📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Cổ Nhạc

Dân Ca - Nhạc Cổ

0 trả lời, 1.238 lượt xem — Trang 1 / 1
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-01-23 00:54:20Viet duong nhan>
CA TRÙ, HÁT THƠ
VIỆC KHÔI PHỤC ÂM NHẠC TRUYỀN THỐNG

Ca trù là một loại hình nhạc thính phòng rất độc đáo của Việt Nam. Đó là thú chơi rất tao nhã của những người yêu thơ hoặc của những nhà thơ muốn thưởng thức những tác phẩm thơ do chính mình sáng tác. Vì vậy, yêu cầu người hát ca trù phải tròn vành rõ chữ và tiêu biểu thể thơ của hát ca trù là hát nói tức hát như nói, có nghĩa ca từ rất quan trọng. Cũng chính vì thế mà ca trù có mối quan hệ - giao lưu rất đặc biệt giữa người thưởng thức ca trù với người ca.

Chính những người nghe có thể đánh trống để thưởng hay phạt những chữ, những câu thơ hay cả bài thơ được người ca hay hoặc dở. Những người thưởng trước hay sau hoặc ngay chính vào tiếng hát ấy. Có khi hai, ba tiếng chát liền (chát lèo). Song không nên thưởng bằng tiếng trống ngay vào tiếng hát vì như thế là đánh trống "lấp khẩu". Nếu tiếng chữ rất hay mà có cách nhau, còn có điểm trống được thì điểm một tiếng trống hai tiếng chát (tiếng trống có thể ngay chữ và tiếng chát trước và sau chữ (chầu chánh điện). Hoặc điểm một tiếng chát điểm ngay chữ ấy, hai tiếng trống trước và sau chữ (chầu xuyên tâm). Hết câu thì điểm chát một tiếng rồi điểm luôn hai, ba, bốn tiếng trống (chầu tranh tiên, phi nhạn, hay thượng mã). Hết bài hát, điểm năm ba tiếng trống đó là chọn bài hát hay. Hoặc nếu chê thì điểm năm, sáu, bảy tiếng, rồi chát một tiếng sau hết, ý nói đuổi ra không cho hát nữa !

Người cầm chầu cũng là người cầm chịch buổi hát. Thường người chủ trì đánh tiếng trống đầu rồi nhường cho những bạn đánh tiếp. Trước hết, đánh chát một hồi 12 tiếng, rồi ba tiếng trống để cho đào kép sửa đàn, phách. Lại đánh ba tiếng trống để gọi tới chỗ hát. Đến rồi, đánh hai tiếng là giục cho hát lên. Hoặc đánh hai tiếng trống, một tiếng chát là giục phải đến ngay! Người cầm chầu cũng phải biết cầm roi chầu (như cầm quản bút song ngược chiều), cử động cổ tay thôi chứ đừng cử động cả cánh tay, không được vung roi chầu quá mang tai, phải biết bịt rìa trống để có lúc đừng cho nghe rõ tiếng boong boong. Kỵ nhất là để trống ngay giữa mặt và khi đã đánh rồi không nên đổi mặt trống! Gõ thì gõ vút đầu roi chứ đừng gõ giữa roi. Cách ngồi cũng phải ung dung tự tại. Lối đánh chầu đứng đắn thì phải thưa thớt và ít tiếng. Đánh chầu cũng như viết văn, làm thơ, phản ánh tính cách của một người, khi nghiêm trang, khi chậm chạp, khi nhanh nhẹn, láu táu, vội vã,...

Đó chỉ mới nói đến tinh vi của người thưởng thức còn người hát gõ phách cũng như người đàn càng phải điêu luyện gấp bội phần. Kép đàn với cây đàn đáy ba dây, dài độc đáo chỉ có ở Việt Nam, cùng với đào nương hát, gõ phách, làm thành một ban nhạc thính phòng rất độc đáo. Độc đáo hơn nữa khi người hát không mở miệng ra mà ngậm miệng lại, ém hơi, đổ hội ngân nga (ư... chứ không phải... i... như hát chèo !)

