Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

Anh hùng Đông A dựng cờ bình Mông

80 trả lời, 18.448 lượt xem — Trang 2 / 3
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-03-10 16:09:42NuHiepDeThuong>
Hồi thứ mười bẩy

Sứ thần Mông Cổ


Tham-tri chính sự, kiêm Vũ-lâm đại học sĩ Vũ Tán-Đường là người rất thân với Thủ-Huy. Ông hỏi :
- Trước đây Đại-Việt ta đã phải chịu ba loại độc chưởng từ nước ngoài đem vào. Một là Huyền-âm chưởng của phái Trường-bạch, hai là Chu-sa Nhật-hồ chưởng của Tây-vực, ba là Đoạn-cân tán cốt chưởng của phái Liêu-Đông. Nhưng về sau phái Đông-a đều tìm ra phương pháp khống chế. Phái Sài-sơn lại tìm ra thuốc giải, trị cho những người bị trúng ba loại chưởng trên. Trong lần đi sứ vừa qua, trong sứ đoàn còn có đại hiệp Phạm Tử-Tuệ, nổi tiếng về khoa trị độc. Tại sao Phạm đại hiệp không ra tay trị cho A-lỗ Cốt-Đả với Bác Nhĩ Truật, để mua cảm tình mai hậu ?
- Thưa đại học sĩ có.
Thủ-Huy trả lời :
- Sau trận đấu, thì đoàn cao thủ Kim, Việt rời Khắc-liệt trở về. Lúc đi thì có sứ thần Khắc-liệt dẫn một đoàn kị mã hộ tống, để đưa đường, cùng phục dịch như nấu ăn, khi qua đêm thì cắm lều. v.v. Lúc về thì sợ tai mắt Mông-cổ, vì vậy phái đoàn chỉ có một đội phục dịch. Tất cả giả làm thương nhân. Đường Khắc-liệt, Yên-kinh phải mất hai mươi ngày sức ngựa, đi trên những vùng đồng cỏ mênh mông. Trải qua bốn ngày yên ổn, đến ngày thứ năm, thì giữa đêm khuya, đoàn bị một bọn cướp tấn công. Chúng gồm khoảng hơn trăm kị mã. Khi đến cách chỗ đóng trại của đoàn khoảng hơn hai dặm thì đồng hú lên rồi phóng tới. Cả đoàn kịp thời bừng tỉnh, lên ngựa tiếp chiến. Nhưng khi chúng lao tới khoảng một tầm tên, thì dừng lại bắn một loạt tên lửa, rồi bỏ chạy. Mấy căn lều bốc cháy. Đội kị mã Khắc-liệt với đám cao thủ Kim đuổi theo. Trong khi Sứ đoàn Việt ở lại chữa cháy, nhưng không kịp. Lều bị thiêu rụi, chỉ cứu được hành lý mà thôi. Sứ đoàn đang bơ vơ trong đêm thì lại một đòan kị mã khác tới tấn công. Sau loạt tên đầu tiên, tất cả bọn lao dịch Khắc-liệt bị giết hết. Cướp không bắn vào sứ đoàn. Đoàn kị mã dàn ra bao vây. Lối bao vây của họ rất đặc biệt : Vòng ngoài gồm 50 người, xa khoảng ba tầm tên. Vòng giữa gồm 30 người, xa khoảng hai tầm tên. Vòng trong gồm 20 người, xa khoảng một tầm tên. Họ đốt đuốc sáng rực, rồi im lặng. Sư thúc Trần Tử-Giác lấy cung, tên ra bắn liên tiếp bốn lần, mỗi lần năm mũi. Hai mươi người ở vòng trong đều bị bắn rơi mũ, rồi vẫy tay ra hiệu cho họ im lặng, không được tiến vào. Người thủ lĩnh bước ra khỏi hàng ngũ, họ hỏi một câu bằng thổ ngữ Kim, thấy sứ đoàn lắc đầu. Họ lại hỏi bằng thổ ngữ Khắc-liệt. Sứ đoàn cũng lắc đầu. Họ lại hỏi bằng thổ ngữ Cao-ly. Sứ đoàn cũng lắc đầu. Cuối cùng họ hỏi bằng tiếng Hàng-châu, rằng : « Các vị là người Hán phải không ? ». Sư thúc Phạm Tử-Tuệ đáp « Không, chúng tôi là người Việt ». Người thủ lĩnh cười lớn rồi nói :« Chúng tôi không phải là cướp. Chúng tôi tới đây để kết bạn với các vị. Chúa chúng tôi muốn mời các vị tới doanh trại chúng tôi có việc thương lượng, rất mong các vị không từ chối ».
Long-Xưởng cười :
- Thế bọn này là ai ?
- Chúng là người của Mông-cổ.
Long-Xưởng than :
- Quả thực bọn Mông-cổ trí lự siêu phàm. Chúng chỉ quan sát sơ cũng biết bọn Kim đứng sau lưng Tang Côn. Lại cũng biết sứ đoàn không phải là người Khắc-liệt. Vì vậy chúng mới đón đường, tấn công đợt đầu để ly khai bọn Kim với ta. Chúng muốn tránh một cuộc giao tranh, chỉ muốn dụ bọn Kim đuổi theo. Bởi nếu chúng chủ tâm tấn công, thì khi chúng tới sát lều trại mới ra tay. Đây chúng dàn ra ở xa hai dặm mà hò hét, thì có nghĩa là chúng muốn đánh thức mọi người dậy rồi mới xung phong. Thời gian này đủ để mọi người mặc giáp, thắng yên, lên ngựa, đuổi theo. Đợt sau, họ giết bọn phục thị, rồi mời ta, để khi bọn Kim trở lại, không biết ta đi đâu. Thôi nhị đệ thuật tiếp đi.
- Bọn kị mã Mông-cổ đều có hai ngựa, một ngựa để cỡi, một ngựa để đổi khi phi đường trường. Người chỉ huy ra lệnh cho một đội phi trước dẫn đường. Một đội chín người phi song song với chín người của ta. Phi tới sáng, thì gặp một đoàn quân đón đường. Họ chuẩn bị bữa ăn sáng sẵn sàng cho đội kỵ mã của họ và chín người của sứ đoàn. Sau khi ăn sáng xong, cả đoàn thay ngựa rồi lên đường. Đến giờ Mùi, thì tới một doanh trại vĩ đại, với những bầy ngựa, bầy cừu, trâu, bò đếm không hết, với hàng chục vạn lều da. Một đội quân dàn ra, cung tên, vũ khí sáng ngời đón sứ đoàn. Khi sứ đoàn vào đến cái lều to như một cung điện, thì Thiết Mộc Chân với ba tướng Tốc Bất Đài, Triết Biệt, Gia Luật Mễ cùng ra đón. Họ nói tiếng Hán rất sành sỏi, rất văn vẻ. Vừa vào lều, phân ngôi chủ khách xong, Thiết Mộc Chân đ ặt ngay vấn đề : « Khi thấy các vị, chúng tôi biết các vị là những cao nhân, không thể vì mấy đồng tiền mà theo Tang Côn. Cũng chẳng vì chút danh vọng mà theo Kim. Cho nên lúc giao đấu, các vị không muốn thắng. Đoàn cao thủ của phái Hoa-sơn cũng thế . Bởi vậy tôi nảy ra ý muốn mời các vị đến đây, với ba mục đích. Mục đích thứ nhất là xin các vị dùng hết bản lĩnh đấu với người của chúng tôi, để chúng tôi đươc mở rộng tầm con mắt. Thứ nhì, chúng tôi xin kết thân với các vị, trong tình huynh đệ, tương trợ. Thứ ba, nếu có thể chúng tôi xin được trao đổi võ công với các vị ». Thần nhi thấy họ hào sảng quá, thì trả lời ngay : « Trong ba điều Đại-hãn đưa ra, chúng tôi chỉ có thể tuân theo điều thứ nhất ».
Long-Xưởng hỏi :
- Thế người của ta đấu với ai ?
- Trận đầu, sư thúc Phạm Tử-Tuệ đấu với Tốc Bất Đài. Công lực của Bất Đài thực thâm hậu vô cùng. Y dùng Thiên-ưng chưởng pháp của Mông-cổ. Bộ chưởng này có 40 chiêu khác nhau, rất thô kệch, nhưng hùng mạnh vô tả. Sư thúc Tử Tuệ dùng Đông-a chưởng. Đấu đến chiêu thứ bẩy mươi thì hai chưởng giao nhau, cuộc đấu trở thành đấu nội lực. Sư thúc Tử-Tuệ thấy công lực của đối thủ quá hùng hậu. Nếu cứ đường đường, chính chính giao đấu thì e khó thắng, bởi vậy người mới dùng Qui pháp âm dương của Lĩnh-Nam, hút hết nội lực của y. Khi hút phân nửa nội lực của Bất Đài, thì người thấy rằng giữa y với sứ đoàn không thù, không oán, nên người thu nội lực về. Tốc Bất Đài bị thua, y khâm phục Phạm sư thúc vô cùng.
Khu mật viện sứ, lĩnh Trung-thư lệnh Tăng Khoa hỏi :
- Trận thứ nhì chắc công chúa đấu kiếm với Gia Luật Mễ, và thắng y dễ dàng. Trận thứ ba, hẳn đại hiệp Trần Tử Giác đấu cung với Triết Biệt. Không biết kết quả ra sao ?
Công chúa Đoan-Nghi đáp thay Thủ-Huy :
- Cuộc đấu này hào hứng vô cùng. Thứ nhất, bắn bia. Cảû hai cùng bắn vào hai cái bia. Mỗi bia là một tấm ván vẽ năm vòng tròn từ lớn đến nhỏ, đồng tâm, để cách xa năm mươi trượng (100m ngày nay). Vòng nhỏ nhất là một hồng tâm lớn bằng cái đĩa. Triết Biệt bắn trước. Cả năm mũi đều trúng hồng tâm. Khán giả reo hò. Họ cho rằng sư thúc Trần Tử -Giác không thể bắn hơn được. Sư thúc Tử-Giác bắn mũi thứ nhất, trúng giữa hồng tâm, làm khán giả im lặng, mở to mắt ra nhìn. Người bắn mũi thứ nhì, tên bay rất chậm, trúng đuôi mũi thứ nhất, tóe lửa ra, đẩy mũi thứ nhất xuyên qua bia. Cả hai cùng chọc thủng bia, khoét hồng tâm thành lỗ lớn, bay ra phía sau. Khán giả kinh hoàng, há hốc miệng ra, không nói một lời nào. Người lại bắn lần thứ ba. Lần này người bắn một phát, ba mũi tên cùng bay ra. Mũi thứ nhất sắp tới bia, thì mũi thứ nhì bay nhanh hơn, trúng đuôi mũi thứ nhất. Mũi thứ ba còn bay nhanh hơn nữa, trúng đuôi mũi thứ nhì. Cả ba mũi như nối đuôi nhau thành một mũi, chui tọt qua lỗ hồng tâm bay sang bên kia. Bây giờ khán giả mới có dịp vỗ tay hoan hô. Triết Biệt chạy lại nghiêng mình trước sư thúc Tử-Giác, tỏ ý tâm phục.
Trung-Thành vương Lý Long-Căn hỏi :
- Thế trận cuối cùng, Bác Nhĩ Truật có đấu với phò mã không ?
Công-chúa Đoan-Nghi đáp :
- Khải thúc phụ không. Bấy giờ Bác Nhĩ Truật bị trúng độc của A-lỗ Cốt-đả, công lực mất hết, người mềm như bún. Sư huynh của ông ta là Xích Lão Ôn đấu với phò mã. Lão Ôn dùng Huyền-âm chưởng của phái Trường-bạch, công lực ông ta thấp hơn Mao Bình, ngang với Đại-Việt ngũ tuyệt. Khi bắt đầu đấu, phò mã định dùng phương pháp phản độc chưởng của phái Đông-a, nhưng người nghĩ rằng, giữa những người hào sảng thảo dã này với mình không thù, không oán, nên chỉ vận công bảo vệ cơ thể, mà không đẩy độc tố trở lại người ông ta. Sau khi đấu đến chiêu thứ một trăm, không kẻ thắng người thua, coi như hòa. Hai bên cùng nhảy lùi lại. Đám đệ tử của Xích Lão Ôn, Bác Nhĩ Truật cùng mở to mắt ra kinh ngạc, vì bất cứ đối thủ nào đấu với họ, chỉ cần chạm vao chưởng của họ, là sau mười tiếng đập tim, sẽ đau đớn đến phải kêu cha gọi mẹ, không thuốc nào trị nổi. Cơn đau kéo dài trong một giờ rồi hết. Sau đó mỗi ngày lên cơn một lần, đến ngày thứ 49 thì chết. Bác Nhĩ Truật kinh ngạc hỏi phò mã : « Tôi nghe gần trăm năm trước, bên Đại-Việt có hai bác học trí tuệ siêu phàm. Một người tên Trần Tự-An đã chế ra phương pháp phá tất cả các độc chưởng. Phàm người nào dùng độc chưởng tấn công ông. Ông đẩy chất độc trở lại , khiến đối thủ chết thảm. Một người nữa tên Hồng-Sơn đại phu chế ra thuốc giải vĩnh viễn Huyền-âm chương, Chu-sa Nhật-Hồ độc chưởng, Liêu-Đông tán cốt loạn huyết chưởng. Vậy huynh đệ đây là truyền nhân của hai bác học trên. Có phải thế không ? ». Phò mã đáp : « Tôi là cháu bốn đời của Trần Tự-An ». Nghe vậy Xích Lão Ôn vái phò mã : « Người thực là anh hùng, đại độ, người không dùng thần công phản độc chưởng đánh tôi. Dám hỏi : Người có thể trị cho sư huynh tôi được không ? ». Sư thúc Tử-Tuệ nói : « Chữa cho Kim-ưng tứ lang vương thì tôi có thể. Nhưng... ».
Đến đây công chúa đưa mắt nhìn Thủ-Huy. Thủ-Huy chưa kịp thuật tiếp, thì Tô Hiến-Thành hỏi :
- Chắc Tử-Tuệ tiên sinh đặt điều kiện gì với Mông-cổ ?
- Thưa Thái-úy không.
Thủ-Huy đáp :
- Chính Thiết Mộc Chân cũng tưởng sư thúc đặt điều kiện. Ông ta sai mang ra một hộp hơn mười viên bảo ngọc, một tráp đựng năm nghìn nén vàng, một hộp đựng mười cây Thái-tử sâm Cao-ly, mà tạ rằng : « Nếu như tiên sinh có thể trị cho Kim-ưng của tôi, tôi xin biếu tất cả những vật mọn này cho tiên sinh ». Sư thúc đáp rằng : « Phép trị Liêu-Đông tán cốt loạn huyết chưởng chia ra làm ba giai đoạn. Giai đoạn một là dùng châm cứu mở tất cả bì bộ, cho độc chất thoát ra ngoài. Giai đoạn thứ nhì là dùng thuốc hóa giải các độc chất bản thân của phái Trường-bạch và chất độc của Liêu-Đông. Giai đoạn thứ ba là tái luyện lại võ công, phải dùng rất nhiều dược vật bổ dưỡng. Vì bao nhiêu nội lực của Kim-vương bị Liêu-Đông chưởng làm tan hết. Dùng châm cứu thì không khó, nhưng thuốc thì phải sai chim ưng mang thư về Đại-Việt xin Nam-thiên thánh y Lê Thúc-Cẩn ». Cuộc trị bệnh, thì trong mười ngày sau thì hoàn tất. Sứ đoàn không nhận vàng, ngọc, mà chỉ nhận mười cây Thái-tử sâm. Thiết Mộc Chân cùng Bác Nhĩ Truật chỉ lên trời thề rằng : « Trời xanh chứng cho chúng tôi. Hôm nay Bác Nhĩ Truật được người Việt chữa khỏi. Trọn đời Thiết Mộc Chân, Bác Nhĩ Truật ghi ơn, không bao giờ quên ». Sau đó họ cho người dẫn sứ đoàn về đến gần biên giới Kim thì chia tay. Chúa Mông-cổ hẹn rằng sẽ sai sứ sang kết hiếu, và tạ ơn Đại-Việt.
Long-Xưởng hỏi :
- Thế bao giờ thì sứ Mông-cổ tới ?
- Người Mông-cổ hành sự nhanh chóng. Khi họ hẹn, thì họ thi hành ngay. Có lẽ chỉ trong vòng một tháng là cùng.
Thủ-Huy dâng lên nhà vua một hộp bằng vàng, trên nắp khắc con chim ưng vỗ cánh bay ngang mặt trời :
- Tâu phụ hoàng, đây là mười củ Thái-tử sâm, mà lãnh chúa Mông-cổ Thiết Mộc Chân tặng sứ đoàn. Thần nhi xin dâng lên phụ hoàng.
Nhà vua hỏi Long-Xưởng :
- Thiết Mộc Chân tặng sâm là tặng cho Trần tiên sinh, chứ đâu có tặng ta, mà Huy nhi dâng lên ta ?
Long-Xưởng tâu :
- Tuy Thiết Mộc Chân tặng Trần sư thúc, song sư thúc nghĩ rằng mình đi trong sứ đoàn, thì quà này của Đại-Việt. Thần nhi xin phụ hoàng giữ lại bốn củ mà ngự. Vì Thái-tử sâm có hiệu năng tăng tuổi thọ. Phụ hoàng sai sứ đem về Thiên-trường ban cho đại hiệp Tự-Kinh bốn củ. Còn hai củ thì ban cho Thủ-Huy, để trị di độc bấy lâu đã hành hạ Huy đệ.
Tể tướng Đỗ An-Di than :
- Cái khí phách hào sảng của Mông-cổ như vậy, thì trước sau gì họ cũng chiếm được Khắc-liệt. Chiếm Khắc-liệt rồi họ sẽ chiếm Kim, và không chừng họ sẽ thừa thắng đánh cả Tống nữa. Liệu họ có dám đánh chiếm Kim, Tống, không ? Sau khi đánh Tống rồi họ có đánh Đại-Việt ta không ?
Long-Xưởng cười :
- Kẻ thù của kẻ thù là bạn ta. Kẻ thù của ta là Tống. Kim là kẻ thù của Tống thì Kim là bạn ta. Bây giờ ta liên minh với Kim. Nhưng ta không bán nước cho Kim. Trong thiên hạ này có hằng nghìn, hằng vạn nước. Ta phải mở rộng cửa đón tiếp tất cả các nước đến với ta trong tình bằng hữu. Dù Khắc-liệt, dù Đại-lý, dù Tây-hạ, dù Tây-liêu, dù Mông-cổ... nước nào muốn giao hảo, ta đều hân hoan đón tiếp. Còn nếu như bất cứ nước nào đánh Trung-quốc rồi, mà định tràn xuống đánh ta, ta thừa sức giữ nước. Cái vũ khí giữ nước của ta là làm cho dân giầu. Dân giầu thì nước mạnh.
Vương nhìn bọn quan chủ hòa rồi nói chậm, gằn từng tiếng :
- Xưa kia, những người thiển cận đọc sách của bọn văn gia hủ lậu Trung-quốc, rồi cúi đầu thần phục Trung-quốc, thản nhiên để họ coi mình là Nam-man, rồi còn ty tiện đến độ chấp nhận mình là Nam-man. Sau này, còn tệ hại hơn nữa, khi đọc tiểu thuyết hoang đường, ma trâu đầu rắn nói về thời Đông-Chu về thời Tây-Hán, Đông-Hán rồi cứ tin rằng vua Trung-quốc là con trời, các quan của họ là tiên, là thánh trên thượng giới giáng trần rồi đi thờ cúng các nhân vật tiểu thuyết. Cái quái gở là bọn quan lại Trung-quốc sang ta cai trị, chúng ngồi lên đầu lên cổ dân mình, chém giết người mình, vơ vét tài vật của mình, thế mà cũng làm đền thờ, rồi chổng mông, cúi đầu thì thụp lạy. Kìa ! Đền thờ Nhâm-Diêm, Tích-Quang, Sĩ Nhiếp còn kia ! Quái gở hơn nữa, lại có cỏ đền thờ Mã Viện. Cô gia muốn, ngay sau buổi triều hội này, bộ Lễ soạn chỉ hủy bỏ việc thờ Nhâm, Tích, Sĩ, Mã, biến các đền đó thành nơi thờ chư tướng bản triều có công đánh Tống.
Bọn quan lại chủ hòa nghe Long-Xưởng nói mà kinh sợ trong lòng. Tuy chúng muốn bài bác, mà không đủ lý. Long-Xưởng biết thế, vương đưa mắt nhìn Kiến-Ninh vương. Vương hiểu ý anh, tiếp lời :
- Ta có tật đọc sách Trung-quốc rồi mê mê tỉnh tỉnh như người lên đồng. Liêu, Kim, Hạ họ cũng học sách của Trung-quốc, nhưng họ tỉnh táo hơn. Không những họ vượt ra ngoài cái ngu muội tự coi mình là Di, là Nhung, là Địch, mà còn bắt Trung-quốc phải khuất phục họ. Họ đem quân chiếm đất, đặt thành quận huyện cai trị. Cuối cùng họ giết tươi cái ông con trời trong lòng người Hoa bằng cách bắt tiến cống hằng năm. Tiến cống đó không có tính cách tuỳ hỷ như ta cống Trung-quốc, mà hằng mấy chục vạn lượng vàng, hằng vạn tấm lụa, hằng trăm vạn cân thóc. Còn ta ! Ta không ra quân với chủ tâm chiếm đất của Trung-quốc, mà chỉ mong tiến lên đòi lại cố thổ, hoặc lùi về, thì cũng ngồi ngang hàng với Trung-quốc.
Triều đình đông đến gần hai trăm người, mà im phăng phắc, không một tiếng động.
Long-nhương thượng tướng quân Lưu Khánh-Bình muốn phá cái yên tĩnh đó, ông hỏi :
- Theo sự ước tính của phò mã, thì liệu sau này chiến tranh giữa Khắc-liệt với Mông-cổ có thể xẩy ra không ?
- Thưa Thiếu-sư, nhất định là có. Vì cái việc Tang Côn dựa thế các võ sĩ Kim, trước sau gì thì Thiết Mộc-Chân cũng biết. Khi ông ta biết Tang Côn không có tướng tài, trong quá khứ đang mưu hại ông ta. Như vậy thì ngày một ngày hai, Tang Côn cũng sẽ đánh Mông-cổ , cái thế đó, bắt buộc ông ta phải ra tay trước. Vả bốn đại tướng của ông ta không chỉ võ công cao, mà tài dùng binh của họ không một tướng của Khắc-liệt nào có thể so sánh.
Binh-bộ thượng thư Phí Công-Tín than :
- Xét lực lượng Mông-cổ, Khắc-liệt, thì quân Khắc-liệt đông hơn. Xét về binh thế, thì Mông-cổ có binh hùng, tướng mạnh lại kỷ luật hơn. Trong trường hợp xẩy ra chiến tranh, thắng bại khó phân, bấy giờ Kim đem một đạo quân nhỏ sang là chiếm được cả hai.
Công-chúa Đoan-Nghi xua tay :
- Thưa thượng thư không hẳn như vậy đâu. Địa thế vùng Bắc Trung-quốc là những đồng cỏ mênh mông. Đân chúng trong một bộ tộc sống tập trung thành từng đoàn trại một. Họ luôn di động. Mỗi mùa đóng tại một nơi. Kim muốn đánh họ, không phải là điều dễ dàng. Binh pháp của họ cũng khác xa với ta. Ta với Trung-quốc thì có kị binh, bộ binh, thủy binh. Ta lại đóng quân trong thành, khi xuất trận thì dàn quân, phục binh, dùng hỏa công, bắn đá, bắn cung. Còn họ, thì họ chỉ có kị binh. Hai bên dàn trận, rồi xung sát. Trận chiến dài nhất cũng chỉ trong nửa ngày. Kẻ thua thì hoặc là đầu hàng, hoặc là bị tiêu diệt. Cho nên nếu chiến tranh giữa Khắc-liệt với Mông-cổ xẩy ra, thì thắng bại chỉ trong một ngày. Tin này đưa về Kim thì cũng mất đôi ba tháng. Kim có chỉnh bị binh mã kéo lên cũng mất ba tháng nữa. Trong thời gian ấy, bên thắng thừa thời gian chỉnh bị lại lực lượng để đối phó. Vì vậy Kim cũng chỉ muốn chọc cho các nước này có nội chiến, dùng nồi da xáo thịt, khiến lực lương yếu đi, không thể đánh sau lưng họ ; chứ họ không muốn ra quân.
Tuyên phi Thụy-Hương hỏi :
- Này phò mã, trước đây phò mã vì phát tâm Bồ-đề, mà hút độc cứu công chúa. Nam-phương thần y Lê Thúc-Cẩn từng chẩn mạch, rồi nói rằng bệnh của phò mã tuy không lên cơn nữa, nhưng có thể chết bất cứ lúc nào. Nếu như có Thái-tử sâm thì trị được. Nay phò mã có hai củ sâm này, thì không còn sợ gì nữa. Có phải thế không ?
- Quả như Tuyên-phi nghĩ.
Dao-thụ thái phó Ngô Lý-Tín hỏi :
- Thế còn việc trị bệnh cho A-lỗ Cốt-đả ?
Thủ-Huy đáp :
- Vì thấy Kim chưa chắc đã thực lòng, nên sư thúc Tử-Giác bàn rằng : « Trong tương lai, nếu Kim đánh Tống, thì người cầm quân là A-lỗ Cốt-đả. Vậy ta không nên chữa tuyệt bệnh cho y, mà chỉ cho thuốc giải cầm chừng, mỗi năm phải cho tiếp. Như vậy mới có thể kiềm chế được y ».
Long-Xưởng hỏi :
- Nội dung cuộc đi sứ vừa qua là như vậy. Binh lực, lương thảo của ta, của Kim, của Đại-lý đều chưa chuẩn bị xong. Bốn hạm đội Âu-Cơ, Động-đình, Bạch-đằng, Thần-phù cần được bổ xung bằng các chiến hạm mới. Nếu như trong ba năm nữa Kim, Đại-lý ra quân, thì Đại-Việt ta có thể vượt biên. Vậy xin chư vị đại thần cho biết ý kiến.
Một đại thần từ văn ban bước ra :
- Thần Thái-tử thiếu bảo Hiệp-biện đại học sĩ, lĩnh Gián nghị đại phu, kiêm Hình-bộ thượng thư Trần Trung-Tá kính tâu.
Long-Xưởng tuyên chỉ :
- Xin đại học sĩ bình thân.
- Từ sau đời vua Thần-tông, Tống luôn luôn hòa hoãn với ta. Mới đây lại công nhận quốc danh An-Nam. Khi phong, thì phong ngay là An-Nam quốc vương, chứ không còn phong là Giao-chỉ quận vương, rồi dần dần thăng lên như trước nữa. Như vậy rõ ràng Tống có thiện tâm với ta. Thế mà bây giờ, thình lình ta liên binh với Kim, Đại-lý, đánh phá Tống. Cái việc như thế, thì người có đức không thể làm, đấng nhân quân không thể ra quân. Vậy xin bệ hạ xét lại. Nếu như ta tiến quân, thì việc đòi lại cố thổ chưa chắc đã thành, mà trăm họ phục dịch khốn khổ, binh tướng chết không phải hàng nghìn, hàng vạn, mà hàng chục vạn.
Kiến-Ninh vương xua tay:
- Thượng thư luận vậy là luận lấy được. Thượng thư nói Tống luôn hòa hoãn với ta. Thế cái việc Tống gửi sứ đoàn sang, tạo thành triều đình gà mái gáy, nếu anh hùng thiên hạ không ra tay, thì giờ này giang sơn Đại-Việt đã thành quận huyện của Tống . Mà cái gã Lưu Kỳ kia đang ngồi trên ngai, chứ không phải là phụ hoàng. Còn như việc Tống công nhận quốc danh An-Nam, chịu phong cho phụ hoàng làm An-Nam quốc vương, là do ta. Ta sai sứ sang cật vấn họ về tội cử sứ đoàn , mưu cướp ngôi. Cũng chính ta dàn Thủy-quân ngoài khơi Khâm-châu, dàn Thiên-tử binh trên vùng Bắc-cương... Tất cả điều đó chứng minh rằng Tống có dã tâm chiếm nước ta. Nay, nghìn năm một thủa, ta mới kết thân được với Kim, Đại-lý để cùng ra quân. Đấy chính là dịp trời cho. Trời cho mà không lấy, thì sẽ là điều ân hận nghìn thu.
Thế rồi các quan lại bàn đi, luận lại. Tể tướng Đỗ An-Di vẫn đi dây giữa hai chủ trương chiến và hòa. Tô Hiến-Thành, Phí Công-Tín, Lý Kính-Tu, Trần Trung-Tá, Ngô Lý-Tín, Đàm Dĩ-Mông vẫn chủ hòa. Còn lại Trung-Thành vương, Kiến-Ninh vương, Kiến-An vương, Kiến-Tĩnh vương, Bùi Kinh-An, Vũ Tán-Đường, Trần Thủ-Huy, Lưu Khánh-Bình, Tăng Quốc, Tăng Khoa vẫn chủ chiến. Ngoài ra, một số đông đại thần thì lừng khừng không ý kiến.
Nhà vua nghe hai phe tranh luận, ngài tỏ vẻ mệt mỏi, tuyên chỉ :
- Nay trẫm tuổi đã cao, sức yếu, mọi việc đều trao cho Thái-tử. Vậy chư khanh với Thái-tử tiếp tục, trẫm hồi cung.
Long-Xưởng hô :
- Bãi triều.
Nhạc tấu bản Long-hồi. Chính-long Bảo-ứng hoàng đế cùng với Tuyên-phi Từ Thụy-Hương hồi cung.
Long-Xưởng đứng dậy tuyên chỉ :
- Việt, Hán không thể cùng đứng, nếu ta yếu. Trong mấy nghìn năm lịch sử, họ chỉ để ta yên, khi ta mạnh. Cô gia nhắc lại : Chúng ta không có ác ý với người Hán, lại càng không có ý xâm chiếm lãnh thổ Tống. Dù luận hòa, hay luận chiến, chúng ta cũng phải đạt được bằng này điều. Một là giết cái ông con trời trong lòng bọn hủ nho Trung-quốc. Cái ông trời con, coi những dân xung quanh là Di, là Man, là Địch, là Nhung. Mà cái ông trời con đó do bọn văn nhân ngu xuẩn viết ra sách Thượng-thư, di hại cho đời sau. Xưa kia Ngũ-hồ chiếm Trung-nguyên, rồi gần đây Liêu, Kim cai trị người Hán bắt Tống tiến cống.Thời Anh-vũ chiêu thắng ta đánh Ung, Liêm, Khâm, Dung, Nghi, Bạch... cũng chỉ mới đánh ngã ông trời con, chứ chưa giết được. Hai là, ta nói với họ rằng, dân tôi thưa, đất tôi hẹp, nhưng chúng tôi không thiếu anh hùng, liệt nữ giữ nước. Dân anh tuy đông, nước anh tuy rộng, nếu anh để tôi yên, thì anh co một láng giềng tốt . Còn như anh muốn ăn hiếp tôi, thì anh sẽ có một đối thừa sức mạnh giữ nước. Ba là, dù không đòi lại cố thổ, thì ta cũng bắt Tống bỏ cái ý xâm lăng, không thể bắt ta tu cống như phiên thần nữa. Vậy ngay bây giờ, chúng ta phải dồn hết khả năng huấn luyện Hoàng-nam để có thể bổ xung cho các hiệu Thiên-tử binh khi bị tổn thất. Lại huấn luyện Hoàng-nữ, để có thể giữ an ninh làng xã, đủ sức chống với giặc khi giặc tràn sang. Chúng ta có thêm ba đến năm nữa để làm việc đó.

Ghi chú của thuật giả:

Việc này ĐVSKTT chép rất sơ lược, gần như là không chép gì :
Chính-long Bảo-ứng thứ tám (Canh Dần, Dl.1170): Vua tập bắn và cỡi ngựa ở phía Nam thành Đại-la, đặt tên là Xạ-đình, sai các quan võ hằng ngày luyện tập phép công chiến, phá trận.
Chính-long Bảo-ứng thứ chín (Tân Mão, Dl. 1171). Vua đi tuần các hải đảo, xem khắp hình thể núi sông, muốn biết dân tình và đường đi xa gần thế nào.
Chính-long Bảo-ứng thứ mười (Nhâm Thìn, Dl.1172). Mùa Xuân tháng hai, vua lại vua lại đi tuần các hải đảo ở địa giới các phiên bang Nam, Bắc, vẽ bản đồ, ghi chép phong vật rồi trở về.
Tống triều công thần bi ký, phần văn bia Lưu Kỳ ghi :
... Niên hiệu Càn Đạo thứ chín (Tống Hiếu-tông, Quý Tỵ, Dl. 1173) Công (chỉ Lưu Kỳ) tâu về triều chi tiết việc An-Nam thao luyện binh mã, đóng chiến thuyền, chế vũ khí, chuẩn bị phạm biên. Vua truyền Khu-mật viện xét trình, tìm cách đối phó...
Chỉ độc giả Anh-hùng Đông-a mới biết rõ những việc đó do Long-Xưởng, Thủ-Huy chuẩn bị mà thôi.


Hơn tháng sau, một hôm Long-Xưởng đang thiết Đông-cung triều, thì có ngựa trạm từ trấn Đồn-sơn về báo : « Vua nước Mông-cổ gửi một sứ đoàn sang kết hiếu. Họ đi bằng thuyền. Chánh sứ là quan Đại-tư mã Bác Nhĩ Truật, phó sứ là đại tướng quân Mộc Hoa Lê. Xin chờ chỉ dụ ». Long-Xưởng mừng lắm, vương ban chỉ cho phò mã Trần Thủ-Huy với công chúa Đoan-Nghi thân ra Đồn-sơn tiếp sứ đoàn. Khi Thủ-Huy đi, thì đi bằng ngựa. Lúc về Thăng-long, thì lại đưa sứ về bằng thủy quân. Lại sai sứ về Thiên-trường mời đại hiệp Phạm Tử-Tuệ, Trần Tử-Giác cùng Vỵ-xuyên ngũ tiên về để cùng tiếp sứ. Trong khi đó thì Long-Xưởng cùng vương phi Trang-Hòa với Lễ-bộ thượng thư Ngô Lý-Tín chuẩn bị tiếp sứ ở Thăng-long.

Từ khi Lý triều lập lên thì triều đình đã ban hành điển lệ về việc tiếp sứ rõ ràng. Khi Đại-Việt thường tiếp sứ ngoại quốc như Chiêm-thành, Lão-qua, Chân-lạp thì tiếp bằng lễ nghi của một đại quốc, tiếp chư hầu, nên giản tiện. Sứ đoàn thường trên dưới năm mươi người. Khi sứ thần tới biên giới, thì quan tổng trấn cho ngựa trạm phi về kinh loan báo. Triều đình sai một đại thần ở bộ Lễ, thường là một viên Thị-lang, (tương đương với ngày nay là Tổng-giám đốc) đi đón. Quan trấn thủ biên giới cử một đội binh, có âm nhạc theo rước . Dọc đường, các Tuyên-vũ sứ, An-vũ sứ dùng công nho đài thọ ăn uống, cung cấp chỗ ở cho sứ đoàn. Khi sứ đoàn đến Thăng-long, được ở Nghênh-tân các. Bộ Lễ cung cấp người thù phụng, giao tiếp, hướng dẫn. Còn phủ thừa Thăng-long cung cấp người phục dịch, làm yến đãi. Nhà vua sẽ thiết đại triều. Sứ thần phải quỳ gối tung hô vạn tuế, rồi được mời ngồi. Khi sứ đoàn về, nhà vua sẽ gửi quà tặng cho quốc-vương, tặng cho sứ thần, sứ đoàn các loại vàng bạc, phương vật nhiều ít tùy thứ bậc.

Còn tiếp sứ Trung-quốc thì lại khác. Sứ đoàn thường trên trăm người. Khi sứ đoàn tới biên giới, quan tổng trấn rước vào dinh thù tiếp, dùng tiền bạc công nho khoản đãi, cung phụng ; rồi sai ngựa lưu tinh tâu về triều. Nhà vua sai Thái-tử hoặc thân vương, đem một đoàn đại thần lên rước. Dọc đường, sứ đoàn qua phủ, huyện nào, thì phủ huyện ấy khẩn cho người làm cỏ, cắt cây, đặt trạm dâng nước, hoa, quả. Còn như nơi sứ đoàn ngừng lại qua đêm, thì chính Tuyên-vũ sứ phải mặc đại triều tiếp rước, làm yến đãi. Khi sứ đoàn tới kinh thì nhà vua dàn giáp sĩ, đội nhạc Hoàng- cung, rồi thân dẫn tất cả đại thần ra cửa thành tiếp rước. Sứ đoàn được cư trú trong gác Triều-dương. Bộ Lễ cử các quan thường trực cung ứng nhu cầu. Hằng ngày phủ thừa Thăng-long làm yến khoản đãi. Nếu sứ thần sang phong chức tước cho nhà vua, thì nhà vua phải đặt hương án. Khi sứ thần đọc sắc phong, thì nhà vua phải quỳ gối hướng về Bắc nghe, rồi lạy tạ.

Mông-cổ đối với Đại-Việt không phải là Thiên-quốc, cũng không phải là chư hầu, mà là một cường quốc. Sứ đoàn sang không với mục đích tiến cống, dĩ nhiên cũng không phải để tấn phong, mà chỉ với mục đích cảm tạ về việc cứu người, hơn nữa để kết thân.
Thái-tử Long-Xưởng gửi phò mã Trần Thủ-Huy, công chúa Đoan-Nghi đi đón sứ đoàn với hai ý nghĩa : Đại-tư mã Mông-cổ đến, thì công chúa cùng Tổng-lĩnh Thiên-tử binh đi đón. Ý nghĩa thứ nhì là : Các vị gửi người chịu ơn sang tạ, thì tôi cũng gửi người ra ơn đi đón.

Ba hôm sau, sứ đoàn được hạm đội Aâu-Cơ hộ tống, khi đi vào địa phận sông Hồng thì gặp hạm đội Thần-phù dàn ra hai bên sông, bắn ba mươi sáu mũi Lôi-tiễn , tấu nhạc đón mừng. Rồi lúc sứ đoàn tới Thăng-long thì một lần nữa hạm đội Bạch-đằng dàn ra, bắn Lôi-tiễn chào đón. Khi soái thuyền chở sứ đoàn tới bến Tiềm-long, thì đích thân Thái-tử Long-Xưởng, chư đại thần Đông-cung quan, hai đại hiệp Phạm Tử-Tuệ, Trần Tử-Giác, Vỵ-xuyên ngũ tiên cùng đón. Từ bến Tiềm-long đến thành Thăng-long, giáp sĩ dàn ra, gươm đao sáng ngời. Sứ đoàn được đưa vào cư ngụ trong Triều-dương các. Mọi thù phụng, đều áp dụng như đối với sứ thần Trung-quốc.

Hôm sau Chính-long Bảo-ứng hoàng đế thiết đại triều. Thái-tử Long-Xưởng, phò mã Trần Thủ-Huy thân ra Triều-dương các mời sứ đoàn vào triều. Sứ đoàn quỳ gối tung hô vạn tuế. Hoàng đế thân kéo ghế mời chánh, phó sứ ngồi. Sau đó chánh sứ sâng lễ vật lên nhà vua, cùng dâng quốc thư. Nội dung quốc thư, đại hãn Thiết Mộc Chân hết sức ca ngợi tinh thần nghiã hiệp của sứ đoàn Đại-Việt, và xin Đại-Việt, Mông-cổ kết thân.
Chính-long Bảo-ứng hoàng đế chấp nhận việc hai nước kết thân trong tình bạn. Ngài cũng gửi quốc thư cho đại hãn Mông-cổ cùng gửi tặng phương vật như gấm Nghi-tàm, nhiễu Thăng-long, hương liệu, ngà voi. Sau đó Thái-tử Long- Xưởng thân mời sứ đoàn đi Cổ-loa xem thao luyện binh mã của ba hiệu Thiên-tử binh Ngự-long, Quảng-thánh, Quảng-vũ. Thái-tử lại truyền phò mã Trần Thủ-Huy mời sứ đoàn đi Thiên-trường xem thao luyện thủy quân, cùng viếng thăm phái Đông-a.

Công việc xong, sứ đoàn trở về Thăng-long nghỉ ngơi hai ngày rồi sau đó sẽ được thủy quân Đại-Việt hộ tống trở lại Mông-cổ. Nhưng đúng lúc đó thì quan trấn thủ Bắc-cương sai ngựa lưu tinh cáo về triều rằng có sứ đoàn Tống sang. Chánh sứ là Ngu Doãn Văn, một đại thần đứng hàng thứ nhì của Tống triều, chức tước như sau : Dao-thụ Thái-phó, Tham-tri chính sự (phó tể tướng) Đoan-Minh điện đại học sĩ, Khu-mật viện sứ, Ninh-quốc công. Phó sứ là con trai cố Tể-tướng Tần Cối tên Tần Hy lĩnh Đặc-tiến Thiếu-sư, Khai phủ nghị đồng tam tư, Trực-học sĩ, Nghi quốc công. Sứ đoàn gồm hơn trăm người. Chánh sứ cho biết, sứ đoàn sang kỳ này có ba mục đích. Một là xin triều đình Đại-Việt cho cải táng xương của Hoa-sơn tứ đại thần kiếm về có quốc. Hai là xin trao trả bộ di thư Vô song vô đối Trung-nguyên võ kinh của Tứ đại thần kiếm. Ba là yêu cầu Đại-Việt trao trả đệ tam nhân trong Hoa-Nhạc tam phong là Lạc-Nhạn đạo sư và đệ nhất nhân trong Hoa-Nhạc tam nương làVân-Đài tiên tử .

Triều đình cử Kiến-Tĩnh vương, Dao-thụ thái phó Ngô Lý-Tín lĩnh Lễ-bộ thượng thư, Thái-tử Thiếu-bảo , Công-bộ thượng thư Bùi Kinh-An lên Bắc-cương nghênh đón sứ đoàn, rước về Thăng-long, chờ chỉ dụ của triều đình.
Tể tướng Đỗ An-Di thỉnh nhà vua thiết Tinh-triều, nghị về việc đón sứ đoàn. Nhưng nhà vua se mình, vì vậy Thái-tử Long-Xưởng sẽ nhiếp chính, thiết triều thay thế vào ngày hôm sau để nghị về việc này.
Giữa lúc triều đình bận rộn như vậy, thì ngay chiều hôm ấy, phò mã Trần Thủ-Huy với công chúa Đoan-Nghi sai tiểu đồng đạt thư tới Thái-tử Long-Xưởng, vương phi Trang-Hòa, hoàng thúc Nghĩa-Thành vương ; tam vương Kiến-Ninh, Kiến-An, Kiến-Tĩnh ; Trung-thư lệnh Tăng Khoa với phu nhân Đào Như-Như hiện lĩnh chức Lễ-nghi học sĩ ... tới du thuyền đậu trên bến Cổ-ngư để thưởng thức món gỏi cá mè, món chim sẻ quay cùng chuối hương là thổ sản của Thiên-trường.

Khi mọi người tới chồ du thuyền đậu, họ đều ngẩn người ra vì thấy phò mã mặc quần áo nâu như nông dân. Còn công chúa thì mặc quần nái đen, áo cánh lụa mầu hoa cà. Khách xuống thuyền. Thuyền phu nhổ neo, chèo ra giữa hồ.
Công-chúa Đoan-Nghi cười rất tươi :
- Kính thưa chú, kính các anh, các chị, hôm nay chúng ta hội nhau ở đây để thưởng thức trăng thanh, gió mát. Vì vậy xin thúc phụ cho chúng cháu được dùng lối xưng hô dân dã.
Nghĩa-Thành vương cười lớn :
- Dân dã họ gọi em của bố mình là gì nhỉ ?
- Thưa thúc phụ là chú ạ.
Nói xong câu này, Đoan-Nghi biết mình hố to, vì dân dã họ đâu có gọi chú là thúc phụ. Mà vừa rồi nàng đã gọi vương là thúc phụ. Xấu hổ, tay nàng chỉ vào một thanh niên dáng người hùng vĩ, phong tư tiêu sái như câ ngọc trước gió:
- Trước hết cháu xin giới thiệu với chú, ông chủ thuyền, và cũng là đầu bếp hôm nay. Ông chủ thuyền này là Hải-hà sứ Phùng Tá-Chu.
Mọi người cùng bật lên tiếng ồ. Vì Tá-Chu là đệ tử của ông bà Trần Tự-Hấp. Tuy tuổi ngang với Thủ-Huy mà đã nức tiếng trong nước về việc tổ chức các đoàn nông dân tự vét lạch, khơi ngòi, dẫn nước vào ruộng ; lại tổ chức được đội thuyền đánh cá hàng nghìn chiếc.
Vừa vào tiệc, Kiến-Ninh vương đã hỏi Thủ-Huy :
- Nhị ca ! Dường như tiệc này bầy ra để bàn về việc tiếp sứ Tống, hơn là hưởng trăng thanh, gió mát thì phải.
Thủ-Huy cười :
- Ông anh vợ được bố đặt tên là Long-Minh có khác, thông minh thực. Dân chúng Thăng-long đồn rằng Kiến-Ninh vương thông minh nhất thiên hạ, sợ vợ nhì Đại-Việt, ăn nhiều thứ ba Thăng-long. Cái gì anh cũng đoán ra được.
- Thế người sợ vợ nhất Đại-Việt là ai vậy nhỉ ?
Mọi người cùng nhìn Long-Xưởng cười. Long-Xưởng vui vẻ :
- Tại sao người ta lại đồn như thế ?
Đào Như-Như liếc ngang, rồi cười :
- Người ta nói rằng anh cả sợ chị cả quá, thành ra chỉ biết mình chị mà thôi, đến nhìn người đẹp khác cũng sợ tội. Rồi anh cả bắt người xung quanh cũng chỉ biết có vợ. Nay mai anh cả lên ngôi vua, sẽ ban luật một vợ, một chồng như thời vua Trưng !
Vương phi Trang-Hòa hỏi Như-Như :
- Em có biết kiếp trước chị là ai không ?
- ? ? ?
- Mười tám kiếp liền, chị là hòa thượng. Mỗi kiếp chị gõ thủng mười tám cái mõ, công đức thực là dầy. Vì vậy kiếp này chị mới được làm vợ một người chí lớn nhất trời Nam.
Thủ-Huy dơ tay lên cao, ngụ ý xin yên lặng, rồi công nói :
- Anh cả mời chúng ta họp ở đây để bàn về việc tiếp sứ Tống. Anh không muốn họp Đông-cung triều nghị sự, vì lâu nay, trong triều, tại Đông-cung đều có con rắn độc, mà không biết hình tích chúng.
Mọi người đều gật đầu, tỏ ý tán thành.
Nghĩa-Thành vương Lý Long-Căn lên tiếng trước :
- Cái vụ sứ đoàn Mông-cổ, tới Đaiï-Việt thì có ước định trước. Như vậy đây là một sự bình thường. Còn sứ đoàn Tống thì vấn đề đặt ra là : Họ không sang về việc hiếu như điếu tang. Hỷ như mừng lên ngôi. Họ cũng không sang để phong chức tước. Vậy họ sang với mục đích gì ? Chú có cảm tưởng như Tốngï biết việc sứ Mông-cổ đang ở bên ta, nên họ sai sứ sang dò xét tình hình, vì vậy họ mới kiếm cớ bằng cách đòi di thư, đòi người.
Thủ-Huy phân tích :
- Ngu Doãn Văn là một đại danh sĩ Tống, y nổi tiếng về văn hay, về bút tự. Võ công y rất cao, y là sư đệ của Ngô Lân, Ngô Giới, hai trong Trường-giang ngũ hùng. Cả ba đều là khai quốc công thần triều Nam Tống. Ngô Lân, Ngô Giới, Nhạc Phi, Trương Tuấn, Hàn Thế Trung là những tướng thắng Kim nhiều trận, quyết đánh lên Bắc đem hai vua Huy-tông, Khâm-tông về. Sau khi Tống Cao-tông dùng Tể-tướng Tần Cối nghị hòa với Kim, thì Nhạc Phi bị giết, Ngô Giới sợ quá bỏ đi tu. Còn Ngô Lân, Trương Tuấn, Hàn Thế-Trung bị gọi về triều ngồi chơi xơi nước. Tuy vậy triều Nam Tống vẫn chia làm hai phe. Phe Tần Cối chủ hòa, được nhà vua tin dùng, mà dân chúng, võ lâm khinh khi. Còn phe Ngô Lân chủ chiến, nhưng nhà vua không ưa, tuy vậy vẫn phải dùng, nhưng họ được lòng dân chúng, võ lâm. Lân là nhân vật thứ nhì của phái Hoa-sơn, sau Ngô Giới. Lân mới chết năm trước, Tống triều truy phong là Tín Vương. Nay nhà vua (tức Cao-tông) lui về làm Thái-thượng hoàng, nhường ngôi cho cháu đã sáu năm. Không biết sự tranh quyền giữa hai phe có gì thay đổi không ?
Không ai trả lời được câu hỏi này của Thủ-Huy.
Kiến-Ninh vương bàn :
- Ta không nên cho hai sứ đoàn gặp nhau. Vì họ gặp nhau, thì e lộ ra việc ta kết thân với Kim, như vậy Tống biết trước việc ta ra quân. Vả ngày mai, sứ Mông-cổ đã lên đường về nước rồi.

Ghi chú của thuật giả:

Việc hai sứ đoàn Tống, Mông-cổ cùng sang một lúc, ĐVSKTT chép rất sơ lược :
Chính-long Bảo-ứng thứ 6 (Mậu Tý, DL.1168), Tống Càn-Đạo năm thứ 4, mà Thu, tháng 8, sứ nhà Tống sang. Sứ Thát-đát cũng sang. Đều thưởng hậu để dụ, ngầm lấy lễ tiếp đãi hai sứ, không cho họ gặp nhau.
KHĐVSTGCM lại chép là sứ Tống, sứ Kim cùng sang, chứ không phải sứ Mông-cổ.
Một vài sử gia xưa cho rằng Mông-cổ lập quốc vào niên hiệu Trị-bình Long-ứng thứ 2 (Bính Dần, DL.1206) đời vua Lý Cao-tông, thì không thể có việc sứ Mông-cổ sang Đại-Việt vào lúc này được. Lý luận ấy vào thời trước thì có thể có lý. Ngày nay, tham khảo hàng trăm bộ sử viết về Mông-cổ của Trung-quốc, Nhật-bản, Đại-hàn, Trung-Đông, châu Âu tôi thấy rõ : Cái năm 1206 là năm mà Thành Cát Tư Hãn thành lập một đế quốc thống nhất, chứ nước Mông-cổ đã được thành lập từ lâu.
Chỉ độc giả Anh-hùng Đông-a mới biết rõ chi tiết việc này mà thôi.


Kiến-Hòa vương vốn là người mưu trí, thâm trầm. Vương góp ý :
- Từ mấy năm nay, Tống chỉ đòi Lạc-Nhạn với Vân-Đài mà thôi. Lần này họ đòi cải táng xương Tứ đại thần kiếm với bộ Vô Trung kinh, đó là điều khác lạ ta cần chú ý. Trước hết, cái vụ đòi cải táng người quá cố, thì ta cũng không tiếc gì mà không cho họ làm. Việc thứ nhì là họ đòi bộ Vô Trung kinh, ta cứ trả lời rằng họ muốn thì tìm đến phái Đông-a mà hỏi, triều đình không biết đến. Còn đòi người, thì rõ ràng là họ gây sự. Bởi họ dư biết hai người này trốn đi, có khi tiềm ẩn ở Đại-Việt, có khi đã về Trung-quốc rồi. Trước đây sứ ta đã trả lời như vậy, mà nay họ còn đòi nữa. Im xem họ định gây sự với mục đích gì?
Kiến-Ninh vương Long-Minh, vốn là người cương quyết, nóng nảy. Vương góp ý với Nghĩa-Thành vương :
- Thưa chú, theo cháu nghĩ , ta đang ở thế mạnh, Tống đang ở thế yếu. Ví dù Tống có gửi sứ sang hoạnh họe, ta há sợ sao ? Có điều khi họ tuyên chỉ của Tống đế, thì phụ hoàng phải trả lời ngay. Mà phụ hoàng thì không nắm được tình hình. Cháu nghĩ, ta nên khuyên phụ hoàng cáo bệnh, rồi anh cả nhiếp chính, thay thế phụ hoàng đối đáp với sứ thần.
Thủ-Huy hỏi :
- Trong cuộc tiếp sứ, ta phải có thái độ nào ? Ngang tàng ? Nhũn nhặn ? Hay khiếp nhươc quỳ lụy như mấy lão nho thần già nua ?
Chưa ai kịp trả lời thì Như-Như chỉ ra phía mũi thuyền :
- Chả biết có sự gì lạ không, mà từ lúc thuyền chúng ta rời bến đến giờ, có năm con thuyền nhỏ, dương buồm chạy như bay, vòng vòng quanh thuyền ta, giống như đèn kéo quân vậy.
Mọi người cùng nhìn theo tay Như-Như chỉ : Năm con thuyền, dương năm cánh buồm giống hệt nhau, nhưng mầu sắc khác nhau vàng, trắng, đen, anh, đỏ. Long-Xưởng chợt nhớ lại chuyện cũ cách nay gần mười năm. Bấy giờ vương cùng Thủ-Huy bị bọn Hoa-sơn bắt cầm tù trên con thuyền đinh lớn. Rồi năm chiếc thuyền câu cánh buồm năm mầu khác nhau của Vỵ-xuyên ngũ tiên xuất hiện giải cứu vương với Thủ-Huy. Bất giác vương quay lại nhìn Thủ-Huy như hỏi ý kiến. Thủ-Huy mỉm cười gật đầu. Vương phì cười :
- Thì ra nhị đệ đã dàn Vỵ-uyên ngũ tiên để canh chừng cho cuộc mật nghị này.
Long-Xưởng vẫy tay cho mọi người ngồi xuống :
- Người nhà cả đấy. Đừng ái ngại.
Bỗng con thuyền có cánh buồm trắng rẽ sóng đâm vào hông du thuyền với tốc độ cực nhanh. Bấy giờ người ta mới thấy rõ trên con thuyền nhỏ có hai người. Một người đàn ông và một người đàn bà. Người đàn bà chính là một trong Vỵ-xuyên ngũ tiên tên Bạch-Hạc. Còn người đàn ông là Vũ Phòng-Phong chồng của Bạch-Hạc. Thủ-Huy vẫy cho mọi người chuẩn bị đón vợ chồng Phòng-Phong, thì ầm, ầm hai tiếng. Hai người từ phía dưới bánh lái du thuyền tung người lên như hai con cá. Còn ở trên không, hai người phóng chưởng tấn công vợ phòng Phòng-Phong. Bạch-Hạc giật dây buồm một cái, con thuyền đổi chiều vọt ra xa. Hai người kia rơi tòm xuống hồ. Vừa rơi xuống, hai người lại vọt mình lên cao, tà tà đáp xuống du thuyền. Vừa đáp xuống, hai người lạng một cái đã xuất chưởng tấn công Long-Xưởng với Thủ-Huy. Chưởng lực hùng hậu vô cùng. Cả hai cùng phát chiêu đỡ. Bùng, bùng hai tiếng, Long-Xưởng bị bật tung về sau, cánh tay vương cảm thấy ê ẩm, tai phát ra tiếng vo vo không ngừng. Còn Thủ-Huy với người kia cùng lảo đảo lùi lại.
Năm con thuyền của Vỵ-xuyên ngũ tiên đã vây quanh du thuyền.
Bấy giờ Long-Xưởng mới nhìn đối thủ : Người đối chưởng với Long-Xưởng là đàn bà. Còn người đối chưởng với Thủ-Huy là đàn ông. Cả hai đều mang mặt nạ da người. Không hổ là một Thái-tử, Long-Xưởng chắp tay vái hai người :
- Xin nhị vị cho biết cao danh quý tính. Anh em chúng tôi đang uống rượu ngắm cảnh, hai vị giá lâm sao không lên đồng ẩm, mà lại ẩn dưới bánh lái như vậy e nhẹ thể chăng ?
Người đàn ông cười nhạt :
- Tưởng võ công Giao-chỉ thế nào hóa ra chỉ có hư danh mà thôi.
Thủ-Huy chắp tay :
- Tại hạ tuổi còn trẻ, lại xa phụ huynh từ lâu, rất thẹn không học được quá ba thành của ông cha... xin cao nhân cho biết cao danh, quý tính ?
Người đàn bà nói giọng the thé chói tai :
- Nếu trong các người có kẻ nào đỡ được của lão nương ba chưởng, thì mới đủ tư cách hỏi đại danh chúng ta. Còn không thì đừng hòng.
Long-Xưởng thấy vạn vạn lần mình không thể là đối thủ của người đàn bà này. Còn người đàn ông thì bản lĩnh ngang với Thủ-Huy. Vương chưa quyết định, thì thình lình cả hai thích khách cùng hú lên một tiếng dài liên miên bất tuyệt rồi phóng chưởng tấn công Tăng Khoa với Như-Như. Hai người kinh hãi, vội tung người lên cao tránh đòn thì hai thích khách nhảy ùm xuống hồ, thoáng một cái đã lặn mất. Nhưng Hoàng-Anh, Bạch-Hạc còn nhanh hơn, hai nàng tung chài xuống nước, rồi giật mạnh một cái : Trong chài của Hoàng-Anh đã cuốn tròn người đàn ông, và chài của Bạch-Hạc đã cuốn tròn người đàn bà. Hai nàng chuyển tay, chài vung lên cao rồi mở ra. Hai người rơi xuống sàn du thuyền như hai quả mít rụng.
Năm con thuyền của Vỵ-xuyên ngũ tiên lại dương buồm vọt ra xa, tiếp tục lượn vòng tròn quanh du thuyền. Tiếng Hoàng-Anh vọng lại :
- Kỳ này về ta mách mẹ cho biết. Ai đời mang tiếng là con giòng, cháu giống, đệ tử danh môn, tuổi lại không còn nhỏ... Hơn nữa làm quan lớn, tước tới Quốc-công, Tổng-lĩnh Thiên-tử binh, được thọ ơn làm phò mã, mà mật nghị không đề phòng để gian nhân nghe trộm. Hãy chuẩn bị đít ra mà lĩnh đòn.
Thủ-Huy nói vọng theo :
- Đa tạ năm bà chị.
Phùng Tá-Chu chạy lại lột tấm da bịt mặt hai tù nhân ra : Cả hai tuổi khoảng ba chục, gương mặt rõ ràng không phải là người Việt.
Thủ-Huy mỉm cười nói nhỏ vào tai công chúa Đoan-Nghi mấy câu. Công chúa ngần ngừ lắc đầu. Công lại nói mấy câu nữa. Công chua thở dài rồi miễn cưỡng vỗ vào vai hai thích khách, mỗi người một cái. Thủ-Huy giải khai huyệt đạo cho hai người.
Bỗng Kiến-Tĩnh vương kêu lên :
- Thì ra hai vị đó sao ?
Vương chỉ hai người giới thiệu với Long-Xưởng :
- Thưa anh, hai vị này, thuộc sứ đoàn Tống. Hôm em tiếp sứ đoàn từ Bắc-cương về Thăng-long, thì được giới thiệu là Ngô Tá-Quốc và Ngô Phụ-Gia, lĩnh nhịệm vụ thông dịch của sứ đoàn.
Long-Xưởng đưa mắt cho Như-Như, với Tá-Chu. Tá-Chu mỉm cười, đem hai người xuống tầng dưới khoang thuyền, rồi chỉ vào cái ghế dài :
- Xin hai vị an tọa.
Hai người họ Ngô vừa ngồi xuống thì cảm thấy rùng mình, người lạnh run lên bần bật. Không chịu nổi, cả hai cùng kêu lên :
- Ái !
Rồi : Úi ! Lạnh quá.
Cả hai vận công chống lạnh, nhưng vô ích.
Tá-Chu cười nhạt :
- Thiên-đường có nẻo các vị không tới, địa ngục không đường dẫn xác vào. Các vị thuộc sứ đoàn được tiếp đãi trọng thể thế mà lại ra đây ẩn ẩn hiện hiện nghe trộm, để đến nỗi bị bắt. Bây giờ các vị có hai chọn lựa.
- Ái, lạnh quá ! Lạnh chết mất.
Tá-Chu hỏi :
- Hai vị có biết tại sao trong người lại lạnh như vậy không ?
- Tôi không biết. Ai !
Tá-Chu chỉ vào Đoan-Nghi :
- Hai vị bị công chúa dùng Huyền-âm chưởng dồn độc tố vào người. Nội trong hai giờ mà không có thuốc giải thì chết.
Nghe Tá-Chu nói, hai người họ Ngô kinh hãi rụng rời chân tay :
- Xin cho tôi thuốc giải.
- Chưa vội ! Nội trong một giờ các vị mới bị đóng thành băng kia mà.
Chàng bảo thuyền phu :
- Phiền sư đệ mang cho tôi một con gà.
Thuyền phu ngơ ngác không hiểu Tá-Chu muốn gì ? Tuy nhiên anh ta cũng đem ra một con gà.Tá-Chu đưa mắt cho Đoan-Nghi. Đoan-Nghi ngần ngừ, rồi vỗ tay lên lưng con gà một cái. Lập tức con gà run run, nằm bất động. Khoảng nhai dập miếng trầu, con gà bị đóng băng lạnh cứng. Tá-Chu chỉ vào con gà :
- Một giờ sau hai vị cũng như con gà này.
Nói rồi chàng nhìn lên trời trong xanh :
- Các vị hãy nhìn trời lần cuối đi, bằng không lát nữa uống Aâm-phủ, có muốn nhìn cũng không được.
Ngô Tá-Quốc run run :
- Xin thiếu hiệp ban thuốc giải, tiểu nhân biết tội rồi !
- Muốn có thuốc giải cũng không khó, chỉ cần hai vị cung cấp cho tôi ít tin tức.
- Ái, lạnh quá. Tiểu nhân xin khai.
- Được.
Tá-Chu nói với Như-Như :
- Xin phu nhân mang bà Phụ-Gia ra đầu thuyền hỏi cung. Tại hạ hỏi ông Tá-Quốc. Nếu như hai người khai không giống nhau, thì ta lại hỏi cung lại. Cứ như vậy cho đến khi họ khai giống nhau thì thôi. Nếu như phải hỏi đi, hỏi laiï, thời gian quá một giờ, hai người có bị đóng thành băng là tại họ muốn thế.
Như-Như dẫn Phụ-Gia lên tầng trên. Còn Tá-Chu hỏi cung Tá-Quốc rồi hỏi :
- Xin tiên sinh cho biết mục đích thực sự của sứ đoàn sang đây để làm gì ?
- Hiện quân Kim đang chuẩn bị vượt sông Trường-giang đánh xuống Lâm-an. Trong khi đó tế tác lại báo về rằng An-Nam liên binh với Kim, Đại-lý cùng xuất quân đánh từ Nam lên. Triều đình nghị sự phân vân. Phe của cựu tể tướng Tần Cối thì cho rằng An-Nam mới được công nhận quốc danh, vua mới được phong làm An-Nam quốc vương, chắc là thỏa mãn rồi, thì không có việc đem quân đánh vào Lưỡng-Quảng. Vậy, triều đình có thể đem hết quân Nam thùy dàn ra phòng Kim. Ngược lại phe của các võ quan, hầu hết là người phái Hoa-sơn thì quả quyết rằng họ có người tiềm ẩn khắp triều đình An-Nam. Tế tác báo cho biết rằng người cầm quyền ở An-Nam không phải vua, chẳng phải tể tướng, mà là Thái-tử Long-Xưởng. Hiện Thái-tử đã liên kết với Kim, Đại-lý, chuẩn bị cùng ra quân. Vậy triều đình nên mềm với Kim, rồi dồn quân về Nam-thùy đánh chiếm An-Nam, đặt làm quận huyện... Hai phe tranh cãi nhau kịch liệt. Hoàng thượng quyết định gửi sứ đoàn sang để xem xét thực hư ra sao.
Tá-Chu hỏi thêm các chi tiết về Tống triều, về sứ đoàn, rồi lên sàn thuyền gặp Như-Như. Hai người trao đổi tin tức thu được, thấy không có gì khác nhau, thì tin là đúng. Tá-Chu vào khoang thuyền báo cho Long-Xưởng với Thủ-Huy biết mọi sự. Long-Xưởng bảo Như- Như :
- Bây giờ ta có thể thả anh em họ Ngô ra, và lợi dụng họ được. Em gọi họ lên đây.
Hai anh em họ Ngô hành lễ với Long-Xưởng. Long-Xưởng kéo ghế mời ngồi, rồi dùng lời lẽ ôn tồn ban chỉ :
- Hai vị là cao thủ phái Côn-lôn, đi theo làm cận vệ cho Tần Hy, chẳng qua cũng vì tiền. Bây giờ hai vị bị trúng Huyền-âm độc chưởng, cô gia sẽ ban thuốc giải cho. Nhưng thuốc này chỉ hiệu nghiệm trong sáu tháng mà thôi. Sáu tháng sau, lại phải uống nữa. Bây giờ như thế này.
Long-Xưởng đưa mắt cho Thủ-Huy. Thủ-Huy cười :
- Tần Hy sai hai vị đi thám thính, nếu bây giờ hai vị trở về, mà không thu được tin tức gì, thì Hy sẽ trách mắng. Vậy hai vị về nói vời Hy như sau : Hai vị theo dõi cuộc du ngoạn trên hồ Tây của Thái-tử Long-Xưởng. Trên thuyền gồm có các nhân vật sau...
Công chỉ từng người, nói rõ tên họ, chức tước, bắt hai người họ Ngô nhắc đi nhắc lại thuộc làu, rồi tiếp :
- Hai vị nói với Tần Hy rằng : Trong cuộc du ngoạn, Long-Xưởng với Thủ-Huy không ngớt lo lắng rằng, Kim mạnh như vậy, nếu như Kim diệt Tống, thì họ sẽ tràn sang chiếm Đại-Việt. Nếu như chiến tranh Tống, Kim xẩy ra, thì có lẽ Đại-Việt phải gửi những tướng tài nhất sang giúp Tống, nếu cần thì đem lương thực, cung tên sang tặng Tống.
Ngô Tá-Quốc hỏi :
- Nếu như Hy hỏi về việc liên binh với Kim thì sao ?
- Trả lời như thế này.
Long-Xưởng dặn :
- Trần Thủ-Huy bị trúng độc, e khó sống lâu, mà phải có Thái-tử sâm mới trị được. Nên Thủ-Huy dẫn một số thân binh, tìm đường sang Liêu-Đông Trung-quốc hoặc Cao-ly để tìm mua. Không ngờ mua không được. Giữa lúc đó có người mách rằng bên Khắc-liệt hiện có nhiều loại sâm này. Thủ-Huy cùng tùy tùng sang Khắc-liệt. Vua Khắc-Liệt mời phái đoàn Việt dự cuộc tranh tài tuyển tướng. Trong cuộc tranh tài này, danh tướng Bác Nhĩ Truật bị trúng độc Liêu-Đông chưởng của A-lỗ Cốt-đả. Không biết bằng cách nào đó người Mông-cổ biết trong phái đoàn Đại-Việt có danh y Phạm Tử-Tuệ, nên họ đón đường xin trao đổi : Họ xin y sư Tử-Tuệ trị cho Bác Nhĩ Truật, ngược lại họ tặng Thái-tử sâm để Thủ-Huy trị bệnh. Nhưng sau khi phái đoàn Đại-Việt về, thì lại một danh tướng của Mông-cổ là Biên Gô Đài bị trúng độc, nên sứ Mông-cổ mới sang Đại-Việt xin thuốc.
Đến đây hai người họ Ngô lạnh quá, hai hàm răng cắn vào nhau lập cập. Đoan-Nghi lấy ra hai viên thuốc, rồi bắn vào hai người. Hai viên thuốc bay rất chậm, nhưng quay với tốc độ cực nhanh. Khi sắp chạm vào người anh em họ Ngô thì tan ra thành bụi, chụp lên người họ. Anh em họ Ngô rùng mình một cái, cảm giác lạnh từ từ biến mất.
Long-Xưởng tiếp :
- Hai vị nên biết rằng từ trước đến giờ phái Hoa-sơn đã gửi mật sứ, không biết bao nhiêu cao thủ sang Đại-Việt. Khi thì họ đe dọa phải nộp vàng bạc, gái đẹp cho họ, bằng không họ sẽ tâu Thiên-tử đem quân sang làm cỏ Đại-Việt. Tuy Đại-Việt tôi dân thưa, đất sỏi đá khô cằn nghèo khó, nhưng vì sợ binh oai Thiên-triều mà phải cúi đầu hối lộ cho đám Hoa-sơn, chứ chưa bao giờ họ lên tiếng đòi võ kinh cả. Lần đi sứ này, họ cũng chỉ muốn đòi vàng bạc mà thôi. Hai vị có thể liệu lời nói với Tần đại nhân rằng chúng tôi không có lễ hậu với ngài thì ngài cũng thông cảm cho, vì chúng tôi có bao nhiêu đã dâng cho Ngu đại nhân.
Thủ-Huy căn dặn :
- Bây giờ hai vị trở về, cứ thế mà thi hành. Sau khi công việc xong xuôi, vương gia sẽ ban thưởng cho mỗi người mười nén vàng.
Ngô Tá-Quốc hỏi :
- Nếu sau sáu tháng, bệnh của tiểu nhân tái phát thì sao ?
- Nếu những gì chúng ta dặn mà người thi hành đúng, thì không những được thưởng vàng, mà còn được trao thuốc giải vĩnh viễn. Thôi ta sẽ sai người đưa hai vị vào bờ.
Thủ-Huy ra ngoài hú lên một tiếng dài, lập tức con thuyền của Huyền-Mi rẽ sóng như bay, phóng tới chỗ du thuyền. Thủ-Huy nói vọng xuống :
- Xin bà chị cho nhị vị đây vào bờ dùm.
Hai người họ Ngô rời du thuyền đi rồi, Long-Xưởng hỏi Thủ-Huy :
- Bây giờ ta phải làm gì ?
Đào Như-Như thừ mặt ra, rồi thở dài não nuột. Đoan-Nghi hỏi :
- Em có điều gì muốn nói ?
- Em lấy làm lo lắng vô cùng, vì bọn sứ Tống mới đến Thăng-long có hơn một ngày, mà sao hai tên họ Ngô đã có thể biết đường đi nước bước mà ẩn dưới bánh lái thuyền của ta ? Cuộc họp này, nhị ca mời rất bí mật, nơi họp cũng mật, mà sao chúng biết được ?
Kiến-Ninh vương cũng than :
- Như vậy rõ ràng bọn sứ đoàn biết rõ tình hình Đại-Việt, biết rõ ràng rằng người cầm quyền là anh cả, nên chúng mới theo dõi. Theo như đệ nghĩ, thì không phải chỉ có hai tên họ Ngô, mà còn nhiều tên nữa, phân tán đi các cung, các phủ rình rập.
Thủ-Huy nghiến răng :
- Từ trước đến giờ, chúng ta khốn khổ bao phen vì có con rắn độc của Tống, mà không tìm ra manh mối. Bây giờ chúng ta có thể biết rõ ràng hơn : Chúng phải là người rất gần, rất thân, mới biết rõ có cuộc họp này. Ta đang chuẩn bị xuất quân, mà tất cả chuẩn bị của ta, Tống biết hết. Nếu ta không khéo léo, thì Tống dồn quân xuống Nam thùy, ta phải lĩnh hết. Vậy bây giờ, khi tiếp sứ Tống ta phải có thái độ nào ?
- Không khó !
Nghĩa-Thành vương bàn :
- Ta đã biết rõ mục đích của sứ đoàn, lại biết chi tiết rằng chánh, phó sứ là đại diện cho hai khuynh hướng tại triều Tống rồi. Vậy thì đối với phe chủ hòa Tần Hy ta tỏ ra thân mật để kết thân. Còn phe chủ chiến Ngu Doãn-Văn, thì ta tỏ ra khinh rẻ, gây ra đủ thứ rắc rối.
Thủ-Huy biết ông chú vợ mình văn tài, trung thuần thì có, mà mưu trí thì không làm bao, công nắm lấy tay ông :
- Cháu nghĩ là mình nên làm một cái gì khác hơn, chứ như vậy thì bình thường quá.
Công đưa mắt nhìn Tá-Chu
- Chú nghĩ sao ?
- Em nghĩ mình nên làm ngược lại những gì mà Nghĩa-Thành vương bàn.
Long-Xưởng tán thành
- Đúng vậy.
Mọi người đều ngạc nhiên. Tá-Chu phân tích :
- Ngay từ khi triều Nam Tống được lập lên, các đại thần đã chia làm hai khuynh hướng chống đối nhau. Phe chủ hòa hầu hết là quan văn, tuy không có sức mạnh, nhưng lại được nhà vua nghe theo. Phe chủ chiến có nhiều công trạng, được dân chúng kính phục, lại bị nhà vua nghi ngờ. Cuối cùng phe chủ hòa do tể tướng Tần Cối cầm đầu thắng thế, phe chủ chiến do Nhạc Phi cầm đầu bị bại. Phi cùng một số tướng bị giết cả nhà, thân thể đem phơi nắng phơi mưa cho ruồi bâu, cho dòi đục. Vợ, con gái bị đem cho binh sĩ giải trí ở ngoài mặt trận. Các tướng võ có công, thì bị đem về triều ngồi chơi xơi nước. Tuy sau này Ngô Lân, Lưu Kỳ, Trương Tuấn, Hàn Thế-Trung có dành lại được chỗ đứng trong triều nhờ dân chúng kính phục. Nhưng phe Tần Cối vẫn mạnh. Nay tuy Cối đã qua đời, nhưng được truy phong Thân-vương, các con đều là cường thần...Hai phe lại mới nảy ra một tranh chấp nữa là vấn đề Đại-Việt ta. Vậy tội gì ta không đổ dầu vào cái nhà đang cháy này !
Nghĩa-Thành vương mừng lắm :
- Theo thiếu hiệp, mình nên đổ dầu vào chỗ nào. Đổ như thế nào ?
- Từ trước đến giờ phe chủ chiến đã gửi không biết bao nhiêu tế tác sang ta, kể cả bọn mật sứ với mục đích chính là chiếm Đại-Việt, mục đích phụ là tìm võ kinh. Khi ta phá vỡ âm mưu này, làm phe chủ chiến mất hết uy tín. Phe chủ hòa đổ tội cho phe chủ chiến dĩ công vi tư, đem tế tác sang ta chỉ với mục đích tìm võ kinh, chứ không phải vì muốn mở rộng đất đai. Chính vì vậy, mà bao nhiêu tin tức của phe chủ chiến do tế tác gửi về, nhà vua đều không tin. Bây giờ những chuẩn bị của ta trong việc đòi lại cố thổ, tế tác gửi về chi tiết quá, nên nhà vua đã hơi nghiêng về phe chủ chiến, do vậy mới có sứ đoàn sang tìm hiểu này.
Chàng ngừng lại một lát rồi tiếp :
- Bây giờ ta biến cuộc đi sứ này thành việc phái Hoa-sơn sang đòi võ kinh, đòi người và yêu sách tiền bạc. Ban nãy Thái-tử đã bịa ra việc bấy lâu ta dâng gái, vàng bạc cho bọn Hoa-sơn, chiều nay vợ chồng họ Ngô sẽ cáo với Tần Hy. Chính nghĩa của bọn Hoa-sơn bị mất hết. Xong việc, sứ đoàn về nước, bọn chủ chiến sẽ bị nghi ngờ, bị kết tội mưu đồ tư lợi. Muốn thế, trong khi tiếp sứ, ta phải tỏ ra hết sức nhún nhường, nhún nhường đến độ ty tiện, lại hậu lễ vơí bọn Ngu Doãn Văn , coi rẻ bọn Tần Hy. Như thế dù muốn dù không bọn Tần Hy sẽ ghen tức với bọn Ngu Doãn-Văn, và khi về nước chúng sẽ kết tội bọn Ngu là gửi tế tác sang ta để đòi võ kinh, đòi tiền, đòi gá, là sai tế tác bịa đặt ra tin tức ta liên kết với Kim, Đại-lý đánh Tống. Ta lại có hai người họ Ngô, là chân tay của Tần Hy, ta cho chúng vàng, để chúng đâm bị thóc, chọc bị , khiến Tần Hy ghen với Ngu Doãn-Văn. Chắc chắn sau cuộc đi sứ này, tế tác của Ngu có đem tin về Tống, nhà vua cũng không nghe. Tống triều sẽ dồn hết binh lực lên Bắc đánh với Kim, bấy giờ ta ra quân như sét nổ, thì mới thành công.
Kiến-Tĩnh vương hiến mưu :
- Các đại thần lớn tuổi hầu hết không biết nói tiếng Hoa, thảng hoặc chỉ biết nói tiếng Quảng. Nhờ anh Cả trông rộng nhìn xa, mấy năm nay anh mượn thầy dạy chúng ta nói tiếng Hoa bằng âm Lâm-an (Hàng-châu). Vậy trong cuộc tiếp sứ, chúng ta cứ thay nhau đối đáp với họ bằng tiếng Hàng-châu, khiến các đại thần không hiểu gì, mà người Tống lại vui lòng. Sau đây là những chi tiết chúng ta phải thi hành...

Chán đời đi lang thang !
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-03-14 23:41:17NuHiepDeThuong>
Hồi thứ mười tám


Thiên-đài đại đại phân Nam, Bắc.
Lĩnh địa niên niên dữ Việt thường


Câu đối ở đền thờ Quốc-tổ Đại-Việt tại núi Thiên-đài, tỉnh Hồ-Nam Trung-quốc do Trinh-quán tiến sĩ Chu Minh-Văn soạn.
(Núi Thiên-đài, là nơi đời đời phân chia lãnh thổ Hoa, Việt.
Núi Ngũ-lĩnh năm này qua năm khác, tồn tại với giòng giống Việt-thường)


Bốn hôm sau, triều đình thiết đại triều để tiếp sứ Tống. Vì Chính-long Bảo-ứng hoàng đế se mình, nên Thái-tử Long-Xưởng, cùng các vị thân vương Nghĩa-Thành, Kiến-Ninh, Kiến-An, Kiến-Tĩnh nhiếp chính.
Lễ nghi tất.
Tể-tướng Đỗ An-Di bước ra tâu :
- Khải điện hạ, buổi thiết đại triều hôm nay để tiếp sứ thần Tống. Kể từ khi Tống công nhận quốc danh của ta, đây là lần đầu tiên sứ Tống sang. Trước kia sứ Tống sang ta nếu không vì việc hiếu, hỷ, thì cũng để phong chức tước. Cho nên sứ thần hầu hết là viên chuyển vận sứ Quảng-Tây hay Quảng-Đông. Trừ một lần, mật sứ Ngô Giới, Lưu Kỳ là các đại thần tại Khu-mật viện. Lần này chánh cũng như phó sứ đều có tước quốc công. Chánh sứ là Ngu Doãn Văn, ngoài võ công ra, ông ta còn là một danh sĩ vang danh Hoa-hạ về văn chương, về bút pháp. Hơn nữa chức của ông ta tới tới Thái-phó. Phó sứ là Tần Hy, con trai cố tể tướng Tần Cối, một đại cường thần, chức tới Thiếu-sư. Như vậy đủ tỏ cuộc đi sứ này mang một tầm mức quan trọng. Không biết điện hạ có chỉ dụ đặc biệt gì không ?
- Có.
Vương giảng giải :
- Trước nay, ta vẫn có hai lễ dành để tiếp sứ. Một là tiếp các sứ thần Chiêm, Chân, Lào, Xiêm tiến cống. Hai là tiếp sứ Trung-quốc. Hai là lễ nghi, bên khinh, bên trọng khác nhau. Gần đây, ta tiếp sứ Mông-cổ, lễ nghi thân mật, không khinh, không trọng. Lần tiếp sứ Tống này, ta vẫn áp dụng như các lần trước. Có điều lời lẽ mềm mỏng hơn. Bất cứ họ đòi hỏi gì, ta cũng liệu lời cho họ vui lòng. Từ hôm họ tới Bắc-biên, cô gia đã cử Kiến-An vương cùng Dao-thụ Thái-phó Ngô Lý-Tín, Thái-tử Thái-bảo lĩnh Lại-bộ thượng thư Bùi Kinh-An lên đón. Việc đãi sứ đoàn, cô gia đã chỉ dụ các phủ huyện phải tăng phần lễ vật, yến tiệc thực thịnh soạn.
Các quan phe chủ hòa đều kinh ngạc đến đờ người ra. Vì từ trước đến giờ, Long-Xưởng với các em, thêm Thủ-Huy và các đại thần trẻ luôn tỏ ra cứng rắn với Tống, lúc nào cũng lăm le chỉ ngọn cờ lên Bắc đòi lại cố thổ, thế mà lần này rõ ràng sứ Tống sang gây sự, thì Long-Xưởng lại tỏ ra mềm mỏng. Mềm mỏng quá đáng.
Đặc-tiến Thái-bảo Phí Công-Tín lĩnh Binh-bộ thượng thư khải :
- Như họ loan báo trước, Tống sứ sang với ba sự việc. Một là cải táng hài cốt Hoa-sơn tứ đại thần kiếm. Hai là xin bộ Vô song vô đối Trung-nguyên võ kinh. Ba là tìm tung tích đạo sư Lạc-Nhạn, đạo cô Vân-Đài. Xin điện hạ ban chỉ dụ về ba việc này.
- Về việc thứ nhất.
Long-Xưởng ban chỉ :
- Tống đòi cải táng hài cốt người quá cố, không những ta không cản trở, mà còn giúp đỡ phương tiện, nhất là làm lễ tiễn hài cốt thực long trọng. Cô gia đã ban chỉ cho bộ Lễ rồi. Bởi hài cốt đây là của những võ lâm đồng đạo, họ đem thân ra giúp xã tắc. Ta vinh danh họ để nêu cao lòng trung nghĩa của kẻ sĩ.
Từ trước đến giờ các đại thần phe chủ hòa cho rằng việc chỉnh bị binh mã, nêu cao quốc thống, cứng rắn với Tống của Long-Xưởng, Thủ-Huy và ba hoàng tử xuất phát từ lòng thù hận Tống mà nảy sinh. Khi họ nghĩ thế, thì họ cho rằng đối với Long-Xưởng thì cái gì của Tống cũng xấu, cũng chống cả. Bây giờ họ thấy Long-Xưởng tỏ ra có độ lượng biết chiêu hiền, đãi sĩ, đề cao lòng trung nghĩa, thì mừng chi xiết kể.
- Vấn đề thứ nhì...
Long-Xưởng chỉ vào một thiếu niên, trang phục theo lối nông dân, quần áo nâu, thân thể hùng vĩ, uy nghi : Vấn đề Vô Trung kinh là việc riêng của phái Hoa-sơn với phái Đông-a. Cô gia đã sai sứ về Thiên-trường thỉnh đại hiệp Tự-Kinh, chưởng môn nhân phái Đông-a tới để nói chuyện trực tiếp với Ngu Doãn-Văn. Đại hiệp Tự-Kinh cử cháu nội là Thần-nông sứ Thủ-Lý về tiếp sứ. Lát nữa đây Thần-nông sứ sẽ biện luận với Ngu Doãn Văn.
Thái-tử Thái-phó Lý Kính-Tu nhìn Thủ-Lý, rồi tỏ vẻ không hài lòng :
- Khải điện hạ, theo như thần biết thì Thần-Nông sứ tuy đức mãn Nam-thiên, nhưng chưa quá cái tuổi ba chục, như vậy... như vậy e không đủ vai vế nói chuyện với một danh sĩ như Ngu Doãn Văn đã trên năm chục tuổi.
Long-Xưởng đưa mắt cho Chinh-viễn thượng tướng quân, lĩnh Trung-thư lệnh Tăng Khoa. Tăng Khoa bước ra trả lời :
- Thưa quan Thượng-thư, sứ của triều đình cũng đã bầy tỏ y ùnày với đại hiệp Tự-Kinh. Đại-hiệp trả lời : Trong quá khứ giữa phái Hoa-sơn với phái Đông-a có tình thông gia. Vương phi Kinh-Nam vương Trần Tự-Mai là công chúa Huệ-Nhu ngang vai với Tứ-đại thần kiếm. Từ Tứ đại thần kiếm đến Ngu Doãn Văn là bốn đời, thì đại hiệp cũng cử Thần-nông sứ Trần Thủ-Lý là cháu bốn đời của Kinh-Nam vương, cho vai vế ngang nhau, hầu dễ nói chuyện. Vả Thần-nông sứ nói chuyện với Ngu là nói chuyện về võ công, chứ không phải chính sự, càng không phải luận văn. Bàn về võ công, thì Ngu không thể bằng phò mã Thủ-Huy, trong khi võ công Thần-nông sứ cao hơn phò mã mấy bậc.
- Còn vấn đề thứ ba.
Long-Xưởng mỉm cười :
- Họ biết rõ người của họ đang trốn đâu đó ở Đại-Việt, làm tế tác, thế mà họ vẫn đòi. Cô gia đã có biện pháp.
Đến đó lễ quan báo :
- Sứ đoàn Tống do Kiến-An vương và Thái-phó Ngô Lý-Tín hướng dẫn đã tới.
Nhạc công cử bản Động-đình ca thời Lĩnh-Nam. Chánh sứ đi trước ngang với Kiến-An vương. Phó sứ đi sau, ngang với Thái-phó Ngô Lý-Tín. Phía sau là ba bồi sứ đi ngang với ba vị Tham-tri bộ Lễ, Lại, Binh của Đại-Việt. Sứ vào đến giữa điện Càn-nguyên thì bản nhạc dứt. Chánh sứ nói lớn :
- Thần, Dao-thụ Thái-phó, Tham-tri chính sự, lĩnh Đoan-minh điện đại học sĩ, Khu-mật viện sứ, Ninh-quốc công Ngu Doãn Văn, vâng chỉ Càn-Đạo hoàng đế, đến An-Nam quốc, xin triều kiến quốc vương.
Nội lực Doãn Văn rất cao, nên tiếng nói làm nhiều người ù tai. Ai cũng tưởng Long-Xưởng sẽ vận nội lực để đối lại với Tống sứ. Không ngờ Long-Xưởng khoan thai bước xuống ngai vái Doãn Văn, nói bằng giọng Hàng-châu, nhẹ nhàng, như một quan văn :
- Thái-tử Long-Xưởng, lĩnh Hiển-Trung vương xin bái kiến Ngu quốc công, thần xin kính chúc Càn-Đạo hoàng đế thọ t ỷ Nam-sơn. Vì phụ vương không được khỏe, nên thần cùng các quan xin kính cẩn tiếp thiên-sứ đại nhân.
Những sứ đoàn trước sang Đại-Việt, thường phải có thông dịch đi theo. Họ sẽ dịch tiếng Việt sang tiếng Trung-quốc cho sứ thần Tống, còn thông dịch của triều đình thì dịch từ tiếng Trung-quốc sang tiếng Việt cho triều đình Đại-Việt. Bây giờ Long-Xưởng nói thẳng tiếng Trung-quốc, hơn nữa là giọng Hàng-châu tức kinh đô Lâm-an nhà Nam-tống. Sứ đoàn Tống cũng như các đại thần Việt đều kinh ngạc.
Lễ nghi tất.

Long-Xưởng hỏi thăm sức khỏe của Càn-Đạo hoàng đế, của hoàng-hậu, của các vị tể thần thuộc phe chủ chiến một lượt, coi như không nghe, không biết gì về đám văn quan chủ hòa của phe Tần Hy cả. Mặt Tần Hy cau lại, tỏ ý bất mãn. Lời lẽ của Long-Xưởng hết sức khiêm cung, nhún nhường như một văn gia. Trong khi đối đáp vương vờ như không biết Tần Hy là ai, khiến mặt y trông càng khó coi hơn. Tiếp theo vương hỏi thăm các danh sĩ Tống, và không hết lời ca tụng văn tài cùng bút pháp của Ngu Doãn Văn. Cuộc đàm thoại sơ bộ hóa ra cuộc luận về văn học đương thời của Tống.
Vương-phi Trang-Hòa, phò mã Thủ-Huy, công chúa Đoan-Nghi, Trung-thư lệnh Tăng Khoa, Lễ-nghi học sĩ Như-Như cùng nhập cuộc. Hầu hết các văn quan chủ hòa, quỳ lụy với Tống lại chỉ nói được tiếng Hoa vùng Quảng mà không biết nói tiếng Hoa vùng Tô-châu, Hàng-châu. Họ chỉ biết đứng ngây người ra nghe phe chủ chiến đàm luận vơí sứ đoàn. Thế rồi nhạc quan Đào Duy với phu nhân Như-Yên, con gái là Như-Như điều khiển nhạc công tấu nhạc để ba người ngâm những bài từ, bài ca của Ngu Doãn Văn, của các quan trong sứ đoàn cùng những danh tác mới nhất của danh sĩ hiện đại vùng Giang-Nam.

Trước đây, tế tác Tống tâu về triều rằng : Trừ quân Đại-Việt là thái tử Long-Xưởng một người hiếu động. Chính sách cứng rắn của Đại-Việt với Tống là do thái-tử chủ động. Nào thái-tử là người bài Hoa, đang chỉnh bị binh mã để Bắc-tiến như thời vua Nhân-Tông. Bây giờ sứ đoàn chỉ thấy ở Long-Xưởng một thiếu niên anh tuấn, phong lưu tiêu sái, nhất là lầu thông Kinh, Sử, Tử, Tập của Trung-quốc. Những sách cổ không nói làm gì, mà dĩ chí những sách mới viết ra gần đây, Long-Xưởng cũng biết. Quanh Long-Xưởng là ba vị hoàng tử, cho tới công chúa, vương phi đều hết sức nhún nhường, nói năng khiêm cung và yêu văn học, văn hóa Trung-quốc. Sứ đoàn không hề tìm thấy một chút ác cảm của Long-Xưởng vơí Trung-quốc. Trong lòng Tần Hy và các văn quan trong sứ đoàn nghĩ thầm :
- Có lẽ những tin tức ác độc trên do bọn biên thần hiếu chiến bịa đặt ra. Còn cái bọn tế tác, thì không có gì để tâu về, chúng nặn ra các tin trên để tự đề cao công trạng.
Cuộc đàm luận văn chương sơ bộ chấm dứt. Ngu Doãn Văn vào đề bằng ngôn từ của một văn nhân :
- Càn-Đạo hoàng đế sai thần sang để xin với Quốc-vương ba việc.
- Xin đại nhân cứ dạy.
Long-Xưởng nói : Tuy phụ hoàng không được khỏe, nhưng cô gia cùng các đại thần đây xin hết sức để thi hành chỉ dụ của Thiên-triều.
- Điều thứ nhất là xin thái-tử cho cải táng hài cốt bốn vị Hoa-sơn tứ đại thần kiếm đem về cố hương.
Long-Xưởng chắp tay lại, tỏ một cử chỉ khiêm cung :
- Thời đức Thần-tông bên Trung-nguyên, đức Nhân-tông bên Đại-Việt có sự hiểu lầm do cường thần Vương An-Thạch tạo ra mà thành chiến tranh. Do vậy rất nhiều tướng Tống vị quốc vong thân, mồ mả không ai hương khói, hài cốt lạnh lẽo, âm hồn phiêu bạt. Cô gia đã sai nghĩa đệ là Trung-thư lệnh Tăng Khoa đảm trách việc làm mộ chí, bảo quản, để một mai đưa về Trung-thổ. Còn Hoa-sơn tứ đại thần kiếm, thì có tình sư huynh sư muội với Kinh-Nam vương vương phi là Trưởng-đại công chúa Huệ-Nhu, nên sau khi bốn vị vãng du tiên cảnh, phái Đông-a đã cho xây mộ, xây miếu thờ, một tháng đôi lần ngày sóc, ngày vọng, hương khói không ngừng. Bây giờ Thiên-triều muốn cải táng đem về cố thổ, thì tiểu-vương xin tuân chỉ. Không biết Ngu đại nhân chỉ muốn cải táng Tứ đại thần kiếm hay của tất cả chư tướng ?
Cuộc đi sứ của Doãn Văn bề ngoài là đòi ba sự việc, với mục đích dò la thái độ của thái-tử Long-Xưởng hơn là triều đình Đại-Việt : Long-Xưởng có thù hận Tống, định đem quân Băc-tiến không ? Nếu không, thì Tống có thể dồn quân lên Bắc đối phó với Kim, vì Kim đang chuẩn bị vượt sông Trường-giang đánh Tống. Còn như Long-Xưởng quả có ý đó thì Tống sẽ chịu lụy với Kim, đem quân xuống Nam-thùy, đánh chiếm Đại-Việt, đặt làm quận huyện.
Bây giờ Doãn Văn vừa đưa ra điều thứ nhất, không những Long-Xưởng vui vẻ chấp nhận, mà lại còn cho cải táng tất cả di cốt các tướng Tống nữa, điều mà cả sứ đoàn không ai ngờ tới. Doãn Văn chắp tay tạ Long-Xưởng :
- Đa tạ quốc-vương, đa tạ thái-tử.
Long-Xưởng hỏi Tăng Khoa cũng vẫn bằng tiếng Hàng-châu:
- Lục đệ ! Hiện có bao nhiêu mộ tướng Tống mà lục đệ đang bảo quản ?
Tăng Khoa bước ra :
- Khải điện hạ có 72 mộ tất cả. Hôm trước được chỉ dụ của Hoàng-thượng, thần đã cho chuẩn bị các di vật của bốn vị Hoa-sơn thần kiếm cùng chư tướng để gửi chư vị đại nhân đây mang về trao cho gia đình.
Nói rồi Tăng Khoa trao cho Ngu Doãn Văn một tập sách nhỏ, trên ghi tên họ, chức tước, ngày, giờ tử trận của 72 tướng Tống. Trong sách còn ghi luôn di vật của họ như đoản kiếm, đoản đao, vàng bạc, thẻ bài, y phục.
Tăng Khoa nói với Doãn Văn :
- Thưa Ngu đại nhân, tiểu nhân đã chuẩn bị sẵn ngõ tác (người chuyên cải mộ), tiểu bằng sứ Bát-tràng để đợi sự chứng kiến của đại nhân là cho cải táng.
Long-Xưởng hỏi Doãn-Văn :
- Khoản thứ nhất cô gia đã làm tròn chỉ dụ của Thiên-triều. Vậy khoản thứ nhì là gì ?
- Nói dấu gì điện hạ, hầu hết các võ tướng Tống đều xuất thân từ phái Hoa-sơn, bản sứ cũng là đệ tử phái Hoa-sơn, cũng có chút ít hư danh... Nguyên phái Hoa-sơn có bốn pho võ công trấn môn. Song từ khi Tứ đại thần kiếm bị cầm tù ở Nam-phương thì các tuyệt kỹ này thất truyền. Trong khi bị cầm tù, Tứ đại thần kiếm đã nhân tuyệt kỹ Hoa-sơn, mà viết ra pho võ kinh, mang tên Vô song vô đối, Trung-nguyên võ kinh. Nghe nói bộ võ kinh này hiện phái Đông-a lưu giữ. Các tướng Tống có làm biểu tâu lên hoàng-thượng, xin hoàng-thượng ngỏ một lời với quốc vương. Nếu như quốc vương tuyên chỉ cho phái Đông-a trao trả pho sách tâm huyết của bốn vị thần kiếm đem về Trung-nguyên, thì toàn phái Hoa-sơn từ trên xuống dưới đều thâm cảm.
Long-Xưởng bưng chung trà trao cho Doãn-Văn, rồi nói :
- Từ trước đến nay, các môn phái thuộc võ lâm An-Nam vẫn tiêu dao tự tại đứng ngoài vòng cương tỏa của triều đình. Các gia, các phái Hoa Việt giao hảo với nhau ân oán thế nào, triều đình không can thiệp vào. Phái Hoa-sơn với phái Đông-a trong quá khứ vốn có tình thông gia. Cái vụ Tứ đạiï thần kiếm soạn võ kinh này, cô gia không biết gì cả. Vì vậy, cô gia đã gửi sứ về Thiên-trường thỉnh đại hiệp Tự-Kinh việc này. Đại hiệp có sai Thần-nông sứ Trần Thủ-Lý lai triều. Cô gia xin đại nhân hỏi thẳng Thần-Nông sứ thì hơn.
Vương hô lớn :
- Kính thỉnh Thần-nông sứ !
Thủ Lý từ trong bước ra.
Lễ nghi tất.
Long-Xưởng thân kéo ghế mời Thủ-Lý ngồi, rồi nói với Ngu Doãn-Văn :
- Xin đại nhân đối thọai với Trần huynh.
Doãn-Văn phóng con mắt nhìn Thủ-Lý để tìm hiểu người đối thoại với mình. Thấy Thủ-Lý mặc quần áo theo kiểu nông dân, nhất là cái quần có hai miếng vá, cái áo thì bạc mầu. Bất giác Doãn nảy ra ý khinh khi. Doãn nói :
- Cứ theo như thế phả hành trạng, thì huynh đài đây với bản sứ ngang vai với nhau có phải thế không ?
Thủ-Lý lạnh lùng đáp bằng tiếng Hoa, giọng Hàng-châu:
- Thưa ngài Thiên-sứ, giữa ngài với tên thôn phu này không thể ngang vai được! Hoàn toàn không thể ngang vai. Thân phận chúng ta khác nhau xa lắm.
- Huynh đệ nói sao nghe lạ tai quá ! Cứ như kiến thức của bản sứ thì, huynh đệ là cháu bốn đời của thái công chúa Huệ-Nhu, mà công chúa với Tứ đại thần kiếm ngang vai. Còn bản sứ thì là đệ tử đời thứ tư của Tứ đại thần kiếm. Rõ ràng như vậy là chúng ta ngang vai với nhau, mà sao huynh đệ lại bảo rằng không phải ?
- Kính thưa ngài Thiên-sứ ! Nói với gã thôn phu này, câu đầu tiên ngài xưng là bản sứ, tức sứ thần của Tống triều sang Đại-Việt. Trong khi tôi chỉ là tên vai u thịt bắp, cầy sâu, cuốc bẫm. Danh phận cách nhau xa lắm.
Doãn-Văn ngắt lời :
- An-Nam chứ không phải Đại-Việt.
- Tôi là tên thôn phu Đại-Việt chứ không phải An-Nam. Cái tên An-Nam là do Tống triều nặn ra, chứ trước sau chúng tôi vẫn là Đại-Việt. Tôi nhắc lại Đại-Việt là Đại-Việt, chứ không phải là An-Nam. Nếu ngài muốn nói chuyện với tên thôn phu Đại-Việt thì tôi xin ngồi hầu chuyện ngài. Còn như ngài nhất định bảo tôi là tên thôn phu An-Nam thì ngài cứ ngồi mà nói chuyện một mình. Tôi xin kiếu từ.
Sợ Thủ-Lý bỏ đi, thì không hy vọng gì tìm lại võ kinh, Doãn-Văn đành nhượng bộ :
- Thôi được, Đại-Việt thì Đại-Việt.
Nói câu đó xong, Doãn-Văn tự chửi thầm :
- Thực là hỏng bét. Mình to đầu mà dại. Chỉ vì khinh khi thiếu niên này, mà qua câu câu đối thoại đầu tiên, mình đã bị thua rồi. Nhưng nhất định mình phải đưa y vào bẫy, rồi đòi cho bằng được bộ võ kinh.
Nghĩ vậy Doãn-Văn tiếp :
- Này Trần đệ đệ ! Đệ đệ với bản sứ vốn ngang hàng với nhau, mà sao đệ lại không mấy thân thiện với bản sứ là lý gì vậy ? Sở dĩ bản sứ phải nhắc lại quốc danh An-Nam, vì muốn chính danh mà thôi. Đệ đệ có đọc Luận-ngữ không ?
Thủ-Lý ngơ ngác hỏi :
- Luận-ngữ à ? Thế trong Luận-ngữ có chép cách nuôi cá mè, nuôi cá chép không ? À, tôi hiểu rồi, chắc trong Luận-ngữ dạy cách ủ phân, bón phân, gieo mạ hoặc làm thịt chó hẳn ?
Doãn-Văn phát cáu nhưng vẫn phải nín nhịn, y chửi thầm : Mình tưởng tên này có đôi chút học vấn, không ngờ y dốt quá. Như vậy càng dễ. Ngu giảng giải :
- Luận-ngữ là một sách trong Tứ-thư, chép những kỷ cương của đạo thánh.
- À thì ra Luận-ngữ chép mật quyết của đức thánh đấy. Thế thánh đây là thánh Gióng hay thánh Tản ?
- Không ! Thánh Khổng.
- Thánh Khổng à ? Oâng thánh này là ai vậy ? Tôi chưa từng nghe qua. Tôi không biết cái ông thánh này.
Ngu Doãn-Văn nghĩ thầm :
- Một tên nông dân ở sứ Nam-man không biết gì về đạo thánh thì cũng là sự thường. Ta phải bình tĩnh.
Doãn-Văn giảng giải :
- Thánh Khổng là một người đức mãn thiên địa, đạo quán cổ kim, quần thánh đại thành, vạn thế sư biểu. Trong Luận-ngữ có chép về cái lẽ chính danh như sau : Khi học trò hỏi rằng : Nếu thầy được nhà vua trao quyền, thì việc đầu tiên thầy làm gì ? Khổng-tử đáp : Phải chính danh. Hỏi : Sao phải chính danh trước ? Đáp : Danh có chính thì ngôn mới thuận, ngôn có thuận thì sự mới thành. Cho nên trước tiên, chúng ta phải chính danh : Huynh đệ với bản sứ ngang vai với nhau.

Ghi chú của thuật giả:

Đức mãn thiên địa, đạo quán cổ kim ,
Quần thánh đại thành, vạn thế sư biểu.


Có nghĩa là :
Đức đầy trời đất, đạo bao trùm cổ, kim. Trong các bậc thánh, thì ngài là người thành đạt nhất, ngài là người tiêu biểu cho ông thầy vạn thế.

Đây là câu đối thường viết ở hai bên những bức hình Khổng-tử.

Vào năm 1972 tại miền Nam Việt-Nam, anh em ký giả nhờ tôi là một đôi câu đối để nói về bốn ông tỉnh trưởng : Bạc-liêu nổi danh ác độc, An-xuyên nổi danh gian tham, Vĩnh-bình nổi danh ngu dốt, Kiến-phong nổi danh ăn bẩn. Tôi đã dùng câu này, biến đổi đi như sau :

Ác mãn thiên địa, gian quán cổ kim,
Quần cẩu đại thành, thực phẩn vạn thế.
Tôi chỉ muốn nói chung chung tính chất của bốn ông mà thôi. Song anh em ký giả sợ độc giả không hiểu rõ câu đó chỉ những ai, họ mới thêm thắt vào thành :
Ác mãn thiên địa Liêu vương Hoàng đại cẩu, để chỉ đại tá Hoàng Đức-Ninh, tham nhũng, đốt chợ, giết người. Gian quán cổ kim, U-minh vương Lê nhị cẩu, để chỉ đại tá Lê Chí-Cường, gian dối, cho em ruột đắc cử dân biểu.
Quần cẩu đại thành, Trà-vương Chung tam cẩu, để chỉ đại tá Chung Văn-Bông, thất học, mà làm tỉnh trưởng.
Thực phẩn vạn thế, Đồng-tháp ma vương Trần tiểu cẩu, để chỉ đại tá Trần Thanh-Nhiên, thủ đoạn vặt, ăn bẩn.
Liêu là Bạc-liêu, U-minh để chỉ tỉnh An-xuyên, nơi có rừng U-minh thượng, U-minh hạ. Trà-vinh để chỉ tĩnh Vĩnh-bình, tên cũ của Vĩnh-bình là Trà-vinh. Đồng-tháp để chỉ Đồng-tháp mười, tức tỉnh Kiến-phong.


Thủ-Lý vẫn lạnh lùng :
- Tôi nhắc lại, ngài là Thiên-sứ. Còn tôi chỉ là một anh thôn phu, thì địa vị, vai vế khác nhau xa lắm. Ngang với nhau sao được ? Bởi ngay câu đầu, ngài đã xưng là bản sứ rồi tiếp theo, toàn là bản sứ trường, với bản sứ đoản. Thưa ngài, nói theo bộ sách Luận-ngữ dạy cách ủ phân, nuôi cá, làm thịt chó thì chúng ta phải chính danh. Chính danh thì ngài là Thiên-sứ, còn tôi là tên thôn phu, sao có thể ngang hàng với nhau nhỉ ?
Bây giờ Doãn-Văn mới hiểu : Chỉ vì câu đầu mình xưng là bản sứ, mà Thủ-Lý nắm ngay lấy từ ngữ đó, để gây rắc rối. Y nghĩ thầm :
- Ta nghe đại hiệp Tự-Kinh là người có tài dọc ngang trời đất, mà ông ta sai thiếu niên này về gặp ta thì y phải là đứa cháu kiệt hiệt. Chỉ vì ta khinh thường y, mà ta bị y làm cho mắc lưới hai phen. Ta phải cẩn thận.
Y đổi hẳn giọng :
- Xin lỗi tiểu huynh đệ. Xin tiểu huynh đệ cho phái Hoa-sơn gửi lời vấn an đến Trần lão đại hiệp, và toàn thể phái Đông-a. Bây giờ chúng ta hãy đi vào ngay vấn đề.
Thủ-Lý thấy mình bắt bẻ Ngu Doãn-Văn như vậy cũng đủ để y bỏ bớt cái kiêu căng của một danh sĩ đi rồi. Bây giờ y đưa ra lời vấn an ông nội mình, thì cũng nên tử tế với y cho đúng đạo lý tộc Việt. Chàng gật đầu :
- Được, nếu nói về tình nghĩa giữa Hoa-sơn với Đông-a thì không thể dùng cái tiếng bản sứ ở đây. Vậy xin sư huynh cứ dạy.
- Từ khi Tứ đại thần kiếm bị giữ ở Thiên-trường, phái Hoa-sơn chỉ nhận được những mẩu tin chắp nối, mâu thuẫn với nhau. Còn thực sự hành trạngï ra sao thì không biết. Tuy nhiên chúng tôi biết rõ ràng rằng Tứ vị thần kiếm có soạn ra bộ Vô-song vô đối Trung-nguyên võ kinh. Xin huynh đệ cho biết thực sự ra sao ?
- Sau khi bị Mộc-tồn, Viên-Chiếu bị bắt tại trận Như-nguyệt, triều đình Đại-Việt định đem bốn vị thần kiếm ra chém đầu. Nhưng cao tổ mẫu nghĩ tình đồng môn, người xin với cao tổ phụ vận động với triều đinh để xin ân xá. Triều đình tha cho tội chết, giảm uống thành khổ sai chung thân, rồi giao cho phái Đông-a quản thúc bốn vị. Cao tổ mẫu truyền cấp nhà, tỳ nữ, bộc phụ hầu hạ sớm tối. Thông thường ban ngày các vị ấy tiêu dao với sơn thủy, chiều về thì luyện công... đời sống rất nhàn nhã. Mười năm cuối đời, các vị ấy thu đệ tử, đem đạo Lão ra truyền bá. Bản phái, thấy vậy, thì xây cho bốn vị một cái điện lớn để thờ chư thánh. Không mấy chốc, bốn vị nổi danh là bốn phù thủy rất cao tay, có tài trị tà, bắt ma giúp dân, nên điện lúc nào cũng đầy người ra vào. Các vị ấy nhờ dân chúng giúp đỡ tự xây lấy một cái miếu, theo đúng kích thước, hình dạng tổ đường của phái Hoa-sơn, lại mua bốn khúc gỗ vàng tâm lớn, khoét thành bốn cỗ hậu sự (quan tài, hòm), xây sẵn bốn cái mộ ở sau miếu. Khi các vị ấy vãng du tiên cảnh, thì đệ tử chiếu di chúc tống táng theo đúng lễ nghi của quý phái. Hiện nay miếu đó vẫn còn, ngày sóc, ngày vọng, dân chúng hương khói tấp nập.
Thủ-Lý ngừng lại, đưa mắt nhìn toàn thể sứ đoàn rồi tiếp :
- Cách đây ít năm, có bọn khách thương đột nhập miếu ăn cắp các di vật, họ bị dân chúng bắt nộp lên quan. Nghe đâu chúng xưng là mật sứ Thiên-triều tên Ngô Giới, Lưu Kỳ cùng cái gọi là Ngũ nhạc đại lĩnh, Hoa-nhạc tam phong, Hoa-nhạc tam nương. Điều này xin sư huynh cứ hỏi thái-tử thì rõ hơn.
Nghe Thủ-Lý nói, Long-Xưởng biết Thủ-Lý muốn cho sứ Tống biết rằng : Các môn phái Đại-Việt tuy tiêu dao tự tại, nhưng vẫn thượng tôn luật pháp.
- Thưa Thần-nông sứ.
Long-Xưởng nói dõng dạc : Những vị đó quả là mật sứ của Tống triều, họ cũng là những đệ nhất cao thủ của phái Hoa-sơn đấy !
- Cao thủ Hoa-sơn ư ? Tôi nghe nói, vua Thái-tổ, Thái-tông của Tống triều xuất thân từ phái này. Suốt bao năm qua, võ đạo Hoa-sơn lừng danh Thiên-hạ, mà sao những cao thủ bậc nhất lại đi ăn trộm ?
Doãn-Văn xấu hổ :
- Huynh đệ thông cảm, chỉ vì Ngô, Lưu sư huynh muốn tìm bộ Vô Trung kinh, mà hành sự có đôi chút hồ đồ.
- Tôi không tin, bởi nếu các vị ấy muốn tìm di thư của tiền nhân, sao không đường đường chính chính đến tổng đường phái Đông-a mà hỏi ? Thôi việc này xin trả lại cho Đỗ tể tướng phán quyết. Bây giờ tôi xin trở lại hành trạng của Tứ đại thần kiếm. Tứ vị thần kiếm qua đời, đã để lại khá nhiều di vật. Khi lên đường về đây, nội tổ truyền lệnh cho tôi mang theo nộp lên triều đình, tùy nghi triều đình quyết định. Còn cái gọi là Vô song vô đối Trung-nguyên võ kinh, thì Tứ đại thần kiếm đã dùng hết tâm huyết khắc vào mười tám cái thẻ đồng. Khi mai táng Tứ đại thần kiếm, cao tổ phụ (Kinh-Nam vương) để di chúc truyền mai táng theo. Vậy các vị hãy về Thiên-trường cùng chúng tôi cải táng mộ Tứ đại thần kiếm, cùng tiếp nhận di thư một thể.
Long-Xưởng truyền thị vệ mang vào bốn cái hòm (rương) lớn trao cho Ngu Doãn-Văn. Doãn-Văn mở ra : Bên trong chứa bốn thanh kiếm, y phục, cùng các vật dụng hàng ngày như bút, nghiên, dày, dép ; lại có cả tiền vàng, bạc cùng một số sách vở.
Ngu Doãn-Văn chắp tay xá Long-Xưởng, Thủ-Lý :
- Đa tạ quốc-vương, đa tạ thái-tử, đa tạ Trần lão đại hiệp, đa tạ Thần-nông sứ.
Thủ-Lý cung tay :
- Thưa Ngu sư huynh, giữa những bậc tiền nhân của chúng ta vốn có tình thông gia, nên phái Đông-a đã dùng cái tình, cái nghĩa mà ở với phái Hoa-sơn. Vậy kể từ lúc này, đệ xin sư huynh cùng các vị trong sứ đoàn cũng lấy tình mà đối xử với triều đình Đại-Việt.
Doãn-Văn đưa mắt nhìn phó sứ Tần Hy. Phó sứ Tần Hy đáp thay Doãn-Văn :
- Rất mong được như thế mãi mãi.
Ngu Doãn-Văn hướng Long-Xưởng :
- Thưa vương gia, bây giờ sang đến vấn đề thứ ba của chuyến đi sứ này, là xin vương gia trao trả đạo sư Lạc-Nhạn và đạo cô Vân-Đài cho phái Hoa-sơn .
Long-Xưởng chỉ Nghĩa-Thành vương :
- Vấn đề này, xin để thúc phụ là người lĩnh Khu-mật viện trả lời với Ngu đại nhân.
Nghĩa-Thành vương bước ra tường thuật chi tiết việc mậ sứ Ngô Giới, Lưu Kỳ sang Đại-Việt, rồi bị bắt giam lỏng ra sao, việc Lạc-Nhạn, Vân-Đài trốn khỏi con thuyền thế nào mộït lượt. Vương kết luận :
- Có thể hai vị ấy bị chết chìm cũng nên, ngặt vì nước sông Hồng chảy siết, nên xác trôi đi mất, thiểm quốc trên dưới đã ra công tìm kiếm mà không thấy.
Tần Hy xua tay :
- Nhất định là quý quốc còn giam hai vị này ở đâu đó. Mong quý quốc đem trả cho chúng tôi.
Thủ-Lý hướng tể tướng Đỗ An-Di :
- Thưa tể tướng, chủ đạo tộc Việt định rằng, bất cứ con dân nào cũng có thể đứng ra gánh vác việc xã tắc. Vậy không biết tể tướng có thể cho phép tên thôn phu này tìm xương Lạc-Nhạn đạo sư cùng hai vị Vân-Đài tiên tử không ?
Mặt An-Di tái đi :
- Nếu như Thần-nông sứ làm được việc đó thì thực là một đại công với triều đình.
Nghe Thủ-Lý đối đáp với An-Di, Long-Xưởng nhìn Thủ-Huy như muốn hỏi : Tống đòi hài cốt Lạc-Nhạn, với Vân-Đài, tại sao Thủ-Lý lại nói hai vị Vân-Đài ? Tại sao Đỗ An-Di không cải chánh, mà lại im lặng, rồi mặt tái đi ? Có gì bí ẩn ở trong không ? Thủ-Huy cũng không hiểu, công trả lời bằng cái lắc đầu.
Thủ-Lý hướng Tần Hy :
- Chúng ta vừa hứa lấy tình mà ở với nhau, mà sao Tần đại nhân lại vi ước như thế này nhỉ !
- Bản nhân vi ước ở chỗ nào ?
Thủ-Lý cười nhạt :
- Lấy tình là gì ? Thưa là không khách sáo, là việc của Tống thì Đại-Việt coi như là việc của mình. Ngược lại, Tống cũng nên đối xử chân thật với Đại-Việt để đáp lại. Thế mà các vị còn nêu ra cái vụ Lạc-Nhạn với Vân-Đài thì còn trời đất nào nữa ?
Mặt Tần Hy tái nhợt :
- Sứ đoàn sang đây với ba mục đích. Mục đích thứ nhất, thứ nhì đã được giải quyết, thì chúng tôi bàn sang vụ thứ ba. Tại sao Thần-nông sứ lại cho rằng chúng tôi không chân thật ?
Thủ-Lý cười nhạt :
- Thôi được ! Xin sứ đoàn cứ ở lại Thăng-long, tôi hứa chỉ trong mười ngày là có thể đem nộp tám bộ hài cốt của các đạo sư, tiên tử phái Hoa-sơn cho quý vị.
Mặt Tần Hy càng tái xanh hơn :
- Tại sao không thể nộp hôm nay ?
Thủ-Lý trả lời lơ mơ :
- Từ khi triều Lý lập nền chính thống, thì những hình phạt như quẳng người vào vạc dầu không còn nữa. Vì vậy tại triều không có vạc dầu. Bằng không thì chỉ hai giờ, là tôi có thể nấu rục hết thịt đạo sư Lạc-Nhạn với sáu vị tiên tử trong Hoa-nhạc tam nương, rồi nộp xương cho các vị. Vì không có vạc dầu, nên tôi sẽ phải nhờ bầy quạ rỉa thịt, hầu nộp xương. Muốn cho quạ rỉa hết thịt bẩy vị đó thì cần tới mười ngày.
Nghe Thủ-Lý nói, toàn thể sứ đoàn đều rúng động, mặt tái xanh. Tần Hy hỏi :
- Như vậy thì Lạc-Nhạn, Vân-Đài vẫn còn tại thế chăng ?
- Còn hay không còn thì Ngu đại nhân biết rất rõ. Bây giờ tôi muốn Ngu đại nhân trả lời dứt khoát là : Sứ đoàn có còn đòi hài cốt hai vị đạo nhân nữa không ? Không những tôi trả hai, mà trả tám kia.
Tần-Hy kinh ngạc :
- Tại sao lại tám ?
Thủ-Lý lam bộ tính đốt ngón tay : Trung-nhạc Tung-sơn Thiên-Hư này, Lạc-Nhạn họ Vương này, Vân-Đài Nam-Phương này, Vân-Đài Thúy-Thúy này, Công-Chúa Mai-Hương này, Công-Chúa Vương... này, Mao-Nữ Hàn Dũ-Linh này, Mao-Nữ Nhạc Bảo-Bảo này.
Nghe Thủ-Lý kể, Ngu Doãn-Văn run lật bật, y đáp lí nhí trong cổ :
- Thôi, Trần sư đệ, chúng ta lấy tình mà ở với nhau, kể từ đây phái Hoa-sơn không đòi Lạc-Nhạn, Vân-Đài nữa.
Triều đình, trên cao nhất là Long-Xưởng, cho đến các quan đều kinh ngạc đến đờ người ra. Vì gần chục năm qua, mỗi lần Tống sứ sang Đại-Việt, sứ Việt sang Tống, họ đều đòi Lạc-Nhạn với Vân-Đài. Thế mà bây giờ Thủ-Lý chỉ nói mấy câu bao hàm rất nhiều bí mật, đãø khiến họ rút việc đòi người...là điều không ai ngờ tới. Trong lời nói của Thủ-Lý, thì dường như thiếu niên nhà quê này biết rõ Lạc-Nhạn, Vân-Đài còn sống, hơn nữa biết rõ cả Tung-nhạc Trung-sơn, rồi còn thêm một Vân-Đài, hai Công-Chúa, hai Mao Nữ... Tổng cộng tám người. Nhưng sao lại dọa sẽ giết bẩy người, vứt xác cho quạ rỉa thịt, rồi đem xương trả lại Tống ? Có lẽ đúng sự thực, vì vậy Ngu Doãn-Văn kinh hãi, líu ríu bỏ cuộc. Long-Xưởng muốn hỏi Thủ-Lý chi tiết, song vương thấy mình là trừ quân, nhiếp chính mà lại không biết cái việc trọng đại này, thì xấu hổ quá, nên im lặng.
Đến đây buổi tiếp sứ đã chấm dứt. Long-Xưởng truyền mời sứ đoàn đến điện Long-hoa ăn yến cùng chư đại thần Việt.

Kể từ sau khi sứ đoàn Ngu Doãn-Văn về nước, thì phe chủ hòa của các đại thần già không còn ra mặt chống đối chính sách cứng rắn của Long-Xưởng nữa. Long-Xưởng cùng Thủ-Huy, ba em ra sức luyện quân tích trữ lương thảo, chờ ngày cùng Kim, Đại-lý ra quân. Hàng tháng Thủ-Huy đều nhận được tin tức từ Kim, Đại-lý về việc chuẩn bị của họ, và những tin tức về sự suy yếu của Tống. Cứ mỗi lần nhận được tin tức như vậy, Long-Xưởng lại tổ chức một buổi thiết Đông-cung triều tuyệt mật để duyệt xét tình hình.

Niên hiệu Chính-long Bảo-ứng thứ 11 (DL. 1173, Quý Tỵ) bên Trung-nguyên là niên hiệu Càn-Đạo thứ 9 đời vua Hiếu-tông nhà Tống, mùa Xuân-tháng giêng.
Sau ba ngày tết, thì thái-tử Long-Xưởng, ba hoàng tử là Kiến-Ninh, Kiến-An, Kiến-Tĩnh vương, công chúa Đoan-Nghi, phò mã Trần Thủ-Huy nhập cung, mật nghị với Chính-long Bảo-ứng hoàng đế và hoàng hậu. Cuộc mật nghị kéo dài suốt ba giờ (6 gờ ngày nay). Sau đó hoàng đế ban chỉ thay đổi lại toàn bộ nhân sự về binh lực trong triều đình. Tuy nhiên chỉ thay đổi chức mà thôi, còn tước thì vẫn giữ nguyên.

- Lão thần Tô Hiến-Thành rời chức Thái-úy, thăng lên chức Thái-sư.
- Phò-mã Trần Thủ-Huy rời chức tổng-lĩnh Thiên-tử binh, giữ chức Phụ-quốc thái-úy, (Tương đương với ngày nay là tổng tư lệnh quân đội).
- Nghĩa-Thành vương, lĩnh Binh-bộ thượng thư ( Tương đương với ngày nay là bộ trưởng bộ Quốc-phòng) thay thế Phí Công-Tín.
- Kiến-Tĩnh vương Long-Hòa, rời chức tổng trấn Thanh-Nghệ về tổng lĩnh Thiên-tử binh. (Tương đương với ngày nay là tư lệnh lục quân).
- Tăng Khoa rời chức Trung-thư lệnh, lĩnh ấn Vũ-kỵ thượng tướng quân, (tương đương với ngày nay là tư lệnh kị binh).

Ngoài ra, không có gì thay đổi.
Truyền cho các con ra về, nhà vua lưu hoàng-hậu, Long-Xưởng lại để nhận chỉ dụ mật . Nhà vua ra hiệu cho cung nga, thái giám ra ngoài, trong cung chỉ còn ngài hoàng hậu, Giai-phi Chế-bì La-bút với Long-Xưởng. Nhà vua hỏi hậu :
- Nào, hậu có gì cần dậy dỗ Xưởng nhi đây ?
Hoàng-hậu nhìn Giai-phi rồi hỏi Long-Xưởng :
- Con có biết do đâu đức Thái-tổ nhà ta lập ra bản triều không ?
- Tâu, do vua Lê ngọa triều tàn bạo, tham dâm quá độ, vì vậy khi vua băng, con còn nhỏ, quần thần mới tôn đức Thaiù-tổ lên ngôi.
- Con hiểu một mà không hiểu hai. Không phải thế đâu. Khi vua Ngọa-triều băng, thì còn tới bốn vị vương con của vua Lê Đại-hành trấn ở ngoài. Tại sao triều thần không tôn một trong các vương ấy lên ngôi ?
- ? ? ?
- Vì đức Thái-tổ là phò mã của vua Lê, mà hoàng hậu của ngài lại là một công chúa tài, đức nhất của triều Lê. Vì vậy hoàng tộc không ai phản đối. Họ nghĩ, con rể, con trai, đều là con cả. Nay con rể có đức, thì cũng nối ngôi được.
- Nhưng còn triều thần ?
- Đức Thái-tổ lên ngôi vì người lĩnh chức Điện-tiền chỉ huy sứ, tương đương với ngày nay là Thái-úy. Người lại được Trung-nghĩa hầu Đào Cam-Mộc làm Thập-đạo tướng quân, xuống lên phò tá. Chức Thập-đạo tướng quân tương đương với bản triều là thống lĩnh Thiên-tử binh. Dĩ nhiên một số triều thần thấy nhà Lê đức suy quá rồi, họ chẳng thiết khuông phò nữa. Nhưng cũng còn nhiều người trung thành với chúa, vì sợ...mà im lặng.
- À ! Con hiểu ý mẫu hậu rồi.
- Con thử nói ra xem có đúng ý mẹ không ?
- Mẹ nghi ngờ Thủ-Huy ?
- Đúng thế ! Tài trí Thủ-Huy hơn đức Thái-tổ của ta nhiều. Y cũng là phò mã. Đức Thái-tổ chỉ được một mình Trung-nghĩa hầu phò tá mà lên ngôi vua. Còn hiện thời, phó đại đô đốc Phùng Tá-Chu là em rể của Thủ-Huy. Năm đô đốc, mười hai tướng chỉ huy Thiên-tử binh, kị binh, ngưu binh... đều là người do Thủ-Huy đào tạo ra. Phái Đông-a lại xen vào việc triều đình quá nhiều. Nếu như mai này Thủ-Huy trở tay thì sự nghiệp Tiêu-sơn không còn nữa.
- ! ! !
Giai-phi Chế-bì La-bút thêm vào :
- Tôi nghĩ, phòng lửa hơn chữa lửa. Tuổi Thủ-Huy còn quá trẻ, mà chức tới Thái-úy, tước tới quốc công. Nay Thái-tử trao hết binh quyền cho y, Bắc-tiến. Nếu như thành công, thì phải phong vương cho y. Bấy giờ, uy tín y quá lớn, thì khi Thái tử lên ngôi vua, liệu y có chịu ngồi yên không ?
- ? ! ? ! ? !
- Bây giờ, Thái-tử phải từ từ loại phái Đông-a ra khỏi việc triều đình. Trong cuộc tiến binh đòi lại cố thổ, nếu thành công, thì lập tức Thái-tử phong cho y tước vương, coi vùng đất mới chiếm được, để y phải chống với dân Hán nổi lên đánh ta . Dĩ nhiên y phải rời chức Thái-úy. Các tướng thân tín của y, ta cũng phong cho các chức văn lớn, nhiều bổng lộc như tuyên vũ sứ , an phủ sứ, rồi cử người của Thái- tử thay thế. Sau đó, dần dần Thái-tử lại gọi y về triều, ban cho chức thực lớn như Thái-sư chẳng hạn, mà không cho y thực quyền. Còn như việc tiến quân thất bại, Thái-tử đem y ra xử tử, thì không ai nói gì được nữa.
Hoàng hậu dặn thêm :
- Việc này con phải kín đáo lắm mới được. Bằng không, Thủ-Huy biết trước, e y đem quân làm phản ngay thì nguy lắm.
- Con xin ghi nhớ lời dạy của mẫu hậu và Giai-phi.
Nhà vua cau mày lại tỏ ý khó chịu :
- Tại sao hậu lại nghĩ xấu cho Thủ-Huy như vậy ? Trẫm thấy từ khi Huy nhi về Thăng-long, một lòng phò tá triều đình. Bổng lộc cũng không thiết. Huy nhi lại nhất tâm sủng ái một mình Đoan-Nghi. Bất cứ Đoan-Nghi muốn gì là Huy nhi chiều theo, cả nhà y cũng chiều theo. Cứ như trẫm nghĩ, thì Thủ-Huy không phải là người phản phúc, cả nhà y ai cũng không muốn vướng vào đường công danh, thì hỏi rằng họ nào có muốn cho Huy nhi làm vua ? Vả dù Huy nhi là người thâm hiểm đến đâu chăng nữa, khi y manh tâm, làm sao y dấu được Đoan-Nghi ? Đoan-Nghi cực kỳ thông minh, ngày đêm bên cạnh y, liệu Đoan-Nghi có để yên cho y làm việc gì hại cho nhà mình không ?
Nhà vua bực mình :
- Thôi hậu với phi lui. Xưởng nhi về lo công việc của mình đi. Thủ-Huy là em rể, là em kết nghĩa, là ngôi sao thủ mệnh của Xưởng nhi, đừng nghi ngờ y vô lý như vậy.
Từ đấy, điện Uy-viễn là nơi đặt trụ sở Khu-mật viện, ngày đêm, ngựa trạm đi về liên miên, mang những tin tức từ Bắc-cương, từ các trấn, truyền lệnh của triều đình về các trấn. Tuy những chuẩn bị cực kỳ bí mật, tuy dân chúng không biết những gì đang diễn ra, nhưng người ta linh cảm thấy đất nước sắp có những biến chuyển lớn.

Hôm ấy là ngày 25 tháng 5, niên hiệu Chính-long Bảo-ứng thứ 11, (DL.1173, Quý Tỵ) là ngày thiết Đông-cung triều mật của tháng năm. Buổi thiết triều chia làm hai phần rõ rệt. Phần thứ nhất bao gồm toàn thể văn võ đại thần, nghị về việc tiếp tế , cung ứng lương thảo, việc nội trị. Phần này sắp tới giờ Ngọ thì chấm dứt. Sang phần thứ nhì là cuộc nghị về phương lược tiến quân, thì chỉ các võ tướng và các quan văn có trách nhiệm tham dự. Giữa hai cuộc nghị sự, là một bữa tiệc do vương phi Trang-Hòa khoản đãi.

Long-Xưởng tuyên chỉ mời Nghĩa-Thành vương và bọn Thủ-Huy, Đoan-Nghi, Long-Minh, Long-Đức, Long-Hòa cùng tất cả các tướng chỉ huy mười hai hiệu Thiên-tử binh, các đô đốc thủy quân, tướng chỉ huy hiệu kị binh Phù-Đổng, tướng chỉ huy hiệu binh trâu Hoa-lư ; vào ngự thiện đường ăn tiệc.
Chư tướng vào Ngự-thiện đường, vú Loan đã đon đả :
- Thỉnh thái-tử cùng các vị nhập tiệc cho. Tiểu tỳ xin dâng món thứ nhất là cá song hấp. Món thứ nhì là cua bể bấy (lột) rán. Món thứ ba là chả rươi. Món thứ tư là gà Trường-yên hấp nấm.
Á-Nương đã điều khiển cung nga bầy yến xong. Bà cùng mười người chắp tay đứng hầu.
Trên cái bàn lớn, mười con cá song, mỗi con dài đến ba gang tay, nằm gọn trong đĩa sứ Bát-tràng, khói bốc lên nghi ngút. Vương phi Trang-Hòa, tuy nhỏ tuổi hơn Đoan-Nghi, với ba hoàng tử, nhưng nhờ giáo dục gia đình rất kỹ, nên có tư thái của một vị mẫu nghi thiên hạ. Phi xếp Long-Xưởng ngồi vào chủ vị, rồi mình ngồi bên trái chồng để tiếp khách. Nghĩa-Thành vương được đặt vào ngôi vị cao nhất. Đáng lẽ bên phải Long-Xưởng là Long-Minh, nhưng phi lại đặt Thủ-Huy với Đoan-Nghi vào đấy, lấy lý do Thủ-Huy là sư phụ dạy võ của các hoàng tử. Sau đó tới chư tướng.
Vừa nhập tiệc, Kiến-Ninh vương Long-Minh là người cực thông minh. Vương bỏ đũa xuống nói với Long-Xưởng :
- Đại huynh ! Trong lúc thiết triều, em thấy dường như đại huynh có điều gì muốn đem ra nghị sự. Nhưng rồi lại bỏ qua. Bây giờ chỉ có anh em mình với chư tướng. Ta có thể bàn với nhau.
- Khắp nơi trên Đại-Việt, ai cũng nói Kiến-Ninh vương thông minh nhất triều đình Chính-Long Bảo-ứng thực không sai. Nguyên đêm qua, tuyên-phi Từ Thụy-Hương lâm bồn sinh ra một hoàng nữ, thục-phi Đỗ Thụy-Châu lâm bồn sinh ra một hoàng nam. Hoàng nam được đặt tên là Long-Trát. Nhưng ngay khi vừa chào đời thì hoàng nữ hoăng. Cho nên ta muốn sau bữa tiệc này thì các em với ta vào Hoàng-thành chúc mừng phụ hoàng với Thục-phi và chia buồn với Tuyên-phi.
Đoan-Nghi cau mày :
- Em thấy có một sự rất lạ lùng, trong lòng thắc mắc hơn mười tháng qua, mà chưa giải được.
Nghĩa-Thành vương cau mặt :
- Cháu thắc mắc về vụ hai bà phi mang thai phải không ?
- Vâng ! Theo ngự-y Trần-thị Phương-Thanh thì Đỗ Thục-phi thể chất đã yếu đuối, lại muốn giữ cho thân thể mảnh mai, nên bỏ ăn thịt, ăn cá, bỏ không ăn ngọt, thành ra bị tuyệt kinh kỳ, không thể mang thai. Đó là một điều đáng ngờ. Thế rồi đùng một cái, phi khai mang thai. Mẫu hậu sai ngự y Phương-Thanh chẩn mạch để có thể cắt thuốc bổ cho phi, phi từ chối. Đó là hai điều đáng ngờ. Tuyên-phi Thụy-Hương là người luyện võ, khí huyết sung thịnh, khi phi có thai, hàng tháng Ngự-y Phương-Thanh vào chẩn mạch, thấy thai rất khỏe, rất lớn. Nay Tuyên-phi sinh ra một hoàng nữ, suy nhược, rồi chết ngay, trong khi Thục-phi lại sinh ra một hoàng nam khá lớn, cơ thể khỏe mạnh. Đó là ba điều đáng ngờ ! Cháu nghi, Thục-phi giả mang thai, rồi khi lâm bồn, thì lấy con chủa Tuyên-phi, nói là con mình, sau đó đem một đứa con gái dân dã giết đi, mà nói là con của Tuyên-phi. Cháu chỉ nghi thôi, vì Tuyên-phi là người cương cường, võ công cao, văn tài xuất chúng, đời nào Tuyên-phi chịu cho Thục-phi bắt con mình ?
Long-Xưởng kinh ngạc:
- Đây là những nghi vấn rất lớn ! Thế muội đã tâu với mẫu hậu chưa ?
- Chưa ! Nhưng em chắc mẫu hậu cũng nghi như em. Không biết thi hài hoàng nữ đã đưa về Đình-bảng an táng chưa ?
- Rồi !
Long-Xưởng đáp : Ngay sau khi hoàng nữ hoăng, thì phụ hoàng cho tẩm niệm, sáng nay đưa về Đình-bảng chôn cất.
Đến đó, một tá lĩnh Khu-mật viện xin vào trình lên Nghĩa-Thành vương một văn kiện mật, khẩn cấp.
Long-Xưởng truyền cho vào. Nghĩa-Thành vương cầm lấy đọc, thì ra một phúc trình của phủ thừa Thăng-long về ba vụ án mạng xẩy ra một lúc. Vương đọc cho cử tọa nghe :
- Vụ thứ nhất là đêm qua, vợ một viên quan tại ty Thương-bạc mới ở cữ hai ngày bị gian nhân đột nhập giết chết, đứa con gái sơ sinh bị bắt mang đi mất tích.
Tất cả mọi người đều rúng động. Kiến-Tĩnh vương than :
- Rất có thể vụ án này liên quan đến việc Tuyên-phi sinh hoàng nữ, rồi hoăng ngay không ?
Không ai trả lời được. Nghĩa-Thành vương tiếp :
- Vụ án thứ nhì, và thứ ba, là hai bà mụ đỡ đẻ cho Tuyên-phi, Thục-phi, sau khi về đến nhà, thì mệt quá, ngủ thiếp đi, rồi qua đời.
Long-Xưởng bảo Kiến-An vương Long-Đức :
- Em hiện là Long-thành tiết độ sứ, vậy em hãy đích thân chỉ huy Thị-vệ điều tra cho ra vụ này.
Nghĩa-Thành vương can :
- Cái vụ hoàng huynh ta sinh hoàng nam, hoàng nữ, kẻ sống, người chết là chuyện nhỏ, không đáng cho chúng ta bận tâm. Để chú cho Khu-mật viện thụ lý vụ này. Điều quan trọng nhất là việc chúng ta phải dồn hết tâm huyết vào cuộc ra binh tối quan trọng đã
Long-Xưởng viết một đạo chỉ dụ, sai thân binh trao cho Tả-thiên ngưu vệ thượng tướng quân Tăng Quốc được toàn quyền điều động thị-vệ điều tra.
Tuy Long-Xưởng ban chỉ như vậy, nhưng Tăng Quốc phải bó tay. Bởi một luật đặt ra từ đồi vua Thái-tổ định rằng : Khu-mật viện có toàn quyền trên đất nước, tuy nhiên đối với Hoàng-cung thì phải ngừng lại. Khi một việc gì xẩy ra trong Hoàng-cung, thì chính hoàng đế đích thân điều tra, thẩm cung. Bởi không lẽ thái hậu, hoàng hậu, thứ phi thân phận cao quý biết mấy, mà lại phải ngồi cho các quan của Khu-mật viện vặn hỏi, tra khảo? Long-Xưởng đã diện kiến phụ hoàng nhiều lần, nêu ra những thắc mắc. Nhưng lần nào cũng như lần nào, nhà vua ừ hự, rồi bỏ đấy.
Thấy đây là việc hệ trọng, hoàng hậu phải nhắc nhà vua, thì ngài tỏ vẻ bực mình : « Bọn Long-Xưởng chuẩn bị đánh Tống, rồi nhìn đâu cũng thấy gian tế Tống. Y muốn rắc rối nơi nào thì rắc rối, y không được phép rắc rối với cả những người đầu gối tay ấp của trẫm. Tuổi trẫm đã cao, bao nhiêu- quyền hành trẫm đã trao cho anh em chúng rồi, mà chúng không để cho trẫm yên nữa ! Hậu thử nghĩ xem, Thục-phi tuổi còn trẻ, thì phi sinh ra một hoàng nam khỏe mạnh, đó là chuyện bình thường. Còn như Tuyên-phi, vì phò tá trẫm mà cần lao chính sự quá đáng, nên sinh ra hoàng nữ yếu đuối, rồi hoăng, thì có gì lạ đâu ? Từ khi Long-Trát sinh ra, trong cung bao trùm hòa khí hiếm thấy. Giai-phi Chế-bì La-bút nhận làm mẹ nuôi, sau này sẽ dạy Trát nhi học. Tuyên-phi thì nhận nuôi sữa Trát nhi. Lại còn phu nhân Trịnh Nam-Phương của tể tướng Đỗ An-Di nữa, bà ta luôn ra vào Hoàng-thành chăm lo miếng ăn, sức khỏe cho Tuyên-phi, Thục-phi, Giai-phi . Vậy nếu có dịp, hậu cũng nên dạy dỗ chúng rằng phải giữ chữ hiếu, để cho trẫm an hưởng thanh phúc. Từ nay, trẫm cấm không ai được nhắc đến chuyện này nữa ».
Thế là từ đấy, vụ này bị chìm vào lãng quên. Trong dân chúng, trong quân lữ, ngay cả triều đình, hậu cung đều thì thầm, nói ra, nói vào. Biết bao nghi vấn vẫn bao trùm quanh việc hai phi sinh con, mà không giải được.
Thế rồi cái nghi án ấy biến mất theo thời gian, không ai chú ý đến nữa.
Niên hiệu Thiên-cảm Chí-bảo nguyên niên, bên Trung-nguyên nhằm niên hiệu Thuần-hy nguyên niên đời Tống Hiếu-tông. (DL.1174, Giáp Ngọ).

Kể từ tháng hai, niên hiệu Chính-long Bảo-ứng thứ mười hai (DL.1174, Giáp Ngọ), quan Thái-sư Tô Hiến-Thành cùng Tể-tướng Đỗ An-Di, Thái-phó Lý Kính-Tu, Thái-bảo Phí Công-Tín dâng biểu tâu xin nhà vua cải nguyên. Niên hiệu mới là Thiên-cảm Chí-bảo. Trong biểu, các đại thần nêu rõ ý nghĩa : Hoàng đế đã có năm hoàng tử. Trong dân gian, người ta cho rằng năm con trai là ngũ quỷ đầu thai. Nay Thục-phi Đỗ Thụy-Châu sinh thêm hoàng tử Long-Trát, thì đúng là thượng đế cảm ứng (Thiên-cảm) mà ban cho một người con quý (Chí-bảo). Từ khi Long-Trát sinh ra, thì Tuyên-phi Từ Thụy-Hương nhận nuôi sữa, khỏi phải tìm nhũ mẫu. Giai-phi Chế-bì La-bút vốn văn hay, chữ tốt, lầu thông Thi, Thư lại nhận làm nghĩa tử, rồi sau này sẽ dạy học. Thực từ khi lập quốc đến giờ, chưa lúc nào trong nội cung lại có sự hòa hợp của ba vị phi nức tiếng xinh đẹp như vậy. Dĩ nhiên nhà vua hoan hỉ ban chỉ chấp thuận.

Hôm ấy là ngày mùng năm tháng năm, sinh nhật đầy năm của hoàng tử Long-Trát. Long-Xưởng dẫn các em cùng với Thủ-Huy vào Hoàng-thành chúc mừng phụ hoàng với thục phi Đỗ Thụy-Châu. Sau lễ, Long-Xưởng diện tấu với phụ hoàng
- Tâu phụ hoàng, đầu tháng sáu này thì Đại-Kim sẽ đem quân đánh Tống. Tháng bẩy thì Đại-lý tiến quân vào Thục. Còn Đại-Việt ta thì từ lương thảo cho đến bộ binh, thủy binh, kị binh, ngưu binh đều đã chuẩn bị xong. Sang ngày 9 tháng chín thì thủy bộ hai mặt sẽ đồng khởi binh, Bắc tiến, chiếm lại cố thổ. Không biết phụ hoàng có chỉ dụ gì không ?
Cũng như mọi lần, nhà vua ban chỉ :
- Ít năm nay, trẫm thấy trong người không được khỏe, chư sự trẫm trao cho Xưởng nhi với các em. Nhưng này Xưởng nhi, nếu cái việc Bắc tiến thấy thành công thì hãy ra quân. Bằng không, thì chỉ lo giữ lấy đất tổ là quý rồi.
Kiến-An vương tâu :
- Nhất định là thành công. Xin phụ hoàng an tâm.
- Được rồi ! Dường như hôm nay các con đãi yến chư tướng tại Đông-cung phải không ?
- Quả như phụ hoàng ban chỉ.
- Thôi các con hãy về vui với chư tướng.
Anh em Long-Xưởng rời Hoàng-thành trở về Đông-cung. Chư tướng đã tề tựu đông đủ.
Tiệc tàn, Long-Xưởng đứng dậy, hai tay vương xoa vào nhau, nói với chư tướng :
- Hôm nay, cô gia không đem việc dùng binh ra nghị trong buổi triều hội, mà bàn ở đây. Vì cô gia muốn sự việc càng mật càng tốt. Trước hết, cô gia xin loan báo để chư tướng rõ : Phía Bắc, Kim đã khởi binh, họ sẽ ra quân tràn xuống đánh Tống vào tháng sáu này. Sang tháng bẩy, Đại-lý sẽ đem quân vượt Độ-khẩu đánh vào Tứ-xuyên. Còn ta ! Vạn sự cụ bị rồi, ta định sẽ xuất quân vào đầu tháng chín tới.
Vương nói, mà sắc diện hiện ra nét vui mừng vô hạn :
- Khi Kim đánh xuống, thì Tống đã dồn hết tinh lực ra chống với Kim. Trận chiến dằng co, chưa bên nào thắng bên nào. Gữa lúc đó thì Đại-lý đem quân vượt Độ-khẩu đánh vào Tứ-xuyên. Tứ-xuyên không phòng bị, hơn mười thành bị chiếm. Tống phải đem quân Kinh-châu, Hồ-Nam vào cứu Thành-đô. Như vậy hiện Trường-sa, hồ Độïng-đình không còn quân phòng bị. Bây giờ là lúc ta đem quân vượt biên. Tống không còn quân ở Lưỡng-Quảng, Hồ-Nam, ta thành công dễ dàng.
Vương ngừng lại cho cử tọa theo kịp rồi tiếp :
- Hồi sáng, cô gia muốn bàn với chư vị một vài chuyện trước khi ra quân. Song, trước đây, cô gia với Thái-úy Thủ-Huy suýt mất mạng mấy lần, vì xung quanh ta có con rắn độc. Mà cho đến nay ta chưa tìm ra. Vì vậy ta mới phải nghị sự mậït với nhau ở đây. Trước hết thúc phụ cho biết tình hình binh lực Tống tại Nam-thùy.
Nghĩa-Thành vương đứng dậy :
- Dường như tế tác Tống không biết gì về cuộc chuẩn bị ra quân của ta. Hoặc giả họ biết, nhưng khi tâu về triều, thì triều đình không tin, do kết quả của sứ đoàn Ngu Doãn-Văn, Tần Hy. Vì vậy, Tống dồn hết lực lượng về Bắc để đối phó với Kim. Họ lại cũng dồn binh về phía Nam Tứ-xuyên để chống Đại-lý. Cho nên suốt vùng Quảng-Tây, Quảng-Đông, họ không có binh triều, mà chỉ có binh các châu, cùng Bảo-binh (dân quân).
Ông ngừng lại, đưa mắt nhìn Kiến-Ninh vương :
- Về thủy quân, tại Khâm-châu, Quảng-châu, Tống chỉ có một hạm đội, khoảng 300 chiến thuyền, đa số cũ kỹ, khó có thể vượt biển ra khơi. Binh sĩ thì không được luyện tập. Bộ binh, họ có một đạo binh Quảng, đóng ở Quảng-châu, khoảùng một vạn người. Tuy nhiên tại vùng bờ biển Ôn-châu, thì họ có một hạm đội, mang tên Nam-hải, với 600 chiến thuyền mới. Tại Kinh-châu, Hồ-Nam, họ có hạm đội Kinh-Hồ, trên 700 chiến thuyền, sang tháng bẩy, khi Đại-lý đánh Tứ-xuyên, thì Tống sẽ đem hết quân ở đây vào cứu viện. Binh sĩ thuộc hai hạm đội Nam-hải, Kinh-Hồ được luyện tập rất thiện chiến. Tuy nhiên so với thủy quân của ta, thì Tống thua xa. Nếu như khi ta đổ quân vào Khâm, Liêm, thì phải đề phòng hạm đội Nam-hải có thể di chuyển xuống tham chiến trong vòng 45 ngày.
Ông nhìn Thủ-Huy :
- Tại 18 ải dọc biên thùy, trước kia quân Quảng, Bảo-giáp của họ được luyện tập rất tinh thục. Nhưng từ khi sứ đoàn Ngu Doãn-Văn, Tần Hy về, họ lơ là, đồn ải không được tu bổ, binh sĩ thì biếng nhác, vũ khí không được bổ xung. Hiện họ chỉ có hai đạo binh Quảng đóng ở Ung-châu với Côn-lôn, tổng số khoảng hai vạn người.
Long-Xưởng hỏi Thủ-Huy :
- Trước tình hình như vậy, nhị đệ định tiến quân như thế nào ?
Thủ-Huy đứng dậy cung tay hướng Nghĩa-Thành vương với Long-Xưởng :
- Kim sẽ ra quân vào tháng 6, Đại-lý ra quân vào tháng 7. Ta sẽ ra quân vào giữa tháng 9 này. Chúng ta chỉ còn có bốn tháng nữa mà thôi. Trong bốn tháng này, ta thừa sức di chuyển các hiệu binh về phía Bắc, các hạm đội về căn cứ Đồn-sơn. Trong buổi mật nghị hôm trước, chúng ta đã tâu chi tiết lên phụ hoàng, người đã chuẩn tấu, và tuyên chỉ giao cho huynh trưởng. Vậy bây giờ huynh trưởng nhắc lại một lần nữa : Chủ đích cuộc ra quân ? Chúng ta tiến đến đâu ? Tổ chức cai trị ra sao ? Như vậy các tướng mới biết mà thi hành.
Long-Xưởng đứng dậy, vẻ mặt cực kỳ nghiêm trọng, mắt sáng ngời :
- Ta khởi binh để chiếm lại đất tổ đã bị Trung-quốc chiếm mất. Khởi thủy của tộc Việt ta từ khi vua Minh, cháu đời thứ tư vua Thần-Nông vân du Nam-phương, kết hôn với tiên nữ ở Ngũ-lĩnh, mà sinh ra quốc tổ Lộc-Tục. Ngài truyền ngôi cho con trưởng là vua Nghi làm vua phương Bắc, con thứ là Quốc-tổ Lộc-Tục làm vua phương Nam, lấy núi Ngũ-lĩnh làm cương giới. Ngài di chỉ cho hai con rằng : Nay ta chia Thiên-hạ làm hai, từ Ngũ-lĩnh về Bắc trao cho Nghi làm vua. Từ Ngũ-lĩnh về Nam trao cho Lộc-Tục làm vua. Tuy phân biệt Bắc, Nam, nhưng đều gốc từ ta. Hai con phải dặên con cháu, đời đời thương yêu nhau, Bắc chẳng xâm Nam, Nam chẳng lấn Bắc. Kẻ nào làm trái lời ta, thì đời đời tuyệt tử tuyết tôn, bản thân chết không toàn thây. Ngài lại lập đài trên ngọn núi nhỏ bên bờ Tương-giang, tế cáo trời đất, xin thần linh chứng cho cuộc truyền ngôi này. Từ đấy Bắc thành Trung-nguyên, Nam thành Văn-lang. Thái-tử Lộc-Tục lên làm vua hiệu là Kinh-Dương lập ra triều đại Hồng-bàng. Ngọn núi nhỏ đó các đời sau gọi là Thiên-đài. Trên đỉnh Thiên-đài có đền thờ các vua triều đại Thần-Nông cho tới vua Minh, vua Nghi, vua Kinh-Dương.
Đô thống Lê Minh, chỉ huy hiệu Thiên-tử binh Ngự-long hỏi :
- Khải điện hạ, không biết di tích này nay có còn không ?
- Còn ! Vào thời Lĩnh-Nam, khi Thuần-chính hoàng thái hậu Hoàng Thiều-Hoa chỉ huy cuôc rút quân khỏi Trường-sa, hồ Động-đình, người ra lệnh cho Hổ-nha đại tướng quân Đào Hiển-Hiệu đem một đạo quân phục ở Thiên-đài cản hậu, đợi khi quân Việt rút hết rồi mới rút sau. Khi đem quân lên đây, Đào tướng quân kể lại nguồn gốc Thiên-đài cho chư quân nghe. Chư quân cương quyết tử thủ giữ đất tổ chứ không chịu lui. Vì vậy khi tướng Hán là Lưu Long đem quân truy quân Việt tới Thiên-đài, thì gặp phải sức kháng cự kinh khủng của đạo quân Đào Hiển-Hiệu, đến nỗi vua Quang-Vũ nhà Hán phải đích thân vượt Trường-giang xuống đốc chiến. Sau hai ngày giao tranh, toàn bộ đạo quân của Đào Hiển-Hiệu bị hy sinh, quân Hán chết đến mấy vạn. Cho nên sau này, cạnh đền thờ Thần-Nông còn có ngôi đền thờ anh hùng Đào Hiển-Hiệu cùng chư quân tướng tuẫn tiết hồi đó. Hiện nay, đền thờ Quốc-tổ vẫn còn đôi câu đối, do tiến sĩ Chu Minh-Văn đời Đường soạn, như sau :

Thiên-đại đại đại phân Nam Bắc,
Lĩnh-địa niên niên dữ Việt Thường.


Nghĩa là :

Núi Thiên-đài này là nơi phân chia địa giới Hoa, Việt.
Ngọn núi Ngũ-lĩnh năm này qua năm khác vẫn tồn tại với dân Việt.


Ghi chú của thuật giả:

Muốn biết về trận đánh kinh khủng này vào thời vua Trưng, xin đọc Cẩm-khê di hận của Yên-tử cư sĩ, do Nam-á Paris xuất bản, gồm 4 quyển.

Vương ngừng lại uống một hớp nước rồi tiếp :
- Tại đền thờ Hổ-nha đại tướng quân cùng với quân tướng tuẫn quốc có đôi câu đối :

Nhất kiếm Nam hồ kinh Vũ đế,
Thiên đao Bắc lĩnh trấn Lưu Long.


Nghĩa là :
Một thanh kiếm của nữ vương Phật Nguyệt ở phía Nam hồ Động-đình làm cho vua Quang-Vũ nhà Hán kinh sợ.
Một nghìn tay đao ở Bắc núi Ngũ-lĩnh trấn Lưu Long.


Long-Xưởng nhìn chư tướng một lượt, rồi tiếp :
- Khi chư tướng đánh lên Ngũ-lĩnh, trên đường tấn công Trường-sa, sẽ qua núi Thiên-đài, được viếng di tích khai quốc của tộc Hoa và tộc Việt, cùng lễ Hổ-nha đại tướng quân và chư quân tướng đã hy sinh vào thời Lĩnh-Nam.
Chư tướng vỗ tay hoan hô.
Long-Xưởng tiếp :
- Chúng ta trở lại với nước Văn-lang. Triều đại Hồng-bàng truyền trải 88 đời vua gồm 2622 năm, nhưng đến nay chỉ ghi lại danh hiệu 18 vị vua, đến đời vua Hùng Tuyên vương, vì chính sự phiền hà, mà bị vua An-Dương đánh bại. Vua An-Dương đổi tên nước là Âu-lạc.
Tất cả những điều Long-Xưởng nói, chư tướng đều thuộc lòng, ghi nhớ rất kỹ. Nhưng bây giờ giữa buổi hội này, nghe Long-Xưởng long trọng nhắc lại, ai nấy đều chăm chú nghe trong cái không khí cực kỳ hào hùng .
Long-Xưởng tiếp :
- Khi triều đình Âu-lạc đươc thành lập, thì bên Trung-nguyên cực kỳ rối loạn, bẩy nước Tần, Tề, Sở, Lương, Triệu, Ngụy, Hàn đánh lẫn nhau. Cuối cùng Tần diệt sáu nước, thống nhất Trung-nguyên thành một nước lớn chưa từng có. Tần sai Đồ Thư mang năm mươi vạn quân sang đánh Âu-Lạc. Vua An-Dương sai Trung-tín hầu Vũ Bảo-Trung cầm quân chống giặc. Đồ Thư bị giết, nửa triệu quân bị diệt. Tuy nhiên, trong cuộc xâm lăng này, Tần chiếm của ta ba vùng Nam-hải, Quế-lâm, Tượng-quận. Về cuối đời, vua An-Dương lầm lẫn để xẩy ra vụ án Mỵ-Châu, Trọng-Thủy mà mất nước. Tộc Việt ta trải mấy trăm năm dài bị Trung-nguyên đô hộ. Về sau nhân Trung-nguyên xẩy ra cái vụ Vương Mãng cướp ngôi Hán, con cháu nhà Hán trung hưng, Trung-nguyên có nội chiến, vua Trưng cùng 162 anh hùng tộc Việt khởi binh, chiếm lại trọn vẹn lãnh thở thời Văn-lang, Âu-lạc ; lập ra triều đình Lĩnh-Nam.
Long-Xưởng nghiến răng vào nhau :
- Nhưng buồn thay ! Nước ta rộng, mà dân ta thưa, nên Lĩnh-Nam bị Hán đánh chiếm. Thế rồi trải nghìn năm có dư, mãi tới thời đức Thái-tổ, Thái-tông nhà ta, Khai-Quốc vương cùng anh hùng tám vùng tộc Việt giúp Nùng Trí-Cao lập lên nước Đại-Nam. Nhưng rồi tám vùng tộc Việt thiếu đoàn kết, mà Đại-Nam bị diệt. Bây giờ...
Vương nói thực chậm :
- Thế của Tống quá yếu, chúng ta liên kết với Kim, Đại-lý cùng xuất quân. Chúng ta chỉ ngọn cờ lên Bắc chiếm lại lãnh thổ thời Văn-lang, thời Âu-lạc, thời Lĩnh-Nam. Cuộc ra quân này khác xa với cuộc Bắc phạt thời Anh-vũ Chiêu-thắng. Bởi thời Anh-vũ chiêu thắng, Đại-Việt ra quân để phá hủy thành trì, cầu cống, đường xá, kho tàng mà Tống chuẩn bị đánh ta, rồi rút về. Lần này ta xuất quân, khi đánh đến đâu thì tổ chức cai trị đến đó. Vậy có bằng này điều phải tuân theo.
Vương rút trong bọc ra một trục giấy, rồi cầm lên đọc :
- Một là ta chỉ đánh đến Trường-sa, hồ Động-đình, thì dừng quân lại. Bất cứ trường hợp nào cũng không thể vượt sông đánh lên Kinh-châu, vì vùng này là vùng của Kim. Ta đã vạch đất chia lãnh thổ với họ rồi.
- Hai là, nghiêm cấm quân sĩ tuyệt đối không được cướp của giết người. Bất cứ cấp nào phạm vào thì giết ngay tại phạm trường, để dân chúng yên lòng.
- Ba là, đối với tù binh, hàng binh, phải an ủi, chiêu dụ họ, không được trả thù, không được đánh, giết.
- Bốn là những quan lại Tống, gốc người Lưỡng-Quảng, Hồ-Nam, phải hết sức phủ dụ. Ai thuận ở lại làm quan, thì cho giữ nguyên chức tước, bổng lộc. Ai không muốn làm quan thì cho về quê làm ăn.
- Năm là đánh đến đâu, tổ chức hệ thống cai trị đến đó. Những chức thuộc hương đảng, làng xã thì cho bầu như bên Đại-Việt. Những chức thuộc phủ, huyện thì tìm người có tài, có đức mà bổ nhiệm.
- Sáu là thả hết tù, tha thuế cho dân một năm, tha tất cả thuế còn thiếu những năm trước.
Long-Xưởng ngừng lại, nói với Thủ-Huy :
- Bây giờ cô gia để Trần phò-mã lĩnh phụ-quốc thái-úy điều quân.
Thủ-Huy đứng dậy, công để thanh kiếm lệnh lên bàn :
- Khi tiến quân đi xa, thì phảigiữ lấy đất căn bản. Tướng giữ nhà phải hội đủ bằng này điều : Trầm tĩnh, trung thành, thận trọng, mưu lược. Nay ta mang quân đi ngàn dặm, thì người giữ nhà vừa phải hướng con mắt về Nam phòng Chiêm-thành, vừa giữ vững hậu phương bảo đảm trong nước không bị trộm cướp. Người này phi hoàng thúc Nghĩa-Thành vương, không ai đương nổi.
Nghĩa-Thành vương đứng dậy nhận lệnh.
Thủ-Huy lại tiếp :
- Mời Long-nhương thượng tướng quân, Gia-viễn quốc công nhận lệnh.
Lưu Khánh-Bình đứng dậy :
- Xin chờ lệnh Thái-úy.
- Tuy tổng chỉ huy việc giữ nhà là Nghĩa-Thành vương, nhưng cần một tướng trí dũng song toàn, lại khéo phủ dụ, để trấn thủ vùng đất Chiêm mà vua Chiêm là Chế-Củ dâng cho ta vào thời đức Thánh-tông, đó là châu Lâm-bình (Địa-lý), Minh-linh (Ma-linh), Bố-chính. Vậy Gia-viễn quốc công khẩn lên đường đi Nam biên ngay.
- Tuân lệnh Thái-úy.
- Xin mời Tả-thiên ngưu vệ thượng tướng quân, Nghĩa-dũng công nhận lệnh.
Tăng Quốc đứng dậy :
- Xin chờ lệnh Thái-úy.
- Quốc-công đang lĩnh chức Tổng-lĩnh thị vệ, nay kiêm luôn chức Tổng-lĩnh cấm quân, Điện-tiền chỉ huy sứ thay Long-nhương thượng tướng quân Lưu Khánh-Bình.
- Tuân lệnh Thái-úy.
Thủ-Huy tiếp :
- Việc giữ nhà đã xong, bây giờ tới việc viễn chinh. Cuộc tiến quân kỳ này có phần giống thời Anh-vũ Chiêu-thắng, ta tiến làm hai cánh chính. Cánh thứ nhất vượt biển đổ bộ lên chiếm Khâm-châu, Liêm-châu và Quảng-châu, rồi tiến lên chiếm Chương-giang. Cánh thứ nhì vượt biên tiến về Ung-châu, rồi thẳng lên chiếm Quế-châu, sau đó vượt Ngũ-lĩnh chiếm Trường-sa, hồ Động-đình.
Thủ-Huy đưa mắt nhìn Long-Minh, Long-Đức :
- Mời Kiến-Ninh, Kiến-An vương nhận lệnh.
Long-Minh , Long-Đứcđứng dậy :
- Chờ lệnh Thái-úy.
- Kiến-Ninh vương tổng chỉ huy cánh thứ nhất. Kiến-An vương phụ tá. Lực lượng gồm bốn hạm đội Âu-Cơ, Động-đình, Thần-phù, Bạch-đằng, năm hiệu Thiên-tử binh. Khác với thời Anh-vũ Chiêu-thắng, thời bấy giờ Tín-Nghĩa vương, Thái-úy Thường-Kiệt đổ quân lên Khâm-châu, Liêm-châu, tỏa ra chiếm Dung, Nghi, Bạch châu rồi tiến về Ung-châu. Nay vì Khâm, Liêm, Dung, Nghi, Bạch-châu... Tống không có quân, nên ta đổ lên đánh úp Quảng-châu, Khâm-châu cùng một lúc.
Công ngừng lại uống một hớp nước rồi tiếp :
- Kiến-Ninh vương chỉ huy hai hạm đội Âu-Cơ, Động-đình, chở theo ba hiệu Thiên-tử binh đánh úp Quảng-châu. Quảng-châu chiếm được rồi , thì vương gia trấn tại đây, sai một tướng tiến lên đánh Chương-giang. Kiến-An vương chỉ huy hạm đội Thần-phù, Bạch-đằng, chở theo hai hiệu Thiên-tử binh đổ lên đánh úp Khâm-châu, Liêm-châu, sau đó tiến đánh các châu Dung, Nghi, Bạch.
Công nhấn mạnh :
- Sau khi chiếm xong, lập tức nhị vương tổ chức an dân, dàn bốn hạm đội bảo vệ lãnh hải, đề phòng Tống đem thủy quân xuống tập kích Thăng-long.
Nhị vương cùng hành lễ
- Tuân lệnh Thái-úy
Thủ-Huy hướng về Long-Hòa, Tăng Khoa :
- Mời Kiến-Tĩnh vương, và Vũ-kị thượng tướng quân nhận lệnh.
Long-Hòa, Tăng Khoa đứng dậy :
- Xin chờ lệnh Thái-úy.
- Vương gia chỉ huy cánh thứ nhì, phó là Tăng tướng quân. Lực lượng gồm có bẩy hiệu Thiên-tử binh, hiệu kị binh Phù-Đổng, hiệu ngưu binh Hoa-lư. Nhiệm vụ là mau chóng thanh toán 18 ải ở biên giới, rồi tiến chiếm Ung-châu. Chiếm Ung-châu rồi thì vương gia trao cho một tướng trấn thủ, tức tốc vượt Côn-lôn đánh chiếm Quế-châu, Linh-lăng. Chiếm Quế-châu, Linh-lăng xong, vương gia tổ chức an dân, còn Tăng tướng quân mang theo hiệu Phù-Đổng, Hoa-lư với hai hiệu Thiên-tử binh tiến quân như sét nổ, vượt Ngũ-lĩnh đánh chiếm Trường-sa. Đến đây có thể bắt tay với Kim, vì Kim sẽ đánh Kinh-châu ở Bắc ngạn Trường-giang cùng với ta
Sau đó Thủ-Huy hỏi
- Ai có thắc mắc gì không ?
Long-Xưởng hỏi :
- Nhị đệ, thế nhị đệ không cho ta ra trận ư ? Võ công ta đâu có dở ?
Chư tướng đều bật cười.
- Đại ca là tướng tướng. Đại ca vừa nhiếp chính ở Thăng-long, vừa ngồi trong màn mà quyết thắng ngoài nghìn dặm. Đại ca với đệ là người ngồi nhận tin tức của Kim, của Đại-lý rồi tùy nghi ban lệnh cho các mặt trận. Đại ca vừa lĩnh trọng trách như vua Trưng hồi chống Hán, vừa lĩnh nhiệm vụ của Khai-Quốc vương hồi Bắc phạt. Còn đệ, thì đệ sẽ tùy nghi diễn biến mặt trận, có thể đệ sẽ đi Quảng-châu, có thể Quế-châu, có thể Trường-sa.
Long-Xưởng đứng lên nhấn mạnh.
- Chư tướng cùng cô gia đang mang tất cả tâm huyết ra để dựng lại hào khí thời Lĩnh-Nam, thời Anh-vũ Chiêu-thắng, muôn ngàn năm sau lịch sử lưu truyền tính danh cho con cháu. Thôi giải tán.
Chư tướng vỗ tay, rồi rời nghị sự đường.
Chán đời đi lang thang !
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-03-19 21:36:28NuHiepDeThuong>
Hồi thứ mưới chín

Giai nhân Tô, Hàng


Hôm ấy, sau một ngày duyệt binh về, Long-Xưởng họp các em với Thủ-Huy tại ngự thiện đường để cùng ăn cơm trưa. Mục đích, sau bữa ăn, anh em cùng vào cung vấn an phụ hoàng, mẫu hậu, rồi lên đường tiến quân.
Cơm xong, anh em đang vui đùa với nhau thì Thủ-Huy ghé miệng vào tai công chúa Đoan-Nghi nói nhỏ :
- Trên nóc điện có hai gian nhân nghe trộm.
- Muội khám phá ra từ lâu rồi. Trong hai tên, thì một tên già, một tên trẻ. Hai tên này nội công rất cao thâm. Chúng thở ra nhỏ như tơ. Không biết chúng thuộc môn phái nào ?
- Nội công chúng hơi giống nội công nhà mình. Để anh bảo Tăng Khoa lôi cổ chúng xuống.
Long-Xưởng cũng đã khám phá ra hai người nghe trộm. Vương để chung rượu xuống bàn rồi nói lớn :
- Cao nhân phương nào giá lâm Đông-cung, sao không xuống đây cùng anh em tiểu vương đồng ẩm, đàm văn, luận võ, mà núp trên nóc điện chi cho nhẹ thể ?
Nói rồi vương cầm chung rượu tung lên nóc nhà. Chung rượu xuyên thủng mái ngói ra ngoài.
Tăng Khoa lạng người một cái, y đã ra ngoài sân. Trên nóc điện bốn thị vệ đang bao vây hai người bịt mặt. Một người đàn ông to lớn, uy nghi mặc áo vàng, một người đàn bà nhỏ bé mặc áo xanh. Chỉ hai chiêu, người áo xanh đã đánh bay bốn thị vệ rơi xuống sân. Lối đánh rất đặc biệt, tuy dũng mãnh, nhưng nhẹ nhàng, giống như hai sư huynh sư đệ đồng môn tập luyện vậy.
Tăng Khoa thấy hai người không có ác ý, hầu tung mình lên nóc cung, chắp tay hướng người hai người:
- Thái-tử có lời thỉnh nhị vị xuống uống chung rượu.
Trong khi vái, Tăng vận kình lực ra hai tay. Người áo vàng lơ đãng nhìn trời. Trong khi người áo xanh phất tay một cái, kình lực phát ra như sóng vỗ. Bình một tiếng, Tăng Khoa cảm thấy trời long đất lở, tai phát ra những tiếng vo vo không ngừng. Hầu phải lùi liền ba bước để hóa giải kình lực.
Long-Xưởng kinh ngạc không ít, vì suốt mấy năm qua Tăng Khoa được Thủ-Huy chỉ dạy không ngừng cùng với Long-Minh, Long-Đức, Long-Hòa. Hơn nữa Tăng luyện tập rất cần cù. Có thể nói, bản lĩnh của Tăng hiện không thua vương làm bao. Trong các võ tướng của triều đình, rất hiếm người đấu ngang tay được với Tăng.
Long-Xưởng đưa mắt ra hiệu cho Thủ-Huy, rồi cả hai cùng tung mình lên nóc điện. Long-Xưởng cung tay :
- Cao nhân giá lâm, không biết có gì dạy bảo ?
Người áo xanh hất hàm hỏi :
- Phải chăng người là Lý Long-Xưởng, được phong tước Hiển-Trung vương ?
- Quả đúng như cao nhân nói.
Người áo xanh lại nhìn Thủ-Huy :
- Phải chăng người là cháu nội của đại hiệp Trần Tự-Kinh ?
Thấy người này có vẻ coi thường Long-Xưởng, mà lại tỏ ra kính trọng ông nội mình. Thủ-Huy cung tay :
- Dường như cao nhân có quen biết với ông nội vãn bối ?
Người áo xanh không trả lởi, y phát một chiêu chưởng đánh thẳng vào mặt Thủ-Huy. Kình lực chưa ra hết mà Thủ-Huy đã cảm thấy ngộp thở. Công kinh hãi, vội xuất chiêu Đông-hải lưu phong đỡ. Ầm một tiếng, người áo xanh bật lui liền ba bước, hai tay xoa vào nhau tỏ vẻ đau đớn . Còn Thủ-Huy bật tung người lên cao, ngói trên nóc điện bay khắp bốn phía. Tiếng chưởng chạm nhau, tiếng ngói rơi, còn có mấy tiếng la hoảng của Đoan-Nghi, Trang-Hòa và anh em Long-Xưởng. Bởi hiện công lực Thủ-Huy có thể nói là cao thâm nhất trong các võ quan của triều đình, thế mà dường như ngang sức với người áo xanh.
Thủ-Huy lộn hai vòng trên không, rồi đáp xuống nóc điện. Công cung tay hướng người áo xanh :
- Xin cao nhân cho biết cao danh quý tính.
Người áo xanh không trả lời Thủ-Huy mà nói một mình :
- Chiêu Đông-hải lưu phong sao đang dương, lại chuyển sang âm được nhỉ ?
Bà ta gật gật đầu :
- Người quả thực là cháu của một vĩ nhân nổi danh nhân nghĩa nhất Đại-Việt.
Người áo xanh hướng người áo vàng :
- Chủ nhân ! Y là con giòng cháu giống, mình có thể đối thoại được.
Đến đó Nghĩa-Thành vương vừa đến. Vương đưa mắt nhìn người áo vàng : Từ tướng đi, từ hai vai, từ cái lưng đều rất quen thuộc, rất thân ái, mà vương không đoán ra là ai. Người áo vàng đang bước đi, khi nhìn thấy vương, ông ta cũng dừng lại. Bốn mắt nhìn nhau, tay ông run run, dường như súc động.
Dù bị coi thường, nhưng Long-Xưởng vẫn tỏ ra lễ độ. Vương kéo ghế mời hai người ngồi trên, ngang với Nghĩa-Thành vương. Còn mình thì ở ngôi chủ vị tiếp khách. Nhưng chỉ người áo vàng ngồi, còn người áo xanh thì khoanh tay đứng hầu phía sau.
Người áo vàng xuất hồn nhìn khắp ngự-thiện đường một lượt, rồi nói một mình, nhưng để cho Thủ-Huy nghe :
- Ta có một thắc mắc là từ xưa đến giờ, đại hiệp Tự-Kinh nổi tiếng nhân từ, hiệp nghĩa nhất Đại-Việt, thường dạy con cháu nên đứng ngoài vòng danh lợi để giữ cho thân thể thơm tho. Cớ sao người lại cho cháu nội lăn mình vào chốn hôi tanh này nhỉ ?
Thủ-Huy thấy phong thái của hai người, công chắp tay :
- Thưa tiền bối, thời vua Trưng, các anh hùng cùng cắp gươm phò tá ngài, có ai vì mấy đấu gạo đâu ?
Người áo vàng phẩy tay một cái, tỏ ra cử chỉ tát yêu Thủ-Huy :
- Khá lắm, người ứng đối nhanh như vậy thì hẳn là con trai của Bùi Anh-Hoa? Người là Thủ-Huy hay Thủ-Lý ?
- Thưa, cháu là Thủ-Huy.
- Hồi người đầy năm, ta có gửi tặng cho người một món quà. Món quà đó là cái khánh ngọc đỏ khắc hình con rồng với con chim âu quấn lấy nhau. Món quà đó đâu rồi ?
Thủ-Huy giật bắn người lên, công mở to mắt nhìn người áo vàng. Vì ông chính là người ấy, mà ông nội, bố mẹ cùng các sư thúc muốn đưa lên ngôi vua, thay cho Chính-long Bảo-ứng hoàng đế . Suốt từ thời thơ ấu, Thủ-Huy cũng như một số các đệ tử phái Đông-a đều nghe các bậc trưởng thượng nhắc đến, mà không biết người ấy là ai. Một lần Thủ-Huy hỏi mẹ : Cái khánh ngọc đeo trên cổ từ đâu mà có ? Bà Anh-Hoa trả lời : Do người ấy tặng cho con lúc đầy năm. Thủ-Huy hỏi người ấy là ai, thì bà Anh-Hoa lắc đầu không muốn nói. Bây giờ nghe người áo vàng xưng là nhân vật đã tặng khánh ngọc cho mình, thì công biết ông chính là người ấy.
Nghe câu nói đó, Thủ-Huy vội lậy phục xuống đất :
- Cháu...cháu... xin kính cẩn ra mắt sư bá.
Nói rồi công kéo chiếc khánh đeo trên cổ trao cho người áo vàng. Người áo vàng vẫy tay tỏ ý không cần coi. Ông phát một chiêu nhẹ nhàng, kình lực đỡ Thủ-Huy đứng dậy. Ông cười :
- Cháu gọi ta là sư thúc chứ đừng gọi là sư bá, mà sau này bà chị Anh-Hoa lại mắng ta. Vừa rồi cháu tự ví việc ra làm quan của cháu với các anh hùng thời Lĩnh-Nam. Như vậy cũng được đi. Song quần hùng Lĩnh-Nam theo phò vua Trưng là phò cái chí của ngài. Đức của vua Trưng cao vòi vọi. Còn ngày nay cháu theo phò cái cục bột Thiên-Tộ (ghi chú : tức vua Anh-tông hay Chính-long Bảo-ứng hoàng đế) chỉ biết có gái, thì thực là gánh vàng đi đổ sông Ngô, bán bò tậu ễnh ương mất rồi.
Kiến-Ninh vương vốn nóng tính. Vương thấy người áo vàng nhục mạ phụ hoàng thì quát lớn :
- Im cái mồm. Người có biết đây là đâu không mà nói lời vô phép như vậy ? Hay người ỷ có võ công cao, rồi muốn nói gì thì nói ư ? Người hãy nhìn xung quanh mà xem, thị vệ đã vây kín Đông-cung. Ta chỉ hô lên một tiếng, là thị vệ sẽ băm người ra như băm chả ngay.
Mọi người chỉ thấy hoa mắt một cái, tiếp theo hai tiếng bốp. Người áo xanh đã tát Kiến-Ninh vương hai cái, rồi lùi trở về chỗ, tay chỉ vào mặt vương :
- Bây giờ chính ta bảo mi im cái mồm, bằng không ta lấy tính mệnh mi.
Người áo vàng vẫn nói bằng giọng kẻ cả :
- Ta tiếc cho cháu ! Tài trí không thua gì Kinh-Nam vương xưa. Kinh-Nam vương tuy đem tài ra giúp Tống, nhưng Tống Nhân-tông là người biết tài vương, lại thương dân, thực xứng đáng là đấng quân phụ. Còn Thiên-Tộ, thì hỡi ơi !
Thủ-Huy chỉ vào Long-Xưởng :
- Thưa sư thúc, nếu nhìn bề ngoài thì thế. Nhưng sự thực lại khác. Xưa kia, ông Cổ-Tẩu là người ương gàn, thế mà lại sinh ra bậc thánh là vua Thuấn. Cha của Tăng Tử là người ác, thế mà con lại là người hiền. Đệ tử tuân lệnh nội tổ ra giúp nghĩa huynh, khi vận nước chông chênh như trứng trồng, chứ đâu có vì bổng lộc !
- Cái gì mà trứng chồng ?
Thủ-Huy tóm lược việc Tống sai mật sứ sang mưu chiếm ngôi vua, biến Đại-Việt thành quận huyện. Rồi các đại tôn sư họp nhau phá vỡ. Tiếp theo đến việc bắt Tống công nhận quốc danh, khi phong, phải phong làm An-Nam quốc vương, chứ không được phong làm Giao-chỉ quận vương. Cuối cùng, là viêc đi sứ Kim.
Người áo vàng gật đầu :
- Lâu nay ta ẩn thân, nên không biết rõ tình hình. À thì ra thế. Ta có nghe nhiều người ca tụng cái đức của thằng bé con Long-Xưởng. Ta không tin. Bây giờ nghe cháu nói, ta cũng tin một phần.
Ông nhìn Long-Xưởng :
- Này bé con ! Ta nghe con nhỏ Từ Thụy-Hương trước đây là tỳ thiếp của người, rồi tại sao y thị lại trở thành Tuyên-phi ? Sự việc ra sao ?
Long-Xưởng chưa kịp trả lời, thì Kiến-Tĩnh vương đã lên tiếng :
- Việc phụ hoàng ta phong cho ai làm phi, làm thiếp, người không có quyền hỏi. Người là ai mà dám có giọng điệu đại bất kính như vậy ?
Người áo xanh búng tay một cái, một hạt vàng bay ra, bay thực chậm, nhưng quay tròn với tốc độ cực nhanh kêu lên tiếng vi vu, rồi thình lình véo một tiếng , hột vàng bay vòng cầu trúng vào huyệt Á-môn của Kiến-Tĩnh vương. Lập tức toàn thân vương bị tê liệt, mở miệng không ra.
Công chúa Đoan-Nghi thấy anh bị áp chế, thì chịu không được. Nàng rút kiếm, rồi chuyển thân mình một cái, kiếm đã dí vào cổ người áo xanh.
Người áo xanh kinh hoàng, bà lộn liền ba vòng về sau để tranh mũi kiếm. Sau ba vòng, bà lại đáp xuống giữa ngự-thiện đường. Nhưng khi bà đáp xuống, thì mũi kiếm vẫn dí vào cổ bà. Thì ra Đoan-Nghi đã dùng một chiêu võ trấn môn của Long-biên kiếm pháp, nàng chuyển thân theo bà như bóng với hình. Lòng nguội như tro tàn bà lên tiếng :
- Mi đánh trộm ta mà thành công. Ta không phục.
Bấy giờ bà mới nhìn kẻ khống chế mình, đó là một thiếu phụ tuổi khoảng hai mươi, nhan sắc diễm lệ. Chợt bà kêu lên :
- Mi... Mi là công chúa Đoan-Nghi. Nếu mi là anh hùng, thì hãy đường đường chính chính đấu với ta mà thắng ta, ta mới phục.
Công chúa Đoan-Nghi thu kiếm về :
- Được ! Người hãy rút kiếm ra. Nếu người thắng được ta, thì ta sẽ tha cho người rời khỏi nơi đây.
Người áo xanh rút kiếm, rồi gật đầu :
- Nào chúng ta qua lại mấy chiêu với nhau.
Thấp thoáng ánh thép, Đoan-Nghi đã ra một chiêu, cắt đứt giải buộc khiến chiếc khăn bị mặt của người áo xanh rơi xuống đất. Tất cả mọi người hiện diện đều bật lên tiếng ái chà. Vì bộ mặt người áo xanh cực đẹp. Thực là một giai nhân tuyệt thế.
Người áo xanh hét lên một tiếng, rồi vung kiếm tấn công. Chiêu số của bà rất quái dị, khi thì giống Mê-linh kiếm pháp. Khi thì giống Đông-a kiếm pháp. Khi thì giống Hoa-sơn kiếm pháp. Trong khi Đoan-Nghi dùng kiếm chiêu, thì người kia dùng kiếm khí, kình lực phát ra kêu vo vo. Đoan-Nghi khoan thai trả đòn. Đấu được trên trăm hiệp, Đoan-Nghi đã tìm ra nguyên tắc kiếm thuật của người áo xanh : Bà ta khéo phối hợp kiếm pháp Mê-linh, Đông-a và Hoa-sơn làm một, mà không một chút sơ hở.
Từ đầu đến cuối, người áo vàng không nói một câu, ông lơ đãng nhìn trận đấu giữa người áo xanh với Đoan-Nghi, thình lình ông nhổm người dậy, tay ông phóng ra hai chỉ. Choang, choang hai tiếng kiếm của Đoan-Nghi với người áo xanh bị vuột khỏi tay, bay lên trần nhà, cắm vào cây xà. Đoan-Nghi kinh hãi lùi lại ba bước.
Người áo vàng nói một mình :
- Hà ! Con nhỏ này học ở đâu được kiếm pháp của Linh-Nhân hoàng thái hậu. Khá lắm.
Thủ-Huy giật mình hỏi :
- Thưa sư thúc, cháu tưởng đó là Mê-linh kiếm pháp chứ ...
- Cháu biết một mà không biết hai. Dĩ nhiên căn bản là Mê-linh kiếm pháp. Nhưng, cháu nên nhớ, Linh-Nhân hoàng thái hậu đã học võ công Hoa-sơn, Đông-a, Hồng-thiết, trước khi học Mê-linh kiếm, vì vậy khi ngài xử dụng Mê-linh kiếm pháp, thì không còn là kiếm pháp nguyên thủy nữa. Cho nên, sau này, ngài truyền kiếm pháp ấy lại cho hậu thế, thì kiếm pháp đó là thứ kiếm pháp bị ngài pha trộn thành một loại kiếm pháp mới. Cũng như cháu, cháu học võ công Đông-a, Hoa-sơn một lúc, thành ra dù cháu xử dụng võ công nào, thì cũng không còn thuần túy nữa.
Thủ-Huy cau mày suy nghĩ, công chợt nhớ ra, có rất nhiều chiêu công dạy cho Đoan-Nghi phảng phất võ công Đông-a, Hoa-sơn. Bất giác công đưa mắt nhìn người áo vàng, và nghĩ thầm : Ông là bạn của bố ta có khác. Bác học đến thế là cùng.
Nguời áo vàng hỏi Long-Xưởng :
- Người đã biết ta là ai chưa ? Chắc là chưa, vì vậy khi ta mắng gã Thiên-Tộ thì người bực mình.
Ông mở khăn bịt mặt ra, mọi người cùng ồ lên một tiếng, vì ông giống Chính-long Bảo-ứng hoàng đế như hai giọt nước. Có điều đôi mắt ông sáng long lanh, da hồng hào, chứng tỏ nội công của ông cao thâm khôn lường.
Nghĩa-Thành vương rưng rưng nước mắt, bật kêu lên :
- Đại huynh ! Thì ra đại huynh vẫn còn tại dương thế ! Hỡi ơi, gần hai chục năm qua, đệ cứ tưởng đại huynh bị Cảm-Thánh với Đỗ Anh-Vũ hại rồi. Tạ ơn trời phật, đại huynh vẫn cơn sống, mà võ công cao đến dường này.
Người áo vàng ôm lấy Nghĩa-Thành vương :
- Anh thoát cả trăm lần chết, ngày nay mới được thấy em.
Ông hỏi Long-Xưởng :
- Người đã biết ta là ai rồi mà sao không quỳ gối ra mắt ?
Long-Xưởng cẩn thận hơn :
- Tiểu bối ở địa vị cầm đại quyền quốc gia, không thể chỉ vì gương mặt tiền bối mà nhẹ dạ tin ngay được. Vãn bối phải dè dặt.
Người áo vàng móc trong bọc ra một con nai bằng ngọc xanh biếc trao cho Long-Xưởng :
- Người cẩn thận như vậy là phải. Người hãy coi xem vật này là gì đây ?
Long-Xưởng khúm núm cầm lấy con nai, trên có khắc « Thiên-Thuận ngũ niên, ngũ nguyệt, sóc nhật, Sửu thì, Thiên-Lộc ». Nghĩa là niên hiệu Thiên-Thuận thứ năm (DL.1132, Nhâm-Tý), tháng năm, ngày 1, giờ Sửu, Thiên-Lộc sinh.
Long-Xưởng chợt nhớ lại, trong tập Thần-tông thực lục có chép :
« ... Khi Thần-tông được 12 tuổi, thì mẹ là Chiêu-Hiếu hoàng thái hậu (Vợ Sùng-Hiền hầu) đã tuyển cho hàng chục phi tần. Nhưng nhà vua không sủng ái người nào. Cho đến năm ngài 16 tuổi, thì có sự thay đổi lớn. Một ngày, nhà vua trốn khỏi Hoàng-thành đạo chơi phường bán hoa ngoài thành Thăng-long, thì ngài gặp thiếu nữ bán hoa tên Hồng-Hạnh. Ngay từ lúc mới gặp nàng, ngài đã say mê. Từ đấy, đêm nào ngài cũng trốn ra gặp nàng, khi thì mua hoa, khi thì làm thơ tặng. Nhưng nàng là một thiếu nữ được giáo dục rất kỹ về tam tòng, tứ đức, nên dù ngài đeo đuổi cả tháng trời, mà nàng vẫn tỏ ra lạnh nhạt. Việc này đến tai mẫu thân Hồng-Hạnh, bà đùa với ngài rằng :
- Nếu cậu muốn hỏi con gái tôi, thì cậu hãy về làm một bông hồng hạnh bằng vàng đem đến đây dẫn lễ.
Lập tức ngài trở về cung, sai làm một bông hồng hạnh bằng vàng thực lớn, rồi hôm sau đem ra cho bà mẹ nàng. Bà mẹ giật mình, nhưng vẫn đùa :
- Được rồi, tôi gả nó cho cậu. Vậy giờ Thìn ngày mai, cậu phải đem kiệu rồng đến đây rước dâu.
Kiệu rồng là kiệu dành cho vua ngự. Bà nói câu đó, có ý nhắn nhủ rằng bà không gả Hồng-Hạnh cho ngài. Ngài trở về truyền lễ quan, cung nga, thái giám, hôm sau đem kiệu rồng ra đón Hồng-Hạnh nhập cung, phong làm Tu-dung. Bấy giờ cha mẹ nàng mới biết ngài là vua. Ngài cực kỳ sủng ái Hồng-Hạnh. Nhưng Chiêu-Hiếu thái hậu, cùng Cảm-Thánh hoàng-hậu và hai bà Thục-phi, Tuyên-phi cực kỳ ghét nàng.
Nhập cung được hai tháng thì Tu-dung Hồng-Hạnh có thai. Niên hiệu Thiên-Thuận thứ 5, tháng 5, ngày mùng một, giờ Sửu, thì Tu-dung sinh ra một hoàng nam. Vua đặt tên là Thiên-Lộc, lập làm thái tử, truyền lấy viên ngọc xanh lớn nhất khắc hình con nai, với hai sừng, ban cho. Tu-dung Hồng-Hạnh được thăng lên Thần-phi.
Niên hiệu Thiên-chương Bảo-tự thứ tư (Bính Thìn, DL. 1136), Cảm-Thánh hoàng-hậu lại sinh ra hoàng tử Thiên-Tộ. Niên hiệu Thiên-chương Bảo-tự thứ 6 (Mậu Ngọ, DL.1138) vua Thần-tông bệnh nặng, truyền gọi Tham-tri chính sự (Phó tể tướng) Từ Văn-Thông vào để viết di chiếu.
Cảm-Thánh hoàng hậu, Tuyên-phi Nhật-Phụng, Thục-phị Phụng-Thánh đem vàng hối lộ cho Thông. Khi nhà vua truyền Thông viết chiếu truyền ngôi cho Thái-tử Thiên-Lộc, thì Thông cầm bút suy nghĩ. Một lát ba bà Cảm-Thánh Nhật-Phụng, Phụng-Thánh vào khóc rằng : « Bọn thiếp nghe rằng người xưa lập con nối ngôi thì lập con đích chứ không lập con thứ. Thiên-Lộc là con của người thiếp được vua yêu. Nếu cho Thiên-Lộc nối ngôi, thì bà mẹ tất sẽ tiếm lấn, sinh lòng ghen ghét làm hại, thì mẹ con bọn thiếp tránh sao cho khỏi bị tai vạ ? ». Vì thế vua xuống chiếu lập hoàng tử Thiên-Tộ kế vị, còn thái-tử Thiên-Lộc thì phong làm Minh-Đạo vương...
...Niên hiệu Đại-Định nguyên niên (Canh Thân. DL. 1140), phong Thần-phi Hồng-Hạnh làm Linh-chiếu Chiêu-hòa thái hậu và phong một vị sủng phi khác của vua Thần-tông là Đức-phi Quỳnh-Chi, một bà phi bác học đa năng, thường được vua dùng như một đại học sĩ phụ tá làm Linh-khang Chiêu-đức thái phi. »

Sau không thấy ai nhắc đến Minh-Đạo vương cùng bà phi Hồng-Hạnh ra sao. Một lần Long-Xưởng có hỏi Thái-phó Hoàng Nghĩa-Hiền, thì ông nói rằng :
« Nhờ Từ Văn-Thông giúp mà hoàng thượng được lên ngôi vào lúc ba tuổi. Quyền hành do Chiêu-Hiếu hoàng thái hậu và em hậu là Đỗ Anh-Vũ. Trước đây Linh-chiếu Chiêu-hòa thái hậu có theo học với một đạo cô phái Tản-viên, nay ngài theo đạo cô này đi tu. Niên hiệu Đại-Định thứ 8 (DL1147), Chiêu-Hiếu thái hậu khám phá ra vụ Đỗ Anh-Vũ tư thông với Cảm-Thánh hoàng thái hậu. Anh-Vũ với Cảm-Thánh hoàng thái hậu ám hại Chiêu-Hiếu thoàng thái hậu. Quyền vào tay Anh-Vũ với Cảm-Thánh hoàng thái hậu. Một lần Minh-Đạo vương cùng với vương phi trên đường về Cổ-pháp viếng lăng mộ tiên đế, thì bị cướp giết cả nhà. Ai cũng bảo Cảm-Thánh hoàng thái hậu với Anh-Vũ ra tay ám toán .».

Bây giờ thấy người mặc áo vàng giống phụ hoàng như hai giọt nước, cùng di vật từ đời vua Thần-tông, nhất là Nghĩa-Thành vương đã nhận ra anh mình, Long-Xưởng không nghi ngờ gì nữa. Vương hô các em quỳ xuống, rồi khấu đầu :
- Bọn thần xin khấu đầu trước hoàng-thúc. Vì không biết rõ thân thế Hoàng-thúc, nên bọn thần có nhiều điều vô lễ. Mong Hoàng-thúc đại xá cho.
Minh-Đạo vương chỉ ghế :
- Các người không nên đa lễ. Các người ngồi đây đi. Đức Thái-tổ nhà ta xuất thân là đứa trẻ chăn trâu ở chùa Tiêu-sơn, Linh-Nhân hoàng thái hậu thủa hàn vi cũng từng chăn trâu. Ta muốn cùng các người dùng tình mà ở với nhau, chứ không muốn lễ nghi phiền phức.
Ông chỉ vào thiếu nữ áo xanh :
- Đây là đệ tử thứ ba của ta, tên Bạch-Phụng.
Ông ngửa mặt nhìn vào quãng xa xôi, rồi tiếp :
- À, để ta thuật cho các người nghe bằng cách nào ta sống sót cho tới ngày hôm nay? Hồi sáu tuổi ta đã bắt đầu luyện võ với một sư phụ phái Đông-a, năm mười ba tuổi, thân mẫu định tuyển phi tần cho ta. Song, ta xin khất lại, để có thời gian học văn luyện võ. Mãi đến năm mười sáu tuổi, thì ta gặp một thầy đồ nghèo khổ, vợ chết không có tiền chôn cất. Ông đến yết kiến, xin bán con gái với giá ba lượng bạc. Ta thương tình, ban cho ông mười lượng bạc, lại sai sắm quan quách, chôn cất vợ ông ta, mà không nhận con gái. Ông ta thâm cảm ơn nghĩa, xin ta nhận ông với con gái làm gia thuộc trong phủ. Ta nhận lời cho ông làm gia sư, phụ trách chức trưởng sử. Còn con gái ông, thì tuyển làm cung nga tại ngự thư phòng. Nhưng khi ta gặp con gái ông, thì hỡi ơi, nàng là một giai nhân tuyệt thế. Cho nên, chỉ hơn tháng sau, ta quyết định tuyển nàng làm vương phi. Việc này, khắp triều đình đều phản đối, duy mẫu thân ta thì lại vui vẻ. Nàng tên là Phạm-thị Thanh-Thủy.
Vương ngước mắt nhìn lên trời :
- Thanh-Thủy vốn được cha dạy văn, ta cho nàng luyện võ. Chỉ ít lâu sau, võ công nàng trở thành cao thâm. Gia sư trong phủ đều bị nàng vượt qua. Còn ta...Tuy ta bị truất ngôi thái tử, nhưng trong lòng không một chút oán hờn, bởi đó là ý chỉ của phụ hoàng. Ta nghĩ : Mình không được làm vua, thì mình cũng có thể giúp em mình, như Khai-Quốc vương xưa đã giúp vua Thái-tông. Ta hết sức học văn, luyện võ, lại bỏ tiền bạc ra kết thân, chiêu mộ hào kiệt. Cho đến năm 17 tuổi, ta là một trong những đệ tử có võ công cao nhất của phái Đông-a. Bản lĩnh của ta ngang với hai người con của sư phụ là Tự-Hấp, Tự-Duy, với Đại-Việt ngũ tuyệt. Anh hùng Chiêm, Việt, Hoa ra vào cửa ta rầm rập, họ thấy Cảm-Thánh dâm loạn quá, Anh-Vũ lại cực kỳ ác độc. Họ đưa ý kiến rằng nên giết Cảm-Thánh, Anh-Vũ rồi đưa ta lên làm vua. Ta cực lực từ chối. Vì vậy Cảm-Thánh với Đỗ Anh-Vũ không yên tâm. Họ sợ ta hỏi cái tội dâm loạn, chuyên quyền của họ, nên họ bàn mưu với nhau trừ ta trước. Kể ta với lực lượng anh hùng theo ta, ta có thể giết Cảm-Thánh, Anh-Vũ dễ dàng. Nhưng dù sao Anh-Vũ cũng là ông cậu của phụ hoàng ta. Cảm-Thánh là hoàng-hậu thời tiên hoàng. Vì vậy ta khoanh tay, mặc cho hai người lộng hành. Thế nhưng, đùng một cái, ta được cung nga thân tín báo cho biết rằng Đỗ Anh-Vũ bàn với Cảm-Thánh hoàng thái hậu định vu cho ta cái tội mưu phản rồi đem đại quân làm cỏ trang ấp của ta. Quá kinh hoàng, ta nghĩ chỉ có cách giả chết ẩn thân mới thoát nạn. Một mặt ta phân tán tân khách, thủ hạ đi khắp nơi. Một mặt ta đem vương phi về Cổ-pháp lễ lăng mộ tiên đế, rồi trốn sang Trung-quốc. Không ngờ chuẩn bị của ta bị Anh-Vũ biết. Y sai một đội cao thủ sáu người, gồm ba nam, ba nữ đón đường giết ta. Ta với vương phi chống trả giết được 5 tên, còn một tên cuối cùng, võ công y cao thâm không biết đâu mà lường. Y chỉ đánh có hai chiêu, vương phi của ta bị táng mạng. Còn ta, y chỉ đánh có mười chiêu ta bị ngã. Gữa lúc chúng ta tuyệt vọng, thì sư-phụ Trần Tự-Kinh cùng hai người con là Trần Tự-Hấp và Trần Tự-Duy xuất hiện. Tên cao thủ của Cảm-Thánh thấy ba người thì bỏ trốn biệt. Sau đó ta quy ẩn, âm thầm luyện võ, thu đệ tử. Các hào kiệt nghe ta còn sống, thì lại tụ họp về với ta.
Thủ-Huy hỏi :
- Thưa sư thúc, cái tên cao thủ của Anh-Vũ ấy dùng võ công môn phái nào ?
- Y dùng võ công Đông-a.
Thủ-Huy bật lên tiếng than :
- Ái chà. Không lẽ là Mao Khiêm ?
- Đúng ! Chính là y.
Minh-Đao vương chỉ lên tường, nơi treo nhiều tranh và bút pháp :
- Đây là Đông-cung, nơi ta đã ở mấy năm. Khi phụ hoàng người lên ngôi, ta bị truất ngôi thái tử, trở thành Minh-Đạo vương, ta phải rời nơi này để trở về phủ đệ riêng. Từ ngày bị ám hại phải xa Thăng-long, lòng tưởng nhớ quê hương, mỗi năm ta lại âm thầm về thăm lại chốn cũ. Lần này, bị các người khám phá ra.
Ông chỉ vào Bạch-Phụng :
- Tuy xa Thăng-long, nhưng ta an trí mỗi châu, mỗi trấn, mỗi huyện một đệ tử để theo dõi tình hình đất nước. Bạch-Phụng là người phụ trách vùng Thăng-long.
Ông hỏi Bạch-Phụng :
- Ta trao cho con phụ trách vùng kinh thành. Thế sao cái vụ Thiên-Tộ cướp Từ Thụy-Hương của Long-Xưởng, mà con không biết ?
- Thưa sư phụ, tự đệ tử không muốn biết.
Bạch-Phụng thuật :
- Khi trao cho đệ tử coi vùng Thăng-long, sư phụ có dạy rằng « Chư sự lớn nhỏ đều phải biết, khi hành sự phải tôn trọng luật lệ. Duy có việc trong Hoàng-thành thì tuyệt đối không được tò mò vào, cũng không được can thiệp vào ». Chính vì vậy mà việc Chính-long Bảo-ứng hoàng đế đem Từ Thụy-Hương vào cung, rồi phong làm Tuyên-phi, đệ tử không theo dõi. Tuy nhiên nếu sư phụ muốn, đệ tử sẽ cho điều tra.
Minh-Đạo vương tỏ vẻ buồn rầu, ông hỏi Long-Xưởng :
- Ta nghe võ lâm anh hùng đàm tiếu về việc này quá nhiều, nên phải về đây điều tra cho rõ ngọn nguồn. Sự đã ra thế này thì còn dấu diếm làm gì ? Người hãy thuật cho ta rõ uyên nguyên ra sao !
Long-Xưởng đành thuật lại từng chi tiết : Nguồn gốc ca kỹ của vú Mai, kẻ vô danh đánh chồng vú bị tê liệt, trong khi đó vú mang thai rồi sinh Thụy-Hương. Vú được tuyển làm nhũ mẫu cho Đoan-Nghi, sau ba năm vú muốn ở lại thì bị quan Ngự-sử đại phu đàn hặc về việc chồng vú bị liệt, mà vú mang thai. Ngự y cũng xác nhận rằng chồng vú bị tổn thương xương sống, không thể giao hợp với đàn bà, mà vú vẫn có thai, thì cái thai đó là con hoang. Sau nhờ Đoan-Nghi xin, Long-Xưởng cho vú vào ở trong Đông-cung. Thụy-Hương học văn, luyện võ đều thành, và Đại-Việt thất tiên kết thân với nhau, phá tan âm mưu chiếm Đại-Việt của Tống. Rồi mối tình Thụy-Hương với Thủ-Huy diễn ra mà Long-Xưởng không biết. Khi Thủ-Huy lấy vợ thì Thụy-Hương lại trở thành người tình của Long-Xưởng. Cuối cùng Thụy-Hương được phong Tuyên-phi và phụ chính cho nhà vua.
Nghe Long-Xưởng thuật, mặt Minh-Đạo vương tái đi, ông hỏi bằng giọng run run :
- Thế... Thế ...Triệu Mai-Hương hiện ở đâu ?
- Thưa hoàng-thúc, Triệu Mai-Hương là ai ?
- Là...là vú Mai đó. Triệu Mai-Hương là một giai nhân gốc người Dương-châu, bên Trung-nguyên.
Đoan-Nghi kinh ngạc :
- Không biết hoàng-thúc có lầm không ? Bởi vú Mai có khuê danh là Trần Lệ-Mai, khi đem vú vào nuôi sữa cho hài nhi, Khu-mật viện đã về quê vú ở Đăng-châu điều tra. Viên quan điều tra còn đến cả nhà từ tổ của vú xem xét gia phả. Như vậy thì sao vú là người Dương-châu được ? Suốt thời gian nuôi sữa hài nhi, cũng như trong mười năm ở Đông-cung, vú không biết nói tiếng Hoa, thì sao có thể là người Tống ? Theo hài nhi nghĩ, có lẽ hoàng-thúc đã lầm ca kỹ Triệu Mai-Hương với vú Mai thì phải.
Trán Minh-Đạo vương nhăn lại, ông hỏi :
- Có thể như thế. Không chừng trong thời gian Triệu Mai-Hương nức danh đế đô, thì vú Mai cũng nổi tiếng, nên có sự lầm lẫn chăng ? Thế vú Mai đâu ? Cứ cho ta gặp nàng là ta biết ngay.
Long-Xưởng đáp thay em :
- Từ khi Thụy-Hương trở thành Tuyên-phi thì vú vào ở trong cung với con gái.
- Ta sẽ thân vào Hoàng-cung điều tra vụ này.
Thủ-Huy nghĩ thầm :
- Cứ nghe ngôn từ của Minh-Đạo vương, thì dường như trước đây vú Mai là người tình của vương thì phải ? Bằng không tại sao ông biết bà có tên là Mai-Hương ?
Minh-Đạo vương thẫn thờ như người mất hồn. Ông nhìn Bạch-Phụng :
- Phải theo dõi vụ này thực chi tiết. Bạch-Phụng ơi ! Con cố tìm hiểu xem tại sao vú Mai đang là một ca kỹ tài sắc nhất Thăng-long, có biết bao nhiêu vương, hầu, khanh, tướng cầu hôn, mà thị không nhận lời ; mà lại nhận lời cầu hôn của một thị vệ võ công bình thường, tiền không, văn tài cũng không, cho đến cái dáng đẹp đẽ bên ngoài cũng không có. Vấn đề thứ nhì là liệu thủ phạm ám toán chồng vú Mai có phải là gian phu ăn nằm với vú Mai sinh ra Thụy-Hương không ? Cuối cùng, phải điều tra xem vú Mai có phải là Triệu Mai-Hương không. Việc này hơi khó đối với bất cứ người đàn ông nào. Nhưng con là nữ thì không khó. Bởi ngay trên nhũ hoa trái của Mai-Hương có một vết sẹo hình hoa mai.
Minh-Đạo vương nhìn Long-Xưởng, rồi lắc đầu :
- Ban nãy các cháu bàn nhau chuẩn bị ra quân thực mật, cho đến phút chót có phải thế không ?
- Quả như hoàng thúc dạy.
Ông hỏi Thủ-Huy :
- Phàm khi ra quân thì chúa tôi phải một lòng, thì mới thành công. Nay cháu tuổi còn trẻ, tước tới công, mà lại cầm binh quyền trong tay, liệu có tránh được miệng thế có dèm pha không ?
Nghe Minh-Đạo vương hỏi, Long-Xưởng rùng mình nghĩ thầm :
- Quả mẫu hậu, Giai-phi vơí ta cùng nghi ngờ Thủ-Huy ! Vị hoàng thúc này sao lại đoán ra được ? Ta im lặng, xem Thủ-Huy trả lời thế nào.
- Thưa sư thúc ! Đối với phụ hoàng, cháu là phò mã . Đối với anh Long-Xưởng cháu là nghĩa đệ, là em rể. Là phò mã, nếu cháu không làm được những việc nghiêng trời lệch đất như thánh Tản với vua Hùng, thì ít ra cháu cũng noi gương tổ là Kinh-Nam vương đối với vua Nhân-tông nhà Tống. Lòng cháu sáng như trăng, như sao. Vì vậy cháu nghĩ dù phụ hoàng, dù nghĩa huynh... đều tin vào lòng trung của cháu, chứ có đâu nghi ngờ ?
Long-Xưởng nghĩ thầm :
- Ta không tin người đâu.
Minh-Đạo vương lắc đầu :
- Ừ thì ta cứ tạm tin như vậy. Còn việc ra quân, các cháu có giữ đươc bí mật không ?
- Dạ được ạ !
- Ta không tin ! Các cháu hành động như thế này thì không khác gì lậy ông tôi ở bụi này ! Cháu đã biết, xung quanh cháu có con rắn độc, mà cho đến giờ này cháu cũng chưa biết y là ai ? Y làm việc này thì được hưởng gì ? Ai sai y vào tiềm ẩn ở đây ? Khi chưa tìm ra căn cước y, mà lại họp nhau bàn tiến binh thì thực là nguy hiểm. Tỷ như y làm việc cho Tống thì sao ? Cháu nên nhớ, hiện mọi hoạt động trọng đại đều phát xuất từ Đông-cung cả. Cho nên dù Tống, dù Chiêm, dù phe chủ hòa, không ít thì nhiều đều cài người vào Đông-cung. Những cao thủ, những bộ mặt lớn ra vào Đông-cung, thì người của Tống biết hết.
Nghe Minh-Đạo vương nói, Long-Xưởng, Thủ-Huy đưa mắt nhìn nhau. Cả hai như cùng tự nhủ : Vị hoàng thúc này nói rằng ông ẩn thân từ lâu, thế sao ông biết rất chi tiết những bí mật ở Đông-cung như việc có con rắn độc chưa tìm ra ? Mọi quyền lực mưu kế đều phát ra từ Đông-cung?
Cung nga dâng trà. Minh-Đao vương bưng chung trà lên uống. Sau khi uống xong, ông chỉ cái chung hỏi Trang-Hòa :
- Cái chung này ai biếu cháu ?
Vương phi Trang-Hòa tiếp lấy chung, phi giật bắn người lên, vì đó chính là chung của Đông-cung, song ai đó đã khắc lên hình hai con chim ưng bay qua ngọn núi, biểu hiệu của Côi-sơn song ưng. Cạnh hình, có mấy chữ «Hiển-Trung vương tài trí thì tài trí, nhưng bàn quốc sự lại để gian nhân nghe trộm, thì còn gọi là mẫn tiệp nữa chăng ? ».
Minh-Đạo vương, Nghĩa-Thành vương, Long-Xưởng cùng nhìn Thủ-Huy như hỏi : Có biết gian nhân ở đâu ? Thủ-Huy đưa mắt cho công chúa Đoan-Nghi. Công chúa hướng vào Trung-Tĩnh phu nhân tức Á-Nương :
- Vân-Đài tiên tử ! Người là người phái Hoa-sơn tiềm ẩn trong Đông-cung bấy lâu nay như vậy cũng đủ rồi. Chúng tôi nể tình công chúa Huệ-Nhu là cao tổ mẫu phái Đông-a, trước đây xuất từ quý phái, nên lờ đi cho người ẩn thân. Nhưng nay bị Côi-sơn song ưng mắng vốn, chúng tôi xin người hãy ra mặt để cho ai nấy đều biết một tiên tử Hoa-sơn đẹp như thế nào ?
Á-Nương vẫn cúi đầu lau chùi, như không nghe thấy gì. Như-Như là vợ của Tăng Khoa, hiện giữ nhiệm vụ cai quản nhân sự trong Đông-cung, nàng chắp tay :
- Khải công chúa điện hạ, bà này bị câm, trước đây bà là tỳ nữ của Thục-phi Đỗ. Hồi Thục-phi nhập cung thì mang theo. Vì bà có tài tẩm quất, nên Thục-phi dâng cho hoàng-hậu. Khi Thái-tử lập Đông-cung, hoàng-hậu ban cho thái-tử. Bà tuy câm nhưng cực kỳ trung thành. Ngay từ hồi Thái-tử chưa ra Đông-cung, bà hầu hạ thái-tử không một chút khiếm khuyết. Bà vốn bị ác tật, lưng gù có cái bướu to bằng quả dưa, mặt méo, nhưng bà rất chăm chỉ. Ngày Thái-tử dẹp triều đình gà mái gáy, hoàng-hậu sa thải hết cung nga do thái-hậu tuyển, chỉ giữ lại Á-Nương với con Nhài. Khi công chúa hạ giá với phò mã, thì Nhài được phong tước Tín-Hương phu nhân, theo công chúa. Còn Á-Nương được phong Trung-Tĩnh phu nhân. Á-Nương sao có thể là gian tế ?
Đoan-Nghi mỉm cười, nàng lạng người tới bắt Á-Nương. Á-Nương đứng trơ trơ, không có phản ứng gì, rõ ra người chưa luyện võ. Bị Đoan-Nghi bắt, bà ta kinh ngạc mở to mắt tỏ vẻ sợ hãi. Đoan-Nghi chĩa ngón tay trỏ ra nói bằng tiếng Hàng-châu:
- Đây là Lĩnh-Nam chỉ, ta mà điểm vào người bà, dù bà là cao thủ phái Hoa-sơn, thì bao nhiêu độc khí của Huyền-âm chưởng sẽ làm bà lạnh như băng mà chết. Bà hiểu không ?
Nói rồi nàng phóng chỉ đến véo một tiếng. Á-Nương lách mình nhanh không thể tưởng tượng nổi, tránh khỏi chiêu chỉ. Bấy giờ mọi người mới tin Á-Nương là người của phái Hoa-sơn. Á-Nương lộn người hai cái, bà ta đã ra khỏi ngự-thiện đường, đáp xuống giữa sân. Hơn mười thị vệ bao vây xung quanh bà ta. Bà ta lên tiếng :
- Các người đều là cao nhân Đại-Việt, mà lại dùng số đông người để thắng ta ư ?
Tiếng nói của bà rất thanh tao, nhẹ như gió thoảng, ngọt như cam thảo, âm rất trẻ.
Long-Xưởng vẫy tay cho thị vệ lùi ra xa. Vương nói với Á-Nương bằng giọng ôn tồn :
- Vân-Đài tiên tử, mới ngày nào chúng ta gặp nhau trên bến sông ở Thiên-trường, thế mà thấm thoắt đã mười năm dư. Thời gian qua mau thực. Khi tiên tử cùng đạo sư Lạc-Nhạn, chuồn xuống nước, trốn khỏi con thuyền của phái Hoa-sơn, Khu-mật viện truy lùng nhị vị khắp nơi mà không thấy, cô gia cứ tưởng các vị chết đuối rồi. Nào ngờ tiên tử chính là Á-Nương của Đông-cung. Hồi ấy, trước ngày cô gia lên đường đi Thiên-trường, tiên tử có xin phép nhũ mẫu của cô gia về quê ở Đông-triều thăm nhà ít ngày. Thì ra tiên tử giả xin phép để có thể đi Thiên-trường với bọn Ngô Giới, Lưu Kỳ. Sau khi trốn khỏi con thuyền giam lỏng, tiên tử trở về Đông-cung thì bị công chúa Đoan-Nghi khám phá ra. Nhưng cô gia bảo công chúa rằng cứ lờ đi, xem tiên tử mưu đồ gì hơn là bắt giam. Hiềm vì hôm nay đây, Côi-sơn song ưng phiền trách, nên Đoan-Nghi phải bắt tiên tử xuất hiện. Vậy tiên tử còn chờ gì mà không bỏ mặt nạ ra. Cô gia xin lấy lễ mà tiếp tiên tử.
Á-Nương cười nhạt, chỉ thấy thấp thoáng, mụ nghiêng mình một cái đã đoạt thanh kiếm trên lưng của một thị vệ. Ánh thép lóe lên, kiếm xỉa vào cổ Thủ-Huy. Thủ-Huy tung người lên cao. Á-Nương vọt người theo, vung kiếm chặt chân đối thủ. Đang chới với trên không, Thủ-Huy chĩa ngón tay phóng xuống một Lĩnh-Nam chỉ. Chỉ chạm vào kiếm choang một tiếng, trong khi chân công đá gió một cái, người bật tung ra xa. Á-Nương cũng xê dịch người theo. Đoan-Nghi rút kiếm tung cho chồng. Thủ-Huy bắt kiếm, rồi xỉa vào làn kiếm quang của Á-Nương. Lại choang tiếng nữa hai kiếm chạm nhau tóe lửa. Cánh tay công cảm thấy tê rần. Bất giác công nảy ra niềm khâm phục :
- Võ công Hoa-sơn quả danh bất hư truyền. Tuy tuyệt học của họ bị mai một, thế mà công lực của Vân-Đài cũng đến mức này. Sứ đoàn Ngô Giới, Lưu Kỳ sang đây với mục đích cướp nước bằng cái mã đẹp trai của Lưu Kỳ. Mấy năm trước bọn Ngu Doãn Văn tuy được trao Vô Trung kinh, nhưng lại không có thuật ngữ, thì cũng vô ích mà thôi. Bây giờ nếu như ta dùng võ công Vô Trung kinh, thì chẳng hóa ra ta học lóm võ công của họ ư ? Đã vậy ta dùng toàn những chiêu bình thường của Hoa-sơn, cho mụ này hết dò la.
Công nghiêng người ra chiêu Thương-tùng nghênh khách, tiếp theo tới chiêu Sơn-trung lạc diệp. Vân-Đài bật lên tiếng úi chà, rồi nhảy lùi lại trả đòn. Hai người quấn lấy nhau, khi tới khi lui, ánh thép lấp lánh. Vân -Đài thì dở hết bản lĩnh ra, chỉ với mục đích bắt Thủ-Huy phải xử dụng võ công trong bộ Vô Trung kinh. Còn Thủ-Huy thì lại đánh cầm chừng, cứ hai ba chiêu Hoa-sơn, công lại xen vào một chiêu của Tản-viên, Đông-a hay Mê-linh.
Trải qua một trăm hiệp, công nghĩ thầm :
- Hôm ở Thiên-trường mình với Vỵ-xuyên ngũ tiên bầy mưu bắt Hoa-nhạc tam nương, thành ra không biết rõ bản lãnh họ như thế nào. Cứ như Nghi-Hòa sư thái kể : Người đã kết bạn với Tam-nương, và không ngớt khen ngợi công lực, kiếm thuật của Tam-nương. Thế mà sao hôm nay công lực, cũng như kiếm thuật của Vân-Đài lại quá tầm thường thế này ?
Chợt công để ý đến cái bướu trên lưng Vân-Đài, mồi lần mụ ra chiêu, thì cái bướu lại thóp vào, phình ra rất quái dị. Như vậy thì không phải là bướu rồi. Không biết nó là cái gì ? Chợt công nghĩ ra : Chắc cái bướu đó là cái bọc, trong đó mụ dấu vật chi bí mật đây. Đã vậy ta phải rạch cái bọc ra cho biết.
Nghĩ là làm, thình lình công biến chiêu, dùng một chiêu trong Mê-linh kiếm pháp tên Nguyệt-quang tùy ảnh, khiến Vân-Đài phải lộn liền ba vòng về sau để tránh. Công chỉ chờ có thế, lúc mụ lộn một vòng, thì công biến từ Mê-linh kiếm, chuyển qua chiêu Phong-ba hợp bích của Đông-a kiếm. Kiếm hoa lên, xoẹt một cái, bướu trên lưng Vân-Đài bị rạch nửa vòng. Áo rách ra, bên trong là một cái bọc lớn cũng bị rạch. Giữa lúc đó mụ lộn sang vòng thứ nhì, thứ ba, vật dụng trong túi rơi xuống đầy sân.
Đám thị vệ nhặt các vật dụng đó trình cho Long-Xưởng.
Biết bị mắc mưu, Vân-Đài quay kiếm đánh thục mạng, giống như lối đánh cả hai cùng chết. Thủ-Huy giật mình, không tự chủ được, công ra liền ba chiêu Hoa-sơn, biến hóa mỗi chiêu ra âm, dương ; rồi âm, dương thành tứ tượng ; tứ tượng thành bát quái. Đúng ra mỗi biến chiêu đó kiếm có thể xuyên thủng da thịt Vân-Đài, nhưng Thủ-Huy kịp ngừng lại, khiến y phục mụ bị rách mà thôi. Người Vân-Đài bị bao trùm trong làn kiếm quang, y phục bị khoét mất hàng chục lỗ. Người mụ trông thực thảm thiết.
Động lòng trắc ẩn, Thủ-Huy thu chiêu nhảy lùi lại. Công chúa Đoan-Nghi cởi áo khoác tung cho mụ. Áo tỏa ra như chiếc dù rồi che khắp thân mụ.
Những người đàn ông hiện diện đều là cao nhân đạo đức, vội quay mặt đi chỗ khác.
Còn Thủ-Huy nhìn Vân-Đài, chợt nhớ lại một chuyện cũ bất giác công bật lên tiếng cười khúc khích, rồi quay mặt nhìn ra chỗ khác. Trong khi Vân-Đài nổi giận phừng phừng :
- Tên tiểu mao đầu kia, cái việc ấy dù trải đã mười năm dư, dù mi lớn rồi, dù mi là quan to, lão nương vẫn không quên được mối hận mi làm nhục lão nương. Suốt mấy năm qua, vì quốc sự, lão nương phải ngậm đắng nuốt cay đóng vai tôi đòi trong Đông-cung. Lão nương chưa có dịp băm vằm mi ra làm nghìn mảnh, thì chưa hả giận. Cứ mỗi lần nghĩ đến chuyện cũ, lão nương lại ứa gan...
Thủ-Huy cung tay :
- Tiên tử đã lìa xa cõi hồng trần, lên tiên, thì chấp nhất làm chi cái việc ấy. Vả hồi đó vãn bối còn là đứa trẻ nít, đâu có biết sự đời là gì ? Sau hôm ấy, vãn bối cảm thấy hối hận vô cùng.
Long-Xưởng kinh ngạc, hỏi :
- Nhị đệ, cái gì đã xẩy ra ?
- À, cái chuyện đệ bắt tiên tử ở Thiên-trường, rồi lỡ tay khiến...
Công ghé miệng vào tai Long-Xưởng :
- Khiến Vỵ-Xuyên ngũ tiên với đệ nhìn thấy khắp thân thể ngọc ngà của tiên tử.
Thủ-Huy lại nhìn Vân-Đài :
- Nếu như tiên tử không chịu quên chuyện cũ, thì vãn bối đành phải kể cho thái-tử cùng mọi người nghe, để Thái-tử tạ lỗi với tiên tử vậy.
Mặt Vân-Đài tái xanh, bà xua tay :
- Thôi ! Im ! Không được kể ra.
Chợt Long-Xưởng nhớ lại : Hôm ấy tại đại sảnh đường phái Đông-a, Ngô Giới, Lưu Kỳ không ngớt thắc mắc rằng bằng cách nào phái Đông-a bắt được Hoa-nhạc tam nương, thì Hoa-nhạc Tam-nương nổi giận phừng phừng mắng Thủ-Huy, rồi Thủ-Huy dọa thuật rõ nguyên do. Tam-nương cũng phải xuống nước năn nỉ.
Long-Xưởng tuyên chỉ cho Như-Như :
- Thất muội ! Em đưa Vân-Đài tiên tử vào thay y phục, rồi vào ngự-thiện đường đàm luận.
Như-Như, Vân-Đài đi rồi, Long-Xưởng quay lại xin thỉnh ý Minh-Đạo vương, thì không thấy vương với Bạch-Phượng đâu cả. Thì ra lợi dụng trong lúc mọi người xem Thủ-Huy, Vân-Đài đấu kiếm, hai người đã ra đi.
Long-Xưởng, Thủ-Huy, Đoan-Nghi kiểm điểm lại những vật dụng trong cái túi của Vân-Đài : Một ít vàng, bạc, cặp vòng đeo tay bằng ngọc xanh biếc, một cái nhẫn nạm kim cương. Những thức này không ai chú ý cả. Kế tiếp là hai tập sách mỏng. Một tập ghi chép những võ công mà Vân-Đài đã luyện, toàn là võ công Hoa-sơn. Tập thứ nhì dầy hơn ghi chú tình hình Đại-Việt : Từ những sự lớn như đồn trú của các hiệu Thiên-tử binh, thủy quân, các hiệu binh địa phương, nơi đồn trú lương thảo... Tình hình triều đình, nội cung, tiểu sử chư đại thần. Nhất là cuộc chuẩn bị Bắc tiến. Nghĩa là trọn vẹn tình hình Đại-Việt. Bất giác Long-Xưởng rùng mình nói với Đoan-Nghi :
- Suốt bao năm qua, lúc nào ta cũng lo lắng bất an, vì xung quanh ta mai phục một con rắn độc mà không ai tìm ra ; lắm khi ta sợ nó đến không còn biết mình là ai nữa. Bây giờ ta mới biết, con rắn đó là Á-Nương, mà Á-Nương lại là Vân-Đài, y thị làm việc cho Tống. Bọn Tống cài người thực tài, họ cho Vân-Đài lọt vào nhà họ Đỗ, rồi từ gia nhân họ Đỗ, thị trở thành Á-Nương cung Chiêu-Linh. Cuối cùng từ cung Chiêu-Linh sang Đông-cung. Còn cái gã Lạc-Nhạn, không biết y ẩn ở đâu ?
Thấy Tăng Khoa cau mày trầm tư không nói, Long-Xưởng hỏi :
- Lục đệ ! Ta thấy dường như lục đệ không mấy đồng ý với ta thì phải.
- Không hẳn thế. Đệ thấy vụ này có nhiều nghi vấn. Nghi vấn thứ nhất là bọn Ngô Giới, Lưu Kỳ mới sang gần đây, trong khi Á-Nương đã được đưa sang từ lâu. Làm sao y thị là Vân-Đài được? Nghi vấn thứ nhì là, Á-Nương làm gia nhân họ Đỗ từ thủa mười hai tuổi, với cái tuổi đó, Tống không thể huấn luyện thị làm tế tác cho họ. Thứ ba, nếu Á-Nương là đệ tử phái Hoa-sơn, thị sang Đại-Việt từ năm mười hai tuổi, vậy thị học võ bao giờ mà leo tới địa vị đệ nhất nhân trong Hoa-nhạc Tam-nương ? Ta cần thẩm vấn mụ.
Lát sau, Như-Như dẫn Vân-Đài ra Ngự-thiện đường. Mụ mặc cái áo cánh lụa mầu tím, quần đen, bước đi nhẹ nhàng, dáng điệu uyển chuyển đẹp vô cùng. Chỉ tiếc cái mặt mụ méo, da dăn deo, coi không tương xứng tý nào cả. Mụ nói với Long-Xưởng :
- Thái tử ! Tiểu tỳ có nhiều lỗi với thái-tử. Nay sự đã ra thế này, tiểu tỳ xin thái-tử cho tiểu tỳ được cung khai với Trần phò mã.
Long-Xưởng gật đầu nói với Thủ-Huy :
- Điều đó không khó, nhị đệ hỏi cung Á-Nương đi.
Thủ-Huy dẫn Á-Nương vào ngự-thư phòng của Long-Xưởng, rồi đóng cửa lại.
Á-Nương nói với Thu-Huy bằng giọng ngọt ngào đầm ấm :
- Thủ-Huy đại ca ! Đại ca có biết muội là người thế nào không ?
- Dĩ nhiên là không. Xin tiên tử đừng gọi tôi là đại ca, vì tuổi của tiên tử lớn hơn tôi nhiều.
Á-Nương ngồi xuống trước mặt Thủ-Huy, rồi từ từ bóc miếng da dán trên trán, hai miếng nữa dán hai bên má. Lập tức cái mặt méo biến thành khuôn mặt thanh tú. Mụ lại lấy khăn lau mặt, bất giác Thủ-Huy ngẩn người ra . Bây giờ Á-Nương trở thành một tuyệt thế giai nhân tuổi khoảng mười tám hai mươi. Nước da trắng mịn, đôi môi hồng mọng, mũi dọc dừa, đôi mắt u uẩn nét buồn xa xôi. Thủ-Huy rùng mình :
- Nàng đẹp hơn Thụy-Hương, Đoan-Nghi nhiều. Aùi chà ! Với sắc diện này, người ngoài nhìn vào thì tưởng Á-Nương mười chín, đôi mươi là cùng. Nét xuân của nàng có trẻ hơn tuổi thì cũng hơn mình khoảng bốn năm tuổi thôi. Mà hồi ở Thiên-trường, Nghi-Ninh sư thái nói người từng sang Hoa-sơn kết thân với đạo cô Vân-Đài tiên tử. Như thế Vân-Đài này với Vân-Đài kết bạn với Nghi-Ninh không phải là một người. Vậy thì cái nàng Vân-Đài này đã hóa trang giả làm đạo cô Vân-Đài già kết thân với Nghi-Ninh năm xưa. Ta phải cẩn thận mới được.
Thủ-Huy nghĩ đến đây, thì Vân-Đài đã lau mặt, bao nhiêu bột hóa trang đã mất hết. Nàng đẹp huyền ảo như người đi đêm. Không kiềm chế nổi, Thủ-Huy bật lên tiếng kêu :
- Ái chà !
Rồi chân tay công run run, nói trong hơi thở ngập ngừng :
- Như...Như thế này nghĩa là thế nào ? Tại sao tiên tử lại trẻ thế này ? Trẻ thế này mà là người cầm đầu Hoa-nhạc tam nương ư ? Tiểu bối nghĩ tiên tử không phải là đạo cô Vân-Đài đã kết bạn với Nghi-Ninh sư thái. Hôm ở Thiên-trường, tiên tử hóa trang giống đạo cô Vân-Đài đến độ Nghi-Ninh sư thái cũng tưởng là một.
Vân-Đài thở dài, nàng nhìn Thủ-Huy với đôi mắt chứa chan yêu thương, rồi nói bằng âm thanh ngọt ngào nhỏ như tơ :
- Trần đại ca ! Chắc đại ca muốn biết sự thực tất cả những gì xung quanh muội phải không ?
- Quả...Quả như tiên tử nói.
- Nếu cuộc đời của công chúa Đoan-Nghi, của vương phi Trang-Hòa, từ lúc sinh ra, trên bước đường đi đầy hoa thơm cỏ lạ ; thì cuộc đời của muội sinh ra, như đi trên con đường toàn chông gai, đầy rắn độc. Khi mới lớn lên, muội tự an ủi rằng, lúc thiếu thời mình gặp tân khổ, thì khi trưởng thành sẽ gặp may mắn. Nhưng... nhưng khi vừa lớn, thì muội gặp đại ca. Vô tình thân thể muội để lộ ra hết trước mặt đại ca. Hỡi ơi ! Kể từ đấy , tất cả tâm ý muội đều dành cho đại ca, mà nào đại ca có biết ! « Nhất kiến chung tình » (chỉ thấy một lần, đã yêu trọn đời ), trong hơn mười năm qua, đại ca thì vẫn ở trước mặt, mà giống như hoa trong gương, bóng chim dưới nước. Thấy thì vẫn thấy hằng ngày, nhưng lại nghìn trùng xa cách.
Nói đến đây nàng bật lên tiếng khóc.
Thủ-Huy mở to mắt nhìn Vân-Đài, nghe nàng nói mà tưởng như trong giấc mơ. Công không tin ở tai mình nữa. Công nghĩ thầm : Hay mình đang mơ ? Bất giác công bẹo vào má mình, thì cảm thấy đau. Như vậy là sự thực ư ? Công định lên tiếng hỏi, thì Vân-Đài ra dấu bảo im lặng :
- Đại ca đừng hỏi nhiều, thời gian muội ở cạnh đại ca không lâu nữa đâu. Không chừng lát nữa đây người ta sẽ giết muội, hầu bảo toàn cơ mật cũng nên. Để muội thuật trọn cuộc đời muội cho đại ca nghe.
Vân-Đài ngước mắt nhìn lên nóc điện, lồng ngực nàng chuyển động một cái, công cảm thấy hồn phách bay phơi phới :
- Tiểu muội họ Vương tên Thúy-Thúy, đệ tử của phái Hoa-sơn. Như đại ca biết, phái Hoa-sơn nổi danh Thiên-hạ về khoa Tướng-mệnh, Địa-lý, Tử-vi. Hồi muội mới ra đời, thì một đạo cô phái Hoa-sơn tính số, rồi nói rằng : « Số đứa trẻ này đúng vào cách trong Tử-vi kinh. Tử-vi kinh nói : Phượng hàm thư nhi phùng Nhật, Nguyệt, Tam-kỳ lai nhập Tử, Sinh. Nam tất uy bá quyền danh, nữ tất danh đằng xướng vũ ». Đại ca có hiểu ý nghĩa câu này không ?
- Tôi...Tôi có học Tử-vi. Câu này nghĩa là: Khi mệnh có Phượng-các, Tấu-thư, Thái-âm hay Thái-dương thủ, lại thêm Khoa, Quyền, Lộc nữa... Nếu là nam, thì uy quyền tới bá, nếu là nữ thì vang danh thiên hạ vì ca, múa. Nếu đúng như vậy thì mệnh tiên tử lập tại Tuất, Thái-âm, Phượng-các thủ mệnh, tam hợp đươcï Khoa, Quyền, Lộc.
- Đúng thế ! Đạo cô còn nói : Năm mười sáu tuổi, muội sẽ gặp một đại hạn suýt chết đuối, sau đó dây oan nghiệt đưa đẩy, khiến thân thể muội sẽ bị lộ toàn diện ra trước mặt một người đàn ông. Cái người đàn ông đó chính là người tình quân trọn đời của muội. Cho nên hôm muội bị lộ liễu thân thể trước mặt đại ca ở Thiên-trường, thì muội biết đại ca sẽ là người mà muội trao thân. Dù hồi ấy đại ca mới mười hai tuổi, trong khi muội thì hoa đã chớm nở. Bấy giờ, phản ứng tự nhiên của người con gái, muội mắng đại ca, chửi đại ca. Nhưng sau nghĩ lại, muội thầm yêu, trộm nhớ đại ca, nguyện dâng hiến trọn đời cho đại ca.
Nước mắt rưng rưng, Vân-Đài tiếp :
- Vị đạo cô còn nói với gia gia, má má muội : Người quyết không để cho muội sa vào vòng ca xướng, sau này muội lớn lên, người sẽ nhận muội làm đệ tử. Như vậy muội tất sẽ có cái uy bá quyền danh, chứ không có cái danh đằng xướng vũ. Khi muội năm tuổi, thì đạo cô đem muội lên núi Hoa-sơn, thu làm đệ tử. Sư phụ giao muội cho nhiều thầy khác nhau, thay phiên dạy. Muội được học đủ thứ : Nào học văn, nào luyện võ, nào được học tiếng Việt, lịch sử Việt.
Thủ-Huy ngắt lời :
- Trong phái Hoa-sơn, chỉ mình tiên tử được dạy đặc biệt như thế, hay còn nhiều người khác nữa ?
- Tất cả các đệ tử trên dưới muội mười tuổi, đều được học giống nhau. Trong khi dạy, các thầy đều nhắc đến mối hận Tứ vị Hoa-sơn thần kiếm bị cầm tù, rồi chết ở Đại-Việt. Toàn thể đệ tử phái Hoa-sơn phải ghi ngớ trong lòng ngày đêm là làm sao sang Đại-Việt tìm bộ Vô Trung kinh đem về. Bộ võ kinh này hiện ở trong khu vực tổng đường phái Đông-a, thì việc dùng võ công đoạt lại e còn khó hơn bắc thang lên trời. Muốn tìm bộ võ kinh này phải theo hai con đường. Con đường thứ nhất là đệ tử Hoa-sơn đầu quân làm tướng Tống, rồi khích cho Tống, Việt có chiến tranh. Khi chiến tranh diễn ra, chư đệ tử Hoa-sơn đều tình nguyện sang đánh Đại-Việt. Lúc Tống thắng Đại-Việt rồi, thì viên tướng đệ tử Hoa-sơn sẽ đem quân về Thiên-trường tìm võ kinh. Hoặc con đường thứ nhì là sao cho đệ tử Hoa-sơn trở thành một đại thần Đại-Việt, rồi tìm cách vu vạ cho phái Đông-a làm phản, xin triều đình mang quân về tiễu trừ. Bấy giờ viên đại thần đệ tử Hoa-sơn sẽ đoạt lại kinh thư.
Nghe Vân-Đài kể, Thủ-Huy thất kinh hồn vía, công nghĩ thầm :
- Từ trước tới giờ, từ ông nội ta cho đến các yếu nhân phái Đông-a đều cho rằng Tống gửi mật sứ sang Đại-Việt với chủ tâm muốn chiếm nước. Vô tình trong sứ đoàn, có một vài đệ tử phái Hoa-sơn, họ lợi dụng dịp đó để đi tìm võ kinh. Bây giờ, theo Vân-Đài, thì tất cả mọi sự đều do phái Hoa- gây ra cả.
Quốc-công hỏi
- Thế sư phụ của tiên tử là ai ?
- Là Nam-Nhạc Hằng-sơn đạo sư.
- Hồi Nghi-Ninh sư thái sang Trung-nguyên kết thân với Vân-Đài tiên tử. Thế sao tiên tử cũng là Vân-Đài ? Ai là Vân-Đài thực ?
- Hỡi ơi, đến Đại-ca mà cũng không biết rằng những gì là Ngũ-nhạc đại lĩnh, Hoa-nhạc tam phong, Hoa-nhạc tam nương đều là những chức chưởng chứ không phải là tên. Như phái Tiêu-sơn có chưởng môn, Thủ-tọa Vạn-Hạnh đường, Thủ-tọa Tỳ-ni Đa-lưu-chi đường, Thủ-tọa Bố-Đại đường. Vì vậy trước đây đã có vị tiền nhiệm lĩnh chức Thống-lĩnh Vân-Đài sơn nên người đời gọi là Vân-Đài tiên tử, thì nay muội thay người lại là Vân-Đài thì có gì là lạ đâu.
Một tia sáng lóe trong tâm Thủ-Huy :
- Theo Long-Xưởng kể, hồi Côi-sơn song ưng giết cả nhà Đỗ Anh-Vũ, Tô Hiến-Thành đưa ra ý kiến cứ đổ cho Song-ưng là người của phái Đông-a, rồi Cảm-Thánh ban chỉ bắt nhà vua phải nhận mưu đó. Vậy không biết Tô có làm gian tế cho Tống khi hiến kế này không ? Liệu Cảm-Thánh chấp nhận ý kiến này, là do ý bà hay bà bị Tống xúi dục ?
Công hỏi :
- Hiện trong triều đình Đại-Việt những đại thần nào là người của phái Hoa-sơn ?
- Chính thức thì chưa, hoặc có nhưng muội không biết cũng nên. Điều muội biết chắc rằng ít nhất có hàng chục người ăn cơm Đại-Việt, mà cúi đầu làm thân trâu ngựa cho phái Hoa-sơn. Khoan rồi muội sẽ vạch mặt bọn này cho đại ca biết. Bây giờ muội thuật tiếp : Hồi Mao Bình về Trung-nguyên đúng vào lúc sư bá Ngô Lân coi Khu-mật viện. Mao thuật hết tình hình Đại-Việt cho Khu-mật viện Tống. Ngô sư bá mới thấy rằng việc cho đệ tử Hoa-sơn làm quan bên Đại-Việt rất khó. Bởi muốn làm quan võ, hay quan văn đều phải qua cuộc thi tuyển. Muốn được ứng tuyển phải cung khai lý lịch tam đại, rồi do làng, xã chứng thực, thì người Trung-quốc làm sao mà lọt vào được ? Mà dù có lọt vào được, thì phải hơn mười năm mới có thể thành đại thần. Cuối cùng Ngô sư bá cật vấn Mao tình hình Đại-Việt từ hồi triều Lý mới lập. Ngô sư bá thấy rằng :
« Thời đức Thái-tổ, có nạn Đàm quý phi được sủng ái, rồi phụ thân của bà là Đàm Can lộng hành làm phản. Đời đức Thái-tông, ngài sủng ái Thiên-Cảm hoàng hậu, rồi đưa đến phụ thân bà là tể tướng Dương Đức-Thành mưu cướp ngôi. Tuy ông ta bị cách chức, nhưng Thiên-Cảm hoàng hậu vẫn còn đó. Cho nên sang đời vua Thánh-tông, bà đưa cháu vào ngôi Thượng-Dương hoàng hậu. Đến đời vua Thánh-tông, một lần nữa anh cả Thượng-Dương thái hậu là Dương Đạo-Gia cũng mưu cướp ngôi. Còn vua Thánh-tông thì lại đem một cô gái quê về phong làm Ỷ-Lan phu nhân, rồi thành Linh-Nhân hoàng thái hậu ».
Ngô sư bá tìm ra đươc một kẽ hở của triều đình Đại-Việt. Kẽ hở đó là : Các bà trong hậu cung tham dự vào việc triều chính dễ dàng. Vậy, nên tuyển những nữ đệ tử thực đẹp, rồi tìm cách cho lọt vào nội cung Đại-Việt. Khi lọt vào hậu cung, may mà được ban hồng ân, thì nữ đệ tử sẽ dùng tất cả các ôn nhu văn nhã, cái văn tài, cái nghệ thuật đàn ngọt, hát hay, cũng như tài thêu may, tài nấu nướng để được lòng nhà vua. Môn phái sẽ cử những bậc trưởng thượng ngồi trong bóng tối cố vấn cho nữ đệ tử đó thu phục nhân tâm từ thái-hậu, hoàng-hậu, cho tơí các bà phi, hoàng tử công chúa. Nếu như đệ tử đó thành hoàng hậu hay thứ phi, thì chẳng mấy chốc trở thành một Linh-Nhân hoàng thái hậu. Bấy giờ phái Hoa-sơn sẽ xin Tống triều cử sứ sang bắt Đại-Việt trả bộ Vô Trung kinh. Vị đệ tử phi tần vốn đã có uy tín, một mặt xin nhà vua, một mặt dùng uy tín, tình cảm ảnh hưởng tới triều đình. Bấy giờ triều đình ban chỉ xuống, thì phái Đông-a không thể từ chối.
Nói đến đây nàng mỉm cười :
- Ngô sư bá quyết định tuyển ba người thực đẹp để kế vị ba sư muội của người làm Hoa-nhạc tam nương. Người đầu tiên được tuyển là muội, sẽ kế vị là Vân-Đài. Người thứ nhì, thì gốc ở Dương-châu. Người này là con gái của sư thúc Công-Chúa vớùi sư bá Lạc-Nhạn. Sư thúc Công-Chúa sinh đẻ nàng ở Đại-Việt. Nàng sẽ được cha mẹ dạy dỗ, để kế vị thân mẫu thành Công-Chúa tiên tử. Còn người thứ ba là dân Hàng-châu. Người này được dạy dỗ để thành Mao-Nữ.
- Hai người kia có đẹp bằng tiên tử không ?
- Muội chưa được gặp họ. Theo sư phụ, thì mỗi người mỗi vẻ, mười phân vẹn mười ! Như đại ca biết, từ khi hai vua Tuyên-hòa, Tĩnh-khang bị Kim bắt mang về Bắc, thì con thứ chạy xuống Giang-Nam lập ra triều Nam Tống, đóng đô ở Hàng-châu, rồi cải danh Hàng-châu thành Lâm-an cho đến nay. Sư bá Ngô Lân bấy giờ đang làm đại thần triều Nam Tống. Cho nên người âm thầm tuyển trong hơn một vạn giai nhân Dương, Tô, Hàng lấy hai người. Đại ca có biết Dương, Tô, Hàng nổi tiếng là nơi sản xuất ra người đẹp của lịch đại Trung-nguyên không ?
- Tôi biết rồi, từ xưa đến giờ, Thượng-đế ưu ái ban cho vùng Dương-châu, Tô-châu, Hàng-châu, Ôn-châu khí hậu ôn hòa, sông nước êm dịu, hoa thơm cỏ lạ, nên đàn bà vùng này đều xinh đẹp lạ thường. Hồi tôi đi sứ Kim, có ghé Oân-châu mấy ngày. Nói ra thực xấu hổ, người chính nhân quân tử như hai sư thúc Phạm Tử-Tuệ, Trần Tử-Giác mà khi thấy con gái Oân-châu cũng bần thần không muốn ra đi.
Vân-Đài mỉm cười, ánh mắt nàng chứa chan tình cảm, khiến Thủ-Huy như người say rượu :
- Còn đại ca ?
- Tôi nói thực: Vỵ-xuyên ngũ tiên là những thiếu phụ có tiếng xinh đẹp, thế mà thấy con gái Oân-châu cũng phải xuýt xoa, tấm tắc khen ngợi. Còn tôi ư ? Bấy giờ tôi mới cưới vợ. Vợ tôi là công chúa Đoan-Nghi, nức tiếng hoa khôi Thăng-long, ấy vậy mà khi chúng tôi dạo chơi Oân-châu, gặp người đẹp, cả hai chúng tôi đều ngây người ra mà nhìn. Sư thúc Phạm Tử-Tuệ là thầy thuốc, người tìm ra được cái khác nhau của giai nhân vùng Dương-châu, Tô-châu, Hàng-châu, Oân-châu ngay. Người nói : Phụ nữ các vùng này hơi cao hơn các vùng khác, chân tay dài mà thon, da trắng tươi, môi hồng mọng, ngực nở, lưng thon, tóc đen dài óng mượt. Duy tiếng nói thì hơi nhanh. Ngược lại đàn ông vùng này lại hơi thô, và họ thích tỏ tình với vợ bằng đấm, bằng đá, bằng tát tai.

Ghi chú của thuật giả:
Dương-châu,Tô-châu nay thuộc tỉnh Giang-tô. Hàng-châu (Lâm-an), Oân-châu nay thuộc tỉnh Triết-giang. Tô-châu, Dương-châu có Tháí-hồ, ở Nam ngạn sông Trường-giang. Hàng-châu có Tây-hồ và sông Tiền-đường. Các nhà nghiên cứu y học Trung-quốc cho rằng con sông Tiền-đường, Tây-hồ ảnh hưởng đến khí hậu Hàng-châu, Oân-châu. Vùng tam giác châu hạ lưu sông Trường-giang với Thái-hồ ảnh hưởng đến khí hậu Dương-châu, Tô-châu. Khí hậu các vùng này dịu dàng, nước tốt, nên hoa thơm, cây ngọt, trái lành, cho đến chim muông, thú vật cũng khác thường, vì thế phụ nữ xinh đẹp hơn các vùng khác. Người Trung-hoa có câu tục ngữ :
Trên trời có thượng giới, dưới đất có Tô, Hàng,
(Thiên-thượng hữu thượng giới, địa hạ hữu Tô, Hàn)
ý chỉ cảnh trí, cây cỏ, chim muông, phụ nữ đều đẹp khác thường. Nhiều người nông nổi cho rằng câu trên để chỉ thắng cảnh là lầm lớn. Lại cũng có câu
« Ở Tô, Hàng, cứ ra đường là gặp người đẹp ».
Thị-xã Thượng-hải nằm kế cận Thái-hồ, Tô-châu. Từ Thượng-hải đi Dương-châu, Tô-châu, Hàng-châu, Oân-châu không xa. Hồi theo học tại đại học y khoa Thượng-hải, tôi có nhiều bạn học quê Dương, Tô, Hàng. Qua các bạn học, tôi có dịp làm quen với rất nhiều các danh ca, nghệ sĩ, tài tử điện ảnh của hai tỉnh Triết-giang, Giang-tô. Sau này và cho đến nay, các con tôi cứ cật vấn rằng : Không biết chúng có bao nhiêu em, bị bố đánh rơi ở đây. Chối sao, chúng cũng không tin. Tôi thường thắc mắc với các bạn học rằng : Tại sao đàn bà thôn quê Thượng-hải thì đẹp, mà đàn bà Thượng-hải thì cứ mười người thì có đến bẩy người « thô », xấu. Được giải thích như sau : Đàn bà thôn quê thì là dân bản xứ, dĩ nhiên họ đẹp. Còn đàn bà Thượng-hải thì là dân tứ phương đến kiếm sống. Đa số họ từ vùng Sơn-Đông thô lậu tràn tới.

Năm 1985, nhân theo phái đoàn trao đổi y học Pháp-Hoa tới Hàng-châu làm việc trong 20 ngày. Được trở lại đất cũ, tôi có mang theo bộ tiểu thuyết và bộ vidéo « Xạ điêu anh hùng chuyện » đem tặng cho các bạn ở đây. Bấy giờ tiểu thuyết Kim-Dung, vidéo là sản phẩm quốc cấm. Tôi mang lọt vào là nhờ có tấm thông hành ngoại giao. Sau khi các bạn của tôi xem vidéo xong thì các bà, các cô chửi đạo điễn rằng dốt, rằng ngu, vì chọn hai phụ nữ đóng vai vợ Quách Khiếu-Thiên với vợ Dương Thiết-Tâm không giống người Hàng-châu. Tôi giật mình xem lại thì quả tài tử đóng vai vợ Dương Thiết-Tâm tuy cũng rong rỏng cao, nhưng chân tay ngắn, tóc thiếu óng mượt, dáng đi cứng quá. Còn tài tử đóng vai vợ của Quách Khiếu-Thiên, thì hỡi ơi, bị các cô chê là gái Mông-cổ, Sơn-Đông hay Quảng-Đông, mặt giống mặt lợn, vai u, thịt bắp, dáng đi lạch ạch như vịt (Xin lỗi các bà các cô người Việt gốc Mông, Quảng, Sơn, đây là lời chê của các bà, các cô xem vidéo hôm ấy, chứ không phải tôi).


Thủ-Huy thúc Vân-Đài :
- Xin tiên tử tiếp cho.
- Năm muội mười hai tuổi , hoa bắt đầu chớm nở, nhan sắc muội bắt đầu mặn mà, thì sư phụ đem muội sang Đại-Việt trao cho Vân-Đài tiên tử, vốn tiềm ẩn tại đây từ lâu. Để thuận tiện, muội lại trở thành đệ tử Vân-Đài.
- Thế còn hai giai nhân kia ? Tên họ là gì ? Các vị đạo cô Công-Chúa, Mao-Nữ có dẫn đệ tử sang Đại-Việt không ?
- Muội chỉ biết rằng môn phái tuyển hai người đẹp Tô, Hàng trao cho hai sư thúc Công-Chúa, Mao-Nữ nuôi dạy, chứ muội không biết họ tên là gì, mặt mũi ra sao. Đại-ca biết không ? Hoa-nhạc tam nương đều là những tuyệt thế giai nhân. Từ sư phụ muội cho đến hai vị sư thúc Công-Chúa, Mao-Nữ trước đây nổi danh là ba hoa khôi vùng Hàng-châu. Cả Hoa-nhạc tam nương tiền nhiệm đều được đưa vào Đại-Việt từ lâu.
- Thế hai đạo cô Công-Chúa, Mao-Nữ bị bắt ở Thiên-trường là sư thúc của tiên tử hay là hai người đẹp Tô, Hàng ngang vai với tiên tử?
- Hai vị đó chỉ là hai đạo cô có võ công cao, giả đóng vai hai sư thúc mà thôi.
- Nghĩa là Hoa-nhạc tam nương thực sự thì chỉ người trong môn phái biết là ai, mặt mũi ra sao. Trong khi môn phái cho ba người đóng vai của họ.
- Đúng thế.
- Ủa, tại sao lại có sự lạ như vậy ? Tại sao lại phải cho người giả làm Công-Chúa, Mao-Nữ ? Giả như vậy để làm gì ?
Vân-Đài nở một nụ cười, nàng liếc ngang một cái, mặt hơi nghiêng về bên trái, ngực nhô lên, thụp xuống, ánh mắt đưa tình làm Thủ-Huy ngây ngất :
- Trời ơi ! Đại ca nổi tiếng là thông minh nhất Đại-Việt mà không nghĩ ra ư ? Có gì lạ đâu, khi phái Hoa-sơn kéo nhau đi Thiên-trường, thì có nghĩa rằng họ sẽ đến Tổng-đường phái Đông-a, rồi sau đó sẽ gặp nhiều cao nhân võ lâm Đại-Việt. Mà võ lâm Đại-Việt có biết bao nhiêu người biết mặt, hoặc kết thân với ba đạo cô giả Tam-nương. Đã trót, thì trét, Ngô sư bá vẫn cho người giả đóng tuồng. Chỉ có muội, ngược lại muội phải hóa trang cho giống cái bà đạo cô đã giả Vân-Đài.
Thủ-Huy lắc đầu :
- Từ xưa đến giờ Hoa-sơn được coi là võ phái có võ đạo cao nhất Trung-nguyên thế nhưng nay sao lại suy đồi đến thế nhỉ ? Tại sao các đạo sư lại hành sự như phường đạo tặc vậy ?
- ? ? ?
- Rõ ràng họ thu cô nương với hai cô ở Tô, Hàng làm đệ tử, đâu có phải vì lòng tốt, mà chỉ với mục đích huấn luyện làm gian tế cho họ !
Vân-Đài cau mày im lặng một lúc, rồi thở dài :
- Đại ca luận đúng. Trước đây muội cũng đã nghĩ như thế, song sợ phạm tội với sư phụ nên lại bỏ qua.
- Thế sư phụ của cô nương bây giờ ở đâu ?
- Người vẫn ở Thăng-long. Hành trạng của người ẩn hiện không chừng. Khi nào người muốn gặp muội thì người tới. Còn muội muốn gặp người thì không được.
Qua cuộc thẩm cung, Thủ-Huy được biết :
"Hoa-nhạc tam nương hiện diện tại Đại-Việt từ lâu. Họ đều là những giai nhân, đàn ngọt, hát hay, lầu thông Thi, Thư. Có lẽ họ đã là phi tần trong Hoàng-cung hoặc phu nhân các đại thần. Tuổi của họ trên dưới bốn mươi. Dường như ba người không thành công trong nhiệm vụ môn phái trao cho, nên môn phái tuyển ba người khác làm đệ tử của họ, để thay thế họ. Một trong ba người này là Vương Thúy-Thúy."
Vương Thúy-Thúy nắm lấy tay Thủ-Huy :
- Chỉ vì yêu thương đại ca, mà muội khai hết. Khi khai hết, muội đã phản môn phái. Từ xưa đến giờ, chưa một phản đồ phái Hoa-sơn nào mà tránh khỏi cái chết cực kỳ thê thảm do môn phái trừng phạt bản thân. Còn bố mẹ, anh em, họ hàng tại quê nhà cũng bị tai kiếp.
- Vương cô nương ! Thế cô nương không sợ gia đình bị hại ư ?
- Không ! Muội là đứa con gái duy nhất trong nhà, mà gia gia, má má đã qua đời rồi. Tuy nhiên tính mệnh muội e khó bảo toàn.
Nàng bưng mặt khóc :
- Việc muội bị lộ hình tích giữa Đông-cung, chỉ chiều nay thôi, tin này sẽ truyền khắp Thăng-long. Sư phụ ắt sẽ tìm hai vị sư thúc để bàn cách đối phó. Biết đâu hai vị sư thúc, hai sư muội Công-Chúa, Mao-Nữ không là phi của Hoàng-thượng ? Hay một vương phi của thân vương, hoặc phu nhân các đại thần ? Nhất định họ phải xuống tay để bảo toàn bí mật của môn phái.
Nàng liếc mắt nghiêng nghiêng nhìn Thủ-Huy :
- Nhưng muội không sợ, vì nanh vuốt phái Hoa-sơn tuy nhiều thực, song còn thua thế lực của phái Đông-a xa. Vậy...
- Tiên tử muốn nói ?
- Nếu như... Nếu như tiểu muội thành người họ Trần, thì vạn vạn lần phái Hoa-sơn cũng không dám động đến tiểu muội.
Thủ-Huy giật bắn người lên, công trả lời trong khi chân tay run run, hơi thở dồn dập :
- Không được đâu. Tôi thâm cảm tấm lòng ngọc lan mà tiên tử dành cho tôi. Tiên tử là người đẹp nhất trên thế gian, lại ôn nhu, văn nhã...Trong khi tôi chỉ là một gã nhà quê thô lỗ cộc cằn, không xứng với tiên tử. Vả lại tôi đã có vợ. Vợ tôi là công chúa Đoan-Nghi. Tôi không thể nhận chùm hoa đào tiên tử ban cho tôi. Tôi công nhận tiên tử đẹp hơn vợ tôi nhiều, nhưng tôi chỉ sủng ái một mình nàng mà thôi.
Thúy-Thúy quỳ gối xuống thụp lạy Thủ-Huy. Thủ-Huy vội vàng đỡ nàng dậy. Nàng gục đầu vào ngực công. Không cầm lòng được, công ôm lấy nàng. Một khắc trôi qua, Thủ-Huy rùng mình :
- Dù nàng là Hằng-Nga, dù nàng là tiên nữ, ta cũng không thể phản bội Đoan-Nghi. Đoan-Nghi đối với ta bằng cả một mối nhu tình. Muôn ngàn lần ta không thể làm cho Đoan-Nghi mất lòng tin ở ta.
Nghĩ vậy, công sẽ đặt Thúy-Thúy ngồi xuống cái ghế. Hai giọt nước mắt nàng chảy dài trên má. Không cầm lòng được, Thủ-Huy hôn lên hai má nàng, rồi vụt đứng dậy mở cửa ngự thư phòng ra ngoài. Công vẫy Thúy-Thúy cùng sang ngự-thiện đường.

