📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Sách truyện sưu tầm

Đại Hồng Cát Truyện 🔒

128 trả lời, 15.749 lượt xem — Trang 3 / 5
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2009-01-07 01:12:20Ct.Ly>
Đúng ra thì Tư Hường phải cúng, phải làm lễ, nhưng y lại phù phép biến hóa đẩy việc này cho Cả Quận, làm ông ta hôm đó phải mặc cái áo the nửa đen nửa trắng, đầu đội khăn, thắp nhang đứng trước. Quýnh khèo, Tư Hường và ba thợ đấu đứng đằng sau, nghi lễ cúng bái xem ra kéo dài cả tiếng.

Cặp mắt cú mèo của Cả Quận đang chăm chú đọc tờ sớ.

Đám thợ thì đang sì sụp vái.

Cô Quý đang nấu nồi cám lợn to xù…

Cô Quý đúng là “đẹp người đẹp nết”, nước da rám nắng, răng đều tăm tắp, đôi mắt lá răm đen lay láy, mái tóc gội bồ kết đen mượt mà. Dáng vẻ của cô mới thật là tuyệt đẹp, một vẻ đẹp đằm thắm của thiếu nữ chân quê miền Bắc. Chắc đám trai làng cũng dòm ngó dữ lắm nhưng vì sợ Cả Quận nên chưa dám mó máy gì – Từ khi mẹ mất, cô Quý phải nghỉ học quán xuyến hết cả việc nhà, từ sáng sớm đến tối mịt không lúc nào ngơi tay, chăm lợn, nuôi gà, đi chợ, cơm nước, quét dọn, giặt giũ…vì thế hai bàn tay nhìn thấy nổi gân rất rõ. Tuy vậy trong nhà bếp luôn gọn gàng sạch sẽ.
 “sao anh không ở trên đó cúng, xuống dưới này làm gì ạ ?”

Cô Quý hỏi như thế, giọng cô thật dịu dàng và trong trẻo. Cả Quận không chăm sóc con gái, nhưng y canh chừng thì lại rất kỹ. Khu vườn nhà Cả Quận rộng mênh mông, xung quanh trồng cây dâm bụt làm hàng rào, vườn chủ yếu là trồng Cam, có một vài cây Muỗm…
“nghe nói em từng học trường THSP” – “dạ, em đang học năm thứ nhất thì Mợ mất, Thầy bảo em nghỉ học lo việc nhà”.

 
Tuổi nào vừa thoáng buồn áo gầy vai
Tuổi nào ghi dấu chân chim qua trời
Xin cho tay em còn muốt dài
Xin cho cô đơn vào tuổi này
Tuổi nào lang thang thành phố….tóc mây cài…*


 
“Sáng nay em có thấy ai tới tìm anh Quýnh không ?” – “Có, hồi sáng em thấy ai đó thập thò ngoài cổng sau, sau đó họ vẫy vẫy anh Quýnh” – “lần đào trước anh nghe nói có người chết ?” – “lúc đó em đang học nội trú nên em không biết ạ”.

 
Tuổi nào nhìn lá vàng úa chiều nay
Tuổi nào ngồi hát mây bay ngang trời…*

 
“Nhà ở ngay cạnh cây Gạo, em có sợ ma không ?” – “Hồi nhỏ em hay ra chỗ cây Gạo chơi với anh Quýnh. Nhất là vào tháng ba, hoa Gạo nở đỏ rực cả một vùng, lúc đó trẻ con trong làng tụ tập ở đây vui lắm”.
“ở nhà mãi em có buồn không ?” – “lâu rồi em cũng quen ạ”

Tuổi nào ngồi khóc tình đã nghìn thu
Tuổi nào mơ kết mây trong sương mù
Xin chân em qua từng phiến ngà
Xin mây xe thêm mầu áo lụa
Tuổi nào thôi hết từng tháng năm mong chờ...*

 
(*nhạc Trịnh)

0
Ấy là cái chuyện đã qua rồi, còn bây giờ thì đụng phải cái mả cổ. Nhưng tấm đá thạch anh đã bị băm nát như cám, không biết là nó có khắc những hàng chữ gì ? trấn yểm hay cảnh báo điều gì ? Mãnh lực thần bí trong những ngôi mộ có thể tồn tại trong suốt nhiều ngàn năm, xâm nhập vào một cách bất cẩn có thể phải trả giá rất đắt. Theo như dự đoán thì nơi đây có hai ngôi mộ cổ chôn cặp sát nhau, ngôi mộ mới đào hồi chiều nằm ở phía đông, còn ngôi mộ phía tây đã bị một nhóm khác đào rồi, nhưng nhóm này đã bị chết hết.
Băng chuyên đi đào trộm mộ này nổi tiếng dữ dằn, đứng đầu là Từ Chính Huỳnh.
Y hay đội cái nón màu đỏ nên có biệt danh là Huỳnh Đỏ, người cao cao, xương xương, mặt nhăn nhúm vằn vện, hai lưỡng quyền nhô lên che cặp mắt tinh anh như mắt sói. Trên người y xăm đủ thứ bùa chú, cánh tay trái xăm một con rít chúa cực lớn, con rít này rất đặc biệt, nửa trên màu đỏ, nửa dưới màu đen, có một trăm lẻ tám cái chân cả thảy. Huỳnh Đỏ tự nhận mình là “con rít chúa hai đầu” có trăm tay nghìn mắt để chinh phục thiên hạ. Y thuộc loại “nửa người nửa quỷ”, hình dạng thì là người nhưng tâm địa độc ác còn hơn quỷ dữ. Từng nổi tiếng ở khu vực Cây Da Xà với nghề đánh bài, xóc đĩa, nhưng bị truy bắt quá nên chuyển qua hành nghề thầy bùa, lừa đảo, săn tìm đồ cổ và đào trộm mộ. Băng Huỳnh Đỏ gồm năm tên là Huỳnh Đỏ, Ba Cang, Sơn Chùa và Tý Khờ, cùng với một ả làm cò mồi, đi dò la là Hạnh Mèo, chuyên đào trộm những ngôi mộ nhà giàu mới chôn để lấy đồ, nếu gặp hòm bằng gỗ quý giá cả trăm triệu thì lấy luôn cả cái hòm. Băng này còn lấy cả xương người chết mang bán, giả làm hài cốt lính Mỹ. Có khi bọn này còn được thuê để đào phăng đi những ngôi mộ vô chủ để lấy chỗ “đắc địa” chôn người khác. Còn nếu phát hiện được ngôi mộ cổ vài trăm năm thì coi như trúng mánh lớn…
Thường khi khâm liệm, gia đình cho vào miệng người chết một miếng vàng để làm lộ phí khi xuống âm phủ. Bỏ vào trong hòm những đồ vật thân thiết của người quá cố, nhiều khi là những đồ vật rất có giá trị về vật chất. Những đồ tùy táng đó có ẩn chứa những điềm rất nguy hiểm. Đặc biệt đồ vật lấy ra từ trong các ngôi mộ cổ như vàng ngọc, ly chén, y phục...luôn bị những ảnh hưởng thần bí của ngôi mộ. Từ trong các ngôi mộ đó, vô số những âm binh bị giam hãm từ lâu tràn ra khắp nơi, khi nó đã thoát ra ngoài thì những mãnh lực hắc ám vô hình đó không thể triệt hạ được nữa… Nếu người sở hữu bảo vật ấy lại có một tâm địa bất hảo, thì họ sẽ dần dần trở nên hung ác, tàn bạo, sau đó sẽ là điên loạn, tự tìm đến cái chết.
Bọn Huỳnh Đỏ lấy những đồ vật bất tường đó, bán đi bán lại, qua tay nhiều người, khi vào tay một số người nào đó, họ không biết rõ nguồn gốc của món đồ, đến khi bị những tai bay vạ gió, hay tự mình biến thành điên khùng mà vẫn không hiểu lý do là vì sao cả.
 
 
Trước lúc đào Huỳnh Đỏ và đàn em uống mỗi người ba chung rượu “cáo trùng”, là nghi lễ xin phép Thần Trùng, bao gồm một ly lúc khởi hành thường là khoảng nửa đêm, một ly bên mộ và một ly đổ lên ngôi mộ cho hương hồn người chết. Sau đó y lên đồng, người giật giật, cái miệng chép chép liên tục, hai mắt trợn trắng, lắp bắp phát ra những thứ tiếng Lạ, đại loại như :
-         “ka ta la chắc ba rắc ku si pa sớt tờ rớt ba ha ba ha ba ha...”
-         “mê cha ti la ku pa cờ ta la chắc chắc…”
-         “pa ta la tắc tắc tắc…ku si pa sắc…tắc tắc tắc…”
Miệng nói liến láu, tay thì múa máy vẽ bùa, có điều những tiếng này chẳng theo một thứ bùa chú hay ngôn ngữ nào - Huỳnh Đỏ bốc láo với đồng bọn là do một Đại pháp sư nhập vào khiến y nói được những lời “cao siêu” đó để xua ma đuổi quỷ. Nếu cuộc đào vào ban ngày, thường là vào giờ ngọ thì Huỳnh Đỏ còn biểu diễn nhiều hơn nữa, y làm mặt lúc thì xanh, lúc thì đỏ, rú lên như quỷ sứ, đồng thời lấy một cái nhíp xe hàng bằng thép to đùng đập chan chát vào ngực, làm người yếu bóng vía sợ đến vỡ cả mật.
Vậy mà mấy lần phát hiện ra những ngôi mộ lắm tiền nhiều của thì đều bị một kẻ nào “hớt tay trên” đào trước rồi nên Huỳnh Đỏ tức lắm, quyết tâm tìm ra kẻ nào dám “vuốt râu hùm” để “xin tí huyết”. Lần đụng độ đó, Huỳnh Đỏ dẫn theo Ba Cang.
Ba Cang có cái tên cúng cơm cúng cháo là Quách Trung Cang, Y được trời phú cho cái tài đào đất cực siêu, không ai bì kịp. Dòng họ Quách hồi trước cũng thuộc loại tư sản có tên tuổi, có máu mặt nên sau giải phóng bị đi KT mới, xuống tận nông trường Cờ Đỏ, hình như thuộc Đồng Tháp hay Cần Thơ gì đó...cuốc đất trồng khoai, đào kinh, đào mương quanh năm mà vẫn ăn đói, mặc rách. Khổ quá chịu không nổi, Ba Cang mới dội về SG sống lang thang, xin vào làm mướn cho mấy chủ thầu xây dựng. Lúc đó y chuyên đào mấy trụ móng, đào nhanh bằng ba bốn người, được trả tiền rất hậu hĩ, nhưng sau lại chán cái nghề tầm thường này nên xin về làm nghề cải táng, thiêu xác ở khu Bình Hưng Hòa. Có lần trong lúc thu dọn tro tàn, xương cốt sau khi thiêu, Ba Cang thấy một vài mẩu xương còn dính thịt cháy vàng, ngửi thấy “thơm thơm mùi thịt nướng”, làm y có cảm giác thòm thèm, sau thấy một miếng gan chưa cháy hết, liền lấy bỏ vào túi mang về nhắm rượu. Riết rồi thành quen, Ba Cang còn nói “trong các món gan, gan người nướng là ngon hơn hết thảy”, chính vì thế khi say rượu ngà ngà, lâu lâu Ba Cang lại thấy “thòm thèm” thịt người…
0
Hôm đó là ngày trăng khuyết nên cảnh vật chỉ nhìn thấy mờ mờ, Huỳnh Đỏ thấy một cái bóng cao gầy đào mộ thật nhanh. Khu này là khu mộ cổ đá ong, một vị trí rất đẹp, rất đắc địa. Vừa rồi có một gia đình trọc phú đã thuê bọn Huỳnh Đỏ don sạch nơi này để chôn thằng con trai mới đua xe bị chết. Chôn ở đây đã được hơn hai tháng, mộ đã được xây bằng đá hoa cương đen cực kỳ chắc chắn, gia đình còn cử người canh gác rất kỹ. Không hiểu sao hôm nay hai kẻ gác mộ lại nằm ngủ say sưa như chết đã lâu. Cái bóng đào mộ dường như mặc váy, nó kéo dạt cái bia sang một bên, sau đó lấy len đào sâu xuống nhanh như máy… Khi thấy cái hòm, nó dùng tay không bấu lấy một đầu kéo lên. Sau đó nó nhảy xuống, dùng một tay bợ phía dưới nhấc bổng cái hòm quăng lên mặt đất. Nhìn cái cảnh đó bất giác Huỳnh Đỏ toát mồ hôi lạnh, bên cạnh y Ba Cang cũng không khác gì, xương sống thiếu điều nổi cả gai. Y đã nghe con Hạnh Mèo kể con Đẹt này có thần lực phi thường, bây giờ mới được thấy tận mắt.
Con Đẹt này chẳng biết từ đâu hiện hình về, nó gầy gò, cao dong dỏng nên dân địa phương gọi nó là Đẹt chứ tên thật nó là gì thì chỉ có trời biết. Nó hay lang thang ngoài ruộng, nghĩa địa, những nơi vắng vẻ đêm hôm một thân một mình. Nó tuy gầy gò “ngực phẳng như lưng” nhưng gương mặt lại khá đẹp, mũi cao, mắt sâu, tóc quăn, nên có lần bốn thằng trai làng nảy sinh tà ý, sau một chầu nhậu sương sương mới mai phục ngoài nghĩa địa định bề cưỡng hiếp con Đẹt. Theo thói quen, khoảng nửa đêm con Đẹt sẽ mò về nghĩa địa để “ngủ”. Khi nó mới đi vào khu đất, bốn thằng trai làng lực lưỡng tưởng bở nhảy ra bao vây, một thằng phóng vào tính ôm liền bị trúng ngay một đá vào be sườn, lăn quay ra đất không dậy nổi. Một thằng bị vả một cái sái cả quai hàm, bay hết mấy cái răng, trào máu mồm máu mũi. Hai thằng còn lại tính bỏ chạy nhưng cũng không kịp, bị con Đẹt đánh cho một trận “lên bờ xuống ruộng”, mới chỉ có mấy phút mà bốn thằng nằm chèm bẹp, lạy lục xin tha.
Sau lần ấy bốn thằng đâm ra kính phục con Đẹt, tôn nó làm sư tỷ, nhưng con Đẹt chỉ thích làm một mình, đỡ mắc công chia chác, chỉ khi nào cần lắm thì nó mới kêu tới bốn thằng “đệ tử”. Còn về “chuyện ấy” nó tuyên bố “khi nào bà thấy cần, bà sẽ tự kiếm”.
Cái hòm cả sáu thằng lực điền khiêng còn niểng mà con Đẹt chỉ dùng một tay để bợ lên thì chắc người nó bằng sắt thép quá. Ba Cang bình thường coi trời bằng vung mà bây giờ xem ra cũng cảm thấy run ruột. Huỳnh Đỏ chợt nghĩ “Không phải hai thằng liên thủ mà cả chục thằng nữa e rằng cũng đánh không lại con Đẹt này”. Tuy vậy việc nồi cơm bị người ta tranh mất nếu bỏ qua sẽ mang tiếng là hèn nhát, khó mà ngóc đầu lên trong chốn giang hồ nên hai thằng cũng đành bấm bụng ráng từ từ tiến tới…
 
Hai thằng đến gần sát mà con Đẹt cũng không thèm nhìn tới… khi Huỳnh Đỏ tiến đến thật sát, trong cái ánh trăng khuyết nhàn nhạt con Đẹt mải lo làm nên mấy cúc áo ngực bật tung, lộ một khoảng trăng trắng… con này là đàn bà mà sao nó không thèm bận áo ngực, chính vì thế Huỳnh Đỏ mới nhìn thấy một cái hình xăm mờ mờ, cố nhìn thấy rõ cái hình đó Huỳnh Đỏ bất giác giựt mình kinh sợ.
Khi đưa được cái hòm lên bọn Huỳnh Đỏ phải lấy xà beng nạy mới bung nắp lên được, việc này thường làm bể nắp nên phải mang sẵn theo một cái nắp khác để thay vào. Nếu gặp cái hòm bằng gỗ quý có giá vài chục hoặc trên trăm triệu thì mang sẵn theo một cái hòm gỗ tạp khoảng mấy trăm ngàn để đánh tráo, sau đó lấp đất lại y như cũ. Con Đẹt chỉ cần dùng tay vỗ mạnh vào thành hòm làm mấy cái đinh hơi nhú lên, sau đó nó dùng tay không nhổ đinh nhanh như người ta nhổ cỏ vậy làm Huỳnh Đỏ lẫn Ba Cang  há hốc cả mồm ra kinh ngạc. Sau khi bật nắp hòm, con Đẹt kiểm tra cái đầu xác chết rất kỹ, xác chết nam này rất trẻ, chỉ độ mười sáu mười bảy tuổi, bố mẹ nó rất giàu nên cái hòm được làm bằng gỗ quý, chạm trổ rất cầu kỳ. Con Đẹt xem xét một hồi rồi lầm bầm chửi rủa “mồ tổ thằng cha con bà nhà nó, mới tí tuổi đầu mà đã không còn là đồng nam rồi”, sau đó nó bóp miệng xác chết lấy miếng vàng, lột sạch dây chuyền, vàng vòng của quý tử. Nó đóng nắp hòm, nhét trở xuống huyệt rồi lấp đất, kéo cái mộ bia lại, toàn bộ chưa đến nửa giờ, nhanh không thể tả.
Đến lúc này nó mới thèm nhìn đến bọn Huỳnh Đỏ và Ba Cang  - con Đẹt đưa mớ vàng ra nói “hai thằng bay muốn lấy cái này ?” – Huỳnh Đỏ vội đáp “không dám, không dám…” – con Đẹt nghe thế liền nói tiếp “hai thằng mày có gan thì đi theo tao”. Nghe nó nói thế, hai thằng đành lểnh mểnh đi theo. Con Đẹt đúng là “đi nhanh như quỷ”, ra tới ngoài lộ thì trời khuya lắm rồi, phía bên kia cầu còn một cái quán bán đêm cho khách qua đương và đám lái xe. Con Đẹt mua hơn ba chục ổ bánh mì và năm chục cái bánh bao rồi thảy qua cho Huỳnh Đỏ và Ba Cang, hai thằng đang định đi đánh nhau trong bỗng chốc trở thành hai thằng khuân vác.
Con Đẹt dẫn hai thằng đi sâu vào khu nghĩa địa, đến một căn nhà mồ rất rộng, có cả chục đứa con nít đang ở đó. Con Đẹt lấy bánh ra chia cho bọn nhóc, xem ra bọn trẻ này rất quý mến con Đẹt, đứa nào đứa nấy đen nhem nhẻm, tóc tai bù xù, quần áo rách rưới, đứa lớn thì bồng đứa bé…loáng cái là xơi sạch số bánh. Huỳnh Đỏ và Ba Cang từng thấy mấy đứa trẻ này lang thang ăn mày ngoài chợ nên chợt hiểu tại sao con Đẹt lại có thông tin nhanh chóng như vậy. Lát sau con Đẹt lệnh cho bọn trẻ đi ngủ, sau đó nó ngồi xếp bằng giữa nhà mồ, ra hiệu cho Huỳnh Đỏ và Ba Cang ngồi theo. Nó quấn cái Xà rông ngang bụng, mặc cái áo sơmi đứt cúc nên Huỳnh Đỏ thấy ngực trái nó có cái hình “quỷ ba mặt” đen sì…
0
Ngày xưa ở xứ Ghi-nê-bít-xao có những bộ lạc ăn thịt người, thổ dân nơi này có cái thú “săn đầu người”, lấy sọ của kẻ thù đóng cọc hay đeo trên cổ để tăng thêm sức mạnh. Họ có bí thuật có thể thu cái đầu người nhỏ lại bằng nắm tay, sau đó đeo thành chuỗi trên cổ. Họ quan niệm như thế là có thể sai khiến được linh hồn của kẻ đã chết, bắt nó phải đi theo phụng sự cho họ. Những thổ dân này có tục lệ xăm trổ đầy người, đặc biệt xăm hình quỷ có ba mặt đang nhe nanh nom rất dữ tợn, xem đó là thần hộ mệnh, phải lấy máu của kẻ thù để hiến tế thường xuyên. Họ sống lẩn lút ở một số đảo vùng Nam Thái Bình Dương… chỉ có những tên cướp biển Mã Lai hay Indo là có thể quan hệ được với họ và dần dần cũng trở thanh môn đồ của “quỷ ba mặt”. Những tên cướp biển tàn bạo này lại tiếp tục truyền bá thứ quỷ thuật khủng khiếp này cho những đồng đạo là cướp biển Thái lan và Campuchia… Chính vì có một nguồn gốc kinh khủng như thế nên môn đồ của “quỷ ba mặt” đều là những kẻ tàn ác, điên loạn.
Số mệnh của Con Đẹt sinh ra đã là môn đồ của “quỷ ba mặt”, nó bắt buộc phải sưu tầm sọ người đồng nam, đồng nữ, hoặc đầu người bị sét đánh để duy trì sức mạnh vô địch. Môn quỷ thuật này kêu gọi những thế lực hắc ám từ cõi âm ty địa ngục – mượn lấy quyền năng của chúng, nếu không hiến tế thường xuyên sẽ bị ma quỷ hành cho trở nên điên loạn. Con Đẹt bị ám bởi quỷ thuật này là do bàn tay của một tên cướp biển. Tên cướp này đã lượm một đứa trẻ bị bỏ rơi, sau đó bỏ công sức ra nuôi nấng, dạy dỗ và nhuộm đen tâm hồn đứa bé, mong biến nó thành một con “quỷ ba mặt” thực sự, xem như là món quà phi thường nhất để hiến tế cho quỷ dữ. Con Đẹt được luyện thần lực từ nhỏ, tập đeo chì chạy bộ hàng chục km, leo vách đá bằng tay không, dùng chân đá bể cả mái vú, lấy nước sôi dội lên người để da thịt cứng chắc như sắt thép, có thể nhảy từ trên núi cao cả chục mét xuống mà không hề hấn gì… Huỳnh Đỏ có một thời trốn lệnh truy nã của chính quyền, phiêu dạt trên vài hòn đảo ngoài khơi xa, từng tiếp xúc với cướp biển Campuchia nên có kinh nghiệm về chuyện này.
Con Đẹt ngồi đối diện có phần hớ hênh nên Ba Cang tính thừa cơ rút dao đâm lén, nhưng y nhìn qua thấy Huỳnh Đỏ gương mặt lỳ lỳ nên chưa dám… Bỗng Huỳnh Đỏ ghé tai Ba Cang khào nhẹ “đừng làm chuyện dại dột, đâm nó không thủng đâu, chớ nhúc nhích…” . Biết con Đẹt có sức mạnh và pháp thuật phi thường nên Huỳnh Đỏ muốn lôi kéo nó về nhập băng để gây thêm thanh thế. Từ khi có nó, băng Huỳnh Đỏ vốn đã hùng mạnh lại càng thêm hùng mạnh, nghe hơi thôi cũng đủ làm mọi người khiếp vía, còn chính quyền cũng không làm được gì vì chẳng có ai dám tố cáo và cũng không có bằng cớ gì. Bọn này đi săn tìm khắp Miền Tây, Miền Đông… lên tận Tây Nguyên, phá phách các khu nhà mồ, đánh cắp các loại tượng nhà mồ và gỗ quý của người dân tộc, không một điều gì mà không dám làm.
 
