📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

Liêu Trai Chí Dị (Bộ dịch đầy đủ gồm 500 truyện) - HẾT 🔒

219 trả lời, 85.932 lượt xem — Trang 6 / 8
222. Hoàn Hầu (Hoàn Hầu)

Bành Hiếu Sĩ ở Kinh Châu (tỉnh Hồ Nam) uống rượu nơi khác về nhà, dọc đường xuống ngựa đi tiểu. Con ngựa cúi xuống ngoạm cỏ bên đường, có một bụi cỏ nhỏ xanh tốt rất đáng yêu vừa trổ hoa vàng rực rỡ chói mắt, con ngựa ăn mất quá nửa.  Bành nhổ chỗ còn lại ngửi thấy có mùi hương lạ bèn cất vào túi lại lên ngựa đi tiếp, thấy ngựa phi như bay thích chí cũng không tính đường về, cứ để mặc cho nó chạy. Chợt thấy mặt trời lặn xuống sau núi mới kéo cương nhìn quanh thì thấy núi non chập chùng, không biết là chỗ nào. Chợt có một người áo xanh tới, thấy con ngựa đang hí vang, bèn nắm dây cương nói “Trời đã xế rồi, chủ ta mời ông ghé lại". Bành hỏi đây là nơi nào, người ấy đáp "Là đất Lãng Trung (tỉnh Tứ Xuyên)". Bành cả sợ té ra trong nửa ngày đã đi hơn ngàn dặm, nhân hỏi chủ nhân là ai, người kia đáp “Tới nơi sẽ biết". Lại hỏi nhà ở đâu, đáp cũng gần đây thôi, rồi dắt ngựa kéo đi mau.
Bành thấy người ngựa cùng như bay, qua một rặng núi thì có nhà cửa phòng ốc trùng điệp ở lưng chừng núi che khuất lẫn nhau. Từ xa nhìn thấy một đám người áo mũ chỉnh tề như đang chờ ai, Bành tới nơi xuống ngựa thì họ đều vái chào rất cung kính. Kế chủ nhân bước ra, khí thế oai mãnh, y phục đều khác người trần, chắp tay nhìn khách nói "Khách hôm nay không có ai xa như Bành quân", rồi vái chào mời Bành đi trước. Bành từ tạ không chịu bước lên, chủ nhân bèn nắm tay kéo đi, Bành thấy tay như bị cùm siết chặt, đau như sắp gãy, không dám tranh cãi nữa bèn đi. Những người còn lại bèn nhường nhau đi trước, chủ nhân đẩy người này kéo người kia, khách đều xuýt xoa rên rĩ muốn quỵ xuống như không chịu nổi, cùng theo lời chủ nhân vào. Tới sảnh đường thấy trần thiết hoa lệ, cứ hai người vào ngồi một bàn. Bành hỏi nhỏ người ngồi với mình rằng chủ nhân là ai, đáp là Hoàn hầu*, kinh ngạc không dám ho hắng, mọi người cũng đều ngồi im.
*Hoàn hầu: tức Trương Phi, tướng và là em kết nghĩa của Thục chủ Lưu Bị thời Tam quốc, nổi tiếng dũng mãnh, trấn thủ Lãng Trung, bị bộ tướng làm phản ám sát, thụy là Hoàn hầu.
Rượu được vài tuần, Hoàn hầu nói "Hàng năm cứ quấy quả các vị, nên có tiệc mọn để tỏ lòng. Lại được khách từ xa tới, có thể nói là hạnh ngộ, ta muốn xin một vật, nếu thương thì cho, không thì không dám ép”. Bành đứng dậy hỏi vật gì, chủ nhân đáp "Con ngựa của ông đã có tiên cốt, không phải người trần cuỡi được , xin đổi con khác cho ông, có được không?". Bành đáp "Xin kính cẩn dâng lên, không dám đánh đổi”, Hoàn hầu nói “Ta sẽ đền một con ngựa thật tốt, lại tặng thêm vạn lượng vàng”. Bành rời ghế lạy tạ, Hoàn hầu sai kéo đứng lên. Giây lát rượu thịt bày ra la liệt, mặt trời lặn lại sai thắp đèn uống tiếp. Mọi người đều đứng dậy xin thôi, Bành cũng xin cáo từ. Hoàn hầu hỏi “Ông từ xa tới, tối nay về đâu?". Bành nhìn người ngồi cùng bàn với mình nói “Đã xin ông đây cho ngủ nhờ tối nay". Hoàn hầu bèn sai lấy chén lớn rót rượu tiễn khách, nói với Bành rằng "Bụi cỏ mà ông cất, tươi thì có thể giúp người ta thành tiên, khô thì có thể dùng để điểm kim, bảy cọng là được một vạn lượng vàng". Rồi lập tức sai tiểu đồng chỉ cách cho Bành, Bành lại lạy tạ. Hoàn hầu nói "Ngày mai xin ra chợ tới chỗ bán ngựa tùy ý lựa lấy một con, không cần phải trả giá đưa tiền, ta sẽ tính cho". Lại nói với mọi người rằng “Ông khách ở xa, lúc trở về nên giúp đỡ ít nhiều tiền đi đường", mọi người vâng dạ, cạn chén rồi cáo biệt.
Trên đường Bành hỏi họ tên thì người ngồi cùng bàn với mình tên Lưu Tử Vựng, cùng đi hai ba dặm, qua rặng núi thì thấy thôn xóm, mọi người cùng đưa Bành về nhà Lưu rồi kể cho nghe chuyện lạ. Vốn là trong làng hàng năm có tế Hoàn hầu trong miếu, giết bò múa hát để cúng đã thành lệ. Lưu là người chủ tế, vừa cúng xong ba hôm trước, trưa nay chợt có người tới từng nhà mời mọi người vào núi, hỏi ai mời thì đều trả lời qua quít nhưng hối thúc rất gấp. Qua khỏi rặng núi thấy lầu gác, mọi người nhìn nhau kinh ngạc, sắp tới cổng người kia mới nói thật, mọi người cũng không ai dám từ chối lui về. Người đi mời nói "Xin cứ họp lại ở đây chờ ta đi mời một người khách xa", tức là Bành vậy. Bành nghe kể rất lấy làm lạ lùng. Trong bọn có người bị Hoàn hầu nắm tay đau quá sợ gãy xương, cởi áo thắp đèn lên nhìn thì thấy da thịt bầm tím, Bành nhìn lại mình cũng thấy thế. Mọi người ra về, Lưu liền mang chăn chiếu ra ngủ chung với Bành.
Sáng hôm sau trong làng tranh nhau mời cơm, lại theo Bành vào chợ tìm ngựa, hơn mười ngày chọn qua mấy mươi con mà không có ngựa hay, Bành cũng quyết ý tìm bằng được. Hôm sau lại vào chợ, thấy có một con dáng vẻ rất khỏe mạnh, cưỡi thử thấy đúng là tuấn mã bèn trở vào làng đợi người bán nhưng trở lại thì đã bỏ đi mất. Bành bèn từ biệt người làng trở về, mọi người đều mang tiền tới tiễn tặng, ngựa đi một ngày được gần năm trăm dặm, Bành về tới nhà kể lại chuyện, mọi người đều không tin, đến khi Bành lấy những sản vật ở đất Thục (vùng Tứ Xuyên) ra cho xem mới cùng ngạc nhiên kinh sợ. Mớ cỏ lâu ngày khô dần, còn được bảy cọng, Bành theo cách đã được chỉ dẫn làm phép điểm kim, trong nhà vụt giàu hẳn lên. Bèn tìm tới nơi ấy vào miếu Hoàn hầu cúng tế tạ ơn, chơi với người làng ba ngày rồi về.
Dị Sử thị nói: Xem Hoàn hầu mời khách mới tin rằng việc thần Vũ Di mời khách ở Mạn Đình* là có thật. Nhưng chủ nhân kính khách, tỏ tình thân ái mà khiến người ta như bị gãy tay thì có thể biết năm xưa khỏe mạnh tới mức nào.
Ngô Mộc Hân kể có Lý sinh môi không che kín miệng, răng vẩu chìa ra ngoài cả đốt ngón tay. Một hôm tới dự tiệc ở nhà nọ, có hai người khách nhường nhau chỗ trên chỗ dưới đến khổ, một người cứ ra sức đẩy lên, một người cứ hết sức trằn lại, dùng sức mạnh quá vung khuỷu tay ra, đúng lúc Lý đứng phía sau bị khuỷu tay thúc trúng miệng rơi luôn hai chiếc răng cửa, máu tuôn như suối. Mọi người ngạc nhiên, hai người kia mới thôi không tranh cãi nữa. Chuyện ấy cũng buồn cười như chuyện Hoàn hầu nắm tay làm khách muốn gãy xương vậy.