Ca Trù độc đáo đã được thế giới biết tới và đã được Diễn Đàn Âm Nhạc Châu Á ở Bình Nhưỡng (CHDCND Triều Tiên), năm 1983 đánh giá là một trong chín tiết mục xuất sắc nhất.

Còn "hát thơ" cũng độc đáo không kém! "Hát thơ" ở đây muốn gọi là hát những vần thơ, nhất là thơ lục bát. Ngoài thể loại ca trù, còn có hàng trăm điệu ca, hát, từ ru, hò, hát dân ca ba miền, đến các điệu ca cổ như hát chèo, chầu văn, ca Huế, Bài chòi, tài tử Nam Bộ,...

Nước nào trên thế giới cũng có thơ. Thường thì chỉ đọc, có nước ngâm thơ và muốn hát phải được nhạc sĩ phổ nhạc. Còn ở Việt Nam, thơ nào cũng có thể hát ca trù được và thơ lục bát lại rất độc đáo, có thể hát hàng trăm điệu khác nhau mà không cần nhạc sĩ phổ nhạc. "Hát Thơ" dĩ nhiên là phải chú trọng tới ca từ. Người hát cũng phải tròn vành rõ chữ để người nghe có thể thưởng thức từng chữ, từng câu, từng bài thơ hay.

Điều rất quan trọng là trường hợp các cấp ở Việt Nam đều có học thơ trong môn văn hay ngữ văn. Âm nhạc là hồn của dân tộc, ấy vậy mà ít được giới trẻ quan tâm! Việc đem âm nhạc truyền thống vào trường học là việc làm rất đứng đắn và hệ trọng. Điều đáng tiếc là hệ thống đào tạo âm nhạc truyền thống ở Việt Nam còn nhiều bất cập. Vì thế, trước mắt, qua môn văn hoặc dưới mô hình "hát thơ" ở chính khóa hay ngoại khóa sẽ giúp giới trẻ tiếp cận ca trù - hát thơ được dễ dàng. Tiếp cận nó thì mới hiểu nó. Từ hiểu mới biết yêu, quí trọng. Từ đó, bảo tồn và phát huy vốn quý của dân tộc được lưu tâm hơn.

Câu Lạc Bộ Ca Trù Đại Học Hùng Vương đã thí nghiệm "Hát Thơ" ở nhiều nơi với nhiều hình thức khác nhau, như xen hát thơ trong các buổi ca trù mừng thọ Giáo Sư Tiến Sĩ Trần Văn Khê, giao lưu với Câu Lạc Bộ Văn Học của trường Hoàng Lệ Kha (Tây Ninh), giao lưu với Câu Lạc Bộ Tiếng Hát Quê Hương (chương trình Hoa Quê Hương 7) tại Cung Văn-Hóa Lao Động, nhất là chính thức trong chương trình Hát Ca Trù và Hát Thơ đầu tiên vào ngày 25 tháng4 năm 2002 tại Câu Lạc Bộ Doanh Nghiệp Việt Kiều (khách sạn Equatorial). Viết cảm tưởng trong sổ lưu bút trong đêm hát thơ trên, nhà nghiên cứu Trần Bạch Đằng đã ghi rằng: "Đêm Ca Trù và Hát Thơ thú vị đến sửng sốt".

Bao giờ những nét độc đáo của văn-hóa Việt Nam như ca trù và hát thơ được giới trẻ Việt Nam biết tới, yêu nó, quí trọng nó và phát huy nó? Đó là vấn đề được Câu Lạc Bộ Ca Trù Đại Học Hùng Vương nêu lên. Câu trả lời xin dành cho tất cả mọi người Việt Nam, nhất là người có trách nhiệm của ngành giáo dục và văn hóa.

Giáo Sư Tiến Sĩ Nguyễn Nhã
Chủ nhiệm Câu Lạc Bộ Ca Trù
Đại Học Dân Lập Hùng Vương

---------------------------------------------------------------

"THI CA" CHỈ MỚI NỬA ĐƯỜNG...


Một thương, hai nhớ, ba sầu
Cơm ăn chẳng được, ăn trầu cầm hơi...