Chính vì thế mà khi hai người Đài Bắc qua đây, muốn đào mộ tổ tiên đã phải liên hệ với băng Huỳnh Đỏ. Lần trước cũng lần theo tài liệu cổ của dòng họ, họ xuống tận Bến Tre, liên hệ với chủ đất nơi mà họ nghi có kho tàng xin được mua lại miếng đất với giá cao. Không dè lần ấy do thiếu kinh nghiệm, lại lạ nước lạ cái, họ gặp phải chủ đất ma mãnh, dứt khoát không chịu bán. Chờ đến khi họ đi, gia đình chủ đất mới tự tổ chức đào bới, do không biết cách nên đào cả khu đất thành một cái ao sâu cả sáu bảy mét, rộng hàng chục mét mà chẳng có gì. Tiền mất, lỗ công lỗ của, bị “thần giữ cửa” trừng phạt nên nghe đâu sau này tay chủ đất đó bị điên điên khùng khùng. Lần này hai người Đài Bắc kinh nghiệm hơn, qua môi giới họ liên hệ trước với băng Huỳnh Đỏ để làm áp lực với chủ đất, họ không mua hẳn miếng đất mà chỉ thuê một thời gian để đào. Tiền bạc chung chi lo lót đầy đủ nên công việc tiến hành khá thuận lợi, nhất là lần này có thêm con Đẹt “thần thông quảng đại” nên họ càng mười phần tin tưởng. Có điều do quy mô cái ngôi mộ này quá to, bề dài hơn hai chục mét, rộng hơn bốn chục mét, phía trên bị cát bao trùm, hết phân nửa lại nằm cả ra ngoài lô đất của tay chủ nhà nên công việc không được suông sẻ. Hơn nữa chính hai người Đài Bắc cũng không thể ngờ được đây lại là một khu mộ cặp.
0
Trong bọn Huỳnh Đỏ cũng cần phải nhắc đến hai tên là Sơn Chùa và Hạnh Mèo.
Hạnh Mèo có dáng đi uốn éo, lắc lư mềm dẻo như con mèo. Ả có một thời làm cave ở Queenby, sau chuyển qua làm gái gọi ở mấy quán bar khu vực đường LTT, ĐK… Hạnh Mèo có thể đánh bài thâu đêm suốt sáng, ngày này qua ngày khác…Ả ta vuốt bài, xào bài, tráo bài còn nhanh hơn cả nhà ảo thuật. Khi thua bài cháy túi thì chỉ cần có ai bỏ tiền ra cho ả chơi tiếp là ả sẵn sàng qua đêm với người đó. Khi về với băng Huỳnh Đỏ ả nhanh chóng trở thành cánh tay đắc lực trong những phi vụ lừa đảo. Có một nhan sắc mê hoặc, Hạnh Mèo đưa khá nhiều kẻ lắm tiền của vào bẫy để đồng bọn “xẻ nai”, “làm thịt”… nhưng những đồng tiền bất chính kiếm được Hạnh Mèo cũng nướng sạch vào sòng bài cả.
Còn Sơn Chùa thì có cái đầu lúc nào cũng trọc lóc, có một thời y chuyên đóng giả thầy chùa để đi… khất  thực. Kiếm cơm bằng nghề này cũng khá nên về sau bị cạnh tranh rất dữ, hơn nữa bị CA truy bắt rất gắt nên y bỏ nghề “giả sư”, nhập vào bọn chuyên lừa đảo cờ bạc ở mấy bến xe. Tranh giành lãnh địa sao đó Sơn Chùa mới “mổ” một thằng đi đứt, phải bóc lịch cả chục năm. Trở về y đầu quân theo Huỳnh Đỏ…cái đầu y trọc lóc chắc là do linh hồn “cằn cỗi” quá đến tóc cũng không thèm mọc, râu thì lại càng trụi lủi, hai con mắt trắng dã, một vết sẹo dài từ đuôi mắt đến mang tai, nhìn Sơn Chùa toát lên một vẻ thâm độc, gian xảo không chịu nổi. Hai đầu gối Sơn Chùa lại xăm hình hai cái đầu voi, cái vòi thòng xuống chân, khi y ngồi nhìn giống đầu con voi y hệt, đó là biểu tượng cho sức mạnh bền bỉ, dẻo dai vô địch của loàii chúa tể. Trước đây Sơn Chùa đã   từng biết rõ về con Đẹt nên lần đụng độ đó y chắc bọn Huỳnh Đỏ phen này “một đi không trở lại” nên không tới. Chẳng dè Huỳnh Đỏ trở về có thêm cả con Đẹt đi theo làm Sơn Chùa càng thêm nể mặt.
Vậy mà “Thiên thần mũ đỏ” rồi cũng phải gãy cánh một cách đau đớn, vật vã. Chính là ở cái lần đang đào dở ngôi mộ phía Tây, chiều hôm đó Huỳnh Đỏ lên cơn co giựt, miệng sùi bọt mép, hai mắt lòi cả ra ngoài, người cong lên như cái đòn gánh, ngón chân, ngón tay co quắp… trong bọn thì nói Huỳnh Đỏ bị “phong đòn gánh” mà chết, còn người ngoài thì nói y bị “thần giữ cửa” vật chết…
 
Cái chết của Huỳnh Đỏ không làm các chiến hữu của y nao núng, Ba Cang còn lấy làm mừng vì tự nhiên bớt được một phần chia. Con Đẹt lên làm thủ lãnh thay Huỳnh Đỏ. Công việc đào gần xong thì bất ngờ tai họa lại đổ xuống, lần này là ông chủ nhà. Đúng là của nuốt chưa trôi thì lại phải nôn ra, bọn Ba Cang chủ yếu là đào ban đêm để tránh bị dòm ngó, hôm đó tay chủ nhà xớ rớ ra xem bất ngờ trúng phải một luồng khí độc, ngã lăn ra hôn mê, đưa đi cấp cứu mãi mà vẫn không tỉnh. Chưa hết, mấy ngày sau một trong hai tay người Đài Bắc khi đi đường bị xe tải tông, “đứt chến” ngay tại chỗ, tay còn lại hồn vía bay tận chín tầng mây, hoảng sợ dông luôn về nước…
Ngay tối hôm có một chiếc xe tải đến móc toàn bộ đồ trong ngôi mộ mang đi hết.
Không ai biết trong đó có những gì ?
Không ai biết chúng được mang đi đâu ?
Ai đứng sau lưng con Đẹt để có thể làm những chuyện kinh người như thế ? Chỉ biết sau đó mấy ngày người ta thấy xác của Ba Cang nằm chết dưới mương, sọ bị đập vỡ. Có người cho rằng do y lén giấu bớt đồ đi nên bị đồng bọn thanh toán.
Bọn Sơn Chùa, Hạnh Mèo, Tý Khờ nghe đồn cũng lần lượt đi đong hết…
0
Một hôm con Đẹt dẫn đám con nít xuống chợ Đệm.
Đây là một khu chợ “trên bến dưới thuyền” ồn ào, náo nhiệt và cũng không kém phần thơ mộng. Tiếng mái chèo khua nước ràn rạt, tiếng gọi nhau í ới, nghe xôn xao cả một góc sông. Bọn nhóc ăn mày tỏa đi khắp nơi, đến chiều thì tập hợp lại, xin được bao nhiêu tiền đều gom hết cho con Đẹt .
Con Đẹt thuê nguyên chiếc tắc ráng, đặt cái cà ràng chính giữa, nấu một nồi cháo lòng to đùng. Nó mua nguyên một cái đùi heo luộc, sắt ra từng miếng lớn để đãi bọn nhóc ăn với dưa leo và rau húng chỉ. Bọn nhỏ đứa nào đứa nấy đen thui thủi, tóc tai bù xù, quần áo rách rưới, gày ốm nên hai con mắt đứa nào cũng có vẻ to to, được cái chúng rất thương nhau, đứa lớn đùm bọc cho đứa bé. Lâu lâu bọn trẻ mới được ăn một bữa ngon nên nhảy múa, la hét um sùm, không khí vui như tết. Bấy giờ hoàng hôn bắt đầu buông xuống, mặt trời đang từ từ lặn, chiếu cái ánh vàng nhợt nhạt lung linh… Con Đẹt cho ghe len lỏi dưới những rặng dừa nước um tùm. Trên dòng sông ghe thương hồ chen nhau đậu san sát, tiếng nói cười rộn rã, đâu đây văng vẳng câu ca :
 
Hò…ớ….ơ…ơ…
Gái có chồng như gông đeo cổ
Phận gái thương hồ khổ lắm… ai ơi
Thương người  kết tóc  buông lơi
Kiếp giang hồ không bờ bến…anh ơi có dám đèo…?
Em thương anh vì bởi anh nghèo
Hò…ớ….ơ…ơ…
Em có chồng rồi sao anh vẫn còn theo ?
Đêm nằm đệm suốt đu anh đắp sao cho khéo
Chờ trăng lặn rồi , em đắp xéo mới nghe…
Hò…ớ….ơ…ơ…
………………………
 
Đến đêm thì con Đẹt cho tắc ráng thẳng xuống Bến Lức, sau đó nó hứng chí men theo dòng Vàm Cỏ xuôi ra biển. Cái máu cướp biển có lẽ đang trỗi dậy trong huyết quản con Đẹt, ra đến cửa Soài Rạp nó cho tắc ráng chạy hết tốc lực, đang rẽ sóng băng băng thì bất ngờ xuất hiện một con cá lớn dài cả mấy mét, da màu trắng nhưng hai mắt và vây, đuôi lại đỏ rực. Con cá lạ dường như khiêu khích, nó cứ vờn qua vờn lại trước mũi làm con Đẹt nổi khùng phóng tắc ráng bạt mạng theo con cá. Ghe nhỏ gặp sóng lớn đâu có chịu nổi, nó lật nghiêng sang một bên làm bọn con nít nhốn nháo, la hét ầm ĩ, lúc trời bắt đầu sáng thì chiếc tắc ráng từ từ chìm xuống. Con Đẹt đập bể một thanh gỗ lớn, cho bọn nhỏ bám vào rồi nó cố đẩy vô bờ. Có điều sóng lớn quá, hơn nữa giờ này ghe thuyền qua lại còn ít nên khi nó đẩy được tấm gỗ vào tới bờ thì có mấy đứa bị rớt lại mà không ai tiếp cứu. Con Đẹt bèn bơi ngược trở ra túm được hai đứa đưa vào bờ nhưng vẫn còn thiếu một đứa, nó liền ôm thanh gỗ bơi trở ra một lần nữa… nó ráng đưa được đứa cuối cùng lên trên tấm gỗ thì bất ngờ bị một con sóng dữ cuốn đi mất tích.
Những môn đồ của “quỷ ba mặt” bao giờ cũng phải chết trên biển cả…
0
Những chuyện đó đều là nghe người ta kể lại, không biết là thật hay là hư nữa. Nhưng cái mả cổ với phiến đá thạch anh thì đang sờ sờ ra đó, Sáu Ri cũng ngồi sờ sờ ra đó, cái mặt của y thật đậm chất, cái mép miệng cứ nhếch nhếch, cười cũng chẳng ra cười mà khóc cũng chẳng ra khóc.
Sáu Ri ghé từ sáng sớm, bọn Hai Đụi, Ba Nửa, Tư Thăng, Bảy Bụng, Chín Cò, Út Thứ đều là lính của y cả.
Sáu Ri đến tất nhiên đến không phải để chơi hay để nói chuyện, cũng không phải để thăm hỏi – Y thăm hỏi bọn Tư Hường làm cái con khỉ gì ? – cái lý do y đến tất nhiên không nói ra nhưng ai cũng hiểu…Thế mà Tư Hường lại làm như không hiểu gì cả, cái mặt của y lúc đó nhìn thật… khù khờ. Sáng sớm chưa rửa mặt súc miệng mà y đã móc thuốc ra hút, lại còn mới Sáu Ri một điếu “chú chắc toàn hút ba số, hôm nay thử với anh một điếu củi cho vui”…
ĐHC đã từng gặp nhiều người có gương mặt lạnh lùng, nhưng chưa từng thấy ai có gương mặt lạnh như Sáu Ri cả, nó là đá, là gỗ, là… cái gì đó không thể tả được, không lẽ đó lại là gương mặt của thần chết ? Hiển nhiên Bảy Bụng đã tâu hót gì đó nên y mới ghé sớm như vậy. Sáu Ri không dò la gì cả, nhưng sự xuất hiện của y cho biết một điều rất đơn giản “Sáu Ri lúc nào cũng có… có rất đúng lúc, muốn sống thì phải nhớ điều đó…”.
Từ trong căn lều, nhìn ra cánh đồng buổi sớm xanh mươn mướt, một màu xanh bát ngát hòa quyện vào bầu trời mênh mông với những áng mây bồng bềnh, vài cánh cò trắng bay chấp chới… loài cò đi kiếm ăn sớm thật, cũng như con người, chúng sống nhờ nước, không khí và các sản vật của ruộng đồng. Nhưng có lẽ loài cò không phải lo nghĩ nhiều như con người, không phải tranh đấu để tồn tại nhiều như con người. Tư Hường từng nói “thiên hạ muốn bắt cò thì dùng con cò làm chim mồi, muốn bắt cu thì dùng con cu làm chim mồi,… muốn bắt người tất nhiên phải dùng con người làm mồi” – “thế với ma quỷ thì sao?” – “với ma quỷ thì rất khó, bởi vì chúng vô hình… không thể dùng một hình hài nào đó để làm mồi được”. – “thế muốn bắt ma đuổi quỷ thì phải làm thế nào?” – “Chúng là vô hình thì cũng phải dùng những điều vô hình…”.
 
Chẳng biết theo Tư Hường thì điều gì là vô hình, nhưng trong mấy tay DK xã, Tư Thăng bao giờ cũng là kẻ hiện hình đến sớm hơn cả. Y không mập cũng không gầy, không cao cũng không lùn, không trắng cũng chẳng đen. Lúc nào y cũng chỉ mặc một bộ đồ như vậy, đi một đôi dép như thế, không bao giờ thay đổi. Y lầm lỳ hơn cả, ngược hẳn với Ba Nửa nói không ngớt miệng. Ba Nửa lúc nào cũng say ngà ngà, sáng sớm là y đã súc miệng bằng rượu, rượu vào rồi là Ba Nửa nói liên tục, trong lúc Út Thứ hì hục đào thì Ba Nửa ngồi phía trên nói không ngừng “…hai đứa chúng nó dắt nhau vào trong lùm… tao đang nằm ngủ phía trên cây, con bà nó…tao thấy rõ ràng..hé hé hé…” –- Ba Nửa chỉ nói về một đề tài duy nhất, đó là chuyện “ấy ấy”, “đời chỉ có thế mà thôi…”, vào hùa với Ba Nửa bao giờ cũng là Bảy Bụng. Bảy Bụng hiển nhiên là cánh tay mặt của Sáu Ri chứ còn ai vào đây nữa. Chuyện “hai đứa” mà Ba Nửa nói đây chính là Chín Cò, y mới lấy vợ được vài ba tháng, cô vợ cũng khá trẻ đẹp, đúng típ con gái miệt vườn. Thỉng thoảng chiều chiều Chín Cò lại tổ chức nhậu tại nhà với anh em để khoe căn nhà mới khá khang trang, có cô vợ nhiều khi vui chuyện cũng tham gia lai rai cho vui. Buổi tối ở nông thôn chừng tám giờ là đã tối như hũ, không nhậu thì làm cái gì ? Cô vợ Chín Cò  mặc bộ đồ bà bà trắng, tà áo xẻ đã cao mà bên trong lại mặc nội y màu đen, nhìn khiêu khích không chịu được. Cô ta uống vài ly, mặt đỏ phừng phừng, cất tiếng ca cải lương nghe cũng rất mùi. Lắm khi tất cả cùng gõ ly, gõ chén và hát:
“Năm mười, mười tám… hai mươi…
Năm mười, mười tám… hai mươi…
Yêu em… anh dẫn em vào xi nê,
Vào xi nê anh sẽ làm em mê…
Yêu em… anh dẫn em vào công viên,
Vào công viên anh sẽ làm em điên…”
Thỉnh thoảng Ba Nửa cũng nhảy xuống đào phụ với Út Thứ, nhưng y chẳng đào được bao nhiêu vì quá yếu. Vợ Ba Nửa chán chồng nên cặp với người khác, tiếng đồn cũng đến tai Ba Nửa nhưng rượu đã làm cho y kiệt quệ, không còn ý chí và nghị lực gì nữa. Cũng có lúc buồn quá thì Ba Nửa than thở “Nhiều khi ngủ một giấc dậy vẫn thấy mình còn ở cái thế giới chó chết này không biết để làm gì ?”. Người du kích quân Ba Nửa cũng từng có một thời, nhưng cái thời đó đã qua lâu lắm rồi“Ai vượt Cửu Long Giang, vững trí lướt sóng ngàn, có đoàn quân du kích, đón đưa được an toàn. Quân giặc tuy hung hăng, nhưng nào thắng anh hùng, vững chèo khi tách bến, lướt dòng sông Cửu Long…
Hôm đó trời không có trăng mà cũng không có sao, Ba Nửa nhậu xỉn bò được về đến nhà thì khuya lắm rồi, y nằm gục luôn trước cửa. Trong cơn say, y bỗng thấy một gương mặt đen sì với hai con mắt sáng quắc đang nhìn chằm chằm, Ba Nửa không cảm thấy sợ hãi, y chợt thốt “mày đấy à ? Sao bây giờ mày mới tới ?” – Y quờ quạng tay với lấy chai rượu, lẩm bẩm nói tiếp “Tao đợi đã lâu lắm rồi, sao mày tới muộn thế, có muốn uống với tao một ly không ?...” – Đến sáng mụ vợ ra mở cửa thì thấy Ba Nửa đã chết cứng từ lúc nào – Đó cũng là lúc khởi sự đào cái mả cổ mới được có hai ngày…
0
Tư Thăng lúc nào cũng như thế, lạnh lẽo và lầm lỳ, y có thói quen hút thuốc là nhai đầu điếu thuốc nát nhừ, vì thế nhiều khi cả bọn còn một điếu thuốc truyền tay nhau, đến khi điếu thuốc qua tay Tư Thăng là Bảy Bụng chửi um lên “cái thằng này nó hiếp dâm điếu thuốc nát bét rồi”. Cũng như Út Thứ, y là tay đào chủ lực, không so đo, không tính toán thiệt hơn, lúc nào cũng làm việc như là để quên đi chính cái cuộc đời này. Gương mặt của y mới thật là kỳ lạ với những đường ngang dọc, hóc hẻm trên đó e còn nhiều hơn cả kinh rạch ở Miền Tây. Đôi mắt thì tròng trắng nhiều hơn tròng đen, tròng đen thì lại không đen mà lại vàng vàng. Y lại có cái tật tự nhiên lắc lắc cái đầu, biểu hiện của một kẻ thần kinh không bình thường. Cách đây khoảng hơn mười năm, tức lúc đó Tư Thăng mới hơn hai mươi tuổi, người chị của y bị chết vì bệnh ung thư, người cha già, một ông cụ có bộ râu bạc phất phơ thật đẹp, nhìn cứ như ông Bụt trong truyện cổ tích, trong giây phút cuối cùng “nghĩa tử là nghĩa tận”, đã làm một cử chỉ vượt trên những điều bình thường, tức là một “hành động phi thường”, gọi y đến và bảo “người chết đó thực ra không phải là chị con mà chính là mẹ con đó, như vậy không phải con để tang chị mà là để tang mẹ” – Khó có thể tả được cái cảm giác của Tư Thăng lúc đó như thế nào ? Cái con người trước đó là một người chị, bây giờ nằm đó lại là một người mẹ… điều gì đã khiến bà ta phải che dấu điều này hàng bao năm trời ? cho đến tận lúc chết cũng không dám nói ra ? Thảo nào mà bao nhiêu năm nay bà chị này là người trong gia đình tỏ ra thương yêu Tư Thăng nhiều nhất. Thuở còn đi học, người chị đã săn sóc Tư Thăng ân cần như thế, thì ra y là một đứa con hoang của người chị.
Nếu y là một đứa con hoang thì cũng đã là ghê gớm lắm rồi, nhưng người trước đây là chị y lại có con với chính cha ruột của mình, vì thế Tư Thăng vừa là con lại vừa là em, còn cha thì lại là ông nội… Số phận lại cho y cái đặc ân là giống cha như đúc.
Là một đứa con của tội ác… chính y cũng đâu có muốn điều đó, nhưng số phận lại là như thế. Một đứa con của tội ác thì trước sau gì cũng trở thành một kẻ ác… Tư Thăng có một ham thích tột cùng là được chà đạp, giày xéo lên những sinh linh đang sống. Nếu đang chạy xe trên đường mà nhìn thấy xác một con chuột, y sẽ cho xe chạy qua cán dẹp đầu, sau đó quay xe lại cán tới cán lui cho đến khi con chuột biến thành một đống nát nhừ. Y cũng có tài bắt rắn, trong lúc đào thường hay bắt được rắn hổ mây, lúc đó Tư Thăng bao giờ cũng dùng một sợi dây để treo cổ con rắn lên cành cây với một niềm sung sướng tột cùng.
Y còn là một tên bạo dâm, người vợ đầu vì quá hoảng sợ ngay tháng đầu tiên đã trốn biệt về nhà cha mẹ ruột, sau đó bỏ đi đâu không rõ. Người vợ thứ hai cũng không hơn gì, sau một tháng cũng trốn biệt tăm. Đến người thứ ba thì y phải xuống tận xứ “Chắc Cà Đao” xa lơ xa lắc, lần này y phải mướn mấy thằng bạn giả làm huynh trưởng, đại diện, chứ gia đình chán quá rồi đâu còn ai chịu đi nữa.
Khi say khướt Tư Thăng mới nói y thích nhất là chơi “kiểu ngựa”, tức là phải đá cho con vợ thật bầm dập… “phải đá như ngựa đá” – Có người đàn bà nào lại chịu đựng nổi mới là chuyện lạ ?
Dạng người như Tư Thăng đến thần chết cũng còn phải sợ, vì thế chắc là y còn phải sống thật lâu, lâu lắm lắm…
Thảo nào mà hôm khởi đầu đào cái mả cổ, Tư Hường hỏi có cần phải đeo bùa, làm lễ cúng không, Tư Thăng chỉ cười gằn gặn.
Y cần đếch gì đến bùa chú ?
0
Ai lần đầu tiên gặp Út Thứ đều phải giật mình kinh ngạc, nhất là đàn bà, bởi vì nó đẹp trai đến lạ lùng, một vẻ đẹp hoàn hảo như pho tượng David của Michelangielo vậy. Mái tóc loăn xoăn vờn nhẹ trước trán, nụ cười tươi tắn, Út Thứ là một thanh niên dũng cảm và tốt bụng. Trong lúc đào, chỗ nào khó khăn nhất thì chỗ đó có Út Thứ. Nhiều lần trong lúc đào trúng phải những hầm đạn chôn giấu, lúc đó ai cũng dạt ra cả, chỉ có Út Thứ là dám xông pha, dùng một chiếc len để đào từ từ…mà ở những vùng đất VN này, cái chuyện đào gặp phải những trái rocket to xù là chuyện quá bình thường, từng có chuyện một nông dân trong lúc cuốc đất, cuốc nhằm quả mìn nổ lớn đến nỗi khi gia đình đến chỉ thấy còn những mảnh vụn thịt … Nhiều khi trong lúc đào gặp cả một hầm quân nhu từ thời xưa, những thùng đạn, vải dù, bi-đông bằng inox của Mỹ qua thời gian vài chục năm chôn dưới đất vẫn còn nguyên xi…
Buổi chiều hôm ấy về nhà Út Thứ, đó là một ngôi nhà tranh vách lá trong một khu vườn rất rộng đầy lá vàng rơi. Một bà già Nam bộ gầy gò có đôi mắt trũng sâu, hai gò má hóp nhăn nheo đang ngồi trước sân tỏ ra vô cùng mừng rỡ khi thấy Út Thứ về và lại dẫn theo một người bạn.
Bà già chính là bà nội của Út Thứ…
Trong nhà chỉ có một bộ ván ngựa và một cái tủ thờ…
Trên cái bàn thờ cũ kỹ là bảy tấm hình, bảy người đàn ông…
Ông già trong tấm hình có lẽ là ông nội của Út Thứ.
Trong sáu tấm hình còn lại có một người là cha của Út Thứ.
Một người có vầng trán cao và đôi mắt rất sáng.
Một người cũng có vầng trán cao và đôi mắt rất sáng, nhưng thêm bộ ria mép nom rất oách.
Có người đội nón tai bèo còn có người thì lại mặc quân phục sĩ quan VNCH.
Trong sáu người đó thì ba người theo MTDTGPMN còn ba người là lính VNCH.
Những người con của bà mẹ đã từng cùng sinh ra, cùng lớn lên và vui đùa bên nhau, bên những hàng dừa nước, bên những đụn rơm, cùng nhau ra đồng cắt lúa, cấy mạ, đào hang bắt chuột, bắt lươn, cùng tắm chung một dòng sông, uống chung một giếng nước…. Nhưng khi trưởng thành thì chiến tranh làm cho họ phải chia lìa, thậm chí trở thành kẻ thù chĩa súng vào nhau giữa hai chiến tuyến… Nhưng rồi linh hồn họ lại cùng nhau trở về căn nhà bé nhỏ của người mẹ, không điều gì có thể chia cách họ khỏi vòng tay bao la của người mẹ…
Mẹ già chờ con ngồi đếm lá rơi
Đếm bao nhiêu lá mà con chưa về
Ngày xưa con bé ngây thơ
…………………………….