*Việc thần Vũ Di mời khách ở Mạn Đình: Chư tiên ký chép năm Thủy Hoàng thứ 2 thần núi Vũ Di là Vũ Di quân mời dân làng tới ăn tiệc vào ngày rằm tháng tám trên đỉnh núi, kết lán giăng màn rực rỡ, người ta nhân thế gọi đất ấy là Mạn Đình.

0
223. Phấn Điệp (Phấn Điệp)

Dương Viết Đán là học trò đất Quỳnh Châu (tỉnh Quảng Đông). Tình cờ qua quận khác về nhà, đi thuyền qua biển gặp bão, thuyền sắp đắm, chợt có chiếc thuyền không giạt tới vội nhảy qua, nhìn lại thì những người cùng thuyền đều đã chìm cả. Bão càng mạnh, sinh đành nhắm mắt phó mặc cho gió thổi, không bao lâu trời lặng, mở mắt ra nhìn chợt thấy một hòn đảo nhà cửa san sát, liền chèo vào bờ, đi thẳng tới cổng làng. Thấy trong làng yên ắng, ngồi đó hồi lâu mà không nghe một tiếng gà kêu chó sủa. Thấy có một cánh cổng quay về hướng bắc, tùng trúc hun hút, lúc ấy đang đầu mùa đông, thấy trong tường có gốc cây không biết tên gì mà hoa nở dày đặc, trong lòng thích lắm, lân la lần vào.
Chợt nghe tiếng đàn cầm văng vẳng bèn dừng bước, có người tỳ nữ từ trong bước ra, khoảng mười bốn mười lăm tuổi, phong tư tiêu sái, dung mạo xinh đẹp, vừa thấy Dương vội quay ngay vào. Kế nghe tiếng đàn ngừng lại, kế có một thiếu niên bước ra ngạc nhiên hỏi khách từ đâu tới, Dương kể lại sự tình. Thiếu niên lại hỏi họ tên quê quán, Dương cũng đáp rõ, thiếu niên mừng rỡ nói “Hóa ra là họ hàng bên vợ ta", liền vái chào mời vào, thấy nhà trần thiết rất tinh khiết đẹp đẽ, lại nghe tiếng đàn, vào tới trong phòng thấy một thiếu phụ ngồi trên cao gảy đàn, tuổi khoảng mười tám mười chín, phong tư lộng lẫy, thấy khách vào buông đàn định đi. Thiếu niên ngăn lại nói "Đừng đi, đây là họ hàng bên nàng đấy!”, rồi kể lại lời sinh. Thiếu phụ nói "Thì ra là cháu ta!", kế hỏi bà nội có khỏe không, cha mẹ bao nhiêu tuổi rồi. Dương đáp “Cha mẹ cháu đều hơn bốn mươi, vẫn còn khỏe mạnh, bà nội thì đã sáu mươi, bệnh nặng đã lâu, đi đâu cũng phải có người dìu. Cháu thật không biết cô là thế nào trong gia đình, xin cho biết rõ để về kể lại". Thiếu phụ nói “Đường xa diệu vợi, không được tin tức lâu rồi, về cứ nói vơi cha là cô Thập Nương hỏi thăm, cha cháu sẽ biết". Dương hỏi dượng họ gì, thiếu niên đáp "Ta họ Ân tên Hải Dự. Nơi đây có tên là đảo Thần Tiên, cách Quỳnh Châu ba ngàn dặm, ta tới ngụ ở đây cũng chưa lâu lắm".
Thập Nương vào trong sai tỳ nữ làm cơm đãi khách, thấy rau cỏ tươi ngon, cũng không biết tên gọi là gì. Ăn xong dẫn ra ngắm cảnh, thấy đào mận trong vườn vừa có nụ, Dương lấy làm lạ. Ân nói "Ở đây mùa hè không quá nóng, mùa đông không quá lạnh nên lúc nào cũng có hoa nở". Dương mừng nói "Như thế quả là cõi tiên, cháu về sẽ nói với cha mẹ dời nhà tới đây ở với cô dượng", Ân chỉ mỉm cười. Trở vào phòng sách thắp đèn lên, Dương thấy chiếc đàn cầm đặt ngang trên bàn, xin được nghe một khúc. Ân bèn vặn phím so dây, Thập Nương từ trong ra, Ân nói “Lại đây! Lại đây! Nàng gảy cho cháu nó nghe đi". Thập Nương liền ngồi xuống hỏi “Cháu muốn nghe khúc nào?”. Dương đáp “Cháu chưa từng học đàn, nên thật không biết khúc nào cả”. Thập Nương nói “Cháu cứ tùy ý ra đề, ta đều có thể gảy thành điệu”.
Dương cười hỏi “Thế gió biển xô thuyền, có thể gảy thành một khúc được không?". Thập Nương đáp "Được!", rồi búng dây như gảy theo bản đàn có sẵn, tình ý lên xuống theo khúc điệu, Dương ngưng thần lắng nghe, thấy mình như đang trong thuyền, bị gió bảo xô đẩy lôi kéo. Dương khâm phục sợ hãi, hỏi có học được không, Thập Nương đưa đàn sai gảy thử rồi nói "Có thể dạy được, vậy cháu muốn học gì?”, Dương nói "Bản Gió bão cô vừa gảy không biết học mấy ngày thì xong? Xin cho chép lại để học thuộc trước". Thập Nương nói "Bản đàn ấy không có văn tự, ta chỉ lấy ý mà phổ thành khúc điệu thôi". Rồi lấy ra một chiếc đàn khác, chỉ các thế tay bấm phím búng dây bảo Dương tập theo. Dương tập đến hơn canh một thì âm thanh tiết tấu đã hơi thành khúc điệu, vợ chồng Thập Nương mới đi nghỉ.
