Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

Anh hùng Đông A dựng cờ bình Mông

80 trả lời, 18.447 lượt xem — Trang 3 / 3
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-05-15 14:19:33NuHiepDeThuong>
Hồi 40 (tiếp theo)

Hốt Tất Liệt vận nội lực nói thực lớn:" Chư quân tướng Kim nghe đây! Chúng ta là những dũng sĩ anh hùng ở vùng Thảo-nguyên. Từ trước đến giờ, tổ tiên ta lấy việc phi ngựa trên đồng cỏ làm thú tiêu khiển. Chúng ta chưa từng vào Trung-nguyên. Gần đây, chúa chúng ta là Thành-cát Tư-hãn nghe tin bọn rợ Khất-đan, rồi bọn rợ Nữ-chân chiếm Trung-nguyên, lập triều đình Liêu, rồi Kim cai trị. Chúng lại bắt Tống triều hàng năm phải tiến cống 10 vạn lượng vàng, 25 vạn lượng bạc, 25 vạn tấm lụa. Những thứ đó do đâu mà ra? Do dân Trung-nguyên phải oằn lưng ra nộp. Nhân Hoàng-đế Tống gửi thư sang cầu cứu, chúa ta mới ra quân, trước trừ bọn rợ Nữ-chân, sau giúp dân Trung-nguyên thoát khỏi sưu cao, thuế nặng. Chư quân tướng đều là người Hán, vậy hãy quay gươm giết bọn tướng Kim, hoặc bỏ chạy, trước diệt bọn hung ác, sau giữ được thân".
Y nói thực lớn:
" Còn như kẻ nào chống trả đại binh của ta. Bản thân bị giết đã đành, mà gia đình cũng bị giết tuyệt không tha".
Thủ-Độ cầm tù và rúc lên một tiếng, từ phía sau, đạo Lôi-kỵ của Ngột-lương Hợp-thai cùng cất tiếng hú, rồi chia thành năm đoàn. Từng đoàn một vọt ngựa tới tấn công. Hồ Sa Hổ với các tướng phi ngựa vào trong trận Kim.
Quân Kim chĩa dáo dài ra chờ quân địch. Nhưng quân Mông-cổ vừa hò hét vừa xung phong. Khi tới trận Kim, thì dùng tên bắn vào, rồi quay ngựa bỏ chạy về phía chân trời. Phút chốc cả năm Thiên-phu biến mất vào khu làng mạc xa xôi.
Kim vẫn duy trì thế trận.
Hơn giờ sau, Thủ-Độ cầm cờ phất. Đạo quân của Bạt Đô, cũng từng Thiên-phu một, thình lình xuất hiện, vừa hò hét, vừa xung phong. Mỗi Thiên phu bắn hai ba loạt tên rồi rút chạy. Trận Kim bắt đầu chuyển động, cửa trận mở rộng. Kỵ mã Kim tỏa ra, dàn thành trận, xung vào đội hình Mông-cổ. Nhưng quân Mông-cổ chỉ bắn về sau ba loạt tên, sau đó bỏ chạy, tỏa ra như hình rẻ quạt. Kỵ binh Kim ngơ ngác không biết có nên đuổi theo hay không? Viên tướng kỵ binh xin lệnh Hồ Sa Hổ. Hồ ra lệnh:
- Đuổi theo toán chạy về phía Đông.
Ky binh Kim rầm rập đuổi theo một đoạn, thì không thấy quân địch đâu nữa. Y tập trung quân rút về. Khi thế trận vừa đổi, thình lình có tiếng rít xé gió, rồi trên không có ba tiếng nổ như sấm, lửa chụp xuống đầu kỵ mã Kim. Tiếp theo hàng trăm tiếng nổ liên tiếp. Hàng ngũ kỵ binh rối loạn liền.
Giữa lúc đó, hàng vạn tiếng hú, tiếng ngựa hý, rồi hai đội quân Mông-cổ từ hai bên hông xuất hiện. Thoáng một cái đã xung vào trận Kim, cắt trận làm đôi, rồi làm ba. Xung sát không đầy hai khắc, kỵ binh Mông-cổ đã diệt toàn bộ đội kỵ binh Kim. Diệt kỵ binh Kim xong, hai đội quân tiến về Thảo-ty, xông vào trận Kim, vừa hò hét, vừa bắn tên, rồi lại biến vào chân trời xa xa.
Đã quá Ngọ, mặt trời đứng bóng. Quân Kim bắt đầu mệt mỏi, bỏ vũ khí ăn cơm.
Thủ-Độ đứng trên đồi cao, Hầu cầm cờ phất. Cánh Lôi-kỵ của Bạt Đô ào ào như nước cuốn, dàn hàng phi như gió tới. Quân Kim vội bỏ ăn, vào vị trí trậïn tuyến. Quân Bạt Đô được nghỉ ngơi, ăn no. Bây giờ lao vào trận Kim. Đợt đầu hai Thiên-phu, cùng dương cung bắn ba loạt tên rồi bỏ chạy. Đợt hai, hai Thiên-phu nữa cũng dương cung bắn rồi bỏ chạy. Đợt ba, hai Thiên-phu đánh thẳng vào trung quân, sau đó tỏa ra hai bên. Đợt bốn hai thiên phu khác chọc thẳng vào hậu quân. Thế là trận Kim bị vỡ.

Thủ-Độ cầm cờ phất, các cánh quân của Ngột-lương Hợp-thai, A-lý Hải-nha cùng xuất hiện, đánh ép vào phía hông địch. Không đầy một giờ, hàng ngũ Kim bị cắt làm từng khu nhỏ, rồi mạnh quân, quân chạy ; mạnh tướng, tướng trốn. Hồ Sa Hổ bị thương nặng. Quân sĩ tử chiến, mới cứu được y. Y dẫn tàn quân rút chạy về phía Bôi-lai. Nhưng khi tơí gần Bôi-lai, thì một đoàn kỵ binh Mông-cổ đã dàn sẵn chờ đợi. Chúng rú lên, rồi lao tới xung sát. Hồ Sa Hổ cùng tàn quân bỏ chạy tán loạn. Quân Mông-cổ tà tà đuổi theo.
Giữa lúc đó, từ phía Nam, bụi bay mù mịt, các đạo binh tiếp ứng của Phiêu-kỵ thượng tướng quân Cao Chi đã tới. Thủ-Độ cầm cờ phất. Quân Mông-cổ cùng rú lên, rồi quay ngựa, rút về hướng Vạn-lý Trường-thành.
Tuy tiền quân bị thiệt hại nặng, nhưng chủ lực của Kim còn nguyên. Hốt Tất Liệt muốn đánh thẳng vào Yên-kinh, nhưng mục tiêu Thành-cát Tư-hãn trao cho đã đạt, Thủ-Độ truyền rút toàn bộ binh đoàn Phương Đông ra khỏi Trung-nguyên.
Thủ-Độ đứng trên ngựa quan sát các đoàn Kỵ-binh rút lui. Phía sau mỗi Thập-phu là một đoàn xe. Xe của dân, xe chiến. Những xe này được ngựa, lừa, trâu, bò kéo. Trên xe chất đầy của cải, hoặc phụ nữ xinh đẹp. Đối với người Mông-cổ, cái gì của Trung-quốc cũng quý, cũng lạ hết : Nồi đồng, bát đĩa bằng sứ. Bàn, ghế, dường, đồ thờ... bằng gỗ. Bên cạnh những xe đó, còn có một đoàn trai tráng khỏe mạnh, thợ thủ công, oằn lưng ra vác của cải. Cũng có toán lùa theo hàng bầy gia súc, nhiều đến đếm không hết...

Phía sau, những đạo quân của Cao Chi ồ ạt đuổi theo quân Mông-cổ. Nhưng quân Kim là bộ binh. Khi họ tới Vạn-lý Trường-thành, thì quân Mông-cổ đã rời đất Trung-nguyên, biến vào cánh đồng cỏ mênh mông, không biết đâu mà tìm. Tuy vậy, Cao Chi cho rằng quân Mông-cổ chỉ nhập quan đốt phá, cướp của. Sau khi cướp phá chán, chúng sợ quân triều, nên bỏ chạy. Y tự cho rằng mình hơn hẳn Hồ Sa Hổ, vì không tốn một mũi tên, không đánh một chiêu võ, mà bọn rợ bỏ trốn hết. Y sai sứ phi ngựa khẩn cấp về Yên-kinh, dâng biểu lên hoàng đế rằng Hung-nô đã bị quét sạch khỏi Trung-nguyên.
Kim chúa thân viết bốn chữ Tinh trung, Quốc trụ , nghĩa là : Tài năng như một vị sao trên trời. Là một cột trụ quốc gia ...trên một cây soái kỳ, sai sứ mang lên Vạn-lý Trường-thành ban cho Cao Chi. Cao Chi khao quân thực lớn.
Hoàn thành sứ mạng, Thủ-Độ sai mã khoái Phi-tiễn báo về tổng hành doanh của Bác Nhĩ Truật. Mã khoái Phi-tiễn cũng báo cho Thành-cát Tư-hãn ở phía Tây.
Tại tổng hành đoanh của Thành-cát Tư-hãn, ông cùng chư tướng ngồi uống rượu, theo dõi diễn tiến tại các mặt trận. Mã khoái Phi-tiễn của Thủ-Độ gửi về báo cáo mới nhất:
"Hồ Sa Hổ đem 10 đạo binh tới Bôi-lai. Ngay lập tức cướp trại, đánh tan hai đạo. Ngày mai sẽ dàn quân ở Thảo-ty, lập trận chờ y".
Thành-cát Tư-hãn cùng chư tướng reo mừng, rót rượu vừa uống, vừa múa hát. Ông nói với Thủ-Huy:
- Con của Thiên-sứ quả là một thiên tài. Tương lai, khi chúng ta về già, bấy giờ bọn Thảo-nguyên ngũ điêu sẽ cai trị cả gầm trời này.
Hôm sau, lại nhận được tấu trình của Thủ-Độ:
"Hồ Sa Hổ dàn quân ở Thảo-ty. Y lập trận rất chắc, với bốn đạo bộ binh, một đạo kỵ binh. Giờ Ngọ, diệt đạo kỵ binh. Giờ Thân phá tan trận bộ binh. Y chạy tới Bôi-lai, thì bị Lôi-kỵ đi đường vòng, phục sẵn. Toàn quân y bị đánh tan. Hốt Tất Liệt muốn thừa thắng tiến về Yên-kinh. Nhưng 10 đạo quân của Cao Chi đã tới cứu viện.
Như vậy toàn bộ 20 đạo quân quanh Yên-kinh đã tới Vạn-lý Trường-thành. Đánh tan 7 đạo chỉ còn 13 đạo là toàn vẹn.
Đã rút ra khỏi Vạn-lý Trường-thành an binh nghỉ ngơi, chờ lệnh mới".
Lập tức Thành-cát Tư-hãn sai triệu tập chư tướng lại. Trong soái lều, người người cùng im lặng chờ đợi. Họ biết giờ quan trọng nhất đã đến. Thành-cát Tư-hãn cất giọng trầm trầm:
- Bọn Trần Thủ-Độ, Hốt Tất Liệt, Bạt Đô đã làm rung động toàn thể nước Kim: Chỉ với một binh đoàn, các tướng trẻ đánh tan 7 đạo binh Kim. Thiệt hại về phía ta gần như không có gì. Bây giờ toàn thể quân tinh nhuệ Kim đã rời xa Yên-kinh. Đến lượt chúng ta xuất trận.
Các tướng gần như nín thở, im lặng nghe lệnh:
- Chúng ta tấn công vào Vạn-lý Trường-thành bằng bốn mũi chính. Mũi thứ nhất, Triết Biệt đánh vào cửa Dương-cao, đe dọa vùng Thiên-trấn là nơi nuôi ngựa cho toàn quân Kim. Mũi thứ nhì do Bác Nhĩ Hốt đánh vào cửa Phong-trấn, đe dọa Đại-đồng, là Tây-kinh của Kim. Mũi thứ ba do Dược Sơ Đài đánh vào cửa Tả-ngọc, cũng để đe dọa Đại-đồng. Mũi thứ tư do Bác Khô La đánh vào cửa Hà-khúc, đe dọa Ninh-võ, Thái-nguyên. Các tướng có hiểu không ?
- Hiểu.
- Tôi nhắc lại, chúng ta tấn công lấy lệ, không cần chiếm được. Hoặc chiếm được rồi, chỉ cướp của, bắt người trong Quan-nội sâu tới 30 dặm mà thôi.
Sát Hợp Đài hỏi :
- Thưa phụ hoàng, tại sao ta lại phải đánh cầm chừng ? Mà không tiến thẳng xuống Đại-đồng, Thái-nguyên ?
Thành-cát Tư-hãn giảng giải :
- Trần Thủ-Độ đã dụ được 20 đạo binh Kim từ Yên-kinh lên Vạn-lý Trường-thành. Y tiêu diệt 7 đạo rồi. Bây giờ ta cần đe dọa Tây Vạn-lý Trường-thành, để dẫn dụ cho 13 đạo binh Kim kéo về đây cứu viện. Quân Kim là quân bộ, di chuyển chậm, lại cồng kềnh. Chúng di chuyển từ Trương-gia khẩu đến đây ít ra là 10 ngày. Chờ cho chúng khởi hành năm ngày, bấy giờ ta cho một binh đoàn tràn ngập Vạn-lý Trường-thành đánh chặn đầu. Một mặt ta lệnh cho Bác Nhĩ Truật sai một binh đoàn chặn hậu. Quân Kim tiến không nổi, lui không xong. Lương thảo bị tuyệt. Ta không cần đánh cũng tan. Bấy giờ Yên-kinh không còn quân. Mặt Đông, Trần Thủ-Độ tốc thẳng xuống Yên-kinh. Mặt Tây, ta đánh chiếm Sơn-Tây, rồi tiến về phía Đông bắt tay với Thủ-Độ công phá Yên-kinh.
Các tướng vỗ tay hoan hô.

Hôm sau...
Bốn đạo quân Mông-cổ cùng ồ ạt tấn công vào bốn vùng tại Tây Vạn-lý Trường-thành. Quân Kim đã biết trước. Quân, tướng cùng ra sức chống trả. Một mặt cáo cấp với Phụ-quốc thái-úy Hồ Sa Hổ. Hồ Sa Hổ được tin thì cho rằng cái bọn Hung-nô cướp phá ba cửa Trương-gia, Xích-thành, Hậu-thành bây giờ lại cướp bốn cửa phía Tây. Y để lại cho Cao Chi hai đạo binh. Còn y dẫn 11 đạo tiến về phía Tây cứu viện.
Khi quân Hồ Sa Hổ lên đường, thì lập tức mã khoái Phi-tiễn báo về tổng hành dinh Thành-cát Tư-hãn. Thành-cát Tư-hãn ban lệnh cho Triết Biệt :
« Ngày mai phải vượt Vạn-lý Trường-thành đánh chiếm Thiên-trấn rồi dàn quân trong vùng núi chặn đường tiến binh của Kim. Đợi năm ngày sau, Kim cạn lương thì tiến lên tiêu diệt ».
Lại ra lệnh cho Trần Thủ-Độ :
« Vượt Vạn-lý Trường-thành, đánh tan hai đao binh của Cao Chi, rồi tốc thẳng tới Yên-kinh. Gặp các thành nhỏ, thì bỏ qua, để binh đoàn Tốc Bất Đài đi sau thanh toán ».
Lại gửi ba lệnh cho Bác Nhĩ Truật :
Lệnh thứ nhất :
« Sai binh đoàn của Gia Luật Mễ, vượt Vạn-lý Trường thành chặn đường rút quân, tuyệt đường tiếp lương của Hồ Sa Hổ. Đợi năm ngày sau, quân Kim cạn lương, thì tiến lên tiêu diệt ».
Lệnh thứ nhì :
« Sai binh đoàn Tốc Bất Đài tiến sau binh đoàn Phương Đông, bảo vệ hậu quân cho binh đoàn này. Đánh chiếm tất cả các thành từ Vạn-lý Trường-thành tới Yên-kinh ».
Lệnh thứ ba :
« Sai binh đoàn của Mộc Hoa Lê, Xích Lão Ôn vượt Vạn-lý Trường-thành tiến chiếm các vùng phía Đông cho tới bờ biển ».

Thủ-Độ nhận được lệnh vào một buổi chiều. Hầu họp chư tướng, bàn kế tiến binh.
Hầu ra lệnh cho A-lý Hải-nha:
- Hồ Sa Hổ lưu lại cho Cao Chi hai đạo binh. Cao Chi phải dàn ra khu vực Vạn-lý Trường-thành dài 500 dặm để phòng thủ. Bây giờ các binh đoàn của Tốc Bất Đài, Mộc Hoa Lê, Xích Lão Ôn, Gia Luật Mễ với binh đoàn Phương Đông cùng dàn ra tấn công, thì chỉ cần nửa giờ là phòng tuyến bị vỡ.
Hầu dừng lại cho các tướng theo kịp, rồi tiếp :
- Sau khi vào trong quan ải, A-lý Hải-nha dẫn năm Thiên-phu Tế-tác đi làm tiền đạo. Ngột Lạt Su dẫn năm Thiên-phu Tế-tác đi tiếp ứng. Phi ngựa như gió cuốn, như mây bay, sao cho Tế-tác địch không kịp báo tin chúng ta trở lại tấn công. Trên đường đi nếu gặp địch quân cản đường, thì phải giáng những đòn vũ bão, đánh tan chủ lực của chúng, rồi tốc thẳng tới Yên-kinh.
A-lý Hải-nha hỏi :
- Trong thành Yên-kinh, Kim có tới hơn mười vạn Ngự-lâm quân. Nếu đúng như nhị ca luận: Ta phi ngựa như gió cuốn, thì có khi ta tới Yên-kinh mà Tế-tác Kim chưa kịp báo cho triều đình của chúng biết. Thành chưa kịp đóng cửa... Chúng tôi có vào chiếm thành không ?
- Vào ! Khi vào thành, thì cho trấn tại mỗi cửa một Bách-phu. Còn lại chia thành từng Thập-phu đánh xuyên vào trung ương, gây hỗn loạn khắp nơi. Chỉ cần hai khắc thôi, là Lôi-kỵ sẽ tới tiếp ứng.
Thủ-Độ lại ra lệnh tiếp :
- Ngột-lương Hợp-thai dẫn năm Thiên-phu Lôi-kỵ đi làm đạo thứ ba. Bạt Đô dẫn năm Thiên-phu Lôi-kỵ đi tiếp đạo thứ tư. Tất cả tốc thẳng tới Yên-kinh, tiếp ứng cho hai đạo Tế-tác. Kế tiếp, là Vạn-phu Lôi-tiễn.
Hốt Tất Liệt tóm lược tình hình :
- Hai tình huống có thể xẩy ra. Một là khi chúng ta tới, mà cánh quân của Thành-cát Tư-hãn tới rồi. Thì tùy theo lệnh của Người điều động. Còn như chúng ta tới mà quân của Thành-cát Tư-hãn chưa tới, thì phải cẩn thận, bằng không quân Kim có thể mở cửa thành ra tiêu diệt chúng ta.
Bạt Đô lưỡng lự :
- Hay chúng ta tiến từ từ, chờ Thành-cát Tư-hãn tới cùng một lúc. Đệ sợ thành Yên-kinh quá rộng, quá cao. Chúng ta có ba Vạn-phu. Tiến, không đủ vây thành. Trụ lại, thì xung quanh địch có tới mười vạn Ngự-lâm quân. Ta sẽ gặp nguy.
Thủ-Độ xua tay :
- Tứ đệ đừng sợ. Khi đoàn kỵ mã của ta tới, ta e quan lại, quân sĩ, dân chúng quá kinh hoàng. Người người dẵm lên nhau mà chạy. Ai cũng lo dăét díu vợ con đi trốn còn không xong , thì sao còn thời giờ tập trung quân sĩ chống trả? Sau một giờ thì Vạn-phu Lôi-tiễn tơí tiếp ứng. Ta cho nã vào thành. Nhà cửa, dinh thự bốc cháy. Quân sĩ lo kiếm chỗ ẩn thân, chữa cháy. Họ đâu còn can đảm xuất thành giao chiến ?
Thủ-Độ hỏi Hốt Tất Liệt:
- Đại-ca! Đại-ca định đi theo đạo binh nào?
- Nhị đệ theo đạo nào, thì ta theo đạo đó.
- Vậy chúng ta đi cùng đạo thứ nhất. Theo binh pháp cổ của Đại-Việt thì phàm làm tướng phải tỏ ra có uy, có dũng. Vì vậy ta phải đi đầu.
Sáng hôm sau khi nắng Xuân vừa tỏa ra trên cánh đồng cỏ mênh mông, thình lình có tiếng vi vu trên không gian, rồi ba tiếng nổ như sấm vang lên trên bầu trời xanh ngắt. Tiếp theo là những tiếng ào ào như sóng biển, đó là những tiếng hú của người, của ngựa. Các binh đoàn Mông-cổ dàn ra trên một tuyết dài mấy trăm dặm, xếp hàng năm, lao tới Vạn-lý Trường-thành. Quân Kim phòng vệ cùng leo lên các ụ trên mặt thành, sẵn sàng chiến đấu. Đứng trên cao nhìn xuống, thấy những lớp sóng kỵ mã khí thế ngút trời, quân phòng thủ cùng rùng mình.
Khi lớp sóng kỵ mã tới cách thành khoảng nửa dặm (250m), thì ngừng lại. Hàng ngũ, cờ xí nghiêm chỉnh.
Thảo-nguyên ngũ điêu cùng chư tướng gò ngựa đứng trước hàng quân. Tay cầm cờ lệnh.
Lại một tiếng tù và rúc lên, rồi có những toán kỵ binh rời hàng ngũ tiến tơí các cổng thành. Mỗi toán mười người. Một trường cầm loa hướng lên mặt thành kêu gọi quân thủ thành:
" Binh tướng Kim.
Chúa chúng ta là Thành-cát Tư-hãn, con của Thượng-đế Mặt-trời. Khắp gầm trời đều phải quy phục Người. Nay Người đem đại binh sấm sét diệt Kim bạo tàn, đem lại đời sống ấm no, an ninh cho dân chúng.
Vậy các người hãy mở cửa đầu hàng. Bản thân, gia đình được bảo trọng. Của cải được giữ nguyên. Còn như kẻ nào chống trả, thì khi quân sấm sét vào thành không những bản thân bị giết, vợ con bị bắt làm nô lệ, làm tỳ thiếp cho quân sĩ, mà nhà cửa bị đốt sạch.
Nào, chúng ta cho các người suy nghĩ hai khắc".
Tiếng loa vừa dứt thì một tiếng nổ trên không, rồi tất cả các kỵ binh cùng rú lên, hòa lẫn với tiếng ngựa hý, tạo thành một âm thanh rung chuyển trời đất.
Một khắc trôi qua...
Rồi hai khắc...
Thủ-Độ cầm cờ đỏ phất lên. Lập tức từng quãng, từng quãng, hàng quân Mông-cổ tách ra, rồi phía sau có những chiếc xe chở đầy bao đất tiến tới chân thành. Người đẩy xe là những đàn ông, đàn bà người Hán bị bắt trong các lần tấn công mấy hôm trước. Xạ thủ trên thành nhô đầu ra khỏi ụ bắn xuống đám người đẩy xe, thì kỵ mã Mông-cổ nhanh hơn, bắn tên lên. Những xạ thủ đó ngã lộn xuống liền. Các xe chở bao đất tới chân thành, thì phu xe ném ra. Tuy vậy cũng có những xạ thủ bắn trúng bọn phu xe. Người này ngã thì có người khác thay thế. Kẻ nào hèn nhát ngừng lại, lập tức bị kỵ binh Mông-cổ phía sau bắn ngã ngay.

Khoảng gần một giờ, thì đoàn xe đất đã tạo thành những con dốc cao gần tới mặt thành. Thủ-Độ cầm tù và rúc lên. Lôi tiễn bắn chụp lên trên mặt thành. Quân phòng thủ kinh hoàng lui vào hầm nấp, thì các đoàn dũng sĩ Mông-cổ tay cầm đoản đao, theo các con dốc leo lên thành. Cuộc chiến đấu trên mặt thành thực khủng khiếp. Sau hơn nửa giờ, quân Mông-cổ đã làm chủ được nhiều cửa thành. Họ mở toang cửa ra, các kỵ mã rú lên, lao vào trong. Đao chém, tên bắn, chỉ một lát, đám quân thủ thành, toán thì bỏ chạy, toán thì đầu hàng. Nhưng họ chạy sao thoát khỏi vó ngựa quân Mông-cổ?
Đến giờ Thìn, toàn bộ Vạn-lý Trường thành đã bị Mông-cổ chiếm. Các đoàn Lôi-kỵ hoàn toàn vào trong thành. Có hơn một vạn tù binh, hàng binh. Bác Nhĩ Truật ra lệnh:
- Ta đã ra tuyên cáo rằng, hễ trong thành chống lại, thì sẽ giết tuyệt. Bọn này chống lại ta, khiến ta hao binh tổn tướng. Hãy chém hết tụi hàng binh.
Lệnh vừa ban ra, những ánh đao vung lên liên tiếp, hàng mấy vạn thây người ngã xuống, máu ngập mặt đất.
Bác Nhĩ Truật ra lệnh tiếp :
- Hãy làm cỏ các vùng sau thành. Đàn ông khỏe mạnh thì bắt làm nô lệ, khuân vác. Các thợ thủ công, các nhạc công, thì giữ lại để dùng. Đàn bà trẻ đẹp bắt hết, chia cho binh sĩ làm đồ chơi. Còn lại thì giết tuyệt. Nhà cửa, đền chùa, miếu mạo đốt. Gia súc, của cải mặc sức cho quân sĩ lấy, bắt nô lệ vận chuyển về Thảo-nguyên.
Thảm thương thay, suốt một vùng lãnh thổ Trung-quốc dọc Vạn-lý Trường-thành, từ Sơn-hải-quan tới Trương-gia khẩu...ngập trong biển lửa, máu loang mặt đất. Thủ-Độ thấy các tướng Mông-cổ trong Cửu đại sơn điêu mà mình kính phục từ nhỏ, coi như những vị thần thánh: Bác Nhĩ Truật, Tốc Bất Đài, Mộc Hoa Lê, Xích Lão Ôn, Gia Luật Mễ... Ngay cả bốn người bạn trong Thảo-nguyên ngũ điêu mà mình từng gắn bó yêu thương. Tất cả hầu như hớn hở trước chiến thắng. Họ vui thích đứng nhìn quân sĩ cầm đao chặt đầu những ông bà già run rẩy, giằng lấy những đứa trẻ còn bế ngửa trên tay bà mẹ, rồi ném vào các căn nhà đang bốc lửa. Lại có những binh sĩ đè các thiếu phụ trẻ, thiếu nữ ngây thơ, hãm hiếp trước mặt chồng, trước mặt cha mẹ. Dân chúng kêu khóc lạc giọng trước những thảm cảnh ấy. Họ chỉ còn kịp ngoảnh đầu lại nhìn những căn nhà bị đốt đang bốc lửa, của cải, gia súc của mình mà phải cúi đầu khuân đi cho quân cướp. Thế nhưng các tướng Mông-cổ đứng nhìn như nhìn những trò tiêu khiển. Họ cười khoái trá trước cảnh đau khổ của dân chúng.
Không kiên nhẫn được, Thủ-Độ gọi Hốt Tất Liệt, rồi ra lệnh cho A-lý Hải-nha, Ngột Lạt Su lên đường liền.
Cánh quân của A-lý Hải-nha đi tiên phong. Đầu tiên là một Bách-phu phi trước. Tiếp theo Hốt Tất Liệt, Thủ-Độ có một Bách-phu hộ tống, rồi tới năm Thiên-phu Tế-tác.

Đường Vạn-lý Trường-thành đi Yên-kinh là con đường chính của quân Kim để di chuyển, vận tải lương thực, nên rất rộng, lại bằng phẳng. Bây giờ kỵ mã Mông-cổ dùng con đường này sải vó như phi trên cánh đồng. Trên đường đi, gặp bất cứ người, thú vật, binh sĩ trong tầm tay là vung đao giết sạch; ngoài tầm tay thì dương cung bắn ngã. Vì ngựa phi quá nhanh, nên tin Vạn-lý Trường-thành bị thất thủ, không kịp báo về, dân chúng cũng không kịp chạy trốn. Thành ra khi đoàn kỵ mã ập tới một làng, một trấn giống như ác quỷ trên trời rơi xuống. Dân chúng chỉ còn kịp thấy cảnh kỵ mã rú, ngựa hí, đao vung, tên bắn, người người chết ngổn ngang, nhà bốc cháy. Mỗi làng, mỗi trấn, chỉ không đầy một khắc, biến thành biển lửa, thây người la liệt; rồi đoàn ác quỷ biến mất.
Không đầy ba giờ sức ngựa, đoàn kỵ mã của Ngột-lương Hợp-thai đã tới gần Yên-kinh. Thành như một trái núi hiện ra ở xa xa cuối chân trời.
Thình lình phía trước có đám bụi bay mù mịt bốc lên. Trong đám bụi đó, xuất hiện một đội kỵ mã đang phi ngược chiều với cánh quân Mông-cổ. Viên Bách-phu đi đầu, ra lệnh cho binh sĩ ngừng lại, dàn ra, rồi báo với Ngột-lương Hợp-thai.Thiên-phu hộ tống Thủ-Độ, Hốt Tất Liệt cũng ngừng lại. Ngột-lương Hợp-thai vọt ngựa lên quan sát, phất cờ ra lệnh. Hai Thiên-phu nhanh chóng dàn ra thành trận, trên cánh đồng bên đường.
Nhưng cánh kỵ binh Kim phía trước chỉ có khoảng trên trăm người. Đó là một đội tuần thám. Viên đội trưởng thấy đoàn quân Mông-cổ nối đuôi dài vô cùng tận đến chân trời cũng chưa hết. Y kinh hoảng, ra lệnh cho thuộc hạ quay đầu gò lưng bỏ chạy.
Ngột-lương Hợp-thai vội ra lệnh cho một Thiên-phu trưởng:
- Đội thám thính của Kim. Mau đuổi theo tiêu diệt.
Nhưng đã trễ, vì đội kỵ binh Kim đã biến mất ở chân trời phía trước.
Sau khi chiếm được Trương-gia khẩu, thay vì vui mừng, trong lòng Thủ-Độ nảy ra một mối buồn mênh mông, từ mối buồn biến sang niềm bất nhẫn, rồi hối hận, rồi cáu gắt vô lý. Bây giờ thấy đội kỵ mã Kim, không biết tại sao Thủ-Độ lại mong cho chúng chạy thoát, để báo cho dân chúng, chúa tướng Kim biết mà đề phòng.
Ngột-lương Hợp-thai ra lệnh cho đội tiền phong tiếp tục lên đường. Hơn ba khắc sau, tới một thị trấn nhỏ ước khoảng hai trăm nóc gia. Thị trấn vắng tanh, các nhà đều đóng cửa, không một bóng người, không một bóng thú. Trên đường đi, một cái ụ chặn ngang. Ụ là bàn, ghế, gỗ, đá, cả những cành cây mới chặt... xếp chồng lên nhau.
Thủ-Độ biết sở dĩ có cái ụ, chắc là do đội thám sát ban nãy đã cùng dân chúng tạo thành. Ụ không có mục đích để chống quân tấn công, mà chỉ với mục đích làm chậm bước tiến, để y có đủ thời giờ báo động rằng đại địch đang tới.
Ngột-lương Hợp-thai ra lệnh cho viên Bách-phu trưởng tiên phong dẹp bỏ chướng ngại vật. Hơn trăm kỵ mã rời yên ngựa, hò nhau kéo gỗ, khuân đất, nhặt đá. Các đoàn thiết kỵ phía sau ùn lại.
Bỗng... véo, véo, véo, hàng loạt tên từ trong các bụi cây bên đường, trong các ngõ hẻm bay ra, trúng vào kỵ binh đang dẹp chướng ngại. Hơn hai chục người ngã vật xuống. Thủ-Độ cũng bị hai mũi tên bay tơí. Một hướng ngực, một hướng mặt. Hầu vòng tay bắt lấy. Kình lực của tên khá mạnh, như vậy xạ thủ không phải người thường, mà là một cao thủ võ lâm.
Ngột-lương Hợp-thai đã ra lệnh phản công. Quân Mông-cổ tràn ngập, lùng sục khắp trấn. Nhưng không một bóng người, không một bóng thú. Y ra lệnh: Đốt tất cả những căn nhà trong trấn, chôn xác tử sĩ, rồi tiếp tục lên đường.
Hốt Tất Liệt gọi Ngột-lương Hợp-thai:
- Ngũ đệ! Qua biến cố vừa rồi, đó là một bài học cho Ngũ-đệ. Chúng ta đã quá kiêu căng trước chiến thắng. Từ đây đến Yên-kinh, địch sẽ dàn ra những cạm bẫy, những trở ngại để cản đường tiến quân của ta.
Đoàn quân lại tiếp tục lên đường. Cứ mỗi khi qua một xã, một thị trấn, lại gặp những chướng ngại vật trên đường. Ngột-lương Hợp-thai lại cho dừng quân lục soát. Vẫn không một bóng người, không một thú vật. Y định ra lệnh thiêu hủy nhà cửa. Thủ-Độ thấy bất nhẫn, Hầu can thiệp:
- Thành-cát Tư-hãn đã hứa rằng bất cứ đồn nào, thành nào không đánh lại ta, thì sẽ được bảo toàn cho cả người lẫn tài sản. Những nơi này, dân chúng sợ hãi bỏ chạy, chứ họ đâu có chống lại ta, mà đốt nhà họ?
Ngột-lương Hợp-thai tuân lệnh. Nhờ vậy mà các thị trấn, làng xã trên đường đi Yên-kinh không bị tàn phá.

Chiều hôm đó, lúc hoàng hôn, thì đoàn quân tới Yên-kinh. Kể từ khi binh đoàn Phương Đông nhập quan bắt người, đốt nhà, cướp của cực kỳ tàn nhẫn, đến nay trải đã mấy tháng. Tin này lan truyền khắp một giải Hoa-Bắc. Người người thuật cho nhau nghe. Rồi mỗi người lại bi thảm hóa thêm, nên dân chúng Yên-kinh cứ tưởng tượng ra rằng mỗi tên lính Mông-cổ là một con ác quỷ ba đầu, ăn thịt người. Thế rồi, sáng nay, một đoàn tuần thám Kim trên đường ra Vạn-lý Trường-thành, phát hiện quân Mông-cổ đông như kiến, đang bay về Yên-kinh. Dân chúng, quan lại rùng rùng dẫn gia đình chạy vào thành, hoặc tản ra các vùng quê xung quanh.
Khi những kỵ mã đầu tiên vào trong khu phố ngoài thành. Chúng ngây người ra mà nhìn: Nhà cửa kiến trúc thực đẹp, thực rộng, thực cao, với những vườn hoa cắt tỉa, mầu sắc rực rỡ, nhìn như trong cảnh Bồng-lai. Phố nọ nối phố kia, rộng mênh mông, dường xá như bàn cờ. Nhưng phố, xá vắng lặng; không người, không thú.
Quân hướng đạo báo:
- Thưa tướng quân, đây là khu phố Bắc, nằm ngoài thành. Khu này có ba trăm sáu mươi phố, bốn vạn nóc gia, hai mươi vạn nhân khẩu. Qua khu này thì tới cửa Bắc thành.
Thủ-Độ ban lệnh:
- Dân chúng sợ hãi bỏ chạy hết rồi! Tức là họ không chống ta. Vậy tuyệt đối cấm đốt nhà, giết người.
Ngột-lương Hợp-thai truyền năm Thiên-phu tràn qua khu phố Bắc. Vẫn không một bóng người. Thành Yên-kinh hiện ra sừng sững: Hào vừa sâu vừa rộng. Tường thành cao vút. Thủ-Độ ngước mắt nhìn lên. Trên thành, quân sĩ gươm giáo sáng ngời đang đi tuần phòng.
Hốt Tất Liệt chán nản:
- Thành như thế này thì không hy vọng gì đánh được rồi. Dù ta có xua cả hai mươi vạn kỵ mã vào trong thành thì cũng chẳng thấm thía gì.
Hai người dàn quân ra khu đất trống phía Đông Bắc, rồi cùng cỡi ngựa đi quan sát một vòng thành. Về tơí cửa Bắc, Thủ-Độ truyền lệnh cho Cút Sa Đen:
- Thành cao thế kia, e Lôi-tiễn bắn không tới. Nhưng ta cứ thử xem sao.
Lát sau, năm Lôi-tiễn cùng khai hỏa. Năm mũi xé gió bay lên, thì chỉ có hai mũi vượt qua tường thành, còn hai mũi lọt ra ngoài. Cả năm phát nổ rung chuyển không gian.
Vào lúc trời sắp tối, thì binh đoàn của Tốc Bất Đài cũng tới. Y lệnh cho quân đóng tại cửa Đông. Hốt Tất Liệt truyền mời các tướng của hai binh đoàn hội lại nghị kế. Nhưng không ai đưa ra kế gì có thể chiếm được thành. Cuộc họp đang diễn ra, thì có tiếng pháo nổ, tiếng quân reo, ngựa hý, rồi thân binh báo:
- Đại quân của Thành-cát Tư-hãn đã tới.
Tốc Bất Đài, Thủ-Độ, Hốt Tất Liệt dẫn các tướng vòng sang cửa Tây. Đi khoảng mười dặm thì gặp Đà Lôi dẫn tiền quân tới. Y hỏi Tốc Bất Đài:
- Thế nào? Chú đã đánh với Kim mấy trận rồi?
- Chưa! Chưa đánh trận nào cả. Phụ hoàng đâu?
- Người sắp tới.
Đà Lôi nhìn Thủ-Độ bằng con mắt đầy thiện cảm:
- Thủ-Độ! Người tài thực! Cuộc ra quân này, người khai mạc mấy trận, làm rung động cả Trung-nguyên. Phụ-hoàng khen Thảo-nguyên ngũ điêu không tiếc lời.
Lát sau binh đoàn của Truật Xích, Sát Hợp Đài, Oa Khoát Đài cũng rầm rộ kéo tới. Cuối cùng là Thành-cát Tư-hãn với các tướng Triết Biệt, Bác Nhĩ Hốt.
Thủ-Độ hỏi Triết Biệt:
- Thế hai tướng Dược Sơ Đài, Bác Khô La đâu?
- Dược Sơ Đài trấn Thái-nguyên. Bác Khô La trấn Đại Đồng.
Tốc Bất Đài phân cho binh đoàn của Triết Biệt đóng tại cửa Nam. Binh đoàn của Bác Nhĩ Hốt đóng tại cửa Tây. Quân tướng an dinh hạ trại xong, thì có tiếng pháo nổ, Thành-cát Tư-hãn tới.
Lễ nghi tất, Thủ-Độ hỏi Thành-cát Tư-hãn:
- Thưa Tư-hãn, phụ thân cháu với mẹ kế Thúy-Thúy đâu?
- Ta nhờ người sang làm quân sư cho ba tướng Mộc Hoa Lê, Xích Lão Ôn, Gia Luật Mễ rồi.
Soái lều được dựng lên cấp tốc. Thành-cát Tư-hãn cho triệu tập các tướng nghị kế đánh thành. Tất cả các tướng đều lắc đầu chịu thua.
Tốc Bất Đài hỏi Thủ-Độ:
- Cháu có nghĩ ra cách phá thành này không?
- Cháu thiết tưởng không cần.
Thủ-Độ bàn: Quân của ta là quân kỵ, tản ra, tụ lại rất nhanh. Vậy bây giờ chúng ta bỏ thành Yên-kinh, xua quân chiếm các châu huyện xung quanh, để có lương ăn, có cỏ cho ngựa. Có nô tỳ chăn ngựa. Nếu trong thành mở cửa ra tấn công, thì chúng ta tụ lại đánh chúng ngay. Như vậy, chỉ cần mấy tháng, trong thành hết lương thì dân chúng, binh sĩ sẽ nổi loạn, mở cửa thành hàng.
Thành-cát Tư-hãn quyết định:
- Ta hành động như Thủ-Độ.

Ghi chú của thuật giả:

Binh pháp từ cổ đến thời Thành-cát Tư-hãn bất di bất dịch là: Khi gặp một thành, thì phải hạ thành đó, rồi hãy tiến quân. Bằng cứ tiến quân, thì địch còn lại ở sau sẽ biết động tĩnh quân mình. Bất cứ lúc nào cũng có thể đổ ra đánh tập hậu. Duy quân Mông-cổ lúc đánh Trung-quốc, thì bỏ hẳn chiến thuật đó. Bởi quân Mông-cổ là quân kỵ, tản ra nhanh, tụ lại chóng. Đang tản ra khắp bốn phương, mà bất cứ chỗ nào thấy địch cũng tập trung lại tấn công được. Chiến thuật đó dĩ nhiên là binh pháp của Thành-cát Tư-hãn. Thế nhưng trải qua 785 năm,cho đến nay (1998) không ai biết chiến thuật đó ra đơì lúc nào ? Họ lại cũng không biết người gợi ý cho Thành-cát Tư-hãn là một thiếu niên Việt tên Trần Thủ-Độ.

Thành-cát Tư-hãn gửi lệnh cho tất cả chúa tướng 20 binh đoàn:
" Lệnh cho các tướng về chiến thuật mới của ta.
Từ khi vào Trung-nguyên, phong thổ mới, khí hậu mới, hoàn cảnh mới. Thành ra nhiều khi chư tướng bỡ ngỡ không biết phải hành xử như thế nào. Sau đây ta có ba điều ban cho tướng sĩ. Hãy nhất nhất chiếu theo thi hành.
Một là. Gặp thành đánh được thì đánh. Thấy thành kiên cố, cứ bỏ lại sau. Hãy phân tán quân ra thành từng Thiên-phu một. Mỗi Thiên-phu tỏa ra trong một huyện. Duy trì đội mã khoái Phi-tiễn. Hễ thấy địch xuất hiện, lập tức tụ quân lại tiêu diệt. Trường hợp gặp thành quá kiên cố mà phải hạ, thì cứ đem quân ra vùng ngoại ô, bắt vợ con, gia đình bọn binh tướng sĩ trấn trong thành. Sau đó xua chúng đến chân thành, bắt leo thang đánh thành. Có hai tình huống sẽ xẩy ra. Một là binh sĩ trong thành nổi loạn chống lại chủ tướng, mở cửa đầu hàng. Hai là chúng không đang tâm bắn tên, ném đá vào người thân. Ta nhân đó chiếm lấy thành.
Hai là. Ta nhắc lại, luôn luôn tiết kiệm xương máu chiến sĩ của ta. Không nên, và không bao giờ tiếc xương máu của địch, của gia đình địch. Ngoài thời gian hành quân ra, lúc nghỉ ngơi, hãy bắt dân Hán phục dịch tất cả công việc như tắm ngựa, cho ngựa ăn, nấu cơm, giặt quần áo. Nhất nhất bắt nô lệ, tù binh làm mọi công việc.
Ba là. Những binh tướng gốc người Trung-quốc theo hàng ta. Hãy tuyển lấy những người khỏe, lập thành đội ngũ, rồi huấn luyện. Sau đó kết hợp lại thành những binh đoàn thân binh. Thân-binh Trung-quốc cũng được hưởng mọi ưu đãi như kỵ mã của ta. Đánh đến đâu cũng cho họ quyền muốn giết thì giết. Muốn bắt bao nhiêu đàn bà, con gái cũng cho bắt. Muốn lấy bất cứ tài vật gì trong vùng mới chiếm cũng cho lấy. Hãy coi họ như binh sĩ Mông-cổ".
Chỉ với một lệnh ngắn chưa đầy hai trang giấy, mà có khả năng khiến cho hai mươi vạn quân Mông-cổ tỏa ra khống chế khắp các tỉnh Sơn-Tây, Hà-Bắc, Sơn-Đông trong vòng mười ngày. Vùng này có diện tích gấp ba lần Việt-Nam. Trong khi đó quân Kim trấn ở các thành của ba tỉnh này lên tới cả triệu người, mà đành chỉ biết cố thủ, không dám ra ngoài.
Cuộc khống chế chỉ được có sáu tháng. Sang tháng thứ bẩy thì các đạo quân Kim từ phía Nam vượt sông Hoàng-hà lên tiếp viện Yên-kinh. Rồi dân chúng không chịu nổi cảnh bị chém giết, cướp bóc, hãm hiếp. Nhiều nơi nổi dậy kháng chiến. Trước tình thế đó, Thành-cát Tư-hãn cho kéo quân về giữ Sơn-Tây, và vùng đất từ Yên-kinh lên Vạn-lý Trường-thành. Rồi quyết định: Đánh kinh đô Yên-kinh. Ông truyền mời Thủ-Huy từ đạo binh miền Đông trở về giúp kế.
Vừa về tới nơi, Thủ-Huy đã cùng Thúy-Thúy gặp Thủ-Độ, trao đổi tin tức. Cả ba cùng rùng mình, không thể chịu được cảnh chém giết kinh khủng, cảnh hãm hiếp rùng rợn. Thủ-Độ bàn:
- Bố ạ ! Tổ tiên chúng ta lập quốc trải bốn nghìn năm. Giữa tộc Hoa với tộc Việt cùng gốc từ vua Thần-Nông. Song cương vực đã phân, văn hóa tiếng nói có khác. Trải qua biết bao sóng gió, hai tộc anh em khi hòa, lúc thuận, nhưng dân chúng vẫn thương yêu nhau. Sở dĩ có những cuộc chém giết lẫn nhau là do bọn người tồi bại gây ra. Còn những thức giả, luôn luôn giữ gìn chủ đạo là tìm cách cho hai tộc gắn bó yêu thương nhau... Con biết, bố giúp Mông-cổ để diệt bọn Nữ-chân. Thế nhưng nay Mông-cổ trở thành hùng mạnh quá. Họ tàn sát người Hoa, mà con đau lòng. Con nghĩ, người trí như cha con mình, từng giúp Mông-cổ lập quốc, thì không thể quay lưng chống Mông-cổ. Vậy chỉ có cách là chúng ta rời xa cuộc chém giết này mà thôi.
Thúy-Thúy hôn phớt lên má Thủ-Độ :
- Con luận đúng. Khổ một điều, chúng ta đang cầm quyền nghiêng nước. Làm sao có thể ra đi được ?
- Con nghĩ không khó.
Thủ-Độ cương quyết : Hồi năm trước, trong dịp hội quân, con có đưa ra ý khiến rằng Mông-cổ nên liên binh với Tống. Hai bên cùng ra quân đánh Kim. Nhưng bấy giờ kiêu khí trong Thành-cát Tư-hãn còn mạnh, nên ông công nhận con có lý, mà không thi hành. Bây giờ, ông mới cảm thấy rằng sự liên binh là cần thiết. Vậy trong những dịp hội quân sắp tới, ta tìm cách nào đưa đẩy để Thành-cát Tư-hãn sai bố con mình đi sứ Tống hay Đại-Việt, rồi...ta lẩn luôn là hơn hết.
Thủ-Huy gật đầu:
- Phải cẩn thận lắm mới được. Nếu bố con mình đưa ra ý kiến, thì Thành-cát Tư-hãn sẽ nghi ngờ. Điều này ta nên nhờ một trong ba người là Tốc Bất Đài, Mộc Hoa Lê, Bác Nhĩ Truật nêu ra thì hơn. Như vậy Thành-cát Tư-hãn sẽ không nghi ngờ gì.


********************

Đã đưa vào thư viện đến Hồi 40.
Chán đời đi lang thang !
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-05-12 13:12:18NuHiepDeThuong>
Hồi thứ bốn mươi mốt


Hận tình chưa trả



Thành-cát Tư-hãn điều động bốn vương tử, mười binh đoàn, công hãm Yên-kinh. Sau một tháng liền, dùng tù binh, dân chúng lấp hào, bắc thang leo lên công thành. Từng đợt, từng đợt, người người, hàng hàng nối tiếp leo lên, bị quân phòng thủ bắn tên, lăn gỗ đá, ngã lộn xuống chết. Số nô lệ, tù binh bắt được trong những trận đánh trước chết gần hết, mà thủy chung vẫn không vào được thành. Tổng kết thiệt hại, riêng quân Mông-cổ chết hơn vạn; tù binh, nô lệ chết ba mươi vạn dư mà thành vẫn đứng vững như chế diễu Thành-cát Tư-hãn. Ông bực mình, đích thân đốc thúc công thành, thì bị một mũi tên trúng cổ. Độc chất làm sưng lớn lên.
Thành-cát Tư-hãn bắt đầu chán nản. Ông thấy đất Trung-nguyên người quá đông, đất quá rộng, chiếm ngay bây giờ thì chưa thể được. Ông muốn hãy rút quân về nghỉ ngơi, đợi huấn luyện các binh đoàn thân binh Trung-quốc tinh nhuệ, rồi mới có thể trở lại tái khai chiến với Kim, để di dân Thảo-nguyên vào.
Ông họp chư tướng nghị rút quân về. Ông hỏi Thủ-Huy:
- Thiên-sứ! Người hãy giúp chúng tôi mưu kế gì, để có thể chia bớt lực lượng Kim không?
- Thưa Tư-hãn. Hồi nghị kế mấy năm trước, cháu Thủ-Độ đã đưa ra ý kiến kết thân với Tống. Ta hứa với Tống rằng ta đánh phía Bắc, để Tống khởi binh từ Nam lên. Ta hứa nhường cho họ khôi phục lại kinh đô Biện-kinh cũ. Nhất là họ sẽ được làm chủ vùng cố đô Lạc-dương, Trường-an là đất thiêng của tộc Hán.
Gia Luật Mễ lắc đầu:
- Tống quá hèn. Tôi nghĩ không bao giờ họ dám ra quân.
Thủ-Độ phát biểu:
- Thưa chú, cháu nghĩ lần này Tống sẽ khởi binh. Vì trước kia, Tống cho rằng ta chỉ là một bộ lạc của rợ Hung-nô, không đủ sức mạnh đối chọi với Kim. Ta vốn là rợ, vốn không lễ nghĩa, ta hứa rồi nuốt lời. Bây giờ qua dư vang vụ quân ta tràn ngập vùng Bắc, đang bao vây Yên-kinh. Họ biết ta mạnh. Còn vụ họ nghi ta thất hứa, thì chỉ cần ta giúp Liêu tái lập quốc, rồi rút binh, thì họ tin ta ngay. Nhất định họ sẽ khởi binh.
Giữa lúc đó thì tướng Triết Biệt gửi về một tấu chương:
" Đã đánh tan các đạo quân Kim đóng trong vùng đất của Liêu. Giúp Liêu chúa tái lập triều đình, tổ chức quân đội. Liêu vương xin quy phục, làm phiên thần cho Mông-cổ. Các binh đoàn Liêu đều sẵn sàng trợ chiến cho Mông-cổ".
Thành-cát Tư-hãn vỗ tay mừng:
- Trước kia Liêu chiếm Trung-quốc, hùng tráng là thế. Họ bắt Tống cắt đất, họ bắt tuế cống rất nặng. Rồi Liêu bị chính bộ tộc Nữ-chân của mình nổi lên diệt, lập ra nước Kim. Kim để cho Liêu tự trị trong vùng đất cũ. Tuy vậy họ vẫn duy trì một đạo quân để kiềm chế. Bây giờ Triết Biệt diệt đạo binh Kim, tái lập nước Liêu. Từ nay ta có Liêu kiềm chế Kim. Ta không còn sợ Kim nữa. Ta chỉ lo phá các đạo quân tiếp viện từ phương Nam của Kim mà thôi. Ta có thể sai người đi sứ rủ Tống liên binh được rồi đây.
Thành-cát Tư-hãn hỏi:
- Vậy ta phải nhờ ai đi sứ Tống bây giờ?
Mộc Hoa Lê chỉ Vương Thúy-Thúy:
- Phu nhân của Thiên-sứ trước đây từng là người của Tống. Phu nhân đã được Tống phong tước Khâm-minh Đoan-duệ quận chúa, Vân-đài tiên tử. Bấy lâu nay, người muốn về thăm quê, mà sợ Tống làm tội. Bây giờ ta phong người làm sứ giả. Người sẽ danh chính là sứ thần Mông-cổ. Ngôn thuận, là tuy xa Tống, vẫn nghĩ đến quê hương. Nay mang tin Mông-cổ giúp Tống tái chiếm ba cố đô. Nhất là tái chiếm vùng đất Ngũ-nhạc đại lĩnh của phái Hoa-sơn. Như vậy : Một là ta trả ơn phu nhân đã giúp Mông-cổ bấy lâu bằng cách cho phu nhân hồi hương. Hai là phu nhân là người cũ của Tống, đem các sự lợi hại trong vụ ra quân nói, thì Tống tin ngay. Ba là, phu nhân có võ công cao. Người sẽ theo các đạo quân Tống, để phối hợp hai quân Đại-Tống, Mông-cổ.
Thành-cát Tư-hãn hỏi Thủ-Huy:
- Không biết ý kiến Thiên-sứ ra sao?
- Tôi nghĩ rằng bà vợ tôi sẽ vui vẻ nhận lệnh của Ngài. Tôi cũng sẽ đi theo làm quân sư cho bà ấy.
Thành-cát Tư-hãn đề nghị thêm:
- Hiện vết thương trên cổ của tôi vẫn không thuyên giảm. Tôi muốn dịp này nhờ Thiên-sứ về Đại-Việt mời y sư Phạm Tử-Tuệ hay Nam-thiên thần y Lê Thúc-Cẩn sang chữa cho tôi.
Thủ-Huy nghĩ thầm: Nếu mình vui vẻ ra đi, thì Thành-cát Tư-hãn sẽ nghi ngờ. Vậy mình tỏ vẻ không thích thú hồi hương, mới qua mắt y được. Công lắc đầu:
- Tôi không muốn về Đại-Việt trong lúc này. Ở đây, Tư-hãn đối xử với tôi như bạn hữu. Các tướng đối xử với tôi như anh em. Sung sướng biết bao, vui vẻ biết bao. Còn như tôi về Đại-Việt thì phải quỳ gối, cúi đầu trước những tên vua chúa triều Lý vừa ngu, vừa đần thì tôi không chịu được. Nhất là khi tôi xuất hiện, thì mấy con mụ điếm già ở hậu cung, nào Thái-hậu, nào Hoàng-hậu sẽ hãm hại tôi. Tôi đề nghị Tư-hãn sai Thủ-Độ đi thì hơn.
Thấy Thủ-Huy xa Đại-Việt đã hai chục năm, mà vẫn còn căm hận triều Lý, Thành-cát Tư-hãn không nghi ngờ gì cả. Ông hỏi Thủ-Độ:
- Còn cháu! Cháu về Đại-Việt liệu có gì nguy hiểm không?
- Thưa Tư-hãn không. Nhưng... cháu đang cầm đại quân giúp Tư-hãn, mà bỏ đi thì cháu không muốn.
- Cháu yên tâm, ta đang chuẩn bị rút quân, đợi chỉnh bị binh mã, chờ Tống cùng ra quân. Cháu có ở đây, hay đi sứ thì cũng vậy thôi.
Thủ-Độ đưa mắt nhìn Thảo-nguyên ngũ điêu:
- Vâng! Cháu tuân chỉ Tư-hãn...Có điều...Có điều...
- Cháu phải xa các bạn, cháu không vui phải không? Cháu chỉ đi có mấy tháng thôi, rồi lại trở về, chứ có đi luôn đâu?
Thủ-Độ nói thực với lòng mình:
- Thưa Tư-hãn, chúng cháu cùng ăn, cùng ngủ, cùng săn bắn, rồi cùng chiến đấu, ngày đêm có nhau. Bây giờ phải xa nhau...Thưa, khó quá.
- Ta biết! Nhưng cháu đi là vì sinh mệnh của ta.
- Xin tuân chỉ Tư-hãn.
Thành-cát Tư-hãn quyết định:
- Vậy thì tôi xin phiền phu nhân của Thiên-sứ làm chánh sứ sang Tống. Thiên-sứ đi theo làm quân sư. Còn Thủ-Độ thì lên đường đi Đại-Việt mời y sư sang trị bệnh cho tôi.
Mộc Hoa Lê đề nghị :
- Thưa Tư-hãn ! Sứ đoàn sang Tống, thì ta cần chuẩn bị thực kỹ, rồi sẽ lên đường. Nhưng sứ đoàn của cháu Thủ-Độ phải lên đường ngay. Vì bệnh của Tư-hãn đã mấy ngày rồi. Để lâu e nó lan rộng ra.
- Vậy thì thế này.
Thành-cát Tư-hãn ban chỉ :
- Khi cháu Thủ-Độ sang đây, thì sang với tư cách sứ thần Đại-Việt. Vậy bây giờ cháu về, ta cũng để cháu về trong tư cách sứ thần. Từ đây đến cửa biển Liêu-Đông không xa. Nếu Thủ-Độ trở về Hoa-lâm, rồi lại đi Liêu-Đông thì mất thời giờ. Để khắc phục yếu tố thời gian. Ngày mai, ta sẽ cho mã khoái Phi-tiễn đem chỉ dụ về Hoa-lâm, dẫn nhân viên sứ đoàn Đại-Việt đến cửa biển Liêu-Đông, rồi về cùng Thủ-Độ.

Mười ngày sau, thì sứ đoàn Đại-Việt của Thủ-Độ được đưa từ Hoa-lâm về cửa biển Liêu-Đông. Viên phó sứ Chu Mạnh-Nhu, bốn bồi sứ Vũ Khắc-Kim, Phạm Hoàng-Quy, Lê Trọng-Anh, Tạ Quốc-Ninh đều là học trò của Phạm Kính-Ân, họ thuộc bộ Lễ, được Kính-Ân tuyển cho theo Thủ-Độ, coi như người tâm phúc. Họ bị giữ lại ở Mông-cổ mấy năm. Tuy họ được cấp dinh thự để ở. Được cấp nô lệ hầu hạ, cấp mĩ nhân hầu chăn gối, lại được cấp cả ngựa để di chuyển. Nhưng, bỗng dưng họ phải xa nhà, xa quê, sống trong vùng đất lạ, khí hậu lạnh lẽo. Mình nói thì người không hiểu. Người nói thì mình không biết. Năm người, ngày ngày hết ăn lại ngủ. Tương lai không hy vọng gì được về nước. Buồn quá, suốt ngày họ học tiếng Mông-cổ. Nên bây giờ họ nói tiếng Mông-cổ lưu loát như người Mông-cổ học thức. Mấy hôm trước được lệnh hồi hương, cả năm mừng như chết đi, sống lại.

Trong dịp này, Thúy-Thúy gửi hai con là Thủ-Minh với Như-Lan cùng về quê để ông bà nội dạy dỗ, theo truyền thống giòng họ Đông-a.
Thảo-nguyên ngũ điêu xin phép Thành-cát Tư-hãn theo Thủ-Độ đến tận cửa biển Liêu-Đông để tiễn đưa. Trong thâm tâm bốn người, thì Thủ-Độ đi vài tháng rồi trở về. Thế nhưng ở Thủ-Độ, thì Hầu biết rằng cuộc chia tay này không hy vọng gì gặp lại nhau. Cả năm cùng uống rượu đến say mềm ra.
Khi thuyền sắp nhổ neo, thì hai thiếu nữ người Hoa quỳ gối trước tấm ván bắc từ bờ xuống thuyền, khóc nức nở. Thủ-Độ nhìn lại thì ra Triệu Minh-Minh, Chu Diệu-Diệu. Công nắm tay hai nàng, nâng dậy, an ủi :
- Từ ngày gặp hai nàng ở Trương-gia khẩu đến giờ. Tiếng thì hai nàng là tỳ thiếp của tôi. Nhưng tôi chưa từng có cử chỉ khinh bạc với hai nàng. Tôi cũng đối xử với hai nàng như em gái. Bây giờ lên đường đi sứ, tôi đã làm lệnh phóng thích hai nàng về với gia đình. Hai nàng chẳng nên khổ tâm.
Diệu Diệu càng khóc lớn. Thủ-Độ tát yêu nàng :
- Diệu Diệu, chẳng nên quá buồn.
Diệu Diệu càng nức nở :
- Chủ nhân ra đi, thì...thì...tiểu tỳ không ở bên cạnh để phục thị chủ nhân. Ai sẽ giặt quần ao cho chủ nhân ? Ai sẽ dâng những món ăn hợp miệng cho chủ nhân. Vì vậy...vì vậy... tiểu tỳ xin chủ nhân cho Minh Minh với tiểu tỳ cùng đi, thì tiểu tỳ mới an tâm.
Thủ-Độ còn đang suy nghĩ, thì Như-Lan đã nắm lấy tay Diệu Diệu :
- Anh ơi ! Anh dẫn Diệu Diệu, Minh Minh cùng đi với chúng em cho vui. Hứa đi anh.
Từ ngày trở lại Mông-cổ, Thủ-Độ cực kỳ sủng ái cô em gái này. Hầu tát yêu em :
- Em đã muốn vậy, thì làm sao anh từ chối được.
Thuyền nhổ neo, rồi hướng Nam, dương buồm. Thủ-Độ dẫn Minh Minh, Diệu Diệu với Thủ-Minh, Như-Lan lên trên sàn thuyền, ngắm cảnh. Bây giờ là lần đầu tiên Hầu mới chú ý đến hai cô tỳ nữ. Quả thực hai nàng là hai giai nhân hiếm có. Minh- Minh thì đẹp chói chang như hoa hải đường mới nở ban mai. Còn Diệu Diệu thì đẹp nhu mì, đẹp huyền ảo. Hầu nghĩ thầm :
- Cũng may mà Hốt Tất Liệt tặng hai nàng cho ta. Bằng không, hai nàng lọt vào tay bọn Thảo-nguyên ngũ điêu, thì giỏi lắm chúng qua đêm với hai nàng, rồi lại cho bọn binh lính thô tục thay nhau hưởng thụ trên đóa hoa nhụy rữa. Nhưng ta phải có thái độ nào với hai nàng đây ? Ta có nên dùng hai nàng như tỳ thiếp không ? Hay ta tìm một nam nhi đại trượng phu gả hai nàng ? Bây giờ đem hai nàng về nước, trước hết ta phải dạy tiếng Việt cho hai nàng đã.

Thế là ngay chiều hôm đó, Hầu sai viên bồi sứ dạy tiếng Việt cho hai nàng với hai em.
Lênh đênh trên biển hơn hai tháng, một hôm Thủ-Độ đang ngồi đọc sách, thì thuyền trưởng Quách Ty vào báo :
- Thưa sư huynh. Thuyền đã đi vào hải phận trấn Tiên-yên. Tại Tiên-yên, có ba thủy đội đồn trú. Ta nên ghé bến hay không ?
- Có chứ ! Hai tháng qua, bị giam trong thuyền, ăn uống kham khổ, lại cuồng cẳng quá rồi. Ta phải lên bờ ăn uống cho đỡ xót ruột, đi lại cho dãn gân cốt chứ ?
Nói rồi Hầu dẫn hai em lên sàn thuyền. Hai nàng Minh Minh, Diệu Diệu cũng lên theo. Con thuyền hướng mũi vào bờ. Xa xa, những ngọn núi vùng Tiên-yên đã hiện ra.
Thủ-Minh hỏi :
- Anh ơi ! Mình về tới Thăng-long rồi à ?
- Không, Thăng-long còn xa lắm. Đây là trấn Tiên-yên, nằm sát biên giới Hoa-Việt.

Một con thuyền của Thủy-quân kéo buồm ra khơi . Trên cột buồm có lá cờ thêu hình con rồng uốn khúc, cạnh con chim âu sải cánh bay ngang. Biết đó là kỳ hiệu của Thủy-quân Đại-Việt, Chiến thuyền này chặn ngang trước con thuyền của sứ đoàn. Viên thuyền trưởng phất cờ ra lệnh cho con thuyền Ó-đen đi chậm lại. Thủ-Độ cũng ra lệnh cho thủy thủ kéo cờ hiệu lên. Lá cờ có hàng chữ :

« Đại-Việt khâm sứ,
Đằng-châu hầu,
Tổng lĩnh thị vệ Trần Thủ-Độ
».

Chiếc chiến thuyền kè mạn vào con thuyền Ó-đen. Một viên sĩ quan từ bên chiến thuyền cùng với một đội thủy thủ sang con thuyền Ó-đen. Y hành lễ với Thủ-Độ :
- Tiểu nhân họ Cù tên Quang, lĩnh Tham-tá xin tham kiến Khâm-sứ đai nhân. Không biết Khâm-sứ đại nhân trên đường sang Tống hay trên đường về nước ?
- Chúng ta trên đường về nước. Hiện ai trấn thủ quân cảng Tiên-yên này ?
- Thưa đại nhân, là Phó đề đốc Đặng Vũ.
Nghe tên Đặng Vũ, Thủ-Độ nhớ lại, chính y là thuyền trưởng, đem thuyền đi đón mẫu thân về Đại-Việt. Y có liên quan tới cái chết của mẫu thân. Mấy năm trước, Hầu từng giả làm con quỷ ba đầu, nhát y với vợ con. Hầu ra lệnh cho Cù Quang :
- Chúng tôi muốn ghé vào Tiên-yên nghỉ chân đôi ba bữa. Xin Tham-tá dẫn thuyền chúng tôi vào cảng.
Cù Quang ra lệnh cho chiến thuyền dẫn đường con thuyền Ó-đen. Y với đám thủy thủ vẫn đứng phục thị cạnh Thủ-Độ. Thấy trên mặt Cù Quang có điều gì bối rối, nan giải. Thủ-Độ hỏi :
- Này Vũ Tham-tá ! Chúng tôi có phiền người lắm không ?
- Thưa đại nhân không ! Có điều tình hình Thăng-long rối loạn, tiểu nhân e thuyền của đại nhân không thể về được trong lúc này.
- Cái gì...Tại sao lại rối loạn ?
- Tiểu nhân nghe Phó đề đốc bàn với phu nhân, nên chỉ hiểu lõm bõm mà thôi. Nguyên Hoàng-thượng nghe lời sàm tấu của Tả-kim ngô thượng tướng quân Phạm Du, tổng trấn Thanh-hóa, mà xử tử Vũ-kỵ thượng tướng quân Phạm Bỉnh-Di với con là Phạm Bỉnh Du. Hổ-uy đại tướng quân Quách Bốc cùng chư tướng phẫn uất, kéo quân làm loạn. Hoàng thượng bôn tẩu đâu không rõ. Bọn Quách Bốc lập Hoàng-tử Long-Thẩm lên làm vua. Tả Lãnh-vệ thượng tướng quân Nguyễn Nộn. Vân-ma thượng tướng quân Đoàn Thượng bất phục. Cả hai đem quân về Thăng-long đánh Quách Bốc. Trong nước, các An-phủ sứ, Tuyên-vũ sứ không có binh lính trong tay, nên họ không theo Thẩm, cũng chẳng tôn Sảm. Tất cả đều biên thùy một cõi. Nước loạn to.
- Vậy Phó đề đốc Đặng Vũ theo về ai ?
- Người không theo ai cả. Người tách ra thành một sứ quân.
- Quân số Thủy-quân ở Tiên-yên này được bao nhiêu người ?
- Chỉ có ba thủy đội, khoảng 6 trăm người.
- Hiện Phó đề đốc ở đâu ?
- Người đem quân đi bắt cướp ở cách đây hơn trăm dặm.
- Cướp hay quan binh làm loạn ?
- Thưa là bọn nghèo khổ, bọn ăn mày tụ tập thành bang Lĩnh-Nam, rồi kéo nhau đi cướp của nhà giầu, chia cho nhà nghèo.
Thủ-Độ giật bắn người lên. Hầu nghĩ thầm :
- Không biết đám này thuộc Khả-hãn nào ? Nhất định có gì bí ẩn ở trong, chứ bang chúng Lĩnh-Nam không thể là trộm cướp được.

Thuyền đã cập bến.

Khi khởi hành từ Thăng-long, Thủ-Độ đã chọn tất cả nhân viên sứ đoàn đều là đệ tử phái Đông-a, trừ phó sứ và bốn bồi sứ là học trò của Phạm Kính-Ân ở bộ Lễ. Vì vậy hầu yên tâm rằng tất cả sứ đoàn cũng như, thủy thủ đoàn đều đáng tin cậy.
Sau khi dặn dò thuyền trưởng Quách Ty phải tối đề phòng người lạ. Hầu dẫn hai em vơí Diệu Diệu, Minh Minh lên bờ. Đây là lần đầu tiên thấy nhà cửa phố phường của vùng nhiệt đới. Hai trẻ Thủ-Minh, Như-Lan cứ luôn mồm hỏi anh. Thủ-Độ giảng giải đến mệt nhừ, không còn suy nghĩ được gì nữa.

Sau khi dạo một vòng phố chợ, Thủ-Độ đẫn bốn người vào một tửu lầu. Tuy đất nước đang ly loạn, nhưng Tiên-yên là trấn biên thùy, có hàng nghìn quân đồn trú, hơn nữa là cửa biển cho các thương thuyền Tống, Kim, Liêu, Chiêm-thành, Mông-cổ... qua lại buôn bán. Nên dân chúng đông đúc, giầu có. Vì vậy các nhà hàng vẫn đông khách. Thủ-Độ gọi mấy món ăn Việt, rồi phóng mắt nhìn ra phố. Hầu đang mơ màng nghĩ đến bang Lĩnh-Nam :
- Không biết mình đi vắng, ở nhà xẩy ra những biến động lớn, anh Trần Thừa là Nguyên-sư, anh Tự-Khánh là Tả hộ pháp, thầy Phạm Kính-Ân là Hữu hộ pháp có chỉ huy được bọn Khả-hãn không ? Bọn Khả-hãn có nắm được vùng trách nhiệm không ?
Tửu bảo bưng ra một nậm rượu. Thủ-Độ nhớ mình không gọi rượu, mà tại sao y lại bưng rượu ra ? Chợt để ý thấy trên khay đựng nậm rượu có một đồng tiền. Mặt đồng tiền có khắc bốn chữ Lĩnh-Nam thông bảo. Thủ-Độ giật mình, cầm nậm rượu lên, mở nắp : Trong nậm không có rượu, mà có một tờ giấy. Hầu mở ra, trên giấy có mấy chữ :
« Di chuyển thuyền tới bến của thương nhân. Giờ Dậu đêm nay, xin đến bái yết ».
Dưới vẽ hình con chim ưng. Đây là ký hiệu của bọn Thập bát Anh-hào. Nhưng không biết là ai ?
Thủ-Độ ăn uống xong, dắt hai em với Minh Minh, Diệu Diệu trở về thuyền. Hầu chỉ hai em, ra lệnh cho thuyền trưởng Quách Ty:
- Lần đầu tiên các em của tôi về Đại-Việt, quà gì đối với chúng cũng ngon cả. Chúng ăn luôn miệng. Đây là bến Thủy-quân, hàng quà rong không dám đến. Vậy sư đệ cho dời thuyền đến bến của thương nhân, tiện cho chúng ăn quà.
Quách Ty tuân lệnh, nhổ neo, dời xuống cuối bãi thương thuyền. Thủ-Độ dặn y :
- Đêm nay có người thân tín sẽ tới gặp tôi. Vậy sư đệ thấy ai lạ thì đừng hỏi.
Chuẩn bị xong xuôi, Thủ-Độ lên sàn thuyền, cùng hai tỳ nữ, hai em, bắc ghế ngồi nhìn sao đêm. Nghe tiếng sóng biển vỗ rì rào, Hầu lại tưởng nhớ đến những đêm cùng Kim-Dung dùng thuyền chơi trên sông ở Thiên-trường. Không biết bây giờ Kim-Dung ra sao ? Cuộc tình của mình với Kim-Dung sẽ đi về đâu ?

Một chiếc xe bán phở đang qua trên bờ. Người đẩy xe là một cô gái trẻ. Cạnh cô còn lão già lưng gù. Dường như lão là chủ chiếc xe phở này. Chiếc xe ngừng lại trước mũi con thuyền, lão cất tiếng rao :
- Phơ...ơ...ơ...ơ.
Minh Minh hỏi :
- Thưa chủ nhân, phở là món ăn gì vậy ?
- À, món này ngon hơn mì của Trung-quốc nhiều.
Nói đến đây, Hầu chợt nhớ đến những lần cùng Thập-bát anh hào ăn phở ở Thăng-long. Hầu gọi :
- Phở.
- Dạ.
- Ông cho tôi năm bát phở gà. Nhớ thêm trứng non nghe !
- Dạ.
Lão hàng phở nhúng bánh, thái thịt thực nhanh. Phút chốc đã xong năm bát. Lão bỏ vào khay, rồi ra lệnh cho cô gái:
- Con bưng phở xuống thuyền cho khách.
Cô gái bưng khay phở, leo qua tấm ván làm cầu nối từ bờ tới thuyền. Thủ-Độ chợt để ý đến bước chân của cô. Cô lướt nhẹ nhàng, rõ ràng là thân pháp Đông-a. Vào khoang thuyền, cô đặt 5 bát phở trước mặt Thủ-Độ. Cô nhìn Hầu nhoẻn miệng cười. Hầu còn đang ngạc nhiên, thì cô hỏi nhỏ :
- Những người quanh Đại-hãn có tin được không ?
Nghe tiếng nói, Hầu mới nhận ra cô gái là Cửu-Anh. Hầu nói nhỏ :
- Em hóa trang hay quá, đến anh cũng không nhận ra. Em yên tâm, người trong thuyền này đều tin được.
Cửu-Anh ngồi xuống cạnh Thủ-Độ :
- Từ khi Đại-hãn đi rồi, thì người lãnh đạo chúng em là Nguyên-sư Trần Thừa. Tả hộ pháp Trần Tự-Khánh thì tổng chỉ huy bọn em. Công việc trong bang tiến triển tốt đẹp.
- Thế Tổng-lĩnh Khả-hãn Phạm Kính-Nghĩa đâu ?
- Phạm sư huynh được phong làm An-phủ kinh lược sứ Gia-lâm, thành ra người bị quan trường ràng buộc, nên khoa xoay sở.
- Ta có một thắc mắc rằng sau khi đỗ võ Tiến-sĩ, Cửu-Hào đã được bổ nhiệm vào những chức gì ?
- Dù Cửu-Hào đỗ võ tiến sĩ, nhưng không phải là học trò Lĩnh-Nam ngũ hổ tướng nên không được bổ nhiệm làm võ tướng. Tuy vậy, các anh ấy lại được bổ nhiệm làm chức Đoàn luyện sứ tại các phủ, các trấn.
- Đoàn luyện sứ là chức gì vậy ?
- Là chức quan võ, trông coi việc huấn luyện Hoàng-nam, tráng đinh, dân đinh trong các xã.
Thủ-Độ vỗ đùi reo lên :
- Vậy thì, nhiệm vụ của chức này, không khác gì chức Khả-hãn mà anh trao cho các em. Có điều trước kia, anh nhân danh cái rối loạn của dân, rồi xướng xuất ra mà làm. Bây giờ lại do triều đình trao phó cho. Thực là danh chính, ngôn thuận.
- Vâng. Cho nên Cửu-Hào công khai tổ chức, kết hợp người của bang Lĩnh-Nam thành những đội hương binh, tinh nhuệ hơn cả binh của triều đình. Trước kia anh sợ bọn mặt dơi tai chuột trong triều dèm pha, nên chỉ cho tổ chức hương binh thành từng toán một trăm người, gọi là Đội. Bây giờ các Cửu-Hào trở thành Đoàn-luyện sứ, thì danh chính, ngôn thuận, nên Nguyên-sư Trần Thừa ra lệnh kết hợp mười đội thành một Vệ. Mỗi Vệ nghìn người, mới đủ khả năng bảo vệ thôn xã.
- Thế Cửu-hào coi những vùng nào ?
- Long-hưng, Quốc-oai, Bắc-giang, Hải-Đông, Trường-yên, Kiến-xương, Hồng-khoái, Thanh-hóa, Hoàng-giang.
- Trong bang, những ai coi vùng Thăng-long ?
- Là bọn con gái chúng em. Nhất-Anh coi Tây-hồ. Nhị-Anh coi Gia-lâm. Tam-Anh coi Cổ-loa. Tứ-Anh coi Long-biên. Ngũ-Anh coi Bắc-ngạn. Quân của Nhị-Anh mạnh nhất trong vùng Thăng-long, vì An-phủ sứ Gia-lâm Phạm Kính-Nghĩa giúp đỡ ngầm.
- Còn Thiên-trường, Diễn-châu, Đồn-sơn, Tiên-yên ?
- Thì Lục, Thất, Bát, Cửu anh.
Thủ-Độ hoang mang vô cùng. Hầu hỏi :
- Ban nãy, anh nghe viên Tham-tá Cù Quang kể rằng Phó đề đốc Đặng Vũ đem quân đi bắt cướp. Mà cướp là bang Lĩnh-Nam. Vụ này ra sao ?
Cửu-anh mỉm cười :
- Bọn em đâu có đi ăn cướp ? Bởi trong nước hỗn loạn. Thái-sư Đàm Dĩ-Mông theo phò Hoàng-tử Thẩm. Còn sư bá Trần Lý thì phò Thái-tử Sảm. Dĩ nhiên bang Lĩnh-Nam theo Trần sư bá. Còn Đặng Vũ thì y theo Đàm Dĩ Mông. Tuy bây giờ Hoàng-tử Thẩm bị bại, Đàm Dĩ Mông bị thất thế. Nhưng tên Đặng Vũ vẫn biên thùy môt cõi. Tả hộ pháp Trần Tự-Khánh lệnh cho em phải chiếm trấn Tiên-yên. Trong khi Đặng Vũ bắt bọn em theo y. Bọn em không chịu. Đặng Vũ đem quân đánh bọn em. Để tránh tương tàn, ta giết ta. Chúng em tản vào dân chúng. Nên y tìm không ra. Trong khi bọn em vẫn ở sát nách y. Đêm nay bọn em đánh úp trấn này.
Thủ-Độ lắc đầu tỏ ý không hiểu :
- Em thuật cho anh nghe uyên nguyên tại sao lại có nội chiến tương tàn như thế này !
Cửu Anh khoan thai thuật :
« ...Niên hiệu Trị-bình Long-ứng thứ tư (Mậu Thìn, Dl. 1208) Giặc nổi lên ở Thanh-hóa. Thế cực lớn. Vua Cao-tông sai Tả Kim-ngô thượng tướng quân Phạm Du làm Tổng-trấn Thanh-Nghệ ».
- Cái gì là... vua Cao-tông ?
- Anh ngạc nhiên cũng phải, cái ông vua có tên là Long-Trát sai anh đi sứ đó, băng hà rồi. Thái-tử Sảm lên nối ngôi, đặt miếu hiệu cho ông ta là Cao-tông. Để em thuật tiếp.
« ...Quách Bốc coi Khu-mật viện tâu rằng : Nhân nắm binh quyền trong tay, Du làm phản. Một mặt Du đem quân ở Nghệ-an, Thanh-hóa tiến ra. Một mặt chân tay của Du ở Quốc-oai cất quân theo Du, đánh về Thăng-long. Vua sai Phụng-ngự là Vũ-kỵ thượng tướng quân Phạm Bỉnh-Di làm chánh tướng. Hổ-uy đại tướng quân Quách Bốc, Chinh-viễn đại tướng quân Phạm Bỉnh-Du làm phó tướng. Bỉnh-Du là con Di; đem quân đi dẹp. Du bị thua, bỏ Thanh-Nghệ chạy ra Quốc-oai. Bỉnh-Di, Quách Bốc, Bỉnh-Du kéo quân về Quốc-oai, đánh tan quân Du, nhân đó đem võ sĩ về quê Du bắt hết vợ, con, gia thuộc xử tử tận số. Lại tịch biên gia sản đốt hết. Du trốn thoát về kinh vào triều kiến vua, kêu oan rằng : Thần tuân chỉ bệ hạ, đem quân vào Thanh-nghệ dẹp giặc. Không ngờ bị Phạm Bỉnh-Di vì tư thù cáo gian. Bệ hạ tin lời, sai y cầm quân đánh hạ thần. Hạ thần biết Di tuân chỉ, mà đem quân đến, nên không dám chống cự. Di lợi dụng có chiếu chỉ trong tay, đem quân giết ba họ nhà thần. Vua giận lắm, sai sứ gọi Phạm Bỉnh-Di, Quách Bốc về kinh. Bỉnh-Di dẫn con là Bỉnh-Du vào triều kiến vua. Có người mách Di rằng : Chớ có vào triều kiến. Vào thì sẽ bị vua xử trảm. Vì vua đã nghe lời kêu oan của Phạm Du rồi. Ỷ vào thế quân của mình mạnh, lại đang đóng ngoài thành Thăng-long. Di nói : Ta tuân chỉ vua mà ra quân dẹp giặc, ta há sợ lời xàm tấu của giặc ư ? Vả vua có chỉ triệu hồi, ta còn trốn vào đâu được ?
Bỉnh-Di dặn Quách Bốc : Sự đã như thế này, ta cứ vào triều kiến. Nếu như vua nghe lời Phạm Du làm tội ta, thì hiền đệ đem quân vào phá ngục cứu ta ra. Bỉnh Di dẫn Bỉnh-Du vào bệ kiến. Bỉnh-Di đối chất vối Phạm Du, bị yếu lý. Vua sai bắt cha con Di giam lại, rồi tuyên chỉ gọi Quách Bốc vào chầu. Bốc thấy nguy, kéo quân vây Hoàng-thành. Vua nổi giận sai lấy giáo đâm chết cha con Bỉnh Di, rồi cùng Hoàng-hậu bỏ kinh thành chạy lên Quy-hóa. Bọn Quách Bốc lấy chiếu của vua bọc xác cha con Bỉnh Di, dùng xe vua chở khắp Thăng-long cho hả dạ kẻ chết oan.
Quách triệu tập các quan lại, tuyên bố : Hôn quân vô đạo, nghe lời giặc, giết hại danh tướng cầm quân. Nay không biết ở đâu. Nước một ngày không thể không vua. Vậy hãy lập Hoàng-tử Long-Thẩm lên nối ngôi. Long-Thẩm phong cho Quách Bốc làm Phụ-quốc thái úy. Đàm Dĩ-Mông làm Thái-sư. Nguyễn Chính-Lại làm Thái-phó. Hơn 20 người nhận chức của Long-Thẩm. Lại truy phong cho Phạm Bỉnh-Di làm Trung-vũ đại vương. Bỉnh-Du làm Nghĩa-thành công.

Bọn Nguyễn Nộn, Đoàn Thượng không phục Quách Bốc. Hai người dấy quân chống lại, mỗi người hùng cứ một phương. Trong nước thành ra ba sứ quân đánh nhau .
Còn Thái-tử Sảm thì bỏ chạy về Hải-ấp, trấn Thiên-trường nương nhờ Thần-nông sứ Trần Lý. Trước hoàn cảnh đất nước hỗn loạn, dân chúng khốn khổ đến nỗi sống không nổi, mà chết cũng không xong. Thần-nông sứ Trần Lý triệu tập chư vị chưởng môn, chư vị đại tôn sư các phái, để xin quyết định rằng, có nên giúp Thái-tử Sảm dẹp giặc không ? Các tôn sư đều quyết định : Tuy hơn trăm năm qua, triều Lý đã làm không biết bao nhiêu điều khiến cho đất nước ly loạn, dân chúng khốn khổ. Nhưng nay trước nạn giặc dã nổi lên khắp nơi. Sĩ dân phải tuốt gươm dẹp giặc. Sau khi yên dân, ta sẽ ép triều đình phải cải cách.
Anh hùng các nơi bầu Thần-nông sứ Trần Lý làm thủ lĩnh.
Thần-nông sứ Trần Lý được Thái-tử Sảm phong cho chức Phụ-quốc thái-úy, Bình-chương quân quốc trọng sự, Chiêu-văn quan đại học sĩ, giám tu quốc sử. Khai-hoang sứ Tô Trung-Từ hàm Đặc-tiến Thiếu-bảo, Binh-bộ thượng thư, Uy-viễn đại học sĩ, kiêm chức Điện-tiền chỉ huy sứ. Đại đô đốc Phùng Tá-Chu hàm Hiệp-tán Thái-bảo, quản Khu-mật viện, tước Long-biên công. Nguyên-sư bản bang Trần Thừa hàm Thái-tử thiếu bảo, Tham-tri chính sự, Văn-minh điện đại học sĩ, lĩnh Bình-lỗ thượng tướng quân, Thượng-thư lệnh kiêm trung thư lệnh. Tả hộ pháp Trần Tự-Khánh hàm Thái-tử thái bảo lĩnh Phiêu-kỵ thượng tướng quân, Long-thành tiết độ sứ, Tổng-lĩnh Thiên-tử binh. Hữu hộ pháp Phạm Kính-Ân hàm Thái-phó thượng trụ quốc, lĩnh Lại-bộ thượng thư, Càn-nguyên điện đại học sĩ, tước Đông-triều quốc công.
Thái-tử Long-Sảm cầu hôn Lễ-vụ bản bang Trần-thị Kim-Dung ».
- Sao ? Cái gì ? Y cầu hôn Kim-Dung à ?
Thủ-Độ chết điếng người đi : Anh chắc sư bá Trần Lý không gả.
- Người gả mới khổ chứ !
- Trời ! ! !
« Thái-úy không mấy đồng ý. Song anh hùng các nơi khuyên rằng : Thái-tử Sảm vốn là người dễ bị ảnh hưởng bởi kẻ xấu. Mà Kim-Dung là một nữ trung hào kiệt. Nếu Kim-Dung làm vương phi của Long-Sảm, thì người có thể kiềm chế được y ».
Chân tay Thủ-Độ run lẩy bẩy, tai Hầu ù đi :
- Thế là hết ! Hỡi ơi ! Kim-Dung từng hứa với ta rằng nàng biết có ta. Thế mà nay lại chịu lấy tên mặt dơi Long-Sảm ! Suốt mấy năm ở Mông-cổ, ngày ta nhớ, đêm ta tưởng. Thế mà bây giờ hóa ra một tuồng hư ảo !
« Thái-úy Trần Lý truyền một hịch đi khắp nơi kể tội bọn Quách Bốc, Đàm Dĩ-Mông, rồi kêu gọi các trấn đem quân về dẹp giặc. Hầu hết các Tuyên-vũ sứ, An-phủ sứ đều án binh bất động. Tuy vậy với lực lượng đệ tử của các gia, các phái, của Thủy-quân, Thái-úy đem quân về đánh với quân của Quách Bốc. Cuộc chiến kéo dài mấy tháng mà vẫn không khôi phục được Thăng-long ».
- Tại sao lại vô lý như vậy. Một bên là hào kiệt, các võ phái lại có chính nghĩa, mà không thắng được bọn Quách Bốc ư ?
- Giản dị thôi. Về chính nghĩa thì một bên là Hoàng-tử Thẩm, một bên là Thái-tử Sảm. Hai người đều là con vua. Chả ai hơn ai cả. Hoàng-tử Thẩm có lợi thế là hầu hết các quan văn võ trong triều đều ở Thăng-long, nên họ phải theo y. Còn phía Thái-tử Sảm tuy được các võ phái, nhất là lực lượng phái Đông-a phò tá, nhưng quân là quân ô hợp, tướng không kinh nghiệm cầm quân. Trong khi quân của Quách Bốc là quân triều, thiện chiến, tướng kinh nghiệm chiến đấu.
« ... Sau Nguyên-sư Trần Thừa, Tả hộ pháp Trần Tự-Khánh, Tổng-lĩnh Khả-hãn Phạm Kính-Nghĩa âm thầm họp với các Khả-hãn quanh Thăng-long để yêu cầu giúp Thái-tử Sảm. Cuộc họp gồm các Khả-hãn vùng Tây-hồ, Gia-lâm, Cổ-loa, Long-biên, Bắc-ngạn, Thiên-trường. Nhưng thất bại. Bởi không Khả-hãn nào chịu giúp Thái-tử Sảm".
Từ đầu đến cuối, phó sứ Chu Mạnh-Nhu không nói một tiếng nào. Bây giờ y mời hỏi:
- Thưa cô nương! Bang Lĩnh-Nam do Khâm-sứ đại nhân làm bang trưởng. Nay người đi vắng, thì Nguyên-sư hay Tả Hữu hộ pháp có sẽ thay thế. Vì quốc sự, ba vị đó ra lệnh, mà các Khả-hãn chống lại ư?
- Nguyên-sư, Tả Hữu hộ pháp cũng như Phó-sứ đại nhân, không ai biết mục đích nguyên thủy thành lập bang, vì vậy không ai hiểu chúng tôi cả.
- Xin cô nương nói rõ hơn.
- Lúc thành lập bang, chỉ có Đại-hãn, Kim-Dung, Mỹ-Vân, Thập-bát anh hào tổng cộng 21 người. Tôn chỉ của chúng tôi là Lời nguyền Chân-giáo, Lời nguyền Tây-hồ và Lời nguyền trước lăng Quốc-tổ tức lời nguyền Hy-cương. Chúng tôi cùng thề rằng, bất cứ trường hợp nào, cũng không thay đổi tôn chỉ đó.
- À, tôi không biết nội dung ba lời nguyền, nên không hiểu nổi. Cô nương có thể tiết lộ cho tôi nghe đôi chút về ba lời nguyền đó chăng?
Cửu-Anh đưa mắt nhìn Thủ-Độ ngụ ý hỏi: Có nên nói không? Thủ-Độ gật đầu. Cửu-Anh tóm lược ba lời nguyền cho Mạnh-Nhu nghe, rồi kết luận:
- Lời nguyền tuy dài, nhưng tóm lại có ba điều tối quan trọng. Một là hy sinh thân mình cho sự nghiệp Đại-Việt. Dù điều xấu đến đâu cũng làm, miễn là có lợi cho đất nước. Hai là lật đổ triều Lý. Ba là giết bọn Gia-thụy ngũ anh, bởi chúng là những kẻ thù không đội trời chung của Đại-hãn.
Mạnh-Nhu chợt hiểu:
- Vì vậy các Khã-hãn không giúp Sảm, cũng chẳng theo Thẩm. Bởi cả hai đều là kẻ thù của Khâm-sứ đại nhân.
- Rồi sau ra sao?
Thủ-Độ hỏi:
- Cuối cùng tại sao các em giúp Sảm?
"... Chúng em căn cứ vào điều thứ nhất, hy sinh thân mình cho sự nghiệp đất nước. Nguyên do, chiến cuộc kéo dài, dân Thăng-long khổ quá, bọn Khả-hãn quanh Thăng-long mới chịu ra quân. Nhưng chỉ ra quân giúp Thái-úy Trần Lý, Nguyên-sư Trần Thừa, Tả hộ pháp Trần Tự-Khánh, chứ không giúp triều Lý. Thế rồi chỉ một trận bọn Quách Bốc bị đánh bại.

Chiến thắng, Thái-úy đón vua hồi loan. Người truyền trừng phạt bọn Đàm Dĩ-Mông, Nguyễn Chính-Lại, Quách Bốc để làm gương cho bọn gian thần tặc tử. Nhưng nhà vua nghe lời Đàm hoàng hậu, ân xá bọn Dĩ-Mông, lại trao trọng quyền cho chúng. Ngược lại, Đàm hậu sai người kể tội Kiến-khang vương, Kiến-bình vương, Gia-chính hầu Long-Nguyên, Nam-chính hầu Long-Toàn, phò mã Lê Tự-Anh... hơn ba chục người trong tôn thất...rằng theo giặc. Truyền bắt cả nhà đem giết. Số người trong tôn thất chết đến hơn năm nghìn. Đến nỗi, họ Lý gần như tuyệt tự. Trong số những người đó, duy một mình Kiến-bình vương Long-Tường cùng gia nhân, trước đó, trong lúc hỗn loạn, chạy về Hải-ấp nương nhờ phái Đông-a, nên thoát chết.
Tuy khôi phục Thăng-long, lập lại trật tự, nhưng đất nước vẫn loạn, các An-phủ sứ, Tuyên-vũ sứ vẫn không quy phục triều đình. Nguyên do, Đàm hoàng hậu ban mật chỉ cho họ chống lại Thái-úy Trần Lý ».
- Thế, Thái-hậu Vương Thụy-Hương có còn tại thế không ?
- Trong lúc Quách Bốc đem quân làm loạn, xa giá rời kinh đô, Thái-hậu bị lạc. Cho đến nay cũng không biết tin tức.
- Thế bọn An-phủ sứ, Tuyên-vũ sứ lấy lực lượng đâu mà chống lại triều đình ?
- Lực lượng của bang Lĩnh-Nam ta.
- Tại sao các Khả-hãn lại theo bọn chúng ?
- Thì lệnh của Đại-hãn đã dặn dò bọn em rằng, phải biết mềm mỏng. Ở vùng nào, phải hết sức theo lệnh điều động của họ. Cho nên mỗi An-phủ sứ đều có một Vệ hương binh, do Khả-hãn chỉ huy theo giúp.
« ...Niên hiệu Trị-bình Long-ứng thứ 6 (Canh Ngọ, DL.1210). Trong khi chỉ huy dẹp giặc, Thái-úy Trần Lý bị trúng tên tử thương. Triều đình truy phong chức tước như sau :

Kiểm hiệu Thái-sư.
Thượng trụ quốc,
Khai phủ nghị đồng tam tư.
Trung-vũ quân tiết độ sứ.
Phụ quốc đại tướng quân.
Ninh-quốc đại vương.


Triều đình lấy chức tước của người, phong cho con người là Trần Thừa và Trần Tự-Khánh ».
Thủ-Độ ngắt lời :
- Hai anh ta được phong chức tước gì ?
- Trần Thừa được phong Đặc-tiến Thiếu-bảo Đồng-bình chương sự, Chiêu-văn quan đại học sĩ giám tu quốc sử, Thượng-thư lệnh, kiêm Trung-thư lệnh. Trần Tự-Khánh làm Phụ-quốc thái-úy, Long-thành tiết độ sứ, Tả Kim-ngô thượng tướng quân.
- Thôi em thuật tiếp đi.
- Vâng.
« ... Hoàng thượng sai Thượng-phẩm phụng ngự Đỗ Quảng đem quân đón Thái-tử Sảm với vương phi về Thăng-long. Nhưng Đàm hoàng hậu mật dặn Đỗ Quảng chỉ đón Thái-tử thôi, còn vương phi Kim-Dung thì trả về nhà cha mẹ. »
Thủ-Độ chửi :
- Con bà nó, từ hơn trăm năm nay, những con mụ Thái-hậu, Hoàng-hậu trong triều cứ xen vào quốc sự, thành ra đất nước đảo điên. Cái gã vua Cao-tông với tên mặt thịt Long-Sảm đã phải bỏ Thăng-long lưu lạc. Không có nhà ta, sao có thể khôi phục ngôi vua ? Thế mà vừa về Thăng-long, con mụ thối tha Đàm Ngọc-Anh đã dở thói ăn cháo đá bát. Anh Trần Thừa của ta, vốn là người đại lượng, ắt bỏ qua vụ này. Nhưng anh Tự-Khánh thì anh không để yên đâu.
« ...Tháng 10, vua không khỏe, người tuyên triệu Thái-sư Đỗ Kính-Tu vào cung nhận mệnh ký thác. Ngày 28, vua băng ở cung Thánh-thọ. Thái-tử Long-Sảm lên ngôi trước linh cữu, đặt miếu hiệu cho phụ hoàng là Cao-tông, lại ban chế tôn mẹ là Hoàng-hậu họ Đàm lên làm Hoàng-thái-hậu rồi sai thuyền ngự đi đón vương phi Kim-Dung. Nhưng bấy giờ đường Thăng-long đi Thiên-trường bị giặc chiếm cứ, nên Thái-úy Tự-Khánh từ chối không thể để vương phi đi ».

Ghi chú của thuật giả:

Đương thời, đang tại vị, thì Lý Long-Sảm dùng niên hiệu là Kiến-gia. Trong các văn kiện cũng như người đương thời gọi là Kiến-gia hoàng đế. Sau này Kiến-gia đi tu, lấy đạo hiệu là Huệ-Quang. Lúc băng, được tôn thụy hiệu là Huệ-tông.

Thủ-Độ cười nhạt :
- Ta đoán có sai đâu ! Anh Tự-Khánh không cho Kim-Dung đi, có nghĩa rằng cuộc hôn nhân Lý Trần đã cắt đứt. Cái ngôi vua kia khó mà giữ nỗi.
« ...Năm sau (Tân Mùi, DL. 1211) đổi niên hiệu là Kiến-gia nguyên niên. Nhà vua khám phá ra vụ Đỗ Quảng nhận chỉ dụ của vua Cao-tông đi đón vương phi Kim-Dung, mà lại vi chỉ nói rằng không có chỉ đón. Đỗ Quảng sợ bị tội, kéo quân làm loạn. Binh-bộ thượng thư Tô Trung-Từ đem quân dẹp Đỗ Quảng. Chỉ một trận, Trung-Từ phá tan quân Quảng, chém đầu y đem bêu ở chợ Tây-nhai. Nhà vua sai Phụng-ngự Phạm Bồ đi đón vương phi Kim-Dung về kinh, phong làm Nguyên-phi ».
- Rồi sao ?
Thủ-Độ hỏi :
- Tình hình hiện nay ra sao ?
- Hiện triều đình chỉ kiểm soát được vùng Thiên-trường, Trường-yên, Thăng-long, Kinh-Bắc mà thôi. Còn lại, các nơi thì giặc chiếm cứ. Các trấn, các phủ thì bọn Tuyên-vũ sứ, An-vũ sứ cát cứ không quy phục. Lực lượng mạnh nhất là hai sứ quân Đoàn Thượng với Nguyễn Nộn.
Lòng Thủ-Độ nóng như lửa. Hầu hỏi :
- Hiện lực lượng của em tại đây được bao nhiêu người ?
- Em chỉ có một Vệ đặt tên là Vệ Tiên-yên thuộc loại thiện chiến. Còn như vét hết tráng đinh, hương binh, có thể tới mười Vệ.
Thủ-Độ quyết định :
- Trước hết chúng ta phải chiếm trấn Tiên-yên này, rồi liên lạc với Thái-bảo Phùng Tá-Chu, Thái-úy Trần Tự-Khánh sau. Hiện tên Đặng Vũ đang đóng quân ở đâu ?
- Tất cả quân của y đều là Thủy-quân, nên khi chiến đấu trên bờ thì mất hết khả năng. Mấy hôm nay, y đem quân đi tìm Vệ Tiên-yên. Bọn em dụ cho y đi rất xa, rồi đêm nay, chúng em chiếm thị trấn này. Nhưng dù đi đâu chăng nữa, y cũng về nhà ngủ trước nửa đêm. Anh định sao ?
- Anh hiện là Khâm-sứ. Phàm Khâm-sứ ra ngoài, gặp bất cứ điều gì có lợi cho triều đình thì làm, không phải hỏi ai. Đợi Đặng Vũ về, anh cho võ sĩ phục sẵn rồi gọi y vào bắt phải quy phục triều đình. Y theo, thì ta cho y giữ nguyên chức tước. Y chống, thì ta chặt đầu y tại chỗ.
Chợt nhớ ra chuyện gì, Cửu Anh hỏi Thủ-Độ :
- Anh có nhớ chuyện con quỷ ba đầu ở Thăng-long không ?
- Nhớ chứ.
- Cách đây mấy năm, con quỷ ba đầu hiện lên nhát cả nhà tên Đặng Vũ. Từ ngày đó, y thờ con quỷ này trong nhà. Bất cứ làm việc gì, y cũng khấn quỷ ba đầu. Trong lần hội quân năm trước, em nghe Nguyên-sư Trần Thừa nói rằng : Chính anh là con quỷ ba đầu. Sự thực ra sao ?
Thủ-Độ phì cười :
- Đúng vậy !
- Tại sao bây giờ anh không làm quỷ ba đầu, rồi truyền y phải quy phục triều đình. Như vậy khỏi cần ra oai, khỏi cần dùng quyền, khỏi cần giao chiến, mà lúc nào y cũng phục tùng mình.
- Hay ! Em nghĩ ra được việc này hay thực. Vậy em kiếm cho anh hai quả bầu già, thực lớn, gói kín lại mang xuống đây cho anh.
- Gì chứ gáo bầu ở đâu chẳng có.
Cửu-Anh vẽ bản đồ căn nhà của Đặng Vũ, trình bầy chi tiết cho Thủ-Độ ngõ ngách khu nhà của y ở.
Cửu-Anh từ biệt Thủ-Độ , rời thuyền. Lát sau, có một thiếu niên mang tới cho Thủ-Độ cái bọc lớn. Thủ-Độ vào khoang thuyền mở ra. Trong có hai quả bầu khô. Hầu dùng bút vẽ hình lên một quả, giống mặt quỷ Vô-thường. Một cái giống quỷ mặt ngựa.
Đợi sang canh ba, Hầu lên khỏi thuyền, hướng căn nhà của Đặng Vũ dùng khinh công vọt tới. Căn nhà của Đặng Vũ không lớn cho lắm. Cũng chẳng có binh canh. Thủ-Độ tung mình qua hàng rào. Con chó nằm trong sân, thấy người lạ, nó cất tiếng sủa. Thủ-Độ nấp vào bụi hoa cạnh cửa chính. Con chó càng sủa lớn hơn. Có tiếng đàn bà đe chó:
- Vàng! Im ngay!
Thủ-Độ nhận ra tiếng vợ Đặng Vũ.
Con Vàng vẫn sủa. Có tiếng dép đi lẹp kẹp, rồi tiếng mở then cửa. Thủ-Độ chỉ chờ có thế, Hầu búng một viên sỏi, trung đầu con chó. Nó kêu lên tiếng oẳng, rồi nằm im. Một người đàn bà mở cửa bước ra sân, trong bóng đêm, Thủ-Độ nhận thị là vợ Đặng Vũ. Thị lên tiếng:
- Vàng! Mày nằm đó mà ngủ, không được sủa nữa! Phải đòn.
Thủ-Độ dùng một thức khinh thân nhẹ như chiếc lá rụng, vọt qua cửa, vào trong nhà. Thấy giữa nhà có bàn thờ, trên bàn thờ là một tượng...quỷ ba đầu. Suýt nữa bật thành tiếng cười, Hầu kéo tượng, bỏ ra sau bàn thờ, rồi leo lên ngồi. Vợ Đặng Vũ trở vào nhà, cài then vửa lại. Thủ-Độ ho lên một tiếng, rồi gật gật ba cái đầu, miệng khà...khà.... Mụ vợ Đặng Vũ nhìn lên. Dưới ánh sáng lờ mờ của ngọn đèn dầu lạc, thấy ông quỷ ba đầu đang gật gật, thì bở vía. Chân tay phát run, hàm răng đánh vào nhau lập cập, mụ quỳ gối xuống, rập đầu binh binh:
- Trăm lạy Vô-thượng Chí-tôn Đại-thánh Hoàng-đế. Xin ngài tha cho cái mạng kiến ruồi của con.
Dường như lời khấn của vợ làm cho Đặng Vũ tỉnh giấc. Y hỏi:
- Đêm khuya rồi, mình không đi ngủ, còn khấn khứa gì đó?
Thủ-Độ lại khà...khà mấy tiếng nữa.
- Mình ra đây ngay! Mau!
Đặng Vũ từ trong bước ra, Thủ-Độ tung người dậy điểm vào huyệt Phong-thị của y. Lập tức y ngã ngồi xuống, giống như quỳ gối vậy.
Thủ-Độ giả tiếng eo éo như đàn bà:
- Tên Đặng Vũ kia! Mi đã biết tội chưa?
Chân tay phát run, hàm răng đánh vào nhau lập cập, Đặng Vũ khấn:
- Trăm lạy Vô-thượng Chí-tôn Đại-thánh Hoàng-đế. Thần thờ kính bệ hạ, một tháng đôi tuần, không hề khiếm lễ. Thần vô tội.
- Mi không có tội với ta. Nhưng mi có tội vơí Xã-tắc thì còn nặng hơn nhiều.
- Thần quả vô tội.
- Được, ta hỏi mi. Đất có chủ, nước có vua. Trước đây vua Cao-tông bôn xuất, không tin tức, mi theo về Hoàng-tử Thẩm thì coi như được đi. Nhưng sau đó, Thái-tử Long-Sảm được anh hùng thiên hạ phò trợ, đã yên Xã-tắc, thế mà mi vẫn tách ra như một sứ quân. Như vậy mi phạm tội tạo phản, phải tru di tam tộc. Gần đây vua Cao-tông băng hà, Thái-tử Long-Sảm lên nối ngôi, ban lệnh ân xá. Mi không quy phục triều đình là một tội. Mi lại còn đem quân đi đánh hương-binh. Đó là hai tội. Mi còn chối không? Bây giờ có Khâm-sứ triều đình tại Tiên-yên. Ta phải chọc mù hai mắt mi, đánh què hai chân mi, rồi trao quyền trấn Tiên-yên cho Khâm-sứ.
Đặng Vũ chết điếng người. Y rập đầu binh binh:
- Xin Vô-thượng Chí-tôn Đại-thánh Hoàng đế tha tội cho thần. Chỉ vì thần nhận được mật chỉ của Đàm thái hậu rằng phải khởi binh chống lại bọn Trần Lý, y là một cường thần, không trước thì sau y cũng cướp ngôi của triều Lý. Vì vậy thần mới ra quân.
- Mi lại nói láo rồi! Ninh-quốc đại vương đã hoăng rồi, thì làm gì có cái vụ Thái-hậu nói rằng người mưu cướp ngôi vua?
- Muôn tâu, hồi Ninh-quốc đại vương còn tại thế, Thái-hậu quả có ban mật chỉ như vậy. Nhưng sau đó, hai con của vương là Trần Thừa, Trần Tự-Khánh, lại nắm hết quyền hành trong tay. Gần đây, có một thầy địa lý tâu với Thái-hậu rằng, họ Trần có ngôi mộ kết phát đế vương, uy lực mạnh đến độ thiên hạ bất khả đương. Vì vậy Thái-hậu phải đề phòng.
Thủ-Độ khà khà mấy tiếng, rồi nói:
- Mi có biết rằng, ngôi mộ kết phát của triều Lý ở Cổ-pháp đã hết phúc rồi không? Ngọc-hoàng thượng đế ban phúc cho họ Trần sẽ kế nghiệp họ Lý. Bất cứ ai chống lại họ Trần, đều trái mệnh trời, đều bị tru diệt. Hôm nay ta hãy làm cho vợ chồng, con cái mi tàn tật đã.
Vợ chồng Đặng Vũ rập đầu binh binh:
- Tâu Đại-thánh Hoàng đế. Người xưa nói, không biết là không có tội. Mệnh trời biến ảo khôn lường, thần là người trần mắt thịt, thần không biết họ Lý hết phúc, họ Trần kế nghiệp. Từ nay thần xin thuận mệnh trời, trung thành với họ Trần.
- Được! Ta tha cho người. Nhưng những sự gì ta nói hôm nay, mà vợ chồng mi tiết lộ ra ngoài, thì ta sẽ chọc thủng mắt vợ chồng mi. Nghe không?
- Dạ.
- Ngày mai mi phải đến thuyền quy phục Khâm-sứ, mi sẽ được thăng chức, tước. Nhớ đấy!
Thủ-Độ phóng tay điểm huyệt Thanh-minh của vợ chồng Đặng Vũ, khiến y không nhìn thấy gì, rồi Hầu tung mình ra ngoài, trở về thuyền.

Sáng hôm sau, Thủ-Độ gọi phó sứ, bồi sứ, thuyền trưởng Quách Ty, cùng các thủy thủ lại họp. Hầu tóm lược những biến cố xẩy ra ở Đại-Việt trong thời gian sứ đoàn lưu tại Mông-cổ, rồi kết luận :
- Bây giờ chúng ta về thì cái triều đình thối tha của tên Long-Sảm, cái hậu cung của mụ Thái-hậu họ Đàm sẽ bới lông tìm vết rằng, chúng ta đi sứ, sao lại ở Mông-cổ tới mấy năm? Sau đó đem chúng ta ra chém. Tài sản bị tịch thu, vợ con bị bắt làm tôi tớ cho người. Vậy các vị nghĩ sao ?
Tất cả mọi người đều xanh mặt, người nọ nhìn người kia, rồi lắc đầu. Phó sứ Chu Mạnh-Nhu bàn :
- Không biết ý quân hầu định sao ?
- Về thì chết. Chi bằng chúng ta không cho triều đình biết ta về. Nay trong nước, các trấn, các huyện đều tách rời khỏi triều đình. Tại sao ta không chiếm trấn Tiên-yên này, làm căn bản, rồi dùng các Khả-hãn bang Lĩnh-Nam chiếm các vùng còn lại, ta thực thi ba lời nguyền Chân-giáo, Tây-hồ, Hy-cương. Bấy giờ dễ gì ai hại được chúng ta?
Mọi người đều hoan hô.
Thủ-Độ truyền lệnh cho viên bồi sứ Vũ Khắc-Kim:
- Phiền tiên sinh hãy tới dinh Phó đề đốc Đặng Vũ, gọi y đến đây ra mắt ta. Ta sẽ có cách chế phục y.
Lát sau Đặng Vũ tới. Lễ nghi tất. Thủ-Độ ôn tồn hỏi:
- Tình hình trấn Tiên-yên này ra sao?
- Thưa Khâm-sứ đại nhân, rất yên tĩnh, ngoại trừ bọn bang Lĩnh-Nam, có một nữ tướng tên Cửu-Anh không tuân theo sự điều động của tiểu nhân, thị kéo Vệ Tiên-yên đi cướp bóc khắp nơi.
Thủ-Độ đập tay xuống án thư:
- Quân phản tặc này to gan. Chính mi chống lại triều đình. Vì vậy Kiến-gia hoàng đế sai bản nhân ra đây thu thập mi. Còn Cửu-Anh là người của triều đình. Cửu-Anh tuân chỉ của triều đình, mà mi lại vu oan là trộm cướp. Quân bay, trói y lại, xẻo từng miếng thịt cho ta.
Võ sĩ trói Đặng Vũ lại. Đặng Vũ kinh hãi:
- Thực oan uổng! Trước đây tiểu nhân nhận được mật chỉ của Đàm thái hậu rằng phải chống lại bọn Trần Lý. Sau khi Trần Lý chết rồi, Thái-hậu lại ban chỉ phải chống bọn Trần Thừa, Trần Tự-Khánh. Nhưng...
- Nhưng gì?
- Hôm qua Vô-thượng Chí-tôn Đại-thánh hoàng đế giáng trần, ban chỉ rằng, tiểu nhân phải ... phải quy phục triều đình. Nên tiểu nhân mới tới đây để Khâm-sứ đại nhân điều động.
Thủ-Độ trở lại bộ mặt nhu nhã:
- À thì ra thế! Phó đề đốc bị oan. Ta thực nóng nảy.
Thủ-Độ cởi trói cho Đặng Vũ, rồi ra lệnh:
- Bản sứ đã chiêu an Cửu-Anh. Thay triều đình, ta thăng Phó đề đốc lên làm Đô-đốc. Vậy người hãy trưng thu dân thuyền, tổ chức khẩn cấp thành một hạm đội, mang tên hạm đội Âu-cơ.
Đặng Vũ rập đầu binh binh :
- Đa tạ Khâm-sứ đã thăng thưởng. Trong vịnh Hạ-long này, có đến hơn mười vạn con thuyền đánh cá. Số ngư dân sống trên thuyền tới ba mươi vạn. Khâm-sứ đã ban lệnh, thuộc hạ có thể tổ chức được một hạm đội trong vòng mười ngày.
Thủ-Độ hài lòng :
- Bây giờ người là Đô-đốc, di chuyển không ngừng, vậy chức Tuyên-vũ sứ Tiên-yên này ta trao cho một quan văn.
- Xin tuân lệnh Khâm-sứ.
Thủ-Độ gọi Bồi-sứ Vũ Khắc-Kim :
- Tiên-yên là một cửa biển, thuyền ngoại quốc qua lại nhiều, cần phải có một quan văn cai trị. Kể từ ngày hôm nay ta cử tiên sinh lĩnh chức Tuyên-vũ sứ Tiên-yên. Mọi luật lệ vẫn giữ nguyên. Song có ba điều phải ghi nhớ.
- Xin chờ lệnh đại nhân.
- Một là các phú gia, quan lại đã bỏ tiền ra mua người về làm tôi tớ. Hãy cho họ trở về với gia đình, sau này trấn sẽ bồi thường lại cho gia chủ.
- Hai là, chủ điền chỉ được thu tô như sau : Nhất đẳng điền một phần tư số thu hoạch. Nhị đẳng điền một phần năm số thu hoạch. Tam đẳng điền một phần mười số thu hoạch. Ai bỏ ruộng hoang, thì trấn sẽ cho tá điền cầy, rồi thu tô. Tô đó xung vào công nho.
- Ba là, đối với ngư nhân, mỗi ngày một đầu người đánh được hai mươi cân thì phải nộp thuế hai cân. Mỗi người đánh được ba mươi cân cũng chỉ nộp hai cân. Người nào đánh được năm mươi cân thì miễn thuế.
Vũ Khắc-Kim không hiểu :
- Thưa Khâm-sứ, thuộc hạ thấy chỉ thị của Khâm-sứ ban ra về tôi tớ, về ruộng thực là thương dân nghèo. Nhưng về ngư dân thì hơi bất công.
Thủ-Độ mỉm cười :
- Vũ tiên sinh không hiểu cũng phải. Chính sách thu thuế thủy sản của tên Thái-sư mặt lợn Đàm Dĩ-Mông đánh quá nặng theo số lượng; thành ra ngư dân đánh được nhiều, họ phải nộp thuế gần hết. Vì vậy họ chỉ làm đủ ăn mà thôi. Nay tôi đổi hẳn, họ sẽ thi nhau đánh ngày, đánh đêm. Họ sẽ mau giầu. Dân giầu thì nước mạnh.
Vũ Khắc-Kim chỉ là một viên Lang-trung bộ Lễ, có lẽ y làm quan cả đời cũng không hy vọng gì được bổ làm Huyện-lệnh. Bây giờ một bước được cử làm Tổng-trấn một trấn giầu có, rộng lớn, đến nằm mơ, y cũng không tưởng nổi.
Y rập đầu bái tạ.
Thủ-Độ bảo Đặng Vũ :
- Khi Đô-đốc ngồi đây, thì tôi đã sai sứ ban lệnh cho Cửu-Anh đem quân về. Cửu-Anh đang tiến quân vào trấn, trong khi quân của Đô-đốc lại đóng cách đây hơn trăm dặm. Giả như giờ này Đô-đốc chưa quy phục triều đình, thì e khó thoát khỏi bị chặt đầu. Thôi chúng ta lên bờ đón Vệ Tiên-yên.
Nghe Thủ-Độ nói, Đặng Vũ kinh hoảng. Y không tin bọn Cửu-Anh có thể chiếm trấn Tiên-yên dễ dàng như vậy. Tuy nhiên y cũng cứ theo Thủ-Độ lên bờ. Vừa rời thuyền, y phóng mắt nhìn khắp nơi, chỗ nào cũng thấy những thiếu niên dân dã cầm vũ khí canh phòng. Ngay trên các chiến hạm của y, cũng bị chiếm từ hồi nào.

Y càng kinh ngạc khi thấy dân chúng đứng đầy hai bên đường hướng mắt về phía phía chân núi chờ đón: Một đội thiếu niên, nam, nữ, y phục dân dã, hàng ngũ ngay thẳng, vũ khí sáng ngời, khí thế mạnh như núi lở băng tan; vừa thúc trống, vừa tiến bước về thị trấn. Người dẫn đầu là một thiếu nữ xinh đẹp. Chính là Cửu-Anh.
Nhìn khí thế đội hương binh Lĩnh-Nam, Đặng Vũ rùng mình:
- Mình nghe nói, Tuyên-phi Thụy-Hương là người Tống, sinh ra vua Cao-tông, đã ép nhà vua giải tán Thiên-tử binh, Kỵ-binh, Ngưu-binh, cùng các hiệu binh địa phương. Từ ngày ấy đến giờ, mỗi huyện chỉ có một đội tráng đinh. Cho nên giặc cướp nổi lên khắp nơi, mà triều đình bó tay. Gần đây, họ Trần mộ hương binh, tổ chức lại quân đội, lập trật tự. Sở dĩ họ Trần thành công là nhờ các Vệ hương binh Lĩnh-Nam. Mình cứ khinh thường các Vệ này ô hợp, trong khi đó dân chúng đồn rằng tổ chức bang Lĩnh-Nam trải ra khắp đất nước. Mỗi thôn, mỗi xóm đều quy tụ những thiếu niên khí tiết. Các Vệ của họ hùng tráng vô cùng. Mấy hôm trước mình nhận chỉ dụ mật của Thái-hậu, đem quân đi đánh Vệ Tiên-yên. Cũng may, chưa đụng độ, bằng không, khí thế của chúng mạnh dường ấy, thì mình đương sao nổi?
Vệ Tiên-yên tiến vào thị trấn, mau chóng dàn ra trước bến dân thuyền. Cửu-Anh hô lớn:
- Bọn thuộc hạ xin được ra mắt Đại-hãn.
Khi thu dụng bọn thiếu niên cùng khổ, bọn nam nữ hương thôn đem về huấn luyện, cho nhập bang Lĩnh-Nam; bọn Cửu-Anh đều nhân danh bang trưởng là Đại-hãn. Bang-chúng chưa bao giờ biết mặt bang trưởng. Họ chỉ nghe nói, bang trưởng là Đại-hãn. Đại-hãn còn trẻ, võ công cao thâm không biết đâu mà lường. Bang trưởng là người nhân từ, thiết tha với kẻ cùng khổ, một lòng bảo vệ Xã-tắc. Bây giờ nghe Khả-hãn Cửu-Anh hô, chúng mới ngước mắt nhìn vị Đại-hãn bang chủ của chúng: Một thiếu niên hùng vĩ, mắt có hai con ngươi, chiếu ra tia hàn quang sáng ngời, khiến chúng không dám nhìn thẳng vào mặt.
Thu-Độ cất tiếng nói như chuông:
"... Các em thân mến.
Từ hơn trăm năm trước nạn gà mái gáy trong hậu cung nhà Lý kéo dài đến nay cũng chưa dứt. Đất nước ngày càng rối loạn. Kỷ cương, luân thường bị phế bỏ. Phong hóa ngày càng suy đồi. Giặc dã nổi lên khắp nơi. Dân chúng đói khổ đến nỗi sống không nổi, mà chết cũng không xong. Trong triều, vua thì nhu nhược, các quan thì toàn một bọn tham ô. Ngoài dã, giặc cướp nổi lên như ong. Nạn đói hoành hành, người chết như rạ.
Vì thế, bang Lĩnh-Nam của chúng ta được thành lập với mục đích nối tiếp sự nghiệp của vua Trưng, của chư vị anh hùng thời Lĩnh-Nam, lấy phương châm:

" Dân quý nhất,
Xã tắc thứ nhì,
Vua thứ ba".

Lại lấy cương là ba lời thề : Lời thề Chân-giáo, lời thề hồ Tây và lời thề Hy-cương.
Khởi đầu bằng việc ta kết hợp bọn thiếu niên cùng khổ, bị đời khinh rẻ, đói không cơm ăn, khát không nước uống, rét không quần áo che thân, ngủ đường ngủ chợ. Rồi dần dần tiến tơí quy tụ dân vô sở bất chí, không tấc đất cắm dùi, bị cường hào ác bá hương thôn áp bức, để lập những trang ấp mới, tạo đơì sống mới. Bang chúng ta ngày một mở rộng.
Ta lại ra lệnh quy tụ thiếu niên hương thôn, dạy văn, luyện võ cho họ có đủ khả năng tự vệ. Rồi vì nhu cầu chống giặc, ta cho kết hợp thành Vệ.
Giữa lúc đó, vì quốc sự, ta phải rời xa quê hương một thời gian. Tuy nhiên trong thời gian ta vắng mặt, trong bang đã có Nguyên-sư, Tả Hữu hộ pháp, Lục-vị thiện nhân, Tổng-lĩnh Khả-hãn điều hành chư sự. Nên bản bang ngày càng mở rộng, ngày càng trở thành hữu ích cho dân chúng. Trong các cuộc biến động vừa qua, khắp nước đều lâm vào cảnh giặc dã nổi lên, chém giết, cướp bóc. Tuy nhiên những nơi có các Khả-hãn của ta lãnh đạo, những vùng có các Vệ của ta trấn đóng, thì dân chúng lại sống an vui.

Tại trấn Tiên-yên này, nằm sát biên giới, xa Thăng-long, mà dân chúng lại sống trong những ngày thanh bình, sung sướng như thời vua Hùng, vua Trưng; là nhờ công lao của Khả-hãn Cửu-Anh, là nhờ các em. Nhân danh Đại-hãn của những người cùng khổ, nhân danh bang trưởng bang Lĩnh-Nam, nhân danh người kế tục sự nghiệp vua Trưng, ta gửi tới các em lời khen ngợi của ta.
Hôm nay, ta long trọng tuyên cáo với các em rằng chúng ta bắt đầu thực hiện lời thề Chân-giáo, Tây-hồ, Hy-cương".


Vì các thiếu niên bang Lĩnh-Nam đều là con em trong trấn, mấy hôm trước họ phải rời gia đình ẩn thân. Bây giờ họ xuất hiện trong cái chính nghĩa, trong cái vinh quang. Nên gia đình mang trâu, lợn tặng cho Vệ Tiên-yên để làm tiệc mừng ngày con em của họ thành công.
Sau mấy đêm suy nghĩ, Thủ-Độ quyết định:
" Dù bác Trần Lý của ta. Dù cả nhà ta. Dù các chưởng môn nhân. Dù các đại tôn sư đã tiếp tay an định, lập lại trật tự. Nhưng đất nước vẫn ly loạn là tại sao? Gốc của sự việc là triều Lý thối tha đã hơn trăm năm. Thế mà bây giờ, nước mất, triều đình tan nát. Nhưng khi cái gã vua Cao-tông vừa trở về Thăng-long, thì con vợ thối tha Đàm Ngọc-Anh lại trở mặt, gửi mật chỉ đi khắp nơi cho các Tuyên-vũ sứ, An-vũ sứ chống đối, phá hoại trật tự mới lập, chỉ với mục đích giữ cái ghế Thái-sư cho tên mặt bánh bao Đàm Dĩ-Mông.
Tại sao một con đàn bà gửi mật chỉ mà các quan lại tuân theo? Rõ ràng gốc đã ăn sâu từ lâu, do những con mụ vợ thối khắm của vua Thần-tông, Anh-tông, Cao-tông từng làm. Những con mụ này hét ra lửa, mửa ra khói, chuyên quyền, nên các quan coi là sự thường. Bởi nếu không tuân theo, thì mất chức, mất đầu, gia đình bất toàn. Không theo không được.
Bây giờ ta phải làm gì?
Nếu ta trở về Thăng-long, thì lại phải cúi đầu phủ phục trước kẻ thù từ hồi thơ ấu là tên Long-Sảm, phải ra luồn vào cúi với con mụ dâm đãng Đàm Ngọc-Anh được tôn lên ngôi Thái-hậu kia sao? Muôn ngàn lần không!
À, tại sao các An-phủ sứ, Tuyên-vũ sứ không quy phục triều đình, mà cũng không chống lại ? Ta hiểu rồi, họ không quy phục triều đình là do mật chỉ của mụ hôi tanh Đàm thái hậu. Còn họ không chống, vì họ sợ chống sẽ bị triều đình đem quân đánh dẹp.
Đã vậy ta phải thay đổi hết bọn này. Bây giờ ta mật báo cho anh Thừa, anh Khánh rằng ta đã trở về. Nhưng ta không tuân chỉ của triều đình. Ta ra lệnh cho các Khả-hãn cùng nổi dậy tiến chiếm các trấn, các huyện, rồi kéo quân về Thăng-long, giết sạch bọn hậu cung thối tha, tham quan vô tài, lập một triều đình mới.
Nhưng lập ai bây giờ? Trước kia ta có ý tôn bác Trần Lý lên làm vua. Thế nhưng nay bác qua đời rồi, thì ta tôn anh Trần Thừa lên. Đúng rồi, anh ta là người có đức, lại bác học đa năng. Anh mà lên làm vua, thì nước sẽ mạnh. Dân sẽ giầu. Ta phải hành sự ngay".
Thủ-Độ gọi Cửu-Anh, ban lệnh :
- Anh cần khoảng hai chục đệ tử thân tín trong bản bang. Em có thể cung cấp cho anh được không ?
- Đệ tử nào cũng tín cẩn cả. Đại-hãn định dùng họ vào việc gì ?
- Đầu tiên, một người báo cho Nguyên-sư Trần Thừa; Tả Hữu hộ pháp Trần Tự-Khánh, Phạm Kính-Ân ; Tổng-lĩnh Khả-hãn Phạm Kính-Nghĩa ; và Lục Thiện-nhân biết ta đã trở về. Lại gửi 17 người, báo cho 17 Khả-hãn nữa. Ta sẽ soạn một bản Đại-cáo rằng : Đã đến lúc thực thi ba lời nguyền Chân-giáo, Tây-hồ và Hy-cương.
- Có ngay.
Thủ-Độ nhờ Phó-sứ Chu Mạnh-Nhu viết bản Đại-cáo. Nội dung bản Đại-cáo, bao gồm ý của ba lời nguyền Chân-giáo, Tây-hồ, Hy-cương, rồi kết luận: Cho nên, bang Lĩnh-Nam phải đứng dậy, giúp dân trừ bạo lập lại thời thịnh trị của vua Hùng, vua Trưng, nhưng tránh không nói rõ việc diệt triều Lý, việc trả thù Long-Xương. Hầu ký tên, rồi sai bang chúng mang đi.
Lại truyền lệnh :
- Gần ta nhất là Đồn-sơn, Diễn-châu, Hải-Đông, Long-hưng. Em có thể sai người âm thầm mời bọn Khả-hãn đến gặp anh khẩn cấp được không ?
- Được ! Bọn em vẫn liên lạc thường xuyên với nhau. Nếu cần chỉ sáu giờ (12 giờ ngày nay), là họ tới đây trình diện Đại-hãn.
- Em làm ngay đi.
Cửu-Anh sai mấy hương binh lấy ngựa đi liền. Tối hôm đó thì 5 Khả-hãn đều tề tựu. Sau mấy năm xa cách, bây giờ họ mới gặp lại Thủ-Độ thì mừng chi siết kể.
Thủ-Độ dùng con thuyền Ó-đen của mình làm chỗ hội họp. Những cử chỉ thân ái, những lời thăm hỏi nồng nhiệt qua đi. Thủ-Độ khai mạc buổi họp. Sau khi tóm lược những gì diễn ra trong thời gian đi sứ Mông-cổ, hầu nghe các Khả-hãn trình bầy tình tình hình trong triều. Sau khi suy nghĩ, Hầu tuyên bố:
- Khởi đầu, chúng ta chỉ có hai mươi mốt anh em sống với nhau. Nhân thời thế nhiễu nhương, dân chúng đói khổ mà chúng ta lập ra bang Lĩnh-Nam, với ba lời nguyền. Bây giờ là lúc chúng ta thực hiện ba lời nguyền đó.
Cử tọa im lặng, gần như muốn nín thở. Vì bao nhiêu ước vọng, bao nhiêu tâm huyết, bao nhiêu công trình, bao nhiêu chuẩn bị, bây giờ là lúc đem ra thực hiện đây.
- Trước hết ta chiếm các trấn, các phủ, xóa bỏ hệ thống quan lại nặng nề, tham ô cũ. Ta tổ chức lại làng xã, để không còn nạn cường hào ở nông thôn nữa. Vậy khi các em chiếm xong vùng nào, đuổi hết bọn quan lại cũ đi, tìm hào kiệt có tài, có đức cử vào thay thế. Còn đối với các xã, thì ta họp dân chúng, để họ cử lấy người tự cai trị mình. Tuy nhiên, phải tuyệt đối tuân hành ba điều.
Thủ-Độ ngừng lại cho cử tọa theo kịp, rồi tiếp:
- Một là đánh chiếm lỵ sở của phủ, huyện sao cho nhanh, không đổ máu. Có như vậy, mới tránh được hận thù.
- Hai là, sau khi đánh chiếm rồi, thì tuyên bố tha thuế trong một năm. Tha tất cả thuế còn nợ từ trước. Lại tuyên bố chính sách nô bộc, thu tô của ta.
- Ba là, đại xá tội trạng dù thành án hay chưa. Tha tội cho những quan lại triều Lý, cho họ về quê làm ăn.
Thủ-Độ bắt các Khả-hãn nhắc lại một lượt cho khỏi quên. Hầu tiếp:
- Trong 5 các em hiện, phụ trách 5 vùng, thì hai vùng là trấn, 3 vùng là phủ. Cửu-Anh đã chiếm được trấn Tiên-yên. Vậy ta còn trấn Đồn-sơn với ba phủ Diễn-châu, Hải-Đông, Long-hưng. Liệu các em có thành công không? Hay phải chi viện?
Hầu hỏi Bát-Anh:
- Trước hết là trấn Đồn-sơn.
Bát-Anh đứng dậy:
- Thưa Đại-hãn, Đồn-sơn là căn cứ chính của Thủy-quân. Trước đây Thủy-quân Đại-Việt có bốn hạm đội là Động-đình, Thần-phù, Âu-cơ, Bạch-đằng. Bốn hạm đội thay nhau tuần thám lãnh hải. Trong bốn hạm đội thì một hạm đội trấn đóng ở Đồn-sơn để tu bổ, huấn luyện. Một hạm đội túc trực ở Thăng-long. Một hạm đội tuần hành tại phía Bắc. Và một hạm đội tuần hành dọc bờ biển cho tới Chiêm-thành. Từ khi Phụ-quốc thái-úy Trần Thủ-Huy với công chúa Đoan-Nghi về điền dã, thì ba hạm đội bị giải tán, chỉ còn lại hạm đội Thần-phù mà thôi. Khi Thăng-long xẩy ra biến động, Đại đô-đốc Phùng Tá-Chu đem hạm đội về Thăng-long, thì căn cứ không có quân. Viên Tuyên-vũ sứ nhân dịp này, sai thuộc hạ đem Vệ Đồn-sơn, chiếm đóng hết các cơ sở như xưởng đóng thuyền, các trại binh. Hiện y không chịu theo lệnh trung ương.
- Y thuộc loại người nào?
- Y tên Ngô Khang, xuất thân là Tổng-lĩnh thái giám, hầu cận Đàm hoàng hậu, y được cử làm Tuyên-vũ sứ. Mới đây Hoàng-hậu được tôn làm Thái-hậu, bà ban chỉ phong cho y tước hầu. Y không biết võ, cũng chẳng có tài cai trị. Hiện mọi sự y đều trông vào Vệ Đồn-sơn của thuộc hạ. Thuộc hạ có thể bắt y như bắt ba ba trong rọ. Đại-hãn yên tâm.
- Được! Ta cử Thị-lang Phạm Hồng-Quy làm Tuyên-vũ sứ Đồn-sơn. Em hãy trở về bắt y trao quyền cho Hồng-Quy.
- Bây giờ tới Diễn-châu. Khả-hãn Thất-Anh cho biết tình hình.
- An-phủ sứ Diễn-châu là người văn võ kiêm toàn, tên Cao Bình-Chu, tuổi tương đối còn trẻ. Mấy năm trước y đỗ võ Tiến-sĩ, cùng khoa với Đại-hãn. Y được bổ làm Phó An-phủ sứ. Khi mới nhậm chưc, y tổ chức một toán võ sĩ 18 người làm chân tay. Y đi đâu, cũng có bọn này theo bên cạnh. Trong cuộc biến động vừa qua, y giết An-phủ sứ, rồi nắm lấy quyền. Nếu muốn hạ y, thì phải chấp nhận một cuộc giao chiến. Không có cách nào khác.
- Đành vậy. Bản lãnh y so với em thế nào ?
- Nếu bình thường giao đấu, khó biết lắm. Nhưng võ công y là võ công Hoa-sơn. Nếu muội dùng pho Lôi-giáng Hoa-nhạc thì thắng y dễ dàng.
- Ta cử Thị-lang Lê Trọng-Anh làm An-phủ sứ Diễn-châu. Em hãy về hạ tên Cao Bình-Chu, rồi trao quyền cho Lê Thị-lang.
Thủ-Độ hỏi Nhất-Hào, Tứ-Hào :
- Còn các em ?
- Mọi chuyện đã ổn định.
Nhất-Hào trả lời bằng giọng tự tin :
- Ngay từ khi xẩy ra biến động. Đám An-phủ sứ bắt bọn em mang quân về theo Hoàng-tử Thẩm. Lập tức hai chúng em suất lĩnh đệ tử bắt giam chúng lại, tìm người có tài, có đức thuộc bang Lĩnh-Nam cử lên thay thế. Hiện các An-phủ sứ này với chúng em như tay phải với tay trái, tổ chức cai trị, dân chúng sống an vui, hạnh phúc vô cùng. Chúng em đã tập trung hết hương binh, bang chúng kết lại, lập ba Vệ thành một Đạo, bốn Đạo thành một Hiệu. Hiện hiệu Long-hưng của em có bốn Đạo bộ binh là Tiền, Hậu Tả, Hữu, và một Trung-đạo Ngưu-binh. Hiệu Hải-Đông của Tứ-Hào cũng tổ chức như Hiệu của em, nhưng thêm một Vệ Kỵ-binh nữa. Cái con mụ Đàm Thái-hậu nhiều lần sai mật sứ phong hàm tướng quân, tước hầu cho bọn em. Mà bọn em không theo.
Thủ-Độ đứng dậy ban lệnh :
- Đồn-sơn, Diễn-châu Tiên-yên mới có một Vệ, thì xuất không đủ chống với giặc. Thủ không đủ giữ an ninh trong vùng. Vậy ba Khả-hãn khẩn kết hợp các hương binh lại, thành lập một hiệu, phỏng theo hiệu Hải-Đông, Long-hưng. Mỗi hiệu có bốn đạo bộ Tiền, Hậu, Tả, Hữu và một đạo Ngưu-binh. Nếu có thể thêm một Vệ hay một Đạo Kỵ-binh thì tốt.
Lại ra lệnh cho thuyền trưởng Quách Ty:
- Để duy trì liên lạc giữa ta với các Khả-hãn mau chóng. Ta thiết lập một hệ thống ngựa trạm Lưu-tinh. Ta trao cho sư đệ chỉ huy.
Quách Ty vui vẻ nhận lời.
Thủ-Độ nói với Chu Mạnh-Nhu, Tạ Quốc-Ninh:
- Dù muốn, dù không, hoàn cảnh chúng ta bây giờ cũng giống như một triều đình. Về lãnh thổ, ta đã có hai trấn, ba phủ. Về binh lực ta có một hạm đội, năm hiệu binh. So sánh với triều đình, với Nguyễn Nộn, Đoàn Thượng, lãnh thổ, binh lực ta mạnh nhất. Tôi sinh ra là con công chúa, là con đại thần, nhưng từng là ăn mày, tôi không phải là con trời. Tôi cũng là người thường như mọi người. Nhưng tôi có tấc lòng son với Xã-tắc, tôi biết thương dân, biết chia sẻ cái bất hạnh của người nghèo. Tôi không thể cáng đáng được hết mọi sự. Vậy chúng ta hãy chia nhau gánh vác chung. Chúng ta tổ chức một cơ quan giống như Khu-mật viện. Không biết chúng ta nên đặt tên là gì cho có vẻ mới mẻ?
Tạ Quốc-Ninh đề nghị:
- Theo thiển ý của thuộc hạ, cơ quan này nên đặt là An-dân Quốc-vụ viện. Gọi tắt là An-quốc viện
- Hay lắm. Tôi cử Chu Manh-Nhu làm chánh viện. Tạ Quốc-Ninh làm phó viện. Còn lại, tất cả các Khả-hãn, Đô-đốc hạm đội Tiên-yên đều là An-quốc viện sứ.

Mấy hôm sau, sứ giả Thủ-Độ gửi đi các nơi lục tục trở về báo cáo : Các Khả-hãn cự kỳ hân hoan khi được tin Đại-Hãn trở về, và đang phát động đại kế thực hiện ba lời nguyền Chân-giáo, Tây-hồ và Hy-cương. Năm vùng quanh Thăng-long, các Khả-hãn là nữ, nên mỗi người chỉ thành lập được một Đạo hương binh. Còn lại các Khả-hãn khác, mỗi người đã lậäp được một hiệu binh rất hùng mạnh.
Chu Mạnh-Nhu vui mừng :
- Như vậy, về lãnh thổ, trên toàn quốc có 5 trấn, 24 phủ. Ta kiểm soát được 2 trấn, 11 phủ, và nửa kinh thành Thăng-long. Ta đã có nửa giang sơn. Về binh lực thì ta mạnh nhất, với 13 hiệu binh, và 5 đạo ở Thăng-long. Thưa Đại-hãn, đã đến lúc chúng ta theo gương cũ, kéo cờ thế thiên hành đạo được rồi.
- Thế thiên hành đạo là gì vậy thưa Tiên-sinh? Đạo này là đạo gì?
- Thế thiên hành đạo là thay trời thực thi cái đạo. Đạo đây không phải đạo Phật, đạo Lão, mà là đạo của trời đất. Cái đạo lấy dân làm gốc, tạo hạnh phúc cho dân làm căn bản. Thời cổ bên Trung-hoa, vua Kiệt vô đạo, vua Thành-Thang kéo cờ nghĩa, diệt bạo, lập một triều đình mới lấy dân làm gốc. Vua Trụ tàn ác, bạo ngược, vua Võ khởi binh diệt Trụ, lập ra nhà Chu. Bên Đại-Việt ta, vua Hùng thứ 88 vô đạo, vua An-Dương kéo cao cờ nghĩa, đánh kẻ ác, lập ra triều đại mới. Lại nữa, gần đây, vua Ngọa-triều tàn ác, vô đạo, triều thần tôn Điện-tiền chỉ-huy sứ Lý Công-Uẩn lên làm vua, lập ra tiều Lý.
Thủ-Độ lắc đầu:
- Như vậy, phàm khi kéo cao cờ nghĩa, thì phải có hai điều căn bản. Một là kẻ đang cai trị tàn ác, vô đạo. Điều này thì trên trăm năm qua, các ông vua, các bà Thái-hậu, Hoàng-hậu triều Lý đã làm nhiều rồi. Dù chặt hết trúc ở núi Nam-sơn làm bút cũng không chép hết. Hai là, kẻ kéo cao cờ nghĩa phải là người có ân đức trải khắp thiên hạ. Điều này thì ta không có. Tôi chỉ là con một phò mã, với một công chúa. Tuổi còn trẻ, đức không, tài không, tôi không xứng đáng làm cái việc đó. Tuy vậy....
Hầu ghé miệng vào tai Chu nói nhỏ một lúc. Chu gật đầu tán thưởng:
- Đại-hãn quả là người trông rộng, nhìn xa. Vậy bây giờ Đại-hãn ra lệnh cho các Khả-hãn thực thi chính sách nô bộc, ruộng đất, nhẹ thuế mà Đại-hãn đã ban hành. Khiến dân chúng vùng kiểm soát của bang Lĩnh-Nam no ấm, hạnh phúc. Bấy giờ, ta bảo họ nhảy vào nước, vào lửa họ cũng không từ nan. Còn Đại-hãn thì tập trung một vài hiệu binh lưu động, cứ thấy bọn An-phủ sứ nào ác độc, tàn bạo, thì ban hịch cho dân chúng, rồi ta kéo quân tới bình định. Như vậy, trong một vài năm, thì ta làm chủ cả giang sơn này.
Chán đời đi lang thang !
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-05-15 14:48:25NuHiepDeThuong>
Hồi thứ bốn mươi hai

Dựng cờ Đông - A


Lại hơn tháng sau, một hôm Thủ-Độ đang tiếp sứ giả của năm Khả-hãn quanh Thăng-long thì được tin báo :
- Có một chiến thuyền từ Thiên-trường tới. Họ xưng là người thân của Khả-hãn, xin yết kiến.
Thủ-Độ truyền lệnh cho vào.
Lát sau, một con thuyền lớn, trên kéo lá cờ, có vẽ hình chim ưng tung cánh. Biết đây là kỳ hiệu của phái Đông-A. Thủ-Độ lên mặt sàn thuyền chờ đợi. Hai thuyền kè mạn vào nhau, cầu ván được bắc giữa hai thuyền. Một phụ nữ cực kỳ xinh đẹp xuất hiện, đó là bà Trần Lý. Cạnh bà là một nhà nho, tiên phong đạo cốt, đó là Phạm Kính-Ân.
Lễ nghi tất.
Vào trong khoang thuyền, Thủ-Độ hành đại lễ :
- Con kính chào thầy. Cháu kính chào bác. Được tin bác trai tuẫn quốc, cháu buồn vô hạn. Không biết thầy với bác lên đây có gì dạy dỗ cháu chăng ?
Nhìn cử chỉ cùng cung cách của Thủ-Độ, bà Phương-Lan biết rằng sau khi trải qua nhiều thăng trầm, biến cố, người cháu ngang tàng, đởm lược, đã thành một người tài trí bậc nhất đất nước, chứ không phải đứa trẻ giả ăn mày ở Thăng-long khi xưa nữa. Bà hỏi :
- Hồi đó cháu đi sứ, rồi bặt tin. Ở nhà chúng ta đoán ngay rằng bố cháu giữ cháu lại. Không biết bây giờ phép lạ nào khiến bố cháu cho cháu về đây ?
Thủ-Độ tường thuật tỉ mỉ những gì đã xẩy ra từ khi Hầu rời Đại-Việt một lượt. Bà Phương-Lan tuy là người bác học đa năng, mưu trí trùm hoàn vũ mà cũng không thể ngờ rằng tài trí Thủ-Huy, Thủ-Độ lại có thể đến như vậy.
Thủ-Độ lấy ra một cái hộp bằng bạc, hai tay trịnh trọng trao cho bà Trần Lý:
- Thưa bác, đây là hôp sâm Cao-ly. Bác dùng cho tăng tuổi thọ, trí tuệ minh mẫn.
- Cháu thực là đứa cháu hiếu thảo. À, cháu có biết tại sao bác lên đây không?
Khi thấy bà Lý lên gặp mình, Thủ-Độ biết ngay rằng vụ này do tờ Đại-cáo của mình. Hầu đoán: Chắc cả nhà không đồng ý với mình, nên mới để bà đi gặp mình, bắt mình về Thăng-long. Về Thăng-long để rồi phải quỳ gối trước kẻ thù Long-Sảm ư? Để nhìn kẻ đã chiếm Kim-Dung ư? Mình phải chặn trước mới được. Nghĩ vậy hầu mỉm cười:
- Thưa bác, cháu chắc nhà ta không đồng ý với tờ Đại-cáo của cháu, nên bác phải quá bộ lên đây để giúp cháu sửa đổi.
- Đúng vậy!
Thủ-Độ làm bộ ôn tồn:
- Thưa bác, nhà ta không đồng ý với cháu vì những gì cháu nêu ra trong tờ Đại-cáo, không nói hết được tội trạng của triều đình, của hậu cung, của quan lại triều Lý. Bác cũng thông cảm, sở dĩ cháu nhẹ tay, vì dầu sao mẹ cháu cũng là công chúa. Thôi thì bác đã lên đây, cháu xin sửa bản Đại-cáo, hài tội triều Lý thực nặng nề, kêu gọi quốc dân cùng đứng lên, rồi cất quân như Võ-vương phạt Trụ.
Nghe Thủ-Độ nói, bà Trần Lý nghĩ thầm:
- Cái thằng cháu này vừa có trí thông minh của mẹ, vừa có cái coi trời bằng vung của bố. Nó biết mình lên đây thuyết phục nó, bắt nó về Thăng-long; nó chặn trước. Dùng lý không được rồi. Thôi thì mình dùng tình vậy.
Nghĩ vậy, bà nắm lấy tay Thủ-Độ:
- Cháu ạ! Dữ như hổ báo, cũng không ăn thịt con. Độc như rắn rết cũng bảo vệ con. Từ trước đến giờ, nhà mình đối với cháu thế nào, hẳn cháu biết.
- Vâng! Cháu không bao giờ quên tấm lòng của bác, của anh Thừa đối với cháu bao la như trời, rộng như biển.
- Vì vậy, nhà ta cử bác lên đây gặp cháu, trước là bác cháu gặp nhau. Sau là vì quốc sự... Vấn đề quốc sự như thế này...
Bà ôn tồn thuật lại.
Nguyên hôm trước, sứ giả của Thủ-Độ đem bản Đại- cáo về cho Trần Thừa, Trần Tự-Khánh. Hai anh em kinh hoàng, vội chuyển thư đó cho bà Phương-Lan. Đọc xong, tâm thần hoảng hốt, lập tức bà tổ chức buổi họp phái Đông-A để giải quyết. Mở đầu Phùng Tá-Chu lên tiếng :
- Từ khi Long-Sảm chạy về Hải-ấp, nương nhờ nhà ta, rồi anh hùng thiên hạ đại hội đã quyết định : Dù triều Lý đã hết phúc, dù Long-Sảm ngu muội. Nhưng để cứu dân tránh khỏi tai họa ly loạn. Tất cả đều phải bỏ tỵ hiềm cùng nhau đứng dậy tái lập trật tự. Cũng từ đấy, quyền lực thu vào nhà ta. Tuy rằng chúng ta không muốn làm vua. Song thiên hạ đều bàn ra nói vào. Cho nên trong triều thì bọn họ Đàm với Đàm Thái-hậu cùng một số quan lại kết hợp chống nhà ta. Bên ngoài thì bọn Nguyễn Nộn, Đoàn Thượng cầm trọng binh, cát cứ, không chịu quy phục. Thế mà nay Thủ-Độ trở về công khai muốn phế bỏ triều Lý, vô tình tạo cho anh hùng khắp nơi cùng chống nhà ta. Nhà ta không đủ sức đối chọi.
Trần Thừa than :
- Huống hồ Thủ-Độ gửi Đại-cáo đi khắp nơi nói rằng bang Lĩnh-Nam quyết thi hành ba cương yếu là lời nguyền Chân-giáo, Tây-hồ, Hy-cương. Lời nguyền Hy-cương, chứa những ý tưởng cao đẹp của chủ đạo tộc Việt, không ai có thể dị nghị. Lời nguyền Tây-hồ tuy có hơi hẹp hòi, song vẫn tàng chứa lòng trung nghĩa với Xã-tắc. Tuy nhiên lời nguyền Chân-giáo mang hận thù thâm sâu, quyết giết Long-Sảm, phế bỏ triều Lý... quá rõ ràng. Nguy thay !
- Thủ-Độ đã làm đúng.
Tự-Khánh phát biểu :
- Chúng ta còn lý gì để duy trì cái triều Lý đã tàn tạ như một cái dẻ rách ? Kể từ khi vua Thần-tông băng đến giờ. Trong triều vua luôn là những đứa trẻ nhu nhược. Các quan toàn một bọn ù lỳ, lười biếng, mũ ni che tai. Hậu cung thì những bà Thái-hậu, Hoàng-hậu ngu xuẩn, dâm đãng, luôn giết hại tôn thất để làm vui lòng người tình. Bên ngoài, giặc cướp nổi lên, dân chúng lầm than. Tại sao ta không phế bỏ cái gã ngu đần, bệnh hoạn Long-Sảm đi, giết sạch bọn quan ăn hại, bọn hậu cung dâm dật, lập một triều đại mới ?
Tô Trung-Từ hỏi Tự-Khánh :
- Cháu nghĩ, ai có thể lên làm vua bây giờ ?
- Thưa cậu bất cứ ai trong chúng ta, lên làm vua, tài trí cũng bỏ xa Long-Sảm. Nhưng theo cháu, anh Thừa có đủ tài đức lên làm vua nhất.
Trần Thừa dẫy nẩy lên :
- Không ! Không ! Anh không muốn làm vua. Em không nên bỏ anh ngồi trên đống gai như vậy.
Bà Phương-Lan tiếp lời Trần Thừa :
- Thừa nói phải. Bây giờ trong cung đã có Kim-Dung. Bên ngoài thì cậu Trung-Từ, Hồng-sơn ngũ đại phu Vỵ-xuyên ngũ tiên, nắm các phủ, các trấn ; Tự-Khánh cầm đại quân. Trong triều thì Thừa giữ quyền Tể-tướng. Ta chỉ việc tìm cách loại hết bọn quan lại ăn hại. Bấy giờ tuy ta không làm vua, thì cũng như làm vua. Ta tổ chức, chỉnh đốn lại mọi cơ cấu, thực thi luật pháp, đem quân đi dẹp bọn sứ quân. Đất nước có cơ trở lại thịnh thời như xưa.
Mọi người đều cho là lời bà Phương-Lan hợp lý. Trần Thừa đề nghị :
- Trong nước đang bị nạn sứ quân. Muốn dẹp nạn sứ quân này, thì một là ta phải đem quân đi đánh dẹp. Hai là phải có một lực lượng nào đó, tiềm ẩn tại các địa phương nổi dậy chống lại sứ quân. Đánh dẹp thì hao binh, tổn tướng, hận thù chồng chất, dân chúng bị tai bay vạ gió không ít. Vậy chỉ có cách dùng lực lượng dân chúng. Lực lượng dân chúng, thì phi Thủ-Độ với bang Lĩnh-Nam ra, không bang hội nào bằng. Bây giờ ta phải cử người ra Tiên-yên thuyết phục Thủ-Độ, đem Thủ-Độ về triều, thì với hệ thống Khả-hãn của y có thể dẹp được cái nạn sứ quân.
Trung-Từ chỉ Phương-Lan :
- Tôi sợ rằng không chừng Thủ-Huy cũng về với Thủ-Độ, nhưng y không ra mặt. Tôi đã đọc kỹ bản Đại-cáo, những lý nêu ra để phế Lý triều, thì dù theo tinh thần chủ đạo tộc Việt, hay theo nho cũng đều hợp lý. Đối với Thủ-Huy, Thủ-Độ thì phải dùng tình, dùng lý trong trường hợp này vô ích với họ. Dùng tình, thì trên thế gian này, chỉ ba người khiến Thủ-Huy, Thủ-Độ nể vì. Một là chị Lý. Hai là Thái-phó Phạm Kính-Ân. Ba là cháu Thừa. Cháu Thừa cầm quân, không thể đi được. Vậy chị phải thỉnh Thái-phó Phạm Kính-Ân cùng đi Tiên-yên một chuyến.
Sau cuộc thảo luận với bà Trần Lý, Thủ-Độ họp An-dân Quốc-vụ viện lại, trình bầy tình hình :
- Vương-phi Ninh-quốc đại vương là bác tôi. Thái-phó Phạm Kính-Ân là thầy dạy văn của tôi, vừa từ Thăng-long lên. Người đem đề nghị của Nguyên-sư Trần Thừa cùng Tả hộ pháp, Lục-thiện-nhân...
Hầu thuật lại chi tiết buổi họp, rồi hỏi:
- Chúng ta có nên về quy phục tên Long-Sảm như đề nghị của gia đình ta không?
Tạ Quốc-Vinh lắc đầu:
- Không thể và không nên. Bởi chúng ta mới ban hành tờ Đại-cáo đi khắp nơi. Nhà nhà đều vui, người người đều hớn hở. Có nơi còn phát biểu: Cỏ cây, chim muông cũng vui mừng. Thế mà nay Đại-hãn lại thay đổi, thì thực là tiền hậu bất nhất, phụ lòng mong mỏi của quốc dân, làm nản lòng các Khả-hãn, chư bang chúng.
Chu Mạnh-Nhu đề nghị:
- Thuộc hạ có một đề nghị hơi bá đạo. Đề nghị này khiến Đại-hãn không bị gia đình phiền trách, mà trăm họ cũng như bang chúng đều hỷ hả.
- Tiên sinh quên rằng chúng ta thực thi ba lời nguyền sao? Lời nguyền Tây-hồ chẳng có đoạn: Dù xấu mấy cũng làm, dù bẩn thỉu mấy cũng cam tâm, miễn sao mưu đồ hạnh phúc cho dân, bảo vệ được đất của Quốc-tổ, Quốc-mẫu đó sao? Thế kế hoạch của Tiên-sinh thế nào?
- Ngay bây giờ Đại-hãn vui vẻ tuân lệnh của Vương-phi Ninh-quốc về Thăng-long để dẹp loạn. Thế là gia đình hỷ hả, trên dưới hòa thuận. Trong khi đó Đại-hãn nhân danh Khâm-sứ, nhân danh là cháu ngoại của vua Anh-tông, mật gửi biểu tâu rằng, trên đường đi sứ trở về, nghe họ Đàm áp chế Thiên-tử, nên Đại-hãn phải điều quân dẹp loạn. Ngay sau khi gửi tấu chương đi, Đại-hãn truyền hạm đội Âu-cơ, chở hiệu binh Tiên-yên theo. Về tới Thăng-long, Đai-hãn cho hạm đội Âu-cơ đậu ở bến Tiềm-long, hiệu binh Tiên-yên đóng ở ngoài thành, Hợp với các Vệ hương binh của ta. Ta có một lực lượng mạnh, rồi nói là để bảo vệ kinh thành.
Thủ-Độ vỗ tay suýt xoa:
- Khi nhận được biểu thì mụ Thái-hậu họ Đàm, bọn Đàm Dĩ-Mông sợ đến té đái vãi phân ra. Chúng sẽ suất lĩnh quân chống lại ta, chống lại cả anh Thừa, anh Khánh. Thế là chúng ta toàn quyền tấn công vào Thăng-long. Vào Thăng-long rồi, chúng ta sẽ thi hành ba lời nguyền.
Tạ Quốc-Ninh sợ rằng Thủ-Độ sẽ ngả theo gia đình, mà bỏ ba lời nguyền. Ông nghĩ thầm:
- Ta phải đổ dầu vào căn nhà họ Lý đang cháy mới được.
Ông hỏi nhỏ Thủ-Độ:
- Thuộc hạ biết rằng trước đây Đại-hãn yêu thương Kim-Dung đến điên đảo thần hồn. Bây giờ Kim-Dung là Hoàng-hậu rồi. Không biết Đại-hãn đối xử với bà ấy ra sao?
Mặt Thủ-Độ nóng bừng lên:
- Tôi sẽ cướp lại. Người tôi yêu không thể để cho thằng mặt mo ấy dày vò.
Quốc-Vinh là nhà nho. Đối với nhà nho, một người con gái để cho đàn ông cầm lấy tay, là bất trinh, là hư thân mất nết... Thì việc Kim-Dung làm vợ Long-Sảm rồi, Thủ-Độ sẽ không bao giờ nhìn mặt nữa. Quốc-Vinh hiểu rằng Thủ-Độ ở Mông-cổ từ nhỏ, thâm nhiễm phong tục Thảo-nguyên. Ở Thảo-nguyên, người ta quá rộng rãi với phụ nữ. Khi người yêu, vợ, bị kẻ thù bắt làm vợ, thì cướp về cho bằng được. Chính bà Bật Tê, chánh phi của Thành-cát Tư-hãn bị quân thù bắt, khi ông đoạt lại được, thì bà đã có con với kẻ thù. Bởi vậy ông đặt tên đứa con đó là Truật Xích nghĩa là không mong đợi... Vì vậy Quốc-Vinh nêu ra, nếu như Thủ-Độ cướp một Hoàng-hậu về làm vợ, thì cái hố chia rẽ giữa Thủ-Độ với triều Lý càng sâu hơn.