Giờ đây con đã đi xa
Mẹ già chờ mong con hoài…

Sự chờ đợi của Người Mẹ là sự chờ đợi của cả nhân loại, ngày xưa thì mẹ già chờ những người con, còn bây giờ thì bà chờ đợi thằng cháu. Sau khi cha mất, mẹ Út Thứ bỏ nhà ra đi khi nó mới được hai tuổi, kể từ đó gánh nặng dồn hết lên đôi vai già nua của bà nội. Nhưng càng lớn Út Thứ càng ham vui, từ khi vào DK xã Út Thứ hầu như đi suốt ngày, suốt đêm, không mấy khi ở nhà…
0
Tối hôm đó đi ruộng đâm cá lóc với Út Thứ.
Bầu trời về đêm thật là đẹp, những vì sao lung linh dường như chớp sáng trên từng ngọn lúa, trải dài xa tít tắp, không còn nhận ra đâu là bầu trời đâu là mặt đất. Làn gió thổi mơn man mát rượi, mang theo mùi đất mới, mùi mạ non, mùi cỏ dại thơm thơm nhè nhẹ. Tiếng côn trùng, tiếng ếch nhái kêu rỉ rả. Một vài con vạc ăn đêm xòe đôi cánh rộng bay ngang qua, cất tiếng kêu ngơ ngác. Út Thứ đi trước, ĐHC đi theo sát phía sau, đi chân trần nên cảm giác được cái mềm mại và lành lạnh của những bờ đất ruộng. Trên đầu hai thằng đội hai cái đèn soi, dây nối với cái bình điện đeo ngang hông. Thông thường ban ngày cá lóc sẽ lặn sát dưới đáy, lâu lâu mới trồi lên táp trên mặt nước nghe “ùm” một cái, nhưng đến tối, khí trời mát mẻ, cá lọc lại trồi lên. Khi chiếu đèn vào nhiều khi thấy con cá to bơi lững lờ trong những vũng nước ven bờ ao, bờ ruộng. Lúc đó Út Thứ tay cầm một cây chĩa ba sắc nhọn, từ xa khoảng ba mét là nó phóng ngọn chĩa bách phát bách trúng, con cá lóc to bằng bắp vế được kéo lên khỏi mặt nước dãy dụa dữ dội. Một đêm như thế có khi đâm được cả chục con, tối về nấu nồi cháo cá là có thể thức nói chuyện đến sáng.
Ven bờ kinh dừa nước mọc san sát, những bụi dừa nước đan xen với nhau chằng chịt, làn gió đêm về thổi nghe xào xạc. Buổi tối chim Mỏ nhác thường hay ngủ trong những tán lá dừa này. Giống chim Mỏ nhác có bộ lông rằn ri rất đẹp, khi soi đèn vào thấy là Út Thứ lại nhảy xuống kinh, lội ra bắt chim bỏ vào trong một cái túi lưới, chim Mỏ nhác ngủ rất say, bắt lúc này dễ như lấy đồ trong túi vậy.
Khi vầng trăng lên tới đỉnh đầu, tràn ngập cả không gian cái ánh sáng bàng bạc dịu dàng mướt mát, lúc đó đồng ruộng như có một màn sương trắng nhẹ nhàng bao phủ. Hai thằng lang thang đi như trong một giấc mơ… Đến khi thấm mệt thì leo lên bờ kinh, nằm dài trên mặt đất, nhìn lên bầu trời lấp lánh sao, tha hồ gửi hồn cho gió. ĐHC và Út Thứ nói với nhau đủ thứ chuyện trên trời dưới đất, lâu lắm rồi không còn nhớ được nữa, chỉ còn nhớ mỗi một câu mà Út Thứ có lần tâm sự “ Mẹ đã bỏ em ra đi khi em mới 2 tuổi, em chỉ mơ được thấy mặt mẹ một lần trong đời” – “em có bao giờ mơ thấy bà không ?” – “chưa lần nào, bà nội không bao giờ nhắc đến bà, em chỉ nghe vài người hàng xóm kể là bà rất đẹp” - “anh thấy con bé hàng xóm nó hay kiếm cớ qua bên này, chắc nó thương em đó” – “em làm khổ bà nội nhiều rồi nên không muốn làm khổ thêm người nào nữa…”.
Út Thứ có thể là rất tốt bụng, nhưng cái tốt của nó lại nhiều khi bị xem là dại dột. Trong công việc bao giờ nó cũng làm nhiều hơn, nhưng lại không hưởng được bao nhiêu. Bọn Ba Nửa, Bảy Bụng, Chín Cò luôn luôn toa rập với nhau để chơi gác Út Thứ, thảo nào lúc mới gặp là bà cụ đã vội vàng gửi gắm Út Thứ… lúc hai thằng chuẩn bị đồ nghề để đi đâm cá, bà cụ còn dặn với theo thằng cháu “chó dại có mùa, người dại quanh năm, nhớ làm gì cũng phải suy nghĩ nha con !”
0
Hôm đó có một đàn sếu bay ngang qua bầu trời… Những con sếu có cái mỏ và đôi chân thật là dài. Quýnh khèo say đắm nhìn những con sếu, chắc chưa có người đàn bà nào được Quýnh khèo nhìn say đắm như thế.
Tiết trời càng ngày càng lạnh mà công việc thì chưa tiến triển gì nhiều. Tư Hường cho đào một đường theo hướng bắc-nam rộng khoảng bốn tấc, sâu xuống hai mét, dài hơn hai mươi mét, sau đó cứ cách một mét rưỡi là đào một đường y như vậy theo hướng đông–tây nhưng chỉ dài khoảng ba mét. Lối đào này gọi là đào “xương cá”, thám sát được một diện rất rộng nhưng tiết kiệm rất nhiều công sức và tiền bạc.
Xương cá thì đã thành hình rồi mà kho tàng cũng chẳng thấy đâu.
Hôm đó lại bị cúp điện, Cả Quận thắp một ngọn nến ngồi bên bàn, gương mặt ông ta im phăng phắc dưới ánh nến lung linh.
Cả Quận thật là đẹp lão, mái tóc bạc như cước, sống mũi thật cao, đôi mắt thật sáng, bộ râu bạc phơ phất, có điều chưa bao giờ thấy ông ta cười.
Ông ta nói “Thằng Quýnh được sinh tại nhà lúc nửa đêm, lúc đó nhà có trồng rất nhiều hoa quỳnh… đêm đó hoa quỳnh nở trắng cả một góc vườn nên mới đặt tên nó là Quỳnh, không dè sau này khi làm khai sinh bà cán bộ lại viết nhầm dấu huyền thành dấu sắc, nên thay vì tên Quỳnh thì lại là tên Quýnh. Âu cũng là cái số trời, còn một thằng con cuối cùng thì lại vừa khèo vừa khùng, vì thế mà nó không phải đi bộ đội, vì thế mà nó còn sống được đến bây giờ, cái tên Quýnh dường như hợp với nó hơn là cái tên Quỳnh…”.
Bọn nào đó đã lấy mấy cái quần của bà Nụ, sau đó cho vào một cái hộp, bỏ đằng sau vườn nhà, dụ Quýnh khèo lấy cất đi… Quýnh khèo lấy cất đi thật, hôm nay cô Quý lục tủ ra mới thấy. Nghe nhắc đến tên mình thì Quýnh khèo cảm thấy sung sướng lắm nên nó nở toét nụ cười. Cả Quận thì không bao giờ cười, còn Quýnh khèo thì lại cười suốt ngày, thậm chí lâu lâu nó còn hát :
Hôm qua tôi ra thăm đồng đêm tối không trăng không sao
Cây tre cao cao gió đưa vi vu, vi vu…hình như có bóng người đu
Răng ma nhe dài như cái đinh ba toong
Răng ma nhe dài như cái đinh ba toong
Răng ma nhai nhai nuốt phá thân tôi…lưỡi dài ba thước giời ôi
Tôi lăn ra đồng tôi khóc tôi kêu u tôi
Tôi lăn ra đồng tôi khóc tôi kêu u tôi…
…………………………………………………..
Tư Hường cũng cảm thấy buồn phiền nên hôm đó y rủ ĐHC ra bờ đê sông Hồng ngồi hóng gió… Bạn có bao giờ ngồi bên dòng sông ? Bạn có bao giờ nhìn một dòng sông thật lâu đến khi cảm thấy nó hòa nhập vào chính bạn, một dòng sông thẫm đỏ phù sa với những bãi bồi xanh mơn mởn từ từ sẫm xuống trong một buổi chiều tàn. Bạn sẽ cảm thấy cuộc sống không còn buồn tẻ, những khát vọng sẽ lại bừng cháy và có những khoảnh khắc nào đó bạn cảm thấy tinh thần mình cũng tuôn chảy như dòng sông không bao giờ dừng lại…
 
Ngồi ở đây thả hồn theo dòng sông Hồng bao la vĩ đại, thả hồn theo những làn gió chiều, theo từng làn sóng lăn tăn. Dòng sông từng có những cơn lũ dũng mãnh cuộn trào, vì thế mà phải có bờ đê cao trên chục mét nhưng giờ đây sao thật hiền hòa…
Nếu quay lại thì sẽ thấy xa xa một cái hồ nổi tiếng của làng G cũng mênh mông không kém. Hồ trải rộng đến tận chân trời, trong hồ nuôi hàng triệu con cá mè hoa. Buổi chiều dân trong làng tụ tập ở đây để câu trộm, đồ nghề câu gọi là “ba tiêu”, đó là một cái móc sắt ba ngạnh, gắn vào đầu cần câu bằng tre hoặc trúc, trên đầu cần có cái vòng nhỏ bằng sứ, khi câu thì dùng sức quăng lưỡi ra thật xa sau đó giật mạnh sẽ trúng vào những con cá mè rất lớn, lên đến hàng chục ký. Cá mè hoa còn gọi là “cá chép bạc” vì khi bơi dưới hồ, lâu lâu nó nổi lên hay nhảy lên khoe bộ vảy lấp lánh ánh bạc dưới ánh nắng nom rất đẹp. Cá nấu canh chua với quả dọc thì ngon tuyệt, nhất là cái đầu rất béo, dân gian còn có câu “mắt cá trôi, môi cá mè”, mắt cá trôi thì chẳng biết như thế nào, nhưng môi cá mè thì thật dầy cơm và béo ngậy…
Trong đám thợ đấu thì Bình Sứt và Tiến Chài mỗi chiều đều ra đây câu trộm.
Tiến Chài là một tay thợ “chài” trên cạn, chuyên quăng lưới vào các nhà kho, các công trường… Tiến Chài sống một cuộc sống phóng đãng bởi vì y mồ côi cha mẹ từ nhỏ, y còn có một đứa em gái thì lớn lên nó cũng hành nghề đứng đường đâu đó, ở khu ga Hàng Cỏ thì phải.
Câu trộm cũng là một nghề của y, là một cao thủ trong nghề “quăng ba tiêu”, có thể quăng xa năm, sáu chục mét, giựt được những con cá mè rất lớn.
Trong nghề “quăng ba tiêu” thì Bình Sứt còn hay hơn cả Tiến Chài nữa. Đó là nghề mưu sinh của nó để nuôi ông bố già nua ốm yếu, để phụ với bà mẹ lưng còng bán rau ngoài chợ, được vài con cá là có thêm “đồng ra đồng vào”, có thêm chút cháo…
Bấy giờ là cuối thu, đầu mùa đông nên cá mè còn chịu nổi trên mặt hồ, hôm đó Bình Sứt giựt được mấy con cá lớn nên nó mừng lắm… câu trộm một buổi chiều bằng hai lần đi hôi cá, bằng mấy lần đi đào mả…. Vì thế nên nó mới nhảy xuống hồ tắm, bơi vài vòng cho đã… và nó không bao giờ quay vào bờ nữa.
Có những cái chết đến thật  bình thản nhẹ nhàng như những cánh hoa bay theo làn gió, nhưng cũng có những cái chết đau đớn vật vạ từ tháng này sang tháng khác…
Bình Sứt chắc là chết rất êm đềm, bởi vì nó nằm đó nom thật yên bình.
Không biết giây phút cuối cùng nó nhìn thấy điều gì ?
Không biết giây phút cuối cùng nó có nhìn thấy gương mặt của thần chết ?
Không hiểu sao con ma cây Gạo lại không bắt Tiến Chài, một tên lưu manh chuyên nghiệp, mà lại bắt đi Bình Sứt, một đứa trẻ mới lớn chưa biết gì ?
Còn đối với Cả Quận thì đúng là một gáo nước lạnh cho mùa đông sắp tới…
0
Có một người bạn nói rằng Tư Hường nổi tiếng là kẻ “đào sâu”, đến bây giờ mới thấy được điều đó. Tiền đã hết rồi mà cứ phải đào sâu xuống mãi, bây giờ không phải đào vì tiền nữa mà là vì danh dự. Khi đào sâu đến năm mét thì Tư Hường linh cảm thấy điều gì đó, y chăm chú nhìn Tiến Chài, sau đó lại nhìn Thắng Còi…
Y không nhìn Bình Sứt vì nó không có ở đó, nó đã chết rồi.
Cái chết của Bình Sứt không ảnh hưởng gì nhiều lắm đến cuộc đào vì nó chết ở ngoài hồ, nhưng những lời đồn về con ma cây Gạo thì ngày càng ám ảnh.
Ám ảnh đến mức cả Tiến Chài lẫn Thắng Còi đều hoảng sợ xin nghỉ. Xem ra những thế lực đen tối xuất phát từ cõi giới vô hình luôn ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của con người trần thế.
Sáng sớm hôm đó khi mặt trời chưa mọc, âm khí còn tràn ngập,Tư Hường lấy một cái nhẫn cổ đen thui treo thành sợi dây dọi. Chiếc nhẫn này rất đặc biệt, chỉ nhỏ vừa đủ đeo vào ngón tay út, làm bằng một chất có tên dân gian là “đồng lửa”, màu đen sì, rất nặng, tuy nhiên nó không phải là đồng đen nhưng cách bảo quản cũng tương tự. Thông thường người ta dùng mỡ bò bọc nó lại và đựng trong một cái hộp bằng sừng hay ngà voi, không bao giờ được cho nó tiếp xúc trực tiếp với mặt đất, vì nếu đặt sát mặt đất lâu ngày dần dần nó sẽ không còn được nhạy cảm nữa. ĐHC và Cả Quận đứng hai bên đường đào, trên vai là một cây gỗ tròn to bằng bắp vế, chính giữa treo sơi dây dọi có chiếc nhẫn, sau đó cả hai bắt đầu đi từ từ dọc theo những đường đã đào sâu năm mét. Do tác động không đồng đều của các tia đất, cái nhẫn cứ đưa qua đưa lại, quan trọng là khi đi phải thật chậm, thở thật đều và thật nhẹ, trong đầu không được suy nghĩ gì cả nếu không sẽ làm chiếc nhẫn bị nhiễu, nó sẽ dự báo sai lệch. Cứ đi như thế, đến một chỗ tự nhiên chiếc nhẫn dừng lại và quay tít, dường như có một cái gì đó đã hút nó ở phía dưới…
Căn nhà của Cả Quận là một căn nhà cổ, nó được xây dựng theo thuật phong thủy một cách tỉ mỉ. Nóc nhà nhìn úp úp như cái mai rùa, phía dưới những cái chân cột nhà đều chạm hình móng rùa, còn cửa chính căn nhà hướng về phía bắc theo tượng Huyền Vũ, có lẽ nhờ cái tượng này mà Cả Quận thoát chết thời cải cách. Nếu là đền thờ thì cửa chính sẽ phải hướng về phía nam. Quan trọng nhất là cái trụ ở trước cửa chính. Cái trụ ấy lâu ngày đã bị phá mất, Tư Hường loay hoay dò dẫm suốt chính là y đang cố tìm cái trụ đó. Trước cửa chính có thềm đá xanh, thềm đá tuy lâu ngày nhưng vẫn còn nguyên vẹn. Phía sau vườn có một cái hầm, Cả Quận nói đó là cái hầm đào để tránh bom vào năm 65 – 66 gì đó. Dãy tường cổ phía sau nhà đã bị lấn chiếm từ lâu và bây giờ phải dùng cây dâm bụt làm hàng rào tạm. Thành ra Huyền Vũ bây giờ chỉ còn một nửa hình tượng, nếu may mắn thì cái chỗ mà chiếc nhẫn xoay tít đó có thể chính là “Trụ”. Có được “Trụ” rồi thì từ đó có thể tìm ra Thanh Long, Bạch Hổ và Chu Tước. Tư Hường đã đứng hàng giờ để ngắm nhìn một tấm hoành phi cổ trong nhà Cả Quận, tấm hoành phi đó có hình Chu Tước.
Trưa  hôm đó thì khởi sự cho lấp lại tất cả, cuộc đào xem như thất bại, bọn Tiến Chài và Thắng Còi chắc chắn sẽ truyền tin tức này khắp đầu trên xóm dưới.
Buổi trưa cô Quý nấu món canh riêu cua đồng với rau đay, ăn tô canh nóng vàng rượm riêu cua vừa thơm vừa ngọt, có trái cà pháo và dưa cải muối dòn tan, bữa cơm chia tay ngon tuyệt vời.
Cô Quý muối dưa cải và cà pháo nổi tiếng cả làng.
Cái khạp muối dưa của cô là do u để lại, nếu dùng cái khạp khác thì dưa cũng  không ngon bằng. Cả hòn đá để dằn dưa cũng chỉ được một mình cô Quý đụng tới, nếu có bàn tay lạ sờ vào thì mẻ dưa lần đó sẽ không được ngon. Cô Quý không dùng đường mà lại dùng cây mía lau để lèn chặt giữa các bẹ dưa nên vị dưa rất lạ, thơm và ngọt. Nghe nói người càng thanh cao thì vị dưa muối càng thanh tao, có lẽ vì thế mà cà và dưa của Cô Quý là một món ăn đơn sơ nhất mà cả làng đều thèm muốn… chả trách mà Bình Sứt khi còn sống cứ nhắc đến mãi.
Trước khi chia tay, Tư Hường nói với Cả Quận “đến mùa chim sẻ về thì hãy khởi sự đào tiếp”…
0
Ba Nửa chết vì rượu hay là vì đụng đến cái mả cổ, điều này chưa biết chắc nhưng đã phải ngưng đào vài ngày, nhiều khi có thể phải ngưng vĩnh viễn.
Cái hòm của Ba Nửa đặt chình ình trong trụ sở xã đội, bản nhạc hồn tử sĩ từ cái cát xét lâu ngày đã bị nhão ngân nga nghe thật thảm não “đêm khuya âm u….ma đánh đu trên nóc nhà…tòng teng…”. Ba Nửa tuy nghèo nhưng y chết bất đắc kỳ tử nên cũng có khối kẻ tò mò đến viếng để xem hư thực, bên ngoài đã nghe phong phanh đồn đại trong dân về lời nguyền dành cho những kẻ dám động vào ngôi cổ mộ.
Nhân lúc phải ngưng vài ngày, Tư Hường và ĐHC tranh thủ qua bên phía tây  của khu mộ cổ, vào gặp tay chủ nhà vẫn còn chưa hết hồn vía vì lần đào trước, thuyết phục y mãi, sau cùng phải chi ra một ít tiền thì tay chủ nhà mới dẫn cho xem chỗ mà bọn Huỳnh Đỏ đã từng đào.
Đó là một cái hố đã bị lấp lại một cách sơ sài nên có thể hình dung được bọn Huỳnh Đỏ đã đào như thế nào. Bọn này đào đến đâu thì dùng tôn chắn đến đó để cát không tràn xuống, đục xuyên qua khoảng ba lớp đá ong dày thì đến được trung tâm của ngôi mộ… nếu không nắm được cấu trúc của ngôi mộ thì chắc chắn không thể đào được như vậy, một đường đào vô cùng chuyên nghiệp, hơn nữa phải có máy khoan xuyên đá mới có thể làm được, loại máy này ở VN chưa có, chắc mấy tay Đài Bắc mang lậu từ nước ngoài vào. Bọn Huỳnh Đỏ không thể đủ trình độ để đào được như vậy, chắc chắn một trong hai tay Đài Bắc là tác giả của đường đào này, có thể chính là tay đã bị xe tải tông chết… Xem chừng cái chết của y không ngẫu nhiên chút nào, và tay còn lại bỏ của tháo chạy về nước cũng là phải rồi, ở lại có khi cũng về chầu ông bà sớm. Không thể hỏi tay chủ nhà là bọn Huỳnh Đỏ đã thấy những gì, đã lấy đi những gì… bởi vì hoặc là y không biết, hay biết cũng không bao giờ dám nói.
Buổi chiều hôm đó có một người lạ mặt đến tìm ĐHC, y gầy gầy, đi đôi dép lẹp xẹp, mặc một bộ đồ cũ xì, nói giọng Quảng Bình “có rất nhiều đơn kiện các ông, có một cái đơn tố cáo mấy ông đào được một pho tượng phật vàng nặng cả chục ký mà ém cất đi không báo cáo chính quyền…”. Người này trong quá trình đào đã từng thấy y xuất hiện mấy lần, lẫn vào mấy người dân đến xem. Thực ra việc thuê mấy tay DK xã không phải để đào đất mà là để canh chừng dân đào thuê là chủ yếu, cao điểm có khi lên đến cả trăm người đào trong ngày, đều là dân tứ xứ, nếu không có DK thì khó có thể quản lý trật tự được. – Tay Quảng Bình nói tiếp “tôi hầu như theo dõi suốt nên biết chắc là không có chuyện đó…” – Tay này chắc thuộc ban nội chính…, những vụ lớn, dính líu đến các quan chức tầm cỡ, đến CA hay QĐ đều là do cái ban này triệt phá, trong ban tập hợp những người có thể nói là tinh hoa nhất của cơ chế…Tay Quảng Bình này chắc cũng muốn kiếm chút cháo, chỉ tiếc là nồi cháo của Tư Hường giờ đã cạn, may ra còn được cái tộ kho quẹt thì quá mặn… chắc là y đang lần theo dấu một đường dây buôn đồ cổ, có thể dính cả đến cái mả cổ… mà trong đó Sáu Ri cũng rất sáng giá. Sáu Ri tên là Nguyễn Văn Ri, con của Nguyễn Văn Rạng, cháu của Nguyễn Văn Rô, ba đời thuộc dòng dõi gốc gác… Trời đánh bảy búa mà Sáu Ri còn chạy lúp xúp, lúp xúp thì thử hỏi có việc gì mà y không dám làm ?
0
Hai Đụi có một gương mặt rệu rạo, nhăn nhúm, bèo nhèo như cái mền rách. Y ốm cà tong cà teo, suốt ngày say xỉn như Ba Nửa, một thời nào đó Hai Đụi cũng là một người du kích thật sự, bàn chân từng dẫm lên gai nhọn, đạp trên đá cứng, từng nằm đất phơi sương, lướt đi dưới làn đạn. Thỉnh thoảng hôm nào không say, trong lúc mọi người đào thì Hai Đụi rảnh rang ngồi phía trên cũng kể nhiều chuyện quá khứ vào sinh ra tử của y rất hấp dẫn, như chuyện “Cọp xám Bình Long” chẳng hạn:
Cọp Bình Long có bộ lông màu xám tro, nặng cỡ chừng 80 đến 120 ký, con to lắm cũng chừng 150 ký là hết cỡ. Có điều tuy nhỏ nhưng cọp xám Bình Long lại rất dữ và nhanh nhẹn phi thường. Do chiến tranh ác liệt, bom đạn ầm ầm nên dần dần cọp xám Bình Long trở nên quen thuộc, không hề sợ hãi khi nghe tiếng súng, tiếng bom nổ mà ngược lại mỗi lần nghe thấy chỗ nào có đánh nhau, súng nổ đì đoàng là cọp xám Bình Long lại mò tới để bắt thương binh đang nằm một chỗ không chạy được hay lính mới vừa chết trận xác hãy còn nóng mang vào rừng sâu ăn thịt. Ăn thịt người riết trở nên ghiền nên cọp xám Bình Long càng ngày càng trở nên hung dữ, cứ nghe tiếng súng ở đâu là lại kéo nhau mò tới.
Lần đó trong trung đội DK có Tám Ngàn, cao gần thước chín, vai u thịt bắp, chuyên gánh cơm cho anh em. Anh ta có sức khỏe phi thường, có thể vác ba hòm đạn trên vai mà vẫn chạy như bay. Trong lần chống càn ở Bình Long, Tám Ngàn và Tư Theo có nhiệm vụ cáng thương binh mang về cứ. Đang gom được hơn bảy tám người đặt nằm một chỗ thì cọp xám Bình Long ở đâu xuất hiện, con này rất to… Tư Theo bất ngờ thấy con cọp lù lù hiện ra, sợ quá đứng đờ cả người, con cọp vụt nhảy tới tính vồ lấy một thương binh lôi vào rừng thì Tám Ngàn về tới liền xông đến chiến đấu với con cọp. Ban đầu Tám Ngàn có cây đòn vông trong tay nên chiếm lợi thế, phang con cọp tới tấp, lát sau cây đòn vông bị gãy nên đành tay không đánh nhau với con cọp. Do bị trúng phải một cái vả vào sườn, mất cả một mảng thịt, ra nhiều máu nên Tám Ngàn từ từ suy yếu, cuối cùng anh ta bị con cọp cắn vào gáy, quăng lên lưng cõng chạy vào rừng mất hút. Khi toán DK Hai Đụi trở về thì chỉ còn thấy Tư Theo đứng cứng ngắc như người chết rồi, anh ta không nói được, ú ớ đưa tay chỉ vào trong rừng… toán DK liền xông vào rừng thì không còn kịp nữa, cọp xám Bình Long đã ăn hơn một nửa người của Tám Ngàn rồi…
Tuy nhiên không phải lúc nào cọp xám Bình Long cũng chiến thắng, đó là lần DK bị càn quá phải rút sâu vào rừng. Trong lúc chỉ còn có mấy thương binh và hai cô y tá ở lại trong lán thì cọp xám Bình Long lại mò tới, có lẽ nó khoái thịt phụ nữ hơn hay sao mà lần này thay vì bắt thương binh thì nó lại chụp lấy chân một cô y tá lôi đi, cô này la hét dữ dội, có anh thương binh chợt tỉnh liền ráng chồm đến níu lấy cô y tá, giằng co với con cọp. Cô còn lại đang giặt quần áo, mùng mền dưới suối nghe tiếng la liền chạy lên phóng luôn một đá trúng ngay bụng con cọp. Cọp xám Bình Long bị một đá chắc là rất đau nên nó bỏ cô kia ra, quay lại tấn công cô này. Cô y tá này tên Xiếu, rất to khỏe, là con nhà nòi võ Tây Sơn, Bình Định… cô ta chỉ hai tay không, vừa vờn vừa đánh, vừa lùi dần xuống suối…
 