Dương ngưng thần chăm chú một mình tập gảy trước đèn, hồi lâu chợt hiểu thấu chỗ ảo diệu, bất giác vùng dậy múa may. Chợt ngẩng lên thấy người tỳ nữ đang đứng trước đèn, giật mình hỏi “Nàng vẫn chưa đi nghỉ sao?", nàng cười đáp "Cô Mười sai chờ chàng đi nghỉ rồi thì đóng cửa tắt đèn". Nhìn kỹ thấy nàng mắt tựa hồ thu, thần thái say người, Dương động lòng khẽ khêu gợi, nàng chỉ cúi đầu mỉm cười. Dương càng say mê, đứng vụt dậy ôm chầm lấy, nàng ngăn lại nói "Đừng làm thế. Đã qua canh tư chủ nhân sắp dậy rồi. Nếu có lòng với nhau, đêm mai cũng chưa muộn". Đang lúc ôm ấp nhau chợt nghe Ân gọi Phấn Điệp, nàng biến sắc nói “Chết rồi” rồi vội vàng chạy đi. Dương lén vào nghe ngóng, thấy Ân nói "Ta đã nói đứa tỳ nữ này chưa dứt lòng trần, mà mình cứ nhất định thu nhận, nay thì sao nào? Phải đánh nó ba trăm roi”. Thập Nương nói “Cái ý ấy đã nảy sinh thì không thể dùng được nữa, chẳng bằng cho luôn thằng cháu ta cho xong". Dương vô cùng thẹn thùng sợ sệt, trở lại phòng tắt đèn đi ngủ.
Sáng ra có đứa tiểu đồng mang nước rửa mặt tới chứ không thấy Phấn Điệp đâu, trong lòng nơm nớp lo bị quở trách. Lát sau Ân và Thập Nương cùng tới, thái độ bình thường như không có chuyện gì, chỉ khảo khúc đàn mới tập. Dương gảy lại một lượt, Thập Nương nói "Tuy chưa đạt tới chỗ thần diệu nhưng mười phần đã được chín, cố tập cho thành thục thì hay". Dương lại xin dạy khúc khác, Ân dạy cho khúc Thiên nữ trích giáng, thủ thức mới lạ khó khăn, tập mất ba ngày mới gảy rõ tiếng. Ân nói “Những cái khó thế là đã học qua hết.  từ nay về sau chỉ cần tập cho thành thực thôi. Nếu thuộc được hai khúc này thì trong nghề đàn không còn khúc nào là khó nữa”. Dương nhớ nhà quá, nói với Thập Nương "Cháu ở đây được cô chăm sóc dạy dỗ rất vui, nhưng vẫn canh cánh nhớ nhà, có điều đường xa ba ngàn dặm không biết ngày nào mới về tới được". Thập Nương nói “Chuyện đó không khó. Thuyền cũ còn đó, chỉ cần giúp cháu một cơn gió đưa buồm về. Cháu không có gia thất, ta đã cho Phấn Điệp rồi". Rồi lấy chiếc đàn tặng cho, lại trao cho thuốc, dặn "Về đưa bà nội uống, không những khỏi bệnh mà còn kéo dài được tuổi thọ”. Kế tiễn Dương ra bờ biển lên thuyền, Dương tìm mái chèo, Thập Nương nói “Không cần đâu!”, rồi cởi xiêm làm buồm, căng lên cho Dương. Dương lo lạc đường, Thập Nương nói "Đừng lo, cứ để cánh buồm đưa đi". Căng buồm xong, đẩy thuyền ra, Dương buồn rầu đang định bái biệt thì gió nam thổi mạnh, thuyền đã ra xa bờ rồi.
Nhìn lại thuyền thấy đã sẵn lương khô nhưng chỉ đủ ăn một ngày, thầm oán trách cô bủn xỉn, đói bụng mà không dám ăn nhiều, chỉ sợ mau hết. Nhưng cắn một cái bánh thì thấy vừa ngọt vừa thơm, còn sáu bảy cái cẩn thận cất lại thì cũng không thấy đói nữa. Chợt thấy mặt trời sắp lặn, đang hối là lúc lên đường không hỏi lấy đèn đuốc thì trong chớp mắt đã thấy khói cơm chiều xa xa, nhìn kỹ lại thì đã tới Quỳnh Châu. Dương mừng quá chèo vào bờ, tháo tấm xiêm làm buồm, ôm bọc bánh về nhà. Vào tới cổng, cả nhà vừa kinh ngạc vừa mừng rỡ, té ra đã xa nhà mười sáu năm, lúc ấy Dương mới biết mình đã gặp tiên. Vào thăm bà nội thấy già yếu bệnh tật hơn trước, bèn lấy ra đưa bà uống, chứng bệnh lâu ngày lập tức tiêu tan. Mọi người đều lạ lùng, Dương kể lại chuyện mình đã gặp, bà nội rơi nước mắt nói "Đó là cô ruột cháu đấy!".
Xưa bà có người con gái út tên Thập Nương, vừa sinh ra đã có phong tư thần tiên, hứa gả cho họ Ân nhưng con rể năm mười tuổi vào núi không trở về. Thập Nương chờ đến năm hơn hai mươi tuổi thì chợt không bệnh mà chết, chôn cất đã hơn ba mươi năm. Mọi người nghe Dương kể chuyện xong đều ngờ là Thập Nương chưa chết. Dương đưa tấm xiêm ra thì đúng là vật trước đây cô vẫn mặc ở nhà. Dương chia bánh cho mọi người, chỉ ăn một cái thôi thì cả ngày không thấy đói, mà tinh thần còn phấn chấn hẳn lên. Bà nội sai đào mộ Thập Nương lên xem thì chỉ có chiếc quan tài không. Trước kia Dương đã dạm hỏi cô gái họ Ngô mà chưa cưới, nhưng mấy năm không về nàng ấy đã lấy người khác. Lúc ấy Dương mới tin lời Thập Nương, chờ Phấn Điệp tới nhưng hơn một năm mà vẫn tuyệt vô âm tín, mới bàn tìm cưới người khác. Tú tài họ Tiền ở huyện Lâm có con gái tên Hà Sinh xinh đẹp nổi tiếng xa gần, mười sáu tuổi chưa lấy chồng vì ba người vừa dạm hỏi chưa cưới đã chết. Dương bèn nhờ mai mối định hôn, chọn ngày tốt cưới về. Nàng vào cổng rồi, thấy xinh đẹp tuyệt thế, nhìn kỹ thì là Phấn Điệp. Dương kinh ngạc hỏi chuyện cũ, nàng quên sạch không biết gì cả, thì ra khi bị đuổi cũng là lúc nàng đầu thai xuống trần. Cứ những lúc Dương đàn khúc Thiên nữ trích giáng cho nghe thì nàng liền chống má trầm tư như có chỗ hiểu được vậy.