Trong ngự thiện đường, Long-Xưởng cùng mọi người đang ngồi chờ. Khi nhìn thấy Á-Nương trở thành một tuyệt thế giai nhân, tất cả cùng bật lên tiếng ủa, rồi ngây người ra nhìn. Long-Xưởng truyền cho tất cả mọi người ra ngoài, chỉ còn lại Trang-Hòa, Đoan-Nghi, Tăng Khoa, Như Như và ba vương Kiến-Ninh, Kiến-An, Kiến-Tĩnh.
Thủ-Huy tường thuật chi tiết cuộc thẩm cung Thúy-Thúy, công chỉ dấu một chi tiết là mối nhu tình tuyệt vọng củ nàng với mình, sau cái tinh nghịch của mình tại Thiên-trường tám năm trước.
Nghe Thủ-Huy trình bày xong, Long-Xưởng hỏi :
- Các em nghĩ sao ?
Công chúa Đoan-Nghi bàn :
- Em không nghĩ rằng cái vụ phái Hoa-sơn cử người sang Đại-Việt chỉ với mục đích tìm bộ Vô Trung kinh. Trước đây, nhờ một tổ sư phái Hoa-sơn là Trần Đoàn, mà Tống triều lập lên được. Kể từ đời vuaThái-tổ, thì triều đình là phái Hoa-sơn, phái Hoa-sơn là triều đình. Cứ như cái vụ mật sứ Ngô Giới, Lưu Kỳ thì rõ : Tống triều dùng cái vỏ bề ngoài là phái Hoa-sơn sang tìm Vô Trung kinh để che dấu manh tâm cướp nước. Hôm trước đây, họ đã được phái Đông-a trao cho bộ Vô Trung kinh rồi, mà sao họ vẫn còn giữ nguyên hệ thống tế tác của họ ? Qua sự kiện này, ta nhìn rõ ràng rằng Khu-mật viện Tống gửi Hoa-nhạc tam nương tiền nhiệm sang tiềm ẩn từ lâu, có lẽ ba người đã đạt được những địa vị nào đó rồi. Họ lại gửi ba người trẻ khác sang, mà Thúy-Thúy là một.
Kiến-An vương bàn :
- Chúng ta có ba việc khẩn cấp phải làm. Một là phải tìm cho ra Hoa-nhạc tam nương tiền nhiệm, cùng hai cô gái Dương, Hàng, đương nhiệm Công-Chúa, Mao-Nữ. Việc tìm kiếm này dễ mà khó. Dễ, vì ta chỉ việc xét lý lịch tất cả các cung tần, mỹ nữ nội cung, kể cả những bộc phụ. Ta cũng không bỏ qua các vương phi, phu nhân, thứ thiếp, của tất cả các thân vương, đại thần. Khó, vì thế nào chúng ta cũng bị các bà khó chịu. Nhưng đây là quốc sự, đại ca là trừ quân, bọn em kẻ thì lĩnh đại đô đốc thủy quân, người thì tổng trấn Thăng-long, tổng lĩnh Thiên-tử binh ; sư huynh Thủ-Huy thì lĩnh Phụ-quốc thái-úy... mà không can đảm làm việc này, thì ai làm ?
Vương nhấn mạnh:
- Không lẽ để cho sự nghiệp ngàn năm của vua Hùng, vua An-Dương, vua Trưng, của năm vị tiên đế bản triều mất về tay mấy người đàn bà ư ? Hai là bảo vệ sinh mệnh cho Thúy-Thúy. Thúy-Thúy chỉ sợ móng vuốt phái Hoa-sơn do Hoa-nhạc tam nương tiền nhiệm với Công-Chúa, Mao-Nữ đương nhiệm mà quên mất một chuyện, đó là bọn gian tế Tống. Chính cái gã Trung-nhạc Tung-sơn ngồi trong bóng tối điều khiển Tam-nương mới quan trọng. Dường như y đã qua đời, người thay y là gã Lạc-Nhạn . Nay gã Lạc-Nhạn nghe ta khám phá ra căn cước Vân-Đài, thì bằng mọi giá yï phải tìm cách giết chết hoặc bắt cóc nàng để bảo vệ hệ thống tế tác của Tống. Ba là, ta phải tìm cho ra tất cả bọn đại thần chịu làm gian tế cho Tống, cho phái Hoa-sơn, rồi thẳng tay tru diệt toàn gia một vài tên. Có như vậy mới là cái gương cho bọn khác. Em nghĩ vụ này chính đại ca phải điều động thì mới có thể thành công.
Long-Xưởng suy nghĩ một lát rồi ban chỉ :
- Chúng ta sắp ra quân, mà gặp việc này, thực là quá sức bận rộn. Nhưng việc phải giải quyết gấp. Vấn đề thứ nhất, ta ủy cho Kiến-An vương Long-Đức đảm trách. Đầu tiên hiền đệ rà ngay trong Đông-cung ta trước, rồi tới phủ đệ các hiền đệ, kể cả phủ đệ của Đoan-Nghi, sau đó tới nội cung và dinh thự các đại thần , việc này phải làm thực mau, thực kín đáo.
Kiến-An vương đứng dậy nhận lệnh
Long-Xưởng nhìn Thủ-Huy, Đoan-Nghi , nghĩ thầm :
- Nghi muội có văn tài xuất chúng, kiếm thuật thần thông. Nhưng Nghi muội ngây thơ đặt hết tin tưởng vào nhà chồng. Như vậy nếu Thủ-Huy phản ta, ắt Nghi muội cũng như My-Nương, sẽ làm lợi cho y. Chi bằng, ta cho Thúy-Thúy về ở trong dinh với Thủ-Huy. Lửa gần rơm lâu ngày phải bén. Khi Thủ-Huy dính với Thúy-Thúy, thì Nghi muội sẽ căm hờn nhà chồng, mà tố cáo hết mưu gian cho ta
Nghĩ vậy Long-Xưởng thản nhiên nói với Thủ-Huy :
- Vấn đề thứ nhì, thì cả triều đình không ai bằng Thủ-Huy, Đoan-Nghi. Nhị đệ đem Thúy-Thúy về phủ phò mã để bảo toàn tính mệnh cho nàng. Nếu như nhị đệ thấy khó chu toàn, thì ta đem Thúy-Thúy về Thiên-trường gửi phái Đông-a là ăn chắc nhất. Nhị đệ nghĩ sao ?
Tuy rời ngự thư phòng đã gần một giờ, mà hồn phách Thủ-Huy vẫn chưa tỉnh hẳn. Nghe Long-Xưởng ban chỉ gửi Thúy-Thúy tại phủ của mình, thì tâm tư công nảy ra hai ý kiến đối nghịch. Trong lòng người thanh niên trẻ đa tình thì muốn gần Thúy-Thúy, muốn giữ nàng ở phủ mình. Ngược lại, nghĩ đến tình nghĩa vợ chồng với Đoan-Nghi, công lại không muốn giữ Thúy-Thúy trong phủ mình, vì công biết nếu vào, ra gặp nàng, thì cả hai người khó mà giữ được giới hạn. Trong khi cơn giông tố quay cuồng trong tâm Thủ-Huy, chỉ Đoan-Nghi không biết gì cả. Nàng cho rằng chồng mình sợ Thúy-Thúy sẽ dò la tông tích võ công Hoa-sơn trong phủ. Giữa lúc đó Thủ-Huy đưa mắt nhìn vợ như hỏi ý kiến. Nàng trả lời thay chồng :
- Muội xin tuân chỉ đại ca.
Long-Xưởng hài lòng :
- Vấn đề thứ ba thì chỉ cần tìm ra căn cước bọn Hoa-sơn đang ở đâu, làm gì, là có thể truy ra bọn quan lại mãi quốc ngay. Bấy gờ ta chỉ giết toàn gia một tên cực kỳ thảm khốc, thì từ nay những tên khác sẽ không bao giờ dám nghĩ đến làm gian tế cho Tống nữa.
Long-Xưởng đứng lên :
- Thôi, bây giờ chúng ta tiếp tục chuẩn bị cho cuộc tiến quân. Ai nấy phải chu toàn nhiệm vụ.
Xe chở Thủ-Huy, Đoan-Nghi rời Đông-cung về phủ đệ ở bên bờ hồ Tây. Trên xe còn có Vương Thúy-Thúy. Xe vừa vào trong cổng phủ, thì người quản dinh thân tín là Tín-Hương phu nhân tức con Nhài xưa, đon đả chào :
- Khải điện hạ, khải phò mã, nhà có tin vui.
Nói rồi ả chỉ vào vườn cảnh nơi thấp thoáng có bóng người đang tỉa hoa. Chợt nhìn thấy Vương Thúy-Thúy ngồi sau xe Thủ-Huy, ả mở to mắt ra nhìn, rồi lắc đầu liên tiếp.
Thủ-Huy hỏi :
- Ông nội lên chơi chăng ?
- Thưa không phải.
- Năm bà chi Vỵ-xuyên chăng ?
- Cũng không phải.
Trong khi đối đáp, Thủ-Huy phóng mắt nhìn khu vườn hoa trong dinh : Các cây cảnh được tỉa, xén thực đẹp. Cành, lá bị cắt chất thành đống. Công kinh ngạc tự hỏi : Cái tên thợ chuyên trồng hoa cho ta quyết không khéo tay thế này. Vậy ai đã ra tay ?
Công hỏi tiếp :
- Bố, mẹ ta chăng ?
- Cũng không phải. Thưa phò mã, chính là người đã tỉa vườn hoa cho phò mã ?
- Ai nhỉ ?
- Thưa là cậu mợ Thủ Lý, với cậu Tô Trung-Từ, cô Kim-Ngân, cậu Tá-Chu.
- À thì ra thế. Anh chị ta mới lên từ sáng, mà đã tỉa xong cả một vườn hoa thế này ư ?
Tuy miệng nói thế, nhưng nghe tin anh chị lên chơi, mà Thủ-Huy không mấy vui. Dù là anh em ruột, nhưng tính tình Thủ-Lý thâm trầm, nghiêm nghị, không ưa công danh. Cứ mỗi lần Thủ-Huy gặp ông anh gương mẫu này là y như bị ông đem đạo lý ra giảng giải.
Ngược lại với chồng, công chúa Đoan-Nghi lại cực kỳ kính yêu Thủ-Lý. Kể từ sau hôm cưới, vợ chồng Thủ-Huy trở về trang Thiên-trường nghỉ một tháng trăng mật, nàng được gặp vợ chồng Thủ-Lý. Vợ chồng Thủ-Lý không câu nệ lễ nghi, xưng hô kiểu cách lối cung đình. Hai người dùng toàn những tiếng bình dân nói với em dâu. Đoan-Nghi sinh ra, lớn lên trong Hoàng-cung, chưa thực sự biết đời sống nông thôn như thế nào. Thành ra cái gì nàng cũng hỏi, cũng thắc mắc, vợ chồng Thủ-Lý lại tận tình giảng giải. Hai người dạy em dâu cầy, bừa ruộng ; xay thóc, dã gạo, câu cá, lưới cá, trồng hoa, tỉa hoa... Phương-Lan còn dạy Đoan-Nghi cách làm bếp, mà chỉ dạy làm những món bình dân như kho tôm, cá, thịt ; nướng thịt, làm nem, nấu canh cua. Cái món mà Đoan-Nghi thích nhất là ốc nấu giả ba ba. Sau một tháng, Đoan-Nghi với chồng về Thăng-long, thỉnh thoảng nàng lại nhận được những món ăn dân gian của vợ chồng Thủ-Lý sai người phi ngựa mang về cho nàng. Thành ra tuy vợ chồng Thủ-Lý chỉ lớn hơn nàng có ba tuổi, mà nàng kính trọng như một bố mẹ chồng thứ hai. Nay nghe tin vợ chồng Thủ-Lý lên thăm, nàng mừng chi siết kể.
Thủ-Lý lấy vợ trước Thủ-Huy hơn ba tháng. Vợ chàng là Tô Phương-Lan, con gái thứ của Tô Trung-Sách, đệ tử đại hiệp Tự-Kinh. Phương-Lan không phải là người đẹp như Đoan-Nghi, Thụy-Hương, song cũng là một thiếu nữ nhan sắc hiếm có. Võ công của nàng bình thường. Nhưng nàng là một thiếu nữ cực kỳ ôn nhu văn nhã, bác học đa năng. Dù văn chương, dù thiên-văn, dù địa lý, dù kỳ môn độn giáp, dù binh pháp, dù canh nông, dù tề gia nội chợ, khắp vùng Thiên-trường không ai hơn được nàng.
Thủ-Huy hỏi :
- Anh chị ta lên một mình hay có ai đi cùng không ?
- Thưa dường như đông người lắm thì phải, vì cậu Thủ-Lý đi bằng thuyền đinh lớn. Trên thuyền ít ra có đến mấy chục người. Thuyền hiện neo ở giữa hồ Tây. Chỉ có năm người vào dinh là cậu mợ Lý, cậu Trung-Từ, Tá-Chu với cô Kim-Ngân
Thủ-Huy cảm thấy phát rét khi gặp ông anh gương mẫu, nhưng lại thấy vui vui khi gặp lại em gái với Trung-Từ, Tá-Chu.
Công cùng Đoan-Nghi vừa xuống xe, thì đã thấy tiếng Thủ-Lý :
- Chú thím vẫn mạnh chứ ?
Đoan-Nghi đon đả :
- Cảm ơn anh, chúng em vẫn bình thường ! Sao ông nội, bố mẹ, cả nhà vẫn bình an ?
- Nhà không có sự, nhưng chú thím thì có nhiều sự. Ông sai anh lên đây trợ giúp chú thím.
Rồi chàng cười :
- Anh chị lên đây làm bếp cho cô em dâu dễ dậy, ngoan như con nai, hiền như con thỏ, chịu khó như con trâu.
Phương-Lan trong y phục quê mùa : Quần nái đen, áo lụa vàng bước ra nắm lấy tay Đoan-Nghi :
- Nghe chú sắp đi xa, anh chị phải lên tiễn đưa, nhân thể mang ít thổ sản của nhà mình lên cho chú thím dùng.
Nàng chỉ vào trong nhà :

- Cô Kim-Ngân, chú Tá-Chu cũng xin ông cho đi để giúp chú thím một tay.
Đoan-Nghi cảm động :
- Em cảm ơn anh chị trước. À, sao ông biết bọn em có nhiều sự ?
Sau khi hỏi câu đó, Đoan-Nghi biết rằng thừa, vì từ ngày lấy chồng, nàng biết rõ ràng rằng phái Đông-a người nhiều , thế mạnh, đệ tử hành hiệp khắp nơi, nên chưởng môn nhân biết nhiều hơn cả Khu-mật viện.
Nghe cô em dâu hỏi, Phương-Lan mỉm cười, không trả lời, nàng chỉ vào mấy cái chum lớn, cùng mấy cái lồng:
- Anh chị mang lên cho chú thím mấy hũ gạo tám, và ít chục chục gà vịt nhà nuôi, có cả tôm, cá, rùa nữa. Tôm, cá, rùa anh thả trong mấy cái chum kia. Còn việc ông sai, có lẽ anh chị phải ở đây hơn tháng, để giúp chú thím. - Sư đệ Tá-Chu, Trung-Từ đâu ?
Thủ-Huy hỏi :
- Lâu ngày không gặp ông Phật Di-Lặc, em cũng nhớ hắn gớm.
Nguyên Trung-Sách có ba người con, lớn nhất là Trung-Từ, thứ đến Phương-Lan, Phương-Liên. Cả ba cùng ngang ngang tuổi với anh em Thủ-Lý, Thủ-Huy, Kim-Ngân. Hồi thơ ấu tất cả đều được đại hiệp Tự-Kinh đích thân nuôi dậy. Ngoài giờ học ra, họ lại chơi đùa với nhau, nên sáu người đều có những kỷ niệm hồi thơ ấu khó quên. Vì Trung-Từ ăn nhiều, thân thể to lớn, nên các bạn gọi đùa là Phật Di-Lặc.
- Ông anh làm phò mã, làm Thái-úy nên quên cô em rồi. Ông anh chỉ hỏi thăm anh Trung-Từ mà quên hỏi em gái đâu !
Kim-Ngân với chồng là Tá-Chu từ trong nhà bước ra. Nàng nắm lấy tay Đoan-Nghi :
- Nghe bố mẹ nói hồi này chị mải lo quốc gia đại sự, mà hao tổn vóc ngọc. Mẹ thương chị lắm. Này chị Huy !
Đoan-Nghi cảm động rơm rớm nước mắt :
- Em cứ nói .
- Chị lao tâm khổ tứ lắm rồi cũng đến ngày hai bữa rưỡi cơm. Cuối cùng khi tay buông xuôi, không mang theo được gì. Chị ạ, bỏ hết đi, rồi về Thiên-trường, chị em ta cỡi trâu, thổi sáo, bẫy chim, bắt cá, trồng hoa, có phải sướng hơn không ?
- Chị cũng muốn hưởng thụ như em khuyên, nhưng nay thì chưa được.
- ? ! ? ! ? !
Thủ-Lý quét con mắt nhìn qua Thúy-Thúy rồi chàng nghiêng mình chào, nói tiếng Trung-quốc bằng giọng Hàng-châu
- Kính chào Vương cô nương. Từ Thiên-trường cách biệt đến nay, thấm thoát đã hơn mười năm. Thời gian qua mau thực. Đáng phục thay, cô nương vì Tống mà quên cả tuổi hoa nở. Hồi ấy cô nương mới mười sáu, nay dường như đã hai mươi lăm mùa Xuân đi qua rồi thì phải. Hoa nở có thì, mà cô nương lẩn thẩn, để mất tuổi xuân. Thương thay cho những người đàn bà không biết cái tuổi con gái của mình là gì !
Chỉ với một câu nói của anh, cũng khiến Thủ-Huy, Đoan-Nghi lạnh gáy. Trong tâm hai người tự hỏi :
- Không lẽ cái việc gian tế Tống tiềm ẩn trong triều, mình mới khám phá ra, mà môn phái cũng biết rồi ư ?
Tá-Chu trao chu Kim-Ngân một cái trục lụa nhỏ. Nàng mở ra coi : Trục lụa vẽ hình Vương Thúy-Thúy đang đứng bên con thuyền ở bờ sông hồng. Gió thổi làm làn tóc mây, y phục phất phơ trông sống động như người thực. Kim-Ngân tiếp lấy, trao lại cho Thúy-Thúy :
- Em tặng chị bức chân dung này, do chính chồng em vẽ, hồi hai tháng trước.
Thúy-Thúy nhìn bức họa mà chân tay bủn rủn, người bàng hoàng. Vì hơn hai tháng trước, nàng trốn khỏi Đông-cung, ra bờ sông Hồng, xuống con thuyền trụ sở mật của Hoa-sơn để nhận lệnh sư bá Lạc-Nhạn. Hành tung bí mật tưởng đến quỷ không biết, thần không hay. Nào ngờ bị phái Đông-a khám phá ra, sai Tá-Chu ẩn đâu đó, họa hình.
Kim-Ngân cầm tay Thúy-Thúy :
- Ôi sao lại có người đẹp thế này. Phải chi em là con trai, em quyết bắt cóc chị, dấu đi làm vợ. À, này ! Anh Trung-Từ chưa có vợ, để em bắt chị này bán cho anh ấy. Anh ấy mà thấy chị thì đắt mấy anh ấy cũng mua.
Trung-Từ đang tỉa hoa ở vườn sau, nghe Kim-Ngân nói, chàng lên tiếng :
- Ai mà đẹp vậy ? Liệu có đẹp bằng cô Kim-Ngân không mà đòi bán ?
Câu nói vừa dứt Tô Trung-Từ đã tới nơi. Vừa nhìn thấy Thúy-Thúy, chân tay chàng bủn rủn, mắt mở to rồi lắp bắp :
- Ái chà
Rồi không nói được câu nào nữa.
Thủ-Lý bẹo tai em gái :
- Vương cô nương đây là Khâm-minh Đoan-duệ quận chúa nhà Tống, hiện là Vân-Đài tiên tử của phái Hoa-sơn. Liệu Trung-Từ có chịu nổi ba chiêu của Vương quận chúa không đã, mà đòi làm chồng ?
Kim-Ngân cười :
- Chả cần ba chiêu ! Chỉ một cái đá lông nheo là ông anh béo tròn này ngã lăn lông lốc ngay.
Chán đời đi lang thang !
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-03-20 22:38:17NuHiepDeThuong>
Hồi thứ hai mươi

Gánh vàng đi đổ sông Ngô



Tám năm trước khi bọn Ngô Giới đem toàn bộ phái Hoa-sơn định đột nhập trang Thiên-trường, tìm bộ Vô Trung kinh, rồi bị bắt trọn, thì Thủ-Huy mới mười hai, mười ba tuổi, mà Thủ-Lý đã mười sáu, mười bẩy. Tuy với cái tuổi ấy, Thủ-Lý chưa thành một người lớn hoàn toàn. Nhưng vì tính tình trầm lặng, hành sự cẩn trọng, lại là người tinh minh mẫn cán bậc nhất trong đám đệ tử đời thứ ba, nên chàng đã được gia đình, môn phái coi như một người lớn. Hôm ấy trong khi ông bà Tự-Hấp trao cho Thủ-Huy với Vỵ-xuyên ngũ tiên nhiệm vụ bắt Hoa-nhạc tam nương, thì trao cho Thủ-Lý, Trung-Từ, Tá-Chu, Phương-Lan đi bắt Hoa-nhạc tam phong. Rồi khi phái Đông-A họp đệ tử chào đón ngũ vị chưởng môn Đại-Việt, Thủ-Huy cùng Long-Xưởng để hết tâm đối đáp, luận bàn; thì Thủ-Lý, Tá-Chu, Trung-Từ, Phương-Lan, Kim-Ngân rửng rưng, âm thầm ngồi trong đám đệ tử đời thứ ba.
Sau này Thủ-Huy về Thăng-long làm quan, rồi làm phò mã, Thủ-Lý không cản trở em, nhưng chàng lãnh đạm với mọi biến cố. Chàng vốn có ác cảm, thành kiến với triều đình, từ khi nghe chuyện Cảm-Thánh hoàng thái hậu dâm đãng, rồi tàn sát tôn thất. Chàng thường nói với em: Tại sao chúng ta là những kẻ sĩ, những cao thủ võ lâm đầy khí phách, mà phải cúi đầu cho con mụ dâm đãng sai bảo ? Để mụ ngồi trên đầu trên cổ, bắt làm những chuyện thương luân bại lý ?

Ngay từ hồi sáu bẩy tuổi, tính tình Thủ-Lý, Thủ-Huy khác nhau đã đành, mà đến cái nhìn về cuộc đời cũng khác nhau.
Nếu Thủ-Huy ham ăn, thích đùa nghịch, cùng với Kim-Ngân, với anh em họ Tô, với mấy người con của chú Tự-Duy thì Thủ-Lý đã có phong thái của một người lớn tuổi, mỗi lời nói đều cân nhắc, mỗi cử chỉ đều đường bệ. Hàng ngày ngoài giờ học văn, luyện võ ra, thì Thủ-Lý không ngồi đọc sách với Phương-Lan, lại rủ nàng cùng với Tá-Chu, Trung-Từ theo lực điền ra đồng xem xét công việc cầy bừa. Thủ-Huy chưa từng làm vườn, trồng cây, đánh cá bao giờ. Ngược lại từ năm mười tuổi, Thủ-Lý theo lực điền học cầy, học bừa, đánh kỳ, làm cỏ, cuốc đất, bón phân như những nông dân. Vì nội công cao, nên chàng có sức mạnh, vì vậy năng xuất làm việc của chàng cao hơn bất cứ nông dân nào. Thủ-Lý còn vào bếp xin chị bếp dạy nghệ thuật nấu nướng Đại-Việt. Cho nên khi đến tuổi trưởng thành, không một công việc của người giúp việc trong nhà nào mà chàng không hiểu biết. Nhờ vậy chàng thông cảm với người nghèo phải đi làm tôi tớ. Mỗi lời nói, mỗi cử chỉ của chàng đối với họ đều nhẹ nhàng, ôn tồn. Vì vậy họ coi chàng như một ông phúc của đời họ.
Thấy cháu có tư cách của người lớn, đại hiệp Tự-Kinh thầm dặn ông bà Tự-Hấp, Tự-Duy cứ để yên mặc Thủ-Lý làm, cho sáng kiến phát huy. Thỉnh thoảng, chỉ cố vấn khi thấy cần thiết mà thôi.

Trước khi Long-Xưởng về Thiên-trường, thì Thủ-Lý cùng với Tô Trung-Từ, Tá-Chu, Kim-Ngân, Phương-Lan, Phương-Liên và đám con của Đại-Việt ngũ tuyệt đã tổ chức một đoàn thiếu niên nam nữ hơn năm trăm người, mở phong trào phá hoang làm ruộng, lập ra các ấp Thần-nông ; các trại Thần-nông nuôi gia súc, đào ao nuôi tôm, cá, cua. Chính chàng với Trung-Từ, Tá-Chu đã dùng những người này, đắp đập ngăn nước, khiến nước lên, mà thuyền phái Hoa-sơn vẫn mắc cạn mà bắt Hoa-nhạc tam phong.
Sau khi giúp nhà vua dẹp cái triều đình gà mái gáy, Thủ-Lý, Trung-Từ, Tá-Chu không nhận chức tước, chàng chỉ xin triều đình ân xá cho tù nhân trấn Thiên-trường, để ba người đem về giáo huấn. Triều đình chấp thuận. Thế là hơn ba trăm tù được ân xá, trao cho ba người. Lĩnh tù ra, việc đầu tiên Thủ-Lý cho di chuyển gia đình các tội nhân về sống trong những ấp chàng mới lập. Giao cho mỗi xóm cưu mang một gia đình. Rồi cấp thực phẩm cho họ ăn trong sáu tháng, lại cấp ruộng, đất, ao, dụng cụ làm ruộng nữa. Bọn người phạm tội hối hận những việc làm cũ, chúng làm việc rất chăm chỉ. Hơn năm sau, các gia đình này trở thành khá giả.

Thủ-Lý phân công: Trung-Từ phụ trách phá hoang, huấn luyện canh nông, trực tiếp trông coi vấn đề canh tác ; nghĩa là những gì trên mặt đất. Phương-Lan phụ trách huấn luyện gia chánh, nuôi tằm, trồng dâu, diệt vải, dệt lụa. Phương-Liên phụ trách huấn luyện nuôi gia súc, nuôi cá, nuôi tôm, cua. Kim-Ngân phụ trách huấn nghệ, như nghề mộc, nghề nề, chế xe, đóng thuyền, xây lò nung gạch. Tá-Chu thì lo huấn luyện ngư dân, đóng thuyền, đan lưới, tổ chức đánh cá, vận tải.
Từ khi Thủ-Lý bắt đầu chương trình lập toán phá hoang đến nay trải hơn mười năm. Dân chúng nghèo khó các nơi tụ về đông đảo vô cùng. Thiên-trường trở thành trấn đông dân nhất Đại-Việt (cho đến nay, 1997, vùng Thái-bình, Nam-định cũng là nơi có mật độ dân đông nhất). Thủ-Lý chia các ruộng đất khai hoang làm hai loại. Loại tư điền, cấp cho mỗi người dân hai mẫu. Còn lại là công điền, đây là công điền của xã. Loại ruộng này, nếu nông dân muốn cấy, thì phải nộp tô cho xã, nhưng rất thấp. Tô đó, xã dùng để xây trường học, mượn thầy dạy con em, xây lò gạch, làm cầu, lát đá đường đi. Hóa cho nên đến nay, toàn thể nông dân trong các trang ấp Thần-nông đều trở thành trung nông... Tiếng tăm vang khắp nơi, dân chúng gọi Thủ-Lý làThần-nông sứ, gọi Tô Trung-Từ là Khai-hoang sứ, Tá-Chu là Hải-hà sứ.

Vương Thúy-Thúy từng thấy Thủ-Lý hôm nàng bị bắt ở Thiên-trường. Rồi khi Thủ-Lý về cư ngụ trong Đông-cung thì Thúy-Thúy bị giam lỏng cùng phái Hoa-sơn trên con thuyền ít ngày. Khi nàng đào thoát trở về Đông-cung, nàng được sống với Thủ-Lý mấy tháng. Thủ-Lý dạy nàng với Tín-Hương nấu những món ăn dân gian, cùng phép trồng hoa, tỉa hoa. Nay tuy mấy năm xa cách, Thủ-Lý trở thành một thanh niên có thân thể hùng vĩ, nhưng nàng vẫn nhận ra. Nàng cung tay đáp bằng tiếng Việt :
- Tiểu tỳ xin ra mắt Thần-nông sứ.
Thủ-Lý xua tay :
- Vương cô nương. Cô nương là cao đồ của phái Hoa-sơn gửi sang Đại-Việt, đối với võ lâm, thân phận cô nương đâu có tầm thường ? Cô nương không nên xưng tiểu tỳ với tên nhà quê chân lấm, tay bùn như tại hạ.
Nghe Thủ-Lý nói, Tín-Hương phu nhân cau mày rồi rời khỏi phòng khách.
Tuy giọng nói của Thủ-Lý nhẹ nhàng, mà mỗi câu, mỗi lời, Vương Thuý-Thúy cảm thấy như một nhát kiếm tấn công mình. Thúy-Thúy tự hào về sắc đẹp của nàng, nàng được sư phụ dạy dỗ rằng : Khi ta có sắc đẹp, thì bất cứ người đàn ông nào cũng phải mềm trước ta. Ngay lúc Thủ-Huy hỏi cung nàng, mà trước sắc đẹp của nàng, công cũng dịu dàng như một thiếu niên đa tình đang cầu xin nàng ban ân huệ. Vừa rồi, một thiếu niên tên Tô Trung-Từ nhác thấy nàng đã run lên bần bật. Thế mà bây giờ, nàng xử dụng chiêu liếc mắt đưa tình, nghiêng vai, uốn lưng, ưỡn ngực ra trước để chinh phục, để khích động. Nhưng, người thiếu niên đầy sinh lực như Thủ-Lý lại tỏ ra rửng rưng, dường như không hề động tâm gì cả. Lạ hơn nữa, sao chàng lại biết họ tên của nàng, biết nàng là người Hàng-châu ? Biết nàng là quận chúa ?
Tự nhiên Thúy-Thúy thấy ớn trên vai. Nàng vội chữa :
- Thưa thiếu hiệp, tiểu tỳ là bộc phụ Đông-cung, nay được Thái-tử cho về hầu hạ phò mã với công chúa... Thì cũng là tỳ nữ của thiếu hiệp.
Thủ-Lý cười rất tươi :
- Vương cô nương ơi ! Chúng ta đều là người thức thời, thì nên lấy lòng mà ở với nhau. Những gì cô nương làm, tại hạ biết rõ từ lâu, nên rất kính trọng cô nương. Cô nương là một cánh hồng, phải lưu lạc xa cha mẹ, xa quê hương chỉ vì lòng trung quân, ái quốc. Cô nương chịu trăm cay nghìn đắng suốt bao năm qua, chỉ vì Trung-quốc, chỉ vì Tống triều. Trong khi đó, biết bao nhiêu người tự hào là nam nhi đại trượng phu, mà chỉ quanh quẩn ở xó nhà với vợ, với con ; chỉ biết ăn ngon, mặc đẹp. Vương cô nương ơi ! Tại hạ biết rằng thái-tử không có ý đem cô nương về đây để làm bộc phụ cho xá đệ, mà để xá đệ bảo vệ cho cô nương. Có đúng thế không ?
- Quả như thiếu hiệp dạy.
Qua mấy câu đối đáp, Thúy-Thúy biết rằng Thủ-Lý là người không thể dùng sắc đẹp lung lạc được. Muốn lấy cảm tình với chàng, thì chỉ có một đường duy nhất là chân thật.
Đoan-Nghi bảo ông Ty, người quản dinh :
- Chú Ty tìm một phòng sạch sẽ cho Trung-Tĩnh phu nhân ở.
Nàng lại nói với Thúy-Thúy :
- Phu nhân vào thay đổi y phục, rồi ra đây đàm luận với đại huynh của tôi.
Vào trong thư phòng, Thủ-Lý nháy mắt ra hiệu cho Phương-Lan với Kim-Ngân ngụ ý bảo im lặng. Hai người cười tủm tỉm ngồi im.
Thủ-Lý hỏi Thủ-Huy :
- Trước khi vào việc, chú thuật cho anh biết những gì đã xẩy ra tại Hoàng-cung, Đông-cung mấy ngày gần đây đã.
Thủ-Huy thứ tự trình bầy tất cả những diễn biến về cuộc chuẩn bị tiến quân đòi lại cố thổ, vụ sinh con của Đỗ thục-phi, Từ tuyên-phi, vụ án đứa trẻ bị bắt đi mất còn mẹ thì bị giết chết, vụ hai bà mụ ngủ rồi chết luôn. Tiếp theo tới vụ Long-Xưởng họp các em ăn cá, Minh-Đạo vương cùng với Bạch-Phượng xuất hiện, Côi-sơn song ưng trách cứ Long-Xưởng, rồi Đoan-Nghi khám phá ra Á-Nương là Vân-Đài, cuối cùng tới cuộc thẩm vấn nàng ra sao.
Vương Thúy-Thúy đã thay y phục, nàng mặc một bộ quần áo của một quận chúa Tống, quần mầu trắng, áo mầu hồng nhạt, áo khoác ngoài mầu tím. Tóc nàng chải, cuốn theo kiểu cung nga Nam Tống, trên dắt một cành hoa bằng ngọc đỏ chói. Nàng vốn đã đẹp, nay được mặc loại y phục quen thuộc, mỗi bước đi của nàng, thân thể uyển chuyển như muôn ngàn bông hoa bay trên mây. Thủ-Huy, Đoan-Nghi, Kim-Ngân, Phương-Lan ngây người ra mà nhìn. Chỉ Thủ-Lý là vẫn thản nhiên như thường. Chàng chỉ ghế :
- Mời quận chúa an tọa.
Thúy-Thúy kéo ghế lùi ra sau Đoan-Nghi một bước, rồi vén vạt áo, e lệ ngồi xuống.
Chàng lại nói với Đoan-Nghi :
- Em là công chúa Đoan-Nghi của Đại-Việt, còn Vương cô nương đây tước phong tới Khâm-minh, Đoan-duệ, Vân-Đài quận chúa. Thành ra quận chúa ngồi sau em một chút, hầu tỏ ra là người biết lễ nghi. Con gái Giang-Nam không những đẹp người mà còn đẹp nết nữa.
Vợ chồng Thủ-Huy giật mình đến thót một cái, trong lòng rối như tơ vò : Hỡi ơi, thì ra Vương Thúy-Thúy đã lập nhiều công trạng, được Tống triều phong tới quận chúa. Còn Thúy-Thúy thì hoảng hốt, tự hỏi : Ta mới được phong quận chúa chưa quá hai tháng, mà sao người này đã biết ? Với nhan sắc của ta, chưa từng ai thấy mà không khuất phục. Còn thanh niên này lại rửng rưng ?
- Thím nó này.
Thủ-Lý hỏi Đoan-Nghi : Thím khám phá ra Tông tích Á-Nương từ bao giờ vậy ?
- Em đoán mò, may mà trúng chứ có biết trước đâu ! Nguyên anh Thủ-Huy thuật cho em nghe việc phái Đông-A bắt các cao thủ Hoa-sơn, rồi kể về Vân-Đài như sau : « Đạo cô Vân-Đài tuy lớn tuổi, da dăn deo, nhưng lưng ong, chân tay dài, trắng mịn như một khuê nữ. Vậy em cũng nên luyện nội công Hoa-sơn để giữ cho sắc đẹp khỏi bị tàn phai ». Một sự kiện khác làm em nhớ mãi : Hồi ấy Á-Nương xin phép về thăm nhà có mười ngày, mà sao một tháng sau mới trở lại ? Thời gian Á-Nương vắng mặt đúng vào thời kỳ bọn Hoa-sơn đi Thiên-trường. Khi Á-Nương trở về cũng đúng vào ngày Vân-Đài trốn khỏi con thuyền giam lỏng phái Hoa-sơn. Buổi sáng nay, bị Côi-sơn song ưng khiển trách, mọi người đang bàn luận, thì Á-Nương lại vào ngự thiện đường lau chùi, mà thông thường Á-Nương chỉ vào khi anh Long-Xưởng ăn xong. Rồi dường như lo lắng, Á-Nương qui tức thở đúng theo nội công Hoa-sơn... Bằng ấy việc, làm cho em tỉnh ngộ, rồi đoán già, may mà trúng.
Nghe Đoan-Nghi nói, Thúy-Thúy mới hối hận rằng mình non tay hơn cô công chúa này : Thì ra Đoan-Nghi chỉ đọa già, ta nhát gan, vội tự nhận.
Thủ-Lý tiếp :
- Ông sai anh lên giúp hai em tìm cho ra tất cả bọn gian tế của Tống, ẩn dưới danh nghĩa đệ tử Hoa-sơn đi tìm Võ-kinh. Vâng lời ông thì anh làm, chứ trong tâm anh, thì anh không thích cái công việc này. Vì mình có cố gắng thì cũng chẳng đi đến đâu, bởi cái nọc độc gà mái gáy từ khi vua Nhân-Tông băng đến giờ nó đã ăn sâu vào tủy, vào tim gan của các bà trong nội cung rồi. Hầu hết các quan đều mong muốn có một hoàng đế còn bế ngửa, một thái hậu tham dâm để họ tha hồ tác oai, tác quái.
Nghe anh nói, Thủ-Huy kinh hãi :
- Em tưởng bọn Hoa-sơn chủ động trong việc này chứ ? Chúng lợi dụng các sứ đoàn, để tìm Võ-kinh. Nay thì anh lại luận sự việc trái ngược. Như thế nghĩa là ?
Kim-Ngân hỏi Thủ-Huy :
- Căn cứ vào đâu mà anh lại tin rằng bọn Hoa-sơn chủ động, mà không phải là Khu-mật viện Tống ?
- Anh giải đoán như vậy vì tin theo các bản tấu chương của Khu-mật viện. Mà Khu-mật viện lại tin vào lời khai của đệ tử phái Hoa-sơn bị bắt. Thái-tử Long-Xưởng bắt đầu nắm Khu-mật viện, sau khi bọn Hoa-sơn bị bại ở Thiên-trường. Khu-mật viện đã sai biệt giam chúng, không cho liên lạc với nhau, rồi thẩm cung. Kết quả, chúng đều khai giống nhau, thì làm sao mà sai được ? Rồi từ đó đến giờ, có rất nhiều đệ tử Hoa-sơn bị bắt. Họ cũng khai giống những người trước. Như vậy, Long-Xưởng với anh cũng chưa tin hẳn. Điều làm bọn anh tin hoàn toàn, là trước đây các vị tôn sư Đại-Việt sang Trung-nguyên dự lễ giỗ tổ của phái Hoa-sơn. Trong hơn tháng lưu lại, các vị đã đàm luận, kết thân với Ngũ-nhạc đại lĩnh, Hoa-nhạc tam phong, Hoa-nhạc tam nương. Hôm ở Thiên-trường, chính các vị ấy đã nhận diện bọn cao thủ Hoa-sơn, rồi than thở không ít về hành động của họ. Tổng kết hai nguồn tin như thế, nên Long-Xưởng với anh mới tin.
Mặt Thủ-Lý lạnh như tiền, chàng nói rất nhỏ, nhưng dõng dạc :
- Từ Thái-tử đến em, cho chí Khu-mật viện, bị Tống lừa hơn mười năm có dư rồi mà không biết. Anh nói cho em biết : Đến nay bọn tế tác Tống sang đây đã ba thế hệ. Thế hệ một là thế hệ của cái tên Trung-Nhạc Tung-sơn tiền nhiệm của Ngô Giới. Thế hệ thứ hai là thế hệ sư phụ của quận chúa đây. Họ đã có chỗ đứng, có thế lực rất lớn tại triều đình, không biết em với Long-Xưởng có thể phá được không thì anh khó mà đoán trước. Quận chúa đây chỉ là thế hệ thứ ba mà thôi.
Đoan-Nghi hỏi :
- Chúng là các đại thần chủ hòa ư ?
- Hơn thế nữa ! Các đại thần chủ hòa chỉ là chân tay của chúng mà thôi.
- Ông nội cho anh về đây chắc hẳn người nghĩ rằng : Nếu như bọn em biết chúng là ai, mà không thể giết chúng được, thì anh ra tay. Có phải thế không ?
- Trái lại, người dạy anh bằng mọi giá phải tìm cách cứu các đệ tử Hoa-sơn không để triều đình giết. Nhất là tránh sao cho phái Hoa-sơn với võ lâm Đại-Việt giết lẫn nhau. Người nói : Triều Tống không đáng để cho các đệ tử Hoa-sơn hy sinh. Đại-Việt là Đại-Việt. Ngôi vua Đại-Việt dành cho người có đức, chứ không phải của riêng họ Lý.
Kim-Ngân chỉ vào Thúy-Thúy :
- Huống hồ những người đẹp như thế này, đáng lẽ phải xây nhà vàng cho ở, thì chúng gửi sang Đại-Việt sống chui, sống nhủi như chuột, làm công việc của bọn tôi đòi hèn hạ. Trong khi đó chúng sống trên nhung lụa, hầu xinh, vợ đẹp. Thực là bọn chồn cáo.
Đoan-Nghi hỏi :
- Anh giúp triều đình bằng cách nào ?
- Không ! Anh không giúp triều đình. Anh nhắc lại chủ trương của ông nội, cũng như môn phái Đông-A nhà ta là : Quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách. Còn như triều Lý hay triều Lê, triều gì đi nữa làm vua, cũng cứ được đi. Cho nên trải qua hai bà thái hậu Chiêu-Hiếu, Cảm-Thánh, tàn sát tôn thất, giết hại quan lại, nhà ta đều không can thiệp vào. Oâng nội chỉ cho can thiệp khi Tống định dùng Lưu Kỳ, biến Đai-Việt thành quận huyện. Tương lai, nếu có cuộc tranh dành quyền lực trong giòng họ Lý thì nhà ta không biết tới. Còn em, em là công chúa, Thủ-Huy là phò mã thì các em phải đem hết sức ra phò phụ hoàng em, đó là lẽ đương nhiên.
Đoan-Nghi hỏi :
- Thưa anh, anh muốn nói cuộc tranh ngôi giữa phụ hoàng với Minh-Đạo vương chăng ?
- Ý anh muốn nói cuộc tranh quyền giữa người họ Lý với người họ Lý. Có thể Cảm-Thánh hoàng thái hậu lại trở về tranh quyền với hoàng thượng. Có thể trong các hoàng tử khác tranh với Long-Xưởng. Cũng có thể Minh-Đạo vương tranh ngôi với hoàng thượng.
Đoan-Nghi biết chồng không muốn hỏi Thủ-Lý nhiều về sự tranh ngôi trong triều đình. Nàng lên tiếng hỏi sang vấn đề khác :
- Cứ như anh ước đoán thì Tống bắt đầu đem tế tác sang ta để mưu chiếm nước từ bao giờ ?
- Ngay từ khi triều Nam-Tống được thành lập, bốn tướng có công đầu trong việc trung-hưng là Hàn Thế-Trung, Ngô Lân, Ngô Giới, Lưu Kỳ đều thuộc phái Hoa-sơn. Thành ra các danh tướng hầu như xuất thân từ cửa bốn tướng này. Thế lực phái Hoa-sơn tại triều Tống cực mạnh. Khu-mật viện luôn luôn là người của họ. Vì thế, võ lâm Trung-nguyên thường cho rằng phái Hoa-sơn là triều Tống, triều Tống là phái Hoa-sơn. Hồi đầu, các tướng gốc Hoa-sơn chủ trương đánh Đại-Việt, rồi nhân đó lấy vũ kinh. Nên chi Khu-mật viện Tống mới gửi thực nhiều tế tác sang ta. Sau khi tế tác thu thập tin tức về Hoa-sơn tứ đại thần kiếm, về Mao Cung, Mao Kính, Khu-mật viện Tống mới thiết kế chiếm Đại-Việt bằng cách đặt nội gián mỹ nhân kế. Do vậy họ tìm ba thiếu nữ sắc nước hương trời, dạy văn, luyện võ, lại dạy cho thuật cầm ca, dạy cho học tiếng Việt, rồi cho làm Hoa-nhạc tam nương, do một đạo sư vai sư thúc, sư bá của Ngô Giới cầm đầu. Triều đình Tống thì phong cho tước tiểu thư, ban cho hưởng bổng ngang với tuyên vũ sứ. Bổng cấp cho cha mẹ. Ba người này có quyền ngang với tuyên vũ sứ. Ba người sang được ba năm, thì họ đã thành công. Bao nhiêu tin tức của triều đình, võ lâm Đại-Việt, Khu-mật viện Tống biết hết. Họ được phong tước nhất phẩm phu nhân. Bên Trung-nguyên, cha được phong hàm tước nam, mẹ được phong phu nhân. Lúc này Tống triều thấy Tam-nươngï đã trở thành vợ của những nhân vật tối cao của Đại-Việt, các đại thần Khu-mật viện Tống bèn nghĩ đến việc tre già thì cho măng mọc. Họ lại tuyển một thiếu nữ Hàng-châu, một thiếu nữ Tô-châu và một thiếu nữ gốc Dương-châu, sinh đẻ, lớn lên ở Đại-Việt. Cả ba được phái Hoa-sơn huấn luyện, rồi được cử làm Hoa-nhạc tam nương, gửi sang Đại-Việt. Nhưng sợ ba người trước phật lòng, phái Hoa-sơn đặt ba thiếu nữ này làm đệ tử ba người trước.
Thủ-Lý nhìn Thúy-Thúy :
- Một trong ba thiếu nữ này là Vương quận chúa.
Thủ-Lý nói đến đây thì Thúy-Thúy run lẩy bẩy. Còn Phương-Lan đứng lên, ra sân xem hoa.
Đoan-Nghi hỏi nàng :
- Trung-Tĩnh phu nhân, sự đã như thế này, thì phu nhân cũng chẳng nên dấu điếm làm gì. Ba vị Hoa-nhạc tam nương tiền nhiệm là ai ? Hai sư muội của phu nhân là ai ? Cái ông Lạc-Nhạn hiện ở đâu ?
Thủ-Lý xua tay, tỏ ý không cần Thúy-Thúy khai :
- Hai năm sau nữa, họ lại lập đại công, được phong quận chúa, cha được phong hàm tước tử, mẹ được phong nhất phẩm phu nhân. Sau vụ án Đỗ Anh-Vũ, Tam-nươngï giúp sứ đoàn Ngô Giới, Lưu Kỳ, cùng thái-hậu lật ngược thế cờ, họ được phong công-chúa. Ở bên Trung-nguyên, bố được phong hàm tước bá, mẹ được phong quận chúa.
Thủ-Lý lại nhìn Thúy-Thúy :
- Tôi nói có chỗ nào sai chăng ?
Mặt Thúy-Thúy tái ngắt, nàng đáp :
- Thưa không có chỗ nào sai cả.
Đoan-Nghi hỏi :
- Thưa anh, thế Hoa-nhạc tam nương tiền nhiệm là ai ?
Kim-Ngân xòe tay ra trước mặt chị dâu :
- Chị có phải là công chúa không ? Một công chúa đầy uy quyền, không thua công chúa Bình-Dương, Kim-Thành, Thiên-Thành xưa, mà lại hỏi anh cả à ? Chị đã tìm ra Vương quận chúa là Vân-Đàøi, thì tự nhiên phải tìm ra sư phụ nàng là ai, rồi cũng từ đó tìm ra hai sư muội của người là chúa Công-Chúa, Mao-Nữ chứ ?
Bây giờ Đoan-Nghi mới hiểu rõ ý nghĩa những câu nói xa xôi của Thủ-Lý trong ngày tiếp sứ đoàn Tống. Hôm ấy, Ngu Doãn-Văn chỉ đòi hài cốt Lạc-Nhạn, Vân-Đài, thì Thủ-Lý lại hứa trả tám bộ xương, trong đó có bộ xương của Trung-Nhạc Tung-sơn, Lạc-Nhạn, hai Vân-Đài, hai Công-Chúa, hai Mao-Nữ. Thủ-Lý còn hăm đem họ cho quạ rỉa thịt, vì vậy từ Ngu Doãn-Văn cho chí Tần Hy đều tái mặt, rồi không dám đòi người nữa.
Kim-Ngân mỉm cười bí hiểm nhìn Thủ-Huy :
- Sao anh không thẩm vấn Vương tiểu thư đây để biết sư phụ, sư thúc, hai sư muội của người ?
Cả Đoan-Nghi lẫn Thủ-Huy cùng lắc đầu :
- Anh đã thẩm vấn quận chúa đây, nhưng người cứ chối rằng không biết sư phụ của người hiện là ai ? Nhà ở đâu ? Hiện là nhân vật nào của Đại-Việt ? Thì làm sao có thể biết hành trạng hai sư thúc cũng như hai sư muội.
Kim-Ngân chù mỏ ra :
- Triều đình có Khu-mật viện, có thị-vệ, công nho chi ra biết bao nhiêu tiền mà không tìm được bọn tế tác Tống. Bây giờ em đã tìm ra, triều đình muốn thì em bán tin tức cho, giá rẻ thôi . Một là trả ngay, với giá năm nghìn lượng vàng, số vàng này chỉ bằng nửa số kinh phí chi cho Khu-mật viện hằng năm. Hoặc miễn thuế cho toàn thể các trại Thần-Nông.
Biết rằng Kim-Ngân nói đùa, nhưng Đoan-Nghi cũng cảm thấy chua chát : Phái Đông-A không lĩnh của triều đình một đấu gạo, một đồng tiền, mà lại làm lợi cho triều đình không biết bao nhiêu mà kể, trong khi đó, bọn văn quan ăn hại cứ kiếm chuyện hoài.
Thủ-Lý xua tay không cho em gái đùa nữa, chàng cười nhạt :
- Có thể Vương quận chúa không biết, có thể người không muốn khai, vì sợ bản thân và gia đình bị trả thù. Thôi được rồi, anh vì hai em mà phải vô phép với giai nhân Hàng-châu vậy.
Chàng quay lại phía sau :
- Kính mời Thạc-hòa Anh-văn quận chúa ra tương hội. Sự đã như thế này, mà quận chúa còn dấu thân phận ư ?
Chỉ thấy thấp thoáng một cái, Tín-Hương phu nhân từ sau cánh cửa tung mình chạy. Nhưng khi bà ta vừa tới hàng rào thì bị một người đứng chặn trước mặt. Người đó là Phương-Lan. Tín-Hương phát một chiêu Hoa-sơn chưởng đẩy về trước. Phương-Lan vội phát chiêu đỡ. Bình một tiếng, Tín-Hương bị bay tung trở lại ngay trước mặt Đoan-Nghi. Đoan-Nghi điểm huyệt nàng, rồi xách vào nhà, đặt ngồi ngay ngắn trên chiếc ghế.
Kim-Ngân gỡ lớp da giả trên măët Tín-Hương, dùng khăn lau mặt cho nàng. Lập tức hiện ra một khuôn mặt cực kỳ thanh tú : Làn da trắng mịn, môi hồng mọng, nhất là đôi mắt đen, có đuôi thực khả ái.
Thủ-Lý cười với Tín-Hương phu nhân :
- Quận chúa đừng sợ. Bởi mục đích chuyến về Thăng-long của tại hạ là tránh cho các đệ tử Hoa-sơn khỏi bị Côi-sơn song ưng giết chết. Mà quận chúa hiện là chưởng quản ngọn núi Mao-Nữ trong Ngũ-nhạc, chẳng may bị bọn quan lại Tống đánh lừa, đưa sang đây để mưu đồ bất chính cho chúng. Tại hạ có bổn phận bảo vệ quận chúa. Vậy người cứ thư thả về khuê phòng thay y phuc quận chúa, trang điểm, rồi ra đây để chúng ta cùng luận bàn.
Tín-Hương biết không dấu thân phận được nữa. Nàng cười nhạt nói với Đoan-Nghi :
- Công chúa, xin công chúa giải huyệt cho thần. Vì trong khi phóng chưởng, Thần-nông phu nhân đã vận Cổ-loa tâm pháp. Nếu như tiểu tỳ trốn, thì ba ngày sau các mạch máu sẽ vỡ ra mà chết .
Đoan-Nghi giải huyệt cho Tín-Hương. Nàng lui vào hậu đường. Vương Thúy-Thúy hỏi Thủ-Lý :
- Thần-nông sứ ! Tiểu muội sống với Tín-Hương mấy năm dư mà không biết đó là sư muội đồng môn. Thế sao người ở mãi Thiên-trường thì lại biết rõ chân tướng nhị sư muội của muội ?
- À, chính là cái hôm đầu tiên cô nương trốn thoát khỏi con thuyền giam lỏng, rồi trở lại Đông-cung. Bấy giờ tại hạ từ Thiên-trường về giúp Long-Xưởng dẹp loạn gà mái gáy. Chỉ nhìn dáng đi, cùng thân thể của nhị vị là tại hạ biết ngay. Vì trên đời làm gì có bộc phụ mà từ thân thể, chân tay, dáng đi đẹp đến như thế được ? Nhất là lúc cô nương với Tín-Hương quay lưng bước đi, rõ ràng là thân pháp Hoa-sơn, mà thân pháp này mới do đạo sư Ngô Giới chế ra không lâu. Vì vậy, trong suốt thời gian ở Đông-cung, tại hạ đã đối xử với nhị vị như những quý khách, chứ không coi là tôi tớ. Ngay sau đó, tại hạ thưa với với song thân và Đại-Việt ngũ tuyệt về thân phận hai vị. Hỡi ơi, thì ra các vị cũng biết, đâu phải mình tại hạ. Phụ thân tại hạ trở về trình với ông nội. Ông nội khuyên : Cứ để nguyên như vậy, không nên nói cho Thủ-Huy biết. Phái Đông-A sẽ cho đệ tử theo dõi, để biết hết những nội gián của Tống.
Đến đây thì Tín-Hương đã trở ra. Nàng không còn coi mình là bộc phụ nữa, ngang nhiên ngồi đối diện với Đoan-Nghi.
Thủ-Lý chỉ Tín-Hương :
- Mao-Nữ tiên tử đây có khuê danh là Nhạc Bảo-Bảo, nguyên xuất thân trong một gia đình trung lương. Phụ thân là Nhạc Bình, một đệ tử Hoa-sơn, lĩnh chức đô thống trong đạo binh của Hàn Thế-Trung. Hồi Nhạc tiểu thư mới năm tuổi thì phụ thân tuẫn quốc. Tiểu thư được trao cho phu nhân của Hàn Thế-Trung nuôi dưỡng. Năm lên sáu tuổi, Thế-Trung gửi tiểu thư cho đạo cô Vân-Hà nuôi. Cũng như Vương tiểu thư, Nhạc tiểu thư được học văn, luyện võ, học tiếng Việt. Năm mười hai tuổi, Khu-mật viện tìm cách đưa sang Đại-Việt ; nhưng nói thác là do phái Hoa-sơn sai đi, để tìm Vô Trung kinh với cái hư danh là quản lĩnh ngọn núi Mao-Nữ. Sang Đại-Việt tiểu thư đặt dưới sự chưởng quản của Mao-Nữ tiên tử tiền nhiệm. Vị tiên tử này mới xếp đặt cho tiểu thư làm con một thầy lang. Rồi từ đó thành nô bộc cho vú Loan, cuối cùng thành Tín-Hương phu nhân của Đông-cung, rồi quản dinh của công chúa Đoan-Nghi.
- Tín Hương phu nhân !
Đoan-Nghi thiết tha :
- Sự đã như thế này, phu nhân hãy cho tôi biết Hoa-nhạc tam nương tiền nhiệm với sư muội Công-Chúa của phu nhân là ai ? Hiện cư ngụ ở đâu ?
Nhạc Bảo-Bảo thở dài, đưa mắt nhìn Thúy-Thúy. Thúy-Thúy vuốt tóc Bảo-Bảo :
- Sư muội ơi ! Sư tỷ chỉ có một thân một mình, thì sư tỷ có khai cũng không hề chi, miễn được phái Đông-A bảo vệ là yên. Nhưng sư tỷ lại không biết rõ sư phụ hiện là nhân vật nào của Đại-Việt? Còn sư muội thì sư muội biết rõ sư phụ là ai, hiện ở đâu. Hiềm vì sư muội lo sợ rằng nếu khai hết thì má má, anh chị tại quê nhà sẽ bị chết chém hết. Mà không khai thì không được. Làm sao bây giờ ?
Như chợt nhớ ra điều gì, Kim-Ngân, Phương-Lan cùng đứng dậy lui vào trong hậu đường. Phương-Lan dùng Lăng-không truyền ngữ nói với chồng :
- Cứ quan sát sơ, em cũng biết Bảo-Bảo là người có bản lĩnh, và hay lý sự. Nếu anh muốn khai thác tin tức ở nàng thì không khác gì bắc thang lên trời. Anh thấy không? Là tội nhân, mà nàng chưng diện, trang điểm thực lộng lẫy. Ta có thể căn cứ vào đây mà khống chế nàng.
Biết vợ mình là người mưu trí cực cao thâm, Thủ-Lý mừng lắm. Chàng hỏi :
- Khống chế bằng cách nào ?
- Nàng coi sắc đẹp trọng hơn tính mệnh. Anh nên làm như thế... như thế...
Thủ-Lý mỉm cười với Bảo-Bảo :
- Nhạc cô nương ơi ! Trong Hoa-nhạc tam nương, thì cô nương là người quyền biến, mưu lược nhất, mà cô nương không nghĩ ra phương cách an toàn cho mình, thì một là cô nương không muốn nghĩ, hai là cô nương có chủ tâm riêng. Anh em tại hạ đã lấy lòng mà đối xử với cô nương, sao cô nương lại không tự biết ? Chắc cô nương nghĩ rằng, theo thể lệ bang giao Hoa-Việt, thì hai bên không được giết tù hàng binh, cũng không được giết tế tác. Có đúng thế không ?
- Quả như người nói.
- Chính vì lẽ đó, mà mấy năm trước Đại-Việt mới không giết đám mật sứ Ngô Giới, Lưu Kỳ. Nay cô nương với Vương cô nương nghĩ rằng bọn tại hạ không thể tra tấn cô nương, nên cô nương không chịu khai. Có phải thế không ?
Bảo-Bảo im lặng.
- Cô nương nên nhớ, cho đến lúc này vẫn chưa có gì chứng minh thân phận cô nương là tế tác của Tống. Như vậy cô nương vẫn là người Việt. Người Việt mà phạm tội làm gian tế cho ngoại bang, thì bản thân sẽ bị lăng trì (xẻo thịt), còn ba họ bị xử trảm. Ví thử bây giờ bọn tại hạ đem cô nương xẻo ít miếng thịt thì cô nương nghĩ sao ?
Mắt phượng quắc lên, Bảo-Bảo ngồi ngay ngắn lại :
- Người thực là một tên thợ cầy không tim, không gan. Ngay khi mới gặp nhau, người đã biết rõ chân tướng ta. Suốt thời gian người ở Đông-cung, cũng như sau này người về thăm em, ta không hề dấu diếm rằng ta yêu người, ta đã nhiều lần bầy tỏ những cảm tình, những cử chỉ nhu nhã với người, mà người không bao giờ đáp lại.
Nàng bưng mặt khóc :
- Thế mà người còn tàn nhẫn. Người đe dọa chúng ta hẳn ? Được, người cứ đem chúng ta ra mà giết đi . Sống ta làm thần tử nhà Tống, chết ta sẽ được phong thần, mẹ được phủ tuất. Ta không sợ chết đâu.
- Nhạc cô nương thực là nữ trung hào kiệt, đáng khen. Nhưng tại hạ không giết cô nương đâu, mà chỉ xẻo ít miếng trên mặt cô nương. Lập tức cái mặt cô nương xinh đẹp thế kia sẽ biến thành lồi lõm, thì thực là đáng tiếc.
Bảo-Bảo hứ một tiếng :
- Người nên nhớ đây là dinh Côi-sơn quốc công. Còn ta, ta được sắc phong là Tín-Hương phu nhân, trong khi người chỉ là một gã nông phu vai u thịt bắp. Sở dĩ chúng ta để cho người múa lưỡi, vì người là anh của phò mã Thủ-Huy, chứ người không có quyền chức gì mà đe dọa chúng ta. Dù sao, Đại-Việt cũng có quốc pháp, phong tục cũng có trên dưới. Một tên thợ cầy, không thể được vô lễ với một tước phu nhân. Người hiểu không ?
Thủ-Lý bật lên tiếng cười dòn dã :
- Khu-mật viện Tống thực có mắt tinh đời khi họ chọn cô nương đóng vai Mao-Nữ tiên tử. Họ cũng tốn không biết bao nhiêu công lao để dạy cô nương về luật pháp Đaị-Việt. Nhưng có điều họ biết, mà không biết đến nơi đến chốn. Họ không biết đến chủ đạo tộc Việt, nên họ không dạy cho cô nương. Chắc cô nương cũng biết hơn trăm năm trước, trong trận Tản-lĩnh, viễn tổ của tôi đã thẳng tay tàn sát bọn Hồng-thiết giáo Tây-vực, sau đó mới cáo với vua bà Bắc-biên. Người lấy lý rằng chủ đạo của tộc Việt định rõ : Việc bảo vệ đất nước là nhiệm vụ của mọi con dân.

Ghi chú của thuật giả:
Về trận Tản-lĩnh : Xin đọc Anh-hùng Bắc-cương, 4 quyển của Yên-tử cư-sĩ,

Chàng nhìn Đoan-Nghi :
- Từ nãy đến giờ, tại hạ không hề nhân danh triều đình, không hề nhân danh chú em tại hạ, hay cô em dâu tại hạ, mà chỉ nhân danh con dân Đại-Việt nói chuyện với cô nương. Bây giờ tại hạ sắp nhân danh tên thôn phu Đại-Việt, tên thôn phu có bổn phận trừ gian cứu nước. Tại hạ sẽ dùng dao khắc vào má cô nương một cái hình con cua, và một cái hình con ếch, hay con ốc, rồi lấy bồ hóng trộn với vôi bôi lên. Bồ hóng với vôi sẽ theo vết thương , ăn sâu vào da cô nương. Mặt cô nương sẽ có hình con ếch, con cua ; coi đẹp gớm. Sau đó triều đình Đại-Việt trả cô nương về Tống, nhất định triều đình Tống sẽ phong cô nương làm « Eách cua công chúa », rồi ban cho vài trăm mẫu đồng lầy làm ấp để nuôi cua, nuôi ếch.
Cho rằng Thủ-Lý dọa già, Bảo-Bảo cười nhạt :
- Được, đại ca muốn làm gì thì làm đi. Con nhỏ họ Nhạc này mà có nhăn mặt, thì không phải là người nữa.
Thấy Tín-Hương đổi cách xưng hô gọi Thủ-Lý bằng đại ca ; Đoan-Nghi, Thủ-Huy tưởng rằng ông anh sẽ mềm lòng. Nào ngờ Thủ-Lý lạnh lùng :
- Cái đó thì dễ lắm.
Thình lình Thủ-Lý phóng chỉ véo, véo hai tiếng, điểm vào huyệt Đại-chùy của Thúy-Thúy, và huyệt Kiên- ngung của Bảo-Bảo. Hai nàng định tránh, nhưng không kịp. Cả hai bị tê liệt, ngồi im như pho tượng. Thủ-Lý nói bằng giọng êm đềm :
- Tại hạ điểm huyệt khiến mặt cô nương tê dại rồi. Bây giờ tại hạ có rạch mặt thì cô nương sẽ không cảm thấy đau đớn gì.
Chàng hướng tay lên tường, nơi treo đầy vũ khí, phẩy một cái, thanh chủy thủ rời khỏi vị trí vọt tới nằm gọn trong tay. Chàng gại lưỡi dao vào bàn tay hai cái, rồi cầm quả ổi trong đĩa trái cây trên bàn, đưa phớt qua, quả ổi đứt làm hai rất ngọt. Miệng mỉm cười, chàng ướm thử lên má trái Bảo-Bảo như định rạch.
Bảo-Bảo ớn da gà nghĩ thầm :
- Tên Nam man dọa ta đây. Trên đời này, làm gì có thằng con trai nào mà không khuất phục trước sắc đẹp của ta. Ta mà non gan thì bị thua trí nó.
Nghĩ vậy nàng nhìn Thủ-Lý nở một nụ cười, ánh mắt sáng long lanh liếc ngang một cái. Đoan-Nghi, Thủ-Huy ngồi cạnh mà cũng choáng váng. Bảo-Bảo ngửa mặt lên đầy vẻ mời mọc, đầy vẻ khiêu khích :
- Đại ca cứ rạch đi. Muội không sợ đâu.
Thủ-Lý hứ một tiếng :
- Cô nương khỏi cần thách thức.
Nói dứt chàng vạch vạch mấy đường trên má phải Bảo-Bảo. Lập tức máu chảy từ má nàng nhỏ lách tách xuống đất. Thủ-Huy, Đoan-Nghi cùng bật lên tiếng úi cha đầy kinh ngac, đầy thương tiếc :
- Tín-Hương phu nhân ơi, người khai thực đi, bằng không đại ca của tôi rạch nữa, e mặt ngọc của phu nhân có vết thì thực là mối hận thiên cổ.
Nghe Đoan-Nghi than, Bảo-Bảo bở vía. Muôn ngàn lần nàng không ngờ Thủ-Lý lại làm thực. Nàng hét lên :
- Tàn nhẫn ! Tàn nhẫn ! Người giết ta đi cho rảnh.
Thủ-Lý lại rạch má trái, máu lại nhỏ xuống chiếc xiêm trắng của Bảo-Bảo. Thủ-Huy can anh :
- Đại ca ! Hỡi ơi ! Trên mặt Tín-Hương phu nhân bị khắc hình con cua, con ếch thế này thì coi sao được. Đại ca ngừng tay đi thôi.
Bảo-Bảo vẫn quật cường :
- Muội... Muội thà chết chứ không chịu khuất phục.
Thủ-Lý gọi tỳ nữ :
- Lấy cho ta ít bồ hóng, trộn với vôi, để ta bôi lên má Nhạc cô nương, thì chỉ một khắc là những chỗ rạch sẽ bị ăn sâu vào, thành hình con ếch, con cua.
Tỳ nữ vào trong nhà.
Bảo-Bảo bở vía, nàng run run :
- Muội xin khuất phục. Muội xin khai. Em xin anh đừng trát bồ hóng với vôi lên mặt em ! Tội nghiệp em mà.
Bảo-Bảo xuống nước, xưng muội, rồi lại dùng ngôn từ Đại-Việt xưng em với Thủ-Lý, lại ngiêng đầu để ánh mắt chiếu vào người chàng. Nàng lại hít hơi thực mạnh, ngực nhô lên thụp xuống. Những tưởng bằng ấy thứ, thì dù tim Thủ-Lý bằng thép cũng phải nhũn ra. Thế mà Thủ-Lý vẫn cười lạnh lùng :
- À, có thế chứ.
Bảo-Bảo quát :
- Người thực là tên nhà quê không tim, không gan, tàn nhẫn nhất thiên hạ. Với sắc đẹp của bản cô nương, anh hùng thiên hạ hễ trông thấy là líu ríu tuân lệnh. Còn người, thì người rửng rưng. Thực là quân mọi rợ. Người phải mau lau vết máu cho bản cô nương đã, rồi hãy nói đến chuyện cung khai.
- Cô nương phải khai trước, rồi tại hạ lau sau cũng được. Đầu tiên cô nương cho biết sư phụ của cô nương là ai ? Hiện ở đâu ?
Bảo-Bảo biết gặp tay kình địch, nàng thở dài :
- Sư phụ của muội chính là giai-phi Chế Bì-la-bút.
Thủ-Huy, Đoan-Nghi cùng bật lên tiếng ái chà, không lẽ. Nhưng Thủ-Lý thì gật đầu :
- À, thì ra giai phi Chế-bì La-bút là Mao-Nữ tiên tử đấy. Cô nương cứ thực thà khai hết đi. Tại hạ hứa sẽ chu toàn tính mệnh cho cô nương với gia đình.
Tá-Chu từ ngoài vào, chàng nghiêng mình chào Bảo-Bảo, Thúy-Thúy, rồi mở ra một cuốn trục lụa. Trên trục vẽ hình Bảo-Bảo trong y phục quận chúa Tống. Nàng đang đứng cạnh Giai-phi Chế-bì La-bút. Giai-phi trong y phục công chúa Tống. Nét vẽ cực kỳ sống động. Cạnh đó có chữ đề đẹp như rồng bay, phượng múa :

« Nhất cố khuynh nhân thành,
Tái cố khuynh nhân quốc.
Khởi tái cố thành khuynh,
Giai nhân nan tái đắc »

Nghĩa là :

Một nghiêng đầu, khiến thành nghiêng.
Tái nghiêng đầu, khiến nước nghiêng.
Đâu cần nghiêng đầu lần nữa để nghiêng thành.
Người đẹp khó mà có hai.


Bảo-Bảo hừ một tiếng, nghĩ thầm :
- Từ trước đến giờ, sư bá, sư phụ, chỉ đề phòng Thủ-Huy, mà quên mất bọn Thủ-Lý, Tá-Chu, Trung-Từ. Về tài trí, bọn này mỗi đứa đều có sở trường riêng. Cứ như hình vẽ này, thì tên Tá-Chu từng theo dõi bọn Hoa-sơn nhà mình từ lâu rồi. Ta có dấu diếm nữa cũng vô ích.
Nghĩ vậy Bảo-Bảo tiếp :
- Vào niên hiệu Thiệu-Hưng thứ 22 (DL.1152) bên Đại-Việt là niên hiệu Đại-Định thứ 13, một hoàng thân nước Chiêm-thành tên Uông Minh Ta Điệp sang đút lót vàng bạc cho ác nhân Đỗ Anh-Vũ, để xin y tâu với Đại-Định hoàng đế phong ông làm vua Chiêm. Anh-Vũ không cần tâu vua, y sai tướng Lý Mông đem 5 nghìn quân đưa Uông Minh Ta Điệp về làm vua Chiêm. Nhưng quân Việt bị vua Chiêm là Chế-bì La-bút đánh thua. Lý Mông, Uông Minh Ta Điệp đều bị chết. Chế-bì La-bút sợ Đại-Việt mang quân hỏi tội, ông ta sai sứ sang Tống cầu cứu. Bấy giờ Tống triều đang phải chống với Kim, thì sao dám mó tay vào cái tổ ong Đại-Việt ? Khu-mật viện Tống gửi thư cho thái sư bá của ta là Trung-nhạc Tung-sơn, vốn đã tiềm ẩn bên Đại-Việt từ lâu rằng : Bằng mọi cách trong bóng tối vận động với triều đình Đại-Việt bãi quân Nam-chinh. Việc này thái sư bá thành công. Thái-sư bá nhân đó bắt vua Chiêm phải nhận sư phụ làm con, rồi dâng cho vua Đại-Việt để tạ tội.

Ghi chú của thuật giả:

Việc này ĐVSKTT, VSL chép trong Lý kỷ, Anh-tông kỷ .
Uông Minh Ta Điệp, phiên âm theo Phạn-ngữ là Ông Vangsaraja. Còn Chế-bì La-bút là Jaya Havivarman.


- Đúng thế, trí nhớ cô nương tốt lắm. Xin cô nương tiếp cho.
- Sở dĩ có việc này vì thái sư bá làTrung-Nhạc Tung-sơn đã dẫn hai vị sư bá Vân-Đài, Công-Chúa sang Đại-Việt, nhưng chỉ mình Vân-Đài là lọt vào một gia đình danh gia. Còn sư bá Công-Chúa thì tuy nức tiếng Thăng-long là một ca kỹ tài sắc không ai có thể so sánh. Nhưng lại yêu một nhân vật có địa vị cực kỳ lớn trong võ lâm đến điên đảo thần hồn, mà không làm lợi ích gì cho Tống triều. Thái sư bá muốn đem sư phụ sang, rồi tìm cách cho người lọt vào hoàng cung.
- Sư bá Công-Chúa tiên tử yêu ai vậy ?
- Hồi đầu người chỉ biết đó là một mỹ nam tử, văn hay, chữ tốt, võ công cực cao. Hơn nữa lại có tài thổi tiêu. Cho nên ngay khi vừa gặp nhau là người yêu ông ta liền. Sau khi ông ta bỏ đi bất thình lình, sư bá đau khổ khóc lóc thảm thiết. Sư bá bỏ tiền ra nhờ người ta điều tra lý lịch người ấy, thì mới biết đó là đại hiệp Trần Tự-Hấp thân phụ của phò mã và Thần-Nông sứ.
Thủ-Lý, Thủ-Huy, mỉm cười, vì biết rằng phụ thân mình không biết thổi tiêu, thì sao có thể là người tình của ca kỹ kia? Còn Đoan-Nghi thì á lên một tiếng kinh ngạc đến tột độ. Nàng đưa mắt nhìn anh chồng, nhìn chồng. Hai người cười mà không phải cười.
Bảo-Bảo tiếp :
- Vì chuyện tình này, mà Tống triều cử sư bá Lạc-Nhạn sang thay thế thái-sư bá Thiên-Hư. Sư bá Lạc-Nhạn mới gặp sư bá Công-Chúa thì say mê đến không còn biết trời đất là gì. Song sư bá Công-Chúa không chú ý đến người. Sư bá Lạc-Nhạn mới tìm cách giết đại hiệp Tự-Hấp, để chiếm người yêu. Nhưng than ôi, khi người đấu với đại hiệp, thì chỉ chịu được có mười tám chiêu thì sư bá bị bại... Rồi sau không biết tại sao đại hiệp Tự-Hấp lại bỏ đi, không một lời từ biệt. Sư bá Công-Chúa hóa điên, hóa khùng.
Thủ-Lý hỏi :
- Có phải thái sư bá của cô nương là Thiên-Hư đạo nhân không ?
Bảo-Bảo mở to mắt kinh ngạc :
- Thì ra người đã biết rồi ư ?
- Tại hạ đoán ra mà thôi.
Thủ-Lý giảng giải :
- Cô nương gọi ông là thái sư bá, thì ông ta là chưởng môn phái Hoa-sơn tức Trung-Nhạc Tung-Sơn tiền nhiệm của Ngô Giới. Mà chưởng môn tiền nhiệm Ngô Giới thì là Thiên-Hư đạo nhân. Ông ta sang Đại-Việt ngay từ những ngày đầu của triều đại Nam Tống để tìm bộ Vô Trung kinh. Ông ta thấy, nếu một mình phái Hoa-sơn mà muốn đoạt lại Vô Trung kinh thì e còn khó hơn bắc thang lên trời. Vì vậy ông mới nghiên cứu kế hoạch kéo triều Tống vào cùng làm. Bấy giờ là lúc thịnh thời của Ngô Giới, Ngô Lân, Hàn Thế-Trung, Lưu Kỳ, nên Khu-mật viện Tống chấp nhận liền. Anh em họ Ngô tuyển hai giai nhân tuổi còn nhỏ, rồi trao cho Vân-Đài, Công-Chúa thu làm đệ tử, còn Khu-mật viện thì dạy tiếng Việt, văn hóa Việt, rồi gửi sang cho Thiên-Hư...Thôi cô nương tiếp cho.
Thấy Bảo-Bảo khi thì gọi Thủ-Lý bằng người, xưng ta, khi thì gọi bằng đại ca xưng muội, thì Đoan-Nghi nghĩ thầm :
- Cô này say mê ông anh chồng mình rồi đây. Khu-mật viện Tống cài người thì hay thực, nhưng họ cài những thiếu nữ quá non nớt, thành ra thiếu bản lĩnh trong tình trường, rút cuộc kết quả bị đảo ngược. Cái nàng Công-Chúa khi xưa thì say mê ông bố chồng mình, Thúy-Thúy thì say mê Thủ-Huy. Còn nàng Bảo-Bảo thì cảm anh Thủ-Lý rồi.
Bảo-Bảo kể bằng giọng tha thiết :
- Bấy giờ sư phụ đã được trao cho đạo cô Mao-Nữ nuôi dạy, định sẽ gửi sang Đại-Việt. Thái-sư bá yêu cầu Khu-mật viện khẩn dạy sư phụ tiếng Chàm, cùng âm nhạc. Rồi đưa sang Chiêm giả làm công chúa nước này. Chiêm dâng sư phụ cho Đại-Định hoàng đế. Đúng ra với tài sắc của sư phụ, thì người có thể làm cho nhà vua say đắm, rồi chuyên quyền. Nhưng thái sư bá không cho, vì làm như vậy dễ bị lộ lắm, dẫu sao sư phụ cũng là công chúa Chiêm. Cho nên sư phụ luôn tỏ ra là một bà phi hiền hậu.
- Có phải tên thực của sư phụ cô nương là Hàn Dũ-Linh không ?
Bảo-Bảo kinh hoảng :
- Người...Người... Đại ca cái gì đại ca cũng biết cả rồi, thế mà đại ca còn hỏi.
Chán đời đi lang thang !
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-03-21 03:11:02NuHiepDeThuong>
Hồi thứ hai mươi mốt

Tiêu-sơn di hận




Bấy giờ là giờ Mùi (15-17 giờ), ngày 5 tháng 9, niên hiệu Thiên-cảm Chí-bảo nguyên niên (DL.1174 Giáp Ngọ). Trong một soái thuyền lớn của hạm đội Âu-Cơ, neo tại căn cứ Đồn-sơn. Phụ-quốc thái-úy Trần Thủ-Huy cùng chư tướng ngồi ở phòng hội chính. Tất cả, vừa uống trà, vừa đàm đạo. Mỗi khi có tiếng chân ngựa phi, Thủ-Huy lại lắng tai nghe, phóng mắt nhìn ra ngoài, xem ai đến ? Song đã không biết bao nhiêu ngựa tới, lui, mà Thủ-Huy với chư tướng vẫn lắc đầu.
Mặt trời đã xế về Tây, ánh sáng vàng vọt của buổi chiều Thu tỏa xuống rừng núi đầy lá vàng. Gió biển buổi chiều mang theo cái lạnh len lỏi ở trong.
Đã sang giờ Thân, Thủ-Huy không kiên nhẫn được nữa, công đứng lên nói :
- Thái-tử cùng Nghĩa-Thành vương hứa sẽ hiện diện hôm nay, để khích lệ chư tướng, cùng ban chỉ dụ cuối cùng, trước khi chúng ta vượt biên. Nhưng, cho tới giờ này, cũng không thấy hai vị giá lâm, chúng ta đành tùng quyền, mà hành sự.
Các tướng im lặng nghe lệnh.
Thủ-Huy để kiếm lệnh lên bàn, rồi hướng vào chư tướng :
- Tôi nhắc lại. Chúng ta tiến quân làm hai cánh, mỗi cánh có hai mũi. Cánh thứ nhất do Kiến-Ninh vương làm chánh tướng, Kiến-An vương làm phó tướng, thống lĩnh bốn hạm đội, chở năm hiệu Thiên-tử binh tiến đánh Quảng-châu, Khâm-châu. Để che mắt tế tác Tống, bốn hạm đội, cũng như năm hiệu binh hiện đều đồn trú tại Thanh-hóa. Vậy nhị vương khẩn lấy ngựa lên đường ngay đêm nay, chuyển quân xuống thuyền, truyền hạm đội nhổ neo. Nhớ phải ban lệnh cho hạm đội ra thực xa bờ, để tránh thuyền buôn, thuyền đánh cá Tống biết. Nếu trên đường đi gặp bất cứ thuyền nào, cũng bắt đem theo. Sau khi đổ bộ hãy thả ra. Khi tới ngoài khơi Quảng-châu, Khâm-châu, thì đổi hướng, vào bờ. Lúc di chuyển phải tính toán sao, để đúng giờ Dần ngày 15 tháng 9 thì đổ bộ.
Thủ-Huy lại hướng Long-Hòa, Tăng Khoa :
- Cánh thứ nhì do Kiến-Tĩnh vương làm chánh tướng, Vũ-kị thượng tướng quân làm phó, thống lĩnh bẩy hiệu Thiên-tử binh, hiệu kị binh Phù-Đổng, hiệu ngưu-binh Hoa-lư vượt biên đánh lên Ung-châu bằng đường bộ. Tất cả các hiệu binh này hiện đều đồn trú rải rác ở Thăng-long, Kinh-Bắc, Đông-triều, Lạng-châu. Đợi đến ngày 14 hãy di chuyển, đúng giờ Dần ngày 15 tháng 9, đồng vượt biên tràn sang đánh 18 ải, rồi tốc thẳng lên chiếm Ung-châu, Côn-lôn, Quế-châu, Linh-lăng, vượt Ngũ-lĩnh đánh Trường-sa.
Khoang soái thuyền rất rộng, cử tọa có trên trăm người mà không một tiếng động. Tiếng Thủ-Huy vẫn sang sảng :
- Tin tế tác cho biết hiện khắp vùng Quảng-Đông, Quảng-Tây, Tống chỉ có bảo binh và hai hiệu binh địa phương. Ta ra quân bất thình lình, đánh như sét nổ, bọn biên quan chưa tập họp được quân, thì thành đã bị chiếm.
Công hỏi cử tọa :
- Ai có gì thắc mắc không ?
Kiến-Tĩnh vương hỏi :
- Thành Ung, Linh-lăng rất chắc. Trường hợp quân Tống rút vào trong cố thủ, thì tôi phải hạ được thành rồi mới tiến quân, hay cứ tiến quân ?
- Thành chắc, nhưng quân thủ thành không đông, cũng không tinh. Ta không cần hạ thành. Cứ để lại một ít quân bao vây, rồi tiến quân tiếp.
- Có ai thắc mắc gì nữa không ?
Chư tướng đều im lặng.
- Thôi, xin mời chư vị lên đường.
Các tướng cùng đứng lên .
Thình lình có nhiều tiếng ngựa phi. Thủ-Huy vẫy mọi người ngồi lại :
- Không chừng Thái-tử tới trễ.
Một thân binh vào báo :
- Thưa Thái-úy, có sứ giả tới xin cầu kiến.
Thủ-Huy giật mình :
- Sứ giả là ai vậy ?
- Thưa là Dao-thụ Thái-phó, lĩnh Cần-chính điện đại học sĩ, Trường-yên quốc công, thượng thư bộ Lễ Ngô Lý-Tín.
Theo quan giai, thì hàm Dao-thụ Thái-phó của Ngô thấp hơn Phụ-quốc Thái-úy của Thủ-Huy nhiều. Nhưng Ngô là khâm sứ, nên Thủ-Huy phải ra đón.
Lễ nghi tất.
Thủ-Huy hô lớn :
- Chư tướng quỳ gối nghe chỉ.
Ngô Lý-Tín mở chiếu chỉ đọc:
Thừa thiên khải vận,
Đại-Việt hoàng đế chiếu viết :

Tự cổ từ Tam-hoàng, Ngũ-đế, các vị thánh nhân cai trị dân, đều nêu cao đức hiếu để làm gương. Từ khi đức Thái-tổ nhà ta thừa mệnh trời, ứng lòng người mà lập nền chính thống, trải 164 năm có dư, đều dạy dân lấy hiếu phụng dưỡng cha mẹ.
Long-Xưởng là hoàng trưởng tử, trẫm chiếu lời tâu của chư đại thần, lập làm thái-tử. Gần đây, long thể bất an, trẫm lại trao hết quyền hành cho. Ngày một, ngày hai, khi trẫm về chầu tiên đế, thì ngôi trời ắt truyền cho Xưởng. Thế mà y lại nảy lòng hươu dạ vượn, đêm hôm trước, lén nhập cấm cung, toan cưỡng dâm sủng phi, giết thái giám, cung nga.
Than ôi ! Làm con mà bất hiếu đến như vậy, thì sao có thể cai trị thiên hạ ? Làm đấng trừ quân mà tham dâm bất chính đến thế, thì sao có thể cầm giềng mối quốc gia ? Trẫm lấy làm đau đớn trong lòng đã sinh ra đứa nghịch tử, nên đành nuốt lệ tế cáo trước lăng mộ các tiên đế. Nay trẫm tuyên chỉ với bách quan, với quốc dân ba điều.

Một là bắt giam đứa con bất hiếu, để chờ ngày xử tội, lại phế bỏ ngôi thái-tử, giáng xuống làm con út, tức con thứ bẩy.
Hai là, trong khi chờ đợi lập thái-tử mới, tạm truyền đóng cửa Đông-cung, giải tán Đông-cung triều.
Ba là các hiệu Thiên-tử binh, các hạm đội, thủy đội đâu ở yên đấy. Việc ra quân bãi bỏ. Bất cứ hoàng thân, đại thần, tướng sĩ nào còn bàn đến chuyện này sẽ bị xử trảm.

Vậy các hoàng tử, thân vương, phò mã, công chúa phải khẩn về Thăng-long chờ chỉ dụ.

Thiên-cảm Chí-bảo nguyên niên, tháng 9 ngày Canh Dần.

Khâm thử.


Thủ-Huy, Đoan-Nghi cùng chư tướng ngơ ngác nhìn nhau, đồng lậy tạ rồi đứng dậy.
Ngô Lý-Tín nói với Thủ-Huy :
- Hoàng thượng truyền công chúa với phò mã dẫn ba vương Kiến- Ninh, Kiến-An, Kiến-Tĩnh khẩn về triều phục mệnh ngay. Việc hoàng tử Long-Xưởng phạm tội quá nặng, khiến hoàng-thượng buồn sầu mà long thể khiếm an, không biết sẽ băng hà lúc nào.
Nghe Ngô nói mà lòng Thủ-Huy chán cho tình đời, vì y dùng chữ hoàng tử Long-Xưởng, chứ không gọi là Thái-tử nữa.
Đoan-Nghi không kiên nhẫn được, nàng hỏi :
- Ngô Thái-phó, cái vụ này ra sao ?
- Khải điện hạ, thần cũng không biết gì hơn nội dung của chiếu chỉ. Sáng nay, thần vừa thức dậy thì được báo cổng thành đóng kín. Trên thành, quân sĩ đi lại tuần hành. Đến giờ Thìn thì cổng thành mở cho các đại thần vào thiết triều ở điện Càn-nguyên.
Lý-Tín thở dài :
- Khi hoàng-thượng với Tuyên-phi ra ngự triều một lát, thì Thái-sư Tô Hiến-Thành với Tể-tướng Đỗ An-Di vào tâu rằng đã cho bắt hết cung nga, thái giám, thị vệ, bộc phụ Đông-cung giam lại. Tài vật thì niêm phong. Trong Hoàng-thành, binh sĩ canh phòng rất cẩn mật, trên kinh thành thì Thái-bảo Phí Công-Tín chỉ huy hiệu binh Sơn-Nam trấn đóng. Rồi Hoàng-thượng cho tuyên đọc chiếu chỉ này, và truyền thần khẩn mang lên cho điện hạ với phò mã tường.
Kiến-Ninh vương bảo Ngô Lý-Tín :
- Thôi, Ngô Thái-phó hãy trở về trước đi. Chúng tôi sẽ rút quân từ từ, khi nào xong, chúng tôi sẽ về phục mệnh phụ hoàng.
Ngô chắp tay vái :
- Khi thần lên đưởng, Hoàng-thượng ban chỉ rằng phải thỉnh cho được ba vị vương gia, công chúa phò mã về cùng, ngay ngày hôm nay.
Ngô nhìn ba vương, nói nhỏ :
- Hoàng thượng muốn ba vị điện hạ về ngay, để người còn chọn một vị phong làm Thái-tử thay thế hoàng tử Long-Xưởng. Vả bệnh tình hoàng thượng đang nguy kịch. Ba điện hạ không nên chậm trễ.
Bao nhiêu cái uất ức chồng chất không nơi phát tiết, bây giờ lại nghe lời thúc dục của Lý-Tín, dường như y muốn bắt mình. Kiến-Ninh vương nổi cáu, vương túm tóc y, rồi vung tay một cái, người y bay bổng lên cao, rơi xuống biển đến ùm một cái. Lý-Tín không biết bơi, y chới với dưới nước. Kiến-An vương hất hàm ra lệnh cho người thuyền trưởng. Anh ta ném sợi dây xuống cuốn lấy Lý-Tín, giật mạnh, người y tung lên cao, rơi xuống sàn thuyền.
Kiến-Ninh vương rút kiếm dí vào cổ Lý-Tín :
- Người là văn quan thì phải biết rằng : Tướng ngoài mặt trận không nhất thiết phải nghe lệnh vua. Vả nếu có chỉ dụ bắt bọn ta, thì hẳn phụ hoàng đã ban chiếu. Cái vụ bắt bọn ta về ngay, là do nhà người bịa ra, có phải thế không ? Vì người có chiếu chỉ trong mình, bằng không ta băm người ra như băm chả. Khôn hồn thì người phải khai cho rõ, người bịa ra chỉ dụ của phụ hoàng hay có kẻ bắt người bịa ?
Ngô Lý-Tín run lật bật không nói lên lời. Thủ-Huy đưa mắt cho Đoan-Nghi, với ý muốn Đoan-Nghi nhả ít Huyền-âm nội lực vào người Lý-Tín bắt y phải khai. Nhưng Đoan-Nghi lắc đầu :
- Y là sứ giả của phụ hoàng. Muội không thể...
Thủ-Huy chợt nhớ rằng mình đã hút ngũ độc cứu Đoan-Nghi, mình cũng có thể vận khí nhả nọc. Nghĩ đến đâu, chân khí tòng tâm chuyển vận. Ngón tay của Thủ-Huy run lên bần bật. Công sẽ vỗ vào vai Lý-Tín :
- Thôi, Thái-phó vào khoang thuyền thay y phục rồi về kinh phục mệnh.
Ngô lồm cồm bò dậy, nào biết đã bị truyền độc. Ngô vào trong khoang thuyền thay y phục . Lát sau y trở ra. Thủy-Huy nháy mắt cho Kiến-Ninh vương. Vương hiểu ý ông em rể, bảo Lý-Tín :
- Cái vụ người bịa ra chỉ dụ của phụ hoàng, khó mà biết thực hư. Vậy người hãy quỳ gối xuống, rồi thề rằng : « Chư vị thần linh Đại-Việt chứng cho. Nếu Ngô Lý-Tín có gian dối trong việc truyền chỉ thì sẽ bị đau đớn cùng cực trong 49 ngày rồi chết ».
Lý-Tín run run quỳ xuống, rồi thề như Kiến-Ninh vương nói. Khi y vừa đứng dậy, thì cảm như có con dao đâm vào ngực, đau đớn đến muốn ngất đi. Không chịu nổi y, hét lên :
- Ái ...ái....ái.
Tiếp theo ba, bốn rồi năm con dao cùng đâm khắp người y. Y lăn lộn kêu gào thảm thiết.
Kiến-Ninh vương hỏi :
- Thì ra người thề gian, nên ngũ phương thần dùng dao đâm người. Bây giờ người khai thực đi, ta sẽ truyền chỉ bảo chư thần ngừng tay.
Lý-Tín vẫn lăn lộn :
- Thần không... Không hề thề dối ! Ối...
Kiến-Tĩnh vương hỏi Thủ-Huy :
- Đại ca, đại ca nghĩ sao ?
Thủ-Huy vẫy tay cho chư tướng vào khoang thuyền, sai canh gác cẩn thận, rồi nói :
- Tôi thấy trong vụ này ẩn tàng một điều gì khó hiểu. Nhất định cái việc Thái-tử nhập cấm cung cưỡng dâm cung nga là không thể có rồi. Bởi cứ lý mà suy, Thái-tử chỉ sủng ái có một mình vương phi Bùi Trang-Hòa mà thôi. Xung quanh Thái-tử không thiếu gì những cung nga xinh đẹp, mà có bao giờ người ngó ngàng tới đâu ? Vậy, mặc dù có chiếu chỉ, chúng ta cũng không thể về Thăng-long vội. Ta phải sai người dò thám tình hình xem đã. Nhưng nếu chúng ta không về thì chẳng hóa ra tử bất hiếu, thần bất trung hay sao ?
Đoan-Nghi bàn :
- Hay là bọn Tô Hiến-Thành làm loạn, có bọn tế tác Tống trợ giúp ? Cứ như Ngô nói ban nãy thì Tô dùng hiệu binh địa phương Sơn-Nam chiếm đóng Kinh-thành, Hoàng-thành. Không biết hiệu binh này do ai chỉ huy ?
Thủ-Huy trả lời :
- Là Mạc Hiển-Tích, trước kia y là gia tướng của Đỗ An-Di.
Mọi người cùng bật lên tiếng ồ kinh ngạc.
Đoan-Nghi thở dài :
- Có lẽ khi khởi sự, Tô Hiến-Thành, Đỗ An-Di cũng muốn dùng Thiên-tử binh. Nhưng chúng biết rằng Thiên-tử binh đều đang chuẩn bị Bắc chinh, nên chúng không thể dùng chỉ dụ để sai khiến họï, chúng mới nghĩ tới tìm một lực lượng địa phương. Di không ngần ngại gì mà dùng tình nghĩa cũ của chủ tớ, móc nối Mạc Hiển-Tích tham dự. Không chừng việc này chúng chuẩn bị từ lâu rồi mà ta không hay. Biết đâu y băét phụ hoàng, rồi ép ban chỉ cũng nên. Được, tôi sẽ dùng chim ưng liên lạc với mẫu hậu xem sao.
Nói là làm. Đoan-Nghi viết thư, rồi sai chim ưng mang đi. Hơn giờ sau, thì chim ưng trở về mang theo trong ống dưới chân một bức thư. Đoan-Nghi nóng ruột, mở ra đọc :

« Nhận được thư, mẫu hậu báo cho con hay : Anh Long-Xưởng bị giam ở đâu, hay hoăng rồi, mẫu hậu cũng không biết nữa. Cung Long-thụy có binh lính canh gác rất kỹ, không ai được vào. Chỉ thấy bọn Đỗ An-Di, Tô Hiến-Thành, Phí Công-Tín ra vào mà thôi ; phụ hoàng ban chiếu, thay đổi toàn thể các quan trong triều. Quyền nằm trong tay bọn Tô, Đỗ. Aùn binh tại chỗ, chờ tin tức. Đừng về vội, về thì chết hết ».

Đến đây Ngô Lý-Tín đau quá, chịu không nổi y hét lên :
- Xin chư thần tha mạng. Việc này là do...là do... Tuyên-phi bắt tôi phải làm như vậy.
Kiến-Ninh vương hỏi :
- Người muốn sống hay chết ?
- Thần... muốn số..ố..ống !
Biết đã có hiệu quả, vương ngửa mặt lên trời ban chỉ :
- Hỡi chư thần ! Hãy tạm ngừng hành hạ Ngô Lý-Tín, y xin khai thực. Nếu y có điều gì giả dối, chư thần hãy làm tội y cũng không muộn.
Nói dứt, vương túm cổ áo y nhắc dậy, trong khi đó chìa ngón tay chỏ điểm vào huyệt Đại-trùy. Toàn thân y tê liệt, cảm giác đau đớn biến mất, y lại tưởng linh thần tạm tha cho y.
Ngô Lý-Tín là một nho thần, thông minh, tài trí. Đúng ra từ cái việc thề, tới việc điểm huyệt, y cũng đoán ra. Nhưng sau khi bị kề kiếm vào cổ, bị ném xuống biển, rồi bị ngũ độc hành hạ, thần trí y mơ mơ, hồ hồ, y tin rằng mình bị chư thần phạt. Y khai :
- Những gì thần nói ban nãy đều không đúng sự thực. Chính Tuyên-phi bắt thần phải nói như vậy.
- Thế sự thực ra sao ?
- Đêm hôm qua, vào giờ Tuất, tất cả các đại thần đều được thái giám đến tuyên triệu phải vào cung Long-thụy trong Hoàng-thành nhận chỉ dụ khẩn cấp . Khi thần vào tới nơi thì đã thấy Hoàng-thượng nằm dài trên long sàng, chân tay run lẩy bẩy vì giận dữ . Các đại thần như Thái-sư Tô Hiến-Thành, Tể-tướng Đỗ An-Di, Thái-bảo Phí Công-Tín, Thiếu-bảo Ngô Nghĩa-Hòa đang chắp tay đứng hầu, mặt người nào cũng đầy lo âu. Một lát Hoàng-thượng ban chỉ : Các người hãy sang cung Tuyên-phi, để thấy tận mắt cái việc mà đứa nghịch tử đã làm. Thái-sư Tô Hiến-Thành dẫn đầu, bọn thần theo sau. Trong khi đi, Đỗ Tể tướng thuật sơ cho biết rằng : Thái-tử đột nhập Hoàng-cung định cưỡng dâm Tuyên-phi.
Mọi người cùng bật lên tiếng ái chà !
- ... Tuyên-phi chống trả, thì bị Thái-tử đánh trọng thương. Bọn cung nga, thái giám xúm vào ôm lấy Thái-tử cứu phi. Họ bắt được Thái-tử trói lại, nhưng tám trong mười người bị Thái-tử đánh chết. Hai người bị thương nặng. Thân mẫu của Tuyên-phi là Thạc-hòa Anh-văn phu nhân vội chạy sang cung Long-thụy cầu cứu với hoàng-thượng. Hoàng-thượng hô thị vệ theo người đến cung Tuyên-phi, truyền giam Thái-tử lại, rồi đích thân thẩm vấn bọn cung nga, thái giám. Chúng đều khai giống như Thạc-hòa phu nhân.
Kiến-Tĩnh vương quát lên :
- Vô lý ! Không thể có việc đó.
Đoan-Nghi vẫy tay :
- Anh tạm buông lỏng cái nóng nảy, để Ngô Thái-phó thuật.
Nàng giục Ngô Lý-Tín :
- Xin Thái-phó tiếp cho.
- Bọn thần đến cung Tuyên-phi, thì thấy thị vệ vây kín cung. Bên trong, một cảnh kinh hoàng diễn ra. Ngay cửa cung, một thái giám nằm chết cong queo, đầu vỡ, óc, máu bê bết. Một thái giám nữa bị vỡ lồng ngực , nằm bẹp dí như con tép bị dẵm lên. Hai thái giám gẫy xương sống nằm sấp. Hai thái giám bị đánh bật vào tường đầu vỡ, ngực bẹp. Hai cung nga, một người nằm vắt vẻo trên cái án thư, khắp thân mạch máu vỡ ra, mũi, miệng, mắt, tai đều ri rỉ ra máu. Một người chết ngồi, ngực bị chỉ lực xuyên qua, mặt tươi tỉnh, miệng cười mà không phải cười. Hai cung nữ khác bị thương, đang ngồi bưng mặt khóc. Không thấy Tuyên-phi đâu, bọn thần hỏi mấy thị vệ, thì chúng nói Tuyên-phi bị thương nặng, đang ngủ trong tẩm phòng. Bọn thần nhờ Thạc-hòa Anh-văn phu nhân vào thỉnh phi ra. Phu nhân vừa vào tẩm phòng thì người khóc thét lên. Bọn thần tùng quyền chạy vào thì thấy Tuyên-phi thắt cổ toòng teeng trên sàn nhà. Phu-nhân cắt dây đỡ Tuyên-phi xuống, rất may chưa băng. Vừa lúc đó thì ngự y Hoàng-cung là y sư Trần-thị Phương-Thanh tới. Người cứu Tuyên-phi tỉnh dậy, rồi khám các vết thương của phi. Ngự y còn khám nghiệm xác tám người chết, chẩn bệnh hai người còn sống, dùng châm cứu chữa bệnh cho họ.
Thủ-Huy hỏi :
- Ngự y có đưa ra nhận xét gì không ?
- Người ghi chú mọi sự việc, rồi ban lệnh : Tất cả xác chết đều không được chôn cất. Bọn thái giám bị thương không được ra khỏi Hoàng-thành. Người nói với Tô Thái-sư rằng cần giữ nguyên như vậy, chờ ba vương gia, công chúa điện hạ với Trần phò mã về, mới thấy rõ tội trạng Thái-tử.
Đoan-Nghi cau mặt :
- Rồi sao?
- Hoàng-thượng tuyên chỉ trao thị vệ, cấm quân cho Thái-sư Tô Hiến-Thành, Thái-bảo Phí Công-Tín giữ an ninh Hoàng-thành, Kinh-thành ; giải tán, niêm phong Đông-cung. Nhưng Tả-thiên Ngưu-vệ thượng tướng quân Tăng Quốc, Tổng-lĩnh thị vệ, kiêm thống-lĩnh cấm quân không chịu trao quyền. Tăng tướng quân nói rằng, quân luật của Đại-Việt từ đời đức Thái-tổ định rằng, người trực thuộc Phụ-quốc Thái-úy là phò mã, thì khi bàn giao, phải có sự chứng kiến của phò mã. Người chỉ tuân lệnh Thái-sư huy động thị vệ bảo vệ Hoàng-cung, và huy động cấm quân phòng vệ Kinh-thành mà thôi. Vì vậy Tể-tướng Đỗ An-Di mới xin hoàng-thượng ban chỉ gọi Vân-ma đại-tướng quân Mạc Hiển-Tích đem hiệu binh địa phương Sơn-Nam về trấn Thăng-long.
Lòng Thủ-Huy nóng như lửa công hỏi :
- Thế Nghĩa-Thành vương đâu mà hoàng-thượng không tuyên triệu người, mà tuyên triệu Thái-sư Tô Hiến-Thành ?
- Vương gia đã lên đường đi Thanh-hóa, đích thân chỉ huy cuộc vận tải lương tiếp tế cho các hạm đội.
- Thế khi hiệu binh Sơn-Nam về, thì có đụng chạm với thị vệ ngự lâm quân không ?
- Thưa không. Tô Thái-sư lệnh cho hiệu binh Sơn-Nam canh gác Hoàng-thành, các cung điện trong Hoàng-thành, niêm phong phủ Đông-cung, bao vây cơ sở Binh-bộ, các bến thủy quân, phủ thừa Thăng-long. Còn các cửa Kinh-thành, kho vũ khí, lương thực, Khu-mật viện, các phủ đệ của thân vương, đại thần thì khi quân Sơn-Nam tới, thị vệ, cấm quân không chịu trao cho. Thành ra Thăng-long đang có cuộc dằng co, bất cứ lúc nào cũng có thể xẩy ra cuộc giao chiến.
- Rồi sao ?
Đoan-Nghi hỏi :
- Thế sao ban nãy người nói là sáng nay người nhập triều, rồi được chỉ dụ đi sứ ?
- Khải điện hạ, khi thần lên đường thì Tuyên-phi dặn phải nói dối như vậy. Tuyên-phi trao cho thần một mật chỉ, dặn thần rằng : Sau khi tuyên chỉ thì phải nài nỉ sao để ba vương, công chúa, phò mã cùng về. Khi về tới Gia-lâm, qua làng Siêu-loại, thì đem mật chỉ ra đọc. Trong chỉ ban cho ba vương, phò mã, công chúa được chết. Đợi sau khi năm vị tự tử rồi, thì đem chôn ngay tại chỗ. Nhưng Tể-tướng Đỗ An-Di cho rằng phò mã, công chúa với ba vương là những người linh mẫn, không hồ đồ như thái-tử Phò-Tô với Mông-Điềm đâu, phải có kế hoạch an toàn. Tuyên-phi truyền Mạc Hiển-Tích sai một đội cung thủ phục sẵn ở đây. Nếu năm vị không tự tử, thì cung thủ sẽ ra tay.
Nói rồi Ngô xuất trong một ống bạc đeo bên hông ra một chỉ dụ. Kiến-An vương mở chỉ dụ xem, thì là bút tự của Tuyên-phi Từ Thụy-Hương, còn chữ ký thì đúng là của phụ hoàng.

Ghi chú của thuật giả:

Tần Thủy-Hoàng đã lập con trưởng là Phò-Tô làm thái-tử. Phò-Tô cùng tướng Mông-Điềm đem quân lên xây Vạn-lý trường thành. Ở kinh đô, Tần Thủy-Hoàng lâm bệnh. Khi sắp băng, nhà vua truyền gọi Phò-Tô về gấp để truyền ngôi. Chỉ vừa ban ra, thì Thủy-Hoàng băng. Thừa-tướng Lý Tư với Thái-phó Triệu Cao muốn chuyên quyền. Hai người tôn em của Phò-Tô là Hồ-Hợi lên ngôi vua, rồi giả chiếu chỉ của Thủy-Hoàng gửi cho Phò-Tô, Mông-Điềm kể một số tội, truyền cho được chết. Các tướng cản không cho Phò-Tô tự tử, mới khuyên rằng : Hãy về triều minh oan, rồi có chết cũng cam lòng. Phò-Tô ngửa mặt lên trời than : Vua bắt bầy tôi chết, mà không chết thì bất trung. Cha muốn con chết, mà không chết thì bất hiếu. Nói rồi rút gươm tự tử. Mông-Điềm cũng tự tử theo.

Kiến-Ninh vương bảo thân binh :
- Người đem Thái-phó về soái thuyền của ta, nhớ canh gác, hầu hạ cho chu đáo.
Ngô Lý-Tín biết mình bị giam lỏng, nhưng ông ta biết có phân trần gì cũng vô ích, nên líu ríu theo tên thân binh ra ngoài khoang thuyền.
Thủ-Huy lên tiếng hỏi bốn đô đốc chỉ huy bốn hạm đội và mười hai đô thống chỉ huy mười hai hiệu Thiên-tử binh :
- Các vị nghĩ sao về lời khai của Ngô Thái-phó ?
Vũ-kị thượng tướng quân Tăng Khoa đứng lên nói :
- Thưa Thái-úy, thuộc hạ thấy sự việc xẩy ra có rất nhiều điều đáng nghi ngờ. Trước hết cái việc Thái-tử tham dâm cưỡng hiếp Tuyên-phi, có ba điều bô lý. Một là, bản lĩnh võ công mà Thái-úy truyền cho Tuyên-phi so với Thái-tử, thì một mười, một tám. Hôm trước Vân-Đài Vương Thúy-Thúy đấu với Thái-úy, bản lãnh nàng có lẽ cao hơn Thái-tử. Vân-Đài sang Đại-Việt từ nhỏ, bản lĩnh do sư phụ Trịnh Nam-Phương âm thầm truyền thụ mà còn cao như vậïy. Trong khi đó Tuyên-phi do đích thân vú Mai, nguyên là cao thủ Công-Chúa của Hoa-sơn, với phụ thân là Lạc-Nhạn chân truyền thì phải cao hơn Vân-Đài nhiều. Vậy, nếu như khi Thái-tử vừa định hành sự, mà Tuyên-phi chống lại, ắt có cuộc giao đấu ít ra phải vài trăm hiệp mới phân thắng bại. Bấy giờ vú Mai đứng ngoài, sao bà không cứu con gái ? Bà là cao thủ Công-Chúa của Hoa-sơn mà ? Lại nữa, Tuyên-phi bị bại, thì thương thế phải trầm trọng lắm, chứ có đâu chỉ sưng má, đỏ mặt ? Hai là, thời gian giao đấu vài trăm hiệp, ít ra kéo dài đến hơn giờ (2 giờ ngày nay). Trong hơn giờ đó, thái giám cung nữ lại đứng nhìn ư ? Nhất định chúng chạy đi báo với hoàng-thượng hay tri hô lên cho thị vệ giải cứu chứ? Tại sao lại chờ cho thái-tử bị bắt rồi mới báo cho Hoàng-thượng ? Ba là, võ công cao như Tuyên-phi, mà còn bị đánh bại, hỏi với mấy đứa thái giám làm sao bắt sống được thái-tử ?
Cử tọa đều công nhận lý luận của Tăng Khoa là hợp lý.
Thủ-Huy hỏi :
- Chiếu chỉ của Hoàng-thượng bắt ba vương, công chúa với tôi phải về Thăng-long ngay. Rồi khi về tới Gia-lâm lại ban chiếu thứ nhì bắt phải chết. Ngược lại Hoàng-hậu lại bảo đừng về. Vậy ta nên hành động ra sao ?
Các tướng bàn luận phân vân, hơn khắc mà không tìm được lốii thoát.
Ngay lúc đó, thân binh chạy vào báo :
- Có hai thiếu nữ nhà quê xin cầu kiến công chúa, phò mã.
Thủ-Huy hỏi :
- Họ tên gì ?
- Hai vị không chịu xưng tên.
Đoan-Nghi ban chỉ :
- Cho vào !
Lát sau thân binh dẫn hai người mặc quần lụa, áo cánh, đội nón; xuống thuyền. Vừa nhác trông thấy, Đoan-Nghi đã giật bắn người lên. Vì đó là Kim-Ngân với Phương-Lan. Hai nàng hành lễ với cử tọa.
Đoan-Nghi giới thiệu với mọi người :
- Đây là bà chị dâu và em gái của chồng tôi.
Thủ-Huy chưa kịp lên tiếng, thì Phương-Lan đã nói trước :
- Chú hai ! Chị với Kim-Ngân lên gặp chú thím là việc tư . Song việc tư này có liên quan đến chư vị hiện diện ở đây. Vậy chị xin nói ra ở chỗ này, để tránh nghi ngờ giữa chú thím với chư tướng.
Đoan-Nghi đồng ý :
- Xin chị cứ tự nhiên.
- Biến cố ở Thăng-long xẩy ra đúng như anh Lý ước đoán trước. Oâng nội vội họp môn phái lại để định rõ đường lối hành động. Bố, Đại-Việt ngũ tuyệt, chư đệ tử đời thứ nhì, Vỵ-xuyên ngũ tiên, chư đệ tử đời thứ ba đều đưa ra ý kiến rằng mình không nên can thiệp vào. Anh Thủ-Lý nói: Mình đã đem hết tâm huyết ra giúp Thái-tử, mà Thái-tử không nghe lời, thì nay mình còn có lý gì mà can thiệp nữa ?
Phương-Lan đưa mắt nhìn chư tướng, rồi tiếp :
- Mẹ cũng nói : Huống hồ đây không phải là nạn ngoại xâm, không phải mối nguy của xã tắc, mà là người họ Lý hại người họ Lý. Chuyện cha làm vui lòng gái đẹp mà giết con, vua nghe lời mỹ nữ giết đại thần, là việc của họ Lý.
Anh Thủ-Lý còn gay gắt hơn :
- Trước đây đã có cô con dâu là Cảm-Thánh thái hậu mê tình nhân Anh-Vũ, đã giết mẹ chồng Chiêu-Hiếu thái hậu cho y vui lòng. Cũng đã có bà chị dâu Cảm-Thánh thẳng tay tàn sát các thân vương em chồng, để được lòng tình nhân Anh-Vũ. Rồi cũng chính bà định bưng tính mệnh con trai, con dâu, cháu nội, ngôi vua, giang sơn cho Lưu Kỳ, cho Tống... Thì nay, có ông vua muốn giết con trai, con gái, con rể ; dâng giang sơn, bưng sự nghiệp tổ tiên cho gái đẹp thì là chuyện thường trong cái triều Lý mà. Suốt trăm năm qua, những việc như thế, môn phái Đông-A không hề tham dự vào.
Kim-Ngân tiếp lời chị dâu :
- Tuy nhiên, mẹ, chị Phương-Lan với em thì xin ông nội cho phép chúng em lên đường cứu anh, không để cho anh chết rồi, mà hậu thế chê là ngu trung, ngu hiếu. Vì vậy hai đứa này mới có mặt ở đây.
Ba vương Kiến-Ninh, Kiến-An, Kiến-Tĩnh cũng như Đoan-Nghi đều biết Phương-Lan là người trí tuệ vô song, mưu cơ không biết đâu mà lường. Kiến-Ninh vương trình bầy sơ lược tin tức, cùng diễn biến đã xẩy ra, rồi hỏi :
- Thần-nông phu nhân ! Anh em chúng tôi đang phân vân gữa hai việc. Một là về phục mệnh phụ hoàng, tuân chỉ lĩnh cái chết như chỉ dụ ban. Hai là, mẫu hậu lại bảo không nên về. Phu nhân là người trí tuệ, vậy phu nhân quyết cho : Nên về hay không ?
Phương-Lan cười :
- Chư vị điện hạ phân vân cũng phải. Bởi nếu tuân chỉ dụ mà về thì dĩ nhiên là chết. Nhưng có thực ý phụ hoàng muốn giết con mình hay không ? Còn không về thì mang tiếng tử bất hiếu, thần bất trung. Xưa nay, khi bị vua kết án tử tình, thì các đại thần của triều đình Trung-quốc, Đại-Việt đều vui vẻ chấp hành. Dường như cái đạo đó xuất phát từ câu : Vua bắt bầy tôi chết, thì phải chết, nguyên văn là Quân xử thần tử, thần tử. Kìa, Nhạc Phi tài trí biết bao, đang cầm quân nghiêng nước giúp triều Tống. Thế mà bị cái ông vua Thiệu-Hưng gọi về giết, Phi vui vẻ tuân thủ, chỉ để được tiếng là trung. Rồi mới đây ngay trong triều đình Đại-Việt, Chiêu-hòa vương Lý Long-Vũ, Trí-minh vương Lý Long-Dũng, Bảo-ninh hầu Lý Long-Can, Bảo Thắng-hầu Lý Long-Hiền, phò mã Dương Tự-Minh cùng biết bao nhiêu đại thần văn võ, bị Đỗ Anh-Vũ ép vua ban chỉ giết bản thân và gia đình, chỉ vì cái tội trung với vua. Những người đó đều biết rõ không do ý nhà vua, mà vẫn cúi đầu thọ hình, cũng chỉ muốn tỏ ra mình là trung thần. Có đúng thế không ?
- Đúng vậy.
- Về hoàn cảnh các điện hạ, trong lịch sử đã từng xẩy ra rồi. Tôi xin vì các vị mà dẫn tích đó trong Tả-truyện :
"...Thái-tử Lịch-Sinh là con Tấn Linh-Công. Linh-Công băng, dì ghẻ giả chiếu gọi Lịch-Sinh trở về triều phục mệnh. Lịch-Sinh biết là chỉ giả, nhưng vẫn về, rồi bị giết. Sau sử sách khen Lịch-Sinh là người con hiếu. Ngược lại, thái-tử Trùng-Nhĩ không tuân chỉ, lưu vong khắp nơi, rồi dựng lên nghiệp bá. Sử cũng khen là người trí, là anh hùng. Bộ Sử-ký, Tư Mã-Thiên chép trong Thủy-Hoàng bản kỷ : Lý Tư, Triệu Cao, giả chiếu chỉ của Thủy-Hoàng bắt thái-tử Phò-Tô, tướng Mông-Điềm phải chết. Hai người tuân chỉ tự tử. Đời sau chê là ngu trung, ngu hiếu".
Mọi người đều gật đầu tỏ ý hiểu.
Phương-Lan tiếp :
- Tôi có hai con đường, xin ba điện hạ chọn một.
- Phu nhân cứ dạy.
- Trường hợp thái-tử Long-Xưởng cũng giống như Lịch-Sinh, Phò-Tô. Còn các vị điện hạ, cùng công chúa đây ; muốn làm Lịch-Sinh, Phò-Tô để được khen là tử hiếu, thần trung thì cứ về Thăng-long, tắm rữa sạch sẽ, đem đầu cho cái cô gái Dương-châu là Từ Thụy-Hương chặt, đầu được bêu cho dân chúng xem, thân vứt cho quạ rỉa. Vợ con thì bị đuổi khỏi Kinh-thành, về làm nông dân. Triều đình khen rằng đó là những người con hiếu, những người tôi trung. Không biết các vị nghĩ sao ?
Kiến-An vương nhăn mặt :
- Trung, hiếu kiểu đó thì chúng tôi không chịu nổi. Xin phu nhân chọn cho con đường khác.
- Còn các điện hạ muốn làm như Trùng-Nhĩ, thì hãy đem quân về Thăng-long, trước ta bắt bọn Tô Hiến-Thành, Đỗ An-Di, Từ Thụy-Hương chặt đầu, rồi an dân trong sáu tháng. Sau đó Bắc tiến cũng chưa muộn mà !
Kiến-An vương hỏi Thủ-Huy :
- Đại ca, đại ca sẽ hành xử như thế nào ?
Lòng Thủ-Huy rối như tơ vò. Công hỏi Phương-Lan:
- Chị ! Chị bảo em phải có thái độ nào ?
Phương-Lan lắc đầu :
- Chú vốn là người trí. Nhưng chú như người trong cuộc cờ, chú bị u mê, mà không nhìn ra. Còn chị, thì chị là người ngoài cuộc, chị thấy rất rõ ràng.
- Xin chị cứ nói.
- Chú có con đường trung dung là vừa làm Lịch-Sinh, Phò-Tô vừa làm Trùng-Nhĩ.
- Em không hiểu.
- Chú hãy trả lời cho chị ít câu.
- Chị cứ hỏi.
- Có phải tất cả các đô đốc, các đô thống ngồi đây đều do thái-tử Long-Xưởng với chú đào tạo ra. Có phải thế không ?
- Đúng vậy.
- Thế thì ngoài cái tình của thuộc cấp đối với thượng cấp ra, các vị ấy còn có cái hiếu giữa đệ tử với sư phụ nữa. Có phải thế không ?
- Vâng.
- Ví thử bây giờ Thái-tử Long-Xưởng với chú hoặc bị giết, hoặc bị mất chức, thì họ cũng có thể bị giết hay bị mất chức. Có phải thế không ?
- Vâng.
- Chú có thể đem đầu về dâng lên cho cô tình nhân cũ là Thụy-Hương chặt, để nàng vui lòng. Nhưng chú không có quyền để cô ta chặt đầu bằng này tinh hoa của Đại-Việt. Không thể để vợ, con họ bị chặt đầu chỉ vì họ có tấm lòng son, muốn khôi phục đất tổ mà theo Thái-tử với chú.
Phương-Lan hỏi chư tướng :
- Các vị có đồng ý đem đầu cho Tuyên-phi Từ Thụy-Hương chặt không ?
Tất cả đều trả lời :
- Không.
Phương-Lan nói thực chậm :
- Bây giờ chú phải làm ba việc.
...Một là, ban lệnh cho các đô đốc, các tướng thống lĩnh Thiên-tử binh, các tướng thống lĩnh các hiệu binh địa phương rằng : Vì sự an nguy của xã tắc, vì sự sống còn của các vị ấy. Các vị ấy một mặt giữ vững quân lữ, nhất nhất chỉ tuân theo mệnh lệnh của chú mà thôi. Bất cứ trường hợp nào, dù có chỉ dụ của nhà vua sai người đến thay thế, cũng không được bàn giao cho người khác.
...Hai là, chú cùng chư vương, công chúa đem quân về Thăng-long, đóng ngoài thành để dương oai. Còn chú, thì chú dẫn chư vương, công chúa vào thành xin yết kiến phụ hoàng, mẫu hậu, rồi điều tra cho ra sự thực vụ Thái-tử Long-Xưởng cưỡng dâm Tuyên-phi.
...Ba là, sau khi điều tra xong, chú bắt giam toàn thể chính phạm, tòng phạm, gia quyến bọn vu oan, mưu hại Thái-tử, mưu hại các vị điện hạ đây đem giết ngay. Chú không cần chỉ dụ của phụ hoàng, lấy cớ rằng, tướng cầm quân có toàn quyền xử tử tội phạm mà không cần lệnh vua. Điều quan trọng là phải giết ngay, nếu để chậm trễ, e không phụ hoàng thì cũng Thái-tử Long-Xưởng dùng quyền ân xá cho chúng, thì mèo lại hoàn mèo.
Thủ-Huy là người thông minh, trí dũng có thừa. Chẳng may bị dằng co giữa đạo hiếu, chữ trung với lý trí mà thiếu minh mẫn trong chốc lát. Bây giờ được Phương-Lan mở lối cho, tính cương quyết trở lại. Công cầm kiếm lệnh để lên bàn, rồi nói :
- Cứu binh như cứu hỏa. Nếu chúng ta chậm trễ một ngày thì Từ Thụy-Hương với bọn Tô Hiến-Thành có thể khống chế gia đình chư tướng, cùng giết hết người của Đông-cung. Ta phải hành động ngay.
Chư vương, các tướng cùng thở phào nhẹ nhõm ; họ ngồi ngay ngắn lại chờ lệnh . Thủ-Huy rút lệnh bài trao cho Tăng Khoa :
- Từ đây về Thăng-long, chỉ có năm giờ sức ngựa. Vũ-kị thượng tướng quân Tăng Khoa đem hiệu binh Phù-Đổng, phi bất kể ngày đêm về Thăng-long. Về tới nơi thì bắt liên lạc ngay với phụ thân. Phụ thân đem thị vệ đánh chiếm Hoàng-cung. Cấm quân thì đánh chiếm các điện thuộc Kinh-thành. Tướng quân phân binh ra, một nửa trấn giữ các cửa thành. Một nửa chiếm Khu-mật viện, các cơ sở thuộc lục bộ, thuộc phủ thừa Thăng-long, phủ đệ của thân vương, đại thần. Ai chống lại thì giết ngay, bất kể đó là thân vương, đại thần. Nếu lúc đó có chiếu chỉ ban ra bắt rút binh, thì tướng quân trả lời rằng tướng quân chỉ biết tuân lệnh Thái-úy.
Tăng Khoa đứng lên đi liền.
Thủ-Huy ra lệnh cho Kiến-Ninh vương :
- Vương tức tốc sai chim ưng mang lệnh cho hạm đội Âu-Cơ dàn ra lãnh hải Hoa-Việt phòng Tống nhân ta có nội chiến, rồi tràn sang xâm chiếm. Lại lệnh cho hạm đội Thần-phù dàn ra lãnh hải Chiêm-Việt, phòng Chiêm thừa cơ sang cướp phá. Đích thân vương đem hạm đội Bạch-đằng, Động-đình về dàn ra trên các sông-hồ Thăng-long, cô lập không cho bất cứ thuyền nào di chuyển, phòng bọn gian trốn chạy.
Kiến-Ninh vương đứng dậy rời khỏi phòng họp.
Thủ-Huy lại ra lệnh cho Kiến-An vương :
- Vương tổng chỉ huy hiệu binh trâu Hoa-lư, bẩy hiệu Thiên-tử binh dàn ra biên giới phòng Tống sang cướp. Rồi cũng về Thăng-long.
Kiến-An vương tuân lệnh, rời khỏi phòng họp.
Thủ-Huy nói với Kiến-Tĩnh vương, công chúa Đoan-Nghi :
- Chúng ta đem ba hiệu binh Ngự-long, Quảng-vũ, Quảng-thánh tiến về Thăng-long. Thôi, giải tán, và lên đường ngay.
Thủ-Huy nói với Phương-Lan, Kim-Ngân :
- Xin chị với Kim-Ngân đi theo Đoan-Nghi, ngay bây giờ lên đường, âm thầm nhập Hoàng-thành bảo vệ mẫu hậu với phụ hoàng, cùng giải cứu thái-tử Long-Xưởng.
Mắt Kim-Ngân liếc ngang sắc như dao, nàng lắc đầu :
- Anh có nhớ hôm ở dưới thuyền trên hồ Tây không ? Hôm ấy, chúng ta mang hết tâm huyết ra giúp Long-Xưởng, thế mà ông ta nói ngang : Đây là chuyện của ông ta, để ông ta giải quyết. Oâng ta giải quyết thế nào mà lại vào nhà tù mà ngủ, rồi xã tắc nghiêng ngả thế này đây. Con người trì nghi không quyết đoán như vậy mà sau lên ngôi vua, thì cũng chỉ làm cho đất nước tan nát mà thôi. Em thấy, dường như ông ta sung sướng khi được bưng giang sơn của vua Hùng, vua An-Dương, cùng ngôi vua của họ Lý dâng cho cô tình nhân cũ là Từ Thụy-Hương, rồi đem đầu cho cô ta chặt thì phải. Hôm ấy, anh Thủ-Lý, chị Phương-Lan, Phương-Liên với em đã thề rằng : Không bao giờ lý đến triều đình nhà Lý nữa. Hôm nay, anh bảo em đi giải cứu ông ta ? Em không làm đâu. Em chỉ đi theo bà chị dâu Đoan-Nghi, phòng khi bà ấy bị người ta hại, thì em cứu mà thôi. Sự nghiệp quả núi Tiêu-sơn đến đây coi như hết.
Lời nói của Kim-Ngân tuy nhỏ nhưng các tướng cũng nghe thấy hết. Bất giác họ cùng đưa mắt nhìn trộm nàng, trong lòng họ nhủ thầm :
- Cô này trông bề ngoài xinh đẹp thế kia, mà ai ngờ lại cứng rắn quá.
Đoan-Nghi, Phương-Lan, Kim-Ngân lấy ngựa lên đường ngay đêm hôm ấy.
Sáng hôm sau, các đô thống chỉ huy hiệu binh Ngự-long, Quảng-thánh, Quảng-vũ đến trình diện Thủ-Huy :
- Thưa Thái-úy, quân đã chuẩn bị sẵn. Xin Thái-úy ban lệnh.
Thủ-Huy trao lệnh bài cho đô thống chỉ huy hiệu Ngự-long :
- Hiệu Ngư-long hiện đóng ở Gia-lâm ngoài thành Thăng-long. Đô thống đem hiệu Ngự-long đi làm tiền đạo. Khi tới bến Bắc-ngạn thì sẽ có thủy quân chở sang sông. Sang sông rồi, đô thống được đặt dưới quyền Vũ-kị thượng tướng quân Tăng Khoa : Dàn quân trấn tại các cửa thành để hiệu Phù-Đổng lùi ra đóng ở hồ Tây.
Lại trao binh phù cho đô thống chỉ huy hiệu Quảng-thánh :
- Hiệu Quảng-thánh hiện đóng tại lăng Quốc-tổ, rất gần Thăng-long. Đô thống đem quân đi sau hiệu Ngự-long trấn tại Bắc-ngạn, làm trừ bị.
Cuối cùng công gọi đô thống chỉ huy hiệu Quảng-vũ :
- Hiệu Quảng-vũ hiện đóng ở dưới chân núi Tản-viên, không xa Thăng-long làm bao. Đô thống đem hiệu Quảng-vũ trấn tại Cổ-pháp bảo vệ lăng tẩm tiên đế.
Thủ-Huy, Kiến-Tĩnh vương cùng đội võ sĩ bảo vệ bộ tham mưu dùng ngựa mà đi. Đường từ Đồn-sơn về Thăng-long ước khoảng bốn trăm dặm (200 cây số ngày nay). Quân đi phải năm ngày mới về tới Bắc-ngạn. Trong khi đi đường Thủ-Huy vẫn nhận được đầy đủ tin tức của các đạo quân tường trình :
- Ngay ngày 6 tháng 9 Tăng Khoa đã làm chủ Thăng-long, bao vây hiệu binh Sơn-Nam, và giải giới chúng. Tuy nhiên hiệu này còn hai sư trấn trong Hoàng-thành là chưa giải giới được, vì kị binh không được vào đó. Không có cuộc xô sát nào xẩy ra.
- Ngày 7 tháng 9, hiệu Ngự-long đã tiến vào Thăng-long, hiệu Phù-Đổng lùi ra trấn ở hồ Tây. Vô sự.
- Ngày 8 tháng 9 hiệu Quảng-thánh đã trấn tại Bắc-ngạn. Hiệu Quảng-vũ đã trấn ở Cổ-pháp.
Trưa ngày 9 tháng 9, thì Thủ-Huy đã về tới bến Bắc-ngạn, dùng thuyền của thủy quân đưa sang sông. Công dẫn Kiến-Tĩnh vương cùng bộ tham mưu vào điện Uy-viễn là nơi đặt trụ sở Khu-mật viện. Lát sau thì Nghĩa-Thành vương, Kiến-Ninh vương, Kiến-An vương cũng về tới. Tăng Quốc, Tăng Khoa, hai đô đốùc chỉ huy hạm đội Bạch-đằng, Động-đình, ba đô thống chỉ huy ba hiệu Thiên-tử binh Ngự-long, Quảng-thánh, Quảng-vũ cũng lục tục về chờ lệnh.
Nghĩa-Thành vương nổi cáu :
- Cái vụ này tên Đỗ An-Di đã chuẩn bị từ lâu rồi mà ta không biết. Cách đây ít lâu, y báo cho ta biết rằng trấn Thanh-hóa gửi tấu trình về triều cáo giác viên quan phụ trách thu mua lương thực cho quân Bắc phạt tham ô, bắt dân nộp thuế nhiều quá. Y xin ta gửi người vào giải quyết. Ta ngay thực, đích thân lên đường điều tra, rồi ở nhà y hành sự. Như vậy cuộc rối loạn này phải có bàn tay của Tô Hiến-Thành, Đỗ An-Di, Từ Thụy-Hương và bọn gian tế Tống cùng hiệp nhau mà làm.
Là người tính khí cương quyết, Kiến-Ninh vương hỏi Thủ-Huy :
- Nhị ca ! Đệ muốn nhờ nhị ca một chuyện .
- ? ? ?
- Hiện chị Phương-Lan, Kim-Ngân đang cùng Đoan-Nghi ẩn ở cạnh phụ hoàng, mẫu hậu để hộï giá. Nhị ca có thể gửi thêm mươi cao thủ theo ba người đó. Rồi giữalúc chúng ta cho quân tiến vào, trong trận giao tranh, các võ sĩ nhân lúc hỗn quân, hỗn quan, giết sạch đám quan lại ù lỳ, ăn hại, chuyên rình rập chống đối chúng ta không ?
- Việc này không khó.
Thủ-Huy cương quyết :
- Đám quan lại phản phúc này có tới gần trăm. Hiện chúng đang ở trong dinh thự quanh Thăng-long. Tăng Khoa đã phong tỏa các dinh thự đó rồi. Còn hiện diện trong Hoàng-thành, thì không quá mười mống. Gì chứ vụ giết mấy mống đóù, thì chỉ cần Phương-Lan, Kim-Ngân cũng đủ. Còn giết bọn còn ở nhà, thì đệ có thể nhờ đệ tử Đông-A làm được.
Nghĩa-Thành vương nghe hai cháu bàn, thất kinh hồn vía, vương cản :
- Không nên ! Hoặc khoan đã. Phải đợi xem Long-Xưởng an nguy thế nào rồi hãy làm. Vả chúng ta với Long-Xưởng cùng chung một chí, mà ta làm ngang, e Long-Xưởng không bằng lòng. Anh em sinh xích mích.
Tăng Khoa phúc trình tình hình :
- Trình Thái-úy, khi tiểu tướng tiến vào Kinh-thành, nhờ có phụ thân chỉ huy thị vệ, ngự lâm quân trợ giúp ; tiểu tướng làm chủ được tình thế. Hiện đã kiểm soát hoàn toàn các phủ đệ. Đông-cung đã giải tỏa, nhưng không thấy Bùi vương phi đâu. Thần hỏi thăm mẫu thân thì được biết, vương phi cùng Như-Như tháp tùng Thái-tử nhập cung triều kiến Hoàng-thượng, rồi Thái-tử bị bắt, không có tin tức gì của hai người nữa.
Thủ-Huy vốn cực kỳ kính trọng bà nhũ mẫu của Long-Xưởng. Công hỏi :
- Nhu-mẫn Đoan-duệ phu nhân hiện ở đâu ?
- Mẫu thân đang chờ diện kiến với Thái-úy.
- Mời phu nhân vào.
Vú Loan vừa vào thì Thủ-Huy đã đứng dậy chào đón :
- Xin phu nhân chẳng nên đa lễ. Mời phu nhân an tọa. Tiểu bối xin phu nhân cho biết thêm chi tiết gì về những hoạt động cuối cùng trước khi bị bắt của Thái-tử.
- Thưa Thái-úy. Chiều ngày 1 tháng 9, Thái-tử vào cung mật tấu với Hoàng-thượng, Hoàng-hậu, về việc các gian tế Tống tiềm ẩn trung Hoàng-cung, Đông-cung và phủ Tể-tướng. Nào ngờ Hoàng-thượng đã biết rất rõ vụ này rồi. Sau đây là chi tiết cuộc hội kiến, mà thái-tử thuật với tiểu tỳ :« Hoàng-thượng ban chỉ rằng : Một tên võ sĩ như Vương Cương-Trung với sáu người đàn bà đẹp mà làm nên cái gì ? Nếu họ thực sự là người của Khu-mật viện Tống, thì họ đã bỏ thuốc độc giết ta, giết Xưởng nhi, giết An-Di rồi. Ngày xưa, vua Hán vì sợ Hung-nô mà đem cung nga ban cho chúa Hung-nô là Thuyền-vu để được an mặt Bắc. Từ sau thời Anh-vũ Chiêu-thắng, ta đánh sang Tống, khiến Tống hãi ta, họ gửi người đẹp cho ta, thì tại sao ta phải bắt, phải giết nhỉ ? ».
Nghĩa-Thành vương và chư tướng đều thở dài ngao ngán, lắc đầu.
Phu nhân tiếp :
« Thái-tử trình những cuốn sổ mà phái Đông-A bắt được tại con thuyền, tổng đàn của Vương Cương-Trung, trong đó ghi chép tất cả tình hình triều đinh, quân tình do Vân-Đài Trịnh Nam-Phương, Công-Chúa Triệu Mai-Hương, Mao-Nữ Hàn Dũ-Linh, cùng ba đệ tử Vương Thúy-Thúy, Từ Thụy-Hương, Nhạc Bảo-Bảo lên Hoàng-thượng.
Hoàng thượng bực mình quở thái-tử :
- Giai-phi, Tuyên-phi là những phi tần mà ta sủng ái nhất, là những người đầu gối tay ấp của ta. Hai người đã có con với ta. Trên danh thì là chúa tôi, trên tình thì là người ta sủng ái, trên nghĩa thì là vợ ta. Trong hoàng-cung này, ta có hàng trăm phi tần, mà không ai làm cho ta vui, dâng hiến thức ăn cho ta ngon miệng, ngoài Giai-phi, Tuyên-phi. Ta bằng này tuổi rồi, ta phải được hưởng những gì ta muốn trước khi về chầu tiên đế. Hai phi nàyï là người cực thân của ta, mà sao Xưởng nhi cứ đi nghe lời bọn vai u thịt bắp, bọn nhà quê của phái Đông-a, rồi đổ cho họ hằng trăm tội phải chết như vậy ? Ừ thì cho rằng họ có tội đi, ta là chúa trời Nam, ta ân xá cho họ đấy. Kẻ nào còn bàn ra nói vào thì ta chặt đầu. Thôi ta mệt rồi, Xưởng-nhi để cho ta yên !
Ngài hỏi gay gắt :
- Thế còn Vương Thúy-Thúy với Nhạc Bảo-Bảo đâu rồi ?
- Tâu, hai vị đó hiện trốn ở Thiên-trường, nhờ phái Đông-A che chở.
Hoàng-thượng nổi cáu :
- Sáng mai ta sẽ ban chỉ ân xá cho Vương Cương-Trung với tùy tòng. Xưởng nhi phải cấp thuyền, lương thực cho họ để họ trở về Tống. Còn hai thiếu nữ Vương Thúy-Thúy, Nhạc Bảo-Bảo thì giữ lại. Thúy-Thúy ta gả cho Trần Thủ-Huy. Bảo-Bảo ta gả cho Thủ-Lý. Thôi Xưởng nhi lui.

Quả nhiên sáng hôm sau (2-9), có chỉ ân xá cho Vương Cương-Trung với thủ hạ hơn trăm người. Khu-mật viện phải tuân chỉ thả họ ra. Họ được cấp một con thuyền lớn, đầy đủ lương thực. Nhưng bọn Cương-Trung không lên đường được, vì các sông biển bị thủy quân phong tỏa, đang Bắc tiến.

Chiều ngày 3 tháng 9, Tuyên-phi sai thái giám ra thỉnh Thái-tử nhập cung, vì Hoàng-thượng se mình. Biết rằng Thái-tử với Tuyên-phi trước đây có mối dây liên hệ tơ hồng. Mà bây giờ Thái-tử vào cung Tuyên-phi giữa lúc long thể bất an thì không khỏi có chỗ tỵ hiềm, miệng thế dị nghị. Tiểu tỳ khuyên Thái-tử nên mang theo mấy thái giám, cung nga. Thái-tử khen tiểu tỳ minh mẫn, rồi người gọi vương phi, Như-Như, cùng sáu thái giám, hai cung nữ theo hầu. Tiểu-tỳ nhớ rõ bấy giờ là giờ Thân. Thế rồi sang giờ Tý (ngày 4-9) cũng không thấy Thái-tử về. Giờ Sửu thì quân sĩ đến bao vây Đông-cung, chính Thái-sư Tô Hiến-Thành mang rất nhiều người đến niêm phong. Sau hai ngày, thì kị binh của Khoa về giải giới quân bao vây Đông-cung ».
Chán đời đi lang thang !
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-03-28 22:44:55NuHiepDeThuong>
Hồi thứ hai mươi hai

Hai mươi năm tình cũ


Vẫn trong điện Uy-viễn.
Thủ-Huy hỏi Tăng Khoa :
- Tăng tướng quân ! Tại sao tướng quân chưa cho quân tiến vào Hoàng-thành ?
- Trình Thái-úy, khi tiểu tướng xua quân vào, thì Thái-sư Tô Hiến-Thành ra ngăn lại. Người ban một chỉ dụ của hoàng-thượng, bắt tiểu tướng phải trao binh quyền cho Mạc Hiển-Tích rồi vào bệ kiến. Tiểu tướng trả lời rằng, quân luật bản triều rất nghiêm, muốn tiểu tướng bàn giao thì phải có sự hiện diện của Thái-úy. Tô Thái-sư lệnh cho Mạc Hiển-Tích dàn quân, sẵn sàng chống lại, nếu tiểu tướng cho quân tiến vào Hoàng-thành. Tuy nhiên tiểu tướng đã cho bao vây Hoàng-thành bằng kị binh, thị vệ, và cấm quân.
Thủ-Huy hài lòng về người em kết nghĩa tinh, minh, mẫn, cán, và trung thành :
- Hiện trong Hoàng-thành, Hiển-Tích có bao nhiêu binh sĩ ?
- Hiệu binh Sơn-Nam có bốn sư, thì tiểu tướng đã giải giới hai sư. Còn hai sư, khoảng hai nghìn rưởi người. Tiểu tướng đành chờ Thái-úy về quyết định, nên đánh vào hay không ? Bởi nếu tiến quân vào, hai bên giao tranh, khó mà bảo toàn được sư an nguy của Hoàng-thượng, Hoàng-hậu, các phi tần, công chúa.
Thủ-Huy hỏi Nghĩa-Thành vương :
- Xin hoàng-thúc ban chỉ !
Nghĩa-Thành vương hỏi Kiến-Ninh vương :
- Cháu nghĩ sao ?
- Cứ như Tăng phu nhân cho biết, thì anh Long-Xưởng của cháu lành ít dữ nhiều. Cái khó là không biết phụ hoàng, mẫu hậu các cung ra sao ? Nếu như việc dàn quân là ý của phụ hoàng, thì ta không thể xua quân vào.
Tăng Khoa hỏi :
- Không biết việc công chúa Đoan-Nghi với hai tỷ tỷ Phương-Lan, Kim-Ngân nhập Hoàng-thành hiện ra sao ?
Thủ-Huy đang trì nghi, chưa quyết, thì thân binh báo :
- Có ngự-y Trần-thị Phương-Thanh xin cầu kiến.
Thủ-Huy vội đứng lên ra đón vào.
Lễ nghi tất.
Thủ-Huy hỏi :
- Thưa phu nhân. Phu nhân đã có mặt tại cung Tuyên-phi. Phu nhân đã khám nghiệm các tử thi, phu nhân có nhận xét gì ?
Phương-Thanh trầm ngâm một lúc rồi nói :
- Vừa nhìn sáu thái giám bị giết, tôi thấy rõ họ bị đánh bằng chưởng lực Hoa-sơn. Người đánh phải có nội công cao thâm hơn sư phụ của tôi. Bởi mỗi chiêu đánh ra khiến nạn nhân không bị vỡ đầu, thì cũng bị dập ngực, hoặc gẫy đôi người ra. Còn hai cung nữ thì bị giết bằng võ công Đông-A.
Thủ-Huy kinh hãi :
- Phu nhân nói sao ? Họ bị chết vì võ công Đông-A ư ?
- Đúng vậy. Một người chết vì chỉ lực, dường như là chiêu Phong-xuyên hoa lạc. Một người chết vì Bức-mạch chưởng, dường như là chiêu Đông-hải lưu phong.
Kiến-Ninh vương hỏi lại :
- Phu nhân có chắc thế không ?
Phương-Thanh thản nhiên :
- Vương gia ơi ! Trong thiên hạ này chỉ có võ công nội lực của phái Hoa-sơn là khi đánh trúng đối thủ, mới khiến cho đối thủ như bị đá đập vào người, thịt xương dập nát ra mà thôi. Tử thi sáu thái giám đều bị dập thịt, gẫy xương cả.
Thủ-Huy gật đầu :
- Phu nhân luận đúng. Còn thương tích hai cung nga ?
- Gốc của võ công Đông-A do Thiền-công rồi biến đổi đi. Tuy vậy căn bản vẫn không mất. Trong thế gian này, duy Đông-A chỉ là khi đánh trúng người, mới khiến cho người đó cảm thấy cực kỳ sảng khoái mà chết. Cung nữ bị trúng chỉ nằm chết, mà mặt rất tươi, môi còn nở nụ cười. Còn một cung nữ nữa bị giết bằng chiêu Đông-hải lưu phong, dùng nội công Bức-mạch, bao nhiêu mạch máu vỡ ra mà chết.
Thủ-Huy gật đầu khâm phục. Công hỏi :
- Còn Tuyên-phi với hai cung nữ bị thương thì do võ công môn phái nào ?
- Cả ba người chỉ bị thương nhẹ, mặt sưng, chân tay bầm mà thôi. Kết lại có hai cao thủ hiện diện. Một cao thủ Hoa-sơn, công lực cực kỳ cao thâm, người này giết sáu thái giám. Một cao thủ bậc trung phái Đông-A, người này giết hai cung nữ. Thế nhưng Tuyên-phi với Thạc-hòa Anh-văn phu nhân lại khai là mình Thái-tử đã ra tay. Nếu bảo rằng Thái-tử giết hai cung nữ thì tin được, vì người cũng luyện võ công Đông-A, công lực hung thủ ngang ngang với Thái-tử. Còn hung thủ giết sáu thái giám, thì chỉ... thì chỉ sư bá Tự-Hấp mới có công lực, chưởng lực Hoa-sơn đến trình độ đó mà thôi.
Tăng Khoa cãi :
- Thưa đại phu, sư bá Tự-Hấp là một đại tôn sư võ học, người đâu có ra tay giết bọn thái giám không biết võ công ?
- Quân hầu đừng nghĩ lầm. Tôi chỉ ví von thế thôi, chứ tôi đâu có kết luận rằng sư bá Tự-Hấp làm việc đó ? Một điều tôi kinh ngạc nữa nhưng không nói ra là, sáu thái giám hai cung nữ bị giết đều là người của Đông-cung.
Vú Loan giật bắn người lên :
- Đại phu nói sao ? Họ là người Đông-cung ư ?
- Đúng vậy, bởi khi tuyển thái giám cung nữ cho Đông-cung, chính tôi đã khám bệnh họ. Tôi nhớ cả tên họ nữa kia.
Thủ-Huy đứng dậy :
- Như vậy là Tuyên-phi phục sẵn người hại Thái-tử. Sau khi hại Thái-tử với vương phi, Như-Như, chúng ra tay giết sáu thái giám, hai cung nữ tùy tòng, rồi đổ cho Thái-tử.
Kiến-Ninh vương đập bàn nói với Nghĩa-Thành vương :
- Thưa chú, cháu không chịu được nữa rồi. Cháu quyết xua quân vào Hoàng-thành giết chết hai con ác phụ Triệu Mai-Hương với Vương Thụy-Hương rồi muốn ra sao thì ra.
Thủ-Huy nắm tay ông anh vợ !
- Hãy bình tĩnh. Nếu chọn đường lối xua quân, thì dễ quá rồi . Ngặt vì ném chuột sợ vỡ đồ. Ta phải tìm cách nào để giải cứu phụ hoàng, mẫu hậu với các phi cho an toàn đã.
Nghĩ ra một huyện Thủ-Huy hỏi Tăng Khoa :
- Tăng tướng quân. Tướng quân có biết con thuyền của bọn Hoa-sơn hiện đậu ở đâu không ?
- Khi tiểu tướng đem quân về giải tỏa Thăng-long, nghe mẫu thân thuật chuyện, lập tức tiểu tướng cho phong tỏa con thuyền này với phủ Tể-tướng liền. Không thấy Vương Cương-Trung trong thuyền. Bọn thủ hạ của y gồm một trăm tám mươi người chỉ còn hiện diện chín mươi người. Còn trong phủ Tể-tướng thì không thấy Vân-Đài Trịnh Nam-Phương đâu cả.
Thủ-Huy tuyệt không ngờ người em sữa của Long-Xưởng lại minh mẫn đến vậy. Công nói mấy câu khen ngợi rồi gõ tay lên án thư :
- Tôi xin giải đoán như thế này : Tuyên -phi đã năn nỉ xin phụ hoàng ân xá cho bọn gian tế Tống. Sau khi Vương Cương-Trung cùng thủ hạ được thả ra thì y biết ta đang điều quân Bắc tiến. Nếu như y trở về Tống giữa lúc ta tiến quân tới Trường-sa, thì bọn mặt dơi, tai chuột trong Khu-mật viện Tống sẽ đổ hết tội lên đầu y, để che dấu cái thất bại của chúng. Chúng sẽ xin giết cả nhà Vương. Vì vậy Vương đánh một ván bài liều. Y bí mật nhập cung gặp con gái là Tuyên-phi với vợ là vú Mai thiết kế. Tuyên-phi bịa ra chuyện long thể phụ hoàng bất an, để dụ Thái-tử nhập cung. Rồi không biết bằng cách nào chúng hại được Thái-tử, vương phi, Như-Như. Sau đó chính Vương Cương-Trung dùng võ công Hoa-sơn giết sáu thái giám. Còn Tuyên-phi dùng võ công Đông-A giết hai cung nữ. Rồi Tuyên-phi với hai cung nữ tự làm bị thương, và cáo gian, đổ hết lỗi cho Thái-tử.
Nghĩa-Thành vương bàn :
- Như vậy trắng đen đã rõ rệt. Tôi sợ giờ này Vương Cương-Trung với hơn trăm thủ hạ đều hiện diện trong Hoàng-thành. Hoàng-thượng bị chúng kiềm chế, bắt ban chỉ giết chư vương, công chúa, phò mã. Chúng ta không có lựa chọn nào khác ngoài việc đánh tràn vào, cứu giá mà thôi.
Thủ-Huy quyết định :
- Chỉ có đường lối đó. Nếu chẳng may phụ hoàng băng hà, thì đất nước vẫn là đất nước Đại-Việt. Còn như để phụ hoàng bị chúng khống chế, thì có thể mất nước.
Công hỏi Tăng Quốc :
- Mình hiện có bao nhiêu thị vệ, cấm quân ?
- Thưa Thái-úy thị vệ có một lữ, năm trăm người. Cấm-quân có hai lữ , một nghìn người. Tổng cộng một nghìn rưởi.
- Quân số của hai sư trong Hoàng-thành khoảng năm nghìn người. Muốn đánh chớp nhoáng để tránh thiệt hại phải cần một lực lượng gấp năm. Vậy cần đưa về ba hiệu binh. Oû đây ta đã có hiệu Ngự-long, Phù-Đổng, vậy chỉ cần đem hiệu Quảng-thánh ở Bắc-ngạn sang nữa là đủ. Khi đánh ta phải phân rõ nhiệm vụ. Thiên-tử binh tràn vào giết giặc. Nếu chúng ẩn trong các cung, các điện, thì hai đội võ sĩ Côi-sơn, Long-biên tiến vào giết chúng.
Chư tướng đều đồng ý.
Thủ-Huy trao lệnh bài cho Tăng Khoa :
- Ta đặt hai hiệu Quảng-thánh, Quảng-vũ đưới quyền của tướng quân. Hãy bao vây Hoàng-thành, nghiên cứu kế hoạch đánh sao cho thực mau, thực gọn, tránh thiệt hại.
Tăng Khoa rời điện Uy-viễn ra ngoài, thì thân binh vào báo :
- Có sứ giả tới.
- Sứ là ai vậy ?
- Thưa là Đặc-tiến Thái-bảo , Càn-nguyên điện đại học sĩ Phí Công-Tín .
Thủ-huy vội ra đón.
Nguyên Phí Công-Tín xuất thân là quan văn, rồi sang cầm binh quyền, ông từng đánh Đông dẹp Bắc, lập được khá nhiều công lao. Mười năm trước ông lĩnh Binh-bộ thượng thư. Cách đây bốn năm, vì tuổi cao, thích an phận, hơn nữa xuất thân là nho gia, ông chủ trương quy phục Tống. Vì vậy, Thái-tử Long-Xưởng tâu xin nhà vua thăng ông lên hàm Thái-bảo, giao Binh-bộ cho Nghĩa-Thành vương. Oâng cũng như đám nho thần thủ cựu, cứ cho rằng bọn Long-Xưởng, Thủ-Huy là đám con nít, thì việc tổ chức binh bị không thể bằng ông. Bây giờ ông nhận chỉ dụ của nhà vua đi sứ. Từ Hoàng-thành tới điện Uy-viễn, ông thấy binh sĩ hiệu Ngự-long, Phù-Đổng hùng tráng, uy nghiêm, trên đời ông chưa từng nghe, từng thấy. Bất giác trong lòng ông nảy ra một niềm khâm phục.
Lễ nghi tất.
Phí Công-Tín lên tiếng :
- Hoàng-thượng có chỉ dụ. Xin chư vương với Thái-úy tiếp chỉ.
Nghĩa-Thành vương hô lớn :
- Tất cả quỳ xuống.
Phí Công-Tín cầm trục giấy đọc:
Thừa-thiên khải vận Đại-Việt
hoàng đế chiếu rằng :

Trẫm thất đức, sinh ra đứa con Long-Xưởng, y làm truyện nghịch thiên, bạo địa, bất trung, bất hiếu, trẫm truyền bắt giam. Trẫm giáng xuống làm Bảo-Quốc vương.

Nay niên kỷ trẫm đã cao, không thể một ngày không có trừ quân. Trẫm có bẩy con trai, duy con út là Long-Trát, khôi ngô, mới sinh ra, đã có khí tượng đế vương, có thể nối ngôi trẫm. Vậy trẫm phong làm Thái-tử. Trẫm chỉ định Lý Kính-Tu làm Kinh-diên quan, để dạy. Lại cử Tô Hiến-Thành lĩnh chức Thái-úy phụ-chính, bình-chương quân quốc trong-sự. Này Hiến-Thành, Kính-Tu, các người hãy noi gương Chu-Công, Gia-cát Vũ-hầu, mà gắng sức phò ấu chúa, làm lên sự nghiệp hiển hách.

Thiên-cảm Chí-bảo nguyên niên, tháng 9 ngày Giáp Ngọ.

Khâm thử.


Đọc chiếu xong, Phí Công-Tín hỏi Thủ-Huy :
- Hoàng-thượng được tin phò mã đem quân về Thăng-long. Người ban chỉ sai lão phu ra hỏi phò mã rằng tại sao, nước đang vô sự, Thăng-long không trộm cướp mà phò mã lại đem quân về là ý gì ?
Thủ-Huy chỉ các thân vương:
- Thái-phó Ngô Lý-Tín mang chiếu chỉ lên Bắc-cương truyền cho chúng tôi phải về phục mệnh. Chúng tôi tuân chỉ mà về. Trên đường về, tôi được tin hiệu binh Sơn-Nam tiến vào Thăng-long, có ý bất thiện. Tôi là tướng cầm binh quyền toàn quốc, tôi phải điều quân về để bảo giá.
Kiến-Tĩnh vương tiếp lời Thủ-Huy :
- Thưa Thái-bảo, xưa nay các hiệu binh địa phương được dùng để bắt trộm, bắt cướp. Còn trong Hoàng-thành, chỉ có thị vệ được vào. Thế mà nay trong Hoàng-thành lại có đến hai sư binh địa phương. Quan tổng-lĩnh thị vệ yêu cầu cho thị vệ vào, thì Thái-sư Tô Hiến-Thành cản trở. Như vậy là loạn rồi. Cô gia thân làm tổng-lĩnh Thiên-tử binh, cô gia nhờ Thái-bảo về nói với Tô Thái-sư, phải cho quân Sơn-Nam rời khỏi Hoàng-thành ngay trong vòng một giờ. Bằng không thì trước hết cô gia đem toàn gia nhà Tô Thái-sư ra xử tử tận số, rồi đánh vào.
Thủ-Huy đứng dậy, tỏ ý tiễn khách. Phí Công-Tín rời điện Uy-viễn lên ngựa. Ngựa vừa cất bước, thì ông nhăn mặt ôm lấy đầu, rồi ngã lăn xuống đất. Tăng Khoa lách mình một cái đã đến cạnh ông, đỡ ông vào trong.
Thủ-Huy dẫn ngự y Trần-thị Phương-Thanh vào xem bệnh Phí. Thoáng nhìn gương mặt Phí, bà đã đuổi tất cả mọi người ra ngoài. Trong phòng chỉ còn mình Thủ-Huy với Nghĩa-Thanh vương mà thôi. Bà cầm mạch ông rồi mỉm cười nói với Thủ-Huy :
- Thưa Thái-úy, xin Thái-úy ghé tai vào miệng Thái-bảo. Người có truyện muốn nói với Thái-úy.
Khi Phí Công-Tín ngã ngựa, Thủ-Huy đã nghi ngờ rồi. Vì Phí tuy là quan văn, nhưng một đời ngồi trên mình ngựa, thì sao có thể ngã ngựa dễ dàng như vậy ? Bây giờ nghe ngự y Phương-Thanh nói, công biết Phí giả ngã ngựa để được nói chuyện riêng với công. Công ngồi sát lại bên Phí.
Phí nói sẽ :
- Thái-tử bị đánh thuốc mê cùng với vương phi Trang-Hòa, quận chúa Như-Như, hiện bị giam ở phía sau cung Giai-phi. Hoàng-hậu, Thần-phi, bị cô lập ở cung Chiêu-Linh. Tuyên-phi cùng với mẹ là Triệu Mai-Hương, cha là Vương Cương-Trung, thêm Giai-phi Chế-bì La-bút, phu nhân Tể-tướng là Trịnh Nam-Phương đã đem hơn trăm võ sĩ Tống vào cung Long-Thụy khống chế hoàng-thượng. Còn đệ tử của Cương-Trung là Mạc Hiển-Tích thì chỉ huy hai sư Sơn-Nam, trấn đóng, bao vây các cung. Tuy vậy bên trong cũng có sự bất đồng ý kiến. Thái-sư Tô Hiến-Thành, Tể-tướng Đỗ An-Di thì cho rằng đã phế Thái-tử Long-Xưởng, bỏ tiến quân lên Bắc là xong rồi. Chủ trương này Tuyên-phi, Giai-phi, phu nhân Tể-tướng đều đồng ý. Nhưng Cương-Trung với vợ, lại muốn giết cho được Nghĩa-Thành , Kiến-Ninh, Kiến-An, Kiến-Tĩnh vương, công chúa Đoan-Nghi với phò mã Thủ-Huy để tuyệt hậu hoạn. Binh Sơn-Nam tuy dưới quyền Mạc Hiển-Tích, nhưng hai sư trưởng thấy bọn võ sĩ Tống khống chế hoàng-cung, thì bất mãn ra mặt. Không biết lúc nào sẽ xẩy ra cuộc giao tranh. Bọn Cương-Trung đe dọa các đại thần rằng người của chúng tiềm ẩn trong tất cả các phủ, bộ. Nếu như người nào không theo chúng thì chúng sẽ giết cả nhà. Vậy lão phu báo cho Thái-úy biết để còn liệu mà dùng binh. Ngay trong phủ của lão phu cũng có ba tên.
Thủ-Huy nói thầm vào tai Phí :
- Tôi sai võ sĩ Côi-sơn đưa ngài về. Ngài chỉ mặt bọn võ sĩ Tống tiềm ẩn trong phủ ngài, võ sĩ sẽ giết chúng ngay.
Thủ-Huy gọi Tăng Quốc, công nói lớn :
- Phí Thái-bảo bị chóng mặt, lại ngã ngựa, không thể vào Hoàng-thành chầu hầu Hoàng-thượng. Vậy Tăng tướng quân khẩn sai võ sĩ Côi-sơn đưa ngài về tư dinh nghỉ ngơi.
Phí Công-Tín giả vờ run run đừng dậy, theo Tăng Quốc ra ngoài.
Tuy trong lòng nóng như lửa đốt, mà Thủ-Huy vẫn cố giữ bình tĩnh chờ hiệu binh Quảng-thánh, Quảng-vũ, vượt sông tiến về Thăng-long. Xế Ngọ, thì Tăng Khoa vào báo : Hai hiệu binh độ giang đã hoàn tất. Hoàng-thành được vây kín như thành đồng vách sắt. Binh Sơn-Nam sớn xác lo sợ.

Ghi chú của thuật giả:

Sự kiện này, ĐVSKTT chép như sau :

Giáp-Ngọ(1174). Thiên-cảm Chí-bảo nguyên niên, Tống Thuần-Hy nguyên niên...
Mùa Thu tháng 9, Thái-tử Long-Xưởng có tội, bắt giam, phế làm thứ dân. Trước đó Long-Xưởng thông dâm với sủng phi, vua không nỡ bắt tội chết, nên mới có chỉ này. Một hôm vua gọi Tể-tướng đến dụ rằng : Thái-tử là gốc lớn của xã tắc. Long-Xưởng đã làm điều vô đạo. Trẫm muốn cho Long-Trát nối giữ nghiệp lớn, nhưng y còn nhỏ quá, sợ không đương nổi. Nếu đợi lớn, thì trẫm đã tuổi già, suy yếu, biết làm thế nào ? Bấy giờ có nội nhân ẵm Long-Trát ra, thấy vua đội mũ, khóc đòi đội. Vua chưa kịp tháo mũ đưa cho, thì càng khóc lớn. Vua bèn lấy mũ đội cho, Long-Trát cả cười. Vua càng lấy làm lạ, ý lập Long-Trát làm Thái-tử đã định.

VSL chép tương tự.
Giáp-Ngọ (DL.1174) Thiên-cảm Chí-bảo nguyên niên, tháng giêng, cải nguyên.
...
Giáng Thái-tử Long-Xưởng xuống làm Bảo-Quốc vương, lập Long-Trát làm Thái-tử.
Long-Xưởng tính hiếu sắc. Những cung nhân được vua sủng ái, đều tư thông. Nhà vua ghét Xưởng về tội vô lễ này. Nguyên phi Từ-thị được vua sủng ái. Hoàng-hậu xui Long-Xưởng tư tình, để nhà vua nghi ngờ, ý muốn tạo cho Từ-thị không được vua gọi nữa. Từ-thị nhân đó tâu hết với nhà vua. Vua giận lắm mới phế Xưởng.
Một hôm vua thiết triều, nhũ mẫu bồng Cao-tông theo. Cao-tông khóc không ngừng. Vua lấy mũ đội cho, thì nín. Vua lấy làm lạ nói : « Đứa trẻ này tất hoàn thành đại nghiệp của ta đây ». Tháng 11 lập làm Thái-tử, giángXưởng xuống tước vương.
Trần-tộc vạn thế ngọc phả, của chi bốn, thuộc giòng dõi Chiêu-quốc vương Trần Ích-Tắc, để tại nhà từ ở thị xã Lãnh-thủy, huyện Chiêu-dương, tỉnh Hồ-Nam, Trung-quốc ; phần chép về Ninh-tổ hoàng đế Trần Lý. Nguyên văn đoạn này như sau :
Vua có bẩy hoàng tử.
Hoàng trưởng tử Long-Xưởng do Chiêu-Linh hoàng hậu sinh vào niên hiệu Đại-Định thứ 12 (DL.1151, Tân-Mùi). Được phong tước Hiển-Trung vương, lập làm Thái-tử. Niên hiệu Thiên-cảm Chí-bảo nguyên nhiên (DL.1174, Giáp-Ngọ) bị giáng xuống làm Bảo-Quốc vương. Niên hiệu Trinh-Phù thứ sáu (DL.1181, Tân-Sửu) làm phản, bị hạ ngục, rồi bị Đỗ An-Di giết cả nhà, thọ 31 tuổi.
Hoàng-tử thứ nhì Long-Minh do Thần-phi Bùi Chiêu-Dương sinh vào niên hiệu Đại-Định thứ 11 (DL. 1152, Nhâm-Thân). Tước phong Kiểm-hiệu Thái-sư, Thượng-trụ quốc, Khai-phủ nghị đồng tam tư, Trung-vũ quân tiết độ sứ, lĩnh đại đô-đốc, Kiến-Ninh vương. Bị giết niên hiệu Thiên-cảm Chí-bảo thứ nhì (DL.1175.). Thọ 24 tuổi.
Hoàng-tử thứ ba Long-Đức, cũng do Bùi Thần-phi sinh niên hiệu Đại-Định thứ 12 (DL.1153, Quý-Dậu) ra. Chức tước phong như sau : Dao-thụ Thái-bảo, Khu-mật viện sứ, Thượng-thư tả bộc xạ, Phụ-quốc thượng tướng quân, Long-thành tiết độ sứ, Kiến-An vương. Bị giết niên hiệu Thiên-cảm Chí-bảo thứ nhì (1175), thọ 23 tuổi.
Hoàng-tử thứ tư Long-Hòa do Quý-phi Hoàng Ngân-Hoa sinh niên hiệu Đại-Định thứ 11 (DL.1152, Nhâm-Thân). Chức tước phong như sau : Đặc tiến Thiếu-sư, Khu-mật viện sứ, Thượng-thư tả thừa, Trấn-Nam tiết độ sứ, Thượng-thư lệnh, Tả kim ngô thượng tướng, Tổng-lĩnh Thiên-tử binh, Kiến-Tĩnh vương. Bị giết niên hiệu Thiên-cảm Chí-bảo thứ nhì (1175) thọ 24 tuổi.
Hoàng-tử thứ năm Long-Ích, do Đức-phi Đỗ Kim-Hằng sinh niên hiệu Chính-long Bảo-ứng thứ 5 (DL.1167, Đinh-Hợi).Chức tước phong như sau : Dao-thụ Thái-phó, trấn Nam tiết độ sứ, Thượng-thư tả thừa, Kiến-Khang vương. Hoăng niên hiệu Kiến-gia thứ 2 (DL.1212 Nhâm-Thân), thọ 46 tuổi.
Hoàng-tử thứ sáu Long-Trát, do Thục-phi Đỗ Thụy-Châu sinh niên hiệu Chính-long Bảo-ứng thứ 11 (DL.1172, Nhâm-Thìn), tháng 5, ngày 25, niên hiệu Thiên-cảm Chí-bảo nguyên niên được lập làm Thái-tử. Năm thứ nhì được truyền ngôi. Băng niên hiệu Trị-bình Long-ứng thứ 6 (DL.1210, Canh-Ngọ), ngày 28 tháng 10, thọ 38 tuổi.
Hoàng-tử thứ bảy Long-Tường do Hiền-phi Lê Mỹ-Nga, sinh vào niên hiệu Chính-long Bảo-ứng thứ 12 (DL.1174, Giáp-Ngọ). Chức tước phong như sau : Thái-sư Thương-trụ quốc, Khai-phủ nghị đồng tam tư, Thượng-thư tả bộc xạ, lĩnh đại đô đốc, tước Kiến-Bình vương. Niên hiệu Kiến-Trung thứ nhì đời đức Thái-tông nhà ta (tức Trần Cảnh), tháng tám, ngày rằm, vương cùng gia thuộc hơn 6 ngàn người bôn xuất.
Hồi đó Lý Long-Tường dẫn tông tộc rời Đại-Việt ra đi. Trần triều không biết đi đâu. Nay tôi được biết vương với hạm đội bị bão dạt vào Đài-loan. Nghỉ ít lâu, hạm đội của vương lại tiếp tục lên đường rồi dạt vào Cao-ly. Duy một người con của vương tên Lý Đăng-Hiền cùng gia thuộc hơn hai trăm người ở lại Đài-loan. Vương là khai tổ của giòng họ Lý tại Đại-hàn, thế tử Long-Hiền là khai tổ của giòng họ Lý tại Đài-loan hiện nay ? Sự kiện này tôi sẽ thuật ở những hồi sau, bộ Anh-hùng Đông-A này. Tôi đã bỏ công sang Bắc cũng như Nam-Hàn, tìm các chi, hậu duệ của Kiến-Bình vương Lý Long-Tường, khảo gia phả của họ. Phần chi tiết tuy có sự khác biệt, nhưng đại lược vẫn giống nhau. Tổng-thống Lý Thừa-Vãn của Đại-hàn là hậu duệ đời thứ 25 của Kiến-Bình vương Long-Tường. Còn tổng thống Lý Đăng-Huy của Đài-loan có phải là hậu duệ của thế tử Lý Đăng-Hiền hay không, thì tôi không dám quyết, bởi Lý là giòng họ chiếm đa số ở Trung-quốc.
Cả ba sử liệu cùng chép rất mơ hồ về việc vua Anh-tông phế Long-Xưởng lập Long-Trát. Nhà vua có tới bẩy hoàng tử. Nếu sự thực Long-Xưởng phạm tội, phế xuống, sao không lập các con đã trưởng thành, tài trí xuất chúng, đang cầm đại quyền như Kiến-Ninh, Kiến-An, Kiến-Tĩnh vương? Hoặc cùng quá, thì lập Kiến-Khang vương Long-Ích, năm ấy đã chín tuổi ? Mà phải lập Long-Trát mới có 26 tháng làm Thái tử, rồi phải cử Tô Hiến-Thành làm phụ chính ? Chỉ độc giả Anh hùng Đông-A mới biết sự thực mà thôi.



Trời bắt đầu ngả về chiều, Thủ-Huy ra sân viện Uy-viễn nhìn những áng mây Thu vàng úa theo gió heo may, trôi lang thang trên nền trời. Công nghĩ thầm :
- Không biết giờ này nghĩa huynh Long-Xưởng ra sao ? Phụ hoàng ra sao ? Mẫu hậu ra sao ? Thần-phi ra sao ? Đoan-Nghi ở đâu ?
Chợt có tiếng quát tháo, tiếng vũ khí chạm nhau từ phía Hoàng-thành vọng lại. Rồi có tên thân binh báo :
- Trình Thái-úy, trong Hoàng-thành có cuộc giao tranh, nhưng không biết ai đánh với ai.
Thủ-Huy vội lên ngựa, vọt tới cửa Nam, thì Tăng Khoa đã có mặt ở đó từ bao giờ. Tăng Khoa báo :
- Trình Thái-úy ! Bọn võ sĩ Tống đang giao tranh với binh Sơn-Nam.
Thủ-Huy quyết định mau chóng :
- Dùng loa gọi vào báo cho binh Sơn-Nam biết, ta trợ giúp họ diệt bọn Tống. Dùng kị binh bao vây bên ngoài. Dùng Thiên-tử binh tràn vào Hoàng-thành thanh toán giặc. Còn những tên ẩn vào trong các cung, điện thì dùng thị vệ, cấm quân, võ sĩ Côi-sơn, Long-biên thanh toán.
Tăng Khoa truyền lệnh rất mau. Trong khoảnh khắc, kị binh dùng loa gọi vào trong Hoàng-thành :
« Cùng chư binh tướng hiệu binh Sơn-Nam !
Bọn Tống đang phạm giá Hoàng-thượng cùng chư vị đại thần. Các người là binh, là tướng. Các người ăn cơm, mặc áo của triều đình. Các người hãy can đảm dùng sức cứu giá. Thiên-tử binh, thị vệ, cấm quân, võ sĩ Long-biên, Côi-sơn sẽ vào cùng ra sức giết giặc. Ta, phò mã, Thái-úy phụ-quốc Trần Thủ-Huy đích thân chỉ huy trận chiến này . Các người hãy mở cửa thành cho mau».
Loa vừa dứt, thì bốn cửa thành mở toang. Hai đội võ sĩ Long-biên, Côi-sơn vọt vào như những mũi tên. Thị-vệ , Cấm-quân Thiên-tử binh theo sau. Không đầy một khắc, thì đã thanh toán hết bọn võ sĩ Tống, chiếm các cung, các điện dễ dàng.
Thủ-Huy, dẫn chư vương tiến vào Hoàng-thành.
Tăng Khoa báo cáo :
- Giết bốn mươi lăm võ sĩ Tống. Tất cả các cung, các điện đều vô sự. Mười tám binh Sơn-Nam tuẫn quốc. Chỉ còn có cung Long-hoa là chưa chiếm được mà thôi. Hiện võ sĩ đã vây kín bên ngoài.
- Hoàng-hậu, với các phi đâu ?
Có tiếng nói đầm ấm ngay bên cạnh :
- Phò-mã, người hay thực. Ta với hoàng-hậu vẫn bình an.
Thần-phi Bùi Chiêu-Dương (sinh mẫu công chúa Đoan-Nghi,) chỉ tay về phía trước. Thủ-Huy nhìn theo, thì thấy Hoàng-hậu trong võ phục, lưng đeo bảo kiếm đang tiến tới. Hậu nói :
- Bọn Tô Hiến-Thành nói rằng phụ hoàng có chỉ dụ bắt chúng ta đâu ở yên đấy. Bên ngoài thì dùng binh Sơn-Nam bao vây, nên chúng ta phải chịu phép. Bây giờ binh Sơn-Nam mở vòng vây, chúng ta mới được ra.
Thủ-Huy tường trình sơ lược tình hình lên hoàng-hậu. Hoàng-hậu quyết định :
- Con cứ đánh vào cung Long-hoa, giết hết bọn Tống. Dù phụ hoàng, dù anh Long-Xưởng có tuẫn quốc, thì ta còn Kiến-Ninh, Kiến-An, Kiến-Tĩnh. Dù họ Lý có tuyệt tử tuyệt tôn, thì đất nước này vẫn còn.
Tăng Khoa báo :
- Thái-úy ! Hiện Hoàng-thượng, cùng chư đại thần đều bị khống chế ở Long-hoa đường. Xin Thái-úy quyết định.
Thủ-Huy chưa kịp ban lệnh, thì một cung nữ chạy ra cung tay :
- Hoàng thượng ban chỉ mời chư vương, phò mã vào triều kiến.
Kiến-Ninh vương đưa ý kiến rất mau :
- Dù bọn Tống có đông đến đâu, ta há sợ sao ? Nhị ca, chúng ta vào thôi.
Nghĩa-Thành vương đi trước, tiếp theo là ba vương Kiến-Ninh, Kiến-An, Kiến-Tĩnh, rồi tới Thủ-Huy.
Bên trong, Thiên-cảm Chí-bảo hoàng đế ngồi trên chiếc sập. Phía sau là Vương Cương-Trung, Mạc Hiển-Tích, cùng khoanh tay đứng hầu. Bên trái ngài có hai người ngồi : Thục-phi Đỗ Thụy-Châu bế Thái-tử Long-Trát, cạnh đó là Giai-phi Chế-bì La-bút. Bên phải là các đại thần cùng đứng thõng tay. Tại các cửa Long-hoa đường, bọn võ sĩ Tống tay thủ võ khí trong tư thế sẵn sàng chiến đấu.
Nghĩa-Thành vương hô lớn :
- Bọn thần giáp trụ trên người, không hành đại lễ được, xin bệ hạ xá tội.
Nhà vua chỉ ghế :
- Ngự đệ cùng các vương nhi an tọa.
Thình lình có tiếng nói trầm, nhưng rất lớn :
- Khoan !
Năm lưỡi đoản kiếm bay tới cắm vào năm cái ghế, mà bọn Nghĩa-Thành vương định ngồi. Rồi một nam, một nữ bịt mặt, cùng xuất hiện, phía sau còn có một đôi nam nữ tuổi khoảng trên hai chục theo hầu ; nữ mặc quần đen, áo xanh, nam mặc quần áo trắng. Cả bốn người đều có con chim ưng lông mầu nâu đậu trên vai.
Vương Cương-Trung hỏi :
- Phải chăng bốn vị là Côi-sơn song ưng ?
Thiếu nữ áo xanh trả lời :
- Chính thị !
Người đàn bà bịt mặt hừ một tiếng rồi nói :
- Hoa-sơn là danh môn chính phái. Ngày xưa tổ Trần Đoàn nức tiếng thiên hạ về đạo đức, mà nay sao đồ tử đồ tôn lại đốn mạt đến thế này ? Chưa đánh nhau, đã dùng thuốc độc hại người, thì rõ ràng là tự biết mình hèn kém rồi.
Giọng nói của bà ngọt như cam thảo, dường như của một thiếu nữ mười tám đôi mươi. Bà chỉ vào năm cái ghế nói với Thủ-Huy:
- Năm cái ghế là năm tên quỷ Vô-Thường, nếu các người ngồi xuống, thì sẽ trúng độc, chân tay tê liệt . Bấy giờ người ta muốn băm vằm, muốn mổ thế nào thì làm.
- Các người là Côi-sơn song ưng hẳn ?
Giai-phi Chế-bì La-bút hỏi :
- Các người có biết đây là đâu không ? Dù các người có võ công cao đến thế nào chăng nữa, thì các người cũng là con dân Đại-Việt. Thế mà các người thấy thiên-tử lại không hành đại lễ !
Chỉ thấy thấp thoáng bóng xanh, rồi bốp, bốp. Giai-phi bị thiếu nữ áo xanh tát hai cái. Nàng mắng :
- Cho mi hai cái tát, để mi không được vô phép với chúng ta. Chúng ta là ai thì cũng không đến cái con Hàn Dũ-Linh được tra hỏi. Mi tưởng bọn bị thịt Hoa-sơn phong cho mi chưởng quản ngọn núi Mao-Nữ là võ công mi giỏi ư ? Hay mi tưởng mi là Giai-phi rồi lên mặt dạy đời ư ?
Nàng chỉ vào người đàn bà bịt mặt :
- Ta chưa hỏi tội cái gã Thiên-Tộ kia, sao chưa quỳ gối trước lão nhân gia là may rồi. Ta ra lệnh : Mi im cái mõm lại, bằng không ta lấy tính mệnh mi ngay.
Giọng nói của nàng cực kỳ uy nghiêm.
Mọi người thấy chiêu số của thiếu nữ áo xanh rất bình thường, có điều nàng ra tay nhanh quá, nên Hàn Dũ-Linh không tránh kịp mà thôi. Tất cả các cao thủ hiện diện đều tự hỏi :
- Nếu như vừa rồi, thiếu nữ áo xanh tát mình, thì mình cũng không tránh kịp.
Mạc Hiển-Tích rút kiếm ra, chỉ vào mặt bốn người mới tới :
- Hoàng-thượng ban chỉ cho bốn vị vương gia với phò mã an tọa, các người ở đâu xen vào rồi nói láo là ghế có thuốc độc. Tại sao các người lại bất kính với Thiên-tử như vậy ?
Thiếu-nữ áo xanh rút kiếm lao tới trước sập nhà vua, tay nàng như dài ra, kiếm phớt qua đầu Hiển-Tích. Hiển-Tích gạt ngang kiếm đỡ. Nhưng y đỡ vào quãng không. Cườm tay y bị đau điếng, rồi tê liệt, kiếm rơi xuống nền cung kiêu lên tiếng choang. Tay trái Hiển tích ôm tay phải lùi lại, máu chảy ròng ròng. Y bị thiếu nữ áo xanh đâm trúng huyệt Thần-môn.
Mặt y tái mét.
Thái-sư Tô Hiến-Thanh chỉ năm cái ghế :
- Hoàng thượng ban chị cho chư vương an tọa. Hà cớ các vị bảo đó là con quỷ Vô-Thường ?
Thấp thoáng, một cái, thiếu niên áo trắng lách mình nhanh không thể tưởng tượng được, tay y đã túm cổ một tên võ sĩ Tống đặt xuống một trong năm cái ghế. Tên võ sĩ Tống kinh hãi, vội vọt người lên cao rồi tà tà đáp xuống. Nhưng khi y đáp xuống thì té đến ạch một cái, nằm thẳng cẳng, mặt tím bầm, máu từ thất khiếu ( 2 mắt, 2 tai, hai mũi, và miệng ) ri rỉ chảy ra, rồi nằm bất động. Dường như y đã chết.
Thủ-Huy nhìn Nghĩa-Thành vương, tất cả đều bở vía. Giá như vừa rồi, không có bốn người này tung kiếm cản, thì cả năm người đã chết rồi.
Thiếu-nữ áo xanh xê dịch thân mình, nàng đã túm áo Tô Hiến-Thành :
- Ta sẽ cho người ngồi trên cái ghế này để nếm mùi.
Hiến-Thành run lẩy bẩy. Người đàn ông bịt mặt ra lệnh :
- Linh-Linh, hãy tha cho Tô Thái-sư. Vụ bôi phấn độc lên ghế là do Tuyên-phi Thụy-Hương mật làm. Y không biết.
Thiếu-nữ áo xanh buông Tô Hiến-Thành xuống.
Thủ-Huy hướng Vương Cương-Trung nói :
- Người đường đường là một đại cao thủ phái Hoa-sơn, xuất thân tiến sĩ, hàm tới Thái-bảo, tước tới công, mà sao lại có hành vi hèn hạ như vậy ? Các người hèn hạ, biết không thể đánh với Đại-Việt, quay ra lừa bịp mấy thiếu nữ, dùng thân xác họ làm trò mua vui cho đàn ông, để mưu chiếm nước ta. Việc làm bị vỡ lở, thay vì người tự tử, để giữ cái cao ngạo của kẻ sĩ thì người lại núp bóng mấy người phụ nữ, rồi vào đây mưu đồ bất chính. Bây giờ tất cả bọn gian tế, do người cho tiềm ẩn vào làm gia nhân các đại thần đều bị bắt. Bên ngoài, giáp sĩ của ta bao vây kín như thành đồng vách sắt. Dù người có cánh cũng không thoát khỏi. Người hãy đầu hàng đi thôi.
Vương Cương-Trung rút kiếm kề vào cổ nhà vua, rồi chỉ ra tám cái cửa cung Long-hoa :
- Hừ ! Người bao vây ta ư ? Nhưng trong điện này ta có hơn trăm võ sĩ. Các người có tài thì cứ đánh vào đi. Chúng ta có chết, thì cũng có gã Thiên-Tộ này cùng chết.
Nhà vua run run :
- Vương Thái-bảo ! Lúc nào trẫm cũng nghe lời Thái-bảo, mà sao Thái-bảo lại kề kiếm vào cổ trẫm ?
- Vậy thì dễ quá ! Xin quốc-vương ban chỉ cho bọn Côi-sơn phải rời khỏi đây.
Nhà vua còn đang ngần ngừ thì Cương-Trung khẽ đẩy mũi kiếm một cái. Nhà vua nhăn mặt kêu đau, rồi xua tay :
- Côi-sơn song ưng ! Các vị mau rời khỏi đây, rồi trẫm sẽ ban cho nghìn lượng vàng.
Thình lình một cung nga xẹt tới, tay rút kiếm đâm sau lưng Vương Cương-Trung. Thân-pháp nàng nhanh không thể tưởng tượng được. Cương-Trung kinh hãi vội, xoay kiếm về sau đỡ kiếm của người kia. Hai kiếm chạm nhau tóe lửa. Cương-Trung mượn thế tung mình nhảy lên cao.
Thủ-Huy nhận ra cung nữ đó là công chúa Đoan-Nghi thì mừng vô hạn.
Tuy Cương-Trung tránh rất nhanh, nhưng Đoan-Nghi cũng nhảy theo. Cương-Trung rơi xuống thềm, thì mũi kiếm của Đoan-Nghi thủy chung vẫn truy kích như bóng với hình. Quá kinh hãi, y hét lên be be, lăn mình đi ba vòng, rồi tung người dậy. Nhưng mũi kiếm lại chỉ vào ngực y.
Một cung nữ quát lên :
- Đánh trộm người ư ?
Y thị cầm cái ghế phang vào lưng Đoan-Nghi. Đoan-Nghi phải thu kiếm về gạt cái ghế. Nhờ vậy Cương-Trung được an toàn. Chân đứng trung bình tấn, lưng khòm khòm, tay thủ kiếm, y run run nói một mình :
- Mê-linh kiếm pháp.
Đoan-Nghi nhìn lại xem cung nữ tấn công mình là ai ? Thì hóa ra vú Mai. Tình cảm của Đoan-Nghi với vú Mai vẫn chưa hết. Nàng kinh ngạc :
- U...U...U.. Tại sao u lại đánh con ?
Nói dứt nàng chợt nhớ ra rằng vú là Công-Chúa tiên tử Triệu Mai-Hương của phái Hoa-sơn, là vợ của Cương-Trung, tức thị vệ Từ-Nam, dĩ nhiên bà phải cứu y.
Mặc Đoan-Nghi nói, vú Mai không trả lời, bà rút kiếm tấn công Đoan-Nghi bằng những chiêu hiểm độc nhất, giống như lối đánh cả hai cùng chết. Đoan-Nghi nhận ra kiếm pháp của vú là kiếm pháp Hoa-sơn. Tình nghĩa mẹ sữa nồng nàn suốt bao nhiêu năm, khiến Đoan-Nghi chỉ biết lùi, biết đỡ, mà không dám đánh trả.
Trong khi Đoan-Nghi truy kích Cương-Trung, thì Thủ-Huy tung mình đến dùng một thế Ưng-trảo, định chụp nhàø vua, rồi vọt ra khỏi cái sập. Giai-phi Chế-bì La-bút quát lên một tiếng, mụ phát chưởng đánh thẳng vào người Thủ-Huy. Thủ-Huy vội biến trảo thành chưởng đỡ. Bình một tiếng, công bật tung về sau. Công cảm thấy cánh tay ê ẩm. Bất giác công bật lên tiếng khen :
- Thực không hổ danh là Mao-Nữ tiên tử phái Hoa-sơn.
Giai-phi Chế-bì La-bút biết rằng nếu không khống chế nhà vua, thì khó thoát khỏi cái chết hôm nay. Phi trút kiếm định dí vào cổ ngài, thì chỉ thấy hoa mắt một cái, cung nữ đứng sau lưng Tuyên-phi Thụy-Hương đã tung ra một vật tròn to bằng quả bưởi. Vật đó mở ra, xòe thành cái chài, chụp phi vào trong. Phi dùng kiếm gạt chài, thì các viên chì trên chài đã đánh vào huyệt Khúc-trì, Đại-trùy, toàn thân phi bị tê liệt.
Thủ-Huy nhận ra cung nữ bắt sống Chế-bì La-bút là bà chị dâu Phương-Lan của mình, thì mừng chi siết kể.
Nhờ vú Mai cản trở Đoan-Nghi, mà Cương-Trung rảnh tay, y đánh liền ba chiêu thực thần tốc vào người Phương-Lan để cứu Giai-phi. Phương-Lan vung tay lên, cái chài cuộn tròn Giai-phi đưa ra đỡ kiếm của y, khiến y phải thu kiếm nhảy lùi lại. Phương-Lan quẳng Giai-phi trước Thủ-Huy.
Biết nguy hiểm, Cương-Trung lại dí kiếm vào cổ nhà vua như cũ :
- Tất cả ngừng tay, bằng không ta nhả kình lực.
Nói dứt y áp kiếm vào cổ nhà vua mạnh hơn. Nhà vua đau quá, quýnh lên :
- Các người mau ngừng tay !
Mọi người đành tuân chỉ, thu chiêu, lùi lại. Duy Đoan-Nghi với vú Mai là vẫn chiết chiêu.
Ưng-sơn nam hiệp cất giọng trầm trầm nói với Vương Cương-Trung :
- Vương Thái-bảo, ta có món quà ban cho người.
Nói dứt ông đưa mắt cho thiếu niên theo hầu. Thiếu niên tung vào người y một cái túi lớn. Cương-Trung lia kiếm xỉa vào cái túi. Cái túi bị rách, có năm sáu vật rơi lốp bốp xuống nền điện. Cương-Trung nhìn lại, thì là đầu của chính thê, thứ thiếp, và ba đứa con của y.
Y hét lên :
- Đồ hèn hạ !
Quá căm hận, quên cả khống chế nhà vua, Cương-Trung tung người, xả kiếm vào người thiếu niên, kình lực rít lên vo vo. Hai người thi diễn cuộc đấu.
Hoàng-hậu cũng đã vào trong cung. Bà rút kiếm đứng sau nhà vua, cùng Phương-Lan hộ giá.
Tất cả những hỗn loạn đó đang diễn ra, Tăng Khoa đứng ngoài cung Long-thụy thấy rất rõ. Hầu hú lên một tiếng, đám võ sĩ Côi-sơn, Long-biên xông ngay vào tấn công bọn võ sĩ Tống.
Cung Long-hoa rối loạn cả lên. Nhưng thực lạ lùng, tự nhiên đám võ sĩ Tống bị sùi bọt mép, rồi ngã lộp bộp xuống mê man. Võ-sĩ Côi-sơn chỉ việc trói lại. Trong khoảnh khắc, đám võ sĩ Tống bị bắt trọn vẹn.
Vương-Cương-Trung với thiếu niên vẫn chiết chiêu đến một mất một còn.
Hơn mười người từ ngoài vào trong cung. Người đi đầu là Long-Xưởng, thứ đến vương phi Bùi Trang-Hòa, Lý Kính-Tu, Ngô Lý-Tín, Phí Công-Tín, Như- Như , Kim-Ngân.
Kiến-Ninh vương nhớ tới vụ bàn với Thủ-Huy giết sạch bọn quan lại ù lỳ, phản phúc, rồi Nghĩa-Thành vương phản đối, và đề nghị hỏi ý kiến Long-Xưởng. Vương đến bên anh, nhắc lại việc ấy.
Nghe em thuật, Long-Xưởng nghĩ thầm :
- Lần này phụ hoàng, mẫu hậu, với ta cùng bị bọn Tống hại suýt nguy đến tính mạng ; phải nhờ đến Thủ-Huy cứu viện. Công này quá lớn ! Sự việc yên, uy tín bọn Đông-A với Thủ-Huy lên đến cực điểm. Chắc phải phong vương cho y là điều ta không muốn. Sau này muốn trừ y cực khó. Bây giờ bọn văn thần chống ta như cá nằm trên thớt. Ta phải nhân chúng đang sợ hãi mà phủ dụ chúng, thì chúng sẽ quy phục ta. Ta sẽ dùng chúng để chống bọn Thủ-Huy, Tăng Quốc, Tăng Khoa, Đào Duy, Như-Yên, Như-Như...
Nghĩ vậy Long-Xưởng vội xua tay :
- Em nóng nảy quá như vậy thì e hỏng đại sự. Em ơi ! Bọn văn quan sở dĩ có thái độ đó là lỗi ở trong nhà mình mà ra. Từ Chiêu-Hiếu hoàng thái hậu cho tới Cảm-Thánh hoàng thái hậu đã ngu dốt, mà lại học đòi theo Linh-Nhân hoàng thái hậu, rồi lộng quyền. Các quan như ngọn cỏ, gió chiều nào theo chiều đó, một là lo bảo vệ địa vị, hai là sợ mất mạng. Sau vụ này, thì ta sẽ đưa vài tên đầu sỏ ra xử, giết thực thảm khốc, là từ nay không tên nào dám ho he nữa. Ta làm theo Khổng-tử : Sát nhát nhân, vạn nhân cụ (giết một người khiến vạn ngươié sợ).
Thấy vú Mai cứ tấn công, mà Đoan-Nghi chỉ chống đỡ, Kim-Ngân cười lên một tiếng, rồi nàng phát hai chỉ hướng hai người. Choang, choang, kiếm của Đoan-Nghi, vú Mai cùng rời khỏi tay, bay lên cắm vào nóc cung. Chuôi còn rung động không dứt. Kim-Ngân lạng mình sang phải, nàng tung ra cái chài, chụp vú Mai. Vú Mai nhảy vọt lên cao tránh, Kim-Ngân chuyển tay một cái. Chài hướng lên trên, chụp vú Mai nằm gọn bên trong.
Ưng-sơn nam hiệp lạng mình đến chụp cái chài, gỡ vú Mai ra ngoài. Ông nói với Kim-Ngân :
- Con bé ! Đây là người mà ta cực kỳ sủng ái. Tuy nàng có tội với Đại-Việt, nhưng ta xin con bé tha cho nàng.
Kim-Ngân ngước mắt nhìn lên trần nhà mỉm cười. Nàng lễ phép :
- Dạ ! Khi Ưng-sơn tuyên án ai có tội thì không bao giờ sai. Ngược lại, khi bảo ai vô tội thì chắc cũng thế...
Ưng-sơn nam hiệp bồng vú lên, rồi nói bằng giọng cực kỳ ôn nhu :
- Em ! Thì ra em đấy ư ? Từ ngày ấy đến giờ, anh vẫn tìm em, chờ em. Anh không nhìn đến một người đàn bà nào khác. Anh là Người đòi nợ đây.
Đòi nợ là một thuật ngữ đặc biệt, mà trên thế gian này chỉ có thư sinh tình quân của Mai-Hương với nàng mới biết ý nghĩa mà thôi. Câu chuyện cực kỳ lãng mạn, tuy hơn hai mươi năm qua, mà Mai-Hương vẫn còn nhớ :
« Bấy giờ Mai-Hương tuổi đã mười sáu, nức danh cầm ca đế đô Thăng-long. Nào thân-vương, nào đại thần, nào danh dĩ, nào võ học danh gia cầu hôn. Nhưng nàng đều từ chối. Một ngày, có thư sinh làm một bài ca xin cầu kiến với nàng. Bài ca như sau :

Hoa đào rực nở ngày Xuân,
Má hồng tiên nữ giáng trần phải chăng ?
Tây-Thi, Phi-Yến sao bằng ?(1)
Phải người thanh khí lẽ hằng đó sao ?

Giai nhân nan tái đắc,(2)
Một thoáng nhìn đã biết bạn tri âm.
Kẻ đa tình, ngày nhớ, đêm mong,
Trăm năm nữa cũng vẫn ghi tâm khắc cốtù.

Mỹ nhân tự cổ như danh tướng,
Bất hứa nhân gian kiến bạch đầu.(3)
Nhớ xưa kia họ Chử, không khố, dưới lau,
Gặp công chúa, cùng nhau thành giai ngẫu.(4)

Công hầu khanh tướng gì chăng nữa,
Cũng không không bằng kẻ sĩ biết yêu.
Nghe chăng ? Hiểu được ít nhiều !


Ghi chú của thuật giả:

(1)Tây-Thi. Nhân vật huyền sử người nước Việt, Phạm Lãi dùng kế dâng cho vua Ngô là Phù-Sai. Phù-Sai say mê, chiều theo tất cả những đòi hỏi của nàng, làm cho Ngô suy yếu, rồi bị Việt-vương Câu-Tiễn đánh bại, mà mất nước.
Phi-Yến, họ Triệu, là một phi tần của vua Hán, nổi tiếng xinh đẹp, làm nghiêng ngửa giang sơn nhà Hán.
(2) Người đẹp khó mà gặp được hai lần.
(3) Thơ cổ : Người đẹp xưa nay cũng như những tướng giỏi, khó để nhân gian thấy tóc bạc. Ý chỉ chết non.
(4) Hai câu này lấy tích trong huyền sử Việt : Hai cha con họ Chử nghèo đến độ chỉ có một cái khố. Khi ai ra ngoài thì mang vào người. Một ngày kia Chử phụ sắp qua đời mới dặn con rằng : Bố chết rồi thì con đừng chôn khố theo bố, hãy giữ mà mặc. Nhưng khi bố chết rồi thì Chử đồng tử vẫn chôn khố theo bố. Đồng tử thường đánh cá ven sông. Một hôm đang đánh cá, thì thấy thuyền rồng đi qua. Chử đồng tử sợ quá, bới cát phủ lấy thân mình cạnh bụi lau. Thuyền đó là thuyền của công chúa Tiên-Dung. Khi thuyền qua chỗ Chử đồng tử ẩn, thì công chúa ra lệnh cho cung nga theo hầu quây màn cho mình tắm. Khi công chúa tắm, cát trôi đi, lộ thân thể Chử đồng tử. Hai người lấy nhau.


Mai-Hương cảm động tiếp thư sinh. Nàng hát bài ca đó, trong khi thư sinh miệng thổi tiêu, chân đạp phách hòa theo. Thế rồi Mai-Hương yêu gã thư sinh trắng tay. Nhưng họ chỉ có tình yêu trong sạch.
Một lần phải đi xa, thư sinh cầm tay nàng mà nói :
- Anh không có vàng, cũng chẳng có ngọc, nhưng anh có tình yêu dài hơn sông, rộng hơn biển, mà được em đáp lại. Nay đi xa, nhưng anh vẫn tin rằng nàng chỉ có anh.
Mai-Hương đùa rằng :
- Anh có biết em tuổi gà không ? Con gà này, anh không giữ thì nó bay mất.
Câu nói đó đưa thư sinh về thực tế : Yêu nhau không chưa đủ. Phải có một cái gì ? Thế là thư sinh ôm lấy nàng trả lời :
- Em cho anh, thì anh xin nhận.
Nàng khất :
- Hoa đã nở trong vườn của anh, thì nhụy đào trước sau gì cũng thuộc về anh. Hôm nay hoa đào rực nở. Xin cho em khất ngày khác.
Thư sinh cầm tay nàng :
- Ừ ! Anh cho em nợ, hai ba ngày sau không còn đào hoa nữa thì phải trả nợ nghe.
Ba ngày sau, nàng hết kinh, hai người trao thân cho nhau. Từ đấy mỗi khi muốn gần nhau, thư sinh lại nói : Hôm nay anh đòi nợ đây... »
Bây giờ nghe Ưng-sơn nam hiệp nhắc lại tín hiệu kia, vú Mai rùng mình, lên tiếng bằng giọng cực kỳ thân thiết :
- Anh ! Thì ra anh là Côi-sơn nam hiệp đấy à ? Suốt hai chục năm qua, lúc nào em cũng tưởng nhớ đến anh.
Bà chỉ vào Côi-sơn nữ hiệp :
- Anh bảo chỉ nhớ em, có em, sao lại còn...
Nam hiệp ghé môi vào tai nàng nói thầm một câu. Nàng rùng mình chắp tay vái Ưng-sơn nữ hiệp. Nữ hiệp gật đầu, mỉm cười, tỏ ý vui mừng.
Vào thời Lý, trai gái còn trẻ, dù là vợ chồng, mà dắt tay nhau đi ngoài đường, cũng là sự hiếm hoi. Bây giờ giữa cảnh nghiêm trang cực kỳ, nào vua, nào hoàng hậu, nào văn võ bá quan, mà Côi-sơn nam hiệp công khai bế Mai-Hương, lại nói với nhau bằng những lời tha thiết lãng mạn, khiến người người cùng lắc đầu. Điều này thực không lạ, vì Mai-Hương từng là ca kỹ, nàng từng nghe, từng thấy người ta âu yếm nhau giữa chỗ đông rất thường. Còn Ưng-sơn nam hiệp, thì là người coi trời bằng vung, huống chi vua, quan !
Vương Cương-Trung đang chiết chiêu với thiếu niên, thấy Côi-sơn nam hiệp bồng vú Mai, hai người âu yếm nhau cực kỳ thân thiết, thì quát lên :
- Không được đụng vào người vợ ta.
Y bỏ thiếu niên, xả kiếm vào người Ưng-sơn nam hiệp. Nhưng thiếu niên không cho y rảnh tay, chàng đánh liền ba chiêu, khiến y phải thu kiếm về đỡ.
Nghĩa-Hòa vương hỏi Thủ-Huy :
- Này cháu, ta thấy công lực Cương-Trung thực không tầm thường, mà sao y không thắng nổi thiếu niên ?
- Thúc phụ không nhìn ra cũng phải. Cương-Trung dùng toàn võ công Hoa-sơn, trong khi thiếu niên xử dụng một pho võ công khắc chế với võ công Hoa-sơn.
Tuyên-phi Thụy-Hương thấy nào Giai-phi, nào mẹ mình, vào Vân-đài Trịnh Nam-Phương, nào bọn võ sĩ Tống đều bị bắt, thì đại cuộc hỏng rồi. Nàng bồng Long-Trát đứng trước mặt nhà vua, rồi vận nội lực quát lên :
- Tất cả ngừng tay !
Vương Cương-Trung, thiếu niên cùng thu chiêu, lùi lại.
Thụy-Hương chỉ Long-Trát :
- Bệ hạ ! Đây có phải là giọt máu của bệ hạ không ?
- Đúng vậy !
Nàng lại hỏi Lý Kính-Tu :
- Lý Thái-phó ! Chiếu chỉ đã định rõ Thái-phó là thầy của thái-tử Long-Trát, có đúng vậy không ?
- Tâu phi, đúng thế !
Nàng hỏi Tô Hiến-Thành :
- Tô Thái-sư, chiếu chỉ cử Thái-sư phụ chính cho Thái-tử Long-Trát. Thái-sư đã tuân chỉ, phải không ?
- Quả như phi dạy !
Nàng chỉ vào Long-Xưởng :
- Chư vị thân vương ! Chư vị đại thần ! Trước đây Thuần-hy hoàng đế được tin tên nghịch tử Long-Xưởng, kết phe, kết đảng với bọn du thủ, du thực, rồi chuyên quyền. Vì vậy người sai Vương Thái-bảo đem một số võ sĩ, mật sang Đại-Việt để tìm cách tru diệt đứa nghịch thần, tặc tử. Hôm rồi, y còn cả gan đem bọn gian, cùng cung nga, thái giám vào cung, toan làm chuyện cực kỳ vô phép với tôi. Chính y ra tay sát hại sáu thái giám, hai cung nga hầu cận tôi. May đâu, nhờ Vương Thái-bảo ra tay, mới bắt được y, cùng gian đảng giam lại. Hoàng thượng cả giận, truất phế y khỏi ngôi vị Thái-tử, rồi phong Long-Trát vào ngôi trừ quân.
Nàng chỉ vào bọn Nghĩa-Thành, Kiến-Ninh, Kiến-An, Kiến-Tĩnh vương, với Thủ-Huy, Đoan-Nghi :
- Không ngờ, phe đảng của y được tin này, cất binh làm phản, tiến chiếm Kinh-thành, rồi vào đây phạm giá. Các vị đại thần, nếu như bọn Long-Xưởng còn không rời khỏi đây, không rút quân khỏi Hoàng-thành, Kinh-thành thì Hoàng-thượng, Thái-tử với tôi đành chết, để khỏi bị y làm nhục.
Nghe Thụy-Hương nói, mọi người đều ứa gan. Lý Kính-Tu dù sao cũng là nhà nho. Ông cung tay :
- Tuyên-phi ! Tuyên-phi nói vậy thì thực là quá. Không hề có vụ Thuần-hy hoàng đế sai Vương Cương-Trung sang giúp hoàng-thượng, mà trái lại, y sang Đại-Việt với mưu đồ cướp nước.
Phí Công-Tín cũng nói :
- Rõ ràng Tống triều sai Vương Cương-Trung sang chỉ huy Vân-Đài Trịnh-Nam-Phương, Công-Chúa Triệu Mai-Hương, Mao-Nữ Hàn Dũ-Linh, với đệ tử là Vương Thúy-Thúy, Nhạc Bảo-Bảo và Tuyên-phi...khuynh đảo triều đình Đại-Việt. Vừa rồi, chính Tuyên-phi bỏ thuốc mê vào nước uống làm Thái-tử, vương phi cùng Lễ-nghi học sĩ mê man, rồi vu oan cho Thái-tử.
Tô Hiến-Thanh chỉ năm cái ghế :
- Phi ơi ! Ai đã bôi thuốc mỡ vào năm cái ghế này, mưu giết tứ vị vương gia cùng phò mã ? Thần nghĩ, chính là phi chứ không phải ai khác.
Nghe Thụy-Hương nói, Kim-Ngân nghĩ thầm : Người này được trời cho cái nhan sắc hiếm có. Ngặt vì cả đời cha, mẹ, đều sống đời sống giả dối, lừa gạt đã quen, rồi hai người dạy con bằng những gì mình có. Hóa cho nên cái cô Thụy-Hương này coi việc xảo quyệt là sự bình thường. Đối với loại người này, thì chỉ có việc dùng sức mạnh, hoặc dùng ngôn từ thô tục mới trị được. Nghĩ vậy nàng bước ra, tay chỉ vào mặt Thụy-Hương :
- Người thực là đứa mày chai, mặt đá ; đúng như tục ngữ Việt nói, cái đĩ già mồm, cái trộm già miệng.
Thụy-Hương hỏi :
- Người là ai ?
Kim-Ngân phóng nhãn quan quét trên người Thụy-Hương một lượt rồi trả lời :
- Ta họ Trần, tên Kim-Ngân. Ta nhắc cho mi biết, ta không phải là phi tần, cung nga, phu nhân gì gì cả. Ta là con dân Đại-Việt đến đây để giết bọn cướp nước. Nếu như mi nói một câu vô lễ với ta, thì ta không giết mi đâu, mà chỉ rạch cái mặt mi năm bẩy nhát kiếm, cắt mũi mi, cho mi thành con quỷ xấu kinh khủng.
Chỉ thấy thấp thoáng một cái, ai cũng nhìn rõ Kim-Ngân lạng mình, tay chấm vào nghiên mực, rồi bôi lên mặt Thụy-Hương. Hai má Thụy-Hương đều bị quệt năm vệt dài. Động tác, tới, lui chấm mực của Kim-Ngân, ai cũng thấy rõ, có điều nàng ra tay cực thần tốc, nên Thụy-Hương tránh không kịp.
Kim-Ngân nói :
- Ta sẽ thuật tất cả tội trạng của mi. Tội nào đúng, thì mi phải gật đầu. Tội nào sai, mi có quyền cãi. Nhưng ta nói trước, nếu tội đúng mà mi còn ngoa ngôn, xảo ngữ cãi một câu, thì ta rạch trên mặt mi một kiếm. Mi cãi hai câu thì ta rạch hai kiếm. Mi hiểu không ?
Thụy-Hương run lẩy bẩy. Nàng đã nghe Thủ-Huy nói nhiều về cô em gái cương cường này. Nào võ công cao siêu nhất trong ba anh em. Nào nàng cực ghét bọn xảo trá. Nào nàng định sau này sẽ kế tục sự nghiệp của Ưng-sơn song hiệp, Mộc-tồn vọng thê hòa-thượng. Nên nàng được Ưng-sơn song hiệp gọi là Tiểu Ưng-sơn .Nay nghe nàng đứng ra kết tội mình, bất giác phi lạnh gáy.
Kim-Ngân khoan thai thuật lại tất cả những gì Khu-mật viện Tống, cùng phái Hoa-sơn đã làm, trong mưu đồ xâm chiếm Đại-Việt, như gửi người sang làm tế tác trải ba thế hệt. Mỗi thế hệ gồm những người nào. Tất cả những việc đó, phái Đông-A đều khám phá ra hết : Thế hệ một là Thiên-Hư đạo nhân đã chết. Thế hệ nhì là Vương Cương-Trung tức Lạc-Nhạn, Vân-Đài là Trịnh Nam-Phương, vợ Đỗ An-Di, Công-Chúa là Triệu Mai-Hương tức vú Mai, Mao-Nữ Hàn Dũ-Linh là Giai-phi Chếù-bì La-bút. Tuy Cương-Trung đã có vú Mai làm vợ, nhưng y còn về Trung-nguyên cưới thêm hai vợ nữa, dấu ở Gia-lâm. Vừa rồi, Song-ưng đã giết hai vợ với ba con của y...Chính ông nội nàng sai Thủ-Lý dẫn bốn người em về Thăng-long bắt Vương Thúy-Thúy, Nhạc Bảo-Bảo phải xuất đầu lộ diện. Đại hiệp Tự-Hấp bắt sống Vương Cương-Trung với 180 gian tế. Cuối cùng Cương-Trung được con gái là Thụy-Hương xin nhà vua ân xá cùng chư đệ tử. Cương-Trung sợï về Tống sẽ bị giết cả nhà nên một liều ba bẩy cũng liều, y nhập cung xui vợ với con gái hãm hại Long-Xưởng, rồi sự việc diễn ra như hiện nay...
Mỗi lần thuật hết một vụ, Kim-Ngân lại hỏi Thụy-Hương :
- Có đúng thế không ?
Thụy-Hương lại gật đầu.
Nhà vua nhìn Thụy-Hương hỏi :
- Tuyên-phi ! Việc đã như vậy, thì phi còn muốn nói gì nữa bây giờ ? Nước có luật, dù trẫm có sủng ái phi đến đâu, thì cũng không thể ân xá cho phi.
Thụy-Hương nghĩ rất nhanh :
- Bao nhiêu công trình của Khu-mât viện Tống, của phái Hoa-sơn đều tan nát cả rồi. Dù ta có năn nỉ nhà vua, nhà vua có tha cho, thì Côi-sơn song ưng cũng giết hết. Khi ta biết không tránh khỏi cái chết, thì ta phải hy sinh. Chỉ có sự hy sinh của ta, mới cứu được bố, mẹ, các sư thúc, sư bá. Nhưng ta không thể chết dễ dàng. Ta phải làm cho triều đình Đại-Việt đảo lộn, chúa tôi, cha con nghi ngờ nhau.
Nghĩ vậy nàng bật lên tiếng khóc nức nở :
- Bệ hạ ! Thiếp là đứa con gái bất hạnh nhất trần gian. Dù thiếp phạm tội gì chăng nữa, thì thời gian qua, thiếp cũng đã hầu hạ bệ hạ, mà không một phi tần nào hơn được !
Nàng nói với Thủ-Huy bằng ngôn từ bình dân :
- Anh Thủ-Huy ơi ! Anh có biết nỗi đau khổ cùng cực của em không ? Con người ta sinh ra, dù thánh hiền, dù vua chúa, cũng đều có cha mẹ, được hưởng cái tình nhân luân, yêu thương của cha mẹ. Còn em ! Em có cha, mà không bao giờ biết cha là ai. Hàng ngày cha con gặp nhau, mà cha không nhận con gái. Con gái thấy cha, mà không biết kẻ sinh thành. Em sinh ra được ba ngày thì phải xa mẹ, để mẹ đi làm vú em. Anh có thâm cảm cái đau khổ đó không ? Này nhé ! Cha em thân là đại cao thủ phái Hoa-sơn, lại xuất thân tiến sĩ, thế mà phải trốn chui, trốn lủi ở bên Đại-Việt. Có con thì không dám nhận. Tiền của dư thừa, mà bắt vợ đi làm nô bộc cho người, bắt vợ xa con. Em sống trong cái đau khổ không cha, không mẹ từ khi lọt lòng.
Nàng bưng mặt khóc hu hu :
- Khi mẹ với em nhập Đông-cung, thì cha ngồi trong bóng tối, ép buộc mẹ. Mẹ thì theo lệnh cha, ép buộc em phải dùng sắc đẹp chinh phục anh, chỉ với mục đích trộm bí lục võ công Đông-A. Nhưng em yêu anh thực thắm thiết, thực chân thành. Thất bại, mẹ bắt em bỏ anh, chinh phục Thái-tử Long-Xưởng, để sau này lên làm Hoàng-hậu. Lại thất bại nữa. Người lại bắt em phải chinh phục Hoàng-thượng ! Em thành công.
Nàng quay lại tìm mẹ, thì thấy bà đang ngồi đựa đầu vào vai Ưng-sơn nam hiệp. Nàng nói với mẹ :
- Mẹ ! Mẹ là người có nhan sắc, lại thông minh, tài hoa. Nhưng chẳng may mẹ bị rơi vào tay bọn gian ác, chúng thu nhận mẹ làm đệ tử Hoa-sơn, rồi ban cho cái hàm chưởng quản ngọn núi Công-chúa. Mà thực ra, chúng hèn hạ, dùng võ công, binh lực đánh Đại-Việt không được, chúng dùng sắc đẹp của mẹ để chiếm nước người. Chúng bắt mẹ phải làm ca kỹ, để rồi có thể làm tỳ thiếp người. Hỡi ơi !
Nàng hỏi Cương-Trung :
- Phụ thân ! Phụ thân hy sinh mình, hy sinh vợ. Hy sinh con. Phụ thân đã được những gì ? Bất quá cũng ngày hai bữa cơm ! À, phụ thân được chức tước ư ? Nó chỉ là mảnh giấy vô tri, không nói lên cái gì cả. Phụ thân ơi ! Liệu công trạng của phụ thân có bằng Nhạc Phi không ? Giả như bây giờ, người Việt có rộng lượng ân xá cho mình về Tống, thì chắc hẳn bọn hủ nho sẽ đem những cái quái quỷ gì là nhục mệnh quân vương ra kết tội. Liệu phụ thân có thoát khỏi bị chặt đầu, thây phơi cho quạ rỉa, cho ruồi bâu không ? Mẹ với con có thoát khỏi đem làm vật giải trí cho binh sĩ lúc xa nhà không ?
Mặt Vương Cương-Trung tái như gà cắt tiết. Y không nói lên lời. Y hừ một tiếng.
Thụy-Hương lại nói với nhà vua :
- Bệ hạ ! Ngay hôm đầu tới cung Long-thụy, thiếp đã tâu rằng thiếp từng có người tình là Trần Thủ-Huy ! Thiếp là tỳ thiếp của Thái-tử Long-Xưởng. Nhưng bệ hạ vẫn bắt thiếp phải dâng hiến cho bệ hạ. Bây giờ sự đã như thế này thiếp xin bệ bạ ban cho một đặc ân.
- Khanh cứ tâu.
- Tội thiếp quá nhiều, không mong gì được ân xá. Nhưng bộ Hình-thư có khoản Bát-nghị. Xin bệ hạ ân xá cho song thân thiếp, cho những người của phái Hoa-sơn được trở về cố quốc. Còn thiếp, thì thiếp xin chịu tội.
Nhà vua hỏi Hình-bộ thượng thư Trần Trung-Tá :
- Lới cầu khẩn của Tuyên-phi, khanh xem có thể chiều theo được không ?
Trước kia Trần Trung-Tá hùa theo phe Tô Hiến-Thành, cúi đầu xu nịnh Tuyên-phi, để có thế mạnh mà giữ vững địa vị. Từ hôm có cuộc nổi loạn, y ẩn trốn trong tư dinh. Bây giờ thấy Long-Xưởng thắng thế, y quay một vòng đổi hẳn thái độ. Được nhà vua hỏi ý kiến. Y tâu :
- Theo Bát-nghị thì Tuyên-phi, Vương Cương-Trung với vợ là Triệu Mai-Hương nằm trong khoản Nghị-thân. Nhưng Bát-nghị lại không tha tội phản nghịch. Thần xin bệ hạ chiếu luật ban cho phi được lĩnh tội xử giảo (thắt cổ). Còn Vương Cương-Trung với Triệu Mai-Hương thì phải tội lăng trì (xẻo thịt).
Thụy-Hương nghe Trần Trung-Tá tâu, nàng nhìn y bằng nửa con mắt, rồi cười :
- À ! Thì luật là như vậy đó. Tình đời như thế đó.
Nàng trao Long-Trát cho Thục-phi Đỗ Thụy-Châu :
- Đây ! Con của chị đây ! Giọt máu của Thiên-cảm Chí-bảo hoàng đế đây. Chị hãy bế lấy đi.
Nàng chỉ các đại thần chủ hòa :
- Các ngươi chỉ là một lũ ăn hại. Khi ta đắc thế thì các người hùa theo. Còn bây giờ, ta thất thế thì các người quay đi. Các người hùa theo ta làm hại Thái-tử Long-Xưởng, chỉ với mục đích lập lên một ấu quân, để các người ngồi yên hưởng thụ, để các người chuyên quyền ! Kể từ khi đức Thánh-tông băng, cho đến nay, toàn là ấu quân nối ngôi. Bây giờ, mới có một trừ quân lớn tuổi, các người tìm đủ cách chống đối. Hèn hạ ! Ăn hại !
Nàng đưa mắt nhìn Long-Xưởng :
- Nhưng việc đã lỡ rồi, chiếu chỉ ban ra, các trấn, phủ, huyện, xã, thôn đều nhận được. Giờ này, loa của các xã, mõ của các làng đều rêu rao rằng Long-Xưởng là đứa nghịch tử, tham dâm, giết thái giám, cung nga vô tội ; nhất là toan làm nhục sủng phi của phụ hoàng... Thì liệu sau này y có lên nối ngôi vua được không ?
Nàng hỏi nhà vua :
- Thiếp xin bệ hạ ban cho môt lời : Bây giờ Long-Xưởng là Thái-tử hay Long-Trát ?
Chán đời đi lang thang !
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-03-28 22:45:50NuHiepDeThuong>
Hồi thứ hai mươi ba

Linh-chiếu thái hậu



Trong tâm nhà vua định đáp rằng :
« Xưởng là hoàng trưởng tử, là đích tử, đã lập làm trừ quân, cầm quyền Đông-cung triều, nhân tâm thiên hạ đều hướng về. Còn Long-Trát khi sinh ra, đã có mối nghi ngờ trong triều, ngoài dã; lại là con thứ, đang tuổi bế ngửa thì sao có thể là Thái-tử ? Vừa rồi, bị Vương Cương-Trung đe dọa tính mệnh của trẫm, của hoàng-hậu, của các phi, mà trẫm ban chỉ phế Xưởng, lập Trát. Chứ thực tâm, trẫm không có ý đó ».
Nhưng liếc khuôn mặt thanh tú, đôi mắt tuyệt vọng, chứa chất cầu xin, thiết tha yêu thương nồng nàn của Thụy-Hương, long tâm lại nhũn ra. Trong khoảnh khắc đó, ông vua đa tình bậc nhất triều Tiêu-sơn lại nghĩ :
« Ta là chúa tể trời Nam, ngồi trên ngai vàng bốn mươi năm qua. Vàng bạc ta có đầy kho, dân chúng nơi nơi đều quy phục. Trong cung ta có mấy trăm người, nào hoàng-hậu, nào bẩy phi, nào hai mươi bốn mỹ nữ, mấy chục tu dung, tu nghi, tài nhân... Nhưng không ai làm cho ta vui lòng, không ai đem cho ta tới tuyệt đỉnh Vu-sơn, không ai cho ta ăn uống ngon miệng bằng Tuyên-phi. Trước đây ta từng hứa cả đời chỉ sủng ái nàng. Bây giờ, trươc khi phải ban chỉ xử tử nàng, nàng cầu xin ta giữ nguyên chỉ dụ, lập con nuôi nàng lên làm Thái-tử. Âu là ta cứ hứa cho nàng vui lòng. Rồi khi sắp băng ta sẽ đổi lại thì có sao đâu ? Vả hiện nay, quyền hành trong tay Xưởng nhi, khi ta lâm chung, hỏi ai dám chống đối Xưởng nhi ? »
Nghĩ vậy, ngài liếc mắt nhìn Hoàng-hậu, Long-Xưởng, các hoàng tử công chúa, phò mã, đại thần... Ai cũng chờ đợi quyết định của ngài. Ngài định ban chỉ : Long-Xưởng là Thái-tử, nhưng ngài thoáng thấy hai giọt lệ lăn trên má Tuyên-phi, không giữ nổi ý chí, ngài bật ra câu nói :
- Trẫm mới ban chỉ phế Xưởng lập Trát. Chỉ ban ra rồi, không thể thu lại ! Long-Trát vẫn là Thái-tử.
Lời của Thiên-cảm Chí-bảo hoàng đế vừa ban ra, ngài thoáng thấy nét bất phục, thất vọng của Hoàng-hậu, chư hoàng tử, công chúa đều bàng hoàng. Chính ngài cũng chóng mặt, cung Long-hoa như xoay vần đảo lộn. Ngài phải nắm lấy cạnh sập để khỏi bị ngã.
Thụy-Hương nở một nụ cười thực tươi, thực thỏa mãn. Nụ cười đó như hàng nghìn viên thuốc bổ, khiến nhà vua cảm thấy khỏe mạnh như hồi trai tráng. Nàng phục xuống trước nhà vua lạy đủ bốn lạy, rồi khẩn khoản :
- Thiếp xin bệ hạ gia ân, đại xá cho song thân thiếp. Không biết bệ hạ có chuẩn không ?
Nhà vua ngần ngừ chưa quyết, thì Thụy-Hương qùy gối, ôm lấy chân ngài , ngửa mặt nhìn lên chờ đợi.
Nhà vua cau mày, liếc nhìn : Quần thần, các quan đều lắc đầu. Thụy-Hương tu lên khóc. Nàng đứng dậy, nói lớn :
- Hỡi ơi ! Vì luật lệ ràng buộc, vì quần thần ước thúc, mà bệ hạ không thể ban ân cho thiếp ! Thôi thì thiếp xin lấy cái chết để tạ tội với bệ hạ.
Nói dứt nàng rút thanh trủy thủ trong bọc đâm thẳng vào ngực. Thanh trủy thủ ngập tới chuôi. Dư lực còn, nàng vẫn đứng nguyên, mắt mở trừng trừng nhìn mọi người !
Những người có võ công cao định ra tay ngăn cản, nhưng tất cả đều ở quá xa nàng.
Triệu Mai-Hương thấy con gái tự tử, bà hét lên :
- Con ơi ! Ối ! Con tôi !
Rời khỏi lòng Ưng-sơn nam hiệp, bà lạng người tới đỡ Thụy-Hương, đặt nàng nằm dài trên sập trước mặt nhà vua.
Nước mắt đầm đìa, Thụy-Hương vẫy tay gọi Thủ-Huy, miệng nàng mấp máy như muốn nói gì. Thủ-Huy quỳ gối dưới chiếc sập, ghé tai sát vào miệng nàng. Tiếng nàng nhỏ như tơ :
- Anh ơi ! Đời em trải qua ba người đàn ông. Mỗi người, mỗi hoàn cảnh, mỗi thái độ. Nhưng em chỉ yêu thương có mình anh thôi. Trước đây, anh với em đã luận bàn với nhau, sao cho anh nắm binh quyền ở ngoài, em khống chế bọn văn thần ở trong. Sau đó đưa anh lên làm vua, anh sẽ phong cho em làm hoàng-hậu. Nhưng... Nhưng nay thì tuyệt vọng rồi.
Tuy Thụy-Hương nói nhỏ, nhưng người người đều nghe rõ. Hoàng-hậu đưa mắt nhìn nhà vua, nhìn Long-Xưởng, như có ý nói :
- Tôi luận có sai đâu ? Quả Thủ-Huy có ý phản nghịch từ lâu mà không ai biết.
Trong khi Long-Xưởng nghĩ :
- Từ hôm nghe phụ hoàng, mẫu hậu luận về Thủ-Huy, ta hơi nghiêng theo ý mẫu hậu. Tuy bề ngoài ta ngọt ngào với y mà trong lòng ta ngầm đề phòng. Thỉnh thoảng thấy thái độ nhiệt thành của y, ta cứ hối hận rằng nghi oan cho một đại công thần. Bây giờ trắng đen đã rõ sự thực !
Thủ-Huy kinh hãi :
- Phi ! Làm gì có chuyện đó. Phi sắp băng rồi ! Phi đừng bịa ra những chuyện hoang đường nữa.
Thụy-Hương vẫy tay cho Thủ-Huy lùi ra. Từ nhà vua, Long-Xưởng cho chí các đại thần đều nhìn công với con mắt nghi ngờ, hận thù :
- Thì ra cái tên này là một gian thần, nguy hại, mà không ai biết.
Nàng lại vẫy tay gọi Thục-phi Đỗ Thụy-Châu. Thụy-Châu bế Long-Trát lại bên cạnh nàng. Nàng cầm lấy tay Long-Trát :
- Con tuy không phải do mẹ sinh ra, nhưng mẹ yêu thương con rộng như biển, cao như trời. Trong mười sáu tháng qua, mẹ bế bồng con, cho con bú sữa, hát ru cho con ngủ. Khi con được lập làm Thái-tử, trong lòng mẹ hân hoan, sẽ có ngày được nhìn con mặc áo ngự bào, ngồi lên ngai vàng. Nhưng bây giờ thì hy vọng đó tuyệt rồi.
Nàng nói rất nhỏ, vừa đủ lọt vào tai Đỗ Thụy-Châu :
- Em sắp chết rồi ! Em chết rồi, thì không còn người đối chất về lý lịch Long-Trát nữa. Chúng ta đã lừa được triều đình, thì cứ tiếp tục lừa luôn. Vừa rồi em nói với Long-Trát mấy lời, chỉ với mục đích xác nhận Long-Trát làm Thái-tử. Chị thấy em lừa bọn ngu thần già hay không ? Từ bao năm qua, mấy lão này kiếm đủ cớ hạ phái Đông-A với Thủ-Huy mà không được. Bây giờ chỉ mấy câu của em, thì những gì là Đại-Việt ngũ tuyệt, Vỵ-xuyên ngũ tiên sẽ bị triều đình nghi ngờ. Em chết rồi, chị cứ cương quyết rằng Long-Trát do chị sinh ra. Mấy lão đại thần già, chỉ mong Long-Trát lên làm vua để được an nhàn, sẽ hùa theo chị. Em thấy cái lão già Tô Hiến-Thành kia, là người ham danh. Khi Long-Trát lên ngôi, chị cứ phong cho y tước vương. Y sẽ cúi đầu cúc cung để chị sai như con chó. Y già rồi, thì giỏi lắm chỉ sống được ba, bốn năm nữa là cùng. Bấy giờ chị trao quyền cho Đỗ An-Di, là mọi sự ban bài xong. Thôi chị bồng Long-Trát ra chỗ khác, để nó khỏi phải nhìn thấy cảnh mẹ nó chết.
Nàng lại nói sẽ vào tai mẹ :
- Mẹ thấy không ? Phái Hoa-sơn nhà mình tìm trăm phương ngàn kế phái người sang làm tế tác, để triều đình sẽ đưa quân sang chiếm Đại-Việt. Thế mà gần trăm năm qua, bao nhiêu người, bao nhiêu công, bao nhiêu sức, mà cuối cùng cũng mua lấy cái thất bại ngày hôm nay. Chính vì vậy con phải ra tay. Chỉ một cái chết của con, mà loại vĩnh viễn Long-Xưởng ra ngoài. Chỉ cần mấy năm nữa thôi, Long-Trát sẽ làm vua Đại-Việt. Trong suốt bốn nghìn năm lịch sử, nào Tần, nào Hán, nào Đường, nào bản triều, đem quân nghiêng nước sang đánh Đại-Việt, cuối cùng cũng thất bại. Nay, con không dùng kiếm, không dùng cung, mà biến An-Nam thành quận huyện của ta.
Nàng nhắm mắt lại, thở hổn hển, rồi tiếp :
- Nhưng con nói thực ! Cái hôm bố mẹ bàn với con rằng, con phải hiến thân cho vị Thái-tử, thuộc dòng chính thống của Tống triều, hy vọng có con. Rồi tìm cách đưa đứa con đó lên làm vua An-Nam. Con tuân theo, mà lòng bất phục. Sau hai đêm liền hiến thân đó, con cảm thấy thân thể dơ bẩn, hối hận vô tả. Bởi trước sau, con chỉ yêu có một mình Thủ-Huy thôi. Còn Long-Xưởng hay ông vua kia, con không hề để vào tâm. Mẹ hãy bình tĩnh để con bắn vào tim cái ông vua đa tình này mấy mũi tên độc nữa. Với mấy mũi tên này, thì triều đại Tiêu-sơn không còn.
Đến đây hơi thở của Thụy-Hương gần như muốn tuyệt. Nàng hướng nhà vua :
- Thiếp biết tội quá nhiều...Trong khoảnh khắc nữa...âm dương cách trở.. . Không biết rồi đây, ai sẽ thay thiếp phục thị, dâng hiến những miếng ngon, vật lạ lên bệ hạ.
Nhà vua quên cả mình là đấng chí tôn. Ngài nắm lấy hai vai Thụy-Hương :
- Phi ! Trời ơi ! Làm sao bây giờ ?
Thình lình, Thụy-Hương lách tay nhổ thanh trủy khỏi ngực. Máu vọt lên thành vòi. Người người đều kinh hãi, quay mặt đi. Nàng rùng mình một cái, rồi từ từ nhắm mắt.
Nước mắt đầm đìa, nhà vua ôm lấy Thụy-Hương, nhắc lại ý nghĩ trong tâm lúc nãy cho mọi người nghe :
- Hỡi ơi ! Trẫm làm chúa trời Nam, con dân biết bao nhiêu mà kể. Trong cung cấm, nào hoàng-hậu, nào phi tần có hàng trăm. Thế mà không ai làm cho trẫm vui lòng. Không ai cung phụng yến tiệc cho trẫm ngon miệng. Duy phi là người duy nhất làm cho trẫm vui, dâng cho trẫm những món ăn mà trẫm vừa lòng nhất. Bây giờ phi đã băng rồi, thì bao nhiêu tội lỗi cũng theo phi đi hết. Trẫm tuyên chỉ trước chư khanh : Trẫm ân xá cho Thái-bảo Vương Cương-Trung, ân xá cho tất cả mọi người. Aân xá cho tất cả tội nhân dù thành án hay chưa.
Giai-phi Chế-bì La-bút đến trước nhà vua lạy bốn lạy :
- Tâu Bệ-hạ ! Thiếp nhũ danh là Hàn Dũ-Linh, trong phái Hoa-sơn thiếp là Mao-Nữ tiên tử. Quả Tống triều đã đưa thiếp sang giả làm công chúa Chế-bì La-bút. Từ ngày nhập cung, thiếp được bệ hạ ân sủng hơn bất cứ phi tần nào. Trong suốt mười mấy năm qua, tuy thiếp có lỗi đạo chúa-tôi với bệ hạ. Song chuyện chăn gối, vợ chồng thiếp không hề khiếm khuyết. Bây giờ bệ hạ ban chỉ ân xá cho thiếp về Tống. Thiếp xin bệ hạ nhận lấy tám lậy này, trước khi kẻ Tống, người Việt.
Nói rồi phi lạy đủ tám lậy.
Phu nhân của Tể-tướng Đỗ An-Di cũng đến trước chồng. Nàng quỳ xuống rập đầu :
- Tể-tướng ! Thiếp quả thực là người Tống, khuê danh là Trịnh Nam-Phương, trong phái Hoa-sơn, thiếp đứng đầu Hoa-nhạc tam nương, chưởng quản Vân-Đài lĩnh. Khu-mật viện Tống cho thiếp sang Đại-Việt với mục đích thu lượm tin tức gửi về. Thiên-Hư sư bá đã cho tiền một nhà nghèo để họ nhận thiếp làm con, rồi bán cho tướng-công. Từ ngày về làm tỳ thiếp, tướng-công sủng ái thiếp trải mười mấy năm dư. Tình nghĩa vợ chồng thực là mặn nồng. Thiếp chưa từng làm phật lòng tướng-công. Tướng-công cũng chưa từng hắt hủi thiếp. Bây giờ trước lúc ly biệt, thiếp xin tướng-công nhận mấy lậy, để tạ cái tội, thiếp đã thu nhặt tin tức của Đại-Việt gửi về Tống.
Triệu Mai-Hương ( vú Mai), đến trước Thần-phi Bùi Chiêu-Dương và công chúa Đoan-Nghi, phục xuống, lậy bốn lậy, nước mắt đầm đìa :
- Nô tỳ nguyên là thần dân Tống-triều. Trong phái Hoa-sơn, nô tỳ trấn thủ ngọn núi Công-chúa. Khu-mật viện Tống đã đưa nô tỳ sang Đại-Việt, ẩn thân dưới cái vỏ ca kỹ Trần Lệ-Mai, mục đích đi đường tắt, làm tỳ thiếp của Minh-Đạo vương. Thế nhưng, Minh-Đạo vương đã có vương phi Phạm-thị Thanh-Thủy. Vì vậy sư huynh Lạc-Nhạn phải ám hại vương phi Thanh-Thủy, để nô tỳ có thể lọt vào phủ của người. Thế nhưng, khi sư huynh sai Mao-Khiêm hại được vương phi Thanh-Thủy, thì cũng đúng là lúc vương bị Cảm-Thánh thái hậu với Đỗ Anh-Vũ gia hại, mất hết địa vị, thế lực. Sư huynh Lạc-Nhạn bỏ việc sắp xếp cho nô tỳ vào phủ Minh-Đạo.
Bà đưa mắt nhìn Vương Cương-Trung :
- Thế nhưng, con người ta ai cũng không thoát được đường tình. Đúng lúc đó nô tỳ gặp một đấng tài tử văn nhân. Chàng vốn nòi thư sinh. Thi, nhạc, họa không môn nào mà không thông. Cho hay, thanh khí lẽ hằng, nô tỳ vừa gặp người là quấn lấy nhau. Nô tỳ bỏ không hát nữa, cùng chàng ngao du bốn phương. Khi Bích-động, khi Hàm-rồng, lúc Nam-giới, nô tỳ với chàng như đôi chim liền cánh. Bấy giờ Mao Khiêm đang đắc thế trong phủ Thái-sư Đỗ Anh-Vũ. Mao đã tiến cử nô tỳ làm tỳ thiếp cho Đỗ. Sư huynh Lạc-Nhạn bắt nô tỳ phải chuẩn bị vào phủ Thái-sư, và rời người thư sinh, không có chút địa vị, không tiền tài kia ngay tức thời. Nô tỳ không tuân lệnh sư huynh. Sư huynh theo dõi, rồi đích thân giết người tình của nô tỳ.
Mọi người đều chăm chú theo dõi một thiên tình sử hơn hai chục năm trước. Ai cũng ái ngại cho người thư sinh trói gà không chặt.
- Thế nhưng nào ngờ, sư huynh Lạc-Nhạn phát chiêu giết thư sinh, thì bị phản công. Sau mười tám chiêu, sư huynh bị đánh bại. Thư sinh bắt sư huynh phải quỳ lạy, mới được tha mạng. Hai người hẹn hai mươi năm sau tái đấu, để phân cao thấp.
Đoan-Nghi hỏi :
- Vú là cao thủ phái Hoa-sơn, thế vú có biết thư sinh dùng võ công gì không ?
- Khi mới giao đấu, người bảo sư huynh Lạc-Nhạn rằng : Mi là người phái Hoa-sơn, vậy ta dùng võ công Hoa-sơn thắng người, để người không ân hận. Võ công của Lạc-Nhạn hay Ngô Giới, Lưu Kỳ đều là võ công Hoa-sơn thất truyền. Còn võ công của thư sinh bao gồm cả Hoa-sơn tứ đại thần kỹ.
Mai-Hương thở dài não nuột :
- Rồi, một buổi sáng, khi thiếp thức dậy, thì không thấy thư sinh đâu nữa. Nô-tỳ khóc hết nước mắt, bỏ ra không biết bao nhiêu tiền, thuê người điều tra lý lịch chàng, mà cũng biệt tăm. Mãi tới một hôm, kẻ mà tiểu tỳ bỏ tiền sai đi tìm lý lịch chàng báo cho nô tỳ biết một chuyện đau lòng : Chàng chính là người nức danh võ lâm, con trai đầu lòng đại hiệp Trần Tự-Kinh phái Đông-A, tên là Trần Tự-Hấp. Tự-Hấp với vợ là Bùi Anh-Hoa, nổi tiếng Hoa-Việt với cái tên Côi-sơn song-ưng.
Cả sảnh đường cùng bật lên tiếng kinh ngạc :
- Ủa !
- Ái chà chà !
- Ối trời ơi !
Rồi cùng đưa mắt nhìn Côi-sơn song ưng. Chỉ có Đoan-Nghi, Thủ-Huy là im lặng cười nửa miệng mà thôi.
Mai-Hương vẫn thuật lại cuộc đời thăng trầm của mình :
- Người đưa tin còn nói thêm rằng : Tự-Hấp trốn vợ, ngao du với nô tỳ. Bây giờ bị vợ khám phá ra. Y thề không bao giờ gặp nô tỳ nữa. Nô tỳ tin ngay, vì trên thế gian này chỉ phái Đông-A mới có bộ Vô-trung kinh, trong đó chép đủ Tứ đại thần kỹ Hoa-sơn . Nô tỳ nghiến răng căm hận kẻ bạc tình, thề sẽ có ngày đích thân giết chết y. Giữa lúc nô tỳ đau khổ cùng cực đó, thì sư huynh Lạc-Nhạn ngỏ ý cầu hôn với nô tỳ. Thế là nô tỳ rơi vào tay người. Rồi...Nô tỳ trở thành vợ của Lạc-Nhạn hay Vương Cương-Trung, rồi đứa con Thụy-Hương ra đời, rồi nô tỳ thành nhũ mẫu của công chúa. Hôm nay đây, nô tỳ gặp lại người thư sinh, gặp lại người tình Côi-sơn , thì đứa con gái yêu thương lại phải chết. Hỡi ơi !
Bà lạy thêm một lạy :
- Nô tỳ xin Thần-phi, xin công-chúa nhận lấy cái lạy này, để tạ lỗi, đã mượn cung của Thần-phi, lợi dụng lòng yêu thương của công-chúa, làm gian tế bấy lâu nay.
- Có ai muốn nói gì nữa không ?
Côi-sơn nữ hiệp hỏi : Nếu không ai nói gì nữa, thì chúng ta nói.
Bà chỉ Thụy-Hương :
- Con nhỏ này tuy có nhan sắc, nhưng tiếc rằng nó bị cha, mẹ dạy cho một bản lĩnh điêu ngoa, xảo quyệt vô địch. Rồi đi đến kết quả là chết uổng. Khi ta mới vào đây, thì nó kết tội Long-Xưởng bằng đủ mọi lời ác độc. Sau khi bị Trần Kim-Ngân lột mặt nạ, nó lại tự tử. Nó nghĩ rằng khi tự tử, thì những lời nói cuối cùng sẽ làm cho ai nấy đều tin. Nhưng, chúng ta hiện diện tại đây, thì sao có thể qua mặt chúng ta được ?
Bà liếc mắt nhìn mọi người, rồi nhắc lại tất cả những gì Thụy-Hương nói thầm với mẹ, với Thục-phi Đỗ Thụy-Châu một lượt. Nghe Côi-sơn nữ hiệp thuật xong, ai nấy rùng mình về sự xảo trá của Từ Thụy-Hương, và cái nguy mất nước, nếu mưu cơ của nàng không bị khám phá.
Ưng-sơn nữ hiệp hỏi lại Đỗ Thụy-Châu, Triệu Mai-Hương :
- Những lời ta nhắc lại có đúng như Tuyên-phi nói không ?
Hai người biết nội công Ưng-sơn cực cao, bao nhiêu lời nói của Thụy-Hương, bà đã nghe rõ rồi, thì có dấu diếm nữa cũng vô ích. Cả hai cùng nghĩ : Nếu mình chối cãi, không chừng Song-ưng sẽ giết cả nhà đến con chó, con mèo cũng không tha thì thực thảm khốc. Chi bằng nhận đi là hơn.
Hai người cùng gật đầu, mà chân tay phát run.
Ưng-sơn nữ hiệp hướng nhà vua :
- Đứa đồi tử của nhà ta kia !

Ghi chú của thuật giả:

Tiếng đồi tử tôi lấy trong Trần-tộc vạn thế ngọc phả, của chi bốn, thuộc giòng dõi Chiêu-quốc vương Trần Ích-Tắc tại nhà từ ở thị xã Lãnh-thủy, huyện Chiêu-dương, tỉnh Hồ-Nam, Trung-quốc ; phần chép về Ninh-tổ hoàng đế Trần Lý. Nguyên văn đoạn này như sau :« Đế (chỉ Anh-tông) bất minh, phế đích tử Long-Xưởng, nhi lập thứ tử Long-Trát. Linh-đức Chiêu-hòa thái hậu vị đế mạ vi đồi tử. Đế mặc nhiên, đê đầu bất khả biện minh » .

Nghĩa là :
Nhà vua (chỉ vua Lý Anh-tông) thiếu sáng suốt, phế bỏ con đích là Long-Xưởng mà lập con thứ là Long-Trát. Linh-đức Chiêu-hòa thái hậu mắng vua là đứa con hư hại. Vua im lặng, cúi đầu không biện bạch được tại sao.

Chữ đồi có để chỉ tinh thần suy thoái.
Tôi đã đọc nhiều sách Trung-quốc, cũng như Đại-Việt, chưa từng thấy ai mắng con cháu bằng tiếng đồi tử cả. Thấy đây là một từ ngữ hơi lạ, tôi giữ nguyên. Mong các vị cao minh thông cảm.


Nghe bà mắng nhà vua, mọi người cùng kinh hãi tự hỏi : Bà là ai mà lại gọi nhà vua là đứa con tồi của mình ? Không lẽ bà là Cảm-Thánh hoàng thái hậu ?
Không ai lên tiếng, tất cả cùng lắng tai nghe. Bà vẫn tiếp tục mắng nhà vua :
- Cổ kim, một hoàng đế đa tình luôn là hoàng đế tốt. Nếu biết phân biệt quốc sự với cái đa tình, thì không ai có thể phê phán. Nhưng giữa đa tình với hiếu sắc lại không giống nhau. Đức Thánh-tông chẳng từng nức tiếng đa tình, vì người biết sủng ái một cô thôn nữ, sau thành Linh-Nhân hoàng thái hậu đó ư ? Đức Thần-tông chẳng từng yêu thương một cô bán hoa, mà khắp thiên hạ, đều cho rằng ngài hiểu rõ cái tình là cái chi chi. Cho đến nay, không ai chê trách đức Thánh-tông, Thần-tông, mà còn khen là minh quân. Ngược lại, thân làm vua, mà đắm say nữ sắc, làm hại dân, hại nước, thì chỉ là tên ngu phu trước con đàn bà lăng loàn. Sử sách xưa không thiếu gì những gương sáng đó. Nào U-vương say Bao-Tự, Trụ-vương say Đát-Kỷ, Ngô-vương say Tây-thi, Hán-vương say Phi-Yến, Minh-Hoàng say Dương phi, cuối cùng hoặc xã-tắc nghiêng ngửa, hoặc mất ngôi, rồi bản thân chết như một con trâu thối tha trôi sông.
Bà chỉ vào Thụy-Hương :
- Mi say mê y thị, thì cứ say mê, ta không cấm cản. Nhưng mi đem giang sơn của vua Hùng, vua An-Dương, vua Trưng ; mi đem sự nghiệp của năm vị tiên đế triều Tiêu-sơn chỉ để làm vui lòng thị thì không được.
Thái-phó Lý Kính-Tu bước ra :
- Thưa bà ! Côi-sơn song ưng nức tiếng là người chính đạo, tý dân, hộ quốc, lão phu hằng tâm phục, khẩu phục hơn hai chục năm qua. Nhưng bà nhục mạ Hoàng-thượng như vậy là không chính đạo. Thánh nhân dạy : Để cho vua bị nhục, thì bầy tôi không đáng sống. Nay bà miệt thị Hoàng-thượng quá đáng, lão phu là bầy tôi, thì lão phu không thể chịu được. Lão phu chỉ là một văn thần trói gà không chặt. Nhưng cũng liều mình với bà.
Nói rồi ông mang hốt tiến lại đập vào Ưng-sơn nữ hiệp. Bà mỉm cười, dơ tay ra cho lão đập, bà không dám vận công, vì sợ lão bị thương. Mỗi lần cái hốt trúng tay bà, kêu lên tiếng lốc cốc như đập vào cái mõ. Đập được năm cái thì lão mệt quá không đập được nữa. Lão đến trước nhà vua, quỳ xuống lạy bốn lạy :
- Kẻ mạt thần không đủ sức hộ giá, nay xin lấy cái chết để đền ơn tri ngộ của các vị tiên đế.
Nói dứt lão đập đầu vào cái cột bằng đá của cung Long-hoa.
- Khoan ! Chưa đến lúc chết như vậy !
Tiếng nói thanh thoát nhẹ nhàng, tiếp theo bóng xanh xẹt đến. Mọi người chỉ thấy lóa mắt một cái, rồi thân Kính-Tu bị nhắc bổng lên. Bóng xanh đó là Tô Phương-Lan.
Phương-Lan chỉ Ưng-sơn nữ hiệp :
- Thái-phó hãy nhìn xem người mắng Hoàng-thượng là ai ? Ưng-sơn song hiệp có bao giờ hành sự ngoài đạo lý, ngoài luật pháp đâu ?
Minh-Đạo vương mở khăn che mặt Ưng-sơn nữ hiệp ra. Cả sảnh đường cùng bật lên tiếng kinh ngạc, bởi ai cũng tưởng bà là vợ của đại hiệp Trần Tự-Hấp, thì ít ra tuổi của bà cũng phải trên dưới bốn mươi. Bây giờ thấy bà chỉ là một thiếu phụ tuổi khoảng hai chục, nhan sắc cực kỳ diễm lệ. Bất giác họ cùng so sánh với nhưng người đẹp hiện diện : Loại hơi lớn tuổi như Vân-Đài Trịnh Nam-Phương, Công-Chúa Triệu Mai-Hương, Mao-Nữ Hàn Dũ-Linh cho tới loại nhỏ tuổi Đoan-Nghi, Thụy-Hương, Trang-Hòa, Như-Như, Phương-Lan, Kim-Ngân, đều không thể so sánh với bà. Người người cùng bật lên tiếng kêu kinh ngạc :
- Ồ !
- Ái chà !
- Oái.
- Hỡi ơi.
Vừa nhìn thấy bà, thì từ nhà vua, hoàng-hậu, cho đến các thân vương, đại thần, cùng tới trước mặt Ưng-sơn nữ hiệp rập đầu :
- Thần nhi xin tham kiến Thái-hậu.
- Bọn thần xin khấu đầu trước Thái-hậu.
Vân-Đài Trịnh Nam-Phương thấy Ưng-sơn nữ hiệp là một thiếu phụ nhan sắc diễm lệ, trẻ hơn Thụy-Hương, mà sao mọi người đều cung cung, kính kính với bà ? Hơn nữa lại gọi là Thái-hậu ? Nam-Phương ngơ ngơ ngác, rồi hỏi Vương Cương-Trung :
- Sư huynh ! Bà...Bà ta là vợ Ưng-sơn, mà sao họ lại gọi là thái-hậu ?
- Bà này là một giai nhân nức tiếng Thăng-long hơn bốn mươi năm trước, tên là Hồng-Hạnh, được vua Thần-Tông đón vào cung phong làm Thần-phi. Khi cái ông vua bị thịt kia lên ngôi, tôn bà làm Thái-hậu. Bà không phải vợ của gã Trần Tự-Hấp kia đâu. Bà chỉ đi cùng y mà thôi.
- Sư huynh nói sao ? Bà là Linh-chiếu Chiêu-hòa thái hậu, vợ của vua Thần-tông ư ? Không lẽ ! Nếu đúng vậy thì năm nay bà phải gần sáu chục tuổi rồi chứ ? Có đâu trẻ như gái hai mươi thế kia ?
- Đúng vậy ! Vì bà luyện thành Bảo-Hòa vạn hoa công của công-chúa Bảo-Hòa, nên trẻ hoài không già.

Ghi chú của thuật giả:

Công-chúa Bảo-Hòa là nhân vật lịch sử, lẫn thần thoại. Ngài là cháu ngoại của vua Lý Thái-tổ, con của công-chúa Lĩnh-Nam Bảo-quốc Hòa-dân với phò mã Thân Thừa-Quý. Ngài sống trải bốn đời vua nhà Lý : Thái-tổ, Thái-tông, Thánh-tông, Nhân-tông. Không rõ hoăng năm nào. Tương truyền ngài có thuật dưỡng sinh, khiến cơ thể trẻ mãi không già. Hành trạng của ngài, tôi thuật rất chi tiết, rất đầy đủ trong các bộ Anh-hùng Tiêu-sơn, Thuận-thiên di sử, Anh-hùng Bắc-cương do Xuân-Thu, và Nam-quốc sơn hà do Đại-Nam, Hoa-kỳ xuất bản.

Trước khi sang Đại-Việt, Nam-Phương từng nghe sư phụ, sư bá không ngớt nhắc nhở đến tiên nương Bảo-Hòa, nhân vật nửa lịch sử, nửa thần thoại này nhiều lần, và ước mơ sao tìm được Bảo-Hòa vạn hoa công để giữ tuổi Xuân không tàn phai. Hồi ấy nàng không tin trên đời lại có loại thần công kỳ diệu đến thế. Bây giờ thấy Linh-chiếu Chiêu-hòa thái hậu, mẹ của Minh-Đạo vương, mà vương là anh lớn hơn nhà vua gần chục tuổi... sắc diện trẻ như thiếu nữ đôi mươi, thì trong lòng cực kỳ cảm phục.


Linh-Chiếu thái hậu vẫy tay :
- Miễn lễ cho các người.
Nhà vua cung cung, kính kính thỉnh Linh-Chiếu Thái hậu ngồi lên giữa sập. Bà thản nhiên lên ngồi, rồi hỏi nhà vua :
- Hoàng nhi. Hoàng-nhi hãy trả lời cho ta mấy câu.
- Thần nhi xin chờ chỉ dụ của mẫu hậu.
- Có phải khi ban chỉ phong Long-Xưởng làm Thái-tử, hoàng-nhi thể theo điển lệ thời tiên đế, cùng lời tâu của chư đại thần không ?
- Quả như mẫu hậu minh kiến.
- Hơn mười năm qua, Long-Xưởng cùng Đông-cung triều đã làm cho dân giầu, nước mạnh như thời đức Thái-Tông, Thánh-Tông. Trong, việc nông tang phồn thịnh, học phong rực rỡ. Ngoài, nước lớn nể, nước nhỏ phục, lại mở ra một lối mới trong việc giao thiệp với các nước khác. Như vậy sau này có xứng đáng nối ngôi không ?
- Tâu mẫu hậu, Xưởng nhi sau này sẽ là một minh quân.
- Còn cái việc Tuyên-phi Vương Thụy-Hương, giả chiếu chỉ gọi Long-Xưởng vào cung cho hoàng-nhi dặn dò việc sau, rồi bỏ thuốc mê vào nước cho Long-Xưởng, Trang-Hòa, Như-Như uống. Khi ba trẻ mê man, thị ra tay giết hai cung nữ, Vương Cương-Trung ra tay giết sáu thái giám. Rồi tri hô lên là Long-Xưởng mang người vào định cưỡng gian y thị. Hoàng-nhi có biết không ?
- Tâu mẫu hậu, được mẫu hậu mở mắt cho, thần nhi mới biết.
- Khi hoàng-nhi ban chỉ cho Thủ-Huy đình chỉ việc Bắc chinh, rồi gọi hoàng đệ Nghĩa-Thành, sáu trẻ Kiến-Ninh, Kiến-An, Kiến-Tĩnh Đoan-Nghi, Thủ-Huy về triều, cho phục binh giết. Đó là ý của hoàng-nhi chăng ?
- Tâu, thần nhi bị Vương Cương-Trung dí kiếm vào cổ bắt làm việc đó, chứ thần nhi không có ý như vậy.
- Được rồi ! Còn việc hoàng nhi ban chỉ phế Long-Xưởng, lập Long-Trát thì sao ?
- Tâu...Cũng do Vương Cương-Trung áp chế.
Linh-Chiếu thái hậu hướng quần thần :
- Các vị có nghe thấy không ? Bây giờ các vị hãy nghe Hoàng-thượng tuyên chỉ chính thức về việc lập trừ quân.
Nhà vua tuyên chỉ dõng dạc :
- Trẫm cho chư khanh biết, Long-Xưởng vẫn là Thái-tử. Đông-cung triều không có gì thay đổi.
Linh-Chiếu thái hậu chỉ Ưng-sơn nam hiệp :
- Bây giờ, ta muốn nhìn người này giải quyết những món nợ lâu năm với Vương Cương-Trung.
Côi-sơn nam hiệp vẫy tay gọi Vương Cương-Trung :
- Tên gian manh kia ! Nếu mi có còn là con người, thì hãy ra đây cùng ta lý luận.
Vương Cương-Trung cười gằn :
- Ai sợ Trần Tự-Hấp, chứ họ Vương này đâu có sợ ? Mười mấy năm trước, khi chúng ta đến Thiên-trường, phái Đông-A hèn hạ, dìm chúng ta dưới nước, rồi làm nhục. Hôm nay, ta phải trả cái hận ấy.
Kim-Ngân chỉ mặt Vương Cương-Trung :
- Vương thái bảo. Hồi đó Hoa-nhạc tam-phong bị anh tôi là Thủ-Lý dùng Thiên-la thập bát thức bắt sống, mà sao Thái-bảo lại nói là dìm xuống nước ? Trong Côi-sơn song ưng thì thái-hậu là đệ tử phái Tản-viên. Còn nam hiệp thì là đệ tử phái Đông-A. Nhưng Song-ưng không dự vào việc bắt Hoa-nhạc tam phong.
Cương-Trung chỉ Ưng-sơn nam hiệp :
- Y...Y không là Trần Tự-Hấp, thì là ai ?
Nói rồi y đứng ra trước mặt Côi-sơn nam hiệp :
- Tự -Hấp, mi hãy mở khăn bịt mặt ra cho thiên hạ thấy một sự thật.
Nam hiệp nói lớn :
- Các người muốn biết mặt ta ư ? Cũng được. Để ta mở ra cho Mai-Hương thấy ta là ta. Sư huynh Tự-Hấp là sư huynh Tự-Hấp.
Nói rồi ông mở khăn bịt mặt ra. Người người đều kinh hoảng :
- Minh-Đạo đại vương !
Nhà vua cung bật lên tiếng kinh ngạc :
- Thì ra huynh trưởng đó sao ?