Trên sàn con soái thuyền, Thủ-Độ ngồi cạnh Thái-phó Phạm Kính-Ân, bà Trần Lý cùng nhóm An-dân Quốc-vụ viện đàm luận về tình hình Đại-Việt. Trưa hôm ấy đoàn chiến thuyền đi vào địa phận sông Hồng. Thủ-Độ dặn dò Đặng Vũ:
- Khi tới Thăng-long, hạm đội sẽ đổ quân lên vùng Hồ Tây. Khả-hãn Nhất-Anh với Đạo Tây-hồ sẽ hường dẫn hiệu Tiên-yên tìm chỗ đóng quân, cung cấp lương thảo. Đô-đốc dàn hạm đội ra, phong tỏa sông ngòi, không cho thuyền bè của bọn họ Đàm đi lại.
Hơn giờ sau, thành Thăng-long đã hiện ra ở chân trời. Đặng Vũ leo lên đài chỉ huy quan sát một lát, rồi y nói lớn:
- Xin mời Đại-hãn lên đây mau.
Thủ-Độ tung mình đáp cạnh Đặng Vũ. Y chỉ về phía trước:
- Hình như Thăng-long có biến. Khói đang bốc lên cao.
Thủ-Độ phóng mắt nhìn:
- Quả nhiên có hai ba cụm khói bốc lên cao. Hầu trì nghi:
- Không biết kinh thành có sự gì không?
Bỗng có ba tiếng pháo lệnh nổ, rồi từ các bụi cây, từ các sông lạch nhỏ ven sông, năm đoàn dân thuyền, trên chở đầy tráng đinh, gươm đao sáng loáng, trống thúc vang trời, dàn hàng ngang tiến ra.
- Thủy quân nào đây?
Thủ-Độ hỏi:
- Trong vùng này vốn thuộc quyền kiểm soát của Đại Đô-đốc Phùng Tá-Chu. Chắc Thủy-quân của người.
Đặng Vũ kinh hoảng xua tay:
- Thưa Đại-hãn, những con thuyền kia không phải của Thủy-quân. Ta cần chuẩn bị giao chiến.
Y cầm tù và rúc lên. Lập tức các chiến hạm dàn thành trận thế, theo hàng hai giữa sông. Đám dân thuyền cũng dàn trận thực nhanh. Đặng Vũ khen:
- Không biết bọn dân thuyền này do ai chỉ huy? Thuyền nhỏ mà dàn trận thế kia, thì các chiến hạm lớn không thể chống nổi.
Ba chiếc dân thuyền, dàn song song rời hàng tiến tới gần soái hạm. Một thiếu nữ đứng đầu mũi dân thuyền ở giữa cầm loa hỏi:
- Là binh đội nào?
Đặng Vũ trả lời:
- Hạm đội Âu-cơ hộ tống Khâm-sứ hồi triều.
- Cho ta gặp Khâm-sứ.
Thủ-Độ đứng đối diện với đoàn dân thuyền:
- Ta là Khâm-sứ Trần Thủ-Độ đây.
Thiếu nữ reo lên:
- Đại-hãn! Em là Khả-hãn Nhất-Anh, thuộc vùng Tây-hồ.
Thủ-Độ đã nhận ra Nhất-Anh. Hầu vẫy tay:
- Ép thuyền vào mạn chiến thuyền, rồi lên đây mau.
Nhất-Anh tung mình lên cao, nàng đá gió một cái, thân tà tà đáp xuống giữa soái hạm. Đứng trên soái hạm, nàng cầm cờ xanh phất ba cái. Năm đoàn dân thuyền cùng ép mạn vào đoàn chiến thuyền.
Nhất-Anh nói với Đặng Vũ:
- Xin Đô-đốc tạm cho hạm đội ngừng lại. Thăng-long đang rối loạn to.
Nàng nói với Thủ-Độ:
- Bọn em đã nhận được Đại-cáo của Đai-hãn. Năm chúng em cùng lệnh cho bang chúng cùng ẩn vào trong dân, để nắm vững dân tình, phải nắm chắc vùng lãnh thổ của mình, không để bất cứ phe phái nào lấn chiếm.
Tất cả kéo vào khoang thuyền hội họp.
Lễ nghi tất.
Thủ-Độ hỏi :
- Năm em trấn ngự Thăng-long. Thế lực lượng của các em ra sao? Các em có hệ thống sưu tầm tin tức không?
- Năm Khả-hãn vùng Thăng-long chúng em không đủ người lập một hiệu binh, mà mỗi đứa chỉ có thể lập một Đạo . Để có tin tức cho bản bang, chúng em lập một Vệ Tế-tác, bao trùm vùng Thăng-long. Vì vậy không biến cố gì mà bọn em không biết. Thăng-long rối loạn từ ba ngày qua rồi.
- Rối loạn do đâu mà có ?
Thủ-Độ hỏi : Thế quân nào đánh với quân nào ?
- Rối loạn do Đại-hãn gây ra !
- Do ta ? Em nói sao nghe lạ tai quá.
- Đai-hãn bình tĩnh lại. Từ khi Ninh-quốc đại-vương Trần Lý suất lĩnh hào kiệt, khôi phục Thăng-long, thì trong triều hình thành hai phe. Một phe của Thái-sư Đàm Dĩ-Mông cùng một số quan lại cũ. Phe này nắm được các bộ Hộ, Lại, Công, Lễ, Tổng-lĩnh thị-vệ. Trong nội cung thì Đàm Thái-hậu áp chế nhà vua. Còn phía Ninh-quốc đại vương thì nắm được bộ Binh, bộ Hình, Khu-mật viện, Tổng-trấn Thăng-long, Thủy-quân, trong nội cung có Nguyên-phi Kim-Dung. Các phủ, các trấn, mỗi nơi theo một phe.
Thủ-Độ than :
- Nguy thực ! Nếu như họ Đàm mưu sự bất chính, thì y cứ việc áp chế nhà vua, rồi ban chỉ cho thiên hạ, y trở thành có chính nghĩa.
- Đúng như vậy. Khi biểu của Đại-hãn gửi về Thăng-long. Đúng ra phải do tòa Trung-thư lệnh tiếp nhận, rồi chuyển lên Đồng-bình chương sự (Tể-tướng) Trần Thừa. Trần Thiếu-bảo sẽ đích thân đệ lên Hoàng-đế. Nhưng viên chức tiếp biểu nghĩ rằng : Đại-hãn là Khâm-sứ thì thuộc bộ Lễ. Nên y chuyển sang cho Lễ-bộ thượng thư. Lễ-bộ thượng thư là người theo phe họ Đàm. Đọc biểu, y bở vía. Đang đêm y đem biểu đó trao cho Đàm Dĩ-Mông. Mông nhập cấm thành cáo với Đàm Thái-hậu. Thái-hậu truyền cô lập nhà vua, bắt giam Nguyên-phi Kim-Dung, ban chỉ cho Thị-vệ đóng cổng thành, ép nhà vua sai Thị-vệ đi bắt cả nhà Thiếu-bảo Trần Thừa, Phụ-quốc Thái-úy Trần Tự-Khánh...xử tử. Giữa lúc đó, thì Nguyên-phi Kim-Dung thoát ra khỏi nơi giam cầm, tìm đến chỗ nhà vua, đem tờ biểu tâu lên. Nhà vua biết họ Đàm làm loạn, nhưng bị Đàm Thái-hậu khống chế, không có cách nào chống lại.
Bà Trần Lý kinh hãi :
- Chà ! Như vậy thì tính mệnh Kim-Dung e khó toàn. Vì dù sao Đàm Thái-hậu cũng là chúa Hoàng-thành. Bà có thể ban chỉ xử tử Kim-Dung, làm sao Kim-Dung có thể chống lại ?
- Vương phi đừng lo !
Nhất-Anh an ủi :
- Trong đám cung nữ hầu cận Nguyên-phi, có hai người là bang chúng Lĩnh-Nam. Ngay từ khi Nguyên-phi tiến cung, họ đã biết Nguyên-phi là Vụ-trưởng Vụ-lễ của bản bang. Họ âm thầm thông báo thân phận cho Nguyên-phi. Bây giờ Nguyên-phi sai họ tìm cách báo tin tức với Thiếu-bảo Trần Thừa, Thái-úy Trần Tự-Khánh. Nhờ hệ thống Tế-tác của thuộc hạ, tin này tới Nguyên-sư, Tả-hộ pháp trước khi Thị-vệ của Thái-hậu tới dinh bắt hai vị. Lập tức hai vị báo động chư đệ tử, gia tướng, nắm vững quân lữ. Đám Thị-vệ bắt hai vị bị giết chết ngay trên đường đi.
Bà Trần Lý đưa mắt nhìn Thủ-Độ như ngụ ý trách móc : Tự cháu tất cả. Thủ-Độ đưa mắt nhìn Tạ Quốc-Vinh như muốn nói lời cảm ơn : Nhờ mưu của tiên sinh, ta đã kéo được hai anh Thừa, Khánh, cũng như cả nhà ta cùng thực hiện ba lời nguyền.
Nhất-Anh tiếp :
- Hôm sau, Thái-úy Tự-Khánh truyền hịch, kể tội họ Đàm, cùng loan báo vơí quốc dân rằng Kiến-gia hoàng đế bị giam cầm trong cung. Vì vậy Thái-úy phải mang quân cứu giá. Đại quân tiến về Thăng-long. Đàm Thái-hậu nguyền rủa Thái-úy là phường phản phúc, ban chỉ xử giảo Nguyên-phi. Nhưng không Thái-giám, Cung-nga nào dám bắt Nguyên-phi, vì họ biết võ công Nguyên-phi rất cao thâm. Kiến-gia hoàng đế thấy giữa mẹ vơí vợ quá căng thẳng, phải giáng Nguyên-phi xuống làm Ngự-nữ. Đêm đó, bọn họ Đàm mở cửa thành, đem Thái-hậu, nhà vua, Ngự-nữ cùng một số các quan trốn khỏi Thăng-long đến bến Triều-Đông. Thái-úy đem quân vào Hoàng-thành mới biết nhà vua bị áp chế đem ra ngoài. Người cho canh giữ, niêm phong kho tàng, các cung điện, các phủ bộ.
Bà Trần Lý than :
- Tự-Khánh hành động nóng nảy quá. Bọn họ Đàm ắt sẽ bắt nhà vua truyền hịch cần vương gọi quân các nơi về đánh Tự-Khánh. Tự-Khánh sẽ trở thành bọn Quách Bốc mất !
- Thưa Vương-phi đúng vậy !
Nhất-Anh tiếp : Tế-tác bản bang biết chỗ trú Kiến-gia hoàng đế. Bọn thuộc hạ báo cho Thái-úy biết. Người đem quân đến Triều-Đông đón xa giá. Đàm Dĩ-Mông đã được bọn Bùi Đô, Đinh-Khả hưởng ứng hịch cần vương, kéo quân về, dàn ra tại châu Đại-hoàng rồi vào Thăng-long đón đánh Thái-úy. Hiện hai bên đang đại chiến .
Thủ-Độ ra lệnh :
- Chúng ta cùng tiến về Thăng-long, để trợ chiến với Tả-hộ pháp Trần Tự-Khánh.
Đặng Vũ ban lệnh cho hạm đội Âu-Cơ, dàn hàng song song với các đội dân thuyền của Nhất-Anh ; tiến về Thăng-lọng. Hơn giờ sau thì tới bến Tiềm-long. Sau khi đổ hiệu binh Tiên-yên lên bờ, hạm đội Âu-Cơ cùng các Thủy-đội của Nhất-Anh dàn ra, phong tỏa các sông ngòi quanh Thăng-long.
Vừa lên bờ, Thủ-Độ đã bắt liên lạc được với các Khả-hãn Nhị, Tam, Tứ, Ngũ Anh. Hầu hỏi :
- Tình hình thế nào ?
Nhị-Anh chỉ về phía trước :
- Quân của Thái-úy Tự-Khánh đang giao chiến với quân của Bùi Đô, Đinh Khả. Bất phân thắng bại. Còn các Đạo binh của ta thì đứng ngoài cuộc. Xin Đại-hãn định liệu.
Thủ-Độ nhìn về phía trước :
- Hai đạo quân đang giao chiến. Trong khi đó có bốn đạo quân mang cờ bang Lĩnh-Nam, rất hùng tráng, dàn ra hai bên. Mỗi bên hai đạo.
Nhất-Anh chỉ về phía trước :
- Thưa Đại-hãn, đạo binh ở phía trái ta là của Bùi Đô, Đinh-Khả. Còn đạo quân ở phía phải ta là của Thái-úy Tự-Khánh.
Hai bên đang giao chiến, thình lình thấy hiệu binh Tiên-yên từ mé sông tiến tới, thì cùng ngưng chiến.
Một võ tướng từ đạo quân phía trái hỏi :
- Ta là Phiêu-kỵ thượng tướng quân Bùi Đô. Ta muốn biết các người thuộc binh đội nào ?
Cửu-Anh gò ngựa tiến ra :
- Ta là chúa tướng hiệu binh Tiên-yên của bang Lĩnh-Nam. Chúng ta vâng lệnh bang chủ, đem quân về kinh cứu giá.
Phạm Kính-Ân nói nhỏ với Thủ-Độ :
- Gã Bùi Đô này tên thực là Mao Thiên. Còn tên Đinh Khả kia là Mao Địa. Chúng là con của đại ma đầu Mao Khiêm. Võ công y rất cao thâm. Bản lĩnh như Thái-úy Tự-Khánh mà cũng không thắng được chúng.
Bùi Đô nói lớn :
- Ta muốn gặp bang chủ các ngươi.
Thủ-Độ dặn nhỏ Cửu-Anh :
- Ta xuất kỳ bất ý kiềm chế tên Bùi Đô này. Khi y bị bắt rồi, thì em ra lệnh cho bốn đạo binh Thăng-long với hiệu Tiên-yên bao vây quân của chúng.
Thủ-Độ phi ngựa ra :
- Ta là bang chủ đây ?
Bùi Đô hỏi :
- Vậy người hãy cùng ta bắt tên phản thần Trần Tự-Khánh.
- Được !
Thủ-Độ vọt ngựa tới như tên bắn. Bùi Đô tưởng Thủ-Độ tiến lên trợ chiến. Y không đề phòng. Khi ngựa Thủ-Độ với ngựa y giao nhau, Hầu tung người lên cao, tay phóng một chỉ trúng huyệt Bách-hội của y. Toàn thân y bị tê liệt. Y đã bị bắt sống. Đinh Khả, cũng như chư tướng của Bùi Đô không phản ứng kịp. Trong khi đó các đạo binh Lĩnh-Nam cùng xông vào bao vây phía sau, bên phải, bên trái. Phía trước, đạo quân Tự-Khánh tỏa ra chặn đường.
Phạm Kính-Ân gò ngựa ra trước hàng quân. Ông chỉ vào Thủ-Độ nói lớn :
- Chư quân tướng nghe cho rõ ! Ta là Thái-phó Phạm Kính-Ân. Vị này là Tổng-lĩnh thị vệ Trần Thủ-Độ. Người là con của công chúa Đoan-Nghi với phò mã Thái-úy Trần Thủ-Huy. Được tin bọn họ Đàm mưu thí chúa, người đã xuất lĩnh dân binh của bang Lĩnh-Nam về cứu giá. Tên Bùi Đô này là con của ma đầu Mao Khiêm, tên Mao Thiên. Còn tên Đinh Khả kia là Mao Địa, con thứ nhì của Mao Khiêm. Chư quân tướng bị chúng đánh lừa, đem tính mạng ra cứu giá, kỳ thực là phạm giá. Bây giờ chư quân bị vây rồi. Nếu chư quân buông vũ khí đầu hàng, thì sẽ được ân xá. Còn như chư quân chống lại thì thân bị chết, mà cả nhà sẽ bị giết oan.

Quân sĩ của Bùi Đô, Đinh Khả buông vũ khí đầu hàng. Đinh Khả kinh hoảng bỏ chạy. Ngựa của y vừa sải được mươi bước, thì Thủ-Độ hý lên một tiếng. Con ngựa cất cao vó trước ngừng lại. Y kinh hoàng thúc chân vào bụng ngựa, thúc nó chạy, thì một mũi tên xé gió bay đến, cắt đứt giây cương. Thủ-Độ lại hý lên một tiếng nữa, con ngựa nằm ẹp xuống đất. Đinh Khả kinh hãi :
- Con ngựa này làm sao rồi ?
Thấp thoáng phía trước, một bóng xanh tung người lên nhanh không thể tưởng tượng nổi, bóng ấy xuất chiêu Cầm-long công chụp y. Y đẩy ra một chưởng đánh vào bóng xanh. Bóng xanh biến trảo thành chưởng đỡ. Binh một tiếng, Đinh cảm thấy như trời long đất lở, tai phát ra tiếng vo vo không ngừng. Bấy giờ y mới nhận ra người tấn công mình là bà Trần Lý. Đinh Khả cười nhạt :
- Tưởng ai, hóa ra Phương-Lan. Người chẳng là vợ chủa Trần Lý ư ? Dù sao ta với người cũng cùng môn hộ. Tại sao người lại đẩy ta vào đường cùng thế này ?
Không nói, không rằng, bà Trần Lý vòng tay ra sau lưng, tay bà đã cầm cái chài. Chài tung lên, tỏa ra như cái nơm chụp Đinh Khả. Đinh Khả từng nghe nói về môn võ công trấn môn của phái Đông-A tên Thiên-la thập bát thức. y tung mình nhảy lùi ba bước liền để tránh thế chài. Vô tình y đáp ngay trước mặt Tự-Khánh. Tự-Khánh đưa một kiếm, cắt y làm hai khúc.
Từ hai ngày qua, Tự-Khánh đánh nhau với Bùi, Đinh bất phân thắng bại ; công nhiều lần nhân danh Tả-hộ pháp của bang Lĩnh-Nam yêu cầu bọn Khả-hãn Thăng-long trợ chiến, để cứu giá. Nhưng bọn chúng vin vào việc bang chủ ban tờ Đại-cáo, thực thi ba lời nguyền, tức là diệt triều Lý, họ không thể cứu cái ông vua Kiến-gia, kẻ thù của bang được. Bây giờ thình lình Thủ-Độ xuất hiện, rồi chỉ một chiêu bắt sống Bùi Đô, rồi Phạm Kính-Ân nói mấy câu, mà hai đạo quân của Bùi, Đinh buông vũ khí đầu hàng. Tự-Khánh tiến lên :
- Thủ-Độ ! Em đã về đó sao ?
- Vâng !
Trần Thừa từ trung quân phi ngựa tới. Công cầm tay Thủ-Độ :
- Em ! Em thực tài quá. Quân của Bùi, Đinh đã giải quyết xong. Ta phải tìm xem xa giá Kiến-gia hoàng đế ở đâu ?
Đối vơí Thủ-Độ thì gã Long-Sảm tức Kiến-gia hoàng đế chết hay sống, chui rúc ở đâu, Hầu cũng không cần biết tới. Điều mà hầu quan tâm là không biết Kim-Dung ra sao ? Tuy vậy Hầu cũng phải tìm cho ra Long-Sảm. Vì Long-Sảm ở đâu, thì Kim-Dung ở đó. Hầu nói với Trần Thừa :
- Anh yên tâm ! Em sẽ tìm ra tung tích nhà vua ngay. Bây giờ anh em mình cần chỉnh đốn lại hệ thống cai trị, an dân.
Lại nói với Tự-Khánh :
- Binh của em là dân binh, mang kỳ hiệu bang Lĩnh-Nam, chưa quen lưu động. Còn binh của anh là binh triều, lưu động đã quen. Xin anh chuẩn bị sẵn sàng, để khi biết tin xa giá ở đâu, còn kịp thời tới cứu. Việc giữ yên Thăng-long, và các vùng xung quanh em sẽ trao cho 5 Khả-hãn.
Phạm Kính-Ân, Trần Thừa, Tự-Khánh Thủ-Độ cùng vào thành Thăng-long, hội chư tướng tại điện Uy-viễn. Thủ-Độ giới thiệu người của mình với Trần Thừa, Tự-Khánh. Hầu hỏi Trần Thừa :
- Thưa anh, cậu Trung-Từ với cô chú Tá-Chu đâu ?
- Hạm đội của chú Tá-Chu chở binh đoàn của cậu Trung-Từ vào bình định trấn Thanh-hóa, Nghệ-an. Vì vậy anh Khánh chỉ còn có một hiệu binh ở Thăng-long, nên bọn Bùi Đô, Đinh Khả mới làm lộng như vậy.
Chiều hôm đó, An-dân Quốc-vụ viện báo với Thủ-Độ :
« ... Xa giá Kiến-gia hoàng đế bị họ Đàm uy hiếp, đưa lên Trĩ-sơn thuộc châu Lạng. Đàm Thái-hậu làm khổ Ngự-nữ Kim-Dung, thường chỉ mặt mà chửi. Hai hôm trước Thái-hậu ban cho Ngự-nữ một bát thuốc độc bắt phải uống. Kiến-gia hoàng đế, giật bát thuốc vứt đi. Hiện giờ mỗi bữa ăn, nhà vua phải san sẻ thức ăn cho Ngự-nữ, vì sợ họ Đàm đánh thuốc độc. Hiện Ngự-nữ đã mang thai được ba tháng ».
Thủ-Độ nhảy phắt lên. Hầu bàn với Trần Thừa :
- Nguy quá ! Anh với anh Khánh giữ Thăng-long, để em đem quân giết hết bọn họ Đàm, cứu Kim-Dung.
Trần Thừa là người nhân từ thâm trầm, lại có tài xét đoán. Công biết rằng nếu để Thủ-Độ đem quân đi, ắt y giết hết phe đảng họ Đàm đã đành, mà y còn giết luôn Kiến-gia hoàng đế nữa, thì tai vạ không ít. Công vội cản :
- Hiện các An-phủ sứ, Tuyên-vũ sứ đều biên thùy một cõi. Muốn bình định, ta phải dùng các hiệu binh Lĩnh-Nam. Mà binh Lĩnh-Nam lại chỉ nghe lệnh của em thôi. Vì vậy anh nghĩ, em phải ở Thăng-long. Để Tự-Khánh đi đón xa giá, cứu Kim-Dung được rồi.
Tự-Khánh cùng các tướng kéo quân lên Lạng-châu rồi, Phạm Kính-Ân, Trần Thừa, Thủ-Độ hội các quan của triều đình còn lại, cắt cử họ vào những chức vụ mới. Thành ra, tuy nhà vua vắng mặt, nhưng công việc cai trị vẫn bình thường, không có gì xáo trộn. Mỗi lệnh ban ra, các phủ trấn thuộc triều đình tuân hành đã đành. Mà các phủ, trấn thuộc bang Lĩnh-Nam cũng răm rắp tuân theo. Trước kia, đường sá, sông ngòi, giữa những vùng thuộc triều đình với vùng thuộc bang Lĩnh-Nam, bị gián đoạn. Bây giờ nhờ Thủ-Độ trở về, đường sá sông ngòi lại thông thương như xưa. Nhờ thông thương, dân chúng mới biết rằng, vùng thuộc bang Lĩnh-Nam không bị tai ách trong các cuộc binh biến, đổi chủ. Họ lại biết rõ rằng thuế trong vùng Lĩnh-Nam quá nhẹ, làng xã không có nạn cường hào, trộm cướp, vì vậy dân sống an cư, giầu có. Còn vùng thuộc triều đình thì trải qua nhiều cuộc binh biến, nhà cháy, người chết, dân chúng phiêu bạt, đói rách, mùa màng bị mất, ruộng vườn bỏ hoang. Họ than: Triều đình không vua, do Thiếu-bảo Trần Thừa nắm quyền cai trị, mà dân chúng ấm no, hạnh phúc, thì tại sao không tôn Thiếu-bảo lên làm vua?
Phạm Kính-Ân hiến kế cho Thủ-Độ:
- Bây giờ Đại-hãn lệnh cho các Khả-hãn đem thực phẩm từ vùng Lĩnh-Nam sang cứu trợ các vùng lân cận. Nhân đó sai các Hãn đem Hương-binh sang huấn luyện tráng đinh, tổ chức thành đội ngũ. Những An-phủ sứ, Tuyên-vũ sứ thuộc triều đình, vốn là bọn ù lỳ, vô tài, nên tuy biết rằng để cho bang Lĩnh-Nam gửi người sang giúp, thì coi như đất của mình dần dần bị chiếm. Nhưng chúng vốn dĩ không tài, không đức, nên chỉ biết ngậm miệng. Thế là Đại-hãn chiếm được đất bằng ân nghĩa, không phải chém giết. Xưa nay chỉ các bậc thánh mới làm được.

Thủ-Độ lập tức hành động theo lời khuyên của Kính-Ân. Hầu ban lệnh cho các Khả-hãn tiến chiếm những phủ lân cận không quy phục triều đình. Cuộc bình định không khó khăn. Riêng ba An-phủ sứ Khoái-châu, Đăng-châu, Hồng-châu là những người có tài, lại nắm được trọng binh của đám Đàm Dĩ-Mông. Họ nhất định không chịu quy phục. Các Khã-hãn Lĩnh-Nam biết rằng không thể dùng biện pháp đem quân bình định. Họ báo với Thủ-Độ. Thủ-Độ chuẩn bị đem đại binh tiến đánh, thì An-dân Quốc-vụ viện báo một biến cố xẩy ra : Con quỷ ba đầu, hồn oan Thái-tử Long-Xưởng tái xuất hiện.
Lần thứ nhất, đang đêm quỷ ba đầu hiện lên nhát vợ con An-phủ sứ Khoái-châu Tôn Quang-An. Con quỷ ban chỉ rằng, nếu Tôn không quy phục triều đình thì sẽ bắt hồn vợ con trong vòng một tháng. Quang-An bở vía, y vội hạ cờ, rồi về Thăng-long xin quy phục. Thiếu-sư Trần Thừa ân cần tiếp đón, ủy lạo, rồi xin triều đình, bổ Tôn làm An-phủ sứ Trường-yên, là phủ giầu có, đông dân hơn ; cử viên quan trẻ thay thế Tôn lĩnh An-phủ sứ Khoái-châu.

Nửa tháng sau, đến lượt An-phủ sứ Đăng-châu Vương Khắc-Minh. Con quỷ ba đầu cũng hiện lên vào nửa đêm trong dinh của Vương, rồi cũng xưng là Vô-thượng chí-tôn đại thánh hoàng đế. Con quỷ ban chỉ : Vương phải quy phục triều đình, bằng không sẽ bắt hồn vợ con. Hôm sau, thay vì Vương về Thăng-long, quy phục Trần Thừa, thì y lại cử sứ quy phục bọn Đàm Dĩ-Mông. Thế rồi chỉ mười ngày, con quỷ ba đầu lại hiện lên. Sau khi kể tội bất tuân chỉ của Vương, con quỷ nhát chết ba đứa con trai, hai đứa con gái của Vương rồi ban chỉ : Phải quy phục triều đình hiện ở Thăng-long, chứ không phải triều đình ngụy của Đàm Dĩ-Mông. Vừa đau khổ, vừa kinh hoảng, Vương vội về Thăng-long xin Thiếu-sư Trần Thừa cho quy phục. Trần Thừa an ủi, xin triều đình đổi Vương đi làm Tuyên-vũ sứ trấn Thiên-trường, là một trấn bờ xôi, giếng mật, đất rộng dân đông nhất Đại-Việt. Triều đình cử một viên quan trẻ thay thế Vương coi Đăng-châu.

Lại nửa tháng sau quỷ ba đầu hiện lên trong dinh An-phủ sứ Hồng-châu Đàm Thì-Chí. Y vốn là đệ tử của Lĩnh-Nam tiên tử Vương Thụy-Hương, sau được tôn là Thái-hậu. Võ công y cao, văn học quảng bác. Từ khi xẩy ra biến cố Quách Bốc, Đàm nắm vững binh tình, tổ chức cai trị chặt chẽ, rồi kéo cao ngọn cờ cần vương. Khi con quỷ ba đầu hiện lên trong dinh Đàm, thì Đàm đang mang quân đi đánh nhau với quân của bọn ăn mày bang Lĩnh-Nam. Con quỷ vẫn xưng là hồn oan của Vô-thượng chí tôn đại thánh hoàng đế, ban chỉ cho vợ Đàm rằng : Đàm phải về Thăng-long quy phục triều đình. Bằng trong vòng một tháng, mà Đàm không thi hành, thì con quỷ sẽ bắt hồn hai đứa con trai của y. Hôm sau vợ Đàm vội sai thân binh ra mặt trận báo hung tin cho Đàm. Đàm cười nhạt : Quỷ với ma gì đâu ? Chẳng qua đây là người của bọn Trần Thừa, Trần Tự-Khánh để dọa ngườiø ngu mà thôi. Đối với ta thì vô ích. Ta sẽ trở về dinh chờ chúng tới, băét chúng đem ra chợ chém đầu để dân chúng không còn sợ bóng sợ gió con quỷ ba đaaù nữa. Các quan văn võ Hồng-châu đều hồi hộp theo dõi. Họ không phải chờ lâu, ba ngày sau, con quỷ ba đầu hiện lên vào giờ Sửu trong dinh An-phủ sứ. Sau khi kể tội Đàm Thì-Chí không tuân chỉ. Con quỷ nhát chết y cùng ba bà vợ, sáu đứa con. Còn tôi tớ thì được tha tội. Sáng hôm sau, các quan văn võ được báo hung tin, họ cùng tới đinh An-phủ sứ điều tra. Sau khi xem xét, bọn Bộ-khoái xác nhận rằng tất cả các xác chết đều không có vết thương. Xác nào cũng lạnh như băng, rõ ràng là bị quỷ nhát. Các quan nghe báo đều bở vía. Họ bàn với nhau, rồi hạ cờ, kéo về Thăng-long quy phục triều đình. Thiếu-sư Trần Thừa sai người khâm liệm thi thể gia đình Đàm, rồi đưa về nguyên quán chôn cất. Triều đình cử một viên quan trẻ trấn nhậm Hồng-châu thay thế Đàm Thì-Chí.

Thế là gần như các trấn, các phủ đều quy phục triều đình. Dưới sự phủ dụ, cai trị của Trần Thừa, Phạm Kính-Ân, đất nước điêu tàn vì chiến tranh, vì những cuộc binh biến mà chỉ trong vòng một nămthôi, kinh thành, cũng như những vùng xa xôi lại phồn thịnh như cũ. Chợ búa tấp nập đông đảo. Trên sông, thuyền bè ; trên đường xe cộ, giao thông như thời bình. Đất nước gần như thống nhất. Người đương thời có câu đồng dao rằng:

Nước có vua, thua nước vua trốn,
Chợ không vua, không thưa người họp.
Sông có vua, cua cá không còn,
Đường không vua, xe đua như nước.


Thấy tình hình đã tương đối sáng sủa, Thủ-Độ truyền An-dân Quốc-vụ viện ban lệnh triệu tập tất cả các Khả-hãn, các Hãn về họp mật. Nơi họp là Văn-miếu. Kể từ ngày Thủ-Độ lên đường đi sứ, trải đã mấy năm, bây giờ Hầu mới gặp lại các Khả-hãn, các Hãn. Sau mấy năm xa cách, điều Hầu cảm thấy vui mừng không bút nào tả xiết là: Các Khả-hãn từ những thiếu niên quê mùa, bây giờ trở thành những đại tướng khí phách hiên ngang, đầy nhiệt huyết. Sau khi các Khả-hãn trình bầy tình hình địa phương, Thủ-Độ tuyên bố chính sách về nô bộc, về ruộng đất, đến phần thảo luận về những bước phải làm để thực hành ba lời nguyền đã nhắc lại trong bản Đại-cáo. Thủ-Độ khẩn khoản nói với Phạm Kính-Ân :
- Xin thầy ban cho những lời dạy dỗ.
Phạm Kính-Ân đứng lên phát biểu:
- Ba lời nguyền, mà chúng ta đã tuyên cáo với Quốc-dân, nhất định chúng ta phải thực hiện. Nhưng bao giờ thỉ thực hiện? Thực hiện như thế nào để thành công mỹ mãn, để không phải đổ máu nhiều, để có chính nghĩa?
Cử tọa im phăng phắc.
- Tôi nghĩ, ngay bây giờ chúng ta chưa thể thực hiện được. Vì sao?
Ông ngừng lại một lát, rồi tiếp:
- Chúng ta tạm lùi một bước, để tiến mười bước. Hiện còn tới 2 trấn, 5 phủ, ta chưa làm chủ được. Tuy vậy, trong mấy tháng qua, ta đã lấn bằng cách gửi người sang huấn luyện Hương-binh, tổ chức đội ngũ. Kể ra là lúc chín mùi rồi, ta chỉ việc cất tay một cái, thì triều Lý không còn nữa. Ta giết gã Long-Sảm thì quá dễ dàng. Ngặt vì bọn sứ quân, bọn An-phủ sứ, Tuyên-vũ sứ sẽ lấy cớ đó, kéo cao cờ nghĩa phù Lý diệt bang Lĩnh-Nam, vô tình ta hứng chịu tất cả các mũi dùi. Vậy các Khả-hãn, các Hãn trở về vùng trấn nhậm thi hành bằng này điều. Một là, quản hạt đã có An-phủ sứ, Tuyên-vũ sứ do ta đưa lên, thì giữ nguyên. Còn như, các An-phủ sứ, Tuyên-vũ sứ của triều Lý, nếu họ có tài, có đức, mà họ chịu theo ta, thì ta để cho họ tồn tại. Còn lại, ta hạ chúng xuống, tìm người tài đức trong vùng đưa lên thay thế. Hai là, thi hành chính sách nô bộc, ruộng đất, thuế khóa mà ta đã nêu trong Đại-cáo. Ba là, phải theo dõi phủ, trấn cạnh ta, chưa thuộc về ta. Nếu như thấy bọn An-phủ sứ, Tuyên-vũ sứ đó tàn ác, thì tiến quân sang đánh dẹp, ta sẽ cử người về trấn nhậm. Sau khi diệt hết bọn sứ quân, đất nước thống nhất. Bấy giờ, trong triều ta muốn vo tròn, bóp méo gã Long-Sảm thế nào mà chẳng được! Mọi luật lệ do ta ban hành, mọi nhân sự do ta bổ nhiệm. Ta không làm vua, cũng như làm vua. Ta tha hồ cải cách, làm cho dân giầu nước mạnh.
Cử tọa vỗ tay hoan hô.
Giữa lúc đang hội họp thì An-dân Quốc-vụ viện báo:
" Trong khi đại binh của Thái-úy Trần Tự-Khánh tiến lên châu Lạng, giải cứu, thì xa giá Kiến-gia hoàng đế bị bọn Đàm Dĩ Mông, Đàm hậu dùng một đội võ sĩ Tống uy hiếp, chạy về Bình-hợp. Thị-vệ, cung nga, thái giám theo hầu bỏ trốn gần hết. An-phủ sứ đón vua về dinh, cung phụng".
Cử tọa trấn động !
Thủ-Độ hỏi:
- Bình-hợp ở đâu? An-phủ sứ là người thế nào?
Tam-Hào đứng dậy:
- Bình-hợp thuộc Bắc-giang, là địa phận của thuộc hạ. An-phủ sứ chính là quản nhiệm Vụ-binh bản bang Lê Mịch. Đáng lẽ hôm nay Lê sư huynh cùng về họp. Nhưng thuộc hạ cản, vì trong phủ một văn, một võ, thì một người phải giữ nhà.
Thủ-Độ tuyên bố giải tán cuộc họp, Hầu ban lệnh cho đội Lưu-tinh:
- Cấp báo tin tức cho Thái-úy Trần Tự-Khánh biết tin tức này ngay. Xin người tiến binh về Bình-hợp bảo vệ Kiến-gia hoàng đế.
Hầu nói với Chu Mạnh-Nhu, Tạ Quốc-Vinh:
- Hai vị ở lại Thăng-long, điều hành An-dân Quốc-vụ viện, trợ giúp Thiếu-bảo Trần Thừa. Tôi phải đi cứu quản nhiệm Vụ-lễ Kim-Dung ngay.
Lại nói với Phạm Kính-Ân, Tam-Hào:
- Xin thầy đi với con. Tam-Hào! Chúng ta về Bắc-giang ngay chiều nay.
Thủ-Độ lấy hơn trăm kỵ mã thuộc đạo Gia-lâm hộ vệ, rồi cùng Phạm Kính-Ân, Tam-Hào lên đường. Vì nóng lòng gặp lại Kim-Dung, Hầu phi ngựa như gió cuốn, như mây bay. Khoảng hơn giờ sau thì tới địa phận Bắc-giang. Trên đường đi, Hầu phóng mắt nhìn những làng mạc ven đường: Dân chúng thản nhiên làm ăn, đồng ruộng xanh tươi, trẻ con, người lớn đứng nhìn đoàn kỵ mã như xem một đoàn hát đi qua. Hầu khen Tam-Hào:
- Lê Mịch với em quả thực là tài. Trên toàn quốc, đều lâm vào tình trạng chiến tranh, dân chúng phiêu bạt, mà em với Lê Mịch giữ được vùng này an ninh, thịnh vượng thế này, thực tể tướng Phương-Dung thời vua Trưng sống lại cũng phải khen.
Lại phi khoảng hơn hai khắc nữa, thì thành Bình-hợp đã hiện ra xa xa. Thình lình có tiếng vó ngựa kêu lốp cốp, rồi ba kỵ mã xuất hiện, phi ngược chiều. Tam-Hào chỉ ba kỵ mã nói:
- Kia là ba kỵ mã Lưu-tinh. Chắc chúng báo tin khẩn cấp.
Ba kỵ mã chưa từng thấy mặt Thủ-Độ, chúng hành lễ với Tam-Hào, rồi báo cáo tình hình:
" Cách đây năm ngày, có sứ giả báo rằng: Xa giá của Kiến-gia hoàng đế, Thái-hậu, cung quyến, triều đình sắp tới Bắc-giang. Truyền chỉ cho An-phủ sứ phải đem binh dàn ra hộ giá, cung đốn lương thực, chỗ ở. Nếu sơ xuất, sẽ bị giết cả nhà.
An-phủ sứ họp các quan lại, cùng bang chúng bang Lĩnh-Nam nghị sự. Cuối cùng đều quyết định: Cứ đón tiếp theo lễ nghi, rồi báo cho Khả-hãn biết để định liệu.

Sáng nay Hoàng-đế cùng triều đình tới. An-phủ sứ dàn giáp sĩ, mở cửa thành đón tiếp. Từ Hoàng-đế, Thái-hậu cho đến Thái-sư Đàm Dĩ-Mông, các đại thần tòng vong, cung quyến đều mệt mỏi bơ phờ, y phục tả tơi. Tuy nhiên theo phò Hoàng-đế còn có bốn vị tướng quân người Tống, chỉ huy ba trăm võ sĩ. Người nào trông cũng hùng tráng. Dường như Hoàng-đế bị bọn này khống chế. Nên nhất nhất, đều phải nghe lệnh bốn viên tướng này".
Tam-Hào bàn với Thủ-Độ:
- Không biết bốn gã tướng quân Tống kia sang đây có mục đích gì? Tại sao chúng lại mang hơn ba trăm võ sĩ theo? Ta phải cẩn thận lắm mới được.
Phạm Kính-Ân bàn .
- Đại-hãn! Trong vụ nhà vua đến Bắc-giang, dường như có một ngụ ý cực kỳ quan trọng. Khi còn là Thái-tử, nhà vua cũng biết phái Đông-A không ưa triều Lý, mà vẫn chạy về Hải-ấp nương nhờ, rồi được Ninh-quốc đại vương phất cao cờ nghĩa, mà tái lập được ngôi vua. Bây giờ, nhà vua cũng như triều đình đều biết rằng Bắc-giang do bang Lĩnh-Nam của ta chiếm cứ. Mà bang Lĩnh-Nam với ba lơì nguyền, rất nguy hiểm cho nhà vua. Thế mà nhà vua lại di giá đến là tại sao? Theo tôi nghĩ, có thể nhà vua bị bọn họ Đàm, bọn Tống khống chế, không thoát được. Nhà vua mơí nghĩ đến nhập vào lãnh địa của ta, để nhờ ta giải thoát.
Nghe Kính-Ân luận, Thủ-Độ như người mơ, tỉnh giấc. Hầu hỏi:
- Thưa thầy, bây giờ con phải có thái độ nào?
- Đại-hãn! Đây là dịp may ngàn năm một thủa cho ta. Trong lúc hào kiệt còn hoài tưởng triều Lý. Hơn nữa, nhiều vùng vẫn theo nhà vua. Vậy bây giờ, ta kéo cao cờ nghĩa tôn phù nhà vua, dùng nhà vua làm cái bung xung để sai khiến thiên hạ. Vậy, Tam-Hào hãy về trước, và làm như vậy...như vậy...Còn Đại-hãn với tôi sẽ âm thầm tới sau.
Tam-Hào theo ba kỵ mã trở về lỵ sở Bắc-giang. An-phủ sứ Lê Mịch ra đón ở đầu thị trấn. Tam-Hào nóng lòng hỏi ngay:
- Sư huynh đã gặp sư tỷ Kim-Dung chưa?
- Gặp rồi! Sắc diện sư tỷ tiều tụy lắm. Sư tỷ cho biết, từ hôm xa giá lưu vong, Đàm Thái-hậu tìm đủ cách giết sư tỷ. Nào bắt thắt cổ chết, nào bắt uống thuốc độc, nào sai võ sĩ đem chém. Nhưng tất cả đều không thành công.
Tam-Hào chửi thề:
- Đ.M nó chứ! Thế là cái đéo gì? Nếu không có song thân sư tỷ suất lĩnh hào kiệt, diệt bọn Quách Bốc, thì giờ này làm đéo gì cái triều Lý còn tồn tại? Ăn cháo đá bát! Qua sông phụ sóng! Trước đây gã Thái-tử Long-Xưởng đã phụ ơn giòng họ Đông-A, rồi mua lấy cái chết. Triều Lý đối xử tàn tệ với Phò-mã Thủ-Huy, chưa từng thấy trong lịch sử Đại-Việt. Bây giờ tới con mụ họ Đàm. Mẹ cha nó chứ.
Tam-Hào hạ thấp giọng:
- Sao sư huynh không dùng hương binh bắt con mụ Đàm thái hậu, cùng cái triều đình thối tha kia giết con mẹ chúng đi cho rồi!
- Ta cũng định làm vậy. Ngặt vì đi theo Long-Sảm còn có bốn võ quan của Tống, với hơn ba trăm võ sĩ. Ném chuột sợ vỡ đồ. Ta mà ra tay, thì e chúng hại nhà vua.
- Chúng là ai vậy?
- Tên phó sứ Lâm Hoài-Đức, ba bồi sứ Đinh Huyền, Đinh Thanh, Đinh Hồng và con mụ Trịnh Nam-Phương. Võ công chúng cao thâm không biết đâu mà lường. Song việc dùng binh thì chúng ngu như lợn. Vì vậy ta phải đợi đệ về rồi tính. Chính bọn này với bọn họ Đàm kiềm chế nhà vua. Nhà vua muốn thoát ra mà không có cách nào.
Tam Hào nóng nảy:
- Đệ muốn gặp sư tỷ.
Lê Mịch chỉ vào cái nhà chòi, hơi giống ngôi chùa Một-cột ở Thăng-long:
- Thái-hậu cô lập sư tỷ! Cấm không ai được tiếp xúc với người! Người hiện ở trong căn lầu gỗ phía sau dinh vơí nhà vua.
- Xin lỗi, đây là đất của đệ, chứ không phải đất của họ Đàm. Đệ cứ gặp sư tỷ xem thị làm gì được đệ.
Hồi còn niên thiếu, bọn Tây-hồ Thập-bát Anh-hào được Kim-Dung dậy võ, luyện văn, nàng lại hay hóa phép thành những món ăn khoái khẩu, nên mười tám đứa em kết nghĩa cực kỳ sủng ái nàng. Vì vậy Tam-Hào mới nổi cáu, phát ra những lời nặng nề!
Lê Mịch hỏi:
- Thế nào? Sư đệ gặp Đại-hãn rồi hả. Đại-hãn quyết định ra sao về số phận tên Long-Xưởng?
Tam-Hào nói nhỏ vào tai Lê Mịch mấy câu. Lê Mịch gật đầu khen:
- Phải hành động như vậy. À, thôi sư đệ vào bái yết gã Long-Sảm đi.
Kiến-gia hoàng đế cư trú trong dinh An-phủ sứ. Quanh dinh có khoảng hơn trăm võ sĩ Tống canh gác. Một viên tướng cầm kiếm kiểm soát. Tam-Hào nhận ra y là Đinh Hồng, viên bồi sứ mấy năm trước. Còn Đinh Hồng, y đã thấy Tam-Hào trong kỳ thi võ Tiến-sĩ. Nhưng sau mấy năm, Tam-Hào lớn lên, cơ thể thay đổi nhiều, nên y không nhận ra chàng. Y hỏi:
- Phải chăng huynh đệ là Đoàn-luyện sứ của phủ Bắc-giang?
- Vâng! Không biết đại nhân đây xưng hô thế nào?
- Ta là bồi sứ, Gia-định hoàng đế Thiên-triều gửi chúng ta sang đây giúp An-Nam quốc vương, để dẹp giặc Đông-A. Đoàn-luyện sứ muốn gì?
- Tôi muốn vào yết kiến nhà vua.
- Được! Sau khi xong việc, ta muốn bàn với Đoàn-luyện sứ một chuyện.
- Vâng.
Tam-Hào bước vào dinh. Chàng liếc mắt nhìn: Long-Sảm ngồi trên chiếc ghế, cạnh đó còn một trung niên thiếu phụ béo tròn béo trục, có lẽ là Đàm thái hậu. Xung quanh Long-Sảm, còn khoảng mười vị đại thần, mặt mũi hốc hác, y phục tả tơi. Không thấy một cung nga, thái giám nào. Ngồi ngang với Hoàng-đế là phó sứ Lâm Hoài-Đức mà chàng đã gặp hôm thi võ.
Nhà vua tỏ ra bơ phờ mệt mỏi lắm rồi. Tuy thấy Tam-Hào vào tung hô vạn tuế, mà ngài vẫn lơ đãng nhìn lên xà nhà. Một lúc sau, ngài mới phán:
- Đoàn-luyện sứ. Hiện khanh có bao nhiêu Hương-binh?
- Tâu, thần có một Hiệu.
- Hiệu tên gì?
- Hiệu mang tên Bắc-giang. Hiệu có Tiền-đạo, Hậu-đạo, Tả-đạo, Hữu-đạo, và một đạo Ngưu-binh. Mỗi đạo có ba nghìn người.
- Trẫm thăng khanh lên hàng Đô-thống, phong cho khanh tước Yên-duyên bá, đặt khanh dưới quyền chỉ huy của Trấn-viễn đại tướng quân Thiên-triều Lâm Hoài-Đức, để diệt bọn giặc Trần Tự-Khánh, khôi phục nghiệp rồng. Nếu khanh có công, trẫm sẽ thăng lên tước Hầu, chức tướng quân. Thôi khanh lui.
Lâm Hoài-Đức hỏi Tam-Hào:
- Hiện năm Đạo binh của Đô-thống đóng tại đâu?
- Thưa Thiên-sứ, tại lỵ sở này chỉ có Tiền-đạo ứng trực thôi. Còn Tả, Hữu, Trung-đạo và đạo Ngư-binh thì tản vào dân chúng giữ an ninh.
- Nếu như muốn tập trung các đạo lại thì mất trong bao nhiêu ngày?
- Thưa chỉ cần hơn một giờ.
- Vậy đô thống ra lệnh tập trung các đạo binh tại đây vào giờ Thìn ngày mai, để bản sứ điều động, hộ tống xa giá tiến về Thăng-long.
Tam-Hào nghĩ thầm:
- Tên này chỉ là một võ phu. Còn việc điều quân thì ngu hơn lợn. Ta có thể lừa y dễ dàng.
Chàng xua tay:
- Thưa Thiên-sứ, từ đây về Thăng-long phải qua vùng Quốc-oai. Mà Quốc-oai do An-phủ sứ Vương Lê với Nhị-Anh trấn đóng. Hiện họ ly khai với triều đình. Nếu ta tiến quân về Thăng-long, sẽ phải giao chiến với họ. Tiểu nhân e việc này không dễ dàng đâu.
- Không khó. Ngày mai, chúng ta sẽ dẫn đầu đoàn quân. Hễ gặp bọn tướng Quốc-oai, chúng ta ra tay kiềm chế chúng. Quân sĩ còn lại như rắn mất đầu, Đô-thống chỉ việc xua quân đuổi như đuổi chuột. Dễ mà.
- Tuân lệnh Thiên-sứ.
Tam-Hào ra phía sau dinh An-phủ sứ, nơi có căn lầu bằng gỗ, dành cho nhà vua ở. Dưới cầu thang, có bốn nữ Hương binh đứng gác. Chúng thấy chủ tướng thì hành lễ. Tam Hào hỏi:
- Những ai ở trên đó?
- Thưa Khả-hãn, chỉ có một mình quản Vụ-lễ Kim-Dung mà thôi.
- Người báo với quản Vụ-lễ rằng có ta cầu kiến.
Kim-Dung đã ló đầu ra cửa sổ, nàng vẫy tay:
- Tam-Hào đấy hả? Chị mong em muốn mờ mắt đi được.
Nói rồi Kim-Dung tung mình đáp xuống nhẹ như con chim. Nàng ghé miệng vào tai Tam-Hào:
- Đại-hãn đâu? Tại sao người... người không đến đây gặp ta?
Tam-Hào nói nhỏ:
- Đại-hãn cũng mong gặp sư tỷ đến mờ mắt ra. Người chờ sư tỷ ở ngọn suối Tiên, cách đây chừng hai dặm. Chúng ta tới đó gặp người.
Tình yêu che lấp trí minh mẫn của Kim-Dung. Nàng quên mất mình đang là vợ vua, phải cấm cung trong lầu vắng. Thấy Tam-Hào chạy trước, nàng dùng khinh công phóng theo. Qua hai khu rừng, thì Tam-Hào dừng lại. Kim-Dung nóng nảy, nàng hỏi:
- Đại-hãn đâu?
Một bóng người từ trên cây đáp xuống như chiếc lá rụng trước mặt Kim-Dung, chính là Thủ-Độ. Hai người cùng nhìn nhau, ngây ngất, tưởng đâu trong giấc mơ? Cả hai cùng không nói lên lời. Rồi, không ai kiềm chế được mình, cả hai ôm chầm lấy nhau, nghẹn ngào:
- Thủ-Độ!
- Kim-Dung!
Hai người ngã xuống bụi cỏ. Họ quên mất Tam-Hào đang ở cạnh.
Rừng núi Bắc-giang, dưới nắng hè chói chang, vang lên tiếng ve rên rỉ. Trên bãi cỏ xanh tươi, đôi tình nhân trẻ, sau biết bao nhiêu ngày xa cách, nhớ thương chồng chất. Họ như tan biến vào nhau. Họ từng thề ở hồ Tây: Dù dơ bẩn, dù xấu xa mấy họ cũng làm. Miễn là giữ được Xã-tắc, bảo vệ được đất tổ.

Ghi chú của thuật giả:

Viết đến đây, tôi xin ngừng lại, không dám thuật tiếp. Vì, tôi đã tra trong chính sử, dã sử, cũng như gia phả các chi họ Trần. Kể cả gia phả của con cháu Chiêu-quốc vương Trần Ích-Tắc ở Trường-sa Trung-quốc, cũng không biết chắc rằng Trung-vũ đại vương Trần Thủ-Độ với Hoàng-hậu của vua Lý Huệ-Tông đã làm những gì với nhau hôm ấy ở bãi cỏ thơm? Vì lễ giáo, hai vị sẽ buông nhau ra, nhìn nhau qua mắt lệ than ôi, hay là..., hay là...
Độc giả Anh-hùng Đông-A vốn thông minh, xin tự đoán lấy. Nếu có sai cũng không sao.


Mặt trời đã ngả về Tây. Không gian rừng núi Bắc-giang đã biến sang mầu tím. Thủ-Độ nắm lấy tay Kim-Dung:
- Bây giờ chúng ta hãy bỏ nơi này về Thăng-long. Bang Lĩnh-Nam của chúng ta kéo cao cờ nghĩa, tôn anh Thừa lên ngôi hoàng đế, rồi kiến tạo đất nước thành một đại quốc anh hùng; giúp cho dân giầu, no ấm như thời vua Hùng vua Trưng.
- Không được đâu! Muôn ngàn lần không được.
Thủ-Độ run run :
- Sao ? Tại sao lại không được ?
- Nếu chúng ta làm thế, thì vô tình chúng ta trở thành một thứ Kiều Công-Tiễn, một thứ Đỗ Thích, cả nước sẽ coi chúng ta như con chó điên ai cũng muốn giết!
- Ý Dung muốn nói?
- Hiện lòng người vẫn chưa hoàn toàn muốn diệt họ Lý. Nhiều người còn hoài tưởng, nhớ công nghiệp của các vua Thái-tổ, Thái-tông, Thánh-tông, Nhân-tông. Bằng cớ, Nguyễn Nộn, Đoàn Thượng là hai kẻ vô tài, bất đức. Thế mà chúng kéo cao cờ cần vương, khôi phục Lý triều, anh hùng thiên hạ theo về dưới trướng đông đảo, nên anh Tự-Khánh bao phen giao chiến với chúng đều thất bại. Bọn Khả-hãn của chúng ta, sống lẫn với dân, gần dân như thế, mà cũng bó tay trong vùng của Nộn, Thượng. Đấy là nói về tình dân, thế nước.
Thủ-Độ công nhận Kim-Dung có lý. Nàng tiếp:
- Còn nói về phong hóa, đạo lý, kể từ khi triều Lý lập lên, Nho-giáo dần dần thay thế Phật-giáo, ảnh hưởng vào triều đình. Đến đời vua Thánh-tông, Nhân-tông cho xây Văn-miếu, tạc tượng Khộng-tử, Tứ-phối, Thất-thập nhị hiền, thì Nho-giáo đã chiếm một địa vị gần như độc tôn. Cho nên khắp thôn cùng, ngõ hẻm, người người đều lấy Tam-cương, Ngũ-thường làm giáo hóa con cái. Bây giờ anh giết Kiến-gia, thì bị kết tội đại nghịch. Dù nói cách nào chăng nữa, em cũng là vợ Long-Sảm, lại có mang, mà em bỏ chồng theo anh, thì khắp thiên hạ đều nguyền rủa bọn mình là gian phu, dâm phụ, làm chuyện chó lợn. Họ sẽ săn đuổi tru diệt chúng mình như tru diệt hai con chó điên. Nói đâu xa, trong gia đình mình, mẹ em, anh Thừa, anh Khánh cũng không thể chấp nhận cái việc em bỏ Long-Sảm theo anh, cái việc chị em con chú con bác loạn luân.
- Vậy chúng mình phải làm gì?
- Những việc mà chúng ta phải làm, thì thầy Kính-Ân đã giảng cho anh rồi. Ngay lập tức, chúng ta đưa xa giá Kiến-gia về Thăng-long. Từ nay, quyền hành ở trong tay nhà ta. Anh tha hồ thi hành cái mộng làm cho dân giầu nước mạnh.
- Chuyện này cũng dễ thôi!
- Không dễ đâu.
Kim-Dung khẳng định:
- Ngay khi bọn Quách Bốc làm loạn, Long-Sảm, Long-Thẩm tranh dành quyền, Đàm Dĩ-Mông sai sai sứ sang Tống cầu phong cho y làm An-Nam quốc vương. Đàm cũng xin Tống gửi viện binh sang dẹp giặc. Thay vì gửi quân, Tống gửi bọn Lâm Hoài-Đức dẫn Tương-giang tam hổ sang, với ý định đâm bị thóc, chọc bị gạo cho ta có nội chiến, tinh lực yếu đi, để không còn là mối lo cho họ nữa. Khi mới tới, bọn này dùng ba trăm võ sĩ khống chế Kiến-gia, cùng triều đình, mượn danh Kiến-gia để sai khiến anh hùng Đại-Việt. Sau những ngày phiêu bạt, bữa có, bữa không, bọn thị vệ, cung nga, thái giám bỏ trốn hết. Trong khi đó bọn Tống lại áp chế quá đáng. Kiến-gia bàn với em bằng mọi giá phải thoát khỏi vòng kiềm tỏa của chúng. Nhân đó em đưa ý kiến ban chỉ triệu anh Tự-Khánh. Vì chỉ có anh Tự-Khánh mới có thể đương nổi với Đoàn Thượng, Nguyễn Nộn, diệt bọn Tống. Kiến-gia đồng ý. Em lại bàn : Trong khi chờ đợi, hãy ẩn vào vùng Bình-hợp, là nơi trấn nhậm của quản nhiệm Binh-vụ Lê Mịch, với Khả-hãn Tam-Hào. Cả hai người đều là sư đệ của em. Kiến-gia nghe theo... Vậy bây giờ ta diệt bọn Tống bằng cách nào?
Bàn về hành quân, xung phong, hãm trận, thì hiện khắp Đại-Việt không ai hơn được Thủ-Độ. Nhưng trong việc cần đến mưu trí như vụ này, thì Thủ-Độ hoàn toàn mù tịt. Hầu đề nghị:
- Muốn diệt bọn Tống, thì phải giết tên Lâm Hoài-Đức, Tương-giang tam hổ và Trịnh Nam-Phương. Ở đây, anh chỉ có thể đấu ngang tay với Trịnh Nam-Phương. Kim-Dung, Lê Mịch, Tam Hào không phải là đối thủ của Tương-giang tam hổ. Vậy ta phải khẩn sai người về cáo với anh Thừa, xin anh gửi cho ta mấy cao thủ.
- Em cũng nghĩ như vậy. Với bản lĩnh của Lâm Hoài-Đức thì e phải có cô chú Phùng Tá-Chu, cậu mợ Tô Trung-Từ mới trị nổi chúng. Nhưng việc trước mắt phải làm ngay hôm nay, mà ta gửi sứ đi cầu viện, thì biết đến bao giờ? Em đề nghị: Đợi đêm xuống, một mặt chúng ta âm thầm đem Kiến-gia trốn đi. Một mặt chúng ta lệnh cho Tam-Hào đem binh vây bọn chúng, bắt giết đi là êm.
- Vậy thì đêm nay Dung thử bàn với Kiến-gia xem sao.
- Khổ một điều là nhà vua vẫn không tin anh Thừa, anh Khánh. Cho đến lúc này, nhà vua vẫn chưa quyết định xem có nên về Thăng-long hay không ?
Chợt Kim-Dung bẹo tai Thủ-Độ :
- Này Thủ-Độ ! Em nghe nói con quỷ ba đầu lại xuất hiện ở Hồng-châu, Đăng-châu, Khoái-châu. Có phải do anh không ?
- Không ! Anh cũng đang điên lên về vụ này đây ! Không biết ai đã giả danh anh. Có điều con quỷ ba đầu làm lợi cho nhà ta nhiều quá.
- Em nghe nói, những người bị quỷ nhát chết, xác lạnh như băng. Rõ ràng họ bị trúng Huyền-âm nội lực.
Thủ-Độ nghĩ ra một chuyện, Hầu ghé tai Kim-Dung nói nhỏ mấy câu. Kim-Dung bật cười rồi gật đầu liên tiếp. Nàng gỡ tay Thủ-Độ ra rồi nói
- Thôi, em phải về.
Đôi lứa thiếu niên bịn rịn, không muốn rời nhau. Tay cầm tay. Họ ôm chặt lấy nhau, rồi thình lình buông nhau ra. Kim-Dung dùng khinh công vọt về phía dinh An-phủ sứ. Thủ-Độ ngẩn ngơ đứng nhìn theo. Rừng Bắc-giang chìm vào trong bóng tối, tiếng dế kêu nỉ non, hòa lẫn vơí tiếng cú rừng, tạo thành một thứ âm nhạc buồn rười rượi.
- Đại-hãn.
Thủ-Độ giật mình quay lại, Tam-Hào đang đứng đối diện với Hầu. Hầu hỏi:
- Em nghe hết những gì ta bàn với Kim-Dung rồi phải không?
- Vâng.
- Theo quan Thái-phó Phạm Kính-Ân cũng như Kim-Dung, thì ta không thể giết tên Long-Sảm, mà ngược lại phải bảo vệ y, dùng y sai khiến những người còn tưởng nhớ đến triều Lý. Dần dần, khi quyền vào tay ta trọn vẹn, bấy giờ giết y cũng không muộn. Em nghĩ ta phải làm gì bây giờ?
- Muốn xử dụng tên Long-Sảm làm bù nhìn, thì ta phải tách y khỏi bọn Tống, bọn họ Đàm. Trước đây Đại-hãn cho rằng đầu mối mọi hỗn loạn đều do bọn đại thần ăn hai, bọn gà mái gáy hậu cung. Đại-hãn muốn giết hết bọn chúng, thì bây giờ là dịp bằng vàng cho Đại-hãn xuống tay.
- Có cách nào mượn tay người khác giết chúng dùm thì hay hơn.
- Không khó. Thuộc hạ nghĩ , nếu bây giờ ta đem quân vây đánh bọn Tống, bọn Đàm Dĩ-Mông thì dễ quá. Nhưng e diệt được chúng, ta cũng tổn thất không ít. Ấy là không kể trong lúc hỗn loạn, Long-Sảm bị giết chết thì ta mang tiếng thí chúa. Vậy ngay bây giờ Đại-hãn mang nhà vua rời khỏi đây trước đã. Thuộc hạ chuẩn bị cho Đại-hãn với sư tỷ Kim-Dung, đem theo mươi kỵ mã hộ tống Long-Sảm chạy về Quốc-oai là nơi trọng binh của Nhị-Hào trấn đóng. Khi Long-Sảm rời khỏi nơi này, thuộc hạ sẽ có cách đối phó với bọn Tống, bọn Đàm Dĩ-Mông. Ngặt vì trên đường đi phải qua bến Cửu-liên, trong đêm thuyền bè không có. Liệu Long-Sảm có bơi qua sông được không?
- Điều này không khó, vì Kim-Dung bơi rất giỏi. Sư tỷ có thể dìu hắn qua sông được. Em hãy âm thầm chuẩn bị đi.
- Thưa Đại-hãn!
- Có gì không?
- Sư tỷ Kim-Dung bị Thái-hậu giam lỏng ở trong căn lầu gỗ. Thế mà người bỏ đi từ chiều đến giờ...
Thủ-Độ kinh hoảng:
- Ái chà! Không chừng Kim-Dung trở về sẽ gặp rắc rối. Nhưng không sao. Ta đã có cách đối phó.
Kim-Dung trở về căn gác gỗ thì không thấy nhà vua. Nàng hỏi tên thái giám :
- Hoàng thượng đâu ?
- Hoàng thượng đang thiết triều tại dinh An-phủ sứ.
Kim-Dung hướng dinh An-phủ sứ, dùng khinh công vọt mình đi trong đêm. Đi nửa đường thì gặp nhà vua đang trở về. Có mười võ sĩ Tống hộ vệ. Kim-Dung hỏi thăm nhà vua mấy câu rồi ban chỉ cho đám võ sĩ Tống :
- Đa tạ các vị huynh đệ. Xin các vị trở về an nghỉ. Tôi bảo vệ Hoàng-thượng đủ rồi.
Trở lại căn gác, Kim-Dung tâu với nhà vua :
- Xin Bệ-hạ lên gác an nghỉ trước. Thiếp cần luyện lại bộ chưởng Lôi-giáng Hoa-nhạc. Thiếp sẽ trở về sau một giờ.
Nhà vua uể oải leo lên căn gác. Sau khi cài cửa lại, ngài trút bỏ mũ, áo, định ngồi xuống chiếc ghế, thì có tiếng rên hừ...hừ... ngay bên cạnh. Nhìn lại, bất giác da gà ngài nổi lên, chân tay run lật bật, hai hàm răng đánh nhịp lộp cộp : Con quỷ ba đầu, mà ngài đã bị nhát hồi ở Đông-cung đang gật gật cái đầu. Quá kinh hoảng, nhà vua ngã ngồi xuống sàn nhà, rồi khấn :
- Trăm lạy Vô-thượng chí tôn đại thánh hoàng đế. Xin Đại-thánh hoàng đế đừng bắt hồn thần nhi
- Nhà ngươi có biết tội chưa ?
- Quả tình thần nhi không có tội gì.
- Không tội ? Phàm ngồi trên ngôi Cửu-ngũ, thì phải biết phân biệt kẻ trung, người nịnh. Nay mi làm vua, mà lại không biết họ Trần xả thân vì triều đình, bọn họ Đàm là bọn mưu với Tống cướp ngôi hay sao
- Tâu, việc đó do Đàm Thì-Phụng chủ trương, thì cả nhà y đã bị Đại-thánh hoàng đế xử tử rồi.
- Ta đã giết chúng nó thì ta nhớ chứ. Gian thần họ Đàm mà ta muốn nói đây là tên Đàm Dĩ-Mông với Đàm Ngọc-Anh kia. Chúng muốn đem người rời Thăng-long, để dễ dàng khống chế. Chúng đã sai sứ sang Tống cầu phong cho Đàm Dĩ-Mông làm An-Nam quốc vương. Chúng cũng xin Tống ra binh giúp chúng khôi phục Thăng-long. Nhưng Tống sợ thế lực họ Trần, nên chỉ gửi Lâm Hoài-Đức với ba trăm võ sĩ sang mà thôi. Chúng định mấy hôm nữa sẽ giết người, rồi đổ tội cho giặc cướp. Bấy giờ Đàm Dĩ-Mông mới lên làm vua. Người hiểu chưa ?
- Bây giờ thần nhi mới biết.
- Ta vì sự nghiệp mấy trăm năm của quả núi Tiêu-sơn báo cho mi biết, liệu mà trừ bọn chúng ngay. Nếu trừ không nổi thì trốn đi.
- Hiện khắp nơi đều có giặc cướp. Thần nhi thực không còn chỗ ẩn thân.
- Mi ngu quá ! Kìa Trần Thừa, Trần Tự-Khánh, Phùng Tá-Chu, Phạm Kính-Ân đều là những trung thần, tài trí dọc ngang trời đất. Họ là những cây cột chống trời còn được, huống hồ chống Xã-tắc? Người liệu mà về Thăng-long ngay đi. Ta sẽ tàng hình theo dõi bên cạnh phù hộ cho mi. Thôi ta đi đây
Con quỷ vuốt tay lên mặt Kiến-gia hoàng đế một cái, khiến Hoàng-đế mê man, nhập vào giấc ngủ rất sâu.
Khi Hoàng đế tỉnh dậy thì thấy bên cạnh là Đàm thái hậu, đạo cô Vân-Đài Trịnh Nam-Phương đang ngồi trên ghế. Cạnh đấy, Ngự-nữ Kim-Dung đang quỳ gối. Đàm thái hậu vung cái roi mây quất vào lưng Kim-Dung, véo, véo, véo ba cái liền, rồi hạch:
- Con hồ ly kia! Ta đã ban chỉ rằng mi phải ở trong căn gác này, không được đi đâu. Thế mà mi vi chỉ, bỏ đi từ chiều đến giờ ?
- Thần nhi ra phía sau dinh luyện võ
- Mi bỏ đi, mà không gọi thị vệ người canh gác để cho con quỷ ba đầu hiện về nhát Hoàng-thượng. Tội mi đáng xử giảo.
Nhà vua ngồi nhỏm dậy. Ngài tâu với Đàm hậu :
- Xin mẫu hậu không nên kết tội Dung ! Bởi Vô-thượng chí tôn đại thánh hoàng đế phép tắc vô cùng. Người hiện hồn về giúp hài nhi. Người còn hứa luôn ở cạnh phù hộ cho hài nhi, chứ người không nhát hài nhi.
- Được ! Ta tha cho con hồ ly cái tội không hộ vệ Hoàng-nhi. Nhưng ta muốn nó trả lời, suốt buổi chiều nay, nó đi đâu
Kim-Dung im lặng không trả lời.
Đàm thái hậụ lại vung roi mây quất liền năm sáu roi. Kim-Dung vẫn quỳ, Thủy chung nàng không tỏ vẻ đau đớn, cũng không trả lời. Thủ-Độ nấp bên ngoài, Hầu nghĩ thầm:
- Với nội công của Kim-Dung, thì cái roi kia không thể làm nàng đau đớn. Ta chẳng cần can thiệp.
Trịnh Nam-Phương cười nhạt:
- Này Trần Ngự-nữ. Người qua mắt được Thái-hậu, chứ không qua mắt được ta đâu. Người tưởng người là con gái đại tôn sư võ học Trần Lý, người vận công thì chiếc roi mây này không phạm vào da thịt người được hẳn?
Kim-Dung cũng không vừa :
- Vân-Đài tiên tử. Người chẳng là chính thê của Tể-tướng Đỗ An-Di đó sao ? Người chẳng từng chịu sắc của Tiên-đế đó sao ? Người là thần tử của bản triều, thì phải biết rằng ta là người được Hoàng-thượng sủng ái chứ ? Biết thế mà người dám vô lễ với ta ư ?
Nam-Phương cười nhạt :
- Ta cứ vô lễ xem người làm gì ta !
Nói dứt mụ xẹt tới điểm vào huyệt Đại-trùy của Kim-Dung. Kim-Dung né mình tránh khỏi. Nam-Phương biến chỉ thành quyền đánh vào thái dương Kim-Dung. Kim-Dung nhỏm dậy phát một chiêu trong bộ Lôi-giáng Hoa-nhạc trả đòn. Đây là pho võ công, mà phái Đông-A đã nghiên cứu để phá võ công Hoa-sơn, trong Vô-Trung kinh. Nam-Phương nào có biết trời cao đất dầy là gì. Mụ chuyển tay gạt chưởng của Kim-Dung. Khi hai tay chạm vào nhau, mụ cảm thấy sát thủ của đối phương cực kỳ trầm trọng. Kình lực đẩy bật tung tay mụ ra. Mụ phải lùi lại hai bước mới đứng vững. Mụ bật lên tiếng ủa đầy kinh ngạc:
- Giỏi! Ta sơ tâm, mới phát có ba thành công lực.
Nói rồi mụ phát một Hoa-sơn chưởng với tất cả bình sinh công lực. Thấy căn gác quá nhỏ, khó xoay sở, Kim-Dung tung mình qua cửa sổ, rồi đáp xuống dưới đất. Vân-Đài cũng phóng mình theo. Còn ở trên không, hai người cùng phát chưởng tấn công lẫn nhau. Binh một tiếng, cả hai cùng bật tung ra xa, rồi tà tà đáp xuống đất. Đàm thái hậu chạy ra cầu thang, xuống đất quan sát cuộc đấu.
Kim-Dung kêu lớn
- Có thích khách ! Mau cứu giá.
Tuy miệng kêu, nhưng tay nàng vẫn phát chiêu tấn công Vân-Đài. Bàn cho thực phải, dù là con một đại tôn sư võ học, dù được luyện tập căn bản, nhưng tuổi Kim-Dung còn quá trẻ, công lực không làm bao. Trong khi đó Vân-Đài tuổi đã lớn, công lực cao thâm không biết đâu mà lường. Nhưng một là vì Vân-Đài xử dụng võ công Hoa-sơn, trong khi đó thì Kim-Dung xử dụng pho Lôi-giáng Hoa-nhạc, một pho võ công khắc chế võ công Hoa-sơn. Vì vậy, mỗi chiêu Vân-Đài đánh ra mạnh như bài sơn đảo hải, nhưng khi chạm vào chưởng lực của Kim-Dung thì bị mất tăm mất tích.
Có tiếng thanh la báo động, rồi đuốc đốt sáng rực, võ sĩ của phủ Bắc-giang dàn ra, gươm dáo sáng ngời. Lê Mịch, Tam-Hào đã nai nịt, tay cầm kiếm chỉ huy đội võ sĩ, cung tên chĩa ra tua tủa. Lê Mịch chỉ vào Vân-Đài, ra lệnh cho tiễn thủ
- Hãy nhắm bắn vào thích khách, cứu giá
Nhưng hai người quấn lấy nhau thành ra cung thủ chỉ hò hét mà không trợ giúp Kim-Dung được gì. Thủ-Độ đứng dưới chân căn gác gỗ, Hầu nghĩ thầm:
- Ta phải giúp Kim-Dung một tay
Nghĩ là làm, Hầu rút tên, dương cung bắn. Mũi mũi tên xé gió bay tới hướng huyệt Ấn-đường của Vân-Đài. Thấy kình lực mũi tên quá mạnh, mụ không dám bắt tên, né đầu tránh. Mũi tên trúng vào một thân cây, ngập đến tận chuôi. Lợi dụng Vân-Đài tránh tên, Kim-Dung nhảy ra khỏi vòng đấu. Lê Mịch chỉ vào mụ :
- Chư quân nghe đây ! Người này tên Trịnh Nam-Phương, là đạo cô Vân-Đài của phái Hoa-sơn, sang Đại-Việt làm gian tế, là vợ của Tể-tướng Đỗ An-Di, thời vua Anh-tông. Bị lộ chân tướng, được ân xá về nước. Thế rồi mụ lại lộn qua, tiềm ẩn vào phái Mê-linh. Cách đây hơn mười năm, mụ cùng đám cung thủ phục kích sát hại công chúa Đoan-Nghi. Bây giờ mụ phạm giá ! Hãy bắt sống mụ.
Lâm Hoài-Đức cùng Tương-giang tam hổ đã xuất hiện. Y nhảy vào vòng chiến, y xua tay :
- Khoan ! Khoan ! Vụ này có sự hiểu lầm. Xin ngừng tay.
Y hỏi Vân-Đài :
- Cái gì đã xẩy ra ?
Đàm thái hậu rẽ võ sĩ, tiến vào trong vòng vây :
- Ngự-nữ vô phép với ta. Ta nhờ Tiên-tử đây chế phục thị. Thị ỷ võ công cao, chống lại Tiên-tử. Vậy chư quân hãy bắt y thị đem xử tử ngay.
Lâm Hoài-Đức đã hiểu rõ năm phần nội vụ. Y cung tay :
- Xin Thái-hậu hãy di giá về an nghỉ. Ngự nữ phạm tội để ngày mai Hoàng-thượng sẽ xét tội, xử sau.
Vòng vây dãn ra, Đàm thái hậu, Vân-Đài, Lâm Hoài-Đức cùng nhau trở về dinh An-phủ sứ. Lê Mịch cho võ sĩ giải tán.
Kim-Dung tung mình lên căn gác. Nàng nói nhỏ với nhà vua :
- Bệ hạ. Thiếp đã chuẩn bị sẵn, chúng ta hãy lên đường về Thăng-long ngay. Từ đây bến Cửu-liên không xa. Bên kia sông là thành Quốc-oai, có trọng binh của anh Tự-Khánh. Anh ấy sẽ đưa bệ hạ về Thăng-long, chỉnh đốn lại kỷ cương.
Trong khi nhà vua còn đang ngỡ ngàng, thì Kim-Dung đã thu vén y phục, châu báu, hai quả ấn, rồi dục :
- Nào ! Chúng ta đi.
Dưới ánh trăng rằm vằng vặc, hai người xuống khỏi căn lầu lần mò về phía suối Tiên. Vừa ra khỏi khu vực dinh An-phủ sứ, đã thấy Tam-Hào cùng đội kỵ mã đứng chờ. Thoáng nhìn viên đội trưởng kỵ binh, Kim-Dung đã biết ngay y chính là Thủ-Độ giả trang. Nhà vua, Kim-Dung lên ngựa.
Tam-Hào cung tay :
- Sư tỷ thượng lộ bình an. Đệ phải về nắm lấy quân lữ để đối phó với bọn Tống.
Đoàn người âm thầm hướng về phía Thăng-long. Nhà vua hỏi Kim-Dung :
- Trẫm đã ban chỉ triệu Trần Tự-Khánh. Vậy bây giờ y ở đâu ?
- Bệ hạ an tâm. Chúng ta đang ở trong vùng kiểm soát của quan quân triều đình. Việc chúng ta trốn thoát khỏi bọn Tống, đều do anh Khánh xếp đặt cả.
Đoàn người ngựa tiếp tục đi trong đêm. Đến sáng thì xa xa hiện ra một con sông. Viên kỵ mã dẫn đường báo với Thủ-Độ :
- Trình Đại-hãn chúng ta tới bến Cửu-liên rồi, nhưng tại bến không có thuyền bè gì cả.
Thủ-Độ vẫy tay cho đoàn người dừng lại.
Thình lình có tiếng ngựa hý, tiếng quân reo. Từ phía sau một đoàn kỵ mã ước hơn trăm người đang đuổi theo như bay. Nhanh nhẹn Thủ-Độ ra lệnh cho năm kỵ mã đưa nhà vua xuống bãi Cửu-liên. Còn hầu với Kim-Dung, dàn bẩy vệ sĩ ra chờ đợi. Khoảng gần một khắc, thì đoàn kỵ mã đến gần. Thủ-Độ nhận ra, đây là bọn võ sĩ Tống. Người chỉ huy chính là Đinh Hồng. Hầu lên tiếng :
- Các người là ai, đang đêm đi đâu ?
Đinh Hồng hỏi ngược lại
- Người là ai ? Kỵ binh của người thuộc quyền An-phủ sứ nào ?
- Chúng ta là những Thị-vệ thuộc quyền Thái-úy Trần Tự-Khánh, được lệnh đi đón xa giá Kiến-gia hoàng đế
- Tự-Khánh là tên phản tặc. Còn ta là tướng của Thiên-triều sang bảo vệ An-Nam quốc vương. Ta đang tìm bắt y
Kim-Dung bước ra chỉ mặt Đinh Hồng
- Người nói láo với ai thì nói, chứ nói láo với ta thì không được. Chính ta phò Hoàng-thượng thoát khỏi vòng kiềm tỏa của các người
Đinh Hồng thấy quanh Kim-Dung chỉ có năm kỵ mã, thì y coi thường. Y tung mình lên, dùng một hổ trảo định bắt sống nàng. Kim-Dung cười nhạt, nàng với tay ra sau lưng, rồi giật mạnh, một cái chài mở rộng, chụp Đinh Hồng. Đinh Hồng đang lơ lửng trên không, mà cái chài thì úp vào người y. Y hét lên be be. Năm võ sĩ theo y cùng hô lên một tiếng, múa đao xông vào tấn công Kim-Dung cứu y. Thủ-Độ đứng lược trận, thấy vậy Hầu dương cung lên, ba mũi tên cùng bay ra, ba võ sĩ Tống ngã vật xuống ngựa. Kim-Dung chuyển tay hai vòng, cái chài bỏ Đinh Hồng, chụp hai võ sĩ đang tấn công nàng. Cả hai bị điểm huyệt ngã lộn xuống ngựa.
Thủ-Độ bảo Kim-Dung :
- Xin sư tỷ bảo giá Hoàng-thượng.
Kim-Dung rút kiếm đứng cạnh nhà vua.
Sau một chiêu hút mất mạng. Tuy thoát hiểm, nhưng Đinh Hồng cũng hoảng vía. Y rút kiếm tấn công Thủ-Độ. Thủ-Độ cười nhạt. Hầu vận đủ mười thành công lực, phát một chiêu trong Đông-A chưởng hướng vào người y. Đinh Hồng vẫn chưa nhận ra Thủ-Độ. Y đẩy kiếm vào giữ vòng chưởng lực của Hầu. Thủ-Độ biến chưởng thành chỉ, choang một tiếng, kiếm của Đinh Hồng bị gẫy làm ba bốn mảnh.
Không hổ là một trong ba cao thủ danh tiếng vùng Tương-giang, hồ Động-đình, qua một chiêu Đinh Hồng biết võ công đối thủ cao hơn mình nhiều. Y quẳng chuôi kiếm, tung mình lại sau liền bốn bước, đứng giữa đám võ sĩ Tống. Y hất hàm bảo Thủ-Độ:
- Người là ai?
Thủ-Độ trả lời bằng tiếng Trung-quốc, giọng Hàng-châu:
- Ta là trưởng toán vệ sĩ của An-phủ sứ Bắc-giang.
Đinh Hồng tỏ ra khách khí:
- Nghe giọng nói của các hạ, thì dường như các hạ còn ít tuổi. Các hạ mới bằng này tuổi, mà công lực đã đến dường này, ta e trên toàn đất An-nam đếm không hết một bàn tay. Tại sao các hạ không chịu xưng đại danh cho ta biết?
- Ta không có đại danh, tiểu danh gì cả.
- Các hạ nên nhớ, các hạ chỉ có 13 người, cộng với An-Nam quốc vương, với Ngự-nữ, là 15. Trong khi bên ta tới 120 người. Nếu ta dùng số đông áp đảo các hạ, thì có thắng cũng không anh hùng. Vì vậy ta muốn các hạ trao An-Nam quốc vương vơí Ngự-nữ cho ta; ta sẽ để các hạ và chân tay rời khỏi nơi này.
- Ta cũng muốn làm theo ý người. Ngặt vì Kiến-gia hoàng đế và Ngự-nữ muốn về Thăng-long.
- Vậy thì ta đành vô phép.
Nói dứt Đinh Hồng ra lệnh cho thủ hạ
- Vây bắt bọn này.
Thấp thoáng một cái, đám võ sĩ Tống chia làm hai. Một nhóm bao vây nhóm của nhà vua với Kim-Dung. Một nhóm bao vây đám của Thủ-Độ. Thủ-Độ quát lên một tiếng, Hầu phát chiêu Đông-hải lưu phong, ba võ sĩ Tống bay bổng ra xa, nằm đứ đừ không bò dậy được nữa. Đám võ sĩ Tống kinh hoàng, chúng cùng tránh dạt ra xa, đứng reo hò.
Thủ-Độ cười nhạt, Hầu nói bằng tiếng Hàng-châu:
- Các võ sĩ Trung-quốc nghe đây. Giữa chúng tôi với anh em vốn không thù không oán. Vậy tại sao chúng ta phải giết nhau? Nếu anh em nghe lệnh tên Đinh Hồng, lăn vào chém giết, dĩ nhiên tôi phải chết. Nhưng tôi đâu có để anh em giết chết vô lý? Con chó cùng đường nó còn cắn lại, huống hồ là tôi? Anh em có giết được tôi, thì ít ra tôi cũng giết được vài chục anh em. Anh em đều có cha, mẹ, vợ, con. Tại sao lại phải hy sinh vô lý như vậy?

Đinh Hồng hét lên, hô võ sĩ tấn công. Nhưng họ chỉ reo hò, đứng xa xa, mà không dám xông vào. Thủ-Độ xẹt mình một cái, hầu đã tới cạnh Đinh Hồng, tay phát chiêu Phong-ba hợp bích tấn công y. Hầu vận âm kình, nên chưởng phong không có gió. Đinh Hồng kinh hãi, y lùi một bước rồi trả đòn. Hai chưởng gặp nhau, vù một tiếng, Đinh Hồng bay bổng lên cao. Thủ-Độ vọt lên điểm huyệt y, rồi cặp y vào nách. Đám võ sĩ Tống cùng múa đao xông vào cứu chúa tướng. Thủ-Độ đưa Đinh Hồng ra làm vũ khí đỡ. Bọn võ sĩ Tống kinh hãi, nhưng chỉ đứng xa xa hò hét mà thôi. Thủ-Độ để tay lên đầu Đinh Hồng:
- Đinh tứ gia! Kẻ thức thời mới là người tuấn kiệt. Xin Tứ-gia ra lệnh cho thủ hạ lui lại, bằng không tôi nhả nội lực.
Đinh Hồng kinh hãi, y la lên:
- Các người mau lùi ra xa, chớ có dụng võ.
Thủ-Độ đặt Đinh Hồng trước mặt Kim-Dung
- Xin sư tỷ canh giữ y.
Kim-Dung rút kiếm dí vào ngực Đinh Hồng. Thủ-Độ nhìn dọc theo mé sông, có ý tìm xem có con đò nào không? Nhưng bờ sông vắng lặng. Thình lình có tiếng quân reo, ngựa hý, rồi một đoàn kỵ mã hùng tráng phi đến như bay. Người dẫn đầu là Lâm Hoài-Đức với Trịnh Nam-Phương. Phía sau còn Đinh Huyền, Đinh Thanh với gần hai trăm võ sĩ. Thủ-Độ ớn da gà, Hầu hỏi nhà vua:
- Bệ hạ! Bệ hạ có biết bơi không?
- Biết.
- Bên kia là địa phận Quốc-oai. Có trọng binh của ta. Xin Bệ-hạ với sư tỷ bơi qua sông, để chúng thần ở lại chống giặc
Hầu lại ra lệnh cho 12 võ sĩ hộ vệ:
- Các người bơi theo bảo giá Hoàng-thượng
Nhà vua còn đang ngập ngừng, thì Kim-Dung đã túm áo ngài ném ra giữa giòng sông, rồi nàng phóng mình theo. Mười hai võ sĩ hộ vệ cũng nhảy ùm xuống nước. Trên bờ sông chỉ còn lại mình Thủ-Độ. Hầu khoanh tay đứng nhìn đoàn người ngựa, như không coi chúng vào đâu. Lâm Hoài Đức đã được đám võ sĩ báo cáo tình hình. Thấy một mình Thủ-Độ dám ngang nhiên đứng cản đường một đội võ sĩ trên ba trăm người của mình. Lâm sinh khâm phục. Y hỏi:
- Thiếu niên kia, người tên gì? Người tưởng một mình người có thể chống lại mấy trăm người của chúng ta hẳn?
- Ta biết, mình ta khó mà chống nổi mình người, thì sao có thể chống với cả Vân-Đài Trịnh Nam-Phương với Đinh Huyền, Đinh Thanh, thêm ba trăm tay đao? Nhưng, dù tan xương nát thịt, ta cũng phải cản đường để chu toàn cho người..
Người mà Thủ-Độ muốn nói đây là Kim-Dung, trong khi Lâm Hoài-Đức lại tưởng rằng là Kiến-gia hoàng đế. Y chỉ Đinh Hồng
- Ta khâm phục tấm lòng trung thành với đấng quân phụ của người. Nhưng này tráng sĩ. Chúng ta cũng muốn bảo vệ An-Nam quốc vương như người. Tại sao người lại đem Quốc-vương đi trốn? Người hãy thả Đinh tứ gia ra ngay, rồi chúng ta cùng qua sông tìm Quốc-vương.
Chán đời đi lang thang !
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-05-20 14:24:10NuHiepDeThuong>
Hồi thứ bốn mươi ba

Trần gia dĩ nhan sắc đắc thiên hạ

(Họ Trần nhờ nhan sắc mà được thiên hạ)


Thủ-Độ bơi đến giữa giòng sông, Hầu ngước mắt nhìn lên bờ, bọn võ sĩ Tống đang dàn ra, dường như chuẩn bị tác chiến. Cạnh chúng, một đoàn người lố nhố nam, nữ, già, trẻ lẫn lộn. Dưới ánh sáng ban mai, Hầu nhận ra đó là bọn hậu cung, bọn đại thần theo Đàm Dĩ-Mông. Cách đó không xa, một đội Ngưu-binh ước hơn ba trăm con cũng dàn thành trận thế. Người chỉ huy Ngưu-binh chính là Lê Mịch.
Hầu phóng mắt nhìn sang bờ phía Quốc-oai, một cảnh làm Hầu vừa kinh ngạc, vừa mừng rỡ: Dọc bờ sông, cờ Lĩnh-Nam bay phất phới. Trên con lộ rộng thênh thang, cờ xí rực một góc trời. Bên phải, là một đoàn giáp sĩ hùng tráng. Bên trái là một đội Ngưu-binh. Phía sau một đội âm nhạc đang tấu nhạc chiến thắng.
Tới bờ, Hầu tung mình nhảy lên, một người dáng điệu hùng vĩ uy nghi đứng dưới lá cờ bang Lĩnh-Nam, chính là Nhị-Hào. Nhị Hào cung tay:
- Bọn thuộc hạ cung nghinh Đại-hãn.
Thủ-Độ cảm động:
- Các em không nên đa lễ.
Hầu lên ngựa, cùng Nhị-Hào duyệt qua đoàn quân, rồi vào thành Quốc-oai. Hầu hỏi:
- Kiến-gia hoàng đế đâu rồi?
Nhị-Hào hỏi nhỏ:
- Kiến-gia? Ý anh muốn hỏi tên mặt thịt Long-Sảm ấy à?
- Đúng đấy! Chúng ta chẳng nên dùng lời lẽ khinh bạc với y. Dù sao y cũng là vua.
- Khi thấy mặt y, thuộc hạ định thí một gươm, cho hết kiếp tên khốn nạn. Song sư tỷ Kim-Dung ngăn cản, nên thuộc hạ đã đưa y với sư tỷ vào thành trước rồi.
Thủ-Độ thay y phục, rồi ra sảnh đường để gặp bang chúng bang Lĩnh-Nam. Bang chúng vùng Quốc-oai đã tề tựu đủ mặt: Nhị-Hào, các Khả-hãn, các Hãn cùng các tướng sĩ, văn võ.
Lễ nghi tất.
Thủ-Độ hỏi Nhị-Hào:
- Tình hình ra sao?
- Thưa Đại-hãn, Thái-phó Phạm Kính-Ân, Thái-úy Trần Tự-Khánh đã thiết kế để...để...thuộc hạ đã bắt trọn vẹn bọn Tống. Còn bọn hậu cung, bọn họ Đàm, bọn đại thần ăn hại, thì cho chúng xuống thăm Hà-bá hết.
- Nghĩa là???
- Mọi kế hoạch đều do Thái-úy Tự-Khánh dùng thư, sai chim ưng đem lệnh cho thuộc hạ. Trong lệnh, Thái-úy chỉ thị : Khi được tin gã Long-Sảm cùng sư tỷ Kim-Dung đến Bắc-giang, Thái-úy đoán rằng Long-Sảm bị kiềm chế quá đáng, nên muốn bỏ bọn Đàm Dĩ-Mông, bọn Tống để về với chúng ta. Lập tức người gặp Thái-phó Phạm Kính-Ân, rồi hai vị bàn với nhau: Nếu để cho Đại-hãn với Tam-Hào hành sự, thì e Đại-hãn đem hiệu binh Bắc-giang bao vây diệt bọn họ Đàm, với bọn Tống; trong lúc hai bên giao chiến, e Long-Sảm khó mà tránh khỏi cái chết. Trường hợp này, thiên hạ sẽ đổ vấy rằng Đại-hãn thí chúa, ắt tai vạ không nhỏ.
Thủ-Độ cười:
- Không hẳn vậy đâu. Chắc thầy Kính-Ân với anh Thừa hiểu đến tận tim đen chúng mình nên mới hành động như vậy. Hai người sợ chúng mình lợi dụng dịp này giết tên Long-Sảm, nhưng nói tránh đi mà thôi.
- Theo Thái-phó thiết kế: Đợi sau khi Đại-hãn cùng sư tỷ Kim-Dung dẫn Long-Sảm rời khỏi Bắc-giang, lập tức Tam-Hào phải giả bộ hoảng hốt báo cho bọn Tống biết. Quả nhiên Lâm Hoài-Đức kinh hoảng vội sai Đinh Hồng đem 100 võ sĩ đuổi theo, rồi chính y đem 200 võ sĩ tiếp viện. Khi thấy bọn Tống đi hết, thì Đàm Dĩ-Mông với Đàm thái hậu với đám quan tòng vong hoảng sợ. Tất cả lên đường chạy theo. Họ đuổi kịp bọn Tống ở bến đò Cửu-liên. Thế là chúng ta giải thoát được Long-Sảm, sư tỷ Kim-Dung; lại biến bọn đại thần ăn hại theo phe họ Đàm, bọn Tống thành phản nghịch, không nơi ẩn thân.
Thủ-Độ khen thầm:
- Thầy với anh Khánh quả thực tài trí vô song.
Hầu hỏi:
- Rồi sao?
- Kế hoạch ươc tính: Lúc Đại-hãn, sư tỷ Kim-Dung, Long-Sảm bơi qua sông, thuộc hạ cho hai chiếc chiếc thuyền đinh, giả làm thuyền buôn đi lại qua bến Cửu-liên. Bọn Tống lên tiếng gọi. Anh em giả ghé vào chở chúng qua sông. Với thói quen dụng võ, chúng tràn xuống cướp thuyền, uy hiếp thủy thủ bắt đưa sang sông. Khi thuyền đến giữa giòng thì anh em tháo nước cho thuyền chìm. Thuộc hạ đã ra lệnh, chờ bọn Tống uống nước no, rồi mới vớt lên. Thế là không cần bắn một mũi tên, đánh một chiêu võ, mà bắt trọn bọn chúng.
- Thế bọn hậu cung, bọn họ Đàm, bọn đại thần, em có vớt chúng không?
- Vớt làm gì tụi hại dân đó? Thuộc hạ đã ra lệnh: Để cho chúng xuống thăm Hà-Bá hết, không vớt một đứa nào cả.
Thủ-Độ nghĩ thầm:
- Từ gần trăm năm nay, bọn hậu cung, bọn đại thần ăn hại...nối tiếp nhau làm ung thối triều Lý. Cha ta từng thống hận, người khuyên ta rằng, phải giết tuyệt bọn chúng, rồi tuyển bọn hậu cung, bọn đại thần khác, thì mới mong Xã-tắc yên ổn. Tin này đến tai người, chắc người vui mừng không bút nào tả xiết.
Hầu hỏi:
- Thế bây giờ bọn Tống ra sao?
Nhị-Hào mỉm cười:
- Đại-hãn chờ một lát sẽ biết. Bọn chúng được đưa đến đây bây giờ. Tạm thời ta không cho nhà vua tiếp xúc với bọn chúng. Dù gì Đại-hãn cũng là Tổng-lĩnh thị vệ, tước Hầu. Bọn chúng đã biết mặt Đại-hãn. Đại-hãn không thể thẳng tay với bọn chúng. Vậy Đại-hãn hãy lánh mặt để thuộc hạ ra oai với bọn Tống, bắt chúng khuất phục. Sau đó mới thẩm vấn chúng.

Nhị-Hào sai thuộc hạ bầy nghi trượng, dàn hai đội võ sĩ hai bên, rồi ngồi trên chiếc ghế bọc da hổ. Lát sau, một nữ đội trưởng bang chúng Lĩnh-Nam chỉ huy mấy thủy thủ giải Lâm Hoài-Đức, Trịnh Nam-Phương với ba anh em họ Đinh vào. Tất cả đều bị trói, người ướt như chuột, bụng phình lên, dáng điệu cực kỳ mệt mỏi. Đinh Hồng ngoác mồm ra chửi:
- Các ngươi tự thị là anh hùng, mà dìm chúng ta xuống dưới nước rồi bắt ư? Đồ mặt dầy.
Nữ đội trưởng tên Cam-Thanh, xuất thân là ăn mày. Đấu võ thì có lẽ nàng không chịu nổi Đinh Hồng một chiêu. Nhưng đấu khẩu thì nàng bỏ xa Đinh. Nàng cười ha hả :
- Tiên sư cha mi. Thuyền của mi bị đắm. Bản cô nương mi vớt mi lên, mi không cảm ơn thì chớ, lại còn to tiếng. Nếu mi còn mở miệng ra, thì bản cô nương sẽ lấy cái váy đàn bà chụp vào đầu mi, rồi đem mi ra giữa giòng sông, ném con bà mi xuống nước làm mồi cho cá bây giờ.
Đinh Hồng vẫn cứng đầu:
- Ông nội mi mà có sợ...
Cam-Thanh cầm cái quần đen đàn bà tung lên. Cái quần chụp xuống đầu Đinh Hồng. Võ công Đinh đâu có dở ? Y định né đầu tránh, nhưng y quên mất mịnh bị bị điểm huyệt, đầu y chỉ nghiêng đi một chút. Cái quần chụp xuống đầu y tới vai. Mùi khai, mùi ẩm ướt nồng nặc bốc lên làm y buồn nôn. Nhưng y ngậm miệng không chịu khuất phục.
Nhị-Hào làm bộ không hiểu gì, chàng hỏi:
- Bọn này là ai vậy?
- Thưa Khả-hãn, có hai thương thuyền của dân đi trên sông. Khi qua bến Cửu-liên, thì phát hiện ra một bọn người Tầu đang đứng trên bờ vẫy tay gọi, xin chở qua. Họ ghé thuyền vào định giúp đỡ chúng, thì chúng ào ào nhảy xuống uy hiếp thủy thủ chiếm thuyền, rồi bắt chở sang bên này. Thì ra chúng là bọn cướp. Không đừng được, thủy thủ phải tuân lệnh chúng. Khi chèo thuyền ra giữa sông, vì thuyền nhỏ, mà chở nặng quá, nên bị lật. Giữa lúc đó, thuyền của Thủy-quân ta đi qua, anh em ra công cứu bọn chúng. Tất cả có 635 tên, nhưng chỉ vớt được có 305, còn lại chúng chết chìm hết. Hiện bọn chúng đều bị giam vào lao xá. Riêng bốn tên này, dường như chúng điên thì phải. Chúng xưng những gì là Thiên-sứ, Địa-sứ. Bọn thuộc hạ giải chúng vào đây để Khả-hãn phát lạc.
Nói dứt Cam-Thanh quát:
- Quỳ gối xuống.
Lâm Hoài-Đức vẫn hách dịch. Y hất hàm hỏi Nhị-Hào:
- Bọn người là ai?
Cam-Thanh chỉ Nhị-Hào:
- Vị này là Chỉ-huy sứ của phủ Quốc-oai.
Mấy năm trước, khi Lâm Hoài-Đức làm phó sứ, Trịnh Nam-Phương trong lốt Nghi-Phương sư thái, Tương-giang tam hổ trong lốt bồi sứ. Chúng từng gặp Nhị-Hào trong cuộc thi võ. Sau một thời gian xa cách, lại nữa chúng mới bị trấn nước, đầu óc mơ hồ, nên không nhận ra chàng. Bây giờ nghe Cam-Thanh nói, chúng mới nhớ ra.
Lâm Hoài-Đức ngạo nghễ:
- Thì ra người là võ Tiến-sĩ An-Nam đấy. Chúng ta là sứ thần Thiên-triều sang đây giúp cho Quốc-vương các người, mà các người làm nhục chúng ta như thế này ư?
Nhị-Hào làm bộ mắng Cam-Thanh:
- Đội trưởng! Cái bọn khật khùng này sao không giam chúng lại, mà lại đem vào đây làm chi. Chúng là quân trộm cướp mà lại xưng Thiên-sứ, Thiên-triều ! Hãy bắt chúng chịu phép.
Cam-Thanh nhắc cái quần chụp trên đầu Đinh Hồng lên. Nàng gọi thân binh:
- Đem Thần-long xa cho ta.
Thân binh dạ ran, rồi đẩy ra một chiếc xe. Trong thùng xe lúc nhúc hàng nghìn con rắn đang nghểnh cổ, thè lưỡi đổ lòm. Đinh Hồng từng bị chị em Nhị-Hào cho rắn cắn, suýt mất mạng. Y nói với Lâm Hoài-Đức:
- Lâm đại nhân. Bọn này nguyên là những tên ăn mày ở Thăng-long. Chúng vốn vô học. Mình có xưng là Thiên-sứ hay Thiên-triều gì, chúng cũng không biết đâu. Mình đã lọt vào tay chúng, thì đành chịu nhún cho qua, bằng không chúng sai rắn cắn mất mạng vô ích.
Lâm Hoài-Đức vẫn ương ương:
- Sĩ khả dĩ sát, bất khả dĩ nhục (Kẻ sĩ chỉ có thể đem giết chứ không thể làm nhục).
Cam-Thanh bắt ba con rắn lớn bằng cổ tay, nàng đưa sát vào mặt bọn Tống. Chúng ớn da gà nhắm mắt lại. Cam-Thanh vung tay tung lên. Lập tức ba con rắn quấn vào người Hoài-Đức. Một con quấn quanh cổ, một con quấn quanh tay phải, một con quấn quanh tay trái. Hoài-Đức lạnh gáy. Y nhắm mắt lại, không dám nhìn. Cam-Thanh tiếp tục bắt rắn tung lên. Phút chốc trên người Hoài-Đức, Trịnh Nam-Phương, và Tương-giang tam hổ tua tủa những rắn. Nàng cười khúc khích :
- Ta mới chỉ cho rắn quấn quanh bọn người, chứ chưa ra lệnh cho chúng cắn các người. Các người mà không chịu khuất phục, ta cho chúng cắn liền. Chỉ cần một con rắn đợp trên người các người vài ba miếng, thì một giờ sau các người phải chết.
Nói dứt nàng cầm ống tiêu đưa lên miệng thổi. Tiếng tiêu âm ỉ như hồn ma từ thế giới vọng về. Những con rắn cùng há miệng ra đợp bọn Lâm Hoài-Đức. Đinh Hồng bở vía:
- Lâm đại nhân! Chúng ta chịu khuất phục đi thôi. Thuộc hạ không chịu nổi nữa rồi.
Lâm Hoài-Đức cười thách thức:
- Bọn ăn mày khốn nạn kia. Sống, chúng ta làm thần tử nhà Tống. Chết chúng ta làm trung thần. Mấy con rắn không làm chúng ta sợ đâu.
Nhưng Đinh Hồng kinh hãi, y xuống nước:
- Tôi xin khuất phục.
- À có thế chứ.
Tiếp theo Đinh Huyền, Đinh Thanh cũng chịu khuất phục. Cam-Thanh huýt sáo một tiếng, những con rắn đang quấn quanh người Tương-giang tam hổ từ từ bò trở về chiếc xe. Cam-Thanh trao cho ba người ba viên thuốc chống độc, rồi truyền lệnh:
- Đem chúng đi thẩm vấn.
Trịnh Nam-Phương vẫn bướng bỉnh:
- Mấy tên ăn mày khốn nạn kia! Lão nương thà chết chứ không khuất phục bọn bay đâu! Bọn bay cứ cho rắn cắn lão nương nữa đi. Lão nương mà nhăn mặt một cái thì không phải là người.
Nhị-Hào chưa biết phải hành sự ra sao, thì có tiếng Thủ-Độ dùng lăng không truyền ngữ rót vào tai:
- Con mụ này là một trong bọn đã sát hại mẫu thân ta. Em không cần nhân nhượng với mụ.
Nghe Thủ-Độ nói, Nhị-Hào cười nhạt nói với bang chúng:
- Mụ này tuy già, mà coi còn ngon gớm. Hãy đem mụ ra ngoài, lột quần áo cho bang chúng coi.
Hai thân binh dạ ran. Chúng nhắc Nam-Phương mang ra sân. Bang chúng bang Lĩnh-Nam hầu hết là những thiếu niên cùng khổ, lại hiếu động. Thấy có trò chơi lạ lùng, chúng tụ lại xung quanh mụ reo hò. Một thân binh nắm áo mụ kéo mạnh. Xoạc một tiếng, ngực mụ bị hở ra, hai vú trắng nõn phơi trước nắng ban mai. Bang chúng reo hò:
- Hay quá!
- Nom đẹp gớm.
Một bang chúng đã già, râu ria xồm xoàm, quần áo dơ bẩn tiến đến dơ tay như định chụp nhũ hoa của mụ.
Trịnh Nam-Phương kinh hãi, mụ nghĩ thầm:
- Cái bọn ăn mày này không thể nói chuyện đạo lý với chúng được. Nhưng ta nhất định không khuất phục, muốn đến đâu thì muốn.
Mụ quát lên:
- Bọn ăn mày khốn nạn. Bọn mi giết ta đi cho rồi. Ta nhất định không chịu khuất phục.
Nhị-Hào hất hàm ra lệnh, một thân binh lại cầm xiêm mụ giật mạnh, nửa thân dưới của mụ lõa lồ ra. Bang chúng reo hò khoái trá, reo hò:
- Ê hê! Cái bề hê đẹp quá!
- Ô hô! Tồng ngồng! Con cá diếc coi xinh tệ.
Địa vị trong võ lâm, Trịnh Nam-Phương là Vân-Đài tiên tử của phái Hoa-sơn, cao quý biết mấy. Tại Đại-Việt, có thời mụ từng là vợ Tể-tướng Đỗ An-Di, rồi chưởng môn phái Mê-linh. Bây giờ mụ phải phơi bày thân thể ra trước bọn ăn mày. Quá uất ức, mụ muốn ngất đi. Một liều ba bẩy cũng liều, mụ đành xuống nước:
- Xin...Xin cô nương tha cho tôi! Tôi xin đầu hàng.
Cam-Thanh cầm chiếc xiêm ném cho mụ, rồi ra lệnh:
- Đem mụ đi hỏi cung.
Cuối cùng chỉ còn mình Lâm Hoài-Đức. Y nghiến răng, nhắm mắt không nói, không rằng. Nhị-Hào thấy nếu cứ tình trạng này thì y sẽ chết vì nọc rắn độc. Chàng huýt sáo một tiếng, những con rắn trên người Lâm rơi xuống đất, rồi trở về xe. Cam-Thanh bóp miệng y ra, nhét vào một viên thuốc chống độc để y không chết. Nhị-Hào đang phân vân, không biết phải đối phó thế nào với gã họ Lâm, thì thình lình, một thân binh già xẹt ngang, vỗ tay lên đầu y một cái, rồi tung mình ra khỏi thành. Thân pháp y nhanh không thể tưởng tượng được. Nhị-Hào còn đang ngơ ngác, thì Lâm Hoài-Đức bật lên tiếng rên:
- Ái chà.
Rồi người y run lên bần bật:
- Rét quá! Rét quá. Tôi xin khuất phục.
Véo véo véo ba tiếng, ba viên thuốc từ phía vườn hoa bay đến trúng vào người Lâm Hoài-Đức. Y rùng mình một cái, cảm giác lạnh biến mất. Nhị-Hào chạy ra vườn hoa xem ai phóng thuốc, thì chỉ thấy một nữ bang chúng tung mình chạy vễ phía Tây thành.
Sau khi lấy cung xong, Nhị-Hào dẫn cả bọn vào đại phủ đường. Chàng hô lớn:
- Quỳ xuống.
Cả bọn líu ríu quỳ gối.
- Ngửa mặt lên.
Cả bọn ngửa mặt nhìn lên. Bất giác chúng rùng mình, dơ tay dụi mắt. Vì trên chiếc ghế bọc da hổ đặt giữa công đường, Thủ-Độ ngồi chễm trệ, miệng mỉm cười. Chúng thấy gương mặt Hầu quen quen, mà trong nhất thời không nhận ra.

Trước đây bọn Lâm Hoài-Đức đã từng thấy Thủ-Độ trong ngày thi võ Tiến-sĩ. Hơn nữa bọn chúngï từng so tay với Hầu. Nhưng nay bọn chúngï không nhận ra Hầu, bởi sau khi bị dìm dưới sông, sặc nước, thần chí trở thành mơ hồ. Tiếp theo bị bọn Nhị-Hào tra tấn, làm nhục, bằng những phương pháp quái gở của dân gian, tâm thần bị khủng hoảng, chúng gần như người mất trí. Hơn nữa, mấy năm qua Thủ-Độ lớn lên, khuôn mặt thay đổi quá nhiều, nên chúngï không nhận ra Hầu. Khi bị tra tấn, chúng biết việc này do tên lãnh chúa ăn mày vùng Quốc-oai, lĩnh chức Khả-hãn chủ động. Lãnh chúa Quốc-oai mà đã khủng khiếp như vậy mà bây giờ chúng đang đối diện với tên vua ăn mày Đại-hãn, thì không hứa hẹn thoát khỏi những cực hình kỳ quái. Chúng đành cúi mặt xuống để tránh cơn sấm sét. Nhị-Hào cầm tờ cung của chúng trình:
- Thưa Đại-hãn, bọn này quả là Khâm-sứ của gã vua Gia-định bên Tống sai sang ta. Chúng có ba nhiệm vụ. Nhiệm thứ nhất là khống chế tên Long-Sảm, bắt truyền ngôi cho tên Đàm Dĩ-Mông, rồi giữ ngôi vua cho Mông để dễ sai khiến. Nhiệm vụ thứ nhì là đâm bị thóc, chọc bị gạo cho Đại-Việt ta chia ra thành nhiều sứ quân. Đại-Việt dần dần trở thành yếu, không còn là mối lo cho Tống nữa. Nhiệm vụ thứ ba là ép Đàm Dĩ-Mông cung ứng lương thảo cho Tống, để Tống ra quân đánh Kim.
Thủ-Độ định làm nhục bọn Tống nữa, thì thân binh vào báo:
- Thái-úy Trần Tự-Khánh và Thái-phó Phạm Kính-Ân tới.
Hầu vội vàng ra đón. Lễ nghi tất. Kính-Ân giả bộ hỏi:
- Những người này là ai vậy ?
Thủ-Độ trả lời lơ mơ :
- Thưa thầy, đây là bọn cướp người Tầu. Hôm qua chúng cướp hai thuyềøn buôn, rồi chẳng may thuyền bị chìm. Hương binh hiệu Quốc-oai vớt chúng lên. Chúng mạo xưng là Thiên-sứ.
Lâm Hoài-Đức đã nhận ra Phạm Kính-Ân, y lên tiếng :
- Phải chăng tiên sinh là Thái-phó Phạm Kính-Ân ? Hẳn tiên sinh nhận ra chúng tôi ?
Thấy Lâm xuống nước, không hống hách với chức Thiên-sứ nữa, Phạm Kính-Ân hỏi ngược lại :
- Phải chăng người là Lâm phó sứ thủa nào ? Kìa sao ba vị Đinh bồi sứ cũng có mặt ở đây ? Ấy à, kìa Vân-Đài tiên tử, người chẳng là phu nhân của tể tướng Đỗ An-Di sao ? Các vị đi đâu mà thân thể tàn tạ đến bậc này ?
Ông nói với Thủ-Độ :
- Những vị này quả là người của Thiên-triều.
Rồi ông hô thân binh cởi trói cho chúng, lại truyền dẫn chúngï đi tắm, trả y phục, hành lý cho chúngï.
Thủ-Độ truyền pha trà, lấy bánh cho bọn Tống ăn. Chúng đã nhận được hầu. Trong lòng chúng tự chửi thầm :
- Hỏng bét, mình bị vào tròng của bọn ăn mày này thì lành ít, dữ nhiều. Thôi thì cũng đành nhắm mắt đưa chân.
Thủ-Độ ngồi ngay ngắn lại, nói với Lâm Hoài-Đức, Trịnh Nam-Phương :
- Lâm tiên sinh ! Khi tôi rời Mông-cổ về, thì Thành-cát Tư-hãn cử mẹ kế của tôi là Vân-Đài Vương Thúy-Thúy làm chánh sứ sang Tống. Phụ thân tôi cũng tháp tùng để cố vấn. Mục đích của sứ đoàn là liên kết Tống, Mông ra quân diệt Kim. Mông-cổ sẽ giúp Tống chiếm lại ba cố đô Biện-kinh, Lạc-dương, Trường-an. Có lẽ giờ này, quân Tống đã chiếm lại Biện-kinh rồi. Người xuất ra vụ liên binh này là tôi. Tôi không hiểu tại sao quý quốc lại sai quý vị sang đây để gây lũng đoạn nước tôi ?
Lâm Hoài-Đức lắc đầu :
- Nghe quân Hầu nói, tôi như người mù được mở mắt. Thú thực, khi triều đình sai chúng tôi đi, không hề cho chúng tôi biết những cam kết giữa Tống với Mông-cổ.
Thủ-Độ nhìn Trịnh Nam-Phương, hỏi :
- Sự thể đã như thế này, các vị tính sao đây.
Trịnh Nam-Phương đứng dậy :
- Trước đây, tôi đã được vua Anh-tông ân xá cho trở về cố quốc. Chúng tôi là thần tử triều Tống, vì vậy triều Tống lại sai chúng tôi trở sang. Chúng tôi không chống lại được. Tôi vơí công chúa Đoan-Nghi không thù không oán. Chúng tôi phải ám hại người cũng chỉ vì nước mà làm. Chúng tôi là phận thần tử, vâng mệnh quân phụ phải lo cho tròn. Cuộc đời chúng tôi như giòng nước trôi, không dừng lại được. Bây giờ quân hầu muốn giết tôi để báo thù, thì tôi xin nhận.
Tự-Khánh sợ Thủ-Độ giết Nam-Phương thì giữa Đại-Việt với Tống sẽ có cái hố khó lấp. Công xua tay :
- Mấy năm trước, trong cuộc thi võ, Thủ-Độ tố đích danh Tiên-tử đã hại công chúa Đoan-Nghi. Đúng ra, phái Đông-a chúng tôi phải giết Tiên-tử để trả thù. Song chúng tôi không thi hành, chỉ vì Tiên-tử vâng chỉ Tống đế mà làm. Thì hôm nay đây giữa chúng ta là người đại diện cho Tống, cho Việt. Chứ không phải là chuyện tư thù. Vậy bây giờ chúng tôi xin các vị khuất giá, về Thăng-long, rồi chúng tôi sẽ đưa quý vị về Tống sau.
Phạm Kính-Ân đưa mắt, Cam-Thanh dẫn bọn Lâm Hoài-Đức ra ngoài.
Tự-Khánh hỏi Thủ-Độ :
- Hoàng thượng đâu?
Thủ-Độ chỉ vào trong :
- Y với chị Kim-Dung đang nghỉ ở nhà sau.
Tự-Khánh khuyên Thủ-Độ:
- Em ạ! Em hãy nén giận quên thù, thì ta mới có thể làm lên đại cuộc. Em nên cố gắng nhịn nhục...Quên thù Trịnh Nam-Phương, quên thù Long-Sảm. Bây giờ quyền hành trong tay anh em mình rồi . Anh em mình phải đem hết tâm huyết ra để diệt các sứ quân, đưa Xã-tắc trở lại thanh bình, mưu hạnh phúc cho dân, hơn là giết vài người. Từ nay, tuyệt đối em không nên dùng lời lẽ khinh bạc với nhà vua nữa.
Thủ-Độ nghĩ một lúc rồi cung kính :
- Em nghe lời anh.
- Em cũng nên xóa bỏ hận thù gây ra từ hồi thơ ấu với nhà vua.
- Em nghe lời anh.
Tự-Khánh giả giọng trịnh trọng nói lớn:
- Ta muốn được bệ kiến Hoàng-thượng.
Thủ-Độ làm bộ:
- Xin Thái-úy chờ một lát.
Kim-Dung dẫn Long-Sảm từ trong đi ra. Tự-Khánh, Kính-Ân cùng phủ phục tung hô vạn tuế. Tự-Khánh tâu:
- Thần thân lĩnh trọng trách, cầm binh quyền trong tay, mà để bọn họ Đàm, bọn Tống phạm giá, thực muôn vàn tội lỗi. Nay bọn Tống, bọn họ Đàm đã bị dẹp, thần xin kính thỉnh Bệ-hạ hồi kinh, để yên nhân tâm trăm họ.
Từ ngày rời Thăng-long ra đi, đây là lần đầu tiên Kiến-gia cảm thấy mình còn là ông vua. Nhà vua phán:
- Thực nhọc công Thái-úy, Thái-phó. Xin nhị vị bình thân.
Trên đường về Thăng-long, Tự-Khánh thắc mắc với Nhị-Hào về hai hương binh, một nam, một nữ ; kẻ truyền Huyền-âm nội lực, người tung thuốc vào tên Lâm Hoài-Đức. Không biết họ là ai? Có thể nào họ là người của gã Mao Khiêm không?

Tối hôm ấy, đoàn hộ tống nhà vua tới Gia-lâm. Tự-Khánh sợ có biến cố, Công muốn đợi trời sáng hãy đưa nhà vua sang sông. Công truyền cho đoàn xa giá qua đêm tại Gia-lâm. Thủ-Độ sai Khả-hãn Nhị-Anh dàn hương binh canh phòng. Lại truyền An-phủ sứ Gia-lâm Phạm Kính-Nghĩa cung đốn lương thảo cho nhà vua.

Từ hôm tình tự với Kim-Dung ở suối Tiên đến giờ, tuy hằng ngày tiếp xúc, chuyện trò với nhau, mà Thủ-Độ không có dịp tâm sự với nàng. Nhân dịp này, Hầu sai một bang chúng là cung nữ hầu cận Kim-Dung, hẹn với nàng trên con thuyền nhỏ đậu ở ven sông.

Khi màn đêm buông xuống, Kim-Dung y hẹn, cùng Hầu tới con thuyền. Hai người tung mình đáp xuống. Thủ-Độ nhổ sào, Kim-Dung cầm chèo quay hai vòng. Con thuyền trôi nhẹ nhàng ra giữa giòng sông. Thủ-Độ cầm sào cắm xuống, rồi cột mũi thuyền vào. Con thuyền nằm im lìm trong bóng đêm. Cặp tình nhân buông chèo, bỏ sào ôm lấy nhau. Cả hai lặng đi một lát, không ai nói lên lời.
Kim-Dung bật lên tiếng khóc:
- Thủ-Độ! Làm sao bây giờ? Nếu như vụ này tiết lộ ra, thì dù quyền hành trong tay, vì đại cuộc, anh Khánh, Thừa cũng phải để triều đình xử lăng trì bọn ta.
- Kim-Dung! Hiện khắp các phủ, các trấn đều do quân của các Khả-hãn trấn đóng. Chúng ta không làm vua, thì cũng như làm vua. Bất cứ tên mặt dơi tai chuột nào nói ra, nói vào, ta giết cả nhà nó ngay.
- Người nói! Người tưởng mình có sức mạnh rồi muốn làm gì làm sao? Còn Quốc-pháp, còn đạo lý chứ!
- Này Kim-Dung! Để anh kể cho Kim-Dung nghe. Hồi xưa, đang đêm, kẻ thù của Thành-cát Tư-hãn đem quân tấn công, bắt bà vợ của ông là Bật-Tê mang đi. Năm sau, ông đem quân giết nó, rồi chiếm lại vợ. Khắp vùng Thảo-nguyên ai cũng phục ông hết. Bây giờ Long-Sảm cũng là kẻ thù của anh, cũng chiếm Kim-Dung của anh. Anh sẽ giết y, chiếm lại Kim-Dung. Anh hùng thiên hạ cũng sẽ khâm phục anh. Tại sao anh Thừa, anh Khánh lại xẻo thịt anh nhỉ?
Kim-Dung biết người yêu của mình sống ở vùng Thảo-nguyên, nhiễm phong tục ở đó rồi, khó mà giải thích đạo lý tộc Việt cho y lọt tai được. Nàng chưa biết phải giảng giải như thế nào thì có tiếng trầm trầm từ trong khoang thuyền vọng ra:
- Đại-Việt là Đại-Việt.Thảo-nguyên là Thảo-nguyên. Đạo lý cũng thế. Ta không thể đem đạo lý Thảo-nguyên ra áp dụng ở Đại-Việt, cũng không thể đem đạo lý Đại-Việt ra áp dụng ở Thảo-nguyên.
Thủ-Độ, Kim-Dung kinh hãi, vì nội công hai người đều luyện tới mức thượng thừa. Thế mà, ai đó ẩn trong khoang thuyền, cả hai người đều không khám phá ra.
Thủ-Độ ôn tồn hỏi:
- Tôn giá là ai?
Có tiếng đáp trong như cam thảo:
- Bố, mẹ đây.
Thủ-Độ nhận ra tiếng Thúy-Thúy. Hầu mở cửa khoang thuyền. Bên trong có hai người, Thủ-Huy, Thúy-Thúy.
- Bố! Mẹ! Bố mẹ về bao giờ vậy?
- Chúng ta về Thăng-long cũng mấy tháng.
Thúy-Thúy đáp:
- Nhưng chúng ta không ra mặt. Chúng ta chỉ mới gặp riêng bác Lý gái, cậu mợ Tô Trung-Từ, cô chú Phùng Tá-Chu.
Bây giờ Thủ-Độ mới biết tên hương binh phóng Huyền-âm độc tố vào người Lâm Hoài-Đức là bố mình. Còn người phóng thuốc giải cho y là Thúy-Thúy. Hầu hỏi:
- Mẹ! Việc đi sứ Tống kết quả ra sao?
- Tốt đẹp! Hiện Thành-cát Tư-hãn tạm rút quân về nghỉ ngơi. Tống ước hẹn, nếu như sau này Mông-cổ xuất quân, thì Tống cũng sẽ đem quân tái chiếm Biện-kinh, Lạc-dương, Trường-an.
- Thế??? Sao bố mẹ lại được về đây?
- Sau khi rời Tống, bố mẹ trở lại Mông-cổ, báo cho Thành-cát Tư-hãn biết tình hình. Bố gặp Thái-sư thúc Phạm Tử-Tuệ mà con thỉnh dùm, sang trị bệnh cho Thánh-cát Tư-hãn, bố mới biết tình hình ở trong nước. Vì vậy bố mẹ trở về đây.
- Tình hình Mông-cổ ra sao?
- Trước hết là Bác Khô La (Borogul), Dược Sơ Đài (Jurcadai) lâm trọng bệnh, qua đời. Mùa Xuân năm thứ 8 (DL.1213, Quý Dậu, bên Đại-việt là Kiến-gia năm thứ 4 đời vua Huệ-tông),

Ghi chú của thuật giả

Thành-cát Tư-hãn lên ngôi vua năm 1206 nhằm năm Bính Thìn, bên Đại-Việt là niên hiệu Trị-bình Long-ứng thứ nhì đời vua Cao-tông nhà Lý. Cho đến nay 1213 là năm thứ 8.

Thành-cát Tư-hãn ước hẹn với Tống, rồi xuất quân đánh Kim. Lần này, Tư-hãn nể lời mẹ Thúy-Thúy với bố, ban nghiêm lệnh cấm quân sĩ không được cướp của, giết người, đốt nhà. Chiến thuật cũng đổi: Trước kia, khi gặp thành khó đánh, thì bỏ lại sau, rồi tỏa ra cướp phá. Bây giờ ra quân này với mục đích chiếm đất cai trị, di dân Thảo-nguyên vào Quan-nội. Vì vậy tất cả các thành đều phải đánh chiếm, đặt quan cai trị. Ba cánh quân chia nhau đánh Sơn-Tây, Sơn-Đông, Hà-Bắc, rồi kéo về Yên-kinh. Giữa lúc quân Mông-cổ đang công hãm bên ngoài, thì trong thành Yên-kinh xẩy ra một cuộc nổi loạn.
Thủ-Độ kinh ngạc:
- Dân chúng nổi lên chống Kim chăng?
- Không! Bọn tướng sĩ Kim, gốc Liêu cùng Hồ Sa Hổ đem quân giết vua Kim là Vĩnh-Tế. Thành-cát Tư-hãn cho rằng quân lính nổi loạn, ắt mở cửa cho Mông-cổ vào. Người ra lệnh lui quân mười dặm, chờ đợi. Nhưng không, Hồ Sa-Hổ chỉ giết vua Kim, chứ không phản lại nước Kim. Y lập một người trong hoàng tộc lên lên ngôi, rồi chỉnh bị quân mã mở cửa thành ra đánh úp quân Mông-cổ. Bị tập kích bất ngờ trong đêm, quân Mông-cổ lại đóng rải rác, không tập trung kịp, bị thiệt hại nặng nề. Đúng ra sự thiệt hại còn cao hơn nữa. Nhưng may mắn, cánh quân của Cao Chi có mục đích đánh vào sau lưng Mông-cổ, tới chậm mất nửa ngày, nên quân Mông-cổ chạy thoát được, rồi tập trung lại phản công.
- Ái chà! Từ trước đến giờ Hồ Sa Hổ với Cao Chi vốn hiềm khích, ghen tài nhau. Kỳ này chắc Hồ giết Cáo?
- Đúng thế, cũng may Hồ bị bệnh nặng, hơn nữa Kim đế can thiệp, nên Cao Chi chỉ bị giáng chức mà thôi. Kim-Đế trao quyền Thái-úy cho Cao Chi. Cao Chi xuất quân đuổi Thành-cát Tư-hãn tới Bôi-lai. Quân Kim đã kinh nghiệm về chiến thuật của Mông-cổ, vì vậy trận chiến diễn ra ngày đêm, kéo dài trong mười ngày, Cao Chi bị bại. Y dẫn quân chạy về Yên-kinh. Biết lần này, Hồ Sa-hổ sẽ giết mình, nên Cao Chi ra tay trước. Y đem võ sĩ bao vây phủ Thái-úy, bắt Hồ Sa-Hổ chặt đầu, rồi vào Hoàng-thành yết kiến nhà vua, kể tội Hồ Sa-Hổ giết Vĩnh-Tế. Nhà vua giao xuống đình thần nghị tội Hồ, rồi khen thưởng Cao Chi, trao cho chức Phụ-quốc Thái-úy.
Trong lúc Yên-kinh rối loạn như vậy, thì quân Mông-cổ trở lại vây Yên-kinh. Cao Chi sai bộ hạ biết tiếng Mông-cổ leo lên mặt thành gọi Thành-cát Tư-hãn tới, chế ngạo rằng ông là vua của chim điêu, mà sao không bay vào thành?

Thành-cát Tư-hãn căm hận, nhưng không làm sao được. Các tướng khuyên nên lui binh. Ngược lại, ông gửi lệnh về cho các Khả-hãn: Hãy dẫn dân chúng Thảo-nguyên vượt Vạn-lý trường-thành vào Quan-nội tránh mùa Đông. Bộ tộc nào muốn lập nghiệp trên đất Trung-quốc thì ở lại. Có hàng nghìn bộ tộc nhỏ di cư vào Sơn-Tây, Sơn-Đông, Hà-Bắc. Họ thấy vùng đất nào trù phú, nhà cửa đẹp đẽ thì đuổi dân bản sứ đi, rồi cắm dùi lại.

Thành-cát Tư-hãn chia quân làm ba đạo. Đạo thứ nhất do hoàng-đệ Cát-Sa tiến chiếm đồng bằng Nam Mãn-châu. Đạo thứ nhì do ba vương-tử Truật Xích, Sát Hợp Đài, Oa Khoát Đài chỉ huy, tiến xuống miền Nam. Đạo thứ ba do chính Thành-cát Tư-hãn với vương tử Đà-lôi chỉ huy, bình định đồng bằng Đông-Nam tỉnh Sơn-Đông. Lần này, cứ một Thiên-phu Mông-cổ thì có ba Thiên-phu thân binh Trung-quốc theo ra trận.
Trong 6 tháng Thu-Đông, quân Mông-cổ chiếm gần trọn Hoa-Bắc. Đến hết mùa Đông, có hàng nghìn bộ tộc Thảo-nguyên đã định cư ở Quan-nội. Thành-cát Tư-hãn truyền giao quyền cai trị cho các quan người Hán, việc trấn thủ cho các binh đoàn thân binh Trung-quốc. Còn quân Mông-cổ kéo về Yên-kinh. Biết rằng có đánh Yên-kinh cũng không nổi. Ông gửi sứ giả vào thành nói với hoàng đế Kim: Hoa-Bắc đã vào tay ta. Dân chúng đã theo ta. Tài nguyên về tay ta. Như thế thì Thiên-mệnh thuộc về ta rồi. Nay ta không muốn đánh Yên-kinh là do lòng thương dân. Vậy người hãy đem lễ vật tiến cống, ta sẽ ban phúc, rút quân cho người được sống mà thờ các tiên vương.

Triều đình Kim họp. Cao Chi đòi đánh một trận rồi muốn ra sao thì ra. Song các đại thần lại muốn nghị hòa. Vua Kim sai sứ tới bản doanh Thành-cát Tư-hãn. Thành-cát Tư-hãn đòi điều kiện tiên quyết là Kim phải chịu cho Liêu tái lập quốc, Mông-cổ sẽ tìm một hoàng thân Khiết-đan lập lên làm vua. Lãnh thổ vẫn là lãnh thổ cũ. Điều kiện thứ nhì là nộp 25 nghìn tấm lụa, 50 nghìn lạng bạc, 20 nghìn lạng vàng, 2 nghìn con ngựa. Vua Kim thuận ba điều kiện này, hơn nữa gả công chúa con của Vĩnh-Tế cho Thành-cát Tư-hãn, để tỏ tình hòa hiếu.
Quân Mông-cổ rút về. Thành-cát Tư-hãn cực kỳ hài lòng, vì đã đạt hai mục đích: Đánh bại Kim. Từ nay cái ông trời con trong lòng người Hán không còn nữa. Họ không thể coi các dân xung quanh là Nhung, Địch, Di, Man nữa. Ngược lại các dân xung quanh Trung-quốc sẽ mất mặc cảm phải tôn phục tộc Hoa. Mục đích thứ nhì, là di một số bộ tộc vào Quan-nội. Từ nay Kim không còn là mối lo cho Thảo-nguyên.

Mặc dù Thành-cát Tư-hãn đã cấm cướp của. Nhưng sau hơn một năm đánh khắp Hoa-Bắc, số chiến lợi phẩm, tù hàng binh không biết bao nhiêu mà kể. Bấy giờ là mùa Hạ, Thành-cát Tư-hãn không muốn về Hoa-lâm, để chịu cái nóng cháy da. Người đóng bản doanh ở ốc đảo Dolon Nor, ven sa mạc Gobi.
Quân Mông-cổ vừa rút khỏi Yên-kinh, triều đình Kim thiên đô xuống kinh đô Bắc Tống cũ là Khai-phong. Tin này đưa ra, dân chúng Hoa Bắc rúng động. Họ cho rằng triều đình chạy trốn quân Mông-cổ. Vua Kim ban chỉ hiệu triệu dân chúng rằng: Thái-tử với đại quân sẽ ở lại trấn thủ Yên-kinh.

Sau một năm bị tàn phá vì chiến tranh. Thế mà mới hòa bình có ba tháng, các thị trấn, các thành lũy lại tái thiết như xưa. Các đoàn quân được tái lập. Hơn nữa, mới đây Kim cam kết với ông rằng cho Liêu tái lập quốc. Thế mà bây giờ Kim đem quân tiến đánh Liêu-Đông. Chỉ hơn tháng, Liêu-Dương thất thủ, vua Liêu lưu vong.
Nghe tin Kim dời đô, Thành-cát Tư-hãn đã nổi lôi đình: Chúng đánh lừa ta. Ta rút đi, chúng chạy xuống Nam để chuẩn bị phản công. Rồi lúc tin Liêu-dương thất thủ đưa về, thì Tư-hãn không kiên nhẫn được nữa. Người quyết định xuất binh phạt Kim. Giữa lúc đó, trời lại hại Kim. Kim có nội chiến.
Thủ-Độ kinh ngạc:
- Thực là họa vô đơn chí. Ai đánh với ai?
- Kim có mấy đạo binh Ngự-lâm quân thiện chiến. Họ đều là người Liêu. Khi vua Kim rời đô tới Khai-phong, quần thần nghị rằng Kim sẽ gửi quân đánh Liêu-dương, có thể bọn này nổi loạn. Vua Kim ra lệnh giải giới mấy đạo binh Liêu. Binh sĩ biết rằng khi bị giải giới, thì trước sau gì cũng bị giết. Chúng nổi lên giết tướng chỉ huy, rồi cử người lên thay thế, và kéo nhau trở về miền Bắc. Triều đình Kim vội sai quân đuổi theo giết hết đám binh sĩ Liêu cho tuyệt hậu hoạn. Mặt khác, ra lệnh cho mấy đạo binh chặn đường lên Bắc. Đám Liêu thấy nguy, họ cử người yết kiến Tư-hãn, xin đầu hàng. Thế là Thành-cát Tư-hãn quyết định xuất quân. Đạo quân thứ nhất do Mộc Hoa Lê đi cứu Liêu. Đạo thứ nhì, Tốc Bất Đài đánh chiếm Mãn-châu là chính quốc của Kim. Đạo thứ ba do Triết Biệt chỉ huy, đi cứu mấy đạo binh Liêu. Tốc Bất-Đài thành công mau chóng, chiếm Mãn-châu, Cao-ly xong trở về phục mệnh. Triết Biệt giải cứu mấy binh đoàn Kim gốc Liêu dễ dàng, rồi tiến về đánh Yên-kinh, nhưng không thành công. Mộc Hoa Lê tiến quân vào Liêu-Đông, đánh tan quân Kim, tái lập vương quyền Liêu. Tin này đưa về, Thành-cát Tư-hãn lệnh cho Mộc Hoa Lê đem quân tiến về Yên-kinh hợp với Triết Biệt công hãm.
Thủ-Độ than:
- Con nghĩ, Mông-cổ không thể hạ nổi Yên-kinh, trừ khi bao vây thực lâu, trong thành hết lương. Hoặc trong thành có nội loạn.
- Đúng như con nói. Thành-cát Tư-hãn cũng nghĩ thế. Người ra lệnh cho Mộc Hoa Lê vây kín Yên-kinh, lại ra lệnh cho Triết Biệt đóng quân dọc đường từ Khai-phong tới Yên-kinh, chặn đánh tất cả các đoàn tiếp tế lương thảo. Về phía Kim, khi triều đình Kim rút lui, để một hoàng thân ở lại cố thủ. Một bên quyết bao vây, một bên quyết thủ. Hết mùa Đông, sang mùa Xuân thành Yên-kinh vẫn đứng vững. Nhưng lương thực trong thành ngày một cạn. Vì lương trước đây lương thực do hai nguồn tiếp tế. Một là do các châu, huyện Hoa-Bắc giao nộp. Hai là tiếp tế từ Biện-lương lên. Nay tất cả các thành trì, châu, huyện trên vùng Hoa-Bắc bị quân Mông-cổ kiểm soát. Nguồn tiếp tế từ miền Nam lên bị chặn đánh. Quá tuyệt vọng, hoàng thân trấn thủ quyết xua quân đánh một trận phá vòng vây. Nhưng các tướng không tuân lệnh. Ông lấy máu viết biểu tố cáo việc này lên vua Kim, phân phát tài vật cho thuộc hạ, rồi uống thuốc độc tự tận. Ông chết rồi, đang đêm viên tướng trấn thủ mở cửa thành, cùng người ái thiếp bỏ trốn. Quân trong thành không tướng chỉ huy. Các tướng coi binh đoàn tranh quyền, đánh lẫn nhau, không ai giữ cửa thành. Một vài toán quân bị bại, mở toang cửa thành ra hàng Mông-cổ. Mộc Hoa Lê xua một vạn rưỡi Kỵ-binh, dẫn theo 30 binh đoàn thân binh Trung-quốc tràn vào thành. Kỵ-binh phi trên xác quân lính, dân chúng. Họ đốt phá khắp nơi. Tính ra có tới năm vạn quân Kim bị giết với khoảng năm mươi vạn dân chúng, gia đình chết trong loạn quân. Mười vạn phụ nữ lên thành nhảy xuống tự tử, vì sợ bị hãm hiếp. Trong ba tháng, thành Yên-kinh vẫn còn bốc cháy.

Mùa hạ năm nay (DL.1216,Bính Tý, niên hiệu Kiến-gia thứ 6 đời vua Huệ-tông bên Đại-Việt) Thành-cát Tư-hãn rút quân về Thảo-nguyên, để lại cho Mộc Hoa Lê 25 Thiên-phu Lôi-kỵ Mông-cổ, 200 Thiên-phu thân binh Trung-quốc, phong tước Đại-vương, lãnh thổ gồm Kim, Liêu, Cao-ly, với chỉ dụ:" Ta đã chiếm được miền Hoa-Bắc, còn lại miền Nam, người phải chinh phục"...Nhân nghe Đại-Việt rối loạn, bố xin Thành-cát Tư-hãn cho nghỉ ít lâu, dẫn mẹ về thăm quê hương.
Thủ-Huy đưa mắt nhìn Thủ-Độ, Kim-Dung rồi nói bằng giọng ngọt ngào:
- Bố có nhiều chuyện muốn bàn với con, với Kim-Dung.
- Con xin chờ bố dạy dỗ.
Thủ-Huy ngồi ngay ngắn lại:
- Những gì ta nói với hai con ở đây, ta cũng đã bàn với bà nội (bà Trần Tự-Hấp, nhũ danh Bùi Anh-Hoa), bác Lý gái (Bà Trần Lý, nhũ danh Tô Phương-Lan), với cậu mợ Tô Trung-Từ, cô chú Phùng Tá-Chu, với hai anh Thừa, Khánh. Hai con hãy nghe cho kỹ.
- ???
- " Xưa, một nông dân lấy hai công chúa con vua Nghiêu là Nga-Hoàng, và Nữ-Anh, rồi tiếp ngôi mà thành vua Thuấn. Dân Trung-hoa coi đó là lý đương nhiên. Con rể hay con trai đều như nhau. Thế rồi các đời sau không ai làm thế nữa, mà chỉ truyền ngôi cho con trai. Bên Đại-Việt ta, Ngô Quyền lấy con gái của Dương Diên-Nghệ, rồi tiếp nối sự nghiệp họ Dương, mà lên ngôi vua, thiên hạ coi là chính đạo. Thập-đạo tướng quân Lê Hoàn nhờ Thái-hậu Dương Vân-Nga của vua Đinh mà được ngôi vua, thiên hạ coi là gian trá, tà đạo. Đức Thái-tổ nhà Lý là Lý Công-Uẩn nhờ làm phò mã của vua Lê, rồi cầm quân, được kế nghiệp họ Lê. Thiên hạ coi là chính đạo".
Thấy Thủ-Độ gật đầu tỏ ra hiểu ý mình, Thủ-Huy hỏi:
- Con thử nói ý ta xem có đúng không nào?
"... Suốt bao năm qua, bác Lý là Thần-nông sứ, cậu mợ Trung-Từ là Khai-hoang sứ, cô chú Phùng Tá-Chu là Hải-hà sứ... Con...con... là Đại-hãn. Ân đức nhà ta đã rải khắp thiên hạ, lòng người đều hướng về, mong đợi. Trong khi đó thì họ Lý đã hết phúc, triều đình thối nát, hậu cung dâm đãng. Ta có thể đoạt ngôi vua, mà mưu hạnh phúc cho dân được rồi đây".
- Giỏi! Nhưng muốn lấy ngôi vua, thì phải có chính nghĩa. Ta chưa có chính nghĩa như Ngô Quyền, như Lý Công-Uẩn.
- Thì chính nghĩa là lòng dân.
- Lòng dân ta có, nhưng, khi ta đoạt ngôi vua, sẽ có nhiều kẻ nhân danh trung hưng Lý triều mà khởi binh làm loạn.
- Vậy ta cũng tìm cách làm như vua Lý Thái-tổ.
- Đúng thế. Con hãy nghe cho kỹ này.
- Con nghe.
"...Long-Sảm hiện bị bệnh điên. Bây giờ về Thăng-long. Trong cung, Kim-Dung nắm lấy quyền như Ỷ-Lan xưa kia. Tại triều, Trần Thừa nắm trọn quyền cai trị, ban ân, bố đức cho dân. Bên ngoài, Tự-Khánh nắm trọn binh quyền. Cô Kim-Ngân, chú Tá-Chu nắm Thủy-quân. Cậu mợ Trung-Từ nắm hết thôn ấp. Còn con, vị trí của con mới cực kỳ quan trọng. Con nắm hết bọn An-phủ sứ, Tuyên-vũ sứ, cùng các hiệu hương binh. Như thế, nhà ta chưa lên ngôi vua, mà quyền hành ngôi vua ta đã có hết. Bây giờ ta tìm cách đưa một người trong nhà ta làm phò mã, rồi từ ngôi vị phò mã lên ngôi vua, thì chúng ta mới được coi là chính đạo".

Hôm ấy là rằm tháng Chạp, niên hiệu Kiến-gia thứ 6 (DL.1216, Bính Tý) Đại-Việt hoàng đế thiết đại triều tại điện Càn-nguyên. Đã bốn năm, kể từ ngày nhà vua lưu vong, đây là buổi thiết đại triều lần đầu tiên. Bách quan tề tựu đông đủ, đứng làm hai hàng. Hàng bên trái là quan văn, người đứng đầu là Trần Thừa, lĩnh chức Tả-bộc xạ (Tể tướng). Hàng bên phải là quan võ, người đứng đầu là Trần Tự-Khánh, lĩnh chức Phụ-quốc Thái-úy. Đội nhạc hơn trăm nhạc công tấu bản Nguyên-thọ:

Minh minh Thiên-tử,
Vạn dân sở vương.
Hiển hiển lệnh đức,
Như Khuê, như Chương.
Tuyên chiêu nghĩa vận,
Trường phát kỳ tường.
Thiên-tích thuần hỗ,
Vạn thọ vô cương.


(Vua ta sáng suốt,
Vạn dân ngước nhìn.
Đức tốt rừng rực,
Như Khuê, như Chương.
Ban gọi, nghĩa trọng,
Điềm lành tứ phương.
Trời ban phúc lớn,
Thánh thọ vô cương
).

Kiến-gia hoàng đế từ trong đi ra cùng Khâm-thiên Thạc-hòa Kiến-vũ hoàng hậu Trần Kim-Dung.
Lễ quan hô:
- Quỳ gối.
Bách quan cùng quỳ xuống.
Nhà vua ngồi lên ngai vàng ngồi. Kiến-vũ hoàng hậu ngồi trên chiếc ngai chạm hình con phụng đặt bên phải nhà vua.
Một đại thần, thân thể hùng vĩ, mắt rồng, trán hổ, mặt tươi hồng, dáng đi như kỳ lân bước ra quỳ tâu:
- Thần, Trần Thừa, Đặc-tiến Thiếu-bảo, lĩnh Tả-bộc xạ, Đồng trung thư môn hạ bình chương sự, Chiêu-văn quan đại học sĩ, Giám-tu quốc-sử, Thượng-thư lệnh kiêm Trung-thư lệnh, Gia-viễn quốc công kính tâu.
- Thiếu bảo bình thân.
- Chương trình nghị sự hôm nay có ba phần. Phần thứ nhất, Tổng-lĩnh thị vệ, Đằng-châu hầu Trần Thủ-Độ sẽ tâu trình về việc đi sứ Mông-cổ thỉnh phò mã Trần Thủ-Huy để trao quyền, cùng tình hình Kim, Tống, Mông-cổ. Phần thứ nhì, Phụ-quốc Thái-úy Trần Tự-Khánh tâu trình về tình hình bình định giặc dã. Phần thứ ba, Thái-phó Phạm Kính-Ân sẽ tâu trình về việc cải cách ruộng đất.

Nhạc tấu bản Viễn hành quy triều (Đi xa trở về chầu vua).

Tự Thiên-tử sở,
Thiên-tử mệnh chi.
Chấp sự hữu khắc,
Đức âm mạc vi,
Chưng tai mao sĩ.
Bạc ngôn hữu chi,
Duy kì hữu chi.
Bi nhiên lai ti.
Bảo hữu quyết thổ,
Bang gia chi ki.

(Tự nơi đức vua,
Đức vua sai đi.
Nhiệm vụ kính cẩn,
Quyết chẳng sai di.
Tốt thay tuấn sĩ,
Duy có người thôi.
Vui vẻ trở về,
Bảo vệ Xã-tắc,
Gốc của nước nhà).


Thủ-Độ cùng phó sứ Chu Mạnh-Nhu và bốn bồi sứ từ ngoài điện bước vào tung hô vạn tuế. Lễ quan hô:
- Quân hầu cùng sứ đoàn bình thân.
Từ hôm Thủ-Độ trở về, Hầu làm biết bao nhiêu việc nghiêng trời lệch đất, nhưng Kiến-gia hoàng đế không được tâu trình. Khi dẫn nhà vua trốn khỏi thành Bắc-giang, Hầu hóa trang thành một đội trưởng vệ sĩ, nhà vua không nhận ra Hầu. Sau đó, Hầu tránh mặt nhà vua. Cho đến nay nhà vua không biết gì về những việc làm của Hầu. Trong tâm nhà vua, nhà vua nghĩ rằng Thủ-Độ mới đi sứ về. Nhớ lại những kỉ niệm thời thơ ấu, Kiến-gia hoàng đế nhìn Thủ-Độ, rồi cười ha hả:
- Thằng khờ! Thằng điên. Thế nào, mày đi sứ gì mà bẩy năm nay bây giờ mới về? Hồi đó, vì nhớ công lao của bố mẹ mày, Tiên-đế phong cho mày tước Hầu, rồi sai đi sứ. Chứ thực ra cho mày làm tên thị vệ cũng là quá rồi. Công việc đi sứ ra sao?
Nghe nhà vua nói ra những lời khinh bạc, cả triều đình cùng tái mặt. Còn Thủ-Độ, thì Hầu giận run người lên, nghiến răng, quắc mắt nhìn nhà vua.
Hầu nghĩ thầm:
- Ta vận công, phát một chiêu đập nát thây tên Long-Sảm này, rồi muốn sao thì sao.
Nhìn nét mặt Thủ-Độ, Kiến-vũ hoàng hậu than thầm:
- Nguy tai, làm sao bây giờ?
Hậu đưa mắt báo động, rồi dùng Lăng-không truyền ngữ rót vào tai hai anh:
- Các anh phải coi chừng Thủ-Độ. Y đang căm giận cùng cực. Có thể y không kiềm chế được cơn giận.
Nghe em nói, Trần Thừa mới để ý đến Thủ-Độ. Ông hoảng sợ, vội lên tiếng:
- Tâu Bệ-hạ! Chánh sứ Thủ-Độ không được khỏe. Xin Bệ-hạ để cho phó sứ Chu Mạnh-Nhu tâu trình thay thế.
Nói rồi ông nắm tay Thủ-Độ kéo ra phía sau, đẩy hầu ngồi vào chiếc ghế sát tường. Nhà vua vẫn chưa thấy cái nguy hiểm mình vừa thoát khỏi, ngài nở nụ cười khinh bạc:
- Ngày xưa, trẫm với Gia-thụy ngũ anh thường đem thằng ngẩn ngơ này ra làm cái bị để luyện võ. Nghĩ cuộc đời như một giấc mơ. Hồi ấy trong Gia-thụy ngũ anh, thì trẫm đứng đầu, thứ đến Long-Thẩm, Đoàn Thượng, Nguyễn Dư, Phạm Bỉnh-Du. Khi luyện võ có nhau, lúc chơi đùa có nhau. Bây giờ Long-Thẩm, Bỉnh-Du đã ra người thiên cổ. Còn Đoàn Thượng, Nguyễn Dư thì trở thành giặc, phản lại trẫm. Ừ, tại sao thằng khùng này không chết đi mà Long-Thẩm, Bỉnh-Du lại chết?... Thôi Phó-sứ trình bày đi thôi.
Chu Mạnh-Nhu theo thứ tự tường thuật về cuộc hải hành của sứ đoàn: Đến cửa biển Liêu-Đông, vượt Vạn-lý Trường-thành, tới Hoa-lâm. Phò-mã Thái-úy Thủ-Huy cương quyết không chịu trở về, lấy Mông-cổ làm quê hương thứ nhì. Thủ-Độ được Thành-cát Tư-hãn trao cho chỉ huy binh đoàn Phương-Đông. Cuộc ra quân của Mông-cổ thắng Kim khắp các mặt trận. Cuối cùng Thủ-Độ cùng sứ đoàn được cho trở về Đại-Việt.
Chu giấu, không nói những gì Thủ-Độ đã làm ở Tiên-yên, cũng như khi về Thăng-long.
Triều đình say mê theo dõi lời tường thuật của Chu Mạnh-Nhu. Họ tuyệt không ngờ Thủ-Huy, Thủ-Độ lại là người tài trí đến như vậy. Sau khi Mạnh-Nhu tâu xong, các quan chờ nhà vua ban chỉ dụ, nhưng khi họ nhìn lên, thì ngài đang ngủ. Giấc ngủ dường như rất sâu.
Kiến-vũ hoàng hậu tuyên chỉ:
- Hoàng thượng se mình, cuộc triều nghị hôm nay còn hai vấn đề là việc bình định giặc dã và việc cải cách nông nghiệp, thuế khóa. Vậy Thiếu-sư Trần Thừa thay Hoàng-thượng chủ trì cuộc nghị sự. Kết quả, sẽ dâng biểu tâu lên Hoàng-thượng sau.

Dứt lời, Hoàng-hậu dìu nhà vua rơì điện Càn-nguyên. Các quan thở phào như trút được gánh nặng. Vì từ hôm về Thăng-long đến giờ, mỗi khi một đại thần tâu trình vấn đề gì, thì nhà vua cứ ậm à, ậm ừ một vài khắc, rồi ngáp dài, hoặc hỏi những câu không ăn nhập gì tới vấn đề cả. Cuối cùng nhà vua lại giao cho Trần Thừa giải quyết. Với Trần Thừa, mọi chuyện khó khăn đều vượt qua dễ dàng. Hôm nay, họ biết, triều đình phải nghị sự hai vấn đề quá quan trọng, quá dài. Họ yên trí rằng, nhà vua cũng sẽ ậm ừ, rồi chẳng quyết định gì. Bây giờ Hoàng-hậu tuyên chỉ để cho Trần Thừa thay nhà vua chủ trì, họ mừng hớn hở. Ai nấy đều thở phào nhẹ nhõm như trút được một gánh nặng.