Dòng thơ ấy được cô Thúy Hồng hát theo điệu ru Quảng Nam, sau đó lặp lại theo thể điệu bài chòi Nam Trung bộ.

Qua cầu ngả nói trông cầu
Cầu bao nhiêu nhịp, dạ sầu bấy nhiêu...

Lục bát này cô Hồng Vân lúc hát thành Lý tựa song đào, lúc chuyển sang Lý Tình Tang Huế, ấy là chưa kể còn được anh Vũ Văn Dự trổ thành câu hát dọc, cờn của chầu văn.

Chỉ đảo chữ, thêm chữ, thêm nhịp... thì sự nguyên sơ của...

"Ước gì anh hóa ra chăn...
Để cho em đắp, em lăn, em nằm..."
được mang một đời sống khác - lung linh, huyền diệu. Thơ càng thơ, bởi nhạc chắp cánh.

Ấy là đêm "Hát Thơ" vào một buổi tối đầu tháng sáu năm 2002 tại làng du lịch Bình Qưới. Hàng trăm chiếc đèn thả trên hồ. Hàng chục đèn dầu và ngọn nến trên sân khấu. Ánh sáng trang nhã, huyền ảo. Giáo Sư Trần Văn Khê phát biểu: "Trong từ điển nghệ thuật Việt Nam rồi đây có thể sẽ có một thuật ngữ mới: Hát Thơ!" Đây không phải ca Huế, ca trù, chầu văn, không hẳn bài chòi, ca tài tử Nam bộ; mà chỉ mượn một số làn điệu từ kho tàng âm nhạc truyền thống để phổ nhạc cho thơ.

Một mặt, hát thơ có thể là phương tiện "đưa âm nhạc truyền thống vào trường học" - giữa một thực trạng rất qua loa trong giáo dục âm nhạc tại học đường. Mặt khác, "trường học các cấp ở Việt Nam đều có học thơ trong môn văn hoặc ngữ văn. Mô hình hát thơ - chính khóa hoặc ngoại khóa - sẽ giúp giới trẻ tiếp cận sâu hơn trong khi học, nghiên cứu văn-học", như ý tưởng của thầy Nguyễn Nhã (chủ nhiệm CLB Ca Trù ĐH Hùng Vương) nêu ra. Cô Hoàng Kim Oanh (Cao đẳng Sư Phạm) cho biết: "Tôi là giáo viên văn, đến dự đêm hát thơ này mới hiểu cụ thể hơn những gì trên giáo án lý thuyết. Mong là sẽ còn nhiều cơ hội học hỏi và đưa loại hình này đến với các học sinh của tôi "

Học đường Việt Nam xưa nay, giới học sinh, sinh viên vẫn thường được nghe giảng về kho tàng thi ca, thế nhưng trong thực tế chỉ có thi mà quên bẵng ca. Sự khập khiễng này phải chăng có dây mơ rễ má với quan niệm từ chương "trọng văn khinh nghệ" đã ăn vào vô thức...?
Gỡ bỏ một tập quán là khó. Thôi thì... cứ biết rằng, như cảm xúc của cô Trần thị Nhật Thanh (Cao Đẳng Sư Phạm) bày tỏ về đêm hát thơ: Lặng nghe như tiếng ngàn xưa vọng về ...

Nguyên Chương
Tuổi Trẻ
Thứ Bảy 15-6-2002

---------------------------------

Ca Trù


Một loại hình ca nhạc chuyên nghiệp có nguồn gốc cung đình; được diễn xướng như hình thức ca nhạc thính phòng; có cấu trúc âm nhạc chặt chẽ, phần lời ca hầu hết là sáng tác của các nhà văn; một loại hình văn nghệ bác học ở cung đình và đô thị thời trung đại, đã dân gian hóa; từ thời thuộc địa dần dần bị biếng dạng và suy đồi.

Ca trù bắt nguồn tù các lối ca vũ cung đình, ban đầu vốn mô phỏng nền ca vũ cung đình Trung Hoa, và trong quá trình phát triển đã thu hút vốn ca hát dân gian dân tộc, đồng thời tiếp thu cả những yếu tố du nhập từ ca vũ Chàm.