Từ hơn hai chục năm qua, Ưng-sơn song hiệp qua lại giang hồ, tru diệt kẻ ác, cứu khốn phò nguy. Bất cứ hắc đạo, bạch đạo khi nghe đến tên đều kinh hồn động phách. Hai người ẩn hiện không chừng. Uøng-sơn như một Hình-bộ thương-thư tư, luôn xử những vụ án bí mật, mà kẻ phạm tội đa số là bọn tham quan, bọn ác bá, bọn trộm cướp sống ngoài vòng pháp luật. Hai vụ mà Ưng-sơn song hiệp xử lớn nhất là giết cả nhà ác nhân Đỗ Anh-Vũ, đương kim Thái-sư nắm toàn quyền sinh sát trong tay. Vụ thứ nhì là giết toàn gia bon Nùng-sơn tam anh, Tô-lịch nhị tiên. Sau hai vụ đó, bọn gian thần tặc tử sợ hãi đến không còn biết chúng là ai nữa. Người ta cứ đoán già đoán non Ưng-sơn song hiệp là ông bà Trần Tự-Hấp của phái Đông-A, hay ông bà Lê Thúc-Cẩn của phái Sài-sơn. Bây giờ nảy ra Song-ưng không phải là vợ chồng mà là mẹ con. Mẹ là giai nhân Hồng-Hạnh của phường bán hoa Thăng-long, sau được phong làm Thần-phi rồi Linh-chiếu Chiêu-hòa thái hậu. Còn con thì là Minh-Đạo vương.
Mai-Hương chạy lại bên Minh-Đạo vương. Nước mắt đầm đìa :
- Anh ơi ! Từ trước đến giờ em cứ tưởng anh là Trần Tự-Hấp, lại không bao giờ tưởng anh lại là Côi-sơn nam hiệp. Hỡi ơi ! Quạ bạc đầu, ngựa mọc sừng, mặt trời mọc đằng Tây, em có thể tin được. Thế nhưng nếu ai nói anh là Minh-Đạo vương, thì không bao giờ em tin.
Minh-Đạo đại vương chỉ vào mặt Cương-Trung :
- Hơn hai chục năm qua, ta cứ tưởng là tên Mao Khiêm tuân lệnh Anh-Vũ, Cảm-Thánh, giết ái thê của ta. Hôm nay, nhờ Mai-Hương, ta được biết mi mới là chính phạm.
Ông quàng tay ra ôm lấy Triệu Mai-Hương :
- Tên Vương Cương-Trung định giết ái thê của ta, để cho nàng thay thế. Khi y giết được, thì ta mất hết địa vị, y bỏ kế hoạch dùng nàng làm tế tác trong phủ của ta, không cho nàng gặp ta. Thực đúng là duyên trời ! Lúc ái thê qua đời, ta quá buồn, đi tìm câu ca, tiếng hát thì gặp nàng.
Mai-Hương dùng ngôn từ bình dân :
- Thế sao hồi đó , tự nhiên không từ giã, mà anh bỏ đi ?
- Bấy giờ hành tung của anh bị lộ, Đỗ Anh-Vũ với Cảm-Thánh sai thị vệ vây đánh anh. Anh thoát được thì bị thương nặng, phải dưỡng thương ba năm mới khỏi. Khi khỏi bệnh, anh tìm em, thì em đã không còn ở chỗ cũ nữa. Gần hai chục năm nay, bây giờ anh mới tìm được em.
Mai-Hương nhìn Vương Cương-Trung :
- Thực không ngờ, chính sư huynh Lạc-Nhạn cũng nói rằng anh là Côi-sơn song ưng, là Trần Tự-Hấp.
- Côi-sơn thì đúng, còn là Trần Tự-Hấp thì y bịa ra. Tự-Hấp là sư huynh của anh. Sở dĩ người ta lầm, vì bịt mặt lại, trông sau lưng, hay đằng trước, anh với sư huynh Tự-Hấp giống hệt nhau. Chính y sai cái tên đưa tin cho em, bịa ra anh là Tự-Hấp, để em tuyệt vọng, y mới chiếm được thân xác em.
Vương Cương-Trung quát lên :
- Mai-Hương ! Hãy rời tên Nam-man ngay. Nàng đường đường là vợ một đại thần Thiên-triều, tước phong tới công chúa, mà lại đi tình tự công khai với y ư ?
Dường như Mai-Hương không coi Cương-Trung ra gì. Nàng lại áp má vào ngực Minh-Đạo vương rồi nói với y:
- Sư huynh ! Người này mới là chồng của muội. Sư huynh đã đánh lừa muội, để chiếm thân xác. Trong hơn hai mươi năm, tuy ở cạnh sư huynh, mà lòng muội lại chỉ tưởng nhớ tình quân. Hôm nay gặp lại, dù trời sập, muội cũng không rời người tình này đâu .
Mặt Cương-Trung tái như gà cắt tiết . Y quát lên :
- Ta phải giết mi.
Nói dứt y rút kiếm phóng một chiêu thần tốc vào người Mai-Hương. Minh-Đạo vương phát chiêu chỉ đánh thẳng vào người Cương-Trung, làm y phải thu kiếm về, lộn đi một vòng để tránh.
- Vương Cương-Trung.
Minh-Đạo vương chỉ tay vào mặt y :
- Hai mươi năm trước, vì muốn chiếm đoạt Mai-Hương, mi ra tay ám toán, giết thư sinh tình quân của nàng, tình quân đó là ta. Không ngờ mi bị ta đánh bại. Mi phải quỳ gối van xin để được tha mạng, và hẹn hai mươi năm sau tái đấu phục hận. Thế mà đúng cái ngày hẹn tái đấu, mi trốn biệt. Hôm nay đây, mi không còn trốn được nữa.
Nói dứt, vương hướng tay lên xà nhà phẩy một cái, thanh kiếm của Đoan-Nghi cắm trên đó rơi xuống, nằm gọn trong tay vương. Vương hôn lên má Mai-Hương :
- Hai mươi năm trước, ta đấu với người, chỉ với mục đích tự vệ. Còn hôm nay đây, ta phải trừng trị người về cái tội giết ái thê của ta, dùng thủ đoạn hèn hạ lừa dối Mai-Hương. Người xuất chiêu đi !
Vương Cương-Trung vòng tay ra chiêu Thương-tùng nghênh khách của Hoa-sơn kiếm pháp. Chân từ vị trí Thiên-phong-cấu cung Càn, bước sang vị trí Địa-lôi-phục cung Khôn, ánh kiếm lấp lánh, trông rất kỳ ảo. Một chiêu biến thành 64 chiêu. Kiếm quang bao phủ người Minh-Đạo vương với Mai-Hương. Minh-Đạo vương vẫn ôm Mai-Hương, đứng im một chỗ, vương phát chiêu, làn kiếm của vương quay thành vòng tròn, hàng nghìn vòng tròn xen lẫn nhưng chiêu của Cương-Trung. Các chiêu của hai người quá ảo diệu, quá nhanh, không ai còn nhìn rõ nữa. Có tiếng loảng xoảng phát ra, rồi Cương-Trung nhảy lùi lại.
- Kiếm pháp cao minh lắm.
Minh-Đạo vương khen :
- Với trình độ kiếm pháp này, mi đã thành đệ nhất kiếm khách phái Hoa-sơn rồi.
Chán đời đi lang thang !
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-03-28 22:47:24NuHiepDeThuong>
Tiếp Hồi 23


Quan sát kiếm chiêu của Cương-Trung, Long-Xưởng, Đoan-Nghi cùng đưa mắt nhìn Thủ-Huy, vì hôm trước công đã dùng chiêu này đấu với Vương Thúy-Thúy.
Giai-phi Chế-bì La-bút, tức Mao-Nữ Hàn Dũ-Linh reo lên :
- Sư huynh ! Mừng sư huynh luyện thành bộ Vô Trung kinh.
Cương-Trung lại từ cung Chấn, vị trí Địa-phong-thăng bước sang vị trí Sơn-lôi-di cung Tốn, ra chiêu Hạc-phi Đài-sơn, một chiêu biến ra hai, hai thành bốn, rồi bốn thành 16. Đến đây người ta còn nhận ra, nhưng khi từ 16 thành 256, rồi 256 thành 65.536 chiêu thì không ai nhìn rõ nữa, làn kiếm quang bao trùm lấy người Minh-Đạo vương.
Trong khi kiếm của Cương-Trung huyền ảo, thần tốc như vậy, mà Minh-Đạo vương vẫn đứng nguyên. Vương khoan thai đưa ra những chiêu kiếm thô kệch, nặng nề, chậm chạp. Ấy vậy mà Cương-Trung cứ phải nhảy nhót , hò hét, tránh né khổ sở.
Đoan-Nghi hỏi Thủ-Huy :
- Anh ơi ! Phải chăng kiếm thuật mà Cương-Trung xử dụng là Hoa-sơn kiếm pháp chép trong Vô Trung kinh?
- Đúng thế.
- Em nghe nói trước kia Hoa-sơn tứ đại thần kiếm đã nức danh Trung-nguyên với bốn tuyệt kỹ trấn môn. Ngoài Mê-linh kiếm pháp ra, không võ công nào có thể so sánh. Tuy nhiên Hoa-sơn kiếm pháp mang một khuyết điểm lớn là khi xử dung, tiêu hao quá nhiều công lực. Cho nên tại trận Như-nguyệt, Mộc-Tồn hòa thượng phải áp dụng lối đánh kéo dài, khiến bốn vị đạo sư Hoa-sơn mệt nhoài ra, rồi mới bắt được.
Nàng chỉ Cương-Trung :
- Vương Cương-Trung là người thông minh, tài trí, thì y cũng biết cái khuyết điểm đó chứ ? Tại sao y cứ nhảy nhót thế kia, thì lát nữa sẽ mệt lử ra ?
- Ấy, kiếm pháp Hoa-sơn cũ với kiếm pháp Vô Trung khác nhau ở điểm, chiêu số giống nhau. Nhưng kiếm pháp mới, khi xử dụng thì chân di chuyển theo Bát-quái, Hà-lạc đồ-thư. Chính cái di chuyển đó, lại sinh ra công lực, bổ túc cho chân khí bị tiêu hao. Cho nên Cương-Trung nhảy nhót hoài mà công lực không bị hao hụt.
Minh-Đạo vương vẫn đứng nguyên một chỗ, dùng tay trái ôm lấy vai Mai-Hương, tay phải khoan thai xử dụng một thứ kiếm pháp kỳ lạ đấu với Cương-Trung. Cứ mỗi lần Cương-Trung ra một chiêu nào, vương lại tung ra một chiêu làm y bị mất căn bản. Vì vậy Cương-Trung cứ phải hò hét, nhảy, nhót, không ngừng. Đấu được hơn trăm chiêu, Minh-Đạo vương mỉm cười, hú lên một tiếng dài. Tất cả những người trong Long-hoa cung đều ù tai, chóng mặt. Vương cười lên một tiếng :
- Người đã xử dụng hết pho Vô Trung kiếm rồi. Bây giờ ta gọt lông mày người đây !
Vương xoay kiếm hai vòng, ra chiêu, ánh thép lấp lánh một cái, không ai nhìn rõ chiêu số ra sao. Cương-Trung cảm thấy trán mát rượi. Hoảng hốt, y nhảy lùi lại, rồi sờ tay lên trán, quả hai lông mày của y đã bị cao nhẵn.
- Bạch-hạc xung thiên.
Vương Cương-Trung kêu lên : Sao mi biết xử dụng Hoa-sơn kiếm pháp ?
Trong khoảnh khắc đó Cương-Trung nghĩ thầm :
- Hôm trước, Ngu Doãn-Văn được phái Đông-A trả bộ Vô Trung kinh, chép trong những thẻ đồng. Y sao cho ta một bộ. Ta luyện cũng đã mấy năm, võ công ta tiến bộ tuy có tiến bộ, nhưng so với tên này, thì quá khác biệt. Bởi vẫn chiêu số đó, nhưng quá thần tốc, khi ta thấy, thì kiếm đã thu về ! Hỡi ơi ! Một là bọn Đông-A trao võ kinh giả, hai là Ngu xấu bụng, đổi đi, khiến kiếm thuật của ta không chậm chạp, thiếu thần tốc ! Từ lúc nhập cuộc, rõ ràng y không muốn giết ta. Đã vậy ta cứ kéo dài cuộc đấu, để thấy kiếm thuật của y ra sao.
Nghĩ vậy, y lại lăn xả vào, dùng những chiêu chép trong thẻ đồng tấn công Minh-Đạo vương. Nhưng thủy chung vương không rời khỏi chỗ đứng, tay trái vẫn ôm Mai-Hương, áp ngực nàng vào ngực vương. Hai người mắt nhìn mắt mỉm cười.
Cử chỉ của Minh-Đạo vương với Mai-Hương làm Cương-Trung hóa điên. Y nhào vào tấn công, mà không còn chú ý đến chiêu số của đối thủ nữa. Gì mà Minh-Đạo vương không hiểu tâm lý Cương-Trung. Vương vẫn xử dụng Hoa-sơn kiếm pháp :
- Ta gọt chòm râu của mi đây.
Minh-Đạo vương hú lên một tiếng, rồi, quay ngang kiếm một cái. Cương-Trung cảm thấy môi, cằm mát rượi. Ba chòm râu dài, óng mượt của y rơi lả ta xuống đất. Thanh kiếm của Minh-Đạo vương lại quay ba vòng nữa, những sợi râu đang rơi xuống bị cắt ra thành từng đoạn nhỏ, rơi xuống như lá thu gặp gió.
Cả Long-hoa đường đều bật lên tiếng cười, càng làm cho Cương-Trung uất hận. Y nghiến răng lăn xả vào tấn công.
- Ta gọt tóc của người đây !
Nói dứt Minh-Đạo vương lại quay kiếm ba vòng, Cương-Trung cảm thấy đầu mát rượi. Hoảng hốt y nhảy lùi về sau, thì vừa kịp thấy mái tóc của mình rơi xuống trước mặt. Y sờ tay lên đầu. Đầu y bị gọt bóng. Y hét lên :
- Đồ hèn hạ !
Rồi nhảy vào đánh liền mười chiêu, Minh-Đạo vương vung kiếm, kiếm quang biến thành những vòng tròn lớn nhỏ. Từ trên người Cương-Trung , những mảnh vải tới tấp rơi xuống, bay như bươm bướm. Hoảng hốt, y nhảy lùi lại, mọi người cùng bật cười vì : Y phục trên người y bị khoét mấy chục lỗ. Lỗ nào cũng tròn trịa.
Thấy tình trạng Cương-Trung giống hết Vương Thúy-Thúy, Đoan-Nghi đưa mắt nhìn chồng, hỏi :
- Không biết giờ này Thúy-Thúy có còn giận anh nữa không ?
Thủ-Huy nói sẽ vào tai vợ :
- Giận thì không biết có còn giận không. Song nay nàng thành tỳ nữ của em rồi, thì anh...còn hy vọng gì nữa ?
Thình lình, Cương-Trung tung kiếm, phát một chiêu chưởng. Chưởng chưa ra hết, mà mọi người đã muốn ngộp thở. Bị bất ngờ, Minh-Đạo vương tung kiếm lên xà nhà. Thanh kiếm lại cắm vào đúng chỗ trước. Vương buông Mai-Hương, bước về trước, trả lại một chiêu. Ầm một tiếng. Hai người cùng lảo đảo lùi lại.
Thủ-Huy kêu lên :
- Ác ngưu nan độ ! Cương-Trung, người xử dụng Phục-ngưu thần chưởng của phái Tản-viên ư ?
Vương Cương-Trung cười nhạt :
- Không những ta biết xử dụng Phục-ngưu thần chưởng dương cương, mà còn biết cả Phục-ngưu thần chưởng âm nhu nữa.
Nói rồi y lại phát chiêu Thanh-ngưu nhập điền tấn công Minh-Đạo vương. Vương cười nhạt, phát chiêu Phong đáo sơn đầu của phái Đông-A. Lại ầm một tiếng. Cả hai người đều bật lui.
Thấy công lực của Lạc-Nhạn cao thâm đến trình độ đó, Long-Xưởng hỏi Thủ-Huy :
- Nhi đệ ! Về công lực thì Ngô Giới, Lưu Kỳ cao thâm hơn Lạc-Nhạn nhiều. Hồi ta găëp Ngô trên sông Thiên-trường, công lực y có cao thâm thực, song đâu có đến trình độ ngang với Minh-Đạo vương ; mà công lực Lạc-Nhạn dường như cao hơn vương thế kia ?
Thủ-Huy kêu lên :
- Tên Cương-Trung này mưu trí thực vô song. Y nhẫn nại trong hơn hai mươi năm để trả thù. Vì vậy, khi đấu kiếm với Hoàng-thúc, y không vận hết công lực. Bây giờ, thình lình y vận toàn bộ công lực ra để mong thắng người.
Cương-Trung lại phát chiêu Tứ-ngưu phân thi, y vận âm kình. Minh-Đạo vương lại trả bằng chiêu Phong-hoa suy lạc. Hai người cùng bật lên cao.
Long-Xưởng than với Thủ-Huy:
- Không lẽ Minh-Đạo vương thua tên Cương-Trung sao ?
- Đại ca thử nhìn xem, y đâu có dùng nội công Hoa-sơn ? Nội công của y là nội công Tản-viên. Đệ nghi rằng tên Mao Khiêm đã ăn cắp được các tuyệt kỹ của phái Tản-viên, rồi trao cho Lạc-Nhạn, nên y bí mật giữ lấy mà luyện, không cho các sư huynh, sư muội biết. Y luyện mười mấy năm qua, nên nay công lực y đã cao đến mức không thể tưởng tượng nổi. Hồi mấy tháng trước, phụ thân đệ phải đánh đến gần hai trăm chưởng mới hạ được y.
Hai người đấu chưởng mỗi lúc một quyết liệt. Áp lực của chưởng làm người công lực thấp bị sức ép, phải lùi ra xa. Thình lình Vương Cương-Trung lùi lại, rồi y phát ra một chiêu chưởng êm đềm, nhưng sát thủ cực kỳ kinh khiếp. Minh-Đạo vương vội phát chiêu Cuồng-phong nộ lãng đỡ. Sùy một tiếng, vương bật lui một bước tỏ vẻ đau đớn.
Cương-Trung không bỏ lỡ cơ hội, y đánh liền chín chiêu nữa. Minh-Đạo vương chỉ biết đỡ mà không đánh trả được chiêu nào.
Kim-Ngân hô lớn :
- Ngừng tay !
Minh-Đạo vương, Vương Cương-Trung đều lùi lại.
Linh-Chiếu thái hậu hỏi :
- Vương thái bảo ! Vừa rồi người xử dụng Tán-cốt lạc phách tiêu hồn chưởng của phái Tản-viên. Thì ra Thái-bảo là người đã ám toán chưởng môn Đặng Phi-Sơn của phái Tản-viên, rồi ăn cắp cuốn phổ chép võ kinh của bản phái. Hà ! Thế mà từ trước đến giờ võ lâm Đại-Việt cứ nghi cho Mao Khiêm.
Vương Cương-Trung cười nhạt :
- Ta giết đặng Phi-Sơn cướp võ kinh của phái Tản-viên, thì có khác gì Trần Tự-Mai giam Hoa-sơn tứ đại thần kiếm, rồi cướp bộ Vô Trung kinh !

Một trăm năm mươi năm trước, Bố-đại hòa thượng, tức Phật Di-Lặc giáng sinh làm người Việt. Một lần người hợp Phục-ngưu thần chưởng âm dương lại dậy cho phò mã Thân Thiệu-Thái, mang tên Mục-ngưu thiền chưởng, dùng nội công là Vô-ngã tướng. Công chúa Bảo-Hòa đứng cạnh theo dõi, cũng lĩnh hội được. Nhưng công chúa chưa luyện Thiền-công, hơn nữa người không bỏ ra ngoài được Ngũ-uẩn, Lục-tặc, thành ra khi phát chiêu, nhìn bề ngoài thì giống nhau, mà sát thủ lại khác. Nếu Mục-ngưu thiền chưởng của phò mã Thân Thiệu-Thái khi phát chiêu chính đại quang minh; thì công chúa Bảo-Hòa, phát chiêu ba phần âm, ba phần dương, bốn phần hỗn tạp. Ba loại đó cực kỳ bá đạo. Người nào trúng phải, thì thịt, xương, chỗ thì bị xé nát, chỗ thì bị nghiền như bị dã chả, xương thì vỡ như bột. Bấy giờ Bố-Đại hòa thượng phải than rằng, chưởng này mà lưu truyền rộng, thì võ lâm sẽ gặp tai kiếp không biết đâu mà lường. Ngài đặt tên chưởng là Tán-cốt Lạc-phách Tiêu-hồn chưởng. Gọi tắt là Tán-lạc hồn chưởng.

Ghi chú của thuật giả:

Về nguồn gốc chưởng này, cũng như ý nghĩa Mục ngưu đồ, xin đọc Thuận-Thiên di sử của Yên-tử cư-sĩ 3 quyển, do Xuân-Thu Hoa-kỳ xuất bản.
Chính vì vậy, sau này công chúa Bảo-Hòa lên làm chưởng môn phái Tản-viên, đã di ngôn cho đời sau rằng : Chỉ chưởng môn nhân mới được học Tán-lạc hồn chưởng. Đến người thân của công chúa như vua Thánh-tông, vừa là em con cô con cậu, vừa là đệ tử mà cũng không được học.
Từ ngày chưởng môn phái Tản-viên Đặng Phi-Sơn mất tích, thì chưởng này cũng tuyệt tích luôn. Không ngờ bây giờ Vương Cương-Trung cũng biết xử dụng, thì Linh-Chiếu thái hậu biết y đã hại ông.


Linh-Chiếu thái hậu bảo công chúa Đoan-Nghi :
- Con hãy vận công, dùng hết sức phát vào người hoàng thúc một chưởng, để ta có thể biết trình độ võ công của con đến đâu.
Linh-Chiếu thái hậu thuộc vai bà của Đoan-Nghi, vì vậy khi nghe thái hậu ban chỉ, nàng không nghĩ ngợi, phát chiêu đánh thẳng vào người Minh-Đạo vương. Vương vung tay đỡ. Xùy một tiếng, Đoan-Nghi cảm thấy trời long đất lở, tai nàng phát ra tiếng vo vo không ngừng.
Vương Cương-Trung cười nhạt :
- Gã Minh-Đạo kia ! Người đừng đánh trống lảng để tránh cái chết. Hãy lĩnh chiêu này của ta.
Y nói dứt phát chiêu Sơn-trung tầm ngưu trong Tán-lạc hồn chưởng, đánh thẳng vào người Minh-Đạo vương. Vương thản nhiên xuất chiêu Thủy-ba vô để trong Đông-A chưởng đỡ. Hai chưởng đụng nhau bến bộp một tiếng. Minh-Đạo vương lùi lại một bước. Cương-Trung tiến lên một bước.
Những người ngoài cuộc kinh hãi tự nghĩ :
- Xưa nay, Ưng-sơn đấu với ai, chỉ đánh có ba chiêu là người đó mất mạng, thế mà nay sao lại kém Lạc-Nhạn của phái Hoa-sơn thế kia ?
Cương-Trung lại ra chiêu, Minh-Đạo lại lùi một bước. Tán-lạc hồn chưởng chỉ có mười chiêu. Đúng ra nếu y học được thuật ngữ, thì 10 biến thành 100, rồi 100 cứ tam hư, thất thực nữa thành một vạn chiêu ; khi đấu, biến hóa huyền diệu, không võ công nào xâm nhập vào người được. Nhưng Cương-Trung không có thuật ngữ, thành ra chỉ đánh rời rạc tường chiêu. Đến chiêu thứ mười, thì Cương-Trung phải đánh lại từ chiêu đầu. Minh-Đạo bắt đầu phản công. Lần này đến lượt Cương-Trung nhăn nhó tỏ vẻ đau đớn, chứ không phải Minh-Đạo vương. Cứ sau một chiêu, Cương-Trung lại lùi một bước. Đến chiêu thứ mười thì y lại trở về chỗ cũ. Y nghiến răng phát ra một chiêu cực thô kệch. Biết Cương-Trung muốn đấu nội lực, Minh-Đạo đánh ngay vào giữa chưởng của y đến bạch một tiếng. Thế là hai người đấu nội lực.
Cương-Trung hú lên một tiếng dài, rồi tuôn hết công lực ra. Minh-Đạo vương lùi lại một bước, ngoài sự ước đoán của mọi người. Thế rồi sau một khắc, vương lại lùi một bước nữa. Khi vương lùi đến bước thứ chín, thì đứng lại .
Lúc mới đấu, Cương-Trung thấy công lực mình mạnh hơn, khiến đối thủ bật lùi thì mừng lắm. Y định dùng chân khí đánh vỡ kinh mạch đối thủ. Chân khí của y tuôn ra cuồn cuộn, trong khi chân khí của đối thủ lập lờ như ngọn đèn hết dầu.
Sau khi đẩy đối thủ lùi chín bước, thì chân khí của Minh-Đạo vương không còn chống trả nữa, chân khí của Cương-Trung ào ào tấn công sang người đối thủ. Y khoan khoái lên tiếng :
- Côi-sơn song ưng ! Hơn hai mươi năm nay, mi tung hoành giang hồ, không ai địch lại mi. Hôm nay mi phải chết dưới tay ta, để đền cái tội mi giết hai người vợ, ba người con của ta.
Nói đến đây, Cương-Trung cảm thấy dường như có gì bất ổn, vì chân khí của y ra đi, mà không thấy trở về. Khoảng hơn khắc sau, chân khí của y bị kệt quệ. Y muốn thu về, nhưng y sợ khi thu liễm chân khí thì sẽ bị đối thủ thừa hư tấn công, nội tạng sẽ nát ra mà chết.
Lại một khắc trôi qua, Vương Cương-Trung nghĩ thầm :
- Tên này là một đại tôn sư võ học Giao-chỉ, y lại thông minh, nên ta bị lừa. Bây giờ đằng nào ta cũng bị thua rồi, ta phải làm như chân khí kiệt quệ, để khỏi bị tàn tật.
Nghĩ vậy y giả bộ lảo đảo rồi ngã ngồi xuống.
Minh-Đạo vương thu công, xoa hai tay vào nhau :
- Mi sắp chết rồi, ta không đấu với mi nữa.
Cương-Trung cảm thấy chân tay lạnh ngắt, kình lực mất hết . Cái lạnh lên cùi chỏ, vai, rồi lan khắp người. Lạnh quá y không chịu được nữa, người y run lên bần bật. Y hét lớn :
- Lạnh quá ! Rét quá.
Y chỉ tay vào mặt Minh-Đạo vương :
- Uổng thay cho mi là một vị vương giả, nức tiếng thiên hạ, mà dùng Huyền-âm độc chưởng hại ta. Ta thua người, nhưng bất phục.
Minh-Đạo vương hừ một tiếng :
- Ta chỉ dùng phương pháp mà người Trung-hoa của mi gọi là dĩ bỉ chi đạo, hoàn thi ư bỉ thân, trong Việt-ngữ gọi là gậy ông đập lưng ông.
Cương-Trung ngồi xuống nền cung, vận công chống lạnh. Nhưng vẫn không chịu nổi.
Dù sao Mai-Hương với Cương-Trung cũng có tình nghĩa vợ chồng hơn hai chục năm. Bà hỏi y :
- Sư huynh ! Sao vậy ?
- Rét quá ! Hừ... Hừ... Cho ta cái lò sưởi.
Linh-Chiếu thái hậu ra lệnh cho Kim-Ngân :
- Cháu ngoan ! Hãy hỏi cung y.
Kim-Ngân bước ra, nàng điểm vào huyệt Đại-trùy của Vương Cương-Trung, trao cho y một viên thuốc. Y biết đây là thuốc giải, vội bỏ vào miệng, rồi vận công nuốt trửng. Trong khoảnh khắc, cái lạnh kinh khủng, từ từ giảm. Nhưng chân tay y bị tê liệt.
- Vương đạo sư. Viên thuốc đó chỉ tạm thời giữ cho cơ thể của đạo sư khỏi bị đóng thành băng mà thôi. Nếu trong hai giờ, mà không được thuốc giải vĩnh viễn, thì cái gì sẽ xẩy ra, đạo sư tự biết.
Nghe Kim-Ngân nói, Vương Cương-Trung hiểu rằng thiếu nữ này nói thực. Trong lời nói, nàng cho Vương biết : Nếu Vương không khai thực, để cuộc thẩm vấn kéo dài quá hai giờ thì y chết.
Kim-Ngân hỏi :
- Đạo sư có biết tại sao người lại bị lạnh không ? Người có biết rằng, nếu không có thuốc giải, thì trong vòng hai khắc, người sẽ hóa thành băng mà chết không ?
- Tôi bị trúng Huyền-âm chưởng của tên Minh-Đạo vương kia.
- Không phải thế đâu. Nguyên công chúa Đoan-Nghi dùng Không-minh tâm pháp đấu với ba cao thủ phái Trường-bạch, người hấp hết độc tố trong cơ thể họ, đến nỗi suýt chết. Nhị huynh Thủ-Huy của tôi lại dùng phương pháp qui liễm độc tố của bang Nhật-hồ hút độc cứu người. Vì vậy độc tố Liêu-Đông hợp với Vô-ngã tướng thiền công trong người công chúa họp thành một thứ độc âm hàn.
Vương Cương-Trung kêu lên :
- Ta ngu quá! Vừa rồi Linh-Chiếu thái hậu bảo Đoan-Nghi đánh vào tay gã Minh-Đạo một chưởng. Gã Minh-Đạo nhân đó hút lấy một ít Hàn-băng của Đoan-Nghi. Rồi trong khi đấu với ta, y dồn Hàn-băng độc sang người ta.
- Đúng thế. Bây giờ, tôi xin hỏi đạo sư câu đầu tiên : Đạo sư hại đại hiệp Đặng Phi-Sơn trong trường hợp nào ?
- Gần hai mươi năm trước, Đặng dẫn đệ tử sang dự lễ giỗ sáng tổ Trần Đoàn của phái Hoa-sơn tại núi Hành-sơn. Trong khi tiếp đãi Đặng, tôi đã âm thầm bỏ một ít thuốc độc nhị hợp , loại chậm phát vào thức ăn.
- Nhị hợp là thuốc gì ? Nhị hợp là nhị hợp, chứ sao lại chậm phát ?
- Thuốc này có hai phần. Khi ai uống phải một phần thì không sao. Sau đó uống phải phần còn lại, thì hai loại công phá, khiến cho mê man trong vòng mười ngày, rồi công lực, ý chí mất hết. Nhị hợp có hai loại, loại cấp tính và hoãn tính. Ai uống phải cấp tính loại một mà trong vòng một ngày, không uống loại hai, thì không còn hiệu nghiệm nữa. Nếu ai uống phải loại hoãn tính, thì trong vòng sáu tháng, bất cứ lúc nào, uống phải loại hai là độc tố sẽ phát ngay.
- Tôi chỉ muốn chính miệng đạo sư nói cho hoàng-thượng cùng chư vị hiện diện nghe. Chứ tôi biết rõ loại thuốc này đạo sư học của của bang Hoàng-Đế, có tên là Đoạn-cân Tiêu-phách tán ! Thế trong ngày giỗ sáng tổ Trần Đoàn, đạo sư còn bỏ thuốc độc cho những ai nữa ?
- Chỉ có hai người thôi. Một là Đặng Phi-Sơn chưởng môn phái Tản-viên. Hai là Nghi-Hòa chưởng môn phái Mê-linh.
- Vụ bỏ thuốc độc này do phái Hoa-sơn chủ trương hay do đạo sư ?
- Do tôi !
- Tại sao, giữa võ lâm Đại-Việt với đạo sư vốn không thù, không oán, mà đạo sư lại ra tay ám toán như vậy ?
- Bấy giờ sư phụ tôi là Thiên-Hư đạo sư tiềm ẩn ở Giao-chỉ lâu rồi, mà không hy vọng gì tìm lại bộ Vô Trung kinh. Triều đình, môn phái cử tôi sang thay thế. Khi triều kiến, tôi được Thiệu-Hưng hoàng đế hứa rằng, nếu chiếm được Giao-chỉ, thì người sẽ phong cho tôi làm vua Lĩnh-Nam. Tôi nghĩ rằng dùng quân đánh Giao-chỉ thì e còn khó hơn bắc thang lên trời. Mà dù có chiếm được thì võ lâm hào kiệt cũng nổi lên chống lại. Vì vậy tôi mới nảy ra ý kiến nắm võ lâm. Như vậy việc tìm Vô Trung kinh không cần thiết. Sang Giao-chỉ, thay vì tìm Vô Trung kinh, tôi tìm cách lấy hết tuyệt kỹ võ công tộc Việt. Khi đã có hết tuyệt kỹ võ công rồi, tôi sẽ âm thầm tìm những đệ tử bất mãn của các phái, dạy cho họ, chờ dịp thuận tiện, họ sẽ chiếm lấy chức chưởng môn. Khi mà người của tôi đã là chưởng môn cái đại môn phái, thì việc lấy Giao-chỉ dễ như trở bàn tay. Môn phái Đại-Việt tuy nhiều, chỉ cần nắm được bốn đại môn phái Đông-A, Tiêu-sơn, Mê-linh, Tản-viên là xong.
Người người hiện diện, nghe Cương-Trung khai đều rùng mình nghĩ thầm :
- Tên này mưu trí thực siêu quần !
Kim-Ngân hỏi :
- Tại sao đạo sư lại chỉ đánh thuốc độc có chưởng môn phái Tản-viên với Mê-linh mà không đầu độc chưởng môn phái Đông-A, Tiêu-sơn ?
- Tôi đã làm, nhưng không hiệu nghiệm.
- Đạo sư có biết tại sao không ?
- Tôi không rõ.
Kim-Ngân nhìn Thủ-Huy, Đoan-Nghi, mỉm cười :
- Để tôi nói cho đạo sư nghe, bằng không, lát nữa đạo sư hóa thành băng, hồn xuống địa phủ, mà lòng còn ấm ức. Nội công Đông-A, Tiêu-sơn phát xuất từ Thiền-công. Thiền-công có hiệu năng chống lại bách độc...
- Cô nương nói ! Thế sao đại sư Khánh-Hỷ lại bị trúng Huyền-âm chưởng mà viên tịch ?
- Tôi chưa nói hết mà ! Đạo sư tu hành đã dư ba chục mà sao hỏa tính còn vượng như vậy ? Thiền-công có khả năng chống những loại độc nhập cơ thể bằng ẩm thực. Còn những loại độc nhập cơ thể qua kinh mạch, thì trái lại, vô hiệu. Tôi nhắc lại một tích cũ, chắc đạo sư còn nhớ. Trong trận Cổ-pháp, công chúa Thiên-Ninh dùng độc được trộn vào lương thực, rồi cất trong làng. Tướng Trương Thế-Cự sai quân cướp lấy, mang về ăn. Tất cả võ tướng Tống, gồm toàn cao thủ thượng thặng, ăn vào chân tay đều mất hết sức lực. Duy các tướng xuất thân Thiếu-lâm là vô sự mà thôi.

Ghi chú của thuật giả:

Về trận Cổ-pháp kinh thiên động địa, xin đọc Nam-quốc sơn-hà của Yên-tử cư-sĩ, 5 quyển, do Đại-Nam Hoa-kỳ xuất bản 1976. Trong trận này, mấy chục vạn quân Tống tiến tới rừng tre, cách Thăng-long có 50 dặm (25 cây-số), bị công chúa Thiên-Ninh đánh bật về Như-nguyệt. Đây là trận khủng khiếp đứng bậc ba trong lịch sự tộc Việt, sau trận Hàm-tử, Đống-đa. Khủng khiếp vì tướng cả hai bên cùng tài trí, quân cả hai bên cùng thiện, quyết tử.

Vương Cương-Trung à lên một tiếng, tỏ vẻ hối tiếc :
- Ta ngu quá ! Đáng lẽ ta phải biết việc này mới phải chứ ?
- Đạo sư hối tiếc à ? Còn một sự đáng hối tiếc gấp trăm lần hơn nữa kia !
- ! ? ! ? ! ? ! ?
- Cách đây mấy tháng, đạo sư sai Vân-Đài Vương Thúy-Thúy bỏ thuốc loại một đầu độc tất cả Đại-Việt thất tiên. Nên mấy hôm trước, khi ra tay khống chế triều đình Đại-Việt, đạo sư sai Thụy-Hương tuyên triệu Thái-tử Long-Xưởng, vương phi Trang-Hòa, lễ nghi học sĩ Như-Như vào cung, pha thuốc loại hai vào nước trà, ban cho uống. Ba người uống vào, thì bị mê man. Bấy giờ đạo sư chỉ việc sai giam lại, rồi hành sự.
- Cái vụ đánh thuốc mê bọn Long-Xưởng là một thành công của ta. Tại sao cô nương lại bảo rằng đáng hối tiếc ?
- Đúng ra, nếu Thái-tử Long-Xưởng, vương phi Trang-Hòa, và Như-Như chỉ luyện nội công Đông-A, thì không bi hại. Nhưng ba người lại luyện nội công Mê-linh, nên mới mê man, song chỉ mê man trong nửa ngày rồi tỉnh lại. Ba người bị trói nằm trong cung Thục-phi, nên biết rất rõ âm mưu của Thục-phi Đỗ Thụy-Châu, với Vân-Đài Trịnh Nam-Phương.
- ! ! !
Kim-Ngân chỉ vào Minh-Đạo vương, rồi mỉm cười.
- Một sự đáng tiếc nữa là...
Minh-Đạo vương vẫn ôm Mai-Hương trong tay :
- Vừa rồi, khi mới giao đấu với ta, mi âm thầm phóng thuốc loại một cấp phát vào người ta. Ta biết hết . Ta lờ đi, vì ta đã luyện nội công Đông-A. Sau đó, trong khi đấu nội lực, mi dồn thuốc loại hai vào người ta. Ta cũng lờ đi, giả làm như trúng độc, công lực giảm, không đủ sức thắng mi. Ta đợi khi mi hý hửng, không đề phòng, ta dùng Qui-pháp âm dương hút hết công lực mi, rồi dồn Hàn-băng độc vào người mi. Cuối cùng mi bị mất hết công lực, bị trúng độc. Đó là chính mi hại mi. Ta chỉ dùng phương pháp giáo Tầu đâm Chêệt, hay nói khác đi là gậy ông lại đập lưng ông,
- ! ? ! ? ! ? !
- Có gì là lạ đâu ? Hôm mi bị sư huynh Tự-Hấp của ta xuất lĩnh Đại-Việt ngũ tuyệt, Vỵ-xuyên ngũ tiên cùng các đệ tử Đông-A bắt mi với hơn trăm đệ tử Hoa-sơn tại tổng đường trên con thuyền đinh lớn. Khám trong thuyền, sư đệ Phạm Tử-Tuệ tìm thấy có rất nhiều bình thuốc. Ngoài những thuốc trị bong gân, gẫy xương, đau nhức, thương phong cảm mạo ra, còn có ba bình thuốc Đoạn-cân Tiêu-phách tán của mi. Phạm sư đệ chỉ ngửi qua là biết ngay. Người nghĩ cách trừng phạt mi bằng cách chế một số thuốc loại một, trao cho ta.
Vương chỉ thiếu nữ áo xanh tên Linh-Linh :
- Linh nhi, con thuật cho y nghe việc con làm đi.
Linh-Linh méo miệng trêu Cương-Trung :
- Trong mấy ngày mi dẫn thủ hạ vào Hoàng-thành áp chế hoàng-thượng, cùng nội cung. Ta đã trộn thuốc loại một của bọn mi vào thức ăn. Cho nên ban nãy chúng ta chỉ cần tung độc phấn loại hai, là bao nhiêu tay chân của mi ngã lổng chổng ngay. Còn mi, thì lúc bố ta đấu với mi, người đã bóp bẹp một viên thuốc loại hai, rồi dồn vào người mi. Vừa rồi bố ta lại dùng thần công truyền loại hai vào cơ thể mi. Bây giờ mi chỉ có thể tự oán mình mà thôi.
Kim-Ngân liếc nhìn Minh-Đạo vương, thấy vị sư thúc nức danh thiên hạ vẫn ôm Mai-Hương trong tay, coi thường mọi sự, nàng mỉm cười trêu ông, rồi nói với Vương Cương-Trung :
- Đạo sư ! Thế đạo sư làm thế nào ? Vào lúc nào mà bỏ loại thứ nhì của Đoạn-cân Tiêu-phách tán cho sư bá Đặng Phi-Sơn uống ?
- Sau khi Đặng trở về Đại-Việt, tôi được gửi sang thay cho sư phụ Thiên-Hư. Tới nơi, việc đầu tiên là tôi theo dõi hành trạng của Đặng. Dịp may tới, Đặng rời Tản-lĩnh về Gia-lâm thăm gia đình. Y vào một nhà hàng ăn uống rồi qua đêm. Tôi bỏ loại thuốc thứ nhì vào thức ăn. Y ăn vào, thấy buồn ngủ. Y đi ngủ. Tôi đột nhập phòng ngủ của y, bắt y mang đi. Lục trong người y có bộ võ phổ chép tất cả tuyệt kỹ của phái Tản-viên. Tôi giết y, rồi quẳng xác xuống sông Hồng.
- Đạo-sư lại nói dối rồi ! Tán-cốt Lạc-phách tiêu hồn chưởng chỉ chép chiêu số mà không chép mật quyết. Không có mật quyết, thì sao có thể luyện thành. Đạo sư khai thực đi !
Cương-Trung im lặng không trả lời. Kim-Ngân điểm vào huyệt Bách-hội của y một cái. Y rùng mình hét lên :
- Lạnh chết đi ! Giết ta đi !
- Đạo sư muốn con nha đầu này giải khai cái lạnh cũng dễ thôi. Đạo-sư phải trả lời câu hỏi của nó : Làm cách nào đạo sư có mật quyết luyện Tán-lạc-hồn chưởng ?
- Tôi giam Đặng, rồi dùng cực hình tra khảo. Y chịu không nổi, phải khai ra. Sau khi tôi luyện xong Tán-lạc-hồn chưởng, thì có người đột nhập nhà giam cứu y. Ái ! Lạnh quá ! Cho tôi xin viên thuốc chống lạnh nữa !
- Không vội !
Kim-Ngân lại cười :
- Như đạo sư biết, khi luyện thành Tán-lạc hồn chưởng, thì lúc xử dụng, chiêu nọ nối chiêu kia, biến hóa huyền ảo thành một vạn chiêu ; với một vạn chiêu, như thành đồng vách sắt bảo vệ cơ thể. Thế sao đạo sư lại chỉ biết đánh từng chiêu rời rạc, rồi bị sư thúc của tôi đã bại ?
- Tôi không biết.
- Đại-hiêp Đặng Phi-Sơn biết rằng không khai hết mật quyết thị sẽ bị đạo sư tra tấn khốn khổ. Vì vậy người khai mật quyết, mà không khai phần biến hóa !
Cương-Trung la lên
- Ta ngu quá ! Ta ngu quá ! Ta bị tên Phi-Sơn lừa mà không biết. Ta tưởng y bị tàn phế, rồi phóng thích y. Hỡi ơi !
Kim-Ngân hỏi :
- Đạo sư hại sư thái Nghi-Hòa bằng cách nào ?
- Ối !Ối lạnh ! Cũng tương tự như đối với Đặng Phi-Sơn.
- Tại sao Mao Khiêm cũng biết những mật quyết của Tản-viên với Mê-linh ?
- Thì chính tôi trao... Ái lạnh quá..Tôi trao cho y, với ý định cho bọn Nùng-sơn tam anh, Tô-lịch nhị tiên chiếm chức chưởng môn phái Tản-viên, Mê-linh.
Y hét lên lanh lảnh :
- Ối ! Giết tôi đi, lạnh quá.
Sau hai mươi năm xa cách, nhớ thương chồng chất, bây giờ Mai-Hương gặp lại Minh-Đạo vương, nàng không muốn rời người yêu, dù chỉ trong chốc lát, gang tấc. Cho nên nào con gái tự tử, nào tranh luận, nào giao đấu... Nàng đều nhắm mắt, gác mọi chuyện ngoài tai. Bây giờ thình lình nghe tiếng hét như lợn bị chọc tiết của Vương Cương-Trung, nàng mới mở mắt ra. Thấy Cương-Trung ngồi xo ro run lập cập, râu tóc, lông mày không còn. Nàng lên tiếng :
- Sư huynh, cái gì đã xẩy ra cho sư huynh ?
- Lạnh quá ! Ối. Con khốn nạn kia ! Mày nỡ nào âu yếm với kẻ đã làm chồng mày khốn khổ như thế này? Con diều tha, quạ mổ kia !
Mai-Hương nói với Minh-Đạo vương :
- Anh ơi ! Anh làm sư huynh của em thân tàn, ma dại thế này ư ? Sư huynh giết vương phi của anh, đánh lừa em để chiếm thân xác... Anh đã giết hai bà vợ, ba đứa con của sư huynh, như vậy đủ rồi. Em xin anh tha cho sư huynh đi !
Sợ Minh-Đạo vương tha cho Vương Cương-Trung, Kiến-Ninh vương vội bước ra :
- Tội mi ngập đầu, mi có chết đến ngàn lần cũng không đền hết tội. Ta phải đem mi ra chợ Tây-nhai, để dân chúng thấy mi chết dần, chết mòn...
Vương Cương-Trung lạnh quá, y gào lên lanh lảnh, hú lên như vượn, rồi phát chưởng đánh lung tung. Đánh một lúc y mệt quá, ngồi xuống thở dốc.
Mai-Hương chạy đến trước mặt Đoan-Nghi, bà ôm lấy nàng :
- Công-chúa ! Nếu công chúa còn hận Thụy-Hương, thì cũng nên nghĩ đến những ngày nô tỳ bế bồng, cho công chúa bú, mà gia ân. Nô-tỳ cả gan xin công chúa gỡ cái đau đớn cho Vương sư huynh.
Đoan-Nghi vốn là người nhu nhã bậc nhất trong các công chúa. Khi thấy Vương Cương-Trung đau đớn quá, nàng quên ngay tội lỗi của y, của Thụy-Hương trong biến cố vừa qua. Mấy lần nàng định tiến lên hút độc Hàn-băng tha cho y, nhưng còn sợ phụ hoàng, Minh-Đạo vương, Long-Xưởng, nên chưa dám. Bây giờ nghe Mai-Hương năn nỉ, nàng tiến lên, để tay vào huyệt Đại-trùy của y, vận công hút. Trong khoảnh khắc, cái lạnh, cái đau từ từ biến mất. Y hướng Đoan-Nghi xá một xá :
- Đa tạ công chúa.
Y lảo đảo đứng dậy, hành lễ với Thiên-cảm Chí-bảo hoàng đế :
- Đấng quân phụ nói một lời, nặng như Thái-sơn. Ban nãy bệ hạ ban chỉ ân xá cho bọn thần. Vậy thần xin bệ hạ cho Vương Thúy-Thúy, Nhạc Bảo-Bảo cùng về Tống.
Nhà vua hỏi Thủ-Huy :
- Huy nhi ! Con giam hai nàng ấy ở đâu ? Mau đem trả cho Vương Thái-bảo.
Thủ-Huy hướng ra ngoài gọi :
- Xin Thúy-Thúy, Bảo-Bảo tiểu thư xuất hiện cho.
Vương Thúy-Thúy, Nhạc Bảo-Bảo từ ngoài bước vào. Hai nàng không mặc y phục quận chúa Tống nữa, mà trang phục như hai phụ nữ quê : Áo cánh mầu mỡ gà, quần đen, đều bằng lụa Nghi-tàm. Một người thì đẹp rực rỡ như hoa hải đường mới nở. Một người thì đẹp u buồn kín đáo như hoa lan. Mỗi bước đi của hai nàng, như có hàng ngàn đóa hoa nở, hàng vạn sóng nước rung rinh. Hiện diện trong cung Long-hoa đến gần nghìn người, nam có, nữ có, già có, trẻ có, nhưng không ai mà không suýt xoa.
Hai nàng quỳ gối hành lễ với nhà vua :
- Thần Trần Thúy-Thúy, Trần Bảo-Bảo xin bái yết hoàng thượng. Kính chúc thánh hoàng vạn tuế, vạn vạn tuế
Trịnh Nam-Phương hỏi Vương Thúy-Thúy :
- Thúy nhi ! Sư phụ nhắc để con nhớ : Con là Vân-Đài tiên tử, tước phong Khâm-minh đoan duệ quận chúa của Thiên-triều. Con họ Vương tên Thúy-Thúy. Tại sao con lại xưng là họ Trần ?
Hàn Dũ-Linh cũng nói với Nhạc Bảo-Hảo :
- Bảo nhi ! Sư phụ nhắc để con nhớ . Con là Mao-Nữ tiên tử của danh môn chính phái, được phong Thạc-hòa Anh-văn quận chúa của Tống triều. Con họ Nhạc, tiểu danh Bảo-Bảo. Tại sao con xưng là họ Trần.
Bảo-Bảo lạy Hàn Dũ-Linh ba lạy :
- Giai-phi ! Giai phi là sư phụ của con. Từ ngày sang Đại-Việt con được giai phi dạy dỗ, công ơn ấy không bao giờ con quên. Sư phụ ơi ! Con sinh ra là một tiểu thư, thông minh, tài trí có thừa, lại được trời ban cho một nhan sắc hiếm có. Thế nhưng con cảm thấy vô phúc cùng tận, khi bị bọn người lòng lang dạ thú nuôi con như nuôi chó, nuôi ngựa, rồi ban cho cái chức hư vô Mao-Nữ tiên tử. Chúng đem con sang đây khi mới mười tuổi. Mười tuổi, đã phải xa quê hương, xa người thân, ngày đêm làm tôi đòi cho người, để mưu chiếm nước người. Đêm đêm con thường khóc thầm, tự hẹn có dịp sẽ thoát khỏi cái kiếp khốn cùng này. Con gái vào tuổi mười hai, mười ba, bắt đầu dệt mộng mơ. Thế mà con thì không có. Thoáng một cái, đã gần ba mươi tuổi. Hỡi ơi ! Hoa nở có thì. Đời con gái cũng vậy. Nay tuy con đã bị quá cái tuổi hoa Xuân rồi, nhưng cũng chưa muộn. Khi Thần-nông sứ khám phá ra tông tích, không những không giết, không làm nhục, mà còn coi con như người trong nhà. Vì vậy con nguyện làm nô tỳ cho người cả đời. Người còn gả con cho một nam nhi đại trượng phu, khí phách hơn đời, võ công cái thế. Để con gọi chồng con vào bái kiến sư phụ.
Nàng hướng ra ngoài gọi :
- Anh Trung-Từ ơi ! Vào đây !
Tô Trung-Từ to lớn kềnh càng, từ ngoài bước vào. Y không hành lễ với thái-hậu, nhà vua, mà hướng Bảo-Bảo vái ba vái :
- Lạy vợ ạ ! Vợ gọi anh có việc gì ?
Bảo-Bảo chỉ Hàn Dũ-Linh :
- Anh ra mắt sư phụ em đi.
Trung-Từ vái Dũ-Linh ba vái :
- Xin kính chào bà thầy của vợ.
Tô Hiến-Thành quát :
- Tên nhà quê kia ! Mi có biết đây là đâu không ? Tại sao mi thấy hoàng-thượng không bái kiến, mà lại vái Giai-phi, Tín-hương phu nhân ? Bộ mi chê chúng ta không chặt được đầu mi hay sao ?
Tính Trung-Từ hay đùa vui, ngay cả thái sư phụ Tự-Kinh, chàng cũng dám trêu ông, huống hồ ? Chàng hỏi Bảo-Bảo :
- Lão già sắp chết này là ai vậy em ?
- Ông ta là Thái-sư của triều đình đấy.
- Thái sư là gì vậy ? À, thái là cắt. Sư là thầy chùa. Ông ta là người chuyên cắt thịt thầy chùa hả.
Trung-Từ hất hàm hỏi :
- Này ông già cắt thịt thầy chùa. Ông hỏi tại sao tôi chỉ hành lễ với vợ tôi, với bà thầy của vợ, mà không hành lễ với vua hả. Ông ơi ! Ông có biết người Việt chúng tôi có câu nhất vợ, nhì trời không ? Bảo-Bảo là vợ tôi, thì dĩ nhiên nàng đứng thứ nhất. Sau đó mới tới trời. Vua là con trời, thì phải đứng thứ ba chứ. Cho nên tôi vái vợ tôi trước. Tôi chưa kịp vái ông vua mà.
Chàng hướng nhà vua :
- Thằng đi cầy, ăn nhiều nhất trấn Thiên-trường, họ Tô tên Trung-Từ xin chào ông vua.
Bảo-Bảo sợ Trung-Từ đùa quá, khiến triều đình mất cảm tình với phái Đông-A, nàng vẫy tay :
- Thôi đi.
Trung-Từ dạ một tiếng rồi đứng sau Bảo-Bảo.
Tô Hiến-Thành nói một mình :
- Tên nhà quê chỉ biết sợ gái.
Trung-Từ méo miệng trêu Tô :
- Ta, một thằng đi cầy, lấy được vợ đẹp, lại nết na, thì phải biết đáp lại chứ ? Ta sợ vợ ta, chứ ta có sợ vợ ông đâu ?
Bảo-Bảo nhăn mặt :
- Khổ quá ! Thôi đi !
TrungTừ lại dạ một tiếng, rồi lấy tay bịt miệng lại.
Bảo-Bảo hướng Hàn Dũ-Linh:
- Sư phụ ! Nay con là người họ Trần. Con xin bái biệt sư phụ ở đây.
Nàng cúi xuống lạy Hàn Dũ-Linh ba lạy.
Thúy-Thúy cũng nói với Trịnh Nam-Phương :
- Những gì con muốn nói thì Bảo-Bảo đã nói dùm con rồi. Hồi niên thiếu, đạo cô Vân-Hà xem tướng cho con đã nói : Đến năm mười sáu tuổi, nếu con bị lộ toàn thân trước người con trai nào, thì người đó sẽ là người con trao thân gửi phận. Hơn mười năm trước, con bị lộ thân thể trước phò mã Trần Thủ-Huy ! Từ ngày đó, con nguyện sẽ dâng hiến tấm hồng nhan cho người. Than ôi ! Mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên. Trong khi ngày con tưởng nhớ đến người, đêm con mơ màng tới người, mà người thì để hết tâm ý vào công chúa Đoan-Nghi. Khi bị lộ hình tích, không những phò mã đã không giết, không mắng con, mà con đem con về phủ để che chở. Bây giờ phò mã đã có công chúa ! Nhưng con nhất quyết xin làm nô tỳ hầu hạ người... Con là người họ Trần rồi. Nay trong giờ ly biệt, con xin sư phụ nhận cho con ba lạy này, gọi là ghi nhớ công ơn.
Nói rồi nàng lạy Trịnh Nam-Phương ba lạy.
Vương Cương-Trung cười nhạt :
- Người xưa nói : Nữ nhân như phù vân (con gái nông nổi như mây trời) cũng không ngoa. Vương Thúy-Thúy bỏ chức Vân-Đài, tước quận chúa, đi làm nô tỳ cho gã Trần Thủ-Huy. Nhạc Bảo-Bảo bỏ chức Mao-Nữ, bỏ tước quận chúa, khuất thân làm đầy tớ tên nhà quê Thủ-Lý. Cho đến vợ ta là Triệu Mai-Hương, tước phong công chúa Thiên-triều, mà cũng bỏ vua, bỏ chồng, bỏ môn phái chỉ để theo cái gã Minh-Đạo kia ! Hỡi ơi ! Chúng nhân đều say cả rồi, đều điên cả rồi ! Duy ta tỉnh mà thôi !
Y ngửa mặt, hướng con mắt lờ đờ nhìn lên nóc cung :
- Ta sinh ra là một công tử, văn đỗ tiến sĩ, võ tới trình độ cao thủ bậc nhất. Lại nổi tiếng là một mỹ nam tử. Tám nghệ thuật Xạ, Ngự, Thư, Số, Cầm, Kỳ, Thi, Họa đều nức tiếng Giang-Nam. Xuất chính, ta là một đại thần hàm tới Thái-bảo, chức tới Đồng-bình chương-sự (phó tể tướng), tước tới công. Thế mà hôm nay trắng tay ! Hai vợ, ba con bị giết, ta bị người yêu bỏ rơi, để theo kẻ thù. Ôi ! Ôi ! Đời ! Đời ! Hận ! Hận !
Nói dứt, y tháo sợi dây vàng đeo trên cổ đưa ra :
- Mai-Hương ! Trong cái đêm đầu tiên ta với nàng... Nàng đã trao cho ta chiếc giây này. Ta trao cho nàng cái vòng ngọc đeo tay. Hai ta cùng thề : Trăm năm dù ngọc nát, dù vàng phai, không bao giờ chúng ta xa nhau. Nay nàng xa ta. Ta trả sợi giây cho nàng đây.
Mai-Hương thẹn thùng, tháo chiếc vòng ngọc tiến đến trước mặt Cương-Trung. Nàng bỏ lên bàn tay y.
Tay trái Cương-Trung cầm lấy cái vòng ngọc, tay phải y trao sợi giây cho Mai-Hương. Mai-Hương tiếp lấy. Bốn mắt nhìn nhau.
Thình lình Cương-Trung tung ra hai chưởng bằng tất cả bình sinh công lực. Tuy võ công Mai-Hương không bằng Cương-Trung, nhưng cũng không đến nỗi chỉ một chiêu đã bại. Khốn thay, hai người đứng quá gần nhau, lại ở vào dây phút chứa chan tình cảm, nên nàng không đỡ nổi, cũng không kịp vận công hộ thể. Binh, binh hai tiếng, người nàng bay bổng ra xa, rơi xuống nền cung Long-hoa đến rầm một tiếng. Mọi người cùng kêu thét lên những tiếng kinh khủng.
Thủ-Huy kịp nhận ra Vương Cương-Trung đã xử dụng chiêu Lâm-trung kiến ngưu trong pho Tán-cốt Tiêu-hồn Lạc-phách chưởng.
Minh-Đạo vương lao tới bồng Mai-Hương lên, người nàng mềm nhũn như một mớ rau : Máu từ miệng, hai mũi hai mắt, hai tai tuôn ra rơi lách tách xuống nền cung. Vương biết chiêu chưởng vừa rồi, làm xương ngực, cùng nội tạng Mai-Hương bị trấn nát ra, không thể sống được.
Mắt mở trừng trừng, Minh-Đạo vương sẽ đặt Mai-Hương ngồi xuống cạnh xác Thụy-Hương. Vương cất giọng thiết tha, chứa chan yêu thương nói với Mai-Hương :
- Em ! Anh sẽ giết chết y, để trả thù cho em.
Vương nói với Cương-Trung :
- Người chuẩn bị đỡ đi. Ta chỉ đánh người ba chưởng thôi. Sau ba chưởng đó, thì dù người sống, người chết, ta cũng tha cho người.
Nói dứt vương hít hơi, rồi nói :
- Chiêu thứ nhất này.
Thấy chưởng phong mạnh nghiêng trời, lệch đất, Cương-Trung dùng cả hai tay phát chiêu Kiến-tích dã ngưu đỡ. Aàm một tiếng, người y bay bổng lại sau, ngã lăn ra nền cung. Y quằn quại ngồi dậy nhưng không nổi.
Chưởng của Minh-Đạo vương, khiến những người hiểu biết nghĩ thầm : Cứ như công lực này của vương, nếu lúc bắt đầu đấu với Cương-Trung, mà vương xử dụng, thì chỉ hai chiêu, vương đã đập y nát thịt ra rồi. Hà ! Sở dĩ vương kéo dài cuộc đấu vì vương muốn y dở hết bản lĩnh võ công học trộm của Đại-Việt ra, rồi nhân đó bắt y khai hết tội lỗi. Như vậy, nhà vua không thể ân xá cho Cương-Trung.
Minh-Đạo vương nhìn Mai-Hương :
- Anh đánh y chiêu thứ hai này.
Bỗng Mai-Hương từ từ dơ tay lên, miệng nói se sẽ :
- Anh ! Anh !
Minh-Đạo vương thu chiêu lại, đến bên nàng. Mai-Hương nói thều thào :
- Anh ơi ! Em sắp chết rồi ! Trước khi chết, em xin anh thỏa cho em một điều.
- Một điều, chứ mười điều anh cũng xin chu toàn.
- Anh ơi ! Dù sao Vương sư huynh cũng là chồng em hai mươi năm. Chính em có lỗi với sư huynh ! Vì tuy em ở cạnh người, mà lòng chỉ tưởng nhớ đến anh. Ngay cả những lúc người âu yếm em, em cũng nghĩ là anh. Bây giờ, gặp lúc cùng đường, sư huynh trút tất cả cái uất hận lên đầu em. Em xin anh một điều...
- Em xin gì ?
- Em xin anh tha cho Vương sư huynh trở về Tống.
- Không ! Anh không thể tha cho y được.
Mai-Hương nói trong hơi thở
- Anh ! Hứa đi.
Nàng lại mửa ra một búng máu.
- Được ! Anh hứa !
Mai-Hương nghẹo đầu sang một bên rồi nhắm mắt lại. Minh-Đao vương hét lên :
- Mai-Hương ! Trời ơi ! Mai-Hương !
Vương ôm xác Mai-Hương, thấp thoáng một cái, cả hai đã rời khỏi Long-hoa cung. Linh-Linh, thiếu niên áo trắng cũng lao mình theo :
- Bố ! Bố ! Bố đi đâu vậy ?
Linh-Chiếu Thái hậu chỉ nhà vua :
- Đồi tử ! Người đã tĩnh ngộ rồi, thì phải chỉnh đốn lại sự nghiệp của ông cha.
Thấp thoáng một cái, bà đã rời khỏi Long-hoa cung.
Đâu đó tiếng quốc kêu khắc khoải, lẫn với tiếng tiêu từ xa vọng lại.
Chán đời đi lang thang !
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-03-24 04:09:22NuHiepDeThuong>
Hồi thứ hai mươi tư

Cao-Tông hoàng đế


Niên hiệu Thiên-cảm Chí-bảo thứ nhì,
bên Trung-nguyên, nhằm niên hiệu Thuần-Hy thứ nhì
đời Tống Hiếu-Tông,
Mùa Thu, tháng bẩy (DL.1175,Ất Tỵ),


Sau ba tháng liền cho quân sĩ thao luyện tại Lạng-châu, thì Thái-úy phò mã Trần Thủ-Huy cùng Kiến-Tĩnh vương được tin Thái-tử Long-Xưởng, Kiến-Ninh vương từ trấn Đồn-sơn tới để thảo luận về tình hình quân lực Tống.
Lễ nghi tất.
Công-chúa Đoan-Nghi hỏi :
- Anh ! Phụ-hoàng, mẫu hậu vẫn an lạc chứ ?
- Vì được tin Tống đem hạm đội Kinh-Hồ tới Quảng-châu, nên anh phải lên Đồn-sơn duyệt xét tình hình ngay. Anh rời Thăng-long đã hơn tháng rồi, thành ra không rõ tình hình sức khỏe các người ra sao.

Nguyên sau lần chính biến, diệt trọn bọn gian tế Tống tiềm ẩn ở Đại-Việt. Thiên-cảm Chí-bảo hoàng đế ban chỉ ân xá cho bọn Vương Cương-Trung, Vân-Đài Trịnh Nam-Phương, Mao-Nữ Hàn Dũ-Linh, cùng hơn trăm gia thuộc. Bọn Vương Cương-Trung kéo nhau về Tống. Tống triều nghe bọn Vương Cương-Trung tâu về việc Đại-Viết chuẩn bị ra quân, may nhờ Thụy-Hương phá vỡ thì kinh hoảng, vội sai sứ xin hòa với Kim, rồi đem trọng binh xuống trấn ở Nam-thùy.
Vương Cương-Trung được tôn làm chưởng môn phái Hoa-sơn, thay Ngô Lân qua đời. Còn chức thì giữ nguyên, tước thăng lên Lĩnh-nam công. Bọn Trịnh Nam-Phương, Hàn Dũ-Linh được phong tước công chúa. Riêng Vương Thụy-Hương vì công lao quá lớn, được lưu lại triều, lĩnh một chức vụ mật.
Thái-tử Long-Xưởng được tin ấy, lập tức thiết Tinh-triều để nghị kế đối phó. Triều đình quyết định cử Kiến-Tĩnh vương, chỉ huy mười hai hiệu Thiên-tử binh dàn ra tại Bắc-cương, để phòng ngự. Lại cử Kiến-Ninh vương lĩnh đại đô đốc, đem ba hạm đội trấn tại Đồn-sơn. Còn Thái-úy Trần Thủ-Huy thì tổng chỉ huy hai mặt thủy bộ. Đại bản doanh đóng tại Đông-triều.

Về phương Nam, tuy bấy lâu nay, Chiêm vẫn thần phục, nhưng không vì thế mà bỏ phòng ngự. Triều đình cử Kiến-An vương trấn Nam-thùy từ Thanh-Nghệ tới Hải-vân sơn.
Giữa lúc đó, thì Nghĩa-Thành vương hoăng, Tả-thiên ngưu vệ thượng tướng quân Tăng Quốc thay thế, quản Khu-mật viện. Triều đình cử Thái-bảo Phí Công-Tín làm Tổng-lĩnh thị vệ, kiêm Tổng-lĩnh cấm quân.
Trước đây, Long-Xưởng, Thủ-Huy cùng tam vương bận rộn chuẩn bị cho cuộc Bắc-phạt. Nay cuộc Bắc-phạt bị hủy bỏ, thì tất cả thời giờ lại dồn vào việc tạo cho dân giầu, khuếch trương học phong. Thủ-Huy dùng quân sĩ phá hoang làm ruộng. Vì thế, trong không đầy một năm, mà quốc sản trở thành dư giả. Dân chúng ấm no.
Vào nghị sự đường của tổng-hành doanh Bắc-cương, Long-Xưởng hỏi Thủ-Huy :
- Nhị đệ ! Tình hình quân Tống ở Nam-thùy ra sao ?
- Không có gì thay đổi. Họ có khoảng mười đạo binh đóng rải rác từ Quế-châu, Côn-lôn, Đại-giáp tới Ung-châu. Năm vạn binh Quảng, hai vạn kị và năm vạn thủy quân. Tính chung, họ có 17 vạn. Tin tế tác cho biết, họ chỉ có kế hoạch thủ, mà không có kế hoạch đánh ta.
- Như vậy là được rồi. Mấy anh Tầu vẫn thế, mềm thì nắn, rắn thì buông. Cái tin ta định tiến quân, làm vua tôi bọn Tống hú hồn.
- Anh luận đúng.
Kiến-Ninh vương bàn :
- Từ xưa đến giờ, mỗi khi Trung-quốc đem quân đánh ta, thì bao giờ họ cũng phải nắm được bằng này điều kiện :
Một là khích cho Chiêm đánh phía sau ta để chia lực lượng.
Hai là xử dụng đội quân người Hoa, kiều ngụ bên ta nổi dậy làm nội ứng, hướng đạo, cùng làm gian tế báo tin tức cho họ.
Ba là, phải có bọn Việt làm tay sai, nội phản.
Bốn là, trong nước có sự chia rẽ giữa hoàng tộc với hoàng tộc , giữa triều đình với dân chúng, giữa đại thần với đại thần.
Năm là, họ không bận binh sự với phương Bắc, phương Tây.
Đoan-Nghi than :
- Nếu như năm trước ta không bị cái vạ Vương Cương-Trung, thì giờ này triều Tống đâu có còn nữa ! Không biết đến bao giờ ta mới lại có dịp tiến binh như thế ? Đúng là mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên.
Long-Xưởng an ủi :
- Dù sao, ta cũng thu được mộït thắng lợi là kể từ nay, Tống không dám bắt ta tiến cống nhiều như trước. Lễ vật do ta định, chỉ có tính cách tượng trưng. Dần dần, ta sẽ bỏ tiến cống, không phải nhận sắc phong. Thân binh vào báo :
- Khải điện hạ, có sứ giả xin yết kiến điện hạ khẩn cấp.
Long-Xưởng dẫn mọi người ra đón sứ. Sứ giả là Tham-tri chính sự Vũ Tán-Đường.
Lễ nghi tất.
- Khải điện hạ .
Tán-Đường trình :
- Long-thể Hoàng thượng thình lình bất an trầm trọng. Hoàng-thượng, Hoàng-hậu truyền thần lên mời điện hạ khẩn hồi kinh để trao đại quyền, di chúc việc lớn.
Long-Xưởng hô mọi người quỳ xuống tiếp chỉ. Nghe chỉ xong mọi người cùng hướng về Thăng-long bái tạ.
Long-Xưởng nghĩ thầm :« ... Trước kia, thì ta cần tới Kiến-Ninh, Kiến-An, Kiến-Tĩnh, Thủ-Huy, Đoan-Nghi, Tăng Khoa, Như-Như để áp đảo bọn văn quan, rồi thi hành quốc kế. Nay quốc kế đã hoàn thành hết rồi, duy điều Bắc tiến đòi lại cố thổ thì hóa ra một tuồng hư ảo, vì Tống đã phòng thủ. Vậy thì ta dùng bọn này làm gì ? Khi ta lên ngôi vua, chỉ cần bọn cấm quân, thị vệ với ít hiệu binh địa phương cũng đủ. Quốc sản phải nuôi mười hai hiệu Thiên-tử binh, kị binh, ngưu binh, thủy quân, tốn kém quá. Mà bốn đứa Kiến-Ninh, Kiến-An, Kiến-Tĩnh, Thủ-Huy vang danh thiên hạ. Chúng đều có tài, lại nắm giữ trọng binh, nếu như chúng cất quân soán ngôi vua, thì ta khó mà sống nổi. Được, ta phải tìm cách trừ hết bọn chúng, để tránh hậu hoạn. Người xưa nói, luận tiểu phi quân tử, vô độc bất trượng phu... »
Vương đưa mắt nhìn Đoan-Nghi, nghĩ : « ...Xưa vua Thuấn nhờ lấy hai công chúa Nga-Hoàng, Nữ-Anh của vua Nghiêu mà được truyền ngôi. Thái-tổ nhà ta nhờ làm phò mã vua Lê, cầm trọng binh mà lấy được thiên hạ. Nay Thủ-Huy cũng là phò mã, cũng cầm binh quyền, hơn nữa uy tín y trải khắp nước. Y còn nguy hơn đức Thái-tổ nhà ta nữa. Đúng ra, ta phải cho Thủ-Huy về chịu tang. Nhưng khi ta lên ngôi, thì phải phong chức tước cho bọn nịnh thần chống ta, để chúng ký vào biểu tôn ta lên ngôi. Nếu Thủ-Huy có mặt tất y phản đối. Cái bọn văn quan chống ta, chúng chỉ là con chó của phụ hoàng với Thụy-Hương. Chúng đâu có là mối nguy như Thủ-Huy. Hà ! Lên ngôi rồi, ta ban mật chỉ cho bọn chúng, để bọn chúng bới lông, tìm vết kết tội bọn Thủ-Huy, bọn Kiến-Ninh, để loại trừ mối đe dọa. Muốn cho việc không bị cản trở, ta cần Thủ-Huy vắng mặt. Bởi nếu y có mặt, ta ăn làm sao, nói làm sao với y ?. Vì vậy ta lấy cớ trao quyền cho y, để y không có mặt, ta mới dễ dàng hành sự ».
Nghĩ vậy Long-Xưởng nói với Thủ-Huy :
- Ta nghĩ rằng lần này phụ hoàng khó qua khỏi. Ta phải dẫn Kiến-Ninh, Kiến-Tĩnh, Đoan-Nghi về nhận di chiếu kế vị cùng chịu tang. Đúng ra theo luật bản triều từ thời đức Thái-tổ, thì Thái-úy không thể kiêm nhiệm một trong hai chức Thống-lĩnh Thiên-tử binh, Đại đô đốc thủy quân. Tuy nhiên Thiên-tử có thể đặc cách trao cho một thân vương. Bây giờ ta về để lên ngôi thì coi như chính vị rồi. Ta có quyền thay đổi luật. Nhị đệ là phò mã có đại công với triều đình, thì nào khác gì thân vương ? Vậy nhị đệ hãy kiêm cả Thống-lĩnh Thiên-tử binh cùng quyền Đại đô đốc. Nhị đệ trấn cả hai mặt thủy bộ. Chúng ta dùng chim ưng liên lạc với nhau hằng ngày.
- Đại ca yên tâm.
Thấy Thủ-Huy thản nhiên không nghi ngờ gì, Long-Xưởng có hơi hối hận. Nhưng trong lòng lại nghĩ :
- Giết một tên Thủ-Huy, mà sự nghiệp Tiêu-sơn vững vàng, thì chẳng có gì đáng ân hận cả.
Long-Xưởng dẫn ba người em dùng ngựa, cùng Vũ Tán-Đường lập tức khởi hành. Năm người lên đường được một ngày mà không thấy chim ưng mang thư báo tin. Lòng Thủ-Huy nóng như lửa đốt. Mãi trưa hôm sau, thì thân binh báo :
- Trình Thái-úy có thân nhân lên thăm.
Thủ-Huy truyền mời vào. Thì ra Thủ Lý, Tô Phương-Lan ; Phùng Tá-Chu, Kim-Ngân ; Vương Thúy-Thúy.
Vừa nhìn thấy Thúy-Thúy, tim Thủ-Huy đập liên hồi. Công mất hết tự chủ, đứng ngây người ra nhìn nàng.
Đã lâu lắm, kể từ sau buổi hội trên con thuyền ở hồ Tây. Thủ-Lý hết sức khuyên Long-Xưởng để cho mình giết sạch bọn gian tế Tống, mà Long-Xưởng không quyết định. Thủ-Lý, Trung-Từ, Tá-Chu cho rằng Long-Xưởng là người thiếu quyết đoán, thì việc quốc gia đại sự khó mà thành. Cũng từ đấy, phái Đông-a tuyệt giao với Đông-cung, không trợ giúp gì nữa. Rồi sau quả như Thủ-Lý đoán, chính bọn gian tế Tống gây ra chính biến, suýt nữa vua nghe lời Thụy-Hương giết chết Long-Xưởng, Thủ-Huy, Đoan-Nghi và ba em trai Long-Xưởng. Việc Bắc phạt chuẩn bị hơn mười năm hóa thành một tuồng hư ảo, một trò đàm tiếu cho dân chúng. Tin này lọt ra ngoài, uy tín của Thủ-Lý, Phương-Lan, Trung-Từ, Tá-Chu, Thủ-Huy Đoan-Nghi lên cao. Từ trong triều, đến thôn dã, ai ai cũng chê nhà vua ù lỳ, chê Long-Xưởng nhu nhược, e tương lai không hơn vua cha.
Cũng từ ngày đó, Thủ-Huy chưa gặp lại anh. Bây giờ, thình lình thấy anh cùng nhiều người lên thăm, Thủ-Huy biết phải có điều gì quan trọng lắm.
Phùng Tá-Chu chỉ những người chầu hầu hỏi :
- Anh hai ! Liệu những người xung quanh anh có thể tin cậy được không ?
- Được ! Họ đều là người mẹ tuyển cho anh cả.
Thủ-Lý ngồi ngay ngắn lại :
- Chú hai ! Một biến cố cực kỳ quan trọng vừa xẩy ra, có ảnh hưởng lớn lao đến trăm họ Đại-Việt, nên anh phải lên gặp chú.
- Thưa là ? ? ?
- Sáng qua, vào giờ Dần, sứ giả Vũ Tán-Đường vừa rời Thăng-long thì Thiên-cảm Chí-bảo hoàng đế băng hà.
Thủ-Huy giật bắn người lên :
- Ái chà !
Thủ-Huy cảm thấy đau nhói trong tim. Vua Anh-Tông tuy hiếu sắc, ù lỳ, không có chủ trương gì, nhưng giữa ngài với Thủ-Huy lại rất hợp với nhau. Từ hồi Thủ-Huy rời Thiên-Trường về Thăng-long lĩnh chức Thiện-nhân, rồi dẹp triều đình gà mái gáy, được phong hầu...Cuối cùng lên tới cực cao là Phụ-quốc Thái-úy. Lúc nào nhà vua cũng dùng lời lẽ ôn tồn đối với Thủ-Huy. Ngài lại hay ban thưởng cho công. Có thể nói, ngài thương yêu Thủ-Huy như con đẻ. Cho nên giữa bố vợ, chàng rể, có mối thâm tình nồng nàn. Nay nghe tin nhà vua băng hà, Thủ-Huy cảm thấy thương tiếc vô vàn.
Thủ-Lý vẫn tiếp tục :
- Bọn Thái-sư Tô Hiến-Thành, Thái-phó Lý Ngô Lý-Tín, Thái-bảo Phí Công-Tín, Thái-tử Thái-phó Lý Kính-Tu, Tể-tướng Đỗ An-Di đã tôn thằng bé con, mới có 26 tháng là Long-Trát lên làm vua.
- Thực vậy sao ?
Phùng Tá-Chu gật đầu :
- Thực chứ giả sao được. Sau khi tôn thằng nhỏ Long-Trát lên ngôi vua. Chúng đặt cho thằng nhỏ cái tên là Trinh-phù hoàng đế. Chúng nhân danh thằng oắt con đặt miếu hiệu cho nhà vua là Anh-tông với một tràng tôn hiệu, ca tụng đức của ngài khi còn tại thế. Những từ đó, nếu ngài là người liêm sỉ, thì dù có nằm trong tử quan, cũng phải xấu hổ, ngồi bật dậy mà chửi : Tiên nhân cha bọn nịnh hót, bay đặt tôn hiệu như vậy có khác gì chửi ta không ?
Nghe lời nói ngỗ nghịch, phạm thượng của Tá-Chu, Thủ-Huy không bằng lòng. Dù vậy công cũng hỏi :
- Tôn hiệu của phụ hoàng là gì ?
- Anh hãy nghe cho rõ nhé : Thể thiên, Thuận đạo, Duệ văn, Thần võ, Thuần nhân, Hiển nghĩa, Huy mưu, Thánh trí, Ngự dân, Dục vật, Quần linh, Phi ứng, Đại minh, Chí hiếu hoàng đế.
Mọi người cười rộ lên.
Tá-Chu tiếp :
- Chúng còn nịnh hót con đàn bà dâm loạn Đỗ Thụy-Châu, làm chế, ra cái điều là thằng nhỏ làm, rồi tôn con mụ này lên làm Chiêu-thiên Chí-lý hoàng thái hậu. Chúng cũng tôn Hoàng-hậu lên làm Chiêu-linh Thánh-cảm hoàng thái hậu. Bọn chúng lại tôn hiệu cho thằng nhỏ một tràng dài , với những đức tính, mà chưa từng hoàng đế nào có như sau :
« Ứng càn, Ngự cực, Hoành văn, Hiến vũ, Linh thụy, Chiếu phù, Chương đạo, Chí nhân, Aùi dân, Lý vật, Duệ mưu, Thần chí , Hóa cảm, Chính thần, Phu huệ, Thị từ, Tuy du, Kiến mỹ, Công toàn, Nghiệp thịnh, Long hiện, Thần cư, Thanh minh, Quang hiến hoàng đế ».

Ghi chú của thuật giả:

Long-Trát lên làm vua, lấy hiệu là Trinh-Phù vào lúc mới có 26 tháng, khi băng hà được tôn miếu hiệu là Cao-tông. Long-Trát lên ngôi, mà cạnh không có một thân vương nào phò tá. Trong cung thì bà mẹ Đỗ Thụy-Châu chỉ biết dâm dật, rồi chết non, 37 tuổi. Triều đình thì bị tình nhân của mẹ là Mạc Hiển-Tích, bị cậu là Đỗ An-Di chuyên quyền. Nhà vua lớn lên hoang chơi vô độ, khiến cho Đại-Việt trải qua một thời kỳ cực kỳ rối loạn. Sự nghiệp vĩ đại kiến tạo Đại-Việt thành một nước có kỷ cương, có văn hiến, có nền pháp trị vững chắc của vua Thái-tổ, Thái-tông. Huân nghiệp đánh Tống, bình Chiêm của vua Thánh-tông, Nhân-tông bị ông vua vô giáo dục này phá nát. Đến đây có thể coi như triều đại Tiêu-sơn chấm dứt.

Thủ-Huy than :
- Trời ơi ! Thực là bọn chồn cáo làm trò hề.
Thấy Thủ-Huy ngớ người ra, Tá-Chu vỗ vai :
- Cái việc này anh Thủ-Lý với bọn em đã đoán ra ngay hôm hội trên thuyền rồi. Còn anh, thì anh như người mê cuộc cờ. Anh cóc biết gì cả.
Thủ-Huy công nhận lời Tá-Chu đúng. Giá như hôm đó Long-Xưởng để cho Thủ-Lý, Tá-Chu, Trung-Từ giết Vương Cương-Trung với bọn Vân-Đài, Công-Chúa, Mao-Nữ thì đã không có vụ chính biến, và dĩ nhiên không có cái việc tôn thằng nhỏ Long-Trát lên làm vua.
Tá-Chu tiếp :
- Rồi mấy lão đại thần già còn làm trò khỉ bằng cách cho lão Tô Hiến-Thành bồng thằng nhỏ trong lòng mà ban chỉ ; ra cái điều chỉ này do vua, chứ không do lão. Thực là giống như mấy mụ lên đồng. Khốn thay, hiện thằng nhỏ đi tướt nặng. Cứ hơn khắc lại ...bẹt...bẹt... ra tã, rồi khóc om sòm.
Mọi người không nín được, cùng bật cười, trong khi Thủ-Huy nhăn nhó khổ sở :
- Bọn này đáng chết thực.
- Chưa hết đâu .
Tá-Chu xua tay :
- Thằng nhỏ đi tướt mặc thằng nhỏ đi tướt. Cái lão Tô vẫn làm chiếu, rồi nói rằng do thằng nhỏ, để phong Đỗ An-Di làm Thái-sư đồng bình chương sự (Thái-sư, kiêm đồng thủ tướng). Còn tự phong mình làm Thái-úy phụ chính, bình chương quân quốc trọng sự (Tư lệnh quân đội, kiêm thủ tướng). Lại phong cho bố ghẻ thằng nhỏ là Mạc Hiển-Tích làm Tổng-trấn Thăng-long, Tổng-lĩnh thị vệ, cấm quân. Thế là triều đại Tiêu-sơn thành triều đại ...cầu tiêu. Khi ban chiếu, chúng cũng thì thụp lạy tạ đàng hoàng lắm. Lạy tạ cái cầu tiêu !
Hồi niên thiếu, ba anh em Thủ-Lý, ba anh em Trung-Từ, với Phùng Tá-Chu sống chung với nhau trong trang Thiên-trường, do ông nội là Trần Tự-Kinh dạy dỗ. Suốt ngày họ không luyện võ, học văn, thì lại nô đùa với nhau. Cách nói năng của họ theo lối dân gian, hồn nhiên đã quen. Từ khi Thủ-Huy theo Long-Xưởng về Thăng-long, làm quan, rồi làm phò mã. Công nói năng cẩn trọng theo lối cung đình đã thành nếp. Trong khi đó ngày đêm đám Thủ-Lý vẫn sống lẫn với nông dân, suốt này đùa vui, bộc trực, riết rồi trong ngôn từ giữa Thủ-Huy với những người bạn thời thơ ấu không còn giống nhau nữa. Họ có một khoảng cách xa. Bây giờ trong lúc tinh thần trấn động, căng thẳng, nghe Tá-Chu nói lời trái tai, Thủ-Huy bực mình :
- Cái chú này chỉ nói tục ! Triều đại mà chú ví với cầu tiêu, nghe nó có vẻ khinh bạc quá. Chú nên nhớ, chú có cái hàm phó Đại đô đốc của triều đình, mà chú lại có lời thô lỗ như vậy sao ?
- Phó Đại đô đốc ? Đó chẳng qua là hư vị. Em có mang y phục đô đốc bao giờ đâu ? Có lĩnh một hột gạo, một đồng tiền nào của triều Lý đâu ?
Thủ-Huy nhăn mặt :
- Dù sao Long-Trát cũng là giọt máu của phụ hoàng, là một hoàng tử.
Tá-Chu càng trêu già :
- Hoàng tử đã bằng Phật Thích-ca Mâu-ni chưa ? Có thể so sánh với Khổng-tử không ? Ông Thích, ông Khổng, hồi còn bé cũng đi tướt như thường, đâu phải mình thằng bé con Long-Trát.
Thủ-Huy hừ một tiếng, công im lặng.
Tá-Chu bẹo tai Thủ-Huy :
- Cái anh này đang lên đồng chắc ? Thánh nào nhập vào anh đây ? Cô Bơ Hoàng Thiều-Hoa ? Cô Sáu Đào Phương-Dung ? Thánh-mẫu thượng ngàn Hồ Đề ? Em hỏi anh nhé.
- Chú cứ hỏi.
- Khi vua Khâm-tông bị bắt đem về Kim, có phải con ông ta là Thái-tử Kinh cải thành họ Mạc không ?
- Ừ thì phải.
- Cái gã Mạc Hiển-Tích có phải là con của Thái tử Kinh không ? Tên Vương Cương-Trung ép Tuyên-phi Thụy-Hương dâng hiến cái lỗ chôn mả tổ họ Triệu cho gã họ Hiển-Tích xài hai đêm. Sau hai đêm đó, Thụy-Hương có mang sinh ra Long-Trát . Đúng không ?
- Cái đó là nghi vấn. Chứ sự thực thì Long-Trát giống phụ hoàng như hai giọt nước.
- Hứ ! Em thì em tin Long-Trát là con tên Hiển-Tích. Bây giờ Long-Trát lên làm vua, thì có phải là họ Triệu của Tống cai trị Đại-Việt không ? Như thế có phải họ Lý bị ném vào cầu tiêu rồi không ?
- Bậy nào ! Long-Trát giống phụ hoàng như hai giọt nước, sao có thể là con của Mạc Hiển-Tích ?
Tá-Chu cười :
- Thôi bỏ chuyện ấy đi. Nhưng nay anh mất chức Thái-úy rồi. Chỉ nội ngày nay gã Tô Hiến-Thành sẽ bồng thằng nhỏ đi té re, ban chiếu chỉ gọi anh về Thăng-long. Vì vậy bọn em lên đây báo cho anh biết. Bằng không anh cũng tuân chỉ té re, về thì thụp lạy thằng bé con Long-Trát, thì nhục lắm.
- Anh không tin bọn Tô Hiến-Thành dám làm vậy !
Phùng Tá-Chu hỏi :
- Vì lý do nào mà anh bảo sự ấy không xẩy ra được ?
- Vì Long-Xưởng là Thái-tử, thì họ phải đợi anh ấy về, rồi lên ngôi chứ ! Nước có luật, chứ đâu ai muốn làm gì thì làm. Tô chỉ có mấy người, các quan dễ gì nghe lời chúng.
- Chú nói !
Phương-Lan xen vào, nàng giảng giải :
- Chính vì nước có luật, họ mới căn cứ vào luật, mà thi hành.
- Chị nói gì em không hiểu.
Phương-Lan vốn rất thân với ông em chồng này. Nàng ngồi nghiêm chỉnh lại :
- Để chị nói cho chú nghe. Xưa nay phàm vua chúa ban chỉ, các quan ban lệnh, khi cùng một sự, mà có hai lệnh khác nhau, lệnh nào trên giấy trắng mực đen thì có giá trị. Còn lệnh bằng miệng thì gọi là khẩu thiệt vô bằng (lệnh bằng miệng lưỡi không thể coi như bằng chứng) vô giá trị. Có phải vậy không ?
- Đúng.
- Xin chú trả lời cho chị câu thứ nhì : Trong việc cai trị, khi có nhiều luật cùng nói một vấn đề, thì luật nào ban sau cùng được coi là có giá trị. Có phải vậy không ?
- Đúng .
- Thế thì các đại thần Tô Hiến-Thành, Đỗ An-Di đã thi hành đúng luật lệ. Họ không có tội gì. Trăm quan đều theo họ, thì là điều bình thường.
- Nghĩa là ?
- Năm ngoái, niên hiệu Thiên-cảm Chí-bảo nguyên niên, ngày Canh-Dần, tháng 9, nhà vua ban chỉ kể tội Long-Xưởng, truất phế khỏi ngôi Đông-cung, giải tán Đông-cung triều. Bốn ngày sau, ngày Giáp-Ngọ, lại ban chỉ phong Long-Trát làm Thái-tử, giáng Long-Xưởng xuống làm con út, tước Bảo-Quốc vương. Trong chỉ này còn định Tô Hiến-Thành phụ chính, Lý Kính-Tu làm Thái-phó. Có đúng không ?
Thủ-Huy hừ một tiếng :
- Chỉ đó do Vương Cương-Trung uy hiếp phụ hoàng, nên người phải ký, chứ đâu phải long ý ? Sau khi dẹp bọn Vương Cương-Trung, Linh-Chiếu thái hậu hỏi về vụ này, thì kim khẩu phụ hoàng đã tuyên rằng, anh Long-Xưởng vẫn là thái-tử, Đông-cung triều vẫn còn nguyên. Từ hồi ấy đến giờ, Đông-cung triều vẫn hoạt động đều đặn mà !
Thủ-Lý cất tiếng lạnh như băng :
- Thế sau đó nhà vua có ban chỉ hủy bỏ hai đạo chỉ truất Long-Xưởng, lập Long-Trát không ?
Thủ-Huy tỉnh ngộ, mặt công tái đi :
- Thôi rồi ! Phụ hoàng tuyên chỉ phục hồi Đông-cung vị cho anh Long-Xưởng, mà sau đó quên không ban chỉ. Thành ra là khẩu thiệt vô bằng. Hỏng rồi.
- Cái khúc mắc là chỗ đó.
Thủ-Lý giảng giải :
- Lẽ ra, sau ngày hôm đó, gã Đỗ An-Di là Tể-tướng, thì gã phải làm chỉ, đệ lên cho nhà vua ký. Nhưng gã lờ đi. Rõ ràng gã phục sẵn một âm mưu, đến nay mới thi hành.
Phương-Lan thuật :
- Sáng qua, khi nhà vua băng, cạnh long sàng chỉ có Hoàng-hậu, Thục-phi Đỗ Thụy-Châu, Thái-sư Tô Hiến-Thành. Hoàng-hậu tuyên chỉ đóng các cửa thành lại, chờ Thái-tử Long-Xưởng về lên ngôi. Nhưng Thái-sư Tô Hiến-Thành mở cửa cho các đại thần vào, mang hai chỉ dụ kia ra đọc lên, rồi nói rằng : Hoàng-tử Long-Xưởng bị giáng xuống làm Bảo-Quốc vương, hoàng tử Long-Trát được phong làm thái-tử. Sự đã trên một năm rồi. Vậy bây giờ nước một ngày không thể không vua. Xin tôn Thái-tử Long-Trát lên ngôi để an thiên hạ. Hoàng-hậu phản đối. Nhưng Tô Hiến-Thành, Đỗ An-Di lập tức hỏi ý kiến các đại thần. Hầu hết các quan đều không đồng ý với Tô Hiến-Thành, Đỗ An-Di. Nhưng trước hai đạo chỉ dụ kia, thì không ai cãi được. Trong khi đó, bên ngoài, Mạc Hiển-Tích dàn thị vệ, cấm quân ra như đe dọa. Các quan đành ký vào tờ biểu tôn Long-Trát lên kế vị Anh-tông.
Thủ-Huy chết điếng trong lòng. Công hỏi Thủ-Lý :
- Anh nghĩ em phải làm gì ?
Đạo đức, khí phách, nhân từ thì Thủ-Lý nức danh từ nhỏ. Còn mưu trí, thì chàng thua vợ xa . Chàng đưa mắt nhìn vợ như hỏi ý kiến.
Phương-Lan thở dài :
- Chị chọn cho chú ba con đường đi. Chú lựa lấy một.
- ? ? ?
- Khi Long-Xưởng, Đoan-Nghi, cùng chư vương về Thăng-long, thì vua mới đã lập, sự đã rồi. Các quan đã được bổ nhiệm chức vụ mới, lại được thăng trật, thăng ngạch thì họ có bổn phận phải trung thành với thằng bé con. Chị độ chừng bọn Đỗ An-Di sẽ đóng cổng thành không cho Long-Xưởng vào. Hoặc Long-Xưởng có được vào cũng không làm gì hơn là cúi lạy thằng bé con kia, rồi thui thủi rời Đông-cung làm anh nhà giầu mà thôi. Còn chú, con đường thứ nhất chú có thể đi là chuẩn bị chờ Tô Hiến-Thành mượn danh thằng nhỏ, triệu chú về bàn giao, sau đó chú dẫn Đoan-Nghi về Thiên-trường, cùng anh em vui với cỏ cây, thú biết bao ?
- Như vậy thì em là một phò mã có tội với các tiên đế, không xứng đáng làm chồng Đoan-Nghi. Sau này lịch sử kết tội em là tên hèn.
- Được ! Chú coi vậy mà được.
Phương-Lan tiếp :
- Con đường thứ nhì , thì người xưa đã nói : Khi nhà có sự mới biết con hiếu. Xã-tắc nguy nan mới biết tôi trung. Phàm nam nhi đại trượng phu, ai cũng muốn làm anh hùng, danh ghi thanh sử. Nhưng không phải ai cũng có dịp làm anh hùng. Bây giờ, chú có dịp làm anh hùng đây. Chú truyền một hịch đi khắp các trấn, các phủ, rồi đem quân về Thăng-long, phế thằng bé con kia xuống, lập Long-Xưởng lên làm vua. Bọn quan lại nào chống đối thì đem ra chặt đầu hết. Nghìn năm sau lịch sử còn ghi tên.
- Còn con đường thứ ba ?
- Con đường thứ ba là chú treo ấn, rồi cùng Đoan-Nghi bỏ đi ngao du thắng cảnh, học theo cụ tổ ta xưa, làm Ưng-sơn song hiệp hay học theo Minh-Đạo vương làm một Côi-sơn song ưng.
Thủ-Huy đập tay xuống bàn :
- Em xin chọn con đường thứ nhì.
Lập tức công cầm bút viết lệnh, trao cho thư lại sao làm nhiều bản, rồi ngay chiều hôm đó cho triệu hồi các tướng về họp. Sau khi giảng giải tình hình, công ban lệnh :
- Cuộc tiến quân này khác với cuộc tiến quân dẹp bọn gian tế Tống trước đây. Cuộc tiến quân này chắc chắn phải chấp nhận một cuộc giao tranh.
Công trao binh phù cho đô đốc chỉ huy hạm đội Aâu-Cơ :
- Đô đốc được đặt dưới quyền Vũ-kị thượng tướng quân Tăng Khoa. Hạm-đội Aâu-Cơ đang trấn Thăng-long. Đô đốc cho hạm đội dàn các chiến thuyền dọc sông Hồng, phong tỏa tất cả các sông, các hồ quanh Thăng-long, không cho bất cứ thuyền bè nào đi lại. Đem các thuyền lớn chờ ở bến Bắc-ngạn để chở quân qua sông.
Viên đô đốc đứng dậy lên đường ngay.
- Hiện hiệu binh Phù-Đổng đang cùng hiệu Ngự-long, Quảng-thánh, Quảng-vũ thao luyện tại rừng tre. Vũ-kị thượng tướng quân Tăng Khoa, nhanh chóng đem hiệu binh Phù-Đổng về Thăng-long, đánh chiếm các cửa thành, các cung điện, bao vây Hoàng-thành. Đợi khi ba hiệu binh Ngư-long, Quảng-thánh, Quảng-vũ qua sông, thì bao vây, khống chế tất cả dinh thự các quan lại. Đợi ta về sẽ chiếm Hoàng-thành.
Tăng Khoa hỏi :
- Nếu thị vệ, cấm quân chống lại thì sao ?
- Tuyên đọc lệnh của ta cho họ nghe. Họ buông vũ khí thì thôi. Bằng không thì giết hết.
Thủ-Huy dẫn các tướng lên ngựa hướng Thăng-long khẩn cấp.
Thủ-Lý nói với em.
- Anh lên đây vì chú, chứ anh không muốn về Thăng-long nhìn cái bọn quan liêu ngu dốt, hèn hạ của triều đình. Anh lại không muốn nhìn cái gã Long-Xưởng kia nữa.
Thấy nét mặt Thủ-Huy dường như không bằng lòng vì mình cương quyết với Long-Xưởng, Thủ-Lý nhấn mạnh :
- Tuy em ban lệnh đem quân về, nhưng anh biết rút cuộc lại đầu voi đuôi chuột như vụ Vương Cương-Trung, Thụy-Hương gây loạn. Giá như hôm ấy, khi chú xua quân đánh vào Hoàng-thành, chú mật lệnh cho đội võ sĩ Long-biên, Côi-sơn giết sạch bọn nịnh thần ăn hại, bọn Tống, bọn cung nga dơ bẩn, thì mọi chuyện đã êm thắm. Bây giờ trước mặt anh thì chú hăm hở, nhưng liệu chú có dám nhân lúc hỗn quân, hỗn quan, ra lệnh cho võ sĩ tru diệt hết bọn nịnh quan ăn hại không ?
- Nhất định em sẽ thẳng tay !
- Giả như, bấy giờ giữa lúc võ sĩ đang ra tay, Long-Xưởng ra lệnh cho chú phải ngừng lại, rồi lui quân, thì chú tính sao ?
Thủ-Huy ngây người ra suy nghĩ :
- Em đành phải nghe lệnh. Vì cái việc em ra làm quan, hoàn toàn vì nghĩa huynh Long-Xưởng. Ngoài tình huynh đệ, còn tình anh vợ em rể, tình nghĩa chúa tôi. Em không thể trái lệnh anh ấy.
Thủ-Lý nắm lấy tay em, mắt đỏ lên vì thương hại :
- Mưu sự tại em ! Thành sự tại Long-Xưởng ngu ít hay ngu nhiều. Tiếc thay cho em đã làm cái việc của con dã tràng xây cát biển Đông ! Thôi, gia đình chờ em ở Thiên-trường để cùng vui thú cỏ nội, hoa đồng.
Vương Thúy-Thúy nói với Tô Phương-Lan :
- Phu nhân, nô tỳ đã nguyện theo hầu phò mã cả đời. Bây giờ nô tỳ xin bái biệt phu nhân, để theo phò mã.
- Tỷ tỷ cứ theo lễ nghi mà làm.
Khi lên ngựa rời bản doanh Bắc-biên, Phương-Lan còn dặn Thủ-Huy :
- Chú hãy bảo trọng lấy thân.
Thông thường thì thân binh lo áo quần, ăn uống cho Thủ-Huy. Bây giờ, Thúy-Thúy dành làm hết. Thúy-Thúy mặc võ phục, lưng đeo bảo kiếm đi sát sau lưng Thủ-Huy. Nhìn khuôn mặt thanh tú, mái tóc mây chảy dài xuống hai vai của Thúy-Thúy, Thủ-Huy sợ hãi, vội quay mặt nhìn đi chỗ khác .
Trên đường đi, Thủ-Huy nhận được tin do Tăng Khoa gửi về liên tiếp :
« Chim ưng của Thái-tử Long-Xưởng báo : Khi thái-tử cùng tam vương Kiến-Ninh, Kiến-An Kiến-Tĩnh, công chúa Đoan-Nghi về tới Thăng-long, thì các cửa thành đóng kín. Cấm quân nói rằng họ tuân lệnh của quan Tổng-lĩnh Mạc Hiển-Tích không cho ai vào. Long-Xưởng bảo chúng gọi Hiển-Tích ra, thì không thấy Hiển-Tích mà chỉ thấy Tể-tướng Đỗ An-Di. Di hành lễ rồi báo cho Long-Xưởng biết Hoàng-thượng băng hà vào giờ Dần. Ngay lập tức, triều thần chiếu chỉ dụ của Hoàng-thượng tôn Thái-tử Long-Trát lên làm vua. Mọi sự đã an định. Vậy nếu Long-Xưởng cùng các vương muốn vào thành chịu tang, cùng bái kiến Trinh-phù hoàng đế, thì phải để tất cả tùy tùng ở lại. Long-Xưởng chưa kịp trả lời thì An-Di đã xuống khỏi địch lâu. Tuy nhiên chưa bắt liên lạc trực tiếp với Long-Xưởng ».
Mấy giờ sau lại có tin :
« Hiệu Phù-Đổng đã sang sông. Hạm đội Aâu-Cơ phong tỏa khắp các sông hồ quanh Thăng-long. Đã bắt được liên lạc với thái-tử Long-Xưởng. Long-Xưởng ban chỉ chờ ba hiệu Thiên-tử binh qua sông, sẽ đánh vào trong thành ».
Thủ-Huy càng thúc mọi người đi thực gấp. Khi đến Kinh-Bắc thì nghỉ lại qua đêm. Thúy-Thúy mắc võng, mắc màn cho Thủ-Huy nằm. Còn nàng, thì nàng cũng mắc võng ngay cạnh Thủ-Huy. Thủ-Huy leo lên võng, thì Thúy-Thúy nói :
- Chủ nhân ! Chủ nhân suy nghĩ nhiều quá e mệt tâm thần. Để tiểu tỳ tẩm quất cho chủ nhân.
Thủ-Huy chưa kịp từ chối, thì Thúy-Thúy đã dùng hai tay nhẹ nhàng chà sát trên trán, thái dương, cằm, rồi cổ cho công. Công điếng người đi, nằm như khúc gỗ không dẫy được nữa. Hơi thở của nàng, vừa ấm áp, vừa thơm tho lướt trên má công.
Thúy-Thúy lại chuyển tay xuống nắn hai bắp tay, rồi chà vào hai bên sườn. Thủ-Huy định lên tiếng năn nỉ : Thôi ! Thôi ! Tôi chịu hết nổi rồi. Nhưng công mở miệng ra không được.
Thúy-Thúy lại chà xuống bụng, rồi... Đến đây thì Thủ-Huy gần như mê man. Thúy-Thúy ngừng tay, nàng gục đầu vào ngực Thủ-Huy. Thủ-Huy rùng mình, khẽ nâng đầu nàng dậy :
- Thúy-Thúy ! Nàng là tiên nữ ! Còn tôi...
Giọng Thúy-Thúy nhẹ như tơ. Nàng nói như gió thoảng :
- Chủ nhân ! Tiểu tỳ đã nguyện hầu hạ chủ nhân cả đời ! Lúc nào tiểu tỳ cũng sẵn sàng dâng hiến cho chủ nhân.

Ghi chú của thuật giả:

Thuật đến đây, tôi xin ngừng lại, vì không biết những gì sẽ xẩy ra giữa anh hùng Trần Thủ-Huy và giai nhân Vương Thúy-Thúy. Tôi đã tra trong chính sử, huyền sử Tống-Việt ; kể cả bia đá, gia phả cũng không thấy chép rằng sau đó Thủ-Huy sẽ tỉnh táo, giữ tấm lòng chung thủy vơí Đoan-Nghi, hay tiếp nhận tất cả những gì Thúy-Thúy dâng hiến ? Độc giả Anh-hùng Đông-a vốn thông minh, xin đoán dùm.

Sáng hôm sau, giờ Dần, Thủ-Huy thức giấc thì nhận được chỉ dụ của Long-Xưởng :
«Khi ta về Thăng-long thì chỉ đem có vài tùy tùng theo. Sợ bọn Đỗ An-Di tập kích, ta phải nhờ bà Như-Yên đem đội thị vệ Đông-cung theo hộ vệ. Vậy đệ phải cho hai đội võ sĩ Long-biên, Côi-sơn phi ngựa về bảo vệ Đông-cung. Ta chờ nhị đệ, rồi đánh vào Thăng-long giết hết bọn nghịch thần, tặc tử, bọn mãi quốc ».
Giờ Thìn, Thủ-Huy về tới Bắc-ngạn, thủy quân đưa công cùng bộ tham mưu qua sông. Đò vừa cập bến, thì gặp Long-Xưởng, cùng chư vương, văn võ bách quan từ các trấn, phủ, huyện về chịu tang bị ùn lại, không được vào thành. Thủ-Huy tạm đóng tổng hành doanh ở ngoài thành, rồi thỉnh Long-Xưởng, cùng các quan vào nghỉ.
Thủ-Huy mời chư vương, Đoan-Nghi, Tăng Khoa họp riêng. Công trình bầy tất cả những tin tức do Thủ-Liễu thu thập được, cùng những uẩn khúc về việc Long-Xưởng bị truất, lập Long-Trát, mà hai chỉ dụ cho đến nay cũng vẫn còn giá trị. Nghe Thủ-Huy nói, Long-Xưởng than :
- Sau khi diệt bọn gian tế Tống, an định được Thăng-long, ta quên khuấy đi mất cái chuyện xin phụ hoàng ban chỉ phục hồi ngôi vị cho ta, lại cũng không xin chỉ phong tước cho Long-Trát. Bây giờ các em nghĩ sao ?
Kiến-Ninh vương đề nghị :
- Bọn Đỗ An-Di tưởng rằng đặt thằng nhỏ lên làm vua, là cố tình tạo thành sự đã rồi. Em nghĩ anh nên lên ngôi cho chính vị, ban hịch đi khắp nước, cử sứ giả vào bắt bọn Đỗ An-Di đầu hàng, bằng không chúng ta đánh thành, rồi làm cỏ bọn chúng.
- Thưa vương gia làm như vậy không đúng lễ.
Chán đời đi lang thang !
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-03-24 04:11:40NuHiepDeThuong>
Tiếp theo Hồi 24


Vũ Tán-Đường giảng giải :
- Từ xưa đến giờ, khi Hoàng-đế băng hà thì bao giờ tự quân cũng phải lên ngôi trước tử-cung. Vả lại bọn Vương Cương-Trung, Thụy-Hương ép Hoàng-thượng ban chiếu, dùng những lời lẽ hạ nhục Thái-tử quá đáng. Mà chiếu ấy gửi khắp các trấn, các phủ, huyện. Từ ngày đó đến giờ, dư đảng bọn Tống, bọn chân tay của tụi hủ nho, bọn vong mạng, bọn đầu trộm đuôi cướp không ngớt nhắc lại những lời vô quân, phạm tượng đó. Trong dân gian thì thầm đã nhiều. Nếu nay Thái-tử lên ngôi ở ngoài thành thế này, thì bọn Tô Hiến-Thành, Đỗ An-Di lại có cớ để nói với mọi người.
Tăng Khoa đứng dậy cung tay :
- Khải Thái-tử, thần nghĩ không cần phải gửi sứ. Thị vệ, cấm quân quá ít không đủ giữ Thăng-long. Vậy Thái-úy chỉ cần truyền một lệnh rằng người bảo giá Thái-tử cùng chư vương, đại thần về chịu tang. Cấm quân, thị vệ phải mở cổng thành. Bằng không thì cho đánh thành. Thần nghĩ, năm trước thị vệ, cấm quân đã theo Thái-tử đánh hiệu binh Sơn-Nam. Họ thấy bọn này chống lại Thái-tử, rồi bị bọn Tống giết, bị xử tội sau biến cố. Nay vô tình họ bị đẩy vào cái thế đó, họ đã lo sợ lắm rồi. Họ chỉ chờ dịp là buông vũ khí. Cái bọn An-Di, Hiến-Thành gan có bằng trời cũng không dám chống lại ta. Vả thị vệ, cấm quân đều do Thái-úy với thần huấn luyện. Họ biết tính cương quyết của Thái-úy, nên không ai đủ can đảm cầm vũ khí chống lệnh Thái-úy mà mang họa.
Long-Xưởng hài lòng nói với Đoan-Nghi :
- Lời nghị của Tăng đệ thực đúng luật pháp. Ở đây em là người cử bút thành văn, vậy em hãy soạn một lệnh gửi cho chư quân tướng, mà không nhắc gì tới bọn Tô, Đỗ cả.
Công-chúa Đoan-Nghi cầm bút viết :« Kiểm-hiệu Thái-sư, Thượng-trụ quốc, Khai-phủ nghị đồng tam tư, Trung-vũ quân tiết độ sứ, lĩnh đại Đô-đốc, Kiến-Ninh vương.
Dao-thụ Thái-bảo, quản Khu-mật viện, Thượng-thư tả bộc xạ, Phụ-quốc thượng tướng quân, trấn Nam tiết độ sứ, Kiến-An vương.
Đặc tiến Thiếu-sư, Khu-mật viện sứ, Thượng-thư tả thừa, Thượng-thư lệnh, Tả kim ngô thượng tướng quân, tổng-lĩnh Thiên-tử binh Kiến-Tĩnh vương.
Hiếu-khang, Thạc-hòa, Ôn-huệ, Nhu-mẫn, Anh-văn, Đoan-Nghi công chúa, tổng-lĩnh nữ binh.
Phò-mã Phụ-quốc Thái-úy, Tả-kim-ngô đại tướng quân, Thượng-trụ quốc, Càn-nguyên điện đại học sĩ, Côi-sơn quốc công.
Lệnh cho các tướng sĩ cùng thị vệ, cấm quân trong thành Thăng-long :
Được hung tin hoàng-thượng băng hà. Thái-tử cùng chư vương Kiến-Ninh, Kiến-An, Kiến-Tĩnh, công chúa Đoan-Nghi, phò mã Thái-úy cùng các quan văn võ tại các trấn, phủ huyện về chịu tang. Mà các người lại đóng cửa thành là ý gì ? Vì vậy, chúng ta phải mang binh về bảo giá. Chúng ta hẹn cho các người đến giờ Mùi hôm nay phải mở cửa thành. Bằng không, chúng ta sẽ xua binh đánh vào, thì bản thân các người bị giết đã đành, mà gia đình cũng bị phanh thây.

Niên hiệu Thiên-cảm Chí-bảo, tháng bẩy, ngày vọng
»

Long-Xưởng đọc xong khen ngợi :
- Hay, lệnh này coi như không biết gì tới cái vụ Long-Trát đã lên ngôi, không kể tội bọn Tô Hiến-Thành, Đỗ An-Di, để mở cho chúng một con đường. Lại giải thích rõ về vụ mang quân về. Bọn phản thần không còn gì để có thể bắt quân đóng cổng thành.
Thủ-Huy sai quân mang thư đi.
Tăng Khoa ra lệnh cho tướng sĩ :
- Hiệu Quảng-thánh, Quảng-vũ chia ra bao vây các cửa thành. Hiệu Phù-Đổng, Ngự-long cũng chia ra chờ đợi ở các cửa. Đến giờ Mùi, nếu cửa thành mở, thì nhất loạt tiến vào, nhanh chóng chiếm đóng tất cả các phủ, dinh, kể cả Phủ-thừa Thọ-xương. Còn Hoàng-thành thì chỉ bao vây thôi. Nhược bằng sang giờ Mùi, mà cửa thành không mở, thì đồng loạt tấn công. Cần đánh chớp nhoáng. Khi lọt vào thành thì cho mở cửa. Rồi hiệu Ngự-long, Phù-Đổng tiến vào thi hành như trên.
Long-Xưởng thấy vợ chồng Đào Duy cũng có mặt, thì cảm động :
- Đào đại phu ! Đào phu nhân ! Từ ngày gặp gỡ nhau trên bến Bắc-ngạn đến giờ, nhị vị đã cùng Xưởng này chịu không biết bao nhiêu cay đắng, thăng trầm. Nhị vị lại là sư phụ khai tâm về võ cho Xưởng. Thế mà bây giờ người vẫn giữ một chức vụ khiêm tốn là Đại-phu nhạc quan. Phu nhân vẫn chỉ là chức quản lý Đông-cung. Hôm nay, Xưởng lên ngôi vua, sẽ phong cho phu nhân tước công chúa, quản lĩnh cung nga. Còn Đào đại phu phải được phong hầu, thăng lên Thị-lang bộ Lễ.
Hai người nói lời cảm tạ.
Vương nói với các em :
- Chúng ta chia nhau ra, mỗi người tiến vào một cửa. Kiến-Ninh vương tiến vào cửa Tường-phù. Kiến-An vương tiến vào cửa Diệu-đức. Kiến-Tĩnh vương tiến vào cửa Đại-hưng. Còn cửa Quảng-phúc thì ta với Thủ-Huy, Đoan-Nghi tiến vào. Nhớ , dù phải công thành, hay không, cũng cần dàn nghi trượng sẵn, khi vào thành giữ cho uy nghi. Ta không có thị vệ hộ tống, tạm dùng đội thị vệ Đông-cung của Đào phu nhân vậy.
Chư tướng đứng dậy, rời hành doanh, đi điều quân.
Kiến-Ninh vương bàn với Long-Xưởng :
- Từ hơn mười năm nay, bọn lão thần lười biếng, nếu không chống lại chúng ta, thì cũng ù lỳ. Chúng biết ta cầm binh quyền, tương lai anh cả lên ngôi, mà chúng dám chống lại. Tại sao ? Vì chúng hiểu rằng phụ hoàng không có chủ trương gì, chúng có thể dựa vào người mà khuynh đảo Xã-tắc. Hồi ấy, bọn gian tế Tống gây ra việc biến loạn, em đề nghị trong lúc hỗn quân, hỗn quan, ta giết sạch bọn chúng đi, để triều đình không có nạn chia hai, chia ba. Anh cả cho rằng sau vụ ấy, thì chúng sẽ kinh hồn động phách mà quay đầu lại. Nếu ta tha cho chúng, chúng sẽ cảm phục, mà giúp ta. Như vậy ta tránh được sự phân hóa nhân tâm. Đại ca thấy không ? Chúng thoát được lần đó, bây giờ chúng gây ra vụ tầy trời này. Hôm nay, khi quân tràn vào, ta sai võ sĩ Côi-sơn, Long-biên giết sạch bọn chúng. Như vậy, từ nay không còn bọn hai lòng nữa.
Long-Xưởng nghĩ thầm :
« ... Lên ngôi vua, ta không sợ bọn chúng, ngược lại cần bọn chúng. Trong khi đó ta không cần bọn bay, mà phải đề phong bọn bay ».
Tuy vậy vương giả bộ thở dài :
- Nếu em ở vào hoàn cảnh của anh, thì em mới hiểu được cho anh. Em nên biết, bọn đại thần theo Tô, Đỗ, chỉ vì hai di chiếu của phụ hoàng. Hơn nữa chúng là cố mệnh đại thần của phụ hoàng. Anh là tự quân, mà lại giết cố mệnh đại thần, chỉ vì họ thi hành di chiếu của tiên đế, thì sau này ai sẽ tuân chỉ của anh ?
Kiến-Ninh vương đành lắc đầu chịu thua. Chờ lúc Long-Xưởng đang luận bàn với chư đại thần ở các trấn, vương gọi Thủ-Huy ra ngoài nói nhỏ :
- Nhị ca ! Cạnh nhị ca có đoàn võ sĩ Long-biên, Côi-sơn. Xin nhị ca ra mật lệnh cho chúng, khi ta đánh vào thành, lợi dụng lúc hỗn chiến, giết sạch bọn nịnh quan phản phúc, để trừ hậu hoạn. Nhị ca nghĩ sao ?
- Gần đây, đại ca không còn suy nghĩ, hành xử như chúng ta nữa. Những lời đề nghị của chúng ta, đại ca không còn coi trọng. Bây giờ đại ca đã không chịu cho chúng ta giết bọn ăn hại, mà chúng ta ra lệnh giết, thì sau này tình anh em sẽ sứt mẻ. Đệ chịu, không thể nghe lời huynh được.
- Hay thế này ! Nhị ca có thể nhờ anh Thủ-Lý, Trung-Từ, Tá-Chu đem theo một ít cao thủ , lợi dụng lúc hỗn loạn giết sạch bọn gian thần không ?
- Khó quá !
Thủ-Huy nhăn mặt :
- Từ sau vụ hội nhau trên hồ Tây, anh Thủ-Lý bẻ cung thề không lý gì đến việc triều đình nữa. Cái hôm chị Phương-Lan, Kim-Ngân đi Đồn-sơn cứu đệ là vì có lệnh của ông nội. Hôm rồi anh ấy cùng Trung-Từ, Tá-Chu lên Bắc-cương gặp đệ chỉ với mục đích cứu đệ mà thôi.
- Vậy đệ đành dùng bọn võ sĩ thân tín của đệ làm việc này.
- Không được đâu.
Công-chúa Đoan-Nghi phản đối :
- Anh là người thứ nhì sau anh cả để quy tụ nhân tâm, mà võ sĩ của anh làm chuyện đó, thì dân chúng sẽ bất phục. Em thấy trong các sư huynh, sư đệ của anh Thủ-Huy, thì Phùng Tá-Chu là người khoáng đạt, lại tinh, minh, mẫn cán. Hơn nữa Tá-Chu tuy không chính thức làm quan, nhưng trước đây phụ hoàng đã ban chỉ phong chú ấy là phó Đại đô đốc, để chú ấy dự vào việc đóng chiến thuyền, luyện tập thủy đội. Tất cả binh tướng thủy quân đều tưởng chú ấy là phó đại đô đốc. Chú ấy có thể dẫn một đội võ sĩ, trang phục thủy quân, làm chuyện đó.
Thủ-Huy hỏi lại vợ :
- Em nghĩ rằng Tá-Chu sẽ nghe lời em ư ?
- Khổ quá !
Đoan-Nghi than :
- Anh là anh, mà anh không hiểu anh Thủ-Lý, cô Kim-Ngân tí nào cả. Anh Thủ-Lý là người tình cảm, nhưng tính tình đứt khoát ; nói một là một, nói hai là hai. Đối với anh ấy, làm sao cho dân chúng sống an ninh, ấm no là anh ấy vui lòng. Chú Tá-Chu nói năng ồn ào, nhưng lời lời đều hợp đạo lý. Bề ngoài, chú ấy hay vui, hay bông đùa nhưng chú ấy lại là người sủng ái vợ cùng cực. Không một ý nghĩ nào của cô Kim-Ngân, mà chú ấy không chiều theo. Còn cô Kim-Ngân thì tuy cứng rắn, nhưng lại yêu thương anh em vô bờ bến. Anh chỉ cần ngỏ lời với Kim-Ngân, thì cô ấy giúp anh ngay. Cô ấy giúp anh, thì dĩ nhiên chú Tá-Chu phải nhảy vào.
- Được rồi. Hiện Kim-Ngân, Tá-Chu đang có mặt tại Thăng-long. Anh sẽ nhờ cô ấy. Nhưng chỉ lát nữa mình sẽ tấn công rồi, e cô Kim-Ngân ra tay không kịp. Vậy chỉ có thể nhờ cô ấy nhân danh Côi-sơn song ưng giết bọn chúng mà thôi.
Thủ-Huy viết mấy chữ, rồi gọi một tá lĩnh, nguyên là đệ tử của sư thúc Trần Tử-Mẫn :
- Sư đệ mang thư này ra bến Bắc-ngạn, nơi con thuyền của bản phái, trao cho thuyền phu, bảo chuyển cho sư tỷ Kim-Ngân khẩn cấp.
Viên tá lãnh tần ngần, như không muốn đi. Thủ-Huy hỏi :
- Có chuyện gì không ?
- Hiện hạm đội Âu-Cơ phong tỏa tất cả thuyền bè, thì sao con thuyền nhà ta di chuyển được ?
Thủ-Huy tỉnh ngộ đưa mắt cho Kiến-Ninh vương. Vương phát lệnh bài, rồi cầm bút viết lệnh :
« Phó Đại đô-đốc Phùng Tá-Chu, được lệnh thi hành chỉ dụ cực mật. Võ quan bộ binh từ cấp đô thống, thủy quân từ cấp đô đốc phải tuân theo sự điều động của người ».
Thủ-Huy cau mày tỏ ý phản đối :
- Lệnh như vậy có đúng luật không ?.
- Để đệ kể cho nhị ca nghe. Hai năm trước trong lần đệ cho bốn hạm đội tập trận ở Thiên-trường. Nghe nói Tá-Chu thống lĩnh đội hải thuyền đánh cá của các trại Thần-nông. Đội thuyền này nổi danh về ba phương diện : Thuyền chắc chắn, khi ra khơi không bị sóng đánh vỡ. Thủy-thủ giỏi. Tổ chức chặt chẽ. Đệ mời Tá-Chu xem thao diễn. Tá-Chu góp không biết bao nhiêu ý kiến về tổ chức, huấn luyện, tác chiến, cách đóng chiến thuyền. Đệ mời anh ấy làm phó đại đô đốc thống lĩnh thủy quân. Anh ấy không nhận, chỉ nhận cái hàm, để có thể ban lệnh, chỉ huy, luyện tập mà thôi. Phụ hoàng cũng đã ban chỉ phong cho anh ấy rồi. Hóa cho nên binh sĩ bốn hạm đội đều tưởng anh ấy là phó đại đô đốc thống lĩnh hải quân... Chứ đệ đâu có phong bừa ?
Viên tá lĩnh cầm lệnh bài đi liền.
Khoảng cuối giờ Ngọ, Long-Xưởng, Thủ-Huy vừa ăn cơm xong, thì thân binh vào báo :
- Các cửa thành đều mở rộng. Thị vệ, cấm quân không cầm vũ khí, đứng dàn hai bên các cổng. Vũ-kị thượng tướng quân Tăng Khoa cho quân tiến vào trong. Xin báo để Thái-úy định liệu.
Thủ-Huy phất tay một cái, đội nghi trượng nhanh chóng vào hàng ngũ, rồi khởi hành. Dẫn đầu là đoàn giáp sĩ Đông-cung do Như-Yên chỉ huy, gươm đao sáng ngời. Tiếp theo, đội thiết kị uy nghi, hùng tráng. Đi đầu là hai võ sĩ . Võ sĩ bên trái cầm cây cờ có hàng chữ Tả-kim-ngô đại tướng quân , Côi-sơn quốc công. Bên phải, một võ sĩ cầm cây cờ có hàng chữ Phụ-quốc Thái-úy Trần. Thủ-Huy, Đoan-Nghi đi dưới hai cây cờ đó. Thúy-Thúy với đội nữ binh, cận vệ đi sau. Tiếp theo, một đội nhạc hơn trăm người, rồi tới đội giáp sĩ, với những tấm bảng Tĩnh-túc, Hồi-tỵ. Long-Xưởng cỡi ngựa đi giữa. Chư đại thần các trấn theo sau.
Đoàn nghi trượng vừa vào trong thành, thì thân binh báo :
- Tăng tướng quân xin cáo với Thái-úy, đã chiếm hết các điện, phủ, dinh thự. Quân bao vây kín Hoàng-thành. Các quan cùng hai Thái-hậu đều ở điện Càn-nguyên, chờ Thái-tử giá lâm.
Thủ-Huy truyền lệnh:
- Người lui lại sau cáo với Thái-tử.
Thân binh vâng dạ, báo với Long-Xưởng. Long-Xưởng run lên, nghĩ thầm :
- Mình sắp thành con trời rồi đây.
Tay run run Long-Xưởng ban chỉ :
- Cấm quân, thị vệ đã không có ý chống lại, thì nhị đệ truyền cho chư quân ra đóng ở ngoài thành. Chỉ giữ lại hai đội võ sĩ Long-biên, Côi-sơn thôi.
Thủ-Huy nói nhỏ :
- Trong lúc hỗn độn này, ta cho quân giết sạch bọn gian thần đi, để trừ hậu hoạn.
Long-Xưởng chửi thầm :
- Cái tên Thủ-Huy này ngu như lợn. Ta đang cần bọn văn quan để hạ y, mà y cứ xúi ta giết chúng, thì đời nào ta làm nhỉ ?
Nghĩ vậy Long-Xưởng gắt :
- Nhị đệ hãy tuân chỉ ngay. Nếu như thị vệ, cấm quân chống lại, thì trong lúc sát phạt ta có thể giết chúng, rồi đổ lỗi cho cuộc hỗn loạn. Nay, thị vệ, cấm quân đã buông giáo, ta giết chúng thì khi lên ngôi vua, ta sẽ nói sao với trăm họ ?
Thủ-Huy đành ban lệnh rút quân. Nhưng công cũng để một đội cung thủ canh phòng các điện.
Dân chúng hiếu kỳ xếp hàng hai bên đường xem quan quân trẩy đi. Thình lình một người già, râu tóc bạc phơ tiến ra nắm lấy giây cương ngựa của Long-Xưởng, tả hữu quát mắng đuổi đi. Long-Xưởng vẫy tay ra lệnh để xem lão làm gì. Rồi hỏi :
- Tiên sinh đón đường cô gia có việc chi oan ức chăng ?
- Người có phải là Bảo-Quốc vương, con của Anh-tông hoàng đế không ?
- Đúng vậy.
- Hoàng đế mới băng hà, thân thể chưa nguội, mà hoàng tử lại đem đại quân về Thăng-long là ý gì vậy ?
- Vì bọn gian thần tặc tử dàn thị vệ, cấm quân ra không cho chư vương cùng đại thần vào chịu tang, nên cô gia phải mang quân về dẹp.
- Dẹp loạn ư ? Các đại thần thể theo di chiếu, lập Thái-tử Long-Trát lên làm vua, tôn hiệu là Trinh-phù hoàng đế. Việc làm của họ theo đúng luật pháp, đạo lý, mà bảo rằng họ làm loạn ư ?
Lão lùi lại, rồi chỉ vào mặt Long-Xưởng hét lớn :
- Người đã bị truất ngôi Thái-tử, giáng xuống làm Bảo-Quốc vương. Trong di chiếu năm trước đã kể rõ tội người : Bất trung, bất hiếu, tham dâm ; cưỡng dâm sủng phi của phụ hoàng, giết thái giám, cung nga. Một người như vậy mà đòi lên ngôi Cửu-ngũ ư ?
Thân-binh tuốt gươm định chém lão, thì Long-Xưỡng vẫy tay, ra hiệu để cho lão nói.
Lão cười sằng sặc :
- Người ta đồn hoàng tử Long-Xưởng là người anh hùng đời nay, lại trông rộng, nhìn xa, minh mẫn bậc nhất trong các hoàng tử. Nhưng trong con mắt ta, thì người là đứa con đại bất hiếu. Người toan cưỡng dâm Tuyên-phi của cha, không được, người giết cung nga, thái giám để bịt miệng. Người không phải là anh hùng, mà là đứa con bất hiếu, bầy tôi bất trung, tham dâm, càn rỡ. Nay người mang đại quân về tranh ngôi với đứa em mới có ba tuổi. Dĩ nhiên là người sẽ lên ngôi vua. Hơĩ ơi ! Nhờ vua Ngọa-triều họ Lê mà nghiệp lớn về họ Lý. Nay có ông Long-Xưởng cũng giống như Ngọa-triều thì đất nước này lại đảo điên mất rồi ! Than ôi ! Ta biết rằng sau khi ta nói người sẽ giết ta. Ta...Ta quyết không để người giết đâu !
Thình lình lão rút con dao nhỏ đeo sau lưng tự đâm vào ngực mình. Lão ngã xuống, mắt trợn ngược, mà tay còn chỉ vào mặt Long-Xưởng :
- Tên gian thần tặc tử kia. Ta chết rồi, hồn sẽ biến thành quỷ, ngày đêm không cho mi yên. Mi còn tồi tệ hơn gã Ngọa-triều nữa.
Lão nghẹo đầu sang một bên, mà chết.
Long-Xưởng trầm ngâm không nói gì. Đào Như-Yên nói nhỏ :
- Thái-tử thấy chưa ? Hồi tiên đế ban chiếu truất Thái-tử, chiếu này được sao gửi khắp các thôn xã. Thôn xã sai mõ rao liên tiếp mấy tháng liền. Lão già này, chỉ là người tin vào di chiếu mà thôi. Thái tử chẳng nên bận tâm. Sau khi Thái-tử lên ngôi, giảm thuế, khuyến nông, làm cho dân chúng ấm no, thì tự nhiên cái nọc trên sẽ hết.
Đoàn nghi trượng tiến đến điện Càn-nguyên. Chư vương cũng đã tới. Giáp sĩ dàn ra hai bên. Long-Xưởng đi trước, kế đến ba vương, rồi tới Thủ-Huy, Đoan-Nghi.
Trong điện Càn-Nguyên, các quan văn võ đứng làm hai hàng. Chính giữa, đặt tử quan của Hoàng-đế. Phía sau tử quan là một bàn thờ bầy các mâm lễ vật. Phi, tần ngồi thành hàng năm sau bàn thờ. Bên trái tử cung, là chiếc ngai vàng của Hoàng đế, một đứa trẻ mặt nhợt nhạt ngồi trên, đưa con mắt lờ đờ nhìn mọi người. Đó chính là Long-Trát. Bên phải là Hoàng-hậu, Thục-phi Đỗ Thụy-Châu. Phía sau ngai, Đức-phi Đỗ Kim-Hằng ôm Kiến-Khang vương Long-Ích ; Hiền-phi Lê Mỹ-Nga bồng Kiến-Bình vương Long-Tường. Tô Hiến-Thành, Đỗ An-Di, Lý Kính-Tu thõng tay đứng hai bên ngai vàng.
Có tiếng lễ quan hô :
- Bảo-Quốc vương, Kiến-Ninh vương, Kiến-An vương, Kiến-Tĩnh vương, công-chúa Đoan-Nghi phò mã Trần Thủ-Huy bái kiến hoàng...
Tiếng thượng chưa ra khỏi miệng thì một mũi phi trùy từ ngoài điện xé gió bay vào, trúng giữa trán y. Đầu bị vỡ làm đôi y ngã vật xuống, máu lẫn với óc văng khắp điện.
Đoan-Nghi kinh hãi, vội lạng người ra ngoài, thì phía ngoài có hàng trăm binh sĩ dàn ra uy nghi. Công-chúa hỏi :
- Thích khách vừa giết người. Chư quân có thấy không ?
Quân sĩ đều trả lời không. Đoan-Nghi vào trong điện, một thị vệ trình lên Long-Xưởng mũi phi trùy. Trên mũi phi trùy có khắc hình hai con chim ưng bay qua ngọn núi. Người người đều xanh mặt, thốt lên :
- Côi sơn song ưng !
Thủ-Huy, Đoan-Nghi biết đó là thủ đoạn của Phùng Tá-Chu với Kim-Ngân, để trừng phạt tên lễ quan, coi Long-Trát là vua, còn Long-Xưởng chỉ là Bảo-Quốc vương.
Hình-bộ thượng thư Trần Trung-Tá lĩnh Ngự-sử đại phu bước ra hỏi Thủ-Huy :
- Hồi tiên đế còn tại thế, người đãi phò mã không bạc. Thế sao nay người mới băng, long thể chưa lạnh. Aáu quân mới kế vị. Phò mã đã đem đại quân về như có ý uy hiếp. Phò mã vào điện này, chưa bái kiến mà đã giết lễ quan để ra oai đó sao ?
Thủ-Huy nghĩ rất nhanh : Ta hiện đang cầm đại quân. Quân bao vây phía ngoài, mà tên này dám xung chàng với ta thì y đã có chủ tâm từ trước. Đây chắc là mưu của bọn Đỗ An-Di. Công cười nhạt :
- Quan Ngự-sử sao nói ngoa vậy ? Người ra tay chính là Côi-sơn song ưng, đâu phải tôi ?
- Này Trần phò mã. Xưa kia Tấn Linh-Công định giết tể tướng Triệu Thuẫn. Triệu bỏ trốn. Khi Triệu chưa ra khỏi nước, thì Linh-Công bị giết. Triệu trở về lập ấu quân lên ngôi. Một hôm Triệu đến tòa Thiên-văn xem các thẻ tre, có ý muốn biết quan Thái-sử tên Đổng Hồ chép biến cố vừa qua ra sao. Triệu giật mình khi trên thẻ tre ghi « Ngày...tháng... năm... Triệu Thuẫn thí vua ». Triệu Thuẫn ngạc nhiên hỏi Đổng Hồ : Ta đâu có thí vua, khi vua bị thí ta không có mặt ở đây mà. Đổng Hồ thưa : Ngài là Tể-tướng, khi vua bị giết, Tể-tướng chưa ra khỏi nước. Nay Tể-tướng trở về cầm quyền, mà không trừng trị kẻ thí vua, thì rõ ràng là Tể-tướng thí chúa rồi. Triệu Thuẫn trở về đem kẻ thí vua ra giết. Mấy hôm sau, Triệu sang tòa Thiên-văn xem các thẻ tre, thì thấy không đổi. Triệu hỏi Đổng Hồ : Ta đã giết đứa thí chúa rồi, mà sao người chưa chịu chép lại. Bộ người chê gươm ta không sắc sao ? Đổng Hồ trả lời : Đúng ra thì ngài không giết kẻ thí chúa. Ngài chỉ giết y khi đọc những giòng này. Như vậy ngài còn chối vào đâu ?
Thủ-Huy bực mình :
- Chuyện xưa với nay không ăn nhập gì với nhau.
- Phò mã có phải là Thái-úy, cầm binh quyền trong tay không ? Phò mã đem quân nghiêng nước về Thăng-long. Trong, ngoài thành đến con chim cũng không bay lọt vào được, mà có người giết lễ quan. Vậy thì không phải phò mã thì là ai. Tôi chỉ là một Ngự-sử đại...
Tiếng phu chưa ra khỏi miệng, thì một vật to bằng quả dưa bay rất chậm, nhưng quay rất nhanh, phát ra tiếng kêu veo véo, hướng người Trung-Tá. Y đưa hai tay gạt, thì vật đó nằm gọn trong tay y. Đó là một cái túi. Y mở túi lấy vật ra, chân tay y run lẩy bẩy, rồi thét lên. Nguyên vật trong túi là cái đầu lâu mẹ y. Trên đỉnh đầu có cắm một mũi tên, chuôi khắc hình hai con chim ưng bay qua ngọn núi.
Các quan đều kinh hoàng :
- Côi-sơn song ưng.
Chân tay run lẩy bẩy, Tô Hiến-Thành nói lớn :
- Kính thỉnh Minh-Chiếu thái hoàng thái hậu, cùng Minh-Đạo vương giá lâm.
Không có tiếng trả lời.
Long-Xưởng hô các em, chư quan hành lễ trước tử cung, mẫu hậu.
Lễ tất.
Kiến-Ninh vương lên tiếng :
- Sáng qua, khi cảm thấy long thể bất an, phụ hoàng đã sai quan Tham-tri chính sự Vũ Tán-Đường triệu hồi thái-tử về để ủy thác việc lớn. Không ngờ sau đó phụ hoàng băng. Đáng lẽ các quan phải đợi Thái-tử về để cử ai, rồi lên ngôi cửu ngũ. Thế mà các người lại làm chuyện bạo thiên, nghịch địa, tôn đứa em út của ta lên ngôi, rồi làm lễ cử ai. Tội trạng các người còn nặng hơn, khi ra lệnh đóng cửa thành ! Ai là người chủ trương việc này ?
Hầu hết các quan văn, võ đều đưa mắt nhìn Tô Hiến-Thành. Hiến-Thành thì lại nhìn Đỗ An-Di, Ngô Lý-Tín, Phí Công-Tín.
Long-Xưởng hướng Hoàng-hậu :
- Tâu mẫu hậu sự việc ra sao. Xin mẫu hậu cho thần nhi rõ.
Hoàng-hậu bật lên tiếng khóc, rồi bà chỉ vào Đỗ An-Di :
- Khi phụ hoàng băng, thì cạnh long-sàng chỉ có ta, Thần-phi, Thái-sư Tô Hiến-Thành. Ta tuyên chỉ cho Thái-sư đóng các cổng thành, chờ hoàng nhi về. Thái-sư tuân chỉ trở ra, lát sau người dẫn Thục-phi bồng Long-Trát, cùng Tể-tướng Đỗ An-Di, Thái-bảo Phí Công-Tín, Thái-phó Ngô Lý-Tín, Thiếu-bảo Ngô Nghĩa-Hòa, Thái-tử Thái-phó Lý Kính-Tu, Hình-bộ thượng thư Trần Trung-Tá, Công-bộ thượng thư Bùi Kinh-An, Hộ bộ thượng thư Đàm Dĩ-Mông. Các quan đều hỏi rằng di chúc cuối cùng của phụ hoàng là gì. Thì ta cho biết, người sai quan Tham-tri chính sự lên đường triệu hồi Long-Xưởng về để ủy thác việc lớn.
Bà chỉ tay vào mặt Đỗ An-Di :
- Đỗ Tể-tướng xuất hai tờ chỉ dụ xưa ra, rồi nói lớn : Như vậy là ý Hoàng-thượng muốn truyền ngôi cho Thái-tử Long-Trát, ngặt vì Thái-tử tuổi còn thơ, nên người sai Vũ Tán-Đường triệu Bảo-Quốc vương về ủy thác việc lớn, tức phụ chính. Nước một ngày không thể không vua. Vậy bây giờ chúng ta hãy tôn Thái-tử Long-Trát lên ngôi vua đã. Ta nhắc lại rằng việc ban chỉ truất phế Long-Xưởng là không do ý phụ hoàng, mà do bọn Vương Cương-Trung ép buộc. Khi phò mã đem quân về cứu giá, phụ hoàng trân trọng nhắc lại rằng Long-Xưởng vẫn là Thái-tử. Đông-cung triều vẫn còn.
Hoàng-hậu chỉ Trần Trung-Tá :
- Quan Hình-bộ thượng thư không coi lời ta vào đâu. Người hỏi ý kiến các quan, thì ai nấy đều nói, khẩu thiệt vô bằng. Hai tờ di chỉ kia mới có giá trị. Rồi Tô Thái-sư còn thêm : Sau biến cố Vương Cương-Trung, người có mật tấu với phụ hoàng, xin ban chiếu phục hồi ngôi vị cho Bảo-Quốc vương. Thì phụ hoàng ban mật chỉ rằng : Khi ban chiếu, trẫm đã thống mạ Xưởng nhi quá thậm, chỉ đó lại gửi đi khắp nơi. Trăm họ đều nguyền rủa Xưởng là đứa con bất hiếu, thần bất trung, tham dâm, hiếu sắc. Bây giờ có ban chỉ phục hồi, thì liệu sau này Xưởng nhi có còn danh dự làm vua không ?
Hoàng-hậu lắc đầu rùng mình :
- Rồi họ cùng tôn Long-Trát lên ngôi, cho cử ai, sai thị vệ, cấm quân phong tỏa kinh thành.
Hậu đưa tờ chiếu tôn Long-Trát lên làm vua, trong đó có chữ ký của hầu hết các đại thần, chỉ thiếu chữ ký của Bùi Kinh-An. Phía hậu cung chỉ có chữ ký duy nhất của Thục-phi Đỗ Thụy-Châu. Không thấy chữ ký của Hoàng-hậu, Thần-phi Bùi Chiêu-Dương, Quý-phi Hoàng Ngân-Hoa, Đức-phi Đỗ Kim-Hằng, Hiền-phi Lê Mỹ-Nga.
Kiến-Ninh vương chỉ mặt Đỗ An-Di :
- Chính phạm là tên này, hãy bước ra đây.
An-Di còn trù trừ, vương vẫy tay một cái, ra chiêu Cầm-long trảo. An-Di không tự chủ được lảo đảo bước ra. Vương phất nhẹ một chỉ, trúng đầu gối y. Y ngã xuống trong tư thế như quỳ gối trước Long-Xưởng.
Vương hướng Tô Hiến-Thành định lôi y ra khỏi chỗ đứng, thì y lớn tiếng :
- Các vị đồng liêu, các vị đã cùng lão phu chiếu di chỉ của tiên đế, mà lập tân quân lên ngôi, đó là điều mà tôi trung nên hãnh diện. Nay các hoàng tử, phò mã, công chúa đem quân về làm loạn, thì chúng ta cùng lấy cái chết để đền ơn tri ngộï của tiên đế. Các vị hãy bước ra cùng lão phu nhận lĩnh cái chết, để theo tiên đế xuống Cửu-tuyền.
Nói rồi lão bước ra quỳ gối trước tử quan.
Ngô Lý-Tín nghĩ ngợi một lát, rồi cũng bước ra theo. Các đại thần khác tuần tự quỳ trước tử quan là Phí Công-Tín, Ngô Nghĩa-Hòa, Đàm Dĩ-Mông... trước sau hơn bẩy chục người.
Kiến-Ninh vương hô lớn :
- Võ sĩ đâu, đem bọn này ra bờ sông Hồng, xử tử tận số. Lại đem quân bắt tất cả gia thuộc chúng. Trai từ mười lăm trở lên thì đầy lên Bắc-cương làm phu chăn ngựa. Đàn bà từ mười ba tuổi trở lên, đem cho binh sĩ xa nhà giải khuây.
Tuyên-phi Đỗ Thụy-Châu, bế Long-Trát ra trước tử cung, quỳ xuống, rồi rập đầu khóc :
- Hoàng-đế bệ hạ. Các đại thần đây đều vì lòng trung, thi hành di chiếu của bệ hạ, mà hôm nay bản thân bị giết. Gia đình gặp tai kiếp. Long-Xưởng, Long-Minh, Long-Đức, Long-Hòa, Đoan-Nghi, Thủ-Huy đem quân làm loạn, giết cố mệnh đại thần, thì trước sau gì chúng cũng giết ấu quân với thiếp. Vậy thiếp cùng ấu quân xin chết trước tử cung.
Nói dứt phi rút trong bọc ra con dao, rồi dơ lên đâm vào ngực Long-Trát. Đoan-Nghi lật tay một cái đã đoạt được con dao.
Hoàng-hậu chuyển động thân mình, đã đoạt được Long-Trát trên tay Thục-phi. Thuận tay hậu điểm huyệt Thụy-Châu.
Kiến-Ninh vương chỉ Long-Trát :
- Phi không thể, không nên ngoa ngôn xảo ngữ trước tử quan. Thằng nhỏ này, là con của Vân-Đài Vương Thụy-Hương với Mạc Hiển-Tích. Mà Tích là con Thái-tử Kinh của Khâm-tông nhà Tống. Nó không thể làm vua, cũng không thể chết ngay. Đợi mọi việc xong xuôi sẽ đem Mạc Hiển-Tích với nó trả cho Tống triều.
Võ sĩ điệu hơn mười quan bậc trung ra khỏi điện. Khi họ vừa xuống thềm, thì lấp loáng ánh thép từ vườn hoa bay lại. Bốn trong số mười người bị phi tiễn cắm vào giữa trán, ngã vật xuống. Các mũi tên đều khắc hình hai con chim ưng bay qua ngọn núi.
Thiên-tử binh nhanh chóng bao vây lấy khu vườn, nơi phát xuất ra các mũi phi trùy. Họ tìm ra ngay hai người, một nam, một nữ. Nam trong lớp y phục thị vệ. Nữ trong lớp y phuc cung nga. Cả hai đang núp trong bụi hoa, cùng tung người định chạy. Nhưng mười cung thủ chĩa vào hai người, chỉ chờ lệnh là buông tên. Nhìn thân pháp hai người này, Thủ-Huy đưa mắt cho Kiến-Ninh vương, anh em cùng nghĩ như nhau : Coi thân pháp của chúng, thì sát nhân không phải người của phái Đông-a. Vụ ra tay này không liên quan tới Kim-Ngân, Tá-Chu.
Viên tốt trưởng hô :
- Hãy bước ra ngay.
Ả cung nữ cười nhạt :
- Ra thì ra, chứ ta há sợ bọn bay ư ?
Gã thị vệ vỗ tay vào ngực một cái, bụi trắng bay ra mịt mờ. Mười cung thủ hít phải, ngã lổng chổng. Trong khi cặp nam nữ tung mình chạy. Nhưng khi vừa rời khỏi khu vườn hoa, thì hai bóng xanh xẹt tới nhanh không thể tưởng tượng được. Gã thị vệ, ả cung nữ suýt nữa đâm xầm vào hai người này. Cả hai kinh hoảng, vội lộn liền hai vòng trở lại sau. Nhưng khi hai người lộn, thì hai bóng xanh di chuyển theo như bóng với hình. Quá kinh hãi, hai người hét lên be be, rồi lộn liền bốn vòng nữa. Thế là thủy chung hai người lại trở về bụi hoa. Bốn người, kẻ tránh, người truy quá nhanh, không ai nhìn rõ hai bóng xanh là ai. Bây giờ họ mới nhìn ra, hai người quần áo xanh là Phùng Tá-Chu và Trần Kim-Ngân.
Thủ-Huy cùng Đoan-Nghi vận công hút độc. Mười cung thủ tỉnh dậy liền. Họ lại dương cung, chĩa vào hai sát nhân bịt mặt.
Tên thị vệ bịt mặt quát lên :
- Các người ra tay đánh trộm. Ta không phục.
Kim-Ngân cười nhạt :
- Phục hay không, ta cũng không cần lý tới. Các người là ai, mà lại mạo danh Côi-sơn song ưng, làm càn ? Các người có bỏ khăn bịt mặt ra không ?
Tên thị vệ bịt mặt tỏ vẻ coi thường Kim-Ngân :
- Ta không phải là Côi-sơn song ưng, thì cũng là đệ tử của người. Chúng ta đến đây để tru diệt bọn gian thần tặc tử.
Kiến-Ninh vương bước ra, tay chỉ vào Tá-Chu vơí Kim-Ngân, vương mắng hai sát nhân :
- Người nói láo vừa thôi nhé. Người bảo người là đệ tử của Song-ưng, sao người không biết hai vị này ? Ta muốn các người mở khăn bịt mặt ra cho mọi người thấy các người là ai ?
Ả cung nữ, gã thị vệ cười gằn, cả hai hú lên một tiếng, rồi phát chưởng tấn công. Chưởng phong phát ra rất êm đềm trong chưởng có hàn khí lẫn mùi hôi tanh. Tá-Chu, Kim-Ngân cùng nhảy lùi lại tránh. Tay phát hai chiêu Đông-a chưởng đỡ. Bình, bình hai tiếng, chưởng phong làm khăn bịt mặt hai sát nhân bị rách thành nhiều mảnh, bay tung ra như bươm bướm.
Đoan-Nghi kêu lên :
- Huyền-âm chưởng của phái Trường-bạch. Phải cẩn thận.
Bấy giờ mọi người mới nhận ra, tên giả làm thị vệ là Đỗ Anh-Hào, con của Đỗ Anh-Vũ, và Cảm-Thánh hoàng thái hậu. Còn cung nữ là Cảm-Chi, một trong Tô-lịch nhị tiên.
Có tiếng nhã nhạc vọng lại : Từ cửa Quảng-phúc, một chiếc xe bốn ngựa kéo đang tiến tới. Trước xe, một người thân thể hùng vĩ, cỡi ngựa dẫn đầu. Y đeo mặt nạ da người. Bọn Long-Xưởng nhận ra, y chính là Mao Khiêm. Hai bên xe, một đội giáp sĩ mười tám người, chia làm hai hàng, mỗi hàng chín người. Hai đội giáp sĩ dẫn đầu bởi Vương Nhất, Cao Nhị trong Nùng-sơn tam anh. Phía sau xe, còn có hai mươi bốn cung nữ tấu nhạc.
Vương Nhất hô lớn :
- Thánh giá Thái hậu giá lâm !
Tiếng Vương Nhất vang đi rất xa, mọi người đều hướng mắt nhìn. Lợi dụng Tá-Chu, Kim-Ngân phân tâm, Anh-Hào, Cảm-Chi tung người ra khỏi vòng vây, chạy lại phía chiếc xe của Cảm-Thánh thái hậu.
Vừa thấy Phùng Tá-Chu, Cảm-Thánh thái hậu bàng hoàng nhớ lại lần đầu tiên gặp thiếu niên này trong điện Uy-viễn mấy năm trước. Bấy giờ tuy bên cạnh có Lưu Kỳ, nhưng trong lòng bà nổi lên một cơn giông tố : Hỡi ơi ! Thiếu niên này là ai ? Phải chi ta được nằm trong lòng y một đêm thì dù có chết cũng không ân hận. Thế rồi, trong suốt mấy năm qua ; lúc nào bà cũng mơ màng được gặp lại thiếu niên này. Bây giờ, Tá-Chu đã lớn lên, trở thành một thanh niên hùng vĩ, như cây ngọc trước gió. Không cầm lòng được, bà vẫy tay gọi :
- Phùng lang ! Phùng lang lại đây ! Ta có mấy lời muốn nói với Phùng lang.
Tá-Chu nào hiểu tâm sự bà, chàng vẫn đứng xa xa mỉm cười. Vì chàng được lệnh nhạc phụ Trần Tự-Hấp, đi cùng vợ là Kim-Ngân về đây bảo vệ Thủ-Huy mà thôi.
Long-Xưởng dặn Thủ-Huy :
- Thái-hậu trở về lúc này, ắt có điều bất lợi cho ta. Vậy nhị đệ với Đoan-Nghi ở ngoài dàn quân đề phòng. Còn ta, ta phải vào bái kiến người cho đúng đạo lý.
Thủ-Huy cầm tay Long-Xưởng :
- Đại ca ! Sự đã đến như thế này, thì ta đành xua quân, giết hết bọn gian thần, rồi đại ca lên ngôi vua. Ta không thể để chúng cù nhầy mãi thế này được.
Long-Xưởng bực mình :
- Nhị đệ cũng như Kiến-Ninh, cứ mở miệng ra là đòi giết người. Ta thà không làm vua, chứ không muốn đâm chém như phường trộm cướp. Nhị đệ cứ ở ngoài này. Khoan khoan ! Hãy đợi xem Thái-hậu định làm gì đã.
Nói dứt, Long-Xưởng cùng các em vào trong điện, dàn hai bên tử quan.
Mao Khiêm lại hô lớn :
- Thánh giá Thái-hậu giá lâm.
Xe đậu trước điện Càn-nguyên. Cảm-Thánh hoàng thái hậu bước xuống xe, vào trong điện.
Chiêu-Linh hoàng hậu bảo Long-Xưởng :
- Bề gì thái-hậu cũng là bà nội của con. Con không thể thiếu lễ với người.
Nói rồi Hoàng-hậu quỳ gối :
- Bái kiến Thái-hậu.
Các bà phi của vua Anh-tông quỳ gối theo. Long-Xưởng cùng các thân vương cũng phải xuống gối. Cảm-Thánh thái hậu ngồi lên ngai vàng. Bọn Mao Khiêm, Nùng-sơn tam anh, Tô-lịch nhị tiên buông hai tay, đứng hầu hai bên.
Nhìn xác chết của đại thần nằm chèo queo trước ngai vàng, thái-hậu hỏi :
- Ai là người đứng chủ tang ở đây ?
- Tâu là thần nhi.
Long-Xưởng trả lời :
- Thần nhi xin vấn an Thái-hậu.
Cảm-Thánh thái-hậu quắc mắt nhìn Long-Xưởng :
- Đại phàm khi một Hoàng-đế băng hà, thì tân quân mới là người chủ tang. Mi là một đứa con bất hiếu, một bầy tôi bất trung, tham dâm, hiếu sắc, cưỡng bức sủng phi của cha, đã bị truất phế. Chính phụ hoàng của mi đã ban chỉ xuống từng thôn xã như vậy. Sĩ dân trong nước đều biết, mi không có tư cách nối ngôi vua, thì sao có thể làm chủ tang ?
Bà chỉ vào xác đại thần nằm trong điện, bốn xác khác nằm ngoài điện :
- Huống chi, cha vừa chết, mi đã cùng các em đem quân về đây, rồi ra tay giết hại công thần ; thì mi là loài cầm thú, chứ không còn là con người nữa. Mi hãy lùi khỏi đây ngay.
Kiến-Ninh vương chỉ Đỗ Anh-Hào, Cảm-Chi :
- Tâu tổ mẫu, kẻ phóng phi trùy giết đại thần là hai người này. Trong hai người, thì một người là con tư sinh của tổ mẫu với Đỗ Anh-Vũ ; còn một người là cháu của tổ mẫu. Tất cả mọi người hiện diện đều trông thấy, chứ không phải mình thần nhi.
- À, thì ra thế. Ôi !
Đó là hiệu lệnh của Thái-hậu. Bọn Mao Khiêm, Nùng-sơn tam anh, Tô-lịch nhị tiên cùng xuất thủ. Hoàng-hậu, Bùi Thần-phi, Kiến-Ninh, Kiến-An, Kiến-Tĩnh vương bị kiềm chế, bị điểm huyệt, đẩy ngồi xuống trước ngai vàng. Võ công Hoàng-hậu với các vương so với bọn chúng tuy có thấp hơn một bậc, nhưng không đến nỗi một chiêu đã bị kiềm chế ngay. Nhưng, một là chúng ra tay nhanh không thể tưởng tượng nổi. Hai là chúng đứng ngay cạnh, hoàng-hậu với các vương không đề phòng. Chỉ có Long-Xưởng đứng hơi xa, vương nhảy lùi lại ba bốn bước, mới tránh khỏi thế chụp của Vương Nhất.
Ngoài điện, Thủ-Huy nhìn rất rõ, công hô lên một tiếng, đoàn võ sĩ Long-biên cùng tràn vào điện. Tăng Khoa hô lớn :
- Các người đầu hàng ngay, bằng không ta ra lệnh buông tên !
Mao Khiêm đưa mắt nhìn Cảm-Thánh thái hậu như hỏi ý kiến. Thái-hậu hất hàm hỏi Long-Xưởng :
- Mi có mau ra lệnh cho bọn cung thủ lùi khỏi đây không ?
Long-Xưởng còn ngần ngừ, thì bọn Nùng-sơn tam anh, Tô-lịch nhị tiên cùng để tay lên đầu Hoàng-hậu, Thần-phi, Tam-vương.
Mao Khiêm cười nhạt :
- Tôi hô ba tiếng, mà Bảo-Quốc vương không chịu ra lệnh cho cung thủ lùi khỏi đây, thì năm đứa này sẽ nhả nội lực. Năm cái đầu sẽ vỡ nát ra. Muôn nghìn năm sau sử sách còn ghi : Thời này, tháng này, năm này, có tên ác nhân Lý Long-Xưởng, là đứa bất hiếu, cưỡng dâm sủng phi của cha, giết mẹ, giết các em.
Long-Xưởng đưa mắt cho Tăng Khoa :
- Cung thủ lùi ra khỏi đây ngay.
Tăng Khoa chán ngán, nghĩ thầm :
- Nếu như ta hô một tiếng, thì mọi chuyện êm đẹp ngay. Trật tự vãn hồi. Đại ca sẽ lên ngôi vua. Nhưng giữa mẹ con, bà cháu, anh em của người, mà ta làm bướng, thì sau này tuy có lên ngôi vua, Long-Xưởng cũng giết ta để tránh cái tội giết bà, giết em. Còn như Long-Xưởng bị hại, thì đương nhiên ta cũng bị họa sát thân. Thôi đành...
Tăng Khoa ra lệnh cho cung thủ rời khỏi điện.
Cảm-Thánh thái hậu cười nhạt :
- Ta về đây để định người kế vị con ta.
Bà hất hàm hỏi Long-Xưởng :
- Ta hỏi mi, tỷ như không có hai tờ di chiếu truất phế mi, lập Long-Trát; ngược lại có di chiếu lập mi kế vị... thì ta là đích mẫu của Anh-tông, ta vẫn có quyền hủy bỏ di chiếu, rồi truất phế mi, lập Long-Trát lên ngôi. Có đúng thế không?
- Tâu tổ mẫu đúng. Nhưng...
- Không nhưng gì cả !
- Dù cho có di chiếu lập mi lên kế vị. Nhưng khi trăm quan đã biết mi là đứa bất trung, bất hiếu, truất phế mi, tôn Long-Trát lên ngôi, thì cũng hợp đạo lý kia mà ? Mi có nhớ Chu-công đã truất phế một ông hôn quân, lập một minh quân lên, đời sau hết sức ca tụng việc này của Chu-Công không ? Mi đọc sách, mi phải biết chuyện đó.
Bà chỉ vào Long-Trát hỏi lại Long-Xưởng :
- Vậy mi còn chờ gì mà không quỳ gối khấu đầu trước Trinh-Phù hoàng đế ?
- Tâu Tổ-mẫu...
Thấp thoáng một cái, Mao Khiêm đã phóng chỉ điểm huyệt Long-Xưởng, vương phi Trang-Hòa rồi đặt ngồi dưới chân Cảm-Thánh thái hậu.
Vương Nhất, Cao Nhị rút kiếm dí vào cổ Long-Xưởng, Trang-Hòa. Cảm-Thánh thái hậu hỏi :
- Long-Xưởng, mi là cháu nội ta, nhưng dường như mi sinh ra chỉ để làm khắc tinh của đời ta. Bây giờ ta có hai con đường cho mi đi. Mi chọn lấy một.
Long-Xưởng quật cường :
- Xin tổ mẫu cứ ban chỉ.
Cảm-Thánh thái hậu đưa tờ biểu mà bọn Tô Hiến-Thành đã ký vào tôn Long-Trát lên làm vua :
- Một là mi phải ký vào tờ biểu này, rồi đem vợ con về Cổ-pháp sống, làm một anh nhà giầu, mũ ni che tai. Long-Trát sẽ ban chỉ gả Phùng Tá-Chu cho ta.
Nghe bà nội nói, mồ hôi Long-Xưởng vã ra. Vương hỏi :
- Còn con đường thứ nhì ?
- Ta ban chỉ chặt đầu mi. Nghìn năm sau, lịch sử còn chép : Tên phản loạn Long-Xưởng đem quân về Thăng-long mưu thí ấu quân, bị chặt đầu để nêu rõ tội.
Long-Xưởng cười nhạt :
- Thần nhi vì sự nghiệp của liệt tổ Đại-Việt, vì di chí của năm vị tiên đế, mưu cho dân giầu nước mạnh. Suốt mười mấy năm qua, thần nhi chưa từng làm một việc nào hại dân, hại nước cả.
- À, thì ra mày mới là người làm lợi dân, lợi nước. Vậy thì ai làm hư dân, hại nước ? Mày muốn nói bóng nói gió việc tao với Lưu tiết độ sứ hẳn ? Quân này to gan thực.
- Thần nhi không hề có ý đó. Ý đó là do tổ mẫu tự xét mình, rồi nói ra mà thôi. Thần nhi xin nhắc tổ mẫu rằng đức tổ khảo (chỉ vua Thần-tông) đãi tổ mẫu không bạc, thế mà tổ mẫu lại định đem giang sơn bốn nghìn năm của vua Hùng, vua An-Dương, vua Trưng ; sự nghiệp của các tiên đế nhà ta dâng cho Tống thì thực thần nhi không biết nói sao ? Thế còn con đường thứ ba ?
Cảm-Thánh thái hậu ghé miệng vào tai Long-Xưởng :
- Cái chuyện ta với Lưu Kỳ đó xưa rồi. Khi ta theo thằng Lưu Kỳ sang Tống, nó chê ta già, ngu dốt, nó bỏ rơi ta. Y nói nếu ta đoạt ngôi vua cho Long-Trát thì y sẽ bỏ hết bọn thê thiếp, mà chỉ sủng ái mình ta. Ta uất hận trở về đây...
Bà chỉ Phùng Tá-Chu :
- Nếu mi gả Tá-Chu cho ta, dĩ nhiên ta không cần tên Lưu Kỳ nữa, vĩnh viễn ta tha tội cho mi, rồi đưa mi lên làm vua.
Nghe bà nội nói, Long-Xưởng rúng động tâm can, vương lắc đầu :
- Việc đó thì thần nhi không thể làm được.
- Sao lại không được. Ngày trước vua Quang-Vũ nhà Hán ban chỉ gả cô của y cho Mã Vũ được, thì nay mi cũng ban chỉ gả ta cho Phùng Tá-Chu, hỏi ai dám chống ?
- Cô của vua Quang-Vũ là một khuê nữ. Còn tổ mẫu tuổi gần sáu mươi rồi, vị tới thái-hoàng thái hậu, ngồi trùm đầu trăm họ, mà đi tái giá với đứa trẻ con thì còn trời đất nào nữa ? Nếu tổ mẫu có giết thần nhi. Thần nhi xin ngửa cổ chịu chết, chứ thần nhi không thể tuân chỉ tổ mẫu.
- Vậy thì được !
Thái-hậu hất hàm cho Vương Nhất, Cao Nhị :
- Giết nó. Giết cả con vợ nó cho ta.
- Xin tuân chỉ.
Vương, Cao cùng rút kiếm vung lên.
Ầm một tiếng, nóc điện bị thủng, rồi một người đầu trùm kín, chỉ hở hai con mắt nhảy xuống như con đại bàng. Tay phải y ra chiêu Ưng-trảo chụp Long-Xưởng, tay trái y ra chiêu Hổ-trảo chụp vương phi Trang-Hòa. Vương Nhất, Cao Nhị vội chuyển kiếm hướng vào người bịt mặt. Người bịt mặt móc tay một cái, mấy tiếng lách, cách vang lên, hai thanh kiếm của Vương, Cao bị gãy làm nhiều mảnh văng vào chủ nhân của nó ; trong khi ông ta đã ra cửa điện. Vương, Cao lảo đảo bật lui đến bốn bước, lại bị mảnh kiếm xé gió bay tới. Cả hai phải nằm rạp xuống, rồi nhảy vọt lên như con cá mới đứng vững, khí huyết trong người đảo lộn cực kỳ khó chịu. Cả hai vận công đứng lại, rồi không giữ được, chúng ọe lên một tiếng, miệng thổ ra búng máu.
Diễn biến làm cho Thủ-Huy không thể bình tĩnh được nữa. Công ra lệnh cho đội võ sĩ Côi-sơn, Long-biên cùng tràn vào tám cửa điện. Long-Xưởng, Trang-Hòa vừa được giải huyệt, cả hai cùng lấy hai thanh kiếm của hai thị vệ đứng lược trận.
Mao Khiêm biết rằng mất con tin Long-Xưởng thì không thể uy hiếp võ sĩ được nữa. Y lách mình một cái tới cửa cung, rồi phát một chưởng cực kỳ hùng hậu hướng vương. Long-Xưởng nghiến răng phát chiêu Cửu-chân chưởng đỡ. Thủ-Huy đứng ngoài, công ước tính nếu để Long-Xưởng đỡ chưởng đó, thì sẽ nát thây ra mà chết. Công vội phát chiêu Đông-hải lưu phong đánh vào lưng Mao, để y phải bỏ Long-Xưởng quay lại đỡ chưởng của công. Ầm một tiếng, Thủ-Huy bị bật tung lại sau, tai phát ra tiếng vo vo không ngừng. Mao không để cho công lấy lại sức. Y tấn công liền hai chiêu, mạnh đến nghiêng trời lệch đất. Thấy chồng gặp nguy hiểm, công chúa Đoan-Nghi quát lên một tiếng, nàng rút kiếm đâm vào sau lưng Mao. Mao kinh hãi vội bỏ Thủ-Huy, y nhảy lùi lại sau. Y quơ tay một cái đã chụp được Đức-phi Đỗ Kim-Hằng đỡ chiêu kiếm. Đoan- Nghi không kịp thu chiêu, Đức-phi bị xả đứt làm hai đoạn.

Tuy thấy Đức-phi chết thảm, nhưng Đoan-Nghi, Thủ-Huy biết rằng hôm nay mà mình nới tay thì đại sự sẽ đổ nát hết. Cả hai ráo riết tấn công Mao Khiêm.
Vừa đấu với Mao, Thủ-Huy vừa quay lại nhìn : Tăng Khoa đang đứng chỉ huy bọn võ sĩ Côi-sơn giao chiến với đội cao thủ của Cảm-Thánh thái hậu. Tá-Chu tấn công Vương Nhất, Kim-Ngân tấn công Cao Nhị.
Người bịt mặt đứng lơ đãng quan sát trận đấu.
Gữa cảnh đâm chiếm hỗn độn như vậy mà Cảm-Thánh thái hậu cứ mở to mắt ra nhìn Tá-Chu. Trong tâm bà nảy ra một dục vọng âm thầm : Phải sai Mao-Khiêm bắt Tá-Chu cho mình, rồi đem đến một nơi vắng vẻ hưởng thanh phúc.
Khoảng hơn một khắc sau bọn võ sĩ của Cảm-Thánh thái hậu đã bị giết sạch. Thấy nguy, thái hậu hất hàm ra lệnh cho Đỗ Anh-Hào. Anh-Hào gọi Long-Xưởng :
- Long-Xưởng, người mau ra lệnh cho thủ hạ ngừng tay ! Bằng không ta giết ba tên này.
Long-Xưởng đưa mắt nhìn : Anh-Hào dí kiếm vào cổ Kiến-An vương, còn Cảm-Linh dí kiếm vào cổ Kiến-Ninh vương, Cảm-Chi dí kiếm vào cổ Kiến-Tĩnh vương. Vương nghĩ thầm :
- Cục diện ở đây coi như xong. Ba đứa em nguy hiểm mà ta không biết trừ bằng cách nào. Bây giờ, ta mượn tay thái hậu trừ chúng dùm ta. Ta khỏi mong tiếng ác.
Anh-Hào lại nói lớn :
- Long-Xưởng ! Ta hô ba tiếng mà người không ra lệnh cho thủ hạ ngừng tay, thì đừng trách chúng ta tàn ác.
Long-Xưởng vẫn thản nhiên đứng lược trận : Tá-Chu, Kim-Ngân đang tấn công tới tấp, khiến Vương Nhất, Cao Nhị cứ phải lùi hoài. Còn Thủ-Huy, Đoan-Nghi đấu với Mao Khiêm có phần thắng thế.
Anh-Hào hô :
- Một !
Long-Xưởng nói với thái-hậu :
- Hổ báo cũng không nỡ ăn thịt con. Thái hậu nỡ để cho Anh-Hào giết cháu nội mình ư
Nhưng thái-hậu nào có nghe thấy gì . Bà để hết tâm trí vào Tá-Chu, mắt không chớp.
Anh-Hào hô lớn :
- Hai !
- Ba !
Chán đời đi lang thang !
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-03-28 22:53:57NuHiepDeThuong>
Hồi thứ hai mươi lăm

Khi vui muốn khóc,
buồn tênh lại cười.



Anh-Hào hỏi Thái-hậu :
- Có giết chúng không ?
Thái-hậu đang để hết tinh thần nhìn cuộc đấu giữa Tá-Chu với Vương Nhất. Bà đâu có nghe thấy Anh-Hào nói gì ? Giữa lúc Anh-Hào thỉnh mệnh bà thì Tá-Chu đang đánh một chiêu xuống đỉnh đầu Vương Nhất, bà mong cho chưởng đó Tá-Chu giết chết đối thủ. Bị kích động bà hô :
- Giết !
Anh-Hào, cùng Cảm-Linh, Cảm-Chi tưởng Thái-hậu ban chỉ xử tử ba vương. Cả ba người đồng xuống tay. Ba vương Kiến-Ninh, Kiến-An Kiến-Tĩnh bị chặt làm hai khúc.
Bọn võ sĩ Long-biên trước đây từng là thủ hạ của Kiến-An vương. Vương đối xử với họ bằng tất cả tình anh em ruột thịt. Bây giờ thấy vương chết thảm, họ cùng thét lên rồi buông tên : Anh-Hào, Tô-lịch nhị tiên bị tên ghim vào người như con nhím. Cả ba cùng ngã vật xuống. Đám võ sĩ như người hóa khùng, họ băm ba người ra như băm chả.
Long-Xưởng vừa mừng, vừa sợ, vương quát lên :
- Ngừng tay !
Thủ-Huy, Đoan-Nghi, Tá-Chu cùng nhảy lùi lại.
Trong điện Càn-nguyên, xác chết, máu óc bầy nhầy khắp nơi.
Người bịt mặt chỉ vào mặt Cảm-Thánh thái hậu, với bọn Mao Khiêm cất tiếng nói :
- Chúng ta là võ lâm dân dã Đại-Việt. Chúng ta không can thiệp vào việc triều đình. Than ôi ! Từ khi vua Thái-tổ lập nền chính thống đến giờ, triều đại Tiêu-sơn được sĩ dân tuân phục, vì đem đức từ bi, hỷ xả của đức Thế-tôn cai trị thiên ha, triều đình luôn làm gương về đạo đức cho trăm họ quy phục. Nhưng nay thì không thế nữa, trăm họ đều chán nản. Chúng nhân than : Họ Lý làm vua, hay họ khác làm vua cũng thế thôi. Này nhé, trên cao nhất thì Thái-hậu chửa hoang, Hoàng-đế có em cùng mẹ khác cha. Ôi còn gì dơ bẩn hơn nữa không ? Bây giờ, bà ra lệnh cho chú giết cháu, cốt nhục tương tàn. Đạo lý tộc Việt suy đồi ! Chúng ta không cần biết tới triều đình ! Chúng ta phải thế thiên hành đạo.
Ông chỉ vào Vương Nhất, Cao Nhị :
- Hai tên hại nước kia. Đối với bọn mi, ta chỉ đánh ba chiêu. Nếu sau ba chiêu mà bọn mi còn sống thì ta sẽ đưa bọn mi rời khỏi đây.
Nói dứt, ông phát chiêu tấn công Vương Nhất, Cao Nhị. Chưởng phong cực kỳ hùng hậu mà trọn đời Long-Xưởng chưa từng thấy. Trong chưởng cương, nhu hòa hợp, sát thủ cực kỳ ác liệt. Chưởng này mạnh hơn chưởng của Vương Cương-Trung, Minh-Đạo đại vương nhiều. Vương, Cao kinh hãi, cùng xuất chiêu đỡ. Bùng, bùng ! Cả hai bật tung vào cột đá trong điện, người vỡ làm năm sáu mảnh, ruột gan văng khắp điện.
Người bịt mặt chỉ tay vào mặt Cảm-Thánh thái hậu :
- Con mụ dâm đãng cùng cực kia ! Mi thực là một đứa ác đầy trời đất. Mi tư thông với ác nhân Đỗ Anh-Vũ, giết hại không biết bao nhiêu người trong tông tộc họ Lý ! Mi hãm hại không biết bao nhiêu trung thần, chẳng qua chỉ để làm vui lòng y. Y chết, mi lại gian dâm với tên Lưu Kỳ, rồi định đem sự nghiệp của chồng, đất nước của liệt tổ Đại-Việt dâng cho Tống. Bây giờ mi già rồi, mà còn dâm đãng, mi muốn ngôi vua Đại-Việt sẽ truyền sang họ Triệu, để hy vọng tên Lưu Kỳ sẽ được Tống triều phong vương. Y sẽ trở lại với mi. Hôm nay ta phải giết mi.
Mao Khiêm kinh hãi. Y hú lên một tiếng dài rồi đánh liền ra hai chưởng vào bàn thờ, phẩm vật bay tứ tung khắp điện. Trong khi người người mải tránh né, thì y ôm lấy Cảm-Thánh thái hậu, tung mình chạy ra phía sau điện.
Tăng Khoa đã sai quân trói bọn văn quan phản nghịch, lùa ra trước điện, rồi dọn dẹp các xác chết, lau chùi sạch điện Càn-nguyên.
Long-Xưởng đứng chết lặng nhìn xác ba người em, trong lòng đầy hối hận :
"Tuy là anh em cùng cha, khác mẹ, nhưng trời sinh ra tính tình ta hợp với ba em. Hơn mười năm qua, ta cùng các em ngày đêm bên nhau, mưu cầu kiến tạo Đại-Việt thành một nước nước hùng mạnh. Nay đã đạt được chín phần mười, thì vì bảo vệ ngôi vua, bảo vệ tính mệnh, mà ta đẩy ba người em vào chỗ chết. Mà lại bị chính bà nội mình giết chết... Bà giết cháu chỉ vì muốn làm vừa lòng người tình nhân già Lưu Kỳ. Nhưng thực đúng ý ta".
Thủ-Huy gọi Trần Tử-Kim, trưởng đoàn võ sĩ Long-biên, chỉ bọn văn quan phản loạn :
- Đô thống đem bọn này ra chợ Tây-nhai chặt đầu, rồi bêu khắp nơi cho dân chúng xem.
Công gọi Tăng Quốc :
- Tướng quân điều động thị vệ bao vây phủ đệ tất cả bọn quan lại phản loạn, niêm phong tài sản. Bất kể già, trẻ, lớn bé, đều giam vào ngục, chờ xét xử.
Tăng Khoa gọi Như-Như, rồi chỉ vào Thục-phi Đỗ Thụy-Châu :
- Người này can tội khi quân. Y thị không có thai, mà nói rằng có thai. Lại lấy con của Vương Thụy-Hương dối rằng con mình. Chính việc đó gây ra cuộc thảm thiết này. Giam y thị với Long-Trát lại. Chờ anh cả lên ngôi, rồi sẽ xử sau.
Chư quan các trấn, cùng bách quan quỳ gối hướng Long-Xưởng :
- Bọn thần xin kính thỉnh Thái-tử lên ngai vàng, nối ngôi Anh-tông hoàng đế.
Tiếng các quan hô làm Long-Xưởng giật mình trở về với thực tại. Vương vẫy tay :
- Xin mời các vị đứng dậy.
Hoàng-hậu tuyên chỉ :
- Hôm nay là ngày xấu. Hãy chờ ngày mai, hoàng nhi lên ngôi cũng chưa muộn.
Tham-tri chính sự Vũ Tán-Đường chỉ theo hướng bọn Tô Hiến-Thành, Đỗ An-Di đang bị điệu ra pháp trường :
- Khải Thái-tử, nội ngày mai Thái-tử sẽ lên ngôi cửu ngũ. Cổ, kim, dù Hoa, dù Việt, khi tân quân lên ngôi đều có lệ ân xá cho các tội phạm. Thần xin Thái-tử khoan cho chính pháp các đại thần phạm tội. Rồi sau đó, sẽ xét trường hợp từng người một.
Long-Xưởng thất kinh hồn vía hỏi :
- Ta có sai xử tử ai đâu ?
Mọi người đưa mắt nhìn Thủ-Huy. Long-Xưởng hốt hoảng hỏi :
- Nhị đệ ! Nhị đệ đã giết hết bọn Tô Hiến-Thành rồi à ? Sao nhị đệ không thỉnh mệnh ta ?
Thủ-Huy lạnh lùng :
- Chính vì điện hạ khoan dung cho chúng hai lần, mà ba vương bị chết. Bây giờ không còn gì để có thể khoan dung cho chúng. Thần là tướng cầm quân dẹp loạn, thần phải tru diệt chúng.
- Không ! Ta không muốn giết chúng. Tại sao nhị đệ lại hành động vô pháp vô thiên như vậy ?
Vũ Tán-Đường tâu :
- Tâu điện hạ ! Thái-úy đã thi hành đúng luật. Kể từ khi Thái-sư Tô Hiến-Thành đem thị vệ, ngự lâm quân đóng cửa thành Thăng-long, thì coi như lúc đó trong nước có loạn. Phò-mã là Thái-úy, cầm trọn binh quyền trong tay, thì Thái-úy không cần thỉnh mệnh, mà người phải dẹp loạn. Từ khi Thái-úy đem quân về Thăng-long, cho đến lúc này, thanh bình vẫn chưa trở lại. Luật bản triều định rằng trong lúc dẹp loạn, tướng cầm quân đươc toàn quyền giết phản loạn, không phải thỉnh Thiên-tử.
Long-Xưởng gọi Long-nhương thượng tướng quân Lưu Khánh-Bình, hiện là Tổng-trấn Thanh-Nghệ, trao thanh kiếm lệnh cho ông :
- Lưu huynh mau lấy ngựa đuổi đuổi theo, nói với viên đô thống giám trảm rằng đây là chỉ dụ của ta : Ngưng cuộc hành hình ngay.
Lưu Khanh-Bình lĩnh gươm rời điện.
- Đại ca !
Tăng Khoa nắm lấy tay Long-Xưởng, hầu nói bằng giọng thiết tha : Đại ca nên nghĩ lại ! Phàm muốn thành đại sự, thì phải bỏ tiểu tiết. Cái bọn phản thần ăn hại này không thể và không nên tha thứ ! Tội chúng cao như núi, nếu tha cho chúng thì sau này sẽ nảy sinh ra nhiều bọn gian thần, tặc tử nữa. Mặt khác, bọn đệ cùng các vị trung thần là những người khuông phò đại ca bấy lâu, mà nay đại ca cũng coi như bọn phản thần, thì tất cả...tất cả sẽ cảm thấy hối tiếc...
- Ta có chủ trương của ta. Mai này ta sẽ lên ngôi Thiên-tử, không ai có quyền ép ta phải thế này, thế nọ. Đệ không thể, không nên nói nhiều.
Tăng Khoa nhìn Trang-Hòa, Đoan-Nghi, Thủ-Huy lắc đầu, rùng mình, thở dài.
Hoàng-hậu nói sẽ vào tai Long-Xưởng :
- Lưu tướng quân hay Thủ-Huy, hay Tăng Khoa thì cũng giống nhau. Họ ghét bọn Tô, Đỗ. Mẹ sợ Lưu tướng quân sẽ tìm cách đi chậm chậm, đợi khi đám văn quan bị giết xong rồi mới tới ban lệnh.
Long-Xưởng tỉnh ngộ, vương truyền chỉ cho Bùi Kinh-An (bố vợ của Long-Xưởng):
- Xin quốc trượng khẩn ra chợ Tây-nhai cứu bọn Tô, Đỗ một phen.
Các quan đã làm xong tờ biểu tôn Long-Xưởng lên làm vua, rồi cùng nhau ký vào. Đoan-Nghi chuyển cho các bà phi ký, cuối cùng thỉnh Hoàng-hậu thự danh.
Long-Xưởng tâu với Hoàng-hậu :
- Tâu mẫu hậu, thần nhi đợi các đại thần phạm tội trở về, để họ ký vào tờ biểu tôn thần nhi lên ngôi. Ngày mai thần nhi sẽ cho họ chứng kiến việc thần nhi kế tiếp ngôi trời là chính thống. Đạo lý có, chính thống có hỏi ai còn dám nảy lòng hươu dạ vượn nữa ? Vì vậy thần nhi ân xá cho họï, để họ thấy cái đức của thần nhi rộng như biển, cao như trời.
Long-Xưởng quay lại, nhìn trước, nhìn sau, xem hai người bịt mặt đã giải cứu mình là ai, thì không thấy đâu nữa. Vương hỏi Đoan-Nghi :
- Nghi muội có thấy cứu tinh bịt mặt đâu không ?
- Muội cũng đang định hỏi anh câu đó ?
Công chúa nói một mình :
- Coi lưng, ngực người này thì không phải là Côi-sơn song ưng rồi ! Không biết ông ta là ai, mà công lực lại thâm hậu đến như vậy ?
Công-chúa hỏi Kim-Ngân :
- Em có biết ông là ai không ? Võ công ông dùng là võ công môn phái nào ?
- Khó quá !
Kim-Ngân trả lời : Ông ta dùng võ công Tẩn-viên. Ông ta đánh những chiêu rất tầm thường, giống như người mới tập võ, đánh bừa. Nhưng nội công thì thâm hậu không biết đâu mà lường. Tiếc thay, người như thế mà ta không được làm quen.
Bùi Kinh-An đã dẫn các quan phạm tội trở về phục chỉ. Tăng Khoa lệnh cho họ cùng quỳ trước tử cung vua Anh-tông. Kinh-An tâu :
- Khải Thái-tử, thần ra tới pháp trường, thì đao thủ đã hành hình mất 18 người, gồm năm Tuyên-vũ sứ, sáu thị lang, bẩy tổng thái giám. Thần tuyên chỉ của Thái-tử, rồi giải giao họ về đây.
Long-Xưởng đưa con mắt nghiêm khắc nhìn Thủ-Huy, trong lòng nghĩ thầm :
- Thế này là ta có cớ giết tên Thủ-Huy, để tránh miệng thế ngoa truyền rằng ta chưa lên ngôi vua đã giết các di thần của tiên đế. Giữa tình huynh đệ với ngai vàng, ta phải chọn một. Đợi lên ngôi rồi, ta mượn cái đầu y để rửa tiếng với sĩ dân trong nước.
Đám phản quan đã bước một chân vào Quỷ-môn quan, bây giờ được thoát chết, chúng mới biết sợ. Tất cả cùng quỳ gối trước tử cung Anh-tông hoàng đế, đầu cúi gầm xuống. Duy Tô Hiến-Thành, Đỗ An-Di, vẫn quật cường, cười nhạt nhìn Long-Xưởng.
Biết Lý Kính-Tu là nho sĩ có khí phách, Long-Xưởng hỏi :
- Thái-phó cho biết tôn ý.
Kính-Tu nói với Long-Xưởng :
- Bảo-Quốc đại vương ! Bọn thần tuy trói gà không chặt, bị dọa giết, bị làm nhục, nhưng sĩ khí không mất. Bọn thần còn sống ngày nào thì nhất định thi hành di chiếu của tiên đế phò tá ấu quân ngày ấy. Ví dù vương gia giết bọn thần, thì bọn thần tự hào chết vì trung với tiên đế, chỉ tiếc cho vương gia, nghìn vạn năm sau sử xanh còn ghi là đứa gian thần tặc tử, là kẻ tham dâm, là tôi bất trung mà thôi.
Thần-phi Bùi Chiêu-Dương chỉ vào thi hài ba vương Kiến-Ninh, Kiến-An, Kiến-Tĩnh nói với các phản thần :
- Từ việc tam vương hoăng cho đến những biến động từ khi Hoàng-thượng băng hà, đều do các người mà ra. Các người có điều gì cần biện minh cho hành động của mình không ? Nếu không, thì đừng mở miệng ra bàn việc quốc gia đại sự.
Kính-Tu vẫn khẳng khái chỉ vào xác lễ quan, vào xác ba đại thần bị Nùng-sơn tam anh, Tô-lịch nhị tiên giết:
- Mấy vị này chết vì bọn phản loạn triều đình gà mái gáy ! Ba vương hoăng do Thái-hậu ban chỉ xử tử. Tất cả không liên quan gì tới việc bọn thần phò tá ấu quân cả.
Kính-Tu nói mặc Kính-Tu nói. Bọn phản quan bị chết hụt cùng nhau rạp người trước Long-Xưởng :
- Chúng thần xin kính cẩn thỉnh Thái-tử lên ngôi Cửu-ngũ, kế tiếp sự nghiệp của tiên-đế.
Ngự-sử đại phu Trần Trung-Tá vốn thông minh. Ông biết rằng muôn ngàn lần không thể giữ ngôi vua cho Long-Trát được nữa. Ông bò như chó bò đến trước Long-Xưởng quỳ gối, rập đầu binh binh rồi chỉ tay vào mặt Tô Hiến-Thành, Đỗ An-Di, Lý Kính-Tu:
- Muôn tâu thánh hoàng. Trăm điều đều do ba lão già này mà ra. Từ hơn chục năm nay, ba lão kết đảng để chống lại thánh hoàng. Mục đích của chúng là muốn có một ấu quân, để chúng có thể chuyên quyền. Thần cả gan xin thánh hoàng tru di tam tộc nhà chúng.
Quan phòng thủ Hoàng-thành Đàm Dĩ-Mông nói với Trung-Tá :
- Ngự-sử đạị phu nói sai rồi. Kể từ khi vua Hùng lập quốc, chưa bao giờ chúng ta lại có một minh quân, văn võ toàn tài, nhân từ, ái chúng thế này. Ta không thể tôn người là thánh-hoàng được. Ta phải dâng hiệu cho người là Chí-tôn, vô-thượng đại thánh hoàng đế mới xứng.
Nói rồi y rập đầu bồm bộp trước Long-Xưởng :
- Tâu Chí-tôn vô-thượng đại thánh hoàng đế, thần xin Đại-thánh hoàng đế cho thần được xẻo từng miếng thịt ba tên đầu xỏ Tô Hiến-Thành, Đỗ An-Di, Lý Kính-Tu rồi đem ra đồng cho quạ ăn thịt.
Thế rồi bọn Ngô Lý-Tín, Phí Công-Tín, Ngô Nghĩa-Hòa thay nhau nói những lời tâng bốc Long-Xưởng, mạ lỵ Tô Hiến-Thành, Đỗ An-Di, Lý Kính-Tu. Mỗi người thêm một mỹ tự vào tôn hiệu của Long-Xưởng. Cuối cùng thành : Ứng-càn, Ngự-cực, Tề-thiên, Vô-thượng, Chí-tôn, Thần-văn, Thánh-võ, Đại-hiếu, Aùi-dân, Minh-đức, Quảng-từ, Đại-thánh hoàng đế.
Từ hơn mười năm nay, Long-Xưởng chỉ có những cận thần thân tín như Lưu Khánh-Bình, Bùi Kinh-An, Trần Thủ-Huy, Tăng Khoa. Họ chưa từng đưa ra một lời tâng bốc, nịnh hót. Hơn thế nữa, họ còn phiền trách vương khi vương làm những điều xa chính đạo. Bây giờ được đám phản thần tâng bốc, vương cười tít mắt lại, cực kỳ cao hứng.
Đám phản thần thấy tôn hiệu của Long-Xưởng vẫn chưa dài bằng của Long-Trát, chúng định tìm những mỹ tự nữa...thì Tăng Khoa buồn nôn, hầu nạt :
- Các người là phản thần, lát nữa đây sẽ bị đem ra xẻo thịt, thế mà các người còn dẻo mồm nịnh hót ư ? Có câm miệng đi không ?
Các nịnh quan vội im bặt, ngơ ngác nhìn nhau. Long-Xưởng đang cao hứng, thì bị Tăng Khoa làm mất, vương cau mặt mắng :
- Tất cả chư đại thần đây đều là quan cao cực phẩm, so với chức Vũ-kị thượng tướng quân của người, thì không khác gì trái núi với hạt vừng hạt đậu. Tội trạng của họ lại chưa rõ. Người không được vô phép.
Thấy Long-Xưởng mắng Tăng Khoa, một nghĩa đệ, hơn nữa tướng đang cầm quân bảo vệ ngôi vua cho mình, thì đám nịnh thần nắm ngay được yếu điểm : Người này thích được nịnh. Chúng lại xúm vào ca tụng Long-Xưởng bằng những lời lẽ cực kỳ đẹp đẽ, và mắng Tô Hiến-Thành, Đỗ An-Di, Lý Kính-Tu bằng những lời đê tiện nhất.
Tăng Khoa lắc đầu nói với Long-Xưởng:
- Đại ca ơi ! Đại ca hãy nghĩ đến sự nghiệp của năm vị tiên đế, mà chém bọn này ngay.
Long-Xưởng nghĩ thầm :
- Chống đối ta từ trước đến giờ là bọn quan văn này đây. Tuy chúng là những người chân yếu tay mềm, thích nịnh bợ, nhưng chúng là những người có tài cai trị. Bây giờ đã dẹp loạn đã xong, quốc kế đòi đất tổ không hy vọng gì thi hành. Ta...Ta đâu cần bọn Thủ-Huy, Tăng Khoa ? Chỉ với mấy hiệu binh địa phương, ít tên thị vệ, cấm quân ta cũng thừa sức cai trị dân. Ta phải loại dần bọn này ra. Bây giờ ta cần bọn văn quan ký vào biểu tôn ta lên ngôi, ta phải lấy lòng chúng. Hơn nữa, ta là đấng chí tôn trời Nam, thì phải trên ra trên, dưới ra dưới, chứ có đâu ca ca, đệ đệ với bọn Thủ-Huy, Tăng Khoa mãi.
Vương nhăn mặt nạt lớn :
- Im cái mồm. Đây là điện Càn-nguyên, trẫm là một Vô-thượng, Chí-tôn, Đại-thánh hoàng đế. Người không được ca ca, đệ đệ với trẫm. Hiện nay Thăng-long vô sự, không còn phản tặc ! Người hãy đem quân rời khỏi đây ngay, khi nào có chỉ mới được về. Việc canh phòng Hoàng-thành sẽ do quan phòng thủ Đàm Dĩ-Mông với thị vệ, cấm quân. Người với toàn thể kị binh rút khỏi Thăng-long tức khắc. Lui!
Tăng Khoa kinh ngạc sự thay đổi mau chóng trong người anh kết nghĩa, mà hầu theo phò bấy lâu nay. Hầu cúi đầu, bái lậy, rồi trao quyền chỉ huy thị vệ, cấm quân cho Đàm Dĩ-Mông, lẳng lặng cùng Như-Như rời khỏi Hoàng-thành.
Thấy vợ Đào Duy là Như-Yên mở to mắt nhìn mình, dường như muốn khiếu nại điều gì, Long-Xưởng quát :
- Người chỉ là một mụ trông coi việc làm vườn, nấu bếp ở Đông-cung, tại sao người lại đem đội thị-vệ Đông-cung vào đây làm gì ? Có rời khỏi Hoàng-thành ngay không ?
Từ lâu rồi, Đào Duy vẫn cai quản đội nhạc của triều đình, vì vậy ông luôn luôn có mặt trong tất cả các buổi thiết triều. Còn vợ là Như-Yên thì giữ chức tổng-quản Đông-cung, đúng ra bà không có mặt tại điện Càn-nguyên. Nhưng lúc Long-Xưởng về Thăng-Long, thì cổng thành bị Mạc Hiển-Tích sai thị vệ, cấm quân phong tỏa, mà quân của Thủ-Huy, Tăng Khoa chưa kịp về. Vì vậy bà phải đem đội thị vệ Đông-cung, hơn trăm người do chính ông bà huấn luyện, làm lực lượng hộ vệ Long-Xưởng. Ban nãy, đội nghi trượng ủng Long-Xưởng vào thành, do chính bà điều động. Bây giờ Long-Xưởng trở mặt xua đuổi bà. Bà cười nhạt, dẫn đội võ sĩ Đông-cung rời điện Càn-nguyên.
Các phản thần lại xúm nhau tâng bốc Long-Xưởng, trong khi Bùi Kinh-An cầm tờ biểu tôn Long-Xưởng lên làm vua đến trước mặt các quan để họ ký vào.
Hoàng-hậu nói nhỏ vào tai Long-Xưởng :
- Bây giờ con là Vô-thượng, Chí-tôn, Đại-thánh hoàng đế! Tô Hiến-Thành, Đỗ An-Di, Lý Kính-Tu tuy có chống con, nhưng họ chỉ là con chó của tiên đế. Tiên đế truyền sao, họ làm vậy. Con hãy tha cho họ, họ sẽ biến thành con chó trung thành của con. Cái họa của họ với xã tắc chỉ như bệnh ngoài da. Còn cái họa trong tâm, trong can chính là bọn võ lâm. Mẹ thấy bọn võ lâm, bọn võ quan cầm quân mới đáng sợ. Như con thấy: Đám Đông-a là đầu sỏ võ lâm, người nắm trọng binh trong tay là Trần Thủ-Huy. Từ trước đến giờ, chúng vô lễ, dồn ép con đã nhiều. Chính miệng Thủ-Huy nói : Vua Thuấn nhờ làm phò mã của vua Nghiêu mà được truyền ngôi. Đức Thái-tổ nhà ta nhờ làm phò mã của vua Lê Đại-Hành rồi cầm quân mà lấy được ngôi vua. Ngụ ý của y muốn nói : Nay y cũng là phò mã, cũng nắm binh quyền trong tay, thế còn mạnh hơn đức Thái-tổ. Y cũng có ý nhòm ngó ngôi bảo tộ.
Long-Xưởng nghĩ thầm : Hà, thì ra mẫu hậu cũng nghĩ như ta vậy. Tuy thế vương giả bộ lắc đầu :
- Mẫu hậu hơi quá lời ! Làm gì có chuyện đó ! Thủ-Huy trứơc sau vẫn trung thành với con.
- Con có nhớ lời Tuyên-phi Thụy-Hương nói lúc sắp băng không ? Phi nhắc lại lời Thủ-Huy đã bàn với phi rằng : Khi binh quyền vào tay, y sẽ lên ngôi vua, phong cho phi làm hoàng hậu đó sao ? Con có nhớ lời anh của Thủ-Huy là Trần Lý trên hồ Tây không ? Trần Lý đã nói rằng sẽ phế bỏ bản triều, rồi giòng họ nhà y lên ngôi vua. Không phải vô tình mà anh em Huy cùng nói giống nhau.
Hôm ấy, ở trên con thuyền, Long-Xưởng nghe Trần Lý nói lời gay gắt, thì trong lòng đã nghi Thủ-Huy. Rồi khi nghe Thụy-Hương nói Thủ-Huy mưu cướp ngôi phong cho nàng làm Hoàng hậu, Long-Xưởng tuy không tin, nhưng bắt đầu dè dặt, nghĩ rằng Thủ-Huy có thể cướp ngôi vua. Bây giờ nghe mẹ nói, vương mới giật mình :
- Ừ nhỉ. Bây giờ con phải làm gì ?
- Nhân việc y lạm quyền giết đại thần. Con là Vô-thượng, Chí-tôn, Đại thánh, con truyền cách chức y, rồi đuổi về dân dã thì không ai nói gì được nữa. Đợi mọi việc xong xuôi, đem tội trạng của y ra đình nghị, nhân đó giết cả nhà y cho tuyệt hậu hoạn.
Long-Xưởng nhìn ra góc điện, thấy Phùng Tá-Chu, Kim-Ngân, đang đứng cạnh Thủ-Huy, Đoan-Nghi. Tất cả cùng nhăn mặt, lắc đầu tỏ vẻ khinh rẻ bọn nịnh quan. Vương chợt nhớ lại hôm họp ở dưới con thuyền, Kim-Ngân cùng Trần Lý ép mình phải giết bọn gian tế Tống, thái độ cực kỳ vô lễ. Rồi từ sau vụ ấy, mối giao hảo của phái Đông-a với Đông-cung gián đoạn. Bây giờ Long-Xưởng là Vô-thượng, Chí-tôn, Đại-thánh hoàng đế, uy quyền bao trùm trời Nam, trong khoảnh khắc Long-Xưởng quên mất tất cả những gì phái Đông-a, Thủ-Huy phò tá mình.
Hoàng-hậu biết lời nói của mình đã có kết quả, bà tiếp :
- Con lo nghĩ về thế lực phái Đông-a ư ? Mai con lên ngôi vua rồi, chỉ cần ban tờ chỉ cho một viên đô thống đem quân về làm cỏ trang Thiên-trường, bắt hết mấy tên võ phu vai u thịt bắp phái Đông-a giết sạch là xong.
Nghe lời tâu lọt tai, Long-Xưởng hướng về phía Tá-Chu, Kim-Ngân, rồi cau mặt hỏi lớn :
- Cặp trai gái quê kia là ai ? Đây là điện Càn-nguyên, chốn cực kỳ uy nghiêm, các người đột nhập vào đây định làm gì ? Thị vệ đâu, hãy bắt chúng đem giam vào ngục ngay !
Kim-Ngân cười nhạt nói với Thủ-Huy, Đoan-Nghi :
- Anh chị đã sáng mắt ra chưa ? Ngay cái hôm ở trên thuyền, anh Lý đã nhìn rõ cái mặt thực của Long-Xưởng rồi. Hôm nay anh chị mới thấy !
Kim-Ngân hừ một tiếng, rồi vận nội lực nói lớn :
- Ăn cháo đá bát ! Gã Long-Xưởng kia ! Suốt mười mấy năm nay, không có nhà ta, thì liệu người có còn sống đến ngày nay không ? Ngôi vua có còn của họ Lý không ? Hỡi ơi ! Nhà dột từ nóc dột xuống ! Bà thì mê tên Đỗ Anh-Vũ giết tôn thất. Anh-Vũ chết, thị lại mê tên chệt Lưu Kỳ, muốn bưng ngai vàng dâng cho y ! Bà nội như thế, tất có ông bố cướp gái của con, rồi ông bố mê gái đẹp, muốn giết các con để cho thị vui lòng, mà... hỡi ơi, thị có tốt gì cho cam ! Thị là con đàn bà lang chạ, mang con hoang vào Hoàng-thành. Bà như thế, bố như thế, thì dĩ nhiên nảy ra đứa con tham dâm, cưỡng dâm sủng phi của cha cũng là sự thường thôi ! Chúng ta vừa ra tay cứu người, mà người lại trở mặt ư ?
Kim-Ngân, Tá-Chu cùng hú lên một tiếng dài liên miên bất tuyệt, khiến mọi ngưới ù tai, chóng mặt. Rồi binh binh, hai người phóng chưởng đánh vỡ hai cánh cửa. Thấp thoáng một cái, hai người đã rời khỏi điện.
Trần Trung-Tá là Ngự-sử đại phu, từ nãy đến giờ y đứng quan sát hành động của Long-Xưởng, y bắt ngay lấy thời cơ. Y tâu :
- Tâu Vô-thượng, Chí-tôn, Đại-thánh hoàng đế ! Người con gái tên là Trần Kim-Ngân, em ruột của phò-mã Thái-úy Trần Thủ-Huy ! Còn tên thôn phu thì là chồng thị tên Phùng Tá-Chu. Cả hai người ỷ thế anh, nên ra vào Hoàng-thành không còn coi phép nước ra gì. Những lời đại bất kính của y thị hoàn toàn lỗi ở Trần phò mã. Thần xin Vô-thượng, Chí-tôn, Đại-thánh hoàng đế bệ hạ trước hãy cách chức Thái-úy của Trần Thủ-Huy, rồi trao cho đình thần nghị tội, xét xử chính pháp.
Bọn Phí Công-Tín, Ngô Nghĩa-Hòa, Ngô Lý-Tín, Đàm Dĩ-Mông, mỗi người thêm một câu. Kẻ thì đòi xử lăng trì, người thì đòi tru di tam tộc Thủ-Huy. Chúng tìm ra Thủ-Huy phạm đến 180 khoản trong bộ Hình-thư.
Đoan-Nghi, Thủ-Huy đứng ở cửa điện. Hai người tự tin vào thâm tình ruột thịt, tự tin vào lòng dạ trong sáng, hết tâm hết trí phò tá anh mình, tự tin vào binh quyền trong tay ; nên mỉm cười nghĩ thầm : Sau khi đại ca lên ngôi vua, thì với tội trạng trong quá khứ, mình muốn vo tròn, bóp méo bọn chúng thế nào mà chẳng được ? Mình cứ để cho chúng nịnh, để Long-Xưởng thấy rõ bản mặt chúng.
Tuy nghe bọn văn quan nịnh, Long-Xưởng cũng nhận thấy mình còn sống tới nay, ngôi vua sở dĩ có do một tay Thủ-Huy phò tá. Nhưng nay mình đã thành Vô-thượng, Chí-tôn, Đại-thánh hoàng đế rồi, thì cũng nên tước bớt uy quyền Thủ-Huy đi, để phòng hậu hoạn. Hơn nữa, hiện tước của Thủ-Huy tới quốc-công, sau vụ dẹp loạn này, thì công của y quá lớn, ắt phải phong vương, mà trong khi tuổi y còn quá trẻ, tương lai khó tránh được cái vạ cướp ngôi. Nghĩ vậy Long-Xưởng làm như người nhân nghĩa, lên tiếng :
- Tuy Trần phò mã phạm nhiều tội, nhưng trước đây đã lập biết bao công lao. Vậy trước hãy thu binh quyền, cách chức Thái-úy, cách chức Càn-nguyên điện đại học sĩ, thu ấn Trung-nghĩa thượng-tướng quân. Tước Côi-sơn quốc công vẫn giữ nguyên.
Thủ-Huy, Đoan-Nghi nghe Long-Xưởng tuyên chỉ, mà tưởng rằng tai mình ù ! Sự kiện đang diễn ra trong giấc mơ.
Đoan-Nghi thấy anh trở mặt mau quá thì kinh hãi nói :
- Anh ! Anh nghe lời cái bọn từng chống đối anh, mà chặt chân tay mình ư ? Được, để em nói chuyện với bọn ăn hại này.
- Hoàng muội không nên nhiều lời ở đây. Nếu hoàng muội nghiêng theo gia đình nhà chồng thì trẫm sẽ xóa tên hoàng muội trong sổ Ngọc-diệp, rồi đuổi về dân dã. Hoàng muội có nghe con nhà quê Kim-Ngân nhục mạ Thái-hậu, nhục mạ Phụ-Hoàng với nhục mạ trẫm không ? Kể từ lúc này Thủ-Huy không còn là Thái-úy nữa. Thái-sư Tô Hiến-Thành hãy chiếu di chỉ của phụ hoàng, lập tức lĩnh chức Thái-úy thay Thủ-Huy.
Thủ-Huy cười nhạt, hú lên một tiếng dài liên miên bất tuyệt. Tất cả mọi người đều bịt tai ôm đầu, choáng váng. Công chỉ tay vào mặt Long-Xưởng than :
- Trời xanh thấu cho, tôi là Trần Thủ-Huy, từ thủa niên thiếu, gặp người này. Người này bị Cảm-Thành thái hậu sai Nghi-tàm song ma, đô đốc Lý Thần đuổi bắt, toan sát hại. Không quản nguy hiểm, tôi ra tay cứu người, rồi kết huynh đệ. Tôi nào biết người là Thái-tử ? Tiếp đến người bị bọn mật sứ Lưu Kỳ, Ngô Giới bắt giam trên thuyền. Một lần nữa, tôi nhờ ông nội, bố mẹ, cùng các vị sư thúc, sư tỷ trong môn phái bắt bọn Tống cứu người.
Long-Xưởng cũng như các quan, vốn tỵ hiềm võ công Thủ-Huy. Không ai dám lên tiếng ngắt lời công. Họ biết rằng công đang uất ức cùng tột, vì giữa lúc công dùng hết tâm trí đem ngôi vua về cho Long-Xưởng, mà Long-Xưởng sớm trở mặt, các quan trung thành với Long-Xưởng bao năm qua đều chán ngán. Họ im lặng nghe Thủ-Huy nói ra những uất ức.
- Bấy giờ Cảm-Thánh hoàng thái hậu mưu dâng ngôi vua cho tình nhân là Lưu Kỳ. Ông nội tôi thấy xã tắc nguy như trứng chồng, người đứng ra triệu tập các đại môn phái, giải tán triều đình gà mái gáy, dẹp gian đảng, thu quyền về cho vương triều. Cũng từ đấy tôi cùng Thái-tử tái lập Thiên-tử binh, Kỵ-binh, Ngưu-binh, cải cách cai trị ; trong làm cho nước mạnh, dân giầu ; ngoài khiến Tống nể sợ, phải công nhận quốc danh, niên hiệu. Cũng gia đình tôi, giúp Thái-tử dẹp được âm mưu chiếm nước của tế tác Tống trong hậu cung. Vừa mới hai hôm nay, bọn nịnh thần phò một đứa trẻ lên ngôi. Tôi nắm binh quyền trong tay, nên phải cùng chư vương, công chúa đem quân về dẹp loạn, đoạt lại ngôi vua cho người. Bây giờ, việc vừa xong, người kiếm cớ xua đuổi tôi. Xin trời xanh xét xử cho.
Nói rồi công cầm thanh kiếm lệnh cắm giữa điện Càn-nguyên, tay dắt Đoan-Nghi thủng thỉnh tới trước tử quan vua Anh-tông lạy đủ tám lạy, rồi rời khỏi điện Càn-nguyên, không nhìn bất cứ một ai.
Thủ-Huy, Đoan-Nghi lên ngựa rời Hoàng-thành. Đội võ sĩ Long-biên, Côi-sơn cũng đi theo hộ tống. Hai người vừa ra khỏi cổng thành thì đoàn võ sĩ ùn lại, rồi có tiếng cãi nhau léo nhéo. Đoan-Nghi bảo Vương Thú-Thúy :
- Tỷ tỷ lên xem có gì lạ không ?
Thúy-Thúy vọt ngựa lên, lát sau, nàng trở lại :
- Khải điện hạ, có người ăn mày ngồi giữa đường. Đội võ sĩ Long-biên đuổi y đi ; y không đi, còn cãi lý.
Biết đây là một kỳ nhân dị sĩ, Thủ-Huy ra lệnh :
- Không được đụng đến người ta.
Rồi công với Đoan-Nghi vọt ngựa lên. Người ăn mày đang phân vua :
- Mạnh-tử nói : Dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh. Nghĩa là : Dân quý nhất, thứ đến xã tắc, vua đếch có giá gì. Ta là dân, tức là thành phần quý nhất, phải được ưu tiên đi giữa đường. Các chú là quân lính của nhà vua, thấp hơn cái ông vua , tức người không có thớ gì, mà các chú bắt tôi tránh đường cho các chú đi, thì đạo lý ở chỗ nào ?
Hai võ sĩ xúm vào ôm người ăn mày, định bế bổng lên. Nhưng y nặng quá. Hai người hò lên một tiếng, đẩy y đi, nhưng y vẫn ngồi như tảng đá.
Đoan-Nghi cất tiếng :
- Lui lại !
Hai võ sĩ đứng tránh ra hai bên đường. Đoan-Nghi chắp tay hướng người ăn mày :
- Chúng tôi có việc khẩn. Xin người tránh ra cho chúng tôi đi.
Người ăn mày dường như điếc, ông ta vẫn ngồi bất động miệng hát :

Thương- lang chi thủy thanh hề,
Khả dĩ trạc ngã anh.
Thương-lang chi thủy trọc hề,
Khả dĩ trạc ngã túc.
Rồi ông ta lại tự dịch nghĩa, hát bằng tiếng Việt :
Sông Thương nước chảy trong veo,
Thì ta đem giặt cái lèo mũ ta.
Sông Thương nước chả phù sa,
Thì ta lội xuống để mà rửa chân.


Ông ta nắm lấy cương ngựa Thủ-Huy :
- Thái-úy có biết rằng mình sắp bị cái họa sát thân không ?
- ? ? ?
- Từ hơn mười năm nay, Thái-tử vơí Thái-úy như tay phải vơí tay trái, ăn cùng mâm, ngủ cùng dường. Lại cũng có phen cùng hưởng cái đó của người đẹp Thụy-Hương. Biết bao phen Thái-tử tưởng như mất ngôi, mất mạng; đều do Thái-úy cứu. Có thể nói, Thái-úy là ngôi sao thủ mệnh của Thái-tử. Thế mà nay Thái-tử phải vội vã cách chức Thái-úy là tại sao, Thái-úy có biết không ?
- Người muốn lấy lòng bọn cố mệnh đại thần, để được lên ngôi vua.
- Không phải đâu ! Ngôi vua sở dĩ có là do Thái-úy đem quân về !
- Thế thì ?
- Vì Thái-tử nghi ngờ Thái-úy.
- Tôi một lòng phò tá người, lại là em rể người, không lẽ người không hiểu lòng dạ tôi ?
- Trời ơi ! Thái-úy quên mất chuyện xưa rồi ư ? Kìa Phạm Lãi, Văn Chủng với Việt-vương Câu-Tiễn bao năm cùng nhau nằm gai nếm mật. Thế mà khi phục được quốc, trả được thù nhà, thì Văn Chủng bị giết, Phạm Lãi phải ẩn thân, cùng Tây-Thi tiêu dao ngũ hồ. Vì sao ? Vì công lao họ quá lớn, dân chúng chỉ biết đến họ, nhắc đến họ, mà không biết đến Câu-Tiễn, nhắc đến Câu-Tiễn !
- ! ! !
- Cao-tổ nhà Hán chỉ là một gã đình trưởng. So tài, so đức đều thua Hạng-vương xa. Nhờ Tam-kiệt là Trương Lương, Hàn Tín, Tiêu Hà, mà Cao-tổ thắng Hạng-vương, lập triều Hán. Dân chúng đều nhắc nhở đến Tam-kiệt, khâm phục Tam-kiệt, mà coi Cao-tổ như gã thất phu gặp thời. Vì vậy Cao-tổ phải ra tay. Bộ Sử-ký của Tư-mã Thiên viết « Phi Tam-kiệt tất vô Hán thất. Cao-đế thành nghiệp, nhi Trương Lương dĩ khứ, Tiêu Hà dĩ ngục, Hàn Tín dĩ trảm. Hán đắc thiên hạ, đại để giai Tín vi công ». Nghĩa là « Không có Tam-kiệt trợ giúp thì không có triều Hán. Khi Cao-tổ thành nghiệp, thì Trương Lương phải bỏ đi tu, Tiêu Hà bị hạ ngục. Hàn Tín bị giết. Hán được thiên hạ, đều do công của Tín ».
- ? ! ? ! ?
- Nay tài của Thái-tử thua xa Cao đế, đức lại càng không bằng Câu Tiễn. Trong khi tài của Thái-úy bao gồm cả Trương Lương, Tiêu Hà, Hàn Tín. Công lao thì từ khi lập triều Lý đến giờ, chưa một văn quan, võ tướng nào sánh bằng. Uy thì tướng sĩ chỉ huy mười hai hiệu Thiên-tử binh, hiệu kị-binh Phù-Đổng, hiệu ngưu-binh Hoa-lư, bốn Đô- đốc thủy quân đều do Thái-úy huấn luyện. Họ tuyệt đối trung thành với Thái-úy. Rồi, khi Tuyên-phi Thụy-Hương hoăng có nói rằng Thái-úy mưu chiếm ngôi vua, phong phi làm Hoàng-hậu. Từ ngày ấy đến giờ Thái-tử đã nghi ngờ Thái-úy, song người để bụng không nói ra.
Người ăn mày ngửa mặt nhìn trời, rồi tiếp :
- Từ xưa đến giờ, khi uy tín quyền hành bầy tôi áp chúa thì chỉ có hai con đường. Một là bầy tôi cướp ngôi của chúa. Hai là chúa phải giết bầy tôi.
- Tôi không bao giờ nghĩ đến làm vua, thì sao có thể có việc cướp ngôi ?
- Dĩ nhiên lòng dạ Thái-úy là như vậy. Nhưng Thái-tử vẫn nghi ngờ Thái-úy. Khi vua nghi, thì bầy tôi phải chết. Bây giờ Thái-úy chỉ có hai con đường đi.
- Xin tiên sinh cứ dạy.
- Hiện các hiệu binh Ngự-long, Quảng-thánh, Quảng-vũ vẫn chưa rời khỏi các cửa thành. Hiệu binh Phù-Đổng còn đóng tại Bắc-ngạn. Hạm đội Âu-Cơ vẫn phong tỏa sông ngòi quanh kinh thành. Thái-úy ban lệnh cho họ ào ạt chiếm Kinh-thành, Hoàng-thành giết sạch bọn nịnh quan, tôn Long-Xưởng lên làm vua hư vị. Còn Thái-úy thì nắm thực quyền như Ngụy-võ đế Tào Tháo đã làm với Hán Hiến-Đế. Thế thì tuy không ngồi trên ngai vàng, mà Thái-úy làm vua.
- Ông tôi, bố tôi, mẹ tôi cho tôi ra làm quan là để giúp cái chí của Long-Xưởng, sao dựng lại quốc uy, đòi lại cố thổ. Nay quốc uy đã có, cố thổ thì chưa ; mà Long-Xưởng nghi ngờ, xua đuổi tôi, thì tôi còn ngồi lại làm gì ? Tôi không muốn lấn quyền nghĩa huynh. Con đường này tiên sinh cho tôi đi, e nhiều gai quá. Xin tiên sinh chỉ cho con đường khác.
- Thái-úy cùng công chúa về phủ, chờ ngày mai Thái-tử lên ngôi, rồi sai võ sĩ đến bắt đem ra chợ chém đầu với 180 tội trạng khác nhau.
Thủ-Huy chắp tay vái người ăn mày :
- Đa tạ tiên sinh ! Thủ-Huy này đành chịu chết, chứ không thể chọn con đường thứ nhất.
Người ăn mày than :
- Thái-úy đã chọn con đường đó, thì hỡi ôi ! Tôi e cái thân của Thái-úy khó bảo toàn đã đành, mà còn gia thuộc, môn phái e cũng bị tai kiếp.
Thấp thoáng một cái, người ăn mày đã tung mình biến vào khu nhà dân cư bên đường.
Đoan-Nghi kinh hãi :
- Không ngờ khinh công ông ta lại cao như vậy. Anh có biết ông là ai không ?
- Ông ta chính là người mặc áo đen đã cứu anh Long-Xưởng, và giết Vương Nhất, Cao Nhị ban nãy. Ừ ! Không biết ông ta là ai ? Anh chưa từng nghe trong phái Tản-viên có người võ công cao đến như vậy.
Thủ-Huy, Đoan-Nghi về phủ phò mã, thì đã thấy Kim-Ngân, Tá-Chu, Trung Từ, Bảo-Bảo, đang ngồi chờ. Kim-Ngân nhìn anh bằng con mắt đầy thương cảm :
- Trước khi anh khởi binh, chị Phương-Lan đã dặn anh rằng khi về tới Thăng-long, phải xua quân áo ạt chiếm Kinh-thành, Hoàng-thành, trong lúc hỗn loạn, giết sạch bọn nịnh quan. Nhưng anh không nghe, nên mới ra nông nỗi này.
Đoan-Nghi cầm lấy tay Kim-Ngân :
- Đầu mối là anh Long-Xưởng nghi ngờ chúng ta, chứ không phải là do bọn nịnh quan. Ví dù khi quân tràn vào thành, giết sạch bọn nịnh quan, thì anh Long-Xưởng càng phải xuống tay mau hơn, mạnh hơn. Bây giờ chúng ta chỉ còn có cách theo lời khuyên của anh Lý, là về Thiên-trường vui với cỏ cây mà thôi.
- Không thể có chuyện đó được.
Trung Từ khẳng định :
- Long-Xưởng vì sợ, vì nghi anh Thủ-Huy mà cách chức, chỉ nội ngày mai, khi lên ngôi vua rồi, thì Long-Xưởng sẽ ban chỉ giết anh Thủ-Huy chứ có đâu để cho ngao du mây nước !
Thủ-Huy hỏi :
- Chú có cách nào không ?
- Dễ quá. Đêm nay anh nhập Đông-cung, nhả vào người Long-Xưởng ít nọc độc Huyền-âm, bấy giờ anh bảo y ăn cứt y cũng phải ăn !
- Anh không muốn làm cái việc đó.
- Vậy thì ngay bây giờ anh họp tất cả thân binh, bộc phụ, mã phu, gia nhân, giảng giải cho họ biết những gì đã xẩy ra, chu cấp tiền bạc cho họ về quê làm ăn. Một số khác thì đem về Thiên-trường. Còn anh với chị thì ngồi chờ Long-Xưởng sai võ sĩ tới bắt đem đi chặt đầu. Theo ước tính của em, dù sao Long-Xưởng cũng như bọn nịnh thần đều biết cái tính bất chấp luật lệ của anh. Nếu anh cứ ngồi đây, thì họ phải khử anh. Còn như anh bỏ đi, họ sẽ nhắm mắt, bịt tai. Vậy em nghĩ, anh chị, hai người hai ngựa ngao du thắng cảnh. Long-Xưởng có ban chỉ truy nã anh, e không một thị vệ, võ tướng nào dám tuân chỉ.
Thủ-Huy nắm tay Đoan-Nghi :
- Chúng mình thành vợ chồng đã mấy năm, nhưng ngày đêm cần lao chính sự, chưa bao giờ được sống thực sự cho nhau. Bây giờ chúng mình còn quá trẻ, chúng mình phải sống cho chúng mình. Đời dùng ta thì ta giúp đời. Đời không dùng ta, thì ta đội cỏ bồng phơi phới mà đi. Từ nay em không còn là công chúa, anh cũng chẳng còn là Thái-úy, là phò mã nữa. Chúng ta hãy theo gương Kim-Ngân, Tá-Chu ; Trung-Từ, Bảo-Bảo. Ngay bây giờ chúng ta về Thiên-trường.
Đoan-Nghi bảo Vương Thúy-Thúy :
- Vương tỷ tỷ, phiền Vương tỷ tỷ cho họp hai đội võ sĩ Long-biên, Côi-sơn, cùng gia tướng, gia nhân lại, để chúng tôi nói chuyện với họ.
Thủ-Huy thấy từ trước đến giờ, lúc nào Đoan-Nghi cũng gọi Thúy-Thúy, Bảo-Bảo là phu nhân, tức tước hiệu triều đình ban cho. Đây là lần đầu tiên nàng gọi Thúy-Thúy bằng danh tự tỷ-tỷ, thì có nghĩa nàng không còn coi mình là công chúa nữa.
Hai khắc sau, Thúy-Thúy trở lại cung tay :
- Chủ nhân ! Tất cả đang chờ đợi chủ nhân.
Thủ-Huy, Đoan-Nghi đứng dậy nói với Kim-Ngân, Tá-Chu ; Trung-Từ, Bảo-Bảo :
- Các cô các chú cùng đi với chúng tôi cho vui
Tất cả mọi người đều tụ họp tại đại sảnh đường. Họ cùng đứng dậy chào. Thủ-Huy ra lệnh cho họ an tọa.
Đoan-Nghi đưa mắt nhìn cử tọa một lượt rồi cất tiếng trầm trầm :
- Tôi họp tất cả các vị tại đây để báo cho các vị một tin vừa buồn vừa vui. Buồn vì kể từ hôm nay, phò mã bị cách hết chức, tuy nhiên tước thì vẫn giữ nguyên. Người không còn là Thái-úy phụ-quốc, cũng không còn là Càn-nguyên điện đại học sĩ, Trung-nghĩa thượng-tướng quân nữa. Vui vì, vợ chồng chúng tôi quyết định cáo quan về sống với điền dã, thảnh thơi ngoài vòng cương tỏa.
Cả sảnh đường ồn lên, rồi lại im bặt. Thủ-Huy tiếp lời vợ :
- Các vị đây chia làm ba thành phần. Thành phần phục vụ phủ Phụ-quốc Thái-úy, Càn-nguyên điện, Trung-nghĩa thượng tướng quân thì đều là quan chức của triều đình. Các vị sẽ được trả về triều đình. Thành phần thứ nhì là con em đệ tử phái Đông-a hầu hết ở trong hai đoàn Long-biên, Côi-sơn, gốc người Thiên-trường thì lại trở về Thiên-trường. Thành phần thứ ba là những người mà mẹ tôi mua về phục thị cho chúng tôi thì chúng tôi cấp giấy hoàn hương, cấp tiền bạc, trả lại gia đình. Tuy nhiên ai không có gia đình, nếu muốn thì cũng được về Thiên-trường sống.
Lập tức sảnh đường ồn lên những tiếng bàn tán. Thủ-Huy thuật lại chi tiết tất cả những gì mà công đã gặp, đã làm từ khi gặp Long-Xưởng đang trên đường chạy trốn, bị Nghi-tàm song ma đuổi bắt đem giết... cho đến nay. Công không dấu diếm một chi tiết nào cả. Trong hơn một giờ (120 phút ngày nay), sảnh đường đông đến hơn nghìn người, mà không một tiếng động, không một lời thì thầm.
Đoan-Nghi đọc được nét phẫn uất hiện trên mặt các gia tướng, cùng đoàn võ sĩ Long-biên, Côi-sơn. Nàng tiếp lời chồng :
- Vợ chồng chúng tôi tiếng là phò mã công chúa, nhưng chúng tôi không giầu có súc tích như các phò mã, công chúa khác. Chúng tôi không hề thu một đồng tiền, một đấu lúa của dân chúng trong ấp phong. Phụ hoàng phong cho tôi một nghìn mẫu ruộng nhất đẳng kim điền. Tôi cho nông dân cấy rẽ. Tôi chỉ thu tô bằng nửa của những chủ điền khác. Tô thu được, tôi dùng để cấp cho dân nghèo không thước đất cắm dùi làm sinh kế để họ phá hoang, làm ruộng.
Công-chúa nhìn chồng :
- Chồng tôi được phong Côi-sơn quốc công, thực lộc toàn vùng Côi-sơn, có đến hai vạn hộ, mười lăm xã, thuộc vùng bờ xôi giếng mật. Bao nhiêu tiền thuế thu được, đều dùng vào việc mượn thầy dậy học, cất y viện, mua thuốc cứu dân, cùng phủ tuất kẻ nghèo, người khó. Chúng tôi thắt lưng buộc bụng sống bằng lúa, cùng tiền lương của Phụ-quốc thái-úy. Hôm nay chia tay, chúng tôi quyết định : Trong dinh có bất cứ vật gì, chúng tôi phân phát cho các vị hết. Chúng tôi chỉ giữ lại ba con ngựa. Hai con cho tôi với phò mã, một con cho Vương Thúy-Thúy.
Chán đời đi lang thang !
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-03-28 23:09:40NuHiepDeThuong>
Tiếp theo Hồi 25


Thủ-Huy chỉ ra vườn :
- Dinh thự này, không phải của triều đình ban cho. Nó vốn là của tiền nhân tôi, truyền tử lưu tôn đã bẩy đời. Song thân tôi sai sửa chữa lại cho chúng tôi ở, tôi vẫn giữ nguyên, nay trao cho chú Ty cùng vợ con ở, để trông coi, làm vườn. Khi chúng ta ngồi đây, thì tấm bảng đề chữ « Phụ-quốc Thái-úy, Trung-nghĩa thượng tướng quân phủ đệ » đã được hạ xuống và thay vào đó bằng tấm bảng « Đông-a vãng lai xá ». Nghĩa là khi tôi rời Thiên-trường về đây, tay trắng, thì lại ra đi với tay trắng.
Hội trường náo loạn hẳn lên. Không có gia nhân nào trở về nguyên quán cả, vì hầu hết họ là những người khốn nạn bị hương đảng ức hiếp mà phải tha hương cầu thực, bán mình. Ông bà Tự-Hấp bỏ tiền ra mua, rồi dạy lễ nghi, gửi cho Thủ-Huy. Họ tha thiết xin được về Thiên-trường sống.
Thấy Phan Lân trưởng đoàn võ sĩ Côi-sơn, Trần Tử-Kim trưởng đoàn võ sĩ Long-biên ngồi nhìn trời cười khẩy ; Thủ-Huy hỏi :
- Hai sư đệ cười ta chăng ?
Trần Tử-Kim càng cười lớn :
- Dĩ nhiên ! Đệ không cười sư huynh thì cười ai nhỉ ?
- Coi chừng ăn đòn ! Hai sư đệ cười gì nào ?
- Cười vì sư huynh mau quên !
- Ta quên gì đâu ?
- Hôm trước sư bá Cao Tử-Đức xem số Tử-vi cho sư huynh, có nói rằng năm nay đại hạn của sư huynh ngộ Khoa, Lộc, Tuần. Khi hạn gặp Tuần thì làm quan bị cách. Song cái bộ ba « Khoa, Lộc, Tuần phùng, hân nhiên nhập tướng ». Nghĩa là khi gặp hạn Hóa-khoa, Hóa-lộc, Tuần-không đóng chung, thì đang từ tướng võ, trở thành tướng văn. Cho nên bây giờ sư huynh tuy giải tán phủ Thái-úy, Trung-nghĩa, mà rồi đâu lại vào đó. Bọn đệ xin ở lại một hai ngày, rồi mới lên đường. Chứ lên đường hôm nay, thì mai lại được lệnh trở về, chán chết.
- Ừ nhỉ ! Nhưng chờ xem !
Tuy nghe Tử-Kim nói vậy, nhưng Thủ-Huy vẫn trao cho Vương Thúy-Thúy với ông Ty nhiệm vụ phân chia tài sản. Trong dinh chỉ giữ lại những gì có trước khi Thủ-Huy dọn về ở.
Khi trời chập choạng tối, thì cuộc phân chia tài vật đã xong. Đám gia nhân xuống con thuyền lớn, do Tá-Chu, Kim-Ngân chỉ huy, nhổ neo lên đường trước. Tiếp theo đến bốn con thuyền nữa chở đội võ sĩ Long-biên, Côi-sơn, do Trung-Từ, Bảo-Bảo, Thúy-Thúy, Tử-Kim, Phan Lân chỉ huy ngày mai sẽ lên đường.
Thủ-Huy bàn với Đoan-Nghi :
- Hồi chúng ta đi sứ Kim, em cứ ước ao, sau này có dịp sẽ cùng anh du lịch vùng Thiên-đài, Tương-giang, hồ Động-đình, để được thấy vùng đất linh, mà hồi xưa Quốc-tổ, Quốc-mẫu đã cùng nhau hưởng thanh phúc. Bây giờ dịp đó tới rồi. Ta đi chăng ?
- Dĩ nhiên ta đi. Nhưng chúng ta về Cổ-pháp bái lậy lăng mộ tiên đế rồi về Thiên-trường thăm ông nội, thăm bố mẹ, anh em cho phải đạo đã.
Đoan-Nghi, Thủ-Huy bỏ không mặc y phục công chúa, đại thần nữa. Hai người trang phục đại tang. Cả hai quần áo vải thô, xổ gấu, trái sống, lưng đeo kiếm, từ biệt người quản dinh là ông Ty, rồi hướng về phía Bắc-ngạn.

Ghi chú của thuật giả:

Tang phục thời Lý, Trần, Lê cho tới thời Nguyễn được ấn định rất rõ ràng, chi tiết trong luật. Tôi chỉ có tài liệu về tang chế triều Trần do gia phả các chi để lại, triều Lê do bộ luật Hồng-Đức, triều Nguyễn do bộ luật Gia-long ; mà không có tài liệu về triều Lý. Khảo gia phả bốn chi của họ Lý tại Đại-hàn, tôi chỉ biết một chi tiết : Hoàng-tử, công chúa, phò mã, đại thần để tang vua ba năm, quần áo sô gai, trái sống, sổ gấu.

Để độc giả giả trẻ, cũng như độc giả ở hải ngoại muốn biết rõ về tang chế Việt-Nam từ 1802 đến nay (1997) xin đọc phụ bản Tang- chế Việt-Nam ở cuối quyển này. Tôi nói hiện nay, vì từ khi đức Thế-tổ Cao-hoàng thống nhất đất nước (1802), đến niên hiệu Gia-Long thứ 10 (1811) sai đại thần Nguyễn Văn-Thành làm tổng tài soạn luật. Niên hiệu Gia-Long thứ 14 (1815) thì ban hành . Bộ luật này sau được gọi là luật Gia-long. Kể từ đấy cho đến khi hoàng đế Bảo-Đại thoái vị (1945) tang chế toàn quốc vẫn theo bộ luật này. Trong thời gian 1945 cho đến nay, không chính phủ nào ban luật ấn định tang chế cả, nên dân chúng vẫn còn để tang theo luật Gia-long. Tuy nhiên vẫn có những người không biết lễ nghi, tự chế ra lệ để tang, không ra Tây, chẳng ra Mỹ, khác với Canada, cũng chẳng giống Việt, rồi bảo là canh tân, để tránh bị đàm tiếu là vô học, bất hiếu.


Từ lâu lắm, hồi bà nội qua đời, bây giờ Thủ-Huy mới lại mặc tang phục. Một cảm giác vừa buồn, vừa chua chát làm công nghĩ thầm :
- Phụ-hoàng Anh-tông lên ngôi lúc ba tuổi, bị bà, bị mẹ áp chế riết rồi không còn chủ trương gì. Tuy nhiên từ khi ta rời Thiên-trường về triều, người đối với ta thực một lòng từ ái. Lúc nào người cũng dành cho ta những lời ôn nhu, ngọt ngào, luôn ban thưởng, không một đại thần, hoàng tử nào được hưởng. Ta nhất tâm, nhất trí khuông phò người, người biết công ta, biết lòng ta hơn Long-Xưởng. Cho nên mỗi khi đình thần nghị về việc phong chức tước cho ta, người đều chọn những đề nghị đẹp nhất. Bất cứ ai dèm pha ta, người đều gạt đi. Người có chín công chúa, duy Đoan-Nghi xinh đẹp nhất, võ công cao nhất, văn tài xuất chúng, ngài gả cho ta. Bây giờ ta mang tang phục để tôn kính, để nhớ ơn người. Còn Long-Xưởng ? Than ôi !
Đứng trên con đò của dân chúng, Thủ-Huy phóng con mắt nhìn về cuối giòng sông nước đỏ ngầu như máu. Một đàn cò trắng đo cánh trên nền trời Thu trong xanh. Thủ-Huy nói sẽ vào tai vợ :
- Nhà Phật có thuyết Vô-thường thực là tuyệt. Mới sáng nay, ba anh Kiến-Ninh, Kiến-An, Kiến-Tĩnh cùng chúng mình đem quân độ giang, hùng tráng biết bao. Thế mà bây giờ ba anh ấy đã ra người Thiên-cổ. Còn anh, thì sáng còn là Phụ-quốc thái-úy, cầm binh quyền xã tắc. Em là một công chúa cầm quân. Bây giờ chúng ta chỉ còn hai bàn tay trắng.
Đoan-Nghi mỉm cười :
- Anh trắng tay hay không thì em không rõ. Nhưng tay em không trắng, vì em vẫn còn anh. Mất cái gì em cũng không sợ. Em chỉ sợ mất anh mà thôi. Em nghĩ anh với em đi như thế này, thì em lại thấy hạnh phúc hơn là lúc anh cầm quân, suốt ngày bận rộn.
- Bởi vậy dân gian Việt có câu : Khi vui muốn khóc, buồn tênh lại cười . Bây giờ chúng ta buồn tênh, nhưng thực là nhàn nhã.
- Mai này ta về Thiên-trường, đi cầy với anh Lý, cỡi trâu, thổi tiêu ắt còn nhàn hơn. Lần đầu tiên Đại-Việt mình có cô công chúa cấy lúa, đánh kỳ, làm cỏ.
Đò cập bến. Đoan-Nghi hỏi :
- Chúng ta nghỉ tại đây, hay tiếp tục đi ?
- Ta đi một đoạn nữa, sẽ tới đền thờ cao tổ mẫu. Chúng ta vào đó, xin nghỉ qua đêm, rồi mai về Cổ-pháp.
Ngôi đền này thờ mang tên Lý triều đệ tam hoàng thái hậu linh từ. Đền xây để thờ Linh-Nhân hoàng thái hậu (Ỷ-Lan). Hồi còn niên thiếu, Đoan-Nghi thường được phụ hoàng, mẫu hậu, mẫu thân dẫn đi hành hương vào dịp giỗ vua Thánh-Tông, hoặc giỗ Linh-Nhân hoàng thái hậu. Từ khi lấy chồng, nàng với Thủ-Huy cùng chung lo quốc sự, nên không có dịp hành hương. Bây giờ nghe Thủ-Huy nhắc, nàng mới nhớ lại.
- Ừ nhỉ. Từ đây đến đấy có 14 dặm, thì chỉ cần một khắc sức ngựa mà thôi. Để em mua một ít lễ vật, dâng ngài.
Bến Bắc-ngạn lúc nào các hàng quán cũng mở cửa tới khuya. Đoan-Nghi mua một ít hoa quả thời trân, một con gà trống luộc, mươi phẩm oản... gói lại đeo trên lưng, rồi cùng chồng ra roi cho ngựa lên đường.

Ghi chú của thuật giả:

Ngôi đền này, nay thuộc xã Dương-xá, huyện Gia-lâm, Hà-nội. Không rõ kiến trúc hồi đó thế nào. Còn đền hiện nay, năm 1995, tôi tới hành hương thì cảnh trí như sau : Từ quốc lộ có lối đi vào khoảng 20 mét, thị gặp cái cổng tam quan. Cổng có hai tầng. Trên cao nhất của cổng có bốn chữ đại tự :

Phúc như Đông-hải.

Hai cột ở tầng trên có đôi câu đối :

Mẫu nghi đoan chính chiếu thiên cổ,
Thánh trạch linh quang ngưỡng vạn niên.

Nghĩa là :

Ngài là bậc mẫu nghi đoan chính. Cái đoan chính đó chiếu sáng từ nghìn xưa. Ân đức, linh thiêng, sáng ngời khiến dân chúng chiêm ngưỡng vạn năm.

Câu đối ở cột dưới :

Tam dương nhật chiếu bình an địa,
Vương phúc tinh huy cát khánh trường.

Nghĩa là :

Hai câu này để ca tụng đức của vua Thánh-tông :

Đức của đệ tam hoàng đế chiếu xuống như mặt trời, khiến cho đất nước được bình an. Phúc của nhà vua ngày càng mở rộng, ngày càng đẹp, càng dài.

Vượt qua lối đi ngắn nữa thì vào cái sân. Bên trái là đền thờ Linh-Nhân hoàng thái-hậu, bên phải là ngôi chùa cổ mang tên Linh-nhân tư phúc tự. Tương truyền chùa này là một trong 76 ngôi chùa mà sinh thời Linh-Nhân hoàng thái hậu sai cất để cúng dàng. Xin độc giả đừng lầm với chùa Tư-phúc ở trên đỉnh núi Kỳ-lân, làng Chi-ngại, huyện Chí-linh, tỉnh Hải-hưng.

Đền, chùa vẫn tồn tại mấy bia đá. Nhưng tiếc rằng hầu hết bia đều bị vạc mất khá nhiều chữ.
Trong đền, có hai cung. Cung ngoài có cái kiệu, cùng nghi trượng. Cung trong có chữ đại tự :

Thánh cung vạn tuế.


Tượng ngài mặc y phục thái-hậu mầu vàng. Hai bên là tượng sáu vị phụ tá đương thời của ngài là :

Công-chúa Thiên-Thành.
Công-chúa Động-Thiên.
(Cả hai vị đều là con của vua Lý Thánh-tông.)

Minh-đức Thạc-hòa, Chí-nhu công chúa, nhũ danh Nguyễn-thị Trinh-Dung.
Ninh-đức, Trang-duệ, Hiếu-khang công chúa, nhũ danh Lê Ngọc-Nam.
Nhu-mẫn, Đoan-duệ, Anh-văn công chúa, nhũ danh Trần Ngọc-Huệ.
Hòa-huệ, Ninh-tĩnh, Ôn-văn công chúa, nhũ danh Vũ Thanh-Thảo.

Hành trạng của Linh-Nhân hoàng thái hậu và 6 công chúa, xin xem Nam-quốc sơn-hà, 5 quyển, 2232 trang, của Yên-tử cư-sĩ do Đại-Nam, Hoa-kỳ xuất bản.

Linh-Nhân hoàng thái hậu (1) (Ỷ-Lan) sinh ra vua Nhân-tông, Sùng-hiền hầu (2).
Sùng-hiền hầu sinh ra vua Thần-tông (3).
Vua Thần-Tông sinh ra vua Anh-tông (4).
Vua Anh-tông sinh ra Long-Xưởng, Long-Trát, Đoan-Nghi (5).

Cách xưng hô ngày xưa, theo bình dân và theo Hán-Việt như sau :

Bản thân (5). Kỷ thân : Long-Xưởng, Đoan-Nghi v.v.
Đời cha mẹ (4). Phụ, mẫu : Vua Anh-tông, Minh-Đạo vương.
Đời ông bà(3). Tổ phụ mẫu: Vua Thần-tông.
Đời cụ (2). Tằng tổ phụ mẫu : Vua Nhân-tông, Sùng-hiền hầu.
Đời kị (1). Cao-tổ phụ mẫu : Vua Thánh-tông, Linh-Nhân hoàng thái hậu.


Hai người dừng ngựa trước đền. Cổng đền đã đóng. Thủ-Huy rung chuông. Một người tuổi khoảng trên dưới bốn mươi, thân hình gầy gò, mặt choắt chéo, ra hỏi bằng giọng cộc cằn :
- Muốn gì ?
- Chúng tôi ở xa đến. Xin ông cho chúng tôi vào lễ Bà.
- Tối rồi ! Đền đóng cửa. Mai lại .
Dứt lời, y quay lưng trở vào, miệng lầm bầm nói một mình :
- Cả ngày dài thì không tới, đợi trời tối mới tới. Chán mớ đời. Ban ngày thì mải đi chơi. Tối lăn mặt trời đổ thóc vào xay !
Thủ-Huy rung chuông nữa, y quay lại, mặt cau có :
- Cái gì ?
Vừa lúc đó một bà già trên dưới sáu chục xuất hiện. Thoáng nhìn dáng đi khoan thai, nhẹ nhàng cùng sắc diện của bà, Đoan-Nghi hơi giật mình . Nàng nhìn chồng, cả hai cùng tự hỏi : Tạ sao lại có một bà già xinh đẹp, quý phái ở chốn thôn dã như thế này ?
Bà ta chỉ vào Đoan-Nghi, Thủ-Huy nói sẽ vào tai gã đàn ông :
- Phải lễ độ với khách. Coi kìa, lưng khách đeo kiếm kìa !
Nghe bà già nói, gã đàn ông đưa mắt nhìn, thấy Thủ-Huy, Đoan-Nghi đều đeo kiếm trên lưng, y kinh hãi, vội đổi thái độ ; hai tay cung lại, vái dài, gập đầu xuống gần sát đất :
- Bẩm lạy quan khách ạ. Xin quan khách vào lễ Thái-hậu.
Y mau mắn mở cổng, cầm dây cương ngựa dắt cột ở gốc mít, rồi tự giới thiệu :
- Tôi tên Ngô Văn-Phụng, là thầy đồ phụ trách việc viết sớ tại đây.
Y lại chỉ vào người đàn bà :
- Đây là bà thủ từ. Bà tên Lê-thị Bồng.
Nhìn thấy bọc lễ vật khá lớn, mắt gã Phụng sáng ngời. Y lấy cái mâm, rồi đỡ gói lễ vật trên tay Đoan-Nghi, bầy ra. Bà Bồng cung kính hỏi :
- Phải chăng nhị vị là thập phương tới vay tiền Thái-hậu?
- Không ! Chúng tôi không giầu, nhưng cũng tạm đủ sống. Đâu dám vay tiền ngài !
- Nhị vị đeo kiếm, vậy hẳn là con em đệ tử võ phái Mê-linh chăng ?
Thủ-Huy xua tay :
- Không hẳn như vậy !
- À, thôi rồi, các vị họ Lý hặc họ Lê hẳn ?
- Cũng không hẳn như vậy.
Thủ-Huy tò mò :
- Tôi tưởng khi đã đến đền này, thì ai cũng như ai. Có đâu phân biệt loại người?
- Không phải tôi phân ra, mà lệ này có từ lâu. Phàm thập phương tới lễ, thì chỉ được lễ ở ngoài, trước bàn thờ. Còn như thuộc họ Lý là họ của vua Thánh-tông, họ Lê là họ của Thái-hậu, thì được vào trong cung chiêm ngưỡng tượng của ngài.
- Thế còn nếu như là con em đệ tử võ phái Mê-linh ?
- Đương thời ngài là đệ tử của vua bà Bình-Dương, chưởng môn phái Mê-linh. Cho nên trước khi băng hà, ngài có di chiếu để lại : Trong đời ngài xử dụng tới mười tám thanh kiếm khác nhau. Vậy thì tại mỗi nơi thờ ngài được giữ một thanh. Sau này, phàm con em đệ tử phái Mê-linh tới hành hương, thì được chiêm ngưỡng kiếm ấy.
- À, thì ra thế.
Đoan-Nghi trả lời :
- Chúng tôi thuộc cả hai loại, tôi họ Lý, và cũng là đệ tử của phái Mê-linh.
Bà Bồng mỉm cười, ánh mắt bà dịu hẳn lại, thoáng một nét buồn xa xôi.

Ghi chú của thuật giả:

Công-chúa Thiên-Ninh là con gái của vua Lý Thánh-tông với Mai phi. Công chúa có tài kinh bang tế thế, được vua cha trao nhiệm vụ cải cách nông nghiệp, làm cho Đại-Việt trở thành giàu có súc tích. Trong cuộc bình Chiêm 1069, cuộc đánh Tống 1075 và kháng Tống 1077, công chúa chỉ huy tiếp vận lương thảo. Hồi phụ trách cuộc cải cách nông nghiệp, công chúa thường cho nông dân vay tiền làm ruộng, đến mùa gặt thì trả. Vì vậy dân chúng gọi công chúa là bà Chúa-kho. Trong cuộc kháng Tống, quân Tống vượt chiến lũy Như-nguyệt, tiến tới sát Thăng-long, chỉ còn 25 cây số. Công chúa chỉ huy quân đánh bật giặc trở về Như-nguyệt, rồi tử trận. Triều đình xây đền thờ công chúa ở Thị-cầu, Bắc-ninh.
Mỗi khi vào đầu Xuân, dân Việt thường tới đền thờ công chúa khấn xin vay tiền. Nhưng, trên công chúa còn có Linh-Nhân hoàng thái hậu. Vì vậy tín chủ phải tới đền thờ ngài khấn xin vay trước, rồi mới tới đền thờ bà Chúa-kho sau. Khi dâng sớ vay tiền, phải nói rõ vay bao nhiêu, rồi xin âm dương. Nếu được, năm đó phát tài, cuối năm phải tới lễ tạ và trả nợ. Thường thì tín chủ trả bằng tiền, vàng, bạc...mã, gọi nôm na là tiền, vàng, bạc âm phủ.
Hiện nay (1997), dường như sự linh ứng có thực, nên hằng năm cứ vào đầu Xuân, dân chúng vẫn lũ lượt kéo nhau đến đền thờ hai ngài...vay tiền. Khi trả thì không trả bằng tiền, vàng, bạc Âm-phủ nữa, mà trả bằng đô la Âm-phủ Hoa-kỳ. Loại đô la Âm-phủ này in rất đẹp, không thua gì đô la thực. Xin đọc Nam-quốc sơn-hà của Yên-tử cư-sĩ, 5 quyển do Đại-Nam, California Hoa-kỳ xuất bản.