Thế rồi từ đấy, nhà vua không tham dự các buổi thiết triều. Chính sự trao cho Trần Thừa, quân sự trao cho Trần Tự-Khánh, việc học trao cho Phạm Kính-Ân. Tổng-trấn Thăng-long, Tổng-lĩnh thị vệ trao cho Trần Thủ-Độ. Các quan không bao giờ thấy nhà vua. Lúc đầu, họ tuân chỉ vua qua bút phê của ngài trên tấu chương, mà tòa Thượng-thư lệnh chuyển vào trong cung Long-an. Những người tò mò, chú ý thấy rõ: Nét chữ phê là của Kiến-vũ hoàng hậu, nhà vua chỉ ký lên mà thôi. Dần dần, họ thấy nét chữ châu phê lẫn chữ ký đều là của Kiến-vũ hoàng hậu. Họ nghĩ: Hoàng hậu là Linh-nhân hoàng thái hậu thứ nhì.

Dưới sự phò tá của Kiến-vũ hoàng hậu, Thiếu-sư Trần Thừa, Thái-úy Tự-Khánh, Thái-bảo Phạm Kính-Ân, đất nước dần dần trở lại thanh bình. Mấy năm liền trúng mùa, dân chúng ấm no, học phong chỉnh đốn. Tại hương đảng, nhờ hệ thống tổ chức của bang Lĩnh-Nam, không còn nạn cường hào ác bá, cũng chẳng có nạn chủ điền bóc lột tá tiền. Trộm cướp gần như biến mất. Nhân tâm đều hướng về họ Trần: Phải chi Trần Thừa làm vua, thì dân còn sung sướng hơn nhiều.
Thế rồi tin từ nội cung đưa ra: Nhà vua bị chứng điên, uống rượu say, ngủ li bì suốt ngày. Có khi ngài xưng là Thiên-tướng giáng trần, tay cầm giáo, tay cầm mộc múa cho đến khi mệt lử mới thôi.

Kể từ niên hiệu Trị-bình Long-ứng thứ năm (DL.1209, Kỷ-Tỵ) đời vua Cao-tông, là năm bọn Quách Bốc khởi loạn, cho đến nay là niên hiệu Kiến-gia thứ 13 (DL.1223, Quý-Mùi) trải 15 năm, dân chúng đều có cảm tưởng triều Lý không còn nữa. Trong dân chúng, người ta chỉ nhắc đến ân đức của Trần Thừa, công lao dẹp loạn của Trần Tự-Khánh, và tài tổ chức an dân nông thôn của Trần Thủ-Độ.

Tuy vậy trong nước vẫn còn còn hai sứ quân Nguyễn Nộn và Đoàn Thượng. Nguyễn Nộn giữ vùng Phù-đổng, xưng là Hoài-đạo vương. Đoàn Thượng chiếm giữ Hồng-châu xưng là Đông-hải đại vương. Hai người kéo cao cờ nghĩa Diệt Đông-a, trung hưng Tiêu-sơn. Sự thực, hai người cũng chẳng trung thành gì với triều Lý, nhưng cả hai đều biết rằng mình có mối thâm thù bất cộng đái thiên với Trần Thủ-Độ. Mà trên thực tế thì Trần Tự-Khánh giữ chức Phụ-quốc Thái-úy, nhưng Thủ-Độ lại là Tổng-lĩnh Thiên-tử binh, Ngưu-binh, Kỵ-binh, kiêm Tổng-lĩnh thị vệ, kiêm luôn Tổng-trấn Thăng-long. Hai người biết rằng nếu về hàng, thì tuy được quan cao cực phẩm, nhưng e sẽ bị Thủ-Độ trả thù xưa, khó toàn tính mạng. Hai người biết mình đã lâm thế cỡi cọp, thì không xuống được. Vì vậy cứ phải cầm cự. Thủ-Độ muốn đem quân dẹp, thì Tự-Khánh khuyên :
- Họ Lý làm vua đã trên hai trăm năm. Oán thù tuy nhiều, nhưng ân đức cũng có. Trong nước không thiếu gì người muốn làm giặc, mượn danh phù Lý. Nhưng đã có Đoàn Thượng, Nguyễn Nộn rồi, chúng không thể làm được nữa. Vậy ta cứ để cho hai đứa cát cứ, chúng sẽ là nơi hút những kẻ muốn tôn phù Lý, để ta có cớ giết chết, mà khỏi phải kết vào các tội khác.

Bệnh tình nhà vua mỗi ngày càng thêm nặng, không biết sẽ băng hà lúc nào, mà ngài lại chưa có hoàng nam. Kiến-vũ hoàng hậu chỉ sinh được hai công chúa. Công chúaThuận-Thiên sinh năm Kiến-gia thứ 6 (DL.1216, Bính-Tý) , năm nay mới 8 tuổi. Công chúa Chiêu-Thánh sinh năm Kiến-gia thứ 8 (DL.1218, Mậu-Dần), năm nay mới 6 tuổi. Tôn thất lo lắng, dâng biểu xin nhà vua theo gương vua Nhân-tông, nuôi con em trong hoàng tộc, lập làm Thái-tử để yên lòng trăm họ. Nhưng nhà vua gạt đi, vì ngài còn trẻ, mới có 30 tuổi.

Ghi chú của thuật giả

Công-chúa Chiêu-Thánh sau được truyền ngôi vua, hiệu là Chiêu-Hoàng. Trong gia phả các chi họ Trần đều ghi rõ niên canh bát tự của Chiêu-Hoàng như sau: Sinh ngày 4 tháng 9, giờ Thân, năm Mậu-Dần. Còn niên canh bát tự của công chúa Thuận-Thiên, thì không sách nào ghi cả.
Bàn về số Tử-vi của vua, chúa, thì không cần phải để ý đến cung quan, tài, di mà cần xét xem cung mệnh có lớn không mà thôi. Xét lá số Tử-vi của Chiêu-Hoàng, thì mệnh cực tốt: Thiên-cơ, Thái-âm thủ mệnh tại Dần, cát tinh phù có Khoa, Quyền, Xương, hợp chiếu còn được bộ Tả, Hữu. Hiềm vì mệnh ngộ Kỵ thì bao nhiêu tốt đẹp, sẽ bị phá. Nên sau này ngài đi tu, đắc quả Bồ-tát.


Đất nước cứ như giòng nước êm đềm trôi, cho đến ngày 11 tháng 12 niên hiệu Kiến-gia thứ 13 (DL.1223, Quý-Mùi), một biến cố lớn xẩy ra. Ngày ấy, vào giờ Dậu, nhà vua đang say khướt, Kiến-vũ hoàng hậu đang ngồi duyệt các tấu chương, thì có tin báo phu nhân của Thái-úy Trần Tự-Khánh là Phan Mỹ-Vân, xin yết kiến khẩn cấp. Hoàng-hậu vội đánh thức vua dậy, nhưng vô ích, ngài say li bì. Hoàng-hậu tùng quyền ra tiếp chị dâu. Thấy mặt Mỹ-Vân tái xanh, Kiến-vũ hoàng hậu phát run, hỏi:
- Thưa chị, có gì không lành vậy?
- Anh Khánh vừa từ trần.
Hoàng-hậu kinh hãi:
- Anh có bệnh gì đâu?
- Hồi chiều đi duyệt binh về, anh kêu nhức đầu, chóng mặt, rồi buồn nôn. Thần sai thân binh thỉnh Ngự-y. Ngự-y chưa kịp tới thì anh ấy đã từ trần. Khi Ngự-ý tới chẩn mạch, người nói rằng anh bị Trúng-phong huyền dựng.

Ghi chú của thuật giả:

Theo gia phả của các chi họ Trần, thì những đời trước của Trần Thừa, Trần Tự-Khánh đều rất thọ. Đến Trần Thừa, Trần Tự-Khánh thì tuổi thọ giảm quá mau.
Trần Tự-An thọ 100 tuổi (978-1078).
Trần Tự-Mai thọ 87 tuổi (1012-1099).
Trần Vỵ-Hoàng thọ 81 tuổi (1042-1123).
Trần Tự-Quang thọ 93 tuổi (1073-1166).
Trần Tự-Kinh thọ 87 tuổi (1103-1190).
Trần Tự-Hấp thọ 74 tuổi (1132-1206).
Trần Lý thọ 59 tuổi (1151-1210).
Trần Thủ-Huy thọ 105 tuổi (1152-1257)
Trần Thừa thọ 51 tuổi (1183-1234)
Trần Tự-Khánh thọ 39 tuổi (1184-1223).
Căn cứ vào chứng trạng ghi trong gia phả, thì Tự-Khánh chết vì chứng Trúng-phong huyền dựng do can dương nội động. Tương đương với Tây-y là huyết áp cao (Hypertension artérielle), rồi đưa đến tai biến mạch máu não (AVC).

Chức tước cuối cùng của Tự-Khánh là Phụ-quốc Thái-úy, Tả Kim-ngô thượng tướng quân, Uy-viễn đại học sĩ, Thuần-nghĩa quốc công. Lúc hoăng được truy phong:

Thái-sư thượng trụ quốc,
Long công, thịnh đức,
Vũ thắng, anh huân,
Nhân ái, trung liệt,
Kiến-quốc Đại-vương.


Kiến-vũ hoàng hậu ban chỉ gọi quan Tổng-lĩnh thị vệ, kiêm Tổng-trấn Thăng-long nhập cung ngay. Hơn khắc sau, Thủ-Độ vào. Hoàng-hậu ban chỉ:
- Lập tức đóng chặt các cửa thành. Cho thị vệ canh gác các cung điện, cùng Hoàng-thành, rồi mời các quan vào thiết triều khẩn cấp.
Giờ Tý ngày 12, các quan tề tựu đầy đủ tại điện Uy-viễn. Kiến-gia hoàng đế với Kiến-vũ hoàng hậu tới.
Lễ nghi tất.
Nhà vua loan báo với các quan về việc Thái-úy Trần Tự-Khánh đột ngột từ trần, rồi ban chỉ thay thế nhân sự như sau:

- Trần Thừa được phong: Kiểm-hiệu Thái-sư, Bình-chương quân quốc trọng sự, Phụ-quốc Thái-úy, tước Trung-hòa vương.
- Phùng Tá-Chu được phong: Hiệp-tán Thái-bảo, Thượng-thư tả bộc xạ (Tể-tướng), Đồng trung thư môn hạ bình chương sự, Chiêu-văn quan đại học sĩ, Giám-tu quốc sử, Đại Đô-đốc, Long-biên quốc công.
- Phạm Kính-Ân được phong: Dao-thụ Thái-phó, Thượng-thư hữu bộc xạ (Tể tướng), Đồng Bình-chương sự, Thượng-thư lệnh, Đông-triều qốc công.
- Tô Trung-Từ được phong: Đặc-tiến Thiếu-sư, Tham-tri chính sự (Phó Tể-tướng), Binh-bộ thượng thư, Phụ-quốc đại tướng quân, Càn-nguyên điện đại học sĩ, Sơn-Nam quốc công.
- Trần Thủ-Độ được phong: Phiêu-kỵ thượng tướng quân, Tổng-lĩnh Thiên-tử binh, Long-thành Tiết-độ sứ, Tổng-lĩnh thị vệ, kiêm quản Khu-mật viện, Uy-viễn đại học sĩ, Tiên-yên quốc công.
- Phan Lân được phong: Vũ-kỵ thượng tướng quân, Khu-mật viện sứ, Kinh-Bắc tiết độ sứ, Tổng-lĩnh Kỵ-binh, Ngưu-binh, Hồng-châu quốc công.
Niên hiệu Kiến-gia thứ 14 (DL.1224, Giáp-Thân).

Bệnh tình nhà vua càng thêm trầm trọng. Các Ngự-y đều bó tay. Giữa lúc đó thì con quỷ ba đầu lại xuất hiện tại Đông-cung, là nơi của Thái-tử ở. Nhưng từ ngày Long-Sảm lên ngôi vua thì Đông-cung bỏ hoang. Lần khác, trong khi Kiến-vũ hoàng hậu đang thính chính tại triều thì nó xuất hiện giữa ban ngày tại cung Long-thụy nhát nhà vua. Nhà vua sợ quá, ngất đi đến nửa ngày mới tỉnh.

Sang tháng 10, bệnh nhà vua trở thành nguy ngập. Tôn thất, triều đình hội lại nghị sự tâu xin lập Thái-tử. Sau khi bàn với Hoàng-hậu trong hai ngày, nhà vua quyết định lập công chúa Chiêu-Thánh làm Thái-tử. Khi chiếu chỉ ban ra, bị hoàng tộc phản đối dữ dội. Vì họ muốn nhà vua chọn một thiếu niên thông minh trong hàng tôn thất, đem vào cung nuôi dạy, rồi lập làm Thái-tử. Ngược lại, các đại thần thì rửng rưng trước biến cố này. Vì từ lâu rồi, trong tâm tư của họ, thì triều Lý không còn nữa. Việc cai trị hoàn toàn do Trung-hòa vương Trần Thừa cùng các quan làm. Mấy năm qua quốc gia vô sự, dân sống an vui, học phong thịnh, mùa màng trúng.

Giữa tháng 10, bệnh nhà vua biến đổi. Suốt ngày hò hét, chạy nhảy như trẻ con. Từ sáng đến tối, không múa hát thì lại ngủ li bì. Tôn thất, hoàng tộc cho rằng nhà vua bị ma trêu, quỷ ám. Họ nghĩ đến con quỷ ba đầu, là hồn ma của Thái-tử Long-Xưởng trả cái thù vua Cao-tông chiếm mất ngôi. Họ còn tin rằng, việc Long-Xưởng với vợ, con, gia thuộc bị cướp giết cả nhà là do vua Cao-tông với Chiêu-Thiên thái hậu đã ra tay. Nên bây giờ con quỷ ba đầu nhập vào nhà vua, để trả thù. Họ mời sư Chân-Minh, trị sự chùa Chân-giáo vào Đông-cung cũ, nay bỏ hoang ; làm chay, giải oan cho mấy trăm người chết liền 49 ngày.
Thế nhưng bệnh nhà vua không thuyên giảm.
Biết bệnh mình không khỏi được nữa, nhà vua bàn với Kiến-vũ hoàng hậu, rồi ban chỉ truyền ngôi cho Thái-tử Chiêu-Thánh. Còn ngài thì đi tu ở chùa Chân-giáo trong thành. Thái-tử lên ngôi, lấy niên hiệu là Thiên-chương hữu đạo nguyên niên, quần thần tôn hiệu là Chiêu-Hoàng. Tân quân ban chỉ đại xá thiên hạ, tôn phụ hoàng làm Thái-thượng hoàng, tôn Hoàng-hậu Kiến-vũ làm Linh-từ Kiến-vũ hoàng thái hậu. Vì tân quân còn nhỏ tuổi, triều đình thể theo lệ có từ hồi vua Cao-tông, chọn Tứ-trụ đại thần nhiếp chính. Đó là:
Đệ nhất là Thái-sư Trần Thừa, lĩnh Bình-chương quân quốc trọng sự, thống bách quan, bình thứ chính (Tức chỉ huy tất cả các quan, cai trị trăm họ).
Đệ nhị là Hiệp-tán Thái-bảo Phùng Tá-Chu, lĩnh quyền Tể-tướng.
Đệ tam là Dao-thụ Thái-phó Phạm Kính-Ân, lĩnh quyền phó Tể-tướng, nhiếp các bộ Hộ, Lễ, Công.
Đệ tứ là Đặc-tiến Thiếu-sư Tô Trung-Từ lĩnh quyền phó tể tướng lĩnh các bộ Binh, Hình, Lại.
Kiến-vũ thái hậu buông rèm thính chính.
Thăng các quan lên một bậc.
Sau khi Thượng-hoàng thọ giới tỳ kheo với sư Chân-Minh, lấy đạo hiệu là Huệ-Quang. Thái-hậu với Trung-Hòa vương Trần Thừa làm phụ chính. Về chính sự, nhân sự nhất thiết giữ nguyên.
Tổng-lĩnh thị vệ Trần Thủ-Độ được lệnh chỉ hộ tống Thượng-hoàng rời Hoàng-thành ra chùa Chân-giáo. Có ba thái giám cũng thọ giới, theo hầu ngài. Lạ lùng thay, từ lúc ra chùa Chân-giáo, bệnh tình Thượng-hoàng giảm mau lẹ. Ngài không còn hò hét, ca hát nữa. Suốt ngày ngài ngồi trên bồ đoàn nhập thiền.

Ghi chú của thuật giả

Đoạn này, gia phả của con cháu Trần Ích-Tắc chép rất chi tiết. Xin nhắc lại, Chiêu-quốc vương Trần Ích-Tắc là con của công chúa Thuận-Thiên, tức là cháu ngoại của vua Huệ-tông. Cho nên trong gia phả con cháu vương chép về nhà vua bằng giọng văn cực kỳ kính trọng. Tạm lược dịch một đoạn :
Trung-vũ đại vương (Ghi chú : Tức Trần Thủ-Độ) thân đánh xe đưa đại sư Huệ-Quang (Tức Huệ-tông) ra chùa Chân-giáo. Giáp-sĩ hai hàng, nghi trượng rực rỡ đi hai bên. Hòa-thượng Chân-Minh đón ở cổng chùa, nói rằng :
- Đại phàm đã vào chốn Không-môn thì những gì của trần tục như vua quan, giầu nghèo, già trẻ không còn nữa. Nay Thượng-hoàng bỏ ngôi báu, tìm lẽ giải thoát, mà còn dùng báu xa, nghi trượng, thì sao thoát khỏi trầm luân ? Bây giờ thì nào là Kiến-gia thiên tử, nào là triều đình, nào là Hoàng-thành nào là Long-an, Long-thụy, đều trở thành không cả. Lẽ vô thường là thế đó.
Rồi dẫn Huệ-Quang vào tăng phòng chỉ có cái bồ đoàn bằng rơm, giảng yếu chỉ kinh Kim-cương. Huệ-Quang thọ lĩnh rất mau. Chỉ sau một tuần, Huệ-Quang trở thành trầm mặc, không còn la hét, ca hát nữa.
Hơn tháng sau, Trung-vũ đại vương vâng chỉ ra chùa thăm Huệ-Quang, thì thấy ngài đang xuất thần đứng tần ngần dưới gốc cây chép bài sấm khắc trên thân (Xem hồi 33). Vương hỏi :
- Có hiểu không ?
- Tối nghĩa quá. Ta không hiểu được.
Bèn giảng :
- Thiên-đia huyền hoàng là trời đất này ảo diệu vô cùng, khó ai biết trước. Cương la mênh mang, là lưới trời lồng lộng. Kẻ nào làm ác, thì trước sau gì cũng mắc lưới trời. Dĩ oán báo đức, là lấy oán hận mà báo ân đức. Thập bát tử thành. Chữ thập, chữ bát, chữ tử là chữ lý đấy. Họ Lý đã lấy oán báo đáp lại kẻ có ơn với mình.
Hỏi :
- Thế còn các câu sau ?
- Tự tìm hiểu lấy.
Sư Chân-Minh thuật chuyện cũ : Gần hai chục năm trước, Trung-vũ đại vương bị 5 người đánh đến chết đi sống lại, sau thoát được, từng ngất đi dưới gốc cây này. Huệ-Quang tỉnh ngộ, nhớ lại rằng chính mình cùng bọn Phạm Bỉnh-Du, Đoàn Thượng đã đánh Trần Thủ-Độ. (Ngài) nhìn Vương, rồi cúi đầu xuống không nói gì. Vương nói với Huệ-Quang :
- Trước kia đã gây nghiệp, thì không thể nào tránh khỏi quả. Hãy liệu mà trả đi chứ ?
Thời gian Chiêu-Hoàng làm vua rất ngắn. ĐVSKTT chép như sau:
Ất Dậu, Thiên-chương Hữu-đạo thứ nhì (DL.1225), từ tháng 12 về sau là niên hiệu Kiến-trung nguyên niên đời vua Trần Thái-tông, bên Trung-nguyên là niên hiệu Bảo-khánh nguyên niên đời Tống Lý-tông.


Mùa Đông tháng 10, ban chiếu tuyển con em đại thần sung vào các chức sắc trong nội cung: Sáu đội lính thị vệ, Chi-hậu (chức văn quan trong cung), Nội nhân thị nội (Chức hầu cận trong cung), ngày đêm thay phiên chầu hầu. Điện-tiền chỉ huy sứ Trần Thủ-Độ coi giữ mọi việc trong Hoàng-thành và Kinh-thành.Cháu gọi Trần Thủ-Độ bằng chú là Trần Bất-Cập làm Cận-thị thư lục chi hậu (Bí thư riêng trong cung). Trần Thiêm làm Chi ứng cục. Trần Cảnh làm Chính-thủ (trình hồ sơ, mài mực, giữ việc chuyển công văn, Cảnh sau là Trần Thái-tông).

Cảnh lúc ấy mới tám tuổi,chực hầu ở bên ngoài. Một hôm phải bưng nước rửa, nhân thế vào hầu bên trong.Chiêu-hoàng trông thấy, lấy làm ưa. Mỗi khi chơi đêm, cho gọi Cảnh đến cùng chơi, thấy Cảnh ở chỗ tối thì thân đến trêu chọc, hoặc nắm lấy tóc, hoặc đứng lên bóng. Có một hôm Cảnh bưng nước đứng hầu, Chiêu-Hoàng rửa mặt lấy tay vốc nước té ướt cả mặt Cảnh rồi cười trêu. Đến khi Cảnh bưng khăn trầu, thì lấy khăn ném cho Cảnh. Cảnh không dám nói gì, về ngầm nói với Thủ-Độ. Thủ-Độ nói: "Nếu được như thế thì họ nhà ta thành hoàng tộc hay diệt tộc đấy". Lại một hôm, Chiêu-Hoàng lấy khăn trầu ném cho Cảnh. Cảnh lạy rồi nói: "Bệ hạ có tha tội cho thần không?Thần xin vâng mệnh".Chiêu-hoàng cười và nói: "Tha tội cho người chứ! Nay người đã khôn rồi đó". Cảnh về nói với Thủ-Độ. Thủ-Độ sợ việc tiết lộ thì bị giết cả nhà. Bấy giờ mới đem gia thuộc thân thích vào trong Hoàng-thành. Lại truyền đóng cửa thành, các cửa cung, sai người canh giữ. Các quan muốn vào chầu không vào được.Thủ-Độ báo với các quan:"Bệ-hạ có chồng rồi". Các quan đều vâng lời, xin chọn ngày vào chầu.
Ngày 21 tháng 10, các quan vào chầu lạy mừng. Chiêu-Hoàng xuống chiếu rằng:
"Từ xưa, nước Nam Việt đã có đế vương trị thiên hạ. Duy triều Lý ta vâng chịu mệnh trời, có cả bốn biển, các tiên thánh truyền nối trên hai trăm năm. Chỉ vì Thượng-hoàng có bệnh, không người nối dõi, thế nước nghiêng suy, sai trẫm nhận minh chiếu, cố gượng lên ngôi. Từ xưa đến giờ chưa từng có việc ấy. Khốn nỗi, trẫm là nữ chúa, tài đức không đủ, giặc cướp nổi lên như ong, làm sao mà giữ nổi ngôi báu nặng nề? Trẫm dậy sớm thức khuya, chỉ sợ không cáng đáng nổi, vẫn nghĩ tìm đấng hiền lương quân tử để cùng giúp chính sự, đêm ngày khẩn khoản đến thế là cùng cực rồi.
Kinh Thi có câu:
Quân tử hảo cầu,
Cầu chi bất đắc.
Ngụ mị tư phục,
Du tai du tai.
(Quân tử tìm bạn, cầu mãi không được, thức ngủ không nguôi, buồn thay, buồn thay).

Nay trẫm suy đi, tính lại một mình, duy có Trần Cảnh văn chất đầy đủ, thực là thể cách quân tử hiền nhân, uy nghi đường hoàng, có tư chất thần văn thánh võ, dù Hán Cao-tổ, Đường Thái-tông cũng không hơn được. Sớm hôm nghĩ kỹ từ lâu, xem nên nhường ngôi báu, để thỏa lòng trời, cho xứng lòng trẫm, mong đồng lòng hết sức, cùng giúp vận nước, hưởng phúc thái bình. Vậy bố cáo thiên hạ, mọi người đều biết".

Tháng 12 ngày 11, Mậu Dần, Chiêu-Hoàng mở hội lớn ở điện Thiên-an, ngự trên sập báu. Các quan mặc triều phục vào chầu, lạy ở dưới sân. Chiêu-Hoàng trút bỏ ngự bào, mời Trần Cảnh lên ngôi hoàng đế. Đổi niên hiệu là Kiến-trung nguyên niên, đại xá thiên hạ, xưng là Thiện-Hoàng (Hoàng đế được nhường ngôi), sau đổi là Văn-Hoàng. Bầy tôi dâng tôn hiệu là :
Khải vận, lập cực, chí nhân, chương hiếu hoàng đế.
Phong Trần Thủ-Độ làm Quốc-thượng phụ, nắm giữ mọi việc trị nước.
Thủ-Độ nói: "Hiện nay giặc cướp đều nổi, họa loạn ngày tăng. Đoàn Thượng giữ mạn Đông, Nguyễn Nộn giữ mạn Bắc. Các châu Quảng-oai, Đại-viễn cũng chưa dẹp yên. Triều Lý suy yếu, thế nước chông chênh, nữ chúa Chiêu-Hoàng không gánh vác nổi, mới ủy thác cho Nhị-lang (Trần Cảnh là con trai thứ nhì Trần Thừa. Con cả là Trần Liễu). Nhưng Nhị-lang chưa am hiểu việc nước, chính sự nhiều chỗ thiếu sót, mà vận nước mới mở, lòng dân chưa an, mối họa thực không nhỏ. Ta tuy là chú, mà học thức không nhiều, còn phải rong ruổi Đông,Tây để dẹp giặc cướp. Không gì bằng tôn thánh phụ làm Thượng-hoàng tạm coi việc nước. Một hai năm sau, thiên hạ nhất thống, lại giao quyền cho Nhị-lang". Các quan đều cho là phải, mời Thánh-phụ Trần Thừa nhiếp chính.

(ĐVSKTT, Lý kỷ, Chiêu-Hoàng kỷ).

Ghi chú của thuật giả

Qua bộ Anh hùng Đông-a,, độc giả biết rõ ràng nhờ đâu, do đâu, làm thế nào, mà họ Trần được thiên hạ; chứ không đơn thuần nhờ nhan sắc.

Từ xưa, khi nghe nói Trần gia dĩ nhan sắc đắc thiên hạ, người ta cứ cho rằng nhờ Linh-từ Kiến-vũ hoàng thái hậu, nhũ danh Trần Kim-Dung có nhan sắc, làm vợ vua Lý Huệ-tông, rồi họ Trần được ngôi vua. Nhan sắc đây không hẳn chỉ một mình Linh-từ thái hậu, mà nhờ Trần Cảnh đẹp trai, được Chiêu-Hoàng cưới làm chồng, rồi được truyền ngôi vua. Chỉ độc giả Anh hùng Đông-a mới biết rõ uyên nguyên mà thôi.

Ngôi vua từ họ Lý sang họ Trần, là một biến cố cực kỳ vĩ đại. Nếu biến cố này xẩy ra ở Trung-quốc, ít ra các sử gia cũng chép hàng trăm trang. Thế nhưng dù ĐVSKTT, dù VSL, dù KĐVSTGCM, cũng cũng chỉ chép không quá một trang. Xét kỹ biến cố này, ta thấy đây là một vở kịch dàn cảnh có lớp lang.
Thứ nhất, Từ trước đến giờ các sử gia thường tin vào mấy giòng trên đây của ĐVSKTT mà cho rằng cuộc hôn nhân Trần Cảnh Chiêu-Hoàng, cũng như việc truyền ngôi do Trần Thủ-Độ xếp đặt. Tôi thấy hoàn toàn vô lý. Bởi Linh-từ Kiến-vũ hoàng thái hậu là mẹ của Chiêu-Hoàng, buông rèm thính chính. Nói khác đi, là bà làm vua. Trần Thừa là cha Trần Cảnh làm Thái-sư Bình-chương quân quốc trọng sự, phụ chính ở ngoài. Trong khi Thủ-Độ chỉ là Điện-tiền chỉ-huy sứ. Nếu không có lệnh của Thái-hậu, của Trần Thừa, liệu Thủ-Độ có dám làm không?

Thứ nhì. Vua Lý Huệ-tông có hai công chúa. Công chúa Thuận-Thiên năm trước mới chín tuổi, đã hạ giá với con trưởng Trần Thừa là Trần Liễu. Bây giờ Chiêu-Hoàng mới tám tuổi, đã...lấy Trần Cảnh. Cuộc hôn nhân xếp đặt rõ ràng: Xưa nay, những con trai muốn vào hầu trong cung làm thái giám thì một là sinh ra...cái ấy teo như quả ớt, hoặc ái nam, ái nữ. Hai là phải tĩnh thân, làm cho thân thể trong sạch, tức cắt...cái nớ đi. Thế mà người cầm quyền phụ chính là Thái-sư Trần Thừa lại cho tuyển toàn bọn đực đẹp trai đem vào cung. Rồi Linh-từ Kiến-vũ thái hậu, làm chúa hậu cung cũng chấp thuận. Như thế rõ ràng hai vị muốn cho lửa của các cậu con cháu họ Trần, gần rơm Chiêu-Hoàng, hỏi sao không bùng cháy?

Thứ ba, việc triều thần tôn Điện-tiền chỉ huy sứ, phò mã Lý Công-Uẩn lên ngôi vua trước đó 216 năm, được coi là có chính nghĩa. Thì nay, cuộc hôn nhân Trần Cảnh Chiêu-Hoàng đưa đến việc nhường ngôi, còn có chính nghĩa hơn nhiều, vì có Linh-từ Kiến-vũ thái hậu chủ trương bên trong; bên ngoài chính nữ chúa ban chiếu nhường ngôi. Sau đó nữ chúa được phong hoàng hậu.

Ở đây, thuật giả xin giải thích một vài uẩn khúc, để độc giả trẻ tuổi ở hải ngoại hiểu thêm. Tại sao Chiêu-Hoàng vốc nước té vào mặt Trần Cảnh, ném khăn cho Trần Cảnh, mà Thủ-Độ lại sợ bị giết cả nhà? Bởi theo quan niệm cổ, khi Chiêu-Hoàng vốc nước vào người Cảnh, có nghĩa: Ta đem nước cho người. Ném khăn, có nghĩa ta bằng lòng làm vợ người. Theo ngu ý thuật giả, thì dù mới lên tám, Trần Cảnh Chiêu-Hoàng cũng có thể tò mò...thử lửa với nhau. Ngày nay, các thiếu niên năm sáu tuổi từng làm đám cưới giả. Biết đâu, Thủ-Độ không dạy Trần Cảnh...rằng trong lúc Chiêu-Hoàng âu yếm giả, thì...làm thực.
Sau này, thi sĩ Tản-Đà có làm bài thơ Chiêu-Hoàng lấy chồng như sau:
Quả núi Tiêu-sơn có nhớ công?
Mà em bán nước để mua chồng?
Ấy ai khôn khéo trò gian díu?
Cái nợ huê tình có biết không?
Một gốc mận già thôi cũng phải.
Hai trăm năm lẻ thế là xong.
Hỏi thăm sư cụ chùa Chân-giáo,
Đám cưới nhà ai mũ áo đông?

Trong ĐVSKTT, Ngô Sĩ-Liên đã bình luận về việc này như sau:
"Đến thời Huệ-tông, cái độc hại cho thiên hạ đã ngấm sâu lắm. Trong khi vua không phải là người tài ba, cương nghị. Bề tôi giúp nước thì nhu nhược hèn kém. Muốn chữa cái độc hại quá sâu, thì chẳng thể nào làm nổi. Huống chi vua lại bị chứng hiểm, chữa không khỏi, lại không có con trai nối nghiệp. Thế là đềm nguy vong đã hiện ra rồi. Tương truyền, vua Lý Thái-tổ, mới được thiên hạ, xa giá về Cổ-pháp, ngự chơi ở chùa Phù-đổng, có thần nhân đề thơ ở cột rằng:
Nhất bát công đức thủy,
Tùy duyên hóa thế gian.
Quang quang trùng chiếu chúc,
Một ảnh nhật đăng san.

Nghĩa là:
Một bát nước công đức,(Của Phật).
Theo duyên sinh thế gian,
Sáng rực hai đuốc rọi.
Mặt trời gác núi tàn.

Sư Vạn-Hạnh chép dâng lên. Lý Thái-tổ xem xong nói: "Việc thần nhân thì không thể hiểu được".
Người đời truyền tụng, không ai hiểu nghĩa thơ ấy nói gì. Đến khi nhà Lý mất, mới hiểu thơ ấy là nghiệm. Vì từ Thái-tổ đến Huệ-tông là tám đời. Mà Huệ-tông tên Sảm tức mặt trời gác bóng. Thế thì nhà Lý được vua là tự trời, mà mất cũng là tự trời vậy.
(ĐVSKTT, Lý kỷ, Chiêu-Hoàng kỷ)

Trong hồi thứ nhất, thuật giả đã trình bầy bài sấm Cổ-pháp, đoán trước nhà Trần thay nhà Lý bằng câu :Đông-a nhập địa.
Sau đó nhà Lê lên thay bằng câu: Dị mộc tái sinh.
Thêm bài sấm Chân-giáo đã giải trong hồi 33:
Long sa thử địa,
Ty thằng u hoang.
Rồng rớt xuống chỗ đất này,
bằng sợi tơ thắt cổ, chỉ vua Lý Huệ-tông thắt cổ chết trên cây ấy.

Trong bài sấm trên đây:
Nhất bát công đức thủy,
(một bát nước công đức nhà Phật. Bát còn có nghĩa là tám. Chỉ nhà Lý làm vua được tám đời.)

Tùy duyên hóa thế gian.
(Theo duyên nhà Phật mà biến vào trần gian.)
Quang quang trùng chiếu chúc,
Một ảnh nhật đăng sơn.
(Sáng rực hai lần đuốc rọi.
Ảnh sẽ mất khi mặt trời gác trên núi.)

Vua Lý Huệ-tông có tên là Hạo-Sảm. Chữ Hạo gồm có chữ Nhật trên chữ Thiên . Chữ Sảm gồm chữ Nhật đặt trên chữ Sơn . Vì tên vua có hai chữ Nhật trên chữ Thiên , nên sấm mới nói: Hai lần đuốc rọi. Triều Lý hết khi mặt trời gác trên núi: Để chỉ chữ Sảm gồm chữ Nhật trên chữ Sơn.
Sấm ký, giáng bút trong quá trình lịch sử Đại-Việt rất nhiều. Quý vị độc giả thích loại văn học thần bí này, xin đọc:
Sấm ký và Giáng bút
với
Việt-Nam 1925-2025.
Của Nam-Thiên,
do Xuân-thu Hoa-kỳ ấn hành 1998.

Địa chỉ liên lạc:
Nam-Thiên.
30 Freeman Rd.
Durack, Qld 4077, Australia.
Chán đời đi lang thang !
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-05-25 02:29:17NuHiepDeThuong>
Hồi thứ bốn mươi bốn

Di chúc Nguyên-phong

Niên hiệu Nguyên-phong nguyên niên đời vua Thái-tông nhà Trần (DL.1251, Tân Hợi),
bên Trung-quốc, phương Nam nhằm niên hiệu Thuần-hựu thứ 11 nhà Tống;
phương Bắc nhằm niên hiệu Nguyên Hiến-tông Mông-Kha nguyên niên.


Hôm ấy là ngày 14 tháng 4. Khắp các thôn, các xã trong vùng Ngũ-yên là Yên-phụ, Yên-dưỡng, Yên-sinh, Yên-hưng, Yên-bang thuộc trấn Đông-triều như chìm vào trong không khí ảm đạm, thê lương. Dân chúng ít ra đường. Người người gặp nhau, chỉ liếc mắt nhìn lên, rồi lại cúi đầu lầm lũi đi. Nguyên do: Sáng nay, mõ khắp các thôn, các xã đều rao rằng: Yên-sinh vương lâm bệnh trầm trọng, khó qua khỏi. Ba vương tử là Hưng-Ninh vương Trần Quốc-Tung, Vũ-Thành vương Trần Quốc-Doãn, Hưng-Đạo vương Trần Quốc-Tuấn đang thao diễn Thủy-quân ở Tiên-yên, được tin báo vội vã trở về để nhận di chúc. Vương phi luôn sai ngựa trạm đi thúc ba vương tử về khẩn cấp. Bây giờ là giờ Ngọ, mà tam vị vương tử vẫn chưa về tới.

Kể từ niên hiệu Thiên-ứng Chính-bình thứ 6 (DL.1237, Đinh-Dậu), là năm Yên-sinh vương được cắt đất phong cho làm thang ấp. Vương về đây quy dân, khai thác đến nay trải đã 14 năm. Vùng Ngũ-yên trước kia, dân thưa sống rải rác trong rừng hoang, đầy thú dữ, rắn độc, khí hậu thấp nhiệt. Nay trở thành một vùng đất trù phú, đồng ruộng mênh mông, dân chúng từ các nơi tụ về đông đảo. Nhà nhà giầu có, gia súc nuôi thả khắp đồng cỏ, khắp ven núi, cạnh rừng. Dần dần Ngũ-yên trở thành vùng giầu có nhất nước.

Dân chúng các nơi thấy Ngũ-yên thuế nhẹ, không có nạn cường hào ở thôn xã, quan lại công bằng, trộm cắp không hề xẩy ra. Họ tấp nập tụ về. Yên-sinh vương, vương phi, cùng các vương tử luôn gần dân, thương dân, thăm nuôi người già, an ủi kẻ bệnh, giúp đỡ người nghèo. Thành ra họ coi vương như bậc cha mẹ.
Họ biết vương là anh ruột của Nguyên-Phong hoàng đế (Trần Thái-tông). Nhưng họ không hề thấy vương về Thăng-long triều kiến. Họ cũng không thấy triều đình cử các quan đến Ngũ-yên cai trị. Luật lệ của triều đình dường như không được thi hành ở Ngũ-yên. Ngũ-yên như một nước riêng biệt, không thống thuộc triều đình.

Hầu hết những anh hùng võ lâm, những kẻ sĩ, những người bất mãn với triều đình, đều tụ tập về Ngũ-yên. Yên-sinh vương chiêu nạp họ làm tân khách. Họ không có nhà thì cấp nhà. Họ không có ruộng thì cấp ruộng. Họ không có tiền thì cấp tiền. Trong vương phủ, có hàng trăm dẫy nhà, để cưu mang hàng mấy nghìn tân khách. Dần dần, bao nhiêu tinh hoa của võ lâm, bao nhiêu bậc văn tài của trời Nam, đều tụ về Ngũ-yên cả.
Dân chúng Ngũ-yên sống trong hạnh phúc. Họ chẳng hiểu tại sao vùng Ngũ-yên lại không bị triều đình quản chế. Có một vài người biết chuyện. Họ thì thầm với nhau rằng giữa nhà vua với vương có một mối thâm thù, mà lỗi về phía nhà vua. Cho nên suốt vùng đất Ngũ-yên, vương muốn làm gì thì làm, nhà vua cũng phải nhắm mắt lờ đi. Triều đình không ai dám đề cập tới. Ngay cả người có uy quyền lớn nhất, bao trùm nhà vua là Quốc Thượng-phụ Trần Thủ-Độ cũng làm lơ chuyện Ngũ-yên.

Sang giờ Thân, thì tam vị vương tử về tới. Tam vị bái kiến vương mẫu rồi vào thăm phụ vương. Yên-sinh vương đã mệt mỏi lắm rồi. Ngài ngồi trên giường, dựa lưng vào cái gối lớn, mắt lờ đờ nhìn vào không gian. Thấy ba con trở về, thần thái của vương trở thành linh hoạt. Hai mắt sáng rực, mặt hồng hào. Vương vẫy tay ra hiệu miễn lễ, rồi ban chỉ:
- Ba con về vừa kịp. Bằng không, ta ra đi, mà không để di chúc cho các con, thì đành ôm hận xuống suối vàng. Vậy các con ra gọi tất cả anh em, cùng 18 tân khách thân tín vào đây.
Mọi người tề tựu quanh giường bệnh. Yên-sinh vương cất giọng trầm trầm nói:
- Các vị là tân khách của ta. Các vị đã cùng ta luận bàn quốc sự. Các vị đã cho ta những lời khuyên, vì vậy ta coi các vị như bậc thầy. Bây giờ, biết rằng gần đất xa trời, ta mời các vị vào đây để trao di chúc.
Các tân khách đều im lặng, vì họ biết lúc này là lúc quan trọng nhất, thiêng liêng nhất của đời người.
Vương chỉ vào một thiếu niên dáng người hiền hòa, tai to, mặt trông giống như đức Thích-ca Mâu-ni :
- Đây là con trưởng của ta tên Quốc-Tung. Bẩm sinh tính khí ôn hòa, tâm mở rộng như trời như, biển; thương xót dân chúng như thương xót con cháu. Tung lại sớm ngộ đạo từ bi, không tham danh lợi. Trong các con ta, Tung là người bác học đa năng, nghe rộng, nhớ dai. Phúc đức giòng họ ta sau này nếu có là nhờ Tung. Chính sách nuôi dân, chăm sóc dân, tổ chức học phong vùng Ngũ-yên là do Tung nhi.
Vương lại chỉ vào một thiếu niên uy vũ, mắt rồng, mũi lân, dáng người như Thanh-y đồng tử trong tranh:
- Đây là con thứ của ta, tên Quốc-Tuấn. Quốc-Tuấn có tài nghiêng trời lệch đất, giỏi tổ chức binh bị. Ta e Tôn Vũ, Ngô Khởi cũng không hơn. Lực lượng quân sự Ngũ-yên mạnh như ngày nay, hoàn toàn do Tuấn nhi. Suốt vùng Ngũ-yên ra Bắc-biên, mười năm qua không trộm, chẳng cướp là do Quốc-Tuấn.
Lại chỉ vào một thiếu anh tuấn:
- Đây là con thứ của ta tên Quốc-Doãn. Cả Tung, Tuấn lẫn Doãn đều là những thiếu niên có chí khí dọc ngang trời đất, có tài lấp biển vá trời. Cả ba đều có thể nối chí của ta.
Vương chỉ vào một thiếu niên thân thể hùng vĩ, mặt đẹp như ngọc:
- Đây là cháu Trần Tử-Đức của ta, tước phong Phú-lương hầu, lĩnh ấn Trung-vũ thượng tướng quân, hiện chỉ huy ba hiệu bộ binh của Ngũ-yên. Võ công Đức cực cao. Tính tình cương trực. Sau này có thể trao việc lớn.
Lại chỉ vào một người dáng dấp như một văn nhân:
- Đây là một thiếu niên, mà ta yêu thương như con đẻ, tên Phạm Cụ-Chích. Chích mồ côi, phải đi ở chăn trâu, bị đời khinh khiến. Ta đem về nuôi dạy. Chích hiện lĩnh ấn Tả-thiên ngưu vệ thượng tướng quân, coi hiệu Ngưu-binh của Ngũ-yên. Tính tình ngay thẳng, biết yêu thương kẻ dưới, nên tương lai có thể thành một Ngô Khởi.
Vương ngừng lại thở hai hơi, rồi chỉ vào một người da đen, mắt sáng như sao:
- Người này là bạn ta, dòng dõi vua Lê, hiện là sư đệ, cũng là em ruột của chưởng môn phái Sài-sơn Lê Ngân-Sơn, được võ lâm tặng cho mỹ danh Nam-thiên tam tuyệt. Đệ nhất tuyệt là khinh công. Đệ nhị tuyệt là mưu thần, chước thánh. Đệ tam tuyệt là thuật kỵ mã. Lê đệ hiện lĩnh ấn Vũ-kỵ thượng tướng quân, coi hiệu Kỵ-binh Phù-Đổng. Tiến trình tương lai của Lê đệ thực vô cùng rộng lớn.
Vương ngừng lại, hít một hơi dài, rồi tiếp:
"...Thời vua Cao-tông nhà Lý, vì nghe lời gian thần, giết cha con một tướng tài có công là Phạm Bỉnh-Di, Phạm Bỉnh-Du, mà có loạn. Đức Nguyên-tổ nhà ta (Trần Lý) nhân đó suất lĩnh hào kiệt dẹp loạn, lập lại thời thịnh trị. Đức Nguyên-tổ băng, đức Thái-tổ khai vận, lập cực, hoằng nhân, ứng đạo, thuần chân, chí đức, thần vũ, thánh văn, thùy dụ, chí hiếu hoàng đế (Trần Thừa) cùng em là Kiến-quốc đại vương (Trần Tự-Khánh) đánh Đông, dẹp Bắc, nhân tâm quy phục.

Vua Huệ-tông nhà Lý không con nối dòng, mới nghĩ đến truyền ngôi cho con gái. Người có hai công chúa. Lớn là Thuận-Thiên, đã gả cho ta, lại phong cho ta tước Phụng-càn vương. Nhỏ là Chiêu-Thánh, được lập làm Thái-tử, truyền ngôi thành Chiêu-Hoàng. Nhờ ân đức của đức Thái-tổ nhà ta, mà em ta là Trần Cảnh được kết hôn với Chiêu-Hoàng, rồi được nhường ngôi. Bấy giờ mới tám tuổi. Nhận ngôi vua từ triều Lý, nhân tâm ly tán, giặc dã khắp nơi, đất nước kỷ cương không còn, Cảnh chỉ ngồi trên ngai cho có vị. Việc cai trị thiên hạ, do đức Thái-tổ lèo lái, dần dần đất nước trở lại thanh bình, thịnh trị.
Niên hiệu Thiên-ứng Chính-bình thứ ba (DL,1234. Giáp Ngọ), đức Thái-tổ băng, ta kế vị người được phong Hiển-hoàng, lĩnh Phụ-quốc thái-úy".
Vương ngừng lại, đưa mắt nhìn Quốc-Tuấn:
".... Ba năm sau, giữa ta với Thái-sư Trần Thủ-Độ có chỗ bất đồng trong việc cai trị. Ta thì ta muốn dùng chủ đạo mấy nghìn năm của tộc Việt, mà cai trị dân. Nhất thiết noi theo phong tục, luật lệ của Đại-Việt từ nhiều đời để lại.
Còn Thủ-Độ thì lại muốn đem phong tục của bọn rợ Hung-nô, bọn Thát-đát vào nước ta. Sau những lần tranh cãi, giữa ta với Thủ-Độ đã có nhiều điều tương thuận. Duy điều Thủ-Độ muốn từ nay về sau, trong Hoàng-tộc thì cho con cô, con cậu; con chú, con bác kết hôn với nhau. Phàm Hoàng-hậu thì phải là con chú con bác ruột. Ta cực lực phản đối. Vì như thế là loạn luân. Các Ngự-y cũng đồng ý với ta, bởi nếu như cứ để trong họ kết hôn với nhau, thì con cháu sinh ra sẽ bệnh hoạn, ngu đần, tàn tật. Thủ-Độ cho rằng ta nói móc người. Vì người đã giáng Linh-từ Kiến-vũ thái hậu xuống làm công chúa, rồi lấy làm vợ. Nhân ta thu nạp một cung nhân triều Lý làm tỳ thiếp. Thủ-Độ sai chân tay vu cáo ta cưỡng dâm thị. Triều đình họa theo Độ, đàn hặc ta, rồi giáng ta xuống làm Hoài-vương. Ta giận quá, từ chức Thái-úy. Độ cử Phạm Kính-Ân thay ta để an lòng tướng sĩ".

Ghi chú của thuật giả

Biến cố này, ĐVSKTT,Trần kỷ, Thái-tông kỷ chép :
Bính Thân (DL.1236) niên hiệu Thiên-ứng Chính-bình thứ 6.
...Mùa hạ tháng 6, nước to, vỡ tràn vào cung Lệ-thiên.
Bấy giờ Hiển-hoàng Trần Liễu làm tri Thanh-Từ cung, nhân nước to đi thuyền vào chầu, thấy người cung phi cũ của triều Lý, liền cưỡng dâm ở cung Lệ-thiên. Đình thần hặc tâu, vì thế mới đổi tên cung ấy là cung Thưởng-xuân. Giáng Hiển-hoàng làm Hoài-vương.
Sự kiện này hết sức vô lý. Bởi niên hiệu Kiến-trung thứ nhì (1226), triều đình đã đem tất cả cung nhân, con gái họ hàng Lý Huệ-tông gả cho các tù trưởng người Man ; thì làm gì còn cung phi triều Lý để Hiển-hoàng cưỡng dâm ? Chỉ độc giả AHĐA mới biết rõ sự thực vụ này là : Thủ-Độ muốn hạ uy tín Hiển-hoàng Trần Liễu. Cho nên ngay năm sau mới có vụ đem vương phi của vương là công chúa Thuận-Thiên vào làm hoàng hậu của vua Thái-tông.


Trước đây, các tân khách, cũng như vương tử đều nghe phong phanh rằng, Yên-sinh vương dám kết tội Thái-sư Quốc Thượng-phụ Thủ-Độ với Linh-từ Quốc-mẫu cũng là mẹ vợ, là cô ruột. Không ai hiểu nội vụ ra sao. Bây giờ nghe Vương nói, mọi người mới hiểu rõ.
"... Ta kết hôn với công chúa Thuận-Thiên từ năm công chúa mới 9 tuổi, còn ta đã 15 tuổi. Đến năm công chúa 18 tuổi thì sinh Quốc-Doãn.
Niên hiệu Thiên-ứng Chính-bình thứ 6 (DL.1237. Đinh Dậu), trong cung, Chiêu-Thánh hoàng hậu mới 20 tuổi, chưa sinh hoàng nam. Tôn thất nhà Lý bắt đầu nghị luận. Họ mong Cảnh với Chiêu-Thánh không con, để có cớ đòi lập một tôn thất nhà Lý lên ngôi vua.
Bấy giờ công chúa Thuận-Thiên có thai lần thứ nhì với ta. Thủ-Độ lo sợ, không có kế gì đối phó, mới bàn với Linh-Từ, bắt công chúa Thuận-Thiên lập làm Hoàng-hậu. Độ nghĩ rằng, sẽ dùng con của ta dối rằng con của Cảnh, để bịt miệng thế gian, giữ ngôi vua cho họ Trần. Lại giáng Chiêu-Thánh xuống làm công chúa.
Trước việc làm thương luân bại lý như vậy, ta xuất thân binh đánh chiếm phủ Thái-sư giết Thủ-Độ. Ta chiếm được. Nhưng Linh-Từ quốc mẫu can không cho ta giết lão. Ta rút quân về. Còn Cảnh phải xa Chiêu-Thánh, quá khổ sở, đang đêm lấy ngựa trốn lên chùa Yên-tử, xin với bạn cũ của người là sư Phù-vân, cho thọ giới tỳ kheo.
Thủ-Độ không ngờ anh em ta lại phản đối quyết liệt như vậy. Độ dẫn các quan lên chùa Yên-tử đón vua trở về kinh sư. Vua nói:
" Vì trẫm còn trẻ, không cáng đáng nổi sứ mệnh nặng nề. Phụ hoàng lại vội lìa bỏ, trẫm thiếu chỗ trông cậy, nên không dám giữ ngôi vua, làm nhục Xã-tắc".
Độ nài nỉ nhiều lần không được vua nghe, mới nói với các quan rằng:
"Xa giá ở đâu tức là triều đình ở đó".
Thế rồi Độ cắm nêu trong núi, chỗ này là điện Thiên-an, chỗ kia là gác Đoan-minh, sai người xây dựng.
Sư Phù-Vân thấy thế tâu rằng:
"Bệ hạ nên gấp quay xa giá trở về, chớ để làm hại rừng của trời đất".
Vua trở về Thăng-long thì được tin Chiêu-Thánh mất tích. Tin này làm rúng động triều đình. Thủ-Độ sợ Chiêu-Thánh trốn ra ngoài các trấn, rồi hô hào phục hồi triều Lý thì loạn to. Một mặt Thủ-Độ bắt phải dấu nhẹm chuyện này, rồi ra lệnh cho Khu-mật viện tìm kiếm. Một mặt tìm một thiếu phụ có gương mặt giống Chiêu-Thánh, đem vào cung thay thế. Bí ẩn này, cho đến nay cũng không ai biết. Riêng ta, ta biết Chiêu-Thánh đang ở đâu, nhưng ta không nói ra.
Thủ-Độ đem quân ăn mày bao vây dinh thự của ta.Ta không thèm lý đến y. Ta chờ Cảnh về Thăng-long, lẻn đến giết chết đứa em tàn bạo. Giữa lúc ta sắp hạ thủ, thì Linh-Từ xuất hiện. Người can ta. Võ công ta thấp hơn Linh-Từ một bậc. Ta đành nín nhịn. Linh-Từ giảng giải cho ta biết rằng việc làm nghịch thiên, bạo địa này là do Thủ-Độ, vua cũng là nạn nhân như ta. Anh em ta ôm nhau mà khóc. Chúng ta, biết không làm gì được Độ. Cảnh thiết triều phong cho ta vùng Yên-phụ, Yên-đường, Yên-sinh, Yên-hưng, Yên-bang. Những vùng đất này đều là vùng rừng thiêng nước độc. Phàm quan quân lên trấn nhậm chỉ có đi mà không có về.
Ta căm thù, dẫn vương phi, các con, tộc thuộc lên vùng này. Từ hồi ấy đến giờ, trải 14 năm, nằm gai nếm mật, chờ này phục thù, rửa nhục. Cách đây ba năm Thuận-Thiên băng, trong khi tuổi mới 33. Hồi đầu năm nay, Cảnh đem con gái là công chúa Thiên-Thành gả cho Quốc-Tuấn với ý định dùng cuộc hôn nhân, xóa mối thù".
Vương nhìn công chúa Thiên-Thành, tức Hưng-Đạo vương phi đang ngồi ôm mặt khóc:
"...Con khóc ư? Con đau khổ một, thì ta đau khổ mười. Bây giờ gần đất xa trời, ta vẫn chưa rửa được cái hận mười mấy năm nay. Hỡi ơi, bây giờ bệnh tình ta quá nặng, không hy vọng gì trả thù nữa rồi ".
Vương hướng mắt qua cửa sổ, nhìn vào không gian đen như mực, rồi tiếp:
" Đây là di chúc của ta: Sau khi ta qua đời rồi, thì các con, cũng như tân khách, tiếp tục nối chí ta. Nhất thiết trọng nghĩa, khinh tài, khuất thân cầu hiền. Khi thấy lực lượng đã đủ, thí cất quân về Thăng-long, trước giết Thủ-Độ, sau đoạt lấy ngôi vua. Có như vậy hồn ta mới siêu thoát được".
Công chúa Thiên-Thành hỏi:
- Thưa phụ vương. Như phụ vương dạy, thì phụ hoàng cũng như phụ vương đều là nạn nhân của Thái-sư Thủ-Độ. Tại sao lại đoạt ngôi vua để trả thù?
- Khi Linh-Từ giảng hòa giữa ta với Cảnh. Cảnh khóc lóc than thở rằng: Dù Thủ-Độ cố đem Thuận-Thiên vào cung, đặt lên ngôi Hoàng-hậu chăng nữa, Cảnh quyết giữ gìn cái tình chị dâu em chồng, không bao giờ phạm đến thân thể. Thế nhưng, sau khi sinh ra đứa con của ta, đặt tên là Quốc-Khang, Thuận-Thiên lại sinh ra Thái-tử Hoảng, rồi Quang-Khải, Nhật-Vĩnh, Ích-Tắc. Thế thì rõ ràng thằng em của ta là đồ vô luân, chứ đâu phải Thủ-Độ?
Chư vị vương tử, vương tôn, quận chúa, tiểu thư cùng chắp tay:
- Chúng con không bao giờ quên thù này.
Các tân khách đều rơi lệ thông cảm mối thương tâm của vương. Họ cùng dơ tay thề:
- Bọn thuộc hạ nguyện trả thù cho vương gia.
Vương thở dài nhẹ nhõm:
- Sau khi ta hoăng rồi, việc tang chế nhất thiết giản dị. Tuyệt đối không nhận phúng điếu. Phần mộ của ta xây cho có. Đừng xây lăng mộ lớn, mà tốn sức, tốn của, tốn mồ hôi của dân. Sau 100 ngày thì đốt tang phục. Mọi người tiếp tục công việc.

Ghi chú của thuật giả

Hiện nay, ngôi mộ của Yên-sinh vương vẫn còn ở Đông-triều, nằm cạnh con đường dẫn tới chùa Yên-tử. Trong dịp hướng dẫn phái đoàn Pháp nghiên cứu vùng vịnh Hạ-long, Đông-triều hè 1998, chúng tôi có thăm mộ Yên-sinh vương. Tôi không ngờ ngôi mộ một vị Đại-vương, uy quyền, giầu sang bậc nhất hồi đó, sinh ra nhiều con, cháu là những anh hùng dân tộc, cầm binh quyền toàn quốc, mà lại nhỏ như vậy. Có lẽ Hưng-Đạo vương chiếu di chúc, xây giản dị, sau này cũng không cải táng, để nêu cái đức cần kiệm thương dân của phụ vương. Tôi tò mò, quan sát địa thế ngôi mộ về phương diện phong thủy, và tìm ra ngôi mộ này kết phát tới hơn 700 năm. Nay linh khí đã hết. Tôi nhờ. Kỹ sư Pháp dùng máy trắc nghiệm. Kết quả: Quan tài còn nguyên. Những xương chính còn đầy đủ. Chiều sâu của mộ là 1,8m. Nhưng tôi không dám quyết rằng đây là mộ thật của ngài, bởi truyền thống họ Trần thuộc dòng Hưng-Đạo vương, khi qua đời thì thiêu rồi chôn vào một nơi bí mật. Cả hai trường hợp đều làm mộ giả.

Hiện (1988) tại núi Yên-phụ, xã Kim-xuyên, huyện Hiệp-sơn, nay là huyện Kim-sơn tỉnh Hải-hưng còn ngôi đền thờ An-sinh vương mang tên Trần hoàng thân từ. Trong đền có đôi câu đối :

Phụ linh giáng trần, lẫm liệt khôn phò chính khí,
Đông a dực vận, huy hoàng sử sách lưu danh.

(Cha linh thiêng, nên có con là thánh giáng trần phù chính khí. Làm cho vận số dòng họ Trần lâu bền, trong sử sách còn chép tên).

Phụ linh văn trung, Trần khải thánh , An-sinh vương linh thanh truyền cổ miếu.
Đào nguyên động thượng, Lạc-long quân từ thanh thế hợp tân Xuân.

(Cha là An-sinh vương Liễu linh thiêng, tiếng đồn mãi về cổ miếu này. Suối Đào-nguyên, quốc tổ Lạc-long quân dùng lời từ ái gọi vương về hưởng phúc mùa Xuân mới).

Tài liệu.
ĐVSKTT, Trần kỷ Thái-tông kỷ.
ĐNNTC.
Đồng-Khánh địa dư chí lược.


Nói đến đây quá mệt mỏi, hơi thở của vương ngắt quãng. Vương nhắm mắt lại, rồi thều thào:
- Thuận-Thiên! Thuận-Thiên...Hãy...hãy...chờ ta.
Rồi mắt vương trợn ngược. Vương phi kêu thét lên:
- Vương gia! Vương gia!
Ngự y chẩn mạch, lắc đầu:
- Vương gia quy tiên rồi.

Bấy giờ là giờ Tuất, ngày 14 tháng 4 niên hiệu Nguyên-phong nguyên niên đời vua Thái-tông (DL.1251,Tân Hợi).

Ghi chú của thuật giả

Về ngày hoăng của Yên-sinh vương, sử không ghi rõ. Nhưng con cháu Vương cúng giỗ vào ngày 14-4, thì ta có thể tin chắc đó là ngày Vương hoăng.

Quốc-Tung là con trưởng, là tang chủ, tức khắc họp gia thuộc, tân khách, loan báo đại tang. Khắp vùng Ngũ-yên, dân chúng đều để tang vương. Hưng-Ninh vương sai sứ phi ngựa về Thăng-long báo tang. Nguyên-phong hoàng đế (Thái-tông) khẩn thiết đại triều, báo tang trên toàn quốc, cùng gửi sứ giả ra Đông-triều điếu tang, ban chiếu gia phong Đại-vương.
Lời trối trăn của Yên-sinh vương Liễu, hiện diện tuy chỉ có các con, cùng những tân khách thân cận, tín cẩn nhất. Nhưng rồi dần dần cũng lọt ra ngoài, và Khu-mật viện biết được. Bấy giờ Khâm-thiên đại vương Trần Nhật-Hiệu (Em An-sinh vương và nhà vua) lĩnh chức Thái-úy, quản Khu-mật viện. Khi được tin này, Vương kinh hoàng, vội tâu lên Nguyên-phong hoàng đế. Hoàng đế triệu Thái-sư Trần Thủ-Độ vào cung, báo cho biết biến cố này. Thủ-Độ bàn:
- Từ 14 năm nay, Ngũ-yên như con dao dí vào mạn sườn triều đình. Bây giờ là lúc thịnh thời, trong nước vô sự, ngoài biên cương không có giặc. Nếu như Quốc-Tung, Quốc-Tuấn, Quốc-Doãn tuân lời di chúc đó khởi binh làm loạn, thì cũng là lúc triều đình cớ nhổ cái gai Ngũ-yên đi. Vậy thần xin bệ hạ cho thần cùng Linh-từ Kiến-vũ theo các thân vương trong hoàng tộc, các quan, kéo nhau ra Đông-triều điếu tang. Nhân dịp này, thần quan sát tại chỗ, rồi liệu cách đối phó.
Nguyên-Phong hoàng đế cản:
- Quốc- phụ không nên dấn thân vào hang hổ. Lâu nay, Ngũ-yên như rồng nằm hổ phục, nhân tài trong nước tụ cả về đó. Bây giờ trong lúc Yên-sinh vương mới hoăng, con cháu, gia tướng, gia khách đều căm hận Quốc-phụ, mà Quốc-phụ tới điếu tang, thì e lành ít dữ nhiều...Trẫm nghĩ việc Ngũ-yên có hai cách giải quyết. Một là giải quyết bằng lý, bằng quốc pháp. Giải quyết bằng quốc pháp thì đề nghị của Quốc-phụ là đúng. Hai là giải quyết bằng tình. Giải quyết bằng tình, thì ta họp gia đình lại vẫn hơn. Tại sao ta không dùng tình, giải quyết ổn thỏa giữa người nhà với nhau?
- Tâu, Bệ-hạ định giải quyết bằng tình ra sao?
- Ta mời những vị đạo cao đức trọng trong nhà đứng ra dàn xếp. Trong nhà ta, bốn vị có thể nói mà Quốc-Tuấn, Quốc-Doãn không dám cãi. Tiếc rằng Thuận-từ hoàng thái hậu (Bà Trần Thừa) sớm băng hà. Trong nhà ta, vai vế cao nhất là Tuyên-minh thái hoàng thái hậu (Bà Trần Lý, nhũ danh TôPhương-Lan), vương phi Hưng-Nhân đại vương (Vợ Phùng Tá-Chu, nhũ danh Trần Kim-Ngân), vương phi Kinh-Quốc vương (Vợ Tô Trung-Từ nhũ danh Nhạc Bảo-Bảo), thứ đến vương phi Kiến-quốc đại vương (Bà Trần Tự-Khánh, nhũ danh Phan Mỹ-Vân), phải thỉnh bằng ấy vị cùng lên đường đi Ngũ-yên điếu tang, rồi hòa giải với Quốc-Tung, Quốc-Tuấn, Quốc-Doãn thì hơn.
Thủ-Độ trầm tư suy nghĩ, rồi nhăn mặt:
- Tâu, trong bốn vị mà Bệ-hạ đề nghị, thì cả bốn đều không ưa thần. Thần vô dụng trong việc này rồi.
- Quốc-phụ nhờ Quốc-mẫu thì khó mấy rồi cũng xong. Năm vị trưởng thượng của nhà ta có thể ví với năm con rồng trời Nam. Dù Quốc-phụ, dù trẫm cũng nên dựa vào để mưu hạnh phúc cho dân.

Ghi chú của thuật giả

Lời nói của vua Trần Thái-tông buột miệng, gọi năm phụ nữ là năm con rồng, sau lời này đồn ra ngoài, người đương thời kính trọng năm vị, họ gọi là Nam-thiên ngũ long. Khi Mông-cổ sang đánh Đại-Việt, chúng bị năm bà đánh cho những trận kinh thiên động địa, chúng gọi là Giao-chỉ ngũ độc xà (Năm con rắn độc của đất Giao-chỉ) hay Giao-chỉ ngũ hồ ly (Năm con hồ ly của Giao-chỉ) Trước, thời Lý cũng có năm công chúa nức danh trong việc trấn Bắc, bình Nam, đó là Bình-Dương, Bảo-Hòa, Kim-Thành, Trường-Ninh, Côi-sơn. (Xin đọc Nam-quốc sơn hà, của Yên-tử cư-sĩ, do Đại-Nam xuất bản).

Bốn ngày sau, con thuyền ngự Hoàng-long dương buồm rời bến Thăng-long hướng về phương Đông, ra biển, rồi đổi chiều lên hướng Bắc. Sau hai ngày lênh đênh, thuyền đi vào địa phận trấn Đông-triều. Thuyền chở theo Nam-thiên ngũ long: Tô Phương-Lan, Nhạc Bảo-Bảo, Trần Kim-Ngân, Phan Mỹ-Vân và Trần Kim-Dung. Khi những rặng núi vùng Đông-triều hiện ra xa xa ở chân trời, thì thuyền trưởng vào khoang rạp mình xuống báo:
- Tâu Thái-hoàng thái-hậu, thuyền đang tiến vào cửa biển Yên-bang.
Cả năm bà cùng lên trên sàn thuyền quan sát. Bà Phương-Lan từng ra chơi vùng này nhiều lần, bà chỉ ngọn núi này, bãi biển kia, giảng giải cho mọi người. Thình lình có ba tiếng pháo nổ, rồi năm chiến thuyền căng buồm rời bến, chạy ra khơi. Kim-Ngân là vương phi của Phùng Tá-Chu, Đại Đô-đốc Đại-Việt. Phi từng cùng chồng thao diễn, huấn luyện, chỉ huy Thủy-quân mấy chục năm. Bà giải thích:
- Thủy-quân của Ngũ-yên đấy. Đất nước đang thanh bình, mà chúng ta mới xuất hiện, Thủy-quân đã phản ứng nhanh như vậy, thì thực trước đây chưa từng có. Nếu như cuộc giảng hòa này không thành, mà Thủy-quân Ngũ-yên kéo về Thăng-long thì không lực lượng nào đương nổi.
Kim-Dung bênh vực Thủ-Độ:
- Cô mẫu minh kiến. Khi nhà ta tiếp thiên hạ từ họ Lý, Thủy-quân coi như chỉ có hạm đội Tiên-yên và hạm đội Âu-cơ. Chiến thuyền cũ kỹ, cái dùng được, cái không. Trong khi đó bản lĩnh binh sự của Thủ-Độ là bản lĩnh học từ Mông-cổ, chỉ biết xử dụng Kỵ-binh. Suốt hai năm đầu thời Kiến-trung (1225-1226), Hưng-nhân đại vương với cô mẫu bắt đầu tái lập xưởng đóng chiến thuyền. Song vừa trang bị được hạm đội Âu-Cơ thì xẩy ra vụ Kiến-bình vương, nên nay quanh Thăng-long không còn một lực lượng Thủy-quân nào.
Nghe nói đến Kiến-bình vương, trên mặt bà Phương-Lan thoáng hiện ra một nét buồn man mác. Bà hỏi Linh-Từ:
- Kim-Dung, cái vụ Kiến-Bình vương ra đi đến nay trải 25 năm rồi. Dù bên trong tiềm ẩn bí mật gì chăng nữa, thì việc đó đã trôi vào dĩ vãng. Vậy con có thể cho mẹ biết sự thực không? Có phải Thủ-Độ hại vương không ?
Biết mẹ mình là một người thông minh xuất chúng, kiến thức mênh mông, khó mà qua mặt được. Linh-từ lấm lét nhìn mẹ rồi thuật:
"...Kiến-Bình vương là con út của vua Lý Anh-tông, được chị là công chúa Đoan-Nghi dẫn về Thiên-trường trao cho ông bà Trần Tự-Hấp nuôi dạy. Bà yêu thương vương cực kỳ, nên dốc túi dạy cho vương một bản lĩnh vô địch thiên hạ. Rời Thiên-trường về triều, dù vương có tài, dù vương có đức, song bị Chiêu-thiên Chí-lý thái-hậu Đỗ Thụy-Châu với anh là Thái-sư Đỗ An-Di gạt ra ngoài, không trao cho chức vụ gì. Khi bọn Quách Bốc làm loạn, vương cùng gia thuộc trốn về Thiên-trường nương náu phái Đông-a. Nhờ Nguyên-tổ Trần Lý suất lĩnh hào kiệt, dẹp giặc, khôi phục ngôi vua. Hoàng-hậu của của Cao-tông là Đàm Ngọc-Anh muốn gỡ tội cho bác cùng họ Đàm theo Long-Thẩm, bà vu tất cả các thân vương, tôn thất còn kẹt lại Thăng-long cái tội theo giặc; sai Thị-vệ bắt giết cả nhà. Oan ức nhất là giòng dõi Kiến-Khang vương Lý Long-Ích. Tuy vương đã hoăng, 18 con của vương đều phong tước công, giữ những trọng trách khiêm tốn trong triều, đều bị giết cả nhà. Con số người chết trong vụ này đến hơn hai nghìn. Gia thuộc của Gia-chính hầu Long-Nguyên, Nam-chính hầu Long-Toàn, phò mã Lê Trọng-Anh ...cũng bị tàn sát. Tổng cộng thảm trạng này lên đến hơn năm nghìn người trong tôn thất, làm cho họ Lý gần tuyệt tự. Bấy giờ Kiến-Bình vương Lý Long-Tường còn ở Thiên-trường nên thoát nạn.
Sau khi vua Lý Huệ-tông thoát khỏi sự kiềm chế của họ Đàm, trở về Thăng-long, Đại Đô-đốc Phùng Tá-Chu được phong Hiệp-tán Thái-bảo, lĩnh Thương-thư tả bộc xạ, tức Tể-tướng, thì Kiến-Bình vương được cử làm Đại Đô-đốc thay thế chức tước như sau : Thái-sư thượng trụ quốc, Khai-phủ nghị đồng tam tư, Thượng thư tả bộc xạ.
Bản doanh của Đại Đô-đốc Đại-Việt đóng tại Đồn-sơn. Đang từ một thân vương của triều Lý, bây giờ triều Lý không còn. Nhìn đi, nhìn lại các quan tại triều Trần, không quá trăm người họ Lý. Thêm vào đó, có những tin nói vào tai vương rằng Trần Thủ-Độ với lời thề Chân-giáo, Tây-hồ, Hy-cương, trước sau gì cũng giết tuyệt họ Lý. Vương nghĩ đến việc phải đem tông tộc trốn khỏi Đại-Việt như Kiến Hải vương thời vua Thần-tông, hiện con cháu đang sống ở Cao-ly; như Lạng-châu công Lý Long-Phi thời vua Anh-tông, hiện con cháu đang ở Mông-cổ. Hay gần đây như phò mã Trần Thủ-Huy, công chúa Đoan-Nghi đã gặp may rồi vang danh vùng Thảo-nguyên?

Thế là, một mặt vương âm thầm suất lĩnh Thủy-quân đóng chiến thuyền, cáo rằng để thay thế chiến thuyền cũ. Một mặt vương ra lệnh cho tộc thuộc đem gia đình lên Đồn-sơn, dối rằng để dự giỗ tổ Thủy-quân là công chúa Gia-Hưng Trần Quốc, thời vua Trưng. Rồi một buổi sáng, vương họp gia thuộc, tông tộc lại, báo cho biết cuộc ra đi của mình. Ai muốn đi thì đi, ai không muốn đi thì ở lại. Tổng số người ra đi, già trẻ, lớn bé hơn sáu mươi ngàn. Sau khi vương ra đi, hai mươi ngày sau, tin mới về đến Thăng-long. Triều đình giữ thái độ im lặng. Nghĩa là không kết tội, cũng không sai đuổi theo.
(Xin xem phụ lục AHĐA quyển 3: Nguyên-tổ họ Lý ở Đại-hàn)

Vì vậy, cho đến nay Thủy-quân Đại-Việt chỉ còn lại những hải đội nhỏ, dùng để bắt trộm, bắt cướp. Ngược lại với triều đình. Từ khi lên vùng Ngũ-yên, thấy đất phong của mình nằm dọc theo bờ biển (Ngày nay từ Đồn-sơn tới Móng-cáy, bao gồm các cửa biển Hải-phòng, Hòn-gai, Quảng-yên, Cẩm-phả, Cửa Ông, Mông-dương, Tiên-yên, Ba Chẽ, Đầm-hà, Móng-cáy) lại sát với hải phận Tống. Vương nghĩ : Thủy-quân Đại-Việt gần như không còn, thì vương phải tổ chức riêng cho mình. Trong các con trai, vương thấy Quốc-Tuấn có tài dọc ngang trời đất, phong tư khác thường. Vương trao cho Quốc-Tuấn việc này. Lập tức Quốc-Tuấn, chiêu mộ hoàng-nam thuộc ngư dân dọc bờ biển, ngư dân sống trên thuyền trong vịnh Hạ-long, huấn luyện, tổ chức thành những hải đội dân sự. Những hải đội này, hàng ngày có thể tự vệ cho chính mình, cho ngư dân trong vùng. Khi có sự, sẽ dùng để giữ nước. Chỉ trong vòng hai năm, mà các hải đội dân sự trở thành hùng mạnh, thiện chiến. Tuy vậy Yên-sinh vương vẫn không dám cho con tổ chức thành hạm đội. Vì sợ bọn mặt dơi tai chuột trong triều nói ra nói vào. Tin này đưa về triều, khiến Thái-sư Trần Thủ-Độ lo lắng đến mất ăn mất ngủ. Sau khi Quốc-Tuấn được nhà vua gả công chúa Thiên-Thành, được phong tước Hưng-Đạo vương, được cử trấn nhậm vùng Bắc-biên, thì vương không còn úy kỵ kẻ nói ra, người nói vào nữa. Vương cho đóng chiến thuyền, tổ chức thành hạm đội. Hiện dưới quyền vương có hai hạm đội là Âu-Cơ và Động-đình".
Nghe Kim-Dung thuật, bà Phương-Lan như trút được một gánh nặng, nhưng bà vẫn bùi ngùi nhớ đến người tiểu sư đệ Lý Long-Tường, mà bà coi như con. Thấy chị dâu chưa hết buồn, Kim-Ngân chỉ 5 chiến thuyền giảng:
- Trong 5 chiến thuyền kia, thì cái lớn nhất gọi là Đại-chu, để chở quân. Hai cái bậc trung gọi là Trung-chu để tuần thám, tác chiến. Cái nhỏ nhất tên Khoái-chu, để chỉ huy, để đuổi theo giặc, trộm, cướp.
Năm chiến thuyền đã tới gần. Một viên chỉ huy đứng trên mũi chiếc Khoái-chu phất cờ đỏ, bắt con thuyền Hoàng-long phải ngừng lại. Kim-Ngân ra lệnh cho thuyền trưởng kéo cờ lên. Thủy thủ trên thuyền Hoàng-long dàn trên mặt sàn, gươm dáo sáng ngời, nhưng trông vẫn kém uy nghi của thủy thủ trên năm chiến thuyền.
Viên sĩ quan chỉ huy Thủy-đội đứng trên mũi chiếc Khoái-chu cầm loa hỏi:
- Thuyền chở ai?
Viên thuyền trưởng Hoàng-long đáp:
- Là thuyền Hoàng-long của Hoàng-thượng.
- Dĩ nhiên trông xa xa chúng tôi cũng nhận ra thuyền Hoàng-long. Nhưng thuyền chở ai?
- Tuyên-minh thái hoàng thái hậu, Linh-từ Kiến-vũ quốc mẫu.
Thủy-đội Ngũ-yên bao vây lấy chiếc Hoàng-long: Hai chiếc Trung-chu áp vào mạn. Chiếc Đại-chu ngăn trước khoảng ba dặm. Chiếc Khoái-chu áp vào mũi, rồi viên sĩ quan, cùng mười thùy thủ tung mình lên. Thấy Nam-thiên ngũ long, viên sĩ quan hô lớn:
- Bọn thần giáp trụ trên người, không hành đại lễ được. Mong bệ-hạ khoan thứ.
Bà Phương-Lan cực kỳ cao hứng:
- Các vị không nên đa lễ.
Rồi bà chỉ từng người trong đoàn điếu tang thông báo danh tính. Viên sĩ quan viết mấy chữ lên một thẻ tre, rồi buộc vào chân con chim ưng. Con chim ưng bay bổng lên trời, hướng vào bờ biển. Khoảng một khắc sau, trên bờ có ba tiếng pháo nổ. Viên sĩ quan hướng bà Phương-Lan:
- Hưng-Đạo vương ban chỉ kính thỉnh Bệ-hạ.
Nói rồi y cầm cờ phất. Chiếc Khoái-chu dẫn đường. Hai chiếc Trung-chu kèm hai bên. Chiếc Đại-chu đi sau cùng. Thuyền cập bến. Trên bờ, cờ xí uy nghi. Một đội giáp sĩ dàn ra, gươm dáo sáng choang. Yên-sinh vương phi; Hưng-Ninh vương, Hưng-Đạo vương, Vũ-Thành vương, cùng các vương phi trong tang phục ra đón.
Lễ nghi tất.
Bà Trần Lý lên tiếng trước:
- Quốc-Tung, Quốc-Tuấn, Quốc-Doãn, chúng ta ra đây để chịu tang. Cháu chỉ nên dùng gia lễ, chứ không nên dùng quốc lễ.
- Vâng! Cháu xin kính mời các bà, các cô!

Chiều hôm đó, trong đại sảnh đường, bà Phương-Lan ngồi chủ vị, kế đó là bà Kim-Ngân, Bảo-Bảo, Mỹ-Vân, Kim-Dung. Cuối bàn là bà Trần Liễu rồi tới Quốc-Tung, Quốc-Tuấn, Quốc-Doãn, các vương phi, thế tử, quận chúa. Tân khách, lý dịch đứng đầy sảnh đường. Bà Phương-Lan lên tiếng trước:
- Các con, các cháu. Liễu sớm mất, ta là mẹ, lòng đau như dao cắt. Giòng họ nhà ta vốn thọ, thế mà chỉ vì quốc sự, bố tuẫn quốc. Tiếp theo chú Tự-Khánh sớm lìa đời. Bây giờ tới Liễu. Hôm nay chúng ta tơí đây để chịu tang. Theo tang chế bản triều, khi con trưởng, hay con dâu trưởng qua đời, thì bố mẹ phải để tang ba năm. Năm Kiến-trung thứ 5, Thuận-từ băng (vợ Trần Thừa), năm Thiên-ứng chính bình thứ 17 đến lượt Hiển-từ Thuận-thiên băng (vợ Trần Liễu, bắt làm vợ Trần Cảnh), vừa hết tang, thì đến lượt Liễu. Hà! Tang tóc liên miên.
Vũ-Thành vương cười nhạt:
- Thưa bà, bố cháu là người hiền hậu, trầm tĩnh, ăn uống kiệm ước, nói năng khiêm cung. Thầy thuốc nào cũng bảo sẽ thọ ít nhất trăm năm. Thế nhưng từ khi mẹ cháu bị bắt vào cung, bố cháu đau đớn, uất ức quá mà chết non. Đó là lẽ thường.
Kim-Ngân hỏi:
- Có lý nào đau đớn, uất ức mà chết non được?
Một thiếu niên dáng người hùng vĩ, mặt đẹp như ngọc, ngồi trong đám tân khách, đó là Phú-lương hầu Trần Tử-Đức lĩnh ấn Trung-vũ thượng-tướng quân, thống lĩnh bộ binh Ngũ-yên. Hầu lên tiếng:
- Thưa Hưng-Nhân vương phi! Điều mà Vũ-Thành vương nói là căn cứ vào y kinh. Y kinh nói: Tâm tàng thần, nghĩa là tâm chủ thần chí. Khi gặp chuyện bất như ý, bị thì thần minh bị tổn thương. Can tàng hồn, can chứa hồn. Khi giận thì can bị tổn thương. Vương gia của chúng tôi với công chúa Thuận-Thiên đang sống hạnh phúc bên nhau, thì công chúa bị bắt vào cung. Buồn vì xa vợ, uất ức vì bị cướp vợ, lại phải nuôi con thơ. Hỏi sao tâm không bị thương? Can không bị hại? Vì vậy vương gia sớm lìa trần là lẽ thường.
- Thôi, chuyện cũ qua rồi, chú Cảnh đã sám hối, nhờ bà ra giảng hòa với các cháu. Chỉ cần mỗi tháng hai lần, các cháu về Thăng-long chầu mà thôi. Còn như các cháu nhất định biên thùy một cõi, e ông Thủ-Độ đem quân ra tiễu trừ thì nát hết.
- Thượng bất chính, hạ tắc loạn.
Tả-thiên ngưu vệ thượng tướng quân Phạm Cụ-Chích gay gắt: Nếu Thái-sư Thủ-Độ mang quân ra đây, dù tráng sĩ Ngũ-yên không nhiều, thì Ngưu-binh Ngũ-yên cũng xin thay thế nghênh chiến.
Liếc nhìn thấy trong phòng, có hơn năm trăm tân khách, mặt người nào cũng lạnh lùng, tỏ ra lãnh đạm với Nam-thiên ngũ long, bà Phương-Lan biết khó mà thuyết phục được họ. Bà xoay ra đánh bằng tình cảm:
- Nhờ ân đức của tổ tiên, nhờ công lao của ông, của bố, của chú Khánh, mà nhà ta có ngày nay. Bây giờ các cháu nhất định phá hủy sao?
- Tâu bệ hạ! Chính Thái-sư Thủ-Độ phá chứ không phải bọn hèn hạ chúng thần phá.
Sứ đoàn nhìn người vừa lên tiếng, thấy dáng dấp hùng vĩ, vẻ mặt cương quyết, nhưng không biết tên, cũng như chức vụ. Hưng-Đạo vương giới thiệu:
- Vị sư thúc này là Lê Tần, hiện lĩnh ấn Vũ-kỵ thượng tướng quân, chỉ huy hiệu Kỵ-binh Ngũ-yên.
Hưng-Đạo vương vừa dứt lời thì cả cử tọa cùng bật lên tiếng suýt xoa. Vì từ lâu, ai cũng nghe tiếng Lê Tần. Ông là sư đệ của chưởng môn Lê Nguyên-Sơn, nổi tiếng Nam-thiên tam tuyệt. Một khinh công, hai là mưu trí, ba là thuật kỵ mã.
Vũ-Thành vương chắp tay:
- Thưa bà! Con nào cũng là con. Cháu nào cũng là cháu. Bà thử lấy công bằng mà xét xem, đầu mối cái vụ này đâu có phải do bố cháu? Đâu có phải do chúng cháu? Bố cháu là nạn nhân mà? Bọn chúng cháu cũng là nạn nhân mà? Lỗi ở đâu? Do đâu? Hoàn toàn do chú Cảnh mà ra. Bây giờ nhân nghe lời di chúc của bố cháu , chú nhờ bà ra khuyên bọn cháu đầu hàng, rồi đem đầu về cho chú chặt để được tiếng là trung, là hiếu? Trung như thế là ngu trung. Hiếu như vậy là ngu hiếu. Chúng cháu quyết không về Thăng-long chầu đâu. Nếu ông Thủ-Độ với chú Cảnh lợi dụng trong nhà cháu có tang mà mang quân ra đánh, thì cháu e không quân nào, không tướng chịu chết cho chú ấy đâu. Ngược lại, chúng cháu mà phất cờ thì anh hùng thiên hạ sẽ nổi lên như ong ngay. Sự nghiệp của tổ tiên có tan nát là do chú ấy.
Cuộc dàn hòa giữa triều đình với Ngũ-yên không thành công. Thái-sư Thủ-Độ nhất định mang quân ra đánh. Nhưng trẩy quân bằng đường bộ thì gồ ghề khó đi. Chỉ cần vài trăm quân Ngũ-yên phục kích trên các đèo, e phải đánh mấy tháng mới mở được đường. Còn như trẩy bằng đường thủy thì Thủy-quân triều đình so với Thủy-quân Ngũ-yên không khác gì con tép so với con cá kình. Một yếu tố nữa là thuật dùng binh, mà cả triều đình, dù văn quan, dù võ tướng, không ai địch nổi Hưng-Đạo vương. Vì vậy triều đình nuốt giận làm ngơ. Tin này đồn ra ngoài, võ lâm, nhân sĩ đều khoan khoái trong lòng. Họ hướng về Ngũ-yên. Bao nhiêu anh tài của đất nước đều tụ về đây.
Niên hiệu Nguyên-phong thứ 5 (DL.1255, Ất Mão) triều đình tổ chức đại hội võ lâm tại Cổ-loa, nhân giỗ Bắc-bình vương Đào Kỳ và vương phi Nguyễn Phương-Dung vào ngày 15 tháng 8.

Ghi chú của thuật giả.

Bắc-bình vương Đào Kỳ là Đại-tư-mã (Tư lệnh quân đội), vương phi Nguyễn Phương-Dung là Tể-tướng thời vua Trưng. Xin đọc: Anh-hùng Lĩnh-Nam 4 quyển. Động-đình hồ ngoại sử 3 quyển. Cẩm-khê di hận 4 quyển, của Yên-tử cư-sĩ do Nam-Á Paris xuất bản.

Người được trao phó đứng ra tổ chức là Quốc Thượng-phụ tức Thái-sư Trần Thủ-Độ. Trong chương trình mời, sáu đại môn phái quốc nội Đại-Việt là Đông-a, Tiêu-sơn, Mê-linh, Sài-sơn, Tản-viên, Yên-tử. Bẩy môn phái Đại-Việt ở quốc ngoại là Pha-nôm, Cửu-long, Thát-luông, Phật-thệ, Động-đình, Khúc-giang, Thiên-sơn. Lại cũng mời những bang lớn như Lĩnh-Nam, Hồng-hà, Nam-hải, Tây-vu về dự. Thư gửi đi vào tháng ba, thì sang tháng tư, đại-sư Y-sơn chưởng môn phái Tiêu-sơn phúc đáp rằng môn phái không dự, vì cảm thấy võ đạo của người tổ chức không phải võ đạo Đại-Việt. Phái Sài-sơn thì tân chưởng môn Lê Nguyên-Sơn cáo lỗi vì mới lĩnh chức, chưa kịp chỉnh đốn nội bộ. Phái Yên-tử, Mê-linh gửi thư kết tội Thái-sư Trần Thủ-Độ gay gắt, rồi tuyên bố không dự. Phái Tản-viên thì chưởng môn Đặng Kiếm-Anh gửi thư nói rõ: Vào thời gian đại hội, môn phái có chương trình dẫn đệ tử lên đường đi thăm hồ Động-đình, thành ra không về dự được. Đấy là bốn đại môn phái quốc nội. Còn bẩy môn phái quốc ngoại, gửi thư nói rõ rằng họ không về dự vì lý do người tổ chức muốn đem chủ đạo của bọn Hung-nô vào thay thế chủ đạo tộc Việt. Thế là đại hội không thành. Nguyên-Phong hoàng đế với Thái-sư Trần Thủ-Độ kinh hoảng, bàn luận tìm phương cách nối lại giao hảo giữa võ lâm với triều đình. Nếu cứ tình trạng này, mà xẩy ra chiến tranh với ngoại quốc, e triều đình không thể giữ nổi nước.
Đùng một cái, có tin Ngũ-yên cũng tổ chức giỗ Bắc-bình vương với vương phi vào cùng ngày tại trấn Đồn-sơn. Tất cả các đại môn phái quốc nội, trừ Đông-a; bẩy môn phái quốc ngoại, ba đại bang đều kéo về tham dự. Tin này đưa về Thăng-long, Thái-sư Thủ-Độ uất khí lên cổ. Riêng nhà vua, thì ngài lại vui mừng, mà tâu với Tuyên-minh thái hoàng thái hậu rằng:
- Thần nhi sợ, là sợ các môn phái chia rẽ, chém giết nhau mà thôi. Chứ thần nhi không sợ họ chống triều đình. Họ chia rẽ, tàn hại nhau thì nước sẽ mất. Còn họ chống triều đình, mà theo Ngũ-yên thì khi có ngoại xâm, họ sẽ cùng Ngũ-yên chống giặc.
Từ đấy, thế lực của Ngũ-yên càng thêm mạnh, nhân tâm đều hướng về. Về cai trị, học phong, Hưng-Ninh vương làm cho dân chúng ấm no, đất hoang được khai phá thành vườn thành ruộng, thuế nhẹ. Mỗi làng, mỗi xã đều có trường học. Nhà nhà nghe tiếng trẻ đọc sách. Về Thủy-quân Hưng-Đạo vương đã có trong tay bốn hạm đội mang tên Âu-Cơ, Bạch-đằng, Động-đình, Thần-phù tổ chức theo lối dân binh, thành ra ngân quỹ Ngũ-yên không phải tốn tiền nuôi quân. Ngưu-binh, có một hiệu do Tả-thiên ngưu vệ thượng tướng quân Phạm Cụ-Chích chỉ huy. Kỵ-binh một hiệu do Vũ-kỵ thượng tướng quân Lê Tần chỉ huy. Bộ binh chỉ có ba hiệu, do Phú-lương hầu Trần Tử-Đức lĩnh ấn Trung-vũ thượng tướng quân thống lĩnh.
Chán đời đi lang thang !
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-05-25 02:33:11NuHiepDeThuong>
Tiếp theo Hồi 44


Giữa lúc đó, Khu-mật viện nhận được tin dữ: Quân Mông-cổ đã chiếm được vùng Tứ-xuyên, rồi vượt Độ-khẩu xuống, đánh nước Đại-lý (Vân-Nam ngày nay). Sau khi chiếm Vân-Nam, quân Mông-cổ sẽ đánh Đại-Việt, rồi dùng tù hàng binh, lương thực Đại-Việt đánh vào phía sau Tống.

Mông-cổ tuy xa Đại-Việt, nhưng từ mấy chục năm trước, phò mã Trần Thủ-Huy, công chúa Đoan-Nghi từng dẫn sứ đoàn sang Kim, rồi do Kim yêu cầu, mà lưu lạc tới Mông-cổ. Phò mã kết thân với Mông-cổ, sứ đoàn Mông-cổ tới Đại-Việt. Sau Thủ-Huy, Đoan-Nghi, đội võ sĩ Long-biên bị vua Cao-tông cống cho Tống, tất cả đã bỏ Tống sang Mông-cổ. Rồi chính Thủ-Huy, Đoan-Nghi giúp Mông-cổ lập quốc. Quốc thượng phụ Trần Thủ-Độ sinh tại Mông-cổ, từng làm đại tướng thống lĩnh binh đoàn Phương-Đông của Mông-cổ đánh Kim lập đại công. Vì vậy trong triều, ngoài dân chúng đều nghe biết về sự hùng mạnh vô địch của các đội Lôi-kỵ của họ. Chỉ cần vài vạn người, mà họ khống chế cả Hoa-Bắc. Nay họ đem quân đánh Đại-Việt, thì họa này thực không nhỏ. Nước mất một sớm, một tối không biết lúc nào.

Lập tức Nguyên-Phong hoàng đế ban chỉ thiết đại triều. Buổi thiết đại triều bao gồm thoàng thân, quốc thích, tất cả các đại thần, các An-phủ sứ, Tuyên-vũ sứ, các tướng chỉ huy hiệu binh, các Đô-đốc thủy quân...để nghị sự về việc này. Sợ rằng Ngũ-yên không gửi người về họp, triều đình nhờ Tuyên-minh thái hoàng thái hậu viết thư triệu Hưng-Ninh vương, Vũ-Thành vương, Hưng-Đạo vương về. Thái-sư Thủ-Độ cản trở: Nhất định Ngũ-yên không gửi bất cứ người nào về, gọi vô ích. Thế nhưng, trái với ước tính của Thái-sư, phái đoàn Ngũ-yên kéo một lực lượng nhân sự đông đảo về họp: Ba vương, năm An-phủ sứ năm vùng Yên-phụ, Yên-dưỡng, Yên-sinh, Yên-hưng, Yên-bang; bốn Đô-đốc chỉ huy bốn hạm đội Âu-Cơ, Động-đình, Bạch-đằng, Thần-phù; các tướng chỉ huy hiệu Bộ-binh, Ngưu-binh, Kỵ-binh, và 18 tân khách. Buổi họp diễn ra ở điện Uy-viễn là nơi Khu-mật viện đặt trụ sở.
Sau khi Nguyên-Phong hoàng đế giá lâm. Ngài ban chỉ:
- Khu-mật viện nhận được tin dữ: Quân Mông-cổ đã chiếm Tứ-xuyên rồi đánh Đại-lý. Đại-lý đầu hàng. Không biết lúc nào, chúng sẽ đánh ta. Chúng đánh ta không phải với mục đích chiếm nước không thôi, mà còn muốn dùng tù hàng binh làm lao binh, bắt chúng ta cung ứng lương thảo, rồi đánh vào mặt sau của Tống.
Quốc thượng phụ Trần Thủ-Độ hỏi quản Khu-mật viện là Trấn-viễn thượng tướng quân, Khai-sơn hầu Chu Mạnh-Nhu:
- Tin này từ đâu tới?
- Quân Mông-cổ chuẩn bị đánh ta, nên họ dùng con trai của một đại tướng Mông-cổ Trần Tử-Kim với quận chúa Lý Đoan-Thanh tên Trần Tử-An làm phó tướng. Vì ông biết tiếng Việt. Nhưng sau khi chiếm Đại-lý, Trần Tử-An cùng 100 thuộc hạ bỏ trốn về đây báo hung tin cho ta.
Tử-An từng là bạn thời thơ ấu của Thái-sư Thủ-Độ, nhỏ hơn ông bẩy tuổi. Nghe tin Tử-An về, Thủ-Độ không dấu được cảm động:
- Ta muốn gặp Trần Tử-An.
Một trung niên nam tử nước da sạm đen, trong y phục Vạn-phu trưởng từ sau màn xuất hiện. Trông thấy Thủ-Độ, ông chào bằng tiếng Mông-cổ:
- Thế nào? Anh Thủ-Độ. Anh còn sống ư?
- Tại sao em lại hỏi thế?
- Vì người Mông-cổ nói rằng khi anh về tới Đại-Việt thì bị giết rồi.
- Ừ ! Bọn Mông-cổ vốn gờm ta. Ta ẩn thân, rồi phao như vậy, để đánh lừa chúng.
Để triều đình hiểu rõ Mông-cổ hơn. Thái-sư Thủ-Độ giảng chi tiết về vùng Thảo-nguyên, gồm phong tục, tôn giáo, đời sống của dân chúng. Nguồn gốc Thành-cát Tư-hãn từ đâu? Mông-cổ lập quốc thế nào? Trần Thủ-Huy, công chúa Đoan-Nghi, Lý Long-Tùng, Lý Đoan-Thanh, Trần Tử-Kim, đội võ sĩ Long-biên đã giúp Mông-cổ ra sao. Tiếp theo, Mông-cổ liên kết với Tống đánh Kim. Cuối cùng ông hỏi Tử-An:
- Hồi 40 năm trước, bố mẹ anh rời Mông-cổ về, thuật cho anh nghe chi tiết việc Mông-cổ đánh Kim. Từ hồi đó đến giờ, Mông-cổ thịnh suy ra sao, anh không rõ. Vậy em hãy thuật chi tiết cho triều đình nghe
Tử-An đem một trục lụa trên vẽ bản đồ vùng Thảo-nguyên, Trung-quốc, Tây-hạ (Si-Hia)ï, Tây-liêu (Qara Hitai), Tây-vực (Kwharesm, Hoa Thích Tử Mô) , A-phú-hãn (Afganistan), Ấn-độ treo lên, rồi giảng:
- Năm thứ 11 đời vua Thái-tổ Mông-cổ (DL.1216, Bính Tý) bên Đại-Việt là niên hiệu Kiến-gia tứ 6 đời vua Huệ-tông triều Lý. Sau khi trao Hoa Bắc, Cao-ly, Liêu-Đông cho Mộc Hoa Lê, Thành-cát Tư-hãn rút quân về vùng Thảo-nguyên nghỉ ngơi. Sang năm sau, Khu-mật viện Mông-cổ được tin nước Tây-Liêu rối loạn, tâu lên. Thành-cát Tư-hãn sai Triết Biệt mang quân sang chinh phục.
Hoàng tử thứ nhì của nhà vua là Trần Quang-Khải, tước phong Chiêu-Minh vương hỏi:
- Thưa tướng quân, nước Tây-Liêu lập quốc từ bao giờ?
Tử-An ngơ ngác không trả lời được. Triều thần đưa mắt nhìn Hưng-Đạo vương, vì từ lâu vương nổi tiếng bác học đa năng. Vương trả lời:
- Tây-Liêu với Đông-Liêu có cùng nguồn gốc. Tộc Liêu vốn thuộc giống Khiết-đan, phát xuất từ phía Tây Mãn-châu và phía Đông Nhiệt-hà. Về thời Ngũ-đại, tộc trưởng là Gia-luật Hồng-Minh suất lĩnh tộc Khiết-đơn giúp Thạch Kính-Đường lên làm vua, lập ra triều Hậu-Tấn. Thạch nhường vùng đất Sơn-Tây, Bắc Hà-Bắc cho Hồng-Anh. Hồng-Anh lập ra nước Liêu. Đầu đời Tống, Liêu trở thành mạnh, chiếm Hoa Bắc, bắt Tống thần phục, hằng năm phải cống một số vàng, lụa, rất lớn. Niên hiệu Thiên-phù duệ vũ thứ 6 (DL.1125, Ất Tỵ) đời vua Lý Nhân-tông, tộc Nữ-chân hùng mạnh, đánh chiếm Liêu, chiếm luôn lãnh thổ Tống bị Liêu đô hộ. Hoàng thân Liêu là Gia-luật Đại-thạch dẫn một số dân Khiết-đan chạy lên vùng Tây-Bắc, chinh phục 18 bộ tộc lẻ tẻ, dựng thành Ý-minh (Imil) làm thủ đô. Ít lâu sau, nước Khả-nã-mĩ (Karakhamide) ở Tây Nam bị dân Thổ uy hiếp. Họ cầu cứu với Đại-Thạch. Đại-Thạch đem binh đến giúp, rồi chiếm luôn xứ này, lập ra một nước lớn, gọi là Tây-Liêu. Đại-Thạch lên ngôi vua, xưng là hoàng-đế. Truyền đến đời thứ ba, thì hoàng đế Tây-Liêu quá nhu nhược, các chư hầu bỏ, thần phục nước khác. Trong đó có Thổ-phồn, thần phục Mông-cổ... Sách vở chỉ chép đến đây thôi. Còn những gì mới xẩy ra thì tôi không biết.
Tử-An kính cẩn vái Hưng-Đạo vương:
- Đa tạ vương gia. Thế này: Vương-tử xứ Nãi-man (Naiman) là Gút Sơ Lúc (Guclug), sau khi Nãi-man bị Mông-cổ diệt, ông ta trốn sang nương nhờ Tây-Liêu, được làm phò mã. Nhà vua giúp phò mã, quy tụ tàn quân Nãi-man, Miệt-nhi thành mấy binh đoàn riêng. Khi nhà vua băng hà, Gút Sơ Lúc chiếm đoạt ngôi vua. Ông ta là một bạo chúa. Nhân vợ ông theo Cảnh-giáo, ông cũng theo Cảnh-giáo, rồi bắt cả nước theo Cảnh-giáo. Trong khi hầu hết dân chúng theo Hồi-giáo. Ông ra lệnh đóng cửa tất cả các đền thờ Hồi-giáo. Tin này đưa về Hoa-lâm năm thứ 12 đời vua Thái-tổ Mông-cổ (DL.1217, Đinh Sửu, bên Đại-Việt là niên hiệu Kiến-gia thứ 7 đời vua Huệ-tông triều Lý); Thành-cát Tư-hãn sai Triết Biệt mang hai vạn Lôi-kỵ qua đánh bạo chúa. Trước khi tiến quân vào Tây-Liêu, Triết Biệt sai người cáo với dân chúng rằng: Quân Mông-cổ tới đây để bảo vệ tôn giáo. Vì vậy, khi quân Mông-cổ tới đâu, dân chúng, binh lính theo Hồi-giáo mở cửa thành ra đón rước. Giữ đúng lời hứa, Triết Biệt cho mở cửa lại các đền thờ Hồi-giáo, thả các tu sĩ Hồi-giáo bị giam trong tù . Dân chúng đón rước quân Mông-cổ như đón sứ giả nhà trời.
Tĩnh-Quốc đại Trần Quốc-Khang phát biểu:
- Như vậy thì Thành-cát Tư-hãn trở thành ân nhân của dân chúng Tây-liêu rồi. Không biết sau đó, quân Mông-cổ có rút khỏi Tây-Liêu không?

Ghi chú của thuât giả

Sử ghi Tĩnh-Quốc đại vương là con đầu lòng của Thái-tông, lại cũng chép Thánh-tông là con trưởng giòng đích. Thế nghĩa là gì? Thưa: Khi Thuận-Thiên có mang vương ba tháng, thì bị Thủ-Độ đem vào cung. Trên danh thì vương là con trưởng của Thái-tông, nhưng thực ra là con của Yên-sinh vương Liễu. Vì vậy vương không được lập làm thái tử, mà lập em vương là thái-tử Hoảng, sau là vua Thánh-tông.
Vương là con của Yên-sinh vương Liễu. Sau này con của vương là Chương-tín hầu Trần Kiện hàng Mông-cổ, bắt nguồn từ việc vương không được truyền ngôi vua.


- Không. Thành-cát Tư-hãn chia thành quận huyện, tổ chức cai trị.
Hưng-Ninh vương tỏ ra không đồng ý:
- Xét ra đối với dân Mông-cổ, Thành-cát Tư-hãn là đại hanh hùng, đại minh quân. Còn đối với Tây-Liêu thì cả Gút Sơ Lúc lẫn Thành-cát Tư-hãn đều là bạo chúa. Gút Sơ Lúc vừa là ngu chúa, vừa là bạo chúa. Ông ta chết đi cũng không hết tội. Còn Thành-cát Tư-hãn, ông ta lợi dụng cái cuồng tín của ngu dân, mà chiếm nước người, rồi đặt lên đầu họ cái ách thống trị.
Nhà vua nhìn Hưng-Đạo vương, như muốn hỏi ý kiến. Vương biết ý nhà vua, lý luận:
- Tây-Liêu mất nước không do quân đội của Thành-cát Tư-hãn hùng mạnh, mà do Gút Sơ Lúc không nắm được lòng dân. Nếu như Gút Sơ Lúc là minh quân, làm chủ được cái đạo vua với tôi như cha với con, thì liệu Thành-cát Tư-hãn có dám nghĩ đến đem quân xâm chiếm không? Ví dù ông ta cố tình xâm chiếm, thì liệu có chiếm được không?
Cử tọa vỗ tay hoan hô.
Nhân-Huệ vương Trần Khánh-Giư hỏi:
- Hiện nay Mông-cổ có còn sống theo chế độ liều trại nữa không?
- Không! Từ sau khi đánh Tây-vực (Kwharesm, người Trung-hoa phiên âm là Hoa Thích Tử Mô) Mông-cổ bắt về hơn hai mươi vạn tù binh mà đa số là thợ giỏi. Họ lại bắt thêm mười vạn thợ Trung-quốc, Tây-hạ nữa, rồi kiến thiết thủ đô Hoa-lâm với ba chục thành phố lớn giống như Yên-kinh, Ninh-hạ.
Thái-sư Thủ-Độ dục Tử-An :
- Em thuật tiếp đi.
- Năm thứ 13 đời vua Thái-tổ Mông-cổ (DL.1218, Mậu Dần, bên Đại-Việt là niên hiệu Kiến-gia thứ 8 đời vua Huệ-tông triều Lý. Một biến cố kinh khủng xẩy ra, khiến các nước Tây-vực thây phơi hàng vạn vạn người, máu chảy cuồn cuộn như thác đổ, nhà nhà bị hủy hàng triệu triệu nóc, không biết bao nhiêu thành trì bị san bằng.
Cử tọa thấy Tử-An thuật chuyện cũ, mà dường như trên mặt còn hiện ra vẻ khủng khiếp. Thái-sư Thủ-Độ hỏi:
- Hồi anh còn ở Mông-cổ thường thấy thương nhân các nước Tây-vực, họ theo Cảnh-giáo, Hồi-giáo, Da-tô giáo. Mũi họ cao, mắt họ to và sâu, lông tóc hung hung, da trắng . Họ nói nhiều thứ tiếng khác nhau. Như em kể, không biết giữa vua của họ với Thành-cát Tư-hãn có gì xích mích xẩy ra không, mà lại có cảnh chém giết khủng khiếp như vậy?
- Lỗi tại vua của họ giết sứ giả của Mông-cổ!
- Ái chà!
Thủ-Độ than:
- Xưa nay Thành-cát Tư-hãn coi trọng sứ giả vô cùng. Sứ giả của bất cứ bộ tộc, hoặc nước nào sai đến Mông-cổ, ông cũng tiếp đãi như vua nước đó. Còn sứ giả của ông sai đi, ông cũng coi như họ là bản thân ông. Không biết nguyên do nào Tây-vực lại giết sứ giả Mông-cổ? Giết sứ giả của Thành-cát Tư-hãn thì coi như tuyên chiến với ông rồi.
Tử-An thuật.

Ghi chú của thuật giả

Tống-sử thuật lại chiến dịch Kwharesm vắn tắt khoảng 2 trang, cũng không nói đến tên của vua nước này. Đế quốc Kwharesm, người Trung-quốc phiên âm thành Hoa Thích Tử Mô. Tôi không dùng tên này, mà dùng tên Tây-vực để chỉ các nước Trung-Á, Trung-Đông, Bắc Aâu là vùng bị Mông-cổ chinh phục.
Trên thực tế, Mông-cổ tàn phá các nước Trung-Đông, châu Âu như Afganistan, Iran, Irac, Syrie, Hung-gia-lợi, Ba-lan, Tiệp-khắc, Đức, Liên-sô v.v. rồi cai trị mấy trăm năm. Sử sách của các dân tộc trên ghi chép rất đầy đủ. Độc giả có thể tìm đọc những sách này bằng tiếng Anh, Pháp, mà thuật giả ghi ở phần thư mục AHĐA quyển 1.
Từ khi Trần Thủ-Huy, Vương Thúy-Thúy rời Mông-cổ vào năm 1216 (Bính Tý) , nhằm niên hiệu Kiến-gia thứ 6 đời vua Huệ-tông nhà Lý, đến nay là năm 1256 (Bính Thìn) nhằm niên hiệu Nguyên-phong thứ 6 đời vua Thái-tông nhà Trần. Khoảng cách 40 năm ấy, những gì đã xẩy ra tại đế quốc Mông-cổ?
Để thay cho lời tường tình của Trần Tử-An, thuật giả xin tóm lược bằng bài phụ lục trang sau. Độc giả hãy đọc kỹ, để thấy đế quốc Mông-cổ hùng mạnh biết là dường nào? Họ chiến thắng khắp Á-châu, chiến thắng khắp Trung-Đông, chiến thắng khắp Âu-châu... Rồi đặt nền cai trị. Thế mà, khi đánh Đại-Việt, họ bị bại đến ba phen. Như vậy mới biết tổ tiên ta anh hùng biết bao?


Trước kia, triều đình Đại-Việt từng nghe Thủ-Độ nói nhiều về Mông-cổ, nhưng Mông-cổ ở quá xa, họ không mấy chú ý. Bây giờ được tin Mông-cổ sắp vào nước mình, bất giác người người nhìn nhau kinh hãi.
Thủ-Độ nhắc Tử-An :
- Em hãy thuật tiếp tình hình Mông-cổ từ ngày Thành-cát Tư-hãn băng hà đến giờ. Ông ấy băng bao giờ ? Băng vì lý do gì ?
- Năm thứ 20 đời vua Thái-tổ Mông-cổ (DL.1225, Ất Dậu, bên Đại-Việt là niên hiệu Kiến-trung nguyên đời vua Trần Thái-tông). Sau khi đặt nền móng cai trị trên những nước đã chinh phục, Thành-cát Tư-hãn kéo quân từ phương Tây hồi loan. Trên đường về, ông đem đại binh đánh Tây-hạ. Nguyên do, khi xuất quân, ông gửi mã khoái Phi-tiễn ban chỉ cho vua nước này phải đem mấy đạo binh chinh Tây. Chúa Tây-hạ trả lời : Nếu Thành-cát Tư-hãn đủ sức mạnh thì cứ một mình đem quân chinh tiễu. Còn như không đủ sức mạnh thì đừng làm hoàng đế nữa. Thành-cát Tư-hãn giận cành hông. Ông đành nuốt giận, bây giờ là lúc ông trừng phạt. Nhưng bấy giờ chúa nước Tây-hạ đã băng rồi. Thái-tử lên kế vị. Tân quân là một thiếu niên anh hùng. Biết rằng trước sau gì Mông-cổ cũng đem quân đánh mình. Ông ra sức chiêu mộ tàn quân của Nãi-man, Tây-Liêu, Khắc-liệt, Kim, Tống... thành lập đạo quân 50 vạn người. Nhưng quân ô hợp của ông làm sao địch lại đạo quân thiện chiến, trên đường khải hoàn? Quân Mông-cổ thắng Tây-hạ dễ dàng. Thế nhưng kinh-đô Ninh-hạ quá kiên cố. Bao nhiêu vũ khí phá thành đều vô hiệu. Ông áp dụng phương cách đánh Yên-kinh trước đây: Tiếp tục bao vây, chiếm hết các vùng lân cận để tuyệt đường tiếp tế; chặn đánh viện binh. Ông chia quân làm ba đạo. Đạo thứ nhất tiếp tục vây Ninh-hạ. Đạo thứ nhì trao cho Oa Khoát Đài tiến đánh miền Tây nước Kim, để chặn viện binh. Đạo thứ ba, tiến đánh các nước nhỏ, phiên thuộc Tây-hạ. Còn ông, chính ông dẫn một đạo quân càn quét khắp Tây-hạ, đến tận biên giới Tống, Kim. Kim hoảng sợ, xin nghị hòa, ông không chấp nhận. Kinh-đô Ninh-hạ bị vây lâu, lương thực bị tuyệt, tân quân xin nghị hòa. Bấy giờ Thành-cát Tư-hãn bị bệnh, biết rằng khó qua khỏi, ông hứa bỏ qua mọi chuyện, với điều kiện tân quân thân đến bái kiến. Tân quân tin lời hứa, cùng quần thần đến dinh Mông-cổ tạ tội. Thành-cát Tư-hãn ra lệnh giết sạch. Sau khi giết chúa Tây-hạ được môät ngày thì ông băng vào giờ Tý . Đó là ngày Kỷ Sửu, mùa Thu tháng 7 năm thứ 22 (DL. 1227, Đinh Hợi, Đại-Việt là niên hiệu Kiến-trung thứ 3). Được tôn thụy hiệu là Thái-tổ pháp thiên, khải vận, thánh võ hoàng đế , miếu hiệu là Thái-tổ.

Ghi chú của thuật giả

Thành-cát Tư-hãn sinh ra trên bãi tuyết, dưới tuổi Nam-dương (Capricorne), theo Tử-vi Tây-phương. Trong Bibliothèque orientale nói rằng "Thành-cát Tư-hãn sinh vào năm 1154 sau Thiên-chúa, dưới tuổi Thiên-xứng (Balance). Vì vậy người phương Đông cho rằng ông sinh ra để gây gió bão. Bẩy tinh thể ở trong cung số của ông".
Sử gia Rasid ed-Din thì nói trái lại, ông sinh dưới "Dhul-kade năm 549 lịch Hégire" nghĩa là tháng 1-2 năm 1155 hay Bảo-bình (Verseau).
Thế nhưng theo như khoa Tử-vi Tây-phương, thì trong khoảng thời gian này, trục trái đất đã nghiêng đi, nên các sao đều thay đổi. Sao Nhân-mã (Sagitaire) đi vào địa phận sao Nam-dương (Capricorne). Sao Nam-dương đi vào địa phận sao Bảo-bình (Verseau). Trong tập san Annales chinoises, năm sinh của Thành-cát Tư-hãn lại là năm 1161. Trong tập san Annales Mongoles ông sinh năm 1162, băng vào tuổi 66.
Tập san Journal Asiatique 1939, khám phá ra một văn bản bằng Hoa-văn, dịch từ tiếng Mông-cổ năm 1275, rằng Thành-cát Tư-hãn sinh một trong hai năm Ất-Hợi 1155 hay Đinh-Hợi 1167.
Trong các bộ sách Tử-vi của Trung-hoa, hầu hết khẳng định Thành-cát Tư-hãn sinh ngày 16 tháng 1 năm Ất-Hợi, giờ Dậu. Nếu đúng như vậy, xin lạm bàn về số Tử-vi của ông:
- Tử-vi, Thất-sát thủ mệnh tại Tỵ. Cách là Tử, Sát, Tốn cung, đế huề bảo kiếm. Được Hóa-khoa phò trợ. Đây là loại người có mệnh lớn. Song cách Tử, Sát tại Tỵ là cách của một võ tướng đa sát.
- Được nhập vòng Thái-tuế với các sao: Thái-tuế, Tang-môn, Điếu-khách.
- Cung quan tại Dậu, với hai sao dữ là Liêm-trinh, Phá-quân, lại thêm Thiên-hình miếu địa. Cung quan, hoặc mệnh tại Dậu ngộ Hình là cách của bậc anh hùng.
- Vũ, Tham đóng ở cung tài tại Sửu, ngộ Tang-môn và cả Xương, lẫn Khúc.
Vì không chắc đây là lá số Tư-vi của ông nên thuật giả không giải, e có chỗ gượng ép.
Về ngày băng hà của Thành-cát Tư-hãn, rất rõ ràng.
- Vào lúc bình minh, ngày 5 tháng 7 năm Đinh-Hợi.
- Ngày 18 tháng 8 lịch Julien.
- Ngày 15 tháng 9 lịch cũ La-mã, dùng vào thời trung cổ.
- Ngày 4 ramada 624 lịch Hégine.
- Năm thứ 19 của Chương thứ 23, kể từ thời vua Hoàng-Đế.
- Cuối tháng giêng Thour năm Égyptien.
- Tháng mưa thứ nhì năm Ấn-độ.
- Mùa trăng trồng lúa của Nhật-bản.
- Mùa trăng lúa mì của tộc Phổ.
- Tháng thứ 5 kể từ Nauruz Ba-tư.
- Tháng thứ 5 của năm Manichéren.
- Tháng thứ 5 của Slave.
- Tháng Arahsamnu của lịch Assyrio-babylone.
- Ngày thứ 151 của lịch Mazdéen.
- Năm thứ 151 của lịch Atisa Tây-tạng.
- Ngày 17 tháng 9 Tlaxochimaque lịch Aztèque.
- Ngày 14 tháng 2 lịch Maya năm 4340.
- Năm thứ 3372 lịch Thần-Nông Trung-quốc.
- Năm thứ 1980 Ab Urbe Condita.
- Năm thứ 1265 của Tây-ban-nha.
- Năm thứ 943 của Dioclétien.
- Ngày thứ 10 cuối năm 943 lịch Éthiopienne.
- Ngày thứ 74 cuối năm Celtre.


Nhân-Huệ vương hừ một tiếng :
- Như vậy, bất cứ nước nào quy phục Mông-cổ, cũng đều phải tuân thủ lệnh của vua họ. Họ bắt đem quân đi đỡ tên cho quân họ. Họ bắt chở lương tiếp tế cho họ. Nhất nhất phải răm rắp tuân hành. Hễ chống đối là họ đem quân tàn phá. Lại nữa phàm là vua, là chúa đừng bao giờ nghe lời hứa của họ mà đem thân đến chầu, để rồi bị giết như vua Tây-hạ. Còn như bây giờ Đại-Việt ta mà khuất phục họ, thì họ bắt đem quân, đem lương theo họ đánh Tống ! Chư vị nghĩ sao ? Họ như đá, ta như trứng. Liệu nên chống hay nên hàng ?
Nguyên-Phong hoàng đế hướng quần thần, hỏi lớn:
- Ta có nên khuất phục để được yên thân không ?
Tất cả cử toạ đều trả lời.
- Không !
Thái-sư Trần Thủ-Độ cương quyết :
- Khuất phục họ, thì vua của ta không còn là vua nữa, mà là một tên bù nhìn. Quan của ta không còn là quan nữa, mà là những tên tay sai. Dân của ta sẽ phải khốn khổ phục dịch cho họ. Vì vậy, chỉ có một đường duy nhất là chiến. Thắng thì đất nước của ta còn. Bại thì cũng đến khốn khổ như quy phục họ.
Từ lâu trong hoàng tộc, trong triều, bề ngoài vì sợ hãi, ai cũng tỏ ra có thái độ kính trọng Thái-sư Thủ-Độ. Nhưng trong lòng họ bất phục ông vì thất học, vì ông thiếu đạo đức. Bây giờ trước một biến cố nguy nan của đất nước, ông bầy tỏ khí phách, hơn nữa trình bầy lý luận chính xác. Trong khoảnh khắc đó, trong lòng họ nảy ra niềm kính phục.
Thủ-Độ hỏi Tử-An :
- Ai kế vị Thành-cát Tư-hãn ?
- Thưa là Oa Khoát Đài.
- Thế còn bọn Truật Xích, Sát Hợp Đài, Đà Lôi ? Chúng được phong làm vua ở những vùng nào ?
Tử-An chỉ lên bản đồ :
- Khi Thành-cát Tư-hãn băng thì Truật Xích chết rồi. Y chết vì bệnh. Con của y là Bạt-Đô lĩnh hãn địa phía Bắc, phía Tây rặng núi Altai, tới nơi nào mà vó ngựa Mông-cổ còn tới được. Sát Hợp Đài lĩnh nước Thổ-phồn, Tây-Liêu, Tây-vực (Kwharesm tức Hoa Thích Tử Mô). Oa Khoát Đài lĩnh xứ Tây-hạ, Kim, Cao-ly, Liêu-Đông và các nước và phía Đông. Đà Lôi lĩnh phần đất tổ, tức vùng Thảo-nguyên, bây giờ là Mông-cổ.
- Được rồi, em tiếp đi.
Thái-sư Thủ-Độ nhắc: Phần này rất quan trọng. Em thuật ti mỉ một chút.
- Tuy Thành-cát Tư-hãn chỉ định Oa Khoát Đài kế tục, song từ xưa đến giờ, việc tôn đại hãn phải phải do một đại hội quý tộc bầu lên, thì mới được coi là chính thức. Cho nên niên hiệu Kiến-trung thứ 4 (DL.1228, Mậu Tý), Mông-cổ tổ chức đại hội quý tộc, để hợp thức hóa Oa Khoát Đài. Về niên hiệu, thì bắt đầu kể từ năm Kỷ Sửu (DL1229) là niên hiệu Nguyên Thái-tông nguyên niên. Lên ngôi vua rồi, Oa Khoát Đài tiếp tục thi hành di chúc của Thành-cát Tư-hãn. Di chúc này có hai phần: Một là tiếp tục chinh phục các xứ về phương Tây, cho đến tận cùng của chân trời. Hai là chiếm Kim, Tống và các nước phương Đông. Năm Nguyên Thái-tông thứ tư (DL.1232, Nhâm Thìn, bên Đại-Việt là niên hiệu Kiến-trung thứ 8). Oa Khoát Đài và Đà Lôi liên minh với Tống, tấn công vào Hà-Nam. Tháng 3, Tốc Bất Đài chiếm Biện-kinh (Khai-phong). Kim Ai-tông chạy về Quy-đức rồi lại bỏ Quy-đức chạy về Thái-châu. Phía Tống, sai Chinh-viễn đại tướng quân Mạnh Hồng đem quân giúp Mông-cổ vây Thái-châu. Năm Nguyên Thái-tông thứ 6 (DL.1234, Giáp Ngo, bên Đại-Việt là niên hiệu Thiên-ứng chính bình thứ ba đời vua Thái-tông), Thái-châu thất thủ. Kim Ai-tông tự tử ở hành lang U-lan. Triều đại Kim hoàn toàn mất từ đây.
Thủ-Độ hỏi:
- Chú Tử-An! Thời Thành-cát Tư-hãn nghị kế đánh Kim. Người đầu tiên đưa ra ý kiến rằng muốn thắng Kim, cần liên binh với Tống là tôi. Thành-cát Tư-hãn nhờ phụ thân tôi với kế mẫu Thúy-Thúy đi sứ Tống. Hai bên giao kết: Mông-cổ sẽ nhường cho Tống phục hồi ba cố đô là: Đông-kinh tức Khai-phong, Tây-kinh tức Lạc-dương, Nam-kinh tức Úng-thiên hay Thương-khâu. Vậy sau đó Mông-cổ có giữ lời hứa không?
- Không! Tống theo điều ước, tiến binh lấy đất cũ. Nhưng Mông-cổ tháo nước sông Hoàng-hà làm quân Tống bị chết đuối. Thế là chẳng những Tống không thu được đất cũ, mà còn bị phản bội. Hai năm sau, năm thứ 8 (1236) Oa Khoát Đài khai chiến vơí Tống. Đạo thứ nhất do đệ nhị vương tử Khoát-Đan (Kha-Đan=Qadan) tiến quân vào vùng Tứ-xuyên, đánh Thành-đô. Đạo thứ nhì do đệ tam hoàng tử Khúc-Xuất (Ku-Tru=Kueu) và tướng Hồ Thổ Hổ (Tê-mu-tai=Tamutai) đánh chiếm Tương-dương. Một đạo do thân vương Khẩu Ôn Bất Hóa (Kun Bu Kha=Kun Buqa) và tướng Trà-Can (Tragan) tiến đánh Hán-khẩu. Qua những lần Mông-cổ đánh Kim, người Hán đã nhận rõ được rằng quân Mông-cổ không giống quân Liêu, Kim; chỉ lo chiếm đất, tổ chức cai trị. Mông-cổ đi đến đâu tàn sát, hủy diệt đến đó. Vì vậy dân chúng cùng đứng lên liều chết chống giặc, còn hơn để giặc giết. Vì vậy Mông-cổ bị chặn lại ở khắp nơi. Trong 4 năm liền, không chiếm nổi Tương-dương.
Quản Khu-mật viện Chu Mạnh Nhu hỏi:
- Thưa thế tử, như tin Khu-mật viện thu được qua các thương nhân Hồi, thì dường như mới đây, bên Mông-cổ cũng có nạn gà mái gáy. Sự thực như thế nào?
- À, vấn đề như thế này. Năm Nguyên Thái-tông thứ 13 (DL.1241,Tân Sửu, bên Đại-Việt là niên hiệu Thiên-ứng chính bình thứ 10), Oa Khoát Đài băng, thụy hiệu Anh-văn hoàng đế, miếu hiệu Thái-tông. Năm này thân vương Sát Hợp Đài cũng hoăng. Vợ Oa Khoát Đài là Lục hoàng hậu tức Nãi Mã Trân (Tô Rê Ghê Nê= Toragana) chuyên quyền, không tổ chức đại hội quý tộc, để cử người thay thế, cũng không trao quyền cho con là Quý-Do ( Gu-y-uc=Guyuk). Mặc dầu Quý-Do từng cầm quân Tây-chinh. Mãi tới năm Bính-Ngọ (DL.1246, Đại-Việt là niên hiệu Thiên-ứng chính bình thứ 15), trước áp lực của đám con cháu Truật Xích, Đà Lôi, Lục hậu mới chịu tổ chức đại hội quý tộc. Đại hội bầu Quý-Do lên làm đại hãn. Vì tuy Quý-Do lên ngôi, nhưng Lục hậu vẫn cầm quyền, nên con của Truật Xích là Bạt Đô chống lại Qúy Do, không thừa nhận, và cũng không tuyên thệ. Năm Mậu Thân (DL.1248, Đại-Việt là niên hiệu Thiên-ứng chính bình thứ 17) Quý Do mang quân đánh Bạt Đô, nhưng vừa khởi binh thì băng. Thụy hiệu là Giản-bình hoàng đế, miếu hiệu Túc-tông. Bọn con cháu Truật Xích, Đà Lôi chống lại bọn con cháu Oa Khoát Đài, Sát Hợp Đài. Trong đại hội quý tộc Tân Hợi (DL.1251, Đại-Việt là niên hiệu Nguyên-phong nguyên niên đơì vua Trần Thái-tông), dưới áp lực của con cháu Truật Xích, Đà Lôi, con của Đà Lôi là Mông Kha (Mongka) được cử làm đại hãn.
Thái-tử Hoảng hỏi Tử-An:
- Thưa tướng quân! Từ lúc Mông-Kha lên ngôi đại hãn, ông ta có tiếp tục con đường của Nguyên Thái-tông hay không?
Tử-An gật đầu:
- Không những tiếp tục, mà còn thúc đẩy mạnh hơn nữa. Để làm kế lâu dài, năm thứ 2 (DL.1252) y cho thiết lập hệ thống đồn điền, thành lũy của Mông-cổ dài từ Hán-thủy đến Hoài-thủy. Y sai em ruột là Hốt Tất Liệt (Qubilai) đánh chiếm Vân-Nam. Năm thứ 3, Hốt Tất Liệt cùng tướng Ngột-lương Hợp-thai (Uriyangqadai) vượt sông Kim-sa đánh chiếm thủ đô nước Đại-lý. Vua Đại-lý là Đoàn Hưng-Trí bỏ trốn. Năm thứ tư (1254) Hốt Tất Liệt trở về Bắc, để Ngột-lương Hợp-thai ở lại tiếp tục việc đánh Đại-lý. Đoàn Hưng-Trí bị bắt ở Thiện-xiển (Côn-minh ngày nay). Y đầu hàng Mông-cổ. Cho đến nay, toàn bộ vùng Tứ-xuyên, Đại-lý đều bị Mông-cổ chinh phục.
Tuyên-minh hoàng thái hậu mỉm cười hỏi Thái-sư Thủ-Độ:
- Già này nghe nói, hồi ở Mông-cổ, cháu đã kết bạn với Hốt Tất Liệt, Ngột-lương Hợp-thai, Bạt Đô, A-lý Hải-nha, được Thành-cát Tư-hãn gọi là Thảo-nguyên ngũ thiết điêu. Tình bạn thắm thiết lắm phải không? Bây giờ Hốt Tất Liệt làm Bình-Nam đại nguyên soai, Ngột-lương Hợp-thai làm Chinh-Nam đại tướng quân, Bạt Đô làm Chinh-Tây đại nguyên soái đánh Ba-tư, Nga-la-tư. A-lý Hải-nha coi Khu-mật viện Mông-cổ. Vậy cháu có thể vì tình bạn, sai sứ bảo chúng đừng đánh Đại-Việt được không?
Biết đây là lời nói đùa của bà bác mình, ngụ ý chế diễu việc Thủ-Độ định đem phong tục Thảo-nguyên vào Đại-Việt. Mặt Thủ-Độ đỏ như gấc, ông biện luận:
- Tâu Thái-hoàng thái hậu! Song thân thần trong lúc phẫn chí với triều Lý, mà tìm đến Mông-cổ, rồi giúp họ, để báo đáp tình bạn. Thần được nuôi, lớn lên ở Mông-cổ, rồi kết bạn với những người cùng tuổi là lẽ thường. Thái hậu minh xét, bọn thần là người ngoại quốc, mà bọn Thảo-nguyên ngũ điêu đối xử với thần bằng tất cả tình bạn chân thành. Trong khi đó thì bọn Long-Sảm, Long-Thẩm với thần là con cô con cậu, mà chúng hành hạ thần còn hơn thú vật. Còn như Thái-hậu dạy thần viết thư cho Hốt Tất Liệt, Ngột-lương Hợp-thai bảo chúng đừng đánh ta, thì quả thực thần không làm nổi. Bởi bọn Mông-cổ có chủ đạo rõ ràng: Tình bạn là tình bạn. Tình anh em là tình anh em. Còn khi bàn đến quốc sự, thì không kể tới. Như Tử-An thuật, chính anh em ruột thịt nhà họ, mà vì tranh quyền, họ còn giết nhau, huống hồ là tình bạn.
Nguyên-Phong hoàng đế hỏi:
- Thưa Thái-sư, theo như Tử-An báo thì Ngột-lương Hợp-thai có 5 vạn Lôi-kỵ. Trong khi đó bọn lái buôn lại nói là có 60 vạn. Sự thực ra sao?
Thủ-Độ tâu với nhà vua:
- Theo như Tử-An thuật, thì Ngột-lương Hợp-thai có 5 vạn quân, thêm quân của Đoàn Hưng-Trí khoảng 5 vạn nữa. Cộng chung 10 vạn. Theo binh chế Mông-cổ, cứ một chiến binh thì có 5 lao binh giữ nhiệm vụ chăn ngựa, tắm ngựa, giặt quần áo, nấu ăn, vác tên, chuyên chở lương thảo. Bọn này còn có nhiệm vụ trấn thủ thành trì mà bọn chính binh chiếm được. Như thế tổng cộng chúng có 50 vạn lao binh nữa. Bọn này đa số là người Di ở Đại-lý, người Hán ở Tứ-xuyên, chúng ô hợp, không trung thành. Bọn này ta không đáng cho ta sợ.
Nguyên-Phong hoàng đế đứng dậy, ngài đưa mắt nhìn cử tọa một lượt, rồi hỏi:
- Chư khanh hãy suy nghĩ xem. Nếu như bọn Mông-cổ đánh ta. Ta phải nghinh chiến bằng cách nào? Hay ta chịu nhún, mở đường cho chúng đánh Tống, tiếp tế lương thảo cho chúng để được yên thân.
Cử tọa im lặng cúi đầu suy nghĩ. Một khắc, rồi hai khắc trôi qua. Nhà vua hỏi Thái-sư Thủ-Độ :
- Trước khi nghị kế chống giặc, xin Thái-sư cho triều đình biết bằng cách nào, Mông-cổ lại có thể thắng các nước phương Tây, Tây-hạ dễ dàng ? Họ đâu có nhiều mưu, lắm Mẹo ? Họ đâu có mưu thần chước thánh ?
Thủ-Độ đưa mắt cho Tử-An :
- Em hãy tâu trình tổ chức của quân Mông-cổ lên Hoàng-thượng.
- Vâng.
Tử-An thuật :
- Đầu tiên Mông-cổ chỉ có kỵ binh, thường gọi là Lôi-kỵ. Sau này thêm công binh, pháo binh. Pháo binh gồm máy bắn đá, Lôi-tiễn . Máy bắn đá họ học của Tây-hạ, Trung-quốc. Lôi-tiễn do Phò-mã Trần Thủ-Huy mang sang dậy họ. Sau khi đánh Trung-quốc, các nước phương Tây, họ học thêm kỹ thuật các nước này, biến chế Lôi-tiễn đi rất nhiều. Tầm bắn xa, mũi Lôi-tiễn lớn hơn, sức công phá cũng mạnh hơn. Khuyết điểm của Lôi-tiễn này là nặng nề, cồng kềnh, khi phản ứng chậm, khó tìm được chỗ đặt. Công binh là quân bắc cầu, làm đường, phá thành, xây thành, sản xuất cung tên, vũ khí.
Ông ngừng lại, đưa mắt nhìn cử tọa một lượt, để cho mọi người theo kịp rồi tiếp :
- Về tổ chức : Cứ mười người gọi là Thập-phu. Mười Thập-phu là một Bách-phu. Mười Bách-phu là một Thiên-phu. Mười Thiên-phu là một Vạn-phu. Vạn-phu là một đơn vị biệt lập. Sáu Vạn-phu Lôi-kỵ, một Vạn-phu Pháo-binh, một Vạn-phu công-binh thành một Binh-đoàn. Pháo-binh, Công-binh hầu hết là người Trung-quốc, Tây-hạ, Tây-vực (Kwharesme). Lôi-kỵ thì hầu hết là dân vùng Thảo-nguyên. Con trai vùng Thảo-nguyên, từ sáu tuổi đã đi học. Họ không học chữ, mà học cỡi ngựa, bắn cung. Đến 12-13 tuổi thì xung vào những đoàn thân binh, được theo Lôi-kỵ ra trận, được huấn luyện trực tiếp tại trận. Khi một Lôi-kỵ tử trận, thì tuyển thân binh ưu tú thay thế. Trong các Lôi-kỵ người nào có sức khỏe, thông minh, nhanh nhẹn, bắn cung giỏi sẽ được tuyển chọn nhập trường huấn luyện trong 6 tháng rồi được phong làm Thập-phu trưởng. Muốn thành Bách-phu trưởng, phải là Thập-phu trưởng có công trạng, hay giỏi, rồi được tuyển chọn, gửi đi học một khóa 6 tháng. Cón muốn thành Thiên-phu trưởng, các Bách-phu trưởng phải hội đủ điều kiện sau : Khỏe mạnh, tiễn thủ ưu tú, kỵ mã giỏi, có công trạng, rồi cũng phải qua một thời gian huấn luyện là 8 tháng. Còn như Vạn-phu, thì phải là con Thân-vương, Đại-hãn các nước. Thảng hoặc mới có người ngoài được bổ nhiệm và chức này.
Nhà vua hỏi :
- Chư khanh thấy sao ?
Hưng-Đạo hỏi :
- Như vậy quân Mông-cổ đặt căn bản trên sự nhanh chóng, vũ dũng dàn trận, nghĩa là dùng trường binh. Họ không chú ý đến kỳ binh, mưu kế, phục binh, hỏa công, thủy chiến. Họ chuyên dàn trận, ào ạt tấn công địch. Có phải thế không ?
- Vâng !
- Còn Pháo-binh của họ, họ không có Nỏ-thần như ta. Với địa thế của ta, chỗ nào đất cũng lún, đường xá nhỏ hẹp, rất khó vận chuyển xe bắn đá. Cũng rất khó tìm chỗ đặt Lôi-tiễn. Còn Lôi-tiễn của ta, tuy nhỏ, nhưng tầm bắn xa ngang với họ. Mỗi Lôi-tiễn chỉ cần một người mang cũng được. Tôi chắc địa thế các nước phương Tây với Bắc Trung-quốc có nhiều cánh đồng rộng đất khô. Khi giao chiến họ dàn binh thành trận thế. Nên bị sức mạnh kỵ mã đè bẹp. Có đúng vậy không ?
Thái-sư Thủ-Độ cũng như Tử-An cùng đưa mắt nhìn nhau, tỏ ý khâm phục ý kiến của Hưng-Đạo vương.
- Quả như vương gia luận.
Tử-An đáp :
Chính vì vậy họ thắng các nước phương Tây, Tây-hạ, Đại-kim dễ dàng. Lần đầu tiên Thành-cát Tư-hãn đem quân đánh Tây-hạ, gặp thành Ninh-hạ, hào sâu, tường cao, Lôi-kỵ hóa vô dụng. Bấy giờ ông mới chú ý thành lập Công-binh, Pháo-binh để phá thành.
Chiêu-Minh vương hỏi :
- Thế Lôi-kỵ dùng những vũ khí gì ?
- Lôi-kỵ được trang bị rất đầy đủ. Mỗi người có hai hay ba chiến mã. Họ được cấp ít nhất ba lao binh phụ trách tắm ngựa, cắt cỏ nuôi ngựa, mang y phục, dụng cụ, vũ khí, nấu ăn, dựng lều. Về vũ khí, mỗi Lôi-kỵ được trang bị một mã tấu, một chùy sắt, một câu liêm. Cánh tay trái có một đoản đao, cài trong vòng da. Trên lưng ngựa của họ, dắt một hoặc nhiều phi lao ngắn, dài khác nhau ; một cái giây thoòng loọng. Nhưng vũ khí chính của họ là cung tên.
Thái-sư Thủ-Độ tâu :
- Xin Bệ-hạ cùng chư vị đại thần ra sân, rồi cho phép Tử-An triệu hồi một Thập-phu Lôi-kỵ vào, để thấy rõ vũ khí, cung tên của họ.
Nhà vua chuẩn tấu.
Tử-An ra ngoài thành một lát, rồi ông trở vào với một Thập-phu. Viên Thập-phu trưởng dàn mười người dưới quyền ra thành hàng ngang. Điều đầu tiên đập vào mắt các đại thần là ngựa Mông-cổ, lông lá xù xì, trông không đẹp mắt tý nào cả. Đã vậy chân chúng to lớn hơn chân ngựa Việt. Nhưng to lớn, khỏe mạnh.
Tử-An cầm một cây cung đưa ra :
- Cung của Mông-cổ do Phò-mã Trần Thủ-Huy mang mẫu từ Đại-Việt qua. Cung có ba khúc uốn. Dây cung bằng gân thú. Khác một điều là người Mông-cổ to lớn hơn người Việt, vì vậy cây cung cũng cứng hơn nhiều. Mũi tên to hơn nhiều, và bắn xa hơn nhiều.
Ông đưa ra ba ống đựng tên :
- Mỗi Lôi-kỵ đều có ba túi đựng tên : Tên bắn thủng áo giáp, tên tẩm thuốc độc và tên lửa.
Ông chỉ vào bọn Lôi-kỵ :
- Y phục Lôi-kỵ cũng phỏng theo đội võ sĩ Côi-sơn của ta xưa : Lúc ở nhà thì đầu đội mũ bằng tơ, khi ra trận thì đội mũ bằng đồng, bên trong là lớp bằng tơ. Mình cũng mặc ao lót tơ dầy, phòng khi bị trúng tên thì tên không xuyên sâu vào thịt. Bên ngoài khoác áo giáp bằng nhiều mảnh thép ghép lại với nhau.
Thái-sư Thủ-Độ lấy cây cung của Lôi-kỵ, rồi gọi một Thị-vệ :
- Người dương thử coi nào ?
Viên Thị-vệ cầm cung, nắp tên dương lên. Nhưng cung cứng quá. Y nghiến răng dương lần nữa, nhưng cũng không được. Y trả lại cho viên Lôi-kỵ. Viên Lôi-kỵ dương lên thực dễ dàng.
- Như vậy cũng đủ rồi.
Thái-sư Thủ-Độ nói :
- Chúng ta vào trong nghị sự tiếp:
Tiếp lời Tử-An, Thái-sư Trần Thủ-Độ trình bầy tỷ mỷ chiến thuật mà quân Mông-cổ thường dùng (Xin xem các hồi trước).
Trên gương mặt cử tọa đều hiện ra vẻ lo âu. Trong tâm người nào cũng nghĩ : Với những chiến mã hùng vĩ như vậy, với những Lôi-kỵ thiện chiến, được trang bị như vậy, thì sao binh Đại-Việt có thể đương nổi ?
Nguyên-Phong hoàng đế cũng tỏ ra lo sợ :
- Chúng ta phải nghênh chiến cách nào ?
Vũ-Uy vương (Con thứ vua) tâu:
- Theo như thần nhi nghĩ, ta nên chỉnh bị binh mã, dàn ra tại biên giới. Ta chặn giặc tại biên giới dễ hơn là đợi giặc vào nước. Ta lại đóng thực nhiều đồn trên đường dẫn về Thăng-long. Giặc muốn vào, thì phải nhổ từng đồn, hao binh, tổn tướng, mất nhiều thời gian. Khi chúng vào đến trung châu thì mệt mỏi rồi. Ta chỉ đánh một trận thì phá được.
Chiêu-Minh vương Quang-Khải bác:
- Không ổn! Bởi quân Mông-cổ là quân kỵ. Ta mà dàn quân chống với chúng, thì chỉ cần một khắc, chúng phá tan trận của ta ngay. Còn các đồn ư? Kinh nghiệm việc Mông-cổ đánh Kim, chúng sẽ bỏ rơi các đồn, mà tiếp tục tiến binh. Từ biên giới về Thăng-long chúng chỉ mất có hai giờ sức ngựa là cùng. Hoặc nếu cần, chúng dùng mấy bắn đá thì chỉ một giờ là quân giữ đồn nát thây ra hết.
Thái-úy Khâm-Thiên đại vương Trần Nhật-Hiệu (em vua) tâu:
- Chúng ta có nên áp dụng chiến lược hồi Lý đã đánh Tống không? Nghĩa là ta tìm giặc mà đánh, còn hơn là ngồi chờ giặc! Ta đem quân vượt biên đánh chúng trước.
Hưng-Ninh vương Quốc-Tung bác:
- So sánh tình hình của ta với Mông-cổ hiện thời khác xa với hoàn cảnh của Lý với Tống. Vì sao? Bấy giờ Tống không có trọng binh ở Nam-thùy. Trong khi Lý có binh hùng tướng mạnh. Tống thì không ngờ ta xuất quân, trong khi Lý đã chỉnh bị sẵn. Còn bây giờ, quân Mông-cổ như hùm, như gấu đang chờ lệnh tràn vào nước ta. Còn ta chưa chỉnh bị xong binh mã. Không thể đem việc Lý-Tống ra áp dụng với hoàn cảnh ngày nay.
Thái-sư Thủ-Độ gõ tay lên án thư. Cử tọa im phăng phắc:
- Ta hiện có 12 hiệu Thiên-tử binh. Một hiệu Kỵ-binh Phù-Đổng, một hiệu Ngưu-binh Hoa-lư. Tổng cộng là 12 vạn người. Quân của ta hầu hết là bộ binh, chưa từng chiến đấu. Tướng của ta chưa từng xuất trận. Trong khi giặc có 10 vạn, mà 5 vạn kỵ binh thiện chiến. Hồi đánh Tây-vực, vua Tây-vực có 40 vạn quân thiện chiến, thế mà Tốc Bất Đài, Triết Biệt chỉ có ba vạn quân, mà dám truy kích vua Hồi khắp lãnh thổ bao la của họ.
Vũ-Thành vương cười khẩy :
- Binh của triều đình do Thái-sư tổng chỉ huy thì thế, chứ quân Ngũ-yên của chúng tôi thì không thế. Bốn hạm đội của chúng tôi trước đây vẫn mạnh hơn hạm đội Liêu-Đông của Mông-cổ. Hiện đang mạnh hơn, và sẽ mạnh hơn. Còn Kỵ-binh, Ngưu-binh, bộ binh chủa chúng tôi ngày đêm luyện tập...Chúng tôi không sợ chúng.
Mặt Thủ-Độ tái mét. Ông đưa mắt nhìn phái đoàn Ngũ-yên:
- Hoàn cảnh của ta bây giờ, điều cần thiết để ngăn được giặc có ba. Một là vua với dân có cùng sát cánh bên nhau hay không? Hai là các môn phái có bỏ hết tỵ hiềm ra rồi cùng rút gươm đuổi giặc như như hồi vua Lê đánh Tống không? Ba là, ngăn giặc thì không khó. Khó là vua, tôi; anh, em có đồng lòng với nhau hay không?
Vũ-Thành vương Doãn nói mỉa:
- Anh em trong nhà, cùng một dòng máu, thế nhưng người có quyền, có lực thì làm nhục, áp chế người không quyền, thiếu lực. Rồi bây giờ, giặc tới biên thùy lại bảo anh, em; vua, tôi phải đồng lòng. Khi thích thì gây ra tội ác, bây giờ gặp nguy nan, thì lại bảo nạn nhân lăn mình vào chỗ chết. Hừ! Bàn sao nghe lạ tai quá. Xin Thái-sư hãy sờ tay lên gáy, rồi nhìn bàn tay mình xem có sạch hay không?
Hưng-Ninh vương cầm tay em :
- Thôi chú ! Chúng ta đang bàn quốc sự. Chú chẳng nên gay gắt làm gì !
Thủ-Độ đập tay lên án thư:
- Doãn! Người nên nhớ ta là vai ông người. Người không được nói móc ta. Im miệng ngay.
- Thưa Thái-sư!
Vũ-Thành vương cười nhạt:
- Chúng ta đang ở điện Uy-viễn, luận quốc sự cứu nước. Ở đây ai cũng có quyền phát biểu ý kiến của mình. Lời phát biểu của tôi, là đại diện cho năm vùng Yên. Là biểu lộ mối lo lắng của dân chúng cũng như của bốn hạm đội, năm hiệu binh. Nếu Thái-sư cả vú lấp miệng em, thì xin Thái-sư cứ một mình một kiếm lên biên giới mà chống giặc.
Không khí trở thành căng thẳng tột độ.
Hưng-Nhân vương phi Kim-Ngân là thái tổ cô, bà ngang vai với Nguyên-tổ Trần Lý, tức vai cụ của Vũ-Thành vương. Bà từng là sư phụ của vương. Bà bỏ chỗ ngồi, chạy lại nắm tay vương:
- Con! Con có tin rằng ta yêu con không?
- Dạ! Con tin.
- Vậy trong buổi họp này, con phải bỏ hết tỵ hiềm ra, thì mới mong cứu được đất nước khỏi cơn bão táp.
Buổi họp trở thành bế tắc. Người người cùng nhìn Hưng-Đạo vương, như đặt tất cả hy vọng vào vương. Vương trầm tư một lúc rồi nói:
- Muốn cứu được nước phen này, thì vũ khí quan trọng nhất là nhân tâm. Bàn cho phải, đem quân vượt biên tấn công giặc trước. Dàn binh, đóng đồn ngăn giặc...Tất cả đều có ưu điểm, nhưng không phải là toàn hảo. Muốn thắng giặc, ta phải biết giặc, ta phải biết ta. Trước hết là biết giặc. Vậy giặc có ưu điểm gì? Khuyết điểm gì?
Cử tọa im phăng phắc.
Tiếng Hưng-Đạo vương vẫn trầm mà trong:
- Ưu điểm của giặc là kỵ binh di chuyển nhanh chóng. Chúng xông vào phá trận ta dễ dàng. Mông-cổ vốn giỏi bắn cung. Chúng lại thiện chiến. Vậy ta phải làm cách nào phá ưu điểm của chúng. Kỵ binh sợ nhất gì? Một là gặp rừng, hai là gặp đồng lầy. Từ biên giới về Thăng-long, đường đi quá hẹp, toàn là rừng, đồng lầy. Thiên nhiên đã giúp ta cản giặc. Chúng di chuyển nhanh chóng, thì dọc đường ta dùng chướng ngại vật, đào hố đặt chông. Chúng giỏi phá trận, thì tuyệt đối ta không dàn trận đối địch với chúng. Chúng giỏi bắn cung thì ta nương vào rừng rậm mà tấn công chúng. Cái hùng mạnh ghê gớm của chúng là chiến mã dẻo dai, vũ dũng ; là tên bắn xa, lực đạo mạnh, rất chính xác. Vậy ta phải dùng ba thứ vũ khí chống được chúng. Một là huấn luyện binh sĩ môn võ công Giải-công.
Tử-An hỏi :
- Thưa vương gia Giải-công là gì vậy ?
- Giải là con cua. Binh sĩ lăn dưới đất như cua, chặt chân ngựa. Môn võ công này gốc từ Bố-cái đại vương. Ít lâu nay, võ lâm không mấy người chịu luyện. Tuy vậy chưa truyệt tích. Ta có thể luyện tập cho binh sĩ được.
Cử tọa đều gật đầu công nhận lý của vương là đúng.
- Vũ khí thứ nhì là dùng Địa-thằng. Thằng là giây, tức dùng trận địa giây. Trận địa giây có ba loại là Đơn-thằng, Trung-thằng, và Vạn-thằng. Đơn-thằng gồm một sợi giây. Một đầu móc vào viên chì hay sắt. Một đầu kia nối với cái lưới dây từ năm tới mười mắt. Khi xuất trận, binh sĩ lăn dưới đất vung giây, quả chì trúng chân ngựa, cuốn lấy chân ngựa. Ngựa sẽ bị ngã. Hoặc tung đầu kia ra. Ngựa dẵm phải lưới giây, bị vường, bị ngã.
Thái-sư Thủ-Độ bật lên tiếng than :
- Á chà ! Lợi hại thực. Tại sao mười mấy nước phương Tây, tại sao Kim, Liêu, Hạ, Tống không nghĩ ra được chiến pháp này nhỉ ? Bằng không thì Mông-cổ đâu có tung hoành mấy chục năm nay ? Thế còn Trung-thằng ?
- Trung-thằng, gồm những lưới giây từ năm chục tới một trăm mắt, dùng để chống Thập-phu, Bách-phu, hoặc trong vùng địa thế nhỏ hẹp, trên đường đi. Trong khi giao chiến, hoặc là ta giả lùi, hoặc ta bị yếu thế lùi lại, thình lình tung Trung-thằng ra, Lôi-kỵ không kịp ngừng , chân ngựa sẽ bị vướng lưới, ngã ngay. Bấy giờ quân ta quay lại chém giết. Còn Vạn-thằng là trận địa giây lớn, chăng sẵn dưới đất, giây ẩn dưới cỏ. Khi giao chiến, thình lình ta lùi, Lôi-kỵ xung lên, chân ngựa mắc giây. Ta quay trở lại mà chém giết.
Tử-An suýt xoa :
- Từ lúc sáu tuổi, tôi được huấn luyện thành kỵ mã, rồi Lôi-kỵ, rồi thành tướng Mông-cổ. Từng sung sát hằng trăm trận, coi binh tướng thiên hạ bằng nửa con mắt. Tuy nhiên nếu có đội quân luyện tinh vi trận địa giây, thì quả thực lúc lâm chiến, tôi sẽ bị thất bại. Đại-Việt ta mau cho binh sĩ luyện tập trận địa giây thì không còn sợ Lôi-kỵ nữa.
Triều đình cùng thở dài nhẹ nhỏm. Nhà vua hỏi :
- Ban nãy vương nói, có ba loại vũ khí chống Lôi-kỵ, thì một là Giải-công hai là Địa-thằng. Thế vũ khí thứ ba là vũ khí gì ?
- Tâu là khiên-mây và đao-quất.
- ? ! ? ! !
- Khiên-mây là một cái khung bằng tre, các mắt lưới đan bằng những sợi mây, gồm hai lớp. Lớp ngoài cách lớp trong khoảng một gang tay. Khi giáp trận, binh sĩ dùng Khiên-mây chống tên địch.
Vũ-Uy vương hỏi :
- Như vậy Khiên-mây cũng giống cái mộc ta vẫn dùng, đâu có khác gì ?
- Khác rất nhiều.
Hưng-Đạo vương giảng giải :
- Mộc bằng gỗ rất nặng nề, phải thợ chuyên nghiệp mới chế được, lại tốn kém. Mộc dùng để chống tên, chống vũ khí tấn công. Còn Khiên-mây thì nhẹ nhàng, dễ chế tạo, ít tốn kém. Khiên-mây chỉ để chống tên của địch mà thôi. Khiên-mây dùng với Đao-quất, thì không sợ Lôi-kỵ nữa. Đao-quất là gì ? Là một cái mã tấu, chuôi mã tấu có sợi giây. Sợi giây dài từ nửa trượng tới một trượng (1m-3m). Đầu kia có viên chì, hay viên sắt. Khi cần thì dùng mã tấu đánh cận chiến. Khi chống Lôi-kỵ thì nấp sau Khiên-mây, tay vung giây, trái quất đập trúng người, trúng ngựa đối phương.
Vương ngừng lại, nói với Tử-An :
- Chúng ta hãy cho Lôi-kỵ thử khiên-mây, đao-quất xem sao.
Triều đình lại ra sân. Hưng-Đạo vương truyền gọi một Lượng (20 người) bộ binh của Ngũ-yên, võ trang khiên-mây, đao-quất vào, rồi cho dàn ra. Vương nói với Tử-An :
- Xin tướng quân cho Thập-phu Lôi-kỵ tấn công thử. Cứ tấn công thực sự.
Vương ra lệnh cho binh Ngũ-yên :
- Chỉ được vung trái quất trúng mũ Lôi-kỵ, chứ không được đánh trúng người, ngựa.
Tử-An hú lên một tiếng dài, Thập-phu Lôi-kỵ từ đầu bên kia sân cùng rú lên, rồi vọt tới hàng binh Ngũ-yên thì dương cung bắn một loạt rồi quay trở về. Tên rít lên vi vu, binh Ngũ-yên dơ Khiên-mây lên che thân, tên đều mắc vào khiên. Nhanh nhẹn, binh Ngũ-yên vung tay, những trái quất sắt bay ra, trúng mũ Lôi-kỵ kêu lên lộp bộp. Một trái không trúng kỵ mã, trúng lưng chiến mã. Con ngựa đau đớn hý lên, phi được bốn bước nữa, ngã lăn ra đất
Triều thần cùng chạy ra xem Khiên-mây, có cái tên mắc vào lớp thứ nhất. Có cái mắc vào lớp thứ nhì. Không có mũi tên nào xuyên qua Khiên cả.
Tử-An chắp thay vái Hưng-Đạo vương :
- Vương gia nghĩ ra được phương pháp này, thì Lôi-kỵ không là bóng quỷ đe dọa ta nữa.
Hưng-Đạo vương tiếp :
- Về khuyết điểm của Mông-cổ có ba. Một là chúng toàn người phương Bắc, sống trong vùng lạnh lẽo đã quen. Bây giờ phải chiến đấu ở vùng thấp nhiệt; người, ngựa đều mất sức. Từ đó dễ sinh ra bệnh. Hai là, với 5 vạn Lôi-kỵ, mỗi Lôi-kỵ có hai đến ba ngựa. Thì khi họ xuống đồng bằng, bùn lầy, ngựa di chuyển khó khăn, lấy đâu ra chỗ thả ngựa? Lấy đâu ra cỏ cho ngựa ăn? Ba là, đánh Kim, Tống, Tây-vực, khi chiếm một thị trấn, họ chỉ cần đánh thành, hạ thành, là họ khống chế được dân chúng. Ngược lại, ta không có những thành kiên cố. Cũng không có quân thủ thành. Ta có cả nước đều là thành. Cả dân đều là binh thủ thành. Họ khó mà thắng nổi ta.
Chiêu-Minh vương thắc mắc:
- Xin vương huynh giải thích rõ, thế nào là cả nước đều là thành? Thế nào là cả dân đều là binh thủ thành?
Chán đời đi lang thang !
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-05-23 19:42:14NuHiepDeThuong>
Hồi thứ bốn mươi lăm


Tiết chế binh mã Đại Việt

Lại nói Chiêu-Minh vương đặt câu hỏi: Thế nào là cả nước đều là thành, toàn dân đều là binh thủ thành.
Câu hỏi của Chiêu-Minh vương cũng là câu hỏi của hầu hết cử tọa. Hưng-Đạo vương nhìn Chiêu-Minh vương, trong ánh mắt chiếu ra tia hiền hòa, nhiệt tình. Vương hỏi Thái-sư Thủ-Độ:
- Thưa Thái-sư! Có phải quan, quân Tống, Kim, Tây-hạ, Thổ-phồn, Tây-vực sống trong những thành trì kiên cố không? Còn dân chúng sống rải rác khắp nơi không?
- Đúng vậy.
- Còn Đại-Việt ta, không có những thành trì lớn. Thế nhưng mỗi làng là một cái thành kiên cố. Chư vị hãy tưởng tượng lại: Mỗi làng, mỗi xã đều nằm giữa một khu đồng lầy. Từ đồng lầy vào làng, trước hết phải qua một cái hào sâu gần trượng, rộng ít ra hai trượng. Dưới hào cắm chông chằng chịt. Tiếp theo là những lũy tre dầy đặc, đến con chó, con mèo chui cũng không lọt. Làng có một đến bốn cổng. Các cổng đều có những ụ lớn. Từ ngoài vào làng chỉ có những con đường nhỏ, một ngựa đi đã chật rồi. Hỏi Lôi-kỵ nào tấn công cho nổi? Vì vậy tôi mới nói cả nước đều là thành.
Cử tọa vỗ tay hoan hô liên tiếp. Vương cất cao giọng:
- Còn như cả nước đều là binh thủ thành. Như trên Thái-sư đã nêu ra ba điều. Nếu như ta thực hiện được điều thứ nhất: Triều đình với dân sát cánh bên nhau thì dân trong các làng, người người, già trẻ, nam nữ cùng cầm vũ khí chống giặc. Họ giữ làng tức là giữ thành. Cả nước đều biến thành binh thủ thành. Thế nhưng tại hương đảng ai là người chỉ huy dân chúng ? Nhất định không phải là lý dịch. Xét những người lãnh đạo các lực lượng thôn xóm, hầu hết họ là đệ tử của các bang, các phái. Vậy muốn được toàn dân chống giặc thì đầu tiên phải được các bang, phái trợ giúp. Thế nhưng muốn được các bang, phái giúp, trước tiên trong nhà ta phải tự giúp nhau. Trong nhà giúp nhau, thì bang, phái mới hưởng ứng. Bang phái hưởng ứng thì dân mới đồng lòng chống giặc.
Hưng-Ninh vương hướng vào cử tọa:
- Trong nhà là ai? Là chúng ta. Vậy trong chúng ta, ai có tỵ hiềm gì với nhau, phải xóa bỏ hết. Phải hy sinh tự ái để giữ vững đất nước, bảo vệ trăm họ.
Chiêu-Minh vương xoa tay vào nhau:
- Trong chúng ta đều có không ít thì nhiều những bất đồng. Song cái bất đồng lớn nhất là Ngũ-yên với triều đình. Triều đình thì sẵn sàng rồi. Còn Ngũ-yên?
Hưng-Ninh vương trả lời thản nhiên:
- Khi hào kiệt Ngũ-yên kéo tất cả về đây, thì cái hố chia rẽ không còn nữa.
Cử tọa vỗ tay hoan hô. Vũ-Thành vương Doãn hỏi Hưng-Đạo vương:
- Anh! Anh quên di chúc của phụ vương trước khi hoăng rồi hay sao? Anh quên rằng hào kiệt theo ta, chỉ vì họ không chấp nhận triều đình bỏ chủ đạo tộc Việt, đem chủ đạo Hung-nô ra bắt dân theo đó sao?
Hưng-Đạo vương bình tĩnh:
- Chú ba! Mông-cổ thắng thiên hạ vì người lãnh đạo biết tổ chức binh bị, họ lại biết khai thác cái tính man rợ thích cướp bóc, hãm hiếp, đốt nhà, giết người của giống dân không văn hóa, không đạo đức, để nuôi tinh thần chiến đấu. Họ chỉ có sức mạnh về kỵ binh. Thế thì những tục lệ, phong hóa của họ sao có thể được tộc Việt ta chấp nhận?
Vương nhìn cử tọa một lượt :
- Trước đây hơn trăm năm, Nhật-Hồ lão nhân từng đem Hồng-thiết giáo vào nước ta, bùng lên một thời, rút cuộc lại tắt ngấm. Nay Thái-sư muốn đem phong tục Thảo-nguyên vào nước ta...có ai theo không? Có ai nghe không? Huống hồ, cách đây ba năm, niên hiệu Nguyên-phong thứ 3 (DL.1253), triều đình đã cho lập Quốc-học viện. Chương trình học, không có một chút nào của Mông-cổ cả. Cũng năm đó, cho đắp tượng Khổng-tử, Chu-công, Á-thánh Mạnh-tử, và vẽ tranh 72 vị tiên hiền. Như vậy cũng đủ tỏ rõ Đại-Việt ta không chấp nhận cái chủ đạo, không hề là chủ đạo của Hung-nô... Nay trong hoàn cảnh đất nước nguy như trứng trồng này. Ta phải hy sinh bản thân, hy sinh nhà mình cho sự nghiệp Xã-tắc.
Vương ngừng lại một chút rồi tiếp:
- Ví thử phụ vương còn tại thế, mà trong hoàn cảnh này, chắc người cũng hành xử như chúng ta. Trước hết lo cứu nước đã. Nước mất, sẽ mất hết. Chú hãy bình tĩnh lại.
Nguyên-Phong hoàng đế hỏi Phụ-quốc thái-úy Khâm-Thiên đại vương:
- Chuyện nhà coi như xong. Bây giờ đến chuyện võ lâm. Trong sáu đại môn phái, thì phái Đông-a, Sài-sơn, Yên-tử tuy ba mà là một. Còn lại ba phái Tiêu-sơn, Mê-linh, Tản-viên, từ khi vua Huệ-tông băng, anh hùng thiên hạ đều đồn rằng Quốc-thượng phụ ám toán ngài. Nên ba phái không giao dịch với triều đình. Theo đệ, ta phải làm gì để giải oan?
Vương trả lời bằng cái lắc đầu.
- Khó! Nhưng không phải là không làm được.
Hưng-Ninh vương bàn: Đại-sư Y-sơn chưởng môn phái Tiêu-sơn, trước đây có thọ ơn của đại hiệp Đặng Kiếm-Anh, chưởng môn phái Tản-viên. Mà đại hiệp Kiếm-Anh lại rất khâm phục Vô-Huyền bồ tát, chưởng môn phái Mê-linh. Vậy triều đình cần cử một người trong hoàng tộc, tới Thần-quang tự, yết kiến Vô-Huyền bồ tát, trình bầy tất cả những nguy cơ mất nước. Xin Bồ-tát vì sự nghiệp của vua Hùng, vua An-Dương, vua Trưng mà rút gươm chống giặc. Nếu như Vô-Huyền bồ tát chịu đứng ra suất lĩnh võ lâm, thì tôi tin rằng không ai dám chống đối.
Nhà vua hỏi quản Khu-mật viện Chu Mạnh-Nhu:
- Chu tiên sinh! Có một điều trẫm hết sức kinh ngạc là Vô-Huyền bồ tát được truyền ngôi chưởng môn đã hơn tháng qua, mà không ai biết tục danh của ngài là gì? Hành trạng ra sao? Cũng không mấy ai biết mặt người. Vậy Khu-mật viện có biết không?
Chu Mạnh-Nhu lột mũ ra tạ tội:
- Thần thực vô dụng. Suốt mấy năm qua, giang hồ truyền tụng rằng phái Mê-linh có ba vị sư thái đạo cao, đức trọng, võ công cao thâm không biết đâu mà lường. Đó là Vô-Huyền, Vô-Ảnh, Vô-Sắc. Thần dùng trăm phương nghìn kế dò la hành trạng của ba vị, mà phái Mê-linh dấu rất kín, không hé lộ một chút căn cước. Vậy thần nghĩ, triều đình cử một thân vương làm chánh sứ, Khu-mật viện cử 10 người thuộc loại kiến thức rộng về võ lâm theo làm bồi sứ. Sứ đoàn đem lễ tới chúc mừng tân chưởng môn. Như vậy ắt Vô-Huyền bồ tát phải thân tiếp sứ. Trong 10 người của ta, ắt có người nhận diện được ngài.
Cuộc họp chấm dứt.
Nguyên-Phong hoàng đế cử con thứ là Chiêu-Minh đại vương làm chánh sứ, dẫn một sứ đoàn 10 người đi Thiên-trường. Sứ đoàn tới Thần-quang tự vào lúc chập choạng tối. Vị ni sư tri khách nghe báo vội ra đón, rồi cung tay tạ lỗi:
- Thưa đại vương, sư tỷ chưởng môn hiện đang du ngoạn trên sông Hồng, có lẽ giờ Thân mới về. Vậy thỉnh đại vương cùng sứ đoàn quá bộ vào chùa chờ đợi.
Chiêu-Minh vương kinh ngạc, nghĩ thầm:
- Một vị bồ tát mà lại ngao du trên sông như văn nhân kể cũng lạ ?
Vương cùng sứ đoàn vào chùa ngồi chờ. Không mất nhiều thời gian, khoảng hai khắc sau, ni sư tri khách chạy ra cung tay:
- A-di-đà Phật! Bè chở sư tỷ chưởng môn sắp về tới. Thỉnh vương gia ra bờ sông đón người.
Chiêu-Minh vương muốn nổi cáu:
- Dù Vô-Huyền là chưởng môn một võ phái lớn chăng nữa, thì cũng chỉ là một ni sư. Ngay đối với một An-vũ sứ, bà cũng phải hành lễ. Thế mà nghe ta là sứ giả triều đình, bà khệnh khạng không chịu trở về thực mau. Còn mụ ni sư này nữa, mụ bảo ta ra đón Vô-Huyền! Thôi, dù sao ta cũng không trách bọn hồ đồ này làm gì. Chẳng qua họ không biết lễ nghi.
Vương cùng 10 bồi sứ ra bờ sông. Từ cuối giòng sông, một chiếc bè lớn, trên bè đèn đốc sáng chưng, với hơn hai chục tay chèo đang từ từ tới gần. Phía trước bè, một đội nữ nhạc đang tấu bản nhạc Thiền êm dịu. Giữa bè, bốn phía quây màn. Trong màn thấp thoáng có bóng người ngồi, song không nhìn rõ mặt. Phía ngoài màn có chín thiếu nữ trang phục như cung nga triều Lý.
Bè ghé mũi vào bờ.
Hai thiếu nữ cực kỳ xinh đẹp trong y phục cung nga, bước ra. Một người lên tiếng :
- Tôi là Bùi Thiệu Hoa, đệ tử của Bồ-tát. Còn đây là sư muội cua tôi tên Trần Ý Ninh. Dám hỏi chư vị đây là thế nào?
Một vị bồi sứ giới thiệu từng người trong sứ đoàn. Thiệu Hoa lui lại, vào trong màn một lát rồi bước ra. Nàng cười tươi như hoa:
- Bồ-tát tuyên chỉ cho một mình Trần Quang-Khải xuống yết kiến. Các bồi sứ phải ở lại trên bờ.
Nghe thiếu nữ nói, cả sứ đoàn cùng kinh ngạc, vì dù võ công cao, địa vị trong võ lâm đến đâu chăng nữa, thì khi nghe sứ giả của hoàng đế đến, Vô-Huyền cũng phải ra đón rồi phủ phục hành đại lễ. Vô-Huyền không tuân thủ nghi lễ đã đành, mà thiếu nữ còn dám gọi tên tục của vương ra, rồi dùng tiếng tuyên chỉ, yết kiến, như đối với một hoàng đế vậy. Tuy nhiên, trước khi khởi hành, phụ hoàng đã ban chỉ cho vương rằng, bằng mọi giá phải gạt bỏ tự ái. Vì vậy vương thản nhiên xuống bè. Dù võ công của vương rất cao thâm, nhưng hai cao thủ ẩn danh làm bồi sứ, có nhiệm vụ bảo vệ vương cũng theo vương nhảy xuống bè. Bè từ từ rời bờ hướng ra gữa sông. Ý Nương lên tiếng :
- Bồ-tát tuyên chỉ, cho một mình Trần Quang-Khải yết kiến mà thôi. Những người khác phải trở lại bờ.
Thiệu Hoa, Ý Nương đứng dậy vung tay phát chưởng hướng hai bồi sứ. Chưởng phong êm dịu không có gió. Hai cao thủ coi thường, không vận công đỡ. Nhưng khi chưởng sắp tới người, cả hai mới giật mình, vì hai thiếu nữ vận âm kình. Hai bồi sứ kinh hoảng vội vận công phát chiêu chống. Nhưng không kịp. Binh, binh hai tiếng, hai bồi sứ bay bổng lên bờ, rồi rơi xuống như họ nhảy lên vậy.
Ý Nương chỉ vào trong màn :
- Cho Trần Quang-Khải vào yết kiến.
Tuy giận cành hông, nhưng Chiêu-Minh vương cũng phải nín nhịn. Vương mở màn bước vào trong. Có tiếng một thiếu nữ :
- Quỳ gối hành đại lễ.
Chiêu-Minh vương nghĩ thầm :
- Ta là một đại vương mà phải hành đại lễ với một mụ ni sư ư? Thôi, đã trót thì trét luôn. Ta cứ coi như mụ Vô-Huyền này là Quan Thế Âm bồ tát. Ta lạy Quan Âm cũng không mất thể diện gì.
Vương quỳ gối :
- Đệ tử xin bái kiến Bồ-tát .
Có tiếng đàn bà rất trong trẻo, rất êm dịu, rất quen thuộc :
- Người đến đây là do Trần Cảnh, hay Trần Thủ-Độ sai đi ?
Thời bấy giờ dù vương công, dù đại thần cũng không được nhắc tới tên của nhà vua, của Thái-sư Thủ-Độ. Bất tuân, sẽ bị chặt đầu. Thế mà ai đó dám hỏi vương bằng câu cực kỳ vô lễ, hách dịch. Không cần lễ nghi nữa, vương ngước nhìn lên, nhưng vì tỵ hiềm nam nữ, vương không dám nhìn vào mặt bà.
Vương lên tiếng thống trách :
- Thưa sư thái, cô gia là sứ giả của triều đình, tước đến đại vương. Dù sư thái có thành tiên, thành bồ tát cũng phải biết rằng, nhà có chủ, nước có vua. Sư thái không thể dẵm lên quốc pháp, mà bỏ lễ nghi.
- Hừ ! Người còn con nít ta không chấp. Người nên biết, Trần Cảnh, Trần Thủ-Độ thấy ta cũng phải rập đầu binh binh. Được, người hãy đứng dậy, ngước nhìn xem ta là ai ?
Chiêu-Minh vương giận quá, chân tay run bần bật. Vương đứng dậy, nhìn thẳng vào mặt Vô-Huyền. Nhưng... Nhưng thoáng thấy bà, bất giác chân tay bủn rủn, vương quỳ gối trở lại, rồi rập đầu binh binh bốn lần, cất tiếng nói, run run :
- Hài nhi xin bái kiến...
- Ta nay đã vào chốn không môn ! Ta là Vô-Huyền. Người hiểu không ?
Chiêu-Minh vương vẫn chưa hết run :
- Dạ...Dạ... hài nhi hiểu. Người xưa nói : Không biết là không có tội, xin Bồ-tát dung tình.
Vô-Huyền đứng dậy nắm tay Quang-Khải, chỉ cái ghế cạnh bà :
- Hài nhi ngồi đó đi.
Qua cái súc động ban đầu, Chiêu-Minh vương bình tĩnh trở lại. Vương nhìn Vô-Huyền mà lòng ấm áp, sảng khoái không bút nào ta siết. Vương nói :
- Vạn vạn lần, hài nhi không ngờ hôm nay lại được bái kiến Bồ-tát ở đây. Dù hài nhi có chết ngay cũng vẫn cảm thấy hạnh phúc cực kỳ. Hỡi ơi ! Khi hài nhi trở về triều, tâu lên phụ hoàng, nhất định người sẽ hoan hỉ cực độ.
Vô-Huyền vuốt tóc Quang-Khải :
- Con có biết pháp danh của ta là gì không ?
- Dạ... Thượng Vô hạ Huyền.
- Đúng thế ! Vô là không ! Huyền là cái dây. Không dây nào ràng buộc được ta nữa.
- Dạ... Dạ... Hài nhi hiểu.
- Dù Trần Cảnh có hoan hỉ hỷ hay tức giận thì cũng vậy thôi. Ta nay hạc nội mây ngàn, tứ đại giai không, đâu còn lý đến y nữa. À, tại sao khi ta rời Hoàng-thành ra đi, Trần Thủ-Độ lại bắt một cung nữ giả làm ta. Y định làm gì đây?
Chiêu Minh vương vẫn chưa hết cảm động:
- Quốc-thượng phụ sợ...sợ Bồ-tát ra các trấn, rồi hô hào trung hưng triều Lý, mang quân về.
- Thủ Độ ngu thực! Y không hiểu gì ta cả. Nếu như ta muốn trung hưng triều Lý thì với bản lĩnh của ta, ta nhập cung giết y, giết...cả phụ hoàng ngươi thì đâu có khó ?
- Quốc thượng phụ nghĩ rằng, nếu Bồ-tát khởi binh, thì sẽ cho cung nữ giả Bồ-tát xuất hiện, để nói với mọi người rằng Bồ-tát không phải là...
- Hừ ! Y đâu có ngờ ta đã xuất gia !
- Dạ, có lẽ Quốc-thượng phụ không biết Bồ-tát là...