0
224. Cẩm Sắt (Cẩm Sắt)

Vương sinh ở huyện Nghi Thủy (tỉnh Sơn Đông) mồ côi từ nhỏ, nhà nghèo nhưng phong tư đẹp đẽ, quần áo tươm tất hơn người. Có nhà giàu họ Lan gặp Vương thích lắm, gả con gái cho, hứa sẽ xây nhà mua ruộng cho làm sản nghíệp. Cưới không bao lâu thì ông Lan chết, anh em vợ đều khinh thường sinh, vợ thì càng lên mặt, coi chồng như đầy tớ. Thường một mình ăn uống ngon lành, sinh tới thì đem cơm hẩm rau già, đũa tre chén đất bày ra trước mặt, nhưng sinh đều nhịn nhục. Năm mười chín tuổi sinh đi thi khoa Đồng tử bị đánh rớt, từ quận về nhà gặp lúc vợ không có trong phòng, thấy trong nồi có miếng thăn dê ninh chín múc định ăn, vợ bước vào không nói câu nào, bưng luôn nồi thịt cất đi. Sinh xấu hổ quá vứt đũa xuống đất nói "Thế này thì thà chết còn hơn”. Vợ tức tối hỏi chừng nào chết, rồi đưa cho sợi dây nói cầm lấy mà treo cổ. Sinh uất ức, đập tô canh vỡ trán vợ, căm hờn bỏ ra, tự nghĩ đúng là thà chết còn hơn bèn đem theo dây lưng vào chỗ khe sâu trong núi.
Tới dưới một gốc cây lớn, đang chọn cành thắt thòng lọng chợt thấy trên gò đất thấp thoáng bóng xiêm đàn bà. Chớp mắt có một người tỳ nữ bước ra, nhìn thấy sinh vội quay ngay lại như cái bóng mất hút, trên vách đất cũng không có dấu vết gì. Sinh biết là yêu quái nhưng đang muốn chết nên không hề sợ hãi, bèn bỏ sợi dây đấy ngồi rình xem. Giây lát lại có ra nửa khuôn mặt lộ ra, vừa thoáng thấy đã rút trở vào, sinh nghĩ là ma quỷ, theo nó ắt tìm được cái chết sung sướng, liền vớ hòn đá đập vào vách đất, kêu “Ai dưới đất đấy, chỉ đường cho với, ta không cần vui mà muốn chết thôi". Hồi lâu không nghe thấy gì, sinh lại kêu nữa thì nghe bên trong đáp "Người muốn chết xin cứ tạm lui, tối hãy tới!", âm thanh trong trẻo rõ ràng nhưng nhỏ như tiếng muỗi vo ve. Sinh nói “Vâng” rồi ngồi chờ tối.
Không bao lâu, sao mọc đầy trời, vách núi chợt biến thành tòa phủ đệ to lớn, hai cánh cổng khẽ mở ra, sinh theo bậc thềm bước vào. Vừa được vài bước thấy có dòng nước chảy ngang, khói bốc nghi ngút như suối nước nóng, nhúng tay xem thử thấy nóng như sôi, cũng không biết sâu bao nhiêu. Sinh ngờ đây là chỗ chết mà quỷ thần chỉ cho, liền nhảy ào xuống, nước nóng thấm qua mấy lần áo, da thịt rát bỏng nhưng may mà cứ nổi không chìm, ngoi ngóp một hồi thì quen dần với cái nóng, cố vùng vẫy mới lên được bờ bên kia, toàn thân cũng may không rộp lên. Lại đi tiếp, nhìn thấy dưới mái nhà xa xa có ánh đèn, rảo bước tới thì có con chó dữ xồ ra cắn áo xé vớ. Sinh nhặt đá ném, con chó hơi lùi, nhưng cả bầy chó lại đổ ra sủa ầm lên, con nào cũng to bằng con nghé.
Đang lúc nguy cấp thì người tỳ nữ bước ra quát đuổi lũ chó rồi nói "Anh chàng muốn chết tới đó phải không? Nương tử nhà ta thương chàng khốn đốn, sai thiếp đưa chàng tới “ổ yên vui", từ đây không còn tai họa gì nữa". Rồi khêu đèn dẫn đường, mở cổng sau im lặng đi, tới một căn nhà thì giơ đèn lên soi vào cửa sổ nói “Chàng cứ vào nhé, thiếp đi đây!”. Sinh vào nhìn quanh thì ra đã trở lại nhà mình, quay ngay ra thì gặp bà già vẫn hầu hạ vợ, bà ta nói “Cả ngày tìm kiếm, lại còn đi đâu?", rồi kéo sinh trở vào. Vợ buộc khăn chỗ bị thương xuống giường ra đón, cười nói "Làm vợ chồng hơn năm, đùa giỡn mà không biết sao, thiếp biết lỗi rồi. Chàng bị trêu chơi mà thiếp bị thương thật, thôi cũng đủ hả giận rồi mà”, rồi lấy ở đầu giường ra hai nén vàng lớn đặt vào lòng sinh nói "Từ nay về sau cái ăn cái mặc xin theo ý chàng, vậy được chưa?". Sinh không đáp, ném vàng lại xô cửa bỏ đi, định vào khe núi tới gõ cửa tòa phủ đệ.
Ra tới ngoài đồng thì thấy người tỳ nữ đi chậm rãi, ánh đèn vẫn còn thấp thoáng xa xa. Sinh vội chạy theo gọi, ánh đèn bèn dừng lại, chạy tới thì người tỳ nữ nói "Chàng lại tới đây thì thật phụ nỗi khổ tâm của nương tử". Sinh đáp “Ta muốn chết chứ không nhờ nàng giúp cho sống lại. Nương tử nhà cao cửa rộng, dưới đất chắc cũng cần người, ta xin theo phục dịch, chứ thật tình không còn thấy sống là vui nữa". Người tỳ nữ nói “Chết vui cũng không bằng sống khổ, sao chàng nghĩ trái như vậy. Nhà bọn ta không có việc gì khác, chỉ có đào sông hốt phân, nuôi chó chôn xác, mà làm sai thì bị khoét mũi cắt tai, chặt chân cắt gót, chàng làm được không?”, sinh đáp "Làm được!". Kế lại vào qua cổng sau, sinh hỏi "Ta phải làm việc gì? Nàng vừa nói chôn xác, ở đâu mà có nhiều người chết như thế?”. Người tỳ nữ đáp "Nương tử từ bi, lập ra vườn Cấp Cô*, gom nuôi các hồn ma chết bất đắc kỳ tử không nhà dưới âm ty, kể có hàng ngàn, ngày nào có người chết là phải đi chôn xác, xin mời xem qua một lần”.
*vườn Cấp Cô: Kinh Kim cương chép nước Xá Vệ có một trưởng giả tên Tu Đạt Noa thường bố thí cho kẻ nghèo khổ bệnh tật cô độc, về sau xây vườn mời đức Phật thuyết pháp, người ta gọi là vườn Cấp Cô. Đây chỉ nơi trường sở làm việc từ thiện.
Giây lát tới một cánh cổng đề chữ "Cấp Cô viên”, vào trong thấy nhà cửa ngang dọc chen lẫn, mùi hôi thối xông lên nồng nặc. Ma quỷ trong vườn thấy đèn xúm cả lại, đều đứt đầu cụt chân trông rất thê thảm. Quay ra định đi thì thấy có cái xác nằm ngang dưới tường, máu thịt bê bết, người tỳ nữ nói "Mới nửa ngày chưa kịp chôn mà đã bị chó xé nát rồi", rồi sai sinh chuyển đi. Sinh có vẻ ngần ngại, nàng nói "Nếu chàng không làm được thì xin mời cứ về chỗ yên vui vậy!". Sinh bất đắc dĩ phải vác xác đưa vào chỗ kín, rồi nhờ người tỳ nữ cố xin cho mình may ra khỏi phải làm công việc nhơ bẩn ấy, nàng bằng lòng. Đi tới gần một căn nhà, nàng nói "Cứ ngồi tạm ở đây để thiếp vào thưa, việc nuôi chó thì nhẹ nhàng hơn, có thể xin cho để chuộc lỗi vừa rồi".
Vào trong giây lát thì đi nhanh ra nói "Vào đây vào đây nương tử ra đấy!". Sinh theo vào sảnh đường, thấy đèn lồng treo khắp bốn bên, có một cô gái ngồi gần phía trong cùng, khoảng hai mươi tuổi, phong thái như thiên tiên. Sinh lạy rạp dưới thềm, nàng lập tức sai kéo đứng lên, nói "Đây là một người học trò, làm sao nuôi chó nổi, có thể cho ở nhà phía tây trông coi sổ sách". Sinh mừng rỡ lạy tạ, cô gái nói "Người có vẻ thành thật chất phác, hãy làm việc cẩn thận. Nếu có sai phạm thì tội không nhẹ đâu, sinh líu ríu vâng dạ. Người tỳ nữ dẫn sang nhà phía tây, sinh thấy phòng ốc sạch sẽ mừng rỡ tạ ơn rồi hỏi thăm gia thế nương tử. Người tỳ nữ đáp "Nương tử tiểu tự là Cẩm Sắt, con gái Tiết hầu ở Đông Hải. Thiếp tên Xuân Yến, hàng ngày có cần gì, xin cứ gọi".
Người tỳ nữ ra đem áo giày chăn nệm vào đặt lên giường, sinh mừng vì được chỗ yên thân. Sáng ra sinh dậy sớm ra làm việc, ghi chép danh sách ma quỷ. Tôi tớ trong nhà đều tới yết kiến, biếu rượu thịt rất nhiều nhưng sinh giữ ý đều từ chối, ngày hai bữa cơm đều từ nhà trong đưa ra. Nương tử xét thấy liêm khiết cẩn thận nên đặc cách ban cho mũ nhà nho và áo màu, phàm có ban thưởng gì đều sai Xuân Yến đem tới. Người tỳ nữ cũng rất phong vận, khi đã quen rồi thì nhiều phen liếc mắt đưa tình, nhưng sinh cẩn thận giữ mình không dám sơ suất, chỉ giả làm ra vẻ ngốc nghếch. Qua hơn hai năm tiền thưởng đã tăng gấp bội mà sinh vẫn cẩn thận chăm chỉ như cũ.