Ngô Văn-Phụng đã bầy lễ vật lên bàn thờ. Y mài mực, cầm bút hỏi :
- Xin hai vị cho biết tên, để chúng tôi còn làm sớ tâu lên ngài.
Bà Bồng chỉ Phụng giới thiệu :
- Chú Ngô đây, cũng là người có học. Năm trước thi Minh-kinh, tuyển bẩy mươi hai người, chú ấy đỗ thứ bẩy mươi hai. Được quan Thái-sư Đỗ Anh-Vũ bổ làm gia sư cho đạo quân thứ tư. Ít lâu sau, vì phạm tội, bị cách. Thái-sư đưa về phủ người lĩnh chức thủ bạ. Từ sau khi Thái-sư bị hại, triều đình cho về làng này dạy học.
Nghe bà Bồng thuật, Thủ-Huy nhớ lại chuyện cũ, do Khu-mật viện trình. Công dùng Lăng-không truyền ngữ nói vào tai Đoan-Nghi :
- Em phải cận thận. Đây là tên bẩn thỉu bậc nhất thế gian. Ông nội tên Ngô Văn-Phụng này làm nghề hoạn lợn, giết thịt chó bán. Sau vì hắn ăn trộm chó, bị người ta giết. Đến đơì bố y, được cử làm mõ xã Siêu-loại. Vì can tội ăn cắp vịt, bị làng đuổi. Hắn cải tên, sang làng Cổ-nhuế, làm nghề nhặt phân trâu, phân chó ở Thăng-long. Hắn cầm đầu một bọn du thủ, du thực ăn cắp vặt ở các chợ, bị người ta đánh chết. Tên Phụng mồ côi, được một thầy đồ đem về nuôi, giữ việc chăn trâu. Thầy thấy y sáng dạ, cho y học cùng với học trò. Y khai man lý lịch đi thi Minh-kinh, đậu hạng trót, được cử làm gia sư cho đạo quân thứ tư. Chức vụ này chuyên viết thư dùm binh lính. Lương gia sư không đủ nuôi thân, y lấy vợ là gái giang hồ rồi cùng vợ mở nhà chứa, gây cho rất nhiều binh lính bị bệnh Dương-Mai, việc phát giác, bị cách chức, đáng lẽ bị đầy đi xa. Nhưng y được Anh-Vũ che chở, đem về phủ coi việc chăn ngựa. Vì y bị liệt dương, vợ y tằng tịu với tên chăn ngựa. Y chán đời, tự thiến. Anh-Vũ bị giết, y được Cảm-Thánh thái hậu cho về đây bề ngoài làm thầy đồ. Thực ra để theo dõi hoàng tộc.
Nghe tên Phụng muốn viết sớ cho mình. Đoan-Nghi lắc đầu :
- Chúng tôi biết chữ . Xin để chúng tôi tự viết sớ.
Nói rồi nàng cầm bút viết, tay đưa bút rất nhanh, không đầy một khắc đã đầy hai tờ giấy. Nội dung tờ sớ, nàng tóm lược tất cả những gì đã xẩy ra từ khi Thủ-Huy về Thăng-long. Cuối cùng nàng xin cao tổ mẫu phù hộ cho con cháu giữ được cơ nghiệp tổ tiên.
Tuy không biết nội dung tờ sớ Đoan-Nghi viết gì. Nhưng tên Phụng thấy chữ của nàng như rồng bay phượng múa. Y biết đây là cặp vợ chồng có lý lịch hẳn hoi.
Bà từ, tên Phụng đánh trống, khua chuông. Thủ-Huy, Đoan-Nghi vào chiếu lễ. Lễ xong Đoan-Nghi đốt sớ. Nàng móc trong túi ra một nén bạc, trao cho bà Bồng :
- Tôi xin góp chút ít, để dùng vào việc hương khói thờ kính Thái-hậu. Không biết bà có thể cho chúng tôi qua đêm tại đây được không ?
Bà từ tiếp bạc, rồi nhanh nhẩu :
- Được ! Đền này có đến chín phòng, dành cho khách phương xa tới trọ. Để tôi bảo trẻ dọn phọng cho cô cậu.
Bà lên tiếng gọi
- Huệ-Trinh đâu ?
Một thiếu phụ nữ xinh xắn, tuổi khoảng trên ba mươi xuất hiện.
- Người dọn phòng sạch sẽ cho cô cậu đây qua đêm.
Hương tàn, Ngô Văn-Phụng hạ lễ xuống, y định chặt con gà ra, mời Thủ-Huy, Đoan-Nghi thụ lộc thì Đoan-Nghi xua tay :
- Chúng tôi ăn cơm chiều rồi. Lộc Thái-hậu xin biếu lại ban thủ từ.
Vào trong phòng nghỉ, Thủ-Huy nói sẽ vào tai Đoan-Nghi :
- Ban nãy, anh thấy đôi mắt tên Ngô Văn-Phụng hiện ra vẻ gian. Y luôn nhìn vào thanh kiếm của em. Còn bà Bồng, dáng người thanh nhã quý phái, chắc ngày xưa bà phải là một giai nhân. Nhìn bàn tay bà ấy trai cứng thì rõ ràng bà là một cao thủ phái Tản-viên. Vậy chúng ta phải cẩn thận mới được. Không biết bà Bồng là người của ai ? Bà ẩn thân với mục đích gì ? Còn tên Phụng, y là chân tay của Cảm-Thánh thái hậu sai tiềm ẩn ở đây có mưu đồ gì không ?
- Em cũng nghi vậy.
- Ta cứ vờ nằm im, giả ngủ say, chờ xem.
Sau một ngày, với những biến cố liên tiếp, Thủ-Huy, Đoan-Nghi không thể nào chớp mắt được. Đoan-Nghi nghĩ đến việc Long-Xưởng trở mặt, nàng muốn bật lên tiếng khóc. Nhưng nghĩ lại, thái độ của Thủ-Huy, cắm kiếm giữ điện, không tuân chỉ Long-Xưởng bàn giao chức vụ Thái-úy cho Tô Hiến-Thành, ngang nhiên ra đi, lại càng đáng trách hơn. Nàng tội nghiệp cho ba anh Kiến-Tĩnh, Kiến-An, Kiến-Ninh bị chết thảm ; đến việc Long-Xưởng trở mặt, mà lòng rối như tơ vò. Có lẽ giờ này, người ta đã niệm ba vương, ngày mai Long-Xưởng lên ngôi, truy phong chức tước rồi mới đưa về Cổ-pháp chôn.
Nhưng chờ đến khuya cũng không có gì lạ. Hai người ngủ thiếp đi lúc nào không hay.
Tiếng gà gáy ban mai, tiếng chim hót chào mừng bình minh làm Đoan-Nghi thức giấc. Nàng định đánh thức chồng dậy thì chợt khám phá ra có tiếng chân người di chuyển trên nóc nhà, nhẹ như chim, trầm như tiếng chân trâu. Nàng sẽ bẹo tay Thủ-Huy. Thủ-Huy rung rung tay, dùng Lăng-không truyền ngữ nói với vợ :
- Nội công người này thuộc chính phái. Y quy tức để khỏi bị lộ chân tướng, nội công y khá cao. Bước chân y nhẹ nhàng, có lẽ là đàn bà. Coi chừng lại có người đi về phía chúng ta, dường như là bước chân bà Bồng. Bà ngừng lại... nghe ngóng...
Có tiếng bà Bồng vang lên:
- Quý khách viếng thăm đền thờ Thái-hậu, sao không đường đường chính chính rung chuông, mà lại lén lút, e nhẹ thể đi !
Rồi có tiếng chưởng chạm nhau binh, binh. Tiếng bà Bồng quát :
- Thì ra người là người phái Hoa-sơn đấy.
Tiếng chưởng lực vẫn chạm nhau. Đoan-Nghi để tay lên mũi chồng tỏ ý trêu ghẹo :
- Anh biết người dùng võ công Hoa-sơn là ai chưa ?
- Anh không nhận ra.
- Là Vương Thúy-Thúy đấy.
- Sao em biết ?
- Thì còn người đàn bà phái Hoa-sơn thứ nhì nào mà đi tìm anh giữa đêm khuya, ngoài người đẹp Hàng-châu của anh ?
Nói dứt nàng ngồi dậy, mở cửa bước ra sân. Thủ-Huy theo sau. Trời đã sáng hẳn. Công nhận ra quả là Thúy-Thúy đang đấu với bà Bồng. Nhìn bà Bồng dùng võ công Tản-viên, Thủ-Huy tự hỏi :
- Không biết bà này là ai ? Mình chưa từng nghe trong phái Tản-viên có một nữ cao thủ đến trình độ này !
Đấu được trên trăm chiêu, thì công lực Thúy-Thúy cạn dần. Trong khi bà Bồng ra sức tấn công. Bà nói bằng giọng kẻ cả :
- Tiểu cô nương ! Tiểu cô nương dùng võ công Hoa-sơn, thì ra tiểu cô nương là người Hoa hẳn ? Coi thân thủ thì dường như tiểu cô nương còn nhỏ tuổi, mà công lực đã đến trình độ này thì thực là hiếm có. Tiểu cô nương có thể cho ta biết danh tính được không ?
Thúy-Thúy vẫn trả đòn, dường như nàng muốn chạy trốn, nhưng bị bà Bồng đánh riết quá, nên không thoát khỏi.
- Tiểu cô nương ! Ta chỉ đánh ba chiêu nữa, thì tiểu cô nương sẽ ngã cho mà coi.
Bà xuất chiêu Ác-ngưu nan độ đánh thẳng vào ngực Thúy-Thúy, miệng đếm :
- Một này.
Thúy-Thúy gượng gạo đỡ, nàng phải lùi ba bước mới đứng vững. Bà Bồng lại đánh chiêu Ngưu-ngọa ư sơn, miệng đếm :
- Hai này.
Thủy-Thúy hít một hơi dài đỡ, nàng lảo đảo muốn ngã. Bà Bồng đánh tiếp chiêu Thanh-ngưu nhậïp điền. Miệng đếm :
- Ba ! Ngã này !
Thúy-Thúy dùng cả hai tay đỡ. Thủ-Huy vội nhặt viên sỏi, bắn ra, trúng huyệt Khúc-trì của bà Bồng, khiến cánh tay bà tê liệt, kình lực mất hết. Hai chưởng của Thúy-Thúy trúng người bà bùng một tiếng, bà bay tung lại sau. Cũng may công lực nàng cạn rồi, nên bà không bị thương. Thủ-Huy lại bắn hai viên sỏi nữa, trúng huyệt Dương-lăng-tuyền. Dương-lăng-tuyền là hội huyệt của cân, nên toàn thể gân cốt bà bị liệt, bà ngã ngồi xuống.
Thúy-Thúy tưởng những bị nguy đến nơi, tự nhiên thấy chưởng lực bà Bồng mất hết kình lực, rồi ngã ngồi xuống, thì ngạc nhiên vô cùng. Song vốn thông minh nàng đoán ngay ra Thủ-Huy, Đoan-Nghi đã cứu mình.
- Vương tỷ tỷ !
Đoan-Nghi hỏi :
- Sao tỷ-tỷ không về Thiên-trường, mà lại đến đây ?
- Tiểu tỳ vừa về đến nơi, thì lão đại hiệp sai tiểu tỳ khẩn lên đường tìm chủ nhân, để báo cho chủ nhân biết nhiều biến cố xẩy ra.
Huệ-Trinh đã xuất hiện từ bao giờ, nàng chỉ vào Đoan-Nghi, Thủ-Huy :
- Các vị đây đều là người có danh vọng trong võ lâm, cớ sao lại bắn sỏi ám toán người ?
Đoan-Nghi tiến đến giải huyệt cho bà Bồng, rồi chỉ vào Thúy-Thuy, ngỏ lời xin lỗi :
- Vương tỷ tỷ đây là người nhà của chúng tôi. Vì đi tìm chúng tôi khẩn cấp, mà đột nhập vào đền này. Xin cao nhân rộng dung.
Bà Bồng nói với Đoan-Nghi như mẹ nói với con, bà nói với cháu, bằng một giọng cực kỳ ôn nhu, tha thiết :
- Các người là Công-chúa, là phò mã đấy ! Ta hỏi các người : Có phải phụ hoàng mới băng hà không ? Có phải trong triều gian thần lộng hành không ? Có phải hai người đang cầm đại quân trong tay không ? Có phải thân các người lĩnh trọng trách xã tắc không ? Có phải tình dân thế nước đang như dầu sôi lửa bỏng không ? Tại sao các người không ở lại chịu tang, mà lại rời Thăng-long đi như thế này ?
Thúy-Thúy kinh ngạc hỏi :
- Sao bà biết đây là công chúa, phò mã ?
Huệ-Trinh chỉ vào thanh kiếm của Thủ-Huy, với Đoan-Nghi :
- Có gì lạ đâu ?
Thúy-Thúy tỉnh ngộ, vì vỏ thanh kiếm của Đoan-Nghi có khắc chữ Mê-linh Đoan-Nghi, và của Thủ-Huy có chữ Thủ-Huy Đông-a.
Nghe lời chất vấn của bà Bồng, Đoan-Nghi cung tay :
- Xin cao nhân cho biết phương danh ?
Huệ-Trinh mỉm cười :
- Sư phụ ta là Linh-khang Chiêu...
Bà Bồng ngắt lời Huệ-Trinh :
- Thôi ! Không nên nhắc đến chuyện xưa nữa.
Nghe Huệ-Trinh nói, Thủ-Huy chợt nhớ lại một việc : Hồi vua Thần-tông còn tại vị, ngài cực kỳ sủng ái Thần-phi Hồng-Hạnh và Đức-phi Quỳnh-Chi. Khi vua Thần-tông băng, vua Anh-tông lên kế vị, phong cho Thần-phi Hồng-Hạnh là Linh-chiếu Chiêu-hòa thái hậu, phong cho Đức-phi Quỳnh-Chi là Linh-khang Chiêu- đức thái phi. Sau, Linh-Chiếu, Linh-Khang cùng bỏ đi vân du thiên hạ. Linh-Chiếu thái hậu theo học phái Tản-viên, trở thành Côi-sơn song ưng. Công nghĩ thầm : Chắc Linh-Khang cũng theo học phái Tản-viên, rồi trở thành cao thủ.
Nghĩ vậy, công đưa mắt cho Đoan-Nghi, Thúy-Thúy :
- Bọn thần nhi không biết đại giá thái-phi ở đây thành ra có điều vô phép. Xin thái-phi mở lượng hải hồ ân xá cho.
Linh-Khang nắm tay Đoan-Nghi, Thủ-Huy vào chính điện thờ, rồi hỏi :
- Sáng qua, ta thấy hiệu binh Phù-Đổng, Ngự-long rầm rộ qua đây, rồi được biết hai con đem binh về diệt gian thần, lập chính thống. Công việc ra sao mà chiều qua hai con lại đến đây như người vô sự vậy ?
Đoan-Nghi khoan thai thuật lại những gì đã xẩy ra một lượt. Khi nghe đến tên người bịt mặt đã nhập, đại náo điện Càn-nguyên . Sau đó đón đường Thủ-Huy để khuyên giải, nét mặt Thái-phi trở thành quan trọng. Đoan-Nghi hỏi:
- Dường như Thái-phi biết lý lịch người này?
- Ta không chắc lắm. Căn cứ vào hành trạng, ta đoán người đó là sư huynh Đặng Phi-Sơn, chưởng môn phái Tản-viên.
- Ái chà!
Thủ-Huy than:
- Hèn chi võ công của người kinh thế hãi tục.
Thái-phi dục Đoan-Nghi:
- Con thuật tiếp cho ta nghe diễn biến của triều đình.
Đoan-Nghi thuật lại một lượt. Nghe xong Linh-Khang thái phi kinh hãi :
- Hỏng rồi ! Thôi, thế là xong.
- Có gì bí ẩn ở trong không?
Đoan-Nghi chỉ Thủ-Huy :
- Tâu thái-phi chính anh Thủ-Huy cũng như con, chỉ muốn cùng anh Long-Xưởng hoàn thành ba điều trọng đại. Một là bắt Tống phải coi ta như một nước ngang hàng. Hai là làm cho dân giầu nước mạnh. Ba là đòi lại cố thổ. Nay hai điều trên đã hoàn thanh. Còn điều thứ ba, thì Tống đã biết, đề phòng cẩn mật, không thể làm được nữa. Vậy con với Thủ-Huy rời quyền bính mà lòng vẫn thư thái, không chút oán hận.
- Ta nói hỏng, không phải hỏng vì việc hai con bỏ đi, mà hỏng vì Long-Xưởng nguy rồi !
Bà nói với Thủ-Huy :
- Ngay bây giờ, nếu con ban lệnh, thì liệu các tướng chỉ huy mười hai hiệu Thiên-tử binh, bốn hạm đội, hiệu binh Phù-Đổng, Hoa-lư có còn nghe không ?
- Con nghĩ là vẫn còn. Vì Long-Xưởng ban chỉ cách chức con là ban bằng miệng. Con cũng chưa bàn giao chức vụ cho Tô Hiến-Thành. Thưa Thái-phi, ý Thái-phi muốn nói ?
- Ta nghĩ sau khi Tăng Khoa, rồi con rời Thăng-long, ông bà Đào Duy dẫn thị vệ Đông-cung rời Hoàng-thành, thì quanh Long-Xưởng không còn lực lượng nào nữa. Bọn Tô Hiến-Thành, Đỗ An-Di sẽ sai tên Đàm Dĩ-Mông dùng thị vệ, cấm quân tiếp tục tôn Long-Trát lên làm vua, giam Long-Xưởng lại. Bây giờ, một lần nữa con phải đem quân về cứu Long-Xưởng...
Thủ-Huy, Đoan-Nghi cùng tỉnh ngộ. Công nói gượng :
- Không lẽ bọn Đỗ An-Di dám làm lộng đến thế ư?
Vương Thúy-Thúy tiếp lời Linh-Khang :
- Thưa chủ nhân họ dám, và họ đã làm rồi. Việc đó xẩy ra ngay lúc chủ nhân rời Thăng-long.
- Sao tỷ tỷ biết ?
Thủ-Huy hỏi : Tin này ai cho tỷ tỷ biết ?
- Thưa là đại lão gia.
Thúy-Thúy thuật :
- Hôm qua, khi ba con thuyền nhà ta rời Thăng-long về tới Thiên-trường, thì chim ưng đưa tin của bản phái báo cho lão gia biết vắn tắt rằng : Tô Hiến-Thành, Đỗ An-Di, đã áp chế Hoàng-hậu, Thái-tử Long-Xưởng bắt ký vào tờ biểu tôn Long-Trát lên làm vua. Sau đó chúng giam Bảo-Quốc vương, vương phi lại, rồi vào ngục thả Đỗ Thục-phi với Long-Trát ra. Họ tiếp tục tôn Long-Trát làm Trinh-Phù hoàng đế, Thục-phi làm Chiêu-thiên, Chí-lý hoàng thái hậu như cũ. Nghe tin này, ngoài trừ đại lão gia, còn lại tất cả môn phái cùng vỗ tay reo hò vui mừng, cho rằng Long-Xưởng tự mình hại mình. Đại lão gia sai tiểu tỳ phi ngựa bất kể ngày đêm tìm chủ nhân, báo tin cho chủ nhân với lời nhắn nhủ rằng : Đừng để cho hậu thế chê là ngu trung. Trước đây vua Anh-tông sủng ái chủ nhân với công chúa, mà trao cho chức Thái-úy. Nay người vừa băng hà, Long-Xưởng xua đuổi chủ nhân, thì Long-Xưởng đã bị giam. Chủ nhân phải về năém lấy quyền, bằng không bọn An-Di sẽ ra tay hại tất cả tướng sĩ dưới quyền của chủ nhân . Việc này đưa đến chư tướng chống lại chúng, thì nước sẽ có nội loạn. Vậy chủ nhân với công chúa cứ đường đường chính chính về Thăng-long thụ tang. Mọi sự đã có lão gia chu toàn.
Thủ-Huy hiểu rằng ông nội mình muốn nói : Mọi sự về Long-Xưởng coi như đã an bài, đừng cố cưỡng lại. Cưỡng lại chỉ lao tâm, khổ tứ vô ích mà thôi. Công thở dài tâu với Chiêu-Khang:
- Dù bị ép buộc, nhưng anh Long-Xưởng đã ký vào biểu tôn Long-Trát lên ngôi, thì con bất lực rồi.
Công nói với Đoan-Nghi :
- Nghi muội, hồi còn tại thế, phụ hoàng cực kỳ sủng ái muội, lại tin dùng anh. Chúng ta cứ ngang nhiên về chịu tang. Nếu bọn Đỗ An-Di có trở mặt, với võ công chúng ta, chúng ta dư sức giết chúng.
Chiêu-Khang đồng ý :
- Ta cũng về chịu tang với hai con.
Bà gọi Huệ-Trinh :
- Hoàng-thượng băng hà, ta về chịu tang. Con sai Ngô Văn-Phụng đánh xe cho ta về Thăng-long.
Chiêu-Khang thay y phục Thái-phi. Tuy bà trên dưới sáu mươi, nhưng sắc đẹp vẫn chưa tàn phai. Thủ-Huy, Đoan-Nghi cỡi ngựa đi trước. Xe Chiêu-Khang đi sau.
Vừa đi được một quãng, thì từ phía trước có hai kị mã đang đuổi nhau. Kị mã chạy, mặc y phục nô bộc, ngực đeo cái túi, địu một đứa trẻ. Dường như y bị thương, nên mặt đầy máu. Kị mã phía sau mặc y phục thị vệ. Vì phía trước có xe của Chiêu-Khang cản đường, nên ngựa của người y phục nô bộc phi chậm lại, bị ngựa của thị vệ đuổi kịp. Gã nô bộc ngửa mặt lên trời khấn :
- Xin liệt tổ năm vị tiên đế phù hộ cho tiểu chủ thoát khỏi tai vạ hôm nay.
Viên thị vệ quát lên :
- Gã họ Doãn kia ! Ta với người vốn không thù, không oán. Chỉ cần người trao đứa trẻ cho ta, để ta về phục mệnh, thì ta sẽ để cho người sống. Bằng không ta phải giết người.
Hai người xông vào giao chiến. Gã họ Doãn dùng võ công Đông-a, còn gã thị vệ dùng võ công Hoa-sơn. Chỉ
được mấy chiêu, gã họ Doãn đã lạc bại. Viên thị vệ đưa một đao định xẻ gã họ Doãn làm hai. Nhưng khi đao y sắp chạm vào người đối thủ thì bị vuột khỏi tay y. Đao của y đã bị Đoan-Nghi đoạt mất. Người y bị hất tung lên cao, rồi rơi xuống đường, giống như chính y nhảy xuống vậy. Y bị điểm huyệt, đứng như một cây chuối.
Gã Doãn thoát chết, y bật lên tiếng kêu :
- Thì ra phò mã với công chúa đấy ư ?
Đoan-Nghi nhận ra gã họ Doãn là trưởng đội mã phu của Đông-cung. Không biết đứa trẻ mà gã địu kia là ai, mà bị thị vệ đuổi bắt ? Nàng hỏi :
- Đứa trẻ này là ai, mà bị thị vệ truy lùng ?
- Khải điện hạ đây là đệ nhị hoàng tử của Chí-tôn, Vô-thượng, đại-thánh hoàng đế.
Nghe đến danh hiệu bọn nịnh thần tôn Long-Xưởng, Thủ-Huy cau mày. Nhưng công không nói gì. Đoan-Nghi bồng lấy đứa trẻ, nàng nhận ra nó là con thứ nhì của Long-Xưởng. Dù Long-Xưởng trở mặt, xua đuổi nàng, nhưng tình cô cháu không cho nàng làm ngơ. Nàng trao đứa trẻ cho Thúy-Thúy, rồi hỏi :
- Vì sao thị vệ lại đuổi bắt đứa trẻ này ?
Gã họ Doãn khóc :
- Hôm qua, sau khi phò mã, công chúa đi rồi, thì gia tướng thân binh của Tô Hiến-Thành, Dỗ An-Di xuất hiện. Mạc Hiển-Tích chỉ huy thị vệ, cấm quân, gia tướng thân binh họ Tô, Đỗ bao vây điện Càn-Nguyên. Hình-bộ thượng thư Trần Trung-Tá kết tội Chí-tôn Vô-thượng, Đại-thánh hoàng đế những gì là mưu phản, soán vị... gồm hơn trăm điều. Rồi Tô Hiến-Thành xin chỉ dụ của Đỗ Thục-phi bắt Hoàng-đế. Người cùng Hoàng-hậu Trang-Hòa chống trả, giết hơn hai chục tên thân binh, thị vệ, rồi bị bắt. Đỗ An-Di sai bao vây Đông-cung, giam tất cả bộc phụ, mã phu, cung nữ, thái giám vào ngục.
- Thế đội thị vệ Đông-cung đâu
- Khi Hoàng-thượng xua đuổi ông bà Đào Duy, thì ông bà dẫn đội thị vệ Đông-cung về ấp phong của người. Đông-cung không còn lực lượng nào phòng vệ nữa. Hoàng trưởng tử với công chúa bị bắt luôn. Bấy giờ thần đang đánh xe cho cung nga bồng đệ nhị hoàng tử dạo chơi Thăng-long. Nghe tin dữ, thần đưa hoàng tử trốn về nhà thần. Sáng nay, thị vệ tơí vây bắt, thần ôm hoàng tử vừa chống với thị vệ vừa chạy. May mắn đến đây gặp công chúa cứu mạng.
- Còn Thái-tử Long-Xưởng với vương phi Trang-Hòa, hiện nay ra sao ?
- Đêm qua, thần nghe nói, bọn Tô Hiến-Thành, Đỗ An-Di giam người vào ngục. Chúng ép người ký vào biểu tôn hoàng tử Long-Trát lên ngôi vua. Người không ký. Chúng đem hoàng trưởng tử, công chúa vào ngục, uy hiếp rằng, nếu người không ký thì chúng sẽ giết. Người vẫn cương cường không ký. Sau vì vương phi Trang-Hòa năn nỉ, người khuất phục ký.
Đoan-Nghi giải huyệt cho viên thị vệ, rồi hỏi :
- Người báo danh đi. Người thuộc cơ đội nào ? Ai ra lệnh cho người truy tầm đứa trẻ này.
Viên thị vệ run run :
- Thần là gia tướng phủ Thái-sư Đỗ An-Di, tên Chu Hải. Chính Thái-sư ra lệnh cho thần phải đuổi giết đứa trẻ này, cho tuyệt hậu hoạn, vì nó là con thân vương phiến loạn Long-Xưởng.
Thủ-Huy vỗ sẽ lên vai viên thị vệ một cái, làm toàn thân y bị rung động, rồi hỏi :
- Người có biết ta đã nhả vào cơ thể người một ít Cổ-loa nội lực. Nội trong ba mươi ngày không trị thì các mạch máu bị vỡ ra mà chết không ?
- Khải...Khải... Thần xin phò mã dung tình.
Thủ-Huy lấy trong bọc ra một con ó bằng bạc, tín hiệu của phái Đông-a, trao cho tên Chu Hải :
- Bây giờ người trở về, mà không có đứa trẻ này đem nộp thì người sẽ bị An-Di giết. Vậy người hãy gấp đem vợ con đi Thiên-trường. Tới Thiên-trường, người đưa con ó này cho anh ta tên Trần Lý, thì người sẽ được che chở, và được giải huyệt. Thôi người đi đi.
Tên Chu Hải hành lễ, rồi phi ngựa hướng về Thăng-long.
Đoan-Nghi nhìn đứa cháu mới hai tuổi mà muốn đứt ra từng khúc ruột một. Nàng hỏi Thủ-Huy :
- Dù sao chăng nữa, đứa trẻ này cũng là máu huyết của phụ hoàng, mà tên Đỗ An-Di truy lùng để giết, thì thực là quá lắm.
- Nhà dột từ nóc dột xuống, thì còn nói gì nữa bây giờ ? Xưa Cảm-Thánh thái hậu từng để cho Anh-Vũ giết các thân vương là anh, em của phụ hoàng. Thì nay Đỗ Thụy-Châu cũng để cho anh là An-Di nhân danh Long-Trát là Trinh-phù hoàng đế giết Long-Xưởng, thì có chi là lạ ?
Thúy-Thúy thêm vào :
- Khải công chúa điện hạ, đây là quả báo nhãn tiền. Giá như hôm qua Thái-tử để cho chủ nhân giết bọn Tô, Đỗ ; lại không mượn tay Thái-hậu giết ba vương ; không xua đuổi chủ nhân với Vũ -kị thượng tướng quân Tăng Khoa, ông và Đào Duy ; thì giờ này chúng đã nằm dưới mồ, còn người thì ngồi trên ngai vàng ; chứ có đâu người bị giam trong ngục, con cái bị truy lùng ?
Nàng thở dài :
- Xưa nay, phàm người ngoài tranh dành ngôi vua với nhau, thì kẻ thắng để cho người bại sống. Thời Tam-quốc, vua Ngụy bắt vua Ngô, vua Thục, vẫn phong cho tước vương, ban ấp, ban lộc để sống an nhàn. Còn như anh em tranh ngôi với nhau, thì người thắng lên làm vua phải tuyệt diệt kẻ bại. Như Đường Thái-tông thắng hai vương Kiến-Thành, Nguyên-Kiệt, thì lập tức giết hai vương, cùng vợ con, tôi tớ. Nay Long-Trát còn nhỏ, trong khi các tướng lại là người của Thái-tử, thì bọn Tô, Đỗ phải giết Thái-tử cũng như các con của người, bằng không thì các tướng đem quân về trung hưng, tất ba họ nhà chúng phải chết hết.
Chiêu-Khang bảo gã họ Doãn :
- Người thực là tên nô bộc trung thành. Người hãy mang đứa trẻ này đến đền thờ Linh-Nhân hoàng thái hậu gặp đệ tử ta là Lưu Huệ-Trinh. Nó sẽ bảo vệ đứa trẻ, và trị thương cho người.
Thủ-Huy, Đoan-Nghi lại tiếp tục hộ tống Chiêu-Khang thái hoàng thái phi lên đường.
Khi đến Bắc-ngạn, thì gặp đạo Thiên-tử binh Quảng-vũ đang từ Thăng-long qua sông về Kinh-bắc. Viên đô thống chỉ huy thấy Thủ-Huy, Đoan-Nghi thì rạp người xuống hành lễ.
Đoan-Nghi hỏi Thủ-Huy :
- Nếu bây giờ ta ra lệnh cho hiệu Quảng-vũ tràn vào thành giết sạch bọn Đỗ An-Di thì lật được thế cờ. Anh nghĩ sao ?
- Vô ích ! Anh không còn mặt mũi nào đem quân cứu Long-Xưởng nữa. Khi Long-Xưởng đã ký vào biểu tôn Long-Trát lên làm vua, trước tử quan phụ hoàng, mà anh đem quân về, hạ Long-Trát xuống, thì anh hóa thành một tử bất hiếu, thần bất trung. Không chừng khi cứu Long-Xưởng ra, đưa lên ngôi, anh ấy lại đem chúng mình giết đi, rồi đổ hết tội lên đầu chúng mình nữa.
Chán đời đi lang thang !
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-03-30 18:52:31NuHiepDeThuong>
Hồi thứ hai mươi sáu


Biên thùy một cõi


Niên hiệu Trinh-phù thứ sáu đời vua Cao-tông triều Lý nước Đại-Việt,
bên Trung-nguyên là niên hiệu Thuần-hy thứ 8
đời Tống Hiếu-tông
(Tân-Sửu, DL. 1181).



Tới cửa Bắc, viên tá lĩnh chỉ huy thị vệ thấy Thủ-Huy, Đoan-Nghi, vội hô lớn :
- Thuộc hạ kính thỉnh công chúa điện hạ, và phò mã nhập thành.
Thủ-Huy đáp lễ rồi nói:
- Chúng ta về chịu tang phụ hoàng. Người vào báo cho triều đình biết.
Viên tá lĩnh rạp người xuống, rồi lên ngựa phi về hướng điện Càn-nguyên. Lát sau, Tô Hiến-Thành đi trước, rồi tới Ngô Nghĩa-Hòa, Phí Công-Tín, Lý Kính-Tu, Ngô Lý-Tín, Đỗ An-Di, Vũ Tán-Đường, Trần Trung-Tá, Bùi Kinh-An, Lưu Khánh-Bình... mũ cao, áo rộng cùng kéo ra đón. Tô Hiến-Thành hô lớn :
- Bọn thần tuân chỉ Chiêu-linh Thánh-cảm hoàng thái hậu (tức Hoàng-hậu), Chiêu-thiên Chí-lý hoàng thái hậu ( tức Thục-phi Đỗ Thụy-Châu) và Trinh-Phù hoàng đế ra thỉnh công chúa điện hạ cùng phò mã.
Thủ-Huy chỉ vào xe :
- Có cả Linh-khang Chiêu-đức thái hoàng thái phi cũng cùng về.
Tô Hiến-Thành lại cùng đám đại thần hành lễ với Linh-Khang thái hoàng thái phi.
Thấy các đại thần đều thủ lễ, Thủ-Huy nghĩ thầm :
- Họ dùng lễ tiếp ta, thì ta cũng phải dùng lễ đáp lại cho đúng đạo lý.
Công tháo thanh kiếm đeo ngang hông của mình cùng thanh kiếm của Đoan-Nghi, rồi gọi viên trưởng toán thị vệ gác điện Càn-Nguyên :
- Ta gửi người.
Viên trưởng toán thị vệ cung cung, kính kính tiếp kiếm.
Trên mặt các văn quan đều tỏ ra vẻ kính phục Thủ-Huy. Nguyên từ hồi thành lập triều Lý, chỉ có hai đại thần được đeo kiếm vào chầu, khi tâu không phải quỳ gối xưng tên. Mộtù là Khai-Quốc vương, con thứ nhì vua Lý Thái-tổ nhưng không bao giờ vương xử dụng đặc ân này cả. Người thứ nhì là Thủ-Huy, chưa bao giờ công mang kiếm vào chầu. Hôm nay cùng vợ về chịu tang, trong khi tân quân còn bế ngửa, các võ tướng thị vệ đều là thủ hạ cũ của công. Võ công của công lại cao nhất triều đình. Nếu bây giờ công đeo kiếm vào chầu, ắt các văn quan đều lo sợ. Vì vậy công tháo kiếm trao cho trưởng toán thị vệ, để yên lòng họ.
Linh-Khang thái hoàng thái phi đi trước, Thủ-Huy, Đoan-Nghi theo sau. Ba người vào trong điện Càn-nguyên, thì trên cao nhất là Chiêu-linh Thánh-cảm hoàng thái hậu, Chiêu-thiên Chí-lý hoàng thái hậu cho đến các phi tần đều rạp người xuống thềm điện :
- Bọn hạ thần kính cẩn ra mắt Thái-hoàng thái-phi.
- Miễn lễ.

Ghi chú của thuật giả:

Linh-Khang nguyên là Đức-phi của vua Thần-tông, nên vua Anh-tông phong là Thái-phi. Bây giờ Long-Trát lên ngôi thì bà trở thành Thái-hoàng thái phi. Còn hoàng-hậu, Thục-phi đã được phong làm thái-hậu, thì các bà phi trở thành thái-phi.

Linh-Khang tuyên chỉ :
- Già này về đây để chịu tang chung với trăm họ.
Linh-Khang thái hoàng thái phi là vai trên của vua Anh-tông, nên bà chỉ thắp hương trước bài vị nhà vua, mà không phải lễ. Lễ quan đem ghế mời bà ngồi.
Âm nhạc tấu lên. Thủ-Huy, Đoan-Nghi phục xuống trước tử quan phụ hoàng lễ, rồi lại hành lễ trước hai Thái-hậu, các bà Thái-phi của Anh-tông.
Tô Hiến-Thành cung tay trước Linh-Khang :
- Thần Thái-úy phụ-chính, bình-chương quân quốc trọng sự, Long-biên quốc-công kính bái Thái-hoàng thái-phi giá lâm. Bệ hạ giá lâm đúng lúc có việc nan giải. Vì triều đình đang gặp một sự khó, có thể đưa đến nội chiến, khiến đại cuộc tan nát hết. May có Thái-hoàng thái-phi về đây, xin bệ hạ phát lạc cho vụ này !
- Thái-sư cứ tâu.
Hiến-Thành chữa :
- Tâu Thái-hoàng thái-phi, thần không còn là Thái-sư từ lâu rồi. Năm trước đây, khi Đại-hành hoàng-đế ban chỉ lập Trinh-phù hoàng đế làm Thái-tử đã phong thần làm Thái-úy phụ-chính, Bình-chương quân-quốc trọng-sự. Còn Đỗ An-Di làm Thái-sư Đồng-bình-chương sự.
- À thì ra thế. Tô Thái-úy thân cầm trọng binh, lại phụ chính, thì mọi việc an nguy xã tắc đều do Thái-úy. Cớ sao Thái-úy lại tâu rằng xã tắc nguy nan ?
- Tâu nguyên do như thế này :
Hiến-Thành trình bầy:
- Mặc dù có chỉ dụ, nhưng từ hồi ấy đến giờ, Bảo-Quốc vương lấn quyền, không để phò mã Trần Thủ-Huy bàn giao chức vụ Thái-úy cho thần. Rồi hôm qua Bảo-Quốc vương tuyên chỉ cách chức Thái-úy, Trung-nghĩa thượng-tướng quân của Trần phò mã. Trần phò mã cắm kiếm rời khỏi điện Càn-nguyên. Hành động đó trái với quân luật, nên mới khiến cho xã tắc nguy như trứng trồng.
Đoan-Nghi bực mình :
- Thái-úy bảo phò mã hành sự sái quân luật. Thế cái sái luật ấy ra sao ?
- Khải công chúa. Theo quân luật, thì chỉ Hoàng-đế mới có quyền ban chỉ cách chức Thái-úy, võ quan tới cấp tướng quân. Hoàng-tử Long-Xưởng chỉ là Bảo-Quốc vương, thì không có quyền ấy. Thế mà người vi luật tuyên chỉ cách chức Thái-úy, Trung-nghĩa thượng tướng quân của Trần phò mã. Phò mã tuân theo, bỏ đi.

Đoan-Nghi biết rằng cái ông họ Tô này, cũng như đám nho thần già, họ rất lẩm cẩm trong những lễ nghi phiền tạp, nguyên tắc rắc rối, chứ họ không phải là người xấu. Khi phụ hoàng bị Vương Cương-Trung uy hiếp, bất đắc dĩ phải ban chỉ truất phế Long-Xưởng, lập Long-Trát, dù sau đó đã long trọng tuyên chỉ thu hồi quyết định ấy. Nhưng không ban hành bằng văn kiện , nên họ cứ khăng khăng giữ nguyên. Nàng hỏi :
- Được rồi, cứ tạm coi như việc anh Long-Xưởng cách chức phò mã là sái luật. Thế sao anh Long-Xưởng phong cho Đàm Dĩ-Mông giữ chức Tổng-lĩnh thị vệ, ngự-lâm quân, thì Thái-úy không nói gì ?
- Khải điện hạ, Tổng-lĩnh thị-vệ, ngự lâm quân vẫn là tướng quân Mạc Hiển-Tích.
Thấy nếu cứ để cho Tô Hiến-Thành bảo thủ chiếu chỉ tôn Long-Trát, còn Đoan-Nghi giữ cứng chỉ dụ miệng tôn Long-Xưởng, thì không giải quyết được vấn đề. Linh-Khang hỏi Tô :
- Thái-úy nói rằng Thái-úy được phong chức do chỉ dụ của Đại-hành hoàng đế, mà Trần phò mã không bàn giao, thì nay Trần phò mã bỏ đi, là dịp tốt cho Thái-úy nắm lấy quân lữ. Sao Thái-úy bảo xã tắc nguy như trứng trồng ?
- Tâu, luật đặt ra từ đời đức Thái-tổ, là khi bàn giao chức vụ Thái-úy, phải có sự hiện diện của chư tướng: Về thủy quân thì Đại-đô-đốc, phó Đại-đô-đốc, bốn đô-đốc chỉ huy bốn hạm đội. Về bộ binh thì tổng-lĩnh Thiên-tử binh cùng mười hai tướng chỉ huy mười hai hiệu. Tướng chỉ huy kị-binh, ngưu-binh. Nay Trần phò mã bỏ đi, mà trong triều thì có binh biến, ba vương cùng nhiều đại thần bị hại. Thủy-quân nghe tin đại đô-đốc là Kiến-Ninh vương bị hại, phó Đại đô-đốc Phùng Tá-Chu biến mất. Quân sĩ căm hờn, cho nên bốn đô đốc thủy quân cho bốn hạm đội phong tỏa hết các cửa biển, các sông lớn, nhổ neo ra khơi. Bộ binh được tin Kiến-Ninh vương, thống lĩnh Thiên-tử binh bị giết. Các tướng chỉ huy Thiên-tử binh, Kị-binh, Ngưu-binh cho quân chặn tất cả các đường giao thông, đóng cửa tất cả các thành. Họ lại ra lệnh cho hoàng nam các thôn xã trực thuộc làm tương tự. Thần nhân danh Thái-úy phụ chính ban lệnh cho họ. Họ không chịu nhận. Toàn quốc bị tê liệt tất cả mọi hoạt động. Không chừng Đại-Việt ta lại rối loạn như hồi Thập-nhị sứ quân. Bây giờ chỉ có Trần phò mã giải quyết được cái vạ to lớn này mà thôi.
Linh-Khang đưa mắt nhìn Thủ-Huy, Đoan-Nghi :
- Hai con tính sao ? Giữa hai bên căng như vậy thì nội chiến khó tránh.
Thủ-Huy xua tay :
- Thần nhi đã giải tán phủ Thái-úy, Trung-nghĩa thượng tướng quân, từ nay buông tay, không lý gì đến chính sự nữa.
Thái-phi Bùi Chiêu-Dương (mẹ Đoan-Nghi), nắm lấy tay Đoan-Nghi nói bằng giọng tha thiết, đầy nước mắt :
- Con ạ! Việc anh Long-Xưởng trở mặt với phái Đông-a trên con thuyền ở Hồ-Tây, đã mở đầu cho việc anh ấy bị truất phế. Việc anh ấy mượn tay Thái-hoàng thái hậu giết ba anh Kiến-Ninh, Kiến-An, Kiến-Tĩnh ; xua đuổi Thủ-Huy, Tăng Khoa, ông bà Đào Duy với con là hành động tự cắt chân tay mình. Nên mới đưa đến việc bại vong. Ví dù anh Long-Xưởng có chiếm được ngôi vua, thì với hai chiếu chỉ của phụ hoàng con, thống mạ anh ấy bằng những lời nhục nhã nhất, hiện dân chúng người người đều tin như vậy ; hỏi anh ấy có thể cai trị dân không ? Các đô đốc, các tướng đều do Thủ-Huy đào tạo. Ai ai cũng biết rằng Thủ-Huy là ngôi sao thủ mệnh của anh Long-Xưởng. Thế mà chưa lên ngôi vua, anh ấy đã xua đuổi Thủ-Huy, Tăng Khoa, Đào Duy thì hỏi rằng còn ai trung thành với anh ấy nữa ? Hôm qua đây, sau khi con rời điện này, anh ấy bị áp chế, đã ký vào biểu tôn Long-Trát làm vua, thì không thể nào lên ngôi vua nữa. Bây giờ, mẹ đặt sự nghiệp Tiêu-sơn lên trên hết tình cảm riêng tư, mẹ khuyên con nên đứng ra trấn an các tướng để tránh nội chiến. Cũng để cứu Long-Xưởng.
Đoan-Nghi nhăn mặt :
- Mẫu thân dạy vậy, nhưng con e sự không giản dị. Bởi đất không hai mặt trời, nước không hai vua. Xưa nay, hai hoàng tử tranh ngôi vua, thì kẻ thắng lên làm vua, người bại phải chết. Vua Lê Đại-Hành được nhường ngôi, thì phải giết phế đế Đinh Toàn. Lê Long-Đĩnh tranh đươc ngôi vua, thì phải giết hết các anh, em. Nay Long-Trát lên ngôi vua, mà trong triều, ngoài nội không ai tuân phục, chắc chắn những người phò Long-Trát phải giết anh Long-Xưởng. Anh Long-Xưởng giết ba em, phụ ơn bọn con nhưng bọn con không nỡ nhìn anh ấy với vợ con chết thảm.
Hình-bộ thượng thư Trần Trung-Tá tiếp lời Đoan-Nghi :
- Công chúa luận đúng. Cái lý xưa nay là như vậy.
Thái-phi Bùi Chiêu-Dương lại nắm lấy tay Thủ-Huy :
- Khi còn tại thế, trong các hoàng tử, công chúa, phò mã, thì con được sủng ái nhất. Nay con có ghét các đại thần Tô Hiến-Thành, Đỗ An-Di, có hận Long-Xưởng thì cũng nên nghĩ đến phụ hoàng, nghĩ đến ta, nghĩ đến Đoan-Nghi... Vậy thì thế này, hai con hãy nghĩ đến phụ hoàng, nghĩ đến ta mà tiếp tục cầm quân, cho đến khi Long-Trát trưởng thành. Con định sao ?

Ghi chú của thuật giả:

Sự kiện này, ĐVSKTT chép giản lược như sau :
Ất-Mùi (DL.1- 1178). Thiên-cảm Chí-bảo đệ nhị niên, Tống Thuần-hy đệ nhị niên. Mùa Xuân tháng Giêng, sách lập Long-Trát làm hoàng-thái tử ở Đông-cung. Phong Tô Hiến-Thành làm Nhập-nội kiểm hiệu thái phó, bình chương quân quốc trọng sự, tước vương, giúp đỡ Đông-cung.

Mùa Hạ, tháng tư, vua không khỏe, cố gượng sai Tô Hiến-Thành ẵmThái-tử mà quyền nhiếp chính sự.
Mùa Thu tháng bẩy, ngày Ất-Tỵ, vua băng ở điện Thụy-quang. Trước đó khi vua bệnh nặng, Hoàng-hậu lại xin lập Long-Xưởng. Vua nói : « Làm con bất hiếu còn trị dân sao được ». Di chiếu cho Tô Hiến-Thành phò tá Thái-tử, công việc xã tắc nhất nhất tuân theo phép cũ.


Bấy giờ Thái-hậu muốn làm chuyện phế lập, sợ Hiến-Thành không nghe, mới đem vàng bạc đút lót cho vợ lẽ Hiến-Thành là Nữ-thị. Hiến-Thành nói : « Ta là cố mệnh đại thần, phò tá ấu quân, nay nhận hối lộ mà làm việc phế lập thì còn mặt mũi nào trông thấy tiên đế ở dưới suối vàng ». Thái-hậu lại gọi Hiến-Thành đến đỗ trăm cách. Hiến-Thành trả lời : « Làm việc bất nghĩa mà được giầu sang, kẻ trung thần nghĩa sĩ đâu có làm. Huống chi lời của Tiên-đế còn bên tai. Bệ hạ lại không nghe việc Y-Doãn, Hoắc-Quang hay sao ? Thần không dám vâng chiếu ».
Thái-tử Long-Trát lên ngôi trước linh cữu, bấy giờ mới lên ba tuổi, tôn mẹ là Đỗ-thị làm Chiêu-thiên Chí-lý hoàng thái hậu. Cho Đỗ An-Di (anh trai hoàng thái hậu) làm Thái-sư đồng bình chương sự. Hiến-Thành làm Thái-úy.
Chỉ độc giả Anh-hùng Đông-a mới biết sự thực vụ này ra sao mà thôi.
Thủ-Huy nhìn thấy thanh kiếm lệnh của mình để trên bàn thờ phụ hoàng, công cầm lấy, rồi hướng vào các đại thần nói lớn :
- Theo như quan phụ chính Tô Hiến-Thành, thì cho đến lúc này tôi vẫn còn là Phụ-quốc Thái-úy phải không ? Bây giờ quan phụ chính muốn tôi ban lệnh gọi các tướng về để ủy lạo, rồi bàn giao phải không ?
- Đúng vậy.
- Quan phụ chính không sợ tôi ra lệnh cho các tướng làm loạn ư ?
Tô Hiến-Thành, Đỗ An-Di tái mặt, im lặng, chân tay run lẩy bẩy, hai hàm răng đánh vào nhau thành những tiếng lộp cộp. Duy Lý Kính-Tu thản nhiên :
- Phò mã thử cái khả năng biết người của lão phu hẳn ? Thưa phò mã, phò mã không phải là người ham cái bả công danh. Sở dĩ phò mã hiện diện tại triều, vì giữa đường gặp hoàng-tử Long-Xưởng bị nạn, ra tay nghĩa hiệp. Rồi việc nọ tiếp việc kia như giòng nước, mà không ngừng lại được. Hồi trên hồ Tây, Bảo-Quốc vương đã trở mặt với phái Đông-a, hôm qua lại giết ba vương, xua đuổi phò mã. Bây giờ phò mã có ra tay cứu vương, thì vương cũng trở mặt giết phò mã. Vì vậy, phò mã có gọi chư tướng về để bàn giao, bọn lão phu không sợ phò mã làm loạn. Vì làm loạn để giúp ai ? Cho ai ? Vì ai ? Được gì ? Vừa rồi Bùi thái phi đã ban chỉ, xin Thái-úy hãy vì xã-tắc mà tiếp tục cầm quân cho đến khi Hoàng-thượng trưởng thành, đích thân nhiếp chính.
- Đa tạ Thái-phó phân giải.
Công hỏi Đỗ An-Di :
- Hiện các người giam Bảo-Quốc vương ở đâu ? Giam vì tội gì ?
Trần Trung-Tá lấm lét nhìn thanh kiếm của Thủ-Huy rồi run run đáp :
- Thưa vì nhiều tội. Nhưng tội nặng nhất là mưu phản, soán ngôi, phải giết cả nhà. Tội này không được hưởng Bát-nghị.
- Thế ai ra lệnh bắt giam Bảo-Quốc vương ?
- Ba vị phụ chính đại thần cùng tâu lên Chiêu-thiên Chí-lý thái hậu. Thái hậu đồng ý.
Thủ-Huy cười nhạt :
- Hôm qua, Trần ngự-sử bò xuống đất như chó bò, tôn anh Long-Xưởng, những gì là Vô-thượng, Chí-tôn, Đại-thánh hoàng đế, rồi kết tội tôi đến 180 điều. Sau hôm nay lại kết tội anh Long-Xưởng đủ mọi tội dễ dàng như vậy ?
Trung-Tá đáp không suy nghĩ :
- Khi người nào làm chủ được gươm đao, thì bao nhiêu cái tốt, cái đẹp thuộc về người đó. Khi người nào bị gươm đao quản thúc thì bao nhiêu cái xấu, cái bẩn người đó phải lĩnh.
Thủ-Huy gật đầu :
- Được ! À thì ra thế.
Công sẽ vỗ vào vai Trung-Tá hai cái :
- Thế bây giờ, tôi có còn bị phạm 180 tội nữa không ?
Trung-Tá ngập ngừng không trả lời. Thình lình y run lên bần bật :
- Ái ! Lạnh quá ! Ái ! Ái !
- Bây giờ ai làm chủ gươm đao ?
- Thưa, trường hợp này thì phò mã là anh hùng, là trung thần. Phò mã không có tội gì cả.
Đỗ An-Di quát lên :
- Thị vệ đâu, ra tay đi thôi.
Y vừa dứt lời, thì thấp thoáng một cái, Thủ-Huy đã phóng hai chỉ vào huyệt Độc-tỷ của y. Y ngã xuống trước mặt công giống như quỳ vậy. Công lại phóng một chỉ nữa vào huyệt Hạ-quan, lập tức miệng y mở ra không được nữa.
Mạc Hiển-Tích hô lên một tiếng, đội thị vệ dàn ra trước cửa điện Càn-nguyên. Y ra lệnh cho họ xuông vào bắt Thủ-Huy.
Trưởng toán thị vệ lưỡng lự giây lát, rồi y tới trước mặt Thủ-Huy, khoanh tay :
- Thuộc hạ chờ lệnh phò-mã Thái-úy.
- Người hãy trấn các cửa cung này, không cho bất cứ ai ra, vào.
- Tuân lệnh Thái-úy.
Đám văn quan tuyệt không ngờ uy tín của Thủ-Huy lại mãnh liệt đến như vậy. Mạc Hiển-Tích ra ngoài điện gọi gia tướng của phủ Tô, Đỗ mang thân binh vây kín điện Càn-nguyên. Nhưng khi y định tràn vào, thì bị thị-vệ cản lại.
Thủ-Huy nghĩ thầm :
- Long-Xưởng phụ ta, chứ ta không phụ Long-Xưởng. Bây giờ tuy không thể đem ngôi vua về cho Long-Xưởng nữa, thì ít ra, ta cũng cứu mạng cho Long-Xưởng, Trang-Hòa với con cái của y. Trong tình thế này, ta không dùng võ e không xong.
Công xuyên bên Đông, lách bên Tây mấy cái, tất cả các quan thuộc phe đảng của Tô Hiến-Thành, Đỗ An-Di đã bị điểm huyệt hết. Trừ Lý Kính-Tu là nhà nho trung chính, công không đụng đến. Công đưa mắt cho vợ :
- Em kiềm chế tên Mạc Hiển-Tích cho anh.
Thấp thoáng bóng trắng, Đoan-Nghi đã xẹt ra cửa điện, nàng tung mình đến trước Mạc Hiển-Tích, tay rút kiếm đưa vào cổ y. Kinh hãi y lộn liền hai vòng để tránh kiếm, nhưng khi y vừa ngừng lại, đã bị Đoan-Nghi điểm huyệt. Bọn gia tướng Tô, Đỗ hò hét, định buông tên tấn công Đoan-Nghi, nhưng sợ trúng Mạc. Đoan-Nghi tung Mạc vào trong điện. Y rơi xuống trước mặt Thủ-Huy, rồi bóng trắng thấp thoáng, nàng đã vỗ tay vào vai bọn gia tướng Tô, Đỗ. Lập tức chúng rùng mình hét lên tỏ vẻ đau đớn cùng cực.
Đoan-Nghi ra lệnh :
- Các người muốn sống thì dàn thủ hạ quanh điện này, tuyệt đối theo lệnh ta.
Bọn gia tướng Tô, Đỗ run run, tuân lệnh răm rắp.
Thủ-Huy hỏi Lý Kính-Tu :
- Quan Thái-phó là nhà nho chính nhân quân tử. Xin quan Thái-phó dạy cho một lời.
Sắc mặt không đổi, Lý Kính-Tu bước ra cung tay :
- Thưa phò mã, xét theo nghĩa kinh Xuân-thu, thì việc Tô đại nhân, Đỗ đại nhân căn cứ vào việc đức Anh-tông ban chỉ truất phế Thái-tử Long-Xưởng, lập hoàng tử Long-Trát lên thay, mà phò Thái-tử lên ngôi vua, là hợp với luật lệ. Nhưng có điều hà tì, vì sau đó đức Anh-tông lại tuyên chỉ bỏ hai sắc chỉ kia, duy trì tình trạng cũ. Còn ba vương Kiến-Tĩnh, Kiến-An, Kiến-Ninh, với phò mã khuông phò Thái-tử Long-Xưởng vì căn cứ vào việc đức Anh-tông tuyên chỉ tái duy trì thái-tử Long-Xưởng ở ngôi Đông-cung thì hợp đạo lý. Nhưng có điểm hà tì, vì khẩu thiệt vô bằng. Xét về lý thì nhị vị Tô, Đỗ đúng hơn phò mã. Xét về tình thì phò mã đúng hơn. Nhưng thưa phò mã, việc quốc gia đại sự, thì phải dùng lý, chứ không thể dùng tình.
Thủ-Huy gật đầu :
- Thái-phó luận đúng.
- Bây giờ bàn chung, thì Thái-tử Long-Xưởng không thể lên ngôi bảo tộ được nữa, vì ba lý. Lý thứ nhất, khi cha mắng con, thì con không thể cãi . Đức Anh-tông ban chỉ thống mạ Thái-tử Long-Xưởng, chỉ đó đã truyền đến khắp các thôn, xóm... thì Thái-tử không còn đủ đức lên ngôi nữa. Lý thứ nhì, là hôm qua, chính Thái-tử đã ký vào chỉ tôn Thái-tử Long-Trát lên làm Trinh-phù hoàng đế rồi, thì người không thể hạ Trinh-phù hoàng đế xuống. Tôi hạ vua xuống thì là gian thần tặc tử. Lý thứ ba, là Thái-tử Long-Xưởng có Tam-vương, phò mã, công chúa khuông phò, thì lên ngôi, mới vững mạnh. Hôm qua Thái-tử xua đuổi phò mã, công chúa, cùng chư tướng, mà sau đó bị hạ bệ. Nếu nay người trở lại ngôi vua, thì ai là người khuông phò ? Ấy là không kể người sẽ giết hết các đại thần, kể cả phò mã, công chúa để trả hận.
Ông nhìn Đỗ An -Di :
- Còn như quan Thái-sư dùng gia tướng, gia binh hai phủ Tô, Đỗ rồi câu lưu Bảo-Quốc đại vương, cùng gia nhân vương phủ rồi hạ ngục là lấn quyền, là vi luật. Bởi xét về tình, về lý đều đáng kết tội. Hành động này là đi vào con đường của ác nhân Đỗ Anh-Vũ. Vì sao ? Xét về tình, thì người là Thái-sư đồng bình chương sự, vì muốn bảo vệ em gái là Chiêu-thiên Chí-lý thái-hậu, vơí cháu là Trinh-phù hoàng đế không ổn. Bởi khi phò mã Thái-úy rút quân đi, quan Phụ-chính Tô Hiến-Thành vào ngục cứu Thái-hậu, Hoàng-thượng ra, Bảo-Quốc vương đâu còn binh lực trong tay ? Còn như về lý, khi muốn câu lưu Bảo-Quốc vương, thì Tô đại nhân tâu với nhị vị thái-hậu, rồi lại họp tất cả phụ chính đại thần, ban chỉ giáng tước Bảo-Quốc đại vương xuống thành thứ dân, sau đó mới xử theo luật. Hành động đó của Thái-sư, coi như làm loạn. Trong khi Trần phò mã vẫn còn là Thái-úy. Phò mã điểm huyệt Thái-sư , là dẹp loạn, lại đúng luật.
Thủ-Huy xá Kính-Tu :
- Đa tạ Thái-phó đã nêu rõ đạo lý.
Công quay lại hỏi Linh-Khang thái hoàng thái phi :
- Thần nhi xin lắng tai nghe chỉ dụ của bệ hạ.
Linh-Khang ban chỉ :
- Cứ như già này nghĩ, hiện ấu-quân chưa quyết được việc nước. Hiện nay chư sự lớn nhỏ cần có bốn vị đại thần. Thiếu một vị, e không xong. Vị thứ nhất, thì Đại-hành hoàng đế đã ban chỉ phong cho Tô lão thần làm Thái-úy phụ-chính, Bình-chương quân quốc trọng sự, Đỗ quốc trượng làm Thái-sư đồng bình chương sự, Lý thượng thư làm Thái-phó. Thế nhưng nay, nếu không có Trần phò mã thì nước loạn. Vậy Trần phò mã phải dự vào hàng phụ chính để nước được yên. Ngặt vì trong quá khứ, giữa Trần phò mã với Tô, Đỗ có chỗ không thuận với nhau, thì làm sao bây giờ ? Già này nghĩ, ta trở lại như thời vua Thái-tổ, Thái-tông, Thánh-tông trao việc trấn ngự biên cương cho phò mã công chúa, mà cử Đoan-Nghi với Thủ-Huy vào chức đó. Khác đôi chút là trước kia chức Tổng-lĩnh Thiên-tử binh, Thủy-quân, Kị-binh, Ngưu-binh vẫn trực thuộc Thái-úy. Nay Tô Thái-úy bận việc phụ chính, thì các lực lượng này đặt trực thuộc Trần phò mã, để trấn ngự biên thùy. Vậy thì Tô Thái-úy hãy rời chức Thái-úy, để chức này cho Trần phò mã đảm trách. Tô Thái-úy là Phụ-chính đại thần cũng đủ rồi. Mỗi khi phải quyết một việc lớn thì cả Tứ-trụ triều đình phải hội ý với nhau, cho tới khi ấu quân tới tuổi mười ba là tuổi trưởng thành.
Bà ngừng lại một lát rồi tiếp :
- Ngay bây giờ, để có thể giải cái nguy chư tướng làm loạn, Tứ-trụ đại thần thay Trinh-Phù ban chỉ ân xá cho tất cả tội phạm trong nước, tuyệt đối không bao giờ truy cứu nữa. Như vậy Long-Xưởng cũng như những người phò tá Long-Xưởng mới yên tâm, mà phò mã cũng không cảm thấy hối hận rằng không cứu chúa cũ, không an bài cho thuộc hạ. Đỗ thái sư cũng được ân xá cái tội lạm quyền.
Chiêu-linh, Thánh-cảm hoàng thái hậu đặt vấn đề :
- Tâu Thái-hoàng thái phi, nếu như bây giờ Thủ-Huy buông tha cho mấy lão thần này, rồi sau họ trở mặt, kiếm cớ sát hại Long-Xưởng thì sao ?
Linh-Khang cười :
- Thái hậu đừng lo. Trước kia Cảm-Thánh, Anh-Vũ làm lộng, Minh-Đạo vương có thể giết được chúng mà không muốn. Tình thế bây giờ khác. Nếu như sau này, các vị Tô, Đỗ, Lý có kiếm cớ hại Long-Xưởng, Thủ-Huy, hay chư tướng, thì binh quyền nằm trong tay Thủ-Huy, liệu có ai dám làm lộng chăng ? Vả võ công Bảo-Quốc vương, vương phi đâu có hèn, mà để các văn thần hãm hại ? Hoặc giả khi Trinh-phù lớn lên, mà còn có người nói ra, nói vào để hại Long-Xưởng, thì liệu có thoát khỏi lưỡi kiếm của Đoan-Nghi vơí Thủ-Huy không ?
Lý Kính-Tu tiếp :
- Hôm qua, Tô, Đỗ đại nhân có bàn với thần rằng, phò mã, công chúa bỏ về Thiên-trường, mà vẫn duy trì hai đội võ sĩ Long-biên, Côi-sơn thì triều đình không an tâm. Vậy thì thế này : Phò-mã dẫn hai đội võ sĩ theo, một là trấn ngự biên cương ; hai là để đền ơn tri ngộ của Anh-tông đã sủng ái công chúa Đoan-Nghi, tin dùng phò mã. Như vậy thì triều đình được mới an tâm.
- Thủ-Huy ! Con nghĩ sao ?
Chiêu-linh Thánh-cảm hoàng thái hậu hỏi : Nếu con không ở lại, trấn ngư biên cương, giả như người ta kiếm cớ cách chức chư tướng, rồi hại họ thì sao ?
- Tâu Thái-hoàng thái phi ! Thần nhi xin cáo quan về điền dã. Thần nhi không muốn lăn mình vào chốn quan trường nữa.
- Không được !
Linh-Khang giảng giải :
- Nếu con rời quan trường, thì chư tướng không yên tâm. Mỗi người anh hùng một cõi e cái vạ sứ quân khó tránh. Con hãy nán lại, cho đến khi ấu quân trưởng thành.
Bà hỏi Tô, Đỗ, Lý :
- Các vị có nghe lời già này không ?
Tô Hiến-Thành, Đỗ An-Di, Lý Kính-Tu cùng cúi đầu :
- Xin tuân chỉ thái-hoàng thái phi.

Hôm ấy là ngày mùng ba Tết. Tất cả các hạm đội đều kéo về căn cứ Đồn-sơn, để tế công chúa Gia-Hưng Trần Quốc, Đại-đô đốc thời Lĩnh-Nam. Việc này, thể theo theo thông lệ từ đời vua Trưng còn truyền lại. Phò-mã Tổng-trấn Bắc-cương cùng công chúa Đoan-Nghi từ Lạng-châu cũng dẫn chư tướng về tham dự.
Đại đô-đốc Phùng Tá-Chu, dẫn bốn đô đốc lên bờ, dàn ra đón rước phò-mã, công-chúa.
Sau buổi lễ, tất cả các tướng chỉ huy Thiên-tử binh, Ngưu-binh, Kỵ-binh, đô đốc Thủy-quân cùng tụ lại trên một chiến hạm, để dự tiệc. Tiệc tàn, phò mã Thái-úy đứng lên trình bầy tất cả tình hình trong triều :
Sau khi Linh-Khang thái hoàng thái phi hòa giải gữa Thủ-Huy với ba phụ chính đại thần Tô Hiến-Thành, Đỗ An-Di, Lý Kính-Tu, thì Tứ-trụ triều đình được thành lập. Tứ-trụ nhân danh phụ chính, ban chỉ ân xá trên toàn quốc, bất kể phạm tội gì, thành án hay chưa thành án. Việc phân quyền định rõ :
- Đỗ Thái-hậu buông rèm thính chính.
- Tô Hiến-Thành, cùng Vũ Tán-Đường làm đệ nhất phụ chính, phụ trách ngoại sự, tức coi các bộ Hình, Hộ, Lại, Công. Dưới quyền có Trần Trung-Tá lĩnh bộ Hình ; Ngô Lý-Tín lĩnh bộ Hộ ; Ngô Nghĩa-Hòa lĩnh bộ Công; Bùi Kinh-An lĩnh bộ Lại.
Ba đệ nhị phụ chính là Đỗ An-Di, Lý Kính-Tu, Trần Thủ-Huy, phân quyền như sau :
- Đỗ An-Di lĩnh hàm Thái-sư, đồng Bình-chương sự phụ trách nội sự (nộị cung), dưới quyền có Mạc Hiển-Tích lĩnh tổng-trấn Thăng-long; Đàm Dĩ-Mông coi cấm quân, thị vệ ; Đào Như-Yên tổng lĩnh cung nga, thái giám.
- Lý Kính-Tu lĩnh hàm Thái-phó, coi việc dạy dỗ ấu quân, kiêm luôn bộ Lễ, giữ quyền Ngự-sử.
- Trần Thủ-Huy lĩnh hàm Thái-úy, giữ quyền quân sự. Tổng trấn biên cương cả Bắc, Tây, Nam. Dưới quyền có Phí Công-Tín lĩnh bộ Binh ; Lưu Khánh-Bình quản Khu-mật viện ; Phùng Tá-Chu lĩnh quyền Đại-đô đốc ; Tăng Khoa lĩnh Kị binh, Ngưu binh.
Trong buổi thiết đại triều đầu tiên, có sự bất đồng ý kiến giữa các vị phụ chính. Phía Tô Hiến-Thành, Đỗ An-Di thì muốn gửi sứ sang Tống cáo tang, cầu phong cho tân quân. Phía Vũ Tán-Đường, Trần Thủ-Huy thì lại muốn gửi sứ cáo tang vơiù tất cả các nước Tống, Kim, Chiêm, Lào, Xiêm, Chân-lạp, Mông-cổ, Đại-lý, Tây-hạ, Thổ-phồn, chứ không chỉ một mình Tống. Còn việc cầu phong thì không cần. Đại-Việt với Tống ngang với nhau, việc gì phải khuất thân làm tôi đòi. Lệ tiến cống cũng bỏ luôn. Phía Lý Kính-Tu thì trung dung, chỉ bỏ tiến cống, mà vẫn gửi sứ sang cầu phong.
Hai bên tranh luận hơn hai ngày mà không kết quả. Cuối cùng, thì Lý Kính-Tu nghiêng về phía Thủ-Huy. Vị Thái-phó này hiểu rõ Thủ-Huy hơn ai hết : Ví dù triều đình muốn gửi sứ sang cầu phong, tiến cống, rồi sứ Tống sang phong cho ấu quân cũng không thực hiện được. Bởi Thủ-Huy trị quân rất nghiêm, đương thời người ta nói : Một con chồn, con cáo băng qua biên giới, vị phò mã trẻ này cũng biết. Nay người đã không đồng ý, thì khi sứ Việt, sứ Tống qua biên giới, e khó mà toàn tính mạng.

Ghi chú của thuật giả:

Tôi đã khảo hết công trình của các nhà soạn cổ sử Việt, như Lê Văn-Hưu, Hồ Tông-Thốc, Trần Chu-Phổ, Ngô Sĩ-Liên, Phan Thanh Giản trong các bộ Đại-Việt sử ký, Việt-sử cương mục, Việt-chí, Đại-Việt sử ký toàn thư, Khâm-định Việt-sử thông giám cương mục. Trung-hoa như Thoát-Thoát, Aâu Dương-Tu, Lý Đào trong các bộ Tống-sử, Tư-trị thông giám cương mục, Tục Tư-trị thông giám trường biên.Tôi thấy một điều bất thường trong bang giao Hoa-Việt : Thông thường khi vua Việt băng hà, thì triều đình gửi sứ sang cáo tang, cầu phong cho tân quân. Sau đó sứ Trung-quốc sang điếu tang, phong cho tân quân. Thế mà từ khi vua Anh-tông băng, vua Cao-tông lên thay vào năm Ất-Mùi đến năm Bính-Ngọ (1175-1186), mười năm dài, không thấy sách nào chép việc hai bên trao đổi sứ thần. Mãi tới năm 1186 ĐVSKTT chép :

Niên hiệu Trinh-phù thứ 11 (DL.1186 Bính-Ngọ), Tống Thuần-hy năm thứ 13.

Mùa Xuân tháng Giêng triều Tống phong cho vua làm An-Nam quốc vương, chế thư đại lược nói « Ngay bắt đầu đã phong cho tước ấp ở một nước yên vui, được theo lệ cha truyền, con nối. Lại ban sắc thực thụ tước vương, cần gì phải đợi thăng dần ».
Duy Tống-sử quyển 488 đá thêm một câu « Tước ấy đã được phong ngay năm Thuần-hy thứ tư (1177) ». Tôi nghĩ các sử thần triều Nguyên khi chép Tống sử, suy đoán, rồi ghi lấy lệ, chứ sư thực không có. Nếu đã phong năm 1177 tại sao năm 1186 lại phong nữa ! ! !
Chỉ độc giả Anh-hùng Đông-a mới biết sự thực về việc này mà thôi.



Trong nước dưới tài cai trị của Tô Hiến-Thành, dân chúng sống yên vui, no đủ. Ngoài biên thùy với tài quân sự của Thủ-Huy, Đoan-Nghi, Tống phải nể, Chiêm phải sợ. Tống triều ban chỉ cho các đại thần Nam-thùy phải hết sức tránh đụng chạm với An-Nam. Với đức của Lý Kính-Tu, học phong trong nước bừng lên một thời.

Nhưng chỉ được bốn năm. Niên hiệu trinh-Phù thứ tư tháng 6 mùa Hạ, thì Trung-nghĩa vương Tô Hiến-Thành hoăng. Khi Tô nằm trên dường bệnh Đỗ thái-hậu hỏi các vị đại thần rằng nên cử ai thay thế ? Lý Kính-Tu, Trần Thủ-Huy cùng hầu hết các quan tâu xin trao cho Vũ Tán-Đường. Vì Vũ là người trung chính, hiền hậu, lại có tài cai trị. Thái-hậu tới thăm Tô, hỏi rằng ai có thể thay thế. Tô tâu nên cho Trần Trung-Tá. Nhưng khi Tô hoăng rồi, Đỗ thái-hậu cử anh là Đỗ An-Di làm Thái-sư phụ chính, cho Trần Trung-Tá về hưu. Lại cử Mạc Hiển-Tích thay Di coi nội sự.

Từ khi Bảo-Quốc đại vương Long-Xưởng với gia thuộc được ân xá. Vương phải rời Đông-cung, dọn ra phủ đệ riêng ở huyện Gia-lâm. Lúc đầu mỗi tháng, trong các lần thiết đại triều thì Đỗ An-Di còn cho người thỉnh vương vào chầu. Dần dần, triều đình không liên lạc với vương nữa. Vương sống trong trang ấp như một phú gia. Trước kia, gia khách của vương có hàng nghìn, hàng vạn ; toàn những danh sĩ, cao tăng hoặc võ lâm cao thủ. Từ sau ngày vương trở mặt với phái Đông-a trên con thuyền ở hồ Tây, xua đuổi Thủ-Huy, Đoan-Nghi, Tăng Khoa, Đào Duy, Đào Như-Như rồi đưa đến bị hạ bệ... thì không còn ai muốn ra vào cửa nhà vương nữa. Thảng hoặc, có người nhớ tình cố cựu tới thăm vương, thì khi trở về bị Đỗ An-Di sai thị-vệ bắt giam, điều tra. Riết rồi vương sống cô độc trong phủ đệ.

Tuy vậy vương cũng bỏ tiền ra chiêu tập bọn vong mạng, bọn đầu trộm đuôi cướp làm gia tướng, thân binh. Vương luôn theo dõi tin tức của triều đình.

Tin từ nội cung đưa ra : Suốt bốn năm qua, lợi dụng chức vụ tổng-lĩnh cấm-quân, thị-vệ, Mạc Hiển-Tích vẫn âm thầm tư thông với Đỗ thái hậu. Hồi đầu y còn lẻn vào Hoàng-cung trong đêm. Nay Đỗ An-Di nắm quyền phụ chính, y được coi nội sự, thì y không còn kiêng nể ai nữa. Y công khai ngủ tại cung Chiêu-thiên, hống hách với cung nga, thái giám. Các quan trong triều sợ y, không ai dám nói gì cả. Đỗ An-Di, Mạc Hiển-Tích nắm hết quyền hành. Trong triều thì các quan bất mãn, chán nản, bên ngoài dân chúng thì thầm, nguyền rủa Đỗ, Mạc là hai ác nhân như Đỗ Anh-Vũ xưa. Do vậy nhiều võ lâm, sĩ dân bất mãn, theo về với Bảo-Quốc vương. Mỗi khi một tin báo về việc Đỗ An-Di chuyên quyền, Mạc Hiển-Tích hống hách, thì vương nghiến răng nguyền rủa thề phải giết sạch bọn họ Đỗ, Mạc đoạt lại ngôi vua.

Niên hiệu Trinh-phù thứ 6 (DL.1181, Tân-Sửu), vào ngày tết Nguyên-đán, vương dẫn vương phi cùng các thế tử, quận chúa nhập Hoàng-thành chúc tết mẫu thân là Chiêu-linh Thánh-cảm hoàng thái hậu. Nhân dịp này, vương khóc lóc, than thở tình trạng Đỗ An-Di, Mạc Hiển-Tích lạm quyền, hành xử như hoàng đế. Hai người này cô lập vương. Vì vậy vương xin thái-hậu giúp vương lên ngôi vua để tái lập uy quyền chính thống. Lúc đầu thái-hậu còn từ chối, sau vương năn nỉ mãi, hậu mới thuận.

Kế hoạch dự trù như sau : Nhân ngày lễ Thượng-nguyên (15 tháng Giêng), Đỗ An-Di, Mạc Hiển-Tích, phò Trinh-phù hoàng đế với Chiêu-thiên Chí-lý hoàng thái hậu về Cổ-pháp tế tiên đế. Vương hành động bằng bốn mặt trận. Mặt thứ nhất. Sai gia tướng, thân binh âm thầm đột nhập ẩn trong cung Chiêu-Linh. Thái-hậu ban chỉ gọi các đại thần vào Hoàng-thành ăn yến, rồi nhân đó tuyên chỉ phế Trinh-phù hoàng đế lúc này mới 6 tuổi xuống, lập Bảo-Quốc vương lên. Ai nghe theo thì được thăng chức tước. Ai chống thì đem giết ngay. Mặt thứ nhì, vương sai sứ lên Bắc-cương tuyên chỉ gọi Thủ-Huy, Đoan-Nghi mang ba hiệu Thiên-tử binh Ngự-long, Quảng-vũ, Quảng-thánh đóng gần Thăng-long, tiến về chiếm các cửa thành, lục bộ, các điện. Mặt thứ ba, gọi Tăng Khoa, đem thiết-kỵ về Cổ-pháp giết mẹ con Trinh-phù hoàng đế cùng Đỗ An-Di. Mặt thứ tư, vương ban chỉ cho Phùng Tá-Chu đem thủy-quân về phong tỏa các sông ngòi quanh Thăng-long. Bốn mặt cùng khởi sự vào đúng ngày rằm.

Khi sứ của vương tới bản doanh Tăng Khoa, Tá Chu. Hai người kinh hoảng, vội dẫn sứ lên Lạng-châu thỉnh lệnh Thủ-Huy. Thủ-Huy họp Đoan-Nghi, Tá-Chu, Tăng-Khoa lại, để cùng lấy quyết định.

Nghe Thủ-Huy trình bầy, các võ tướng cùng trầm tư suy nghĩ.

Đào Như-Như bàn :

- Trinh-phù lên ngôi vua đã sáu năm. Trước Tô Hiến-Thành phụ chính, chúng ta cầm quân, mà khiến cho Chiêm sợ, Tống nể, trong nước không giặc cướp, dân chúng sống ấm no. Bây giờ chúng ta vì chút tình cũ mà làm chuyện phế lập khiến cho nước đang an thành loạn thì tội chúng ta phải chịu. Ta chẳng nên nghe theo Bảo-Quốc vương.

Tăng Khoa tiếp lời vợ :

- Trước kia, chúng ta kết huynh đệ với vương mong duy trì cái chí của tiền nhân. Thế mà sự mới sắp thành, vương đã trở mặt với chúng ta. Giá như hồi ấy, bọn Đỗ An-Di không hạ vương xuống , thì khi lên ngôi vương cũng đã giết chúng ta, để chạy tội. Giả như bây giờ, ta giúp vương thành công, thì chắc vương cũng giết chúng ta để nói với quốc dân rằng bọn ta thí chúa, chứ vương không có ý đó.

Đoan-Nghi đề nghị :

- Chúng ta truyền sứ giả trở về phục mệnh anh ấy rằng : Sự bất quá tam. Lần thứ nhất ta đem quân về khi bọn Vương Cương-Trung uy hiếp phụ hoàng, cầm tù anh ấy, kết quả anh ấy tha cho chúng. Lần thứ nhì, ta đem quân về khuông phò, đưa anh ấy lên ngôi. Khi sự vừa thành, thì anh ấy xua đuổi chúng ta, trọng đãi kẻ thù bao năm của anh ấy. Vì vậy võ lâm, kẻ sĩ trong nước đều bỏ anh ấy. Chúng ta ngu mà theo phò anh ấy bao năm, đem quân về giúp anh ấy hai lần. Bây giờ chúng ta không ngu lần thứ ba nữa. Xin anh ấy hãy sống yên phận.

- Thưa điện hạ !
Tá-Chu bàn : Việc không giản dị như vậy. Bảo-Quốc vương chuẩn bị việc này, trước sau gì cũng lộ ra. Việc lộ ra thì không những vương bị chặt đầu, mà tất cả gia nhân vương phủ cũng bị giết. Còn chúng ta, chúng ta biết âm mưu tạo phản mà không tố giác, thì cũng bị tội như chính phạm. Thần nghĩ, ta phải hành động cho quang minh lỗi lạc, mới cứu được vương, mới tự cứu được chúng ta.

- Ý Đại-đô đốc muốn nói ?

- Ta phải sai người khẩn báo cho phụ-chính đại thần Đỗ An-Di, Lý Kính-Tu, Vũ Tán-Đường ; mà báo bằng thư, chứ không phải bằng lời ; về việc làm của Bảo-Quốc vương. Lại trói ba sứ giả lại, rồi giải thẳng về Cổ-pháp, chém đầu trong ngày tế tiên đế. Một mặt sai Tăng Khoa dàn Kị-binh bảo vệ lăng tẩm. Thần sẽ đem Thủy-quân dàn trên sông Hồng, bảo vệ Thăng-long. Dĩ nhiên sau đó nhị vị Thái-hậu với Tứ-trụ triều đình họp lại nghị tội vương . Vì ta hành sự quang minh, chính đạo, ta có thế mạnh, ta xin ân xá cho vương.

Thủ-Huy sai ba sứ giả lên đường liền. Một người đi Cổ-pháp tâu lên nhà vua. Một người về Thăng-long cáo với Vũ Tán-Đường, Phí Công-Tín, Ngô Lý-Tín biết, mà đề phòng. Một người báo cho Long-Xưởng biết để ngừng lại, bằng không e toàn gia sẽ bị tru lục.

Ghi chú của thuật giả:

Thế nhưng.

Hỡi ơi...nhưng.

Huyền sử kể rằng : Viên sứ giả có bổn phận báo cho Long-Xưởng biết rằng Thủ-Huy cũng như chư tướng không theo vương ; khi trên đường về Gia-lâm, ngựa của y vấp ngã, quật y xuống đất, đầu va vào tảng đá mà chết. Thành ra , thư của Đoan-Nghi gửi không tới tay vương. Trong khi quân do thám của Long-Xưởng thấy Thủy-quân, Kị-binh, Thiên-tử binh tiến về Thăng-long; báo cho vương. Tưởng Thủ-Huy theo mình, vương mừng run lên, truyền lệnh gia tướng, thân binh, âm thầm mang vũ khí vào Hoàng-thành sáng sớm ngày rằm tháng giêng, và khởi sự chiếm các cung điện vào giờ Thìn.

Đúng là thời đã đi qua, anh hùng ôm hận.


Giờ Dần, sáng rằm tháng giêng, Đỗ An-Di, Lý Kính-Tu, Mạc Hiển-Tích cùng đoàn cấm quân hơn năm trăm người, hai trăm thị vệ, hộ giá Đỗ thái hậu, Trinh-phù hoàng đế về Cổ-pháp để tế các vị tiên đế. Trong chuyến đi này còn có cả Kiến-Khang vương Long-Ích, Kiến-Bình vương Long-Tường. Sang giờ Thìn, đoàn xa giá đi vào địa phận Cổ-pháp. Xa xa đã thấy lăng tẩm hiện ra.

Thình lình, một kị mã phi như bay đuổi theo. Y xưng là gia tướng của Thái-sư Đỗ An-Di, xin gặp Thái-sư để báo một tin hỏa tốc.

Vừa thấy y, Đỗ An-Di đã nhận ra : Y có tên Đỗ Du, nguyên là một tên cướp, bị bắt, đáng lẽ y bị xử tử. Di thấy y cùng họ, tha cho y, rồi sai tiềm ẩn làm gia tướng cho Bảo-Quốc vương. Đỗ Du thở dốc, tỏ ra vừa trải qua một cuộc phi ngựa khẩn cấp :

- Thưa Thái-sư, Bảo-Quốc vương làm loạn. Gia tướng, gia binh của vương chiếm các điện trong Hoàng-thành. Ba hiệu binh Ngự-long, Quảng-vũ, Quảng-thánh đang tiến vào Kinh-thành. Thủy-quân dàn ra phong tỏa hết các sông. Còn Kị-binh chia làm hai cánh. Một cánh bao vây lăng tẩm Cổ-pháp. Một cánh đang đuổi theo xa giá. Chúng được lệnh giết Thái-hậu, Hoàng-thượng và Thái-sư tại lăng tẩm.

Du vừa dứt lời thì viên đô thống chỉ huy cấm quân báo :

- Thưa Thái-sư, phía trước Kị-binh dàn ra hai bên đường và trấn quanh lăng tẩm. Không rõ ý định.

Đỗ An-Di ra lệnh cho Mạc Hiển-Tích :

- Người thử lên xem xét tình hình, rồi đối phó.

Đến đó có tiếng ngựa hí, quân reo. An-Di nhìn về phía sau, y phát rùng mình : Kị binh cờ xí nghiêm chỉnh, đang rầm rập đuổi theo, tiếng vó ngựa gõ lốp cốp trên đường. Trống thúc vang dậy. Y thất kinh hồn vía, vì cho rằng Thủ-Huy, Tăng Khoa theo Long-Xưởng làm loạn. Y bàn với Đỗ Thái-hậu, Lý Kính-Tu rằng :

- Chúng ta chỉ có hai trăm thị vệ, năm trăm cấm quân, thì chống sao nổi với hiệu Kị-binh Phù-Đổng hơn vạn người ? Chi bằng chúng ta đầu hàng Long-Xưởng, rồi xin được tha mạng là hơn. Còn Long-Trát, Long-Xưởng ai làm vua thì cũng là con của tiên đế. Anh em họ giết nhau, ta đứng ngoài hưởng lợi, tội gì mà chết cho đứa con nít.

Trinh-phù hoàng đế tuy mới mười tuổi, nhưng được Lý Kính-Tu dạy rất cẩn thận, nên đã có phong độ của một người lớn. Nhà vua đưa mắt nhìn Đỗ An-Di :

- Thái-sư là cậu cũa trẫm, lại là cố mệnh đại thần, nhận di chiếu của tiên đế, để phụ chính. Thế mà bây giờ trẫm gặp nguy nan, Thái-sư lại muốn trao trẫm cho giặc ư ?

Lý Kính-Tu cầm lấy cương ngựa cho nhà vua, rồi nói bằng giọng cương quyết :

- Thái-sư đầu hàng thì cứ đầu hàng. Lão phu tuy trói gà không chặt, nhưng quyết bảo vệ chúa thượng tới hơi thở cuối cùng. Vả theo lão phu, thì Bảo-Quốc vương có thể gây loạn, chứ phò mã Trần Thủ-Huy thì quyết không làm việc đó.

Từ hồi vua Anh-tông băng, thì Kiến-Khang vương Long-Ích, Kiến-Bình vương Long-Tường được gửi lên Bắc-cương cho Đoan-Nghi dạy văn, Thủ-Huy dạy võ. Hai vương mới rời Bắc-cương hôm hai mươi ba tháng chạp, về Thăng-long chúc tết đích mẫu là Chiêu-Linh thái hậu, với sinh mẫu là Lê thái phi. Kiến-Khang vương tuy tuổi mới mười lăm, nhưng võ công, kiến thức thực phi thường. Vương nhìn Đỗ An-Di bằng con mắt khinh bỉ, rồi nói với Kính-Tu :

- Xin thầy bảo vệ Long-Trát, để con lo liệu mọi việc.

Đội Kị-binh đã đuổi kịp đoàn hộ vệ. Đỗ Thái-hậu, Đỗ An-Di nhìn nhau, nước mắt chan hòa :

- Hôm nay thì anh em chúng ta không hy vọng sống sót nữa rồi.

Còn Mạc Hiển-Tích, y sợ qúa chui xuống gầm xe Thái hậu, chân tay run lẩy bẩy.

Kiến-Khang vương nắm tay y lôi ra :

- Tước người tới hầu, hàm tới Thiếu-sư, lại lĩnh tổng quản cấm quân, thị vệ mà hèn vậy sao ? Nhược bằng Kị binh làm phản, thì người chui dưới đó, chúng có để người yên không ?

Vương tế ngựa lên trước ngựa nhà vua, tay để vào đốc kiếm, rồi nói với Lý Kính-Tu :

- Tước của con tuy tới vương, nhưng lại không có chức gì. Thầy là Thái-phó. Xin thầy đối đáp với viên chỉ huy Kị-binh.

Sắc mặt thản nhiên, Lý Kính-Tu ra lệnh cho viên đô thống chỉ huy thị vệ không được chống trả. Oâng lên tiếng :

- Là binh đội nào ? Ai sai các người đến đây ?

Viên đô-thống phất tay ra lệnh cho Kị-binh ngừng lại rồi nói lớn :

- Vị nào là Đỗ Thái-sư đồng bình chương sự ? Vị nào là Lý Thái-phó ?

Đang núp sau xe thái-hậu, Đỗ An-Di run lập cập bước ra :

- Tôi...Tôi xin đầu hàng. Tôi xin thề trước thần linh, kể từ nay, tôi nguyện tôn Bảo-Quốc đại vương làm Vô-thượng, Chí-tôn, Đại-thánh hoàng đế.

Nhưng y nói không ra hơi, chỉ mấy cung nữ, thái giám đứng gần nghe thấy mà thôi .

Lý Kính-Tu hỏi :

- Ta là Thái-phó Lý Kính-Tu đây. Đô thống muốn gặp ta có việc gì ?

Viên đô thống xuống ngựa, cung tay :

- Tiểu nhân giáp trụ trên người không hành đại lễ được, xin Thái-phó khoan dung. Vì có âm mưu tạo phản, Vũ-kị thượng-tướng quân lệnh cho tiểu nhân đem quân đặt dưới quyền điều động của Thái-phó để hộ giá.

- Ai tạo phản ? Các người có được lệnh của Trần phò mã không ?

Hàng quân rẽ ra, một văn quan xuống ngựa cung tay hành lễ :

- Thần Lê Kim, lĩnh trưởng-sử tòa tổng-trấn Bắc-cương, tuân chỉ Trung-nghĩa thượng tướng quân, kính đệ lên Thái-phó một mật thư.

Lý Kính-Tu đáp lễ, rồi tiếp thư. Đọc xong, ông tâu với nhà vua :

- Tâu bệ hạ. Quả có việc tạo phản. Bảo-Quốc vương sai sứ lên Bắc-cương xin Trần phò mã, Phùng đại đô đốc, Tăng Vũ-kị cùng đem quân về chiếm Thăng-long giết các đại thần, vây Cổ-pháp. Trần Thái-úy, Phùng đại đô đốc, Tăng Vũ-kị quyết giữ lòng trung, đã bắt sứ giả giải đến đây để bệ hạ phát lạc. Còn Kị-binh dàn ra, không phải làm phản mà để hộ giá.

Đỗ An-Di nghe Kính-Tu tâu, bao nhiêu sợ hãi biến mất. Y hất hàm làm oai hỏi Lê Kim:

- Lê trưởng-sử ! Thế Trần phò mã hiện ở đâu ?

- Người với công chúa đang có mặt tại Thăng-long để dẹp loạn.

- Theo trong thư, Lê trưởng sử có giải ba sứ giả của Bảo-Quốc vương theo. Vậy ba sứ giả đâu ?

Lê Kim chỉ vào chiếc xe đóng kín ở phía sau :

- Thưa, họ bị giam ở trong tù xa kia.

An-Di ra lệnh cho viên đô-thống :

- Người hãy dẫn Kị-binh theo sau xa giá. Giải tù xa về Cổ-pháp.

Bấy giờ Mạc Hiển-Tích mới chui ra khỏi gầm xe.


Tại Thăng-long, Vũ Tán-Đường nhận được thư của Thủ-Huy, lập tức ông ra lệnh cho Đàm Dĩ-Mông dàn cấm quân, thị-vệ bảo vệ Hoàng-thành, không báo cho các đại thần biết. Nhưng Mông sợ quá, bỏ trốn, thành ra cấm quân, thị vệ không người chỉ huy, cửa thành mở rộng. Tuy vậy Tán-Đường cũng cứ để cho các quan thản nhiên vào cung Chiêu-linh dự yến do Thái-hậu ban. Vốn tính cẩn thận, tuy ông tin vào sự ngay thẳng của Thủ-Huy, Đoan-Nghi, nhưng muốn được yên tâm, ông rủ một vị đại thần thân tín của Thủ-Huy là Tham-tri bộ Lễ Đào Duy, đi cùng xe. Đào Duy là thầy dạy âm nhạc của Tán-Đường lẫn Tá-Chu. Khi xe sắp vào đến cổng thành, thì Khu-mật viện báo cho biết :

- Hạm đội Âu-Cơ dàn ra trên sông Hồng, phong tỏa tất cả các cửa sông lớn nhỏ, không cho bất cứ thuyền bè nào đi lại. Ba hiệu Thiên-tử binh Ngự-long, Quảng-thánh, Quảng-vũ tiến về đóng ngoài các cửa thành. Hỏi các tướng, thì họ cho biết có âm mưu tạo phản, nên phò mã Thái-úy sai dàn ra bảo vệ kinh thành. Quan tổng trấn Thăng-long Đàm Dĩ-Mông trốn mất. Thị vệ, cấm quân không người chỉ huy. Các đại thần Ngô Nghĩa-Hòa, Ngô Lý-Tín trốn mất rồi.

Tán-Đường thúc xe vào thành càng mau. Xe sắp tới Hoàng-thành, thì Khu-mật viện lại cáo :

- Chim ưng báo cho biết, hiệu binh Phù-Đổng đã dàn ra bảo vệ lăng tẩm, lộ trình xa giá của Hoàng-thượng. Thái-phó Lý Kính-Tu truyền chém đầu ba sứ giả của Bảo-Quốc vương để tế tiên đế.

Đào Duy hỏi :

- Phò mã sai ai chỉ huy thủy, bộ phòng vệ Thăng-long ?

- Là đại đô đốc Phùng Tá-Chu.

Nghe nói đến Tá-Chu, Vũ Tán-Đường yên tâm. Bởi tuy tuổi tác, quan giai cách biệt nhau, nhưng giữa Tán-Đường, Tá-Chu là bạn tri âm. Tá-Chu thích thổi tiêu, trong khi Tán-Đường lại giỏi về đàn. Hai người cùng học với Đào Duy, rồi cả ba thường hợp tấu với nhau.

Xe tới cung Chiêu-Linh. Một cung nga ra cung tay :

- Thái-hậu thỉnh đại nhân !

Ả nói nhỏ :

- Các quan tề tựu đông đủ, chỉ còn thiếu nhị vị mà thôi.

Lễ nghi tất.

Chiêu-linh Thánh-cảm thái hậu hướng các quan :

- Nhân dịp đầu năm, cô phụ được các trấn dâng lên một số thời trân. Nghĩ công khuông phò xã tắc của các vị. Cô phụ sai ngự trù làm yến, mời các vị cùng hưởng.

Vũ Tán-Đường thay mặt các quan dâng lên Thái-hậu lời cảm tạ. Tiệc được nửa chừng, tổng thái giám cung Chiêu-Linh ra hiệu cho các quan im lặng, rồi Thái-hậu ban chỉ :

- Tiên đế băng hà đã bẩy năm. Trong bẩy năm qua, ấu quân không quyết được việc gì cả. Quyền hành đều nằm trong tay gian thần Đỗ An-Di, Mạc Hiển-Tích. Cái tên Hiển-Tích này công khai tư thông với Đỗ Thụy-Châu, làm ô uế cung thất. Thành ra, trên danh nghĩa thì Long-Trát làm vua, chứ thực ra thì Đỗ, Mạc. Các quan đều là người của tiên đế, nhiều vị tìm đến cô phụ tố giác hành vi lạm quyền, vô pháp, vô thiên của hai ác nhân. Vậy các quan nghĩ sao ?

Các đại thần ngơ ngác nhìn nhau, im lặng. Duy thượng thư Binh-bộ Phí Công-Tín tâu :

- Tâu bệ hạ ! Tuy An-Di, Hiển-Tích lạm quyền, có hành vi cẩu trệ (chó lợn) thực, song thần thấy bên trong còn có Thái-phó Lý Kính-Tu cầm cương lễ nghi, ngồi ghế đế sư, ngoài biên cương còn có công-chúa Đoan-Nghi, cùng phò mã Thái-úy Trần Thủ-Huy giữ binh quyền. Xã tắc chưa đến nỗi nào.

Thái-hậu xua tay :

- Dĩ nhiên là vậy ! Cô phụ nghĩ thế này.

Thái-hậu nhấn mạnh :

- Tại sao các vị không tôn Bảo-Quốc vương lên ngôi ? Có một hoàng đế văn võ toàn tài, trí tuệ vô song, lại trên ba chục tuổi thì mới hy vọng tái kiến thiết lại sự nghiệp của chư vị tiên đế.

Vũ Tán-Đường chắp tay :

- An-Di, Hiển-Tích tuy có tội, nhưng Hoàng-thượng không có tội gì, bọn thần không thể tuân chỉ bệ hạ mà truất phế Hoàng-thượng. Năm nay Hoàng-thượng đã mười tuổi. Chỉ còn ba năm nữa là trưởng thành, bấy giờ người sẽ thân chính. Còn việc triều chính, như Binh-bộ thượng thư tâu, vẫn còn Thái-phó Lý Kính-Tu ở trong. Ngoài còn Thái-úy Trần Thủ-Huy. Chính sự chưa có gì tồi tệ. Vì vậy thần không thể tuân chỉ bệ hạ.

Thái-hậu hỏi các quan :

- Đây là ý của quan phó Tể-tướng. Vậy các khanh nghĩ sao ?

Các quan chưa kịp ứng lời, thì Bảo-Quốc vương từ trong bước ra. Các quan cùng đứng dậy cung tay hành lễ.

- Mấy năm trước, vì không muốn sát hại các đại thần khi vừa lên ngôi, nên trẫm đã ban chỉ tha tội cho bọn Tô Hiến-Thành, Đỗ An-Di, Mạc Hiển-Tích. Vì đại nghĩa, vì tỏ lòng nhân, trẫm thẳng tay cách chức Trần Thủ-Huy, về tội y lạm quyền, đã sát hại 18 đại thần. Trẫm cũng đuổi Tăng Khoa, vì vợ y giam Đỗ sủng phi của tiên đế cùng hoàng đệ Long-Trát. Không ngờ sau đó, trẫm bị bọn Tô, Đỗ, Mạc phạm giá, giam trẫm cùng Hoàng-hậu, các hoàng tử, công chúa, rồi lập ấu quân lên.

Vương rút kiếm cắm xuống chiếc bàn trước mặt :

- Suốt sáu năm qua, trong cung thì Đỗ thị gian dâm với Mạc Hiển-Tích, để y hành xử như một hoàng đế. Bên ngoài thì anh thị là Đỗ An-Di mặc quyền thao túng. Than ôi ! Đất nước này là đất nước của mấy nghìn năm tổ tiên để lại. Sự nghiệp này là sự nghiệp của sáu vị tiên đế. Trẫm cũng như các khanh, không thể buông tay ngồi nhìn bọn chồn cáo phá nát. Sáng nay, trẫm đã ban chỉ cho Vũ-kị thượng-tướng quân xử tử Long-Trát, Đỗ Thụy-Châu, Đỗ An-Di, Mạc Hiển-Tích, Lý Kính-Tu trước lăng tẩm các tiên đế. Giờ này Tăng Vũ-kị đang mang đầu bọn quốc phạm tế cáo ở lăng tẩm.

Vũ Tán-Đường đứng lên nói lớn :

- Khải vương gia ! Suốt bao năm qua, thần từng cùng ba vương Kiến-Ninh, Kiến-An, Kiến-Tĩnh, công chúa Đoan-Nghi, phò mã Trần Thủ-Huy, Vũ-kị thượng tướng quân Tăng Khoa, Long-nhương thượng tướng quân Lưu Khánh-Bình, đại đô đốc Phùng Tá-Chu, cũng như hầu hết các quan văn võ, từng rạp mình trước vương gia để khuông phò vương gia, chỉ vì cái chí của vương gia. Thế nhưng khi vương gia vừa bước chân vào ngưỡng cửa của thành công, lập tức vương gia trở mặt với những người dầy công hãn mã, mà trọng đãi kẻ thù của mình. Vương gia ơi ! Tiên đế ban chỉ thống mạ vương gia bằng những lời ô nhục nhất, sĩ dân trong nươc đều biết. Vương gia chỉ còn lại những chân tay thân tín, thế mà vương gia tự cắt đi, cho nên vương gia mới bị làm nhục.

Vũ nói lớn :

- Thưa vương gia, con người ta không ai tránh được cái thiên-mệnh. Khi vương gia xua đuổi chân tay mình, thì đúng là lúc cái mệnh đế vương trong vương gia bay mất. Nếu trong hơn mười năm, mệnh đế vương đã phi ngựa mở đường cho vương gia, thì nay ma đưa lối, quỷ đưa đường cho vương gia. Vương gia cùng toàn gia sắp bị tru lục, vương gia có biết không ?

Bảo-Quốc vương không ngờ người từng hỗ trợ mình suốt bao năm bay giờ lại bỏ mình, hơn nữa nói lời cay đắng với mình. Vương cố gắng phủ dụ :

- Vũ phụ chính nói sao lạ tai quá. Trẫm đường đường, chính chính họp đại thần, lập chính thống, mà người dám bảo là ma đưa lối, quỷ đưa đường ư ?

Vũ Tán-Đường vẫn sang sảng :

- Thưa vương gia ! Ba sứ giả của vương gia sai lên gặp Trần phò mã, Phùng đại đô đốc, Tăng Vũ-kị để gọi chư vị ấy kéo quân về cùng tạo phản. Nhưng cả ba cùng hội nhau rồi trả lời vương gia rằng : Tục ngữ có câu, phàm sự không quá ba lần. Các vị ấy đã ngu trong hai lần kéo quân về cứu vương gia, để rồi bị vương gia định giết chết, để tạ lòng kẻ thù của vương gia. Bây giờ các vị ấy không ngu nữa. Một mặt ba vị ấy truyền bắt giam ba sứ giả của vương gia giải lên Cổ-pháp trao cho Lý Thái-phó phát lạc. Một mặt ba vị ấy kéo quân về Thăng-long để phòng phiến loạn.

Mặt tái xanh, vương-phi Trang-Hòa hỏi :

- Có chuyện ấy ư ?

- Vương phi không tin ư ? Trần phò mã đã truyền lệnh cho Vũ-kị thượng tướng quân Tăng Khoa đem Kị-binh dàn ra từ Bắc-ngạn tới Cổ-pháp để đề phòng kẻ gian phạm giá. Lại ra lệnh cho Đại-đô đốc Phùng Tá-Chu dàn hai hạm đội quanh Thăng-long, rồi đích thân người điều động ba hiệu Thiên-tử binh kéo về đóng quanh Kinh-thành. Trước khi vào dự yến, lão phu được Khu-mật viện báo cho biết : Lý Thái-phó đã chém ba sứ giả của vương gia gửi lên Bắc-cương. Phùng đại đô đốc dàn Thủy-quân bảo vệ Thăng-long. Hiện phủ Bảo-Quốc đã bị phong tỏa.

Long-Xưởng vẫn chưa biết cái nguy, vương vỗ vai Tán-Đường :

- Vũ phụ chính là nhà nho, sao lại nói láo như thế ?

Tán-Đường móc trong bọc ra tờ thư của Thủ-Huy đọc lớn lên cho mọi người nghe, rồi trao thư đó cho quan thượng thư Bùi Kinh-An. Kinh-An liếc qua, ông nói với vương phi Trang-Hòa :

- Đúng là thư của Trần phò mã. Hỡi ơi ! Vợ chồng con hành sự vô thiên, vô pháp ; dấu cả bố. Bây bây giờ hóa ra người gặp đường cùng.

Mặt Long-Xưởng tái như gà cắt tiết, vương nghĩ thầm :

- Sự đã đến thế này thì ta cứ ép các quan ký vào biểu, rồi ta lên ngôi vua. Lát nữa đối diện với Thủ-Huy, Tá-Chu, liệu hai đứa nó giám chống ta chăng ?

Vương chỉ ra ngoài :

- Thư giả ! Nói láo ! Kìa ! Võ sĩ đã bao vây khắp Hoàng-thành. Đại đô đốc Phùng Tá-Chu dàn bốn hạm đội trên sông ! Phò-mã Thái-úy đem Thiên-tử binh về đóng chật trong thành. Dinh thự, phủ-bộ của bọn gian thần đã bị vây kín.

Các quan nhìn ra, thì quả gia tướng, thân binh phủ Bảo-Quốc gươm đao sáng choang, bao vây ngoài cung.

Bảo-Quốc vương tiếp :

- Vậy, biểu tôn trẫm lên ngôi đã soạn. Chư khanh hãy ký vào, rồi chúa tôi ngày đêm hưởng phú quý. Các khanh muốn quyền cao, chức trọng, trẫm ban cho. Các khanh muốn vàng bạc, châu báu, trẫm không tiếc.

Viên trưởng sử phủ Bảo-Quốc cầm tờ biểu đưa đến trước các quan. Đầu tiên là các cấp thị lang, tham tri. Hầu hết họ đều ký vào. Khi đến trước mặt tổng thái giám Đỗ Viện, y không ký, mà chỉ vào mặt Long-Xưởng nói lớn :

- Con ong, cái kiến còn biết trung thành, không giết chúa. Con chó dù bị đánh đập thế nào cũng không cắn lại chủ. Loài rắn rết cũng không nỡ phun nọc anh em. Người từng ký vào tờ biểu tôn em lên làm vua, rồi bây giờ giết đi... Thì người không bằng con ong cái kiến, thua loài chó, ác hơn rắn rết. Ta không tôn người làm vua.

Nói rồi y xông lên mà tát Long-Xưởng. Y không biết võ, chỉ đấm đá lung tung. Long-Xưởng túm y ném ra sân. Đỗ Viện ôm mặt khóc hu hu, ngoác mồm ra chửi :

- Hỡi ơi ! Tiên đế quả thực minh mẫn, khi ban chỉ thống mạ mi là tham dâm, hiếu sắc, là con bất hiếu, tôi bất trung.

Long-Xưởng ra lệnh cho võ sĩ :

- Cắt lưỡi nó.

Võ sĩ đè Đỗ Viện ra cắt lưỡi. Tuy đau đớn cùng cực nhưng Viện nhặt đá ở sân ném Long-Xưởng. Long-Xưởng bắt lấy hai viên đá ném vào người Viện. Một viên trúng giữa mắt. Con ngươi lòi ra. Một viên trúng giữa miệng, chui tọt vào trong. Viện ngã xuống, lăn lộn ở sân.

Thế là các quan đành cúi đầu ký. Khi đến lượt quan Tham-tri bộ Lễ Đào Duy, vợ là Như-Yên, thì cả hai đều lắc đầu từ chối .

Long-Xưởng vạn vạn lần không ngờ rằng một cố cựu từng phò tá, hy sinh cho mình từ thời mình còn thơ ấu, bây giờ lại không còn trung thành với mình nữa. Vương hỏi Như-Yên :

- Phu nhân ! Từ một người ca hát ven sông, nhờ đâu mà phu nhân trở thành đệ nhất nhạc quan triều đình ? Rồi tổng quản cung nga, thái giám ?

Như-Yên nhìn chồng, không trả lời. Long-Xưởng lại hỏi Đào Duy :

- Đào tham tri ! Người chẳng từng là cố tri của trẫm ư ? Chỉ lát nữa đây, trẫm sẽ phong tước công cho người ! Người biết chứ ? Tại sao người không ký vào ?

- Khải điện hạ :

Đào Duy phân giải : Mười mấy năm trước, tuân lệnh sư phụ, thần theo giúp điện hạ để giải nạn nước do bọn gian tế Tống gây ra. Sau đó vợ chồng thần, cùng con gái phò tá điện hạ với cái chí đòi lại cố thổ của vua Hùng, vua Trưng . Cũng chỉ vì khuông phò điện hạ, mà vợ chồng thần biết bao lần vào sinh ra tử, bị biết bao nhiêu người thù hận. Than ôi ! Thế mà khi điện hạ sắp lên ngôi, thì Thái-úy phò mã bị cách chức. Tăng Khoa, Như Như bị xua đuổi. Vợ chồng thần bị làm nhục. Rồi kẻ chống đối điện hạ suốt bao năm lại được trọng dụng. Không chừng sau đó điện hạ lại đem những người trung thành ra chém, thân xác phơi nắng phơi mưa. Còn vợ con thì làm tôi tớ cho chúng. Vì vậy, bây giờ thần muốn làm kẻ thù của điện hạ, để được trọng dụng.

Long-Xưởng nghĩ thầm :

- Trong lúc lòng người chưa định, ta cần giết vài tên ra oai, thì mới mong áp đảo tinh thần bọn quan liêu này.

Nghĩ thế vương hô :

- Võ sĩ đâu, đem vợ chồng tên này ra chặt đầu.

Trang-Hòa can :

- Bệ hạ ! Dù sao Đào tham-tri cùng phu nhân cũng là sư phụ khai tâm của bệ hạ. Nếu như lời của Vũ Tán-Đường là bịa đặt thì Tăng Khoa, Như-Như đang cầm đại quân ở ngoài. Chính Tăng Khoa mang Kị-binh về Cổ-pháp giết Thụy-Châu, Long-Trát, và bọn Đỗ An-Di sáng nay. Bệ hạ không nên giết cha mẹ họ.

Long-Xưởng nói sẽ vào tai vợ :

- Hậu không biết gì cả. Trước trẫm giết hai đứa này thị oai. Rồi giả như Tăng Khoa có giết Long-Trát, Đỗ Thụy-Châu thì lát nữa đây trẫm sẽ truyền võ sĩ tru di tam tộc vợ chồng Tăng Khoa về tội thí chúa, giết đại thần. Trẫm lại ôm xác Long-Trát mà khóc, rồi truy phong tước vương cho bọn An-Di, Hiển-Tích... Như thế bao nhiêu tội trạng trẫm đổ lên đầu bọn Thủ-Huy, Tá-Chu, Tăng Khoa hết. Trẫm cáo với quốc dân là Thủ-Huy, Tá-Chu, Tăng Khoa làm loạn, trẫm đã dẹp được. Vì nước một ngày không thể không vua nên trẫm phải lên ngôi vua !

Dứt lời Long-Xưởng hô :

- Ra tay đi !

Hai võ sĩ dạ ran, xông vào túm lấy Đào Duy, Như-Yên. Nhưng vù, vù, hai võ sĩ bay ra sân nằm thẳng cẳng, không rõ sống chết ra sao. Đào Duy cung tay :

- Hồi mới theo điện hạ, thần có truyền chiêu võ vừa rồi cho điện hạ, hẳn điện hạ còn nhớ ?

Hai viên gia tướng phủ Bảo-Quốc vọt mình vào trong cung, thân pháp y nhanh không thể tưởng tượng được. Chúng chĩa kiếm vào trước ngực Đào Duy, Như-Yên. Như-Yên thản nhiên :

- Võ lâm, danh sĩ trong thiên hạ bất mãn với Đỗ An-Di, Mạc Hiển-Tích không thiếu. Tuy biết điện hạ là người đa sát công thần, chỉ có thể cùng gánh chịu khi nguy, mà không thể cùng hưởng khi thịnh. Nhưng họ không tin điều đó. Bây giờ điện hạ giết vợ chồng thần đi, để họ thấy rõ cái đức nhân của điện hạ hơn.

Long-Xưởng hất hàm cho võ sĩ :

- Giết y.

Hai võ sĩ đẩy thanh kiếm vào ngực Đào Duy, Như-Yên. Người người nhắm mắt lại không muốn nhìn cặp vợ chồng tài tử này chết thảm.

Bộp, bộp, tiếp theo hai tiếng loảng xoảng. Mọi người nhìn lại : Hai võ sĩ ngã úp sấp mặt xuống đất, kiếm rời khỏi tay. Trong khi vợ chồng Đào Duy đã đứng ngoài sân.

Đào Duy vốn là thầy thuốc. Ông điểm mấy yếu huyệt cầm máu cho Đỗ Viện, rồi móc hai viên đá ra.

Hành động này làm Long-Xưởng điên tiết lên :

- Võ sĩ ! Buông tên.

Hơn trăm võ sĩ cùng hướng vào vợ chồng Đào Duy buông tên. Cả hai không có vũ khí trong tay, vội tung người lên cao tránh. Võ sĩ lại hướng cung lên cao. Than ôi, vợ chồng Đào Duy đang chới vơí trên không, mỗi người bị trúng hàng trăm mũi tên , xác rơi xuống sân.

Cái chết của vợ chồng Đào Duy làm các quan kinh hồn táng đởm, người người răm rắp ký. Cuối cùng đến lượt Vũ Tán-Đường. Ông đứng lên, ngửa cổ ra :

- Xin vương gia cứ giết lão phu đi. Lão phu không ký đâu.

Long-Xưởng rút kiếm :

- Được !

Vừa lúc đó, viên gia tướng chạy vào run run :

- Thiên-tử binh bao vây kín Hoàng-thành, không rõ ý định.

Long-Xưởng kinh hãi hỏi :

- Phò mã Thái-úy đâu ?

- Phò mã đang cùng với Hoàng-thượng độ giang, sắp vào thành.

Lại có thân binh báo :

- Nguy rồi ! Thiên-tử binh bao vây vương phủ ! Các hoàng tử, công chúa đều bị bắt.

Trang-Hòa giật mình :

- Binh nào vây vương phủ ?

- Thưa hiệu Quảng-vũ.

Đến đó các thân binh, gia tướng ùn ùn chạy về quanh cung Chiêu-linh. Chúng báo :

- Đội võ sĩ Côi-sơn, Long-biên chiếm hết các cung, điện Hoàng-thành.

Long-Xưởng, Trang-Hòa cùng gia tướng, thân binh bị đội võ sĩ Long-biên vây kín. Long-Xưởng quát :

- Ai chỉ huy đội võ sĩ Long-biên ?

Một viên võ quan bước ra :

- Trần Tử-Kim, đô thống trưởng đoàn võ sĩ Long-biên xin tham kiến vương gia.

Long-Xưởng quát :

- Ta là Vô-thượng, Chí-tôn, Đại-thánh hoàng đế. Người tuân lệnh ai, mà dám đem quân phạm giá ?

- Thần tuân lệnh phò mã Thái-úy.

Nói dứt, Trần Tử-Kim chỉ vào Long-Xưởng :

- Chư võ sĩ nghe đây ! Người này là tôi bất trung ! Tử bất hiếu ! Các người theo y sẽ bị giết cả nhà. Hãy buông vũ khí, để được ân xá.

Đám gia tướng, thân binh buông vũ khí đầu hàng. Long-Xưởng rút kiếm cùng Trang-Hòa chĩa về trước :

- Ta muốn gặp phò mã Thái-úy.

Các võ sĩ Long-biên từng ở dưới trướng Long-Xưởng, nên dư oai của vương vẫn còn. Họ dương cung, đứng ngoài nhìn, chứ không dám xông vào.

Trần Tử-Kim ra lệnh :

- Xông vào bắt sống !

Võ sĩ cùng buông tên, rút đao xông vào. Võ công Long-Xưởng, Trang-Hòa đâu có thấp ? Nhưng hai người không địch lại hàng trăm võ sĩ, chưa đầy một khắc cả hai đã bị bắt trói.

Có hai người, một nam, một nữ phi ngựa đến. Đó là Tăng Khoa, Như-Như. Long-Xưởng quát :

- Tăng Khoa ! Người từng là em sữa của trẫm ! Như-Như, chúng ta là Đại-Việt thất tiên với nhau, sao các người thấy trẫm bị trói mà không cứu giá ?

Tăng Khoa cười nhạt :

- Thần là em sữa của vương gia thực, nhưng trước đây chính vương gia đã cắt đứt cái tình này, lại xua đuổi thần rồi mà ! Vương gia quên mau thực !

Như-Như đã được loan báo về cái chết của cha mẹ. Bà phóng con mắt nhìn vào mặt Long-Xưởng, rồi buông kiếm, xuống ngựa vuốt mắt cho cha mẹ. Đích thân bà nhổ từng mũi tên ra. Bà ôm xác cha mẹ, rồi phi thân nhảy lên mình ngựa phi về phía cửa Đông thành.

Long-Xưởng, Trang-Hòa cùng gia tướng, thân binh tới bị điệu tới điện Uy-viễn, xếp ngồi thành hàng trước sân. Lát sau võ sĩ giải đến ba con trai, hai con gái của Long-Xưởng, cùng bộc phụ, mã phu, gia nhân... không thiếu một người. Năm đứa trẻ thấy bố mẹ bị trói thì khóc ré lên.

Long-Xưởng nói với viên đô thống chỉ huy đội võ sĩ Long-biên :

- Người chẳng từng ở dưới trướng của ta ư ? Tại sao người trói ta chặt thế này. Người có thể vì tình cố cựu mà cởi trói cho ta chăng ?

Tử-Kim cười nhạt :

- Cũng được !

Y tiến tới, nới dây trói cho Long-Xưởng.

Có tiếng nhã nhạc vọng lại. Lát sau Lý Kính-Tu, Phí Công-Tín, Ngô Lý-Tín cỡi ngựa đi trước chiếc xe. Trên xe có Đỗ Thái-hậu, Trinh-phù hoàng đế. Hai bên xe là ngựa của Kiến-Khang, Kiến-Bình vương.

Trần Tử-Kim hô lớn :

- Tù phiến loạn ! Quỳ xuống !

Long-Xưởng tần ngần một lát rồi cùng quỳ với gia tướng, thân binh.

Vũ-kị thượng tướng quân Tăng Khoa cung tay :

- Giáp trụ trên người thần không hành đại lễ được, mong bệ hạ xá tội.

Trinh-phù hoàng đế vẫy tay :

- Miễn lễ.

- Muôn tâu bệ hạ.

Tăng Khoa tâu : Bảo-Quốc vương làm loạn, Trần phò mã đã dẹp xong. Loạn quân trên hai trăm tên. Bị giết một trăm lẻ chín tên. Còn lại 99 tên đầu hàng.
Kiến-Bình vương Long-Tường là con trai út của Anh-tông. Năm nay mới tám tuổi. Vì phụ hoàng băng hà sớm, các anh trưởng thành là Kiến-Ninh, Kiến-An, Kiến-Tĩnh bị giết. Còn hai anh là nhà vua, với Kiến-Khang vương thì tuổi không hơn vương làm bao. Hồi phụ hoàng còn tại thế, đã gửi Kiến-Khang vương lên Bắc-cương cho anh rể, chị gái là Thủ-Huy, Đoan-Nghi dậy. Vì vậy khi vương được bốn tuổi, sinh mẫu là hoàng thái phi Lê Mỹ-Nga chiếu điển lệ, cũng gửi vương cho Đoan-Nghi, Thủ-Huy dạy. Trong những năm ở Bắc-cương, vương từng nghe nói nhiều về người anh cả, nào chí lớn, nào mưu lược. Nhưng chỉ vì lòng dạ hẹp hòi, thiếu quyết đoán, bạc đãi thủ hạ mà sự nghiệp tan nát. Hồi giữa tháng chạp, vương cùng anh là Kiến-Khang vương được Đoan-Nghi cho về Thăng-long ăn tết. Tới nơi, hai anh em cùng đến phủ Bảo-Quốc chào Long-Xưởng. Tuy là anh, nhưng Long-Xưởng lớn hơn vương hai mươi tuổi, vì vậy vương tự cảm thấy người anh mình đầy uy quyền, đầy thế lực. Thế mà nay vương thấy huynh trưởng Long-Xưởng, cùng vợ con quỳ gối nhục nhã, thì không chịu được. Vương nhảy xuống ngựa hỏi :

- Huynh trưởng ! Vì cớ gì mà lại nhục nhã như thế này ?

Long-Xưởng cúi gầm mặt xuống không trả lời.

Lý Kính-Tu hỏi Tăng Khoa :

- Phò-mã Thái-úy đâu ?

- Thưa Thái-phó, người đang chỉ huy cuộc triệt thoái binh. Khi xong sẽ triều kiến bệ hạ.

Có tiếng nhạc ngựa, rồi đoàn giáp sĩ Côi-sơn hơn trăm người phi trước, tiếp theo hai kị mã cầm hai lá cờ lớn, có chữ :

Tổng-trấn Băc-cương,
Tả kim ngô đại tướng quân Trần.
Phụ-quốc thái-úy, Côi-sơn quốc công.

Ngay phía sau là ngựa của Thủ-Huy, Đoan-Nghi.

Kiến-Bình vương nắm lấy cương ngựa Thủ-Huy, Đoan-Nghi, khóc rằng :

- Chúng ta cùng là máu thịt của phụ hoàng, thì trong nhà tự xử với nhau. Tại sao lại để người ngoài làm nhục huynh trưởng thế kia ?

Đoan-Nghi bảo vương :

- Em cắt dây trói cho anh chị Long-Xưởng với các cháu đi.

Long-Tường rút kiếm đưa mấy nhát, dây trói vợ chồng Long-Xưởng với các con đứt hết. Đoan-Nghi chỉ tay vào hai chiếc xe bốn ngựa :

- Xe kia, anh chị hãy về vương phủ an nghỉ.

Ghi chú của thuật giả:

Đoạn này, ĐVSKTT chép giản dị như sau :

Niên hiệu Trinh-phù thứ sáu (DL.1181, Tân-Sửu), Tống Thuần-hy năm thứ 8.

Mùa Xuân, tháng giêng, cựu Thái-tử là Long-Xưởng cầm đầu bọn gia thuộc, nô lệ trộm cướp bừa bãi. Muốn mưu làm loạn.

Chỉ độc giả Anh-hùng Đông-a mới biết rõ chi tiết mà thôi.


Huyền-sử kể rằng : Nhờ công cứu giá, mà sau đó công chúa Đoan-Nghi với phò mã Trần Thủ-Huy được phong tước vương. Nhưng hai vị không nhận, mà đem tất cả công lao, xin ân xá cho Bảo-Quốc vương cùng gia thuộc. Đại đô đốc Phùng Tá-Chu, Vũ-kị thượng tướng quân Tăng Khoa được phong tước công. Để cho sự việc không thể tái diễn, triều đình tước quyền Bảo-Quốc vương ba điều : Cấm tuyển thân binh, gia tướng. Cấm chứa vũ khí. Cấm nhập thành Thăng-long.

Năm ấy (Vẫn Trinh-Phù thứ 6), ngày rằm, mùa Thu tháng tám, triều đình sai sứ lên Bắc-cương cáo với phò mã Thái-úy Trần Thủ-Huy rằng :

« Giữa đêm Trung-thu, quân cướp nhập phủ Bảo-Quốc. Bảo-Quốc vương, vương phi, các thế tử, quận chúa cùng gia thuộc bị giết chết. Quân cướp đốt dinh, quẳng thi thể các nạn nhân vào. Khi quan quân tới nơi, thì bọn cướp đã trốn mất. Ngõ tác không phân biệt được các bộ xương của nạn nhân. Triều đình đành thu dọn, rồi chôn thành một nấm mồ lớn, gồm 48 hài cốt ».

Gia phả con cháu Trần Ích-Tắc chép rằng vương bị Đỗ An-Di giết.


Được tin này, Thủ-Huy hỏi vợ :

- Em nghĩ sao ?

- Võ công anh Long-Xưởng, chị Trang-Hòa đâu có dở ? Gia thuộc tuy ít người nhưng ai cũng biết võ. Giả như vụ án này do cướp gây ra thực, thì phải có cuộc long tranh, hổ đấu khủng khiếp lắm. Võ công bọn cướp phải cao cường lắm mới lộng hành được như vậy. Em muốn nhờ anh chị Thủ-Lý điều tra dùm xem sự thực ra sao ? Không chừng vụ này do Đỗ An-Di hay Mạc Hiển-Tích gây ra cũng nên.

Thủ-Huy viết thư sai chim ưng mang đi Thiên-trường. Hai hôm sau chim ưng mang thư của Thủ-Lý về. Trong thư Thủ-Lý viết vỏn vẹn có mấy câu :

« Từ sau hôm Long-Xưởng hợm hĩnh trở mặt với nhà mình, tiếp theo xua đuổi chú với vợ chồng Đào Duy, vợ chồng Tăng Khoa, thì võ lâm đều coi như y là một thứ lưu manh. Gần đây y giết sư phụ, sư mẫu là cặp vợ chồng Đào Duy, thì bất cứ người hành hiệp nào cũng phải trừ khử. Các gia, các phái đều nguyền rủa y. Còn nhà mình thì không cần biết tới y nữa. Tuy vậy anh cũng nhắc chú đôi chi tiết : Võ công vợ chồng Long-Xưởng với chín đệ tử của y, không có bọn cướp nào đủ sức giết nổi. Nhất định y bị đánh thuốc độc chết hoặc mê man, rồi mới bị đem đi đốt. Trong thời gian y cầm quyền, thiếu gì người thù oán. Nay y thân cô, thế cô họ còn đợi gì mà không trả thù ».

Thế rồi vụ án do Khu-mật viện thụ lý, dĩ chí tới các võ phái cùng sai người điều tra, mà không ra manh mối. Dần dần, vụ án đi vào lãng quên.


****************

Đã mang vào thư viện đến Hồi 26.
Chán đời đi lang thang !
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-03-30 19:07:57NuHiepDeThuong>
Hồi thứ hai mươi bẩy

Nguyên tổ họ Lý Hàn-quốc




Tháng Giêng, niên hiệu Trinh-phù thứ 11 (DL. 1186, Bính-Ngo. Từ tháng 7 về sau, cải nguyên là Thiên-tư Gia-thụy) triều đình thiết đại triều giữa mùng một tết. Đây là lần đầu tiên trong suốt mười năm qua, mới có một buổi thiết triều, với sự hiện diện đầy đủ các thân vương, phò mã, công chúa, văn võ đại thần tại triều cũng như tại các trấn, phủ, huyện.
Buổi thiết đại triều do Thái-phó Lý Kính-Tu, thầy của vua triệu tập. Từ trong triều đến ngoài trấn, dĩ chí đến dân chúng, ai cũng biết : Năm nay nhà vua 13 tuổi, bắt đầu chấp chính. Đây là buổi thiết triều đầu tiên, mà nhà vua cầm quyền thực sự. Theo lời tâu của Lý Thái-phó thì :
« Luật triều Lý, định rằng đến tuổi 13, nếu là hoàng tử thì cho mở phủ đệ riêng. Là công chúa thì cho hạ giá (gả chồng). Còn nhà vua thì không theo luật ấy mà theo điển lệ áp dụng vào thời vua Nhân-tông, Anh-tông. Hai vua Nhân-tông, Anh-tông lên ngôi vua từ thuở còn thơ. Thái-hậu buông rèm thính chính, cạnh vua có các đại thần phụ chính. Đến năm 13 tuổi, thì thái hậu lui vào hậu cung, các chức phụ chính đều bãi bỏ ».
Vì vậy sau buổi thiết triều này, Chiêu-thiên Chí-lý hoàng thái hậu họ Đỗ không thính chính nữa. Bốn phụ chính Đỗ An-Di, Lý Kính-Tu, Vũ Tán-Đường, Trần Thủ-Huy sẽ lui về nhiệm vụ của mình.
Một điều cực kỳ quan trọng : Trước đây phò mã Trần Thủ-Huy, công chúa Đoan-Nghi đã khẳng định rằng, để tránh nội loạn, hai vị nhận làm phụ chính đại thần cho tới khi nhà vua trưởng thành chấp chính. Hôm nay là ngày quy ẩn của phò mã với công chúa. Vì ân đức của công chúa quá rộng, quá lớn, trải từ trong triều tới thôn ấp, nên khi nghe tin công chúa lui về điền dã, thì trăm quan, dân chúng đều cảm thấy buồn bã.
Thái-sư Đỗ An-Di được phong chức Phụ-quốc Thái-úy, Bình-chương quân quốc trọng sự, nghĩa là vẫn nắm quyền phụ chính của một văn quan kiêm chức vụ quân sự của Thủ-Huy. Thái-phó Lý Kính-Tu cải phong kiêm đồng bình chương sự. Mạc Hiển-Tích cải phong Thiếu-sư, Thượng-thư tả bộc xạ.

Ba hồi chiêng trống, nhạc tấu bản Nguyên-thọ. Nhà vua từ trong đi ra. Trừ hai vương Kiến-Khang, Kiến-Bình, các công chúa, phò mã, Tứ-trụ triều đình ; còn lại các quan văn võ hai hàng quỳ gối tung hô vạn tuế. Ngoài sân điện Càn-nguyên, Lôi-tiễn bắn ba mũi. Lập tức ba vệt xanh-đỏ vọt lên bầu trời, nổ ba tiếng lớn, tỏa ra ánh sáng ngũ sắc. Đó là hiệu báo cho trăm họ biết, vua bắt đầu chấp chính. Thế là trong Hoàng-thành, Kinh-thành, dân chúng đốt pháo mừng Xuân, mừng tân quân trị vì.
Quan Thái-phó Lý Kính-Tu thay mặt các quan chúc mừng thái-hậu, nhà vua nhân dịp năm mới. Nhà vua tuyên chỉ :
- Phụ hoàng băng hà, trao ngôi trời cho trẫm, khi trẫm còn thơ. Mười năm qua, nhờ liệt tổ phù hộ, nhờ chư khanh phò tá, mà dân giầu, nước mạnh. Hôm nay là ngày đầu tiên trẫm thân chấp chính. Tuy vậy trẫm cũng phải nhờ sức chư khanh.
Tiếp theo, nhà vua ban chỉ thăng chức tước cho toàn thể các quan trên toàn quốc. Lại ban chỉ ân xá cho các phạm nhân khinh tội, giảm án cho phạm nhân trọng tội, rồi tuyên chỉ giữ nguyên các phép cũ.
Lý Kính-Tu tâu :
- Phò-mã Thái-úy, Tả-kim ngô đại-tướng quân, Côi-sơn quốc công, cùng trưởng công chúa được bệ hạ chuẩn cho hồi hưu. Phò mã đã bàn giao chức vụ cho Thái-sư Đỗ An-Di. Hôm nay triều đình tiễn phò mã về điền dã. Không biết bệ hạ có chỉ dụ gì không ?
Nhà vua bước xuống ngai vàng, cầm tay công-chúa Đoan-Nghi, nói bằng ngôn từ bình dân :
- Chị ! Em nghe nói hồi phụ hoàng còn tại thế, người cực kỳ sủng ái chị với anh Thủ-Huy. Khi em ra đời, người ta ác miệng vu cho em là con hoang của Tuyên-phi với Mạc Hiển-Tích để mưu soán ngôi. Chỉ duy anh Thủ-Huy là cãi rằng em giống phụ hoàng như hai giọt nước, rồi bỏ tình riêng với anh Long-Xưởng mà cứu em bao phen. Mấy năm trước anh Long-Xưởng mưu giết em chiếm ngôi. Nếu không có anh chị thì em đã chết rồi. Mười năm qua, anh chị trấn ngự biên cương, khiến nước lớn sợ, nước nhỏ kính. Công lao đó em không bao giờ quên.
Hai giọt nước mắt chảy trên gò má, nhà vua nói tiếp :
- Tuy em còn thơ, thế nhưng anh chị vẫn hành xử với em ra phận chúa tôi. Còn em, bề ngoài em gọi chị là chị, chứ thực ra, trong tâm em đối với chị như một bà mẹ. Em vẫn ước ao được học võ công của anh chị. Tiếc rằng anh chị trấn ngự biên cương, thành ra chỉ Long-Ích, Long-Tường được anh chị dạy dỗ. Bây giờ anh chị về điền dã, em cảm thấy cô đơn quá.
Đoan-Nghi nắm chặt tay nhà vua :
- Xưa, tài trí nghiêng trời lệch đất như Linh-Nhân hoàng thái hậu, uy dũng cổ kim khó ai hơn như Thái-úy Lý Thường-Kiệt ; mà cũng khoanh tay đứng ngoài, khi đức Nhân-tông nhà ta chấp chính vào tuổi mười ba. Nay em cũng đã vào tuổi đó rồi, thì phải tự quyết, để chăn dắt trăm họ. Liệt tổ Đại-Việt sẽ phù hộ cho em. Chư vị tiên đế sẽ giúp em.
Nghe Đoan-Nghi nói câu này, thì toàn thể các quan đều đưa mắt nhìn Đỗ thái hậu với Đỗ An-Di. Họ hiểu vị công chúa này muốn nói :
- Nhà vua chấp chính, thì Đỗ thái-hậu, Đỗ An-Di hãy tự biết mình, tài trí thua xa Linh-Nhân hoàng thái hậu với Thái-úy Lý Thường-Kiệt thì không còn lý do gì xen vào việc triều chính nữa.
Mặt Đỗ thái hậu, An-Di cau lại, thực khó coi.
Nhà vua hỏi Thủ-Huy :
- Anh Thủ-Huy ơi ! Quan Lý Thái-phó, thầy em thường nói : Khi xưa, tổ của anh là Kinh-Nam vương, có tặng cho đức Nhân-tông ba bảo bối giữ nước. Vậy, bây giờ anh có gì cho em không ?
Thủ-Huy đưa mắt nhìn Đỗ An-Di, rồi nói :
- Bảo bối mà Kinh-Nam vương tặng đức Nhân-tông gồm có ba món. Một là, tuân theo những phép tắc của đức Thánh-tông để lại. Hai là giữ hòa khí trong hoàng tộc, đừng để người ngoài chia rẽ tình ruột thịt. Ba là, vĩnh viễn không tăng thuế. Bây giờ thần cũng dâng bệ hạ ba khoản. Một là, bệ hạ có một nho gia chính khí dọc ngang trời đất lĩnh chức Thái-phó. Vậy việc nội trị nhất nhất nghe theo người.
Nghe Thủ-Huy nói, quần thần đều đưa mắt nhìn Lý Kính-Tu.
- Hai là, việc giao thiệp với các nước, thần đã đặt thành nền móng, xin giữ nguyên. Ba là, phàm làm vua phải tránh ba điều : Điều một là mê sắc đẹp, ham săn bắn, rượu chè, yến tiệc âm nhạc ; điều hai là xây dinh thự, cung điện cao đẹp ; điều ba là tăng thuế. Phạm vào một trong ba điều đó thì mất nước.

Ghi chú của thuật giả:

Sau này, khi Thái-phó Lý Kính-Tu qua đời rồi, vua Cao-tông quên lời dặn của Thủ-Huy. Nhà vua mê sắc đẹp, ham săn bắn, lại rượu chè, yến tiệc, bắt trăm họ phục dịch xây cất cung điện. Do đó dân chúng nổi loạn khắp nơi, rồi đưa đến triều Lý mất nghiệp. Xin đọc các hồi sau.

Lý Kính-Tu nghe Thủ-Huy dặn nhà vua, ông gật đầu tỏ vẻ kính phục. Ông truyền lễ quan ghi chép ngay tại chỗ, để sau này nhắc lại.
Nhà vua chỉ Kiến-Khang vương, Kiến-Bình vương hỏi Đoan-Nghi :
- Từ hồi ba, bốn tuổi, Long-Ích, Long-Tường được chị dạy văn, anh Thủ-Huy dạy võ. Liệu bây giờ, có thể phò tá em được chưa ?
- Các vị phụ chính danh tiếng cổ kim, đều không phải là người có võ công cao. Thần xin nêu tỷ dụ, như bên Trung-nguyên, nhà Chu có Chu-công, Thái-công ; Hán có Trương-Lương, Tiêu-Hà. Đại-Việt ta, thời vua An-Dương có Phương-chính hầu Trần Tự-Minh, thời Lĩnh-Nam có công chúa Nguyệt-đức Phùng Vĩnh-Hoa. Sáu vị đó võ công đâu có cao ? Thế nhưng tài trí phò tá thiên tử lừng danh thiên cổ. Năm nay Long-Ích đã hai mươi tuổi, về võ công thì hiếm thiếu niên ngang tuổi có thể sánh. Song cầm quân, thì Ích dư tài đại tướng. Em nên trao dần binh quyền cho Ích. Còn Long-Tường mới mười hai, mà anh tài sớm phát ; Tường tỏ ra có đại tài về thủy quân. Chị sẽ mang Tường về Thiên-trường để dạy dỗ tiếp. Sang năm Tường đủ mười ba tuổi, em có thể trao trọng quyền cho Tường.
Nhà vua quay lại hỏi Lý Kính-Tu :
- Thưa thầy, theo điển lệ của các vị tiên đế thì khi hoàng tử tới tuổi mười ba sẽ cho mở phủ đệ riêng, rồi trao quyền. Thế sao năm nay Long-Ích đã hai mươi tuổi, tuy đã phong vương, cho mở phủ đệ, mà chưa được trao quyền bính !
Kính-Tu ngửa mặt nhìn thẳng rồi tâu :
- Khi hoàng tử Long-Ích đủ mười ba tuổi, Tứ-trụ triều đình có đem vụ này ra nghị sự, rồi làm biểu phong vương. Phò mã Thái-úy với thần bàn nên trao cho thống lĩnh Thiên-tử binh. Song Đỗ Thái-sư , Mạc Thiếu-sư không đồng ý. Vụ đưa lên Chiêu-Thiên thái hậu, người thuận phong vương cho hoàng tử, được mở phủ đệ riêng, mà bác bỏ việc trao binh quyền, lấy lý do vương còn nhỏ tuổi. Hai năm sau, thần nhắc lại việc trao binh quyền, thái hậu lại bác, vì bấy giờ mới xẩy ra vụ Bảo-Quốc vương làm loạn. Bây giờ bệ hạ chấp chính, việc trao quyền là do bệ hạ.
Nghe Kính-Tu tâu, mặt thái hậu với An-Di, Hiển-Tích tái đi, trông thực khó coi. Nhà vua hỏi :
- Thưa thầy, bây giờ, có thể ủy cho Kiến-Khang nhiệm vụ gì?
Lý Kính-Tu mở sổ Ngọc-điệp ra rồi tâu :
- Cứ như điển lệ các tiên đế để lại, xin bệ hạ duyệt qua rồi ban chỉ.
Nhà vua đọc một lượt, rồi tuyên chỉ cho Đỗ An-Di:
- Thái-sư soạn chỉ, kể từ ngày hôm nay, phong cho Kiến-Khang vương chức tước như sau :
« Dao-thụ Thiếu-phó, Thượng-trụ quốc, Long-thành tiết độ sứ, tổng lĩnh Thiên-tử binh, Khu-mật viện sứ, Kiến-Khang vương ».
Kiến-Khang vương lạy tạ.
Nhà vua hỏi Lý Kính-Tu :
- Thưa thầy, mấy năm trước, Tứ-trụ triều đình xin phong cho Long-Tường tước Kiến-Bình vương. Vì Kiến-Bình chưa đủ tuổi trưởng thành, lại ở trên Bắc-cương, nên chưa cho mở phủ đệ riêng. Năm tới đây, Kiến-Bình đủ tuổi, sẽ cho mở phủ đệ. Vậy nên cho ở phủ nào ?
- Hiện phủ Khai-Quốc, không có ai ở. Phủ này lớn, rộng nhất trong các phủ. Phủ cất vào thời đức Thái-tổ, cấp cho Khai-Quốc vương. Bây giờ có thể cấp cho Kiến-Bình vương. Trong khi Kiến-Bình với nhũ mẫu là Đoan-hòa phu nhân đi Thiên-trường, thì tạm giao cho chồng của phu nhân trông coi. Còn các quan của phủ đệ, cũng như cung nga, thái giám thì sẽ do Lê thái-phi, sinh mẫu của vương tuyển chọn.
Nhà vua rút thanh Thượng-phương bảo kiếm trao cho Đoan-Nghi :
- Xưa đức Thái-tông trao kiếm cho tổ cô Kim-Thành, với chỉ dụ : Thượng trảm hôn quân, hạ trảm gian thần. (Trên được xử tội vua tối ám, dưới được xử gian thần). Nay em cũng trao kiếm này cho anh chị. Trong khi ngao du sơn thủy, nếu anh chị thấy tham quan, cường hào, thì thay em xử tội chúng.
Đoan-Nghi rơm rớm nước mắt tiếp kiếm, rồi cùng Thủ-Huy rời điện Càn-nguyên, tay dắt Kiến-Bình vương Long-Tường theo. Nhà vua, với các quan đứng nhìn đến khi hai người khuất bóng mới trở vào điện.
Thủ-Huy, Đoan-Nghi ra khỏi Hoàng-thành. Kị binh, Ngưu binh, Thiên-tử binh dàn thành hai hàng, hành lễ quân cách tiễn đưa. Tới bến Tiềm-long, thì Đại đô đốc Phùng Tá-Chu, Vũ-kị tướng quân Tăng Khoa, cùng các đô đốc, chư tướng đứng chờ sẵn. Hai đội võ sĩ Long-biên, Côi-sơn đã dàn trên bến.
Lễ nghi tất.
Lôi-tiễn bắn chín phát.
Thủ-Huy, Đoan-Nghi đi trước, kế tiếp Vương Thúy-Thúy dắt Long-Tường, rồi tới hai đội võ sĩ Côi-sơn, Long-biên xuống thuyền của phái Đông-a . Thuyền nhổ neo, dương buồm, từ từ rời bến. Hai bên bờ sông, chiến thuyền dàn ra. Trên nóc chiến thuyền, thủy thủ gươm dáo sáng ngời đứng nhìn chúa tướng ra đi. Thủ-Huy, Đoan-Nghi đứng trên đài chỉ huy vẫy tay từ biệt chư tướng, cho đến khi thuyền xuôi vào cuối giòng sông.
Đường Thăng-long, Thiên-trường, đi bằng thuyền phải mất nửa ngày. Đã gần mười năm, bây giờ Thủ-Huy mới có dịp trở về thăm cố hương đúng vào ngày mùng một tết. Những kỷ niệm về tết thời thơ ấu, hiện ra trong tâm công.
« Hồi ấy, cứ đến ngày 23 tháng chạp, bà Tự-Hấp sai Thủ-Lý điều động các em làm những việc đặc biệt như : Hái một chùm táo chín, cài vào trong Oâng mũ cóc, rồi đem ra treo ở trước ngõ. Đẵn cây tre thực cao, trồng cây nêu ở giữa sân. Từ sân dọc ra ngõ lấy vôi vẽ những mũi dáo, cung-tên, mục đích trấn tà ma. Có một năm, anh em vừa vẽ xong, thì ông Tự-Hấp đùa :
- Bà sai các con vẽ dáo, cung-tên trừ tà ! Tôi nghĩ đến quỷ sống, ma sống nghe tên mình còn phải chạy trốn, thì ma chết, quỷ chết đâu dám bén mảng ?
Từ đó về sau, tết đến, bà Tự-Hấp không sai các con vẽ dáo, cung-tên trừ tà nữa.
Rồi ngày mùng một tết, tất cả con, cháu, gia nhân tập trung lại, theo thứ tự hành lễ, chúc tết ông nội. Cứ sau khi một người con, cháu chúc tết, ông lại cho một cái tuiù bằng nhiễu đỏ, trong đựng tiền mừng tuổi ».
Khi con thuyền sắp sửa rẽ vào con sông nhỏ, Thủ-Huy chợt nhớ một chuyện, công chỉ vào cửa sông, nói với Đoan-Nghi :
- Chỗ kia là nơi, mà mười mấy năm trước, Vỵ-xuyên ngũ tiên dàn thuyền đánh cá bắt sống bốn trong Ngũ-nhạc đại lĩnh của phái Hoa-sơn cứu Long-Xưởng với anh. Chỗ khúc cong con sông nhỏ là nơi anh Thủ-Lý lừa cho thuyền của bọn Hoa-sơn mắc cạn, rồi bắt Hoa-nhạc tam phong, Tam-nương.
- Thế còn chỗ...
Đoan-Nghi nhìn Vương Thúy-Thúy mỉm cười hỏi :
- Chỗ nào anh nhìn thấy hết Vân-Đài Thúy-Thúy ?
Thủ-Huy bị vợ trêu, công cười nói lảng :
- Kìa, bến kia rồi, chúng ta chuẩn bị lên bờ chúc tết ông nội với bố mẹ.
Trên bến, Thủ-Lý Phương-Lan ; Trung-Từ Bảo-Bảo ; Vỵ-uyên ngũ tiên cùng chồng đang chờ đợi. Anh em gặp lại nhau trong ngày tết, chuyện trò ríu rít, vui vẻ . Từ ngày ra đời, bây giờ Đoan-Nghi mới được hưởng cái tình nhân luân anh em, chị em nồng nàn, đằm thắm của bình dân.
Thấy Phương-Lan dắt hai đứa bé trai khôi ngô đứng cạnh, Đoan-Nghi hỏi :
- Anh ! Chị ! Hai cháu đây là Tự-Thừa với Tự-Khánh phải không ?
- Chúng nó nghe chú thím về, xin theo anh chị ra đón chú thím đấy.
Thủ-Huy bế bổng Tự-Thừa, Đoan-Nghi bế Tự-Khánh lên, hôn vào má chúng.
- Bọn em thực có lỗi với anh chị.
Thủ-Huy than thở: Bốn năm trước ở Bắc-cương, chúng em tiếp được tin anh chị sinh cháu Thừa, rồi một năm sau sinh cháu Khánh, mà chúng em không về mừng anh chị được.
Phương-Lan xua tay :
- Chị biết chú thím muốn về, mà vì việc quân, nên chú thím gửi quà về cho các cháu, như vậy cũng đủ rồi.
Bà Tự-Hấp ra cổng nắm tay Đoan-Nghi, nói bằng tất cả tình cảm chân thực:
- Bây giờ mẹ mới tự hào là có cô con dâu ôn nhu, văn nhã, chứ không phải là cô công chúa nữa.
Nhìn thấy Long-Tường, bà hỏi :
- Thế, ai đây ?
- Thưa mẹ, em út của con tên Long-Tường.
Một tay dắt Đoan-Nghi, một tay dắt Long-Tường, bà Tự-Hấp đi trước, rồi Thủ-Lý, Thủ-Huy theo sau.
Cả một đại gia đình đang chờ vợ chồng Thủ-Huy về ăn tết. Cái tết đoàn tụ mà ông bà Tự-Hấp ước mong từ hơn mười năm.

Theo tục lệ thời đó, thì khi con cả lấy vợ, thì được ở chung với bố mẹ. Còn con thứ lấy vợ, nếu nhà rộng thì cũng vẫn ở chungï. Còn như nhà hẹp, thì bố mẹ sẽ mua, hoặc cất cho một căn nhà gần nhà mình, để vợ chồng, con cái ở. Tuy nhiên khi ăn, uống thì vẫn ăn chung. Hồi Thủ-Huy cưới Đoan-Nghi, bà Tự-Hấp cất cho vợ chồng Huy một ngôi nhà tranh, vách gỗ ngay cạnh bến sông. Vì Đoan-Nghi thích hoa trắng, ông bà trồng cho nàng một vườn mơ, một vườn mận. Thế nhưng hơn mười năm qua, Đoan-Nghi chưa bao giờ được nhìn hoa mơ, hoa mận nở cả. Bây giờ nàng theo chồng về đúng vào dịp tết. Vườn mơ, mận của nàng nở trắng xóa một bầu trời. Vợ chồng nhìn vườn hoa, lòng dâng lên một niềm kính yêu bà mẹ, đã chiều theo ý mình.
Văn chương bình dân Việt đã ca tụng cái thanh nhàn của nông dân như sau :
Tháng giêng ăn tết ở nhà,
Tháng hai cờ bạc, tháng ba hội hè.

Từ hồi lớn lên, bây giờ Thủ-Huy Đoan-Nghi mới được hưởng cái thú thanh nhàn của ngày Xuân ở thôn quê. Hai vợ chồng tham dự những cuộc đấu gà, chọi trâu, đánh cờ người, đánh đu, bơi thi, leo cầu Ngô, leo cột mỡ, bắt lươn trong chum, cho đến cuộc thi thổi cơm trên mặt nước. Tội nghiệp Long-Tường, khi ra đời được mấy tháng thì phụ hoàng băng hà. Trong nội cung, hai bà thái hậu Chiêu-Linh, Chiêu-Thiên tranh quyền. Bên ngoài thì các anh chém giết nhau. Sợ bị tai bay, vạ gió, nó bị mẹ là Hiền-phi Lê Mỹ-Nga quản thúc trong cung. Mãi năm năm tuổi, mới được sổ lồng, được gửi lên Bắc-biên cho anh rể, chị gái nuôi, trong cái không khí quân lữ, thành ra không có bạn cùng lứa để nô đùa. Bây giờ, nó được tập võ cùng với hàng mấy trăm đệ tử. Được chạy, nhảy nô đùa trong cái không gian tươi sạch, đầy hoa cỏ của đồng quê. Nó cảm thấy hạnh phúc cùng cực. Trong các bạn, có ba người lớn hơn nó bốn năm tuổi, rất hợp tính nó. Một là Vũ Kim, võ công cao hơn nó gấp bội, thường chỉ dẫn cho nó. Hai là Phạm Khải, mưu trí tuyệt vời. Ba là Hoàng Ý rất giỏi thủy tính.

Cuộc sống của Thủ-Huy, Đoan-Nghi tại thôn trang thực là êm đềm. Hôm nay theo đoàn thuyền đánh cá, ngày mai lại xem tát nước, đánh kỳ, làm cỏ. Lại cũng có ngày theo nông dân đi phá rừng làm ruộng. Đôi khi cỡi trâu, ngao du khắp núi Côi, cũng có lúc theo thuyền đánh cá ra khơi. Trong suốt một năm, vợ chồng mới cảm thấy rằng mình đã để phí mười năm của cuộc sống hoa niên.
Giữa năm đó thì Đoan-Nghi sinh ra một trai. Nàng đặt tên là An-Quốc. Cũng như tất cả các cháu nội ngoại khác, ông bà Tự-Hấp đem về nuôi, dạy chung trong nhà, cho chúng có tình với nhau.
Được một năm êm đềm trôi qua. Hôm ấy, một ngày đầu tháng Chạp, có sứ giả của Thái-phi Lê Mỹ-Nga xin cầu kiến. Bà là sinh mẫu Long-Tường. Sứ giả chuyển chỉ dụ của bà, xin Thủ-Huy, Đoan-Nghi cho Long-Tường về kinh, để ngày mùng một tết nhận chiếu chỉ cầm binh quyền. Sứ giả nói : Trước đây hoàng tử Long-Tường đã được phong Kiến-Bình vương, nay tới tuổi trưởng thành, mới trao quyền. Đúng ra thì Thái-phi sẽ tuyển quan lại, bộc phụ, mã phu, cung nga, thân binh, thị vệ cho Long-Tường. Nhưng vì bị Đỗ thái hậu kiềm chế, nghi ngờ, nên phi không biết ai mà tuyển. Phi nhờ công chúa tuyển dùm.
Thủ-Huy hỏi :
- Phủ đệ của Kiến-Bình vương có thay đổi không ? Hiện ở đâu ?
- Thưa phò mã vẫn không thay đổi, chính là phủ Khai-Quốc.
Thủ-Huy chỉ Long-Tường nói với Đoan-Nghi:
- Phủ đệ Khai-Quốc rộng lớn nhất trong các phủ đệ của các thân vương. Tường đệ hiện chưa có gia sư, thân binh, cung nga, bộc phu, mã phu. Vậy ta có thể nhờ Trung-Từ Bảo Bảo tuyển dùm. Về võ công thì hiện Long-Tường không thua bất cứ võ quan nào trong triều. Phủ Khai-Quốc quá rộng, nay cho Tường về, ta cũng nên gửi theo y một số cao thủ để làm chân tay thân tín. Em định sao ? Em định tâu xin cho Tường nhiệm vụ gì ?
- Về binh quyền, có bốn chức vụ quan trọng nhất, sau Thái-úy. Một là Tổng-lĩnh Thiên-tử binh. Hai là Đại đô đốc. Ba là Tổng-lĩnh Kị-binh, Ngưu-binh. Bốn là Tổng-lĩnh cấm quân, thi vệ. Em muốn tâu xin trao cho Tường giữ chức Long-thành tiết độ sứ, Tổng-lĩnh thị vệ, cấm quân, kiêm Tổng-trấn Thăng-long. Như vậy, ta loại tên Mạc Hiển-Tích ra ngoài. Đỗ An-Di muốn khuynh đảo xã tắc thì y không sai được Thiên-tử binh của Long-Ích, Kị-ngưu binh của Tăng Khoa, Thủy-quân của Tá-Chu, và cấm quân thị vệ của Long-Tường.
Trần Lý mỉm cười thương hại :
- Cô em dâu ngoan như con thỏ của anh ơi !Vụ này anh thấy có hai cái nhiêu khê. Khó mà thành được !
Từ khi về Thiên-trường, bề ngoài thì Trần Lý với Đoan-Nghi là anh chồng, em dâu ; chứ thực sự ra Trần Lý đối với nàng như một ông bố đối với con gái. Trần Lý hết sức nhỏ nhẹ, chàng lại dạy Đoan-Nghi tất cả những gì của đời sống dân dã, mà nàng không có. Đoan-Nghi kính yêu người anh chồng mình không kém gì phụ hoàng Anh-tông. Nghe Trần Lý nói tới hai cái nhiêu khê, nàng hỏi :
- Thưa anh ! Hai cái nhiêu khê đó là gì ? Em nhìn không ra ! Xin anh dạy cho.
- Cái nhiêu khê thứ nhất là bao nhiêu cấm quân, thị vệ, hiện đều do Hiển-Tích với Đỗ hậu tuyển cả. Long-Tường liệu có chỉ huy được chúng không ?
- Em cũng biết thế, nên em lợi dụng luật có từ đời đức Thái-tổ : Khi một hoàng tử mở phủ đệ, chấp chính thì có toàn quyền tuyển người trong vương phủ. Một vương phủ, quan trọng nhất có bốn chức là trưởng sử, gia sư, mật thư và phủ khố. Trong thời gian Long-Tường ở đây, nó rất thân với ba người là Vũ Kim, Phạm Khải, Hoàng Ý. Vì vậy nó đã xin với bố mẹ cho ba người về trợ giúp. Nó dự tính trao cho Vũ Kim lĩnh chức gia sư, Phạm Khải lĩnh chức trưởng sử, Hoàng Ý lĩnh chức mật thư. Còn chức phủ khố, thì là nhũ mẫu của Tường là vú Châu.
Thủ-Huy hỏi anh :
- Vậy thì em xin bố cho hai đội võ sĩ Long-biên, Côi-sơn theo Long-Tường về, để làm thân binh ! Liệu bố có cho không ?
- Bố vốn chìu các con. Em mà xin thì dĩ nhiên bố cho liền.
- Thưa anh, còn cái nhiêu khê thứ nhì ?
- Liệu triều đình có thể loại Mạc Hiển-Tích ra ngoài như em muốn không ?
- Em nghĩ Thiên-tư Gia-thụy đã lớn, nay thân chính rồi thì phải củng cố, nắm lấy quyền. Cái việc Hiển-Tích tư thông với Đỗ thái hậu làm ô uế cung thất, Gia-Thụy biết hết. Từ xưa đến giờ cái chức Tổng-trấn Thăng-long, kiêm Tổng-lĩnh thị vệ, cấm quân, luôn luôn trao cho các thân vương. Thì bây giờ là dịp Gia-thụy cũng như đại thần chiếu luật, mà loại Hiển-Tích ra, trao cho Long-Tường.
- Anh nghĩ không giản dị như vậy ! Đỗ thái hậu đang say tình với Mạc Hiển-Tích còn gấp bội Cảm-Thánh thái hậu say Đỗ Anh-Vũ, Lưu Kỳ. Nếu Mạc còn giữ chức vụ Tổng-lĩnh cấm quân, thì mới hy vọng ra vào Hoàng-thành. Bây giờ y bị loại ra, thì Đỗ thái hậu sẽ lồng lộn lên như con lợn cái động đực. Bà sẽ không chấp thuận. Xưa Cảm-Thánh thái hậu mê Đỗ Anh-Vũ, Lưu Kỳ, mà còn muốn hại vua Anh-tông để nhường ngôi cho tình nhân. Huống hồ Đỗ thái hậu. Anh nghĩ việc em cho Long-Tường thay y không thành đâu.
Long-Tường hỏi :
- Chị Đoan-Nghi ! Em không hiểu ! Chị nói chi tiết cá vụ này hơn một chút.
Đoan-Nghi ôm lấy đầu Long-Tường :
- Được ! Chị vì em mà giảng.
Đoan-Nghi nói thực chậm :
- Lối phân quyền của triều đình do Quốc-phụ Khai-Quốc vương thiết lập, sao tránh cái nạn tướng cầm quân khuynh đảo triều đình. Người duy nhất muốn làm loạn, tiếm vị được là Thái-úy. Nhưng Thái-úy phải nắm được Khu-mật viện, Thiên-tử binh, thị vệ cấm quân, Thủy-quân, Kị-binh, Ngưu-binh. Bởi muốn ban lệnh, điều động quân thì phải qua Khu-mật viện...
Thấy Long-Tường gật đầu, trầm tư. Thủ-Huy hỏi :
- Em thử nói tiếp anh nghe xem có đúng không nào ?
- Ví thử Thái-úy không nắm được Khu-mật viện, thì không làm được lệnh điều quân.
- Được ! Em tiếp đi.
- Nếu ông ta nắm được Khu-mật viện, nhưng khi lệnh điều quân làm phản ban ra cho Thiên-tử binh. Thiên-tử binh không tuân thì cũng vô ích. Giả như ông ta nắm được tướng chỉ huy Thiên-tử binh, y đem quân về làm phản, mà không được Thủy-quân chở sang sông cũng hỏng. Bằng như ông ta nắm được Thủy-quân nữa, thì thị vệ, cấm quân, Kị-binh, Ngưu-binh chống lại, thì cũng vô phương.
- Giỏi !
- Cho nên thời đức Thánh-tông, bấy giờ Thái-úy Thường-Kiệt tuy được tin dùng, nhưng quản Khu-mật viện lại là Trung-Thành vương, tổng lĩnh Thiên-tử binh là Tín-Nghĩa vương thuộc thân vương. Đại đô đốc là Lý Kế-Nguyên, người thân tín của Linh-Nhân hoàng thái hậu. Tổng lĩnh cấm quân, thị vệ là Hùng-Nhân, đệ tử của Mộc-tồn hòa thượng. Tướng chỉ huy Kị-binh là Hà Mai-Việt, là anh em phía ngoại của đức Thánh-tông.
- Giỏi !
Từ hôm vợ chồng Thủ-Huy về Thiên-trường sống đến giờ, thì tuy ông bà Tự-Hấp, Đại-Việt ngũ tuyệt, Vỵ-xuyên ngũ tiên... Bề ngoài có vẻ niềm nở, thương yêu hai người. Nhưng trên nét mặt mọi người dường như ẩn tàng một điều gì lo lắng, mà không ai nói ra. Bây giờ nghe Đoan-Nghi, Thủ-Huy định đưa Long-Tường về lĩnh Long-thành tiết độ sứ, rồi giảng cho Long-Tường về đại kế phòng ngự giữ ngôi vua từ thời Thái-tổ để lại. Hai người thấy Trần Lý xịu mặt xuống, thoáng một nét buồn.
Đoan-Nghi hỏi :
- Anh có điều gì lo lắng thì phải ?
Trần Lý gật đầu, rồi chỉ Thủ-Huy :
- Khai-Quốc vương quả là thần nhân ! Còn chú, chú cứ tự tin vào công lao, vào lòng trung của mình, mà không xét thấy mối lo lắng của Long-Xưởng. Bây giờ lại không nghĩ đến mối lo của Đỗ thái-hậu.
- ? ! ! ? !
- Chính vì chú không biết Long-Xưởng, nên Long-Xưởng mới phải mượn tay Cảm-Thánh thái hậu giết ba vương, rồi xua đuổi chú với Đào Duy, Tăng Khoa.
Thủ-Huy cau mày :
- Đó là ý của Long-Xưởng. Như anh thấy Đại đô đốc là Kiến-Ninh vương ! Quản Khu-mật viện là Tăng Quốc, chồng của nhũ mẫu Long-Xưởng. Tổng-lĩnh Kị, Ngưu binh là Tăng Khoa, em sữa của anh ấy. Tổng-lĩnh Thiên-tử binh là Kiến-An vương. Tổng lĩnh cấm quân thị vệ là Mạc Hiển-Tích. Như vậy, em muốn đem quân làm phản, thì dễ gì bằng ấy người nghe theo ?
- Trời ơi ! Chú ngây thơ quá đi. Trong hai lần chú đem quân về Thăng-long cứu Long-Xưởng, chú có cần Khu-mật viện làm lệnh đâu, mà các tướng cũng răm rắp tuân lệnh chú ?
- ! ! !
- Tỉ như chú làm phản, thì không cần Kiến-Ninh vương theo chú, chú vẫn trực tiếp ban lệnh cho các đô đốc thủy quân có đúng không ?
- Vâng ! Vì họ là đệ tử của em.
Trần Lý cốc vào đầu Thủ-Huy :
- Ngốc ơi là ngốc ! Còn như chú muốn điều động Thiên-tử binh, chú có thể ra lệnh cho các đô thống chỉ huy các hiệu binh, mà không cần qua Kiến-An vương. Có đúng không ?
- Vâng. Vì các đô thống đều là người em đào tạo ra.
- Hứ ! Thế khi chú muốn cướp ngôi vua của Long-Xưởng, thì chú chỉ cần sai mật sứ gọi Thủy-quân, Thiên-tử binh kéo về Thăng-long, đánh úp kinh thành bất cứ lúc nào, bấy giờ Xưởng chỉ có đường ngửa cổ ra cho chú chặt đầu.
Thủ-Huy à lên một tiếng :
- Em chủ quan, tự tin vào lòng trung, công lao, mà không nghĩ tới mối lo lắng của Long-Xưởng. Còn ba vương, người nào cũng có tài cầm quân, cũng uy tín hơn Long-Xưởng. Nên anh ấy phải trừ đi. Ừ nhỉ ! Giá anh ấy đợi lên ngôi vua ít lâu rồi hãy trở mặt thì đâu đến nỗi !
Trần Lý bẹo tai em :
- Cái chú này lú lẫn rồi ! Vua Anh-tông băng hà, không để di chiếu lại nhường ngôi cho Long-Xưởng. Vì vậy Long-Xưởng cần phải được tất cả đại thần ký vào biểu tôn lên ngôi. Trước mặt Long-Xưởng, y có hai khối đại thần. Một khối gồm có chú với ba vương, và một số đại thần phò tá Xưởng. Một khối khác gồm các gian thần, các đại thần già nua, ù lỳ. Từ mười năm qua, bao nhiêu công lao của ba vương với chú, với đám trung thần phò tá Xưởng để chống bọn nịnh quan. Bây giờ Xưởng muốn lên ngôi vua thì phải giết hết chúng đi, lấy lý do chúng làm loạn. Rồi bọn chú ký biểu tôn y lên ngôi vua. Có đúng thế không ?
- Vâng !
- Còn như để chúng sống, tức chúng không có tội. Nhưng Long-Xưởng ăn làm sao nói làm sao với các chú ? Để chúng sống tức coi tụi nó như chân tay, ban chức tước cho chúng, chúng mới ký vào biểu tôn Xưởng lên ngôi. Nhưng Xưởng làm việc đó thì chú, rồi Tăng Khoa, ba vương phản đối. Giữa hai khối người, một khối ù lỳ, nhưng chúng chỉ là con chó, trước kia chúng tuân chỉ vua Anh-tông, bây giờ chúng lại nghe lệnh Long-Xưởng mà xủa ; không những chúng không nguy hiểm, mà lại được việc. Còn một khối, toàn những người tài trí, uy quyền áp đảo Long-Xưởng, nắm quân lữ trong tay ; trước kia thì rất cần thiết, khi mà cái mộng đánh chiếm Lưỡng-Quảng không còn nữa, thì trở thành vô ích, nguy hiểm. Vì vậy Long-Xưởng phải giết ba vương, xua đuổi, rồi sẽ giết chú với Tăng Khoa sau.
Thủ-Huy vò đầu :
- Em ngu quá ! Em ngu quá !
Trần Lý bẹo hai má Thủ-Huy :
- Ngu một lần, suýt tan nát đất nước. Bây giờ chú lại sắp ngu hơn lần trước nhiều !
- Em về đây đi cầy, có dính dáng gì tới triều chính nữa đâu !
- Hư ...ư...ư ! Đỗ thái-hậu, Đỗ An-Di muốn khuynh đảo triều đình từ lâu. Nhưng trong thì họ bị Lý Kính-Tu, Vũ Tán-Đường cản trở. Ngoài thì bị chú đầy uy quyền ức chế. Có đúng thế không ?
- Vâng !
- Chú chán chường cái ô uế, kinh tởm ở hậu cung, chú muốn đem quân làm cỏ bọn gian thần. Nhưng vì bố không cho. Nên chú lui về điền dã. Về điền dã thì phải buông hết. Thế nhưng Thượng-phương bảo kiếm nằm trong tay cô vợ xinh đẹp, kiếm thuật thần thông của chú. Hỏi rằng bọn An-Di, Hiển-Tích làm sao mà ăn ngon, ngủ yên được ?
- ! ! !
- Đỗ thái hậu nơm nớp sợ chú hơn Long-Xưởng sợ chú nữa. Khác một điều là bà không sợ chú cướp ngôi, mà sợ chú giết bà ấy với Gia-Thụy, rồi đưa Long-Ích, Long-Tường thay thế.
- ! ! !
- Về binh lực, tuy An-Di giữ chức Thái-úy, mà y không nắm được những lực lượng chính. Này nhé, em rể chú là Tá-Chu còn cầm quyền Đại đô đốc. Đệ tử, kiêm nghĩa đệ Tăng Khoa còn cầm Kị, Ngưu binh. Mới đây, chú lại tâu xin trao Thiên-tử binh cho Long-Ích. Rồi bây giờ định gạt tình nhân của Đỗ thái hậu là Mạc Hiển-Tích ra, để đưa Long-Tường về thay thế. Có khác gì chú kề gươm vào cổ anh em họ Đỗ không ? Chú về điền dã mà uy quyền ngang với một Thái-thượng hoàng, vượt hẳn chức Thái-úy của Đỗ An-Di. Anh nghĩ, Đỗ hậu, với An-Di sẽ không ngồi yên để bị chú kiềm chế đâu. Thế nào họ cũng ra tay hại chú. Trang Thiên-trường này khó mà yên được. Có khi y vu cho chú thím một vài tội gì đó, rồi mang quân về bắt. Dĩ nhiên chúng ta chống lại. Bấy giờ y chỉ việc sai một hiệu binh về tàn phá trang này. Chúng ta chỉ có mấy trăm đệ tử thì chống sao lại ?
Thủ-Huy, Đoan-Nghi như người trong mộng chợt tỉnh. Đoan-Nghi nói cứng :
- Nhưng nay Đỗ không còn là phụ chính, Đỗ hậu không còn thính chính nữa. Quyền trong tay Gia-thụy mà !
- Anh cũng hy vọng Long-Trát nắm được quyền.
Thế rồi ông bà Tự-Hấp sai Phương-Lan, Bảo-Bảo chuẩn bị hành trang cho Long-Tường theo sứ giả về Thăng-long.
Trung-Từ Bảo Bảo đã tuyển đủ thị nữ, bộc phụ, mã phu cho phủ Kiến-Bình. Trước khi thuyền rời bến, ông bà Tự-Hấp cầm tay Long-Tường :
- Vợ chồng ta tuy dạy văn, luyện võ cho con, nhưng chúng ta không thu con làm đệ tử. Con có biết tại sao không ?
- Thưa, con biết !
- ? ? ?
- Vì thế lực phái Đông-a quá lớn, mà trong triều thì Đỗ thái hậu, Đỗ An-Di, Mạc Hiển-Tích khuynh đảo triều đình, hoàng huynh lại quá nhu nhược. Nếu con là đệ tử phái Đông-a, họ sợ con tiếm ngôi vua...Vì vậy sư phụ, sư mẫu mới không cho con làm lễ nhập môn.
- Đúng vậy !

Ghi chú của thuật giả:

Vì những liên hệ gữa Lý Long-Tường với Nguyên-tổ Trần Triều là Trần Lý, nên sau này tuy nhà Trần lên ngôi, nhưng vẫn tu bổ, tế lễ lăng tẩm các vua triều Lý. Chứ không có việc đào hố làm bẫy rồi giật sập tiêu diệt như ảo sử đã thuật.

Nguyên do, có ảo sử là từ xưa đến giờ các sử gia đều tin theo ĐVSKTT, cho rằng : Khi Lý Chiêu-Hoàng nhường ngôi cho Trần Cảnh vào tháng 10 niên hiệu Thiên-chương Hữu-đạo thứ nhì (1225), thì Trần Thủ-Độ loại tất cả các thân vương, đại thần thuộc hoàng tộc nhà Lý ra khỏi quan trường. Năm sau, niên hiệu Kiến-trung nguyên niên, đời vua Thái-tông nhà Trần, ngày 10 tháng 8 (1226) Thủ-Độ bức tử vua Lý Huệ-Tông, rồi giết hết tông tộc triều Lý.
Trong khi ấy, gia phả cả bốn dòng con cháu Hưng-Đạo vương, lại chép rằng tông tộc Lý triều không hề bị giết, mà chỉ phải đổi thành họ Nguyễn, vì kiêng tên Nguyên-tổ Trần Lý.
Nhưng người ta tin theo ĐVSKTT, chứ không chịu suy xét thêm.
Mãi tới năm 1941, tạp chí Sử-học số 2 của Nhật-bản đã sưu tầm, tìm ra một sự kiện đặc biệt thì vấn đề này được soi sáng :
« Tháng tám năm Bính-Tuất (1226), đại đô đốc Trần triều là Lý Long-Tường, con thứ 6 vua Anh-tông, đã đem toàn bộ chu sư, tướng sĩ, tông tộc rời Đại-Việt, tỵ nạn tại Cao-ly ».
Rồi thời đệ nhất Cộng-hòa), tổng thống Lý Thừa-Vãn của Đại-hàn trong khi viếng thăm Việt-Nam, ông cũng tuyên bố rằng tổ tiên ông là người Việt. Bấy giờ tôi còn là một sinh viên, nhưng cũng ghi tâm sự kiện này, tự hẹn sau sẽ đi tìm cho ra sự thực : Nếu như quả có việc Lý Long-Tường đem mấy nghìn người họ Lý sang Cao-ly, thì không có việc Thủ-Độ tuyệt diệt con cháu họ Lý.
Tháng 8 năm 1980, đi dự đại hội y khoa Trung-quốc ở Hàng-châu, tôi có dịp làm quen với phái đoàn Bắc-cao. Trong phái đoàn có bác sĩ Lý Chiếu-Minh ở Hùng-xuyên (Hunchon) và nữ bác sĩ Lý Diệp-Oanh ở Thuận-xuyên (Sunchon). Nghe tôi họ Trần, lại là người Việt-Nam, bác sĩ Lý Diệp Oanh trỏ tay vào trán tôi : « Vì tổ tiên anh xua đuổi, nên tổ tiên tôi mới thành thuyền nhân, và Đại-Hàn mới có họ Lý ».
Xin đọc phụ bản : Nguyên-tổ hai giòng họ Lý ở Hàn-quốc, cuối quyển 3, bộ AHĐA, Dựng-cờ bình Mông.


Long-Tường lên đường được nửa tháng sau thì người nhà của Vũ Kim, Phạm Khải, Hoàng Ý trở về. Họ trình bầy :
- Kiến-Bình vương về Thăng-long, vào triều kiến nhà vua, giữa lúc đang thiết tiểu triều. Đỗ thái hậu vẫn ngồi thính chính cùng Đỗ An-Di, Mạc Hiển-Tích. Ba người nắm hết quyền. Cả ba áp chế nhà vua còn hơn hồi trước Cảm-Thánh thái hậu, Đỗ Anh-Vũ áp chế vua Anh-tông nữa.
Thủ-Huy nghiến răng :
- Bọn này đáng chết thực.
- Khi Long-Tường dâng biểu của công chúa Đoan-Nghi thì Hiển-Tích tiếp lấy đọc, mà không trao cho nhà vua. Y bỏ biểu vào túi rồi tâu : Năm nay Kiến-Bình vương đã đến tuổi trưởng thành. Lý ra thì trao cho quyền hành, cùng tham chính tại triều. Hiện Nam phương đang thiếu người tín cẩn. Vậy xin trao cho lĩnh chức tổng trấn Nam-thùy. Thái-hậu tuyên chỉ chấp thuận, truyền cho vương phải dẫn thủ hạ lên đường ngay trong ngày. Vương xin vào bái kiến Lê thái phi, hậu cũng không cho. Vương được mang theo đội võ sĩ Long-biên. Còn đoàn võ sĩ Côi-sơn thì trao cho Vân-ma thượng-tướng quân Đàm Thì-Phụng quản lĩnh, đóng tại Bắc-ngạn.
Thủ-Huy kinh ngạc :
- Đàm Thì-Phụng đang là đô thống chỉ huy hiệu Ngưu-binh, trấn ở biên giới sao lại về triều ? Về từ bao giờ ?
- Thưa phò mã, năm trước con gái của Đàm tướng quân là Đàm Ngọc-Anh, được phong là nguyên phi. Vì vậy trong triều lại nảy ra một thế lực mới là thế lực họ Đàm. Bác ruột của nguyên phi là Đàm Dĩ-Mông được cử làm quản Khu-mật-viện, lĩnh Lại-bộ thượng thư, Đồng-bình chương sự (Phó tể tướng), hàm Thái-bảo.
- Á chà !
Thủ-Huy than :
- Thế giữa phe Đỗ An-Di vơí phe Đàm Dĩ-Mông có chống đối nhau không ?
- Không ! Tuy vậy Đỗ thái hậu cho rằng Thì-Phụng là người của phò mã, vì thế Đàm Ngọc-Anh tuy được hoàng thượng sủng ái, mà chỉ được phong làm Nguyên-phi, mà không được phong làm Hoàng-hậu. Ngôi Hoàng-hậu vẫn bỏ trống. Tuy vậy, con quý, thì phụ vinh. Thái-phó Lý Kính-Tu chiếu luật tâu xin triều đình gia quan tiến chức cho Dĩ-Mông, Thì-Phụng.
Nguyên trước đây Đàm Dĩ-Mông theo phe Cảm-Thánh hoàng thái hậu, đã phản lại vua Anh-tông và Chiêu-Linh hoàng hậu nhiều lần. Khi triều đình gà mái gáy bị dẹp, y được Đỗ An-Di che chở, nên thoát khỏi chết. Từ ngày ấy đến giờ, y bị thất sủng, bị trù dập, chỉ được giữ những chức vụ canh phòng quanh Thăng-long. Tuy nhiên em y là Đàm Thì-Phụng tương đối có tài, được Thủ-Huy nâng đỡ, trao cho thống lĩnh đạo Ngưu-binh, đặt dưới quyền Tăng Khoa.
Bây giờ Thủ-Huy, Đoan-Nghi mới phục Trần Lý nhìn xa, biết trước những gì sắp xẩy ra. Công hỏi anh :
- Anh bảo chúng em phải làm gì ?
- Chú có hai con đường đi.
- ! ! !
- Ngay bây giờ, sai mật sứ liên lạc với Gia-thụy, tâu trình tất cả những nguy cơ, những lạm quyền của họ Đỗ, của Mạc Hiển-Tích. Rồi xin nhà vua ban mật chỉ cho chú mang quân về tru diệt chúng. Khi có mật chỉ, chú điều động vài hạm đội, vài hiệu Thiên-tử binh về Thăng-long, làm cỏ hết bọn nghịch thần, bọn họ Đỗ.
Đoan-Nghi lắc đầu :
- Bọn em không muốn làm việc này. Trước đây, bọn em đã làm hai lần cho anh Long-Xưởng, một lần cho Gia-thụy rồi. Bây giờ bọn em muốn xa lánh hết. Vả bọn em không thể giết Đỗ thái hậu, khi giết Đỗ thái hậu thì phải phế Gia-thụy rồi giết đi. Bọn em không có can đảm giết Gia-thụy.
- Vậy thì chỉ có cách theo gương Phạm Lãi, cáo quan, du ngoạn ngũ hồ thì mới yên thân.
- Nghĩa là ?
- Chú thím dâng biểu về triều xin được sang Trung-nguyên du ngoạn ít năm. Khi chú ra hải ngoại rồi, thì anh em họ Đỗ như tù được tha tội. Họ sẽ hết lo sợ. Hết lo sợ, thì hết nghi ngờ. Còn anh em họ khuynh đảo triều đình thì kệ họ. Ta mũ ni che tai.
Nghe Trần Lý luận, Đoan-Nghi run run hỏi :
- Liệu khi chúng em xa quê hương, bọn họ Đỗ có dám cướp ngôi không ?
- Đại phàm, xưa nay bọn gian thần muốn làm chuyện ấy, thì phải có tài cả văn lẫn võ, lại có nhiều uy thế, nắm được quân lữ. Nay anh em họ Đỗ không nắm được gì cả. Chẳng qua, Đỗ hậu chỉ muốn bảo vệ ngôi vua của Long-Trát, An-Di muốn nắm quyền, ban phúc, giáng họa mà thôi. Còn cướp ngôi thì bất quá chúng sẽ dâng biểu cầu phong với Tống triều. Tống triều gồm toàn các đại nho, không bao giờ họ chấp thuận giúp bầy tôi cướp ngôi vua.
Thế rồi Đoan-Nghi gửi biểu về triều xin triều đình cùng Thủ-Huy sang du ngoạn Trung-nguyên. Trong biểu kể rõ, nào viếng chiến trường cũ thời Anh-vũ Chiêu-thắng. Nào thăm núi Thiên-đài, nơi vua Minh tế cáo trời đất rồi chia thiên hạ làm hai, thành Trung-nguyên, Lĩnh-Nam. Nào viếng hồ Động-đình, nơi phát tích ra hai vị quốc mẫu. Nào thăm Vạn-lý trường thành.

Trong khi chờ đợi chỉ dụ cho phép, thì Trần Lý Phương-Lan, Trung-Từ Bảo-Bảo chuẩn bị một con thuyền thực lớn, thuyền phu thực giỏi, nước ngọt, lương thực, y phục cho hai người. Con thuyền này mang tên Thiên-ưng.
Thúy-Thúy muốn theo Thủ-Huy đi, để có dịp về thăm quê hương. Song nàng sợ Đoan-Nghi, mà không dám mở miệng. Cuối cùng nàng biết người có uy nhất đối với Thủ-Huy Đoan-Nghi là ông bà Tự-Hấp. Còn người mà có thể năn nỉ lại là Trung-Từ Bảo-Bảo. Nàng nhờ Bảo-Bảo nói với Trung-Từ. Trung-Từ nhận lời liền.
Chiều hôm ấy Trung-Từ Bảo-Bảo gọi Thủ-Huy ra chỗ vắng rồi cười :
- Tớ hỏi thực đằng ý một câu nghe.
- Hỏi gì thì hỏi đi !
- Đằng í với Thúy-Thúy đã có gì chưa ?
- Có gì là cái gì ?
- Đồ con kợp ! Lại giả vờ rồi. Có gì là gì gì với nhau ấy ?
- Gì gì là cái gì mới được ?
- Này liệu hồn, đừng có giả vờ giả vịt. Đây biết hết rồi.
- Đồ con tườu ! Hỏi gì thì hỏi thẳng, ấm ớ hoài !
Trung-Từ ghé miệng vào tai Thủ-Huy :
- Cái của nợ này, giả vờ giả vịt khéo lắm. Hồi xưa của nợ đã nhìn thấy hết cô nàng. Cho nên từ hôm ấy, cô nàng nhất kiến chung tình (thấy một lần, yêu đến chết). Nghe Bảo-Bảo nói cô nàng si của nợ lắm, luôn ước mơ được của nợ thưởng thức nụ đào đời con gái. Vậy của nợ thưởng thức bao giờ ? Đã không ? Thưởng thức bao nhiêu lần rồi ?
- Nếu mỗ nói rằng có gì, thì mỗ nói láo. Còn nói không có gì, thì cái đồ con tườu lại không tin. Vậy nhà mi muốn nghĩ sao thì nghĩ.
- Như vậy là nhận tội rồi phải không ? Phải hối lộ ! Đây thích ăn của đút lắm ! Bằng không đây tố cáo với Đoan-Nghi thì chỉ có chết .
- Muốn hối lộ gì ?
- À, có tội mới hối lộ. Hè ! Hối lộ gì hả ? Dễ thôi ! Đem nàng theo, để nàng được về thăm quê cho đỡ nhớ ! Hơn nữa khi vườn hồng của Đoan-Nghi nở, thì còn có nàng thay thế. Chịu không ?
- Chịu thì mỗ chịu. Nhưng Bảo-Bảo phải nói với Đoan-Nghi, chứ mỗ mở miệng ra là mắc quai !
Trung-Từ cười hô hố :
- Như vậy là xong rồi ! Nói cho mà biết, hôm qua tớ đã đề nghị với Đoan-Nghi. Cô nàng bảo hỏi đằng ý. Bây giờ đằng ý bằng lòng thì hẩu lớ.
Cuộc chuẩn bị xong, Thủ-Huy, Đoan-Nghi ngồi chờ chiếu chỉ ban ra. Hai người không phải chờ lâu, năm ngày sau, trong khi cả nhà đang ăn cơm thì tráng đinh vào báo :
- Có sứ giả từ Thăng-long cầu kiến công chúa điện hạ.
Thủ-Huy, Đoan-Nghi vội vã ra đón. Sứ giả là một viên thị lang ở bộ Lễ, con thứ của ông bà Đào Duy tên Đào Bá.
Lễ nghi tất.
Đào Bá nói :
- Hoàng thượng nhận được biểu của điện hạ xin hành hương đất tổ, long tâm mừng lắm. Người cũng muốn du hành một chuyến, nhưng thân thế, địa vị không cho phép. Người bàn với Lý thái phó rằng để công chúa phò mã dễ dàng di chuyển, người đã sai sứ cáo cho Tống-triều biết việc triều đình Đại-Việt gửi hai vị sang tế Quốc-tổ, Quốc-mẫu. Hoàng thượng còn tuyên chỉ : Công chúa, phò mã làm quan thanh liêm, nên không dư giả. Nay lên đường hành hương, cần chi tiêu nhiều, hoàng thượng ban cho công chúa mười nén vàng.
Nói rồi, y xuất trong bọc ra một cái hộp bọc lụa đỏ, trong hộp đựng vàng sáng chói.
Thế là ba ngày sau, phái Đông-a tiễn Thủ-Huy, Đoan-Nghi cùng tùy tùng xuống con thuyền Thiên-ưng. Con thuyền đậu ngay bến sông trước căn nhà mà Thủ-Huy, Đoan-Nghi ở. Bây giờ là đầu Xuân, hoa mơ, hoa mận nở trắng rực một bầu trời. Đoan-Nghi bước đi giữa bầu trời rực hoa, mà luyến tiếc rằng mình đã bỏ ra đi, khi hoa trổ sắc.
Cầm tay cháu, đại hiệp Tự-Kinh ân cần dặn dò :
- Trước đây thầy địa lý Đoàn Thông đã nói : Ngôi mộ trên núi Tiêu-sơn đã hết phúc. Họ Lý suy đồi là lẽ thường của trời đất. Ngặt vì mang danh hiệp nghĩa, ông mủi lòng trước lời cầu khẩn của Long-Xưởng mà cho con về Thăng-long làm quan. Rốt cuộc cả môn phái Đông-a, cả nhà mình làm cái công việc dã tràng xe cát biển Đông. Tuy vậy, ông cháu ta cũng đạt được một thắng lợi lớn vĩnh cửu là Trung-nguyên phải công nhận quốc danh của ta, chứ không còn coi là một quận của họ như nghìn năm qua. Thôi bây giờ hai cháu cứ thản nhiên lên đường, ngao du thắng cảnh. Việc triều đình hãy buông lỏng.
Bà Tự-Hấp dặn Đoan-Nghi :
- Một vị Vạn-thế sư biểu như Khổng-tử, cũng phải công nhận rằng ta nên đổi con cho nhau mà dậy. Cha mẹ dậy con, thì không mấy kết quả. Cho nên tất cả các cháu, ông nội dậïy hết. Bây giờ hai con cứ vui vẻ ra đi, cháu An-Quốc, để mẹ dậy cho.
Phương-Lan dắt Trần Tự-Thừa, Trần Tự-Khánh theo ra bờ sông tiễn chú thím. Hai trẻ dường như có linh tính rằng kỳ này chú thím ra đi phải lâu lắm mới trở về. Chúng ôm lấy Thủ-Huy, Đoan-Nghi, không muốn buông ra.
Thừa hỏi Đoan-Nghi :
- Bao giờ thím về ?
- Mau nhất thì sáu tháng, còn lâu thì hai ba năm. Con biếu thím cái gì nào ?
Thừa sờ tay vào túi, trong túi chỉ có ba đồng tiền. Nó đưa mắt nhìn xung quanh. Ngay cạnh nó, một cây mận hoa nở trắng rực một khoảng không gian. Nó hái một cành hoa nhỏ rồi trao tay cho Đoan-Nghi :
- Con biếu thím đấy.
Đoan-Nghi cảm động, nàng tiếp cành hoa mận, rồi định tìm một vật tặng cháu, thì chợt thấy chồng cùng tùy tùng đã xuống thuyền đang chờ đợi mình. Nàng vội tung mình lên nóc thuyền, tay chỉ vào cả vườn mận nói với Thừa :
- Thím đi còn lâu mới về, vườn mận này có 175 cây, thím cho cháu đấy.
Thừa chắp tay lại :
- Cháu xin đa tạ thím.
Sau câu nói của Trần Thừa, trời đang âm u, mây dăng mù mịt, bỗng ánh dương Xuân tỏa xuống, phủ lên trăm hoa. Người người nhìn nhau, trong cái buồn chia ly, có cái vui trong ánh vàng ban mai.

Ghi chú của thuật giả:

Huyền thoại Trần Thừa hái hoa mận tặng Đoan-Nghi. Đoan-Nghi tặng vườn mận 175 cây cho Trần Thừa thường được đem thuật lại vào ngày rằm tháng giêng tại các nhà từ họ Trần. Ý nghĩa như sau : Cây mận, trong Hán-tự là Lý. Do thiên mệnh an bài, nên Trần Thừa hái một cành hoa mậïn tặng Đoan-Nghi, có nghĩa là Đoan-Nghi sẽ bị chính người họ Lý giết. Còn Đoan-Nghi tặng vườn mận 175 cây cho Trần Thừa, có nghĩa nàng trao ngôi vua họ Lý cho Trần Thừa. Sau Trần Thừa thành Thái tổ Trần triều. Trần triều làm vua được 175 năm. Vườn mận, mơ đó đến nay (1997) chỉ còn lại cái tên xóm Mơ.
Chán đời đi lang thang !
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-03-30 23:38:35NuHiepDeThuong>
Hồi thứ hai mươi chín


Đại đế Thành Cát Tư Hãn


Nước mắt đầm đìa, Đoan-Nghi vỗ vào vai Long-Tùng, Đoan-Thanh, hút độc tố Huyền-âm, rồi than :
- Tục ngữ Việt có câu : Đánh nhau vỡ đầu rồi mới nhận họ, thực không sai. Sáng nay chị thấy hai em theo dõi, lại tưởng là gian tế mưu hại, nên mới phóng độc, để biết tông tích kẻ theo mình. Không ngờ là ruột thịt mình.
Đoan-Nghi hỏi Đoan-Thanh :
- Tiểu muội ! Thế cái gã đánh xe ngựa cho chúng tôi là ai ?
- Y là người của phái Không-động tại Quảng-châu. Thần không rõ y giả làm phu xe với ý định gì ?
Đoan-Nghi cầm tay Đoan-Thanh :
- Em ạ ! Vạn lý tha hương ngộ cố tri còn đáng mừng, huống chi chúng ta là máu mủ. Vậy hai em cứ gọi chúng ta là anh, là chị cho thân mật.
Thủ-Huy quyết định :
- Khả-hãn Mông-cổ đã có lòng tưởng nhớ cố cựu, chúng ta lại đang ở vào cái thế cùng đường. Về nước thì con dâm phụ Đỗ Thụy-Châu sẽ kết tội vi chỉ. Còn như ở đây, thì là tù giam lỏng. Nào ! Chúng ta hãy đi Mông-cổ du ngoạn một lần cho tiêu sầu. Vậy ngay từ ngày mai, hai em dậy tất cả chúng ta nói tiếng Mông-cổ. Không biết tiếng Mông-cổ có khó học không ?
- Rất dễ học.
Đoan-Thanh mỉm cười :
- Người Mông-cổ học tiếng Việt dễ dàng, thì người Việt học tiếng nói vùng Thảo-nguyên cũng không khó.
Từ khi theo cặp vợ chồng này, Thúy-Thúy thấy bất cứ quyết định gì, dù nhỏ nhặt, Thủ-Huy cũng hỏi ý kiến vợ . Thế mà bây giờ quyết định một việc cực kỳ hệ trọng, Thủ-Huy lại đơn phương hạ lệnh. Nàng không khỏi lo ngại cho hạnh phúc của chủ nhân.
Thủ-Huy hỏi Long-Tùng :
- Hồi chúng ta lên Mông-cổ, thì các em ở đâu, mà chúng ta không gặp ?
- Bấy giờ song thân em đang ở ngọn núi Thiết-sơn tại miền Bắc, để huấn luyện binh pháp Đại-Việt cho binh đoàn Mông-cổ. Sau khi sứ đoàn Mông-cổ đi Đại-Việt kết thân, Khả-hãn mới gọi song thân em về, để hỏi thăm lịch sử, phong tục nước mình.
- Thế từ khi chúng ta rời Mông-cổ đến giờ, Khả-hãn Thiết Mộc Chân với chư vị tướng lĩnh có gì thay đổi không ?
- Thay đổi nhiều lắm !
Long-Tùng thuật : Mông-cổ đang từ một bộï tộc nhỏ bé, nhờ Khả-hãn Thiết Mộc Chân có tài, có đức mà trở thành một nước đứng hàng thứ ba ở vùng đồng cỏ, nên không thể nào tránh được cái nạn ghen ghét. Lại nữa Khả-hãn Thiết Mộc Chân xuất thân từ một đứa trẻ mồ côi, bị đời khinh miệt, chỉ trong một thời gian ngắn, vươn lên địa vị vị Đại-hãn uy tín bậc nhì, bậc ba vùng cực Bắc, nên phải hứng tất cả những đố kị. Vì vậy, Mông-cổ luôn bị đặt vào thế phải chiến đấu để tự tồn.
Thủ-Huy muốn tìm hiểu tường tận về Mông-cổ, công tỏ mối chân tình :
- Tôi với các tướng Mông-cổ tuy thân với nhau. Nhờ Thái-tử sâm của họ mà tôi còn sống đến ngày nay. Tôi cũng cứu mạng cho họ. Tình nghĩa cực thâm trọng, nhưng tôi lại biết rất ít về họ. Thủa thiếu thời, đọc sử Trung-quốc, tôi chỉ biết rằng, vùng phía Nam Vạn-lý trường thành thì gọi là Quan-nội, tộc Hán sống ở đây. Vùng ngoài Vạn-lý trường thành thì gọi là Quan-ngoại. Các bộ tộc sống theo lối du mục, người Hán gọi là...
- Rợ ! Là Địch ! Là Hung-nô !
Đoan-Thanh cướp lời Thủ-Huy: Nếu cứ gọi theo người Hán, thì những người ở phương Bắc đều là Địch, ở phương Tây đều là Nhung, ở phương Đông đều là Di, và ở phương Nam đều là...
- Man !
Thủ-Huy cũng ngắt lời Đoan-Thanh :
- Đấy kinh Thư do mấy ông nhà văn hủ lậu viết ra, rồi người sau cứ thế mà tin. Cứ như trong bộ Sử-ký của Tư-mã Thiên, vào thời Tần Thủy-hoàng, các bộ tộc Hán ở phía Bắc bị những dân du mục vào đánh phá, nên nhà vua cho xây thành để đề phòng. Bộ Hán-thư thuật : Tuy có Trường-thành bảo vệ, nhưng đời Hán, dân Trung-quốc vẫn bị dân du mục vượt qua, vào đánh phá. Vua Hán phải đem những cung nga xinh đẹp cống cho các chúa ở Quan-ngoại để được yên thân. Sang đời Tấn, lại bị năm bộ tộc thay nhau đánh chiếm, rồi cai trị Trung-nguyên, sử Trung-quốc gọi là Ngũ Hồ loạn Hoa...(304-439 sau TL) Đầu đời Tống, bộ tộc Khiết-đan mạnh hơn, thành lập nước Liêu, đánh chiếm nửa giang sơn Tống, bắt Tống tiến cống, dâng đất rất nhục nhã. Cho đến gần đây, bộ tộc Nữ-chân hùng mạnh lên, diệt Liêu, thành lập Kim, tràn vào chiếm Trung-nguyên, bắt vua Huy-tông, Khâm-tông, hoàng hậu, phi tần mang về. Hiện Tống chỉ còn lại từ vùng Trường-giang trở xuống. Đấy, tôi biết có vậy mà thôi. Nguồn gốc tộc Mông-cổ thế nào, tôi mù tịt.
Thấy Thủ-Huy thành thực, Long-Tùng bảo Đoan-Thanh :
- Em hãy thuật tiểu sử Đại-hãn của Mông-cổ cho phò mã biết.
Đoan-Thanh ngồi ngay ngắn lại thuật :
- Kim chỉ cai trị được vùng Bắc Trung-nguyên, cùng một số vùng Quan-ngoại, nơi mà dân chúng sống bằng nghề nông. Còn vùng bình nguyên cỏ hoang mênh mông, đầy thú hoang, nước ngọt, thường gọi tắt là Thảo nguyên, dân du mục sống thành tộc nhỏ, thì Kim chịu thua. Khởi đầu Mông-cổ chỉ là một tộc của vùng Thảo-nguyên. Sau nhiều đời, tộc Mông-cổ chinh phục, hoặc kết nạp một số tộc khác về sống chung thành một bộ tộc. Tại vùng Thảo-nguyên trải qua mấy trăm năm, khi thì các bộ tộc chém giết, thôn tính lẫn nhau. Khi thì đoàn kết chống xâm lăng. Cuối cùng các bộ tộc hình thành nhiều nước. Các nước này nói cùng thứ tiếng, cùng một tổ chức cai trị, sống thành đoàn trại, gọi là tiểu quốc.
Long-Tùng giải thích thêm :
- Bên mình thì đơn vị nhỏ nhất là làng, xã, rồi quận, huyện, cao hơn là châu, lộ. Cuối cùng là nước. Tại vùng Thảo-nguyên thì là tộc, bộ tộc, tiểu quốc. Tuy tên khác nhau, nhưng cũng có hệ thống, thứ bậc.
Đoan-Thanh tiếp :
- Mỗi tộc có một tộc trưởng theo lối cha truyền con nối, họ là những nhà quý tộc. Người cầm đầu của mỗi bộ tộc gọi là Hãn. Hãn có thể do cha truyền con nối, có thể do các quý tộc bầu lên. Mọi luật lệ, mọi quyết định của bộ tộc đều do hội đồng quý tộc quyết định.
Thủ-Huy khen :
- Hay ! Như vậy tránh được cái nạn quyền hành nằm trong tay Hãn, rồi muốn giết ai thì giết, muốn ban phúc giáng họa cho ai thì ban. Thế cái hội đồng quý tộc đó do ai điều khiển ! Hay cũng bầu lên ?
- Người điều khiển hội đồng quý tộc không phải là các Hãn mà là các Đạo-sư. Đạo-sư là các tu sĩ, coi như người đại điện của Thượng-đế Mặt-trời.
Đoan-Nghi thắc mắc :
- Nếu vậy, thì giữa Đạo-sư với Hãn, ai nắm thực quyền ?
- Tùy bộ tộc. Khi các Hãn mạnh thì họ lấn át Đạo-sư. Khi Đạo-sư mạnh thì họ lấn át các Hãn. Có khi các Hãn kiêm luôn Đạo-sư. Trong khoảng hơn ba trăm năm gần đây vì nhu cầu tự vệ để sống còn, các bộ tộc hợp nhau lại thành những nước nhỏ. Thủ-lĩnh các nước nhỏ này gọi là Khả-hãn. Mỗi nước nhỏ đều có hội đồng quý tộc, hội đồng cũng do các Đạo-sư điều khiển. Từ ngày có các nước nhỏ, thì các nước này thường vượt biên tràn cào các nước văn minh, định cư như Thổ-phồn, Tây-hạ Tây-liêu, Đại-kim cướp bóc. Các nước này muốn có một biên giới phía Bắc yên ổn, đã tìm đủ cách thu phục các tiểu quốc Thảo-nguyên. Khi thì dụ dỗ phong chức tước, khi thì đem quân chinh phạt, khi thì giúp nước này đánh nước kia. Vì vậy chiến tranh giữa các nước vùng Thảo-nguyên không bao giờ ngừng. Sau một thời gian, các nước nhỏ bị chinh phạt, hoặc tự nguyện kết hợp lại thành những nước lớn. Hiện nay toàn Thảo-nguyên còn lại có ba nước lớn theo thứ tự là Nãi-man, Khắc-liệt, Mông-cổ. Mỗi nước có một vua, gọi là Đại-hãn. Cạnh Đại-hãn cũng có một hội đồng quý tộc, do các Tổng Đạo-sư điều khiển.
Đoan-Nghi hỏi :
- Em đã biết Trung-quốc, Đại-Việt. So với Trung, với Việt, vùng Thảo-nguyên này rộng, hẹp thế nào ?
- Về diện tích thì lớn hơn Trung-quốc. Về dân số, thì chỉ bằng ba Đại-Việt mà thôi. Phía Bắc là vùng tuyết phủ quanh năm không có người ở, chưa định được giới hạn. Đông-Nam giáp nước Kim. Nam giáp các nước Tây-liêu, Thổ-phồn, Tây-hạ. Tây giáp vùng đất núi hoang vu của các bộ tộc của rợ tóc đỏ, mũi lõ, tóc quăn (Nay thuộc Trung-Đông) .
Nghe Đoan-Thanh thuật, trí nhớ trở về mấy năm trước khi thăm Mông-cổ, Thủ-Huy nắm ngay được vấn đề trước mắt : Các nước vùng Thảo-nguyên, bị những nước lớn xung quanh như Tống, Kim, Liêu, Hạ khinh khi, khi thì bắt tiến cống, khi thì bắt phụ thuộc, để được phong chức tước vô vị... Trước sau gì các nước hoặc bị diệt, hoặc thống nhất về một mối. Nếu như ta giúp cho các nước thống nhất thì họ là mối lo lớn cho tộc Hoa. Tộc Hoa luôn phải đối phó với họ thì tộc Việt ta có thể bớt đi cái họa phương Bắc. Ta thấy, trong ba Đại-hãn, thì Thiết Mộc Chân có chí lớn, lại đang ra sức kết nạp hào kiệt, rõ ràng ông ta muốn làm một chúa của các Đại-hãn. Với tài nguyên trù phú, với tinh thần hiếu chiến, nếu như ba nước này thống nhất thì họ sẽ là một cái hoạ lớn cho Kim, Tây-hạ, Thổ-phồn, Tống. Ta nên gúp họ để họ chia bớt cái họa tộc Hoa với ta.
Nghĩ vậy Thủ-Huy hỏi :
- Thế Khả-hãn của mỗi nước theo lối cha truyền con nối, hay do cách cử người có tài ?
- Thưa lúc đầu thì theo lối cử người tài. Gần đây chuyển sang lối cha truyền con nối cũng có, mà cử người tài cũng có. Trong mỗi nước như vậy, Khả-hãn, Đạo-sư là người có uy quyền tuyệt đối. Dưới Khả-hãn chia làm bốn loại người. Loại thứ nhất là quý tộc, nắm quyền thống trị, gồm có Hãn, tộc trưởng, dũng sĩ , hiền nhân tức người tài giỏi. Lọai thứ nhì là các chiến sĩ. Loại thứ ba là thường dân. Loại thứ tư là tôi tớ, loại này là dân chúng những bộ lạc thua trận, bị bắt về để trồng cấy, chăn nuôi, hầu hạ. Về cuộc sống hằng ngày, dân chúng ở trong những lều trại bằng da thú. Họ di chuyển không ngừng. Nhưng chỉ di chuyển trong vùng thuộc lãnh thổ của họ. Về mùa Hạ thì họ di chuyển khắp nơi. Về mùa Đông thì họ di chuyển về phương Nam. Tuy nhiên họ luôn bám lấy những con sông, những thác nước, những vùng hồ ao. Vì chỉ những nơi này mới có thú. Họ sinh sống bằng canh nông hoặc săn bắn. Họ không có văn tự. Nhiều bộ tộc dùng văn tự Trung-quốc, Tây-hạ, Thổ-phồn. Trẻ con không tới trường học chữ. Ngay từ hồi sáu tuổi, chúng đã được sống tập thể, học bắn cung, cỡi ngựa, săn thú. Khi đến tuổi trưởng thành (12-14) thì mỗi người đều làm sở hữu chủ ít nhất một con ngựa. Dân chúng không theo một tôn giáo nào cả. Họ thờ nhiều thần như thần mặt trời, thần sông, thần núi, thần cây cổ thụ, thần hổ, thần báo...Trong mỗi tộc, bộ tộc đều có một đạo sư. Vị đạo sư này uy quyền ngang với các Hãn. Họ là người nhà trời. Mỗi lời nói của họ đều là lời nói của trời. Dân chúng tin theo răm rắp.
Thủ-Huy muốn biết về Mông-cổ, công kéo Đoan-Thanh trở về câu hỏi của mình :
- Thế Đại-hãn Thiết Mộc Chân được lên làm vua là do cử hiền hay cha truyền con nối ?
- Cả hai.
Đoan-Thanh đáp:
- Thiết Mộc Chân là hậu duệ đời thứ mười của giòng họ Kỳ-ác-ôn (1) thuộc tộc Ki-dát Bọt-di-linh (2) . Giòng họ này tự hào là con cháu của loài Sói-xám, cũng như ta tự hào là con Rồng, cháu Tiên vậy. Ông tổ mười đời tên Bột-đoan Nghĩa-nhi (3) , lập ra nước Mông-cổ, được tôn là Quốc-tổ. Nếu chủ đạo của ta tin việc Quốc-tổ Lạc-long quân lấy Quốc-mẫu Âu-cơ, đẻ ra trăm trứng, nở ra trăm con, thì chủ đạo Mông-cổ cũng có chủ đạo tương tự. Bà mẹ của Bột-đoan Nghĩa-nhi tên A-lan Đông-hỏa kết hôn với ông Thoát-bôn Dương-ly-kiến, sinh ra hai con trai. Con trưởng là Bác-cơ Cát-đáp-hắc, thứ tên Bác-hợp Tát-trực. Sau đó chồng chết. Bà A-lan ở vậy nuôi con. Một đêm, nằm ngủ trong phòng, bà thấy một luồng ánh sáng chói lọi từ trời chiếu qua song cửa phủ lên người, một thần nhân sắc vàng bay vào nằm trên bụng. Bà kinh hãi, rùng mình, rồi mang thai, sau sinh ra một trai, đặt tên là Bột-đoan Nghĩa-nhi . Lớn lên, Bộ-đoan Nghĩ-nhi có tướng mạo kỳ vỹ, trầm tư ít nói, chúng nhân cho rằng ông là một tên ngốc. Duy bà A-lan nói : Nghĩa-nhi không ngốc đâu. Sau này con cháu nó sẽ là những người đại quý. Khi A-lan qua đời, Nghĩa-nhi thản nhiên nói với các anh : Bần, tiện, phú, quý đều có mệnh, tài vật này thì đâu đáng kể. Rồi không lấy một món nào. Ông rời các anh, cỡi con ngựa trắng đến vùng Bát-lý-truân A-lại cư trú, ngày ngày hái rau, bắt thú làm kế sinh nhai. Về sau, ông kết nạp những bần dân bị ức hiếp, những kẻ vô sở bất chí, mà thành lập một bộ tộc. Chỉ ít năm sau đó, nhờ chăm chỉ, bộ tộc của ông trở thành giầu có. Dân chúng, rồi các tộc khác kéo đến gia nhập, lập thành bộ tộc Ki-dát. Oâng được bầu làm Hãn. Đây là bộ tộc đầu tiên của người Mông-cổ. Từ đấy, theo chế độ cha truyền, con nối. Đến đời thứ năm, lãnh chúa Hải-đô(4), nhờ thắng nhiều bộ tộc xung quanh, lập ra tiểu quốc Mông-cổ, được tôn làm Khả-hãn. Hải-đô chết, con là Bái-tính Hố-nhi (5) kế vị. Bá-tính Hố-nhi chết, con là Đôn-tất-nãi (6) lên thay. Đôn-tất-nãi chết, con là Cát-bất Luật-cơ (7) kế. Cát-bất Luật-cơ chết, con là Bát-ly-đơn (8) thay. Bát-ly-đơn chết, con là Dã-tốc-cai thế. Dã-tốc-cai lại chinh phục được một số bộ lạc trong vùng, giết Khả-hãn Thát-đát (9), thanh thế nổi bật trên vùng thảo nguyên. Dã- tố-cai chết, con là Thiết-mộc-chân lên thay.

Ghi chú của thuật giả:

(1) Kỳ-ác-ôn, NS phiên âm tiếng Mông-cổ. Kỳ nghĩa là khác lạ, ác là giòng nước, ôn là ấm áp. Xin đừng hiểu lầm với chữ ác ôn là dữ tợn, viết khác.
(2) Ki-dát, Bọt-di-linh, Qiyat, Borjinin.
(3) Bột-đoan Nghĩa-nhi, Bodoncar.
(4) Hải-đô , Quaidu.
(5) Bá-tính Hốt-nhi, Baiti Hulii.
(6) Đôn-tất-nãi, Dontalaii.
(7) Cá-bất Luật-cơ, Quantulai.
(8) Bát-lý-đơn Ambaqai.
(9) Thát-đát, Tartar, tên một bộ tộc thù nghịch với bộ tộc Mông-cổ, sinh sống ở Bắc Vạn-lý Trường-thành, Nam của Mông-cổ. Sau bị Mông-cổ thôn tính, tộc Mông-cổ, Thát-đát đồng hóa lẫn nhau. Sử Tây-phương cũng như người Trung-hoa dùng cái tên Thát-đát để chỉ Mông-cổ.


Từ đầu đến cuối, Thúy-Thúy im lặng ngồi nghe, bây giờ nàng mới lên tiếng :
- Thưa quận chúa ! Tại sao tổ tiên của Thiết Mộc Chân không giữ nguyên họ, mà mỗi đời mang một tên họ khác nhau như vậy ?
- Đó là truyền thống của dân vùng thảo nguyên. Khi sinh ra một người con, thì cha mẹ tự do đặt tên cho, mà không ghép tên với họ. Thường thì họ cứ nhân một biến cố, một giấc mộng, một sự kiện lúc sinh con mà đặt tên. Như khi Khả-hãn Dã Tốc Cai vừa chiến thắng bộ tộc Thát-đát, bắt sống lãnh chúa của họ là Thiết Mộc Chân. Khi trở về, thì vợ là bà Nguyệt-Luân sinh ra người con đầu lòng. Nhân đó người lấy tên Thiết Mộc Chân đặt cho con mình.
Câu chuyện mỗi lúc càng trở thành say mê, Thủ-Huy hỏi :
- Ban nãy muội muội nói rằng Thiết Mộc Chân từ một trẻ mồ côi, bị đời khinh khi. Cái vụ này ra sao ?
- Thiết Mộc Chân mồ côi cha vào năm chín tuổi. Câu chuyện như thế này : Thấy con đã chín tuổi, theo tục lệ vùng thảo nguyên, Dã Tốc Cai dẫn con đi săn, và cũng để đi tìm vợ cho con ở một bộ tộc khác. Trên đường đi, ông gặp Khả-hãn Đài Xếch Sên (1) của bộ tộc Ong Gi Rat (2) . Tộc Ong Gi Rát bấy giờ đông dân hơn, giầu có hơn, văn minh hơn bộ tộc Mông-cổ nhiều. Đài Xếch Sên gặp cha con Dã Tốc Cai thì mừng vô hạn. Ông kể : Đêm qua, ông mơ thấy một con chim ưng trắng, mắt đỏ như lửa, to lớn vô cùng, từ mặt trời bay xuống vùng này. Đạo sư của ông đoán rằng hôm nay sẽ có một người con trai, là con của thượng đế Mặt-trời qua đây. Vì vậy ông đi đón. Khi nhìn thấy đôi mắt của Thiết Mộc Chân, Đài Xếch Sên kêu lên : Thiếu niên kia ! Người là con trai của thượng đế Mặt-trời. Rồi ông ta đón cha con Dã Tốc Cai về khu lều trại của ông, đãi cơm. Ông hãnh diện, giới thiệu cha con Đài Xếch Sên với vợ con. Trong các con của ông, có người con gái tên Bật Tê (3) , mười tuổi cực kỳ xinh đẹp. Đêm đó, cha con Dã Tốc Cai ngủ tại khu lều trại của tộc Ong Gi Rat. Thiết Mộc Chân nói với cha : Con đã cảm nàng Bật Tê. Hôm sau, Dã Tốc Cai ngỏ ý hỏi Bật Tê cho con mình. Dĩ nhiên Đài Xếch Sên đồng ý liền. Theo tục lệ của thảo nguyên, thì Thiết Mộc Chân phải ở rể cho đến khi Bật Tê trưởng thành.

Ghi chú của thuật giả:

(1) Đài Xếch Sên, Dai Le Sage.
(2) Ong Gi Rat, Qonggirat hay Chunggirates.
(3) Bật Tê, Bota. Sau được phong làm Quang-hiến hoàng hậu. Bà nguyên họ Hoằng Cát Sắc (Angcatthat).


- Tuổi trưởng thành của vùng Thảo-nguyên là bao nhiêu ?
Thúy-Thúy hỏi :
- Tuổi này do luật định hay phong tục ?
- Do phong tục. Nam từ 12 đến 14. Nữ thì lớn hơn, từ 14 đến 16. Không biết ở Đại-Việt thì bao nhiêu ?
Đoan-Nghi trả lời :
- Bên Đại-Việt ta theo luật định thì nam là mười sáu, nữ là mười ba (Nữ thập tam, nam thập lục). Thôi muội muội tiếp đi.
- Thiết Mộc Chân ở rể được ban năm, thì một hôm có sứ giả của Dã Tốc Cai là Muôn Lịch (1)đến báo tin cho Đài Xếch Sên biết Khả-hãn của ông bị bệnh nặng sắp qua đời. Xin cho Thiết Mộc Chân về gặp cha lần cuối. Khi Thiết Mộc Chân về tới nhà, Dã Tốc Cai vẫn còn minh mẫn, ông trối trăn : Gần đây, trên đường đi săn trở về, ông qua khu vực lều trại của bộ tộc Thát-đát, giữa lúc họ đang mở hội. Họ mời ông vào chung vui. Nào ngờ, ông bị họ đánh thuốc độc. Bây giờ ông mới biết thì sự đã trễ. Ông dặn Thiết Mộc Chân ba điều :
- Một là khi ông chết rồi, các tộc trưởng, các bộ tộc quy phục có thể sẽ bỏ đi. Phải nín nhịn, đợi khi lớn rồi, sẽ chỉnh đốn lại
- Hai là phải diệt bọn Thát-đát để trả cái thù cha bị đánh thuốc độc.
- Ba là phải tối đề phòng bộ tộc Miệt-nhi (2) , vì trước đây Dã Tốc Cai đã xua quân đánh bộ tộc này, bắt một thiếu nữ xinh đẹp của họ là bà Nguyệt Luân (3) về làm vợ...

Ghi chú của thuật giả:

(1) Muôn Lịch, Thoát Đoan Hỏa Nhi, Mongliq.
(2) Miệt Nhi, Merkites.
(3) Nguyệt Luân, U Lân, Hoalun.
... Dã Tốc Cai chết đi để lại bà Nguyệt Luân là vợ chính, còn vợ thứ bao nhiêu bà thì không thấy nói đến. Thiết Mộc Chân có người em cùng mẹ là Cát Xa(1), ba người em khác mẹ là Bách Cơ Ta (2), Biên Gô Đài (3), và Tê Mô Gu. (4)


Đoan Nghi nhớ lại chuyện cũ :
- Hồi chị tới Mông-cổ chơi lần trước, đã gặp Cát Xa và Biên Gô Đài. Hai người đều là chiến tướng, khí vũ hiên ngang. Còn Bách Cơ Ta thì không thấy đâu ?
- Y bị Thiết Mộc Chân bắn chết từ hồi còn niên thiếu !
- ! ? ! ? ! ?
- Trước đây đang lúc thịnh thời, Dã Tốc Cai thống lĩnh Mông-cổ, có sự tranh chấp vùng lưu vực sông Long-lý-hà (2)với tộc Diệt-xích-ngột . Nay Dã Tốc Cai chết, các bộ tộc trong đoàn trại Mông-cổ âm thầm bỏ bộ tộc Ki-dát theo bộ tộc Diệt-xích-ngột. Ngay người bạn thân nhất, người mà Dã Tốc Cai trối trăn lúc lâm chung là Muôn Lịch cũng kéo cả tộc Thoát-đoan- hỏa theo bộ tộc Thát-đát. Y còn nói một câu tàn tệ « Giòng nước kia sâu mấy rồi cũng có ngày cạn. Viên đá kia rắn mấy rồi cũng có ngày thành cát nụi. Một người đàn bà với mấy đứa con dại, sao có thể thống lĩnh được cả một bộ tộc ». Thế rồi hết tộc này này đến tộc khác bỏ đi. Mỗi đoàn trại ra đi lại lùa theo một bầy gia súc của Dã Tốc Cai. Chỉ không đầy một tháng, mà hơn bốn chục nghìn liều trại, chỉ còn lại hai chiếc của gia đình Dã Tốc Cai. Thiết Mộc Chân không vì thế mà nản. Ông cùng các em cố gắng tranh sống, nhất định ở lại vùng đất của tổ tiên là vùng trù phú của lưu vực sông Long-lý-hà: Săn thú, chăn nuôi thú vật. Nhiều khi đói quá phải bắt cả chuột, cả rắn nước mà ăn. Thế nhưng chỉ Thiết Mộc Chân với Cát Xa chịu khó làm việc, còn ba đứa em khác mẹ là Bách Cơ Ta, Biên Gô Đài, Tê Mô Gu thì lười biếng. Chúng ỷ có sức khỏe, cứ đợi anh em Thiết Mộc Chân săn được thú về là cướp lấy. Thiết Mộc Chân căm hận trong lòng, cố nhường nhịn chờ dịp. Một lần ông săn được một con nai nhỏ, Bách Cơ Ta nhảy ra cướp lấy. Lập tức ông bắn vào người y hai mũi tên. Y chết tức thời.

Ghi chú của thuật giả:

(1) Cát Xa, Qasar.
(2)Bách Cơ Ta, Baktar.
(3) Biên Gô Đài, Balgutai.
(4) Tê Mo Gu, Taimoghu.
(5) Lý Long Hà, Onon.


Thúy-Thúy kinh ngạc :
- Tôi nghe nói tại xứ Mông-cổ có một mỹ tục hơi giống Đại-Việt, là người đàn bà dạy dỗ , quản chế con cái. Mà bà Nguyệt Luân là người phụ nữ siêu việt. Sao bà lại để các con giết nhau như vậy ?
- Vì Thiết Mộc Chân vốn trầm tư, ít nói. Ông hận thằng em lâu ngày mà không nói ra, rồi ông xuống tay thình lình. Trước thảm cảnh nồi da xáo thịt, bà Nguyệt Luân hét lên kinh khủng : Chúng bay thực giống như bầy chó điên, cắn xé lẫn nhau. Máu thịt chúng mày, mà chúng mày cũng không chừa ? Chúng mày có biết rằng làm như vậy là tự chặt chân tay mình không ? Từ đấy anh em Thiết Mộc Chân nhường nhịn nhau.
Thủ-Huy thắc mắc :
- Như vậy, bấy giờ coi như Mông-cổ không còn dân, không còn lãnh chúa, thế lãnh thổ của họ bỏ không sao ?
- Sau khi các bộ tộc bỏ đi hết, thì vùng nước ngọt, nhiều cây lành, lắm thú là bình nguyên sông Long-lý hà bỏ không. Lập tức hai lãnh chúa ở gần nhất là Thát-đáùt với Diệt-xích-ngột đưa dân tới chiếm ngự. Nhưng bấy giờ Thát-đát đang bị Kim đem quân đánh, nên lãnh chúa Diệt-xích-ngột là Tạc Gô Đài họp các bộ tộc thuộc quyền lại, tuyên bố rằng ông ta là Khả-hãn của bộ tộc Bọt-di-linh lẫn Ki-dát. Bất cứ người nào muốn cư trú trong vùng đất cũ của Mông-cổ, đều phải quy phục ông ta. Ông ta cho di chuyển lều trại thuộc quyền chiếm ngự lưu vực Long-lý hà. Thiết Mộc Chân cùng các em không coi lời tuyên bố của Tạc Gô Đài vào đâu. Ông cứ ở nguyên chỗ cũ, xua gia súc vào mục trường của tổ tiên để lại. Được tin báo, Tạc Gô Đài nổi giận, thân đem một đội kỵ mã đi bắt Thiết Mộc Chân. Thiết Mộc Chân phải trốn vào rừng. Tạc Gô Đài cho quân bao vây. Sau mấy ngày, Thiết Mộc Chân đói quá phải bò ra. Tạc Gô Đài dùng dây thoòng loọng chụp vào cổ ông, rồi kéo đi như kéo con thú. Để làm nhục Thiết Mộc Chân trước mặt các bộ tộc trước đây thuộc Mông Cổ, Tạc Gô Đài sai đóng gông ông, rồi cùng binh tướng mở tiệc ăn mừng. Mục đích làm Thiết Mộc Chân đói quá, phải năn nỉ, cầu khẩn xin ăn, hầu không còn uy tín trước mặt các bộ hạ cũ. Giữa lúc khốn cùng đó, thì thân phụ em xuất hiện cứu ra.
Thủ-Huy suýt xoa :
- À, cái vụ cứu này mới thực đúng là hiệp nghĩa. Cuộc giải cứu ra sao ?
- Bác Nhĩ Hốt cùng song thân em từ Trường-sa về tơí Mông-cổ, thì hỡi ơi, nơi trước kia có hàng mấy chục vạn lều trại, hàng mấy trăm ngàn gia súc, chỉ còn là bãi đất hoang. Bác Nhĩ Hốt đang ngơ ngẩn thì gặp bà Nguyệt Luân. Bà kể hết nguồn cơn, rồi khẩn khoản xin song thân em cứu con bà. Bác Nhĩ Hốt bầy ra một kế : Ông với song thân em trà trộn vào đám dân Mông-cổ quy phục Tạc Gô Đài, len lỏi trong đám người dự tiệc mừng. Phụ thân em dùng chỉ lực bắn vào người Thiết Mộc Chân một viên Định-tâm hoàn, để cho ông ngủ đi, không bị cơn đói hành hạ. Bọn Tạc Gô Đài thấy Thiết Mộc Chân ngủ mê, thì cho rằng ông chết ngất. Chúng sai giam ông lại. Đêm, Bác Nhĩ Hốt cùng song thân em đột nhập lều giam, cởi trói, phá gông cứu Thiết Mộc Chân, đưa lương thực cho ông ăn, rồi trốn khỏi khu lều trại. Nhưng Thiết Mộc Chân quá căm hận Tạc Gô Đài, ông muốn trộm chính con ngựa của y, mang đi. Bác Nhĩ Hốt khẩn khoản xin song thân em dùng khinh công đột nhập lều Tạc Gô Đài lấy thanh đao, cây cung, cái áo khoác của y đi, để y mất hết uy tín. Bởi theo tín ngưỡng dân Thảo-nguyên, người nào bị đối phương lấy mất cây cung, thì coi như bị đánh bại. Bị lấy mất thanh đao, thì coi như mất tính mệnh. Còn như bị lấy cả ngựa, cung , đao, áo khoác thì coi như bị giết, ngôi Khả-hãn bị đoạt, vợ con bị bắt làm tôi tớ. Thấy sự việc ngộ nghĩnh, thân mẫu em nhận lời liền. Hai vị nhập lều Tạc Gô Đài điểm huyệt y với người tỳ thiếp. Lại dùng kiếm gọt đầu, treo y lên cột lều, lấy áo khoác da, cây cung, ống tên và thanh đao, rồi cùng Bác Nhĩ Hốt, Thiết Mộc Chân trộm năm con ngựa riêng của y, trốn khỏi khu lều trại Diệt-xích-ngột.
Đoan-Nghi bật cười :
- Thế thân mẫu của em cũng học võ à ?
- Vâng, người là sư muội của Nam-thiên thần y Lê Thúc-Cẩn.
- Hèn gì bà có sẵn Định-tâm hoàn trong người. Em tiếp đi.
- Hôm sau cái tin Thiết Mộc Chân tự phá vỡ gông, dùng võ công bắt sống Tạc Gô Đài treo lên cột lều, đoạt ngựa, cung, tên, áo, đao mang đi...truyền rất mau khắp năm mươi vạn lều trại, rồi lan sang cả bộ tộc Thát-đát, Khắc-liệt, Nãi-man, Ong-gút, Miệt-nhi. Phụ thân em khuyên Thiết Mộc Chân nên cùng Bác Nhĩ Hốt cỡi ngựa của Tạc Gô Đài, mang cung, tên, đao, áo của y đi chiêu mộ những bộ tộc cũ của Mông-cổ. Chỉ trong vòng một tháng, các bộ tộc cũ lại trở về quy phục. Lưu vực Long-lý hà lại phồn thịnh hơn xưa. Trong dịp này có ba thiếu niên trẻ, nghe huyền thoại về Thiết Mộc Chân, đã dẫn cả bộ tộc mình tới phụ thuộc. Đó là Tốc Bất Đài, Gia Luật Mễ, Bác Nhĩ Truật. Phụ thân em đem tích Đại-Việt : Khai-Quốc vương nhờ cùng chín người em kết nghĩa với nhau, cùng chung lo quốc sự, mà làm được những chuyện kinh thiên, động địa. Vậy Thiết Mộc Chân cũng nên kết nghĩa huynh đệ với ba người nàyï. Thiết Mộc Chân làm theo ngay.
Nghe chuyện, Thủ-Huy cảm thấy cay đắng trong miệng. Công than thầm:
- Xưa kia Thuận-thiên thập hùng làm lên những công nghiệp vĩ đại như thế, mà nay Đại-Việt thất tiên lại chẳng ra gì. Đầu dây mối nhợ do Thụy-Hương chỉ biết có Tống. Rồi Long-Xưởng không thực lòng với các em. Trong thất tiên, thì Thụy-Hương, Long-Xưởng, Trang-Hòa đã ra người thiên cổ. Nay thì Đoan-Nghi với mình lưu lạc xứ người. Trong nước chỉ còn Tăng Khoa, Như-Như không biết ra sao ?
Đoan-Nghi thấy chồng thừ người ra, thì biết rằng Thủ-Huy đang cảm thán chuyện Đại-Việt thất tiên. Nàng hỏi một câu, để kéo Thủ-Huy khỏi cái buồn :
- Thế tình bạn giữa bốn người có thâm sâu không ?
- Họ đối với nhau còn hơn ruột thịt. Một lần Bác Nhĩ Truật dùng lưng đỡ nhát đao chí mạng của quân thù cứu Đại-hãn. Lần khác Gia Luật Mễ dùng miệng mút độc chất ở vết thương của Thiết Mộc Chân. Cái ngày công chúa với phò mã tới thăm Mông-cổ, Đại-hãn đem tất cả vàng ngọc ra tạ, để xin y sư Phạm Tử-Tuệ trị bệnh cho Tốc Bất Đài, Bác Nhĩ Truật. Bốn người cực kỳ thân thiết với nhau. Vì vậy Mông-cổ mới có ngày nay.
Chợt Thủ-Huy cau mày hỏi :
- Cứ như em thuật thì hồi ấy từ Tạc Gô Đài, Thiết Mộc Chân, cho tới Tốc Bất Đài... đều chưa biết đến võ công. Thế mà hồi tôi tới Mông-cổ, bốn tướng Tốc Bất Đài, Gia Luật Mễ, Triết Biệt, Bác Nhĩ Truật đều là những cao thủ hiếm có trên đời. Thế họ học võ từ bao giờ ?
- Sau vụ song thân em cứu Đại-hãn, thì ông mới thấy rằng cung, tên, cỡi ngựa không đủ, mà phải luyện võ công. Vì vậy, ông cho tế tác giả làm thương gia vào Kim, Tống, Liêu, Tây-hạ, Thổ-phồn... dò tìm những cao thủ bậc nhất, chiêu mộ. Nhưng các cao thủ chính phái không ai vì vàng mà truyền võ công ra ngoài. Chỉ có hai phái Trường-bạch, Liêu-Đông là chịu nhậïn vàng, truyền bản lĩnh cho Tốc Bất Đài, Bác Nhĩ Truật mà thôi. Về sau Gia Luật Mễ có cơ duyên được một đại tôn sư của Tây-hạ vì thù hận vua nước này giết cả nhà ông, mà truyền kiếm thuật sang Mông-cổ. Sau khi truyền hết bản lĩnh, ông dặn Gia Luật phải diệt triều đình Tây-hạ trả thù cho sư môn.
- Còn việc Thiết Mộc Chân làm con nuôi của Khả-hãn Khắc-liệt uyên nguyên từ đâu ?
- Thưa phò mã, nguyên lúc còn tại thế ông Dã Tốc Cai có kết huynh đệ với Khả-hãn Khắc-liệt là Vương Hãn. Khi Thiết Mộc Chân cùng với ba nghĩa đệ mới tái phục hồi được bộ tộc, thì không có một đội quân nào cả. Thấy Mông-cổ ngày càng thịnh, các bộ tộc kéo đến quy phục mỗi lúc một đông. Vùng thảo nguyên của Mông-cổ lại trù phú, phụ thân em khuyên Đại-hãn nên tập cho dân tập lối sống định cư, cất nhà mà ở hơn là lối sống lều trại. Khi Đại-hãn họp các tộc trưởng lại đưa ra trưng cầu ý kiến, thì quá ba phần tư chống đối. Họ muốn tiếp tục lối sống lều trại, không muốn cất nhà, cũng như trồng cấy.
Tử-Kim cười :
- Quận chúa! Tôi thử đoán xem có đúng không nghe : Những bộ tộc nghèo thì muốn thay đổi nếp sống. Còn những bộ tộc giầu, thì muốn giữ nguyên. Họ sợ thay đổi !
- Quả đúng như vậy. Đai-hãn ra quyết định : Tùy ý các tộc. Tộc nào muốn sống theo nếp cũ thì cứ tiếp tục. Tộc nào muốn thay đổi thì tùy ý. Các tộc trưởng muốn thay đổi, đa số là các tộc nghèo, và tộc Bọt-di-linh. Song thân em dạy cho họ phương pháp đốt cỏ, phá hoang, trồng ngũ cốc, trồng cây ăn trái, ngăn các ao hồ nuôi cá. Lại dạy họ lấy đất sét nung gạch, lên rừng đốn gỗ về xẻ làm nhà. Sau ba năm, khu lều trại lụp xụp nghèo nàn bằng da, không hàng lối, trở thành những khu nhà gạch, lợp ngói. Giữa nhưng căn nhà đó lại nhô lên những căn nhà lầu khang trang là nơi hội họp của bộ tộc. Bộ tộc Bọt-di-linh cất một ngôi nhà năm tầng, nửa theo lối lều trại, nửa theo kiến trúc Đại-Việt : Tường bằng đá, nóc bằng da. Mặt khác, các bộ tộc trồng cấy trở thành giầu có. Bấy giờ các bộ tộc khác mới chịu cho con em học canh tác. Mông-cổ đang là một bộ tộc nghèo, bỗng trở thành giầu có súc tích, không phải mua ngũ cốc của Tây-hạ, Trung-quốc, Kim nữa. Sang năm thứ tư thì ngũ cốc dư thừa, bán sang cho Thát-đát, Nãi-man, Khắc-liệt. Mông-cổ càng giầu hơn nữa. Bấy giờ Khả-hãn đã lớn, ông đem lễ tới bộ tộc Ong-gút, xin Đài Xếch Sên cho cưới Bật Tê. Trong khi đó mấy người em kết nghĩa cũng lấy vợ. Trong mấy năm ở lều trại, phụ thân em có thu mười đệ tử, rồi dạy võ công cho họ. Đại đệ tử, phụ thân em đặt cho cái tên là Mộc Hoa Lê. Phụ thân em thấy các ba bộ tộc lân cận Thát-đát, Miệt-nhi, Diệt-xích-ngột, đều có quân đội thực hùng mạnh, mà họ nghèo khổ. Trong khi Mông-cổ giầu có, lại chỉ có mấy đội dũng sĩ, thì lấy làm lo ngại có ngày chúng sẽ tràn sang cướp phá. Vậy phải gấp tổ chức trai tráng thành đội ngũ để phòng thủ. Đại-hãn nhờ phụ thân em lập một trường huấn luyện ở chân núi Bourkhane, để huấn luyện, tổ chức quân đội. Đại-hãn ra lệnh : Tất cả trai tráng từ 13 đến 60 tuổi đều phải đến trường học quân sự. Sau khi ra trường thì sung vào đội ngũ của tộc mình. Đợt đầu, huấn luyện ba trăm người, tổ chức thành ba đội. Việc huấn luyện vừa hoàn tất, chưa kịp xuất quân, thì một đêm, Mông-cổ bị địch thình lình tràn tới tấn công, cướp gia súc, bắt người mang đi. Sáng chúng rút hết. Thiết Mộc Chân và các nghĩa đệ, các em thoát nạn, lục tục trở về quy tụ lại dân chúng. Lúc bị tấn công, Thiết Mộc Chân cho rằng bọn Diệt-xích-ngột trả thù. Nhưng dân chúng cho biết, đó là bọn Miệt-nhi (Metkites) chúng đã bắt Bật Tê mang đi. Sở dĩ chúng cướp phá Mông-cổ, do trước đây Dã Tốc Cai đã tiến đánh bộ tộc của chúng, bắt bà Nguyệt Luân về làm vợ. Đại-hãn lên núi tìm phụ thân em, xin đem đội quân mới huấn luyện đánh bọn Miệ-nhi trả thù. Nhưng Tốc Bất Đài can rằng : Với ba trăm người không thể thắng nổi bọn Miệt-nhi đông tới hàng mấy vạn. Vậy cần phải cầu viện. Hai nơi có thể cầu viện là Khắc-liệt (Kétates) và Da-di-ra. Khả-hãn Khắc-liệt là Tô Ha Rin, bạn thân của Dã Tốc Cai. Hồi ông ta bị chú cướp ngôi, nhờ Dã Tốc Cai đem quân về đoạt lại ngôi vua. Hiện ông có trên mười vạn quân. Dân của ông sống cố định, chứ không phải là dân lều trại. Còn Da-di-ra, thì tộc trưởng là Trác Mộc Hợp, người bạn hồi thơ ấu của Thiết Mộc Chân, khi ông mồ côi. Oâng này không phải thuộc giòng quý tộc. Oâng xuất thân là nô lệ, đi thu nhặt những dân nghèo, nô lệ, rồi thành lập bộ tộc Da-di-ra. Thiết Mộc Chân nghe theo, đi cầu viện Khắc-liệt, quả nhiên Tô Ha Rin nhớ ơn cũ, nhận Thiết Mộc Chân làm con nuôi, cho mượn một vạn quân kị. Còn Trác Mộc Hợp, thì kéo toàn lực lượng hơn vạn quân nữa, giúp Mông-cổ. Thế là liên quân Mông-cổ, Khắc-liệt, Da-di-ra cùng tiến đánh Miệt-nhi. Quân Miệt-nhi bị phá tan. Dân chúng bị bắt làm nô lệ. Chiến lợi phẩm gồm tất cả gia súc, của cải chia ba cho Mông-cổ, Khắc-liệt, Da-di-ra. Bộ tộc Miệt-nhi bị xóa tên từ đó. Lãnh thổ bị sát nhập vào Mông-cổ. Khi Thiết Mộc Chân đến lều trại của cháu ruột mẹ mình là Sinh Rê Bô Cô (Sintébourcot) thì thấy Bật Tê đang ẵm một đứa con đỏ hỏn. Oâng đặt tên là Truật Xích (Djoutchi) có nghĩa là không mong đợi. Vì kể từ lúc Bật Tê bị bắt, đến lúc được đem về là 13 tháng, trong khi đứa trẻ mới hai tháng. Như vậy nó không phải là con của Khả-hãn.
- Cứ như em nói, thì dân chúng vùng Thảo-nguyên không trọng cái trinh trắng của phụ nữ. Họ coi đàn bà như một thứ đồ chơi. Nếu là phụ nữ Việt, Chiêm, Hoa, thì khi bị bắt, bà Bật Tê đã tự tử để tạ lòng chồng, và giữ thân thể cho trong sạch. Đây bà chấp nhận làm đồ chơi cho kẻ thù của chồng. Rồi khi được cứu về, nếu là một phụ nữ Việt, bà cũng xấu hổ, tự tử chết. Đây, bà thản nhiên như không có gì xẩy ra ! Rõ chán.
Đoan-Thanh đáp thản nhiên :
- Phò mã luận giống như mẫu thân em. Phong tục vùng Thảo-nguyên là như vậy đó.
- Trong trận này, thân phụ em có tham dự không ?
Đoan-Nghi hỏi :
- Ba trăm quân mới huấn luyện do ai chỉ huy ?
Đoan-Thanh đáp bằng giọng bùi ngùi :
- Song thân em đã chán công danh, nên chỉ giúp Thiết Mộc Chân, chứ không muốn vì ông ta mà chém giết người không thù, không oán với mình. Người trao ba trăm quân mới huấn luyện cho một người đệ tử là Mộc Hoa Lê. Cái tên Mộc Hoa Lê này do phụ thân em đặt cho anh ấy. Nghĩa là Hoa của gỗ cây Lê. Ngụ ý rằng : Mộc là khúc gỗ, phụ thân em tự ví như là một khúc gỗ, như một cây đã chết. Hoa Lê là hoa cây Lê. Ngụ ý hoàng-hậu của Thái-tổ nhà ta là công chúa của vua Lê, tức là hoa cây lê. Nhờ Hoa cây lê mà có triều Lý. Ba trăm quân do Mộc Hoa Lê tham chiến, đánh tan hơn năm nghìn quân Miệt Nhi, đã làm rung động vùng thảo nguyên. Sau trận đó, Khả-hãn trở thành Đại-hãn. Oâng thấy rõ cái khác biệt giữa một đội quân được huấn luyện với đội quân chỉ là tráng đinh kết hợp. Oâng đốc thúc việc huấn luyện khẩn cấp đặt tên cho loại binh này là chính-binh. Nên chỉ hơn năm sau, ông đã có một đội chính binh đông tới mười lăm ngàn người.
- Huynh có một điều thắc mắc.
Thủ-Huy hỏi :
- Phàm khi luyện quân phải căn cứ vào ba điều. Một là sao cho thích ứng với địa thế, khí hậu, thời tiết chiến trường. Hai là dùng để đối phó với loại địch quân nào ? Ba là tạo thêm sở trường, giảm sở đoản cho quân mình. Phụ thân muội nguyên là một đại tướng, thông hiểu binh pháp của công chúa Thánh-Thiên, của Khai-quốc vương, và cả Tôn Ngô binh pháp. Vậy người luyện quân cho Thiết Mộc Chân thể theo ý kiến ông ta, hay tự ý người ? Người tổ chức quân ngũ ra sao ?
- Thưa theo ý kiến của Đại-hãn ! Như bên mình thì chia năm người thành một ngũ (5 người), năm ngũ thành một lượng (25 người), năm lượng thành một tốt (125 người), năm tốt thành một lữ (625 người), năm lữ thành một sư (3125 người), năm sư thành một hiệu (15.625 người). Đại-hãn với phụ thân em luận bàn rằng việc giao tranh trên đồng cỏ này không có loại binh nào khác ngoài kị binh. Vì vậy chỉ cần thành lập các tốt là đủ. Mỗi tốt là một đơn vị độc lập, gọi là đoàn. Người Mông-cổ, từ năm sáu tuổi đã biết bắn cung, cỡi ngựa, nên phụ thân em đem thuật cỡi ngựa của Phù-Đổng Thiên-vương, cùng phép luyện kị binh ra trình bầy với Đại-hãn, rồi hai người thu thái kinh nghiệm của Mông-cổ, Đại-Việt tạo thành binh pháp mới. Đại-hãn nghe nói vào thời vua Trưng bên Đại-Việt mình dùng nữ tướng, nữ binh. Thời Anh-vũ Chiêu-thắng, Thái-úy Lý Thường-Kiệt cũng dùng nữ tướng, nữ binh, lại tổ chức cho tất cả đàn bà trẻ con luyện tập để khi có giặc thì tự vệ, để quân đội rảnh tay đối phó với giặc. Đại-hãn ban lệnh ngay : Phụ nữ, trẻ con cũng phải học bắn cung, cỡi ngựa, phương pháp phòng thủ dinh trại, bảo vệ người già. Chỉ hơn năm sau, Mông-cổ đang là một bộ tộc bậc trung, vươn mình trở thành một nước hùng mạnh đứng thứ năm trong vùng Thảo-nguyên.
Thúy-Thúy tò mò :
- Thưa quận chúa, bấy giờ vùng Thảo-nguyên có những nước nào hùng mạnh hơn Mông-cổ ?
- Mạnh nhất phải kể Nãi-man, dân đông, sống theo chế độ nông nghiệp , lại du nhập văn minh của Trung-quốc, Tây-hạ, Thổ-phồn. Tổ chức triều đình, chính quyền rất chặt chẽ. Thứ nhì là Khắc-liệt, vừa sống theo lều trại, vừa sống chế độ nông nghiệp. Khả-hãn, các thủ lĩnh địa phương sống trong những thành trì bằng đá. Thứ ba là Thát-đát, nước này sống sát ngay phía Bắc Vạn-lý trường thành, Đông giáp bộ tộc Nữ-chân, gốc của Kim. Dân Thát-đát vừa hung dữ, vừa thiện chiến, lại giầu có. Họ sống nửa định cư, nửa lều trại. Tổ tiên họ từng tràn vào cướp phá Trung-nguyên, khiến Tần Thủy-Hoàng phải xây Vạn-lý Trường-thành. Sử Trung-nguyên gọi họ là Hung-nô. Thứ tư là nước Diệt-xích-ngột, sống hoàn toàn bằng lều trại, có hơn trăm bộ tộc hoặc quy phục, hoặc bị cai trị. Quân số trên ba chục nghìn thiết kị... Đại-hãn bốn nước thấy Mông-cổ giầu có, hùng mạnh mau chóng, đều có ý ganh ghét, muốn đem quân đánh. Nhưng không nước nào dám cả. Về sau Đại-hãn Thát-đát, Nãi-man mật sai sứ xúi dục Diệt-xích-ngột đánh úp Mông-cổ, để trả thù việc Thiết Mộc Chân ngoa ngôn là đánh bại Khả-hãn Tạc Gô Đài, cướp cung, tên, đao, áo, ngựa. Lúc đầu Tạc Gô Đài không mắc mưu. Nhưng lãnh thổ của Mông-cổ, Diệt- xích-ngột ở cạnh nhau, mà dân chúng Mông-cổ giầu có súc tích, trong khi dân Diệt Xích Ngột thì nghèo khó. Cứ mỗi tháng lại một vài bổ tộc bỏ Diệt-xích-ngột sang quy phục Mông-cổ. Đứng trước thế một mất, một còn, Tạc Gô Đài phải quyết định đánh úp Mông-cổ.
Thủ-Huy suýt xoa :
- Trận này ắt hẳn kinh khủng lắm ! Vì một bên ít quân, nhưng được huấn luyện có phương pháp, chỉ huy thống nhất, nhưng lại phải bảo vệ cơ sở, vướng vợ con. Một bên đông đảo lại ra quân bất ngờ. Trận chiến diễn ra sao ?
- Từ chỗ xuất quân của Diệt-xích-ngột tới lãnh thổ Mông-cổ mất ba ngày sức ngựa. Khi họ đi được một ngày thì thám mã Mông-cổ phát giác. Thám mã phi như bay về báo cho Đại-hãn. Đại-hãn kinh hoảng vội triệu tập buổi hội khẩn cấp. Các quý tộc thuộc nhóm chủ trương sống lều trại đều bàn nên cho gia đình rút chạy trước. Ngược lại các quý tộc thuộc phe chủ trương sống định cư, canh tác bàn nên chống trả.
Thủ-Huy cười :
- Dĩ nhiên là thế. Vì nếu rút chạy, thì nhà cửa, hoa mầu bị tàn phá hết. Tôi đoán, chắc chắn Thiết Mộc Chân sẽ không rút chạy. Bởi Mông-cổ sở dĩ giầu có là do việc cải tổ nếp sống du mục sang nếp sống nông nghiệp. Bây giờ rút chạy, thì tan nát hết.
- Đúng như phò mã luận. Đại-hãn quyết định không bỏ chạy. Nhưng còn chiến thuật ? Chiến thuật thông thường của các bộ tộc thảo nguyên khi bị tấn công thì lập tức tập trung các xe lại thành một bức thành. Còn quân thì chia làm hai. Một cánh núp sau bức thành phòng thủ. Một cánh dàn ra ngoài nghênh. Nếu như thắng địch thì cánh thủ tràn ra đuổi theo. Còn cánh nghênh chiến thì lui lại thu nhặt tử thi, cứu cấp các thương binh. Phụ thân em đưa ra ý kiến...
Thủ-Huy vẫy tay cho Đoan-Thanh ngừng lại :
- Phụ thân của muội là người thông thạo chiến pháp của Kinh-Nam vương. Mà Kinh-Nam vương nổi danh là người dùng kị binh như thần. Để tôi bàn xem có đúng không nghe. Người sẽ đề nghị như sau : Những đội quân chưa được người huấn luyện, đàn bà, trẻ con sẽ thủ trại. Còn các đội quân được huấn luyện sẽ dàn ra tại một chiến trường đợi sẵn. Như vậy bắt buộc quân địch phải chia lực lượng làm hai. Chúng sẽ đem quân tinh nhuệ làm cánh thứ nhất tấn công vào khu lều trại. Còn một ít quân không tinh nhuệ làm cánh thứ nhì, giao chiến với chính binh. Thế là khi tấn công vào bức tường phòng thủ, địch bị bất ngờ vì sức kháng cự của tráng đinh, đàn bà, trẻ con được huấn luyện, được tổ chức thành đội ngũ. Trong lúc đó, chính binh đã đánh tan cánh thứ nhì, quay ra đánh tập hậu cánh thứ nhất... Có đúng không ?
- Quả như phò mã luận. Chỉ có khu lều trại của các tộc chủ trương sống du mục phải đem xe quây lại, làm bức thành mà thôi. Còn khu vực các bộ tộc định cư, thì đã được đào hào sâu, dưới hào đặt chông, phía trong có chính binh đã dàn sẵn, người ngựa đều khỏe. Địch xung phong tấn công vào khu phòng thủ, năm sáu đợt đều bị đánh bật ra. Lúc đầu chúng nhắm vào khu định cư. Kị binh bị các hào sâu cản lại. Một số liều lĩnh bỏ ngựa vượt hào tấn công, thì bị đạp phải chông, bị lực lượng phòng thủ bên trong bắn ra. Đám khác bỏ ngựa tiếp cứu, lại bị bắn ngã. Tướng chỉ huy thấy vậy, quyết định bỏ thương binh, bỏ tử sĩ, đem toàn lực tấn công bức tường thành lều trại. Chúng gặp sức chống trả mãnh liệt. Nhưng lực lượng tấn công đông hơn, chúng đã tràn ngập được mấy doanh lớn. Trong khi đó, các binh đội chính binh Mông-cổ dàn ra thành mười hàng, trên một chiến tuyến dài. Quân Diệt-xích-ngột cậy đông người hơn, chúng dàn thành năm lớp. Chúng cho lớp đầu toàn thiết kị xung phong tới phóng lao, rồi quay trở lại. Quân Mông-cổ vẫn bất động. Chúng lại cho lớp thứ nhì tấn công, lớp thứ ba trợ lực. Quân Mông-cổ đổi mặt tiền ra mặt hậu, lùi liền hơn trăm trượng, rồi quay lại như cũ. Lớp thứ nhì, thứ ba của địch phải phi xa hơn trăm trượng, thì ngã lổng chổng, vì ngựa đạp nhằm bãi chông. Nhưng quân địch cũng vượt qua được bãi chông. Hai bên cùng giao tranh ác liệt. Phụ thân, mẫu thân, sư huynh Mộc Hoa Lê, mỗi người thân chỉ huy năm tốt như ba mũi tên chọc thủng phòng tuyến địch xông vào bắt chúa tướng. Tạc Gô Đài cùng hầu hết các chúa tướng bị điểm huyệt bắt sống. Trận tuyến địch bị phá vỡ. Các tộc trưởng kéo quân bỏ chạy. Khả-hãn ra lệnh : Tất cả chính binh mỗi người dắt theo ba con ngựa, phi bất kể ngày đêm, ngựa mệt thì đổi, đuổi theo đến tận khu lều trại của địch, tràn vào chiếm lĩnh. Nhờ vậy mà chỉ một trận, toàn quân Diệt-xích-ngột bị đánh tan. Dân chúng bộ tộc Diệt-xích-ngột bị bắt chia cho các bộ tộc Mông-cổ làm nô bộc. Các bộ tộc theo Diệt-xích-ngột kéo về phụ thuộc với Đại-hãn Thiết Mộc Chân.
- Trận này Mông-cổ thiệt hại nhiều hay ít ?
Đoan-Nghi hỏi :
- Còn tù binh bị bắt thì Thiết Mộc Chân đối xử ra sao ?
- Mông-cổ thiệt hại nặng là thiệt hại của những đạo quân chưa được song thân thần huấn luyện. Còn những đạo quân thụ huấn rồi thì thiệt hại rất ít. Thiệt hại của dân chúng các khu định cư rất nhẹ. Ngược lại các khu lều trại thì nặng. Trong khi giao đấu, Đại-hãn bị trúng một mũi tên vào cổ, chất độc phát tác làm mê man. Nếu đưa về Tổng-hành dinh cho mẫu thân thần chữa trị thì không kịp. Trong khi nguy cấp, dù biết rằng có thể hại đến tính mệnh, nhưng người em kết nghĩa Gia Luật Mễ vẫn ghé miệng vào vết thương hút chất độc cho nghĩa huynh Thiết Mộc Chân. Kết qủa Khả- cứu trị hai người. Khi tỉnh dậy, Khả-hãn truyền đem tất cả hãn thoát chết, nhưng cả hai người cung mê mê tỉnh tỉnh. Nghe tin này, mẫu thân thần phi ngựa hỏa tốc ra mặt trận, 72 viên tướng địch bị bắt, chất lên dàn củi thiêu sống trước mặt thân nhân tử sĩ, dân chúng Mông-cổ bị giết trong khi giao tranh. Lại cũng cho thân nhân chúng đứng xem để cho đau khổ. Còn hơn mười nghìn tù binh, thì Đại-hãn hứa rằng : Hãy cho chúng làm lao binh, tức vận chuyển lương thực, tắm ngựa, căng lều, chế tạo vũ khí trong một năm. Nếu xét ra có lòng trung thành, sẽ cho làm dũng sĩ. Riêng Tạc Gô Đài thì một là thù hận chồng chất đã ba đời ; hai là phải hành hình sao cho dân chúng Diệt-xích-ngột, Mông-cổ thấy rằng y là một thằng hèn, để sau này không một người nào trong đám con cháu cũng như bộ hạ của y dám nghĩ đến phục hồi nữa. Đại-hãn sai tập họp dân chúng, quân sĩ để người với y đấu cung-tên, đấu võ. Tạc Gô Đài chưa từng học võ, thì sao y chịu nổi hai chiêu của Thiết Mộc Chân ? Y bị đánh bại văng xuống ngựa, bị nắm tóc nhắc lên như con thỏ. Rồi Đại-hãn tổ chức mừng chiến thắng, Tạc Gô Đài bị giam trong cái cũi, bị bỏ đói, đặt giữa các bàn tiệc. Ngày đầu y còn chịu được, sang đến ngày thứ hai, đói quá, y kêu gào xin ăn, thì được ném cho một miếng thịt thừa, để y khỏi chết. Cứ như vậy sau một tháng, người y gầy trơ xương. Y mất hết ý chí. Đại-hãn truyền nuôi y thực đầy đủ, trong vòng ba tháng, y béo tốt như xưa, bấy giờ mới tổ chức đại hội dân chúng, rồi đem y ra xử lăng trì (xẻo thịt) giống như bên Đại-Việt mình. Sau khi xẻo ba miếng thịt, thì một cận vệ thân tín của Khả-hãn, nguyên là bộ hạ cũ của y, quỳ gối xin tha cho y. Khả-hãn cảm cái nghĩa khí, lòng can đảm của viên cận vệ, truyền tha cho y cùng với vợ con, lại cấp lương thực, xe, ngựa, để y lên đường. Nhưng khi y rời khỏi lãnh thổ Mông-cổ thì gặp bọn Thát-đát đi săn. Vốn thù hận Mông-cổ, chúng thấy xe, ngựa mang ký hiệu của Mông-cổ, thì xúm vào giết người, cướp của.

Ghi chú của thuật giả:

Về cái chết của Tạc Gô Đài, mỗi sách chép một cách khác nhau. NS, MCMS không nói rõ.
Sử Ba-tư chép: Bẩy chục viên tướng Diệt-xích-ngột bị quẳng vào vạc nước sôi.
Sử Liên-sô chép : Thiết Mộc Chân cho dát bạc cái sọ của Tạc Gô Đài, dùng làm bình rượu. Đời sau gọi là Cơn phẫn nộ của Thành Cát Tư Hãn
Sử liệu chính của Mông-cổ là MCMS thì chép Tạc Gô Đài bị bọn cướp Thát-đát giết. Tôi thuật theo sử liệu này.