Cô Xiếu có mái tóc dài chấm gối, đen mượt… quần thảo với con cọp một hồi thì tóc cô xõa xượi, quần áo lúc thì bị móng cọp vụt phải, lúc thì bị vướng vào bụi gai nên rách te tua, người gần như trần truồng, da thịt tươm máu. Cọp xám Bình Long mắt thì nhìn thấy thân thể đàn bà ngồn ngộn, mũi thì ngửi thấy mùi máu người tanh nồng nên càng lồng lộn điên cuồng, lúc cô Xiếu vớ được một khúc cây thì đã lùi đến sát bờ suối… Bấy giờ bên bờ suối có mặt cát rất rộng nên con cọp tính đánh đòn quyết định, nó lùi lại, thu mình xuống, cái đuôi đưa qua đưa lại… còn bên kia cô Xiếu cũng kịp quấn mái tóc dài vào hai cánh tay, cầm chắc lấy khúc cây đưa ra phía trước, người hơi khum xuống. Con cọp thấy ngon ăn liền phóng tới, hai vuốt nó chụp lấy hai cánh tay cô gái nhưng bị mái tóc dầy của cô làm cho vướng víu, nó tính hả cái họng khổng lồ táp tới thì bất ngờ cô Xiếu ngả người, con cọp chưa kịp phủ lên thì bị trúng cú đạp bằng cả hai chân vào hạ bộ bật lộn tuốt qua phía bên kia bờ suối. Cọp xám Bình Long bị trúng phải cú đá trời giáng ngay chỗ nhược, nằm chết lè lưỡi dài cả tấc…
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2009-01-07 01:20:33Ct.Ly>
Cọp xám Bình Long đã ghê gớm lắm rồi nhưng theo Hai Đụi thì chưa ăn nhằm gì với con rít chúa, khi nào cao hứng y lại kể chuyện “Rít chúa vùng biên giới”:
Lần đó Hai Đụi đang đóng quân ngoài bìa rừng sát biên giới Cao Miên thì nghe ào ào, ào ào… nhìn ra thì thấy mấy tay lái trâu đang bỏ chạy thục mạng, Hai Đụi và mấy tay DK nữa xách súng lật đật chạy ra, gặp mấy con trâu cũng đang bỏ chạy tán loạn, có điều mấy con trâu này như bị trúng tà khí hay sao mà con nào con nấy sùi bọt mép, chạy lảo đảo như không muốn nổi… Rồi cát bụi ở đâu bay đầy trời, một con gì đen thui phóng đến, dài cả hàng mấy mét, Hai Đụi còn kịp nhìn thấy nó có hàng chục cái chân. Con thú phóng như bay tới một con trâu, con trâu này dường như quá sợ hay sao, nó lắc lư cái đầu, bọt mép sùi ra ngoài giọt giọt… Con thú cắn cổ con trâu vật ngã một cái rầm, sau đó nó phóng lên trên cắn thủng bụng con trâu lôi nguyên cả bộ đồ lòng ra ngoài, có điều nó không ăn liền mà để đó, quay ra phóng theo mấy con trâu khác để vật tiếp. Bọn Hai Đụi thấy thế liền chĩa ngay mấy khẩu AK vào con thú nã đạn dồn dập… con thú cứ như là bằng thép hay sao, đạn bắn cả băng như vậy mà dường như không ăn thua gì. Thấy bắn không thủng, mấy tay DK cũng bỏ chạy, may là con quái thú không đuổi theo, nó chỉ lo vật mấy con trâu…
Sáng hôm sau kéo quân ra thì thấy ba con trâu đã biến thành ba bộ xương, chẳng còn dính một chút thịt nào. Dân buôn trâu kể đó là con rít chúa, chắc nó đang nuôi con nên vật mấy con trâu làm mồi… Gặp phải rít chúa thì chỉ có cách bỏ của chạy lấy người vì đạn bắn không thủng được nó, còn trâu gặp nó thì sợ hãi đến mức không chạy nổi, chỉ lết lết và sùi bọt mép chờ rít chúa đến moi bụng. Chỉ có mỗi con rít mà không làm gì được thì mang tiếng DK làm cái quái gì? nên toàn đội DK bàn bạc với nhau quyết chí phải diệt cho bằng được con rít chúa. Hôm sau đám buôn trâu chấp nhận hy sinh thêm một con trâu nữa để làm mồi, con trâu được cột vào một sợi dây thật chắc đề phòng khi gặp con rít nó bứt dây bỏ chạy, còn đội DK thì mỗi người đều cột ba trái lựu đạn lại thành một chùm, bao vây xung quanh.
Con rít chúa này quá dạn, ngửi thấy mùi trâu là nó phóng đến liền. Con trâu thấy nó thì quýu cả giò, khụy xuống, con rít phóng đến vật con trâu ngã cái rụp, sau đó nó moi ruột gan con trâu ra lòng thòng… Con Rít chúa rít lên mấy tiếng nghe chói cả tai, từ trong mấy cái hang sâu xuất hiện cả trăm con rít con, gọi là rít con chứ con nào con nấy to bằng bắp vế bò ra ào ào, bu lấy con trâu ăn thịt. Lúc bấy giờ mấy tay DK mới quăng mấy trái lựu đan xuống dưới bụng con Rít chúa, nó mải ăn nên không để ý, chỉ nghe một tiếng nổ long trời, con Rít chúa bị đứt ra hàng mấy khúc văng tứ tán. Hai Đụi còn kể lần đó mang mấy khúc thịt rít về làm gỏi nấu cháo ăn ngon và thơm còn hơn cả thịt gà nhiều.
Cũng như Ba Nửa, đối với Hai Đụi cái thời đó đã là dĩ vãng, bây giờ y chỉ là một cái xác không có linh hồn. Linh hồn y đã ngã xuống cùng với những người đồng đội từ thời xa xưa rồi. Thời gian khổ nhưng oanh liệt đó may ra chỉ còn ở trong câu hát ngày nào

“Mòn mỏi ánh trăng thu soi mơ màng trên đường xa, nấp sau bóng mờ ta xung phong. Lướt qua hầm qua hố, qua giông tố, mưa gió hiểm nguy, đứng lên liều thân cứu nước nhà… Bọn phát xít khát máu, chúng bay run lên đi, run lên đi… chúng bay sẽ đến ngày bại vong. Trong tối đám quân ma âm thầm đi bủa vây, âm thầm đi chăng lưới…”.
0
Bảy Bụng và Chín Cò thì không thế, họ mới vào DK sau này, họ là những kẻ thức thời, sẵn sàng đạp lên cái quá khứ đau buồn để tìm đến một tương lai no cơm ấm áo hơn… Điều đó không phải là đúng hay sao? Đó không phải là cái mà mọi người đang tìm đến hay sao? Đối với họ chỉ cần có nhiều tiền là được, tiền là sự bảo đảm cho tương lai, tiền là tất cả trong tâm trí, tình cảm và hành động của Bảy Bụng và Chín Cò. Đất cát lên giá thì đời Chín Cò lên hương vì y được thừa hưởng khá nhiều ruộng đất từ ông bà để lại. Vì thế y xây được căn nhà ba gian khá khang trang, vì thế y được bạn bè vây bọc nịnh nọt xung quanh, thượng cấp chiếu cố và nhất là cưới được cô vợ xinh tươi như bông hoa súng vào buổi bình minh.
Ngoài cái thú đếm tiền, cái thú đặc biệt nhất của y là rình xem phụ nữ tắm, cái thú đó có từ khi y còn rất bé, hầu như cả xóm biết chuyện này, vì thế sau lưng mọi người gọi y là con “Cò Ma”.
Ở miền quê, nhà tắm thường làm ngay ngoài vườn, nhiều khi chỉ che tạm vài tấm nilon, có tấm lâu ngày rách te tua nên con Cò Ma có điều kiện trường kỳ mai phục. Nhiều khi buổi trưa trời nắng chang chang như đổ lửa, Chín Cò gồng mình chui vào đống rơm, phía bên kia là cái nhà tắm che sơ sài mấy tấm nilon rách, em gái nào nực nội nhảy tùm xuống ao bơi vài vòng sau đó lên bờ vào nhà tắm thay đồ, xối lại vào gáo nước là lúc đó con Cò Ma được thỏa sức ngắm nhìn cái tòa thiên nhiên của tạo hóa.
Rình xem phụ nữ tắm là một cái thú trải dài từ nam chí bắc, từ vùng quê nghèo nàn lạc hậu đến những vùng thị thành sầm uất, văn minh. Hình như đó là một bản năng khá phổ biến ở đàn ông, nghe kể ngày xưa có một vị vua Trung Hoa cũng có cái khoái cảm này, mặc dù có trong tay cả ngàn phi tần nhưng ông ta lại khoái lén rình xem họ tắm hơn cả, vua mà còn như thế thì việc Chín Cò làm đâu có gì là lạ ?
Từ khi vào DK thì Chín Cò có điều kiện phát huy tối đa cái sở thích rình rập của mình. Y rình rập mọi lúc, mọi nơi, mọi điều thầm kín của con người đều được y dòm ngó, xem trộm và trình báo, vì thế y được Sáu Ri ưu ái hơn hết thảy.
Bảy Bụng thì không làm được điều đó vì y quá dềnh dàng, cái bụng to như cái trống, bộ ngực còn to hơn cái trống nữa nên nhìn cứ như một người khổng lồ. Y lại để bộ ria xù nom giống hệt con chuột cống nhum, một con chuột cống vai u thịt bắp, một tay sai cần mẫn đích thực. Nom lực lưỡng là thế nhưng đừng tưởng Bảy Bụng thuộc loại “đầu óc ngu si, tứ chi phát triển”, y giảo hoạt còn hơn Chín Cò nhiều. Y biết đưa biết đẩy, biết môi miếng, biết dùi sâu vào những mâu thuẫn hay những nỗi đau của người khác để từ đó thêm phần hưởng lợi. Con Chuột Cống Bảy Bụng cũng được thừa hưởng gia sản của ông bà để lại như con Cò Ma, trong đó có nhiều món đồ cổ rất có giá trị như cái tủ thờ bằng gỗ mun khảm xà cừ, bộ lư đồng cổ, một số đồ sứ cổ và đặc biệt có cả một cái sừng tê giác… Ngoài ra nhờ những phi vụ môi giới đất đai cho xã y cũng kiếm chác được khá nhiều…
Y cũng thích rình xem phụ nữ tắm, mà lại rình đúng ngay cô vợ của Chín Cò nên lần đó hai thằng xách súng mém bắn nhau, may mà có Sáu Ri can thiệp kịp thời. Tuy ngoài mặt thì dàn hòa như vậy nhưng trong bụng con Cò Ma và con Chuột Cống cũng còn “hầm” nhau lắm…
0
Có rất nhiều lời đồn đại xung quanh cái chết của Ba Nửa, trong đó có lời đồn thổi về lới nguyền của ngôi cổ mộ, lời đồn này cũng có cái lợi là làm đám dân đen thấp cổ bé họng, đám đầu trộm đuôi cướp hoảng sợ mà tránh xa. Lần đó viện cớ không có tiền, vợ Ba Nửa không chịu làm cúng thất, DK xã đành phải cùng nhau làm một bàn tiệc nho nhỏ để cúng cho hương hồn Ba Nửa khỏi tủi thân. Bàn tiệc làm ở nhà Chín Cò, hôm đó hầu như có mặt đông đủ nhưng giữa chừng Sáu Ri cáo việc phải đi. Khi tất cả đã ngà ngà, vợ Chín Cò cất tiếng ca một bài “tân cổ giao duyên”:
 
“Nghe tiếng đàn ai rao sáu câu
Như sống lại hồn Cao Văn Lầu
Về Bạc Liêu danh tiếng

ôn lại giấc ngủ vàng son
Một thời để nhớ ngày đó xa rồi…

Bên nước mặn biển cho muối nhiều
Bên nước ngọt phù sa vun bồi
Bạc Liêu đưa ta tới

thăm đồng lúa trải ngàn khơi
Cò bay thẳng cánh nhìn mỏi mắt người…”