Ghi chú của thuật giả:

Triều Trần có ba nghi vấn lớn, mà trải gần nghìn năm, quốc dân không giải nổi. Một là Chiêu-Hoàng bị Thủ-Độ giáng xuống làm công chúa. Đến năm 1258 gả cho Lê Phụ-Trần, sau sinh ra một thế tử và một công chúa. Nhưng trong Trần tộc biết rằng người đem gả cho Lê Phụ-Trần là một cung nữ, giả bà. Còn bà đi tu lấy pháp hiệu là Vô Huyền. Trong gia phả của con cháu Hoài-Văn vương Trần Quốc-Toản chép rất đầy đủ về việc này. Vì Vương là đệ tử của ngài Vô-Huyền. Xét y lý, khá hợp lý. Bởi năm Chiêu Hoàng được gả cho Lê Phụ-Trần, bà đã 42 tuổi. Với cái tuổi đó, ngày nay cũng khó mà sinh nở, chứ đừng nói thời xưa. Hai là không biết Tuệ-Trung thượng sĩ là Hưng-Ninh vương hay Hưng-Nhượng vương ? Ba là Trần Quốc Toản tử trận khi chưa tới 20 tuổi, trong khi gia phả ghi ngài thọ tới 92 tuổi !

Vô Huyền chỉ Ý Ninh:
- Người có biết y không?
- Hài như thực chưa biết.
- Y là con gái của Khê-khẩu công Trần Hiến và Lê Thị Đạt.
- Úi chà!
Nguyên khi Thái-sư Trần Thủ Độ ép đem vương phi của An-sinh vương Trần Liễu là công chúa Thuận Thiên nhập cung làm hoàng hậu. Vương cùng gia thuộc khởi binh. Bấy giờ Khê-khẩu công Trần Hiến cùng phu nhân chỉ huy thân binh phủ An-sinh tấn công vào phủ của Thái-sư Trần Thủ Độ. Sau khi An-sinh vương Liễu đầu hàng, Trần Thủ Độ đem cả hai vợ chồng Khê-khẩu công ra chém đầu. An-sinh vương Liễu đem hai con của công là Trần Tử Đức và Trần Ý Ninh ra Ngũ-yên nuôi. Trần Tử Đức hiện được phong tước Phú-lương hầu, lĩnh chức Trung-nghĩa thượng tướng quân, tổng chỉ huy các đạo quân phòng thủ Bắc biên của Ngũ-yên.
Vô Huyền chỉ Thiệu Hoa:
- Còn đây là Bùi Thiệu Hoa, vợ của Trần Tử-Đức.
Chiêu Minh vương kinh hãi, vương tự nghĩ: Thì ra Vô Huyền cưu mang tất cả những kẻ thù của triều đình. Nguy thực.
Vô-Huyền hỏi :
- Ta nghe nói, quân Mông-cổ chiếm xong Đại-lý, chúng chuẩn bị vào đánh Đại-Việt. Nhưng Thủ-Độ không đủ đức hô hào võ lâm giúp triều đình, nên y sai hài nhi tới đây cầu cứu ta phải không ?
- Dạ.
- Hài nhi về bảo Thủ-Độ rằng muốn chống giặc thì phải xử dụng hết sức mạnh của chủ đạo tộc Việt. Hãy dùng chủ đạo mà tập họp kẻ sĩ, võ lâm, binh tướng. Võ lâm thì ta có thể giúp được. Còn nhân sĩ, binh tướng thì phi Hưng-Đạo vương, không ai đủ đức làm cả.
- Dạ ! Hưng-Ninh vương, Hưng-Đạo vương cùng Ngũ-yên đã kéo cao cờ nghĩa, hô hào bỏ tỵ hiềm cá nhân với cá nhân, gia đình với gia đình, môn phái với môn phái, để cùng chống giặc.
- Đã có Hưng-Đạo vương cầm quân, thì ta yên tâm. Có một mối nguy vô tận, ta liệu Thủ-Độ chưa biết.
- Thưa là?!?!
- Kể từ khi Thành-cát Tư-hãn mang quân vào Trung-nguyên tới giờ, trải 46 năm. Trong 46 năm đó, Lôi-kỵ của Mông-cổ đánh đâu thắng đó. Thế nhưng có một điều làm cho binh tướng Mông-cổ kinh hồn vỡ mật là các tướng của họ cấp Thiên-phu trưởng, Vạn-phu trưởng chết nhiều quá. Đa số họ chết vì các võ lâm cao thủ. Khi đang xung trận họ bị trúng tên do các cao thủ Trung-quốc bắn, chứ không do binh tướng bình thường. Hoặc họ bị các cao thủ dùng võ công giết.
- Tâu...tướng quân Trần Tử-An cũng báo cho triều đình biết như vậy.
- Chính vì lẽ đó, bọn vua, quan Mông-cổ ra sức chiêu mộ, hậu đãi bọn võ lâm Trung-nguyên. Hồi đầu chỉ có các phái hắc đạo như Trường-bạch, Liêu-Đông vì chống Kim mà theo Mông-cổ. Tiếp theo các đại bang dần dần trở thành móng vuốt của họ. Còn 6 đại môn phái, thì phái Thiếu-lâm giữ thái độ trung dung không theo họ, cũng không chống họ. Phái Hoa-sơn phân làm hai, Bắc-phái theo họ từ lâu. Nam phái thì vẫn trung thành với Tống. Những phái Võ-đang, Nga-mi, Không-động, Côn-luân hoàn toàn bị mua chuộc. Khu-mật viện chắc đã biết biết rõ tình hình này rồi.
- Tâu chưa.
- Chết thực. Lại còn nguồn tin đáng sợ hơn nữa: Hốt Tất Liệt biết rằng kỳ này đánh Tống, đánh Đại-Việt sẽ phải đối trận với các tướng là những đại cao thủ. Nên y chiêu mộ những cao thủ bậc nhất, gửi theo quân để giết tướng địch. Ta nghe trong đạo quân của Ngột-lương Hợp-thai có rất nhiều cao thủ thuộc phái Không-động, Côn-luân, Võ-đang. Triều đình phải chuẩn bị mà đối phó.
Thế rồi Vô-Huyền với Chiêu-Minh vương luận bàn về tình thế Đại-Việt, Mông-cổ, Tống, Chiêm. Trời sáng lúc nào không hay.

Bè đã cập bến.
Chiêu-Minh vương rập đầu trước Vô-Huyền bốn lần, rồi lên bờ. Mười bồi sứ đang dàn hàng ra đón vương. Vương không nói, không rằng, cùng sứ đoàn lên đường về Thăng-long. Nhân viên sứ đoàn tuyệt không dám lên tiếng hỏi nửa câu.
Bí mật bao trùm.

Ghi chú của thuật giả:

Thần-quang tự, nơi diễn ra cuộc tiếp sứ của Vô-Huyền bồ tát, cho đến nay vẫn còn, tháng 4 năm 1962 chùa được xếp hạng DTLSVH. Chùa được bảo quản rất cẩn thận, và trở thành một thắng cảnh du lịch danh tiếng. Hằng năm số du khách vãng cảnh đông đúc vô cùng. Nếu họ là Phật-tử thì họ viếng thăm để được hành hương một đất linh. Du khách viếng thăm để được chiêm ngưỡng một ngôi chùa cổ nghìn năm, một kiến trúc xa xưa.
Thần-quang tự còn gọi là chùa Keo Giao-thủy hay chùa Keo dưới, để phân biệt với chùa Keo Hành-thiện hay chùa Keo trên. Chùa tọa lạc tại xã Vũ-nghĩa, huyện Vũ-thư tỉnh Thái-bình. Chùa do Minh-Không bồ tát xây dựng vào niên hiệu Chương-thánh Gia-khánh thứ ba (DL.1061) đời vua Lý Thánh-tông. Lúc đầu, chùa mang tên là Nghiêm-quang. Niên hiệu Chính-long Bảo-ứng thứ năm (DL.1167), nhân dịp vua Lý Thánh-tông hành hương, ngài ban tiền đại trùng tu, rồi đổi tên là Thần-quang.
Độc giả muốn biết hành trạng của Minh-Không bồ tát, xin đọc Nam-quốc sơn hà, 5 quyển của Yên-tử cư-sĩ do Đại-Nam Hoa-kỳ xuất bản. Về Thần-quang tự, thuật kỹ từ trang 138, quyển 5.
Niên hiệu Nguyên-phong thứ 6 đời vua Thái-tông nhà Trần. (DL.1256, Bính Thìn).


Trước tết Nguyên-đán, Hưng-Đạo vương từ Ngũ-yên, cùng vương phi là công chúa Thiên-Thành về Thănh-long chúc tết hoàng đế. Không biết nhà vua với vương đã bàn những gì, mà kéo dài suốt từ giờ Mão tới hết giờ Ngọ mới xong (8 tiếng ngày nay). Sau đó, giữa ngày tết Nguyên-đán, khắp các phủ, các trấn, các xã, các thôn đều nhận được hịch của triều đình loan báo rằng quân Mông-cổ sắp vào Đại-Việt cướp phá. Triều đình kêu gọi toàn dân phải cùng đứng lên chống giặc. Trong hịch chỉ rõ cho các làng, xã phải khẩn cấp thi hành ba điều. Một là tổ chức hội họp, loan báo cho từng người dân biết sự tàn bạo của Mông-cổ, mưu đồ của Mông-cổ, dùng lãnh thổ Đại-Việt đánh vào sau lưng Tống. Bắt Đại-Việt cung cấp lương thảo, dùng quân sĩ Việt làm phu khuân vác, làm vật hứng cung tên đánh thành Tống. Hai là, triều đình sẽ cử thiên tử binh; các bang, các phái sẽ cử đệ tử về từng xã, huấn luyện võ thuật nam nữ tráng niên, cùng phương cách giữ làng, chống giặc. Ba là, phải tích trữ, dấu lương thảo, gia súc, không để cho giặc cướp đi.
Cả nước rung chuyển lên, vì mỗi buổi chiều, thay vì rong chơi không biết làm gì, thanh niên nam nữ tập trung lại luyện võ, bắn cung, xung phong, hãm trận. Trong những quán trà, trong những ngôi đình làng, các thầy đồ kể chuyện về sự tàn ác của Mông-cổ, về chiến thuật của họ, rồi giảng giải những gì người dân phải làm.
Thế nhưng về phía triều đình, việc chỉ huy vẫn chưa thống nhất. Trong các buổi thiết triều, trên cao nhất từ Nguyên-Phong hoàng đế, đến thái-tử, các thân vương, đại thần, đều công nhận rằng Hưng-Đạo vương là người có tài dùng binh nhất Đại-Việt, quân lực của Ngũ-yên hiện là tiềm năng chiến đấu hữu hiệu nhất . Thế nhưng triều đình vẫn không thể trao chức Phụ-quốc thái-úy cho vương. Vì chức này do em của nhà vua là Khâm-Thiên đại vương Nhật-Hiệu giữ từ ba năm nay. Chính Thái-sư Thủ-Độ đề nghị nhà vua phong cho Khâm-Thiên vương chức này. Lại một trở ngại nữa, kế hoạch trao cho các môn phái việc luyện võ toàn dân, việc sách động toàn dân luyện tập binh bị, tổ chức củng cố phòng thủ thôn xã, do Hưng-Đạo vương đưa ra, rồi Thái-sư Thủ-Độ điều động, chứ Khâm-Thiên vương gần như chỉ ngồi làm công việc thư lại ở điện Uy-viễn. Vì vậy binh lực Đại-Việt vẫn có hai chế độ, hai hệ thống chỉ huy khác nhau: Hệ thống triều đình, hệ thống Ngũ-yên. Tuy việc chỉ huy chưa thống nhất, nhưng việc huấn luyện binh tướng, một viêc khó khăn nhất thì các vương hầu đều bó tay. Hưng-Đạo vương cùng các tướng soái Ngũ-yên nhận lĩnh cái khó khăn này.
Suốt năm ấy, trong khi Đại-Việt rung chuyển lên vì cuộc chuẩn bị chống Mông-cổ, thì quân Mông-cổ vẫn chưa bình định xong các bộ tộc của Đại-lý.
Một thảm cảnh xẩy ra, bắt nguồn từ việc Thái-sư Thủ-Độ nghi ngờ Ngũ-yên: Mùa Thu tháng 7, Vũ-Thành vương bất mãn, đem tông tộc hơn nghìn người, bỏ Đại-Việt sang Tống. Nhưng khi vương chạy qua biên giới thì An-phủ sứ Tư-minh là Hoàng Bình bắt trao trả cho triều đình Đại-Việt. Bị giải về Thăng-long thẩm cung, nhà vua hỏi:
- Người là con của Hiển-Từ thái hậu sinh ra, tước phong tới vương, được trong đãi, thế sao lại bỏ nươc trốn đi?
Vương tâu:
- Bỏ nước, bỏ mồ mả tổ tiên, bỏ quê hương, bỏ người thân, lưu lạc xứ người, hỏi mấy ai muốn? Từ khi phụ vương hoăng, anh em thần gạt bỏ hết những thù hận từ tiên vương, để trung thành, bảo vệ vương triều. Nhưng anh em thần vẫn bị nghi ngờ. Từ xưa đến giờ, phàm vua nghi ngờ bầy tôi thì có hai việc xẩy ra. Một là bầy tôi sẽ bị giết, hoặc bầy tôi làm loạn để tự tồn. Thần không đủ can đảm phản bệ hạ, nên phải trốn đi.
- Ta nghi ngờ người ? Người bịa đặt ra như vậy sao ?
- Bệ hạ thử đặt mình vào hoàn cảnh anh em thần thì thấy ngay. Buổi thiết đại triều trước đây đã nghị trao cho Hưng-Đạo vương làm Tiết-chế quân mã. Thế nhưng từ hồi ấy đến giờ chiếu chỉ vẫn chưa ban ra. Bệ hạ phong cho Hưng-Đạo vương lĩnh Tiết-chế. Cái danh Tiết-chế chỉ để trang trí cho đẹp. Quyền của Tiết-chế ra sao ? Bốn hạm đội, hiệu Kỵ-binh, hiệu Ngưu-binh, ba hiệu bộ binh của Ngũ-yên sẵn sàng cho triều đình xử dụng. Còn quân của triều đình thì vẫn có Phụ-quốc thái-úy chỉ huy. Trên Phụ-quốc thái úy còn Thái-sư thống quốc hành quân vụ chinh thảo sứ. Thì ra Hưng-Đạo vương lĩnh chức Tiết-chế để đem lực lượng Ngũ-yên trao cho triều đình.
Vương khẳng khái nói lớn:
- Triều Lý đã có Kiến-hải vương Lý Dương Côn chạy sang Cao-ly; Lạng-châu công Lý Long-Phi chạy sang Mông-cổ; Phò-mã Thủ-Huy, công chúa Đoan-Nghi chạy sang Mông-cổ; gần đây Kiến-bình vương Lý Long-Tường cũng ra đi. Tất cả những vị đó đều bị oan khuất, các người không muốn chống lại triều đình, muốn ẩn thân cho toàn tính mạng, mà thấy không yên...Nên phải xuất ngoại. Nay thêm thần, thì cũng là sự thường.

Ghi chú của thuật giả:

Vũ-thành vương Doãn là con của An-sinh vương Trần Liễu với công chúa Thuận-Thiên. Sau khi công chúa Thuận-Thiên bị Trần Thủ-Độ cưỡng đem vào cung, lập làm Hoàng-hậu. Bấy giờ vương còn thơ, mẹ con phải xa cách nhau, gây cho vương niềm uất hận không nguôi. Khi bà băng, được phong là Hiển-từ hoàng hậu.

Ý Thái-sư Thủ-Độ muốn đem toàn gia vương ra xử trảm, để làm gương, nhưng Nguyên-Phong hoàng đế ân xá, truyền vương trở lại Ngũ-yên, vẫn cho ăn lộc trang ấp, nhưng không trao cho quyền hành gì.
Niên hiệu Nguyên-Phong thứ 7 đời vua Thái-tông nhà Trần.(DL.1257, Đinh Tỵ), mùa Xuân tháng giêng.
Tả-thiên ngưu vệ thượng tướng quân chỉ huy hiệu Ngưu-binh trấn thủ biên giới, thuộc Ngũ-yên là Phạm Cụ-Chích sai ngựa lưu tinh báo về Yên-bang rằng: An-phủ sứ Tư-minh của Tống là Hoàng Bính, dẫn tông tộc hơn 3 nghìn người sang kiều ngụ.
Nhận được tin, Hưng-Đạo vương sai Phú-lương hầu Trần Tử-Đức cùng vợ là Bùi Thiệu Hoa, em gái là Trần Ý Ninh lên an ủi, chu cấp lương thảo cho gia thuộc, rồi đưa Hoàng Bính về Thăng-long để triều đình định liệu. Hoàng Bính dẫn người con gái tuổi 16, tên Hoàng Chu-Linh nhan sắc diễm lệ, lầu thông Thi, Thư. Các học thuật như Tử-vi, Độn-số, Dịch-lý, Địa-lý, không môn nào mà không thông. Đây là một sự cố cực kỳ quan trọng, nên Nguyên-Phong hoàng đế truyền thiết đại triều, để nghị về việc này. Các quan hiện diện đầy đủ, duy Thái-sư Thủ-Độ khó ở, nên vắng mặt.
Cha con Hoàng Bính hành đại lễ, tung hô vạn tuế. Lễ quan chỉ từng đại thần giới thiệu với Hoàng Bính. Triều đình Nguyên-Phong hầu hết đều là những người có tài kinh thiên động địa, chính khí dọc ngang trời đất, nếu không là những bậc chính nhân quân tử thì cũng là những người đạo cao đức trọng. Thế mà khi thấy Chu-Linh, tất cả đều nghĩ thầm: Sao lại có người đẹp đến như thế kia?
Nhà vua truyền lấy ghế cho cha con Hoàng Bính ngồi. Ngài phán:
- Trẫm nghe nói: Khanh từng đỗ đệ nhị giáp Tiến-sĩ, đã lĩnh chức Thị-độc học sĩ triều Tống. Gần đây được ưu ái ban cho lĩnh An-phủ sứ châu Tư-minh. Thực là hồng ân bao la. Thế sao khanh lại chạy sang xứ thấp nhiệt của quả nhân, xin kiều ngụ?
- Muôn tâu bệ hạ.
Hoàng Bính tâu: Khắp gầm trời này, đâu cũng là thiên hạ cả. Đức Khổng-tử không hề phân biệt cương giới. Thế thì kẻ vô tài, bất đức như hạ thần đâu dám nghĩ đến Đại-Việt, Đại-Tống khác nhau? Bảo-Hựu hoàng đế Đại-Tống trọng đãi thần, thần thực thâm cảm, nguyện kết cỏ ngậm vành. Nhưng, thiên mệnh đã an bài, toàn thể Trung-quốc phải chịu mấy trăm năm dưới ách ác quỷ; khí số nhà Đại-Tống đã hết rồi. Vì vậy, thần mới quan sát thiên văn, tìm nơi mà ác quỷ không thể tác họa, lại có thánh hiền giáng sinh mà ẩn thân.
Ông chỉ lên trời:
- Trời Nam là nơi con cháu Viêm-đế trị vì, linh khí ngùn ngụt, thánh nhân giáng trần, cầm gươm đuổi ác quỷ, đó là nơi có thể an thân. Vì vậy thần mới đem tông tộc sang xin bệ hạ cho núp bóng hoàng long.
Lời nói của Hoàng Bính làm triều đình cảm thấy nhẹ nhõm, gạt hết mọi lo sợ cái ách Mông-cổ đang đè lên đầu.
Vũ-Uy vương hỏi:
- Thưa tiên sinh, xin tiên sinh giảng cho vãn bối điều mà tiên sinh nói rằng linh khí tụ tại Đại-Việt?
- Khải vương gia... Chuyện như thế này...
"... Niên hiệu Bảo-Hựu thứ năm nhà Tống, nhằm niên hiệu Nguyên-Phong thứ 7 đời vua Thái-tông nhà Trần (DL. 1257, Đinh Tỵ). Nhân dịp tết Nguyên-đán, An-phủ sứ châu Tư-minh về triều cùng chư đại thần chúc tết Bảo-Hựu hoàng đế. Sau khi chúc tết xong, ông đến tòa Khâm-thiên giám thăm các bạn, rồi cùng nhau luận bàn về số Tử-vi của các thân vương, đại thần, hậu cung. Ông nghiệm thấy rằng những người chết trươc năm Kỷ Mão (DL.1279), thì không có gì đặc biệt. Còn những người sống tới năm ấy, thì hầu như đều chết cùng một ngày, chết rất thảm thiết. Ông đoán rằng: Có lẽ ngày ấy là ngày Tống bị diệt vong.

Đêm đó ông lên đài Thiên-văn quan sát Thiên-hà thì thấy sát khí bao trùm các vùng thuộc Tống. Trong khi đó quỷ tinh chiếu xuống các vùng Mông-cổ cai trị , mạnh bất khả đương.
Lo buồn, trở về Tư-minh, hằng đêm ông lên núi cao xem Thiên-văn, vô tình nhìn về phương Nam, thấy sao Tử-vi ứng vào vua thì sáng chói, còn quần tinh chiếu xuống rực rỡ, thịnh thời đến hơn trăm năm. Ông kết luận: Như vậy Mông-cổ sẽ diệt Tống, nhưng khi đánh xuống Đại-Việt thì bị thất bại. Ông bàn với phu nhân, rồi họp tông tộc giảng cho họ cùng hiểu. Tất cả đều tin tưởng vào ông, thu vén của cải, vượt biên sang Đại-Việt xin kiều ngụ.
Thế là ông dẫn tông tộc sang Đại-Việt".
Hầu hết các quan đều không muốn thu dụng Hoàng Bính, vì sợ mất lòng Tống. Chiêu-Minh vương Quang-Khải tâu:
- Tâu phụ hoàng. Hôm trước Vũ Thành vương cùng gia thuộc bỏ Đại-Việt sang Tống. Chính Hoàng tiên sinh bắt trả cho Đại-Việt. Bây giờ Hoàng tiên sinh bỏ chạy sang ta, mà ta cho lưu ngụ, thì Tống sẽ coi ta ra gì nữa?
Chu-Linh thấy Chiêu-Minh vương, bất giác nàng bật lên một tiếng suýt dài. Thái-tử Hoảng tinh ý, hỏi bằng tiếng Hoa:
- Hoàng cô nương ! Không biết xá đệ có lời gì không vừa ý cô nương chăng, mà cô nương suýt ?
Chu-Linh cung tay đáp bằng tiếng Việt:
- Khải Thái-tử ! Tiểu nữ vừa từ Trung-nguyên sang Đại-Việt, đã được diện kiến long nhan, cùng chư vị anh hùng, e rằng cung kính còn sợ chưa đủ lễ, có đâu dám vô phép? Có điều tiểu nữ thấy tướng của Chiêu-Minh vương tốt quá, nhịn không được, mà thốt ra tiếng suýt. Rất mong lượng cả bao dung.
Chiêu-Minh vương hỏi :
- À thì ra thế ! Cô nương thấy tướng của cô gia tốt. Vậy chẳng hay sự nghiệp sau này sẽ ra sao ?
- Thưa vương gia. Nếu như vương gia cho tiểu nữ biết giờ, ngày, tháng, năm sinh, tiểu nữ hợp Tử-vi với tướng mệnh thì có thể trả lời hết các câu hỏi của vương gia.
Thái-tử Hoảng đáp thay Chiêu-Minh vương :
- Chú em cô gia sinh ngày 9 tháng 11 năm Tân Sửu, giờ Dậu.
Chu-Linh bấm tay rồi nói :
- Ái chà! Không ngờ hôm nay tiểu nữ lại được xem số cho một đấng anh hùng Nam-phương. Đa số anh hùng sinh ra không gặp thời. Còn vương gia sinh ra đúng thời.
- Xin cô nương nói rõ hơn.
- Trước hết mệnh của vương gia đóng tại Mão, Cự, Cơ thủ mệnh, có Hóa-lộc phù trì đó là cái cách của bậc tể thần, cách của một văn thần. Thế nhưng cung quan tại Mùi, ngộ Hình. Hình là thanh kiếm, trong khi mệnh ngộ Tang-môn. Thế thì vương gia còn có tài đại tướng bách chiến, bách thắng. Thêm Lộc-tồn cư thiên di, là cái cách song lộc, văn chương quán thế.
Thái-tử Hoảng hỏi:
- Liệu sự nghiêp chú em của tôi có bằng Khai-Quốc vương triều Lý không?
- Khải Thái-tử, sự nghiệp Chiêu-Minh vương với Khai-Quốc vương khác nhau xa lắm! Xa lắm lắm.
- Nghĩa là không bằng???
- Tiểu nữ không nói thế. Tiểu nữ xin so sánh. Hai vị đều là con một minh quân sáng nghiệp. Hai vị cùng có tài nghiêng trời lệch đất, muốn đem tài đó ra phù tá anh mình, hầu làm cho dân giầu nước mạnh. Khai-Quốc vương thâm nhiễm Phật-pháp. Còn Chiêu-Minh vương lại uyên thâm đạo Thánh. Khai-Quốc vương bị anh là vua Lý Thái-tông ghen tài, nghi ngờ, chèn ép. Ngược lại Chiêu-Minh vương với Thái-tử thì anh em thân với nhau như cá với nước, mỗi lời, mỗi ý vương bàn với Thái-tử, đều đươc Thái-tử nghe theo. Khai-Quốc vương có tài đại tướng, nhưng không có văn tài, lại không thi thố được cái tài đại tướng. Ngược lại, Chiêu-Minh vương khi ngồi tại triều, phò tá thiên tử, lúc nhàn rỗi, lại bầu rượu túi thơ, ngao du sơn thủy; cũng có lúc ngồi trên mình ngựa, xông pha ngoài trận, thỏa chí nam nhi. Hỡi ơi! Cuộc đời vương gia thực là cuộc đời xẻ núi, lấp sông. Sau này, vạn vạn năm, danh của vương gia ghi trong thanh sử. Nam nhi đại trượng phu được như vương gia, trong thế gian có mấy người.
Thái-tử chỉ Vũ-Uy vương :
- Chú em của cô gia đây sinh năm Nhâm Dần, tháng 9, ngày 28, giờ Thân. Xin cô nương tính xem, sự nghiệp của chú sẽ ra sao?
Chu-Linh bấm tay, tính toán một lúc rồi nhìn Vũ-Uy vương, nở một nụ cười :
- Mừng cho Thái-tử. Xưa Hậu-chúa Lưu Bị có người em kết nghĩa là Trương Phi phò tá mà thành đại nghiệp. Ngày nay Thái-tử có em ruột nhất tâm, nhất trí khuông phò. Thực là trời đem vương ban cho Thái-tử !
- Nghĩa là ?
- Số của vương gia hơi giống số của Trương Phi thời Tam-quốc. Vương gia tuổi Nhâm Dần. Mệnh của vương lập tại Dần. Thất-sát thủ mệnh. Cái cách Thất-sát tại Dần, Tử-vi kinh gọi là Thất-sát triều đẩu. Nhất sinh tước lộc vinh xương. Đúng ra Thất-sát thủ mệnh thì da vương gia đen như nhọ chảo. Nhưng vì vương gia sinh giờ Thân, có Văn-xương thủ mệnh, thành ra da trắng trẻo. Thất-sát là thượng tướng tinh đẩu, nên dù Văn-xương thủ mệnh, vương gia vẫn thích luyện võ hơn là học văn, cho nên võ công vương gia cao thâm không biết đâu mà lường. Cung Thiên-di có Tử, Phủ trấn ngự, mà tuổi Nhâm, nên được cả Hóa-lộc, Hóa-quyền phù trợ...Thì hỡi ơi ! Số vương gia là số anh hùng, cả đời ngồi trên mình ngựa, ba thước gươm xông pha ngoài chiến trường, mà lưu danh muôn thủa.
Chu-Linh tiếp tục xem số cho gần hết triều thần. Phú-lương hầu Trần Tử-Đức nhìn Chu-Linh mỉm cười :
- Tiểu cô nương ! Hôm trước tôi được lệnh Hưng-Đạo vương cùng vợ đưa Hoàng tiên sinh với cô nương về Thăng-long. Trải bốn ngày đường gió bụi, mà chúng tôi nào có biết tiểu cô nương lại thông thiên mệnh như vậy. Bây giờ tôi xin cô nương xem dùm số Tử-vi của chúng tôi ra sao ?
- Xin quân hầu cho biết rõ...
- Tôi tuổi Mậu Tý, sinh tháng 7, giờ Ngọ, ngày 24. Vợ tôi thì không biết ngày giờ sinh.
Chu-Linh bấm ngón tay, tính toán một lúc, liếc nhìn Tử-Đức, rồi lại trầm ngâm tính toán. Nhà vua sốt ruột hỏi :
- Hầu hiện thống lĩnh ba hiệu bộ binh của Ngũ-yên, trấn ngự biên cương. Vận số của hầu có quan hệ tới Xã-tắc. Nếu như số của hầu có gì bất tường, xin cô nương chẳng nên dấu diếm.
Chu-Linh ngồi nay ngắn lại :
- Thiên-cơ bất khả lậu. Khả lậu tổn âm đức. Tuy nhiên đấng chí tôn đã ban chỉ, thần đành viết ra. Xin bệ hạ ban cho thần bút mực.
Quan Lễ-nghi điện tiền sai thái giam đưa văn phòng tứ bửu ra. Chu-Linh cầm bút viết rồi cung cung kính kính dâng lên nhà vua. Nhà vua cầm lấy đọc:

« Ô hô !
Trung khả hữu nhị,
Nghĩa bất quá tam.
Anh hùng vi đệ nhất.
Sinh vi tướng, tử vi thần.
Vạn thế danh lưu thanh sử,
Nam-thiên đại đại tồn chính khí
».

(Than ôi ! Trung như người này có thể kiếm được hai, nghĩa khí như người này không tìm được quá ba. Người này sinh làm tướng, chết làm thần. Tên ghi lại thanh sử, chính khí thời thời lưu lại ở trời Nam ).

Nhà vua gấp tờ giấy bỏ vào túi, rồi than :
- Hỡi ơi ! Điều mà tiểu cô nương nói về hầu...Có lẽ toàn thể những người hiện diện đều mong ước.
Không ai hiểu Chu-Linh viết những gì. Qua lời phán của nhà vua, họ biết rằng số hầu cực tốt. Họ đâu biết rằng năm nay, đại hạn của hầu ngộ Liêm, Tham, Kiếp, Không tại Tỵ, vốn rất độc. Tiểu hạn ngộ Phủ, Hình tại Mùi, là hạn chết. Chu-Linh đoán trước hầu sẽ tuẫn quốc, rồi được phong thần, danh lưu thiên cổ.
Chu Linh liếc nhìn Bùi Thiệu Hoa:
- Ái chà! Kể ra trong giới nữ lưu, mấy người được như phu nhân. Này nhé, nhan sắc nghiêng thành, đổ núi, võ công cao tuyệt đỉnh, văn học uyên bác. Hiện nay phu nhân cùng quân hầu, ngồi trên mình nựa, trấn ngự biên cương. Hào hùng thay. Sự nghiệp của phu nhân sau này đâu có thua gì công chúa nữ tướng Lê Chân thời Lĩnh-nam.
Ý Chu Linh muốn nói Thiệu Hoa sẽ tuẫn quốc cùng chồng, nên ví với Lê Chân. Nhưng hiện diện không hai hiểu ý của nàng. Nàng lại nhìn Trần Ý Ninh:
- Còn quận chúa! Sự nghiệp quận chúa không thua công chúa Thiên-ninh đâu.
Công chúa Thiên-ninh là con vua Lê Thánh-tông, nức danh trong lịch sử vì đánh trận rừng tre, đẩy lui Quách Quỳ, Triệu Tiết về sông Như-nguyệt, cuối cùng công chúa tuẫn quốc. (Xin đọc Nam-quốc sơn hà, quyển 5).
Thị-vệ dẫn vào một lão già, y phục nông dân. Cả triều đình cùng kinh ngạc, vì nông dân chính là Thái-sư Trần Thủ-Độ. Nhà vua chỉ vào Thủ-Độ hỏi Chu-Linh:
- Hoàng cô nương! Đây là lão Vũ Thủy. Lão vốn cùng quê với quả nhân. Vì lão có tài trồng hoa, nên quả nhân trao cho lão coi vườn Thượng-uyển. Xin cô nương coi dùm xem lão còn sống được mấy năm nữa!
Chu-Linh nhìn Thủ-Độ, miệng tủm tỉm cười, ánh mắt chiếu ra tia sáng long lanh, khiến những người trẻ hiện diện xao xuyến tâm hồn:
- Xin tiên sinh cho biết ngày, giờ, tháng, năm sinh.
- Tôi sinh giờ Tỵ, ngày 6 tháng 6, tuổi Giáp Dần.
Chu-Linh bấm tay, rồi lắc đầu cười:
- À! Lão tiên sinh đùa tiểu nữ đây! Đến đấng chí tôn cũng thử tiểu nữ nữa.
Nàng nói bằng giọng nũng nịu, khiến cử tọa đều rung động.
Thủ-Độ xua tay:
- Tôi đâu dám đùa cô nương.
- Cứ như tướng tiên sinh: Dáng đi như con diều hâu rình mồi, mắt hổ, đầu lân, tay vượn...Thì e tiên sinh chỉ ngồi dưới một người, mà trên vạn vạn người. Còn số Tử-vi, để tiểu nữ tính xem.
Chu-Linh bấm tay một lúc, rồi mỉm cười:
- Số vơi tướng đều giống nhau. Nếu đúng tiên sinh là người làm vườn thì tài tiểu nữ không tới. Tiểu nữ chẳng dám đem ra bàn, e mất thời giờ vàng ngọc của đấng chí tôn, của chư vị anh hùng.
Nhà vua thấy chuyện vui vui, ngài tiếp:
- Giả như số đó là đúng của lão Vũ Thủy. Vậy cô nương thử đoán cho lão ít câu.
Từ đầu đến cuối Hoàng Bính để cho con gái mình đối đáp. Bây giờ ông mới xen vào:
- Thưa tiên sinh, giả như Linh nhi đoán đúng hết thân thế, sự nghiệp của tiên sinh, thì tiên sinh tính sao?
- Thì tôi phải chiều cô ấy ba việc.
- Còn như Linh nhi đoán sai, thì toàn gia chúng tôi xin trở về Tống.
Triều đình giật mình, vì không ngờ Hoàng Bính dám đánh cuộc lớn quá như vậy. Nhà vua định bảo Thủ-Độ bỏ cuộc. Nhưng lão đã nói:
- Được! Tôi xin đánh cuộc.
Chu-Linh bấm tay tính nhẩm một lúc rồi nói:
- Mệnh của tiên sinh lập tại Dần, Tử, Phủ thủ mệnh. Tử-vi, Thiên-phủ đều là đế tinh. Vì vậy tiên sinh thuộc loại mệnh cực lớn. Tiên sinh sinh ra đúng thời, là người tạo ra thời thế. Tất cả thăng trầm của Đại-Việt trong vòng 50 năm qua, đều do một tay tiên sinh nắn bóp thành voi, thành hổ, tùy ý.
Chu-Linh ngừng lại, nhìn cử tọa, nàng thấy người người đều im lặng tỏ vẻ khâm phục. Mỉm cười thực tươi, nàng tiếp:
- Tiên sinh tuổi Dần, mệnh lập tại Dần, thì trong người có đến hai ông kễnh thủ mệnh, lại thêm sao Thiên-hình phù trì. Tử-vi kinh nói: Hình hổ cư Dần, hổ đới kiếm hùng, tương phùng đế cách, ư Giáp Kỷ nhân, uy vũ trấn động. Nghĩa là: Người có Thiên-hình, với Bạch-hổ, hay tuổi Dần, là cách hổ đeo kiếm hùng. Người tuổi Giáp, tuổi Kỷ, uy vũ trấn động. Có điều tiên sinh được Lộc-tồn thủ mệnh, Hóa-lộc cư quan, là cách song lộc, thì là người chuyên quyền.
- Lão phu là người làm vườn thì chuyên quyền với ai?
- Tiên sinh khỏi chối. Này tiên sinh ơi! Ví như tiên sinh làm người chèo đò, thì tiên sinh cũng chỉ huy ngược lại người chủ. Tiên sinh làm phó lý thì cũng áp chế lý trưởng. Có điều Thiên-hình miếu địa ở mệnh, thì dù tiên sinh chịu ơn ai một bát cơm, sau sẽ trả bằng một kho thóc. Bị ai mắng một câu, sau này tiên sinh sẽ tru di tam tộc nhà người ta.
Chu-Linh liếc mắt thấy Khâm-Thiên đại vương, Vũ-Uy vương, Nhân-Huệ vương, cả ba cùng gật đầu tỏ ý công nhận lời mình đoán là đúng. Nàng tiếp:
- Cung thê của tiên sinh có Phá-quân, ngộ Hóa-quyền, Thai, lại bị Kiếp, Không chiếu thì duyên tình của tiên sinh rối như mớ bòng bong. Cho đến giờ này cũng chưa xong, còn chạy như ngựa nhong nhong.
Nghe Chu-Linh nói cả triều đình đều bật cười. Linh-Từ quốc mẫu hỏi:
- Tiểu cô nương! Xin tiểu cô nương nói rõ hơn về duyên tình của lão Thủy.
- Tuân chỉ quốc mẫu.
Chu-Linh tiếp: Năm trên mười tuổi, tiên sinh gặp một người. Rồi hai người thề non, hẹn biển, định cuộc trăm năm, không cần mai mối, cũng chẳng thỉnh mệnh cha mẹ. Mà dù cha mẹ có cản trở, tiên sinh cũng không nghe nào!
Nhiều người bật cười, chứng tỏ lời Chu-Linh đúng. Nàng tiếp:
- Thế rồi không hiểu vì lý do gì, hai người xa nhau. Nàng tuân lệnh cha mẹ lấy chồng. Tiên sinh hóa điên, hóa khùng, nhưng nhất quyết trung thành với nàng. Vì vậy khi chồng nàng qua đời, tiên sinh với nàng nối lại tình xưa. À, có một điều tiểu nữ nói tiên sinh đừng giận. Kể về uy quyền, thì tiên sinh thuộc loại vương bất vi vương, bá bất vi bá, nhi quyền khuynh thiên hạ.Nghĩa rằng tiên sinh chẳng là vua, cũng chẳng là bá, mà quyền nghiêng thiên hạ. Thế nhưng, bất cứ một người ở địa vị cao sang cũng năm thế bẩy thiếp. Riêng tiên sinh thì chỉ biết có một phu nhân mà thôi!
Linh-Từ quốc mẫu mỉm cười gật đầu.
- Kể về uy quyền thì tiên sinh nhất Đại-Việt, kể về phòng the, tiên sinh sợ vợ cũng nhất Đại-Việt.
Cả triều đình cùng bật cười.
- Cung quan của tiên sinh có Liêm-trinh, Thiên-tướng, thì tiên sinh là người võ công cao thâm không biết đâu mà lường. Danh tiếng bốn bể. Nhưng tiếc rằng cung quan ngộ Thiên-không, nên tiên sinh hành sự bất chấp luật pháp, chẳng kể đạo lý. Có lúc tiên sinh thành người nửa chính, nửa tà, nửa ma, nửa quỷ. Tiểu nữ e muôn nghìn năm sau còn bị dị nghị. Nhưng... dù ai dị nghị, thì chỉ dị nghị về cá nhân tiên sinh. Còn đối với đất nước, quả thật công nghiệp cũng như tấm lòng của tiên sinh sáng như trăng rằm, không ai chê trách được.
Hoàng Bính hỏi Thủ-Độ:
- Thưa tiên sinh, xét số tiên sinh, thì tiên sinh chính là Thái-sư Trần Thủ-Độ.
Nhà vua tuyên chỉ:
- Thái-sư thua Hoàng cô nương rồi. Vậy Thái-sư phải làm cho cô nương ba điều đi thôi.
Thủ-Độ hỏi Chu-Linh:
- Ba điều ước của cô nương là gì?
- Thưa Thái-sư, điều ước thứ nhất của tiểu nữ là xin cho toàn gia được ở lại Đại-Việt.
- Được. Tôi sẽ gửi Hoàng tiên sinh cùng gia quyến lên Yên-bang ở với Hưng-Ninh vương, và Hưng-Đạo vương.
Hoàng Bính cùng Chu-Linh thụp lạy tạ ơn nhà vua.
- Thế còn điều ước thứ nhì, thứ ba?
- Thưa Thái-sư, sau này tiểu nữ sẽ trình Thái-sư sau.
Linh-Từ quốc mẫu chỉ Chu-Linh:
- Trong nội cung ta mà có một thiếu nữ thông kim, bác cổ như Hoàng cô nương, kể cũng là điều tốt.
Hoàng Bính quỳ gối tâu lên nhà vua: Chuyến về Thăng-long này, mục đích của ông là dâng con gái cho nhà vua, để tỏ lòng trung với Trần triều. Lập tức nhà vua ban chế phong Hoàng Chu-Linh làm Huệ-Túc phu nhân.
Bãi triều.
Đêm đó trong Hoàng-cung, Nguyên-Phong hoàng đế vơí Huệ-Túc phu nhân chan chứa duyên tình. Đúng là: Cái đêm hôm ấy đêm gì? Bóng dương lồng lộng trà mi chập trùng.(Cung oán).

Ghi chú của thuật giả:

Biến cố này, ĐVSKTT chép rất giản dị:
Niên hiệu Nguyên-Phong thứ 7 (DL.1257, Đinh Tỵ Tống Bảo Hựu năm thứ 5) Mùa Xuân tháng 2, Hoàng Bính đem cả nhà đến cửa khuyết, dâng con gái vào cung. Vua nhận, sách phong làm Huệ-Túc phu nhân.
Chỉ độc giả AHĐA mới biết chi tiết việc này mà thôi.


Niên hiệu Nguyên-Phong thứ 7 đời vua Trần Thái-tông (DL.1257, Đinh Tỵ), mùa Thu tháng 8,
Thủ lĩnh đạo dân binh, trấn thủ biên giới là Hà Khuất, sai ngựa Lưu-tinh phi khẩn cấp về triều báo tin: Tướng Mông-cổ là Ngột-lương Hợp-thai dàn đại quân tại biên giới, ngụ ý uy hiếp, đe dọa, rồi sai sứ sang Đại-Việt mục đích chiêu hàng.
Triều đình Đại-Việt khẩn cấp thiết đại triều tại điện Uy-viễn, để nghị sự về việc này.
Lễ nghi tất.
Thái-sư Trần Thủ-Độ lên tiếng:
- Việc mà chúng ta chờ đợi từ ba năm nay, bây giờ đã tới. Hôm qua, sứ giả của Tổng-trấn Tây-Bắc là Hà Khuất về triều cáo khẩn cấp việc Mông-cổ sai sứ chiêu hàng. Nên mới có cuộc thiết đại triều bất thường này.
Hưng-Ninh vương nghị:
- Trước hết, xin Khu-mật viện trình bầy tin tức liên quan đến Mông-cổ, Đại-Tống, để triều đình thấu hiểu tình hình tổng quát giữa địch và bạn đã.
Một lão tướng mình hạc xương mai, bước ra tâu:
- Thần Thái-tử thiếu bảo Chu Mạnh Nhu, lĩnh ấn Trấn-viễn thượng tướng quân, tước Khai-sơn hầu, quản Khu-mật viện xin kính tâu.
Nhà vua ban chỉ:
- Xin Thiếu-bảo an tọa.
- Đầu năm nay, vua Mông-cổ là Mông-Kha đại hội các vương hầu bên bờ sông Tây-bình, làm lễ tế cờ, rồi xuất quân đánh phương Nam. Mục tiêu chính là Đại-Tống, Đại-Việt. Mông- Kha tiến quân làm ba mũi.
...Mũi thứ nhất đánh Đại-Việt. Mông-cổ coi mũi này là chủ lực chính, nên Mông-Kha thân chinh. Nhà vua tiến quân vào Tứ-xuyên, rồi vượt Kim-sa giang, qua Đại-lý (Vân-Nam). Đích thân ông ta bình định Tư-xuyên, Đại-lý. Cũng chính ông đốc thúc Ngột-lương Hợp-thai đánh Đại-Việt.
...Mũi thứ nhì, do Hốt Tất Liệt chỉ huy. Cánh này vượt sông Trường-giang, đánh Ngạc-châu (Nay là Vũ-xương, Hà-Bắc).
... Mũi thứ ba do Tháp Sát Nhi (Tô Ga Tra=Togartra) chỉ huy, tấn công vào hạ lưu sông Trường-giang, và vùng Kinh-sơn.
Nhân-Huệ vương Trần Khánh-Dư hỏi:
- Lý lịch Tháp Sát Nhi ra sao?
Phiêu-kỵ đại tướng quân Trần Tử-An tâu:
- Y là con của thân vương Tê Mô Gu, em ruột Thành-cát Tư-hãn. Võ công của y bình thường, nhưng là một tướng văn võ kiêm toàn. Y lấy vợ người Hán, con của chưởng môn phái Côn-luân, nên dưới trướng của y có rất nhiều cao thủ phái này.
Chu Mạnh-Nhu trình bầy tiếp:
- Cánh quân của Ngột-lương Hợp-thai có nhiệm vụ đánh chiếm Đại-Việt. Chiếm Đại-Việt rồi, mới quay lên phía Bắc đánh Tống qua ngả Ung-châu, Quế-châu, vượt Ngũ-lĩnh bắt tay với cánh quân đánh Ngạc-châu. Biết Đại-Việt là nơi rồng nằm, hổ phục, nên Mông Kha hết sức chú trọng đến mũi này. Vì vậy y thân chinh. Tuy y trao cho Ngột-lương Hợp-thai, nhưng chính y ban lệnh, định kế, đốc thúc. Ý đồ của Mông Kha là sau khi chiếm Đại-Việt, y sẽ dùng tù hàng binh đi tiên phong, luyện hoàng nam làm lao binh, dùng lương thực của vùng đất giầu có nuôi quân. Cẩn thận hơn, y đem theo rất nhiều cao thủ võ lâm, cả hắc lẫn bạch đạo.
Vũ-Uy vương là người có võ công cao nhất trong các thân vương. Vương hỏi :
- Không biết trong đạo quân của Ngột-lương Hợp-thai có bao nhiêu võ sĩ . Có bao nhiêu cao thủ ?
- Khá nhiều.
Trần Tử-An trả lời : Khi nghị kế đánh Đại-Việt, Mông-Kha đã nghiên cứu rất kỹ. Y biết Đại-Việt ta là nơi rồng nằm, hổ phục. Suốt mấy nghìn năm, mỗi lần Trung-quốc đánh ta, đều bị bại vì võ lâm tham chiến giết hại các tướng bậc trung. Vì vậy trận thế bị loạn. Cho nên để đề phòng, mỗi Thiên-phu trưởng đều có một đội võ sĩ 18 người hộ vệ. Đội võ sĩ này được chỉ huy bởi một cao thủ. Mỗi Vạn-phu trưởng có một đội võ sĩ 36 người, do một đại cao thủ chỉ huy. Khi tôi rời Mông-cổ về đây, thì biết rằng bên cạnh Ngột-lương Hợp-thai có 5 đại cao thủ đáng ngại.
...Thứ nhất, Trấn-thiên kiếm Phùng Tập thuộc phái Côn-luân. Y là một kiếm thuật danh gia đệ nhất Trung-nguyên.
...Thứ nhì Càn-nguyên trấn thiên chưởng Tiêu-Hư tử phái Võ-đang. Hiện y được coi là chưởng lực đệ nhất Trung-nguyên.
...Thứ ba là Triệt Triệt Đô. Y là một Vạn-phu trưởng. Võ công của y là võ công Liêu-Đông. Độc chưởng của y làm các tướng Tống kinh hồn vỡ mật.
...Thứ tư là A Truật. Y là con trai của Ngột-lương Hợp-thai. Võ công của y là võ công Hoa-sơn. Y được bọn Hán-gian trong phái Hoa-sơn dốc túi truyền thụ. Dù chưởng, dù kiếm, y cũng thuộc loại đệ nhất dũng sĩ Mông-cổ.
...Thứ năm là A Tan, y là Vạn-phu trưởng. Võ công của y là võ công Đông-a nhà ta.
...Còn một tên nữa, y là phò mã Hoài-Đô, chỉ thấy trong quân Mông-cổ truyền tụng rằng võ công y cực cao, nhưng cao đến đâu, thuộc môn phái nào thì không ai biết. Y được Mông-Kha gả con gái cho.
Cả triều đình đều trấn động.
Thái-sư Thủ-Độ giảng giải :
- Triệt Triệt Đô là phát âm theo Hán. Phát âm theo Mông-cổ là Trê Trếch Đu (Cãcãkdu). Còn A Truật phát âm theo Mông-cổ là A Du (Aju). A Tan phát âm theo Mông-cổ là A Tắc (Atãck). A Tan học võ công Đông-a với Hốt Tất Liệt. Hốt Tất Liệt là đệ tử của phụ thân tôi. Còn Hoài-Đô phát âm theo Mông-cổ là Khai-Đu (Qaidu).
Không khí trở lên căng thẳng.
Mạnh-Nhu tiếp:
- Quân Mông-cổ là quân kỵ. Họ không có Thủy-quân. Tướng của họ chưa từng học thủy chiến. Sau khi đánh Kim, họ thu dụng hàng binh, lập được vài hạm đội, nhưng mỗi khi giao chiến với Tống, đều bị đánh bại. Hiện lãnh thổ Tống nằm ở Hoa-Nam, trên lục địa rất nhiều sông rộng, phía Đông toàn biển. Khu-mật viện Mông-cổ biết rằng muốn thắng Tống, thì Kỵ-binh không đủ, cần phải có một đạo Thủy-quân thực hùng hậu. Đạo Thủy-quân sẽ đánh chiếm các châu dọc bờ biển phía Đông, rồi theo các sông tiến lên đánh các vùng ven sông. Họ lại cũng biết rằng, trong suốt mấy nghìn năm lịch sử, mỗi lần Trung-quốc dùng Thủy-quân giao chiến với ta, đều bị đánh bại. Vì vậy Mông-Kha muốn thắng ta, rồi dùng Thủy-quân của ta đánh Tống.
Triều đình cùng im lặng, không khí thêm căng thẳng.
Phú-lương hầu Trần Tử-Đức lĩnh Trung-vũ thượng tướng quân hỏi Thái-sư Trần Thủ-Độ:
- Tôi nghe nói Ngột-lương Hợp-thai cùng nổi danh một thời với Thái-sư. Không biết lý lịch y ra sao?
- Tôi biết rất rõ về y.
Thủ-Độ trả lời: Y là con trai của thân vương Tốc Bất Đài. Tốc Bất Đài là một trong chín đại tướng nức danh của Mông-cổ. Tên của y phát âm theo Mông-cổ là U-ry-ang-kha-đai (Uriyangqadai), phát âm theo Hán-Việt là Ngột-lương Hợp-thai. Thủa nhỏ, y cùng với Hốt Tất Liệt, tôi, Bạt Đô, A-lý Hải-nha chơi với nhau rất thân. Thành-cát Tư-hãn ban cho mỹ danh là Thảo-nguyên ngũ thiết điêu. Bản lĩnh võ công, cũng như tài dùng binh của y đều do phụ thân tôi truyền thụ. Hồi đánh Kim, tôi được chỉ huy binh đoàn Phương Đông, vượt Vạn-lý trường-thành tiến đánh Yên-kinh. Y dưới quyền chỉ huy của tôi. Y cùng Bạt Đô chỉ huy Vạn-phu Lôi-kỵ. A-lý Hải-nha, Ngột Lạt Su chỉ huy Vạn-phu Tế-tác. Cút Sa Đen chỉ huy Vạn-phu Lôi-tiễn. Tính tình của y trầm tĩnh, yêu thương người dưới như chân tay. Y biết nói tiếng Hoa, tiếng Việt, tiếng Tây-vực. Thời Thành-cát Tư-hãn đánh Tây-liêu, y chỉ huy Vạn-phu Lôi-kỵ, dưới quyền của Triết Biệt tiến chiếm kinh đô nước này. Trong chiến dịch đánh Tây-vực, binh đoàn Phương Đông do Triết Biệt chỉ huy, vương tử Truật Xích làm giám quân. Y dẫn Vạn-phu Lôi-kỵ đi tiên phong, vượt qua ngọn núi cao đến 3500 trượng (7000 mét), tuyết phủ mây mù, lạnh cắt da, xé thịt. Sau ba tháng vượt núi, tới đồng bằng Đại-uyển, đánh vào ngang hông Tây-vực. Chính y tiến chiếm thành Bồ-hoa (Boukhane), rồi hạ thành Tầm-nhi (Samarkand). Khi Tốc Bất Đài cùng Triết Biệt được lệnh Thành-cát Tư-hãn đem 3 Vạn-phu Lôi-kỵ truy tầm đại đế Mộ Hợp Mễ (Mohamed) Tây-vực. Y dẫn Vạn-phu Lôi-kỵ trực thuộc đi tiên phong. Gót ngựa của y sải khắp đế quốc Tây-vực, rồi đánh phá các nước Hung-gia lợi, Ba-lan, Tiệp-khắc, Phổ, La-sát (Liên-sô). Hiện y được phong chức tước cực lớn: Kiểm-hiệu Thái-sư , thống lĩnh hành quân chinh thảo Nam-thiên, tước đại vương.
Nhân-Huệ vương Trần Khánh-Giư, hiện lĩnh chức Phiêu-kỵ thượng tướng quân, Tổng-trấn Thăng-long hỏi:
- Thưa Thái-sư, liệu với tình nghĩa thầy trò giữa y với tiền nhân của ta. Với tình bạn với Thái-sư. Liệu Thái-sư có thể xin y đừng đánh Đại-Việt...có được không?
Cả triều đình cùng bật lên tiếng ồ, tỏ vẻ khó chịu.
- Không bao giờ.
Thái-sư Thủ-Độ nói lớn: Không bao giờ. Không bao giờ. Y là đệ tử của tiên phụ, lại chịu dưới trướng chỉ huy của tôi. Tài trí y thua tôi xa. Bây giờ tôi thân là Thái-sư quốc thượng phụ, mà phải lụy y ư? Còn lâu tôi mới chịu nhục như vậy. Tỷ như tôi viết thư cho y, thì y sẽ trả lời: Tôi từng là thần tử Mông-cổ, vậy hãy đem quân Đại-Việt cùng y đánh Tống. Bấy giờ tôi phải trả lời sao? Ấy là không kể y đáp: Tình bạn là tình bạn. Quốc sự là quốc sự. Y yêu cầu tôi cởi giáp quy hàng!
Ông nói với sứ giả của Hà Khuất là Hoàng Khánh-Vân:
- Người hãy trình bầy những tin tức mới nhất về Mông-cổ ở biên giới ra sao.
Hoàng Khánh-Vân hành đại lễ, rồi tâu:
- Ba năm trước, sau khi chiếm Tứ-xuyên, thân vương Mông-cổ là Hốt Tất Liệt trở về Bắc, trao 5 vạn Lôi-kỵ cho tướng Ngột-lương Hợp-thai vượt Kim-sa giang xuống đánh Đại-lý. Vua nước Đại-lý đem quân nghênh chiến. Chỉ một trận, toàn quân Đại-lý bị đánh tan. Chúa Đại-lý là Đoàn Hưng-Trí, và cậu là Tín-thư Phúc đầu hàng. Mông-cổ thu được 5 vạn hàng binh nữa. Từ ngày ấy đến giờ, Ngột-lương Hợp-thai tổ chức huấn luyện quân Đại-lý về xung phong, hãm trận, công thành, kỵ mã, bắn cung. Hiện năm vạn hàng binh này có khả năng không thua gì quân Mông-cổ... Ấy là chưa kể đại quân của Mông Kha như hùm, như hổ đóng dài từ kinh đô xứ Thục xuống đến Đại-lý.
Vũ-kỵ thượng tướng quân Lê Tần hỏi:
- Thế bọn dân binh, lao binh ước độ bao nhiêu?
- Ngột-lương Hợp-thai khinh rẻ Đại-Việt, y cho rằng chỉ cần gửi sứ sang dọa nạt, là Đại-Việt đầu hàng ngay. Bấy giờ lấy hàng binh Đại-Việt thay dân binh, lao binh. Vì vậy, thay vì cấp cho mỗi tên quân 5 tên dân-lao binh, thì y cấp cho hai tên thôi. Tổng cộng có 20 vạn dân-lao binh. Tính chung, dưới trướng Ngột-lương Hợp-thai có 30 vạn người sẽ vào tàn phá nước ta.
Triều đình đều hướng về phía Hưng-Đạo vương, như ngụ ý trao tất cả mạng sống của Đại-Việt vào tay vương. Vương đưa mắt nhìn cử tọa một lượt, gần như muốn nói: Chúng ta cùng ra tài lương đống, bảo vệ đất tổ:
- Về việc nghênh chiến, ta còn thời giờ. Tuy chức của Ngột-lương Hợp-thai tới Thái-sư, trong tay có một đạo quân hùng mạnh, đông đảo. Phía sau còn có đại quân của chúa Mông Kha làm trừ bị. Thế nhưng Ngột-lương Hợp-thai không khinh thường ta như sứ Hoàng Khánh-Vân nhận xét. Trái lại y sợ ta là khác!
Cả triều đình đều ngạc nhiên về lời phán của Hưng-Đạo vương. Trong điện Uy-viễn có đến hơn hai trăm người, mà không một tiếng động.
Nhân-Huệ vương hỏi:
- Xin vương huynh giảng rõ hơn...
Hưng-Đạo vương giảng giải:
- Từ khi Mông-cổ lập quốc đến giờ, trước sau họ đã xâm lăng 65 nước. Mà chỉ có 9 nước lớn họ mới sai sứ đến chiêu dụ mà thôi. Gần đây, vì kiêu căng quá độ, ngay đối với cả Tống lẫn Đại-lý, họ cũng không gửi sứ đến. Bây giờ Ngột-lương Hợp-thai gờm ta, y sợ đánh ta chưa chắc đã thắng, nên y mới sai sứ chiêu dụ, với hy vọng ta đầu hàng chăng?
Chán đời đi lang thang !
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-05-23 19:52:01NuHiepDeThuong>
Tiếp theo Hồi 45

Vương xoa hai tay vào nhau :
- Cái thế của ta với Mông-cổ là : Mông-cổ không đánh ta không được, ngược lại ta không thể hàng Mông-cổ. Thế nhưng Mông-cổ đã chinh phục Kim, Liêu, Tống, Hạ, Cao-ly, Tây-vực. Binh của chúng không phải đông gấp mười, gấp trăm ta, mà gấp vạn, gấp triệu ta. Tục ngữ nói : Hai người đánh một, không chột cũng què, huống hồ vạn người, triệu người đánh một ? Vì vậy ta cần đánh một trận, cho họ biết rằng, đánh ta hao binh, tổn tướng mà chẳng thu được lợi lộc gì. Bấy giờ ta sai sứ sang, hậu lễ, dùng lời nhún nhường, xin tiến cống, xưng thần, để được yên thân. Đó là cách bảo toàn đất nước, mà không bị mất thể diện.
Vũ-kỵ thượng tướng quân Lê Tần tâu :
- Trận chiến này là trận chiến mười phần nguy hiểm. Nếu ta thắng thì đất nước còn. Nếu ta bại, thì đất nước chỉ còn là cái bãi đất hoang. Muốn thắng giặc, điều cần nhất phải có một vị Tiết-chế toàn quyền, toàn tài. Vậy không biết bệ hạ định phong vị nào vào chức vu này ?
Cử tọa đều đưa mắt nhìn Hưng-Đạo vương. Nhà vua đưa mắt hỏi ý kiến Thái-sư Trần Thủ-Độ. Thủ-Độ trả lời bằng cái lắc đầu.
Nhân-Huệ vương tâu :
- Từ khi bản triều thụ mệnh trời đến giờ, dù giặc trong, giặc ngoài, đều do Quốc-thượng phụ lĩnh chức Thống-quốc hành quân chinh thảo; thì bây giờ Thái-sư lĩnh ấn Tiết-chế chứ còn ai nữa ? Vả Thái-sư từng là đại tướng chỉ huy binh đoàn Phương Đông của Mông-cổ. Từng là thống súy của Ngột-lương Hợp-thai, Bạt Đô, A-lý Hải-nha, Ngột Lạt Su ; Cút Sa Đen. Bây giờ Thái-sư cầm quân phá Ngột-lương Hợp-thai thì chắc chắn phải thắng y.
Ý Nguyên-Phong hoàng đế muốn cử Hưng-Đạo vương làm Tiết-chế, vi ngài biết rằng chỉ vương mới có đủ tài thắng giặc. Ngài nói lảng :
- Trẫm muốn chỉ định một người khác cầm quân. Còn
Thái-sư thì người phải ở cạnh trẫm, để phù tá đại sự.
Nhà vua biết rõ : Bị ám ảnh bởi di chúc của Yên-sinh vương, cho nên Thái-sư Trần Thủ-Độ sợ rằng trao binh quyền toàn quốc cho Hưng-Đạo vương thì nguy hiểm vô cùng. Nhưng nhà vua lại nghĩ khác. Nếu như để Thái-sư Thủ-Độ hay bất cứ người nào lĩnh ấn Tiết-chế thì chỉ có thể sai phái được quân của triều đình. Còn lực lương mạnh nhất, hữu hiệu nhất của Ngũ-yên thì không điều động nổi.
Biết rõ tâm sự nhà vua, Thái-sư Thủ-Độ chỉ Khâm-Thiên đại vương Trần Nhật-Hiệu :
- Bệ hạ đã phong Khâm-Thiên đạị vương làm Phụ-quốc thái-úy thì xin cứ để vương lĩnh ấn Tiết-chế.
Thế là ấn Tiết-chế vẫn chưa định.
Để giải quyết bế tắc, nhà vua hỏi Hưng-Đạo vương :
- Bây giờ chúng ta phải tiếp rước sứ Mông-cổ như thế nào ?
Vương tâu :
- Dù ý muốn của Mông-cổ ra sao chăng nữa, trước hết ta cứ ban lệnh báo động trên toàn quốc. Sức cho toàn dân cất dấu lương thực. Làng xã sẵn sàng chống giặc. Còn triều đình thì tùy theo thái độ của sứ, mà có phản ứng. Về cuộc tiếp sứ, niên hiệu Chính-long Bảo-ứng thứ sáu, đời vua Lý Anh-tông (DL.1168. Mậu Tý) đã từng tiếp sứ Mông-cổ. Nay ta cũng theo lệ cũ. Nghĩa là tiếp sứ của một nước ngang hàng, không nhìn thấp như tiếp sứ Chiêm. Cũng không trọng thể như tiếp sứ Tống.
Hưng-Ninh vương tâu:
- Thời Lý, triều đình cử phò mã Trần Thủ-Huy ra Đồn-sơn tiếp Bác Nhĩ Truật. Vậy bây giờ bệ hạ định cử ai tiếp sứ?
Nhà vua chỉ Chiêu-Minh vương:
- Trong các con của trẫm, thì Khải nhi vừa có tài ứng biến, vừa có cái ôn nhu của văn nhân. Vậy Khải nhi hãy tuyển chọn mấy người tùy tùng lên biên giới tiếp sứ.
Bãi triều.
Ngay sáng hôm sau, Chiêu-Minh vương cùng Khai-sơn hầu Chu Mạnh-Nhu, Vũ-sơn hầu Tạ Quốc-Ninh, Tam-sơn hầu Vũ Khắc-Kim, Quân-sơn hầu Lê Trọng-Anh dẫn một đội võ sĩ lên đường ra biên giới đón sứ đoàn Mông-cổ. Vì sứ đoàn đi bằng chiến mã, đoàn nghênh tiếp cũng đi bằng ngựa, nên ngay triều hôm đó đã tới Thăng-long. Sứ đoàn gồm có 14 người, do một Thiên-phu trưởng tên Bật Triệt (Bourteck) làm chánh sứ. Có ba bồi sứ tên Trịnh Ngọc, Trịnh Đức, Trịnh Long. Trịnh Ngọc là anh của Trịnh Đức. Trịnh Long là con Trịnh Ngọc. Bồi sứ kiêm thông dịch. Còn lại là một Thập-phu kỵ mã hộ vệ. Sứ đoàn được đưa vào cung Triều-dương nghỉ ngơi. Chiêu-Minh vương sai người cung ứng lương thảo, tắm ngựa. Nguyên-Phong hoàng đế sai sứ tặng sứ đoàn bốn mâm cỗ. Mỗi mâm gồm 36 món thời trân của Đại-Việt. Hoàng đệ Hoài Đức vương thân tiếp chánh sứ. Tiệc tàn, vương ước hẹn, hôm sau sẽ thân tới đón sứ đoàn vào triều kiến Nguyên-Phong hoàng đế.
Đêm đó Thái-sư Trần Thủ-Độ nhập Hoàng-thành mật tấu với Nguyên-Phong hoàng đế :
- Khu-mật viện đã nhận diện đươc bọn thông dịch. Tên Trịnh Ngọc là một tên vô lại, nổi danh lừa đảo thiên hạ.
- Trẫm nghe nói nó là người Hồi-hột, sự thực ra sao?
- Trên luật lệ thì tên Trịnh Ngọc là con tên Trịnh Thư. Nhưng thực ra mẹ y thả nái với một tên Hồi-hột đẻ ra y. Nguyên Thánh-cát Tư-hãn khi chinh Tây được dân chúng theo đạo Hồi nổi lên theo. Ông ta chuyên dùng bọn này, giả làm thương nhân đi khắp nơi dò thám. Bọn Hồi đến nước ta đã nhiều lần. Vì sợ vào lầu xanh kiếm gái, bị bệnh, nên chúng tung tiền ra mua gái nhà lành để hành lạc. Vợ tên Trịnh Thư bán xác cho tên lái buôn Hồi, đẻ ra tên Trịnh Ngọc, Trịnh Đức. Hồi còn niên thiếu tên Trịnh Ngọc có theo học nghề thuốc, làm thầy lang. Sau vợ y tằng tịu với một thầy chùa, bỏ y. Y bất mãn, tụ tập bọn du thủ du thực lập đảng. Bị kết án tử hình, y trốn sang Trung-nguyên theo Mông-cổ. Y rất thông thạo tình hình Đại-Việt ta. Thần đã có cách trị y.
Nhà vua hỏi:
- Ta phải có thái độ nào với sứ Mông-cổ?
- Bọn Bật Triệt không phải là sứ Mông-cổ, mà chỉ là một tên đưa thư của Ngột-lương Hợp-thai. Ta không cần tiếp theo lễ nghi một nước với một nước, mà chỉ tiếp theo cung cách một võ tướng nhận thư của một tướng. Xin bệ hạ hãy làm như thế...như thế.
- Thái-sư trị tên Trịnh Ngọc bằng cách gì?
- Từ khi sang Trung-nguyên theo Mông-cổ. Mông-cổ bỏ tiền cho y, để y tiếp tục liên lạc với bọn vô lại trong nước dò la quân tình của ta. Thần đã có cách trị chúng : Giam lỏng chúng ở Thăng-long, như vậy ta sẽ biết hết chân tay chúng. Sau đó thả chúng về, trong khi đó ta cung cấp tin ma cho chân tay chúng. Chúng tưởng là thực, lại cấp tin ma cho Mông-cổ...
Thủ-Độ chau mày lại, tỏ vẻ đẳn đo một lúc, rồi tâu:
- Ngột-lương Hợp-thai từng ở dưới quyền thần. Y sợ thần như sợ cọp. Y biết thần hiện lĩnh chức Thái-sư. Cho nên y sai tên Trịnh Ngọc dò dẫm tình hình. Nếu như bây giờ thần giả chết. Tên Trịnh Ngọc báo về cho Ngột-lương Hợp-thai, thì y nhìn Đại-Việt dưới con mắt không người. Như thế, ta có thể thắng y dễ dàng.
- Thái-sư giả chết ra sao?
- Thần sẽ làm như vậy, như vậy...
- Kế ấy hay.
Hôm sau, Chiêu-Minh vương không đến cung Triều-dương đón Bật Triệt như ước định. Người đón là Vũ-Uy vương. Vương giả làm Đô-thống chỉ huy hiệu binh Tinh-cương, dẫn mười Thị-vệ tới gặp Bật Triệt. Sau khi vương xưng danh phận, bồi sứ Trịnh Ngọc tỏ vẻ không bằng lòng :
- Hôm qua, Chiêu-Minh vương, rồi Hoài-Đức vương thân đón tiếp chúng ta. Tại sao hôm lại là Đô-thống ?
- Trịnh bồi sứ là người Việt, ắt hiểu rằng nước ta là nước văn hiến, thì cuộc tiếp sứ cũng phải có văn hiến chứ ?
Trịnh Ngọc ngước con mắt lác ti hí, trong thân thể lùn tịt hỏi :
- Văn hiến ? Văn hiến là hôm qua ước hẹn thế này, hôm nay thế khác ư ?
- Hôm qua, triều đình Đại-Việt tưởng đâu sứ đoàn do vua Mông-cổ sai sang, thì tiếp đãi theo lễ nghi hai nước ngang hàng. Sau khi biết rằng Thiên-phu Bật Triệt chỉ là võ tướng bậc trung, mang thư của Thái-sư Ngột-lương Hợp-thai, thì triều đình cử một Đô-thống như tôi tiếp rước cũng là trọng thể lắm rồi.
Trịnh Ngọc dịch lại cho Bật Triệt nghe. Bật Triệt nổi cáu, nhưng y đành im lặng theo Vũ-Uy vương. Tới cổng điện Uy-viễn. Cổng chính đóng kín, chỉ có hai cổng phụ hai bên mở. Vũ-Uy vương xuống ngựa, chỉ tay vào cổng phụ :
- Chúng ta vào cổng này.
Bật Triệt không nín được nữa, y nói với Trịnh Ngọc. Ngọc dịch lại:
- Ta đường đường là sứ Thiên-triều mà phải xuống ngựa, đi cổng phụ sao ?
Vũ-Uy vương cười :
- Tướng quân chỉ là một Thiên-phu trưởng, làm nhiệm vụ của người đưa thư, chứ không phải sứ.
Bật Triệt giận run người lên. Nhưng y vẫn phải xuống ngựa theo Vũ-Uy vương. Tới thềm điện Uy-viễn, bồi sứ Trịnh Ngọc hỏi :
- Trước đây, một người Việt tên Trần Thủ-Độ từng là đại tướng chỉ huy đạo binh Đông-phương của Mông-cổ. Sau đó người, đi sứ Đại-Việt, rồi bặt tin. Nghe đâu Thủ-Độ hiện là Thái-sư của Đại-Việt. Khi bản nhân lên đường, Đại hoàng đế Mông-cổ gửi một phong thư cho Trần Thủ-Độ. Vậy bây giờ Trần Thủ-Độ ở đâu?
- Chúng tôi sẽ đưa bồi sứ gặp Thái-sư sau.
Trịnh Ngọc thấy mình bị dẫn tới điện Uy-viễn, thì tỏ ý không vui lòng:
- Ta nghe, vua An-Nam thiết triều tại điện Càn-nguyên, hay Thiên-an. Còn điện Uy-viễn chỉ là nơi làm việc của Phụ-quốc thái-úy. Tại sao người đưa chúng ta đến đây ?
Vũ-Uy vương vẫn cười rất tươi :
- Trịnh bồi sứ lại quên mất rằng, Thiên-phu Bật Triệt chỉ là người mang thư của Thái-sư Mông-cổ, thì người nhận thư của Đại-Việt phải là Thái-úy phụ quốc chứ ?
Thị-vệ gác điện Uy-viễn hỏi :
- Các người là ai ?
Vũ-Uy vương đáp :
- Đô-thống chỉ huy hiệu binh Tinh-cương, dẫn Thiên-phu Bật Triệt, mang thư của Kiểm-hiệu thái-sư thống lĩnh hành quân chinh thảo Nam-thiên Ngột-lương Hợp-thai.
Thị-vệ hô :
- Chỉ mình Đô-thống với Thiên-phu trưởng được vào mà thôi.
Trịnh Ngọc quát :
- Ta là thông dịch, mà cũng không được vào ư ?
- Đưa thư không cần nói. Không cần người dịch.
Bật Triệt nổi cáu :
- Như vậy ta không vào.
Thị-vệ cương quyết :
- Người không vào thì cứ đứng đó.
Bấy giờ là tháng tám, trời nắng chang chang. Vũ-Uy vương mặc cho bọn Mông-cổ đứng giữa trời. Bọn Bật Triệt sống ở vùng Thảo-nguyên quanh năm lạnh như cắt da, xé thịt đã quen. Bây giờ phải đứng phơi nắng, mồ hôi người, mồ hôi ngựa tuôn ra như mưa. Được khoảng hơn khắc (14 phút), mấy con ngựa đều há miệng ra thở phì phào. Bọn lính Mông-cổ khát nước, chúng đã dốc đến giọt cuối cùng của bầu nước vào miệng.
Lại một khắc nữa trôi qua. Đám chiến mã chịu không nổi cái nóng, chịu không nổi cái khát, chúng hý lên inh ỏi. Bọn lính Mông-cổ nhờ bọn Trịnh Ngọc hỏi đám Thị-vệ :
- Xin cho chúng tôi ít mấy chum nước, bằng không người ngựa sẽ chết khát mất.
Vũ-Uy vương lắc đầu :
- Chúng tôi được lệnh dẫn anh em tới đây, chứ không có nhiệm vụ bưng nước cho ngựa.
Lại một khắc nữa trôi qua.
Mấy con chiến mã Mông-cổ há miệng ra thở khò khè trông rất thảm thiết. Còn sứ đoàn thì bắt đầu run run muốn ngã. Bỗng có tiếng lóc cóc, rồi một chiếc xe do con lừa kéo đi qua. Trên xe có hàng chục cái bầu đựng nước. Đám Thị-vệ chạy lại, mỗi người lấy một cái bầu mở nắp dốc vào miệng mà uống. Người, ngựa Mông-cổ nhìn cảnh đó, chịu không nổi. Bật Triệt nói với Vũ-Uy vương :
- Tôi xin khuất phục. Xin cho chúng tôi uống nước. Tôi chịu vào yết kiến Thái-úy An-Nam.
Vũ-Uy vương hỏi :
- An-Nam hay Đại-Việt ?
- Đại-Việt ! Đại-Việt.
Vũ-Uy vương cầm tù và rúc lên một tiếng. Ba chiếc xe song mã chạy tới. Trên mỗi chiếc xe, chở hơn chục cái vại đựng đầy nước trong. Người, ngựa Mông-cổ tranh nhau uống ừng ực. Uống no rồi, Bật Triệt mới chịu theo Vũ-Uy vương vào trong điện Uy-viễn.
Trong điện, Thái-sư Trần Thủ-Độ ngồi trên ghế bọc da hổ. Hai bên có hai hàng võ sĩ cầm đủ thứ vũ khí đứng hầu. Tuy Thủ-Độ từng là một đại tướng Mông-cổ. Nhưng thời ấy, Bật Triệt chưa ra đời, nên y không biết mặt người. Có giọng nói trầm trầm bằng tiếng Mông-cổ :
- Thiên-phu trưởng Bật Triệt nghe đây. Người ngồi chính giữa là Quốc thượng phụ Thái-sư của Đại-Việt. Người ngồi bên trái là Khai-sơn hầu Chu Mạnh Nhu. Người ngồi bên phải là Vũ-sơn hầu Tạ Quốc-Ninh.
Bật Triệt quát lớn :
- Bọn Nam-man ! Các người không cho thông dịch vào, thì ta nói, sao bọn mi hiểu được ?
Khai-sơn hầu Chu Mạnh-Nhu nói bằng tiếng Mông-cổ :
- Trước hết người hãy báo danh đi.
Bật Triệt hơi kinh ngạc. Y hống hách :
- Ta là sứ giả của Kiểm-hiệu thái sư thống lĩnh hành quân chinh thảo Nam-thiên.
- Người muốn nói gì thì nói đi.
Khai-sơn hầu trả lời : Ngột-lương Hợp-thai sai người sang đây có việc gì ?
- Thái-sư sai ta truyền mệnh lệnh tới các người. Vậy các người hãy nghe cho kỹ.
Thái-sư Thủ-Độ cũng như Khai-sơn, Vũ-sơn hầu đều biết rằng Mông-cổ vốn không có văn tự. Họ phải dùng văn tự Thổ-phồn, Trung-quốc và Tây-vực. Mỗi khi gửi sứ cho các nước, thì viên sứ phải học thuộc bản văn, rồi đọc cho người nhận nghe. Ba vị gật đầu chờ đợi.
Bật Triệt chống nạnh hai tay, ngoác mồm ra, tuôn một hồi, bằng tiếng Mông-cổ :
« Thái-sư thống lĩnh hành quân chinh thảo Nam-thiên của Thiên-quốc Mông-cổ là Ngột-lương Hợp-thai ban lệnh cho vua An-Nam là Trần Cảnh.
Này Trần Cảnh.
Hiện nay, ta vâng chỉ đại đế Mông Kha đem hùng sư sấm sét mười vạn, thêm hai mươi vạn dân-lao binh. Ngựa khỏe như sư tử. Binh hùng như sấm sét. Tất cả đang dàn ra biên giới nước người.
Ta định xua binh tràn vào nước man mọi của người, phá hủy thành trì, tàn sát dân mọi, đốt sạch nhà cửa. Song, ta sinh phúc không nỡ, bởi coi các người như ngựa, như trâu có thể sai bảo. Giết đi thì hơi phí. Chi bằng tha cho.
Vậy truyền cho chúa tôi bọn bay rằng : Đích thân Trần Cảnh phải dẫn văn võ lên tận biên giới tiếp rước binh trời. Lại phải sửa sang đường xá cho rộng. Cầu phải bắc lại thực chắc. Khi đại giá ta vào nước, phải cung ứng lương thảo đầy đủ. Tất cả vua, quan bọn bay ngày ngày đến trước trướng ta nghe lời sai bảo.
Lệnh này ban ra, nội trong ba ngày mà các người chưa tuân, thì hãy ngửa cổ ra chờ chúng ta tới chặt. Vợ, con gái các người hãy tắm rửa mà chờ quân ta tới ngồi trên bụng ».
- Tát vào miệng nó.
Một Thị-vệ vung tay tát hai cái vào mặt Bật Triệt. Võ công Bật Triệt cũng vào loại cao thủ. Y nghiêng đầu tránh. Nhưng viên Thị-vệ ra tay thần tốc quá, hai tiếng bốp, bốp vang lên. Sáu cái răng Bật Triệt bị gẫy. Y ngã lộn xuống dưới thềm điện. Thị-vệ trói y lại, dẫn ra ngoài. Bên ngoài, tất cả tùy tùng của y đều bị trói, đang bị điệu đi. Ba tên bồi sứ bị gông cổ.
Sau khi tống giam bọn Bật Triệt vào ngục, Thái-sư Trần Thủ-Độ nhập cung mật tấu với Nguyên-Phong hoàng đế . Nhà vua tỏ ý lo ngại :
- Xưa nay Mông-cổ vốn coi trọng sứ giả. Nay Thượng-phụ tống giam sứ của họ, thì sau này khó hy vọng mà giảng hòa với họ. Hoặc giả Thượng-phụ có cao kiến gì chăng ?
- Tâu bệ hạ, thần quả có thâm ý.
Thái-sư Thủ-Độ tâu : Vì trong triều còn một số thân vương đại thần muốn đầu hàng giặc để bảo toàn mạng sống, tài sản. Vì vậy thần mới mạnh tay với bọn sứ Mông-cổ. Từ nay, ai nấy đều biết, đã tống giam sứ Mông-cổ, thì dù có hàng, chúng cũng làm cỏ cả nước. Thế là không còn ai dám nghĩ đến hàng giặc nữa.
Huệ-Túc phu nhân nhìn Thủ-Độ, miệng tủm tỉm cười.
Thủ-Độ hỏi:
- Không biết phu nhân có điều gì hoan hỷ trong lòng?
Huệ-Túc trao một tờ hoa tiên cho Thủ-Độ:
- Tôi mới làm một bài thơ mừng tuổi thọ của Thượng-phụ. Rất mong Thượng-phụ thu nhận.
Thủ-Độ tiếp tờ hoa tiên bỏ vào túi rồi cáo lui. Rời khỏi Hoàng-thành, ông mở tờ giấy ra đọc:
" Hôm trước Thượng-phụ thua cuộc, có hứa làm theo tôi ba việc. Việc thứ nhất là cho gia đình tôi kiều ngụ ở Đại-Việt. Bây giờ tôi xin yêu cầu điều thứ nhì, mong Thượng-phụ thực hiện. Đó là: Mai này Hoàng-thượng chỉ định ai lĩnh chức Tiết-chế thống quốc binh sự, xin Thái-sư đừng cản trở".
Đọc xong, Thủ-Độ giật mình, ông than:
- Phụ nhân, chân khả úy.(Đàn bà thực đáng sợ).
Thái-sư Thủ-Độ về rồi, nhà vua chắp tay vào nhau, đi đi, lại lại trầm tư suy nghĩ. Từ khi nhập cung, vì văn hay, chữ tốt, Huệ-Túc phu nhân được nhà vua cho ở cạnh để đọc các tấu chương, cùng phù tá. Thấy nhà vua mệt mỏi tâm thần, phu nhân hỏi :
- Dường như bệ hạ có điều gì chưa quyết được phải không ?
- Đúng vậy !
- Có phải việc chỉ định người lĩnh ấn Tiết-chế không ?
- Quả thế.
- Thiếp thấy, trong tâm bệ hạ muốn phong Hưng-Đạo vương vào chức ấy, mà lòng còn nghi hoặc về di chúc của Yên-sinh vương ; cho nên long tâm bất an.
- Đúng ! Khanh có ý kiến gì giúp trẫm chăng ?
- Người xưa nói : Khi không quyết thì hỏi quỷ thần. Quỷ thần đây là gieo quẻ như vua Văn-vương xưa. Bấy giờ chưa có khoa Tử-vi thì phải bói. Còn bây giờ khoa Tử-vi có thể biết kẻ trung, người nịnh. Tại sao bệ hạ không đem số Tử-vi của Hưng-Đạo vương ra nghiên cứu ?
- Khanh nhắc trẫm mới nhớ. Hưng-Đạo vương sinh giờ Mùi, ngày 1 tháng 5 năm Nhâm Thìn.
Thông thường khi xem một lá số, Huệ-Túc phu nhân chỉ bấm trên tay. Nhưng bây giờ phải quyết một việc tối hệ trọng, phu nhân cầm bút chấm lá số của Hưng-Đạo vương rất chi tiết, rồi cùng nhà vua ngồi cân nhắc từng ngôi sao một. Phu nhân bàn :
- Đây ! Tuổi Nhâm Thìn, mệnh thuộc Thủy. Trong lá số thì mệnh lập tại Hợi là cung thủy. Kim tứ cục. Như vậy là bản mệnh với cung lập đồng hành, được cục sinh ra. Mệnh là bản chất con người, nơi mệnh lập là chỗ đứng của đời người. Chỗ đứng của đời người, với bản chất cùng một hành, có nghĩa cuộc đời lúc nào cũng thuận tiện. Cục là bước đi dài ngắn khác nhau. Kim sinh thủy. Cục kim sinh ra bản mệnh, sinh ra nơi mệnh lập, thì từ bản chất, tới chỗ đứng, được bước đi sinh ra. Như vậy không bao giờ vương thất bại. Không bao giờ chết bất đắc kỳ tử. Nếu trao binh quyền cho vương thì chỉ có thắng hoặc hòa, chứ không bại.
Nhà vua thở dài nhẹ nhõm.
- Cách Tử, Phủ Vũ, Tướng là cách của những bậc vĩ nhân lịch sử . Tử-vi, Thất-sát thủ mệnh, được Hóa-quyền, Văn-khúc, Trường-sinh phù tá thì đây là số của một bậc tể thần, làm lên sự nghiệp vang lừng khắp hoàn vũ, muôn dân trông chờ, nghìn vạn năm sau còn tôn kính. Nói khác đi, mệnh của vương là mệnh của bậc thánh nhân. Như vậy thì bệ hạ còn trì nghi gì nữa mà không ban chỉ trao quyền Tiết-chế cho vương, để vương kịp thời chuẩn bị phá giặc.
Thấy trán nhà vua nhăn lại, phụ nhân nắm lấy tay ngài rung rung thực mạnh :
- Bệ hạ tỉnh hay mơ ? Bệ hạ sợ trao binh quyền cho vương, rồi vương cướp ngôi vua ư ? Nhất định không có. Nếu như vương cướp ngôi, thì muôn nghìn năm sau, sử xanh còn chép vương là một gian thần tặc tử. Trong khi số của vương là số đại anh hùng, đại thánh nhân...Thì nhất định không có việc vương cướp ngôi rồi.
Nhà vua ôm lấy phu nhân, ngài hôn phớt lên đôi má hồng:
- Trời mang khanh đến ban cho trẫm. Mai này thiết triều, trẫm sẽ bác lời Thái-sư , phong Hưng-Đạo vương làm Tiết-chế quân mã.
Sáng hôm sau, ngày 20 tháng 8 năm Đinh Tỵ nhằm niên hiệu Nguyên-Phong thứ bẩy, triều đình Đại-Việt thiết đại triều để nghe Thái-sư Thủ-Độ tường trình về việc tiếp sứ đoàn Mông-cổ. Sau khi tâu xong, Thái-sư kết luận :
- Bây giờ ta dàn quân chờ sẵn, rỗi gọt tóc, cắt mũi 3 tên Việt làm chó săn cho Mông-cổ, rồi thả về. Ngột-lương Hợp-thai sẽ uất lên đến cổ, tất y xua quân đánh ta. Phàm khi ra quân, mà tướng cáu giận, thì bị lầm lẫn, dễ bị bại.
Vũ-kỵ thượng tướng quân Lê Tần nhắc lại câu hỏi hôm trước :
- Xin bệ hạ khẩn ban chỉ, cử một vị làm Tiết-chế quân mã.
Cả triều đình cùng gật đầu tán thành lời tâu của Lê Tần. Trong khi Thái-sư Trần Thủ-Độ cau mặt lại, tỏ vẻ khó chịu. Nguyên-Phong hoàng đế đứng dậy, ngài rút cây Thượng-phương bảo kiếm cầm trên tay, lại đưa mắt nhìn quần thần môt lượt rồi, ban chỉ :
- Suốt mấy ngày qua, trẫm đã suy nghĩ kỹ. Lại xét số Tử-vi, khấn các vị tiên hiền Đại-Việt phù hộ. Nay trẫm quyết định.
Hiện diện cố gần hai trăm người, mà không một tiếng động. Nguyên-Phong hoàng đế bước đến bên Hưng-Đạo vương, trao thanh kiếm cho vương :
- Kể từ lúc này, Hưng-Đạo vương là Tiết-chế toàn bộ binh mã Đại-Việt. Khi mang thanh kiếm này thì vương là trẫm. Mọi mạng lệnh vương ban ra là lệnh của trẫm. Ngày mai, sẽ thiết Tinh-triều tại điện Uy-viễn để nghị kế phá giặc.
Cả triều thần thở dài nhẹ nhõm. Người người đều hiện ra nét hân hoan vô cùng tận. Duy Thái-sư Thủ-Độ và Khâm-Thiên đại vương cau mặt, buông tiếng thở dài nhẹ như tơ, nên không ai chú ý.
Thái-sư than thầm:
- Mình già đầu mà còn mắc mưu trẻ con. Huệ-Túc phu nhân đã chặn trước rồi. Mình đành chịu thua...trẻ con. Âu là mệnh trời.
Hôm sau.
Tại điện Uy-viễn. Xung quanh điện, Thị-vệ canh phòng cẩn mật. Mỗi người dắt một con chó, lưng đeo bảo đao, đi đi lại lại. Trên trời, một đoàn 20 chim ưng bay lượn, dù một con chuột, con thỏ cũng không lọt ra ngoài tầm mắt của chúng.
Trong điện, Nguyên-Phong hoàng đế ngồi trên ngai vàng đặt chính giữa. Hai bên là bốn dẫy ghế . Chư thân vương, đại thần ngồi trên hai dẫy đầu. Hai dẫy sau cùng dành cho các võ tướng. Thông thường, các buổi triều nghị, trừ Thái-sư Trần Thủ-Độ, còn lại đều phải đứng. Nhưng hôm trước, theo lời tâu của Hưng-Đạo vương. Vương xin hoàng đế chuẩn cho: Trong các buổi thiết triều, nghị về quốc kế, thì các đại thần đều được ngồi ghế, để tránh mệt mỏi. Khi tâu, cũng không phải quỳ gối hành đại lễ.
Đặc biệt buổi thiết Tinh-triều hôm nay còn có Nam-thiên ngũ long.
Lễ nghi tất.
Hưng-Đạo vương cầm thanh Thượng-phương bảo kiếm để trước mặt. Trong điện hiện diện hơn trăm người, mà không một tiếng động. Không khí cực kỳ trang nghiêm. Nguyên-Phong hoàng đế mở lời:
- Buổi thiết Tinh-triều hôm nay, để nghị về quốc kế bình Mông. Bất cứ ai hiện diện tại đây, đều có quyền phát biểu ý kiến. Bây giờ trẫm để Tiết-chế tổng đốc binh mã Hưng-Đạo vương điều khiển.
Hưng-Đạo vương hướng vào triều thần :
- Phàm ra quân, phải xử dụng ba yếu tố thiên-thời, địa lợi, nhân hòa. Trong ba yếu tố thì nhân hòa phải coi là yếu tố chính. Nhân hòa đối với ta là quan trọng nhất. May mắn thay nhân hòa ta đã đạt được từ lâu rồi. Hiện cả nước đang chờ phá giặc.
Nguyên-Phong hoàng đế gật đầu tỏ ý tán thành.
- Thứ nhì là thiên thời. Nếu bây giờ ta sai cắt mũi 3 tên bồi sứ họ Trịnh, rồi thả về, như Thái-sư bàn hôm trước, đĩ nhiên ta chọc cho Ngột-lương Hợp-thai nổi giận, đến mất bình tĩnh. Y sẽ xua quân tràn vào đánh ta trong tháng 9. Thế nhưng, khí hậu tháng 9 đến tháng chạp là mùa lạnh. Thiên thời đối với quân ta thực bất lợi. Vì quân ta chịu lạnh dở. Ngược lại, khí hậu này cho quân Mông-cổ, vì chúng sống ở vùng Thảo-nguyên, khí hậu lạnh cắt da, xé thịt; khí hậu của ta đối với chúng là khí hậu mát mẻ, người ngựa của chúng sẽ cảm thấy dễ chịu.
Cử tọa vỗ tay hoan hô, kể cả hoàng đế và Thái-sư Trần Thủ-Độ.
- Vậy ta cứ giữ bí mật việc tống giam sứ , để Ngột-lương Hợp-thai mỏi mắt chờ. Hết tháng chín không thấy sứ về, y lại sai sứ sang nữa. Ta cũng bắt giam. Sang tháng 10 không thấy sứ về, y có thể sai sứ sang nữa. Ta lại bắt giam. Như vậy y có xuất quân cũng phải sang cuối tháng Chạp. Ta chỉ cần cầm cự vài tháng, khí hậu trở thành ấm áp với ta, trở thành ôn nhiệt với Mông-cổ. Thế là ta đạt được thiên thời.
Triều đình im lặng nghe vương nghị kế :
- Về địa lợi. Ưu điểm của giặc là Kỵ-binh xung trận, là phá thành. Vậy ta không thủ thành, cũng chẳng dàn quân. Ta cần dụ cho giặc vào sâu trong nước. Trước hết, triều đình cần rời khỏi Thăng-long, ẩn vào sống với dân. Mỗi bộ ẩn vào một thôn xã khác nhau, luôn di chuyển, để giặc không biết tung tích. Ta dùng chim ưng liên lạc với nhau. Gia đình các đại thần, các võ tướng, ai ở đâu, thì đưa về quê mình sống với dân chúng. Như thế các quan yên tâm phá giặc, không phải vướng vít thê nhi.
Các quan gật đầu, tỏ ý tuân phục.
- Về nội cung. Từ mấy năm qua, Linh-Từ quốc mẫu cùng Nam-thiên ngũ long đã huấn luyện cho cung nga, thái giám trở thành những võ sĩ. Bây giờ triều đình không cần phải sai tướng, cử binh bảo vệ nội cung. Trái lại nội cung gặp giặc lại có thể giao chiến ngang tay với chúng.

Thành-cát Tư-hãn và đế quốc Mông-cổ chinh phục Trung-Đông và Âu-châu

Trong Anh-hùng Đông-a dựng cờ bình Mông (AHĐA-DCBM) quyển 2, hồi thứ 16 và 17, tôi đã thuật nguồn gốc một bộ tộc Ki-dát, ở vùng Thảo-nguyên trên cực Bắc Á-châu. Bộ tộc này với chủ đạo tin rằng tổ tiên là con sói xám, dưới sự lãnh đạo của Thiết Mộc Chân, dần dần trở thành một trong những nước lớn. Trong cơ duyên đặc biệt, phò-mã Trần Thủ-Huy, cùng công chúa Đoan-Nghi (con gái vua Lý Anh-Tông) đã kết thân với Thiết Mộc Chân và bốn đại tướng của Mông-cổ tự xưng là Tứ-liệp lang vương tức bốn con sói-săn là Bác Nhĩ Truật, Gia Luật Mễ, Tốc Bất Đài, Triết Biệt. Cuộc kết thân này, đưa đến Mông-cổ gửi sứ thần sang Đại-Việt. Sang quyển 3, AHĐA-DCBM hồi 29, 30 và quyển 4, hồi 32, 30 lại thuật chi tiết việc một thân vương triều Lý là Lý Long-Phi đã từng đến Mông-cổ trước phò mã Thủ-Huy, với công chúa Đoan-Nghi. Long-Phi giúp Mông-cổ luyện quân, tổ chức quân đội. Tiếp đến việc phò mã Thủ-Huy, công chúa Đoan-Nghi bị vua Lý Cao-tông đem cống cho Tống. Hai vị bất mãn, bỏ lên Mông-cổ. Hai vị đã sinh ra người con, sau thành anh hùng Đại-Việt là Trần Thủ-Độ. Trong thời gian lưu lại Mông-cổ, hai vị giúp Thiết Mộc Chân luyện quân, tổ chức quân đội, tổ chức Khu-mật viện, tổ chức đội mã khoái Phi-tiễn. Mông-cổ trở thành hùng mạnh, chinh phục hầu hết các bộ lạc Thảo-nguyên, lên ngôi vua, Thiết Mộc Chân xưng là Thành-cát Tư-hãn. Hồi 40 quyển 4 và hồi 41 quyển 5, thuật rõ trường hợp nào Trần Thủ-Độ trở thành một đại tướng chỉ huy binh đoàn Phương Đông của Mông-cổ. Thủ-Độ là người tràn ngập các cửa Trương-gia, Xích-thành, Hậu-thành của Vạn-lý trường thành ; và trở thành một đại tướng đầu tiên vây hãm kinh thành Yên-kinh (Bắc-kinh ngày nay).
Sau khi đánh Trung-quốc, Thành-cát Tư-hãn tiến đánh Tây-hạ, rồi một biến cố đặc biệt xẩy ra, ông đem đại quân tràn về phương Tây phá tan đế quốc Kwharesm (Hoa Thích Tử Mô), sau đó con cháu ông tiếp tục chinh phục Iran, Irak, Syrie, Afganistan, Hung-gia-lợi, Ba-lan, Tiệp-khắc, Đức, Nga v.v. đặt nền móng cai trị đến mấy trăm năm.
Dưới đây chúng tôi tóm lược ý chính trong hai tập tài liệu quân sự, đã giải mật, để độc giả có cái nhìn đại cương về sự hùng mạnh của Mông-cổ năm 1258, là năm họ mang quân đánh Đại-Việt, và bị thất bại.

- Nguyên triều chinh tiễu An-Nam khảo bị.(NTCTANKB)
Sở Nghiên-cứu, Cục Tác-chiến, Bộ Tổng-tư lệnh quân đội nhân dân Trung-quốc.

- Thành-cát Tư-hãn chinh Tây khảo lược.(TCTHCTKL)
Sở Nghiên-cứu, Cục Tác-chiến, Bộ Tư-lệnh quân khu miền Tây Mông-cổ 1960.
Xin nhắc để độc giả rõ : Cái gọi là Sở nghiên cứu đề trên bìa tập tài liệu đó trên nguyên tắc trực thuộc Cục-tác chiến. Sợ những vị từng phục vụ trong quân đội Việt-Nam cộng hòa, hay quân đội Hoa-kỳ hiểu lầm. Tôi xin có đôi lời giải thích. Về phía Việt-Nam, khi soạn thảo Quân-sử, thì do khối Quân-sử, trực thuộc phòng 3, bộ Tổng-tham mưu ; những chuyên viên biên soạn hầu hết là sĩ quan, căn cứ vào những tài liệu tồn trữ, rồi viết ra. Rất ít khi có những lời bình luận. Về phía Hoa-kỳ, thì do một Trung-tâm Quân-sử thuộc bộ Quốc-phòng, thường thì do các sĩ quan, hoặc chuyên viên biên soạn. Như khi mời các tướng Cao Văn Viên, Đồng Văn Khuyên, Ngô Quang Trưởng, Trần Đình Thọ... viết quân sử Hoa-kỳ trong thời gian tham chiến tại Việt-Nam, đã do General Research Corporation... mời ký khế ước. Ngược lại, tại Mông-cổ thì việc nghiên cứu này do chính vị Tư-lệnh, Phó Tư-lệnh cùng những sĩ quan, chuyên viên biên tập. Viên sĩ quan chánh sở Nghiên-cứu chỉ lĩnh nhiệm vụ như là một tổng thư ký. Còn Cục Tác-chiến của Mông-cổ, thì bao gồm nhiệm vụ của phòng 3 (G3) và trung tâm Hành-quân (TOC). Tài liệu được dùng để giảng dậy cho các sĩ quan cao cấp, và làm tài liệu nghiên cứu cho các sĩ quan thiết kế hành quân.

Chiến dịch Kwharesm (Hoa Thích Tử Mô)

Tống-sử thuật lại chiến dịch Kwharezm vắn tắt khoảng 2 trang, cũng không nói đến tên của vua nước này là Mộ Hợp Mễ hay Ma Kha Vị (Ala Ed Din Mohammed). Vì Mông-cổ tàn phá các nước Trung-Đông, châu Âu như Afganistan, Iran, Irac, Syrie, Hung-gia-lợi, Ba-lan, Tiệp-khắc, Đức, Liên-sô v.v. rồi cai trị mấy trăm năm. Sử sách của các dân tộc này ghi chép rất đầy đủ. Độc giả có thể tìm đọc những sách này bằng tiếng Anh, Pháp, mà thuật giả ghi ở phần thư mục AHĐA-DCBM quyển 1.
Năm 1217, quân Mông-cổ đánh chiếm đế quốc Tây-Liêu, giết bạo chúa Gut Sơ Lúc, làm cho các nước vùng Trung-á hết sức quan tâm. Các nước này tiếp giáp với Tây-Liêu bằng con sông Irtysh. Sự kiện một đạo quân dữ như quỷ sứ, đi đến đâu tàn sát đến đó làm cho vua chúa vùng này phải tìm hiểu. Họ được những thương nhân kể cho nghe rằng: Thành-cát Tư-hãn là một ông vua bách chiến bách thắng. Đội Kỵ-mã của ông mạnh hơn núi lở, băng tan. Ông là người ưa trật tự, ưu đãi thương nhân, thường nâng đỡ họ đặc biệt. Họ kể cho những ông vua này nghe về các trận đánh kinh thiên động địa của Mông-cổ với Kim. Mông-cổ đã chiếm được nước Kim, Tây-Hạ, Liêu-Đông, Cao-ly, Nãi-man, Khắc-liệt, Thát-đát.
Bấy giờ thế giới Hồi-giáo đang ở vào thịnh thời của Alla Ed Din Mohammed, đại đế nước Kwharezm. Tổ tiên của Mohammed nguyên là người hầu cận gốc Thổ, được vua sứ Seljuk phong tước phó quận vương ở vùng lưu vực sông Amou Daria. Đến đời cha của Mohammed, bờ cõi của quận vương mở rộng từ bờ biển Caspienne tới Boukhara, và từ biển Alrai tơí Ba-tư. Ngôi vua truyền sang Mohammed, ông đem binh chinh phục, mở rộng bờ cõi ra bốn phía: Vượt sông Syr Daria lên Bắc chiếm một nửa vùng thảo nguyên Kurghise. Phía Đông chiếm lãnh thổ Transoxiane bao gồm Samarkande, Đại-uyển (Fergana). Phía Nam, chiếm A-phú-hãn. Phía Tây tới Irak. Thời bấy giờ, ông được người ta tặng cho danh hiệu Cái bóng của Allah trên mặt đất, hay Alexandre đại đế thứ nhì.
Muốn làm bá chủ thế giới Hồi-giáo, ông xin giáo chủ ở Bagdah nhận là Hoàng-đế, dưới sự che chở của giáo chủ. Cũng nên nhắc lại, giáo chủ Hồi-giáo, trong phạm vi thế tục chỉ có ảnh hưởng ở vùng Mésopotamie. Nhưng về tôn giáo, ông là giáo chủ của tất cả tín đồ Hồi-giáo. Ông có ảnh hưởng đến tất cả giáo chúng Hồi-giáo.
Lời yêu cầu của Mohammed không được giáo chủ Nasir chấp nhận. Ngược lại, giáo chủ còn ra lệnh cấm tín đồ không được cầu nguyện cho Mohammed. Giáo-chủ còn đi xa hơn, là xúi dục các tiểu vương chống Mohammed, ly khai với đế quốc Kwharesm. Thư của giáo chủ Nasir đến với Mohammed, giữa lúc ông đang chinh phục A-phú-hãn. Nổi giận, Mohammed triệu tập một hội nghị Hồi-giáo truất phế Nasir, bầu một giáo chủ mới, rồi cất quân đi đánh Nasir.
Giữa lúc Mohammed chỉnh bị binh mã thì được tin Tây Liêu bị Mông-cổ chinh phạt. Ông mù tịt về thế giới Đông-phương. Tuy vậy để đề phòng, ông ngưng việc đánh Badad, dồn quân lên miền Bắc đề phòng. Một mặt ông gửi sứ thần qua Mông-cổ.
Ngược lại với Mohammed, Thành-cát Tư-hãn lại biết về thế giới Hồi-giáo. Những thương nhân đem vào Mông-cổ không biết bao nhiêu sản phẩm xứ Hồi: Áo giáp tên xuyên không thủng, mũ chiến bằng đồng, mộc bọc thép, mã tấu sắc bén, bình pha lê, nữ trang, thảm.

Sau khi tiếp sứ đoàn Kwharezm, Thành-cát Tư-hãn nhờ sứ đoàn chuyển về hoàng đế Mahomed đề nghị:
"Ta biết hoàng đế các người đang cai trị một đế quốc rộng lớn, hùng mạnh. Ngài là hoàng đế phương Tây. Ta là hoàng đế phương Đông. Hai bên phải giao hảo với nhau. Ranh giới của hai nước ở Khâm-sát. Ta đề nghị ngài cho thương nhân hai nước qua lại thông thương vơí nhau".
Thành-cát Tư-hãn gửi một sứ đoàn sang Kwharesm. Sứ đoàn mang theo tặng phẩm: Bạc thoi, ngọc quí, vải dệt bằng lông lạc đà. Để tỏ thiện chí, Thành-cát Tư-hãn chọn viên chánh sứ Mahmound Ieldalch là dân Kwharesm, nhân viên toàn người xứ Hồi.
Sứ đoàn Mông-cổ được hoàng đế tiếp đón hết sức nồng hậu, khiến triều đình Kwharesm xưa nay vốn kiêu căng, đều phải kinh ngạc.
Năm 1218, giữa lúc Mahomed đang trên đường viễn chinh hồi loan tới Samarkande thì có tin gửi từ biên thùy phía Bắc về: Thống-đốc Inaltchik thành Ottar tâu rằng, mới bắt được một thương đoàn, có nhiều tên thám thính Mông-cổ trà trộn trong đám thương nhân Hồi giáo.
Quốc vương ra lệnh: Giết chúng đi.
Phê bình hành động này, sử gia Ba-tư Fadl Allad Rasid ud-Din (1247-1318) viết như sau:
"Khi ban chỉ trên, không khác gì nhà vua đem tính mệnh mình ra mà đánh cuộc. Một giọt máu Mông-cổ đổ, thì thần dân của ông phải trả lại một sông máu. Một cái đầu của Mông-cổ rụng xuống thì bằng mấy chục vạn cái đầu khác. Mỗi đồng tiền tịch thu của họ phải trả bằng mấy tạ vàng".
Viên thống đốc Inaltchik nhận được chiếu chỉ, tịch thu tất cả vàng bạc, hàng hóa của thương đoàn, rồi giết hết 150 người. Chỉ có một tên nô lệ trốn thoát, chạy về tiền đồn Mông-cổ báo cáo sự tình. Hắn được đưa về kinh đô Hoa-lâm, tâu trình lên Thành-cát Tư-hãn.
Thành-cát Tư-hãn không thể tin rằng, mới hôm nào Mahommed cam kết cho thương nhân hai nước thông thương, mà bây giờ lại làm thế? Ông cho rằng viên thống đốc đã lạm quyền. Ông gửi sứ giả sang yết kiến Mahommed, yêu cầu phải nạp kẻ sát nhân cho ông.
Hoàng-đế Ala Ed Din Mohammed, danh hiệu bóng Allah trên mặt trái đất, khi nghe sứ giả Mông-cổ yêu cầu như vậy thì ngài rùng mình, tưởng đâu nằm mộng. Hỡi ơi! Cái bọn mọi rợ mà dám tới chỗ tôn nghiêm nhất trần gian, trước ngài chúa tể Hồi-quốc, trước Alexandre đệ nhị mà nói lời hỗn xược như vậy sao?
Mohamed trả lời: Đem chém chánh sứ, còn tùy tùng thì cắt râu, rồi trả về.
Khi bọn tùy tùng trở về tâu lại, Thành-cát Tư-hãn khóc rống lên:
"...Trời ơi! Xin trời thấu cho, tôi không phải là người muốn gây thảm họa..."
Lập tức ông triệu tập bộ Tổng tham mưu ban lệnh. Rồi bọn Mã-khoái phi tiễn chạy như mắc cửi ban lệnh đến tất cả các Đại-hãn vùng Thảo-nguyên, đến các chư hầu Thổ-phồn, Khiết-đan, Tây-liêu, Trung-quốc... trùng trùng, điệp điệp kéo nhau lên đường.
Lực lượng Mông-cổ chinh Tây gồm 25 vạn Lôi-kỵ. Chúng ta hãy tưởng tượng một lực lượng 25 vạn Kỵ-binh, mỗi Kỵ-binh có hai hoặc ba ngựa. Binh đội được trang bị bằng tất cả tinh hoa của Mông-cổ, rút tỉa tinh hoa của Trung-quốc, Tây-hạ. Chiến binh mặc đồng phục, đội mũ lông, mang dầy da ống chẽn, quấn xà cạp. Áo khoác là áo kép bằng da, giữa độn lông thú hoặc bông gọi là Dacha. Áo lót bên trong bằng tơ, phòng khi bị trúng tên, ngạnh mũi tên chỉ làm hõm da, chứ không xuyên vào thịt. Quân kỵ mặc áo giáp sắt lót nhiều miếng chồng lên nhau. Chiến sĩ được trang bị hai loại vũ khí. Một loại để đánh giáp lá cà, và một loại để tấn công mục tiêu ở xa. Mỗi kỵ binh có một cây gươm, một đoản đao, một chùy sắt, một câu liêm. Trên cánh tay trái, còn có một cây trủy thủ cài trong cái vòng da.
Người nào cũng có hai cây cung, hai túi tên đựng nhiều thứ tên. Tên xuyên thủng, tên lửa, tên tẩm độc. Cung là thứ cung có ba đoạn uốn khúc.
Ngoài ra, mỗi người có một số lao, lao ngắn, lao dài, một dây thòng lọng. Mỗi Kỵ-binh có ba, hay bốn ngựa để thay thế. Trên lưng ngựa có túi đựng rượu, thịt khô.
Lực lượng trợ chiến còn có những xe chở pháo binh do trâu kéo, xe phóng hỏa pháo, đại bác để phá thành. Quân Mông-cổ đã biết dùng chất nổ. Sau họ 15 năm Berthold Schwaiz phỏng theo, chế ra chất nổ rồi nói rằng do mình...sáng chế.
Một binh đoàn công binh do các chuyên viên Trung-quốc điều khiển. Sử ghi rằng riêng binh đoàn của Sát Hợp Đài khi vượt qua sông Syr Daria đã bắc 48 cây cầu!

Đông Tây thử lửa :
Trận Fergana. (Tiếng Trung-quốc là Đại-uyển)

Chiến-thuật, chiến lược vào thời gian đầu thế kỷ thứ 13, giưã Âu và Á hoàn toàn khác biệt nhau. Á thì chủ yếu là dùng hư hư, thực thực, kỳ mưu. Còn Âu thì dùng lối phô trương sức mạnh, dàn trận. Hồi đầu mới lên ngôi, Thành-cát Tư-hãn cũng dùng lối dàn quân giống châu Âu. Sau khi chinh phục các nước Á châu như Trung-quốc, Tây-hạ, Thổ-phồn, Cao-ly, Tây-Liêu, Kim... Ông đã đổi hoàn toàn chiến lược, chiến thuật. Trần Đại-uyển (Fergana) là trận đầu tiên, thử lửa giữa chiến thuật, chiến lược Đông-Tây.
Dù tức giận Mahommed, dù nóng trả thù, nhưng Thành-cát Tư-hãn và bộ Tổng-tham mưu ( Iourt Dchi) cũng nghiên cứu rất cẩn thận trước khi ra quân :
- Trước hết là đường tiến binh. Đối với Kim, biên giới Kim với Thảo-nguyên dài hơn 5 nghìn cây số. Lôi-kỵ Mông-cổ có thể tràn ngập bất cứ khu nào mình muốn.
- Trên đường tiến quân, chỗ nào cũng có sông, có nước, có cỏ, có dân. Có dân thì có lương thực.
- Khí hậu Trung-quốc tương đối ấm áp hơn vùng Thảo-nguyên.
Còn đối với Kwharesm thì khác hẳn :
- Biên giới Kwharesm, Mông-cổ cách nhau bằng những dãy núi cao 7.000 thước, dựng đứng như những bức thành.
- Nếu đi vòng lên phía Bắc thì phải vượt qua hơn 1 nghìn cây số mới tới những thành như Samarkande, Bourkhara.
- Đi theo đường này, phải qua cửa Tử-thần (Dzoungari), bao gồm những vùng sa mạc không có dân chúng, không có một giọt nước, một bụi cỏ. Trong khi Mông-cổ với quân số 25 vạn người, gần một triệu ngựa, lấy đâu ra lương thảo ? Việc tiếp tế từ Mông-cổ, vượt qua 2 nghìn cây số, thì thực không thể thực hiện nổi.
Cuối năm 1218, sau khi chỉnh bị binh mã xong, Thành-cát Tư-hãn liền di chuyển quân tới bờ sông Irtysch. Đại quân phải chờ tuyết tan, rồi mới tìm cách đi qua cánh cửa Thần-chết.
Giữa lúc ấy, thì tướng Triết Biệt từ Tây-liêu báo về rằng :
"Đã tìm ra một con đường mật của các thương gia. Con đường này tới thẳng miền Đông Kwharesm thuộc trung bộ nước này là Đại-uyển, rồi từ đó qua thể vượt lên Bắc theo sông Syr Daria".
Sau khi bàn với bộ Tổng-tham mưu, Thành-cát Tư-hãn sai vương tử Truật Xích mang một binh đoàn tới Kashgar cùng Triết Biệt, đánh úp Đại-uyển. Ba mươi ngàn quân âm thầm lên đường, vượt qua những ngọn núi cao ngất trời Thiên-sơn, Palmir, tuyết phủ mịt mờ. Sau 68 ngày gian nan, họ tới thung lũng Đại-uyển (Fergana) vào mùa Xuân. Đây là một vùng trù phú, nơi trồng nho, lúa mạch, sản xuất rượu, lụa, thủy tinh, và nhất là giống ngựa danh tiếng.
Qua mấy tháng giá lạnh, đói khát, vừa xuống đồng bằng, đoàn quân Mông-cổ tràn vào làng cướp súc vật lương thực.
Được tin báo, Đại-đế Mohammed phản ứng rất nhanh. Ông thân dẫn một đội quân tinh nhuệ hùng hậu nhất tới nghênh chiến. Khi thấy quân Mông-cổ, ngựa thì trụi lông, kỵ mã chỉ có cương mà không có yên. Binh tướng thì da cháy sạm, mặt mũi hốc hác . Vị Đại-đế trạnh lòng thương, ngài cho rằng đây là bọn giặc cỏ cướp giật. Sau khi giao chiến ít phút, quân Mông-cổ bỏ chạy. Mohammed xua quân đuổi theo. Nhưng qua trận giao chiến ngắn ngủi, Mohammed phải thầm phục kẻ thù can đảm, ngựa phi nhanh, tài bắn cung tài tình.
Quân Kwharesm đuổi đến chân núi, thì gặp đội quân Truật Xích đông gấp bội, trang bị đầy đủ, quân tướng khỏe mạnh.
Quân Kwharesm mở màn cuộc tấn công bằng những hồi kèn và tiếng chuông. Quân Mông-cổ tràn xuống phản công. Cứ mỗi lần chúa tướng phất cờ, là ngựa của họ, kỵ mã của họ cùng rú lên những tiếng khũng khiếp. Đang kịch chiến, bỗng quân Mông-cổ bỏ chạy, tẻ ra như rẻ quạt. Mahommed chưa ước tính được chủ ý của đối phương, thì thình lình chúng lại xuất hiện đánh vào hậu quân. Tuy quân số đông gấp ba (10 vạn) mà suýt nữa Mohammed bị bắt sống. May mắn thay, viện quân của Thái-tử Djélal-Ed-Din vừa tới tiếp viện. Suýt bữa bắt được vương tử Truật Xích.
Hai bên đánh nhau cho tới trời tối, rồi cùng thu quân. Lợi dụng trong đêm tối, quân Mông-cổ đổi ngựa, rồi rút về vùng cách đó rất xa. Mohammed cho rằng mình đã thắng. Nhưng trong lòng vị Đại-đế không còn dám khinh địch nữa. Ông phải công nhận chưa bao giờ gặp đội quân nhanh nhẹn, can đảm, dẻo dai như vậy.

TCTHTCKL bình luận đại lược như sau (lược dịch):

" Chắc chắn khi binh đoàn Triết Biệt, Truật Xích vượt vúi cao trùng điệp, thì tình báo Kwharesm đã biết rất sớm, rất chi tiết, và tâu lên hoàng đế Mohammed. Bằng cớ là khi biến cố giết thương gia Mông-cổ diễn ra, thì ông đang ở miền Nam. Được tin Mông-cổ vượt Thiên-sơn, ông mới bắt đầu điều quân lên. Từ kinh đô Samarkande, hay từ miền Nam lên Fergana đường cách nhau 1600 cây số, ít ra quân phải đi trong hơn 40 ngày. Cho nên lúc quân Triết Biệt vừa xuống núi là gặp quân Kwharesm ngay.
Chúng ta hãy đặt câu hỏi: Mohammed là ông vua kinh nghiệm dụng binh. Ông phải biết rằng phàm đánh giặc phải lợi dụng thiên thời, địa lợi, nhân hòa. Thời ở đây là khí hậu mùa Đông, địa lợi là núi cao, hiểm trở. Tại sao ông chỉ dàn quân chờ địch? Nếu ông ban lệnh cho một tướng trấn thủ Fergana:
- Lợi dụng thông thạo địa thế, tạo ra những chướng ngại vật, trên các đỉnh núi cao ngất trời.
- Phục binh, lăn đá, chặn đường tiến quân. Phục binh cắt đường tiếp tế lương thảo.
Như vậy, chỉ cần 10 ngày, thì toàn bộ đội quân Triết Biệt, Truật Xích sẽ chết đói, chết lạnh hết.
Xét cho kỹ các binh thư vùng Trung-Đông, Tây-Á, châu Âu, cho đến thời ấy còn quá ấu trĩ, nên Mohammed mới bị thất bại dề dàng".
Tại cửa Tử-thần, Thành-cát Tư-hãn được tin báo về trận Đại-uyển. Ông tăng cường cho Triết Biệt 5 nghìn quân nữa, rồi ra lệnh :
« Để Truật Xích ở lại, ém quân trên núi. Còn Triết Biệt hãy vượt núi, qua đỉnh Altai tiến về Nam, đánh chiếm miền châu thổ sông Amou Daria ».
Quân Mông-cổ biến mất, Mohammed cho rằng chiến tranh chấm dứt. Tuy vậy ông cũng gửi hàng nghìn người đi theo thương nhân, dò xét tình hình Mông-cổ. Ông biết rõ như sau :
« Thành-cát Tư-hãn cho quân vượt cua cửa Tử-thần. Sát Hợp Đài thống lĩnh binh đoàn thứ nhất. Oa Khoát Đài thống lĩnh binh đoàn thứ nhì. Đại-hãn và con út Đà Lôi thống lĩnh binh đoàn thứ ba cùng bộ Tổng-tham mưu. Quân số trên 400 nghìn đang kéo đi như kiến ».
Mohammed tự tin : Với quân số ấy đi từ sông Irtysh đến sông Syr Daria trải 1.500 cây số, với biết bao núi cao, đồng không một giọt nước. Ấy là không kể tới nơi, người ngựa mệt mỏi. Tuy vậy ông cũng tập trung được 40 vạn quân, lấy khỏe chờ mệt.
Giữa lúc đó thì tin báo :
"...Binh đoàn của Sát Hợp Đài, Oa Khoát Đài đã tiến tới thượng lưu sông Syr-Daria, chiếm một loạt các thành phố nhỏ, bao vây thành Ottar. Ottar là nơi thống đốc Inaltchik tuân chỉ Mohammed bắt giết thương đoàn Mông-cổ. Vì vậy bên công, quyết hạ bằng được, để trả thù. Bên thủ biết có hàng, quân thù không tha cho mình, nhất định tử chiến. Chiến trận diễn ra cực kỳ thảm khốc...".
Quân Truật Xích trở lại chiếm Đại-uyển. Cho rằng đạo quân Oa Khoát Đài, Satù Hợp Đài, Truật Xích chỉ là những đạo tiền quân nhỏ, Mohammed vẫn án quân chờ đại quân của Thành-cát Tư-hãn.
Tin tức từ miền Nam báo về :
« Binh đoàn Triết Biệt thình lình xuất hiện, đánh chiếm vùng thượng lưu sông Amou Daria ».
Mohammed bắt đầu cảm thấy nguy : Mất Amou Daria, tức là đế quốc bị cắt làm hai, vùng Nam gồm Afghanistan, Khoressan. Lập tức ông phái mấy đạo quân xuống Nam cứu nguy.
Đạo phái binh vừa đi, thì một tin khủng khiếp báo về :
« Đại quân của Thành-cát Tư-hãn xuất hiện ở phía Tây đang tiến về Boukhara ».
Phê bình việc này, tôi xin tóm lược ý chính của bộ TCTHTCKL:
"Thế là Đại-đế bị bao vây bốn mặt : Nam thì Triết Biệt. Đông thì Truật Xích. Bắc thì Oa Khoát Đài, Sát Hợp Đài. Tây thì Thành-cát Tư-hãn. Biết thế nguy Mohammed chuyển quân về cứu viện Samankande và Boukhara. Còn ông, ông tức tốc cùng quần thần chạy về Nam, trước khi bị Triết Biệt khép kín vòng vây.
Đến đây thì, binh pháp Đông, Tây đã hiển hiện cho thấy rõ :
- Tây, lấy sức mạnh, lấy vũ khí tối tân, đánh nhau theo lối dàn trận.
- Đông thì lấy kỳ mưu, dùng trí lừa chúa tướng bên địch. Nếu như Thành-cát Tư-hãn đem đại quân dàn ra cùng Mohammed quyết chiến, chưa dễ gì ông thắng nổi. Nhưng ông dùng lối xuất kỳ bất ý, công kỳ vô bị, lại đánh vào tâm lý, nên Mahomed bị bại.
- Mohamed chỉ ỷ vào sức mạnh quân đội, mà không biết đến sức mạnh của dân chúng. Thành ra quân của ông với quân Mông-cổ giao chiến tại Fergana, mà giống như giao chiến tại Thảo-nguyên. Ông mất địa lợi, mất nhân hòa. Ông thua là lẽ dĩ nhiên".

Trận Boukhara (NS chép là Bạc-hoa thành)

Boukhara là một đô thị cổ kính, trung tâm văn hóa của Hồi-giáo. Đô-thị có nhiều trường học, hoa viên, biệt thự. Thời bấy giờ, các nhà hiền triết Hồi-giáo tập trung ở đây khá nhiều. Thành Boukhara tường cao, hào sâu. Thế nhưng Đại-đế phối trí tại đây rất ít quân, vì không bao giờ ông nghĩ rằng chiến tranh có thể xẩy ra. Cư dân hầu hết là người Ba-tư. Quân trú phòng đa số gốc Thổ (Turc). Như chiến thuật cố hữu của Kwharesm, các tướng Thổ muốn dàn quân bên bờ sông Amou Daria, khi trận chiến diễn ra, dễ cho quân trừ bị tiếp viện.
Còn quân Mông-cổ, khi bao vây thành, họ để trống một cửa cho địch rút lui, rồi phục binh tiêu diệt. Khi thấy Mông-cổ bỏ trống một cửa thành, các tướng Thổ âm thầm đem quân ra ngoài. Mông-cổ chỉ chờ có thế, khi trời vừa sáng thì toàn bộ quân Thổ trúng phục binh. Chỉ một trận, toàn bộ quân sĩ thành Boukhara bị tiêu diệt. Dân chúng mở cửa thành cho quân Mông-cổ vào. Hôm đó là ngày 16 tháng 2 năm 1220.
Thành-cát Tư-hãn và Đà Lôi phi ngựa đến tòa nhà vĩ đại, rực rỡ nhất thành phố. Ông tưởng đâu là cung điện của vua chúa. Hỏi ra mới biết đó là giáo đường Hồi-giáo. Ông ra lệnh cho các giáo sĩ tập trung tín đồ lại trong giáo đường rồi ban lệnh:
"Ta là con của Allah. Allah trao các người cho ta. Vì các người đầy tội lỗi. Hiện quân ta đang thiếu lương. Ngựa đang đói. Các người hãy mở kho vựa ra. Những đồ quý giá, hãy để đấy cho quân ta đến lấy. Của chôn dưới đất phải đào lên đem nộp".
Nhưng quân Mông-cổ đã phá kho, ăn uống ồn ào. Chúng bắt ca nhi múa hát mua vui cho chúng. Các nhà quyền quý, giáo sĩ đều phải chăn ngựa. Những rương đựng kinnh Coran chạm trổ tinh vi bị lấy làm máng cỏ. Kinh sách bị vứt đầy đường.
Trong khi đó tàn binh ngoài thành, cũng như binh sĩ ở các cơ sở hậu tuyến bất khuất, bắt đầu kháng chiến. Binh Mông-cổ áp dụng chính sách khủng bố: Khu nào có kháng chiến, thì bắt giáo sĩ, quý tộc, trai tráng đi trước hứng tên. Sau khi chiếm được thì giết tuyệt, bất kể dân chúng hay quân sĩ.
Thành-cát Tư-hãn bắt dân chúng phá hủy các tường thành, lấp các hào. Mọi việc hoàn tất, ông để lại ba Bách-phu, tiếp tục tảo thanh, đốc thúc các nhà quý tộc nộp lương thảo. Bao nhiêu trai trẻ bắt đem theo, làm bia tiến đánh thủ đô Samarkande, cùng truy tầm Mahommed
Theo sử gia Ba-tư Fadl Allah Rasit ud-Din thì:
" Tất cả cư dân thành Boukhara còn sống sót đều trở thành điên khùng, mất trí".

Tàn phá thủ đô Samarkande

Giữa lúc đó thì binh đoàn Oa Khoát Đài, Sát Hợp Đài đã hạ được thành Ottar. Thống đốc Inaltchik rút vào thành nội, thủ được thêm một tháng nữa. Lúc thành nội bị hạ, ông leo lên thượng lâu, bắn hết tên, thì cậy ngói ném xuống. Quân Mông-cổ được lệnh phải bắt sống ông. Chúng dùng chất nổ phá sập lầu. Ông bị lôi ra khỏi đám gạch vụn, giải đến bản doanh Thành-cát Tư-hãn. Nếu Thánh-cát Tư-hãn thâm nhiễm văn hóa của tộc Hoa, ắt ông được đối xử tử tế, vì ông chỉ là người thừa hành chỉ dụ của đấng Quân-phụ. Ngưới ta nấu bạc chảy ra, rồi đổ vào mắt, vào tai ông. Ông vẫn không chết. Ngưới ta tiếp tục hành hạ ông làm trò vui cho quân sĩ, ông chết vì kiệt lực.
Tại miền Đông, Triết Biệt, Truật Xích đã đánh tan các đạo quân tiếp viện, chiếm các thành, rồi tiến quân về Samarkande.
Samarkande là kinh đô một đế quốc lớn, cư dân trên dưới nửa triệu, thành cao, hào sâu. Quân phòng thủ trên mười vạn, rất thiện chiến. Thành-cát Tư-hãn đích thân chỉ huy công phá. Ông dành ra ba ngày đi quan sát quanh thành: Thành kiên cố muốn hơn Yên-kinh, nơi mà ông phải bao vây mấy năm mới hạ được, cũng là nơi ông bị thương hút mất mạng. Chưa biết phải đánh cách nào, thì tù binh tiết lộ: Mohammed không có mặt ở Samarkande. Ông suy nghĩ:
"Đế quốc Kwharesm quá rộng, có tơí 12 sắc dân sống dưới quyền 12 vị vua, lãnh thổ rộng mênh mông. Dân số, quân lính đông không kể siết. Nếu để Mohammed kịp thời ban chỉ cho các chư hầu dấy quân cần vương, thì toàn quân Mông-cổ sẽ bị nghiền nát. Vậy phải tách Mohamed ra khỏi dân chúng. Lại làm cho Mahomed kinh hoàng, không có thời cơ ban chỉ tập hợp quân sĩ".
Ông gọi ba viên tướng thân tín. Một là Tốc Bất Đài, mưu lược. Hai là Triết Biệt, giỏi hành quân thần tốc. Ba là phò mã Tê Mô Gu, người thân tín nhất. Trao cho mỗi người một vạn phu Lôi-kỵ. Ban chỉ:
"...Ta trao cho các người nhiệm vụ: Đuổi bắt Mohamed. Khi chưa bắt được y thì không được trở về. Hãy đuổi y khắp lãnh thổ. Nơi nào đầu hàng, thì không được đụng đến tài sản, nhân mạng của dân ».
Lại ban một tờ đại cáo với dân chúng:
"Mohamed phạm tội với ta, tức là phạm tội với Allah. Nay ta trao cho tướng Tốc Bất Đài bắt y. Chư hầu, quan lại, quý tộc, giáo sĩ, dân chúng vô can. Tốc Bất Đài toàn quyền hành động trên giải đất từ nơi mặt trời mọc, tới vùng mặt trời lặn".
Ba tướng lên đường, thế như chẻ tre. Có một thành, đã đầu hàng Triết Biệt, thế mà khi phò mã Tê Mô Gu kéo quân qua còn cướp phá. Lập tức Thành-cát Tư-hãn cách chức xuống làm một Lôi-kỵ. Tin này đồn ra, quân đội răm rắp giữ kỷ luật, dân chúng tin tưởng.
Bấy giờ Đại-đế Maommed đang ở Balk, thuộc lãnh thổ Afghanistan, tin tức đưa đến:
« Ba Vạn-phu qua sông Amou Daria, xuống miền Nam. Họ không tàn sát, cướp bóc, chỉ bắt dân chúng cung ứng lương thảo. Họ tuyên bố chỉ muốn bắt hoàng đế ».
Mohamed kinh hoàng, bỏ chạy về thành phố Khoressan ở miền Tây. Vừa tơí đây, nhà vua được tin Samarkande thất thủ do dân chúng nổi loạn.
" Đạo binh trấn thủ mở một đường máu ra ngoài quyết chiến. Nhưng bị đánh chặn, chết nhiều quá, lại phải rút vào thành. Bọn quan lại, quý tộc, giáo chủ muốn mở cửa đầu hàng. Họ nói với dân chúng: Samarkande là một nước độc lập. Bẩy năm trước đây, vua của chúng ta là Osman bị Mahommed đuổi ra khỏi thành, rồi giết chết. Tại Tây Liêu chính Thánh-cát Tư-hãn cho mở lại các đền thờ, che chở cho giáo chúng Hồi giáo. Cuộc nội loạn nổ ra. Ba mươi ngàn quân Thổ mở cửa thành xin hàng. Số quân trung kiên rút vào thành nội đó là ngày 22-3-1220. Ngay hôm đó, quân Mông-cổ phá hủy thành ngoài, lấp chiến hào. Hơn 5 vạn dân Hồi-giáo được đãi ngộ. Dân khác bị lùa ra ngoài cánh đồng, lọc lấy 3 vạn thợ, nghệ sĩ. Còn lại, thanh niên thì cho nhập ngũ, bị bắt đi làm lao binh, làm bia đỡ tên đánh các thành khác. Họ xua dân tấn công thành nội. Ba ngày sau thành nội thất thủ. Tất cả dân chúng, quân đội đều bị giết sạch. Thành nội bị san bằng".
Mohamed bỏ chạy về thành Mecv. Dân Hồi-giáo thành Mecv rục rịch bắt ông trao cho Mông-cổ. Hoảng kinh, ông bỏ chạy xuống Nichapour. Trong khi đó đạo quân của Tốc Bất Đài, Triết Biệt vẫn theo sát Mohamed. Các thành đều mở rộng cửa cho quân Mông-cổ đi qua, cung cấp lương thảo đầy đủ. Hai thành Hérat, Mecv đều tiếp đón giặc linh đình. Đại-đế bỏ chạy về hướng Tây, qua sa mạc, qua Irak Persan, Irak Adchéni, tơí Mésopotamie. Tốc Bất Đài, Triết Biệt theo sát Mohamed, hai người bắt được Thái-hậu, Hoàng-hậu, cung tần, khám phá ra kho vàng của Mohammed. Cuối cùng Mohammed chạy ra bờ biển Caspienne, xuống thuyền ra khơi. Đến đây quân Mông-cổ lạc dấu Mohamed.
Sau đó hơn hai năm, vào ngày 13 tháng 12 năm 1922, Mohammed băng hà trên một hòn đảo nhỏ, nằm cô lập ở giữa biển. Trên người ông chỉ còn một bộ y phục rách tả tơi.
Thành-cát Tư-hãn cùng bốn vương tử tiếp tục bình định Kwharesm. Ông dùng vua chư hầu cũ, hậu đãi bọn giáo sĩ, thiết lập một hệ thống cai trị. Trong khi đó, ông sai Tốc Bất Đài, Triết Biệt tiếp tục cuộc thám thính về phương Tây cho đến tận chân trời, nơi mặt trời lặn. Cuộc thám thính này sẽ mở đầu cho cuộc chinh phục các nước Âu-châu của con cháu Thành-cát Tư-hãn, thiết lập hệ thống Kim-trướng, cai trị đến mấy trăm năm.