Thủ-Huy gật đầu tỏ ý hài lòng hỏi :
- Viên cận vệ xin tha cho Tạc Gô Đài là người thế nào ? Về sau tiến trình của y có khá không ?
- Y tên là Diệt Ga Đài ở bộ tộc Ích-xu. Nguyên sau trận đánh với Diệ-xích-ngột, Thiết Mộc Chân bị thương suýt mất mạng. Trong khi trở về tổng hành dinh, cổ vẫn còn băng vải, thì một kị mã trong tàn quân Diệt-xích-ngột đón đường ông.
Y nói :
« ...Chính tôi đã bắn phát tên làm cho Khả-hãn bị thương. Nếu Khả-hãn muốn trả thù thì xin cứ giết tôi đi. Tôi không hề hối hận, bởi tôi đáng tội chết, vì đã phò một bạo chúa, mà bắn một hanh hùng. Còn như Khả-hãn thu dụng tôi, thì tôi sẽ sung sướng vì được phò tá một minh chúa. Kìa, núi kia tuy cao, Khả-hãn bảo tôi vượt qua, tôi sẽ qua, không chùn bước. Sông kia tuy sâu, Khả-hãn bảo tôi lội tôi không nề hà ».
- Hay ! Rồi sao ?
Thủ-Huy hỏi : Chắc ông ta tha cho y !
- Vâng ! Bọn cận vệ rút gươm ra, chỉ cần một mệnh lệnh là băm vằm tên kị mã đó ra như băm chả. Thiết Mộc Chân mở to mắt nhìn gã kị mã, y vẫn nhìn thẳng vào mặt ông, không tỏ ra sợ hãi. Khả-hãn hài lòng, nói với y : Người thực là một dũng sĩ can đảm, ngay thẳng. Ta tha cho người. Người hãy tìm lấy mười người nữa, thành lập một thập phu, theo cận vệ ta. Để kỷ niệm ngày tương phùng kỳ lạ, ta đặt tên cho người là Triết-Biệt (Djébé, Mũi-tên).
Thủ-Huy, Đoan-Nghi cùng reo lên , rồi chỉ vào Tử-Kim:
- Chúng ta đã gặp y trong lần thăm Mông-cổ. Y đấu tên với thân phụ đệ. Tuy bị thua, nhưng y thực hào hùng. Chính y thù tiếp phụ thân đệ, để tỏ lòng khâm phục. Võ công y cũng vào loại khá.
Chợt nghĩ tới vụ Long-Xưởng được mình và các em giúp, rồi khi chí đã đạt thì trở mặt.
Thủ-Huy hỏi :
- Xưa nay, những người thành công trong điều kiện gian nan, đạt mục đích thì tỏ ra khí phách của một anh hùng chân chính. Họ trọng đãi, chia ngọt sẻ bùi với người phò tá mình. Hai là bọn gian hùng, khi tự biết mình vô tài, chó ngáp phải ruồi mà thành công. Chúng sẽ giết hết những người đã xả thân vì chúng, nhưng có tài hơn chúng. Bây giờ Thiết Mộc Chân cũng thành công khi trải trăm nghìn gian nan. Thế ông ta đối vơí thủ hạ như thế nào ?
- Đại-hãn vẫn coi các tướng như chân tay. Tuy vậy cũng có đôi chút sứt mẻ.
- Có người phản ông hẳn ?
Thủ-Huy hỏi :
- Hay ông cũng tầm thường như người Việt mình nói , giầu đổi bạn, sang đổi vợ ?
- Không phải vậy ! Hoàn cảnh đưa đẩy, mà ông không thể cưỡng nổi.
- Nghĩa là ? ? ?
- Trong tất cả các bạn, thì Trác Mộc Hợp là người bạn thời thơ ấu duy nhất của Đại-hãn. Khi Đại-hãn bị Tạc Gô Đài làm nhục, Trác Mộc Hợp vẫn không bỏ bạn. Bộ tộc Da-di-ra của Trác Mộc Hợp vẫn trung thành với ông. Khi Đại-hãn tái lập Mông-cổ, Trác Mộc Hợp đem bộ tộc Da-di ra theo về quy phụ. Trong trận phục thù đánh bọn Miệt-nhi, Trác Mộc Hợp đem binh tướng trực thuộc đi tiên phong. Rồi trận chiến sinh tử vơí Tạc Gô Đài, Trác Mộc Hợp cũng đem quân theo giúp. Thành công lớn, tuy Thiết Mộc Chân được bầu làm Đại-hãn, nhưng vẫn phải chịu sự chi phối của hội đồng quý tộc, của các tộc trưởng. Nhất là các Đạo-sư. Hai loại người này thường kỳ thị giai cấp rất mạnh. Thế mà bộ tộc của Trác Mộc Hợp nguyên là những dân hèn hạ, những dân nghèo khó bị khinh khiến tại vùng Thảo-nguyên. Bây giờ, Mông-cổ là nước lớn, bọn này cực kỳ hãnh diện, ấy vậy mà trong các buổi họp, họ thấy Trác Mộc Hợp ngồi ngang với họ, họ thấy dân Da-di-ra nghèo nàn, hèn hạ sống lẫn vơí dân của họ. Họ chịu không nổi. Hàng ngày dân chúng các bộ tộc khác luôn tìm cớ gây sự với dân Da-di-ra. Theo tục vùng thảo nguyên, thì khi có sự đụng chạm giữa sắc dân quý với sắc dân hèn, thì dân hèn phải bị xử thua. Theo luật mới của Đại-hãn, thì bất cứ dân nào thuộc Mông-cổ cũng phải được cư xử bình đẳng.
Thủ-Huy than :
- Khó đấy ! Nếu tôi là Đại-hãn, nhất định tôi không chịu xa Trác Mộc Hợp. Dù sao y cũng là người từng xả thân cứu ông bao phen.
Đoan Trang than :
- Nhưng Đại-hãn lại làm theo ý muốn của số đông. Tất cả các tộc trưởng đặt vấn đề với Đại-hãn : Không thể chấp nhận dân Da-di-ra ngang hàng với dân họ. Cũng không thể để Trác Mộc Hợp ngồi ngang với họ. Hội đồng quý tộc họp lại, đưa ra quyết định, yêu cầu Đại-hãn phải loại bộ tộc Da-di-ra ra khỏi Mông-cổ, bằng không họ ra đi. Trước nguy cơ tan vỡ, Đại-hãn đành tổ chức buổi họp các nhà quý tộc, tuyên bố chia tay vơí Trác Mộc Hợp. Thế là Trác Mộc Hợp kéo bộ tộc Da-di-ra ra đi.
- Thế Trác Mộc Hợp có hận Thiết Mộc Chân không ?
- Ông ta quá phẫn uất, âm thầm kéo bộ tộc mình về vùng đất cũ, rồi ngửa mặt lên trời mà thề rằng :
« ... Trời xanh thấu cho tôi. Tôi đem tất cả sức lực, tuổi trẻ ra giúp người. Bây giờ người phụ tôi !... »
- Thế rồi tại sao ông ta lại theo Khắc-liệt ?
- Bấy giờ, Thiết Mộc Chân tuy thắng Diệt-xích-ngộït, Miệt-nhi, Thát-đát, nhưng chỉ đánh giết được Đại-hãn của họ, quy phục được một số bộ tộc trực thuộc. Còn những bộ tộc hùng mạnh ở xa, họ vẫn đứng một mình. Bây giờ họ cảm thấy khó mà yên được với Thiết Mộc Chân. Nghe tin Trác Mộc Hợp bị xua đuổi, họ liên kết với ông ta, thành lập một nước lớn ngang với Mông-cổ. Trác Mộc Hợp được bầu làm Đại-hãn.
Thủ-Huy cười , tỏ vẻ khoái trá :
- Phải như vậy ! Trác Mộc Hợp cũng khá đấy chứ ! Thế bọn theo ông ta là những ai ?
- Nhiều lắm ! Đại-hãn Miệt-nhi là Tút Sa, Đại-hãn Ong-gi-rát là Bạc Gút, Đại-hãn Diệt-xích-ngột là Sen Dút, Đại-hãn Thát-đát là Ha Ta Khít...và khoảng năm chục bộ tộc chưa thần phục. Các Đại-hãn họp nhau lại, tổ chức cuộc tế trời lớn nhất trong lịch sử thảo nguyên. Lễ vật có ngựa trắng, bò rừng, cừu, chó. Rồi họ lên núi đốn một cây thực lớn, lăn xuống giòng sông, thề rằng : Kẻ nào trong anh em chúng ta phản bội, sẽ như cây này. Địa điểm mà họ thề cách xa kinh đô Hoa-lâm của Mông-cổ không đầy trăm dặm, mà Đại-hãn không biết gì. Sau khi tuyên thệ xong, Trác Mộc Hợp xua quân tấn công Đại-hãn tức thì
Thủ-Huy vỗ đùi :
- Giặc ngoài dễ phòng, giặc trong khó đánh. Cái khoảng cách một trăm dậm (50 km), thì chỉ cần nửa giờ sức ngựa. Trác Mộc Hợp ra quân như vậy thì Thiết Mộc Chân ắt bị đại bại ?
Đoan-Thanh lắc đầu :
- Ông ta không bại !
- Sao vậy ?
- Nguyên trong đám Khả-hãn mời tham dự buổi hội thệ có bố vợ Đại-hãn là Đài Xếch Xên. Ông ta không đi dự, sai người cấp báo cho chàng rể. Đại-hãn kinh hoàng, khẩn tập trung quân mai phục chờ đợi Trác Mộc Hợp. Đoàn quân ô hợp của Trác Mộc Hợp bị lọt ổ phục kích, bị đánh tan. Ông ta chạy bán mạng sang đầu quân cho Tang Côn.
- Vậy trong trường hợp nào Thiết Mộc Chân được Kim phong tước Bắc-cường chiêu-thảo sứ ?
Thủ-Huy hỏi :
- Còn Tô Ha Rin được phong vương ?
Đoan-Trang uống một hớp nước rồi trả lời :
- Sau khi thắng Diệt-xích-ngột, sát nhập các bộ tộc quy phục Tạc Gô Đài vào với Mông-cổ. Rồi lại thắng liên binh Trác Mộc Hợp, thì Mông-cổ đang là một bộ tộc trung bình, bỗng trở thành một nước lớn, dân đông, lãnh thổ trở thành rộng bao la, chiếm hết khu lưu vực tài nguyên phong phú sông Long-lý hà. Bấy giờ tộc Thát-đát đang lúc thịnh thời, thường vượt Vạn-lý Trường-thành vào đánh phá Kim. Kim nghĩ đến dĩ độc, trị độc, muốn dùng Khắc-liệt, Mông-cổ diệt Thát-đát. Tế tác của Kim thấy Thiết Mộc Chân là nghĩa tử của Tô Ha Rin. Mỗi khi Tô Ha Rin chinh tiễu đâu, Thiết Mộc Chân đều trợ giúp...Kim cho rằng Mông-cổ chỉ là một bộ tộc trực thuộc Khắc-liệt. Họ gửi sứ giả lên phong cho Tô Ha Rin tước Bắc-cương Vương-hãn. Khi sứ giả lên vùng thảo nguyên, họ mới bật ngửa ra rằng giữa Khắc-liệt với Mông-cổ chỉ có thế giao hảo tốt, chứ Mông-cổ không phải là chư hầu của Khắc-liệt. Kim vội cử sứ lên phong cho Thiết Mộc Chân làm Đại-kim Bắc-cương Chiêu-thảo sứ... Cái lúc mà công chúa, phò mã lên Mông-cổ chính là lúc này.
Thủ-Huy nhắc lại chuyện cũ :
- Hồi ấy khi chúng tôi đi sứ Kim, đúng lúc Kim tìm cách cho Mông-cổ Khắc-liệt đánh lẫn nhau. Tang Côn mắc mưu, y nhờ Kim viện mấy cao thủ, rồi y tâu với Tô Ha Rin bầy ra cuộc đấu võ tuyển tướng, mục đích dùng võ sĩ Kim giết Tứ Liệp-lang vương. Vụ đó tuy không thành, nhưng cũng làm cho Mông-cổ bị mất uy tín, vì trong Tứ Liệp-lang vương thì Bác Nhĩ Truật bị trúng độc mê man, Tốc Bất Đài, Triết Biệt bị bại. Thiết Mộc Chân cũng thấy ngay rằng bọn võ sĩ thắng Tứ Liệp-lang vương không phải là người của Khắc-liệt. Vì vậy ông ta mới kết thân với Đại-Việt. Về sau vụ ấy ra sao ?
- Sau khi Kim xúi dục con trai Tô Ha Rin, là Tang-Côn vơí bạn y là Trác Mộc Hợp đánh Mông-cổ thất bại, vì Tô Ha Rin không cho. Kim lại lợi dụng vụ Khắc-liệt quy phục mà ban chiếu cho Khắc-liệt, Mông-cổ cùng liên binh đánh Thát-đát.
- Vụ này có vẻ vô lý.
Thủ-Huy bàn :
- Hồi ấy tôi thấy Thiết Mộc Chân khinh thường Kim, mà sao ông lại tuân chỉ Kim đánh Thát-đát ?
- Phò mã ngạc nhiên cũng phải. Lãnh thổ Thát-đát thì phía Nam giáp Kim, phía Bắc giáp Mông-cổ, phía Tây giáp Khắc-liệt. Giữa Khắc-liệt với Thát-đát không thù không oán. Ngược lại giữa Mông-cổ với Thát-đát thì thù oán chồng chất. Trước kia Khả-hãn của họ bị thân phụ Thiết Mộc Chân giết, rồi chính thân phụ Thiết Mộc Chân bị họ đánh thuốc độc chết. Kim muốn diệt Thát-đát để yên mặt Bắc. Mông-cổ muốn diệt Thát-đát để trả thù, để mở rộng đất nước. Bây giờ bỗng dưng được Kim, Khắc-liệt cùng ra quân, thì là điều đến nằm mơ, Thiết Mộc Chân cũng không thể tưởng nổi. Khả-hãn giả mắc mưu, líu ríu tuân chỉ Kim đế, ra quân liền. Còn Khắc-liệt thì Tô Ha Rin đã già, quyền do thái tử Tang Côn. Tang Côn cũng muốn ra quân, làm đẹp lòng Kim, hy vọng sau này cha băng hà, còn được Kim phong vương. Thát-đát bị ba đội quân thiện chiến, tinh nhuệ cùng giáp công, nên chỉ một trận thì bị đánh tan. Sau khi Thát-đát bị diệt, Kim hỉ hả rút quân về, vì có đóng quân lại cũng không cai trị được những bộ tộc ô hợp. Còn Tang Côn chỉ muốn cướp thú vật, của cải của Thát-đát mà thôi. Thiết Mộc Chân biết thế, ông nhường tất cả chiến lợi phẩm cho Tang Côn. Thế là Khắc-liệt rút quân. Thiết Mộc Chân bèn chiêu tập các bộ tộc của Thát-đát theo Mông-cổ. Lãnh thổ Mông-cổ trở thành rộng bao la, dân chúng đông đúc không kém gì Khắc-liệt.
Long-Tùng thấy em mình đã mệt, chàng kết luận :
- Trái với hồi thắng Diệt-xích-ngột, Thiết Mộc Chân giết tù binh, bắt dân của họ làm nô lệ. Bây giờ ông đổi hẳn chính sách : Tất cả các tù, hàng binh Thát-đát đều được thụ huấn, rồi kết nạp vào quân đội Mông-cổ. Các bộ tộc nhỏ trước thuộc Thát-đát, được giữ nguyên, được đối xử ngang hàng với các bộ tộc khác. Cho nên từ ngày đó đến giờ, Đại-hãn Thiết Mộc Chân luôn ngồi trên mình ngựa, chinh phục, kết nạp tất cả các bộ tộc nhỏ lại. Ngay cả bộ tộc của Muôn-Lịch, trước kia bỏ đi theo Thát-đát. Hồi Thát-đát bị diệt, lão dẫn bộ tộc trở về, vẫn được Đại-hãn cho ngồi vào hội đồng quý tộc. Hơn nữa Thiết Mộc Chân còn gả mẹ mình là bà Bật Tê cho y, để nối tình thông gia.
Thủ-Huy, Đoan-Nghi, Tử-Kim, Thúy-Thúy cùng bật lên tiếng ủa đầy vẻ kinh ngạc. Biết thế, Long-Tùng giảng giải :
- Phong tục của người vùng Thảo-nguyên là như thế đó. Anh em chú bác, cô cậu, đôi con dì đều có thể lấy nhau. Tục chỉ cấm anh em ruột, con trai lấy mẹ đẻ, con gái lấy cha sinh. Còn ngoài ra thì không cấm. Như bố chết, con trai có thể lấy vợ lẽ, nàng hầu của bố. Việc đàn bà tái giá là điều đương nhiên. Khả-hãn Thiết Mộc Chân từng đem những phi tần của mình thưởng cho các tướng dưới quyền.
Thủ-Huy gật đầu :
- Mỗi dân có một tục khác nhau. Ta không nên coi trọng tục của mình rồi chê bai các tục khác.
Đoan-Nghi nhăn mặt :
- Anh nói !
Thủ-Huy càng nói ngang :
- Có lẽ mình nên nghiên cứu tục của vùng Thảo- nguyên, rồi đem về Đại-Việt mình, cho khác với Trung-nguyên. Thực là hủ lậu khi nam nữ không được cầm đồ vật trao tay nhau. (Nam nữ thụ thụ bất tương thân).

Ghi chú của thuật giả:

Sau này con của Thủ-Huy, Đoan-Nghi là Trần Thủ-Độ, vì sinh ra, lớn lên trên đất Mông-cổ, nên khi về Đại-Việt cầm quyền, đã mang theo văn hóa, phong tục vùng thảo nguyên. Vì vậy mới có việc Thủ-Độ đem công chúa Thuận-Thiên, vương phi của anh là Phụng-càn vương Trần Liễu, gả cho em là vua Trần Thái-tông. Sau lại đem Lý Chiêu-Hoàng nguyên là hoàng hậu của Thái-tông gả cho Lê Phụ-Trần. Trong suốt đời Trần, anh em con chú bác, cô cậu, đôi con dì kết hôn với nhau, không còn kể tới phong tục cổ truyền của Đại-Việt đã thấm nhuần đạo Khổng, đều do Trần Thủ-Độ đem từ Mông-cổ về.
Chỉ độc giả Anh hùng Đông-a mới biết rõ uyên nguyên việc này mà thôi.


Thấy chồng nói ngang, Đoan-Nghi hỏi Đoan-Thanh, để bớt bực mình :
- Thế từ hồi đó đến giờ, giữa Khắc-liệt với Mông-cổ có hục hặc nhau nữa không ?
- Giữa Tô Ha Rin với Thiết Mộc Chân thì không. Nhưng Tang Côn thì luôn gây gổ với Mông-cổ, hai bên đang căng thẳng nhau, không biết lúc nào sẽ xẩy ra chiến tranh.
Sáng hôm sau, Thủ-Huy vừa thức giấc, công thấy một chiếc hộp bằng bạc khá lớn để ngay bên đầu mình, trên khắc hình hai con chim ưng bay qua ngọn núi. Công đánh thức Đoan-Nghi dậy:
- Dậy! Dậy! Dường như Côi-sơn song ưng gửi cho ta cái hộp này thì phải.
Đoan-Nghi mở hộp: Bên trong có sợi giây chuyền bằng vàng, móc con nai bằng ngọc với khoảng hơn trăm mũi tên bằng vàng, trên có khắc hình con chim ưng bay qua ngọn núi. Dưới đáy hộp có một mẩu giấy, chữ viết rất đẹp:
" Tre già, măng phải mọc. Chúng ta tiếp nối hào quang của Ưng-sơn song hiệp, Mộc-tồn vọng thê hòa thượng. Nay ta trao kỷ vật này cho hai cháu, để con đường trừ gian, diệt bạo vẫn có người đi".
Đoan-Nghi cầm sợi giây chuyền với con nai bằng ngọc đeo vào cổ Thủ-Huy:
- Đây là di vật của đức Thần-tông ban cho bá phụ là Minh-Đạo vương. Vương trao cho chúng ta, với ngụ ý: Trừ gian, diệt bạo. Nhưng...Nhưng...Chúng ta vô dụng mất rồi.
Chiều hôm ấy, Bác Nhĩ Truật lại dùng con thuyền nhỏ ghé lại con thuyền Thiên-ưng.
Bác Nhĩ Truật nói :
- Chúng tôi cùng cư trú trên một con thuyền lớn, đậu không xa đây làm bao. Bây giờ, lợi dụng đêm tối, chúng ta cùng nhổ neo, kéo buồn ra đi. Ngày mai bọn Tống có khám phá ra, thì chúng cho rằng các vị về Đại-Việt, chứ chúng không thể ngờ rằng chúng ta dương buồm chạy về phương Bắc. Khi tới Liêu-đông chúng ta bỏ thuyền lên bộ, vượt Vạn-lý trường thành là tới phạm vi quyền lực của Mông-cổ rồi.
- Liệu Kim có gây khó khăn cho ta không ?
Bác Nhĩ Truật đưa ra cái thẻ bài :
- Bây giờ Kim suy đồi rồi, chứ không như mấy năm trước đâu. Cứ có vàng đưa ra, là mình tha hồ mà đi lại. Với vàng, ta có thể mua cả đầu vua Kim cũng không khó.
Tức thì Thủ-Huy ra lệnh cho thủy thủ nhổ neo, lên đường. Con thuyền của Mông-cổ đi trước, đoàn thuyền của Thủ-Huy theo sau.
Lênh đênh trên biển phải hơn hai tháng, đoàn thuyền mới tới vịnh Liêu-Đông. Bác Nhĩ Truật trình thẻ bài với viên đô đóc thủy quân Kim rằng mười một con thuyền đều là thương thuyền Mông-cổ. Thủy-quân Kim kiểm soát qua, rồi cho phép đậu tại khu thương thuyền.
Vào thời ấy, vịnh Liêu-Đông của Trung-quốc thuộc Kim cai trị. Liêu-Đông là cửa bể lớn, nên thuyền buôn các nước Cao-ly, Nhật-bản, Tống, và cả Đại-Việt, Chiêm-thành đều qua lại buôn bán.
Thúy-Thúy bàn :
- Chủ nhân ! Ta có nên cải trang không ? Chúng ta mặc y phục Việt, không giống y phục Kim, Cao-ly, sợ tế tác Kim theo dõi thì có nhiều điều phiền phức.
Thủ-Huy không ngờ Thúy-Thúy lại tinh tế như vậy. Công bật cười :
- Phải đấy.
Công nói với Bác Nhĩ Truật :
- Phiền Lang-vương cho người lên chợ mua dùm cho anh em chúng tôi y phục của thương nhân người Kim...
- Không cần.
Bác Nhĩ Truật nói :
- Các vị cứ mặc y phục Mông-cổ cũng được rồi. Bởi chúng tôi có lệnh bài của tể tướng Kim, được tự do đi lại trên khắp nước họ.
Thế là Thủ-Huy ra lệnh cho đoàn võ sĩ Long-Biên thay y phục Mông-cổ. Đoan-Nghi, Thúy-Thúy cải nam trang.
Vào một buổi tối, Đoan-Nghi trở dạ, đau bụng đẻ. Thúy-Thúy với Đoan-Thanh tuy kiến thức mênh mông, võ công cực cao, nhưng hai người không biết gì về vấn đề sinh sản. Cũng may, Bác Nhĩ Truật vốn quen biết nhiều với dân địa phương, ông nhờ họ mời cho một bà mụ. Vào giữa đêm thì Đoan-Nghi sinh ra một bé trai, giống Thủ-Huy như hai giọt nước. Mọi người đều chia mừng với Thủ-Huy Đoan-Nghi. Đoan-Nghi muốn tìm cho đứa trẻ một cái tên để kỷ niệm việc nàng sinh nó trên con thuyền. Thủ-Huy đề nghị :
- Nó ra đời trên một bến đò, thì ta đặt cho nó tên là Độ. Độ là bến đò. Đứa trẻ này có tên là Trần Thủ-Độ.
Đoan-Thanh xin Đoan-Nghi cho mình được nuôi Thủ-Độ. Đoan-Nghi vui lắm :
- Dì nuôi cháu thì còn gì hơn.

Ghi chú của thuật giả:

Người sau đọc sử chỉ biết khi Mông-cổ sang đánh Đại-Việt, Thăng-long thất thủ, nhiều người bàn nên hàng giặc, thì anh hùng Trần Thủ-Độ đã nói với vua Trần Thái-tông một câu lịch sử : « Đầu tôi chưa rơi xuống đất, xin bệ hạ đừng lo ». Suốt gần nghìn năm lịch sử đã qua, không ai biết ý nghĩa cái tên Thủ-Độ. Chỉ độc giả Anh-hùng Đông-a mới biết rõ, bao giờ, tại đâu, nguyên do nào ông có cái tên này mà thôi.

Hơn tháng sau, mọi việc chuẩn bị xong, Bác Nhĩ Truật đề nghị với Thủ-Huy lên đường. Y để lại một vài người trông coi thuyền. Thủ-Huy cũng để đám thủy thủ ở lại, dùng họ làm trạm thông tin. Khi cần công có thể sai chim ưng mang thư về đây. Rồi từ đây chuyển về Quảng-châu. Sau đó từ Quảng-châu chuyển về Đồn-sơn.
Phải mất hơn một tháng, đoàn người mới tới Vạn-lý Trường-thành. Sau khi vượt thành, thì bắt đầu đi vào lãnh thổ Mông-cổ. Đây là vùng đất trước kia thuộc bộ tộc Thát-đát. Từ sau khi Thát-đát bị liên quân Khắc-liệt, Mông-cổ, Kim đánh tan. Đại-hãn Thát-đát bị giết, vùng này mới nhập vào Mông-cổ. Mấy tháng trước, Bác Nhĩ Truật đem bọn tùy tòng hơn ba trăm người đến đây, gửi cho một tộc, nhờ họ chăn dùm. Rồi mới giả làm thương nhân, dùng xe, vượt qua lãnh thổ Kim, đến vùng biển Liêu-Đông, xuống thuyền. Đám tùy tùng này đều là những dũng sĩ Mông-cổ, từng học cỡi ngựa, bắn tên từ năm sáu bẩy tuổi, rồi được Lý Long-Phi huấn luyện thuât kỵ mã của Phù-đổng Thiên-vương, thuật kỵ chiến của Đại-Việt...lại trải qua biết bao năm chinh chiến, nên thuật kị mã, tiễn thủ của họ đã đứng vào hàng đầu của các đội quân vùng thảo nguyên. Khi đi, mỗi ngươì cỡi một ngựa, dắt theo hai ngựa để dự phòng. Bây giờ họ lấy lại ngựa, cấp cho đoàn võ sĩ Long-biên, mỗi người một con mà vẫn còn dư hơn trăm.
Từ khi rời Đại-Việt, đội võ sĩ Long-biên phải để ngựa lại Thăng-long, rồi ở dưới thuyền trải hơn năm. Bây giờ họ mới được ngồi lại trên mình chiến mã, thì không khác gì đại bàng bị giam trong lồng, được tung lên trời xanh bao la.
Tử-Kim cầm cờ phất một cái, người người đều răm rắp vào hàng. Năm trăm võ sĩ mặc giáp sắt ngồi uy nghiêm trên mình ngựa. Từ mười năm nay các kị mã Mông-cổ nổi tiếng là được trang bị đầy đủ nhất vùng thảo nguyên. Thế mà bây giờ Bác Nhĩ Truật nhìn trang bị của đội võ sĩ Long-biên, ông cảm thấy xấu hổ. Ông hỏi Tử-Kim :
- Huynh đệ ! Huynh đệ có thể giảng cho ta nghe về cách trang bị này không ?
- Vâng.
Tử-Kim chỉ lên một kỵ mã :
- Trước hết, kỵ mã đều đội mũ bằng đồng, bên trong lót hai lớp, một lớp da trâu, và một lớp tơ bọc bông. Với mũ này, không tên nào có thể xuyên thủng, không lao nào xâm phạm vào đầu được. Những đao, kiếm thông thường cũng không thể đả thương nổi.
Nói rồi Tử-Kim tháo chiếc mũ của mình trao cho Bác Nhĩ Truật. Bác Nhĩ Truật xem qua, rồi nghĩ thầm:
- Loại mũ này lợi hại thực. Các dũng sĩ của ta chỉ đội mũ da thì an ninh thua xa.
Tử-Kim lại chỉ vào cái áo :
- Áo này bằng da trâu, bên ngoài ghép những mảnh thép mỏng, đao kiếm, tên lao xuyên không thủng. Chân thì đi dầy bằng da trâu, đế lót lớp thép mỏng, để không bị chông làm hại.
Bác Nhĩ Truật nghĩ thầm :
- Đại-hãn sai mình đi mời phò mã, công chúa sang chơi, chỉ với mục đích mong gặp lại bạn cũ. Không ngờ, ta học được cách trang bị của Đại-Việt.
Tử-Kim chỉ vào một võ sĩ :
- Về vũ khí mỗi người có một thanh đoản đao đeo bên hông, một thanh trủy thủ dắt bên cánh tay trái. Trên lưng ngựa, ngay phía trước yên, để một túi phi trùy. Mỗi người có một cây cung, với ba loại tên khác nhau đó là tên sát hại tẩm thuốc độc, tên lửa, tên bắn thủng áo giáp. Tên sát hại bằng tre, với hai lớp ngạnh. Ngạnh đầu là mũi tên. Lui vào thân tên một tấc lại có lớp ngạnh nữa. Tên lửa, đầu thân quấn vải, tẩm dầu. Tên xuyên thủng áo giáp hoàn toàn bằng thép. Địch thủ bị trúng tên sát hại, bị hai lớp ngạnh, thì không thể nào nhổ ra được. Ngoài ra, mỗi người còn được trang bị một sợi dây, thắt nút thòng lọng, để khi truy kích địch, sẽ dùng dây tung lên bắt sống địch bằng cách tròng vào cổ .
Bác Nhĩ Truật ngắm nghía cây cung : Cung bằng tre rất cứng, có ba đoạn uốn khúc, với ba dây khác nhau bằng gân thú. Với ba uốn khúc này, có thể bắn ba loại tên khác nhau. Trao cây cung trả Tử-Kim, Bác Nhĩ Truật hỏi :
- Trên lưng ngựa có cái bầu đựng nước uống. Cạnh bầu có cái ống tre. Thế ống tre thì dùng làm gì ?
- Dùng để đựng thực phẩm. Mục đích của đoàn võ sĩ Long-biên chúng tôi là trong khi giao chiến sẽ đánh thẳng vào trung quân địch mà bắt tướng. Như vậy trận tuyến địch sẽ hỗn loạn. Khi đã vào trung quân, nếu như chúa tướng địch bỏ chạy, thì phải đuổi cho đến cùng, có như vậy mới làm cho địch không tập trung được quân nữa. Trong khi đuổi, nếu đói đã có lương thực, nếu khát đã có nước. Với trang bị này, chúng tôi có thể đuổi địch ít nhất một ngày không ngừng.

Trong hơn hai tháng lênh đênh trên mặt biển, hơn tháng từ Liêu-Đông tới Trường-thành, các võ sĩ Long-biên đã học được khá nhiều tiếng Mông-cổ. Bây giờ, giữa hai đoàn Mông-cổ, Đại-Việt có thể nói chuyện với nhau, tuy còn bị giới hạn.
Hai đoàn người ngựa đi vào vùng thảo nguyên, đã hơn một ngày. Bấy giờ là mùa Thu, cây cỏ bắt đầu úa héo. Gió lạnh len lỏi trong không gian, làm người lữ thứ xa quê buồn man mác. Chiều hôm ấy, họ tới khu lều trại của một tộc Thát-đát. Bác Nhĩ Truật cho ngừng quân, qua đêm.
Sáng hôm sau, khi đoàn người lên đường được hơn giờ, thì từ phía trước vọng lại tiếng ngựa hí, rồi có ba kị mã Mông-cổ đang ra roi ngựa phi tới. Bác Nhĩ Truật hất hàm ra lệnh. Một viên thập phu trưởng dàn người của mình ra, rồi phất tay làm hiệu cho ba kị mã ngừng lại. Ba kị mã trong y phục tả tơi, một người bị mất mũ, một người bị mất áo khoác, còn một người bị thương đang nằm gục trên lưng ngựa.
Long-Tùng kêu lên :
- Phải chăng các người thuộc đội vệ sĩ của Đại-hãn. Các người báo danh đi.
Ba kỵ mã đã nhận ra Bác Nhĩ Truật, Long-Tùng, Đoan-Thanh. Chúng hành lễ rồi cúi đầu :
- Chúng tôi là Ban Bu (Baibu), Di Cốc (Djicoq) và Di Tôn (Djitong) . Chúng tôi bị lạc mất đồng đội. Đã hai ngày chúng tôi chưa được ăn. Khát quá... Xin tướng quân...
Nói dứt, cả ba cùng nằm gục trên lưng ngựa. Bác Nhĩ Truật ra lệnh cho thuộc hạ. Họ cùng đỡ ba kị mã xuống ngựa, rồi đặt nằm dài trên bãi cỏ.
Long-Tùng kinh hãi than :
- Đây là ba người trong đội vệ sĩ, do em của Đại-hãn là Cát Xa chỉ huy. Tại sao họ lại ở đây ? Tại sao họ bị thương ? Không chừng Đại-hãn gặp nguy gì cũng nên.
Ba võ sĩ được uống nước, được ăn. Lát sau, họ cố gắng ngồi dậy. Lòng Bác Nhĩ Truật nóng như lửa, ông hỏi :
- Người cứ từ từ thuật cho chúng ta biết tình hình. Hiện Đại-hãn ở đâu ?
- Tiểu nhân không rõ.
Di Cốc trả lời :
- Trong trận đánh hai đêm trứơc, đội của tiểu nhân phải chống với hơn ba nghìn quân Khắc-liệt. Toàn đội cảm tử cản đường cho Đại-hãn rút chạy. Cuối cùng mỗi người tản ra một ngả. Anh em tiểu nhân theo vết chân ngựa, tìm Đại-hãn, mà không gặp.
Nói đến đó y mệt lả. Thủ-Huy chĩa ngón tay phóng một chỉ vào giữa huyệt Đại-trùy của Di Cốc đến véo một tiếng. Đại-trùy là nơi giao hội của sáu kinh dương và Đốc-mạch. Chân khí của Thủ-Huy từ huyệt Đại-trùy chuyển vào sáu kinh dương, luân lưu khắp cơ thể Di Cốc làm người y nóng bừng như nhảy vào một bồn nước nóng. Y ngồi nhổm dậy hành lễ với Thủ-Huy :
- Đa tạ huynh đệ.
Rồi y thuật :« ... Bốn tháng trước, khi Tứ-lang vương lên đường đi Đại-Việt rồi, thì ở nhà có sự. Sự đó như sau : Đại-hãn thấy Thái-tử Tang Côn (1) của Khắc-liệt thu dụng những hãn của các bộ tộc bất mãn với ta như Trác Mộc Hợp (2) , Đa Di Đài (3) , An-Tăng (4), Cút Sa (5) làm vây cánh. Người cho rằng Tang Côn lại muốn gây hấn như hồi xưa, chứ không phải chủ ý của Vương-hãn. Người muốn làm một việc gì đó, mua lòng tin của Vương-hãn. Người cử sứ giả sang hỏi công chúa Sa Ua Ba Ki (6), con của Vương-hãn cho trưởng tử Truật Xích. Lại đem con gái là Hoa Tranh (7) gả cho cháu nội Vương-hãn ».

Ghi chú của thuật giả:

(1) Tang Côn, Săngum, NS chép là Diệc Lạt Hợp.
(2) Trác Mộc Hợp, Jamuqa le Rusé
(3) Đa Di Đài, Da'iritai, NS chép là Hỏa Sát Nhi.
(4) An Tăng, Altan, NS chép là An Đạn.
(5) Cút Sa, Qucar, NS chép là Quan Sa.
(6) Công chúa Sa Ua Ba Ki, Sahuabakhir, NS chép là Sa Nhi Bách Cơ.
(7) Công-chúa Hoa Tranh, Hoatang, NS chép là Hỏa A Trực Bách Cơ.


« ...Vương-hãn hỷ hả lắm. Nhưng Tang Côn dèm rằng :
- Phụ vương chỉ nhìn thấy bề ngoài mà không thấy tâm can của Thiết Mộc Chân. Lòng dạ y thâm hiểm khôn lường. Trước sau như một, y muốn chiếm Khắc-liệt. Y dự mưu: Khi Truật Xích làm phò mã Khắc-liệt, một mai, phụ vương băng rồi, thì y sẽ đòi hỏi phải cho Truật Xích kế vị. Bấy giờ thì con cháu phụ vương sẽ ra sao ?
Vương-hãn không tin, người bác lời Tang Côn
- Thiết Mộc Chân là con người bạn cũ Dã Tốc Cai của ta. Ta đã nhận y làm nghĩa tử. Từ gần hai mươi năm qua, ta chỉ giúp y có một lần duy nhất là cho y mượn một binh đoàn (10 nghìn người), đánh Miệt Nhi đem vợ y về. Rồi từ đó, y đã cứu ta bao phen. Nay có lý gì y phản ta.
Vương-hãn nhắc lại chuyện cũ :
- Người không nhớ ư ? Hồi chú người là Át Kê Ca Ra, mượn quân Nãi-man về đánh úp ta, cướp ngôi. Ta với người phải lưu vong sang Tây-liêu. Tây-liêu không dung, xua đuổi. Ta xin Thiết Mộc Chân cho về nương nhờ trong đất Mông-cổ. Lập tức y sai người đón ta, rồi chính y đem quân giúp ta khôi phục ngôi vua. Giá như y có tham vọng, thì hồi ấy y đã chiếm luôn Khắc-liệt rồi. Lại khi Kim mưu chia rẽ ta với Thiết Mộc Chân, họ muốn Khắc-liệt với Mông-cổ đánh nhau, khiến hai hổ một mất, một bị thương, để yên mặt Bắc. Ta không mắc mưu. Còn người, người với Trác Mộc Hợp bầy ra cuộc đấu võ, mượn tay võ sĩ Kim giết bốn đại tướng của Mông-cổ, nhưng không thành. Chuyện đó Thiết Mộc Chân biết hết, song y không vì thế mà thù ta. Bằng cớ là ngay sau đó, Nãi Man đem quân đánh ta. Người đem quân chống lại, bị bại, Khắc-liệt tưởng mất trong một sớm, một chiều. Ta cầu cứu với Mông-cổ, Thiết Mộc Chân gửi bốn tướng Bác Nhĩ Truật, Bác Nhĩ Hốt, Mộc Hoa Lê, Xích Lão Ôn, đem quân cứu viện, Khắc-liệt mới còn. Ta với Thiết Mộc Chân từng liên binh với nhau trước sau 36 trận. Trận nào cũng như trận nào, y chia chiến lợi phẩm cho ta nhiều hơn...
Tang Côn vẫn không nản
- Phụ vương ơi ! Chính cái đại lượng của Thiết Mộc Chân kia mới làm cho con lo sợ. Y giả nhân, giả nghĩa không tham của để mưu việc lớn.
Nhưng Vương-hãn vẫn bác lời y. Tuy Tang Côn không thành công trong việc thuyết Vương-hãn đánh Mông-cổ, nhưng hôn sự mà Đại-hãn đưa ra bị từ chối. Từ đấy Tang Côn, Trác Mộc Hợp cho người âm thầm dụ những tù trưởng bất mãn với Đại-hãn dẫn đoàn trại bỏ Mông-cổ theo Khắc-liệt. Quan trọng nhất là bọn An Tăng, Cút Sa, Đa Di Đài. Bọn này đem bộ tộc, cùng binh lính theo Tang Côn... »
Bác Nhĩ Truật than với Long-Tùng
- Ái chà ! Quân số của mỗi tên này lên đến một vạn người, được huấn luyện theo phương pháp của phụ thân huynh đệ. Mông-cổ mất hơn ba vạn binh thiện chiến, trang bị đầy đủ. Nguy hơn nữa, Khắc-liệt dùng số quân này đánh ta, thì thực khó mà chống nổi. Rồi sao ?
« ... Cách đây hơn tháng, có sứ giả của Vương-hãn tới mời Đại-hãn sang Khắc-liệt nghị sự về hai cuộc hôn nhân không thành. Đại-hãn không nghi ngờ gì, người lấy mấy chục vệ sĩ lên đường. Trong khi đi đường, người chợt động tâm : Trước đây Vương-hãn không thuận hai cuộc hôn nhân này. Bây giờ sao lại đổi thái độ ? Đại-hãn liền quay trở về, rồi sai sứ giả sang hẹn lại ngày khác... »
Thủ-Huy ngắt lời Di Cốc :
- Đại-hãn biết nghi ngờ, nhưng tự tin thành ra ông tuy thoát chết, mà vẫn bị đánh úp !
Bác Nhĩ Truật rùng mình :
- Sao phò mã biết?
- Cứ lý mà suy ! Có thể Vương-hãn đã bị Tang Côn thuyết phục, ông ta muốn đánh Mông-cổ. Nhưng vì sợ lực lượng Mông-cổ, nên một mặt ông ta cho quân sĩ chuẩn bị sẵn. Một mặt ông ta bầy kế mời Đại-hãn qua, rồi phục võ sĩ giết đi. Giết Đại-hãn rồi, ông cho quân ào ạt tấn công bất ngờ, thì Mông-cổ phải bại. Thôi, ông bạn thuật tiếp đi !
Di Cốc thở dài :
« ... Đại-hãn về tới nhà, người phái nhiều thám mã trải ra trên đường từ Khắc-liệt tới Mông-cổ. Một ngày sau, thám mã hỏa tốc báo cho Đại-hãn biết rằng, quân Khắc-liệt tới mười vạn người đang trên đường tiến tới Mông-cổ. Chỉ nội trong một ngày là sẽ tới bản doanh của Đại-hãn. Đại-hãn kinh hoảng, vì quân của người có năm vạn thực, nhưng đều đóng rải rác ở lãnh thổ của các bộ tộc. Tại bản doanh chỉ có 4600 quân mà thôi. Với 4600 người, chống sao nổi với 10 vạn người ? Tuy kinh hoảng, nhưng Đại-hãn cũng vẫn bình tĩnh. Người ra lệnh cho mã khoái phi đi tất cả các bộ tộc, phải đem quân về cứu ứng. Người lại truyền đem đàn bà, trẻ con lên xe, cùng gia súc, rút chạy về các bộ tộc phía Đông... »
Thủ-Huy suýt xoa :
- Hỏng ! Như vậy thì hỏng bét.
Bác Nhĩ Truật kinh ngạc :
- Chiến thuật của Đại-hãn xưa nay vẫn thế . Khi gặp địch đông gấp bội, thì phải di tản đàn bà trẻ con đi chỗ khác, để khỏi vướng víu. Sau đó dàn quân ở một vị trí mình chọn sẵn. Vị trí đó thuận lợi cho mình, bất lợi cho địch.
Chán đời đi lang thang !
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-04-08 15:14:58NuHiepDeThuong>
Hồi thứ ba mươi

Đại bàng tung cánh


Nghe Di Cốc thuật, Thủ-Huy thốt lên :
- Chiến thuật đó không ổn trong trường hợp này.
Công giảng giải :
- Theo như Long-Tùng nói thì lãnh thổ Mông-cổ bây giờ nằm dọc theo chiều Nam-Bắc một nghìn năm trăm dặm (750 km) và Đông-Tây một nghìn hai trăm dặm (600 km). Quân số của Mông-cổ là năm vạn người. Nhưng thường trực tại bản doanh chỉ có 4600 quân, còn lại thì đóng rải rác ở các bộ tộc, thuộc quyền chỉ huy của các Khả-hãn. Nếu như Đại-hãn cứ cho tổ chức cố thủ, thì trong một ngày, những bộ tộc ở trong vòng hai, ba trăm dặm sẽ đem quân cứu ứng. Như vậy quân số Mông-cổ có thể lên tới hai vạn, dàn ra đợi quân Khắc-liệt. Với hai vạn quân tinh nhuệ, cố thủ, thì thừa sức cầm cự với mười vạn quân ô hợp tấn công hai hay ba ngày. Trong thời gian đó, thì quân các nơi xa đã kéo về. Bấy giờ Đại-hãn thừa sức chống cự với địch. Trong phép công thủ, thì cứ một thủ phải mười tấn công mới có thể thắng được. Đây quân Khắc-liệt chỉ đông gấp đôi, thì không thể tràn ngập. Họ từ xa tới, lương thực giỏi lắm mang theo đủ ăn trong hai ngày. Sau hai ngày tấn công bị tổn thất nhân mạng, bị hết lương, thì quân Khắc-liệt phải rút. Bấy giờ Mông-cổ truy kích, nếu không diệt được địch, cũng không đến nỗi bại. Đây Đại-hãn ra lệnh rút lui, bọn Tang Côn biết rõ Đại-hãn yếu thế. Chúng sẽ không ngần ngại gì mà không xua quân truy kích.
Bác Nhĩ Truật tỏ vẻ không tin vào lời bàn của Thủ-Huy. Biết thế nhưng Thủ-Huy vẫn tiếp :
- Còn như Đại-hãn rút chạy, thì rất ít các Khả-hãn chịu đem quân về cứu.
Di Cốc kinh ngạc :
- Sao phò mã biết ?
Câu hỏi của Di Cốc chứng tỏ lý của Thủ-Huy đúng. Thủ-Huy giảng giải :
- Các bộ tộc ở xa, đa số mới theo Mông-cổ. Trước đây họ quy phục Thát-đát, Miệt-nhi, Diệt-xích-ngột. Họ theo Mông-cổ một là vì cái thế không theo không được, hai là vì thấy Mông-cổ mạnh. Tuy theo Mông-cổ, nhưng họ biết Khắc-liệt mạnh hơn Mông-cổ, ngặt vì họ ở xa Khắc-liệt nên không theo Khắc-liệt. Bây giờ họ thấy Khắc-liệt xua đại quân đánh Mông-cổ. Đại-hãn rút chạy, ắt họ án binh bất động, chờ đợi. Nếu Đại-hãn thắng, họ sẽ đem quân tiếp viện. Còn như Đại-hãn bại, thì họ sẽ theo Khắc-liệt.
Thủ-Huy nhắc lại :
- Cho nên tôi mới nói Đại-hãn rút chạy, thì về chiến thuật tuy đúng, nhưng về đại cuộc thì hỏng to !
Bác Nhĩ Truật vẫn không chịu phục Thủ-Huy. Y hỏi Di Cốc :
- Rồi sao ?
- Phò mã luận đúng. Đại-hãn truyền cho Gia Luật Mễ, cùng một đội quân nhỏ ở lại. Trong các lều trại đóng quân đêm vẫn đốt đèn, làm như có quân trú phòng, để lừa địch. Quả nhiên địch mắc mưu. Chúng đợi tới nửa đêm mới ào ạt tấn công, thì chỉ còn trại không. Tang Côn, Trác Mộc Hợp biết mắc mưu, nhưng thấy quân dụng vứt bừa bãi, thì biết rằng Đại-hãn rút chạy vội vàng. Chúng cho quân nghỉ lại, sáng hôm sau truy kích. Phải hơn một ngày, chúng mới tới Tuyết-nhai (Khingan), nơi Đại-hãn dàn quân lại chờ đợi.
Bác Nhĩ Truật hỏi :
- Thế quân các nơi có về cứu ứng không ?
- Không !
Bây giờ Bác Nhĩ Truật mới phục Thủ-Huy giỏi binh pháp hơn mình gấp bội. Bất giác y nghĩ :
- Ta phải mật báo với Đại-hãn, sao kéo người này theo giúp Mông-cổ, thì trong có thể làm chúa Thảo-nguyên. Ngoài có thể chinh phục Kim, Thổ-phồn, Tây-liêu, Tây-hạ.
Nghĩ vậy y hỏi :
- Rồi trận chiến ra sao ?
- Tiền quân Khắc-liệt do chính Tang Côn, Trác Mộc Hợp đuổi tới Tuyết-sơn. Chúng thấy ta dàn quân dựa vào chân núi, địa thế cực kỳ lợi hại. Nhưng Tang Côn ỷ quân số đông đảo, y ra lệnh tấn công. Sau chín đợt sung sát, quân sĩ chết quá nửa. Y truyền ngừng lại nghỉ ngơi, đợi đoàn tả quân tới. Nửa ngày sau, tả quân Khắc-liệt tới, Tang Côn cho lệnh ào ạt tấn công vào tuyến phòng thủ của ta. Khi tuyến phòng thủ của ta bị núng thế, bấy giờ Đại-hãn mới cho hai đạo phục binh xuất hiện. Đạo thứ nhất do tướng Dược Sơ Đài, Triết Biệt và trưởng tử Đại-hãn là Truật Xích chỉ huy. Đạo thứ nhì do tướng Bác Khô La, Qui Dinh Đa, và con thứ Đại-hãn là Oa Khoát Đài chỉ huy. Hai đạo kỳ binh đánh vào hậu quân địch. Tuy quân số đông đảo nhưng bị tấn công phía trước, đánh ép hai bên, quân Tang Côn hỗn loạn, trận thế bị vỡ. Tang Côn bị lão tướng Dược Sơ Đài bắn một mũi tên trúng mặt, thế là đạo tiền quân, tả quân Khắc-liệt bị đánh tan. Giữa lúc đó thì đại quân Vương-hãn tới, đánh bọc hậu hai đạo kỳ binh của ta. Cả hai phải đánh cảm tử mới tiến lên bắt tay được với đạo quân của Đại-hãn. Bấy giờ trời đã về chiều. Quân Khắc-liệt hạ trại, qua đêm, cũng để chờ các đạo hậu quân tới.
Thuật đến đây Di Cốc mệt quá, y ngừng lại để uống nước. Di Tôn thuật tiếp :
- Về phía quân ta, thiệt hại thực không nhỏ. Ba đạo thiện chiến nhất, mỗi đạo chỉ còn phân nửa. Kiểm điểm lại thì các tướng Bác Khô La, Qui Dinh Ba, Oa Khoát Đài bị mất tích. Tuy nhiên các tướng Tốc Bất Đài, Gia Luật Mễ, Bác Nhĩ Hốt và Triết Biệt vẫn vô sự. Các tướng luận rằng, với quân số ít, chưa quá hai nghìn người, không thể địch lại với tám vạn quân Khắc-liệt. Họ xin Đại-hãn cho rút lui trong đêm. Đại-hãn bắt phải chờ tin tức của cánh quân Bác Khô La, rồi mới rút. Gần nửa đêm, Bác Khô La dẫn tàn quân về. Oat Khoát Đài bị thương mê man. Đại-hãn ra lệnh rút lui trong đêm. Sau khi rút lui an toàn, người sai các tướng chia nhau đến những bộ tộc miền Đông, tập hợp quân sĩ lại để phản công. Còn Đại-hãn, Tốc Bất Đài, Gia Luật Mễ, Triết Biệt, cùng hơn nghìn quân đóng trại giữa đường, cản hậu cho dân chúng, gia đình kịp di chuyển về miền Đông.
Di Tôn ngừng lại, hít một hơi để lấy sức rồi tiếp :
- Trưa hôm sau, Đại-hãn sai A Lý Hải đi sứ, tới yết kiến Vương-hãn. A Lý Hải nói với Vương-hãn trước hội đồng tướng lĩnh, cùng các quý tộc, các tộc trưởng trực thuộc Khắc-liệt : « Xưa nghĩa phụ bị chú là Cúc Nhi cướp ngôi, phải bỏ chạy sang Mông-cổ. Phụ thân của tôi đem quân đánh Cúc Nhi, đuổi tới Tây-hà, tận thu lãnh thổ, dân chúng của y trao cho nghĩa phụ. Đó là một đại công của nhà tôi với nghĩa phụ. Nghĩa phụ bị Nãi-man tấn công, phải bỏ chạy về phương Tây, không nơi dung thân. Em của nghĩa phụ là Trác-a Cam-bột ( Gia Gam Bu) phải lưu vong sang Kim. Chính tôi sai người đi đón hai anh em nghĩa phụ về cư trú ở Mông-cổ, rồi đem quân phục hồi lãnh thổ, dân chúng cho nghĩa phụ. Đó là hai đại công của nhà tôi đối với nghĩa phụ. Khi Khắc-liệt bị dịch, gia súc chết sạch, đói khát khổ sở, tôi đem lương thực sang cứu trợ, nghĩa phụ mới có ngày nay. Bây giờ dân nghĩa phụ no, quân nghĩa phụ khỏe, đều nhờ tôi. Đó là ba đại công của nhà tôi đối với nghĩa phụ. Nghĩa phụ với tôi cùng thề rằng giữa Mông-cổ, Khắc-liệt liên minh, có phúc cùng hưởng, có họa cùng chịu. Thế mà nghĩa phụ âm thầm đem quân đánh Miệt-nhi. Khi thắng, thu biết bao nhiều người, thú vật, mà nghĩa phụ không chia cho tôi dù một con cừu. Tôi cũng không nói gì. Rồi nghĩa phụ bị Nãi-man đem quân đánh. Trác-a Cam-bột, Tang Côn đem quân chống trả, bị đánh tan. Khắc-liệt tưởng mất đến nơi, nghĩa phụ cầu cứu với tôi. Tôi sai bốn tướng Bác Nhĩ Hốt, Mộc Hoa Lê, Xích Lão Ôn, Bác Nhĩ Truật đem quân tiếp ứng, đánh tan quân Nãi-man. Đó là bốn đại công của nhà tôi đối vơí nghĩa phụ. Chúng ta cùng liên binh đánh năm bộ tộc Đóa-lỗ-ban, Thát-đát-nhi, Cáp-đáp-cân, Tán-chỉ-ngột, Hoằng-cát-thứ. Chúng tan tác như chim vỡ tổ. Tài vật thu được đếm không siết, chở không hết. Tôi không tơ hào mảy may. Tất cả đều để cho nghĩa phụ. Đó là năm đại công của nhà tôi đối vơí nghĩa phụ. Bây giờ thình lình nghĩa phụ lấy ân trả oán, đem quân tập kích tôi, đạo lý ở chỗ nào ? »
Tất cả cử tọa hiện diện đều bất mãn với Vương-hãn. Ông quá ngượng, mắng Tang Côn :
- Lời ta nói trước đây có sai đâu ? Người làm sao thì làm.
Tang Côn cho rằng chiến thắng vừa qua, đã làm Mông-cổ không còn khôi phục được nữa, y bất cần các tộc trưởng. Y nói ngang :
- Sự đã ra thế này, thì dù nói đi, nói lại cũng vô ích. Bây giờ chỉ có một đường là dùng đao kiếm quyết định. Như ta thắng thì hắn làm tôi ta. Hắn thắng thì ta làm tôi hắn.
Y quay lại nói với A Lý Hải :
- Người về nói cho Thiết Mộc Chân biết rằng, y không phục ta, vì quân ta đông. Y lại tự hợm có bốn đại tướng vô địch. Vậy ngày mai, ta sẽ chỉ đem năm trăm quân cùng y đối trận. Ta sẽ cử ra ba người đấu vơí ba người của y. Nếu y thắng hai trận, thì ta nguyện rút lui, trả lại đất, trả lại của cải cho y. Còn như ta thắng y hai trận, thì y phải quy phục ta. Nhược bằng y sợ hãi, thì nên cuốn vó vào rừng ở với thú vật.

Các tộc trưởng tỏ ý bất phục, Tang Côn không cần biết đến. Đã thế, bao nhiêu tài vật cướp của ta y lấy hết, không chia cho họ một phần nào. Họ bất mãn họp nhau mật nghị bàn kế đối phó với y. Y đe dọa bằng cách giết hai Khả-hãn của hai bộ tộc. Việc này làm các Khả-hãn càng kinh sợ, y lấy thế làm oai.
Thúy-Thúy đưa mắt nhìn Thủ-Huy :
- Nếu Đại-hãn biết khai thác vụ này, thì có thể gây cho Khắc-liệt bị nội chiến .
Bác Nhĩ Truật hỏi Thủ-Huy :
- Theo như cao kiến của phò mã, thì Đại-hãn có nhận lời không ?
- Dĩ nhiên ông nhận lời.
Bác Nhĩ Truật kinh ngạc :
- Tôi nghĩ rằng Đại-hãn sẽ không nhận lời. Vì nhận lời thì chẳng hóa ra bưng tính mệnh trao cho Tang Côn ư ? Y đâu có dám đối trận với các tướng của ta ? Sở dĩ y đưa ra lời thách thức, rồi nhân lúc đối trận, y sẽ xua quân đánh tràn sang hại Đại-hãn. Phò mã cho rằng Đại-hãn mắc mưu y ư ?
- Tôi nghĩ Đại-hãn đã quá hiểu Tang Côn. Ông giả nhận lời, làm như mắc mưu y để kéo dài thời gian cho gia đình các tướng rút xa hơn, rồi hôm sau đối trận, người sẽ dùng bốn đại tướng xông vào trận kiềm chế Vương-hãn với Tang Côn.
Bác Nhĩ Truật hỏi Di Cốc :
- Sự việc này Đại-hãn quyết định ra sao ?
- Người hành sự đúng như lời của phò mã !
Bác Nhĩ Truật bật lên tiếng kêu ủa kinh ngạc.
Di Cốc tiếp :
- Hôm sau, mỗi bên kéo năm trăm quân tới một vùng thực xa nơi đóng quân. Bên Mông-cổ cử ra ba tướng là Tốc Bất Đài, Gia Luật Mễ, Mộc Hoa Lê. Bên Khắc-liệt cử ra ba tướng là Mã Khắc Khiêm, Trác Hiểm Trung, Kim Du Linh.
Bác Nhĩ Truật kinh hãi :
- Chúng là người thế nào .Ta chưa từng nghe danh ?
- Thưa chúng là người của Tống gửi sang, giả làm tướng Khắc-liệt !
- À, thì ra thế ;
Thủ-Huy kinh ngạc hỏi :
- Kim-cương vương ! Tại sao Tống lại giúp Khắc-liệt ?
- À, vấn đề như thế này ! Bấy lâu nay, Mông-cổ liên kết với Kim, thế của Kim trở lên mạnh. Tống thấy vậy muốn giúp Khắc-liệt diệt Mông-cổ, để cắt bớt vây cánh của Kim.
Y hỏi Di Cốc :
- Cuộc đấu kết quả ra sao ?
- Trận đầu Tốc Bất Đài đấu với Mã Khắc Khiêm. Chỉ mới một vài chiêu, ai cũng nhận thấy công lực, chiêu số của Khiêm bỏ xa Tốc Bất Đài. Mã dùng một thứ võ công rất lạ, chưa từng thấy ai dùng ở vùng Thảo-nguyên. Tướng quân Mộc Hoa Lê nhận ra đó là võ công của phái Đông-a bên Đại-Việt !
Thủ-Huy, Tử-Kim cùng bật lên tiếng kinh hoảng :
- Có thực vậy không ?
Long-Tùng giảng giải :
- Mộc sư huynh là đệ tử của phụ thân đệ nên sư huynh nhận ra võ công Đông-a thì ắt không sai đâu.
Di Cốc tiếp :
- Sau năm mươi chiêu thì Tốc Bất Đài bị trúng độc chưởng của Mã. Trận này Mông-cổ bị thua. Trận thứ nhì Gia Luật Mễ đấu với Kim Du Linh. Hai bên cùng dùng kiếm. Đấu đến chiêu thứ hai trăm thì Gia Luật Mễ bị bại. Đến đây Tang Côn cho phục binh đông đến hơn vạn xuất hiện đánh tràn sang định bắt Đại-hãn. May nhờ đội võ sĩ của Mộc Hoa Lê đánh cảm tử, Đại-hãn mới chạy thoát thân. Trong trận đó, chúng tôi bị lạc đến đây, may gặp các vị.
Bác Nhĩ Truật au mày suy nghĩ một lúc rồi hỏi :
- Từ trước đến nay, tám con của Muôn-lịch đều tự thị võ ông vô địch vùng Thảo-nguyên. Sao không thấy họ tham chiến ?
- Tiểu nhân không rõ !
Đoan-Nghi thắc mắc :
- Cứ như Đoan-Thanh thuật thì Muôn-Lịch là cha ghẻ của Đại-hãn Thiết Mộc Chân, thì tám con của ông ta phải được trọng dụng vào những chức vụ cao lắm, mà sao trong trận sinh tử, họ không tham dự ?
Bác Nhĩ Truật cau mày :
- Trong tám con của Muôn-Lịch, thì con cả là Cốc- Chu, lĩnh Tổng Đạo-sư, coi như giáo chủ trên toàn lãnh thổ Mông-cổ. Uy quyền của y lấn át cả Đại-hãn. Con thứ nhì là Thát Minh lĩnh Tổng Đạo-sư vùng lãnh thổ Thát-đát cũ, con thứ ba là Miệt Hác lĩnh Tổng Đạo-sư vùng lãnh thổ Diệt-xích-ngột cũ. Con thứ ba là Ngột-Thai lĩnh Tổng Đạo-sư của vùng lãnh thổ Miệt-nhi cũ. Tám anh em nhà này võ công cao thâm không biết đâu mà lường.
- Thế võ công của họ phát xuất từ đâu ?
- Họ là những Đạo-sư, thuộc thành phần tôn kính, thiêng liêng, nên không ai dám thắc mắc. Chỉ biết rằng trong trận chinh phạt bộ tộc Ong-gút một tướng giặc đấu với Mộc Hoa Lê trăm chiêu bất phân thắng bại, thế mà Ngột Thai chỉ đánh ba chiêu khiến tướng giặc bỏ mạng.
Ông nói với Thủ-Huy :
- Đợi phò mã tới Mông-cổ, phò mã thử dò xem võ công anh em y thuộc môn phái nào... Hà, biết bao nhiêu lần Đại-hãn muốn làm giảm thế lực của bọn này mà không dám, vì chúng là người nhà trời. Các quý tộc, các Hãn, chư tướng đều phục tùng chúng. Riêng anh em tôi thì không tin chúng là người nhà trời.
Trước tin nước mất, nhà tan, mà Bác Nhĩ Truật vẫn bình tĩnh, nói với Thủ-Huy :
- Việc trước mắt, chúng tôi phải đi tìm xem Đại-hãn ở đâu, rồi mới quyết định sẽ làm gì. Vậy phò mã với công chúa nên trở về Liêu-Đông chờ đợi, chứ không nên mạo hiểm với chúng tôi trong cảnh này làm gì !
Máu anh hùng trong lòng Thủ-Huy bốc lên ngùn ngụt. Công tỏ vẻ cương quyết nói với các võ sĩ Long-biên:
- Đại-hãn vì nhớ tình cố cựu mà mời chúng ta. Nay chẳng may Đại-hãn gặp nạn chúng ta há lại bỏ đi ư ? Anh em nghĩ sao ?
Các võ sĩ cùng nói :
- Kim-vương ! Chúng tôi quyết chiến đấu cạnh các vị.
Bác Nhĩ Truật mừng lắm. Ông nói với các võ sĩ Mông-cổ :
- Bây giờ chúng ta đi tìm Đại-hãn.
Ông phất tay ra lệnh. Đoàn người tiếp tục lên đường. Đi được hơn giờ thì có tiếng quân reo, bụi bay mù mịt bốc lên từ phía trước. Bác Nhĩ Truật hạ lệnh cho một võ sĩ Mông-cổ leo lên cây cao quan sát. Tên võ sĩ phóng mắt nhìn về phía bụi bay, rồi nói lớn :
- Phía trước có cuộc giao tranh giữa quân nhà với quân Khắc-liệt. Quân Khắc-liệt đông gấp bội, đang đuổi theo quân nhà.
Thủ-Huy chỉ hiểu được có mấy câu đó, còn mấy câu sau, thì không biết viên võ sĩ nói gì. Công đưa mắt cho Tử-Kim . Tử-Kim ra lệnh cho một võ sĩ Long-biên tên Trọng :
- Em thử lên quan sát xem tình hình ra sao ?
Trọng dạ một tiếng, rồi thoăn thoắt leo lên cành cao nhất của một cây cổ thụ. Y nói vọng xuống :
- Quân đuổi toàn là kị mã chia làm ba đội, mỗi đội dẫn đầu bởi năm viên tướng. Các đội đều dàn thành mười hàng. Tổng cộng khoảng ba nghìn người. Còn quân chạy thì hỗn độn, không có hàng ngũ gì cả, ước khoảng năm trăm người, có mười tám viên tướng đi cản hậu.
Bác Nhĩ Truật ra lệnh cho đội Mông-cổ :
- Chuẩn bị tác chiến, cứu đồng đội.
Các võ sĩ Mông-cổ cùng hú lên một tiếng dài, rồi họ dàn ngang thành ba hàng. Người người cầm cung, chuẩn bị tác chiến.
Bác Nhĩ Truật nhìn Thủ-Huy định nói gì, rồi lại thôi. Thủ Huy biết người bạn mới muốn nhờ mình cứu đồng đội. Công lên tiếng:
- Người Việt chúng tôi có câu : Cùng đi một chuyến đò, cũng có nghĩa với nhau. Huống hồ trong quá khứ, giữa chúng ta có mối thâm tình, rồi chúng ta sống bên nhau hơn bốn tháng qua. Anh em chúng tôi sẵn sàng chiến đấu bên các bạn.
Long-Tùng dịch lại cho các võ sĩ Mông-cổ nghe. Họ cùng reo lên một tiếng, bầy tỏ lòng khâm phục.
- Chúng ta tiếp cứu như thế nào ?
Tử-Kim hỏi :
- Đánh vào hông địch, hay dàn ra nghênh chiến phía trước ?
Bác Nhĩ Truật đề nghị :
- Chúng ta dàn ra hai bên để quân bại của ta rút vào giữa, bấy giờ họ thấy ta là bạn, họ sẽ dừng lại. Đội hình của ta thành ba đoàn. Trung quân là đám bại quân. Đoàn của tôi thành tả quân, đánh vào hông trái. Đoàn đệ thành hữu quân, đánh vào hông phải. Như vậy thì cứu được quân nhà.
Thế là hai đội dàn ra chờ sẵn.
Tiếng reo hò mỗi lúc một gần, rồi quân đuổi, quân chạy cũng đã xuất hiện phía trước. Bác Nhĩ Truật la lên :
- Đoàn quân nhà có cả Đại-hãn với các tướng. Còn quân đuổi thì do chính Tang Côn, Trác Mộc Hợp chỉ huy.
Thủ-Huy ra lệnh cho Tử-Kim :
- Chúng ta chia võ sĩ làm bốn đội, đánh bọc hông địch, cùng xung vào bắt sống Tang Côn thì có thể lật lại được thế cuộc. Ta chỉ huy một đội đánh vào giữa, Đoan-Nghi chỉ huy một đội đánh vào bên phải, Thúy-Thúy chỉ huy một đội đánh vào bên trái. Tử-Kim chỉ huy một đội tùy nghi tiếp ứng.
Cả hai đoàn quân đuổi chạy, đã nhìn thấy hai đoàn của Bác Nhĩ Truật, Thủ-Huy dàn ra hai bên phải, trái. Một hồi tù và rúc lên, đoàn quân Mông-cổ đang chạy lập tức ngừng lại, dàn ra nghiêm chỉnh. Thiết Mộc Chân thấy Bác Nhĩ Truật, Thủ-Huy thì reo lên :
- Kim-vương ! Trần phò mã ! Các người cứu ta đúng lúc.
Quân Khắc-liệt cũng đã ngừng lại, dàn trận. Tang Côn gò ngựa ra trước trận, y cười nhạt :
- Tưởng phục binh, cứu binh thế nào, hóa ra không tới một ngàn người ! Thiết Mộc Chân ! Người mau hàng đi thôi !
Thủ-Huy nói vơí Thiết Mộc Chân :
- Anh em chúng tôi xung vào trung quân tấn công Tang Côn, nhưng không bắt, không giết y, chỉ làm cho y bở vía bỏ chạy. Bấy giờ trận thế của y loạn, Đại-hãn nhân đó đánh tràn sang.

Thiết Mộc Chân chưa kịp quyết định, thì Thủ-Huy, Đoan-Nghi, Thúy-Thúy hú lên một tiếng dài liên miên bất tận, đội võ sĩ Long-biên cùng dương cung bắn. Quân Mông-cổ thấy vậy thì kinh ngạc, còn quân Khắc-liệt thì cười rộ, vì khoảng cách giữa đội võ sĩ Long-biên với Khắc-liệt quá xa, sao có thể bắn tới ? Nhưng tiếng cười chưa kịp tắt thì ngựa vọt lên, rồi buông tên. Các võ sĩ Long-biên đều có công lực cao, tầm tên đi xa gấp đôi người thường. Những mũi tên đầu bọc thép rít lên vi vu, quân Khắc-liệt chưa kịp phản ứng thì hơn ba trăm kị mã hàng đầu trúng tên.

Nguyên lối bắn của đội võ sĩ Long-biên vốn được lưu truyền trong phái Sài-sơn trải gần hai nghìn năm, mỗi đời lại sửa đổi, nên nay trở thành cực kỳ tinh diệu. Xạ thủ có thể bắn một lúc ba mũi tên.
Đoàn võ sĩ Long-biên dương cung bắn, ngựa vọt tới quá nhanh. Hai lớp quân Khắc-liệt kế tiếp trúng tên. Tang Côn chưa kịp phản ứng, thì võ sĩ Long-biên đã tới trước mặt y. Kinh hoàng, y quay ngựa bỏ chạy vào trung quân. Thủ-Huy dẫn đầu, hơn trăm võ sĩ xông thẳng vào trận Khắc-liệt. Trong khi đội của Đoan-Nghi đánh quặt sang phải. Thúy-Thúy đánh quặt sang trái. Thế là trận tuyến Khắc-liệt bị loạn. Tang Côn lui vào trong trận, nhưng trận bị võ sĩ Long-biên bắn loạt thứ nhì đã bị vỡ. Thủ-Huy tung người lên cao, phóng một chỉ trúng ngực y, chạm vào miếng hộ tâm kính đến choang một tiếng. Dư lực hất y ngã lăn xuống đất. Đội cận vệ lăn xả vào cứu y. Y nhảy lên một con ngựa khác, thì đội cận vệ bị giết hết. Kinh hoảng y xả ngựa bỏ chạy. Thủ-Huy với trăm võ sĩ đuổi rà rà phía sau. Bọn tướng Khắc-liệt hô vệ sĩ đuổi theo đoàn võ sĩ Long-biên cứu chúa tướng. Thế là Tang Côn chạy trước, Thủ-Huy vơí đội võ sĩ Long-biên đuổi theo. Phía sau, đội vệ sĩ Khắc-liệt reo hò đuổi theo cứu chúa tướng. Đuổi nhau được khoảng hơn hai chục dặm, Thủ-Huy hú lên một tiếng dài. Đội võ sĩ Long-biên cùng tung mình lên khỏi lưng ngựa, thân họ quay tròn. Khi quay được nửa vòng, họ buông một loạt tên về sau, rồi quay tiếp nửa vòng nữa, đáp lên mình ngựa. Đám vệ sĩ đuổi theo, bị trúng loạt tên, lớp đầu hơn trăm người ngã lăn xuống ngựa. Lớp thứ nhì, thứ ba kinh hoảng gò ngựa lại, lưỡng lự một lúc rồi mới đuổi tiếp, thì khoảng cách với đội võ sĩ Long-biên đã khá xa.

Đuổi trên hai trăm dặm, thấy như vậy đã đủ, Thủ-Huy hú lên một tiếng, đội võ sĩ Long-biên cũng ghìm cho ngựa từ từ chậm lại. Đám võ sĩ Long-biên lại tung mình lên cao, quay một vòng, bắn về sau loạt tên nữa. Sau loạt tên này số võ sĩ Khắc-liệt chỉ còn hơn năm chục tên. Lập tức đội võ sĩ Long-biên bao vây vào giữa. Loạt tên nữa bắn ra, đám võ sĩ Khắc-liệt bị giết sạch. Thủ-Huy vẫy tay, ra hiệu, đoàn võ sĩ Long-biên quay trở về. Mỗi võ sĩ đều bắt được bốn ngựa của Khắc-liệt, dắt theo.
Các võ sĩ Côi-sơn, Long-biên đều là đệ tử phái Đông-a, võ công cao cường. Họ được huấn luyện để chuẩn bị cho cuộc Bắc chinh, đòi lại cố thổ. Chưa bao giờ họ có dịp xử dụng hết khả năng. Họ như những con chim đại bàng, bị giam trong lồng. Bây giờ họ mới được tung cánh trên nền trời bao la. Lần đầu tiên họ xuất trận, vó ngựa sải những bước dài trên đồng cỏ mênh mông. Họ được đối trận với những địch quân toàn kị mã thiện chiến. Khả năng của họ được dịp phát tiết tối đa. Người nào cũng hỉ hả.
Thủ-Huy dẫn đội võ sĩ Long-biên trở về được hơn năm chục dặm thì gặp đội võ sĩ của Thúy-Thúy. Công hỏi :
- Thúy-Thúy ! Tình hình thế nào ?
- Công chúa, Tử-Kim với tiểu tỳ xông vào phá vỡ trận tuyến của Khắc-liệt. Phía sau Đại-hãn với các tướng cũng đánh tràn sang. Đám quân Khắc-liệt không người chỉ huy, chúng đều đầu hàng. Một võ tướng của Khắc-liệt đi cản hậu cho Trác Mộc Hợp chạy, thì đụng phải công chúa. Võ công y rất cao cường, kiếm thuật thần thông. Phải trên một trăm hiệp công chúa mới đánh rơi được kiếm của y. Y bị bắt sống.
- Tỷ tỷ có nhận ra võ công của y không
- Y dùng võ công Hoa-sơn, mà lại là võ công Hoa-sơn trong bộ Vô-trung kinh.
- Ái chà ! Nhất định bọn này có liên hệ với Vương Cương-Trung. Phải rồi, chỉ có kiếm thuật trong Vô-trung kinh mới có thể chống lại Mê-linh kiếm pháp trong vòng một trăm hiệp. Ta phải thẩm vấn xem y là ai ?
Thủ-Huy gò ngựa cùng Thúy-Thúy đi song song, hơn khắc sau thì gặp bọn Thiết Mộc Chân. Đại-hãn Mông-cổ cảm động :
- Muôn nghìn lần tôi không bao giờ nghĩ rằng mình bị cùng đường. Cũng không bao giờ nghĩ rằng lại được huynh đệ cứu mạng.
Ông chỉ vào đám hàng quân :
- Đám đuổi theo phò mã là vệ sĩ của Tang Côn. Còn đám này nguyên là quân của tôi, Đa Di Đài mang về theo Vương-hãn. Tuy họ bất mãn, nhưng phải nín nhịn. Bây giờ có dịp, họ lại trở về với tôi.
Ông chỉ vào mấy tên tù binh :
- Trong mấy viên tướng Khắc-liệt bị bắt, có một tên cực kỳ quan trọng. Y là người Tống sang giúp Tang Côn. Kiếm thuật y rất cao minh. Nghĩa đệ của tôi là Gia Luật Mễ bị bại dưới tay y. Trong trận đánh hai hôm trước, y chỉ huy một trăm võ sĩ thuộc quyền, người nào võ công cũng cao cường. Bọn y đi đến đâu, là người của chúng tôi ngã đến đó. Không ai chịu nổi của y qúa mười chiêu. Bẩy viên tướng của tôi bị y giết. Hôm nay nhờ công chúa xuất thủ mới bắt được y và ba tùy tùng. Ta thử thẩm vấn xem y là ai ?
Thúy-Thúy bàn :
- Thưa Đại-hãn, bọn y là người phái Hoa-sơn. Mà phái Hoa-sơn với chúng tôi đã có rất nhiều ân oán trong quá khứ. Tôi xin Đại-hãn cho chúng tôi dấu thân phận, như vậy mới hy vọng tìm ra sự thực.
Thiết Mộc Chân cười ha hả :
- Được chứ. Ngặt vì chúng ta tuy thắng trận này, nhưng tại đây, kể cả quân của phò mã, của tôi, của Bác Nhĩ Truật cũng chỉ độ hai nghìn, thêm năm nghìn hàng binh là bẩy nghìn. Lát nữa ắt Tang Côn sẽ đem đại quân đến thì ta đương sao nổi ? Vậy chúng ta phải mau rút chạy về phía Đông, rồi từ từ tìm kế phục hồi lại cố thổ. Bây giờ trời đã về chiều, chúng ta tạm về khu đóng quân, rồi mai sẽ lên đường.

Hôm sau.
Đoàn người ngựa theo hướng Đông mà đi. Họ vượt qua hàng chục bộ tộc khác nhau, cho tới khi tới chỗ giáp giới với bộ tộc Nữ-chân, là nơi phát tích của người Kim mới dừng lại. Đây là khu vực đồn trú quân của Mông-cổ. Thiết Mộc Chân mời bọn Thủ-Huy vào trong căn soái lều, lại trao cho Di Cốc cung cấp lều trại, người chăn ngựa, lương thực cho đội võ sĩ Long-biên.

Mấy năm trước, trong lần thăm Mông-cổ, giữa Thủ-Huy với Tốc Bất Đài rất hợp chuyện. Nay nghe y bị trúng độc chưởng. Thủ-Huy xin được thăm y. Bác Nhĩ Truật dẫn Thủ-Huy, Đoan-Nghi sang lều của y. Cả lều vừa mở, hơi nóng từ trong tạt ra, làm mọi người phải lùi lại một bước. Tiếp theo tiếng rên siết của Tốc vọng ra. Một người đàn bà nước da tươi hồng mở cửa chào khách. Bà ta nói với Bác Nhĩ Truật:
- Chồng tôi bị trúng độc gần giống như bác hồi xưa. Ông ấy cố vận công chống lạnh, nhưng cũng không chịu nổi. Tôi đã cho đốt củi xung quanh chỗ anh ấy ngồi, mà anh ấy vẫn còn lạnh.
Thủ-Huy biết đây là bà vợ Tốc Bất Đài. Bác Nhĩ Truật giới thiệu Thủ-Huy, Đoan-Nghi, Thúy-Thúy với người đàn bà, rồi nói :
- Quý khách trước đây có giao tình với anh nhà. Nên muốn thăm anh ấy.
Tốc Bất Đài ngồi trên phiến gỗ vận công, xung quanh có đến bốn cái lò sưởi, củi bốc lửa sáng rực, nhưng cái lạnh vẫn làm y run run. Dù y nhận ra Thủ-Huy, Đoan-Nghi, nhưng chỉ gật đầu chào chứ không nói lên lời. Chỉ thoáng nhìn thấy tình trạng Tốc Bất Đài, Thủ-Huy đã biết y bị trúng Huyền-âm chưởng của phái Trường-bạch. Công hỏi :
- Hỏa-liệp đại-lang vương ! Huynh có biết căn cước của kẻ đánh huynh không ?
- Nó... Nó xưng tên là Mã Khắc Khiêm. Công lực của nó thực phi phàm hơi giống nội công Đông-a của phò mã, lại pha lẫn một thứ nội công cực kỳ bá đạo. Thực trên đời tôi chưa hề thấy ai có công lực mạnh như vậy !
Thủ-Huy bắt mạch Tốc Bất Đài xong, công gọi vợ :
- Em thử xem mạch Đại-lang vương xem !
Đoan-Nghi nắm lấy cổ tay Tốc, rồi nàng ngơ ngẩn xuất thần nhìn chồng :
- Kẻ địch đã dùng nội công Đông-a nhà ta pha lẫn nội công phái Trường-bạch. Chỉ y... mới có hai thứ nội công này mà thôi.
- Anh cũng nghĩ vậy. Có là y...
Thiết Mộc Chân cũng đã vào trong lều :
- Nhị vị tìm ra căn cước tên Mã Khắc Khiêm rồi à ?
- Tôi không chắc lắm.
Thủ-Huy trả lời :
- Có một đại ma đầu học được võ công của nhà tôi, rồi lại luyện Huyền-âm nội lực của phái Trường-bạch. Y đã tuyệt tích hơn mười năm ở Đại-Việt. Không lẽ y lại lên đây ?
Nói rồi công thuật chi tiết gốc tích Mao Khiêm cho mọi người nghe. Gia Luật Mễ bàn :
- Có thể là y ! Bởi sau khi y rời Đại-Việt về Tống. Tống đế phong chức tước, rồi sai y trợ chiến cho Khắc-liệt.
Thiết Mộc Chân kinh hãi :
- Bản lĩnh của y so với phò mã ra sao ?
- Y ngang vai với ông nội tôi. Cách đây hơn mười năm thì võ công của y bỏ xa tôi. Bây giờ thì tôi không biết.
- Nếu đúng là y, thì phò mã có thể hút độc tố cứu Đại-lang vương không ?
Nói dứt Thiết Mộc Chân chắp tay vái Thủ-Huy :
- Ngôi Đại-hãn tôi có thể bỏ, nhưng nghĩa đệ Tốc Bất Đài của tôi thì muôn ngàn lần tôi không thể để y chết được. Bằng mọi giá, tôi xin phò mã cứu y.
Thủ-Huy cảm động :
- Tôi không chắc. Nhưng ta cứ thử xem !
Nói rồi Thủ-Huy hít một hơi, để bàn tay lên huyệt Bách-hội của Tốc, rồi vận công hút. Không đầy năm tiếng đập tim, Tốc Bất Đài đã cảm thấy cái lạnh giảm đi quá nửa. Y lên tiếng :
- Kỳ điệu !
Thủ-Huy biết đã có kết quả, tiếp tục hút một khắc nữa, thì cảm thấy người hơi lạnh, công vội ngừng lại, ngồi nhắm mắt điều tức để đẩy độc tố ra khỏi bàn tay. Còn Tốc Bất Đài thì cảm thấy chỉ còn hơi lạnh mà thôi. Y rùng mình đứng dậy, chắp tay hướng Thủ-Huy :
- Đa tạ phò mã đã cứu mạng.
Phải hơn một khắc Thủ-Huy mới đẩy hết chất độc ra khỏi bàn tay. Công rùng mình :
- Huyền-âm độc thựckhủng khiếp. Theo như di thư của tổ tiên tôi để lại, thì ai trúng phải chưởng này thì một là có thuốc giải của bọn Trường-bạch, mà phải uống trong 49 ngày liền. Còn như người luyện Huyền-âm công đến trình độ tối cao, thì có thể hút độc tố cứu người. Nhưng phải hút ba ngày liền. Vậy tôi phải hút hai lần nữa Đại-lang vương mới khỏi hẳn.
Tốc Bất Đài chửi tục :
- Tổ bà nó ! Không ngờ bọn Tống khả ố lại ngầm giúp Tang Côn. Chúng ta bị bất ngờ. Cái tên Kim Du Linh kiếm thuật thực thần thông. Nhị đệ kiếm thuật là thế, mà bị bại dưới tay nó. Suốt thời gian qua chúng tung hoành, không coi chúng tôi ra gì. Tướng sĩ của chúng tôi không ai đương nổi ba tên Tống khả ố. May sao công chúa bắt được y. Ta phải thẩm vấn y để biết rõ tình hình.
Đến đó thân binh báo :
- Tổng Đạo-sư Cốc Chu cùng ba Tổng Đạo-sư Thát Minh, Miệt Hác, Ngột Thai dẫn các tiểu Đạo-sư đã tìm về.
Thiết Mộc Chân vội cùng chư tướng, Đại-hãn các bộ tộc cùng ra đón. Thủ-Huy phóng mắt nhìn về phía xa xa, dân chúng, các tộc trưởng, tướng sĩ , các Hãn, Khả-hãn đứng hai bên đường cúi rạp người xuống chào đón bốn người đang đi ngựa phía trước. Phía sau có hơn năm trăm tùy tùng cỡi ngựa cờ xí ngất trời.
Bác Nhĩ Truật nói nhỏ với Thủ-Huy :
- Gã cỡi ngựa đi đầu là Cốc Chu, ba gã đi phía sau là ba em gã . Còn đám tùy tùng toàn là tiểu Đạo-sư. Trong trận chiến kinh hoàng vừa rồi, không hiểu chúng trốn đâu, bây giờ mới chui ra.
Mặc mọi người rạp người chào, Cốc Chu cùng ba em sóng vai với Thiết Mộc Chân cùng các tướng vào căn soái lều, rồi truyền giải tù binh vào. Thiết Mộc Chân giới thiệu Thủ-Huy, Đoan-Nghi, Thúy-Thúy, Tử-Kim với Cốc Chu. Y lãnh đạm gật đầu, rồi ngồi vào ghế ngang với Thiết Mộc Chân.
Kim Du Linh cùng ba võ sĩ Tống bị điệu tới. Chúng đứng sững, tỏ vẻ quật cường. Vừa trông thấy bọn võ sĩ Tống, Thúy-Thúy bật rùng mình, mặt tái xanh. Thủ-Huy kinh ngạc, công dùng lăng không truyền ngữ hỏi nàng :
- Thúy-Thúy ! Có gì bất ổn không ?
Thúy-Thúy như không nghe tiếng Thủ-Huy hỏi, hai mắt nàng dán vào Kim Du Linh.
Trong ba võ sĩ Tống, thì một tên cao mà gầy, một tên béo tròn, còn một tên thì nhỏ bé. Thủ-Huy nhận ngay ra rằng Kim Du Linh với tên võ sĩ nhỏ bé là đàn bà. Công dùng Lăng-không truyền ngữ rót vào tai Bác Nhĩ Truật. Bác Nhĩ Truật mỉm cười gật đầu tỏ ý nắm vững vấn đề. Ông quát bằng tiếng Trung-quốc:
- Quỳ gối !
Kim Du Linh mỉm cười tỏ vẻ quật cường, không trả lời. Trong khi tên béo tròn cười nhạt :
- Sĩ khả dĩ sát, bất khả dĩ nhục. (Kẻ sĩ có thể giết, chứ không thể làm nhục).
Thấy Bác Nhĩ Truật định lấy hình cụ tra khảo. Thủ-Huy lại dùng Lăng-không truyền ngữ nói vào tai ông : Dùng hình cụ đối với bọn này e vô dụng. Tứ-lang vương phải làm như thế...như thế . Bác Nhĩ Truật tỉnh ngộ, ông ta cười ha hả :
- Khá lắm ! Người là kẻ sĩ, ta trọng khí phách của người.
Nói rồi ông rút kiếm, tay vung lên, dây trói gã béo tròn đứt hết. Ông chỉ vào cái ghế , tay rót một bát rượu đưa cho gã:
- Người hãy ngồi đó đi, và uống bát rượu này. Rồi trả lời cho ta mấy câu hỏi.
Gã béo tròn bưng bát rượu uống một hơi hết sạch, rồi ngang nhiên ngồi xuống :
- Người hỏi gì !
- Người cho ta biết tên họ, cùng chức tước.
- Ta không phục bọn mi. Ta không nói.
- Phải thế nào người mới phục ?
- Ta là thần tử Tống triều, không khuất phục bọn rợ Hung-nô các ngươi.
- Phải thế nào người mới phục ?
- Chúa người nhận sắc phong Bắc-cường chiêu-thảo sứ của bọn rợ Kim, thì sao còn ngửa mặt nhìn ai ? Nếu như chúa người quy phục Tống Thiên-tử, nhận sắc phong, thì ta mới coi người là đồng liêu. Bấy giờ người không cần hỏi ta cũng nói.
Thủ-Huy dùng lăng không truyền ngữ nói vào tai Bác Nhĩ Truật mấy câu. Bác Nhĩ Truật cười :
- Thôi được. Ta tha các người về với Khắc-liệt. Nhưng có điều khi người ra khỏi đây, thì quân sĩ của ta sẽ nhận lầm người là tế tác, họ sẽ giết chết người. Vậy thì như thế này...Ta sẽ khắc lên mặt mi hình hai con heo mập, như vậy quân sĩ ta mới cho người đi.
Ông phóng tay điểm vào huyệt Đại-trùy của y, lập tức người y cứng đơ. Nhanh như chớp, Gia Luật Mễ rút kiếm khỏi vỏ, ánh thép lóe lên, mặt tên võ sĩ Tống đã bị khắc hình hai con heo mập hai bên má. Máu chảy ròng ròng nhưng y vẫn quật cường, nhìn mọi người với con mắt khinh bỉ.
Đoan-Thanh lấy thuốc rịt vết thương rồi giải huyệt cho y, dẫn y ra ngoài.
Bác Nhĩ Truật hỏi tên võ sĩ cao mà gầy :
- Còn người ?
- Mi cứ khắc hình vào mặt ta đi. Ta mà có nhăn mặt một cái thì không phải là Hán tử đại trượng phu.
- Được !
Gia Luật Mễ lại vung kiếm lên, lần này mặt tên võ sĩ Tống bị khắc vào hình con chó chổng mông đang ỉa ! Đoan-Thanh lại rịt thuốc, dẫn y ra ngoài.
Bác Nhĩ Truật hỏi tên võ sĩ bé nhỏ :
- Còn người ! Dù người đã cải trang, nhưng ta cũng biết người là gái. Ta không khắc hình lên má người, mà lột quần áo người, để lộ cái mả tổ tên vua Tống ra xem nó to, hay nhỏ ?
Thủ-Huy rút kiếm, công ra một chiêu trong Hoa-sơn kiếm pháp. Aùnh thép lóe lên như muôn nghìn tia sáng bao phủ quanh người tên võ sĩ nhỏ bé. Lập tức quần áo trên người y bị khoét hằng trăm lỗ tròn trịa. Trong căn lều bật lên nhiều tiếng kêu. Kim Du Linh thì bật ra tiếng ủa kinh ngạc. Đám võ sĩ Mông-cổ thì vỗ tay hoan hô.
Nhìn thân thể tên võ sĩ nhỏ bé, bất giác Đoan-Nghi đưa mắt nhìn Thúy-Thúy. Trong khi Thúy-Thúy thẹn thùng cúi mặt xuống. Bởi đây chính là chiêu kiếm Thủ-Huy đã dùng để khống chế Thúy-Thúy mấy năm trước tại Đông-cung.
Kim Du Linh hỏi Thủ-Huy bằng tiếng Hàng-châu:
- Coi phong thái các hạ, thì dường như các hạ là người Hán thì phải. Các hạ lại biết xử dụng Hoa-sơn kiếm pháp đến chỗ tinh diệu. Vậy các hạ là đệ tử của cao nhân nào trong bản phái ? Là đệ tử danh môn chính phái, tại sao các hạ lại khuất thân làm tôi tớ cho bọn Hung-nô ?
Thủ-Huy cũng đáp lại bằng tiếng Hàng-châu:
- Tại hạ không phải là người Hán, cũng chẳng phải đệ tử của Hoa-sơn. Tại hạ lại cũng không phải là bộ hạ của Đại-hãn Mông-cổ. Tại hạ là khách của Đại-hãn mà thôi.
Thủ-Huy lại vung kiếm lên, như định cắt hết y phục của tên võ sĩ nhỏ bé. Tên võ sĩ nhỏ bé thét lên đầy kinh hoàng :
- Bọn Hung-nô khả ố kia ! Mi giết ta đi chứ đừng làm nhục ta thế này !
Bác Nhĩ Truật cười ha hả :
- Ta không giết người ! Nếu người chưa khuất phục, thì người bạn ta sẽ ra một chiêu nữa, bấy giờ quần áo cả người không còn mảnh nào trên thân thể. Rồi...
Ông ta chỉ vào một tên cận vệ Mông-cổ to lớn, râu tóc, lông lá rậm rạp :
- Ta sẽ giao người cho gã này, y đem người dẫn đi khắp nơi cho quân sĩ coi.
Tên võ sĩ nhỏ bé cúi đầu xuống :
- Tôi khuất phục. Tôi xin khai !
Bác Nhĩ Truật phất tay, lập tức Di Cốc đem y sang lều bên cạnh lấy cung. Ông ta hỏi Kim Du Linh :
- Còn người ! Dù người cải trang, dù người cố giả giọng đàn ông, ta cũng biết người là đàn bà. Nếu người không khuất phục, thì ta sẽ gọt hết tóc người, rồi lột quần áo, đem đi khắp các trại cho binh sĩ giải trí.
Kim Du Linh kinh hoàng, mụ nghĩ thầm : Bọn rợ này nói được thì chúng làm được. Ta phải làm sao đây. Mụ quát :
- Quân mọi rợ mặt dầy. Người giết ta đi cho rồi.
- Ta không giết người mà chỉ lột trần truồng người ra mà thôi. Người có chịu khuất phục không ?
- Ta không khuất phục.
- Vậy thì được !
Bác Nhĩ Truật vẫy tay ra lệnh cho Đoan-Thanh.
Đoan-Thanh đứng lên. Nàng dùng khăn lau mặt Du Linh, lại bóc ba miếng da trên má, trán của y, lập tức khuôn mặt sần sùi tròn trịa, hiện ra một khuôn trái soan cực kỳ xinh đẹp. Thủ-Huy, Đoan-Nghi, Thúy-Thúy cùng bật lên tiếng ái chà đầy kinh ngạc, đầy thương cảm. Bởi Kim Du Linh chính là Giai-phi Chế-bì La-bút, khuê danh Hàn Dũ Linh, quản lĩnh ngọn núi Mao-nữ của phái Hoa-sơn.
Thủ-Huy nghĩ rất nhanh : Dù Hàn Dũ Linh đã phản Đại-Việt, làm hại Đại-Việt trong quá khứ. Nhưng việc của bà làm chẳng qua cũng vì Tống. Ai vì nước ấy. Trước đây không thiếu gì anh hùng Đại-Việt, làm quan với Trung-quốc, nhưng luôn luôn ám trợ Đại-Việt. Thời vua Trưng có Mã Vũ, Chu Tường-Quy, Lương Tùng. Gần đây nhất là tổ Trần Tự-Mai của Thủ-Huy, tuy chức tới Thái-sư, được làm phò mã, tước tới Kinh-Nam vương của Tống triều, mà luôn luôn làm lợi cho Đại-Việt. Đồng thời với Kinh-Nam vương còn có Trần Phụ-Quốc làm lĩnh Đô-đốc Tương-giang Động-đình, sau lên tới Phụ-quốc đại tướng quân, tổng lĩnh Ngự-lâm quân ; Trần Trung-Đạo, lĩnh Kinh-châu Tư-mã, sau lên tới Phiêu-kị đai tướng quân, tổng lĩnh Thị-vệ. Bà là người Tống, thì việc bà làm hại Đại-Việt, làm lợi cho Tống, ta không nên trách bà. Ta phải cứu bà. Huống hồ, Hàn Dũ Linh lại là người mà phụ hoàng Anh-tông cực kỳ sủng ái.
Thủ-Huy tiến lên, xoa tay vào mặt, nào râu, nào đất hóa trang rơi xuống lả tả. Công bấu tay một cái, dây trói của bà đứt hết. Công cùng Đoan-Nghi hành đại lễ :
- Thần nhi Đoan-Nghi, Thủ-Huy xin kính cẩn bái kiến Thái-phi.
Thúy-Thúy cũng hành đại lễ :
- Đệ tử Vương Thúy-Thúy xin ra mắt sư thúc.
Tuy hơi ngạc nhiên trước biến cố, song là đại anh hùng, Thiết Mộc Chân vốn có cái đại lượng. Ông truyền lấy ghế mời Hàn Dũ Linh ngồi. Thủ-Huy tóm lược những biến cố của Đại-Việt, cùng tiểu sử Hàn Dũ-Linh cho Thiết Mộc Chân nghe.
Hàn Dũ Linh tuyệt không ngờ lại gặp Thủ-Huy, Đoan-Nghi trên vùng thảo nguyên xa xôi này. Nước mắt dàn dụa, bà cầm tay Đoan-Nghi :
- Công-chúa ! Phò-mã ! Ta không còn là Giai-phi từ lâu rồi. Ta là tội nhân của Đại-Việt. Bây giờ lại là tội nhân của Mông-cổ. Xin phò mã, công chúa đừng gọi ta là phi nữa. Gọi như vậy chỉ thêm cho ta đau lòng vì ân hận.
Đoan-Nghi vẫn lễ phép :
- Thái-phi dạy vậy, nhưng Thái-phi là người mà phụ hoàng sủng ái. Muôn ngàn lần thần nhi cũng không dám...
- Thôi thì thế này ! Công chúa, phò mã cứ gọi ta là cô, là dì...ta yêu lối xưng hô đó của ngôn ngữ Việt lắm.
Bà lắc đầu :
- Khi đối chiêu với Đoan-Nghi, ta thấy kiếm pháp đối thủ quá tinh diệu, quá kỳ ảo, thì cứ nghĩ rằng đó là Thiên-sơn kiếm pháp, không bao giờ nghĩ là Mê-linh kiếm. Ta ở Đại-Việt có gần hai chục năm, từng thấy Đoan-Nghi xử dụng một lần tại cung Long-hoa, nhưng trong lúc hoảng hốt ta quên mất. Ta bị Đoan-Nghi đánh rơi kiếm, mà cứ tự hỏi tại sao lại có người Mông-cổ võ công cao như thế này ? Bây giờ mới vỡ lẽ.
Bà thở dài :
- Ta là tội nhân của Đại-Việt, bây giờ là tội nhân của Mông-cổ ! Từ ngày rời Đại-Việt về Tống, ta như người mù được mở mắt. Tống triều không hề biết đến công lao của ta. Họ thí cho ta một tờ giấy, phong làm Mao-Nữ tiên tử, ăn lộc của một công chúa. Tống triều truyền gả ta cho một viên hàng tướng người Kim. Ta không thuận, thì họ kết tội ta vi chỉ, thu hồi tước công chúa của ta, bắt ta phải lên núi Mao-nữ làm đạo cô. Môn phái không hề biết đến những cay đắng của ta. Họ không cho ta luyện Vô-trung kinh. Hỡi ơi ! Trong khi đó mỗi khi nghĩ đến Đại-Việt đãi ngộ ta quá hậu. Tiên đế sủng ái ta cùng cực. Thế mà ta không báo đáp Đại-Việt, lại phụ lòng tiên đế. Ta thực không bằng thú vật.
Đoan-Nghi để cho bà khóc một lát, nàng mới hỏi :
- Thế còn số phận của đạo sư Lạc-nhạn Vương Cương-Trung, đạo cô Vân-đài Trịnh Nam-Phương ?
Hàn Dũ Linh biết Đoan-Nghi là người ôn nhu, văn nhã, nên dù Vương Cương Trung làm gian tế hại Đại-Việt, dù Trịnh Nam-Phương đã được phong nhất phẩm phu nhân, làm vợ tể tướng, mà vẫn đâm sau lưng triều Lý, nàng vẫn dùng lời lẽ ôn tồn. Bà cúi mặt xuống, buồn rầu :
- Vương sư huynh bị triều đình kết đủ thứ tội, bị lột hết chức tước, đuổi về dân dã. Nhờ các võ quan can gián mãi, mới được ân xá, bắt phải lên vùng Thảo-nguyên giúp Mao Khiêm, thống nhất Thảo-nguyên thành một nước, do y làm vua.
Thiết Mộc Chân cắt ngang :
- Thưa Thái-phi, như Thái-phi nói, thì Vương được toàn quyền muốn giúp ai thì giúp. Tống triều không bắt buộc y phải giúp Khắc-liệt đánh Mông-cổ ?
- Không hẳn thế. Hơn mười năm trước, Tống triều phong cho Mao Khiêm làm Bắc-cương Khâm-minh đại vương, truyền y mang một số đệ tử lên bình định vùng Thảo- nguyên. Nhưng mười năm qua, y vẫn chưa thành công. Vì vậy triều đình sai Vương sư huynh dẫn chúng tôi lên đây giúp y, thì y đang sống với Khả-hãn Trác Mộc Hợp. Rồi cái thế nó xẩy ra, Trác Mộc Hợp giúp Tang Côn, thì chúng tôi giúp Tang Côn. Tang Côn hứa rằng, khi diệt xong Mông-cổ, y sẽ lấy đất Thát-đát phong cho Trác Mộc Hợp, lấy đất Mông-cổ phong cho Mao Khiêm. Tất cả các nước Khắc-liệt Mông-cổ, Thát-đát đều thần phục Tống, đánh sau lưng Kim. Nhưng khi chúng tôi giúp y một thời gian mới biết rằng y xảo quyệt, vì y sai sứ sang Kim, xin Kim phong cho y kế tục cha làm Vương-hãn !
- À thì ra thế.
Thủ-Huy hỏi :
- Thưa Thái-phi, thế còn Trịnh Nam-Phương ?
- Còn sư tỷ thì cũng được phong tước công chúa, truyền gả cho một động chủ gốc Nùng ở Bắc-cương, với mục đích khuyến dụ y phản Việt theo Tống. Sư tỷ cương quyết từ chối. Người cũng chịu chung số phận của ta, bị mất tước công chúa, truyền phải làm đạo cô ở núi Vân-đài. Môn phái cũng không cho luyện Vô-trung kinh.
Bác Nhĩ Truật hỏi :
- Thưa Thái-phi thế đoàn võ sĩ Tống sang giúp Mao Khiêm gồm có những ai ?
- Người cầm đầu chính Vương sư huynh với ta, và hơn ba trăm đệ tử.
Thủ-Huy kinh hãi bật lên tiếng ái chà.
- Có phải Mao Khiêm là Mã Khắc Khiêm. Còn Mạc Hiển Trung là Vương Cương-Trung không ?
- Đúng vậy.
Thúy-Thúy hỏi :
- Sư thúc ! Thế sư phụ cháu hiện có mặt ở thảo nguyên không ?
- Không ! Sư tỷ được phái trở về Đại-Việt cùng với Từ Thụy-Hương cách đây không lâu.
Thủ-Huy kinh hãi :
- Tâu Thái-phi, Tuyên-phi đã tự tử tại Long-hoa đường rồi mà !
Dũ Linh cười khổ sở :
- Phò mã bị Thụy-Hương đánh lừa đã đành, mà đến Côi-sơn song ưng tinh minh đến thế mà cũng bị nó đánh lừa. Khi biết sự khó thánh, nó đã độn dưới ngực một túi máu gà, với một củ chuối cắt vuông vức...
Đoan-Nghi rùng mình :
- Hôm ấy Tuyên-phi cầm dao đâm vào ngực máu ra lênh láng, thần nhi thấy sắc mặt phi vẫn tươi, thì có hơi nghi nghi. Bây giờ mới vỡ lẽ. Thủa nhỏ, phi được mẫu thân thần trọng đãi. Khi lớn lên, anh Long-Xưởng, rồi thần nhi dành cho những ưu ái không ai có thể sánh. Khi nhập Hoàng-thành, phụ hoàng cực kỳ sủng ái... Thế mà phi đáp lại bằng tất cả mánh lới xảo quyệt. Sự đã như thế này, Thái-phi chẳng cần dấu diếm làm gì nữa ! Thái-phi cho thần nhi biết Tuyên-phi vơí Trịnh Nam-Phương trở lại Đại-Việt với mục đích gì ?
- Hai người đó trở về Tống, đã không được trọng dụng, mà còn bị nghi ngờ. Trịnh sư tỷ vẫn không quên được mối thâm tình của Đỗ An-Di. Thụy-Hương vẫn ngày đêm tưởng nhớ đến Thủ-Huy, tưởng nhớ đến Long-Trát. Một người thì sang Đại-Việt từ nhỏ, một người thì sinh trưởng ở Đại-Việt. Bây giờ trở về Tống. Thân thích, họ hàng đều nhìn chúng ta với con mắt tò mò, nghi nghờ. Một điều nữa Đoan-Nghi không thể nào hiểu được chúng ta. Điều đó là, chúng ta sống ở Đại-Việt từ nhỏ, gắn bó yêu thương vơí khí hậu, phong tục, cỏ cây, nước uống, thức ăn. Nay trở về Trung-nguyên, cái gì cũng lạ, khiến chúng ta bỡ ngỡ, chán nản, lại thêm cái cô đơn nữa...chúng ta nhớ Đại-Việt, giống như một người tha hương.
Thủ-Huy không giữ được bình tĩnh, công hỏi :
- Thưa Thái-phi, khi về Tống, Thụy-Hương có bị bạc đãi như Thái-phi với Vương Cương-Trung, Trịnh-Nam phương không ?
- Không ! Bởi công lao Thụy-Hương quá lớn. Vả lại họ biết Thụy-Hương được Hoàng-thượng, Long-Xưởng với phò mã sủng ái, hơn nữa con Thụy-Hương là Long-Trát được phong Thái-tử ; cho nên họ hậu đãi Thụy-Hương, để khi có dịp còn dùng đến. Thụy-Hương được phong công chúa, được hưởng lộc một nghìn mẫu ruộng. Khi nghe tin Hoàng thượng băng hà, Thụy-Hương công khai cư tang, đòi trở về Đại-Việt buông màn thính chính, phò tá Long-Trát. Tuy Tống triều không cho, nhưng Thụy-Hương cứ cư tang mà bọn mặt dơi tai chuột tại Tống triều cũng không dám nói gì. Hồi Khu-mật viện Tống nghe tin Tô Hiến-Thành hoăng, Đỗ An-Di nắm trọng quyền, bấy giờ họ mới đồng ý cho Thụy-Hương cùng Trịnh sư tỷ âm thầm về Đại-Việt. Từ ngày đó đến giờ, ta bị gửi lên giúp Mao Khiêm, nên không tin tức gì về họ, cũng như Đại-Việt.
Nghe Dũ-Linh thuật, Thủ-Huy kinh hãi đến phát lạnh, công rùng mình nghĩ thầm :
- Hỡi ơi ! Bấy giờ mình nắm trọng quyền, trực tiếp điều động Khu-mật viện, mà sao bọn gian tế Tống vào trong nước mình không biết gì ? Không biết khi Hàn Dũ-Linh, Thụy-Hương trở lại, thì Đỗ An-Di, Mạc Hiện-Tích đã bị Côi-sơn song ưng giết rồi hay chưa bị giết ? Nếu họ trở lại khi Đỗ, Mạc bị giết, thì không biết họ sẽ làm những gì ? Nếu như họ trở lại lâu rồi, ẩn trong Hoàng-thành. Không biết việc nội loạn của Long-Xưởng, việc cả nhà Long-Xưởng bị giết, việc ta bị đẩy sang Tống, việc cả nhà Đỗ An-Di vơí Mạc Hiển-Tích có do bàn tay hai người này nhúng vào không ?
Thấy Thủ-Huy thừ mặt ra, Hàn Dũ-Linh hỏi :
- Phò mã có thể cho ta biết rõ tình hình Đại-Việt từ hồi đó đến giờ ra sao không ?
Thủ-Huy tóm lược mọi biến cố, thuật lại một lượt, rồi kết luận :
- Từ khi cáo quan về điền dã, thần nhi không lý gì tới việc triều đình. Long-Trát, Long-Ích, Long-Tường hay thằn lằn, rắn mối, lươn trạch làm vua thì cũng thế thôi.
Đoan-Nghi hừ một tiếng, tỏ vẻ bất mãn. Thủ-Huy biết thế, nhưng uất khí chưa tan, công nhìn vợ định nói nữa. Biết thế, Dũ-Linh đưa hai người ra khỏi lò lửa :
- Bây giờ phò mã, công chúa định xử ta như thế nào đây ?
- Thần nhi không có quyền gì cả !
Thủ-Huy phân giải :
- Nhà có chủ, nước có vua. Xin thái phi cứ hỏi Đại-hãn.
Thiết Mộc Chân hỏi ngược lại Dũ-Linh :
- Bỏ ra ngoài việc Thái-phi là thần tử Tống triều. Thái-phi bình tâm mà xét xem, giữa tôi với Tang Côn, ai phải, ai trái ?
- Dĩ nhiên Đại-hãn phải, mà Tang Côn trái.
- Còn giữa tôi với Vương-hãn ?
- Nếu nói theo Nho-gia, ai quy tụ được nhân tâm, làm cho dân hạnh phúc thì Đại-hãn xứng đáng làm vua vùng Thảo-nguyên.
Thiết Mộc Chân đứng lên chắp tay :
- Như thái phi thấy, muốn được làm tộc trưởng thì phải là người sinh trưởng ở gia đình quý tộc. Muốn làm Hãn một bộ tộc thì phải từ các tộc trưởng mà lên. Muốn làm Khả-hãn, thì phải từ các Hãn mà lên. Muốn làm Đại-hãn thì phải từ Khả-hãn mà lên. Mao Khiêm là người nửa Hán, nửa Việt mà muốn làm Đại-hãn thì e còn khó hơn bắc thang lên trời. Vương Cương-Trung muốn giúp Mao Khiêm làm Khã-hãn thì như người Việt nói, giống dã tràng xe cát biển đông ! Còn như Vương mốn giúp Vương-hãn tiêu diệt tôi, để tỉa vây cánh của Kim. Khi tôi bị diệt rồi, thì Tang Côn sẽ cúi đầu quy phục Kim, để được kế vị cha làm Vương-hãn. Còn tôi, tôi nhận cái tước Bắc-cường chiêu thảo sứ đã lâu, mà giữa tôi với Kim không hề qua lại. Hơn nữa, còn có mối thâm thù nữa là khác. Chắc Thái-phi biết mối thâm thù đó do đâu mà ra rồi.
- Tôi biết ! Bởi hồi ấy Trần phò mã đi sứ Kim về có tâu lại với Tiên-đế vụ Tang Côn muốn dùng võ sĩ Kim giết Tứ-liệp lang ương mà không thành. Sau đó Kim-cương Tứ-liệp vương có sang kết hiếu với Đại-Việt. Cũng vì nghi ngờ Tang Côn mà trước khi diễn ra trận đánh cách đây mấy hôm, sư huynh Vương Cương-Trung cũng đã nhận ra bộ mặt giả trá của Tang Côn. Theo ý Vương sư huynh, nếu diệt được Đại-hãn rồi, thì Tang Côn sẽ trở mặt. Vì vậy người đặt vấn đề với y là y phải thực hiện hai điều. Một là gửi sứ sang cự tuyệt với Kim. Hai là gửi sứ sang thần phục Tống triều. Y lấy lý rằng đường sang Kim phải qua lãnh thổ Mông-cổ, vậy chỉ có thể gửi sứ sang thần phục Tống. Còn việc tuyệt giao với Kim hãy đợi khi diệt xong Mông-cổ thì thực hiện được. Vì vậy Vương sư huynh bàn riêng với chúng tôi, khi lâm chiến không nên sát hại Đại-hãn cùng các tướng Mông-cổ. Khi mà Đại-hãn với các tướng còn thì Khắc-liệt không yên. Chúng tôi mới ép Tang Côn được.
Thiết Mộc Chân đứng lên vái Dũ-Linh ba vái :
- Bây giờ các vị giúp Khắc-liệt diệt Mông-cổ. Khi Mông-cổ bị diệt rồi, thì Tang Côn sẽ không ngần ngại gì mà trở mặt vơí Tống. Còn như bây giờ Mông-cổ đang gặp cái nguy diệt quốc, mà các vị giúp Mông-cổ, thì trên từ tôi, cho tới người cùng dân đều thâm cảm, mà hướng về Tống. Vậy tôi xin Thái-phi trở về thuyết phục sư huynh Vương Cương-Trung bỏ Mao Khiêm quay kiếm giúp chúng tôi, thì Tống có một chư hầu trung thành ở ngay cạnh Kim. Không biết Thái-phi nghĩ sao ?
Dũ-Linh mỉm cười, bà liếc nhìn Thủ-Huy, Đoan-Nghi :
- Chả cần chúng tôi trở kiếm giúp Đại-hãn, nếu như Đại-hãn được phò mã với công chúa trợ giúp thì nếu không thắng Khắc-liệt, cũng có thể giữ vững Mông-cổ. Tuy nhiên thịnh ý của Đại-hãn muốn quy phục Tống triều, tôi sẽ bàn vơí sư huynh Vương Cương-Trung, rồi trả lời Đại-hãn sau.
- Vậy tôi xin tiễn Thái-phi trở về bên Khắc-liệt. Bây giờ trời đã tối. Chúng tôi xin mời Thái-phi lưu lại đây, sáng mai sẽ lên đường.
Thiết Mộc Chân nhờ vợ chồng Đoan-Thanh tiếp đãi Dũ-Linh cùng ba đệ tử phái Hoa-sơn. Còn riêng ông với chư tướng tiếp đãi Thủ-Huy, Đoan-Nghi.
Bác Nhĩ Truật hỏi Thiết Mộc Chân :
- Cứ như Đại-hãn nghĩ, liệu khi bà Hàn Dũ-Linh ngỏ ý của ta, thì Vương Cương-Trung, có nghe theo không ?
- Bọn họ nghe cũng được, mà không nghe cũng chẳng sao ! Vụ việc Tống triều phong cho Mao Khiêm làm Bắc-cương Khâm-minh đại vương là muốn tống y rời khỏi Tống mà thôi. Ta không cần xét tới y. Vương Cương-Trung mới quan trọng. Nay trời đã đem phò mã, công chúa đến giúp Mông-cổ ! Chúng ta không sợ bọn Tống nữa.
Tốc Bất Đài kinh ngạc :
- Ý huynh trưởng muốn nói ?
- Tin tế tác cho biết, khi Tống triều sai Vương Cương-Trung lên vùng Thảo-nguyên với chỉ dụ rõ ràng : Muốn giúp bộ tộc nào cũng được. Miễn sao bộ tộc đó là một mối lo cho Kim . Tin này hợp với lời khai của Hàn Dũ-Linh : Khi Vương lên đây, thì y quen với Trác Mộc Hợp, rồi đưa tới việc y giúp Khắc-liệt. Vì vậy giữa Tang Côn với Vương Cương-Trung không có những ràng buộc chắc chắn. Tôi nghĩ, bây giờ chúng ta để Hàn trở về Khắc-liệt, bà ngỏ thiện ý của ta thì không chừng Vương Cương-Trung đổi ý, quay kiếm lại giúp ta, chống Tang Côn thì là điều thống khoái kim cổ. Còn như Vương không đổi ý, thì trong nội bộ đám võ sĩ Tống cũng có sự rạn nứt, nghi ngờ lẫn nhau. Ví dù hai trường hợp trên không xẩy ra, thì Tang Côn thấy Hàn bị bắt, rồi lại biết rằng Hàn là Thái-phi, là vai trên của phò mã, công chúa, là sư thúc của Vân-đài tiên tử Thúy-Thúy... đang ở bên Mông-cổ, tất y nghi ngờ bọn Tống. Ta cần có một vài hành động khiến cho mối nghi ngờ sâu thêm nữa là giữa võ sĩ Tống với Tang Côn chém giết nhau ngay. Qua lời tiết lộ của Dũ-Linh, thì đám võ sĩ Tống không muốn ta bị diệt. Như vậy ta an tâm ẩn vào các bộ tộc miền Đông, chiêu binh chờ ngày phục hận.
Ông hỏi Thủ-Huy :
- Trần huynh đệ ! Nếu huynh đệ ở vào trường hợp ta, thì huynh đệ sẽ làm thế nào để phục hồi cố thổ ?
Thủ-Huy biết Thiết Mộc Chân vấn kế mình thực, chứ không khách sáo. Công ngồi ngay ngắn lại, rồi chỉ lên tấm lụa vẽ bản đồ vùng Thảo-nguyên :
- Từ trước đến giờ, các bộ tộc quy phục Đại-hãn ở vào ba trường hợp. Một là họ theo ông-cha Đại-hãn đã lâu. Họ là Đại-hãn. Đại-hãn là họ. Đại-hãn là biểu tượng của sinh mệnh họ, gia đình họ, danh dự họ, uy tín của họ. Họ sống chết với Đại-hãn. Bây giờ tuy Đại-hãn bị bại, họ bị Khắc-liệt thống trị, họ không biết Đại-hãn còn sống hay chết. Nếu như họ biết Đại-hãn còn sống, thì họ chờ Đại-hãn đem quân tới là vùng lên đuổi Khắc-liệt. Đối với các bộ tộc này, Đại-hãn nên sai mật sứ báo cho họ biết để họ không tuyệt vọng. Họ chuẩn bị sẵn.
Thiết Mộc Chân như người mù được mở mắt. Ông kính cẩn rót một chung rượu mời Thủ-Huy :
- Đa tạ huynh đệ.
Thủ-Huy uống hết chung rượu rồi tiếp :
- Thứ nhì là các bộ tộc thực sự quy phục Đại-hãn. Nhưng họ vẫn chân trong, chân ngoài. Họ nghĩ, Đại-hãn cũng thế, Khắc-liệt cũng vậy. Ai mạnh thì theo người ấy. Phần đông các bộ tộc này, trước đây theo Đại-hãn, vì thấy Mông-cổ thịnh. Nay Mông-cổ bại, họ theo Khắc-liệt. Họ tưởng rằng Khắc-liệt hay Mông-cổ cũng thế thôi. Nhưng, sự thực bây giờ bị Khắc-liệt cai trị, họ bị khinh khi, họ bị hà khắc, họ bị tước tài sản. Đối với loại bộ tộc này, Đại-hãn cứ để họ dưới quyền cai trị của Khắc-liệt mấy tháng nữa, cho mầm móng bất mãn sâu rộng. Bấy giờ Đại-hãn mới sai người tới chiêu dụ họ. Bảo họ chuẩn bị sẵn, khi Đại-hãn đem quân đến, thì nổi dậy đánh quân xâm lăng.
Thiết Mộc Chân lại rót rượu mời Thủ-Huy. Thủ-Huy tiếp :
- Loại thứ ba là các bộ tộc thuộc Thát-đát, Miệt-nhi, Diệt-xích-ngột, Ong-gút...bị Đại-hãn chinh phục. Họ theo Đại-hãn chỉ vì cái thế không theo không được. Nay họ theo Khắc-liệt. Họ tưởng theo Khắc-liệt sẽ khá hơn. Vậy Đại-hãn cứ nằm im chờ đợi. Chỉ mấy tháng nữa thôi, dươiù quyền cai trị hà khắc của Khắc-liệt, họ sẽ bất mãn, nổi lên chống đối. Bấy giờ Đại-hãn sai nguời đến chiêu mộ họ họ sẽ theo Đại-hãn.
Thủ-Huy ngừng lại, rồi tiếp :
- Bây giờ Đại-hãn cần ẩn thân, phân tán lực lượng để nuôi cái lòng kiêu căng của Tang Côn. Tang Côn cho rằng Đại-hãn không còn đáng cho y quan tâm nữa, tất y rút quân, chia của cướp được. Với tính kiêu ngạo của y, tất y chỉ chia cho các tộc trưởng chút ít lấy lệ. Thế là các tộc trưởng với Tang Côn trở thành thù nghịch. Bấy giờ Đại-hãn chỉ đánh một trận thì diệt được Khắc-liệt.
Thiết Mộc Chân đưa mắt cho Tốc Bất Đài, Gia Luật Mễ, Triết Biệt, Bác Nhĩ Truật. Rồi tất cả cùng đứng dậy hành lễ với Thủ-Huy . Thiết Mộc Chân nói bằng giọng tha thiết:
- Trần huynh đệ. Năm anh em chúng tôi xin huynh đệ giúp cho một việc. Nếu như huynh đệ thuận thì Mông-cổ chắc chắn sẽ phục hồi được lãnh thổ !
Thủ-Huy kinh ngạc :
- Không biết việc mà Đại-hãn sai khiến là việc gì Liệu sức tôi có giúp được Đại-hãn không ?
Chán đời đi lang thang !
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-04-08 15:21:22NuHiepDeThuong>
Hồi thứ ba mươi mốt

Sứ giả nhà trời.



Thiết Mộc Chân đưa mắt cho Bác Nhĩ Truật. Bác Nhĩ Truật nắm lấy tay Thủ-Huy :
- Không nói giấu gì phò mã. Khi chúng tôi đón được Tuyên-uy đại tướng quân Lý Long-Phi sang Mông-cổ, tuy chúng tôi khâm phục người, mà chỉ khâm phục về võ công, nên chúng tôi xin người dạy võ cho tướng sĩ, mà không nhờ người luyện quân. Phải đợi cho đến khi đi sứ Đại-Việt, tôi được phò mã cho xem hai hiệu Thiên-tử binh Ngự-long, Quảng-vũ thao diễn, lại được xem hiệu Kỵ-binh Phù-đổng tập trận. Tôi như người mù được mở mắt. Trở về Mông-cổ, tôi thuật cho Đại-hãn nghe. Bấy giờ Đại-hãn mới nhờ Long-Phi luyện quân cho. Mông-cổ hùng mạnh từ ngày ấy.
Thiết Mộc Chân trịnh trọng cắt một miếng thịt nướng, bưng một bát rượu trao cho Thủ-Huy để bầy tỏ một cử chỉ kính trọng. Chờ Thủ-Huy ăn thịt, uống rượu xong, ông mới nói :
- Tôi được biết mười hai hiệu Thiên-tử binh, hiệu Kỵ- binh Phù-đổng, hiệu Ngưu-binh Hoa-lư, đội võ sĩ Long-biên, Côi-sơn, đều do một tay phò mã đào tạo ra. Khi nghe Bác Nhĩ Truật ca tụng hiệu binh Phù-đổng, tôi tuy khâm phục, nhưng vẫn có ý coi thường. Cho đến mấy hôm nay, được thấy đội võ sĩ Long-biên xuất chiến, tôi mới tự thẹn rằng Kị- binh của mình chỉ là một bầy cừu trước bầy sư tử. Bây giờ...
Ông nói chậm lại :
- Nếu như phò mã giúp chúng tôi, huấn luyện được khoảng vài chục đội kị mã như đội Long-biên, thì những cái gọi là Đại-kim quốc hùng mạnh, Nãi-man sấm sét, Tây-hạ vô địch, Đại-vương quốc Khắc-liệt... kia tôi có coi ra gì.
Thấy Thiết Mộc Chân hết sức cầu khẩn, Thủ-Huy đáp bằng lời lẽ thành thực :
- Hiện tôi không thể trở về Đại-Việt, trượng phu bốn bể là nhà, Đại-hãn đã đem lòng của kẻ sĩ ủy thác, thì tôi nhận lời. Tuy nhiên tôi xin thưa trước, muốn huấn luyện xong hai mươi đội, phải cần thời gian là bốn tháng.
- Chỉ bốn tháng thôi sao ? Trước tôi nghe nói, phò mã phải huấn luyện trong 18 tháng mới xong kia mà ?
- Trước kia tôi cần 18 tháng, vì những người được tuyển chưa từng biết cỡi ngựa, chưa từng biết bắn cung, cũng chưa từng xử dụng vũ khí. Lại nữa, về ngươì huấn luyện, bấy giờ ngoài tôi ra, chỉ có năm vị sư thúc của tôi là Đại-Việt ngũ tuyệt mà thôi. Còn bây giờ binh sĩ của Đại-hãn đã thành đội ngũ, phối hợp tác chiến thành thạo. Họ là những kị mã, tiễn thủ đại tài rồi. Trong khi đó, tôi có tới ba chục trưởng toán võ sĩ Long-biên, ba đội trưởng cùng huấn luyện thì mau lắm.
Thiết Mộc Chân suy nghĩ một lúc rồi hỏi các tướng :
- Từ trước đến giờ, tổ chức các đội quân của vùng thảo nguyên này thường không giống nhau. Nguyên do chỉ vì mỗi tộc có quân số không đồng đều, mỗi tộc trưởng có một sáng kiến riêng. Từ sau khi Lý Long-Phi cùng phu nhân giúp chúng ta, thì người tổ chức các đội quân theo Đại-Việt. Năm người thành một ngũ, năm ngũ thành một lượng, năm lượng thành một đội. Mỗi đội là một đơn vị độc lập. Bây giờ tôi thấy các võ sĩ Long-biên lại tổ chức hơi khác. Mười người là một thập (10), mười thập là một bách (100). Năm bách thành một đoàn (500). Vậy chúng ta nên giữ nguyên tổ chức cũ hay theo đoàn Long-biên ?
Bác Nhĩ Truật từng sang Đại-Việt, từng xem Thủ-Huy thao diễn cho xem. Ông trình bầy :
- Binh đội Đại-Việt chia ra làm Thiên-tử binh, Thủy-binh, Kỵ-binh, Ngưu-binh với hai đội võ sĩ Long-biên, Côi-sơn. Sáu loại binh đoàn, đều có tổ chức khác nhau. Lối tổ chức mà tiên-sinh Long-Phi luyện cho ta là theo Thiên-tử binh. Còn tổ chức đội võ sĩ Long-biên, Côi-sơn thì là một sáng kiến của huynh trưởng Trần phò mã là Thần-nông sứ Trần Lý. Mục đích của hai đội võ sĩ này không phải để tác chiến, mà để chọc thủng phòng tuyến địch bắt chúa tướng địch và bảo vệ chúa tướng mình khi đối diện với địch quân.
Tốc Bất Đài khen :
- Tôi thấy lối tổ chức của đội Long-biên hợp với chiến trường vùng Thảo-nguyên. Vậy ta nên cải tổ toàn bộ các binh đội của ta theo đội Long-biên thì hơn. Nhưng nay, vì chiến trường cần tới đội quân độc lập lớn hơn, ta chia ra thập, bách và thiên. Với một đơn vị biệt lập nghìn người mới có thể thi hành những nhiệm vụ lớn.
Thiết Mộc Chân đưa mắt nhìn Thủ-Huy với tất cả khẩn cầu :
- Phò mã ! Trời đã đem tiên sinh Long-Phi cho Mông-cổ. Bây giờ trời lại đem phò mã cho Mông-cổ nữa. Trước kia chúng tôi chỉ có những đội quân ô hợp. Sau khi tiên sinh Long-Phi giúp chúng tôi huấn luyện binh đội, thì chúng tôi có hai loại binh. Loại ô hợp cũ gọi là binh đội bộ tộc. Loại có tổ chức huấn luyện, gọi là chính binh. Bây giờ phò mã giúp chúng tôi luyện quân theo đội Long-biên, thành ra chúng tôi có ba loại binh là binh bộ tộc, chính binh, và loại mới. Cái loại binh mới nên đặt tên là Lôi-kị. Không biết phò mã nghĩ sao ?
- Lời Đại-hãn luận thực phải. Có điều đây chỉ là tạm thời. Tương lai, Đại-hãn phải huấn luyện lại tất cả các binh chủ lực thành Lôi-kị hết. Lại cũng phải luyện binh bộ tộc theo lối luyện Hoàng-nam của Đại-Việt.
Thế rồi Thiết Mộc Chân rút quân về vùng núi non miền Đông, giáp giới với Kim. Ông truyền binh tướng Mông-cổ gọi Thủ-Huy, Đoan-Nghi, Tử-Kim là Thiên-sứ, tức khách trời ban cho Mông-cổ. Đích thân ông cùng các tướng điều động việc huấn luyện, trang bị cho kị binh. Thủ-Huy trao việc huấn luyện bắn cung, phi ngựa, tác chiến cho các trưởng toán, đội trưởng. Còn chính mình, Đoan-Nghi, Thúy-Thúy, Tử-Kim luyện võ cho họ. Sau hơn ba tháng thì việc huấn luyện cá nhân hoàn tất. Công bắt đầu cho huấn luyện tác chiến, phối hợp tác chiến cấp thập-phu (10 người), bách-phu (trăm), thiên-phu (nghìn). Một tháng sau qua đi, công việc hoàn tất. Mông-cổ đã có một lực lượng chín Thiên-phu phối hợp tác chiến nhịp nhàng, không thua đội võ sĩ Long-biên làm bao. Bên cạnh đó, có chín Thiên-phu nữa đang trong vòng thụ huấn phối hợp tác chiến.
Cuối cùng là việc cử tướng chỉ huy các Thiên-phu, khiến cho Thiết Mộc Chân phân vân ! Ai sẽ là Thiên-phu trưởng ? Bởi cử người này, thì người khác không hài lòng. Cuối cùng ông nhờ Thủ-Huy. Thủ-Huy căn cứ vào phép tuyển tướng thời vua Trưng, thời vua Lý Thánh-tông, Nhân-tông, trình bầy cho ông. Sau khi ông bàn với Thủ-Huy ba ngày liền, rồi quyết định . Chính Thiết Mộc Chân với Thủ-Huy tổng chỉ huy chín đại tướng. Mỗi đại tướng chỉ huy một Thiên-phu :

Bác Nhĩ Truật chỉ huy đệ nhất Thiên.
Tốc Bất Đài chỉ huy đệ nhị Thiên.
Mộc Hoa Lê chỉ huy đệ tam Thiên.
Xích Lão Ôn chỉ huy đệ tứ Thiên.
Gia Luật Mễ chỉ huy đệ ngũ Thiên.
Triết Biệt chỉ huy đệ lục Thiên.
Bác Nhĩ Hốt chỉ huy đệ thất Thiên.
Dược Sơ Đài chỉ huy đệ bát Thiên.
Bác Khô La chỉ huy đệ cửu Thiên.


Thiết Mộc Chân gọi chín đại tướng là Cửu đại sơn điêu. Ông truyền lấy quốc kỳ mầu anh. Trên quốc kỳ, ông truyền vẽ hình con chim ưng bay ngang mặt trời, tượng trưng cho cái tên Thiên hỏa điêu đế của ông. Phía dưới quốc kỳ móc chín cái đuôi trâu, tượng trưng cho Cửu đại sơn điêu.
Còn chín Thiên-phu đang thụ huấn, khi tác chiến sẽ là lưc lượng trừ bị với mục đích khi Thiên-phu chính bị tổn thất, thì sẽ dùng người của chín Thiên-phu trừ bị bổ xung. Chín Thiên-phu này trao cho Trần Tử-Kim chỉ huy gọi là Thân-binh. Chín người được cử chỉ huy gồm Lý Long-Tùng ; ba em của Thiết Mộc Chân là Biên Gô Đài, Cát Xa, Tê Mô Gu ; bốn người con là Truật Xích, Oa Khoát Đài, Sát Hợp Đài, Đà Lôi ; con rể là Đô Gu Sa.

Ghi chú của thuật giả:

Các sử gia Trung-quốc, Liên-sô, Đức, Iran, Irac, Ba-lan, Hung-gia-lợi, Afghanistan đương thời cũng như sau này chỉ biết rằng Mông-cổ có chín đại tướng, được Thành-cát Tư-hãn coi như chân tay, trao cho chỉ chỉ huy chín binh đoàn. Sau được phong thân vương. Lại được ông ban cho vinh dự biểu hiệu trên quốc kỳ. Nhưng không sử gia nào biết rằng đầu tiên họ chỉ là Thiên-phu trưởng. Rồi dần dần theo nhu cầu chiến trường, các Thiên-phu thành Vạn-phu, rồi Vạn- phu thành Binh-đoàn (Binh-đoàn tương đương với ngày nay là quân-đoàn). Họ lại càng không biết ai đã huấn luyện, đã tuyển chọn các tướng này cho Mông-cổ. Chỉ độc giả Anh-hùng Đông-A mới biết rõ mà thôi.

Trong thời gian ấy, Thiết Mộc Chân sai mật sứ đi liên lạc với các tộc trưởng trung thành, thuyết phục các tộc trưởng bị Khắc-liệt đàn áp.
Tin tức tế tác báo :
- Tang Côn cho rằng việc bình định Mông-cổ đã xong, y trở mặt với Tống. Y sai sứ sang Kim, xin Kim cùng ra quân tiến váo các bộ tộc miền Đông để tận diệt Mông-cổ. Lập tức Thiết Mộc Chân sai sứ sang Kim cáo việc Tống giúp Khắc-liệt đánh Mông-cổ. Khi Mông-cổ không còn nữa, thì Khắc-liệt sẽ liên binh với Tống đánh Kim. Trước Kim đã được tin này, nhưng cho rằng chưa chính xác. Bây giờ trước những tin tức xác thực, Kim chúa nổi giận. Một mặt ừ hự hứa cùng ra quân với Khắc-liệt, một mặt ngầm giúp Mông-cổ.
Tang Côn tưởng Kim sẽ ra quân, y cho các tộc trưởng đem quân về. Y chỉ giữ lại năm vạn quân cơ hữu đóng rải rác làm năm doanh, chờ Kim cùng xuất quân. Quân Khắc-liệt phải đóng ở vùng xa đất của mình gần hai nghìn dặm (1000 Km), tiếp tế khó khăn, chúng tràn vào các bộ tộc gần nơi đóng quân cướp bóc. Các tộc trưởng phẫn uất, nhưng phải cắn răng nín nhịn. Họ âm thầm cử sứ giả đến xin Thiết Mộc Chân xuất binh.
Thiết Mộc Chân bèn tổ chức đại hội các Hãn, Khả-hãn, tộc trưởng, tướng lĩnh để nghị việc xuất quân. Ông lên tiếng trước :
- Bây giờ sắp vào Thu rồi. Nếu ta không phục hồi lại lãnh thổ, mùa Đông đến, dân chúng, binh tướng phải sống lang thang, thì e rằng không chịu nổi cái lạnh kinh khủng. Vậy anh em nghĩ sao ?
Tổng Đạo-sư Cốc Chu cau mặt lại tỏ vẻ bất mãn. Vì thông thường những buổi họp như thế này, bao giờ y cũng là người lên tiếng trước. Thế mà bây giờ Thiết Mộc Chân lại dành mất cái danh dự đó.
Lão Muôn Lịch (ghi chú, ông này là bạn của thân phụ Thiết Mộc Chân, cũng là bố ghẻ của Thiết Mộc Chân), bàn :
- Hiện ta mới tổ chức được 18 Thiên-phu Lôi-kỵ. Quân số một vạn tám nghìn của ta tuy hùng mạnh, liệu ta có thể địch lại mười vạn quân của Tang Côn, với mười vạn của các bộ tộc quy phục y không ?
Gia Luật Mễ bác ý kiến Muôn Lịch :
- Bàn về quân số thì lúc khởi đánh ta, Khắc-liệt có mười vạn quân. Khi ta rút chạy, y thu thập quân của các bộ tộc theo ta đầu hàng thêm mười vạn nữa. Nhưng sau khi ta rút chạy thì y đã đem năm vạn chính binh về trấn ở đất của ta, vì sợ dân nổi dậy. Còn mười vạn quân của các bộ tộc, thì y mang năm vạn trở về, rải ra một vùng dài trên ba nghìn dặm, rộng trên hai nghìn dặm. Rút lại, ngay trước mặt ta, y chỉ có năm vạn chính binh do Tang Côn chỉ huy, năm vạn quân bộ tộc ô hợp do Trác Mộc Hợp chỉ huy, cách ta tám trăm dặm. Nếu ta tung quân đánh Tang Côn, thì chỉ phải đối phó với năm vạn chính binh mà thôi này mà thôi.
Tổng Đạo-sư Mông-cổ là Cốc-Chu, con của Muôn-Lịch lên tiếng :
- Như Gia Luật Mễ nói, ngay trước mặt ta có năm vạn quân tinh nhuệ của Tang Côn. Trong khi ta chỉ có lực lượng một vạn tám nghìn. Nếu ta xuất quân, thì vừa dàn trận đã bị bị năm vạn của Tang Côn tiêu diệt rồi. Ta không thể xuất quân trong lúc này. Bần đạo đã hỏi nhà trời, Thượng-đế mặt trời truyền rằng Hãy im lặng chờ đợi.
Khi chưa tới Mông-cổ, Thủ-Huy Đoan-Nghi đã được Long-Tùng, Đoan-Thanh cho biết :
Ở Đại-Việt, Phật-giáo là quốc giáo. Quốc-sư nhận sắc phong của Hoàng-đế, được tôn kính cực kỳ. Quốc-sư là những vị thông kim bác cổ, võ công tuyệt thế. Nhưng Quốc-sư ít khi can thiệp vào việc triều chính. Tăng chúng trong nước cũng không phải phục tùng Quốc-sư. Quốc-sư luôn là người đạo cao đức trọng, chỉ chú ý đến việc giáo hóa dân chúng. Hầu hết các Quốc-sư đều ngày đêm lo bảo vệ đất nước, trấn Bắc, bình Nam.
Ngược lại, tại vùng Thảo-nguyên, vốn không có văn tự. Kiến thức về thần linh của họ rất nông cạn. Một số người học văn tự Thổ-phồn, Trung-quốc, đọc mấy sách ma trâu, đầu rắn của các nước này, rồi trở thành Đạo-sư. Hiện nay, mỗi bộ tộc có một Đạo-sư. Mỗi nước có một Tổng Đạo-sư. Đạo-sư là người đầy uy quyền, chỉ thua có Khả-hãn, Hãn, tộc trưởng trong một số lãnh vực mà thôi. Đạo-sư chủ tọa tất cả các cuộc hội họp quý tộc, quân sự, kể cả các cuộc xử án. Trong các buổi họp đó, bao giờ đạo sư cũng lên tiếng trước, rồi các nhà quý tộc, tướng lĩnh mới dám bàn luận. Đạo-sư không phải tuân thủ bất cứ luật lệ nào, không uy quyền nào có thể bắt Đạo-sư phải khuất phục. Ngược lại đạo sư có quyền thay đổi, đặt ra luật lệ.

Tổng Đạo-sư Mông-cổ Cốc Chu là người có uy quyền ngang với Khả-hãn Thiết Mộc Chân. Y còn rất trẻ, là con trai của Muôn-Lịch. Y có tám anh em, đều có võ công thâm hậu. Trong tám người thì hết bốn người làm Tổng Đạo-sư. Trên hết y làm Tổng Đạo-sư của toàn lãnh thổ Mông-cổ, coi như là giáo chủ. Dưới quyền y, em kế tên Thát Minh làm Tổng Đạo-sư của Thát-đát ; Miệt Hác làm Tổng Đạo-sư của Miệt-nhi ; Ngột Thai làm Tổng Đạo-sư của Diệt-xích-ngột. Trong lãnh thổ thuộc quyền, các em y thống lĩnh các Đạo-sư của những bộ tộc trong vùng. Các Đạo-sư đều có một đoàn tùy tùng trang bị như chính binh. Bọn này coi như một thứ quân nhà trời. Khi Đạo-sư kết tội ai, thì sai chúng đi bắt về xử. Nếu tội nhân bị xử tử hình, thì cũng chính bọn này làm đao phủ. Ba vùng Thát-đát, Miệt-nhi, Diệt-xích-ngột là ba nước lớn nhất bị Mông-cổ thu tóm.. Vì vậy, thế lực của gia đình Cốc Chu ngày càng thịnh. Thịnh đến độ, anh em y lấn át cả các em, các con Thiết Mộc Chân. Cả tám anh em y đều là những cao thủ bậc nhất Mông-cổ. Không biết anh em y học võ với ai, thuộc môn phái nào. Có người thắc mắc về nguồn gốc võ công của anh em y, thì y nói rằng : Chúng ta học võ ở trên trời. Vì làm Tổng Đạo-sư, địa vị cực tôn quý, nên không ai dám đấu với anh em y. Họ chỉ thấy y hiển lộ võ công trong trận đánh với Diệt-xích-ngột. Trong trận này, một mình một ngựa, y xông vào trận địch trên vạn quân, chém tướng rồi ra khỏi vòng vây dễ dàng. Y có thể ngồi trên tuyết luyện công hằng tháng mà không thấy lạnh. Mỗi người trong anh em y thu dụng một trăm đệ tử, đó là những tiểu đạo sư. Các tiểu đạo sư đều có võ công khá cao.

Là cha của bốn Tổng Đạo-sư, Muôn Lịch cùng các con mình lấn dần sang quyền hành của các Đại-hãn. Chúng muốn nắm quyền cai trị luôn các nước mà chúng làm Tổng Đạo-sư. Vì vậy trong khi Thiết Mộc Chân chinh phạt các nước Miệt-nhi, Ong-gút, Thát-đát, Diệt-xích-ngột sát nhập vào Mông-cổ thành một nước lớn ; thì Muôn Lịch lại muốn Mông-cổ chỉ là một nước hùng mạnh, giữ nguyên các nước nhỏ, các nước nhỏ phải quy phục mà thôi. Y muốn Thiết Mộc Chân cho các con y làm Khả-hãn các tiểu quốc, rồi dần dần sẽ đi đến chỉ các đạo sư mới được làm tộc trưởng, Hãn, Khả-hãn, Đại-hãn. Mưu đồ của y, Thiết Mộc Chân biết hết, ngặt vì thế lực cha con Muôn Lịch quá mạnh, khiến ông cứ phải im lặng.
Nhưng các em, các con Thiết Mộc Chân thì ra mặt chống đối. Họ thường nêu tội trạng của gia đình cha con Muôn-Lịch ra để làm giảm uy thế của chúng. Tội nặng nhất họ thường nêu ra : Muôn Lịch là bạn thân của cha Thiết Mộc Chân. Khi Dã Tốc Cai hấp hối, ủy thác con côi cho y. Thế nhưng khi ông qua đời rồi thì y đem cả bộ tộc bỏ theo Thát-đát là kẻ thù của Mông-cổ. Trong thời gian ở với Thát-đát, bốn con y được truyền chứcĐạo-sư, được học võ, thì cái danh Đạo-sư, cũng như võ công đó là của Thát-đát ban cho. Khi Thát-đát bị Thiết Mộc Chân diệt, ông không truy cứu tội trạng của y, mà lại thu nhận bộ tộc của y, cho y ngồi vào hàng quý tộc như vậy là không xứng đáng. Tuy vậy, các em, các con của Đại-hãn vẫn chưa dám lật đổ gia đình Muôn Lịch, vì bà U-Luân là vợ của y, hơn nữa trong các em, các con Đại-hãn không ai đủ võ công đánh lại các con của y.
Cũng vì thế lực của Muôn Lịch mạnh, mà Thiết Mộc Chân gả mẹ mình là bà U-Luân cho y, khiến y trở thành người thân nhất với ông. Bây giờ giữa lúc chư tướng bàn xuất quân, thì Cốc-Chu lại nhân danh người nhà trời cản trở. Cái mục đích cản trở, Thủ-Huy đã nhìn rõ : Y biết rằng ra quân kỳ này, tất Mông-cổ thắng. Mà Mông-cổ thắng thì sẽ gồm thâu cả Khắc-liệt, bấy giờ Thiết Mộc Chân quyết không chịu để tình trạng lãnh thổ dưới quyền mình chia thành nhiều nước, dễ sinh nội loạn.
Từ ngày Thủ-Huy, Đoan-Nghi tới Mông-cổ, thì cha con Muôn-Lịch giữ thái độ dè dặt, nhũn nhặn, tránh né tiếp xúc cũng như đụng chạm.
Thủ-Huy nghĩ thầm :
- Mình chỉ là khách du lịch Mông-cổ, nhân cảm tấm lòng Thiết Mộc Chân mà giúp ông, thì việc gì phải tranh dành với người ?
Vì vậy công mỉm cười, mặc Cốc Chu với các tướng tranh luận.
Tốc Bất Đài hùa theo Gia Luật Mễ :
- Thưa Đạo-sư, tôi thì tôi nghĩ khác. Ta có một vạn tám ngàn người đây là những võ sĩ, là Lôi-kỵ chứ không phải binh sĩ bình thường. Ngoài ra, tổng số chính binh của ta còn hơn năm vạn. Chính binh của ta đã được Lý tiên sinh cùng phu nhân từ Đại-Việt sang huấn luyện, chỉ cần một thiên có thể thắng một vạn quân Khắc-liệt. Cạnh chính binh, ta còn năm vạn quân của các bộ tộc kia mà ? Vì vậy, tôi thấy rõ ta nên xuất quân ngay bây giờ. Bởi Tang Côn tưởng ta không ngóc đầu dậy được nữa nên y đã cho di chuyển vợ con tướng sĩ về sống chung. Nếu ta ra quân thình lình, thì binh tướng của y mải lo bảo vệ gia đình, ta có thể thắng dễ dàng.
Thiết Mộc Chân hỏi Thủ-Huy :
- Xin phò mã cho biết ý kiến.
Thủ-Huy nghĩ thầm : Cái thế ta đứng ngoài không được nữa rồi. Đại-hãn đã hỏi, tức là đem mạng sống của cả nước Mông-cổ trao vào tay ta. Ta phải trả lời thực sự. Mà thức sự thì rõ ràng ta phải gạt cái tên Cốc Chu nàøy ra ngoài. Công đứng dậy nói :
- Ta có ba thế tất thắng. Tang Côn có ba thế tất bại. Ta nên ra quân. Nếu ta ra quân lúc này, tất thắng.
Các tướng vỗ tay hoan hô.
Cốc Chu bực mình :
- Ý kiến phò mã lại sáng suốt hơn Thượng-đế mặt trời ư ?
Thủ-Huy chưa kịp trả lời Cốc Chu, thì nghe tiếng Thiết Mộc Chân dùng Lăng-không truyền ngữ rót vào tai :
- Phò-mã ! Tôi khẩn thiết xin phò mã làm cách nào giảm uy tín của anh em Cốc Chu. Chỉ cần sao uy tín anh em y xuống thấp, chứ đừng làm mất cái danh Tổng Đạo-sư của chúng. Tôi còn phải nhờ chúng nhân danh sứ giả nhà trời, thu phục nhân tâm.
Nghe Thiết Mộc Chân nói, Thủ-Huy nhũn nhặn trả lời Cốc Chu :
- Thưa Tổng Đạo-sư ! Điều tôi sắp bàn đây, mới là ý của Thượng-đế !
Cốc Chu quát lên :
- Hôm qua tôi bay lên trời, nghe Thượng-đế phán : Hãy bảo Đại-hãn Thiết Mộc Chân án binh chờ đợi !
Nghe Cốc Chu nói, một số các Khả-hãn, Hãn, tộc trưởng cúi đầu xuống tỏ vẻ tôn phục.
Thủ-Huy nghĩ thầm :
- Cái tên ngu dốt này bịp bợm ai, ta cũng mặc kệ y. Nhưng y đem cái bịp bợm đó mà dọa ta, lấn át ta thì y chết.
Nghĩ vậy công hỏi :
- Thưa Tổng Đạo-sư, từ trước đến nay Tổng Đạo-sư vẫn khẳng định rằng Đại-hãn Thiết Mộc Chân là con của Thượng-đế Mặt-trời có đúng không ?
- Dĩ nhiên là đúng.
Thủ-Huy cười lớn :
- Như vậy cái vụ mà Tổng Đạo-sư nói rằng, hôm qua Tổng Đạo-sư bay lên trời hỏi Thượng-đế là không đúng. Chắc Tổng Đạo-sư nằm mơ rồi tưởng là thực !
Cốc Chu vận nội lực quát :
- Mi không được vô phép. Câm cái mồm lại.
Thủ-Huy cười nhạt :
- Này Tổng Đạo-sư ! Tôi là khách phương xa. Tôi tới đây do lời mời của Đại-hãn. Tôi không cần biết Tổng Đạo-sư. Tổng Đạo-sư không có quyền gì với tôi.
Cốc Chu ra lệnh cho đệ tử :
- Bắt trói nó cho ta !
Mười đệ tử của y rời chỗ ngồi, rút đao bao vây Thủ-Huy. Thoáng nhìn, Thủ-Huy giật mình đến thót một cái, vì từ chiêu thức cho tới thân pháp của chúng, đều là võ công Đông-A. Thấy sư phụ bị kiềm chế, các Thiên-phu, Bách-phu do Thủ-Huy huấn luyện cùng rút vũ khí, định nhập cuộc bênh sư phụ, thì bóng hồng thấp thoáng, rồi những tiếng loảng xoảng phát ra, cùng ánh thép lấp lánh. Mười thanh đao bay đến trước mặt Cốc Chu, cắm thành một hàng ngay thẳng. Còn mười tiểu đạo sư, thì nằm dài dưới đất thành vòng tròn quanh Thủ-Huy, không biết còn sống hay chết. Mọi người nhìn lại, thì ra Thúy-Thúy đã ra tay.
Miệt Hác tung người lên, y dùng một thức hổ trảo chụp Thúy-Thúy. Thúy-Thúy trầm người tránh khỏi, rồi trả lại bằng chiêu Hoa-sơn chưởng. Muôn ngàn lần Cốc Chu không thể tin rằng Thúy-Thúy dám chống lại một Tổng Đạo-sư như em mình. Miệt Hác phát chiêu đỡ chưởng của Thúy-Thúy. Bùng một tiếng cả hai lảo đảo bật lui, làm mọi người kinh ngạc không ít. Các tướng Mông-cổ kinh ngạc vì xưa nay họ tin rằng Miệt Hác là người nhà trời, phép tắc vô cùng, mà vừa rồi, đối chưởng với giai nhân tuyệt thế này, dường như chỉ ngang tay. Còn Thủ-Huy cũng ngạc nhiên vì Miệt Hác đã xử dụng võ công Đông-A chính tông từ chiêu thức cho tới nội công. Chiêu vừa rồi chính là chiêu Phong-ba hợp bích.
Thấy Thiết Mộc Chân không lên tiếng can gián, Thủ-Huy biết rằng ông muốn mình làm tới nữa để giảm uy tín của bọn Đạo-sư. Công cũng mặc cho Thúy-Thúy đấu với Miệt-Hác để dò xem y đã học võ công với ai ? Bản lĩnh võ công của y tới đâu ? Hai người đấu với nhau trên dưới trăm hiệp, thì Cốc-Chu , chỉ tay vào mặt Thúy-Thúy nói với các tướng :
- Các người thấy không ? Con nhỏ kia, dám chống lại với Thiên-sứ, thì chỉ lát nữa y thị sẽ bị hộc máu miệng ra mà chết !
Nghe y nói, Thủ-Huy nghĩ thầm :
- Cứ như lời tên này nói thì dường như chúng được học cả Bức-mạch công của nhà mình, cho nên y mới đe dọa đánh Thúy-Thúy hộc máu ! Hà, bản lĩnh tên này không tầm thường, dường như ngang với Vỵ-xuyên ngũ tiên!
Nghĩ vậy công dùng lăng không truyền ngữ rót vào tai Thúy-Thúy :
- Thúy-Thúy ! Coi chừng Miệt-Hác dùng Bức-mạch chưởng. Vậy Thúy-Thúy hãy vận Cổ-loa tâm pháp đề phòng. Nhưng đừng xử dụng, chỉ đỡ thôi. Nếu thấy tôi can thiệp, bảo Thúy-Thúy ngừng tay, Thúy-Thúy vờ như không tuân lệnh cứ tiếp tục giao chiến !
Nghe Thủ-Huy nhắc, Thúy-Thúy tỉnh ngộ, vội vận Cổ-loa tâm pháp, thì cũng đúng lúc đó Miệt-Hác đánh ra chiêu Phong-hoa suy lạc. Y đã vận Bức-mạch chưởng. Bình một tiếng, cả hai cùng lảo đảo bật lui lại.
Thủ-Huy lách mình một cái, công nắm lấy tay Thúy-Thúy ném nàng lên không :
- Không nên dùng võ công trước mặt Đại-hãn !
Trong khi nói, công nhả mộït ít Hàn-băng nội lực vào tay nàng. Thúy-Thúy lộn người trên không hai vòng. Ở trên cao, lưng nàng uốn cong, y phục bay phất phới như tiên nga múa vũ khúc Nghê-thường, đẹp không thể tưởng tượng được. Cao nhất là Thiết Mộc Chân, xuống tới bọn vệ sĩ hiện diện đều suýt xoa. Vừa rơi xuống đất, nàng phóng một chiêu Hoa-sơn chưởng vào người Miệt-Hác. Y lại phát chiêu đỡ. Bùng một tiếng, rồi nhảy lài lại cười lớn :
- Con tiện tỳ kia,bao nhiêu mạch máu trong người mi vỡ hết rồi. Trong ta đếm bảy tiếng thì mi sẽ chết.
Rồi y đếm :
- Một.
Thúy-Thúy cười lớn :
- Chú bé bịp bợm ơi ! Sau khi chú đếm bẩy tiếng mà chị không chết, thì chú không phải là sứ giả nhà trời. Ngược lại chú đau đớn đến chết, thì rõ ràng chú bị trời phạt.
- Hai ! Ba !
Thúy-Thúy vẫn cười.
- Bốn ! Năm.
Thình lình Miệt-Hác cảm thấy như có con dao đâm vào ngực, đau thấu tâm can, rồi người lạnh kinh khủng. Y cố không phát ra tiếng kêu, đếm :
- Sáu ! Bẩy ! Mi chết này...Aùi ! Aùi !
Y hét lên như con lợn bị thọc huyết. Rồi lăn lộn trên mặt đất. Thát Minh, Ngột Thai cùng phát chưởng đánh vào hai bên Thúy-Thúy, vì sợ nàng giết Miệt-Hác. Thấy chưởng phong đối thủ cực kỳ hùng hậu, Thúy-Thúy dùng cả hai chưởng quay một vòng rồi nhảy lùi về sau hai bước. Vô tình nàng đứng trước mặt Thủ-Huy. Anh em Thát Minh, Ngột Thai quyết giết cho bằng được Thúy-Thúy. Cả hai cùng xê dịch theo, đẩy vào người nàng hai chưởng. Thúy-Thúy nghiến răng đỡ.
Lúc đầu Thủ-Huy chỉ muốn để cho Thúy-Thúy làm giảm uy tín của anh em Cốc Chu. Bây giờ thấy chúng quá đê tiện, dùng hai người đánh một. Công vờ cúi xuống, dùng tay phải nắm lấy chân Thúy-Thúy rồi truyền nội lực sang. Thúy-Thúy đang miễn cưỡng đỡ chưởng của Thát Minh, Ngột-Thai trong tuyệt vọng, bỗng thấy một luồng nội lực mạnh như bài sơn, đảo hải tràn vào người mình. Bình, bình ! Hai em của Cốc Chu bị bật tung lên, bay ra khỏi lều, nằm thẳng cẳng, hai mép ri rỉ tuôn máu ra.
Muôn Lịch vội đứng lên, sai tùy tòng đỡ ba con, đem ra khỏi lều. Mặt Cốc Chu tái đi vì giận.
Thúy-Thúy chỉ theo ba em Cốc Chu :
- Đại-hãn là con trời. Bởi ba Tổng Đạo-sư dùng võ công trước mặt Đại-hãn là hành vi cực kỳ vô lễ nên trời phạt. Chứ người con gái như tôi, đâu đủ phép tắc thắng ba Tổng Đạo-sư !
Thủ-Huy thấy như vậy cũng đủ bịt miệng Cốc Chu rồi, công nói với y bằng giọng ôn tồn :
- Như Tổng Đạo-sư nói : Đại-hãn Thiết Mộc Chân là con của Thượng-đế, tôi mới khẳng định Tổng Đạo-sư nằm mơ. Tại sao ? Vì Đại-hãn là con của Thượng-đế, mà Đại-hãn không nghe thấy Thượng-đế phán về việc xuất quân này, có nghĩa là Thượng-đế đã sai con người giáng thế, thì chư sự do Đại-hãn đưa ra mới chính là ý của Thương-đế. Tục ngữ Mông-cổ ta có câu : Của cha là của con, trong việc cai trị dân thì ý cha là ý con, ý con sở dĩ có là do là ý cha dạy dỗ. Ý của Đại-hãn muốn xuất binh, thì chính là ý của Thượng-đế.
Các em, các con của Thiết Mộc Chân, các tướng, các đệ tử củaThủ-Huy vỗ tay hoan hô.
Mông-cổ không có văn tự. Cha con Muôn-lịch nhờ học văn tự Thổ-phồn, đọc được một số sách của nước này, nên có một ít tư tưởng về thần linh, mà trở thành Đạo-sư. Bây giờ y bị Thủ-Huy, một bác học đa năng, thâm cứu toàn bộ tư tưởng chủ đạo tộc Việt, cùng Cửu-lưu, Tam-giáo, Bách-gia chư tử của Trung-hoa, thì cái mớ kiến thức hủ lậu của anh em Cốc Chu đấu sao lại ?
Cốc Chu cúi mặt xuống không nói được lời nào. Thủ-Huy tiếp :
- Tang Côn tưởng ta bị diệt rồi, binh tướng chỉ lo hưởng thụ sa đoạ, tranh dành của cải với nhau, không luyện tập, không đề phòng, lại đóng dàn ra một diện tích quá lớn. Đó là thế tất bại thứ nhất của y. Trong khi đó, ta luyện được một vạn tám nghìn Lôi-kỵ. Khi đối trận, chiến đấu đơn độc thì một võ sĩ của ta chỉ có thể thắng năm hay mười binh sĩ của họ. Nhưng nếu chiến đấu thành đội ngũ, thì mười người của ta có thể thắng hai trăm địch. Một trăm của ta không phải thắng một nghìn địch, mà có thể thắng năm nghìn địch. Hiện ta đã luyện tập, mỗi Thiên Lôi-kỵ của ta là một đơn vị chiến đấu độc lập, lúc cần thì tập trung thực nhanh, phân tán cũng thực nhanh, lưu động thần tốc, trang bị đặc biệt... Khi tấn công thì như sét nổ, không vướng vít gia đình, người người đều hận thù ngút trời...Có thể thắng hai vạn địch. Đó là thế tất thắng thứ nhất của ta.
Các tướng cùng vỗ tay hoan hô lời kiến giải của Thủ-Huy. Mặt cha con Muôn Lịch tái đi vì giận.
Thủ-Huy tiếp :
- Từ khi đánh bại ta, Tang Côn kiêu căng, coi các tộc trưởng, tướng sĩ như tôi tớ, cai trị độc đoán. Họ đều bất mãn, các tộc trưởng rút quân về lãnh thổ của họ. Nếu ta xuất quân, đánh tan chủ lực của Tang Côn, y có sai sứ gọi các tộc trưởng đem quân về cứu viện, tất họ không tuân. Đó là thế tất bại thứ nhì của Tang Côn. Ngược lại các tộc trưởng của ta, phải quy phục Tang Côn trong cái thế không quy phục không được. Đại-hãn đã sai sứ liên lạc với họ. Họ hứa khi ta khởi binh, là họ sẽ đem quân đánh bọc hậu Tang Côn. Đó là thế thắng thứ nhì của ta.
Các tướng lại vỗ tay. Cốc Chu quắc mắt nhìn các tướng, tỏ vẻ bực mình khi họ tán thành ý kiến của Thủ-Huy.
- Khi đánh ta, Tang Côn dùng các võ sĩ Tống để khống chế chư tướng, làm rối loạn hàng ngũ ta. Nay thì võ sĩ Tống bất mãn vì Tang Côn bỏ lời ước quy phục Tống, đánh Kim. Võ sĩ Tống tuy vẫn còn đó, nhưng họ hứa sẽ làm nội ứng cho ta. Vì vậy họ trở thành mối đe dọa cho Tang Côn, hơn là trợ thủ. Đó là cái thế tất bại thứ ba của Tang Côn. Ngược lại, vợ chồng tôi, Thúy-Thúy, Tử-Kim cùng đội võ sĩ Long-biên đến trợ giúp Mông-cổ. Khi lâm trận, chúng tôi xung vào trận địch, khống chế tướng Khắc-liệt, làm tan nát hàng ngũ quân Khắc-liệt. Đó là thế thắng thứ ba của ta.
Cốc Chu hừ một tiếng, im lặng. Trong khi Thiết Mộc Chân cùng chư tướng vỗ tay hoan hô.
Thiết Mộc Chân tiếp lời Thủ-Huy :
- Ta ra quân lần này không phải để phục hồi Mông-cổ không thôi đâu, mà phải diệt Khắc-liệt. Có như vậy trong tương lai Mông-cổ mới sống còn. Tôi với Trần phò mã đã có kế hoạch bí mật diệt Khắc-liệt chỉ trong vòng một tháng. Nhưng sợ địch biết, chúng tôi dấu kín. Đợi khi khởi sự tấn công, sẽ mới công bố.
Cốc Chu hỏi Thiết Mộc Chân :
- Đại-hãn nhất định xuất quân ư ? Nhất định Đại-hãn làm trái với ý trời ư ?
Thiết Mộc Chân im lặng tỏ vẻ bực tức thì em là Cát Xa nổi cáu :
- Ý của Đại-hãn là ý trời. Ý trời muốn cho ta diệt Khắc-liệt lúc này, nên Đại-hãn mới ra quân. Đạo-sư nói sai ý trời rồi.
Cốc Chu đập tay xuống bàn :
- Ta truyền cho người phải im lặng. Người chống lại lời ta là chống với trời.
Nhìn các tướng, các Khả-hãn, các Hãn, các nhà quý tộc đều cúi đầu cung cung, kính kính tỏ ý tuân phục Cốc Chu. Thủ-Huy dùng Lăng-không truyền ngữ nói vào tai Tốc Bất Đài mấy câu. Tốc Bất Đài lên tiếng :
- Thưa Đại-hãn. Đại-hãn là con của Thượng-đế Mặt-trời thì ý của Đại-hãn phải hơn Tổng Đạo-sư sứ giả Cốc Chu chứ? Vì con bao giờ cũng hiểu ý cha hơn là sứ giả! Không biết bao giờ thì ta khởi sự ?
- Hôm nay là ngày 20 tháng 8, ta sẽ tấn công vào đêm mùng 1 tháng 9 là đêm trời tối.
Muôn-Lịch, cùng các con đỏ mặt đứng dậy, bỏ ra khỏi lều . Cốc Chu còn cố nói vọng lại :
- Đại-hãn không tuân lệnh Thượng-đế Mặt-trời, xuất quân trong lúc này sẽ bị đại bại.
Chiều hôm đó, Thiết Mộc Chân, Bác Nhĩ Truật, Tốc Bất Đài âm thầm tới lều của Thủ-Huy Đoan-Nghi. Phân ngôi chủ khách xong, Thủ-Huy hỏi :
- Phải chăng Đại-hãn cùng các vị đến đây vì ba người em của Cốc Chu bị trúng Hàn-băng nội lực ?
Tốc Bất Đài chỉ Thúy-Thúy :
- Tôi có thắc mắc xin hỏi phò mã. Mấy hôm trước, trong khi luận võ với tiểu cô nương đây. Người nói, chỉ có phò mã, công chúa là có Hàn-băng nội lực thôi. Thế mà sáng nay, tôi không thấy phò mã ra tay, mà sao Miệt Hác lại bị trúng loại độc chưởng này ?
Thủ-Huy giảng giải bí mật cho mọi người nghe.
Bác Nhĩ Truật hỏi :
- Nếu như phò mã không trị cho chúng, liệu chúng có chết không ?
- Chết ! Chúng sẽ chết sau 49 ngày. Nhưng tôi không cứu y vội, vì tôi muốn tìm hiểu xem, ai là người đã dạy võ công Đông-A nhà tôi cho chúng ? Luật lệ phái Đông-A nhà tôi rất nghiêm, cấm không được dạy võ công cho người ngoài môn phái. Vậy ai đã làm cái công việc này ? Đó là một vấn đề. Vấn đề thứ nhì, tôi cũng phải giám sát, không thể để Thúy-Thúy giết chúng, vì môn quy nhà tôi cũng cấm không được hại người cùng phái, không để người ngoài giết đồng môn trước mặt mình. Tôi sợ , là sợ anh em Cốc Chu là để tử một cao nhân nào trong phái Đông-A, mà tôi để y chết vì Hàn-băng nội lực của mình, thì dù ông tôi có là chưởng môn, tôi cũng bị xử tử hình để đền mạng cho chúng.
Bác Nhĩ Truật cũng nghi ngại :
- Từ trước đến giờ, chúng tôi chỉ biết các con của Muôn Lịch có võ công cao, mà không bao giờ thấy chúng xử dụng. Hôm nay nhờ Thúy-Thúy, chúng tôi mới biết y đã học một cao nhân nào của phái Đông-A.
- Tôi đoán, với bản lĩnh của chúng, chúng có thể đấu ngang tay với Tốc Bất Đài, Bác Nhĩ Truật thì ít ra chúng đã luyện tập trên mười năm. Tôi nhả nội lực vào bàn tay Thúy-Thúy, rồi Thúy-Thúy truyền vào người chúng. Như vậy bắt buộc chúng phải đi tìm sư phụ để nhờ người đẩy Hàn-băng độc ra khỏi người chúng. Bây giờ Đại-hãn cứ sai người âm thầm theo dõi chúng thì tìm ra tông tích người này.
Thế nhưng, trong suốt bẩy ngày, thân binh của Thiết Mộc Chân hết sức theo dõi, cũng không thấy anh em Cốc Chu tiếp xúc với ai khác lạ. Mỗi chiều, ba tên Thát Minh, Miệt Hác, Ngột Thai bị lên cơn, người rét run trong vòng một giờ thì hết.
Bảy ngày sau.
Trong căn lều da cực lớn của Thiết Mộc Chân. Các tướng, các tộc trưởng, bộ tham mưu của Mông-cổ đều tềø tựu. Tổng cộng có đến hơn trăm người, mà không một tiếng động.
Đạo-sư Cốc Chu lên tiếng trước :
- Các người không tuân theo ý trời, nhất định xuất quân ư ?
Cát Xa cáu :
- Đạo-sư nói sai ý trời. Chúng ta cứ xuất quân. Nếu ta bại thì tôi xin nộp đầu. Còn ta thắng, thì đúng là Đạo-sư nói sai ý trời. Chúng tôi xin chờ lệnh Đại-hãn.
Thiết Mộc Chân đứng dậy dõng dạc nói :
- Chúng ta uống hận ẩn thân bấy lâu chỉ để chờ phục hồi cố thổ. Hôm nay chúng ta xuất quân, một là chiếm lại đất cũ, hai là trả hận. Từ trước đến giờ tôi quen lối chỉ huy dàn trận, chứ chưa bao giờ dùng tới lối đánh kỳ mưu. Vì vậy, trận này, tôi đã mời những vị khách mà trời đem đến cho ta tổng chỉ huy.
Nói rồi ông trịnh trọng chỉ vào Thủ-Huy :
- Xin kính mời Trần phò mã.
Thủ-Huy đứng dậy đưa mắt nhìn cửu tọa một lượt, rồi nói :
- Chúng tôi với quý vị là chỗ thâm giao hơn mười năm trước. Khi vợ chồng tôi cáo quan về điền dã, thì Đại-hãn nhớ tình cố cựu, mời tôi lên đây săn bắn nhân mùa Xuân hoa nở. Không ngờ khi tôi lên đây thì là lúc mà Mông-cổ bị cái vạ quốc phá. Người Việt tôi có câu : Cùng đi trên chuyến đò cũng là nghĩa. Huống hồ giữa Đại-hãn với chúng tôi. Giữa chúng tôi với các vị có cái tình gắn bó cứu mạng nhau bấy lâu. Hôm nay, được Đại-hãn trao cho cái vinh dự này. Tôi xin nhận lĩnh.
Công ngừng lại chờ cho các tướng vỗ tay dứt, rồi tiếp :
- Khắc-liệt hiện đóng quân làm ba khu vực chính. Khu thứ nhất, gần chúng ta, là lãnh thổ cũ của Thát-đát, có năm vạn quân, nhưng chỉ có hai vạn ngựa, do Trác Mộc Hợp cùng Đa Di Đài chỉ huy. Đây là quân ô hợp của các tộc lẻ tẻ. Cách chúng ta hơn năm trăm dặm, là lãnh thổ của Diệt-xích-ngột do Tang Côn chỉ huy với hơn năm vạn quân. Đây mới là lực lượng chính của Vương-hãn. Tại Long-lý hà, lãnh thổ của Mông-cổ chúng ta, do chính Vương-hãn chỉ huy với năm vạn quân. Nhưng chỉ có hai vạn tập trung, còn lại thì đóng rải rác. Ta cũng chia quân làm ba, tiến đánh cùng một lúc.
Các tướng cùng im lặng. Thủ-Huy hướng Bác Nhĩ Truật :
- Đạo thứ nhất lĩnh nhiệm vụ cực quan trọng. Bất cứ giá nào cũng không được thất bại. Bởi đạo thứ nhất thất bại, thì đạo thứ nhì, thứ ba sẽ thất bại theo. Đạo này do ba tướng tài ba bậc nhất của ta là Bác Nhĩ Truật, Tốc Bất Đài, Triết Biệt chỉ huy. Phụ cho ba đại tướng có hai vương tử Truật Xích, Oa Khoát Đài và Trần Tử-Kim. Lực lượng gồm có ba Thiên-phu Lôi-kỵ, ba Thiên-phu Thân-binh trực thuộc, và sáu Thiên-phu chính binh.
Sáu tướng đứng dậy chờ lệnh.
- Tổng chỉ huy đạo này là Bác Nhĩ Truật.
Bác Nhĩ Truật hỏi :
- Chúng tôi được trao nhiệm vụ gì ?Xin phò mã ban lệnh !
- Vương-hãn cũng như Tang Côn tiến đánh chúng ta, bao nhiêu quân tinh nhuệ mang đi hết. Họ chỉ để lại trên lãnh thổ họ những đội quân của các tộc trưởng. Nếu như ta đi vòng xuống Nam, đánh úp kinh đô của Khắc-liệt rồi khống chế vợ con của họ...thì Vương-hãn, Tang Côn mất đường về đã đành, mà tướng sĩ, quý tộc, tộc trưởng của họ hiện đang theo trong quân cũng phải đầu hàng.
Từ Thiết Mộc Chân cho tới chư tướng đều tưởng rằng khu vực quan trọng nhất là tổng hành dinh của Tang Côn. Họ tuyệt không ngờ, không nghĩ tới việc đánh kinh đô Khắc-liệt.
Thủ-Huy tiếp :
- Chiếm kinh đô Khắc-liệt rồi, thì các vị hết sức bảo vệ gia đình tài sản của các tướng sĩ, tộc trưởng. Sau đó ba chánh tướng Bác Nhĩ Truật, Tốc Bất Đài, Triết Biệt đem theo đội võ sĩ Long-biên tiến về vùng Hàn-thủy. Còn kinh đô Khắc-liệt thì trao cho vương tử Truật Xích cùng các phó tướng trấn đóng, bình định. Sông Hàn-thủy, nằm giữa đường Khắc-liệt đi kinh đô Hoa-lâm của Mông-cổ. Các vị dàn quân ra tại đây chờ bại quân Vương Hãn rút về, thì chặn đánh. Lúc đi, các vị lựa chọn trong vợ con các tướng, tộc trưởng Khắc-liệt, mỗi gia đình một người đem theo. Khi thấy quân Vương-hãn dàn ra, thì các vị thả đám người này về với chồng, cha họ. Họ sẽ thuật cho biết, gia quyến, thành trì đã bị ta khống chế. Họ không ngần ngại gì đem thiện ý chiêu hàng của ta nói, như ậy ắt các tướng, sĩ tộc trưởng Khắc-liệt sẽ bỏ Vương-hãn ngay. Bấy giờ các vị mới xua quân tấn công. Vương-hãn bỏ chạy thì các vị đuổi theo bất kể ngày đêm, cố bắt hoặc giết cho được y mới thôi.
Bác Nhĩ Truật hỏi :
- Kinh đô Khắc-liệt đóng trong một vùng khá rộng. Tại đây có mười bộ tộc thân tín của Vương-hãn. Họ sống trong những lều trại, rất dễ đánh. Tuy nhiên vợ con của Vương-hãn, Tang Côn cũng như các tộc trưởng thì ở trong những căn nhà bằng gỗ. Những căn nhà này nằm trong một thành bằng đá. Trước đây Nãi-man đem quân đánh Khắc-liệt, đã hy sinh tới năm vạn người, mà không phá nổi thành này. Phò mã thử nghĩ xem, chúng tôi có thành công hay không ?
Thủ-Huy mỉm cười chỉ vào Tử-Kim :
- Huynh đừng lo. Huynh cùng chư tướng đảm trách nhiệm vụ đánh các bộ tộc kế cận kinh đô Khắc-liệt. Còn việc đánh thành đá này, tôi đã trao cho sư đệ Trần Tử-Kim. Tử-Kim sẽ hạ thành đá trong vòng một giờ.
Các tướng cùng ngơ ngác không hiểu với đội võ sĩ Long-biên năm trăm người, sao Tử-Kim có thể đánh thành đá trong một giờ ?
Thiết Mộc Chân giải thích :
- Anh em ngạc nhiên ư ? Trong buổi hội trước đây tám ngày, Trần phò mã với tôi đã từng nói rằng, chúng tôi có kế hoạch diệt Khắc-liệt trong một tháng, nhưng vì bảo mật nên chưa nói ra. Hôm nay tôi xin nói.
Ông ngừng lại cho cử tọa suy nghĩ một lát rồi tiếp :
- Trần phò mã từng là người tổng chỉ huy quân đội Đại-Việt. Mà quân Đại-Việt có một vũ khí làm cho Tống kinh hồn táng đởm là Thần-nỏ và Lôi-tiễn. Khi sang đây, phò mã với tôi bí mật chế Thần-nỏ, Lôi-tiễn, rồi cho đội võ sĩ Long-biên huấn luyện được năm mươi đội, thực tập trong rừng sâu. Bí mật đến độ vợ, con tôi cũng không biết. Bây giờ ta đem ra dùng, thì quân Khắc-liệt sẽ kinh hồn táng đởm.
Các tướng chưa từng nghe đến Thần-nỏ, Lôi-tiễn, họ ngơ ngơ, ngác ngác nhìn nhau. Biết ý họ, Thủ-Huy đưa mắt cho Tử-Kim. Tử-Kim giải thích sơ lược : Thần-nỏ do Cao-cảnh hầu Cao Nỗ chế ra từ thời Aâu-lạc có thể bắn một lúc từ một tới hàng nghìn mũi tên. Tầm sát hại xa gấp đôi tên bắn bằng sức người. Rồi các đời sau sửa đổi đi, càng hiệu nghiệm hơn. Đến thời vua Lý Nhân-tông, thì Long-biên ngũ hùng, Tây-hồ thất kiệt, một lần nữa biến chế đi chế ra Lôi-tiễn với những mũi tên to bằng bắp tay đến bắp dùi, có thể phát nổ trên không, có thể rơi xuống đất rồi phát nổ ngay, có thể phát nổ sau khi rơi xuống mục tiêu hai ba giờ.
Thiết Mộc Chân tiếp lời Tử-Kim :
- Khi chúng ta đánh vào một dinh trại địch, thì giỏi lắm chúng ta có thể bắn tên lửa vào những căn lều gần hàng rào, không gây ảnh hưởng đến tinh thần địch làm bao. Với Lôi-tiễn, ta có thể bắn phá, đốt kho tàng, dinh thự, lều trại ở giữa khu đóng quân địch. Ta lại có thể bắn vào giữa đội hình địch. Đội võ sĩ Long-biên phụ trách đánh úp thành đá của Khắc-liệt. Nếu thành công thì thôi. Bằng như địch biết trước mà đề phòng, Tử-Kim nã Lôi-tiễn vào trong thành, thì chỉ một giờ sau thì nhà, lều trong thành biến thành than, còn người thì bị nướng sạch.
Chư tướng vỗ tay hoan hô.
Thủ-Huy tiếp :
- Đạo quân thứ nhì gồm các tướng Mộc Hoa Lê, Xích Lão Ôn, Gia Luật Mễ. Phụ có hai vương tử Sát Hợp Đài, Đà Lôi, phò mã Đô Gu Sa. Đề phòng cao thủ Tống xuất hiện, tôi cử công-chúa Đoan-Nghi chỉ huy Lý Long-Tùng, Lý Đoan-Thanh theo trong quân. Đạo này phụ trách đánh úp đạo quân của Vương-hãn, chiếm lại kinh đô Hoa-lâm. Quanh Hoa-lâm có 36 bộ tộc trung thành của Mông-cổ. Đại-hãn đã sai sứ liên lạc với họ. Họ hẹn, khi Đại-hãn đem quân về, họ sẽ nổi dậy đánh Khắc-liệt.
Thủ-Huy đưa mắt cho Thiết Mộc Chân :
- Đạo này phi Đại-hãn không ai đương nổi. Vì quân của Vương-hãn quá đông, Đại-hãn chỉ cần dùng Lôi-tiễn, Thần-nỏ đánh bất ngờ, xung vào trung quân bắt Vương-hãn. Trong lúc kinh hoàng, ắt Vương-hãn bỏ chạy về kinh đô của y. Đại-hãn không cần đuổi theo, mà lo chỉnh đốn lại Hoa-lâm. Khi Vương-hãn về đến Hàn-thủy sẽ bị phục binh của Bác Nhĩ Truật.
Thủ-Huy quay lại phía các tướng Bác Khô La, Dược Sơ Đài, Bác Nhĩ Hốt :
- Đạo thứ ba do ba vị thống lĩnh, phụ có ba vương đệ là Biên Gô Đài, Cát Xa, Tê Mô Gu. Đạo này chính tôi sẽ chỉ huy.
Thiết Mộc Chân kinh ngạc hỏi Thủ-Huy :
- Thế còn đạo quân của Trác Mộc Hợp đóng gần đây nhất. Ta không tiến đánh y ư ?
- Thưa Đại-hãn, có chứ ! Trác Mộc Hợp không có lãnh thổ. Khi Vương-hãn chiêu mộ y. Y ra điều kiện rằng Vương-hãn đánh được Mông-cổ thì trao cho y cai trị lãnh thổ cũ của Thát-đát. Lúc ta bị thua rồi, thì Tang Côn tuy có cho Trác Mộc Hợp cai trị đất Thát-đát cũ thực, nhưng y vẫn đóng quân bên cạnh để kiềm chế. Nay thình lình ta đánh Tang Côn trong đêm, Trác Mộc Hợp chẳng dại gì mà đem quân cứu. Ta đánh xong Tang Côn, Vương Hãn rồi, thì các bộ tộc của Trác Mộc Hợp sẽ bỏ y, đầu hàng mình. Những bọn còn lại, tôi xin nhường cho các vị tộc trưởng bị Trác Mộc Hợp đè nén bấy lâu. Các vị chỉ đánh một trận, thì phá được y.
Thiết Mộc Chân nói lớn :
- Nào bây giờ cá vị chuẩn bị lên đường. Đêm ngày mồng một tháng chín sang đêm mùng năm, đúng nửa đêm cùng khởi sự.
Trời bắt đầu tối. Trong căn lều da lớn, Thủ-Huy tập họp các tướng Bác Nhĩ Hốt, Dược Sơ Đài, Bác Khô La, Biên Gô Đài, Cát Xa, Tê Mô Gu, cùng các Hãn của những bộ tộc Mông-cổ và Thát-đát. Trong bốn anh em Cốc Chu, thì Miệt Hác đã theo đạo quân Bác Nhĩ Truật, Ngột Thai theo đạo quân của Thiết Mộc Chân. Chỉ còn y với Thát Minh ở lại. Vì nơi đóng quân là lãnh thổ của y.
Cốc Chu ngồi chủ tọa. Y lên tiếng trước :
- Hôm nay chúng ta hội đây để nhận lệnh xuất quân. Trước mặt ta có đến năm vạn quân của Tang Côn, năm vạn của Trác Mộc Hợp ! Các người không theo ý của trời, chỉ có sáu nghìn quân, mà tiến đánh mườ vạn quân thì không khác gì tự tử.
Thủ-Huy đưa con mắt nghiêm khắc nhìn Cốc Chu, rồi cười nhạt. Công coi như không có y, tay chỉ lên tấm da vẽ bản đồ khu đóng quân của Tang Côn :
- Tất cả các trại đều dựa vào chân một ngọn đồi, chia làm năm khu. Bốn khu Đông, Tây, Nam, Bắc, mỗi khu có khoảng một vạn quân. Binh tướngï ở trong các lều cùng vợ con, gia thuộc. Khu trung ương của Tang Côn với các tướng, các tộc trưởng cũng một vạn người. Đêm nay chúng ta cùng dàn quân tấn công vào doanh trung ương. Khi chúng ta khởi sự, thì Vương Cương-Trung, Mao Khiêm, Hàn Dũ-Linh với các võ sĩ Tống sẽ làm nội ứng, giết chết Tang Côn, cùng bọn quý tộc Khắc-liệt. Bây giờ chúng ta chờ trời tối sẽ lên đường.
Cốc Chu nổi cáu :
- Tưởng người có mưu hay gì, hóa ra chỉ biết dàn quân tấn công ! Ngày mai là ngày các người phải chết.
Nói rồi y dẫn Thát Minh cùng các đệ tử rời khỏi súy lều. Đợi y ra khỏi, Thủ-Huy gọi mấy đệ tử thân tín mang từ Thiên-trường qua, truyền dàn ra quanh lều, không cho bất cứ ai vào cũng như ra. Mọi việc xong xuôi, công xoa tay vào nhau nói :
- Cốc Chu muốn giữ uy tín, tôi e y sẽ báo kế hoạch của ta cho Tang Côn. Ngặt vì mấy ngày qua hoàng đệ Cát Xa canh gác kỹ quá, y không kịp hành động. Bây giờ ta mới thả lỏng y. Y có lên đường, cấp báo cho Tang Côn, thì dù Tang Côn có tổ chức phòng bị cũng không kịp nữa. Mà y có phòng bị kịp, thì cũng phòng bị theo kế hoạch giả mà tôi truyền lệnh ban nãy.
Các tướng vỗ tay hoan hô.
- Ta tấn công Tang Côn, chỉ sợ bọn võ sĩ Tống can thiệp mà thôi. Nếu như Thát Minh báo với Tang Côn rằng bọn Tống sẽ làm nội ứng, thì ắt Tang Côn phải dùng đội thân binh khẩn cấp trừ bọn Tống. Như vậy ta loại được bọn Tống ra ngoài. Ấy là không kể bọn Tống với Tang Côn giết lẫn nhau trong lúc ta đánh từ bên ngoài.
Các tướng vỗ tay.
Thủ-Huy cười :
- Bây giờ mới là kế hoạch thực sự của ta.
Công chỉ vào một ngọn đồi trọc nằm sát doanh phía Đông:
- Ngọn đồi này trên đỉnh bằng phẳng, lại nằm giữa năm doanh. Từ phía sau có con đường lên đi lên. Tang Côn cho rằng ta bị tê liệt, nên không canh phòng phía sau. Vậy hoàng đệ Biên Gô Đài đem Thiên-phu Thân-binh trực thuộc, thêm Thiên-phu chính binh, hộ tống bốn đội Lôi-tiễn, âm thầm leo lên đỉnh đồi. Sau khi đặt Lôi-tiễn, thì dàn quân xung quanh bảo vệ cẩn thận, đề phòng địch thấy nguy có thể chiếm đồi. Khi thấy pháo lệnh thì Vương Thúy-Thúy sẽ nã Lôi-tiễn vào khu doanh trung ương của địch. Lúc doanh trung ương bốc cháy, tôi sẽ tung pháo lệnh, bấy giờ huynh cho ba đội Lôi-tiễn nã khu Nam, Bắc, Đông. Tuyệt đối không rời khỏi ngọn đồi.
Biên Gô Đài hỏi :
- Thưa phò mã, thế sao không nã vào doanh phía Tây
- Quân số của địch tới năm vạn, mà ta chỉ có sáu nghìn Lôi-kỵ, hơn vạn chính binh, thì sao có thể trực diện tấn công ? Vì vậy, đầu tiên tôi dùng Lôi-tiễn đốt doanh trưng ương, để các tướng, các tộc trưởng cùng gia đình bỏ chạy sang bốn doanh lánh nạn. Khi mà chư tướng cùng vợ con, kẻ chết, người bị thương, tài sản bị mất, họ phải chạy sang lánh nạn ở các doanh bên cạnh, thì tinh thần rối loạn, kéo theo binh tướng bốn doanh rối loạn theo. Bấy giờ ta nã vào các doanh này tấn công, thì chúng chỉ lo chạy. Chúng chạy đâu ? Thấy doanh phía Tây bình an, chúng chạy vào đó mà ẩn thân. Bấy giờ ta mới dàn đại lực lượng ở trước doanh Tây, tất chúng bỏ chạy. Khi chúng chạy, hàng ngũ hỗn độn, ta cứ đuổi phía sau mà chém giết.
Thủ-Huy chỉ vào khu vực phía Tây doanh trại Tang Côn, nơi có con sông nhỏ :
- Chỗ này có con sông nhỏ, mang tên Ngưu-ẩm. Hai hoàng đệ Cát Xa, Tê Mô Gu đem hai Thiên-phu Thân-binh, hai Thiên-phu chính binh phục tại đây. Hai vị chuẩn bị cho ngựa nghỉ ngơi, ăn no, uống nước đầy bụng chờ đợi. Đêm nay Tang Côn thua tất rút chạy. Tới sông Ngưu-ẩm ắt y dừng quân cho ngựa uống nước. Các vị xua phục binh ra đánh vào ngang hông. Địch đông mặc địch đông, cứ dùng Thần-nỏ mà bắn. Mấy khắc sau, thì hai Thiên-phu của Bác Nhĩ Hốt, Bác Khô La đuổi kịp. Hai Thiên-phu đó sẽ để ngựa đói, khát, mệt lại ; dùng ngựa no, khỏe của các vị đuổi địch.
Công nói với Bác Nhĩ Hốt, Dược Sơ Đài, Bác Khô La :
- Bác Nhĩ Hốt phụ trách đánh doanh trại phía Đông. Dược Sơ Đài đánh doanh trại phía Bắc. Bác Khô La đánh đoanh trại phía Nam. Mỗi vị mang theo một Thiên-phu Lôi-kỵ với hai Thiên-phu chính binh. Ta để trống khu phía Tây cho Tang Côn chạy. Tôi sẽ đi theo cánh quân của Dược Sơ Đài huynh. Các vị đem quân âm thầm tiến tới gần doanh trại dàn sẵn. Khi thấy Lôi-tiễn nã thì tiến sát tới hàng rào. Đợi Lôi-tiễn ngừng nã, thì đồng tấn công. Bấy giờ Tang Côn ắt bỏ chạy về phía Tây. Bác Nhỉ Hốt, Bác Khô La huynh xua quân đuổi theo, bất chấp phía sau y còn nhiều đội quân. Những đội quân này để cho huynh Dược Sơ Đài thu thập. Nào chúng ta lên đường !

Đêm hôm ấy, trên vùng thảo nguyên vắng lặng, các đạo quân lầm lũi lên đường. Ngựa Thủ-Huy đi song song cạnh ngựa Dược Sơ Đài tiến đến doanh phía Bắc của Khắc-liệt. Công ngửa mặt lên trời nhìn những vì sao lấp lánh, lòng thổn thức nhớ quê hương :
- Không biết hồi này ông nội mình ra sao ? Bố mẹ mình thế nào ? Anh chị Thủ-Lý vợ chồng Tô Trung-Từ, Phúng Tá-Chu giờ này đang làm gì ? Lại còn chuyện triều đình ?
Nghĩ đến triều đình, Thủ-Huy nghiến răng ken két :
- Muốn cho nước giầu dân mạnh, thì phải có một triều đình gồm vua minh mẫn, các đại thần là những người một lòng với giang sơn. Nhưng vua lại luôn bị các bà hậu cung kiềm chế. Bọn quan lại thích cúi đầu trước các bà thái hậu ngu dốt để hưởng thụ thì còn mong gì ? Chỉ có cách giết hết bọn quan lại ù lỳ, bọn hậu cung... Như vậy thì phải thay đổi triều đại ! Ừ nhỉ, giả như ông nội hay bố mình làm vua, trong cung có những bà hoàng hậu như mẹ mình... thì đất nước sẽ hùng mạnh biết bao.
Công đang liên miên nghĩ, thì thình lình thấy trong doanh trung ương đèn đuốc đốt lên sáng rực, rồi có tiếng ngựa hý, tiếng người ra lệnh.
Dược Sơ Đài chỉ vào trong trại Khắc-liệt :
- Tại sao đêm khuya mà đèn đuốc trong doanh trung ương lại sáng rực thế kia ? Trong khi doanh phía Bắc này lại im lìm ? Để tôi sai một tên tế tác tới gần thám thính xem sao ?
Thủ-Huy cũng nhận ra thế, công gật đầu.
Lát sau tên tế tác trở lại báo :
- Khắp doanh trung ương, ngoài hàng rào, binh sĩ ngồi vào vị trí phòng thủ. Giữa sân thì các kỵ mã dàn sẵn như chuẩn bị phản công !
Dược Sơ Đài nắm tay Thủ-Huy :
- Cốc Chu, Tang Côn mắc mưu phò mã rồi. Chắc tên Thát Minh đã báo cho Tang Côn, nên y đề phòng. Còn doanh này thì y chưa kịp thông báo nên vẫn im lìm. Ta phải ra tay cho mau.
Dược Sơ Đài dàn quân thực mau. Lớp đầu ba trăm Lôi-kỵ, sáu trăm chính binh, dàn làm hai hàng. Lớp thứ nhì ba trăm Lôi-kỵ, sáu trăm chính binh nữa, cũng dàn làm hai hàng. Lớp sau cùng bốn trăm Lôi-kỵ với tám trăm chính binh, dàn làm ba hàng.
Thủ-Huy nhìn vào doanh Bắc Khắc-liệt : Đèn đuốc tắt hết, lấp lánh vài ngọn lửa của mấy gia đình đang nướng thịt ăn khuya.
Thình lình có tiếng quát tháo, tiếng la hét, từ doanh trung ương đưa lại. Nhanh chóng Thủ-Huy, Dược Sơ Đài tung mình lên ngọn cây cao nhìn vào : Trong doanh trung ương đang có cuộc giao chiến. Một bên là đội võ sĩ Tống, một bên là đội thân binh Khắc-liệt. Đội thân binh Khắc-liệt đông gấp bội, được chỉ huy bởi hơn chục cao thủ, bao vây đội võ sĩ Tống vào giữa. Đội võ sĩ Tống tuy ít người, nhưng có ba đại cao thủ Mao Khiêm, Vương Cương-Trung, Hàn Dũ-Linh đứng đầu, vừa đánh, vừa lùi ra phía cổng doanh. Đội thân binh Khắc-liệt bị đánh dạt ra. Cứ mỗi chiêu của bọn Mao Khiêm đánh ra là đầu một thân binh Khắc-liệt rơi xuống. Trong không đầy một khắc, mà xác thân binh Khắc-liệt nằm la liệt trên đất. Đoàn võ sĩ Tống đã ra gần tới cửa doanh. Bỗng có tiếng tù và rúc lên, một đội võ sĩ trang phục theo lối đệ tử Đạo-sư, hơn trăm người, cầm đầu bởi một Đạo-sư , và một cao thủ, xung vào chặn mất đường rút lui của đội võ sĩ Tống. Trong ánh lửa chập chờn, Thủ-Huy, Dược Sơ Đài nhận ra Đạo-sư đó chính là Thát Minh, em Cốc Chu. Cao thủ đó là Mao Khiêm.
Dược Sơ Đài hỏi Thủ-Huy :
- Tại sao vậy ?
- Tôi đoán thế này ! Tên Cốc Chu muốn giữ uy tín, y phải làm sao cho ta thất bại. Y sai tên Thát Minh dẫn võ sĩ sang mật báo kế hoạch cho Tang Côn. Cho nên Tang Côn kịp đề phòng. Tang vớí bọn Tống vốn nghi kị nhau đã lâu . Ngay trong đám võ sĩ Tống cũng chia làm hai phe. Một phe là đám Hoa-sơn do Vương Cương-Trung cầm đầu, một phe do Mao Khiêm cùng bọn Trường-bạch cầm đầu. Có lẽ bọn Tang Côn nghe Thát Minh cáo rằng bọn Tống làm nội ứng cho ta.Y với Tang Côn sai thân binh vây bắt bọn Tống, nên mới có cuộc chém giết lẫn nhau. Ta cứ án binh bất động đợi chúng giết nhau chán mới ra tay. Dường như Vương Cương-Trung, Hàn Dũ-Linh bị trúng độc hay bị thương thì phải, vì bước đi của họ không vững.
Chợt Thủ-Huy bật lên tiếng à :
- Từ mấy hôm nay, tôi cứ phân vân mãi, không biết anh em Cốc Chu học võ với ai trong bản phái. Thì ra y học với tên Mao Khiêm ! Sau trận này ta phải cáo với Đại-hãn điều tra xem Mao dậy anh em Cốc Chu từ bao giờ ? Không biết anh em y làm gian tế cho Mao Khiêm qua Tang Côn hay làm gian tế cho Tống ?
Đến đây, bọn thân binh Khắc-liệt lùi trở lại. Vòng vây mở rộng, rồi đội cung thủ Khắc-liệt tiến lên, dương cung, chĩa tên vào trong. Một tướng Khắc-liệt cầm đao hướng vào trong nói gì, nhưng Hàn Dũ-Linh lắc đầu, rồi tung mình lên cao. Thấp thoáng một cái bà đã đến trước mặt viên tướng Khắc-liệt. Aùnh thép lóe lên, đầu y bay khỏi cổ. Lập tức đội cung thủ cùng buông tên. Đám võ sĩ Tống reo hò, lao người vào vòng vây. Thế là hai bên lẫn lộn với nhau.
Thủ-Huy suýt xoa :
- Bọn võ sĩ Tống được quá ! Nếu như hai bên không lẫn vào nhau, thì bị cung thủ bắn chết hết.
Dược Sơ Đài nhắc Thủ-Huy :
- Xin phò mã ban lệnh tấn công !
Thủ-Huy rút trong bọc ra một cái pháo lệnh ra đốt, rồi dùng nội lực tung lên trời. Pháo nổ một tiếng đùng, trên không hiện ra hình một con chim ưng.
Lập tức từ ngọn đồi phía Nam, hơn ba chục vệt lửa xanh-tím-đỏ vọt lên không, rồi phát nổ như những tiếng sấm. Mấy chục quả cầu lửa chụp xuống doanh trung ương Khắc-liệt. Mỗi quả cầu hóa thành hằng muôn nghìn vệt lửa phủ lên các căn lều trại. Tiếp theo, hơn trăm quả khác. Phút chốc doanh trại trung ương Khắc-liệt biến thành một biển lửa. Lẫn trong tiếng nổ, có muôn nghìn tiếng gào thét, kêu khóc, tiếng thú vật tru tréo. Người, thú đạp lên nhau, chạy ra khỏi biển lửa.
Đến đây Thủ-Huy không thấy hình bóng bọn võ sĩ Tống đâu nữa.
Khắp doanh trung ương, lửa bốc lên cao ngút trời. Nhiều người cháy như một cây đuốc. Các tướng lĩnh, quý tộc cùng vợ con, kẻ chết, người bị phỏng, cố thoát khỏi biển lửa, chạy ra bốn doanh xung quanh. Họ vừa kinh hãi, vừa luyến tiếc, đứng nhìn tài sản bị thiêu rụi, mà không ai hiểu sấm sét ở đâu đánh xuống đầu họ.
Đợi khi những cái lều cuối cùng của doanh trung ương bốc cháy, Thủ-Huy lại tung lên trời một cây pháo thăng thiên. Bây giờ Lôi-tiễn lại chụp xuống ba trại Đông, Nam, Bắc. Hơn khắc sau ba khu này cũng bốc cháy. Người người lại ùn ùn chạy sang doanh phía Tây là nơi không bị thần hỏa bao phủ.
Thủ-Huy hỏi Dược Sơ Đài :
- Huynh chuẩn bị xong chưa ?
- Xong rồi.
Thủ-Huy tung lên trời một cây pháo thăng thiên nữa. Lập tức Lôi-tiễn ngừng nã. Dược Sơ Đài cầm tù và rúc liên tiếp ba tiếng, tất cả thiên phu cùng giật cương ngựa. Ngựa hí, người rú tạo thành một âm thanh khủng khiếp, rồi lớp đầu lao vào trại địch. Họ không cần phân biệt thú hay người, cứ thấy sinh vật là vung đao chặt. Bốn mũi này xung tới trung ương trại, không gặp một sức kháng cự nào.
Tù và lệnh rúc hai tiếng nữa, lập tức đội hình lớp đầu biến đổi thế trận. Mỗi bên hai bách đánh quặt sang hai phía phải, trái. Trong khi đó bốn mũi lớp thứ nhì xuyên về trước thay lớp thứ nhất.
Thủ-Huy, Dược Sơ Đài tiến vào theo lớp thứ nhì cùng với một bách trừ bị.
Cuộc chém giết diễn ra khoảng hơn một giờ thì trong trại không còn một người nào sống sót. Suốt một vùng đất rộng, nào vật dụng, nào xác người, nào xác ngựa nằm ngổn ngang. Một vài chỗ , lửa vẫn bốc lên ngùn ngụt.
Theo đúng kế hoạch dự trù, thì tất cả các Thiên-phu Lôi-kỵ cũng như chính binh sẽ tiến đến doanh phía Tây để bao vây, làm áp lực, khiến tàn quân Tang Côn bỏ chạy. Nhưng vì biến cố đám võ sĩ Tống vơí thân binh Khắc-liệt chém giết nhau, Thủ-Huy quyết định đổi thế trận : Bác Khô La, và Bác Nhĩ Hốt dẫn quân mã trực thuộc tiếp tục tiến lên về phía doanh Tây, Dược Sơ Đài dẫn quân sĩ trực thuộc trở lại lục soát doanh trung ương, để tìm vết tích bọn Tống, bọn Thát Minh.
Bác Khô La, Bác Nhĩ Hốt dàn hai Thiên-phu Lôi-kỵ, sáu Thiên-phu chính binh trước đoanh phía Tây. Doanh này không bị Lôi-tiễn nã, quân sĩ thức giấc, họ đã dàn ra phía trong, đốt đuốc chờ đợi. Trong ánh lửa chập chờn, khoảng hơn năm chục người ngồi trên mình ngựa, được quân sĩ hộ vệ. Bác Khô La chỉ cho Thủ-Huy biết tên từng viên tướng, từng tộc trưởng của Khắc-liệt.
Bác Nhĩ Hốt than :
- Sao không thấy Tang Côn ? Không lẽ y chết vì Lôi-tiễn rồi ?
Thủ-Huy nói nhỏ vào tai Bác Khô La mấy câu. Bác Khô La cầm loa hướng vào đám người quý tộc nói lớn :
- Các người có thấy không ? Vì Thiết Mộc Chân là con của thần mặt trời nên trời sai sấm sét đốt hết doanh trại, binh tướng của Vương-hãn. Nếu các người đầu hàng thì sẽ được bảo toàn tính mệnh của mình và gia thuộc. Còn như các người chống lại, thì tất cả sẽ chết uổng.
Tiếng loa vừa dứt thì một loạt tên từ trong bắn ra.
Thủ-Huy tung lên trời một cái pháo thăng thiên. Lập tức hai Thiên-phu cùng rú lên, đổi tiền đội ra hậu đội, rồi lui về sau hơn một dặm. Binh tướng Khắc-liệt cười rộ, cho rằng quân Mông-cổ sợ hãi.
Ngay lúc đó, Lôi-tiễn rút lên những tiếng kinh khủng nổ chụp lên đầu địch. Lều trại trong doanh phía Tây bốc cháy ngùn ngụt.
Thủ-Huy, Bác Khô La leo lên một ngọn cây quan sát : Trong trại Khắc-liệt, lửa cháy khắp nơi. Cứ mỗi mũi Lôi-tiễn nổ trên không, lại chụp xuống hàng nghìn, hàng vạn viên lửa. Binh sĩ Khắc-liệt kinh hoàng, họ không còn tuân lệnh các tướng nữa. Những người độc thân thì ôm đầu lên ngựa chạy khỏi trại. Kẻ có vợ con, thì lo dắt díu vợ con bỏ chạy về phía Tây.
Thủ-Huy ra lệnh cho Bác Nhĩ Hốt :
- Tôi đồ chừng Tang Côn chạy theo đám tàn quân. Vậy huynh đem bản bộ quân mã đuổi theo. Đến sông Ngưu-ẩm thì đổi ngựa, rồi đuổi tiếp, không cho Tang Côn ngừng lại để có thể tập trung quân phản công.
Lại ra lệnh cho Bác Khô La :
- Huynh đem bản bộ quân mã chặn tất cả những ngõ, ngách, bắt hết tàn quân địch. Tuyệt đối không nên giết chúng.
Trời dần sáng.
Bác Khô La, Dược Sơ Đài, Biên Gô Đài đã tập trung quân lại trên bãi đóng quân của Khắc-liệt. Bọn tù binh, hàng binh được lùa vào ngồi thành mấy trăm hàng dài.
Lát sau, Cát Xa, Tê Mô Gu cũng đem quân, cùng tù binh về phục mệnh.
Cát Xa báo cáo :
- Sau khi ngừng nã Lôi-tiễn, Thúy-Thúy cô nương dẫn mười đệ tử Đông-A với một Bách-phu Lôi-kỵ về hướng Tây, nói rằng để thi hành mật lệnh của phò mã, nên không về cùng với chúng tôi.
- Đúng vậy !
Thủ-Huy nói với Biên Gô Đài :
- Chủ lực của Tang Côn đã bị tan rã. Giờ này y đang bị tướng Bác Nhĩ Hốt truy kích. Dù y chết hay sống, thì cũng thế thôi. Việc quản trị tù binh, bình định là quyền của huynh.
Cốc Chu cùng đám bộ hạ đã đến. Y nói với Thủ-Huy :
- Biên Gô Đài là một Thiên-phu trưởng. Y chỉ có nhiệm vụ đánh giặc. Bây giờ giặc tan, thì việc tập hợp dân chúng, thu thập chiến lợi phẩm, tổ chức cai trị phải ta điều động các nhà quý tộc đảm trách. Phò-mã không thể trao quyền cho y.
Thủ-Huy chắp tay :
- Thưa Tổng Đạo-sư, tôi là khách ! Tôi không có quyền gì cả. Đại-hãn nhờ tôi chỉ huy đánh Tang Côn. Nay quân Tang Côn bị quân của ta đánh tan. Bây giờ y bị đuổi khỏi vùng Thát-đát này, thì coi như lãnh thổ đã trở về với Mông-cổ ta. Những việc làm sau đó thuộc thẩm quyền quý vị. Quý vị tự giải quyết với nhau.
Nhưng Biên Gô Đài không coi Cốc Chu ra gì. Y cứ sai quân gom tù binh lại, kiểm điểm tài vật của địch bỏ tịch thu được. Lại ra lệnh cho các tộc trưởng bị cầm tù cũng như đầu hàng bắt tập trung bộ tộc, binh lính thuộc quyền, cho trở về đất của họ. Cốc Chu bực mình, hò hét, bắt các quý tộc, các Hãn của những bộ tộc thuộc Mông-cổ hiện diện, cũng như của Khắc-liệt đầu hàng làm theo lệnh mình. Nhưng khốn nỗi, không ai có thể cãi lại lệnh của Biên Gô Đài, vì sức mạnh của đao-thương, cung-tên trong tay y. Biên Gô Đài sai các tộc trưởng thuộc các nước Diệt-xích -ngột, Miệt-nhi, Ong-gút, Thát-đát theo Tang Côn mới đầu hàng đi chiêu dụ các tộc trưởng đang theo Trác Mộc Hợp.
Cốc Chu cùng đám đệ tử hét lên :
- Các người làm trái luật nhà trời ! Có bao giờ mấy tên tướng võ lại cai trị dân ?
Các Khả-hãn, các Hãn cũng như chư tướng nghe y hét đều run sợ. Họ tỏ vẻ bất mãn với Thủ-Huy, với Biên Gô Đài. Đến đây Thúy-Thúy đã trở về. Thủ-Huy hỏi :
- Tình hình ra sao ?
- Hoàn toàn tốt đẹp. Đã trao cho tướng Dược Sơ Đài.
Thủ-Huy cười nhạt, ra hiệu cho Dược Sơ Đài. Ông ta hỏi Cốc Chu :
- Thưa Tổng Đạo-sư, theo luật của nhà trời, thì một kẻ đầu hàng địch quân mang bí mật hành quân báo cho địch thì bị tội gì ?
- Y sẽ bị bỏ vào cái túi, rồi để kỵ binh dẵm lên cho đến chết.
- Tôi có bắt được một tên tướng của ta, trước giờ khai mạc trận đánh đã chạy sang báo kế hoạch cho Tang Côn. Y bị bắt cùng với toàn bộ thuộc hạ của y.
- Tên đó là đứa nào ?
Dược Sơ Đài hô :
- Đem vào !
Thân binh giải một tên tù, toàn người y bị chụp một cái túi vải. Y bị đẩy đến trước mặt Cốc Chu cùng các tướng.
Cốc Chu hét lên :
- Pháp-binh đâu! Đem y bỏ vào cái túi, rồi cho ngựa dẵm lên trên.
Nói dứt y lột cái túi vải chụp trên người tên tù binh. Tất cả ử tọa cùng la hoảng, bởi y chính là Thát Minh.
Cốc Chu chết điếng người đi. Y chưa biết phản ứng sao, thì Lôi-kỵ giải vào chín mươi ba tù binh nữa. Các tướng nhận diện được, bọn này chính là các tiểu đạo sư, đệ tử của Thát Minh.
Mặt Cốc Chu tái xanh. Y hỏi :
- Tại sao các người lại bắt trói Tổng Đạo-sư ? Các người không sợ trời giết chết ư ?
Dược Sơ Đài chắp tay :
- Tôi đã lấy cung từ của các Khả-hãn, Hãn của Khắc-liệt bị bắt. Họ khai rằng Thát Minh đã lén sang dinh Khắc-liệt báo hết kế hoạch của ta cho Tang Côn. Sau khi Tang Côn bỏ chạy, chính Thát Minh dẫn đám này chạy theo Tang Côn. Y bị cô nương Vương Thúy-Thúy đuổi theo, bắt tại trận. Xin Tổng Đạo-sư ra lệnh xử tử ngay tại đây !
Cốc Chu run run :
- Ta không tin em ta phản bội.
Biên Gô Đài cười nhạt :
- Tôi phải giải Thát Minh cùng chín mươi ba tên này về Hoa-lâm cho Đại-hãn xử tử.

Năm ngày sau thì Bác Nhĩ Hốt trở về. Ông báo cáo : Đã đuổi Tang Côn đến tận biên giới Thổ-phồn. Y xua tàn quân vào nước này. Vì Thổ-phồn là một nước hùng mạnh, nên ông truyền quân ngừng lại, giao cho hai tộc trưởng thuộc Mông-cổ dùng quân cơ hữu dàn giữa biên giới hai nước, hễ thấy y trở lại thì bắt giết.
Thủ-Huy họp chư tướng, Đạo-sư, các Khả-hãn, các Hãn, các nhà quý tộc, nghị việc đánh Trác Mộc Hợp, thì Biên Gô Đài dẫn hai mươi chín tộc trưởng theo Trác Mộc Hợp, được chiêu dụ đã kéo bộ tộc đầu hàng Mông-cổ. Họ cho biết, Trác Mộc Hợp đươc tin chỉ một đêm, năm vạn quân nòng cốt của Tang Côn bị đánh tan, các bộ tộc bỏ theo Mông-cổ gần hết. Y đã dẫn các bộ tộc trực thuộc cùng hơn vạn quân bỏ chạy về hướng Nam.
Thủ-Huy ra lệnh cho Dược Sơ Đài, Bác Khô La :
- Chúng bỏ chạy cùng với gia đình, thì xe, ngựa, đàn bà, trẻ con cồng kềnh, nên rất chậm. Hai huynh đem bản bộ quân mã, mỗi kị binh mang theo thêm một ngựa, đuổi theo bất kể ngày đêm. Khi đuổi kịp, mà chúng bỏ chạy thì dùng Lôi-tiễn nã lên đầu chúng để uy hiếp tinh thần. Còn nếu chúng dàn quân nghinh chiến thì dùng Thần-nỏ mà bắn.
Hai tướng tuân lệnh lên đường liền.

Ba ngày sau, Dược Sơ Đài, Bác Khô La trở về, dẫn theo chín tộc trưởng cùng dân chúng đầu hàng. Biên Gô Đài tiếp nhận, xếp đặt cai trị. Dược Sơ Đài báo cáo :
- Thưa phò mã, khi chúng tôi đuổi kịp, dùng Lôi-tiễn nã lên đầu bọn Trác Mộc Hợp. Y kinh hoàng dẫn quân bỏ chạy, để các tộc trưởng với dân chúng lại. Các tộc trưởng xin hàng. Tôi để Bác Khô La tiếp quản, rồi dẫn quân đuổi theo. Trác Mộc Hợp dẫn quân tràn vào Nãi-man ẩn thân, vì vậy chúng tôi mới kéo quân về.
Cát Xa tổ chức khao quân cực kỳ to lớn. Trong buổi lễ khao quân, chư tướng cũng như các tộc trưởng, các Hãn đều cúi đầu bái phục Thủ-Huy. Họ tin rằng trời đã đem Thủ-Huy lại cho họ.
Hơn tháng sau, sứ giả của Đại-hãn Thiết Mộc Chân tới xin vào ra mắt Thủ-Huy. Sứ giả chính là Tốc Bất Đài, bạn thân với Thủ-Huy . Vừa thấy Thủ-Huy, y nói trước :
- Đệ tới đây báo tin mừng cho đại ca biết. Cả hai đạo quân đánh kinh đô Khắc-liệt lẫn Hoa-lâm đều thành công. Đại-hãn, các Khả-hãn, các Hãn, các nhà quý tộc đều hết lòng khâm phục phò-mã, công chúa. Ai cũng nói, hai vị mới là sứ giả mà trời sai xuống giúp Mông-cổ. Anh em Đạo-sư Cốc-Chu mất hết uy tín. Các Khả-hãn của Khắc-liệt trên trăm năm qua đều hân hoan theo Mông-cổ. Lãnh thổ Khắc-liệt nay thuộc ta.
Y thuật lại trận đánh kinh đô Khắc-liệt :

Đạo quân của Bác Nhĩ Truật, Tốc Bất Đài, Triết Biệt âm thầm đi vòng xuống Nam, tiến đánh kinh đô Khắc-liệt. Trên đường đi, không gặp một đội quân tuần phòng nào của Tang Côn. Tất cả tới vùng lân cận kinh đô vào lúc trời chập choạng tối. Sáu Thiên-phu Lôi-kỵ, Ba Thiên-phu Thân-binh, sáu Thiên-phu chính binh chia làm sáu mũi, thình lình tấn công vào 18 bộ tộc. Bị bất ngờ, hơn nữa hầu hết quân sĩ của các Hãn đã theo Tang Côn chinh tiễu xa. Các quý tộc, các Hãn đầu hàng. Họ kinh ngạc vô cùng khi quân Mông-cổ không bắt dân đem đi làm nô bộc. Cũng không cướp gia súc. Họ chỉ bắt các Hãn theo làm con tin, bắt trai tráng thuộc hàng quý tộc theo để khuân vác quân dụng.
Vương trưởng tử Truật Xích chiêu mộ các Hãn, quý tộc, truyền cho họ tuyên thệ bỏ Khắc-liệt theo Mông-cổ. Họ vui vẻ tuân hành, vì họ biết rằng từ nay bộ tộc của họ được sống dưới quyền cai trị của Thiết Mộc Chân sẽ hạnh phúc hơn sống dưới quyền Tang Côn. Công việc hoàn tất trong đêm.

Sáng hôm sau, Bác Nhĩ Truật cho tiến quân vào trung ương kinh đô, khu vực 10 bộ tộc của các thân vương Khắc-liệt, thì chỉ thấy lều trại, nhà cửa trống không. Người cũng như quân trú phòng đều rút vào trong ngôi thành đá. Đây là ngôi thành dài, rộng tới 10 dặm (5km), cao 8 trượng (4m). Trên mặt thành có chỗ núp cho quân trú phòng. Người trấn thủ kinh đô Khắc-liệt là em ruột Vương-hãn tên Gia Gam Bu. Hôm trước tuy bị bất ngờ, bị Mông-cổ chiếm mất 18 bộ tộc, song y là người mưu trí, thiện chiến. Ngay trong đêm, y kịp thời suất lĩnh quân đội, tráng đinh của 10 bộ tộc thân vương, rút vào trong thành đá phòng thủ. Y bàn vơí các Hãn, các thân vương, quý tộc :
- Mông-cổ chỉ có một vạn hai nghìn quân, trong khi ta có tới một vạn quân phòng thủ với hai vạn quân bộ tộc. Thành của ta cao, xây bằng đá, làm sao bọn Bác Nhĩ Truật có thể đánh nổi ? Trước đây hùng mạnh như Nãi-man, đã hy sinh năm vạn quân, mà cũng không vào được thành. Bây giờ ta cứ để cho Bác Nhĩ Truật tấn công hai ba ngày, quân số hao hụt, mệt mỏi, bấy giờ ta phản công, thì tiêu diệt được bọn này.
Trong khi đó bên ngoài, Bác Nhĩ Truật họp các tướng lại bàn kế đánh. Vương trưởng tử Truật Xích đưa ra ý kiến :
- Dàn bốn Thiên-phu Lôi-kỵ tại bốn cửa thành với các dàn Thần-nỏ. Hai Thiên-phu Lôi-kỵ cùng bốn Thiên-phu Thân-binh, sáu Thiên-phu chính binh phục trên các ngả đường rút quân. Rồi đợi nửa đêm nã Lôi-tiễn đốt hết nhà cửa, kho lẫm . Ta nướng chả Gia Gam Bu , tận diệt bọn thân vương, bọn quý tộc Khắc-liệt cùng vợ con chúng.
Đệ nhị vương tử Oa Khoát Đài không đồng ý. Y lý luận :
- Nếu như đánh Khắc-liệt để trả thù thì nên hành động như vậy. Còn bây giờ ta diệt Vương-hãn, thu dân Khắc-liệt về với ta, ta phải làm sao tránh cái chết cho dân chúng, để thu phục nhân tâm. Trước hết ta gửi sứ giả vào nói với các thân vương, các Hãn, các nhà quý tộc rằng Tang Côn, Vương-hãn bị đánh tan. Nếu họ đầu hàng, thì địa vị vẫn được giữ nguyên. Còn như chống lại thì sẽ bị giết sạch. Dĩ nhiên họ không đầu hàng, vì chưa biết lợi hại của Lôi-tiễn. Bấy giờ ta mới nã Lôi-tiễn, trong thành ngập lửa, ắt sẽ có nhiều Hãn mở cửa thành ra đầu hàng, hoặc Gia Gam Bu tung quân đánh ra, ta dùng Thần-nỏ tiêu diệt.
Các tướng đồng ý đường lối hành động của Oa Khoát Đài. Một Hãn thuộc Khắc-liệt đầu hàng được cử đi sứ. Gia Gam Bu cùng các thân vương không tin lời của sứ giả rằng Vương-hãn với Tang Côn bị đánh bại. Họ cũng không tin Mông-cổ có Lôi-tiễn, Thần-nỏ.

Biết không đừng được, Trần Tử-Kim chỉ huy đội võ sĩ Long-biên mở những bó gỗ ráp thành cái đài cao 8 trượng (16m), đưa một dàn Thần-nỏ đặt trên đài rồi mời Bác Nhĩ Truật, Truật Xích cùng lên quan sát tình hình bên trong. Bác Nhĩ Truật chỉ cho Tử-Kim, chỗ nào là dinh thự của các thân vương, chỗ nào là kho tàng. Tại bốn cửa thành, các kị mã dàn thành hàng. Oa Khoát Đài chỉ kị mã nói :
- Tình hình thế kia, thì Gia Bu Gam sẽ mở cửa thành đánh úp ta ngay đêm nay. Ta phải chuẩn bị sẵn để chờ đón y.
Bác Nhĩ Truật xuống đài, bố trí bốn Thiên-phu bốn cửa thành. Hai Thiên-phu khác chặn các ngả rút quân chờ đợi. Lại đặt các dàn Thần-nỏ vào những vị trí chờ đợi. Trong khi Tử-Kim ra lệnh cho bốn đội trưởng Lôi-tiễn rằng khi có lệnh thì nã vào khu vực sát các cổng thành, nơi quân Khắc-liệt tập trung.
Đúng nửa đêm, Bác Nhĩ Truật leo lên đài hỏi Tử-Kim :
- Huynh đệ ! Liệu huynh đệ có thể bắn một mũi Lôi-tiễn vào ngôi lâu đài cao bốn tầng kia không ? Đó là cung điện của Vương-hãn đấy !
- Được !
Thủ-Huy cho dương cung. Đây là cây cung cực lớn, phải cần đến hai võ sĩ mới dương nổi, rồi đặt một ống Lôi-tiễn vào. Tử-Kim đánh lửa trao cho Truật Xích :
- Xin vương tử khai nỏ.
Truật Xích châm lửa vào đầu Lôi-tiễn, lửa gặp dầu cháy bùng lên. Tử-Kim hô :
- Bắn !
Mũi Lôi-tiễn vọt đi, thành một vệt lửa đỏ-xanh-tím, vừa tới nóc dinh thự thì phát nổ. Tiếng nổ vang rền như sấm. Tiếp theo, một trái cầu lửa chụp lên trên nóc dinh. Dinh bốc cháy ngùn ngụt. Dân chúng trong thành la hoảng, trong khi quân ngoài thành cùng hú lên tỏ ý reo mừng.
Mũi Lôi-tiễn đó là lệnh khai hỏa. Các dàn Lôi-tiễn cùng bắn một lượt. Không đầy một khắc cả thành biến thành một biển lửa. Trong biển lửa , tiếng người gọi nhau ơi ới, tiếng thú rống lên lẫn lộn vào nhau. Quân sĩ phòng vệ trên mặt thành quẳng vũ khí đi cứu hỏa, mặc cho các tướng hò hét, quát tháo. Trong ánh lửa chập chờn, Bác Nhĩ Truật nhìn rõ Gia Gam Bu tập họp binh sĩ gần bốn cửa thành. Rồi bốn cửa thành cùng mở tung. Các đoàn kị mã Khắc-liệt từng Bách-phu ào ạt xung ra ngoài. Khi Bách-phu thứ nhì vừa rời cổng thành, thì Nỏ-thần tác xạ. Chỉ một loạt, hai trăm người bị trúng tên lộn xuống ngựa. Người nào may mắn thoát khỏi, thì bị phục binh bắn hạ. Ngựa không người điều khiển, con chạy vào thành, làm các Bách-phu sau bị ùn lại. Cũng có con chạy tỏa ra ngoài, thì bị bắt. Trong khi đó Lôi-tiễn vẫn chụp lửa lên đầu đội hình các đội quân còn ở trong thành. Mặc sự hỗn loạn ở các cổng. Các tướng Khắc-liệt vẫn hô kị mã xông ra khỏi thành. Nhưng ra bao nhiêu bị bắn gục bấy nhiêu. Sau khi mỗi cổng xua hơn mười Bách-phu xông ra, đều bị băén ngã, xác người nằm chồng chất giữa cửa thành. Quân bên trong không ra được nữa, mà Lôi-tiễn vẫn nổ trên đầu. Gia Bu Gam ra lệnh đóng cổng thành. Y kiểm điểm lại, với một vạn hai nghìn quân, bị chết khi đánh ra mất bốn nghìn. Hơn ba nghìn chết vì Lôi-tiễn, còn lại, hầu hết bị phỏng do Lôi-tiễn gây ra. Dinh thự, lều trại bị cháy mất một phần ba. Phân nửa các Khả-hãn, Thân-vương, Hãn, quý tộc bị chết, bị thương.

Bác Nhĩ Truật ra lệnh ngừng nã Lôi-tiễn, cho rút quân ra xa hơn hai dặm, rồi sai sứ vào chiêu hàng, với lời hứa : Các Khả-hãn, Thân-vương, các Hãn đều được giữ nguyên lãnh thổ, của cải, vợ con. Được đối xử bình đẳng như các Hãn trực thuộc Mông-cổ. Tuy nhiên quân sĩ, thì phải đặt thống thuộc Mông-cổ. Họ quyết định xin hàng. Duy Gia Bu Gam, biết rằng khi đầu hàng thì tính mệnh y khó bảo toàn. Y cùng một đội vệ sĩ mở cửa thành phá vòng vây chạy ra ngoài. Y bị Triết Biệt bắn chết.
Chiếm được Kinh-đô Khắc-liệt xong. Bác Nhĩ Truật trao việc bình định mấy trăm bộ tộc còn lại cho vương trưởng tử Truật Xích, Oa Khoát Đài, rồi cùng Tốc Bất Đài, Triết Biệt đem quân đi phục kích bắt Vương-hãn.
Đạo quân của Đại-hãn tiến đánh bản doanh Vương-hãn thì gặp sức chống trả mãnh liệt. Tuy có Lôi-tiễn, Thần-nỏ yểm trợ, mà Gia Luật Mễ đánh doanh trung ương của Vương-hãn phải trọn đêm mới thành công. Khi Vương-hãn bỏ chạy, thì các bộ tộc Mông-cổ cùng nổi dậy đánh đuổi các đội quân của Vương-hãn đóng kiềm chế họ. Hiện lãnh thổ Mông-cô đã được phục hồi. Còn Vương-hãn cùng tàn quân chạy về Khắc-liệt, đi đến giữa đường thì lọt vào trận phục kích cuả Bác Nhĩ Truật, Tốc Bất Đài. Toàn quân tan vỡ. Ông ta dẫn một số cận thần tràn vào lãnh thổ Nãi-man ẩn thân.
Thủ-Huy cùng Tốc Bất Đài về Hoa-lâm. Thiết Mộc Chân dàn hơn một vạn quân kỵ ra, rồi chính ông cùng Đoan-Nghi, dẫn các con, các em, các tướng đi đón Thủ-Huy.
Vào doanh trung ương, ông thân cắt thịt nướng, tay bưng rượu trao cho Thủ-Huy, rồi hỏi :
- Phò mã ! Trước đây, Vương-hãn vừa là chúa, vừa là cha nuôi, cũng chưa từng được đón tiếp trọng thể như vậy. Hồi đệ lục hoàng tử Kim là Hoàng Nhan Hồng Liệt sang phong chức tước cho tôi, cũng không được tiếp đón nồng hậu như thế này. Không biết như vậy đã làm phò mã vui lòng chưa ?
Thủ-Huy đáp không suy nghĩ :
- Chưa !
Tất cả mọi người đều sửng sốt. Thiết Mộc Chân hỏi :
- Phải như thế nào phò mã mới vui lòng ? Hay tôi cắt đất Khắc-liệt, mời phò mã làm Khả-hãn nước đó ?
- Bao nhiêu công lao của vợ chồng chúng tôi, của Vương Thúy-Thúy của Trần Tử-Kim đã lập được với Mông-cổ, chỉ xin Đại-hãn ban cho ba đặc ân.
Cả một doanh có đến hơn nghìn người đều im lặng nghe năm điều mà Thủ-Huy xin.
Thủ-huy trịnh trọng nói :
- Điều thứ nhất tôi xin là Khả-hãn hãy lên ngôi Thành-cát Tư-hãn, lĩnh mệnh trời, đem lại hạnh phúc cho dân thảo nguyên. Vì nếu vùng thảo nguyên có một vị chúa tể, thì không còn chia năm sẻ bẩy, không còn chém giết nhau, dân chúng không còn khổ sở. Khi Mông-cổ là nước thống nhất thảo nguyên, thì các nước xung quanh như Thổ-phồn, Nãi-man, Tây-liêu, Đại-kim, Đại-Tống còn bắt các tộc trưởng quy phục, còn xui các bộ tộc chém giết nhau nữa !
Điều mà Thủ-Huy đề nghị, chính là ước mơ thầm kín bấy lâu của Thiết Mộc Chân, mà không bao giờ ông dám hé lộ. Vì chỉ cần ông hé lộ thôi, thì Khắc-liệt, Nãi-man, Tây-liêu sẽ xúm vào diệt ông ngay. Trong nội bộ, các Khã-hãn cũng tách ra chống ông. Bây giờ trong lúc chiến thắng Khắc-liệt, lại có đội quân hùng mạnh trong tay, ông cũng có ý đó. Ông chưa nói ra mà chính người khách ở xa đến, nhân danh hạnh phúc của dân chúng đề nghị lên với ông. Đến nằm mơ ông cũng không ngờ tới.
Khả-hãn Đa Di Đài là người theo Mông-cổ từ lâu, gần đây, y theo Khắc-liệt đánh Mông-cổ. Bây giờ y bị Bác Khô La bắt sống, được Thiết Mộc Chân ân xá. Nghe Thủ-Huy đề nghị, y kinh hoàng hỏi :
- Theo phò mã đề nghị, như vậy từ nay bãi bỏ hết các Hãn, Khã-hãn hay sao ?
Câu hỏi của Đa Di Đài cũng là câu hỏi của tất cả các lãnh chúa mấy trăm tộc hiện diện.
Thủ-Huy xua tay :
- Tôi chưa nói hết ý ! Truyền thống tổ chức của Thảo- nguyên vẫn duy trì chứ đâu có bỏ.
Đa Di Đài hỏi
- Vậy thì. ! ? !
- Tổ chức lãnh thổ của Mông-cổ như sau. Mỗi tộc có một tộc trưởng. Tộc trưởng cũ vẫn cai trị tộc mình theo lối cha truyền con nối. Các tộc trưởng phải được Hãn của tộc bổ nhiệm.
Các tộc trưởng thở phào ra, như thoát một tai ách ghê gớm nhất đời. Thủ-huy tiếp :
- Nhiều tộc thành một bộ tộc. Mỗi bộ tộc có một Hãn cai trị. Các Hãn này do cha truyền con nối. Các Hãn phải được Khả-hãn của tiểu quốc tấn phong. Nhiều bộ tộc lập thành một tiểu quốc, trên có một vương tước hay Khả-hãn cai trị. Các Khả-hãn phải được Đại-hãn của nước mình tuyên phong. Nhiều tiểu quốc lập thành một nước, trên có một Đại-hãn cai trị. Nhiều nước lập thành một Đại Mông-cổ do một Thành-cát Tư-hãn cai trị. Thành-cát Tư-hãn ban sắc chỉ phong cho các Đại-hãn.
Thiết Mộc Chân hỏi các tướng, các Đại-hãn :
- Xin cho biết ý kiến ?
Tổng Đạo-sư Cốc Chu, cùng ba Tổng Đạo-sư Thát Minh, Miệt Hác, Ngột Thai cùng đứng lên nói lớn
- Chúng ta đã bay lên trời. Thượng-đế Mặt-trời phán rằng Thiết Mộc Chân là con của người, phải lên ngôi Thành-cát Tư-hãn, cai trị dân chúng dưới gầm trời này.
Thế là toàn thể cử tọa hô lớn:
- Thành-cát Tư-hãn muôn năm!
Các tướng, các Đại-hãn, Khả-hãn cùng reo hò.
Thiết Mộc Chân hỏi :
- Ước nguyện thứ nhì của phò mã là gì ?
- Trước đây chỉ vì tập tục Mông-cổ phân biệt ra nhiều loại dân, đến nỗi Thành-cát Tư-hãn phải chia tay với Trác Mộc Hợp mà tạo thành một thế lực thù hận bấy lâu. Bây giờ Đại-hãn đã lên ngôi Thành-cát Tư-hãn. Đương nhiên sau này người sẽ cắt đất phong cho các em, các con, các tướng làm Đại-hãn cai trị các nước. Vậy ngay bây giờ xin Thành-cát Tư-hãn hãy bỏ những tập tục bắt dân các nước bị thua trận làm nô lệ, cho họ được bình đẳng với dân Mông-cổ, để tránh tạo thành những Trác Mộc Hợp khác.
Thiết Mộc Chân dơ tay thề :
-Tôi xin tuân lời dạy dỗ của phò mã. Xin phò mã cho biết điều ước nguyện thứ ba
Thủ-Huy ghé miệng vào tai Thiết Mộc Chân nói một lúc. Không ai biết công nói gì, chỉ thấy Thiết Mộc Chân gật đầu liên tiếp.

Ghi chú của thuật giả:

Thành-cát Tư-hãn, theo ngôn từ vùng thảo nguyên thì có nghĩa là ông vua lớn nhất, uy quyền nhất dưới gầm trời. Tây-phương phiên âm thành Gengis Khan. Kể từ ngày Thiết Mộc Chân lên ngôi Thành-cát Tư-hãn đến nay, trải qua 700 năm, không sử gia nào biết rằng cái tên này phát xuất trong trường hợp nào? Ai đã đặt ra? Chỉ độc giả Anh-hùng Đông-A là biết rõ mà thôi.
Chán đời đi lang thang !
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-04-09 18:44:31NuHiepDeThuong>
Hồi thứ ba mươi hai


Ai hay vĩnh quyết là ngày chia ly

(Đoạn-trường tân thanh)



- Bắn!
Mũi tên xé gió hướng vào con thỏ đang chạy phía trước. Bị trúng tên, con thỏ lật ngược, bốn chân hướng lên trời, dãy loạn xạ.
- Cháu tôi bắn giỏi quá!
Thúy-Thúy cất tiếng khen:
- Thôi đủ rồi. Hôm nay Thủ-Độ của cô bắn được hai con thỏ, một con ngỗng trời, giỏi quá! Giỏi hơn con chó Quít nữa.
Thủ-Độ nhảy xuống ngựa, cầm lấy con thỏ, bỏ vào cái túi bên hông, rồi nó tung mình lên cao, tà tà đạp xuống lưng con tuấn mã mầu đen tuyền. Nó gò cương cho ngựa đi song song song với Thúy-Thúy, rồi hỏi:
- Cô ơi! Ở quê mình có thỏ, có ngỗng không?
- Có chứ! Thỏ ở quê mình không nhiều bằng ở đây, nhưng ngỗng thì nhiều hơn.
- Thế quê mình có beo không?
- Beo ở quê mình nhiều hơn ở đây.
Nó chỉ vào cánh đồng đầy hoa hỏi:
- Thế quê mình có nhiều hoa không?
- Nhiều, nhiều lắm. Quê mình có nhiều trái ngọt, mà ở đây không có. Những trái thơm ngọt như mít, như dứa thì ở đây chả có trái nào có thể so sánh. Kỳ này về quê, con tha hồ mà ăn.
- Bố nói, về quê con sẽ được gặp ông bà nội, gặp bác Lý, gặp cô Kim-Ngân, gặp anh Thừa, anh Khánh. Mẹ bảo, về quê con được gặp bà ngoại. Con có ba người cậu. Một người là vua, còn hai người là vương. Con sẽ được gặp nhiều em, con của các cậu. Chúng nó với con tha hồ chơi đùa. Cậu sẽ phong tước cho con. Ông nội sẽ dậy võ. Võ công con sẽ cao bằng bố ... Tại sao cô không về với con?
- Vì cô không thể về được! Cô mà về thì sẽ bị giết.
Đến đó, bốn con ngựa cùng phi như bay tới. Trên lưng ngựa là bọn thiếu niên ngang tuổi, bạn thân của Thủ-Độ. Đây là đám con cháu của Thành-cát Tư-hãn với con của các Đại-hãn, Thân-vương. Chúng rủ Thủ-Độ đi săn lần cuối, trước khi lên đường về Đại-Việt.
Trong đám trẻ đó, Thành-cát Tư-hãn đã sắp xếp thứ tự như sau: Đứng đầu là con của Thái-tử Oa Khoát Đài tên Hốt Tất Liệt. Thủ-Độ đứng thứ nhì. Thứ ba là Ngột Lương Hợp Thai, con của Tốc Bất Đài. Thứ tư đến Bạt Đô, con của Bác Nhĩ Truật. Cuối cùng là A-lý Hải-nha, con của quân sư A-lý Hải. Ông gọi năm trẻ bằng mỹ danh Thảo-nguyên ngũ điêu (Năm con chim điêu bằng thép của Thảo-nguyên).
Ngột Lương Hợp Thai dơ lên một con trĩ:
- Này anh em! Tôi bắn được con trĩ, lát nữa chúng ta nướng lên, tiễn Thủ-Độ về nước.
Hốt Tất Liệt cũng đưa ra một con chồn hương:
- Này Thủ-Độ coi! Hơn năm nay, loại chồn hương tưởng tuyệt giống, không ngờ ta bắn được một con. Trước đây ông nội ta bắn được con chồn hương, ai cũng bảo đó là đềm người sẽ lập ra một nước hùng mạnh. Sau quả đúng như thế. Bây giờ chúng ta tiễn Thủ-Độ về, mà bắn được chồn hương này. Biết đâu Thủ-Độ về Đại-Việt không lập ra một nước lớn.
Năm trẻ cười nói, đầy hỉ khí. Chúng rong ngựa, vừa đi, vừa đùa vơí nhau.
- Anh Thủ-Độ này.
Ngột-lương Hợp-thai chỉ Thúy-Thúy: Nghe sư phụ nói, ở Đại-Việt có nhiều hoa thơm, trái ngọt, lại có nhiều sông hồ. Dưới sông tôm cá nhúc nhúc. Trên rừng có không biết bao nhiêu loại thú mà kể. : Hay là anh nói với công chúa, công chúa mang cả năm đứa chúng mình về Đại-Việt chơi đi.
A-lý Hải-Nha reo lên:
- Phải đấy.
Thúy-Thúy can thiệp:
- Các con có biết đường từ đây về Đại-Việt xa diệu vợi không? Vừa đi vừa về cũng mất ba tháng. Đời nào Thành-cát Tư-hãn cho các con đi nhỉ!
Đám trẻ xịu mặt xuống. Bạt Đô quay sang Thủ-Độ:
- Như vậy anh hai đi bao lâu thì về?
- Mẹ nói, ít ra là ba năm!
- Ái chà!
Nhìn lên trời, thấy vầng kim ô đã ngả về Tây, Thúy-Thúy nhắc bọn trẻ:
- Ta về thôi! Dễ thường gần Ngọ rồi.
Đám trẻ ngoan ngoãn:
- Tuân lệnh sư mẫu.
Thủ-Độ ra roi quát lên một tiếng:
- Mau!
Năm con ngựa vọt lên như tên bắn. Thúy-Thúy vội phi ngựa theo.
Nàng ngửa mặt nhìn về chân trời xa xa, bất giác buông một tiếng thở dài!

Cho đến hôm nay Thúy-Thúy theo Thủ-Huy Đoan-Nghi lên vùng Thảo-nguyên đã sáu năm, Trần Thủ-Độ đã sáu tuổi. Sau khi Thủ-Huy giúp Thiết Mộc Chân thắng Khắc-liệt, không những khôi phục lại lãnh thổ, mà còn chiếm luôn lãnh thổ của Vương-hãn, nước Mông-cổ trở thành rộng lớn bao la, dân chúng đông đúc hơn ba nước láng giềng là Nãi-man, Thổ-phồn, Tây-liêu, chỉ thua có Tây-hạ với Đại-kim mà thôi.
Thiết Mộc Chân ngỏ ý muốn dựng cho Thủ-Huy một dinh thự theo ý muốn của công. Công nhờ Thúy-Thúy vẽ lại điện Uy-viễn là nơi đặt Khu-mật viện, để làm nơi nghị sự. Lại vẽ cung Long-thụy là nơi nhà vua ngủ, để làm chỗ ở. Cả hai dinh thự xây bằng đá, mái cong, lợp ngói xanh, xung quanh trồng kỳ hoa dị thảo. Thiết Mộc Chân cấp cho Thủ-Huy đủ mọi tiện nghi như một Đại-hãn. Dinh thự của Thủ-Huy Đoan-Nghi nằm cạnh dinh thự của Tử-Kim, Long-Tùng, Đoan-Thanh.
Trần Tử-Kim được phong cấp đại tướng, ngang hàng với bọn Bác Nhĩ Truật, Tốc Bất Đài, phụ trách toàn bộ việc luyện quân của Mông-cổ. Đoan-Nghi gả Đoan-Thanh cho Tử-Kim. Lễ cưới lớn chưa từng có.
Một trong những điều khó khăn của Thủ-Huy là Thúy-Thúy. Ngay từ hôm gặp nhau đầu tiên, Long-Tùng đã say mê nàng đến điên đảo thần hồn. Thúy-Thúy biết thế, nhưng nàng dửng dưng. Một lần Đoan-Nghi nói thẳng với nàng. Nàng đáp :
- Tấm lòng của thế-tử Long-Tùng tiểu tỳ đã biết từ lâu. Tiểu tỳ đâu phải gỗ đá mà không cảm động? Công chúa lại có lòng tốt, xây dựng lại cuộc đời cho tiểu tỳ. Tiểu tỳ thâm cảm vô cùng. Nhưng...nhưng... trong tâm tiểu tỳ không còn chỗ nào để nhận đóa hoa hải đường của thế tử cả.
Theo đề nghị của Thủ-Huy, Thành-cát Tư-hãn phong cho Thúy-Thúy làm Thảo-nguyên tiên-tử. Nàng được kính trọng bằng một đại tướng quân. Hoàng-hậu Bật Tê nhờ nàng dạy chữ, luyện võ cho con cháu các Đại-hãn, Thân-vương.

Các võ sĩ thuộc đội Long-biên được phong cấp Thiên-phu trưởng. Mỗi người đều được cấp quân hầu, nô lệ. Trong cuộc đánh chiếm Khắc-liệt, các chiến lợi phẩm thu được không biết bao nhiêu mà kể. Trong số đó có trên năm nghìn thiếu nữ xinh tươi. Thiết Mộc Chân truyền lệnh tặng cho các võ sĩ Long-biên, mỗi người mười mĩ nữ, tùy ý lựa chọn. Song Đoan-Nghi chỉ cho mỗi người chọn một mĩ nữ làm vợ mà thôi. Người nào cũng có nô lệ, tỳ nữ, lều trại sang trọng. Họ được chia thành mười đội, mỗi đội năm chục người, gửi đến các bộ tộc, huấn luyện binh -tướng cho các Đại-hãn.
Sau khi bị Khắc-liệt đánh phá, khi phục hồi lãnh thổ, Thiết Mộc Chân cùng các con, em, các tướng phải làm việc ngày đêm để kiến thiết lại, lại cũng phải lo tổ chức cai trị Khắc-liệt. Trước chiến thắng, trước thành công, nhưng các Đại-Hãn, các tướng vẫn thấy Thiết Mộc Chân thường đăm chiêu, lo lắng, mất ngủ. Hơn nữa hay gắt gỏng. Ông thường đóng cửa, ngồi một mình, đôi khi nói lảm nhảm. Ngự y cắt thuốc cho ông uống, ông ừ hự rồi đổ thuốc đi. Chín đại tướng, ba người em, bốn người con của ông tìm đến dinh Thủ-Huy Đoan-Nghi để vấn kế. Phân ngôi chủ khách xong, Mộc Hoa Lê lên tiếng:
- Thành-cát Tư-hãn thình lình lâm bệnh. Tôi nghe sư phụ nói rằng, cách đây gần trăm năm, Thánh-tăng Minh-Không có chế ra một loại thần dược mang tên Kiên não định thần hoàn hay Định tâm hoàn, Chúng tôi xin phò mã sai chim ưng về Đại-Việt xin ít viên để trị cho người.
Thủ-Huy mỉm cười:
- Bệnh của Thành-cát Tư-hãn tôi e Định-tâm hoàn cũng vô phương.
Cát Xa kinh hãi:
- Thưa phò mã, không lẽ cứ để anh tôi trong tình trạng này ư?
- Bệnh nào cũng có căn. Nếu ta trừ đươc cái căn của nó, thì khỏi ngay. Hồi ở Đại-Việt tôi cũng học qua y lý. Tôi xin trị cho người. Tuy nhiên, dược liệu hơi khó tìm đấy. Nếu như mọi người trong chúng ta cùng cố gắng thì khó gì.
Tốc Bất Đài chắp tay:
- Đại huynh, dù khó khăn đến mấy, chúng tôi cũng xin cố gắng.
- Vậy thì được. Chúng ta hãy đến dinh của người.
Nghe chồng nói, Đoan-Nghi ngẩn người ra, nàng dùng Lăng-không truyền ngữ hỏi chồng:
- Từ hồi nào đến giờ, em có nghe nói anh học y đâu, mà đòi trị bệnh? Anh đừng có đùa như vậy!
- Em yên tâm.
Thủ-Huy, Đoan-Nghi thay y phục, cùng mọi người đến căn lều vĩ đại của Thành-cát Tư-hãn. Viên trưởng toán cận vệ ngăn lại:
- Thành-cát Tư-hãn có lệnh, tuyệt đối không cho ai vào. Người không được khỏe.
Cát-Xa ra lệnh:
- Người vào báo rằng có phò mã, công chúa đến thăm.
Tên đội trưởng ngần ngừ một lát rồi trở vào. Lát sau y ra, mở rộng cửa doanh, mời mọi người nhập đại doanh. Bên trong, Thành-cát Tư-hãn đứng chờ khách. Quanh ông, ngoài chánh cung Bật Tê còn có mười hai sủng phi chầu chực hầu hạ. Lại có cả Tổng Đạo-sư Cốc Chu với các em đang ngồi trước bàn thờ Thượng-đế Mặt-trời, để xin ngài chữa bệnh cho Tư-hãn.
Tư-hãn nói bằng âm thanh trầm trầm, dáng mệt mỏi cùng cực:
- Phò mã, công chúa! Tôi không được khỏe, đâu dám phiền các vị phải giá lâm.
Ông nói với các tướng:
- Anh em đừng quá lo nghĩ cho sức khỏe của tôi. Nào mời các vị ngồi.
Bác Nhĩ Truật đứng dậy:
- Thành-cát Tư-hãn khó ở khiến chúng tôi không yên. May mắn thay, Trần huynh đệ nói rằng người biết rõ căn bệnh huynh trưởng, nên chúng tôi mới thỉnh đại giá người tới đây.
Tổng Đạo-sư Cốc Chu gạt ngang:
- Rõ ràng Thượng-đế Mặt-trời bảo rằng Tư-hãn phải bị bệnh trong một năm. Nay mới được bẩy tháng, thì ai mà chữa được? Không lẽ Trần Thủ-Huy lại hơn cả Thượng-đế?
Cát Xa nổi cáu:
- Tư-hãn lâm bệnh hơn nửa năm qua. Lúc đầu Đạo-sư nói rằng đã xin Thượng-đế trị cho người chỉ trong vòng mười ngày thì khỏi. Rồi sau lại nói một tháng! Bây giờ lại nói một năm! Rõ ràng Đạo-sư nói dối.
Cốc Chu quát:
- Người không được hỗn.
Cát Xa cũng quát lại:
- Tôi nhắc lại, Đạo-sư nói láo chứ không phải nói dối. Trong trận đánh Vương-hãn, Tang Côn, Đạo-sư luôn miệng nói rằng Thượng-đế truyền án binh bất động, ra quân tất bại. Thế sao chúng tôi ra quân lại thắng???
Tư-hãn bảo Cát Xa, Cốc Chu:
- Hãy ngừng tranh luận! Để phò mã thử nói căn bệnh của tôi xem sao?
Ông hỏi Thủ-Huy:
- Phò mã đã biết cái căn bệnh của tôi. Tôi xin nghe cái căn mà phò mã cho rằng nó tạo thành bệnh của tôi.
Thủ-Huy đưa mắt nhìn các tướng, các em, các con của Thiết Mộc Chân rồi nói:
- Bệnh của Tư-hãn có ba cái căn. Căn thứ nhất gọi là Tâm hư. Tâm-hư đây chẳng qua do lo nghĩ quá độ mà sinh ra. Y-kinh nói rằng: Tâm tàng thần, tâm chủ thần chí. Khi tâm hư, thì thần không định, chí không kiên, do vậy mới sinh ra mất ngủ, người mề mệt.
Thành-Cát Tư-hãn ngồi nhỏm dậy:
- Phò mã đã nói đúng căn bệnh của tôi. Vậy thì phải dùng thuốc gì mà trị?
- Muốn trị căn bệnh của Tư-hãn, phải dụng lối Dĩ loại bổ loại. Nghĩa là muốn bổ tim thì phải ăn tim. Nếu như người thường bị bệnh thì chỉ cần ăn tim ngựa, tim heo, tim cừu, tim trâu và tim bò là đủ. Nhưng Tư-hãn là con nhà trời thì dùng tim thú trị sao cho khỏi? Phàm muốn cứu mạng của một người mệnh lớn như Tư-hãn đây, thì cần tới năm trái tim của năm người làm vị thuốc chính .
- Năm người? Vậy thì đâu có gì khó!
Cát Xa nói:
- Ta bắt năm tên nô lệ, giết đi lấy tim làm thuốc.
- Khó chứ không dễ đâu. Người thế mạng cho Tư-hãn gồm năm loại khác nhau. Tim người thường thì không cứu nổi mệnh Tư-hãn được.
Hoàng-hậu Bật Tê hỏi:
- Thưa phò mã, thế phò mã cần tim của loại người nào?
- Người thứ nhất, là một phi tần, mà Tư-hãn sủng ái.
Mọi người đưa mắt nhìn mười hai sủng phi của Tư-hãn. Các sủng phi này đều là công chúa, con các Đại-hãn của những tiểu quốc trực thuộc Mông-cổ. Tất cả các nàng đều cúi gầm mặt xuống. Trong căn lều có đến hơn trăm người mà không một tiếng động.
Thành-cát Tư-hãn hỏi:
- Có nàng nào chịu cho ta trái tim để trị bệnh không?
Các phi tần đều cúi gầm mặt xuống. Chánh-cung Bật Tê liếc con mắt lạnh lùng nhìn các sủng phi một lượt rồi nói:
- Thưa phò mã, không biết trái tim của tôi có dùng được không?
- Thưa nương nương được chứ!
- Tôi xin tình nguyện chết cho Tư-hãn sống. Còn bốn trái tim nữa là của những loại nào?
- Loại thứ nhì thì phải là một đạo sư. Mà là một đạo sư chưa từng phạm giới. Không biết trong các Đạo-sư đây có đạo sư nào chịu hy sinh cho Tư-hãn sống không?
Các Đạo-sư hiện diện đều cúi gầm mặt xuống, không ai dám ngửa mặt lên. Thủ-Huy thở dài:
- Nếu như không có vị nào tình nguyện, thì chúng ta cho rút thăm.
Bốn anh em Cốc Chu cùng dẫy nẩy lên:
- Trái tim chúng tôi dùng e vô ích, vì...vì... chúng tôi đã ngủ với đàn bà, không phải ngủ một lần, mà nhiều lần. Không phải một người mà nhiều người.
Cát Xa cười nhạt:
- Hừ! Cháy nhà ra mặt chuột. Thì ra các người phạm giới từ lâu!
Thủ-Huy nói với Cốc Chu:
- Không hề chi! Nếu như các vị đã phạm giới thì phải dùng hai trái thay cho một trái. Lát nữa đây chúng ta sẽ cho các vị rút thăm. Hai đạo sư nào trúng, thì tôi sẽ mổ ngực lấy trái tim ra làm thuốc!
Tốc Bất Đài hỏi:
- Thế loại người thứ ba là loại nào?
- Loại này phải là con của Tư-hãn. Không biết trong bốn vị vương tử đây, vị nào chịu dâng trái tim để cứu phụ hoàng?
Trong khi Truật Xích, Sát Hợp Đài, Đà Lôi cúi mặt xuống thì Oa Khoát Đài đứng dậy:
- Thưa sư phụ, đệ tử nguyện dâng trái tim cứu phụ hoàng.
- Tốt lắm. Bây giờ tới loại thứ tư. Loại này phải là một trong các đại tướng thân thiết của Tư-hãn. Không biết trong chín vị đây, vị nào tình nguyện?
Cả chín đại tướng cùng lên tiếng:
- Tôi! Tôi tình nguyện.
- Hay lắm! Lát nữa tôi sẽ cho rút thăm, xem vị nào sẽ được cái hân hạnh cứu sống Tư-hãn. Bây giờ tới loại thứ năm. Loại này là một trong các em của Tư-hãn!
Biên Gô Đài, Cát Xa, Tê Mô Gu cùng lên tiếng:
- Tôi! Tôi xin dâng trái tim cứu anh tôi.
- Tốt lắm. Nào bây giờ chúng ta cho các Đạo-sư rút thăm trước.
Nhưng bốn anh em Cốc Chu nhân lúc mọi người không để ý, đã chuồn mất từ bao giờ.
Có tiếng cãi vã ngoài viên môn. Cát Xa đưa mắt cho một vệ sĩ. Tên vệ sĩ chạy ra một lát rồi vào cung tay:
- Thưa hoàng đệ. Tiểu Đạo-sư Cô Tô Cô đòi vào yết kiến Trần phò mã, mà viên đội trưởng không cho vào, rồi xẩy ra cuộc cãi vã.
Thủ-Huy ra lệnh:
- Người dẫn Cô Tô Cô vào đây.
Cô Tô Cô vào, quỳ gối trước Thủ-Huy:
- Sư phụ! Tất cả các Tổng Đạo-sư đều từ chối không chịu dâng trái tim cứu Tư-hãn. Đệ tử tự biết thân phận nhỏ bé, nhưng giữ giới cẩn thận. Đệ tử đi tu từ năm sáu tuổi, đến nay trải qua 14 năm, đệ tử nguyện dâng trái tim cứu Tư-hãn. Mong sư phụ nhận cho.
- Được! Sư phụ nhận sự hy sinh của con.
Thủ-Huy đứng dậy nói với Cát Xa:
- Xin hoàng đệ giữ lại những ai tình nguyện dâng trái tim cho Tư-hãn trong doanh mà thôi. Còn tất cả phải ra ngoài.
Thế là trong doanh còn lại chánh phi Bật Tê, vương tử Oa Khoát Đài, ba hoàng đệ, chín đại tướng, và Cô Tô Cô. Thủ-Huy nói với Tư-Hãn:
- Một vị Vạn-thế sư-biểu là Khổng-tử nói rằng: Khi nhà có sự mới biết con hiếu. Khi nước có biến mới biết tôi trung. Làm gì có việc dùng tim người chữa bệnh? Chẳng qua là tôi bịa ra, để Tư-hãn biết ai trung, ai hiếu, ai đễ mà thôi. Tôi biết, Tư-hãn đang thành công, nhưng trước một rừng người, ai cũng tự xưng là người trung thành nhất, thành ra Tư-hãn phân vân, nghi ngờ. Do vậy tôi mới nặn ra việc dùng tim trị bệnh, để giúp Tư-hãn biết người mà thôi. Này! Thưa Tư-hãn, chỉ mấy hôm nữa, Tư-hãn phải quyết định chọn ai làm Hoàng-hậu, ai làm Thái-tử, ai được phong Thân-vương. Qua việc này Tư-hãn có thể biết ai trung, ai nịnh mà quyết định đãi ngộ.
Thiết Mộc Chân tươi hẳn nét mặt lên:
- Nhờ phò mã, mà tôi biết ai là người thực tình với mình.
Ông nói với các em, các tướng:
- Từ trước đến nay, ta biết giữa các em, các tướng có sự bất hòa với các Đạo-sư. Ta phân vân không biết ai phải, ai trái. Bây giờ thì rõ ràng như ban ngày rằng các em, các tướng hết lòng với ta. Bọn Đạo-sư chuyên bịp bợm. Này Bật Tê! Này chư tướng! Này các em! Này Oa Khoát Đài! Cô Tô Cô! Kể từ nay, chúng ta có phúc cùng hưởng, có họa cùng chịu.
Ông nắm tay bà Bật Tê:
- Hậu là người mà cha ta chọn cho ta. Từ nay, tất cả các phi tần, đều phải dưới quyền cai quản của hậu.
Ông chỉ vào Oa Khoát Đài:
- Mẹ người có với ta bốn con trai, một con gái. Các phi cho ta mười tám con trai, hai mươi con gái. Qua việc này, ta mới biết con là đứa con có hiếu. Sự nghiệp vĩ đại này, sau ta sẽ trao cho con.
Ông vẫy tay gọi Cô Tô Cô:
- Con là đứa trẻ mồ côi, ta đem về nuôi. Con xin đi tu, rồi trở thành Tiểu Đạo-sư. Nhờ phò mã, mà ta biết các Tổng Đạo-sư toàn một phường giả dối. Hôm trước, sau trận đánh Khắc-liệt, mới nảy ra vụ anh em Cốc Chu âm thầm học võ công với tên ma đầu Mao Khiêm, mưu lập nó làm Đại-hãn toàn Thảo-nguyên, và anh em chúng muốn làm Đại-hãn Thát-đát, Miệt-nhi, Diệt-xích-ngột. Vì chúng là Đạo-sư, ta không có quyền xử tội chúng. Nên ta phải nhân vụ này, xin hội đồng quý tộc tước quyền xử án của các Đạo-sư. Ta phân vân không biết cử ai thay ta giữ việc xét xử. Bây giờ ta cử người. Người hãy ghi chép những luật lệ của Mông-cổ thành từng loại, từng chương, từng mục, rồi thiết lập cơ chế xét xử cho công bằng.
Sau khi Tư-hãn ngừng nói, ai cũng nhận ra rằng mới đây khi họ vào lều, thì cử chỉ của Thiết Mộc Chân chậm chạp, đôi mắt lờ đờ, tiếng nói rời rạc. Thế mà chỉ qua việc Thủ-Huy đòi lấy năm quả tim trị bệnh, mà tình trạng tâm thần ông thay đổi rất nhanh. Tiếng nói của ông sang sảng, hùng hồn, gẫy gọn, da mặt trở thành hồng hào, ánh mắt chiếu ra sáng ngời, chứng tỏ thần thái linh mẫn,

Khi thấy Thủ-Huy nhận lời chữa bệnh cho Thiết Mộc Chân, Đoan-Nghi cho rằng chồng đã làm công việc ngoài tầm tay. Rồi Thủ-Huy còn bầy ra việc lấy năm trái tim... nàng càng lo nghĩ. Bây giờ nàng mới biết Thủ-Huy hiểu rõ trong lòng Thiết Mộc Chân có những ưu tư, chỉ cần giải cái ưu tư là bệnh tự khỏi. Cái ưu tư thứ nhất, là ông phải cắt đất phong thân vương cho các Tổng Đạo-sư vốn có uy tín với đa số quần chúng; hay cho các em, các tướng? Ông lại càng không biết trong năm loại người thân: Phi tần, huynh đệ, con cái, tướng sĩ, Đạo-sư...giới nào, người nào trung thành với ông? Trong các con, ông phải đặt người nào vào ngôi trừ quân, để khi ông qua đời còn thay thế ông. Vì những lý do đó, ông sinh ra chứng ưu-tư, uất kết. Thủ-Huy hiểu thấu tâm tư ông, công bầy ra việc lấy tim trị bệnh, giúp Thiết Mộc Chân hiểu các bà vợ, hiểu các em, hiểu các con, hiểu các tướng và nhất là biết rõ sự thực về các Đạo-sư, hằng vỗ ngực trung thành với ông.
Thiết Mộc Chân là người thông minh tuyệt đỉnh. Chỉ qua việc dùng năm quả tim trị căn, ông biết rằng Thủ-Huy đã hiểu rõ tâm can ông. Ông hỏi:
- Như phò mã nói, bệnh của tôi có ba cái căn. Căn thứ nhất, phò mã trị xong rồi. Vậy còn căn thứ hai, thứ ba?
Thủ-Huy hỏi cử tọa:
- Các vị tìm ra chưa?
- !!!???!!!
- Căn thứ nhì là Tâm-ưu, khiến Tư-hãn tư lự lo lắng, phập phồng. Y-kinh nói: Tư thương tỳ. Phàm tư lự quá, làm tỳ bị tổn thương. Tỳ bị tổn thương thì ăn vào đầy ứ, bụng chướng, đầu nặng, vùng ngực căng trướng.
Xích Lão Ôn hỏi:
- Xin phò mã giảng rõ ràng hơn.
- Hiện Vương-hãn, Tang Côn, Trác Mộc Hợp vẫn còn sống, đang lưu vong ở Nãi-man, Thổ-phồn. Họ nhờ mấy nước này giúp đỡ để trở về chiếm lại lãnh thổ. Cái căn này thực nguy hại vô cùng, nhưng Tư-hãn không biết giải quyết sao cho ổn, nên ngày đêm lo lắng, làm tổn thương tỷ vị, thành căn Tâm-ưu.
- Thực là phò mã đọc được tim gan tôi. Thế còn căn thứ ba?
- Căn thứ ba là Tâm-phiền.
- ???
- Căn thứ ba, là mấy nghìn tộc, mấy trăm bộ tộc thuộc Khắc-liệt, tuy đầu hàng quy phục, nhưng chúng vẫn chân trong, chân ngoài, chờ Vương-hãn, Tang Côn trở về. Tư-hãn nghĩ không ra phương thức trấn an, lôi kéo được các Đại-hãn, Khả-hãn, Hãn trung thành với mình! Hơn nữa, Mông-cổ đang từ một nước nhỏ. Sau khi chiếm Khắc-liệt bỗng biến thành cường quốc, trở thành mối lo cho các nước Đại-kim, Thổ-phồn, Tây-hạ, Tây-liêu, Nãi-man. Cả bốn nước đều muốn ra quân dưới danh nghĩa giúp Vương-hãn phục quốc. Trong khi đó thì Mông-cổ mới trải qua một năm chiến tranh, nhân tâm chưa yên, quốc sản khánh kiệt. Quân đội không đủ sức chống với binh lực bất cứ nước nào trong năm nước trên. Vì nghĩ không ra kế, trong lòng phiền táo, đứng ngồi không yên, giấc ngủ chập chờn, gọi là Tâm-phiền. Có phải thế không?
Thành-cát Tư-hãn run run:
- Ba căn bệnh của tôi, phò mã nêu ra đều đúng cả. Căn đầu phò mã đã trị rồi. Không biết phò mã có thể trị được hai căn sau không?
Thủ-Huy cười hỏi các tướng:
- Chư vị nghĩ sao?
Các tướng đều lắc đầu:
- Xin phò mã cứu chúng tôi một phen nữa.
Thủ-Huy đứng dậy:
- Trước hết tôi giúp Tư-hãn lấy cái đầu của Vương-hãn với Tang Côn đã. Lấy được hai cái đầu này rồi, thì không nước nào có thể nhân danh giúp Khắc-liệt phục quốc mà ra quân nữa. Các Đại-hãn, Khả-hãn, Hãn của Khắc-liệt không còn chân trong, chân ngoài nữa, họ yên tâm, dốc lòng vơí Mông-cổ. Thế là ta giải được căn hai, căn ba một lúc!
- Nhưng làm sao lấy được đầu Vương-hãn, Tang Côn?
- Vương-hãn hiện đang ở Nãi-man. Tang Côn ở Thổ-phồn. Cả hai người cùng với đám tàn quân được hai nước ấy cho trú đóng trong một khu rừng, để chiêu tập binh tướng bị thất lạc. Nghe nói, Vương-hãn sai sứ về mật liên lạc với các Đại-hãn của Khắc-liệt. Đặt vấn đề, suốt mấy trăm năm qua, Khắc-liệt với hai nước này ở vào thế thù nghịch nhau, tại sao bây giờ họ lại cưu mang cha con Vương-hãn? Dễ hiểu! Vì họ muốn giúp Vương-hãn phục hồi cố thổ, với nhiều điều kiện. Bây giờ ta phải làm gì để mượn tay hai nước này giết cha con Vương-hãn?
Mộc Hoa Lê đưa ý kiến:
- Ta sai người sang Nãi-man, Thổ-phồn, với lễ thực hậu, xin họ trao cha con Vương-hãn cho ta!
- Không ổn! Ta làm thế, thì Thổ-phồn, Nãi-man càng ra sức giúp Vương-hãn để đòi nhiều lợi lộc hơn.
Oa Khoát Đài hỏi:
- Thưa sư phụ, vậy ta phải làm gì?
- Ta làm ngược lại.
- Nghĩa là???
- Ta sai sứ mang trọng lễ sang, xin yết kiến Vương-hãn, xin tạ tội, rồi khẩn khoản mời về làm vua Khắc-liệt. Tư-hãn vẫn là nghĩa tử của ông, Mông-cổ vẫn thần phục Khắc-liệt. Dĩ nhiên tin này tới tai triều đình Nãi-man, thì tôi e từ hoàng đế Thái-Dương cho đến quần thần đều sợ hãi đến rụng rời chân tay. Phản ứng tự nhiên, họ phải giết Vương-hãn ngay.
Oa Khoát Đài ngồi nhổm dậy:
- Trí của sư phụ thực siêu phàm. Vì từ trước đến giờ Nãi-man vẫn nơm nớp sợ Khắc-liệt. Thế mà bây giờ nghe tin ta đưa Vương-hãn về, lại phụ thuộc Khắc-liệt, thì họ phải giết ông ta.
Thành-cát Tư-hãn thở phào nhẹ nhõm, bao nhiêu ưu tư biến mất. Chỉ năm ngày sau, ông bình phục như thường. Lập tức ông cho thi hành kế hoạch của Thủ-Huy. Quả nhiên hơn tháng sau, có tin đưa về: Thổ-phồn giết chết Tang Côn. Nãi-man giết chết Vương-hãn.
Thành-cát Tư-hãn mở đại hội các Hãn, rồi phong bà Bật Tê làm chánh cung Hoàng-hậu, Oa Khoát Đài làm Thái-tử. Chín đại tướng đều được phong thân vương.