………………………………………………
Đang vui vẻ nhậu nhẹt, cười nói ca hát ồn ào, bỗng nhiên Bảy Bụng đứng dậy chỉ ngay mặt Chín Cò “mày đừng tưởng có tiền là mày ngon, mày chỉ là cái con củ c…” – giữa bàn nhậu đông đủ chiến hữu, quan khách lại bị chửi một cách lãng xẹt, Chín Cò quê mặt, y cũng đứng dậy chỉ ngay mặt Bảy Bụng “mày đúng là cái thằng ngu…đm…mày càng liếm đít Sáu Ri mày càng ngu, tao nói cho mày biết…cỡ mày chưa đáng xách dép cho tao” – “… mày đừng tưởng mày tâu mày hót, mày rình mày rập là làm tao sợ, cỡ mày chỉ đi rình được mấy con đàn bà… có ngon ra giữa sân chơi với tao…” – Bị chửi đúng vào chỗ nhột, nghe “búp” một cái, Chín Cò cầm luôn chai rượu đập thẳng vào đầu Bảy Bụng, may mà Út Thứ đưa tay ra đỡ được, lúc này Hai Đụi cũng đứng dậy, dù sao thì y cũng có quá khứ, cái quá khứ đó tuy chẳng là cái đinh gì nhưng cũng làm đàn em phải kiêng nể “các chú nể mặt anh thì im hết… hôm nay là cúng thất của anh Ba mà các chú làm lung tung thế thì coi sao được ? anh đề nghị chú Bảy với chú Chín yên lặng, thằng nào uống được thì uống tiếp, còn không uống nổi thì về… không được cãi nhau làm anh em mất đoàn kết…”
Chín Cò tuy làm ra vẻ lốp xốp như vậy nhưng thật ra y rất nhát… còn Bảy Bụng thì được dịp không có Sáu Ri, làm bộ bộc phát chửi tứ tung cả lên chứ thực ra y còn nhát hơn cả Chín Cò nữa. Tư Thăng nãy giờ lầm là lầm lỳ, chuyện hai thằng tay sai ghanh ghét nhau đâu có gì là lạ…nhưng y cũng khều Út Thứ kêu nó ca tiếp vài bài hát cho không khí bớt căng thẳng.
Út Thứ vén mái tóc xoăn lòa xòa trước trán, nốc luôn một ly “xoay chừng” rồi cất tiếng ca, bài ca nghe thật ảo não :
……………………..
“Ai nhớ chăng ai …
Ai nhớ chăng hôm nào
Hôm nào mưa rớt trên sông dài
Bên cầu em tiễn anh một chiều
Chiều chia ly còn chưa phai
Trời buồn khóc giùm duyên ai
Giọt lệ tuôn ngắn dài…”

……………………………..
Lúc bấy giờ trời đã chiều lắm rồi, mặt trời đã khuất sau cánh đồng, một vài gia đình đang nổi lửa đốt rơm, khói bay lên nghi ngút, không biết hương hồn Ba Nửa có đến dự tiệc hay sao mà bỗng một ngọn gió từ ngoài sông thổi về mang theo làn hơi lành lạnh và nỗi buồn man mác…
0
Chim sẻ về tất phải vào mùa hè.
Mùa hè cây Gạo nở hoa đỏ rực cả một vùng, Quýnh khèo đã lớn rồi mà vẫn thích theo đám con nít trong làng nhặt hoa gạo rơi như ngày nào. Trong tiếng ve sầu kêu ra rả, cái ánh nắng rực rỡ làm gương mặt cô Quý ửng hồng phơn phớt...
Lần đào ấy chỉ có Cả Quận và mấy đứa cháu trong nhà, sâu xuống “trụ” hơn chín mét thì thấy có cát đen, xuyên qua lớp cát đen thì gặp một phiến đá màu đỏ bầm, dưới phiến đá là ba cái chum sành.
Đó là chuyện sau này nghe Tư Hường kể lại.
Thế đất đó theo Tư Hường là cái thế “Chu Tước trấn Huyền Vũ”. Nếu hôm khởi sự đào trong bầy chim sẻ bay về có con chim sắc đỏ thì phước đức nhà Cả Quận vẫn còn, có thể đào thấy của. Còn hôm đó mà trong đàn chim sẻ không có con sẻ sắc đỏ thì xem như âm đức nhà Cả Quận đã tận, dù đào banh cả mảnh vườn cũng sẽ chẳng thấy gì.
Xem ra số Cả Quận cũng không đến nỗi…
Nghe nói sau này Quýnh khèo tự nhiên bớt khùng, nó lấy được vợ và có một đứa con trai, chỉ tiếc là lúc đó thần chết đã đến rước Cả Quận đi rồi nên ông ta không được thấy điều may mắn đó.
-------------------------------
Hôm nay đã là ngày thứ chín từ khi phát hiện ra cái mả cổ, nhưng tính ra mới khở sự đào có ba ngày, vậy mà biết bao nhiêu việc đã xảy ra.
Đây là một ngôi mộ của người Hoa… nghe đâu còn có câu “nơi nào có mồ mả của người TQ thì nơi đó là đất của người TQ”. Nếu đào một cách bài bản, quy củ thì e rằng phải mất bốn tháng, mà nhân lực tối thiểu cũng phải là hơn hai mươi người, không đủ thời gian và tiền bạc cho điều này. Cần phải chạy đua với thời gian vì đã thấy khá nhiều kẻ lạ mặt lảng vảng, nếu thiên hạ không ngán Sáu Ri thì e rằng nơi đây đã thành bình địa từ lâu…
Nếu là mộ song táng thì mộ phía đông chắc kết cấu cũng phải giống mộ phía tây, vì thế Tư Hường cho đào giống y hệt đường đào của bọn Huỳnh Đỏ. Nhưng không có máy khoan đá thì không thể xuyên qua lớp đá ong dày cả thước nổi. Đành phải đào theo đường bao để tìm cửa, điều này cũng khá dễ vì đã có phiến đá thạch anh để định vị. Phiến đá này tuy vỡ nát nhưng cũng có thể nhận định nó nằm phía trên ngôi mộ, sau đó do thời gian cát dần dần đẩy nó trôi xuống dưới. Không dè cửa ngôi mộ lại nằm dưới gốc một bụi gai dại rậm rạp. Sau khi phát sạch bụi gai và đào sâu xuống hơn hai mét cát thì lộ ra một tấm bia đá màu đỏ hồng, bề mặt đã mòn hết cả không còn đọc được gì. Tấm bia bên ngôi mộ bên kia chắc cũng như vậy vì dân đào mộ đại kỵ đụng đến bia của người chết.
Cuối cùng cũng tìm được cửa vào ngôi mộ, nó nằm sau tấm bia hơn ba thước và sâu xuống cát cũng độ ba mét.
Chặn cửa là một phiến đá to, phía trên có khắc một cái hình bằng lòng bàn tay, lâu ngày quá cũng chỉ còn thấy mờ mờ.
Tư Hường cứ ngần ngừ nhìn cái hình, không biết y đang lo lắng điều gì ?
 
 
Những ngôi mộ hoang thường chứa nhiều bí ẩn, những ngôi cổ mộ còn ẩn chứa nhiều điều phi thường hơn nữa. Cái điều xui xẻo nhất đã diễn ra, đó chính là phíến đá thạch anh bị băm nát, nếu biết được trên đó có khắc gì thì cũng có thể tránh được nhiều chuyện. Cái cửa đá này lâu ngày nên nó dính chắc vào thành mộ như liền một khối muốn mở ra cũng không phải là chuyện dễ. Đó là chưa kể cái kết cấu ba lớp đá dày cả thước và cát hầu như bao phủ ngôi mộ làm cuộc đào vô cùng khó khăn.
Tối hôm đó ngồi uống trà trong cái lều dựng tạm ngay bên cạnh ngôi mộ chỉ có ba người là Tư Hường, ĐHC, Lý Thông, bất ngờ Tư Hường nói “có thể đây chỉ là một ngôi mộ giả, bên trong có quan tài nhưng chưa chắc đã chôn người chết.” – “sao anh lại có ý nghĩ đó?” – “Vì cái hình khắc trước cửa ngôi mộ.”
Tư Hường nói tiếp “chú có biết ở bên Miên tượng Phật có bốn mặt còn Quỉ chỉ có ba mặt không ?” – “ tôi thấy tượng Phật bốn mặt rồi còn tượng Quỷ ba mặt thì chưa thấy” – “vì những người thấy nó đều khó thoát khỏi cái chết bất đắc kỳ tử” – “ vậy anh nghĩ cái hình mờ mờ đó là hình mặt quỷ ?”– “e rằng điều đó là sự thật” – “vậy phiến đá thạch anh đó cảnh báo điều gì?” – “ngôi mộ cổ này thật là kỳ lạ, bên ngoài nhìn vào thì giống như mộ người Hoa, nhưng lại khắc hình kiểu người Miên, chắc người trong ngôi mộ này lúc còn sống có một liên hệ nào đó với các pháp sư người Miên, chỉ tiếc là những dòng chữ lâu ngày quá bị mòn hết cả, có khi nó được khắc chữ Phạn cũng chưa biết chừng” – “Ngôi mộ này của người Hoa, không lẽ họ lại trấn yểm theo kiểu người Miên?” – “Chỉ vòng đai bên ngoài thôi, chủ yếu là để đánh lạc hướng, còn bên trong thì chắc là họ lại yểm theo cách khác, cái khó chính là ở chỗ đó, dù như thế nào thì cũng vẫn phải tiếp tục, có tận nhân lực thì mới tri thiên mạng…”
Từ trong lều nhìn ra bầu trời đêm lấp lánh sao, tiếng côn trùng rỉ rả, tiếng gió thổi vào những rặng dừa xào xạc, đồng quê dường như vang lên khúc nhạc hân hoan…Ngôi cổ mộ đã ló ra một phần, cái bóng đen sì sì càng trở nên kỳ bí. Thông thường mộ song táng thường có hai cỗ quan tài đặt cạnh nhau. Riêng khu mộ này lại có hai ngôi mộ được xây sát nhau, giống nhau y hệt ở phần bên ngoài, còn bên trong thì chưa thể xác định được. Nếu là một ngôi mộ giả thì có thể có hai trường hợp, một là cả hai ngôi mộ sẽ có quách, nhưng bên trong là cái gì đó chưa biết, hai là một bên mộ sẽ chôn người, bên còn lại sẽ là thứ khác… Vẫn chưa hiểu được là tại sao mấy tay Đài Bắc đã biết được kết cấu của ngôi mộ nhưng lại không thấy đào ngôi mộ phía bên này ? Cũng có thể là họ chưa kịp đào đến thì đã mạng vong rồi, nếu thế thì lời nguyền của ngôi cổ mộ phải ghê gớm lắm…
0
Đục suốt hai ngày không nghỉ thì mới qua được lớp cửa đá đầu tiên, đến đây thì tai họa lại giáng xuống. Lần này là một người chắng dính gì đến chuyện này, đó là một người đàn bà nhỏ bé, hiền lành, một bà giáo… nhưng bà giáo đó lại là vợ của Tư Hường, bà ta đang khỏe mạnh bình thường bỗng tự nhiên lăn ra chết, chẳng có một lý do gì cả ?
Đã nhiều năm nay chẳng mấy khi Tư Hường ở nhà, y bôn ba khắp nơi, có điều vợ chồng thì vẫn là vợ chồng, nghĩa tử là nghĩa tận, vợ chết cũng là đại tang… Y nói với ĐHC và Lý Thông “Đang có đại tang thì đại kỵ đào mộ, nếu cố sẽ làm chết lây cả đám, nên hai chú thay anh tiếp tục, có điều khi tiến vào trung tâm ngôi cổ mộ phải cố tìm một người tuổi Rồng, người đó sẽ phải vào đầu tiên, nếu không làm đúng điều đó thì có thể sẽ phải trả giá thêm nữa…”
Tư Hường nghỉ rồi thì cuộc đào càng trở nên căng thẳng, Hai Đụi bình thường nói nhiều nhưng lúc này cả ngày cũng không nói một câu, Bảy Bụng, Tư Thăng còn đòi ở lại ban đêm canh gác.
Phải mất thêm hai ngày nữa, tức là đến ngày thứ mười ba kể từ lúc phát hiện ra phiến đá thạch anh thì đục đến được lớp trong cùng, phải dùng cả vài chục tấm tôn để chắn và che xung quanh không cho cát tràn xuống và dân hiếu kỳ dòm ngó. Trong đám DK xã té ra Út Thứ lại là người tuổi Rồng, như vậy khi đục thủng lớp đá cuối cùng, người xông vào đầu tiên sẽ phải là Út Thứ.
Ngày xưa khu vực này chắc là một đầm lầy mênh mông, việc vận chuyển nguyên vật liệu, xây dựng chắc là cực kỳ khó khăn, vậy mà người xưa đã xây một ngôi mộ quy mô như vậy, nếu không phải là một ngôi mộ giả để chôn kho báu thì nhân vật nằm ở đây chắc là một người không phải tầm thường, cần phải phòng ngừa sự trấn yểm là lẽ đương nhiên. Trước khi đục lớp đá cuối này, Lý Thông bày một mâm cỗ cúng bao gồm nhang đèn, vàng mã, rượu, heo quay, trái cây…Nhìn gương mặt trầm trọng của y, bất giác nhớ lại hôm qua bỗng nhiên Lý Thông nói “kiểu chết của một người ít nhiều đều bắt nguồn từ kiểu sống của họ” – im lặng một lúc y nói tiếp “không phải lúc nào cái chết cũng là một điều xấu…” – Xem ra y đã chuẩn bị tinh thần rất chu đáo, nhìn cái cách cắm ba cây nhang vào cái lư hương có thể ngầm hiểu nếu lời nguyền là có thực thì Lý Thông đã sẵn sàng…
Riêng Tư Thăng thì có vẻ xem thường điều này, suốt quá trình đào ngôi mộ, y bắt được cả thảy hơn mười con rắn hổ mây trong mấy khe cát, những con rắn đó đều bị hành hình bằng cách treo cổ lên cây cả. Đào đến tầng cuối này thì lại càng phải coi chừng rắn độc, nhất là rắn Hổ mang chúa hay rắn Chung đầu đỏ đầu đen, chỉ cần bị cắn một phát là chết không kịp đi ba bước.
Lớp đá trong tầng cuối cùng này cứng  khủng khiếp, đến ngày thứ mười bảy mới đục thủng qua được, lúc này phải lấy một khúc xạ mực ra để trong một cái chén sành, sau đó châm lửa đốt… một mùi thơm tỏa ra sực nức cuộn sâu vào trong cổ mộ, mùi thơm này có tác dụng diệt khuẩn cực mạnh, sẽ diệt sạch mọi vi trùng đến từng ngõ ngách, xua đuổi rắn độc, côn trùng độc… Đàn bà có thai tuyệt đối không được ngửi mùi này vì nó sẽ làm sảy thai ngay lập tức. Ngoài ra nó còn có một tác dụng vô cùng quan trọng là kỵ tà khí, âm khí và cũng có thể vô hiệu “thần giữ cửa” trong một thời gian.
Sau khi Út Thứ xông vào thì tất cả mọi người cũng lần lượt tiếp bước. Khó có thể tả được cái cảm giác khi đứng ở khu trung tâm của ngôi mộ, mùi thơm của xạ hương vẫn còn lan tỏa, trải qua nhiều năm sao nơi đây không hề có đến một hạt bụi, bóng tối lan trùm khắp nơi, cái đèn cầy leo lét không đủ để tỏa sáng. Trong cái ánh sáng mờ ảo đó vẫn có thể thấy thấp thoáng trên vách có khắc chìm hình núi non, cây cỏ, hình chim với các hoa văn mây… phía dưới nền lát một loại gạch hay đá gì đó màu nâu đen, rõ ràng là kiểu thức của người Hán. Bốn góc đều có bốn cái bệ, trên có bốn cái trụ có khắc hình gì đó nhìn không rõ lắm. Ngay giữa ngôi mộ là một cái quách to và dài hàng mấy mét, cao ngang tầm người bằng đá cẩm thạch xanh, dưới cái ánh đèn cầy nom thật lạnh lẽo và quỷ dị. Đặc biệt phía trên nắp lại đặt một viên đá vuông đen sì… hình như trên viên đá còn có dấu vết của một cái gì đó…?
Lúc đó tất cả mọi người không ai bảo ai đều sững sờ yên lặng…
 
Những gì mà con người không tự quyết định được thì gọi là định mệnh... Vài ngày sau đó Út Thứ đi ruộng đâm cá lóc, đến nửa đêm thì nó cảm thấy mệt mỏi nên leo lên bờ kinh ngồi nghỉ. Út Thứ móc trong người ra một vật giơ lên ngắm nghía, dưới ánh trăng vật đó dường như chói sáng… thì ra đó là một tấm phù bằng ngọc phỉ thúy trắng… một tấm “Bạch Hổ Phù” khắc hình cái đầu con hổ đang nhe nanh nom vô cùng dữ tợn.
Tư Hường đã có nhắc đến tấm phù này, nhưng lúc vào trong lòng ngôi mộ thì lại không thấy, y nói rất rõ “bên ngoài tuy có hình mặt quỷ nhưng bên trong khả năng sẽ có hình bạch hổ”, vì thế mà cần phải có một người tuổi Rồng vào đầu tiên, đó là cái thế “Thần Long trấn Bạch Hổ”.
Sở dĩ không ai thấy tấm linh phù vì khi vào Út Thứ đã nhanh tay lấy trước,… ai là kẻ đã nói cho nó biết về tấm phù này? Đây là một khu mộ song táng, nên chắc mộ bên kia cũng phải có một cái tương tự… cái đó hiện đang nằm trong tay ai vậy nhỉ?
Trong màn đêm đen thẫm bỗng có một cái đầu trọc lóc ló ra, cái đầu trọc lóc với đôi mắt trắng dã, khoác cái áo cà sa màu vàng. Út Thứ giật mình nói hoảng “Sơn Chùa, mày chưa chết à ?” – Sơn Chùa bây giờ đã biến hình thành một Thầy Chùa thật sự, y nhe hàm răng sún ra nhăn nhở “có người nhắn tao muốn lấy cái đó thì đến kiếm mày, không ngờ đúng thật, mày cũng là tay khá đấy!” – nhìn tấm phù sáng trắng trong tay Út Thứ, bỗng Sơn Chùa cười lên sằng sặc “tao vào sinh ra tử, đánh biết bao nhiêu trận, cỡ thằng ĐHC mà còn chưa chết thì tao làm sao mà chết được?” – Út Thứ quờ tay định cầm lấy cái chĩa, nhưng cái chĩa đó đã nằm trong tay Sơn Chùa rồi… chỉ nghe “phập” một cái, Sơn Chùa ra tay nhanh hơn chớp giật, Út Thứ làm sao mà đỡ nổi, mũi chĩa cắm ngập vào cổ Út Thứ hất nó văng tuốt xuống dưới mương nước. Tấm phù trong nháy mắt đã lọt vào tay Sơn Chùa, nghe nói ai có được cặp “Bạch Hổ Phù” thì sẽ có một quyền năng vô hạn...
Dưới ánh trăng vàng lung linh ma quái, bóng Sơn Chùa đứng sừng sững dường như che khuất cả một góc trời, tấm áo cà sa bay phần phật trong gió… Nhưng Út Thứ đã không còn nhìn thấy cái cảnh đó, một màn đen thăm thẳm đã bao trùm lên nó… Trong cái màn đêm đen thẳm đó bỗng hiện ra một gương mặt sáng ngời với ánh mắt thật là dịu hiền, đó chỉ có thể là gương mặt của một Người Mẹ… giây phút đó Út Thứ bỗng mấp máy môi, nó kêu lên khe khẽ “mẹ…”, lần đầu tiên cũng là lần cuối trong cuộc đời Út Thứ được thấy một gương mặt tuyệt đẹp của người đàn bà với đôi mắt thật dịu dàng và nụ cười hiền hậu như thế…/.
0
06. VŨ ĐIỆU TỐI CỔ
 
Chiều hôm đó bỗng nhiên Lý Thông ghé ngang qua nhà, y nói “anh Tư có việc cần chú đi gấp” – “không lẽ đi ngay?” – “đi ngay kẻo không kịp”.
Leo lên chiếc Toyota camry đời 96 của Lý Thông thì đã thấy Tư Hường ngồi sẵn ở băng ghế sau, xem ra chắc là có chuyện quan trọng thật.
Chiếc Toyota camry đời 96 của Lý Thông là chiếc xe mang về từ bên Miên, có một đường dây chuyên phù phép biến hóa những chiếc xe mang lậu từ Miên về thành xe hợp pháp. Khoảng hơn chục chiếc xe giống y như của Lý Thông cùng nhong nhong chạy trên đường, tất cả cùng chung một hồ sơ gốc, khi nào bị “xộ” thì sẽ có một người “phù phép biến hóa” “biến cái không thể thành có thể” là mọi việc đều tốt đẹp.
“Đi đâu mà gấp vậy anh Tư?” – “Tám Nghĩa nhắn xuống gặp y gấp lắm”.
Tám Nghĩa hiện ở Mỹ Tho, vậy là phải xuống Mỹ Tho rồi.
Trong đầu ĐHC tự nhiên hiện ra một bóng người cao gầy, gương mặt khó đăm đăm, luân quách đều trễ xuống.
Trời tự nhiên đổ mưa, xe đến cầu Bình Điền thì có một người đã chờ sẵn, người này mở cửa xe leo tót lên ngồi cạnh Tư Hường. Y mặc áo mưa, che mặt kín mít nên chẳng biết là ai, còn Tư Hường thì dường như đã ngủ.
Đến ngã ba Trung Lương thì đã hơn bảy giờ tối, trời vẫn mưa như trút, trong xe hoàn toàn yên lặng bỗng người mới lên cất tiếng ca nho nhỏ :
 
“Đời còn gì vui hơn trong phút giây được yêu.
Đời còn gì đau thương khi lắng nghe tình vỡ.
Người tôi yêu đâu rồi, người yêu tôi đâu rồi…
Tình tôi đã chết rồi… “

Lý Thông phá lên cười khùng khục “ Bộ bị vợ bỏ hay sao mà ca bài này vậy cha?” –“Vợ bỏ rồi…bỏ thật rồi…” – người mới lên cất tiếng rất thẫn thờ, thẫn thờ…
Tư Hường đang ngủ say thốt nhiên thở dài “đời là bể khổ, chú theo anh đi tu luôn đi”.
ĐHC đã nhận ra người này, chắc là chuyện quan trọng lắm nên Tư Hường mới huy động lực lượng hùng hậu thế.
Trời mưa to quá nên xe chạy như rùa bò, đến thành phố Mỹ Tho, chạy dọc theo con lộ 4000 thì đã hơn tám giờ tối. Đến được nhà Tám Nghĩa thì thấy người đông kìn kịt, một cái hòm to tổ bố đặt ngay ngoài sân.
Không lẽ Tám Nghĩa chết rồi ?
Như vậy là không kịp gặp rồi ?
 