Thám sát Âu châu, đánh Nga

Phía Tây Bắc của Kwharesm là đế quốc Géorgie, do nữ hoàng Koussoudane cai trị. Géorgie nằm giữa đồng lầy biển Caspienne và rặng núi Caucase. Tốc Bất Đài, Triết Biệt xua ba binh đoàn đánh Azerbeijan, Kourdistan, tàn phá hai xứ này rồi vào Géorgie. Đây là đế quốc theo đạo Thiên-chúa. Bấy giờ, chiến tranh giữa Hồi-giáo và Thiên-chúa giáo chưa chấm dứt. Quân lực Géorgie rất hùng hậu, đang chuẩn bị thánh chiến Thập-tự quân. Khi Mông-cổ nhập lãnh thổ, quân Géorgie phản ứng rất mau. Quân sĩ dàn ra chờ đợi. Quân hai bên giao chiến một trận khủng khiếp, bất phân thắng bại. Các tướng Géorgie thấy kỳ hiệu Mông-cổ có hình chim ưng bay, họ lầm tưởng đó là thánh giá nằm ngang, bèn cho là đội quân của nước theo đạo Chúa. Sau khi đánh một trận, hai tướng Mông-cổ không có thời gian tàn sát dân chúng, mà dẫn quân vượt rặng Caucase với biết bao nhiêu khó khăn như vượt qua Pamir. Nào tuyết phủ, nào những sườn núi dốc thẳng. Khi họ vừa đổ đồi, vào thung lũng Terke thì một đạo hùng binh đàn sẵn đang chờ đợi. Y hệt hồi đánh Đại-uyển.
Phía bên kia rặng Caucase là nơi tập trung những dân sơn cước, những dân sống lều trại như Mông-cổ. Họ từng nghe Mông-cổ đi đến đâu là cướp phá, tàn sát đến đó. Bây giờ Mông-cổ nhập lãnh thổ họ. Họ tập trung lại, chống xâm lăng. Đó là những bộ tộc Tcherkesse, Lesghine, A lain, Komane. Kinh khủng nhất là bọn Komane, lãnh thổ Komane nằm sát với vùng Thảo-nguyên. Bảo họ thuộc giống da trắng, thuộc Âu cũng phải. Bảo họ thuộc giống da vàng Thảo-nguyên cũng phải. Giống dân này sống trong vùn Caspienne tới sông Danube, chúng rất hung dữ, thích chém giết.
Tốc Bất Đài thấy quân mình kiệt sức, mà bây giờ phải đối phó với đội quân thiện chiến, đông gấp bội, thì không thể nào đương nổi! Ông ta cử sứ giả mang châu báu tới thuyết phục Đại-hãn cũa Koman:
" Chúng ta đều là dân sống lều trại trên vùng tuyết phủ. Chúng ta vốn đồng chủng. Chúng tôi mạnh, thì các bạn cũng mạnh. Chúng tôi bại thì các bạn yếu đi. Tại sao các bạn lại đi theo bọn mắt xanh, tóc hung đánh chúng tôi? Đánh chúng tôi thì các bạn được gì? Hãy liên binh với chúng tôi, chúng ta cùng nhau chia sẻ những gì chúng tôi có".
Khả-hãn Komane nghe hợp lý, nhận lễ vật, rồi rút quân về đoàn trại mình. Trút được gáng nặng, Tốc Bất Đài tấn công bọn binh sơn cước. Sau khi giết hết bọn lãnh chúa, Tốc Bất Đài thu dụng bọn tù binh làm quân mình, rồi đuổi theo đánh bọn Komane, đoạt lại lễ vật.
Để trừ hậu hoạn, Tốc Bất Đài dẫn quân tiêu diệt hết các bộ tộc Komane. Dân Komane kinh sợ vội vã kéo nhau chạy về phương Tây. Quân Mông-cổ đuổi theo sát nút, qua sông Don, theo duyên hải biển Azov. Đâu đâu Tốc Bất Đài cũng thấy đất đai phì nhiêu, cây cỏ xanh tươi. Đuổi tơí bán đảo Crimée, dừng lại ở thành Génois. Phá thành Génois rồi, hai tướng Mông-cổ tiếp tục đi về phía Tây, vươt sông Dnieper, tơí sông Dniester. Hai tướng lưỡng lự không biết có nên ruổi ngựa nữa không? Phía Bắc của họ bấy giờ là nước Nga, phía Tây Bắc là Ba-lan, Hungarie, phía Nam là đế quốc Byzantin.
Hơn một vạn gia đình Komane xin vào tỵ nạn tại Byzantin, họ tâu lên hoàng đế nước này về một bọn qủy sứ, hung tợn sắp đến tàn phá. Nhà vua từng nghe nói đến quân Mông-cổ. Bây giờ chúng đang ngấp nghe tại Bắc thùy. Toàn đế quốc báo động. Nhưng Tốc Bất Đài, Triết Biệt biết quân số mình có ba vạn, hao hụt trong các trận đánh quá nửa, tuy bổ xung, nhưng toàn người xứ khác, không phải gốc Mông-cổ. Hai viên tướng dừng quân lại, qua mùa Đông tại Hắc-hải nghỉ ngơi, và huấn luyện bọn binh mới tuyển từ các đội sơn cước Tcherkesse, Lesghine, Alain, Komane.
Sang Xuân, đoàn quân Mông-cổ hướng lên Bắc tấn công vào lãnh địa Nga. Trước đây Thái-tử Nga là Mistislav de Haliez , cưới con gái Khả-hãn Komane, mục đích dựa vào bộ tộc hung bạo này bảo vệ biên thùy phía Đông. Ông thành công. Thình lình cuối Đông năm trước, Đại-hãn Komane dẫn bộ tộc vào nước Nga xin tỵ nạn. Khả-hãn dâng một số báu vật lên Thái-tử, xin Thái-tử ra quân, đuổi bọn xâm lăng hung dữ như quỷ sứ, từ phuông Đông lại, bắt Komane thần phục.
Mistislav triệu tập các vua chư hầu Nga tại Kiev, để chuẩn bị ra quân. Các chư hầu Kiev, Koursk, Smolennk, Volhynie, Haliez tuân chỉ, kéo quân tới vùng Bắc-hải. Họ cũng tập trung thủy quân trên sông Dnieper, Dniester. Thêm vào đó quân của bộ tộc Komane.
Trận chiến mở màn. Liên quân Nga đông gấp 5 lần quân Mông-cổ. Nếu kể cả thủy quân, thì đông gấp 7. Suốt chín ngày giao chiến, quân Mông-cổ chỉ đánh lấy lệ, rồi bỏ chạy. Liên quân Nga-Komane, để một số quân ở lại trấn hậu cứ. Chỉ có 8 vạn quân kỵ đuổi theo. Tới sông Kalka, quân Mông-cổ ngừng lại, rồi thình lình tấn công vào cánh quân Komane. Sau nửa ngày ác chiến, quân Komane bị diệt. Bấy giờ quân Mông-cổ mới đánh vào quân Nga. Toàn bộ quân Nga tan vỡ, Mistislav đem tàn quân còn lại không quá 1/10, xuống chiến thuyền bỏ chạy. Tốc Bất Đài xua quân chiếm lãnh thổ Mistislav, hơn vạn quân trừ bị của Mistislav bị giết sạch.
Nhưng Tốc Bất Đài, Triết Biệt chỉ có nhiệm vụ thám sát lãnh thổ phương Tây Kwharesm, chứ không có nhiệm vụ chinh phục nước Nga. Bằng không, nhân lúc đại quân Nga tan nát, có thể chiếm nước này dễ dàng. Trận đánh thực thảm khốc. Trong trận này, có 6 vua chư hầu, 70 vị quý tộc bị giết.

Vài lời bình luận

Tốc Bất Đài, Triết Biệt dẫn quân về đại bản doanh Thành-cát Tư-hãn. Đại đế cùng bộ Tổng-tham mưu phải dành ra 10 ngày để nghe hai viên tướng phúc trình về chuyến thám sát phương Tây của mình. Thành-cát Tư-hãn vạch ra kế hoạch chinh phục hết các nước Trung-Đông và châu Âu, rồi ông ban chỉ khải hoàn. Bộ Thành-cát Tư-hãn chinh Tây khảo lược thuật rất chi tiết phúc trình của Tốc Bất Đài về tổ chức chính trị, quân sự, tài nguyên của các nước mà ông ta từng đi đánh phá. Kế hoạch Thành-cát Tư-hãn vạch ra cho con cháu trong 100 năm sau để chinh phục Trung-Đông, châu Âu. Phần này quá chuyên môn về quân sự, lại dài giòng, nên tôi bỏ qua.
Sau đó, Thành-cát Tư-hãn ban chỉ khải hoàn. Trên đường về, ông hạ lệnh tấn công Tây-hạ, đó là năm 1227, rồi ông băng hà giữa lúc Tây-hạ đầu hàng.
Sau khi Thành-cát Tư-hãn băng hà, con cháu ông tiếp tục thi hành di chỉ, chinh phục châu Âu, Bắc-phi, Trung Đông, thiết lập hệ thống cai trị đến mấy trăm năm. Sẽ tường thuật trong bộ Anh-hùng Đông-A, Gươm thiêng Hàm-tử.
Quân Mông-cổ hùng mạnh là như vậy. Các tướng chỉ huy đánh sang Đại-Việt năm 1258 gồm Ngột-lương Hợp-thai, Triệt Triệt Đô, A Tan, A Truật, phò mã Hoài Đô. Đây là những kiện tướng từng dự chiến dịch Kwharesm, thám thính châu Âu, thắng Nga. Quân số lên tới 5 vạn Lôi-kỵ và 5 vạn quân Đại-lý. Vậy mà bị quân dân đời Trần đánh bại. Các anh hùng thời Đông-a đã dùng vũ khí gì? Mưu kế gì mà thắng Mông-cổ oanh liệt như vậy?
Tôi chỉ là người thuật chuyện tổ tiên ta, mà không có tài về quân sự, nên không thể đưa ra lời nhận xét rằng tại sao Đại-Việt thắng, Mông-cổ bại. Dưới đây tôi xin tóm lược ý chính của bộ Nguyên-triều chinh tiễu An-Nam khảo bị, về cuộc xâm lăng lần đầu của Mông-cổ 1258:
"...- Các nước khác, chỉ cần đánh tan chủ lực của triều đình thì coi như xong. An-Nam thì không thế, dân chúng sống chết với triều đình. Triều Trần là triều đại được lòng dân, lại biết lấy dân làm gốc trong việc giữ nước. Xét lời Hưng-Đạo vương "Coi dân như con đẻ" thì đủ biết.Mỗi làng, mỗi ấp là một thành trì. Nên dù triều Trần rút khỏi Thăng-long, mà Mông-cổ không thể chiếm hết các thôn ấp, nên sức mạnh của An-Nam còn nguyên.
- Dân chúng các nước khác không biết rõ cái họa Mông-cổ. Triều Trần đã làm cho dân của họ thấy rõ, biết kỹ cái họa diệt tộc khi hàng Mông-cổ. Tóm lại họ biết khích động lòng yêu nước của dân. Giỏi trong việc thông tin.
- Quân Mông-cổ đánh Trung-Đông, châu Âu, họ không cần lương. Đánh đến đâu họ dùng khủng bố, bắt dân phải cung ứng lương thảo. Vì thế Ngột-lương Hợp-thai cũng mang theo 20 ngày lương. Nhưng sau đó thì không thể bắt dân Việt nộp lương. Chính vì vậy mà Mông-cổ thất bại.
- Tốc Bất Đài, Triết Biệt chỉ cần 3 vạn quân mà đuổi Mohammed với 40 vạn hùng binh, khắp lãnh thổ Kwharesm. Trong cuộc săn đuổi này có cả Ngột-lương Hợp-thai. Thế mà Ngột-lương Hợp-thai không đuổi theo được vua Trần. Chỉ vì vua Trần biến cả nước là thành, toàn dân là quân.
- Về người chỉ đạo chiến tranh. Họ đặt toàn dân trong việc giữ nước. Hoàng đế Mahommed cũng như quân vùng Caucase, đều biết trước quân Mông-cổ tới, rồi dàn trận dùng sức mạnh đánh nhau, vì vậy mà bị bại. Nếu Hưng-Đạo vương chỉ đạo mặt trận Fergana, Caucase, thì ông không ngần ngại gì mà trải mấy nghìn quân thành hằng mấy trăm toán nhỏ, phục trên các triền núi, lăn đá cản trở cuộc chuyển quân của Mông-cổ, thì liệu Tốc Bất Đài, Triết Biết có đưa quân qua núi được không? "


Xin độc giả đọc kỹ Anh-hùng Đông-a dựng cờ bình Mông, rồi đưa ra những nhận xét. Chắc còn hay hơn nhận xét trên.

Paris tiết Lập-xuân, ngày 24 tháng Chạp năm Mậu Dần, nhằm ngày 9 tháng 2 năm 1999.
Chán đời đi lang thang !
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-05-23 19:56:13NuHiepDeThuong>
Hồi thứ bốn mươi sáu


Dưới cờ bình Mông


Linh-Từ quốc mẫu hỏi Hưng-Đạo vương :
- Không biết Tiết-chế ra lệnh cho già này đem cung quyến đến vùng nào ?
Hưng-Đạo vương đưa mắt nhìn Quốc-mẫu rồi nháy một cái. Quốc-mẫu hiểu ý vương là : Bí mật không thể nói ra lúc này.
Vương tiếp :
- Nhưng nếu như ta mở rộng đường cho giặc vào Thăng-long, thì chúng sẽ nghi ngờ. Vì vậy ta cần dàn quân dọc đường, đánh mấy trận tượng trưng. Sau khi thắng vài trận, Ngột-lương Hợp-thai cho rằng quân ta hèn nhát, ô hợp. Y thẳng tiến vào Thăng-long. Mông-cổ đã quen với chính sách tàn bạo, đi đến đâu chúng dùng bạo lực bắt bọn quan lại đầu hàng, bắt dân chúng cung ứng lương thảo, bằng không chúng sẽ cướp, giết cực kỳ tàn bạo. Thế nhưng, Đại-Việt ta khác. Muốn có lương thảo, chúng phải đánh chiếm các làng xã. Mà mỗi làng, xã của ta là một đồn. Quân của chúng sẽ chết rất nhiều, sẽ vất vả, mệt mỏi lắm mới chiếm được một xã, mà chưa chắc đã có lương. Trong khi đó, ta chia quân thành nhiều cánh nhỏ, ẩn trên đường từ Đại-lý về Thăng-long, chặn đánh các đội tiếp tế lương thực. Ta cầm cự, chờ khi trời nóng, quân, ngựa của giặc bị bệnh, lương thảo thiếu, bấy giờ ta phản công, thì chỉ một trận thì phá xong.
Vương ngừng lại, chỉ tay lên bản đồ Đại-Việt vẽ trên một tấm lụa, choán gần hết bức tường:
- Ta chia lực lượng làm ba. Một là đánh tiêu hao, hai là đánh trực diện, ba là phản công.
Vương đứng dậy hướng vào Khâm-Thiên đại vương:
- Trước hết là lực lượng tiêu hao sẽ do Khâm-Thiên vương, Nhân-Huệ vương, Vũ-Uy vương chỉ huy. Vũ-Uy vương thống lĩnh ba hiệu Tiền thánh-dực, Tả thánh dực, Hữu thánh dực, phạm vi là vùng biên giới cho tới Kinh-Bắc. Nhân-Huệ vương thống lĩnh ba hiệu Trung thánh dực, Thần-sách, Củng-thần, phạm vi là vùng Tây Thăng-long. Khâm-Thiên đại vương thống lĩnh ba hiệu Thiên-thuộc, Thiên-cương, Chương-thánh, phạm vi là vùng Đông, Nam Thăng-long.
Vũ-Uy vương hỏi:
- Lực-lượng đánh tiêu hao địch rất quan trọng. Vậy trong ba chúng tôi, ai là chúa tướng?
- Là Khâm-Thiên đại vương.
Khâm-Thiên đại vương hỏi:
- Nhiệm vụ chính của chúng tôi là gì?
- Khi giặc tới, thì phân tán thành từng đội, từng vệ, từng đạo ẩn vào các làng xã, bảo vệ dân, cùng tráng đinh chống giặc. Khi giặc đi, tập trung chiếm lại những vùng giặc đóng quân, đánh những đoàn do thám, những đoàn tiếp tế lương thực. Tùy tình hình, phá cầu, đặt chông, phục kích làm chậm bước tiến của giặc. Nhất là cung cấp lương thực cho các hiệu binh của ta lĩnh nhiệm vụ trực chiến và truy kích.
Nguyên-Phong hoàng đế ban chỉ :
- Hơn ba năm nay, Hưng-Đạo vương cùng các tướng súy Ngũ-yên huấn luyện từ hoàng nam, cho tơí binh địa phương, thiên tử binh về chiến thuật tiêu hao. Tuy vậy, có nhiều văn quan chưa biết về chiến thuật này. Vương nên tóm lược, giảng giải cho mọi người đều biết.
- Tuân chỉ.
Hưng-Đạo vương đưa mắt cho Hưng-Ninh vương. Hưng-Ninh vương đứng dậy giảng:
" Chiến thuật đánh tiêu hao, lấy căn bản là triều đình với dân cùng đồng tâm phá giặc. Địch đông hơn ta, mạnh hơn ta, tùy theo địa thế ta phân hiệu thành đạo (2400), vệ (800),), đô (80), Lượng (20) rồi ẩn vào các làng xã, dựa vào địa thế của làng-xã cùng dân chúng chống giặc. Nếu giặc mạnh quá, thì cùng dân chúng rút chạy sang làng khác. Khi giặc phân tán, ta tập trung thực nhanh, đánh chớp nhoáng, rồi lại phân tán. Chiến thuật này rất lợi hại, vì quân sống với dân, được dân cho ở trong nhà, không cần doanh trại. Được dân nuôi ăn, không phải tiếp tế lương thực. Thương binh có dân chăm sóc. Tử sĩ có dân mai táng. Tổn thất dùng hoàng nam bổ xung. Di chuyển nhẹ nhàng. Thông thuộc đường lối. Được dân báo cho tin tức giặc. Ta có thể tóm tắt chiến thuật này là: Biến đất nước thành một hồ nước. Giặc dùng con dao cắt đứt nước dễ dàng. Nhưng dao vừa cắt xong, thì nước trở lại như cũ".
Hưng-Đạo vương hướng vào Vũ-Uy vương:
- Võ công vương gia cao nhất trong hoàng tộc. Lâu nay, vương gia theo gương Quốc thượng phụ, thu nhặt các thiếu niên mồ côi, về dạy dỗ, thành lập một đạo võ sĩ mang tên Trấn-quốc. Không biết hiện do ai chỉ huy ? Trong dịp này vương có mang theo không?
- Đội võ sĩ Trấn-quốc gồm toàn những thiếu niên từ 12 tới 20 tuổi. Võ công, tiễn thủ thì chúng ở mức trung bình. Nhưng chúng di chuyển, len lỏi, mưu mẹo không biết đâu mà lường. Người chỉ huy là Đô-thống Hoàng Vui.
Một võ quan dáng người nhỏ bé đứng dậy hành lễ rồi ngồi xuống. Có nhiều tiếng reo :
- Ái chà !
- Ối !
Cả triều thần cùng bật lên những tiếng vui mừng. Nguyên-Phong hoàng đế kinh ngạc hỏi :
- Vương nhi ! Vui là người thế nào mà nghe nhắc đến tên, ai cũng reo lên vậy ?
- Tâu phụ hoàng, Vui xuất thân từ trường Ngưu-binh ở Hoa-lư, mặt có trứng cá, thành ra trông như bị rỗ. Bạn hữu gọi là Vui-rỗ. Khi ở trong trường, từ học văn, tới luyện võ, Vui-rỗ chỉ ở bậc trung. Nhưng khi ra trường, giống như cá chậu được thả về biển Đông, văn tài của y phát xuất. Vì vậy tuy là võ quan, mà y trở thành danh sĩ vùng Thăng-long !
Thái-sư Trần Thủ-Độ thêm :
- Đẳng trật của y hiện là Đô-thống. Y lĩnh hai nhiệm vụ, một là thống lĩnh hiệu binh Hữu Thánh-dực. Hai là chỉ huy đội võ sĩ Trấn-quốc. Y là người đủ khả năng đối phó với Mông-cổ. Bởi như Hưng-Ninh vương chỉ có mưu thần, chước thánh, mà thiếu những quỷ kế, thiếu lối hành sự của bọn lưu manh dân dã. Còn Vui thì y có đủ, đúng như ta thường nói : Đi với Phật thì mặc áo cà sa. Đi với ma thì mặc áo giấy. Mưu kế của y không biết đâu mà lường.
Hưng-Đạo vương hài lòng nói với Vũ-Uy vương :
- Vậy khi bọn Mông-cổ nhập biên, vương gia dùng Đô-thống Hoàng Vui với đội Trấn-quốc quấy nhiễu làm cho chúng mất ngủ ít nhất hai đêm, lại chọc cho chúng tức đến điên người lên...Có như vậy, khả năng chiến đấu của chúng mới bị giảm.
Vũ-Uy vương cười hỏi Đô-thống Hoàng Vui :
- Vui đệ ! Quốc kế, Hưng-Đạo vương vạch ra như vậy, thế đệ thi hành rasao ?
- Thưa vương gia.
Vui đứng dậy trình : Gì chứ chuyện thần vơi bọn nhãi ranh thừa sức làm. Đầu tiên, khi chúng nhập biên, sau một ngày di chuyển mệt mỏi, chiều thần sẽ cho bọn nhỏ giả làm mục đồng, dẫn dụ chúng vào trong làng xã, rồi giết vài chục tên. Sau đó quấy nhiễu suốt đêm, không cho chúng ngủ. Hôm sau thần lại tiếp tục bầy chướng ngại trên đường đi, gây tức bực cho chúng, cuối cùng lừa cho chúng đóng quân qua đêm vào khu ven rừng cỏ khô Thảo-lâm. Đêm thần dùng Lôi-tiễn nã lên đầu chúng, nướng chả ít trăm tên. Thế là trọn ba đêm chúng không được ngủ. Lúc chúng tới Bình-lệ-nguyên thì người ngựa mệt mỏi bơ phờ, ta mới dễ thắng chúng.
Nguyên-Phong hoàng đế nhắc Hưng-Đạo vương:
- Bây giờ tới lực lượng phản công.
- Tâu, lực lượng này cần một tướng hết sức mẫn cán, trẫm tĩnh, bằng không dễ bị kỵ binh giặc đánh tan. Trong các tướng hiện diện, ngoài Hưng-Ninh vương không ai gánh nổi.
Hưng-Ninh vương đứng dậy nhận lệnh.
Hưng-Đạo vương tiếp:
- Hưng-Ninh vương thống lĩnh ba hiệu Tứ-thiên, Tứ-thần, Tứ-thánh. Nhiệm vụ chính là ém quân quanh Thăng-long, chờ đợi khi giặc đói vì không lương, bệnh vì thời khí, thì xuất hiện đánh như sét nổ, rồi đuổi bất kể ngày đêm, cho tơí biên giới thì thôi. Bây giờ tới lực lượng trực diện...
Vương đưa mắt nhìn các tướng Ngũ-yên:
- Lực lượng này có nhiệm vụ dụ địch. Phàm khi địch kiêu căng, thì ta phải giả ngu, giả dại để chúng mắc mưu. Mông-cổ là thứ binh kiêu khí vô cùng tận. Biết rằng dàn quân trực diện với chúng thì ta bị chúng dẹp ngay. Thế nhưng ta cũng phải dàn quân để chúng khinh thường. Ta sẽ dàn quân tại ba nơi. Một là tại Bình-lệ-nguyên, hai là Cụ-bản, ba là Phù-lỗ. Khi tiến quân vào nước ta, chắc chắn Ngột-lương Hợp-thai sẽ sai một trong ba tên Triệt Triệt Đô, A Truật, A Tan đi tiên phong. Võ công ba tên này thực không phải tầm thường. Vì thế tướng trấn thủ cần bốn điều kiện.
Một là dũng, tức võ công cực cao, để có thể đối trận với chúng.
Hai là trí, để có thể ứng phó với biến chuyển của trận thế.
Ba là mưu, để có thể lừa giặc.
Bốn là đảm, vì khi trấn tại đây thì lành ít, dữ nhiều.
Vương ngừng lại, nhìn cử tọa một lượt, chính khí người nào cũng tỏa ra hừng hực. Tất cả như đều muốn được lĩnh nhiệm vụ có đi, không về này. Vương hỏi:
- Có ai tình nguyện không?
Tất cả các tướng đồng loạt đứng dậy, dơ cao tay. Trong đó có cả Nguyên-Phong hoàng đế, Thái-sư Trần Thủ-Độ. Tổng cộng 28 người. Vương mỉm cười:
- Bệ hạ cũng như Quốc-phụ là tướng của các tướng, thì phải ngồi trong màn mà quyết thắng ngoài nghìn dặm, không thể ra trấn nhậm ở đầu mũi tên, ngọn giáo được.
Nhà vua tỏ ý không vui:
- Thái-tổ Mông-cổ là Thành-cát Tư-hãn, Thái-tông là Oa Khoát Đài từng xung sát hằng trăm, hằng ngàn trận. Không lẽ trẫm chịu thua họ ta sao?
Ngài chỉ Thái-sư Trần Thủ-Độ:
- Còn Thái-sư! Thái-sư từng thống lĩnh binh đoàn Phương Đông của Mông-cổ. Tại sao trong trận lớn như thế này, khanh không cho Thái-sư xuất trận?
- Tâu, ý thần muốn bệ hạ cùng Thái-tử ẩn quanh Thăng-long, điều động toàn quân. Đợi khi giặc mệt mỏi, bệ hạ sẽ xuất trận, khích lệ ba quân truy kích giặc.
Vương thấy trên mặt nhà vua thoáng vẻ không vui. Vương biết võ công ngài cực cao, ngài lại muốn nêu gương chiến đấu với ba quân... Vương đành tâu:
- Nếu như bệ hạ muốn ra tuyến đầu đối trận với chúng, thần xin đề nghị bệ hạ thân chinh tại Bình-lệ-nguyên. Còn Thái-sư, thì xin Thái-sư cùng Khu-mật viện thống lĩnh cả ba mặt trận Bình-lệ-nguyên, Cụ-bản, Phù-lỗ.
Nhà vui tỏ ý vui mừng:
- Trẫm xin lĩnh nhiệm vụ của một đại tướng... Bấy lâu, trẫm có một đội Thị-vệ trên 3 trăm người, trẫm sẽ mang theo...Rồi ! Bây giờ trong 28 tướng tình nguyện, khanh chọn lấy ba người chỉ huy ba mặt trận.
- Trong các tướng tình nguyện, người nào cũng có đủ tài trí trấn tại ba tuyến đầu. Thần xin cho rút thăm.
Người trẻ nhất hiện diện là Huệ-Túc phu nhân. Phu nhân cắt 28 mảnh giấy, cầm bút viết vào ba mảnh. Mảnh thứ nhất có chữ Bình-lệ-nguyên. Mảnh thứ nhì có chữ Cụ-bản. Mảnh thứ ba có chữ Phù-lỗ...rồi gấp lại bỏ vào trong cái đĩa bằng vàng. Nguyên-Phong hoàng đế cầm cái đĩa đưa ngang đầu. Ngài khấn:
" Thần Trần Cảnh, đức bạc, phải lĩnh trọng trách bảo vệ Xã-tắc. Nay Mông-cổ như hùm, như sói sắp sửa vào cướp phá. Chư tướng đều tình nguyện ngăn giặc. Xin Quốc-tổ, Quốc-mẫu, chư vị thần linh Đại-Việt chọn ba tướng tài trí để lĩnh trọng trách trấn Bình-lệ-nguyên, Cụ-bản, Phù-lỗ".
Huệ-Túc phu nhân đứng dậy mang bát đi một vòng. Mỗi tướng rút một thăm. Thái-sư Trần Thủ-Độ hô:
- Mở thăm!
Sau khi mở thăm, hầu hết các tướng đều tỏ vẻ thất vọng. Duy Lê Tần, Trần Tử-Đức và Phạm Cụ-Chích hiện ra vẻ hân hoan. Thái-sư Trần Thủ-Độ kiểm lại: Phiếu của Lê Tần có chữ Bình-lệ-nguyên, của Phạm Cụ-Chích có chữ Cụ-bản, của Trần Tử-Đức có chữ Phù-lỗ.
Nguyên-Phong hoàng đế ban chỉ:
- Mừng cho ba vị tướng quân được lĩnh trọng trách trấn nhậm địa đầu ngăn giặc.
Hưng-Đạo vương trao binh phù cho Lê Tần:
- Vũ-kỵ thượng tướng quân lĩnh hiệu binh Yên-bang, một đạo Kỵ-binh thuộc hiệu Phù-Đổng, một đạo Ngưu-binh Hoa-lư, thêm hạm đội Âu-Cơ dàn ra tại Bình-lệ-nguyên. Khi giặc tới, phải đánh một trận cho chúng biết rằng Nam-phương không thiếu những người con can đảm bảo vệ đất tổ. Sau đó sẽ xuống thuyền của hạm đội Âu-Cơ, rút về bến Đông-bộ đầu Thăng-long đặt dưới quyền Hưng-Ninh vương chờ lệnh phản công. Hoàng thượng sẽ xuất trận, khích lệ tướng sĩ.
Nhà vua nhìn Lê Tần:
- Trẫm sẽ là một tướng dưới quyền điều động của khanh.
Vương đưa mắt nhìn Nam-thiên ngũ long, rồi cung cung, kính kính đứng dậy:
- Mông-cổ mang theo rất nhiều cao thủ võ lâm Trung-nguyên, với ý định giết tướng, làm loạn hàng ngũ. Tuy vậy trong lúc Mông-cổ tiến binh, thì các tôn sư võ học phải ẩn thân. Tuyệt đối không giao chiến. Chờ lúc phản công thình lình ra tay, giết tướng giặc. Còn khi giặc tiến binh thì các vị có võ công cao, xin vị có thể nhập trại Mông-cổ để dò quân tình, kịp thời báo cho Khu-mật viện hay cho các tướng. Vậy thần xin các vị trưởng thượng di giá lên Bình-lệ-nguyên, Cụ-bản, Phù-lỗ để dò quân tình địch
Tuyên-minh thái hoàng thái hậu mỉm cười:
- Trong năm chúng tôi, thì Linh-Từ quốc mẫu bận chỉ huy, bảo vệ hậu cung, không thể xuất trận. Vương phi Kinh-Quốc vương đảm trách theo đạo quân của Thái-tử. Vậy chỉ còn già này với Hưng-Nhân vương phi và Kiến-Quốc vương phi. Vậy Hoàng nhi nên sai sứ đến yết kiến Vô-Huyền bồ tát, xin Bồ-tát điều động võ lâm, theo ba cánh quân để tùy nghi yểm trợ thì hơn.

Ghi chú của thuật giả

Nam-thiên ngũ long, xin xem chú giải hồi 45.

Nhân-Huệ vương thắc mắc:
- Mông-cổ có 5 vạn Lôi-kỵ, 5 vạn quân Đại-lý, với hai mươi vạn lao binh. Thế mà ta chỉ có một hiệu bộ binh, một đạo Kỵ-binh, một đạo Ngưu-binh, một hạm đội, tổng cộng chưa quá hai vạn người. Lấy một chọi mười thì nguy thay!
- Vương gia ơi! Bình-lệ-nguyên có một khu đất dài không quá hai dặm, giỏi lắm mỗi bên dàn được năm nghìn quân là nhiều. Quân Mông-cổ có đông đến đâu chăng nữa cũng vô ích mà thôi.
Hưng-Đạo vương trao binh phù cho Tả-thiên ngưu vệ thượng tướng quân Phạm Cụ-Chích:
- Tướng quân lĩnh hiệu binh Tiên-yên, một đạo Kỵ-binh thuộc hiệu Phủ-đổng, một đạo Ngưu-binh thuộc hiệu Hoa-lư trấn tại Cụ-bản. Sau khi cánh quân của tướng Lê Tần, cùng hạm đội Âu-Cơ rút về rồi, tất bọn Mông-cổ đuổi theo. Trái với đạo quân Bình-lệ-nguyên. Tướng quân thiết lập hệ thống đồn thực kiên cố, nằm trên đường đi. Như vậy giặc bắt buộc phải công đồn. Trận chiến sẽ hết sức khốc liệt. Khi thấy đồn ải bị vỡ, tướng quân cho binh sĩ tản ra thành nhiều toán nhỏ, đi theo hương lộ, lùi về hương Đông Thăng-long, đặt dưới quyền Thái-tử chờ phản công.
Hưng-Đạo vương là người gần với Phạm Cụ-Chích nhiều nhất. Vương biết Phạm là người trung chính, khi luyện hiệu Ngưu-binh, ông chỉ dạy tiến, mà không dạy lùi. Bây giờ để ông trấn Cụ-bản, thì e ông tử chiến, chứ không chịu lui . Vương tiến lên cầm tay ông:
- Phạm hiền đệ. Những lời ta sắp nói với đệ đây là của người anh, nói với người em. Đệ có nghe ta không?
- Đệ xin nghe.
- Phàm làm đại tướng, thì phải biết tiến, biết lùi. Chứ không nên cứng quá. Mũi nhọn dễ gẫy.
- Dạ.
Tuy Cụ-Chích vâng dạ, nhưng trong lòng Vương vẫn áy náy không yên.
Vương gọi Phú-lương hầu Trần Tử-Đức:
- Hầu lĩnh hiệu binh Yên-phụ, một đạo Kỵ-binh thuộc hiệu Phù-đổng, một đạo Ngưu-binh thuộc hiệu Hoa-lư, trấn tại Phù-lỗ. Sau khi quân của Tả-thiên ngưu vệ thượng tướng quân rút rồi, ắt quân quân Mông-cổ kiêu căng, mục hạ vô nhân, chúng sẽ tràn tới như nước vỡ bờ. Tướng quân đánh một trận cho chúng ghê sợ, rồi chia quân thành toán nhỏ, tản vào làng xã, lui về Tây-kết, đặt dưới quyền của Thái-tử, chờ ngày phản công.
Bùi Thiệu Hoa hỏi:
- Khải vương gia, thần với Trần Ý Ninh có đội nữ võ sĩ hơn trăm người, vẫn dùng để huấn luyện thanh nữ tại Ngũ-yên. Không biết trong trận đánh lớn này, vương gia có cho thần mang theo không?
- Được! Phu nhân cứ mang theo.
Trần Ý Ninh than:
- Đánh giặc mà lùi thì...chán quá!
Trong không khí trang nghiêm cực kỳ, mà cử tọa nghe một thiếu nữ sắc nước hương trời than, cũng bật cười. Nhà vua an ủi:
- Quận chúa lùi một lần, rồi tiến cả trăm lần. Đấy mới thú vị!
Hầu hỏi Hưng-Đạo vương :
- Thần có người em kết nghĩa tên Nguyễn Thiên-Sanh, hiện đẳng cấp tới Đô-thống, đang coi một vệ quân Tế-tác của Ngũ-yên chuyên bắt trộm cướp. Xin vương gia cho Sanh cùng trấn Phù-lỗ với thần.
Nghe nói đến tên Nguyễn Thiên-Sanh, hầu như tất cả chư tướng vùng Ngũ-yên đều bưng miệng cười. Thái-sư Trần Thủ-Độ thấy có sự lạ, ông hỏi :
- Cái gì mà chư vị cười ?
Hưng-Ninh vương đáp :
- Thưa Thái-sư, anh em chúng tôi cười là cười về hành trạng kỳ lạ của Đô-thống Nguyễn Thiên-Sanh.
_ ? ! ? ! ? !
- Phú-lương hầu Trần Tử-Đức, Đô-thống Lý Tùng-Bách, Đô-thống Nguyễn Thiên-Sanh là ba anh em kết nghĩa. Đô-thống Lý Tùng-Bách là một võ quan trí dũng tuyệt với, giỏi kỵ chiến bậc nhất bậc nhì Đại-Việt. Còn Đô-thống Nguyễn Thiên-Sanh, rất thông minh, võ công cao, nhưng học văn thì cực kỳ lười. Vì khi sinh ra, môi trên bị rách, hở hàm răng, nên bạn hữu gọi là Sanh Méo. Hưng-Đạo vương trao cho Sanh nhiệm vụ bắt trộm, bắt cướp ở vùng Yên-sinh. Mỗi khi nghe thấy trong vùng nào có trộm, hay cướp, Sanh không đem quân đi bắt, mà âm thầm dò la. Rồi đêm đến, y bí mật đột nhập nhà tên trộm, bắt vợ con nó trói bỏ gầm giường, sau đó leo lên giường giả làm vợ hắn nằm chờ. Khi tên trộm trở về mò vào giường, y mới ngồi bật dậy bắt sống.
Cả triều đình cùng im lặng nghe Hưng-Ninh vương kể. Vương tiếp :
- Tất cả đầu trộm, tướng cướp bị Sanh bắt sống, đều khâm phục đởm lược của Sanh, xin suy phục. Sanh xin ân xá cho chúng, rồi luyện võ, dậy hành binh, xung phong hãm trận. Hiện đám này lên đến 12 tên, người nào cũng có quân hàm Đô-úy, Vệ-úy. Thiên-Sanh kết huynh đệ với 12 người này. Ngũ-yên không trộm, chẳng cướp là nhờ Sanh Méo.
Nguyên-Phong hoàng đế cực kỳ vui vẻ, ngài buột miệng :
- Phải gọi Sanh với 12 người này là Đại-đởm thập tam kiệt mới đúng.
Hưng-Đạo vương ban lệnh :
- Tôi đồng ý cho Đô-thống Nguyễn Thiên-Sanh theo Hầu trấn Phù-lỗ.
- Tuân chỉ.
Thái-sư Trần Thủ-Độ hỏi Phạm Cụ-Chích :
- Mông-cổ dùng Lôi-kỵ tấn công. Khắp gầm trời này, không nước nào có thể chống nổi. Thế nhưng tôi nghe Hưng-Đạo vương muốn dùng Ngưu-binh chống Lôi-kỵ. Vậy tướng quân có thể trình bầy rõ khả năng Ngưu-binh cho chư tướng biết.
Phạm Cụ-Chích đứng dậy :
« Ngưu-binh là một loại binh, mà duy nhất Đại-Việt ta biết xử dung. Ngưu-binh do vua Đinh Tiên-Hoàng cùng các tướng thuộc quyền đã nghiên cứu rồi chế ra.
Nguyên thời thơ ấu, vua Đinh là một mục đồng. Vì vậy ngài chế ra những tiếng để ra lệnh cho trâu. Lúc đầu chỉ có 72 tiếng. Ngài lại dùng trâu lập trận, khi hợp, lúc phân, khi tiến, lúc lùi, khi húc, lúc lồng. Tổng cộng 36 thế võ khác nhau. Trên sừng trâu hoặc buộc dao, hoặc buộc giáo nhọn. Lưng trâu sẽ qua áo tơi, trên áo tơi ghép nhiều miếng thép, đồng, để không bị tên bắn.
Đến đời Lý, Tây-hồ thất kiệt, Long-biên ngũ-hùng lại xử dụng Ngưu-binh đánh Tống. Nhân đó chế ra tới 180 tiếng ra lệnh cho trâu. Các thế võ bắt trâu tập từ 36 tăng lên 72.
Cho đến nay, Ngưu-binh được luyện tập thành một thứ binh dân gian. Về tác chiến, như khi gặp trận địch kiên cố, một đội trâu xếp hàng 10, dàn làm 5 hàng cùng xung vào. Sau khi húc vỡ trận địch, thì chia ra làm hai, mỗi bên năm trâu, húc sang hai bên. Hàng thứ hai tiếp tục xông vào trong trận địch. Sau khi húc vỡ lớp thứ nhì của trận lại chia hai, tỏa ra hai bên. Hàng thứ ba tiếp tục thocï sâu vào trận địch.
Mông-cổ có Lôi-kỵ, mà ta dùng Kỵ-binh chống với họ thì không khác gì lấy sở đoản mà chống sở trường ? Địa thế của ta toàn đồng lầy, rừng rậm ? Địa thế này Kỵ-binh vô dụng, ngược lại Ngưu-binh lại thuận lợi.
Kỵ-binh Mông-cổ giỏi về tiễn thủ, ta dùng Ngưu-binh mang khiên-mây xung phong trước, quân bộ theo sau, thì có thể chống được.
Tất cả các cấp chỉ huy Ngưu-binh đều tuyển từ mục đồng, rồi huấn luyện. Các cấp Ngũ, Lượng, Đô thì huấn luyện tại xã, huyện. Các cấp Vệ, Quân, Hiệu thì phải đưa về trường Ngưu-binh ở Hoa-lư học ».
Thái-sư Thủ-Độ cau mặt :
- Tôi cầm quyền Tể-tướng, cứ thấy báo cáo có nhiều Hiệu, Quân, Vệ Ngưu-binh, mà không thấy đòi tiền nuôi trâu, nuôi binh là cớ gì ?
Hưng-Đạo vương đáp :
- Thưa Thái-sư, nếu như thành lập một Hiệu Ngưu-binh với 9.600 trâu, thì công nho phải chi tiêu nào trại cho trâu ngủ, nào người cắt cỏ, nào người tắm trâu, nào y sĩ chăm sóc trâu. Khi trâu già phải mua trâu trẻ thay thế, lại phải chi rất lớn để hằng ngày nuôi trâu. Vì vậy, ta chỉ tuyển người lập Cương ( Ngày nay gọi là Khung) chỉ huy Vệ, Quân, Hiệu. Còn lại, trâu của dân chúng đều được huấn luyện thành Ngưu-binh. Tất cả mục đồng đều huấn luyện thành Ngũ, Lượng, Đô trưởng. Tỷ như khi giăëc tới Đăng-châu, ta cần một Vệ Ngưu-binh, thì gửi lên một Cương, gồm các cấp chỉ huy của Vệ, rồi tập hợp các Ngũ, Lượng, Đô lại, nhanh chóng lâm chiến. Sau trận đánh, trâu, mục đồng lại trả về dân. Các cấp chỉ huy lại trở về.
Triều đình thở phào nhẹ nhõm. Bởi từ lâu, họ nghe nói nhiều về Ngưu-binh. Hôm nay họ mới hiểu rõ.
Sau khi trả lời hết thắc mắc của chư tướng. Hưng-Đạo vương tâu với nhà vua:
- Ba hiệu binh Yên-bang, Tiên-yên, Yên-phụ, hiệu Kỵ-binh Phù-Đổng, hiệu Ngưu-binh Hoa-lư là năm hiệu binh sẽ phải đối đầu với địch. Xin bệ hạ duyệt, rồi ban lời khích lệ, cho binh sĩ phấn khởi.
Ngay hôm sau, các hiệu binh rầm rộ di chuyển về vùng trấn nhậm. Tuy đã luyện tập liên tiếp ba năm qua về chiến thuật của Hưng-Đạo vương. Thế nhưng bây giờ di chuyển về địa phương mới. Các tướng thân dẫn cấp chỉ huy đô, vệ, đạo, hiệu quan sát địa thế từng con lộ, từng con lạch, từng xóm, từng làng để biết rõ địa thế. Tiếp theo, các đô trưởng dẫn quân trực thuộc tập trận giữ làng với hoàng nam. Quân, dân, già, trẻ, nam, nữ hồ hởi chờ giặc.
Nguyên-Phong hoàng đế, cùng Thái-sư Trần Thủ-Độ, Tiết-chế Hưng-Đạo vương duyệt các đơn vị trấn tại Bình-lệ-nguyên. Vũ-kỵ thượng tướng quân Lê Tần trình bầy chi tiết việc dàn quân, nơi đặt chông, chỗ phục binh, cùng kế hoạch tiến lui. Long tâm hoan hỷ. Ngài đi duyệt binh. Trước hết là hiệu Yên-bang, tướng chỉ huy là Đô-thống Trần Biên, tuổi khoảng 30, dáng người nhỏ bé, da sạm đen, vẻ mặt cương quyết. Thái-sư Thủ-Độ hỏi:
- Đô thống có biết nhiệm vụ của cánh quân Bình-lệ-nguyên phải làm gì không?
- Thưa Thái-sư.
Trần Biên trả lời: Có ba nhiệm vụ. Một là đánh chặn đường, cho Mông-cổ biết Đại-Việt ta không thiếu anh hùng, hào kiệt. Hai là rút về Đông-bộ-đầu, ẩn vào làng xóm cùng dân chống giặc. Ba là phản công truy kích giặc.
- Giỏi.
Thái-sư hỏi tướng chỉ huy đạo Kỵ-binh:
- Người báo danh đi.
- Thuộc hạ là Đô-thống Nguyễn Thời, tục danh Thời thẹo. Đạo Kỵ-binh có 300 ngựa, 20 thớt voi.
- Sau khi giao chiến một trận, bộ binh rút lui xuống hạm đội. Vậy Kỵ-binh rút như thế nào?
- Thuộc hạ đã nghiên cứu rất kỹ. Voi, ngựa chia thành toán nhỏ, rút theo hương lộ. Khi quân của thuộc hạ rút rồi, thì hoàng nam sẽ đăt chông, đặt chà trên đường. Giặc không thể đuổi theo được. Mà ví dù chúng có đuổi theo, cũng bị hương binh phục trong các con đường nhỏ bắn chết.
Đến trước đạo Ngưu-binh, nhà vua hỏi tướng chỉ huy:
- Khanh báo danh đi.
- Tâu thần là Đô-thống Nguyễn Tha. Nguyên xuất thân chăn trâu. Đạo của thần gồm 300 trâu. Trâu đều khỏe mạnh.
Ngài phóng mắt nhìn đoàn trâu : Sừng buộc dao, hoặc giáo nhọn. Lưng có áo giáp. Mỗi trâu có một Ngưu-binh đứng cạnh. Tuổi chúng từ 11 đến 20. Đứa nào cũng cháy nắng, da đen thui, nhưng khỏe mạnh. Trong 20 Đô Ngưu-binh hiện diện, thì đứng đầu mỗi Đô là một Đô-úy, tay cầm cờ, cổ đeo tù và.
Nguyễn Tha tâu :
- Đây là 20 đô úy chỉ huy 20 đô Tế-tác. Gồm có 10 nam, 10 nữ. Chúng có tên rất đặc biệt. Mười nam thì 5 mang tên Cu là Cu Chó, Cu Đen, Cu Méo, Cu Rỗ, Cu Lác ; 5 mang tên Trâu là Trâu Đen, Trâu Xanh, Trâu Điên, Trâu Trắng, Trâu Mập. Mười nữ có 5 mang tên Hĩm là Hĩm Còi, Hĩm Cao, Hĩm Lùn, Hĩm Rỗ, Hĩm Hô ; 5 nữ mang tên Cái là Cái Lan, Cái Huệ, Cái Sen, Cái Hồng, Cái Tiên.
Hoàng đế hỏi một nữ Đô-úy :
- Khanh báo danh đi.
Đứa con gái đáp :
- Thưa vua, cháu là Hĩm Còi.
- Thế họ tên cháu là gì ?
- Cháu mồ côi từ bé, không biết bố mẹ là ai, nên không biết họ, cũng chẳng có tên.
- Cháu bao nhiêu tuổi ?
- Cháu tuổi Ất Tỵ.
- À, Ất Tỵ là 14 tuổi.
Nhà vua bật cười. Ngài hỏi đứa con trai, tuy mặt non choẹt, nhưng người nó to lớn kềnh càng :
- Cháu báo danh đi.
- Cháu là Cu Chó.
Cũng như Hĩm Còi, Cu Chó không tên, chẳng họ, không biết mình bao nhiêu tuổi. Ngài bẹo má hai trẻ, tỏ một cử chỉ yêu thương, rồi hỏi :
- Khanh cho biết nhiệm vụ phải làm gì?
Cu Chó trả lời :
- Vũ-kỵ thượng tướng quân ban lệnh: Sau khi giao chiến một trận, thì bộ binh rút xuống thuyền. Kỵ-binh tản vào nàng. Còn Ngưu-binh đi cản hậu. Nếu như Nôi-kỵ Mông-cổ đuổi theo, thì bọn cháu xua tâu chạy xuống đồng lầy. Bố bảo Kỵ-binh giặc cũng không dám đuổi theo. Nhược bằng chúng đuổi theo, thì ngựa sa nầy hết, bọn cháu sẽ dùng tâu húc chúng nòi ruột con bà chúng ra hết.
Hầu hết Ngưu-binh là những trẻ mục đồng lâu năm, được tuyển mộ, rồi huấn luyện thành binh sĩ. Những ngôn ngữ bình dân chúngï dùng từ nhỏ đã quen, coi là sự thường. Bây giờ, lần đầu tiên đứng trước mặt đấng chí tôn, Cu Chó thuận miệng tuôn ra, mà y không biết là vô phép. Nhà vua nghe tiếng bình dân, bất giác bật thành tiếng cười.
Thấy Cu Chó nói ngọng theo thổ âm vùng Thiên-trường. Hưng-Đạo vương bẹo má nó:
- Quê con ở đâu?
- Dạ ở Thiên-tường.
- Bố mẹ con tên gì?
- Con mồ côi từ bé, không biết bố mẹ là ai!
Nguyễn Tha tâu:
- Tuy Cu Chó mới mười ba tuổi, nhưng sức khỏe không ai sánh. Trong đội Kỵ-binh, ai vật nhau với Cu Chó cũng bị nó vật ngã hết.
Thấy nét mặt Cu Chó có vẻ buồn, Hưng-Đạo vương xua đầu nó:
- Anh hùng đâu quản xuất thân. Thôi để ta nhận con làm con nuôi. Từ nay họ của con là Trần. Để ta đặt cho con một cái tên...
Ngài còn đang suy nghĩ thì Nguyên-Phong hoàng đế mỉm cười:
- Trông nó to lớn kềnh càng không khác gì con voi, thôi thì cứ gọi là Dã Tượng. Dã là đồng quê, tượng là con voi.
Thời xưa được vua, chúa ban cho cái tên là một điều cực kỹ hãnh diện. Cu Chó quỳ gối tạ ơn. Hưng-Đạo vương rút thanh trủy thủ đeo bên hông:
- Con là con ta. Trong các con của ta, ta đều cho một thanh trủy thủ để làm tin. Vậy con hãy cầm lấy con dao này.
Dã Tượng tiếp đao đeo vào bên hông.
Hoàng Đế đến trước một đội thiếu niên khác. Tất cả đều mặc quần áo bó sát lấy người. Mỗi thiếu niên đều đeo sau lưng cuộn dây thừng, một cái búa, hai ba cái đục, một số đinh lớn. Đội trưởng là một thiếu niên, dáng người thanh nhã, da trắng, mắt sáng. Nó hành lễ:
- Thần là Sấu-vàng, xin bái kiến Hoàng-đế bệ hạ.
Nguyễn Tha giới thiệu:
- Tâu bệ hạ, đây là đội Ngạc-ngư, gồm 18 thiếu niên. Tất cả đều là con của ngư dân trong vùng Đồn-sơn. Chúng có thể lặn dưới nước lâu hàng giờ. Những dụng cụ võ trang cho chúng dùng để đục thuyền địch. Đội trưởng có danh hiệu Sấu-vàng, không tên, chẳng họ.
Nhà vua bẹo má Sấu-vàng:
- Bố mẹ con là ai?
Sấu-vàng cúi mặt xuống:
- Tâu, bố mẹ con đi đánh cá, bị đắm thuyền qua đời từ lâu.
Nguyên-Phong hoàng đế chỉ Hưng-Đạo vương:
- Vương nên nhận trẻ này làm con...
Hưng-Đạo vương nắm tay Sấu-vàng:
- Tuân chỉ Hoàng-thượng, ta nhận con làm con. Cu Chó được Hoàng-thượng ban cho tên Dã Tượng. Vậy ta cũng đặt cho con cái tên là Yết-Kiêu.
Ngài lại tặng cho Yết Kiêu thanh trủy thủ.

Ghi chú của thuật giả

Sử sách đều ghi, hai anh hùng Dã Tượng, Yết Kiêu là gia tướng của Hưng-Đạo vương. Trong khi đó thì gia phả các chi con cháu ngài lại ghi hai ông là con nuôi. Tôi thấy gia phả đáng tin hơn. Bởi sau này, tứ vị vương tử là Hưng-Vũ vương, Hưng-Hượng vương, Hưng-Hiến vương, Hưng-Trí vương cho tới nhị vị vương cô Khâm-Từ hoàng hậu, công chúa Thủy-Tiên...tuy địa vị lớn mà vẫn lễ phép với hai ông, vì hai ông là con nuôi, lại cao niên hơn, tức là vai anh. Nếu là gia tướng thì lễ nghi thời Trần, phân biệt chủ, tớ rất phân minh, không thể có việc này.

Thế rồi, tháng 9, Ngột-lương Hợp-thai không thấy sứ trở về phục mệnh. Y sai một sứ đoàn nữa lên đường. Cũng như sứ đoàn trước, khi tới biên giới, cũng được triều đình cử Chiêu-Minh vương cùng ba hầu tước biết nói tiếng Mông-cổ lên biên giới tiếp rước trọng thể. Khi về Thăng-long, sứ thần cũng hống hách, trịch thượng. Thái-sư Trần Thủ-Độ lại ra lệnh tống giam vào ngục.
Sang tháng 10, không có tin tức của hai sứ đoàn trước. Ngột-lương Hợp-thai lại sai sứ đoàn thứ ba lên đường. Lần này triều đình Đại-Việt cử Hoài-Đức vương cùng ba hầu tước lên đón rước rất trọng thể. Khi tới Thăng-long, sứ đoàn đặt yêu sách: Triều đình Đại-Việt phải cho họ gặp hai sứ đoàn trước, rồi họ mới chịu trao quốc thư. Thái-sư Thủ-Độ vui vẻ truyền lệnh: Họ muốn gặp hai sứ đoàn trước thì cho gặp. Họ được dẫn vào nhà ngục, gặp hai sứ đoàn trước, và họ được gông lập tức, để ba sứ đoàn được sống với nhau trong ngục. Vui vẻ vì gặp nhau... Căm hận vì bị giam...Uất ức vì không báo tin về cho Ngột-lương Hợp-thai biết tình trạng của họ.
Chán đời đi lang thang !
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-05-25 02:40:34NuHiepDeThuong>
Tiếp theo Hồi 46

Ghi chú của thuật giả

ĐVSKTT chép Ngột-lương Hợp-thai ba lần sai sứ đến dụ vua Trần Thái-tông đầu hàng, nhưng không chép rõ thời gian ba lần sứ đến.
- ĐVSKTT chỉ chép sứ tới lần đầu vào tháng 8.
- Nguyên-sử quyển 121 chép sứ đến lần thứ nhì vào tháng 9.
- Nguyên-sử quyển 209 chép sứ đến lần thứ ba vào tháng 10.
Chỉ độc giả AHĐA mới biết rõ chi tiết, thời gian ba lần sứ đến, rồi bị tống giam như thế nào mà thôi.

Ngày 1 tháng Chạp năm Đinh Tỵ
nhằm niên hiệu Nguyên-Phong thứ 7,
đời vua Thái-tông nhà Trần (6 tháng 1 năm 1258)


Tướng thống lĩnh đạo quân trấn biên là Vũ-Uy vương sai ngựa Lưu-tinh về Thăng-long cáo cấp:
" Không biết bằng cách nào đó, Ngột-lương Hợp-thai biết rõ vụ ba sứ đoàn bị tống giam. Y quyết tiến quân vào Đại-Việt. Chỉ còn hai ngày nữa thì chúng sẽ nhập vào biên giới. Tiền quân chia làm hai cánh, tiến dọc theo sông Thao. Hai tướng chỉ huy là Triệt Triệt Đô và A Tan. Mỗi cánh gồm một nghìn Lôi-kỵ, năm nghìn quân Đại-lý, một vạn lao binh. Phò-mã Hoài-Đô và con trai Ngột-lương Hợp-thai là A Truật dẫn một cánh tiếp ứng, gồm 1 vạn Lôi-kỵ, 2 vạn quân Đại-lý, 3 vạn lao binh. Còn đại quân Ngột-lương Hợp-thai tiến sau. Thần lệnh cho Đô-thống Trần Quới chỉ huy hiệu Tiền Thánh-dực cùng Hà Khuất thống lĩnh dân binh vùng Quy-hóa chia quân thành các Đô Vệ, giữ các trang ấp. Từ Quy-hóa tới Thảo-lâm, Đô-thống Bùi Hoán chỉ huy hiệu Tả Thánh-dực trấn nhậm. Lưu động từ Quy-hóa tới Bỉnh-lệ nguyên do Đô-thống Hoàng Vui chỉ huy hiệu Hữu Thánh-dực, đội Trấn-quốc, gây bất ổn cho giặc ».

Khu-mật viện sai chim ưng báo cho tất cả các tướng chỉ huy mặt trận, cũng như các phủ, huyện, trấn biết, kịp thời phản ứng. Toàn quốc rung động. Nhà nhà chuẩn bị, người người mài gươm, vót chông, chế tên chuẩn bị giết giặc.
Hưng-Đạo vương cùng các cấp trong bộ tham mưu đóng trên một soái hạm của hạm đội Âu-Cơ đậu ở bờ sông Thao. Nguyên-Phong hoàng đế dẫn ba trăm Thị-vệ tới Bình-lệ-nguyên tham chiến. Trước khi lên đường, Hưng-Đạo vương truyền trói ba tên bồi sứ Mông-cổ Trịnh Ngọc, Trịnh Đức, Trịnh Long, bịt mắt mang theo. Tới Bình-lệ-nguyên vương mời Vũ-Uy vương, Lê Tần xuống soái thuyền, rồi ban lệnh:
- Như quốc kế đã nghị, chúng ta chỉ đánh một trận, rồi rút lui, ẩn vào dân kháng chiến, tiêu hao lực lượng giặc. Đợi giặc mệt mỏi, hết lương. Bấy giờ ta mới phản công. Vậy nhị vị cần hết sức tinh tế bảo tồn lực lượng.
Vương dặn riêng Vũ-Uy vương:
- Vương có đội võ sĩ Trấn-quốc, gồm toàn thiếu niên khôn ngoan, linh lợi. Tuy ta lùi, không giao chiến với giặc, nhưng vương cũng làm cho chúng bực tức, cáu giận, mất bình tĩnh, mất tự tin.
Vũ-Uy vương cười khúc khích:
- Đệ chỉ có võ công cao, có tài dùng binh. Còn từ mưu thần chước thánh, cho tới cách dùng trò ma, trò quỷ, lối hành sự lưu manh dân dã, thì Đô-thống Hoàng Vui, rất giỏi. Tiết-Chế yên tâm. Đệ sẽ làm cho chúng tức đến hóa điên, hóa khùng, đến xùi bọt mép ra được.
Nguyên-Phong hoàng đế duyệt lại một lượt kế hoạch của Lê Tần. Tướng Lê Tần sai cấp ngựa cho ba tên họ Trịnh, thả chúng về biên giới. Khi bị giải từ Thăng-long lên Bình-lệ-nguyên, bọn họ Trịnh những tưởng phen này bị chém đầu tế cờ. Không ngờ lại được thả ra.
Rời Bình-lệ-nguyên, đi về hướng Bắc, khi qua khu rừng Thảo-lâm, bọn họ Trịnh gặp một toán mười đứa trẻ chăn trâu, vừa trai, vừa gái ngăn lại. Đứa nào tay cũng lăm lăm gậy tầm vông, liềm cắt cỏ. Đứa lớn nhất mặt rỗ như tổ ong bầu. Nó vỗ ngực:
- Ông nội mày đại danh Cu Rỗ, lãnh chúa mục đồng vùng này. Ba chúng bay là ai? Có phải bọn bay là quân do thám của Mông-cổ không?
Trịnh Ngọc có hơi sợ, y đáp:
- Chúng bay không được vô phép. Bọn ta là bồi sứ của Thiên-quốc Mông-cổ. Chúng ta từ Thăng-long về Trung-nguyên.
Cu Rỗ chỉ mặt Trịnh Ngọc:
- Tổ bà mi! Mi là người Việt tại sao lại làm bồi sứ cho Mông-cổ. Mi nói láo rồi.
- Im miệng! Bọn ranh con mà biết gì? Bọn bay không được hỗn.
- Hỗn! Con bà mi. Ông cứ hỗn thì chúng mày làm gì ông nào?
Cu Rỗ hạ lệnh :
- Anh em ơi ! Giết gian tế đi.
Cả bọn cùng thúc trâu bao vây ba tên họ Trịnh, chúng vung liềm, múa gậy. Trịnh Ngọc bở vía, y xuống nước :
- Tôi nói thực ! Chúng tôi là bồi sứ mà.
- Nói láo. Nhất lé nhì lùn. Tao trông cái mã mi mắt ti hí, vừa lé, vừa lùn. Nhất định là gian tế rồi.
Cu Rỗ hỏi đứa con gái :
- Hĩm Cao ! Mày nghĩ sao ? Có đúng chúng là gian tế không ?
Đứa con gái hô to :
- Nhất định nó là gian tế rồi. Có tật giật mình. Cứ nhìn dáng điệu sợ sệt, cái mặt bé choắt chéo thế kia, thì chúng là gian tế đứt đuôi con noòng loọc đi rồi. Làm thịt chúng đi anh em ơi.
Bọn trẻ vật cổ ba gã họ Trịnh, trói váo gốc cây. Thằng Cu Rỗ hét:
- Bọn con ghế, nhắêm mắt lại.
Một đứa con trai dùng liềm móc vào bụng Trịnh Long giật một cái, rút quần đứt ra. Y trở thành tồng ngồng.
Cu Rỗ lại hạ lệnh:
- Thiến!
Một thằng mục đồng khác vung liềm, tên Trịnh Long bị thiến. Y hét lên một tiếng lạc giọng. Một đứa mục đồng khác lấy thuốc cầm máu rịt vết thương cho y. Tiếp theo, tên Trịnh Đức bị cắt hai tai. Tên Trịnh Ngọc bị cắt mũi.
Đám trẻ hành sự xong, chúng đem thuốc cầm máu, lấy vải buộc vết thương cho ba tên họ Trịnh, rồi Cu Rỗ đe dọa:
- Ông nói cho bọn bay biết. Ông là cháu 10 đời của vua Đinh Tiên-Hoàng, thống lĩnh mục đồng vùng này. Hôm nay, ông sinh phúc tha cho bọn mi khỏi bị chết. Nhược bằng bọn mi còn theo Mông-cổ, hại nước thì ông sẽ chọc thủng mắt bọn mi. Nhớ không!
- Nhớ!
Bọn họ Trịnh đi rồi, đám mục đồng cười với nhau :
- Đô-thống Hoàng Vui hay thực. Người sai chúng ta đón đường hành sự, chỉ với mục đích nhắn cho bọn Mông-cổ biết : Nước Việt đến đứa trẻ cũng biết ra sức giữ nước.
Tuy được rịt thuốc, băng bó, nhưng cũng đau đớn đến chết đi sống lại. Ba tên Việt-gian họ Trịnh cố lết về tới biên giới. Gặp tiền quân của A Tan, cha con, anh em họ Trịnh khóc lóc tường thuật việc ba sứ đoàn bị tống giam. Tên Trịnh Ngọc báo: Quân Đại-Việt đã dàn ra tại Bình-lệ-nguyên chờ đợi.
- Thái-sư sai người do la tin tức về đại tướng Trần Thủ-Độ. Người đã dò ra chưa?
- Không những tiểu nhân tìm ra tông tích ông ta, mà còn biết rất nhiều về mưu mô của triều đình Đại-Việt nữa!
_???
- Tuy bị giam trong tù, nhưng tiểu nhân cũng liên lạc được với các tay sai ở ngoài. Chúng cho tiểu nhân biết một tin trọng đại: Trần Thủ-Độ là Thái-sư An-Nam. Ông ta mới chết cách đây bốn tháng?
- Tại sao ta không nghe An-Nam phát tang?
- Bí mật! Vua An-Nam biết rằng Trần Thủ-Độ từng làm đại tướng Mông-cổ. Khi nghe danh ông còn sống, tất binh tướng ta còn nể vì. Do vậy, dù ông ta chết, nhưng triều đình vẫn dấu, rồi tìm một người giống ông ta. Hằng ngày, Thủ-Độ giả vẫn ra vào Hoàng-thành, thành ra ai cũng tưởng ông ấy còn sống!
- Có thực không?
- Chính tiểu nhân gặp Trần Thủ-Độ giả. Tiểu nhân nói tiếng Mông-cổ, y ngơ ngác không hiểu gì, ậm ờ cho qua.
- Tin này quý lắm. Để ta khẩn sai người báo với Thái-sư.
A Tan là tướng kinh nghiệm chiến đấu. Lập tức y ra lệnh y sĩ điều trị cho ba tên họ Trịnh, rồi tiến binh thực gấp. Đích thân y đi tiên phong.
Thế nhưng từ khi nhập vào biên giới Đại-Việt, y cảm thấy một cái gì ghê ghê, lạnh lẽo khó tả. Khí hậu tháng Chạp buốt tới xương, gió heo may rít lên từng cơn nghe thực khó chịu. Trên đường, không một bóng người, không một bóng thú. Những trang, những động, cổng đóng im lìm. Giờ Thân, y ra lệnh cho quân ngừng lại nấu cơm chiều. Nhưng trời mưa phùn, không tìm đâu ra rơm, rạ, củi khô. Quân sĩ hạ trại trên một bãi đất bằng phẳng.
Có tiếng sao véo von, rồi từ một lối đi nhỏ hẹp trong rừng, hai đứa trẻ mục đồng, một nam, một nữ, tuổi khoảng mười hai, mười ba đang thủng thẳng đi ra. Chúng cỡi trên lưng trâu, mình mặc áo tơi, tay cầm ống tiêu tấu một bản nhạc êm dịu, nhẹ nhàng. Thấy quân Mông-cổ, nào người, nào ngựa rầm rập đi tới, mà hai trẻ vẫn thản nhiên tấu nhạc, mở to mắt nhìn. A Tan vẫy tay gọi chúng. Chúng thúc chân vào bụng trâu, miệng kêu tiếng nghé ọ. Hai con trâu thủng thẳng tiến lại gần A Tan. A Tan ra lệnh cho tên Trịnh Ngọc dịch.
- Hai đứa bay tên gì?
Đứa con gái chỉ đứa con trai:
- Nó là thằng Dã Tượng, đại danh Cu Chó. Còn cháu là con Hĩm Còi.
- Từ đây đến Bình-lệ-nguyên còn bao nhiêu dặm nữa?
Con Hĩm Còi lắc đầu:
- Tôi không nói. Ông cho tiền, tôi mới nói.
A Tan móc túi đưa cho Hĩm Còi một nén bạc. Con bé nhìn bạc, rồi bỏ vào túi, miệng nở nụ cười:
- Từ đây đến Bình-lệ-nguyên bao nhiêu dặm thì tôi không biết. Nhưng đi bằng chân thì mất một ngày. Đi bằng trâu thì mất nửa ngày. Còn phi ngựa thì chỉ mất hơn giờ thôi.
- Gần đây có làng xóm nào không?
Dã Tượng chỉ vào con đường mà chúng vừa đi ra:
- Phía sau khu rừng trúc này có đến ba xã lớn lắm.
- Mày có thể dẫn chúng tao vào làng kiếm củi khô không?
- Trong làng thiếu gì rơm, rạ, củi khô. Các ông vào đó mà mua.
- Mày dẫn đường nhé.
- Vâng.
A Tan sai hai Lôi-kỵ dẫn một Thập-phu lao binh theo hai đứa trẻ đi vào con đường mòn rừng trúc. Nhưng hơn hai khắc sau (28 phút ngày nay) không thấy quân trở về.
Tên Trịnh Ngọc tỏ ra hiểu biết:
- Tướng quân phải cẩn thận. Chúng ta đang ở trong vùng trấn nhậm của con thứ Trần Cảnh là Vũ-Uy vương. Tên này võ công đã cao, mà mưu trí không biết đâu mà lường. Cạnh y có tên Hoàng Vui, rất nhiều quỷ kế. Có thể hai trẻ mục đồng ban nãy là võ sĩ trong đội Trấn-quốc của y. Cách đây hơn nửa tháng, trên đường về biên giới, ba chúng tôi bị một bọn mục đồng do Cu Rỗ, Hĩm Cao làm nhục... cắt mũi, xẻo tai, rồi...thiến. Mưu này phi tên Vui, không ai nghĩ ra được.
A Tan gạt đi:
- Dù tên Vũ-Uy, dù tên Vui tên buồn gì, dù đội Trấn-quốc thế nào chăng nữa, với Lôi-kỵ, ta há sợ chúng sao?
Thế nhưng một khắc trôi qua. Sốt ruột, A Tan lại sai hai Lôi-kỵ khác dẫn một Thập-phu lao binh đi tìm. Nhưng hai khắc sau cũng không thấy chúng trở về. Biết có điều bất tường, y sai viên Thập-phu trưởng Lôi-kỵ dẫn một Thập-phu Lôi-kỵ, hai Thập-phu Đại-lý đi tìm. Không đầy nửa khắc sau, có tiếng hò hét, tiếng ngựa hý, tiếng quát tháo, tiếng vũ khí chạm nhau. Rồi hai Lôi-kỵ chạy bộ trở ra, mặt đầy máu. Chúng báo cáo:
" Qua con đường hai bên đầy bụi tre, khoảng trăm trượng, thì tới một con hương lộ dẫn tới một làng, bao bọc bởi những lũy tre dầy, cao vút. Cổng làng mở rộng. Chúng tôi vào trong làng, không một bóng người, không một bóng thú. Trên một bãi đất, bốn Lôi-kỵ, hai Thập-phu lao binh bị trói tròn như bó củi đặt nằm dài trên luống khoai. Chúng tôi tiến đến giải cứu, thì bị trúng phục binh. Chỉ một loạt tên, phân nửa chúng tôi bị ngã. Rồi những tên Nam man, nam có, nữ có, già có, trẻ có. Chúng trang phục dân gian. Đứa thì vác mã tấu, đứa thì vác gậy tầm vông, đứa thì vác dao phát dậu. Chúng xông ra chém giết. Vì chúng quá đông, nên chỉ hai chúng tôi chạy thoát về đây".
Tên Trịnh Ngọc được dịp khoe tài:
- Tôi đã nói, mà tướng quân không nghe. Nhất định vụ này do Vui-rỗ bầy ra !
A Tan đang cáu, không biết trút cái giận đi đâu, nghe gã Trịnh Ngọc nói, y co chân đạp gã một cái, gã ngã lăn như con chó tiền rưỡi. A Tan thân dẫn một Bách-phu Lôi-kỵ với hai Bách-phu quân Đại-lý, quyết giết hết bọn Nam man. Khi tới con đường nhỏ, chỉ có thể một ngựa đi vừa mà thôi. Y truyền quân ngừng lại quan sát: Cổng làng đã đóng. Giữa cổng, bốn năm con bùi nhùi rơm tẩm bùn chất lên nhau, chặn mất đường vào.
Dã Tượng, Hĩm Còi đứng trên con bùi nhùi, tay cầm tù và rúc lên tu tu, chúng nói vọng ra bằng tiếng Mông-cổ rất rõ ràng:
- Bọn Thát-đát! Có giỏi vào đây chơi với ông vài keo?
A Tan nổi lôi đình. Y dương cung bắn, nhưng ở xa quá, tên chưa tới cổng làng đã rơi xuống đất. Dã Tượng, Hĩm Còi biến mất.
A Tan nghĩ thầm:
- Con lộ nhỏ thế này, chỉ có thể đi được một người, thì làm sao tấn công vào làng?
Có ba tiếng trống, một tiếng thanh la vang lên. Cổng làng mở rộng, một con ngựa kéo chiếc xe hai bánh thủng thẳng tiến ra, trên đầy xác chết của Lôi-kỵ, của binh Đại-lý, của lao binh. A Tan muốn điên lên được. Trong đời chinh chiến của y. Y từng xung sát hàng trăm trận, chưa bao giờ y gặp một đối thủ kỳ quái như thế này.
Y sai đem xác hơn hai chục tử sĩ ra ngoài, rồi ban lệnh cho một Thập-phu trưởng:
- Người đem Thập-phu của người, dùng mộc che thân, xông vào chiếm cổng làng. Ta sẽ cho hai Thập-phu khác theo tiếp ứng.
Viên Thập-phu hô lên một tiếng, Thập-phu của y xếp hàng một vọt tới. Nhưng giữa lúc đó, một con trâu từ trong làng thủng thẳng đi ra. Người cỡi trâu mình mặc áo tơi, đầu đội nón che mất mặt nên không biết y là nam hay nữ, già hay trẻ? Y thổi tiêu. Tiếng tiêu véo von vang lên át cả tiếng vó ngựa. Thập-phu Lôi-kỵ đang vọt tới, bị ngăn lại. Viên Thập-phu trưởng vội giật cương, thúc chân vào bụng ngựa. Con ngựa bị bắt buộc ngừng khẩn cấp, nó hý lên một tiếng, rồi cất cao hai vó trước. Mười Lôi-kỵ đi sau cũng chung một hoàn cảnh.
A Tan biết đây là một kỳ nhân dị sĩ, y cảnh cáo viên Thập-phu trưởng:
- Phải cẩn thận!
Nhưng đã trễ. Viên Thập-phu trưởng tung giây thoòng loọng chụp cổ mục đồng, rồi giật mạnh. Vù một tiếng, ai cũng tưởng người mục đồng bay bổng lên cao, nhưng nào ai ngờ, gã Thập-phu trưởng bị tung lên trời. Ngườùi mục đồng cặp y vào nách, rồi vung tay lên. Mười tiếng vi vu rít lên trên không, mười mũi phi tiêu trúng giữa trán mười Lôi-kỵ phía sau.
A Tan hô Lôi-kỵ xung phong. Nhưng con đường quá hẹp, đã bị xác các Lôi-kỵ, bị ngựa chặn mất rồi. Chúng đành phi ngựa tràn xuống ruộng. Ngựa chạy được mươi bước thì chân bị lún sâu, bước không nổi nữa. A Tan ra lệnh cho binh Đại-lý lách qua xác Lôi-kỵ đuổi theo gã mục đồng. Nhưng y với trâu đã trở vào trong làng.
Bọn binh Đại-lý ào tới cổng làng, thì một tiếng lệnh đánh lên, tên từ trong làng bay ra vun vút, mười mấy gã bị trúng tên ngã vật xuống ruộng.
Trời đã tối hẳn. A Tan đành trở ra bãi đóng quân. Y sai hai Kỵ-mã phi tiễn báo cho Ngột-lương Hợp-thai biết tình hình, rồi truyền lệnh qua đêm.
Mọi việc xong xuôi, y vào soái lều ngủ. Nhưng vừa mở cửa, thì y giật mình, vì gã cỡi trâu, mặc áo tơi đã ngồi trong trướng từ bao giờ. Biết đây là một kỳ nhân dị sĩ, y bình tĩnh hỏi :
- Tôn giá là ai ? Vào đây có việc gì ? Với võ công của tôn giá, thì địa vị đâu có nhỏ ? Xin tôn giá cho biết mặt được không ?
Người mặc áo tơi mở nón . Bất giác A Tan ngẩn người ra, vì hắn rất trẻ. Hắn trả lời A Tan bằng tiếng Mông-cổ :
- Tôi là ai, tướng quân không cần biết đến. Tôi đến đây, vì muốn được tướng quân chỉ giáo cho mấy chiêu.
Tên Trịnh Ngọc đã đến, y chỉ người mặc áo tơi :
- Vũ-Uy vương ! Ta đã biết người trong những ngày ở Thăng-long. Người đừng hòng qua mắt ta.
Trong khi Vũ-Uy vương đối thoại với A Tan, thì gã vệ sĩ của y đã báo động. Quân sĩ đốt đuốc, bao vây soái liều, reo hò. A Tan nghĩ rất nhanh :
- Tên này chỉ huy lực lượng phòng thủ biên giới của An-Nam đây. Tất cả những trò ma, trò quỷ ban ngày đều do y bầy ra. Ta phải bắt y, thì mới mong bình định vùng biên giới này.
Nghĩ vậy y hít hơi, phát một chưởng bằng tất cả công lực hướng Vũ-Uy vương. Vũ-Uy vương nhận ra đó là chiêu Đông-hải lưu phong của phái Đông-a. Vương cười nhạt, cũng trả bằng chiêu Đông-hải lưu phong. Hai chưởng chạm nhau, phát thành tiếng lớn. Cả hai cùng bật lui, đứng gườm gườm nhìn nhau. Vũ-Uy vương xoa tay cười nhạt :
- Này tướng quân! Tôi biết tướng quân học võ với Hốt Tất Liệt. Mà Hốt Tất Liệt lại học với thái thúc tổ ( cụ chú) Trần Thủ-Huy của tôi. Như vậy võ công của tướng quân là võ công của nhà tôi. Không biết khi truyền thụ võ công cho tướng quân, Hốt Tất Liệt có nói về môn quy của bản phái không ? Điều thứ mười nói gì nhỉ?
- Dĩ nhiên là có.
- Xin tướng quân nhắc lại nghe thử.
- « Đệ tử Đông-a nào dùng võ công chống lại chủ đạo của tộc Việt, thì toàn môn phái phải tru lục ».
- Thế sao tướng quân lại dùng võ công này đánh Đại-Việt ?
- Vương gia há không biết rằng luật nhà thua luật làng. Luật làng thualuật nước sao ? Môn quy của phái Đông-a chỉ là luật nhà. Còn tôi mang quân sang đây là tuân luật nước. Vậy vương gia hãy đem quân đầu hàng, thì tính mệnh được bảo toàn, mà cái tước vương cũng không mất .
- Chúng ta ai cũng vì nước mình. Ta xin lĩnh giáo tướng quân ít chiêu.
Nói vừa dứt vương đã phát chiêu tấn công. A Tan bình tĩnh trả đòn. Dưới ánh đuốc chập chờn, hai người dùng cùng một thứ võ công đấu với nhau. Bàn chung, về công lực, thì Vũ-Uy vương tuổi còn trẻ, không thể nào thắng nổi A Tan, y đã đi vào tuổi 30. Nhưng về chiêu số, thì A Tan học lại của Hốt Tất Liệt. Mà Hốt Tất Liệt lại học từ phò mã Trần Thủ-Huy... Võ công của Thủ-Huy là võ công Đông-a hồi gần trăm năm trước, sao có thể so sánh với võ công Đông-a hiện thời ; đã được Nguyên-tổ Trần Lý cùng Phùng Tá-Chu, Nam-thiên ngũ long sửa đổi đi nhiều. Vì vậy trải qua hơn trăm hiệp, hai bên vẫn bình thủ. Quân sĩ say mê đứng xem trận đấu kinh khủng mà chưa bao giờ họ thấy.
Biết không thắng được A Tan, Vũ-Uy vương đánh liền ba chưởng như vũ bão, rồi tung mình chạy. Chỉ nhấp nhô mấy cái, vương đã biến vào rừng.
A Tan lệnh cho quân sĩ đi ngủ.
Quân sĩ vừa riu riu ngủ, thì trong rừng tre vang lên tiếng trống thúc, tiếng người reo. Tưởng quân Việt tập kích, quân Mông-cổ choàng dậy, mặc áo giáp, đốt đuốc chờ đợi. Nhưng sau hơn giờ, thì tiếng trống, tiếng reo lại im bặt. Rừng núi vọng về tiếng dế kêu não nuột. Thỉnh thoảng, đâu đó tiếng cú kêu sầu thảm.
A Tan ra lệnh cho quân sĩ mặc áo giáp mà ngủ. Khoảng hơn giờ sau, mọi người vừa riu riu, thì có tiếng la hoảng, tiếng ngựa hý. Quân sĩ choàng dậy đốt đuốc lên, tất cả bật ngửa ra rằng, hơn hai chục chiến mã, bị một bọn vô hình nào đó đột kích bắn trúng bụng. A Tan cay đắng nhìn những thần mã từng tung hoành trên vùng Thảo-nguyên, trên chiến trường Tây-vực, trên khắp lãnh thổ Trung-quốc... oai hùng biết bao. Thế mà bây giờ bị những địch thủ không hình, không bóng bắn chết trong trường hợp không minh bạch. Y ra lệnh cho quân sĩ thắp đuốc tới sáng.
Đội quân Lôi-kỵ bách chiến, bách thắng, sau một ngày dài di chuyển mệt mỏi, rồi trải qua một đêm căng thẳng... Người, ngựa đều bải hoải. A Tan ra lệnh cho quân Đại-lý tiến quân vào tàn sát ngôi làng khốn nạn. Đầu tiên một Bách-phu đi tiên phong, vào trong làng dễ dàng. Nhưng hơn một khắc, không thấy chúng trở ra báo tin. Sốt ruột, y cho Lôi-kỵ tràn vào, thì trong làng không một bóng người, không một bóng thú. Chỉ có xác bọn Lôi-kỵ, bọn lính Đại-lý. Một tên lao binh duy nhất bị trói vào gốc cây cau còn sống. Y thuật:
- Khi tôi bị bắt vào làng, thì trẻ con, ông già bà cả yếu đuối đã di tản đi hết. Còn lại, già, trẻ, trai, gái đều cầm vũ khí chiến đấu. Chúng được chỉ huy bởi hai mươi Ngưu-binh, toàn là nhóc con, chưa đứa nào tới hai chục tuổi.
Dường như chưa hết sợ, y tiếp :
- Bọn binh lính thì không đến nỗi nào. Nhưng tụi dân chúng, nhất là mấy con mụ đàn bà. Chúng hung dữ kỳ lạ. Không có vũ khí, chúng dùng gậy tre, dùng dao phay, dùng cuốc. Nhưng chúng đánh có phương pháp. Chúng liều lĩnh vô cùng. Có đứa bị chặt cụt một tay, bị đâm lòi ruột, mà chúng vẫn lăn xả vào mà chém túi bụi.
A Tan thấy trên bức tường của căn nhà cháy có tờ giấy, trên viết bằng chử Hán. Y nhẩm đọc :
« Thống lĩnh hiệu binh Hữu Thánh-dực và đội võ sĩ Trấn Quốc của nước Đại-Việt là Hoàng Vui
Gửi tướng tiên phong Mông-cổ là A Tan.
Ta nghe, phàm đạo làm tướng thì tai nghe tám hướng, mắt nhìn mười phương. Lại phải biết mình, biết người. Nay mi thân làm đại tướng, mà không biết ta là ai, không biết khả năng quân ta ; mi cũng không tự biết Lôi-kỵ vô dụng đối với binh ta. Mi vừa nhập biên, ta chỉ dùng mấy đứa nhãi con, cũng làm cho hùng binh của mi mất ăn, mất ngủ. Lại giết cả nghìn tên dễ dàng như chà kiến cỏ !
Mi đã sợ ta chưa ?
Ngày mai quyết tái chiến ».
Dưới vẽ hình một đứa trẻ cỡi trâu méo mặt, đang cầm...cò đái.
A Tan tức quá, y ra lệnh đốt tất cả những căn nhà trong làng, cho quân nấu cơm ăn, chôn xác tử sĩ, rồi lên đường. Đến giờ Ngọ, thì đi qua một khu khí hậu ấm áp, cỏ non hai bên đường mọc xanh mướt. Đám chiến mã muốn ngừng lại gặm ít miếng, nhưng bọn kỵ mã không cho. Giữa lúc đó tên Bách-phu trưởng tiền phong cho người báo:
- Con đường phía trước đầy chông với chà. Xin tướng quân định liệu.
A Tan truyền quân tạm ngừng lại. Chiến mã được ăn cỏ xanh tươi, chúng hý lên những tiếng vui mừng. A Tan phi ngựa lên quan sát: Chông chà rất đơn sơ, nhưng nhiều vô tận. Y ra lệnh cho lao binh lên nhổ chông, kéo chà, mở đường. Tuy lao binh đông. Nhưng con đường hẹp, thành ra cuộc gỡ chướng ngại vật phải mất hơn giờ mới xong.
Giờ Mùi, cánh quân của A Tan gặp cánh quân của Triệt Triệt Đô. Vừa gặp nhau, Triệt Triệt Đô đã văng tục, chửi luôn miệng, chửi liên tu bất tận. Thì ra đêm qua cánh quân của Triệt Triệt Đô cũng gặp trường hợp tương tự. Triệt Triệt Đô ngoác mồm ra:
- Tổ mẹ nó. Từ lúc nhập Việt đến giờ không hề thấy một tên chó Việt nào cả. Cũng chưa được bắn một mũi tên, đánh một chiêu võ, màhao mất hơn trăm Lôi-kỵ, mấy trăm binh Đại-lý. Bây giờ tôi mới biết những trò ma, trò quỷ này là mưu kế của tên Hoàng Vui. Tổ bà nó, tôi mà bắt được tên Vui-rỗ, thì tôi sẽ nhét vào miệng nó mười bãi phân ngựa.
A Tan thuật lại trận đấu giữa y với Vũ-Uy vương, rồi kết luận :
- Vũ-Uy vương là người có võ công cao nhất trong đám thân vương trẻ mà công lực đã như vậy. Tôi nghe nói An-Nam còn có những cao thủ như Trần Tung, Trần Khánh-Dư, Lê Tần, Phạm Cụ-Chích, Trần Tử-Đức bọn này võ công cao hơn Vũ-Uy vương nhiều. Hà ! Đáng sợ thực.
Tên Trịnh Ngọc tâng công với chủ :
- Võ công bọn ấy cũng chưa đáng sợ. Đáng sợ là bọn Nam-thiên ngũ long. Năm con hồ ly này võ công cao không biết đâu mà lường. Ấy là chưa kể Đại-Việt thất tuyệt gồm Đặng Kiếm Anh, Đặng Kiếm-Hùng của phái Tản-viên ; Lê Ngân-Sơn, Lê Kim-Sơn của phái Sài-sơn ; Tiêu-Dao, Lung-Á của phái Yên-tử ; Y-Sơn của phái Tiêu-sơn. Ngoài ra còn Lĩnh-Nam tam đại thần kiếm của phái Mê-linh là Vô-Ảnh, Vô-Sắc, Vô-Huyền.
Mặt A Tan, Triệt Triệt Đô cau lại, tỏ vẻ lo lắng.
Tên Trịnh Ngọc ra vẻ ta biết nhiều :
- Vùng từ biên giới tới Bình-lệ-nguyên do Vũ-Uy vương trấn nhậm. Tất cả những trò gây tổn thất cho ta, là do đội võ sĩ Trấn-quốc của y. Bọn trẻ con mà đã thế, thì các hiệu binh của y sẽ gây ra nhiều trò quỷ quái không biết đâu mà lường. Nhị vị tướng quân phải cẩn thận.
Triệt Triệt Đô, A Tan truyền đóng quân lại, sai Kỵ-mã phi tiễn báo cáo tình hình cho Ngột-lương Hợp-thai.
Thình lình chiến mã, cũng như lừa, trâu, bò kéo xe, đều hý, rống lên thảm thiết; rồi con thì lồng lộn, con thì ngã lăn ra xùi bọt mép, con thì dẫy tê tê. Bọn Lôi-kỵ kinh hãi, chúng mở to mắt ra nhìn những con vật thân yêu. Y sĩ phụ trách thú vật chạy tới, chạy lui, kéo miệng thú ra quan sát. Sau khi khám nghiệm mươi con, hắn đã tìm ra nguyên do: Chúng bị ngộ độc.
Quân luật Mông-cổ định rằng, nếu chiến mã ngộ độc chết, thì lao binh phụ trách chăn ngựa bị tử hình. Đám lao binh mặt nhìn mặt, chúng đều biết rằng nếu đám lừa ngựa này chết, thì tính mệnh chúng khó toàn.
Triệt Triệt Đô quát lên:
- Nhất định trong đám lao binh có gian tế của Nam-man. Tụi bay phải tìm ra thủ phạm, bằng không tao sẽ giết hết bọn bay.
Y quát lớn:
- Tập trung bọn chăn ngựa lại.
Nhanh chóng, Kỵ-mã, binh Đại-lý dồn đám lao binh chăn ngựa vào một khu. Triệt Triệt Đô hỏi:
- Đứa nào trong chúng mày làm gian tế?
Đám lao binh quỳ gối khóc lóc:
- Bọn tiểu nhân đều theo quân mấy năm nay. Làm sao có quen biết với Nam-man?
Một lao binh chỉ vào ba gã họ Trịnh:
- Nghi can duy nhất trong vụ này chỉ có thể là ba gã họ Trịnh. Vì chúng là người Việt, biết nói tiếng Việt. Có lẽ trong thời gian bị giam ở Thăng-long, chúng đã được An-Nam phong chức tước?
Triệt Triệt Đô đưa mắt nhìn ba gã họ Trịnh. Trịnh Ngọc kinh hãy, y phân trần chỉ vào Trịnh Đức:
- Hai anh em chúng tôi đều là quan chức Thiên-triều, còn thằng Long là con tôi, lớn lên ở Mông-cổ. Chúng đâu có thể phản, mà theo bọn An-Nam ?
Nhìn con ngựa của mình đang nằm dài ra, xùi bọt mép, bốn vó dãy dụa, tỏ vẻ đau đớn cùng cực. Triệt Triệt Đô kề đao vào cổ Trịnh Long, nói với Trịnh Ngọc:
- Mày lý luận không vững. Mày bảo mày không phản Mông-cổ. Thế tao hỏi mày câu này: Đến nước mày, vua mày, làng xóm mày mà mày còn phản được, thì mày làm gì còn lương tâm? Nếu tao hô ba tiếng, mà mày không nhận thì tao chặt một tay con mày.
Y hô:
- Một.
- Xin tướng quân xét cho.
- Hai.
- Chúng tôi không hề đánh thuốc độc ngựa.
- Ba.
Ánh đao khoa lên, tiếp theo tiếng rú khủng khiếp.
Triệt Triệt Đô đang cáu, giận cá chém thớt, y định đổ cái hận lên đầu mấy tên chó săn Việt, thì quân báo:
- Thưa tướng quân, phía trước có một chiếc xe hai ngựa đang chạy tới. Người đánh xe xưng là thầy lang chuyên chữa ngựa trúng độc. Thầy tên Đỗ Thanh. Xin tướng quân định liệu.
Triệt Triệt Đô mừng chi siết kể, y truyền lệnh:
- Dẫn thầy lang tới.
Thầy lang Đỗ Thanh là một trung niên nam tử, dáng người thanh nhã. Tên Trịnh Ngọc lại được dẫn tới dịch. Thầy xá Triệt Triệt Đô, rồi nói:
- Lương-y Đại-Việt xin ra mắt tướng quân. Tôi biết ngựa của quý quốc đi qua khu cỏ độc, ắt mắc nạn nên đến đây trình với tướng quân.
Thấy phong tư Đỗ Thanh tiêu sái, tóc đen óng ánh, dáng đi nhẹ nhàng, nói năng kiêu kỳ: Tự gọi nước mình là Đại-Việt, không gọi Mông-cổ là Thiên-quốc, mà gọi là quý quốc; Triệt Triệt Đô biết đây là người có tư cách khác phàm, chứ không phải thầy lang bình thường ; cũng không phải bọn mãi quốc như ba gã họ Trịnh. Y dùng lời ngọt ngào:
- Ngựa, thú của ta đã trúng độc hết rồi. Nhà thầy làm thế nào mà biết trước?
- Thưa tướng quân, khi quý-sứ sang chiêu dụ triều đình hàng, thì các quan Đại-Việt chia làm hai phe. Một phe gồm đa số là nho gia, muốn Đại-Việt theo gió đầu hàng, để dân chúng được sống yên những ngày Nghiêu, tháng Thuấn. Tôi thuộc phe này. Một phe nữa nhất định chống đối. Gây cuộc binh đao. Tôi bèn cáo quan trở về. Hôm qua tôi thấy hoàng tử Duy tước phong Vũ-Uy vương chỉ huy quân sĩ làm chướng ngại vật, rồi lại đem thuốc độc tưới lên cỏ...
Triệt Triệt Đô tỉnh ngộ:
- Mình đáng chết thực. Khi thấy giặc bầy chướng ngại vật thô sơ, mình cứ tưởng chúng ngu đần. Thì ra chúng bầy với mục đích bắt mình dừng quân, khiến ngựa ăn cỏ non...Mà cỏ non đó, chúng tưới thuốc độc lên.
Nghĩ vậy y hỏi:
- Nhà thầy biết chữa ngựa trúng độc không?
- Tôi là một ngự y, làm viện trưởng Thái-y viện, thì cái thứ thuốc độc này ...giải đâu có khó.
- Nếu thầy cứu được đám ngựa của ta, ta sẽ xin hoàng đế Thiên-triều phong cho thầy tước hầu, tước bá.
- Tôi tuy cáo quan về điền dã, nhưng không có lòng phản triều đình Đại-Việt. Tôi không muốn làm quan với quý quốc. Tôi ra đây chữa ngựa, chỉ với mục đích xin tướng quân tha cho dân làng tôi. Bởi tôi nghe, khi quý-binh đến đâu, mà dân chúng đầu hàng thì tha. Còn như chống lại thì bị giết tuyệt.
- Được, ta sẽ tha cho cả làng thầy.
- Dạ, xin cho cả tổng.
- Được, ta tha cho cả tổng.
Đỗ Thanh móc trong cái tay nải đeo trên lưng lấy ra một bình lớn. Ông ta trao cho Triệt Triệt Đô một viên:
- Xin tướng quân nhét vào hậu môn chiến mã. Trong nửa khắc, chúng sẽ sẽ khỏi ngay.
Triệt Triệt Đô làm theo. Quả nhiên lát sau, chiến mã của y đứng dậy, hí lên một tiếng, khỏe mạnh như thường. Thầy lang trao thuốc cho bọn lao binh chăn ngựa, nhét hậu môn cho tất cả thú vật. Hai khắc sau, tất cả thú vật đều khỏe mạnh.
Triệt Triệt Đô lấy một nén vàng, trao cho Thanh:
- Gọi là chút ít, tặng ông đấy.
Thầy lang Đỗ co tay lại. Ông ta vái dài:
- Kẻ thô lậu này chữa ngựa cho quý-binh, chỉ mong tìm cái lẽ an lành cho dân làng. Rất mong tướng quân hứa không giết dân tổng này.
Triệt Triệt Đô dơ tay hứa. Thầy lang Đỗ trao cho lao binh chăn ngựa một túi thuốc, dặn:
- Chiến mã tuy được trị khỏi, nhưng chưa tuyệt nọc; anh em giữ bọc thuốc này, sáng mai, lại cho mỗi chiến mã uống một viên, thì không còn sợ gì nữa.
Nói dứt, thầy vái Triệt Triệt Đô, rồi đánh xe vào một con đường nhỏ.
Chiều hôm đó, thì đại quân Ngột-lương Hợp-thai tới. Y hỏi Trịnh Ngọc:
- Vùng này tên là gì?
- Thưa là Thảo-lâm.
Ngột-lương Hợp-thai truyền quân đóng trên một vùng dài ven rừng. Khác với hôm qua, trời mưa phùn. Hôm nay vùng này trời nắng ráo. Cây cỏ về mùa Đông khô héo. Ngột-lương Hợp-thai họp các tướng lại để nghị kế, tìm phương cách đối phó với trường hợp tương tự có thể sẽ gặp.
Tế tác báo cho biết:
" Vua An-Nam, cùng đại quân khoảng hai vạn, gồm bộ binh, Kỵ-binh, Ngưu-binh. Tất cả dàn ra tại Bình-lệ nguyên sẵn sàng chiến đấu".
A Truật nghi ngờ:
- Bọn An-Nam có ngu không? Chúng đã biết quân ta hùng mạnh, vô địch. Quân số của ta tới mười vạn. Thế mà vua chúng lại dàn hai vạn ra mong đối trận với ta. Không lẽ chúng muốn tự tử?
Phò mã Hoài-Đô cẩn thận hơn:
- Thái sư phải cẩn thận lắm mới được. Vua An-Nam là người trí dũng hơn đời. Y trao quyền Tiết-chế cho người cháu là Hưng-Đạo vương. Hưng-Đạo vương vừa có tài thao lược như Khương Thái-công, vừa có tài dùng binh như Tôn Vũ, vừa mưu trí như Gia-cát Lượng. Chúng đã biết quân ta tinh nhuệ, hùng tráng, đông gấp bội, thế mà chúng dám dàn ra đối trận với ta, ắt chúng có mưu kế gì đây.
Ngột-lương Hợp-thai thấy lời bàn của Hoài-Đô có lý. Nhưng y tự tin:
- Dù chúng có mưu gì chăng nữa, với sức mạnh của Lôi-kỵ, ta há sợ chúng sao?
Sau khi ra lệnh cho quân sĩ canh phòng cận thận. Y truyền đóng trại qua đêm. Trái với dự đoán rằng thế nào quân An-Nam cũng quấy rối như đêm trước. Nhưng, cho đến nửa đêm, tình hình vẫn yên tĩnh. Toàn quân chìm vào giấc ngủ.
Giờ Tý, thình lình khu đóng quân của A Truật vang lên tiếng reo hò, tiếng la hét, tiếng vũ khí chạm nhau. Ngột-lương Hợp-thai cùng các tướng bật dậy, ngồi chờ. Hơn giờ sau, quân báo:
- Có khoảng hơn hai trăm con trâu, sừng buộc dao nhọn, xông vào trại húc túi bụi. Khi quân đốt được đuốc lên, lập được trật tự, thì đoàn trâu đã biến vào trong rừng. Hơn bốn trăm binh sĩ vừa chết, vừa bị thương. Bọn chỉ huy trâu toàn nhóc con.
Ngột-lương Hợp-thai uất khí lên cổ. Trước khi tiến quân, y đã được Tế-tác báo cho biết rằng An-Nam có Ngưu-binh. Thuật dùng Ngưu-binh do vua Đinh Tiên-Hoàng, nguyên là trẻ mục đồng xuất thân đã nghĩ ra. Ngưu-binh xử dụng trâu lâm chiến lợi hại vô cùng. Thời Tống Thần-tông bọn Quách Quỳ, Triệu Tiết mang quân sang đánh đã bị Ngưu-binh làm cho khốn đốn bao phen. Y khinh thường, cười rằng Ngưu-binh sao có thể chọi với Lôi-kỵ của y. Bây giờ, qua một cuộc đột kích, y mới cảm thấy nguy hiểm đang chờ đợi.
Quân trình cho Ngột-lương Hợp-thai một lá cờ Cửu-mao đại đạo của Mông-cổ :
- Thưa Thái-sư, lá cờ này là đạo quân tướng Triệt Triệt Đô bị giặc lấy trộm đêm qua. Hôm nay, một Ngưu-binh đột nhập trại ta bỏ lại. Trên cờ có bức thư gửi Thái-sư.
Ngột-lương Hợp-thai cầm lên đọc :
« Đô-thống Hoàng Vui, thống lĩnh hiệu binh Hữu Thánh-dực, kiêm đội võ sĩ Trấn Quốc nước Đại-Việt.
Kính gửi :
Ngài Kiểm-hiệu Thái-sư , Thống lĩnh hành quân chinh thảo Nam-thiên, Tứ-xuyên vương của đại quốc Mông-cổ.
Từ lúc đại binh của ngài nhập biên, Vui này chỉ mới được giao hảo ít trận nho nhỏ với hai tướng tiên phong A Tan, Triệt Triệt Đô. Hôm nay, mới được hân hạnh cho bọn trẻ con ra mắt vương gia.
Lát nữa đây, tôi sẽ cho chúng đốt pháo cháo mừng quân Thiên-triều.
Hẹn ngày mai gặp lại ngài trên sông
».
Dưới vẽ hình một đứa trẻ méo miệng, đang cầm...cò đái.
Trọn đời chinh chiến, từ Đông sang Tây, từ Bắc đến Nam, chưa bao giờ Ngột-lương Hợp-thai lại bị chọc giận đến như thế này. Y nghiến răng kèn kẹt. Tên Trịnh Ngọc được dịp khoe tài :
- Thưa Thái-sư. Cái tên Vui này nói được, thì y làm được. Y hẹn đốt pháo mừng
Ngột-lương Hợp-thai cùng các tướng đang bàn luận, thì có tiếng rít kéo dài vọng lại, rồi ba tiếng nổ rung chuyển không gian. Trên trời, ba trái cầu lửa nổ tung, tỏa ra ánh sáng xanh, tím, vàng, đỏ.
Binh sĩ Mông-cổ la hoảng:
- Lôi tiễn.
Tiếp theo, mỗi loạt hàng trăm trái Lôi-tiễn từ trong rừng bắn ra, nổ chụp xuống đầu quân Mông-cổ. Rừng mùa Đông toàn cây lá khô héo, bị trúng Lôi-tiễn, bốc cháy. Trong khoảnh khắc, toàn khu đóng quân biến thành một biển lửa. Ngựa hý, quân la hoảng, người người ôm đầu chạy ra khỏi khu rừng khô.
Quân Mông-cổ cũng có Lôi-tiễn, nhưng giữa đêm tối, chúng không biết quân Việt ở đâu để phản pháo! Trong khi quân Việt đã tính toán, nhắm mục tiêu từ trước.
Tên Trịnh Ngọc cố vấn:
- Đó, tên Vui hẹn đốt pháo mừng Thái-sư, thì y giữ lời hứa cho Lôi-tiễn nã. Tôi nghĩ ngày mai y sẽ bầy trò quỷ trên sông chờ ta.
- An-Nam cũng có Lôi-tiễn ư ?
- Lôi-tiễn gốc từ thời vua Lý Nhân-tông, do Tây-hồ thất kiệt và Long-biên ngũ hùng chế ra trong trận đánh Ung-châu. Sau phò mã Trần Thủ-Huy truyền cho Mông-cổ ta. Tuy nhiên, trên trăm năm qua, Lôi-tiễn Đại-Việt đã được sửa chữa, tầm bắn xa hơn nhiều, lực sát hại ác liệt hơn nhiều.
Cuộc nã Lôi-tiễn cho đến khi trời rạng Đông mới dứt.
Triệt Triệt Đô báo:
- Cuộc nã Lôi-tiễn của Nam-man đêm qua, làm thiệt mạng gần nghìn Lôi-kỵ, hơn nghìn binh Đại-lý, và hai nghìn lao binh. Chiến mã bị chết, bị thương hơn nghìn. Còn bị thương thì nhiều lắm, chưa kiểm kê xong. Theo như tin thu được, thì bọn quấy rối ta suốt từ khi nhập Việt đến giờ, cũng như bọn nã Lôi-tiễn do con thứ của vua An-Nam là Vũ-Uy vương chỉ huy, nhưng người thi hành là Đô-thống Hoàng Vui.
Ngột-lương Hợp-thai cảm thấy cuộc chinh tiễu An-Nam này không dễ dàng như Mông-Kha, Hốt Tất Liệt liệu. Với chiến thuật ẩn ẩn, hiện hiện như ma, như quỷ. Với địa thế này, thì đoàn Lôi-kỵ e không trổ được thần oai, rồi đến kiệt lực mà chết.
Hôm ấy là ngày 10 tháng Chạp, năm Đinh-Tỵ (15-1-1958), sau khi Tế-tác báo cáo tình hình :
- An-Nam mới điều lên hạm đội Âu-Cơ, dàn ra trên sông, phía sau Bình-lệ-nguyên.
Ngột-lương Hợp-thai tập trung các tướng, ban lệnh:
- Con bà nó! Bọn man này khôn thực. Không biết tại sao chúng lại tinh thông binh pháp của Thành-cát Tư-hãn? Binh pháp của đức Thái-tổ là luôn bắt địch chấp nhận giao tranh trên một chiến trường do ta chọn. Thế mà bây giờ nó dàn trận bên kia sông, bắt ta phải chấp nhận địa thế chúng muốn. Được! Ta mà có sợ chúng, thì không còn là tướng Mông-cổ nữa.
Y ra lệnh cho quân đẳng chuối, luồng, nứa, đóng bè. Không đầy hai ngày, quân làm được số bè có thể chở một lúc hai nghìn người ngựa. Toàn quân chuẩn bị vượt sông.

Ngày 11 tháng Chạp năm Đinh-Tỵ,
nhằm niên hiệu Nguyên-Phong thứ 7
đời vua Thái-tông nhà Trần (DL.16-1-1258)


Sáng sớm Ngột-lương Hợp-thai, họp chư tướng tại Thảo-lâm ban lệnh. Đầu tiên y gọi Triệt Triệt Đô, A Tan:
- Quân Nam nhiều hay ít, thiện chiến hay không ta không cần biết tới. Kinh nghiệm hồi đánh Tây-vực. Quân Tây-vực hùng mạnh biết mấy ! Đông biết mấy ! Thế nhưng tiên phụ (chỉ Tốc Bất Đài) cùng thúc phụ (chỉ Triết Biệt) chỉ có 3 vạn Lôi-kỵ, nhưng cứ rượt theo vua của chúng, bất kể ngày đêm khiến y không thể ngừng lại ban lệnh cho các chư hầu chống ta. Bây giờ, vua An-Nam tự đem thân lên Bình-lệ-nguyên. Ta phải đánh tan cánh quân của y, rồi đuổi bắt cho được y mới thôi. Y bị bắt rồi, thì cuộc bình định coi như xong. Nhưng có một điều phải nhớ rằng : Ta chỉ sở trường về kỵ binh, bộ chiến. Còn thủy chiến, thì ta không phải là đối thủ của chúng. Thế nhưng bọn hạm đội Âu-Cơ lại lên bờ đối trận thì quả thực chúng quá ngu.
Y gọi A Tan :
- Ta trao cho tướng quân hai Thiên-phu Lôi-kỵ, ba Thiên-phu binh Đại-lý. Tướng quân đem quân vượt sông. Sau khi sang sông, án binh. Đợi lúc Triệt Triệt Đô đánh quân Việt ở Bình-lệ-nguyên thì tướng quân đem quân tấn công vào phòng tuyến của hạm đội Âu-Cơ. Phải cố cướp lấy thuyền, như vậy vua tôi của chúng không còn đường rút chạy, ắt bị ta bắt sống. Ta sẽ cho ba Thiên-phu Lôi-kỵ đi sau tiếp ứng. Trong ba Thiên-phu trưởng ta cho theo người, thì Tăng Phúc, Triệu An là người Hán. Cả hai thuộc phái Trường-bạch. Độc công của chúng vô địch thiên hạ. Thứ ba là Thiên-phu trưởng Di Hòa (Djihoark) nức danh về tiễn thủ.
Y gọi Triệt Triệt Đô :
- Ta trao cho tướng quân ba Thiên-phu Lôi-kỵ, ba Thiên-phu binh Đại-lý. Tướng quân đem quân vượt sông. Vượt sông rồi, người tìm địa thế thuận lợi mà bầy trận, cứ chần chờ, như vậy ắt chúng sẽ xua quân tấn công tướng quân. Bấy giờ tướng quân mới tung Lôi-kỵ đánh tan chủ lực chúng. Trong khi đó A Tan chọc thủng trận, cướp lấy thuyền của chúng. Dù không cướp được thì cũng ngăn không cho chúng trở về thuyền. Ta sẽ đem quân sang tiếp ứng.
Y nhấn mạnh:
- Trong tất cả 50 Thiên-phu trưởng Lôi-kỵ của ta, thì ba Thiên-phu trưởng theo tướng quân thuộc loại ưu tú nhất. Thiên-phu trưởng Hòa Khâm (Hoarkamp) là cháu của Thân-vương Bác Nhĩ Truật, nức danh đệ nhất kỵ mã Mông-cổ. Thiên-phu trưởng Sung-Di (Jungit) là cháu của Thân-vương Triết Biệt. Y là đệ nhất tiễn thủ của ta. Thứ ba là Thiên-phu Vương Huy. Y là người Hán, võ công Liêu-Đông của y cao thâm không biết đâu mà lường.
Y đứng dậy nói với phò mã Hoài-Đô:
- Phò mã tiến xuống hạ lưu, vượt sông đánh vào hậu quân chúng, rồi chặn đường rút lui. Chúng mất thuyền, bị đánh đầu, chặn cuối, không còn thuyền rút chạy, sẽ bị ta bắt hết.
Y dặn Triệt Triệt Đô, A Tan, Hoài-Đô lần cuối :
- Tên mặt rỗ Hoàng Vui hẹn tái ngộ với ta trên sông. Vậy khi vượt sông các người phải cẩn thân bằng không sẽ trúng quỷ kế của y.
Triệt Triệt Đô độ giang trước. Người ngựa rầm rập di chuyển. Chuyến đầu tiên sang sông gồm một Thiên-phu Lôi-kỵ, một Thiên-phu Đại-lý. Viên Thiên-phu này nguyên là người Hán theo Mông-cổ trên mười lăm năm. Y có tên Vương Huy. Tuy võ công Vương Huy cao cường, nhưng bè của y vẫn có 18 võ sĩ theo bảo vệ, và cũng để uy hiếp tướng địch. Ngột-lương Hợp-thai sai tên Trịnh Đức theo làm thông dịch. Khi bè bắt đầu rời bến, thì từ thượng lưu, một con thuyền bậc trung, dương buồm đang chạy đến. Tiếng nhạc véo von từ trong con thuyền vọng ra, nghe rất lọt tai. Tên Trịnh Đức cảnh cáo Vương Huy :
- Tướng quân phải cẩn thận. Bọn An-Nam thường bầy trò ma trò quỷ để hại ta. Giữa lúc đại quân ta di chuyển ồn ào thế này, nếu không phải quan quân Đại-Việt, thì đùứa nào dám thả thuyền tấu nhạc ? Chắc là trò ma của tên Vui-rỗ !
Đến đó, một tiếng pháo nổ, rồi trên cột của con thuyền kéo lá cờ, trên có hình đứa trẻ chăn trâu đang cầm cò... đái, với hàng chữ :
« Đại-Việt, Đô-thống Hoàng,
Thống lĩnh hiệu binh Hữu Thánh-dực,
Kiêm chỉ huy đội võ sĩ Trấn-quốc »
Vương Huy ra lệnh cho tên chỉ huy 18 võ sĩ với mấy Lôi-kỵ :
- Đem bè chặn ngang con thuyền kia, rồi các người nhảy lên cướp thuyền, bắt sống cho được tên Vui-rỗ, nộp Thái-sư. Đừng giết nó.
Bè ngăn trước con thuyền. Thuyền, bè đụng vào nhau đến rầm một cái. Chín võ sĩ tung mình lên trên nóc thuyền. Binh, binh, binh ba tiếng, mui thuyền bay tung lên cao rồi rơi xuống sông. Bọn võ sĩ còn đang lơ lửng trên không, thì chín cái chài từ trong lòng thuyền tỏa ra, chụp gọn chúng vào trong. Bọn chúng rơi xuống thuyền như những trái mít rụng. Hòa Khâm nhìn rõ chín người tung lưới là chín thiếu nữ tuổi còn trẻ. Y kinh hãi kêu lên :
- Võ công Đông-a, Thiên-la thập bát thức.
Y lại ra lệnh cho bọn võ sĩ nhảy lên thuyền. Chín võ sĩ như chín con hạc tà tà đáp vào mạn thuyền. Chín thiếu nữ cùng bật lên tiếng cười dòn như thác nước đổ, chín cái lưới lại tỏa ra. Bọn Lôi-kỵ chỉ chờ có thế, chúng hướng các thiếu nữ buông tên. Nhanh như chớp, chín thiếu nữ giật tay một cái, chín võ sĩ đã bị bắt, bị đưa lưng ra đỡ tên. Cũng may, chín võ sĩ đều mặc áo giáp. Kịch, kịch , kịch, tên rơi xuống sông. Đến đây thuyền đã rời xa bè. Vương Huy hò hét ra lệnh băén tên, chèo bè đuổi theo. Nhưng thuyền chạy vun vút về phía hạ lưu. Tên bị ghim vào khiên-mây. Phút chốc mất hút, đâu đó, tiếng tiêu véo von vọng lại, lẫn với tiếng Mông-cổ:
- Lôi-kỵ vô địch, nhưng khi đến Đại-Việt thì thành tồi kỵ.
Vương Huy giận cành hông, y văng tục liên tiếp.
Thình lình dây cột bè của y kêu lên những tiếng phựt... phựt..., rồi bị đứt. Những cây chuối rời nhau tản ra. Bao nhiêu người trên bè bị ngã xuống sông hết. Mông-cổ là sắc sân sống trên vùng Thảo-nguyên, chỉ biết cỡi ngựa, săn bắn, nào có biết bơi? Vì vậy những người trên bè bị chìm, bị nước cuốn đi. May mắn Vương Huy là người Hán, vùng sông Hoài, nên y biết bơi. Y bám tay vào một cây chuối. Một cái bè khác chèo lại cứu y. Y giật tay, vọt người lên, tà tà đáp vào vè. Y ngoác mồm chửi:
- Tụi quân khốn nạn, dùng dây cột không chắc...
Lại phựt...phựt... rồi bè của y lại bị tan.
Đám quân trên bè này toàn là người Mông-cổ, chúng lại mặc áo giáp sắt, đeo nhiều chiến cụ, nên bị chìm lỉm. Vương Huy bám vào cây chuối, bơi lóp ngóp, rồi cũng như lần trước, y vọt người lên một cái bè khác. Bây giờ y mới chú ý nhìn: Trên mặt sông có hàng mấy chục bè bị đứt dây. Một tên lao binh vớt sợi dây cột bè trình cho y. Y giật bắn người lên, vì rõ ràng dây bị vết dao cắt chứ không phải bị dứt vì sức nặng chuyên chở.
Thình lình ầm...ầm...năm đứa trẻ từ dưới nước vọt mình lên, mỗi đứa sớt một Lôi-kỵ, rồi lăn xuống sông biến mất. Bấy giờ Vương Huy mới biết những bè bị cắt dây là do bọn con nít lặn dưới nước thi hành.
Y kiểm điểm lại, tất cả 12 bè bị cắt dây, trên trăm quân bị chết đuối.
Phải hơn một giờ, Triệt Triệt Đô mới đổ bộ xong ba Thiên-phu Lôi-kỵ, ba Thiên-phu Đại-lý. Hàng ngũ chỉnh đốn lại. Vương Huy báo cho Triệt Triệt Đô biết việc 18 võ sĩ bị mấy thiếu nữ trong con thuyền vô danh bắt sống. Hơn trăm Lôi-kỵ bị bọn con nít làm vỡ bè, bị nước cuốn đi mất. Nghe tin này Triệt Triệt Đô cau mặt lại :
- Con bà nó ! Bọn hèn nhát.
Gã Trịnh Đức tỏ vẻ hiểu biết:
- Cái bọn con nít lặn dưới nước cắt dây này là đội Ngạc-ngư, do con nuôi của Hưng-Đạo vương tên Yết-Kiêu chỉ huy. Chúng có thể ở dưới nước hàng giờ.
- Yết-Kiêu với đội Ngạc-ngư là bọn nào?
- Yết-Kiêu là một đứa trẻ mồ côi, gốc người vùng biển Hạ-long. Y tuổi khoảng 12-13, mới được Hưng-Đạo vương nhận làm con nuôi. Còn đội Ngạc-ngư có 18 đứa, đều là con cháu ngư dân trên vùng biển Hạ-long. Chúng rất giỏi thủy chiến, lại gan dạ không ai bì kịp. Nếu ta có thủy quân, thì phải coi chừng, bằng không giữa lúc giao chiến, chúng đục thuyền thì nguy thay. Tuy ta không có thủy quân, nhưng mỗi khi dùng thuyền bè vượt sông, phải tối đề phòng chúng.
Sau ba ngày gây bất ổn cho quân Mông-cổ trên đoạn đường từ biên giới đến ngã ba sông Bạch-hạc, Vũ-Uy vương tâu về triều, cùng phúc trình lên Hưng-Đạo vương. Bấy giờ Nguyên-Phong hoàng đế đang ở Bình-lệ-nguyên. Ngài truyền sai chim ưng mang chiếu chỉ ra mặt trận biên giới phong thưởng cho tất cả tướng sĩ có công. Trong đó :
- Đô-thống Trần Quới thống lĩnh hiệu binh Tiền-thánh dực, được thăng Trấn-biên tướng quân, tước Quy-ninh tử.
- Đô-thống Bùi Hoán, được thăng Phì-đức tướng quân, Kiên-long tử.
- Đô-thống Hoàng Vui được thăng Văn-mẫn thượng tướng quân tước Kiêu-kỵ bá.
A Tan cũng đã đổ bộ xong. Hai tướng bàn với nhau . Triệt Triệt Đô thắc mắc:
- Cứ như ước tính của Thái-sư, thì nhất định bọn Việt sẽ tiến lên tấn công ta. Thế mà ta sang sông, lập trận cũng lâu, tại sao chúng lại im lặng thế kia ?
A Tan bị khích động mấy ngày liền, tinh thần trở lên thất thường :
- Tôi nghĩ bọn Nam-man chỉ có tài cắn trộm, có tài bầy trò ma, trò quỷ mà thôi. Nếu chúng không đánh ta, không lẽ ta cứ án binh tại đây rồi đêm nay chúng lại tới cắn trộm ? Vậy theo tôi nghĩ, ta cứ xua quân phá trận của chúng, rồi bắt sống Trần Cảnh. Trần Cảnh bị bắt, thì coi như An-Nam bình định xong.
- Thôi thì ta cứ án binh thêm một giờ nữa xem sao ?
Triệt Triệt Đô sai một Thập-phu thám mã dò dẫm trận Việt tại Bình-lệ nguyên. Hơn ba khắc sau, đội thám mã trở về báo :
- Quân Việt có hai cánh. Một cánh dàn ra tại bờ sông . Cánh này toàn Thủy-quân thuộc hạm đội Âu-Cơ. Còn cánh trên bộ, có vua Việt thân chinh. Vua Việt dàn quân trên một cánh đồng. Phía sau lưng là những xóm làng, đồng lầy. Trận của chúng rất kỳ lạ : Cứ một đội Tượng-binh, một đội Kỵ-binh, một đội Ngưu-binh thì có hai đội bộ binh. Trận thế rất vững.
Nhìn sang phía bên kia sông thấy quân của phò mã Hoài-Đô đã di chuyển xuống hạ lưu rồi, Triệt Triệt Đô cho rằng qua lẽ giờ này cánh quân ấy đang qua sông.
Hơn giờ trôi qua, vẫn không thấy bóng quân Việt.
Thám mã báo :
- Từ phía Nam, có một đội kỵ mã, y phục giống Lôi-kỵ của ta, đang phi tới.
- Hay quá ! Có lẽ họ là người của phò mã Hoài-Đô sai liên lạc với ta đấy.
Đội kỵ mã phi như bay, mỗi lúc một gần. Gã Thiên-phu trưởng Hoà-Khâm ra lệnh :
- Ngăn chúng lại.
Một Thập-phu dàn ngang, vẫy tay ra hiệu cho đội kỵ mã ngừng lại. Nhưng dường như bọn này không tuân lệnh. Ngựa vẫn phi, gió cuốn bụi bay mịt mờ. Thấy triệu chứng bất thường, Hòa Khâm quát lớn :- Dùng thoòng loọng lôi cổ chúng xuống.
Thoòng-loọng tung lên, chín Lôi-kỵ bị lộn đầu xuống đất. Mọi người nhìn lại, thì ra chín xác chết của bọn võ sĩ bị tung chài bắt dưới sông ban ngãy. Còn một Lôi-kỵ, đầu đội mũ đỏ chói, y né đầu tránh khỏi, rồi bắt lấy giây giật mạnh. Tên võ sĩ tung giây bị bay tung lên cao. Gã bị tên mũ đỏ kẹp vào nách, quay đầu ngựa chạy. Biến cố xẩy ra nói thì chậm, nhưng kẻ tung giây, người giật giây, bắt người, quay đầu ngựa...trong chớp nhoáng. Gã mũ đỏ quay mặt lại, để tay lên mũi trêu Triệt Triệt Đô. Y nói bằng tiếng Mông-cổ:
- Ê! Tên Thát-đát kia! Có giỏi phi ngựa đua với tớ?
Bị khích động, không làm chủ được, Triệt Triệt Đô ra lệnh cho Hòa-Khâm đuổi theo. Gã mũ đỏ dường như không biết những gì xẩy ra phía sau, y vẫn cắm đầu ra roi cho ngựa phi. Nhưng y kẹp thêm một người, nên chưa đầy một khắc, y đã bị Hòa Khâm đuổi kịp. Thình lình y tung người lên cao, đứng trên lưng ngựa, tay y ném tù nhân về sau. Hòa Khâm không kịp phản ứng, thân thể gã tù binh trúng đầu ngựa của hắn, rồi rơi xuống đất. Con ngựa cất cao vó trước hý lên, nhưng nó đã đạp phải gã tù binh. Quyết bắt cho đươc đối thủ, Hòa Khâm thúc ngựa đuổi theo. Ngựa của gã mũ đỏ chạy vòng vòng quanh cánh đồng mênh mông, dường như trêu ghẹo đệ nhất kỵ mã của đoàn quân Nam-chinh Mông-cổ.
Thấy Hòa Khâm không bắt được gã mũ đỏ, Triệt Triệt Đô ra lệnh cho Vương Huy vọt ngựa chặn đầu y. Gã mũ đỏ không coi Vương Huy ra gì, khi hai ngựa sắp giao nhau, Vương Huy phát chưởng tấn công. Gã mũ đỏ cười một tiếng, rồi chĩa tay phóng một chỉ. Nếu Vương Huy tiếp tục phóng chưởng thì lòng bàn tay của y bị xuyên thủng. Là một võ sư phái Liêu-Đông, đã đấu hàng nghìn trận, kinh nghiệm có thừa. Vương Huy biến chiêu thành cái gạt. Gã mũ đỏ thu chỉ về, thì vừa lúc đó Hòa Khâm đã đuổi kịp. Thế là ngựa của gã mũ đỏ bị ép hai bên bởi ngựa của Hòa Khâm, Vương Huy.
Ba ngựa phi song song. Dường như gã mũ đỏ không hề sợ hãi. Gã thè lưỡi ra trêu hai địch thủ. Hòa Khâm, Vương Huy đưa mắt nhìn nhau, rồi cùng phát chưởng tấn công đối thủ. Gã mũ đỏ cười nhạt, không phát chiêu chống lại, đã vậy gã còn méo miệng trêu kẻ thù. Kình lực của hai chưởng cực kỳ trầm trọng đã bao trùm gã. Thình lình gã lắc mình một cái, người gã đã nằm dưới bụng ngựa. Hai chân gã kẹp vào hông ngựa. Chưởng của Hòa Khâm, Vương Huy chạm vào nhau, bình một tiếng, cả hai cùng bị trấn động, chân tay tê liệt, ngựa bị kình lực rung động, cũng chạy chậm lại. Bấy giờ gã mũ đỏ bật ngồi lại trên lưng ngựa, tay gã phát hai chỉ, trúng giữa mắt ngựa của Hòa Khâm, Vương Huy. Con ngươi bị lòi ra, hai ngựa hý lênh thảm thiết, rồi khuỵu vó trước, ngã lộn đi hai ba vòng, quật chủ nhân văng ra xa. Gã mũ đỏ cười ha hả, gã nói vọng lại bằng tiếng Mông-cổ:
- Bọn bay chỉ là tụi mọi rợ vùng Thảo-nguyên, mà đòi đấu thuật kỵ mã với con cháu Phù-đổng Thiên-vương ư?
Lời nói vừa dứt, thì ngựa của y đã rẽ vào một ngõ hẻm hai bên toàn tre.
Triệt Triệt Đô than với A Tan:
- Từ trước đến giờ, chúng mình cứ tưởng Lôi-kỵ của ta có tài kỵ mã vô địch. Không ngờ, gã kỵ mã ban nãy còn tài tình hơn. Y ngồi trên mình ngựa, co tay một cái, bắt người, kẹp vào nách. Con ngựa thi khụy hai vó trước, rồi quay một vòng. Trong quân chúng ta, không ai làm được việc đó cả.
Trịnh Ngọc được dịp khoe cái hiểu biết :
- Thuật kỵ mã của chúng ta do phò mã Trần Thủ-Huy với tướng chỉ huy đội võ sĩ Long-biên huấn luyện. Mà thuật kỵ mã này xuất thân từ phái Sài-sơn. Người chỉ huy mặt trận Bình-lệ-nguyên là Vũ-kỵ thượng tướng quân Lê Tần. Y là em ruột của chưởng môn phái Sài-sơn.
Triệt Triệt Đô cũng nghe nói qua về vụ này. Y hỏi :
- Nguồn gốc thuật kỵ mã của phái Sài-sơn do ai nghĩ ra ?
- Do tổ sư của phái là Phù-Đổng Thiên-vương chế ra cách đây 3 nghìn năm. Trải ba nghìn năm dài, các đời sau bổ xung, thêm thắt vào, nên thuật kỵ mã của phái này vô địch thiên hạ.
Để tỏ ra hiểu biết, Trịnh Ngọc thuật lại hành trạng Phù-Đổng Thiên-vương cho bọn Triệt Triệt Đô nghe.
Thình lình Hòa Khâm hét lên một tiếng, rồi run bần bật. Nhìn y, Triệt Triệt Đô giật bắn người lên:
- Cái gì? Dường như người bị trúng độc Liêu-Đông của tên mũ đỏ rồi hả?
Y quay lại hỏi Trịnh Ngọc:
- Trong các phái võ An-Nam, có phái nào biết xử dụng độc chưởng Liêu-Đông không?
- Không!
Hòa Khâm đau quá, y uốn cong người lại, tay chỉ vào Vương Huy. Vương Huy tỉnh ngộ:
- Chết rồi! Hồi nãy tôi phát chưởng tấn công tên mũ đỏ. Trong khi Hòa Khâm cũng tấn công y. Hai chưởng của chúng tôi chạm nhau.
Y móc trong bọc ra một viên thuốc, nhét vào miệng Hòa Khâm. Hòa Khâm vận công cho thuốc mau tan.
Sang giờ Mùi, thì Kỵ-mã phi tiễn báo với Triệt Triệt Đô, A Tan :
- Quân của phò mã đã vượt sông xong, đang chuẩn bị đánh vào hậu quân địch. Vậy xin hai tướng quân xuất binh ngay.
Đạo quân của A Tan đã chỉnh bị từ lâu. Y cầm cờù phất lên:
- Tiến!
Thiên-phu Lôi-kỵ vọt ngựa theo con đường dọc bờ sông. Phía sau, ba Thiên-phu Đại-lý nối đuôi nhau, rầm rộ tiến bước.
Đạo quân của Triệt Triệt Đô gồm có ba Thiên-phu Lôi-kỵ, mười Thiên-phu Đại-lý. Để giữ sức người, sức ngựa, y ra lệnh quân tiến từ từ. Khi thấy trận Việt hiện ra xa xa, y mới phất cờ. Lập tức Thiên-phu thứ nhất chia làm hai. Năm bách phu dàn hàng ngang, người hú lên rùng rợn, ngựa hý inh ỏi, rồi cùng lao tới. Lúc còn cách trận Việt ba chục trượng, tất cả cùng dương cung, buông tên. Trận Việt vẫn giữ nguyên, quân sĩ đưa khiên-mây lên hứng tên. Tên vừa bắn vào mộc, thì Lôi-kỵ đã tới sát phía trước, chúng phóng lao vào trận, rồi quay ngựa chạy về trận mình. Bấy giờ quân Việt mới dương cung bắn theo. Họ không bắn kỵ mã, mà bắn vào ngựa. Hơn trăm ngựa ngã lăn ra, vật kỵ mã xuống đất. Đám kỵ mã bỏ ngựa chạy theo quân mình. Đến đây, năm bách phu thứ nhì đã vọt ngựa tới, cũng dương cung bắn, phóng lao, rồi chạy. Quân Việt lại bắn ngựa. Hơn trăm kỵ mã ngã ngựa. Ky mã lại bỏ ngựa, chạy theo quân.
Triệt Triệt Đô đứng xa quan sát hai cuộc tấn công. Y kêu lên :
- Lạ thực. Chúng ta đã đánh hàng trăm trận, hàng mấy chục nước. Không đội quân nào chống trả được hai đợt xung phong. Tại sao bọn Việt lại biết cái kẽ hở của ta là : Lúc quân phóng lao rồi chạy, chúng chờ đợi sẵn rồi buông tên ? Ta mất hơn hai trăm chiến mã rồi ! Được ! Ta cho tấn công hai đợt nữa.
Y cầm cờ phất. Lôi-kỵ thúc ngựa vọt lên, nhưng ngựa vừa sải được mấy bước thì ngã lăn ra, quật kỵ mã xuống đất. Biến cố xẩy ra đột ngột. Tuy kinh ngạc, nhưng là một tướng tài, Triệt Triệt Đô cho rằng ngựa quá mệt. Y ra lệnh cho Thiên-phu khác thay thế. Ngựa hý, kỵ mã rú rùng rợn rồi lao tới. Triệt Triệt Đô cười sung sướng :
- Xem lần này trận Việt có giữ nổi không ?
Y chợt để ý, thấy quân Việt đã lùi lại đến hơn trăm trượng. Lớp sóng Lôi-kỵ lao tới như núi lở, băng tan. Nhưng khi vừa nhập vào khu đất quân Việt lui, thì ngựa hý lên những tiếng thảm thiết, rồi con thì nhảy loạn hàng ngũ, con thì ngã lăn ra dẫy tê tê. Giữa lúc ấy, trận Việt mở ra. Một đội dũng sĩ, áo chẽn, tay cầm đoản đao xuông ra chém phầm phập. Loáng một cái, hơn năm trăm kỵ mã với ngựa bị giết. Thanh toán xong đám kỵ mã, các dũng sĩ Việt lùi trở về, cửa trận đóng lại như cũ.
Đứng quan sát, Triệt Triệt Đô kinh hãi :
- Chết rồi, năm bách phu của ta trúng bãi chông ! Trời ơi ! Quân Mông-cổ chuyên dùng lối lùi trận, lừa cho địch vào bãi chông, rồi giết. Tại sao bọn Việt cũng biết ? Hơn nữa, chúng xử dụng thuật này tinh vi hơn ta. Chúng đợi Lôi-kỵ xung phong rồi, mới lùi lại . Ta có muốn ra lệnh thu quân cũng không kịp ! Hà ! Nhất định trong quân Việt có một tướng tài Mông-cổ. Y biết rất rõ chiến thuật của ta, y đưa ra phương pháp phá vỡ. Làm sao bây giờ ?
Triệt Triệt Đô có hai Thiên-phu Lôi-kỵ, thì Thiên-phu thứ nhất mà y dẫn theo từ biên giới về đây, đã bị ngã ban nãy. Thiên-phu thứ nhì này Ngột-lương Hợp-thai mới cấp cho y, bây giờ bị thiệt hại một nửa. Y chỉ còn có năm Bách-phu thì làm gì ?
Giữ lúc y kinh hoàng, thì viên quan phụ trách chữa ngựa báo :
- Thưa tướng quân. Chúng ta bị trúng kế giặc rồi. Cái tên Đỗ Thanh hôm qua trao thuốc cho ta, bảo sáng nay cho uống để trị tuyệt nọc trúng độc...Thực ra thuốc đó là thuốc độc, làm ngựa bị tê liệt bốn chân.
Chán đời đi lang thang !
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-05-22 16:44:24NuHiepDeThuong>
Hồi thứ bốn mươi bẩy