Thế rồi vùng thảo nguyên yên tĩnh được mấy năm. Thủ-Huy Đoan-Nghi, Tử-Kim, Thúy-Thúy tiếp tục huấn luyện chính binh Mông-cổ, thành Lôi-kỵ. Trước kia, đơn vị chiến đấu biệt lập là Thiên-phu, bây giờ là Vạn-phu. Chín đại tướng, được phong làm chín Vạn-phu. Bác Nhĩ Truật được cử làm tư lệnh chín Vạn-phu này. Ngoài ra còn chín Vạn-phu trừ bị, gọi là Thân-binh đang trong vòng huấn luyện, do Lý Long-Tùng chỉ huy. Hai Vạn-phu nữ do Đoan-Thanh chỉ huy.
Hôm ấy, Thiết Mộc Chân cùng các tướng chỉ huy Vạn-phu đang ngồi nghe Thủ-Huy giảng về binh pháp của Phù-đổng Thiên-vương, của công chúa Thánh-thiên, thì thân binh vào báo:
- Thưa phò mã, có một đoàn chín người, xưng là sứ thần của Đại-Việt xin vào yết kiến phò mã với công chúa.
Thành-cát Tư-hãn ra lệnh:
- Sứ của Hoàng-đế Đại-Việt ban chỉ cho phò mã ắt là chuyện quốc gia đại sự. Chúng ta tạm lui, để phò mã tiếp sứ.
Thủ-Huy xua tay:
- Tôi tuy là phò mã Đại-Việt, từng là Phụ-quốc Thái-úy của Đại-Việt...Nhưng khi tôi lên đây, Tư-hãn cùng các bạn đã lấy lòng mà đãi nhau, coi tôi như ruột thịt. Tôi cũng đem tâm huyết ra để giúp Tư-hãn cùng các vị. Tất cả những cơ mật của Mông-cổ tôi đều biết hết. Vậy thì những gì cơ mật của tôi, tôi cũng phải để Tư-hãn cũng như các bạn biết.
Công bảo thân binh :
- Người ra mời sứ đoàn vào bái kiến Tư-hãn trước đã.
Thành-cát Tư-hãn vội cho thiết triều.
Sứ thần là một viên quan trẻ cùng sứ đoàn vào hành lễ. Thành-cát Tư-hãn truyền mời sứ đoàn ngồi, ân cần hỏi thăm sức khỏe hoàng đế Đại-Việt. Đoan-Thanh làm thông dịch. Đoan-Nghi hỏi chánh sứ :
- Người báo danh đi.
- Khải điện hạ thần là Vũ Khải, lĩnh Tham-tri bộ Lễ.
- Hiện giờ bên Đại-Việt là niên hiệu gì?
- Khải, vẫn là Thiên-tư Gia-thụy. Năm nay là năm thứ 15 ( DL.1200, Canh Thân).
- Tình hình triều đình ra sao?
- Thái-phó Ngô Lý-Tín hoăng. Binh-bộ thượng thư Đàm Dĩ-Mông thăng lên Thái-sư coi việc văn. Lấy quốc trượng Đàm Thì-Phụng làm Thái-úy coi việc võ. Trong triều, thế lực của họ Đàm lại lên cao như họ Đỗ hồi Đỗ Anh-Vũ cầm quyền. Trong cung thì An-toàn hoàng hậu Đàm thị lũng đoạn. Họ Đàm lộng hành hơn bọn Đỗ Anh-Vũ, Đỗ An-Di hồi trước.
- Thế hai vương Kiến-khang, Kiến-bình đâu ?
- Hai vương bị gọi về triều, không được giữ một chức vụ gì. Một số thân vương, hoàng tộc lên tiếng về việc này. Đàm hoàng hậu với Đàm Dĩ-Mông giả chiếu chỉ giết cả nhà. Chưa bao giờ hoàng tộc bị giết nhiều như thời gian này !
- Thế Đỗ Thụy-Châu đâu, mà để cho anh em họ Đàm lộng quyền như vậy ?
- Chiêu-thiên chí lý hoàng thái hậu băng lâu rồi. Nghe nói Hoàng-thượng đã biết rõ người không xuất ra từ Đỗ thái hậu, mà xuất ra từ Tuyên-phi Vương Thụy-Hương. Người cật vấn Thái-hậu, ngay đêm đó Thái-hậu uống thuốc độc tự tận.
Thủ-Huy than :
- Tiếc rằng ta không đích thân chặt đầu con dâm phụ này. Còn gì lạ không ?
- Hoàng-thượng sủng ái một đạo cô, tôn làm sư phụ. Người phong cho đạo cô làm Nam-thiên huyền quân, truyền sửa cung Ngọc-lan cho ở. Đạo cô là người phụ chính cho Hoàng-thượng. Đạo-cô nhận thấy cái nguy họ Đàm, người đích thân thu dụng đệ tử, truyền thụ võ công, rồi trao cho những chức vụ trọng yếu !
- À ! Bọn này có khá không ?
- Tương đối khá hơn bọn họ Đàm. Trước hết là Lĩnh-Nam ngũ hổ tướng gồm Đoàn Văn giữ chức Tổng-lĩnh thị vệ cấm quân. Thứ nhì là Nguyễn Dư, giữ chức An-phủ kinh-lược sứ Kinh-Bắc. Thứ ba là Phạm Bỉnh-Di, giữ chức Vũ-kỵ thượng tướng quân, lĩnh An-phủ kinh lược sứ Trường-yên. Thứ tư là Phạm Du lĩnh Tả Kim-ngô thượng tướng quân Tổng-trấn Thăng-long. Thứ năm là Quách Bốc giữ chức Hổ-uy đại tướng quân, quản Khu-mật viện.
- Lý lịch đạo cô ra sao ?
- Khắp triều, ngoài Đàm Dĩ-Mông, Đàm Thì-Phụng và Đàm hậu ra không ai biết. Dường như đạo cô có lý lịch không minh bạch. Cho nên bề trong Đạo-cô âm thầm chống họ Đàm, nhưng bề ngoài vẫn không dám ra mặt.
- Thế là triều đình có hai thế lực tranh dành nhau ?
- Thưa phò mã không phải hai, mà là ba !
- Ba ? ! ? ! ? !
- Thế lực thứ ba gồm hai vương Kiến-khang, Kiến-bình, Tiên-yên quốc công Phùng Tá-Chu, cùng Hoàng tộc. Thế lực này tuy không nắm đại quyền, nhưng có phái Đông-A đằng sau, thành ra hai thế lực kia chỉ hằm hè, mà không dám mó tay vào cái hang cọp này. Thái-sư Đàm Dĩ-Mông...
Thủ-Huy cau mặt:
- Cứ mỗi lần nhắc đến tên mặt bột luộc này, là ta lại buồn nôn. Bộ người Việt chết hết rồi hay sao mà dùng tên này? Mấy trăm năm nay rồi, cái nạn gà mái gáy trong hậu cung không bao giờ hết. Bất cứ bà Hoàng-hậu, Thái-hậu nào cũng có thể giết anh em, chú bác của nhà vua. Phải thay đổi hết! Phải giết hết bọn quan lại ù lỳ thì Xã-tắc mới ngóc đầu dậy được.
Biết chồng quá phẫn hận, Đoan-Nghi hỏi sang việc khác:
- Hoàng thượng đã có hoàng nam chưa?
- Khải, có rồi. Tuyên-phi sinh ra hoàng tử Long-Thẩm, Hoàng-thượng định lập làm thái-tử. Thái-phó Đàm Dĩ-Mông can, xin đợi mấy năm nữa, biết đâu Đàm hậu không sinh hoàng nam.
- Dĩ nhiên tên họ Đàm này phải làm thế. Khi cháu y sinh hoàng nam, được phong Thái-tử, thì họ Đàm mới nắm được quyền chứ!
- Hai năm sau, Đàm hoàng hậu sinh ra hoàng tử Long-Sảm, lập tức được phong làm Thái-tử ngay.
Thủ-Huy hỏi:
- Tình hình võ lâm ra sao?
- Từ sau vụ Côi-sơn song ưng giết cả nhà Đỗ An-Di, Mạc Hiển-Tích thì triều đình ban chỉ cấm các võ phái không được thu đệ tử, cũng tước quyền không cho các phái cử người làm giám khảo trong các cuộc tuyển võ.
- Thế các phái có tuân chỉ không?
- Bề ngoài thì tuân, còn thực sự vẫn như cũ.
Thủ-Huy chửi đổng:
- Cũng vẫn do bọn ngoại thích, mà xẩy ra cái nạn này.
Đoan-Nghi không muốn chồng chửi triều đình. Nàng hỏi:
- Triều đình sai người lên đây có việc gì?
- Hoàng thượng được tin phò mã cùng điện hạ đang săn bắn trên vùng Thảo-nguyên. Người sai thần lên đây khẩn khoản mời phò-mã cùng điện hạ trở về để trao trọng quyền. Vì từ võ lâm cho tơí sĩ dân đều nghĩ rằng chỉ phò mã với công chúa mới đủ tài an định thiên hạ.
Thủ-Huy cau mày :
- Thế có chiếu chỉ không ?
- Thưa không ! Chỉ có thư riêng thôi.
Nói rồi y trình ra một phong thư. Thủ-Huy bóc thư, công liếc qua, rồi nói với Đoan-Nghi :
- Đúng là thủ bút của Long-Trát. Công chúa đọc lên, Đoan-Thanh dịch cho chư vị cùng nghe.
Đoan-Nghi đọc lớn :
« Đứa em út cô độc Long-Trát thư cho người chị khả kính là Đoan-Nghi.
Từ khi anh chị rời Đại-Việt ra đi, em cảm thấy cô độc vô cùng. Tuy cạnh em có Long-Ích, Long-Tường, nhưng không thể nào bằng anh chị. Việc triều chính em không chủ trương được gì cả. May sao, vừa rồi Côi-sơn song ưng ra tay, em mới nắm được quyền bính.
Nghi tin anh chị đang đi săn ở Mông-cổ, em sai sứ lên mời anh chị về giúp em, lập lại thời thịnh trị của đức Thái-tổ, Thái-tông, Thánh-tông, Nhân-tông
».
Sứ thần lại đưa ra một phong thư :
- Đây là thư riêng của Bùi thái phi cho điện hạ. Đoan-Nghi mở ra đọc :
« Mẹ bị bệnh không biết sẽ qua đời lúc nào. Mẹ nhớ con quá. Nếu con có còn tưởng nhớ đến mẹ thì mang Thủ-Độ về cho mau, may ra thấy mặt mẹ lần cuối ».
Đoan-Nghi bật lên tiếng khóc, rồi nói với Thành-cát Tư-hãn :
- Đa tạ Tư-hãn. Đa tạ các bằng hữu đã tin tưởng chúng tôi, lấy lòng đãi chúng tôi. Việc thống nhất các nước trong vùng Thảo-nguyên đã xong. Bây giờ chúng tôi xin cáo từ Tư-hãn trở về Đaiï-Việt.
Thủ-Huy xua tay :
- Khoan ! Chúng ta ở đây đã sáu năm có dư. Khi đi thì em với anh đã họp Tử-Kim, Thúy-Thúy cùng các võ sĩ trong đoàn Long-biên tham khảo ý kiến. Nay Tử-Kim là đại tướng cầm quân nghiêng nước của Mông-cổ, các võ sĩ Long-biên đều giữ chức Thiên-phu trưởng. Họ đâu có thể bỏ đi được ? Bỏ đi ngang xương như vậy thì còn gì là đạo lý nữa ? Bây giờ chúng ta hãy trở về dinh, họp anh em để hỏi ý kiến họ đã.
Đoan-Nghi nghe chồng nói, nàng sa sầm mặt xuống. Nhưng nàng chợt nhớ rằng từ Tử-Kim cho đến các võ sĩ Long-biên đều là đệ tử phái Đông-A, họ chỉ giúp triều Lý chứ không ăn lương, lĩnh bổng. Nàng không có quyền gì với họ.
Thủ-Huy Đoan-Nghi trở về dinh, công phát lệnh sai mã khoái đi khắp nơi triệu tập các võ sĩ Long-biên lại. Hai hôm sau họ có mặt đầy đủ. Thủ-Huy mời thái tử Oa Khoát Đài tham dự buổi họp. Sau khi khai mạc, Đoan-Nghi mang thư của Đại-Việt hoàng đế ra đọc. Rồi nàng yêu cầu mọi người cho biết ý kiến.
Thúy-Thúy nói :
- Khải điện hạ ! Khi đoàn Long-biên lên đường là do chỉ dụ của triều đình, đem cống cho Tống để đánh Kim. Rồi điện hạ với phò mã quyết định dẫn họ lên đây. Như vậy theo quân luật thì họ vi chỉ, bị tội giết cả nhà. Nay Hoàng-thượng viết thư cho điện hạ, người nhân danh ông em viết thư mời anh rể chị gái về, chứ không nói gì đến bọn họ cả. Nếu như bọn họ về, thì không khỏi bị giết.
Tử-Kim phát biểu :
- Bọn thần xả thân vì triều đình quá nhiều. Triều đình phụ bọn thần cũng quá nhiều. Người xưa nói nam nhi đại trượng phu bốn bể là nhà, khi lên đây, bọn thần được Mông-cổ hậu đãi. Lại lấy vợ, sinh con vùng thảo nguyên, thì xin lấy Mông-cổ làm quê hương thứ nhì.
Oa Khoát Đài vỗ tay hoan hô. Các võ sĩ Long-biên cũng vỗ tay theo. Đoan-Nghi tái mặt hỏi Thủ-Huy :
- Vậy thì chỉ có vợ chồng chúng ta về mà thôi. Đành vậy. Phải mau mau lên đường, bằng không thì không còn thấy mặt mẫu thân, em sẽ ân hận suốt đời.
Thủ-Huy nắm tay Đoan-Nghi :
- Em về thì em cứ về. Anh thấy trong vụ này có điều gì không ngay thẳng. Chúng ta âm thầm lên đây. Tại sao Long-Trát biết ? Chúng ta sinh Thủ-Độ đến bố mẹ anh cũng chưa biết, tại sao mẫu thân lại biết ? Tại sao triều đình không ban chỉ ? Anh không về đâu.
- Anh cho rằng cái không ngay thẳng từ đâu mà ra?
- Từ Tống! Giai-phi cho chúng ta biết rằng Vân-đài Trịnh Nam-Phương, Công-chúa Vương Thụy-Hương trở về Đại-Việt làm gian tế từ lâu. Mới đây vô tình chúng ta phá vụ Tống phong cho Mao Khiêm làm vua vùng Thảo-nguyên, phong các con của Muôn-lịch làm Khả-hãn bốn nước Thát-đát, Mông-cổ, Miệt-nhi, Diệt-xích-ngột. Nhất định Mao Khiêm, Vương Cương-Trung tấu về triều. Khu-mật viện Tống ban chỉ cho Nam-Phương, Thụy-Hương. Hai người này, bằng cách nào đó khiến Long-Trát viết thư gọi chúng ta về. Họ cho rằng nếu Mông-cổ không có chúng ta, thì bọn Mao-Khiêm, Muôn-Lịch với các Tổng Đạo-sư có thể chiếm được vùng Thảo-nguyên. Nói thực, anh là kẻ sĩ có tâm huyết, đem tấc lòng son ra khuông phò Xã-Tắc. Phụ hoàng sủng ái anh, trao quyền cho anh. Anh đã làm không biết bao nhiêu lợi ích cho triều Lý. Nhưng hỡi ơi! Quả núi Tiêu-sơn đã hết phúc, nên trong cung thì cái họa gà mái gáy nối tiếp nhau. Tại triều, thì bọn quan lại toàn một lũ ăn hại, chỉ mong chui đầu vào váy mấy mụ phi tần ngu xuẩn, tham dâm. Vì vậy, những gì anh xây dựng, đều bị phá nát hết.
Công nắm tay vợ trước cử tọa:
- Một là vì tình, hai là vì nghĩa, anh khẩn thiết xin em đừng về. Anh biết khi em về, thì mẫu thân, cũng như em sẽ bị hại. Bấy giờ, anh sẽ về khởi binh giết sạch bọn quan lại ù lỳ, bọn hậu cung dơ bẩn, và lập một triều đại mới ít ra cũng nhẹ nhàng, cũng vì dân như triều đại Mông-cổ đây. Vậy em về thì coi như triều Lý không còn !
- Còn ước tính của anh sai, khi em trở về, rồi triều đình ban chỉ mời giữ trọng quyền...Thì sao?
- Anh sẽ về! Anh sẽ đi bằng tay từ bến Tiềm-long vào điện Càn-nguyên.
Đoan-Nghi biết chồng quá căm hận họ Lý nhà mình. Nàng nghĩ thầm :
- Âu là ta cứ về trước, rồi nói với triều đình ban chỉ ân xá cho Thủ-Huy, Tử-Kim, cùng đoàn võ sĩ Long-biên sau. Như vậy ắt họ sẽ trở về.
Tin Đoan-Nghi dẫn Thủ-Độ về Đại-Việt truyền rất nhanh. Đám bạn của Thủ-Độ xin Thúy-Thúy cho chúng cùng đi săn với nhau trước khi xa cách.
Hôm ấy, đích thân Thành-cát Tư-hãn, dẫn Hoàng- hậu Bật Tê, bốn vương tử, ba vương đệ, các công chúa, phò mã cùng chư tướng dàn ba vạn người ngựa, tiễn công chúa hồi hương.
Chín phát Lôi-tiễn tiễn được bắn lên trời.
Đoàn hộ vệ công chúa từ Hoa-lâm đến biên giối Kim gồm hai Thiên-phu nữ, do Đoan-Thanh chỉ huy. Thành-cát Tư-hãn sai lấy da điêu, ngọc, vàng, sâm chất đầy hai xe, gọi là chút lễ tặng Đại-Việt hoàng đế. Ông cùng hoàng hậu Bật Tê, các em, các con, các tướng theo tiễn hơn trăm dặm mới trở về.
Bốn đứa trẻ Hốt Tất Liệt, Bạt Đô, Ngột-lương Hợp-thai, A-lý Hải-nha cỡi ngựa đi cạnh Thủ-Độ suốt lộ trình trăm dặm. Bây giờ phải chia tay, chúng bịn rịn không muốn quay về. Hốt Tất Liệt tặng Thủ-Độ một con dao, cán bằng vàng. Ngột-lương Hợp-thai tặng Thủ-Độ cái cung với mười mũi tên đầu bịt bạc. A-lý Hải-nha tặng Thủ-Độ cái túi bằng da điêu. Bạt Đô tặng Thủ-Độ cái khánh ngọc.
Thấy năm trẻ bịn rịn không nỡ rời nhau, Đoan-Nghi an ủi:
- Thủ-Độ chỉ về nước một thời gian, rồi lại sang. Các con sẽ lại gặp nhau.
Suốt dọc đường từ Hoa-lâm đến Vạn-lý trường thành, Thủ-Huy Đoan-Nghi không nói với nhau một lời. Cũng may Thủ-Độ luôn miệng hỏi cha hỏi mẹ về Đại-Việt, làm giảm cái không khí căng thẳng.
Đoàn người ngựa đi trong hơn hai mươi ngày thì tới Vạn-lý Trường-Thành. Tất cả ngừng lại qua đêm, để sáng hôm sau sẽ vượt cửa ải vào đất Trung-quốc. Sáng hôm sau, tất cả đoàn người tiễn đưa phải ngừng lại cách quan ải hai mươi dặm. Chỉ có Thủ-Huy, Đoan-Thanh, Thúy-Thúy đi theo đến tận quan ải.
Thủ-Hay nắm tay vợ :
- Nếu em là một cô gái nông thôn, thì chắc vợ chồng mình hạnh phúc lắm. Em thử nghĩ xem từ khi chúng mình thành vợ chồng, ngày đêm cần lao chính sự, ít có khi được hưởng lấy nửa ngày hạnh phúc. Rồi những biến cố xẩy ra liên miên. Chỉ từ ngày lên Mông-cổ chúng ta mới hoàn toàn sống cho nhau. Thời gian sáu năm qua thực thần tiên. Bây giờ em tin vào hai bức thư kia mà trở về nước. Anh cảm thấy có nhiều nguy nan đợi chờ, nên anh không muốn em về vội, chờ anh viết thư sai chim ưng mang về hỏi anh chị Lý, hỏi Tá-Chu, Trung-Từ đã. Nhưng em không nghe ! Thôi anh đành chịu thua. Em ráng bảo trọng lấy thân.
Đoan-Nghi thở dài :
- Em sẽ dùng chim ưng liên lạc với anh thường trực. Em trở về, nếu mọi sự quả như thư nói em sẽ yều cầu triều đình sai sứ mang chỉ lên mời anh về. Còn nếu có gì gian dối, với kiếm trong tay, em sẽ làm cỏ bọn gian thần ! Anh yên tâm.
Thủ-Huy dặn con :
- Bố đã dạy con căn bản nội công phái Đông-A. Về ngoại công con đã học được bộ Đông-A trường quyền, bộ Đông-A kiếm pháp. Bộ Đông-A chưởng pháp tuy bố đã dạy, nhưng con chưa đủ nội công luyện. Vậy khi về nước, ông nội sẽ dậy con. Nhớ xiêng năng đừng để ông bà buồn.
Đoan-Nghi Thủ-Độ cùng sứ đoàn vào trong quan ải. Thủ-Huy đứng nhìn cho đến khi họ khuất vào sau hai cánh cửa, công mới cùng Đoan-Thanh, Thúy-Thúy quay ngựa trở lại. Khi công về cách Hoa-lâm năm trăm dặm thì gặp Thành-cát Tư-hãn dẫn các em đi đón. Gặp lại nhau, Tư-hãn nắm tay Thủ-Huy :
- Phò mã ! Đúng là trời đem người đến cho ta. Người là thầy ta, là thầy của các em, các con ta. Nay người quyết định ở lại với ta, thì thực là phúc cho Mông-cổ.
Hôm nay Đoan-Nghi dậy sớm. Nang đang ngồi trong thuyền dạy Thủ-Độ học, thì viên chánh sứ Vũ Khải vào cung tay :
- Khải điện hạ, thuyền đã bắt đầu ngược giòng Hồng-hà, chỉ nội chiều nay sẽ tới Thăng-long.
Đoan-Nghi bảo Thủ-Độ :
- Con ngừng học, húng ta lên nóc thuyền nhìn đất nước Đại-Việt của ta.

Từ hôm rời Mông-cổ, tuy phải xa chồng nhưng lòng Đoan-Nghi rộn lên, vì sắp về tới quê hương. Nàng sẽ gặp mẫu thân, sẽ gặp những người thân trong hoàng tộc, trong phái Đông-A. Nàng sẽ được nhìn lại Thăng-long nhìn lại hồ Tây, nhìn lại đền thờ vua Trưng, nhìn lại Văn-miếu. Nàng sẽ được ăn các món ăn Đại-Việt...Bất giác chân tay nàng run lên.
Nàng chỉ cho Thủ-Độ nhìn những làng, xóm dọc hai bên sông. Hai mẹ con nói chuyện với nhau suốt ngày. Mãi khi hoàng hôn buông xuống thì thuyền về tới Thăng-long. Con thuyền áp vào bến Tiềm-long. Viên chánh sứ Vũ Khải cung tay nói với Đoan-Nghi :
- Khải điện hạ, bây giờ sang giờ Thân, các cổng thành đều đóng cửa. Vậy xin điện hạ nghỉ tạm tại thuyền, mai hãy vào yết kiến hoàng thượng.
Xa quê hương lâu, Đoan-Nghi muốn nhìn lại đất nước mình, nàng ban chỉ :
- Người thắng cho ta một cái xe ngựa, để ta với Thủ-Độ lên bờ cho dãn gân, dãn cốt.
- Khải điện hạ có cần ai theo hầu không ?
- Chỉ cần một người đánh xe.
Đoan-Nghi dắt Thủ-Huy lên xe ngựa. Xe rời bến Tiềm-long hướng Gia-lâm rồi đi dọc theo bờ sông.
Bấy giờ là thịnh thời, không chiến tranh, nên hàng quán mở cửa cho đến nửa đêm. Khi xe đi vào địa phận hồ Tây, Đoan-Nghi chỉ một tửu lầu phía trước, ra lệnh :
- Người ngừng lại cho ta.
Thủ-Độ chưa từng thấy thành phố của vùng định cư bao giờ, cái gì nó cũng hỏi, cũng thắc mắc. Đoan-Nghi cứ phải giảng cho con đến mỏi miệng. Nó nhìn cái bảng hiệu, đọc :
- Anh-hùng quán.
Tửu bảo thấy một thiếu phụ xinh đẹp, dẫn đứa con trang phục quá lạ lùng, nó mở to mắt ra nhìn. Chợt nhận ra Đoan-Nghi, Thủ-Độ đeo đầy người ngọc vàng thì đoán đây là một phu nhân ở biên cương về. Y cúi rạp người xuống, rồi đưa hai mẹ vào một cái bàn gần cửa.

Sáu năm liền, bây giờ Đoan-Nghi mới được ăn những món ăn Đại-Việt. Nàng gọi liên tiếp năm món liền. Nhưng chỉ mình nàng ăn mà thôi. Còn Thủ-Độ thì nó ăn theo người Mông-cổ đã quen, nên nó chỉ ăn có mấy miếng bún chả rồi ngồi ngắm thành phố.
Bên ngoài, trên một bãi đất trước tửu lầu có đoàn người mãi võ kiếm tiền. Họ gồm một người đàn bà, một gã lực lưỡng và một lão già. Lão già chắp tay vái xung quanh một vòng, rồi nói :
- Nào, xin các ông, các bà coi nào ! Người bạn tôi đây sẽ đi một bài quyền. Nếu quý vị thấy hay xin ban thưởng.
Gã thanh niên lực lưỡng bước ra bái tổ, rồi đi bài quyền. Bài quyền chấm dứt, dân chúng vỗ tay hoan hô. Người đàn bà mang cái rổ đi một vòng xin tiền. Khi đến trước mặt Thủ-Độ, mụ hỏi nó :
- Tiểu công tử thưởng chúng tôi cái gì nào ?
Thủ-Độ móc túi lấy đồng tiền Mông-cổ bằng bạc trao cho người đàn bà. Thình lình gã mãi võ chụp Thủ-Độ vác lên vai, rồi rẽ đám đông bỏ chạy. Lão già với người đàn bà cũng chạy theo. Thủ-Độ kinh hãi hét lớn bằng tiếng Mông-cổ:
- Mẹ ơi !
Đoan-Nghi đang ăn, nghe tiếng con kêu, nàng tung mình ra khỏi tửu lầu, trong khi lơ lửng trên không, tay nàng rút kiếm, miệng quát lớn :
- Dừng lại !
Chỉ nhấp nhô mấy cái, nàng đã đuổi kịp ba người kia. Lão già với người đàn bà rút đao đeo bên hông ngừng lại, xả vào người Đoan-Nghi. Đoan-Nghi quay kiếm gạt, thì cả hai lại lộn một vòng lăn ra xa. Không cần truy kích đối thủ, nàng đuổi theo gã bắt Thủ-Độ. Không đầy nửa khắc nàng đã đuổi gần kịp. Nàng gọi Thủ-Độ bằng tiếng Mông-cổ :
- Con rút dao ở ngang lưng đâm vào cổ nó đi.
Thủ-Độ nghe mẹ hô, vội rút dao đâm vào cổ tên lực lưỡng. Con dao tuy nhỏ, nhưng cũng xuyên thủng vào cổ y. Y đau quá ngã lộn đi hai vòng. Thủ-Độ dùng thân pháp Đông-A tung mình lên chạy lại bên mẹ.
Đoan-Nghi hỏi con :
- Con có sao không ?
- Không !
Nàng bồng con, dùng khinh công trở về tửu lầu. Thình lình có tiếng keng, keng, keng. Rồi tên từ hai bên đường bắn ra. Biết bị trúng kế phục binh, Đoan-Nghi kinh hoảng, dùng Long-biên kiếm pháp quay tròn, bao nhiêu tên bị gạt đi hết. Nhưng những loạt tên khác lại bay ra, trong khi trời nhá nhem tối. Đoan-Nghi bồng con, tay quay kiếm, tung mình ra khỏi vòng vây. Chỉ mấy chiêu kiếm vung lên, bọn tiễn thủ hơn mười người bị bay đầu. Thoáng thấy lão già, nàng vọt người tới bên hắn. Hắn đưa đao đỡ, nhưng không kịp, đầu hắn đã bay khỏi cổ. Lại thêm hai gã lực lưỡng nữa là ba gã, với người đàn bà vung đao bao vây nàng.
Một tay ôm con, một tay xử dụng kiếm, Đoan-Nghi vừa chống đỡ với bốn người. Nàng nhận ra người đàn bà dùng Hoa-sơn kiếm pháp trong Vô-trung kinh. Còn ba gã lực lưỡng thì dùng một thứ võ công rất lạ. Công lực cả ba đều cao thâm. Dù Đoan-Nghi đã xử dụng hết khả năng của Long-biên kiếm pháp mà cũng không kiềm chế nổi bốn người.
Thình lình mụ đàn bà quát lên, rồi xả kiếm vào ngực Đoan-Nghi. Đoan-Nghi tung mình lên cao, thoát khỏi chiêu kiếm của mụ, thì bị ba gã lực lưỡng chùng chĩa kiếm vào người.
Trong lúc cực kỳ nguy hiểm, Đoan-Nghi nghĩ rất nhanh:
- Khi chúng phục kích ta, thì chúng đã biết ta là ai. Dù ta có giết hết bọn nãy, sẽ có bọn khác xuất hiện. Đằng nào ta cũng chết, ta không nên giết bốn đứa cầm đầu này. Ta cần ghi vào người chúng mấy vết thương, để sau này ta có thể truy lùng ra kẻ đứng sau chúng. Nếu ta chết, thì phái Đông-A còn biết kẻ hại ta mà trả thù.
Nghĩ vậy, nàng chuyển kiếm, chỉ hai chiêu nàng đã chặt cụt tay trái một gã thanh niên rồi cắt đứt tai trái người đàn bà, rạch trên mặt ả mỗi bên má hai vòng tròn. Cả bốn kinh hãi nhảy lùi lại, rồi hô lớn :
- Buông tên.
Một đội tiễn thủ khác từ bên đường lại buông tên. Đoan-Nghi vọt người tới, quay kiếm như sao sa. Được một lát, nàng quá mệt mỏi, chiêu thức bắt đầu hỗn loạn. Nàng cảm thấy đau nhói ở bụng, rồi lưng. Biết bị trúng tên, nàng không còn nghĩ đến sống chết nữa, tay bồng con nàng nhảy vào giữa đội cung thủ. Chỉ thấy ánh thép lóe lên mấy cái, đội cung thủ bị giết hết.
Ba gã lực lưỡng với người đàn bà hô lên một tiếng rồi vọt mình lên ngựa ra roi chạy vào bóng đêm. Đoan-Nghi dùng khinh công hướng về Đông-A vãng lai khách xá, nơi mà trước đây Thủ-Huy dùng làm phủ Thái-úy. Nhưng vừa cất bước, thì máu ra nhiều quá, kiệt lực. Nàng bồng con nhảy đại vào một khu vườn hoang ẩn thân.
Thủ-Độ tuy còn nhỏ nhưng nhờ sống gần cha mẹ quen với chinh chiến, nên nó cảnh giác không lên tiếng. Nó ghé miệng vào tai mẹ :
- Mẹ bị thương có đau không ?
- Đau lắm. Để mẹ rút tên ra đã.
Nàng tự điểm vào mấy yếu huyệt cho bớt đau rồi rút hai mũi tên ra. Tuy biết mình khó qua khỏi cái chết, nàng vẫn xé áo buộc vết thương lại, rồi nằm chờ. Nàng hy vọng tên phu xe không thấy nàng trở về, y sẽ báo cho viên thuyền trưởng, viên thuyền trưởng sẽ cầu cứu với viên đô đốc thủy quân sai người đi tìm nàng, thì Thủ-Độ thoát chết.

Màn đêm buông xuống. Tiếng dế nỉ non canh khuya, pha với tiếng cú rúc não nùng.
Quá đau đớn, Đoan-Nghi mê mê tỉnh tỉnh, nhưng nàng vẫn nắm chặt tay con. Phần Thủ-Độ tuy có sợ hãi nhưng mệt quá, nó cũng ngủ thiếp đi lúc nào không hay.
Bây giờ Đoan-Nghi mới cảm thấy hối hận rằng mình đã u mê, ương ương, bênh vực họ Lý quá đáng, đến độ chồng nói gì, bàn gì nàng cũng cho là cực đoan, nên mới ra nông nỗi này. Giả như Thủ-Huy cùng về với nàng, thì có lẽ cả hai cùng chết tức tưởi.
Không biết bao nhiêu lâu có tiếng ngựa hí, tiếng chân người đi rầm rập ngoài đường. Có tiếng nói :
- Đây rồi, chắc công chúa giao chiến với bọn gian tại đây. Có hai mươi bốn tiễn thủ bị giết bằng kiếm. Chắc chúng chết vì kiếm công chúa.
- Không biết công chúa đi đâu ?
Đoan-Nghi chợt tỉnh dậy. Nàng thều thào nói với con :
- Con ra đường, dùng tiếng Việt gọi họ vào.
Thủ-Độ đứng dậy, nó chạy ra đường gọi :
- Công chúa ở đây này !
Bọn quan quân reo lên chạy vào trong vườn, thì Đoan-Nghi lại mê man. Họ đem cáng chở nàng với Thủ-Độ đi. Về đến thuyền, y sĩ thủy quân đến cầm mạch cho Đoan-Nghi. Ông ta lắc đầu :
- Hết hy vọng rồi. Công chúa bị hai mũi tên, một mũi trúng phế, một mũi trúng gan. Máu ra nhiều quá. Làm sao bây giờ ?
Viên chánh sứ Vũ Khải hỏi :
- Đại-phu, có thuốc nào cho công chúa tỉnh dậy, để công chúa cho chúng ta biết bọn sát nhân là ai không ?
- Cũng có đấy ! Thuốc đó tên Bổ-trung ích khí hoàn. Nhưng sau khi tỉnh lại một khắc thì chết.
Nói rồi ông ta lấy một bình thuốc, bóp nhỏ hai viên, bỏ vào miệng Đoan-Nghi, đổ nước cho nàng uống. Khoảng hơn khắc sau, Đoan-Nghi từ từ mở mắt ra, nàng thều thào ban chỉ :
- Ta tự biết khó qua khỏi. Vậy... các người hãy lui ra để ta dặn con ta mấy câu.
Mọi người rời khoang thuyền .
Đoan-Nghi nói với con bằng tiếng Mông-cổ:
- Con nghe mẹ dặn đây ! Con đã biết, trên đời này gian dối cạm bẫy quá nhiều. Vậy những gì mẹ dặn, con chỉ được nói với năm người mà thôi. Dù người ta tra khảo, dọa giết, con cũng không được khai. Nhớ không ? Tuyệt đối không tin ai, không nghe ai!
Thủ-Độ tuy kinh hoảng cùng cực, nhưng được cha huấn luyện từ năm ba tuổi, nên nó cực can đảm, lại thông minh. Nó hỏi :
- Nhưng nếu nó cứ khảo, bắt con khai thì sao ?
- Con khai rằng, mẹ dặn « Mẹ dấu một kho tàng gồm rất nhiều ngọc ngà, vàng bạc dưới cái hầm trong thư phòng của bố ». Nhớ không ?
- Con nhớ. Còn sự thực con chỉ được nói với năm người mà thôi. Họ là ai ?
- Một là bố con. Hai là ông bà nội. Ba là bác Lý, cô Ngân. Con nhắc lại mẹ nghe nào ?
- Năm người là bố, ông bà nội, bác Lý, cô Ngân. Thế nói gì ?
- « Kẻ gian không hề muốn bắt cóc con. Nó dùng con để phục kích giết mẹ. Muốn biết kẻ gian là ai, thì cứ tìm người đàn ông cụt tay trái. Người đàn bà có vết sẹo tròn trên hai má, mất một tai ».
Đoan-Nghi bắt con nhắc lại câu đó, rồi bảo :
- Sau khi mẹ chết, con phải giả ngây, giả dại, như người mất trí, cho đến khi gặp năm người mẹ dặn mới thôi. Con ra ngoài gọi họ vào đây.
Đám sứ đoàn cùng đám võ quan thủy quân vào trong khoang. Viên chánh sứ Vũ Khải hỏi :
- Thưa công chúa ! Ác nhân là ai ?
- Từ đầu đến cuối ta không nhận được mặt chúng. Lại cũng không biết võ công chúng xử dụng là võ công gì ? Có lẽ là bọn cướp chúng thấy Thủ-Độ đeo nhiều vàng bạc trên người, định bắt cóc, cướp của.
Đến đây nàng mệt quá nói nhỏ như tơ :
- Ngày mai... Ngày mai... các người vào chầu, tâu với mẫu thân...ta. Xin...người tha tội cho...ta...
Đến đây Đoan-Nghi trợn ngược mắt, rồi nghẹo đầu sang một bên.
Thủ-Độ hét lên bằng tiếng Mông-cổ :
- Mẹ... Mẹ chết rồi à ! Thành-cát Tư-hãn nói, con người ta ai sinh ra cũng phải chết. Người chết là hết. Người sống không được khóc. Mà lo làm những việc mà người chết bỏ dở, và trả thù cho họ. Ta nhất định không khóc.
Nói rồi nó ôm xác mẹ, mở to hai con mắt căm hờn nhìn mọi người xung quanh. Mệt quá, nó ngủ đi lúc nào không hay.

Khi Thủ-Độ tỉnh giấc, thì thấy mình nằm trên một cái giường rất lạ. Cạnh có một người con gái đang quạt cho nó. Người con gái thấy nó tỉnh thì lên tiếng :
- Tâu Thái-phi. Công tử tỉnh rồi.
Một người đàn bà xinh đẹp quần áo sang trọng, dáng người xanh ao, vàng vọt, đang nằm dài trên dường, cố ngồi dậy, lê chân chạy lại sờ đầu nó rồi hỏi :
- Cháu có đau đớn gì không ?
Thủ-Độ hỏi :
- Bà là ai ?
Người đàn bà bế nó vào lòng, rồi rưng rưng nước mắt :
- Bà là bà của con. Bà là mẹ của mẹ con.
Thủ-Độ nhớ lời cha dạy khi ta không biết người, mà người nhận là họ hàng thân thuộc với ta, thì phải hỏi lại đã. Đừng tin vội. Nó hỏi:
- Thế tên con gái của bà là gì nào ? Bà nói trúng tôi mới tin.
Người đàn bà ghé miệng vào tai nó nói nhỏ :
- Bùi Chiêu-Dương.
- Không phải tên đó ! Mẹ nói, bà tôi còn một tên mà chỉ mẹ tôi biết mà thôi. Bà có nhớ tên đó không ?
Thái-phi Bùi Chiêu-Dương nghĩ thầm :
- Đoan-Nghi lưu vong nơi hải ngoại, nó dậy con cẩn thận như vậy cũng phải.
Bà nói nhỏ :
- Tên đó là Cái Nhớn.
Thủ-Độ ôm lấy cổ Thái-phi Bùi Chiêu-Dương :
- Bà ngoại ! Bà ngoại ơi, mẹ chết rồi. Mẹ bị người ta bắn chết rồi.
Thái-phi bồng cháu vào lòng :
- Trước khi chết mẹ có dặn gì không ?
Nhớ lời mẹ, nó nói dối :
- Mẹ dặn, mẹ chôn vàng ngọc trong thư phòng của bố. Có vậy thôi.
Nó nghĩ thầm :
- Trước khi chết mẹ bảo ta giả ngây thì ta giả ngây.
Trong trí nó nhớ lại, hồi ở Mông-cổ, có rất nhiều trẻ mồ côi, mà cha mẹ bị quân Mông-cổ giết, chúng trở thành ngây ngây dại dại. Thủ-Độ vội bắt chước, nó mở mắt thao láo, nhìn vào quãng không, rồi giả bộ nằm vật xuống dường, nhắm mắt lại. Thái-phi kinh hoảng lay gọi :
- Cháu ! Cháu ! Khổ quá.
Bà ban chỉ :
- Mau đi mời Ngự-y
Lát sau Ngự-y Trần-thị Phương-Thanh tới. Bà hành lễ với Thái-phi, rồi cầm mạch Thủ-Độ. Nó mở mắt nhìn bà như người mất hồn. Bà cau mặt lại suy nghĩ một lúc rồi hỏi :
- Tâu thái phi đứa trẻ này là ai ?
Thái-phi thuật vắn tắt những việc xẩy ra một lượt. Phương-Thanh suy nghĩ một lát rồi tâu :
- Thần bắt mạch thì thấy hồng-đại, tức là mạch của một đứa trẻ khỏe mạnh. Tại sao bề ngoài lại có vẻ của một đứa trẻ mất trí ?
- Cứ theo Vũ Khải tâu, thì trong suốt ba tháng hải hành, Thủ-Độ cực kỳ thông minh. Mẹ nó giảng cho nó nghe về sử Đại-Việt, chỉ một lần là nó nhớ, kể lại vanh vách. Sở dĩ nó bị thế này, có lẽ nó quá sợ hãi khi bị bắt cóc, sau lại chứng kiến cảnh mẹ nó giao chiến với bọn cung thủ rồi bị giết mà thành thế này chăng ?
- Thần không tin thế. Tuy nhiên thần cũng xin trị cho tiểu công tử bằng châm cứu.
Nói rồi bà lấy kim thực nhỏ, châm vào huyệt Nhân-trung, Giản-sử, Phong-trì. Châm xong, rút kim ra ngay. Tuy bị châm đau, nhưng Thủ-Độ được huấn luyện thành người can đảm cùng với bọn con nhà quý tộc Mông-cổ, nên nó không kêu, cũng không dãy dọn. Ngự-y Phương-Thanh gật đầu :
- Có lẽ tiểu công tử bị kinh hoảng thực.
Bà châm vào huyệt Can-du, Thái-xung, Dương-lăng-tuyền của nó, lưu kim một khắc, rồi rút kim ra. Bà tâu :
- Về thuốc, thì xin Thái-phi cho tiểu công tử uống Định-tâm hoàn là được rồi.
Định tâm hoàn là thần dược do Thánh-y Minh-Không chế ra đã trên một trăm năm. Thuốc này có hiệu năng an thần, định tâm, kiên não, ích trí. Thủ-Độ vốn thông minh, nhớ dai. Bây giờ nó giả ngây lại được uống thuốc bổ não, nhờ vậy tuy xa cha, mẹ chết, nhưng thần chí của nó không bị khủng hoảng. Trái lại nó thông minh khác thường. Hơn nữa tại Mông-cổ trẻ con quý tộc thường được huấn luyện trở thành người trầm tư giống Thành-cát Tư-hãn. Nên nay nó trầm tư, thì Thái-phi tưởng nó kinh hoảng, chưa khỏi bệnh.
Hằng ngày nó lấy sách, rồi tìm chỗ vắng ngồi đọc. Thái độ đó của nó vô tình giống một người điên.
Nó sống cô độc, an nhàn trong cung với Thái-phi được hơn tháng. Tuy Thái-phi thương yêu nó cùng cực, nhưng bà đang bị bệnh hành hạ đau đớn đến chết đi sống lại, nên mọi việc chăm sóc nó đều do cung nga phụ trách.

Hôm ấy thình lình bệnh Thái-phi trở thành trầm trọng. Viên Thái-giám hầu cận bà vội phi báo cho nhà vua. Chiều hôm ấy nhà nhà vua cùng Đàm hoàng-hậu dẫn hai đứa trẻ ngang tuổi với Thủ-Độ vào cung vấn an Thái-phi. Đi theo nhà vua còn có Ngự-y Trần-thị Phương-Thanh.
Lễ nghi tất.
Thái-phi nằm trên dường, chỉ hai đứa trẻ nói với Thủ-Độ :
- Đây là Long-Thẩm, Long-Sảm. Cả hai với con đều là con cô con cậu. Các con thân thiện với nhau đi.
Trên đường từ Mông-cổ về Đại-Việt, Thủ-Độ đã được mẹ giảng cho biết về những liên hệ trong hoàng tộc. Nó biết mình có ba ông cậu còn tại thế. Ông cậu lớn nhất là Long-Ích, tước phong Kiến-khang vương. Ông cậu nhỏ nhất là Long-Tường, tước phong Kiến-bình vương. Hồi thơ ấu, cả hai ông đều được bố mẹ nó nuôi nấng, dạy văn luyện võ cho. Riêng Long-Tường, còn là đệ tử của ông bà nội nó. Còn một ông cậu, ở giữa hai ông ấy, chính là Đại-Việt hoàng đế. Ông cậu này sở dĩ còn sống còn ngồi trên ngai vàng, là do bố mẹ nó phò tá. Nó cũng được mẹ cho biết, nhà vua có hai con trai là Thái-tử Long-Sảm, hoàng tử Long-Thẩm. Long-Sảm bằng tuổi Thủ-Độ, Long-Thẩm lớn hơn Long-Sảm hai tuổi. Nhưng vì Thẩm làm con một thứ phi sinh ra, nên không được phong Thái-tử.

Suốt mấy tháng trên mặt biển, nó mơ màng rằng khi về Đại-Việt, thì sẽ gặp lại đám anh em con cô con cậu. Nó tưởng tượng ra rằng, các cậu đều nhờ ân đức của cha mẹ nó, thì đám anh em cô cậu với nó sẽ thân thiện với nó hơn đám con của Tốc Bất Đài, Bác Nhĩ Truật. Quen với tục lệ của các thiếu niên Mông-cổ, mỗi khi anh em, bạn hữu găp nhau là ôm lấy nhau. Nó chạy lại ôm lấy Long-Sảm. Không ngờ Long-Sảm co chân đá vào ngực nó một cái. Tuy có căn bản võ công, nhưng muôn ngàn lần Thủ-Độ không ngờ rằng mình bị đá, nó không đề phòng, nên bị ngã lăn lông lốc. Trong khi Long-Sảm hỏi :
- Thằng mọi này là ai mà mi dám ôm ta ?
Thủ-Độ ngồi dậy, phóng con mắt hận thù nhìn Long-Sảm, không nói không rằng. Trong khi nhà vua quát Long-Sảm :
- Thủ-Độ là con cô con cậu với con. Nó là vai anh con. Con không được đánh nó.
Nhà vua ban chỉ :
- Long-Sảm, con mau lại xin lỗi anh Thủ-Độ đi.
Long-Sảm vùng vằng :
- Phụ hoàng đánh chết con, con cũng không nhận thằng điên này là anh em đâu.
Hoàng-hậu can thiệp :
- Long-Sảm hành sự đúng lễ nghi. Dù Long-Sảm là em nhưng danh phận là trừ quân. Dù Thủ-Độ là anh nhưng danh phận là bầy tôi. Xưa nay chưa từng có lễ nghi nào mà tôi lai ôm lấy chúa bao giờ ?
Nhà vua ngượng ngập tâu với Thái-phi :
- Chuyện trẻ con, xin Thái-phi chẳng nên quan tâm.
Thái-phi bảo Thủ-Độ :
- Thôi, con ra ngoài vườn chơi đi.
Thủ-Độ phóng con mắt ghê tởm nhìn anh em Long-Sảm, rồi ra ngoài. Nó thẩn thơ nhìn trời, nghiến răng :
- Nhất định ta không khóc ! Khóc là hèn.

Dù chưa gặp mặt, nhưng qua lời giáo huấn của mẹ, Thủ-Độ dành ra biết bao tình cảm cho quê hương, cho anh em con cô, con cậu, con chú, con bác trong mấy năm qua...
Bây giờ, vừa về đến Đại-Việt thì mẹ bị giết, nó bị Long-Sảm làm nhục ; trong tâm nó nảy một mối nghi ngờ, rồi từ nghi ngờ biến ra hận thù. Nó nghĩ thầm :
- Ta phải trả thù cho mẹ ! Ta phải rửa cái nhục hôm nay.
Nghĩ vậy, nó núp sau cửa sổ, ghé mắt nhìn vào bên trong. Thái-phi đã mệt mỏi lắm rồi, bà hỏi nhà vua :
- Hoàng nhi đã điều tra ra vụ ám toán Đoan-Nghi chưa ?
Nhà vua tâu :
- Khu-mật viện đã đúc kết điều tra. Thần nhi xin kính tâu lên Thái-phi tường.
- Vụ này ra sao ?
Nhà vua thuật lại vụ Vũ Khải đem thư lên Mông-cổ Thủ-Huy, Tử-Kim không chịu về, vì không có chiếu chỉ. Dọc đường ra sao. Đoan-Nghi lấy xe dạo phố ra sao, rồi bị ba tên cướp giả mãi võ bắt Thủ-Độ ra sao. Công chúa đuổi theo. Phần kết luận, nhà vua trao cho viên thái giám hầu cận đọc :
« Phu xe là một lính Thủy-quân. Y chờ mãi không thấy công chúa về, thì vội trở lại báo với Vũ Khải. Vũ Khải cáo với viên đô đốc Thủy-quân. Viên đô đốc sai một tốt binh sĩ theo giúp Vũ Khải, thì tìm thấy công chúa bị thương nặng. Cạnh đó có 26 xác chết. Y đoán rằng đó là những xác bọn cướp bị công chúa giết chết. Y hoảng hốt mang công chúa về thuyền trị bệnh. Sáng hôm sau viên đô đốc báo cho phủ thừa Thăng-long. Phủ-thừa Thăng-long đến phạm trường điều tra, thì 26 xác chết không thấy đâu nữa. Vũ khí, y phục cũng biến mất. Trong lúc lâm chung, công chúa có di ngôn với Vũ Khải rằng : Bọn cướp thấy Thủ-Độ mang nhiều vàng, ngọc. Chúng định bắt cóc để lấy của. Công chúa không nhận được võ công bọn chúng là võ công nào. Kết lại : Vụ này do bọn cướp gây ra. Nhưng chúng bị chết hết rồi, không thể điều tra thêm gì được nữa ».

Thái-phi thều thào :
- Hoàng nhi phải sai sứ báo cho phái Đông-A với Thủ-Huy ngay... Khổ lắm ! Đoan-Nghi là đứa con dâu mà đại hiệp Tự-Hấp sủng ái nhất...Tin này mà đến với ông, thì cả môn phái Đông-A rúng động. Họ ắt tung người đi điều tra. Không biết sẽ có bao nhiêu người chết nữa đây ? Lại còn Thủ-Huy nữa. Nó không về, thì có nghĩa là nó nghi triều đình. Bây giờ Đoan-Nghi chết tức tưởi thế này, đời nào nó ngồi im ?
Đến đây bà mệt quá, nắm tay nhà vua :
- Hoàng nhi ! Nếu Hoàng-nhi không vì tình huyết tộc, thì cũng...cũng tưởng nhớ...công lao cha nó, mà... đưa nó về Thiên-trường cho...ông nội nó nuôi dạy nó...
Đến đây, bà nhắm mắt lại :
- Ta sắp về với Tiên-đế ! Nghĩ lại, ta nhập cung, được Tiên-đế sủng ái, sinh ra ba người con anh hùng là Kiến-Ninh vương, Kiến-Hòa vương và Đoan-Nghi. Nhưng, nay thì...tay không ! Chúng đều đi trước ta cả rồi... Hỡi ơi ! Ta tưởng gọi Đoan-Nghi về để mẹ con thấy mặt nhau lần cuối. Không ngờ... Không ngờ...
Đến đây, bà nhắm mắt lại.
Ngự-y Phương-Thanh kinh hãi, bắt mạch Thái-phi. Bà lắc đầu :
- Tâu bệ hạ, Thái-phi băng rồi.
Nhà vua than :
- Trẫm vì muốn kiến tạo lại thịnh thời của bốn vị Tiên-đế mà bàn với Thái-phi viết thư mời công chúa Đoan-Nghi, phò mã Thủ-Huy về phò tá. Không ngờ Thủ-Huy nghi trẫm thiếu thành tâm, mà ở lại đất khách. Còn Đoan-Nghi vừa về thì bị ám toán. Vụ này e có loạn chứ không giản dị đâu. Nếu như Thái-phi còn tại thế thì người có thể nói một lời với Thủ-Huy với phái Đông-A dùm trẫm. Bây giờ Thái-phi lại băng, làm sao ? Phải làm sao ?
Đàm hoàng hậu đề nghị :
- Hay ta dấu nhẹm việc công chúa hoăng đi. Coi như công chúa chưa về tới Đại-Việt. Sau này, Thủ-Huy, hay phái Đông-A cho người đi điều tra, thì ta cứ nói là thuyền chở công chúa Đoan-Nghi bị đắm trên biển Đông. Còn Thủ-Độ nó kinh hoảng quá, đến mất trí, thì cứ nói dối rằng nó là đứa trẻ mồ côi, ta đem về nuôi. Ta cải họ, đổi tên cho nó. Khi nó lớn lên, ta cho nó tĩnh thân làm thái giám. Bây giờ ta tạm cho nó vào trường Quốc-tử giám học cùng với Long-Sảm.
Nhà vua tán thành :
- Đành vậy. Ta cải họ Trần của nó thành họ Đàm, còn tên thì giữ nguyên.


****************

Đã đưa vào thư viện đến chương 32
Chán đời đi lang thang !
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-04-09 18:34:33NuHiepDeThuong>
Hồi thứ ba mươi ba

Lời nguyền Chân-giáo


Đám tang Thái-phi Bùi Chiêu-Dương qua đi thực giản dị. Còn Thủ-Độ thì Đàm hoàng hậu trao cho một cung nga già tên Thụy-Nga trông coi với chỉ dụ :
Tuyệt đối không được tiết lộ thân thế của nó với bất cứ ai. Ngay cả Ngự-y Trần-thị Phương-Thanh cũng không được vào thăm bệnh nó. Ai hỏi, nói dối rằng nó là cháu xa đời của ta, mồ côi cả cha lẫn mẹ, ta đem về nuôi.
Thủ-Độ được ở ngay trong cung của thân mẫu hồi chưa lấy chồng. Hơn tháng sau, chợt nhà vua nhớ đến nó. Ông cậu cho triệu hồi nó đến để hỏi han tình hình sức khỏe. Nó biết rằng nếu mình tỏ ra tỉnh táo, thì khó mà toàn mạng. Vì vậy gặp nhà vua, nó mở mắt thao láo nhìn, không nói không rằng, rồi thình lình méo miệng cười một mình.
Nhà vua ôm nó vào lòng :
- Cháu ! Cháu có nhớ bố cháu tên gì không ?
Thủ-Độ nhe răng, mở to mắt, rồi cười sằng sặc :
- Bố à ! Bố là gì ?
- Tên cháu là gì nào ?
Nó lắc đầu tỏ vẻ không biết.
Nhà vua tin rằng đó là thằng điên. Nhà vua hỏi cung nga già Thụy-Nga về cuộc sống hàng ngày của nó. Người cung nga tâu rằng tuy nó ít nói, nhưng lại rất chăm đọc sách. Nhà vua truyền cho nó vào trường Quốc-tử giám học.
Ba hôm sau, Thủ-Độ được đưa vào trường Quốc-tử giám. Trường này thành lập từ thời vua Thánh-tông. Trường dành cho các hoàng tử, các thế tử, con các đại thần. Nếu còn chỗ thì nạp thêm những sĩ tử giỏi của các trấn, các huyện. Ngày đầu tiên Thủ-Độ phải qua một kỳ sát hạch để biết trình độ học vấn. Vị Kinh-diên quan tuổi còn trẻ, tên Phạm Kính-Ân. Ông trao cho Thủ-Độ bộ Văn-lang giản-sử bảo nó đọc. Quyển này nó đã được Đoan-Nghi giảng rất kỹ trong ba tháng lênh đênh trên mặt biển. Nó chắp tay :
- Thưa thầy bộ này con đọc rồi.
Kính-Ân kinh ngạc, ông hỏi :
- Con đã học, vậy học với ai ?
- Con tự đọc.
- Vậy con có hiểu không ?
- Con hiểu rất kỹ.
Kính-Ân không tin :
- Nếu con đọc rồi, vậy thầy hỏi con một câu: Văn minh thời Văn-lang có ba đặc tính vượt Trung-quốc. Đó là những đặc tính gì ?
- Thưa thầy, thứ nhất, về Lịch-số ta bỏ xa Trung-quốc. Nên vua Hùng đã sai chép phép làm lịch vào lưng một con rùa, rồi sai sứ sang tặng Trung-quốc. Vua Trung-quốc sai quan Thái-sử lệnh chép lại. Vì vậy lịch đó gọi là Quy-lịch.
- Giỏi ! Thế đặc tính thứ nhì là gì ?
- Thưa là thuật luyện kim. Bằng cớ vào thời này Trung-quốc chưa biết đúc đồng. Thế mà ta đã đúc trống đồng. Trên trống đồng khắc hoa văn rất tinh xảo !
- Đúng ! Thế còn đặc tính thứ ba ?
- Đặc tính thứ ba, là Trung-quốc chỉ có chữ tượng hình, học rất khó, lại rất lâu. Trong khi ta có văn tự Khoa-đẩu tượng thanh. Học rất dễ, rất mau.
Kính-Ân kinh ngạc về trí thông minh, về tài ứng đối nhanh chóng của Thủ-Độ. Ông ta nghĩ thầm :
- Đứa trẻ này là con của ai ? Theo như trong sổ ghi, thì nó là đứa con mồ côi thuộc họ xa của Đàm hoàng-hậu. Nó bị bệnh ngẫn ngờ. Ngẫn ngờ mà sao lại thông minh thế này ? Ta phải tìm hiểu mới được.
Kính-Ân lấy quyển binh pháp Kinh-Nam vương ra trao cho nó. Bộ này Thủ-Độ đã thấy bố nó mang ra giảng cho cacù tướng Mông-cổ nhiều lần. Nó ngồi cạnh, cũng hiểu được mấy phần. Nó mở ra trúng chương chín. Đó là chương nói về việc luyện kị binh. Nó cất cao giọng đọc. Nó vừa đọc xong, thì Kính-Ân hỏi nó :
- Trong phép dùng kỵ binh, thì những điều kị nhất là gì ?
- Có ba điều phải tránh. Thứ nhất tránh đồng lầy. Thứ nhì tránh rừng núi. Thứ ba tránh nơi có nước dơ bẩn.
Như thế đủ rồi, Kính-Ân thấy Thủ-Độ quá thông minh, lại có căn bản vững vàng. Ông đề nghị với quan Quốc-tử giám tế tửu cho nó học cùng nhóm với Thái-tử Long-Sảm. Ngay buổi học đầu, vừa trông thấy Thủ-Độ, lập tức Long-Sảm nhảy dựng lên :
- Thưa thầy, trong chín người cùng học với con, năm đứa chúng con là Gia-thụy ngũ anh, ngoài ra còn bốn người đều là những học trò giỏi nhất của các trấn. Tại sao thầy cho thằng khùng này cùng học ?
Kính-Ân hỏi :
- Gia-thụy ngũ anh là những ai vậy ?
- Thưa thầy đứng đầu là con, thứ nhì là em Long-Thẩm của con. Thứ ba là Đoàn Thượng, con của Tổng-lĩnh thị-vệ Đoàn Văn. Thứ tư là Nguyễn Dư, con của quan Kinh-lược sứ Kinh-Bắc Nguyễn Nộn. Thứ năm là con của Vũ-kỵ thượng tướng quân Phạm Bỉnh-Di tên Phạm Bỉnh-Du.
- Có phải Đoàn Thượng, Nguyễn Dư, Phạm Bỉnh-Du là Thiện-nhân không ?
- Dạ.
Kính-Ân biện luận :
- Xin điện hạ cứ coi Đàm Độ như một hình bù nhìn. Y có theo kịp hay không cũng không cần biết.
Thấy qua việc trắc nghiệm, mình đã để lộ chân tướng ra nhiều quá, Thủ-Độ tự nhủ :
- Đã vậy thầy giảng, ta cứ im lặng nghe, để không ai chú ý đến ta.
Thể lệ của trường Quốc-tử giám, là sau mỗi tháng, các Kinh-diên quan họp nhau lại để cùng nhận xét về các học sinh. Khi bàn về nhóm học cùng với Thái-tử, thì họ tranh cãi đến hết một buổi mà không hiểu nổi Thủ-Độ. Vì khi thầy giảng, hầu hết học trò hiểu thì gật đầu. Không hiểu thì chau mày. Còn Thủ-Độ thì trầm tư không tỏ ra hiểu hay không. Ngược lại, khi làm bài thì bài của Thủ-Độ bao giờ cũng được chấm ưu. Chữ viết rất đẹp. Trong sáu Kinh-diên quan, thì ba người cho rằng Thủ-Độ điên khùng. Còn ba người thì lại cãi rằng nó là đứa trẻ thông minh.
Phạm Kính-Ân là người đứng về phía cho rằng Thủ-Độ thông minh. Một hôm, ông gọi riêng Thủ-Độ vào thư phòng, đóng cửa lại, rồi ông hỏi nó :
- Con có tin rằng thầy yêu thương con không ?
- Thưa thầy con tin.
- Vậy thầy hỏi câu nào con phải nói thực câu đó.
- Vâng !
- Hoàng hậu bảo rằng con là cháu của người. Con là đứa trẻ mất trí, khật khùng. Thầy không tin. Vậy nguồn gốc con ra sao ?
Thủ-Độ nghĩ :
- Ông là thầy ta, không thụ một chút ân huệ nào của cha mẹ ta, mà ông yêu thương ta còn hơn các ông cậu bà mợ của ta. Ta chẳng nên nói dối ông.
Nghĩ vậy, nó nói :
- Thưa thầy, con họ Trần tên Thủ-Độ. Cha con trước đây là Phụ-quốc Thái-úy phụ chính đại thần Trần Thủ-Huy. Mẹ con là Trưởng công chúa Đoan-Nghi.
Kính-Ân kinh ngạc :
- Ái chà ! Thế hiện thời phò mã với công chúa ở đâu ?
Thủ-Độ tường thuật chi tiết vụ bố mẹ nó bị đem cống cho Tống, rồi bỏ lên Mông-cổ, giúp Mông-cổ lập quốc ra sao. Cuối cùng mẹ nó vì nghe lời nhà vua, về giúp nước mà bị giết. Nó phải giả khùng để tránh bị họa sát thân.
Hai giọt nước mắt chảy trên gò má, Phạm Kính-Ân than :
- Thì ra thế .
Thủ-Độ hỏi :
- Thưa thầy, cứ như minh kiến của thầy thì ai đã sát hại mẹ con ?
Kính-Ân giảng giải :
- Khu-mật viện cũng như Phủ-thừa Thăng-long tâu rằng bọn trộm cướp đã ra tay. Ta phải gạt cái lý luận ngớ ngẩn này ra ngoài. Việc công chúa bị ám hại, không thể do bọn cướp. Bọn cướp lớn đến mấy cũng không có khả năng mạnh đến như vậy. Để có thể làm việc này, phải là một thế lực uy quyền bao la. Tại sao ? Một là trộm cướp không thể biết rõ việc công chúa về nước. Hai là không biết ngày giờ công chúa về tới Thăng-long. Ba là điều động hai đội tiễn thủ phục sẵn gần bờ hồ Tây. Chỉ một thế lực lớn lao mới có khả năng đó. Chúng lại cũng đoán ra rằng công chúa xa quê hương lâu ngày. Khi về Thăng-long vào lúc trời tối ắt không kiềm chế nổi lòng rộn rực, người sẽ lấy xe dạo chơi. Dạo chơi thì phải ăn uống. Chúng cũng biết công chúa kiếm thuật thần thông, chúng không đủ sức ám toán. Cho nên chúng mới bầy ra bọn mãi võ để bắt cóc con, rồi dẫn dụ công chúa vào trận loạn tiễn.
Thủ-Độ như người mù được mở mắt ra. Nó hỏi :
- Theo thầy, thì kẻ nào đứng chủ trương ?
- Thầy đoán như thế này : Kẻ nào đó biết rõ Thái-phi, Hoàng-thượng thỉnh công chúa hồi hương. Khi công chúa hồi hương bình an, ắt phò mã sẽ về. Phò mã với công chúa sẽ được Hoàng-thượng trao đại quyền, lập lại thịnh trị như hồi các vị Tiên-đế. Bấy giờ bọn chúng sẽ mất hết quyền hành, hay gặp nguy hiểm. Chúng bàn với nhau bầy mưu ám toán công chúa. Một là chúng dùng quyền lực đe dọa, hai là chúng mua chuộc sứ đoàn với thủy đoàn. Khi công chúa về đến lãnh hải Đại-Việt, sứ đoàn, thủy thủ đoàn báo cho chân tay bọn sát nhân biết. Bọn này phi ngựa khẩn cấp về Thăng-long trình lên chánh phạm. Chánh phạm mật ra lệnh cho thủy thủ đoàn ghìm sao để thuyền tới Thăng-long vào giờ cổng thành đóng. Rồi chúng cho người giả làm bọn mãi võ, đưa công chúa đến chỗ chúng phục tiễn thủ .
- Không lẽ Thái-phi hay Hoàng-thượng làm việc này ?
- Thầy nghĩ Thái-phi không thể nào giết con. Hoàng-thượng muốn thỉnh công chúa về, thì người đâu có hại công chúa ? Thái-phi, Hoàng-thượng sai Vũ Khải thỉnh công chúa, phò mã mà triều đình không biết gì. Người ngoài duy nhất được biết là viên sứ thần Vũ Khải. Nhân viên sứ đoàn cũng không biết nốt. Vậy chỉ cần điều tra viên sứ thần Vũ Khải với thủy thủ đoàn thì ra manh mối.
Kính-Ân nắm tay Thủ-Độ :
- Con giả ngây như vậy cũng phải. Ở đây là chốn miệng hùm, nọc rắn. Con liệu mà trốn về Thiên-trường với ông nội con càng sớm càng tốt.
Từ đấy, Kính-Ân không bao giờ nghị tới việc Thủ-Độ điên hay tỉnh nữa.

Trên toàn Đại-Việt có năm trường dạy võ của triều đình, do Lĩnh-Nam ngũ hổ tướng trự tiếp điều động. Trường lớn nhất, mở trong Hoàng-cung. Trường này dành riêng cho hoàng tử, thế tử và con các đại thần.. Người phụ trách dậy võ là quan Tổng-lĩnh thị vệ Đoàn Văn. Thủ-Độ được vào học lớp này. Chỉ nhìn cảnh thầy dậy trò tập, Thủ-Độ thấy ngay, họ là những con vua, cháu chúa. Học chỉ để làm cảnh. Cho nên sau khi học buổi đầu, nó đóng kịch, uể oải múa may loạn xạ, rồi lên cơn điên nói lảm nhảm.
Thái-tử Long-Sảm nói với anh là Long-Thẩm :
- Anh xem ! Thằng mọi này vốn bị bệnh điên, mà đi học văn với bọn mình nên thành điên thêm. Bây giờ lại học võ thì chỉ có chết non.
Tuy vậy mỗi buổi chiều Thủ-Độ cũng phải học võ. Nó cứ đóng kịch, múa may không ra bài bản gì. Nhưng tối tối, nó đóng cửa lại, tự luyện nội công. Ôn lại bộ quyền, chưởng mà bố nó dạy nó. Vì không có việc gì khác, cũng như không được chạy nhảy, đùa nghịch ; Thủ-Độ chăm chỉ luyện công không ngừng.
Hai năm dài qua đi, Thủ-Độ đã luyện hết yếu quyết nội công Đông-A mà bố nó dạy nó. Trong thời gian này, nó nghe người ta nói nhiều về những việc mà trước đây bố mẹ nó đã làm, ai cũng tỏ vẻ kính phục. Nó lại nghe các ông thầy dạy võ nói nhiều về phái Đông-A của bố nó. Trong óc nó lóe lên một ý nghĩ :
- Không ngờ danh tiếng ông bà ta lại lớn như vậïy ! Hay là ta thử về Thiên-trường tìm ông bà nội, tìm bác Lý, tìm cô Ngân của ta, ta sẽ nói với ông bà ta những lời mẹ ta trối trăn lúc lâm chung, rồi xin các người đưa ta trở về Mông-cổ gặp bố ta.
Nhưng những tàn nhẫn của Đàm hoàng hậu, của anh em Long-Sảm, Long-Thẩm lại khiến nó suy nghĩ :
- Biết đâu bác Lý, cô Ngân cũng như con của họ lại giống Đàm hoàng hậu vơi các con bà ?

Hôm ấy là ngày rằm tháng tám, nhà vua cùng Hoàng-hậu, phi tần, thân vương mở tiệc trung thu trong Hoàng-thành để khoản đãi các thân vương, công chúa. Trong buổi tiệc này, nhà vua sẽ cho các thiếu niên trong hoàng tộc đấu võ. Ai thắng giải nhất sẽ được thưởng một thanh kiếm, chuôi nạm vàng. Ai thắng giải nhì, sẽ được thưởng một cái roi da, chuôi bằng bạc. Ai thắng giải ba, sẽ được thưởng một cây cung, với ba mũi tên đầu bịt bạc. Thủ-Độ bị coi như đứa trẻ ngẫn ngờ, không được tham dự. Nhưng nó vẫn phải cùng các bạn đồng học, ngồi xếp hàng trước võ đài xem tranh giải.
Ngồi trước võ đài, mà trong tâm Thủ-Độ nghĩ tới những ngày ở Mông-cổ với cha mẹ, phi ngựa với bọn Ngột Lương Hợp Thai, bọn Bạt Đô, bọn A Bát Xích trên đồng cỏ mênh mông. Khi nhà vua cùng chư vương đến, nó mới trở về thực tại. Nhìn lên đài, thấy hai vương Kiến-khang, Kiến-bình ngồi cạnh nhà vua, trong lòng nó chua chát :
- Ba ông cậu kia, đều là em của mẹ ta. Hai ông thì do cha mẹ ta dậy dỗ nuôi nấng. Một thì chết đến ba lần, đều do cha mẹ ta mà còn sống đến nay. Thế nhưng, họ bắt ta cải họ, giam giữ ta như thế này đây ! Ta phải cố tranh sống. Sau này ta mà ngóc đầu lên được, thì ta cũng không nghĩ đến tình cậu cháu nữa.
Ai đấu với ai, Thủ-Độ cũng không cần để ý. Cho đến khi phát thưởng nó mới biết, người đoạt giải nhất là Đoàn Thượng, con trai của quan Tổng-lĩnh thị vệ Đoàn Văn. Người đoạt giải nhì là Nguyễn Dư, con trai quan An-phủ sứ Đăng-châu Nguyễn Nộn. Người đoạt giải ba là Phạm Bỉnh-Du, con trai của Vũ-kỵ thượng tướng quân Phạm Bỉnh-Di. Sau khi nhà vua trao thưởng cho ba thiếu niên, thì Kiến-khang vương hỏi Thái-tử Long-Sảm :
- Thế nào ? Cháu luyện võ đến đâu rồi ? Cháu thử đi một bài quyền cho chú xem nào ?
Long-Sảm vâng lệnh, bước ra bái tổ, hành lễ với cử tọa, rồi đi một bài quyền. Thủ-Độ nhận ra đó là một bài quyền của phái Hoa-sơn. Bất giác nó nảy ra ý khinh bỉ, trán hơi nhăn lại, rồi quay đầu nhìn đi chỗ khác. Hành động của nó không qua được mắt Đàm hoàng hậu. Bà vẫy tay gọi nó :
- Đàm Độ, người hãy lên đài.
Thủ Độ không đừng được, nó phải lên đài, cung tay hành lễ. Hoàng hậu bảo Long-Sảm :
- Đàm Độ học võ cùng với con. Vậy con hãy đấu với nó mấy chiêu cho phụ hoàng cùng các hoàng thúc xem nào.
Long-Sảm dạ một tiếng rồi đứng đối diện với Thủ-Độ. Đoàn Văn hô :
- Xuất chiêu!
Long-Sảm tung vào người Thủ-Độ một chiêu Hoa-sơn quyền. Thủ-Độ giả như người không biết võ, nó ôm đầu trầm người xuống tránh. Long-Sảm đánh vào quãng không. Xấu hổ, Long-Sảm lại dùng tay phải đành thẳng vào ngực Thủ-Độ trong khi tay trái chém ngang vào cổ nó. Thủ-Độ trầm người xuống, rồi bước ra sau Long-Sảm. Long-Sảm đánh hụt, người lảo đảo suýt ngã. Tức giận y quay người về sau, trong khi chân đá vòng vào bụng Thủ-Độ. Thủ-Độ không tránh kịp, nó đành vận công chịu đòn. Bộp một cái, Long-Sảm có cảm tưởng như mình đá phải cái cột gỗ, chân y đau đớn , mặt nhăn nhó cực kỳ khó chịu.
Thấp thoáng một cái, Kiến-bình vương đã nhảy ra giữa đài, ông túm áo Long-Sảm, Thủ-Độ ném hai trẻ ra xa rồi nói :
- Đàm Độ ! Phàm khi đấu võ thì không kể đến chúa tôi, thầy trò. Cháu phải trả đòn đi chứ !
Nói dứt ông hô :
- Phát chiêu.
Long-Sảm lại dùng Hoa-sơn quyền tấn công Thủ-Độ. Vốn đã chủ tâm, Thủ-Độ cứ giả như người không biết võ, nó xuyên bên Đông, lách bên Tây, khiến Long-Xưởng không sao đánh trúng được nó. Nhưng sau mười tám chiêu, thì nó lùi đến mép đài. Long-Sảm dùng cả hai tay thúc vào ngực nó, mong đẩy nó xuống đài. Không đừng được, Thủ-Độ phải chụp hai vai Long-Sảm, rồi lộn một vòng trên không, nó tung mình đáp xuống giữa đài. Vô tình nó đã xử dụng chiêu Kình-ngư thuận phong một chiêu trong Đông-A chưởng pháp. Khán giả vỗ tay hoan hô.
Long-Sảm quá xấu hổ, nó rút trong bọc ra một thanh trủy thủ vung tay đâm vào ngực Thủ-Độ. Kinh hoảng, Thủ-Độ xuống đinh tấn, tay trái gạt tay phải Long-Sảm, rồi tung mình lên cao, quay một vòng, chân phải đá vào vai phải Long-Sảm. Đó là một chiêu trong Đông-A quyền pháp. Binh một tiếng, Long-Sảm bay tung xuống đài, nằm thẳng cẳng, không bò dậy được nữa.
Có nhiều tiếng la thét :
- Võ công Đông-A chính tông.
Biến cố đột ngột xẩy ra, ngoài sự tưởng tượng của mọi người, Phạm Bỉnh-Di nhảy ra túm tóc Thủ-Độ, tát nó hai cái, rồi quát :
- Mi học đâu những võ công sát nhân này ?
Kiến-bình vương nhảy ra can thiệp :
- Bỏ đứa trẻ này xuống.
Vương đưa con mắt nghiêm khắc nhìn Bỉnh-Di:
- Võ công mà đứa trẻ này dùng là võ công thuộc danh môn chính phái. Người liệu mà giữ mồm, bằng không thì cả nhà người sẽ bị tru diệt, cả đến con gà, con chó cũng không thoát chết đâu.
Phạm Bỉnh-Di tái mặt, y lùi lại góc đài, chân tay y phát run.
Kiến-bình vương xoa má cho Thủ-Độ rồi hỏi :
- Cháu là con của vị quan nào trong triều ?
Đàm hoàng hậu trả lời thay Thủ-Độ :
- Nó là đứa trẻ mồ côi, bị bệnh điên trong họ tôi. Tôi mang về nuôi trong Hoàng-thành.
Lời nói của Hoàng-hậu, cũng như những chiêu thức hỗn loạn của Thủ-Độ không qua mắt được Kiến-bình vương. Bởi quan sát cuộc đấu, ngay từ đầu, ông thấy rõ Thủ-Độ giả không biết võ, ra chiêu lộn xộn, nhưng những chiêu đó đều bao hàm những sát thủ kinh nhân của võ công Đông-A. Ông biết ngay Thủ-Độ đã đươc huấn luyện căn bản cực kỳ tinh vi. Như vậy nó phải học võ với những người ngang hay cao hơn ông một vai.
Ông hỏi Thủ-Độ :
- Cháu là đệ tử của cao nhân nào trong phái Đông-A ?
Thủ-Độ không dám nói thực, nó trả lời :
- Cháu học võ trong Hoàng-thành. Vừa rồi cháu gặp nguy hiểm, thuận tay múa loạn lên, chứ có ai dạy cháu đâu ?
Kiến-bình vương hỏi Phạm Bỉnh-Di:
- Phải chăng tướng quân chỉ dạy võ công Hoa-sơn cho đám trẻ này ?
- Khải vương gia vâng.
Kiến-bình vương càng áy náy. Ông nói với Hoàng-hậu:
- Thưa nương nương, việc này không giản dị đâu. Ngày mai, thần xin phép nương nương cho đón đứa trẻ này đến tệ phủ, để tìm hiểu rõ sự thực.
Hoàng-hậu đáp bằng giọng run run:
- Hoàng thúc cứ tự tiện.
Long-Sảm chỉ bị ngã đau, chứ không bị thương. Nó đã lên đài, định xông vào đánh Thủ-Độ nữa. Kiến-bình vương tuyên bố :
- Trận vừa rồi Long-Sảm thua, Đàm Độ thắng. Trận đấu chấm dứt.
Thế là cuộc đấu võ xong. Nhà vua tuyên bố ban tiệc cho các thiếu niên. Vì Thủ-Độ không phải là tôn thất, cũng không phải là con quan, nên nó không được dự tiệc Trung-thu. Nó chỉ được gói quà, gồm một quả hồng, một quả na, một gói ngô rang và một cái bánh dẻo. Nó ngồi ăn bên cạnh những đứa trẻ mà cha mẹ làm những nghề hèn hạ trong Hoàng-thành như cắt cỏ, gánh phân, chăn ngựa. Ăn xong, nó thui thủi trở về chỗ ngủ.
Vừa về đến nơi, thì trước mặt nó, bọn Gia-thụy ngũ anh đã dàn hàng ngang đứng chờ. Không nói không rằng, cả năm xông vào tấn công nó. Thủ-Độ kinh hoàng, không kịp phản công, thì bị đánh ngã. Sau khi nó ngã, Nguyễn Dư, Đoàn Thượng khóa tay nó, còn Long-Sảm thì chân đấm, tay đá vào khắp người nó. Nó nghiến răng chịu đau, không kêu, không khóc cho đến khi ngất đi mới thôi. Long-Sảm bảo đồng bọn :
- Chúng ta đái vào đầu nó cho bỏ ghét.
Cả bọn xúm vào đái khắp người Thủ-Độ, rồi cười khoái trá, kéo nhau đi.
Thủ-Độ tuy đau đớn, nhưng vốn có nội công thâm hậu, chỉ lát sau, nó đã đứng dậy đi được. Nó vào nhà tắm rửa, thay quần áo rồi nghĩ thầm :
- Tình thế này, ta không thể ở đây được nữa. Nhân đêm Trung-thu, các cổng thành đều mở cả đêm, ta phải trốn đi, rồi tìm đường về Thiên-trường mới hy vọng sống sót.
Nghĩ vậy, nó lấy quần áo cho vào cái túi da, mà nó mang từ Mông-cổ về, cùng với mấy di vật của mẹ, rồi lết ra khỏi Hoàng-thành. Nó thẫn thờ đi gữa kinh thành rực ánh trăng.
Bấy giờ Đại-Việt đang lúc thời bình, biên cương không ngoại xâm, trong nước không loạn. Dân chúng Thăng-long lũ lượt kéo nhau ra đường chơi trăng Trung-thu. Chỗ này một đoàn xiếc biểu diễn. Chỗ kia một đoàn hát chèo. Chỗ khác, trai, gái chia toán hát Trống-quân. Trai thanh, gái lịch cười đùa, tưởng như thiên cung. Trong cái không gian vui vẻ ấy, đứa trẻ mồ côi Thủ-Độ lầm lũi lê bước, khắp thân thể đau đớn cùng cực. Bất giác nó ngửa mặt nhìn trời :
- Trăng đẹp thế kia, người vui thế nọ, còn ta ? Trời đất mênh mông, ta đi về đâu ? Hỡi ơi !
Thình lình mây đen kéo đến che khuất mặt trăng, rồi sấm, chớp rung động trời đất. Cơn mưa đổ ụp xuống. Người người bỏ chạy. Thủ-Độ ẩn thân vào dưới một mái hiên. Được một lát, gió thổi ào ào, mưa tạt khắp người nó. Nó cố nép mình vào tường, nhưng cũng bị ướt. Tuy ướt, nhưng vốn sinh trưởng ở vùng băng tuyết, nó không cảm thấy lạnh. Gió lại thổi, mưa lại tạt vào người, cảm thán nó làm bài thơ cổ phong:

Trung-thu vọng nguyệt !
Vũ như cương la !
Ta hồ, thống khổ !
Thùy khả tri tâm !
Không gian vô tận hà vi tiểu ?
Bất nghi nhất thốn khả dung thân !


Rồi nó tự dịch sang tiếng Việt :

Trung-thu ngắm trăng,
Mưa như lưới giăng :
Than ôi, đau đớn !
Ai hiểu ta chăng ?
Vô tận không gian sao hẹp quá ?
Không đầy một chỗ để dung thân.


Ghi chú của thuật giả:

Về nguồn gốc bài thơ này, trong gia phả các chi họ Trần chép không giống nhau. Chi hai, thuộc giòng Hưng-Nhượng vương chép :
« Thủa thiếu thời mồ côi mẹ, Thái-sư Thượng-phụ, Hóa-thiên, Trung-vũ, Long-công, Liệt đức, Từ-huệ, Đại-vương, bị Huệ-Quang đại sư làm nhục, đánh đậïp thương tích đầy người đến chết đi sống lại, phải ăn mày ở Thăng-long, làm thơ này ». Trung-vũ Đại-vương là chức tước của Trần Thủ-Độ. Huệ-Quang đại sư là pháp danh của vua Lý Huệ-tông.
Còn gia phả của con cháu Chiêu-quốc vương Trần Ích-Tắc lại chép là ông làm trong lúc hàng Mông-cổ. Vua Mông-cổ phong cho ông làm An-nam quốc vương, sai quân đưa về nước, bị quân Trần đánh tan, phải bỏ chạy dưới trời mưa tầm tã.
Xét văn phong cùng thi tứ của Chiêu-quốc vương, vốn điêu luyện bậc nhất đương thời, dù trong lúc chạy ...chí chết, ông cũng không thể làm một bài thơ quá mộc mạc như trên. Thơ khô khan, mộc mạc như bài này, chỉ có thể là của Trung-vũ Đại-vương Trần Thủ-Độ.
Vả lại, trong hai gia phả thì gia phả của giòng Hưng-Nhượng vương đáng tin hơn, vì người khởi chép là con trai của vương, một thi sĩ đương thời. Còn gia phả của Chiêu-quốc vương, khởi chép từ con của vương là Trần Hữu-Lượng, lưu vong ở Trường-sa bên Trung-quốc.


Trời tạnh, Thủ-Độ lại lê bước lầm lũi đi trong đêm. Đau quá, kiệt lực nó ngã sóng soài trên vũng nước. Giữa lúc đó một chiếc xe ngựa bon bon chạy tới. Có tiếng thiếu nữ kêu thét lên:
- Ai chết giữa đường. Dừng xe lại !
Người đánh xe ghì cương khẩn cấp. Con ngựa hý lên một tiếng dài, cất cao hai vó. Trên xe có một thiếu phụ nhan sắc diễm lệ ngồi cạnh một thiếu nữ. Người phu xe tung mình xuống đất. Y sờ tay lên đầu Thủ-Độ, rồi tỏ vẻ mừng rỡ:
- Là một đứa con trai, thương tích đầy người. Nó chưa chết.
Thiếu nữ cuống lên:
- Mẹ! Mẹ! Mình có cứu nó không?
- Cứu chứ. Mau đem nó lên xe.
Gã phu xe bồng Thủ-Độ để nằm ở ghế sau, rồi ra roi cho ngựa chạy. Tới bờ sông Hồng, thiếu phụ ra lệnh:
- Đem nó vào khoang chính cho ta.
Nói rồi bà với cô gái leo lên tấm ván làm cầu, xuống con thuyền cực lớn. Thủ-Độ được đặt nằm dài trên cái ổ rơm. Thiếu phụ cởi áo Thủ-Độ ra xem, rồi nói:
- Cứ như y phục, thì đứa trẻ này không phải là ăn mày. Nó bị năm đứa trẻ khác dùng võ công Hoa-sơn đả thương, rồi lại đái trên người. Song nó chỉ bị ngoại thương thôi. Bóp rượu thuốc vài lần thì khỏi.
Thủ-Độ đã tỉnh, nó rên lên mấy tiếng. Thiếu phụ bảo gã phu xe:
- Người đem nó đi tắm, ta sẽ dùng rượu thuốc trị các vết thương cho nó.
Trong khi thuyền phu đưa Thủ-Độ ra phía sau thuyền múc nước sông tắm cho nó, thì thiếu nữ giặt quần áo rồi hơ khô.
Thiếu-phụ, thiếu nữ cùng dùng rượu thuốc thoa bóp cho Thủ-Độ. Khoảng một khắc sau, nó cảm thấy bớt đau. Thiếu phụ hỏi:
- Cháu tên là gì? Bố mẹ cháu là ai?
Thấy thái độ từ ái của thiếu phụ, Thủ-Độ không muốn nói dối. Nó nói thực:
- Mẹ cháu chết rồi. Còn bố cháu thì ở xa...xa lắm. Cháu ở với cậu mợ cháu.
- Ai đã hành hung cháu thế này?
- Cháu bị hai đứa em con cậu cùng ba đứa bạn nó xúm vào đánh cháu.
- Thương thế của cháu rất trầm trọng. Ta muốn đưa cháu về nhà ta, rồi mời thầy lang trị bệnh cho cháu. Ngặt vì luật nước rất nghiêm, chỉ người trong gia tộc mới có quyền nuôi trẻ. Vì vậy, ta mà đưa cháu về nhà ta, thì cậu mợ cháu sẽ kiện ta về tội dụ dỗ trẻ con. Vậy nhà cháu ở đâu, để sáng mai ta đưa cháu về ?
Thủ-Độ nói dối:
- Nhà cháu ở phố hàng Trống.
Bấy giờ Thủ-Độ mới chú ý đến thiếu nữ. Nàng ngang tuổi với nó. Nó đã từng thấy biết bao nhiêu người đẹp mà Thành-cát Tư-hãn bắt từ các nước đem về, thưởng cho các tướng. Nó cũng biết mẹ nó là công chúa đẹp nhất Đại-Việt. Thời gian ở trong Hoàng-thành, nó từng thấy Hoàng-hậu, Phi-tần, người nào cũng đẹp... nhưng thiếu nữ này có sắc đẹp diễm ảo, như có, như không. Đôi mắt nàng đen, to, thực nhu mì. Nhưng khi nàng nhìn thẳng vào nó thì chiếu ra tia hàn quang cực mạnh. Mỗi cử chỉ, mỗi hoạt động của nàng như muôn nghìn đóa hoa đang nở.
Thiếu nữ hỏi nó :
- Này ! Người tên gì vậy ?
- Tôi...tôi tên Độ ! Độ là bến đò.
- Thế còn họ ?
- Tôi họ Đàm.
- Họ Đàm hả. Vậy người có bà con gì với Thái-sư Đàm Dĩ-Mông, Thái-úy Đàm Thì-Phụng không ?
- Không.
- Người đói rồi đây. Để ta lấy cái gì cho người ăn nhe.
Thiếu nữ vào khoang thuyền sau, lát sau nàng mang ra một bát cơm nóng, với cá bống mít kho. Thủ-Độ ngồi dậy, nhưng nó vừa cử động, chạm đến vết thương, đau thấu tâm can. Nó lại rên lên một tiếng, rồi nằm xuống. Thiếu nữ an ủi :
- Người nằm đó đi. Ta...Ta đút cho người ăn.
Thiếu nữ lau tay rồi bốc cơm, nắm thành viên nhỏ, đút cho Thủ-Độ. Tuy đau đớn khắp người nhưng được thiếu nữ tuyệt sắc đút cơm. Thủ-Độ ăn ngon lành. Nó ăn hết hai bát cơm. Thiếu nữ lại lấy nước vối cho nó uống.
Thiếu nữ nói với thiếu phụ :
- Mẹ ơi ! Y đau đớn quá thế này, thì sao ngủ được ?
- Con cho y uống hai viên Định-tâm hoàn.
Thiếu nữ lấy thuốc bỏ vào miệng Thủ-Độ, rồi cầm bát nước kê lên môi nó. Nó hớp một hớp, hai viên thuốc trôi xuống bao tử. Thiếu nữ nói với mẹ :
- Phải chi mẹ đem y về nhà mình nuôi. Con sẽ chăm sóc y, rồi dẫn y đi trồng hoa, nuôi cá thì vui biết bao.
Thiếu nữ nói với Thủ-Độ :
- Độ ơi ! Để ta ru người ngủ nhe.
Nàng cất tiếng hát :

ời ơi.
Phượng hoàng đậu chốn cheo leo,
Gặp khi bão táp a à a phải theo đàn gà.
Ạ ời ơi.
Bao giờ mưa thuận á à gió hòa.
Thay lông đổi cánh...ạ à lại ra phượng hoàng.
Ạ ời ơi.


Thủ-Độ tỉnh giấc thì mặt trời đã lên cao. Thiếu nữ thấy nó thức thì reo lên :
- Tỉnh rồi ! Độ tỉnh rồi. Này Độ ơi ! Mẹ ta có việc phải vào thành. Mẹ bảo ta ở lại để chăm sóc người. Người thử ngồi dậy xem nào !
Thủ-Độ cố gắng ngồi dậy, thiếu nữ reo :
- Khá lắm ! Để ta lấy cháo cá cho người ăn.
Thiếu nữ bưng ra bát cháo, nói :
- Cháo cá quả đấy. Ngon lắm, người ăn đi.
Thủ-Độ ăn liền một lúc ba bát. Nó hỏi :
- Cô nương phương danh quý tính là gì ?
- Ta ấy à ! Ta họ Trần tên Kim-Dung. Kim là vàng, Dung là cái bông hoa... À, tại sao mấy đứa con cậu của người lại đánh người ?
- Một trong năm đứa đanh nhau vơí tôi bị thua, rồi chúng kéo cả năm đứa đánh tôi để trả thù.
- Trước khi đi mẹ ta dặn rằng, sau Ngọ mẹ chưa về, thì ta đưa người về. Bây giờ quá Ngọ rồi, ta đưa người về thôi.
Thiếu nữ dắt Thủ-Độ lên khỏi con thuyền. Nàng chỉ chiếc xe ngựa :
- Người lên xe đi. Ta đưa người đến phố hàng Trống. Bây giờ chúng ta tạm chia tay. Sau này có dịp về Thăng-long, chúng ta lại đánh ngựa đi chơi khắp nơi.
Nghe thiếu nữ nói, Thủ-Độ mất tự nhiên :
- Đó ...là điều tôi... ước mong.
Hai người vừa lên xe, thì Thủ-Độ bóp miệng hí lên mấy tiếng. Đó là tiếng của loài ngựa mà nó học đươc khi còn ở Mông-cổ. Con ngựa vỗ móng chạy về phía trước.
Thiếu nữ kinh ngạc :
- Đàm Độ này ! Người biết nói tiếng ngựa đấy à ?
- Tôi học được mấy trăm tiếng mà thôi.
- Người thử bảo nó quẹo phải xem nào !
Thủ-Độ hí lên một tiếng. Con ngựa từ từ quẹo phải.
- Người bảo nó quẹo trái đi !
Thủ-Độ lại hí, ngựa quẹo trái.
Hai trẻ cho ngựa chạy khắp phố phường. Kim-Dung tỏ ra thông thạo đường lối. Mỗi khi qua một ngôi chùa mộït ngôi đền nàng lại giảng giải cho Thủ-Độ nghe.
Khi xe đang chạy qua khu Văn-miếu, thình lình phía trước có tiếng la hét náo loạn. Dân chúng tránh dạt ra hai bên. Giữa đường có chiếc xe bốn ngựa phi như bay. Thoáng nhìn Thủ-Độ đã nhận ra bọn Gia-thụy ngũ anh ngồi trên xe. Nó vội kéo cái nón che mặt, rồi ra lệnh cho ngựa ép sát vào bên đường. Khi hai xe giao nhau, gã Đoàn Thượng nhìn thấy Kim-Dung thì reo lên :
- Trời ơi ! Người đâu mà đẹp như tiên thế kia. Quay xe lại.
Gã phu xe gò cương cho bốn ngựa dừng lại, rồi quay đầu. Thủ-Độ quát liền ba tiếng, ngựa vọt lên như tên bắn. Phía sau gã Đoàn Thượng ra lênh cho mã phu :
- Đuổi thực gấp.
Phút chốc chiếc xe bốn ngựa đã đuổi gần kịp chiếc xe của Thủ-Độ. Thủ-Độ quay lại phía sau hí lên một tiếng ra lệnh cho bốn ngựa dừng lại. Bốn con ngựa đang phi, nghe hiệu lệnh, chúng cất cao vó trước lên rồi ngừng lại. Nhưng tên mã phu lại giật cương, ra roi. Bốn con ngựa sải bước đuổi theo ngựa Thủ-Độ. Khi hai xe chạy song song với nhau, Long-Sảm vẫy tay nói với Kim-Dung :
- Xin tiên tử ngừng xe lại, ta có mấy lời muốn nói.
Kim-Dung nhoẻn miệng cười :
- Người muốn nói gì thì nói đi !
- Tôi muốn thỉnh tiên tử sang xe bên này, rồi chúng ta cùng đi Cổ-loa chơi.
- Không được đâu. Mẹ tôi bảo tôi phải về trước giờ Thân. Tôi mà đi như vậy, e mẹ đánh què.
- Phu nhân là ai ? Để tôi đến thưa chuyện với phu nhân.
Kim-Dung hỏi ngược lại :
- Công tử là ai ? Mẹ tôi khó lắm, không phải ai cũng xin gặp được đâu.
Long-Sảm cười lớn :
- Cô nương cứ đưa tôi đến yết kiến phu nhân. Cam đoan phu nhân nghe tên tôi, người sẽ cho cô nương theo tôi trọn đời.
- Công tử nói lớn lối quá vậy ? Công tử là ai ?
Nghe Kim-Dung đối đáp với Long-Sảm, Thủ-Độ nổi cơn ghen, nó hí lên một tiếng dài, con ngựa của nó cất cao vó, thế là chiếc xe tứ mã vọt lên trước, chiếc xe của nó ở phía sau. Nó lại hí một tiếng, chiếc xe của nó quẹo sang trái, rồi vọt lên như tên bắn. Nó khoái trá cười ha hả. Kim-Dung thấy trò chơi của Thủ-Độ, nàng cực kỳ cao hứng, hướng chiếc xe bốn ngựa vẫy tay :
- Non xanh chưa hết củi, sông dài chưa cạn nước. Sẽ có ngày tái ngộ.
Gã đánh xe cho Long-Sảm là một mã phu giỏi nhất của Kỵ-binh Đại-Việt, thoáng một cái, y đã cho ngựa quay đầu lại, đuổi theo xe Thủ-Độ. Đến đây, gió thổi bay mất cái nón. Long-Sảm đã nhận ra Thủ-Độ. Nó hét lên :
- Anh em ơi ! Thằng khùng đây rồi.
Chiếc xe bốn ngựa đã đuổi kịp xe Thủ-Độ. Long-Sảm ra lệnh cho Nguyễn Dư :
- Hãy tung người sang bắt lấy nó.
Nguyễn Dư nhảy sang xe Thủ-Độ. Khi y còn lơ lửng trên không, thì Kim-Dung vung roi ngựa một cái, chiếc roi cuốn lấy cổ y. Kim-Dung co tay một cái, Nguyễn Dư rơi tõm xuống cái hồ bên cạnh. Từ Thủ-Độ cho tới bọn Long-Sảm đều kinh ngạc, vì không ngờ võ côngKim-Dung lại cao như vậy. Mặc Nguyễn Dư bơi lóp ngóp dưới hồ, Long-Sảm vẫn hò hét bắt phu xe ra roi cho ngựa đuổi theo xe Thủ-Độ.
Hai xe đã chạy song song. Long-Thẩm cười ha hả :
- Thằng khùng ! Mày có chạy lên trời !
Đoàn Thượng, Bỉnh-Du cùng phi thân sang bắt Thủ-Độ. Kim-Dung lại vung roi ngựa, hai đứa bay trở lại chiếc xe tứ mã, rơi trên đầu tên mã phu. Lập tức chiếc xe tứ mã chạy chậm lại.
Kim-Dung hỏi Thủ-Độ :
- Có phải năm đứa ban nãy nó đánh anh hôm qua không ?
- Đúng đấy.
Kim-Dung cầm lấy dây cương, nàng đánh xe. Xe chạy một lúc thì tới hàng Trống, nàng gò cương cho ngựa dừng lại :
- Tôi chỉ có thể đưa anh tới đây thôi. Tôi phải đem xe đi rước mẹ tôi. Nếu chúng ta có duyên thì sau này gặp lại.
Thủ-Độ bước xuống xe. Kim-Dung ra roi cho ngựa chạy, nàng quay đầu lại :
- Mong tái hồi.
Chiếc xe quẹo sang phải, khuất vào cuối phố. Thủ-Độ tần ngần đứng nhìn theo. Nó ngơ ngẩn như người mất hồn.
Thình lình có ai nắm tóc nó nhắc bổng lên :
- Mày chạy đằng trời con ạ.
Thì ra tên thị vệ Đông-cung chuyên theo hầu cận Long-Sảm tên Cao Kinh. Cao Kinh lấy dây trói Thủ-Độ, rồi ném nó lên xe. Xe chạy tới đền Trấn-võ, thì đã có bọn Gia-thụy ngũ anh đang chờ. Cao Kinh cởi trói cho Thủ-Độ, túm tóc nó ném xuống đất.
Long-Sảm hô :
- Tẩm quất đi anh em ơi.
Thế là cả năm tên xúm vào tay đấm, chân đá cho đến khi Thủ-Độ ngất đi mới thôi. Thủ-Độ mơ mơ tỉnh tỉnh, khi trời gần sáng thì nó ngồi dậy được. Nó cố lê bước đi trong đêm.
Khi tới một ngôi chùa, nhìn tấm bảng trước chùa, nó bật lên tiếng kêu nhỏ :
- Thì ra chùa Chân-giáo. Mẹ ta nói chùa này ông ngoại ta là vua Anh-tông mới cho trùng tu. Ta vào đây qua đêm, rồi mai lên đường.
Nó vào sân chùa. Sân lát gạch, nên tuy trời mưa, mà không bị nước đọng. Trong chùa không có ai. Nó nằm dài ra dưới một gốc cây mà ngủ. Suốt đêm cơn đau hành hạ, nó lên cơn sốt, mê mê, tỉnh tỉnh. Khi trời gần sáng, đau quá, nó ngồi dậy, ngửa mặt nhìn lên, thì thấy mình nằm dưới gốc một cây đề lớn. Nó nghiến răng, ngửa mặt lên trời mà khấn:
" - Xin thần linh Đại-Việt chứng cho. Tôi là Trần Thủ-Độ, cha tôi là Trần Thủ-Huy, mẹ tôi là Lý Đoan-Nghi. Cụ tôi, ông bà tôi, bố mẹ tôi, chú bác tôi, cô dì tôi, đều đem hết tâm can ra để phù trợ họ Lý. Cha mẹ tôi đã cứu mạng Lý Long-Trát ba phen... Tất cả những công ơn ấy, họ Lý trả ơn bằng cách đem cha mẹ tôi cống cho Tống. Bây giờ họ còn đánh lừa, gọi mẹ tôi về để giết chết. Tôi không thù, không oán với anh em Lý Long-Sảm, Lý Long-Thẩm, mà chúngï khinh miệt, hành hạ, đánh đập tôi đến như thế này. Xin thần linh phù hộ cho tôi. Nếu như quả họ Lý hết phúc, may mà tôi sống được, tôi thề sẽ giết tuyệt giòng họ Lý để trả cái hận này. Hôm nay, tôi bị Long-Sảm đánh đến chết đi sống lại, phải nằm đây, thì sau này Long-Sảm sẽ phải chết tại chỗ này. Kể từ khi cha tôi rời Thiên-trường về Thăng-long đến nay là 26 năm, thì đúng 26 năm nữa họ Lý sẽ tuyệt tử tuyệt tôn, Long-Sảm cũng chết tại đây".
Khấn xong, thì trời sáng. Nó thấy dường như trên thân cây đề có chữ khắc vào đã lâu, vỏ hằn lên những nét sâu. Nó mở to mắt ra đọc:

" Thiên địa huyền hoàng,
Cương la mang mang.
Dĩ oán báo đức,
Thập bát tử thành.
Long sa thử địa,
Ty thằng u hoang
Ta hồ! Thống khổ,
Nhụ tử đoạn trường
".

Nó cau mặt lại suy nghĩ, nhưng không hiểu ý nghĩa bốn câu đó.

Ghi chú của thuật giả:

Bài sấm này, tôi lấy trong gia phả của Chiêu-quốc vương Trần Ích-Tắc.
Sấm-ký vào thời Lý-Trần rất thịnh. Khi một bài sấm truyền ra, đương thời rất ít ai hiểu nổi. Phải chờ đến khi sự việc diễn ra xong, người ta mới vỡ lẽ.
Bài sấm này, xuất hiện vào năm Thiên-tư Gia-thụy thứ năm (DL.1194, Giáp Dần) khắc vào cây đề ở sau chùa Chân-giáo trong thành Thăng-long. Bấy giờ quan Thái-phó Lý Kính-Tu sai chép lại, rồi giải đoán, nhưng không ra. Phải chờ cho đến niên hiệu Kiến-trung thứ nhì đời vua Trần Thái-tông (DL.1226, Bính Tuất), khi vua Lý Huệ-tông thắt cổ trên cây ổi này chết, người ta mới hiểu rõ nghĩa.
Sự thực nghĩa tám câu này như sau: Trong khoảng trời đất mênh mông này, lưới trời lồng lộâng. Kẻ lấy oán thù mà báo đức của trăm họ chính là triều Lý (chữ thập, chữ bát, chữ tử thành chữ Lý). Rồng sẽ sa ở đây, bởi sợi dây tơ oan nghiệt vào lúc mặt trời lặn. Than ôi, Đau khổ biết bao! Thương thay đứa trẻ khổ sở, đến đứt ruột ra được.
Lời nguyện của Thủ-Độ vào đúng giờ linh, tại nơi có bài sấm định mệnh. Nên sau này Long-Sảm lên ngôi vua, tức Lý Huệ-tông, bị mất ngôi vua về họ Trần. Rồi sau 26 năm, vua Lý Huệ-tông treo cổ tại cây ổi này mà chết.(Ty là tơ, thằng là giây, u hoang nhật là mặt trời lặn, nghĩa là chữ sảm).


Chân-giáo là ngôi chùa nằm trong thành Thăng-long, được kiến tạo vào tháng 9 niên hiệu Thuận-thiên thứ mười lăm, đời vua Lý Thái-tổ (1024) để hằng ngày vua ra đó niệm Phật. Đến niên hiệu Chính-long Bảo-ứng thứ 7 thời vua Lý Anh-tông (1169), vua đã cho trùng tu lại. Thành ra ngôi chùa này gần như dành cho Hoàng-tộc đến lễ Phật, nghe kinh. Hôm ấy, tuy là ngày mười sáu, nhưng từ sáng sớm, các bà phi, cung nga, phu nhân đã tấp nập đến lễ bái. Ngoài cổng chùa, tiếng ngựa hí, tiếng người chào hỏi nhau ồn ào. Ăn mày xếp hàng chờ thập phương bố thí. Trong chùa tăng chúng chia nhau ra đón khách.
Trên người Thủ-Độ đầy những vết thương thâm tím, có chỗ chảy máu. Nó nằm co ro dưới gốc cây đề sau chùa, không ai để ý đến nó. Khoảng giờ Ngọ, khi chuông chùa đổ, nó mới giật mình thức giấc. Trong cơn mơ mơ tỉnh tỉnh, nó bật lên tiếng kêu:
- Khát nước! Xin cho uống nước!
Một phụ nữ lớn tuổi làm công quả trong chùa, nghe tiếng kêu, phát hiện ra nó. Bà chạy lại sờ trán nó, thấy trán nó nóng bỏng, bà vội dụt tay lại. Bà lên tiếng gọi:
- Sư bác ơi! Có thằng bé ăn mày bị ốm sắp chết! Xin sư bác cứu nó!
Một vị tăng còn trẻ chạy đến. Không nề quản đứa trẻ dơ bẩn, ông ta bồng nó đưa vào tăng phòng, đặt lên dường. Sau khi quan sát sơ sài ông ta hỏi nó:
- Con là ai? Tại sao lại bị đánh đòn thế nay? Ai đã đánh con?
Thủ-Độ đau quá, chỉ thều thào được mấy câu:
- Đau! Khát. Ông là ai ?
- Ta pháp danh là Chân-Minh !
Chân-Minh lấy nước đổ vào miệng Thủ-Độ, rồi gọi một thiếu niên:
- Con ra phường Yên-hoa mời Đại-phu Vũ Phòng-Phong, nói rằng: Thầy khẩn khoản thỉnh Đại-phu giá lâm, cứu mạng một đứa trẻ sắp chết.
Nghe Chân-Minh nói, Thủ-Độ chợt nhớ lại rằng cha nó có năm người sư tỷ tên Hoàng-Anh, Bạch-Hạc, Huyền-Mi, Thanh-Tước, Hồng-Yến được võ lâm tặng cho mỹ danh là Vỵ-xuyên ngũ tiên. Vỵ-xuyên ngũ tiên có thời đã cùng cha mẹ nó đi sứ Kim, rồi qua Mông-cổ chơi. Vỵ-xuyên ngũ-tiên kết hôn với Hồng-sơn ngũ đại-phu, học trò của Nam-phương Thần-y Lê Thúc-Cẩn. Trong năm đại phu đó, vị thứ nhì tên là Vũ Phòng-Phong, kết hôn vơí Bạch-Hạc. Nó nghĩ thầm:
- Không biết ông Phòng-Phong này có phải ông Phòng-Phong kết hôn với cô mình là Bạch-Hạc không? Xung quanh mình biết bao cạm bẫy, mình phải cẩn thận, chẳng nên nhận người thân vội. Long-Sảm, Long-Thẩm chẳng là máu thịt của mẹ ta ư? Thế mà chúng muốn giết ta! Biết đâu ông Phòng-Phong này chẳng giống bọn chúng?
Thiếu niên đi rồi, thấy Thủ-Độ đã tỉnh hẳn, vị tăng nói với nó:
- Đây là cửa Phật, không một quyền lực nào có thể ức chế con. Con đừng sợ hãi gì cả! Ai đã đánh con thế này ?
Đã mấy năm nay, bây giờ là lần đầu tiên Thủ-Độ mới được nghe mấy lời từ ái. Bao nhiêu uất ức chồng chất, như cái bong bóng căng thẳng nổ tung ra. Nó bật lên tiếng khóc. Nhà sư Chân-Minh vẫn ngọt ngào:
- Dường như con đói lắm rồi thì phải, để thầy lấy lộc Phật cho con hưởng.
Ông đứng lên, lấy hai bát chè bột sắn, một đĩa xôi lớn, một nải chuối để trước mặt nó. Không khách sáo, Thủ-Độ trộn xôi với chè rồi ăn. Nó vừa ăn xong, thì Đại-phu Vũ Phòng-Phong tới. Ông hành lễ với sư Chân-Minh, rồi bảo Thủ-Độ nằm xuống cho ông chẩn mạch. Sau khi xem các vết thương, mặt ông tái đi, hiện ra nét hoảng hốt như gặp một sự gì khủng khiếp lắm. Ông hỏi Thủ-Độ:
- Có phải cháu họ Trần không? Bố mẹ cháu là ai?
Thấy thái độ từ ái của Phòng-Phong, Thủ-Độ không muốn nói dối ông. Nó nắm lấy tay ông.
- Thưa Đại-phu! Đại-phu cứu mạng cho cháu, thì cháu muôn vàn cảm tạ. Nhưng xin Đại-phu đừng hỏi nai nịch cháu. Tong tâm cháu có điều khổ nắm, phải rấu ní nịch. Nên cháu không nói ra được. Cháu cũng không muốn nói rối Đại-phu.
Phòng-Phong bảo thiếu niên đi thỉnh ông ban nãy:
- Cháu trở về nhà ta, gọi phu nhân của ta đến đây, bảo rằng dù bận gì cũng phải đến ngay.
Ông quay lại nói với nhà sư Chân-Minh:
- Thưa thầy, đứa trẻ này khoảng tám, chín tuổi. Tiên-thiên khí của nó cực mạnh, chứng tỏ cha, mẹ nhiều đời luyện võ. Nó lại được nuôi dưỡng bằng thịt, rất ít rau đậu, cũng chẳng ăn cá. Khi nói, có nhiều giọng lơ lớ, thì ắt nó không phải là người sinh trưởng ở Đại-Việt. Chắc nó mới tới Đại-Việt ta không quá hai năm.
Thủ-Độ nghĩ thầm:
- Ông Đại-phu này thực là thần y. Ông chỉ chẩn đoán qua, mà biết rất rõ về ta.
Phòng-Phong tiếp:
- Tuy nó sinh ở ngoài Đại-Việt, nhưng chắc bố mẹ nó là người Thiên-trường, vì tiếng lai lịch, nó nói ra là nai nịch; lắm thành nắm; lý lịch thành ní nịch; dối thành rối; trong thành tong.
Chân-Minh gật đầu công nhận Phòng-Phong lý giải đúng. Phòng-Phong tiếp:
- Mông của nó hơi trai cứng, hai chân bành ra, thì nó được luyện thuật kỵ mã từ hồi ba bốn tuổi. Thuật kỵ mã này không phải của Trung-nguyên, cũng chẳng phải của Chiêm-thành, Đại-lý mà của phái Sài-sơn nhà tôi. Về nội công, thì căn bản nội công của nó là nội công Đông-A chính tông, mà chỉ con cháu trực hệ họ Trần mới được học. Hôm qua, nó đã đấu vơí người của phái Hoa-sơn, rồi nó bị đến năm người xúm vào đánh nó, vì tôi thấy có đến năm vết chân tay khác nhau. Hiện lá lách, gan, bọng đái của nó bị thương. Trong khi khu huyệt Tâm-du, Đản-trung bị trấn thương.
Nói rồi ông lắc đầu :
- Lá lách, can, bọng đái bị thương thì còn hy vọng cứu sống. Chứ khu Đản-trung, Tâm-du bị thương, thì tâm mạch bị trấn động, bị nghẽn, e nó không thể sống quá một năm nữa.
Nói rồi ông lấy ra một hộp kim, châm vào các huyệt Công-tôn, Nội-quan, Đản-trung, Tâm-du, Khuyết-âm-du, Túc Tam-lý , Dương-lăng-truyền và trên những chỗ bầm. Ông kinh ngạc vô cùng khi không thấy Thủ-Độ tỏ vẻ đau đớn như tất cả các bệnh nhân được trị bằng châm cứu. Lưu kim hơn khắc, ông rút kim ra, thì Thủ-Độ ngồi dậy được. Nó ọe một tiếng, mửa ra một búng máu bầm. Nó chắp tay:
- Đa tạ Đại-phu đã cứu cháu.
- Chưa xong đâu cháu.
Phòng-Phong nói vơí nó bằng cử chỉ thực dịu dàng: Mấy huyệt đó chỉ để tạm thông máu mà thôi. Ta sẽ dán cao trên các vết thương. Vì cháu bị đánh bầm khắp người, nên vừa trị bằng châm cứu, vừa trị bằng cao, cũng ít ra là mười ngày mới khỏi các viết ngoại thương. Còn nội thương thì phải trị bằng thuốc, bằng khí công.
Ông mơ màng nhìn trời :
- Nhưng muốn trị được lá lách, can, tâm, thì phải cần đến hai người có nội công thượng thừa liên thủ mới thành công.
Sư Chân-Minh hỏi :
- Hai người đó là ai ?
- Một người luyện nội công dương cương của phái Đông-A và một người luyện nội công âm nhu của phái Mê-linh. Nội công dương cương của Đông-A thì không khó. Còn nội công âm nhu của phái Mê-linh e bắc thang lên trời còn có thể làm được, chứ tìm nội công này thực vô phương.
Sư Chân-Minh kinh ngạc :
- Ý Đại-phu muốn nói ?
- Trong phái Đông-A hiện có tới gần trăm cao thủ luyện nội công tới mức thượng thừa. Còn nội công âm nhu của phái Mê-linh, thì chỉ có một người luyện thành. Mà người ấy với chúng ta nghìn trùng cách biệt, biết đâu mà tìm ?
Ông móc trong bọc ra một cuộn vải. Cuộn vải này một mặt trắng, một mặt trát cao đen. Thủ-Độ nhận ra đó là Hổ-cốt Phòng-phong cao, mà bố mẹ nó thường trị cho các đệ tử bị ngã, bị bầm chân tay. Phòng-Phong giảng giải:
- Cao này được chế ra từ thời Minh-Không bồ tát. Thành phần gồm Hổ-cốt, để trị trật đả, đau xương. Phòng-phong, Đinh-hương, Quế-chi để hoạt huyết. Xạ-hương để cho có mùi thơm.
Nói rồi ông cắt miếng vải miết cao thành những mảnh nhỏ, vừa bằng các vết thương, hơ vào cây nến, rồi dán lên người Thủ-Độ. Ông vừa dán xong, thì một thiếu phụ xinh đẹp tới. Ông thuật lại tất cả những gì liên quan đến Thủ-Độ, rồi nói với thiếu phụ:
- Bạch-Hạc! Em thử bắt mạch xem, có phải nội công của nó là nội công Đông-A chính tông không?
Bạch-Hạc cầm tay Thủ-Độ, bà dùng chân khí phóng vào người nó, thì thấy nội tức của nó có sức chống trả rất mạnh, rất quang minh chính đại. Bà mở to mắt nhìn nó, rồi rùng mình:
- Cháu! Ta tự giới thiệu, ta là vợ của Đại-phu đây. Ta là đệ tử của phái Đông-A như cháu. Cháu đã được luyện nội công Đông-A chính tông, thì nhất định cháu không là đệ tử thì cũng là con cháu họ Trần thuộc trực hệ. Vậy cha mẹ cháu là ai? Nếu không, ai đã dạy nội công này cho cháu?
Khi thấy Thủ-Độ xử dụng võ công, nội công Đông-A, thì Phòng-Phong cho rằng nó là đệ tử của một người ngang vai với vợ mình. Ông cực kỳ quan tâm, vì môn quy của phái Đông-A rất nghiêm, bất cứ ai, ức chế, đánh đập đệ tử của phái này, thì dù thủ phạm có chạy lên trời, môn phái cũng phải tìm cho ra để trả thù. Bây giờ thấy Thủ-Độ bị năm người đánh đến bị thương tích khắp người. Nên ông phải gọi vợ đến, để bà tìm hiểu xem đứa trẻ này thuộc giòng nào, chi nào của phái Đông-A? Ai đã đánh đập nó tàn nhẫn như vậy?
Thủ-Độ nhất định dấu lý lịch, nó trả lời:
- Cháu mồ côi mẹ, phải đi ăn mày kiếm sống. Trong lúc ăn xin, cháu gặp một bà rất xinh đẹp, bà bị người ta phục kích dùng loạn tên bắn bị trọng thương. Cháu cứu bà đem vào nhà băng bó vết thương cho bà. Bà cảm động, dạy cháu ít bản sự. Sau đó một tháng bà kiệt lực mà chết. Khi chết bà có di chúc ít điều, nhờ cháu nói lại với năm người.
- Bà ấy tên là gì?
- Cháu không dám nói. Bởi bà ấy dặn, cháu chỉ được nói tên bà với năm người mà thôi.
- Cháu có thể cho ta biết tên năm người ấy không?
Thủ-Độ ghé miệng và tai Bạch-Hạc nói nhỏ :
- Năm người đó là ông bà Trần Tự-Hấp, ông Trần Trần Lý, bà Trần Kim-Ngân và ông Trần Thủ-huy.
Bạch-Hạc giật bắn người lên. Bà bảo nó :
- Ta là con ông bà Tự-Hấp, là chị Trần Lý, Thủ-Huy, Kim-Ngân đây. Thủ-Huy hiện ở rất xa. Vậy cháu có thể về nhà ta nghỉ dưỡng bệnh một vài ngày, đợi bệnh của cháu thuyên giảm, ta sẽ sai người đưa cháu đi Thiên-trường gặp những người mà cháu muốn.
Thủ-Độ tin chắc người đối diện là chị nuôi, anh rể của bố mình. Nó không nghi ngờ, nhận lời :
- Vậy, cháu xin theo bà.
Nó móc trong bọc ra sợi dây bằng vàng, đeo một cái khánh ngọc xanh biếc, khắc hình con nai trong tư thế nhìn trời, trịnh trọng trao cho Phòng-Phong:
- Thưa Đại-phu, cháu xin tạ Đại-phu vật này, gọi là chút lòng thành, kỷ niệm Đại-phu đã cứu mạng cháu.
Phòng-Phong cầm lấy cái khánh ngọc, quan sát sơ qua, mặt ông tái xanh, giọng ông run run hỏi nó:
- Cái khánh này ở đâu mà cháu có?
Ông gọi vợ:
- Bạch-Hạc, em xem này!
Bạch-Hạc cầm cái khánh ngọc, mặt bà trở thành nghiêm trọng. Bà nói bằng giọng cực kỳ thiết tha:
- Côi-sơn song ưng! Cháu là người thế nào của Côi-sơn song ưng?
Nguyên cái khánh ngọc đó có lai lịch rất đặc biệt. Côi-sơn nam hiệp là hoàng trưởng tử của vua Lý Thần-tông với sủng phi Hồng-Hạnh. Khi ông sinh ra, phụ hoàng truyền lấy ngọc khắc hình con hươu, rồi ban cho, đặt tên là Thiên-Lộc, phong làm Thái-tử. Tuy ông là trưởng tử, nhưng mẹ xuất thân là dân dã, lại là thứ phi, nên khi phụ hoàng băng hà, ông không được truyền ngôi. Ông mất chức Thái-tử, được phong tước Minh-Đạo đại vương. Cảm-Thánh thái hậu gian dâm với Đỗ Anh-Vũ, sợ bóng sợ gió ông, rồi vu cho ông mưu phản. Vốn là đệ tử của đại hiệp Tự-Kinh phái Đông-A, mẹ là đệ tử phái Tản-viên. Hai mẹ con cùng bỏ đi giang hồ, xưng là Côi-sơn song ưng, dùng ba thước gươm tru diệt bọn tham quan, bọn hại dân, bọn cường hào. Khắp hoàng tộc nhà Lý cho tơí các đại thần, sĩ dân, võ lâm khi thấy cái khánh đó, thì coi như thấy Côi-sơn song ưng. Trong ngày Thủ-Huy Đoan-Nghi đang trên đường sang Tống, lúc tới Quảng-châu, thì sứ giả của Song-ưng mang đến tặng, với ngụ ý rằng " Ta trao cái nhiệm vụ Côi-sơn song ưng cho cháu". Khi Thủ-Độ lên đường về nước, Thủ-Huy đeo vào cổ cho con. Song ông không nói lai lịch cái khánh đó ra sao. Bây giờ vợ chồng Phòng-Phong thấy cái khánh này, hỏi sao không giật mình?
Phòng-Phong run run hỏi:
- Cái khánh này ở đâu mà cháu có?
Thủ-Độ sợ nói rằng của bố cho, thì nó sẽ bị lộ tông tích. Nó nói dối:
- Cái này...Cái này của bà dạy võ cho cháu, bà í cho cháu.
Lúc đầu nghe Thủ-Độ khai rằng, nhân nó cứu một người đàn bà, rồi được đạy võ, thì Bạch-Hạc nghi người đàn bà đó là đệ tử hoặc con cháu của nhân vật nào trong phái Đông-A. Bây giờ nhìn di vật của Côi-sơn song ưng, hai người nghĩ rằng, người đàn bà bị giết có thể là Ưng-sơn nữ hiệp, hoặc đệ tử, hoặc con của Minh-Đạo vương, bị người ta phục kích dùng loạn tên giết chết... Thì vấn đề trở thành lớn lao vô cùng. Côi-sơn song ưng, cũng như phái Đông-A sẽ truy lùng địch thủ, rồi cuộc trả thù sẽ cực kỳ thảm khốc!
Phòng-Phong Bạch-Hạc dẫn Thủ-Độ ra khỏi chùa, lên xe, ra roi cho ngựa chạy. Đến một trang trại, có tấm bảng đề Hồng-lĩnh đệ nhị y viện, thì cho xe chạy vào. Bạch-Hạc lên tiếng gọi, lập tức có hai nữ đệ tử chạy ra với một tấm ván. Hai người sẽ đỡ Thủ-Độ lên tấm ván, rồi đưa vào trong một căn phòng. Họ lại nhẹ nhàng đỡ nó nằm trên một chiếc dường, nệm cỏ.
Phòng-Phong dặn nó:
- Đây là y viện của vợ chồng chúng ta. Y viện này vừa là nơi dạy học, vừa là nơi trị bệnh. Thương thế của cháu có hai phần. Phần ngoại thương chỉ cần phải trị trong năm tới mười ngày thì khỏi. Còn nội thương của cháu, thì ta bó tay. Cháu chỉ có thể sống được một năm nữa mà thôi. Vậy ta khuyên cháu phải đi Thiên-trường để nhạc phụ ta dùng nội công dương cương làm lành các vùng bị sưng. Biết đâu, sau này cháu tìm được người có nội công âm nhu... Đừng tuyệt vọng.
Bạch-Hạc nắm tay Thủ-Độ :
- Cháu cứ an tâm ở đây. Sau khi ngoại thương khỏi, ta sẽ sai phu xe đưa cho cháu đi Thiên-trường, để cháu gặp ông bà Tự-Hấp, cùng Trần Lý, Kim-Ngân ... cháu sẽ được trị bệnh bằng nội công dương cương. Rồi cháu chuyển di ngôn của kẻ xấu số cho song thân ta, cho em Lý, em Ngân của ta.
Từ đấy, hằng ngày Phòng-Phong dùng châm cứu trị cho Thủ-Độ. Đúng như Phòng-Phong liệu, sau năm ngày thì các vết thương đều đóng vảy. Những chỗ bầm hết sưng. Sau mười ngày thì các vết ngoại thương của nóù hoàn toàn bình phục. Nhưng hằng ngày, vùng ngực, lưng của nó vẫn hành hạ nó. Nó biết đó là tâm mạch bị tổn thương gây ra. Vùng hông trái lên cơn thì nó lại buồn nôn, nó biết đó là lá lách bị thương hành hạ. Vùng hông phải căng trướng, đau lan tới vai, nước mắt dàn dụa, nó biết là gan bị thương.
Nó nghĩ thầm :
- Theo Đại-phu thì ta chỉ còn sống được có một năm nữa mà thôi. Ta phải tìm cách đưa tin cho ông bà nội, bác Lý, cô Ngân biết để trả thù cho mẹ ta. Sau đó ta đi Mông-cổ báo cho bố ta biết mọi biến cố.
Bà Bạch-Hạc sai một mã phu già của y viện, đưa nó đi Thiên-trường. Khi nó khởi hành, bà trao cho nó một phong thư :
- Phu xe sẽ đưa cháu về Thiên-trường. Cháu đưa phong thư này cho bố mẹ ta là ông bà Trần Tự-Hấp. Gặp ông bà rồi, cháu có thể kể hết nguồn cơn cho ông bà biết. Ông bà có thể dùng nội công thượng thừa trị bệnh cho cháu. Nhưng...
- Thưa bà nhưng sao?
- Ba trong năm tạng của cháu là tâm, can, tỳ đều bị thương. Cháu có thể tự chữa bệnh bằng cách luyện nội công dương cương của Đông-A với nội công âm nhu của phái Mê-linh. Nội công Đông-A cháu đã biết rồi, cháu cứ luyện trong một năm nữa thì sẽ đạt tới năm thành hỏa hầu, là xong. Tuy nhiên nội công âm nhu, thì chỉ phái Mê-linh mới có. Tiếc rằng gần hai chục năm trước, vị chưởng môn phái này mất tích, nội công âm nhu cũng thất truyền. Trên thế gian hiện chỉ có một người biết nội công này mà thôi. Người đó là... Hiện người đó ở một chỗ bí mật, không ai biết.Tuy nhiên, khi gặp cha mẹ ta người có thể tiết lộ chỗ ở của người ấy, rồi xin người ấy dạy cháu, thì mạng cháu được bảo toàn.
- Thưa bà, người ấy là ai vậy ?
- Là em dâu ta. Là vợ của một người, mà cái bà bị giết muốn nhờ cháu báo tin cho đó
- Là bà Trần Lý ?
- Không ! Là vợ Thủ-Huy.
Thủ-Độ bật lên một tiếng ái chà đầy tuyệt vọng. Nó nghĩ thầm :
- Mẹ ta chết rồi, thì trên thế gian này, không còn ai biết nội công âm nhu nữa ! Thế là ta phải chết.
Sáng hôm sau, Bạch-Hạc gọi gã phu xe, thắng chiếc xe song mã, cho Thủ-Độ đi Thiên-trường. Phu xe là một người già, y báo danh là Ba Huy. Vừa lên xe, Thủ-Độ quên mất mình đang ở Đại-Việt, nó hí lên hai tiếng đặc biệt của loài ngựa, mà nó học hồi ở Mông-cổ, để ra lệnh cho ngựa khởi hành. Hai con ngựa vọt mình lao về phía trước. Ba Huy kinh ngạc đưa mắt nhìn trộm nó.
Xe rời Thăng-long, hướng Nam khởi hành. Mỗi khi xe tới ngã rẽ, hay nghẽn đường phải ngừng lại, không đợi phu xe giật cương, Thủ-Độ lại dùng tiếng của loài ngựa, ra lệnh. Ngựa tuân lệnh nó răm rắp. Gã phu xe nghĩ thầm:
- Thằng bé này khai nó là ăn mày, ta e nó nói dối. Cứ như việc nó dùng tiếng nói, sai khiến ngựa, thì ít ra nó phải được huấn luyện đặc biệt lắm! Lạ thực, trên toàn cõi Đại-Việt chỉ có phái Sài-sơn là thông thạo về việc nuôi ngựa, cỡi ngựa, mà cũng không biết tiếng loài ngựa. Vậy thằng bé này do ai dạy nó?
Xe đi khoảng hai giờ, thì có một chiếc xe ngựa khác vượt qua xe nó. Nó đưa mắt nhìn. Trong xe có hai thiếu niên, khoảng mười bốn, mười lăm tuổi, lớn hơn nó đến sáu bẩy tuổi. Trong hai thiếu niên, thì một người mặc quần áo xanh, một người mặc quần áo tím.
Khi xe vượt qua xe nó, thiếu niên áo xanh dơ tay vẫy nó. Nó cũng vẫy lại.
Thủ-Độ phóng mắt nhìn về phía trái, xa xa hiện ra một dẫy núi. Nó chợt nhớ lại trong những lúc nhàn rỗi, bố mẹ nó thường nhắc lại kỷ niệm thời thơ ấu. Bấy giờ bố nó đánh xe đi từ Thăng-long về Thiên-trường. Trên xe có ông bà nội nó với bác Lý, cô Ngân, gặp anh của mẹ nó là Thái-tử Long-Xưởng bị Nghi-tàm song ma đuổi bắt. Bố nó đánh Song-ma cứu Long-Xưởng. Rồi từ cơ duyên đó đưa đến bố nó với mẹ nó kết hôn. Nó nói với phu xe:
- Ông Ba Huy này! Dường như ta sắp tới ngã ba đi Trường-yên, Thiên-trường thì phải. Ông ngừng xe lại quán Bích-động ta ăn trưa đi.
- Vâng!
Ba Huy càng kinh ngạc. Rõ ràng từ sáng đến giờ, Thủ-Độ cứ ngồi lầm lì trên xe, ngơ ngơ ngác ngác nhìn cảnh trí, tỏ ra nó chưa bao giờ đi qua vùng này. Thế mà bây giờ thình lình, nó lại hỏi quán Bích-động, biết rõ quán đó nằm trên ngã ba Trường-yên, Thiên-trường, Thăng-long. Y im lặng theo dõi đứa trẻ kỳ bí.
Chiếc xe đi vào dẫy phố, khi thấy tấm bảng có chữ Bích-động, Thủ-Độ hú lên một tiếng, hai con ngựa dừng lại. Một tửu bảo chạy ra, cầm lấy cương ngựa, cột vào gốc cây. Một đứa khác cúi rạp người xuống mời khách. Thủ-Độ cùng Ba Huy lên lầu, thì đã thấy hai thiếu niên đi cùng chiều ban nãy đang ngồi quanh một bàn. Nó cúi đầu chào, làm quen:
- Tiểu đệ kính chào nhị vị đại huynh.
Cả hai thiếu niên, cùng gật đầu đáp lại.
Lên lầu, Ba Huy hỏi Thủ-Độ:
- Cháu muốn ăn gì nào?
- Cháu muốn ăn thịt gà nướng với xôi nếp.
Ba Huy nghĩ thầm:
- Trong mười ngày dưỡng bệnh, tại sao thằng bé này lại chỉ thích cái món thịt nướng? Sườn nướng, thịt gà nướng, chim nướng! Nó không hề ăn tôm, cá?
Hai người vừa cầm đũa, thì có tiếng nhạc ngựa, rồi tiếng quát tháo bên dưới. Chủ quán lên lầu cung tay:
- Thưa quý khách! Xin quý khách giữ yên lặng, vì hôm nay thiểm quán có cái hân hạnh tiếp đón năm công tử, con các đại thần trong triều giá lâm.
Bọn tửu bảo nhanh chóng dọn một bàn lớn, trang trí bốn bình hoa tươi. Chúng lại đem bát đĩa bịt vàng, đũa ngà bầy ra. Chúng vừa bầy xong, thì hai gia nhân lực lưỡng, trang phục theo lối dân dã, lên lầu kiểm soát xung quanh bàn, cũng như quan sát các thực khách rất chi tiết. Nhìn hai gia nhân, Thủ-Độ nhận ra đó là hai tên thị vệ, tên Cao Kinh, Cao Giới hầu cận Long-Sảm. Kinh hãi, nó vội đổi chỗ ngồi quay lưng lại .
Có tiếng chân người bước lên thang. Thủ-Độ liếc nhìn, quả nhiên là năm tên trong Gia-thụy ngũ anh. Bọn Long-Sảm coi thiên hạ bằng nửa con mắt. Chúng cười nói oang oang. Trong câu chuyện, Thủ-Độ biết rằng ba tên Đoàn Thượng, Nguyễn Dư, Phạm Bỉnh-Du được triều đình phong chức Thiện-nhân của anh em Long-Sảm.
Thủ-Độ hỏi Ba Huy:
- Thưa bác, chức Thiện-nhân là chức gì vậy?
- À, chức này là chức thuộc Hoàng-cung. Kể từ khi đức Thái-tổ lập ra triều Lý, thì khi một hoàng tử lên năm, sáu tuổi, triều đình tìm những thiếu niên ngang tuổi, đức hạnh, học giỏi, để làm bạn với các hoàng tử.
Nghe Ba Huy giảng giải, Thủ-Độ nhớ ra rằng, mẹ nó đã kể, xưa kia cha nó từng được phong chức Thiện-nhân của Thái-tử Long-Xưởng.
Từ lúc thấy bọn Gia-thụy ngũ anh, thiếu niên áo xanh đã cau mặt khó chịu, vì chúng mới ở tuổi mười tới mười lăm, cái tuổi phải rèn luyện văn võ, thì lại kéo nhau vào cao lâu rượu chè...Thiếu niên áo xanh đưa con mắt nghiêm khắc nhìn Long-Sảm. Nội công của thiếu niên áo xanh đã tới trình độ cao thâm, nên tia hàn quang chiếu ra làm Long-Sảm rùng mình phải lui lại. Y cùng cả bọn uống rượu như những người lớn.
Sau khi ăn xong, Ba Huy bảo Thủ-Độ:
- Ta đi thôi!
Nói rồi ông đứng lên. Bất đắc dĩ Thủ-Độ cũng phải đứng dậy theo ông. Nó gật đầu chào hai thiếu niên rồi cúi gầm mặt, lui xuống lầu.
Khi nó vừa tới đầu cầu thang, thì tên Phạm Bỉnh-Du đã nhận ra nó. Y đứng bật dậy, chặn trước mặt Thủ-Độ, rồi túm tóc nó nhắc lên. Phản ứng tự nhiên, Thủ-Độ xuống trung bình tấn, tay phải nắm bàn tay túm tóc của Phạm Bỉnh-Du vặn ngược. Lập tức Phạm Bỉnh-Du phải nghiêng người đi. Thủ-Độ túm ngực y nhắc bổng y lên, rồi ném y xuống sàn gỗ. Ầm một tiếng, Phạm Bỉnh-Du nằm dài trên sàn gỗ. Trong lúc phản ứng, Thủ-Độ đã dùng một thức nhu quyền của phái Mê-linh mà mẹ nó dạy nó. Thực ra võ công Phạm Bỉnh-Du cao hơn Thủ-Độ nhiều, nhưng y khinh thường, thành ra bị đánh ngã. Y tung người dậy như con cá, roi phóng chưởng tấn công. Thủ-Độ chỉ đỡ được đến chiêu thứ ba thì lảo đảo muốn ngã. Tay trái Bỉnh-Du túm tóc Thủ-Độ nhắc lên, tay phải tát vào mặt nó. Thiếu niên áo xanh cầm cái tăm búng mạnh. Cái tăm trúng vào huyệt Đại-trùy của Bỉnh-Du, làm người y mất hết kình lực, đúng lúc Thủ-Độ dùng hai tay xỉa vào ngực y. Binh một tiếng, y ngã sóng xoài trên sàn nhà.
Thiếu niên áo xanh hỏi thiếu niên áo tím :
- Tự-Thừa, anh có nhận ra chiêu số của thiếu niên này không ?
- Nội công hơi giống nội công nhà mình. Còn ngoại công, thì là nhu quyền của phái Mê-linh.
Bỉnh-Du bị đánh ngã, lập tức cả bốn tên còn lại của Gia-thụy ngũ anh cùng hét lên:
- A, phải giết thằng mọi điên!
Bọn Long-Sảm đứng dậy bao vây lấy Thủ-Độ. Thủ-Độ cười nhạt:
- Uổng cho chúng bay là con vua, cháu chúa, tự thị học võ, mà bốn tên vây đánh ta. Nếu chúng bay là con người, thì hãy lấy một chọi một
Long-Sảm chỉ Nguyễn Dư:
- Người dạy nó một bài học!
Nguyễn Dư lớn hơn Thủ-Độ hai ba tuổi, cao hơn nó một cái đầu. Nguyễn Dư bước ra hất hàm:
- Mi nhỏ hơn ta! Mi phát chiêu trước đi.
Thủ-Độ nhảy vọt lên cao, chân nó phóng một phi cước vào ngực Nguyễn Dư. Dư coi thường, y trầm người xuống, rồi chụp hai chân nó, định ném nó xuống lầu. Thình lình thiếu niên mặc áo xanh, cầm cái hột đào trên bàn búng một cái. Hột đào trúng huyệt Khúc-trì của Nguyễn Dư, làm tay y bị mất hết công lực. Thế là y bị trúng hai cước của Thủ-Độ, người y bay lại phía sau, nằm thẳng cẳng.
Cả thực khách trên tửu lầu đều reo hò chế diễu Nguyễn Dư. Y nổi giận, tay rút kiếm xả một chiêu định xẻ Thủ-Độ làm hai. Thủ-Độ lách mình một cái, tránh chiêu kiếm, rồi nhảy lùi lại. Thiếu niên áo xanh lại bắn hạt đào nữa, trúng huyệt Đại-trùy Nguyễn Dư, làm toàn thân y tê liệt. Y đứng như trời trồng, giữa lúc đó Thủ-Độ phóng chiêu Vân-hoành Tần-lĩnh của phái Hoa-sơn vào ngực y. Binh một tiếng, y bay ra xa, nằm ngửa mặt lên trời, chân tay dơ lên, coi rất ngộ nghĩnh.
Đoàn Thượng vác cái ghế đập vào đầu Thủ-Độ. Nó kinh hoảng, vội lộn hai vòng ra phía sau. Đoàn Thượng đập hụt, cái ghế trúng bàn ăn, thực phẩm bay tung lên, túa vào người anh em Long-Sảm.
Thiếu niên tên Thừa bảo thiếu niên áo tím :
- Tự-Khánh ! Em ra tay đi, bằng không thiếu niên này nguy mất.
Thiếu niên áo tím vung tay một cái, mảnh xương gà túng huyệt Kiên-ngung ĐoànThượng. Lập tức cánh tay Đoàn Thượng bị tê liệt, cái ghế trên tay rơi xuống. Thấp thoáng một cái, Thủ-Độ đã điểm vào huyệt Đản-trung Đoàn Thượng. Y lại tê liệt toàn thân.
Long-Sảm, Long-Thẩm hô lên một tiếng. Hai tên thị vệ rút đao đeo ở phía sau lưng ra, bao vây Thủ-Độ vào giữa. Một tên quát:
- Đứng im chịu trói, bằng không ta băm mi ra như băm chả ngay lập tức.
Thủ-Độ chụp đại cái ghế đưa lên đỡ đao của anh em họ Cao. Chỉ hai hiệp, cái ghế bị vỡ tan. Kinh hoảng, Thủ-Độ phóng mình chạy, nhưng anh em họ Cao còn nhanh hơn, chúng xả hai đao vào người nó. Tự-Khánh lại vung tay, hai cái xương gà trúng huyệt Khúc-trì anh em họ Cao. Cánh tay chúng bị tê liệt. Thấp thoáng một cái, Thủ-Độ đã di chuyển thân hình ra phía sau Cao Kinh, rồi chĩa ngón tay phải điểm vào huyệt Kiên-ngung của y. Tay trái nó đã đoạt được đao. Cao Giới đâu biết rằng anh em Tự-Thừa, Tự-Khánh trợ giúp Thủ-Độ. Y tưởng rằng võ công Thủ-Độ cao hơn chúng nhiều. Y hô lớn:
- Xin chủ nhân mau chạy thoát thân!
Anh em Long-Sảm bỏ chạy xuống lầu, rồi vọt mình lên ngựa, ra roi , miệng quát:
- Đi!
Nhanh nhẹn, Thủ-Độ mở bọc lấy cây cung, nạp tên, bắn theo. Hai mũi tên xé gió bay theo, cắt đứt cương ngựa. Hai con ngựa không cương điều khiển, chúng cất cao vó hí lên mấy tiếng, rồi đứng ỳ ra.
Thủ-Độ biết võ công của mình thua xa ba tên Nguyễn Dư, Đoàn Thượng, Phạm Bỉnh-Du cùng hai tên thị vệ. May nhờ anh em Tự-Thừa ám trợ mà thắng. Song nó nhớ lại cái hận anh em Long-Xưởng đánh đập, đái lên đầu nó. Nó chạy xuống lầu, vung tay lôi Long-Sảm xuống khỏi ngựa, thì nó bị ai đó túm tóc nhắc bổng lên, rồi điểm huyệt, ném xuống đất. Nó nhìn lại, thì ra quan Tổng-lĩnh thị vệ Đoàn Văn.
Cả bọn Gia-thụy ngũ anh, hai tên Cao Kinh, Cao Giới reo hò, vây quanh Thủ-Độ, chân đấm tay đá. Thình lình, có bóng tím xen vào giữa, một người từ ngoài lách mình vào. Người này phẩy tay một cái, Thủ-Độ bật tung lên, bay ra xa, trong khi lơ lửng trên không, huyệt đạo của nó đã đươc giải. Nó đáp xuống đất như tự nhảy lên, đứng xuống vậy.
Bóng tím đó là Tự-Khánh.
Thấy võ công của Tự-Khánh cao thâm, Đoàn Văn hỏi :
- Thằng oắt con, mi là ai?
Tự-Khánh không trả lời, chàng đưa con mắt nghiêm khắc nhìn Đoàn Văn rồi chĩa tay phóng một chỉ. Choang, thanh kiếm đeo sau lưng Đoàn Văn bị cắt đứt bay bổng lên cao. Tự-Khánh bắt lấy, rồi chống xuống đất, miệng mỉm cười tỏ ý khinh khiến.
Đoàn Văn chột dạ, y buông lời khách khí:
- Phải chăng thiếu hiệp là người của phái Đông-A? Xin thiếu hiệp cho biết cao danh quý tính?
- Đúng vậy! Tôi họ Trần, tên Tự-Khánh.
Đoàn Văn cũng như hai tên thị vệ đều bật lên tiếng úi chà.
- Thì ra thiếu hiệp là con thứ của Thần-nông sứ Trần Lý trong phái Đông-A đấy ! Bản chức là Đoàn Văn, hiện lĩnh Tổng-lĩnh Thị-vệ.
Nghe đối đáp giữa Đoàn Văn với hai thiếu niên, Thủ-Độ nghĩ thầm :
- Tại sao lại có sự trùng tên thế này nhỉ? Bác Lý của ta cũng có con tên Thừa, Khánh. Hay đây là hai con của bác ta?
Trong khi Đoàn Văn đối đáp vơí Tự-Khánh, thì Ba Huy thuật qua hành trạng của Thủ-Độ cho anh em Tự-Thừa nghe. Rồi y cau mày tỏ ý khó chịu nói với Đoàn Văn :
- Tôi không rõ năm vị tiểu công tử đây danh phận thế nào, mà hôm trước, năm người xúm vào đánh đứa trẻ này trọng thương. Chủ nhân chúng tôi phải trị trong mười ngày mới khỏi. Ban nãy, năm người với hai vị gia nhân đây đấu vơí y, bị bại. Rồi đại nhân bắt y cho họ đấm đá. Đạo lý luật pháp để đâu?
Long-Sảm chỉ Thủ-Độ:
- Tên này là gia bộc của ta! Ta đánh hay giết nó là quyền của ta. Người không nên, và không có quyền can thiệp vào. Người có biết rằng mười hôm trước, nó ăn cắp vàng bạc của ta, rồi bỏ trốn đi. Chúng ta theo dấu tìm bắt nó về... Đó là việc của nhà ta.
Luật thời Lý, cho phép những vương hầu, quan lại, phú gia được bỏ tiền ra mua người làm nô bộc. Họ dùng chàm thích chữ trên trán nô bộc để khi chúng trốn đi, thì dễ nhận diện. Khi nô bộc phạm tội, chủ nhân toàn quyền đánh đập, ra hình phạt. Chỉ cấm không được giết mà thôi. Khi nô bộc bỏ trốn, thì chủ nhân có thể trình quan bắt về.
Tự-Thừa hỏi Thủ-Độ
- Những người này nói thực hay dối?
- Họ nói dối. Tôi không hề là tôi tớ của họ. Trái lại, họ với tôi còn có tình máu mủ . Tôi là anh con cô con cậu với họ.
Tự-Thừa kéo Thủ-Độ lại bên cạnh, rồi coi khắp trán, bàn tay của nó. Chàng nói bằng giọng nghiêm nghị của một người lớn :
- Này ! Thiếu niên kia, người nói dối rồi! Nếu như đứa trẻ này là gia nô của người, sao không thấy thích chữ trên trán?
Long-Sảm chỉ anh em Tự-Khánh, Tự-Thừa :
- Khắp thần dân Đại-Việt này đều là tôi tớ của nhà ta, thì ta cần gì phải thích chữ? Cả hai người cũng là tôi tớ của ta.
Y nói chỉ vào Tự-Thừa, Tự-Khánh :
- Cả hai người, cũng là thần dân của ta.
- Người là ai ? Bộ người là Ngọc-Hoàng đại đế chăng?
Long-Sảm hất hàm cho ĐoànVăn :
- Người nói cho y biết ta là ai đi !
Đoàn Văn trịnh trọng chỉ bọn Long-Sảm :
- Vị này không phải là Ngọc-Hoàng đại đế, thì cũng là con trai của Ngọc-Hoàng đại-đế! Người là Đông-cung thái tử. Vị này là hoàng tử Long-Thẩm. Còn đây là ba mệnh quan, hiện lĩnh chức Thiện-nhân của Đông-cung.
Tự- Thừa gọi em :
- Các đời trước của họ Lý với tiền nhân chúng ta đều là chỗ thông gia. Triều đại Tiêu-sơn có không biết bao nhiêu anh hùng hào kiệt. Thế mà nay lại nảy ra những thứ này đây ! Khánh, đi thôi ! Không nên dây với hủi làm gì !
Nói rồi chàng cầm thanh kiếm của Đoàn Văn trở cán trao cho y. Đoàn Văn vừa cầm lấy, thì y cảm thấy như bàn tay bị ngoặm một miếng, đau thấu tâm can, một luồng nội lực mạnh như bài sơn đảo hải đẩy y ngã ngồi xuống đất.
Hai anh em Tự-Thừa lên xe, ra roi cho ngựa chạy.
Phạm Bỉnh-Du chửi đổng:
- Mẹ cha quân chó đẻ hách quá !
Đến đó có nhiều tiếng vó ngựa, rồi một đội thị vệ hơn trăm người cỡi ngựa đi tới. Long-Sảm ra lệnh trói Thủ-Độ lại, bỏ lên một cái xe, rồi cả đoàn hướng về Thăng-long, không coi anh em Tự-Thừa, Tự-Khánh ra gì cả.
Ngồi trên xe, Thủ-Độ than thầm
- Phen này nhất định chúng sẽ giết ta đây. Nghĩ cuộc đời thực khó mà lường được. Khi nghe mẹ kể chuyện triều đình, người tỏ ra cực kỳ quan tâm tới nhà vua, tơí các vương Kiến-khang, Kiến-bình. Mỗi lần ta nghe mẹ nói, mà lòng cứ mơ tưởng sẽ gặp các em, con của cậu, anh em yêu thương nhau ghê lắm ! Không ngờ, chẳng có lý do gì, mà chúng hành hạ ta thế này ? Hỡi ơi, những đứa bạn ở Mông-cổ không một chút máu mủ thì lại tốt với ta quá !
Xe đi vào một dinh thự. Thủ-Độ nhận ra đó là Đông-cung. Tên Cao Kinh nhắc bổng Thủ-Độ lên, trói nó vào cây cau ở sân.
Long-Sảm hỏi đồng bọn :
- Nào ! Có ai nghĩ ra cách gì hành hạ cho thằng ôn con này thực thảm khốc không nào ?
Đoàn Thượng đề nghị :
- Không biết nó học võ với ai ? Học bao giờ, mà lại có bản lãnh thắng được chúng ta ? Thái-tử, thần đề nghị dùng tre kẹp tay cho nó đau, đến phải kêu cha gọi mẹ lên cho bỏ ghét.
Cả bọn reo hò, tỏ vẻ khoái trá. Bọn thị vệ Đông-cung đã đem ra bốn thanh tre. Long-Sảm cầm lấy hai thanh, kẹp vào năm ngón tay phải Thủ-Độ. Mặc dù đau thấu tâm can, đau đến vãi đái ra, nhưng Thủ-Độ nhất định nghiến răng không kêu khóc, không rên siết. Kẹp một lúc mỏi tay, Long-Sãm chán nản, nó buông hai thanh tre ra, rồi lắc đầu :
- Trò chơi này không mấy thú vị.
Phạm Bỉnh-Du đề nghị :
- Ta lấy mật đổ lên người nó, cho kiến bu vào mà đốt xem nó có rên siết không ?
Thị vệ đem mật tưới lên người Thủ-Độ. Bọn Long-Sảm chờ một lúc, quả nhiên kiến kéo đến leo lên người Thủ-Độ ăn mật. Dù bị kiến đốt, nhưng Thủ-Độ cương quyết nghiến răng chịu đựng cho đến khi ngất đi, không biết gì.
Nguyễn Dư bàn :
- Ta trói chân nó, rồi ném vào chuồng ngựa, cho nó ngủ với ngựa, rồi bỏ đói, thì chỉ hai ngày nó phải van xin ta.
Thủ-Độ bị ném vào một cái chuồng ngựa hôi thối. Nằm trong chuồng ngựa, hai bàn tay sưng nhức cực kỳ, nó chợt nghĩ đến tâm pháp nội công mà bố nó dạy nó để chống lại cơn đau đớn. Nó hít hơi, luyện thử. Không khó khăn, chân khí trong người nó lưu thông dễ dàng. Khoảng hơn khắc, bao nhiêu cái đau đớn biến mất. Suốt đêm đó, nó luyện công. Cho đến sáng, mệt quá nó ngủ đi lúc nào không hay.
Sáng hôm sau, tên Cao Giới lôi nó lên nghị sự đường trước mặt bọn Gia-thụy ngũ-anh. Long-Sảm chỉ mặt nó :
- Hôm Trung-thu mày làm nhục tao giữa chỗ đông người. Rồi hôm ở quán Bích-động, mày ỷ có bọn Trần Tự-Thừa, Trần Tự-Khánh, mày làm nhục tao. Kể từ nay, tao giam giữ mày ở đây, cho đến khi nào mày dùng võ công chân chính thắng bọn tao, thì tao thả mày ra. Mỗi lần đấu võ mà mày bị thua thì tao đánh mày mười roi mây.
Cao Giới đem đến sợi xích sắt khóa chân Thủ-Độ lại cùng với mấy cái lục lạc. Y ra lệnh cho nó :
- Từ nay mỗi buổi sáng mày phải rửa chuồng ngựa. Buổi trưa phải gánh mười thùng phân bón hoa, tưới rau. Buổi chiều phải tắm mười con ngựa. Nếu mày trễ nải thì bị phạt đánh hai mươi roi.
Tuy thằng Giới ra lệnh như vậy nhưng mỗi khi bọn Gia-thụy thấy hứng lại lôi nó ra bắt đấu võ. Thường chỉ được mươi hiệp là nó bị đánh ngã. Long-Xưởng lại dùng roi mây đánh đập làm trò tiêu khiển. Chỉ mấy tháng sau, nó ngẫm ra rằng, hôm mới vào đây, bọn Long-Sảm đánh đòn, nó còn thấy đau, bây giờ gần như nó không cảm thấy khó chịu nữa. Nó biết, sở dĩ có tình trạng đó là do kết quả của thời gian cần cù luyện công. Nhưng hằng ngày vùng tim, vùng gan, vùng lá lách vẫn hành hạ nó cực kỳ khổ sở.
Nó tự an ủi:
- Ta phải cố sống! Lão già Ba Huy đánh ngựa thấy ta bị bắt, ắt y trở về báo với cô Bạch-Hạc. Cô Bạch-Hạc thế nào cũng tìm cách cứu ta ra, đưa ta về Thiên-trường. Ta sẽ thuật cho ông nội ta biết về cái chết của mẹ ta.
Từ hôm nhập Đông-cung, nó có một thắc mắc là tại sao cái chuồng ngựa lại quá đẹp. Tường bằng gạch nung đỏ, cột bằng gỗ lim, mái lợp ngói đỏ. Trong chuồng lại trải gạch hoa ? Có lần nó hỏi một viên thái giám già quản lý Đông-cung là Đỗ Viện về sự lạ lùng ấy. Viên thái giám nói sẽ vào tai nó :
- Cái chuồng ngựa này được xây vào thời vua Anh-tông. Bấy giờ Thái-tử Long-Xưởng được cho ra ở Đông-cung, đã xây thêm để làm phòng luyện võ. Khi Long-Xưởng bị cách, Đông-cung bỏ hoang. Từ lúc Long-Sảm được ra đây ở, thì không thiết tập võ, mới dùng làm chuồng ngựa.
Chán đời đi lang thang !
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-04-09 18:41:19NuHiepDeThuong>
Hồi thứ ba mươi tư

Bóng ma Long-thành.


Một buổi trưa, Thủ-Độ rửa chuồng ngựa, rồi dùng khăn lau mấy cái cột. Lớp bụi bám trên cột tróc ra, nó thấy trên cột xuất hiện những chữ li ti. Tò mò nó đọc, bất giác tim nó đập thình thình, vì rõ ràng đây là yếu quyết luyện công. Nó đọc qua, thì thấy dường như trái với tâm pháp Đông-A mà bố nó dạy nó. Nó nghĩ thầm:
- Tâm pháp gì đây mà lại có 99 câu? Trong khi ta không biết gốc tích, thì cứ gọi là Tâm-pháp Chuồng-ngựa vậy.
Vốn thông minh, nó nhẩm hơn nửa buổi thì thuộc làu. Sau khi kiểm lại, nó dùng dao, cạo xóa hết những chữ trên cột chuồng ngựa:
- Cứ như mẹ ta nói, các đời trước, họ Lý có không biết bao nhiêu anh hùng, tài trí. Tâm pháp võ công này, ai đã khắc vào đây? Rõ ràng là tài sản của anh em Long-Sảm, thế nhưng chúng không thèm biết tới, thì ta hủy đi cho đỡ tủi vong linh người quá cố.
Chiều hôm đó, nằm trong chuồng ngựa ngủ, Thủ-Độ lên cơn đau gan. Người nó nóng như cục than hồng. Nó nghiến răng vận công chống đau, nhưng cơn đau vẫn làm nó gập đôi người lại. Trong lúc mơ mơ hồ hồ, nó vận công theo Tâm-pháp Chuồng-ngựa, thì thấy cái đau đớn giảm đi rất nhiều, nhiệt độ hạ xuống rất mau. Không cần biết có nguy hiểm hay không, nó cứ tiếp tục vận công, lát sau, thì người nó cảm thấy rét run. Rét kệ rét, nó tiếp tục vận công cho đến khi ngủ thiếp đi. Trong giấc ngủ, tiềm thức thúc đẩy, nó vận công tiếp.
Sáng hôm sau thức dậy, nó cảm thấy bụng phình lên đầy nước tiểu, nó phóng ra một hơi dài, rồi suốt ngày, nó cứ đi tiểu đều đều. Đến chiều thì bụng nó không còn chướng lên như cũ nữa. Người nó cảm thấy mát mẻ dễ chịu kỳ lạ. Nó ấn tay vào vùng gan, vùng tim, vùng lá lách, thì thấy cảm giác đau đớn chỉ còn hơi hơi mà thôi. Nó nghĩ thầm:
- Không cần biết Tâm-pháp Chuồng-ngựa là tâm pháp nào, ta luyện, mà thấy khỏi bệnh, thì ta cứ luyện.
Từ đấy, ngoài những lúc tắm ngựa, quét dọn, nó tiếp tục luyện Tâm-pháp Chuồng-ngựa. Bọn Gia-thụy ngũ anh lôi nó ra đấu võ, nó không trả đòn, cứ để mặc chúng muốn đấm, muốn đá gì nó chỉ vận công chịu trận. Sau đó chúng dùng roi, dùng gậy đánh nó, nó không còn thấy đau nữa. Ít lâu sau chúng chán nản, không hành hạ Thủ-Độ nữa.
Từ hôm chia tay với Kim-Dung, hình bóng của người thiếu nữ ôn nhu, văn nhã luôn hiện lên trong tâm nó. Những lúc nhớ nhung quá, không chịu nổi, nó lại ra thuê xe ra bến sông Hồng, nơi con thuyền neo, mà bà mẹ Kim-Dung đưa nó xuống trị bệnh. Nhưng lần nào cũng như lần nào, nó chỉ thấy nước sông đỏ ngầu, cuồn cuộn trôi về cuối giòng mịt mờ. Còn bóng hồng thì tuyệt vô âm tín.

Thời gian một năm trôi qua. Thủ-Độ đã luyện xong 99 câu quyết. Nó nhẩm tính, cái thời hạn một năm mà Vũ Phòng-Phong bảo nó chết đã qua rồi. Nó định bụng hôm nào có dịp sẽ trốn ra ngoài thành thăm ông, để xin ông chẩn bệnh lại cho nó.
Hôm ấy, như thường lệ, Cao Kinh mở khóa, mở xích chân Thủ-Độ, rồi ra lệnh rằng nó phải dẫn đoàn ngựa ra ngoài Ngự-xạ đài ở ngoài thành Thăng-long, thả ngựa phi, để khỏi bị mỡ đọng ở bụng. Ngựa vừa tới nơi, thì một con giật dây cương, phi nước đại. Lập tức chín con khác cũng phi theo. Thủ-Độ bật cười, nó dùng tiếng loài ngựa gọi chúng lại, nhưng chúng vẫn hí inh ỏi rồi thi nhau phi. Thủ-Độ chờ chúng phi hết một vòng sân, khi chúng phi ngang trước mặt nó, nó nhảy theo, chụp dây cương con đầu đàn. Con ngựa này hí lên, lách sang một bên, khiến Thủ-Độ chụp hụt. Nó lao mình vọt theo đàn ngựa, thì lạ lùng chưa, chỉ nửa khắc nó đã đuổi kịp. Đàn ngựa thấy có đồng bạn mới, chúng càng ra sức sải bước, thế nhưng Thủ-Độ vẫn theo kịp. Phi khoảng mười vòng Ngự-xạ đài, thì đàn ngựa từ từ phi chậïm lại, rồi ngừng hẳn. Thủ-Độ cũng ngừng lại. Nó kinh ngạc:
- Tại sao khinh công ta lại mau thế này? Hồi ở Mông-cổ, khinh công cao nhất là mẹ ta, mà cũng chỉ có thể chạy ngang với ngựa trong vòng 50 dặm mà thôi. Cái vòng sân này, mỗi vòng tới 20 dặm, mà ta chạy tới mười vòng, thì trải qua 200 dặm mà ta không hề mệt mỏi là tại sao?
Sau khi dẫn ngựa ra bờ sông tắm, rồi lùa bầy ngựa trở về. Trên đương đi, thấy có một lò rèn nó ngừng lại hỏi:
- Ông ơi, ví thử tôi có cái khóa, mà mất chìa, thì ông có thể làm cho tôi cái chìa khác không?
Người thợ rèn mở to mắt nhìn Thủ-Độ, gật đầu:
- Dĩ nhiên là được. Vậy khóa của cậu đâu?
- Tôi sẽ mang ra sau.
Trưa hôm ấy, Thủ-Độ trở về Đông-cung thì Cao Giới dùng xích khóa chân nó như thường lệ. Đợi Cao Giới cũng như bọn Gia-thụy ngũ anh đi rồi, Thủ-Độ trốn ra gặp người thợ rèn, xin làm chìa khóa. Không đầy hai khắc, người thợ rèn đã làm xong hai cài chìa khóa. Thủ-Độ không về Đông-cung, nó đến Đệ nhị y viện Hồng-lĩnh tìm y sư Phòng-Phong. Sau hơn một năm xa cách, Thủ-Độ đã lớn lên, nhưng Phòng-Phong, cũng nhận ra nó. Ông kinh ngạc:
- Đàm Độ! Từ hồi ấy đến giờ cháu đi đâu?
Ông lên tiếng gọi vợ:
- Em ra mà xem này! Thằng bé đó còn sống này!
Bà Bạch-Hạc từ sau vườn chạy lên, thấy Thủ-Độ, bà reo:
- Từ hồi ấy đến giờ cháu ở đâu?
- Cháu bị tù khổ sai.
- Khổ sai? Ta không tin!
Bạch-Hạc kể: - Sau khi cháu và Ba Huy đi rồi, thì ta không được tin tức gì của cháu cả. Hơn tháng sau, ta trở về Thiên-trường thăm song thân, người kinh ngạc vô cùng, vì không thấy cháu cũng như Ba Huy về. Trong câu chuyện, hai đứa con của em Lý ta là Tự-Thừa, Tự-Khánh thuật lại một việc: Cũng ngày hôm đó, ba đứa từ Kinh-Bắc về Thiên-trường. Khi qua ngã ba Thăng-long, Trường-yên, Thiên-trường chúng gặp một thiếu niên, đấu võ với bọn Gia-thụy ngũ anh. Ta đoán ngay ra là cháu. Thái-tử Long-Sảm truyền bắt giam cháu, vì cháu là nô bộc của y, phạm tội ăn cắp rồi bỏ trốn. Tự-Thừa không cho Tự-Khánh can thiệp vào chuyện của triều đình, nhất là dây dưa với nô bộc của họ. Hơn nữa, nô bộc phạm tội ăn cắp. Song thân ta, cũng như vợ chồng Lý đều không quan tâm tới vụ này, bởi ai cũng tưởng cháu là tội phạm của triều đình. Nhưng có một điều lạ lùng ta không hiểu: Ba Huy đi đâu mà không thấy y trở về?
Thủ-Độ hỏi lại:
- Ông Ba Huy không về đây, vậy ông í đi đâu? Không lẽ ông ta bị bọn Long-Sảm bắt giam.
- Không chừng như vậy!
Phòng-Phong vẫy tay cho vợ im lặng, rồi ông bắt mạch Thủ-Độ. Trán ông cau lại tỏ vẻ đăm chiêu. Cuối cùng ông nói:
- Cháu đã muốn dấu thân thế, để giữ lời hứa với người dạy võ công cho cháu, thì ta cũng không muốn cật vấn cháu. Bây giờ ta chỉ luận về bệnh của cháu mà thôi.
Ông nói với vợ:
- Năm trước, anh nói, muốn trị nội thương của Đàm Độ, thì phải có hai người luyện nội công tới trình độ thượng thừa. Một người luyện nội công âm nhu, một người luyện nội công dương cương, hỗ tương cứu nó. Nội công dương cương, thì trong phái Đông-A nhà ta không thiếu. Còn nội công âm nhu thì chỉ có Đoan-Nghi. Thế nhưng trong năm qua, không biết cơ duyên nào đưa đến, mà cháu nó lại luyện trọn vẹn tâm pháp của phái Đông-A, rồi lại luyện nội công âm nhu chính tông của phái Mê-linh nữa. Không những bệnh của cháu khỏi hẳn, mà công lực của nó bây giờ hiếm người so sánh!
Bạch-Hạc nắm lấy tay Thủ-Độ bắt mạch. Muốn thăm dò công lực nó, bà dồn chân khí vào người nó. Một nguồn nội lực âm-dương hỗ tương hợp với nhau chống trả rất mãnh liệt. Thấy vậy, bà dồn thêm chân khí sang, thì nội lực của nó càng chống lại mạnh hơn, rồi thình lình một nguồn nội tức mạnh không thể tưởng tượng nổi phản ứng, khiến bà không tự chủ được, người bật tung lại sau đến hơn trượng. Bà phải dùng thiên cân trụy mới đứng vững.
Phòng-Phong hỏi vợ:
- Em thấy thế nào?
- Nội lực của nó mạnh quá. Có lẽ chỉ sư phụ mới luyện tới mức này mà thôi. Cũng may đây là phản ứng tự nhiên, chứ nếu nó dùng công lực tấn công, thì em đã bị thương rồi.
Phòng-Phong suy nghĩ một lúc, người ông đờ ra:
- Ta thấy dù cháu nó có luyện cả nội công âm nhu, dương cương, thì ít ra phải mười năm mới thành công. Với tuổi của nó chưa thể luyện đến trình độ này. Nhưng trên thực tế, thì lại có...
Ông nói một mình:
- Trong lịch sử võ lâm Đại-Việt, chỉ có hai người hợp được cả âm dương, thì một là Vạn-tín hầu Lý Thân. Hai là Bắc-bình vương Đào Kỳ. Nhưng đó chẳng qua là truyền thuyết. Chứ thực tế, xưa bác học như tổ Tự-An, Thông-Mai, Tự-Mai của phái Đông-A cũng không thể làm được!
Ông hỏi Thủ-Độ:
- Cháu tìm đâu ra tâm pháp nội công âm nhu?
Thủ-Độ thuật lại vụ nó tìm ra trong trường hợp nào, tại chuồng ngựa!
Phòng-Phong, Bạch-Hạc cùng lắc đầu không hiểu.
Phòng-Phong, Bạch-Hạc, Thủ-Độ không hiểu là phải.
Nguyên nội công âm nhu do Vạn-tín hầu Lý Thân tìm ra từ thời vua An-Dương. Đến thời Lĩnh-Nam chỉ có Bắc-bình vương Đào Kỳ, Tể-tướng Nguyễn Phương-Dung, công chúa Phật-Nguyệt là luyện thành. Sau khi Lĩnh-Nam bị Hán đô hộ, thì nội công này bị tuyệt tích. Đến thời vua Lý Thái-tổ, công chúa Bình-Dương tìm được bia đá do công chúa Trần Năng để lại, rồi luyện thành. Sau công chúa Bình-Dương truyền cho đệ tử là Linh-Nhân hoàng thái hậu. Linh-Nhân hoàng thái hậu chép vào cái áo hồ cừu. Hai mươi năm trước, Thái-tử Long-Xưởng chép từ áo hồ cừu vào cái cột ở phòng luyện võ Đông-cung, để dạy cho công chúa Đoan-Nghi, quận chúa Từ Thụy-Hương. Nhưng chỉ mình Đoan-Nghi luyện thành. Bây giờ vô tình Thủ-Độ tìm ra, rồi luyện thành. Vấn đề khúc mắc như vậy, thì ai hiểu nổi?
Phòng-Phong hỏi:
- Ví dù công chúa Đoan-Nghi có truyền tâm pháp âm nhu cho cháu đi. Nhưng, làm sao cháu có thể tổng hợp cương nhu làm một! Hà! Cháu đã gặp may trong trường hợp nào? Cháu nên nhớ từ bao nhiêu năm nay, các đại tôn sư đều mơ màng, sao có thể hợp được hai loại nội công cương, nhu, song vô ích.
Thủ-Độ thuât lại chi tiết việc nó tìm thấy nội công chuồng ngựa, rồi trong lúc lên cơn đau đớn, nó dùng để chống lại cơn đau gan, tỳ, tâm, do bọn Long-Sảm đánh nó.
Phòng-Phong à lên một tiếng:
- Ta hiểu rồi! Trường hợp của cháu cũng giống như Bắc-bình vương Đào Kỳ khi xưa! Âu là cái duyên.
- Thưa đại-phu Bắc-bình vương đã luyện thành trong hoàn cảnh nao ?
- Cháu nên nhớ, âm dương là hai thể tố được hình thành do trời đất, hỗ tương xung khắc nhau, hỗ tương kiềm chế nhau, hỗ tương sinh ra nhau mà tồn tại. Trong âm có dương, trong dương có âm. Mặt trời, ánh sáng, đàn ông, ban ngày, phía trên, hoạt động, phía sau, bên phải, phía trên là dương. Mặt trăng, bóng tối, đàn bà, ban đêm, phía dưới, tĩnh chỉ, phía trước, bên trái, phía dưới là âm.
- Cháu không hiểu thế nào là âm sinh ra dương ; dương sinh ra âm cũng như trong âm có dương, trong dương có âm.
- Để ta cho cháu một tỷ dụ. Âm sinh ra dương là gì ? Như khi ta ăn uống. Thức ăn là vật chất, thuộc âm. Ta ăn vào, trong cơ thể sinh ra khí. Khí là dương. Thế có phải âm sinh ra dương không ! Hay cụ thể hơn, bà mẹ là âm, sinh ra đứa con trai là dương !
- Thế còn dương sinh ra âm ? Ông bố là dương, có thể sinh ra con gái là âm. Trong cơ thể, khí là dương, tuần lưu khiến cho can, tỳ sinh ra huyết. Huyết là âm. Còn như trong âm có dương, trong dương có âm...
Thủ-Độ reo lên :
- Cháu hiểu rồi !
- Cháu thử nói ta nghe xem có đúng không nào ?
- Như đại phu nói, phía trước là âm phía sau là dương. Phía trên là dương phía dưới là âm. Như vậy lưng là dương. Nhưng chia lưng làm hai phía trên là dương, phía dưới là âm.
- Giỏi. Cháu đã học về Âm-Dương rồi à?
- Vâng! Thầy Phạm Kính-Ân dạy cháu về học thuyết Âm-Dương Ngũ-hành trong kinh Dịch.
Phòng-Phong vồ tay reo:
- Hay! Còn như cháu luyện nội công dương cương từ nhỏ. Bây giờ trong lúc ngủ, nội tức dương cương chạy về đơn điền. Trong cơ thể của cháu trống rỗng. Vì đau đớn, tiềm thức làm việc, luyện nội công âm nhu. Thế là âm nhu, dương cương hợp với nhau, thành một thứ nội công tổng hợp.
- Giỏi. Còn một điều cháu không biết nữa, là phàm khi luyện nội công dù dương hay âm, khi nội tức sinh ra mười phần thì chỉ lưu lại cơ thể có một phần thôi. Khi cháu luyện thành âm-dương hòa hợp, thì lúc luyện nội công âm-nhu sinh ra bao nhiêu chân khí, sẽ hợp với chân khí dương cương, thành nội lực của cháu. Ngược lại, cháu luyện nội công dương cương, bao nhiêu chân khí dương cương sinh ra sẽ hợp với chân khí âm-nhu thành nội lực của cháu. Thành ra cháu chỉ luyện một năm bằng người ta luyện mười năm.
Phòng-Phong nắm tay Thủ-Độ :
- Phép luyện công của các phái trong thiên hạ, hoặc là cương, hoặc là nhu. Ít khi có phép luyện cương nhu hợp nhất. Thiền-công là thứ cương nhu hợp nhất. Trong các môn phái của Đại-Việt, thì nội công của phái Sài-sơn, Tản-viên, Mê-linh hoàn toàn gốc từ tổ tiên để lại. Duy phái Tiêu-sơn thì gốc do Bồ-tát Tỳ-ni Đa-lưu-chi truyền Thiền-công vào, rồi các tổ Đại-Việt sửa đổi, phát minh thêm mà thành. Nội công phái Đông-A phát xuất từ Thiền-công Tiêu-sơn, rồi các đời sau tục gia hóa đi...Thế nhưng cương, hay nhu đều là nội công thuộc dương tính cả. Duy phái Mê-linh là có pho nội công âm-nhu, gồm 99 câu tâm pháp, rất ít người luyện được trọn vẹn. Thế hệ nào đông nhất, thì cũng chỉ có đâu mươi người là cùng. Còn nhưng luyện được cả âm lẫn dương thì từ sau Bắc-bình vương Đào Kỳ đến giờ, mới có mình cháu. Ngài có thời thơ ấu hơi giống cháu. Ngài học võ với cha mẹ. Cả cha lẫn mẹ đều luyện nội công dương cương. Khi phải xa bố mẹ , ngài mới có mười tuổi, công lực dương cương không làm bao. Rồi cơ duyên đưa đẩy, ngài lại được lão đại hiệp Nguyễn Phan truyền nội công âm nhu cho. Rồi ngài cũng luyện trong lúc ngủ, mà hòa hợp làm một.
Nghe Phòng-Phong nói, trong tâm Thủ-Độ nghĩ :
- Cứ như lời vị y sư này, với công lực của ta hiện thời, ta thừa sức thắng bọn Gia-thụy ngũ-anh. Ta muốn trả hận lúc nào cũng được. Ta không cần đi Thiên-trường nhờ ông bà ta, bác ta truy tầm thủ phạm trả thù mẹ nữa. Ta có thể tự làm lấy, mà không cần nhờ vả ai.
Bạch-Hạc hỏi Thủ-Độ:
- Bây giờ cháu có về Đông-cung nữa không? Hay cháu đi Thiên-trường?
- Hiện cháu còn một vài việc phải làm, nên cháu cần phải trở về Đông-cung. Sau đó cháu sẽ đi Thiên-trường.
Bạch-Hạc vuốt má Thủ-Độ:
- Mừng cho cháu. Bây giờ với công lực này, thì võ lâm thiên hạ không mấy người bằng cháu. Thế thì cái bọn bị thịt Gia-thụy ngũ anh không còn bắt nạt cháu được nữa. Hôm trước chúng nói, cháu là tôi tớ của chúng. Vậy cha mẹ cháu bán cháu cho chúng chăng?
Nghe Bạch-Hạc nói, Thủ-Độ mừng lắm. Nó nghĩ thầm:
- Bây giờ ta đã biết chắc bà này là chị của bố ta. Bà là cô ta. Ta cũng đã thấy các anh Thừa, Khánh. Họ là những người hiệp nghĩa, chứ không ác độc như bọn Long-Sảm. Ta cần xuất hiện để nhận họ hàng, để tìm ra thủ phạm đã sát hại mẹ ta. Ta cũng chẳng cần dấu diếm thân phận nữa.
Nghĩ vậy nó nhìn Bạch-Hạc bằng con mắt thiện cảm:
- Thưa cô, bố mẹ cháu là những người có thân phận cực lớn, lại có thâm tình vơí cô. Hiện bố cháu ở xa. Còn mẹ cháu thì qua đời rồi. Cái người mà cháu nói rằng bà qua đời, nhờ cháu chuyển di chúc cho năm người... là nói dối. Người qua đời chính là mẹ cháu. Mẹ cháu bị người ta dùng loạn tên bắn chết. Trước khi chết, mẹ cháu dặn cháu chuyển di chúc cho năm người, để truy lùng thủ phạm, trả thù cho mẹ cháu!
Nó nghiến răng:
- Còn bọn Gia-thụy ngũ anh, thì hai đứa thuộc loại thâm tình của cháu. Không thù, không oán, chả hiểu sao mà từ khi mới gặp nhau, chúng đã tỏ ra ác độc với cháu. Cháu đâu có là gia bộc của chúng? Thế mà, trên đường đi Thiên-trường, chúng bắt cháu về, rồi hành hạ vô cùng tàn nhẫn.
Thủ-Độ thuật lại tất cả những phương cách Long-Sảm hành hạ nó một lượt. Nghe Thủ-Độ kể, muôn ngàn lần Bạch-Hạc không thể tưởng tượng nổi nó là con của Thủ-Huy với Đoan-Nghi. Căn cứ vào câu Long-Sảm, Long-Thẩm với nó là chỗ thâm tình, nàng lại tưởng nó là cháu của Minh-Đạo vương. Bà rùng mình, than:
- Xưa, Thái-tổ nhà Lý là Công-Uẩn, nhân vua Ngọa triều ác độc, mà được thiên hạ. Vì vậy khi lên ngôi vua, ngài lấy đức từ bi, hỷ xả của nhà Phật mà trị dân. Bây giờ trong triều thì Thiên-gia Bảo-hựu hoàng đế vô đạo, hoang chơi, dâm dật. Tất cả việc triều chính phó cho Đàm Dĩ-Mông. Y vốn vô tài, mà lại muốn chuyên quyền, vì vậy những người có tâm huyết bỏ đi hết. Quyền hành lại vào tay họ Đàm. Hai vương Kiến-khang, Kiến-bình không được trao quyền. Tương lai, khi nhà vua băng, thì Đàm hậu lại chuyên quyền, cái tệ gà mái gáy có cơ trở lại. Đàm hậu chọn cho Long-Sảm ba Thiện-nhân, đều là những đứa trẻ vô học bất thuật, xúi Long-Sảm làm những việc ác độc còn hơn vua Ngọa-triều...
Bà thở dài:
- Hỡi ơi! Trước đây gần hai chục năm, em ta là Thủ-Lý đã sớm nhìn ra. Y trình với ông nội ta, phụ thân ta sớm rút chân ra khỏi vũng lầy của triều đình. Còn Thủ-Huy thì muốn giết tuyệt bọn quan lại vô lương, giết tuyệt bọn ngoại thích. Vì chỉ có thế mới thay đổi được cục diện của Xã-tắc. Làm thế thì có khác gì thay đổi triều đình? Ta nghe em ta hiện ở nước Mông-cổ xa xôi, gác kiếm không lý gì đến triều đình Đại-Việt. Tình dân, thế nước như vậy, nên trong triều, ngoài dã, ai cũng mong Thủ-Huy trở về cầm quyền.
Bà nắm tay Thủ-Độ:
- Con đang gọi ta là bà, thình lình đổi cách xưng hô, gọi ta là cô, ắt phải có nguyên do. Khi con không phải là tôi tớ của Long-Sảm, thì con có thể bỏ đi khỏi Đông-cung, mà không ai nói năng gì được.
- Vâng. Con đoán, hung thủ giết mẹ con ắt thuộc bọn quyền quý ? Con con chưa tìm ra hung thủ, con phải ở lại Đông-cung ít lâu nữa.
- Vậy, con cần dấu thân phận kỹ hơn nữa. Khi bọn Gia-thụy ngũ anh thách đấu, con đừng vận công chống trả, cũng đừng phản công. Như vậy hung thủ khinh thường con, con mới có thể dò ra tung tích chúng... À, con đã học được những võ công gì của Đông-A?
- Bố con dạy con tất cả tâm pháp nội công. Còn ngoại công thì chỉ mới có quyền pháp, chưởng pháp, kiếm pháp.
- Tuy ta không biết rõ song thân con là ai, ta vẫn dạy con một pho võ công liệt vào hàng trấn môn, đó là Cương-la thập bát thức.
- À!
- Con đã nghe nói về Cương-la thập bát thức rồi à?
- Vâng.
- Pho võ công này là tâm huyết của cả đời thái sư phụ ta đã chế ra. Muốn học bộ võ công này, trước nhất phải luyện hết phần căn bản võ công bản phái, lại phải thông Dịch-lý. Phần căn bản thì con đã học rồi. Vậy từ mai, con cố gắng tìm dịp ra đây, ta sẽ giảng Dịch-lý cho con trước.
- Thưa cô, con đã học kinh Dịch rồi. Con học rất kỹ.
- Con học ở đâu? Ai đã dạy con?
- Con học ở Quốc-tử giám. Thầy dậy con là Kinh-diên quan Phạm Kính-Ân.
- Vậy thì con có thể học ngay từ ngày hôm nay.
Bạch-Hạc dẫn Thủ-Độ ra sau y viện. Vừa trông thấy khu vườn rộng ước hơn mẫu (3600 mét vuông ngày nay), trồng hoa, cỏ. Cạnh đó có cái ao khá lớn. Thủ-Độ bậït lên tiếng kêu:
- Chà! Cô trồng cỏ thành hình Cửu-cung Bát-quái đẹp quá.
Muốn thử Thủ-Độ, Bạch-Hạc hỏi:
- Trong hai khu trồng cỏ này, một khu theo hình Tiên-thiên, một khu theo hình Hậu-thiên. Vậy trước hết cháu hãy đi theo hình Hậu-thiên. Khởi đầu bằng quẻ Càn.
Thủ-Độ tung mình vào khu hình vuông, đặt chân vào sáu vạch liên tục, đứng chờ.
Bạch-Hạc hô:
- Thiên-phong cấu.
Thủ-Độ vừa di chuyển, thì Bạch-Hạc hô tiếp:
- Cung Cấn , Địa Thiên-thái.
Sau hơn hai khắc, Bạch-Hạc bắt Thủ-Độ di chuyển suốt 64 quẻ. Nó cảm thấy chân khí cuồn cuộn lưu thông khắp cơ thể, người nó nhẹ nhưng bông.
Bạch-Hạc chỉ lên một bức tường. Trên tường treo đủ các dụng cụ đánh cá như: Cụp, vó, rọng, te, nơm, lưới, chài, lờ, đó. Bà giảng:
- Tổ tiên của giòng họ Đông-A nhà ta tại vùng Khúc-giang, xuất thân làm nghề đánh cá. Nay thuộc Quảng-Đông bên Trung-quốc. Thời vua An-Dương, viễn tổ Trần Tự-Minh được phong tước Phương-chính hầu, lĩnh chức tể tướng. Khi vua Thủy-Hoàng nhà Tần, sai Đồ Thư mang năm mươi vạn quân sang đánh Âu-lạc. Vua An-Dương truyền rút khỏi ba quận Nam-hải, Quế-lâm, Tượng-quận. Ba chi của họ Trần bất khuất, bỏ Khúc-giang di chuyển xuống vùng Lục-hải. Con có biết Lục-hải hiện nay là vùng nào không?
- Là vùng bờ biển từ Tiên-yên tới Thanh-hóa. Như vậy tổ tiên giòng họ Trần ở Thiên-trường với Khúc-giang là một.
- Rời Khúc-giang, tổ tiên ta vẫn giữ nghề đánh cá. Vì vậy, cho nên môn phái Đông-A rất giỏi thủy chiến, đấu võ trên thuyền, dưới nước. Dĩ nhiên đứng đầu thiên-hạ về việc dùng dụng cụ đánh cá làm vũ khí... Cho nên thái sư phụ của ta mới chế ra Thiên-la thập bát thức. Thiên-la là lưới nhà trời, ở đây vũ khí là cái chài.
Bà lấy cái chài ra trao cho Thủ-Độ:
- Cái chài có nhiều mắt lưới, nhỏ, to, rộng hẹp tùy theo loại. Chài đan theo hình cái nơm, gồm tám múi. Mỗi múi ngăn cách với nhau bằng một sợi giây lớn gọi là cương. Một đầu tám sợi giây buộc chặt vào một sợi giây cái, rất lớn, dài từ một tới ba trượng. Một đầu được buộc vào một sợi giây cương nữa. Sợi giây này hình tròn. Trong tám múi, mỗi múi móc tám viên chì hình trám. Tổng cộng 64 viên chì mang tên 64 quẻ Tiên-thiên. Khi đánh cá, ngư phủ cầm chài vung ra, tỏa thành hình tròn bát quái, úp xuống nước. Trong phạm vi vòng tròn, bao nhiêu tôm cá bị úp vào trong. Ngư phủ cầm sợi giây kéo lên thuyền, gỡ tôm cá ra.
Giảng xong, Bạch-Hạc cầm cái chài đến bờ ao. Bà vung tay lên, cái chài xòe ra, chụp xuống mặt nước đến rào một tiếng. Chờ cho chài chìm xuống nước, Bạch-Hạc cầm sợi giây cái kéo lên. Trong chài, hàng chục con cá lớn nhỏ mắc vào. Thủ-Độ reo lên, nó gỡ những con cá ném xuống ao. Bạch-Hạc nghĩ thầm:
- Đứa nhỏ này có bản tính hiền hậu đây.
Bà giảng:
- Cương la thập bát thức như tên mang, có 18 thức. Mỗi thức biến hóa ra âm dương, thành 36. Khi xử dụng thì âm là hư, dương là thực, biến hóa ra 36.
Bà ngừng lại:
- Còn như con, con luyện được cả nội công dương cương lẫn âm nhu, thì con có thể xử dụng chiêu âm thành thực, chiêu dương thành hư. Cũng có thể cả âm, lẫn dương đều hư, đều thực. Thế là 36 thành 216. Đối thủ không biết đâu mà lường. Nhưng Âm dương chia ra Thái-âm, Thiếu-âm, Khuyết-âm. Dương chia ra Thái-dương, Thiếu-dương, Dương-minh, bây giờ 216 thành 1296 chiêu. Mỗi hư, thực lại biến theo 64 quẻ thành 82.944 chiêu. Uy lực vô song.
Thủ-Độ cầm cái chài, vận khí, tay vung lên, chân bước theo 64 quẻ Bát-quái. Khoảng hai giờ (4 giờ ngày nay) nó đã thành thuộc 18 thức căn bản.
Trời đã về chiều, Bạch-Hạc dặn nó:
- Trở về, con tìm chỗ vắng, tiếp tục luyện tập. Mai lại ra đây, ta sẽ kiểm lại, rồi dạy tiếp.
Thủ-Độ từ biệt ông bà Phòng-Phong, trở về Đông-cung. Trên đường đi, qua chợ, trước cửa hàng bán đồ chơi cho trẻ con. Một thiếu niên ngang tuổi với nó nắm áo nó kéo lại :
- Này, đằng í có tiền, mua ít đồ chơi đi.
Tò mò nó dừng chân bước vào trong. Đứa trẻ bán hàng chỉ cho nó những đồ bằng đất nung như voi, trâu, ngựa, chó, mèo, cọp. Nó lắc đầu. Thằng bán hàng lại chỉ cho nó xem mấy cái mặt nạ : Mặt nạ khỉ, mặt nạ trâu, mặt nạ lợn, mặt lạ chó, mặt nạ quỷ Vô-thường, mặt nạ quỷ đầu trâu, mặt nạ quỷ mặt ngựa, mặt nạ ma đói. Chợt động tâm tư, nó nghĩ :
- Ta mua mấy cái mặt nạ này, đợi đêm tối, nhát bọn Gia-thụy ngũ anh cho chúng sợ té đái, vãi phân ra.
Nó mua một cái mặt quỷ Vô-thường, quỷ đầu trâu, quỷ mặt ngựa rồi trở về Hoàng-thành.
Nó nghĩ thầm:
- Bây giờ võ công ta cao, ta lại khôn ngoan hơn xưa. Trước hết ta phải dò thám trong Hoàng-thành, để tìm ra kẻ đã sát hại mẹ ta, rồi giết cả nhà nó đến con chó, con mèo cũng không tha. Nếu như ta không tìm ra thủ phạm, bấy giờ ta mới đem lời trối trăn của mẹ ta nói với ông bà nội, bác Lý, cô Ngân, để các người giúp ta tìm kiếm...
Nghĩ đến bọn Long-Sảm, nó nghiến răng:
- Còn bọn Long-Sảm, ta không thể cho chúng chết dễ dàng. Ta phải làm cho nó đau đớn tinh thần, thể xác, chết không xong, mà sống cũng không nổi. Cái bọn Gia-thụy ngũ anh, ta làm cho nó tàn sát lẫn nhau, làm cho giang sơn của họ Lý nát ra như tương, rồi giết tuyệt giòng họ Lý, mới hả cái giận này!
Thủ-Độ về tới Đông-cung, không thấy bọn Gia-thụy ngũ anh, nó dò hỏi, thì được biết bọn này vào Hoàng-thành chầu hầu Hoàng-hậu theo định kỳ hàng tháng. Nó ăn cơm xong, thì Cao Giới tới khóa chân nó, rồi lên ngựa ra đi. Chỉ chờ có thế, nó lấy chìa khóa mở xích chân, mang chài ra luyện Cương la thập bát thức. Luyện đi, luyện lại năm lần thành thuộc, nó cất chài vào một chỗ kín.
Ý tưởng điều tra kẻ sát hại mẹ lại lởn vởn trong tâm:
- Ta phải dò la cung An-toàn xem, biết đâu chẳng tìm ra ánh sáng ?
Nghĩ vậy, Thủ-Độ mang rơm cuộn lại thành bó như hình người, đặt vào chỗ nó vẫn nằm ngủ, lấy chăn phủ lên. Như vậy nếu có ai kiểm soát, vẫn tưởng nó ngủ. Nó lén lên phòng viên thái giám gia Đỗ Viện, lấy trộm bộ quần áo mặc vào. Nó lại lấy cái mặt nạ quỷ Vô-thường, dùng mực bôi đen nửa mặt bên trái, lấy son bôi đỏ nữa mặt bên phải, lấy vôi bôi trắng cổ, trán. Nó đeo thử. Nhìn vào gương, nó thấy mình ba phần giống người, bẩy phần giống quỷ. Nó bật cười, rồi hướng Hoàng-thành, dùng khinh công phóng tới. Nó biết tại góc Đông thành, không có thị vệ gác, nó hít một hơi, rồi tung mình nhảy qua tường, đáp vào trong nhẹ nhàng. Nó nhắm cung An-toàn là nơi Hoàng-hậu ở dò dẫm tới.
Bên ngoài cung, có một thị vệ đứng gác. Nó len lén đến phía sau y. Thình lình y quay lại, thấy nó. Y tưởng là quỷ, kinh hoảng y ngất xỉu. Thủ-Độ phóng chỉ điểm vào huyệt Á-môn của y. Nó dấu y vào bụi hoa, rồi tung mình nhảy lên nóc cung. Nó vận âm kình dùng ngón tay sẽ chọc một lỗ, ghé mắt nhìn xuống : Bên trong, Đàm hoàng hậu ngồi trên một cái ngai, chạm hai con phụng. Bà im lặng đọc sách. Cạnh bà, Gia-thụy ngũ anh ngồi trên năm cái ghế.
Có tiếng trong trẻo của ai đó nói :
- Trung-thu sang năm, Hoàng-thượng mở cuộc thí võ. Ai trúng tuyển sẽ được bổ nhiệm làm quan võ, thay cho bọn tướng sĩ già nua. Như vậy, mai này Sảm nhi lên ngôi, sẽ có nhiều thiếu niên anh tài phò tá.
Thủ-Độ hướng mắt theo tiếng nói, thì thấy một đạo cô ngồi trên chiếc sập sơn son thiếp vàng. Bất giác nó cau mặt nghĩ :
- Người này là ai, mà đẹp đến thế kia ? Bà ta đẹp không kém gì mẹ ta, hơn cả Đàm hoàng hậu. Có lẽ chỉ thua có chị Kim-Dung con bác Lý mà thôi !
Chợt nó nhớ lại: Hồi mới vào ở trung cung của bà ngoại nó, nó có gặp đạo cô này một lần. Cung nga Thụy-Nga giảng cho nó biết rằng, đạo cô này có tên Nam-thiên huyền quân. Bà là sư phụ của nhà vua với hoàng-hậu. Nhà vua đã lấy cung Ngọc-lan của Tuyên-phi thời vua Nhân-tông, sửa thành am cho bà tu luyện. Trong am Ngọc-lan, nhà vua cung cấp cho bà đầy đủ cung nga, thái giám như một thái-hậu. Các võ quan cầm binh quyền hiện thời như Đoàn Văn, Nguyễn Nộn, Phạm Bỉnh-Di, Quách Bốc đều là đệ tử của bà. Uy tín bà cực lớn, bất cứ hoàng thân, quốc thích, đại thần nào thấy bà cũng phải rạp người xuống.
Đạo-cô hỏi Hoàng-hậu :
- Chiếu chỉ dự tuyển bao nhiêu người ? Thể thức ra sao ?
- Tâu mẫu hậu, chiếu chỉ định rõ như sau. Các sĩ tử trong nước chia làm hai loại . Một là loại dân dã. Hai là con cháu trong Hoàng tộc, Ngoại-thích, con các quan. Trước hết là loại dành cho dân gian. Các trấn, các phủ các huyện tổ chức sơ tuyển. Môn thi gồm cả văn lẫn võ. Sau đó tất cả thí sinh phải về Thăng-long thi hội. Thi hội do Binh-bộ đảm trách, lấy trúng tuyển 72 dũng sĩ. Còn thí sinh trong Hoàng-tộc thì do quan Tổng-lĩnh thị vệ Đoàn Văn tuyển chọn, rồi cho thi hội, cũng tuyển 72 dũng sĩ. Đến ngày rằm tháng tám, thì tatá cả 144 dũng-sĩ cùng vào thi đình thí. Đình thí sẽ do Hoàng-thượng đích thân chấm, cùng với ba giám khảo là Kiến-khang vương, Kiến-bình vương, Đại-đô đốc Phùng Tá-Chu. Trong 144 dũng sĩ, sẽ lấy 36 Tiến-sĩ dân gian, 36 Tiến-sĩ Hoàng-tộc. Cuối cùng trong 36 Tiến-sĩ đó sẽ lấy ba người đỗ Trạng-nguyên, Bảng-nhãn, Thám-hoa dân gian, và ba Trạng-nguyên, Bảng-nhãn, Thám-hoa Hoàng-tộc.
Đạo-cô đưa mắt nhìn bọn Long-Sảm :
- Trước đây ta để cho đệ tử của ta là Phạm Bỉnh-Di, Quách Bốc dạy các cháu, thành ra Trung-thu năm trước, Sảm nhi mới bị tên giặc non làm nhục. Sau đó các cháu đánh nó bị trọng thương, làm hỏng việc của ta. Ý ta muốn lưu nó trong cung, làm nó nhục nhã, ê chề, sống không nổi chết không xong. Thế nhưng các cháu lại đánh nó quá tay, đến nỗi nó chết đi sống lại. Bây giờ nó ra sao ?
Thủ-Độ giật mình:
- Thì ra họ đang nói chuyện mình!
Nó quy tức, lắng tai nghe, tự hỏi:
- Mụ này là một đạo cô, mà giọng nói hách dịch như thái hậu vậy? Có gì bí ẩn không?
Nguyễn Dư thuật lại những phương cách chúng đã hành hạ Thủ-Độ một lượt. Đạo-cô cau mày :
- Ta ra lệnh cho các cháu làm nhục nó mà các cháu đánh đến nỗi nó bị nội thương. Ta nghe tên Vũ Phòng-Phong chữa bệnh cho nó nói rằng chỉ nội trong tháng này nó sẽ chết. Hà... như vậy thì sao có thể dụ bố nó về nước để ta xử lăng trì về tội vi chỉ ?
Long-Sảm xua tay :
- Tâu tổ mẫu, hài nhi thấy dường như nó khỏi bệnh rồi, vì khi đi, lúc gánh phân, nó không tỏ ra đau đớn gì cả!
Thủ-Độ cau mặt suy nghĩ:
- Tại sao Long-Sảm lại gọi đạo cô là tổ mẫu? Người mà Long-Sảm phải gọi là tổ mẫu chỉ có Chiêu-Linh thái hậu mẹ đẻ ra Thái-tử Long-Xưởng và Chiêu-Thiên thái hậu, mẹ đẻ nhà vua. Cả hai bà đều băng hà rồi! Đạo-cô này là ai?
Đạo-cô lên tiếng:
- Có thực thế không? Một người bị đánh dập lá lách, dập gan, nghẽn tâm mạch mà khỏi được sao? Thôi cũng được! Bây giờ ta có chỉ dụ cho năm cháu!
Cả Gia-thụy ngũ anh đều ngồi ngay ngắn lại:
- Bọn thần nhi xin kính cẩn nghe chỉ dụ của tổ mẫu!
- Từ hôm mấy cháu bị nó đánh bại ở quán Bích-động đến giờ, các cháu có thấy nó luyện võ công không?
- Không!
- À được đấy! Như vậy bản lĩnh của nó cho đến rằm tháng tám sang năm cũng không thay đổi. Trong khi đó, suốt mấy tháng qua, ta âm thầm luyện võ cho các cháu. Vậy các cháu phải luyện ngày, luyện đêm, sao cho đến rằm tháng tám sang năm, ba cháu Bỉnh-Du, Nguyễn Dư, Đoàn Thượng phải đoạt giải trạng nguyên, bảng nhãn, thám hoa. Còn Long-Sảm, ta sẽ cho tái đấu với thằng giặc non đó. Cháu phải thắng nó, làm cho nó nhục nhã trên đài, đánh cho nó thành tàn tật. Như vậy, dù nín nhịn đến đâu, bố nó cũng phải về nước, cũng phải xuất hiện. Bấy giờ ta sẽ xử lăng trì y... Hôm nay, ta dạy các cháu luyện bộ Hoa-sơn chưởng pháp.
Nói dứt bà ta giảng yếu quyết, cách vận công, cách biến hóa. Sau đó bà từ từ diễn từng chiêu một. Bọn Gia-thụy ngũ anh cũng luyện theo bà ta. Luyện một lúc, đã thuần thục, bà ta ra lệnh:
- Bây giờ các cháu bắt đầu vận khí phát chiêu. Trước hết là chiêu Thương-tùng nghênh khách.
Cả Gia-thụy ngũ anh cùng phát chiêu. Nhưng chân khí không ra. Đạo-cô bực mình:
- Ta đã giảng, khi phát chiêu đầu thì khí trầm đơn điền, rồi đưa xuống hạ tiêu, thì lực mới ra. Làm lại!
Năm đứa hít hơi, vận khí. Nhưng lực cũng không ra. Đạo-cô không tỏ ra bực mình:
- Các cháu phải biết rằng, đây là bộ chưởng vô thượng của Trung-nguyên. Không phải ai cũng luyện thành. Khi thành rồi, thì trở thành anh hùng vô địch.
Năm trẻ lại vận khí, nhưng lực vẫn không ra. Chúng phải luyện đến hơn hai khắc sau, chưởng mới có gió. Đạo-cô an ủi:
- Nếu bộ chưởng này dễ luyện, thì ai cũng thành vô địch cả sao? Phàm đệ tử học chưởng này, chia làm hai bậc. Bậc một chỉ học chiêu số, phát lực thôi. Sau khi các cháu luyện thành rồi, ta mới giảng Dịch-lý áp dụng, cùng biến hóa Cửu-cung trong Vô-trung kinh, đấy mới là cái ảo diệu. Bây giờ các cháu trở về tự luyện. Trong ba ngày nữa, các cháu vào đây để ta kiểm lại.
Bà ta hỏi Đoàn Thượng:
- Phụ thân cháu đã tìm ra ngôi mộ đó chưa?
- Thưa, rồi!
- Ở đâu?
- Ở Mê-linh, trong khu mộ dành cho liệt tổ phái Mê-linh.
Người đàn bà áo vàng đập tay xuống sập, hỏi Đàm hoàng hậu:
- Sao? Sao? Sao lại chôn ở đó?
Mặt Đàm hoàng hậu tái xanh, bà nói bằng giọng run run, tỏ ra cực kỳ sợ hãi:
- Hồi ấy, Hoàng-thượng ban chỉ đem về Cổ-pháp chôn vào khu vực dành cho con cháu trong hoàng tộc. Song Thái-phi Bùi Chiêu-Dương xin đem về quê ấp phong của thị ở Côi-sơn chôn. Thần nhi ban mật chỉ cho bọn thái-giám Phạm Bố, Đỗ Quảng đem một cỗ quan tài giả, trong chỉ có khúc gỗ, đưa về chôn ở Côi-sơn. Còn quan tài thực, thì đem quẳng xuống sông Hồng. Không ngờ hai hôm sau quan tài nổi lên, trôi vào bãi sông đền thờ vua Trưng. Một số đệ tử Mê-linh thấy quan tài lạ dạt ở bãi Đồng-nhân, thì cho rằng thi thể người trong quan tài được vua Trưng phù hộ, vì vậy, họ đem về Mê-linh chôn.
Nghe đối đáp, Thủ-Độ kinh hoàng, vì nó biết rằng người ta đang nói đến việc chôn cất mẹ nó. Hồi ấy nó còn nhỏ, mẹ nó bị giết, rồi đem chôn cất vội vàng. Tuy nhiên nó cũng được theo linh cữu về Côi-sơn. Sau Bùi thái phi cho nó biết linh cữu đó là linh cữu giả. Còn linh cữu thực, thì Đàm hậu đem quẳng xuống sông... rồi nổi lên ở đền thờ vua Trưng. Rồi phái Mê-linh đem về tổng đường của phái này ở núi vua Bà chôn vào một nơi bí mật. Họ lại làm một mộ giả, để đánh lừa kẻ thù. Nó nghĩ thầm:
- Người đàn bà mặc áo vàng là ai? Võ công bà ta đến trình độ nào, mà lại miệt thị bọn Phạm Bỉnh-Di ? Tại sao bọn Gia-thụy gọi là Thái-hậu? Tại sao Đàm hậu tỏ ra sợ hãi bà ấy như vậy? Cho đến nay, cái chết của mẹ ta chưa hé lộ một chút ánh sáng! Mẹ ta tuân chỉ của nhà vua, về để xây dựng lại kỷ cương Xã-tắc, rồi bị giết, có thù oán gì với Đàm hậu, mà bà lại quẳng linh cữu xuống sông?
Đao-cô hất hàm ra lệnh cho Đàm hoàng hậu:
- Ta tính số Tử-vi của thằng giặc non thì thấy cung phúc của nó đóng tại Tuất, có Thái-âm tọa thủ. Như vậy, nó được hưởng phúc ngôi mộ của mẹ nó. Ngôi mộ mẹ nó chắc là kết phát tốt lắm, nên các người đánh nó như vậy, mà nó vẫn sống nhăn. Bây giờ thế này: Người ban chỉ cho Đàm Dĩ-Mông mật sai người đi Mê-linh, đào mả mụ ấy lên, bỏ vào đó một con chó đen chết. Như vậy thì thằng giặc non không thể chết, nhưng đời đời, nó là một tên tàn tật, làm tôi tớ mà thôi.
Bà ta nghiến răng:
- Phải làm ngay, mả mẹ nó bị động, thì trong cuộc đấu võ ngày tết Trung-thu sắp tới, Long-Sảm mới thắng nó.
Đàm hoàng hậu líu ríu :
- Thần nhi kính cẩn tuân chỉ của mẫu hậu !
Đến đấy, đạo cô đứng lên. Đàm hậu cùng Gia-thụy ngũ anh rạp người xuống tiễn đưa. Đạo-cô vẫy tay :
- Miễn lễ !
Rồi mụ ra khỏi cung An-toàn. Thấp thoáng một cái, mụ đã biến vào trong bóng đêm. Thủ-Độ nhảy xuống vườn, rồi dùng khinh công theo mụ bén gót. Tới am Ngọc-lan, nó ẩn vào sau bụi mẫu đơn nghe ngóng. Không thấy có thị vệ canh phòng bên ngoài, nó tung mình lại bên cửa sổ, dùng ngón tay chọc thủng giấy, ghé mắt nhìn vào, bất giác nó rùng mình: Đạo-cô trần truồng. Bà ta đang nằm gọn trong tay một người đàn ông cũng trần truồng. Người đàn ông đó chính là quan Tổng-lĩnh thị vệ Đoàn Văn.
Thủ-Độ tự hỏi:
- Cứ như ta biết, thì Đoàn Văn là em sữa của nhà vua. Nhờ nuôi sữa nhà vua hồi trước, mà mẹ của Văn hiện được phong tới nhất phẩm phu nhân. Lúc Văn mới mười lăm tuổi được tuyển làm trưởng toán thị vệ canh giữ Hoàng-thành. Dần dần, Văn được cất nhắc lên chức Tổng-lĩnh thị vệ. Gần đây vợ của Đoàn Văn lại nuôi sữa Long-Sảm. Thành ra Đoàn Thượng với Sảm lại thành anh em sữa. Văn với Phạm Bỉnh-Di, Quách Bốc đều là đệ tử của Nam-thiên huyền-quân đạo cô. Thế sao y với đạo cô lại ???
Thủ-Độ tuy thông minh, lại trải qua những nhục nhằn, những nguy nan, nên nó đã khôn ngoan như một người trưởng thành. Thế nhưng, chuyện trai gái thì nó không biết một chút gì! Nó nghĩ thầm:
- Không biết đạo cô với Đoàn Văn đang luyện tâm pháp thượng thừa gì ? Đoàn Văn là đệ tử của đạo cô, chắc đạo cô trực tiếp truyền chân khí cho đệ tử giống như khi xưa Bồ-tát Sùng-Phạm đã truyền cho phò mã Thân Thiệu-Thái đây.
Thấy trời về khuya, nó dùng khinh công trở về Đông-cung. Chợt nhớ đến bộ chưởng Hoa-sơn, mà đạo cô nói rằng đó là bộ chưởng trấn môn của phái này ; bây giờ bà ta đem dạy Gia-thụy ngũ anh. Nó vận khí, rồi luyện thử. Không khó khăn, nó chỉ hai lần thì thành công. Nó nghĩ thầm :
- Trước đây ta nghe bố mẹ ta thường bàn rằng: Bộ Hoa-sơn chưởng này uy vũ thực không tầm thường, chính nó làm cho phái Hoa-sơn lừng danh Trung-nguyên ! Nếu so sánh với bộ Phục-ngưu thần chưởng của phái Tản-viên, Mục-ngưu thiền chưởng của Bố-Đại hòa thượng, Đông-A chưởng pháp của phái Đông-A, thì bên tám lạng, bên nửa cân. Nó chỉ thua bộ Tán-lạc hồn chưởng của công chúa Bảo-Hòa mà thôi. Đã vậy ta luyện thực kỹ, khi cần ta xử dụng để không ai nhận ra chân tướng của ta. Đạo cô nói rằng khi phát chiêu rồi, mà vận khí, biến hóa theo Cửu-cung bát quái, đó mới thực là cái ảo diệu. Hồi chiều ta đã được cô Bạch-Hạc dạy Thiên-la thập bát thức, biến hóa theo Dịch-lý. Bây giờ ta đem ra luyện Hoa-sơn chưởng thử xem, biết đâu chẳng thành công ?
Chân nó bước theo Hậu-thiên bát quái, tay phát chiêu. Chỉ chiêu đầu, nó thấy chân khí ào ào tuôn ra mạnh vô cùng. Nó luyện thêm mười lần nữa rồi mới chui vào chuồng ngựa nằm ngủ. Nó nghĩ:
- Nhất định đạo cô Nam-thiên với Đàm hậu có liên hệ tới cái chết của mẹ ta. Ta phải theo dõi để truy lùng ra thủ phạm. Ngày mai, ta ra đền thờ vua Trưng cáo sự này với phái Mê-linh . Họ sẽ báo cho Nghi-Phương sư thái biết, để bà sai đệ tử rình ở mộ giả của mẹ ta mà bắt kẻ thù. Một mặt ta phải điều tra cho ra bằng này điều : Đạo-cô là ai, mà Long-Sảm lại gọi là Thái-hậu ? Tại sao mụ lại thù hận mẹ ta ? Có phải mụ ám toán mẹ tay hay không ? Long-Sảm, Long-Thẩm với ta vốn có tình cốt nhục, tại sao chúng lại ác độc với ta đến cùng cực ? Tại sao Đàm hậu lại quăng linh cữu mẹ ta xuống sông Hồng ?
Lát sau có tiếng xe ngựa lọc cọc chạy vào sân. Nó biết bọn Gia-thụy ngũ anh đã trở về. Rồi có tiếng bát, đĩa từ Ngự-thiện đường vọng lại. Nó biết bọn này mới luyện võ, bụng đói, chúng sai cung nga dâng đồ ăn khuya. Chính nó cũng cảm thấy đói. Nó núp ngoài cửa sổ nhìn vào: Cung nga bưng xôi đậu xanh với chim sẻ quay lên, bầy ra bàn. Tính tinh nghịch nổi dậy, nó nhặt ba viên sỏi, vận âm kình bắn vào ba con chó đang nằm ở giữa sân. Ba con chó đau quá, tru lên rồi kêu oăng oẳng. Gia-thụy ngũ anh cùng đứng dậy, tung cửa chạy ra sân. Chỉ chờ có thế, nó nhảy vào trong cửa sổ, trút năm đĩa chim sẻ quay, hai đĩa xôi lớn vào cái khăn quàng cổ, rồi tung mình ra ngoài.
Bọn Gia-thụy ngũ-anh xem xét ba con chó, không thấy có gì lạ, chúng ngơ ngác nhìn nhau. Đoàn Thượng hỏi Cao Kinh:
- Tại sao, tự nhiên chúng lại tru lên như bị ai đánh vậy?
- Thưa công tử, nếu ba con chó bị đánh thì ai đánh? Nếu ai đó đánh chúng nó, thì tiểu nhân e y chưa vào đến nơi, chúng nó đã sủa ầm lên rồi!
Một cung nga chỉ ba con chó:
- Khải Thái-tử, gần đây thần thấy ba con chó này hay sủa trăng. Có lẽ chúng có linh tính, thấy ma thì sủa lên, đuổi ma đi. Vì vậy, hôm nay trời tối, ma thù hận đánh chúng chăng?
Gia-thụy ngũ-anh nhìn nhau tỏ vẻ sợ sệt. Cao Giới trấn an:
- Xin Thái-tử yên tâm. Ngày mai thần sẽ thỉnh thầy phù thủy cao tay nhất Thăng-long vào đây, để ông ta xem. Nếu là ma, ông ấy sẽ bắt bỏ vào hũ, giam dưới giòng sông Hồng, là mọi chuyện sẽ êm ngay.
Gia-thụy ngũ anh trở vào Ngự-thiện đường, thấy xôi, chim sẻ biến mất; cả năm cùng mở to mắt ra nhìn nhau đầy kinh ngạc. Long-Sảm hỏi cung nga hầu bàn:
- Người có đem chim sẻ, xôi xuống bếp hấp lại không?
- Khải không! Hay mèo vào ăn vụng?
- Trong Đông-cung này làm gì có mèo, mà bảo mèo ăn vụng? Vả mèo nào mà thoáng một cái đã ăn hết hai chục con sẻ quay với hai đĩa xôi lớn?
Nguyễn Dư thêm vào:
- Nếu mèo ăn vụng, thì trên bàn phải có vết chân chứ? Có lẽ là ma! Thần nghe lão thái-giám Đỗ Viện kể rằng trong Đông-cung này có nhiều ma lắm
- Gọi Đỗ Viện lên đây!
Long-Sảm tuyên chỉ: Ta... Ta ở đây đã hơn năm, mà sao không biết gì?
Thái giám Đỗ Viện, dáng người mệt mỏi, nước da trắng bệch, bụng to như cái trống hành lễ:
- Thần chờ chỉ dụ của điện hạ.
Long-Sảm chỉ cái ghế:
- Người ngồi đó đi, rồi thuật cho ta biết trong Đông-cung này có bao nhiêu con ma?
Đỗ Viện ngước con mắt lờ đờ nhìn vào quãng không, y hắng rặng một tiếng, rồi thở dài:
- Điện-hạ hiện là trừ quân, mai này sẽ lên ngôi Cửu-ngũ, thì xung quanh lúc nào cũng có chư thần theo phò trợ. Những ma vặt, ma có tội bị xử tử, không thể vào Đông-cung này mà quấy nhiễu được. Còn như ma mà có thể vào đây, ắt chúng là ma mà chư thần không thể cản trở nổi. Những ma ấy, thì một là chúng bị oan khuất quá đáng, hai là chúng thuộc loại mệnh lớn, đến nỗi chư thần phải chịu thua chúng. Loại này e không thầy phù thủy nào có thể yểm hay bắt chúng... Trong Đông-cung, có cả ma oan khuất, lẫn ma mệnh lớn.
Long-Sảm phát run:
- Người có biết tên chúng không?
- Khải, thần biết.
Nói rồi lão khoan thai kể:
" - Đông-cung được kiến tạo từ niên hiệu Thuận-thiên thứ nhất đời đức Thái-tổ nhà ta (1010). Đức Thái-tông là người ở đây đầu tiên. Trong thời kỳ này, có hai người trong Đông-cung bị giết. Người thứ nhất là Đinh phi bị Ưng-sơn song hiệp chặt đầu. Người thứ nhì là quận chúa Hồng-Phúc bị tiên cô Bảo-Hòa xử tử. Thời đức Thánh-tông, Thần-tông, Minh-Đạo vương cư ngụ, không có ai chết. Tới khi Thái-tử Long-Xưởng ở thì có nhiều người chết lắm. Trước hết, lúc Thái-tử Long-Xưởng dẹp triều đình gà mái gáy rồi, thì nào cung nga, nào thái giám do Cảm-Thánh thái hậu đem vào, bị giết trước sau hơn năm chục người. Kế tiếp, Nghi-Tàm song ma bị công chúa Đoan-Nghi giết. Trong cuộc khởi loạn của bọn tế tác Tống, có bốn cung nga, bốn thái giám bị giết... Những con ma này, hoặc là bị xử tử đáng tội, hai là thân phận nhỏ bé. Chúng không thể hiện ra nhát điện hạ được".
Long-Sảm đã bắt đầu sợ:
- Thế... Sao nó vừa mới đánh chó, lại ăn hết hai chục con chim sẻ quay, hai đĩa xôi lớn?
- Khải điện hạ, khi ma có thể vào đây mà chư thần không cản nổi, chúng lại có thể hiện ra đánh chó, ăn chim, ăn xôi...thì chúng thành quỷ rồi. Hà! Loại quỷ này thần biết chúng là ai rồi!
Gia-thụy ngũ anh đều phát run, hàm răng đánh vào nhau kêu lộp cộp.
- Khi Hoàng-thượng lên ngôi, thì Thái-tử Long-Xưởng bị đuổi khỏi Đông-cung. Về sau người cùng vương phi, sáu con với mấy trăm gia tướng, cung nga, thái giám bị giết chết trong trường hợp ám muội, oan hồn phiêu phưởng không nơi nương tựa, cũng chẳng có người hương khói. Những hồn oan đó sẽ ở đâu? Nương tựa vào đâu? Dĩ nhiên họ trở về chỗ ở cũ là Đông-cung. Trong Đông-cung này, có ít nhất cả trăm quỷ! Nhất là gần đây...
Long-Thẩm run lẩy bẩy:
- Gần đây gì nữa?
- Gần đây công chúa Đoan-Nghi bị ám hại. Con trai bị hành hạ, đầy ải ở đây, dĩ niên oan hồn của người luôn luôn theo bên con trai để phò hộ. Khi sống, công chúa lập không biết bao nhiêu công lao vối Xã-tắc. Hoàng-thượng bị nguy hiểm đến tính mệnh hơn ba lần, đều do công chúa cứu cả. Võ công của người cực kỳ cao thâm. Hỏi khi hồn người vào Đông-cung thì thần nào dám cản?
Nguyễn Dư nói cứng:
- Thôi thì đêm nay điện hạ với bọn thần cùng ngủ tại đây. Bên ngoài có anh em Cao Kinh, Cao Giới canh phòng. Ngay mai chúng ta cáo với Nam-thiên huyền-quân tiên tử, người sẽ ra tay bắt quỷ, trừ ma.
Tên thái giám Đỗ Viện cáo từ, rời Ngự-thiện đường, lui ra. Gia-thụy ngũ anh gọi Cao Kinh, Cao Giới truyền chúng canh phía ngoài, rồi cùng nằm dài trên bàn ăn mà ngủ.
Qua biến cố vừa rồi, trong lòng Thủ-Độ nảy ra một ý tưởng :
- Ừ nhỉ ! Tại sao ta không nhân vụ này, giả làm oan hồn Thái-tử Long-Xưởng, gây kinh hoàng trong nội cung may ra tìm được manh mối kẻ hại mẹ ta.
Thủ-Độ rời bụi mẫu đơn, trở về chuồng ngựa. Nó mang chim sẻ, xôi ra ăn. Bất giác nó ngẩn người ra, vì hai mươi con chim sẻ quay, biến đâu mất mười lăm con. Hai đĩa xôi lớn, chỉ còn nửa đĩa. Nó nhớ rõ ràng nó trút cả năm đĩa chim sẻ quay, mỗi đĩa bốn con, với hai đĩa xôi lớn. Chim sẻ, xôi nó gói vào cái khăn, bọc kín lại, đeo trên lưng. Không thể có việc chó, mèo ăn vụng. Vì nếu chúng ăn vụng sao cái khăn vẫn cột chặt trên lưng nó ? Nó cầm một con chim sẻ ăn, thì thấy có mảnh giấy. Nó đánh lửa lên xem, bất giác gai ốc nó nổi lên khắp người, vì trên mảnh giấy có chữ viết :
« Đêm khuya đói quá, xin mượn một đĩa rưỡi xôi, với mười lăm con sẻ quay. Hứa sẽ trả cả vốn lẫn lời ».
Nó run run nghĩ :
- Với nội công của ta, dù con mèo, con chuột đến gần trong một trượng, ta cũng biết. Thế mà người này lấy chim sẻ, xôi trên lưng ta, mà ta không biết, thì nội công của y phải kinh thế hãi tục lắm... Chắc người này chỉ muốn đùa cợt ta, chứ nếu y giết ta, thì ta đã chết rồi.
Hôm sau, Thủ-Độ lại ra Hồng-lĩnh đệ nhị y viện học Thiên-la thập bát thức. Bạch-Hạc bắt nó diễn lại từng chiêu một, rồi lại bắt nó biến chiêu theo lệnh của mình. Cứ như vậy, sau mười ngày, thì nó đã có thể tòng tâm xử dụng, khi phát hư chiêu, khi phát thực chiêu, khi vận âm kình, khi vận dương kình, cũng có khi vận cả âm-dương một lúc.
Sáng hôm ấy, Cao Kinh đến chuồng ngựa đánh thức nó dậy, mở khóa chân cho nó, rồi nói:
- Mi hãy đi tắm rửa sạch sẽ, rồi lên Ngự-thư phòng yết kiến Thái-tử.
Tắm rửa xong Thủ-Độ cười thầm:
- Im xem chúng định làm gì ta đây? Đêm nay, ta phải dọa cho chúng sợ đến té đái vãi phân ra mới được.
Khi bước vào Ngự-thư-phòng, nó giật bắn người lên, vì bên trong, ngoài Gia-thụy ngũ anh, còn có Đoàn Văn, Nguyễn Nộn, Phạm Bỉnh-Di. Nó vội hành lễ. Hoàng hậu ban chỉ:
- Ta thấy người đã lớn. Luật cung đình cấm con trai hơn mười tuổi ở trong Hoàng-thành, nếu không phải là người hoàng tộc. Vậy ta đưa người vào cung An-toàn phục thị ta. Muốn phục thị ta thì người phải thành thái giám. Mấy hôm nữa, ta sẽ cho người tĩnh thân. Người có bằng lòng tĩnh thân không ?
Thủ-Độ biết rằng tĩnh thân nghĩa là người ta thiến mình. Nó giả bộ ngây thơ :
- Tâu Hoàng-hậu tĩnh thân nghĩa là gì ?
- Nghĩa là thiến ! Người biết thiến là gì rồi mà !
- Thần không muốn thành thái giám.
- Thế thì người cứ phải ở trong chuồng ngựa Đông-cung suốt đời ! Thôi được, người không muốn là thái giám thì thôi.
Thủ-Độ nghĩ thầm :
- Nghĩ đời mà chán cho đời ! Xưa kia bố con mụ này là Đàm Thì-Phụng chỉ là một tên đô thống, ra luồn vào cúi trong phủ cha mẹ ta. Ấy vậy mà bây giờ con nó thành vợ của cậu ta. Nhân mẹ ta chết, cha ta ở xa, nó với các con nó hành hạ ta đến sống không nổi, chết không xong. Bây giờ nó lại muốn thiến ta, biến ta thành tên thái giám hầu hạ nó cả đời ! Nếu trời cho Thủ-Độ này thuất khỏi cơn bĩ cực, nguyện sẽ tru diệt toàn thể ba họ nhà họ Đàm chúng bay. Bây giờ ta lại giả lên cơn cho chúng không nghi ngờ.
Nghĩ vậy nó làm bộ ngã lăn ra, tồi chân tay run rẩy, hàm răng nghiến và nhau. Đoàn Văn túm áo nó ném vào góc tường.
Có tiếng thái giám hô :
- Nam-thiên tiên tử giá lâm !
Trên từ Hoàng-hậu, cho tới Gia-thụy ngũ anh, cùng bọn tướng sĩ đều quỳ gối cúi đầu :
- Bái kiến tiên tử.
Đạo-cô Nam-thiên vẫy tay :
- Các người bình thân !
Bà hỏi Đoàn Văn:
- Cái tên thị vệ canh gác An-toàn cung đã khai gì với người ?
Đoàn Văn khúm núm :
- Tâu Tiên-tử y khai rằng, trong lúc y canh gác, thình lình một con quỷ nửa mặt đen, nửa mặt đỏ. Trán, cổ trắng nhát y, hớp hồn y sáng nay y mới tỉnh !
- Lạ thực !
Đạo cô cau mày : Từ xưa đến giờ, ta chưa từng nghe nói trong Hoàng-thành có ma quỷ đâu ?
Bà hỏi Long-Sảm :
- Con thuật cho ta biết cái vụ ma trêu quỷ hờn hôm qua...như thế nào.
Long-Sảm thuật lại một lượt. Đạo-cô cười nhạt :
- Chả phải ma đâu, người đấy. Từ xưa đến giờ, ma chỉ hiện lên kêu khóc, chứ làm gì có vụ đánh chó, ăn vụng bao giờ ? Ta ngờ rằng một võ lâm cao thủ đã bắn sỏi làm cho chó đau đớn để các người chạy ra sân, rồi hắn chuồn vào Ngự-thiện đường trộm chim sẻ quay với xôi. Cao thủ này dường như chỉ muốn trêu ghẹo các người chứ không có ác ý. Bằng không thì các người bỏ mạng rồi.
Nghe đạo cô nói, Thủ-Độ nghĩ thầm :
- Mụ này thông minh thưc ! Mụ đoán ra được thủ đoạn của ta. Có điều mụ bảo ta không có ác ý là sai rồi !
Tuy được đạo cô trấn an, Long-Sảm vẫn còn sợ:
- Tâu tổ mẫu, thần nhi nghĩ, nhất định là quỷ!
- Tại sao người dám quả quyết như vậy?
Long-Sảm thuật lại tất cả những lời thái giám Đỗ Viện kể. Nhưng khi nói đến công chúa Đoan-Nghi, thì y gọi là mụ ấy. Rồi y chỉ vào mặt Thủ-Độ kết luận:
- Vì vậy, thần nhi mới định đuổi y khỏi Đông-cung, để oan hồn mụ ấy khỏi quấy nhiễu thần nhi. Mẫu hậu muốn y tĩnh thân làm thái giám, rồi đưa y vào cung An-toàn. Thế nhưng....Thế nhưng cung An-toàn cũng có quỷ. Còn y, y không chịu tĩnh thân.
Đạo-cô nhìn Thủ-Độ :
- Thằng giặc non này tuy bệnh hoạn, mà sao nó lớn mau quá. Cơ chừng cao hơn Sảm nhi một cái đầu rồi ! Giòng giống nhà nó vẫn to lớn như thế đó.
Đạo-cô suy nghĩ một lát rồi quyết định:
- Sơn ăn từng mặt, ma bắt từng người! Dù oan hồn Long-Xưởng, oan hồn mụ ấy chỉ dám quấy nhiễu cháu mà thôi. Còn đối với ta thì ngay khi còn sống, chúng cũng phải rạp đầu trước ra. Vậy ngay hôm nay, cháu để y sang cung Ngọc-lan, nếu như hồn mụ ấy hiện lên ta sẽ trị.
Bà ta chỉ Đoàn Văn, Phạm Bỉnh-Di:
- Vả hai vị tướng quân này sắp quật mả y thị, bỏ chó mực vào, thì dù y thị có là thánh, cũng hết linh. Huống hồ y thị chỉ là con ma cô độc!
Nghe đạo cô nói, mọi người cùng nhìn Thủ-Độ. Nó biết rằng đạo cô nói về mẹ mình cho mọi người quan sát, xem mình có ngẫn ngờ thực hay không ? Nó vội vàng ngửa mặt nhìn đạo cô, rồi nhe răng cười hì hì!
Đoàn Văn cũng cười theo:
- Tâu tiên tử! Đệ tử thấy y quả là một thằng khật khùng. Xin tiên tử tống nó ra ngoài thành Thăng-long cho nó lê lết ăn xin, chứ nuôi nó trong Hoàng-thành làm gì?
Đạo-cô cau mày:
- Khổ một điều là Hoàng-thượng còn nghĩ tình cha mẹ nó, muốn nuôi dưỡng nó trong cung.
Thủ-Độ lại méo miệng, cười nham nhở giống như thằng điên. Đạo-cô bảo cung nga Thụy-Nga:
- Người dẫn nó về chuồng ngựa lấy quần áo, rồi đưa vào cung Ngọc-lan. Từ nay, ta giao cho người quản chế nó. Người cho nó ăn uống tử tế, tùy theo khả năng, bắt nó làm việc.
Thụy-Nga dẫn Thủ-Độ về chuồng ngựa lấy y phục. Tài sản của nó chỉ có cái túi da, mà nó mang theo từ Mông-cổ . Tới cung Ngọc-lan, Thụy-Nga bảo nó:
- Ta nói cho cháu biết. Xưa kia, ta là người phục thị Chiêu-Linh hoàng hậu. Sau đó ta được đưa sang hầu hạ Tuyên-phi Từ Thụy-Hương, rồi Bùi thái phi. Mấy năm trước thấy tuổi ta cao, Hoàng-thượng cho ta về đây quản lý cung Ngọc-lan. Ta không rõ cháu xuất thân từ đâu? Cha mẹ là ai? Đàm hoàng hậu bảo rằng cháu là đứa trẻ mồ côi họ Đàm, chẳng may bị chứng khật khùng, hậu đem về nuôi. Ta có điều nghi ngờ, mà không dám nói!
Thủ-Độ nghĩ thầm:
- Rõ ràng hồi ở trong cung của bà ngoại ta, mụ này biết tông tích ta rồi, mà sao bây giờ mụ lại hỏi ? Như vậy mụ này dò la xem ta có khật khùng quên hết quá khứ không mà thôi ! Ta phải giả bộ cho mụ hết ngờ.
Nó mở to mắt, rồi nhe răng cười, miệng ú ớ mấy tiếng:
- Hầy hầy! Hè.
Rồi nói:
- Bố mẹ cháu ư! Sống mà! Ừ, chết mà.
Thụy-Nga tỏ ý buồn rầu, mụ xoa đầu nó, rồi dẫn nó vào một căn phòng khá xinh đẹp:
- Đây! Cháu ở đây. Khi ăn thì cháu ăn với ta. Trong cung này chỉ Nam-thiên tiên tử với ta mới có quyền sai cháu mà thôi. Ái chà! Quần áo cháu rách quá rồi, để ta may cho cháu mấy bộ khác.
Thủ-Độ lại cười hề hề, rồi méo mặt, thè lưỡi ra. Nó biết rằng đạo cô Nam-thiên, cung nga Thụy-Nga cũng như những người ở cung Ngọc-lan rất tinh tế, võ công lại cao, chứ không ngờ nghệch như bọn Gia-thụy ngũ anh. Nhất cử nhất động của nó đều bị theo dõi. Vì vậy nó càng tỏ ra khật khùng, cười nói không chừng. Khoảng hơn tháng sau, thì ai cũng tin rằng nó khật khùng thực. Không ai chú ý đến nó nữa. Nó muốn chạy chơi đâu, không ai cấm đoán nó.
Chán đời đi lang thang !
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-04-10 15:43:52NuHiepDeThuong>
Hồi thứ ba mươi lăm


Đại-hãn Long-thành


Cả cung Ngọc-lan, ai cũng tưởng Thủ-Độ là thằng điên, nên không người nào chú ý đến nó. Nó được tự do. Không có bạn cùng lứa tuổi, nó ra ngoài kinh thành một mình dạo chơi. Nó làm quen với bọn ăn mày. Nó thường mua bánh, kẹo phát cho đám trẻ cùng khổ này. Bọn ăn mày thích nó vì được nó cho ăn cũng có, được nó kể chuyện lịch sử cho nghe cũng có. Mỗi khi chúng xích mích nhau, nó đứng ra dàn hòa. Khi chúng bị người ta bắt nạt, thì nó bênh vực. Võ công của nó cao, nên bọn du côn đều nể sợ nó. Chỉ một thời gian ngắn, nó đã lựa được 18 đứa rất thông minh, gồm chín đứa con trai, chín đứa con gái kháu khỉnh. Nó thu tất cả làm đệ tử, đặt tên là Tây-hồ thập bát anh hào. Chín đứa con gái nó đặt tên Cửu-anh. Chín đứa con trai, nó đặt tên là Cửu-hào. Căn cứ theo tuổi lớn nhỏ, nó đặt tên Cửu-anh là Nhất-Anh, Nhị-Anh cho đến Cửu-Anh ; Cửu-hào cũng tương tự, gồm Nhất-Hào, Nhị-Hào...cuối cùng là Cửu-Hào.
Nhớ lại tích cũ thời vua Thánh-tông : Long-biên ngũ hùng, Tây-hồ thất kiệt đều xuất thân cùng khổ. Nhờ có chút lòng son, mà sau đều trở thành những danh tướng, thanh sử ghi tên. Nó muốn bỏ tiền ra mua một căn nhà bên bờ hồ Tây, rồi tập họp Tây-hồ thập bát anh hào về ở chung, nhưng không có tiền.
Nó nghĩ thầm :
- Đường đi nước bước trong Hoàng-thành, ta đều biết hết. Trong Hoàng-thành này, từ Hoàng-hậu cho tới các phi tần, hoàng tử, công chúa... Người nào cũng giầu có, vàng bạc cất đầy kho, mà không giúp ích gì cho dân chúng. Tại sao ta không lấy tiền bạc đó dùng vào việc này ?
Một đêm, nhân lúc bọn Gia-thụy ngũ anh sang cung An-toàn luyện võ, nó biết rằng Hoàng-hậu phải ngồi dự thính. Nó lẻn vào tẩm phòng của bà lấy trộm mấy nén vàng. Nó đem vàng ra hiệu kim hoàn đổi lấy bạc. Có bạc trong tay, nó mua một căn nhà tọa lạc trên thửa đất hơn hai mẫu (7200 mét vuông), nằm ngay bên bờ hồ. Căn nhà này nguyên của một vị quan về hưu. Phía trước trông ra đền Trấn-quốc. Phía sau có bến đậu thuyền. Chủ nhà bán luôn cả con thuyền mà ông dùng để câu cá giải khuây. Mọi sự hoàn tất, nó đem bọn Tây-hồ thập bát anh hào về đó ở. Nó đặt cho căn nhà này cái tên Tây-hồ thủy trang. Nó dùng kinh nghiệm học được ở Mông-cổ, để tổ chức lối sống tập thể như anh em. Nó mượn một thầy đồ dạy chữ cho Tây-hồ thập bát anh hào. Còn nó, đích thân nó dạy võ, bắn cung cho chúng.
Trong Thập-bát anh hào, thì Nhất-Anh, Nhất-Hào là hai đứa có trình độ học vấn cao nhất. Chúng là hai chị em ruột. Nguyên cha chúng là một vị túc nho, khinh thế ngạo vật, không ra làm quan. Khi ông bà chết, thì chúng mới mười hai tuổi. Nhà nghèo, hai chị em làm nghề bắt rắn tranh sống. Thời bấy giờ, những khu vườn cạnh hồ Tây có rất nhiều trăn, rắn đủ loại. Ngay ngày đầu vào ở trong Tây-hồ thủy-xá, chị em Nhất-Anh đã ra tay bắt mấy trăm con vừa trăn, vừa rắn. Nhân chủ nhân cũ để lại hơn chục cái bể cạn, dùng để hứng nước mưa. Nhất-Anh dùng hai cái bể, để nuôi rắn.
Nhị-Anh, Nhị-Hào mồ côi cha mẹ rất sớm. Chúng là hai trẻ cực kỳ thông minh. Nhưng cũng có đủ thói lưu manh dân dã. Cha mẹ chúng nguyên làm nghề mãi võ bán thuốc. Chẳng may, trong khi bệnh dịch hoành hành, ông bà bị chết cùng một lúc. Anh em chúng phải lang thang ăn mày.
Tam-Anh, Tam-Hào là con của các ngư dân, mà cha mẹ bị chết vì trong khi đánh cá gặp bão. Chúng bơi lội rất giỏi. Thủ-Độ trao cho hai đứa huấn luyện bơi lội, đánh nhau dươí nước cho cả bọn.

Sau một thời gian ngắn, bọn Tây-hồ thập bát đã có trình độ võ công cũng như chữ nghĩa kha khá. Thủ-Độ chia kinh thành Thăng-long làm mười tám khu. Mỗi khu nó trao cho một Anh, hay một Hào cái nhiệm vụ cai quản bọn ăn mày. Nó đặt ra luật lệ : Cấm không được nói tục, không được đánh lẫn nhau. Phải bênh che cho nhau, đừng để người đời khinh khi, bắt nạt. Lúc đầu có nhiều tên không phục, không tuân theo luật lệ. Nhưng, sau ít tháng, mấy tên này bị cô độc, nên đành nhập bọn. Thủ-Độ bỗng dưng biến thành một ông vua ăn mày kinh thành Thăng-long, mà quan quyền không ai biết gì !
Thủ-Độ không có kiến thức nhiều về tổ chức chính quyền Trung-quốc, Đại-Việt. Nó rập khuôn theo vùng Thảo-nguyên. Nó phong cho mỗi tên ăn mày coi một chợ chức Tiểu-hãn. Bọn Tây-hồ Anh-hào thì nó phong cho làm Khả-hãn. Còn nó, nó bắt tụi ăn mày gọi nó bằng danh tự Đại-hãn.
Tuy bận rộn, nhưng trong lòng Thủ-Độ luôn tưởng nhớ đến Kim-Dung. Hằng ngày nó ra bến sông, nơi con thuyền của gia đình Kim-Dung đậu thủa nào để hy vọng gặp lại nàng. Nhưng tuyệt vô âm tín.
Trong những lần tìm chim như vậy, nó được biết, dọc theo bờ sông Hồng, mỗi khu thuộc sở hữu của một gia đình. Khu của ai, người ấy mới có quyền đậu thuyền. Thành ra mỗi bến đều có cọc, cây, trụ đá, cầu tầu khác nhau. Trong hàng trăm bến ấy, nó thấy ai cũng trầm trồ khen ngợi bến của quan An-phủ Kinh-lược sứ Kinh-Bắc Nguyễn Nộn. Trên mặt bến cũng như bờ sông đều xây bằng những viên đá vuông vức mỗi chiều bằng gang tay. Mặt bến còn xây bốn cái bồn, trong trồng hoa rất đẹp. Trên bến của gia đình Kim-Dung chỉ có hai cây bàng, với một viên đá khắc hình con chim ưng đang bay.
Nó nghĩ:
- Bà mẹ Kim-Dung với nàng đã cứu mạng ta, ta không biết đền ơn cách nào, tại sao ta không xây bến đò nhà nàng để đáp nghĩa ?
Có tiền trong tay, nó thuê thợ, mua đá lát dọc khu bờ sông ấy dài tới năm mươi trượng . Lại chờ nước cạn, xây đá cho bờ sông khỏi lở. Trong khu năm mươi trượng, nó xây bốn cái bệ đá thành hình vuông. Ở giữa đổ đất, trồng hoa. Giữa bốn cái bồn hoa, nó xây một cái đài cao hai trượng, trên đặt một viên đá dài một trượng, rộng nửa trượng. Mặt viên đá nó sai khắc hình con chim ưng đang bay. Nó đặt cho khu bến sông này tên là Tương-Dung độ, sai khắc ba chữ đó dưới con chim ưng. Độ là tên nó, cũng có nghĩa là bến đò. Dung là tên Kim-Dung. Còn Tương thì lấy điển cố cũ: Quốc-tổ Lạc-Long quân, Quốc-mẫu Âu-Cơ chia tay nhau ở đầu sông Tương, thông với hồ Động-đình, hẹn nhau, cứ mỗi năm tái ngộ trên cánh đồng Tương một lần.
Công việc hoàn tất, Thủ-Độ truyền lệnh cho Khả-hãn Tây-hồ thay phiên nhau, mỗi ngày một đứa ra Tương-Dung độ quan sát, hễ thấy con thuyền mà mũi có vẽ hình con chim ưng đậu ở đó, thì phải báo cho nó biết ngay.
Ở với bọn ăn mày thì Thủ-Độ là lãnh chúa, nhưng khi trở về cung Ngọc-lan, nó lại giả ngây, có khi nó nằm ngay giữa sân mà ngủ. Thành ra nhiều lần nó bỏ cung Ngọc-lan đi hằng mười ngày, mà lúc nó trở về, cũng không ai chú ý đến nó. Tuy bận rộn như vậy, nhưng trong lòng nó luôn luôn nghĩ đến hai việc. Một là truy tầm thủ phạm giết mẹ nó. Hai là giết tuyệt họ Lý, lập một triều đình mới.
Nó biết rõ một điều : Cứ hai ngày một lần, đạo cô sang An-toàn dạy võ cho bọn Gia-thụy ngũ-anh. Mỗi khi mụ vừa đi, thì cung nữ Thụy-Nga cũng ra đi.