Đúng là Tám Nghĩa chết thật, xác còn chưa liệm nên không thể vào được, đành phải chạy xe tuốt lên nhà của bà BN thuộc xã ĐHP nghỉ tạm.
Căn nhà này là một căn nhà cổ, to vào bậc nhất xã, bề ngang khoảng hơn bốn chục thước, sâu cả trăm thước, cả hàng chục phòng, rộng mênh mông. Những cánh cửa, hoành phi, kèo cột đều làm bằng gỗ quý cả trăm năm mà không hề bị mối mọt, được chạm khắc rất tinh xảo. Hình chim sẻ đậu nhành mai, hoa cúc, dơi hay mây bay tầng tầng lớp lớp, kỹ lưỡng đến từng chi tiết mà thợ bây giờ e rằng khó có thể làm nổi. Nền nhà lót gạch tàu cỡ đại mà những viên gạch tới giờ này còn đỏ au, thẳng tắp, chưa bị lún. Giữa nhà còn có một cái hồ bán nguyệt ghép sành sứ nhìn lên xung quanh là những bức tranh tường vẽ theo lối “công bút” rất tỉ mỉ, những con cá chép rõ đến từng cái vảy, lá sen thì thấy cả những giọt sương long lanh… Tòa nhà này quả thật là một di tích cổ quý giá.
 
Phía sau nhà là cái sân rộng, sát ngay bờ sông, một cái nhà máy xay xát gạo đang xay tấp nập. Bà chủ nhà tỏ ra khá thân với Tư Hường, bà ta đúng là thuộc típ “đỏ da thắm thịt”, cao to, mập mạp, tính tình sởi lởi. Tin truyền miệng ở vùng quê phải nói là nhanh hơn tên lửa, chẳng cần phải hỏi, bà ta cũng kể chuyện “Tám Nghĩa chắc biết mình chết nên trưa hôm nay ổng mặc bộ bà ba trắng mới tinh, kêu cô con gái út nấu nồi cơm gạo thơm ăn với cá rô đồng kho tộ, canh bí. Sau đó ổng trải tấm chiếu mới lên tấm ván ngựa rồi nằm ngủ, đến chiều đứa cháu vào gọi mãi không tỉnh, lúc đó mới hay là ổng chết rồi”.
Tám Nghĩa có cả thảy bốn người con, vợ chết đã lâu, hai người con đầu đã ra riêng, ông ta sống với người con trai bị tật cà nhắc và con gái út là cô giáo tiểu học. Có một thời Tám Nghĩa cũng rong ruổi khắp miền Tây với Tư Hường, sau này tự nhiên ông ta chán đời, về nhà sống ẩn dật.
Mưa kéo dài mãi đến tận nửa đêm, đến khi vơi bớt hạt thì mới có người qua, đây chính là người sáng sớm hôm nay đã lên báo cho Tư Hường về gặp Tám Nghĩa gấp, chính là người con trai có tật cà nhắc. Sau vài câu thăm hỏi, anh ta đưa cho Tư Hường một cái bọc giấy “ba cháu dặn không được mở ra mà phải đưa tận tay bác” – Chờ cậu con ra về rồi, xung quanh không có ai, Tư Hường mới từ từ mở cái bọc giấy…
Chắc phải là vật gì quý lắm Tám Nghĩa mới bọc kỹ như thế, dễ phải đến hàng chục lớp giấy, cuối cùng thì cũng đến cái vật ấy… dưới ánh đèn vàng trong căn phòng nhỏ chỉ có bốn người, hiện ra một pho tượng vũ nữ bằng đất nung màu đỏ quạch thật tinh xảo, tầm cỡ này thì chỉ có ở những pho tượng cổ cực quý… chỉ đáng tiếc là nó lại là một pho tượng vũ nữ không đầu… Một vũ nữ bị cụt đầu…
0
Vũ nữ đang múa một vũ điệu gì đó, hai chân cô ta dang rộng ra, gối khụy xuống nhưng hai gót chân lại bắt chéo. Một tay uốn cong như con rắn còn tay kia giơ lên trên, hai bầu ngực tròn vo, cái bụng cũng no tròn, rốn sâu thăm thẳm, eo lưng ưỡn ra phía trước còn mông thì lại vểnh ra phía sau… Tư Hường cứ cầm pho tượng ngắm nghía mãi làm Ba Cao sốt ruột quá nói “Anh nói đại đi, có cái gì bí mật mà Tám Nghĩa trước khi chết lại gửi cái của nợ này chứ?”
 
Ba Cao chính là người mới bị vợ bỏ, y ốm nhom, nhỏ thó nhưng lại có biệt danh là Ba Cao vì y có một cái tài rất đặc biệt, đó là cái tài leo trèo nhanh như khỉ. Những cái cây cao chót vót, những vách đá dựng đứng, nhà lầu cao tầng, núi, đồi… trên những độ cao mà người khác nhìn xuống thấy chới với, thấy chóng mặt thì Ba Cao lại tỉnh bơ như không có gì. Những chuyện nguy hiểm, phức tạp, sinh tử thì Ba Cao coi như đồ bỏ, nhưng những chuyện tưởng như bình thường nhất thì lắm khi y lại rất vụng về, lúc Tư Hường xem bức tượng thì y cứ nhấp nha nhấp nhổm như là bị kiến cắn vậy.
Tư Hường nhìn mãi rồi y cũng đặt pho tượng lên bàn, Ba Cao liền chụp lấy gí sát mặt vào ngắm nghía, có điều cái cách y xem pho tượng khác hẳn Tư Hường, y xoay tới xoay lui, lắc lên lắc xuống, nhìn chắm chú vào cái cổ gãy của pho tượng, sau đó y đặt lại lên bàn, thở phì phì…
Vũ nữ có thân hình đẹp tuyệt vời, đường nét thật là khêu gợi, thật tiếc là lại không có cái đầu… một thân hình như vậy thì chắc gương mặt cũng phải tuyệt đẹp. Đường nét, vũ điệu hao hao giống như tượng trong các đền thờ của Ấn Độ, đền thờ của người Chăm, nhưng cũng không thật giống hẳn, vẫn có một cái gì đó khác biệt mà chưa xác định được là cái gì.
Pho tượng này dường như có một ma lực gì đó, nó làm cho không khí trở nên nghèn nghẹt rất khó chịu, Tư Hường bỗng vuột miệng nói sảng “các chú có bao giờ nghe kể về chủ nhân của ngôi nhà này không?” – Không đợi ai trả lời, y lẩm bẩm nói tiếp “ông ta cũng bị VM xử chém đầu, ở nơi đây có rất nhiều câu chuyện về ma không đầu…”.
Bây giờ đã hơn nửa đêm, trời lại đổ mưa ào ào, pho tượng vũ nữ càng trở nên lung linh, bí ẩn. Ngôi nhà cổ toát lên một mùi ẩm mốc và lạnh lẽo, một cơn gió lạnh từ đâu thổi luồn vào như chập chờn bóng hình của ai đó…
 
Cuối cùng thì Lý Thông cũng phá vỡ sự im lặng : “ Pho tượng không có đầu biết đâu lại đẹp hơn là khi có cái đầu “ – “ Có thể đúng, ví như pho tượng Venus de Milo, nếu gắn tay vào sẽ là thừa”.
Ông LS bị xử chém đầu, đầu một nơi, thân một nẻo – Khi gia đình mang về mai táng thì phải dùng một cái đầu bằng gỗ thế vào. Sau lần ấy căn nhà này trở nên hoang tàn và cô quạnh. Ông ta có cả thảy mười tám người con, trong đó lại có tới ba người là theo VM, sau năm 75 họ cũng không quay về căn nhà cũ. Còn có mấy người con khác thì đi vượt biên qua Mỹ, chẳng còn ai quan tâm săn sóc đến cái nhà của tổ phụ, bà BN lại là người con dâu. Bi kịch của những gia đình người Việt có lẽ chỉ những người Việt mới có thể hiểu được, những ám ảnh của quá khứ sẽ còn tồn đọng mãi trong tâm trí, phải qua nhiều thế hệ may ra mới lãng quên được.
Sáng hôm sau phải đánh xe ra tận thị xã mua một cái vòng hoa tang để viếng ông Tám Nghĩa, trên đường về thấy còn sớm, e gia đình chưa liệm xác xong nên cả đoàn ghé vào thăm chùa Vĩnh Tràng. Đây là một ngôi chùa cổ nổi tiếng nhất Nam bộ “Vĩnh cửu đối sơn hà, Trường tồn tề thiên địa”, hôm đó các sư đang họp trong chánh điện để tụng kinh, nên được nghe tiếng kinh vang vọng, ngân nga cả không gian.
Mặt trời gần đứng bóng thì cả đoàn mới tới nhà Tám Nghĩa, ông ta đứng tới thứ tám trong nhà, hiển nhiên còn có nhiều người nữa : Hai Hiền, Ba Thiện, Tư Tốt, Năm Lành, Sáu Trung, Bảy Hiếu… rồi Chín Lễ, Mười Trí, cuối cùng là Út Tín.
Tuy gia đình thì đông như vậy, nhưng trong số anh chị em chỉ có mỗi bà Chín Lễ. Bà ta thật giống Tám Nghĩa, cũng gương mặt đăm đăm như vậy, cũng có bộ luân quách trễ xuống y như vậy, bà ta nom thật già nua và xấu xí.
Ngày xưa Năm Lành cũng theo VM, ông ta bị thực dân Pháp bắt tra tấn dã man, không chịu nổi đòn thù, cuối cùng ông đã khai ra những người đồng đội. Bốn người VM bị Pháp bắt ra xử chém, trong đó có Tư Tốt và Bảy Hiếu.
Đây là xứ sở của những linh hồn không có cái đầu.
Năm Lành sau vụ đó bị VM tuyên án tử hình, ông ta trốn biệt về SG, vĩnh viễn không bao giờ xuống Mỹ Tho nữa, đám tang Tám Nghĩa lần này ông ta cũng không về.
Con cháu cũng còn khá đông, bà con láng giềng qua viếng cũng nhiều, so với anh em trong nhà thì Tám Nghĩa chết như thế là êm đềm nhất.
Đến hôm sau thì động quan, một hàng Đạo tỳ áo đen quần đen viền vải trắng, đội kết trắng viền đen và mang giày bố đen đi theo hàng đôi từ từ tiến vào đến trước Bàn vong. Sau đó thì dàn kèn và trống nổi lên, Đạo tỳ bái quan, lạy 4 lạy sau đó đứng hai bên quan tài.
Chấp sự cầm cặp đèn cầy giơ trước trán, ông ta lạy bốn lạy trước quan tài, sau đó lạy bốn phương tám hướng, múa cặp đèn cầy tới lui nom thật điệu nghệ. Điệu nhạc Nam ai bắt đầu nổi lên, Đạo tỳ sắp hai bên bắt đầu khiêng bổng chiếc quan tài lên, ra đến bên ngoài họ quay quan tài lạy về nhà cũ bốn lạy, lạy tứ phương bốn lạy, sau đó tay chấp sự rót một chung rượu trắng đặt lên trên nóc quan tài, việc khiêng chiếc quan tài này dù qua những đoạn đường khó khăn cỡ nào tuyệt nhiên cũng không được để đổ ly rượu. Việc khiêng quan tài ra tuốt ngoài ruộng khá gian nan, phải nói Đạo tỳ dưới vùng quê làm việc này thật hay, ly rượu không sánh ra lấy một giọt, đến chỗ hạ huyệt thì tay chấp sự lại nhảy múa một bài xung quanh ngôi mộ rất chi cầu kỳ, phức tạp.
Phút cuối thì hai thầy chùa tụng Kinh Hạ Huyệt 3 lần, tụng Vãng Sanh Thần Chú 3 lần, chiếc quan tài trong đó có Tám Nghĩa từ từ đưa xuống đất. Đến lúc này thì đám thợ khóc mướn mới trổ tài khóc như mưa sa bão táp, họ vừa khóc vừa kể làm náo loạn cả lên. Đám này hẳn là do bà Chín Lễ mướn tới, bà ta cũng cố gắng lắm mà không rặn ra được giọt nước mắt nào. Khóc đâu phải chuyện dễ, đó là cả một nghệ thuật, ngày xưa Lưu Bị nhờ có tài khóc đúng lúc mà lấy được cả thiên hạ, hay Đắc Kỷ chỉ cần mắt long lanh ngấn lệ là biết bao anh hùng hào kiệt đành buông kiếm?
Chỉ sợ đám thợ khóc này khóc lóc quá mức làm Tám Nghĩa đội mồ chui lên thì khốn, nhưng điều đó không xảy ra, ông ta yên lặng ra đi mà chẳng nhắn gửi một lời gì cả?
0
Tối hôm đó không ở nhà bà BN nữa mà qua bên nhà ông Sáu Nhẫn, một ông già trên tám mươi với bộ râu bạc trắng, đôi mắt sáng ngời, hình dung quắc thước. Căn nhà của ông cũng cổ không kém gì căn nhà của bà BN, hoàn toàn bằng gỗ, và ông đang dần biến nó thành một ngôi chùa. Trong chính điện treo một tấm tranh giấy dó viết chữ “Nhẫn” thật to, ông nói chính là nhờ tuân theo chữ “nhẫn” này nên đã sống được qua bao thời kỳ, bao chế độ. Ông Sáu Nhẫn đúng là một trí thức xưa điển hình còn sót lại, hồi trẻ ông từng theo học “école de garcon”, rồi sau đó là “Collège de Mytho”, đi học mặc bộ bà ba trắng, chân đi đôi guốc mộc.
khi gia đình lên SG ông mới chuyển đến học “PetrusKý”, tốt nghiệp “L’enseignement supérieux”. Ông từng chơi bóng đá với ông hoàng Xihanuk lúc đó đang theo học “Chasseloup - Lauba”. Ông còn có cô em gái học “Collège des jeunes filles” còn gọi là trường “nữ sinh áo tím”, cô này sau lấy chồng Tây và đã theo chồng về Pháp trước năm 54. Ba ngôi trường PetrusKý, Collège des jeunes filles và Chasseloup - Lauba là ba ngôi trường danh tiếng vào bậc nhất Đông Nam Á thời đó.
Ấy là nói về cái nghiệp văn, còn nghiệp võ của ông Sáu Nhẫn cũng dầy dạn lắm, đang ngồi uống trà nói chuyện là ông hứng chí ra sân múa biểu diễn một bài “Phật gia quyền” dài dằng dặc. Ở cái tuổi tám mươi mà bộ pháp của ông Sáu Nhẫn lúc thì trầm, lúc thì khinh, lúc thì triển, lúc thì hoạt liên tu bất tận chảy như nước sông vậy. Để trả lễ, ĐHC cũng đành đứng dậy múa bài quyền NahaKata của hệ phái “Thần đạo”, múa xong thì chân run lập cập, hơi thở hồng hộc làm ông Sáu cười khà khà, ông rót một chung trà nóng đưa cho ĐHC rồi nói “tại chú tinh thần không tập trung, lại thức khuya, dậy sớm, uống bia uống rượu nên khí lực không đầy đủ…”.
Buổi sáng hôm sau ông Sáu nấu một nồi cơm gạo trắng đãi cả nhóm ăn với mắm sống và thịt heo quay, còn ông thì lại ăn chay. Trong cái thời buổi nhiễu nhương này thì những con người cổ xưa như ông thật là vô cùng hiếm. Ăn uống xong ông Sáu Nhẫn mới dẫn tất cả ra ngoài ruộng, nơi đây có một khu mộ của dòng họ. Ông than thở “con cháu bây giờ bận rộn quá, chẳng còn đứa nào quan tâm nhiều đến mồ mả ông bà” – Ông chỉ một ngôi mộ nhỏ, với tấm bia trống trơn rồi nói “hồi xưa người này lưu lạc đến đây, không tên tuổi , không nhân thân, VM nghi ông ta là Việt gian nên xử tử. Khi ông ta chết rồi thì một vài người trong đó có ông Sáu thương tình quá mới gom xác và đầu của ông ta lại quấn vào một manh chiếu chôn ở đây”. Con người vô danh này chết oan nên không siêu thoát, thỉnh thoảng ông ta lại nhập vào một vài người đàn bà trong xã, quậy tưng bừng.
VM nghi con người vô danh này là Việt gian nên mang ra chém quách, thời đó việc chém đầu một người là một chuyện dễ dàng không cần phải suy nghĩ nhiều. Bây giờ thì con người không cần phải chặt đầu nhau nữa vì có còn đầu đâu để chặt? cứ thử nhìn quanh xem, biết bao kẻ đâu cần dùng tới cái đầu mà vẫn sống nhăn đấy thôi. Không cần phải suy nghĩ vì có người khác nghĩ thay rồi, cũng không cần phải nói vì có người khác nói thay rồi, hoặc có nói có nghĩ đi nữa thì cũng là nói bằng ngôn ngữ của người khác, nghĩ bằng suy nghĩ của người khác, cái đầu đâm ra không còn là một bộ phận thiết yếu nữa thì biết đâu theo quy luật “chọn lọc tự nhiên” nó sẽ dần dần bị đào thải?
0
Có lần một người đàn bà trong xã bị nhập, gọi là bà chứ cô ta cũng chỉ khoảng hàng băm. Đang ngồi gói bánh tét, cô ta bỗng đứng lên vò đầu bứt tóc, nhảy cà tưng, nói lảm nhảm. Cũng đã quen với việc này, những người khác vội chạy đi gọi ông Sáu, khi ông tới thì Vong trở nên rất ngoan ngoãn. Cũng như mọi lần, vong tự nhận là người bị chết oan đã mấy chục năm nay, “sống vất vưởng không đầu thai được, nơi Thành Uổng Tử bây giờ đông đúc lắm…” - Ông Sáu không phải là thầy bùa hay thầy pháp, ông chỉ là một Phật tử tu tại gia, nên ông vỗ về “ Nếu không có nơi nương tựa thì hãy theo ta về chùa, nương náu một thời gian, bao giờ trả hết căn quả thì mới đi đầu thai được” – “Thế vong hồn ông ta có nói mình tên là gì không?” – “Vong nói lí nhí rất khó nghe, lúc thì xưng tên là Tám Ngời, lúc thì là Hai Liên…, nói chung những linh hồn chết oan rất hoảng loạn, họ không thể nói rõ ràng được gì”.
Có điều xác thực là từ khi rước oan hồn về chùa thì nó ít còn nhập xác và quậy nữa.
Nơi đây còn có một địa danh gọi là “Đồng Mả Ngựa”.
Thời kháng chiến chống Pháp, từng có một người võ quan của nghĩa quân đánh nhau bị chết, khi chạy về đến xã ĐHP này mới chịu ngã ngựa… điều kỳ lạ là lúc đó người nghĩa quân này đã bị chém mất đầu. Vĩnh viễn không ai có thể biết được cái đầu của ông ta đã lưu lạc ở đâu, dân trong xã kính cẩn gọi người chết không đầu là “Ông Quan”, gom xác ông ta và xác con ngựa chôn chung một chỗ, mộ được lấp bằng những tảng đá ong. Dân làng còn thuê thợ đắp một con ngựa bằng đá bên cạnh nom như thật.  Ngôi mộ linh thiêng đến mức hằng đêm mọi người đều nghe tiếng vó ngựa chạy rầm rập, tiếng ngựa hí vang… có người còn kể là đã thấy vị quan không đầu cưỡi ngựa chạy ngờ ngờ.
Hằng đêm “Ông Quan” đều hiện về, không đầu cưỡi ngựa để chiến đấu tiếp… làm dân làng trở nên hoảng sợ, cuối cùng họ phải tìm mướn thầy pháp về trấn yểm, có người còn lén chặt cụt đầu tượng con ngựa, vì thế bức tượng con ngựa bây giờ lại không có đầu.
Tuy nhiên thỉnh thoảng vẫn có người còn nghe tiếng ngựa hý.
Nơi chôn Võ Quan và con ngựa được gọi là “Mả Ngựa”, cánh đồng có ngôi mả gọi là “Đồng Mả Ngựa”, hồi xưa nó là một cánh đồng mênh mông, bây giờ thì khá nhiều người du cư đã đến cất nhà ở san sát, gần “Mả Ngựa” mọc lên mấy bụi tre um tùm, con nít hay tụ tập chơi ở đó, sự tích ly kỳ về “Mả Ngựa” vẫn còn được truyền khẩu bao thế hệ.
Thời xưa, khi Mỹ Tho còn là trung tâm kinh tế sầm uất bậc nhất Nam bộ, hàng ngày ghe thuyền từ khắp nơi tụ về đậu kín, trên bờ  thì ngựa xe , người đi san sát, khung cảnh phồn vinh không gì tả nổi. Nơi đây người Tiều làm ăn rất phát đạt, trở thành những người giàu bậc nhất thị xã. Họ cho xây một ngôi chùa để thờ “Đức Thánh Quan”, còn gọi là “Chùa Ông”. Trong những năm chiến tranh biên giới phía bắc, ngôi chùa cổ bị đập bỏ, kể từ đó những người Tiều ở khu vực này làm ăn trở nên lụn bại, một số phải bỏ xứ ra đi, những ngôi nhà cổ cũng xuống cấp, sập xệ và u ám.
 
Sáng hôm sau Tư Hường ngao ngán nói “đã đến lúc phải về rồi”, chắc y nghĩ mãi cũng chưa hiểu Tám Nghĩa gửi pho tượng vũ nữ không đầu để làm gì. Y mang pho tượng ra, đặt nó lên trên bàn, ngay cạnh cửa sổ, pho tượng bằng đất nung đỏ chóe, chớp lung linh khi ánh nắng hắt từ ngoài vào. Ba Cao ngồi nhìn pho tượng chằm chằm, đôi mắt của y thật đờ đẫn, dáng vẻ thật thẫn thờ, có lẽ y đang nghĩ về cô vợ trẻ và đẹp, cô ta cũng đã từng là một vũ nữ, một vũ nữ khá là kiêu bạc.
 
“Người vũ nữ, người xưa mến thương ơi
Nhớ tới hương đêm kinh đô chưa qua đời
Nhớ tới đôi môi nụ cười
Nhớ tới xa xôi, nay đã xa rồi.”