Một đêm đang ngủ, chợt nghe nhà trong có tiếng la thét ầm ĩ, vội vùng dậy cầm đao ra thì thấy lửa đỏ rục trời, lần vào xem thì bọn cướp lố nhố đầy sân, đám tôi tớ sợ hãi chạy trốn. Một người giục cùng chạy trốn, sinh không nghe mà bôi đen mặt, thắt dây lưng chen vào đám cướp kêu to "Đừng làm Tiết nương tử sợ hãi, nhưng phải chia nhau tìm của cải đừng để sót?". Lúc ấy bọn cướp đang tìm kiếm Cẩm Sắt khắp các phòng mà chưa thấy, sinh biết nàng chưa bị bắt liền lén ra sau nhà tìm kiếm, gặp một bà già núp ở đó, mới biết nàng và Xuân Yến đã leo qua tường ra ngoài. Sinh cũng leo qua tường ra, thấy hai chủ tớ núp trong góc tối, liền nói “Chỗ này làm sao núp được?", cô gái đáp "Ta không sao đi được nữa”, Vương liền bỏ đao cõng nàng, chạy khoảng hai ba dặm, mồ hôi nhễ nhại mới vào tới một hang núi sâu, đặt nàng xuống cho ngồi.
Chợt có một con cọp tới, sinh cả kinh định xông ra chặn thì nó đã ngoạm lấy cô gái. Sinh vội túm chặt tai cọp, hết sức đẩy cánh tay vào miệng nó để thay cho Cẩm Sắt. Con cọp tức giận nhả cô gái ra ngoạm vào tay sinh nghe răng rắc, cánh tay lìa ra rơi xuống đất, con cọp cũng bỏ đi. Cô gái khóc nói “Khổ thân người, khổ thân ngươi!". Sinh đang hăng chưa biết đau, chỉ thấy máu chảy như suối bèn bảo người tỳ nữ xé vạt áo băng bó vết thương. Cô gái ngăn lại, cúi xuống nhặt cánh tay gãy rồi đích thân nối vào cho sinh, buộc chặt lại. Hừng sáng mới từ từ trở về, vào tới nhà thấy vắng tanh, trời sáng hẳn đám tôi tớ mới dần dần tụ tập lại. Cô gái đích thân tới thăm vết thương cho sinh, cởi vải buộc ra thì chỗ xương gãy đã liền lại, lại lấy thuốc ra rịt vào vết thương mới đi.
Từ đó nàng càng quý trọng sinh, đồ ăn thức dùng đều cho hưởng ngang mình. Khi vết thương lành hẳn, cô gái đặt tiệc ở nhà trong để ủy lạo, bảo ngồi, sinh từ chối mấy lần mới ngồi ghé vào một góc. Cô gái nâng chén mời trân trọng như đối với khách, hồi lâu mới nói "Thân thiếp đã kề cận chàng, muốn học em gái vua Sở theo Chung Kiến* nhưng hiềm không có ai mai mối, phải mặt dày tự nói ra”. Sinh hoảng sợ nói "Ta chịu ơn nặng, có chết cũng không đủ đền đáp, nếu làm quá phận thì e trời phạt, thật không dám theo lệnh. Nếu thương ta không có vợ thì ban cho một người tỳ nữ cũng đã là quá rồi”.
*Chung Kiến: Tả truyện, Định công tứ niên chép quân Ngô đánh tới Sính Đô nước Sở, vua Sở và gia quyến phải tránh nạn, bề tôi của vua Sở là Chung Kiến ghé vai cõng em gái vua Ngô là Ngũ Thiên chạy. Về sau vua Sở định gả chồng cho em gái, Ngũ Thiên không chịu, nói đã kề cận với Chung Kiến lúc được ông ta cõng, vua Sở bèn gả nàng cho Chung Kiến.
Một hôm, chị lớn cô gái là Dao Đài tới, là một giai nhân khoảng bốn mươi tuổi. Đến tối gọi sinh vào Dao Đài bảo ngồi rồi nói "Ta từ ngàn dặm tới đây để làm chủ hôn cho cô em, đêm nay có thể cho thành hôn với bậc quân tử, Sinh lại đứng lên từ tạ, Dao Đài liền gọi rót rượu bảo hai người đổi chén, sinh cố từ chối, Dao Đài giật chén đổi cho nhau, sinh bèn lạy rạp xuống đất tạ tội rồi mới uống. Dao Đài đi ra, cô gái nói "Nói thật với chàng, thiếp là tiên nữ có tội bị đày, tự xin cư ngụ ở cõi âm gom nuôi các oan hồn để chuộc tội. Vừa rồi gặp nạn Thiên ma nên có cái duyên kề cận thân thể với chàng, phải mời chị lớn từ xa tới làm chủ hôn và coi sóc việc nhà giùm để tiện theo chàng về trần". Sinh đứng dậy cung nói "Dưới đất vui lắm, chứ nhà ta có con vợ dữ, vả lại nhà cửa chật chội, không sao bàn cách vẹn tròn để sống với nhau”. Cô gái cười, chỉ nói không sao. Kế uống say cùng đi ngủ, vui vẻ yêu thương nhau rất mực.
Qua vài hôm nàng nói với sinh “Cõi âm không thể chung sống lâu dài, xin chàng về ngay thu xếp việc nhà, xong rồi thiếp sẽ tự tới”. Rồi sai đem ngựa cho sinh, mở cửa bảo ra, vách núi đất lại liền như cũ. Sinh cưỡi ngựa về làng, người làng đều khiếp hãi, về tới cổng thì thấy nhà cao cửa rộng. Trước là khi sinh bỏ đi, vợ mời hai anh tới chuẩn bị roi gậy để đánh cho một trận trả thù, đến tối không thấy sinh về họ mới bỏ đi. Có người nhặt được chiếc giày của sinh trong khe nên ngờ rằng sinh đã chết, kế hơn năm vẫn không có tin tức gì. Có người lái buôn Mỗ ở Thiểm Tây hỏi cưới Lan thị, bèn tới ở luôn nhà sinh, trong vòng nửa năm xây cất thành tòa ngang dãy dọc. Người lái buôn đi xa buôn bán, lại mua một người thiếp về, từ đó trong nhà lục đục, y có khi cũng hàng mấy tháng không về. Sinh hỏi biết chuyện nổi giận, buộc ngựa bước vào thì gặp bà già hầu hạ vợ ngày trước. Bà già hoảng sợ lạy phục xuống đất, sinh mắng chửi hồi lâu, bắt dẫn tới phòng vợ tìm thì đã trốn đâu mất, kế tìm thấy ở sau nhà thì đã thắt cổ chết rồi. Sinh sai khiêng xác trả cho nhà họ Lan rồi cho gọi người thiếp của người lái buôn ra, thấy tuổi khoảng mười tám mười chín, cũng khá xinh đẹp bèn giữ lại trong phòng ngủ.
Người lái buôn nhờ người làng bắn tiếng xin trả lại người thiếp, nhưng nàng kêu khóc không chịu đi. Sinh bèn làm đơn định kiện y về tội chiếm nhà cướp vợ, người lái buôn không dám nói gì nữa, dọn hàng quay về Thiểm Tây. Sinh đang ngờ Cẩm Sắt phụ ước, một tối đang uống rượu với người thiếp thì có xe ngựa tới cổng, cô gái bước vào, chỉ giữ lại xuân Yến còn cho tất cả tùy tùng trở về. Vào tới phòng, người thiếp ra lạy chào, nàng nói "Người này có tướng sinh con trai, có thể chịu khổ thay thiếp", rồi lập tức ban cho quần áo nữ trang. Người thiếp lạy tạ nhận lấy rồi đứng hầu, nàng kéo ngồi xuống cùng chuyện trò rất vui vẻ, hồi lâu nói "Ta say rồi, muốn đi ngủ”. Sinh cũng cởi giày lên giường, người thiếp mới đi ra. Về tới phòng thấy sinh đã nằm trên giường, lấy làm lạ quay lại xem thì đèn trong phòng cô gái đã tắt. Sinh đêm nào cũng ngủ ở phòng người thiếp, nhưng một đêm người thiếp trở dậy tới nhìn trộm vào phòng cô gái thì thấy sinh đang chuyện trò nói cười với nàng, lấy làm lạ lùng vội quay về định nói với sinh thì chỉ thấy có giường không. Sáng ra lén kể cho sinh, sinh cũng không tự biết, chỉ thấy mình lúc thì trong phòng cô gái, lúc thì ngủ phòng người thiếp mà thôi, bèn dặn giấu kín chuyện lạ ấy.
Lâu sau Xuân Yến có mang, cô gái vẫn như không biết gì, khi người tỳ nữ lâm bồn sinh khó bèn gọi nương tử, nàng bước vào thì sinh được ngay, là con trai. Nàng cắt rốn xong đặt vào lòng người tỳ nữ rồi cười nói "Con nhãi đừng thế nữa nhé, nhiều nghiệp chướng thì lắm tai nạn thôi?", từ đó Xuân Yến không sinh đẻ nữa. Người thiếp thì sinh được năm trai hai gái. Ở đó ba mươi năm, thỉnh thoảng cô gái lại trở về nhà, đi về đều vào lúc ban dêm. Một hôm nàng dắt người tỳ nữ đi không trở lại nữa. Sinh sống đến tám mươi tuổi, chợt một đêm dắt người lão bộc ra đi, cũng không trở về.