Cả nước là thành
Toàn dân thủ thành

Triệt Triệt Đô hỏi viên quan phụ trách chữa ngựa:
- Vô lý, rõ ràng hôm qua, ngựa chúng ta đang bệnh, y chữa khỏi mà ?
- Mưu bọn Việt rất sâu. Chúng chữa độc cho ngựa ta là chữa thực, khiến ta tin. Rồi y cho thêm thuốc độc, để khi ngựa ta ra trận, thuốc ngấm. Cũng may, ngựa của ta ngã trên đất mình. Giá như ngựa ta đang xung sát mà bị thuốc phát tác, thì chết hết !
Triệt Triệt Đô sai Kỵ-mã phi tiễn báo cáo tình hình với Ngột-lương Hợp-thai, rồi quyết định :
- Dù bị thiệt hại Lôi-kỵ, nhưng ta vẫn không chịu thua bọn Nam-man.
Y ra lệnh cho năm Bách-phu Lôi-kỵ đi trước, bốn Vạn-phu quân Đại-lý dàn hàng từ từ tiến sau. Tới trước trận Việt, y cho quân dừng lại, rồi cùng các Thiên-phu trưởng, có võ sĩ hộ vệ, tiến lên:
- Vân-ma đại tướng quân của Thiên-quốc Mông-cổ, muốn nói chuyện với vua An-Nam.
Vèo, vèo, vèo
Ba Lôi-tiễn vọt lên trời rồi nổ như ba tiếng sấm, tỏa thành hình ba con rồng. Cửa trận Việt mở ra. Nguyên-Phong hoàng đế cỡi ngựa khoan thai tiến trước. Bên trái là Vũ-kỵ thượng tướng quân Lê Tần, Đô-thống Trần Biên, bên phải là Đô-thống Nguyễn Tha, Nguyễn Thời. Đô-thống Thời chính là gã mũ đỏ đã trêu ghẹo y ban nãøy. Phía sau, một đội Kỵ-mã mười người. Một đội Ngưu-binh, toàn trẻ con, viên đội trưởng chính là Dã Tượng và con Hĩm Còi. Một đội nữ binh, chính là bọn nữ binh trên thuyền tung lưới bắt võ sĩ trên sông. Một đoàn Thị-vệ hơn 3 trăm người, viên trưởng đoàn chính là thầy lang Đỗ Thanh, bên cạnh ông có cây cờ soái :
Đại-Việt Vũ-vệ thượng tướng quân Đỗ Thanh. Tổng-lĩnh Thị-vệ.
Triệt Triệt Đô, Hòa Khâm uất khí lên cổ.
Đỗ Thanh chỉ nhà vua nói lớn:
- Đại-Việt hoàng đế là vị này. Tướng quân muốn nói gì thì nói đi.
Triệt Triệt Đô giận quá, hàm răng đánh vào nhau lộp cộp, nói không ra lời. Y nghiến răng hướng gã Trịnh Ngọc hất hàm. Gã Trịnh Ngọc nói lớn:
- Thiên-quốc Mông-cổ đã thu gồm tất cả các nước dưới gầm trời này. Về phương Tây, hơn hai chục nước đều cúi đầu tuân phục. Về phương Đông, nào Kim, nào Liêu, nào Tống, nào Tây-hạ, nào Thổ-phồn, nào Đại-Lý, nào Cao-ly cũng phải theo gió đầu hàng. Binh hùng có đến mấy trăm vạn, chỉ núi, núi tan; chỉ biển, biển cạn. Nay người thân chinh Nam phương. Quân như hổ, như beo hơn trăm vạn, dàn ra tại biên giới. Nghĩ tình trước đây Phiêu-kỵ đại tướng quân Lý Long-Phi, Phụ-quốc Thái-úy Trần Thủ-Huy cùng công chúa Đoan-Nghi, từng giúp Thiên-quốc. Từng là khai quốc công thần. Vì vậy người sai Thái-sư Ngột-lương Hợp-thai mang 20 vạn quân, sang kinh lược An-Nam. Thái-sư nghĩ tình kết nghĩa huynh đệ với Đại-tướng quân Trần Thủ-Độ, mà không nỡ đem quân tàn sát nước người. Thái-sư sai sứ sang chiêu dụ, nói lời hay, lẽ phải cho các người nghe. Thế mà các người dám giam sứ giả. Vì vậy Thái-sư mới quyết định tiến quân. Nay ta đi tiên phong, trước hỏi cho ra lẽ, rồi mới trừng phạt sau. Vậy chúa tôi nước người hãy trả lời đi.
Một đại thần, mình hạc xương mai, thủng thỉnh rời khỏi trận Việt, cạnh ông, một dũng sĩ cầm cây cờ có hàng chữ:
" Quy-đức thượng tướng quân,
Vũ-sơn hầu.
Thái-tử thiếu bảo,
Hiệp biện đại học sĩ,
Lễ bộ tham tri.
Tạ Quốc-Ninh".
Tạ Quốc-Ninh hướng Triệt Triệt Đô, ông nói bằng tiếng Mông-cổ:
- Vân-ma đại tướng quân! Xin đại tướng quân cho biết, nếu không có phò mã Trần Thủ-Huy với công chúa Đoan-Nghi của thiểm quốc, thì liệu Thiên-quốc Mông-cổ có còn tồn tại không? Ví như còn tồn tại thì có được như ngày nay không? Hay cũng chỉ là một bộ tộc, chịu nhục nhã dưới quyền con cháu Tang Côn? Thời Thành-cát Tư-hãn còn tại thế, người luôn nhắc nhở chư tướng phải nhớ ơn Đại-Việt. Vậy mà, bây giờ Đại-Việt muốn được yên ổn, con cháu Tư-Hãn không chịu, nhất định đem quân chiếm đất, rồi bắt quân sĩ, tráng đinh đi tiên phong đánh Tống. Đó là cách báo ơn ư?
Hầu cất cao giọng:
- Nước tôi tuy nhỏ, dân tôi tuy thưa, nhưng chúng tôi cương quyết không để ai muốn bắt làm tôi, làm mọi gì cũng được. Xưa kia, thời vua Thái-tông, thời vua Thần-tông nhà Tống, từng sai Hầu Nhân-Bảo, Tôn Toàn-Hưng, Quách Quỳ, Triệu Tiết, mang binh hùng tướng mạnh sang đánh nước tôi. Kết quả ra sao, thì tướng quân đã biết rồi.
Trong khi Tạ Quốc-Ninh nói thì phía sau nhà vua, Vũ-vệ thượng tướng quân Đỗ Thanh, bọn Dã Tượng, Hĩm Còi, đội nữ binh, méo miệng cười trêu Triệt Triệt Đô.
Y nổi cáu:
- Từ khi binh trời nhập biên, các người toàn một thứ hèn nhát, bầy trò ma, trò quỷ, như chó chuyên cắn trộm. Các người có là anh hùng, thì hãy cùng chúng ta trực diện giao chiến.
Tạ Quốc-Ninh cười lớn:
- Gì chứ đánh nhau thì dễ quá. Dàn trận giao chiến, thì binh tướng chết nhiều. Vậy tôi xin đề nghị: Chúng ta cho quân lùi lại, rồi tướng với tướng đánh nhau. Không biết tướng quân có can đảm không?
Bị khích Triệt Triệt Đô nổi cộc:
- Được! Ta há sợ các người sao. Các người muốn đấu gì nào?
- Bây giờ thế này, chúng ta dùng thuật kỵ mã đấu trận đầu, dùng cung tên đấu trận thứ nhì. Cuối cùng, dùng võ công tranh cao thấp. Trong ba trận, nếu bên nào thắng hai trận thì coi như được cuộc. Bên nào bại hai trận thì coi như thua cuộc.
Nghe Quốc-Ninh nói, Triệt Triệt Đô tưởng mình nghe lầm, tưởng mình nằm mơ. Quân Mông-cổ vang danh thế giới về thuật kỵ mã, về tiễn thủ. Thế mà Quốc-Ninh lại đòi đấu hai môn này. Y không dấu được nét vui mừng hiện lên trên mặt:
- Thế nhưng bên thắng sẽ được gì? Bên bại sẽ phải làm gì?
- Nếu như bên Mông-cổ thắng, thì Đại-Việt phải mở cửa cho quân đại quân vào, phải cung đốn lương thảo, phải chịu binh dịch, theo đi đánh Tống.
- Còn như bên Đại-Việt thắng?
- Thì xin tướng quân hãy lùi quân về biên giới. Từ nay Mông-cổ, Đại-Việt bang giao trong thế bình đẳng như trước đây.
Triệt Triệt Đô tự hào về thuật kỵ mã, về tiễn thủ và tin vào võ công mình. Tuy vậy y cẩn thận hơn:
- Tôi không có quyền quyết định lớn như vậy. Tuy nhiên, nếu như bên tôi thua, tôi xin lùi quân về bên kia sông... Nào bây giờ trận đầu, đấu thuật kỵ mã. Vậy thể lệ ra sao?
- Chúng tôi là chủ, các vị là khách. Người Việt chúng tôi vốn hiếu khách, vậy xin đấu theo thể lệ Mông-cổ.
Triệt Triệt Đô lại kinh ngạc tự hỏi:
- Tại sao cái gì của Mông-cổ, tụi này cũng biết vậy kìa?
Nguyên tắc đấu thuật kỵ mã của Mông-cổ có ba phần. Phần thứ nhất là kỵ mã điều khiển sao cho ngựa dựng đứng lên. Ngựa của ai đứng được lâu thì coi như người ấy thắng. Thứ nhì là phi ngựa không yên, chẳng cương, rồi cho ngựa lồng. Hễ ai ngã trước là thua cuộc. Thứ ba, là cả hai cùng phi ngựa, sải bước trên một quãng đường. Ngựa của ai chạy tơí đích trước thì thắng cuộc.
Triệt Triệt Đô gọi Hòa Khâm:
- Người hãy ra dạy cho bọn Nam-man bài học về thuật kỵ mã của vùng Thảo-nguyên.
Hòa Khâm giật cương, ngựa của y cất cao vó trước, gần như dựng thẳng đứng, rồi hý lên ba tiếng.
Vũ-kỵ thượng tướng quân Lê Tần chỉ Đô-thống Nguyễn Thời:
- Đô-thống hãy ra cùng Thiên-phu trưởng Hòa Khâm so tài.
Trái với Hòa Khâm, chưa đấu đã biểu diễn, Thời thúc chân vào bụng ngựa. Con ngựa thủng thẳng bước ra. Hai ngựa, hai tướng đối diện nhau.
Triệt Triệt Đô cầm dùi đánh một tiếng trống. Cả hai đối thủ cùng giật cương. Hai ngựa cùng cất cao vó trước, đứng dựng lên. Quân sĩ hai bên cùng reo hò trợ oai.
Một khắc trôi qua.
Ngựa cả hai bên đều mệt, hai chân sau bắt đầu run run. Nguyễn Thời liếc nhìn ngựa của Hòa Khâm, bất giác chàng cảm phục :
- Tên này quả thực có tài cỡi ngựa. Vì mông y đặt đúng vào chỗ đầu khớp xương hai chân sau. Với chỗ này, khiến cho ngựa đứng, lấy được thăng bằng, và ít mỏi mệt.
Lại một khắc trôi qua.
Ngựa cả hai bên bắt đầu lắc lư. Thời sẽ để bàn tay vào hai mông ngựa, rồi vận công dồn chân khí sang. Con ngựa đang mệt mỏi, bỗng đưng một nguồn nội lực hùng mạnh dồn vào hai chân. Bao nhiêu cái mệt mỏi biến hết. Nó vui mừng, hý lên một tiếng lớn. Trong khi ngựa của Hòa Khâm mệt quá, phải hạ hai vó trước xuống.
Tướng Lê Tần nói :
- Cuộc đấu thuật kỵ mã phần một kết thúc. Bên Đại-Việt thắng. Bây giờ hai bên đổi ngựa, đấu phần thứ nhì là cỡi ngựa không yên cương, rồi cho ngựa lồng.
Hai bên cùng thúc ngựa ra. Lần này chính Nguyên-Phong hoàng đế đánh một tiếng trống. Cả hai cùng thúc chân vào bụng ngựa. Ngựa lồng lên, nghiêng phải, nghiêng trái, khuỵu vó trước, hất vó sau. Quân sĩ, chiêng trống hai bên cùng thúc vang trời. Nhưng dù ngựa nghiêng ngả thế nào chăng nữa hai kỵ mã vẫn ngồi rất vững trên lưng chúng.
Cơ chừng này, không biết bao giờ mới phân thắng bại?
Nguyễn Thời là một võ sư, chàng nghĩ được một kế. Lợi dụng lúc Hòa Khâm bị tung lên, chàng chĩa ngón tay phóng một chỉ vào mông ngựa của y. Con ngựa đau quá, hý lên, rồi vọt về trước. Thế là Hòa Khâm rơi xuống đất như trái mít rụng.
Lê Tần cười ha hả :
- Trong ba cách đấu, bên Đại-Việt thắng hai. Vậy cách thứ ba không cần đấu nữa. Bây giờ hai bên đấu tiễn thủ. Bên Đại-Việt cử Đô-thống Nguyễn Tha. Vậy không biết bên Mông-cổ, vị nào ra tứ giáo ?
Triệt Triệt Đô gọi Sung Di :
- Tôi xin cử Thiên-phu trưởng Sung Di ! Đệ nhất tiễn thủ Mông-cổ đấu với bên Đại-Việt.
Thể lệ đấu tiễn thủ của Mông-cổ rất khủng khiếp : Bên thắng thì sống, bên bại phải chết. Chứ không thể nhân nhượng. Mỗi bên một cây cung với ba mũi tên. Cả hai cùng cỡi ngựa, không mặc áo giáp, đứng đối diện, cách nhau hai trăm trượng (400m), rồi phi ngựa xông lại phía đối thủ, dương cung bắn nhau.
Hai bên gò cương, nhìn nhau. Sung Di nạp tên vào cung sẵn, còn Nguyễn Tha một tay cầm cung, một tay cầm tên.
Triệt Triệt Đô đánh một tiếng trống, Sung Di thúc ngựa vọt tới. Trong khi Nguyễn Tha giật cương cho ngựa chạy vòng tròn. Khi hai ngựa cách nhau hai mươi trượng, Sung Di buông tên. Mũi tên xé gió hướng lưng Nguyễn Tha. Nguyễn Tha chờ cho tên sắp tới lưng, thì vòng tay ra sau bắt lấy. Quân sĩ hai bên reo hò vang dội. Sung Di gò ngựa đứng lại.
Y nói :
- Người không dám đấu với ta, mà bỏ chạy như vậy thì không phải là anh hùng.
Nguyễn Tha cười lớn :
- Được rồi ! Bây giờ ta không chạy, cũng không tránh. Ta mà tránh hay chạy thì coi như thua.
Quân, tướng hai bên cùng kinh ngạc về lời hứa của Nguyễn Tha. Sung Di rút tên, dương cung. Véo một tiếng, tên hướng giữa mặt Nguyễn Tha bay tới. Giữ đúng lời hứa, Tha ngồi im trên mình ngựa đợi cho tên của Sung Di bay đi rồi, chàng mới buông tên. Mũi tên xé gió bay tới, trúng giữa mũi tên của Sung Di, chẻ làm hai, rồi cùng rơi xuống. Quân sĩ hai bên reo hò, hồi hộp.
Sung Di lại buông tên. Lần này Nguyễn Tha ngồi im trên mình ngựa. Mũi tên hướng giữa mặt chàng. Thấy chàng không tránh né, người người đều nghiến răng kinh hãi. Nguyễn Tha há miệng ra, mũi tên trúng giữa miệng chàng. Chàng cắn mạnh, chuôi mũi tên con rung rung không ngớt. Quân cả hai bên cùng rú lên kinh hãi đến tột độ.
Nguyễn Tha gọi Sung Di :
- Bây giờ đến lượt ta bắn người đây.
Chàng buông tên. Mũi tên hướng giữa mặt Sung Di bay tới. Y né người tránh thoát. Nhưng choang một tiếng, đầu y nhức nhối cực kỳ khó chịu. Thì ra Nguyễn Tha đã bắn môt lúc hai mũi, một mũi trúng cái mũ đồng trên đầu y. Sung Di kinh hãi, y phi ngựa chạy vòng vòng.
Nguyễn Tha phi ngựa đuổi theo, chàng nói lớn :
- Lần đầu ta tha cho nhà ngươi. Bây giờ ta bắn đứt giây cương của nhà ngươi đây này.
Mũi tên xé gió bay đến, phựt một tiếng, giây cương bị tiện đứt. Con ngựa không cương, nó nhảy lung tung.
Nguyễn Tha lại hô lớn :
- Ta bắn trúng mông ngựa người đây.
Chàng buông tên, mũi tên bay tới trúng mông ngựa của Sung Di, con ngựa lồng lên, thì mũi thứ nhì trúng giữa lưng y . Sung Di ngã lộn xuống đất.
Triệt Triệt Đô thấy cuộc thi, bên mình bị bại, y cầm cờ phất lên . Quân Mông-cổ ào ào xung vào trận Đại-Việt. Nguyên-Phong hoàng đế, lùi vào trong trận. Cửa trận mở ra, Ngưu-binh, Kỵ-binh, Tượng-binh cùng lao vào vòng chiến. Trên trời, Lôi-tiễn chụp xuống đầu quân Mông-cổ.
Cuộc chiến cực kỳ khốc liệt. Một bên là những chiến sĩ từng tung hoành từ Đông sang Tây, từ Nam ra Bắc. Một bên là những chiến sĩ ngút lửa lòng yêu nước, giữ nước.
Nguyên-Phong hoàng đế đứng đốc chiến. Cạnh ngài là Vũ-vệ thượng tướng quân Đỗ Thanh chỉ huy đội Thị-vệ 3 trăm người, toàn những võ sĩ trẻ, được luyện tập đặc biệt để chống chiến thuật sung sát của Lôi-kỵ Mông-cổ. Vì vậy đã ba bốn lần, đội Lôi-kỵ xung vào mong bắt sống nhà vua, đều bị đẩy lui. Mỗi lần như vậy, có hàng mấy chục Lôi-kỵ bị đánh ngã.
Vũ-kỵ thượng tướng quân Lê Tần đứng nhìn trận chiến, ông nghĩ :
- Hồi nghị kế, Hưng-Đạo vương đã định rằng, trong lúc xung sát phải tìm cách giết những tướng bậc trung của chúng ở cấp Thiên-phu, Vạn-phu, thì mới mong hàng ngũ của chúng bị loạn. Thế nhưng, bên phía Mông-cổ, các Thiên-phu trưởng đều được những võ sĩ bảo vệ cực cẩn mật. Làm sao bây giờ ? Thôi ta cho rút lui, chờ chúng đuổi theo, rồi dùng cung thủ núp trong bụi rậm mới giết được chúng.
Giữa lúc đó, pháo nổ liên tiếp, rồi quân reo dậy đất. Từ phía trước, Lôi-kỵ hàng hàng lớp lớp lao đến như bay. Biết rằng đại quân của Ngột-lương Hợp-thai đã tiếp viện. Ông cầm cờ phất. Thế trận Việt lập tức biến đổi. Bộ binh lùi lại phía sau, rồi tỏa vào khu đồng cỏ mênh mông, với những lối đi nhỏ hẹp nằm trên bùn lầy. Tượng binh, Kỵ-binh vừa đánh vừa lùi.
Nguyên-Phong hoàng đế có đội Thị-vệ hộ tống. Ngài vẫn đứng chỉ huy cuộc lui binh. Tướng Lê Tần, phóng lên trước cầm cương ngựa của ngài mà can :
- Hoàng thượng. Hoàng thượng không nên ham chiến. Ví như ta chỉ đánh có một trận, thì Hoàng-thượng hãy tiến trước ba quân để làm gương. Cuộc chiến còn dài, Hoàng-thượng còn phải chiến đấu còn nhiều. Xin Hoàng-thượng hãy rút lui.
Nhà vua tỉnh ngộ, ngài cùng Đỗ Thanh cho Thị-vệ từ từ lùi về sau. Nhưng trận Mông-cổ rẽ ra, một đội võ sĩ khoảng hơn 3 trăm người, chia làm ba mũi, do Triệt Triệt Đô, Hoài Đô, A Truật chỉ huy xung vào trận Việt, hướng chỗ Nguyên-Phong hoàng đế . Biết rõ thâm ý địch, định bắt sống nhà vua, tướng Đỗ Thanh chỉ tay một cái, ba đô thống Trần Đình, Nguyễn Thời, Nguyễn Tha cùng dàn Thị-vệ ra cản lại. Chỉ một chưởng, bọn Triệt Triệt Đô đã đánh bật ba đô thống sang bên cạnh. Y bay người lên khỏi mình ngựa, nhấp nhô mấy cái, đã đến trước hoàng đế, tay y phóng chưởng tấn công ngài. Thấy chưởng phong quá hung dữ, ngài vọt người khỏi mình ngựa, tà tà đáp trên lưng một thớt voi. Ba đô thống vây y vào giữa. Giữa lúc đó thì A Truật phát chưởng đánh vào hông trái ngài. Nhận ra đó là một chiêu trong Hoa-sơn chưởng, ngài phát chiêu đỡ. Binh một tiếng. Cả ngài lẫn A Truật đều cảm thấy nghẹt thở. Giữa lúc ngài choáng váng, thì phía sau chưởng Hoài Đô đổ ụp lên lưng. Nhưng tướng Đỗ Thanh đã xỉa kiếm vào lưng Hoài Đô cứu chúa. Thế là Đỗ Thanh đấu với Hoài Đô. Nguyên-Phong hoàng đế đấu với A Truật. Ba đô thống đấu với Triệt Triệt Đô. Trong khi đoàn Thị-vệ đấu với đội võ sĩ .
Sáu cặp, cùng hai đoàn võ sĩ đấu với nhau trong một khu đất hẹp, vô tình ngăn giữa quân Đại-Việt với Mông-cổ. Đây là khu đất thóp hậu, quân Mông-cổ tuy đông, nhưng không đủ chỗ tiến lên. Chúng chỉ biết đứng reo hò.
Ngột-lương Hợp-thai chửi :
- Tổ bà nó ! Bọn này quá thông thạo chiến pháp của Thành-cát Tư-hãn. Chúng chọn khu này, hoàn toàn lợi thế để rút lui.
Đạo Tượng-binh đã lùi vào những con đường nhỏ, giữa các lũy tre cao vút. Tiếp theo tới đạo Kỵ-binh. Chỉ còn đạo Ngưu-binh. Hai tướng trâu là Dã Tượng, Hĩm Còi tay cầm tù và, chuẩn bị ra lệnh cho trâu...tác chiến.
Tuy là một bác học, lại là một đại tôn sư của phái Đông-a, nhưng Đỗ Thanh đấu với Hoài Đô ngang tay, vì võ công y là thứ võ công rất lạ. Còn Nguyên-Phong hoàng đế đấu với A Truật có vẻ yếu thế. Tuy nhiên võ công của ngài là võ công Đông-a, còn võ công của y là võ công Hoa-sơn, nên nhất thời ngài chưa bị bại. Còn ba đô thống đấu với Triệt Triệt Đô thì yếu thế rõ ràng. Bởi ba người chỉ giỏi về xung phong, hãm trận, chứ về võ công thì chỉ là cao thủ bậc trung. Còn tướng Lê Tần, tuy võ công cao tuyệt đỉnh, nhưng ông phải đứng trên lưng một bành voi đốc chiến.
Trong khi trận chiến khốc liệt diễn ra, thì chim ưng mang lệnh của Hưng-Đạo vương tới:
" Mặt trận bên sông, Thủy-quân thắng lớn. Trận Bình-lệ-nguyên chỉ với mục đích dụ cho địch tiến sâu, tiến mau vào đồng bằng. Địch có 20 vạn, ta chỉ có hơn vạn. Không nên kéo dài. Hãy rút ngay. Đó là kế an toàn".
Lê Tần bỏ lệnh vào túi, rồi cầm cờ ban lệnh lui binh.
Về phía trận đấu võ, vẫn dằng dai. Hơn khắc trôi qua, A Truật quát lên một tiếng, y phát chiêu trong bộ trấn sơn chưởng của phái Hoa-sơn. Nguyên-Phong hoàng đế bị đánh bật tung về sau, lảo đảo muốn ngã. Quyết không tha, A Truật dáng xuống một chiêu nữa. Y quát lớn:
- Chết này!
Trong khi tuyệt vọng, nhà vua phát bừa một chiêu, đỡ chưởng của A Truật. Hai chưởng gặp nhau, A Truật bị bật tung về sau, kình lực bị mất hết. Y kinh hoàng đến đờ người ra.
Vốn là bậc trí tuệ siêu phàm, Nguyên-Phong hoàng đế nhận ngay ra rằng, sở dĩ A Truật thất bại, vì y dùng võ công trong Vô-trung kinh. Còn ngài vô tình xuất chiêu trong bộ Lôi-giáng Hoa-nhạc, mà tổ tiên ngài đã mất biết bao tâm huyết sáng tạo ra chỉ để khắc chế võ công trong Vô-trung kinh. Ngài đánh liền hai chưởng nữa, A Truật bị bật tung lên cao, rồi rơi xuống.
Đứng lược trận, Ngột-lương Hợp-thai thấy con mình lâm nguy. Y tung người lên, xả một đao vào lưng ngài, để ngài phải thu chiêu về tự cứu. Thấy chiêu số hung ác của đao, nhà vua rút kiếm vòng ra sau đỡ. Choang một tiếng, kiếm của ngài vuột khỏi tay bay lên cao, ngài vòng tay bắt lấy kiếm... trong khi đao của Ngột-lương Hợp-thai cũng văng đi xa. A Truật thoát chết, nhấp nhô mấy cái, y rời khỏi trận chiến, tay đoạt một thanh đao, nhảy vào cùng cha, quyết bắt nhà vua.
Cũng đúng lúc đó, 3 đô thống Trần Biên, Nguyễn Thời, Nguyễn Tha bị trúng chưởng của Triệt Triệt Đô bay tung lại sau. Y không cần truy kích đối thủ, mà quay lại, rút kiếm tấn công nhà vua. Bị ba đại cao thủ bao vây, nhà vua tung mình nhảy vào giữa trận của Ngưu-binh. Dã-Tượng, Hĩm Còi hú lên một tiếng dài, đàn trâu lăn xả ra cưú chúa. Nhưng cả ba cao thủ cùng vọt người theo ngài, chúng nhảy từ lưng trâu này sang lưng trâu khác, tay xả vũ khí, quyết giết nhà vua.
Trong khoảnh khắc nguy hiểm, tính mệnh như treo trên sợi tóc, Nguyên-Phong hoàng đế vẫn bình tĩnh múa kiếm chống trả. Song chỉ được ba chiêu, kiếm của ngài bị đánh văng lên không. Ngột-lương Hợp-thai xả một đao vào hông trái ngài, Triệt Triệt Đô thích đao vào ngực ngài, trong khi đó A Truật quay kiếm đâm vào lưng ngài. Ngài than thầm :
- Phen này, ta ắt không còn đất sống rồi.
Giữa lúc đó, thấp thoáng bóng nâu, ba người từ trận Ngưu-binh xẹt tới, rồi choang, choang, choang. Vũ khí của bọn Ngột-lương Hợp-thai rơi xuống đất. Nhà vua nhìn lại : Cả ba dùng tay trái đang ôm cườm tay phải, máu chảy đầm đìa. Ba bóng nâu là ba ni sư, mặt bịt kín. Cả ba chống kiếm nhìn bọn Ngột-lương Hợp-thai.
Trong ba sư thái, Nguyên-Phong hoàng đế thấy một vị, tuy mặt che vải, nhưng từ vai, tới lưng, cánh tay rất quen thuộc rất thân ái. Mà nhất thời ngài không nhớ đã gặp Bồ-tát tại đâu ?
Ngột-lương Hợp-thai hất hàm hỏi ba ni sư :
- Không biết ba sư thái đây xưng hô thế nào ? Tại sao lại đánh trộm anh em chúng tôi như vậy ? Phải chăng đó là tác phong của danh gia ?
Một ni sư trả lời bằng tiếng Mông-cổ, giọng đầm ấm :
- Bọn bần ni trực diện xuất chiêu, mà bảo là đánh trộm ư ?
Bà chỉ vào nhà vua :
- Vậy ba vị vây đánh một người là tác phong của Thái-sư Mông-cổ chăng ?
Hoài-Đô trả lời ngang :
- Đây là chiến trường, chứ không phải là đấu trường của võ lâm, mà bàn luật với lệ.
Ba ni sư thõng tay, đứng dàn hàng ngang trước Nguyên-Phong hoàng đế, cả ba không nói không rằng. Ngột-lương Hợp-thai chợt nhớ lại tin tức Tế-tác cung cấp. Y cười nhạt :
- Thì ra Lĩnh-Nam tam đại thần kiếm Vô-Ảnh, Vô-Sắc, Vô-Huyền đấy. Rất mong được chỉ giáo.
Nghe Ngột-lương Hợp-thai nói, trong tâm Nguyên-Phong hoàng đế rúng động :
- Thì ra...Thì ra...Hèn gì mình trông quen quá.
Dù trước trận, trong khi quân Việt, Mông chém giết nhau, dù tính mệnh như bị treo trên sợi tóc, Nguyên-Phong hoàng đế dán mắt vào Vô-Huyền bồ-tát, miệng ngài cảm thấy đăng đắng:
- Hỡi ơi! Người...Người lại lăn xả vào vòng muôn nghìn đao, tên cứu ta. Thì ra người không hận thù ta. Trong khi ta phụ người quá nhiều...
Vô-Ảnh bước ra :
- Bọn bần ni tránh chỗ hồng trần, lui vào chốn không môn, chẳng muốn ra chốn thế tục làm chi. Nhưng dù đi tu, bọn bần ni cũng không quên bổn phận mình là con dân Đại-Việt. Nay đại quân Mông-cổ muốn san bằng đất nước của bọn bần ni, nên bọn bần ni phải lăn vào thế tục.
Hoài-Đô vung đao chém vào quãng không ba chiêu :
- Xin được lĩnh giáo.
Vừa dứt lời, y xả một đao xé gió vào mặt Vô-Ảnh. Vô-Ảnh vẫn đứng im, khi đao sắp tới đỉnh đầu bà, chỉ thấy ánh thép lóe lên, rồi choang, đao của Hoài-Đô đã rơi xuống đất. Vô-Ảnh tra kiếm vào vỏ đến cạch một tiếng.
Hoài-Đô kinh hãi than :
- Phải chăng là Mê-linh kiếm pháp ?
- Đúng vậy !
- Vừa rồi tiểu tướng chưa chuẩn bị, như vậy không kể.
Y nhặt kiếm, khòm khòm lưng đứng trung bình tấn, mắt mở to nhìn Vô-Ảnh. Vô-Ảnh hỏi :
- Tướng quân chuẩn bị xong chưa ?
- Chờ !
Tay trái Vô-Ảnh bắt kiếm quyết, tay phải để tay vào đốc kiếm :
- Bần ni cắt bao đựng tên của tướng quân đây.
Ánh thép lóe lên, bà vòng kiếm một cái, bao đựng tên của Hoài-Đô bị rơi xuống đất. Lần này Hoài-Đô nhìn rất rõ Vô-Ảnh rút kiếm ra chiêu. Y định vung đao gạt, nhưng bà ra tay thần tốc quá. Y chưa kịp đỡ, thì bao đựng đao đã rơi xuống đất. Không nhân nhượng, Hoài-Đô lăn xả vào đánh liền mười chiêu thần tốc. Vô-Ảnh cũng rút kiếm trả đòn. Nhưng sau mười chiêu, kiếm y lại bị rơi xuống đất. Y cảm thấy cổ bị đau nhói, thì ra mũi kiếm của Vô-Ảnh đã chĩa vào huyệt Nhân-nghinh của y.
Lòng nguội như tro tàn, Hoài-Đô văng tục :
- Tổ bà nó, không phải sư thái giỏi hơn ta, mà tài trí tổ tiên ta không bằng tài trí tổ tiên sư thái. Sư thái giết ta đi cho rồi.
Trong khi sáu người đối thoại, thì Đỗ Thanh với bọn Thị-vệ hộ tống nhà vua chạy vào trong trận Ngưu-binh, rồi tiến ra phía bờ sông.
Ngột-lương Hợp-thai biết muôn ngàn lần bọn mình không phải là đối thủ của Lĩnh-Nam tam đại thần kiếm. Y hô một tiếng, cả ba lùi vào trận Mông-cổ. Thấy nhà vua chưa tới bờ sông, y vội ra lệnh cho một Thiên-phu Lôi-kỵ :
- Địa thế hẹp, người chia binh thành từng bách phu xung vào diệt đội trâu kia ngay.
Nhà vua đã tới gần bờ sông. Càng ra phía bờ sông, địa thế càng rậm rạp, đường đi lầy lội. Lôi-kỵ phải ngừng lại. Chúng dương cung bắn theo. Vô-Ảnh, Vô-Sắc, Vô-Huyền múa kiếm như một làn thép bao phủ, gạt tên rơi xuống đất. Nhà vua, Lê Tần, Đỗ Thanh cùng đội Thị-vệ đã xuống thuyền. Tên bắn ra như sao sa. Lê Tần cầm Khiên-mây che cho nhà vua. Đỗ Thanh dương cung bắn một lúc ba mũi, 3 viên Bách-phu bị trúng tên, ngã lộn xuống ngựa. Khi thuyền ra khỏi tầm tên, thì Khiên-mây của Lê Tần bị tên ghim như lông nhím.
Ba ni sư nhấp nhô mấy cái, đã biến mất vào trong khu đồng cỏ rậm rạp. Nguyên-Phong hoàng đế thẫn thờ nhìn theo bóng Vô-Huyền.
Dã-Tượng, Hĩm Còi cầm tù và rúc lên, đội Ngưu-binh từ từ lùi về phía bờ ruộng, lao xuống khu đồng lầy, rồi thủng thẳng lùi về phía Nam. Khi Lôi-kỵ đuổi tới, buông tên, thì chúng đã ra khỏi tầm tên.
Giữa lúc đó quân báo :
- Cánh quân của A Tan giao chiến với Thủy-quân hoàn toàn bất lợi. Bọn Thủy-quân lên bộ, dàn ra tại một vùng lau sậy, bùn lầy. Lôi-kỵ chỉ di chuyển theo hàng một vào khu rừng cỏ, bị chúng phục binh bắn chết gần nghìn người ngựa. Thủy-quân đã xuống thuyền, xuôi giòng rồi.
Ngột-lương Hợp-thai ra lệnh cho Triệt Triệt Đô, A Tan :
- Hai tướng quân mỗi người dẫn ba nghìn Lôi-kỵ tiến dọc bờ sông, đuổi theo quyết bắt cho được vua An-Nam.
Vì đường hẹp, Lôi-kỵ di chuyển khó khăn. A Tan dẫn quân đi trước. Vừa tiến được mấy dặm, khi qua con đường, hai bên trồng toàn tre, thì có tiếng trống thúc vang lừng, rồi tên từ bên trong bắn ra ào ào. Lôi-kỵ, ngựa bị trúng tên ngã lổng chổng, chúng chỉ còn kịp nhìn thấy một bọn trẻ con đang len lỏi chạy giữa những khu vườn đầy cây cỏ do Dã-Tượng, Hĩm Còi chỉ huy. Kiểm điểm lại, ba Thiên-phu trưởng, mười Bách-phu trưởng bị trúng tên chết.
Triệt Triệt Đô nhổ những mũi tên trên ngực một Thiên-phu trưởng, quan sát: Tên xuyên thủng áo giáp. Đầu mũi tên bọc thép, mũi dẹp như hình một con dao. Như vậy người bắn phải có công lực rất cao. Y than:
- Bọn võ lâm Nam-man xen lẫn vào với bọn trẻ con, với mục đích bắn các cấp chỉ huy bậc trung của ta. Nguy hiểm thực. Dường như hành động này của chúng có mục đích đe dọa bọn Thiên-phu, Bách-phu, khiến chúng kinh sợ, không dám xung sát nữa.
Bọn Trịnh Đức, Trịnh Ngọc cố vấn:
- Võ lâm An-Nam vốn tự cao, tự đại. Vì vậy chúng thường khắc tên mũi tên. Tướng quân cứ nhìn chuôi mũi tên thì biết rõ thủ phạm.
Triệt Triệt Đô sai nhổ các mũi tên trên thân thể các tướng tử trận: Các mũi tên đều mang tên Đỗ Thanh, Trần Biên, Nguyễn Thời, Nguyễn Tha. Y chửi tục:
- Bọn hèn hạ.
Vì sợ bị phục kích, cuộc rượt đuổi rất chậm chạp. Mỗi khi qua một bụi cây, một khu rừng, từ quân tới tướng đều phải mở to mắt ra quan sát xem có phục binh bắn trộm không?
Qua giờ Thân, quân của Triệt Triệt Đô, A Tan phải ngừng lại, đóng giữa khu đất hoang. Sáu nghìn người, sáu nghìn ngựa, không kiếm đâu ra lương thực. Phải chờ đến chiều, lao binh mới vận lương tới. Hôm trước, ngựa ăn phải cỏ độc, là một kinh nghiệm đau thương. Nên bọn Triệt Triệt Đô truyền khóa mõm chúng lại.
Tình hình hoàn toàn yên tĩnh. Toàn quân chìm vào giấc ngủ.
Đúng lúc đó di giá Nguyên-Phong hoàng đế cùng chư tướng rút về tới chiến lũy Cụ-bản. Tả-thiên ngưu vệ thượng tướng quân Phạm Cụ-Chích dẫn các Đô-thống Lê Phẩm, Phạm Long, Nguyễn Bích dàn quân ra đón. Vũ-kỵ thượng tướng quân Lê Tần thông báo mọi tin tức cho tướng sĩ Cụ-bản nghe. Hoàng-đế ngợi khen chư tướng sĩ rồi thăng chức tước cho tướng sĩ có công. Ngài nói với Lê Tần :
- Trong trận vừa qua, nếu không có khanh liều mình cầm Khiên-mây che cho trẫm, thì trẫm còn đâu ? Vậy trẫm ban cho khanh mỹ danh Phụ-Trần. Phụ là trợ giúp. Trần là họ của trẫm. Trẫm thăng khanh lên chức Tả Kim-ngô thượng tướng quân, hàm Thái-bảo, tước Thái-hà công.
Lê Tần tạ ơn. Từ đây tên ông là Lê Phụ-Trần.
Ngài lại thăng chức tước cho các tướng :
Vũ-vệ thượng tướng quân Đỗ Thanh được thăng An-cựu bá.
Đô-thống Trần Biên được thăng lên Chinh-viễn thượng tướng quân tước Kim-nỗ bá.
Đô-thống Nguyễn Thời được thăng Trung-lược thượng tướng quân, Vị-thanh bá.
Đô-thống Nguyễn Tha được thăng Dũng-lược thượng tướng quân Kim-long bá.
Ngoài ra, tướng sĩ tùy theo công trạng được thăng chức tước thứ bậc khác nhau. Khi ngài thăng chức tước cho đám thiếu niên dân dã chỉ huy trâu thì thì gặp trở ngại, vì tuổi còn nhỏ, lại không phải ở trong quân ngũ. Chúng cũng không biết giá trị của chức tước, nên ngài thăng gì chúng cũng lắc đầu không nhận.
Vũ-sơn hầu Tạ Quốc-Ninh đề nghị:
- Nếu vậy thì xin Hoàng-thượng ban thưởng cho xã của các cháu khỏi phải đóng thuế.
Cu Méo nhảy lên choi choi:
- Thưa quân hầu, xã cháu giầu lắm. Ai cũng muốn mang lương thực nộp cho triều đình nuôi quân. Chúng cháu không muốn...được thưởng như vậy.
- Vậy các cháu muốn được thưởng gì nào?
- Chúng cháu xin Hoàng-thượng cho chúng cháu ở lại đây đánh nhau, mà không phải rút về Thăng-long.
Nguyên-Phong hoàng đế khen ngợi:
- Các cháu đúng là con cháu thánh Gióng. Thôi được, trẫm để các cháu lại. Nhưng trong quân phải có cấp bậc để chỉ huy. Trẫm phong cho các cháu làm Đô-úy.
Bọn trẻ vui mừng tạ ơn. Chúng tạ ơn vì được ở lại đánh nhau, chứ chúng nào có thiết tha gì tới chức Đô-úy ?
Ghi chú của thuật giả.
Tổ chức quân đội triều Trần như sau :
- Thấp nhất là Ngũ, gồm 5 người.
- Bốn Ngũ là một Lượng, gồm 20 người.
- Cứ bốn Lương là một Đô,gồm 80 người.
- Mười Đô là một Vệ tức 800 người.
- Ba Vệ thành một Quân hay Đạo, tức 2400 người.
- Bốn Quân thành một Hiệu, tức 9600 người.
Sau khi dặn dò tướng sĩ Cụ-bản, di giá nhà vua lại xuống thuyền, xuôi về Thăng-long ngay trong đêm.
Lại nói đại quân Triệt Triệt Đô đóng quân trên một bãi đất rộng. Bốn bên là rừng cỏ, đồng lầy. Toàn quân nhập vào giấc ngủ.
Ngày 12 tháng Chạp năm Đinh-Tỵ, nhằm niên hiệu Nguyên-Phong thứ 7 đời vua Thái-tông nhà Trần (17-1-1258).
Vào giờ Tý. Tại nơi đồn trú của đại quân Mông-cổ.
Thình lình hàng nghìn, hàng vạn tiếng ngựa hý, tiếng trâu rống rung chuyển rừng hoang. Triệt Triệt Đô choàng thức giấc. Y hỏi thân binh:
- Cái gì vậy?
Nhưng tiếng ngựa hý, tiếng trâu rống, xen lẫn với tiếng vũ khí chạm nhau xoang xoảng vọng lai. Quân báo:
- Thưa tướng quân, có một đàn trâu, sừng buộc dao nhọn, do bọn trẻ con điều khiển, từ cánh đồng tràn vào khu buộc ngựa. Trâu húc, người chém, ngựa bị thương, chết không biết bao nhiêu mà kể. Bọn lao binh chăn ngựa không có vũ khí, nên bỏ chạy tán loạn. Còn Lôi-kỵ thì ở xa. Khi Lôi- kỵ tới, thì đàn trâu đã xuống ruộng, chạy về phương Tây mất rồi.
Triệt Triệt Đô chạy tới đương trường quan sát: Hơn ba trăm lao binh bị thương, bốn trăm ngựa bị giết chết, gần hai trăm bị thương nặng.
Lần này thì Triệt Triệt Đô không còn cáu giận được nữa. Y bắt đầu lo sợ:
- Với chiến thuật này, thì dần dà, ngựa sẽ bị giết hết. Bấy giờ Lôi-kỵ trở thành bộ binh, thì không phải là đối thủ của quân Việt nữa.
Nhưng từ đấy đến sáng, tình hình hoàn toàn yên tĩnh.
Chán đời đi lang thang !
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-05-25 02:45:59NuHiepDeThuong>
Tiếp theo Hồi 47

Khi bình minh chiếu ánh nắng cuối Đông xuống khu vực đóng quân của Mông-cổ, thì Thám-mã báo với Triệt Triệt Đô :
- Vua An-Nam chạy về tới Cụ-bản. Nhưng không biết y có còn ở đó hay đã chạy đi nơi khác rồi? Tại Cụ-bản quân Việt đóng thành đồn rất kiên cố, chặn mất đường đi. Đồn là một ngôi làng, nằm giữa cánh đồng lầy. Bốn bên có lũy tre bao bọc. Ngoài lũy tre còn có một con lạch rộng 2 trượng. Dưới lạch đầy chông, chà.
- Có biết tướng nào chỉ huy khu này không?
- Y là Tả-thiên ngưu vệ thượng tướng quân Phạm Cụ-Chích. Quân số của y không làm bao. Bộ binh có hiệu Tiên-yên do Đô-thống Lê Phẩm chỉ huy. Đạo Ngưu-binh do Đô-thống Phạm Long chỉ huy. Đạo Kỵ-binh do Đô-thống Nguyễn Bích chỉ huy. Bọn Ngưu-binh đánh ta trong đêm là do tên Phạm Long, với bọn Dã-Tượng, Hĩm Còi thực hiện.
Triệt Triệt Đô cau mặt hỏi :
- Ta có một thắc mắc về Kỵ-binh An-Nam. Chúng bố trí tại Bình-lệ-nguyên một Đạo do tên Nguyễn Thời chỉ huy. Khi giao chiến, ta thấy Kỵ-binh của chúng không thua gì Lôi-kỵ của ta. Thế mà chúng chỉ tham chiến lấy lệ. Bây giờ tại Cụ-bản chúng cũng bố trí một Đạo Kỵ-binh do tên Nguyễn Bích chỉ huy. Không biết kỳ này chúng có cho Kỵ-binh tham chiến hay không ?
Tên Trịnh Ngọc bàn :
- Tiết-chế An-Nam là Hưng-Đạo vương, tài trí phi thường, việc Kỵ-binh ở Bình-lệ-nguyên đánh lấy lệ ắt có mưu gì đây.Tôi cho rằng Kỵ-binh của chúng chưa xuất trận, vì chưa gặp địa thế thuận lợi. Hoặc giả chúng có mưu đồ gì khác. Tướng quân phải cẩn thận.
- Ta cũng muốn Kỵ-binh của chúng giao chiến với Lôi-kỵ của ta, xem ai hơn ai.
Bỗng Triệt Triệt Đô lại nhảy dựng lên :
- Tại Bình-lệ-nguyên quân An-Nam có một Đạo Ngưu-binh do tên Nguyễn Tha chỉ huy. Bây giờ tại Cụ-bản cũng có một Đạo Ngưu-binh do tên Phạm Long chỉ huy. Thế tại sao khi mới nhập biên ta đã gặp bọn nhãi Dã-Tượng, Hĩm Còi. Tại Thảo-lâm chúng cũng xuất hiện. Trong trận Bình-lệ-nguyên cũng bọn chúng. Cho đến hôm qua, cũng vẫn chúng nó. Không chừng tại Cụ-bản cũng vẫn chúng nó...
Bọn Thám-mã trình bầy :
- Đó là lối tổ chức của quân An-Nam. Tất cả trâu, mục đồng đều được huấn luyện xung phong, hãm trận, tổ chức thành Ngũ, Lượng, Đô, Vệ. Ngày thường trâu vẫn làm việc như thường. Còn từ cấp Vệ, Đạo, Hiệu chỉ có cái khung, gồm các chức sắc tham mưu, tế tác, chuyển vận, tác chiến đào tạo tại trường huấn luyện ở Hoa-lư. Như tên Nguyễn Tha là Đô-thống chỉ huy Đạo. Khi tới Bình-lệ-nguyên, thì y tập hợp các Ngũ, Lượng, Đô xung quanh lại kết thành Vệ, Đô. Bọn Dã-Tượng, Hĩm Còi là tướng chỉ huy Đô lĩnh nhiệm vụ Tế-tác, nên mặt trận nào chúng cũng có mặt (Ghi chú : Như vậy Dã-Tượng, Hĩm-Còi lĩnh nhiệm vụ tương đương với ngày nay là tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn trinh sát).
Dường như Triệt Triệt Đô chưa hết kinh hoàng về Ngưu-binh. Y hỏi :
- Khi xung trận, ta thấy quanh Dã-Tượng, Hĩm Còi có khoảng vài chục đứa oắt con. Chúng cũng liều mạng, thông minh như hai đứa kia. Vậy chúng là ai ?
- Chúng cùng có cấp bậc Đô-úy. Khi đến vùng nào cần tác chiến, mỗi đứa sẽ tập hợp 4 lượng lại, rồi xuất trận. Mười đứa con trai, thì năm đứa có tên Cu là Cu Chó, Cu Đen, Cu Rỗ, Cu Méo, Cu Lác. Cu Chó mới được vua An-Nam đặt cho cái tên Dã-Tượng. Năm đứa có tên Trâu là Trâu Đen, Trâu Xanh, Trâu Điên, Trâu Trắng, Trâu Mập. Trong mười đứa con gái, thì năm đứa có tên Hĩm là Hĩm Còi, Hĩm Cao, Hĩm Lùn, Hĩm Rỗ, Hĩm Hô. Năm đứa có tên Cái là Cái Lan, Cái Huệ, Cái Sen, Cái Hồng, Cái Tiên.
Triệt Triệt Đô nhớ lại cuộc chiến Bình-lệ-nguyên. Y thấy các tướng Đại-Việt hầu hết còn trẻ, mà tỏ ra có tài điều quân rất nhịp nhàng. Y hỏi :
- Bọn tướng súy này so với bọn Bình-lệ-nguyên ra sao?
- Hoàn toàn khác nhau. Bọn ở Bình-lệ-nguyên thì mưu trí tuyệt vời. Còn bọn này, mưu trí không làm bao, nhưng chúng là những tên can đảm bậc nhất. Dù ta mạnh đến đâu chúng cũng sẵn sàng thí mạng cùi, chứ không chịu rút lui. Đánh nhau với bọn này rất khó mà thắng. Bây giờ chúng biến một làng thành chiến lũy, thì trận chiến sẽ kinh khủng lắm.
- Được! Đến những thành trì cao vòi vọi như Yên-kinh, như Tây-vực, ta còn phá được thì xá gì mấy cái lũy này? Ta có cách!
Quân sĩ rầm rập lên đường. Đầu giờ Thìn thì chiến lũy Cụ-bản hiện ra. Nhìn từ xa, chiến lũy không có vẻ là một vị trí quân sự, mà là một ngôi làng trong thời kỳ thanh bình. Trên trời chim bay lượn, dưới ruộng, những con cò trắng phau đang lò dò kiếm mồi. Dân chúng nhấp nhô trên những thửa ruộng. Kẻ đánh kỳ, người tát nước, làm cỏ. Lại cũng có những cô thôn nữ đang bắt cua. Một vài đứa mục đồng cỡi trâu, đang tấu những khúc nhạc dịu dàng, êm ái.
Triệt Triệt Đô hỏi gã Trịnh Ngọc:
- Như quân báo, thì ngôi làng này là chiến lũy Cụ-bản. Bên trong chắc có nhiều quân sĩ. Thế thì dân chúng phải biết quân ta đang tiến tới. Mà tại sao dân chúng lại bình thản như không biết gì thế kia?
- Tôi nghĩ tin tức Tế-tác của ta không đúng. Cũng may tên Phạm Cụ-Chích ngu dốt, chứ nếu y dùng ngôi làng này làm chiến lũy thì ta khó mà hạ được.
Y chỉ ngôi làng:
- Tướng quân hãy nhìn xem: Ngôi làng nằm trên một cánh đồng, dài hơn 6 dặm (3km). Từ ngoài vào phải qua một khu đồng lầy, rồi tới một cái sách rộng hai trượng (4m), dưới sách đầy chông, chà. Sau sách, tới lũy tre cao vút; dầy đặc, đến con chó, con mèo cũng khó kiếm chỗ chui lọt vào trong. Làng chỉ có con đường độc đạo dẫn vào. Nếu tên Phạm Cụ-Chích đặt chướng ngại đầy con đường thì ta làm sao mà tiến vào được?
Đạo quân của A Tan cũng đã đến. Quân sĩ ùn lại trên một con đường dài. Triệt Triệt Đô bị trúng phục binh, bị lừa, bị bất ngờ quá nhiều rồi. Y cẩn thận hơn:
- Ta tạm ngừng quân, sai thám mã dò xem, rồi hãy tiến binh vào.
Y vẫy tay.
Một Thập-phu trưỡng dẫn mười Lôi-kỵ ruổi ngựa đi liền. Tới cổng làng, y ngừng lại quan sát: Trong làng, dân chúng thản nhiên đi lại. Đám trẻ con nô đùa, chạy nhảy, như không biết gì đến đội quân giết người không gớm tay đang tiến đến. Viên Thập-phu trưởng dẫn quân trở về, báo cáo tình hình. Triệt Triệt Đô ban lệnh:
- Luật của Thành-cát Tư-hãn ban ra rằng : Nếu quân đi đến đâu mà người ở đó không chống lại, thì tuyệt đối không được cướp của, giết người. Còn nơi nào chống lại thì phải giết tuyệt. Làng này mở cửa cho ta đi, thì tuyệt đối không được phạm đến tài sản, tính mệnh của họ.
Một Bách-phu Lôi-kỵ lên đường trước. Đội quân vào cổng tiền, xuyên qua làng, dân chúng thản nhiên đứng hai bên đường xem, như xem một đám rước đi qua. Bách-phu ra khỏi cổng hậu yên tĩnh. Viên Bách-phu trưởng tiếp tục lên đường. Y sai hai Lôi-kỵ trở lại cổng tiền báo với Triệt Triệt Đô. Triệt Triệt Đô lại cho hai Bách-phu nữa lên đường. Bách-phu thứ nhì vừa vào trong cổng tiền, thì lập tức cổng làng đóng lại, rồi mấy con bùi nhùi khổng lồ lăn ra, chặn phía trong, làm Bách-phu thứ ba bỡ ngỡ dừng lại trước cổng. Tên từ trong cổng bắn ra vèo vèo. Người hét, ngựa hý trong không khí cực kỳ hỗn độn. Chỉ thoáng một cái, cả bách phu đều bị trúng tên. Người ngựa ngã nằm la liệt trên con đường nhỏ hẹp.
Trong làng trống thúc vang dội, dọc theo các lũy tre bao phủ, cờ xí kéo lên bay phất phới. Ngay cổng làng, lá soái kỳ có chữ :
« Tả thiên ngưu vệ Thượng-tướng quân,
Phạm Cụ-Chích
»
Biến cố xảy ra đột ngột. Triệt Triệt Đô cho hai Bách-phu Lôi-kỵ tiến lên, nhưng con đường bị nghẽn. Chúng đành xuống ngựa, lôi xác chết của đồng đội, của chiến mã, mở đường. Trong khi tên trong cổng làng bắn ra rít lên vo vo, tầm sát hại đã xa, tốc độ cực nhanh.
Tên Trịnh Ngọc nhắc :
- Thưa tướng quân, chúng dùng Nỏ-thần.
Bấy giờ Triệt Triệt Đô mới nhớ lời Ngột-lương Hợp-tha đã dặn : Quân Việt có một loại vũ khí, do Cao-cảnh hầu Cao Nỗ chế ra từ thời An-Dương vương, mỗi loạt bắn ra từ mười tới nghìn mũi tên, tầm xa gấp hai sức bắn của người, xạ lực mạnh gấp ba, gấp bốn.
Y lệnh cho Lôi-kỵ lùi lại, bắt lao binh lên dọn xác chết người ngựa. Nhưng lao binh lên bao nhiêu, bị Nỏ-thần bắn ngã bấy nhiêu. Xác chết chồng chất lên nhau, máu chảy đỏ ngầu cả khu đồng ruộng mênh mông.
A Tan bàn :
- Ta đành phải dàn quân đánh theo lối cổ điển của người Hán, chiếm chiến lũy này. Lôi-kỵ không thể lội ruộng.
- Trời ơi ! Hàng rào kiên cố thế kia, làm sao có thể đánh vào được.
- Nước chảy, đá mòn. Ta cho phá chướng ngại vật. Rồi dùng binh Đại-lý, lao binh dàn hàng vượt qua sách, chặt hàng rào, tiến vào trong.
Đến đó, cổng làng mở ra, mười chiếc xe, loại xe chở rơm rạ, do mười con trâu kéo, trên chở đầy xác chết cùng Lôi-kỵ bị thương từ từ đi ra. A Tan nhận ra chúng là Lôi-kỵ thuộc bách phu đầu tiên vượt qua làng. Một thương binh Lôi-kỵ báo :
- Bách-phu của tôi vượt qua làng, đi khoảng hai dặm thì gặp một làng khác. Chúng tôi ngừng lại cho ngựa uống nước thì bị một bọn nhóc con cầm tù và rúc, chỉ huy mấy trăm con trâu, sừng buộc dao xông vào tấn công. Cứ một trâu, lại xen vào hai ba nhóc, trai có, gái có. Chúng tôi trở tay không kịp , thành ra trong một khắc bị bắt, bị giết hết. Bọn nhóc đầu sỏ gồm hai chục đứa. Tôi nhớ được tên mấy đứa là Dã-Tượng, Cu Đen, Trâu Mập, Trâu Xanh, Hĩm Còi, Hĩm Hô, Cái Lan, Cái Hồng... Chúng làm mặt nhân đạo, sai thu nhặt xác chết, cho tôi mang về. Chúng đe rằng sẽ bắt tướng quân...
- Bắt ta làm gì?
- Bắt chui qua háng chúng.
Triệt Triệt Đô hét lên giận dữ.
A Tan kinh hãi :
- Thế còn Bách-phu thứ nhì ?
Một thương binh Lôi-kỵ đáp :
- Chúng tôi vừa vào trong cổng tiền, thì bị vướng vào trận địa dây Vạn-thằng. Phân nửa chúng tôi bị ngã ngựa, rồi quân Việt, dân Việt đổ ra. Bọn dân rất hung hãn. Chúng gồm đàn ông, đàn bà, trẻ con, ông già, bà lão. Chúng dùng khiên-mây che thân, dùng gậy tre, dùng dao cắt cỏ, dùng dao làm bếp, chém túi bụi. Lại có đứa dùng đao-quất, khi thì chém, khi thì nấp sau khiên-mây vung đao-quất tấn công. Tuy là dân, nhưng chúng được tổ chức thành đội ngũ, lui, tới rất nhịp nhàng. Chúng tôi chiến đấu trong tuyệt vọng, rồi bị bắt, bị giết hết.
Thấy trên mặt tên Lôi-kỵ còn hiện ra nét hoảng hốt. Triệt Triệt Đô quát:
- Chúng ta sơ ý mắc mưu bọn Man. Có gì mà người kinh hãi như vậy?
- Tôi không sợ bọn quân Man, mà sợ bọn dân Man. Nhất là mấy thằng già. Có đứa bị chúng tôi đâm lòi ruột ra, mà một tay nó ôm bụng, còn tay kia vẫn dùng gậy phang bọn tôi. Khi chúng tôi hàng, thì quân Man ngừng lại. Còn bọn nhóc con, dù chúng tôi dơ tay hàng, chúng vẫn chém, vẫn đập. Thực là bọn dân hung dữ chưa từng thấy.
A Tan, Triệt Triệt Đô uất khí lên cổ : Những Lôi-kỵ này xuất thân là con em vùng Thảo-nguyên. Từ sáu tuổi đã biết cỡi ngựa, bắn cung. Khi vào tuổi mười hai thì được nhập vào đội quân các Khả-hãn. Sau đó, những tên ưu tú, mới được thu dụng làm Lôi-kỵ, phải trải qua hơn một năm huấn luyện. Họ từng ruổi ngưạ xung sát khắp các nước phương Tây, khắp Liêu, Kim, Tống, Đại-lý...Thế mà bây giờ họ bị giết trong những trường hợp không đáng, bởi những kẻ thù không đáng giá một đồng xu... Hơn nữa toàn một bonï nhà quê, bọn đàn bà, bọn con nít... Nếu cứ đà này, mỗi ngày tiêu hao vài trăm Lôi-kỵ, thì chỉ mấy tháng sau, đoàn quân này sẽ không còn nữa.
A Tan chửi :
- Tổ bà nó ! Hồi đánh Tây-vực, đánh Kim, uy danh của Lôi-kỵ làm cho binh tướng, dân chúng giặc nghe đến là vỡ mật, nát gan. Chỉ cần một Lôi-kỵ thôi, y cỡi ngựa vào một làng, dân chúng răm rắp nghe lệnh. Y muốn ngủ với bất cứ người dàn bà nào, người con gái nào, thì chồng, cha, anh cũng chỉ biết đứng nhìn. Y muốn lôi người nào ra giết, thì giết tùy thích. Y muốn ăn uống gì, thì dân làng cúi đầu tuân phục, dâng hiến. Thế mà bây giờ, hàng trăm Lôi-kỵ, vào một làng nhỏ, từ đàn bà, cho đến con nít dường như không sợ đã đành, mà chúng còn dám bầy trò ma, trò quỷ, giết hại.
A Tan, Triệt Triệt Đô gọi hai Vạn-phu trưởng Đại-lý:
- Địa thế này thì Lôi-kỵ không thể đánh được. Đành phải dùng bộ binh thôi. Vậy con đường ở giữa, ta dùng Lôi-kỵ tấn công. Còn hai bên, thì các người dẫn bản bộ quân mã đánh vào. Phải cẩn thận khi vượt qua cái mương. Dưới mương có rất nhiều chông.
Quân dàn ra thực mau. Một tiếng pháo lệnh nổ, hai vạn quân Đại-lý dàn hàng ngang, vừa reo hò, vừa lội ruộng, xông vào hàng rào chiến lũy. Khi còn cách con lạch hai chục trượng, quân sĩ dừng lại, tay cầm mộc che thân, rồi tiến tới.
Chỉ còn mười trượng.
Trong chiến lũy vẫn im lìm.
Quân bỏ mộc, lội xuống mương kéo chà, gỡ chông, dùng dao chặt hàng rào. Giữa lúc các đợt quân đang chới với ở dưới mương , ở hàng rào, thì một hồi tù và vang lên tên từ trong bắn ra vèo vèo. Bị trúng tên, người người từ bờ hàng rào hò hét, bật lùi trở lại, chân dẵm phải chông.
Trong cùng lúc đó, trên con đường chính, Lôi-kỵ hét lên xông vào. Nhưng khi tới gần cổng lại bị thần nỏ bắn ngã chồng chất lên nhau.
Thấy quân chết nhiều quá, A Tan cầm cờ phất lên, tạm lui quân. Khốn nạn thay ! Đám bộ binh Đại-lý, bộ binh gốc Trung-quốc, người chết, xác bị bỏ tại hàng rào, dưới mương, trên cánh đồng. Đám thương binh được cứu mang ra, người ướt sũng, vết thương gặp nước, máu tuôn ra càng nhiều.
Gữa lúc đó, đại binh Ngột-lương Hợp-thai tới. Nghe báo cáo tình hình, y tiến lên quan sát địa thế, rồi quyết định :
- Không khó. Trước hết tại cổng tiền, hãy chặt cây kết thành mấy lá chắn thực lớn, rồi sai lao binh đẩy đi trước, cho bộ binh đi sau. Tới cổng làng, bỏ lá chắn lăn xả vào đánh. Phía sau, ta đem mấy xe bắn đá theo, bắn vào trong.
Y chỉ vào mấy đoạn lũy tre làng :
- Có hai chỗ không có lũy tre tươi, chúng dùng tre khô, gỗ làm hàng rào. Ta cũng dùng lá chắn tiến tới, rồi đốt hàng rào khô.
Y gọi Phò-mã Hoài Đô và con trai là A Truật :
- Hai người hãy mang năm Thiên-phu binh Đại-lý, với ba Thiên-phu Lôi-kỵ, và làm như thế...như thế...
Mọi sự cụ bị. Quân sĩ, lừa ngựa được nghỉ ăn cơm trưa.
Trong khi ấy, tại chiến lũy Cụ-bản, Tả-thiên ngưu vệ thượng tướng quân họp các tướng lại cùng nghị sự. Ông lên tiếng :
- Chúng ta được lệnh Hưng-Đạo vương lập chiến lũy tại đây, với năm nhiệm vụ chính. Một là cản bước tiến giặc cho cánh quân Bình-lệ-nguyên của Vũ-kỵ thượng tướng quân Lê Tần rút về Đông-bộ-đầu. Hai là quấy rối làm cho giặc cảm thấy không yên suốt thời gian tiến quân. Ba là làm cho giặc hiểu rằng Lôi-kỵ của chúng vô dụng đối với Đại-Việt. Bốn là cho chúng biết, cả nước ta đều là thành, toàn dân ta đều giữ thành. Năm là cho chúng biết, không hy vọng gì kiếm được lương thảo trên đất nước này.
Ông mỉm cười :
- Nhiệm vụ khó nhất là làm cho giặc cảm thấy không yên trên đường tiến quân. Suốt hai ngày qua, Đô-thống Lê Phẩm đã dùng hiệu binh Tiên-yên phân ra thành từng Đô, nương vào địa thế rậm rạp bắn tỉa chết gần hết bọn chỉ huy Thiên-phu, Bách-phu. Việc này gặc kinh sợ đến độ, chúng không dám mặc y phục của mình, mà phải mặc y phục của binh sĩ. Rồi trong đêm, Đô-thống Phạm Long dùng hiệu Ngưu-binh đột nhập khu đóng quân, giết hại người ngựa... Làm cho chúng kinh hồn táng đởm.
Ông nhìn Đô-thống Nguyễn Bích :
- Đô-thống đã dùng kỳ mưu, đưa ba Bách-phu Lôi-kỵ vào trận địa phục kích của ta. Bách-phu đầu tiên bị bắt trọn. Bách-phu thứ nhì bị dân làng cùng quân của ta diệt. Bách-phu thứ ba bị Nỏ-thần bắn chết ngay cổng làng. Giặc dùng bộ binh tiến đánh đợt đầu, thất bại...Tóm lại, năm nhiệm vụ cả ta đã hoàn tất. Bây giờ đại quân của Ngột-lương Hợp-thai đã tới. Quân số chúng ta không đủ chống lại với chúng. Vậy chúng ta phải mau chóng rút về phía Đông Thăng-long, chờ lệnh phản công.
Tất cả các tướng đều ứng khẩu:
- Không!
Vị bô lão chỉ huy dân binh tên Vũ Mạc xua tay:
- Tướng quân ơi! Hôm trước tướng quân cùng chúng tôi bàn kế đánh giặc. Dân chúng trong làng đã đem tất cả những người tàn tật, những người quá già, và trẻ con dưới 10 tuổi sang làng khác lánh nạn, để chúng ta rảnh tay đối phó với giặc. Bây giờ giặc tới đầu làng, ta chỉ mới lừa chúng bằng mẹo vặt, chứ chưa đánh trận nào, mà đã rút lui sao? Nếu chư vị tướng quân sợ giặc thì cứ rút đi. Dân Cụ-bản của chúng tôi sinh ở đâu, thì chết ở đó. Chúng tôi nhất định liều mạng với chúng một trận, rồi muốn ra sao thì ra, chứ không rút chạy. Chạy nhục lắm.
Đô-thống Phạm Long nhăn mặt :
- Triều đình ra lệnh cho chúng ta đánh giặc thì chúng ta tuân. Nhưng ta đã đánh trận nào cho ra một trận đâu? Còn như triều đình bắt chúng ta rút chạy, thì...nhục quá. Chúng ta không thể thi hành. Hơn nữa binh sĩ của tôi toàn xuất thân từ mục đồng, ngút lửa yêu nước. Bây giờ được ra tuyến đầu đánh giặc, họ hãnh diện vô cùng. Thế mà bảo họ chạy ư? Thú thực tôi không thể mở miệng ra lệnh cho họ...làm như vậy.
Hĩm Còi đứng dậy:
- Các bác, các chú rút chạy thì cứ rút. Bọn cháu ở lại đây đánh một trận, ít ra bằng trận Bình-lệ-nguyên đã, rồi mới rút.
Cái Lan tiếp lời Hĩm Còi :
- Bọn Ngưu-binh làng này rắn mặt lắm. Trong trận đánh đêm qua, cháu phải thúc hai hồi tù và chúng nó mới chịu lùi.
Cu Méo hỏi Dã-Tượng:
- Chạy không mày?
Dã-Tượng để tay lên tai:
- Mày nói gì tao nghe không rõ. Trời ơi! Tự nhiên sao tai tao điếc đặc thế này. Mày bảo đóng trại à?
- Không phải đóng trại, mà là bỏ chạy!
- À, tao hiểu rồi ý mày muốn nói chiều nay ăn cơm cháy hẳn? Cơm cháy phải ăn với cá bống mít kho mới ngon.
- Khổ quá! Y tao muốn nói chạy, là bỏ trốn ấy mà?
- Còn lâu. Vả tao có hô chạy, bọn lỏi cũng không chịu nghe đâu.
Đô-thống Lê Phẩm đứng dậy:
- Từ xưa đến giờ, hiệu binh Tiên-yên của chúng tôi chỉ học tiến chứ không học thoái. Hằng ngày họ luôn nhắc nhở nhau, thà chết, chứ không chịu chạy. Bây giờ bắt họ chạy thì e còn khó hơn bắc thang lên trời.
Giữa lúc đó thì chim ưng mang lệnh của Tiết-chế Hưng-Đạo vương tới. Phạm Cụ-Chích đọc cho chư tướng nghe:
" Dân chúng Thăng-long được lệnh phải di tản ra khỏi Thủ-đô. Nhưng cho đến nay chỉ mới được một nửa. Cần tới 5 ngày nữa mới xong. Vậy bằng mọi giá, phải ngăn bước tiến của giặc, cho dân chúng kịp chạy".
Các tướng reo mừng:
- Có vậy chứ.
Đến đó trống thúc vang dội. Quân báo:
- Giặc đang dàn hàng tiến vào bờ rào.
Phạm Cụ-Chích ban lệnh:
- Chúng ta hãy ra vị trí chiến đấu. Ta có 5 ngày cầm chân giặc.
Phạm Cụ-Chích chạy ra cổng chính. Ông phóng mắt nhìn : Dọc theo các lũy tre, giặc dàn ngang mười hàng, tay cầm đao, tay cầm mộc, đông như kiến, đang tiến tới. Chúng lội xuống hào, kéo chông, lôi trà. Trong khi quân, dân nấp trong lũy dùng cung bắn ra. Tên này ngã, tên khác xông lên. Phút chốc chúng đã đứng trên bờ trong của con lạch, tay vung đao chặt tre. Lại có bọn chất rơm vào khu hàng rào tre khô màđốt. Quân dân bên trong kẻ dùng tên, người dùng giáo đâm giặc. Giặc cũng dùng tên bắn vào trong. Cuộc chiến đấu diễn ra cực kỳ ác liệt.
Tại cổng chính, người chỉ huy phòng thủ là Đô-thống Phạm Long. Lực lượng có ba dàn Thần-nỏ, hai Vệ Ngưu-binh, hai Vệ bộ binh. Phía Mông-cổ, người chỉ huy là Triệt Triệt Đô. Y cho lao binh nấp sau chiếc lá chắn bằng tre, nhét rơm tẩm bùn đang từ từ tiến theo con đường chính. Sau lá chắn, bọn cảm tử quân tay lăm lăm bảo đao cúi đầu nấp. Cung tên trong chiến lũy bắn ra, bị ghim vào lá chắn hết.
Bình tĩnh, Phạm Long ra lệnh cho Dã-Tượng :
- Diệt chúng !
Cánh cổng mở rộng. Dã-Tượng đứng trên lưng một con trâu, tay cầm tù và rúc lên. Mười con trâu lồng ra, phía sau có hai chục chiến sĩ cầm đao đi theo. Tiếp theo mười con khác do Cu Đen chỉ huy, với hai chục võ sĩ đi theo. Toán thứ ba, cũng mười trâu do Hĩm Còi chỉ huy làm hậu tập. Vừa gặp lá chắn, Dã-Tượng hú lên :
- Hô! Hô! Nghé họ hộ.
Năm trâu đi hàng đầu húc mạnh, lá chắn bay tung đi. Năm trâu kế tiếp lao vào đội võ sĩ, tốc thẳng vào đội hình giặc. Giặc kinh hãi tách làm đôi. Dã-Tượng vẫn thúc trâu chọc vào hậu quân địch. Cu Đen hú lên, mười trâu của nó tách làm đôi. Năm con đánh vào phía trái. Năm con đánh vào phía phải. Các võ sĩ Mông-cổ còn bỡ ngỡ, thì đến mười trâu của Hĩm Còi tiến lên tiếp viện cho Dã-Tượng. Võ sĩ Việt, cùng trâu xung trận, phối hợp nhịp nhàng. Bọn võ sĩ Mông-cổ đù là đệ tử của các võ phái Trung-nguyên. Tuy võ công cao, nhưng họ bị bỡ ngỡ. Họ chỉ biết nhảy nhót, dùng đao chém trâu. Trâu húc, người chém, tiếng người la hét, tiếng trâu rống vang dội. Không đầy một khắc, đám lao binh, đám võ sĩ Mông-cổ bị giết sạch.
Một tiếng tù và rúc lên. Võ sĩ Việt, trâu lùi trở về chiến lũy. Trâu của Dã-Tượng, Cu Đen, Hĩm Còi lùi sau cùng.
Phạm Long hỏi Dã-Tượng:
- Cơ chừng này, chúng sẽ cho hàng chục toán, nấp theo hàng chục lá chắn xông lên. Em sẽ nghênh chiến bằng cách nào ?
- Dễ ợt ! Đường hẹp, chúng chỉ có thể đi hàng ba, hàng bốn. Ta cũng dùng trâu, dùng võ sĩ đi trên đường như ban nãy. Toán thứ nhất nghinh chiến trên đường xông vào hậu quân địch làm rối loạn hàng ngũ. Toán thứ nhì, thứ ba tiếp ứng. Toán thứ tư, thứ năm lội xuống ruộng đánh vào hông phải. Toán thứ sáu, thứ bẩy cũng lội ruộng đánh vào hông trái. Nhưng bốn toán lội ruộng này thì không thể dùng võ sĩ, vì võ sĩ không quen lội ruộng. Phải dùng dân chúng mới được.
Không đợi lệnh Phạm Long, nó vẫy tay gọi 4 đội dân chúng. Mỗi đội hơn trăm người, hỗn hợp trai gái, ông già, bà lão, trẻ con, vũ khí toàn mác phát dậu, liềm, gậy :
- Lên lưng trâu!
Nhanh nhẹn, 4 đội dân chúng lên lưng trâu. Phạm Long dặn họ :
- Nhớ ! Sau khi thắng giặc phải lùi vào đây ngay. Chớ ham chiến, lỡ tuiï Lôi-kỵ tới thì nguy lắm.
Quả nhiên, thất bại lần đầu, Triệt Triệt Đô rút kinh nghiệm, y ra lệnh cho lao binh, võ sĩ dàn thành mười lớp. Mỗi lớp có một lá chắn đẩy đi trước, phía sau 3 chục võ sĩ núp.
Cổng chiến lũy lại mở rộng. Một đội trâu hai chục con, cùng ba chục võ sĩ tiến ra. Trên lưng trâu, Dã-Tượng đi trước , rồi tới toán của Cu Đen, Cu Rỗ. Cu Đen đứng cầm tù và rúc lên tu tu. Cũng như lần trước, trâu húc lá chắn, rồi lao vào hậu quân địch. Toán thứ nhì, Cu Rỗ, Cu Méo theo sau.Võ sĩ hai bên kịch chiến. Các lá chắn của toán thứ ba, thứ tư bị Ngưu-binh húc văng đi.
Hĩm Còi cầm tù và rúc một hồi. Bốn Ngưu-binh do Hĩm Cao, Lùn, Rỗ, Hô lên đường. Trên lưng mỗi trâu mang một dân binh. Vừa ra khỏi cổng chiến lũy, thì trâu lội xuống ruộng, nhanh chóng tiến lên, đánh vào hông hai đội võ sĩ Mông-cổ.
Ngột-lương Hợp-thai đứng xa xa quan sát trận chiến, y rởn tóc gáy, miệng chửi thề :
- Tổ bà nó ! Mình đã đánh khắp từ Đông sang Tây, từ Nam chí Bắc, dân chúng hễ nghe thấy Lôi-kỵ là đã chết khiếp rồi. Thế mà bọn đàn bà, bọn trẻ con, bọn già nua ở đây dám xông ra đánh nhau với quân mình đã là điều kinh hãi. Đây dường như chúng thích thú xông trận mới kinh dị.
Đô-thống Phạm Long đứng thúc trống cổ võ cho đội Ngưu-binh, dân chúng đánh nhau với giặc. Cuộc hỗn chiến cực kỳ ác liệt. Gần một khắc qua, thế thắng nghiêng về phía Ngưu-binh. Ngọc-Long đang sung sướng thì có nhiều tiếng reo hò phát ra từ phía bên trái : Quân Mông-cổ đã phá hàng rào lọt vào trong chiến lũy. Đô-thống Lê Phẩm đang chỉ huy cuộc phản công. Đội Ngưu-binh do bọn Trâu Đen, Trâu Xanh, Trâu Điên, Trâu Trắng, Trâu Mập xông vào đội hình giặc. Sau hơn khắc, giặc bị đẩy bật ra khỏi chiến lũy. Nhưng lớp khác lại xông vào.
Giữa lúc chiến cuộc trước cổng, cùng cánh trái đang diễn ra khủng khiếp, thì một dân binh chạy lại báo :
- Thưa tướng quân, giặc dùng bè chở quân đổ bộ lên, đánh vào phía sau làng ta. Quân của chúng đông như kiến.
- Có biết tướng chỉ huy là ai không ?
- Là Phò-mã Hoài Đô với con của Ngột-lương Hợp-thai là A Truật.
Phạm Cụ-Chích kinh hoảng vô cùng, vì khi thiết kế phòng thủ, ông chỉ phòng thủ phía trước, và hai bên hông. Phía sau khoảng vài chục dặm là chiến lũy Phù-lỗ, nên ông giao cho dân làng canh phòng, mà không có binh sĩ. Ông vội dẫn đội võ sĩ gần ba trăm người tung mình chạy về phía cổng hậu, thì Lôi-kỵ Mông-cổ đã lọt vào trong hàng rào. Dân chúng dùng trận địa giây chống Kỵ-binh. Năm thiếu nữ Cái Lan, Cái Huệ, Cái Sen, Cái Hồng, Cái Tiên đang dùng Ngưu-binh xung sát. Lôi-kỵ thì hùng hổ, trang bị đao, lao, cung tên. Còn dân chúng chỉ có đao-quất, khiên-mây gậy, dao, búa. Thế nhưng nhờ có Ngưu-binh trợ chiến, nên cuộc chiến diễn ra cực kỳ ác liệt. Được đội võ sĩ , Ngưu-binh trợ chiến, dân chúng đã lấy lại được thế thăng bằng. Lôi-kỵ bị giết khá nhiều. Quân Đại-lý, lao binh tràn vào trong mỗi lúc một nhiều. Dân chúng nấp trong các bụi cây, những căn nhà, những ngõ hẻm, nên cuộc chiến đấu vẫn giằng dai.
Giữa lúc đó, thì Phạm Cụ-Chích cảm thấy đau nhói ở hông trái. Ông đã bị trúng tên. Sợ dân chúng trông thấy, ông vung kiếm cắt chuôi tên, lấy dây lưng băng lại, rồi tiếp tục đốc chiến.
Phía cổng trước, hai cánh phải, trái đã bị tràn ngập. Lôi-kỵ hàng hàng lớp lớp phi vào trong. Quân, dân Việt bị đẩy lui về phía hông phải. Biết quân mình quá ít, không thể đương với lực lượng đông gấp mười. Tướng quân Phạm Cụ-Chích ra lệnh rút khỏi làng, theo cổng phía hông phải. Ba Đô-thống Lê Phẩm, Nguyễn Bích, Phạm Long thân đứng cản hậu. Cuộc lui binh an toàn. Chỉ còn đạo binh cuối cùng chưa ra khỏi làng là đạo dân quân với baVệ Ngưu-binh. Quân Mông-cổ vây tròn lấy đạo binh cuối cùng này. Lôi-kỵ dùng tên bắn, thì dân binh dùng khiên-mây che thân, dùng đao-quất phóng ra. Trái quất trúng thân Lôi-kỵ, chạm áo giáp kêu lên choang choảng. Trúng thân ngựa, thì ngựa hý lên, nhảy nhót, chạy loạn hàng, hoặc bị chết.
Ngột-lương Hợp-thai cùng các tướng đã xuất hiện. Thấy đội Ngưu-binh, cùng dân chúng tử chiến như một đàn sư tử, trong lòng nảy ra niềm kính phục, y hô lớn :
- Dừng tay !
Quân Mông-cổ cùng ngừng chiến lùi lại. Các tướng Mông-cổ cũng đã tới.
Quân Việt cũng ngừng chiến, lập thành trận thế rất nghiêm. Hai mươi tướng trâu: 5 Cu, 5 Trâu, 5 Hĩm, 5 cái, đứng trên lưng trâu, tay cầm khiên-mây, đao-quất, cổ đeo tù và, cũng có đứa tay cầm cờ, đối diện với Mông-cổ. Phía sau hàng mấy trăm trẻ con, cỡi trên lưng trâu. Xen lẫn với Ngưu-binh, là dân chúng. Đội quân này cực kỳ hỗn tạp, trẻ có, gìa có, trai có, gái có. Vũ khí thì khiên-mây, đao-quất, gậy, dao, cuốc, gươm, giáo. Nghĩa là cái gì có thể đánh, đập được, đều đem ra xử dụng.
Ngột-lương Hợp-thai kinh ngạc vô cùng, vì chỉ một mệnh lệnh ban ra mà đội quân Việt tưởng như hỗn tạp lại tiến thoái nhịp nhàng muốn hơn Lôi-kỵ của y. Y gọi tên Trịnh Ngọc tới dịch.
- Ai là chúa tướng của các người ?
Phạm Cụ-Chích mới bị trúng thêm một đao vào vai trái. Tuy ông đã buộc vết thương, nhưng máu ra nhiều quá. Ông nghiến răng bước ra :
- Là tôi.
- Khi ta chưa tới An-Nam, đã nghe Lê Tần, Phạm Cụ-Chích, Trần Tử-Đức là ba danh tướng tài trí hơn đời. Ta không mấy tin. Sau trận Bình-lệ-nguyên, qua mấy ngày cùng tướng quân giao chiến, ta mới tin. Bây giờ, quân ta đông hàng chục vạn, hùng mạnh như hổ như báo. Trong khi tướng quân chỉ còn không quá 60 con trâu, cùng với đám dân chúng hỗn độn này, thì còn hy vọng gì nữa ? Trọng tướng quân vì tài, nể tướng quân vì khí tiết. Ta muốn tướng quân buông vũ khí đầu hàng. Ta hứa, không giết một hàng binh nào cả.
Trong khi Ngộït-lương Hợp-thai nói thì quân Mông-cổ đã đốt nhà. Gần nghìn ngôi nhà bốc cháy, khói đen bốc lên ngùn ngụt.
Phạm Cụ-Chích hỏi quân Việt :
- Thái sư chiêu dụ chúng ta đầu hàng ! Nếu hàng sẽ được tha chết. Chư quân nghĩ sao ?
Tất cả dân chúng nhìn căn nhà thân yêu, mà tổ tiên bao đời để lại, đang bốc cháy. Lòng họ ngút lửa hận. Tất cả đều hô lớn :
- Không hàng !
Dã-Tượng méo miệng :
- Hàng cái con kẹc ông đây này.
Bọn Triệt Triệt Đô, A Tan, A Truật đã từng nếm mùi đau khổ của đội Ngưu-binh do bọn Cu, Hĩm, Trâu, Cái. Bây giờ chúng mới nhìn tận mặt quân thù. Đó chỉ là một bọn nhóc con, mặt cháy nắng đen thui, tuổi từ 12 tới 17. Bọn trẻ nhơn nhơn, coi như không biết gì về sức mạnh nghiêng trời lệch đất của Lôi-kỵ.
Không đợi lệnh, Dã-Tượng cầm tù và rúc lên tu tu. Đội trâu xông vào hàng ngũ Mông-cổ. Dân chúng lao theo. Hai quân lẫn vào nhau. Cuộc chém giết diễn ra kinh khủng. Một bên là đội quân thiện chiến. Một bên là dân chúng liều mạng. Biết không cầm cự lâu được, Phạm Cụ-Thích phất cờ ra lệnh. Lập tức dân chúng, Ngưu-binh lùi vào trong mấy xóm đầy cây cối rậm rạp. Quân Mông-cổ ngơ ngác đứng nhìn.
Triệt Triệt Đô ra lệnh :
- Đốt hết những ngôi nhà còn lại. Lục soát khắp làng, giết cho tuyệt.
Dân chúng, Ngưu-binh đã rút vào khu đồng lầy phía hông phải. Tướng quân Phạm Cụ-Chích, cùng mười võ sĩ lùi sau cùng. Nhưng khi ông vừa ra khỏi lũy tre làng, thì bọn võ sĩ của Triệt Triệt Đô khám phá ra. Chúng bao vây lấy ông, cung tên chĩa tua tua tủa. Triệt Triệt Đô ra lệnh :
- Hàng đi. Bằng không ta ra lệnh buông tên !
Phạm Cụ-Chích đã mệt lắm rồi. Mắt ông bắt đầu hoa. Dùng hết sức lực còn lại, ông hô :
- Hãy chết cho đất Tổ.
Ông cùng đội võ sĩ lao vào hàng ngũ cung thủ Mông-cổ. Cuộc chiến diễn ra ngắn ngủi. Tả Thiên-ngưu vệ thượng tướng quân Phạm Cụ-Chích cùng mười võ sĩ giết thêm được ba chục Lôi-kỵ Mông-cổ, rồi cùng bị loạn tên bắn chết. Trên người ông bị ghim gần trăm mũi tên.

Ghi chú của thuật giả.

Lúc bấy giờ là giờ Thân (15-17 giờ), ngày 12 tháng Chạp, năm Đinh-Tỵ (17-1-1258) niên hiệu Nguyên-Phong thứ 7 đời vua Thái-tông nhà Trần. Ngay chiều hôm đó, sau khi nghe tâu trình, Nguyên-Phong hoàng đế truy phong cho Phạm Cụ-Chích chức tước như sau :
Dao-thụ Thái-bảo,
Sơn-Nam tiết độ sứ,
Đồng trung thư môn hạ bình chương sự.
An dân sứ,
Phiêu-kỵ thượng tướng quân,
Trung-nghĩa vương.
Truyền lập đền thờ.

Cho đến nay (1999), trải qua 742 năm, với biết bao nhiêu lớp sóng phế hưng, biết bao ngày mưa tháng nắng, đền thờ của Trung-nghĩa vương Phạm Cụ Chích vẫn còn tại xã Văn-lung, huyện Thanh-sơn, phủ Gia-hưng, tỉnh Hưng-hóa. Tiếc rằng khi tôi tới sưu khảo tài liệu, người trông coi đền chỉ cho biết: Đây là đền thờ một đại tướng quân thời Trần, tử trận khi chống nhau với quân Mông-cổ, mà không cung cấp được chi tiết gì hơn. Có lẽ, bản phổ đầu tiên bị Trương Phụ lấy đem về Kim-lăng năm 1407. Người sau chép lại, không nhớ được chi tiết.Tôi đã cung cấp chi tiết cho ngưới giữ đền.


Quân Mông-cổ đã tiến vào trong làng, lập trại. Nhưng, làng chỉ còn là bãi đất hoang, với những ngôi nhà bị cháy, chỉ còn trơ lại những bức tường. Khắp làng, xác quân Mông-cổ, xác quân Đại-lý, lao binh nằm rải rác lẫn với xác ngựa, xác trâu, xác dân chúng. Các tướng Mông-cổ mặt nhìn mặt, người người đều rùng mình về cuộc chiến vừa qua.
Ngột-lương Hợp-thai than với các tướng :
- An-Nam có đến mấy chục vạn làng. Nếu làng nào cũng chiến đấu như làng Cụ-bản, thì dù có dốc toàn bộ Lôi-kỵ Mông-cổ sang đánh, e cũng không nổi. Tại sao ta lại hy sinh quá nhiều, để được một nước bé bằng một quận của Trung-quốc thì đánh làm gì ?
Bọn Mông-cổ bắt được bốn tù binh, một ông già, một bà già, một thiếu nữ và một đứa trẻ. Chúng cũng bắt được hai chục con trâu. Lưng trâu có áo chắn tên, mỗi sừng đều cột một con dao dài. Trong khi quân sĩ trải ra đóng trại, thì các tướng Mông-cổ tụ họp nhau tại sân đình làng.
Triệt Triệt Đô gọi Trịnh Ngọc lại thông dịch. Y hỏi đứa trẻ. Nó bị méo miệng :
- Mày có phải là tướng trâu không ?
- Đúng thế.
- Mày tên gì ? Bao nhiêu tuổi ?
- Tao tên Cu Méo. Tao mười ba tuổi.
Một võ sĩ Mông-cổ kề đao vào cổ Cu Méo. Triệt Triệt Đô lại hỏi :
- Bây giờ mày có hàng không ? Nếu mày hàng, thì tao tha cho. Bằng không thì tao giết !
- Đéo hàng Thát-đát.
Ánh đao lóe lên, Cu Méo ngửa cổ cười ha hả :
- Chém đi ! Ông đíu có sợ.
Gã đao phủ ngừng lại. Thấy đe dọa trẻ con không xong, Triệt Triệt Đô hỏi cô gái :
- Người tên gì ?
- Quách Thị Gái.
- Bao nhiêu tuổi ?
- Mười tám.
- Mày là gái, sức được làm bao mà dám chống lại Thiên-binh ?
- Tục ngữ nước tôi có câu : Giặc đến nhà, đàn bà phải đánh.
- Bây giờ tao chặt cổ mày, chặt cổ đau lắm. Mày có sợ không ?
- Đau thì ai mà chẳng sợ.
- Vậy mày hàng đi.
- Không ! Hàng nhục lắm.
Tên võ sĩ thích đao vào cổ cô gái. Cô cười nhạt :
- Mi tự cho mình là Thiên-binh, mà dùng đao đe dọa đứa con gái bị trói ư ? Hèn quá.
Tên võ sĩ quệt bàn tay vào ngực cô gái. Cô nổi giận, phóng cước vào bụng y. Y bị ngã lộn ra sau. Vừa xấu hổ, vừa giận, y vung đao, cô gái bị chặt làm hai khúc.
Triệt Triệt Đô hỏi ông già đầu bạc :
- Dường như người là Đại-tư (Lý-trưởng) ở xã này ? Người tên Vũ Mạc thì phải.
- Đúng vậy !
- Người có biết bằng cách nào, bọn vua An-Nam có thể biến khắp các làng đều là thành, toàn dân là binh thủ thành không ?
- Thưa tướng quân, từ mấy nghìn năm nay, dân Việt chúng tôi vẫn tự hào là con Rồng, cháu Tiên. Đất của chúng tôiï là đất linh, không ai có thể chiếm được. Vì vậy khi quân ngoại...xâm tới, thì tất cả cùng đứng lên chiến đấu.
- Láo ! Thế sao trước đây dân chúng không chiến đấu chống quân Hán, mà chỉ chống chúng ta ?
- Điều này tướng quân không biết được đâu. Bởi khác với những triều đại trước, từ khi triều Trần lập lên đến giờ, vua, quan đều lấy việc tạo phúc cho dân làm căn bản. Triều đình rất được lòng dân. Cho nên dân chúng cảm thấy đất nước là của họ, chứ không phải của vua chúa. Họ chiến đấu để tự bảo vệ làng xã mình.
- Bây giờ ông có hàng không ? Bằng không thì coi gương đứa con gái ban nãy !
Bà già thương tích đầy người gào lên :
- Đừng hàng ông ơi ! Hàng nhục lắm.
Triệt Triệt Đô hỏi bà già :
- Bà là vợ lão Đại-tư này hả ?
- Không ! Tôi là người ở của ông ấy. Tôi có tên là Mụ Tình.
Gã võ sĩ múa đao. Triệt Triệt Đô hỏi :
- Mụ không hàng thì ta giết mụ trước.
- Tiên nhân cha mày ! Bà không sợ chết đâu !
Ánh đao vung lên, bà già mở to mắt nhìn, tỏ ra không sợ. Thình lình ánh thép lóe mắt, một mũi phi tiễn bay tới. Choang ! Đao của tên võ sĩ vuột khỏi tay bay ra xa, rồi ba người phụ nữ tuổi đã cao xuất hiện. Người trẻ nhất lên tiếng :
- Hèn hạ ! Người thân là một đại tướng quân, võ công thuộc loại tuyệt thế. Quanh người có mười vạn quân thế mà người lại uy hiếp ông già, bà cả, với bọn trẻ con bị thương, không tấc sắt trong tay ?
Bà nói với y bằng tiếng Mông-cổ.
Bọn Ngột-lương Hợp-thai đã đến. Y hỏi tên Trịnh Ngọc :
- Người có biết ba mụ này là ai không ?
Trịnh Ngọc mở to đôi mắt ty hí ra. Y chỉ vào một phụ nữ tuy già, nhưng đẹp tuyệt thế :
- Bà này là vợ Trần Lý, tên Tô Phương-Lan. Bà là chị dâu của Phò-mã Trần Thủ-Huy, là bà nội của Trần Cảnh. Võ công bà rất cao siêu. Trần Cảnh tôn bà là Tuyên-Minh thái hoàng thái hậu. Bà tuy già mà vẫn còn xử dụng võ công như thời còn trẻ.
Bọn Ngột-lương Hợp-thai từng nghe tiếng Trần Lý qua Phò-mã Trần Thủ-Huy. Chúng đều bật lên tiếng kêu :
- Ái chà !
Trịnh Ngọc lại chỉ vào một phụ nữ mắt chiếu ra tia hàn quang :
- Bà này là em gái của Trần Lý, tên Trần Kim-Ngân. Bàï là vợ của Hưng-Nhân vương Phùng Tá-Chu.
Y lại chỉ vào một phụ nữ khác :
- Bà này là Phan Mỹ-Vân, vợ của Kiến-Quốc đại vương Trần Tự-Khánh. Tự-Khánh là chú ruột Trần Cảnh. Một đại khai quốc công thần triều Trần.
A Tan cười nham nhở :
- Phải chăng các mụ góa chồng, đến đây kiếm đực ? Ta trông các mụ đều già cả rồi. Cái đó...cái đó khô như khô mực. Quân ta tuy xa nhà, nhưng chúng cũng không thèm đâu !
Thấp thoáng bóng trắng, rồi bốp, bốp, bốp ba cái. A Tan bị trúng ba cái tát. Bà Mỹ-Vân đãlui trở lại. Bọn Mông-cổ đều nhìn rất rõ bà xuất chiêu. Nhưng bà ra tay nhanh quá, nên A Tan không đỡ kịp.
Mỹ-Vân chỉ mặt A Tan :
- Ta nghe mi học võ công với Hốt Tất Liệt. Mà Hốt Tất Liệt với Ngột-lương Hợp-thai, đều học võ công từ sư thúc Thủ-Huy. Như vậy mi là đệ tử phái Đông-a. Mi thấy thái sư bá là Tuyên-Minh thái hoàng thái hậu, thấy thái sư thúc là Hưng-Nhân vương phi mà mi không hành lễ, còn buông lời vô lại.
Bà chỉ Ngột-lương Hợp-thai :
- Khi sư thúc Thủ-Huy dạy võ cho bọn mi, người đều bắt bọn mi tuyên thệ rằng : Không dùng võ công bản môn làm hại cho Đại-Việt. Thế mà các người mang quân đến tàn phá quê hương của sư phụ. Cho nên chúng ta ra đây để thanh lý môn hộ. Các người hãy lấy vũ khí ra đi.
A Tan chỉ mặt Mỹ-Vân :
- Mi nhân ta không để ý, đánh trộm mà thành công. Bây giờ mi hãy tự trách mình đi.
Y hít một hơi, rồi phát chiêu Đông-hải lưu phong, đánh thẳng vào mặt Mỹ-Vân. Mỹ-Vân không trả đòn, bà lách mính tránh chiêu của y. Tuy vậy bà phải vận kình lực mới chịu nổi áp lực. Bất giác bà khen thầm :
- Công lực tên này không tầm thường. Hèn gì hôm trước y đấu ngang tay với Vũ-Uy vương.
Để cho y đánh xong ba chiêu, Mỹ-Vân mới phản công bằng chiêu Phong-đáo sơn đầu.
Bà Kim-Ngân hất hàm hỏi Ngột-lương Hợp-thai :
- Người chuẩn bị xong chưa ?
Tay bà từ từ đưa ra một chưởng. Triệt Triệt Đô ném đao xuống đất. Y bước ra, tay đẩy một chưởng, đỡ chiêu của bà, rồi xoa hai tay vào nhau :
- Thái-sư là chúa tướng của chúng ta, thân phận người cao quý biết mấy. Người không thể hạ thể đấu với bọn đàn bà. Ta là tướng dưới quyền người, ta dạy dỗ bọn mi mấy chiêu được rồi.
Mặc cho bốn người đấu với nhau, Tuyên-Minh thái hoàng thái hậu Phương-Lan lách mình một cái, kiếm vung lên, dây trói Cu Méo, Vũ Mạc, Mu Tình bị cắt đứt. Vừa được tự do, Vũ Mạc, Mụ Tình, Cu Méo phóng mình lên lưng trâu. Cu Méo ra lệnh cho trâu:
- Nghé ! Ọ !Ọ ! Hú hu.
Hai mươi con trâu nghe hiệu lệnh, cùng vung sừng húc túi bụi vào bọn tướng sĩ Mông-cổ. Trong sân đình, chỉ có khoảng vài chục quân túc vệ tay không, chúng lại không đề phòng, thì sao đấu lại với hai chục con trâu ?
Tuyên-Minh thái hoàng thái hậu thấy Ngột-lương Hợp-thai đứng quan sát trận đấu, thì nghĩ thầm :
- Nếu như ta giết được tên này, thì bọn Mông-cổ phải bỏ chạy.
Thình lình Hậu quát lên một tiếng, rồi xuất liền ba chỉ hướng người y. Chỉ đầu hướng giữa trán y, thình lình y quay lại phía sau, thành ra chỉ trúng cái mũ đồng. Choang. Ngột-lương Hợp-thai ngã lộn đi một vòng. Chỉ thứ nhì hướng ngực y. Nhưng chỉ chưa ra hết, có tiếng quát :
- Không được hại người !
Rồi một chưởng mạnh như bài sơn đảo hải đánh vào hông Hậu. Kinh hãi, Hậu phải thu chỉ về, biến thành chưởng gạt. Binh một tiếng, cả Hậu lẫn người kia đều lảo đảo mùi về sau hai bước. Hậu nhìn đối thủ, đó là một đạo sĩ. Chợt nhớ lại, Hậu cười nhạt :
- Không ngờ Càn-nguyên trấn thiên chưởng Tiêu-Hư tử chưởng môn Võ-đang mà cũng đi làm tay sai cho Thát-đát ! Tiếc thực !
Tiêu-Hư tử cúi mặt xuống, tỏ vẻ e thẹn.
Quân Mông-cổ đã tập hợp, kéo đến đầy sân đình. Bà Kim-Ngân hô :
- Rút thôi !
Cu Méo hú lên một tiếng dài, đoàn trâu ngừng lại, hướng khu đồng lầy phóng đi. Tuyên-Minh thái hoàng thái hậu hướng Tiêu-Hư tử :
- Đạo sư là người thanh cao, hãy mau mau rời chỗ hôi tanh này.
Rồi bà cùng Kim-Ngân, Mỹ-Vân rút theo đội trâu. Triệt Triệt Đô, A Tan tung mình đuổi theo. Thình lình hai bà dừng lại, tay xuất chỉ phóng về sau. Phụt ! Phụt ! Trán Triệt Triệt Đô, A Tan trúng chỉ, óc phọt ra ngoài. Cả hai ngã lộn xuống đất.

Ghi chú của thuật giả

Nguyên-sử, quyển 121 Ngột-lương Hợp-thai truyện, chép rằng Triệt Triệt Đô làm trái lệnh Ngột-lương Hợp-thai, vì sợ tội, y uống thuốc độc chết. Trong Nguyên-sử, An-Nam chí lược...đều chép rằng Ngột-lương Hợp-thai sai hai tướng đi tiên phong, thì một là Triệt Triệt Đô, uống thuốc độc chết. Còn người thứ nhì bị giết thì không thấy nói tên là gì. Chỉ độc giả Anh hùng Đông-a mới biết rất rõ, Triệt Triệt Đô bị vương phi Hưng-Nhân vươngPhùng Tá-Chu nhũ danh Trần Kim-Ngân giết chết. Còn tướng thứ nhì có tên là A Tan bị vương phi Kiến-Quốc đại vương Trần Tự-Khánh nhũ danh Phan Mỹ-Vân giết chết. Chúng chết ngày 12 tháng Chạp, năm Đinh Tỵ, niên hiệu Nguyên-Phong thứ 7 đời vua Thái-tông nhà Trần (DL.17-1-1958).
Chán đời đi lang thang !
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-05-22 16:49:22NuHiepDeThuong>
Hồi thứ bốn mươi tám


Phải coi dân như con đỏ

Đoàn quân của các Đô-thống Lê Phẩm, Phạm Long, Nguyễn Bích rút về tới Phù-lỗ, thì được Nguyên-Phong hoàng đế cùng Hưng-Đạo vương ra đón. Đoàn quân mang theo 180 tù binh Mông-cổ. Các tướng tâu trình diễn tiến trận đánh lên hoàng đế. Ngài truyền lập đàn tế vọng tướng quân Phạm Cụ-Chích cùng chư quân. Bọn tướng trâu là 4 Cu, 5 Trâu, 5 Hĩm, 5 Cái cũng làm lễ tế Cu Méo. Chúng vừa tế xong, thì Tuyên-Minh thái hoàng thái hậu cùng hai vương phi, dẫn Vũ Mạc, Mụ Tình và Cu Méo về tới. Bọn tướng trâu reo hò, ôm lấy nhau mừng chi siết kể. Chúng quên cả hành lễ với Thái-hoàng thái hậu.
Sau khi nghe Thái-hoàng thái hậu, hai vương phi tường thuật tình hình quân Mông-cổ :
- Lúc nghị kế, Hưng-Đạo vương đã định rõ rằng chúng ta cũng như các tôn sư võ học chia nhau, tìm cách ẩn thân để biết quân tình giặc. Tuyệt đối không xuất hiện. Chờ lúc phản công hãy ra tay. Nhưng trong trận Bình-lệ-nguyên, vì thấy Hoàng-nhi có thể bị hại, nên Lĩnh-Nam tam đại thần kiếm Vô Ảnh, Vô Sắc, Vô Huyền phải xuất hiện. Trong trận Cụ-bản, chúng ta ẩn thân từ đầu đến cuối. Nhưng sau cùng không nín được trước sự tàn bạo của Mông-cổ, mà phải xuất hiện giết A Tan, Triệt Triệt Đô. Chúng ta chịu lỗi với Tiết-chế.
Nghe nhắc đến Vô-Huyền bồ tát, tim Nguyên-Phong hoàng đế nhi bị kim đâm vào, ngài cảm thấy đau nhói một cái.
Hưng-Đạo vương chắp tay :
- Muôn ngàn lần thần nhi không dám.

Ghi chú của thuật giả

Tuyên-Minh thái hoàng thái hậu là thái tổ mẫu (cụ) của Hưng-Đạo vương. Nhưng, khi lĩnh nhiệm vụ, Ngài vẫn tự coi mình là người thuộc quyền của vương. Như vậy tỏ ra đức của Ngài cao biết mấy. Nhắc để độc giả nhớ :
Nguyên-tổ Trần Lý, Tuyên-Minh thái hoàng thái hậu sinh Thái-tổ Trần Thừa. Thái-tổ Trần Thừa sinh Anh-sinh vương Trần Liễu. An-sinh vương Trần Liễu sinh Hưng-Đạo vương.


Nguyên-Phong hoàng đế ban chỉ phong chức tước cho các tướng Cụ-bản như sau :
Đô-thống Lê Phẩm thăng lên Vân-ma thượng tướng quân, tước Phong-điền bá.
Đô-thống Nguyễn Bích thăng lên Chinh-thảo thượng tướng quân, tước Nga-sơn bá.
Đô-thống Phạm Long thăng lên Bình-Tây thượng tướng quân, tước Hiệp-sơn bá.
Đại-tư Vũ Mạc thăng lên An-phủ sứ Hồng-châu.
Mụ Tình xin được theo hầu Tuyên-minh thái hoàng thái hậu.
Quách thị Gái được truy phong Thạc-hòa Vũ-liệt Anh-văn công chúa. Sau này, hết giặc, triều đình ban tiền truyền dân làng Cụ-bản lập miếu thờ. Nay không còn di tích.
Bọn tướng trâu lại được thăng chức từ Đô-úy lên Vệ-úy, quân hàm Tá-lĩnh. Tuy cách nhau có mấy ngày, nhưng bọn tướng trâu đã biết giá trị của quân giai, chúng tạ ơn nhà vua, vui vẻ nhận sự ban thưởng. Riêng Dã-Tượng, Hĩm Còi, công trạng quá nhiều, chúng được thăng lên cấp Đô-thống. Tổng lĩnh bọn tướng trâu.
Các tướng sĩ nhất nhất đều được thăng chức, tước. Lại truyền tất cả rút về Đông Thăng-long đặt dưới quyền Hưng-Ninh vương để bổ xung quân số, chuẩn bị phản công.
Bọn tướng trâu lại nhao nhao đòi ở lại chiến đấu. Ai nói chúng cũng không nghe. Chúng còn viện dẫn một điều luật của Ngưu-binh, mà chúng được học tại trường Hoa-lư :
« Chúng ta là con cháu của Phù-Đổng thiên vương, là hậu duệ của vua Đinh. Khi đối diện với địch quân, chúng ta chỉ tiến mà không lùi. Tiến là vinh, lùi là nhục ».
Cuối cùng Hưng-Đạo vương phải can thiệp :
- Ta biết các con là con cháu Phù-Đổng thiên vương, là hậu duệ của vua Đinh. Ta ghi nhận tấc lòng son với xã tắc của các con. Thế nhưng địa thế Phù-lỗ quá chật hẹp, không cần nhiều Ngưu-binh. Vậy trong 20 Vệ-úy, chỉ 5 con ở lại cũng đủ rồi.
Nghe vương ban lệnh, chúng răm rắp tuân theo. Vương tiếp :
- Ta quyết định để Đô-thống Hĩm Còi với 5 Vệ-úy Cái ở lại dự trận Phù-lỗ.
Vương gọi Hĩm Còi vào trướng, rồi ghé miệng vào tai nó dặn dò một lúc. Không biết vương dặn gì, mà chỉ thấy con bé cười rất tươi luôn gật đầu, tỏ ra thích thú vô cùng.
Hưng-Đạo vương ban lệnh cho Phú-lương hầu Trần Tử-Đức:
- Hơn tháng trước, triều đình phái loa đi khắp các phường quanh Thăng-long giảng cho dân chúng biết rõ sự tàn bạo của Mông-cổ, rồi ban lệnh cho dân chúng phải rời khỏi Thăng-long. Thế nhưng có người nghe, có người không. Vì vậy mà đến hôm qua, Thăng-long còn đến ba phần chưa sơ tán. Sau khi Bình-lệ-nguyên thất thủ, tin đưa về, triều đình lại sai loa đi báo cho dân biết, rồi hạ lệnh: Nội trong một hai ngày, quan quân sẽ rút khỏi Thăng-long. Dù Mông-cổ chưa tới, nhưng Thăng-long không có quân canh phòng, e trộm cướp sẽ hoành hành. Thế nhưng bọn người Hoa nhất định không tin, không nghe. Họ cho rằng Mông-cổ sang đây với mục đích đánh vua Việt, dân Việt. Họ là người ngoại quốc, họ vô can. Những người Hoa này ảnh hưởng tới nhiều người Việt.
Trần Tử-Đức than:
- Triều đình cũng như vương huynh đã hết sức lo lắng, yêu thương dân, ngay dù dân đó là người Hoa. Nhưng họ lại không tự biết yêu thương lấy họ, thì mình cũng không làm gì hơn được.
- Đệ luận như vậy là luận theo lý. Phàm làm vua, làm quan, phải coi dân như con đỏ. Con mình, mình dạy năm lần bẩy lượt mà còn không xong, huống hồ dân chúng. Dù họ không nghe triều đình, nhưng triều đình không thể để họ bị giặc giết. Nên Hoàng-thượng truyền Khâm-Thiên đại vương lưu ba hiệu Thiên-thuộc, Thiên-cương, Thiên-thánh, đóng lẫn với dân trong thành Thăng-long, để bảo vệ họ đến giờ chót... Tôi cũng đã ban lệnh cho chiến lũy Cụ-bản, bằng mọi giá phải cầm chân giặc trong năm ngày, để dân chúng Thăng-long có thời giờ sơ tán. Nhưng thế giặc mạnh quá, thành ra Cụ-bản thất thủ.
Vương nắm tay Hầu:
- Vậy quân hầu hãy cố gắng cầm cự càng lâu càng tốt, để dân Thăng-long kịp chạy về các vùng quê.
Trần Tử-Đức cam kết:
- Xin Tiết-chế an tâm. Nếu giặc muốn vượt qua Phù-lỗ thì chúng phải bước qua xác thần.
Nguyên-Phong hoàng đế, Hưng-Đạo vương cùng một số đại thần xuống thuyền xuôi về Thăng-long.
Phú-lương hầu họp chư tướng lại, phân nhiệm vụ lần cuối. Hầu nói với chư tướng:
- Từ khi nhập biên đến giờ, giặc bị bất ngờ, bị trúng kế của ta quá nhiều. Tuy chúng bị thiệt hại nặng, nhưng chưa quá 1 phần mười quân số. Bây giờ, Cụ-bản thất thủ, có lẽ sáng mai chúng sẽ đánh ta.
Ông chỉ vào địa thế Phù-lỗ:
- Vị trí của ta hai mặt là sông. Phía sau là cánh đồng. Bên hông trái là rừng lau sậy. Nếu ta phá cầu, thì không dễ gì chúng vượt sông tấn công ta được. Nhưng sông về mùa Đông, nước cạn, có thể chúng lội sang tấn công. Chúng ta hiện chỉ có một hiệu bộ binh Yên-phụ, một đạo Ngưu-binh, một đạo Kỵ-binh. Trong khi giặc có hai chục vạn. Vậy chúng ta phải nghênh chiến như thế nào, để có thể cầm chân giặc ?
Đô-thống Trần Trữ, chỉ huy hiệu binh Yên-phụ đề nghị:
- Theo binh pháp của Hưng-Đạo vương, khi đối phương là quân ngoại quốc, dù dùng chiến thuật nào chăng nữa, ta cũng luôn đặt chúng vào thế bị động. Vì thế, từ khi Mông-cổ nhập biên đến giờ, chúng không bao giờ được yên. Như đoạn đường từ biên giới tới Thảo-lâm do Vũ-Uy vương. Từ Thảo-lâm đến Bình-lệ-nguyên do tướng Lê Phụ-Trần. Từ Bình-lệ-nguyên tới Cụ-bản do tướng Phạm Cụ-Chích. Không lẽ từ Cụ-bản đến đây, ta để cho chúng yên?
Đô-thống Nguyễn Thiên-Sanh đứng dậy :
- Không! Đời nào ta để cho chúng yên nhỉ?
Là người có chí khí hùng tráng, ông phát biểu như thế, nhưng vốn ít mưu, ông hỏi lại cử tọa :
- Vậy chúng ta nên làm những gì?
Cử tọa bật cười.
Đô-thống Trần Trữ nghị:
- Từ Cụ-bản tới đây không quá hai chục dặm. Đường lại rộng, hai bên là cánh đồng lau sậy, cỏ gianh, rất khó ẩn núp. Mông-cổ chỉ cần một khắc là chiến mã của chúng có thể tới đây. Muốn cản chúng ta phải làm gì ? Ta dùng Ngưu-binh đột kích trong đêm, e không hiệu nghiệm nữa. Nã Lôi-tiễn e cũng khó khăn, vì địa thế quanh Phù-lỗ không có vị trí nào an toàn để đặt Lôi-tiễn.
Mọi người đưa mắt nhìn Đô-thống Lý Tùng-Bách, bởi ông nổi tiếng là mưu thần, chước thánh. Lý Tùng-Bách trầm tư một lát rồi đứng lên:
- Trước hết, căn cứ Phù-lỗ này là một ải, hơn là một chiến lũy, cũng không phải là một làng như Cụ-bản. Trong ải chỉ có quân, không có dân. Cũng lại không có hào sâu, lũy tre phòng vệ. Từ bờ đê đến ải có một khu rừng trúc khoảng hơn dặm. Khu này đất cứng. Giặc có thể đặt máy bắn đá, Lôi-tiễn nã vào ta. Vì vậy tôi có đề nghị : Một là, dọc hàng rào, cũng như trong ải, ta đào thực nhiều hố cá nhân, vừa đủ một người ngồi nấp ở dưới. Như vậy, nếu chúng nã Lôi-tiễn, bắn đá vào, thì chỉ khi nào rơi trúng hố, mới khiến quân ta thiệt hại mà thôi. Khi giặc tấn công, ta đợi chúng tới hàng rào, quân hai bên lẫn vào nhau, Lôi-tiễn, máy bắn đá vô dụng. Bấy giờ ta dùng đao-quất phản công, thì có thể giữ được ải lâu hơn. Hai là, ải quá hẹp, giữ Ngưu-binh, Kỵ-binh ở trong vô ích, chỉ làm mồi cho Lôi-tiễn, cho máy bắn đá. Từ lúc nhập biên đến giờ, bọn Mông-cổ chưa được xử dụng Kỵ-binh, chúng cực kỳ ấm ức. Nhân đoạn đường Cụ-bản đến đây, hai bên đường toàn cỏ gianh. Phía sau lớp cỏ gianh khoảng 3 đặm, có khu đất dài 8 dặm, sâu 10 dặm. Sâu nữa là đồng lầy. Tôi sẽ lừa cho chúng đem Lôi-kỵ vào đó, rồi kỵ chiến, ngưu chiến một trận cho chúng biết con cháu Phù-Đổng Thiên-vương giỏi kỵ chiến hơn chúng nhiều. Sau đó chúng ta làm như thế...như thế...May ra ta có thể cầm chân chúng được ít ngày, để Thăng-long có thời giờ di tản. Ba là khi chúng tiến quân đến bờ sông, thấy sông nông, chúng sẽ cho Lôi-kỵ lội qua. Ta đào hố cá nhân bên bờ Nam đê, phục binh tại đây, đợi khi Lôi-kỵ vừa tới thì nấp sau khiên-mây, dùng Nỏ-thần, đao-quất, tấn công.
Ông hỏi Đô-thống Ngưu-binh Hĩm Còi:
- Hôm qua bọn em giải 180 tù binh Mông-cổ theo. Lúc về tới đây thì 3 thương binh bị chết. Hiện chưa chôn. Khi rời đây về Thăng-long, Hưng-Đạo vương đã ban lệnh cho em phải làm như thế...như thế...Có đúng không?
- Đúng vậy!
- Ái chà!
Phú-lương hầu xua tay: Làm như vậy thì thành công, nhưng nguy hiểm lắm!
Đô-thống Nguyễn Thiên-Sanh tỏ ra thích thú :
- Nguy hiểm thì nguy hiểm, theo tôi nghĩ chỉ có phương pháp đó thôi. Tôi xin lĩnh nhiệm vụ này.
- Được !
Tử Đức miễn cưỡng gật đầu: Còn trấn thủ ải. Tuyến bờ sông do quận chúa Ý Ninh chỉ huy. Tuyến trái do phu nhân Thiệu Hoa chỉ huy. Tuyến phải do Đô-thống Trần Trữ chỉ huy. Tuyến hậu do Vệ-úy Trần Minh chỉ huy.
Quận chúa Trần Ý Ninh đề nghị:
- Trước sau gì thì chúng cũng cho Kỵ-binh vượt sông. Vậy dưới lòng giòng sông, nửa bên này, ta nên đóng thực nhiều chông, chăng giây ngầm. Khi chúng vừa tới bờ, bị vướng giây, dẵm chông, hàng ngũ hỗn loạn, thì Nỏ-thần, đao quất tấn công mới có hiệu quả.
Đến đó chim ưng mang lệnh của Hưng-Đạo vương đến:
" Phải tối cẩn thận. Quân Mông-cổ đang đóng thêm bè, nhặt những thuyền nhỏ của dân chúng. Có thể sáng mai, khi đánh Phù-lỗ quá khó khăn, chúng sẽ bỏ Phù-lỗ lại sau, rồi tốc thẳng tới Thăng-long. Trường hợp này cần thủ ải cho chắc. Mặt trận Thăng-long đã có Khâm-Thiên đại vương đối phó".
Sáng hôm sau, khi ánh bình minh vừa ló rạng, thì Ngột-lương Hợp-Thai ban lệnh cho các tướng :
- Trước mặt chúng ta là chiến lũy Phù-lỗ. Từ đây tới Phù-lỗ, đường không quá 20 dặm. Bên phải là sông, bên trái là khu rừng hoang toàn cỏ gianh. Bây giờ đang giữa mùa Đông, cỏ khô héo, lưa thưa, chúng không thể phục binh. Qua Phù-lỗ 20 dặm là tới Thăng-long. Chiếm Thăng-long rồi, thì các phủ, các trấn phải đầu hàng. Vậy lương thực ta để cả ở Cụ-bản. Đợi khi vào Thăng-long, thì ta bắt các quan lại An-Nam phải cung đốn.
Lập tức, y ra lệnh tiến quân. Hơn giờ sau, đoàn Lôi-kỵ đã xuất khỏi Cụ-bản, dàn hàng ba, nối đuôi nhau hướng về Phù-lỗ. Người chỉ huy chính là A Truật, con trai của Ngộït-lương Hợp-thai.
Sau cái chết của hai đại tướng Triệt Triệt Đô, A Tan, với năm Vạn-phu trưởng, mười Thiên-phu trưởng. Quân Mông-cổ không còn kiêu khí nữa, mà trong thâm tâm những người lính Mông-cổ đều nghĩ rằng, mình đang đi vào vùng đất linh. Thiên-phu dẫn đầu là Thiên-phu do Hòa-Khâm chỉ huy.
Vó ngựa vỗ dòn dã trên đường. Ra khỏi cổng hậu của làng, thì đi vào vùng đất hoang toàn cỏ gianh, lau sậy ở hai bên đường. Bấy giờ là tiết trọng Đông, cỏ khô héo. Mấy hôm nay trời lại không mưa, nên cây cỏ càng hiu hắt.
Thình lình quân ùn lại. Thập-phu trưởng đi đầu quay ngựa báo :
- Thưa tướng quân, giữa đường có năm Lôi-kỵ ngồi quay lưng lại phía ta. Xin tướng quân quyết định.
- Phải cẩn thận ! Coi chừng trúng ma kế của Nam-man.
Y tế ngựa lên quan sát : Năm Lôi-kỵ ngồi bất động. Quân phục trên người còn đầy đủ. Quan sát xung quanh, không thấy có gì đáng ngại. Y hất hàm ra lệnh. Hai Lôi-kỵ xuống ngựa, lại quan sát. Thì ra đó là năm xác tử sĩ, được đặt giữa đường.
- Hãy đem vào bãi đất kia chôn cất tử tế.
Vì là quân tiên phong, không có lao binh theo, nên mười Lôi-kỵ phải xuống ngựa. Ngựa thả bên đường. Vũ khí bỏ cạnh xác tử sĩ , rồi dùng mai đào lỗ. Toàn quân tiếp tục hành trình. Cho đến lúc người lính cuối cùng của Thiên-phu tiên phong đã khuất vào khu rừng cỏ, mà cuộc đào hố vẫn chưa xong.
Bỗng có tiếng quát lớn, rồi ba thây ma đang nằm trên bãi cỏ ven đường, vọt mình dậy, tay chụp đao. Đao vung lên, sáu Lôi-kỵ bị chặt làm hai khúc. Bốn Lôi-kỵ còn lại, chưa kịp phản ứng thì đã bị mười đứa con gái từ bụi rậm xuất hiện. Nhanh không thể tưởng tượng được, chúng dùng gậy tre phang túi bụi. Cả sáu Lôi-kỵ bị bắt.
Hĩm Còi khen :
- Anh Sanh ! Mưu anh hay thực. Bây giờ ta phải làm gì ?
- Đặt sáu xác chết này nằm ngay ngắn thành hàng giữa đường. Rồi ta làm như thế...như thế...
Thiên-phu thứ nhì nối tiếp ra khỏi Cụ-bản, do Thiên-phu trưởng Vương Huy chỉ huy. Vừa ra khỏi làng, viên Thập-phu trưởng đi đầu khám phá ra một hiện tượng kỳ lạ : Giữa đường, sáu xác chết Lôi-kỵ nằm thành một hàng ngay ngắn. Cạnh mỗi xác chết là một cây gậy tre, loại vót nhọn, mà dân binh Việt thường dùng. Sáu cây gậy cắm xuống cạnh sáu xác chết.
Y dừng ngựa lại, tay lăm lăm vũ khí, quan sát xung quanh : Trên bãi đất cạnh đường còn ba xác chết nữa, máu đã khô, đặt cạnh sáu cái hố mới đào. Hiện tượng quái gở này, không sao giải thích được. Y quay ngựa trở lại báo với Vương Huy. Vương Huy cũng kinh ngạc không ít :
- Rõ ràng Thiên-phu đi đầu chưa giao chiến với giặc, mà sao lại có sáu xác mới chết, và ba xác chết đã lâu ?
Bỗng có tiếng kêu cứu từ trong rừng cỏ vọng ra :
- Tôi là Thập-phu trưởng Dược Ca Đa (Jurcãdã). Cứu tôi với.
Tiếng kêu không xa mấy.
Vương Huy hỏi :
- Người ở đâu ?
- Tôi bị bắt, bị trói bỏ vào chỗ cỏ rậm này.
Rừng cỏ mênh mông, biết chỗ nào mà tìm ?
Vương Huy chỉ tay ra lệnh. Ba Lôi-kỵ rẽ ngựa vào rừng cỏ. Tiếng cầu cứu vẫn vọng lại :
- Cứu tôi với.
Ba Lôi-kỵ hướng theo tiếng kêu mà tìm cứu đồng bọn. Gần một khắc qua, không thấy ba Lôi-kỵ trở lại, Vương Huy sốt ruột, y ra lệnh cho một Thập-phu :
- Người hãy vào lục soát xem.
Viên Thập-phu dẫn mười Lôi-kỵ men theo lối đường mòn, tìm dấu chân ngựa mà đi. Gần khắc sau, có tiếng ngựa hý, tiếng quát tháo, tiếng vũ khí chạm nhau vọng ra, rồi im bặt. Vương Huy kinh hãi :
- Như vậy Thập-phu Lôi-kỵ gặp hung hiểm rồi.
Đến đó thì A Truật tới. Vương Huy báo cáo tình hình. A Truật còn đang chần trừ chưa quyết định thì Thám-mã phi tiễn từ Thiên-phu Hòa Khâm trở lại báo cáo diễn tiến từ sáng đến giờ.
Nghe y báo, A Truật kinh hãi :
- Thế thì bọn Dược Ca Đa bị trúng phục binh rồi. Mười Lôi-kỵ của ta e cũng gặp hung hiểm.
Y ra lệnh cho một Bách-phu dàn Lôi-kỵ tiến vào rừng. Đi khoảng hơn dặm, thì thấy đao, lao, cung, tên của Lôi-kỵ vương vãi trên mặt đất với nhiều vết máu. Viên Bách-phu trưởng sai người ra báo cáo tình hình với A Truật. A Truật ra lệnh cho Vương Huy dàn cả Thiên-phu tiến vào rừng cỏ. Vừa tiến sâu vào hơn hai dặm, thì không còn cỏ gianh, lau sậy nữa mà là một bãi đất toàn cỏ gấu. Xa xa Kỵ-binh Đại-Việt dàn ra, cờ xí nghiêm chỉnh. Một cây cờ bay phất phới với hàng chữ
« Thống lĩnh hiệu binh Phù-Đổng.
Đô-thống Lý Tùng-Bách ».
Vốn tự kiêu về Lôi-kỵ của mình, thế mà từ lúc nhập biên bọn Vương Huy chưa từng thấy Kỵ-binh Đại-Việt, chứ đừng nói được giao chiến. Bây giờ là lần đầu tiên thấy Kỵ-binh dàn trên một cánh đồng bằng phẳng, cỏ chỉ cao tơí đầu gối. Địa thế giống hệt vùng Thảo-nguyên. Lòng kiêu hãnh nổi dậy, y cầm cờ phất , ra lệnh tiến quân, mà quên cả báo cho A Truật biết. Y dùng chiến thuật cố hữu của Mông-cổ : Hai Bách-phu tấn công đợt đầu, phóng lao, bắn cung, rồi cho hai Bách-phu đợt hai chọc thủng phòng tuyến địch, đánh tỏa ra hai bên. Đợt ba hai Bách-phu chọc sâu vào phòng tuyến địch. Đến đây thì cho bốn Bách-phu cuối cùng đánh ép hai bên trận.
Hai Bách-phu Lôi-kỵ hú lên rùng rợn, dàn hàng lao tới như bay. Khi sắp tới trận, chúng phóng lao, bắn cung, rồi quay trở lại, Kỵ-binh Việt dơ khiên-mây lên hứng, bao nhiêu tên, lao bị ghim vào khiên-mây hết. Một hồi tù và nổi lên, thế trận Việt đổi thực nhanh. Kỵ-binh lùi lại sau, bây giờ tuyến đầu là Ngưu-binh, trước mỗi trâu có một khiên-mây lớn. Hai Bách-phu Lôi-kỵ thứ nhì tấn công. Lao, tên ghim vào khiên-mây. Tướng chỉ huy Ngưu-binh là 6 đứa con gái, mặt còn non choẹt.
Đợt tấn công thứ ba của Lôi-kỵ ào ạt lao tới, thế trận Đại-Việt lại đổi thực nhanh, tất cả lùi lại sau hơn trăm trượng, những màng Vạn-thằng dăng ra khắp mặt đất. Hai Bách-phu Lôi-kỵ không dừng ngựa kịp. Ngựa vướng giây ngã lăn ra. Trong khi đó trận Việt tách làm ba : Giữa là Ngưu-binh. Còn Kỵ-binh tỏa thành hai cánh đánh bọc vào trận Mông-cổ. Thế là trận thế Mông-cổ bị hỗn loạn. Bộ binh xông ra dùng đao-quất, không đầy mười cái chợp mắt, hai trăm Lôi-kỵ, hai trăm ngựa bị giết tươi. Giữa lúc đó đợt tấn công thư tư như sóng vỗ ào ạt như thác đổ. Lôi-kỵ vung đao chém bộ binh. Bộ binh lăn tròn dưới đất, đao-quất vung lên, chân ngựa bị chặt. Hàng ngũ Lôi-kỵ bị rối loạn. Vương Huy tung tất cả Lôi-kỵ xông vào. Cuộc chiến đấu kinh khủng diễn ra trong hai khắc, mà thắng bại chưa phân.
Vương Huy tự thị võ công cao, y cùng đội võ sĩ mười người lao tới trung quân định bắt sống Đô-thống Lý Tùng-Bách. Cạnh Lý Tùng-Bách cũng chỉ có mười Kỵ-mã. Vương Huy hú lên một tiếng, bọn võ sĩ của y cùng dương cung bắn tên, nhanh như chớp phóng lao. Tùng-Bách quát lên một tiếng, đám võ sĩ của ông cùng dơ khiên-mây đỡ. Lao, tên bị cản lại. Cũng có võ sĩ không chịu dùng khiên-mây, tay phải rút kếm gạt tên, tay trái bắt lao, rồi thúc chân vào bụng ngựa. Ngựa nhảy lùi liền mười bước. Một trận địa giây dăng ra dưới đất như màng nhện. Biến chuyển xẩy ra đột ngột, bọn Vương Huy không kịp dừng ngựa. Ngựa của y cùng mười võ sĩ bị vấp ngã. Ngưu-binh tung giây ra. Bọn Vương đã bị bắt.
Tuy Thiên-phu trưởng bị bắt, nhưng bọn Lôi-kỵ vẫn chiến đấu ác liệt. Giữa lúc đó thì rừng bốc cháy ngùn ngụt. Rừng cỏ gianh về mùa Đông khô héo, gặp gió, phút chốc lửa lan ra một vùng mênh mông. Khu rừng biến thành biển lửa chặn mất đường về của bọn Mông-cổ.
Ở ngoài con đường cái quan, A Truật không thấy tin báo của Vương Huy, lại nghe tiếng ngựa hý, tiếng quân reo, thì biết rằng đang có cuộc giao tranh. Tự hào về Lôi-kỵ, y cho án binh bất động chờ đợi.
Sau hai khắc, thấy rừng cỏ gianh bốc cháy. Khu cháy ngăn giữa quân Vương Huy với y, thì chột dạ :
- Chết rồi, Nam-man dùng hỏa công.
Y ra lệnh cho ba Thiên-phu xông vào tiếp viện. Nhưng bị ngọn lửa chặn phía trước, thành ra người, ngựa chỉ dàn ra hò hét.
Ngột-lương Hợp-thai đã tới. Nghe báo cáo tình hình, y nghiến răng nghĩ thầm
- Khổ thực ! Bọn Lôi-kỵ của ta đều thuộc nằm lòng rằng phải tránh đồng lầy, rừng rậm, đề phòng hỏa công. Nhưng từ khi nhập biên, bị Nam-man gây bất ổn, sức mạnh không có nơi phát tiết, nên mới bị trúng kế.
Ngọn lửa cháy sang giờ Mùi (13-15 giờ), tự nhiên gó Bắc thổi, mưa phùn mù mịt giăng ra đầy trời. Ngọn lửa mới dứt. Khu rừng cỏ chỉ còn lại những cây cháy xém trơ trọi. Nhìn xa xa, khoảng 6 dặm, y thấy trên một bãi đất rộng mênh mông, đầy xác Lôi-kỵ, xác ngựa. Đích thân Ngột-lương Hợpï-thai dẫn một Thiên-phu băng qua khu rừng cỏ cháy. Tới chiến trường, y sai gọi hai Thiên-phu lao binh tới thu nhặt xác người chôn cất. Còn xác ngựa, thì sai xẻ thịt làm lương thực. Sau khi quan sát trận địa, nhìn vết chân ngựa của Lôi-kỵ, của quân thù, y rùng mình hỏi Trịnh Ngọc:
- Đây là lần đầu tiên An-Nam dùng Kỵ-binh giao chiến với ta. Không biết tướng nào chỉ huy? Tên này quả là một tướng kỵ binh lỗi lạc.
- Tướng Kỵ-binh giỏi nhất An-Nam là Lê Tần, y được phong Vũ-kỵ thượng tướng quân. Phó tướng là một Đô-thống còn trẻ, có tên Lý Tùng-Bách. Đây là một tên nức tiếng trí dũng hơn đời. Ngoài võ công cao thâm, tài dùng binh như thần, y còn là người nổi tiếng mưu mẹo không biết đâu mà lường. Qua trận đánh này, bằng vào cung cách lừa Vương Huy, lựa địa thế, đốt cỏ...Tôi đoán tướng chỉ huy trận này phải là Lý Tùng-Bách.
- Bọn An-Nam thực can đảm hiếm có. Chỉ nguyên cái vụ chúng giả làm xác chết lừa ta, cũng đáng sợ rồi. Lại nữa, khi Vương Huy dàn hàng ngang một Thiên-phu băng qua rừng cỏ gianh, chúng ẩn thân thế nào mà Lôi-kỵ không khám phá ra...cuối cùng chúng phóng hỏa đốt rừng !
- Thưa Thái-sư ! Cái lối chơi trò ma trò quỷ này có lẽ do tên Nguyễn Thiên-Sanh thực hiện.
- Nguyễn Thiên-Sanh là ai ?
- Y là em kết nghĩa của Trần Tử-Đức với Lý Tùng-Bách. Trong ba tên này thì Trần Tử-Đức đứng đầu. Y thuộc tôn thất nhà Trần, là một trong những tướng tài. Y được cử trấn tại Phù-lỗ. Thứ đến Lý Tùng-Bách. Cuối cùng là Nguyễn Thiên-Sanh. Sanh ít học, nhưng yêu nước cuồng nhiệt, can đảm bậc nhất. Y hành sự xuất quỷ nhập thần. Vì vậy được thăng tới Đô-thống. Hiện y chỉ huy Vệ Tế-tác của Phù-lỗ. Cạnh y, còn có 12 tên, xuất thân từ trộm cướp, võ công khá cao. Cả 12 tên cùng Sanh kết anh em, được vua An-Nam ban cho mỹ danh là Đại-đởm thập tam kiệt. Mười hai tên này với y, thường hành sự táo bạo. Vì vậy tiểu nhân nghĩ, cái vụ giả xác chết, ngoài bọn y không có người thứ nhì nào bạo gan như vậy.
Hoài-Đô đề nghị :
- Thưa Thái-sư , mình có nên cho Lôi-kỵ đuổi theo bọn Lý Tùng-Bách không ?
- Không thể, không nên ! Bởi phía sau bãi chiến trường kia toàn là đồng ruộng lầy lội, không có nơi cho Lôi-kỵ vùng vẫy. Ta đành nhịn nhục chúng. Mục tiêu của chúng ta là Thăng-long kia mà. Chiếm được Thăng-long, thì các trấn, các huyện phải đầu hàng.
Ngột-lương Hợp-thai để lại hai Thập-phu Lôi-kỵ bảo vệ bọn lao binh, rồi ra lệnh rút quân khỏi bãi chiến trường. Khi toàn quân rời khỏi bãi đất, y với các tướng đi theo vẫn còn tần ngần quan sát bãi chiến trường. Y có ý chờ cho cuộc chôn cất xong, mới rút cùng với bọn lao binh.
Thình lình có tiếng hú dài miên miên bất tuyệt, rồi mười ba xác chết quân Mông-cổ đang nằm dài, vùng dậy tung mình lên mình ngựa của Lôi-kỵ, ra roi phi vào con đường mòn của khu rừng. Đám võ sĩ cận vệ của Ngột-lương Hợp-thai thúc ngựa đuổi theo, nhưng khi vừa vào con đường nhỏ, thì tên bắn ra veo véo. Chúng phải dừng ngựa lại.
Tuy ti hí mắt lươn, nhưng tên Trịnh Ngọc cũng kịp nhận ra đám xác chết cướp ngựa. Ychỉ vào xác chết đi cuối cùng :
- Thiên-Sanh ! Cái tên đi sau cùng chính là Nguyễn Thiên-Sanh.
Ngột-lương Hợp-thai giận run người, nhưng y phải khâm phục bọn Đại-đởm thập tam kiệt.
Sau khi chôn cất tử sĩ, Ngột-lương Hợp-thai ra lệnh tiếp tục tiến binh.
Sang giờ Thân, thì chiến lũy Phù-lỗ hiện ra. Hòa Khâm báo cáo :
- Kìa, chiến lũy nằm trên bờ sông. Vì vậy thuộc hạ phải dừng quân chờ lệnh Thái-sư.
Trời bắt đầu chập choạng tối. Không có bãi đất rộng. Quân Mông-cổ chia thành từng khu, dọc theo con đường từ Cụ-bản tới Phù-lỗ. Mỗi khu đóng không quá 2000 quân. Quân kỵ đóng trước. Phía sau là quân bộ, quân Đại-lý. Thành ra khu vực đóng quân khá rộng. Đèn đuốc đốt sáng chưng một vùng. Lao binh chia nhau vào rừng kiếm củi nấu ăn. Trong khi bên kia sông, chiến lũy Phù-lỗ nằm im lìm trong bóng đêm, không một ngọn đèn leo lét !
Ngột-lương Hợp-thai, A Truật, Hoài Đô chia nhau cỡi ngựa đi kiểm soát lại các khu đóng quân, khu giữ ngựa, khu chứa lương. Thành ra đến hết canh hai, mới trở về trướng. Trời khá lạnh, trong soái lều lao binh đã lấy đất đắp thành cái lò sưởi, chất củi đốt lên sưởi ấm cho chúa tướng.
Lao binh dâng thịt ngựa nướng. Cả ba cùng lấy bầu rượu rót ra uống. Uống hết bầu thứ nhất, Hoài Đô hỏi lao binh :
- Còn rượu không ?
Tên lao binh sang lều kế bên là nơi chứa vũ khí, dụng cụ, của cải của Ngột-lương Hợp-thai, mang sang một bầu rượu khác.
A Truật tiếp lấy, rót ra ba cái bát :
- Nào ! Chúng ta cùng uống, để ngày mai vào Thăng-long.
Vừa uống hớp thứ nhất, cả ba cùng cảm thấy mùi khai nước đái ngựa quen thuộc. Nhưng đã trót nuốt một ngụm. Cả ba nhổ nước bọt, rồi gọi ba lao binh phụ trách nấu ăn, thì không thấy chúng đâu. Hoài Đô gọi tên trưởng toán, cũng không thấy. Linh cảm có gì bất ổn, cả ba ra khỏi lều, thì thấy tên lao binh phục dịch nằm úp mặt xuống đất, lưng bị đâm một nhát dao ngay giữa tim. Máu còn đang chảy xối xả.
Hoài Đô giật mình:
- Kẻ nào dám sát hại thân binh ngay trước soái lều?
Tên Bách-phu trưởng phụ trách hầu cận tới. Nghe Hoài Đô thuật, y kinh hãi, truyền lục soát khắp soái lều, nhưng không thấy gì khác lạ. Khi y cầm bình rượu nước đái ngựa lên, thì thấy dưới đáy vẽ hình cái đầu người méo miệng, với hàng chữ Hán :
« Đại-đởm thập tam kiệt bái kiến ».
Hoài Đô hét :
- Ngay soái lều của ta là chốn tôn nghiêm, mà bọn Man ra vào giết người ngay trước mắt thì chúng muốn lấy tính mạng ta lúc nào thì lấy hay sao ?
Đến đây quân tuần phòng báo :
- Tìm thấy xác chết của lao binh trưởng toán hầu cận Thái-sư, cùng bốn lao binh thuộc quyền ở trong rừng. Cả bốn đều trần truồng.
A Truật hiểu ngay : Bọn Đại-đởm thập tam kiệt đã giết bọn lao binh, lấy y phục của chúng mặc vào, rồi đột nhập hý lộng quỷ thần. Tuy kinh hãi, tức giận cùng cực, nhưng bọn Ngột-lương Hợp-thai cũng phải khâm phục kẻ thù.
A Truật truyền lệnh đem tên Bách-phu trưởng phụ trách hầu cận ra chém đầu, rồi lấy một tên gốc người Mông-cổ thay thế. Bọn lính hầu cũng thay thế hết. Bàn tiệc thịt nướng khác lại được bầy ra. Để ý thấy tên hầu cận cầm nhưng ống luồng dài, bỏ vào lò sưởi. Hoài Đô hỏi:
- Sao người không lấy củi mà lấy ống luồng? Luồng đâu có nhiều hơi nóng?
- Thưa phò mã, khi chiếm Cụ-bản, quân ta tịch thu được mấy nghìn ống luồng. Trong ống đựng xương thú, rơm tẩm bùn. Khi đốt lên, sức nóng rất mạnh, mà lại lâu nữa.
Hoài Đô cầm một ống luồng lên coi, rồi gật đầu:
- Mình phải học lấy kỹ thuật này, mang về Mông-cổ, dậy dân, để dân biết chế tạo ra chất cháy mà sưởi ấm.
Sẵn thấy mười ống luồng để ngay cạnh đó, y bỏ vào lò sưởi. Thình lình lửa nháng sáng lòe, vốn có võ công cao, Ngột-lương Hợp-thai, Hoài Đô, A Truật tung mình khỏi lều, thì một tiếng nổ kinh hồn động phách phát ra, tiếp theo, bốn tiếng nữa. Soái lều chìm trong ngọn lửa, khói đen bốc lên mù mịt. Ngọn lửa được dập tắt. Ba tên thân binh hầu cận bị banh xác, da cháy đen như bò bị thui.
Tuy thoát chết, nhưng hú hồn. Vốn thông minh, Hoài Đô hiểu ngay: Mấy ống luồng mà chính tay y bỏ vào lò sưởi, là ống luồng chứa chất nổ. Y sai lao binh kiểm lại kho chứa ống luồng, thì chỉ thấy toàn ống luồng chứa xương thú, rơm tẩm bùn phơi khô. Y đoán: Chắc bọn Đại-đởm đã bỏ ống luồng chứa chất nổ vào soái lều của y. Y vô tình, bỏ vào lò!
Tuy uất hận, nhưng y cũng phải bật cười:
- Bọn Đại-đởm thập tam kiệt, quả thực lớn gan, to mật.
Một đêm hoàn toàn yên tĩnh trôi qua.
Sáng hôm sau, Hoài-Đô bàn :
- Dường như quân Man rút chạy khỏi Phù-lỗ rồi thì phải. Bằng không đêm qua, chúng không để cho ta yên tĩnh như vậy đâu. Bây giờ chúng ta chuẩn bị vượt sông. Không biết sông nông, sâu thế nào ?
Tên Trịnh Ngọc bầy tỏ cái hiểu biết của mình :
- Quãng sông này vốn nông. Về mùa Đông dân chúng thường lội qua. Người lội qua được thì ngựa cũng qua được. Xin Thái-sư cứ cho quân vượt sông, không cần thuyền bè.
Tuy tin tên Trịnh Ngọc, nhưng Ngột-lương Hợp-thai cũng ra lệnh cho Tế-tác :
- Người hãy đem một Thập-phu ra bờ sông, dùng tên bắn dò khắp các khu dọc chiên lũy. Hễ chỗ nào thấy tên nổi lên thì là chỗ sâu. Chỗ nào tên không nổi lên thì là chỗ nông.
Lát sau, viên Thập-phu về báo :
- Tất cả lòng sông đều nông cả.
Ngột-lương Hợp-thai gọi A Truật :
- Người hãy xử dụng ba Thiên-phu Lôi-kỵ, dàn ra thành sáu lớp, mỗi lớp 5 Bách-phu, cho vượt sông. Sang sông rồi phải dàn trận chờ đợi khi cánh quân của Phò-mã sang hết, hãy tấn công.
Lại gọi Hoài Đô :
- Phò-mã lĩnh ba Thiên-phu, cũng dàn thành sáu lớp, tiến sau A Truật. Khi sang sông, thì cùng tiến đánh chiến lũy.
Một tiếng tù và lệnh rúc lên.
Năm trăm Lôi-kỵ dàn ra bờ sông, cùng lội xuống. Nước nông, chỉ tới bụng ngựa. Ngựa tới giữa lòng sông thì hàng thứ nhì, đã lội xuống tiếp. Lớp thứ nhất sang được ba phần tư sông, thì lớp thứ ba đã xuống sông. Lơp thứ tư đang chuẩn bị.
Thình lình, xẹt, xẹt, xẹt, ba vệt khói vọt lên trời, rồi ba tiếng nổ như sấm, tiếp theo, ba trái cầu lửa tỏa ra trên không thành hình ba con chim ưng.
Bên kia bờ sông, tiếng quân reo hò, lẫn tiếng trống vang dội. Quân Đạị-Việt nấp sau những khiên-mây dùng đao-quất phóng vào địch thủ. Mỗi trái cầu bay ra, không phải là ngựa thì là người, ngã lộn xuống sông. Những dàn Nỏ-thần tác xạ từng loạt, từng loạt. Người ngã ngựa, ngựa ngã, kẻ chết, người bị thương, tiếng la hét hỗn loạn cùng cực. Bị bất ngờ, lớp Lôi-kỵ đầu tiên bị tử thương, chặn phía trước, làm lớp thứ nhì, thứ ba, thứ tư bị dồn ứ đọng lại trong lòng sông.
A Truật cùng đội võ sĩ hơn năm chục người, tay cầm đoản đao, tung mình lên bờ. Vừa tới bờ tay y lia đao, đầu một binh Việt bay khỏi cổ. Đám võ sĩ tấn công các xạ thủ Nỏ-thần. Nhưng chợt cảm thấy có luồng gió hắt vào cổ, y vội trầm người xuống, thì một thanh kiếm lướt qua đầu, cắt mất chỏm mũ. Quá kinh hoảng, y nhảy liền hai bước về trái tránh, thì thanh kiếm theo y như bóng với hình. Choang một tiếng, thanh kiếm chặt trúng miếng hộ tâm kính. Tuy kinh hoảng, A Truật phản ứng rất mau, y vung đao gạt kiếm. Nhưng thanh kiếm đã đổi chiều, chặt đứt đầu tên Thiên-phu trưởng dùng đao tấn công đối thủ cứu y.
Bây giờ A Truật mới nhìn rõ đối thủ, đó là một thiếu nữ sắc nước hương trời. Đội võ sĩ của y đang đấu với một đội nữ võ sĩ xử dụng kiếm. Chợt nhớ lại Tế-tác của tên Trịnh Ngọc cung cấp, y lên tiếng hỏi:
- Cô nương! Phải chăng cô nương là quận chúa Ý Ninh?
Thiếu nữ trả lời bằng cái lắc đầu, tỏ vẻ không hiểu tiếng Mông-cổ. Đội nữ võ sĩ tuy nhỏ người, nhưng kiếm thuật cực cao minh, thành ra đội võ sĩ Mông-cổ đã bị đẩy lùi xuống sông.
Dường như thiếu nữ không coi y vào đâu, nàng vung kiếm lên, ánh thép chói lòa, đầu ba Lôi-kỵ bay khỏi cổ. A Truật thúc đao vào cổ nàng. Thiếu nữ không tránh, cũng không đỡ, nàng đưa kiếm vào cổ y. Kiếm ra sau, mà lại tới trước. A Truật không kịp thu đao về, y lộn một vòng ra sau tránh. Y rơi tõm xuống sông.
Chợt thiếu nữ quát lên một tiếng thanh thoát, tất cả đội nữ võ sĩ cùng nhảy lùi lại, mỗi người tung ra một bọc, bụi trắng bay mị mờ. Võ sĩ, Lôi-kỵ Mông-cổ ôm mặt nhảy lùi lại. Nhưng không kịp, các nữ võ sĩ vung kiếm xông vào, đội võ sĩ Mông-cổ bị bay đầu. Biến cố xẩy ra ngoài dự liệu của A Truật.
Võ sĩ bị giết mặc võ sĩ chết, Lôi-kỵ chết nhiều mặc chết nhiều. A Truật vẫn thúc quân xung phong. Lớp thứ ba, thứ tư dùng tên bắn vào quân Việt, yểm trợ cho lớp thứ nhì vượt sông. Nhưng ngựa sắp tới bờ, bỗng chúng hý lên, rồi con thì nhảy lung tung, con thì ngã lộn xuống nước. Hàng ngũ lớp thứ nhì bị loạn. Trong khi Nỏ-thần trên bờ vẫn tác xạ liên tiếp.
Một Bách-phu trưởng báo cáo với A Truật :
- Thưa tướng quân, nửa lòng sông bên kia, chúng chôn chông, chăng trận địa giây ngầm, ngựa của ta vấp ngã, đạp chông bị thương.
Lòng sông bị nghẹt vì xác người, xác ngựa. Đứng bên này sông quan sát trận địa, Ngột-lương Hợp-thai biết tiến không được. Y ra lệnh lui quân. Đoàn Lôi-kỵ trở về bên kia sông, chúng kéo theo hơn nghìn xác người, xác ngựa.
Ngột-lương Hợp-thai nghiến răng :
- Một chiến lũy nhỏ bằng cái bàn tay, mà mới ra quân, ta đã hy sinh hơn nghìn Lôi-kỵ ! Đau thực ! Ta thề phải chiếm được trong ngày hôm nay.
Thấy con trai run run, y mắng:
- Có gì đâu mà người phải sợ như vậy?
Một thân binh nói nhỏ vao tai Ngột-lương Hợp-thai:
- Thế tử suýt mất mạng vì một nữ tướng Việt.
Y đưa mắt nhìn sang sông, thì quả có một thiếu nữ nhan sắc tuyệt trần đang chỉ huy quân. Tên Trịnh Ngọc lập công:
- Thưa Thái-sư, trong chiến lũy Phù-lỗ có hai nữ tướng, nhan sắc thực hiếm có trên đời, kiếm thuật thần thông. Một tên Bùi Thiệu Hoa, là vợ Trần Tử Đức. Một tên Trần Ý Ninh, em Tử Đức. Cả hai đều là học trò Vô Huyền bồ tát.
- Ban nãy bọn nữ võ sĩ tung cái gì ra, mà quân ta bị cay mắt, rồi bị giết tàn nhẫn như vậy
- Thưa, chúng tung vôi bột.
Thấy con vẫn còn run sợ, Ngột-lương Hợp-thai an ủi :
- Con bình tĩnh lại. Sau khi chiếm chiến lũy, chúng ta sẽ bắt Bùi Thiệu Hoa gả cho phò mã Hoài Đô, bắt Trần Ý Ninh gả cho con làm vợ.
Truyền thống của Mông-cổ là khi thắng đối thủ, thì sẽ bắt vợ, con gái của kẻ bại trận đem về làm vợ. Nghe cha nói, A Truật đưa mắt nhìn sang bên kia sông: Ý Ninh đang đứng chỉ huy quân. Y nói vào tai tên Trịnh Ngọc mấy câu. Tên Trịnh Ngọc nói vọng sang bên kia sông:
- Thế tử A Truật muốn mời Quận-chúa Trần Ý Ninh sang đây chơi!
Tưởng rằng nói đùa cho vui, đời nào Y Ninh sang? Không ngờ Ý Ninh cắt một khúc cây chuối tung ra giữa sông, rồi nàng vọt người theo. Chân sẽ đạp vào khúc chuối, người nàng đã bay bổng lên cao, từ từ đáp xuống cạnh A Truật. Lúc còn lơ lửng trên không, y phục bay phất phới, trông nàng như một tiên nữ múa khúc Nghê-thường. Chân vừa chạm đất, ánh kiếm lóe lên, mũi chĩa vào ngực A Truật. Y quá kinh hãi, vội lộn người ra sau hai vòng, tay rút đao khoa trước ngực. Nhưng y gạt vào quãng không, vì Ý Ninh đã tra kiếm vào vỏ.
Ý Ninh đưa mắt nhìn tên Trịnh Ngọc:
- Hãy dịch cho chủ người nghe.
Rồi nàng nói:
- Tôi nghe danh Thế-tử A Truật võ công cái thế. Không ngờ bản lĩnh chỉ có vậy thôi sao? Người mời tôi sang đây có chuyện gì?
A Truật đã hoàn hồn:
- Tôi thấy Quận-chúa xinh đẹp, muốn làm quen.
- Làm quen? Thế tử là tướng Mông-cổ, tôi là tướng Đại Việt. Hai bên đang chém giết nhau, quen nhau để làm gì?
- Tôi muốn cầu hôn với Quận-chúa.
- Khi tôi bắt đầu học kiếm, đã phát thệ rằng: Nếu có chàng trai nào bước qua được thanh kiếm của tôi, thì tôi nguyện làm vợ người đó. Vậy Thế-tử có dám đơn đấu với tôi không?
- Tôi xin lĩnh giáo cao chiêu của Quận-chúa. Nào mời!
Tưởng rằng ít ra Ý Ninh cũng đối đáp vài câu nữa. Nào ngờ, lấp loáng ánh thép, mũi kiếm của nàng đã đưa vào cổ A Truật. A Truật kinh hãi, y lộn người ra sau hai vòng để tránh chiêu số hiểm độc. Không ngờ Ý Ninh di chuyển thân hình theo, mũi kiếm thủy chung vẫn dí vào cổ y. Quá kinh hãi, y trầm người xuống đất, lăn mình đi mấy vòng, rồi tung người dậy. Y vừa đứng vững thì mũi kiếm vẫn dí vào cổ y đau nhói. Bốn võ sĩ Mông-cổ cùng vung đao tấn công Ý Ninh, để cứu chủ. Ý Ninh bỏ không truy kích A Truật nữa, nàng tung mình lên cao, tay khoa kiếm. Đầu bốn võ sĩ bay khỏi cổ. Vừa đáp xuống đất, tay nàng chụp tên Trịnh Ngọc ném ra giữa sông, rồi tung người theo, nàng đạp vào lưng tên Ngọc, thân hình đã đáp sang bên kia sông.
Tên Trịnh Ngọc đã bơi vào bờ. Ngột-lương Hợp-thai vừa hết kinh hoảng thì một viên Thập-phu Tế-tác báo :
- Phía hạ lưu, bên kia sông không có giặc. Sông chỗ đó lại nông. Ta có thể vượt qua.
Ngột-lương Hợp-thai truyền lệnh cho A Truật :
- Người đem ba Thiên-phu xuống hạ lưu vượt sông.
Lại ra lệnh cho Hoài Đô :
- Phò mã cứ dàn quân, chuẩn bị vượt sông. Lần này ta cho lao binh lội trước, nhổ chông ngầm, dùng dao cắt hết trận địa giây, sau đó cho Lôi-kỵ vượt sông.
Y ra lệnh cho Lôi-tiễn, Pháo-binh :
- Hãy bắn vào tuyến phòng thủ bên kia sông của Nam-man.
Lôi-tiễn của Mông-cổ phỏng theo Lôi-tiễn của Đại-Việt. Sau thời gian dài đánh Trung-quốc, Tây-hạ, các nước phương Tây, học được kỹ thuật của họ, nên trở thành tinh vi, tầm bắn xa hơn, Lôi-tiễn lớn hơn. Từ hôm sang Đại-Việt, đây là lần đầu tiên Mông-cổ tìm được bãi đặt Lôi-tiễn, nã vào một vị trí cố định của Đại-Việt.
Một loạt Lôi-tiễn đầu tiên bay sang bên sông, rơi vào phòng tuyến quân Việt. Không thấy quân Việt phản ứng. Hai loạt kế tiếp, vẫn không thấy phản ứng. Cho rằng quân Việt đã rút chạy. Hoài Đô ra lệnh vượt sông. Ngựa hý, quân reo, ba lớp Lôi-kỵ vượt sông. Khi sắp tới bờ, một tiếng tù và rúc lên. Quân Việt lại xuất hiện. Khiên-mây dương lên, Nỏ-thần tác xạ. Đao-quất tung những trái cầu vun vút. Đội nữ võ sĩ với Ý Ninh dàn ra thủ sát bờ sông. Mỗi kiếm vung lên, đầu một Lôi-kỵ rơi xuống.
Hoài Đô tinh mắt, y đã nhìn rõ : Quân Việt núp dưới những hố cá nhân sâu, thò đầu lên, chỉ khi nào Lôi-tiễn nã trúng hố của cá nhân nào thì cá nhân đó mới bị chết. Vì vậy Lôi-tiễn, máy bắn đá trở thành vô ích.
Có tiếng reo hò ở hạ lưu. Quân của A Truật đã sang sông, đang đánh ép vào hông quân Việt. Nhưng quân Việt vẫn không lùi, họ vẫn chiến đấu. Sau hơn khắc, ba lớp quân của Hoài Đô đã lên được bờ, thì chỉ thấy phía sau đê, toàn khiên-mây, tên mắc vào như lông nhím, dăm ba chục xác chết nằm cong keo. Còn quân Việt đã rút lui theo con đường cỏ rậm vào trong chiến lũy.
Đại quân Mông-cổ vượt sông dễ dàng.
Trời đã về chiều. Sau một ngày xung sát, người ngựa mệt mỏi, Ngột-lương Hợp-thai ra lệnh đóng quân qua đêm. Hòa Khâm trình cho y tình hình quân Việt :
- Vì địa thế bờ sông quá mỏng, nên tên Trần Tử-Đức sai em gái là Trần Ý Ninh đem hai nghìn bộ binh trấn thủ. Chỉ hai nghìn bộ binh, mà chúng làm cho đại quân ta cực kỳ vất vả, tổn thất gần hai nghìn Lôi-kỵ. Sau khi ta vượt sông, thì đúng lúc Thần-nỏ của chúng hết tên. Biết thế không chống nổi, chúng rút vào trong chiến lũy rồi. Trong chiến lũy chỉ có một hiệu bộ binh Tiên-yên. Không có dân chúng. Còn Kỵ-binh, Ngưu-binh sau khi đánh nhau với Vương Huy, không biết chúng ở đâu.
Ngột-lương Hợp-thai ra lệnh :
- Hãy dùng máy bắn đá, Lôi-tiễn nã vào trong chiến lũy suốt đêm. Rồi sáng mai ta đồng tấn công.
Lôi-tiễn, máy bắn đá nã liên tiếp vào trong chiến lũy. Chiến lũy nằm im lìm trong đêm. Ngột-lương Hợp-thai nghe Lôi-tiễn nổ y nói với Hoài Đô :
- Cứ như vậy, thì sáng mai, chiến lũy Phù-lỗ chỉ còn là bãi đất hoang !
Đâu đó có tiếng ngựa hý, tiếng quân reo vọng lại rồi quân báo :
- Dường như Cụ-bản có sự, vì lửa bốc cao. Lại có cả tiếng ngựa hý, tiếng trâu rống vọng về !
Ngột-lương Hợp-thai nhảy phắt lên :
- Ái chà ! Từ sáng đến giờ, nghe báo vắng bóng đạo Kỵ-binh, Ngưu-binh tại chiến lũy Phù-lỗ, ta cứ lo ngay ngáy trong lòng, không biết chúng ở đâu ? Không chừng chúng tấn công Cụ-bản, cướp lương cũng nên !
Tiếng quân reo, ngựa hý mỗi lúc một gần. Lát sau, quân báo :
- Cánh quân Đại-lý đóng ngoài chiến lũy Cụ-bản bị bọn Đại-đởm thập tam kiệt dùng Ngưu-binh tấn công. Khoảng hơn ba trăm người vừa chết, vừa bị thương. Còn Cụ-bản vẫn yên tĩnh. Sau khi tấn công, Ngưu-binh bỏ trốn vào rừng.
Nhưng tiếng quân reo, tiếng người la hét vẫn vọng lại. Trong lòng Ngột-lương Hợp-thai nóng như lò lửa. Y kiên nhẫn ngồi chờ. Lát sau quân báo :
- Cũng vẫn bọn Nguyễn Thiên-Sanh dùng Ngưu-binh, tấn công vào khu vực đóng quân của binh Đại-lý. Sau khi làm chết, bị thương vài trăm người, chúng lại bỏ chạy vào rừng. Bọn tướng chỉ huy là 5 con nhãi tuổi chưa quá 15!
Đến gần sáng, tiếng reo hò, tiếng trâu rống ngựa hý lại vọng về. Lát sau, quân báo :
- Kỵ-binh, Ngưu-binh An-Nam do bọn Đại-đởm thập tam kiệt chỉ huy đánh Cụ-bản. Chúng đã lọt vào trong. Hiện hai bên đang giao chiến.
Ngột-lương Hợp-thai ra lệnh cho A Truật, Hoài Đô:
- Hãy ngừng tiến đánh Phù-lỗ. Trở lại cứu Cụ-bản.
Những đội quân đóng trên đường phải nhổ trại trong đêm, để Lôi-kỵ lên đường. Khi sắp tới gần Cụ-bản thì tiền quân báo :
- Trong chiến lũy đèn đuốc đốt sáng như ban ngày.
A Truật ra lệnh cho bộ binh :
- Tiến vào !
Một Bách-phu bộ binh tiến lên. Quân trấn bên trong mở cửa. Viên Vạn-phu trưởng trấn Cụ-bản báo cáo :
- Hồi chiều, quân Nam theo những ngõ ngách bí mật đột nhập vào trong, rồi chúng phóng hỏa, hò hét khắp nơi. Khi chúng tôi đốt đuốc lên, thì chúng biến mất. Chỉ có một kho chứa lương thực bị cháy mà thôi.
A Truật sai quân báo với Ngột-lương Hợp-thai. Y nhảy phắt lên :
- Mình ngu quá ! Mình ngu quá ! Mình mải mê đem đại binh tiến về Thăng-long, giao cho bộ binh gốc Trung-quốc trấn giữ Cụ-bản. Bọn An-Nam biết thế, chúng đột nhập đốt lương. Cũng may, chúng không chiếm được Cụ-bản.
Y truyền để lại ba Thiên-phu Lôi-kỵ, với một vạn bộ binh, trấn dài từ Thảo-lâm tới Cụ-bản.
Đến đây, trời dần dần sáng !
Chán đời đi lang thang !
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-05-25 02:51:57NuHiepDeThuong>
Hồi thứ bốn mươi chín

Thăng-long di hận

Ngột-lương Hợp-thai ra lệnh đánh vào Phù-lỗ.
Lôi-kỵ, dàn hàng, reo hò tiến lên. Trong chiến lũy im lìm, không một tiếng động, không một bóng người. Tới hàng rào, Lôi-kỵ bỏ ngựa, cầm đao chặt rào.
Một tiếng pháo lệnh nổ.
Lập tức dưới các hố cá nhân, trong hàng rào, quân Việt nhô đầu lên, dương cung bắn ra. Đao-quất vung lên, những trái cầu sắt đập xuống binh Mông-cổ. Bị bất ngờ, nhưng nhờ mặc áo giáp, một số ít bị thương. Không hổ là đội quân thiện chiến, thoáng một cái, quân Mông-cổ chia làm hai, cứ một người dùng tên bắn yểm trợ, cho một người chặt rào. Cuộc cận chiến diễn ra hơn giờ thì hai lớp rào đã bị phá. Quân Mông-cổ reo hò như sóng vỗ tràn vào trong chiến lũy. Nhưng trong chiến lũy, hầm hố chằng chịt. Chúng phải bỏ ngựa ngoài hàng rào, đánh nhau như bộ binh.
A Truật than với Hoài Đô :
- Bọn Việt quả thực biết lợi dụng địa lợi. Sợ hãi trước Lôi-kỵ, chúng bầy ra trận địa hầm hố, biến Lôi-kỵ thành bộ binh. Lôi-kỵ chỉ vô địch khi ngồi trên mình ngựa. Còn đánh dưới đất thì lại thua bộ binh xa.
Hoài Đô điều lên hai vạn bộ binh Đại-lý, Trung-quốc. Trong chiến lũy, quân Việt không quá một vạn. Nhưng nhờ có đội nữ võ sĩ với Thiệu Hoa, Ý Ninh trấn thủ, nên cuộc giao chiến dằng dai suốt ngày, chưa phân thắng bại. Trận giáp chiến cho đến lúc chập choạng tối, thì Mông-cổ đã lấn được nửa chiến lũy.
Biết rằng nếu tiếp tục đánh nữa, trong lúc trời tối, quân Việt quen địa thế, thì quân mình bất lợi. A Truật ra lệnh rút quân trở ra ngoài hàng rào, nghỉ qua đêm tại rừng trúc.
Trong khi đó, tại chiến lũy Phù-lỗ, Phú-lương hầu họp các tướng, kiểm điểm lại tình hình. Ông sai chim ưng báo cáo về với Hưng-Đạo vương :
« Qua ba ngày giao chiến liên miên. Sau trận đánh với Lôi-kỵ, tuy thắng, nhưng cũng mất hơn trăm Kỵ-binh tử thương. Hiện còn 400 chiến mã có thể lâm chiến. Đạo Kỵ-binh, ẩn ở trong rừng tre, cách xa hơn mười dặm. Đô-thống Lý Tùng-Bách xin được đánh một trận nữa.
Về Ngưu-binh. Đô-thống Hĩm Còi cùng 3 Tá-lĩnh Cái vô sự. Hơn ba chục tướng trâu tử trận. Trong ba ngày, Ngưu-binh trải qua bốn cuộc giao tranh. Cuộc ra quân hỗn hợp với Kỵ-binh, thiệt hại năm chục trâu. Tá-lĩnh Cái Lan, Cái Hồng bị thương nặng nhưng vẫn xin ở lại chiến đấu. Hai cuộc đột kích đánh vào nơi đồn trú quân thì không thiệt hại làm bao. Duy cuộc tấn công vào kho lương Cụ-bản, thiệt hại trăm trâu. Hiện chỉ còn hai trăm trâu có thể lâm chiến. Đô-thống Hĩm Còi tùng quyền, ra lệnh lấy hai Vệ Ngưu-binh của Thảo-lâm bổ xung.
Còn lại bộ binh trong chiến lũy, sau ba ngày chiến đấu khủng khiếp, chỉ còn lại phân nửa quân số. Hai Đô-thống Trương Đình, Trần Trữ bị thương nặng, phải đưa về Kinh-Bắc điều trị. Phu nhân Bùi Thiệu Hoa, Quận-chúa Trần Ý Ninh bị thương nhẹ. Thần bị thương nặng, nhưng nhất quyết sống chết với Phù-lỗ ».
Hơn giờ sau, chim ưng mang lệnh của Hưng-Đạo vương đến :
« Nhiệm vụ cản giặc tại Phù-lỗ coi như hoàn tất. Đạo Kỵ-binh của Đô-thống Lý Tùng-Bách, đạo Ngưu-binh của Đô-thống Hĩm Còi tiếp tục ẩn trong rừng, sẽ được trao nhiệm vụ rất quan trọng. Còn bộ binh, không thể giữ Phù-lỗ được nữa, phải rút về Đông-bộ đầu, đặt thuộc quyền Khâm-Thiên đại vương, chờ bổ xung ».
Trần Tử-Đức ra lệnh :
- Suốt ba ngày qua chúng ta chiến đấu quá mệt mỏi. Vậy chư tướng cho quân nghỉ ngơi. Sáng mai ta rút sớm.
Hôm sau, giờ Dần, Hầu ra lệnh cho thương binh rút trước. Rồi gọi phu nhân, Hầu nắm tay bà, nói bằng giọng cực kỳ đầm ấm:
- Quân của ta là bộ binh, di chuyển chậm chạp. Ta rút rồi, bọn Mông-cổ khám phá ra, tất chúng dùng Lôi-kỵ đuổi theo. Vậy con đường phía Nam cách Phù-lỗ 4 dặm, có cây cầu nhỏ tên cầu bà Do. Phu nhân mang một Vệ quân chờ ở đấy. Khi quân ta rút qua cầu rồi, thì phá cầu, phục trong lũy tre. Đợi Lôi-kỵ tới, thì dùng cung bắn chết ít tên, sau đó len lỏi theo mấy khu vườn cây, rút ra cánh đồng phía trái mà về Thăng-long.
Hầu hôn phớt lên mái tóc phu nhân, rồi gọi Quận-chúa Ý Ninh. Hầu cũng nắm tay em, tay tát yêu lên hai má :
- Phía sau cầu bà Do, hơn 5 dặm có con sông nhỏ chảy song song với đường cái quan. Bên này sông là khu vườn chuối. Tại đây có một gia đình chuyên nuôi ong. Họ nuôi tất cả năm tổ ong. Mỗi tổ là một cái bồ. Em chặt chuối, lập một ụ lớn chắn ngang đường. Trên đặt 5 cái tổ ong. Còn quân thì phục trong rừng cỏ hoang bên kia sông. Khi Lôi-kỵ đuổi tới, chúng phải ùn lại quan sát, rồi phá ụ. Ong sẽ bay ra đốt chúng. Bấy giờ em cho bắn cung, giết mấy tên. Sau đó chạy vào rừng, theo đường mòn về Thăng-long.
Cũng như đối với phu nhân, hầu hôn phớt lên mái tóc em gái.
Phu nhân hỏi :
- Thế còn anh ? Bao giờ anh rút ?
- Anh ở lại, làm một khổ nhục kế, rồi rút sau.
Bùi Thiệu Hoa, Trần Ý Ninh thấy trong khi ra lệnh, Hầu tỏ cử chỉ quá thân thiết, quá nhu nhã trước tướng sĩ. Đôi măét của Hầu dường như có ẩn tàng một cái gì, mà trong nhất thời hai người không đoán ra.
Hầu ra lệnh cho tất cả quân sĩ còn lại :
- Chư quân theo thứ tự rút ngay.
Hầu đứng chỉ huy từng Vệ một lui quân. Khi Vệ cuối cùng ra khỏi Phù-lỗ, Hầu bảo viên Vệ-úy Trần Minh chỉ huy đội võ sĩ cận vệ :
- Thôi các em lên đường thôi !
Trần Minh kinh ngạc :
- Sư huynh đi trước bọn em theo sau.
- Không ! Ta không rút ! Vì ta bị thương quá nặng, nếu lết về tới Thăng-long, thì cũng chết. Vì vậy ta ở đây cản trở giặc được giờ nào hay giờ ấy !
Trần Minh cương quyết :
- Nếu anh không rút, thì em cũng không rút. Anh em mình sống chết có nhau.
Tử-Đức quát lên :
- Minh ! Tuy ta với em tình nghĩa là huynh đệ. Nhưng ta là chúa tướng. Ta ra lệnh : Em phải rút ngay.
- Em xin lỗi anh ! Em không tuân lệnh anh một lần trong đời thôi.
Biết không lay chuyển được ý chí của người em kết nghĩa, Hầu thở dài :
- Thôi đành !
Hầu gọi 12 vệ sĩ lại gần dặn dò chi tiết, rồi tất cả ngồi chờ. Hơn ba khắc sau, quân Mông-cổ dàn hàng reo hò tiến vào chiến lũy. Chúng ngạc nhiên vô cùng khi không thấy bóng một quân Việt. Vì bị trúng kế nhiều lần, Hoài Đô ra lệnh :
- Phải cẩn thận ! Tiến từng bước một.
Hàng quân vừa tiến, vừa nhìn phải, nhìn trái, không bóng người, không một bóng thú. Hoài Đô cùng ba mươi sáu võ sĩ hộ vệ đã tiến đến trung ương chiến lũy. Một cảnh tượng lạ lùng bầy ra trước mắt : Trong căn nhà hình bát giác, Phú-lương hầu Trần Tử-Đức đang ngồi trước một bàn đầy thức ăn, với rượu. Hai bên, mỗi bên có 6 võ sĩ đứng hầu. Một võ sĩ trang phục Vệ-úy, trên mình không vũ khí, tiến tới trước mặt y cung tay nói mấy tiếng Việt. Y không hiểu, vội sai gọi thông dịch. Vết thương bị thiến của tên Trịnh Long đã khỏi. Y hách dịch hỏi :
- Tên Nam-man kia muốn gì ?
- Tôi là Vệ-úy Trần Minh, được lệnh Phú-lương hầu ra tiếp đón chúa tướng Thiên-quốc.
Trịnh Long dịch lại. Y chỉ vào Hoài Đô :
- Vị này là Phò-mã, phó nguyên soái.
- Phú-lương hầu mời Phò-mã vào xơi rượu.
Hoài Đô là người sinh trưởng trên đất Trung-quốc, nên y nhiễm được cái tính phong nhã của văn nhân Hoa-hạ. Y nghĩ thầm :
- Dù tên Trần Tử-Đức làm trò ma, trò quỷ gì chăng nữa, y chỉ có 14 người, trong khi ta có hằng vạn quân. Ta há sợ sao ?
Y vẫy tay cho Hòa Khâm vẫn tiến quân, còn y với đám võ sĩ tiến đến căn nhà bát giác. Phú-lương hầu đứng dậy chắp tay vái :
- Thỉnh Phò-mã an tọa. Tôi bị thương do đá của Phò-mã bắn phải, đi đứng khó khăn, không ra ngoài tiếp đón được. Mong Phò-mã khoan thứ.
Hầu rót một chung rượu uống trước, tỏ ra rượu không có thuốc độc ; rồi rót rượu nay nâng ngang mày :
- Xin mời Phò-mã.
Hoài Đô cạn chung, tay cầm đùi gà nướng ăn. Tử-Đức nói :
- Lôi-tiễn, máy bắn đá của Phò-mã nã suốt đêm hôm kia, rồi hôm qua hùng binh tiến đánh. Quân trong chiến lũy chết ba phần, còn lại một phần, đêm qua chúng trốn hết rồi. Tôi bị thương nặng, có trốn, thì đi dọc đường vết thương vỡ ra cũng chết, nên tôi quyết định ở lại đón Phò-mã.
Đến đó Hòa Khâm trở lại báo :
- Trong chiến lũy không còn một người nào khác.
Hoài Đô tin tưởng vào lời Tử-Đức. Y hỏi :
- Thế bọn Kỵ-binh, Ngưu-binh, bọn Đại-đởm thập tam kiệt đâu rồi ?
- Phò-mã hỏi làm gì ? Sau mấy trận đánh, quân sĩ, ngựa, trâu chết gần hết. Bọn sống sót bỏ trốn hết rồi.
Nói đến đây mệt quá, ông phải dựa lưng vào cột nhà. Ông nói thều thào :
- Giữa Phò-mã với Đức này vốn không thù không oán. Chúng ta phải chém giết nhau là do mệnh vua. Nay tôi biết mình sắp chết, cố lấy tàn hơi, ở lại tiếp Phò-mã. Tôi xin Phò-mã ban cho một đặc ân.
- Quân hầu cứ nói .
Tử-Đức chỉ vào Trần Minh :
- Sau khi tôi chết, Phò-mã để chú em đây chôn tôi cạnh những nấm mồ tướng sĩ của tôi đã tử trận mấy ngày qua. Còn y với 12 võ sĩ, xin Phò-mã cho họ được quy hàng, làm hướng đạo cho Phò-mã.
- Được ! Tôi hứa.
Đến đây Ngột-lương Hợp-thai cùng các tướng đã tới. Trịnh Long báo cáo tình hình. Bị trúng kế nhiều lần, Ngột-lương Hợp-thai tỏ ra nghi ngờ :
- Người tuy bị thương nặng nhưng đâu đã chết ? Ta muốn người theo quân ta tiến về Thăng-long.
Tử-Đức gượng gạo đứng dậy tay ông chỉ vào mạn sườn :
- Sườn của tôi bị gẫy, làm sao tôi theo Thái-sư được ?
Nói rồi, nhanh như chớp, hầu rút thanh dao trủy thủ bên lưng, tự đâm vào ngực mình. Hoài Đô tuyệt không ngờ Hầu lại tự tử. Nên tuy võ công cao, y cũng không cản trở kịp.
Trần Minh cùng 12 võ sĩ lấy cái chăn của Hầu, bọc xác Hầu, rồi đem ra khu mộ tử sĩ, đào lỗ chôn. Lại lấy một thanh gỗ, viết lên :
Phú-lương hầu Trần Tử-Đức,
Sinh ư Kiến-trung đệ tứ niên,
Nhị thập tứ nhật, thất nguyệt, Ngọ thời.
Vị quốc vong thân Nguyên-Phong thất niên, vọng nhật, thập nhị nguyệt, Thìn thời.