Một hôm Thủ-Độ ra chợ Tây-nhai chơi, nó thấy người ta bán những quả bầu già phơi khô, rỗng ruột. Có nhiều quả cuống dài, cầm lên giống cái đầu người có cổ. Nghĩ ra một chuyện, nó mua hai quả , lại may một bộï quần áo trắng, rồi chờ đêm tối, nó lẻn vào Đông-cung cất tại nóc chuồng ngựa. Nó quyết định đêm nay giả hồn ma Thái-tử Long-Xưởng nhát bọn Gia-thụy ngũ anh, để điều tra tông tích kẻ giết mẹ nó.
Chiều hôm ấy, như thường lệ, đạo cô, cung nữ Thụy-Nga vừa ra đi, chờ sang canh hai, Thủ-Độ phóng mình vào Đông-cung. Nó đeo cái mặt nạ quỷ Vô-thường vào mặt, đeo cái mặt nạ quỷ đầu trâu vào một quả bầu, đeo cái mặt nạ quỷ mặt ngựa vào một quả bầu khác. Nó buộc hai quả bầu phía sau vai. Người ngoài nhìn thấy, tưởng đâu là quỷ ba đầu. Từ chuồng ngựa nó ra sân, thì đụng tên thái giám Đỗ Viện. Đỗ Viện tưởng nó là quỷ ba đầu. Y rú lên, rồi té xỉu xuống đất. Thủ-Độ phóng tay điểm huyệt y với năm con chó gác sân, đặt tất cả ngồi thành hàng ngay cổng vào. Nó đi một vòng Đông-cung, cung nga, thái giám gặp nó đều rú lên rồi ngất đi. Nó điểm huyệt hết.
Cuối cùng nó lên Ngự-thiện đường. Trong Ngự-thiện đường, hai cung nga chầu hầu đã bầy thức ăn gồm bánh dầy chả, bánh giò, chờ bọn Gia-thụy ngũ-anh luyện võ xong, trở về ăn đêm. Hai cung nga nghe tiếng bước chân người, ngửng đầu lên, thấy con quỷ ba đầu ; chúng thét lên, rồi ngất xỉu. Thủ-Độ điểm huyệt chúng, đặt chúng ngồi trên hai cái ghế. Mọi việc xong xuôi, nó lấy bánh dầy giò ăn. Nó vừa ăn xong, thì có tiếng xe kêu lọc cọc.
Biết bọn Gia-thụy ngũ anh đã trở về. Nó leo lên bàn ngồi im chờ đợi.
Tên thị vệ Cao Kinh đánh xe cho bọn Gia-thụy ngũ anh về đến Đông-cung, không thấy tên thái giám Đỗ Viện mở cửa như thường lệ, có hơi ngạc nhiên. Gã ra hiệu, Cao Giới xuống xe mở cổng. Cổng vừa mở , một cảnh tượng quái gở đập vào mắt mọi người: Tên thái giám Đỗ Viện trong tư thế quỳ. Cạnh y là năm con chó ngồi ngay ngắn. Tất cả đều bất bất động như những pho tượng.
Long-Sảm hỏi :
- Đỗ Viện ! Người làm trò gì vậy ?
Đỗ Viện vần bất động. Long-Thẩm gọi năm con chó :
- Hú u..u..u..u.
Năm con chó cũng bất động.
Cao Kinh đánh xe vào sân. Cả bọn cùng xuống xe. Trong tâm chúng biết có sự gì bất thường đã xẩy ra. Cao Kinh sờ lên đầu Đỗ Viện, y nói :
- Dường như y còn sống.
Y lại sờ mấy con chó. Con nào cũng còn thở. Cả bẩy tên cùng tới Ngự-thiện đường. Ngay cửa, hai cung nữ phụ trách chầu hầu, trong tư thế quỳ giống hệt Đỗ Viện. Long-Sảm đẩy cửa, bẩy người cùng bước vào. Bất giác chân tay cả bọn bủn rủn, miệng mở không ra : Dưới ánh sáng lờ mờ của ngọn nến, trên bàn ăn, một con quỷ ba đầu, mặt nửa đen, nửa đỏ, cổ trán trắng; ngồi bất động. Con quỷ rên lên tiếng hù...hù...hù... đầu lắc lư !
Cao Kinh, Cao Giới rút đao ra quát :
- Mi...mi...là quỷ hay là ma ?
- Là quỷ.
- Mi ở đâu tới đây ?
- Diêm vương sai ta lên trần thế điều tra những án mạng oan khuất.
- Đây là Đông-cung ! Người hãy đi chỗ khác.
Hai anh em họ Cao cùng xả đao chém xuống cổ con quỷ ba đầu. Thủ-Độ vung tay kẹp cứng hai thanh đao, rồi dồn chân khí ra. Hai chuôi đao bật tung lại trúng huyệt Đản-trung. Cả hai anh em họ Cao bị tê liệt đứng như trời trồng. Thấp thoáng một cái, Thủ-Độ đã chĩa tay điểm huyệt Gia-thụy ngũ anh. Cả năm tên khuỵu xuống như quỳ gối vậy. Ba tên Đoàn Thượng, Nguyễn Dư, Phạm Bỉnh-Du còn bị điểm huyệt Á-môn, Nội-quan, chúng mê man, không nói được. Còn anh em Long-Sảm, Long-Thẩm chỉ bị điểm huyệt Dương-lăng-tuyền, Khúc-trì, khiến chân tay bị tê liệt mà thôi.
Đúng ra với bản lĩnh của chúng, Thủ-Độ không thể kiềm chế dễ dàng như vậy. Chẳng qua, chúng thấy con quỷ ba đầu, thì hồn phách bay mất, Thủ-Độ mới thành công.
Thủ-Độ rút thanh đao của Cao Kinh, nó múa một vòng rồi chĩa vào cổ Long-Sảm. Long-Sảm rú lên :
- Xin ông quỷ tha cho tôi.
- Mi có biết ta là ai không?
- Không!
- Ta là oan hồn của Vô-thượng Chí-tôn Đại-thánh hoàng đế!
- Như vậy...người là Thái-tử Long-Xưởng, anh của phụ hoàng sao?
- Đúng thế !
- Xin...quan lớn dung tình đừng bắt hồn tôi!
- Mi nói gì ?
- Dạ... dạ... Vô-thượng Chí-tôn Đại-thánh hoàng đế đừng bắt hồn thần nhi.
Thủ-Độ nghĩ thầm :
- Bây giờ nếu ta khoét mắt, cắt lưỡi, cắt gân chân tay, chọc thủng tai, khiến chúng vừa câm, vừa điếc, vừa mù, vừa tê liệt thì chỉ hả giận trong chốc lát. Ta phải để chúng sống, sau này dùng chúng làm cho triều Lý bị diệt vong mới hả cái căm hờn.
Nó giả tiếng eo éo của đàn bà :
- Diêm vương muốn biết một số chuyện, nếu mi nói thực thì thôi, bằng không, ta bắt hồn mi xuống âm phủ đối chứng với những oan hồn !
- Xin Đại-thánh hoàng đế cứ ban chỉ dụ .
- Đạo-cô Nam-thiên là ai, mà mi lại gọi là tổ mẫu ?
- Là...là Thái-hậu .
- Thái hậu nào ? Phụ hoàng mi có hai bà mẹ. Đích mẫu là Chiêu-linh Thánh-cảm hoàng thái hậu. Người là sinh mẫu của ta. Chiêu-thiên Chí-lý hoàng thái hậu Đỗ Thụy-Châu, sinh ra nhà vua. Vậy đạo cô là ai ?
Long-Sảm trì nghi không muốn nói. Thủ-Độ thích mũi đao vào cổ khiến Long-Sảm đau quá rú lên :
- Tôi xin nói. Đỗ Thụy-Châu không phải là sinh mẫu phụ hoàng. Đạo-cô mới là sinh mẫu của người.
- Đạo-cô là ai ? Tên gì ?
- Thái-hậu họ Vương, tên Thụy-Hương, là Công-chúa tiên tử đời thứ 18 của phái Hoa-sơn. Ông ngoại của phụ hoàng tên Vương Cương-Trung là tể thần Tống-triều, là Lạc-nhạn đạo sư của phái Hoa-sơn. Bà ngoại của phụ hoàng là Công-chúa tiên tử đời thứ mười bẩy của phái Hoa-sơn, họ Triệu tên Mai-Hương.
Nghe Long-Sảm khai, Thủ-Độ ớn da gà. Tất cả những bí ẩn trong hậu cung cũng như ngoài triều đình dưới thời vua Anh-tông, bố nó giảng cho nó rất kỹ. Bố mẹ nó thường ân hận rằng, hồi hai người tổng trấn Bắc-cương, mà sao để cho Vân-đài Trịnh Nam-Phương, Công-chúa Vương Thụy-Hương trở lại Đại-Việt, Khu-mật viện không biết. Bố mẹ nó cứ đặt câu hỏi : Liệu vụ án giết cả nhà Bảo-quốc đại-vương Long-Xưởng, vụ giết cả nhà Đỗ An-Di với Mạc Hiển-Tích có do bọn tế tác Tống gây ra không ?
Nó hỏi tiếp :
- Ta không tin . Mi nói láo.
- Thần nhi nói thực, không hề dấu diếm.
- Ta làm sao mà biết thực hay hư. Được, ta hỏi chuyện của ta, xem mi nói có đúng không. Nếu mi nói sai, thì các chuyện khác đều sai.
- Dạ !
- Vụ án cả nhà ta bị hại có phải do bà nội mi là Thụy-Hương gây ra không ?
- Không, theo bà nội nói thì vụ này do bọn Đỗ An-Di, Đỗ Thụy-Châu làm.
- Có thế chứ. Vụ này mi nói đúng. Thế ai giết cả nhà Đỗ An-Di với Mạc Hiển-Tích ?
- Chính bà nội với Vân-đài Trịnh Nam-Phương làm !
Thủ-Độ lại một lần nữa kinh hoảng :
- Trịnh Nam-Phương chẳng là vợ Đỗ An-Di ư ? Thụy-Hương chẳng là người tình của Mạc Hiển-Tích ư ?
- Đại-thánh hoàng đế không hiểu cũng phải ! Trịnh Nam-Phương vì tưởng nhớ Đỗ An-Di mà thất sủng với Tống triều. Bà ấy tìm trăm phương nghìn kế để trở lại Đại-Việt mong tìm lại An-Di. Chẳng ngờ An-Di phụ rẫy bà ta, rồi còn bắt giam vào hầm kín, khóa chân tay lại. Bà ta được bà nội cứu ra. Còn bà nội, lúc trở về Đại-Việt bà nội cũng bị Mạc Hiển-Tích phụ rẫy, mà gian dâm với Đỗ Thụy-Châu. Hiển-Tích, An-Di, Thụy-Châu định soán ngôi, phế phụ hoàng xuống, lập An-Di lên thay. Ba người công bố vụ phụ hoàng là con của bà nội với Trần Thủ-Huy. Nếu Đỗ Thụy-Châu công bố bí mật phụ hoàng là con của bà nội với vua Anh-tông thì đúng. Nhưng mụ bịa ra rằng phụ hoàng là con của Trần Thủ-Huy thì không thể tha thứ được. Vì vậy, khi vừa thấy cáo tri của Côi-sơn song ưng, bà nội với Trịnh Nam-Phương nhân đó xuống tay, giết cả nhà hai tên cho hả giận. Sau khi giết cả nhà hai tên này, bà nội bắt Đỗ Thụy-Châu uống thuốc độc chết. Từ đấy, bà nội giả làm đạo cô Nam-thiên, ẩn trong cung Ngọc-lan, phụ chính cho phụ hoàng.
- Thế Vân-đài Trịnh Nam-Phương bây giờ ở đâu ?
- Là Nghi-Phương sư thái, chưởng môn phái Mê-linh.
Một lần nữa Thủ-Độ phát run. Hồi ở Mông-cổ, bố mẹ nó được tin Nghi-Ninh sư thái truyền chức chưởng môn cho một đệ tử mới nhập môn là Nghi-Phương. Vì Nghi-Phương tìm được cuốn phổ chép tất cả tuyệt kỹ của phái Mê-linh, bị Vương Cương-Trung ám toán, rồi cướp đi. Khi được tin này, bố mẹ nó cứ thắc mắc mãi, làm sao Nghi-Phương lại tìm ra được bí lục võ công Mê-linh ? Bây giờ nó mới hiểu rằng chính Vương Cương-Trung đã trao cho Trịnh Nam-Phương. Nó than thầm:
- Hỡi ơi ! Suýt nữa ta tìm Nghi-Phương sư thái cáo vụ mẹ ta bị giết, thì không khác gì nạp mạng cho cọp đói ! Vậy cái vụ phái Mê-linh đem linh cữu mẹ ta về chôn ở chân núi vua Bà, hẳn có mục đích gì khác đây. Ta cần điều tra cho rõ.
Nó lại hỏi Long-Sảm :
- Vậy ai là người ám toán công chúa Đoan-Nghi ?
- Thần nhi không biết. Sau khi công chúa băng thì phụ hoàng buồn vô cùng. Bà nội hay lên ruột lắm. Bà nội cũng cho người điều tra mà không ra manh mối. Ý bà nội muốn dụ cho Thủ-Huy, Đoan-Nghi về, rồi công khai tình tự với Thủ-Huy, làm cho Đoan-Nghi đau khổ để trả thù trước đây Đoan-Nghi cướp Thủ-Huy của người. Còn Thủ-Huy thì bà nội phong cho chức tước thực lớn, mà không trao quyền.
- Cái tên Vũ Khải, Tham-tri bộ Lễ là người thế nào ?
- Y không xuất thân từ khoa bảng. Y là con cô, con cậu của mẫu hậu. Mẹ của y tên Đàm Phi-Phượng là em gái của Quốc-trượng Đàm Thì-Phụng.
- Hiện giờ Vũ Khải giữ chức gì ?
- Hiện y là Kinh-lược an-phủ sứ Hồng-châu. Y có một dinh thự khá lớn ở Gia-lâm, gần Cổ-loa.
- Cái tên thuyền trưởng đi đón công chúa Đoan-Nghi tên là gì . Hiện y ở đâu?
- Y tên Đặng Vũ. Hiện y coi thủy đội cai quản dọc sông Hồng, quanh Thăng-long.
- Nhà y ở đâu ?
- Thần nhi không rõ.
Biết Long-Sảm không cung cấp thêm được gì nữa, trời lại sắp sáng. Thủ-Độ dọa :
- Cái việc ta hiện hồn lên hôm nay, mi phải cấm bọn thủ hạ không được tiết lộ ra ngoài. Nếu như chỉ một đứa nói với người khác, lập tức ta bắt hồn tất cả. Mi hiểu không ?
- Dạ. Nhưng vụ này lớn quá, sao dấu được ?
- Vậy mi ban chỉ cho chúng rằng, có quỷ ba đầu nguyên là hồn oan của Vô-thượng Chí-tôn Đại-thánh hoàng đế hiện lên, nhưng mi không được tiết lộ những gì đã khai với ta.
- Vâng.
Thủ-Độ mang tất cả hơn hai chục người Đông-cung đem lên Ngự-thiện đường, giải huyệt cho chúng tỉnh. Chúng vừa mở mắt ra, thấy con quỷ ba đầu thì rú lên kinh khủng. Thủ-Độ gật gù ba cái đầu làm cho chúng sợ đến té đái vãi phân ra, rồi mới biến vào bóng đêm. Nó dấu phụ tùng làm quỷ, rửa mặt rồi quay về cung Ngọc-lan.
Vừa đáo cung Ngọc-lan, thì có ai đó hì một tiếng ngay phía sau nó. Nó quay lại, thì thấy một bóng đen dơ tay vẫy nó rồi chạy. Nó dùng khinh công đuổi theo. Tuy đã dùng hết mười thành công lực nhưng nó vẫn không đuổi kịp người kia. Nó nghĩ thầm :
- Với khinh công của ta, dù ngựa chiến cũng thua, mà sao không đuổi kịp người này ?
Nghĩ vậy nó gia tăng cước lực. Lạ một điều, nó chạy nhanh, thì người kia cũng chạy nhanh. Nó chạy chậm, người kia cũng chạy chậm. Thủy chung khoảng cách giữa hai người không thay đổi.
Đến Văn-miếu, thình lình người đó dừng lại, suýt nữa Thủ-Độ đâm sầm vào người đó. Một người núp sau bia tiến sĩ nhảy ra. Trong bóng đêm lờ mờ nó nhận ra đấy là một người đàn bà. Người này không nói, không rằng, phát chưởng tấn công nó, đó là chiêu Phong-ba hợp-bích của Đông-A chưởng. Chưởng chưa ra hết, mà nó đã cảm thấy ngộp thở. Kinh hoảng, nó xuất chiêu Phong-đáo sơn đầu cũng trong Đông-A chưởng đỡ. Binh một tiếng, nó cảm thấy trời long đất lở, tai phát ra tiếng vo vo không ngừng, mũi cảm thấy thoang thoảng mùi thơm của nước hoa. Kinh hãi, nó chợt nhậïn ra mình đang đứng ở cung Càn phương Hỏa-địa-tấn. Nó vội hít một hơi rồi lộn đi một vòng sang vị trí Địa-thủy-sư cung Khảm. Áp lực trên người nó hoàn toàn được hóa giải. Người kia bật lên tiếng ái chà đầy kinh ngạc, rồi cất tiếng khen :
- Khá lắm ! Đỡ chiêu nữa!
Rồi phát chiêu Phong-sơn hoa lạc tấn công. Nó vội hít hơi vận đủ mười thành công lực phát chiêu trong Hoa-sơn chưởng mà nó học trộm của đạo cô Nam-thiên. Binh một tiếng, người nó bay tung lại phía sau. Nó rơi xuống đúng cung Chấn, phương Địa-phong-thăng. Nó lộn đi hai vòng đáp xuống cung Ly, phương Trạch-sơn-lữ, để giảm bớt kình lực. Người kia tần ngần ôm tay suy nghĩ.
Trời đã tang tảng sáng. Bất giác Thủ-Độ bật lên tiếng kinh ngạc, vì người vỗ vai, dụ nó chạy ra đây là một trung niên nam tử dáng điệu to lớn kềnh càng đang nhìn nó cười toe toét. Còn người đàn bà thì đẹp không thua gì mẹ nó. Nó thấy dáng điệu của bà quen quen, nhưng trong nhất nó không nhận ra bà ta là ai.
Người đàn bà hỏi nó :
- Cháu lày ! Cháu là lệ tử của cao nhân nào ?
Thấy cử chỉ, tư thái người đàn bà, Thủ-Độ không muốn nói dối . Nó đáp :
- Cháu không có sư phụ. Cháu học võ với bố mẹ cháu. Bố cháu hiện ở rất xa, ngàn trùng cách biệt. Còn mẹ cháu, thì bị người ta giết chết rồi.
- Mẹ cháu bị người ta lánh thuốc lộc hay dùng lên mắn chết ?
- Sao sao...bà biết ?
- Dễ hiểu ! Cứ như mản lĩnh của cháu, thì hiếm người có thể so sánh. Như vậy mản lĩnh của mẹ cháu phải cao thâm lắm. Mản lĩnh của mẹ cháu cao thâm mà bị dít, thì nhất lịnh mẹ cháu phải bị ám toán mằng thốc lộc hay mằng loạn lên. Cháu có thể cho ta biết lên của cha mẹ cháu không ?
Nghe âm thanh của bà, Thủ-Độ đoán bà là người Việt gốc Hoa. Nó trở thành e dè :
- Cháu không thể nói tên bố mẹ cháu ra được,bằng không sẽ có nhiều kẻ thù tìm giết chết cháu. Khi mẹ cháu sắp qua đời người dặn cháu chuyển lại một câu cho năm người. Năm người này căn cứ và đó mà truy tầm thủ phạm ám toán mẹ cháu.
- Có phải năm người đó thuộc phái Đông-A không ?
- Vâng !
- Năm người đó là ông bà Trần Tự-Hấp chưởng môn phái Đông-A, và ba con của người là Trần Lý, Thủ-Huy, Kim-Ngân. Có đúng không ?
Thủ-Độ rùng mình :
- Sao ? Sao bà biết ?
- Ta biết vì ta biết.
Bà chỉ vào Nam tử to lớn kềnh càng:
- Bạch-Hạc là sư tỷ của ông chồng ta. Bà đã nói cho ta nghe về cháu.
Nam tử to lớn xen vào:
- Ta có hai thắc mắc. Một là vừa rồi cháu xử dụng một chiêu trong Đông-A chưởng pháp, khi thấy công lực yếu, cháu biết di chuyển theo Cửu-cung bát quái trong Thiên-la thập bát thức để hóa giải. Trong bản phái, chưa một ai xử dụng Cửu-cung bát quái áp dụng vào Đông-A chưởng cả. Vì nội công Đông-A gốc là Thiền-công, khi dùng với Dịch-lý thì âm thủy trong người hỗn loạn, có thể nguy đến tính mệnh. Duy người luyện nội công âm nhu mới có thể làm được công việc này. Nhìn qua thân pháp, ta biết cháu luyện thành cả âm lẫn nhu. Vậy ai đã dạy cháu?
- Khi gặp hung hiểm, cháu tòng tâm xử dụng, chứ không ai dậy cháu cả.
- Hai là cháu xử dụng chiêu Lạc-nhạn thu phân trong Hoa-sơn chưởng, bị kình lực của vợ ta đẩy tung đi, cháu lại dùng Cửu-cung bát quái của Thiên-la thập bát thức. Phái Hoa-sơn tuy có áp dụng Dịch-lý vào chưởng pháp, nhưng Dịch-lý của họ không giống Dịch-lý của Thiên-la thập bát thức. Có phải cháu học trộm võ công Hoa-sơn không?
- Sao tiền bối biết?
- Có gì khó đâu. Nếu cháu được truyền Hoa-sơn chưởng thì họ phải dạy cháu phương cách biến hóa theo Dịch-lý của họ. Đây cháu đem áp dụng Hoa-sơn chưởng bằng Dịch-lý Đông-A thì rõ ràng cháu không được học Dịch-lý Hoa-sơn, rồi cháu tưởng Dịch-lý nào cũng là Dịch-lý, cháu đem Dịch-lý Đông-A ra áp dụng bừa. Có đúng thế không?
Thủ-Độ gật đầu, trong lòng nó nảy ra niềm kính phục nam tử:
- Tiền bối thực bác học lại thông minh. Cái gì của cháu tiền bối cũng biết.
- Này cháu, có phải mẹ cháu là con gái của Minh-Đạo đại vương, tức Côi-sơn song ưng không ?
Nó nghĩ thầm :
- Không biết tại sao khi ông bà này cũng như y sư Vũ Phòng-Phong gặp ta cứ cho rằng ta là con cháu của Minh-Đạo vương. Bố mẹ ta thường giảng về hành trạng của Linh-chiếu Chiêu-hòa Thái-hậu với Minh-Đạo vương cho ta nghe. Mẹ ta nói : Hai vị đó được võ lâm tặng cho mỹ danh là Côi-sơn song ưng, nức danh thời vua Anh-tông.
Nó trả lời lơ mơ :
- Phải hay không phải thì sao ?
- Vậy cháu là ai ? Nhất định cha mẹ cháu là người phái Đông-A thì mới biết võ công Đông-A mà dạy cháu.
- Đúng như bà nói ! Bố cháu là người của phái Đông-A.
Nó hỏi nam tử to lớn :
- Tiền bối ! Người vào Hoàng-thành có việc gì vậy ?
- Ta điều tra nhiều sự. Còn cháu. Cháu làm ma làm quỷ với mục đích gì ?
- Để điều tra một số sự việc.
- Cháu tìm ra hết những gì muốn biết chưa ?
- Chưa.
- Có phải cháu muốn tìm dinh thự Kinh-lược An-phủ sứ Vũ Khải không ?
- Vâng !
- Coi chừng, trong dinh của y có nuôi mấy cao thủ, cũng như chó, ngỗng canh cửa. Phải cẩn thận.
- Còn tiền bối, người muốn điều tra gì ?
- Hai người đàn bà.
- Họ là ai ? Tiền bối thử nói ra. May cháu biết.
- Một người tên Trịnh Nam-Phương. Một người tên Từ Thụy-Hương.
Thủ-Độ à lên :
- Trịnh Nam-Phương thì cháu biết. Có phải bà ta là Vân-đài tiên-tử đời thứ mười bẩy của phái Hoa-sơn, trước đây từng là vợ của Tể-tướng Đỗ An-Di thời vua Anh-tông không ?
- Đúng đấy ! Bà ta hiện là ai ? Ở đâu ?
- Bà là Nghi-Phương sư thái, chưởng môn phái Mê-linh.
Trung niên nam tử ái chà một tiếng :
- Còn Từ Thụy-Hương ?
- Cháu có biết một người tên Thụy-Hương, bà ta họ Vương chứ không phải họ Từ.
Thiếu phụ đẹp nắm lấy tay Thủ-Độ, bà tỏ ra súc động :
- Họ Vương à ? Phải, lúc đầu bà này dùng họ Triệu của mẹ, sau mới trở lại họ Vương của cha.
- Bà ta ẩn tu trong cung Ngọc-lan, làm phụ chính cho nhà vua. Bà là mẹ đẻ của nhà vua, lại là sư phụ của bọn Phạm Bỉnh-Di, Quách Bốc, Nguyễn Nộn, Đoàn Văn. Hiện bà âm thầm dạy võ cho bọn Gia-thụy ngũ-anh.
Trên mặt thiếu phụ đẹp hiện ra nét kinh hoàng, như gặp phải điều gì ghê rợn lắm :
- Cháu nói thực hay đùa ?
- Cha cháu là người đồng môn với nhị vị. Cháu đâu giám nói dối nhị vị ?
Nói dứt nó kể lại tất cả những gì Khu-mật viện Tống đã làm ở vùng Thảo-nguyên như phong Mao Khiêm làm chúa. Sai Hàn Dũ Linh, Vương Cương-Trung đem võ sĩ lên trợ chiến. Họ cũng sai Vân-đài Trịnh Nam-Phương, Công-chúa Vương Thụy-Hương trở về Đại-Việt. Hai người này giả danh Côi-sơn song ưng giết cả nhà Đỗ An-Di, Mạc Hiển-Tích ra sao.
- Cảm ơn cháu. Vậy thế này. Kể từ nay, hằng tháng cứ ngày mùng một, canh hai, chúng ta lại ra đây gặp nhau, trao đổi tin tức. Cháu có đồng ý không ?
- Vâng.
Chợt nhớ một chuyện, Thủ-Độ hỏi :
- Có phải hôm trước tiền bối đùa cợt cháu, lấy xôi, chim sẻ quay trên lưng cháu không ?
Người đàn bà tỏ ra nghiêm nghị :
- Đó là hai đứa trẻ con. Chúng thấy cháu trêu ghẹo bọn Gia-thụy ngũ-anh, nó cũng trêu lại cháu.
- Họ là ai vậy ?
- Ta không nói. Khi nào cháu cho ta biết cha mẹ cháu là ai thì ta sẽ nói cho cháu nghe.
- Hôm ấy tiền bối cũng hiện diện ư ?
- Không ! Hai trẻ kể cho chúng ta nghe.
Đôi nam nữ hú lên một tiếng dài, thấp thoáng một cái đã biến mất.
Thủ-Độ về cung Ngọc-lan, không ai chú ý đến nó. Nó ngủ một giấc dài. Khi nó giật mình tỉnh giấc, thì mặt trời đã lên cao. Thấy cung nữ Thụy-Nga, nó làm bộ méo mặt, cười hề hề. Mụ gọi nó :
- Đàm Độ ! Người lại đây !
- Lại làm gì ?
- Mi may mắn lắm đó !
- May gì ?
- Mi rời Đông-cung về đây nên thoát nạn quỷ ám. Hôm qua quỷ ba đầu hiện lên Đông-cung. Nó xưng là hồn oan của Thái-tử Long-Xưởng. Nó nhát từ Thái-tử Sảm cho tới đàn chó. Sáng nay thị vệ, cung nga, thái giám đều khóc xin về quê làm ruộng, vì họ không thể sống trong cung quá nhiều quỷ.
Thủ-Độ làm bộ tỉnh táo :
- Thưa bà, thế Hoàng-thượng có ban chỉ gì không ?
- Người sai Vũ-kị thượng tướng quân Phạm Bỉnh-Di đem thanh Thượng-phương bảo kiếm đến Đông-cung để trấn quỷ. Im xem ! Liệu Bỉnh-Di có đủ phép trừ quỷ không ! Tin này đồn đại khắp Thăng-long. Nhiều người có tật giật mình. Bọn gian thần, tặc tử khiếp đảm lắm.
Thủ-Độ nghĩ thầm:
- Đã vậy ta phải sai bọn ăn mày, đi khắp nơi phao tin này, để làm hoang mang trong dân chúng, làm mất uy tín bọn Gia-thụy ngũ anh cho bõ ghét. Ta cũng nhân đó điều tra dinh thự bọn Vũ Khải, thủy thủ đoàn có liên quan đến việc ám toán mẹ ta.
Nghĩ vậy nó lại cười toe toét. Mụ Thụy-Nga cau mặt nhìn từ đầu đến chân Thủ-Độ rồi bảo nó:
- Nghe nói hồi này mày hay đi chơi với ăn mày. Ta muốn mày đi biệt ít tháng rồi hãy về...
- Sao??? Tại sao???
- Hiện có sứ đoàn Tống sang đây. Cung này sẽ phải tiếp nhiều khách, hội họp. Khách ra vào mà cứ phải nhìn thằng khùng làm trò hề thì chán quá.
Nghe mụ nói, Thủ-Độ cười rồi nhảy cà tưng, cà tưng vào bếp kiếm ăn.
Buổi trưa hôm ấy, Thủ-Độ lại giả lên cơn, rồi ra ngoài thành dạy võ cho bọn Khả-hãn Tây-hồ. Sau khi dạy võ, làm như là người ngoài cuộc, nó thuật lại chuyện con quỷ ba đầu, hồn oan của Thái-tử Long-Xưởng hiện lên đòi nợ tại Đông-cung. Sau khi thuật xong, nó hạ lệnh:
- Các em trở về khu vực của mình, mỗi em tập họp các Tiểu-hãn thuộc quyền kể cho chúng nghe, rồi bảo chúng đi khắp nơi thuật lại với trẻ con, với ông già bà cả, để dân chúng cùng cười cho vui.

Bọn Khả-hãn Tây-hồ vâng lệnh ra đi. Thế là chiều hôm đó khắp kinh thành Thăng-long, người người, nhà nhà tụ nhau kể chuyện con quỷ ba đầu hiện lên nhát 27 người trong Đông-cung. Người ta còn thêm mắm thêm muối rằng con quỷ sẽ còn hiện lên bắt nhiều gian thần, tặc tử nữa.
Khi bọn Khả-hãn Tây-hồ trở về, chúng đều hỷ hả báo cho Thủ-Độ biết những thành công của chúng. Riêng Thất-Anh, Thất-Hào, gương mặt hiện ra nét kỳ dị. Chúng nhìn Thủ-Độ, mỉm cười:
- Anh có tin vui.
- Gì vậy?
- Con thuyền mà anh chờ đợi hơn năm qua, bây giờ đã đậu trên Tương-Dung độ từ tối hôm qua.
Thủ-Độ run run:
- Trên thuyền có những ai?
- Thuyền phu mười người. Bộc phụ hai người. Còn chủ nhân thì chỉ có ba người thôi, hai trai, một gái. Tất cả đều còn trẻ. Người lớn nhất, tướng mạo uy nghi, mặt rồng, trán hổ, tay dài quá gối, dáng điệu từ ái, tuổi khoảng mười tám. Một người to lớn, thâm trầm ít nói tuổi khỏang mười sáu. Người nhỏ tuổi nhất là gái. Chà! Thực là một người đẹp bọn em chưa từng thấy. Cô ấy luôn cười. Khi thuyền tới bến, thì hai người con trai lấy ngựa ra đi. Trên thuyền chỉ còn lại người con gái thôi.
Tim Thủ-Độ đập loạn xạ. Nó bảo Thất-Hào:
- Thắng ngựa cho ta.
- Có cần bọn em đi theo không?
- Không.
Thủ-Độ đánh xe ra bến Tương-Dung. Xe vừa đi đến bến Bắc-ngạn, thì nó thoáng thấy Kim-Dung cũng đang rong xe đi phía trước. Nó cho xe vọt lên đi song song với xe nàng. Kim-Dung thấy Thủ-Độ thì reo lên:
- À! Đàm Độ! Lâu nay người vẫn khỏe chứ?
- Cảm ơn cô nương. Tôi khỏe hơn trước nhiều.
Hai người gò cương cho ngựa dừng lại trước một tửu lầu. Nó nhận ra là Anh-hùng tửu lầu, mà hồi từ Mông-cổ về mẹ nó dẫn nó vào ăn, rồi bị ám toán.
Trao cương cho tửu bảo, hai người lên lầu, chọn một bàn hướng ra sông. Vừa ngồi xuống, Kim-Dung nhìn Thủ-Độ cười bí hiểm:
- Cảm ơn người đã xây bến Tương-Dung đẹp quá. Khi được tin báo có người đã xây đá trên bến sông của nhà ta. Ông bà nội ta ngạc nhiên vô cùng. Cả nhà xúm vào tìm hiểu xem ai đã làm công việc này. Không ai đoán ra. Còn riêng ta, ta biết ngay là người, mà không dám nói.
Tim Thủ-Độ đập rộn ràng. Trong những ngày đi chơi với bọn ăn mày, nó nghe chúng kể rất nhiều chuyện tình ái nam nữ : "Khi người con gái có tình ý với người con trai, thì họ muốn dấu kín những gì hai người cùng làm". Bây giờ nó biết Kim-Dung đã dấu cuộc rong xe khắp Long-thành với nó. Nàng lại đoán ra việc nó xây bến Tương-Dung, mà cũng không dám nói ra...Thì rõ ràng, nàng đã có tình yêu vơí nó.
Kim-Dung nhìn Thủ-Độ, nàng cười bí hiểm, rồi gọi tửu bảo:
- Người cho ta một đĩa bốn con sẻ quay, với một đĩa xôi.
Qua nụ cười bí hiểm, rồi gọi chim sẻ quay, xôi của Kim-Dung khiến Thủ-Độ luống cuống. Nó cảm thấy chân tay thừa, không biết nói gì. Nó nghĩ thầm:
- Không lẽ nàng biết vụ ta dọa ma ở Đông-cung? Không lẽ nàng là người ăn trộm chim sẻ quay với xôi trên lưng ta ?
Kim-Dung nhìn Thủ-Độ, rồi hỏi:
- Thì ra người là một công tử, mà ta không biết.
- Tôi..Tôi là công tử ư ?
- Người là cháu họ xa của Đàm hoàng hậu, thế mà người dấu ta. Là quốc thích, người mới có tiền xây bến Tương-Dung đẹp thế. Có điều tư cách công tử bỏ xa bọn Gia-thụy ngũ-anh. Công tử là cháu Hoàng-hậu, thì Thái-tử Long-Sảm phải thân với công tử chứ, có đâu y xua cả Gia-thụy ngũ anh hành hạ công tử như vậy?
- Tôi cũng không biết nữa. À, tôi nghe nói, cô nương về Thăng-long cùng vơí hai người anh. Vậy hai ông đó đâu rồi?
- Bố mẹ tôi sai ba anh em tôi về đây tìm tung tích một vài người thân. Ngặt vì người thân đó ẩn ở trong Hoàng-cung. Cho nên hai anh tôi đi tìm cô chú tôi, cậu mợ tôi để nhờ giúp sức. Thế mà gần hai ngày qua, vẫn không ra manh mối.
Nàng nói giọng khẩn khoản:
- Công tử hiện ở trong Hoàng-cung, công tử có thể dẫn tôi vào chơi được không?
- Dĩ nhiên là được.
- Ăn xong, tôi phải về thuyền gặp hai anh tôi. Vậy khi cần, tôi tìm công tử ở đâu?
- Trên bến Tương-Dung lúc nào cũng có ăn mày. Khi cô nương cần, cứ gọi một đứa, bảo nó "Ta muốn gặp Đại-hãn của người". Nó sẽ báo cho tôi, tôi đến gặp cô nương liền.
- Đại-hãn là gì vậy?
- Là vua ăn mày!
Tuy say tình, nhưng Thủ-Độ vẫn không quên thù mẹ, không quên lời nguyền diệt triều Lý. Nó quyết định thám thính phủ Thái-sư Đàm Dĩ-Mông, Kinh-lược sứ Vũ Khải và nhà tên thuyền trưởng Đặng Vũ.
Trở về Tây-hồ thủy xá, Thủ-Độ gọi riêng Nhất-Anh, Nhất-Hào ra lệnh :
- Các em là Khả-hãn vùng Gia-lâm. Các em có biết rõ tình hình trong vùng không ?
Nhất-Hào tự tin :
- Trong huyện, có bao nhiêu nóc gia, bao nhiêu người, bao nhiêu trâu, bò, lừa, ngựa em biết hết.
- Anh muốn hai em điều tra chi tiết trang trại của Kinh-lược An-phủ sứ Hồng-châu tên Vũ Khải. Độ bao nhiêu lâu thì xong ?
- Năm ngày !
Đợi cho câu chuyện quỷ ba đầu lắng xuống, năm ngày sau Thủ-Độ trốn ra ngoài thành Thăng-long. Vào Tây-hồ thủy xá nó hỏi Nhất-Anh, Nhất-Hào :
- Việc đó xong chưa ?
Nhất-Hào cười :
- Xong rồi.
Nó lấy ra mảnh giấy :
- Trang trại của Vũ Khải rộng khoảng trăm mẫu (360.000 mét vuông). Trang được bao bọc bởi con hào rộng hai trượng (4m) sâu hơn trượng, dưới cắm đầy chông nhọn. Sau con hào là lũy tre đồng gộc dầy hàng hai ba trượng. Trong trang có bố mẹ y cùng ở. Bố y 74 tuổi, mẹ y 60 tuổi. Y ở trên Hồng-châu với người thiếp thứ năm tên Mỹ-Hồng. Mỗi tháng y về thăm nhà bốn ngày vào mùng một, mùng hai và mười tư, mười rằm. Vợ cả y tên Mỹ-Hoàng, vợ thứ nhì tên Mỹ-Thanh, vợ thứ ba tên Mỹ-Huyền, vợ thứa tư tên Mỹ-Lam. Y có tất cả mười lăm con vừa trai vừa gái.
Nhất-Anh tiếp lời :
- Dinh của y nằm giữa trang trại, xung quanh có mấy chục nóc nhà, đó là chỗ ở của gia thuộc. Y duy trì một đội võ sĩ hơn ba mươi người, do ba cao thủ chỉ huy. Ba cao thủ này có tên Mao Thiên, Mao Địa, Mao Nhân. Còn thú vật y nuôi đàn chó trên năm chục con, đàn ngỗng trên trăm con. Ngựa năm mươi con, trâu trăm con.
Nghe Nhất-Anh, Nhất-Hào thuật Thủ-Độ thừ người ra :
- Dường như tên Vũ Khải biết rằng y tham dự vào việc ám toán mẹ ta, thì trước sau gì cũng bị phái Đông-A trả thù nên y đề phòng quá kỹ. Ta khó mà đột nhập vào dinh y. Ừ, không vào được dinh y thì ta lên Hồng-châu ! Bây giờ ta thám thính nhà tên Đặng Vũ trước.
Nó hỏi :
- Hai em có biết nhà tên Đặng Vũ, coi thủy đội Thăng-long không ?
- Biết chứ !
- ? ? ?
- Nhà y nằm ở Nghi-tàm bên bờ hồ Tây. Y có hai vợ, ba con. Y đóng một con du thuyền khá đẹp, neo trước nhà. Vào ngày trăng thanh gió mát, y mời bạn hữu xuống con thuyền này, rồi buông chèo trên hồ Tây, đem theo ca nhi tiêu khiển. Nhà y cũng nuôi năm con chó, một đàn ngỗng canh phòng.
Thủ-Độ cho Nhất-Anh, Nhất-Hào ra, nó nghĩ thầm :
- Ta cần tra khảo tên Đặng Vũ này mới được.
Đến đó thì Nhị-Anh bước vào :
- Nhà có khách.
- Khách là ai vậy ?
- Là y sư Vũ Phòng-Phong.
Thủ-Độ chỉnh đốn y phục. Nó hành lễ :
- Không biết trận gió nào thổi, mà Đại-phu lại đến thăm cháu ? Tại sao Đại-phu biết cháu ở đây ?
Phòng-Phong nắm tay Thủ-Độ :
- Cháu có một tin mừng.
- Thưa là... ? ! ? ! ? !
- Việc cháu lang thang sống với người cùng khổ, kể chuyện tổ tiên ta anh hùng cho bọn ăn mày nghe, đã đến tai nhạc phụ ta. Người biết cháu tổ chức bọn ăn mày lại thành một khối, người khen cháu là đứa trẻ có khí tiết khác thường, nên người gửi hai đứa cháu nội về gặp cháu, và giúp đỡ cháu. Để cháu khỏi bỡ ngỡ, người viết thư cho ta, nhờ ta hỏi ý kiến cháu trước.
Tuy mới về nước. Nhưng nhờ sống lăn lóc từ trong Hoàng-cung tới đầu đường, xó chợ, Thủ-Độ đã từng nghe người ta nói về phái Đông-A nhà nó. Nào danh tiếng phái Đông-A lừng lẫy khắp các nước Chiêm-thành, Xiêm-la, Chân-lạp, Trung-quốc, Tây-hạ, Đại-kim, Mông-cổ. Nào là chưởng môn là ông nội nó tên Trần Tự-Hấp, ân đức trải khắp nước. Trong môn phái còn có năm cô nó, mang mỹ danh Vỵ-xuyên ngũ tiên cùng với chồng là Hồng-lĩnh ngũ đại thần y. Bác của nó là Trần Lý được dân chúng tôn là Thần-nông sứ, suốt bao năm quy dân phá hoang, giúp người cùng khổ trở thành những nhà nông sung túc. Cô út nó là Kim-Ngân với chồng là Phùng Tá-Chu được tôn là Tiểu Côi-sơn song ưng. Hiện Phùng Tá-Chu đanh lĩnh chức Đại-đô-đốc. Sống cô đơn ở Thăng-long, đã mấy lần nó muốn tìm về Thiên-trường gặp ông bà, chú bác, anh chị để hưởng cái tình nhân luân. Nhưng ác mộng ông cậu được cha mẹ nó cứu sống bao phen là nhà vua, bà mợ là Đàm hoàng hậu, hai em con cô con cậu là Long-Sảm, Long-Thẩm hành hạ nó tàn nhẫn chưa từng thấy trong thế gian... làm nó chưa muốn về quê cha vội.
Nhưng bây giờ, với địa vị to lớn của chưởng môn phái Đông-A, thiện cảm với nó trong việc dạy dỗ, nuôi nấng đám trẻ cùng khổ, mà lại khen ngợi, gửi hai con lên trợ giúp... Hơn nữa, còn sai sứ tới xin hẹn trước.
Nó cảm động, nghĩ rất nhanh:
- Để ta gặp hai con của bác ta, quan sát phong thái của họ xem sao đã. Nếu họ thực tình thì ta nhận họ. Còn như họ cũng ích kỷ, ác độc, thì ta lờ đi luôn.
Nó trả lời Phòng-Phong:
- Không biết bao giờ thì hai người cháu của Trần đại hiệp về Thăng-long, để cháu còn đi đón. Hai người đó là ai vậy
- Hai người đó đã có duyên gặp gỡ cháu tại quán Bích-động hồi mấy năm. Ngày mười bẩy tháng tám thì chúng sẽ tới Thăng-long.
- Có lẽ sau ngày mười bẩy, cháu sẽ đi Thiên-trường, chuyển lời trăn trối của mẹ cháu cho ông bà Tự-Hấp, bác Lý, cô Ngân.
Phòng-Phong nắm tay Thủ-Độ :
- Ta có một thắc mắc hỏi cháu. Mong cháu nói thực cho ta nghe.
- Xin Đại-phu cứ hỏi ?
- Có phải mấy hôm trước, cháu đã điểm huyệt hai mươi bẩy người trong Đông-cung rồi giả làm quỷ ba đầu nhát chúng không?
- ? ! ? ! ?
- Hồi trưa nay, sư tỷ của ta là Trần-thị Phương-Thanh đến thăm ta. Người cho biết mấy hôm trước có một đại cao thủ đột nhập Đông-cung, giả làm quỷ đa đầu điểm huyệt Gia-thụy ngũ anh, thị vệ cung nga, thái giám tộng cộng 27 người ; rồi nhát chúng. Sáng nay Hoàng-hậu tuyên triệu sư tỷ vào trị bệnh cho chúng. Sau khi chẩn mạch, người biết ngay rằng chúng bị một nội gia cao thủ điểm huyệt, chứ không phải quỷ nhát. Tuy vậy người vẫn không nói ra điều bí mật đó. Nhưng đạo cô Nam-thiên, Kiến-khang vương, Kiến-bình vương lại cho rằng trên thế gian này làm gì có người luyện được cả nội công dương cương lẫn âm nhu. Ba người giải đoán rằng: Đây là quỷ. Quỷ này hồi sinh thời là người luyện nội công dương cương. Vì chết rồi, sống ở âm phủ, nhiễm âm khí. Nên nội công thành âm dương hỗn hợp. Họ cho rằng quỷ này chính là hồn Thái-tử Long-Xưởng... Nghe sư tỷ kể, ta biết ngay là cháu. Bởi trên thế gian này, chỉ cháu mới có nội công ấy. Vậy cháu phải cẩn thận.
Nghe Phòng-Phong kể, Thủ-Độ vẫn không đổi ý. Nó quyết định tiếp tục điều tra tìm cho ra thủ phạm đã ám toán mẹ nó. Nó phải đột nhập trang trại của Kinh-lược An-vũ sứ Vũ Khải, phủ Thái-úy Đàm Thì-Phụng, phủ Thái-sư Đàm Dĩ-Mông. Tuy vậy, nó cũng vâng dạ cho qua
Tiễn Phòng-Phong về rồi, nó họp Tây-hồ thập bát anh hào lại ra lệnh :
- Hôm trước ta nhờ các em điều tra phủ Thái-sư Đàm Dĩ-Mông, phủ Thái-úy Đàm Thì-Phụng. Vậy các em đã điều tra xong chưa ?
- Phủ Thái-sư thì xong rồi! Còn phủ Thái-úy thì chưa.
Nhất-Anh nói :
- Việc gì chứ việc đó thì chỉ nửa ngày là xong.
Nói rồi Nhất-Anh trình ra tờ giấy vẽ sơ đồ hàng rào dinh thự. Chỗ nào cao. Chỗ nào thấp. Chỗ nào có vọng gác của người. Chỗ nào có vọng gác của chó. Lại trình bản đồ trong dinh, khu nào là nơi bọn thân binh, gia thuộc ở, khu nào là nơi Đàm Dĩ-Mông ở. Trong khu Đàm ở, đâu là thư phòng, đâu là phòng khách, đâu là phòng ngủ của y, đâu là phòng ngủ của các bà cơ thiếp. Thủ-Độ nhất nhất ghi nhớ.
Nhất-Hào tiếp lời Nhất-Anh :
- Hiện Thái-sư Đàm Dĩ-Mông đang chuẩn bị tiếp sứ Tống. Trong dinh nhộn nhịp lắm.
- Y tiếp ban ngày hay ban đêm ?
- Nghe đâu là đêm mai.
- Sứ đoàn Tống sang được mấy ngày rồi ? Sứ đoàn gồm những ai ?
- Họ sang đã năm ngày. Chánh sứ là người hoàng tộc còn trẻ tên Triệu Doãn-Chi, tước phong Trịnh Quốc-Công, y không biết võ, tính tình dễ dãi. Phó sứ tên Lâm Hoài-Đức tuổi trên năm mươi, là một cao thủ phái Thiếu-lâm, lĩnh ấn Trấn-viễn thượng tướng quân. Bồi sứ có bốn người đều họ Đinh tên Hoàng, Huyền, Thanh, Hồng. Tùy tùng hơn năm chục. Thị vệ hơn trăm.

Tối hôm sau, Thủ-Độ lấy hai quả bầu, cột vào hai bên cổ, mặc bộ quần áo trắng, đeo mặt nạ, rồi hướng dinh thái sư phóng tới. Nó nhắm trạm canh của thân binh, tung mình qua hàng rào, đáp vào trong sân nhẹ nhàng. Không thấy tên thân binh trong vọng canh, nó biết tên này đi tuần. Nó núp bên đường chờ đợi. Lát sau, tên thân binh trở về. Y trông thấy con quỷ ba đầu, thì chân tay phát run, miệng ú ớ không thành tiếng. Thủ-Độ phóng tới điểm huyệt y, rồi để y đứng tựa lưng vào vọng canh, giống như đứng canh gác. Nó hướng tòa nhà chính của dinh thự phóng tới. Không gặp người nào. Nghe có tiếng người từ trong vọng ra, đó là tiếng đàn bà. Nó núp vào cửa sổ nghe:
- Xong chưa? Ta còn lên mời Thiên-sứ đại nhân với Thái-sư xuống?
- Thưa phu nhân xong rồi ạ!
Thủ-Độ ghé mắt nhìn vào: Bên trong là một phòng ăn, trang trí cực kỳ sa hoa. Bàn ghế toàn bằng gỗ trắc khảm xà cừ sáng choang. Bốn bên của chiếc bàn ăn, là bốn cây mãn đường hồng mạ vàng. Mỗi cây mãn đường hồng lại tỏa ra năm cánh hoa, trên mỗi cánh hoa là một cây nến cực lớn. Xa chút nữa là bốn bộ da hổ nhồi bông trong tư thế nằm, trông giống như hổ thực. Trên tường treo đầy nhưng danh họa cùng bút pháp của các danh gia Trung-quốc.
Trên bàn bầy chén, đĩa bằng vàng, đũa bằng bạc, với bốn năm bình rượu khác nhau đều bằng vàng.
Một thiếu phụ tuổi trên dưới năm mươi, dáng người to lớn, bước đi nặng nề, da mặt tái mét đang chỉ huy bọn tỳ nữ bầy bàn, cắm hoa. Thủ-Độ đoán bà ta là vợ của Đàm Dĩ-Mông. Thiếu phụ hỏi một tỳ nữ:
- Thế nào, con Thùy-Dương đã trang điểm xong chưa?
- Thưa phu nhân cô ấy cứ khóc, không chịu thay quần áo, trang điểm. Tiểu tỳ đã dỗ dành, nhưng cô ấy vẫn bướng bỉnh.
- Được! Để ta nói chuyện với nó.
Nói dứt, mụ mở cửa ra ngoài hành lang. Thủ-Độ vội ẩn vào bụi cây. Mụ già béo ị tới trước một căn phòng cuối hành lang, đẩy cửa bước vào. Thủ-Độ lách mình vào bụi ngâu, dùng ngón tay thấm nước, chọc thủng giấy dán cửa sổ nhìn vào.
Trong phòng, một thiếu nữ, tuổi khoảng mười sáu, mười bẩy, nhan sắc diễm lệ. Nàng mặc bộ quần áo lụa mầu tím nhạt, cổ đeo một chuỗi hạt trai đến năm vòng. Trên đầu là cánh hoa bằng ngọc xanh biếc, dát đầy kim cương. Hai cổ tay, mỗi cổ tay đeo một cái vòng hồng ngọc đỏ chói. Nàng ngồi ủ rũ trên một chiếc giường trạm trổ tinh vi. Thấy thiếu phụ vào, nàng đứng dậy chắp tay vái liền năm vái:
- Phu nhân, sáng nay bố mẹ cháu bảo rằng: Cháu phải trang điểm thực lộng lẫy, sang dinh Thái-sư, nghe phu nhân dậy dỗ trước khi vu quy. Thế rồi cháu tới đây, thì mấy chị hầu cận phu nhân dạy cháu cách hầu rượu, dâng thức ăn cho Thiên-sứ đại nhân. Sau tiệc, cháu còn phải hầu hạ chăn gối cho ngài. Cháu thực không hiểu.
Mụ già béo ị cười:
- Thiên-sứ vâng chỉ Tống Thiên-tử sang kinh lược nước ta. Hoàng-thượng nhận sắc phong của Tống Thiên-tử thì trở thành phận tôi con. Cho nên Hoàng-thượng ban chỉ cho Thái-sư tuyển lấy mấy thiếu nữ xinh đẹp dâng lên người. Cháu ơi! Cháu khéo hầu hạ Thiên-sứ, ắt người hài lòng. Khi về Trung-nguyên, người tâu lên Thiên-tử, thì nước ta vững như bàn thạch. Cái việc mà cháu dâng hiến cho Thiên-sứ, trở thành việc cứu dân, hộ quốc. Cháu phải hãnh diện chứ?
Thiếu nữ khóc thút thít:
- Phu nhân! Xin phu nhân thương tình cho cháu trở về nhà. Đời người con gái quý nhất chỉ có cái trinh. Phu nhân đừng bắt cháu phải dâng hiến cho thằng sứ Tầu. Phu nhân ơi! Chỉ còn hơn tháng nữa, cháu về làm dâu họ Đặng rồi. Nếu cháu mất trinh thì bố, mẹ, họ hàng nhà cháu trả lời sao với gia đình nhà chồng?
Mụ già béo ị ngồi xuống cạnh thiếu nữ, vuốt tóc nàng:
- Này cháu! Bố cháu bất quá là một Kinh-diên quan dưới quyền của quan Quốc-tử giám Tế-tửu. Suốt mười năm qua cũng vẫn là Kinh-diên quan. Nếu như bây giờ, cháu chịu tiếp Thiên-sứ đại nhân, chỉ ba đêm thôi, thì Hoàng-hậu sẽ tâu với Hoàng-thượng, phong bố cháu lên làm Thượng-thư bộ Lễ. Cháu sẽ được phong tiểu thư. Bấy giờ thiếu gì anh hùng, danh sĩ tới cầu hôn. Cháu hãy quẳng cái tên họ Đặng kia xuống sông cho rồi. Thôi ta không nói nữa, cháu chuẩn bị đi, Thiên-sứ cùng Thái-sư sắp nhập tiệc. Nhập tiệc xong, Thiên-sứ sẽ vào đây với cháu.
Mụ béo ị ra khỏi phòng, thuận tay, mụ khép cửa lại.
Thủ-Độ nghĩ thầm:
- Cha của thiếu nữ này là Kinh-diên quan. Trong Quốc-tử giám có tất cả bẩy Kinh-diên quan. Vị nào cũng tỏa ra cái ôn nhu, đạo đức, khiêm khiêm quân tử. Các ngài đều là thầy ta. Trong thời gian ta học ở Quốc-tử giám, tuy bọn Long-Sảm ác độc với ta. Tuy Hoàng-hậu luôn theo dõi để hại ta. Các thầy không hùa theo Hoàng-hậu, không a dua theo bọn Long-sảm. Trái lại các ngài luôn tỏ ra thương xót ta, yêu quý ta như con. Bây giờ con gái của thầy gặp nạn. Bằng mọi giá, dù tan ương nát thịt, ta phải cứu nàng thoát khỏi cái nhơ nhuốc này. Ta...Ta không ngờ tên Đàm Dĩ-Mông lại hèn hạ đến thế. Bắt lương gia thiếu bữ dâng cho tên sứ Tầu! Thực là một điều nhục quốc thể. Ta phải cứu thiếu nữ này, rồi dấu đi một nơi mới được.
Nghĩ vậy nó nhảy qua cửa sổ vào phòng. Thiếu nữ thấy hình dáng kỳ dị của nó tưởng đâu là con quỷ ba đầu mà nàng đã nghe đồn đại mấy hôm trước. Nàng vừa há miệng ra định hét lên, thì nó điểm huyệt Á-môn của nàng, rồi ghé miệng vào tai nàng nói nhỏ:
- Ta không phải là quỷ đâu. Ta là sứ giả nhà trời giáng thế cứu cô nương đây. Cô nương hiểu không? Nếu cô nương hiểu thì gật đầu đi.
Thiếu nữ gật đầu. Thủ-Độ vác nàng lên vai vọt khỏi cửa sổ, băng hàng rào ra ngoài. Nó hướng đền thờ vua Trưng, phóng như bay. Tới nơi, nó bảo thiếu nữ:
- Cô nương tạm ngồi đây, để tôi trở lại tính tội tên Đàm Dĩ-Mông với bọn Tầu, sau đó sẽ đưa cô về nhà.
Thủ-Độ đặt thiếu nữ nằm dưới gầm bàn thờ, rồi trở lại dinh Thái-sư. Nó núp sau cửa sổ phòng khách nhìn vào bên trong: Đàm Dĩ-Mông đang ngồi trên bàn tiệc với một người tuổi còn trẻ, trang phục đại thần Tống. Phía sau, sáu thiếu nữ quần áo xanh, sáu thiếu nữ quần áo hồng đứng hầu.
Đàm Dĩ-Mông nói bằng giọng khúm núm:
- Bây giờ tiểu nhân xin dâng Thiên-sứ đại nhân món canh vi cá nấu yến sào, loại hồng yến rất hiếm.
Thủ-Độ kinh ngạc:
- Gã Thiênsứ này là Triệu Doãn-Chi đây. Tại sao gã lại biết tiếng Việt?
Đàm Dĩ-Mông hô:
- Dâng lễ!
Đầu bếp bưng lên cái khay bạc, trên có hai bát canh vi yến lớn. Hai thiếu nữ áo hồng đỡ lấy, bưng đến đặt trước Đàm và gã Thiên-sứ. Dường như hai thiếu nữ cố tình, nên khi cúi xuống để ngực chạm vào má hai người.
Gã Triệu Doãn-Chi nắm lấy tay thiếu nữ, rồi kéo nàng ngồi vào lòng. Gã vừa uống rượu, vừa sờ soạng khắp người nàng. Nhìn cảnh đó, Thủ-Độ không ngạc nhiên, vì nó từng thấy các tướng Mông-cổ, sau khi thắng trận, họ bắt hoàng hậu, phi tần, công chúa của các nước bại trận hầu rượu, dùng làm vật tiêu khiển lúc xa nhà.
Gã Doãn-Chi lên tiếng:
- Đàm Thái-sư! Thái-sư kiếm đâu được mười hai nàng tiên này vậy? Bản sứ sống tại kinh đô Lâm-an, nơi nổi danh sản xuất nhiều người đẹp của Trung-nguyên, mà chưa từng thấy thiếu nữ nào xinh đẹp thế này?
- Thiên-sứ đại nhân quá khen. Tiểu nhân đã dành một thiếu nữ mười bảy tuổi, đẹp bậc nhất Thăng-long. Dáng người đã thanh lịch, lại ôn nhu văn nhã, thân thể tiết ra hương thơm. Nàng vốn là một tiểu thư khuê các, lại còn trinh nguyên. Nàng đang chờ Thiên-sứ đại nhân ở phòng ngủ bên cạnh.
Thủ-Độ nghĩ thầm:
- Từ ngày vua Thái-tổ dựng nghiệp, có bao giờ triều đình phải cúi đầu nịnh hót, hối lộ, cung phụng bọn sứ như thế này đâu? Không biết cái việc bắt gái dâng cho tên sứ này là chủ ý của triều đình hay của tên Đàm Dĩ-Mông ? Dù đây là chủ trương của triều đình hay tên Đàm Dĩ-Mông, ta cũng phá cho chúng tức đến điên đảo lên, mới xứng đáng là cháu thánh Gióng. Triều đình như thế, quan đầu triều như thế, hèn gì cha ta cứ nghiến răng đòi phế bỏ ngôi vua của họ Lý, lập một triều đình mới. Ta...ta quyết thi hành cái chí của cha ta.
Bỏ phòng ăn, nó xuống nhà bếp, nấp bên cửa sổ nhìn vào: Bên trong, các món ăn đã nấu nướng xong, chuẩn bị mang lên. Tên đầu bếp, ngồi ngủ gật cạnh cửa. Có tiếng động, Thủ-Độ nhìn ra ngoài sân, dưới ánh sáng lờ mờ, nó thấy một con chuột chù đang ngửi ngửi kiếm ăn, với hai con cóc đang nhảy. Tính tinh nghịch, nó chĩa ngón tay phóng chỉ giết cả ba con vật. Rồi buông mình nhảy vào trong bếp. Tên đầu bếp thấy con quỷ ba đầu thì há hốc mồm định rú lên. Nó điểm huyệt Á-môn của y. Thế là người y cứng đơ. Tuy bị tê liệt, nhưng mắt y không bị ảnh hưởng. Nghĩ rằng mình bị quỷ bắt, y nhắm mắt lại chờ chết. Thủ-Độ bới đĩa xào thập cẩm, bỏ con chuột vào giữa, rồi vun cho đồ xào che kín như cũ. Còn hai con cóc, nó bỏ vào bụng con cá chép nướng. Hành sự xong, nó định bỏ đi, nhưng nó chợt nghĩ:
- Nếu mình bỏ đi như vậy thì tính mệnh tên đầu bếp khó toàn.
Nó vác tên đầu bếp đem bỏ vào cái ghế trong thư phòng của Đàm Dĩ-Mông, rồi nói với y:
- Ta là Vô-thượng chí-tôn đại thánh hoàng đế đây. Diêm-vương sai ta về dương thế điều tra mấy việc. Ta tạm bắt một hồn, ba phách của mi, để mi tê liệt, không nói được. Hai giờ sau, ta sẽ trả hồn phách lại cho mi. Nếu tên Đàm Dĩ-Mông có hỏi tội mi rằng sao trong đĩa xào có chuột chết, trong cá nướng có cóc, thì mi bảo là ta làm. Mi có biết tiền kiếp ta là ai không?
Tên đầu bếp gật đầu.
Hành động xong, Thủ-Độ nghĩ:
- Dù gì ăn xong, tên Thiên-sứ khốn nạn kia cũng vào phòng để hãm hiếp Thùy-Vân. Đã vậy ta đột nhập vào, nhát cho y bở vía một phen.
Nó hướng phòng Thùy-Vân, chạy tơí, mở cửa sổ nhảy vào, ngồi lên dường của nàng chờ đợi. Không đầy một khắc sau, có tiếng dép khua lẹp kẹp, rồi một người bước vào. Thì ra là mụ vợ Đàm Dĩ-Mông. Sau khi khép cửa, mụ ngẩng mặt lên, nhìn thấy hình dáng kỳ dị của con quỷ ba đầu thì chân tay bủn rủn, miệng há hốc ra không kêu thành tiếng. Thủ-Độ cúi xuống ngỏng lên. Ba cái đầu cùng gật một lượt. Mụ sợ quá ngã ngồi xuống. Sợ mụ la lên, Thủ-Độ phóng tới điểm huyệt mụ, rồi bồng mụ đặt lên giường, lấy chiếc khăn lụa trùm kín mặt mụ. Nó cười thầm:
- Mình định nhát tên Thiên-sứ, nhưng mụ này ở đâu dẫn xác vào. Mình để mụ nằm đây, lát nữa tên Thiên-sứ nhập phòng, hân hoan thưởng thức đóa hoa đẹp nhất Long-thành, thì chỉ thấy một mụ già béo ị.
Nó nhảy ra khỏi căn phòng nhỏ, rồi trở lại núp ngoài phòng ăn. Nó lắng tai nghe. Gã Thiên-sứ hỏi :
- Mấy hôm nay, bản sứ đi đâu cũng nghe người ta bàn tán về con quỷ ba đầu hiện lên ở Đông-cung. Không biết nó có còn hiện lên ở đâu nữa không ?
- Thưa ngài chưa.
- Sao triều đình không tìm cách trấn áp nó đi ! Không lẽ cứ để nó hoành hành như vậy sao ?
- Quốc-vương đã sai Phạm Bỉnh-Di đem thanh kiếm của người tới trấn ở Đông-cung. Dường như con quỷ sợ oai, nên không thấy hiện lên nữa.
- Thế con quỷ đó gốc tích ra sao ?
- Nó xưng là oan hồn của Thái Long-Xưởng.
- Thái-hậu hiện là Công-chúa tiên-tử của phái Hoa-sơn. Mà phái Hoa-sơn nức tiếng thiên hạ về việc bắt tà, trừ quỷ. Sao Thái-hậu không ra tay ?
- Có lẽ, sau khi Phạm Bỉnh-Di trấn áp, nó không hiện lên nữa, nên Thái-hậu mới không im lặng.
- Cô gia lo nhất là hồn ma của Đoan-Nghi. Nếu hồn ma này hiện lên gào khóc, thì phái Đông-A không ngồi im đâu.
- Đại nhân đừng lo, Thái-hậu đã sai Đoàn Văn quật mồ nó lên, bỏ vào đó một con chó mực, thì không sợ gì nữa.
Tim Thủ-Độ đập thình thình, cứ như tên Thiên-sứ với Đàm Dĩ-Mông luận thì cái chết của mẹ ta do triều đình Tống, triều đình Việt cùng ra tay. Chà ! Vấn đề này to lớn đây.
Dĩ-Mông vẫy tay, một thiếu nữ áo vàng hô lên :
- Dâng rau xào thập cẩm.
Không có tiếng đáp lại, cũng không thấy đầu bếp bưng lên. Dĩ-Mông truyền lệnh :
- Mai ! Người vào bếp xem sao ?
Thiếu nữ áo vàng rời khỏi phòng, lát sau nàng trở lại với đĩa xào thập cẩm. Nàng bưng để trước mặt Đàm Dĩ-Mông. Dĩ-Mông trịnh trọng :
- Xin mời đại nhân. Món thập cẩm này gồm ruột gà, tim gà, cật gà, mề gà, gan gà, vi cá, mực, cua, tôm, sò. Tất cả đều do trấn Thiên-trường gửi về.
- Thiên-trường à ! Bản sứ thấy tiếng tăm, thế lực bọn Đông-A quá lớn. Thái-sư là tể thần, phải liệu trừ đi cho sớm. Ai đời trong một nước mà cả một vùng trù phú, dân cư đông đúc, triều đình để cho một võ phái kiểm soát hết thì thể diện đấng quân phụ còn ra gì nữa?
- Tiểu nhân xin ghi nhớ lời Thiên-sứ. Song muốn trừ chúng cũng khó. Bởi dân chúng, do tên Trần Lý chiêu mộ về. Đất đai, thì y bỏ tiền ra giúp dân khai hoang. Trong vùng ảnh hưởng của y, không có nạn cường hào, trộm cướp cũng không. Vạn nhất mà có gì xẩy ra, chỉ cần vùng này đóng cửa, thì dân Thăng-long không còn gạo, trâu, bò, gà vịt, tôm cá mà ăn.
Triệu Doãn-Chi gắp món xào thập cẩm đưa lên miệng, dường như thấy mùi vị lạ, hắn nhăn mặt nuốt đi, rồi gắp một gắp khác đưa lên mũi ngửi. Hắn bỏ xuống, rồi hỏi Dĩ-Mông :
- Món này có thêm gia vị gì không mà sao có mùi hơi nặng.
Dĩ-Mông cũng cảm thấy có mùi lạ, y cầm đũa đảo cả đĩa ào thập cẩm lên, thì hỡi ơi, giữa đĩa có con chuột chù hôi thối cùng cực. Y ra lệnh cho thiếu nữ áo vàng :
- Gọi tên đầu bếp lên đây !
- Thưa Thái-sư, y bỏ đi đâu mất rồi !
- Người xuống bếp, xem còn món gì khác thì đem lên.
- Vâng.
Con hầu Mai rời phòng ăn, rồi trở lại với cái đĩa bằng bạc lớn, trên để con cá chép cực lớn, nướng vàng ngậy. Đàm Dĩ-Mông trịnh trọng dùng đũa vẽ lái lườn con cá bỏ vào bát gã Thiên-sứ. Gã Thiên-sứ gắp cá chấm nước mắm ăn. Gã gật gù :
- Cá nướng ngon thực.
Gã vẽ một miếng cá nữa, thì trong bụng cá có cái gì lòi ra. Cho rằng đây là bộ đồ lòng. Y dùng đũa kéo ra, thì ôi thôi một, rồi hai con cóc.
Mặt Dĩ-Mông tái xanh. Y đứng dậy chắp tay vái Triệu Dụng-Chi :
- Đại nhân ! Xin Đại-nhân xá tội ! Cái tên đầu bếp này phản chủ, rồi bỏ trốn. Tiểu nhân xin tạ tội bằng cách mời Thiên-sứ rời khỏi đây, đến một tửu lầu lớn nhất Long-thành, sẽ có đủ miếng ngon vật lạ.
Doãn-Chi xua tay :
- Thôi, bản sứ ăn mấy món trước cũng đã lửng bụng rồi. Bản sứ muốn đi nghỉ.
Dĩ-Mông cúi rạp người xuống :
Tiểu nhân xin mời Thiên-sứ tới căn phòng hoa, giai nhân Thùy-Dương đang đợi chờ !
- Được !
Dĩ-Mông đi trước, gã Thiên-sứ theo sau. Tới căn phòng Thùy-Dương, Dĩ-Mông ngừng lại, vái một vái :
- Xin mời Thiên-sứ.
Triệu Doãn-Chi hân hoan cùng cực, trong tâm tưởng tượng ra sau cánh cửa ; một tuyệt thế giai nhân đang chờ đợi dâng hiến đời con gái cho mình.
Y đẩy cửa bước vào !
Dụng-Chi mở cửa vào trong. Cánh cửa khép lại. Dĩ-Mông định bỏ đi, thì một thân binh hớt hải vác một thân binh khác đến. Y run run để thân binh trên vai xuống :
- Thưa Thái-sư, con quỷ ba đầu nhát chết một thân binh tên Hòa.
Nghe nói đến con quỷ ba đầu, mặt Dĩ-Mông tái xanh. Y run run cầm mạch tên Hòa :
- Nó chưa chết. Nó chỉ ngất đi thôi. Người kiểm lại xem, trong phủ còn có ai bị nhát nữa không ?
Lát sau, viên trưởng sử tới, y run run :
- Thưa Thái-sư, con quỷ ba đầu nhát chết hai viên thư lại rồi.
Dĩ-Mông cũng bắt đầu sợ. Y đờ người ra, thì cửa phòng Thùy-Dương bật mở, gã Thiên-sứ run run :
- Trong phòng này, Thái-sư bảo có người đẹp, mà sao chỉ có một mụ già béo ỵ. Mụ này chết cứng từ hồi nào rồi.
Dĩ-Mông tung cửa vào, người nằm trên giường không phải Thùy-Dương, mà là vợ y. Vợ y chết rồi. Y nói với gã Thiên-sứ:
- Đại nhân, có lẽ con quỷ nuốt Thùy-Dương, nhát chết vợ tôi, rồi đem xác bỏ vào đây.
Phủ Thái-sư đánh trống báo động. Đích thân Dĩ-Mông cùng gia tướng đi kiểm soát. Trong phủ có trên ba trăm người, mà hơn năm chục người bị con quỷ ba đầu nhát.
Núp trong bụi cây, Thủ-Độ nghĩ :
- Mình quậy phủ Thái-sư như vậy cũng đủ rồi. Cứ theo lời tên Triệu Dụng-Chi, thì người chủ chốt trong vụ ám toán mẹ mình gồm cả Tống triều, lẫn triều Lý. Hà, vụ này ngoài tầm tay mình rồi. Tuy vậy mình vẫn phải tìm cho ra, bọn Việt là bọn nào ?
Nó cất mặt nạ, gỡ hai quả bầu gói lại, rồi tung mình ra khỏi hàng rào phủ Thái-sư. Nó hướng đền vua Trưng dùng khinh công phóng tới. Bất giác nó ngẩn người ra, vì Thùy-Dương không còn đó nữa. Nó nghĩ thầm:
- Chắc là sau hai giờ, huyệt đạo tự giải, Thùy-Dương đã tìm đường trở về nhà rồi. Ta chẳng nên quan tâm.
Nó trở về Tây-hồ thủy-xá vào lúc qúa canh ba. Tuy vậy đám Tây-hồ thập bát anh hào còn thắp đèn ngồi học. Cả bọn cùng ùa ra đón Thủ-Độ.
Đệ tam hào mở cổng cho Thủ-Độ vào rồi hỏi:
- Anh có việc gì, mà giờ này lại ra đây?
Thủ-Độ đang khoái trá cùng cực, nó cười:
- Các em chăm học thực! Giờ này còn thức! Chú Cửu-Kiệt ra gọi gã hàng phở ở đầu phố lại đây. Anh em ta cùng ăn phở gà với nhau.
Gã bán phở rong cùng bà vợ đẩy xe tới. Thủ-Độ hỏi:
- Này anh! Anh có mấy cái bát lớn?
- Tôi chỉ có mười cái lớn, mười cái nhỏ thôi.
- Bây giờ anh làm phở cho mười chín đứa chúng tôi cùng ăn. Liệu có đủ cho mỗi đứa hai bát to không?
Hôm nay là ngày ế ẩm, gã hàng phở đang lo nghĩ phải đem nồi phở ế về. Nghe Thủ-Độ hỏi, anh ta mừng lắm:
- Đủ! Thưa đủ chứ.
Cả bọn mười tám đứa trẻ với Thủ-Độ cùng ăn. Mỗi người hai bát lớn, hoặc ba bát nhỏ. Gánh phở vẫn chưa hết. Thủ-Độ hỏi:
- Chị Hai, chị Ba đâu? Mời các chị ăn phở một thể.
Chị Hai, chị Ba là hai thiếu phụ trẻ. Thủ-Độ mượn để nấu cơm, giặt dũ trong nhà. Tam-Anh xua tay:
- Các chị ấy ngủ rồi.
Thủ-Độ hỏi gã bán phở:
- Anh còn độ bao nhiêu bát?
- Khoảng hai chục
- Thôi, làm cho chúng tôi ăn hết, để anh trở về không, khỏi cất để bán ngày mai.
Ăn phở xong, bọn Thập-bát Anh-hào lại tiếp tục học. Thủ-Độ trở về phòng ngủ. Khép cửa phòng, vừa tháo dầy ra, nó chợt nhận thấy có người nằm. Người đó là Thùy-Dương. Thùy-Dương vẫn bị điểm huyệt, mắt nàng mở to nhìn Thủ-Độ. Kinh-hãi, Thủ-Độ chạy ra ngoài hỏi đám Thập-bát Anh-hào:
- Hồi chiều đến giờ có ai lạ vào nhà mình không?
- Không! Có chuyện gì xẩy ra?
- Thôi được!
Trở vào phòng, Thủ-Độ ghé miệng vào tai Thùy-Dương:
- Cô nương có biết ta là ai không?
- Ngài có phải là thiên tướng giáng thế cứu tiểu nữ không? Ban nãy ngài hiện ra ba đầu, bây giờ lại biến thành một Thiên-đồng.
- Cô nương có biết đây là đâu không?
- Đây là Thiên-cung chăng? Ban nãy ngài bỏ tiểu nữ dưới gầm môt cái bàn, lát sau ngài lại hiện ra hình một tiên nữ, mang tiểu nữ về đây.
Vốn cực kỳ thông minh, Thủ-Độ đoán ra:
- Hành động của ta đã bị một võ lâm cao thủ là đàn bà theo dõi. Chắc là vị trung niên to lớn, với bà vợ xinh đẹp ở Văn-miếu...hôm trước. Hai người này muốn trêu ta, nên mang Thùy-Dương bỏ vào phòng, rồi rình xem ta có hành vi khinh bạc không đây! Vậy ta cũng trêu lại.
Nó lên tiếng:
- Đêm khuya, cao nhân rình ở ngoài như vậy e nhẹ thể đi! Xin mời vào tương kiến!
Có tiếng cười trong như nước suối chảy:
- Thông minh thực!
Rồi tiếng chân người di động. Biết có đuổi theo cũng vô ích. Thủ-Độ bảo Thùy-Dương:
- Cô nương là con của vị Kinh-diên quan nào ?
- Phụ thân của tiểu nữ họ Phạm tên Kính-Ân.
Không giữ được bình tĩnh, Thủ-Độ bật lên tiếng kêu :
- Ái chà.
Vì Phạm Kính-Ân là một Kinh-diên quan, mà Thủ-Độ kính trong nhất trong các thầy ở Quốc-tử giám. Quên mất mình đang là Thiên-tướng, nó chắp tay :
- Cô nương là con thầy Kính-Ân, theo nghĩa của Nho-gia, con thầy là anh chị mình. Vậy cô nương là chị tôi rồi !
Nghe Thủ-Độ nói, Thùy-Dương ngẩn người ra :
- Ngài có biết gia nghiêm à ?
Thủ-Độ chợt tỉnh, nó chữa :
- Tôi thường tàng hình kiểm soát Quốc-tử giám, nên được nghe Phạm tiên sinh giảng sách. Tôi kính ngài là bậc thầy.
Nó dặn Thùy-Dương:
- Bây giờ tôi đưa cô nương về nhà. Nếu Đàm Dĩ-Mông làm khó dễ cô nương, hỏi tại sao cô nương trốn khỏi dinh y, thì cô nương cứ trả lời rằng, cô nương được một thiên tướng ba đầu đã cứu rồi đem về nhà.
Thùy-Dương quỳ gối rập đầu:
- Xin thiên tướng nhận ở tiểu nữ tám lạy, gọi là tấc lòng biết ơn.
Thủ-Độ không cho nàng lạy, nó nói:
- Sau này tôi sẽ hiện hình nhiều lần, hóa làm nhiều người khác nhau; làm sao cô nương nhận được tôi? Vậy tôi cho cô nương một kệ. Khi gặp một người xưng là thiên tướng, thì cô nương đọc câu Đông-sơn chi pha. Nếu người đó đáp lại là Nhật chiếu cương la. Thì đúng. Còn như y đáp sai, hoặc ngơ ngác là giả mạo. Cô nương có hiểu nghĩa không?
- Thưa thiên tướng, nghĩa rằng ngài là thần núi phương Đông, như mặt trời chiếu xuống thế gian, cứu những kẻ bị nạn, như thỏ, như nai bị mắc lưới.
Sự thực Thủ-Độ muốn nói.
"Đông-sơn chi pha"
Nghĩa là sườn núi phương Đông. Pha là sườn, có nghĩa là phụ. Chữ phụ với chữ Đông thành chữ Trần. Nhật-chiếu nghĩa là mặt trời lướt qua, tức chữ Độ. Cả hai câu có nghĩa: Trần Thủ-Độ cứu người mắc nạn như cá lọt lưới. Nay thấy Thùy-Dương giảng khác đi. Nó không muốn cãi. Nó hỏi nhà thiếu nữ ở đâu? Thiếu nữ kể rành rọt cho nó nghe. Nó phóng chỉ điểm huyệt thiếu nữ, rồi đưa nàng về nhà.

Hoàn thành công việc xong, Thủ-Độ trở về Tây-hồ thủy-trang ngủ. Sáng hôm sau, nó thức giấc thì mặt trời đã lên cao. Bọn Tây-hồ thập bát anh hào học văn với thầy đồ vừa xong. Chúng đang tiễn thầy về.
Thủ-Độ gọi chúng tới . Nó nói :
- Các em có biết đêm qua, con quỷ ba đầu lại hiện ra, quấy phá dinh Thái-sư Đàm Dĩ-Mông không ?
Cả bọn nhao nhao lên :
- Con quỷ quậy như thế nào ? Anh nghe được ở đâu ?
- Nghe chính viên trưởng sử của Đàm phủ kể.
Rồi nó tường thuật chi tiết những gì xẩy ra đêm qua. Cuối cùng nó ra lệnh :
- Các em lại làm như hôm trước. Nghĩa là chia nhau, mỗi em ra một chợ ở Thăng-long, thuật cho tụi ăn mày, hoặc tụi trẻ con nghe. Hễ quan quyền có hỏi, thì nói rằng chính tai nghe viên trưởng sử kể.
Thế là không đầy một ngày, khắp Thăng-long, người ta tụm năm túm ba thuật cho nhau nghe hành trạng của con quỷ ba đầu. Dân chúng, kẻ sĩ nghe chuyện đều tấm tắc khen con quỷ có hành vi giống Ưng-sơn song hiệp, Mộc-tồn vọng thê hòa thương thời vua Thái-tổ, Thái-tông, Nhân-tông và Côi-sơn song ưng thời vua Anh-tông.
Tin tức này làm cho Thủ-Độ cảm thấy cực kỳ cao hứng. Quyết định thám thính nhà tên Đặng Vũ, nó gọi Tứ-Anh, Tứ-Hào vào thư phòng ra lệnh :
- Các em ra lệnh cho thủ hạ theo dõi nhà của tên Đặng Vũ xem chiều nay có gì lạ không ?
Tứ-Anh, Tứ-Hào đi liền. Vào khoảng đầu canh một, chúng về báo với Thủ-Độ :
- Nhà tên Đặng Vũ có lễ lớn. Y mời đạo sư Thiên-Sơn đến làm lễ yểm tà.
- Nhà y bị ma quấy phá à ?
- Không ! Y nghe nói con quỷ ba đầu hiện hồn nhát người ở Đông-cung, rồi phủ Thái-sư. Y lo sợ vội yểm trước.
- Thôi được ! Các em đi ngủ đi !
Thủ-Độ vào phòng, lấy bộ đồ làm quỷ đeo vào lưng rồi hướng Nghi-tàm, dùng khinh công phóng tới. Đến hàng rào nhà Đặng Vũ, nó liếc nhìn vào trong : Đèn nến sáng trưng. Bốn góc của khu vườn đều cắm cờ theo ngũ hành. Đông mầu xanh, Tây mầu trắng. Nam mầu đỏ, Bắc mầu đen. Giữa sân, một bàn thờ lớn, trên đặt bài vị Tam-thanh, Tứ-đế, đầy lễ vật. Một người trong y phục đạo sư đang xõa tóc, cầm gươm làm phép. Hai bên mỗi bên có mười hai đệ tử cầm cờ Bát-quái. Xung quanh, có hàng trăm người đang ngồi, đứng lố nhố xem . Lại có năm người đánh trống, gõ thanh la, đập phách. Tên Đặng Vũ quỳ gối cùng thủy thủ đoàn mười tám tên, hướng bàn thờ lạy lia lịa.
Thủ-Độ nghĩ thầm :
- Tội nghiệp cho ông đạo sư kia ! Ông làm phép trấn tà chết. Trong khi ta là con tà sống đứng đây. Ta phải dọa cho tên Đặng Vũ này sợ đến té đái vãi phân ra thì mới mong y khai sự thực.
Tay đạo-sư Thiên-Sơn bắt quyết, miệng hú lên lanh lảnh, trong khi đó thì một tên đệ tử túm lưng một hình nộm lắc lư. Hình nộm trong y phục phụ nữ, trước ngực có đề chữ. Nhưng ở vì tối quá nó không đọc được.
Thủ-Độ đã được nghe nói: Khi gia chủ giết oan một người nào, bị hồn ma hiện về nhát, thì có hai cách giải quyết. Một là tìm một nhà sư, làm chay, giải oan, cắt đoạn cho oan hồn đi đầu thai. Hai là mời thầy phù thủy về bắt hồn con tà, bỏ vào một cái hũ, trên đậy nắp, dán bùa, rồi thả chìm xuống đáy sông. Hồn con tà đời đời, kiếp kiếp bị giam, không bao giờ ra được. Trường hợp oan hồn thành quỷ rồi, thì thầy sẽ dùng một hình nộm kết bằng rơm, cho mặc quần áo như khi con tà còn sống thường mặc. Trên ngực hình nộm đề niên canh bát tự của con tà. Thầy làm phép cho hồn con tà nhập vào hình nộm, rồi dùng gươm phép giết chết.
Bây giờ thấy hình nộm di chuyển, đạo sư làm phép, nó biết ngay, ông ta sắp giết chết một người...đã chết. Không biết kẻ xấu số nào sắp bị chết một lần nữa đây? Hình nộm di chuyển đến bên ngọn đuốc. Thủ-Độ nhìn rõ ràng chữ đề trên hình nộm là Lý Đoan-Nghi.
Uất khí vì cái chết của người mẹ thân yêu chưa nguôi, bây giờ Thủ-Độ thấy người ta sắp giết mẹ mình một lần nữa. Nó nghiến răng:
- Ta phải giết tên đạo sư Thiên-Sơn khốn nạn này.
Nhưng nó nghĩ:
- Dù võ công ta cao đến đâu, mà ta xông ra, thì cũng bị hàng trăm người kia giết chết.
Nó vòng hàng rào ra phía sau nhà quan sát, trên ngôi nhà chính, nhà ngang, bếp đều vắng bóng người. Năm con chó bị xích vào gốc cây. Nó tung người vào hàng rào. Năm con chó vừa há miệng định tru lên, thì đã bị Thủ-Độ điểm huyệt. Nó dấu bốn con ở bụi cỏ khu vườn hoang bên cạnh. Còn một con, nó mang treo hai chân sau lên cột buồm chiếc du thuyền đậu ở bờ hồ. Xong xuôi, nó dùng sỏi bắn vào đầu chó để giải huyệt. Huyệt vị vừa được giải, con chó tru lên một tiếng dài, rồi kêu oăng oẳng. Tiếng tru, kêu của chó vọng ra phía trước, lập tức tiếng trống, tiếng thanh la im bặt.
Nghe tiếng cho tru, mặt tên Đặng Vũ tái xanh. Y ra lệnh cho một thủy thủ :
- Người ra phía sau xem tại sao chó tru như bị ai đánh vậy ?
Dường như tên thủy thủ có vẻ sợ hãi. Y tần ngần một lát, rồi miễn cưỡng đứng lên, tay cầm cây đuốc, tay cầm đao ra phía sau. Y vượt qua khoảnh vườn tới bờ hồ. Nhìn lên thấy con chó bị treo ngược, y rởn tóc gáy, chân tay run lật bật. Y quay trở lại định chạy, thì con quỷ ba đầu chặn mất lối đi. Y hét lên một tiếng hãi hùng, rồi quẳng đao, quẳng đuốc chạy ra phía trước. Y chỉ nói được một tiếng :
- Quỷ...Quỷ ba đầu.
Rồi ngất xỉu.
Đạo sư cùng chư đệ tử cùng múa cờ, phất phướn, tay bắt quyết. Đám thủy thủ cùng cầm đao, cầm đuốc chạy ra phía bờ hồ. Đám người xem, người nhà kinh hoảng cũng chạy theo. Tới nơi, tất cả cùng ngây người ra nhìn chiếc du thuyền đang từ từ chìm. Trên cột buồm, con chó bị treo ngược, đang dẫy loạn xạ, tru lên rùng rợn.
Đặng Vũ vẫy tay, đám thủy thủ dàn ra, bao vây lấy khách và người nhà. Còn đạo sư với đệ tử cùng múa chân, múa tay bắt quyết, miệng hú lên những câu thần chú. Khi chiếc du thuyền chim xuống rồi, thấy không có gì lạ, đạo sư an ủi :
- Con quỷ ba đầu đã bị bần đạo đuổi đi rồi.
Bỗng có nhiều tiếng chó tru phía trước. Đạo sư đi đầu dẫn mọi người trở lại bàn thờ. Đèn nến tắt hết. Trong sân tối om, tiếng chó tru vang lên trên bàn thờ. Dưới ánh đuốc chập chờn, bốn con chó nằm bốn góc bàn thờ trong tư thế bốn chân duỗi rất nhàn tản, miệng kêu oăng oẳng. Lễ vật biến mất. Hình nộm công chúa Đoan-Nghi cũng không còn.
Chán đời đi lang thang !
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-04-16 01:59:14NuHiepDeThuong>
Hồi thứ ba mươi sáu


Trên đường tầm cừu


Đạo sư cùng đám đệ tử cũng run lật bật. Ông ta nói :
- Con quỷ này... thành yêu tinh rồi... Tài phép của ...bần đạo không trấn nổi... nó.
Nói rồi ông quẳng cờ phép, gươm lệnh bỏ chạy. Đám để tử cũng bỏ chạy theo. Đám dân chúng tới xem bắt tà dắt díu nhau rùng rùng ra khỏi căn nhà quỷ ám.
Dù sao Đặng Vũ cũng là một thuyền trưởng. Y chỉ vào ngôi nhà chính của y, nói với bọn thủy thủ :
- Con quỷ này dữ quá. Chúng ta có chạy cũng không thoát. Chi bằng chúng ta cứ ngồi đây. Nếu nó hiện ra, thì ta cùng bao vây lấy nó. Liệu nó có địch nổi chúng ta hay không ?
Bọn thủy thủ theo Đặng Vũ vào nhà, rồi đóng cửa lại. Bỗng binh một tiếng, cửa sổ mở tung ra, tiếp theo, hai con chó bay vào rơi xuống nền nhà, chân tay dẫy loạn xạ. Máu từ miệng chúng chảy ra lênh láng. Bọn Đặng Vũ ngồi nhìn nhau, chân tay run rẩy. Lát sau, hai con chó hết dẫy. Đặng chạy lại xem xét, chúng đã chết rồi.
Đặng Vũ nói cứng :
- Con quỷ này ngán anh em chúng ta. Bằng không chúng đã hiện ra.
Đám thủy thủ nghe Đặng Vũ nói, chúng tự tin phần nào. Mệt mỏi, sợ hãi, bọn thủy thủ ngồi bệt xuống nền nhà dựa lưng vào nhau mà ngủ.
Có tiếng rên rỉ vọng vào :
- Ta...Ta... Chỉ hỏi tội tên Đặng Vũ thôi ! Những ai..vô can... hãy đi chỗ khác... bằng không ta nhát... chết.
Đám thủy thủ nghe quỷ gào, chúng an tâm nằm ngủ. Chúng vừa lim dim thì lại binh binh hai tiếng, cánh cửa lớn bật tung, một thân hình bay vào nằm thẳng cẳng không động đậy. Tất cả mọi người đều la hoảng vì thân hình đó chính là đạo sư Thiên-Sơn, chủ tế bắt tà.
Đám thủy thủ không còn tuân lệnh cấp trên nữa. Chúng vùng dậy cùng nhau bỏ chạy. Trong nhà chỉ còn hai người vợ, ba đứa con với ba tỳ nữ.
Vợ Đặng Vũ run run nói với chồng :
- Ông ơi ! Con quỷ ba đầu là hồn oan Thái-tử Long-Xưởng. Khi ngài tại thế thì chúng ta còn nhỏ. Chúng ta không có gì đắc tội với ngài, thì việc gì phải sợ. Ngài có hiện ra, bất quá để điều tra một vài việc. Tội ai làm nấy chịu, ta cứ khai hết... là yên chuyện.
Có tiếng não bạt từ sân vọng vào. Đặng Vũ quỳ gối chắp tay :
- Trăm lậy Vô-thượng Chí-tôn Đại-thánh hoàng đế. Xin hoàng đế bệ hạ cho gia đình thần được bình yên. Bệ hạ cần ban chỉ gì, thần xin tuân theo.
Y khấn vừa dứt, thì một bóng trắng, ba đầu từ từ vào nhà y. Đám trẻ con tỳ nữ cùng rú lên, rồi ngất xỉu. Thấp thoáng một cái con quỷ ba đầu đã vỗ lên cổ Đặng Vũ với hai người vợ. Cả ba ngã ngồi xuống, chân tay tê liệt. Con qủy ba đầu ngồi chễm chệ lên chiếc án thư.
Thủ-Độ giả tiếng đàn bà eo éo :
- Công chúa Đoan-Nghi chết oan, hồn ngưởi xuống âm phủ kiện với Diêm-vương. Diêm-vương nhờ ta về điều tra. Vậy ta hỏi câu nào, mi phải khai thực, bằng không ta bắt hồn mi với vợ con ngay.
- Thần...Thần... Xin khai thực.
- Mi với Vũ Khải nhận lệnh từ ai để theo sứ đoàn đi Liêu-Đông ?
- Hồi ấy, thủy đội của thần có nhiệm vụ tuần phòng ở cửa biển Thần-phù, thuộc trấn Thanh-hóa ; thì được lệnh đích thân mang một chiến thuyền lớn, cùng thủy thủ về Thăng-long, theo sứ đoàn Vũ Khải. Lệnh này của Khu-mật viện, do Tuyên-vũ sứ Thanh-hóa chuyển giao. Khi về tới Thăng-long, thần mới biết rằng phải chuẩn bị lương thực, nước ngọt đi Liêu-Đông. Song không biết đi làm gì. Dọc đường, thần nghe sứ đoàn nói chuyện, mới biết là đi đón công chúa Đoan-Nghi với phò mã Trần Thủ-Huy.
- Mi có nghe bọn Vũ Khải bàn nhau gì khác không ? Y có ra lệnh gì đặc biệt cho mi không ?
- Lúc đi thì không ! Nhưng trên đường về khi thuyền sắp vào lãnh hải Đại-Việt, thì Vũ Khải đưa ra một chỉ dụ của Hoàng-thượng. Trong chỉ dụ nói vắn tắt rằng « Khi thuyền qua Đồn-sơn, lúc đêm xuống sẽ có một thuyền đánh cá kè vào, phải để cho họ kè ». Quả nhiên sau sự ấy điễn ra đúng như thế. Khi thuyền đánh cá kè vào, thì có ba người mà Vũ Khải gọi là ba vị đại nhân họ Mao.
Thủ-Độ cười gằn :
- Một là mi nói láo, hai là mi không biết. Ba đứa đó tên là Mao Thiên, Mao Địa, Mao Nhân.
- Dạ ! Quả như thế. Anh em họ Mao nói chuyện với Vũ Khải một lúc, rồi chiếc thuyền đánh cá tách rời chiến thuyền đi vào trong đêm. Khi thuyền sắp vào cửa sông Hồng thì Vũ Khải lại ra lệnh : Phải ghìm sao cho thuyền về tới Thăng-long vào sau giờ Thân. Thần phải tuân theo. Rồi thuyền tới Thăng-long, rồi công chúa bị hại thế nào thần không biết. Sự thể chỉ có thế.
Nghe Đặng Vũ khai, Thủ-Độ nghĩ thầm :
- Sự việc quả như thầy Phạm Kính-Ân bàn.
Tuy vậy nó giả bộ khà khà mấy tiếng rồi chỉ vào đứa con trai Đặng Vũ đang ngồi run rẩy trong góc nhà :
- Mi nói láo ! Ta phải hớp hồn đứa con mi trước thì mi mới chịu khai thực.
Nói dứt, miệng nó khà khà, tay nó vuốt lên mặt đứa trẻ, sự thực nó điểm vào huyệt Hạ-quan. Đứa trẻ mê man, mắt trợn ngược. Vợ Đặng Vũ kinh hoảng khóc rống lên:
- Con ơi là con. Con chết oan chết uổng thế này ư ? Anh ơi ! Có gì khai thực đi ! Bằng không có nhà mình chết hết.
Đặng Vũ run run :
- Sau khi công chúa hoăng, thì Thái-úy Đàm Thì-Phụng ban lệnh thăng thần lên chức Đô-thống, chỉ huy thủy đội Thăng-long. Cứ như lời công chúa lúc lâm chung, cũng như Khu-mật viện điều tra, thì công chúa bị cướp giết chết. Thần không biết gì.
Biết tên Đặng Vũ khai thực, Thủ-Độ làm bộ múa tay trên mặt đứa con y, rồi quát :
- Hoàn hồn !
Tay nó quệt vào huyệt Đản-trung đứa trẻ. Đứa trẻ được giải huyệt, nó òa lên khóc. Thủ-Độ ra lệnh :
- Ngày mai, có ai hỏi, thì mi phải khai rằng hồn ta hiện về điều tra sát nhân đã giết chết Bảo-Quốc đại vương. Nếu như mi nói những gì ta hỏi, ta sẽ bắt hồn cả nhà mi. Nhớ không ?
Vợ chồng Đặng Vũ cùng líu ríu :
- Xin tuân chỉ bệ hạ.
Thấp thoáng một cái, Thủ-Độ đã rời khỏi nhà Đặng Vũ.

Hôm sau, Thủ-Độ lại gọi bọn Khả-hãn Tây-hồ, ra lệnh cho chúng, bắt chúng kể chuyện cho bọn ăn mày thống thuộc nghe ; để chúng đi khắp hang cùng ngõ hẻm kể lại với dân chúng rằng : Con quỷ ba đầu hiện lên nhát chết đạo sư Thiên-sơn, một phù thủy cao nhất Thăng-long, gữa lúc ông cùng đang cùng đệ tử trấn tà tại nhà đội trưởng thủy đội Thăng-long ở Nghi-tàm. Dân chúng Thăng-long lại tụ năm túm ba mà bàn tán.

Làm quỷ tại nhà Đặng Vũ không tìm ra được tý ánh sáng nào. Thủ-Độ quyết định đi Hồng-châu, điều tra Vũ Khải. Trưa hôm đó nó thuê xe đi Hồng-châu. Buổi chiều, thì xe tới nơi. Nó lang thang tìm bọn ăn mày để hỏi tin tức. Bọn ăn mày cho nó biết : Dinh Kinh-lược An-phủ sứ Hồng-châu tọa lạc cạnh bờ sông. Thủ-Độ theo dấu bọn ăn mày chỉ, tìm đến dinh An-phủ sứ. Nó quan sát địa thế, rồi kiếm một nhà hàng ăn uống. Đợi trời tối hẳn, nó vọt mình qua hàng rào phía sau, ẩn vào bụi hoa, phóng mắt nhìn. Trong dinh vắng lặng. Có hai khu còn ánh sáng chiếu ra, đó là khu chánh và khu nhà bếp. Nó lấy bộ đồ làm quỷ ra đeo vào. Vẫn không có tiếng động. Yên tâm, nó di chuyển thực nhanh tới khu nhà ngang. Một võ sĩ cầm đao canh gác đang đi đi, lại lại. Thủ-Độ tới sau lưng, mà y không biết. Nó hừ hừ lên mấy tiếng. Tên võ sĩ quay lại, thấy con quỷ ba đầu, hồn vía lên mây. Y khuỵu xuống, hàm răng đánh vào nhau lộp cộp. Thủ-Độ chĩa tay điểm huyệt y, rồi dọa :
- Ta bắt hồn mi mi về Âm-phủ điều tra đây. Mi có biết ta là ai không ?
- Dạ...dạ... biết. Ngài là Vô-thượng Chí-tôn Đại-thánh đế.
- Được, ta tha cho mi ? Tên Vũ Khải có nhà không ?
- Không.
- Y đi đâu ?
- Hồi chiều có lệnh của Thái-úy Đàm Thì-Phụng gọi An-phủ sứ về Thăng-long họp khẩn để đối phó với ông... ông... quỷ ba đầu.
- Vợ y ở đâu ?
- Ở phòng thứ nhất, thuộc dẫy nhà ngang.
Thủ-Độ điểm huyệt y, rồi dựng y vào tường. Người nhìn từ xa, tưởng y đang dựa cột.
Thủ-Độ đến dẫy nhà ngang, nó đẩy cửa sổ phòng có ánh sáng chiếu ra, rồi buông mình vào. Đây là một phòng ngủ trang trí cực kỳ sa hoa. Trong phòng không có người. Nó khép cửa sổ lại, nghĩ thầm :
- Cô vợ Mỹ-Hồng của Lưu Khải chắc sang phòng bên cạnh. Ta cứ ngồi đây. Lát nữa y thị về, thấy ta, sẽ chết khiếp.
Nó ngồi lên giường trong tư thế Kiết-già. Không phải chờ lâu, có tiếng dép lẹp kẹp, rồi cửa phòng bật mở. Một thiếu phụ tuổi khoảng hai mươi lăm, nhan sắc tuyệt thế, trong y phục lụa mầu mỡ gà bước vào. Thiếu phụ chưa nhìn thấy Thủ-Độ. Nàng khép cửa, cài then. Vừa quay lại, thấy Thủ-Độ, nàng há hốc miệng ra. Chân tay run lật bật. Thủ-Độ nhoài người một cái, nó đã điểm huyệt nàng, rồi đẩy ngồi vào cái ghế.
Nó hỏi :
- Người có biết ta là ai không ?
- Biết. Ngài là Vô-thượng Chí-tôn Đại-thánh hoàng đế. Xin bệ hạ tha cho tiểu tỳ.
- Công-chúa Đoan-Nghi bị ám hại, Diêm-vương nhờ ta về đây điều xem thủ phạm là ai. Nếu người khai thực thì thôi. Bằng có đôi điều dối trá, ta sẽ hớp hồn người ngay.
- Xin bệ hạ cứ hỏi.
- Mi có biết chồng mi nhận lệnh từ ai mà dám ám hại công chúa Đoan-Nghi ?
- Từ Thái-úy Đàm Thì-Phụng, cha đẻ của Hoàng-hậu.
- Bùi Thái-phi, nhà vua âm thầm ban chỉ cho chồng mi đi đón công chúa. Tại sao Đàm Thì-Phụng biết ?
- Hoàng thượng bàn với Bùi thái phi rằng, nay quyền về tay họ Đàm. Trong cung thì Đàm hoàng hậu lũng đoạn. Bên ngoài thì Đàm Dĩ-Mông giữ quyền văn, Đàm Thì-Phụng giữ binh quyền. Như vậy e tương lai lại có những vụ Đỗ Anh-Vũ, Đỗ An-Di tái diễn. Vả từ ngày công chúa với phò mã ra đi, đất nước không kỷ cương. Nhân tâm ly tán. Võ lâm chống triều đình. Vậy nên âm thầm sai người đi Mông-cổ thỉnh phò mã với công chúa về để chấn chỉnh lại. Hoàng-thượng gọi phu quân tôi, ban chỉ dụ mật đi đón công chúa, phò mã. Không ngờ vụ này Hoàng-hậu biết. Người báo cho phụ thân là Thái-úy Đàm Thì-Phụng. Thái-úy khẩn cấp họp với Thái-sư Đàm Dĩ-Mông. Cả hai cùng đi tới quyết định rằng tìm cách ám toán công chúa với phò mã khi chưa về đến Đại-Việt.
- Phò mã với công chúa ẩn tại Mông-cổ làm thế nào Hoàng-thượng biết ?
- Tống biết. Họ báo cho Nam-thiên huyền quân biết. Chính đạo cô khuyên nhà vua đi mời công chúa với phò mã về để chia bớt quyền hành của họ Đàm.
- Mi nói láo rồi, đạo cô chính là Tuyên-phi thời vua Anh-tông, người là mẹ đẻ ra nhà vua. Người vốn thù hận công chúa với phò mã. Người cũng biết khi công chúa với phò mã cầm quyền thì không lợi cho Tống. Đời nào người muốn phò mã công chúa về ?
- Không phải như vậy. Trước kia, mà phò mã với công chúa cầm quyền thì mới nguy cho Tống. Bây giờ khi phò mã công chúa về, đã bị họ Đàm chia quyền. Trong cung thì Đạo-cô phụ chính. Vả bây giờ Đại-Việt yếu quá rồi, phò mã công chúa không thể đem quân đánh vào lưng Tống nữa, mà chỉ có thể kiến thiết lại đất nước mà thôi. Theo ý triều Tống, thì giữa việc phò mã công chúa về Đại-Việt với việc hai vị giúp Mông-cổ, thì sao cho phò mã công chúa rời Mông-cổ lợi hơn.
- Vũ Khải nhận mật chỉ của nhà vua. Tại sao y lại ám toán công chúa !
- Oan uổng ! Oan uổng ! Chồng tiểu tỳ không hề ám toán công chúa. Vụ nay hoàn toàn do Thái-úy Đàm Thì-Phụng với Tống cùng ra tay.
- Chi tiết thế nào ?
- Chồng tiểu tỳ sắp lên đường thì Thái-úy xuống thuyền đưa ra một mật chỉ :
"Khi thuyền về đến lãnh hải Đại-Việt, đang đêm sẽ có một thuyền đánh cá kè vào. Phải giữ bí mật không cho phò mã công chúa biết. Thuyền đánh cá sẽ đem mật chỉ tới".
Quả nhiên khi thuyền về tới lãnh hải, đang đêm có thuyền đánh cá kè vào. Người mang mật chỉ tới là anh em họ Mao.
- Ta biết rồi chúng có tên Mao Thiên, Mao Địa, Mao Nhân. Chúng là con ma đầu Mao Khiêm. Mật chỉ ra sao ?
- Mật chỉ rằng : Phải ghìm sao cho thuyền về tới Thăng-long vào sau giờ Thân. Sau đó công chúa bị ám hại là việc ngoài sư tưởng tượng của chồng tiểu tỳ. Chồng tiểu tỳ vô tội.
- Vô tội ! Hừ ! Thế mật chỉ đâu ?
- Sau khi công chúa bị hại rồi, thì Thái-úy mới gọi chồng tiểu tỳ nói rằng : Vụ công chúa bị cướp giết chết, phái Đông-A cũng như triều đình đều quy cho mi có trách nhiệm. Vậy tốt hơn hết, hãy hủy hai cái mật chỉ kia đi. Chồng tiểu tỳ đem mật chỉ ra hủy trước mặt Thái-úy. Theo như chồng tiểu tỳ biết, thì mật chỉ này kiềm ấn đàng hoàng. Vậy có thể mật chỉ do Thái-úy làm rồi Hoàng-hậu lấy trộm ấn kiềm vào. Còn chữ ký thì Thái-úy nhái theo chữ ký của Hoàng-thượng.
- Tại sao trong trang của Vũ Khải lại chứa ba anh em họ Mao ?
- Theo Thái-úy thì cái vụ quỷ ba đầu là do một cao thủ giả danh. Cao thủ này đang đi điều tra về cái chết của công chúa. Vì vậy người bố trí ba anh em họ Mao tại trang của chồng tiểu tỳ để sẵn sàng đối phó.
- Mi bảo ta là quỷ hay là người ?
- Nếu bàn tay lạnh thì là quỷ. Còn nóng thì là người.
Thủ-Độ vận âm kình, rồi áp bàn tay vào má Mỹ-Hồng. Mỹ-Hồng thấy bàn tay Thủ-Độ lạnh kinh khủng. Nàng run lên bần bật :
- Quả...Quả...là quỷ.
Thủ-Độ vận âm kình dồn vào người Mỹ-Hồng lát sau lạnh quá, nàng ngất đi nó mới buông ra.
Trên đường từ Hồng-châu về Thăng-long, lòng Thủ-Độ cực kỳ cao hứng, vì nó đã truy tầm ra thủ phạm sát hại mẹ nó. Thủ phạm bao gồm họ Đàm, mà ba người cầm đầu là Đàm hoàng hậu, Đàm Dĩ-Mông, Đàm Thì-Phụng cùng bọn Tống. Nó nghĩ:
- Bây giờ ta phải làm gì ? Một là ta giết cả nhà Đàm Thì-Phụng, Đàm Dĩ-Mông, giết luôn cả Đàm hoàng hậu. Hai là ta bắt chước cha ta xưa, giả danh Côi-sơn song-ưng, dán cáo tri với quốc dân, để triều đình xử tội y. Ba là ta về Thiên-trường cáo với ông bà nội ta để người trả thù. Ừ, tội gì ta phải giả danh ai ? Ta nhân danh quỷ ba đầu giết chúng cũng được.
Thủ-Độ trở về cung Ngọc-lan vào buổi chiều để nghe ngóng tin tức. Lát sau nó thấy bọn võ tướng cao cấp nhất lục tục kéo vào : Thái-sư Đàm Dĩ-Mông, Thái-úy Đàm Thì-Phụng, Tả-kim-ngô thượng tướng quân Phạm Du, Tổng-lĩnh thị vệ Đoàn Văn, An-phủ sứ Kinh-Bắc Nguyễn Nộn, Vũ-kỵ thượng tướng quân Phạm Bỉnh-Di, quản Khu-mật viện Quách Bốc.
Nó nghĩ thầm :
- Chắc đạo cô Nam-thiên họp về việc mình quậy Đông-cung, phủ Thái-sư, nhà Đặng Vũ, dinh An-phủ sứ đây. Phòng ngủ của ta cạnh điện thờ thánh của đạo cô. Ta chỉ việc áp tai vào vách là biết ngay chúng họp về vấn đề gì.
Nó về phòng áp tai vào vách nghe. Tiếng đạo cô Nam-thiên :
- Tứ mấy chục năm nay, các võ phái quá thịnh, nên họ coi thường triều đình. Để giảm bớt thế lực của chúng, triều đình đã cấm các gia, các phái không được thu nhận đệ tử. Chỉ năm trường của Lĩnh-Nam ngũ hổ tướng mới được thu đệ tử dạy võ. Thế nhưng chúng vẫn âm thầm thu nhận môn sinh, rồi truyền thụ. Tuy vậy ảnh hưởng các võ phái đã giảm rất nhiều.
Có tiếng Đàm Thỉ-Phụng :
- Tấu Tiên-nương, có một điều nan giải là : Hiện các tướng trong quân đều là người các võ phái. Bọn này hầu như tuân lệnh môn phái hơn là tuân lệnh triều đình. Nếu muốn cách chức hết bọn này, thì lấy ai chỉ huy ?
Tiếng Nam-thiên :
- Thái-úy đừng lo, tôi đã huẩn bị trước rồi. Cách đây mấy năm, tôi lệnh cho Lĩnh-Nam ngũ hổ tướng ở trường dạy võ.Mà võ công này là vỏ công Hoa-sơn của tôi. Tôi là Công-chúa tiên tử của Hoa-sơn. Bây giờ triều đình ban chỉ mở khoa thi võ, dĩ nhiên chỉ có môn sinh của Ngũ-hổ dự thi. Những tân khoa này sẽ được bổ nhiệm thay thế đám võ tướng kia, thì cái nọc môn phái không còn nữa. Cứ tình trạng ấy, chỉ vài chục năm nữa, thì caca gia, các phái sẽ tàn lụi, chỉ có võ công Hoa-sơn dương danh mà thôi.
Tiếng Đàm Dĩ-Mông :
- Tâu Tiên-tử, để bịt miệng bọn võ phái, triều đình nên cử Kiến-khang, Kiến-bình vương cùng Phùng Tá-Chu là đệ tử phái Đông-A làm giám khảo. Như vậy nếu ai dị nghị, thì phái Đông-A lĩnh hết.
Nghe đến đây Thủ-Độ không thấy họ bàn tán gì nữa nó bước ra khỏi cung.
Cung nữ Thụy-Nga thấy nó thì cau mặt lại :
- Ta đã bảo, hồi này cung Ngọc-lan có nhiều khách. Vậy mi hãy tránh đi chỗ khác. Thế mà mi lại vác cái bản mặt khật khùng về đây. Lát nữa Thiên-sứ đại nhân với sứ đoàn giá lâm cung này, mà họ thấy cái bản mặt mi thì còn ra thể thống gì nữa. Mi có cút đi không ?
Thủ-Độ làm bộ nhăn mặt, méo miệng rồi ra ngoài thành Thăng-long. Về đến Tây-hồ Thủy-xá, bọn mười tám Khả-hãn đang ngồi chờ nó. Nó sai mười tên Tiểu-hãn gác quanh Thủy-xá rồi họp bọn Khả-hãn. Nó lên tiếng :
- Dường như có sự gì ghê gớm lắm thì phải, cho nên trên gương mặt các em mới trầm tư thế kia.
Khả-hãn Nhất-Hào nói :
- Bọn sứ thần Tống sang kỳ này có rất nhiều điều bất lợi cho Đại-Việt ta.
- Bất lợi thế nảo ?
- Tống triều gửi sứ sang Đại-Việt kì này để yêu sách vàng ngọc cống cho Kim. Triều đình đã xuất hết châu báu trong kho, mà cũng không đủ. Thái-sư Đàm Dĩ-Mông hiến kế : Gửi sứ đi các trấn lấy về. Hiện vàng, ngọc, châu báu đều để ở cung Triều-dương là nơi sứ đoàn ở.
Thủ-Độ nghiến răng :
- Nhục quốc thể.
Khả-hãn Tam-Anh tiếp :
- Dân ta đang đói vì thiếu gạo, mà bọn họ Đàm sai chở sang Tống mười triệu thùng gạo.(Thùng tương đương với ngày nay 10kg). Gạo đã đang chuyển xuống thuyền.
Khả-hãn Ngũ-Hào hỏi :
- Anh nghĩ sao ? Chúng ta có nên tìm cách cướp lại số gạo đó phát cho dân nghèo không ?
- Ta không đủ khả năng. Bây giờ chỉ có cách ép nhà vua, hoặc tên Đàm Dĩ-Mông chối rằng Đại-Việt mất mùa, không thể chở gạo sang Tống. Vạn nhất, việc này không xong thì chúng ta làm loạn.
- Làm loạn ?
- Ta khích dân nghèo sống gần các kho gạo cướp gạo ấy, còn hơn làm ngoan dân mà chết đói.
Thủ-Độ nghĩ thầm :
- Cái vụ sách nhiễu vàng ngọc này có thể là triều đình Tống thực. Cũng có thể là tên sứ thần mưu với Đàm Dĩ-Mông. Vàng ngọc này là của trăm họ Đại-Việt. Ta không thể để bọn Tống mang đi. Ta phải lấy lại. Ta phải đến cung Triều-dương trộm hết những gì chúng vơ vét. Trộm là hành động cực kì xấu xa. Nhưng hành động đó chỉ xấu khi ta dùng của lấy trộm dùng cho mình. Còn như ta...Trước đây ta đã trộm vàng bất nghĩa của Đàm hậu, biến thành vàng có nghĩa, nuôi bọn Tây-hồ thập bát anh hào. Bây giờ ta phải trộm để nuôi hết bọn trẻ con ăn mày. Ta không xấu hổ , mà còn hãnh diện nữa ! Ta nghe trước đây, các sứ đoàn Tống sang Đại-Việt chỉ ở lại năm ba ngày là qúa. Sao kỳ này chúng ở lại đến hơn tháng ? Lợi dụng đêm nay bọn sứ đoàn vào cung Ngọc-lan, ta làm một mẻ.
Nghĩ vậy nó hỏi :
- Trong các em, em nào là Khả-hãn vùng hồ Thủy-quân (Nay là hồ Hoàn-kiếm).
Tam Anh dơ tay :
- Khu đó do em với Tam-Hào !
- Tình hình cung Triều-dương ra sao?
- Có sứ Tầu sang cư ngụ trong đó hơn tháng rồi. Ngày nào không Thái-sư Đàm Dĩ-Mông thì Thái-úy Đàm Thì-Phụng cũng tới gặp chánh sứ Triệu Doãn-Chi.
- Cung Triều-dương ở đâu ?
- Từ đây tới cũng hơi xa. Cung nằm tại phường Yên-tập, thuộc huyện Thọ-xương, cạnh chùa Quán-sứ.
Thủ-Độ à lên một tiếng :
- Chùa Quán-sứ thì anh biết rồi. Chùa thờ Minh-Không bồ tát phải không ?
- Vâng !
Tam-Anh cầm bút vẽ chi tiết từng phòng một. Nó còn biết cả mấy cái lỗ chó chui ở hàng rào xung quanh cung nữa.
Thủ-Độ ra lệnh :
- Bây giờ hai em mặc quần áo rách, cùng mấy Tiểu-hãn khu hồ Thủy-quân, ngồi trước cung Triều-dương. Khi thấy bọn sứ đoàn ra đi, thì chạy về báo cho anh.
Tam-Anh cười khì :
- Lúc nào bọn em cũng mặc quần áo rách mà. Để em ra chợ rủ thêm mấy đứa học trò của em nữa cùng đi cho vui.
Vào khoảng hết canh một, thì một Tiểu-hãn trở về báo cho Thủ-Độ biết : Sứ đoàn đã lên ngựa, vào Hoàng-thành hết.
- Quân canh phòng có đông không ?
- Sứ đoàn có mười lăm mã phu, với hơn trăm thị-vệ Tống canh phòng. Nhưng khi bọn quan quyền trong sứ đoàn đi rồi, thì chúng kéo nhau ra phố chơi hết. Trong cung chỉ còn hai thị vệ. Một tên gác cổng trước, một tên gác cổng sau.
Thủ-Độ truyền lệnh cho nó :
- Bảo Khả-hãn Ngũ-Anh với đám ăn mày lui thôi.
Nó âm thầm lấy hai quả bầu, cùng mặt nạ rồi hướng cung Triều-dương, dùng khinh công phóng tới. Đúng như Ngũ-Anh nói, cạnh cung Triều-dương là chùa Quán-sứ. Nó tung mình vào sân chùa, mặc quần áo trắng, đeo mặt nạ, buộc hai cái đầu giả vào lưng, rồi vọt mình qua hàng rào vào trong cung Triều-dương.
Thình lình có tiếng người cười nói ồn ào, rồi có hai kiệu phu khiêng cái kiệu vào trong sân. Đi kèm kiệu là Nguyễn Dư với tên thái giám Đỗ Quảng. Kiệu hạ xuống, Nguyễn Dư hướng vào trong kiệu :
- Phan tiểu thư ! Xin tiểu thư xuống kiệu cho.
Một thiếu nữ từ trong kiệu bước ra. Trong ánh sáng lờ mờ, Thủ-Độ cũng nhận ra nàng khoảng mười sáu, mười bẩy tuổi, nhan sắc cực kì diễm lệ, có phần sắc sảo hơn Phạm Thùy-Dương. Thiếu nữ hỏi Đỗ Quảng :
- Đỗ công công ! Công công nói rằng có chỉ dụ của Hoàng-hậu đón tôi vào yết kiến người. Hoàng-hậu ở trong cung An-toàn, tại Hoàng-thành. Sao công công lại đưa tôi tới cung Triều-dương là nơi sứ đoàn Tống ở ?
Đỗ Quảng chỉ vào căn phòng của viên phó sứ :
- Tiểu thư hãy vào trong đó. Hoàng-hậu giá lâm tức thời.
Tên thị vệ Tống lấy chìa khóa mở cửa phòng viên phó sứ. Trong phòng đèn nến sáng trưng. Nguyễn Dư chỉ vào trong :
- Mời tiểu thư !
Thiếu nữ hiên ngang vào phòng. Nàng phóng con mắt nhìn một lượt, rồi hỏi Nguyễn Dư :
- Công tử ! Đây là phòng ngủ của một người đàn ông. Tôi là một khuê các tiểu thư. Tôi không thể ngồi lại.
Nói rồi nàng lùi ra sân. Đỗ Quảng, Nguyễn Dư với tên thị vệ Tống bao vây nàng vào giữa. Tên thị vệ nói tiếng Việt :
- Cái lày không phải chồ Hoàng-hậu lớ. Cái lày nị chồ phó sứ lại nhân mà.
Thiếu nữ hỏi Đỗ Quảng :
- Y nói có đúng không ?
Nguyễn Dư cười, y nói bằng giọng cực kì đểu dả :
- Chẳng nói dấu gì tiểu thư. Tôi mời tiểu thư đến đây để ngủ với phó sứ đại nhân ít đêm. Chỉ cần tiểu thư ngoan ngoãn, thì tiến trình tương lai của phụ thân tiểu thư sẽ mở rộng không biết bao nhiêu mà kể. Tiểu thư thử nghĩ xem, phụ thân của tiểu thư lĩnh chức đô thống, chỉ huy đoàn võ sĩ Côi-sơn suốt mấy năm qua, mà cũng vẫn không được thăng lên một bậc, hay một trật nào. Nếu nay tiểu thư chịu khó hầu hạ ngài phó sứ mấy ngày. Chỉ mấy ngày thôi, có mòn đi tí nào đâu, mà phụ quý, tử vinh !
Thiếu nữ vung tay tát Nguyễn Dư một cái. Nguyễn Dư lạng người tránh, nhưng tay thiếu nữ như con cá trạch, nàng lách một cái, đã trúng mặt Dư. Bốp. Dư bị nảy đom đóm mắt.
Nhìn chiêu thức của thiếu nữ Thủ-Độ nhận ra nàng xử dụng võ công Đông-A. Quá khứ hiện lên trong tâm : Thủ-Độ thường nghe bố mẹ nói rằng, hai sư đệ thân tín là Trần Tử-Kim được Thủ-Huy trao cho chức thống lĩnh đoàn võ sĩ Long-biên. Phan Lân được trao cho thống lĩnh đoàn võ sĩ Côi-sơn. Bây giờ nghe Nguyễn Dư nói thiếu nữ họ Phan, cha thống lĩnh đoàn võ sĩ Côi-sơn, nàng còn xử dụng võ công Đông-A...Thì có thể nàng là con của sư thúc Phan Lân. Nó nghĩ thầm :
- Ta phải cứu nàng như cứu Phan Thùy-Dương.
Nguyễn Dư bị tát y nổi cáu :
- Con tiện tì vô lễ.
Y ra một Long-trảo chụp vào ngực thiếu nữ, cử chỉ cực khả ố. Thiếu nữ trầm người tránh khỏi, rồi quét chân một cái Nguyễn Dư bị trúng cước, lảo đảo suýt ngã. Bị bất ngờ Nguyễn Dư xấu hổ, không nhân nhượng nữa, y rút kiếm tấn công nàng. Thiếu nữ cũng ra chiêu phản công. Nhìn trận đấu, Thủ-Độ kinh ngạc :
- Cứ như hôm đấu với tên này ở quán Bích-động, bản lĩnh y cao thâm hơn ta không làm bao. Trong thời gian mấy năm, ta ra sức luyện tập để trả thù. Không ngờ tên này được đạo cô hết lòng truyền thụ, nên võ công y đến trình độ mà ta không ngờ tới.
Tuy võ công Nguyễn Dư cao thâm, nhưng bản lĩnh thiếu nữ vẫn trội hơn y một bậc. Thái-giám Đỗ Quảng đứng ngoài, thấy vậy thì rút kiếm nhảy vào trợ chiến. Bản lĩnh thiếu nữ tuy cao, nhưng tay không phải đấu với hai người. Không đầy hai chục chiêu nàng tỏ ra luống cuống. Thình lình nàng đánh liền ba chưởng như vũ bão, Đỗ Quảng, Nguyễn Dư tránh dạt ra. Nàng tung mình chạy. Nhưng chưa ra khỏi cổng, nãng vấp phải viên đá ngã lộn đi. Đỗ Quảng, Nguyễn Dư cùng điểm huyệt nàng rồi bồng nàng vào phòng viên phó sứ đặt lên giường.
Nguyễn Dư nói với tên thị vệ :
- Đại nhân. Đối với con sư tử cái này thì điểm huyệt e không ổn. Ta phải trói y thị lại.
Tên thị vệ lấy hai cái dây lưng của viên phó sứ treo trên tường trói thiếu nữ lại. Đỗ Quảng dặn viên thị vệ :
- Đây là món quà quý nhất Thăng-long Hoàng-hậu truyền tặng cho phó sứ đại nhân. Người mong phó sứ đại nhân giữ mà hưởng. Nếu ngài thấy tốt, thì cứ mang về Trung-nguyên.
Tên thị vệ khép cửa lại rồi tiễn Nguyễn Dư ra về. Còn y, lại cầm đao ngồi trên chiếc bệ ở cổng, tiếp tục nhiệm vụ canh gác.
Thủ-Độ nghĩ thầm :
- Thì ra cái vụ dâng gái cho Tống là do Hoàng-hậu chủ trương. Bây giờ, ta phải lấy hết vàng ngọc của bọn sứ đoàn...rồi cứu thiếu nữ một thể.
Nó vào trong cung. Không gặp ai. Nó lên phòng dành cho chánh sứ. Cửa phòng khóa rất chắc. Nó vận âm kình rồi phóng một chiêu vào ổ khóa. Cánh cửa chỗ ổ khóa bị vỡ liền. Nó đẩy cửa. Trong phòng có ngọn đèn dầu leo loét, ba cái tráp bằng gỗ trắc, bọc bạc đặt chồng lên nhau. Nó lại phóng một chiêu âm chưởng. Chỗ khóa tráp bị vỡ ra. Trong tráp chỉ có thư tín, sách vở, cùng đồ dùng văn phòng tứ bảo. Tiếp tục nó phóng âm chưởng vào hai cái còn lại, trong cũng không có vàng ngọc gì cả. Thất vọng nó nhìn quanh, trong góc phòng có chiếc hòm (rương) khá lớn, nó đẩy thử, thấy chỉ hơi di chuyển. Nó lại phóng âm chưởng, rồi mở ra. Mắt nó lóa lên, vì trong hòm đầy ngọc, vàng, bạc. Nó nhắc thử thấy không nặng lắm. Nó vác cả chiếc hòm lên vai.
Ra khỏi cửa, nó nghĩ :
- Đây là phòng của tên chánh sứ. Bây giờ ta sang phòng tên phó sứ cứu thiếu nữ.
Thấy phòng tên phó sứ không khóa, nó đẩy thử. Cánh cửa mở ra. Thiếu nữ vừa trông thấy nó, nàng rú lên. Nó vội điểm vào huyệt Á-môn của nàng. Chân tay nàng run bần bật. Nó nói sẽ vào tai :
- Trẫm là Vô-thượng Chí-tôn Đại-thánh hoàng đế đây. Người phải im lặng. Trẫm sẽ cứu người thoát khỏi cái tai nạn này.
Trong phòng có một cái hòm lớn với hai cái tráp. Nó mở cái hòm, trong toàn y phục. Nó lại mở cái tráp. Trong tráp có một số vàng ngọc. Nó đem tất cả đổ vào trong cái hòm của viên chánh sứ.
Nó nói với thiếu nữ :
- Ta cứu nàng ra khỏi đây.
Thiếu nữ gật đầu. Nó cởi trói, rồi vác cái hòm với nàng lên vai. Thiếu nữ đã bớt sợ. Nhưng chân tay vẫn còn run. Một vai vác thiếu nữ, một vai vác cái hòm, Thủ-Độ ra khỏi cung Triều-dương. Vì hòm nặng quá, lại thêm thiếu nữ, Thủ-Độ không thể nhảy qua hàng rào, nó vọt mình ra cổng sau. Tên thị vệ gác cổng từng nghe nói về con quỷ ba đầu, bây giờ thấy hình dáng Thủ-Độ, y kinh hoàng hét lên bằng tiếng Trung-quốc :
- Quỷ ! Quỷ ba đầu.
Rồi vung đao chém Thủ-Độ. Thủ-Độ tung thiếu nữ lên cao, tay phóng một chưởng, thanh đao của y vuột khỏi tay bay lên không. Nó bắt lấy đao, dùng cán điểm vào huyệt Đản-trung của y. Tên thị vệ mê man, ngã lăn xuống đất. Vừa lúc đó thiếu nữ rơi xuống. Nó vác nàng lên vai, vọt mình khỏi cung.
Thủ-Độ vừa ra khỏi cung Triều-dương, thì một bóng đen đáp nhẹ nhàng trước mặt nó như chim. Có tiếng nói :
- Mi là ai mà giả ma, giả quỷ, nhát người ? Hôm nay mi bị ta khám phá ra tung tích rồi.
Bóng đen xuất một chiêu kiếm xả vào người Thủ-Độ. Nhận ra đó là một chiêu Hoa-sơn kiếm rất tinh diệu. Thủ-Độ ném cái hòm xuống bụi cây bên đường, tung thiếu nữ xuống bụi cỏ, rồi vọt mình lên cao tránh khỏi. Bóng đen phi thân theo, chĩa kiếm lên cao định chặt chân nó. Nó vội xả xuống một chưởng, đẩy thanh kếm sang một bên. Có tiếng ai đó :
- Công lực cao thâm lắm !
Người khen không phải là bóng đen. Giọng nữ còn trẻ, rất quen thuộc. Trong nhất thời Thủ-Độ không nhận ra tiếng ai.
Bóng đen lại tung vào người Thủ-Độ liền mười chiêu kiếm. Để dấu thân phận, Thủ-Độ dùng Hoa-sơn chưởng pháp chống lại. Tuy công lực cao thâm, nhưng đây là lần đầu tiên xử dụng, nên Thủ-Độ chỉ tránh né.
Có tiếng ai đó nhắc :
- Hoa-sơn chưởng là chưởng dương cương, mà dùng nội công âm nhu thì không có uy lực.
Thủ-Độ tỉnh ngộ, nó vận toàn dương kình. Chỉ năm chiêu thanh kiếm trên tay người kia bị văng lên không. Nó bắt lấy kiếm, phóng tới điểm huyệt y. Bấy giờ nó mới nhận ra bóng đen là Đoàn Thượng, một trong Gia-thụy ngũ anh. Nó cầm thanh kiếm của y ném vào trong cung Triều-dương. Khi nó quay lại, tìm người nhắc nhở trợ giúp nó , thì không thấy đâu. Nó vác cái hòm, với thiếu nữ vào sau chùa Quán-sứ, ném mặt nạ, hai cái đầu giả vào trong, rồi trở về Tây-hồ thủy-xá.
Vào trong phòng, đóng cửa lại, nó đặt thiếu nữ lên giường, định mở hòm ra kiểm kê xem trong đó có những gì. Chợt thấy trên nóc hòm, ai đó đã dán một mảnh giấy, nét chữ giống nét chữ trên mảnh giấy của người mượn xôi, chim sẻ hôm trước.
« Vàng ngọc này là vàng ngọc của Đại-Việt. Không thể xử dụng vào việc riêng tư. Bằng không thì chẳng hóa ra quân trộm cắp vặt ư ? ».
Nó nghĩ thầm :
- Trước sau ta làm sáu vụ, thì bốn bị cao nhân theo dõi. Cao nhân lấy chim sẻ với xôi và cao nhân hôm nay là một. Còn cặp cao nhân ta gặp ở Văn-miếu, cao nhân đem Thùy-Dương từ đền thờ vua Trưng về Tây-hồ thủy-trang là ai ? Họ là ba nhóm người khác nhau, hay cùng là một ? Biết đâu cái hôm ta làm ma tại nhà Đặng Vũ với dinh An-phủ sứ Hồng-châu không bị theo dõi?
Nó giải huyệt cho thiếu nữ, rồi hỏi :
- Cô nương ! Phải chăng cô nương là con của đô thống Phan Lân ?
Biết Thủ-Độ không phải là quỷ ba đầu, thiếu nữ hết sợ :
- Đúng vậy ! Tiểu huynh đệ, cảm ơn người đã cứu ta. Ta tên là Phan Mỹ-Vân, sao người biết tên cha ta ?
Thủ-Độ tủm tỉm cười không trả lời.
Thiếu nữ càng truy :
- Bấy lâu nay Thăng-long muốn nổ tung ra vì chuyện con quỷ ba đầu hiện hình, hóa phép hành hiệp cứu người. Ai cũng phục, ví con quỷ này có hành vi như Côi-sơn song ưng. Ta cũng tin là thực. Ban nãy thấy người, ta sợ thiếu điều chết khiếp. Nào ngờ người là một thiếu niên. Tiểu huynh đệ, tuổi người còn trẻ, mà công lực lại cao thâm khôn lường. Ta thấy người xử dụng võ công Hoa-sơn, nhưng căn bản lại là võ công Đông-A nhà ta. Vậy sư phụ của người là ai ?
- Tôi không có sư phụ. Tôi học võ với bố mẹ tôi. Bố tôi là người có thân phận to lớn. Nhưng tôi sớm phải xa người từ nhỏ. Còn mẹ tôi ư ? Người thuộc phái Mê-linh. Mẹ tôi bị người ta phục kích, dùng loạn tên bắn chết. Bố mẹ tôi thường nhắc đến sư đệ của người, mà người rất sủng ái tên là Phan Lân. Không ngờ hôm nay chúng ta là con lại có dịp gặp nhau.
- Vậy thì chúng ta là người cùng nhà ! Nếu phụ thân tôi là sư đệ của song thân huynh đệ, thì huynh đệ lớn vai hơn tôi. Tôi phải gọi là sư huynh. Thế song thân của tiểu sư huynh đại danh là gì ?
- Vì một lẽ riêng, tôi phải dấu thân phận, để truy lùng tung tích kẻ giết mẹ tôi, nên tôi không thể nói tên hai thân ra được.
Nói rồi nó nói lơ mơ :
- Mẹ nó là người trong hoàng tộc, bị người ta dùng loạn tên bắn chết. Nhà vua đem nó vào Hoàng-thành nuôi... Còn đoạn sau nó thuật hết sự thực.
Mỹ-Vân vái Thủ-Độ ba vái :
- Tiểu muội xin tham kiến sư huynh.
Thủ-Độ đáp lễ :
- Bây giờ ta đưa sư muội về nhà.
Chán đời đi lang thang !
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-04-16 02:09:27NuHiepDeThuong>
Tiếp theo Hồi 36


Mỹ-Vân cảm động :
- Cảm ơn tiểu sư huynh đã cứu muội ra. Tuy nhiên việc bắt muội dâng cho tên phó sứ là chủ trương của Hoàng-hậu, muội không thể về nhà được nữa.
- Vậy thì muội có thể ở lại đây với chúng ta.
- Chúng ta là những ai ?
- Ta là một, với mười tám đứa đều là ăn mày, ta đem về nuôi dạy.
- Mười chín đứa chứ sao là mười tám ?
- Không, chỉ có mười tám thôi.
- Vậy tiểu sư huynh không kể con bé Mỹ-Vân này à ?
- Ừ nhỉ !
Mỹ-Vân nhìn cái hòm đựng châu báu, nàng hỏi :
- Tiểu sư huynh. Từ hôm sư huynh làm quỷ đến giờ, từ vua cho tới các quan đều tin rằng đó là hồn oan Thái-tử Long-Xưởng. Tuy vậy có nhiều võ lâm cao thủ không tin. Ho ra sức truy lùng. Coi chừng họ khám phá ra tung tích sư huynh đấy.
- Có ! Có nhiều người biết hành tung của ta.
Rồi nó thuật lại bốn lần làm quỷ đều bị cao nhân khám phá ra. Mỹ-Vân nheo mắt mỉm cười, dưới ánh sáng ngọn đèn, nàng đẹp thực huyền ảo :
- Để muội luận xem có đúng không nghe. Cao nhân lấy xôi, chim sẻ trên lưng sư huynh với cao nhân dán giấy trên hòm châu báu này là hai người còn trẻ. Ban nãy, muội nghe cao nhân này nhắc sư huynh, mách sư huynh cách thắng tên Đoàn Thượng là giọng nữ, còn rất trẻ. Khi họ đi, muội nghe rõ bước chân một nam, một nữ. Xét kỹ trong võ lâm, những người còn trẻ mà võ công cao đến trình độ này không nhiều. Ta cứ thư thả sẽ tìm ra. Còn hai cao nhân dẫn dụ sư huynh ra Văn-miếu thì muội biết là ai rồi .
- ? ? ?
- Họ là hai trong Lĩnh-Nam bát tiên !
- Nghĩa là ?
- Trong hai chục năm qua, khắp vùng Quảng-Đông, Quảng-Tây, Hồ-Nam bên Trung-quốc ; trên đất Đại-Việt, Chiêm thành, có vị bốn nam tử cùng với bốn phu nhân nức danh trong việc ban ân đức cho dân chúng. Bốn cặp này lại nhân từ vô bờ bến. Dân chúng gọi tám vị là Lĩnh-Nam bát tiên.
- Có phải là Hồng-lĩnh ngũ đại phu với phu nhân là Vỵ-xuyên ngũ tiên không ?
- Không ! Mười vị này, tuy năm bà hành hiệp giúp đời, năm ông ra tay cứu nhân độ thế, nhưng so với tám vị kia thì ân đức các vị trải ra chỉ bằng hạt cát so với trái núi.
- Chà ! Sư muội cho ta biết được không ?
- Người thứ nhất là sư bá Trần Lý với phu nhân Tô Phương-Lan. Sư bá Trần Lý là con trai trưởng của chưởng môn phái Đông-A Trần Tự-Hấp.
- À ! Ta đã nghe nói nhiều.
- Ngay từ nhỏ, sư bá với vợ đã tụ tập các thiếu niên ngang tuổi phá hoang làm ruộng, cấp cho dân nghèo phiêu bạt không tấc đất cắm dùi. Cho đến nay, khắp một giải Thiên-trường, hầu hết dân chúng đều do ân đức của người mà trở thành khá giả. Dân chúng tôn sư bá làm Thần-nông sứ.
Gì chứ việc này, Thủ-Độ thường nghe bố mẹ nó nhắc đến hoài.
- Thế còn vị thứ nhì.
- Vị thứ nhì là sư bá Trần Thủ-huy, em ruột sư bá Trần Lý.
- Ấy à !
- Sao, sư huynh có nghe biết đệ nhị sư bá à !
- Tôi có nghe song không biết sự thực ra sao ?
- Sư bá là phò mã của vua Anh-tông, kết hôn với công chúa Đoan-Nghi. Thời gian người cầm quyền, trong làm cho nước giầu, dân mạnh. Ngoài làm cho Chiêm mến, Tống sợ, phải công nhận quốc danh của ta. Hiện giờ sư bá đang săn thú ở Mông-cổ.
- Thế còn người thứ ba ?
- Người thứ ba chính là người đã dẫn dụ sư huynh ra Văn-miếu. Người họ Tô tên Trung-Từ, là anh vợ của bác Lý.
Thủ-Độ từng nghe bố mẹ nói về Tô Trung-Từ với Nhạc Bảo-Bảo. Nó suýt xoa :
- Hôm gặp ông bà, tôi cứ hỏi rằng sao trên thế gian lại có người đẹp đến thế. Thì ra bà là Bảo-Bảo, giai nhân Hàng-châu.
- Sư huynh đã biết tiếng Tô sư bá rồi à ?
- Biết chứ, người được dân chúng tôn là Khai-hoang sứ.
- Đúng vậy ! Gần đây sư bá đi khắp đất nước, nơi nào người cũng quy tụ dân nghèo, giúp họ khai hoang, vì vậy ân đức của người rất rộng.
- Còn vị thứ tư ?
- Vị thứ tư là sư bá Phùng Tá-Chu với phu nhân là sư bá Kim-Ngân.
- Có phải hai vị được tôn làm Hải-hà sứ không ? Hiện hai vị ở đâu ?
- Phùng sư bá hiện là Tổng-trấn Bắc-cương. Phùng sư bá là người chế ra các loại thuyền lớn, có thể ra khơi đánh cá.Nhờ sư bá, mà dân đánh cá sống sung túc, no đủ.
Thủ-Độ trở về thực tại :
- Như vậy, chỉ còn người đàn bà đem Thùy-Vân từ đền thờ vua Trưng về đây là chúng ta chưa biết là ai mà thôi.
Mỹ-Vân chỉ cái hòm châu báu :
- Sư huynh định cất ở đâu? Dùng vào việc gì ?
Thủ-Độ đáp không suy nghĩ:
- Hiện giờ vua thì hôn ám, chỉ biết xây dựng cung điện cho cao rộng, quanh năm suốt tháng sống với cung nga. Dân chúng quá đói khổ, giặc cướp nổi lên khắp nơi. Tôi định dùng số vàng bạc này làm hai việc. Một lập những trang khắp Đại-Việt, tụ tập bọn thiếu niên ăn mày lại, dậy dỗ cho chúng thành người. Hai là, ta thu dụng các thiếu niên còn trẻ, dạy văn, luyện võ cho họ, rồi tổ chức thành những đội bảo vệ làng xã.
Mỹ-Vân mở to mắt nhìn Thủ-Độ :
- Chí sư huynh lớn quá. Liệu ta có làm nổi không ?
- Vua Đinh Tiên-hoàng chỉ là đứa trẻ mồ côi chăn trâu. Tổ Trần Tự-Viễn của phái Đông-A xuất thân là một chú thợ săn. Linh-Nhân hoàng thái hậu là một cô gái quê. Thế mà các vị ấy làm lên những chuyện kinh thiên động địa. Tại sao ta không theo gương các ngài ? Dù ta không tạo được huân nghiệp to lớn, thì cũng không hổ là con cháu các ngài.
- Sư huynh ! Triều đình nghe tin cung Triều-dương bị quỷ ba đầu cướp châu báu; muội e, nhà vua sẽ sai thị vệ đi xét từng nhà. Ta nên cất số vàng bạc này đi chỗ khác.
- Bây giờ ta nên cất ở đâu ?
Mỹ-Vân dùng Lăng-không truyền ngữ rót vào tai Thủ-Độ :
- Hành động của sư huynh bị người ta theo dõi. Những người này là người tốt thì không sao. Còn như họ là người của triều đình, của Tống, thì cái gì sẽ xẩy ra ? Họ ở trong bóng tối, sư huynh ở ngoài sáng, làm sao mà đề phòng ? Số vàng ngọc này vốn của Đại-Việt. Nếu sư huynh để ở đây, lỡ ra quan quân tới khám thì đầu sư huynh với bọn Thập-bát Tây-hồ khó mà bảo toàn. Biết đâu, người theo dõi sư huynh không lấy trộm ? Muội khuyên sư huynh nên làm như vậy... như vậy...
Thủ-Độ tỉnh ngộ. Nó vác hòm châu báu ra phía sau chuồng ngựa, lấy móng, cùng Mỹ-Vân đào lỗ chôn xuống, rồi trở về phòng. Nó chỉ cho Mỹ-Vân nằm trên giường, còn nó thì nằm dài trên cái phản. Hai người tắt đèn đi ngủ. Nằm khoảng hai chục tiếng đập tim, nó ngồi bên cửa sổ cùng Mỹ-Vân phóng mắt qua kẽ cửa quan sát. Không phải chờ lâu, có hai bóng đen từ trên cây khế buông mình xuống, lại chỗ nó chôn hòm châu báu quan sát qua loa, rồi bỏ đi.
Chỉ chờ có thế, Mỹ-Vân với nó ngồi dậy, nhìn nhau mỉm cười. Nó khen :
- Mưu kế sư muội thâm thực.
Nó lấy cái hòm quần áo của mình, cùng Mỹ-Vân bỏ vào trong mươi viên gạch, rồi đào cái hòm châu báu lên, bỏ cái hòm chứa gạch xuống. Nó vác cái hòm châu báu vào nhà, rồi mở ra cùng Mỹ-Vân kiểm điểm. Số vàng là 200 thoi, còn lại không biết bao nhiêu bích ngọc, hồng ngọc, kim cương. Lại có cả năm cái hộp bằng bạc trong đựng sâm Cao-ly. Mỹ-Vân thắc mắc:
- Tiểu sư huynh! Tất cả vàng, cũng như ngọc đều đựng trong hộp bạc, bên ngoài khắc biểu hiệu của Đại-Việt là hình con rồng cuộn khúc, cạnh con chim âu đang bay. Những vàng ngọc này chắc là của công khố Đại-Việt. Vậy tại sao lại có năm hộp bạc đựng sâm, ba hộp vàng đựng ngọc, trên khắc hình mặt trời với con chim ưng? Sâm, ngọc này ở đâu, mà tên sứ Tống có?
Câu hỏi của Mỹ-Vân làm Thủ-Độ giật bắn người lên. Nó trả lời trong khi tay run run:
- Hình chim ưng bay ngang mặt trời là biểu hiệu của Thành-cát Tư-hãn.
- Thành-cát Tư-hãn là ai?
- Là vua nước Mông-cổ.
- Nước Mông-cổ ở đâu?
- Ở phía Bắc Trung-quốc. Dân ta chỉ biết có Tống. Triều đình phải cúi đầu chịu nhục trước Tống. Trong khi đó Tống phải xưng thần tiến cống Kim. Mà Kim thì sợ Mông-cổ như sợ cọp.
Mỹ-Vân thấy sắc thái kỳ dị của Thủ-Độ, nàng nghĩ thầm:
- Vị tiểu sư huynh này, dọc ngang coi trời bằng vung. Thế sao khi nói tới Mông-cổ lại run run cảm động? Ta phải hỏi cho rõ mới được.
Nàng chỉ vào mấy hộp sâm, ngọc hỏi Thủ-Độ:
- Sư huynh! Tại sao sư huynh thấy mấy hộp này lại súc động quá đáng?
- Tại vì, nó là những món mà Thành-cát Tư-hãn tặng cho song thân huynh. Khi mẫu thân huynh bị sát hại, thì những món này bị người ta lấy mất. Tại sao bây giờ nó lại ở đây? Ai đã đem những vật này dâng cho Tống? Mấy năm nay, huynh khổ công truy lùng sát nhân đã ám toán mẫu thân huynh, mà không ra tung tích. Bây giờ đã có ánh sáng rồi đây. Cái kẻ đã dâng ngọc, sâm cho Tống là chính phạm trong vụ này.
Thủ-Độ mở mấy hộp ngọc ra. Nó thấy thiếu hai món quan trọng. Món thứ nhất là viên hồng ngọc lớn bằng quả trứng gà. Đó là viên ngọc mà Mông-cổ tịch thu được trong trận đánh kinh đô Khắc-liệt. Thành-cát Tư-hãn sai khắc hình con chim ưng, biểu hiệu của phái Đông-A lên trên, tặng cho Thủ-Huy. Món thứ nhì là một chuỗi ngọc kim cương 360 hạt, mà Đại-hãn Diệt-xích-ngột dùng để chuộc mạng y với vợ con. Thành-cát Tư-hãn tặng cho Đoan-Nghi, ngay sau trận đầu Thủ-Huy Đoan-Nghi cứu ông.
- Em có thể giúp sư huynh tìm ra thủ phạm hại bá mẫu!
- Nói thử!
- Chúng ta mạo hiểm tìm cách bắt tên chánh sứ, dùng cực hình tra khảo, thì y khai ra những thứ này, ai đã trao cho y!
- Liệu ta có làm được việc này không?
- Tại sao không? Tên phó sứ là một võ lâm cao thủ. Còn chánh sứ chỉ là tên quan văn trói gà không chặt... Nếu không bắt được chánh phó sứ, thì ta bắt một trong bốn tên bồi sứ cũng đủ.
- Bồi sứ là gì vậy ?
- Là người nắm tất cả những cơ mật trong sứ đoàn, làm quân sư cho chánh sứ. Nhưng... nghe đâu võ công bốn tên bồi sứ cao thâm lắm thì phải.
Mỹ-Vân hỏi :
- Bây giờ ta phải cất đám vàng bạc này ở đâu?
Thủ-Độ chợt nhớ một câu trong binh pháp Kinh-Nam vương: "Phàm chỗ kín thì ai cũng chú ý. Phàm chỗ hở thì ít ai để ý. Phàm cái chỗ dễ chết, ta có thể tìm được đất sống. Phàm chỗ ai cũng tưởng sẽ sống, lại dễ bị chết". Nó lấy ra mười nén vàng, bỏ vào cái túi, rồi nói:
- Sư muội thấy không! Ta sống giữa nanh vuốt hùm, sói là Đông-cung, cung Ngọc-lan, lại yên lành. Bây giờ nếu ta dấu đám châu báu tại đây, e có ngày bị lộ. Cái nơi mà ít ai để ý, người người đi lại, thì không ai ngờ tới. Cái nơi đó là khu vườn sau chùa Chân-giáo.
- Thế còn mười nén vàng này?
- Hôm trước ông bà Hải-hà-sứ Tô Trung-Từ vỗ vai, rồi hì sư huynh, dụ sư huynh ra Văn-miếu để tìm căn cước. Bây giờ ta làm ngược lại với ông bà. Ta không hì ông bà, mà đường đường chính chính tìm đến ông bà, để ông bà biết ta không trẻ con như ông bà tưởng.
- Nghĩa là?!?!?!
- Ông bà ấy biết huynh qua ông bà Phòng-Phong, dĩ nhiên ông bà ấy biết chỗ ở cũng như việc làm của ta. Ta đường đường, chính chính sai bọn Anh-Hào đem vàng đến con thuyền của ông bà ấy trên bến Bắc-ngạn, trao số vàng cho ông bà ấy, xin ông bà ấy đứng ra quy tụ bọn thiếu niên nghèo khó ở Kinh-Bắc, đem về nuôi dạy.
- Hay!
Mỹ-Vân mang cái móng. Thủ-Độ vác hòm bỏ lên chiếc xe ngựa, lấy cỏ đậy lại, rồi hướng chùa Chân-giáo. Hai người âm thầm lẻn vào sau chùa, đào hố chôn ngay cạnh hàng rào, rồi ra về.
Trở về nhà, Mỹ-Vân cười :
- Ai đó ! Bất kể chính hay tà, theo dõi chúng ta. Thấy chúng ta chôn bảo vật sau nhà, nếu họ đào cái hòm lên mang đi, khi mở ra, chỉ thấy gạch, ắt sẽ nghĩ rằng : À cái thằng nhỏ láu cá. Cũng có thể họ cho rằng chúng ta bị một kẻ thứ ba nhanh tay hơn lấy đi. Họ bị chậm chân. Có một điều tế nhị, nhưng rất quan trọng...
- ? ? ?
- Việc muội tuân chỉ dụ vào cung chầu hầu Hoàng-hậu, bị đưa đến cung Triều-dương, rồi mất tích, ắt quan quân sẽ phải lùng kiếm khắp nơi. Phụ thân muội với đoàn võ sĩ Côi-sơn đâu có chịu ngồi yên ? Có lẽ phải báo cho phụ thân muội biết rằng muội vẫn bình an.
- Huynh nghĩ không nên báo vội. Cứ để sư thúc kiện Hoàng-hậu đòi người. Cứ để cho sư thẩm khóc lóc đòi con. Cứ để đoàn võ sĩ Côi-sơn tìm sư muội. Như vậy triều đình mới không nghi ngờ sư thúc. Sau hơn tháng, ta âm thầm báo với sư thúc, rằng sư muội hiện sống bình an tại một nơi.
- Cũng được, kể ra để cho bố mẹ muội lo sợ cho con gái trong hơn tháng, e phạm tội bất hiếu. Đành vậy...Vụ tên Đoàn Thượng bị sư huynh đánh bại, y sẽ cáo với triều đình rằng con quỷ ba đầu là người. Vậy từ nay, ta không thể giả làm quỷ được nữa.
- Ngày mai huynh sẽ giới thiệu muội vơí bọn Thập-bát Tây-hồ. Sư muội sẽ thay huynh luyện văn, dạy võ cho chúng.
Chợt Mỹ-Vân ái chà một tiếng. Thủ-Độ hỏi :
- Gì vậy ?
- Muội ở đây, tuy khuất khúc, nhưng trước sau gì cũng bị lộ. Vậy sư huynh để muội giả trai cho tiện. Tên sư huynh là Độ vậy muội sẽ dùng tên là Tuyền. Độ là vượt qua, Tuyền là suối.
- Phải đấy.
Sáng hôm sau, Thủ-Độ gọi Tây-hồ thập bát anh-hào tập trung ở phòng học. Nó giới thiệu Mỹ-Vân là sư muội của nó tên Thanh-Tuyền. Thanh-Tuyền giả trai, vì lý do riêng. Từ nay Thanh-Tuyền sẽ dạy văn, luyện võ cho bọn Thập-bát Tây-hồ. Cả bọn thấy Mỹ-Vân đẹp trai, linh lợi, thì mừng lắm.
Nhờ Mỹ-Vân luyện võ hàng ngày, mà bản lĩnh bọn Thập-bát Tây-hồ tiến rất mau. Mỹ-Vân bàn :
- Hiện triều đình đang mở khoa thi tuyển võ, ai trúng tuyển sẽ được bổ làm võ tướng. Tại sao sư huynh không cho Cửu-hào ứng thí ? Anh thù hận triều Lý, muốn diệt họ Lý, thì cần phải có quân trong tay. Nếu như Cửu-hào trúng tuyển, được bổ làm võ tướng cầm quân. Bề ngoài chúng là người của triều đình, nhưng bề trong chúng là ngưới của anh. Một ngày kia anh khởi sự, thì anh đã có chín đại tướng với chín đạo quân trong tay.
Thủ-Độ tỉnh ngộ :
- Sư huynh nghe lời muội. Phải đấy, tuy nhiên phải luyện văn cùng giảng binh pháp cho chúng, khi ứng thí mới có thể trúng tuyển.
Tháng sau,Thủ-Độ cùng Mỹ-Vân gọi Ngũ-Anh, Ngũ-Hào vào phòng riêng, chỉ cái túi mười nén vàng, rồi hỏi:
- Khu vực của hai em là bến Bắc-ngạn. Vậy hai em có biết nơi neo con thuyền của Hải-hà sứ không?
Hai đứa lắc đầu.
Thủ-Độ nhăn mặt :
- Dở quá! Ta đã bảo, trong khu vực trách nhiệm của các em, có thêm một con chó, một con mèo, các em cũng phải biết. Thế mà con thuyền của một cặp vợ chồng danh nhân neo ở đó từ mấy tháng nay, mà các em không biết. Sổ toẹt.
Hai đứa gãi tai:
- Xin anh cho em biết con thuyền đó hình dạng ra sao, thì bọn em mới tìm ra chứ?
Mỹ-Vân cười:
- Con thuyền đó kéo hai lá cờ. Lá thứ nhất mầu xanh, trên có hình con chim ưng vỗ cánh. Đó là biểu hiệu của phái Đông-A. Lá thứ nhì, vẽ hình một nông dân dắt trâu, vác cầy. Đó là biểu hiệu của Khai-hoang sứ.
Ngũ-Hào bật cười:
- Em biết rồi. Con thuyền đó đến đậu trên bến Tương-Dung, bên cạnh con thuyền của người đẹp mà Đại-hãn bảo rằng đó là thuyền của người thân. Con thuyền ấy đến bến vào ngày mùng bẩy tháng tư, giờ Mùi. Trên thuyền có một cặp nam nữ, trung niên. Nam thì to lớn như Hộ-pháp, mỗi lời nói ra đều làm cho người nghe cười. Nữ thì đẹp tuyệt thế, bà rất nghiêm nghị.
Ngũ-Anh xen vào:
- Ông ấy sợ vợ quá sợ cọp. Mỗi khi ông tía lia, bà lên tiếng, là ông im ngay. Tùy tùng của ông bà có mười cặp đệ tử. Họ đều là vợ chồng. Cái đặc biệt của những người trên con thuyền này là họ : Họ mang thực phẩm theo như gà, vịt, lợn chứ không mua ở chợ. Còn tôm cá, thì họ quăng lưới bắt lấy. Họ chỉ mua rau đậu thôi.
Thế rồi Ngũ-Anh, Ngũ-Hào trình bầy hoạt động của những người trên con thuyền, không thiếu chi tiết nào.
Thủ-Độ lấy môt thoi vàng, nó vận công vào hai bàn tay, rồi ấn lên, vết tay của nó in hằn rất sâu. Trong khi đó Mỹ-Vân thuật hành trạng của Tô Trung-Từ, Nhạc Bảo-Bảo cho hai trẻ nghe. Nàng viết một bức thư trao tay Ngũ-Anh, rồi chỉ gói vàng:
- Hai em đem gói này, đường đường chính chính tới con thuyền xin yết kiến, rồi trao tận tay ông bà. Hai em nói như thế...như thế...
Nó lại gọi Cửu-Anh, Cửu-Hào, đưa ra hai hộp sâm Cao-ly:
- Hai em đến chùa Chân-giáo yết kiến thầy Chân-Minh, thay ta dâng hộp sâm này lên thầy. Rồi lại đến Hồng-lĩnh đệ nhị y viện trao hộp sâm cho y sư Vũ Phòng-Phong. Nhớ phải nói như thế...như thế.
Chiều hôm đó, Ngũ-Anh, Ngũ-Hào trở về. Chúng tường thuật vụ đi sứ cho Thủ-Độ, Mỹ-Vân nghe.
"Hai trẻ sai bọn ăn mày rình quanh con thuyền Hải-hà sứ suốt buổi sáng. Đến giờ Tỵ thì ông bà Tô Trung-Từ về. Chúng báo cho Ngũ-Anh, Ngũ-Hào. Hai trẻ tuy xuất thân ăn mày, hèn hạ. Nhưng thời gian hơn năm qua, nó được học văn, luyện võ, lại đươc Thủ-Độ truyền cái hào khí của Tây-hồ thất-kiệt, Long-biên ngũ-hùng, hồi thơ ấu từng đi ăn mày, rồi sau trở thành đại tướng.
Hai trẻ mặc y phục rách rưới như ăn mày. Tới đầu cầu, Ngũ-Anh gọi một thiếu niên ngồi gác :
- Chúng tôi là hai trẻ ăn mày ở Thăng-long, vâng lệnh người lớn, tới cầu kiến với Hải-hà sứ và phu nhân.
Ngay từ hôm đầu tới Thăng-long. Hai mươi đệ tử của Tô Trung-Từ từng gặp mặt Ngũ-Anh, Ngũ-Hào nhiều lần. Họ thấy chúng tập họp ăn mày lại, khi thì kể chuyện anh hùng Đại-Việt, khi thì chúng phân phối thực phẩm. Gã đệ tử thấy hai đứa, họ cho rằng chúng là một thứ trùm du côn, bắt bọn ăn mày tuân phục. Sau mấy ngày họ thấy không phải, vì bọn ăn mày rất kính trọng chúng. Hôm nay thấy chúng tới với phong thái người lớn, nêu đích danh sư phụ, xin cầu kiến. Gã đệ tử không dám coi thường, y vào trong khoang thuyền báo với Tô Trung-Từ, Nhạc Bảo-Bảo :
- Trình sư phụ, sư mẫu, có hai đứa trẻ ăn mày, nói là vâng lệnh bề trên xin cầu kiến.
- Để chúng ta ra đón khách.
Trung-Từ Bảo-Bảo ra khỏi khoang thuyền. Ông bà chắp tay :
- Xin mời nhị vị !
Phân ngôi chủ khách, trà nước bầy ra, Bảo-Bảo chắp tay :
- Chẳng hay hai vị đây xưng hô thế nào ?
- Cháu là Ngũ-Anh, còn sư huynh đây là Ngũ-Hào. Chúng cháu là ăn mày, không có họ tên.
Trung-Từ cười rộn ràng :
- Anh hùng đâu quản xuất thân. Xưa kia, Chử Đồng-tử nghèo đến cái khố không có, mà làm rạng danh triều Hồng-bàng. Gần đây, Tây-hồ thất kiệt, Long-biên ngũ hùng đều xuất thân ăn mày, mà nay khắp nước thờ kính.
- Đa tạ Hải-hà sứ. Bề trên của anh em chúng cháu sai chúng cháu chuyển đến tiên sinh gói này, mong tiên sinh thu nhận.
Nói rồi Ngũ-Anh trao cái túi cho Trung-Từ. Trung-Từ mở ra, bên trong có 20 thoi vàng. Kinh ngạc, ông hỏi :
- Bề trên của hai vị là ai ?
- Bề trên của anh em chúng cháu đã viết tên trên một thoi vàng rồi.
Bảo-Bảo cầm một thoi vàng lên, trên thoi vàng in rõ mười đầu ngón tay. Bà nói với chồng :
- Cứ như vết bàn tay in vào đây thì người này còn nhỏ tuổi. Tay trái hằn sâu vào, thì y vận âm kình. Tay phải hằn rộng ra, thì y vận dương kình. Trên đời chỉ y...chỉ y...y còn nhỏ tuổi mới luyện đến mức này mà thôi.
Trung-Từ cầm thỏi vàng, tần ngần :
- Dám hỏi vàng này ở đâu, mà bề trên hai vị có ?
- Thưa vàng của Đại-Việt, bị người Tầu cướp đi. Chủ nhân chúng cháu đoạt lại, nhờ nhị vị trao trả cho dân Việt, mà đám thiếu niên cùng khổ vùng Kinh-bắc là đại diện.
Nói rồi Ngũ-Hào trình ra một bao thư. Trung-Từ mở ra xem. Trong có tấm bản đồ khu Gia-lâm. Tại vùng đất hoang, khoanh bằng son. Ông nói với vợ :
- Em xem ơi! Hôm trước ta muốn khai hoang khu đất này, rồi quy tụ dân phiêu bạt về, giúp họ cầy cấy. Em ước tính phải có năm thoi vàng. Một thoi chúng ta cũng không có, huống hồ năm ? Nay y trao cho ta hai chục thoi, nhờ ta làm cái công việc quy tụ đám thiếu niên cùng khổ, thì thực là cầu mà không được.
Ông bà cùng chắp tay :
- Nhị vị về nói với bề trên rằng chúng tôi sẽ làm hết sức mình ».
Nghe Ngũ-Anh, Ngũ-Hào trình bầy, Thủ-Độ cực kỳ cao hứng :
- Mẹ ta chết ấm ức ! Ta bị đời khinh khi, muốn đánh thì đánh, muốn chửi thì chửi, muốn sai gì thì sai. Chúng còn đái lên đầu ta, rồi đứa con gái của tên Đàm Thì-Phụng, từng hầu hạ cha mẹ ta... Mà y thị còn muốn thiến ta thành thái giám hèn hạ hầu y thị cả đời. Hôm nay ta làm được việc này, ít ra là vinh danh cha mẹ ta.
Còn Khả-hãn Cửu-Anh, Cửu-Hào trở về thuật:
" Hai trẻ đến chùa Chân-giáo, xin yết kiến sư Chân-Minh. Bà làm công quả ở chùa tưởng chúng là ăn mày, nói với chúng:
- Các cháu muốn ăn oản, ăn chuối thì bà cho cháu, không cần gặp thầy.
- Chúng cháu muốn gặp thầy để cúng dàng, chứ không phải xin ăn.
Hai trẻ gặp sư Chân-Minh, chúng đảnh lễ, xin được hầu chuyện. Sư Chân-Minh sai đóng cửa lại rồi hỏi:
- Phải chăng hai con do người trên sai đến?
- Bạch sư phụ vâng. Người trên của chúng con sai chúng con kính cẩn dâng lên thầy, gọi là chút lễ bạc.
Hai trẻ trao hộp sâm cho sư. Sư cầm lấy rồi tủm tỉm cười:
- Người ăn ở có hậu như thế này, thì vạn thế còn lưu danh. Hai con về nói với người trên rằng : Đối với kẻ thù ác độc đến đâu cũng nên dùng chữ từ của đức Thế-tôn.
Hai trẻ lại đến Hồng-lĩnh đệ nhị y viện. Học trò thấy hai đứa ăn mày thì hỏi:
- Hai cháu muốn xin ăn phải không?
- Không?
- Thế hai cháu bị bệnh gì?
- Dạ, cũng không!
- Thế hai cháu cần gì?
- Hai cháu nhờ y sư trị bệnh cho người khác?
- Người khác đâu? Bị gì?
- Chúng cháu không biết tên, dĩ nhiên không biết họ bị bệnh gì.
- Các cháu nói gì mà bí hiểm như kinh Kim-cương không bằng.
- Người trên của cháu, kiếm được mấy vị thuốc cực trân quý, muốn dâng y sư , nhờ tay tiên y sư trị cho người bệnh. Vì vậy chúng cháu không biết tên bệnh nhân cũng như chứng bệnh.
Thấy ngôn từ hai trẻ có hơi khác thường, người học trò vội báo với y sư Phòng-Phong.
Tuy Phòng-Phong mới tới Tây-hồ thủy-xá một lần, nhưng ông cũng nhớ mặt Cửu-Anh, Cửu-Hào.
- Thế nào? Bề trên các cháu cho ta cái gì đây?
Hai trẻ trao hộp sâm cho Phòng-Phong. Phòng-Phong mở ra, bất giác ông trợn tròn mắt ra rồi hỏi:
- Y...Y kiếm đâu ra những thứ trân quý như thế này?
- Chúng cháu cũng không biết nữa.
Phòng-Phong lên tiếng gọi vợ:
- Bà nó ơi!
- Gì vậy.
- Bà xem này!
Cách đây mười lăm năm, Bạch-Hạc theo Thủ-Huy đi sứ Mông-cổ, Thiết Mộc Chân đem mấy cân Thái-tử sâm ra tạ ơn y sư Phạm Tử-Tuệ đã cứu các tướng của ông bị trúng độc. Thủ-Huy mang ba cân sâm về dâng lên vua Anh-tông. Nhà vua ban một cân cho Thủ-Huy, để trị bệnh. Nhờ sâm đó mà Thủ-Huy thoát chết. Triều đình Đại-Việt gửi một cân biếu ông nội Thủ-Huy là Trần Tự-Kinh. Bây giờ Bạch-Hạc thấy cũng thứ Thái-tử sâm, cũng hộp bạc khắc hình chim ưng. Bà rùng mình hỏi:
- Sâm này từ Mông-cổ, sao y...y lại có?
Hai trẻ trả lời bằng cái lắc đầu".

Năm ấy, trong nước bị mất mùa, sang tháng hai, dân chúng chết đói khắp nơi. Trên toàn quốc, từ hang cùng, ngõ hẻm cho tới vùng rừng núi, chỗ nào cũng có ăn mày. Người người nằm gối đầu lên nhau mà chết. Đội quân của bọn Khả-hãn mỗi lúc một đông. Dân chúng lũ lượt kéo nhau về các trang ấp thuộc quyền của Trần Lý, Tô Trung-Từ để xin cứu đói. Bọn Khả-hãn thuật cho Thủ-Độ nghe, chỗ nào dân chúng cũng ca tụng công đức của bác Lý nhà nó. Họ đều nói : Phải chi công chúa Đoan-Nghi, phò mã Thủ-Huy trở về cầm quyền, thì dân đâu đến nỗi đói khổ thế này ?
Nghe chuyện ông cha, hùng khí trong tâm nổi dậy. Thủ-Độ nghĩ thầm :
- Bố-mẹ, chú bác ta đã làm lên những công nghiệp lớn. Ân đức như mưa, trải khắp nơi. Ta là con, là cháu, ta học kinh nghiệm của người đi trước, ta cũng phải làm được một cái gì. Ông, bác, cô, chú, cậu ta lấy chủ đạo mà dựng nghiệp bằng cách quy dân lập ấp, bảo vệ dân không bị cường hào ác bá không bị trộm cướp. Tại sao ta không mở rộïng chủ đạo ấy ra ? Bây giờ trong lúc dân chúng đói khổ, trẻ mồ côi lê lết, không nhà, không cửa...Ta hãy dùng bóng ma ba đầu, lấy của bất nghĩa làm phương tiện giúp dân. Ta hãy xóa bỏ cái ranh giới nhỏ hẹp Thăng-long, gửi bọn Tây-hồ thập bát anh hào đi khắp nơi, quy tụ bọn ăn mày, người cùng khổ lại tổ chức cuộc sống no đủ cho họ.

Chiều hôm đó, sau khi bọn Thập-bát Tây-hồ ra các chợ kiểm soát đệ tử trở về. Chúng hớn hở kể cho Thủ-Độ, Mỹ-Vân cái tin con quỷ ba đầu hiện lên trong cung Triều-dương lấy hết vàng bạc, châu báu mang đi... làm rung động thành Thăng-long. Nhưng lần này con quỷ đánh rơi thanh kiếm trong sân cung. Thiên-sứ đại nhân tâu quả quyết: quỷ chỉ nhát người chứ không lấy vàng bạc. Ngài giải đoán rằng con quỷ ba đầu quả có thực. Còn vụ trộm vàng ngọc của sứ đoàn thì có kẻ mạo danh con quỷ để ăn trộm. Trên thanh kiếm có khắc dấu hiệu môn phái, thế hệ của kẻ trộm. Mặc dù quan Tổng-lĩnh thị vệ xin được nhận thanh kiếm, rồi căn cứ vào đó truy lùng thủ phạm. Thiên-sứ đại nhân không chịu trao kiếm, ngài lấy lý : Thị vệ Đại-Việt không làm tròn nhiệm vụ, thì có trao tang vật cho cũng vô ích.
Nghe dư luận, Mỹ-Vân bàn :
- Trên thanh kiếm của bọn Gia-thụy ngũ anh đều có khắc hình năm ngọn núi, biểu hiệu của phái Hoa-sơn. Dưới năm ngọn núi lại khắc chữ chỉ rõ chủ của thanh kiếm thuộc thế hệ thứ mấy. Huynh vô tình ném thanh kiếm của tên Đoàn Thượng vào trong sân cung Triều-dương, đã làm cho sứ đoàn với bọn Hoa-sơn nghi ngờ nhau. Bây giờ giữa bọn chúng đang có ngọn lửa âm ỷ cháy. Tội gì mình không đổ thêm dầu vào cho lửa bốc cao lên ?
- Theo ý sư muội, ta nên làm gì?
- Thế này ! Sư huynh đã biết xử dụng võ công Hoa-sơn. Sư huynh lại làm quỷ ba đầu đột nhập tư dinh bọn ngoại thích, bọn tham quan... cướp vàng bạc. Dĩ nhiên trong khi cướp, đai ca dùng võ công Hoa-sơn. Như vậy, kinh thành lại náo động rằng, con quỷ ba đầu không phải là hồn oan Thái-tử Long-Xưởng, mà là một bọn cướp. Triều đình sẽ chĩa mũi dùi vào bọn đồ tử, đồ tôn của Nam-thiên tiên tử...
Vốn thông minh, Thủ-Độ hiểu ngay :
- Sau đó ta lại làm quỷ ba đầu, đột nhập dinh của Đoàn Văn nhát vợ, con, gia thuộc y rồi kể tội y đã sai con trai, cùng gia tướng mạo danh ta, ăn trộm châu báu của sứ đoàn Tống. Rồi ta trừng phạt bằng cách giết mấy tên thủ hạ của y. Nhưng ngay bây giờ, ta hãy lo chuyện dầu sôi lửa bỏng là chuyện dân chết đói đã.
Mỹ-Vân bàn:
- Sau vụ sứ đoàn Tống bị con quỷ ba đầu lấy hết vàng bạc, ai cũng tin rằng không hề có con quỷ. Là người. Là cao nhân hành hiệp như Ưng-sơn song hiệp, Mộc-tồn vông thê hòa thượng, như Côi-sơn song ưng. Vậy đại ca thử vào cung Ngọc-lan dò xét tình hình xem sao?
- Ừ phải đấy.
Thủ-độ vào cung Ngọc-Lan. Vừa thấy nó, Thụy-Nga đã ra lệnh :
- Mi về đấy à ? Mấy hôm nay mi có lên cơn điên không ?
- Không !
- Tiên tử đang muốn tìm mi đấy !
- Tìm làm gì ?
- Ta không biết. Mi hãy chuẩn bị để đêm rằm tháng tám dự tết Trung-thu. Tết Trung-thu năm nay, còn có cuộc tranh chức võ trạng nguyên, bảng nhãn, thám hoa của võ lâm. Mi cũng biết võ, Tiên-tử bắt mi phải ứng thí đó.
- Tôi mà cũng được dự thi à ?
- Dĩ nhiên ! Luật lệ ban ra rằng, sau khi tuyển trạng nguyên, bảng nhãn, thám hoa rồi, mà ai không phục, thì có quyền lên đài thách đấu.
- Thế giám khảo là ai ?
- Gồm năm người. Hoàng-thượng thân ngồi ghế chánh chủ khảo. Có hai phó chủ khảo là Kiến-khang vương, Kiến-bình vương. Ngoài ra còn hai giám khảo nữa Đại Đô-đốc Phùng Tá-Chu, Hổ-uy thượng tướng quân lĩnh Kinh-Bắc tiết độ sứ Quách Bốc.
- Thế tại sao Đoàn Thượng, Nguyễn Nộn, Phạm Bỉnh-Di lại không được cử làm giám khảo ?
- Vì ba người ấy có con dự thi nên phải hồi tỵ.
- À thì ra thế.
- Thôi mi vào gặp Nam-thiên huyền-quân đi.
Thủ-Độ vừa bước vào Tam-thanh điện, chưa kịp hành lễ, thì đạo cô đã chỉ cái bồ đoàn :
- Người ngồi đó đi.
Đạo cô ngắm nhìn Thủ-Độ từ đầu đến chân rồi nói một mình :
- Giống quá ! Giống quá. Đẹp hơn bố nhiều. Này Trần Thủ-Độ.
Thủ-Độ biết rõ Đạo-cô nguyên là Tuyên-phi Thụy-Hương thời vua Anh-tông. Trước khi được phong Tuyên-phi, đạo cô là người tình ba năm của bố nó. Khi bố nó kết hôn với mẹ nó, thì Thụy-Hương trở thành người tình của Thái-tử Long-Xưởng, với hy vọng sau trở thành hoàng hậu, để trả thù bố nó. Song Long-Xưởng không lấp được cái uất hận của Thụy-Hương. Thụy-Hương tìm cách bắt vua Anh-tông. Thành công! Được phong Tuyên-phi, rồi làm tan nát triều Lý. Nghe đạo cô nói giống quá! Giống quá, Thủ-Độ hiểu rằng hồi hoa tình mới nở giữa bà với bố nó. Bố nó đang tuổi mười bẩy.

Bây giờ Thủ-Độ đã ở tuổi mười lăm, mười sáu, nhưng nó vì nó luyện nội công âm dương nhiều, nên cơ thể to lớn bằng một thiếu niên mười bẩy mười tám. Cha con mường tượng giống nhau.
Thủ-Độ làm bộ ngơ ngác :
- Tiên tử nói sao ?
Mắt đạo cô không rời Thủ-Độ:
- Mi họ Trần, tên Thủ-Độ. Cha mi là Trần Thủ-Huy. Mẹ mi là công chúa Đoan-Nghi. Mi quên rồi sao ?
- Không phải. Hoàng hậu bảo đệ tử là cháu xa của người. Đệ tử họ Đàm, tên Độ. Đệ tử không phải họ Trần. Đệ tử thuộc ngoại thích của bản triều.
Nhìn Thủ-Độ, bao nhiêu kỷ niệm với Thủ-Huy hai mươi năm trước sống dậy: Yêu thương, nhớ nhung, hận thù. Trong lòng Thụy-Hương nảy ra một dục vọng:
- Ta sinh ra phải sống trong giả dối. Đời ta trải qua Thủ-Huy, Long-Xưởng, Anh-tông, Mạc Hiển-Tích. Từ ngày ta trở về Đại-Việt, giả làm đạo cô, song thực tế ta là Thái-hậu. Ta còn muốn gì hơn? Ăn ư? Ta muốn ăn gì cũng có. Mặc ư? Ta muốn mặc gì cũng được. Chỉ còn vấn đề phòng the mà thôi. Bây giờ tuổi ta ngày càng lớn, ta không hưởng đi, thì sau này sẽ hối tiếc.
Quay lại nhìn Thủ-Độ:
- Ta trả thù Thủ-Huy như vậy cũng đủ rồi. Cái chí đòi lại cố thổ của y tan ra mây khói. Y thành người vong quốc, lưu lạc trên đất Mông-cổ. Ta những định đánh lừa y với Đoan-Nghi về, tìm cách đánh thuốc mê bắt Đoan-Nghi, trói bỏ vào gầm dường. Sau đó ta với y tình tự trên dường cho y thị đau khổ. Tiếc rằng y thị vừa về đến nơi thì bị ám toán. Ta trút mối hận vào đầu đứa con của y thị. Ta biến con y thành đứa trẻ điên điên, khùng khùng; làm tôi đòi hèn hạ, ăn mày khắp kinh thành. Nhưng...thằng nhỏ này giống bố quá. Bây giờ nó trở thành một thiếu niên anh tuấn. Tại sao ta không dùng nó thay Thủ-Huy ? Đã có biết bao nhiêu gã đàn ông là người tình của cả mẹ lẫn con gái. Ta cũng đã là người tình của cha con Long-Xưởng. Tại sao bây giờ ta không thể trở thành người tình của cha con Thủ-Huy?
Nghĩ vậy Thụy-Hương đổi thái độ:
- Này Đàm Độ ! Người cũng học võ, vậy ngày rằm này người phải lên đài tỷ đấu. Biết đâu người không trúng tuyển tiến sĩ ?
- Bản sự đệ tử không đủ, e lên đài sẽ mất mạng !
- Năm trước mi đã thắng Thái-tử Long-Sảm. Mi quên rồi sao?
- Thắng Thái-tử Long-Sảm? Đệ tử có đấu võ bao giờ đâu? Hôm ấy đệ tử đánh bừa, may mà trúng.
- Thôi, người đi tắm, rồi lên đây ăn cơm với ta.
Thủ-Độ kinh ngạc đến ngớ người ra. Vì từ ngày đến cung Ngọc-lan, trước mặt mọi người thì đạo cô gọi nó là thằng ngẫn ngờ, thằng khùng, thằng điên. Còn khi chỉ có hai người thì gọi nó là thằng chó đẻ, thằng lộn giống. Hồi đầu, nó ngạc nhiên, vì một đạo cô, sư phụ của nhà vua, của hoàng hậu, của tất cả các đại thần, mà lại có ngôn từ tục tằn thô lỗ như vậy. Sau khi Long-Sảm khai ra đạo cô là Tuyên-phi Vương Thụy-Hương thời vua Anh-tông, thì nó không ngạc nhiên nữa ; vì trước kia, bà từng là người tình của bố nó. Bà căm hận bố nó bỏ bà, kết hôn với mẹ nó. Bây giờ thình lình bà đổi thái độ, trong lòng nó nghĩ:
- Trước kia bà trao cho cung nga Thụy-Nga theo dõi ta. Không lẽ bố ta trở về Đại-Việt, đang đi tìm ta, nên bà muốn giữ ta bên cạnh để gài bẫy hại bố ta?
Tắm rửa, thay y phục xong, Thủ-Độ lên Tam-thanh điện, đạo cô cũng đã thay y phục. Bà mặc quần trắng, áo tím, bằng lụa Nghi-tàm. Bà ôm lấy đầu nó ép vào ngực. Không tự chủ được, nó để bà ôm, mùi nước hoa Ngọc-lan thoang thoảng từ người bà tỏa ra.
Thủ-Độ tuy chưa trưởng thành, nhưng cơ thể nảy nở. Với cái tuổi của nó, thân xác bắt đầu phát triển. Thời bấy giờ, nếu nó là con vua, cháu chúa thì đã được cưới cho nhiều phi tần, cơ thiếp. Vì mồ côi cha mẹ, bị khinh khi, phải phiêu bạt...nó sống ở đầu đường xó chợ, lại gần gũi với bọn ăn mày, nên nó đã hiểu tinh tường chuyện tình ái. Tuy vậy nó chưa từng biết cái mùi Vu-sơn là gì. Bị đạo cô, tuy đáng tuổi mẹ nó thực, nhưng là một giai nhân tuyệt sắc, trong y phục mỏng sát da... ôm sát vào người. Bị kích thích cùng độ, người nó quay cuồng, trời đất đảo lộn, môi nó khô.
Đạo-cô hôn lên môi nó. Nó gần như lịm đi trong cái cảm giác thần tiên.
Hôn chán, Thụy-Hương cùng ngồi ăn với Thủ-Độ. Trong bữa ăn, Thụy-Hương luôn gắp thức ăn bỏ cho nó. Đầu óc nó hoang mang, không hiểu nổi hành động quá thân ái của đạo cô.
Ăn xong, Thụy-Hương ra lệnh cho cung nga dọn bát đĩa:
- Ta dạy đứa bé này mấy thức nội công. Tuyệt đối người không cho ai vào đây.
Nói dứt bà đứng dậy đóng cửa, cài then lại, nắm tay nó:
- Cháu hãy theo ta vào đây. Ta bảo gì, cháu cứ làm theo ta. Từ nay cháu sẽ sống sung sướng cạnh ta. Dù vua, dù hoàng hậu cũng không được được đụng chạm đến cháu.
Thụy-Hương lại ôm cứng Thủ-Độ, hôn khắp người nó. Bị kích thích, người Thủ-Độ nóng bừng lên. Thụy-Hương với nó lăn lên trên cái giường. Chợt Thủ-Độ nhớ lại lới bố nó thường dạy đệ tử:
" Con người ta, thân thiết với nhau như thầy trò, cha con, anh em, có thể ăn cùng mâm, ngủ cùng giường, mặc chung quần áo... Không thể chung một người đàn bà".
Nó nghĩ thầm:
- Bà Đạo-cô này từng là người tình của bố ta. Bà là kẻ thù làm cho Đại-Việt tan nát. Chính bà xui nhà vua đẩy cha mẹ ta khỏi Đại-Việt. Bà cũng dự vào việc ám hại mẹ ta. Bây giờ bà định dùng ta như một con vật để thỏa mãn dâm tính ư?
Nó muốn đẩy bà ta ra, mà không có sức. Chợt có tiếng ai đó dùng Lăng-không truyền ngữ rót vào tai nó:
"Vận khí vào qui đầu, đưa ngược lên huyệt Trung-cực, dẫn khí theo Dương-kiêu mạch, chuyển sang Đốc-mạch ở huyệt Đại-trùy. Tản khí ra khắp da".
Vốn cực kỳ thông minh, chỉ nghe qua, Thủ-Độ cũng biết đây là một thức tản công, không nguy hiểm gì. Nó vận khi tức thời. Người nó đang nóng bừng, căng thẳng như cái bong bóng, được thay thế bằng cảm giác mát mẻ, khoan khoái.

Ghi chú của thuật giả:

Thức Khí-công mà Thủ-Độ đã dùng để thoát nạn, tên là Tiêu-sơn hóa tinh pháp. Thức này nay còn lưu truyền. Chúng tôi đã cho thử nghiệm lại, đạt kết quả tốt, đem giảng dạy tại ARMA và viện Pháp-Á. Công dụng chính là giảm cơn thèm muốn của tình dục. Các nhà tu mà luyện được thì không còn sợ con lợn lòng biểu tình làm phá giới thể. Xin xem phụ lục trong quyển 2, Anh-hùng Đông-A dựng cờ bình Mông.

Thụy-Hương ôm Thủ-Độ, những tưởng khai mạc đời con trai của nó, thì tự nhiên cái ấy của nó trở thành mềm xèo. Kinh ngạc. Thụy-Hương cho rằng nó sợ quá nên chân khí bị thoát ra ngoài. Kinh nghiệm phòng the của bà mẹ xuất thân là kỹ nữ truyền thụ, lại trải qua trước sau gần chục đàn ông, Thụy-Hương thừa kinh nghiệm để đưa Thủ-Độ vào mê lộ. Nàng vuốt ve vào huyệt Quan-nguyên, Thận-du của Thủ-Độ. Người nó lại nóng bừng.
Giữa lúc đó có tiếng tên thái giám hầu cận hô lớn:
- Hoàng thượng cầu kiến Tiên-tử.
Thụy-Hương vội buông Thủ-Độ ra, bảo nó:
- Người cứ đứng hầu bên cạnh ta.
Rồi lên tiếng:
- Thỉnh Hoàng-thượng vào.
Nhà vua bước vào hành đại lễ:
- Thần nhi ra mắt mẫu hậu.
Thủ-Độ giả khùng, nên nó mở mắt thao láo nhìn nhà vua, không hành lễ. Nhà vua cũng không bắt lỗi nó.
- Có điều gì khẩn cấp không sắc diện Hoàng-nhi lại hoảng hốt vậy?
- Tâu mẫu hậu, vẫn chuyện con quỷ ba đầu.
- Ta đã nói rằng không hề có ma quỷ gì cả, đây là một cao thủ võ lâm hý lộng quỷ thần mà thôi. Hôm trước ta đã ban chỉ cho Khu-mật viện cùng bọn Lĩnh-Nam ngũ hổ tướng Phạm Bỉnh-Di, Quách Bốc, Đoàn Văn, Nguyễn Nộn, Nguyễn Du phải tìm cho ra chiêu thức, nội công của tên này, thì mới biết căn của nó. Biết căn thì trị đâu có khó?
- Khu-mật viện tâu rằng, khi xưa Ưng-sơn song hiệp, Mộc-tồn hòa thượng, Côi-sơn song ưng từng tung hoành khắp Hoa-Việt, đương thời không ai tìm ra. Phải đợi đến cuối đời các vị ấy tự xuất hiện mới biết tông tích. Con quỷ ba đầu này hành tung còn kỳ bí hơn, thì sao mà tìm căn cho được?
Thụy-Hương cau mặt:
- Trong mấy vụ lớn y gây ra, chẳng lẽ y không xử dụng võ công?
- Trước sau nó gây ra sáu vụ khác nhau. Vụ đầu tiên tại cung An-toàn, không rõ lý do. Không làm chết ai. Thần nhi nhờ Kiến-bình vương thẩm vấn tên thị vệ bị nhát, thì người cho biết dường như y dùng một chiêu trong Hoa-sơn quyền pháp chính tông. Vụ thứ nhì tại Đông-cung, mục đích gì không rõ, mà Sảm nhi, Thẩm nhi cũng như bọn Thiện-nhân, Thái-giám, cung nga đều không dám khai, vì khi hiện hồn nó đe dọa, ai tiết lộ ra nó sẽ bắt hồn. Thần nhi sai Đô-thống Phan Lân điều tra võ công mà con quỷ dùng để khống chế bọn Gia-thụy ngũ-anh, thì Lân nhận ra đó là những chiêu Hoa-sơn quyền pháp. Vụ thứ ba nó quậy phá phủ Thái-sư, đem con gái Kinh-diên quan Phạm Kính-Ân trả về nhà. Trong vụ này y không xử dụng võ công nên không rõ. Vụ thứ tư, y quậy nhà tên đội trưởng hải đội Thăng-long, điều tra về cái chết của công chúa Đoan-Nghi, rồi nhát chết đạo sư Thiên-Sơn. Vụ này y cũng không xử dụng võ công nốt. Sang vụ thứ năm, y quậy dinh An-phủ kinh lược sứ Hồng-châu, cũng vẫn điều tra việc công chúa Đoan-Nghi bị ám hại. Nó nhát chết vợ Vũ Khải là Mỹ-Hồng. Tên thị vệ bị y khống chế thuật lại chiêu thức y dùng, thì cũng vẫn là võ công Hoa-sơn.
- Điều tra về cái chết của Đoan-Nghi thì chỉ có phái Đông-A, mà trong khắp Đại-Việt duy phái này biết xử dụng võ công Hoa-sơn mà thôi. Thế thì con quỷ là người phái Đông-A. Có gì mà không hiểu. Ta cũng đang muốn biết kẻ nào sát hại công chúa Đoan-Nghi. Cứ để cho phái Đông-A điều tra dùm. Hà!
- Tâu mẫu hậu, Khu-mật viện cũng tâu như thế. Song Kiến-khang vương bác. Vì những chiêu mà con quỷ ba đầu xử dụng thuộc bộ chưởng trấn môn của phái Hoa-sơn, mà chỉ một mình mẫu hậu với các đệ tử của mẫu hậu biết. Thần nhi nghi một trong bọn Lĩnh-Nam ngũ hổ hay Gia-thụy ngũ anh làm việc này, nên ra lệnh cho Khu-mật viện theo dõi. Manh mối đã tìm ra.
- Y là ai?
- Thần nhi chưa chắc cho lắm. Căn cứ vào vụ mới đây nó gây ra là đột nhập cung Triều-dương, lấy hết vàng, ngọc, bảo vật trong phòng chánh phó sứ, rồi bắt con gái đô thống Phan Lân là Phan Mỹ-Vân đem đi mất. Chiêu thức mà y dùng để khống chế tên thị vệ cũng lại là Hoa-sơn. Hôm sau, phó sứ Lâm Hoài Đức tìm ra thanh kiếm của con quỷ đánh rơi trong sân cung Triều-dương. Nhìn ký hiệu khắc trên chuôi kiếm, Lâm cho biết con quỷ thuộc phái Hoa-sơn, dưới quyền quản nhiệm của ngọn núi Công-chúa.
- Ta là Mao-nữ tiên tử, chưởng quản ngọn núi này, thì tất cả đệ tử Mao-nữ Hoa-sơn ta phải biết. Kiếm có khắc rõ thế hệ. Y thuộc thế hệ thứ mấy?
- Thứ hai mươi.
- Thế hệ thứ hai mươi thì chỉ có Gia-thụy ngũ anh. Y là đứa nào?
- Khu-mật viện điều tra, thì biết thanh kiếm đó của Đoàn Thượng. Khi hỏi cung, Thượng khai rằng, y được lệnh của cha, phục ngoài cung Triều-dương để rình bắt con quỷ. Y đã giao chiến với con quỷ. Võ công con quỷ rất cao. Nó bắt thanh kiếm của y, rồi ném vào trong sân cung. Kiến-khang, Kiến-bình vương cho rằng tất cả những vụ hý lộng quỷ thần đều do cha con Đoàn Văn gây ra.
- Chúng gây ra với mục đích gì?
- Theo như Đàm hậu, thì bọn Ngũ-hổ Lĩnh-nam ỷ là đệ tử của mẫu hậu. Sau cuộc thi võ ngày rằm tháng tám này, bọn Đoàn Thượng, Nguyễn Dư, Phạm Bỉnh-Du sẽ được trao binh quyền. Thanh thế của chúng càng mạnh thêm. Ngũ-hổ Lĩnh-Nam muốn hắt Thái-sư Đàm Dĩ-Mông, Thái-úy Đàm Thì-Phụng ra ngoài ...mà không đủ sức. Nên chúng cố tình gây trấn động vụ án công chúa Đoan-Nghi, để phái Đông-A chĩa mũi dùi vào họ Đàm. Thần nhi định bắt giam cha con Đoàn Văn, ngặt vì Văn cũng như Thượng đều là đệ tử của mẫu hậu. Thần nhi phải tâu lên để mẫu hậu định liệu.
- Ta không tin cha con họ Đoàn dám làm chuyện ấy. Ta nghĩ có lẽ bọn nào đó bốc lửa bỏ bàn tay họ Đoàn mà thôi. Có thể họ Đàm đã làm vụ này.
Thụy-Hương suy nghĩ một lúc rồi ghé miệng vào tai nhà vua:
- Muốn giảm bớt thế lực họ Đàm, tại sao ta không dĩ độc trị độc.
- Thần nhi không hiểu ý mẫu hậu.
- Trước đây, vì ta âm thầm từ Tống trở về Đại-Việt, mà phải nhờ họ Đàm che dấu thân thế, để mẫu tử mới trùng phùng. Ta cũng dùng họ Đàm để diệt vây cánh của Đỗ An-Di, Đỗ Thụy-Châu, Mạc Hiển-Tích. Không ngờ, bọn Đàm Dĩ-Mông, Đàm Thì-Phụng lại muốn khuynh đảo triều đình. Hừ! Thụy-Hương này đâu phải là con đàn bà ngu như Cảm-Thánh? Như Thụy-Châu? Ta âm thầm đào tạo Lĩnh-Nam ngữ hổ tướng, rồi trao binh quyền cho chúng. Bây giờ ta lại đào tạo Gia-thụy ngũ-anh. Sau ngày rằm tháng tám này, ta sẽ cho bọn này nắm thêm các chức vụ then chốt. Rồi ta dùng bọn võ tướng xuất thân phái Đông-A để diệt bọn họ Đàm. Bọn Đông-A, bọn họ Đàm như trai cò , ta làm ngư ông hưởng lợi. Bấy giờ trong triều chỉ còn người của ta.
- À, thần nhi hiểu rồi. Việc công chúa Đoan-Nghi bị hại, phái Đông-A chưa biết. Trong triều hiện có Kiến-khang, Kiến-bình vương, Tiên-yên quốc công Phùng Tá-Chu, Đô-thống Phan Lân đều là đệ tử phái Đông-A. Sau ngày rằm tháng tám, thần nhi mời hai vương vào cung, báo cho biết nội vụ, trao cho hai vương truy lùng thủ phạm cùng tìm tung tích con quỷ ba đầu. Nếu hai vương có hỏi tại sao công chúa hoăng đã mấy năm, mà bây giờ mới công bố, thì thần-nhi cứ nói rằng triều đình dấu kín để điều tra.
Nhà vua nhìn Thủ-Độ :
- Thằng bé này đã khỏi bệnh chưa ?
- Dường như đã hết điên. Trong đêm Trung-thu thi võ võ, ta sẽ cho nó ứng thí ; rồi phong nó làm trưởng toán thị vệ cung Ngọc-lan này.
Nhà vua tuyên chỉ cho Thủ-Độ :
- Ta có việc cần mật tấu với mẫu hậu. Cho người lui.
Rời khỏi Tam-thanh đường Thủ-Độ trở về phòng ngủ. Nó nghĩ thầm :
- Mỹ-Vân hay thực. Bây giờ ta đã biết rõ kẻ thù giết mẹ ta là họ Đàm. Trong ba người đầy quyền lực họ Đàm là Dĩ-Mông, Thì-Phụng, Hoàng-hậu thì ai chủ trương ? Tại sao chúng giết mẹ ta ? Ta lại biết nhà vua nghi ngờ bọn Lĩnh-Nam ngũ hổ tướng và ba đứa con nó trong Gia-thụy ngũ-anh. Không ai nghi ngờ gì bọn ăn mày với ta cả. Tốt lắm !

Sáng hôm sau Thủ-Độ lại giả lên cơn động kinh, rồi trốn khỏi Hoàng-thành, trở về Tây-hồ thủy-xá. Trên đường đi, nó thấy dân chúng chết đói nằm dọc dường không biết bao nhiêu mà kể.
Hồi mới về nước, quá đau khổ vì mẹ bị ám hại, Thủ-Độ dồn hết tâm tư vào việc truy tầm thủ phạm. Sau khi bị bọn Gia-thụy ngũ anh làm nhục, đánh đập, thì Thủ-Độ lại chú tâm làm sao diệt hết họ Lý, giết cả nhà bọn chúng để trả thù. Bây giờ trước cảnh dân chúng đói khát, ăn mày đầy dẫy khắp nơi. Trẻ con mồ côi lê lết, không chỗ nào mà không có. Nó cho rằng việc tầm cừu, trả thù không phải một ngày, hay một tháng mà xong. Trong khi việc cứu những người cùng khổ, như chữa cháy phải làm ngay. Một lần nữa, Thủ-Độ đổi thái độ. Nó để hết tâm chí vào việc này.
Nó nghĩ :
- Ta phải phân bọn Khả-hãn Tây-hồ đi khắp nơi, để quy tụ người nghèo, trẻ mồ côi, sao cho các nơi cũng giống như Thăng-long. Việc làm này không phải một huyện, một trấn, mà trên toàn quốc. Khi xưa vua Trưng hội các anh hùng ở hồ Động-đình, tế cáo Quốc-tổ rồi khởi nghĩa. Bây giờ ta cũng đem bọn Tây-hồ anh hào đi Phong-châu, lễ vua Hùng, rồi trước anh linh Quốc-tổ, Quốc-mẫu ta mới phân chúng đi khắp nơi.
Chán đời đi lang thang !
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-05-10 17:33:21NuHiepDeThuong>
Hồi thứ ba mươi bảy

Lời nguyền Tây-hồ, Hy-cương


Sau khi bàn với Mỹ-Vân, nó tập họp các Khả-hãn Tây-hồ lại, nói :
- Anh em chúng ta hoạt động ở Thăng-long đã mấy năm. Bây giờ các em đều lớn, võ công các em cao, kiến thức rộng, lại kinh nghiệm. Ta muốn phân chia các em đi khắp Đại-Việt. Mỗi em phụ trách một trấn, hay một huyện, quy tụ bọn thiếu niên cùng khổ đem về luyện văn, dạy võ. Mỗi huyện, mỗi trấn sẽ rập khuôn theo tổ chức Thăng-long.
- Bao giờ thì thi hành ? Anh định chia vùng ra sao ?
- Trước hết chúng ta hãy đi Phong-châu, làm lễ tế cáo trước đền thờ Quốc-tổ, Quốc-mẫu đã.
Bọn trẻ vỗ tay hoan hô. Khả-hãn Nhất-Hào xoa tay vào nhau tỏ vẻ thích thú :
- Anh đã nhiều lần kể chuyện vua Hùng dựng nước. Các em từng đọc sách rằng vua Hùng đóng đô ở Phong-châu. Bây giờ anh em chúng ta mới được hành hương đền thờ vua Hùng. Hà!
- Bàn vậy thôi chứ. Còn lâu lắm.
Mỹ-Vân giảng giải :
- Ngày giỗ vua Hùng là mùng 10 tháng 3. Vào ngày đó, cả nước đều trẩy có hội. Bây giờ là tháng tư. Còn lâu mới tới ngày hội.
- Đi lễ vua Hùng cũng như thăm cha, thăm mẹ. Lúc nào mà chả được, việc gì phải chờ đến ngày giỗ ?
Bọn Khả-hãn reo lên mừng rỡ. Khả-hãn Ngũ-Hào hỏi :
- Bao giờ chúng ta đi ?
- Ngày kỉa.
Bọn trẻ reo mừng.

Ghi chú của thuật giả:

Tiếng Việt cổ :

Ngày kỉa tức sau ba ngày.
Ngày kìa, sau bốn ngày.
Ngày kĩa, sau năm ngày.

Hôm kỉa, trước ba ngày.
Hôm kìa, trước bốn ngày.
Hôm kĩa, trước năm ngày.


Mỹ-Vân đề nghị:
- Trước kia thì chúng ta chỉ có Đại-hãn, tôi, với 18 em. Vỏn vẹn có hai mươi người. Bây giờ số thiếu niên ăn mày, kẻ cùng khổ trong các trang ấp...lên tới hàng mấy vạn. Ta phải đặt ra một cái tên để gọi cho tiện. Vậy sư huynh ngĩ sao?
- Đúng đấy! Để tránh việc bọn mặt dơi, tai chuột bàn ra tán vào, ta cần đặt một cái tên có nguồn gốc. Tôi nghĩ ta nên đặt là Văn-lang, Âu-lạc, Lạc-Long quân, Âu-Cơ... hay Lĩnh-Nam, Đại-cồ Việt chẳng hạn.
Cả bọn bàn luận một lúc, rồi quyết định chọn tên là Lĩnh-Nam, vì thời Lĩnh-Nam, vua Trưng đã quy tụ anh hùng các nơi rồi khởi nghĩa!
Nhất Anh hỏi:
- Về vụ đi Phong-châu, Đại-hãn định sao?
Thủ-Độ chỉ Mỹ-Vân :
- Anh không quen việc này. Để anh Thanh-Tuyền thống lĩnh chúng ta.
Mỹ-Vân phân chia nhiệm vụ :
- Chúng ta có hai mươi người. Mỗi xe chỉ chở được sáu người. Vậy chúng ta thuê năm xe. Ba xe cho 18 người. Còn hai xe chở hai người với lễ vật.
Nàng chỉ Khả-hãn Nhất-Anh, Nhất-Hào :
- Chúng ta khởi hành từ bến Bắc-ngạn. Vậy hai em đặt thuê sẵn năm xe ngựa trong ba ngày. Lại đặt hai con lợn quay lớn, mười con gà trống luộc, năm mâm xôi, mười mâm ngũ quả, mười bó hoa, mười chai rượu, cùng hương, nến. Ngày kỉa, chúng ta dậy sớm, đến bến Long-biên lúc giờ Mão, đi đò sang Bắc-ngạn, rồi giờ Thìn thì khởi hành.

Tối hôm đó, Thủ-Độ tập trung các Khả-hãn lại, rồi Mỹ-Vân giảng về nguồn gốc tộc Việt : Khởi đầu từ việc vua Minh tế cáo trời đất ở núi Thiên-đài phân chia Nam thành Lĩnh-Nam, Bắc thành Trung-nguyên. Rồi chuyện Quốc-tổ Lạc-long quân kết hôn với Quốc-mẫu Aâu-cơ đẻ ra trăm con. Chuyện bánh chưng bánh dầy. Chuyện vua Hùng sai cống con rùa trên ghi chép phép làm lịch, mục đích truyền phép làm lịch sang Trung-nguyên. Chuyện phò mã An-Tiêm với dưa hấu. Chuyện công chúa Tiên-Dung với phò mã họ Chử. Chuyện Phù-đổng thiên vương đánh giặc Aân, sau ngài là tổ sư phái Sài-sơn. Chuyện phò mã Sơn-tinh, tổ sư phái Tản-viên.
Sau khi Mỹ-Vân giảng xong, Thủ-Độ gọi hàng phở tới để anh em cùng ăn phở gà. Thủ-Độ vừa bưng bát phở lên thì Tiểu-hãn vùng Cổ-ngư tới trao cho Thủ-Độ một thanh tre :
- Thưa Đại-hãn, có cô gái ở trên con thuyền tại bến Tương-Dung gửi cái này cho Đại-hãn.
Mặt Thủ-Độ nóng bừng. Nó biết Kim-Dung gửi cho nó. Nó cầm thanh tre lên xem, bất giác nó ngẩn người ra, vì thanh tre chỉ có mấy chữ Trên con thuyền nhỏ tại Trấn-quốc tự. Nét chữ rất quen thuộc, dường như nó đã thấy ở đâu rồi. Như vậy là Kim-Dung hẹn nó ra chùa Trấn-quốc. Từ Tây-hồ thủy-xá đến chùa Trấn-quốc khoảng một dặm. Nó lấy cây cung đeo vào vai, rồi dùng khinh công đi liền. Tới nơi, Thủ-Độ không phải tìm kiếm, đã thấy ngay trên bến đò cạnh cổng chùa Trấn-quốc, một con thuyền đánh cá nhỏ đậu đó. Tiếng đàn văng vẳng vọng ra. Thủ-Độ định lên tiếng, thì có tiếng Kim-Dung :
- Nhanh thực. Ông vua ăn mày có khác.
Kim-Dung ngồi trong khoang vén màn, vẫy tay :
- Xuống đây !
Thủ-Độ tung mình nhảy xuống thuyền. Kim-Dung cầm sợi giây giật mạnh, cánh buồm dương lên, con thuyền từ từ rời bến. Thuyền ra giữa hồ thì mặt trời đã nghiêng bóng.
Thình lình Kim-Dung phát một chiêu chưởng Đông-a tấn công Thủ-Độ. Nó nhận ra đó là chiêu Đông-hải lưu phong. Không dám coi thường, nó vận công ra chiêu Lạc-nhạn băng sơn của Hoa-sơn đỡ. Binh một tiếng. Con thuyền tròng trành muốn lật. Thủ-Độ cảm thấy cánh tay tê liệt, tai phát ra tiếng vo vo không ngừng. Nó kinh ngạc hỏi :
- Kim-Dung ! Cái gì vậy ?
Mặt Kim-Dung xịu xuống :
- Người ! Người nói dối ta quá nhiều.
- Tôi dối cô nương hồi nào ?
- Với công lực của người, người thừa sức bóp chết bọn Gia-thụy ngũ-anh như bóp con dế. Thế mà...Thế mà... hôm người ngất xỉu, mẹ ta với ta cứu người. Người bảo những vết thương trên thân người là do chúng đánh người.
Thủ-Độ phân trần :
- Công lực mà tôi có do mới luyện tập gần đây. Hồi ấy công lực tôi thấp lắm.
- Ta không tin.
- Cô nương không tin, thì tôi đành chịu chứ biết làm sao bây giờ.
- Công tử là cháu Đàm hoàng hậu, thì cũng là cháu Đàm Dĩ-Mông, thế sao bọn họ Đàm lại chẳng tử tế gì với công tử? Công-tử cũng chẳng tử tế gì với chúng ?
- Họ là kẻ thù của tôi. Họ giết mẹ tôi, rồi để che dấu tội lỗi, họ bắt tôi mang họ Đàm.
- Tôi cứ tạm tin như thế. Bây giờ tôi xin công tử một chuyện.
- Cô nương cứ nói.
- Công tử cho tôi lĩnh một chức Khả-hãn vùng Thiên-trường được không ?
Thủ-Độ bật cười :
- Vùng Thiên-trường là nơi bờ xôi giếng mật. Ở đó Thần-nông sứ, Khai-hoang sứ, Hải-hà sứ tổ chức làm cho dân chúng sung sướng như thời vua Hùng, vua Trưng, thì làm gì có ăn mày, làm gì có kẻ cùng khổ mà cô nương muốn làm Khả-hãn?
- Bởi vậy tôi mới xin chức đó. Tôi muốn làm Khả-hãn, mà không vất vả gì cả.
- Vậy tôi mời cô nương làm phó Đại-hãn với tôi. Không biết cô nương có thuận không ?
Kim-Dung chìa ngón tay trỏ ra như hình móc câu. Thủ-Độ cũng chìa ngón tay trỏ ra. Rồi hai ngón tay móc vào nhau.
Kim-Dung nói :
- Chúng ta thề trọn đời, dùng hết tâm huyết để giúp người nghèo khổ...
Thủ-Độ tiếp :
- Và...bảo vệ đất nước của Quốc-tổ, Quốc-mẫu, dù việc gì xấu xa mấy cũng làm, bẩn thỉu mấy cũng cam tâm. Miễn giữ được đất nước Việt, bảo vệ được giòng giống Việt.

Ghi chú của thuật giả

Lời nguyền của Kim-Dung, Thủ-Độ trên hồ Tây, gần chùa Trấn-quốc, đền Trấn-võ là đất linh, gặp giờ linh. Vì vậy, suốt cuộc đời Kim-Dung, Thủ-Độ đã làm không biết bao nhiêu điều đi ngược lại với đạo lý, bị người đương thì, bị lịch sử, và cho đến nay, 1998, trải 990 năm, miệng thế còn dị nghị. Nhưng xét về phương diện đại cuộc quốc gia, thì hai người không hề có một hành vi nào làm tổn hại cả.

Kim-Dung nắm lấy tay Thủ-Độ :
- Bây giờ chúng ta là chánh, phó Đại-hãn của bang Lĩnh-Nam mày rồi, tức cùng nhà. Chúng ta hãy so tuổi. Ai lớn làm anh làm chị. Ai nhỏ làm em.
Hai người cùng đem niên canh bát tự ta. Thủ-Độ lớn hơn mười một ngày. Kim-Dung chắp tay:
- Đại- ca.
Thủ-Độ đáp lại:
- Nhị muội.
- Ngày kia Đại-ca đi Phong-châu phải không ? Muội là phó Đại-hãn, muội cũng phải đi với Đại-hãn chứ?
- Đúng vậy ! Sao muội biết ?
- Muội biết, vì muội tôi biết. Đại-ca là Đại-hãn của ăn mày, thì ai mà không biết. Ở Thiên-trường, ông bà muội, bố mẹ muội, chú bác muội suốt ngày bàn luận về Đại-hãn của ăn mày là một thiếu niên kỳ vỹ , tuổi còn nhỏ, mà làm những việc mà vua Trưng có sống dậy cũng phải khen. Không ngờ về đây, muội mới biết thiếu niên đó lại chính là đứa trẻ khốn nạn, mà mẹ muội cứu khỏi cái chết năm xưa.
Kim-Dung lấy ra một cái quả, trao cho Thủ-Độ, miệng nàng chúm chím cười:
- Đại ca đói rồi đó! Muội trả nợ đại ca đấy.
Thủ-Độ mở quả, bất giác nó ngẩn người ra. Trong quả có một điã xôi với mười con chim sẻ quay. Nhớ lại nét chữ trên thẻ tre, nhìn xôi, chim sẻ quay với câu nói trả nợ. Thủ-Độ bừng tỉnh, toát mồ hôi:
- Hỡi ơi! Thì ra cái người theo dõi, hý lộng mình bấy lâu là Kim-Dung. Nào lấy trộm chim sẻ với xôi. Nào đem con gái Kinh-diên quan Phạm Kính-Ân từ đền thờ vua Trưng về Tây-hồ thủy xá. Nào mách mình thắng tên Đoàn Thượng. Nguy thực, nàng ở trong bóng tối, ta ở ngoài sáng. Mọi hành động của ta nàng đều biết. Nhưng ta không sợ, vì nàng là người chính đạo, lại thuộc loại tâm phúc của ta.
Kim-Dung cười, mặt nàng như muôn ngàn đóa hoa nở, làm Thủ-Độ ngây ngất:
- Đại ca thông minh thực! Sau khi đại ca chôn cái hòm châu báu. Muội trở lại đào lên, viết mấy chữ trêu đại ca. Không ngờ đại ca đã đem đi chỗ khác, rồi lại còn chôn cái hòm đựng gạch để trêu muội nữa chứ!
Thủ-Độ cười hì hì. Nó đánh trống lảng:
- Dung ơi! Dung đi Phong-châu, mà bố mẹ không nói gì ư?
- Bố mẹ có ở Thăng-long đâu? Hai người đang ở Thanh-hóa. Tại Thăng-long muội chỉ có hai ông anh thôi. Mấy hôm rồi muội mải theo dõi đại ca, không thuộc bài, bị ông anh cả đọc cho một bài kinh A-di-đà. Muội giận, bỏ đi với đại ca mấy ngày, để ông ấy tìm cho bõ tức.
- Hai ông anh của Dung khó lắm sao?
- Không! Hai ông ấy sủng ái muội vô bờ bến. Muội học văn với mẹ, học võ với ông nội. Khi xa mẹ, thì anh cả thay mẹ dậy văn cho muội. Anh ấy thương muội lắm. Bất cứ muội muốn gì anh ấy cũng chiều. Có điều khi học, thì anh ấy nghiêm khắc hơn cụ Khổng nữa. Thành ra lắm lúc muội cảm thấy anh ấy là bố thứ nhì vậy. Còn anh hai thì võ công cao thâm không biết đâu mà lường. Tính tình anh ấy dễ dãi, muội bắt nạt anh ấy luôn.
Chợt Kim-Dung chỉ về phía sau:
- Đại-ca bàn với Mỹ-Vân rằng muốn bắt tên chánh sứ, phó sứ hay bồi sứ Tống, để điều tra hung thủ sát hại bá mẫu. Phải không ?
- Dung thực tinh quái cái gì bí mật của huynh, Dung cũng biết. Ừ ! Anh quả có ý đó, mà e không thực hiện được.
- Vì vậy muội mới rủ đại ca chơi thuyền trên hồ Tây để thực hiện điều đó. Đại ca nhìn kìa, từ nãy đến giờ, con thuyền kéo cờ xanh kia cứ theo sau chúng ta hoài. Thuyền của sứ đoàn Tống đó.
Không đầy nửa khắc con thuyền cờ xanh đã đuổi kịp con thuyền nhỏ. Trên lá cờ có chữ Thiên-sứ Trịnh Quốc-công.
- Em sẽ cho thuyền chạy chậm lại, khiêu khích bọn sứ Tống, rồi bắt một tên.
Thủ-Độ thấy mình đã lớn gan mà Kim-Dung còn lớn gan hơn. Nó rùng mình :
- Làm thế nào nàng biết hôm nay bọn Tống chơi thuyền trên hồ này ?
Hai con thuyền đi song song nhau. Một người đàn ông đứng trên mũi thuyền dơ tay vẫy. Thủ-Độ nhận ra y chính là gã Thiên-sứ Triệu Dụng-Chi:
- Cô nương, buổi chiều thu đẹp thế này thực hiếm có. Mời cô nương lên đây cùng chúng tôi uống rượu ngâm thơ. Chiều rồi, làm gì còn cá mà đánh?
Kim-Dung ngửa mặt nhìn lên, nàng cười:
- Người là ai? Ta không quen biết, thì sao có thể lên thuyền người?
Nói rồi, nàng kéo sợi dây buồm. Con thuyền nhỏ vọt lên như tên bắn, phút chốc bỏ xa con thuyền cờ xanh. Lập tức con thuyền cờ xanh cũng kéo hai cánh buồm nữa lên. Trên mũi con thuyền cờ xanh đã thêm ba người là tên phó sứ Lâm Hoài-Đức, đô thống Đặng Vũ và thái giám Đỗ Quảng.
Hơn khắc sau con thuyền lớn đã đuổi kịp con thuyền của Kim-Dung. Cả bọn đứng trên sàn thuyền đều reo hò khoái trá.
Kim-Dung ngửa mặt nhìn lên:
- Cười cái gì? Hãy coi đây!
Nàng cầm giây buồm kéo mạnh. Con thuyền nghiêng đi, quay mũi. Chỉ thoáng một cái, đã đi ngược chiều với con thuyền lớn.
Đặng Vũ ra lệnh cho tài công:
- Quay thuyền lại, đuổi theo.
Trên sàn lại xuất hiện hai người nữa. Cả hai đều còn trẻ. Một mặc áo xanh. Một mặc áo hồng. Người áo hồng cầm một sợi giây tung lên. Giây quấn lấy cột buồm của Kim-Dung, rồi kéo mạnh. Con thuyền của nàng bị giật về sau, không chạy được nữa. Y nói lớn:
- Tiểu cô nương! Mời cô nương lên đây chơi với chúng ta!
Cả bọn trên sàn thuyền đều cười ha hả, tỏ vẻ khoái chí. Tiếng cười chưa dứt, thì Kim-Dung đã cầm chiếc roi nhỏ vung lên, sợi dây trên tay người áo hồng bị đứt. Con thuyền nhỏ lại lao đi vun vút.
Kim-Dung vẫy tay:
- Các người cười nữa coi nào? Trong bọn người, nếu ai là anh hùng, hãy xuống đây chơi!
Bị khiêu khích, người áo hồng tung mình nhảy xuống con thuyền nhỏ. Kim-Dung giật giây buồm, con thuyền lao tới như tên bắn. Người áo hồng rơi tòm xuống hồ. Y vọt người lên như con cá chép, rồi rơi xuống. Chỉ ba lần, y đã đuổi kịp. Lần thứ tư, y tà tà đáp xuống ngay mũi thuyền. Kim-Dung tung người lên xuất chiêu Phong-ba hợp bích hướng vào y. Tuy lơ lửng trên không, nhưng y phản ứng rất nhanh, y xuất một chiêu chưởng rất quái dị đỡ. Binh một tiếng, y lại rơi xuống hồ. Còn Kim-Dung thì lộn ba vòng trên không, rồi đáp xuống thuyền. Nàng cảm thấy ngộp thở, tai phát ra tiếng vo vo.
Người áo hồng lại vọt lên, đáp xuống thuyền. Y phóng chưởng tấn công Thủ-Độ :
Kim-Dung la lớn:
- Đại-ca chớ đỡ chưởng của y! Công lực y cực kỳ hùng hậu.
Trong lúc kinh hoảng, Thủ-Độ cầm cái chài, tay vung lên, vô tình nó xuất chiêu Cầm-la trấn thiên, người áo hồng bị chụp cứng như con cá, rơi xuống lòng thuyền nằm bất động.
- Đại ca điểm vào huyệt Thính-cung để y không nghe được những gì ta nói. Điểm huyệt Tứ-bạch để y không nhìn thấy những nơi ta đi qua.
Thủ-Độ phục Kim-Dung kinh nghiệm hơn nó nhiều. Nó làm theo lời nàng.
Người áo hồng bị bắt, làm tất cả bọn trên sàn thuyền la hét, kinh ngạc. Chúng cùng hối thúc bọn thuyền phu chèo thực mau. Con thuyền lớn đã quay mũi lại, đuổi theo con thuyền nhỏ. Kim-Dung điều khiển cho thuyền chạy vào khu trồng sen, thì vừa lúc đó con thuyền lớn đã bắt kịp.
Thủ-Độ lấy cung nạp tên dương lên. Mũi tên xé gió hướng cánh buồm con thuyền lớn. Phựt một tiếng, giây buồm bị đứt. Con thuyền quay ngang, rồi từ từ ngừng lại. Thủ-Độ bắn mũi thứ nhì, lại một dây buồm bị đứt.
Màn đêm từ từ buông xuống.
Kim-Dung bàn :
- Chúng ta chạy vào khu này nước nông. Tên Đặng Vũ vốn kinh nghiệm về thủy tính. Y không dám duổi theo nữa đâu. Trong khi y nối giây buồm, muội lặn xuống đục thủng đáy thuyền, cho cha con nhà nó thành cá hết.
Nói là làm. Nàng trườn xuống nước. Thủ-Độ nghĩ thầm :
- Chỗ này lội xuống chỉ tới ngực. Nếu con thuyền bị chìm, thì bọn sứ Tầu chỉ phải lội nước vào bờ mà thôi, chứ chúng không đến nỗi chết.
Không đầy một khắc sau Kim-Dung trở lại. Nàng hô:
- Chạy mau.
Rồi giật giây buồm. Con thuyền xuyên qua khu trồng sen, lao đi vun vút.
Trong khi những tiếng la ơi ới từ phía sau vọng lại :
- Nước tràn vào thuyền.
- Thuyền thủng đáy rồi.
- Chắc thuyền chạm phải cọc ngầm.
- Nguy quá ! Thả mủng xuống mau !
- Chỗ này nước nông, không cần thả mủng.
Thủ-Độ hỏi Kim-Dung :
- Ta xử trí với gã này ra sao ?
- Dường như đại ca có ý định bắt tên chánh sứ Tống, khiền cho y một trận để biết rõ ai là chánh phạm trong vụ ám sát bá mẫu thì phải ? Muội nghĩ, ta không cần bắt chánh sứ, mà bắt tên bồi sứ này cũng đủ. Nhưng ta phải thẩm vấn y thực mau, bằng không bọn chánh, phó sứ lên bờ cáo với triều đình. Triều đình sẽ đem Thị-vệ đi bới từng cụm hoa, lật từng viên gạch tìm y.
Thuyền đã tới Tây-hồ thủy-xá. Thủ-Độ vác tên áo hồng lên bờ. Mỹ-Vân với bọn Khả-hãn thấy Thủ-Độ trở về cùng Kim-Dung, lại vác một người nằm trong lưới, thì kinh ngạc vô cùng. Thủ-Độ tóm lược những gì đã xẩy ra một lượt, rồi ra lệnh :
- Các em sai bọn Tiểu-hãn chia nhau ra canh phòng, trong khi ta hỏi cung tên này.
Nó gọi Nhị-Anh:
- Em ngồi hỏi cung tên này với anh.
Mỹ-Vân dẫn Kim-Dung đi tắm, thay y phục. Thủ-Độ gỡ tên áo hồng ra khỏi lưới, giải huyệt Thính-cung, Tứ-bạch cho y có thể nghe được, nói được. Tên áo hồng mở mắt ra, thấy mình bị đặt ngồi trước hai thiếu niên, một thiếu nữ. Y tự cảm thấy tình hình cực xấu sắp đến. Tuy vậy y vẫn hống hách :
- Bọn mi là ai ? Đây là đâu ?
Nhị-Anh cười nhạt :
- Đây là đâu, tiên sinh không cần biết tới. Tôi muốn tiên sinh trả lời cho tôi ít câu hỏi. Nếu tiên sinh trả lời đầy đủ thì tôi sẽ thả tiên sinh về. Bằng tiên sinh bướng bỉnh, thì tôi giết người, rồi quẳng xác xuống hồ cho cá ăn... Trước hết, cao danh quý tính của tiên sinh là gì ?
- Ta không trả lời tên ôn con.
Kim-Dung cười dòn dã:
- Tiên sinh khai thì thôi, tôi biết tiên sinh họ Đinh tên Hồng, đứng hàng thứ tư trong Tương-giang tứ hổ. Có phải thế không?
- ?!?!?!
- Người đứng đầu trong Tương-giang tứ hổ là Đinh Hoàng, có mỹ danh là Độc-thủ đế quân, nức tiếng Trung-nguyên. Người thứ nhì là Đinh Huyền, nức danh Trung-nguyên về kiếm thuật. Người thứ ba là Đinh Thanh, được giang hồ tặng danh hiệu Trường-giang thần quyền. Còn tiên sinh là Đinh Hồng, danh trấn giang hồ về bộ Hóa-huyết chưởng. Tương-giang tứ hổ đều là bồi sứ! Có đúng không.
- !!!
Nhị-Anh hỏi:
- Tôi muốn biết một vài chi tiết về sứ đoàn. Mong Đinh tam tiên sinh giúp cho.
- Ta không trả lời. Vì bọn bay dùng thủ đoạn hèn hạ bắt ta. Ta không phục.
- Tiên sinh nói lạ.
Kim-Dung giảng giải: Tiên sinh nhảy vào thuyền chúng tôi. Vị đại ca của chúng tôi dùng một chiêu trong Thiên-la thập bát thức bắt tiên sinh. Như vậy sao gọi là thủ đoạn hèn hạ?
- Các ngươi là ai?
Mỹ-Vân hứ một tiếng:
- Chúng tôi thẩm vấn tiên sinh hay tiên sinh thẩm vấn chúng tôi đây?
- Ta không trả lời, xem bọn mi làm gì ta.
- Vậy thì được.
Nàng đưa mắt cho Nhị-Anh :
- Em đem cho ta ít con rắn !
Ở cùng Mỹ-Vân tuy không lâu ngày, nhưng Nhị-Anh biết ông anh này muốn dọa tên áo hồng mà thôi. Nàng hỏi :
- Nhà nuôi nhiều rắn quá. Không biết anh muốn dùng loại nào ? Có loại không độc. Có loại kịch độc !
- Loại kịch độc.
Nhị-Anh đứng lên, nàng mang vào một giỏ rắn, tay trái bắt ra hai con bằng cái đũa :
- Đây, con rắn xanh biếc này cắn trúng ai thì chết trong một khắc. Còn con mầu vàng này cắn trúng ai, thì chết trong một giờ. Tiên sinh muốn chết trong một khắc hay một giờ?
Nhìn con mắt sáng long lanh, ngỗ nghịch của Nhị-Anh, Mỹ-Vân biết cô em này hiểu ý mình. Nàng gật đầu, tỏ ý cứ dọa nữa đi.
Nhị-Anh tung con rắn xanh vào người Đinh Hồng. Con rắn táp một miếng vào má y, rồi bò quanh cổ cắn một miếng nữa. Nó ngừng lại ngửi ngửi, thình lình nó chui vào trong áo, xuống ngực, bụng, mỗi nơi nó đều cắn một miếng, rồi chui lên. Đinh Hồng bở vía:
- Tôi khuất phục! Tôi xin khai. Quả thực tôi là Đinh Hồng. Tôi là đệ tứ bồi sứ.
- Trước hết tiên sinh cho tôi biết : Ngoài số vàng bạc do công khố Đại-Việt trao cho sứ đoàn ra, còn có bao nhiêu châu báu nữa. Châu báu đó ai trao cho ?
- Tôi không nhớ rõ có bao nhiêu châu báu. Nhưng tôi biết do ba người dâng hiến. Một là của vợ của Thái-úy Đàm Thì-Phụng, hai là của vợ Thái-sư Đàm Dĩ-Mông. Ba là của Đàm hoàng hậu.
- Trong số những cống vật đóù, tiên sinh thấy có gì khác lạ không ?
- Có. Thái-úy Đàm Thì-Phụng đưa ra ba hộp sâm Cao-ly bằng bạc. Mà thực là lạ lùng, vì trên nắp hộp lại khắc hình con chim ưng quốc huy của nước Mông-cổ.
- Xin tiếp đi chứ ?
- Còn châu báu thì do Đàm hoàng hậu trao cho chúng tôi...Xin cho tôi uống thuốc giải nọc rắn rồi tôi sẽ khai hết.
Nhị-Anh cười khúc khích :
- Không vội. Nọc rắn này sau một giờ mới làm chết người. Bồi-sứ đại nhân, ngài còn tới mười khắc để khai mà. Khi ngài khai xong, tôi sẽ dâng thuốc giải. Nếu ngài khai xong trước một giờ, thì mọi sự tốt đẹp. Nếu sau một giờ, mà ngài chưa khai xong thì nọc rắn sẽ đưa ngài về hầu đức Thái-tổ Triệu Khuông-Dẫn.
Mỹ-Vân hỏi tiếp :
- Cống cho Tống là do triều đình. Thế sao vợ Đàm Thì-Phụng, Đàm Dĩ-Mông, Đàm hậu cũng phải đem tư trang trao cho sứ Đoàn ?
Thấy Trịnh Hồng trầm ngâm, Mỹ-Vân nói bâng quơ :
- Khai chậm thế này thì sẽ chết. Không biết mình nên đốt hay chôn cái xác này để phi tang đây !
Đinh Hồng bở vía :
- Đàm hoàng hậu muốn ngài chánh sứ về tâu với triều đình rằng nhà vua bị chứng điên khùng. Giòng họ Lý không còn ai. Trong khi đó công chúa Thụy-Hương muốn tôn người tình cũ là Trần Thủ-Huy lên ngôi vua. Thủ-Huy là người có tài nghiêng trời lệch đất. Nếu như y lên ngôi vua, tất cất quân tái chiếm vùng Lưỡng Quảng. Vậy Tống triều nên phong cho Đàm Thì-Phụng lên làm vua, thì Nam phương không những yên tĩnh, mà An-Nam còn chịu binh dịch, cung ứng lương thảo cho Thiên-triều.
Thủ-Độ muốn điều tra về cái chết của mẹ mình, mà không muốn cho Mỹ-Vân, Kim-Dung biết. Nó nói:
- Nhị đệ với Kim-Dung tạm lui, huynh sắp lột quần áo tên này ra để khám xét trên người chúng.
Mỹ-Vân, Kim-Dung bật cười, rồi vào nhà trong.
Thủ-Độ hỏi Đinh Hồng:
- Đinh tứ tiên sinh! Xin tiên sinh cho biết tại sao Tống triều lại ám hại công chúa Đoan-Nghi ?
- Tống triều không chủ tâm giết Đoan-Nghi, mà chỉ muốn giết Thủ-Huy.
- Tại sao ?
- Thủ-Huy với Đoan-Nghi phá vỡ đại kế biến vùng Thảo-nguyên thành phiên bang. Tiếc rằng Thủ-Huy không về, thành ra chỉ có mình Đoan-Nghi chết.
- Thế ai là người thi hành vụ bày ?
- Tống Thiên-tử ban mật chỉ cho Đàm Thì-Phụng, Đàm Dĩ-Mông làm.
- Thế người đàn bà bị công chúa cắt tai, rạch mặt. Gã đàn ông bị chặt cụt tay là ai ?
- Điều này Đàm Thì-Phụng không tâu lên Tống triều, nên Khu-mật viện không biết.
Biết không khai thác gì hơn nữa, Thủ-Độ phóng tay điểm huyệt Thính-cung, Á-môn, Tứ-bạch của Đinh Hồng, rồi gọi Kim-Dung, Mỹ-Vân :
- Tha hay giết tên này ?
- Không nên giết.
Kim-Dung đề nghị :
- Bây giờ ta tìm cách đem tên này bỏ vào nhàn giam trong phủ Thái-úy Đàm Thì-Phụng, rồi tìm cách báo cho sứ đoàn biết. Sứ đoàn ắt sai người mật dò thám, rồi giải cứu y ra. Thế là ta chia rẽ được giữa họ Đàm với Tống.
Mỹ-Vân tiếp :
- Trong khi dùng xe chở y đi. Ta cố ý đụng vào huyệt Ngoại-quan, giải huyệt Thính-cung của Đinh Hồng để y nghe được. Rồi ta bàn bạc với nhau rằng Thì-Phụng sai chúng ta làm việc này.

Đoàn xe năm chiếc chở toàn thể đám thiếu niên đầu não của bang Lĩnh-Nam...lăn bánh. Vó ngựa khua lóc cóc, lẫn với tiếng cười nói ồn ào, tiếng bánh xe lăn, cuốn bụi bốc cao vượt qua con đường đầy cỏ xanh tươi. Trên chiếc xe dẫn đầu, Thủ-Độ, Mỹ-Vân, Kim-Dung phóng mắt nhìn về trước. Mỹ-Vân chỉ vào ngọn núi xa xa, chân núi, sườn núi, đỉnh núi ẩn hiện trong đám mây trắng những căn nhà ngói đỏ, tường trắng, nổi bật lên giữa rừng xanh ngắt:
- Kia núi Hy-cương kia!
Mỹ-Vân giảng giải:
- Đền thờ, lăng Quốc-tổ ở trên đó. Chúng ta phải vượt qua một quãng đường mười dặm nữa, sẽ có ngã rẽ. Từ ngã rẽ, vào tới đền khoảng năm dặm.
Kim-Dung hỏi:
- Này Mỹ-Vân này! Tôi nghe nói đền thờ vua Hùng ở trên núi Nghĩa-lĩnh , sao chị lại bảo là ở núi Hy-cương?
- À, núi này có nhiều tên khác nhau. Tên cổ là Hy-cương. Đến thời vua Trưng đổi là Nghĩa-lĩnh hay Nghĩa-cương. Lại có tên là Bảo Thiếu-lĩnh. Còn dân chúng thì gọi là núi Cả. Núi nằm trên thôn Cổ-tích, xã Hy-cương, thuộc Phong-châu. Khi xưa, vua Hùng tuần du khắp đất nước, cuối cùng ngài chọn khu đất linh này làm kinh đô. Chính nhờ thế đất quy tụ khí thiêng của tạo hóa, bao phủ ngôi đền, mà đất nước ta mấy nghìn năm, vẫn ngạo nghễ với Trung-quốc.
- Sư muội nói rằng thế đất linh , nghĩa là???
Mỹ-Vân chỉ tay về núi Hy-cương:
- Nước ta, cổ còn có tên là Viêm-bang. Trong văn chương, Viêm là Hỏa, thuộc phương Nam. Thì, kìa đỉnh núi, nơi có đền thờ hình như đầu rồng hướng về Nam. Lưng rồng uốn vặn làm ba khúc là Đột-ngột cao-sơn, Áp-sơn, Viễn-sơn. Phía trước có hàng chục quả đồi thấp, giống như đàn rùa bò từ ao nước lên chầu vào. Trên núi Hy-cương, có bốn đền thờ mang tên đền Thượng, Trung, Hạ và đền Giếng. Kể từ cổng lên đền Thượng có 300 bậc đá, chia làm ba khúc, mỗi khúc 100 bậc. Khúc cổng lên đền Hạ100, khúc đền Hạ lên đền Trung 100 bậc, khúc đền Trung lên đền Thượng cũng 100 bậc. Từ đền Trung lên đền Thượng cũng có 100 bậc. Cái con số 100 này căn cứ vào Quốc-tổ , Quốc-mẫu sinh ra một trăm con.

Ghi chú của thuật giả

Trải qua biết bao thăng trầm lịch sử, cho đến đầu thế kỷ thứ 20, các bậc đá bị mất gần hết. Trong cuộc trùng tu 6 năm liền từ 1917 đến 1922, thay vì xây 300 bậc, ban kiến thiết lại xây 539 bậc. Trong đó từ cổng lên đền Thượng 496 bậc. Từ đền Hạ xuống đền Giếng 44 bậc.

Kim-Dung đứng lên trên thành xe quan sát, rồi hỏi:
- Phía sau núi Hy-cương là một khu đất bằng, có nhiều nhà dân chúng ở. Vùng đó tên là gì vậy?
- Đó là làng Hy-sơn.
Kim-Dung kêu lên:
- Khu này trông giống như hình một con phượng hai chân cắp quyển sách. Chắc vì thế, mà nước ta mới là một nước văn hiến. Phải không?
- Đúng vậy.
Xe đã tới ngã ba. Phu xe giật cương cho ngựa quẹo phải. Mỹ-Linh chỉ một bãi đất ra lệnh:
- Chúng ta ngừng lại đây, nghỉ một lát, chỉnh đốn y phục rồi hãy vào triều kiến Quốc-tổ, Quốc-mẫu.
Nàng chỉ vào ngọn đồi bên phải núi Hy-cương:
- Quả đồi kia tên Chu-hóa, có hình dạng giống con hổ phục, chầu vào. Phía bên trái là đồi Phượng-lâu, hình giống như một vị tướng quân bắn cung. Kìa, làng Cổ-tích trước mặt chúng ta, hình giống như con ngựa ghì cương. Xa xa kia là dãy đồi từ Phú-lộc đến Thậm-thình có 99 ngọn, giống như 99 con voi chầu về đền.
Nàng chỉ về hướng Đông và Tây: Khu vực chúng ta đứng đây là cố đô Phong-châu xưa, với những đồi đầy linh khí, nằm giữa hai con sông Lô và sông Thao. Hỏi còn thế đất nào tụ linh khí nhiều hơn thế đất này?
Thủ-Độ hô:
- Ta lên đường thôi!
Đoàn xe tiếp tục lên đường. Con lộ này, nếu vào ngày hội 10 tháng 3, thì đường đất được tu bổ, cỏ được làm sạch, cành cây bên đường được cắt xén. Nhưng bấy giờ là tháng tư, mưa đổ xuống núi rừng, làm nước tràn ra soi mòn con lộ đi. Năm chiếc xe phải khó khăn lắm mới vượt qua được quãng đường ngắn.
Đoàn Xe tới một bãi đất trước cổng đền.
Mỹ-Vân chỉ huy bọn Khả-hãn mang lễ vật, xếp hàng hướng cổng đi lên. Trên cổng có chữ:

Cao sơn cảnh hành.

Ngũ-Hào hỏi Mỹ-Vân:
- Bốn chữ này nghĩa là gì vậy nhị ca?
- Núi cao, đường lớn.
Nhị-Anh cất cao giọng đọc đôi câu đối trên hai cột cổng :

Thác thủy khai cơ tứ cố sơn hà quy bản tịch.
Đăng cao vọng viễn quần phong la liệt tự nhi tôn.


Dịch:

Mở lối đắp nền bốn mặt non sông quy một mối,
Lên cao nhìn rộng nghìn trùng đồi núi tựa đàn con.

(Vũ Kim-Biên)


Ban thủ từ đã thấy đoàn ngươì của Thủ-Độ. Ông Thủ-từ hơi kinh ngạc, khi thấy đoàn hành hương toàn là các thiếu niên. Lúc năm chiếc xe tới bãi đất trước cổng, ông cho rằng đây là một đoàn người hành hương của một trấn, một huyện nào đó. Trong đoàn ắt có những vị cao niên hay các quan dẫn đầu. Bây giờ trước mắt ông, chỉ có hai thiếu niên, một thiếu nữ đi trước. Phía sau mười thiếu niên, mười thiếu nữ.
Ông cung tay:
- Các vị đây xưng hô thế nào?
Kim-Dung đáp:
- Chúng tôi là các thiếu niên ở Thăng-long.
Nàng chỉ Thủ-Độ:
- Người cầm đầu chúng tôi là vị đại ca này, có tên Đại-hãn. Chúng tôi tới đây dâng lễ, để tỏ lòng tưởng nhớ công ơn Quốc-tổ, Quốc-mẫu.
Ông thủ từ chỉ huy ban nghi lễ đỡ các mâm lễ vật, rồi đi trước dẫn đường. Tới đền Hạ, ông giảng:
- Thưa quý khách, đền Hạ là nơi mà Quốc-mẫu Âu-Cơ trở dạ sinh một bọc trăm trứng, nở ra trăm con. Nên sau này con cháu xây đền để tưởng nhớ công sinh thành. Xin mời các vị vào đền lễ Quốc-mẫu.
Đường lên đền Trung phải vượt qua những bậc bằng đá dốc thẳng. Ngôi đền này xây bằng đá, lợp ngói xanh. Tấm biển trước đền có chữ:

Triệu tổ Nam bang
(Tổ muôn đời của nước Nam).

Ông Thủ-từ lại giảng:
- Thưa quý khách, nơi đây, khi xưa vua Hùng thường lên hóng mát. Có khi ngài cùng quần thần luận bàn việc nước. Cũng tại chỗ này, vua Hùng thứ sáu tuyên triệu 18 hoàng tử về, thi làm cỗ, để tìm người con nào hiếu thảo với cha mẹ, mà lại có lòng thương yêu dân, sẽ được truyền ngôi. Hoàng-tử út Lang-Tiêu vì thân dân, hiểu dân, đã làm bánh chưng, bánh dầy tượng trưng cho trời đất. Hoàng tử được nhường ngôi vua, trở thành vua Hùng thứ 7.
Bọn Thủ-Độ lễ xong, ông Thủ-từ tiếp tục dẫn lên đền Thượng. Đền xây bằng đá, mái lợp ngói đỏ. Trên nóc chái có bức hoàng phi:

Nam-Việt triệu tổ.
(Tổ muôn đời của nước Nam).

Hai cột cửa chính giữa có đôi câu đối:

Thần thánh khải Viêm-bang chí kim, địa bất cải, tịch dân bất cải tụ.
Huân lao phụng thánh miếu thị vị, mộc chi hữu bản thủy chi hữu nguyên
.

Dịch:

Thần thánh mở cơ đồ, đến nay đất vẫn thế dân vẫn thế.
Công huân thờ đền miếu, đó là cây có gốc nước có nguồn.

(Vũ Kim-Biên)


Hai cột kế tiếp, một đôi nữa:

Hồng-lạc cố cơ tồn điệp chướng tầng loan quần thủy hợp.
Đế vương linh khí tại hào phong nộ vũ nhất sơn cao.


Dịch:

Cung cũ Hồng-lạc còn đây, trùng điệp núi đồi nhiều dòng sông hợp lại.
Khí thiêng Đế-vương vẫn còn đó, gào thét mưa gió một ngọn núi đứng cao.

(Vũ Kim-Biên)


Ông Thủ-từ lại giảng:
- Thưa quý khách, đây là nơi vua Hùng thờ trời ở điện Kính-thiên, cùng thờ ba ngọn núi linh là Đột-ngột cao sơn, Áp-sơn, Viễn-sơn.
Ông chỉ sang phía bên trái của sân:
- Chỗ kia là ba cái cột đá, gọi là Đá-thề. Nguyên vua Hùng thứ 88 không có con trai. Ngài nhường ngôi cho Thục-Phán tức An-dương vương. Thục-Phán thề Muôn đời bảo vệ giang sơn vua Hùng truyền cho. Thục-Phán sai dựng cột, khắc lời thề lên trên để lưu lại cho đời sau.
Ông lại chỉ sang phía phải:
- Chỗ kia là lăng vua Hùng thứ sáu. Mời các vị sang viếng lăng của ngài.
Không kiềm chế đươc cảm động, dù đang ở chốn tôn nghiêm, đám trẻ reo lên, rồi cùng sang lăng. Lăng xây theo hình vuông. Bốn bên có bốn cột, trên cao là chóp hình tháp, mặt trước có ba chữ:

Hùng vương lăng.
(Lăng vua Hùng)

Mặt sau có hai chữ:

Biểu chính
(Lăng chính).

Có đôi câu đối:

Duật duật hoàng hoàng phối thiên kỳ trạch đế nhi tổ.
Thông thông uất uất đắc địa chi linh sơn diệc hùng.


Dịch:

Đẹp đẹp tươi tươi sánh ơn lớn của trời vua còn là tổ.
Xanh xanh tốt tốt được khí thiêng của đất, núi cũng rất hùng.

(Vũ Kim-Biên)


Ghi chú của thuật giả:

Khu di tích Hùng-vương hay đền Hùng, trong suốt giòng lịch sử, quanh năm dân chúng từ các nơi tụ về dâng hương, để tỏ lòng biết ơn Quốc-tổ, Quốc-mẫu. Hằng năm cứ đến ngày 10 tháng 3, lại tổ chức hội linh đình. Ngày hội gần nhất, năm Mậu-Dần (1998), số người trẩy hội lên đến nửa triệu.

Dưới đây là những thư tịch cổ chép về đền Hùng.

Sơn-tây tỉnh chí.
ĐNNTC
Đồng-Khánh địa dư chí lược.
Bắc-thành địa dư chí lược.
Sơn-tây chí.
Phú-thọ tỉnh địa dư.
Nam-Việt địa dư chí.
Chán đời đi lang thang !
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-05-10 17:43:13NuHiepDeThuong>
Hồi 37 (tiếp theo)


Sau khi lễ lăng xong, Mỹ-Vân nói lớn:
- Bây giờ chúng ta hãy quỳ gối trước cột đá thề, để làm lễ quốc thệ.
Thủ-Độ hô:
- Tất cả quỳ xuống.
Mọi người xuống gối.
- Lễ tám lễ.
Mọi người cùng lễ.
Thủ-Độ khấn:
Bọn chúng con gồm 21 người. Nam có, nữ có. Chúng con từ bốn phương tụ lại. Nay vận nước đang suy vi. Trong triều vua thì hôn ám, quan lại thì nhũng lạm tham ô. Dân chúng đói không cơm ăn, rét không áo mặc, người người gối lên nhau mà chết. Hôm nay, chúng con cùng nguyện trước anh linh Quốc-tổ, Quốc-mẫu:
- Một là, chúng con nguyện hy sinh cho sự nghiệp bốn nghìn năm của Quốc-tổ, đem hết tâm huyết ra bảo vệ giang sơn của Quốc-tổ, Quốc-mẫu để lại.
Hai là, sống chết với công nghiệp của các vị anh hùng đã dầy công xây dựng.
Ba là, xả thân cho kẻ cùng khổ, quyết quét sạch bọn vua chúa, quan lại như chồn, như cáo ngồi trên đầu dân, làm cho dân lầm than.
Bốn là, chúng con làm việc gì, cũng luôn nghĩ rằng do dân, vì dân, cho dân, thương yêu dân như ruột thịt.
Bất cứ ai trong chúng con trái lời thề, thì sẽ chết dưới muôn ngàn đao kiếm.
Thủ-Độ hô lớn:
- Đứng dậy! Chúng ta vừa thề trước Quốc-tổ, Quốc-mẫu. Bây giờ ta phân chia lãnh thổ cho các em. Mỗi em về vùng trấn nhậm của mình, quy tụ bọn thiếu niên cùng khổ, vô sở bất chí lại. Trước hết giúp cho chúng thoát khỏi cơn đói. Rồi tùy theo phương tiện, dạy văn, luyện võ cho chúng. Tất cả mô phỏng theo phương cách ta đã làm ở Thăng-long. Trước hết ta là Đại-hãn, Trần-thị Kim-Dung là phó Đại-hãn. Phan Mỹ-Vân là Khả-hãn trung ương. Thăng-long do Khả-hãn Nhất-Anh. Kinh-Bắc do Khã-hãn Nhất-Hào. Hồng-châu do Khã-hãn Nhị-Anh. Đăng-châu đo Khả-hãn Nhị-Hào...
Thủ-Độ nói nhỏ:
- Ngay khi về Thăng-long, ta sẽ trao vàng, bạc cho các em, các em dùng vàng đó vào việc này.
Chợt nhớ ra một việc :
- Bốn tháng trước Cửu-hào đã trúng tuyển trong kỳ thi võ sơ tuyển của các trấn. Sau lại trúng tuyển kỳ thi tại Binh-bộ rồi phải không ? Vậy các em nhớ đến tháng tám phải về Thăng-long thi đình. Nếu như cả chín em cùng trúng tuyển Tiến-sĩ, sẽ được huấn luyện một thời gian, rồi bổ vào các chức võ quan. Như vậy, sau này chúng ta khởi sự thì đã có 9 đội quân trong tay.
Ông từ đã làm cỗ xong. Ông nói:
- Mời các vị thụ lộc đức vua.
Bọn trẻ cùng ngồi vào chiếu, tay cầm đũa:
- Nào chúng ta...ăn.

Ăn uống xong cả bọn từ biệt ban thủ từ, lên xe ra về. Khi đi vì có lễ vật, nên mỗi xe phải chở đến năm người. Bây giờ lễ vật không còn, Mỹ-Vân đi chiếc xe dẫn đầu. Còn Thủ-Độ vơí Kim-Dung đi chiếc xe cuối cùng.
Xe vừa ra khỏi khu vực đền thì có hai chiếc xe đang đi ngược chiều. Đường hẹp, nên tất cả xe đều phải chạy chậm lại. Khi hai đoàn xe giao nhau, Thủ-Độ nhận ra trên chiếc xe đi đầu có ba người, thì một người là gã Đinh Hồng.
Nó hô:
- Kẻ thù trước mặt. Cúi đầu xuống.
Nhưng đã trễ, hai đoàn xe đang giao nhau. Đinh Hồng cũng đã nhận diện được bọn Thủ-Độ. Y hơi bỡ ngỡ, chưa kịp phản ứng thì hai đoàn xe đã xa nhau hơn mười trượng. Thủ-Độ thúc phu xe:
- Chạy mau.
Bọn phu xe ra roi cho ngựa phi nước đại. Kim-Dung quay đầu nhìn lại sau, nàng la lên:
- Bọn chúng đang trở đầu xe.
Hai đoàn xe, một chạy, một đuổi rầm rập trên đường. Nhưng đoàn xe của Thủ-Độ là xe chở thuê, ngựa gầy yếu, chạy không mau. Trong khi ngựa của bọn Đinh Hồng là ngựa chiến, chạy như bay. Không đầy một khắc y đã đuổi gần kịp Thủ-Độ.
Kim-Dung hô:
- Đại ca! Dùng tên bắn ngựa của chúng.
Thủ-Độ chợt nhớ ra, nó lắp tên, dương cung. Mũi tên xé gió bay đi. Trúng giữa trán con ngựa của chiếc xe dẫn đầu. Con ngựa đau quá ngã vật xuống, làm chiếc xe lộn đi một vòng. Ba gã họ Đinh tung mình lên cao, rồi dùng khinh công đuổi theo. Cả ba cùng nắm lấy thành xe Thủ-Độ ghì chặt. Con ngựa bị sức nặng kéo mạnh, nó hí lên một tiếng rồi đứng lại. Kim-Dung, Thủ-Độ tung mình lên cao, đáp xuống bên đường. Mỹ-Vân cùng bọn Khả-hãn đã đứng sau Kim-Dung, Thủ-Độ. Phía Đinh Hồng, ba người đi trên chiếc xe thứ nhì trang phục thị vệ cũng đã xuống xe.
Gã Đinh Hồng cười gằn:
- Phen này mi có chạy đằng trời.
Kim-Dung tỏ ra bình tĩnh:
- Kính chào Đinh tam tiên sinh. Thế nào? Tiên sinh vẫn mạnh chứ?
Nàng chỉ vào gã quần áo đen:
- Vị này chắc đại danh là Đinh Huyền tiên sinh, nức danh thần kiếm vùng Giang-Nam đây.
Đinh Huyền thấy một cô bé xinh đẹp mà cũng biết danh mình, y hài lòng:
- Đúng vậy.
Kim-Dung chỉ gã áo xanh:
- Còn vị này, chắc là Đinh Thanh, danh trấn Hoa-Nam, được tặng danh hiệu Trường-giang thần quyền hẳn ?
Đinh Hồng nóng nảy:
- Hôm nay thì ông nội mi sẽ bóp chết bọn mi.
Nói dứt y ra chiêu hổ trảo chụp Thủ-Độ; Thủ-Độ trầm người tránh khỏi, tay nó phát một chiêu trong Hoa-sơn đỡ. Bộp một tiếng, Thủ-Độ cảm thấy cánh tay đau buốt tới xương. Chụp hụt, Đinh Hồng phát một chiêu chưởng, chưởng chưa ra hết, mà bọn Khả-hãn đã cảm thấy ngộp thở. Thủ-Độ lại phát một chiêu Hoa-sơn chưởng mà nó học lén của Thụy-Hương... chống lại. Hai chưởng đụng nhau, binh một tiếng. Thủ-Độ bật lui liền ba bước mới đứng vững.
Đứng ngoài lược trận, Đinh Huyền ủa một tiếng, tỏ vẻ kinh ngạc. Y quát lớn:
- Ngừng tay !
Y hỏi Thủ-Độ:
- Người là đệ tử của cao nhân nào trong phái Hoa-sơn?
Vốn đã biết, giữa sứ đoàn với Thụy-Hương có sự xung đột. Vì Thụy-Hương thì muốn bảo vệ ngôi vua cho con. Trong khi sứ đoàn nhận hối lộ của họ Đàm, muốn đưa họ Đàm lên làm vua Đại-Việt. Thủ-Độ đổ dầu vào đám cháy này:
- Tôi là đệ tử của Công-chúa tiên tử Vương Thụy-Hương.
Đinh Hồng bật lên tiếng kêu đầy kinh ngạc:
- À thì ra thế.
Rồi y phát chiêu tấn công Thủ-Độ bằng tất cả bình sinh công lực. Thủ-Độ có cơ may luyện được nội công âm nhu, rồi tổng hợp âm dương, nội công nó rất cao. Nhưng về ngoại công nó chỉ có bộ Đông-a chưởng nhập môn, với bộ Hoa-sơn chưởng mà nó học trộm của Thụy-Hương. Bây giờ nó phải đối chọi với một đại cao thủ đầy kinh nghiệm, thành ra nó chỉ biết chống đỡ.
Đấu được hơn ba chục chiêu, nó đã có chút kinh nghiệm, trong năm chiêu, nó bắt đầu phản công được một chiêu. Quay lại, nó thấy Kim-Dung, Mỹ-Vân cùng bọn Khả-hãn đã bị Đinh Huyền, Đinh Thanh đánh ngã, điểm huyệt để ngồi bên đường. Trong lúc phân tâm, nó bị trúng một chưởng, ngã lăn lông lốc. Đinh Hồng điểm huyệt nó.
Đinh Huyền bảo ba tên thị vệ:
- Đây là bọn trộm bảo vật của sứ đoàn. Các người hãy trói chúng lại, rồi giải về Thăng-long cho ta.
Một viên thị vệ ngửa hai tay lên trời tỏ ý chúng không có dây. Đinh Hồng xuất một nén bạc, ra lệnh:
- Phía sau kia vài dặm có chợ. Người đến đó mua dây cho ta.
Ba viên thị vệ lên xe đi liền.
Đinh Hồng ướm tay lên đầu Thủ-Độ rồi hỏi:
- Lỏi con, nếu ta nhả nội lực, thì cái gì sẽ xẩy ra mi có biết không?
- Biết chứ! Cái đầu ta sẽ vỡ ra, dĩ nhiên ta chết.
- Vậy mi phải trả lời cho ta mấy câu hỏi.
- !?!?!?
- Mi tên gì?
- Tôi họ Đàm, tên Độ, cháu của Đàm hậu.
- Nam-thiên tiên tử vốn là người Tống. Chúng ta là sứ thần Tống. Hà cớ bà lại sai bọn mi bắt ta, tra khảo để biết tin tức?
- Sư phụ bảo : Người hiện là Thái-hậu, nhà vua là con của người. Thế mà sứ đoàn lại nhận vàng của họ Đàm để tâu lên Tống Thiên-tử cho Đàm Thì-Phụng làm vua. Nên người sai chúng tôi bắt tiên sinh, điều tra sự thực.
- Cái vụ tên Đoàn Thượng trộm vàng ngọc ở cung Triều-dương, mi có biết không?
- Có, Đoàn chỉ là Thiên-lôi mà thôi. Y làm theo lệnh của Thái-úy Đàm Thì-Phụng, chứ đạo cô không biết gì !
- Vô lý, Đàm đang nhờ cậy chúng ta, tại sao Đàm lại phản chúng ta !
Thủ-Độ làm bộ cười rộ :
- Đàm dốc túi dâng cho sứ đoàn. Nhưng y tiếc của...
- Như thế thì cái vụ con quỷ ba đầu hoành hành bấy lâu ở Thăng-long là người của Đàm à ?
- Điều này, những người thân phận nhỏ bé như tôi không được biết.
Thấy đã lâu, mà ba tên thị vệ chưa về, Đinh Huyền sốt ruột nói với Đinh Thanh:
- Sao chúng đi lâu thế. Nhị đệ thử tìm chúng xem ?
Đinh Thanh lấy xe ngựa ra đi.
Đinh Hồng hỏi Thủ-Độ về nội tình cung Ngọc-lan, nội tình Gia-thụy ngũ-anh, Lĩnh-Nam ngũ hổ. Nó cứ thực tình kể hết.
Thời gian qua khoảng hơn khắc, vẫn chưa thấy Đinh Thanh về. Đinh Huyền sốt ruột:
- Không lẽ có biến cố gì? Để ta đi xem.
Y lấy chiếc xe của bọn Thủ-Độ, ra lệnh cho phu xe lên đường. Đinh Hồng chờ hơn hai khắc cũng không thấy hai sư huynh với bọn thị vệ trở về, lòng y rối như tơ vò, đứng ngồi không yên.
Y phóng mắt nhìn về cuối đường, có một chiếc xe ngựa đang bon bon chạy tới. Người đánh xe là một thiếu niên phong lưu tiêu sái. Phía sau là một thiếu phụ và một thiếu niên khác. Thiếu phụ có nhan sắc cực kỳ diễm lệ, nhưng đôi mắt phát ra tia hàn quang oai nghiêm. Còn thiếu niên thì dáng người bệ vệ, mắt hổ, đầu rồng, toàn người tỏa ra nét quyền quý.
Mới nhìn thấy xe, Thủ-Độ đã nhận ra thiếu phụ là thân mẫu của Kim-Dung. Còn hai thiếu niên, thì người đánh xe là Trần Tự-Khánh, người ngồi sau là Trần Thừa...anh con bác của nó, mà nó đã gặp ở quán Bích-động mấy năm trước.
Chiếc xe tới chỗ bọn Thủ-Độ thì ngừng lại. Tự-Khánh tung mình xuống ngựa chỉ bọn Thủ-Độ hỏi Đinh Hồng:
- Phải chăng người điểm huyệt đám thiếu niên này?
- Đúng vậy! Ta có việc của ta, người có việc của người. Người không nên can thiệp vào việc của ta mà mang họa.
Tự-Khánh không nói, không rằng, roi ngựa vung lên nhanh không thể tưởng tượng nổi. Bọn Thủ-Độ đã được giải huyệt.
Đinh Hồng quát lên một tiếng phát chưởng tấn công Tự-Khánh. Tự-Khánh cười nhạt tung roi lên không, rồi phát chiêu đỡ. Bùng một tiếng, Đinh Hồng cảm thấy trời long đất lở, tai y phát ra tiếng vo vo không ngừng. Y phải bật lui ba bước mới giữ được thăng bằng. Tự-Khánh chĩa ngón tay phóng đến véo một tiếng. Đinh Hồng đã bị điểm huyệt.
Tự-Khánh coi như không có Đinh Hồng, chàng cầm roi chỉ vào mặt Kim-Dung:
- Con bé này! Dám bỏ Thăng-long lên đây, làm các anh phải tìm khắp nơi!
Kim-Dung chù mỏ ra :
- Ai bảo anh Thừa mắng em chi !
- Hứ ! Con lỏi tì này thì cái gì cũng có lý.
Nói rồi chàng vung roi ngựa. Chiếc roi quấn lấy Kim-Dung. Tự-Khánh chuyển động tay một cái, Kim-Dung bay lên trên không, rồi rơi xuống ghế sau chiếc xe, giống như nàng tự ngồi xuống vậy.
Thủ-Độ tiến tới trước thiếu phụ cung tay:
- Tiểu bối xin tham kiến phu nhân. Đa tạ phu nhân đã cứu mệnh cháu năm trước.
Thiếu phụ mỉm cười:
- Ta còn chưa cảm ơn cháu đã xây bến đò cho nhà ta đấy. Những việc làm của cháu, ta theo dõi rất kỹ. Ta không ngờ họ Đàm toàn những người không ra gì, mà lại sinh ra một thiếu niên chí khí bao la như cháu. Hà! Bang Lĩnh-Nam của cháu lớn quá rồi, lại có kỷ cương, người người hành động trong chủ đạo tộc Việt: Vì hy sinh cho sự nghiệp bốn nghìn năm của Quốc-tổ. Sống chết vơí công lao của anh hùng đã xây dựng đất nước. Xả thân cho kẻ cùng khổ. Thương yêu dân chúng như chân tay. Hay thực!
Bà chỉ Tự-Thừa, Tự-Khánh:
- Ta thấy việc làm của cháu như mở ra một con đường mới cho chủ đạo của tộc Việt. Vì vậy, ta nhắn với anh chị Phòng-Phong rằng ta sẽ gửi Tự-Thừa, Tự-Khánh về giúp cháu.
Nghe thiếu phụ nói, Thủ-Độ trấn động tâm tư. Nó than thầm:
- Ái dà! Bà này là Tô Phương-Lan, vợ của bác Lý ta đây. Như thế thì Kim-Dung là chị con ông bác của ta. Thực hỏng bét.
Mỹ-Vân đã đến trước thiếu phụ hành lễ:
- Đệ tử tham kiến sư bá.
Thiếu phụ nắm tay Mỹ-Vân:
- Cháu được Đàm Độ cứu thoát, ẩn thân ở Tây-hồ thủy-xá. Ta biết hết, ngầm báo cho bố cháu. Tuy vậy bố cháu cũng cứ bắt vạ Đàm hoàng hậu, cho đến nay cũng chưa thôi.
Bà bảo Thủ-Độ:
- Thôi chúng ta về Thăng-long.
Bà hất hàm ra lệnh cho Tự-Khánh. Tự-Khánh lấy dây trói hai chân Đinh Hồng, rồi treo ngược lên một cành cây.
Tự-Thừa bảo Thủ-Độ với Mỹ-Vân:
- Đàm huynh, Phan sư muội đi cùng xe với chúng ta cho vui.
Đoàn xe lên đường trở về Thăng-long.
Dọc đường bàTrần Lý vuốt tóc Thủ-Độ:
- Anh chị Phòng-Phong, cũng như anh chị Tô Trung-Từ đều nói rằng cha mẹ cháu là người của phái Đông-a. Nhưng vì một lẽ khổ tâm riêng cháu không muốn nêu tên bố mẹ cháu ra. Ta cũng không muốn cật vấn cháu làm gì. Ví dù bố mẹ cháu không phải là người phái Đông-a, thì với những việc cháu đã làm, chúng ta cũng coi cháu như đệ tử bản phái.
Thấy bà Trần Lý dịu dàng, tình cảm chân thật, Thủ-Độ định thú thực thân phận. Nhưng nó chợt nhận ra rằng nếu nó thú nhận, thì việc nó với Kim-Dung sẽ tan ra mây khói, nên nó lại thôi.
Xe đi được một quãng, Thủ-Độ thấy dân chúng tụ tập bên đường rất đông đang xem năm người bị treo lủng lẳng trên một cành cây. Đó là ba tên thị vệ, Đinh Huyền, Đinh Thanh. Bất giác Thủ-Độ đưa mắt nhìn Tự-Khánh. Tự-Khánh cười gật đầu.
- Người bán thịt chó, thì treo ngược chó thui. Còn ta, ta treo ngược bọn chó Ngô cho thiên hạ xem.
Tự-Thừa đưa con mắt hiền từ nhìn Thủ-Độ:
- Độ này, Độ đã so tuổi kết anh em với Kim-Dung. Độ lại nhỏ tuổi hơn ta với Khánh. Chúng ta là người cùng môn phái, vậy thì Độ với ta có cái tình anh em thực sự. Từ nay chúng ta đối xử với nhau như tình ruột thịt.
Thủ-Độ cảm động rưng rưng nước mắt:
- Lúc nào em cũng là em của hai anh.
Thủ-Độ thấy bề ngoài thì Tự-Thừa uy nghi, ai nhìn cũng phải sợ. Thế nhưng nó thấy người anh họ này lại đầy tình cảm, nói năng cực nhu nhã.
- Em mồ côi mẹ từ nhỏ, lại xa cha, nên trong khi hành xử có rất nhiều khiếm khuyết, mong hai anh dạy dỗ cho.
- Ông bà, bố mẹ theo dõi những việc em làm, các người thấy em hành xử rất giống một người trong nhà ta...Nay người đó ở ngàn trùng cách biệt!
- Thưa anh, người đó là ai vậy?
- Là chú ruột của anh, tên Thủ-Huy.
Thủ-Độ giật bắn người lên:
- À!
Hai giọt nước mắt rơi lăn tăn trên gò má bà Trần Lý.
Kim-Dung càu nhàu:
- Cái anh Thừa này! Anh nhắc đến chú hai, làm mẹ buồn. Bắt đền anh đấy.
Bà Trần Lý lau nước mắt:
- Nghĩ cũng lạ, mẹ lớn hơn chú hai có mấy tuổi, mà không hiểu sao, mẹ có cảm tưởng như mẹ là mẹ của chú ấy vậy. Hồi chú ấy làm quan cao thực phẩm, vậy mà mẹ mắng gì chú ấy cũng không cãi. Cho nên bà nội nói rằng mẹ không phải là chị dâu, mà là mẹ của chú ấy. Hà! Không biết bao giờ chị em gặp nhau.
Bà nói với Thủ-Độ:
- Bác về Thăng-long cùng Thừa, Khánh, Dung chỉ với mục đích điều tra một việc tối quan trọng. Việc này phi cháu, không ai giúp bác được cả.
- Thưa bác việc gì ạ?
- Chú Thủ-Huy sai người về nhờ hai bác điều tra một việc: Nguyên vợ chú ấy là công chúa Đoan-Nghi với đứa con trai tên Thủ-Độ, tuân chỉ nhà vua triệu hồi, nên bỏ Mông-cổ về Đại-Việt đã 7 năm. Cho đến nay cũng không có tin tức gì. Chúng ta đã hỏi hai vương Kiến-khang, Kiến-bình thì được trả lời rằng triều đình không biết công chúa với chú hai ở đâu, thì sao có việc triệu hồi ? Ông nội đã sai cậu mợ Trung-Từ Bảo-Bảo điều tra hơn năm qua mà không ra manh mối. Hai người may mắn gặp cháu, được cháu tiết lộ cho biết mưu đồ của Tống trong việc dùng Thụy-Hương diệt các võ phái. Hiện cháu sống ở trong Hoàng-thành, may ra cháu giúp chúng ta tìm ra manh mối vụ án công chúa Đoan-Nghi.
Thủ-Độ đưa mắt nhìn bà Trần Lý, nó nghĩ thầm:
- Hôm trước Kim-Dung muốn ta đưa vào Hoàng-thành chơi, chắc cũng chỉ muốn điều tra vụ án mẹ ta. Rồi lúc thẩm vấn tên Đinh Hồng, thì Kim-Dung, Mỹ-Vân đều không có mặt. Bằng không thì tung tích ta bị lộ rồi. Bây giờ ta phải làm sao cho bà bác này ngừng điều tra, bằng không bà tìm ra tung tích ta thì hỏng bét.
Nghĩ vậy nó nói:
- Thưa bác, vụ này dù nhà vua, dù Khu-mật viện cũng không ai biết đầy đủ bằng cháu. Bác không cần điều tra nữa. Sau ngày rằm tháng tám, thi võ xong, cháu hứa sẽ trình với bác vụ này thực đầy đủ.
Chiều hôm ấy, đoàn xe về tới Thăng-long. Lập tức Thủ-Độ tổ chức buổi họp các Khả-hãn bang Lĩnh-Nam. Nó mời bàTrần Lý ngồi chủ tọa, Tự-Thừa, Tự-Khánh cùng tham dự. Nó đem vàng phân chia cho các Khả-hãn. Sau khi dặn dò chi tiết những việc phải làm, rồi ngày hôm sau chia tay.
Bà Trần Lý kinh ngạc vô cùng khi thấy nó còn nhỏ tuổi, mà điều khiển buổi họp rất nhịp nhàng, nào ban lệnh, nào phân tích nhiệm vụ, nào dặn dò phương cách đối phó mỗi khi có biến cố như một thượng thư. Bà đâu biết, nó từng ngồi bên cạnh bố, bên cạnh Thành-cát Tư-hãn xem hai người điều động tướng sĩ đã quen. Điều làm bà kinh ngạc nhất là không biết nó dạy bọn Khả-hãn từ bao giờ, mà bọn này có một kiến thức rất rộng về việc tổ chức thiếu niên thành đội ngũ, huấn luyện xung phong, hãm trận. Nay nó sai bọn Khả-hãn đi các nơi làm công việc đó. Nếu cứ trình độ này, chỉ ba tháng sau, dưới tay nó đã có hàng chục vạn thiếu niên dân dã thiện chiến.
Sau khi giảng giải cho bọn Khả-hãn xong, Thủ-Độ hỏi bà Trần Lý với Tự-Thừa, Tự-Khánh :
- Con xin nghe lời dạy dỗ của bác và các anh.
Tự-Thừa đưa mắt nhìn các Khả-hãn một lượt rồi nói bằng giọng đầm ấm :
- Anh có ba điều khuyên em.
- Em xin nghe.
- Điều thứ nhất : Em lập ra bang Lĩnh-Nam. Lúc đầu chỉ có mấy người. Công việc không làm bao. Bây giờ bang trở thành quá lớn. Mai này lớn không thua gì một nước nhỏ. Em phải tổ chức hệ thống điều khiển lại, phân chia nhiệm vụ như một môn phái. Có như vậy em mới bớt bận rộn, tâm tư thảnh thơi, mà quyết những việc lớn.
Thủ-Độ như một người mù được mở mắt, nó hỏi ngược lại Trần Thừa:
- Theo như minh kiến của anh, thì phải tổ chức như thế nào?
- Trên cao nhất có Bang-trưởng. Phụ tá cho Bang- trưởng có Tả, Hữu hộ pháp. Tả hộ pháp coi về đối nội như thưởng phạt, bổ nhiệm, huấn luyện, kết nạp, lương thực, tài chánh. Còn Hữu hộ pháp coi về đối ngoại như giao thiệp với các môn phái, với hương đảng, với triều đình. Nhất là giúp đỡ dân như lời thề ở đền Hùng. Dưới nữa có Lục thiện nhân, mỗi người phụ trách một việc như Lục-bộ của triều đình, tạm gọi là vụ: Binh-vụ, Lại-vụ, Hộ-vụ, Hình-vụ, Công-vụ, Lễ-vụ. Về lãnh thổ thì mỗi trấn, châu, phủ, huyện có một người đảm trách như một An-phủ sứ, Tuyên-vũ sứ, hiện em đặt tên là Khả-hãn rồi thì cứ để nguyên..
Thủ-Độ suy nghĩ một lúc rồi quyết định:
- Em muốn mời anh Tự-Khánh làm Tả hộ pháp. Kim-Dung làm Hữu hộ pháp. Mỹ-Vân coi Hộ-vụ, Phan Thùy-Dương coi Công-vụ.
Nó nhìn Trần Thừa:
- Còn anh! Em muốn tôn anh làm Nguyên-sư của cả bang.
Bà Trần Lý nắm tay Thủ-Độ:
- Cứ tạm như vậy đi. Trong tương lai, con sẽ gặp nhiều thiếu niên có khí tiết, ta sẽ sắp xếp lại nhân sự sau.
Trần Thừa tiếp:
- Các Khả-hãn của em có cái ưu điểm bậc nhất vô nhị là xuất thân cùng khổ. Rồi được học văn, luyện võ, thấm nhuần lòng yêu nước. Nhưng chúng ta chỉ có mười tám người e không đủ cho toàn quốc ! Bây giờ em nên tìm trong bọn Tiểu-hãn, tuyển chọn lấy trăm người, đem về đây huấn luyện thêm, rồi thăng lên Khả-hãn.
Thủ-Độ chắp tay:
- Đa tạ Nguyên-sư.
Trần Thừa tiếp:
- Điều thứ nhì : Trước đây, tại các xã, thiếu niên tuổi từ mười ba trở lên được gọi là Hoàng-nam. Chúng được huấn luyện quân sự, xung phong hãm trận, dùng để giữ an ninh cho xã. Khi nước có sự, thì Hoàng-nam phụ trách giữ đất. Còn Thiên-tử binh thì lưu động đánh giặc. Khi Đạo-cô Thụy-Hương về ẩn trong Hoàng-cung, bà ta muốn phá nát hệ thống phòng thủ Đại-Việt, nên ép nhà vua ban chỉ giải tán Thiên-tử binh, Ngưu-binh, Kỵ-binh, Hoàng-Nam. Trong mỗi xã chỉ chọn hai người làm Tuần-đinh để sai khiến mà thôi. Bây giờ các Khả-hãn về địa phương ngoài việc chính là quy tụ thiếu niên nghèo khổ lại nuôi dậy, tổ chức thành đội ngũ. Ta cũng nên thu dụng các thiếu niên trong các xã rồi tổ chức đội ngũ huấn luyện họ luôn. Nghĩa là họ sẽ giúp hương đảng giữ an ninh. Nhưng họ là người của ta. Ta có thể điều động họ sang các xã khác.
Thủ-Độ lại chắp tay:
- Đa tạ Nguyên-sư.
- Điều thứ ba, ta tạm tổ chức các đoàn, đội như sau : Mười người là một thập, trăm người là một bách. Không nên, và không thể tổ chức thành nghìn người thành đơn vị. Như vậy lớn quá, bọn mặt dơi, tai chuột sẽ bàn ra, nói vào, không lợi... Trong thời gian ở đây, ta sẽ giúp em làm những việc này.