0
227. Thư Sinh Ngông (Cuồng Sinh)

Học sứ họ Lưu kể ở châu Tế Ninh (tỉnh Sơn Đông) có thư sinh ngông, tính hay rượu. Nhà không có được hai thạch gạo, nhưng kiếm được tiền là mua rượu, không hề lo lắng tới chuyện cùng quẫn. Gặp lúc có quan Thứ sử mới đáo nhiệm, tửu lượng cao chưa gặp ai uống bằng, nghe tiếng sinh bèn mời tới cùng uống rượu, thích lắm, thường uống với nhau. Sinh cậy quen biết, nên cứ có ai kiện tụng chuyện nhỏ muốn được kiện biếu xén món tiền còm lại nói hộ, Thứ sử đều ưng thuận. Sinh quen lệ cứ thế làm mãi, Thứ sử đâm ghét. Một hôm, Thứ sử vừa ra công đường buổi sáng, sinh cầm thiếp bước lên trình. Thứ sử nhìn xong cười khẩy, sinh lớn tiếng nói “Ông thấy được thì cho, không được thì thôi, chứ cười cái gì? Vẫn nghe kẻ sĩ có thể giết chết chứ không thể làm nhục, chuyện khác thì không thể báo hờn, chứ chẳng lẽ một cái cùm lại không báo được à?". Nói xong cười lớn một tràng vang dội cả công đường. Thứ sử nổi giận nói "Ngươi dám vô lễ à? Không nghe tiếng quan Lệnh doãn làm tan nát nhà cửa sao?” Sinh phẩy tay áo bước xuống thềm, lớn tiếng đáp "Thằng học trò này không có nhà cửa gì để tan nát cả” Thứ sử càng tức giận, sai bắt trói lại. Rồi hỏi tới nhà cửa, thì sinh chẳng có nhà đất gì, chỉ dắt vợ tới ở trên tường thành. Thứ sử nghe thế bèn thả ra, nhưng ra lệnh đuổi không cho ở trên tường thành nữa. Bè bạn thương vì ngông, góp tiền mua cho vài thước đất, xây cho một cái lều trong thành. Sinh vào ở, than rằng “Từ nay trở đi thì phải sợ quan Lệnh doãn rồi!".
Dị Sử thị nói: Kẻ sĩ quân tử theo pháp luật, giữ lễ nghi, không dám ăn cướp giữa chợ, thì dẫu là nhà vua đi chăng nữa cũng làm gì được mình? Nhưng nếu có kẻ thù oán mà ngày càng ghét thêm, thì đó là vì mình có nhà cửa mà thôi. Còn nếu như chẳng có nhà cửa gì để tan nát, thì kẻ căm ghét tới đâu cũng không có chỗ nào để hại cả. Ôi, người kia chắc như lời người ta nói, là cậy nghèo hèn để khinh người chăng! Song chỉ có bậc quân tử mới có thể tuy nghèo nhưng không khinh suất mà xúc phạm người, thế mà y vì miếng ăn để lụy thân, hò hét ở công đường, cũng mất phẩm giá lắm. Có điều ngông như thế thì không ai bằng được thật.

228. Tôn Tất Chấn (Tôn Tất Chấn)

Tôn Tất Chấn qua sông, gặp lúc mưa to gió lớn, thuyền bè nghiêng ngã, người trong thuyền sợ lắm. Chợt thấy một vị thần mặc giáp vàng đứng trong mây cầm một cái bài vàng đưa xuống cho nhìn. Mọi người cùng ngẩng lên xem, thấy ở trên đề ba chữ “Tôn Tất Chấn” rất rõ ràng. Mọi người nói với Tôn Tất Chấn rằng "Ngươi đã phạm tội bị trời phạt, xin mời qua một thuyền riêng, đừng làm lụy cho cả bọn ta". Tôn còn chưa kịp nói gì, họ cũng không đợi là có ưng thuận hay không, thấy cạnh thuyền có chiếc xuồng con, liền xúm vào đẩy Tôn qua đó. Tôn vừa ngồi yên xong, quay nhìn thì chiếc thuyền lớn đã chìm rồi.

229. Trương Bất Lượng (Trương Bất Lượng)

Nhà buôn nọ đi tới ranh giới tỉnh Trục Lệ chợt gặp mưa đá, bèn núp vào đám lúa. Nghe trên không có tiếng nói "Đây là ruộng của Trương Bất Lượng, đừng làm hại lúa của y". Nhà buôn nghĩ thầm không biết họ Trương là ai, mà "bất lương” tại sao còn được trời che chở. Trời tạnh bèn vào thôn hỏi thăm, quả có người tên như thế, liền thuật lại điều mình nghe, lại hỏi cái tên "Bất Lượng" có nghĩa là gì. Thì ra họ Trương giàu có, thóc lúa rất nhiều, cứ đến mùa xuân lại có nhiều người nghèo túng tới vay, lúc trả thường không đủ số, nhưng Trương vẫn nhận cả không hề đong lường tính toán chi ly nên người làng gọi là “Bất Lượng" (không đong). Mọi người ùa ra đồng xem, thấy lúa khắp nơi xơ xác, chỉ riêng ruộng của họ Trương là không tổn hại gì.

Phụ: Một Truyện Trong Khoáng Viên Tạp Chí Của Ngô Bảo Nhai (Trần Diệm)
(Phụ: Ngô Bảo Nhai Trần Diệm Khoáng Viên tạp chí nhất tắc)
 

Sư Tế Thủy ở Hoa Ổ kể vào năm Thuận Trị thứ 18 (1661) có một người ăn mày ở phủ Thanh Châu (tỉnh Sơn Đông) là thần vâng sắc lệnh làm mưa đá. Có người tránh mưa đá nghe trên không có tiếng nói "Đừng làm tổn hại ruộng của Trương Bất Lượng". Tạnh mưa thì ruộng các nơi đều tan tác, chỉ riêng ruộng của Trương là không tổn hại gì. Thì ra họ Trương nhận thóc người khác trả nợ, bảo cứ tự đem đổ vào vựa, không hề đong lại, nên người ta ca ngợi là "Bất Lượng" (không đong). Chuyện này cũng giống chuyện Tưởng Tự Lượng thời Nam Tống.
Họ Tưởng người đất Hàng (tỉnh Chiết Giang), anh cả tên Sùng Nhân, kế tên Sùng Nghĩa, kế tên Sùng Tín, ba anh em đều nhân đức như nhau. Thường đặt các loại thưng đấu công ở kho, ai tới vay thóc cũng đều bảo tự đong lấy, năm mất mùa cũng thế. Người ta vì thế gọi là Tưởng “Tự Lượng” (tự đong). Năm Hàm Thuần thứ 3 (1267) có chiếu phong ba anh em là Quảng Phúc hầu, nay vẫn còn miếu thờ trên Lam Kiều.