( Sinh niên hiệu Kiến-trung thứ tư, ngày 24, tháng 7, giờ Ngọ. Chết vì nước vào niên hiệu Nguyên-Phong thứ 7, ngày rằm, tháng Chạp, giờ Thìn).
Ngột-lương Hợp-thai hỏi Trần Minh :
- Từ đây về Thăng-long còn chiến lũy nào không ?
- Thưa Thái-sư không. Tuy vậy quãng đường từ đây tới Bắc-ngạn do Hưng-Ninh vương trấn nhậm, ẩn vào dân chúng. Phải cẩn thận lắm mới được.
- Hưng-Ninh vương là người thế nào ?
- Vương là con trưởng của Yên-sinh vương Trần Liễu, là anh Hưng-Đạo vương. Cũng giống Hưng-Đạo vương, vương là người cực kỳ thông minh, học một biết mười, nhớ giai, giỏi biện thuyết. Vương khác Hưng-Đạo vương ở điểm, người rất uyên thâm Phật-pháp. Tính tình khoan nhân đại độ, thương người dưới như con, nên binh tướng dưới quyền người đều một lòng với chúa tướng.
- Dưới quyền y hiện có bao nhiêu quân ?
- Dưới quyền vương hiện có ba hiệu binh Tứ-thiên, Tứ-thần, Tứ-thánh. Ba hiệu binh này giỏi xung trận, chứ không giỏi trấn thủ.
- Bây giờ ta ra lệnh cho người với 12 tên thuộc quyền làm hướng đạo, đi theo Phò-mã Hoài Đô.
Trần Minh gãi đầu :
- Đẳng trật của tôi là Vệ-úy, 12 chú em đây đều là Đô-úy. Vậy không biết bây giờ Thái-sư ban cho chúng tôi chức tước gì ?
- Ừ nhỉ ! Ta quên. Ta cho người hàm Thiên-phu, còn các võ sĩ này hàm Bách-phu. Thôi, các người lên đường.
Vì Thiên-phu của Sung Di, Vương Huy, Hòa Khâm, dự nhiều trận, tổn thất khá nhiều, tuy đã bổ xung, nhưng tinh thần binh sĩ dao động vì Sung Di bị giết, Vương Huy bị bắt. Hoài Đô truyền lấy ba Thiên-phu của bọn Tăng Phúc, Triệu An, Di Hòa thay thế tiến trước.
Trần Minh cùng 12 võ sĩ cỡi trâu đi trước. Phía sau là đội võ sĩ của Hoài Đô. Đi khoảng năm dặm thì Trần Minh chỉ về phía trước :
- Sau lũy tre kia, có con sông nhỏ chảy ngang, rộng khoảng ba trượng. Trên sông có cây cầu đá, tên làcầu Bà Do. Coi chừng có phục binh.
Một Lôi-kỵ vọt ngựa lên quan sát rồi trở lại báo cáo :
- Cầu đã bị phá. Xung quanh không có dấu vết phục binh.
Hoài Đô truyền dừng quân lại. Đội Công-binh Trung-quốc được đưa lên bắc cầu. Binh sĩ đào đất, ném xuống lấp sông. Phải hơn giờ mới lấp xong.
Trần Minh đề nghị :
- Ngựa nhẹ hơn trâu. Để tôi cho trâu sang trước. Hễ trâu không bị lún chân thì ngựa qua được.
Trần Minh cùng 12 võ sĩ, tên Trịnh Long sang sông yên lành. Hoài Đô phất tay ra lệnh. Một Bách-phu Lôi-kỵ sang yên ổn. Bách-phu thứ nhì vừa đi đến giữa cầu, thì một tiếng tù và rúc lên. Tên từ trong bụi tre bắn ra rào rào. Bách-phu thứ nhì ngã lăn xuống sông. Người, ngựa chết, nằm la liệt trên hai bên mố cầu. Bùi Thiệu Hoa cùng đội nữ võ sĩ xuất hiện. Kiếm vung lên lấp lánh như sao sa. Mỗi ánh kiếm là một đầu Lôi-kỵ rơi xuống. Trong khi phía bên kia, Trần Minh cùng đám võ sĩ xua trâu xông vào Bách-phu thứ nhất. Đao-quất vung lên. Thoáng một cái, cả Bách-phu đã bị hạ hết. Tên Trịnh Long đang hoảng hốt, thì Bùi Thiệu Hoa túm cổ y điểm huyệt rồi cặp vào nách. Khi Thiên-phu Triệu An phản ứng, thì Thiệu Hoa, Trần Minh và đội nữ võ sĩ đã xua trâu chạy vào con đường mòn nằm giữa các lũy tre.
Tên trong lũy tre ngừng bắn ra. Triệu An ra lệnh cho Lôi-kỵ tiến lên lục soát, thì không một bóng người, không một bóng thú. Hoài Đô xấu hổ vì bị trúng kế. Y chửi :
- Tổ bà nó ! Biết rằng bị thương nặng, trước sau gì cũng chết, tên Trần Tử-Đức muốn tự tử. Nghĩ rằng tự tử tối vô ích, xác bị phơi nắng phơi mưa, y bầy trò ma, trò quỷ. Kết quả, xác y được chôn cất chu đáo. Y để mưu kế sai con vợ xinh đẹp với bọn Trần Minh phục kích ta. Được ! Sau khi chiếm Thăng-long, ta sẽ cho quật mồ y, đem xác vứt xuống chuồng hôi cho dòi, bọ ăn thịt.
Xác tử sĩ Mông-cổ được chôn tại chỗ. Hoài Đô ra lệnh tiếp tục tiến quân. Lần này y không tiến trước nữa. Y để bọn Triệu An đi tiên phong. Đi được 5 dặm, thì Thập-phu đi đầu quay lại báo :
- Có một cái ụ bằng chuối chắn ngang đường. Trên ụ có năm cái bồ, hương bốc ra thơm ngát. Phía sau có bao nhiêu quân không rõ.
Hoài Đô ra lệnh :
- Đánh chiếm ụ.
Lôi-kỵ dương cung lao lên. Nhưng sau ụ không một bóng người. Triệu An ra lệnh phá ụ. Chùy vung lên, đao phạt ngang. Năm cái bồ bị chém làm hai, bị đập bẹp. Từ trong bồ hàng vạn, hàng triệu con ong bay ra. Thấy người phá tổ của chúng. Lòng hận thù ngùn ngụt, chúng nhào xuống đốt. Giữa lúc đó tên từ bên kia sông bắn sang ào ào. Lôi-kỵ ôm đầu lui trở lại. Bọn lao binh mách :
- Đốt lửa lên, thì ong phải chạy.
Chúng lấy cỏ, châm lửa đốt. Phải mất hơn một giờ bầy ong mới bay đi hết. Kiểm điểm lại, ong không làm chết người , nhưng hàng nghìn quân bị ong đốt, đau nhức rên la khốn khổ. Hơn trăm quân, ngựa bị trúng tên.
Hoài Đô chửi thề :
- Tụi Nam-man này thực kinh khủng. Cái gì chúng cũng có thể dùng vào chiến tranh được. Có 5 cái tổ ong, mà nó làm cho mấy nghìn người xính vính.
Hơn giờ sau, Triệu An được báo :
- Đã thấy sông Hồng trước mặt. Trên bến Bắc-ngạn, dân chúng xếp hàng hai bên đường, thắp hương đón quân Thiên-triều.
Hoài Đô sai người báo với Ngột-lương Hợp-thai. Y kinh ngạc hỏi gã Trịnh Ngọc :
- Có sự ấy được ư ?
- Thưa Thái-sư tôi không tin. Vì bọn An-Nam kinh sợ Lôi-kỵ của Thiên-triều, từ hơn tháng nay, Trần Cảnh đã ra lệnh cho dân chúng phải rời khỏi Thăng-long. Còn triều đình, thì bỏ trốn hết. Dân chúng có gan bằng trời, cũng không dám ở lại. Vùng này thuộc quyền trấn nhậm của Trần Khánh-Dư , tước phong Nhân-Huệ vương hiện lĩnh Phiêu-kỵ thượng tướng quân, Tổng-trấn Thăng-long. Tôi nghi đây là quỷ kế của y.
- Trần Khánh-Dư à ? Tại sao ta chưa từng nghe qua tên y ?
- Y là cháu nội của Thiên-sứ Trần Thủ-Huy.
- Cháu nội Phò-mã Thiên-sứ Trần Thủ-Huy ư ? Như vậy y là con của nhị ca Thủ-Độ sao ? Lẽ nào ?
- Không hẳn thế.
Trịnh Ngọc giảng giải : Thái-sư không nhớ việc Phò-mã Thiên-sứ Thủ-Huy tục huyền với Vương Thúy-Thúy ư ? Vương Thúy-Thúy sinh ra một trai tên Trần Thủ-Minh, một gái tên Trần Như-Lan. Khi tướng quân Thủ-Độ đi sứ An-Nam có dẫn hai người em về. Trần Thủ-Minh sau làm đại tướng, cầm quân đi dẹp giặc, bị tử thương, để lại một con còn thơ tên Trần Khánh-Dư. Thái-tổ nhà Trần là Trần Thừa nhận làm con, đem về nuôi trong cung. Cho nên Dư được phong vương.
- Tài năng y ra sao ?
- Y được bà nội là Vương Thúy-Thúy dạy võ công Hoa-sơn, rồi lại được vợ Trần Lý là Tuyên-minh thái hoàng thái hậu trực tiếp truyền thụ, nên y là một trong những võ tướng có võ công cao nhất. Y rất thông minh, lầu thông binh pháp Trung-quốc, Đại-Việt, Mông-cổ. Tài trí y chỉ thua có Hưng-Đạo vương với Hưng-Ninh vương mà thôi. Phải đối đầu với y là một điều đáng ngại.
- Y có uy tín không ?
- Không ! Y thâm nhiễm phong tục vùng Thảo-nguyên của cha, vì vậy hành vi của y cực kỳ phóng túng, bị người Việt kết tội.
Đến đây Triệu An trở lại báo :
- Dân chúng thắp hương, đem trâu, lợn đón ta là người Hoa-kiều. Người Hoa ở Đại-Việt cho rằng chiến tranh này là chiến tranh giữa người Việt với Mông-cổ, họ vô can. Họ lý luận rằng, trong quân của ta có nhiều võ tướng, có nhiều binh lính gốc Trung-quốc, thì chắc rằng họ không bị giết hại. Họ không theo dân Việt trốn đi, mà ở lại. Vì vậy họ mới đi đón.
Nghe báo, trong lòng Ngột-lương Hợp-thai mở ra một ý mới : Dùng người Hoa làm tai mắt chống người Việt. Y ban lệnh :
- Hãy dùng các Thập-phu, Bách-phu Thiên-phu trưởng gốc Trung-quốc phủ dụ chúng. Hứa bảo vệ tài sản, nhân mạng chúng. Tuyển lấy những đứa có tài làm tai mắt, chân tay, rồi lấy lợi nhử chúng, cho phép chúng tự do cướp của, bắt đàn ông làm tôi mọi, bắt đàn bà con gái làm tỳ thiếp. Cho giết người tùy thích.
Bọn tướng sĩ gốc người Hoa theo Mông-cổ, vốn là loại đầu trộm đuôi cướp, bị quan quân Tống triều truy lùng, chúng bỏ theo Mông-cổ. Trong suốt bao năm chinh chiến, đánh phá chính quê hương chúng, chém giết đồng bào chúng, cướp của người dân của chúng...đi đến đâu chúng cũng bị người Hoa khinh khiến, nhục mạ, gọi là Hán-gian, riết rồi chúng coi người Hoa như những kẻ thù không đội trời chung. Bây giờ tới Đại-Việt, chúng được người Hoa tiếp đón ân cần, quỳ lụy, coi chúng như những anh hùng hiệp sĩ, cứu khốn phò nguy... Tự nhiên chúng thấy mình là anh hùng. Chúng tập họp Hoa kiều lại, hứa hẹn những gì mà Ngột-lương Hợp-thai đã hứa.
Bọn người Hoa được hứa hẹn, thì vui mừng chi siết kể, chúng dẫn bọn Hán-gian đi vào khắp các lạch, ngòi trưng thu thuyền bè. Không đầy nửa buổi, chúng đã kiếm được hàng nghìn thuyền lớn nhỏ, rồi thân chở quân Mông-cổ sang sông.
Chiều hôm đó, phân nửa quân Mông-cổ đã ở ngoài thành Thăng-long. Bọn người Hoa báo :
- Vua, quan An-Nam trốn hết rồi. Thành bỏ không.
Hoài Đô trì nghi :
- Chắc chúng mới trốn sáng nay. Chứ nếu chúng trốn hôm qua, thì trong thành đã có nạn cướp bóc khủng khiếp diễn ra. Trốn như vậy thì ắt có cơ mưu, chứ trốn vì sợ hãi thì chúng trốn từ lâu rồi.
Tuy vậy y vẫn truyền lệnh cho ba Thiên-phu trưởng Tăng Phúc, Triệu An, Di Hòa, chia nhau tiến quân vào Thăng-long. Nhờ có bọn Hoa-kiều dẫn đường, ba Thiên-phu nhanh chóng chia nhau trấn đóng các cung điện, Lục-bộ, Khu-mật viện, rồi sai người báo với Ngột-lương Hợp-thai. Ngột-lương Hợp-thai dẫn Hoài Đô, A Truật nhập thành.
Sau khi lục soát hết các cung điện, Triệu An báo cáo :
- Trong thành không một bóng người, không một bóng thú. Lương thảo, kho lẫm trống rỗng. Duy nhà ngục đông nghẹt tù nhân.
Hoài Đô ra lệnh :
- Thả tất cả tù ra, cấp vũ khí cho chúng, thu dụng chúng làm quân Tế-tác dẫn đường.
Lát sau, Triệu An trở lại báo :
- Tìm thấy ba Thiên-phu trưởng, được cử làm sứ thần, bị trói bằng lạt. Đã cắt lạt cứu ra, nhưng chỉ hai còn sống. Thiên-phu trưởng Bật Triệt (Bourteck) bị chết cứng từ bao giờ.
Ngột-lương Hợp-thai nghiến răng :
- Thế này thì đừng ai trách ta tàn ác nhé.
Y chỉ tay lên trời :
- Đại quân chúng ta tiến đánh Tây-vực, bất cứ tới thành nào, là dù vua, dù tướng, dù dân đều răm rắp mở cửa thành, khom mình quy hàng, cung ứng lương thảo. Bất cứ nơi nào chống lại, thì sẽ giết tuyệt, dù già, dù trẻ, dù con đỏ cũng không tha. Từ hôm nhập biên đến giờ, chúng ta mải tiến quân, chưa có dịp ra oai. Bây giờ ta đã chiếm được kinh đô của An-Nam, ta phải giết hết dân Thăng-long, để các nơi khác lấy đó làm gương. Như vậy, khi ta tiến quân đến đâu, mới mong chúng quy hàng.
Sáng hôm sau, khi mặt trời vừa ló dạng, từ năm cửa thành Thăng-long, mỗi cửa thành có ba Thiên-phu Lôi-kỵ, năm Thiên-phu vừa lao binh, vừa binh Đại-lý tràn ra. Chúng dùng bọn tù nhân, bọn người Hoa chỉ đường, nhanh chóng lùa tất cả dân chúng vào năm khu. Trước hết chúng lựa những thợ mộc, thợ nề, thợ khắc, thợ rèn, thợ vàng bạc cho đứng riêng ra. Lại lựa những nhạc công, ca nhi cho đứng riêng ra chỗ khác. Cuối cùng, chúng lựa đàn bà con gái đẹp, tuổi từ mười tới ba mươi, cho đứng riêng ra một chỗ khác nữa. Tên Thiên-phu Triệu An đứng lên tuyên án :
- Từ xưa đến giờ, Thiên-binh đi đến đâu, thì dù vua, dù quan, cũng phải mở cửa thành quy phục. Bất cứ nơi nào chống lại sẽ bị giết tuyệt, dù con chó, con mèo cũng không tha. Khi đại quân dàn ra biên giới, Thái-sư đã ba lần sai sứ sang chiêu hàng, vua các người không quy phục, còn đem quân chống trả, bắt giam sứ thần. Vì thế hôm nay, ta giết tất cả các người. Tuy vậy, bọn gái đẹp cần giữ lại làm đồ chơi cho quân sĩ ; bọn ca nhi, nhạc công cần để sống để hầu hạ binh tướng. Bọn thợ giỏi cũng được tha để làm việc.
Tuyên án xong, hằng trăm Lôi-kỵ vung đao lăn vào đám dân chúng khốn cùng. Mỗi đao vung lên, một cái đầu rơi xuống. Tiếng kêu khóc vang lên đến trời, máu ngập kinh thành. Giết xong, chúng ném xác xuống sông. Con đầu thì chúng xếp thành từng đống, theo hình tháp, mỗi đống một nghìn đầu. Tất cả 200 đống.
Kinh nghiệm trong những lần tàn sát tại các nước Tây-vực, sau cuộc lùa bắt, thế nào cũng còn nhiều người lẩn trốn. Ngột-lương Hợp-thai cho rút quân vào thành, rồi hai giờ sau tung quân ra bao vây lục soát. Y lại bắt được hơn vạn người trốn tránh. Lần này y không giết, mà truyền đốt nhà, rồi quẳng vào đống lửa. Bọn Lôi-kỵ, bọn Hán-gian đứng nhìn cảnh kêu khóc tuyệt vọng, cảnh ném người vào biển lửa, lăn lộn, mà khoan khoái, reo hò như nhìn một cảnh diễn trò chơi. Thành Thăng-long cháy trong ba ngày chưa tắt ngọn lửa. Trong thành chỉ mấy phường của Hoa-kiều là còn nguyên.
Đúng lúc đó, các đạo quân từ Phù-lỗ rút về tới Đông-bộ đầu. Nguyên-Phong hoàng đế cùng Thái-tử, Hưng-Đạo vương, Hưng-Ninh vương thân dẫn các quan ra đón, ủy lạo thương binh, đem về Thiên-trường điều trị. Ngài truyền lập đàn tế vọng chư tướng sĩ tuẫn quốc, rồi ban sắc chỉ phong chức tước.
Nghe Trần Minh thuật lại về cái chết oanh liệt của chồng, sắc mặt Bùi Thiệu Hoa không hề thay đổi. Phu nhân bước tới hành lễ với Nguyên Phong hoàng đế, với Hưng Đạo vương. Lại quỳ trước linh vị chồng lạy bốn lạy, rồi rút kiếm đưa lên cổ tự tử.
Nguyên Phong hoàng đế thương tiếc vô cùng. Ngài truyền khâm liệm thi hài phu nhân, đem về Yên-bang an táng.
Phú-lương hầu Trần Tử-Đức được truy phong :
Dao-thụ thái phó,
Phụ-quốc thượng tướng quân,
Kinh-Bắc tiết độ sứ,
Quan sát sứ,
Xử trí xứ,
Minh tâm tĩnh lự công thần.
Nghĩa-hòa vương.


Sang triều Lê được cải phong là :
Bản cảnh thành hoàng, chiêu sinh hiến đức thượng đẳng đại vương.
Đến triều Nguyễn, được cải phong :
Linh-quang hộ quốc, bảo cảnh, hùng uy bệ hạ, anh linh đại vương, thượng đẳng thần.
Phu nhân được phong :
Hiếu-khang, Linh-anh, Trinh nhất công chúa.
Sang triều Nguyễn, phu nhân được cải phong là :
Hoàng-phi, Trí-tuệ, Bồ-quân, Anh linh công chúa.
Triều Trần truyền lập đền thờ vương và công chúa, phối thờ vào Thái-miếu. Sau khi hết giặc lại cho cải táng thi hài của Vương, đem về Yên-sinh, chôn cạnh mộ phu nhân.
Các tướng được phong thưởng như sau :
Quận chúa Trần Ý Ninh được phong Hồng-đức, Trang-duệ, Vũ-thắng công chúa. Truyền gả cho Vũ-Uy vương.
Đô-thống Lý Tùng-Bách được phong Vũ-kỵ thượng tướng quân, tổng lĩnh Kỵ-binh, tước Kiến-phong bá.
Đô-thống Trần Trữ được thăng Phá-lỗ thượng tướng quân, Phù-lỗ bá.
Đô-thống Trương Đình được phong Hoài-hóa thượng tướng quân, tước Siêu-loại bá.
Đô-thống Nguyễn Thiên-Sanh được phong Đại-đởm thượng tướng quân, tước An-xuyên bá.
Tá-lĩnh Trần Minh được thăng Đô-thống, tước Vị-thanh tử.
Ngoài ra tất cả tướng sĩ đều được thăng một đẳng.

Ghi chú của thuật giả

Trong suốt năm kỳ hè, từ 1994 đến 1998, tôi lần mò đến hầu hết những vùng là chiến trường cũ thời Trần, nhưng không tìm thấy đền thờ Nghĩa-hòa vương. May thay, trong gia phả của chi 1, dòng dõi Chiêu-quốc vương Trần Ích Tắc tại trấn Nhạc-dương, thị xã Trường-sa Trung-quốc có ghi vắn tắt:
"Phú-lương hầu Trần Tử-Đức cùng vợ tuẫn quốc tại Phù-lỗ được phong Nghĩa-hòa vương. Đức là con Trần Hiến và Lê thị. Đền thờ lập gần Vạn-kiếp".
Tra trong Hải-dương tỉnh thần tích, tôi thấy chép: làng Khê-khâu, huyện Chí-linh, tỉnh Hải-dương có đền thờ ba vị thần thành hoàng là:
- Linh-quang hộ quốc Bảo-cảnh hùng uy bệ hạ, anh linh đại vương húy Trần Hiến-Đức.
- Hoàng-phi, Trí tuệ, Bồ-quân, Anh-linh công chúa.
Không ghi tên họ, tôi biết đây là chức tước phong cho vương phi Bùi Thiệu Hoa.
- Thiên-uy, Thái trưởng, Từ-lang, Anh-linh công chúa.
Không ghi tên họ. Nhưng tôi biết đây là chức tước phong cho Quận-chúa Trần Ý Ninh. Sẽ thuật ở hồi sau.
À, thì ra vẫn còn đền thờ Nghĩa-hòa vương, nhưng có đôi chút khác biệt. Phổ Chiêu-quốc vương chép là Trần Tử-Đức, còn Hải-dương tỉnh thần tích chép là Trần Hiến-Đức.Còn chức tước có hơi khác, vì chức tước này do triều Nguyễn cải phong.
Hè 1988, tôi tới tận nơi sưu khảo, có trao đổi ít câu với người giữ đền, thì nảy ra khá nhiều khác biệt. Phổ chép: Thân phụ ngài là Trần Hiến công, thân mẫu là Lê thị Đạt. Đời Trần Nhân-tông, ngài làm phó nguyên súy đại vương, có công chém Toa Đô, bắt Ô Mã Nhi. Những chi tiết này hoàn toàn sai với lịch sử, nên tôi gạt thẳng những gì cuốn phổ chép, mà ghi theo phổ Chiêu-quốc vương.


Mọi việc vừa hoàn tất, thì tin Tế-tác báo về cuộc thảm sát trong thành Thăng-long. Nguyên-Phong hoàng đế chắp tay hướng lên trời :
- Thảm thay ! Ta đã nhiều lần sai lính vác loa đi gọi các người. Khuyên các người hãy tạm lui về quê. Các người không theo lời khuyên của ta, nên mới ra nông nỗi !
Sáng hôm sau, tin Tế-tác báo :
- Bọn Hoa-kiều xui Ngột-lương Hợp-thai tiến quân về Thiên-trường, tàn phá mồ mả, lăng tẩm của các tiên đế.
Tin này làm cả triều đình rúng động.
Phía Nam Thăng-long là vùng trấn nhậm của Khâm-Thiên đại vương. Hưng-Đạo vương vội sai sứ báo tin này cho vương, với lệnh như sau:
« Từ Thăng-long về Thiên-trường chỉ có hai đường đi. Một là đường thủy, dễ đi. Nhưng Mông-cổ không có thủy quân. Ngược lại hạm đội Âu-Cơ đang phong tỏa Đông Thăng-long, chúng không thể dùng thuyền. Hạm đội Động-đình đang phong tỏa các cửa sông. Hạm đội Thần-phù đang phong tỏa sông ngòi vùng Thiên-trường. Hạm đội Bạch-đằng đang trấn vùng lãnh hải phía Bắc. Còn đường bộ, thì phải qua 41 xã. Hãy dùng ba hiệu binh trực thuộc Thiên-thuộc, Thiên-cương, Chương-thánh chia ra thành từng Vệ, ẩn vào các xã, chống giặc. Muốn đánh phá 41 xã, thì giặc phải mất ba đến bốn năm. Bấy giờ ta đã phản công rồi ».
Tuy ra lệnh như vậy, nhưng Hưng-Đạo vương vẫn không yên tâm. Vương gọi Tả Kim-ngô thượng tướng quân Lê Phụ-Trần :
- Tôi sợ Khâm-Thiên đại vương không chịu chia quân ẩn vào các xã, lợi dụng địa thế xã chống giặc, mà dàn quân đại chiến. Dàn quân đánh với Mông-cổ là lấy sở đoản, chống sở trường, thì thất bại đã thấy trước rồi. Vậy phiền Thái-bảo dẫn 10 tướng Ngưu-binh gồm 5 Vệ-úy Cu, 5 Vệ-úy Trâu, cùng 3 hiệu binh Tiên-yên, Yên-bang, Yên-phụ... Xuống hạm đội Động-đình, theo đường thủy về trấn tại Thiên-trường, phòng khi Khâm-Thiên vương thất bại, còn cứu ứng kịp.
Thái-bảo Lê Phụ-Trần vâng lệnh lên đường ngay.
Quả như Hưng-Đạo vương ước tính. Khâm-Thiên đại vương là chú ruột vương. Hơn chục năm nay, vương lĩnh chức Phụ-quốc Thái-úy, một chức coi toàn bộ binh mã Đại-Việt. Thế nhưng trong trận giặc này, biết vương không có tài, Nguyên-Phong hoàng đế phong Hưng-Đạo vương làm Tiết-chế. Chức Tiết-chế cũng như Nguyên-soái, lĩnh nhiệm vụ tư lệnh trong một trận đánh, một chiến dịch. Khâm-Thiên đại vương ấm ức rằng, đáng lẽ chức Thái-úy đã là Tiết-chế rồi, mà sao còn cử Hưng-Đạo vương vào làm gì ? Vương cảm thấy bị nhục nhã. Từ mấy tháng nay, vương phải nhận lệnh Hưng-Đạo vương, mà trong lòng phiền muộn.
Bây giờ, một lần nữa Hưng-Đạo vương gửi lệnh cho vương. Vương tập họp tướng sĩ lại, rồi nói :
- Ngột-lương Hợp-thai sai con y là A Truật, mang năm Thiên-phu đánh Thiên-trường. Trong khi ta có ba hiệu binh, tới ba vạn quân. Nghĩa là quân số của ta đông gấp sáu lần. Thế mà Hưng-Đạo vương không cho ta đánh, bắt ta xé nhỏ quân thành từng vệ thủ trong các lũy tre. Ta không thể chịu nhục như vậy. Ta quyết định dàn quân đánh một trận cho bọn Mông-cổ biết tài, cho Hưng-Đạo vương biết rằng ta không phải là một Thái-úy bù nhìn.
Lập tức vương dàn quân tại cánh đồng Văn, cách Thăng-long 60 dặm, nằm trên đường Thăng-long đi Thiên-trường. Hiệu binh Thiên-thuộc bên trái, hiệu binh Thiên-cương bên phải. Hiệu binh Chương-thánh phía sau. Mười hàng đầu là chiến xa, trên đặt Lôi-tiễn, Nỏ-thần. Mười hàng thứ nhì là quân xử dụng giáo dài. Mười hàng thứ ba là quân xử dụng đao. Phía sau là các chúa tướng cỡi ngựa, chỉ huy.
Quân dàn ra từ giờ Dần. Đến cuối giờ Mão, thì Lôi-kỵ Mông-cổ xuất hiện, từ xa rần rộï tới. A Truật tiến lên quan sát trận địa rồi trở lại họp các Thiên-phu, Bách-phu trưởng :
- Không biết tướng nào chỉ huy trận này ?
Bọn Hoa-kiều đáp :
- Là Khâm-Thiên đại vương, y hiện lĩnh chức Phụ-quốc Thái-úy. Ba hiệu quân dàn ra kia có tên Thiên-thuộc, Thiên-cương, Chương-thánh. Đây là ba hiệu quân thiện chiến nhất của Đại-Việt.
A Truật bật cười :
- Lối dàn quân của y không khác gì bọn Kim, bọn Tống. Từ ngày sang An-Nam, đây là lần đầu tiên chúng ta được giao chiến, được trổ tài.
Y cầm cờ phất. Thiên-phu thứ nhất do Triệu An chỉ huy, chia làm hai. Năm Bách-phu dàn hàng hú lên rùng rợn, rồi lao tới như bay. Khi còn cách trận Việt trăm trượng, thì cùng dương cung bắn một loạt, rồi quay ngựa trở về. Quân Việt dùng Lôi-tiễn, Nỏ-thần bắn vào hàng ngũ Lôi-kỵ. Năm Bách-phu thứ nhì nối tiếp năm Bách-phu thứ nhất, cũng bắn một loạt tên, rồi quay ngựa chạy. Quân Việt cũng bắn trả.
Khâm-Thiên đại vương cầm cờ phất, chiến xa Đại-Việt, rời hàng ngũ, đuổi theo Lôi-kỵ. Thì vừa lúc ấy Thiên-phu của Di Hòa tới. Hai bên giáp chiến khoảng môt khắc, rồi Lôi-kỵ lại bỏ chạy. Quân Việt xua chiến xa đuổi theo. Nhưng Lôi-kỵ đã biến mất vào khu đồng cỏ. Khâm-Thiên vương phất cờ cho quân Việt ngừng lại. Vương nói với chư tướng :
- Từ trước đến giờ người ta cứ sợ bóng, sợ gió Lôi-kỵ như con ngáo ộp. Đó ! Bây giờ mới có mấy đợt chúng đã bỏ chạy rồi.
Thình lình có hàng muôn ngàn tiếng hú, tiếng ngựa hý. Quân Mông-cổ trở lại, với năm hàng ngang. Chúng lao tới như bay, dương cung bắn. Quân Việt bắn trả. Nhưng lần này Lôi-kỵ không chạy, mà xung thẳng vào trận Việt. Sau một khắc giao tranh, chúng phá vỡ năm hàng đầu của chiến xa, rồi đánh tỏa ra hai bên. Lớp thứ nhì tiếp lớp thứ nhất, đánh thẳng về sau, cắt đứt năm hàng quân giáo dài của Đại-Việt. Quân hai bên lẫn lộn vào nhau kịch chiến.
Giữa lúc đó, hai Thiên-phu Lôi-kỵ thình lình xuất hiện, đánh vào hai bên hông. Tuy bị bất ngờ, nhưng quân Việt gan dạ chống trả. Cuộc hỗn chiến giữa năm nghìn Lôi-kỵ với ba hiệu binh thực khủng khiếp. Một bên là Kỵ-binh bách chiến bách thắng, gặp đồng bằng thả sức tung hoành. Một bên là ba hiệu binh tinh nhuệ, chết sống bảo vệ quê hương. Cuộc chiến kéo dài tới Ngọ vẫn chưa ngã ngũ. Lôi-kỵ chết quá hai nghìn. Trong khi bộ binh Đại-Việt chết hằng vạn.
Sang giờ Mùi, thình lình năm Thiên-phu Lôi-kỵ xuất hiện từ phía sau, đánh vào hậu quân Đại-Việt. Khâm-Thiên vương kinh hãi:
- Rõ ràng chúng chỉ có năm Thiên-phu, mà sao bây giờ lại có năm Thiên-phu khác nữa?
Chán đời đi lang thang !
Đăng nhập để trả lời
0
Chào CDDLT,

NH đang chỉnh sửa bộ truyện nầy. Đã đem vào thư viện đến Hồi 26.

Đang sửa Hồi 27. Nhưng thấy sau 27 là 29. Tức Hồi 28 bị thiếu.

CDDLT cảm phiền gửi lại tập 28 nhe. Chỉ cần đăng kế tiếp thì NH sẽ vào xem lại, và đưa vào thư viện.

Xin chân thành cảm tạ sự đóng góp của CDDLT.

Chúc CDDLT vui vẻ, an lành.[:)]
Thân,
NHDT


Peace is the way of love
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-04-09 18:43:11NuHiepDeThuong>
CDDLT ơiiiiiiiiiiiiiiii !

NH tìm được Chương 28 của AHDA_DCBM rồi.

CDDLT khỏi làm nha.


********************************************

Hồi thứ hai mươi tám

Đoái thương muôn dặm tử phần,
Hồn quê theo ngọn mây Tần xa xa.
( Đoạn trường tân thanh)




Thuyền rời Thiên-trường một ngày thì ra tới biển, rồi đổi hướng lên phía Bắc. Hai ngày sau, khi thuyền sắp qua Đồn-sơn thì có mười chiến thuyền, một soái thuyền thuộc hạm đội Thần-phù dàn ngang. Một viên võ quan trên soái thuyền phất cờ yêu cầu con thuyền Thiên-ưng ngừng lại. Rồi soái thuyền kè vào mạn con thuyền Thiên-ưng. Thủ-Huy, Đoan-Nghi cùng lên trên sàn thuyền quan sát. Thoáng nhìn, Thủ-Huy nhận ngay ra viên võ quan phất cờ là đô đốc Trần Bằng. Cạnh Bằng còn có Binh-bộ thượng thư Phí Công-Tín. Hai người sang con thuyền Thiên-ưng. Trần Bằng là thủ hạ cũ của Thủ-Huy Đoan-Nghi. Y hành lễ quân cách rồi nói :
- Khải điện hạ ! Khải-phò mã ! Có Phí thượng thư truyền chỉ dụ của Hoàng-thượng đến công chúa điện hạ cùng phò mã.
Thủ-Huy mời cả hai vào trong khoang thuyền. Vừa an tọa, Phí Công-Tín đã lên tiếng trước :
- Triều đình có nhiều thay đổi. Đỗ thái hậu, Đỗ thái sư, Mạc thiếu sư cùng nghị rằng : Nay bốn phương phẳng lặng, không cần nuôi quân nhiều, khiến quốc sản phải hao phí. Vì vậy triều đình quyết định giải tán mười hai hiệu Thiên-tử binh, Kị-binh, Ngưu-binh. Về Thủy-quân, bốn hạm đội chỉ giữ lại một hạm đội Aâu-Cơ mà thôi. Để bảo vệ kinh thành, Đỗ thái sư lập thêm mười đội cấm quân, cho đóng quanh Thăng-long.
Thủ-Huy kinh hãi hỏi :
- Ai đưa ra ý kiến đó đầu tiên ?
- Thần không rõ. Nhưng nghe các võ tướng thì thầm rằng, Tống cử một mật sứ sang gặp riêng Đỗ Thái-sư, Đỗ Thái-hậu, rồi ít lâu sau có chuyện này.
- Như vậy thì nguy rồi ! Thế Tổng-lĩnh Thiên-tử binh Kiến-Khang vương, Vũ-kị thượng tướng quân Tăng Khoa, với Đại đô đốc Phùng Tá-Chu ra sao ?
- Kiến-Khang vương được chuyển lên tổng trấn Bắc-cương, Tăng tướng quân làm phó. Còn Phùng đại đô đốc thì trấn lãnh hải, đóng ở Tiên-yên.
Đoan-Nghi biết chồng đang bàng hoàng về những suy đồi của nhà mình. Công chúa hỏi :
- Phí binh bộ từng cầm quân. Người biết rằng, bấy lâu nay sở dĩ Tống sợ, Chiêm kính là nhờ binh lực chúng ta hùng mạnh. Khi triều đình nghị việc này, sao thượng thư không phản đối ?
- Thần có biết gì đâu ?
Phí biện luận : Thái-hậu, Thái-sư, Thiếu-sư nghị riêng với nhau, rồi làm chiếu đưa cho Hoàng-thượng ký. Triều thần không biết gì cả. Ba người này áp chế Hoàng- thượng còn hơn Cảm-Thánh thái hậu áp chế đức Anh-tông khi xưa nữa. Thái-phó Lý Kính-Tu phản đối nhưng không ai nghe cả.
- Thế việc Phí binh bộ đón gặp chúng tôi đây có mục đích gì ? Mục đích này là do ý chỉ của Hoàng-thượng hay triều đình ?
- Thưa phò mã dường như không không do cả hai, mà do ý riêng của Đỗ thái hậu, Đỗ thái sư và Mạc thiếu sư ! Chiếu chỉ mà lão phu mang theo đây, Hoàng-thượng bị bắt buộc ký vào mà thôi. Triều đình có lời dặn lão phu cáo trước với phò mã, công chúa rằng : Nhị vị không phải quỳ gối lĩnh chỉ.
Thủ-Huy lại kinh ngạc nữa ! Công tiếp tờ chỉ từ tay Phí Công-Tín. Chỉ rất ngắn :

« Thái-sư thượng trụ quốc,
Tĩnh-hải tiết độ sứ, quan sát sứ , xử trí sứ,
An-nam đô hộ phủ,
Ngự sử đại phu,
Thượng-trụ quốc,
An-nam quốc vương.

Nay Thiên-quốc đang gặp binh cách. Phía Bắc bọn rợ Nữ-chân, phía Tây bọn Nhung Tây-hạ luôn phạm cảnh. Thánh thiên tử sai sứ sang An-nam phủ dụ, truyền phải chịu binh dịch. Than ôi ! Cô gia được Thiên-triều thương như con, ban cho chức tước lớn, cha truyền con nối, không thể làm ngơ khi đấng quân phụ phải lao tâm khổ tứ. Vậy cô gia gửi Tả-kim ngô đại tướng quân, Côi-sơn quốc công cùng vợ là quận chúa Đoan-Nghi đem đội dũng sĩ Long-biên sang trợ chiến với binh triều. Quận chúa Đoan-Nghi hãy giao hoàn thanh Thượng-phương bảo kiếm về cho cô gia.

Niên hiệu Thuần-hy thứ mười lăm, mùa Xuân tháng giêng, cát nhật
. ».

Thủ-Huy, Đoan-Nghi bàng hoàng cả người.
- Thực là nhục nhã.
Đoan-Nghi than : Từ cổ đến giờ, Trung-nguyên phong chức tước cho các vua ta, chỉ là hình thức ngoại giao. Còn ta vẫn giang sơn nhất khoảnh. Ta vẫn dùng quốc danh Đại-Việt. Vua vẫn dùng niên hiệu riêng. Ta vẫn có thân vương. Con vua vẫn là thái tử, công chúa. Chưa bao giờ ta phải chịu binh dịch. Thế mà bây giờ bọn họ Đỗ, họ Mạc nhục nhã đến độ bỏ quốc danh, quốc hiệu, chịu binh dịch. Thực không thể tưởng tượng được. Thế thì ta trở thành quận huyện của Tống rồi !
Phí Công-Tín than :
- Tin này lan ra ngoài, chư đại thần các trấn đều kinh hoảng. Võ lâm, hương đảng bàn tán xôn xao. Các gia, các phái định sẽ hội nhau nghị về việc này vào ngày giỗ vua Trưng. Đỗ thái sư lại làm chỉ, ép Hoàng-thượng ký, truyền bỏ lễ giỗ vua Trưng vào đầu tháng hai, bỏ lễ hội đền Hùng vào ngày 10 tháng ba.
Thủ-Huy than :
- Loạn ! Thế nào cũng có loạn.
- Quả thế, đại công tử của Thái-sư Đỗ An-Di bị một kẻ lạ đột nhập tư gia, điểm huyệt, khoét mắt, cắt lưỡi, chặt cụt cả tay lẫn chân, rồi đem bỏ ở chợ Tây-nhai. Lão mẫu của Mạc thiếu sư bị mổ bụng, dồn trấu vào trong. Tại tẩm cung của Thái-hậu, không biết kẻ nào đó đã cắt cái ấy...cái ấy của con ngựa, rồi bỏ lên dường của người. Khi lão phu lên đường, thì nghe đâu các đại môn phái dự tổ chức đại hội vào ngày 15 tháng 8, tại Lộc-hà, nhân giỗ Bắc-bình vương Đào Kỳ. Một viên thị lang bộ Lễ mới đưa ra ý kiến xin Thái-sư ban lệnh cấm tổ chức giỗ Bắc-bình vương. Lập tức ngay đêm đó, y cùng vợ con, gia thuộc bị giết hết, kể cả chó mèo, trâu bò, gà vịt. Sát nhân còn để giấy lại hăm rằng, bất cứ kẻ nào xướng xuất ra việc ngăn cản này sẽ bị giết cả nhà như viên thị lang.
- Trước kia, nước loạn do Cảm-Thánh, bây giờ lại nảy ra con dâm nữ Đỗ Thụy-Châu nữa !
- Thái-sư Đỗ An-Di làm biểu ép Hoàng-thượng ký : Kể từ nay, chỉ quan, quân mới được luyện võ. Cấm các gia, các phái thu nhận đệ tử. Triều đình gửi quân đến tổng đường các phái, bắt giải tán các đệ tử.
- Thế có xảy ra cuộc xô sát nào không ?
- Các đô thống dẫn quân đi giải tán võ phái, chỉ biết truyền chỉ rồi về Thăng-long, chứ không dám thi hành lệnh !
Thủ-Huy than :
- Không biết Côi-sơn song ưng có còn tại thế không ? Nếu người còn sống, thì liệu người có chịu can thiệp vào chuyện Hoàng-thành không ?
- Lão phu sợ là sợ đại hội võ lâm vào tháng tám này. Dường như các đại tôn sư định bàn kế đối phó với Đỗ thái hậu, Đỗ An-Di và Mạc Hiển-Tích. Trước sự việc đó, Đỗ, Mạc sẽ đem quân tiêu diệt võ lâm. Dù việc tiêu diệt thành hay bại, võ lâm cũng khởi binh. Bấy giờ nước sẽ loạn to.
- Có thể tránh được !
Thủ-Huy bàn :
- Nếu như giết Đỗ hậu , An-Di, Hiển-Tích, thì bấy giờ quyền phụ chính sẽ vào tay Lý Kính-Tu, binh quyền sẽ vào tay Long-Ích, Long-Tường. Vớiù Kính-Tu, Long-Ích, Long-Tường thì kỷ cương lại tái lập.
Đoan-Nghi cau mặt :
- Anh nên giữ lời một chút. Dù sao Chiêu-thiên Chí-lý cũng là mẫu nghi trăm họ, mà anh lại bàn nên giết đi, thì thực là loạn to rồi.
Thủ-Huy bị vợ trách, công ngồi im không nói, không rằng.
Phí Công-Tín tiếp :
- Hiện triều đình cho mười chiến thuyền chở đội võ sĩ Long-biên với đầy đủ vũ khí, lương thực, để theo phò mã sang trợ chiến với Tống. Mười chiến thuyền hiện đang dàn ra chờ lệnh phò mã.
Tiễn Phí Công-Tín về rồi, Đoan-Nghi hỏi Thủ-Huy :
- Bây giờ chúng ta phải làm gì ?
- Chúng ta bị đẩy vào đường cùng rồi ! Bao nhiêu công trình của chúng ta gây dựng mười mấy năm dài, nay hoàn toàn bị phá hủy trong tay người một con đàn bà ngu xuẩn, tham dâm. Ta chỉnh đốn binh lực, khiến cho thế của tộc Việt hùng mạnh, Chiêm mến, Tống sợ. Bây giờ y thị giải tán Thiên-tử binh, Ngưu-binh, Kị-binh, Thủy-quân. Đại-Việt phút chốc trở thành một tiểu quốc An-Nam. Đại-Việt hoàng đế lui về làm An-Nam quốc vương. Con mụ họ Đỗ lại bắt con mình từ bỏ cái thế Đại-Việt lùi về làm An-Nam quốc vương. Chúng ta đang là những người kết thân với Kim, ép Tống, chúng bắt chúng ta phải chịu lệnh Tống, đánh lại Kim. Hà ! Ta phải hành động sao đây ? Không lẽ ta phải mang cái thân lôm lốp đi đâm thuê chém mướn cho Tống ! Hơn nữa đánh những người bạn của ta ? ? ?
- Anh nên bỏ bớt cái ngôn từ khinh bạc đi có được không ? Cổ kim, chưa bao giờ có một phò mã gọi Thái-hậu bằng y thị, rồi mạ lỵ là ngu xuẩn, tham dâm cả.
Thủ-Huy hừ một tiếng không nói gì. Công thấy vợ tỏ vẻ mệt mỏi, thì hơi ngạc nhiên. Thình lình Đoan-Nghi ọe lên một tiếng rồi mửa ra nước nhờn. Kinh hãi, Thú-Thúy vội bắt mạch cho Đoan-Nghi. Bất giác nàng bật cười, tay vuốt ngực cho Đoan-Nghi rồi nói với Thủ-Huy :
- Mừng cho chủ nhân. Công chúa có mang.
Đỡ Đoan-Nghi ngồi dựa vào vách thuyền, Thúy-Thúy bàn với Thủ-Huy :
- Khi Gia-Thụy hoàng đế tự bỏ đế hiệu, niên hiệu thì chiếu chỉ trở thành một mệnh lệnh. Chủ nhân là phò mã, là công chúa, ngôi vị cao hơn quốc vương thì không phải tuân lệnh quốc vương. Vậy bây giờ chủ nhân cứ ngao du sơn thủy, chẳng cần sang Tống nữa. Hay chúng ta làm một Côi-sơn song ưng cũng đươc.
Đoan-Nghi sợ chồng nghe lời Thúy-Thúy, nàng xua tay :
- Tỷ-tỷ đừng nói vậy. Dù sao Gia-Thụy cũng bị mẹ, bị cậu ép buộc, chứ bản tâm đâu có muốn hành xử như vậy ? Hiện trong triều không còn thân vương nào cầm quyền. Họ Đỗ chỉ e sợ vợ chồng tôi mà thôi. Nếu nay chúng tôi vi chỉ, thì họ có cớ xóa tên tôi trong sổ Ngọc-điệp. Bấy giờ họ tha hồ thao túng, rồi đi đến cướp ngôi không chừng.
Thủ-Huy cho gọi đội trưởng võ sĩ Long-biên sang thuyền mình họp. Viên đội trưởng chính là con trai của một trong Đại-Việt ngũ tuyệt Trần Tử-Giác tên Trần Tử-Kim.
Nguyên khi cầm quyền thống lĩnh Thiên-tử binh, Thủ-Huy bàn với Long-Xưởng rằng :
« ... Thời vua Thánh-tông, ngài đã dùng Long-biên ngũ hùng lập đoàn Thần-tiễn Long-biên. Lại dùng Tây-hồ thất kiệt lập đoàn Giao-long Tây-hồ. Khai-quốc vương lấy thuật kị mã của Phù-đổng Thiên-vương, thuật bắn tên của Cao-cảnh hầu Cao Nỗ và võ công Đông-a để huấn luyện cho đội võ sĩ Long-biên. Lại lấy thuật thủy chiến cùng thuật quy tức của công chúa Gia-hưng Trần Quốc, võ công phái Sài-sơn luyện đội võ sĩ Giao-long. Hai đội này đã gây kinh hoàng cho quân Chiêm, quân Tống, và lập không biết bao nhiêu chiến công. Vậy bây giờ, cũng nên tái lập hai đội ngày ».
Long-Xưởng đồng ý. Nhưng đội Long-biên thì vẫn dùng tên cũ, còn đội Giao-long Tây-hồ thì đổi là đội Côi-sơn. Sau khi thành lập, Thủ-Huy gửi cả hai đội về Thiên-trường nhờ Đại-Việt ngũ tuyệt huấn luyện võ công.

Sau khi các võ sĩ đã có bản lĩnh của một cao thủ bậc trung, thì bắt đầu huấn luyện chuyên môn. Đội Côi-sơn trao cho Tá-Chu Kim-Ngân với Vỵ-xuyên ngũ tiên huấn luyện về thủy chiến, về thuật lặn dưới nước. Còn đội Long-biên, Thủ-Huy nhờ sư thúc Trần Tử-Tuệ, nức danh tiễn thủ bậc nhất Đại-Việt dạy tiễn thuật. Cuối cùng chính Thủ-Huy đem thuật kị mã, cùng phép kị chiến của Phù-đổng Thiên-vương dạy họ.
Trong ba lần chính biến : Giải cứu vua Anh-tông khi bị bọn tế tác Tống uy hiếp, đem quân về lập Long-Xưởng làm vua, cứu Long-Trác khi bị Long-Xưởng mưu hại... Thủ-Huy đều dùng lực lượng chính là hai đội võ sĩ này. Khi Thủ-Huy cáo quan về điền dã, thì hai đội cũng theo công về sống tại Thiên-trường. Lúc đưa Kiến-Bình vương Lý Long-Tường rời Thiên-trường về Thăng-long, Thủ-Huy lại cho hai đội này theo vương về. Bây giờ, không rõ mục đích gì triều đình lại gửi đoàn võ sĩ Long-biên theo công sang trợ chiến với Tống ?
Thủ-Huy hỏi Tử-Kim :
- Triều đình sai sư đệ dẫn đội võ sĩ Long-biên theo ta. Đội võ sĩ Long-biên chỉ lợi hại khi ngồi trên mình ngựa. Sao triều đình lại không cho mang ngựa theo mà chỉ cho mang cung tên, áo giáp ?
- Đệ cũng không rõ nữa. Quan Binh-bộ thượng thư Phí Công-Tín nói rằng, vì đi bằng đường thủy, thì không thể mang ngựa theo. Vả ngựa của ta là ngựa vùng nhiệt đới, nếu mang lên phía Bắc Trung-nguyên, e không chịu nổi khí hậu lạnh cắt da thịt. Khi sang Trung-nguyên, Tống sẽ cung cấp ngựa cho.
Tử-Kim còn trẻ, lại chưa vướng mắc vợ con. Sau khi hỏi qua tình hình, Thủ-Huy lệnh cho con thuyền Thiên-ưng dẫn dầu, phía sau là mười chiến thuyền chở đội võ sĩ Long-biên.
Cuộc hành trình trải qua bẩy ngày, thì đi vào lãnh hải của Quảng-Đông. Trong bẩy ngày, Đoan-Nghi thấy chồng trầm tư, ít nói, thì biết rằng Thủ-Huy cực kỳ bất mãn với triều đình. Nàng tự kiểm lại :
« Họ Lý nhà ta làm vua trải đã 178 năm. Trong gần hai trăm năm ấy, được khoảng 100 năm đầu là thịnh vượng. Kể từ khi vua Thần-tông băng đến giờ, chỉ vì cái nạn gà mái gáy, mà uy tín triều đình bại hoại. Ân đức bốn vị Thái-tổ, Thái-tông, Thánh-tông, Nhân-tông đối với quốc dân đã hết. Tăng ni, võ lâm, sĩ dân cùng có ý muốn thay đổi triều đình. Cứ cái đà này, chỉ cần một người có đức, phất cờ là triều Lý không còn nữa. Bấy giờ thì e giòng họ mình sẽ bị tru diệt hết. Làm sao bây giờ ? ».
Nhìn Thủ-Huy nằm dài trên tấm ván làm dường, mắt mở trừng trừng nhìn vào không gian, bất giác nàng cảm thấy chua chát :
« Đất nước vẫn đất nước ấy, dân chúng vẫn dân chúng ấy. Nhưng thời gian thính chính của Cảm-Thánh thái hậu, làm cho tan hoang, dân chúng đói khổ. Thế rồi, ông nội Thủ-Huy cũng như phái Đông-a ra công phò tá, trong mấy năm trời kỷ cương lại tái lập, dân chúng giầu có, quốc sản dư thừa, binh lực hùng mạnh, nước lớn sợ, nước nhỏ mến. Thế mà vợ chồng nàng mới rời quyền hành hơn năm, đã bị một người đàn bà tham dâm phá tan nát hết ».
Nàng tự nghĩ :
« Giá như người làm vua là ông nội hay phụ thân Thủ-Huy, thì có lẽ dân sẽ giầu hơn nữa, nước sẽ mạnh hơn nữa. Vậy có nên nghe lời Thủ-Huy mà giết Đỗ thái hậu không ? ».
Thình lình Trần Tử-Kim vào báo :
- Thưa sư huynh, thủy quân Tống dàn ra phía trước. Họ phất cờ ra hiệu cho chúng ta ngừng lại.
- Hạ buồm xuống, báo cho họ biết ta muốn gặp người chỉ huy cao cấp của họ.
Tuy ra lệnh, nhưng Thủ-Huy Doan-Nghi cũng lên chòi chỉ huy của thuyền để tiếp xúc với thủy quân Tống.
Hai chiến thuyền Tống từ từ ép vào mạn sườn con thuyền Thiên-ưng. Nhìn lên soái kỳ của Tống có hàng chữ Nam-hải, Lưu đô đốc . Thủ-Huy đã biết tông tích viên đô đốc này. Nguyên hai năm trước Thủ-Huy Đoan-Nghi trấn thủ Bắc-cương đã được tế tác cung cấp cho tất cả chi tiết về các quan của Tống ở Nam-thùy. Công nói với Tử-Kim :
- Chiến thuyền kia thuộc hạm đội Nam-hải của Tống. Viên đô đốc chỉ huy tên Lưu Phúc. Nguyên y xuất thân là tướng cướp, chuyên đánh cướp của người giầu, chia cho kẻ khó. Năm năm trước có chỉ chiêu dụ, y về hàng triều đình, được phong làm trưởng đoàn thủy quân. Năm vừa qua y được thăng lên chức đô đốc. Võ công y rất cao, hành xử quang minh lỗi lạc.
Viên thuyền trưởng Tống cầm loa hỏi :
- Các vị là thủy quân Việt, các vị sang đây có việc gì ? Xin cho gặp người chỉ huy cao cấp nhất.
Trần Tử-Kim vận nội lực nói lớn :
- Chúa tướng chúng tôi muốn gặp Lưu đô đốc.
Viên thuyền trưởng Tống nhìn sang con thuyền Thiên-ưng, thấy hai soái kỳ Đại-Việt. Một soái kỳ có hàng chữ Đại-Việt, Tả kim-ngô đại tướng quân . Một soái kỳ khác có chữ Côi-sơn quốc công, phò mã Trần . Y không hỏi gì nữa, vội chạy vào trong khoang. Lát sau y ra với Lưu Phúc. Lưu Phúc đã từng nghe danh Thủ-Huy, Đoan-Nghi. Y hành lễ với Thủ-Huy rồi cung tay tỏ ý mời:
- Không biết đại giá phò mã, công chúa sang đây có việc gì ? Xin mời nhị vị sang thiểm thuyền để tiểu tướng được hầu chuyện.
Suốt mấy năm qua, Thủ-Huy, Đoan-Nghi tổng trấn biên thùy Đại-Việt. Nhờ trị quân nghiêm, quân phong, quân khí cực sắc bén, các biên thần Tống nghe đối với công luôn có thái độ vừa kính vừa sợ. Mỗi khi hai bên có xung đột, công thường đích thân gặp các biên thần để giải quyết. Vì vậy Lưu Vĩnh cung cung, kính kính tiếp công.
Thủ-Huy, Đoan-Nghi tung mình sang chiến thuyền Tống. Lưu Phúc mời hai người vào trong. Phân ngôi chủ khách xong, Thủ-Huy nói :
- Tống triều gửi sứ sang Đại-Việt xin Gia-thụy hoàng đế gửi võ tướng cùng võ sĩ sang trợ chiến, chống bọn Nữ-chân. Cho nên chúng tôi với đội võ sĩ Long-biên...
Nghe Thủ-Huy nói, Lưu Vĩnh vừa kinh ngạc, vừa vui mừng :
- À ! Tiểu tướng biết rồi. Vì vậy Gia-thụy hoàng đế gửi phò mã với đội võ sĩ Long-biên sang Trung-nguyên. Không biết tiểu tướng đoán có đúng không ?
- Lưu đô đốc thông tuệ khác thường.
- Tiểu tướng chưa biết gì về vụ này cả. Tiểu tướng xin thỉnh phò mã, công chúa, cùng các võ sĩ vào trong căn cứ thủy quân. Tiểu tướng sẽ thông báo cho quan An-vũ sứ Quảng-Nam lộ.

Ghi chú của thuật giả:

Thời bấy giờ vùng cực Nam của lãnh thổ Tống gồm ba tỉnh Quảng-Đông, Quảng-Tây, Hồ-Nam ngày nay. Tất cả gọi chung là Quảng-Nam lộ. Viên quan lớn nhất là An-phủ sứ coi cả hành chánh, lẫn quân sự. Dưới An-phủ sứ, có hai viên phó. Viên coi về hành chánh là Chuyển-vận sứ, viên coi về quân sự là Đô-giám tuần kiểm. Lãnh thổ này, chia ra làm nhiều khu vực khác nhau : Quảng-Đông Nam lộ tức tỉnh Quảng-Đông, Quảng-Tây Nam lộ tức Quảng-Tây, Quế-châu tức tỉnh Hồ-Nam ngày nay. Mỗi vùng có một Tuyên-vũ sứ cai trị. Trong vùng, tùy theo rộng lớn, lại chia ra thành nhiều quận, huyện.

Thủ-Huy Đoan-Nghi cùng đội võ sĩ Long-biên neo thuyền tại Quảng-châu, thủ phủ của Quảng-Đông Nam lộ. Ban ngày các võ sĩ được lên bờ mua sắm, dạo chơi. Ban đêm họ lại trở về thuyền. Cứ mỗi chiều, Thủ-Huy Đoan-Nghi lại họp các võ sĩ lại để dậy họ nói tiếng Hoa, giảng cho họ biết về lịch sử, văn minh, phong tục Trung-quốc. Nhưng họ là những võ sĩ trẻ, đầy khí lực, khi ở trong nước thì ngày ngày phi ngựa, bắn cung ôn tập. Bây giờ họ bị giam lỏng dưới thuyền, phải xa quê hương, gia đình...họ luôn buông lời bất mãn.
Theo lời yêu cầu của Tuyên-vũ sứ Quảng-châu rằng để tránh tai mắt tế tác Kim, Tây-hạ, cũng như để các võ sĩ Long-biên không bị dân Tống kỳ thị ; y xin Thủ-Huy cho mọi người mặc y phục như dân Tống. Thủ-Huy thấy đề nghị đó dường như muốn làm nhục mình. Công không chấp thuận. Tuyên-vũ sứ cũng đành buông xuôi.
Thời gian êm đềm trôi qua, thoáng một cái, mùa hè đã tới, mà cũng không có tin tức gì của Tống triều. Tuy hằng ngày Thủ-Huy vẫn luyện võ cho đội võ sĩ Long-biên, để giết thời giờ, nhưng các võ sĩ vẫn bất mãn. Họ công khai than với Thủ-Huy. Thủ-Huy than với Đoan-Nghi :
- Em ạ ! Anh không muốn trở thành một thằng ngu trung. Sức chịu đựng của anh chỉ có giới hạn. Em thử nghĩ xem ! Chúng mình đang đường đường ngồi tọa trấn Bắc-cương, bọn quan lại Nam-thùy của Tống nghe danh đã run sợ. Bây giờ triều đình biến chúng mình thành những tên tù giam lỏng, hằng ngày phải lĩnh lương thực của bọn Tống cung cấp. Nhục đến thế là cùng. Chúng ta phải thoát ra khỏi tình trạng này.
Công không kiềm chế được nữa :
- Vật cùng tắc phản, uốn quá hóa cong. Đất nước là của trăm họ. Sự nghiệp là của vua Hùng, vua An-Dương, vua Trưng để lại. Các vị tiên đế bản triều bỏ ra biết bao tâm huyết xây dựng. Thế mà Chiêu-Hiếu thái hậu vì tình cốt nhục để cho Anh-Vũ phá nát. Rồi Cảm-Thánh vì tham dâm mà gây cho trăm họ căm hận đến xương, đến tủy. Bây giờ đến con mụ Đỗ Thụy-Châu. Đã tới lúc chúng ta phải gạt bỏ cái gì là phò mã, là công chúa, rút gươm thế thiên hành đạo.
Đoan-Nghi an ủi chồng :
- Bây giờ là lúc thanh bình, tại Nam-thùy Tống không có hệ thống ngựa trạm. Ta đến đây, Tuyên-vũ sứ báo về cho viên trấn thủ ở Quế-châu mất hơn tháng. An-vũ sứ Quảng-Nam lộ báo về triều mất hơn tháng. Rồi triều đình con rùa nghị sự, ban chỉ cũng hơn tháng. Cuối cùng sứ đem chỉ đến ta hơn tháng nữa. Tính chung cần tới bốn tháng. Ta cứ chờ xem.Từ hôm sang đây đến giờ, chúng ta chỉ dùng chim ưng liên lạc với gia đình. Mà gia đình mình thì tuyệt đối bưng tai, nhắm mắt không biết gì đến việc triều đình. Vậy ta thử dùng chim ưng liên lạc với Tô Trung-Từ, Phùng Tá-Chu xem sao, rồi hãy hành động.
Thủ-Huy viết thư, kể rõ tình trạng công với Đoan-Nghi, rồi sai chim ưng mang đi liền. Chim ưng đi đã mười ngày, mà không có hồi âm. Thủ-Huy càng nóng nảy.
Rồi hơn tháng sau, Tử-Kim trình lên Thủ-Huy một phong thư, do chim ưng mang từ Đại-Việt sang. Thủ-Huy mở ra xem, thì là thư của Phùng Tá-Chu Kim-Ngân. Công trao vào tay Thúy-Thúy, để nàng đọc cho Đoan-Nghi cùng nghe :

« Trước hết là tin nhà. Tất cả đều mạnh khỏe, vô sự. Trong mùa Xuân vừa qua, số ruộng đất khai hoang thêm được năm vạn mẫu. Dân chúng các nơi kéo về lập nghiệp tăng hơn mười vạn người. Uy tín, đạo đức của bố-mẹ, anh chị Lý lên quá cao. Trong triều, bọn họ Đỗ tuy có hơi sợ, nhưng chúng dư biết rằng ngoài cái việc lo cho dân chúng no ấm, thì anh Lý không cần biết đến bất cứ vấn đề gì. Vì dân chúng no đủ, không có nạn người dân bị cường hào ức hiếp, nên trong vùng ảnh hưởng của anh chị Lý, tuyệt không xẩy ra một vụ trộm cắp nào. Triều đình cho rút tất cả binh địa phương, thủy đội ở vùng Trường-yên, Thiên-trường đi nơi khác. Cho nên suốt một giải Thiên-trường cho tới Trường-yên, vấn đề an ninh, do nhà ta điều động tráng đinh tự lo lấy.

Về việc trều đình gửi đội võ sĩ Long-biên theo anh chị, không phải là thiện ý với Tống đâu, mà vì sợ anh chị đấy thôi. Khi Đỗ An-Di đã ép nhà vua ban chỉ tống anh chị đi, nhờ Kim giết dùm. Y lo nghĩ, biết đâu trong lúc cùng đường anh chị không tìm cách giết Thái-hậu với y ? Nếu anh chịù ra tay thì sẽ dùng đội võ sĩ Long-biên, Côi-sơn. Nhưng đội Côi-sơn chỉ giỏi thủy chiến, y không để tâm. Y chỉ sợ có đội Long-biên mà thôi. Đã có người bàn với y nên giải tán đội này. Ngặt vì các võ sĩ võ sĩ Long-biên đều là đệ tử Đông-a, khi giải tán, thì họ về Thiên-trường sống. Mà Thiên-trường cách Thăng-long có một giờ sức ngựa. Khi anh chị ra tay thình lình, thì y trở tay không kịp. Thế là y tống họ đi cùng với anh chị để mượn tay Kim giết dùm.
Bây giờ tới tin trong triều. Gia-thụy hoàng đế bị thái hậu với Đỗ An-Di, Mạc Hiển-Tích lấn đến không còn một quyền hành gì. Thái-phó Lý Kính-Tu phản đối, thì họ lờ đi, coi như không. Hai vương Kiến-Khang, Kiến-Bình được đưa về triều, sống như những anh nhà giầu, ngay cả việc thiết triều, họ cũng không cho mời.
Về việc anh chị đang là người cầm quyền nghiêng nước, tọa trấn Bắc-cương phòng Tống, kết thân với Kim ; chúng biến anh chị thành cống vật dâng cho Tống, đánh lại Kim là mưu của Đỗ An-Di với Thụy-Châu. Nghe đâu chúng định làm chuyện đại nghịch. Trước hết chúng gửi sứ sang Tống, xin phong cho An-Di làm An-Nam quốc vương, rồi phế Gia-thụy hoàng đế xuống. Chúng cũng xin với Tống làm thế nào đưa anh chị ra trận, để Kim giết chết cho tuyệt hậu hoạn. Nhưng Tống không tin Đỗ An-Di. Họ cho rằng việc anh chị bị đưa sang làm cống vật là khổ nhục kế của Đỗ, họ nghi rằng Đỗ giả đưa anh chị sang cống Tống, rồi chờ khi Tốngï trao binh quyền cho anh chị, anh chị sẽ trở giáo cùng Kim đánh lại Tống. Trong khi đó Đại-Việt đánh từ Nam lên, thì Tống không còn nữa. Tống nghi thế, nên họ tính mưu : Cứ để anh chị nằm dài ở Quảng-châu, nhàn cư vi bất thiện. Một mặt phong cho An-Di làm An-Nam quốc vương để An-Di cướp ngôi vua. Bấy giờ anh chị quá uất ức, sẽ trở về Đại-Việt đem quân trung hưng Lý triều. Thế là Đại-Việt có nội chiến, tinh lực mất hết. Tống không lo mặt Nam thùy nữa. Tất cả tin tức này, ông nội biết hết. Người lệnh cho chư đệ tử tọa thủ bàng quan, mặc họ Đỗ, họ Lý tranh dành nhau. Nhược bằng kẻ nào hại dân, hại nước, thì sẽ thế thiên hành đạo.
Đấy tin nhà chỉ có vậy, tình dân, thế nước như thế đấy. Chúng em báo cho anh chị biết ».


Thủ-Huy hỏi Đoan-Nghi :
- Chúng ta phải làm gì ? Nếu chúng ta chậm trễ thì khi Đỗ An-Di cướp ngôi rồi, e cả nhà Long-Ích, Long-Trát, Long-Tường bị giết đã đành, mà cho đến tính mệnh của toàn thể họ Lý và gia thuộc e cũng khó toàn.
- Khó quá !
Đoan-Nghi than :
- Hiện Thiên-tử binh, Ngưu- binh, Kị-binh, Thủy-binh bị giải tán hết hồi. Nếu như An-Di thoán vị, thì ta đâu còn lực lượng mang về tru diệt chúng ? Ví như những hiệu binh kia có còn chăng nữa, thì chúng ta ra lệnh, họ cũng không nghe theo kia mà ?
- Việc này không khó. Tại sao chúng ta không làm như Ưng-sơn song hiệp, Mộc-tồn vọng thê hòa thượng, Côi-sơn song ưng ? Kìa, Đỗ Anh-Vũ uy quyền biết bao, mà Côi-sơn song ưng chỉ làm một mẻ là diệt hết bọn chúng ?
- Vậy ta chỉ cần giết hai tên Đỗ An-Di, Mạc Hiển-Tích cũng đủ.
- Đầu giây mối nhợ là con mụ Đỗ Thụy-Châu. Phải giết con mụ này với cả nhà hai tên Đỗ An-Di, Mạc Hiển-Tích.
Đoan-Nghi gắt lên :
- Anh nói như vậy thì còn đạo lý nào nữa ? Anh là phò mã, mà anh định giết Thái-hậu ư ? Thái-hậu là quốc mẫu, là người tiên đế sủng ái, mà anh định giết ư ?
Thủ-Huy nổi cộc :
- Thôi ! Anh không muốn bàn đến chuyện này nữa. Anh buông hết ! Buông hết. Khi vợ muốn cướp sự nghiệp của nhà chồng cho anh mình. Khi mẹ muốn phế ngôi con, muốn giết con, thì anh chả tội gì mà lăn mình vào chỗ hôi tanh. Ngày mai anh sẽ dâng biểu về cho Chiêu-thiên Chí-lý thái hậu, xin tôn Đỗ An-Di lên ngôi vua.
Thấy Thủ-Huy nổi cộc, dỗi ra, Đoan-Nghi mở to mắt nhìn chồng, không nói, không rằng.
Khi thư tới, Thủ-Huy không trao cho Đoan-Nghi đọc, mà trao cho Thúy-Thúy ; nàng linh cảm thấy vợ chồng chủ nhân đã có cái gì bất hòa cực lớn ở trong rồi. Cái bất hòa đó là : Đoan-Nghi thì muốn Thủ-Huy giữ phận trung thần, phận một phò mã cúi đầu tuân phục cái triều đình thối tha kia. Ngược lại Thủ-Huy quá uất ức, vì những công lao của nhà mình, của mình hơn chục năm qua, nay trở thành một tuồng hư ảo. Lại còn bị con mụ đàn bà tham dâm đưa vào đường cùng. Công muốn làm một cái gì mà vợ không cho.
Bất giác Thúy-Thúy đưa mắt nhìn Thủ-Huy, Đoan-Nghi : Hai người im lặng cùng mở to mắt nhìn nhau, mà không ai nói một câu gì. Để phá tan cái không khí lạnh lẽo đó, nàng bàn :
- Cái thế của chủ nhân bây giờ là : Về thì vi chỉ, Đỗ Thái-hậu có thẻ căn cứ vào đó mà hại chủ nhân. Còn cứ nằm chờ mãi, thì chẳng hóa ra ở tù sao ? Tiểu tỳ nghĩ : Trong khoảng trời đất mênh mông này, thiếu gì chỗ cho chúng ta trú chân ? Chủ nhân đã thân quen với Kim, với Mông-cổ, chủ nhân còn chờ gì mà không làm một chuyến du ngoạn hai xứ này ?
Thủ-Huy như tỉnh ngộ :
- Ừ nhỉ ! Đoan-Nghi ! Chúng ta hãy bỏ Quảng-châu, sang Kim thăm các bạn cũ một chuyến.
Đoan-Nghi biết rằng mình bỏ đi như thế này, thì bọn Đỗ An-Di có thể lấy cớ rằng mình bất tuân chỉ, mà bắt Gia-thụy hoàng đế ban chỉ xóa tên mình trong sổ Ngocï-diệp. Nhưng, đứng trước cái uất hận của Thủ-Huy, mà nàng không chịu cho chồng thoát cảnh cá chậu chim lồng, không chừng chàng sẽ bỏ Quảng-châu, về Đại-Việt kéo quân làm loạn, thì tai vạ sẽ không biết đâu mà lường. Vì vậy Đoan-Nghi phải tùng quyền :
- Thôi thì trong khoảng trời đất mênh mông này, ở đâu có thể cho chúng ta trú chân, thì chúng ta tới. Nhưng...
- Nhưng gì ?
- Em sợ chúng mình đi như thế này, e họ Đỗ sẽ mưu cướp ngôi thì nguy lắm.
- Vì vậy chúng ta mới phải giết con điếm già Đỗ Thụy-Châu với tên hủi Đỗ An-Di, tên đĩ đực Mạc Hiển-Tích. Nhưng em không cho.
Nghe chồng nói tục, Đoan-Nghi phát cáu, nàng nói lớn :
- Em muốn từ nay anh bỏ cái ngôn từ khinh bạc, dùng lời lẽ thô tục với Thái-hậu đi, và đừng bao giờ nghĩ đến việc giết Thái-hậu nữa !
- Thái-hậu ! Bụt ngồi trên tòa, gà nào dám mổ mắt ? Đây tự y thị bỏ cái ngôi vị cao quý, làm đĩ không tiền, để... để ... với thằng hủi Mạc Hiển-Tích, khắp bàn dân thiên hạ đều muốn băm vằm y thị ra như băm chả.
Thủ-Huy, Đoan-Nghi nhìn nhau không nói, cả hai biết rằng, nên dừng lại ở đây, bằng không thì tình vợ chồng khó toàn.
- Thưa chủ nhân.
Thúy-Thúy bàn :
- Tiểu tỳ nghĩ họ Đỗ không thể nảy lòng hươu dạ vượn, nếu như võ lâm Đại-Việt biết âm mưu của họ...
Đoan-Nghi nắm tay Thúy-Thúy :
- Cảm ơn tỷ tỷ. Vậy thì thế này. Bây giờ ta viết thư, sai chim ưng mang về cho Tá-Chu Kim-Ngân, Trung-Từ Bảo-Bảo, nhờ họ sai đệ tử đi khắp nơi phao tin họ Đỗ mưu phản. Như vậy võ lâm sẽ hội nhau luận bàn. Anh em họ Đỗ bị động, mà bỏ ý định.
Trần Tử-Kim chỉ Thủ-Huy :
- Sư tỷ ơi ! Làm thế, lỡ ra một đệ tử sơ hở, có thể bị bắt điều tra, e Tá-Chu, Trung-Từ sẽ gặp nguy hiểm. Em nghĩ, tại sao sư huynh không làm một tờ cáo tri, nhân danh Côi-sơn song ưng, âm thầm sai người về dán ở các cổng thành Thăng-long, Văn-miếu, Chiêu-thiền tự, đền thờ vua Trưng. Đỗ thái hậu, Đỗ thái sư, gan có lớn bằng trời cũng không dám làm phản nữa.
Thúy-Thúy reo :
- Kế này hay thực. Côi-sơn song ưng là sư thúc của chủ nhân, người lại cực kỳ sủng ái chủ nhân. Chủ nhân làm việc này, nếu như người có biết, thì sẽ vui lòng lắm, bởi người đã truyền ngôi Côi-sơn song ưng cho chủ nhân rồi. Trước đây sư tỷ Kim-Ngân từng nhân danh người nhiều lần.
Thấy Đoan-Nghi trì nghi, Thủ-Huy biết cô vợ mình không muốn chính tay viết tờ cáo tri kể những xấu xa của Đỗ thái hậu, cũng như triều đình. Công nói với Thúy-Thúy :
- Tỷ-tỷ có thể viết cho tôi tờ cáo tri không ?
- Tiểu tỳ xin tuân lệnh chủ nhân.
Đoan-Nghi cau mày tỏ vẻ khó chịu, nhưng phải chấp nhận. Thúy-Thúy lùi ra khoang thuyền phía sau. Không đầy hai khắc nàng trở lại, trình cho Thủ-Huy một tờ giấy. Thủ-Huy cầm lấy đọc :


Côi-sơn song ưng cáo tri với
Quốc-dân và võ lâm Đại-Việt.

Bảo vệ đất tổ, thế thiên hành đạo, tru diệt kẻ ác là nhiệm vụ chính của người học võ.
Kể từ khi vua Anh-tông băng, tiếp theo, Thái-sư Tô Hiến-Thành hoăng, phò mã Thái-úy Trần Thủ-Huy, với công chúa Đoan-Nghi quy ẩn... Ấu quân không chủ trương được việc lớn, nên đã xẩy ra biết bao nhiêu điều, làm thế nước chênh vênh, tình dân chán nản.

Trước tiên. Trong cung, Đỗ hậu thông dâm với tên gian thần Mạc Hiển-Tích, ban cho y quyền cao chức trọng. Y ra vào cấm cung, tự ý ra lệnh cho cung nga, thái giám, không còn coi luật pháp, kỷ cương ra gì. Than ôi, trải lịch đại mấy ngàn năm của Đại-Việt ta, có bao giờ hậu cung lại ô uế như vậy đâu ? Có bao giờ một mẫu nghi thiên hạ lại công khai dâm loạn với gian thần như vậy đâu ?
Thứ nhì, Kiến-Khang vương, Kiến-Bình vương, đều là những bậc tài trí hơn đời, văn mô vũ lược, mà Đỗ hậu không trao cho một chút quyền hành. Quyền hành đều nằm trong tay anh của y thị là Đỗ An-Di, và người tình là Mạc Hiển-Tích. Trong triều, ngoài trấn, không có một thân vương, quốc thích nào được nắm quyền. Bao nhiêu quyền đều nằm trong tay họ Đỗ, họ Mạc. Hỏi rằng cổ, kim, dù Hoa, dù Việt, có bao triều đại nào như vậy không ?
Thứ ba, tên Đỗ An-Di, anh ruột của Đỗ hậu, thu cả quyền hành Tam-công vào tay. Y sai chân tay giả làm giặc cướp, giết Bảo-Quốc đại vương, cùng toàn thể gia thuộc đến mấy trăm người. Thảm khốc nhất là bẩy người con của vương. Tuổi thơ nào có tội tình gì ? Tất cả đều là những giọt máu của các vị tiên đế. Trời sầu đất thảm. Núi khóc, sông rên. Võ lâm căm hờn. Sĩ dân nghiến răng nuốt hận.
Thứ tư, gần đây Đỗ hậu, An-Di, mưu thoán đoạt, sai sứ sang Tống cầu phong. Tống triều ra ba điều kiện. Một là phải giải tán Thiên-tử binh, Ngưu-binh, Kị-binh, Thủy-binh. Hai là phải bỏ quốc hiệu, niên hiệu, lùi lại làm An-Nam quốc vương. Ba là phải chịu binh dịch. Ba điều này có khác gì Đại-Việt bị lệ thuộc, thành quận huyện của Tống rồi không ? Hỡi ơi ! Kể từ khi đức Thái-tổ dựng nghiệp rồng, trải qua sáu vị tiên đế, khi thịnh, lúc suy, tuy có khác nhau, nhưng Đại-Việt ta vẫn Nam-phương một cõi. Có bao giờ phải nhục như bây giờ đâu ?
Nay ta cáo tri với võ lâm, sĩ dân, chỉ rõ lòng hươu dạ vượn của Đỗ hậu, của An-Di, của Hiển-Tích. Xin tất cả mài gươm, vót tên chờ sẵn, phòng khi bọn Đỗ, bọn Mạc dâng nước cho Tống, còn trở tay kịp.
Ta cũng lệnh cho Đỗ Thụy-Châu, Đỗ An-Di, Mạc Hiển-Tích phải thi hành ngay ba điều :
- Một là Đỗ thị phải lui về chốn hậu cung, không được tham dự vào việc triều chính.
- Hai là Đỗ An-Di phải trao binh quyền cho người có tài. Trao quyền phụ tá Gia-thụy hoàng đế cho Thái-phó Lý Kính-Tu. Trao đại quyền cho Kiến-Khang vương, Kiến-Bình vương.
- Ba là, lập tức tâu Gia-thụy hoàng đế trở lại với quốc danh Đại-Việt, niên hiệu một hoàng đế, và bỏ cái việc sang Tống cầu phong.
Nếu như trong ba tháng, những điều trên chưa thi hành, ta sẽ giết tận số họ Đỗ, họ Mạc, cho đến trâu bò, chó mèo, gà vịt cũng không tha.
Niên hiệu Thiên-tư Gia-thụy tháng sáu, ngày vọng.
Côi-sơn song ưng.


Thủ-Huy sai sao làm mười bản, rồi viết một lá thư , niêm phong cẩn thận, trao cho Trần Tử-Kim :
- Đây là bức thư ta viết cho Phùng sư huynh căn dặn những việc phải làm. Sư đệ chọn mười võ sĩ thân tín, lấy một thuyền, về Đồn-sơn. Tới Đồn-sơn gặp sư huynh Phùng Tá-Chu, xin một lệnh bài, lại hỏi mượn một dân thuyền. Sau đó âm thầm về Thăng-long, dán lên năm cửa thành, Văn-miếu, chùa Chiêu-thiền, chùa Một-cột, đền thờ Linh-Nhân hoàng thái hậu, đền thờ vua Trưng. Công việc hoàn thành, lập tức trở lại Đồn-sơn, rồi sang đây.
Từ trước đến giờ, bất cứ quyết định việc gì, Thủ-Huy cũng bàn với Đoan-Nghi. Đây là lần đầu tiên công nghe lời bàn của Thúy-Thúy, Tử-Kim, rồi tự ý hành sự, mà coi như không có Đoan-Nghi. Trong lòng cô công chúa này nảy ra niềm chua chát :
- Cũng chỉ vì triều đình Tiêu-sơn nhà ta phụ Thủ-Huy, phụ gia đình Thủ-Huy, mà ra nông nỗi. Con dun đạp mãi cái đầu phải quằn. Con chó, con mèo tuy phục tùng chủ, nhưng khi chủ đánh đập, dồn nó vào đường cùng, thì nó cũng phải cắn lại.
Nhưng là người cực kỳ thông minh, nàng lại nghĩ :
- Từ ngày gặp nhau, ông chồng luôn sủng ái mình, bất cứ viết thư cho ai, cũng đưa cho mình đọc. Thế mà bây giờ viết thư cho Tá-Chu Kim-Ngân lại không cần biết đến mình là tại sao ? Biết đâu thư đó không gửi cho Tá-Chu Kim-Ngân mà gửi cho anh Trần Lý, hoặc Trung-Từ Bảo-Bảo cũng nên ? Biết đâu thư đó, không sai bộ hạ cũ giết Thái-hậu ? Ái chà ! Ông chồng mình mang trong người giòng máu của họ Trần, tiêu dao tự tại, hành động tự ý không cần biết đến luật pháp đã quen. Việc giết Thái-hậu có thể xẩy ra lắm. Làm sao bây giờ ?
Thế rồi hai vợ chồng sống trong cái không khí dằn vặt, căng thẳng suốt hai tháng trời. Hôm ấy, vào buổi chiều thì Tử-Kim từ Đại-Việt qua. Thủ-Huy gọi y sang con thuyền Thiên-ưng, để nghe trình bầy tin tức.
Vừa an tọa, Thủ-Huy đã hỏi :
- Công việc ra sao ?
Tử-Kim thuật :
« Đệ cùng mười anh em về tới Thăng-long vào buổi chiều. Ngay đêm hôm đó thì thi hành kế hoạch. Các bản cáo tri được dán lên những nơi đã định. Hôm sau anh em đệ len lỏi vào kinh thành nghe ngóng tin tức, thì các cửa thành đóng kín, thị vệ, cấm quân đi lại canh phòng nghiêm mật. Dân chúng tụ nhau bàn tán xôn xao. Rồi thấy quân sĩ di chuyển. Dân chúng hoang mang không hiểu những gì đã xẩy ra.

Hai hôm sau, cửa thành mở rộng, loa tại các phường, các làng rao cho dân chúng biết : Đỗ An-Di, Mạc Hiển-Tích làm phản, đã bị dẹp. Bè đảng, gia thuộc của chúng bị Côi-sơn song ưng giết sạch. Nghe tin này, biết rằng dù đệ xuất hiện, bị triều đình biết cũng không sao. Đệ tìm đến chỗ đóng quân của đội võ sĩ Côi-sơn. Sư huynh Phan Lân cho đệ biết sự việc xẩy ra như sau : Ba ngày trước, khi dân chúng đọc các bản cáo tri của Côi-sơn song ưng, cả kinh thành rúng động. Đỗ Thái-hậu, Hoàng-thượng, Đỗ An-Di, Mạc Hiển-Tích đều táng đởm kinh hồn. Hoàng-thượng gạn hỏi Đỗ thái hậu về việc cầu Tống phong cho An-Di làm An-Nam quốc vương. Thái hậu mắng Hoàng-thượng như tát nước vào mặt. Thái-hậu tuyên triệu Đỗ An-Di, Mạc Hiển-Tích vào cấm cung nghị sự. Hai người đưa ra đề nghị :
- Việc đã như thế này, thì ta có chối cũng vô ích. Bây giờ Thái-hậu tuyên chỉ triệu hồi các quan vào Hoàng-thành, nói rằng để tìm cách đối phó với vụ Côi-sơn song ưng phạm tội đại bất kính, vu cáo. Khi các quan hiện diện đầy đủ, Thái - hậu tuyên bố nhà vua không xuất ra từ Thái-hậu, mà là con của Tuyên-phi Từ Thụy-Hương. Vì vậy Thái-hậu truất phế nhà vua, tôn Thái-sư lên ngôi.
Thái-hậu đồng ý, người ban chỉ giam Hoàng-thượng, Đàm nguyên phi vào cung Long-thụy, trao cho bà Đào Như-Như, tổng lĩnh cung nga canh phòng, rồi cùng An-Di, Hiển-Tích họp các quan.
Bà Đào Như-Như cùng một số cung nga thân tín phò Hoàng-thượng, Đàm nguyên phi, theo đường hầm trốn khỏi Hoàng-thành, đến ẩn tại dinh của Kiến-Bình vương.
Bà Đào Như Như hành sự quá bí mật, Thái-hậu không biết gì, người vẫn ra lệnh họp các quan khẩn cấp. Các quan đều tề tựu đủ. Hai vương Kiến-Khang, Kiến-Bình không đươc mời. Vắng mặt Thái-bảo Đàm Thì-Phụng. Thái- hậu tuyên chỉ rằng : Hoàng-thượng nguyên không phải xuất ra từ Thái- hậu. Hoàng-thượng là con của một nữ gian tế Tống là Từ Thụy-Hương với phản tặc, dâm tặc là... »
- Là ai ?
Đoan-Nghi hỏi :
- Không lẽ là Hiển-Tích ?
Tủ-Kim chỉ vào Thủ-Huy :
- Là sư huynh !
Đoan-Nghi, Thủ-Huy, Thúy-Thúy cùng bật lên tiếng ái chà chà.
Thủ-Kim tiếp :
« Thái-hậu còn kể ra : Nào nữ gian tế này là người phái Hoa-sơn, quản lĩnh ngọn núi Mao-nữ. Không những y thị gian dâm với dâm tặc, phản tặc Trần Thủ-Huy, mà còn gian dâm với nghịch tử Long-Xưởng ».
Thủ-Huy cười nhạt, hỏi Đoan-Nghi :
- Hà ! Nước đục, bụi trong ! Anh là gian tặc, dâm tặc ! Còn con mụ Đỗ Thụy-Châu là trinh tĩnh, là trong sạch ư ? Mẹ cha nó chứ, y thị mới chính là cái...con lợn động đực ! Tổ bà nó. Từ nay em đừng có dùng cái gọi là Thái- hậu với anh nữa nghe. Mà phải dùng cái tên...con đĩ ngựa, con... con...
Tử-Kim biết sư huynh quá giận, chàng thuật tiếp :
« Thái-hậu tiếp : Rồi nữ dâm tặc Thụy-Hương mê hoặc tiên đế, mà thành Tuyên-phi. Khi thành Tuyên-phi rồi, mà nữ dâm tặc còn lén lút gian dâm với Long-Xưởng, với dâm tặc Thủ-Huy. Chính vì mẹ là người Tống, nên Hoàng- thượng đã tự ý bỏ quốc danh Đại-Việt mà đổi thành quận An-Nam. Bỏ đế hiệu mà lùi lại làm An-Nam quốc vương, bỏ niên hiệu Thiên-tư Gia-thụy mà dùng niên hiệu Thuần-Hy của Tống. Nhục nhã hơn nữa, Hoàng-thượng còn phải cúi đầu chịu binh dịch với Tống, nào gửi lương thực, lừa ngựa, nào gửi cha đẻ là dâm tặc Thủ-Huy đem đội võ sĩ Long-biên sang đánh thuê cho Tống. Khi tới Quảng-châu, dâm tặc lại gian dâm với Vân-Đài Vương Thúy-Thúy, mà giết công chúa Đoan-Nghi, quẳng xác xuống biển. Thái-hậu kết luận : Hoàng-thượng có bà ngoại là một ca kỹ, mẹ là gian tế Tống, cha là một phò mã dâm tặc, thì không thể ngồi vào ngôi bảo tộ. Hơn nữa, cơ thể Hoàng-thượng bạc nhược, tư chất đần độn thì sao có thể là một minh quân ? Vì vậy Thái-hậu quyết định phế Hoàng-thượng xuống làm Hôn-đức vương, tôn Thái-sư Đỗ An-Di lên làm vua.
Mạc Hiển-Tích đưa tờ biểu tôn An-Di lên ngôi cho các quan ký. Thái-phó Lý Kính-Tu đứng lên phản đối rằng :
- Tất cả những lời của Đỗ Thái-hậu đều là bịa đặt. Cái việc bỏ quốc danh, quốc hiệu, niên hiệu, chịu binh dịch là do Thái-hậu với An-Di, Hiển-Tích làm, chứ Hoàng-thượng không biết gì.
Lập tức Thái-hậu chỉ vào mặt Lý Thái-phó mắng rằng :
- Việc chịu lụy với Tống là do chính thằng giặc già này ép Long-Trát.
Thái-phó cũng như muột số các quan nói rằng :
- Dù Hoàng-thượng có là con của Trần Thủ-Huy đi, thì khi phế xuống, triều đình còn Kiến-Khang vương, Kiến-Bình vương là hai thân vương tài trí kinh nhân. Tại sao lại tôn Thái-sư lên ngôi vua ?
Thái-hậu ban chỉ bắt Lý Thái-phó chém đầu ngay tại chỗ. Bọn quan lại thuộc phe họ Đỗ, họ Mạc cùng ký vào biểu tôn An-Di lên ngôi, các đại thần trung lương còn đang lưỡng lự....
Giữa lúc đó gia tướng của Đỗ An-Di, Mạc Hiển-Tích vào báo: Côi-sơn song ưng đem người đến tấn công dinh Thái-sư, Thiếu-sư ; giết bố, mẹ, vợ, con, gia thuộc cắt đầu đem đi. Họ cũng giết luôn cả trâu bò, lừa ngựa, gà vịt, rồi châm lửa đốt dinh.
An-Di, Hiển-Tích kinh hoàng hỏi :
- Thế các đội thị vệ canh gác dinh đâu, mà để cho ác nhân hành sự dễ dàng như vậy ?
- Thưa, sáng nay, khi hai lão gia vào triều, thì có lệnh Khu-mật viện điều động hai đội thị vệ đi Kinh-bắc.
Đến đó thì thị vệ vào tâu :
- Có ba chiếc xe, mỗi xe do hai trâu kéo. Trên các xe đều dựng một cái nơm. Xung quanh nơm treo tua tủa đầu người. Nóc nơm có lá cờ vẽ hình hai con chim ưng bay qua ngọn núi. Xe không người điều khiển, khi đến cửa Hoàng-thành thì ngừng lại.
Các quan cùng bật lên tiếng kêu :
- Côi sơn song ưng.
Thái-hậu, An-Di, Hiển-Tích cùng chạy ra quan sát. Bất giác ba người kêu thét lên. Vì những đầu người trên hai xe là bố, mẹ, vợ con, gia thuộc của An-Di, Hiển-Tích.
Đến đó thì Kiến-Khang, Kiến-Bình vương cùng tướng quân Đàm Thì-Phụng phò Hoàng-thượng, đem thân binh, gia tướng tới bao vây Hoàng-thành. Bọn thị vệ của Hiển-Tích, An-Di buông vũ khí đầu hàng. Mặc dù Thái-hậu la hét, hai vương bắt Đỗ An-Di, Mạc Hiển-Tích cùng gian đảng chém ngay tại đương trường ».
Đoan-Nghi thở dài nhẹ nhõm :
- Thế còn Thái-hậu ?
Thủ-Huy nói gằn từng tiếng :
- Không phải Thái-hậu, mà là con điếm già, con chồn hôi, con đĩ ngựa, con chó dái, con...thối tha !
Đoan-Nghi cau mặt, nhìn chồng trừng trừng.
Tử-Kim trả lời :
- Hoàng thượng vẫn để Thái-hậu tại vị.
- Em thấy không ?
Thủ-Huy hỏi Đoan-Nghi :
- Trước kia Long-Xưởng cứ phao rằng Long-Trát là con của Thụy-Hương với Hiển-Tích. Anh thì anh thấy Long-Trát giống phụ hoàng như đúc thì rõ ràng Long-Trát là giọt máu của phụ hoàng. Bây giờ trắng đen rõ rệt, nếu như Long-Trát là con của Hiển-Tích, thì đời nào y lại phế con mình xuống, mà tôn An-Di lên ngôi ? Còn như phe Đỗ An-Di cứ bảo rằng Long-Trát là con của Đỗ Thụy-Châu. Anh thì anh bảo y là con của Thụy-Hương. Bây giờ chính miệng Thụy-Châu khai ra rằng Long-Trát là con Thụy-Hương, thì còn sai thế nào được ?
Đoan-Nghi hỏi Tử-Kim :
- Sau khi giết phe đảng họ Đỗ, họ Mạc rồi, việc triều chính ra sao ?
- Hoàng-thượng thiết triều. Trước hết truy vương tước cho Thái-phó Lý Kính-Tu, ban thụy là Trung-mẫn. Phong Ngô Lý-Tín làm Kiểm-hiệu Thái-sư, Thượng-thư tả bộc xạ, lĩnh Chiêu-văn quan đại học sĩ, giám tu quốc sử, Hồng-châu quốc công.
- Được !
Thủ-Huy khen :
- Phong cho Ngô chức văn, không kiêm chức võ, cũng không được ngó tới Khu-mật viện. Như vậy y chỉ có cái công việc cầm bút thôi. Tiếp !
- Phong Đỗ Kính-Tu làm Dao-thụ Thái-phó, Thượng- thư hữu bộc xạ, Cần-chính điện đại học sĩ, Đăng-châu quốc công.
- Được ! Tiếp !
- Phong Kiến-Khang vương làm Phụ-quốc Thái-úy, Thượng-trụ quốc, Khai-phủ nghị đồng tam tư, Phụ-quốc đại tướng quân, Uy-viễn đại học sĩ.
- Được lắm !
- Phong Kiến-Bình vương làm Đặc-tiến thái bảo, Tả Kim-ngô đại tướng quân, Long-thành tiết độ sứ, Tổng trấn Thăng-long. Quản Khu-mật viện.
- Hà ! Có thế chứ. Tiếp !
- Phong Đàm Dĩ-Mông làm Dao-thụ thiếu-bảo, Khu-mật viện sứ, Long-nhương đại tướng quân, lĩnh Binh-bộ thượng thư, tước Nhai-sơn hầu.
- Cái thằng bị thịt này mà làm Binh-bộ thượng thư thì sao cho binh tướng nể vì ? Thôi cho qua. Tiếp !
- Phong Đàm Thì-Phụng làm Thái-tử thái phó, Hổ-nha thượng tướng quân, Thống-lĩnh cấm quân, thị vệ, Đăng-châu hầu.
- Được ! Bố vợ mà chỉ được tước hầu thôi ư ? Còn Phùng Tá-Chu, Tăng Khoa ?
- Chức tước hai người vẫn giữ nguyên.
- Có gì khác lạ nữa không ?
- Khi đệ lên đường sang đây, thì có tin triều đình sai sứ ra Đồn-sơn nhờ sư huynh Phùng Tá-Chu gửi thư cho sư huynh , sư tỷ. Mục đích mời sư huynh, sư tỷ về để tái lập Thiên-tử binh, Kị-binh, Ngưu-binh. Nhưng khi đệ đang trên đường sang Quảng-châu, thì chim ưng lại đem đến một bức thư của đại sư bá, để chuyển cho sư huynh.
Nói rồi Tử-Kim móc trong bọc ra một cái ống tre trao cho Thủ-Huy. Thủ-Huy cung cung, kính kính, sửa y phục ngay ngắn, rồi mở ra đọc. Bất giác Thủ-Huy ngẩn người ra, vì thư chỉ có mấy giòng :
« Cả nhà vẫn mạnh khỏe, vô sự. Hãy ngao du sơn thủy dăm ba năm. Đừng về lúc này. Về thì chết ».
Thủ-Huy hỏi Đoan-Nghi :
- Triều đình gọi chúng mình về. Trong khi bố lại bảo đừng về ! Triều đình gọi, mà chúng ta chưa nhận được chiếu chỉ. Trong khi bố dạy thì lại có thư. Vậy anh cứ nghe lời bố dạy cho đến khi nào nhận được chỉ dụ. Vả khi con điếm Đỗ Thụy-Châu còn đó, thì anh vẫn là tên dâm tặc, vẫn là tên phản tặc, anh không về đâu. Họ Lý nhà em phụ anh quá nhiều rồi. Anh đã ê chề, đã chán ngấy rồi. Hỡi ơi ! Tài trí có thừa, đem hết tâm huyết ra giúp người, mà bị người đạp lên, đạp xuống tủi nhục bao phen ! Anh đành theo gương Đào Tiềm, bỏ công danh, lên sa mạc phi ngựa, săn thú. Đại trượng phu bốn bể là nhà ! Nếu em tuân chỉ thì em về. Nhất định anh không về đâu.
Đoan-Nghi chép miệng :
- Thôi thì em đành theo anh. Khi nào nhận được chỉ dụ sẽ hay.
Suy nghĩ một lúc, nàng hỏi Thủ-Huy :
- Em hỏi anh một câu, anh có thể nói thực cho em nghe được không ?
- Em cứ hỏi !
- Có phải bức thư anh viết, gửi Tử-Kim mang về là viết cho Tá-Chu Kim-Ngân, Trung-Từ Bảo-Bảo, sai bốn người này giả danh Côi-sơn song ưng giết cả nhà Đỗ An-Di, Mạc Hiển-Tích không ?
Thủ-Huy cười khổ sở :
- Em là vợ anh trên dưới mười năm, mà em không hiểu anh tý nào cả. Nếu anh sai bốn người đó, thì anh sai họ giết con điếm già Đỗ Thụy-Châu, chứ không giết thằng lưu manh Đỗ An-Di, thằng đĩ đực Mạc Hiển-Tích .
Thấy chồng văng tục, Đoan-Nghi đành im lặng. Trong tâm tưởng, nhất định nàng không tin rằng hai tên Đỗ An-Di, Mạc Hiển-Tích làm phản. Nàng đoán : Thủ-Huy gửi thư cho Kiến-Khang, Kiến-Bình vương, Trung-Từ Bảo-Bảo, Tá-Chu Kim-Ngân chuẩn bị sẵn, đợi khi Tử-Kim dán cáo tri, rồi thì nhất định hai tên An-Di, Hiển-Tích nhập Hoàng-thành tâu với Đỗ thái hậu . Một mặt bốn người đem thủ hạ bao vây dinh thự Đỗ, Mạc, tàn sát gia thuộc chúng. Một mặt hai vương bí mật theo đường hầm vào Hoàng-thành đón nhà vua ra. Sau đó đem quân tràn vào thành bắt hai tên An-Di, Hiển-Tích cùng phe đảng Đỗ, Mạc đem giết.
Tuy đoán thế, nhưng nàng lại nghĩ :
- Ông chồng mình vốn thù ghét Đỗ thái hậu đến tận xương tủy. Nếu vụ này do ông ấy sai thủ hạ làm, thì việc đầu tiên là giết Đỗ hậu. Vậy ai làm việc này ? Không lẽ là Côi-sơn song ưng thực ?

Từ ngày tới Quảng-châu, trong những lần dạo chơi thành phố, bất cứ Thủ-Huy, Đoan-Nghi đi đâu, hai người cũng mang Thúy-Thúy theo, vì Thúy-Thúy biết nói tiếng Quảng, trong khi hai người chỉ biết nói tiếng Hàng-châu.
Hôm ấy, sau một buổi dạo chơi khắp phố phường, ba người lên tửu lầu Nam-thiên ăn chiều. Tửu lầu tọa lạc trên một khu đất trông ra biển. Thúy-Thúy chọn một bàn bên cửa sổ để ba người vừa ăn, vừa nhìn xuống đường. Nàng gọi mấy món thời trân. Trong khi ăn, mặc Đoan-Nghi, Thúy-Thúy nói gì thì nói, còn Thủ-Huy cứ lầm lỳ nhìn ra biển, tưởng nhớ cố hương. Đoan-Nghi luôn tỏ ra lo sợ việc Thủ-Huy sẽ giết Đỗ thái. Còn Thúy-Thúy, nàng chỉ đưa đẩy câu chuyện.
Bỗng Thúy-Thúy chấm tay vào chung trà, rồi viết :
« Chủ nhân phải cẩn thận. Phía sau chủ nhân có một cặp trai gái giả làm thực khách. Chúng theo dõi ta từ lúc lên bờ đến giờ. Dường như chúng biết tiếng Việt thì phải ».
Đoan-Nghi viết :
« Ta ăn mau, rồi rời khỏi nơi đây. Nếu chúng theo ta nữa thì ta sẽ bắt chúng lộ hình tích ».
Thúy-Thúy gọi tửu bảo tính tiền, rồi ba người xuống lầu. Quả nhiên đôi nam nữ cũng trả tiền, cùng đứng dậy theo sau. Thúy-Thúy nói nhỏ :
- Chủ nhân giả bộ quên vật gì, lộn trở lên lầu. Trong khi giao nhau, chủ nhân nhả vào người chúng một ít Hàn-băng nội lực. Như vậy chúng sẽ phải tìm ta, bấy giờ ta muốn vo tròn bóp méo thế nào chúng cũng phải chịu.
Nghe Thúy-Thúy bầy kế, thủ-Huy ngừng lại, nói thành tiếng :
- Chết ! Mình quên mua con vịt quay đem về ăn tối.
Nói rồi công cùng Đoan-Nghi quay lại leo lên lầu. Đoan-Nghi men theo phía trái, Thủ-Huy men theo phía phải cầu thang. Hai người vận Hàn-băng độc ra đầu bàn tay. Khi giao nhau với đôi nam nữ, hai người cố tình vung tay ra. Tay Đoan-Nghi chạm vào tay gã con trai. Tay Thủ-Huy chạm vào tay người cô con gái. Đôi nam nữ nào biết mình sắp xuống Quỷ-môn quan, cả hai thản nhiên xuống lầu. Thủ-Huy lên lầu, hỏi mua con vịt quay. Trả tiền xong, công cùng Đoan-Nghi chạy theo Thúy-Thúy. Nàng đã ra khỏi nhà hàng. Ba người thủng thẳng gọi một xe ngựa, trở về bến thủy quân. Trong khi ngồi trên xe, Thúy-Thúy vẫn nhìn về sau : Đôi nam nữ cũng lên một xe khác, nhưng xe ấy đi về phía trung ương thành phố.
Đúng ra với bản tính của Thủ-Huy Đoan-Nghi, thì hai người không bao giờ muốn gây chuyện, cũng như làm cho người khác đau khổ. Nhưng những biến cố của triều đình dồn ép hai người đến đường cùng, nên cả hai mới ra tay nặng với kẻ vô danh như vậy.
Tới bến thủy quân, Thúy-Thúy trả tiền gã phu xe, nàng thưởng cho y mười đồng tiền rồi vỗ tay lên vai y :
- Anh đánh xe hay thực, xe đi êm như ngồi trên giường vậy.
Vào trong khoang thuyền, Đoan-Nghi hỏi Thúy-Thúy :
- Tại sao tỷ tỷ lại nhả nội lực Bức-mạch vào người gã phu xe vậy ? Y có tội tình gì đâu ?
Thúy-Thúy lắc đầu thở dài :
- Chà ! Nguy quá !
- Có gì mà nguy ?
- Tiểu tỳ thấy điện hạ thực tinh mắt ! Tiểu tỳ nhả nội lực Bức-mạch vào người gã đánh xe, mà điện hạ nhận ra ngay. Còn gã phu xe, rõ ràng y hại ta, mà điện hạ lại không nhận ra. Hiện chúng ta đang ở trong hang hùm, mà điện hạ thiếu tinh tế như thế thì nguy thực !
- ? ! ? ! ? !
- Khi chúng ta ra khỏi tửu lầu, tiểu tỳ vẫy tay gọi xe. Thể lệ của bọn phu xe là ai đậu đầu bến thì được đón khách, rồi sau đó tới người kế tiếp. Trong khi xe của gã đánh xe ch ta đậu gần cuối hàng, mà y vọt xe ra, không tên phu xe nào dám phản đối. Đó là một điều bất thường . Lúc y ghì cương cho ngựa dừng lại, y chỉ chống có một tay, mà tung người xuống xe nhẹ nhàng ; chứng tỏ nội công y cao thâm vô cùng. Đó là hai điều bất thường. Khi y ra roi cho ngựa chạy, tay y không vung lên, mà chiếc roi co lại, rồi vươn ra như con rắn, thì ràng là chiêu Hạc-công của phái Không-động. Đó là ba điều bất thường.
Nghe Thúy-Thúy phân giải, Thủ-Huy, Đoan-Nghi toát mồ hôi ra, vì sơ tâm. Thủ-Huy vội gọi Trần Tử-Kim sang con thuyền Thiên-ưng, thuật cho Kim nghe hết mọi sự, rồi ra lệnh :
- Chúng ta đang đối diện với một thế lực nào đó. Có thể họ là quan quân nhà Tống. Có thể họ là võ lâm Trung-nguyên. Dù muốn, dù không, đêm nay vợ chồng cái gã theo ta hồi chiều với gã phu xe cũng phải tìm đến chúng ta để xin thuốc giải. Như vậy ta sẽ tìm ra cái thế lực kia. Bây giờ chúng ta hãy nhổ neo ra xa bờ biển, lại phải canh phòng thực cẩn thận, và chờ đợi chúng.
Tử-Kim tuân lệnh, truyền cho mười thuyền trưởng với thuyền trưởng Thiên-ưng cùng chèo ra khơi, cách bờ biển khoảng mười dặm, rồi kết các thuyền với nhau thành một hình vuông.
Không phải chờ lâu, khoảng đầu canh hai, một chiếc thuyền nhỏ, từ xa xa chèo tới, trên mũi thuyền có một người cầm đèn bão làm hiệu. Thuyền phu vào khoang báo với Thủ-Huy, Tử-Kim. Hai người cùng lên mũi thuyền quan sát. Tử-Kim nhận ra dấu hiệu đèn của con thuyền nhỏ là dấu hiệu của thương thuyền Đại-Việt, ngụ ý : Chúng tôi xin được tương kiến. Thủ-Huy ra lệnh cho thuyền trưởng Thiên-ưng. Thuyền trưởng cũng cầm đèn làm hiệu đáp lại : Cứ đến, chúng tôi đang chờ.
Con thuyền nhỏ tới gần con thuyền Thiên-ưng, thì trên mũi thuyền hiện ra ba người. Một người vận nội lực nói lớn bằng tiếng Việt :
- Chúng tôi muốn diện kiến Côi-sơn quốc công và công chúa Đoan-Nghi.
Thúy-Thúy hỏi :
- Xin các vị cho biết đại danh.
Một người thân thể hùng vĩ phóng sang một mũi tên. Thúy-Thúy bắt lấy rồi trình cho Thủ-Huy. Thoáng thấy hình thù mũi tên, Thủ-Huy nhận ra đó là mũi tên của người Mông-cổ. Trên mũi tên có khắc hình con sói trong tư thế đang vồ mồi, nhe răng, múa vuốt. Công nói với Đoan-Nghi :
- Không phải người Tống, mà là người Mông-cổ. Căn cứ vào mũi tên này, thì đây là một trong Tứ-liệp lang-vương ( Bốn vua sói). Tại sao họ lại có mặt ở đây ? Tại sao họ biết ta đang ở dưới con thuyền này ? Họ đưa ra mũi tên thay cho danh thiếp. Họ lại không lên tiếng, thì muốn dấu thân phận.
Thúy-Thúy hỏi :
- Tứ -liệp lang-vương là những ai vậy ?
- Họ là bốn đại tướng của Mông-cổ, đó là Tốc Bất Đài hiệu Hỏa-liệp đại lang vương, Gia Luật Mễ hiệu Thiết-liệp nhị-lang vương, Triết Biệt hiệu Thần-tiễn tam-lang vương, Bác Nhĩ Truật Kim-cương tứ-lang vương...Tôi còn sống đến ngày nay là nhờ thái tử sâm của họ. Họ là ân nhân của tôi. Ta phải đón họ.
Công bước ra mũi thuyền, nói lớn :
- Kính mời quý khách.
Ba người nhảy sang con thuyền Thiên-ưng. Một người là Bác Nhĩ Truật. Còn hai người kia là cặp nam nữ bị công dồn Huyền-âm độc hồi chiều. Bác Nhĩ Truật từng đi sứ Đại-Việt, lại rất thân với Thủ-Huy Đoan-Nghi, nên cả ba thấy nhau thì mừng chi siết kể.
Lễ nghi tất, phân ngôi chủ khách xong, Thủ-Huy nói trước bằng tiếng Trung-quốc :
- Chúng tôi sống âm thầm ở dưới con thuyền này đã bốn tháng, không biết trận gió nào đưa Kim-cương vương tới đây thăm chúng tôi ?
Bác Nhĩ Truật trả lời bằng tiếng Việt :
- Huynh trưởng chúng tôi là Thiết Mộc Chân được tin quốc công cùng công chúa điện hạ cáo quan về điền dã. Vì vậy người gửi tôi sang kính mời nhị vị lên vùng sa mạc cùng săn thú, phi ngựa. Nhưng khi chúng tôi tới Thiên-trường thì lão đại hiệp cho biết quốc công đang trên đường du ngoạn Trung-nguyên. Người lại tặng cho chúng tôi một cặp chim ưng để dẫn đường. Phải khó khăn lắm, chúng tôi mới tìm được hai vị.
Nói rồi Bác Nhĩ Truật trình ra một bức thư bằng chữ Hán. Thư rất giản dị :
« Nhân mùa Xuân hoa nở, cỏ xanh tươi trải thảm trên khắp sa mạc, thú chạy đầy đồng, chim bay khắp núi. Anh em chúng tôi tưởng nhớ những người bạn hiền ở Đại-Việt. Vậy xin mời nhị vị hãy cùng chúng tôi ruổi ngựa, săn thú, tận hưởng mùa Xuân. Mong thay »
Đọc thư xong Thủ-Huy mỉm cười khoan khoái, bao nhiêu cái buồn phiền, cáu giận tích lũy bấy lâu trong tâm biến đi sạch. Công hỏi :
- Kim-cương vương học tiếng Việt từ bao giờ, mà đã nói rất văn vẻ ?
- Tôi học từ hai vị này.
Bác Nhĩ Truật chỉ vào đôi trai gái bị phóng độc hồi chiều.
Lâu ngày gặp lại bạn cũ, Thủ-Huy, Bác Nhĩ Truật chuyện trò như bắp rang. Từ ngày rời Đại-Việt, bây giờ Thủ-Huy mới có dịp đàm luận tương đắc, cao hứng như vậy.
Thủ-Huy hỏi thăm tất những người công quen biết trong thời gian lưu trú tại Mông-cổ. Cuối cùng công chỉ vào đôi trai gái :
- Hai thiếu niên này dường như là người Việt. Không biết trong dịp may nào họ lại gặp Tứ-lang vương ?
- Qủa như huynh đệ nói.
Bác Nhĩ Truật chỉ vào đôi trai gái đi theo : Hai cháu vốn là người Việt, song thân chúng lưu lạc lên Mông-cổ từ lâu, sinh chúng tại Mông-cổ. Từ khi sứ đoàn chúng tôi rời Đại-Việt về, chúng tôi biết rằng trong tương lai chúng tôi sẽ phải nhờ vả các vị nhiều, nên chúng tôi học tiếng Việt với hai cháu. Trong chuyến đi này, tôi dẫn hai cháu theo để làm thông dịch. Hơn nữa, hai cháu cũng muốn về cố hương, để biết Đại-Việt như thế nào. Sau khi rời Thiên-trường, chúng tôi được chim ưng dẫn đường tìm các vị. Nào ngờ các vị còn ở Quảng-châu. Chúng tôi tới đây đã ba ngày. Chim ưng chỉ rõ các vị ở dưới con thuyền Thiên-ưng. Sáng nay, hai cháu đi theo các vị, để liên lạc trước, hầu chiều đưa chúng tôi tới tương kiến. Chẳng may bị các vị hiểu lầm... Tôi dẫn hai cháu đến để tạ tội với hai vị, và đem thư của Khả-hãn mời hai vị đi Mông-cổ du ngoạn.
Thủ-Huy cung tay nói với Bác Nhĩ Truật :
- Đa tạ Khả-hãn, đa tạ Tứ-lang vương đã có lòng tưởng nhớ cố cựu. Hiện vợ chồng chúng tôi cũng không bận rộn gì cho lắm. Song ngoài vợ chồng chúng tôi ra còn có gia nhân, thủy thủ đoàn hơn ba chục người, với đội võ sĩ Long-biên trên dưới năm trăm huynh đệ nữa. Chúng tôi xin Nhị-lang vương tạm chờ đợi, chúng tôi hỏi ý kiến anh em, rồi sẽ trả lời Nhị-lang vương nội trong hai ngày.
Công chỉ vào hai người Việt :
- Xin Lang-vương để hai thiếu niên này lại, chúng tôi sẽ trị độc cho họ.
Bác Nhĩ Truật cáo từ, rời khỏi con thuyền Thiên-ưng. Tiễn Bác Nhĩ Truật về, rồi trở vào trong khoang thuyền, Đoan-Nghi hỏi hai thiếu niên Việt :
- Các em tên họ là gì ? Tại sao lại lưu lạc lên mãi Mông-cổ xa xôi ?
Hai thiếu niên quỳ gối hành đại lễ với Thủ-Huy Đoan-Nghi :
- Thần Lý Long-Tùng và em là Lý Đoan-Thanh xin tham kiến công chúa điện hạ và phò mã.
Đoan-Nghi thất kinh nghĩ thầm :
- Kể từ khi đức Thái-tổ dựng nghiệp, thì chỉ con trai trực hệ của hoàng tộc mới được đặt tên có chữ Long. Không biết anh em nhà này thuộc giòng dõi vị vương hầu nào ? Căn cứ vào tên cô gái, mang chữ lót là Đoan, thì ngang vai với ta đây.
Tuy vậy vốn tính cẩn thận, Đoan-Nghi đỡ hai người dậy, rồi hỏi :
- Hai em thuộc chi nào trong Ngọc-diệp ?
Đoan-Thanh đáp :
- Anh em thần thuộc giòng chính. Phụ thân thần là con trưởng của Chiêu-Hòa vương.
Thủ-Huy, Đoan-Nghi giật bắn người lên. Thảm họa của cái vạ gà mái gáy về thời vua Anh-tông, mà cả nước chưa quên được như sóng cuộn đập vào ký ức, làm hai người mở to mắt ra nhìn hai người trẻ :
« Bấy giờ là niên hiệu Đại-định thứ tám (Đinh Mão, DL. 1147), tuy nhà vua đã 12 tuổi, nhưng cơ thể suy nhược, quan Thái-y Trần-thị Phương-Thanh tâu xin để ngài tập võ giúp cơ thể khỏe mạnh. Chiêu-Hiếu thái hoàng thái hậu truyền Chiêu-Hòa vương Lý Long-Vũ, là chú ruột vua, dạy nhà vua. Nhà vua học võ rất mau. Khi khám phá ra Đỗ Anh-Vũ thông dâm với mẹ là Cảm-Thánh thái hậu, nhà vua hô thị vệ bắt y đem chém. Nhưng thị vệ đều là người của y, nên chúng không tuân chỉ. Nhà vua nhờ sư phụ là Chiêu-Hòa vương. Anh-Vũ bị vương đánh ngã trói lại. Nhưng y được chị là Chiêu-Hiếu thái hoàng thái hậu ân xá. Hôm sau y soạn chiếu, ép nhà vua ký, rồi sai thị vệ bắt vương đem chém. Con cả của vương là Lý Long-Phi tước phong Lạng-châu công, lĩnh chức Tuyên-uy đại tướng quân, đang trấn thủ ở biên giới, sợ bị hại, vội cùng vợ treo ấn từ quan, rồi bỏ đi mất tích. Sau khi Anh-Vũ bị giết, nhà vua tuyên chỉ ân xá cho Long-Phi, rồi sai tìm kiếm, mà không ra tông tích. ».

Ghi chú của thuật giả:

Suốt dòng lịch sử Đại-Việt, triều Lý là triều duy nhất có nạn các bà Thái-hậu tàn sát người trong hoàng tộc, rất thảm khốc.Nói theo bình dân, nàng dâu giết em chồng, chú chồng, họ hàng nhà chồng. Kể từ năm 1138 là năm vua Thần-tông băng hà, bốn bà Thái-hậu liên tiếp sát hại tôn thất, kéo dài 87 năm, cho tới năm 1225, triều Lý truyền sang triều Trần mới hết. Nguyên do các bà tàn sát tôn thất không phải vì muốn bảo vệ ngôi vua cho con mình, mà chỉ để làm vui lòng người tình, hoặc che dấu tội lỗi của thân tộc mình.
Thứ nhất là Chiêu-Hiếu thái hậu, vợ của Sùng-Hiền hầu, giết Chiêu-Hòa vương Lý Long-Vũ , để che dấu vụ em trai là Đỗ Anh-Vũ, thông dâm với con dâu là Cảm-Thánh thái hậu. Chiêu-Hòa vương là con Sùng-hiền hầu với một bà phi khác, tức em vua Thần-tông. Theo cổ luật Chiêu-Hiếu là mẹ đích của vương. Nghĩa là mẹ giết con.
Thứ nhì là Cảm-Thánh thái hậu, vợ của Thần-tông, chỉ vì muốn dâng ngôi vua của con cho người tình Đỗ Anh-Vũ (cậu của vua, tức cậu chồng) giết (hụt) anh chồng là Minh-Đạo vương. Sau đó giết hàng loạt cả nhà những người là em, cháu của chồng, gồm Trí-Minh vương Lý Long-Dũng, Bảo-Ninh hầu Lý Long-Can, Bảo-Thắng hầu Lý Long-Hiền, phò mã Dương Tự-Minh. Sau đó mưu phế, giết con đẻ là vua Anh-tông, cháu nội là Lý Long-Xưởng để tôn người tình Lưu Kỳ lên làm vua. Cuối cùng giết ba cháu nội là Kiến-Ninh vương, Kiến-An vương, Kiến-Tĩnh vương.
Kế tiếp Chiêu-Thiên thái hậu Đỗ Thụy-Châu còn giết nhiều người trong tôn thất hơn nữa, cũng chỉ vì muốn bảo vệ người tình là Mạc Hiển-Tích, muốn cướp ngôi vua của con cho em là Đỗ An-Di. Đầu tiên giết cả nhà con trưởng của chồng là Lý Long-Xưởng. Và còn nhiều nữa...Bởi tôn thất bị giết quá nhiều, nên tuy triều Lý cai trị Đại-Việt trong 215 năm, mà cuối cùng tông tộc họ Lý không còn mấy người. Lúc này tức thời vua Cao-tông, quay đi, quay lại chỉ còn hai em vua là Kiến-Khang vương Long-Ích, Kiến-Bình vương Long-Tường, đều là người tài kiêm văn võ, lại tinh, minh, mẫn, cán, nhưng không đươc trao quyền.
Đến Đàm thái hậu, vợ vua Cao-tông còn tàn hại Lý triều hơn nữa. Bởi vậy, các nhà chép sử đời Trần, Lê, Nguyễn với quan niệm sử là tấm gương cho đời sau soi chung, đã bỏ không chép huân công của Linh-Nhân hoàng thái hậu, bỏ luôn không chép sự nghiệp vĩ đại của các công chúa Bảo-Hòa, Bình-Dương, Kim-Thành, Trường-Ninh, Thiên-Thành, Động-Thiên, Thiên-Ninh cùng các nữ tướng Nguyễn-thị Trinh-Dung, Lê Ngọc-Nam, Vũ Thanh-Thảo, Trần Ngọc-Huệ. Oan uổng nhất là 12 nữ tướng chống xâm lăng của Tống, cùng tuẫn quốc vơí chồng. (Xin đọc Nam-quốc sơn hà của Yên-tử cư-sĩ).


Bây giờ Thủ-Huy, Đoan-Nghi gặp hai người trong hoàn cảnh này, hỏi sao không cảm động ?
Đoan-Thanh kể :
- Sau khi song thân thần treo ấn từ quan, rồi cùng thuộc hạ hơn trăm người ra trấn Đồn-sơn, xuống ba chiến thuyền lớn kéo buồm ra khơi, sang Kinh-châu xin Tống triều cho kiều ngụ. Ở Kinh-châu một thời gian, nhân Kim đòi Tống phải cống một số võ sĩ. Tể-tướng Tần Cối bắt phụ thân thần cùng tông tộc làm cống vật. Phụ thân thần phải cắn răng chịu nhục đem tông tộc sang Kim. Trên đường đi, người gặp một đoàn do thám Mông-cổ giả làm thương nhân (1). Bấy giờ Bác Nhĩ Hốt được lệnh của Khả-hãn Mông-cổ là Dã Tốc Cai, (2) sang Tống, Kim, để chiêu mộ hào kiệt. Bác Nhĩ Hốt biết hoàn cảnh khốn cùng của phụ thân thần. Ông rất khôn. Ông thuyết phục phụ thân thần giết Tống sứ rồi sang Mông-cổ sẽ được sống an ninh, chứ nếu ông lộ ra rằng chiêu mộ, e phụ thân thần không chịu đi. Phụ thân thần nghe theo. Nhưng khi phụ thân thần giết Tống sứ, trốn đi, thì quân Kim biết được. Chúng đuổi theo. Hai bên giao chiến trong suốt một ngày, đội quân Kim chết hết mà tông tộc nhà thần cũng chỉ còn song thân thoát nạn. Từ khi tới Mông-cổ, gặp đúng lúc Khả-hãn Dã Tốc Cai chết, con là Thiết Mộc Chân (3) còn thơ, bị Khả-hãn Diệt Xích Ngột (4) là Tạc Gô Đài (5) làm nhục. Song thân thần cứu Thiết Mộc Chân ra, rồi tái lập nước Mông Cổ. Do vậy, anh em thần đều sinh trưởng ở Mông-cổ.

Ghi chú của thuật giả:

(1). Bác Nhĩ Hốt, Borogul.
(2). Dã Tốc Cai, Yasugai.
Khi Mông-cổ lập quốc rồi, niên hiệu Chí-nguyên thứ ba, đời Nguyên Thế-tổ (1266), Dã Tốc Cai được truy phong làm Liệt-tổ Thần-nguyên hoàng đế. Vợ là bà Nguyệt Luân, được truy phong Tuyên-từ thái hậu.
(NS q.1, Bk. Đệ nhất, Thái-tổ, tr.3)
(3). Thiết Mộc Chân, Tamujin, sau này trở thành đại đế Thành Cát Tư Hãn (Gengis Khan), miếu hiệu Nguyên Thái-tổ, tôn hiệu là Thái-tổ ,Pháp-thiên, Khải-vận, Thánh-võ hoàng đế.
(4) . Diệt Xích Ngột. Tayitchiut
(5). Tạc Gô Đài. Targurai.


Đoan-Thanh bật lên tiếng khóc :
- Mấy năm gần đây, vì nhớ cố hương, song thân thần lên đỉnh núi cao, cất một gian nhà, rồi ngày ngày ngồi nhìn mây trôi về Nam mà khóc. Sau hai năm, thì các người đều qua đời. Người trối trăn lại cho anh em thần ba điều. Một là phải báo đáp hãn Mông-cổ đã trọng đãi người. Hai là, phải luyện võ, rồi trở về cố hương giết tuyệt họ Đỗ để trả thù. Ba là đem hài cốt hai thân về Cổ-pháp an táng. Vì vậy, từ mấy năm nay, chỉ còn hai anh em thần sống giữa vùng đồng cỏ miền Bắc. Tuy nhiên người Mông-cổ nhớ công lao song thân thần, nên họ cực kỳ trọng đãi anh em thần.



********

Đã đưa vào thư viện đến chương 32
Thân,
NHDT


Peace is the way of love
Đăng nhập để trả lời
0
Toàn bộ truyện AHDADCBM đã được đưa vào thư viện.

http://vnthuquan.net/truyen/truyen.aspx?tid=2qtqv3m3237ntn0n3n1n31n343tq83a3q3m3237n2nvn&cochu=

Xin chân thành cảm ơn CDDLT đã đóng góp với thư quán. [sm=----.gif][sm=----------------.gif]
Thân,
NHDT


Peace is the way of love
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-05-25 02:54:51NuHiepDeThuong>
Tiếp theo Hồi 49

Chư tướng đáp:
- Từ đây về Thăng-long có 20 dặm. Chỉ cần một khắc sức ngựa, thì Ngột-lương Hợp-thai sẽ phái thêm năm Thiên-phu nữa tiếp viện. Không chừng còn mười Thiên-phu khác cũng sắp tới.
Lôi-tiễn, máy bắn đá Mông-cổ đã được xe kéo đến, đồng loạt nã vào trận Việt. Dù can đảm, dù thiện chiến, nhưng quân Việt bị sức mạnh Lôi-kỵ đánh từ ba phía, bị đá bắn lên đầu, dần dần tử thương gần hết.
Trận Việt bị vỡ.
Lôi-kỵ ép ba phía mỗi lúc càng chặt. Các võ sĩ nói với Khâm-Thiên vương :
- Một là xin vương gia tự tử. Hai là xin vương gia bỏ chạy. Đừng để giặc bắt.
Thấy Lôi-kỵ đã tiến sát tới chỗ mình đứng. Khâm-Thiên vương đành phất cờ cho quân lùi lại, còn vương thì theo đoàn võ sĩ bỏ chạy vào cánh đồng lầy lội bên cạnh.
Mông-cổ toàn thắng.
A Truật kiểm điểm lại : Hơn ba nghìn Lôi-kỵ bị giết. Y ra lệnh chỉnh đốn lại binh mã, để tiếp tục lên đường. Ngột-lương Hợp-thai đã đến. Quan sát thế trận, nhìn xác quân Việt nằm trải dài trên cánh đồng, y lắc đầu :
- Quả thực ba hiệu binh này vừa thiện chiến, vừa can đảm. Quân Kim, quân Tống, quân Tây-vực bì thế nào được? Nhưng tướng chỉ huy là tên Nhật-Hiệu, y ngu như con bò, nên bị ta phá. Thôi, người hãy mang năm Thiên-phu Lôi-kỵ tiếp tục lên đường tiến về Thiên-trường.
Thừa thắng, dù mặt trời đã ngả bóng, A Truật thúc quân lên đường. Quân trẩy được mươi dặm, thì gặp một làng chặn ngang đường đi. Địa thế giống hệt Cụ-bản. Y kinh hãi hỏi bọn hướng đạo:
- Từ đây về Thiên-trường còn bao nhiêu chiến lũy như thế này nữa?
- Thưa có tất cả 41 cái.
A Truật tiến lên quan sát: Trong chiến lũy cờ xí bay phất phới. Lũy tre cao vút, dầy đặc, hào sâu, chông chà chơm chởm. Y ra lệnh cho Triệu An:
- Quân của Nhật Hiệu vừa bị phá. Nhân thế thắng như chẻ tre, người chỉ huy Thiên-phu cơ hữu, với năm Thiên-phu quân Đại-lý, một Thiên-phu tân lập, gốc người Hoa ở An-Nam thử tấn công xem sao?
Triệu An chia quân làm hai. Lôi-kỵ theo con đường chính tấn công vào cổng trước. Bộ binh dàn ra, lội ruộng tấn công dọc theo con lạch, lũy tre. Y dùng lại phương pháp đánh Cụ-bản.
Nhưng khi bộ binh vượt qua con lạch, dùng dao chặt lũy tre, thì một hồi tù và nổi lên, rồi các cổng phụ mở rộng. Mỗi cổng một đoàn trâu hàng năm lồng ra, rồi nhanh chóng đánh bọc phía sau. Bọn tướng trâu cũng lại là bọn ở Bình-lệ nguyên, Cụ-bản, đó là năm Cu. Đám bộ binh kinh hãi, bỏ chặt rào, quay lại chống Ngưu-binh. Bấy giờ quân trong lũy tre mới phản công. Bị đánh ép phía sau, chặn đầu phía trước. Không đầy hai khắc đám bộ binh bị giết gần hết. Phần còn lại bỏ chạy tán loạn trên cánh đồng lúa.
Trên con đường chính đến cổng trước. Bọn võ sĩ, nấp sau các lá chắn xông vào. Khi còn cách cổng hơn dặm, thì cổng mở rộng, Ngưu-binh tiến trước với Khiên-mây che thân. Lúc cuộc giao chiến bắt đầu, thì hai đội Ngưu-binh khác lội xuống ruộng đánh bọc hai bên.
Sau ba đợt tấn công, quân chết hơn nửa, mà chiến lũy vẫn vô sự. Triệu Anh truyền quân lưu lại, báo cáo với A Truật.
Kinh nghiệm trận Cụ-bản, Phù-lỗ, A Truật biết rằng muôn ngàn lần mình không thể nhổ được 41 chiến lũy, để tiến về Thiên-trường. Y báo với Ngột-lương Hợp-thai.
Chính lúc đó, tên Trịnh Ngọc, Trịnh Đức, cùng với bọn bang trưởng các bang Hoa-kiều đang họp với Ngột-lương Hợp-thai trong thành Thăng-long. Bọn chúng dò được nhiều tin tức, cung cấp cho Mông-cổ .
Bọn du thủ, du thực của anh em họ Trịnh báo động :
« Trên đường từ Thăng-long về Thiên-trường, có 41 xã. Dân trong các xã này gốc do Nguyên-tổ Trần Lý của triều đình, khi còn là Thần-nông sứ đã quy dân lập lên, gần bẩy mươi năm. Xã được tổ chức rất quy củ, có hệ thống phòng vệ cực chu đáo. Gần đây dân chúng được tổ chức phương pháp phản tấn công của Mông-cổ. Họ có khả năng chiến đấu như những đạo quân thiện chiến. Hai hôm trước, Thái-bảo Lê Phụ-Trần dẫn ba hiệu binh Tiên-yên, Yên-bang, Yên-phụ, cùng bọn tướng Ngưu-binh ưu tú, năm Cu, năm Trâu, năm Hĩm về đây. Bộ binh, Ngưu-binh chia thành từng vệ, tản vào, cùng dân chúng trấn thủ. Không thể, không nên đánh về Thiên-trường ».
Bọn các bang hội người Hoa báo :
« Khi Hưng-Đạo vương thiết kế, đã chia cho mỗi đại tướng một vài hiệu binh trấn thủ vùng trách nhiệm. Các hiệu binh sẽ chia thành Vệ, tản vào xã cùng dân chống quân Thiên-triều. Thế nhưng Khâm-Thiên đại vương làm trái lệnh, dàn quân nghênh chiến. Ba hiệu binh tinh nhuệ bị phá tan. Vậy bây giờ, xin Thái-sư lập tức xua quân tiến về vùng quản nhiệm của Khâm-Thiên đại vương là Trường-yên, Sơn-Tây, Sơn-Nam, Hồng-châu, Đăng-châu. Những vùng này chỉ có dân binh, thì ta chiếm các làng xã dễ dàng ».
Ngột-lương Hợp-thai phong cho những bang trưởng, hội trưởng người Hoa, hoặc bọn du thủ du thực Việt làm An-phủ sứ, Tuyên-vũ sứ, các phủ, huyện, trấn. Lệnh cho chúng tự tổ chức lấy đội quân, đi trấn nhậm vùng được phong. Nhưng khi chúng tới nhiệm sở, bị dân chúng đánh giết, chúng bỏ chạy tán loạn. Biết không thể dùng bọn người Hoa được, Ngột-lương Hợp-thai tổ chức mười đạo binh. Mỗi đạo bao gồm một Thiên-phu Lôi-kỵ, một Thiên-phu quân Trung-quốc hoặc quân Đại-lý, một đội binh người Hoa, đi trấn các vùng này. Thành công. Bọn chúng cử người vào các xã thuyết phục :
« Nếu mở cửa hàng, sẽ được bảo đảm tính mệnh, tài sản. Bằng không, hãy coi gương Bình-lệ nguyên, Cụ-bản Phù-lỗ, Thăng-long ».
Biện pháp độc địa có kết quả. Dân chúng hoang mang. Vùng nào có quân triều ẩn vào làng xã, thì còn giữ được. Nhiều xã vùng Sơn-tây, Sơn-nam, Hồng-châu, Đăng-châu, Trường-yên biết không giữ nổi, mở cổng làng, theo bọn ngụy quan.
Hệ thống phòng thủ chung bị rối loạn. Màng lưới liên lạc, di chuyển, thông tin của triều đình bị cắt đứt. Các cơ quan của triều đình ẩn trong những vùng trên, phải di chuyển, bỏ chạy sang các vùng khác !
Sau khi thất trận, Khâm-Thiên đại vương được võ sĩ hộ tống chạy thoát về Thiên-trường, ngồi run rẩy. Giữa lúc đó Nguyên-Phong hoàng đế cũng bị mất liên lạc với Hưng-Đạo vương. Toàn quốc rối loạn, đại thần, binh tướng kinh hoàng. Các thôn, xã đang rục rịch hàng giặc. Nhà vua hỏi Khâm-Thiên vương :
- Tình hình nguy như trứng chồng trên đá. Vương là Thái-úy, vương định chống giặc bằng kế sách gì ?
Khâm-Thiên vương ngồi chết lặng trên thuyền một lúc rồi tâu :
- Thăng-long trong tay giặc. Phủ, huyện hầu hết bị giặc chiếm rồi. Làng xã cũng hàng giặc. Thế nước đã tan. Bệ hạ hãy mau mau cùng cung quyến dùng thuyền sang Tống ẩn thân, may ra mới tìm được cái sống.
Miệng nói, tay vương cầm cái sào viết xuống nước chữ Nhập Tống. Có nghĩa: Trốn sang Tống.
Bị ảnh hưởng lời tâu của Khâm-Thiên vương, khuyên nên bỏ nước, trốn sang Tống; Nguyên-Phong hoàng đế chưa biết phải ứng phó ra sao, thì Thái-bảo Lê Phụ-Trần tâu :
- Hiện Thái-sư Trần Thủ-Độ với Hưng-Đạo vương đang ở Đông-bộ đầu. Thần xin đem chiến thuyền bảo giá bệ hạ về hội kiến với các vị ấy, để biết rõ quân tình.
Di giá hoàng đế tới Đông-bộ đầu giưã lúc Thái-sư Trần Thủ-Độ, Hưng-Ninh vương, Hưng-Đạo vương, Nhân-Huệ vương đang hội nhau, nghị kế chống giặc. Thấy thần sắc nhà vua tái mét, đôi mắt lờ đờ, Hưng-Đạo vương hiểu những gì đã diễn ra ở Thiên-trường.
Hoàng-đế hỏi :
- Kinh thành thì giặc đã chiếm. Lỵ sở hầu hết các trấn, phủ, huyện, giặc đã đặt quan cai trị. Làng xã nhiều nơi đã theo giặc. Ba hiệu binh thiện chiến nhất của ta bị đánh tan. Dù quan, dù quân, dù đại thần, cũng đều kinh hoàng. Vậy chư khanh định sao ?
Thái-sư Trần Thủ-Độ tỏ vẻ cương quyết :
- Gốc của sự việc là do Khâm-Thiên vương hành sự ngược lại quốc kế. Đúng ra, vương phân chia ba hiệu Thiên-thuộc, Thiên-cương, Chương-thánh thành từng Vệ, ẩn vào trang ấp thuộc Sơn-tây, Sơn-nam, Hồng-châu, Đăng-châu, Trường-yên, cùng dân chúng, dựa vào địa thế các xã chống giặc thì sao chúng chiếm nổi ? Khắp các nước phương Tây cho chí Hạ, Kim, Liêu, Tống, chưa từng nước nào dàn bộ binh mà thắng nổi Lôi-kỵ. Vương dàn quân đánh với Lôi-kỵ, khiến ta mất ba hiệu binh, dĩ nhiên mất luôn 5 huyện trấn nhậm của ba hiệu binh đó là lẽ thường.
Nhà vua vẫn run run :
- Bọn Mông-cổ tàn sát dân Thăng-long, thành ra các xã lo sợ, không dám chống chúng nữa nên mới quy hàng ! Nếu các xã hàng giặc hết, thì nước còn gì?
- Bệ hạ bình tĩnh lại. Những xã quy hàng giặc vì họ không có quân triều đình trợ chiến. Biết Mông-cổ không ai bằng thần. Đánh Ngột-lương Hợp-thai cũng ai hơn thần. Đầu thần chưa rơi xuống đất, xin bệ hạ đừng lo.

Ghi chú của thuật giả

Xét chung cuộc đời Trần Thủ-Độ: Chỉ vì ông sinh ra, lớn lên trong vùng Thảo-nguyên, chịu ảnh hưởng phong tục tập quán của Mông-cổ. Nên khi về Đại-Việt, ông không khép mình trong vòng lễ giáo khắt khe của Nho-gia. Làm ma, làm quỷ, ăn cắp, ăn cướp, thông dâm với vợ người... Vì vậy đương thời, cũng như sau này, ông bị công kích về những hành vi phóng túng. Thế nhưng, xét về phương diện quốc gia, dân tộc, ông là một đại anh hùng. Phải trở lại với thời gian cuối triều Lý, phong hóa suy đồi, dân chúng đói khổ, giặc cướp nổi lên...kỷ cương không còn. Vua Trần Thái-tông khi lên ngôi mới có 8 tuổi. Một mình ông lèo lái đất nước, trong xây dựng triều đình mới, ngoài dẹp giặc. Chỉ sau một thời gian ngắn, mà Đại-Việt trở thành hùng cường, thắng đội quân hùng mạnh nhất thế giới. Công ông thực không nhỏ. Tiếc thay, người đời nay, hành vi còn phóng đãng hơn ông nhiều, thế nhưng vẫn kết tội ông. Bằng chứng, trong những thành phố lớn tại miền Nam trước 1975, không thấy có tên phố Trần Thủ-Độ, cũng không có trại binh, trường học mang tên ông.
Hầu hết các tướng đời Trần, có huân công với xã tắc đều được lập đền thờ, mà Trần Thủ-Độ thì không. Ngay tại đền Bảo-lộc ở Mỹ-lộc Nam-định, tại đền thờ Hưng Nhượng vương Trần Quốc Tảng ở thị xã Cẩm-phả, tỉnh Hạ-long, trong tạc tượng thờ tất cả các vua Trần, công thần đời Trần, mà cũng không thờ Trần Thủ-Độ. Xấu hổ thay, ngay bên sông Bạch-đằng người ta thờ tên giặc Nguyễn Linh Nhan! Và ở ngoại ô Hà-nội người ta thờ tên giặc cướp nước Sầm Nghi Đống, đến nỗi nữ sĩ Hồ Xuân Hương phải than:
Ghé mắt trông theo thấy bảng treo,
Kìa đền thái thú đứng cheo leo.
Ví đây đổi phận làm trai được,
Thì sự anh hùng há bấy nhiêu!

Trong cuộc sưu tầm, tôi chỉ thấy duy nhất tại xã Hương-tảo, huyện Yên-dũng, tỉnh Hà Bắc thờ ông ở đình làng làm thần Thành-hoàng.
Tài liệu: Bắc-giang tỉnh thần tích.