Bọn Khả-hãn lên đường được hơn tháng, thì chúng báo cáo về rằng mỗi đứa tổ chức được mười đoàn thiếu niên thôn dã, mười đoàn thiếu niên nghèo khổ. Hương đảng đều vui lòng, vì không còn nạn thiếu niên lêu lổng phá phách. Ngược lại, họ có đội thiếu niên có học, giỏi võ, giúp tuần đinh canh phòng làng xã.
Cứ như vậy, tới tháng bẩy, thì mỗi Khả-hãn đã có hơn trăm đội thiếu niên dưới tay. Bang Lĩnh-Nam trở thành một bang lớn. Thế mà triều đình không ai biết gì.
Trong thời gian ấy, thì bà Trần Lý với các con ở trên con thuyền tại bến sông. Hàng ngày bà hoặc Tự-Thừa, Tự-Khánh đến Tây-hồ thủy xá dạy võ cho Thủ-Độ, Mỹ-Vân cùng huấn luyện bọn Tiểu-hãn từ các nơi gửi về.
Thủ-Độ nhận thấy, ngay từ hôm đầu gặp nhau, Mỹ-Vân với Tự-Khánh luôn quấn quýt bên nhau. Mỗi lời nói của Tự-Khánh đối với Mỹ-Vân đều ngọt ngào. Nó biết những gì sắp xẩy ra giữa hai người. Nó luôn tìm dịp cho hai người đi chung với nhau bằng cách sai Mỹ-Vân đi kiểm tra, hướng dẫn, dạy võ các Khả-hãn tại các trấn, các huyện. Vì vậy, riết rồi các Khả-hãn coi Tự-Khánh như một Đại-hãn thứ nhì.
Một hôm Tự-Thừa bảo Thủ-Độ:
- Cứ như bác Phòng-Phong nói, em luyện được cả nội công âm nhu của Mê-linh lẫn nội công dương cương của phái Đông-a. Cho nên hiện công lực em cao vô cùng. Nhưng em không biết vận dụng, thành ra giống một người ngồi bên kho thóc mà không biết xay thành gạo, đành chết đói. Chính vì thế, nên hôm em đấu một chưởng với Đinh Hồng, mà chỉ ngang nhau. Giá như em biết vận khi phát lực thì chỉ một chiêu y đã táng mạng rồi. Vậy bây giờ anh giảng cho em về Thập-nhị kinh mạch, cùng Kỳ-kinh bát mạch. Sau đó lại dạy em dẫn khí theo vòng Tiểu-chu thiên, Đại-chu thiên, thì...công lực anh cũng thua em xa.
Tự-Thừa chỉ một cây soan to bằng bắp chân :
- Em vận khí rồi phát chưởng đánh vào cây soan kia xem nào ?
Thủ-Độ hít hơi, vận khí phát chiêu Phong-ba hợp bích hướng cây soan. Binh một tiếng cây soan rung động, nghiêng ngả.
- Đấy ! Em không biết phát lực, thành ra cây soan chỉ rung động mà thôi. Nếu như em biết phát lực, thì cây soan kia gẫy ngay. Bây giờ anh dậy em hệ thống kinh mạch trước.
Tự-Thừa lấy ra ba trục vải trên vẽ đồ hình kinh mạch, rồi giảng :
« Trong cơ thể con người gồm ngũ tạng là tâm, can, tỳ, phế, thận, ngoài ra còn tâm bào. Lục phủ là vị, đởm, đại trường, tiểu trường, tam tiêu, bàng quang. Cộng chung là mười hai cơ phận. Mỗi cơ phận có một đường kinh thông với cơ thể, thịt, xương, đem khí của tạng phụ nuôi thân thể. Vì vậy trong cơ thể có mười hai đường kinh, chia ra sáu kinh tay, sáu kinh chân. Sáu kinh tay cũng như sáu kinh chân, đều chia làm ba kinh âm, ba kinh dương. Ngoài ra còn Kỳ-kinh bát mạch là Đốc-mạch, Nhâm-mạch, Âm-kiêu, Âm-duy, Dương-kiêu, Dương-duy, Xung-mạch, Đới-mạch ».
Rồi chàng dạyThủ-Độ vận khí theo kinh mạch. Bắt đầu bằng Thủ Thái-âm phế kinh, sang Thủ Dương-minh đại trường kinh, Túc Dương-minh vị kinh....Cuối cùng là Túc Khuyết-âm can kinh. Vốn thông minh, Tự-Thừa chỉ giảng một lần, Thủ-Độ đã thuộc ngay.
Chỉ không đầy một ngày Thủ-Độ đã có thể vận khí khắp Thập nhị chính kinh và Kỳ-kinh bát mạch.
Bấy giờ Tự-Thừa mới dạy nó phát lực. Thủ-Độ thấy lực mình tuôn ra mãnh liệt vô cùng. Tự-Thừa chỉ cây soan :
- Em thử phát chiêu Phong-ba hợp bích xem nào.
Thủ-Độ xoạc cẳng vận khí rồi phát chiêu. Ầm một tiếng, cây soan bị gẫy làm hai từ từ đổ uống. Nó kinh ngạc, há miệng ra không nói lên lời. Tự-Thừa chỉ gốc soan :
- Em quan sát chỗ gẫy xem có gì lạ không ?
Nó chạy lại nhìn : Chỗ chưởng đánh vào cắt bằng phẳng như búa chém. Còn những thớ gỗ bên trong cong queo như vỏ bào. Nó ngơ ngác không hiểu.
Tự-Thừa giải thích :
- Cắt gốc soan như búa chặt là do nội lực dương cương. Còn làm cho các thớ gỗ cong queo là âm kình. Anh chỉ luyện thành nội công dương cương. Nếu anh phát lực, thì chỉ cắt đứt gốc soan thôi, chứ không làm cho các thớ gỗ nát ra như vậy. Em thử nghĩ xem, nếu chưởng vừa rồi đánh trúng một người, thì tạng phủ sẽ nát ra mà chết.
Từ hôm đó, bà Trần Lý, Tự-Thừa dồn hết tâm huyết luyện võ cho Thủ-Độ. Nhờ có nội lực cao, nên bất cứ quyền, chưởng gì, nó chỉ luyện qua là thành công ngay.
Cuối cùng bà nói :
- Con đã học trộm được bộ chưởng trấn môn của phái Hoa-sơn. Bộ này nguyên xuất từ bộ Vô-Trung kinh, đặt trên căn bản biến hóa Dịch-lý, cực kỳ ảo diệu mang tên Hoa-sơn thần chưởng. Có thể nói, trong võ công Đại-Việt, chỉ có Long-biên kiếm pháp, Phục-ngưu thần chưởng, Mục-ngưu thiền chưởng và Đông-a chưởng pháp là có thể so sánh. Hiện Công-chúa Tiên-tử Thụy-Hương muốn dùng võ công Hoa-sơn, cùng võ công mà thị học được của Đông-a, rồi khai sáng một môn phái mới. Cho nên thị truyền võ công trấn môn Hoa-sơn cho bọn Lĩnh-Nam ngũ hổ tướng, cho bọn Gia-thụy ngũ-anh. Đạo cô tham vọng quá lớn. Ý định của thị đã lộ rõ, là muốn làm suy yếu các môn phái Đại-Việt. Một mặt thị bắt nhà vua ban chỉ cấm các môn phái thu đệ tử. Một mặt thị ta cho Lĩnh-Nam ngũ hổ mở trường dạy võ. Như thế trong các kỳ thi này, chỉ có để tử của thị trúng tuyển, được bổ làm quan, thì dân chúng sẽ bỏ hết các môn phái mà theo học các trường của thị...Song thân của chồng ta biết thế. Người nghiên cứu ra một pho võ công, chỉ với mục đích khắc chế pho võ công trấn môn của Hoa-sơn. Bộ chưởng này có tên Lôi-giáng Hoa-nhạc. Hôm nay ta dạy con, để khi nào con gặp đối thủ xử dụng võ công ấy, đem ra đối phó, thì chỉ một hai chiêu là khiến đối thủ mất căn bản ngay.
Bà gọi Kim-Dung :
- Bây giờ con dùng Hoa-sơn thần chưởng, Kim-Dung dùng Lôi-giáng Hoa-nhạc đấu với nhau xem, con sẽ thấy rõ.
Hai người đứng đối diện.
Tự-Thừa hô :
- Xuất chiêu !
Kim-Dung chắp hai tay vào nhau, đẩy về trước. Đó là chiêu mở đầu của các đệ tử Đông-a, để tỏ lễ phép với đối thủ. Thủ-Độ đã biết chiêu này. Nó cũng nghiêng mình ra chiêu Ngũ-sơn nhật mộ của Hoa-sơn để đáp lễ. Hai chiêu vừa dứt, thì Thủ-Độ xuất chiêu Sơn-cao hạc minh, chân từ quẻ Càn phương Hỏa-địa-tấn bước sang quẻ Cấn phương Phong-sơn-tiệm, tay trái xỉa về trước, tay phải vòng từ sau lên. Kim-Dung bước xéo lùi lại, ra chiêu Lôi-hỏa thạch sa. Tay trái xỉa vào nách phải Thủ-Độ, tay trái dáng từ trên xuống. Kình lực của Thủ-Độ bị tuyệt, chân loạng choạng suýt ngã. Kinh hoảng, Thủ Độ lại xuất chiêu Nam-nhạc trấn thiên , chân từ quẻ Cấn phương Sơn-trạch-tồn bước sang cung Đoài, phương Thủy-sơn-kiển. Kim-Dung lại ra chiêu Ngũ-sơn đảo địa. Kình lực Thủ-Độ bị mất, người bật tung về sau. Cứ như vậy, hai người đấu với nhau đủ 36 chiêu, Thủ-Độï đều bị đánh bại.
- Ngừng tay !
Tự-Thừa giảng cho Thủ-Độ :
- Em thấy không ! Cứ mỗi chiêu em đánh ra, đều bị mất căn bản. Đây là giữa em với Kim-Dung luyện tập với nhau. Giả như đấu thực, thì chỉ một chiêu, em mất căn bản, Kim-Dung đánh liền hai chiêu, thì liệu tính mệnh em có còn không ?
Thế rồi bà Tự-Hấp giảng yếu quyết vận khí, biến hóa, phát chiêu, cùng phương vị di chuyển, sau đó mới dạy các chiêu thức. Trong hai ngày, thì Thủ-Độ đã thành thuộc. Bà Trần Lý ra lệnh cho Tự-Khánh xử dụng Hoa-sơn thần chưởng. Còn Thủ-Độ xử dụng Lôi-giáng Hoa-nhạc. Lạ lùng thay, từ công lực, cho đến võ công, Tự-Khánh bỏ xa Thủ-Độ, thế mà cứ mỗi chiêu nó đánh ra y như là Tự-Khánh luống cuống.
Học xong Lôi-giáng Hoa-nhạc, Thủ-Độ nghĩ thầm :
- Trước đây ông cố mình là Tự-Kinh đã chế ra bộ Thiên-la thập bát thức khắc chế hầu hết nguyên tắc căn bản của võ công Trung-nguyên. Bây giờ ông nội mình nhân thấy bộ Hoa-sơn thần chưởng kỳ diệu, mà sáng chế ra bộ Lôi-giang Hoa-nhạc để khắc chế. Giòng họ mình thực siêu việt. Đã vậy, trong kỳ thi võ này, đứng giữa đài mình phải nói rõ thân thế ra trước thiên hạ, để vinh danh tổ tiên.
Trước khi từ biệt về Thiên-trường, bà Trần Lý dặn Thủ-Độ :
- Bây giờ con đã lớn. Võ công cao, lại là Đại-hãn, là Bang-trưởng một bang lớn nhất Đại-Việt. Con đã giúp cho hàng chục vạn người nghèo có nhà ở, có cơm ăn. Các Khả-hãn của con đã tổ chức được hàng mấy trăm đoàn thiếu niên bảo vệ hương thôn, có khả năng chiến đấu hơn cả Thiên-tử binh. Dân chúngï nhớ ơn, nhân tâm quy phục. Dù con bảo họ nhảy vào lửa, vào nước họ cũng làm. Uy tín con rất lớn. Mỗi hành động con phải đẳn đo sao cho đúng với đạo lý người quân tử. Ta để Thừa, Khánh, Dung, Vân ở lại giúp con. Con đã cho Cửu-hào ghi danh ứng tuyển trong kỳ thi võ này rồi phải không ?
- Vâng con cho mỗi đừa ứng thí ở một trấn, một huyện khác nhau. Trong kỳ sơ tuyển địa phương, chúng đều trúng cách cả. Hôm trước, về thi phúc tuyển ở Binh-bộ, chúng cũng đậu hết. Ngày rằm này, chúng đều vào đình thí.
- Dường như con bị bắt buộc dự thi thì phải ?
- Vâng ! Vì con thuộc Ngoại-thích, nên không phải qua cuộc sơ tuyển. Ý con không muốn thi, nhưng vì con họ...Đàm, thuộc ngoại thích, cho nên Nam-thiên tiên tử bắt con phải dự. Con được biết, Hoàng-hậu tưởng bản lĩnh con thấp kém, vì Phạm Bỉnh-Di tâu rằng con chỉ tập có mấy tháng rồi bỏ. Bà muốn mượn kỳ thi võ này, để dùng bọn Gia-thụy ngũ anh giết con trên đài, mà không ai bàn tán gì đươc. Bây giờ nếu con dự thi, thì người bị giết không phải là con, mà là chúng nó.
- Con ạ ! Ta biết con thù hận triều Lý. Con muốn lật đổ triều Lý, lập một triều khác lên thay. Nhưng con ơi ! Con làm như vậy, e trong nước sẽ xẩy ra một thời kỳ rối ren, loạn lạc, dân chúng khổ lắm. Ta nghĩ sao bằng con dự thi, chiếm chức Trạng-nguyên, rồi làm quan võ trong triều. Ngoài trấn, thì bọn Cửu-hào cầm quân. Khắp các phủ huyện, bọn Khả-hãn, bọn Tiểu-hãn nắm lực lượng thanh thiếu niên. Bấy giờ con sẽ dùng các sức mạnh đó ép triều đình cải tổ, sao cho dân giầu, nước mạnh, có phải hơn không ?
Thủ-Độ tỉnh ngộ :
- Con xin nghe lời dậy của bác.
- Thể lệ dự thi ra sao?
- Đầu tiên sĩ tử ghi tên ở các cả các trấn, các huyện. Họ phải qua một cuộc thi văn, đấu võ, để lọc bớt đi những người vô tài. Những người này được đưa về Thăng-long. Binh-bộ lại thi tuyển một lần nữa, lấy 72 người. 72 ngươì này sẽ vào đình thí. Đấy là thành phần dân dã. Còn phàm con cháu các quan, văn từ chức Thị-lang, võ từ cấp Đô-thống, hoặc thuộc ngoại thích (họ phía các bà vợ vua), Hoàng tộc, thì ghi danh ở quan Tổng-trấn Thăng-long. Quan Tổng-trấn cho tuyển lấy 72 người, rồi được vào đình thí ngay.
- Các môn thi ra sao ?
- Trước hết là thi lực. Mỗi thí sinh phải dùng hai tay cử một khúc gỗ 200 cân (100kg), đi một vòng sân. Ai không làm được như vậy thì bị đánh trượt. Thứ nhì là ngồi trên mình ngựa vừa phi vừa bắn tên. Ai bắn trung từ đến 10 mũi thì trúng cách. Cuối cùng các sĩ tử đấu võ với nhau.
- Võ đài đình thí ở đâu?
- Đặt tại giữa sân viện Giảng-võ.
- Tổ chức cũng khá gọi là chu đáo đấy. Vậy đình thì sẽ diễn ra như thế nào?
- Chia 72 người thành 36 cặp, các thí sinh đấu với nhau, lọc lấy 18 người cho đỗ Tiến sĩ. Ba người đỗ đầu là Trạng-nguyên, Bảng-nhãn, Thám-hoa. Đấy là các sĩ tử dân dã. Còn các sĩ tử quyền qúy thì 18 Tiến-sĩ, lại chia làm ba toán, tuyển lấy ba người. Cuối cùng ba người này đấu với nhau để phân biệt Trạng-nguyên, Bảng-nhãn, Thám-hoa.
- Như thế có hai loại Tiến-sĩ. Trạng-nguyên, Bảng-nhãn, Thám-hoa cũng có hai loại. Một loại thuộc giới quyền quý, và một loại thuộc giới dân dã.
- Vâng.
Kim-Dung cười:
- Này Đại-hãn! Tại sao Đại-hãn cố đoạt lấy ngôi Trạng-nguyên cho thiên hạ nể vì?
- Huynh không thích! Nhưng người ta bắt huynh phải ứng thi, dường như với mục đích mượn võ đài giết huynh mà không ai dị nghị được. Nay nghe bác dạy, huynh quyết đoạt chức Trạng-nguyên, rồi sẽ cầm quân...
Bà Trần Lý ân cần dặn Thủ-Độ:
- Ta biết từ trước đến giờ, vì con cần dấu thân phận, nên dường như con không dám dùng tên họ thực, con lại cũng chuyên xử dụng võ công Hoa-sơn. Bây giờ thân phận con không nhỏ nữa, con cứ đường đường chính chính, nói với anh hùng thiên hạ tên họ của mình, rồi xử dụng võ công Đông-a. Đó là lối hành xử quang minh lỗi lạc...Sau ngày tuyển võ rằm tháng tám, dù con có trúng tuyển hay không, cũng không cần thiết. Con phải về Thiên-trường thuật cho chúng ta nghe tất cả những gì liên quan đến công chúa Đoan-Nghi và con của người.
- Vâng!
- Tự-Khánh, Mỹ-Vân hiện đang đi các trấn cố vấn, dạy võ, kiểm tra công việc làm của các Khả-hãn chưa về. Bây giờ ta dẫn Tự-Thừa đi Đông-triều mấy ngày. Vậy ở nhà con với Kim-Dung, Mỹ-Vân cứ thay nhau luyện võ cho bọn Khả-hãn, vì sắp tới ngày tuyển võ rồi.
Chiều hôm ấy, Khả-hãn Nhất-Anh, phụ trách vùng Thăng-long đến báo cho Thủ-Độ một tin quan trọng :
- Đại-hãn ! Chúng ta có thể xử tử tên Đàm Thì-Phụng được rồi !
- ! ? ! ? ! ?
- Sứ đoàn Tống lên đường đi Chiêm. Thái-úy Đàm Thì-Phụng sai toàn bộ gia tướng, đội thân binh theo hộ tống. Trong dinh chỉ còn khoảng mươi võ sĩ canh phòng mà thôi. Hôm nay nhà y có giỗ.
Thủ-Độ nhảy phắt lên :
- Mạng tên này cùng rồi. Đêm nay là đêm chúng ta trả mối thù đau đớn đứt ruột ra từ mấy năm nay.
Nó cùng Mỹ-Vân, Kim-Dung mở tấm bản đồ dinh Thái-úy ra nghiên cứu từng chi tiết. Mỹ-Vân đề nghị :
- Trưa mai nhà Thì-Phụng có giỗ, sau khi giỗ, tất gia nhân mệt mỏi, lăn ra ngủ, thì chúng ta đột nhậïp vào mới dễ. Đại-ca định giết hết bọn chúng, hay chỉ giết mình tên Đàm Thì-Phụng ?
- Ta không giết hồ đồ như vậy, trước hết ta tra khảo y, vợ con y đã. Sau đó ta làm một bài cáo tri tố hết tội lỗi y rồi hẹn trong vòng ba tháng, triều đình không trị tội y, ta mới ra tay.
Chiều hôm ấy, Kim-Dung, Thủ-Độ lại ngao du trên hồ Tây. Sau thời gian gần nhau, hai trẻ đã yêu nhau mặn nồng, nhưng cả hai vẫn giữ được trong sạch. Kim-Dung hỏi Thủ-Độ :
- Đại-ca ! Từ khi gặp mẹ em, dường như Đại-ca có điều gì lo lắng, mà Đại-ca dấu kín. Hôm nay, chỉ có hai đứa chúng ta. Đại-ca có thể cho em biết được không ?
Thủ-Độ thở dài :
- Anh sợ một ngày kia, chúng mình sẽ phải xa nhau.
- Bố mẹ em là những đại tôn sư võ học, tính tình phóng khoáng. Em tin rằng chúng ta sẽ được toại nguyện.
Tuy nghe Kim-Dung nói vậy, nhưng Thủ-Độ cũng không khuây được, vì cái bức tường hai người là con chú, con bác ruột.
Kim-Dung cam kết :
- Dù bất cứ hoàn cảnh nào, nhất định chúng ta cũng không bỏ nhau. Giả như bố mẹ có bắt em lấy chồng thì tuy ở vơí chồng, nhưng em vẫn dành hết cho anh.
Thế rồi hai người thả neo trên hồ, chuyện trò. Phàm chuyện trai gái mới yêu nhau, thì chẳng chuyện gì ra chuyện gì cả. Nhưng không bao giờ hết.
Hai trẻ ôm nhau qua đêm. Trời sáng, Kim-Dung chèo thuyền về Tây-hồ Thủy-xá , vừa bước lên bờ, đã thấy Khả-hãn Thăng-long là Nhất-Anh, Khả-hãn Gia-lâm là Nhất-Hào đang ngồi chờ. Trên gương mặt hai người hiện ra nét nghiêm trọng.
Thủ-Độ hỏi :
- Cái gì đã xẩy ra ?
Nhất-Anh thưa :
- Đêm qua, con quỷ ba đầu hiện lên trong dinh Thái-úy Đàm Thì-Phụng.
Thủ-Độ, Kim-Dung cùng bá hốc mồm ra :
- Quỷ ba đầu ?
- Vâng.
- Con quỷ này đã làm gì ?
Nhất-Hào đáp :
- Nó giết sạch trâu, bò, lừa, ngựa, gà, vịt chó, mèo. Còn gia nhân, gia tướng thì không biết nó giết bằng cách gì, cơ thể nạn nhân không có vết thương, người chết lạnh như băng.
- Ái chà !
Thủ-Độ than :
- Như vậy sát nhân dùng Huyền-âm nội lực rồi ! Còn tên Đàm Thì-Phụng ?
- Đàm với bẩy bà vợ, ba con trai, chín con dâu, mười hai đứa cháu đều bị khoét hai mắt, chọc thủng hai tai, cắt lưỡi, cắt gân chân tay. Con quỷ hành sự xong, còn băng bó cho nạn nhân khỏi chết. Sau đó con quỷ còn đi dán 12 tờ cáo tri khắp Thăng-long.
- Tờ cáo tri nói gì ?
Nhất-Anh chìa ra tờ giấy :
- Em có mang về được một tờ.
Kim-Dung cầm lấy đọc :

Tam đầu quỷ Long-thành
cáo tri với nhân sĩ, võ lâm.

Tên Đàm Thì-Phụng, xuất thân là một đô thống, tài không, đức không. Nhờ con gái tiến cung, mà được lên hàng tướng quân, được phong chức tước. Rồi dần dần leo lên tới chức Phụ-quốc Thái-úy.
Than ôi ! Từ ngày đức Thần-tông băng, Đại-Việt ta phải chịu liên tiếp cái nạn gà mái gáy. Mỗi khi một bà Thái-hậu lên cầm quyền, thì lại có nạn giết hại tôn thất. Triều Lý lập lên đã trên hai trăm năm, chỉ vì cái nạn ngoại thích tàn sát, mà nay số đinh không quá vài trăm. Hỏi trong lịch sử cổ kim Hoa, Việt, có triều đại nào mà Hoàng-thân, Quốc-thích bị giết nhiều như vậy không ?
Hơn mười năm nay, trong cung thì Đàm hậu lộng quyền, bên ngoài thì Đàm Dĩ-Mông, Dàm Thì-Phụng cùng phe đang chuyên quyền.
Nhà vua sớm nhận thấy cái nguy họ Đàm, nên đã sai sứ sang Mông-cổ thỉnh Phò-mã Thái-úy Trần Thủ-Huy cùng công chúa Đoan-Nghi về để chỉnh đốn lại kỷ cương, lập lại thịnh thời của cá vị tiên đế.
Công chúa với con trai vừa về đến Đại-Việt, thì tên Đàm Thì-Phụng, Đàm Dĩ-Mông sai gia nhân phục kích, dùng loạn tên bắn chết. Đứa con trai còn thơ bị kinh hoàng quá hóa điên, phải lưu lạc đầu đường xó chợ.
Mới đây, họ Đàm dị tâm, sai sứ sang đút lót với các đại thần Tống, tâu rằng nhà vua bị điên, không thể cầm quyên. Giòng họ Lý không còn ai, xin phong cho Thì-Phụng làm An-Nam quốc vương.
Vì vậy, nay ta giết cả nhà tên Đàm Thì-Phụng. Treo án tên Đàm Dĩ-Mông. Nếu y còn manh tâm cướp ngôi, thì sẽ giết cả nhà, kể cả chó mèo trâu bò gà vịt.

Nay cáo tri.
Long-thành tam đầu quỷ.


Nghe đọc xong, Thủ-Độ thẫn thờ người ra, nó nghĩ thầm :
- Không biết ai đã giả danh ta làm việc này? Hà ! Ai mà biết bí ẩn của vụ án sát hại mẹ ta ? Ta chưa kịp ra tay, y đã ra tay trước ?
Kim-Dung cầm tờ giấy, tay nàng run lên bần bật. Thủ-Độ kinh hãi hỏi:
- Dung! Có gì lạ không?
- Không những lạ, mà còn trời rung, đất chuyển nữa. Loạn to đến nơi rồi!
- Anh không hiểu!
Kim-Dung giảng giải:
- Anh không hiểu là phải. Công chúa Đoan-Nghi cùng người con mất tích, gia đình em điều tra mãi không ra manh mối. Bây giờ không biết ai giả làm con quỷ ba đầu giết cả nhà Thái-úy Đàm Thì-Phụng, rồi cáo tri rằng họ Đàm đã ám toán công chúa. Có hai vấn đề được đặt ra là: Một thế lực nào đó, chơi xấu. Họ muốn hạ thế lực họ Đàm, họ giả quỷ ba đầu, giết Thì-Phụng. Họ tố tụi Đàm hại công chúa, gây cho phái Đông-a bị chạm tự ái, sẽ ra tay tru diệt họ Đàm. Ngược lại triều đình cũng nghi con quỷ ba đầu là người phái Đông-a, giết Thì-Phụng. Toàn gia một Quốc-trượng lĩnh Phụ-quốc thái-úy bị giết, nhất định triều đình sẽ phải đem quân về Thiên-trường, làm cỏ phái Đông-a! Hoặc giả, những điều cáo tri đúng sự thực, thì đây là một loại Ưng-sơn song hiệp, đã giả danh đại ca.
Kim-Dung ngừng lại suy nghĩ, rồi tiếp:
- Anh nói với mẹ rằng, anh biết vụ này rất tường tận. Vậy, lời cáo tri của kẻ giả quỷ ba đầu đúng hay sai?
- Đúng hoàn toàn. Nhưng không hẳn bọn Đàm Thì-Phụng, Đàm Dĩ-Mông, chủ động, mà chúng tuân theo mật chỉ của Tống.
Kim-Dung nhảy phắt lên:
- Vậy thì kẻ giả quỷ ba đầu không có ý gắp lửa bỏ bàn tay. Dĩ nhiên họ không phải là người xấu. Họ là đại gia hành hiệp.
- Anh phải điều tra xem ai giả danh anh. Kim-Dung ! Liệu việc này có do anh Thừa, anh Khánh làm không ?
- Mẹ cũng như hai anh ấy còn chưa biết công chúa Đoan-Nghi ở đâu ? Lại càng không biết người bị giết, thì sao có thể là hai anh ấy ra tay ? Vả hai anh ấy cực kỳ thống hận triều Lý, hai anh ấy muốn dung dưỡng tên Đàm Thì-Phụng cho dân chúng phẫn uất để triều Lý mau xụp đổ , đời nào hai anh ấy giết tên Thì-Phụng nhỉ !

Vụ án Đàm Thì-Phụng làm trấn động toàn quốc. Phe đảng họ Đàm kinh hồn táng đởm. Nhà vua nhân đó, phong Kiến-khang vương Long-Ích làm Thái-úy phụ quốc thay thế Thì-Phụng.
Chán đời đi lang thang !
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-05-10 17:49:39NuHiepDeThuong>
Hồi thứ ba mươi tám

Huyết nhục trùng phùng


Thấm thoắt đã đến ngày mười tư tháng tám. Trong suốt mười ngày trước, Tự-Khánh, Thủ-Độ, Mỹ-Vân, Kim-Dung ngày đêm luyện võ cho bọn Cửu-hào. Bản lĩnh chúng tiến nhanh vô cùng.
Thủ-Độ lấy bốn cái thẻ bài trao cho Tự-Thừa :
- Đây là thẻ bài của cung Ngọc-lan. Người nào cầm thẻ bài này, thì coi như kẻ thân tín của Nam-thiên huyền-quân. Em phải vào cung để điểm danh, trước khi thí võ. Vậy hai anh dùng thẻ bài này dẫn Kim-Dung, Mỹ-Vân trà trộn vào đám con quan, xem cuộc thi tuyển.
Nó dặn bọn Cửu-hào :
- Khi phải lên đài đấu với sĩ tử, các em chỉ nên đánh cầm chừng, dò dẫm bản lĩnh của họ. Nếu thấy bản lĩnh họ cao thâm, hãy xử dụng hết công lực. Còn như bản lĩnh họ thấp, ta cứ đánh lấy lệ. Cuối cùng ta dùng một tuyệt chiêu thắng họ. Sau khi thắng họ, thì phải khen ngợi họ, tìm cách kết thân, rồi rủ họ nhập vào hệ thống Khả-hãn của mình. Có như vậy, ta mới đủ lực làm cái gì cho đất nước.
Thủ-Độ về cung Ngọc-Lan vào buổi trưa hôm mười tư. Đạo-cô Thụy-Hương thấy nó thì mừng ra mặt :
- Đàm Độ ! Người đi đâu hai tháng nay ?
- Đệ tử đi Phong-châu, Đăng-châu, Hồng-châu chơi.
- Người có biết ngày mai là ngày tuyển võ đình thí không ?
- Đệ tử nhớ. Nhưng đệ tử không muốn dự tuyển, vì bản sự quá non nớt.
- Không muốn thì cũng phải thi, vì mi là cháu Hoàng-hậu.
- Thưa Tiên-tử, thế ai làm giám khảo ?
- Kiến-khang, Kiến-bình vương cùng Đại đô-đốc Phùng Tá-Chu, Quản Khu-mật viện Quách Bốc. Ta sẽ cố gắng giúp mi đoạt được ngôi vị Tiến-sĩ, rồi cho mi làm trưởng đoàn Thị-vệ cung này. Mi tắm rửa rồi lên đây ăn cơm với ta.
Trong khi tắm, Thủ-Độ nghĩ thầm:
- Dù gì Tiên-tử cũng là người mà phụ thân ta sủng ái trên ba năm. Trước đây bà đối xử tàn tệ với ta, chẳng qua vì ghen tương với mẹ ta mà ra. Bây giờ bà đổi thái độ, thân ái với ta, vì muốn dùng ta thay phụ thạn ta. Làm sao bây giờ?
Tưởng đến lần trước, Thụy-Hương trong y phục lụa mỏng, bó sát người, ôm áp, vuốt ve, hôn hít khắp người nó. Cơ thể nó lại rừng rực như hàng trăm ngọn lửa thiêu đốt, mặt nó nóng bừng. Nó vội dùng thức khí công Tiêu-sơn hóa tinh pháp, lập tức một cảm giác mát mẻ đến vơí nó. Nhưng chỉ một lát sau, người nó lại rạo rực, chân khí chạy hỗn loạn.
Nó than:
- Làm sao bây giờ ?
Thay quần áo, Thủ-Độ lên Tam-Thanh điện. Trong điện chỉ có mình Thụy-Hương. Cung nga, thái giám không còn người nào cả. Thụy-Hương ngồi bên cạnh một mâm cơm, đầy thức ăn bốc hơi ngùn ngụt; nào cá hấp, nào thịt gà nướng, nào canh thập cẩm. Thụy-Hương chỉ mâm cơm:
- Người biết không? Đầu bếp ở đây cũng khá, nhưng không thể so sánh với ta. Ta biết hôm nay người sẽ trở về, nên đích thân ta vào bếp làm những món này cho người ăn đấy.
Thủ-Độ từng nghe Thúy-Thúy thuật lại rằng, Thụy-Hương là người có hoa tay về khoa nấu nướng. Hồi Thái-tử Long-Xưởng còn sống, nàng từng giữ chức Thái-tử thượng thiện. Cho đến vua Anh-tông, không thiếu gì những Ngự-trù tài ba, mà cũng bị nàng chinh phục băng tài nấu nướng.
Thụy-Hương xơí cơm, gắp thức ăn bỏ cho Thủ-Độ. Nó im lặng thưởng thức hương vị tuyệt đỉnh của các món trân bảo.
Ăn xong, Thụy-Hương vẫy Thủ-Độ theo theo bà vào phòng. Thủ-Độ muốn chống lại, mà chân tay vô lực. Trong phòng của Thụy-Hương, dường khảm xà cừ sáng lóng lánh. Nệm trải khăn bằng lụa hồng nhạt. Thuận tay Thụy-Hương đóng cửa, rồi bà ôm chầm lấy nó. Thủ-Độ điếng người đi, nó nghiến răng nghĩ thầm:
- Không thể! Ta không thể chung một người đàn bà với cha ta.
Nó vận Tiêu-sơn hóa tinh pháp.

Ghi chú của thuật giả

Viết đến đây, tôi xin ngừng lại, để độc giả Anh-hùng Đông- A suy đoán:
- Thủ-Độ là người con có hiếu, nhưng liệu có chống lại sức cám dỗ, tài chinh phục đàn ông của Thụy-Hương không?
- Hay Thủ-Độ nhắm mắt hưởng thụ, vì nó bị ảnh hưởng của phong tục vùng Thảo-Nguyên: Khi cha chết, con có quyền ăn nằm với tất cả vợ của bố, chỉ trừ mẹ đẻ?
Lý nào đúng?


Sáng hôm sau, Thủ-Độ dậy sớm đến võ đường trong Hoàng-cung để Phạm Bỉnh-Di điểm danh. Bọn Đoàn Thượng, Nguyễn Dư, Phạm Bỉnh-Du nhìn nó bằng nửa con mắt. Đoàn Thượng nói nhỏ :
- Thằng khùng mà cũng thi võ . Nếu nó đấu với ta, thì chỉ nửa chiêu, cam đoan ta đánh cho nó thành tàn tật.
Phạm Bỉnh-Du nói thầm vào tai Nguyễn Dư, Đoàn Thượng :
- Chúng ta đều nhận mật chỉ của Hoàng-hậu, nhân cuộc đấu này, dùng võ công giết tươi nó đi cho tuyệt hậu hoạn. Vậy trong anh em chúng ta, ai rút thăm đấu với nó, thì phải làm cho được.
- Từ hồi đó đến giờ, nó có luyện võ bao giờ đâu ? Giết nó chỉ cần một chiêu cũng đủ.
Nội công Thủ-Độ rất cao, bao nhiêu lời bàn tán, nó nghe thấy hết. Nó nghĩ thầm:
- Ừ! Cho chúng bay bàn tán. Nếu trời xanh dun dủi, mà bọn bay đấu với ta, ta không giết bọn bay đâu, mà gây cho bọn bay nhục nhã ê chề, làm trò cười cho thiên hạ.
Sau khi điểm danh, Phạm Bỉnh-Di dẫn 72 đệ tử lên đường đến viện Giảng-võ. Trong sân điện, võ đài là một cái sàn cao hơn trượng, vuông vức mỗi bề có đến hơn mười trượng. Xa xa, xung quanh, có tám khán đài theo hình Bát-quái, dùng cho quan khách tham dự. Cái ở phương vị quẻ Càn cao hơn hết, trên đặt cái ngai vàng ; đây là khán đài của nhà vua, các vị thân vương, đại thần. Khán đài đặt ở phương vị quẻ Khôn dành cho các giám khảo. Còn lại sáu khán đài dành cho sáu đại môn phái : Tiêu-sơn, Đông- A, Mê-linh, Sài-sơn, Tây-vu, Thiên-sơn.
Theo chương trình, đúng giờ Thìn, thì nhà vua sẽ cùng đạo cô Nam-thiên huyền quân đến. Thế mà gần cuối giờ Mão, mới chỉ có chưởng môn nhân phái Mê-linh là Nghi-Phương sư thái cùng hơn năm trăm để tử tơí mà thôi.
Binh-bộ thượng thư Đỗ Kính-Tu cuống lên, hỏi Tổng-lĩnh thị vệ Đoàn Văn :
- Dường như có sự bất thường gì thì phải ?
Đoàn Văn than :
- Trước đây, mỗi khoa tuyển võ, triều đình để cho các môn phái với Binh-bộ tổ chức. Ứng sinh thuộc đệ tử các phái. Lần này triều đình gạt các môn phái ra, lại nữa triều đình cấm các phái không được thu đệ tử, nên ứng sinh hoàn toàn là người của Lĩnh-Nam ngũ hổ tướng. Chính vì vậy mà các môn phái không tới tham dự.
Các giám khảo cũng đã đến : Kiến-khang vương, Kiến-bình vương, Phùng Tá-Chu, Quách Bốc.
Ngồi dưới đài, Thủ-Độ đưa mắt nhìn Phùng Tá-Chu :
- Bố mẹ ta nói, chồng của cô Kim-Ngân ta tên Phùng Tá-Chu, là một mĩ nam tử quả không ngoa. Tuổi người đã gần năm mươi mà trông vẫn như cây ngọc trước gió.
Ba tiếng pháo nổ, rồi âm nhạc cử lên, tiếng loa xướng :
- Hoàng thượng giá lâm.
Từ giám khảo cho tới các thí sinh đều quỳ gối, cúi mặt xuống. Nhà vua đi ngựa. Phía sau ngựa có hai cái kiệu. Trên kiệu là đạo cô Nam-thiên với An-toàn hoàng hậu.
Tên thái giám Đỗ Quảng hô :
- Miễn lễ.
Tất cả đứng dậy.
Nhà vua, đạo cô, Hoàng hậu cùng lên đài ngồi. Binh-bộ thượng thư Đỗ Kính-Tu tâu thể lệ tuyển võ, số thí sinh, cùng danh tính các giám khảo.
Đạo-cô Nam-thiên hỏi :
- Đỗ thượng thư ! Tại sao các môn phái không ai tới dự ?
- Thần cũng không hiểu tại sao nữa.
Thủ-Độ phóng con mắt nhìn trong khán đài dành cho Hoàng-tộc, gia đình các quan, nó nhận ra Tự-Thừa, Tự-Khánh, Kim-Dung, Mỹ-Vân đã có mặt.
Có tiếng loa hô :
- Thiên-sứ đại nhân cùng sứ đoàn tới.
Chánh-sứ Triệu Dụng-Chi, phó sứ Lâm Hoài-Đức với ba bốn bồi sứ cỡi ngựa đi vào. Nhà vua cùng các đại thần đứng dậy chào. Sứ đoàn an tọa xong.
Thủ-Độ đã nghe nói trong sứ đoàn có bốn bồi sứ đều họ Đinh mang tên Đinh Hoàng, Đinh Huyền, Đinh Thanh và Đinh Hồng. Nó đã biết mặt Huyền, Thanh, Hồng. Hôm nay nó mới thấy Đinh Hoàng. Mới nhìn Đinh Hoàng, người nó đã choáng váng : Dù thời gian qua gần chục năm, nó cũng nhận ra Đinh Hoàng là tên chỉ huy đội tiễn thủ ám toán mẹ nó. Đinh Hoàng cụt một tay trái, tay áo để rủ xuống. Nó nghiến răng nhìn y với con mắt tóe lửa.
Cuộc thí võ bắt đầu. Kiến-khang vương là chánh chủ khảo. Ông lên đài nhắc các thí sinh năm điều :
- Một là không được dùng ám khí có tẩm thuốc độc. Hai là không được cắn đối thủ. Ba là chỉ đấu để phân cao thấp. Thí sinh nào đánh chết đối thù thì bị đánh trượt. Bốn là thí sinh nào nhận thấy bản lĩnh kém cỏi, thì có quyền rút lui. Năm là, sau khi tuyển ba khôi nguyên Trạng-nguyên, Bảng-nhãn, Thám-hoa bất cứ thí sinh nào không phục, cũng có quyền lên đài thách đấu. Nếu như thí sinh nào đả bại được khôi nguyên nào thì được thay thế khôi nguyên đó
Cuộc thuyển võ cho thí sinh dân dã bắt đầu. Trong 72 người được chia làm 36 cặp đấu với nhau. Ai thắng thì thành Tiến-sĩ. Ai bại thì thành Dũng-sĩ.
Thủ-Độ mải nhìn Đinh Hoàng nghĩ phương cách giết y trả thù mẹ, thành ra cuộc long tranh hổ đấu, diễn ra thế nào, nó không biết. Mãi cho đến khi tiếng loa xướng danh 36 Tiến sĩ , Trạng-nguyên, Bảng-nhãn Thám-hoa đến trước nhà vua quỳ gối, nó mới trở về thực tại, phóng mắt nhìn : Trong 36 Tiến-sĩ, đủ mặt chín Khả-hãn Cửu-hào của nó.

Cuộc tuyển võ ngừng lại trong nửa giờ, rồi sẽ tiếp tục phần dành cho con cháu đại thần, Hoàng-tộc. 72 thí sinh, được bốc thăm, chia ra làm 36 cặp, sẽ theo thứ tự lên đài đấu vơí nhau. Thủ-Độ thuộc cặp thứ 36. Nó phải đấu với Phạm Kính-Nghĩa, con trai của Kinh-diên quan Phạm Kính-Ân. Có hai người làm trọng tài là quan Tổng-lĩnh thị vệ Đoàn Văn và Vũ-kị thượng tướng quân Phạm Bỉnh-Di.
Thủ-Độ nghĩ thầm:
- Bác Lý, anh Thừa, anh Khánh, Kim-Dung muốn ta tranh Tiến-sĩ, rồi lấy Trạng-nguyên. Nhưng, ta không muốn đả bại con của ông thầy đã yêu thương ta. Nhất định, ta sẽ giả thua, để Kính-Nghĩa thắng, mà thành Tiến-sĩ.
Trên đài, từng cặp được gọi lên. Những cuộc long tranh, hổ đấu diễn ra, hằng vạn người hồi hộp theo dõi, mà thủy chung Thủ-Độ vẫn hướng đôi mắt vào gã Đinh Hoàng. Sau khi 35 cặp tranh thắng, thì Phạm Bỉnh-Di xướng danh gọi:
- Bây giờ tới cặp thứ 36. Hai thí sinh tranh thắng là Phạm Kính-Nghĩa, trưởng tử của Kinh-diên quan Phạm Kính-Ân và Đàm Độ, cháu của Hoàng-hậu.
Thủ-Độ lên đài, đứng đối diện với Kính-Nghĩa. Bỉnh-Di hô:
- Xuất chiêu!
Kính-Nghĩa ra chiêu Đồng-tử bái Quan-âm, hai tay chắp lại như hành lễ với đối thủ. Thủ-Độ cũng ra chiêu Đồng-tử bái quan âm, rồi lùi lại sau một bước. Kính-Nghĩa dùng võ công Sài-sơn, xuất chiêu Thiên-vương trấn thiên, kình phong khá mạnh. Thủ-Độ xuất chiêu trong Hoa-sơn chưởng đỡ. Hai chưởng đụng nhau, nó không dám nhả kình lực. Bộp một tiếng, nó làm bộ lảo đảo lui lại. Kính-Ân tỏ ra quân tử, chờ cho Thủ-Độ đứng vững rồi lại xuất chiêu Lôi-đả Ân-tặc. Thủ-Độ vẫn dùng võ công Hoa-sơn đỡ. Thỉnh thoảng nó cũng giả bộ trả lại một đòn. Cứ như vậy, hai bên qua lại hơn năm chục chiêu. Khán giả không khám phá ra Thủ-Độ giả bộ. Người người lắc đầu, tỏ vẻ khinh rẻ bản sự của nó qúa thấp.

Nhưng Thủ-Độ chỉ qua mặt được những người bình thường thôi. Còn đối với Kiến-khang vương, Kiến-bình vương, Phùng Tá-Chu, phó sứ Lâm Hoài-Đức thì tất cả đã nhận ra nó giả bộ. Nhưng bốn người không muốn lột mặt nạ nó. Đúng ra với trình độ của Lĩnh-Nam ngũ hổ, năm cao thủ bậc nhất của triều đình cũng nhận ra, song họ thấy Thủ-Độ điên điên, khùng khùng bấy lâu, họ bị áng mây đó che khuất, nên cũng tin rằng võ công nó quá thấp.
Thình lình Kính-Nghĩa tung ra một chiêu cực mạnh. Thủ-Độ để hở ngực cho chưởng trúng vào. Bộp một tiếng, nó giả bật tung lên cao, rồi ngã sóng xoài trên đài, quằn quại một lúc mới đứng dậy được. Nó chắp tay vái Kính-Nghĩa:
- Đa tạ sư huynh đã nhẹ tay.
Phạm Bỉnh-Di tuyên bố:
- Thí sinh Phạm Kính-Nghĩa thắng thí sinh Đàm Độ. Cuộc đấu chấm dứt.
Kính-Nghĩa, Thủ-Độ vái nhau, rồi hướng vào khán đài Càn-vị của nhà vua vái ba vái.
Từ lúc Thủ-Độ lên đài, bọn Đinh Huyền, Đinh Thanh, Đinh Hồng thấy mặt nó hơi quen quen. Song vì từ khán đài Càn-vị đến võ đài quá xa, nên ba người không nhận ra nó. Bây giờ Thủ-Độ quay mặt đối diện với chúng. Chúng nhận ngay ra nó. Đinh Hồng từng bị nó làm nhục, cơn giận nổi lên. Y quát :
- Thì ra là mi.
Rồi y tung mình lên võ đài, tay xuất chiêu Hổ-trảo chụp nó. Quan Tổng-lĩnh thị vệ Đoàn Văn là trọng tài, đứng ngay mép đài. Y thấy tự nhiên một bồi sứ ra tuyệt chiêu chụp Thủ-Độ, thì kinh ngạc vô cùng. Nếu để nó trúng trảo đó thì sẽ mất mạng. Y vận khí phát một chưởng hướng Đinh Hồng. Đang lơ lửng trên không, Đinh Hồng biến trảo thành chỉ hướng bàn tay Đoàn Văn. Nếu Đoàn Văn không thu chưởng về, thì huyệt Lao-cung của y sẽ bị thương. Đoàn Văn biến chưởng thành gạt, gạt tay Đinh Hồng. Bộp một tiếng, Đoàn Văn bị bật lùi về sau. Y ọe một tiếng, mửa ra búng máu.
Đinh Hồng lại phát một chưởng hướng Thủ-Độ. Phạm Bỉnh-Di thấy chưởng lực của Đinh quá hùng hậu. Y vội phát một Hoa-sơn chưởng đỡ. Binh một tiếng, Phạm lảo đảo bật lui liền ba bước. Đinh Hồng nghiến răng phát một chưởng bằng tất cả bình sinh công lực hướng Thủ-Độ. Mọi người cùng thét lên kinh hoàng, có người nhắm mắt lại không dám nhìn nó tan xương nát thịt.
Thủ-Độ cười nhạt, nó xuất chiêu Đông-hải lưu phong trong Đông- A chưởng, khoan thai đánh vào giữa chưởng Đinh Hồng. Binh ! Đinh Hồng bị bật lai liền hai bước. Còn Thủ-Độ đứng ung dung giữa đài.
Tất cả quảng trường đều kinh ngạc.
Đinh Hồng quát lên :
- Phen này mi phải chết.
Y lại phát chưởng tấn công Thủ-Độ. Thủ-Độ bình tĩnh dùng Đông- A chưởng đấu với y. Áp lực chưởng làm đám sĩ tử ngồi gần đài phải nhảy lui lại.
Trước đây, Thủ-Độ đã luyện được cả nội công dương cương lẫn âm nhu, song nó không biết phát lực. Trong mấy tháng qua, nó được bà Trần Lý, hai anh họ Thừa, Khánh dạy cách phát lực, cùng truyền võ công cho nó. Bây giờ bản lĩnh của nó bỏ xa Đinh Hồng. Tất cả cử tọa thấy mỗi chiêu nó đánh ra mạnh đến kinh người. Giá như nó dùng bản lĩnh chân thực khi thi võ, thì chỉ một chiêu đã khiến Phạm Kính-Nghĩa tan xương nát thịt.
Đấu được trên trăm chiêu, Thủ-Độ nghe tiếng Trần Thừa dùng Lăng-không truyền ngữ rót vào tai :
- Em nhảy lùi lại ba bước, rồi vận âm kình.
Lập tức Thủ-Độ làm theo. Nó vừa vận âm kình xong, thì chưởng của Đinh Hồng chụp lên người nó. Nó xuất chiêu Phong-ba hợp bích đỡ. Xùy một tiếng, chưởng của Đinh Hồng mất tăm mất tích, người y lảo đảo lùi lại. Thủ-Độ chưa kinh nghiệm chiến đấu, bằng không nó đánh liền hai chiêu thì Đinh Hồng đã bỏ mạng.
Trần Thừa dùng Lăng-không truyền ngữ rót vào tai Thủ-Độ:
- Thủ-Độ nghe đây! Phàm khi đấu võ, đối thủø bị mất căn bản, thì phải tấn công như mưa sa, như bão táp; không thể để đối thủ kịp phục hồi.
Đinh Hồng hít một hơi lấy lại sức, y lại tấn công Thủ-Độ. Thủ-Độ lại dùng âm kình phát chiêu. Chiêu đầu, Đinh Hồng bị bật lui. Nhớ lời dăn của Trần Thừa, Thủ-Độ đánh liên tiếp chiêu thứ nhì. Y lảo đảo lùi lại. Đến chiêu thứ ba thì y bay bổng khỏi đài, nằm đứ đừ dưới đất.
Đinh Huyền nhảy ra đỡ sư đệ dậy. Còn Đinh Thanh thì tung người lên đài tấn công Thủ Độ.
Bỗng có tiếng quát :
- Khoan.
Phùng Tá-Chu tung mình lên đài. Ông chắp tay hướng Đinh Thanh :
- Đinh tam gia ! Không biết thí sinh Đàm Độ đã làm điều gì vô phép, mà hết Đinh tứ gia, rồi đến Đinh tam gia trừng phạt y ? Các vị là những tôn sư võ học Trung-quốc, tại sao lại bắt nạt một đứa con nít như thế này ?
Đinh Thanh chỉ Đinh Hồng :
- Y...y đã dùng thủ đoạn ám muội bắt tam đệ của tôi, rồi làm nhục.
Tá-Chu hỏi Thủ-Độ :
- Người đã làm gì Đinh tứ gia ?
Thủ-Độ cười nhạt nói với Đinh Thanh :
- Tôi cùng với một người em gái, đánh cá trên hồ Tây. Đinh Hồng trêu ghẹo em gái tôi, rồi y nhảy xuống thuyền của chúng tôi định dở trò ám muội. Tôi đường đường, chính chính dùng Thiên-la thập bát thức của phái Đông- A bắt y. Võ công Đông- A đâu có phải là võ công tà môn ?
Là người thông minh tuyệt đỉnh, nên chỉ nghe đôi bên nói với nhau mấy câu, nhìn thân pháp, công lực Thủ-Độ; Tá-Chu cũng đoán ra được năm phần : Võ công Thủ-Độ cao hơn Đinh Hồng. Nó đã làm nhục y.
Đinh Thanh nhớ lại cái nhục mình bị treo ngược. Y rút kiếm đưa vào cổ Thủ-Độ. Tá-Chu biết võ công Thủ-Độ cao hơn anh em họ Đinh. Nên ông không can thiệp. Thủ-Độ búng tay vào sống kiếm của Thanh, keng một tiếng, Thanh bị bật lui một bước.
Thủ-Độ nhảy lùi liền ba bước, nó đã lấy cái chài trên lưng ra, rồi tung lên. Cái chài chụp vào người Đinh Thanh.
Cả quảng trường cùng bật lên tiếng kêu:
- Thiên-la thập bát thức.
Đinh Thanh kinh hoảng. Y tung người lên cao tránh thoát. Thủ-Độ vung chài hướng lên không. Đinh Thanh quay kiếm gạt chài. Sợ chài bị rách, Thủ-Độ giật tay một cái, chài thu gọn lại.
Đinh Thanh vừa xuống đài, y xỉa kiếm tấn công Thủ-Độ. Thủ-Độ từ Càn-vị, phương Phong-địa-quan bước sang Ly vị phương Ly-vi-hỏa tay tung chài chụp Đinh Thanh.
Đấu với nhau được khoảng năm chục chiêu, mọi người thấy kiếm thuật của Đinh Thanh thực tuyệt diệu. Ai cũng nghĩ: Kiếm pháp của y thực có một không hai. Thế nhưng mỗi khi Thủ-Độ vung chài, là căn bản của y bị tuyệt.
Thình lình Thủ-Độ từ Khôn-vị phương Địa-thiên-thái bước sang Ly-vị phương Thiên-thủy-tụng , chài tỏa ra chụp Đinh Thanh gọn gàng vào trong. Nó điểm huyệt y rồi ném xuống đài.
Phùng Tá-Chu hỏi Thủ-Độ :
- Cháu bé ! Cháu là thí sinh thuộc ngoại thích, thì đều là đệ tử của Lĩnh-Nam ngũ hổ tướng. Võ công Lĩnh-Nam ngũ hổ tướng là võ công Hoa-sơn. Tại sao cháu không xử dụng võ công Hoa-sơn, mà xử dụng võ công Đông- A? Nhưng nội lực lại hòa dương cương của Đông- A vơí âm nhu của Mê-linh?
Thủ-Độ chắp tay :
- Cháu không hề học võ với Vũ-kị thượng tướng quân Phạm Bỉnh-Di. Còn võ công Đông- A, thì cháu học với bố cháu.
Phùng Tá-Chu hỏi Hoàng-hậu :
- Thưa nương nương. Như Vũ-kị thượng tướng quân giới thiệu thì cháu họ Đàm. Vậy cháu thuộc vai vế như thế nào với nương nương ?
Đàm hậu đáp :
- Nó không phải họ Đàm, nguyên anh tôi thấy nó ăn mày ở chợ rồi đem về nuôi. Nó là một thằng khùng, được nuôi trong Hoàng-thành lâu rồi.
Tá-Chu cãi :
- Thưa nương nương, dường như có gì bí ẩn ở trong . Bởi muốn luyện nội công âm nhu Mê-linh, thì phải là người cực kỳ thông minh. Vậy cháu này không thể là người điên được.
Phùng Tá-Chu hỏi Thủ-Độ :
- Cháu có thể khai thân thế cháu cho mọi người biết được không ?
Thủ-Độ nhớ lời bà Trần Lý dặn : Bây giờ võ công con cao, tư cách khác phàm, địa vị không nhỏ. Con phải nói thực thân thế mình cho thiên hạ biết. Nó khoan thai nói thực lớn :
- Thưa Đại-đô đốc, cháu họ Trần, tên Thủ-Độ. Phu nhân của Đô-đốc là cô ruột cháu. Cô của cháu nhũ danh Kim-Ngân.
Tá-Chu kinh hãi :
- Cháu nói sao ? Cháu là con của Thần-nông sứ Trần Lý ư ? Tại sao ta chưa từng thấy cháu ?
Thủ-Độ hướng vào khán đài Càn-vị, nó nói thực lớn :
- Thưa chư vị anh hùng. Tôi họ Trần, tên Thủ-Độ. Tôi không phải họ Đàm. Cha tôi nguyên là Phụ-quốc Thái-uý Côi-sơn quốc công Trần Thủ-Huy. Mẹ tôi là trưởng công chúa Đoan-Nghi.
Quảng trường có đến mấy vạn người mà không một tiếng động. Thủ-Độ tiếp :
- Cha mẹ tôi đang ở Mông-cổ thì Hoàng-thượng viết thư gọi về. Nhưng cha tôi cho rằng Hoàng-thượng chỉ viết thư thì bên trong ắt có uẩn khúc gì, nên người không về. Mẹ tôi dẫn tôi theo sứ đoàn hồi hương. Khi vừa tới Thăng-long, thì bị kẻ gian phục tiễn thủ băén chết. Hoàng-thượng sợ phái Đông- A biết mẹ tôi chết oan, ăét sẽ trả thù khủng khiếp lăém. Vì vậy người ban chỉ dấu nhẹm vụ mẹ tôi hồi hương. Còn tôi, người truyền đổi ra họ Đàm.
Rồi nó tường thuật tỷ mỉ việc mẹ nó bị phục kích ra sao. Nó phải giả khùng, giả điên sống trong Hoàng-cung. Nó bị hắt hủi, làm nhục như thế nào...
Vèo...vèo...vèo...Một bóng trắng từ khán đài Khôn-vị phóng lên nhanh không thể tưởng tượng nổi. Bóng đó đáp trước mặt Thủ-Độ. Bấy giờ người ta mới nhận ra là một trung niên thiếu phụ, cực kỳ xinh đẹp, chính là bà Kim-Ngân, phu nhân của Đại Đô-đốc Phùng Tá-Chu. Bà nắm lấy hai vai Thủ-Độ, rồi nhìn thẳng vào mặt nó, như muốn tìm ra những nét quen thuộc. Một lát trôi qua, bà ôm lấy đầu Thủ-Độ:
- Đúng rồi! Cháu là cháu của cô.
Rồi không giữ được bình tĩnh, nước mắt dàn dụa, bà nâng cằm Thủ-Độ lên, tát yêu hai cái:
- Giống bố quá! Hai con mắt, mỗi con có hai tròng ! Giống bố quá.
Bà hướng vào khán đài Càn-vị, nói lớn :
- Tâu bệ hạ, đứa trẻ này quả là Trần Thủ-Độ, con trai của phò mã Trần Thủ-Huy với công chúa Đoan-Nghi. Như bệ hạ cũng như chư vị đều biết, anh Thủ-Huy của tôi có một tướng rất lạ là trong con mắt có hai cái lòng đen. Cháu Thủ-Độ thọ lĩnh cơ thể của cha, nên trong mắt cũng có hai lòng đen.
Nói rồi bà xuống đài.
Thủ-Độ tiếp tục thuật lại thảm cảnh mẹ nó bị giết, rồi nó kết luận :
- Chủ trương giết cha mẹ tôi là Tống triều. Tống-triều ban mật chiếu cho Đàm Thì-Phụng với Đàm Dĩ-Mông thi hành.
Rồi nó thuật lại việc cha mẹ nó bị đem cống cho Tống ra sao, lưu lạc lên Mông-cổ giúp Mông-cổ lập quốc, phá âm mưu của Tống thế nào. Tống triều muốn tìm cách đưa cha mẹ nó rời Mông-cổ, để người của họ có thể chiếm vùng Thảo-nguyên. Tống triều gài bẫy sẵn, khi bố mẹ nó về Thăng-long thì giết chết. Họ ban mật chỉ cho Đàm Thì-Phụng, Đàm Dĩ-Mông làm, với lới hứa, việc xong xuôi sẽ phong cho Đàm Thì-Phụng làm An-Nam quốc vương. Nhưng chỉ mình mẹ nó về, rồi bị trúng phục binh, mà chết trong loạn tên. Một trong những tên chỉ huy tiễn thủ giết mẹ nó có Đinh Hoàng.
Nó chỉ mặt Đinh Hoàng :
- Đinh Hoàng ! Dù mi có cháy thành than, ta cũng nhận ra mi. Chính mi là người chỉ huy tiễn thủ ám toán mẹ ta. Nam nhi đại trượng phu mình dám làm thì dám chịu. Mi hãy lên đây, ta sẽ dùng võ công đường đường chính chính trả thù mẹ.
Đinh Hoàng cười nhạt :
- Xin các vị đừng nghe lời thằng điên này. Nó là thằng ăn mày được họ Đàm đem về nuôi, chứ nó không phải là con của công chúa với Quốc-công Trần Thủ-Huy.
Nói dứt y tung mình lên đài, tay phát Long-trảo chụp Thủ-Độ. Thủ-Độ cười nhạt. Nó dùng Đông- A chưởng tấn công thẳng vào người Đinh Hoàng. Võ công Đinh Hoàng cao hơn Đinh Hồng, Đinh Thanh một bậc. Tuy y chỉ còn một tay, nhưng chưởng phong phát ra mạnh như bài sơn, đảo hải.Y dùng bộ chưởng trấn môn của Hoa-sơn, chân bước theo phương vị Bát-quái. Thủ-Độ cười thầm: Mi dùng võ công này thì khó mà thắng đươc ta. Thủ-Độ dùng võ công Đông- A. Thấy đấu được trên năm chục hiệp, Thủ-Độ vẫn không thắng được Đinh Hoàng, Trần Thừa dùng Lăng-không truyền ngữ nhắc:
- Thủ-Độ! Xử dụng võ công Lôi-giáng Hoa-nhạc.
Thủ-Độ tỉnh ngộ, nó lui lại, rồi thình lình phát ra một chiêu rất quái dị trong bộ Lôi giáng Hoa-nhạc, mà nó mới học được của bà Trần Lý. Đinh Hoàng bị bất ngờ, y lảo đảo bật lui lại ba bước. Thủ-Độ quát lên một tiếng, nó đánh xuống hai chiêu như sét nổ. Đinh Huyền thấy sư huynh lâm nguy, y tung mình lên đài đỡ chiêu của Thủ-Độ. Binh! Cả hai cùng bật lui về sau.
Thủ-Độ cười nhạt:
- Đồ mặt dầy! Hai người đánh một! Ta tuy nhỏ tuổi hơn các người. Nhưng ta chấp cả hai anh em người đấy!
Công lực của Thủ-Độ tuy cao, nhưng vì tuổi nó còn trẻ, thời gian luyện không được làm bao, vừa rồi nó phải đấu vơí Đinh Hồng, Đinh Thanh, nên đã cạn bớt. Bây giờ lại phải đấu với hai người, dùng hai thứ võ công một lúc. Sau khi đấu được trên trăm hiệp, sức nó bắt đầu yếu, cứ mười chiêu mới trả được ba chiêu.
Thình lình Đinh Hoàng, Đinh Huyền cùng quát lên rồi phát ra một chiêu rất thô kệch. Thủ-Độ dùng hai tay đẩy ra một chiêu đỡ. Bạch, bạch hai tiếng, bốn bàn tay dính vào nhau. Bây giờ cuộc chiến trở thành đấu nội lực. Cả quảng trường đều im lặng hồi hộp theo dõi: Hai đại cao thủ Tống đấu với một thiếu niên Việt. Khoảng hơn khắc, trên đầu Thủ-Độ đã bốc ra luồng khói trắng. Nó phải lùi liền ba bước.
Ngồi dưới đài, Tự-Khánh kinh hãi nghĩ:
- Làm sao bây giờ!
Chợt nhớ ra một chuyện, chàng hỏi Tự-Thừa:
- Anh đã dậy Thủ-Độ đã học Quy-pháp âm dương chưa?
- Anh có giảng qua.
- Ta nhắc Thủ-Độ áp dụng thử.
- Đành vậy.
Chán đời đi lang thang !
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-05-10 17:56:57NuHiepDeThuong>
Hồi 38 (tiếp theo)

Quy-pháp âm-dương là một thức khí công rất cổ. Người sáng chế ra là Bắc-bình vương Đào Kỳ, lĩnh chức Đại Tư-mã thời vua Trưng. Cũng như Thủ-Độ, ngài có cái may là luyện thành cả nội công dương cương lẫn âm nhu. Trong lần đấu vơí Phong-châu song-quái, bị hai người dùng nội công thượng thừa tấn công, sắp nguy đến tính mệnh. Chân khí hai người cuồn cuộn tuôn vào người ngài. Ngài dẫn khí đó vào Đơn-điền, rồi hợp cả hai nguồn làm một. Chân khí Song-quái dồn ra bao nhiêu, bị mất bấy nhiêu.
Sau trận đó, ngài nghiên cứu, sửa đổi tường tận, lưu truyền cho đời sau.
Xin đọc Anh-hùng Lĩnh-Nam, Q3 của Yên-tử cư-sĩ, do Nam-á Paris xuất bản.

Tự-Khánh dùng Lăng-không truyền ngữ rót vào tai Thủ-Độ:
- Thủ-Độ nghe đây.
Từ từ giảm kình lực, để chân khí anh em họ Đinh tràn vào cơ thể, rồi dẫn về trung Đơn-điền, quy liễm lại.
Thủ-Độ đang lâm nguy, nghe tiếng Tự-Khánh nhắc, nó buông lỏng chân khí. Lập tức kình lực của anh em họ Đinh ào ạt tràn vào người nó. Cơ thể nó rung động thực mạnh, nó vội dẫn hai luồng chân khí vào Đơn-điền. Hai anh em họ Đinh thấy chân khí mình ào ào tuôn ra, cả hai cùng nghĩ thầm:
- Thằng lỏi con phải chết.
Đinh Hồng, Đinh Thanh đứng dưới đài hỗ trợ hai anh:
- Thằng bé con láu cá! Mi không địch lại đại ca, nhị ca của ta đâu. Hãy quỳ gối van xin, sẽ được ân xá.
Cuộc đấu trải hơn một khắc, anh em họ Đinh thấy chân khí mình cuồn cuộn ra đi, không trở về...thì cảm thấy có điều bất ổn. Lại một khắc qua, chân khí anh em họ Đinh gần như bị kiệt quệ. Chúng muốn thu công, nhưng sợ Thủ-Độ nhân đó dồn kình lực tấn công, nên đành chịu trận.
Tự-Khánh nhắc Thủ-Độ:
- Chân khí anh em họ Đinh kiệt quệ rồi, em phát chưởng đẩy chúng xuống đài đi.
Nghe anh nhắc, Thủ-Độ nhìn Đinh Hoàng, hình ảnh mẹ nó bị tên ghim đầy người, đau đớn quằn quại hiện lên. Nó hít một hơi rồi đẩy ra hai chưởng. Đinh Huyền bay tung xuống dưới đài. Còn Đinh Hoàng bật lên cao. Thủ-Độ phát chiêu Đông-hải lưu phong, nó nói lớn:
- Xin anh linh mẹ hãy nhìn kẻ thù đền tội.
Bùng một tiếng, thân thể Đinh Hoàng bay tung lên cao. Thủ-Độ không tha, nó phát chiêu Phong đáo sơn đầu hướng lên trời. Bùng một tiếng, người Đinh Hoàng vỡ làm trăm mảnh, ruột gan, đầu, chân, tay bay tung tóe ra bốn phía.
Một bóng xanh thấp thoáng từ dưới đài xẹt lên, tung vào người Thủ-Độ một chưởng. Chưởng chưa ra hết, mà nó đã cảm thấy nghẹt thở. Kinh hãi, nó hít một hơi, dùng cả hai tay đỡ. Bùng một tiếng, người nó bật tung lại sau, tai phát ra tiếng vo vo không ngừng. Nó nhìn lại, thì ra phó sứ Lâm Hoài-Đức. Lâm lại phát chiêu thứ nhì tấn công Thủ-Độ. Thủ-Độ nghiến răng, dùng cả hai tay phát chiêu Hạc phi sơn lĩnh đỡ.
Phùng Tá-Chu xẹt lên đài, ông đẩy một chưởng vào lưng Hoài-Đức, bắt buộc y phải thu chiêu về, để tự cứu mình. Rầm một tiếng. Hoài-Đức bật lui liền ba bước. Tá-Chu chắp tay:
- Xin lỗi!
Ông chỉ Thủ-Độ nói lớn:
- Các vị đều là những người có thân phận lớn. Bốn vị bồi sứ, nức danh Trung-nguyên thay nhau đánh một đứa nhỏ. Rồi hai vị đánh mình nó, bất kể đạo lý võ lâm. Bây giờ đến Lâm đại nhân lại nhập cuộc. Thế là thế nào?
Lâm Hoài-Đức chỉ đống thịt Đinh Hoàng, hỏi nhà vua:
- Quốc vương! Quốc-vương được Thiên-tử phong cho làm chúa trời Nam. Thế mà Quốc-vương để cho người ta giết bồi sứ như thế này đây?
Phùng Tá-Chu trả lời thay nhà vua:
- Lâm đại nhân! Ở đây có hàng vạn người cùng thấy: Khi không, ba vị bồi sứ lên đài xúm vào đánh một thiếu niên. Chưởng qua, cước lại, Thủ-Độ đường đường chính chính thắng cả ba vị. Còn Đinh nhất gia, là thủ phạm sát hại công chúa Đoan-Nghi. Thủ-Độ công khai thách Nhất-gia đấu võ để trả thù. Nhất-gia bị bại, vong mạng, đó là lẽ thường. Triều đình Đại-Việt không thể can thiệp vào việc này. Vừa rồi, giả như Thủ-Độ bị bại, thì cái xác chết nằm đây là y, chứ không phải của Đinh nhất gia. Bấy giờ Đại-Việt đòi ngài trả lời...thì ngài nghĩ sao?
Lâm Hoài-Đức xấu hổ, nhảy uống khỏi đài.
Thủ-Độ hướng vào quần hùng:
- Thưa các vị võ lâm, thưa các vị hào kiệt. Hôm nay, tôi xin tố cáo mưu gian của họ Đàm định dâng Đại-Việt cho Tống.
Thế rồi nó kể hết: Nào là họ Đàm gửi tấu chương xin phong cho Thì-Phụng làm An-Nam quốc vương. Nào việc Đàm Dĩ-Mông bắt con gái của Kinh-diên quan Phạm Kính-Ân là Phạm Thùy-Dương dâng cho chánh sứ Triệu Dụng-Chi. Nào bắt con gái của đô thống Phan Lân là Phan Mỹ-Vân dâng cho phó sứ Lâm Hoài-Đức. Nào là đem gạo sang cung phụng cho Tống, gây lên nạn đói, chết không biết bao nhiêu người.
Nó chỉ vào đạo cô Nam-phương huyền quân :
- Các vị có biết đạo cô là ai không ? Tôi chắc có nhiều vị biết mà không dám nói ra. Đạo cô chính là Tuyên-phi Vương Thụy-Hương. Trước đây người giả chết, trở về Tống. Lúc cha mẹ tôi rời Đại-Việt, thì đạo cô được Tống triều gửi sang làm tế tác cho họ. Người chính là sinh mẫu Hoàng-thượng. Người là Thái-hậu.
Rồi nó kể hết những gì Thụy-Hương đã làm : Mưu tiêu diệt các võ phái Đại-Việt bằng cách ban chỉ không cho các gia, các phái thu đệ tử. Nào là cùng với Trịnh Nam-Phương, vợ cũ của Đỗ An-Di giả Ưng-sơn song hiệp giết cả nhà Đỗ An-Di, Mạc Hiển-Tích.
Nó chỉ vào chỗ khán đài phái Mê-linh :
- Trịnh Nam-Phương, tức Vân-đài tiên tử phái Hoa-sơn, bây giờ thay tên đổi họ, chiếm lĩnh chức chưởng môn phái Mê-linh, mang tên Nghi-Phương sư thái. Bà tiềm ẩn mưu làm nội ứng cho Tống, khi Tống đem quân sang Đại-Việt.
Thấp thoáng bóng xanh, Nam-thiên đạo cô đã tung mình lên đài. Bà chỉ vào mặt Thủ-Độ :
- Xuống đài ngay ! Mi là một đứa trẻ mồ côi, được Hoàng-hậu đem về nuôi trong Hoàng-thành. Khắp Hoàng-thành, ai cũng biết mi bị chứng điên. Bây giờ mi mang cái điên đó lên đây gây hoang mang ư ?
Thủ-Độ di chuyển thân mình thực mau, tay nó xỉa vào ngực Thụy-Hương, kình lực cực trầm trọng. Thụy-Hương dùng hai tay gạt tay nó, thì nó đã di chuyển cánh tay. Nó lột hai miếng da mặt trên má Thụy-Hương. Lập tức khuôn mặt uy nghi của bà ta, biến thành khuôn mặt cực kỳ xinh đẹp.
Cả quảng trường cùng bật lên tiếng kêu thất thanh :
- Tuyên-phi Vương Thụy-Hương.
Thủ-Độ cung tay :
- Cô cô ! Dù sao người cũng có thời là bạn thanh mai trúc nhã với phụ thân cháu. Cháu kính cô cô cũng như mẹ cháu. Cô cô là sinh mẫu của Hoàng-thượng, địa vị cao quý biết mấy. Tại sao cô cô không nhận cái danh Thái-hậu của mình ?
Thụy-Hương còn đang tần ngần, thì Thủ-Độ tiếp :
- Trước đây cô cô tuy có làm tế tác cho Tống thực. Nhưng xưa khác, nay khác. Nay thì Tống muốn đem ngôi vua cho họ Đàm. Còn cô cô thì muốn bảo vệ ngôi vua cho Hoàng-thượng. Võ công cô cô cao, kiến thức cô cô uyên bác. Như vậy cô cô xứng đáng là một Thái-hậu. Tại sao cô cô không dám nhận ?
Nhà vua thấy việc mẹ mình bị lộ chân tướng, ngài đứng dậy :
- Mẫu hậu ! Thủ-Độ nói đúng. Ngay ngày mai, con sẽ ban chế tôn mẫu hậu là Tiên-thể chí-thánh hoàng Thái-hậu.
Thụy-Hương đành khoan thai xuống đài.
Thủ-Độ hướng vào khán đài phái Mê-linh :
- Còn việc Nghi-Phương sư thái là chuyện nội bộ của phái Mê-linh. Đứa trẻ con như vãn bối, không muốn can dự vào.
Thấp thoáng bóng nâu, rồi một người từ khán đài phái Mê-linh tung người lên nhanh không thể tưởng tượng nổi. Trong khi còn ở trên không, người đó đã rút kiếm xỉa vào người Thủ-Độ. Thủ-Độ vội lộn một vòng ra sau tránh. Nhưng bóng kia cũng di chuyển thân hình theo, mũi kiếm vẫn chĩa vào cổ Thủ-Độ. Thủ-Độ kinh hãi, nó lại lộn liền hai vòng về sau để thoát khỏi vòng kiềm tỏa. Nhưng khi nó đứng dậy thì thủy chung mũi kiếm vẫn dí vào cổ nó. Trong lúc quá khẩn cấp, nó rút thanh trủy thủ đeo bên hông, mà bọn Thảo-nguyên ngũ điêu tặng nó trong lúc chia tay. Nó vung dao lên gạt kiếm. Choang, kiếm bị gãy tận chuôi, nó tung mình lùi lại ba bước.
Biến cố xẩy ra, kẻ xuất chiêu đã nhanh, người tránh cũng nhanh. Người người quan sát đều nín thở. Bây giờ họ mới vỗ tay hoan hô. Thủ-Độ nhìn kẻ tấn công mình, đó là một ni sư, thân thể đẹp tuyệt trần, nhưng mặt thì bì bì coi không tương xứng tý nào. Trên đầu ni sư đội một chiếc mũ che khuất cả hai tai.
Thủ-Độ chắp tay vái ni sư :
- Không biết sư thái pháp danh là gì ? Tại sao lại hạ thể tấn công tiểu bối?
Có tiếng ai đó nhắc :
- Bà là Nghi-Phương sư thái, chưởng môn phái Mê-linh đấy.
Nghi-Phương chỉ mặt Thủ-Độ :
- Bần ni lên đây để dậy dỗ mi ! Mi không được ngậm máu phun người. Bần ni xuất gia từ hồi còn là khuê nữ. Thế mà mi dám bảo bần ni là gian tế Vân-đài Trịnh Nam-Phương, tức vợ của Đỗ An-Di thì còn trời đất nào nữa?
Phùng Tá-Chu nói với Thủ-Độ :
- Chú từng giao đấu với Vân-đài Trịnh Nam-Phương, chú biết mặt bà. Sư thái đây không phải là Vân-đài Trịnh Nam-Phương đâu. Cháu xin lỗi sư thái đi.
Thủ-Độ chắp tay vái liền ba vái :
- Sư thái ! Sư thái đi tu từ nhỏ, thì vượt ra được tham, sân, si. Đệ tử nghe lời người ta nói, mà lầm lẫn. Xin sư thái hỷ xả tha lỗi cho đệ tử.
Nghi-Phương chắp tay đáp lễ. Thủ-Độ cảm thấy một kình lực cực kỳ bá đạo đẩy vào người mình. Một là không đề phòng, hai là nó đứng quá gần Nghi-Phương, nên người nó bị đánh bay lên không. Tuy nhiên chân khí tòng tâm tự vệ bao phủ khắp người, nó chỉ cảm thấy khó chịu mà thôi. Nghi-Phương quyết không tha, bà tung lên một chưởng, định kết liễu tính mệnh nó. Còn ở trên không Thủ-Độ vận Quy-pháp Âm-dương, chưởng của Nghi-Phương trúng người nó, vù một tiếng, chân khí của bà bị nó hút mất tăm mất tích.
Nghi-Phương quát lên một tiếng, rồi phát chiêu Loa-thành nguyệt chiếu, quyết giết Thủ-Độ. Thủ-Độ lùi lại một bước, nó phát chiêu Phong-ba hợp bích phản công. Bình. Cả hai lảo đảo lùi lại. Cái mũ trên đầu Nghi-Phương bị bay mất. Cả quảng trường cùng la hoảng, vì bà không có tai trái.
Thủ-Độ quát lớn :
- Khoan !
Rồi nó chỉ vào mặt Nghi-Phương :
- Mi ! Thì ra mi ! Chính mi đã cùng tên Đinh Hoàng chỉ huy đội tiễn thủ ám toán mẹ ta. Khi mẹ ta bị trúng tên, người biết rằng dù có giết mi với Đinh Hoàng thì cũng khó mà thoát khỏi cái chết. Vì vậy, thay vì giết bọn mi, người chặt cụt tay Đinh Hoàng, cắt tai trái người, rồi khoanh trên má người hai vòng tròn.
Nghi-Phương cười nhạt:
- Tiểu thí chủ! Cái người mà công chúa Đoan-Nghi cắt tai, khoanh hai vòng tròn trên mặt, không phải là bần ni. Vì trên mặt bần ni không có hai vòng tròn...
Chợt có tiếng Trần Thừa nhắc:
- Thủ-Độ, dùng Thiên-la thập bát thức.
Nghe anh nhắc Thủ-Độ cười nhạt:
- Có vòng tròn hay không thì dễ lắm...
Miệng nói, tay nó tung cái chài ra chụp Nghi-Phương, chân từ quẻ Càn phương Hỏa-địa-tấn bước sang cung Đoài phương Lôi-trạch Quy-muội. Chài tỏa ra chụp Nghi-Phương. Sở trường của phái Mê-linh là kiếm pháp, mà kiếm của Nghi-Phương đã bị chặt đứt. Bà lùi lại, phát chiêu Kình-ngư quá hải đỡ! Ai cũng tưởng với chiêu võ trong Thiết-kình phi chưởng không làm Thủ-Độ bật lui, ít ra cũng hóa giải chiêu Thiên-la thập bát thức. Không ngờ, chưởng phong bị mất tăm mất tích. Nghi-Phương vội biến chiêu thành chiêu Kình quá Đông-hải. Thủ-Độ lại bước sang cung Tốn, phương Sơn-phong-cổ.
Trần Tự-Khánh hỏi anh:
- Nghi-Phương là cao thủ Vân-đài của phái Hoa-sơn, công lực cao thâm vô cùng. Mà sao bà không thắng được Thủ-Độ.
- Dễ hiểu, vì bị Thủ-Độ tố cáo là Vân-đài, nên bà không dám dùng võ công Hoa-sơn, mà dùng võ công Mê-linh. Bà ta tưởng dùng Thiết-kình phi chưởng có thể phá rách cái chài. Nhưng bà ta quên mất...
- Em hiểu rồi, bà ta dùng Thiết-kình phi chưởng, là chưởng đặt căn bản trên cá kình trong biển Đông. Trong khi Thiên-la thập bát thức đặt căn bản trong việc dùng chài bắt cá. Cá gặp chài thì thất bại là phải.
Đấu được mười hiệp nữa, Thủ-Độ đánh tiếp hai chiêu, Nghi-Phương lảo đảo muốn ngã. Chỉ chờ có thế,Thủ-Độ xuất chiêu Cầm-long công móc vào má Nghi-Phương, lột ra hai miếng da. Lập tức khuôn mặt bầu bầu của Nghi-Phương biến thành khuôn mặt trái soan cực kỳ xinh đẹp. Trên má có hai vết thẹo hình tròn.
Phùng Tá-Chu nhảy lên đài, hô lớn:
- Ngừng tay!
Thủ-Độ, Nghi-Phương cùng lùi lại. Tá-Chu xá Nghi-Phương:
- Vân-đài Tiên-tử. Thì ra sau khi được đức Anh-tông ân xá, Tiên-tử lại trở về Đại-Việt tiếp tục làm gian tế cho Tống. Việc Tiên-tử sát hại công chúa Đoan-Nghi xin để triều đình xử. Bây giờ Tiên-tử có còn chối cãi nữa không?
Thủ-Độ hướng vào khán đài có nhà vua ngồi:
- Hoàng đế bệ hạ. Hồi còn sinh tiền, mẫu thân của thần đã xả thân cứu giá bao phen. Nếu không có mẫu thân thần, thì liệu Bệ-hạ có còn ngồi đây không? Nhị vị Kiến-Khang, Kiến-Bình vương! Hồi thơ ấu dường như mẫu thân thần từng nuôi dưỡng, từng dạy dỗ hai vương, yêu thương hai vương như con đẻ. Bây giờ, thân mẫu thần bị kẻ gian hãm hại. Mà kẻ gian đang đứng nhơn nhơn trước mặt quý vị. Võ lâm, nhân sĩ, trăm họ đang chờ Bệ-hạ, chờ nhị vị vương gia tỏ tình lân mẫn máu mủ...
Thủ-Độ còn muốn nói nữa, nhưng có tiếng bà Trần Lý dùng Lăng-không truyền ngữ rót vào tai :
- Đủ rồi, xuống đài ra con thuyền của nhà mình đậu ở trên bến Tương-Dung ngay.
Thủ-Độ chắp tay vái bốn phía, rồi nó hướng vào ba tên Phạm Bỉnh-Du, Đoàn Thượng, Nguyễn Nộn, tay phát chiêu trong Lôi giáng Hoa-nhạc đánh thẳng vào người chúng. Ba đứa kinh hãi, vội dùng cả hai tay đưa ra đỡ. Binh, binh, binh ! Cả ba tên bay bổng lên cao, rơi xuống cái hồ sen trong sân Giảng-võ, cắm đầu xuống bùn.
Thấp thoáng một cái, Thủ-Độ đã xuống đài, rồi biến vào đám đông.
Trong sảnh đường phái Đông- A. Ông bà Trần Tự-Hấp, chưởng môn ngồi chính giữa. Hai bên là các đại đệ tử thế hệ thứ nhất : Đại-Việt ngũ tuyệt, Trần Tự-Duy. Kế tiếp đến thế hệ thứ hai : Trần Lý Tô Phương-Lan, Phùng Tá-Chu Trần Kim-Ngân, Tô Trung-Từ Nhạc Bảo Bảo, Phan Lân, Vỵ-xuyên ngũ tiên, Hồng-sơn ngũ đại phu. Cuối cùng là các đệ tử thế hệ thứ ba : Trần Thừa, Tự-Khánh, Kim-Dung, Mỹ-Vân, Vương Lê, Lê Mịch, Lý Bất Nhiễm.
Thủ-Độ được đặt ngồi cạnh bà Tự-Hấp. Bà quàng tay ra ôm lấy vai cháu, như sợ người ta bắt đi mất. Suốt từ ngày rời Thảo-nguyên, bây giờ Thủ-Độ mới lại được hưởng cái tình nhân luân. Nó ân hận rằng đã đánh giá họ phía nội qua họ phía ngoại.
Ông Trần Tự-Hấp lên tiếng :
- Chúng ta họp hôm nay, để thông báo tin tức liên quan đến bản môn cũng như võ lâm Đại-Việt. Trước hết là triều đình ban chỉ cho phép các môn phái được thu dụng đệ tử trở lại. Thứ nhì, các giám khảo cuộc thi võ tâu xin nhà vua phong Thủ-Độ làm võ trạng nguyên. Nam-thiên huyền quân đề nghị trao cho Độ chức Tổng-lĩnh thị vệ. Thứ ba, ban chỉ ân xá, cùng triệu hồi Thủ-Huy trở về, trao đại quyền.
Ông ngừng lại cho cử tọa theo kịp :
- Bây giờ trước hết, ta phải biết rõ tình hình đã.
Ông nói với Thủ-Độ :
- Cháu ngoan ! Cháu hãy đứng dậy thuật chi tiết cuộc sống của bố mẹ cháu từ khi rơì Đại-Việt ra đi, cho đến ngày cháu theo mẹ về nước.
Thủ-Độ cúi đầu hành lễ với cử tọa, rồi nó thuật theo thứ tự : Thủ-Huy Đoan-Nghi bị đưa sang Tống, cùng với đội võ sĩ Long-biên. Tất cả bị giam lỏng ở Quảng-châu gần năm. Sau đó Bác Nhĩ Truật đem thư mời sang Mông-cổ săn bắn. Rồi Thủ-Huy Đoan-Nghi giúp Thiết Mộc Chân luyện quân, chiến thắng hầu hết các Khả-hãn, Đại-hãn, cuối cùng lên ngôi Thành-cát Tư-hãn lập ra nước Mông-cổ trên vùng Thảo-nguyên.
Bà Tự-Hấp hết sức chú ý đến việc Tống gửi bọn Mao Khiêm, Vương Cương-Trung... mưu biến Thảo-nguyên thành một nước thuộc Tống. Bà hỏi Thủ-Độ chi tiết về cuộc sống, tổ chức quân đội, chăn nuôi, canh nông của Mông-cổ. Cuối cùng bà kết luận :
- Cứ như Thủ-Độ thuật, thì cái việc Tống muốn đưa Thủ-Huy Đoan-Nghi rời Thảo-nguyên là đúng. Bởi Tống cho rằng Thủ-Huy Đoan-Nghi rời Mông-cổ, thì họ có thể dùng đám võ sĩ Hoa-sơn giúp tàn quân Khắc-liệt, Thát-đát phục hồi cố quốc được. Vì sợ Thủ-Huy Đoan-Nghi về Đại-Việt, rồi chỉnh đốn cai trị, dí gươm vào lưng họ. Họ dùng phục binh ám toán. Không ngờ chỉ mình Đoan-Nghi về, nên mắc nạn.
Thủ-Độ lại thuật chi tiết về cái chết của mẹ nó, cuộc sống khốn khổ của nó trong Hoàng-thành mấy năm qua. Tuy thấy cháu mình phải khổ sở, nhưng ông bà Tự-Hấp lại cực kỳ cao hứng, vì trong cái khốn nạn ấy, nó đã làm được những việc ngang với ông cha nó. Bây giờ, nó nghiễm nhiên thống lĩnh hầu hết bọn ăn mày cùng khổ trên đất nước. Ngoài ra, nó còn làm chủ mấy nghìn trang ấp, quy tụ những người bần nông cùng khốn...chỉ vài năm nữa họ sẽ trở thành khá giả.
Huyền-My hỏi Thủ-Độ :
- Có một nghi vấn, mà cô muốn con nói thực : Con quỷ ba đầu giết cả nhà Đàm Thì-Phụng có phải là con không ?
- Không ! Nếu con làm, thì việc gì con phải dấu ông bà, các bác, các chú, các cô ?
Tự-Hấp gõ tay xuống bàn :
- Chúng ta phải điều tra vụ này khẩn cấp. Ông nghĩ rằng Thủ-Độ, Tự-Thừa, Tự-Khánh đang điều khiển bọn ăn mày, thì có thể tìm ra manh mối.
Đệ tử của Trần Lý là Vương Lê góp ý:
- Có nhiều sự kiện ta phải chú ý: Người giả danh anh Thủ-Độ đã biết chi tiết việc công chúa Đoan-Nghi bị ám hại. Lại cũng biết Quỷ ba đầu là anh Thủ-Độ. Căn cứ vào đó ta có thể tìm ra y.
Tự-Khánh quả quyết :
- Cháu hứa với ông là nội trong một tháng chúng cháu sẽ tìm ra thủ phạm vụ này.
Phùng Tá-Chu trình bầy về tình hình triều đình :
- Sau khi Đàm Thì-Phụng bị giết, thì thế lực họ Đàm bị mất hẳn. Đàm Dĩ-Mông tuy lĩnh chức Thái-sư, mà vô quyền. Còn Phụ-quốc Thái-úy Đỗ Kính-Tu thì luôn khiêm tốn rằng mình không đủ tài. Ông ta xin triều đình ban chỉ ân xá, rồi triệu Thủ-Huy về thì mới hy vọng dẹp được bọn giặc đang nổi lên khắp nơi.
Đệ tử thứ nhì của Trần Lý là Lê Mịch bàn:
- Từ ba đời vua rồi, triều Lý không còn được lòng dân nữa. Ý dân là ý trời. Triều Lý đã mất lòng dân, thì ta nên thay bằng triều khác là hơn.
Đệ tử thứ ba là Lý Bất Nhiễm cũng đồng ý:
- Phàm cai trị dân phải có đức. Họ Lý nhân có đức mà được ngôi vua, thì nay nhà ta đức còn hơn Lý Công-Uẩn, tại sao ta không phất cờ cứu dân, lập triều đình Đông- A?
Bà Tự-Hấp xua tay:
- Chúng ta không ai muốn làm vua, cũng chẳng muốn diệt triều Lý. Thôi, cứ để triều đình tìm Thủ-Huy về, bình định lại đất nước là hơn cả.
Tô Phương-Lan (Bà Trần Lý) lắc đầu :
- Với tình hình rối loạn của đất nước hiện nay, thì dù tể tướng Phương-Dung thời vua Trưng có sống dậy cũng bó tay. Trên cao, thì vua suốt ngày chỉ rượu chè, vui trong câu ca tiếng hát của cung nga. Đã vậy còn xây dựng cung điện nguy nga, làm tốn sức dân, làm hao công nho. Ngoài trấn, phủ, huyện thì các quan chỉ lo vơ vét. Nếu chú Thủ-Huy về, không lẽ chú ấy phải giết chết vua, giết hết cung nga ? Tru diệt tất cả các quan ?
Cử tọa bàn luận phân vân, không biết có nên để Thủ-Huy trở về hay không ?
Trần Thừa lên tiếng :
- Theo cháu nghĩ, bất cứ ai lên làm vua, thì cũng phải lấy việc tạo phúc cho dân làm căn bản. Khi cái căn bản đó không còn, thì vua hóa ra một thứ đạo tặc. Vua Hùng thứ 88 làm cho dân khổ thì vua An-Dương đem quân đánh, lập lên triều Âu-lạc. Vua Ngọa-triều tàn hại dân, cai trị bằng bạo ngược thì vua Lý Thái-tổ lên thay. Bây giờ triều Tiêu-sơn quá thối nát, quá dơ bẩn, tại sao chúng ta là những kẽ sĩ , là những võ sĩ, lại không tuốt cao ba thước gươm lập lên một triều đình mới ?
Hầu như cử tọa đều có ý tưởng giống Trần-Thừa, nhưng không ai muốn nói ra. Bây giờ nghe Trần-Thừa nói, người người đều nhìn nhau như cùng đồng ý.
Trần Lý phát biểu :
- Theo con nghĩ, nếu như triều đình triệu hồi chú Thủ-Huy, chưa chắc chú ấy chịu về. Bố mẹ cũng nên viết thư riêng khuyên chú ấy. Bây giờ khắp vùng Thiên-trường, Trường-yên, Kinh-Bắc, Thanh-hóa đều thuộc hệ thống trang ấp của ta. Nay thêm bang Lĩnh-Nam của Thủ-Độ, với 9 Tiến-sĩ của nó sắp được trao binh quyền...Chú Thủ-Huy trở về đã có một lực lượng căn bản. Khi quyền vào tay, chú ấy cứ ý mình mà làm, không cần biết đến nội cung, triều đình. Bằng nhà vua làm quá, thì ta kiếm một thiếu niên Hoàng-tộc thông minh, hiền đức đưa lên ngôi vua. Chỉ có cách ấy mới dẹp được giặc dã, mới ổn định lại đất nước.

Sau phiên họp, suốt ngày đêm, ông bà Tự-Hấp thay nhau luyện võ cho Thủ-Độ. Vốn luyện được nội công cả âm nhu lẫn dương cương. Hôm ở trên đài tại sân Giảng-võ, Thủ-Độ hút được toàn bộ nội lực của Đinh Hoàng, Đinh Huyền, nên công lực của nó hiện cao vào bậc thượng thừa. Vì vậy, bất cứ chưởng, quyền, kiếm, hay võ công khó đến đâu, nó chỉ luyện một lần là thành công ngay. Càng học, nó càng thấy rùng mình : Hồi ở Thăng-long, nó chỉ biết có một vài pho võ công, mà dám tung hoành. Cũng may chưa gặp những cao thủ bậc nhất, bằng không thì nó đã mất mạng.

Trong thời gian đó, Thủ-Độ được luyện võ, chơi đùa với ba đệ tử của Trần Lý là Vương Lê, Lê Mịch, Lý Bất Nhiễm. Nó thấy ba người sư huynh này văn võ toàn tài, chí khí khác thường. Nó ngỏ ý nhờ Trần Thừa mời ba người nhập vào bang Lĩnh-Nam. Ba người vui vẻ nhận lời.
Tuy phải luyện võ, học văn, nhưng Thủ-Độ vẫn cùng Trần-Thừa, Tự-Khánh, Mỹ-Vân, Kim-Dung dùng thư tín điều khiển bọn Khả-hãn trong công việc quy dân nghèo lập ấp, huấn luyện các đội dân binh.
Vào các buổi chiều. Những khi mặt trời nghiêng bóng, Thủ-Độ lại cùng Kim-Dung xuống con thuyền nhỏ, thả theo giòng sông, ngắm cảnh. Ông bà Tự-Hấp, Trần Lý tưởng giữa tình chị em con chú, con bác, mà hai trẻ gần nhau là sự thường ; không ai ngờ mối tình của đôi trẻ đã mặn nồng.
Hôm nay, ông bà Tự-Hấp bận tiếp khách. Thủ-Độ, Kim-Dung rủ nhau ra tháp Phổ-minh chơi. Hai trẻ ngồi bên bờ hồ xây bằng đá, ngâm chân xuống nước. Kim-Dung nhìn mây trôi, thở dài não nuột. Thủ-Độ hỏi :
- Kim-Dung ! Tại sao lại thở dài ?
- Không những thở dài, mà còn héo cả ruột gan ra được.
- ! ? ! ? ! ?
- Hư ! Người đang là Đại-hãn, là đại ca. Ta đang là phó Đại-hãn, tiểu muội của người. Bỗng nhiên ta thành chị người. Người thành em ta.
- Nhưng chúng mình vẫn yêu nhau. Vẫn gần nhau.
- Người không biết gì cả. Người sinh ra, lớn lên ở Mông-cổ. Mà ở Mông-cổ thì anh chị em con cô con cậu, con chú con bác được lấy nhau. Còn đạo lý Đại-Việt thì không thể...
- Thế cái đạo lý đó do ai đặt ra ?
- Do các Nho-gia.
- Nho gia là người. Nho gia đặt ra luật lệ được. Chúng ta cũng là người, tại sao chúng ta không đặt ra luật nhỉ ? Ta hãy bỏ cái luân lý Nho-gia đi, làm ra luân lý Đại-Việt mới.
- Nói thì dễ. Nhưng liệu ông bà, bố mẹ có cho không ?
- Các người không cho thì chúng ta trốn lên Mông-cổ. Khó gì.
Qua câu chuyện, Kim-Dung mới nhận thấy ở người tình mình có đức tự tin, tinh thần nổi loạn. Cứ như lời thề Chân-giáo, lời thề trên hồ Tây, lời thề tại đền Hùng... thì Thủ-Độ sẽ khởi binh lật đổ triều Lý ! Điều này thực ngoài sức tưởng tượng của nàng.
Thủ-Độ nói :
- Triều đình ban chỉ cử anh làm sứ giả đi Mông-cổ đón bố anh về. Vậy Kim-Dung xin hai bác cùng đi với anh. Tới Mông-cổ, ta làm lễ cưới, khi về Đại-Việt thì sự đã rồi.
- Vụ này xin bố thì có thể, chứ mẹ thì không hy vọng. Mẹ tinh lắm. Trước đây thấy em với anh thân thiết mẹ đã nghi rồi. Qua mặt mẹ không được đâu ! Anh ơi, dù thế nào chăng nữa, bố mẹ có gả chồng cho em, em phải tuân theo. Nhưng...nhưng em vẫn dành cho anh tất cả.
Kim-Dung khẳng định :
- Anh có ba lời nguyền. Lời nguyền Chân-giáo, lời nguyền trên hồ Tây với em, lời nguyền tại đền Hùng với các Khả-hãn. Hôm nay, thề có đất trời, bất cứ ở hoàn cảnh nào, bất cứ ở nơi nào, em cũng nhất tâm nhất trí cùng anh thực hiện ba lời nguyền đó.
Hôm sau, quan phủ Thiên-trường tới báo với ông bà Tự-Hấp rằng : Bốn ngày nữa, sẽ có sứ giả tới phong chức tước cho Thủ-Độ.
Bốn hôm sau.
Vào khoảng giờ Mùi, thì tráng đinh báo với ông bà Tự-Hấp:
- Thưa thái sư phụ, sứ đoàn đã tới.
- Họ gồm bao nhiêu người?
- Thưa đông lắm! Chánh sứ là Thái-tử Long-Sảm. Phó sứ là Lễ-bộ tham tri Phạm Kính-Ân.
Nghe tin ân sư sắp đến, lòng Thủ-Độ cảm thấy ấm áp bao nhiêu, thì nghe đến tên Long-Sảm, trong lòng nólại ngút lên ngọn lửa hận thù. Tất cả những đau đớn, tủi nhục hồi thơ ấu do Long-Sảm với bọn Gia-thụy ngũ anh gây ra cho nó, lại ngùn ngụt bốc lên. Nó nghiến răng, chân tay phát run. Không ai để ý đến tình trạng đó của nó cả. Duy Trần Thừa, là người đã được Kim-Dung kể cho nghe chi tiết về lời nguyền Chân-giáo. Bây giờ, liếc qua, Thừa nhìn thấu tâm can người em. Chàng dùng Lăng-không truyền ngữ rót vào tai nó:
- Em phải bình tĩnh. Em ơi, ví như em muốn đánh một con chó, thì phải vuốt ve nó, mới tới gần nó được. Đối với Long-Sảm cũng vậy. Nó là một thằng vừa ác, vừa ngu. Em cần tỏ ra phục tùng y, hầu giữ ngôi vua cho y. Bằng như em chống phá y, sao em có thể gần y được? Sao y có thể lên ngôi vua? Em muốn diệt triều Lý, thì cần nhất là trên ngai có ông vua vừa ngu, vừa ác như Long-Sảm.
Nghe anh giảng, Thủ-Độ bừng tỉnh. Nó đứng dậy, vào nhà thay y phục, rồi theo ông bà đi đón sứ đoàn.
Chánh sứ Long-Sảm cỡi ngựa đi trước, phía sau là phó sứ Phạm Kính-Ân với bồi sứ Nguyễn Nộn, Đoàn Văn, Phạm Bỉnh-Du, có đoàn Thiết-kỵ hộ tống.
Lễ nghi tất.
Viên thái giám phòng Kính-sự hô :
- Trần Thủ-Độ quỳ xuống nghe chiếu chỉ.
Thủ-Độ đến trước hương án quỳ gối. Phạm Kính-Ân cầm trục giấy đọc. Trong chiếu phong Thủ-Độ làm võ trạng nguyên, lại ban cho chức Tổng-lĩnh thị vệ. Nội trong ngày phải về Thăng-long nhậm chức. Thủ-Độ bái lậy.
Long-Sảm nhìn Thủ-Độ, rồi cười :
- Thằng khờ ! Không phải nhờ tiếng tăm của cha, của mẹ mà mày được vinh hiển thế này đâu nhá ! Chả biết bằng cách nào, mà mày được Thái-hậu đặc biệt chiếu cố. Người nói với phụ hoàng, nên phụ hoàng phải tuân chỉ, mà trọng dụng mày đó.
Thủ-Độ giận tím mặt, nó định phản đối, thì Trần Thừa bảo nó:
- Em phải ghi nhớ lời Thái-tử vào tâm can. Ghi nhớ đời đời. Khi về Thăng-long em phải hết sức tận tụy, để báo đáp ơn trời biển của Thái-hậu.
Câu nói của Tự-Thừa có hai nghĩa. Đối với Thủ-Độ thì : Tên Long-Sảm này là một đứa nói năng càn rỡ. Em hãy ghi vào lòng, để mai hậu trả thù. Còn đối với Long-Sảm thì lại có nghĩa : Phải ghi nhớ ơn Thái-hậu.
Thủ-Độ đóng kịch :
- Đa tạ Thái-tử ban chỉ dụ.
Long-Sảm thấy Kim-Dung đứng sau Thủ-Độ thì cười :
- Cô nương ! Thực là có trời, mà cũng tại ta. Hồi trước nhác thấy dung nhan của cô nương, cô gia cứ tưởng là Hằng-nga giáng thế. Cô gia tự hỏi : Hằng-Nga sao lại đi chung xe với thằng khùng Thủ-Độ ? Hôm ấy cô gia từng nói với cô nương rằng : Nếu cô nương cho biết song thân cô nương là ai. Cô gia sẽ nói với người, để người cho phép cô nương đi chơi vơí cô gia. Có đúng thế không ? Bây giờ cô nương biết cô gia là ai rồi chứ ? Sau khi cách biệt cô nương, ngày nhớ đêm mong. Cô gia phải sai Thị-vệ đi tìm tông tích cô nương. Mà than ôi, tìm cô nương không khác tìm chim. Nào ngờ cô nương là ái nữ của Thần-nông sứ. Vì vậy, cô gia phải xin phụ hoàng cho lĩnh mệnh sứ thần, để được thấy lại cô nương.
Thấy Long-Sảm thân là Thái-tử, mà buông lời khinh bạc vơí Thủ-Độ rồi lại cợt nhả với Kim-Dung. Ông bà Tự-Hấp tự cảm thấy chán nản :
- Tư cách một đấng trừ quân, mai này lên ngôi vua, cai trị thiện hạ mà như thế này thì dù Khai-Quốc vương có sống lại cũng không cứu được sự nghiệp Tiêu-sơn ! Hèn gì Tự-Thừa, Tự-Khánh, Thủ-Độ cứ luận với nhau làm sao khích anh hùng nội dậy, diệt triều Lý cũng không oan.
Ông bà Tự-Hấp mời Long-Sảm cùng bọn Gia-thụy ngũ-anh xuống con thuyền lớn là nơi tiếp khách của phái Đông- A dự tiệc. Long-Sảm chỉ Kim-Dung hỏi Trần Lý:
- Không biết Thần-nông sứ có thể cho Hằng-nga tiên tử đi vơí cô gia chăng ?
Trần Lý tuy bực mình, nhưng cũng phải trả lời :
- Dĩ nhiên tiểu nữ sẽ phải xuống thuyền hầu Thái-tử.
Chủ khách cùng xuống thuyền. Ông bà Trần Lý ngồi ở chủ vị tiếp Long-Sảm với bọn Gia-thụy ngũ-anh.
Long-Sảm rút thanh kiếm trao cho Thủ-Độ :
- Xưa kia, Hậu-chúa Lưu Bị, mỗi khi dự tiệc đâu, thì danh tướng Triệu Tử-Long đeo kiếm đứng sau hầu. Nay ta là Thái-tử, người là Tổng-lĩnh thị-vệ. Phận chúa tôi đã phân. Vậy người hãy đeo kiếm này đứng sau lưng hầu ta.
Thủ-Độ tím mặt nhưng cũng phải cúi đầu, lĩnh kiếm đeo vào hông, khoanh tay đứng sau Long-Sảm. Trong suốt bữa tiệc, Long-Xưởng luôn cười nói, cớt nhả vơí Kim-Dung. Mỗi lời của Long-Sảm nói, như một nhát kiếm đâm vào ngực Thủ-Độ. Nó cảm thấy miệng đắng, hơi nóng rừng rực bốc lên hai vai, rồi thái dương. Nó nghiến răng thề ngầm trong tâm :
- Mối hận này chồng chất lên mối hận cũ. Ta, Thủ-Độ nguyện sẽ làm cho mi đau đớn cùng cực, rồi chết mới hả lòng.
Đêm hôm đó Thủ-Độ tới phòng ngủ của Phạm Kính-Ân để tạ ơn ông. Kính-Ân nắm tay Thủ-Độ:
- Thầy mừng cho con huyết nhục trùng phùng. Võ công con cao đến không ai tưởng tượng nổi. Tư cách của con lại khác phàm. Nhất là việc con cứu Thùy-Dương thoát khỏi cảnh ô nhục tại dinh Đàm Dĩ-Mông. Sau con lại nhường Kính-Nghĩa trong cuộc thi võ... Hà, con hơn cả cha con rồi đó. Con ơi! Thầy thấy con lập bang Lĩnh-Nam mà mừng vô hạn?
- Thưa thầy, con muốn mời chị Thùy-Dương, anh Kính-Nghĩa nhập bang Lĩnh-Nam, không biết thầy có cho phép không?
- Cho chứ! Đó là điều mà thầy cầu còn không được. Thầy cũng muốn nhập bang của con. Vậy con định để thầy làm gì nào?
Thủ-Độ còn đang suy nghĩ, thì Kính-Ân nói:
- Bây giờ thầy trò ta sắp xếp lại nhân sự, sao cho hợp lý. Con nghĩ sao?
- Xin thầy dạy cho.
- Con vẫn làm Bang-trưởng. Nguyên-sư đã có Trần Thừa. Tả hộ pháp có Tự-Khánh. Thầy, thì thầy sẽ đảm trách Hữu hộ pháp cho con.
Thủ-Độ chắp tay:
- Đa tạ thầy. Con đề nghị, sáu Vụ như sau: Lê Mịch coi Vụ-binh, Lý Bất Nhiễm coi Vụ-hình, Vương Lệ coi Vụ-lại, Kim-Dung coi Vụ-lễ, Mỹ-Vân coi Vụ-hộ, Thùy-Dương coi Vụ-công. Còn anh Kính-Nghĩa lĩnh chức Tổng-lĩnh chư Khả-hãn.
- Hay lắm!
Chán đời đi lang thang !
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-05-10 22:52:07NuHiepDeThuong>
Hồi thứ ba mươi chín

Vạn-Lý Trường Thành
Niên hiệu Trị-bình long-ứng thứ tư ( Mậu-Thìn, DL.1208)



Đời vua Lý Cao-tông Đại-Việt. Bên Trung-nguyên nhằm niên hiệu Gia-định nguyên niên đời vua Tống Ninh-tông.


Sứ đoàn Đại-Việt do quan Tổng-lĩnh thị-vệ, tước Đằng-châu hầu Trần Thủ-Độ, tuân chỉ nhà vua lên đường đi Mông-cổ, thỉnh phò mã Trần Thủ-Huy về nước để trao đại quyền an định xã tắc.
Sứ đoàn đi bằng thuyền, khởi hành từ bến Tiềm-long ở Thăng-long, trên một thương thuyền rất lớn. Thương thuyền kéo cây cờ có hình con ó đen đang bay trên không, hai chân co lại, cánh nghiêng, mắt nhìn xuống dưới trong tư thế rình mồi. Đề phòng bất trắc có thể xẩy ra cho Thủ-Độ, Đại đô đốc Phùng Tá-Chu đã chọn từ thuyền trưởng cho tới thủy thủ, đầu bếp, đều là để tử phái Đông-A. Còn viên phó sứ Chu Mạnh-Nhu, với bốn bồi sứ Vũ Khắc-Kim, Phạm Hoàng-Quy, Lê Trọng-Anh, Tạ Quốc-Ninh là những viên quan ở bộ Lễ, học trò Phạm Kính-Ân. Chính Kính-Ân chọn cho Thủ-Độ, với lời dặn dò rằng Thủ-Độ là người đồng môn, phải lấy lòng mà đối xử với nhau.
Biết rằng khi thuyền đến bến Liêu-Đông, thuộc lãnh thổ Kim, sứ đoàn còn phải vượt qua mấy trăm dặm mới tơí Vạn-lý Trường-thành. Ra ngoài Trường-thành, bắt đầu đi vào vùng Thảo-nguyên. Cho nên Thủ-Độ đã chuẩn bị cho sứ đoàn giả làm thương nhân. Vì trước đây, Kim với Đại-Việt từng giao hảo, trao đổi sứ, kể từ đấy, có nhiều thương nhân Việt sang buôn bán với Kim.

Sau hai tháng lênh đênh trên mặt biển, sứ đoàn đã đến cửa biển Liêu-Đông. Thủ-Độ lên trình điệp thông quan. Viên quan phụ trách thương bạc xuống thuyền kiểm kê hàng hóa, quyết định số tiền thuế phải nộp, rồi đóng dấu vào điệp thông quan.
Ở Liêu-Đông mấy ngày, Thủ-Độ để thủy thủ đoàn sống trên thuyền Ó-đen. Còn Hầu cùng với nhân viên sứ đoàn, mua xe, ngựa lên đường. Sau mười ba ngày, thì tới Trương-gia khẩu của Vạn-lý Trường-thành. Vừa vượt Vạn-lý Trường-thành mười lăm dặm, tới lãnh thổ Ong-gút thì gặp một đội kị mã kéo cờ Mông-cổ đang đi tuần thám.
Một võ quan trong y phục Bách-phu trưởng dẫn đầu. Y hỏi bằng tiếng Mông-cổ :
- Thương nhân của nước nào ?
Viên thông ngôn tưởng Thủ-Độ là người Hoa. Y dịch sang tiếng Hoa. Thủ-Độ trả lời bằng tiếng Mông-cổ :
- Tôi không phải là thương nhân. Tôi là chánh sứ của Đại-Việt hoàng đế, sang Mông-cổ yết kiến Thành-cát Tư-hãn. Giám hỏi, đây thuộc quyền của vị tướng quân nào ?
Trên mặt tên Bách-phu trưởng hiện ra nét thiện cảm :
- Vùng này này do Thiên-phu trưởng họ Vũ trấn nhậm. Để tôi đưa các vị tới gặp người.
Thủ-Độ theo tên Bách-phu trưởng về trại quân. Vừa nhác thấy viên Thiên-phu trưởng, Thủ-Độ nhận ra ngay, đó là một võ sĩ trong đoàn Long-biên cũ. Hầu kêu lên :
- Chú Vũ Mạnh !
Vũ Mạnh nghe báo có sứ thần Đại-Việt tới, thì mừng chi siết kể. Ông vội sửa sang y phục ngay ngắn ra đón. Ông chưa kịp lên tiếng, thì sứ thần đã gọi tên ông lên. Ông kinh ngạc, hỏi bằng tiếng Việt :
- Không biết đại nhân xưng hô thế nào ?
- Cháu là Trần Thủ-Độ đây ! Bố cháu là...
Vũ Mạnh đã nhận ra Thủ-Độ, vì Hầu giống hệt cha. Vũ Mạnh ôm lấy Thủ-Độ :
- Cháu tôi lớn thế này, hèn gì chú không nhận ra cũng phải.
Thủ-Độ tóm lược qua tình hình Đại-Việt, rồi nói rõ sứ mệnh của mình. Đưa mắt nhìn trại quân Mông-cổ, Thủ-Độ hỏi :
- Từ ngày rời Thảo-nguyên ra đi, cháu không được tin tức gì ở vùng Thảo-nguyên cả. Tại sao chú lại ở đây ? Mông-cổ đã khởi binh diệt Ong-gút (1) rồi à?
- Đúng vậy. Sau khi mẹ cháu với cháu về nước, thì Mông-cổ khởi binh đánh Nãi-man, sau đó đánh Tây-hạ, rồi tiến quân vào Kim.
Vũ Mạnh truyền quân làm tiệc đãi sứ đoàn. Trong khi ăn, Thủ-Độ hỏi chi tiết về các trận đánh giữa Mông-cổ với Nãi-man, Tây-hạ, và Kim. Vũ Mạnh thuật :
- Sau khi thắng Khắc-liệt, Mông-cổ đang là một nước nhỏ, bỗng trở thành một nước lớn, binh lực hùng mạnh, quốc sản trù phú. Các nước xung quanh như Thổ-phồn, Tây-hạ, Tây-liêu, Nãi-man, Đại-kim...cùng cảm thấy lo lắng rằng, cứ cái đà phát triển này, thì không mấy chốc Mông-cổ sẽ đánh chiếm nước họ. Song Tây-hạ, Tây-liêu, Đại-kim thì lãnh thổ không nằm trong vùng Thảo-nguyên. Họ không mấy lo ngại cái họa Mông-cổ. Duy Nãi-man, là nước có nền văn minh, có văn tự, lại là một nước lớn, binh lực hùng mạnh bậc nhất vùng Thảo-nguyên, nên Đại-hãn của họ lo lắng, sợ hãi khôn cùng.
Thủ-Độ hỏi :
- Thưa chú thế Nãi-man lập quốc từ bao giờ ?
- Khoảng trên dưới một trăm năm nay thôi. Người khai quốc là Khả-hãn I-năng-sơ. Ông là một nhà chỉ đạo quân sự đại tài. Trong khoảng hai chục năm, ông chinh phục được trước sau hơn hai chục nước nhỏ rồi lên ngôi Đại-hãn. Có thể nói, lúc đó Nãi-man là nước hùng mạnh nhất Thảo-nguyên. Sau khi I-năng-sơ chết, thì hai con trai là Bui-Rúc và Bai-bu-ka chia Nãi-man thành hai, mỗi người cai trị một nửa, do vậy Nãi-man yếu đi . Lãnh thổ của Bai-bu-ka tiếp cận với Mông-cổ. Ong ta muốn đem quân diệt Mông-cổ ngay khi Mông-cổ mới chiếm được Khắc-liệt. Ông viết thư cho Khả-hãn Tê-Kinh của nước Ong-gút, rủ Ong-gút cùng ra quân. Thư đó nội dung như sau :
"...Tôi vừa được tin trong đế quốc của chúng ta, có một thằng nhãi mới xuất hiện, tự xưng là Khả-hãn Mông-cổ. Y chỉ nhìn lên mây xanh, muốn chinh phục cả mặt trăng mặt trời. Ngài thử nghĩ xem : Một cái bao làm sao chứa được hai thanh kiếm ? Một thể xác không có hai linh hồn. Dĩ nhiên một đế quốc không thể có hai Đại-hãn. Ngài hãy cùng tôi tước lấy cây cung và mũi tên của thằng nhãi đó ».
Thủ-Độ cau mặt :
- Ông ta kiêu ngạo quá ! Cháu chắc Khả-hãn Tê-Kinh không chịu xuất quân !
- Sao cháu biết ?
- Cứ lý mà suy ! Lãnh thổ Ong-gút sát với Kim. Mỗi lần các bộ tộc vùng Thảo-nguyên tràn vào Kim cướp phá, hoặc Kim đem quân đánh các bộ tộc đó... đều vượt qua lãnh thổ Ong-gút. Dân Ong-gút bị vạ lây. Vì vậy Ong-gút thấy Mông-cổ chiếm các bộ tộc ấy, kiềm chế chúng, thì Ong-gút thoát khỏi cái vạ đó, điều mà Tê-Kinh mong ước... Tội gì Ong-gút phải ra quân?
- Giỏi! Cháu luận giống như cha cháu. Để chú thuật tiếp: Khả-hãn Tê-Kinh sai sứ đem bức thư đó cho Tư-hãn. Được tin này, Tư-hãn kinh hoảng, vội triệu tập hội đồng quý tộc loan báo tin trên. Hội đồng cùng nhận thấy rằng chiến tranh giữa Mông-cổ với Nãi-man không thể nào tránh được. Nhưng bây giờ đang giữa mùa Đông, khí hậu lạnh cắt da, xé thịt, ngựa thiếu ăn gầy còm. Cần chờ đến mùa Hạ hay mùa Thu, ngựa khỏe, khí hậu ấm áp hãy ra quân.
Thế nhưng Phò-mã cũng như chín vị đại tướng thì cho rằng : Thắng nhờ xuất kỳ bất ý, nhờ binh lực hùng mạnh, chứ không phải nhờ sức ngựa. Thành-cát Tư-hãn đồng ý với phò mã. Lập tức ra quân.
Trước khi xuất quân, Tư-hãn họp chư tướng lại, rồi cung cung, kính kính hỏi Phò-mã:
- Phò-mã là thầy của tôi cũng như các tướng. Xin Phò-mã dạy cho những điều phải làm, những điều phải tránh.
- Đa tạ Tư-hãn đã lấy lòng mà ở với tôi. Tôi có ba điều muốn thưa vơí Tư-hãn và anh em. Điều thứ nhất, so về quân số thì Nãi-man đông hơn chúng ta. Quân của họ cũng thiện chiến, tổ chức chặt chẽ. Họ lại có những đội tàn quân của Thát-đát, Khắc-liệt, Miệt-nhi, Trác Mộc Hợp theo trợ chiến. Nhưng ta nắm chắc phần thắng, vì cho đến lúc này, họ vẫn không biết gì về sự cải tiến, trang bị của ta, họ khinh ta. Vì vậy, ta cần tạo cho họ kiêu căng hơn, rồi áp dụng chiến thuật xuất kỳ bất ý, công kỳ vô bị, thì thắng. Cuộc chiến này kéo dài nhất là mười ngày, ngắn nhất là nửa ngày.
Các tướng vỗ tay hoan hô.
- Điều thứ nhì, từ trước đến nay, các bộ tộc vùng Thảo-nguyên, sau trận giao tranh, bên thắng thường cướp hết súc vật, tài sản, kể cả vợ con của địch, tàn phá hết lều trại, rồi rút về. Kẻ bại âm thầm tập trung tàn quân lại, nung nấu lòng căm thù, tìm dịp trả hận. Tôi đã bàn với Tư-hãn, chúng ta cần đánh tan chủ lực của Nãi-man. Tuyệt đối cấm cướp, phá, đốt tài sản, giết dân chúng. Sau cuộc chiến, ta cắt Nãi-man ra thành năm vùng, mỗi vùng trao cho một Đại-hãn cai trị. Còn hàng binh thì cho nhập vào với quân ta. Tù binh thì cho làm lao nô một thời gian, rồi cũng cho nhập ngũ. Bất cứ tướng sĩ nào giết, đánh đập, làm nhục tù hàng binh đều bị trừng phạt nặng nề.
Các tướng im lặng, tỏ vẻ không hài lòng.
- Thứ ba, Nãi-man là một nước lớn nhất vùng Thảo-nguyên. Họ lại có một nền văn minh, một nếp sống văn hóa cao hơn chúng ta nhiều. Từ trước đến giờ, họ vẫn coi tất cả các tộc vùng Thảo-nguyên là man di, mọi rợ. Còn Mông-cổ ta? Ta đang là một bộ tộc nhỏ, nhờ tài lãnh đạo của Tư-hãn. Nhờ sự cố gắng phi thường của anh em, mà chúng ta có địa vị ngày nay. Ta cần trộn dân Mông-cổ với Nãi-man với nhau, để dân Mông-cổ thu nhập được văn minh Nãi-man.
Về phần Nãi-man, khi thấy ta xuất quân, Bai Bu Ka cho tiến quân về Khan-gai, rồi dàn ra đó để chờ ta. Trong khi đó Thành-cát Tư-hãn cũng dàn quân tại một vùng lựa chọn, thuận lợi cho Mông-cổ. Thấy giặc giữ thế thủ, Thành-cát Tư-hãn sai Triết Biệt đem một đội quân tiến vào vùng địch tấn công. Sau hơn khắc giao chiến, giả thua bỏ chạy.
Các tướng Nãi-man thấy đội quân Triết Biệt hàng ngũ lộn xộn, ngựa thì hầy yếu, người thì mệt mỏi, y tỏ ý khinh thường, ào ạt tấn công. Triết Biệt dẫn quân chạy dài. Bai Bu Ka ra lệnh thu quân. Các tướng Nãi-man muốn đánh tràn vào vùng đóng quân của Mông-cổ. Bai Bu Ka không cho. Đại tướng Rô Ri Su than: "Hồi Tiên-vương còn tại thế, làm gì địch nhân thấy được lưng chúng ta? Nếu ngài có sợ, thì nên trở về sống với phi tần. Chúng tôi quyết trừng trị bọn Mông-cổ, rồi gom chúng lại, lùa về đây như một bầy cừu". Bai Bu Ka bị chạm tự ái, ông ta ra lệnh tấn công ào ạt. Quân Mông-cổ rút chạy, dụ quân Nãi-man vào trận địa đầy chông, rồi Lôi-tiễn nã lên đầu.

Ghi chú của thuật giả

Đoạn này, bộ Mông-cổ bí sử chép như sau: Bai Bu Ka bị thương nặng, bọn tả hữu đỡ y nằm trên sườn đồi. Y dựa lưng vào tảng đá quan sát trận chiến. Y hỏi Trác Mộc Hợp:
- Bọn tướng đang đuổi theo quân ta như sói đuổi bầy cừu kia là ai vậy?
- Đó là bốn con chó sói nuôi bằng thịt người của Thiết Mộc Chân. Hắn phải dùng xích sắt cột chân chúng, vì chúng có răng bén, móng nhọn với trái tim sắt đá. Chúng dùng mã tấu để khiển ngựa. Ngựa của chúng phi nhanh như gió. Ngoài mặt trận chúng chỉ uống sương, và ăn thịt người.Bây giờ được tháo xiềng, chúng tha hồ cắn xé. Vậy mà mõm chúng vẫn còn dỏ dãi. Bốn con chó đó là Triết Biệt, Bác Nhĩ Truật, Gia Luật Mễ và Tốc Bất Đài.
- Còn người nào ở phía sau mặt trận đang phi ngựa, dáng nom như con diều hâu đói kia?
- Thiết Mộc Chân đấy! Hắn thuộc thứ người mình đồng da sắt. Quả hắn là một con diều hâu đáp xuống xứ này. Hãy xem hắn tiến về phía chúng ta kìa. Ngài nói rằng quân Mông-cổ tới đây chẳng khắc nào con cừu bị đặt trên thớt thịt. Tôi nghĩ rằng con cừu là chúng ta, chúng ta sẽ bị bốn con sói ăn thịt... chắc chắn chỉ còn móng và sừng thôi.... Đến đây Bai Bu Ka lịm dần rồi chết.
Đến chiều thì bọn Miệt-nhi, rồi Trác Mộc Hợp bỏ chạy. Quân Nãi-man tan rã ".


Thủ-Độ nghe thuật, trong lòng hầu rừng rực bốc lên cái hùng khí. Hầu nghĩ thầm:
- Ngay bây giờ trở về đất nước, ta phải tạo bọn Tây-hồ thập bát anh hào thành những đại tướng như Mông-cổ. Bọn thiếu niên theo ta bấy lâu, sẽ thành những dũng sĩ. Rồi, ta lật đổ cái triều Lý thối tha, lập một triều đình nhẹ nhàng, vua tôi sống trong tình huynh đệ như Thành-cát Thư-hãn với chư tướng.
Hầu hỏi Vũ Mạnh:
- Thế Thành-cát Tư-hãn tiến binh đánh Kim bao giờ?
- Bình định được Nãi-man rồi, Thành-cát Tư-hãn để ra hai năm chỉnh bị binh mã, tổ chức cai trị. Sau đó người tiến binh đánh Tây-hạ. Phò mã thấy mọi mạng lệnh đều phát từ Thành-cát Tư-hãn với người, thì không thể nào điều động nổi một quân đội đông đảo. Người đề nghị với Tư-hãn, cho thành lập Khu-mật viện, giống như Khu-mật viện bên Đại-Việt. Chính phò mã là người huấn luyện các nhân viên Khu-mật viện. Khu-mật viện gửi Tế-tác đi khắp nơi, để lấy tin tức của các nước xung quanh như Tây-hạ, Tây-liêu, Thổ-phồn, Đại-kim. Từ đấy, nhất cử nhất động của các nước, Mông-cổ biết hết.
- Hay lắm. Cháu có một điều thắc mắc : Vơí một lãnh thổ rộng mênh mông như vậy, làm thế nào Mông-cổ có thể duy trì thông tin mau chóng ?
- Phò-mã cho lập một Mã phi tiễn viện, do Gia Luật Mễ chỉ huy. Viện gồm ba Thiên-phu kỵ mã Phi-tiễn. Họ là những người có sức khỏe dẻo dai nhất, mỗi người xử dụng ba chiến mã khác nhau. Để phân biệt với các kỵ mã khác, kỵ mã Phi-tiễn dắt trên đầu một một lá cờ xanh. Họ đeo trên ngực một hộp bằng kim khí. Trong hộp đựng thư từ, lệnh bài, thẻ bài, lệnh tiễn. Khi thấy kỵ mã Phi-tiễn phi ngựa, thì bất kể một đoàn quân đang đi, bất kể là Thân-vương, Đại-hãn, Đạo-sư đều phải tránh đường cho. Trên toàn lãnh thổ, thiết lập những trạm trú thường trực của kỵ mã Phi-tiễn. Trung bình cứ mỗi đoạn đường 300 dặm lại có một trạm. Khi một kỵ mã Phi-tiễn từ xa sắp tới trạm, thì một kỵ mã Phi-tiễn thay thế phải đứng chờ sẵn, để bạn vừa tới nơi, thì tiếp hộp đựng thư, rồi phi như bay. Ngày đêm, các kỹ mã Phi-tiễn duy trì liên lạc giữa các cánh quân mau chóng. Cho nên, dù các đội quân chinh tiễu ở Vạn-lý Trường-thành, ở kinh đô Ninh-hạ của Tây-hạ, cũng có thể liên lạc với nhau nhanh chóng. Những báo cáo của các tướng về cho Tư-hãn, những lệnh của Tư-hãn ban ra chỉ cần một ngày là tới nơi.
- Hà ! Bố cháu đã tổ chức đội Phi-tiễn giống như ngựa trạm của Đại-Việt. Có điều, kỵ mã Phi-tiễn có nhiều quyền hành hơn, có nhiều ngựa tốt hơn, người cũng ưu tú hơn.
Vũ Mạnh tiếp :
- Thành-cát Tư-hãn gửi sứ sang Thổ-phồn, Tây-hạ chiêu dụ làm chư hầu. Lập tức Thổ-phồn cử sứ mang cống lễ đến Hoa-lâm xin quy phục. Còn Tây-hạ thì vua tôi bật cười với nhau : Cái bọn rợ vùng Thảo-nguyên mà dám hỗn với một Hoàng-đế ư ? Họ xé thư, đánh sứ giả ba chục roi, rồi đuổi về. Nghe sứ giả về tâu lại, Thành-cát Tư-hãn lập tức cất quân tiến đánh Tây-hạ.
Thủ-Độ than:
- Hỏng! Tư-hãn nóng nảy quá. Cháu e sẽ thất bại!
Vũ Mạnh kinh ngạc:
- Sao...Sao cháu biết?
- Dễ hiểu! Quân Mông-cổ là quân kị, chuyên đánh theo lối dàn quân, xung phong trên cánh đồng. Bây giờ lăn mình vào công kiên, đánh thành, thì sao thắng được!
- Đúng thế. Một vài trận đầu, quân Tây-hạ dàn ra nghênh chiến, bị quân Mông-cổ đánh tan. Sau họ rút vào cố thủ trong các thành cao, hào sâu, quân Mông-cổ xung phong nhiều lần đều thất bại. Cuối cùng Thành-cát Tư-hãn phải sai sứ về Hoa-lâm thỉnh phụ thân đệ tới. Tới nơi, lập tức người đem các phương pháp công thành huấn luyện hai vạn quân. Sau đó dùng Lôi-tiễn nã vào thành, rồi cho quân xung phong. Thành hạ được. Thấy rằng đánh nữa, cũng khó thắng, Thành-cát Tư-hãn gửi sứ tới kinh đô Linh-hạ dụ hàng. Vua tôi Tây-hạ chịu đầu hàng. Mông-cổ rút về. Thành-cát Tư-hãn lại nhờ phụ thân đệ với chúng ta huấn luyện phương pháp công thành cho toàn quân Mông-cổ. Việc huấn luyện vừa hoàn tất, thì Kim gửi sứ tơí. Rồi giữa Mông-cổ với Kim xẩy ra một vụ đụng chạm lớn.
- Không phải đụng chạm lớn, mà Kim hành sự ngu xuẩn!
- Ý cháu muốn nói?
- Kim mù tịt về những thay đổi trên vùng Thảo-nguyên. Họ tưởng Mông-cổ vẫn là một bộ lạc mọi rợ. Họ sai sứ tới, khệnh khạng, hách dịch. Thành-cát Tư-hãn ắt nổi giận, rồi đem quân vượt Vạn-lý Trường-thành đánh Kim.
- Đúng vậy.
- Chuyện xẩy ra như thế nào?
- Hoàng-đế Kim băng hà, đệ lục vương tử Vĩnh-Tế lên kế vị. Trước kia Vĩnh-Tế từng đi sứ Khắc-liệt, y thiết kế cho Khắc-liệt diệt Mông-cổ. Trong khi Mông-cổ với Khắc-liệt có chiến tranh, y đã ra lệnh cho quân biên phòng Kim tràn sang cướp phá bộ tộc Ong-gút thuộc Mông-cổ ; để chia bớt lực lượng Mông-cổ đang giao chiến vơí Khắc-liệt... Bây giờ vừa lên ngôi, y sai một sứ đoàn vượt Trường-thành đem chiếu chỉ tới hoạnh họe ba điều. Một là mấy năm qua không tiến cống. Hai là đem quân đánh Tây-hạ, Thổ-phồn là những phiên thuộc của Kim. Ba là để cho quân lính vượt Trường-thành vào Trung-nguyên cướp phá. Hoàng đế Kim bắt Tư-hãn phải tuân theo ba điều: Một là nhận sắc phong của triều đình Kim. Hai là đích thân đến Yên-kinh chầu. Ba là phải cống hàng năm.
Thủ-Độ lắc đầu:
- Cháu đoán có sai đâu. Thế Tư-hãn phản ứng ra sao?
- Khi sứ đoàn Kim đến, thì gặp giữa lúc Tư-hãn viễn chinh Tây-hạ về. Hai bên gặp nhau giữa đường. Sứ giả Kim bắt Tư-hãn phải xuống ngựa, quỳ gối hướng Nam bái vọng.
Thủ-Độ cười ha hả:
- Cháu mà là Tư-hãn thì cháu nhổ nước bọt vào mặt tên sứ!
- Hay! Cháu đoán đúng! Tư-hãn cười nhạt rồi nhổ một bãi nước bọt vào mặt chánh sứ... Thế là sứ đoàn Kim thui thủi ra về như chó cụt đuôi.
- Vậy Kim đem quân đánh Mông-cổ trước, hay Mông-cổ đem quân đánh Kim trước?
- Kim ra quân trước. Sau khi sứ Kim về nước , Vĩnh-Tế nổi giận, sai tướng mang mười vạn quân, vượt Trường-thành quyết làm cỏ Mông-cổ. Nhưng quân Kim là quân bộ, khi tiến vào vùng Thảo-nguyên mênh mông, thuộc lãnh thổ Ong-gút cũ. Người người đều ngao ngán. Viên tướng cho quân đóng trại, cướp lương thực của dân, mục đích để dò xét tình hình Mông-cổ. Tư-hãn sai Triết Biệt mang hai vạn phu, đi nghênh chiến.
- Thế trong hai vạn phu đó, ai là vạn phu trưởng?
- Là hai vương tử Sát Hợp Đài và Truật Xích.
- Trận chiến diễn ra như thế nào?
- Triết Biệt ém quân, rồi thình lình tấn công ban đêm. Chỉ trong vòng không đầy hai giờ, toàn bộ binh tướng Kim bị tiêu diệt... Tin này làm rúng động toàn thể nước Kim. Từ đấy Kim chúa cấm không cho ai nhắc nhở đến Mông-cổ cả. Nhờ vậy mà Mông-cổ được yên ổn, để chuẩn bị tiến vào Trung-nguyên.

Hôm sau Thủ-Độ từ biệt Vũ Mạnh, lên đường đi Hoa-lâm. Kể từ ngày theo mẹ rời Mông-cổ, cho đến nay trải qua gần mười năm, Thủ-Độ mới trở lại đất cũ. Mỗi bước đi của Hầu, là mỗi kỷ niệm. Trong lòng Hầu nao nao khó tả : Nào sắp gặp lại người cha thân yêu. Nào sắp gặp lại các bạn cũ như Hốt Tất Liệt, Ngột Lương Hợp Thai, Bạt Đô, A Lý Hải Nha. Nào sắp được phi ngựa trên giải đồng mênh mông !
Cái mà Thủ-Độ thấy dọc đường, khác hẳn với xưa kia là : Dân chúng giầu có, những đàn gia súc đếm không thể hết. Binh lực Mông-cổ hùng hậu hơn nhiều. Trước, chỉ trang bị cung tên, lao, đao, kiếm. Nay thì máy bắn đá, xe phóng hỏa, Lôi-tiễn, cùng các dụng cụ công thành như thang mây, móc câu...
Trưa hôm ấy sứ đoàn tới thủ đô Hoa-lâm. Vì Thủ-Độ trở lại Mông-cổ với tư cách là sứ thần, nên Hầu không thể về thẳng dinh của phụ thân, mà phải xin vào yết kiến Thành-cát Tư-hãn trước.
Thành-cát Tư-hãn đang họp chư tướng, thì viên lễ quan vào báo :
- Có sứ thần Đại-Việt xin yết kiến Tư-hãn.
Thủ-Huy hỏi :
- Sứ thần là ai ?
- Thưa là Đằng-châu hầu Tổng-lĩnh thị vệ tên Trần Thủ-Độ.
Cả triều đình Mông-cổ đều đưa mắt nhìn Thủ-Huy. Tư-Hãn kinh ngạc :
- Thiên-sứ ! Phải chăng là cháu Thủ-Độ của mình ?
- Không lẽ ?
Tư-hãn ra lệnh :
- Dù là cháu Thủ-Độ hay người khác, thì cũng là sứ thần Đại-Việt. Vậy xin Bác Nhĩ Truật huynh ra đón sứ đoàn vào.
Cửa viên môn mở rộng. Trống thúc ba hồi, Bác Nhĩ Truật ung dung ra cửa. Thủ-Độ vừa trông thấy ông, Hầu reo lên :
- Chú Bác Nhĩ Truật ! Chú có nhớ cháu không ?
Đúng ra với thời gian gần mười năm, Thủ-Độ từ một đứa trẻ ngây thơ, bây giờ trở thành một thiếu niên hùng vĩ trong y phục đại triều Đại-Việt, thì muôn ngàn lần ông không nhận ra được. Nhưng Thủ-Độ chào ông bằng tiếng Mông-cổ, thì ông nhận ra Hầu liền. Ông reo lên :
- Chà ! Không ngờ sứ thần là cháu.
Thủ-Độ, cùng sứ đoàn đươc mời vào đại bản doanh.
Lễ nghi tất.
Thủ-Độ tâu với Tư-hãn :
- Trị-bình Long-ứng hoàng đế sai cháu lên yết kến Tư-hãn để trình quốc thư, xin cho bố cháu trở về Đại-Việt.
Nói rồi Hầu trịnh trọng trao quốc thư. Thành-cát Tư-hãn tiếp thư đọc xong. Ông nói với Thủ-Huy :
- Phò mã là Thiên-sứ, là người mà trời ban cho ta. Suốt gần hai mươi năm qua, Thiên-sứ như ngôi sao thủ mệnh của Mông-cổ. Nhưng nay, xem ra tình dân thế nước Đại-Việt rối ren lắm rồi, nếu Thiên-sứ không về thì e triều Lý không còn nữa. Hay Thiên-sứ trở về, tuốt gươm quét sạch bọn vua chúa hôn ám bọn quan lại thối tha triều Lý đi, rồi lên làm vua. Vậy Thiên-sứ định sao ?
Thủ-Huy nói lớn cho cả triều đình cùng nghe :
- Huy này vốn là khách của Tư-hãn mời lên săn bắn rồi hòa hợp với anh em, cùng chung sức thống nhất Thảo-nguyên. Vì vậy Thủ-Huy này không còn là một người của triều Lý nữa, mà là của Mông-cổ. Mông-cổ là đất nước của Thủ-Huy. Vậy xin đợi cho đệ hỏi han chuyện nhà đã rồi sẽ thưa vơí Tư-hãn sau.

Cuộc họp bãi.
Hai cha con Thủ-Huy về tư dinh. Thúy-Thúy thấy Thủ-Độ cao lớn, uy vũ còn hơn cha khi xưa. Nàng mừng lắm :
- Con ! Con đã lớn thế này rồi ư ?
Buổi chiều hôm đó, Thủ-Huy, Thúy-Thúy ngồi im lặng nghe Thủ-Độ tường thuật những gì đã xẩy ra từ khi Hầu theo mẹ về quê. Trước hết là cái chết của công chúa Đoan-Nghi. Nghe con thuật Thủ-Huy nghiến răng kèn kẹt :
- Vụ này quyết do Tống với bọn gian thần Việt làm, chứ nhà vua không biết gì.
Hầu thuật việc bị anh em Thái-tử Long-Xưởng cùng bọn Gia-thụy ngũ anh hành hạ cực tàn nhẫn. Thủ-Huy hừ một tiếng :
- Được ! Con phải ghi nhớ cái hận đó để sau này sẽ trả gấp ba, gấp bốn lần.
Thủ-Độ thuật tiếp việc Hầu làm quỷ ba đầu, tập họp bọn ăn mày lại, tổ chức thành đội ngũ, lập bang Lĩnh-Nam. Thủ-Huy mỉm cười tỏ ý hài lòng. Cuối cùng, Thủ-Độ thuật việc hầu phong cho bọn Tây-hồ thập bát anh hào làm Khả-hãn, rồi sai đi khắp nước huấn luyện thanh niên, tập hợp bọn thiếu niên cùng khổ...Tổ chức bang Lĩnh-Nam như một triều đình.
Thủ-Huy cười ha hả :
- Con ta tuy sống trong nhục nhằn, trong cô đơn, nhưng cũng không làm tiêu ma chí khí. Trái lại, nó làm được những điều mà chưa từng một người Việt nào làm được. Hà ! Bây giờ, nó từ ông vua ăn mày, bỗng trở thành một ông vua không ngai nắm được một lực lượng quần chúng. Một mai nếu cần, chỉ việc phất cờ, thì cái triều Lý thối tha không còn nữa.
Thủ-Độ thuật tới những việc đạo cô Vương Thụy-Hương làm. Thủ-Huy kinh hãi đến đờ người ra. Công nhìn Thúy-Thúy thở dài :
- Chúng ta tuyệt không ngờ Thụy-Hương còn sống ! Cũng không bao giờ ngờ nàng lại giết chết bọn Đỗ An-Di, Mạc Hiển-Tích. Kinh thực !
Thủ-Độ thuật tiếp về cuộc thi võ. Thủ-Huy cau mày cốc lên đầu con :
- Con tôi nhu nhược quá. Cái bọn Gia-thụy ngũ anh làm nhục con đủ điều, định giết con bao phen, mà con chỉ đánh bay chúng xuống hồ sen thôi ư ? Con nhớ nhé. Tự hậu, gặp những trường hợp như thế phải nặng tay !
- Thưa bố giết chúng sao ?
- Không ! Không nên giết, mà phải đánh cho chúng tàn tật, để rồi chúng sống không nổi chết không xong, ta mới khoan khoái trong lòng.
Thủ-Độ trở lại vơí vấn đề chính :
- Trị-bình long-ứng hoàng đế ban chỉ...
Đúng ra thì Thủ-Huy phải cho thiết lập hương án, rồi quỳ gối quay mặt về Nam nghe đọc chiếu chỉ. Nhưng vì quá căm thù triều Lý, đi đến khinh rẻ, công bảo con :
- Con đưa chiếu chỉ cho bố em nào ?
Thủ-Độ trao chiếu chỉ cho bố. Thủ-Huy mở ra đọc : Trong chiếu đại ý nói, triều đình ân xá cho Thủ-Huy cái tội vi chỉ, thay vì sang Tống lại bỏ đi Mông-cổ. Cuối cùng là triệu hồi Thủ-Huy về để trao đại quyền.
Thủ-Huy đờ người ra suy nghĩ một lúc rồi nói :
- Bố đã để ra cả một thời niên thiếu với biết bao tâm huyết cho triều Lý. Cuối cùng thì người ta trả ơn bằng cách biến bố mẹ thành cống vật cho Tống. Mẹ con chết cũng do triều Lý mà ra. Bây giờ đất nước loạn ly, kỷ cương tan nát, họ lại gọi bố về như gọi một con chó ! Hừ ! Bố không ngu đâu. Con gọi phó sứ vào đây !
- Thưa bố để làm gì vậy ?
- Bố bảo y về nói với cái triều đình thối tha kia rằng bố quá kinh tởm chúng rồi. Bố không về.
Thúy-Thúy can :
- Thôi anh ! Làm vậy thì thỏa cơn tức đấy, nhưng đó không phải là lối hành xử của người trí.
- Thế Thúy-Thúy định sao ?
- Trừ phó sứ, bốn bồi sứ, còn lại, toàn thể nhân viên sứ đoàn đều là đệ tử phái Đông-A. Sao anh không lưu họ lại đây. Triều đình nhà Lý không thấy sứ đoàn trở về, thì cho rằng thuyền bị đắm hoặc bị bão chìm rồi. Như vậy có phải là tốt đẹp không ?
Thủ-Huy vỗ tay :
- Hay thực ! Thôi, Thúy-Thúy thay anh làm đi.
- Anh yên tâm.
Thủ-Huy chỉ Thúy-Thúy bảo Thủ-Độ :
- Khi được tin mẹ con khuất núi, sau thời gian cư tang, bố đã tục huyền với Thúy-Thúy rồi. Bây giờ Thúy-Thúy là mẹ kế của con đó.
Thủ-Độ vội quỳ gối hành đại lễ :
- Con xin ra mắt mẹ.
Thúy-Thúy cảm động đỡ Thủ-Độ dậy. Nàng bảo Hầu :
- Dù con là con, hay là cháu, thì trước sau mẹ cũng vẫn thương yêu con như xưa.
Thủ-Huy mỉm cười nhìn Thúy-Thúy:
- Báo cho con biết tin mừng. Con có hai em, một trai, một gái. Để bố gọi chúng ra cho con xem mặt.
Thủ-Huy lên tiếng gọi:
- Thủ-Minh, Như-Như đâu?
Hai đứa trẻ xinh xắn chạy ra:
- Thưa bố con đây.
Thủ-Huy chỉ vào Thủ-Độ:
- Anh của các con đấy!
Như Như mở to mắt:
- Anh Thủ-Độ hay An-Quốc?
- Thủ-Độ.
Tình nhân luân ngùn ngụt trong tâm Thủ-Độ. Hầu quàng tay ra ôm lấy hai em, rồi lặng đi một lúc. Nước mắt dàn dụa, Hầu nói với Thúy-Thúy:
- Không ngờ con có hai em dễ thương thế này đây. Cảm ơn mẹ đã cho con hai đứa em. Con sẽ yêu thương chúng, dạy dỗ chúng.
Thế rồi, trong nhà Thủ-Huy, suốt mấy tháng, cha con, anh em sống trong cái hạnh phúc nhỏ bé. Thủ-Độ luôn kể chuyện quê hương cho Thủ-Minh, Như-Như nghe. Hai trẻ suốt ngày đeo cứng bên anh.

Một hôm, Thủ-Độ đang ngồi nghe bố giảng về chiến pháp Mông-cổ, thì thân binh vào báo :
- Thưa Thiên-sứ, có bốn người bạn của tiểu chủ xin vào cầu kiến.
Thủ-Độ hỏi :
- Là những ai vậy ?
- Là bốn vương tử Hốt Tất Liệt, Bạt Đô, A Lý Hải Nha, và Ngột Lương Hợp Thai.
Thủ-Huy bảo con :
- Trong thời gian vắng con, bố thu nhận bọn Thảo-nguyên ngũ điêu làm đệ tử, luyện võ cho chúng. Chúng học binh pháp ngày đêm. Không biết con có theo kịp chúng không? Thôi con hãy ra gặp bạn cố tri đi.
Thủ-Độ đứng lên ra ngoài đón khách. Năm trẻ gặp nhau, họ reo lên ôm lấy nhau, rồi cùng hét lên những tiếng vô nghĩa.
Hốt Tất Liệt bảo Thủ-Độ :
- Thằng Hai ! Chúng ta xa nhau thoáng một cái, đã trải mười năm dư. Bây giờ phải tìm chỗ, cùng uống rượu, ăn thịt, kể cho nhau nghe những gì chúng ta đã gặp, đã làm trong thơì gian cách biệt.
A-lý Hải-nha nắm tay Thủ-Độ:
- Cách đây mấy tháng, bọn này được tin nhị ca trở lại Mông-cổ, nhưng vì phải luyện quân ở vùng sông Tây-bình, nên không về ngay được. Hôm qua, luyện quân xong, cả bốn đứa phi ngựa như gió về gặp nhị ca cho thỏa nhớ nhung.
Hốt Tất Liệt hỏi:
- Sư phụ đâu?
- ???
- Là thân phụ đệ đó.
- Ta đây.
Thủ-Huy lên tiếng:
- Các con luyện quân có gì khó khăn không?
Bốn trẻ cùng hành lễ:
- Bái kiến sư phụ.
Bạt Đô tiếp:
- Kỳ này luyện quân để công kiên, chuẩn bị đánh Kim, nên hơi vất vả. Tuy vậy bọn con cũng vượt qua được.
- Thôi các con cứ tự nhiên.
Thủ-Huy vẫy tay:
- Các con đi chơi với nhau đi.
Năm trẻ từ biệt Thủ-Huy lên ngựa ra đi.
Bạt Đô chỉ vào một ngôi nhà ẩn hiện trên đỉnh ngọn đồi không xa:
- Chúng ta lên ngôi nhà Vọng-thiên của Thành-cát Tư-hãn kia, mà đàm luận mới thú vị.
- Phải đấy.
Năm người trẻ cùng phi ngựa lên đồi. Một tiệc thịnh soạn được bầy ra. Hốt Tất Liệt cầm bình rượu rót ra năm cái chung, rồi nói :
- Nào ! Chúng ta cùng uống chung này, để đánh dấu buổi tái ngộ, sau mười năm xa cách.
Năm người đều cạn chung. Hốt Tất Liệt hỏi :
- Thủ-Độ ! Trong mười năm qua bốn chúng ta học võ với thân phụ người. Học binh pháp vơí ông nội ta. Hiện nay, chúng ta đều được phong tướng quân, hàm Vạn-phu trưởng. Rồi đây, ông nội ta sẽ phong cho người làm Vạn-phu trưởng không chừng. Chả biết trong thời gian qua, người đã học được những gì ?
- Về võ tôi được ông bà nội đích thân truyền thụ. Về văn thì tôi học với bà vợ của bác tôi. Còn binh pháp, thì tôi học với bác tôi, vơí chồng của cô tôi. Có điều binh pháp mà tôi học là binh pháp Đai-Việt, khác xa vơí binh pháp Mông-cổ. Chắc tôi không làm Vạn-phu trưởng được đâu !
Bạt Đô xua tay :
- Anh nói không đúng. Binh pháp mà chúng tôi học, đều do Thành-cát Tư-hãn với sư phụ soạn ra. Chỉ cần thân sư phụ bỏ ra hai tháng dạy anh, thì bản lĩnh của anh sẽ vượt qua chúng tôi ngay.
Ngột-lương Hợp-thai tò mò :
- Này anh Thủ-Độ ! Bọn này đều có vợ cả rồi. Vậy anh đã lấy vợ chưa ?
- Chưa ! Tuy nhiên tôi đã có người yêu. Người yêu của tôi đẹp lắm, võ công lại cao thâm khôn lường.
Rồi Hầu thuật lại mối tình của mình với Kim-Dung cho bốn người bạn nghe.
A-lý Hải-nha nghe xong, gương mặt y tỏ ra đăm chiêu :
- Nguy quá ?
- Nguy là thế nào ?
Thủ-Độ hỏi :
- Em nổi danh mưu thần, chước thánh. Chắc em nhìn ra cái nguy, trong khi tôi mù tịt.
- Đúng vậy ! Anh Hai ơi ! Cứ như anh Hai nói, thì cái tên khả ố Lý Long-Sảm say mê Kim-Dung của anh. Nó là Thái-tử, ngồi trên cương vị chủ nhân. Anh nhận chức tước của triều Lý, thì anh là bầy tôi của nó. Ví thử bây giờ, nó tâu với nhà vua, hỏi Kim-Dung cho nó, dĩ nhiên bác anh gả ngay. Bấy giờ anh đâu có lý do gì phản đối ?
Thủ-Độ phát lạnh :
- Nhưng Kim-Dung không bằng lòng lấy nó. Nàng chỉ biết có tôi thôi !
- Anh nói ! Luân lý Đại-Việt không cho con chú, con bác lấy nhau. Kim-Dung không thể mở miệng nói với cha mẹ rằng nàng yêu anh. Có đúng vậy không ?
- Đúng.
- Trong khi Long-Sảm đã ở địa vị cao quý, lại không tỵ hiềm máu mủ. Y mà cầu hôn thì bác anh thuận ngay. Tôi sợ, ngay trong lúc chúng ta ngồi đây, tên Long-Sảm đang trên đường tới Thiên-trường cưới Kim-Dung.
Bạt Đô tỏ vẻ hiểu biết hơn:
- Đệ nghĩ, Long-Sảm không cần cầu hôn, y cũng có thể đem Kim-Dung về làm vợ!
Chán đời đi lang thang !
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-05-10 23:01:53NuHiepDeThuong>
Hồi 39 (tiếp theo)

Thủ-Độ phát cáu:
- Có lý nào?
- Theo luật lệ Trung-quốc, Đại-Việt, thì tất cả con dân trong nước đều thuộc quyền nhà vua. Nhà vua muốn cho ai sống thì sống. Muốn cho ai chết thì chết. Nhà vua ưng người đàn bà nào thì cứ việc đem vào cung. Đệ nghe sư phụ thuật, trước đây vua Lý Thánh-Tông đi tuần du, gặp một thiếu nữ xinh đẹp đứng dựa gốc lan. Ngài truyền đem vào cung, phong làm Ỷ-Lan phu nhân. Ngài đâu cần hỏi ý kiến cha mẹ thiếu nữ? Bây giờ Long-Sảm cũng dùng quyền ấy, thì...Kim-Dung thành tỳ thiếp của y ngay.
Nghe Bạt Đô nói, lòng Thủ-Độ nóng như lửa. Hầu muốn mọc cánh bay về Đại-Việt tức thời.
Hốt Tất Liệt hỏi A-lý Hải-nha :
- Em có mưu gì giúp Thủ-Độ không ?
- Ngay bây giờ Thủ-Độ âm thầm lấy thuyền về Đại-Việt, rồi rủ Kim-Dung đi chơi trăng. Khi nàng xuống thuyền, ta đánh thuốc mê rồi mang sang bên này ! Thế là mọi sự tốt đẹp.
Bạt Đô cẩn thận hơn :
- Thủ-Độ phải làm cách nào xin phép sư phụ về Đại-Việt. Chứ trốn đi người sẽ sai thiết kỵ bắt lại thì hỏng bét.
- Không khó ! Thành-cát Tư-hãn đang muốn chuyển mấy Vạn-phu về biên giới Kim. Chúng ta cùng tình nguyện đi. Anh Cả xin Thành-cát Tư-Hãn cho Thủ-Độ đi theo làm quân sư. Chúng ta tới Kim, thì để Thủ-Độ lấy thuyền về Đại-Việt.
- Không nên.
Ngột-lương Hợp-thai xua tay : Như vậy chúng ta nói dối sư phụ, nói dối Thành-cát Tư-hãn sao?
Thủ-Độ quyết định:
- Khi gặp đường cùng, thì cũng phải tòng quyền, chứ biết sao được.
Đến đó thân binh vào báo:
- Thành-cát Tư-hãn giá lâm.
Hốt Tất Liệt hô Thảo-nguyên ngũ điêu ra đón. Thành-cát Tư-hãn cùng Thiên-sứ Thủ-Huy, Cửu đại sơn điêu, Cửu đại thiết lang, dùng ngựa thủng thỉnh lên đồi.

Ghi chú của thuật giả:

Trong bộ Mông-cổ dật sử của Lý Khánh viết vào niên hiệu Diên-hựu nguyên niên đời vua Nhân-tông nhà Nguyên (Giáp Dần 1314) và bộ Thái-tổ cảo lục của Hoàng-phủ Đức viết vào niên hiệu Chí-trị thứ ba đời vua Anh-tông nhà Nguyên (Quý Hợi, 1323) thì :
Cửu đại sơn điêu là chín đại tướng khai quốc công thần của Mông-cổ, sau đều được phong thân vương. Chính Thành-cát Tư-hãn truyền làm chín cái răng cưa trên quốc kỳ Mông-cổ, rồi móc chín cái đuôi sơn ngưu lên, tượng trưng uy quyền của chín vị tướng này. Chín tướng xếp theo thứ tự là :
1. Bác Nhĩ Truật.
2. Tốc Bất Đài.
3. Mộc Hoa Lê.
4. Xích Lão Ôn.
5. Gia Luật Mễ.
6. Triết Biệt.
7. Bác Nhĩ Hốt.
8. Dược Sơ Đài.
9. Bác Khô La.
Chín thân vương này chỉ huy chín binh đoàn Lôi-kỵ của Mông-cổ. Người Trung-hoa thù hận Mông-cổ, họ gọi quốc kỳ Mông-cổ là Cửu mao đại đạo (Chín cái lông của bọn cướp).
Cửu đại thiết lang. Tức chín con sói xám. Người Mông-cổ tự cho mình là giòng dõi của sói xám, cũng như người Việt mình xưng là con Rồng cháu Tiên vậy. Thành-cát Tư-hãn ban cho bốn em (Ông chỉ có ba em, nhưng nhận Lý Long-Tùng làm em nuôi), bốn con, con rể, mỹ danh Cửu đại thiết lang, theo thứ tự :
1. Lý Long-Tùng tên Tây-phương phiên âm thành Shevongton.
2. Biên Gô Đài.
3. Cát Xa.
4. Tê Mô Gu.
5. Truật Xích.
6. Oa Khoát Đài.
7. Sát Hợp Đài.
8. Đà Lôi.
9. Đô Gu Sa.
Chín người trong Hoàng-tộc này, mỗi người chỉ huy một binh đoàn, gọi là Thân-binh.


Lễ nghi tất.
- Ta có một cuộc nghị sự quan trọng.
Thành-cát Tư-hãn ban chỉ: Năm trẻ cũng nên tham dự, để biết rõ tình hình. Cuộc nghị sự này mục đích thiết kế đánh Kim, rồi cai trị như Nãi-man, Khắc-liệt.
Cuộc họp bắt đầu.
Thành-cát Tư-hãn, Thủ-Huy, Cửu đại sơn điêu, Cửu đại thiết lang im lặng nghe Khu-mật viện trình bầy tình hình Kim. Nào tình hình trong triều, nào tình hình phòng thủ, nào tình hình dân chúng.
Nghe xong Tư-hãn hỏi Thủ-Huy:
- Xin Thiên-sứ cho biết ý kiến!
- Gốc của Kim vốn thuộc tộc Nữ-chân. Sau thời gian chiếm Hoa Bắc, họ bị tộc Hán đồng hóa. Bây giờ Hán là Kim, Kim là Hán. Dân chúng cả Hoa Bắc đều là dân Hán. Ta khai chiến với triều đình Kim, có nghĩa là khai chiến với tộc Hán trên toàn Hoa-Bắc. Tộc Hán có nền văn minh cổ, dân họ lại quá đông. Nếu chúng ta đánh Kim, chiếm đất, rồi cai trị họ như cai trị Khắc-liệt, Nãi-man thì nguy hiểm vô cùng.
Mộc Hoa Lê kinh ngạc:
- Không lẽ binh lực chúng ta hùng mạnh như thế này, mà không cai trị nổi dân Hán ư?
- Tôi không nói nguy hiểm vì quân Kim mạnh. Mà nguy hiểm vì chúng ta quá ít người, không thể cai trị một nước đông gấp ba mươi mình. Ví dù ta cai trị họ, thì một huyện, giỏi lắm ta có mười người. Hỏi với mười người ta có đủ sức bắt họ nói tiếng Mông-cổ không? Ta có đủ bắt họ phải theo phong tục ta không? Dĩ nhiên là không. Ngược lại, người của ta sống lẫn với dân họ, sẽ nói tiếng Hán, bắt chước văn minh của Hán, lấy vợ Hán. Như vậy chỉ cần năm chục năm, chúng ta thành người Hán hết. Cái gương của tộc Khất-đan trước mắt. Tộc Khất-đan ít người, nhờ hùng mạnh mà chiếm được nửa nước Tống, thành lập nước Liêu, rồi không đầy trăm năm, thì bị đồng hóa. Gần đây, tộc Nữ-chân cũng đi vào vết xe đổ của tộc Khất-đan. Sau khi thắng Liêu, cai trị Hoa-Bắc không đầy năm chục năm, mà gần như bị đồng hóa. Huống hồ nay, dân Thảo-nguyên của ta vốn do nhiều bộ tộc phức tạp hợp thành Mông-cổ. Thế mà ta chiếm Kim, rồi cai trị thì sẽ bị đồng hóa nhanh lắm.
Thành-cát Tư-hãn gật đầu, công nhậïn lý luận của Thủ-Huy là đúng. Ông quyết định:
- Chính vì lẽ đó, mà suốt bao năm qua, tôi ưu tư ngày đêm. Cũng chính vì lẽ đó, mà hôm nay tôi họp các vị là những người thân cận nhất để quyết định.
Mọi người cùng im lặng nghe.
- Trước đây, Liêu mạnh hơn Tống nhiều, mà tại sao Liêu không chiếm hết đất Tống? Họ cứ lấn chiếm như tằm ăn dâu ? Cứ mấy năm lại đòi thêm một quận, hoặc chiếm một tỉnh? Gần đây Kim mạnh hơn Tống, rồi cũng không diệt Tống ? Lý do nào Liêu, Kim lại hành động như vậy?
Cử tọa im lặng, suy nghĩ, một khắc trôi qua. Thủ-Độ đứng dậy:
- Cháu có một vài kiến giải.
Thành-cát Tư-hãn là một danh nhân Trung-quốc đứng hàng đầu về việc biết người, biết nghe lời phải. Vì vậy, ông thấy một thiếu niên chưa có chức tước gì, mà dám đứng lên xin phát biểu, trong khi có gần trăm người dầy kinh nghiệm, còn đang ngồi suy nghĩ. Như vậy ý kiến đó không thể tầm thường được. Ông khuyến khích :
- Trong buổi họp này, không phân tuổi tác, thứ bậc, chức tước. Ai có ý kiến gì cứ thẳng thắn phát biểu. Cháu nói đi.
- Trước đây, sau khi thắng Nãi-man, Tư-hãn thấy rằng trong tất cả các tộc vùng Thảo-nguyên, thì Nãi-man là tộc có một nền văn minh cao nhất. Nên Tư-hãn nảy ra ý định trộn lẫn sắc dân Mông-cổ với Nãi-man, để dân Mông-cổ hấp thụ được văn minh mới. Việc này Tư-hãn đã thành công .
Mọi người cùng ngơ ngác không hiểu rõ ý Thủ-Độ. Duy Thành-cát Tư-hãn lại gật đầu, ngụ ý rằng Thủ-Độ hiểu ý ông. Ông khuyến khích:
- Cháu tiếp đi.
- Khi chinh phục Tây-hạ, trước văn minh của họ, Tư-hãn thấy một phương trời mới mở rộng ra : Văn minh Tây-hạ bỏ xa văn minh Nãi-man. Mà văn minh Tây-hạ chính là văn minh Hoa-hạ. Tư-hãn nghĩ rằng: Binh lực Mông-cổ tuy hùng mạnh thực, nhưng liệu có hùng mạnh mãi không? Một ngày kia, uy thế ta chùn nhụt đi, hoặc các nước xung quanh tổ chức lại quân đội, ta không còn thắng họ nữa. Bấy giờ ta lại trở về với chăn nuôi, lều trại, với khí hậu lạnh cắt da. Ta vẫn bị coi là Hung-nô, là Bắc-Địch. Vậy thì nay, sức mạnh của ta đang như núi lở băng tan. Tại sao ta không chiếm lấy một vùng đất của tộc Hán được gọi là bờ xôi, giếng mật... rồi di chuyển dân Thảo-nguyên về sống ở đấy. Việc làm này có hai điều lợi. Một là trộn lẫn sắc dân Thảo-nguyên khỏe mạnh, với sắc dân thông minh, có trình độ văn hóa cao của tộc Hán. Hai là dân Thảo-nguyên được sống trong vùng khí hậu ôn hòa, đất đai trù phú. Đó là điều mà Liêu, mà Kim đã làm. Họ đã thành công.
Thủ-Độ ngừng lại một lát rồi tiếp:
- Nay toàn thể các nước vùng Thảo-nguyên đã bị ta chiếm. Vì vậy Kim sợ ta. Họ cần phải kiềm chế ta. Hiện họ đang chuẩn bị ra quân. Như vậy trước sau gì họ cũng phải đánh ta. Cái thế của ta với Kim bây giờ không thể cùng đứng. Ta không đánh Kim, thì Kim cũng đánh ta. Vậy sao bằng ta đánh Kim trước.
Cử tọa vỗ tay hoan hô ý kiến Thủ-Độ. Thủ-Độ tiếp :
- Cháu nghĩ, đầu tiên ta tiến đánh mấy vùng gần Vạn-lý Trường-thành, tiến về Yên-kinh. Ta cắt Kim thành nhiều vùng nhỏ. Vùng Liêu cũ, ta cho trung hưng nước Liêu, đặt làm chư hầu, dùng Liêu kiềm chế Kim. Vùng đất cũ của Kim ta vẫn để cho Kim tự tồn, ta cũng đặt một triều đại Kim. Ta dùng Kim kiềm chế Liêu. Còn lại các vùng thuộc Trung-quốc, ta chiếm lấy Sơn-tây, Hà-Bắc, Sơn-Đông, di chuyển dân ta vào lập nghiệp ở đó.
Nghe Thủ-Độ trình bầy, Thành-cát Tư-hãn đừng dậy nắm lấy tay Hầu:
- Cháu hiểu tới tận tâm can của ta. Nhưng có điều, chúng ta họp nhau ở đây, toàn là những người tâm huyết với nhau cả thì nói ra được. Còn đối với thiên hạ, ta không thể công bố ý định đó lúc này. Ta cần phải có cái cớ gì đó, đem nói với các Đại-hãn, Khã-hãn, các nhà quý tộc bây giờ?
Nói đến đây, Thành-cát Tư-hãn đưa mắt nhìn Thủ-Huy như hỏi ý kiến về quyết định của mình. Thủ-Huy đứng dậy nói:
- Thưa Tư-hãn dễ thôi! Ta công bố rằng: Ý Tư-hãn muốn ra quân phạt Kim, vì trong quá khứ, Kim ỷ là nước lớn, tự coi mình là con trời, luôn đem quân tấn công các bộ tộc vùng Thảo-nguyên, bắt phải phục tùng. Vì vậy ý của Tư-hãn trong cuộc ra quân này như muốn nói với người Hán: Bọn bay không phải là con trời. Đất nước bọn bay không phải là trung tâm thiên hạ. Như vậy được không ?
Thành-cát Tư-hãn gật đầu tỏ ý hài lòng về điều Thủ-Huy nói. Thủ-Huy đưa mắt cho Thủ-Độ. Thủ-Độ tiếp:
- Ta hiệu triệu các Đại-hãn, Khả-hãn rằng: Cuộc ra quân này hết sức quan trọng. Nếu như ta thắng Kim, thì dân chúng khắp thiện hạ sẽ bừng tỉnh: Người Hán không phải là con trời. Tương lai, sẽ có nhiều nước đem quân đánh Trung-nguyên. Còn như ta bại, người Hán sẽ kiêu hơn: Bọn mọi rợ chúng bay không thể nào chiếm được đất của con trời. Dân chúng khắp nơi cũng sẽ tin như thế. Sau này, người Hán sẽ đem quân đánh chúng ta, bắt chúa ta quỳ gối trước họ. Cháu xin nói ra một điều tế nhị. Có thể Tư-hãn không vui lòng.
- Cháu cứ nói.
- Mông-cổ ta, mới lập quốc, các Đại-hãn tuy phục tùng, nhưng trong lòng họ cũng vẫn còn mong muốn anh hùng một cõi. Ta mà bại, thì các Đại-hãn sẽ nổi lên dành lại chủ quyền. Mông-cổ e không còn nữa. Bọn Kim nhân đó dụ dỗ , phong chức tước cho các Đại-hãn... Thảo-nguyên sẽ bị chia thành hằng trăm bộ tộc nhỏ bé. Chúng muốn đánh thì đánh, chúng muốn giết thì giết. Cho nên bất cứ giá nào, ta cũng phải thắng. Bại thì chết hết. Đất nước không còn, bản thân chết thảm, vợ con làm tôi tớ cho người. Vậy thì thế này...
Thủ-Độ ngừng lại, nhìn chư tướng một lượt:
- Khi chúng ta ra quân, phải dốc hết lực lượng. Ta dốc hết lực lượng đi viễn chinh, lỡ ở nhà các Đại-hãn làm phản thì sao? Cháu nghĩ: Ta bắt tất cả các Đại-hãn theo chỉ huy quân của họ, bắt họ phải mang cả vợ con đi.
Các tướng gật đầu tỏ ý khâm phục.
Thành-cát Tư-hãn hướng vào chư tướng:
- Vậy chúng ta tiến quân ra sao? Đánh như thế nào?
Tốc Bất Đài phát biểu:
- Thưa Tư-hãn, ta hiện có 20 vạn Lôi-kị, mỗi Lôi-kị có hai ngựa. Cộng với ngựa, lừa, trâu, bò kéo xe chuyên chở, như vậy ta có tới hơn trăm vạn thú vật phải nuôi. Ngoài ra còn có vợ, con, gia đình đi theo, cũng tới trên 60 vạn nữa. Có phải thế không?
- Đúng vậy. Với 20 vạn Lôi-kị quyết chiến, thì ta chiếm Kim thực dễ dàng.
- Thưa Tư-hãn, vấn đề quyết chiến, thì quân, tướng của ta đều can trường, dù chết không từ nan. Vấn đề quyết thắng, thì với đội Lôi-kị của ta, quân Kim không thể đương nổi. Nhưng có ba vấn đề rất khó khăn.
Thành-cát Tư-hãn hỏi:
- Hiền đệ! Ba vấn đề đó là ba vấn đề gì vậy?
- Vấn đề thứ nhất là giữa Thảo-nguyên vơí Kim cách nhau bởi dẫy Vạn-lý Trường-thành. Vạn-lý Trường-thành quá cao, quân phòng thủ lại nghiêm mật. Vậy làm thế nào để chúng ta có thể vượt qua?
Thành-cát Tư-hãn cau mặt lại, tỏ vẻ đăm chiêu:
- Còn vấn đề thứ nhì?
- Vấn đề thứ nhì là phía trong Vạn-lý Trường-thành dân cư đông đúc, không có những cánh đồng cỏ mênh mông. Trong khi quân của ta toàn là quân kị, nay với một lực lượng ngựa đông như vậy, làm sao có thể cung ứng đủ cỏ cho chúng ăn? Không lẽ ta phải vận tải cỏ khô từ Thảo-nguyên, vượt 1400 dặm để nuôi ngựa?
Các tướng đều mặt nhìn mặt, tỏ vẻ ngao ngán.
Thành-cát Tư-hãn hỏi:
- Vấn đề thứ ba là?
- Chúng ta vượt qua 1400 dặm mới tơí Vạn-lý Trường-thành, rồi từ Vạn-lý Trường-thành, còn phải qua biết bao nhiêu đường đất nữa, thì làm sao có thể vận chuyển lương thực cho đội quân 20 vạn, với hơn 60 vạn thành phần gia đình, nô bộc? Ấy là không kể giặc có thể chặn đường tiếp tế lương thảo của ta.
Thành-cát Tư-Hãn đưa mắt hỏi chư tướng. Các tướng Mông-cổ hầu hết là những chiến tướng. Họ chỉ giỏi điều quân, xung phong hãm trận. Còn những vấn đề phức tạp như vậy thì họ không nghĩ ra.
Dưới này, Thảo-nguyên ngũ điêu cũng đưa mắt nhìn nhau. Hốt Tất Liệt hỏi A-lý Hải-ha:
- Ngũ đệ! Người vốn nhiều mưu, lắm mẹo, người thử nghĩ xem, có cách nào vượt qua ba vấn đề đó không?
A-lý Hải-nha lắc đầu. Trong khi đó Thủ Độ ung dung mỉm cười. Hầu dùng Lăng-không truyền ngữ hỏi cha:
- Bố! Tại sao bố im lặng như vậy? Không lẽ bố chịu khuất phục ba trở ngại đó ư?
- Dĩ nhiên là bố tìm ra sách lược rồi. Nhưng con ơi, Tư-hãn chỉ muốn đánh phá, tàn sát người Hán mà thôi. Vì bố không muốn dùng người Mông-cổ giết người Hoa, nên bố im lặng. Con nghĩ sao?
- Con nghĩ, ta nên xui Mông-cổ kết thân với Tống. Tống đánh từ dưới lên, Mông-cổ đánh từ trên xuốn, thì Kim phải bại. Mông-cổ diệt Kim rồi, tất tiến xuống đánh Tống. Khi chiến tranh Tống-Mông xẩy ra, ta đem quân Bắc tiến, chiếm lại cố thổ bị mất từ thời vua Trưng.
- Nhưng con ơi! Cái triều đình thối tha Tiêu-sơn kia, giữ nhà, bắt cướp còn không xong, thì hy vọng gì Bắc-tiến.
- Bố ơi! Mông-cổ có diệt được Kim ít ra cũng hàng chục năm nữa. Bấy giờ thì bố con ta đã quét sạch bọn hôi tanh triều Lý, lập lên một triều đình khác rồi...
- Vậy thì con phát biểu ý kiến đi, cho Thành-cát Tư-hãn nể thiếu niên Việt.
Nghe bố nói, Thủ-Độ đưa mắt nhìn Thành-cát Tư-hãn, hầu mỉm cười. Thành-cát Tư-hãn vốn có tài xét đoán người vào bậc nhất trong lịch sử Trung-quốc. Qua những ý kiến thiếu niên này vừa trình bầy, thực không một thân vương, đại tướng nào của ông có thể theo kịp. Bây giờ chỉ liếc qua nụ cười của Thủ-Độ, ông đã đoán rằng thiếu niên này có kế sách giúp ông thoát ra ngoài ba khó khăn trên. Ông hỏi Thủ-Độ:
- Cháu Thủ-Độ! Cháu có kỳ mưu diệu kế gì, thì cứ mạnh dạn trình bầy.
Thủ-Độ đứng dậy, cung tay:
- Thưa Tư-hãn! Cháu nghĩ rằng ba cái khó khăn mà chú Tốc Bất Đài vừa nêu ra, ta có thể vượt qua, không khó khăn cho lắm.
Từ Thành-cát Tư-hãn cho tới chư tướng đều kinh ngạc về lời phát biểu của Thủ-Độ. Ông khuyến khích:
- Cháu nói thử...
- Thưa Tư-hãn, quân Kim hiện đồn trú làm hai khu vực. Một là phía Bắc để phòng ta. Các đạo quân này đóng trong khoảng 100 dặm ở phía Đông và Nam Yên-kinh, và từ Yên-kinh lên Trường-thành. Hai là ở phía Bắc sông Trường-giang để phòng Tống, uy hiếp Tống. Khi ta ra quân, đầu tiên ta gặp sức kháng cự của các đạo quân phía Bắc. Dĩ nhiên ta đánh bại các đạo quân này. Bấy giờ Kim sẽ điều các đạo quanh Yên-kinh và phía Nam lên cứu viện. Ta phải đánh với toàn bộ quân Kim. Vậy ta nên liên kết với Tống, để Tống cầm chân các đạo quân phía Nam của Kim.
Mộc Hoa Lê xua tay :
- Nhưng Tống hèn quá ! Liệu họ có dám ra quân không ?
- Cháu cũng nghĩ đến điều đó rồi. Ta sai sứ sang Tống, nói rõ chủ ý của ta là trừng phạt bọn rợ Nữ-chân hỗn láo, trả thù cho các tiên đế bị chúng chém giết, làm nhục. Vậy Tống cũng nên nhân đó ra quân, thu hồi đất cũ, rửa cái nhục bị tiến cống hàng năm. Dĩ nhiên Tống hứa, rồi ngồi chờ. Nếu ta bại, thì họ ngồi im. Còn như khi họ thấy ta thắng, tiến về vây Yên-kinh, nhất định họ sẽ ra quân.
Cử tọa đều gật đầu tỏ ý khen ngợi Thủ-Độ nhìn xa.
- Thế còn ba cái khó khăn vừa bàn ?
Thành-cát Tư-hãn hỏi :
- Làm sao vượt qua được ?
- Trước hết là làm sao có thể vượt Vạn-lý Trường-thành. Điều này không khó. Ta cho Tế-tác thám thính dọc Vạn-lý Trường-thành xem nơi nào địch ít quân phòng vệ, phía ngoài không có hào, dễ leo lên. Rồi thình lình trong đêm, ta cho một Vạn-phu xuất hiện. Mỗi kị binh của ta đều mang một túi đựng đất, ném dưới chân thành. Rồi cho quân leo lên. Khi quân Tống thấy quân ta, ít ra cũng phải hơn giờ mới tập họp được binh sĩ, chúng ì ạch leo lên mặt thành. Chỉ cần thơì gian một giờ, ta có cả vạn người lên mặt thành, rồi đánh tòa ra hai bên. Bấy giờ quân Kim sẽ kinh hoàng, ta tiến tơí chiếm các cổng thành, mở ra cho đại quân tiến vào.
Nghe Thủ-Độ nói, cử tọa hoan hô không ngừng.
Mặt Thành-cát Tư-hãn tươi hồng hẳn lên:
- Giỏi! Thế còn cái khó khăn thứ hai, thứ ba ?
- Khó khăn thứ nhì là cỏ cho ngựa ăn. Khó khăn thứ ba là lương thực cho quân, cho gia đình. Xưa nay, các đội quân chinh chiến ngoài đất nước mình thường gặp cái khó khăn này. Cuộc chiến thành hay bại đều do lương thảo. Như tại Đại-Việt; Quách Quỳ, Triệu Tiết , Yên Đạt, Tu Kỷ tài ba là thế, trăm triệu quân thiện chiến là vậy, mà chỉ vì vận tại lương thực xa xôi, khiến quân bị đói, rồi thất bại.
Mộc Hoa Lê ngắt lời :
- Cháu Thủ-Độ ! Trong những lúc chúng ta đàm luận với nhau, ai cũng nghi hoặc cái vụ này. Ta nghe nói, Tống dùng tới 60 vạn Bảo-binh vận lương, thế mà không đủ nuôi 40 vạn chiến binh là tại sao ?
- Thưa chú, lương thảo của Tống phải vận từ Kinh-hồ, Lưỡng Quảng sang Đại-Việt. Họ phải vượt qua quãng đường từ 1500 dặm đến 3000 dặm. Với quãng đường đó, họ phải đi trong 30 đến 40 ngày. Thành ra số lương họ vác trên vai, chính họ ăn hết một nửa rồi.
Gia Luật Mễ thở dài :
- Nay ta cũng lâm vào trường hợp đó. Vậy cháu có diệu kế gì thoát ra khỏi không ?
- Thưa chú có.
Thủ-Độ khẳng định :
- Như trên cháu đã trình bầy, ta đóng quân trên một vùng rộng. Ta áp dụng ba sách lược khác nhau. Một là, đi đến đâu ta cũng tuyên cáo vơí dân chúng rằng, ta đến đây để diệt tụi rợ Nữ-chân, tụi Kim. Vậy người Hán hãy nổi lên giúp ta diệt bọn chúng. Thành nào, đồn nào mở cửa đầu hàng, thì sẽ được bảo vệ. Còn thành nào, làng nào chống cự, khi quân ta vào thì sẽ san bằng thành quách, nhà cửa đốt sạch. Còn người thì giết tuyệt ; dù già, dù trẻ, dù chó, dù mèo. Hai là, ta tuyên bố tha hết các loại thuế mà Kim bắt đóng. Ngược lại ta cho gia đình, quân sĩ đóng lẫn với dân, bắt dân phải cung ứng lương thảo, phải chăn ngựa, phải cắt cỏ cho ngựa ăn, phải tắm ngựa. Bây giờ đang tiết Xuân, lúa con gái xanh tươi, nếu dân không cắt đủ cỏ cho ngựa ăn, ta cứ thả ngựa ra cánh đồng lúa. Họ sợ lúa bị ăn thì phải cung ứng đủ cỏ. Ba là, khi chiếm được thành nào, ta bắt trai tráng xung vào đội thân binh, rồi dùng chính thân binh canh gác những nơi ta chiếm được.
Hoàng-tử Sát Hợp Đài lắc đầu :
- Dùng bọn này giữ nơi chiếm được, có nguy hiểm không ? Lỡ chúng phản thì sao ?
- Chúng không thể phản, cũng không dám phản.
Thủ-Độ khẳng định :
- Ta áp dụng biện pháp con tin. Tỷ như đội thân binh gốc người huyện này, thì ta dùng chúng canh gác huyện khác. Ta nói cho chúng biết rằng, bố mẹ, vợ con họ trong tay ta. Họ mà phản thì ta giết tuyệt, không tha. Như vậy đời nào chúng dám trở giáo ?
Cử tọa vỗ tay hoan hô.

Ghi chú của thuật giả:

Suốt 800 năm qua, các sử gia Trung-quốc, Trung-Đông, Nhật-bản, Tây-phương cứ thắc mắc không biết ai đã đưa ra chính sách vừa cứng, vừa mềm, khiến quân Mông-cổ đi đến đâu, dân chúng chống lại quân giữ thành mở cửa cho họ vào. Họ được dân chúng cung ứng lương, thảo, mà không cần vận tải từ trong nước ra.
Khiến dân Mông-cổ không phải chịu chiến phí.
Sau này nhiều đội quân viễn chinh Âu-châu cũng học theo sách lược này, khiến họ chiếm các thuộc địa dễ dàng. Chỉ độc giả Anh-hùng Đông-A mới biết sách lược này ra đời lúc nào, trường hợp nào, do ai là tác giả.
Ngược lại, tại sao cũng sách lược này mà quân Mông-cổ, quân Minh, quân Thanh, và quân Pháp từng áp dụng tại Việt-Nam lại thất bại ? Độc giả đọc các hồi sau, sẽ thấy Hưng-Đạo vương là người đã tìm ra kế phá sách lược này.


Thành-cát Tư-hãn quyết định :
- Bây giờ chúng ta chuẩn bị để có thể ra quân. Vậy phải tiến như thế nào ? Các tường hãy suy nghĩ một lát rồi cho ta ý kiến.
Phòng họp yên lặng, không một tiếng động. Thủ-Huy dùng Lăng-không truyền ngữ nói với Thủ-Độ :
- Con có ý kiến thì cứ phát biểu. Vụ này bố không mấy thích thú, bố ngậm miệng, mũ ni che tai.
- Thưa bố, con có nên nói hết những suy tư của con ra không ?
- Nếu con không nói thì thôi. Còn như con muốn nói, thì nói ra hết. Nói ra cho họ sợ thiếu niên Việt.
Sau một khắc im lặng, Thành-cát Tư-hãn ra lệnh :
- Bây giờ trước hết Bác Nhĩ Hốt hãy trình bầy tình hình quân Kim đồn trú từ Yên-kinh tơí Trường-thành.
Thủ-Huy là người trực tiếp coi Khu-mật viện. Bác Nhĩ Hốt là Khu-mật viện phó sứ, là tướng phụ trách về Tế-tác (Ghi chú : Ngày nay miền Bắc là Cục quân báo, miền Nam là Phòng-nhì). Ông đứng lên trình bầy :
- Trước hết nói về Trường-thành. Trường-thành được khởi xây vào thời vua Thủy-Hoàng nhà Tần. Mục đích để chống lại các cuộc tấn công của những bộ tộc vùng Thảo-nguyên chúng ta, mà chúng gọi là Hung-nô. Người chỉ huy xây là Vạn-tín hầu Lý Thân, một đại tôn sư võ học Đại-Việt.
Từ Thành-cát Tư-hãn cho tơí bọn Thảo-nguyên ngũ điêu đều đưa mắt nhìn cha con Thủ-Huy. Hốt Tất Liệt Hỏi:
- Sư phụ! Chắc hồi đó Tần Thủy-Hoàng cũng mời Vạn-tín hầu lên Thảo-nguyên săn bắn như ông nội mời sư phụ, rồi nhờ ngài xây thành chăng?
Cử tọa cùng bật cười vì câu hỏi ngộ nghĩnh. Thủ-Huy chỉ Thủ-Độ:
- Con hãy nói về uẩn khúc lịch sử này cho sư huynh nghe đi.
Thủ-Độ đưa mắt nhìn cử tọa một lượt rồi khoan thai kể:
- Trường-thành còn có tên là Vạn-lý Trường-thành. Nguyên vào thời Chiến-quốc, ba nước Tần, Triệu, Yên đều có biên giới phía Bắc tiếp giáp với vùng Thảo-nguyên của chúng ta. Bị các bộ tộc Thảo-nguyên luôn đem quân vào cướp phá, mà ba nước không có cách gì chống trả. Họ mới xây những bức thành dọc theo biên giới cho quân thủ ở trong mà phòng ngự. Đến thời Tần Thủy-Hoàng, các bộ tộc Thảo-nguyên càng trở nên hùng mạnh. Hàng ngày kéo vào đánh phá Trung-nguyên khủng khiếp lắm. Triều Tần mới nghị xây những đoạn thành mới, nối ba đoạn của Yên, Triệu, Tần lại, làm kế phòng thủ. Phía Tây bắt đầu từ Lâm-thao. Phía Đông tới Liêu-Đông. Người đứng ra đốc thúc xây cất là Thái-tử Phò-Tô với tướng Mông-Điềm. Nhưng người thiết kế xây cất lại là Vạn-tín hầu Lý Thân, tổ sư của phái Long-biên, sau là phái Mê-linh của Đại-Việt.
Triều đình Mông-cổ hầu hết là những tướng lãnh, xuất thân từ thảo dã, rất ít người biết chữ, thì sao có thể đọc sách? Sao có thể biết về một giai đoạn lịch sử rất xa xưa, rất bí ẩn như vậy? Trước đây họ chỉ biết rằng phò-mã Trần Thủ-Huy, công chúa Đoan-Nghi là người Đại-Việt, võ công cao siêu, kiến thức uyên bác, là khách của Mông-cổ. Nhân hai người có ơn với Mông-cổ, rồi Thành-cát Tư-hãn mời lên săn bắn. Hai vị giúp Mông-cổ đánh Khắc-liệt, lập quốc. Họ không bao giờ ngờ hơn nghìn năm trước đã có một người Việt giúp Tần Thủy-Hoàng xây Vạn-lý Trường-thành. Họ lắng tai nghe Thủ-Độ thuật.
Trong những người ngồi nghe, thì Thảo-nguyên ngũ điêu là những thiếu niên được Thúy-Thúy dạy chữ Hán, đọc sách Hán, hiểu về văn học, lịch sử, triết học Trung-hoa rất sâu sa. Hốt Tất Liệt hỏi:
- Nhị đệ! Trước đây, các bộ tộc vùng Thảo-nguyên thường lưu truyền một huyền thoại rằng, ngài Lý Thân mình bằng sắt, thân cao hơn trăm trượng, tay cầm thanh kiếm nặng vạn cân. Người giúp Tần Thủy-Hoàng chống lại các bộ tộc vùng Thảo-nguyên. Sự thật thế nào? Huynh nghe nói Vạn-tín hầu là người thiết trí, cũng như xây cất Loa-thành ở Đại-Việt. Nhị đệ hãy thuật chi tiết về việc ngài sang sứ Tần cho mọi người biết rõ hơn.
- Chuyện như thế này!
Thủ-Độ nhắc lại việc Vạn-tín hầu cùng đệ tử sang sứ Tần một lượt. Rồi kết luận: Sau khi Vạn-tín hầu qua đời, các bộ tộc Thảo-nguyên lại vào cướp phá. Tần Thủy-Hoàng sai làm một tượng bằng sắt khổng lồ, trong bụng có cơ quan, để trên thành. Mỗi khi các kỵ mã Thảo-nguyên đến cướp phá, thì cho quân chui vào bụng tượng, vận chuyển cơ quan. Tượng múa tay, vung chân như người thực. Các kỵ mã Thảo-nguyên tưởng ngài còn sống, họ bỏ chạy... Về việc xây thành, thì chính ngài là người thiết kế, rồi chỉ huy xây Loa-thành ở Đại-Việt. Cũng chính ngài thiết trí xây Vạn-lý Trường-thành.
- Thôi ! Thủ-Độ trình bầy tiếp về Vạn-lý Trường-thành đi.
- Tuân chỉ Tư-hãn.
Thủ-Độ ứng lời:
- Thành xây bằng đá. Trung bình cao từ 4 trượng tơí 6 trượng (6-12 mét). Rộng trung bình 2 tơí 5 trượng (4-10 mét). Trên mặt thành có bức tường đá cho quân sĩ nấp ở trong chống lại cuộc công thành. Cứ trung bình một quãng lại có một cái tháp, hay một Phong-hỏa đài, để quân trú phòng quan sát tình hình bên ngoài. Khi có quân tới tấn công thì đánh trống báo động hoặc đốt Phong-hỏa đài lên, gọi viện quân tới. Thành có nhiều cửa thông ra vùng Thảo-nguyên. Cửa rất rộng, thường mở ra cho dân chúng hai vùng thông thương.
Thành-cát Tư-hãn nhắc:
- Lịch sử cái thành này từ hồi Thủy-Hoàng cho đến nay ra sao?
- Về sau, hai triều Tây, Đông Hán, Tấn luôn tu bổ, nhưng quy mô vẫn giữ nguyên. Đến đời Bắc Ngụy, Bắc Tề, Bắc Chu cho tới Tùy, Đường lại một lần nữa tu bổ, nhưng không giữ nguyên quy mô cũ. Chiều dài của thành trên dưới 5 nghìn dặm ( Ngày nay, kể từ Gia-cốc quan tới Sơn-hải quan dài 2379 cây số).

Ghi chú của thuật giả:

Về tiểu sử Vạn-tín hầu Lý Thân, người xây thành Cổ-loa, Vạn-lý Trường-thang, xin độc giả xem hồi thứ 5, AHĐA, Dựng cờ bình Mông.

Thành-cát Tư-hãn nhắc Bác Nhĩ Hốt:
- Hiền đệ tiếp tục nói về tình hình Kim.
- Tuân chỉ.
Bác Nhĩ Hốt tiếp:
- Biên giới phía Tây, giữa hai lớp thành, Kim chỉ có hai đạo quân phòng thủ. Vì sau lớp thứ hai của Trường-thành là những vùng núi non của Sơn-Tây. Từ xưa đến giờ, quân của các bộ tộc Thảo-nguyên, chỉ vượt qua lớp thứ nhất cướp phá rồi về, chứ chưa một lần nào vượt qua lớp thứ nhì. Vì, sau lớp thứ nhì là vùng núi non trùng điệp, dân cư thưa thớt, nghèo khổ. Còn biên giới về phía Đông, Vạn-lý Trường-thành chỉ có một lớp. Sau lớp Vạn-lý Trường-thành 400 dặm bình nguyên là tới Yên-kinh. Nên Kim đặt một lực lượng trú phòng khá đông.
Mộc Hoa Lê hỏi :
- Lực lượng từ Yên-kinh tới vùng phía Đông Vạn-lý Trường-thành có bao nhiêu người ?
- Dọc Vạn-lý Trường-thành, Kim có mười đạo binh, khoảng 10 vạn người, trực tiếp trấn thủ. Phía Đông Yên-kinh có 10 đạo, phía Nam có 10 đạo. Tổng cộng 30 vạn. Đây là những đạo binh thiện chiến, trang bị đầy đủ nhất. Đa số là bộ binh, rất ít kị binh. Về khả năng lưu động thì khi có sự, sau một ngày các đạo binh có thể di động ứng chiến. Nếu ta tấn công Vạn-lý Trường-thành thì sau ba ngày, các đạo phía Bắc có thể tới cứu. Còn các đạo phía Đông, Nam của Yên-kinh dù huy động nhanh nhất, thì cũng phải mười ngày mới tới nơi.
Triết Biệt đứng lên phát biểu :
- Ta phải âm thầm ra binh, mới có ưu điểm bất ngờ. Đúng như Thủ-Độ luận, nếu ta tiến đánh biên giới phía Đông-Bắc thì khi ta khởi chiến, chỉ ba giờ sau, ta đã làm chủ Vạn-lý Trường-thành, rồi tiến về phía Nam. Với sức ngựa của ta, sáu giờ sau ta đã tới Yên-kinh. Bấy giờ, có khi quân Tống chưa kịp đánh thức chúa tướng. Ta để một số quân vây đánh Yên-kinh. Còn lại, tỏa ra khắp nơi... Theo như tin tức Bác Nhĩ Hốt trình bầy thì có ba cửa Trương-gia khẩu, Xích-thành khẩu , Hậu-thành khẩu là dễ đánh. Phía sau các cửa này là những con lộ lớn tiến về Yên-kinh. Vậy ta nghiên cứu đánh ba cửa khẩu này là hơn hết.
Hoàng-tử Truật-Xích hỏi :
- Tôi muốn biết biên giới phía Tây của Kim, như Bác Nhĩ Hốt nói sau lớp thành thứ nhì là vùng núi non. Thế vùng núi non đó dài bao nhiêu dặm ? Trên núi non đó có đường cho ngựa đi không ?
- Vùng núi non đó chỉ có 140 đến 260 dặm. Tuy là núi non, nhưng cũng có hàng trăm con đường mà ngựa có thể đi được. Sau vùng núi non là bình nguyên thông với Yên-kinh.
Tốc Bất Đài đề nghị :
- Vậy ta tiến quân làm hai đường. Một đường đánh vào phía Tây, và một đường đánh ào phía Đông. Cần nhất là cả hai cánh đều khởi tấn công một lúc thì hơn.
Thành-cát Tư-hãn phân vân :
- Đề nghị của Triết Biệt, Tốc Bất Đài đều không vẹn toàn. Kim có tơí 30 vạn quân. Khi cần, họ có thể đem thêm năm mươi vạn từ miền Nam lên. Vì vậy ý ta muốn là làm thế nào để cho vua tôi Kim kinh hoàng. Binh tướng không đánh mà cũng hoảng sợ tan rã. Như vậy ta bớt bị tổn hại, mà chỉ đánh một trận, khiến 30 vạn quân Kim phải tan. Bấy giờ Kim có đem quân miền Nam lên cũng không cứu kịp Yên-kinh.
Các tướng cùng im lặng suy nghĩ.
Thủ-Huy dùng Lăng-không truyền ngữ hỏi Thủ-Độ :
- Con có kế gì không
- Có ! Không khó.
- Vậy con trình bầy đi.
Thủ-Độ lại đứng dậy :
- Thưa Tư-hãn...
- Cháu cứ nói.
- Ta dùng vài vạn binh tiến đánh ba cửa khẩu Trương-gia, Xích-thành, Hậu-thành, rồi tỏa về phía Đông. Kim ắt đem toàn bộ 10 đạo binh phía Đông và 10 đạo phía Nam Yên-kinh lên cứu viện. Bấy giờ ta mới dùng đại lực lượng vượt qua hai lớp thành phía Tây, tiến xuống đồng bằng. Vua tôi Kim kinh sợ, tất đem binh về phía Tây chặn quân ta. Nhưng bộ binh nặng nề, phải vượt qua núi non, tiến rất chậm. Trong khi ta từ phía Tây tiến về Đông uy hiếp Yên-kinh. Bấy giờ đạo binh phía Đông của ta mới từ phía Bắc tốc thẳng xuống đồng bằng, bắt tay vơí đạo phía Tây đánh Yên-kinh.
Thành-cát Tư-hãn đứng dậy nắm lấy tay Thủ-Độ :
- Giỏi ! Cháu giỏi thực. Từ khi tướng chỉ huy binh đoàn Phương Đông tử trận, ta không biết cử ai thay thế. Hôm nay, ta quyết định phong cho cháu làm tướng chỉ huy binh đoàn này. Vì cháu còn trẻ, ta cử Hốt Tất Liệt làm giám quân cho cháu.

Ghi chú của thuật giả:

Binh chế của Mông-cổ do Thành-cát Tư-hãn đặt ra là: Khi một tướng không phải là Hoàng-thân quốc thích, được cử chỉ huy từ một Vạn-phu trở lên, thì sẽ có một người là đại diện Hoàng-tộc để cố vấn, giám sát đường lối cai trị cho đúng với luật lệ, phong tục Mông-cổ.

Thủ-Độ đã nghe cha nói về binh đoàn Phương Đông. Binh đoàn này gồm một Vạn-phu Lôi-kỵ, một Vạn-phu Lôi-tiễn, một Vạn-phu Tế-tác ( Ghi chú: Vạn-phu Tế-tác, tương đương với ngày nay là lực lượng Trinh-sát. Như hồi VNCH là Liên-đoàn 77, Lực-lượng 101). Vạn-phu Lôi-kỵ, kỵ binh đa số là những thiếu niên ưu tú, con của các Hãn, các Đại-hãn, các thân vương. Vạn-phu này do Ngột-lương Hợp-thai làm chánh tướng, Bạt Đô làm phó tướng. Vạn-phu Tế-tác do A-lý Hải-nha làm chánh tướng Ngột Lạt Su làm phó tướng. Vạn-phu Lôi-tiễn do Cút Đa Sen, con của Bác Nhĩ Hốt chỉ huy.

Mọi người đều mừng cho Thủ-Độ. Vì chính ngay vương tôn như Hốt Tất Liệt, A-lý Hải-nha, Bạt Đô, Ngột-lương Hợp-thai, sau mấy năm chinh chiến, mà mới chỉ được phong chức Vạn-phu trưởng, hoặc phó. Bây giờ một bước, Hầu được chỉ huy một binh đoàn, tức ngang hàng vơí Cửu đại sơn điêu như bọn Tốc Bất Đài, Triết Biệt, Gia Luật Mễ, Mộc Hoa Lê. Thế nhưng, nghe Thành-cát Tư-hãn phong chức trọng quyền cao, mà lòng Thủ-Độ rửng rưng như không, vì Hầu đang nghĩ đến việc Long-Sảm lúc này có thể đang về Thiên-trường đem Kim-Dung đi.
Hầu than thầm:
- Mình tuyệt không muốn làm quan ở Mông-cổ. Chẳng qua vì tuân lệnh cha mà ở lại đây, rồi hoàn cảnh đưa đẩy mà phải làm tướng cho Thành-cát Tư-hãn. Hỡi ơi! Triều Lý suy đồi quá rồi. Đất nước mình ly loạn, dân chúng đói khổ. Mình lập chí cùng đám trẻ cùng khổ muốn lật đổ triều Lý, lập một triều đình mới, tạo hạnh phúc cho dân. Mình đã nguyền ở hồ Tây với Kim-Dung, ở đền Hùng với Thập-bát Anh-hào! Mình đã cùng anh Trần Thừa, Trần Tự-Khánh, thầy Phạm Kính-Ân...lập ra bang Lĩnh-Nam để cùng nhau thực hiện cái chí của mình. Thế mà mình lại làm đại tướng cho Mông-cổ đem quân đánh Kim...thì thực là bán bò tậu ễnh ương mất rồi.
Thành-cát Tư-hãn không biết tâm tư Thủ-Độ, ông ban lệnh :
- Đại cương kế sách là như vậy. Bây giờ chúng ta lui về chuẩn bị, để bất cứ lúc nào, khi lệnh ban ra, thì trong vòng một tháng là có thể lên đường.
Buổi họp chấm dứt.
Chán đời đi lang thang !
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-05-10 23:10:11NuHiepDeThuong>
Hồi thứ bốn mươi

Vó ngựa Mông-Cổ


Một buổi tối, sau khi cơm chiều, Thủ-Huy, Thúy-Thúy, Thủ-Độ cùng ngồi đàm đạo về tình hình Mông-cổ, Đại-Kim, Đại-Việt. Được vài câu thì Thủ-Độ cáo mệt xin lui. Thủ-Độ đi rồi, Thúy-Thúy nắm lấy tay Thủ-Huy nói bằng giọng tha thiết:
- Anh ạ! Em muốn hỏi anh một chuyện, mong anh nói thực vơí em.
Thủ-Huy ngồi nhỏm dậy, nhìn vào khuôn mặt thanh tú của người vợ... Công thấy bóng mình in sâu trong đôi mắt đen, sáng long lanh của Thúy-Thúy. Công hôn phớt lên má người vợ rồi hỏi:
- Em có điều gì thắc mắc?
- Mấy tháng nay, em thấy dường như Thủ-Độ có điều gì bất như ý, mà nó không thổ lộ với em. Không biết nó có thổ lộ vơí anh không?
- Không! Từ lúc nó trở lại Mông-cổ đến giờ đã hơn một năm, mà có bao giờ nó rảnh rỗi đâu! Suốt ngày hết luyện quân, dẫn quân tập trận giả, lại giải quyết những vấn đề lặt vặt. Cha con chỉ gặp nhau vào bữa cơm chiều mà thôi. Anh cho rằng nó mệt mỏi nên không chú ý. Em thấy nó có cử chỉ gì bất mãn với em ? Với anh hay vơí hai đứa em nó chăng ?
- Chết thực! Anh vô tâm đến thế là cùng. Anh không để ý sao? Trán nó luôn nhăn lại, mắt mơ màng nhìn ra xa, thỉnh thoảng lại thở dài. Bất mãn với anh, với em thì có thể. Còn đối với hai đứa em, tuy cùng cha khác mẹ, mà nó yêu thương em vô bờ bến. Anh không thấy ư ? Mỗi khi về nhà, mà không thấy hai em, là nó sa sầm mặt xuống. Vậy thì cái thất thường của nó không do gia đình.
- Ừ nhỉ!
- Để em cho gọi Thủ-Độ ra đây, rồi chúng mình cùng hỏi con, xem tại sao.
Nàng ban lệnh cho một tỳ nữ:
- Người vào gọi Thủ-Độ ra cho ta.
Thủ-Độ trong tư thái bơ phờ, hai tay dắt hai người em bước ra:
- Mẹ gọi con?
Thúy-Thúy nắm tay Thủ-Độ, kéo Hầu ngồi xuống chiếc ghế bên cạnh. Nàng ngắm người con chồng, mà nàng yêu thương như con đẻ, rồi hỏi :
- Các con đang làm gì đấy ?
Như-Lan nhanh miệng :
- Anh ấy đang kể chuyện Phù-Đổng Thiên-vương cho bọn con nghe.
- Hai con kiếm chỗ khác chơi, mẹ có chuyện muốn bàn với anh.
Thủ-Minh, Như-Lan vâng dạ rồi lui ra vườn chơi. Thúy-Thúy vuốt tóc Thủ-Độ :
- Mẹ thấy dường như hồi này con không được vui lòng. Con ạ! Bố yêu thương con thế nào, mẹ yêu thương con thế nào, thì con biết rồi đó. Mẹ thấy con không vui, mẹ lo lắng lắm. Vậy nguyên do nào khiến cho con buồn, rồi đi đến bơ phờ, mệt mỏi như vậy?
Thủ-Độ im lặng không trả lời.
Thấy Thủ-Huy định lên tiếng, Thúy-Thúy nháy mắt, ngụ ý bảo để cho em hỏi con. Nàng vuốt tóc Thủ-Độ lần nữa:
- Con hiện là một tướng trẻ nhất được chỉ huy binh đoàn. Bốn năm vạn người dưới quyền con. Nay mai, Thành-cát Tư-hãn mang quân đánh Kim, thì binh đoàn của con sẽ đi tiên phong. Như vậy thần chí của con phải cực kỳ sáng suốt. Nay con bơ phờ thế này...
Thủ-Độ đưa mắt nhìn cha, rồi Hầu lắc đầu, tỏ ý không muốn nói. Thấy thái độ của con, Thủ-Huy chợt nhớ lại chuyện cũ: Chỉ vì Công sợ mẹ quá, không dám thố lộ chuyện tình vơí Thụy-Hương, để rồi xẩy ra những biến động rung chuyển sơn hà. Công vỗ vai con:
- Này con ơi! Hồi ở trong nước, chắc con có nghe bác Trần Lý thuật lại phương pháp dạy con, dạy cháu của Cụ (ông cố) chứ? Khi Cụ dạy các cháu, cụ cho các cháu nói năng tự do. Vì vậy khoảng cách ông cháu không xa. Ông hiểu cháu. Cháu hiểu ông. Nay, tuy mẹ Thúy-Thúy đẻ cho bố một em trai, một em gái. Nhưng bố vẫn yêu thương con như xưa. Con có gì không vui, tại sao không nói với bố?
Thủ-Độ bừng tỉnh, Hầu ngồi ngay ngắn lại:
- Con có nhiều điều muốn bàn với bố, với mẹ. Nhưng... vấn đề quá lớn lao...
- Có phải chuyện con với Kim-Dung không?
- Thưa bố không!
Thủ-Huy chưng hửng:
- Thế thì???
- Chuyện con cầm quân Mông-cổ đánh Trung-nguyên.
- À! Bố cũng đang có những cái bất nhẫn về việc này. Nhưng bố chưa nói ra. Vậy con thử nói xem ý con có giống ý bố không?
Thủ-Độ đứng lên quan sát một lượt xung quanh nhà, khi biết chắc không có ai, Hầu mới nói:
- Thưa bố! Từ mấy nghìn năm nay, chiến tranh giữa các bộ tộc vùng Thảo-nguyên này vẫn diễn ra như sau: Hai bên xua toàn lực đánh nhau. Bên thắng bắt tất cả đàn ông bên bại làm nô lệ. Bắt gái đẹp về chia nhau làm tỳ thiếp. Bao nhiêu gia súc, tài vật cướp sạch, rồi đốt hết doanh trại. Sau đó rút đi. Đàn ông bên bại, may mắn trốn được, thì trở về quy tụ người lại, tiếp tục cuộc sống, chờ ngày trả thù.
Thủ-Huy hiểu ý con:
- Ý con nói, họ không có văn minh như tộc Hoa, tộc Việt. Đối với tộc Hoa, tộc Việt, sau khi chiến tranh, bên thắng cai trị bên bại có hơi hà khắc. Nhưng không có việc cướp phá, hãm hiếp ?
- Vâng ! Gần đây, nhờ bố giúp, Thành-cát Tư-hãn ra lệnh bỏ lối chiến tranh tàn khốc, duy trì an ninh các vùng mới chiếm được. Ông đã sát nhập các nước Nãi-man, Khắc-liệt, Ong-gút, Thát-đát vào lãnh thổ Mông-cổ, thành ra không có cảnh chém cho cùng, giết cho tuyệt... Còn như mấy lần đánh Tây-Hạ, quân mình tiến đến đâu, người thì giết tuyệt, của thì cướp hết, nhà cửa đốt sạch. Người ta nói : Vó ngựa Mông-cổ đi tới đâu, ngọn cỏ cũng không còn. Tàn ác qúa ! Dã man quá. Lần này Mông-cổ đánh Kim, như Tư-hãn nói trong buổi họp mật, chỉ vơí hai ý. Một là ra oai, cho người Hoa không còn tự hào cái mẽ con trời nữa. Hai là cướp phá thỏa thích. Có phải thế không?
- Đúng như con nghĩ. Chính bố cũng muốn Thành-cát Tư-hãn ra quân. Cuộc ra quân đối với bố là đánh đổ cái ông con trời trong chủ đạo của tộc Hoa, đập tan cái mặc cảm tự hạ mình là Di, Địch, Nhung, Man. Con thấy không? Khi bố với Thái-tử Long-Xưởng cầm quyền nghiêng nước, mà cũng không diệt được cái ý nghĩ hèn hạ, tự coi mình là Man, phải cúi đầu tuân phục bọn Tống. Nếu bây giờ Mông-cổ đánh được Kim, được Tống, cai trị Trung-nguyên, thì từ nay, mãi mãi cái ông trời con trong lòng tộc Hoa, cái hèn hạ nghĩ mình là man mọi của các sắc dân xung quanh sẽ hết.
- Con thì con không nghĩ xa như bố. Con chỉ thấy cái thảm thiết của dân Trung-quốc sắp phải chịu. Con nghĩ, cảnh chém giết, cướp bóc đối với dân lều trại, thì không thảm khốc cho lắm. Vì chỉ cần vài ngày sau, họ sẽ có lều trại mới. Còn Trung-nguyên, dân chúng sống định cư, lầu đài, dinh thự, của cải súc tích. Nếu như quân Mông-cổ tràn vào đốt phá, thì biết bao giờ họ mới tái dựng lại được? Người Trung-hoa sống trong nhà đã quen. Nếu bây giờ Mông-cổ bắt đàn ông theo làm nô lệ, đàn bà làm tỳ thiếp... làm sao họ sống nổi cảnh lều trại ? Con e chỉ trong vòng mười ngày họ sẽ chết hết. Về phụ nữ, thì phụ nữ Mông-cổ có chồng, bị quân thù bắt về làm tỳ thiếp, hãm hiếp... họ có thể thản nhiên sống với người đàn ông mới. Còn phụ nữ Trung-hoa, khi đàn bà bị hiếp, bị bắt làm tỳ thiếp, họ sẽ tự tử. Vì vậy con thấy mình giúp Mông-cổ là giúp kẻ tàn bạo. Cho nên con phân vân không ít.
Thủ-Huy nói sẽ:
- Ý nghĩ của con khác với bố. Vì con không ở vào hoàn cảnh của bố. Lúc đầu, bị đuổi khỏi Đại-Việt, lòng bố phẫn uất, mà đem hết tài năng giúp Mông-cổ, chỉ vơí ý định giúp họ lập quốc. Giúp họ thoát khỏi cảnh tương tàn. Giúp họ thoát ra khỏi vòng kiềm chế của Kim, của Tống. Không ngờ bây giờ họ mạnh quá, bố lại muốn mượn họ diệt ông trời con trong chủ đạo tộc Hoa. Vậy thì thế này: Ta giúp Mông-cổ thắng Kim, đạt mục đích về chủ đạo rồi thì thôi. Bố cầm quyền quân sư, con cầm quyền tiên phong, ta tìm cách khuyên Tư-hãn tránh cảnh cướp phá Trung-nguyên. Nếu được thì ta ở. Còn như họ không nghe, thì ta chẳng còn lý do gì mà không tìm cách rời khỏi nơi này.
Công nhìn vợ:
- Nhưng này Thúy-Thúy, Thủ-Độ! Ta phải kín lắm, bằng không thì chết không có đất mà chôn.
Dù sao Thúy-Thúy cũng là người Hoa, ở cạnh chồng, nàng biết Mông-cổ sắp tràn vào tàn sát quê hương, nàng lo lắng không cùng, song chưa dám nói ra. Bây giờ được dịp nàng phát biểu ý kiến :
- Chủ đạo của tộc Hoa, tộc Việt là sao cho dân Hoa, Việt yêu thương nhau. Thế nhưng, chúng ta bị những kẻ ác cố tình gây ra cảnh tương tàn Hoa-Việt. Những kẻ đó thực đáng kết tội, nhưng cũng còn tha thứ được. Đây, người Mông-cổ đánh Kim thì tại sao không tiến quân vào vùng tộc Nữ-chân, mà lại nhập Quan-nội, cướp phá, chém giết người Hoa ! Như vậy cuộc ra quân này, chỉ có mục đích ăn cướp mà thôi. Con nó luận đúng. Anh luận càng đúng hơn. Không biết với uy tín, tài trí của anh, có cản được lớp sóng cướp bóc trong tâm trí người Mông-cổ không ?
- Khó! Khó ! Nhưng anh sẽ cố gắng.
Thúy-Thúy hôn phớt lên tóc Thủ-Độ :
- Đối với mọi người thì mẹ Đoan-Nghi qua đời rồi. Nhưng đối với mẹ thì mẹ Đoan-Nghi vẫn còn sống trong con. Mẹ Đoan-Nghi để lại trong con cái lòng nhân từ, hiếm có trên thế gian.
Thấy chồng đăm chiêu suy nghĩ, Thúy-Thúy hỏi :
- Anh nghĩ gì vậy ?
- Anh muốn rời Mông-cổ ra đi. Nhưng đi đâu ? Với hoàn cảnh của anh, anh không thể về Đại-Việt được. Anh mà về thì lại phải đem tài trí ra giúp cái triều đình thối tha ư ? Phải ra luồn vào cúi với mấy con đàn bà ngu xuẩn ư ?
- Có một nơi anh rất thích, tại sao chúng ta không đến đó cư ngụ ?
- ! ? ! ! ?
- Vùng Tương-giang, hồ Động-đình. Đó chẳng là đất linh của tộc Việt ư ?
- Thế nhưng chúng ta về đó sống, liệu Tống có tha tội cho em không ? Họ có để em yên không ?
- Xưa khác, nay khác. Xưa Đại-Việt mạnh, Tống muốn chiếm Đại-Việt mà đưa em sang. Nay Đại-Việt quá hỗn loạn, Tống lại cũng quá yếu rồi...
- Em luận đúng !
Thế rồi hơn năm sau, Thành-cát Tư-hãn hội quân tại bờ sông Tây-bình (Kéroulène). Tất cả Lôi-kị, quân của các Đại-hãn đều tề tựu. Thành-cát Tư-hãn hiệu triệu quân sĩ :
« Từ mấy nghìn năm qua, người Hán tự nhận là con trời. Các dân xung quanh đều là man, mọi. Dân phương Nam bị gọi là Man. Dân phương Đông bị gọi là Di. Dân phương Tây bị gọi là Nhung. Dân phương Bắc chúng ta bị gọi là Địch, là rợ. Rồi chúng bắt các nước phải cúi đầu quy phục, nhận sắc phong, tiến cống. Riêng vùng Thảo-nguyên chúng ta, chúng gọi là Hung-nô. Biết bao lần chúng đem quân lên đánh giết. Xưa ! Các tiên đế nhà ta từng bị chúng bắt giết, từng bị chúng làm nhục.
Bây giờ, binh lực chúng ta hùng mạnh, chúng ta phải tiến quân xuống Nam, bắt cái bọn tự xưng là con trời phải quỳ gối, phải quy hàng. Tài vật, lương thực, gia súc, ta muốn thì đoạt lấy. Bản thân chúng, vợ con chúng, ta muốn chém thì chém, ta muốn giết thì giết... »
Tướng sĩ reo hò vang khắp núi rừng.
Nhưng lời hiệu triệu đó như mũi dao đâm vào tim Thủ-Huy, Thủ-Độ, Thúy-Thúy. Ba người nhìn nhau, không ai nói lên lời.
Thành-cát Tư-hãn định rõ kế hoạch :
" Đại quân vượt qua sa mạc Gobi thì chia làm hai cánh.
Cánh phương Đông với binh đoàn của Bác Nhĩ Truật, Tốc Bất Đài, Mộc Hoa Lê, Xích Lão Ôn, Gia Luật Mễ, Lý Long-Tùng, Biên Gô Đài, Cát Xa, Tê Mô Gu. Cánh này do Bác Nhĩ Truật chỉ huy, sẽ vượt qua Vạn-lý Trường-thành, rồi tiến thẳng xuống Yên-kinh.
Cánh phương Tây gồm binh đoàn của Triết Biệt, Bác Nhĩ Hốt, Dược Sơ Đài, Bác Khô La ; bốn vương tử Truật Xích, Oa Khoát Đài, Sát Hợp Đài, Đà Lôi, và phò mã Đô Gu Sa. Cánh này do chính Thành-cát Tư-hãn chỉ huy, vượt Vạn-lý Trường-thành, chiếm Sơn-tây rồi tiến về phía Yên-kinh bắt tay với cánh phương Đông, cùng đánh chiếm Yên-kinh.
Binh đoàn Phương Đông của Thủ-Độ lĩnh nhiệm vụ đi tiên phong".
Từ sông Tây-bình, chín binh đoàn Lôi-kỵ của Cửu đại sơn điêu, với chín binh đoàn thân binh của Cửu đại thiết lang rầm rộ lên đường.
Binh đoàn Phương Đông do Thủ-Độ chỉ huy đi tiên phong. Trước hết là Vạn-phu Tế-tác do A-lý Hải-nha chỉ huy. Vạn-phu này kiểm soát từng bụi cỏ, hốc đá, từng khóm cây, quyết không để cho một tên trinh sát địch phát hiện. Sau tơí Vạn-phu Lôi-tiễn, Vạn-phu Lôi-kỵ.
Đại binh rầm rộ tiến sau.
Trên 20 vạn quân vượt qua sa mạc Gobi, dần dần tới Vạn-lý trường thành, mà binh tướng biên phòng của Kim không biết gì. Khi quân vượt qua sa mạc, tất cả nghỉ ba ngày, cho người ngựa lấy lại sức rồi chia làm hai cánh lên đường.
Binh đoàn Phương Đông của Thủ-Độ còn cách Vạn-lý Trường-thành 50 dặm, thì đóng trong khu rừng. Vừa an dinh hạ trại xong, đã thấy mã khoái Phi-tiễn tới trao cho Thủ-Độ một lệnh hành quân, với ba nhiệm vụ:
" Nhiệm vụ thứ nhất.Thình lình xuất hiện, vượt Vạn-lý Trường-thành, tiến xuống Nam. Khi đến nửa đường đi Yên-kinh thì ngừng lại. Trên đường tiến quân, gặp bất cứ đạo binh nào, phải đánh bằng tất cả sức mạnh. Mục đích gây kinh hoàng cho dân chúng Yên-kinh.
Nhiệm vụ thứ nhì. Kim sẽ điều các đạo binh đóng ở Đông, Nam Yên-kinh lên cứu viện. Đánh một trận lớn, phá tan đạo tiên phong của Kim, rồi rút ra ngoài Vạn-lý Trường-thành chờ lệnh mới.
Nhiệm vụ thứ ba. Cho binh sĩ tự do đốt, phá, cướp. Mục đích làm làm Kim tưởng rằng cuộc tiến quân của ta chẳng qua cũng giống như bọn Ong-gút, Thát-đát trước đây, sau khi cướp phá lại trở lại Thảo-nguyên.
Sẽ có lệnh tiếp
".

Thủ-Độ họp ba Vạn-phu trưởng lại, nghị kế. Sau khi đọc lệnh hành quân của Thành-cát Tư-hãn xong, Thủ-Độ nói:
- Nhiệm vụ của chúng ta là như thế đó. Vùng mục tiêu của chúng ta, kể từ phía Đông tơí Trương-gia khẩu dài trên một nghìn dặm. Tin tức của Khu-mật viện cho biết, ba cửa khẩu Trương-gia, Xích-thành, Hậu-thành là nơi dễ đánh nhất.
Hầu hỏi A-lý Hải-nha, Vạn-phu trưởng Tế-tác:
- Trước khi khởi binh, tôi đã yêu cầu Ngũ-đệ sai Tế-tác giả làm thương nhân nghiên cứu việc phòng thủ của Kim. Vậy Ngũ-đệ cho biết thêm chi tiết tình hình ba cửa khẩu này.
A-lý Hải-nha trình bầy:
- Kim không biết tý gì về những chuẩn bị của ta. Phía sau ba khu vực này có hai đạo quân, đóng làm ba nơi. Ban ngày thì cứ một giờ lại có toán tuần tiễu trên mặt thành. Còn ban đêm, thì chỉ có binh gác trên các đài ở cửa khẩu mà thôi, chứ không đi tuần. Trước mỗi cửa, có một bãi đất bằng phẳng rất rộng, có thể tập trung được hai ba vạn người. Phía trong cổng cũng thế. Ngay sau bãi đất phía trong, là con đường rộng rãi, có thể phi một lúc năm, sáu ngựa đi hàng ngang. Nếu tiếp tục đi về Nam, không còn quân phòng thủ. Mãi tới thị trấn Bôi-lai, nằm giữa đường đi Yên-kinh mới có quân đóng. Tóm lại ta chỉ cần vượt 200 dặm, thì tới Yên-kinh. Phía Đông Yên-kinh mới có 10 đạo quân đồn trú.
Thủ-Độ ban lệnh:
- Ngột-lương Hợp-thai phụ trách đánh cửa Trương-gia. Bạt-Đô phụ trách đánh cửa Xích-thành. A-lý Hải-nha phụ trách đánh cửa Hậu-thành. Ngay bây giờ ban lệnh cho binh sĩ, mỗi người phải lấy túi đựng quần áo của mình, chứa đầy đất. Đúng giờ Tý, phi ngựa như bay, thình lình xuất hiện. Khi đến cổng thành thì ném túi xuống. Khi đội cuối cùng ném túi xong thì dàn ra sẵn, hễ thấy quân trên thành nhô đầu lên thì bắn. Còn lại, thì mang đoản đao, bỏ ngựa, leo lên mặt thành, rồi đánh tỏa ra hai bên, mở cửa thành cho Lôi-kỵ tiến vào. Vào trong, lập tức tấn công, tiêu diệt các đội quân đóng ở đấy.
Bạt Đô hỏi :
- Sau khi vào trong quan ải rồi, thì chúng tôi làm gì ?
- Tiến xuống phía Nam, đánh chiếm các đồn, ải thành trì. Nhưng chỉ tiến tới Bôi-lai thì ngừng lại.

Đêm đó...
Các đoàn kỵ binh của Thủ-Độ chiếm các cửa khẩu Trương-gia, Xích-thành, Hậu-thành dễ dàng. Cả binh đoàn Phương Đông vượt Vạn-lý Trường-thành tiến vào đất Kim. Hai vạn quân trú phòng của Kim thấy quân Mông-cổ thình lình xuất hiện, như thiên tướng từ trời nhảy xuống, thì kinh hoàng; chưa kịp dàn trận đã bị đánh tan.
Chiếm xong ba cửa khẩu Vạn-lý Trường-thành, Thủ-Độ cho binh đoàn Phương Đông tiến xuống phía Nam. Hơn vạn kỵ binh sức mạnh như thác đổ, phi như gió. Quân trú phòng Bôi-lai vừa được tin báo Vạn-lý Trường-thành thất thủ, chưa kịp tập hợp, thì thị trấn đã bị tràn ngập.
Thủ-Độ cho quân ngừng lại.
Binh sĩ Mông-cổ là những kỵ mã vùng hoang sơ, họ chưa từng thấy thành thị nhà cửa san sát, người đông lúc nhúc như đất Trung-nguyên bao giờ. Khi vừa lọt vào trong Trường-thành, chiếm được vùng nào, là họ phóng hỏa đốt sạch nhà cửa, tàn phá các đền chùa, miếu mạo. Khi chiếm được một làng, một thành, họ bắt tất cả đàn ông làm nô lệ khuân vác những gì họ cướp được. Đàn bà thì họ lựa lấy những người trẻ đẹp, chia nhau hãm hiếp, hoặc làm tỳ thiếp. Còn lại họ giết tuyệt.
Cũng có những làng, những thị trấn, họ giết sạch không để sót một mạng, rồi đốt rụi. Của cải, gia súc họ cướp lấy mang đi. Khi họ qua vùng nào, họ tàn phá, chỉ còn lại những nền nhà, những bức tường cháy đen, xác người nằm ngổn ngang.
Tin này đưa về Yên-kinh vào giờ Tý. Kim chúa kinh hãi, vội thiết triều ngay trong đêm để đối phó vơí bọn Hung-nô, bọn rợ Thát-đát, phải giết chúng không còn một mạng, để tự hậu chúng không dám xâm phạm Trung-nguyên.
Triều đình cử quan Phụ-quốc Thái-úy Hồ Sa Hổ làm chánh tướng. Phiêu-kỵ thượng tướng quân Cao Chi làm phó tướng, ngay ngày hôm sau tức tốc lên đường.
Nhưng suốt đêm đó và ngày hôm sau, dân chúng kinh thành náo loạn mấy lần. Người người, nhà nhà bồng bế nhau chạy về quê. Cũng may, binh đoàn Phương Đông chưa tiến về Yên-kinh, mà đóng trại ở Bôi-lai nghỉ ngơi, cướp phá, hãm hiếp.
Dù có chỉ dụ khẩn cấp, nhưng mãi hai hôm sau, Hồ Sa Hổ mới điều 10 đạo binh đóng ở phía Đông Yên-kinh và ra lệnh cho Cao Chi dẫn 10 đạo binh đóng ở phía Nam Yên-kinh lên đường chinh tiễu Hung-nô.
Cả một vùng đất phía Bắc Yên-kinh rung động vì cuộc chuyển binh. Năm ngày sau, các đạo quân Kim tới
Bôi-lai, thì Thủ-Độ cho rút quân về địa phận Vạn-lý Trường-thành, rồi họp chư tướng ban lệnh:
- Bọn Kim trúng kế chúng ra rồi. Bây giờ chúng ta rút lui ra ngoài Vạn-lý Trường-thành để đe dọa Yên-kinh thường trực. Yên-kinh bị đe dọa, tất Hồ Sa Hổ dốc hết 20 đạo quân của chúng lên đây. Phía sau chúng, Yên-kinh bỏ trống. Cánh quân của Thành-cát Tư-hãn sẽ từ Sơn-Tây tiến xuống công hãm Yên-kinh dễ dàng. Tuy vậy đêm nay, chúng ta cần đánh một trận phủ đầu cho chúng biết mặt anh hùng Thảo-nguyên. Rồi ngày mai mới chính thức dàn trận khai chiến.
Hốt Tất Liệt góp ý:
- Tuy lệnh của phụ hoàng là như vậy. Nhưng khi tình thế biến đổi, nhị đệ có thể đánh tràn xuống Yên-kinh, thì nhị đệ cứ làm.
Thủ-Độ nghĩ thầm:
- Đại ca của ta thực là người mẫn tiệp. Sau này mà y lên ngôi, thay thế ông nội, thì Mông-cổ sẽ mạnh hơn nữa. Ta phải tìm cách thuyết phục y, chiếm lấy Trung-nguyên mà cai trị, hơn là cướp cho hết, giết cho tuyệt.
Các tướng thấy Hốt Tất Liệt với Thủ-Độ gắn bó với nhau như tay phải với tay trái, họ tin tưởng, cùng nhau im lặng nghe Thủ-Độ điều quân:
- Hồ Sa Hổ xuất thân là Hoạn-quan. Y có tài cầm quân. Võ công y rất cao. Biết y vốn thuộc giòng giống của Liêu trước đây, nhưng y là một tướng tài trí bậc nhất nên Kim chúa phải dùng y. Kim chúa trao toàn quyền cho y. Bây giờ xin Vạn-phu trưởng A-lý Hải-nha trình bầy tình hình Kim.
A-lý Hải-nha đứng lên:
- Quân số của Kim từ Yên-kinh tới Vạn-lý Trường-thành có 20 vạn. Nghĩa là đông gấp mười của ta. Mười đạo phía Đông do Hồ Sa Hổ chỉ huy đã tơí. Y cho đóng quân xung quanh Bôi-lai. Ý định chờ mười đạo binh của Cao Chi tới, rồi mới xuất trận. Trong mười đạo binh, y cho đóng làm năm khu mang tên khu đệ nhất, nhị, tam, tứ, ngũ...khác nhau. Khu đệ nhất gần ta nhất. Doanh trại rất chắc. Trang bị, lương thực đầy đủ.
Thủ-Độ mỉm cười:
- Binh pháp của Kim cũng như Tống là binh pháp Tôn-Ngô. Khi quân di chuyển từ xa mới tới, người ngựa mệt mỏi. Y sẽ đề phòng ta cướp trại. Phương pháp đề phòng đó như sau: Rút quân khỏi một số trại, nhưng đèn đuốc vẫn để nguyên. Dùng cung thủ mai phục chờ đợi. Khi ta cướp trại đánh tràn vào, thì cung thủ sẽ tiêu diệt.
Các tướng cùng bật cười:
- Đề phòng kiểu đó, thì ta nuốt chúng như rắn nuốt ếch!
- Biết vậy, nên ta cứ cướp trại, cho chúng thấy rằng binh pháp của Tôn-Ngô vô dụng với ta. Ta không cướp tất cả các trại, mà chỉ cướp trại gần ta nhất. Vậy: Vạn-phu Lôi-tiễn sẽ do Vạn-phu Tế-tác hộ tống, khi trời vừa tối, âm thầm di chuyển tới gần khu đệ nhất. Đúng giờ Tý mới khai hỏa. Sau khi trại Kim bốc cháy, thì Vạn-phu Tế-tác đánh vào. Chỉ đánh chớp nhoáng rồi rút lui. Còn Vạn-phu Lôi-kỵ sẽ ẩn tại ngoài Vạn-lý Trường-thành, nghỉ ngơi, để mai tham chiến.
Cút Đa Sen hỏi:
- Nếu như quân Kim từ khu đệ nhị, đệ tam... xuất trại cứu viện khu đệ nhất thì sao?
- Từ khu đệ nhị, đệ tam muốn tới khu đệ nhất, ít ra phải hai giờ. Trong khi đó, chỉ trong một giờ, Vạn-phu Tế-tác đã tràn ngập khu đệ nhất, và rút lui rồi.
Ra lệnh xong, Thủ-Độ cùng Vạn-phu Lôi-kỵ thủng thỉnh rút về Vạn-lý Trường-thành.
Khi đi, mỗi kỵ mã Mông-cổ chỉ một người một ngựa. Bây giờ trở về, mỗi chú lính có hàng chục nô lệ, vác những gì cướp được. Chỉ nguyên Vạn-phu Lôi-kỵ của Mông-cổ thôi, mà đã dẫn theo hàng chục vạn tù binh. Trên vai những người tù này đều gánh vác chiến lợi phẩm : Từ ngọc, ngà, châu báu cho tới những đồ mỹ nghệ. Tù binh cũng dắt theo đàn gia súc đếm không hết. Tuy phía hậu quân không xa làm bao, ở đó có vợ, con của binh tướng, nhưng mỗi chú lính Mông-cổ cũng bắt theo một hai phụ nữ Hán xinh đẹp, để giải trí. Binh sĩ phải chọn những phụ nữ trẻ đẹp nhất nộp cho các chúa tướng.
An dinh hạ trại trong, Thủ-Độ sai ngựa Phi-tiễn báo cáo cho bản doanh của Thành-cát Tư-hãn, Bác Nhĩ Truật biết diễn các trận đánh từ lúc vượt Vạn-lý Trường-thành.
Mọi việc xong xuôi, Thảo-nguyên ngũ điêu họp nhau trong một căn lều thống soái, cùng uống rượu theo dõi mặt trận. Một Bách-phu trưởng dẫn vào nộp cho Thủ-Độ gần trăm phụ nữ. Liếc nhìn qua, Hầu phải công nhận đó là những thiếu nữ nhan sắc hiếm có. Họ đều được tắm rửa, trang điểm sạch sẽ, để hầu hạ các chúa tướng. Bề ngoài họ tươi cười, nhưng họ không dấu được nét kinh hãi, đau khổ. Bọn Hốt Tất Liệt, mỗi người chọn lấy ba bốn mỹ nhân. Bạt-Đô chọn cho Thủ-Độ hai thiếu nữ đẹp nhất. Thủ-Độ cảm thấy trong miệng đăng đắng. Hầu nghĩ thầm :
- Những phụ nữ này, kẻ có chồng, người có tình quân. Thế mà, bỗng dưng phải làm đồ giải trí cho những người xa lạ. Thực đáng thương. Ta không thể nhắm mắt hưởng thụ trên cái đau khổ của kẻ khác. Chuyện trai gái chỉ có ý nghĩa, khi cả hai bên đều yêu nhau. Về tình yêu, ta chỉ có Kim-Dung. Ta không thể làm theo người Mông-cổ.
Bọn Hốt Tất Liệt vừa uống rượu, vừa ăn thịt. Tay mỗi người ôm một thiếu nữ chiến lợi phẩm vào lòng. Còn hai thiếu nữ của Thủ-Độ, Hầu liếc nhìn, một người mặc quần áo xanh, một người mặc quần áo hồng. Tuổi của hai khoảng mười lăm, mười sáu. Hầu hỏi nàng mặc áo xanh bằng tiếng Trung-quốc:
- Nàng tên gì? Bao nhiêu tuổi? Bố mẹ là ai?
Thiếu nữ áo xanh thấy da Thủ-Độ trắng, phong tư tuyệt vời, nói năng nhu nhã, nàng cho rằng Thủ-Độ là người Hán, làm tướng cho Mông-cổ:
- Tiểu tỳ họ Triệu tên Minh-Minh. Năm nay tiểu tỳ mười sáu tuổi. Cha tiểu tỳ là chức lại nhỏ của huyện. Khi đại binh tới, thì cha tiểu tỳ bị bắt làm nô lệ. Mẹ tiểu tỳ bị hiếp, người không chịu nhục, đã cắn lưỡi chết. Còn tiểu tỳ...bị đưa vào đây.
Thủ-Độ cảm thấy như có con dao đâm vào ngực mình. Hầu nói với Minh-Minh :
- Nàng yên tâm ở bên cạnh ta. Ta hứa giữ cho nàng được tuyết sạch giá trong. Rồi sau này có dịp ta sẽ thả nàng về với gia đình.
Hầu hỏi người con gái áo hồng :
- Còn nàng ?
- Tiểu tỳ họ Chu, tên Diệu Diệu năm nay 17 tuổi. Cha tiểu tỳ là một thầy đồ trong trấn. Khi quân...quân Hung nô tới, chúng đốt trường, giết cha tiểu tỳ. Họ đốt nhà tiểu tỳ rồi quẳng mẹ tiểu tỳ với các em vào nướng thành than. Riêng tiểu tỳ thì bị bắt vào đây.
Thủ Độ nghiến răng, rùng mình :
- Thôi, nàng với Minh Minh cứ yên tâm sống bên nhau. Ta sẽ chu toàn cho nàng như Minh Minh.
Ngột-lương Hợp-thai hỏi Thủ-Độ:
- Nhị ca! Nếu như ngày mai, xuất trận, đánh tan 10 đạo quân của Hồ Sa Hổ, ta có nên thừa thắng tràn về chiếm Yên-kinh không?
- Không! Không nên!
Thủ-Độ khẳng định:
- Muôn ngàn lần không. Hồ Sa Hổ có tới 20 vạn quân. Nếu ta dùng hết sức, thì binh đoàn Phương Đông của ta thắng y không khó. Nhưng ta phải chấp nhận hy sinh nhiều. Bấy giờ ta không đủ sức tiến vào Yên-kinh nữa.
Hốt Tất Liệt rất tinh tế. Y thấy từ lúc ra quân, thế như chẻ tre, thành công rực rỡ, mà mặt Thủ-Độ vẫn phảng phất nét buồn. Y nắm tay Hầu :
- Nhị đệ ! Chúng ta tuy không cùng cha mẹ sinh ra. Nhưng sống chết bên nhau. Nếu nhị đệ có gì không vui, thì cứ nói ra. Chúng ta sẽ giúp nhị đệ.
Thủ-Độ thở dài :
- Đại ca ơi ! Chuyện làm đệ nẫu ruột, nói ra đại ca sẽ bật cười... Đó là chuyện tình, chuyện Kim-Dung ấy mà.
Hốt Tất Liệt cười ha hả :
- Hỡi ơi ! Nhị đệ của ta là người tài trí số một trong các thiếu niên, mà sao lại đắm chìm trong bể tình như vậy ? Này nhị đệ, trong các thiếu nữ con của thân vương, đại thần không thiếu gì người xinh đẹp. Nhị đệ muốn, mai này về Hoa-lâm ta có thể cưới cho nhị đệ vài ba chục cô. Còn như nhị đệ cần người hầu hạ, thì ngay bên cạnh nhị đệ đã có hai giai nhân sẵn sàng dâng hiến. Nếu hai cô này, nhị đệ không thích thì phía sau Trường-thành, con gái người Hán, đẹp như hoa nở, có hàng nghìn, hàng vạn. Nhị đệ thích, thì ta sai quân bắt về cho nhị đệ ít trăm đứa. Việc gì nhị đệ phải âu sầu vì cái cô chị họ Kim-Dung kia ?
Bạt Đô cũng xen vào :
- Nam nhi Mông-cổ chúng ta, ăn ngủ trên mình ngựa. Lấy xung sát vào hàng ngũ địch làm thú tiêu khiển. Sau buổi xung sát, trở về doanh trướng, chúng ta có thể dùng hàng trăm con gái đẹp hầu hạ. Sao nhị ca không làm thế, mà lại ủy mị như trời mùa Đông vậy ?
Thủ-Độ nghĩ thầm :
- Thảm thương thay cho bốn người anh em kết nghĩa của ta. Họ không biết hoa tình yêu là gì cả. Ta có nói họ cũng không hiểu được nào.
Giữa lúc đó có một tiếng nổ rung động không gian. Tiếp theo hàng trăm tiếng nổ khác. Thảo-nguyên ngũ điêu buông gái, buông chung rượu ra ngoài lều, hướng mắt nhìn về phía Nam. Những trái cầu lửa nổ tung trên không gian đang chụp xuống dinh trại Kim. Rồi tiếng ngựa hí, tiếng quân reo vọng lại như hàng vạn lớp sóng thủy triều.
Hốt Tất Liệt cười sảng khoái :
- Nhị đệ ! Chúng ta thành công rồi.
Nửa giờ sau, một mã khoái Phi-tiễn về báo tin :
« Lôi-tiễn nã ba loạt vào doanh đệ nhất của Kim. Toàn doanh biến thành một biển lửa. Quân ta xung phong vào tới hàng rào, bắn ba loạt tên rồi rút ra ».
Hốt Tất Liệt gật gù :
- Bọn chó Kim phen này hết tự cao là con trời. Bốn hiền đệ, chúng ta uống rượu mừng chiến thắng.
Tiệc rượu lại tiếp tục.
Hơn nửa giờ sau, mã khoái Phi-tiễn lại phi ngựa về báo :
« Sau khi nã bốn loạt Lôi-tiễn, toàn đệ nhất doanh bốc cháy. Vạn-phu Tế-tác xung vào trại Kim. Không đầy nửa giờ, đã giết hết địch. Hiện đang rút về hướng Trường-thành ».

Sáng hôm sau, Thủ-Độ lại cho quân vượt Vạn-lý Trường-thành, rồi án binh tại các cửa Trương-gia, Xích-thành, Hậu-thành chờ đợi quân Kim. Đến giờ Ngọ, thân binh dẫn một quân Kim vào yết kiến. Đó là tên quân do Hồ Sa Hổ sai mang chiến thư. Thư vỏn vẹn có mấy chữ :
« Phụ-quốc thái-úy, Tả kim ngô thượng tướng quân, lĩnh Bình Bắc đại nguyên soái triều Đại Kim là Hồ Sa Hổ.
Gửi cho tướng Hung-nô là Trần Thủ-Độ .
Chúa bây là Thiết Mộc Chân đã được Thiên-triều đoái thương phong cho chức Bắc-cường chiêu thảo sứ. Tại sao chúng bay không an phận tôi con, mà dám đem quân phạm cảnh? Nay ta mang quân nghiêng nước đi tiễu trừ. Quân đã dàn trận. Bọn bay có là con người thì hãy cùng ta quyết chiến
».

Thủ-Độ chưa biết phải trả lời ra sao, thì A-lý Hải-nha nói nhỏ vào tai Hốt Tất Liệt. Hốt Tất Liệt bật cười. Y cầm bút vẽ lên bức thư của Hồ Sa Hổ một tên quân Mông-cổ đang tật cò đái. Lại sai quân gọt tóc tên lính đưa thư rồi cho về.
Hốt Tất Liệt hỏi Thủ-Độ :
- Nhị đệ có hiểu ý ta không ?
- Chiến pháp của Thành-cát Tư-hãn là : Bao giờ ta cũng chọn lựa chiến trường, rồi nhử cho địch phải chấp nhận giao tranh. Như thế ta đã được hưởng cái thế địa lợi. Nay Hồ Sa Hổ sai gửi chiến thư. Y định dụ ta tới địa thế có lợi cho y. Đại ca chọc tức y để y phải đem quân đến đánh ta tại địa thế do ta chọn lựa.
- Đúng thế. Nhị đệ dàn trận đi thôi.
Thủ-Huy ra lệnh:
- Chúng ta chọn Trương-gia khẩu làm bãi chiến trường. Phía trong Trương-gia khẩu bốn mươi dặm, có cánh đồng Thảo-ty, địa thế bằng phẳng. Tam đệ Ngột-lương Hợp-thai mang năm Thiên-phu Lôi-kỵ dàn trận tại đây. Hồ Sa Hổ không thấy ta tiến binh, ắt y đem quân đến tấn công. Bấy giờ, tùy tình hình địch, ta sẽ có lệnh sau.
Hầu gọi Bạt Đô:
- Tứ đệ mang năm Thiên-phu Lôi-kỵ phục ở phía trái Trương-gia khẩu. Phải làm như thế...như thế...
Hầu gọi A-lý Hải-nha, Ngột Lạt Su :
- Hai hiền đệ đem bản bộ quân mã đóng ở phía phải Trương-gia khẩu. Phải làm như thế...như thế...
Quả như Thủ-Độ ước tính. Hồ Sa Hổ không nén nổi cơn giận, y bỏ trận thế, tiến lên tái chiếm Vạn-lý Trường-thành. Y đem năm đạo binh dàn thành thế trận tại cánh đồng Thảo-ty, đối diện với trận của Ngột-lương Hợp-thai.
Thủ-Độ, Hốt Tất Liệt đứng trên một ngọn đồi quan sát trận Kim. Hốt Tất Liệt chưa từng học binh pháp Tôn-Ngô.
Y hỏi Thủ-Độ :
- Nhị đệ ! Nhị đệ thấy trận thế của Kim ra sao ?
- Hồ Sa Hổ là một tướng lỗi lạc. Ta không nên coi thường y. Y bầy trận thế kia, nếu là quân Tây-hạ, Liêu, Việt thì không thể nào phá nổi. Y nhử cho đối thủ xung sát mệt mỏi, rồi mở cửa trận tung quân ra truy kích, sẽ nắm chắc phần thắng trong tay. Còn đối với ta thì vô dụng. Tuy lệnh trên băét ta phải rút chạy. Nhưng ta cần đánh một trận để hút hết quân của y lên Vạn-lý Trường-thành, hầu Yên-kinh không còn quân nữa.
Thủ-Độ nói với Hốt Tất Liệt :
- Đại-ca ! Chúng ta cùng xuống đối trận với Hồ Sa Hổ. Y thấy chúng ta còn trẻ, ắt khinh thường. Như vậy ta mới dễ thắng y.
Hai người dùng ngựa, thủng thỉnh đổ đồi. Ba tiếng pháo nổ, trận Kim mở rộng. Một đội giáp sĩ gươm giáo sáng choang tiến ra, dàn thành hình Bát-quái. Dẫn đầu là một võ sĩ cầm cây cờ lớn có chữ :
« Phụ quốc Thái-úy, Tả Kim-ngô thượng tướng quân Hồ ».
Phía sau một tướng râu hùm, lưng gấu, giáp bạc cỡi ngựa thủng thỉnh ra trước quân. Một binh sĩ Kim cầm loa gọi :
- Quan Phụ-quốc Thái-úy muốn gặp chúa tướng Hung-nô !
Thủ-Độ, Hốt Tất Liệt ung dung sóng đôi, cho ngựa ra trước trận, không cờ, chẳng biển, cũng chẳng có giáp sĩ hộ vệ. Hồ Sa Hổ hỏi :
- Hai tên nhãi ranh kia, hãy thông báo tên họ đi.
Hốt Tất Liệt vận nội lực nói :
- Tên chúng ta đây.
Rồi y dương cung. Véo một tiếng, mũi tên xé gió trúng cột cây soái kỳ của Hồ Sa Hổ. Đuôi mũi tên có một miếng da, theo gió bay tung. Hồ Sa Hổ nhổ tên, nhìn trên miếng da có hai hàng chữ :
« Vương-tôn Hốt Tất Liệt, giám quân, Trần Thủ-Độ, thống lĩnh binh đoàn Phương Đông ».
Hồ Sa Hổ cất tiếng mắng :
- Tên ôn con Hốt Tất Liệt kia ! Mi là con nít, không đủ tư cách nói chuyện với ta. Mi mau gọi ông nội mi là Thiết Mộc Chân ra đây để nghe lời dạy dỗ của đại tướng Thiên-triều.
Chán đời đi lang thang !
Đăng nhập để trả lời
0