Các vương triều, ít nhất tù triều Lý (thế kỷ XI) đến triều Nguyễn, đều cho lập ban nhã nhạc (dùng khi tế tự giao miếu) và ban nữ nhạc (dùng trong khánh tiếp, tiếp sứ, yến tiệc...), đặt chức quan coi việc trong triều, tuyển lựa nhạc công, ca nữ... Dưới ảnh hưởng trực tiếp của triều đình, đã sớm hình thành phường nghề, làng nghề của giới ca nhân và nhạc công. Nghệ nhân ca trù sống tập trung trong các làng các phố, nơi ấy gọi là "giáo phường", lại cũng được gọi là "làng ả đào" hoặc "phố cô đầu". Năm 1025 vua Lý Thái Tổ đặt chức quản giáp cho giới ca nhi; quản giáp được quan cấp bằng và hoạt động như người thừa hành công việc của chính quyền trong giới con hát. Các đào và kép trong mỗi phường chọn lấy một họ, ví dụ: họ Tam, họ Ngàn, họ Thiên, v. v...; họ này được đặt trước tên riêng và chỉ dùng trong giáo phường mà thôi. Những con hát thuộc dòng họ có tiếng tăm thì gọi là "cô đào nòi".

Hát ca trù có rất nhiều tên gọi: hát nhà trò, hát nhà tơ, hát cửa quyền. Ca sĩ được phân biệt: nữ gọi là "đào", nam là "kép"; vai trò giọng nữ thường nổi bật nên hát ca trù được gọi là "hát ả đào", rồi vì kiêng chữ "đào" nên chệch thành "hát cô đầu". Người nghe hát được gọi là "quan viên". Quan viên thời trước thường là bậc phong lưu, tao nhân mặc khách, sành âm luật, vũ đạo, thể cách, v.v... nên tham dự không phải là thính giả thụ động, ngược lại quan viên được cầm chầu, đánh trống thưởng cho các chỗ hay trong cuộc hát. Tiếng trống của người quan viên cầm chầu trở thành một bộ phận hữu cơ của cuộc hát.

Ca trù có rất nhiều làn điệu, các làn điệu được chi tiết hoá cho từng bài hát, từng lối hát. Bộ nhạc khí dùng cho ca trù gồm phách, đàn và trống. Cô đào vừa hát vừa tự đệm bằng phách và sênh, người kép gảy đàn đáy, còn quan viên đánh trống (cầm chầu).

Có ba lối hát chính: hát chơi, hát cửa đình, hát thi. Hát chơi là lối hát tiến hành ở tư thất (nhà quan viên hoặc nhà của nhà trò); phong cách hát chơi là "khuôn vơi diệu vợi", vẫn theo khuôn khổ nhưng tự do hơn. Hát cửa đình (hát cửa quyền) là lối hát trong lễ tế thần hoàng làng. Hát thi là lối hát khảo hạch tài năng của đào kép.

Giới đào kép trong các giáo phường có lệ hát tế tổ cô đầu vào 11 tháng Chạp Âm Lịch. Tổ cô đầu là Bạch Hoa công chúa, tương truyền là một phụ nữ ở Thanh Hoá, sống vào đời Lê sơ, vốn bị tật câm điếc, sau được Đinh Lễ (quê làng Cổ Đạm, Nghi Xuân, Hà Tĩnh, một làng ả đào có tiếng) chữa cho rồi dạy đàn và cưới làm vợ. Bà dạy cho con cái đàn hát ca múa. Truyền thuyết cho rằng Đinh Lễ về sau theo tiên, còn Bạch Hoa thì vô bệnh mà chết. Dân làng Cổ Đạm lập đền thờ, gọi là đền thờ Tổ cô đầu, cũng gọi là đền thờ Bạch Hoa công chúa (do tên tổ, người trong giáo phường kiêng nói các chữ: Bạch, Hoa, Lễ).