Trong lúc mọi người đã đi ra ngoài hết thì Ba Cao ngồi nhìn pho tượng thật lâu, y nhìn mãi, nhìn mãi… đột nhiên y trở nên rúm ró lại, một kẻ can đảm và liều lĩnh như Ba Cao mà lại có thái độ như thế thì thật là kỳ lạ, nhưng lúc đó chẳng có ai nhìn thấy điều ấy, mãi sau này thì Ba Cao mới kể là y đã thấy cái gì ?
Y đã thấy cái gì ?
Có những điều mà không phải ai nhìn cũng thấy, mà cần phải có một sự tương tác, một sự đồng cảm nào đó, thì lúc đó con người mới “thấy” được những điều mà bình thường dường như là vô hình. Vì thế mà khi Tư Hường, Lý Thông hay ĐHC cũng ngồi nhìn thật lâu vào pho tượng như Ba Cao mà chẳng thấy có sự khác lạ nào.
Chắc là Tám Nghĩa cũng nhìn thấy cái gì đó nên ông ta mới gửi pho tượng này lại, nhưng chắc gì cái điều mà ông ta nhìn thấy giống như cái mà Ba Cao đã nhìn thấy hay sau này nhiều người cũng đã nhìn thấy ?
Pho tượng vũ nữ không đầu lấp lánh trong ánh nắng, thon thả và cong dài, hai cánh tay thật uyển chuyển nhưng không che khuất bầu vú căng tròn, biểu tượng của nguồn sống đã từng xuyên qua hàng ngàn năm buổi sáng, hàng ngàn năm buổi chiều, hàng ngàn năm buổi tối, hàng ngàn ngàn vì sao lấp lánh hay hàng ngàn tia nắng chói.
0
Lý Thông thì thầm “tôi biết vì sao Tám Nghĩa gửi pho tượng này cho Tư Hường rồi” – không đợi trả lời, y nói tiếp “vì Tám Nghĩa cho rằng Tư Hường là kẻ… không có cái đầu” – nói đến đó Lý Thông cười lên khùng khục, xem ra cái thời buổi “Thạch Sanh thì ít, Lý Thông thì nhiều” này, cái cách nghĩ của y cũng đầy chất Lý Thông thật. Nhưng nếu Tám Nghĩa thật sự có ý nghĩ đó, thì đâu phải ông ta gửi riêng gì cho Tư Hường ? Mà có lẽ gửi chung cho tất cả chúng ta, chưa bao giờ ở thời đại nào, trên xứ sở này người đàn ông lại trở nên kém cỏi và ti tiện như thế… người đàn ông đã trở nên khiếp nhược như thế và những người đàn bà của họ đành phải đi tha phương cầu thực … Suy cho cùng một người đàn ông đã bị chặt đứt đầu thì có thể làm được gì ngoài cái việc đi lang thang để tìm cho mình một cái đầu khác? Ở bất cứ đâu, khi con người buộc phải nói những điều họ không tin để có thể tồn tại thì những lời nói đó dần dần sẽ trở thành một thứ đạo đức của họ, nhưng là một thứ đạo đức giả, một sự dối trá dẫn họ đi đến sự suy đồi và đánh mất chính mình.
 
Tư Hường đưa cặp mắt ti hí nhìn Ba Cao, y có gươngg mặt giống hệt Tăng Quốc Phiên, hai mép miệng trễ sâu xuống. Nếu có cái gì thoát khỏi cặp mắt của Tư Hường thì cái đó nhất định không phải thuộc về thế giới này. Chắc là y sẽ hỏi Ba Cao nhìn thấy cái gì ? – Nhưng y lại không hề hỏi điều đó, y móc điếu thuốc ra châm hút, liên tục châm vào điếu thuốc đang hút dở…
Ba Cao đã từng trải qua thời kỳ hoàng kim, đó là lúc y đi buôn đá quý. Thời VN mới mở cửa biên giới với TQ, vùng biên Lạng Sơn cũng còn hoang sơ chứ chưa sầm uất như bây giờ, lúc đó kẻ nào nhanh chân thì kẻ đó thắng lớn, mà về khoản nhanh nhẹn thì Ba Cao luôn là số một. Y đi buôn đá cẩm thạch, qua tận bên Côn Minh, nơi có những núi đá cẩm thạch nguy nga. Có vô số cách để vượt biên giới, đi lậu theo đường cửu vạn, đi đường bộ qua cửa khẩu với tấm hộ chiếu hẳn hòi, đi đường không qua HK rồi từ đó bay sang Côn Minh, đường nào cũng được nhưng chắc chắn về phải là đường bộ, mà là con đường vận chuyển lậu hàng tấn đá bằng sức người. Những tảng đá cẩm thạch nặng cả tấn được xả nhỏ ra thành từng phiến như những viên gạch thẻ, sau đó đám cửu vạn sẽ cõng qua biên giới. Tất nhiên cả đoàn người đi nườm nượp như vậy thì làm sao mà qua khỏi BP được, chẳng qua là đều có sự sắp đặt cả, mỗi người một ít, “đời thì phải biết nương nhau mà sống chứ !”. Những chuyện liều mạng như vậy rất hợp với Ba Cao, và y còn làm một chuyện liều mạng hơn nữa, đó là dám lấy một vũ nữ kiêu sa về làm vợ. Cô vũ nữ thật là đẹp, chắc là đẹp hơn pho tượng rồi vì pho tượng thì đỏ quạch, không đầu, còn cô vũ nữ thì trắng muốt với đôi môi tươi mọng. Từ những tấn đá cẩm thạch mang về, Ba Cao biến thành những viên kim cương nho nhỏ, xinh xinh trang điểm thêm cho cô vũ nữ vạn phần tươi đẹp. Khi ở TQ, Tiền ND tệ nhiều đến mức y phải gói lại thành một tấm nệm để nằm ngủ - “ngủ trên tấm nệm tiền là đã nhất, lúc đó ngay của trong giấc mơ cũng thấy toàn là tiền” - Tuy nhiên ở Côn Minh thường gặp phải đá giả nên lần cuối cùng Ba Cao muốn đánh một quả lớn, với kinh nghiệm chiến trường dày dạn, y gom hơn trăm ngàn đô lận trong người, đi đường bộ qua tận đảo Hải Nam mua một tảng đá cẩm thạch nặng hai tấn chở từ Côn Minh về, có bảo chứng hẳn hòi. Nhưng đúng là số trời, ở đường cưa đầu tiên xả đôi tảng đá, những vết nứt của nó nhiều còn hơn rễ cây đước ở rừng U Minh vậy.
Lần đó khi về lại SG, trên người Ba Cao chỉ còn lại mỗi bộ đồ, nhưng lúc đó y vẫn còn có một cô vợ… còn bây giờ thì đến cả cô vợ cũng không còn.
Tư Hường vẫn chưa nói gì, y chỉ phì phà hút thuốc. Còn Lý Thông thì lại cầm lấy pho tượng mân mê và ngắm nghía, pho tượng vũ nữ cổ này dư sức biến chiếc Toyota Camry đời 96 của y thành chiếc Lexus ES sang trọng và cáu cạnh. Nhưng Lý Thông mà không có Thạch Sanh thì có thể làm được gì ?
Cuối cùng thì Tư Hường cũng nói, nhưng mà lại nói một câu chẳng ăn nhập gì “ngày mai mấy chú về lại SG, tìm đến nhà người này…”
0
Chưa “làm ăn” được gì thì lại phải quay về SG làm Ba Cao bực dọc văng tiếng chửi thề, y vẫn không bỏ được tính nóng nảy, có lẽ y sốt lên vì phải xa pho tượng vũ nữ ?
Cuối cùng thì Ba Cao cũng kể y đã nhìn thấy cái gì.
“Tôi nhìn một lúc thì giống như bị ảo giác, đột nhiên thấy pho tượng vũ nữ từ từ lay động, sau đó nó bắt đầu múa một vũ điệu thật kỳ ảo… phía xa xa là một đền thờ chìm trong sương mù. Nhưng kinh khủng nhất là khi từ cái cổ vũ nữ bắt đầu phụt ra những tia máu đỏ lòe, những tia máu đó bắn vào mặt cho cảm giác nóng hôi hổi, chưa bao giờ có cái cảm giác ghê sợ như thế” - “đó là một pho tượng ma -  Ba Cao nói – Tám Nghĩa tự nhiên bị đột tử biết đâu cũng là do pho tượng, bây giờ anh Tư giữ nó thì phải coi chừng.”
Lý Thông lại cười khùng khục, họ Lý có vẻ không tin lắm vào chuyện Ba Cao kể. Đây là một pho tượng cổ có một giá trị kim tiền đích thực, vì thế những người trong cuộc bắt đầu nghi ngờ lẫn nhau... Một pho tượng có giá như thế mà Tám Nghĩa để lại cho người ngoài thì cũng lạ? – Hay nó là một pho tượng ma ? Tám Nghĩa muốn trút gánh nặng đó cho Tư Hường ?
Xứ Mỹ Tho có một vùng đất gọi là Gò Thành, là một giồng đất sét pha cát nhân tạo rộng hơn 1 mẫu, cao ba mét so với mặt nước. Khi người Pháp phát hiện và khai quật nơi này họ đã mang về xứ tất cả những gì tìm được. Sau này có vài đoàn khảo cổ của VN tiếp tục đào bới nữa, cũng thu hoạch được chút ít những gì còn sót lại mà người Pháp không kịp vét hết do chiến tranh. Suốt mấy chục năm, dân sống ở gần đây vào những dịp mưa lớn cũng tình cờ lượm được những mảnh vàng hay một vài cái bình cổ, đĩa cổ, vài mảnh tượng vỡ, nhiều viên đá cuội… nhưng có người lại mang đập cái bình ra để tìm vàng trong đó, thế là đi đứt. Di chỉ này là của một vương quốc cổ xưa, có một thời rất huy hoàng gọi là Vương Quốc Phù Nam. Vương quốc này trải dài từ đông sang tây Nam Bộ, đến tận Campuchia và Thái Lan. Thời đó, Phù Nam là vương quốc hùng mạnh nhất ở Đông Nam Á, họ rất sùng bái thần linh, người Phù Nam cho mình là con của thần Mặt Trăng và Mặt Trời. Qua những gì còn lại của họ có thể thấy đời sống tâm linh của người Phù Nam rất phong phú, họ coi trọng sự thờ cúng, hiến tế, xây dựng các đền đài rất nguy nga, đồ sộ, hao phí sức người, tiền của… phải chăng dân tộc của họ bị tuyệt diệt là do điều này?
0
Chưa xác định được pho tượng vũ nữ cổ có phải là Phù Nam hay không, nhưng nếu đúng đi nữa thì cái khả năng Tám Nghĩa tìm được ở Gò Thành cũng không chắc lắm vì nơi này hầu như đã bị đào tung, không còn gì nữa.
Biết đâu Mỹ Tho ngoài Gò Thành ra có thể còn những nơi khác?
Bỗng nhiên Ba Cao tự sỉ vả “mình không thể quên được, mình đúng là thằng ngu, là thằng không ra gì, tình nghĩa ở đâu mà nặng, mà nhiều thế ?”.
Ai là người có đủ ý chí để có thể quên đi được những điều cần phải quên, nhớ được những điều cần phải nhớ ? – Tư Hường nói “có một người  – chúng ta hãy đến tìm người đó”.
 
Đi từ sáng sớm mà tận xế chiều mới tìm được nhà của ông Năm Lành, không biết nên gọi là nhà hay là chùa nữa. Ở xứ sở này có cả hàng ngàn cái chùa tự tạo như vậy, và vì thế cũng có cả hàng ngàn thầy chùa, thầy pháp như thế. Đó là những điện thờ nhỏ bé để nhà tu hành sống một cuộc sống ẩn dật, trong số họ cũng có những bậc chân tu và cũng đầy những người trần tục.
Ông Năm tuy gầy gò nhưng thật là đẹp lão, mái tóc trắng bạc phơ, ánh mắt của ông thật hiền và nụ cười nhân ái, nhất là hai hàng lông mày thật là dài, biểu hiện của sự trường thọ, đúng là một tiên ông giữa đời thường. Cả ĐHC lẫn Lý Thông, Ba Cao đều ngưỡng mộ nhìn cái đầu của ông, chẳng phải là để có được cái đầu này ung dung trên cổ thì đã từng phải có tới bốn cái đầu khác rơi xuống hay sao?
Tự nhiên có ba người lạ hoắc tới tìm, ông Năm không hề tỏ ra ngạc nhiên, có lẽ vì những người xa lạ đến tìm ông cũng nhiều. Có người đến để thờ cúng, đến để đàm đạo, đến để học tập kinh sách… nhưng chủ yếu là đến để hốt thuốc vì ông Năm bây giờ vừa là thầy tu vừa là thầy thuốc nam. Trong nhà ông , trừ điện thờ ra chỗ nào cũng chất đầy các loại rễ cây, vỏ, lá… mùi đủ loại cây thuốc thơm sực nức. Có cả chục người đang ở trong nhà, họ đều bỏ ra ngoài khi thấy bọn ĐHC tiến vào, có lẽ họ nghĩ đám này là CA cũng nên. Sau những câu chào hỏi, trong lúc uống ly trà nhài thơm phức, Lý Thông mới thăm dò “bọn tôi tới để xin lại Món Đồ mà lúc trước ông Tám có gởi lên cho thầy…”
Tư Hường đã suy luận như vậy - Y thật là tài tình, linh cảm là một món quà mà Thượng Đế ban cho con người, nhưng không phải ai cũng được hưởng.
Nghe nói thế ông Năm gật đầu, ông cũng đang chờ con cháu ông Tám lên để đưa lại mà mãi không thấy ai đến. Tám Nghĩa đã gửi cái bọc giấy này lên khá lâu rồi, cái bọc vẫn còn y nguyên, ông Năm chưa hề mở ra xem.
Cái bọc giấy này y hệt cái bọc giấy mà Tám Nghĩa gửi cho Tư Hường.
0
Năm Lành đã tìm đến đạo Phật như một sự giải thoát khỏi cái quá khứ đau buồn, nhưng ông càng muốn quên đi cái quá khứ ấy thì Tám Nghĩa lại càng muốn khơi lên điều đó. Ông Năm đã tìm được một con đường mới cho chính cuộc đời của mình, một con đường đòi hỏi phải đặt vào đó tất cả niềm tin và ý chí, còn Tám Nghĩa thì vẫn lầy lội trong cái quá khứ bi kịch vừa có dáng vẻ đau thương vừa có dáng vẻ hào hùng mà chính ông ta cũng không thể tự lý giải được. Còn Ông Năm từ lâu lắm rồi đã giải thoát khỏi quá khứ, đã tìm cho mình một con đường mà với ông, đó chính là sự quên mình.
Chẳng biết giữa Tám Nghĩa và Năm Lành ai đúng ai sai, nhưng sớm muộn gì thì họ cũng mang cái quá khứ ấy trở về với cát bụi… đám con cháu với những nỗi lo “cơm, áo, gạo, tiền” đâu có rỗi hơi mà nghĩ đến.
 
 
 
 
 
Khi tất cả đi hết rồi, chỉ còn một mình Tư Hường trong căn nhà trống trải. Ông Sáu cũng đã đi đâu đó, thực ra tuốt phía sau nhà bếp cũng có vài người đàn bà và mấy đứa con nít, những người sống nương tựa vào ông Sáu, họ quét dọn và nấu nướng, thỉnh thoảng hái trái cây mang ra chợ bán.
Pho tượng vũ nữ không đầu vẫn đang múa trên bàn.
Tư Hường lại châm thuốc hút, dù là chỗ đông người hay một mình, lúc nào y cũng hút thuốc, một loại thuốc rẻ tiền…
Y đâm ra sợ pho tượng, bởi vì Ba Cao đã nhìn thấy những điều kinh khủng từ pho tượng, Ba Cao đã nhìn thấy thì tất nhiên Tư Hường cũng nhìn thấy. Nhưng y không hề nói ra – Đâu có gì bắt buộc con người phải nói ra tất cả những điều mà họ nhìn thấy ?
Cảm thấy sợ khi phải ở một mình với pho tượng, y đứng dậy thong thả đi ra ngoài, theo con đường nhỏ hơn nửa tiếng thì đến chợ.
Tư Hường thích ngắm nhìn những người đàn bà ngoài chợ, dân gian từng có câu “trai khôn tìm vợ chợ đông”, Tư Hường không đi tìm vợ, nhưng y tìm được rất nhiều điều từ những ngôi chợ làng quê này.
Đây là một ngôi chợ cổ xưa có tuổi cỡ trăm năm rồi.
Chỉ cần nhìn sơ qua khu chợ, nhất là những cái thúng cái mẹt của những người “buôn gánh bán bưng” là có thể hiểu cuộc sống của “người Việt”, chẳng phải là ở cái chợ nhỏ bé này, nơi kinh thành sầm uất cũng vậy thôi.
Đây là một đất nước thuộc sở hữu của các Vua Chúa, của các Vị Tướng đã từ hàng ngàn năm rồi, và các Vua Chúa, các Vị Tướng phi thường đó vẫn hàng ngày mỉm cười độ lượng nhìn các thần dân của mình, việc chăn dắt cả một bầy cừu hiển nhiên là không dễ dàng.
Tư Hường thong thả đi qua cầu, y đi bộ tà tà theo những con đường ruộng, nhiều năm trước y đã cùng với Tám Nghĩa đi như thế này, bây giờ thì chỉ còn một mình.
Lúa đã bắt đầu ngậm sữa, tỏa ra một mùi thơm phảng phất.
Nơi y đến là một ngôi chùa, thực ra đó là một ngôi nhà nhưng đã biến thành chùa từ hàng chục năm nay rồi, bên trong chính điện thờ tượng Phật Thích Ca, bên ngoài là tượng Quan Âm cầm tịnh bình, trên đầu có che lọng. Đây là nơi tu hành của các sư nữ.
Những nơi như thế này không thuộc quyền quản lý của giáo hội, vì họ không đề tên chùa… cuộc sống ở nơi này là cả một sự thanh bình. Họ sống hoàn toàn tự cung tự cấp, chùa có mấy mẫu ruộng, các sư cô tự cày, cấy, gieo trồng và gặt lúa, những công việc nào cực nhọc quá thì họ thuê thêm người ngoài làm. Lúa trồng để chùa dùng, họ còn bán bớt để mua thêm quần áo, dầu, nhang đèn..., xung quanh chùa trồng đủ loại cây ăn trái, đủ các loại rau cải, trồng đậu nành để làm đậu hủ, các sư nữ còn tự làm chao để ăn, món chao của họ có thể nói là ngon tuyệt vời, hơn chao đỏ HK nhiều.
Tư Hường ngồi đàm đạo với bà Chín, một ni sư già nhất ở đây… có lần y hỏi sao chùa không đặt tên, sư bà nói “nêu đặt tên thì phải vào giáo hội, lúc đó nhiều khi họ cử người khác đến để trụ trì ngôi chùa… mà ở nơi đây họ sống như vậy đã hàng chục năm nay rồi”. Mỗi người một hoàn cảnh, có người tu từ tấm bé, có người gặp hoàn cảnh éo le xuống tóc đi tu… lâu ngày họ đều có gương mặt hao hao giống nhau, một gương mặt hiền hiền như mặt Phật.
Nơi đây không cần phải có phật tử cúng dường, của cải họ tự làm ra nhiều khi còn dư để giúp những người cơ nhỡ. Các ni sư sống một cuộc sống tự cung tự cấp, bình yên và trong lành, nơi này có khác gì Niết Bàn ?
Niết Bàn có gì khác nơi này ?
0
Từ giã ngôi chùa của các Ni sư, Tư Hường lại đi lang thang theo những bờ ruộng, đến một bờ kinh có cái chòi nhỏ, y leo lên đó ngồi. Nắng trưa như đổ lửa, cái nắng này sẽ báo hiệu một cơn mưa lớn sẽ kéo đến, ba bốn đứa trẻ đang bơi lội dưới dòng, chúng hò hét ầm ĩ…
Ngồi trên chòi nhìn ra cánh đồng mênh mông trước mặt, bất giác Tư Hường lại chìm vào dĩ vãng, đó là cái thời ở “Đồng Tháp Mười”, còn gọi là khu tám.
Làm sao có thể quên được những cánh rừng tràm bạt ngàn, những cánh đầm mênh mông với muôn vàn đoá sen rực rỡ của mùa nước nổi… Lúc đó Pháp càn dữ dội, Tám Nghĩa lại phải đi Gò Công, mà đi Gò Công lúc đó là “không có đường về”, trước khi đi y đã gửi gắm một việc…
Vợ Tám Nghĩa lúc đó còn trẻ lắm, đẹp lắm, mới ngoài hai mươi, đang mang cái bầu đứa con đầu lòng chang bang, ở một mình trong cái chòi bên kinh Dương Văn Dương. Cứ khoảng vài ngày Tư Hường lại chèo tam bản ra tiếp tế lương thực cho chị Tám.
Lần đó y chèo qua Vàm Cỏ Đông để đón Sáu Trung, lúc này muốn ghé thăm chị dâu trước khi về khu chín. Chiếc tam bản đi ra tới giữa dòng Vàm Cỏ thì nghe tiếng phạch phạch của trực thăng, lúc đó đâu còn tấp vào bờ kịp nên mạnh ai nấy nhảy, Tư Hường nổi tiếng bơi như rái, y còn ráng cắp theo cả cái nón lá, sợ trôi mất, Sáu Trung bám vào cái tam bản, nên bị dính một loạt đạn, chìm mất tích.
Tư Hường ráng bơi mãi, bỏ mất luôn cái nón lá, đến xế chiều y tìm được chiếc ghe khác, chèo đi tìm Sáu Trung thì không thấy, sau đó quay lại kinh Dương Văn Dương, đến chòi chị Tám thì đã thấy tan hoang cả, vợ Tám Nghĩa bị đạn bắn từ trên cao, rơi xuống kinh, xác trôi cầu cả mấy cây số… bà vợ sau này là bà thứ hai của y.
“Bác mua cá hông bác” – Tư Hường bất giác giật mình, y nhìn thấy một đứa trẻ đứng trước mặt, một đứa bé đen nhem nhẻm.
“Bác mua cá hông bác – bộ bác ngủ quên hả ?” đứa bé hỏi lần nữa.
Tư Hường dụi mắt, buổi trưa làm y cảm thấy mệt mỏi, y rít một hơi thuốc, chăm chú nhìn đứa bé. Đứa nhỏ khoảng mười ba mười bốn tuổi, trên tay cầm một con cá lóc to xù, chắc có lẽ nó mới câu được.
Tư Hường nói “phải nhóc con Hai Ngang?” – “phải” chú bé ngần ngừ đáp.
“Vậy chú mày tên gì” – “tui tên Mương” – ngừng một lát ,chú bé nói tiếp “hồi nhỏ ba tui lượm được tui dưới mương nên đặt tên là Mương.” Tư Hường cười khì khì, chắc có nhiều người thắc mắc về cái tên “Mương” nên chưa hỏi chú bé đã tự giải thích - “thế ba mày dạo này sao rồi, ổng còn nhậu dữ không?” – “ổng hết nhậu nổi rồi, nếu không thì tui mang con cá này về cho ổng, đâu bán làm gì”.
Tư Hường bỗng thèm món cá lóc nướng trui nên mua con cá, y cũng muốn giúp đứa bé.
Y bỗng nhớ đến lần đào ngôi cổ mộ ngay ruộng nhà Hai Ngang, ngôi mộ này bị bỏ hoang cả mấy chục năm rồi, sau này con cháu trong dòng họ truy lại gia phả mới tìm lại được. Ngôi mộ bị bỏ hoang lâu năm nên đã lún hầu như tất cả, chỉ còn ló bốn cái trụ bằng đá ong lên phía trên, lâu nay bọn trẻ chăn trâu hay dắt trâu về nghỉ ở chỗ này. Dòng họ này về sau đàn ông bị chết đột tử, bị tù đày rất nhiều nên con cháu coi thầy thì được phán rằng do mồ mả ông bà tổ tiên bị lún nên xảy ra cớ sự, khi họ tìm lại được mộ của cụ tổ thì thấy đúng như vậy nên muốn cải táng lại.
Lần đó Tư Hường đào được một ít xương mục còn sót lại và một chiếc vòng đen tuyền bằng ngọc huyền. Chiếc vòng này người ta gọi là “Vòng yểm tâm”, được đặt trên ngực một người chết trẻ hay chết bất đắc kỳ tử, người này chắc chết vào giờ rất xấu, mộ lại bị bỏ hoang phế, trâu bò leo lên dẫm đạp nên dòng họ sau này bị nhiều chia ly, con cháu lụn bại… Chiếc “Vòng yểm tâm” cổ này rất quý, Pháp sư dùng để mài cho người bị vong nhập, ma nhập hay người bị động kinh uống sẽ hoàn hồn lại.
Thế mà Tám Nghĩa vẫn cho Tư Hường là kẻ “không có cái đầu”, chính là từ cái hôm Mười Trí tìm đến…
0
Mười Trí đúng là dân làm ăn chuyên nghiệp, y chẳng rào đón gì, vào đề liền “Bọn ngoài Bắc đang chào bán một đôi hươu cổ nghe đồn bằng đồng đen, nên tôi muốn nhờ hai anh lên xem, xác định giúp là thật hay giả” – “Hươu hay là tỳ hươu ?” – “tôi cũng chẳng rõ là hươu gì nữa, bọn nó ra giá ba mươi cây vàng, nếu đúng là tượng cổ bằng đồng đen thì giá này khá mềm nên tôi đã cọc trước ba cây để cho tụi nó mang vào trong này”
Mười Trí là tay tổ trong chuyện “đánh quả”, nếu không ngửi thấy ngon ăn thì đâu chịu bỏ ra ba cây cọc trước. Y nói tiếp “Bọn nó sợ bị cướp nên không chịu giao ở SG mà đòi hẹn gặp ở… Plâyku, có cơ sở của tụi nó trên đó” – “hẹn gặp chỗ lạ, tụi nó cướp vàng thì sao ?” – “Chính vì thế tôi phải nhờ hai anh và thêm mấy thằng đàn em nữa, tổng cộng là sáu người”  -  “Thực ra vụ này tôi cũng không bỏ vốn hết, đã có một thằng đại gia chuyên đánh hàng từ đây đi Thái Lan, sau đó qua Âu chịu giá với tôi là bảy chục cây rồi, nếu chuyện này mà thành công sau khi trừ vốn, tôi sẵn sàng chia 1/3” – Y năn nỉ “ Đôi hươu này nghe nói được lấy ở một ngôi chùa cổ từ cái thời cải cách ruộng đất, bọn họ chôn giấu mãi đến bây giờ… chuyện này chắc ăn quá mà hai anh chỉ phải đi một lần duy nhất thôi”.
Trong mấy anh em nhà Tám Nghĩa thì Mười Trí tuy sinh sau đẻ muộn nhưng tỏ ra có tư chất đặc biệt hơn hết thảy, y không chịu đi theo nếp nhà, đó là trở thành những nông dân cần cù, chân chất, cam chịu cái kiếp nghèo. Ngay từ cái thời mông muội lẽo đẽo theo mấy thằng anh đi mò cua bắt cá ngoài ruộng, Mười Trí đã tỏ ra thích tách một mình riêng biệt… Lớn lên y chọn cho mình một con đường khác hẳn, đó là đi buôn gỗ. Thuở đầu y cũng chỉ là làm công, đi theo ghe buôn của ông LS… Do thông minh, nhanh nhẹn, lại chịu khó, Mười Trí dần dần trở thành cánh tay đắc lực, khi ông LS bị VM chặt đầu, y nhân cơ hội đó vươn lên làm “thầu khoán”. Trong lúc đám con cái LS run sợ hoang mang, bỏ của chạy lấy người, thì Mười Trí lúc đó mới hơn hai mươi tuổi, bỗng chốc có trong tay số gỗ quý mà LS vì rơi đầu đã bỏ lại, cộng với bản tính dám xông pha vào những nơi nguy hiểm mà kẻ khác không dám vào nên y giàu lên rất nhanh. Nghe đồn sau này y lại làm “ Chef section plantation de suzannah” trên Dầu Dây, có mấy đồn điền cao su rộng mênh mông.
Mười Trí giàu suốt mấy thời kỳ, lên tận khu Bàn Cờ ở SG xây biệt thự, y chỉ tạm lao đao vào cái thời cải tạo tư sản, tuy nhiên trong lúc mọi người sống dở chết dở thì Mười Trí nhanh chân phóng ngay vào chùa, biến hóa thành một thầy chùa tối ngày tụng kinh gõ mõ, mở miệng ra là niệm phật nên “trăm họa cũng đều qua khỏi”. Nhờ tài phép thần thông như vậy, nên bây giờ tuy đã đứng tuổi, thời thế vừa thay đổi y lại nhảy ngay vào những cuộc chơi vô tiền khoáng hậu.
 