Nghe Thái-sư Thủ-Độ nói lời cương quyết, Nguyên-Phong hoàng đế lấy lại được bình tĩnh.
Hưng-Đạo vương tâu :
- Giặc đã bỏ ý định tiến quân về Thiên-trường. Ngột-lương Hợp-thai sai quân chiếm mười lỵ sở, phong cho bọn Hoa-kiều, bọn đầu trâu mặt ngựa làm quan cai trị, bức các xã đầu hàng. Còn quân Mông-cổ thì chúng rút về Thăng-long. Y tưởng như vậy là yên. Y đâu biết các xã hàng giặc vì bất đắc dĩ mà thôi. Bây giờ y rút quân đi, các xã đâu có sợ bọn quan lại đầu trộm đuôi cướp nữa ? Thần đã lệnh cho Thái-bảo Lê Phụ-Trần chia quân thành từng Đô, từng Vệ, len lỏi vào các xã vùng Trường-yên, Sơn-nam giúp dân chống giặc. Dân chúng dù muốn, dù không cũng phải trở về với triều đình. Còn 5 huyện thuộc vùng Hồng-châu, Đăng-châu, Sơn-Tây thần cũng ra lệnh cho Nhân-Huệ vương Trần Khánh-Dư làm tương tự.
- Nếu như Ngột-lương Hợp-thai lại sai quân tái chiếm các huyện thì sao ?
- Tâu ! Bây giờ các xã không bị chiến đấu đơn độc nữa. Mỗi xã đều có quân trợ chiến. Xã nào cũng thành Cụ-bản, Phù-lỗ cả.
Hai hôm sau, Khu-mật viện nhận được tấu chương của Thái-bảo Lê Phụ-Trần :
« Xử dụng ba hiệu binh Yên-bang, Tiên-yên, Yên-phụ đã tái chiếm tất cả các xã năm huyện thuộc vùng Trường-yên, Sơn-Nam. Lại ra lệnh chém đầu bọn quan lại của Mông-cổ mới cử về. Các xã cũng đã củng cố lại hệ thống phòng thủ. Mỗi xã có một Đô quân triều lưu động cùng dân binh ».
Ngay chiều hôm ấy, sứ giả của Nhân-Huệ vương Trần Khánh-Dư gửi tấu chương về :
« Tái chiếm 5 huyện thuộc vùng Sơn-Tây, Hồng-châu, Đăng-châu. Xử tử bọn quan của Mông-cổ sai về. Giết toàn gia những Đại-tư của những xã hàng giặc. Đã phân chia quân, ẩn vào các xã phòng giặc. A Truật phản ứng rất nhanh. Y sai một Thiên-phu Lôi-kỵ, một Thiên-phu quân Trung-quốc cùng một Thiên-phu gốc là Hoa-kiều tái chiếm lỵ sở Đăng-châu. Khi tấn công vào một xã, gặp phản ứng mạnh, bọn quân Trung-quốc, Hoa-kiều bị Ngưu-binh giết gần hết. Chúng đã rút lui về Thăng-long ».
Hưng-Đạo vương tâu :
- Bây giờ là lúc ta phản công.
Nguyên-Phong hoàng đế vốn là một ông vua trí tuệ tuyệt vời. Chỉ vì sau khi rút khỏi Thăng-long, ngài có cảm tưởng như không còn cái uy quyền của một ông vua. Thứ đến, dân chúng Thăng-long bị tàn sát, gây cho ngài cái xúc động mãnh liệt. Tiếp theo, ba hiệu binh ưu tú nhất bị diệt, mất luôn mười huyện, rồi nhiều xã hàng giặc. Cuối cùng Thái-úy Khâm-Thiên vương lại khuyên ngài nên bỏ nước, trốn sang bên Tống...Nên ngài có đôi chút hoảng hốt. Cũng may, sau đó, có lời cương quyết của Thái-sư Trần Thủ-Độ, rồi thái độ bình tĩnh, tự tin của Hưng-Đạo vương. Ngài đã lấy lại được phong độ bình thường.
Ngày 20 tháng Chạp, năm Đinh Tỵ
nhằm niên hiệu Nguyên-Phong thứ bẩy
đời vua Thái-tông nhà Trần (25 tháng 1 năm 1258).
Nguyên-Phong hoàng đế ban chỉ triệu tập chư tướng về nhận lệnh. Các tướng tề tựu đầy đủ trên một soái thuyền của hạm đội Âu-Cơ.
Trấn-vũ thượng tướng quân, Khai-sơn hầu Chu Mạnh-Nhu, quản Khu-mật viện trình bầy tình hình :
« Trước hết là tình hình dân chúng. Sau vụ quân Mông-cổ tàn sát dân Thăng-long, dân chúng ngút lửa căm hờn, chỉ mong đến ngày triều đình ban chỉ phản công giết giặc trả thù nhà.
Dân chúng các xã vẫn làm ăn bình thường. Riêng hệ thống thương mại thì hoàn toàn bị tê liệt. Bọn Hoa-kiều sống lẻ tẻ ở các phủ, huyện, trấn, hoặc làng xã, rục rịch làm tai mắt cho Mông-cổ, bị dân chúng giết sạch ».
Về tình hình quân Đại-Việt :
« Sau trận đánh ở cánh đồng Văn, ba hiệu binh Thiên-thuộc, Thiên-cương, Chương-thánh bị tổn thất đến bẩy phần mười. Trong lúc này không thể bổ xung được. Hưng-Đạo vương đã ra lệnh rút về Thiên-trường từ từ bổ xung. Sau trận đánh Bình-lệ nguyên, hiệu binh Yên-bang tuy có thiệt hại nhưng không đáng kể, tinh thần lên rất cao. Hiệu-binh Tiên-yên trấn Cụ-bản coi như không thiệt hại gì. Binh, tướng cùng hăm hở chờ ngày đánh giặc. Riêng hiệu binh Yên-phu, sau khi thất thủ Phù-lỗ, bị thiệt hại một nửa, đã bổ xung. Vừa rồi trấn ở xã Quai-mễ, giao chiến với Mông-cổ, thắng một trận lớn. Hùng khí lại hưng thịnh như trước.
Ngoài ra, các hiệu binh khác đang chờ lệnh đánh giặc ».
Đến đây, hầu ngừng lại, rồi cung cung, kính kính hướng các tôn sư võ học Đại-Việt. Chưởng-môn phái Tản-viên là Đặng Kiếm-Anh đứng dậy :
- Khi nghị kế, Hưng-Đạo vương có nhã ý trao cho các gia, các phái giữ nhiệm vụ ẩn vào dân chúng, đột nhập trại giặc để biết tin tức. Hầu hết chúng tôi bắt giết binh giặc, lấy y phục mặc vào, rồi khi thì nấp ngoài lều bọn chúa tướng. Khi thì đột nhập lều trại, đọc trộm các văn kiện. Vì tôi lớn tuổi nhất, nên các tôn sư đã chỉ định tôi làm thủ lĩnh. Chúng tôi chia vùng hoạt động. Trước hết là Lĩnh-Nam tam đại thần kiếm Vô-Sắc, Vô-Ảnh, Vô-Huyền phụ trách mặt trận từ biên giới tới Bình-lệ nguyên. Ba vị đã xuất trận cứu giá, đánh lùi bọn A Truật, Hoài Đô, An Tan, Triệt Triệt Đô. Sau đó các ngài với chư đệ tử phái Mê-linh vẫn theo dõi tình hình địch tại vùng này. Xin để Vô-Sắc sư thái trình bầy.
Vô-Sắc sư thái đứng dậy chào cử tọa:
- Tình hình giặc tại vùng biên giới không có gì đặc biệt. Vũ-Uy vương ém ba hiệu binh Tiền, Tả, Hữu thánh dực tản vào các xã. Hiệu Tiền Thánh-dực do Trấn-biên tướng quân Trần Quới, cùng An-phủ sứ Quy-hóa Hà Khuất chia quân sống với dân. Hiệu Tả Thánh-dực do Phì-đức tướng quân Bùi Hoán ém quân dọc đường từ Quy-hóa đến Thảo-lâm. Còn Văn-mẫn tướng quân Hoàng Vui thì trấn ở ngã ba sông Bạch-hạc. Ba tướng này rất kỷ luật, trị quân cực nghiêm. Dù giặc thế nào cũng không đánh chúng. Thành ra giặc cho rằng ta không có quân tại vùng này. Mông-cổ để lại một Thiên-phu Lôi-kỵ, hằng ngày rong ruổi tuần tiễu từ biên giới tới Bình-lệ nguyên, bảo vệ con đường tiếp tế lương thảo. Đôi khi chúng thử tấn công vào một xã, thì gặp sức chống trả mãnh liệt, nên chúng bỏ cuộc. Vì Vũ-Uy vương nghiêm lệnh không cho đánh chúng, nên chúng cũng không tấn công các xã. Khi có lệnh, bất cứ lúc nào vương cũng có thể khiêu khích cho chúng đánh vào một xã, để dùng địa thế, Ngưu-binh tiêu diệt chúng, chặn đường tiếp tế lương thảo, cũng như tuyệt đường rút quân. Trong trận này chúng tôi sẽ xuất hiện giết tên Thiên-phu trưởng, cùng tất cả Bách-phu trưởng, gây hỗn loạn hàng ngũ giặc.
Chu Mạnh-Nhu cung cung, kính kính hướng Tuyên-minh thái hoàng thái hậu :
- Thần lớn mật dám xin bệ hạ...
Tuyên-minh Thái-hoàng thái hậu cũng đứng dậy :
- Già này cùng Hưng-Nhân vương phi, Kiến-quốc vương phi phụ trách từ Bình-lệ nguyên tới Phù-lỗ. Trong trận Cụ-bản chúng tôi giết chết hai tướng Mông-cổ là Triệt Triệt Đô và A Tan. Hiện giặc có hai Thiên-phu Lôi-kỵ, ba Thiên-phu Trung-quốc trấn thủ Cụ-bản, Phù-lỗ, ngày ngày tuần phòng bảo vệ đường tiếp tế lương thảo. Tất cả lương thảo của giặc đã chuyển từ biên giới về Cụ-bản. Vùng này, hiện nay ta không có bộ binh, mà chỉ có Kỵ-binh, Ngưu-binh. Tất cả do Vũ-kỵ thượng tướng quân Lý Tùng-Bách, Đại-đởm thượng tướng quân Nguyễn Thiên-Sanh trấn nhậm. Nếu như tăng viện cho hai viên tướng này một hay hai hiệu binh, họ có thể đánh chiếm kho lương Cụ-bản thì toàn quân Mông-cổ sẽ bị chết đói.
Hưng-Đạo vương hỏi Nhân-Huệ vương Trần Khánh-Dư :
- Vương hiện có ba hiệu binh Trung Thánh-dực, Thần-sách, Củng-thần. Vương có thể tăng viện một hiệu binh trấn nhậm, yểm trợ cho 41 xã từ Nam Thăng-long đến Thiên-trường không ?
- Được ! Nhưng!
- Nhưng gì?!?!?!
- Nay Thăng-long đã vào tay giặc rồi, dân chúng hoang mang. Tất cả 41 xã này, trước đây do Nguyên-tổ (Trần Lý) quy dân tạo ra; vì vậy có hệ thống tổ chức cực kỳ tinh vi. Tuy nhiên nếu tôi chỉ viện cho họ có một hiệu binh, thì phải trải rất rộng. Lỡ ra, giặc dồn toàn lực, cố đánh về Thiên-trường, tàn phá lăng tẩm, thì tôi không thể giữ nổi.
- Trường hợp này, vương có thể cầm cự được bao nhiêu lâu?
- Khoảng ba tháng.
- Tôi chỉ cần một tháng cũng đủ rồi. Vậy Thái-bảo Lê Phụ-Trần, dùng thủy quân chở ba hiệu binh Tiên-yên, Yên-bang, Yên-phụ về Tây-kết, chờ lệnh.
Lê Phụ-Trần nhận lệnh.
Chu Mạnh-Nhu hướng đại hiệp Lê Ngân-Sơn, chưởng môn phái Sài-sơn. Lê Ngân-Sơn đứng dậy :
- Trong quốc kế, Hưng-Đạo vương trao cho bốn chúng tôi, gồm bào đệ Lê Kim-Sơn, đại sư Tiêu-Dao, Đại-sư Lung-Á phái Yên-tử, đại sư Y-Sơn phái Tiêu-sơn suất lĩnh đệ tử phụ trách vùng Thăng-long. Vì bọn Thát-đát giết hết dân chúng, nên chư đệ tử không có nơi ẩn thân thu nhặt tin tức. Cho nên đích thân chúng tôi phải hành sự. Sau đây là những tin quan trọng nhất.
Cử tọa im lặng nghe Lê Ngân-Sơn trình bầy:
- Về tướng sĩ, chúng mất hai đại tướng là A Tan, Triệt Triệt Đô. Trong 5 Vạn-phu trưởng thì một bị Vô-Huyền bồ tát giết ở Bình-lệ nguyên. Một bị chết trong lúc đánh Cụ-bản. Trong 50 Thiên-phu trưởng, bị chết, bị bắt mất 20. Trong 500 Bách-phu trưởng, bị giết, bị bắt 72. Lực-lượng Lôi-kỵ có 5 vạn, quân Đại-lý, quân Trung-quốc 5 vạn. Lao binh 10 vạn. Sau các trận đánh lẻ tẻ, Lôi-kỵ còn 4 vạn rưỡi, quân Đại-lý, Trung-quốc còn 4 vạn, Lao binh còn 8 vạn. Còn bọn du thủ, du thực Hoa-kiều, người Việt khoảng một vạn, nhưng ô hợp, không đáng kể. Tổng cộng chúng có 17 vạn. Hiện đại quân đóng dài trong vùng Thăng-long, Gia-lâm, Sơn-Tây.
Đến đây ông đưa mắt nhìn chưởng môn phái Tản-viên là Đặng Kiếm-Anh:
- Trong anh em chúng tôi, thì tôi với bào đệ giết được mấy Lao-binh, rồi lột y phục mặc vào, đột nhập khu vực của tên quan coi về lương thực, tiếp vận. Chúng tôi biết rất rõ tình hình lương thực. Bọn Mông-cổ không ăn cơm, cũng chẳng ăn rau. Chúng chỉ ăn thịt. Bọn binh Đại-lý, Trung-quốc, chúng ăn thịt, ăn cá, rau, đậu, cơm, bánh bao như chúng ta. Hốt Tất Liệt cũng như Ngột-lương Hợp-thai lấy kinh nghiệm những lần chinh tiễu Tây-vực, Kim, Liêu, Hạ, Tống, khi họ chiếm được một huyện lỵ, lập tức thiết lập hệ thống cai trị bù nhìn. Bọn bù nhìn có bổn phận bắt dân nộp lương thực. Vì vậy họ chỉ lo lương thực trong những ngày đi đường, ngày đầu tiên. Sau đó sẽ được cung đốn. Để chuẩn bị cuộc Nam chinh, họ chuẩn bị số lương thực cho 20 ngày. Vì họ nghĩ, sau 15 ngày, họ đã làm chủ đất nước ta rồi, thì lương thực dư thừa.
Thái-sư Trần Thủ-Độ tính nhẩm, rồi nói:
- Ngày đầu tiên chúng nhập biên là 5 tháng chạp. Hôm nay là ngày 20, như vậy lương thực của chúng hết rồi sao?
- Không! Vẫn còn khoảng ba ngày nữa.
Đặng Kiếm-Anh khẳng định: Trong các cuộc giao tranh lẻ tẻ từ hôm ấy đến giờ, số chiến mã chết đến mấy nghìn. Chúng không chôn ngựa, mà dùng xác chiến mã làm lương thực. Khi vào Thăng-long, nhờ bọn Hoa-kiều, bọn du thủ du thực, chúng cướp được khá nhiều gia súc, lúa, gạo. Nhưng bây giờ Thăng-long không còn dân, mà có còn dân cũng không còn lương thực cho chúng cướp. Ngay nguồn lương thực trong các cửa hàng Hoa-kiều đã cạn. Chúng muốn cướp, thì không biết biết cướp ở đâu ? Vì các xã đều đóng cửa chống giặc! Chúng muốn cướp thì phải đánh các xã. Mà các xã thì đều biến thành Cụ-bản, Phù-lỗ cả. Ngột-lương Hợp-thai đã xin tiếp viện từ Quảng-Tây, Đại-lý. Có lẽ đoàn tiếp tế sắp nhập biên.
Đến đây Đặng Kiếm-Anh ngừng lại, ông đưa mắt cho Tiêu-Dao đại sư. Đại-sư mỉm cười:
- Bần tăng cùng mấy đệ tử dò xét tình hình ở lều bọn quan quân y. Binh sĩ, chiến mã của họ hầu hết bị bệnh. Sau khi nhập biên ba ngày thì binh sĩ gốc Mông-cổ, cũng như chiến mã bắt đầu đau ốm. Đa số bị tiêu chảy, đau bụng, sốt rét, cảm mạo. Cơ chừng này chỉ mươi ngày nữa thì họ sẽ chết hết.
Thái-sư Trần Thủ-Độ chỉ Trần Tử-An và đám võ sĩ của ông:
- Quân Mông-cổ, cũng như chiến mã sống trong vùng Thảo-nguyên, quanh năm khí hậu lạnh cắt da, xé thịt. Những vùng này không có muỗi, ruồi, không có rầy, thiêu thân. Bây giờ vào Đại-Việt, người, ngựa bị muỗi đốt, thì sau ba ngày bị sốt rét ngã nước. Lại nữa, khí hậu của ta là khí hậu thấp nhiệt, độc khí bàng bạc khắp trời.
Ông chỉ vào Tử-An. Tử-An tiếp lời:
- Nước uống của mình quá độc. Cỏ càng độc hơn. Hơn trăm võ sĩ, chiến mã của tôi về đây đươc nửa tháng thì bị bệnh hết. Tôi nghĩ, tình thế này, ta phản công được rồi.
Ghi chú của thuật giả.
Hồi niên thiếu, đọc sử Trung-quốc, sử Việt, mỗi khi nói đến quân Trung-quốc, Mông-cổ, Mãn-thanh đánh Đại-Việt, bị nhiễm bệnh, tôi không mấy quan tâm. Nhưng đến nay, sau gần 30 năm hành nghề thầy thuốc ở châu Âu, tôi mới thấy vấn đề này quan trọng. Các thân chủ của tôi, dù da trắng hay gốc là da vàng, khi du lịch Việt-Nam tôi đều bắt chích thuốc ngừa: Dịch-tả, Siêu vi gan A+B, Cúm, uống thuốc phòng sốt rét. Ấy vậy, mà đến một phần ba vẫn bị đau bụng, tiêu chảy. Còn những vị tự cho rằng ta có mình đồng, da sắt ; bướng bỉnh, không chịu chủng, không chịu uống thuốc phòng ngừa, thì khỏi nói. Nào Tào Tháo đuổi chạy có cờ, sốt rét ngã nước, mang bệnh về Pháp, đi nằm nhà thương.
Hỏi với đội quân Mông-cổ, cũng từ vùng khí hậu lạnh như châu Âu, rồi tới Việt-Nam, mà uống nước múc dưới sông, từ ao, hồ, giếng. Ăn rau đậu tưới bằng phân người, phân thú...Vi trùng nhung nhúc thì chịu sao thấu? Nhất là chứng sốt rét ngã nước!
Nguyên-Phong hoàng đế cùng chư tướng đưa mắt nhìn Hưng-Đạo vương. Vương cầm kiếm lệnh để lên trước án thư:
- Bây giờ là lúc chúng ta đuổi giặc. Giặc có ba mối nguy. Một là quân, ngựa bị bệnh. Hai là tiến đánh các xã khó khăn. Ba là lương thực đã cạn. Vậy chúng ta phải làm gì ?
Cử tọa có hơn trăm người, mà không một tiếng động.
- Trước hết, tất cả các chúa tướng xung quanh vùng đóng quân của giặc phải giữ vững các xã, không cho giặc vào cướp lương thảo. Ngăn chặn bắt giết bọn Hoa-kiều vào các xã thu mua lương thực.
Chư tướng cùng đưa mắt nhìn Khâm-Thiên đại vương, vì vùng trấn nhậm của vương có nhiều xã tiếp cận với giặc nhất. Vương thẹn thùng cúi xuống không nói gì.
Hưng-Đạo vương nói bằng giọng cương quyết, ngắn và gọn :
- Ngay đêm nay, phải dồn toàn lực, cắt các nguồn lương thực của giặc. Dù nguy nan mấy cũng phải hoàn thành. Dù tổn thất mấy cũng phải đạt được chiến thắng. Xin mời Vũ-Uy vương cùng chư tướng nhận lệnh !
Vũ-Uy vương, Trấn-biên thượng tướng quân Trần Quới, Phì-đức thượng tướng quân Bùi Hoán, Văn-mẫn thượng tướng quân Hoàng Vui cùng đứng dậy.
- Các vị phải đánh tiêu diệt bọn quân Mông-cổ đang trấn nhậm từ biên giới tới Thảo-lâm. Dùng chướng ngại vật ngăn chặn không cho tiếp tế lương thảo từ Đại-lý sang. Nếu như đại quân Mông-cổ từ Vân-Nam nhập biên cứu viện, thì phải chặn cho bằng được.
Vũ-Uy vương tỏ ý lo ngại :
- Thưa Tiết-chế ! Hồi giặc nhập biên, đệ được Lĩnh-Nam tam đại thần kiếm đứng sau lưng, nên không sợ bọn cao thủ của Mông-cổ. Từ hồi đó đến giờ, các cao thủ của giặc ở đâu ? Hành trạng thế nào, ta không rõ. Nếu như bây giờ trong trận đánh sinh tử này, cao thủ giặc xuất hiện, sát hại các tướng của ta, thì nguy tai. Vậy xin vương huynh viện cho mấy cao thủ.
- Vương yên tâm ! Tôi đã dư trù việc này rồi.
Vũ-Uy vương vui vẻ :
- Xin tuân lệnh.
Hưng-Đạo vương lại hướng vào cử tọa :
- Mời Thái-bảo Lê Phụ-Trần cùng chư tướng nhận lệnh.
Thái-bảo Lê Phụ-Trần, Chinh-viễn thượng tướng quân Trần Biên, Trung-lược thượng tướng quân Nguyễn Thời, Dũng-lược thượng tướng quân Nguyễn Tha đứng dậy.
- Thái-bảo tái chiếm Bình-lệ-nguyên, ngã ba sông Bạch-hạc. Đề phòng trường hợp giặc từ Đại-lý tràn sang mạnh quá, Vũ-Uy vương không ngăn nổi. Thái-bảo phải ngăn không cho chúng tiến về Thăng-long. Về việc phòng cao thủ giặc, tôi đã có kế vạn toàn rồi.
- Xin tuân lệnh.
- Xin mời Đại-đởm thượng tướng quân cùng chư tướng nhận lệnh.
Nguyễn Thiên-Sanh cùng Vân-ma thượng tướng quân Lê Phẩm, Chinh-thảo thượng tướng quân Nguyễn Bích, Trấn Tây thượng tướng quân Phạm Long đứng dậy chờ đợi.
- Bằng mọi giá, bốn vị tướng quân phải chiếm kho lương Cụ-bản. Không cướp được thì cũng phảo đốt sạch. Tướng quân có cần viện thêm quân không ?
- Thưa vương gia không. Tại Cụ-bản hiện giặc có ba Thiên-phu Lôi-kị, một Vạn-phu quân Trung-quốc, Đại-lý. Chúng thủ ở trong. Nếu như tiểu tướng muốn đánh vào, thì phải có 13 vạn quân. Quân số đó lấy đâu ra ? Vì vậy chỉ có cách đánh cảm tử. Đánh cảm tử thì không cần quân số đông. Chỉ với Đại-đởm thập tam kiệt, đội võ sĩ của Đô-thống Trần Minh, 5 Vệ Ngưu-binh của bọn Cái Lan, Cái Huệ, Cái Hồng Cái Sen, Cái Tiên, thêm hiệu binh Tiên-yên cũng đủ.
Câu trả lời của Nguyễn Thiên-Sanh tuy ngắn ngủi nhưng cử tọa đều cảm thấy ớn lạnh, vì biết trận chiến sẽ diễn ra khủng khiếp vô cùng.
- Mời Vũ-kỵ thượng tướng quân nhận lệnh.
Lý Tùng-Bách cùng Phá-lỗ thượng tướng quân Trần Trữ, Hoài-hóa thượng tướng quân Trương Đình đứng dậy.
- Ba vị giữ nhiệm vụ sinh tử là : Tái chiếm Phù-lỗ chớp nhoáng, trấn tại đây. Giặc thiếu lương, bị đánh tại Thăng-long sẽ rút lui theo đường cũ về qua Phù-lỗ. Phù-lỗ bị chặn, bằng mọi giá chúng phải mở đường máu thoát thân. Tướng quân đợi cho chúng chạy qua, rồi đổ ra diệt cánh hậu quân của chúng. Dùng Kỵ-binh đuổi theo, không cho chúng nghỉ ngơi.
- Xin tuân lệnh.
Hưng-Đạo vương vẫy tay :
- Đêm nay, giờ Tý, tất cả cùng khởi công.
Đợi chư tướng lên đường rồi, Hưng-Đạo vương mới nói với các đại tôn sư võ học :
- Hiện trong quân Mông-cổ có khoảng trên nghìn võ sĩ. Các võ sĩ này hầu hết là người Hán. Vì lý do này, lý do nọ, họ phải theo Mông-cổ. Từ lúc nhập Việt, Ngột-lương Hợp-thai mới chỉ dùng có 3 trăm người dự trận Bình-lệ nguyên. Còn lại y ém rất kỹ. Ý đồ của y đã rõ : Y đợi trong trận đánh lớn mới tung ra, giống như Quách Quỳ đánh trận Như-nguyệt. Vậy không biết các vị nghĩ sao ?
Vô-Sắc sư thái chỉ Tiêu-Dao đại sư :
- Vô-Huyền sư muội đã có kế giải quyết vụ này rồi. Bần ni xin để đại sư tâu lên hoàng thượng cùng vương gia.
Tiêu-Dao đại sư nói :
- Thưa vương gia ! Bần tăng tuy vào chốn không môn, tứ đại giai không, nhưng bần tăng vẫn không quên được gốc là người Hán. Ngày một, ngày ha, trong trận lớn, Mông-cổ tung hết võ sĩ Hán, đánh với võ sĩ Đại-Việt, thì thiệt hại cả hai bên đều lớn vô cùng. Bần tăng trộm nghĩ, nếu như vương gia cho phép, thì bần tăng sẽ tìm cách nào đó để đưa đám võ sĩ Hán trở về với Tống, hoặc ít ra, họ bỏ Mông-cổ, không biết ý vương gia thế nào?
- Bạch đại sư.
Hưng-Đạo vương khẩn khoản: Mông-cổ xâm lấn Đại-Việt, chỉ với mục đích là đánh sau lưng Tống. Đại-Việt chống Mông-cổ vì mình cũng có, vì Tống cũng có. Các võ sĩ Hán đều là thần tử Tống triều, nếu không giúp Đại-Việt, thì cũng đứng ngoài cuộc chiến. Có đâu họ lại theo Mông-cổ? Nay nếu đại sư làm được công việc trên, thì thực là đại từ, đại bi. Nhưng thưa đại sư, làm thế nào để được như vậy?
- Khải vương gia, Vô-Huyền bồ tát đã ban chỉ dụ cho bần tăng cùng Lĩnh-Nam tam đại thần kiếm, âm thầm đột nhập doanh trại Mông-cổ, gặp hai đại tôn sư võ lâm Trung-quốc là Phùng Tập và Tiêu-Hư tử để nghị về việc này. Cuối cùng hai bên đã tìm ra được cách giải quyết.
Nói đến đây, đại sư tâu trình bằng âm thanh nhỏ như tơ, chỉ vừa lọt vào tai Nguyên-Phong hoàng đế và Hưng-Đạo vương. Cả ba vị cùng gật đầu, tỏ vẻ hân hoan vô cùng.
Đợi các tôn sư võ học đi rồi, Hưng-Đạo vương nói nhỏ với Thái-sư Trần Thủ-Độ. Không biết hai đại anh hùng của dân Việt nói với nhau những gì, mà khi thì hai vị tủm tỉm cười, khi thì hai vị gật đầu, tỏ ra thú vị.
Chán đời đi lang thang !
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-05-25 13:53:06NuHiepDeThuong>
Hồi thứ năm mươi

Bạch đầu quân sĩ tại,
Vãng vãng thuyết Nguyên-phong.


(Trần Nhân-tông)

(Người lính già đầu bạc,
Kể mãi chuyện Nguyên-Phong
).


Ngày 21 tháng Chạp, năm Đinh Tỵ nhằm niên hiệu Nguyên-Phong thứ bẩy đời vua Thái-tông nhà Trần (26 tháng 1 năm 1958).
Hôm nay là ngày Thái-sư Mông-cổ Ngột-lương Hợp-thai, phò mã Hoài Đô, cùng chư tướng mở đại tiệc trong Hoàng-thành Thăng-long. Đây là bữa tiệc mừng chiến thắng trận cánh đồng Văn. Hoài Đô nói với cử tọa :
- Ta ra quân lần đầu, chỉ một trận, phá tan ba hiệu binh thiện chiến bậc nhất Đại-Việt, đuổi Thái-úy An-Nam là Khâm-Thiên đại vương chạy bán mạng. Toàn quốc rúng động. Nhiều xã mở cổng quy hàng. Ta lại chiếm được 10 huyện, đã đặt quan cai trị. Đợi qua Tết, chúng ta tiếp tục truy lùng Trần Cảnh, Trần Quốc-Tuấn, chiếm nốt các huyện còn lại. Bấy giờ ta đặt một tên khờ nào đó lên là vua, để y có thể cung ứng lương thảo, lao binh cho ta. Ta sẽ tiến lên đánh vào sau lưng bọn Tống.
Ngột-lương Hợp-thai nói với các võ sĩ Trung-quốc :
- Đối với các nước khác, bắt vua, chiếm thành là xong. Nhưng ở An-Nam làm như vậy thì chưa đủ, bởi bọn võ lâm rất có uy tín với dân. Chúng sẽ cầm đầu dân chúng nổi lên chống đối. Ta khó mà ở yên với chúng. Vậy cần thu thập bọn võ lâm trước.
Hoài Đô chỉ vào đám võ sĩ phái Côn-luân, Võ-đang :
- Tôi nghĩ, muốn trị bọn võ lâm An-Nam thì không khó. Ở đây có hai vị Thái-sơn Bắc-đẩu võ lâm Trung-quốc là Trấn-thiên kiếm Phùng tiên sinh thuộc phái Côn-luân, cùng Càn-nguyên trấn thiên chưởng của phái Võ-đang. Hai vị dẫn chư đệ tử đi đánh phá tổng đường các võ phái. Việc này phải làm song song với việc chúng tôi đem quân chiếm các huyện.
Tiêu-Hư đạo sư của phái Võ-đang từng qua lại một vài chiêu với Tuyên-minh Thái-hoàng thái hậu. Bây giờ nghĩ lại, ông vẫn cảm thấy ơn ớn. Ông hỏi tên Trịnh Ngọc :
- Không biết võ lâm An-Nam hiện có những phái nào ? Thực lực của họ ra sao ?
- Thưa đạo trưởng .
Tên Trịnh Ngọc trả lời : An-Nam có 6 đại môn phái chính. Môn phái lớn nhất là Đông-a, gốc của triều đình nhà Trần. Cao thủ như rừng, kể không siết. Thứ đến phái Yên-tử, tuy mới thành lập, nhưng thế cực mạnh ; cao thủ phái này có Tiêu-Dao đại sư, Lung-Á đại sư. Hưng-Ninh vương là đệ tử của Tiêu-Dao đại sư. Thứ ba đến phái Mê-linh có Lĩnh-Nam tam đại thần kiếm.
Nghe đến Lĩnh-Nam tam đại thần kiếm, mặt Ngột-lương Hợp-thai, Hòai Đô, A Truật cau lại thực khó coi . Hình ảnh ba ni sư này kiếm thuật thần thông, xung vào giữa đội hình Lôi-kỵ như chỗ không người. Với bản lãnh ấy thì khi ba bà xuất trận, làm thế nào mà kiềm chế được?
Tên Trịnh Ngọc vẫn lải nhải :
- Thứ tư tới phái Tản-viên. Phái này có hai đại cao thủ nức danh là Đặng Kiếm-Anh, Đặng Kiếm-Hùng, chưởng lực cao thâm không biết đâu mà lường. Còn phái Sài-sơn, thì đời nào cũng có những anh tài ở trong quân ngũ. Hiện phái này có ba đại cao thủ là Lê Ngân-Sơn, Lê Kim-Sơn, Lê Phụ-Trần. Lê Phụ-Trần là người chỉ huy trận Bình-lệ-nguyên. Cuối cùng là phái Tiêu-sơn. Tuy những năm gần đây phái này chuyên nghiên cứu Phật pháp, nhưng vẫn nảy ra một thiên tài là Y-Sơn đại sư. Võ lâm Lĩnh Nam gọi Đặng Kiếm-Anh, Đặng Kiếm-Hùng, Lê Ngân-Sơn, Lê Kim-Sơn, Tiêu-Dao, Lung-Á, Y-Sơn là Đại-Việt thất tuyệt.
Phùng Tập tỏ ý lo lắng :
- Thái-sư muốn chúng tôi thu thập bọn võ lâm. Nhưng chúng đông quá, trong khi chúng tôi chỉ có hai người thì địch sao lại ?
- Phùng tiên sinh ơi !
Hòa Đô mỉm cười :
- Tôi có bảo tiên sinh thu thập tất cả bọn chúng một lúc đâu ? Tôi muốn : Khi chúng tôi đánh tới huyện nào, mà trong huyện đó có tổng đàn một võ phái, thì nhị vị dùng lễ võ lâm gặp chưởng môn của chúng. Tiên sinh đem đại nghĩa, đem danh lợi ra chiêu dụ chúng. Chúng theo gió mà quy hàng thì tôi sẽ ban chức tước, ruộng đất cho chúng. Còn như chúng không theo, thì ta dùng quân giết tuyệt, rồi tiêu hủy tổng đàn của chúng.
Y hỏi tên Trịnh Ngọc :
- Theo ý người thì nên thu thập phái nào trước ?
- Phái Đông-a là gốc họ Trần, thì chiêu mộ e vô ích. Phái Sài-sơn cùng phái Đông-a gắn bó với nhau có trên 3 trăm năm, muốn chiêu dụ cũng khó. Còn lại, theo tiểu nhân, ta nên chiêu mộ bọn Tiêu-sơn. Vì phái Tiêu-sơn là nơi phát tích ra triều Lý. Bọn họ Trần thay bọn họ Lý, thì phái Tiêu-sơn thất sủng. Chiêu mộ dễ nhất.
Ngột-lương Hợp-thai cầm chung rượu dơ lên :
- Chúng ta hãy say một bữa, rồi sau Tết sẽ tiến quân.
Quan, quân Mông-cổ đang ăn thịt, uống rượu, được bọn ca nhi gốc người Hoa hầu hạ, ca hát vui mừng, vì chiếm được 10 huyện của An-Nam, thì thân binh vào báo :
- Thưa Thái-sư, đại tướng chỉ huy binh đoàn Phương-Đông Trần Thủ-Độ, cùng với Vạn-phu trưởng Trần Tử-An xin cầu kiến.
Ngột-lương Hợp-thai buông chung rượu hỏi lại :
- Người có nghe lầm không ? Nhị ca của ta qua đời đã lâu rồi, có đâu y...y...đội mồ sống lại ?
- Thưa Thái-sư, ông ta xưng như vậy, nhưng ông ta mặc y phục Thái-sư của Đại-Việt. Cạnh ông còn có 10 mười tùy tùng. Bọn này gồm tăng, tục, già, trẻ, nam, nữ khác nhau. Họ nói tiếng Mông-cổ rất văn vẻ.
Ngột-lương Hợp-thai nói với Hoài Đô :
- Chúng ta cùng ra xem sự thực thế nào?
Vừa tới Nam-môn Hoàng-thành, tuy cách xa nhau mấy chục năm, mà nhác trông đám khách, Ngột-lương Hợp-thai đã nhận ra người anh kết nghĩa Trần Thủ-Độ. Y reo lên :
- Nhị ca !
Cả hai nắm lấy tay nhau, lặng đi một lúc, rồi Ngột-lương Hợp-thai lên tiếng :
- Người ta...Người ta nói láo rằng nhị ca chết rồi. Không ngờ nhị ca vẫn còn tại thế. Bây giờ nhị ca làm quan với An-Nam à ?
- Đúng vậy. Không những huynh làm quan mà còn là Thái-sư của Đại-Việt nữa.
Thủ-Độ giới thiệu những người cùng đi gồm Đại-Việt thất tuyệt: Đặng Kiếm-Anh, Đặng Kiếm-Hùng, Lê Ngân-Sơn, Lê Kim-Sơn, Tiêu-Dao, Lung-Á, Y-Sơn. Lĩnh-Nam tam đại thần kiếm, nhưng hiện diện chỉ có hai vị Vô-Sắc, Vô-Ảnh. Cuối cùng là Trần Tử-An.
Phân ngôi chủ khách xong, Hoài Đô nói với Thủ-Độ :
- Thưa Trần tiên sinh ! Tôi nghe phụ hoàng nói rằng, xưa người cùng tiên sinh, Thái-sư đây, Đại-vương Bạt-Đô, Đại-vương A-lý Hải-nha kết thành Thảo-nguyên ngũ thiết điêu, nức danh Thảo-nguyên. Đức Thái-tổ phong tiên sinh làm tướng chỉ huy đạo binh Phương-Đông. Không biết hôm nay tiên sinh tới đây với tư cách là đại tướng của Mông-cổ hay là Thái-sư của An-Nam ?
Thủ-Độ biết tên nhãi con này muốn kiếm chuyện đây, ông cười nhạt:
- Khi chúng ta lừng danh Thảo-nguyên thì dường như Phò-mã chưa ra đời thì phải ? Cho nên Phò-mã mới đặt câu hỏi đó với ta. Để trả lời câu hỏi của Phò-mã, ta khẳng định, ta đến đây không nhân danh đại tướng Mông-cổ, mà cũng không nhân danh Thái-sư Đại-Việt. Ta đến đây với hai chủ đích. Một là nhân danh một con dân Đại-Việt, muốn nói chuyện với một Thái-sư thống lĩnh hành quân chinh thảo Nam-thiên. Hai là để thăm người em kết nghĩa Ngột-lương Hợp-thai.
Ông chỉ 9 vị đại tôn sư võ học Đại-Việt :
- Còn chín vị này, các người nghe tin có hai vị đạo cao đức trọng nhất trong võ lâm Trung-quốc là Tiêu-Hư đạo sư phái Võ-đang ; Trấn-thiên kiếm Phùng tiên sinh phái Côn-luân giá lâm Đại-Việt, nên tới để tiếp rước, để tỏ lòng ngưỡng mộ bấy lâu.
Coi như không biết tới Hoài-Đô, ông hỏi Ngột-lương Hợp-thai :
- Dường như tam đệ đang ăn tiệc mừng chiến thắng phải không ?
- Đúng vậy ! Xin nhị ca, cùng chư vị cùng nâng chung với đệ.
Nói rồi y ra lệnh cho ca nhi dâng rượu, tấu nhạc. Đó là nhạc chiến thắng Mông-cổ. Bọn nhạc công xử dụng toàn nhạc cụ Đại-Việt. Bọn vũ công vừa ca, vừa múa nhịp nhàng. Bản nhạc dứt, Hoài Đô hỏi :
- Khúc nhạc này thế nào ? Xin các vị cho lời bình phẩm.
Lê Ngân Sơn mỉm cười :
- Xin Phò mã cho nghe một lần nữa, lão phu sẽ tấu Độc-huyền cầm (đàn bầu), để phụ họa cho vui.
Hoài Đô phất tay, bọn ca nhi lại vừa hát vừa múa. Lê Ngân Sơn cầm cây đàn bầu treo trên tường. Lê Kim Sơn rút trong bọc ra môt ống tiêu . Kim Sơn đưa tiêu lên miệng, tiếng tiêu cất lên véo von. Ngân Sơn bật lên mấy tiếng, âm ba rung động, truyền đi rất xa. Lập tức các ca nhi bị choáng váng, lời ca nhịp múa hỗn loạn. Từ Ngột-lương Hợp-thai cho chí tên nhạc trưởng đều kinh hoàng.
Tên nhạc trưởng nghiến răng phất tay ra lệnh, tiếng đàn, tiếng phách, tiếng sênh...lại tiếp tục. Bọn vũ nữ, ca nhi ca múa lại từ đầu. Sau khi dạo mấy tiếng, lần này Ngân Sơn, Kim Sơn tấu một bản nhạc, đó là bản Động-đình ca. Đám vũ nữ không làm chủ được, chúng múa theo nhịp đàn của Ngân Sơn, tiếng sáo của Kim Sơn. Bản nhạc dứt, Ngân Sơn hỏi Hoài Đô :
- Phải chăng bản nhạc vừa rồi là nhạc Thảo-nguyên ?
Hoài Đô từng nghe nói : Phái Sài-sơn của Đại Việt ngoài võ công, kỵ mã, tiễn thủ...còn nổi tiếng về Lịch-số, Âm-nhạc. Bây giờ hai đại tôn sư dùng nội công thượng thừa truyền vào âm thanh, khiến các ca nhi, vũ nữ bị lạc nhịp, rồi không tử chủ được, phải múa theo nhịp do anh em họ Lê muốn. Y nói ngang:
- Đây là âm nhạc của rợ phương Nam. Vùng Thảo-nguyên anh hùng đời nào có loại nhạc này nhỉ.
Ngân-Sơn, Kim-Sơn lại tiếp tục tấu nhạc. Tiếng đàn, tiếng tiêu vừa phát ra thì tất cả nhạc công, vũ nữ đều bị âm ba khích động, chúng múa theo điệu nhạc. Lúc đầu các tướng Mông-cổ còn tự chủ được, nhưng chỉ lát sau, cao nhất là Ngột-lương Hợp-thai, cho tới bọn quân hầu, đều không tự chủ được, cũng múa may rối loạn cả lên. Hoài-Đô, A Truật lấy tay bịt tai lại, nhưng âm thanh vẫn cứ lọt vào trong, chân tay cứ mua may, quay cuồng. Bản nhạc dứt, thì đám ca nhi, nhạc công mệt quá, ngã ngồi xuống đất.
Thế là cuộc tấu nhạc chấm dứt.
Thái-sư Thủ Độ hỏi Ngột-lương Hợp-thai :
- Xưa tiên phụ cùng Thái-sư thúc Phạm Tử-Tuệ trị Huyền-âm độc chưởng cho phụ thân nhị đệ là Tốc Bất Đài. Sau khi phụ thân đệ khỏi bệnh, Thành-cát Tư-hãn có thề với tiên phụ rằng : Trọn đời, và di ngôn cho con cháu mãi mãi nhớ ơn Đại-Việt. Vậy không biết lời di chúc đó có còn giá trị không ?
Ngột-lương Hợp-thai biết người anh kết nghĩa này trí tuệ vô song. Muôn ngàn lần y không thể dùng ngôn từ mà thắng nổi. Y trả lời cho qua :
- Dĩ nhiên lời thề đó đến nay vẫn có giá trị.
Thủ-Độ nắm lấy tay Ngột-lương Hợp-thai :
- Vậy tại sao tam đệ lại mang quân tàn phá Đại-Việt ? Như vậy là nhớ ơn ? Là ghi ơn ư ?
Hoài Đô biết rằng đấu lý, đấu võ, đấu gì chăng nữa, Ngột-lương Hợp-thai đều không phải là đối thủ của Thủ-Độ. Y xen vào :
- Thưa tiên sinh. Khi Thành-cát Tư-hãn hứa những lời trên, thì người chỉ là một Khả-hãn bộ tộc Mông-cổ nhỏ xíu ở Lý-long hà. Còn người ban chỉ chinh tiễu An-Nam bây giờ là một đại hoàng đế Mông-cổ. Không thể mang lời hứa của một chúa bộ tộc, bắt một đại hoàng đế phải thi hành.
Y ngừng lại cười nhạt :
- Tiên sinh nên nhớ, khắp gầm trời này từ Đông sang Tây, từ Bắc uống Nam, hằng trăm nước, nhất nhất đều phải quy phục Mông-cổ. Tiên sinh từng là đại tướng của Mông-cổ, tại sao tiên sinh không bắt Trần Cảnh hạ cờ theo về Thiên-quốc. Hơn nữa tiên sinh còn giúp y đem quân chống Thiên-triều?
Đặng Kiếm-Anh cười nhạt :
- Phò mã lý luận như vậy là lối lý luận của bọn man mọi, bọn không văn hóa. Lão phu hỏi phò mã câu này nhé : Có lý nào Mông-cổ bắt tất cả các nước phải quy phục không ? Nếu như lão phu cũng đòi Mông-cổ phải quy phục Đại-Việt thì phò mã nghĩ sao ?
- Nghĩ sao ?
Hoài Đô vẫn ương ngạnh : Tại vì Mông-cổ có hàng vạn vạn Lôi-kỵ mạnh nghiêng trời lệch đất. Tại vì...
Y vung tay một cái, hai mũi phi tiễn hướng hai vị trí trên người Kiếm Anh : Huyệt Ấn-đường ở trán, huyệt Đản-trung ở ngực. Kiếm Anh cười nhạt ông phất tay một cái, hai mũi phi tiễn đổi chiều hướng người Hoài-Đô, kình lực rít lên vo vo. Kinh hãi, Hoài Đô phất tay gạt, nhưng y gạt vào quãng không. Vì hai mũi phi tiễn đã đổi chiều trúng vào cây cột gỗ, ngập tới tận chuôi. Kiếm Anh cười nhạt :
- À, thì ra phò mã cho rằng mình mạnh, thì muốn bắt ai quy phục thì bắt sao ? Cũng được ! Thôi chúng ta không cần lý luận nữa. Ngày mai chúng ta cùng đem quân quyết chiến. Chúng tôi xin chờ phò mã ở Đông-bộ đầu.
Hoài Đô run run cười gằn :
- Quyết chiến ư ! Được ! Ngày mai.
Y rút thanh kiếm trao cho một võ sĩ :
- Người là đại diện cho Mông-cổ làm giám quan. Trong bữa tiệc hôm nay chỉ nói tình nghĩa huynh đệ, đàm văn, luận võ. Hễ ai nói đến chuyện Mông-cổ, An-Nam thì chém ngay.
Đặng Kiếm-Anh cũng nói với Trần Tử-An :
- Đại-huynh! Trong anh em chúng tôi đây, duy Đại-huynh nghe, hiểu tiếng Mông-cổ, Đại-Việt, Trung-quốc. Đại-huynh làm giám quan cùng với vị huynh đệ đây.
Tiệc bầy ra, có cả món chay lẫn món mặn. Thái-sư Trần Thủ-Độ cùng Ngột-lương Hợp-thai kể cho nhau nghe những gì đã xẩy ra trong mình trong thời gian qua. Trong khi đó các tôn sư Đại-Việt cùng Phùng Tập, Tiêu-Hư tử toàn luận về võ công. Còn Hoài Đô, A Truật thì chỉ biết vểnh tai ra nghe.
Khoảng hơn giờ sau, viên Bách-phu trưởng hầu cận Ngột-lương Hợp-thai chạy bổ vào. Lập tức y bị Tử-An cản lại :
- Thái-sư có lệnh, người đang mời nghĩa huynh là Thái-sư Trần Thủ-Độ dư tiệc, ôn chuyện xưa, tuyệt đối không ai được quấy rầy.
Lát sau, tới viên Thiên-phu trưởng phụ trách việc Tế-tác nhảy bổ vào. Y nói :
- Tôi muốn được báo việc cơ mật với Thái-sư.
Tử-An đẩy y ra cửa :
- Thái-sư có lệnh : Người đang hàn huyên với nghĩa huynh. Tuyệt đối không ai được quấy nhiễu.
Cho đến giờ Thân, tiệc tàn. Thái-sư Trần Thủ-Độ đứng dậy cáo từ :
- Tam đệ ! Hôm nay tam đệ đãi chúng ta. Ngày mai, ta cũng mời tam đệ cùng các vị đây tới Đông-bộ đầu. Ta xin làm chủ nhân, mời quý vị cùng uống một bữa thực say, rồi sang năm mới sẽ quyết chiến một trận.
Khi Thái-sư Trần Thủ-Độ cùng phái đoàn Đại-Việt ra về, thì viên Thiên-phu trưởng phụ trách Tế-tác chạy bổ vào :
- Thưa Thái-sư ! Nguy rồi !
- Nguy gì ?
Hoài-Đô hỏi : Trong khi chúng ta tiếp khách, mục đích dò xem vua An-Nam ở đâu, còn đem quân bắt, thì bọn mi cứ quấy rầy hoài ! Cái gì mà nguy rồi ?
- Trình Phò-mã, đêm qua, lúc giờ Tý, Thiên-phu phụ trách tuần hành từ biên giới tới Thảo-nguyên, bị quân Việt đánh úp. Toàn bộ quân ta bị bắt, bị giết sạch.
- Vô lý ! Người kể cho ta nghe chi tiết nào !
- Quân Việt từ trong rừng, từ dưới sông, từ trong các lũy tre, đông như kiến, liều như sư tử. Chúng được ba ni sư, chỉ huy đội võ sĩ hơn 3 trăm người dẫn đầu. Chúng tràn vào nơi đóng quân. Quân ta không trở tay kịp. Thiên-phu trưởng bị một ni sư sát hại. Còn lại các Bách-phu trưởng, Thập-phu trưởng bị ba ni sư giết. Ba mụ ni sư vơí đội võ sĩ này thực kinh khủng. Chúng đi đến đâu, thì đầu Lôi-kỵ rơi đến đó. Sau khi chiếm được trại, chúng thả một Lôi-kỵ ra, bắt y mang thư về cho Thái-sư.
- Có biết ba mụ ni sư đó là ai không ?
- Nghe nói là Lĩnh-Nam tam đại thần kiếm Vô Ảnh, Vô Sắc và Vô Huyền !
- Tổ bà nó ! Lại cũng ba con mụ ni sư thối tha đó. Người nói chúng gửi thư cho ta. Đâu ? Thư đâu ?
Ngột-lương Hợp-thai tiếp thư mở ra : Trên phong bì vẽ hình một đứa trẻ chăn trâu đang cầm...cò đái . Thư như sau:
Văn-mẫn thượng tướng quân,
Thống lĩnh hiệu binh Hữu Thánh-dực,
Kiêm thống lĩnh đội võ sĩ Trấn-quốc,
Tước Kiêu-kỵ bá là Hoàng Vui,

Thư cho
Kiểm-hiệu Thái-sư,
Thống lĩnh hành quân,
Chinh thảo Nam-thiên,
Tứ-xuyên đại vương là Ngột-lương Hợp-thai.


Thừa lệnh của Vũ-Uy vương, thống lĩnh mặt trận biên giới phía Bắc, ta báo cho người biết. Người từng ruổi ngựa khắp bốn phương, anh hùng cái thế. Nay tước tới Đại-vương, thế mà khi nhập biên, người không biết rằng chúng ta ém quân trong khắp trang, động vùng biên giới. Người chỉ để lại có một Thiên-phu bảo vệ con đường tiếp tế lương thảo. Người đem đại quân xuống Thăng-long, là tự chui đầu vào giỏ cá. Bây giờ, ta diệt Thiên-phu Lôi-kỵ của người, rồi phá cầu, đặt chông, đắp lũy suốt từ biên giới tới Thảo-lâm, giống như thắt cái hom giỏ. Người không còn đường về nước. Hỡi ơi ! Bây giờ người tiến lên thì không thể đánh từng xã, từng làng. Đóng quân lại thì lương thảo không còn. Con đường về thì bị chặn mất. Vậy ta có lời khuyên người. Một là cởi giáp tới Đông-bộ đầu xin nghĩa huynh là Thái-sư Trần Thủ-Độ, để người nghĩ tình xưa, nghĩa cũ, ban cho một ngựa, sai binh dẫn về biên giới. Hoặc người có liêm sỉ, hãy tự tử để bảo toàn danh tiết cho thằng bố mi là Tốc Bất Đài .
Mặt Ngột-lương Hợp-thai tái mét, y giận đến nỗi chân tay phát run.
Vừa lúc đó, lại một mã khoái Phi-tiễn báo :
- Giờ Tý đêm qua, căn cứ Bình-lệ nguyên bị đánh úp ! Toàn bộ quân ta bị giết, bị bắt. Hiện quân Việt đóng chặn mất đường rút lui, cũng như đường tiếp tế lương thảo của chúng ta.
Hoài Đô kinh hãi hỏi :
- Tướng Việt nào chỉ huy trận đánh đó ?
- Nghe đâu là Lê Phụ-Trần.
- Làm sao chúng đánh dễ dàng như vậy ?
- Thưa chúng đánh đâu có dễ ? Giữa đêm, quân ta đang ngủ, thì quân Việt từ những cánh đồng, thình lình xuất hiện. Chúng liều mạng lăn xả vào chém giết. Chúng được ba nhà sư dẫn đầu một đội võ sĩ 5 trăm người. Bọn này lợi hại không thể tưởng tượng nổi. Chúng dùng đoản đao. Cứ mỗi đao vung lên là một người bên ta bị giết. Sau hơn hai giờ chiến đấu ác liệt, quân ta bị Ngưu-binh, Bộ-binh của chúng giết sạch.
Ngột-lương Hợp-thai hỏi :
- Ba thằng trọc ăn thịt chó đó là ai vậy ?
- Nghe nói là Tiêu-Dao, Lung-Á và Y-Sơn.
Hoài Đô chửi :
- Mẹ cha nó, đêm qua ba thằng trọc đó dự trận Bình-lệ nguyên, mà sao sáng nay chúng lại có mặt ở đây ?
- Phò mã gia ơi ! Có gì lạ đâu ? Sau khi chiếm Bình-lệ nguyên, chúng dùng thuyền xuôi giòng về đây, chỉ mất có vài giờ !
Chợt nghĩ ra một chuyện, Ngột-lương Hợp-thai gọi A Truật :
- Con mau đem một Vạn-phu Lôi-kỵ hỏa tốc tiến lên phòng thủ Cụ-bản. Bằng không chúng chiếm kho lương này thì chúng ta chết đói hết.
A Truật lệnh cho quân sĩ chuẩn bị lên đường, thì quân báo :
- Căn cứ Phù-lỗ bị quân Việt chiếm đêm qua. Thiên-phu Lôi-kỵ, hai Thiên-phu Đại-lý bị giết sạch !
A Truật kinh hãi :
- Làm thế nào mà chúng thắng ta dễ dàng như vậy ?
- Thưa Bộ- binh của ta đóng ở cánh đồng. Giữa đêm bị Ngưu-binh, Bộ-binh Việt đột nhập. Chúng được dẫn đầu bởi 3 trăm võ sĩ, do hai lão đầu bạc chỉ huy. Thực là kinh khủng, bọn này tiến tới đâu, thì quân ta bị giết tới đó. Trong khi hai bên đang xung sát, thì Lôi-kỵ được báo. Thiên-phu Lôi-kỵ vượt sông tiếp viện. Khi vừa sang sông thì Kỵ-binh Việt xuất hiện. Hai bên giao chiến trong nửa giờ, Kỵ-binh Việt bị thua bỏ chạy. Lôi-kỵ đuổi theo, bị trúng trận địa Vạn-thằng, bị Bộ-binh từ hai bên hông xông ra chém giết. Phía trước, Kỵ-binh Việt quay trở lại tấn công. Hơn giờ sau, cả Lôi-kỵ lẫn Bộ-binh của ta bị tràn ngập.
Hoài Đô phát hoảng :
- Tướng Việt nào chỉ huy trận này ?
- Thưa là Vũ-kỵ thượng tướng quân Lý Tùng-Bách và Phá-lỗ thượng tướng quân Trần Trữ, Hoài-hóa thượng tướng quân Trương Đình. Còn hai lão võ sĩ là là Đặng Kiếm-Anh, Đặng Kiếm-Hùng của phái Tản-viên.
Hoài Đô nhìn Phùng Tập, Tiêu-Hư tử :
- Lạ lùng ! Kế hoạch của ta là ém không cho võ sĩ xuất hiện. Đợi trận đánh cuối cùng mới tung ra, để bắt vua An-Nam. Dường như bọn chúng biết trước. Chúng biết các đội quân của ta không võ sĩ, chúng ra tay trước, thành ra ta thất bại.
Ngột-lương Hợp-thai hỏi Hoài Đô :
- Làm sao bây giờ ? Tôi lo cho kho lương Cụ-bản quá.
Giữa lúc đó tên Trịnh Ngọc chạy vào trình :
- Thưa Thái-sư, Cụ-bản bị tấn công dữ dội !
- Sao người biết ?
- Khi Cụ-bản bị đánh, người của chúng tôi phi ngựa về Thăng-long cáo cấp. Ngặt vì đường Cụ-bản về đây bị nghẽn ở Phù-lỗ, nên chúng phải dùng thuyền.
- Gọi tên Tế-tác đó vào đây cho ta hỏi.
Tên Tế-tác người Hoa được trình diện. Y nói tiếng Trung-quốc với Ngột-lương Hợp-thai.
- Người báo danh đi.
- Tiểu nhân tên Lâm Định.
- Tình hình Cụ-bản ra sao ?
- Không biết bằng cách nào một đội võ sĩ cảm tử An-Nam, do tên Đô-thống Trần Minh đột nhập vào kho lương. Chúng phóng hỏa khắp nơi. Trong khi đó bọn Đại-đởm thập tam kiệt đột nhập giết quân canh, mở cổng cho Ngưu-binh tràn vào. Chúng được năm người đàn bà đẹp dẫn 3 trăm võ sĩ trợ chiến. Bọn này đi đến đâu, đầu các tướng soái rơi đến đó. Bấy giờ quân ta mới báo động, choàng dậy, trong khi quân của chúng đã vào trong căn cứ. Hai bên lẫn vào nhau, lửa cháy khắp nơi. Khi tiểu nhân phi ngựa cấp báo về đây, thì hai bên vẫn còn đang chém giết nhau.
Đến đây, Hoài Đô tỉnh ngộ:
- Thái-sư! Chúng ta bị mắc mưu giặc rồi!
- Mắc mưu!
- Đúng thế! Khi nghe Thái-sư mang đại quân sang chinh tiễu, Thủ-Độ sai người phao rằng y chết rồi, để Thái-sư không đề phòng. Vì vậy...
- Mình đáng chết thực!
Ngột-lương Hợp-thai than: Đúng rồi! Từ lúc nhập Việt, Triệt Triệt Đô cũng như A Tan đều nghi rằng trong quân An-Nam ắt có một nhân vật lỗi lạc biết rất rõ binh pháp Thái-tổ, rồi nhân đó đưa ra binh pháp mới chống lại. Tôi không tin. Thì ra nhị sư huynh của tôi! Hỡi ơi! Tôi làm sao mà chống lại người.
- Cách đây một ngày, An-Nam hội quân tại Đông-bộ đầu, ra lệnh đánh vào các căn cứ quân ta. Họ ước tính rằng sáng nay, tin tức các nơi sẽ gửi về, nên mới cho Trần Thủ-Độ sống dậy. Thủ-Độ dẫn bọn tôn sư võ học An-Nam theo, giả thăm Thái-sư, nhưng thực ra...
- Đúng ! Chúng cầm chân ta, không cho tiếp xúc với tướng sĩ, để kịp phản ứng. Bây giờ thì tình trạng quá tồi tệ.
- Thưa Thái-sư, bây giờ đã muộn rồi. Ngày mai mình phải đem đại quân đi mở đường. Mở đường rồi, mới hy vọng có lương thực.
Tính cương quyết nổi dậy, Ngột-lương Hợp-thai ra lệnh :
- Trần Cảnh với Hưng-Đạo vương hiện tập trung quân ở Đông-bộ đầu. Ngày mai, chúng ta dồn hết lực lượng đánh một trận, bắt bằng được hai người này, thì các phủ, các trấn, các xã phải quy hàng. Chúng quy hàng thì thiếu gì lương thực.
A Truật than :
- Thưa phụ thân. Đợi bắt được Trần Cảnh, thì e phải mấy ngày. Kho lương Cụ-bản bị chiếm. Đường tiếp tế bị cắt. Lương tại đây chỉ còn một hai ngày. Vậy mình phải làm gì ?
Ngột-lương Hợp-thai gọi gã Trịnh Ngọc :
- Người sai bọn thân binh Hoa-kiều ra lệnh cho bọn người Hoa phải cung ứng lương thực cho quân ta.
- Thưa Thái-sư, nếu như chúng không chịu nộp thì sao ?
- Mi ngu thế ! Mi sai người đi rao : Nhà nào có lương phải nộp ! Dù trong nhà chỉ còn một con gà, một đấu gạo, thì cả nhà sẽ bị giết. Ta cho mi muốn giết ai thì giết.
- Thưa Thái-sư không nên!
Phùng Tập cản: Khi đại quân sắp tới Đại-Việt, Hoa-kiều đã bảo nhau, làm nội ứng, làm Tế-tác, làm hướng đạo, tiếp đón chúng ta. Hiện họ đã lập một hiệu quân, theo trợ giúp chúng ta. Mà nay Thái-sư lại ra lệnh cướp lương thực, tàn sát họ, thì còn trời đất nào nữa?
Ông chỉ hơn nghìn võ sĩ Trung-quốc:
- Huống hồ các võ sĩ này đang mài gươm chờ lệnh Thái-sư. Những người Hoa đều không ít thì nhiều hãnh diện vì họ. Nếu như nay quân sĩ tàn sát người Hoa, thì họ còn mặt mũi nào nữa?
- Truyền thống của Mông-cổ, là khi quân đi đến đâu, dân chúng phải dâng hiến lương thực. Người Hoa là ngoan dân, thì phải biết tuân lệnh của ta!
Suốt đêm hôm đó, quân Mông-cổ, quân Đại-lý kéo nhau đến các phường trong thành Thăng-long cướp lương thực. Nhà nào không chịu nộp, thì bị giết liền.
Từ hôm quân Mông-cổ nhập Thăng-long, bọn thủ lãnh Hoa-kiều hô hào dân chúng nổi lên làm nội ứng, để mưu cầu danh lợi, mưu cầu an ninh. Chúng đã thành công. Ngột-lương Hợp-thai cho chúng làm An-phủ-sứ, Tuyên-vũ-sứ các huyện, các phủ. Chúng hét ra lửa mửa ra khói. Người Việt thấy Hoa-kiều đều phải cúi đầu xuống lễ phép. Hoài Đô cho chúng thành lập một Thiên-phu thân binh, kéo nhau vào các phường người Việt cướp bóc, hãm hiếp mặc sức. Khi Ngột-lương Hợp-thai ra lệnh tàn sát dân Việt trong thành Thăng-long. Bọn này là lực lượng chính đi bao vây, lùa dân chúng thành từng khu. Rồi chính bọn chúng chém giết, hãm hiếp, cướp của. Những khu nhà cửa bằng tranh, bằng gỗ thì chúng đốt sạch. Còn những nhà gạch ngói thì chúng cướp lấy ở. Suốt mấy ngày qua, chúng kéo nhau về các làng xóm mua lương thực đem về Thăng-long bán. Từ khi có lệnh của Hưng-Đạo vương, dân chúng không bán lương thực cho chúng nữa. Tại các cửa hàng của Hoa-kiều, lương thực từ từ biến dần. Bây giờ có lệnh của Ngột-lương Hợp-thai, bọn binh Đại-lý, Trung-quốc kéo nhau đi cướp lương. Bất đắc dĩ họ phải nộp. Vì họ nghĩ, cứ nộp, để giữ mạng sống, rồi đem tiền vào các vùng quê mua sau.
Sáng hôm sau, tên Trịnh Ngọc báo :
"Đã thu được số lương thực, có thể nuôi quân trong vòng 5 ngày ."

Ngày 22 tháng Chạp năm Đinh Tỵ
nhằm niên hiệu Nguyên-Phong thứ bẩy
đời vua Thái-tông nhà Trần (27 tháng 1 năm 1958
) .

Trời vừa hừng sáng, Ngột-lương Hợp-thai tập họp tướng sĩ ra lệnh :
- Hiện vua An-Nam tập trung quân ở Đông-bộ đầu, thách thức chúng ta tới quyết chiến. Gì chứ dàn quân, thì chúng lại thất bại như trận Bình-lệ nguyên, trận cánh đồng Văn mà thôi.
Y gọi A Truật:
- Con đem năm Thiên-phu Lôi-kỵ đi trước, dàn quân tấn công làm ba đợt. Sang đợt thứ tư thì cho Lôi-tiễn, Thạch-xa bắn vào trận giặc, rồi tấn công thực sự.
Y ban lệnh cho Hoài Đô :
- Phò mã đem sáu Thiên-phu Lôi-kỵ, chờ khi A Truật với giặc đang giao chiến, thì tung vào mỗi hông trận địch ba Thiên-phu. Tôi sẽ đem đại binh tiếp ứng. Bằng mọi giá phải phá tan quân giặc, bắt cho được Trần Cảnh.
Lại gọi Vạn-phu trưởng Hoặc Hoặc Mãn (Hoarcgoar- mann) :
- Ta để lại cho người một Thiên-phu Lôi-kỵ, 3 Thiên-phu quân Đại-lý. Để đề phòng bọn võ lâm An-Nam, ta để hai vị tôn sư Phùng Tập, Tiêu-Hư tử với đội võ sĩ . Người phải cẩn thận đừng để chúng cướp, đốt lương thảo.
Quân đang chuẩn bị lên đường thì Tế-tác báo với Thái-sư Ngột-lương Hợp-thai :
- Cuộc chiến tại Cụ-bản chấm dứt. Quân Việt đã chiếm được toàn bộ kho lương. Binh, tướng Mông-cổ hoặc bị bắt hoặc bị giết.
Ngột-lương Hợp-thai nhảy phắt lên :
- Có lý nào ? Tại Cụ-bản ta có ba Thiên-phu Lôi-kỵ, một Vạn-phu vừa quân Trung-quốc, vừa quân Đại-lý. Làm sao chúng đánh được ? Người thuật chi tiết trận đánh cho ta nghe nào !
- Thưa Thái-sư, nửa đêm hôm qua, bọn cảm tử quân do Đại-đởm thượng tướng quân Nguyễn Thiên-Sanh, Vệ Tế-tác do Đô-thống Trần Minh từ một đường mật, nhập vào Cụ-bản. Chúng mặc y phục như quân Trung-quốc, Đại-lý. Khởi đầu chúng phóng hỏa khắp nơi. Tất cả các kho lương đều bị bốc cháy. Khi Lôi-kỵ thức dậy, thì bị chúng lăn xả vào chém giết, miệng hô Sát Đát hoặc gào lên "Chúng ta vì Tống Thiên-tử, Sát Đát ". Lôi-kỵ tưởng quân Trung-quốc, Đại-lý làm phản, tất cả xông vào khu đóng quân Đại-lý, Trung-quốc chém giết. Thế bắt buộc, quân Đại-lý, Trung-quốc cũng phải chống lại. Giữa lúc đó Nam-thiên ngũ long xuất hiện với ba trăm võ sĩ, trợ chiến với quân Trung-quốc. Không đầy một giờ, bọn này giết hầu hết các Thiên-phu trưởng, Bách-phu trưởng cho chí Thập-phu trưởng Lôi-kỵ. Vì vậy đến khi trời sáng thì Lôi-kỵ hoàn toàn bị giết hết. Bấy giờ quân An-Nam do tướng Vân-ma thượng tướng quân Lê Phẩm, Chinh-thảo thượng tướng quân Nguyễn Bích, Trấn Tây thường tướng quân Phạm Long... chỉ huy Ngưu-binh, Tượng-binh, hiệu binh Tiên-yên từ ngoài đánh vào. Hầu hết quân Trung-quốc, Đại-lý đầu hàng.
Hoài Đô thẫn thờ hỏi gã Trịnh Ngọc :
- Nam-thiên ngũ long là những đứa nào ?
- Thưa là vợ của Trần Lý, Tô Trung-Từ, Phùng Tá-Chu, Trần Tự-Khánh và Trần Thủ-Độ. Chính vợ Trần Lý với vợ Phùng Tá-Chu đã sát hại A Tan và Triệt Triệt Đô. Trong trận Cụ-bản, vợ Trần Lý từng đối chưởng với đạo sư Tiêu-Hư tử.
Đạo-sư Tiêu-Hư tử khen ngợi :
- Nói ra thực xấu hổ. Trọn đời bần đạo, chưa từng thấy ai luyện nội lực tới trình độ như Tuyên-Minh thái hoàng thái hậu. Hôm đó, Thái-hậu chỉ vận có 5 thành công lực. Bằng không thì bần đạo đã mất mạng rồi.
Chán đời đi lang thang !
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-05-25 13:58:44NuHiepDeThuong>
Tiếp theo Hồi 50

Hoài Đô tỏ vẻ kinh hãi :
- Ngũ-long ư ! Phải gọi năm mụ này là An-Nam ngũ quái hay Giao-chỉ ngũ hồ ly. Bởi hồi niên thiếu, năm mụ đều là những thiếu nữ sắc nước hương trời. Cho đến nay, tuổi già mà võ công còn kinh thế hãi tục như vậy.
Giữa lúc đó thân binh báo :
- Có sứ giả An-Nam tới.
Sứ giả là một thương binh Mông-cổ được thả về. Y trình thư cho Ngột-lương Hợp-thai. Thư rất văn vẻ :
"Thái-phó thượng trụ quốc,
Lĩnh Trung-vũ quân tiết độ sứ.
Khai-phủ nghị đồng tam tư,
Khu-mật viện sứ, xử trí xứ,
Phụ-quốc thượng tướng quân của Đại-Việt là Hưng-Ninh vương.
Kính đệ thư tới :
Kiểm-hiệu Thái-sư,
Thống lĩnh hành quân chinh thảo Nam-thiên, Tứ-xuyên vương của Mông-cổ quốc là Ngột-lương Hợp-thai.
Từ hôm đem quân nhập Việt, ngài thường than thở rằng quân Đại-Việt không dám dàn trận đối địch với Lôi-kỵ. Hôm nay, chúng tôi đã dàn quân ở Đông-bộ đầu, chờ đợi Lôi-kỵ tới, để Kỵ-binh Đại-Việt được so tài
."
Dưới thư vẽ một hòa thượng bụng to, cười toe toét.
Tế-tác của gã Trịnh Ngọc báo :
"Vua An-Nam là Trần Cảnh, cùng Hưng-Ninh vương đã dàn Kỵ-binh, Ngưu-binh, Tượng-binh, Bộ-binh ở Đông-bộ đầu. Quân số ước khoảng ba vạn. Chúng dọa rằng, nếu Thái-sư với phò mã tới, chúng sẽ bắt đem xuống sông Hồng trấn nước ."
Ngột-lương Hợp-thai thúc A Truật tiến quân gấp. Quân tới Đông-bộ đầu, Tế-tác báo :
- Giặc dàn quân như sau : Ở giữa là đội Thị-vệ, có cờ xí, tàn lọng của vua An-Nam. Hai bên, hàng đầu cứ một Vệ Ngưu-binh, một Vệ Kỵ-binh, Tượng-binh. Phía sau là bộ binh. Không thấy chiến xa, Lôi-kỵ, Thần-nỏ.
Tế-tác trình cho A Truật địa thế : Phía sau trận quân Việt có 5 con đường lớn, dẫn vào những xóm làng xa xa, không biết rõ có quân hay không. Bên trái là sông. Dưới sông không thấy thuyền bè. Bên phải một khu đồng trồng lúa rộng khoảng trăm trượng. Sau thửa ruộng là những lũy tre cao vút của mấy ngôi làng. Không thấy dấu hiệu trong làng có quân.
Chẳng cần đối thoại với bên địch, A Truật phất cờ, 5 Bách-phu Lôi-kỵ hú lên rùng rợn, rồi lao vào trận Việt. Khi còn cách khoảng năm chục trượng, chúng đồng bắn tên, rồi quay ngựa chạy trở về. Trận Việt biến rất nhanh, Kỵ-binh, Ngưu-binh, Tượng-binh lùi lại. Bộ- binh tiến lên, dùng khiên mây hứng tên.
Đợt hai, 5 Bách-phu Lôi-kỵ lại tấn công nữa. Đến đợt ba, sau khi Lôi-kỵ bắn tên, vừa quay ngựa chạy, thì Bộ-binh nằm rạp xuống, trận mở ra, Nỏ-thần tác xạ ba loạt. Lôi-kỵ bị trúng tên, ngã lổng chổng. Bộ-binh Việt lăn mình dưới đất dùng đao quất chặt chân ngựa. Thoáng một cái, 5 Bách-phu bị giết sạch.
Đứng xa xa chỉ huy, A Truật kinh hãi. Y dậm chân :
- Trời ơi ! Tại sao bọn An-Nam biết trước kế hoạch của ta, mà phản công vào đợt ba ? Thế là kế hoạch bị loạn. Lôi-tiễn Thạch-xa vô dụng rồi.
Y đành phất cờ cho cả 5 Thiên-phu Lôi-kỵ dàn làm mười hàng tấn công. Thế trận Việt biến đổi thực nhanh, các cánh quân tỏa vào 5 con đường phía sau. Chông, chà kéo đầy đường, Lôi-kỵ không tiến được. A Truật sai kéo chông, chà, để đuổi theo quân Việt.
Vừa lúc đó thì đại quân Ngột-lương Hợp-thai tới. Lôi-kỵ ùn lại trên một bãi đất rộng. Y quyết định : Mỗi con đường, cho 2 Thiên-phu Lôi-kỵ đuổi theo. Còn đại quân thì dừng lại chờ đợi.
Lát sau quân báo :
- Hai đạo quân đánh bọc hông quân Việt của phò mã Hoài Đô đang giao chiến với Ngưu-binh giặc. Bọn Ngưu-binh này do tên Dã Tượng với bốn tên Cu chỉ huy.
- Năm đạo quân đuổi theo bắt vua An-Nam đang giao chiến với Kỵ-binh, Ngưu-binh giặc. Bọn Ngưu-binh này do 5 tên Trâu chỉ huy.
Đến đó, trống thúc vang lừng. Thủy-quân Việt từ hạ lưu dàn hàng hai, đang tiến lên. Trên các chiến hạm, Lôi-tiễn nã vào đội hình Lôi-kỵ. Lôi-tiễn của Mông-cổ cũng phản pháo. Nhưng chiến hạm thì lưu động, khó trúng mục tiêu. Trong khi Lôi-tiễn Thủy-quân đã tính từ trước, nã vào khu trú quân Mông-cổ.
Trời dần dần về chiều. Tin tức báo về liên tiếp :
- Hai cánh quân của phò mã Hoài-Đô giao chiến với quân của Trần Khánh-Dư bị thất bại. Xin tiếp viện.
Ngột-lương Hợp-thai viện cho Hoài Đô 5 Thiên-phu Lôi-kỵ. Tế-tác lại báo :
- 5 đoàn quân đuổi theo vua An-Nam, thì ba đoàn bị đánh bại. Bọn võ lâm An-Nam xuất hiện giết hết Thiên-phu, Bách-phu trưởng. Quân không tướng chỉ huy, bị hỗn loạn.
Ngột-lương Hợp-thai truyền tiếp viện cho mỗi đoàn một Thiên-phu. Quân lên đường khoảng hơn giờ sau, thì tin báo : Cả năm đoàn quân bị bại. Chúng vừa đánh vừa lui. Bao nhiêu Thiên-phu trưởng, Bách-phu trưởng dĩ chí Thập-phu trưởng đều không còn. Ngưu-binh, bộ binh Đại-Việt đuổi theo rất gấp.
Trong 5 con đường mà 5 đoàn quân Việt đuổi theo Lôi-kỵ, thì mỗi đoàn do một tướng dẫn đầu, với đội võ sĩ. Năm tướng đó là Nguyên-Phong hoàng đế, Thái-sư Trần Thủ-Độ, Hưng-Ninh vương Trần Quốc-Tung, Lê Ngân-Sơn, Lê Kim-Sơn.
Ngột-lương Hợp-thai tung quân lên quyết bắt cho được Nguyên-Phong hoàng đế. Nhưng đội võ sĩ do Vũ-vệ thượng tướng quân Đỗ Thanh dàn trận như thành đồng vách sắt. Mỗi võ sĩ tay cầm khiên mây, tay cầm đao quất. Mỗi lần đao vung lên là y như không một kỵ mã thì một ngựa bị đánh ngã. Lôi-kỵ không còn dùng cung tên được nữa, đành phải dùng đao, dùng lao thì đấu sao lại những võ sĩ ?
Cuộc chiến mỗi lúc một thêm rùng rợn. Bỗng từ khu làng bên hông phải của trận Mông-cổ, trống thúc vang dội, Ngưu-binh từ trong các làng ào ào tiến ra, đếm không siết. Tế tác chỉ các tướng trâu, báo với chúa tướng:
- Thưa Thái-sư, bọn Ngưu-binh này do 5 con Hĩm chỉ huy.
Trong khi đó Thủy-quân đổ bộ đánh vào bên trái.
Ngột-lương Hợp-thai đã quen với lối dàn quân. Y bình tĩnh chia quân chống trả. Trận chiến diễn ra thực khủng khiếp. Lôi-kỵ, Ngưu-binh lẫn lộn vào với nhau. Tên bay, đao quất vung, trận địa giây, bộ binh lăn dưới đất chặt chân ngựa...chém giết thực rùng rợn. Giữa lúc đó, Tế-tác từ Thăng-long về báo :
- Đạo quân đóng ở cánh đồng Văn bị Thái-tử An-Nam đánh tan. Tàn binh rút về Thăng-long.
Ngột-lương Hợp-thai kinh hoảng. Y quyết đốc quân chiến, để bắt cho được Nguyên-Phong hoàng đế.
Khi trời chập choạng tối, thì quân báo :
- Thành Thăng-long bị quân An-Nam chiếm mất rồi!
Ngột-lương Hợp-thai rụng rời chân tay :
- Làm sao chúng chiếm được ? Chúng lấy quân ở đâu mà tấn công vào thành ?
- Quân của chúng không nhiều. Chúng chỉ có một Vệ Tế-tác do Đại-đởm thập tam kiệt chỉ huy với một Vệ võ sĩ của Đô-thống Trần Minh. Chúng đi theo đường hầm, thình lình xuất hiện như thiên tướng giáng hạ. Giữa lúc quân ta giao chiến với chúng thì hiệu binh Hoa-kiều làm phản, quay giáo đánh lại ta. Hoặc Hoặc Mãn cầu cứu với Phùng Tập, Tiêu Hư tử và đội võ sĩ Trung-quốc. Thì đám này cũng quay lại làm phản. Vì vậy, không đầy một giờ, thành Thăng-long bị chiếm. Thái-tử An-Nam dẫn quân từ cánh đồng Văn kéo về trấn trong thành.
- Bọn võ sĩ Trung-quốc làm phản?
- Vâng, chính Phùng Tập, Tiêu-Hư tử chỉ huy võ sĩ Côn-luân, Võ-đang đánh Lôi-kỵ. Vì vậy thành mới bị mất.
Trời đã tối hẳn. Quân Đại-Việt lùi lại, chăng chà khắp nơi, bao vây trận địa Mông-cổ. Lôi tiễn của Thủy-quân trên sông, của bộ binh từ trong làng ; vẫn nã đều đều vào đội hình Mông-cổ. Quân Mông-cổ cũng nã Thạch-xa, Lôi-tiễn vào làng.
Ngột-lương Hợp-thai truyền lệnh, thu quân, tạm đóng quân tại chỗ chờ qua đêm, rồi ngày mai sẽ tái chiếm Thăng-long.
Gặp lại Hoài Đô, Ngột-lương Hợp-thai hỏi :
- Phò mã ? Trước tình thế này ta phải làm gì ? Không biết cánh quân đóng ở Kinh-Bắc, Gia-lâm thế nào ?
- Hai cánh quân này cũng bị tấn công. Cả hai bị quân của Trần Khánh-Dư đánh cắt đường liên lạc. Chúng ta bị cắt làm ba rồi. Ngày mai lương thực hết, thì làm sao đây ? Tôi nghĩ, trước tình thế này, chỉ có cách rút quân về Đại-lý, rồi sẽ phục thù sau.
- Rút ! Nhưng đường rút quân bị chặn ở Phù-lỗ, Cụ-bản, Bình-lệ nguyên, Thảo-lâm... Làm sao bây giờ ?
Bất giác y đưa mắt nhìn :Phía hông phải, sau lũy tre, đèn đuốc sáng rực. Bên trong vọng ra những tiếng nhã nhạc, mà lại là nhạc chiến thắng của Mông-cổ. Phía trước, dọc năm ngả đường, không một chút ánh sáng, nhưng trống quân Việt thúc nhịp nhàng. Phía hông trái, trên sông, Thủy-quân Đại-Việt dàn ra san sát, đèn đuốc thắp sáng rực. Chỉ còn phía sau, là con đường về Thăng-long, là do quân Mông-cổ trấn đóng qua đêm.
Nhìn ra sông. Bất giác y nổi giận cành hông : Trên mặt một soái thuyền, Nguyên-Phong hoàng đế ngồi trên một chiếc ngai. Phía trái là Hưng-Đạo vương, phía phải là Hưng-Ninh vương. Cả ba đang uống rượu, ăn thịt. Có ca nhi múa hát hầu.
Giữa lúc đó, thân binh báo :
- Thái-sư An-Nam là Trần Thủ-Độ cầu kiến.
Hoài Đô hỏi :
- Mình có nên tiếp y không ?
- Tiếp chứ !
Thái-sư Trần Thủ-Độ đi với Vạn-phu trưởng Trần Tử-An, cùng mấy quân hầu khiêng rượu, thịt tới. Vừa thấy Ngột-lương Hợp-thai, Thủ-Độ đã nắm lấy tay y :
- Tam đệ ! Hôm qua ta mời tam đệ đến Đông-bộ đầu. Hôm nay ta làm chủ nhân khoản đãi tam đệ những đặc sản của Đại-Việt. Nào chúng ta cùng uống một bữa thực say, rồi từ nay kẻ Bắc, người Nam, khó mà găëp lại nhau.
Hoài Đô hỏi :
- Trần tiên sinh ! Tôi nghĩ rằng những lời của tiên sinh là những lời giả trá. Nếu thực sự tiên sinh còn nghĩ đến tình kết nghĩa với Thái-sư, thì sao còn cho Lôi-tiễn nã nào quân chúng tôi !
- À ! Việc tôi mời tam đệ là giữa cá nhân Trần Thủ-Độ với Ngột-lương Hợp-thai. Còn việc nã Lôi-tiễn là cuộc chiến giữa Đại-Việt với Mông-cổ. Công, tư hai bề khó vẹn toàn.
Tử-An cũng xen vào :
- Vả đây là vùng thống lĩnh của Hưng-Ninh vương. Cuộc nã Lôi-tiễn này không do lệnh Thái-sư, mà do lệnh của Hưng-Ninh vương.
Thấy tư thái Ngột-lương Hợp-thai mệt mỏi quá, Thái-sư Thủ-Độ nghĩ đến những ngày cùng Thảo-nguyên ngũ thiết điêu ruổi ngựa trên cánh đồng Mông-cổ. Ông rút trong bọc ra một chiếc pháo thăng thiên, châm lửa, rồi tung lên không. Chiếc pháo nổ đùng một tiếng, rồi tỏa ra hình con chim ưng đang bay, chân cặp kiếm. Lập tức tiếng Lôi-tiễn ngừng liền.
Ngột-lương Hợp-thai cung tay Thủ-Độ:
- Đa tạ nhị ca.
Rượu được 5 tuần, Ngột-lương Hợp-thai nắm tay Thủ-Độ :
- Nhị ca ! Nếu nhị ca không vì đệ thì cũng vì đại ca. Không vì đại ca thì cũng nghĩ tới Thành-cát Tư-hãn, mà nới tay trong trận này không ?
Nghe nhắc đến Thành-cát Tư-hãn, lòng lão tướng Thủ-Độ lại nhũn ra. Ông thở dài chỉ Trần Tử-An :
- Ngày mai, ta để Tử-An dẫn tam đệ với cháu A Truật rời khỏi Đại-Việt.
A Truật kinh hãi :
- Nhị sư bá ! Thế còn mấy vạn người ngựa này thì sao ? Xin nhị sư bá nới cho chút nữa.
Thủ-Độ xoa hai tay vào nhau :
- Khó quá ! Ta tuy là Thái-sư, mà quyền Tiết-chế lại do Hưng-Đạo vương. Mà Hưng-Đạo vương cũng không có toàn quyền. Chỉ có Nguyên-Phong hoàng đế mới có quyền sai mở vòng vây cho tam đệ dẫn quân về mà thôi. Ta sẽ tâu lên người.
Ngày 23 tháng Chạp năm Đinh Tỵ
nhằm niên hiệu Nguyên-Phong thứ 7
đời vua Thái-tôn nhà Trần (28 tháng 1 năm 1258).
Dọc sông Hồng-hà quanh Thăng-long, hạm đội Âu-Cơ, Động-đình dàn ra san sát, cờ xí bay phất phới.
Đoàn quân Mông-cổ hùng tráng, nối đuôi nhau xuốngï những chiến thuyền, để được chở qua sông. Cuộc vượt sông phải mất gần hai giờ mới xong. Ngột-lương Hợp-thai, A Truật, Hoài Đô cùng các tướng soái đi chuyến cuối cùng. Trên thuyền còn có nhiều đại thần Việt theo tiễn đưa gồm Thái-sư Trần Thủ-Độ, bốn vị bồi sứ từng ở Mông-cổ một thời gian: Khai-sơn hầu Chu Mạnh Nhu, Tây-sơn hầu Vũ Khắc-Kim, Quân-sơn hầu Phạm Thành Quy, Vũ-sơn hầu Tạ Quốc-Ninh; Vạn-phu trưởng Trần Tử-An.
Thuyền cập bến.
Trên bến, một Vệ Ngưu-binh, một Vệ Kỵ-binh, một Vệ Tượng-binh, đội nhạc trên 200 nhạc công tấu nhạc chiến thắng. Cuối cùng một Vệ giáp sĩ...cùng dàn ra hai bên đường. Tướng tổng chỉ huy đội quân dàn chào cùng 12 võ quan nữa, trang phục cấp Đạo-úy. Tất cả cùng đứng dưới cờ có hàng chữ:
" Đại-Việt đại đởm thập tam kiệt".
Một lá khác có hàng chữ:
" Đại-đởm thượng tướng quân,
An-xuyên bá, Nguyễn
".
Từ Ngột-lương Hợp-thai cho đến những Lôi-kỵ thấp nhất cùng dán mắt nhìn Đại đởm thập tam kiệt, là những người từng gây cho đội quân Lôi-kỵ vô địch thế giới nhiều phen kinh tâm động phách. Trước mắt họ, đó là 13 người da đen bóng, thân hình nhỏ bé so với người Mông-cổ, mắt chiếu ra tia hàn quang.
Trong phủ đường Gia-lâm, một tiệc rượu bầy sẵn. Thái-sư Trần Thủ-Độ nắm tay Thái-sư Mông-cổ Ngột-lương Hợp-thai:
- Tam đệ! Cuộc chia tay hôm nay không biết bao giờ mới gặp lại. Vì vậy huynh bầy tiệc rượu này, để anh em chúng ta cùng uống một bữa thỏa thích.
- Cảm ơn nhị ca.
Ngột-lương Hợp-thai nói như người mất hồn: Có bao giờ nhị ca nghĩ đến ngày Thảo-nguyên ngũ thiết điêu trùng phùng trên vùng cỏ hoang, đi săn với nhau không?
- Huynh vẫn ước ao cái ngày đó.
Ngột-lương Hợp-thai ra lệnh cho A Truật:
- Người dẫn quân lên đường trước đi. Phò mã ở lại cùng ta dự tiệc với nhị sư bá, rồi sẽ đi sau. Nhớ cho thương binh đi đầu, rồi tới bộ binh. Lôi-kỵ đi cuối cùng.
Được ba tuần rượu, thì môt khoái mã Phi-tiễn báo với Hoài Đô:
- Thưa phò mã, tiền quân tới Phù-lỗ, thì gặp Kỵ-binh Việt dàn sẵn. Họ bao vây đoàn tiền quân, không cho đi.
Vũ-sơn hầu Tạ Quốc Ninh đứng bật dậy:
- Chết thực! Hồi nãy tiểu tướng quân lên đường mà tôi quên cho người đi theo. Xin phép Thái-sư, đích thân tôi phải dẫn đường cho tiểu tướng quân mới được.
Hầu lấy ngựa phi như bay, khoảnh khắc sau, đã tới Phù-lỗ. Tiền quân Mông-cổ toàn là thương binh, bị Kỵ-binh bao vây cứng như thành đồng vách sắt. Ba tướng Việt chỉ huy là Vũ-kỵ thượng tướng quân Lý Tùng-Bách, Phá-lỗ thượng tướng quân Trần Trữ, Hoài-hóa thượng tướng quân Trương Đình đang đứng đối diện với A Truật.
Lý Tùng Bách hỏi:
- Thưa Tạ hầu! Tướng A Truật nói rằng Đại-Việt với Mông-cổ giảng hòa, hai bên bãi binh, nên y dẫn quân hồi hương. Tôi hỏi có lệnh bài không, thì y không có.
Tạ Quốc-Ninh xuất trong bọc ra một lệnh bài của Thái-sư Trần Thủ-Độ trao cho Lý Tùng-Bách:
- Điều tiểu tướng quân A Truật nói đó là sự thực. Đây là lệnh bài của Thái-sư.
Lý Tùng-Bách, Trần Trữ, Trương Đình cùng xuống ngựa xá A Truật:
- Xin huynh đừng buồn. Chúng tôi là võ tướng, phải giữ quân luật, thành ra có chỗ hiểu lầm.
Trần Trữ cầm cờ phất một cái, trận Việt tách làm đôi. Đoàn quân Mông-cổ thủng thỉnh lên đường. Lý Tùng Bách trao cho A Truật một cái túi vải. Trong túi có một con gà quay, một bình rượu, một tảng xôi nén:
- Huynh cầm tạm cái này, gọi là chút thổ sản Đại-Việt. Gà rừng Đại-Việt quay hy vọng cũng ngon như gà rừng Thảo-nguyên.
Tạ Quốc Ninh cùng A Truật dẫn đầu đoàn quân qua Cụ-bản. A Truật kinh ngạc vô cùng, vì dân chúng đã trở về, họ được quân lính giúp đỡ, đang xây dựng lại nhà cửa. Họ thản nhiên đứng nhìn đoàn quân Mông-cổ đi qua.
Thình lình một tiếng Lôi-tiễn nổ rung động không gian, rồi giữa chiến lũy, một Vệ Thiết-kỵ, một Vệ Ngưu-binh, một Vệ Bộ-binh xuất hiện. A Truật kinh hoảng đưa mắt nhìn Tạ Quốc Ninh như muốn hỏi: Cái gì nữa đây? Thì ba tướng Lê Phẩm, Nguyễn Bích, Phạm Long sai quân khiêng xôi, gà quay, lợn quay, bánh chưng, bánh dầy, rượu ra.
Phạm Long cung tay:
- Tuân chỉ Đại-Việt hoàng đế, anh em chúng tôi mang chút thổ sản ra khoản đãi quân Thiên-triều. Chúng tôi xin kính chúc Thiên-tướng, Thiên-binh thượng lộ bình an.
Nghe Phạm Long nói, A Truật muốn nổi lôi đình. Vì rõ ràng đại binh Mông-cổ bị đánh bại, nhờ Thái-sư Trần Thủ-Độ nghĩ tình nghĩa giữa Thảo-nguyên ngũ thiết điêu, mà ân xá cho về. Đoàn hùng binh Mông-cổ thui thủi như chó cụt đuôi, mà Phạm Long lại gọi những gì là Thiên-triều, Thiên-tướng, Thiên-binh, thì rõ ràng y chế diễu rồi!
Ăn uống xong, đoàn bại binh Mông-cổ tiếp tục lên đường. Khi tới Bình-lệ nguyên, thì mặt trời đã nghiêng bóng. Xa xa, bụi bốc lên mịt mù. Dưới lớp bụi, quân Việt dàn trận, khí thế cực kỳ hùng tráng. Dưới sông, các chiến thuyền thuộc hạm đội Thần-phù, Bạch-đằng nối nhau thành hàng dài. Tạ Quốc Ninh lẫn A Tan cùng cảm thấy, dường như có sự bất tường. Một tiếng pháo lệnh nổ, rồi Kỵ-binh Đại-Việt tỏa ra thành ba cánh, bao vây lấy binh đoàn Mông-cổ. Tướng chỉ huy chính là Nguyễn Thời, đi dưới lá cờ súy có hàng chữ:
" Trung-lược thượng tướng quân,
Vị-thanh bá Nguyễn
".
Theo quan chế Trần triều thì chức Khu-mật viện sứ cao hơn Trung-lược thượng tướng quân nhiều. Tước của Tạ Quốc Ninh là Vũ-sơn hầu cao hơn tước Vị-thanh bá ba bậc. Nhưng Nguyễn Thời là biên cương trọng thần, là tướng cầm quân, nên Quốc Ninh phải hạ thể, lễ phép hỏi:
- Thượng tướng quân! Chiến tranh đã hết. Đại-Việt, Mông-cổ hòa với nhau. Tuân lệnh của Thái-sư Trung-vũ đại vương, tôi tiễn quân Mông-cổ về nước, xin tướng quân mở đường.
Nguyễn Thời xá Quốc Ninh:
- Xin quân hầu thứ lỗi. Tướng ngoài trận, không nhất thiết phải nghe lệnh vua. Hồi sáng, có sứ giả đi thuyền tới báo cho Thái-bảo Lê biết vụ này rồi. Thế nhưng, đúng lúc đó, quân Mông-cổ từ biên giới tràn sang. Hiện quân của Vũ-Uy vương đang giao chiến với chúng. Lê Thái-bảo chuẩn bị đem quân vượt sông tiếp viện. Như vậy là Mông-cổ vi ước. Cho nên Thái-bảo Lê sai tiểu tướng ngăn binh đoàn này lại.
Thái-sư Trần Thủ-Độ với Ngột-lương Hợp-thai tới. Tạ Quốc Ninh trình bầy tình hình. Ngột-lương Hợp-thai hiểu ngay:
- Nhị ca! Có lẽ đây là Thiên-phu đóng ở bờ sông Kiến-thủy tiếp tế lương thảo cho đệ. Nên có sự hiểu lầm.
Thủ-Độ, Ngột-lương Hợp-thai ra lệnh cho quân hai bên đóng trại qua đêm tại chỗ.

Ngày 24 tháng Chạp năm Đinh Tỵ
nhằm niên hiệu Nguyên-Phong thứ bẩy
đời vua Thái-tôn nhà Trần (29 tháng 1 năm 1958).


Sáng sớm, Trung-vũ đại vương Trần Thủ-Độ, dẫn Thái-sư Mông-cổ Ngột-lương Hợp-thai từ Bình-lệ nguyên vượt sông sang vùng Thảo-lâm.
Thái-bảo Lê Phụ Trần cùng Văn-mẫn thượng tướng quân Hoàng Vui đứng đón trên bờ.
Lễ nghi tất.
Ngột-lương Hợp-thai nóng ruột:
- Lê Thái-bảo! Tình hình ra sao?
Tạ Quốc Ninh dịch lại.
- Trễ quá rồi.
Lê Phụ Trần trình bầy: Thiên-phu Lôi-kỵ do một tướng người Hán tên Ôn Đức chỉ huy, cùng ba nghìn lao binh khuân vác. Khi họ sắp nhập biên thì Vũ-Uy vương biết, người sai Trấn-biên tướng quân Trần Quới, Phì-đức tướng quân Bùi Hoán phục binh dọc Thảo-lâm chờ đợi. Quân Mông-cổ trúng phục binh. Cuộc giao chiến trong một giờ, thì quân Mông-cổ bại, phải bỏ chạy. Khi họ chạy tới Quy-hóa thì bị Thủ-lĩnh trại Quy-hóa Hà Bổng chặn đánh. Ôn Đức tử trận, còn lại toàn quân bị bắt, bị giết hết.

Ghi chú của thuật giả.

Theo ĐVSKTT thì Ngột-lương Hợp-thai dẫn quân chạy về đến biên giới, thì bị chúa trại Quy-hóa là Hà Bổng đổ quân ra đánh. Trong khi sưu tầm tài liệu, khi đến Vân-Nam (1979) tôi đã tìm được một tập sách mỏng mang tên Đại-lý cổ sự lục, tại thư viện đại học Văn-khoa Côn-minh, Vân-Nam. Tác giả là Uông Kinh đời Minh. Trong đó ghi "Tại xã Kiến-thủy, có đền thờ Ôn đại vương. Đại vương là tướng triều Nguyên, chinh tiễu Giao-chỉ tuẫn quốc". Tôi tìm đến xã Kiến-thủy huyện Khai-nguyên tỉnh Vân-Nam, thì thấy đền tuy quá cổ, nhưng chưa đến nỗi đổ nát. Tấm bia trước đền ghi lại một vài sự kiện về cuộc chiến tranh Mông-Việt 1258. Trong đó nói rằng Ôn Đức đem quân tiếp tế cho Ngột-lương Hợp-thai, bị chủ trại Man-dân họ Hà phục binh giết chết. Vì vậy tôi bỏ không theo ĐVSKTT mà theo bia đá.

Thái-sư Trần Thủ-Độ ra lệnh:
- Các vị hãy thu quân, mở đường cho quân Mông-cổ về nước.
Vũ-Uy vương đã đến.
Lễ nghi tất.
Vương sai bầy tiệc đãi Ngột-lương Hợp-thai cùng chư tướng Mông-cổ. Tạ Quốc Ninh làm thông dịch.
Được hai tuần rượu, Ngột-lương Hợp-thai ngần ngừ một lát rồi y nói với Thái-sư Thủ-Độ :
- Nhị ca ! Hiện Đại-Việt bắt của đệ mấy nghìn tù binh. Không biết nhị ca có thể thả cho chúng về chăng ?
Thủ-Độ xua tay :
- Thả chứ ! Thả chứ ! Huynh giữ làm gì ?
- Thế bao giờ thì thả ?
- Hai tôn sư võ học Trung-quốc là Phùng Tập, Tiêu Hư tử vì muốn cứu mấy chục vạn Hoa-kiều mà phải cùng nghìn võ sĩ bỏ Mông-cổ theo Đại-Việt...
Hoài Đô vốn cực kỳ thông minh, y lên tiếng :
- Chúng tôi bắt vợ con các võ sĩ Tống, để ép họ theo chúng tôi đánh Đại-Việt. Bây giờ họ hàng Đại-Việt, họ sợ chúng tôi giết vợ con họ phải không ? Ý Thái-sư muốn tôi tha cho vợ con họ, thì Thái-sư mới thả tù nhân. Có phải thế không ?
Vũ-Uy vương cười :
- Không phải như vậy !
- Thế thì ?!?!?!
- Xin Phò-mã sai người đưa tất cả vợ con họ sang Đại-Việt, trong khi đó tôi cũng đưa tất cả tù binh lên đây, rồi trao đổi. Người Việt chúng tôi gọi là tiền trao, cháo múc. Phò-mã bằng lòng chứ ?
- Vâng !
Trong tiệc, Hoài Đô hỏi Vũ-Uy vương:
- Nói thực với vương gia. Trong trận chiến vừa qua, chúng tôi bị bại vì ba nguyên do. Một là, Đại-Việt khích động toàn dân cùng cầm vũ khí. Người Việt gọi là...toàn gì gì đó.
Hoàng Vui cười:
- Cả nước là thành, toàn dân thủ thành.
- Thứ nhì là khiên mây, đao quất khiến cung tên trở thành vô dụng.
- Còn nguyên do thứ ba?
Hoàng Vui hỏi: Vì dân không cung ứng lương thảo?
- Không! Vì Ngưu-binh. Quả thực Ngưu-binh là khắc tinh của Lôi-kỵ. Hầu như tất cả thất bại của Lôi-kỵ đều do Ngưu-binh gây ra. Không biết vương gia có thể cho tôi gặp một vài tướng trâu không? Lại còn bọn Ngạc-ngư nữa. Bọn này mặt mũi, hình thù ra sao, cho đến giờ này chúng tôi đều chưa thấy.
Vũ-Uy vương xoa tay vào nhau:
- Khi được tin Ôn Đức nhập biên, tôi tưởng Mông-cổ đem đại quân sang nữa, nên sai ngựa Lưu-tinh báo về triều. Phụ hoàng truyền lệnh cho cả 20 tướng trâu phi ngựa bất kể ngày đêm lên chi viện cho tôi. Hiện bọn chúng đều có mặt ở đây. Để tôi gọi chúng vào.
Vương để tay lên miệng, rồi hú một tiếng dài liên miên bất tận. Không đầy một khắc sau, 20 tướng trâu, đội Ngạc-ngư cùng chạy tới hành lễ. Bọn tướng trâu đứng thành 4 hàng, mỗi hàng 5 đứa. Còn bọn Ngạc-ngư thì dàn thành hai hàng.
- Thái-sư Mông-cổ đây muốn được gặp các em. Vì vậy ta gọi các em tới, để người được thấy dung nhan. Các em hãy trình diện Thái-sư đi !
Sấu-vàng Yết-Kiêu hành lễ:
- Đô-thống Sấu-vàng, trưởng đội Ngạc-ngư xin tham kiến Thái-sư.
Hoài-Đô cực kỳ ấm ức vì khi vượt sông bị bọn Ngạc-ngư cắt dây buộc bè, làm chết gần trăm Lôi-kỵ. Y đưa mắt nhìn: Đó là 18 đứa trẻ rất kháu khỉnh. Y hỏi:
- Các em làm thế nào mà lặn dưới nước lâu như vậy?
Yết-Kiêu hỏi ngược lại:
- Phò-mã làm thế nào mà cỡi ngựa không yên? Làm thế nào mà ngủ trên mình ngựa được?
- Thì do luyện tập từ nhỏ, đời cha truyền cho đời con.
- Chúng tôi cũng vậy! Tổ tiên cúng tôi sống trên biển trải gần bốn nghìn năm...
Hoài-Đô liếc nhìn các tướng Trâu, y chưa kịp lên tiếng thì Dã-Tượng đã hành lễ, rồi nói :
- Đô-thống Dã-Tượng tổng lĩnh các tướng trâu xin tham kiến Thái-sư.
Nó chỉ Hĩm Còi :
- Đây là Đô-thống Hĩm Còi, phó thống lĩnh.
Hĩm Còi hành lễ.
Ngột-lương Hợp-thai nhìn đám trẻ: Chúng ở tuổi từ 13 đến 17, da mặt cháy đen, đôi mắt tinh anh. Không đứa nào có hình sắc gì khác trẻ ở Mông-cổ, thế mà chúng gây ra không biết bao nhiêu kinh hoàng cho Lôi-kỵ Mông-cổ. Dã-Tượng chỉ vào hàng đầu :
- Thưa Thái-sư, sau mấy chiến thắng, Nguyên-Phong hoàng đế thăng tất cả các tướng trâu lên cấp Vệ-úy, đẳng trật Tá-lĩnh. Đầu tiên là 5 Cu. Tiểu nhân là Cu Chó, mới đây được Nguyên-Phong hoàng đế ban cho tên Dã-Tượng. Còn đây là Cu Đen, Cu Rỗ, Cu Méo, Cu Lác.
Bọn Ngột-lương Hợp-thai đã từng bắt được Cu Méo, định giết nó, may nó được Tuyên-minh thái hoàng thái hậu giải thoát. Bây giờ đứng đối diện với quân thù trong thế chiến thắng. Mặt nó vênh lên, đầy vẻ khiêu khích.
Nó chỉ vào hàng thứ nhì :
- Đây là 5 thằng Trâu, gồm Trâu Đen, Trâu Xanh, Trâu Điên, Trâu Trắng, Trâu Mập.
Hĩm Còi chỉ vào hàng thứ ba :
- Đây là năm Hĩm, gồm tiểu nữ là Hĩm Còi, rồi tới Hĩm Cao, Hĩm Lùn, Hĩm Rỗ, Hĩm Hô.
Nó lại chỉ vào hàng cuối :
- Đây là năm Cái, gồm Cái Lan, Cái Huệ, Cái Hồng, Cái Tiên, Cái Sen.
Hoài Đô tỏ vẻ khuất phục :
- Chúng tôi từng chinh chiến trải qua hơn 30 nước. Bất cứ nước nào, trẻ con chỉ nhìn thấy Lôi-kỵ là chết khiếp rồi. Không hiểu từ đâu, mà các thiếu niên này không những không sợ Lôi-kỵ mà lại coi thường nữa ?
Dã-Tượng thuận miệng trả lời :
- Bọn cháu không hề coi thường Lôi-kỵ! Lôi-kỵ dũng mãnh, dùng cung cứng, tên to, bắn xa gấp đôi quân Việt; trăm phát trăm trúng. Ngựa Mông-cổ dẻo dai, phi nhanh như tên bắn. Kỵ mã Mông-cổ lại tàn bạo, giết người không gớm tay. Bọn cháu mới nghe nói đã chết khiếp. Khi nhìn thấy Lôi-kỵ hàng nghìn, hàng vạn, lao tới như bay, hú lên rùng rợn. Nói thực Phò-mã đừng giận, chúng cháu sợ đến té đái, vãi phân ra.
- Thế sao các cháu lại thúc trâu đánh Lôi-kỵ, như đánh bầy nai?
- Thưa Phò-mã, đau ai mà chẳng sợ. Chết ai mà chẳng kinh? Chúng cháu cũng sợ đau, hãi chết lắm chứ! Lại sợ Lôi-kỵ như sợ quỷ sứ. Nhưng có cái còn đáng sợ gấp trăm lần Lôi-kỵ, gấp vạn lần cái đau, cái chết. Đó là cái sợ mất nước.
A Truật kinh ngạc :
- Ai dạy em rằng, mất nước đáng sợ hơn cả ?
- Dạ mẹ cháu dậy. Hồi 4, 5 tuổi mẹ cháu đạy rằng rằng mình là con Rồng, cháu Tiên, khi mà mất nước thì thân trở thành tôi đòi cho người, danh không hơn thú vật. Nhà cửa, làng xóm, mồ mả tổ tiên đều không giữ được. Nước mất, thì mất hết.
Ngột-lương Hợp-thai à lên một tiếng :
- Thì ra thế. Chúng tôi thắng khắp nơi, mà chỉ thua ở Đại-Việt vì Đại-Việt có một chủ đạo căn bản vững chắc. Chứ không phải chúng tôi thua vì thiếu lương, vì đao quất, vì khiện mây hay vì Ngưu-binh. Cũng không thua vì khí hậu thấp nhiệt, vì muồi, vì bệnh. Triều đình Nguyên-Phong đã biết khai thác chủ đạo của người Việt, rồi đem ra đánh chúng tôi! Xin bái phục.

Ghi chú của thuật giả.

Hầu hết các sử gia kim, cổ, Đông, Tây khi nghiên cứu về Mông-cổ, đều đặt ra một nghi vấn: Với nửa triệu kỵ binh thiện chiến, Mông-cổ từng chinh phục hầu hết các nước từ Á sang Âu. Không nơi nào mà họ không chiến thắng. Họ chỉ bại ở hai nơi duy nhất là Nhật-bản và Việt-Nam.
Họ bại ở Nhật-bản thì dễ hiểu, vì quân Mông-cổ là quân kỵ. Họ bỏ ngựa, cỡi thuyền thì cái hùng mạnh của kỵ binh không còn. Khi họ đổ bộ lên bờ biển, người người say sóng thì bị người Nhật dùng võ sĩ đạo, mang gươm ra đón chờ ...băm vằm; thì dĩ nhiên là bại.
Còn ở Việt-Nam, biên giới tiếp cận, kỵ binh tha hồ tung hoành. Nhưng họ bị đánh bại. Một số các sử gia Việt-Nam, một số các nhà chỉ đạo chính trị, quân sự gần đây đều cho rằng người Việt thắng Mông-cổ vì khí hậu, vì vũ khí, vì tướng tài...vì... đều sai hết. Triều đại Nguyên-Phong thắng Mông-cổ vì biết xử dụng tình yêu nước của toàn dân, biết khai thác cái vũ khí yêu nước đó đem ra chống Mông-cổ. Thế vũ khí yêu nước đó do đâu mà có? Thưa do chủ đạo.
Vì vậy, tôi xin dùng lời của Dã-Tượng, với Thái-sư Mông-cổ Ngột-lương Hợp-thai, làm câu kết cho bộ Anh-hùng Đông-a dựng cờ bình Mông này.


Khởi viết ngày 10 tháng 3 năm Mậu Thân, 1968. Tại thành phố Sài-gòn.

Viết xong ngày 5 tháng Chạp năm Mậu Dần, nhằm ngày 21 tháng 1 năm 1999, tại Paris.

Yên-tử cư-sĩ Trần Đại-Sỹ.
Chán đời đi lang thang !
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-03-28 22:43:44NuHiepDeThuong>
Tiếp Chương 20

Thủ-Lý cười :
- Có điều tại hạ biết, có điều không. Nhạc cô nương ơi ! Thế hai sư bá Vân-Đài, Công-Chúa của cô nương là ai ?
Bảo-Bảo quát lên :
- Ta không khai nữa !
Nàng bưng mặt khóc nức nở :
- Hu...hu.. Ta không khai nữa, ta muốn chết đi cho rảnh, vì người đã rạch mặt ta rồi. Trên mặt ta đã có thẹo hình con cua với con ếch, xấu chết đi được.
Thủ-Lý an ủi :
- Nếu như tại hạ có cách làm cho mặt cô nương hết thẹo, thì cô nương có khai tiếp không ?
Bảo-Bảo tươi nét mặt :
- Nếu như người...à đại ca có cách làm cho mặt muội không có thẹo, thì muội nguyện làm nô tỳ cho đại ca cả đời.
- Cô nương nhớ lấy nhé.
- Muội xin hứa.
Thủ-Lý móc trong bọc ra hộp cao, rồi dùng hai ngón tay móc lấy một cục, sau đó bôi lên mặt Bảo-Bảo. Chàng thoa đi, thoa lại trên mặt cho nàng. Một cảm giác kỳ lạ chạy rần rật khắp người, làm Bảo-Bảo đê mê, cơ thể nóng bừng lên. Nàng nhắm mắt lại , trong lòng ước mơ Thủ-Lý cứ thoa mãi. Vô tình hai tay nàng để lên đùi Thủ-Lý, hơi thở dồn dập... Nhưng Thủ-Lý đã ngừng lại, chàng giải huyệt cho Thúy-Thúy với Bảo-Bảo :
- Xong rồi, bao nhiêu vết dao làm rách thịt đã liền lại rồi.
Bảo-Bảo không tin :
- Thực ư ? Sao lại có thể có loại cao thần diệu đến vậy ư ?
Thủ-Lý bảo Đoan-Nghi :
- Em lấy cái gương cho Nhạc cô nương soi thử.
Đoan-Nghi cầm gương trao cho Bảo-Bảo :
- Khỏi rồi ! Đại ca của tôi là người chính nhân quân tử, không nói dối phu nhân đâu.
Bảo-Bảo cầm gương soi, thì quả nhiên mặt mình nhẵn như xưa, da mịn màng, chỉ còn vết hồng hồng lờ mờ trên da mà thôi. Nàng run run quỳ gối rập đầu trước Thủ-Lý :
- Tiểu tỳ xin tham kiến chủ nhân.
Thủ-Lý phất tay một cái, kình lực nhu hòa đỡ nàng dậy :
- Chúng ta chỉ nói đùa với nhau, chứ đâu phải là sự thực mà cô nương lại hành đại lễ như vậy ?
- Thần-nông sứ.
Bảo-Bảo nói bằng giọng thiết tha :
- Con gái người Hoa của em đã nguyện dâng hiến thân mình cho một đấng quân tử, thì dù Ngọc-Hoàng đại đế, Diêm-la lão tử bảo thôi, bọn chúng em cũng không đổi ý.
Thủ-Lý xua tay :
- Vừa rồi tại hạ đánh lừa cô nương đấy. Khi tại hạ cầm dao rạch mặt cô nương thì chỉ cho dao chạm vào da mà thôi . Còn sở dĩ có máu là tại hạ vận Cổ-loa tâm pháp của bản phái, cho máu của tại hạ rỉ ra ở đầu ngón tay. Chứ mặt cô nương không hề bị thương. Ngay hai em của tại hạ nhìn mà cũng tưởng là thực. Như vậy là tại hạ nói dối cô nương, thì cô nương không phải giữ lới hứa.
Thúy-Thúy can thiệp :
- Thần-nông sứ ơi ! Đúng ra, khi gập người tại Đông-cung, thì Bảo-Bảo nguyện hiến thân cho Thần-Nông sứ, để nâng khăn sửa túi kia đấy. Tiếc rằng hồi ấy Thần-Nông sứ không biết mối nhu tình của sư muội. Nay sứ đã có người chủ trương ở trong là chị Phương-Lan rồi, nên sư muội xin làm tỳ thiếp. Làm tỳ thiếp cho sứ thì sư muội sẽ thành người họ Trần. Khi là người họ Trần thì dù phái Hoa-sơn có truy lùng trả thù, họ cũng đành nuốt hận mà thôi.
Thủ-Lý chỉ vào trong nhà, chàng dùng ngôn từ bình dân:
- Tôi đã có vợ rồi. Vợ tôi do ông nội cưới cho tôi. Tuy nàng không đẹp bằng hai cô, nhưng tôi vừa kính vừa yêu nàng. Vả chúng tôi là bạn thời thơ ấu, tính tình hợp nhau. Tôi không muốn có người đàn bà khác xen vào làm mờ những gì mà chúng tôi có với nhau. Tôi nhắc lại, dù cho sông Vỵ có cạn, núi Côi có mòn, tình tôi dành cho Phương-Lan cũng không đổi.
Thúy-Thúy thở dài :
- Thì ra Thần-Nông sứ là người gan bằng sắt, tim bằng đồng, dù sư muội có đẹp đến đâu người cũng rửng rưng. Bây giờ sư muội xin Thần-Nông sứ nhận làm nô tỳ cho người, thì người chẳng hẹp gì mà từ chối.
Thủ-Lý hướng ra ngoài, hú lên một tiếng dài. Phương-Lan vào hỏi :
- Anh cần em ?
Thủ-Lý thuật cho vợ nghe những gì đã xẩy ra. Phương-Lan cầm tay Bảo-Bảo :
- Thực xinh đẹp, thực thông minh, thực tài hoa, mà không may bị bọn Tống vô lương tâm đưa vào con đường cùng này. Chị Bảo-Bảo này, tôi xin nhận chị vào trong gia đình tôi, rồi tôi sẽ tìm một đấng nam nhi tài hoa để kết mối lương duyên với chị . Kể từ lúc này, chị là người họ Trần. Cũng kể từ lúc này, cho dù chưởng môn phái Hoa-sơn, cho dù Tống đế cũng không được động đến sợi tóc của chị.
Nhạc Bảo-Bảo hướng Phương-Lan lạy ba lạy. Để cho Bảo-Bảo lạy xong, Phương-Lan tháo chuỗi ngọc trai dài ba vòng trên cổ đeo cho nàng rồi an ủi :
- Chị Bảo-Bảo, gọi là chút quà mọn làm lễ diện kiến.
- Tín-Hương phu nhân.
Đoan-Nghi hỏi :
- Thế Vân-Đài tiên tử, sư phụ của Vương cô nương là ai vậy ?
- Là phu nhân của tể tướng Đỗ An-Di tên Trịnh Nam-Phương.
Trong khi Thủ-Lý thản nhiên, thì Thủ-Huy, Đoan-Nghi cùng bật lên tiếng ái chà. Vì hai người từng nghe nhiều người nói rằng : Cách đây mười mấy năm, bấy giờ Đỗ An-Di còn là một chức thị lang bộ Lại (Tương đương với ngày nay là tổng giám đốc). Ông có bỏ tiền ra mua một người con gái nhà nghèo tên Trịnh Nam-Phương về làm tỳ thiếp. Vì Nam-Phương đàn ngọt, hát hay, lại thông Thi, Thư, nên Di nâng lên làm thứ thiếp, cực kỳ sủng ái. Được hơn năm thì chính thiếp của Di du ngoạn đền thờ vua Hùng, bị trượùt chân chết. Di tâu xin triều đình phong cho Trịnh Nam-Phương lên làm chính thất, tước nhất phẩm phu nhân. Nam-Phương thường giúp Di trong công việc đọc các bản tấu chương khắp nơi gửi về triều, hoặc các chỉ dụ của nhà vua gửi đi. Như vậy thì tình hình Đại-Việt thế nào, Khu-mật viện Tống biết hết rồi !
Đoan-Nghi phát run hỏi :
- Còn Công-Chúa tiên tử, sư bá của phu nhân với Công-Chúa tiên tử là sư tỷ của phu nhân là ai vậy ?
- Thưa điện hạ, điều này cực mật, chính thần cũng không biết là ai. Nếu công chúa hỏi sư phụ thì biết.
Đoan-Nghi biết Bảo-Bảo nói thực, vì lối tổ chức tế tác của Tống, thì trong ba người Giáp, Ất, Bính thì Giáp phải theo dõi Ất, Ất phải theo dõi Bính, Bính phải theo dõi Giáp... để khi bị lộ thì còn một người có thể trốn thoát.
Thủ-Lý hỏi Thúy-Thúy :
- Vương cô nương ! Cái gì cô nương cũng chối là không biết. Nhưng có một điều cô nương phải biết rất rõ, đó là cái ông Lạc-Nhạn cùng trốn đi với cô nương bây giờ hiện ở đâu ? Y là ai ?
Thình lình hai tiếng véo xé gió, rồi hai mũi phi tiễn bay vào trong phòng. Một mũi hướng Thúy-Thúy, một mũi hướng Bảo-Bảo. Đoan-Nghi vung tay bắt một mũi, Thủ-Huy bắt một mũi.
Thủ-Lý, Thủ-Huy, Đoan-Nghi cùng phóng ra ngoài, thì chỉ còn thấy một người đàn ông chạy ra phía bờ hồ đã khá xa. Phương-Lan, Kim-Ngân đang đuổi theo.
Ba người vào trong nhà, thì Thúy-Thúy, Bảo-Bảo không còn đó nữa. Đoan-Nghi than :
- Chúng ta bị mắc kế diệu hổ ly sơn rồi.
Thủ-Lý nhìn Thủ-Huy, rồi mỉm cười bí hiểm :
- Người ta đem hai nàng Vương, Nhạc đi là hay. Bằng không thì Giai-phi Chế-bì La-bút sẽ ỏn thót xin nhà vua ban chỉ giết hai tế tác Tống là Vương Thúy-Thúy, Nhạc Bảo-Bảo để bịt miệng thiên hạ. Bấy giờ chú em tôi phải đem hai nàng đi thắt cổ thì sẽ tiếc đến đứt ruột ra mà chết.
Nghe anh nói, Thủ-Huy đỏ mặt lên, công nói lảng :
- Hai nàng được đồng bọn cứu ra, không biết em sẽ phải trả lời sao với anh Long-Xưởng ?
Thủ-Lý lại ngửa mặt nhìn lên nóc nhà, tủm tỉm cười.

Trong phủ phò mã của Thủ-Huy, hầu hết bọn mã phu, thân binh, tỳ nữ đều do bà Tự-Hấp tuyển từ Thiên-trường mang về, người duy nhất của Đoan-Nghi là con Nhài, tức Tín-Hương phu nhân. Vì vậy bây giờ khám phá ra Tín-Hương là Mao-Nữ tiên tử, Thủ-Huy không cần thẩm vấn bất cứ người nào. Chàng tập họp người trong phủ lại, thông báo, giảng giải cho họ biết mọi sự, rồi dặn bà Ty :
- Kể từ lúc này, vú phải dặn mọi người hết sức giữ kín mọi chuyện, không để bất cứ tin nào lọt ra ngoài.
Bà Ty đã sai dọn cơm lên. Bà nói với Đoan-Nghi :
- Khải điện hạ, hôm nay nhà có món ăn lạ, món ăn này, cậu Lý nấu từ hồi chiều.
Đoan-Nghi cảm động :
- Ông anh của tôi vẫn vậy, cứ mỗi lần về Thăng-long, là y như người lại cho cô em dâu tham ăn này ăn những món đồng quê.
Nàng liếc nhìn trên bàn : Một đĩa chả rươi bốc khói nghi ngút, hương vị ngào ngạt, một bát ốc nhồi nấu giả ba ba, một bát cá chép nấu ám.
Nàng tỏ vẻ sốt ruột :
- Chị Lan với cô Ngân sao mãi chưa về ? Ủa, cả anh Trung-Từ với cô Phương-Liên nữa ? Họ đi đâu ?
Thủ-Lý để tay lên miệng, tỏ ý bí mật :
- Tối họ sẽ về.
Ăn cơm xong, Thủ-Lý đứng dậy vươn vai :
- Anh mới luyện được một pho kiếm đánh nhau dưới nước. Vậy hai em hãy mặc võ phục, mang kiếm cùng anh ra bờ hồ, anh sẽ dạy cho.
Thủ-Huy, Đoan-Nghi líu ríu tuân hành.
Dinh của Thủ-Huy nằm trên bờ hồ Tây, trước dinh lúc nào cũng có sẵn ba chiếc thuyền. Chiếc thứ nhất là một chiến thuyền. Vì Thủ-Huy giữ chức Phụ-quốc Thái-úy, nên hạm đội Âu-Cơ phái cho công chiếc soái thuyền với đầy đủ thủy thủ đoàn thường trực. Chiếc thuyền thứ nhì là chiếc du thuyền, mà ông nội công ban cho công hôm cưới vợ. Thủy thủ đoàn toàn là đệ tử phái Đông-A. Chiếc thứ ba thì của Vỵ-xuyên ngũ tiên tặng cậu em, đây chỉ là chiếc thuyền nhỏ, mà năm bà tiên dùng để đánh cá.
Đoan-Nghi hỏi :
- Thưa anh, chúng ta dùng thuyền nào ?
Thủ-Lý chỉ vào chiếc thuyền đinh của mình đậu ngoài khơi :
- Chúng ta dùng thuyền của nhà mình.
Nói rồi chàng hú lên một tiếng dài, lập tức con thuyền đinh của phái Đông-A đậu ngoài khơi nhổ sào, chèo vào bờ. Ba người tung mình đáp xuống sàn thuyền. Thủy thủ nhổ neo, kéo buồm cho thuyền hướng ra phía bờ sông Hồng. Dưới ánh trăng rằm, gió hiu hiu thổi, mặt nước hồ Tây như muôn ngàn con rắn vàng bơi lội. Đoan-Nghi tuy không kinh nghiệm, nhưng nàng cực kỳ thông minh. Những biến cố xẩy ra, làm nàng thắc mắc :
- Anh cả ! Có phải anh dẫn chúng em đi bắt gian tế không ?
- Đúng vậy ! Sao em biết ?
- Thứ nhất, cách đây mấy năm, khi đối đáp với sứ đoàn Ngu Doãn-Văn, khi y đòi Lạc-Nhạn với Vân-Đài, anh nói úp mở rằng anh sẽ đem tám người của họ cho quạ rỉa thịt, rồi nộp xương cho y, khiến y bở vía, không dám đòi người nữa. Rồi hồi nãy, anh nói rằng chúng em có sự. Sau đó anh bắt Tín-Hương phu nhân xuất hiện nguyên hình là Mao-Nữ. Hai sự kiện đó cho em biết rằng bao nhiêu âm mưu của gian tế Tống phái Đông-A đã biết hết. Khi ông nội gửi anh về đây để bắt gian, thì nhất định ông sẽ phái theo nhiều người phụ giúp. Cho nên khi có người ném phi tiễn, dụ hổ ly sơn, để cứu Thúy-Thúy, Bảo-Bảo, anh tỏ ra bình tĩnh như không có gì, mục đích qua mắt bọn gian tế còn ẩn núp trong dinh bọn em. Chứ thực ra anh đem hai nàng ấy về trang ấp nhà ta, mà triều đình không thể đòi đem hai nàng ra tra khảo, chém giết. Bây giờ thì chúng ta đi bắt bọn gian tế Tống còn lại. Có đúng thế không ?
- Em thông minh thực.
- Sao anh không cho bọn em biết trước đôi chút, để có thể dùng thị-vệ hay Thiên-tử binh vây bắt bọn chúng ?
- Em nói ! Bọn gian tế này không tầm thường đâu, ngay cả em, lẫn Thủ-Huy thấy chúng, đều bó tay, thì thị-vệ với Thiên-tử binh mà làm gì ?
- Thế chúng ở đâu ?
Thủ-Lý chỉ lên trời : Hai con chim ưng đang bay lượn, dẫn đường cho thủy thủy.
Thuyền ra đến giữa hồ thì Thủ-Lý mới hỏi :
- Chú Huy này ? Chú có được phúc trình đầy đủ về việc Đỗ Thục-phi, Từ Tuyên-phi sinh con chưa ?
- Chưa.
- Để anh giảng cho chú biết, bằng không, chú cứ như người mơ ngủ mãi thì sao cuộc ra quân thành công được ! Nào chúng ta cùng vào khoang thuyền bàn luận cho nghiêm cẩn, hơn là ngồi ngoài này. Tường có mạch, bức vách có tai.
Miệng nói, Thủ-Lý mở cửa khoang thuyền, cánh cửa vừa hé, thì ánh sáng bên trong cũng tỏa ra sáng chưng. Thủ-Huy giật mình, ngơ ngác nhìn anh, vì trong khoang thuyền có Nghĩa-Thành vương, Long-Xưởng, và ba vương Kiến- Ninh, Kiến-An, Kiến-Tĩnh ngồi đó từ bao giờ.
Long-Xưởng lên tiếng trước :
- Từ hơn mười năm nay, chúng ta cứ nghĩ rằng trong Đông-cung chỉ có một con rắn. Hồi đầu thì chúng ta tưởng nó là người của thái hậu. Nhưng khi cái triều đình gà mái gáy bị dẹp rồi, mà con rắn cũng vẫn còn, thì chúng ta mới biết rằng nó là người của Khu-mật viện Tống, song không tìm ra manh mối. Hồi sáng với sự xuất hiện của Côi-sơn song ưng, chúng ta đã bật ngửa ra rằng Á-nương là Vân-Đài, rồi nhờ Thần-nông sứ chúng ta lại tìm ra con Nhài chính là Mao-Nữ. Vì biết rằng tế tác trong Đông-cung, trong phủ phò mã có thể còn nhiều tên nữa, nên chúng ta phải họp nhau ở đây để nghị kế phá tan hệ thống này của Tống. Rất may mắn chúng ta được Trần lão đại hiệp quan tâm giúp đỡ, nên Khu-mật viện đã tìm ra hết những tên gian tế quan trọng.
Vương liếc nhìn Nghĩa-Thành vương :
- Xin chú trình bày cho cử tọa nghe.
- Năm năm trước, khi sứ đoàn Ngu Doãn-Văn sang Đại-Việt, chúng ta đã khống chế được hai chân tay của Tần Hy là vợ chồng Ngô Tá-Quốc, Ngô Phụ-Gia. Đáng lẽ ra Khu-mật viện sẽ trực tiếp điều động hai người này để lấy tin tức. Song vì sợ con rắn độc trong Đông-cung nên Long-Xưởng đã nhờ phái Đông-A làm dùm, hầu bảo toàn cơ mật. Chính nhờ hai người họ Ngô đâm bị thóc, chọc bị gạo mà phe Tần Hy với phe Ngu Doãn-Văn trong bốn năm qua, ngày càng mâu thuẫn. Theo như suy đoán của chú, thì sau cuộc đi sứ phe Doãn-Văn bị bại hẳn. Nhưng chỉ một thời gian sau, họ lại phục hồi, nguyên do chỉ vì người của Hoa-sơn không ngớt đưa tin về cho Khu-mật viện Tống. Mà tin này quá chính xác nên phe Doãn Văn vẫn đứng vững trong năm năm qu a.Việc này làm Tần Hy tức điên lên được. Y bàn với hai người họ Ngô rằng, có cách nhờ Đại-Việt diệt dùm bọn chân tay của Hoa-sơn tiềm ẩn không ? Họ Ngô đưa ra ý kiến : Thực quá dễ dàng, chỉ cần Hy trao cho họ danh sách bọn gian tế Hoa-sơn, họ báo cho Đại-Việt là xong.
Vương ngừng lại một lát rồi tiếp :
- Hơn tuần sau hồ sơ đó đã được chuyển về Thiên-trường. Lập tức đại hiệp Tự-Hấp, Đại-Việt ngũ tuyệt cho đệ tử theo dõi, điều tra, tìm hiểu chi tiết, rồi mới sai Thần-nông sứ về đây giúp chúng ta trừ cả đàn rắn độc.
Long-Xưởng nghĩ thầm :
- Thế lực phái Đông-A quả thực lớn hơn triều đình. Người của họ lại đồng tâm nhất trí. Hôm trước mẫu hậu dặn ta phải tỉa bớt thế lực của họ đi, ta phải liệu làm ngay thì vừa.
Kiến-Ninh vương hỏi :
- Thưa chú, thế ông bà Tự-Hấp là Côi-sơn song ưng hay sao, mà ông bà ấy đã cảnh cáo ta trong lúc họp ?
Thủ-Lý cười :
- Không phải ! Chính em gái tôi là Kim-Ngân đã giả danh Song-ưng để báo cho các vị biết, như vậy các vị sẽ bắt Vân-Đài Thúy-Thúy phải xuất hiện trước công chúng, rồi từ Vân-Đài Thúy-Thúy, sẽ lôi Mao-Nữ Bảo-Bảo ra. Lôi Mao-Nữ Bảo-Bảo ra thì lôi được Vân-Đài Trịnh Nam-Phương, Mao-Nữ Hàn Dũ-Linh. Như thế dễ cho Khu-mật viện. Chứ Khu-mật viện không thể câu lưu Giai-phi Chế-bì La-bút, và phu nhân của Đỗ tể tướng mà thẩm vấn.
Long-Xưởng công nhận Thủ-Lý nhìn xa, trông rộng. Vương hỏi :
- Thế cái gã tế tác đầu tiên sang Đại-Việt tên Trung-nhạc Tung-sơn tức Thiên-Hư đạo nhân là ai ? Hiện y ở đâu ? Lại còn cái mụ Công-Chúa sư muội của Trịnh Nam-Phương với đệ tử của y là ai ?
- Thiên-Hư đạo nhân chết lâu rồi. Cho nên sau này Ngô Giới mới cho gã Lạc-Nhạn sang thay thế. Tất cả hệ thống tế tác Tống tại nước ta đều do gã này chỉ huy. Võ công Lạc-Nhạn cao nhất trong bọn ngang vai như Ngô Giới, Ngô Lân, Lưu Kỳ. Ngoài võ công cao cường, y lại là tiến sĩ xuất thân, mưu cơ không biết đâu mà lường. Khi y vừa sang tới Đại-Việt, thì cũng đúng là lúc một trong Hoa-nhạc tam nương là Công-Chúa, nức danh là đệ nhất danh kỹ Thăng-long. Không những nàng được hầu hết các thân vương, đại thần, khanh tướng, tao nhân, mặc khách, cao thủ võ lâm say mê, mà chính cái gã Lạc-Nhạn mới gặp nàng cũng bị hồn phiêu, phách tán. Khi y ngỏ lời cầu hôn với nàng, thì mới biết nàng âm thầm yêu say đắm một nho sinh. Y tìm cách chia rẽ nàng với nho sinh, mà vô ích. Y tìm cách giết nho sinh, không ngờ khi y ra tay, mới bật ngửa ra rằng nho sinh là một danh nhân Đại-Việt, võ công cao thâm hơn y nhiều. Y bị đánh trọng thương, may khôngchết. Từ hồi ấy đến giờ, y nuôi chí phục hận, ra sức luyện võ. Hiện bản lĩnh y cao thâm khôn lường. Biết bản lĩnh y cao hơn tôi với Thủ-Huy nhiều. Nên hôm trước bố mẹ tôi với Đại-Việt ngũ tuyệt phải rời Thiên-trường về Thăng-long, âm thầm đến tổng đàn của y, bắt y cùng đồng bọn. Bố tôi phải đánh đến hiệp thứ một trăm tám mươi, y mới bị bại. Lát nữa tôi sẽ cho y xuất hiện... Còn Công-Chúa ? Y thị là vợ Lạc-Nhạn, con gái y lại chính là đệ tử của vợ chồng y, kế ngôi Công-Chúa của vợ y.
Nghe Thủ-Lý nói, Long-Xưởng nghĩ thầm :
- Tự-Kinh, Tự-Hấp cũng như đệ tử phái Đông-A, toàn những nhân tài kiệt hiệt. Thế mà họ làm việc không công cho triều đình, thì hẳn phải có âm mưu lớn lắm. May mà mẫu hậu đã nhìn ra. Nguy thực.
Thủ-Lý nhìn Long-Xưởng, Thủ-Huy rồi mỉm cười :
- Thái-tử, nhị đệ ! Cái cô Công-Chúa mẹ, Công-Chúa con mà bị lôi ra ánh sáng, thì Thái-tử với nhị đệ đều không hay đâu ! Ngay Thần-phi Bùi Chiêu-Dương cũng bị vạ lây.
Thủ-Huy kinh hãi :
- Họ là ai ?
- Họ là ai thì liệu thái-tử với chú có dám bắt giam không mà hỏi ?
Long-Xưởng cương quyết :
- Huynh cứ nói ra đi. Xưởng này quyết vì sự nghiệp của tiên đế mà thẳng tay với chúng.
- Vậy thì được.
Thủ-Lý hô lớn :
- Đem đạo sư Lạc-Nhạn lên hội kiến với chư vị vương gia.
Cánh cửa sàn thuyền bật mở tung, Phương-Lan, Kim-Ngân cùng dắt một người bị trùm kín đầu, từ tầng dưới lên. Cứ nhìn dáng đi, ai cũng biết y bị điểm huyệt.
Thủ-Lý ra lệnh :
- Mở khăn ra.
Khăn trùm đầu kéo lên, hiện ra một người tầm thước, rất uy vũ, da trắng, ba chòm râu dài tới rốn, trông giống như một tiên ông.
Nghĩa-Thành vương bật lên tiếng kêu hoảng :
- Từ Nam ! Thì ra người ! Muôn ngàn lần không bao giờ ta ngờ người là Lạc-Nhạn. Người chưa chết ư ?
Lạc-Nhạn, tức Từ Nam cười nhạt :
- Nghĩa-Thành vương hỏi vậy thì thực là ngu. Nếu ta chết rồi thì đâu có còn đứng đây cho người cật vấn ?
- Để chú giảng cho các cháu nghe.
Nghĩa-Thành vương thuật :
« ... Cách đây hơn hai mươi lăm năm, triều đình mở khoa thi võ tuyển thị vệ. Thể lệ ban ra cho thí sinh là, muốn được ứng tuyển thì phải là đệ tử của các đại môn phái Đông-A, Tản-viên, Mê-linh, Tiêu-sơn, Sài-sơn, hoặc các đại bang. Nếu thí sinh không thuộc thành phần trên, nhưng là thân binh các thân vương, thượng thư thì cũng được thu nhận. Từ Nam được Đỗ Anh-Vũ giới thiệu. Khi tuyển võ, y chỉ dùng những chiêu hỗn tạp của phái Đông-A, Tiêu-sơn, nhưng vì công lực cao, nên được trúng cách. Từ đấy y phụ trách canh phòng Khu-mật viện. Y thuộc loại người thâm trầm, lại khéo hòa hợp với đồng đội, nên tiến trình của y rất mau. Chỉ trong ba năm y được thăng lên làm trưởng toán canh phòng cung Cảm-Thánh.

Thời ấy, tại Thăng-long có một danh kỹ nức tiếng tài sắc tên Trần Lệ-Mai. Hầu hết các vương công, đại thần, các danh sĩ trong nước đều say mê nàng, nhưng không ai lọt mắt xanh của nàng. Thế rồi, một ngày kia, có người khách viễn phương xa nghe tiếng nàng tìm đến chỉ để được thưởng thức câu ca, khúc nhạc của nàng. Sau lần gặp gỡ đó, nàng đã cảm tấm lòng của khách, xin theo để nâng khăn sửa túi. Nàng bỏ ca hát, cùng khách ngao du thắng cảnh ; khi thì Côi-sơn, khi thì Tản-viên, suốt mấy năm liền. Rồi không hiểu sao, một đêm khách không từ biệt, bỏ đi mất. Lệ-Mai khóc hết nước mắt, nghiến răng kết hôn với thị vệ Từ Nam. Tin này làm rúng động thành Thăng-long, vì tuy người khách kia ra đi, nhưng còn không biết bao nhiêu danh sĩ, không biết bao nhiêu vương công, chầu chực để cầu hôn với nàng.

Lấy nhau được hai năm, thì một đêm Từ Nam canh gác cung Cảm-Thánh, bị một kẻ vô danh đánh vào đầu, Từ Nam mê man, trở thành tê liệt. Tuy chồng thành tàn tật, nhưng Trần Lệ-Mai vẫn an phận nuôi chồng. Bốn tháng sau đó nàng có thai, sinh ra một gái đặt tên là Từ Thụy-Hương. Thụy-Hương sinh ra được hai ngày thì Từ-Nam chết. Mẹ con bơ vơ giữa kinh thành Thăng-long.
Bấy giờ trong cung, Thần-phi Bùi Chiêu-Dương sinh ra công chúa Đoan-Nghi. Người ta tiến Lệ-Mai làm nhũ mẫu cho Đoan-Nghi. Trần Lệ-Mai mượn người nuôi con rồi vào cung. Khi công chúa Đoan-Nghi được ba tuổi, không còn bú nữa, hoàng-hậu ban thưởng vàng bạc cho Lệ-Mai, rồi bắt rời Hoàng-thành. Lệ-Mai khóc lóc xin được ở lại trong cung hầu hạ công chúa Đoan-Nghi. Nhưng Ngự-sử đại phu dâng biểu đàn hặc rằng : Theo như ngự y Trần-thị Phương-Thanh, thì Từ-Nam bị đánh tổn thương xương sống, khiến nửa dưới cơ thể bị tê liệt, thì không thể có con. Thế mà Lệ-Mai lại mang thai, thì cái thai đó là con hoang. Với một người đàn bà bất trinh như vậy, không thể cho ở trong Hoàng-thành. Lệ-Mai khóc hết nước mắt, giã biệt Thăng-long, về ẩn tại Đăng-châu.
Hồi thái-tử Long-Xưởng ra Đông-cung, theo lời cầu xin của công chúa Đoan-Nghi, thái-tử cho tìm vú Lệ-Mai với con gái là Thụy-Hương về, cho ở trong Đông-cung, lại phong tước Thạc-hòa Anh-văn phu nhân, truyền giữ chức Kim-ốc bảo khố.
Rồi...Thụy-Hương trở thành một trong Đại-Việt thất tiên, thành người tình của Thủ-Huy, của Long-Xưởng ; nàng tham gia vào tất cả những việc trọng đại của triều đình. Nhất là nàng phụ tá cho Long-Xưởng giải quyết tất cả những tấu chương, chỉ dụ của nhà vua. Cuối cùng thành Tuyên-phi, và trợ giúp nhà vua trong mọi sự lớn nhỏ. Các đại thần dù phe chủ hòa, dù phe chủ chiến đều rạp người xuống mà khuất phục nàng. Mới đây, nàng sinh hoàng-nữ, song được mấy giờ thì hoăng... ».
Nghĩa-Thành vương kết luận :
- Bây giờ nảy ra việc Từ-Nam lại là Lạc-Nhạn, thì thực ta không thể nào hiểu nổi.
Kim-Ngân chỉ ghế nói với Lạc-Nhạn :
- Xin Thái-bảo an tọa.
Lạc-Nhạn thản nhiên ngồi xuống.
Thủ-Huy kinh ngạc hỏi em :
- Cái gì là Thái-bảo ?
- Em xin giới thiệu với anh.
Kim-Ngân chỉ Lạc-Nhạn :
- Từ Nam là tên giả. Tên thực của đạo sư Lạc-Nhạn đây là Vương Cương-Trung, một đại thần Tống triều. Chức tước của người là Hiệp-tán thái bảo, Đồng-trung thư môn hạ bình chương sự, Khu-mật viện phó sứ, Nam-phương trung nghĩa công thần, An-Nam quốc công. Tức là Tống triều phong cho người làm vua Đại-Việt ta khi họ chiếm được. Còn Trần Lệ-Mai cũng là tên giả, tên thực của người là Triệu Mai-Hương, vốn người Dương-châu. Vì những công trạng to lớn, Mai-Hương được Tống triều phong tước công chúa. Còn trong phái Hoa-sơn, thì bà là đạo cô chưởng quản ngọn núi Công-chúa.
Nói rồi nàng đưa ra một trục giấy trao cho Long-Xưởng. Long-Xương nhìn qua, thì đó là sắc chỉ Tống triều phong chức tước cho Lạc-Nhạn.
Cả khoang thuyền có đến gần chục người, mà đều chết lặng, không ai nói lên được một lời. Chỉ cần biết Lạc-Nhạn là thị vệ Từ Nam chồng của vú Mai, thì ai cũng phải biết rằng vú Mai chính là đạo cô Công-Chúa và Tuyên-phi Từ Thụy-Hương là Công-Chúa kế vị mẹ.
Nghĩa-Thành vương hỏi :
- Vương Thái-bảo, mong Thái-bảo khai cho cô gia biết về cái bí ẩn tại sao người phải giả chết.
Vương Cương-Trung hừ một tiếng, rồi nói ngang :
- Ta không khai ! Người muốn giết ta thì giết đi.
Thủ-Lý đứng dậy nói với Long-Xưởng :
- Lạc-Nhạn đạo sư ! Vụ này không có gì lạ cả. Đạo sư khỏi cần khai, để tôi nói ra đây, xem có chỗ nào sai, xin đạo sư chỉ cho. Thế này ! Đạo sư đang là thị vệ Từ Nam, thì có chiếu chỉ Tống triều gọi về tâu trình tình hình Đại-Việt. Vì vậy, người phải giả bị thương, rồi kiếm một thanh niên hơi giống người, điểm huyệt cho liệt nửa người, cho câm, rồi đặt nằm đó. Còn người, thì người lên đường về Tống. Từ Tống trở về được hơn tháng thì Mai-Hương có thai. Đạo-sư phải cho cái người thanh niên giả mình kia được chết.
Nghe anh nói, Đoan-Nghi chết điếng người đi. Bởi khi Bảo-Bảo khai rằng Trần Lệ-Mai chính là Triệu Mai-Hương, là người tình của ông bố chồng Tự-Hấp. Rồi hồi chiều Minh-Đạo vương dường như cũng là người tình của bà... Nàng không tin, cho rằng Bảo-Bảo muốn ly gián, gắp lửa bỏ bàn tay vú Mai với tuyên phi Thụy-Hương. Bây giờ thì là sự thực rồi, không chối cãi vào đâu được nữa.
Vương Cương-Trung tím mặt, không nói được lời nào nữa. Thủ-Lý lên tiếng gọi :
- Hiền đệ Trung-Từ !
Tô Trung-Từ to lớn như một hộ pháp, bụng như cái trống, bước ra :
- Thưa đại ca ! Em bé của đại ca đây.
Dù trong cái không khí cực căng thẳng, mà nghe Trung-Từ nói, ai cũng phải bật cười.
- Cái vụ Tuyên-phi, Thục-phi sinh con, hiền đệ đã điều tra ra rồi phải không ? Hiền đệ nói cho mọi người biết đi.
- Thưa các vị.
Trung-Từ thuật :
- Gần hai năm trước, được tin vụ tuyên-phi Từ Thụy-Hương, thục-phi Đỗ Thụy-Châu mang thai có nhiều điều đáng nghi ngờ ; thái sư phụ, ra lệnh cho tôi đem Tá-Chu, Kim-Ngân, Phương-Liên âm thầm về Thăng-long, để điều tra xem thực hư ra sao. Vốn đã biết Lạc-Nhạn đạo sư tiềm ẩn làm gia sư tại phủ tể tướng (ghi chú : Tức là người chỉ huy hệ thống hộ vệ), thì toàn bộ vệ sĩ thân binh đều là đệ tử của người. Vậy thì chỉ cần theo dõi người là ra hết mọi sự. Quả nhiên chỉ ba ngày là có kết quả. Nguyên do : Đạo sư tổ chức cuộc họp giữa người với ba tiên tử Vân-Đài Trịnh Nam-Phương, Công-Chúa Triệu Mai-Hương, Mao-Nữ Hàn Dũ-Linh tại tổng đàn của người trên con thuyền của bang Đường-lang đậu tại bờ sông Hồng về phía Bắc-ngạn. Trong cuộc họp này, các vị bàn nhiều chuyện, trong đó có chuyện liên quan đến vấn đề hai phi Thụy-Hương, Thụy-Châu mang thai như sau : « ... Vân-Đài Trịnh Nam-Phương than rằng, bà đã trên bốn chục tuổi, nhan sắc ngày một tàn phai. Trong khi tể tướng Đỗ An-Di vẫn còn sung sức. Ông mới tuyển thêm một mỹ nữ tuyệt đẹp, và cực kỳ sủng ái người thiếp này, nên mình bị hất hủi, không còn được vào thư phòng của tể tướng, thành ra không biết được những tin tức quan trọng. Vương Cương-Trung bàn với Vân-Đài Nam-Phương rằng phải nắm Đỗ tể tướng bằng cách, sao cho ông ta phạm một trọng tội với triều đình, mà chỉ mình Nam-Phương biết mà thôi. Như vậy, không bao giờ ông ta dám bỏ Nam-Phương cả.
Cũng trong dịp này Công-Chúa tiên tử Mai-Hương cho biết con là Công-Chúa Thụy-Hương mới mang thai. Nhưng cái thai đó không biết của nhà vua hay của đại đệ tử Vương Cương-Trung, vốn họ Triệu, tôn thất của Tống triều. Tính số Tử-vi của nhà vua, của Thụy-Hương, của tên đệ tử mình, Cương-Trung quả quyết rằng sau này Thụy-Hương sẽ sinh hoàng nam, và hoàng nam đó sẽ được nhà vua truyền ngôi. Ngặt vì nguồn gốc của Mai-Hương lờ mờ, việc sinh ra Thụy-Hương đã bị ngự sử đại phu đàn hặc, thì việc cho hài nhi lên làm vua, e sẽ gặp muôn vàn khó khăn. Vậy, Nam-Phương phải nhập cung thuyết phục Đỗ Thục-phi cũng tuyên bố có thai. Ngày Thụy-Hương trở dạ sinh con, thì Đỗ Thục-phi cũng giả lâm bồn. Ngày ấy Cương-Trung sẽ sai đệ tử bắt con gái của dân dã nào đó, bóp cổ chết, rồi đem vào cung nói rằng con của Thụy-Hương. Ngược lại con của Thụy-Hương thì trao cho Đỗ Thục-phi, nói rằng mình sinh ra. Còn hai bà mụ của Hoàng-cung, thì Thụy-Hương, Thụy-Châu bắt phải thề độc giữ kín bằng không sẽ bị giết cả nhà.
Về việc nuôi hài nhi, thì Thụy-Châu giả khai rằng sau khi sinh hoàng nam, bị kiệt sức, không sữa. Thụy-Hương nhân đó tình nguyện nuôi sữa hoàng nam. Giai-phi Chế-bì La-bút nhận làm thầy dạy. Đứa trẻ sau này lớn lên, vừa được ông cậu hờ Đỗ An-Di làm tể tướng giúp sức bên ngoài. Trong cung, bà mẹ đẻ Thụy-Hương, bà mẹ hờ Thụy-Châu, bà thầy dạy Chế-bì La-bút...ngày đêm ỏn thót nói về những điều kỳ lạ đứa trẻ với với nhà vua, ắt nhà vua sẽ hài lòng.
Một mai khi nhà vua sắp băng hà, Giai-phi, Thục-phi, Tuyên-phi sẽ khóc lóc xin lập con mình lên làm vua. Đứa trẻ lên ngôi khi còn nhỏ tuổi, thì Thụy-Châu, Thụy-Hương sẽ được tôn làm thái hậu buông rèm thính chính. Đỗ An-Di đương nhiên thành thái sư phụ chính.
Dĩ nhiên những việc làm cơ mật như thế, thì Đỗ Thụy-Châu phải bàn với Đỗ An-Di. Di sẽ nhờ Nam-Phương làm con thoi ra vào Hoàng-thành liên lạc với em gái. Vô tình Nam-Phương trở thành người thân tín của anh em họ Đỗ.
Làm việc này, Tống được ba điều lợi. Một là Nam-Phương có cớ ra vào thư phòng của tể tướng. Hai là liên kết được Đỗ An-Di với Tống. Ba là kết hợp ba bà giai-phi, thục-phi, tuyên-phi ».
Đoan-Nghi hỏi :
- Cái tên đại đệ tử của Vương Cương-Trung là ai ? Tại sao y lại thông dâm với Thụy-Hương ?
Trung-Từ trả lời bằng cái gật đầu :
- Tôi biết rất rõ. Y tên Tích, là cháu nội của Khâm-tông. Bố y là thái-tử Kinh. Hồi Khâm-tông bị Kim bắt, thì thái-tử Kinh mới có sáu tuổi, được một phi tần họ Mạc bồng bế ẩn vào dân chúng chạy thoát lên núi Hoa-sơn xin Thiên-Hư đạo nhân cho tá túc. Y được thu làm đệ tử. Khi vua Cao-tông trung hưng lập ra triều Nam Tống, mà trong lòng sợ vua Khâm-tông trở về tranh ngôi, nên ông ta cho truy lùng thái-tử Kinh khắp nơi để trừ hậu hoạn. Phái Hoa-sơn không dám cho thái-tử Kinh mang họ Triệu, mà mang họ Mạc của người cung nga. Kinh kết hôn với một sư muội đồng môn đẻ ra Tích. Khi Tích mười tuổi thì cha chết. Tích được trao cho Vương Cương-Trung nuôi dạy. Khi Trung được cử sang Đại-Việt làm gian tế, y dẫn Tích vào yết kiến Cao-tông, và thú thực về nguồn gốc Tích. Cao-tông cũng chiếu luật phong cho Tích tước Kinh-Nam công, rồi cho Tích theo Cương-Trung sang Đại-Việt. Tích học văn, học võ đều thành. Khi Từ Thụy-Hương trở thành Tuyên-phi, Tích được sư phụ trao cho nhiệm vụ hằng đêm đột nhập Hoàng-thành luyện võ cho phi. Cuối cùng hai người thông dâm với nhau, mà có con. Hiện cái ông hoàng tử Long-Trát, mà nhà vua yêu thương cùng cực kia là cháu ba đời vua Khâm-tông. Y họ Triệu chứ không phải họ Lý.
Thủ-Huy lắc đầu :
- Tôi nghĩ Long-Trát là con của phụ hoàng. Vì y giống phụ hoàng như hai giọt nước vậy.
Cử tọa nghe Trung-Từ thuật đều rùng mình. Trung-Từ cười với Cương-Trung :
- Cho nên hôm con gái của thái bảo với Mai-Hương chuyển bụng, thì Đỗ thục phi cũng vờ đau bụng. Hai phi sai người khẩn báo với Đỗ An-Di. Di triệu hồi hai bà mụ Hoàng-cung tới căn dặn mọi sự, rồi hứa rằng sẽ thưởng cho mỗi bà mười lượng vàng , nếu biết giữ mồm, giữ miệng. Còn như chỉ cần hở ra một chút, thì sẽ bị giết cả nhà. Lạc-Nhạn đạo sư sai đệ tử giết một thiếu phụ mới ở cữ được hai ngày, bắt cóc đứa con bóp mũi chết, trao cho Trịnh Nam-Phương. Nam-Phương đem vào cung đưa cho Thụy-Hương. Mọi sự diễn ra như ý muốn của đạo sư. Tuy nhiên đạo sư quá tàn nhẫn, sai người điểm tâm huyệt hai bà mụ, khiến hai bà chết ngay.
Thủ-Lý vẫy tay, hai đệ tử Đông-A lại giải Vương Cương-Trung xuống khoang dưới.
- Vụ này không ngờ lớn quá !
Kiến-An vương than : Chúng ta phải giải quyết sao bây giờ ?
Kiến-Ninh vương đề nghị :
- Chúng ta khẩn thiết Tinh-triều, công bố nội vụ, rồi đem Lạc-Nhạn, Vân-Đài, Công-Chúa, Mao-Nữ cũng như đồng bọn ra xử tử tận số là xong.
Long-Xưởng trầm tư :
- Làm như vậy thì dễ quá rồi. Nhưng hiền đệ ơi ! Chúng ta phải gánh chịu ba cái khó khăn. Một là binh tướng đang trên đường ra trận, nay vỡ lở cái vụ ái thiếp của Tể tướng ; Tuyên-phi, Giai-phi của hoàng đế, cùng ba chức phu nhân của Đông-cung, của phủ phò mã, của Hoàng-cung là gian tế Tống, thì họ không còn tinh thần chiến đấu nữa. Hai là, liệu Tể tướng, cũng như phụ hoàng có tin chúng ta không ? Hoặc giả tin, nhưng người sẽ dùng luật Bát-nghị, mà ân xá cho chúng, thì càng làm cho sĩ dân, binh tướng bất mãn. Ba là, dù ta sắp đem quân Bắc tiến, nhưng ta không có quyền giết người của họ. Ta chỉ có thể giam giữ rồi đòi chuộc, hoặc trao đổi mà thôi.
Long-Xưởng nghĩ thầm :
- Ta thử hỏi Thủ-Lý xem y mưu đồ ra sao ? Trong nhất thời muốn phá mưu đồ của phái Đông-A, ta cứ làm ngược lại những gì y nói là tốt hơn hết.
Vương hỏi Thủ-Lý :
- Đại ca là người trí tuệ siêu phàm, xin đại ca chỉ cho đệ con đường phải đi.
- Thái tử xét xem, những người của Tống, cho chí anh em họ Đỗ, theo luật, có đáng xử tử không ?
- Theo bộ Hình-thư thì chúng đáng tội lăng trì, còn toàn gia cũng phải chết chém.
Trung-Từ nói gằn từng tiếng :
- Thế là thái tử đã tuyên án rồi. Vậy thì xin Nghĩa-Thành vương gửi chỉ dụ cho Tả-thiên ngưu vệ thượng tướng quân Tăng Quốc, hiện lĩnh điện tiền chỉ huy sứ, đem thị vệ bắt hết bọn tội phạm đưa ra bờ sông Hồng xử tử tận số, để các vị vương gia đây an lòng mà lên đường Bắc-tiến .
Trong khi Long-Xưởng trì nghi, tìm cách hành sự trái với đề nghị của Trung-Từ, thì Thủ-Lý nào biết rằng Long-Xưởng đã nghi phái Đông-A. Chàng nắm lấy tay vương :
- Nếu không thì thế này, xin Thái-tử nhắm mắt lờ đi, để chúng tôi nhân danh con dân Đại-Việt, nhân danh chủ đạo tộc Việt, chúng tôi thi hành bản án ?
Long-Xưởng nghĩ thầm :
- Cái tên Thủ-Lý này định giết người rồi đổ tội cho ta chăng ?
Vương lắc đầu :
- Khó quá !
Thủ-Lý bực mình :
- Cái nguy Tống, Chiêm như ghẻ ngoài da, cái họa bọn nội gián như bệnh trong tim trong gan. Nếu như vương gia không quyết đoán ngay, tôi e sự nghiệp mấy nghìn năm của vua Hùng, vua Trưng sẽ thành quận huyện của Tống một sớm một chiều. Mà dù không bị Tống chiếm, thì công nghiệp của năm vị tiên đế triều Lý sẽ rơi vào tay giòng họ khác. Người xưa nói : Họa nước như dầu sôi lửa cháy. Chỉ chậm một khắc là không kịp nữa. Tôi nhắc lại, chủ trương của ông nội tôi, của phái Đông-A là : Ngôi vua Đại-Việt là của người có đức, chứ không của riêng họ Lý. Nếu như Thái-tử không mau sửa đức cho phụ hoàng, không mau ra tay giết bọn gian tế Tống...thì cái gì sẽ xẩy ra, Thái-tử dư biết đấy.
Ý Thủ-Lý muốn nói : Nếu Long-Xưởng không giải quyết mau, thì ngôi vua sẽ rơi vào họ Triệu bên Trung-quốc. Trong khi Long-Xưởng lại nghĩ rằng : Phái Đông-A sẽ truất ngôi họ Lý. Mặt Long-Xưởng tái đi vì giận.
Long-Xưởng hỏi các em :
- Làm sao bây giờ ? Ta muốn ra tay, mà không động chạm gì tới phụ hoàng. Các em có ý kiến gì khác không ?
Kiến-Ninh vương lắc đầu :
- Chỉ có cách đó thôi. Tuy nhiên khi đem thị vệ vào cung bắt Giai-phi, Thục-phi, Tuyên phi không giản dị. Bởi Giai-phi là Mao-Nữ, mẹ con tuyên phi đều là Công-Chúa của Hoa-sơn, võ công họ thực đáng nể. Đệ lo sẽ có cuộc long tranh, hổ đấu. Thôi ta để đại ca Thủ-Lý nhân danh chủ đạo tộc Việt giết chúng là hay hơn cả.
- Ta thấy không ổn. Ta hiện cầm đại quyền, trong khi binh tướng đang ra trận, mà trong Hoàng-thành xẩy ra vụ ám sát ba bà phi, ngoài Kinh-thành xẩy ra cuộc ám sát Tể-tướng, cùng gia quyến, thì sao họ có thể an tâm ?
- Ta cứ đổ cho gian tế Tống.
Kiến-Tĩnh vương đưa ý kiến : Sau đó ta đem hết bọn chân tay của đám Hoa-sơn giết sạch, đổ cho chúng là sát nhân.
- Làm như vậy thì hóa ra mình nói dối dân. Sau đó chuyện này tiết lộ, thì triều đình mất hết uy tín.
Nghe Long-Xưởng nói, Kim-Ngân đứng dậy :
- Thưa Thái-tử ! Từ thời vua Lê, rồi trải qua năm vị tiên đế của bản triều, phái Đông-A nhà tôi biết bao lần tuốt gươm đứng dậy khi đất nước chông chênh. Máu đệ tử đã đổ ra cũng nhiều ; mà chúng tôi không hề nhận một chút chức tước của triều đình. Nay, cái nạn gian tế Tống tràn ngập khắp nơi, nào trong triều, nào nội cung, nào phủ tể tướng. Ông nội tôi vì cảm tình riêng với thái-tử, đã huy động toàn phái đứng ra phá vỡ cái dã tâm của chúng. Thế mà, Thái-tử vì tiểu tiết mà không chịu tự vệ, thì tội gì chúng tôi phải nài xin Thái-tử nhỉ ? Nếu nội ngày hôm nay, Thái-tử không giết bọn gian tế Tống, thì coi như vĩnh viễn không bao giờ chúng tôi ghé mắt vào việc của triều đình nữa !
Vốn đã nghi ngờ phái Đông-A, vì lời mẹ dặn. Rồi từ từ, mối nghi ngờ tích tụ. Lại ức vì Thủ-Lý vì câu nói ban nãy. Bây giờ nghe Kim-Ngân sẵng giọng, Long-Xưởng nổi lôi đình nghĩ thầm :
- Ta còn đợi gì mà không loại bọn Đông-A ra khỏi việc nước
Nghĩ vậy, Long-Xưởng chắp tay hướng Thủ-Lý, Trung-Từ, Tá-Chu, Kim-Ngân, Phương-Lan :
- Đa tạ Trần lão đại hiệp, đa tạ nhã lượng quân tử của chư vị. Đây là việc riêng của triều đình. Xưởng này không phải tượng gỗ trên bàn thờ để ai cũng sai bảo được. Xin chư vị để vụ này cho anh em cô gia tự giải quyết.

Ghi chú của thuật giả:

Tiếc thay ! Thái-tử Lý Long-Xưởng là người thông minh, tài trí, muốn tạo cho dân Việt đời sống ấm no. Muốn đưa Đại-Việt thành quốc gia hùng cường. Lại bỏ không biết bao nhiêu tâm huyết ra từ năm tám tuổi. Đến nay, thành công đã nằm trong tầm tay, mà chỉ vì nghe lời dèm pha của mẹ ; bây giờ lại vì một chút tiểu tiết, thiếu quyết đoán, để cho đại sự tan như mây ảo. Rút cuộc bị giết, rồi bị kết tội là phường trộm cướp. Thân xác mình, thân xác vợ con bị vùi dập ở bãi đất hoang, không người thắp cho nén hương. Đau hơn nữa, quốc sử chép Long-Xưởng là người tham dâm, hiếu sắc. Trong khi kẻ hại nước, đem thân già lôm lốp quỳ lạy con đàn bà điêu ngoa dâm đãng tên Đỗ Thụy-Châu, bắt trăm họ Đại-Việt khuất phục bọn Tống hèn hạ, hủ lậu... Lại được lập đền thờ, lại được dùng tên đặt cho trường học, cho những đường phố lớn.
Hồi đầu thế kỷ này, Ưu-thiên Bùi Kỷ đã khóc thi hào Nguyễn Du bằng câu :

Kiếp kim cổ tài tình là bận,
Hồn văn chương vơ vẩn non sông,
Tiếc hay nước đục bụi trong,
Nghìn thu biết ngỏ tấm lòng cùng ai.

Ý cụ Ưu-thiên muốn nói : Con người có tài, nhưng ôm gối ngồi cao, tiêu dao mây nước, hoặc ngồi kẻ lông mày cho người đẹp. Ai chết, ai sống không biết đến ; tình dân thế nước ra sao cũng nhắm mắt, thì được thanh nhàn. Thế nhưng kẻ có tài, lại có chút lòng với quê hương, với dân tộc, thì bận suốt đời, bận cho đến chết. Chết rồi con bận. Mà đau đớn thay, mình có lòng với nước, thì bị bọn lưu manh, bọn chồn cáo quy cho hàng trăm thứ xấu ; trong khi chúng, thì bao nhiêu cái hay, cái tốt chúng nhận cả. Muôn đời sau, rõ ràng mình là nước thì bị mang tiếng là đục. Bọn chúng là bụi thì lai được tiếng là trong.
Đoạn thơ trên cũng có thể dùng để khóc cho Thái-tử Long-Xưởng. Buồn thay, mà cũng đau đớn thay cho người anh hùng cuối cùng của triều Lý.
Hôm nay, ngày 13 tháng 8 năm Đinh Sửu nhằm tiết Bạch-lộ (DL. 14-9-1997) sau 823 năm, có một người vong quốc ngồi ở thành phố nhỏ Pontault Combault nước Pháp, tự biết tài trí mình không bằng ai, kiến thức mình hủ lậu, nhưng xót đấng anh hùng nghìn năm trước mà viết mấy giòng này minh oan cho người dưới suối vàng.


Thủ-Lý chắp tay hướng lên trời :
- Than ôi ! Tiếc thay ! Tiếc thay. Chúng ta mất biết bao nhiêu tâm huyết, công lao, mà lại lâm cảnh gánh vàng đi đổ sông Ngô.
Chàng quay lại, rơm rớm nước mắt nói với Thủ-Huy :
- Em ạ ! Anh đã làm hết sức mình rồi ! Đối với phái Đông-A nhà ta, thì ai có đức đều có thể lên làm vua Đại-Việt. Nay ta vì biết cái thất bại trước mắt mà giúp Thái-tử, nhưng Thái-tử không nghe ta, thì biết làm sao bây giờ ? Thái-tử lại coi giang sơn này như một món đồ của riêng họ Lý, thì chúng ta còn gì để nói nữa ? Là của riêng họ Lý thì tội gì chúng ta phải can thiệp vào ? Từ nay, nhà mình không giúp gì cho em được nữa. Tuy nhiên, em hiện là phò mã, hiện là thái-úy, thì em phải đem hết sức ra phò tá phụ hoàng của em, của triều Lý. Hãy bảo trọng lấy thân.
Câu nói của Thủ-Lý tuy nhẹ nhàng, nhưng nó như con dao cắt sợi dây khăng khít giữa Long-Xưởng với Thủ-Huy. Sau này vì nghi ngờ Thủ-Huy mà Long-Xưởng cách chức người em kết nghĩa, cuối cùng...
Nghe Thủ-Lý nói, trong lòng Long-Xưởng có hơi bất nhẫn, nhưng vương cảm thấy thoải mái :
- Thế là ta đã vĩnh viễn loại phái Đông-A ra, không cho tham dự vào quốc sự nữa.


*****************

Đã đưa vào thư viện tới chương 20.
Chán đời đi lang thang !
Đăng nhập để trả lời
0
«« « 1 2 3 » »»