Ca trù băt nguồn từ ban nữ nhạc trong cung vua. Kế đó dân gian tìm ca nhi đến hát để tế thần hoàng. Sau đó quan lại tìm ca nhi, đào kép về tư dinh hát trong các buổi tiệc tùng. Cuối cùng, một só tư nhân cũng bắt chước quan lại tìm đào kép tới nhà riêng ca hát những dịp mừng thọ hay khao vọng. Đó là bốn loại "môi trường diễn xướng" (cũng là tính chất của thính phòng) tiêu biểu trong lịch sử ca trù: cung vua - đền thần - dinh quan - tư gia.

Từ sơ khởi, các điệu hát còn ít, cho đến lúc cực thịnh, ca trù đã có hơn bốn chục điệu hát. Ở thời sơ khởi, phần lời hát còn mang tính phụ trợ cho âm nhạc, ít đặc sắc văn chương. Sau khi vua Lê Thánh Tông cho lập hai bộ Đồng văn, Nhã nhạc, đặt quan Thái thường coi việc âm nhạc (1471), có thể coi là về đại thể, âm luật của ca trù đã ổn định. Từ đây nỗ lực sáng tạo dồn vào phần văn chương của lời hát. Ca trù đạt tới cực thịnh dưới triều Nguyễn, gắn với sự phát triển của thơ Nôm nói chung. Việc sáng tác bài hát cho ca trù đã làm này sinh một thể thơ mới là thể hát nói (thể thơ này sẽ là cơ sở quan trọng cho cuộc cách tân câu thơ tiếng Việt những năm 30 - 40 của thế kỷ XX), với những tác phẩm kiệt xuất của Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát, Nguyễn Khuyến, Dương Khuê, v.v...

Từ cuối thế kỷ XIX sang thế kỷ XX, trong xu hướng đô thị hoá dưới thời thực dân, hát ca trù bước vào giai đoạn suy tàn. Các cô đầu đua nhau ra tỉnh mở nhà hát; số quan viên đi coi hát như thú chơi tinh thần tao nhã giảm đi; các "cô đào hát" ít dần trong khi ở nhà hát xuấn hiện ngày một nhiều những "cô đào rượu" không biết hát, chỉ biết hầu rượu tiếp khách; "quan viên" trở thành khách làng chơi, xem nhà hát như nơi hành lạc. Ca trù từ một nghệ thuật thượng lưu biến thành một kỹ nghệ, từ một thú chơi tinh thần tao nhã biến thành một trò tiêu khiển tầm thường. Thật ra, ngay từ đầu, ca trù đã tạo sức hấp dẫn từ cả ba yếu tố: nhạc, thơ, thanh sắc. Đến đoạn cuối, yếu tố sắc dục trở nên lấn át. Cho đến sau 1945, muộn nhất là sau 1954, hát ca trù vớ tư cách một loại hình sinh hoạt ca nhạc, đã biến mất.
Nhưng các điệu hát ca trù, các tác phẩm văn học đã được tạo ra cho hát ca trù vẫn là phần di sản ưu tú còn lại của truyền thống văn hoá dân tộc.

Những năm 90 của thế kỷ XX đã cho thấy có một vài nỗ lực khôi phục hát ca trù; những hoạt động này nằm trong cố gắng vãn hồi để bảo tồn những phương diện được xếp vào loại hình "văn hoá phi vật thể" (như các điệu ca, cách thức trình diễn...) mà ca trù là một trong những thể loại được quan tâm. Tuy nhiên, trong thời sống hiện đại, rất khó dự tính khả năng ca trù có thể "sống lại" như một loại sinh hoạt ca nhạc có công chúng đông đảo."

"Mấy hôm trước xem từ điển, tình cờ thấy có mục từ Ca Trù. Xin trích lại nguyên văn để tất cả cùng đọc. Từ điển:
Từ Điển Văn Học Việt Nam - Từ nguồn gốc đến hết thế kỷ XIX
Lại Nguyên Ân biên soạn với sự cộng tác của Bùi Văn Trọng Cường
Nhà Xuất Bản Giáo Dục, 1999"
Sưu tầm Ngọc - dactrung.net

Blog_vdn
Đăng nhập để trả lời
0