Lần đi mua “hươu” ấy Tám Nghĩa viện cớ không hạp với Mười Trí nên không chịu tham gia, nhưng lại là chuyện cũng thằng em ruột nên không bỏ được, đành phải nhờ Tư Hường và ĐHC. Sáng hôm ấy cả bọn sáu người lên một chiếc Cá Mập thẳng tiến Plâyku, dọc đường Mười Trí còn rước thêm hai người lạ hoắc nữa. Một người bụng to, vai xệ, dáng khá sang trọng, người còn lại thì giống như vệ sĩ – Mười Trí giới thiệu cả hai là “đối tác”, bọn ĐHC cũng không tò mò dò hỏi làm gì. Xe đi đến Plâyku thì vừa chạng vạng tối, trời bắt đầu se lạnh, một bầy két xanh dễ cả ngàn con bay rợp trời, kêu vang inh ỏi, chẳng biết là điềm gì nữa…
 
Xứ Plâyku này cũng thật lạ kỳ, ở trên cao chót vót như vậy mà lại có một cái hồ nước mênh mông, về chiều nhuộm một màu xanh biếc. Mới xẩm tối mà thành phố đã có vẻ yên tĩnh, đám giang hồ đất Bắc quả là sáng suốt khi xây dựng căn cứ trên đây, một bên là núi rừng hùng vĩ, linh thiêng và bí ẩn, một bên là cái thị trấn cao nguyên nhỏ bé với vài con đường độc đạo, kẻ lạ mặt nào xuất hiện cũng dễ bề bị phát hiện.
Điểm hẹn là một biệt thự vùng ven, trên lưng chừng một con đường dốc, một quán bar hẳn hòi, từ đây có thể nhìn xuống thànhphố với nhưng ngọn đèn lung linh trong màn đêm huyền bí. Quán bar được thiết kế đúng chất Tây nguyên với những pho tượng nhà mồ ngồi trơ trụi, những gương mặt dân tộc ngơ ngác… Mười Trí tỏ ra quen thuộc với nơi này, y dẫn bọn ĐHC và hai tay “đối tác” lên thẳng tầng trên cùng, nơi đây có một căn phòng gỗ nhỏ và một cái bàn bida cực đẹp, một em “dân tộc” nhưng trắng nõn đang đứng bên bàn nở nụ cười xinh như mộng.
Mười Trí nói “bọn nó hẹn mười giờ tối nay lận, hãy còn sớm chán, anh em có thể nhâm nhi chút rượu và làm vài món đặc sản Tây Nguyên”.
Đây chính là cái đỉnh của “Les Hauts Plateaux du Sud”, chủ nhân của biệt thự này hẳn cũng là một tay trùm cỡ bự. Đặc sản TN thì có đủ kiểu, nhưng Mười Trí cho kêu món “mắm bồ-hóc” đựng trong ống tre mới thật là kỳ lạ. ĐHC đã từng được nếm món này của người M-nông, nó thật kinh khủng, đó là thịt còn sống, trộn với tiết, gan, ruột non, ruột già và muối ớt, nguyên một con nhái được “tái chín”, lần ấy vẫn phải cố gắng trợn mắt để nuốt và khen ngon… nhưng món của Mười Trí kêu lại là món “mắm Bồ-hóc Hoàng gia” của giới quý tộc thật sự. Khi cái ống lồ-ồ được mở ra, một mùi thơm ngào ngạt, nồng đậm khắp căn phòng nhỏ, không thể tưởng được trên đời này có một món ăn thơm ngon như thế… Mười Trí lại không uống rượu cần, y kêu một chai “Claude Chatelier” to đùng mà chủ nhân của ngôi biệt thự đã dành sẵn, uống bằng những cái ché Tuk đen sì, bóng lưỡng.
Đến giờ này thì Mười Trí mới chịu giới thiệu hai “đối tác”, tay đầu sói bóng, lùn lùn bụng phệ, có hàng lông mày dài thượt, nhìn cứ như tài phiệt Nhật Bổn chính là đại gia chuyên đánh hàng xuyên Việt, xuyên biên giới. Còn tay nhìn cứ như lính hầu lại còn ghê gớm hơn nữa, một tay tổ trong ngành khai thác mỏ quặng, y đang có tham vọng thâu tóm mấy mỏ quặng thiếc ở cái xứ “rừng vàng núi cũng vàng” này. Riêng Tư Hường thì được trân trọng giới thiệu là một chuyên gia bậc thầy về các loại đồ “tối cổ”.
Thời gian trên cao nguyên trôi thật chậm, rượu được vài tuần tay “chủ mỏ” bỗng nhiên nổi hứng rủ ĐHC đánh một cơ bida trong lúc chờ đợi. Có lẽ y bắt đầu thấy thích em dân tộc da trắng, môi đỏ, chân dài, zíp ngắn đang đứng mòn mỏi bên bàn nãy giờ. Tay “chủ mỏ” xem ra cũng là một tay cơ lão luyện, đường cơ của y “mướt rượt”, muốn gom là gom, muốn tan là tan, y còn rủ ĐHC đánh độ “chuyến này ra quân thắng lợi, về lại SG, ai thua độ này sẽ phải đãi một chầu từ A đến Z” – ĐHC cũng mong đánh thắng để về SG được y đãi một chầu xem thử cái Z của giới Đại gia có khác cái Z của giới Dân đen thế nào ? Có điều phen này chắc là đại bại rồi, tay “chủ mỏ” xuất thân là “dân chơi Hải Phòng” thứ thiệt hay sao mà y càng uống càng tỉnh, càng đánh càng hay… đang lúc căng thẳng thì bỗng có một bàn tay vỗ lên vai ĐHC “để anh đánh giúp chú cơ này, trời đang lạnh mà sao chú đổ mồ hôi ghê thế ?” bất giác nhìn lên thì mới biết chính là tay chủ quán bar đã ra chơi, nói chuyện với Mười Trí và Tư Hường nãy giờ. Y nhìn ĐHC chằm chằm, trên cái bản mặt lỳ lỳ lại nở ra một nụ cười tươi tắn… ôi chao, chính là đàn anh Sáu Đá đây mà…
0
Sáu Đá vốn là một tay cơ “có tiếng”, nhưng có nhiều chuyện y còn có tiếng hơn nữa như “buôn ma túy, bảo kê, cờ bạc…”. Tuy nhiên tầm cỡ y không thể nắm một cơ ngơi cỡ này, hẳn sau lưng còn có một “ông kẹ” nữa. Sáu Đá thuộc loại “nửa người, nửa ngợm, nửa đười ươi”, chỉ thích tiền và mê gái nhưng y cư xử với đàn em cũng rất sòng phẳng nên đám “giang hồ mồ côi” theo về rất nhiều, có lẽ vì điều này mà một “ông kẹ” nào đó đã cho y trông coi chỗ này. Sáu Đá ở đây thì chắc Hanh Già cũng đang ở đâu đó, hai tên vốn dĩ là một cặp bài trùng trong nghề cờ bạc, hiển nhiên trong các căn phòng của ngôi biệt thự này phải có một sòng bạc cỡ lớn và Hanh Già đang trực chiến ở đó.
ĐHC biết Hanh Già đã lâu lắm rồi, đã là cái quá khứ cũ ca cũ kỹ, y nhìn già như người tiền sử, được cái mày râu nhẵn nhụi, quần áo lúc nào cũng bảnh bao. Lần gặp sau cùng cách đây khá lâu, lúc đó Hanh Già đang trụ ở đường HP, nơi có khá nhiều sòng bạc, y ăn ngủ hầu như suốt ngày trên chiếu bạc, vừa chơi vừa cho vay, cầm đồ, còn phần bảo kê và thu xâu là Sáu Đá.
Sòng bạc nằm trong một con hẻm sâu tít, trong đó có mấy tụ đang đánh sập xám, một tụ đánh tứ sắc của mấy em ca-ve. Hanh Già cũng mê gái không khác gì Sáu Đá, đâu phải ngẫu nhiên mà y ham thích cờ bạc, nơi đây hầu như là đầy gái đẹp, mà các em này khi máu cờ bạc nổi lên, đánh thua rồi thì…muốn gì cũng được.
Hanh Già nói “dạo này thua quá xá, hay ông kiếm việc gì cho tui làm, như đi giao hàng hay nhận hàng chẳng hạn” – Hanh Già có vẻ muốn thăm dò nhiều chuyện, có khi y cũng là ăng-ten không chừng - “tôi đâu có việc gì mà giao hàng nhận hàng? Đang tính nhờ ông truy dùm cái xế của một người bạn mới bị mất ở khu này” – “bây giờ vụ này khó tìm lắm, con girl của tui đang thua cháy túi, hay ông cho nó ít tiền chơi tiếp đã”.
Đó hẳn là một điều kiện của sự nhờ vả… một điều kiện của bạn bè trong chốn giang hồ.
Con girl của Hanh Già nhìn mặt mũi trắng trẻo, bàn tay thon thả, chắc xuất thân cũng con nhà đàng hoàng nhưng đua đòi ăn chơi mà vào chốn này cho thỏa sức quậy, đó là do mấy em tự nguyện chứ mấy khi có ai ép buộc ? Mỗi khi xong một “chến bạc” là mấy em thua chửi thề tá lả, một em văng miệng “đ..má, nãy giờ quên mất để bài ngay l… nên xui xẻo quá…”.
Giang hồ là nơi hiểm ác, không có tình người, chớ dại dột mà bước chân vào chốn này.
Sáu Đá đứng ngay cạnh cô bé dân tộc trắng nõn, lúc đó nom y thật giống con đười ươi hơn cả. Con đười ươi cầm cây cơ nom thật lão luyện, y mà đánh cơ này thì tay “chủ mỏ” thua là cái chắc rồi… có điều tay này sao không có ý kiến ý cò gì, y còn rót một ly “Claude Chatelier” đỏ quạch nốc cạn ?
Hiển nhiên bọn này biết nhau rồi.
Cái món “Billard France” này có nhiều chiêu rất khó, Sáu Đá nổi tiếng là tay “cơ kéo”, khi hai trái bi nằm ở sát hai góc bàn, trái bi còn lại nằm tuốt ở phía bên này, thay vì phải đánh cú “a-bank” thì mới có thể trúng thì y lại đánh cú “dètro” kéo giựt cả ba trái bi gom về một tụ, cái chiêu tuyệt kỹ này không phải ai cũng có thể làm được.
ĐHC bất giác nghĩ về tay “chủ mỏ”, tay mafia Hải Phòng thuộc vào loại cộm cán này đâu phải ngẫu nhiên lại có mặt ở đây ? hơn nữa vài chục cây vàng cũng còn bọt bèo lắm, chưa đủ mãnh lực để Mười Trí phải quy tụ một bọn đông đảo như thế lên tận nơi này, hẳn đằng sau phải có thêm chuyện gì nữa…
Quả nhiên khi con đười ươi nhẹ nhàng để tay đánh một đường tuyệt kỹ thì cửa phòng bỗng bật mở, phía dưới đi lên hai con người.
Là hai người đàn bà.
 
Thời buổi bây giờ những người đàn bà phải bươn chải làm ăn như đàn ông có vẻ hơi bị nhiều, họ là những “business woman” của thời đại mới. Công việc tạo cho họ cái phong cách tự tin và đĩnh đạc, nhưng không phải ai cũng giữ được cái nữ tính thiên phú. Thoáng nhìn cũng có thể nhận biết hai người mới vào không phải tầm thường, một người mặc cái đầm màu đỏ, cái áo khoác ngoài cũng màu đỏ, nom rực rỡ như đóa hoa Hải Đường, người kia lại mặc nguyên bộ đồ màu đen, cổ choàng một cái khăn trắng tạo nên một sự tương phản rất đặc biệt.
Sự xuất hiện của hai người này tạo cho căn phòng có vẻ trở nên trang trọng. Sáu Đá vội đánh nốt cơ cuối cùng, khi hai mệnh phụ này xuất hiện thì tay “chủ mỏ” đâu còn quan tâm đến ván đấu và ĐHC nữa, y tỏ vẻ khá săn đón hai người đàn bà này.
Bọn họ vội rủ nhau đi, kéo theo cả Mười Trí, ở cái xứ sở này làm ăn lớn thì tất phải mafia, chẳng có doanh nghiệp nào dám vỗ ngực xưng tên là mình trong sạch, tất cả bọn họ đều biết nhau quá rõ. Điều này cũng phải thôi, sống trong môi trường nước mặn thì cá bắt buộc phải là loài cá nước mặn. Hiển nhiên bọn Mười Trí đang cần huy động nhiều tỷ để củng cố thêm thực lực và để thâu gom các khu mỏ. Mối duyên giữa Quyền lực và Tiền bạc là một cần thiết hàng đầu của những thương vụ lớn.
ĐHC thong thả rửa tay ở cái bồn rửa cổ điển tuyệt đẹp, tấm gương được chiếu đèn sáng ngời ngời, dòng chữ “pour l’amour de moi” được trang trọng khắc theo kiểu chữ gothic, mạ vàng óng ánh – chủ nhân nơi này tỏ ra tinh tế trong từng chi tiết kiến trúc nhỏ, những nhà tư bản mặc áo khoác đỏ này bắt đầu tập tành thưởng thức nghệ thuật đỉnh cao, bắt đầu đặt bàn chân nông dân sần sùi, thô ráp vào tấm thảm của sự quý phái.
Khoảng hơn mười giờ thì Mười Trí quay lại, y nói “bọn ngoài Bắc bị “chèo” theo dữ quá nên đổi địa điểm gặp ở Tây Ninh, bây giờ ta phải xuống đó trước, đến nơi thì bọn nó sẽ hẹn cụ thể sau”. Việc hẹn đi tới đi lui này làm Tư Hường có vẻ bực dọc, nhưng đã lỡ hứa giúp rồi thì cũng không bỏ được. Y tuy tài thật đấy nhưng trong thương trường thì cũng chỉ là con gà con so với con diều hâu Mười Trí.
Xe khởi hành ngay trong đêm cao nguyên giá lạnh và sao trời lấp lánh. Đường xuống dốc thật quanh co, một bên là vách núi sừng sững, một bên là vực núi sâu hun hút, băng đèo giờ này thật nguy hiểm nhưng thời gian đòi hỏi phải như vậy. Đến Tây Ninh thì mới hơn tám giờ, xe tạm ghé vào một quán ven đường để ăn sáng, nơi đây có một món ăn khá nổi tiếng là “bánh canh trảng bàng”, là món bánh canh giò heo ăn với nước mắm nhỉ có thêm chanh, ớt…
Ngày xửa ngày xưa, cái vùng đất “Pare aux éléphants” này chỉ có rừng rậm và thú dữ, những trảng bàng lác mênh mông, thủ phủ của một vương quốc đã bị tiêu diệt là Thủy Chân Lạp, bây giờ thì nơi đây đã trở thành những đường phố sầm uất, Thánh địa của đạo Cao Đài. Đó là một tôn giáo dung nạp nhiều nguồn tư tưởng với ý định tối cao là “hòa đồng tôn giáo”. Đối với con người, chấp nhận một cái gì đó giống mình thì quả là một điều dễ dàng, chấp nhận một cái gì khác hẳn mình thì mới là điều vô cùng khó, đúng ra chính điều đó mới thực sự gọi là “Sự Chấp Nhận”. Vì thế cuối cùng thì “Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ” cũng bị chia rẽ không kém gì các tôn giáo khác. Ai là người đam mê cầu cơ thì cũng biết Đạo Cao Đài được khai sinh bởi Cơ Bút và giảng truyền chân đạo, những kinh điển, nghi thức cúng kiến, những áng thi văn dạy Đạo được lưu truyền qua nhiều thế hệ, từ đông sang tây cũng đều qua Cơ Bút. Tòa Thánh Tây Ninh là một nơi rộng mênh mông, tôn nghiêm và ít người lạ lảng vảng ,ngay cả đám hình sự cũng ít bén mảng nên bọn bán đồ cổ quyết định dùng nơi đây để làm chỗ gặp mặt.
Bọn giang hồ đất Bắc này rất nguy hiểm, nhất là đám nhỏ tuổi, sẵn sàng “nổ” vì bất cứ chuyện gì. Nhiều thằng miệng búng ra sữa nhưng tuyên bố xanh rờn “Đời dân chơi không cần sai hay đúng, chỉ cần biết dùng...súng là Ok”
0
«« « 1 2 3 4 5 » »»