230. Tấm Nệm Hồng Mao (Hồng Mao Chiên)

Nước Hồng Mao trước có hẹn qua buôn bán ở Trung Quốc, chủ tướng ở biên cương thấy họ đông người không cho lên bờ. Người Hồng Mao cố nài, chỉ xin cho được đặt chân lên một khoảnh đất rộng bằng tấm nệm lông thôi. Viên chủ tướng nghĩ một tấm nệm lông thì có được bao nhiêu, bèn cho. Người Hồng Mao đặt tấm nệm lên bờ, thoạt tiên chỉ đủ chỗ cho hai người, kế nở ra đủ chỗ cho bốn năm người, trong chớp mắt tấm nệm nở rộng ra hơn một mẫu đất, đủ chỗ cho mấy trăm người. Họ cùng rút đoản đao ra, nhân lúc bất ngờ cướp phá cả mấy dặm rồi bỏ đi.

231. Quảy Xác Chết (Phụ Thi)

Có người tiều phu ra chợ bán củi, vác đòn gánh trở về, chợt thấy đầu đòn gánh như có vật nặng máng vào, quay nhìn thấy một cái xác chết không đầu treo lủng lẳng, phát hoảng rẫy đòn gánh ra đập túi bụi, chợt không thấy đâu nữa. Y sợ hãi chạy vào một thôn gần đó, lúc ấy trời đã sập tối, thấy có mấy người đốt đuốc soi trên mặt nước như tìm vật gì. Tới gần hỏi thăm thì ra bọn họ đang ngồi chơi, chợt có cái đầu trên không rơi xuống, râu tóc bòm sờm, trong phút chốc thì biến mất. Người tiều phu kể lại việc mình gặp, tính ra thì đủ một xác người, nhưng nghĩ mãi không biết từ đâu tới. Sau cũng có người quảy sọt muối đi trên đường, người ta thấy trong sọt muối có cái đầu người, lấy làm kỳ quái căn vặn. Y quay nhìn mới phát hoảng đổ ụp cái sọt ra đất, cái đầu người lăn tròn rồi biến mất.

232. Cúc Dược Như (Cúc Dược Như)

Cúc Dược Như là người phủ Thanh Châu (tỉnh Sơn Đông), vợ chết, bỏ nhà đi mất. Mấy năm sau ăn mặc như lối đạo sĩ trở về ngủ lại một đêm rồi định đi. Họ hàng họ hàng ép ở lại, giữ riệt lấy quần áo pháp trượng. Cúc nói thác là đi dạo, ra tới ngoài thôn thì áo quần đồ vật từ trong nhà đều phấp phới bay ra, theo Cúc đi mất.

233. Hộ Ăn Cướp (Đạo Hộ)

Trong niên hiệu Thuận Trị (1644-1661) ở vùng Đằng, Dịch (tỉnh Sơn Đông) cứ mười người thì có sáu bảy làm cướp, quan không dám nã bắt. Về sau bọn chúng quy thuận, quan huyện biên tên riêng làm "hộ ăn cướp". Nếu chúng có tranh giành kiện tụng với dân thường, thì lại thiên vị xử cho chúng được, đại khái vì sợ chúng lại nổi dậy. Về sau những kẻ thưa kiện cứ nhận bừa là hộ ăn cướp, còn bên kia thì cứ ra sức cãi là mạo nhận. Bên nguyên bên bị ai cũng nhận mình là phải, còn quan thì chưa xét chuyện phải trái, trước hết cứ xét bên nào là hộ ăn cướp thật đã, thưa lên kiện xuống, đám nha lại lục lọi sổ sách hộ khẩu rất vất vả. Lúc ấy trong công thự có nhiều hồ, quan huyện có con gái bị hồ quấy phá, bèn đem lễ vật đón thuật sĩ tới, dùng bùa phép bắt được hồ bỏ vào vò, đặt lên lò lửa. Hồ ở trong vò kêu to "Ta là hộ ăn cướp đây", ai nghe chuyện cũng bật cười.
Dị Sử thị nói: Nay có kẻ đốt nhà cướp của, quan lại không cho là ăn cướp mà cho là kẻ gian, còn có kẻ trèo tường gian dâm lại không tự nhận là kẻ gian mà nhận là ăn cướp, thì thế sự đã thay đổi nhiều rồi. Giả như nay trong dinh quan có hồ, thì ắt cũng kêu to rằng ta đúng là ăn cướp đây.
Ở huyện Chương Khâu (tỉnh Sơn Đông) từ thuế má dao dịch cho tới các khoản trưng thu thì dân thường phải chịu gấp mấy lần so với nhà thân hào. Cho nên những nhà có ruộng đều tranh nhau tới nhờ nhà thân hào đứng tên, tuy không hại gì tới thuế nước nhưng có chỗ tổn thất cho quan lại. Huyện lệnh Chung xin trừ mối tệ ấy, được quan trên ưng thuận. Lúc đầu sai tự thú, kế những dân gian trá lấy đó làm bậy, ruộng đất bán đi đã vài mươi năm cũng nói là nhờ đứng tên để kiện lại người mua. Huyện lệnh đều thiên vị họ, nên những dân lương thiện hiền lành nhiều người bị mất cơ nghiệp. Có Lý sinh bị Mỗ Giáp kiện, cùng lên đối chất, Giáp gọi Lý là Tú tài, Lý lớn tiếng tranh cãi nói mình không phải là Tú tài, ầm ĩ không ngớt. Huyện lệnh hỏi tả hữu, đều nói là Tú tài thật. Quan hỏi tại sao không nhận, Lý nói "Tú tài thì cao quý, nhưng cứ chờ tranh giành đất đai xong sẽ làm cũng chưa muộn". Ôi, danh hiệu ăn cướp thì tranh nhau mà nhận, danh hiệu Tú tài thì tranh nhau mà chối, chuyện đổi đời mới kỳ lạ làm sao. Có người dâng đơn nặc danh kiện về việc làm trái pháp luật thôn tính tài sản, nói "Tuổi già không thể làm lụng đóng thuế, nên có năm mươi mẫu ruộng gần thành, vào năm Lỗ ân công thứ 1 (722 trước công nguyên) tạm nhờ thân hào gian ác là Nhan Uyên đúng tên. Nay lệnh quan nghiêm khắc, theo lẽ phải tự thú. Nhưng tên thân hào gian ác ấy không chịu trả, tới nói lý lẽ thì bị thầy y dắt đồng đảng bảy mươi hai người mang gậy gộc xúm vào đánh đập túi bụi, gãy cả tay chân, lại lôi vào nhốt trong căn nhà dột, mỗi ngày mang cho một giỏ cơm một bầu nước, suýt nữa thì chết đói, có làng xóm làm chứng. Vậy cúi xin nghiêm khắc tra xét, trả lại điền sản mồ hôi nước mắt cho. Nay tố cáo", quả thật có thể nói là theo Liễu Chích mà kiện Di Tề*.

*Có người dâng đơn. Di Tề: Khổng Tử gia ngữ nói Nhan Uyên, một học trò giỏi của Khổng Tử có năm mươi mẫu ruộng gần thành, Luận ngữ nói Nhan Uyên là người hiền, ở nhà dột, một giỏ cơm một bầu nước vẫn vui với đạo. Lá đơn kiện nói trên là trào phúng để châm chọc, như nói thầy của Nhan Uyên dắt bảy mươi hai đồng đảng ra đánh mình là nhân chuyện “Khổng môn thất thập nhị hiền" mà bịa ra. Chuyện Liễu Chích kiện Di Tề cũng tương tự. Kiên biều tập chép đời Minh Mục tông Hải Đoan làm Tuần phủ Trực Lệ, có ý đè nén các nhà giàu nên phong khí dân gian điêu ngoa gian trá, có người dâng đơn kiện nặc danh tố cáo Liễu Hạ Huệ và Đạo Chích cậy thế cướp ruộng của dân, hai con vua Cô Trúc là Bá Di Thúc Tề cậy thế cha đào mộ của dân bị kiện, đút lót cho cận thần của vua là Lỗ Trọng Liên để ỉm chuyện đi vân vân (Liễu Hạ Huệ là cao sĩ nước Tề thời Chiến quốc, Đạo Chích tương truyền là tên cướp nổi tiếng thời thượng cổ. Bá Di Thúc Tề người cuối thời Thương, lúc Vũ vương nhà Chu đánh vua Trụ nhà ân, hai người đón dường can ngăn không được bèn thề "không ăn thóc nhà Chu, lên núi Thú Dương hái rau vi ăn, cuối cùng chết đói. Lỗ Trọng Liên là ẩn sĩ nước Tề thời Chiến quốc).

0
237. Hải Công Tử (Hải Công Tử)

Đảo cổ Đông Hải (thuộc tỉnh Sơn Đông) có cây hoa nại đông ngũ sắc, thường nở hoa cả bốn mùa, song trong đảo không có ai ở, ít người lui tới. Trương sinh người huyện Đăng Châu (tỉnh Sơn Đông) tính hiếu kỳ, thích du ngoạn, nghe nóí cảnh ở đó đẹp bèn mang rượu thịt, tự chèo thuyền ra đảo chơi. Tới nơi thì gặp lúc hoa đang nở rộ, mùi hương lan khắp mấy dặm, thấy cây nại đông to hơn chục người ôm, cứ qua lại ngắm nghía mãi, lấy làm thích thú. Rồi mở bầu rót rượn, tiếc là không có ai cùng đi chơi. Chợt trong đám hoa có một cô gái đẹp hiện ra, áo hồng mắt sáng, xinh đẹp không ai sánh được, nhìn Trương cười nói "Thiếp tự cho rằng hứng thú của mình không tầm thường, không ngờ đã có kẻ đồng điệu tới trước". Trương ngạc nhiên hỏi là ai, nàng đáp "Thiếp là con hát ở huyện Giao (tỉnh Sơn Đông), vừa theo Hải Công tử tới đây. Ông ta thích cảnh đẹp đi khắp nơi, thiếp mỏi chân nên nghỉ lại ở đây". Trương đang buồn về nỗi quạnh hiu, gặp được người đẹp rất vui, gọi tới cùng ngồi uống rượu.
Cô gái nói năng dịu dàng làm say lòng người, Trương rất yêu thích, nhưng sợ Hải Công tử tới nên không dám mặc tình vui vẻ. Chợt nghe gió thổi ào ào, cây cối gảy răng rắc. Cô gái vội xô sinh dậy nói “Hải Công tử tới rồi”. Trương thắt lại áo kinh ngạc quay nhìn thì cô gái đã biến mất. Kế thấy một con rắn lớn từ đám cây rậm bò ra, to như cái thùng. Trương sợ, núp vào sau cây nại đông, mong là nó không nhìn thấy. Con rắn bò sát tới quấn cả người Trương vào gốc cây, cuốn luôn mấy vòng, hai tay Trương bị đè dưới hông không cục cựa gì được. Rắn ngẩng đầu thè lưỡi chọc vào mũi Trương, máu mũi chảy ra đọng thành vũng dưới đất, nó cúi xuống uống. Trương tự nghĩ ắt là phải chết, chợt nhớ trong lưng có mang gói thuốc độc, bèn lấy hai ngón tay móc thủng cái gói, hứng thuốc vào lòng bàn tay, rồi vươn cổ ra đưa bàn tay hứng máu mũi, giây lát được một bụm. Con rắn quả nhiên quay đầu uống máu trong lòng bàn tay, uống chưa hết chợt duỗi ra, đập đuôi mạnh như sét trúng thân cây, nửa thân cây trên đổ xuống, rắn cũng duỗi ra như cái xà nhà chết lăn trên mặt đất. Trương cũng rủn chân hoa mắt không đứng dậy nổi, lát sau mới tỉnh. Bèn chở xác con rắn về nhà, bệnh nặng mấy tháng, ngờ cô gái cũng là tinh rắn.

238. Đinh Tiền Khê (Đinh Tiền Khê)

Đinh Tiền Khê là người huyện Chư Thành (tỉnh Sơn Đông), gia tư giàu có, hào hiệp trọng nghĩa, hâm mộ những kẻ du hiệp thời cổ, bị quan tư nã bắt. Đinh bỏ trốn, tới đất An Khâu gặp mưa, vào trú ở một nhà nọ, nhưng mưa suốt cả ngày không ngớt. Có một thiếu niên bước ra mời ăn cơm, cơm nước rất tử tế. Kế trời tối, Đinh nghỉ đêm luôn lại đó, thiếu niên cũng đem rơm cỏ cho ngựa đầy đủ. Đinh hỏi tên họ, thiếu niên đáp "Chủ nhân họ Dương, ta là cháu trong nhà. Chủ nhân ưa giao du, có việc đi vắng rồi, trong nhà chỉ có nương tử, nhà nghèo không tiếp đãi được chu đáo, xin khách tha lỗi". Hỏi tới nghề nghiệp chủ nhân, thì được biết chẳng buôn bán làm lụng gì, chỉ hàng ngày đánh bạc, kiếm ăn cò con.
Hôm sau lại mưa dầm dề. Đinh vẫn được lo cơm nước rất chu tất. Tối đến thiếu niên mang cỏ cho ngựa, bó cỏ ướt đẫm mà lại cọng dài cọng ngắn không đều, Đinh lấy làm lạ. Thiếu niên nói “Thưa thật với khách, nhà nghèo không có cỏ cho ngựa, đây là nương tử rút tranh lợp nhà xuống đấy thôi". Đinh lại càng lạ lùng, cho là họ rất thành thật. Sáng ra đưa tiền, thiếu niên không nhận, Đinh ép thiếu niên cầm vào giây lát lại cầm ra trả, nói "Nương tử nói không phải làm nghề bán quán, chủ nhân ra ngoài thường vài ba ngày chẳng mang theo một đồng, nay khách tới nhà sao lại lấy tiền?”, Đinh ca ngợi từ biệt, dặn "Ta là Đinh Mỗ ở Chư Thành, khi nào chủ nhân về nhớ nói lại rằng lúc nào rảnh mời ghé chơi".
Mấy năm sau chẳng hề qua lại gì, gặp năm đói kém, Dương càng khổ cực, không còn cách nào sinh sống, vợ rụt rè khuyên tìm tới Đinh, Dương nghe theo. Tới nơi, xưng họ tên với người gác cổng, Đinh quên không nhớ, sai hỏi lại mới nhớ ra, vội chạy chân đất ra mời vào. Thấy Dương áo rách giày nát, bèn đưa vào phòng ấm, bày tiệc khoản đãi, cung kính phi thường. Hôm sau may sắm quần áo cho, Dương được ăn no mặc ấm rất cảm kích, nhưng càng lo lắng cho gia đình, cũng mong được chút gì cầm về. Ở mấy ngày liền, chẳng nghe Đinh nói tặng tiền gì cả, Dương nóng ruột nói với Đinh rằng "Thật không dám giấu diếm, lúc ta lên đường tới đây thì trong nhà chỉ còn chưa đầy một thăng gạo, nay ta được quá thương lo cho ăn cho ở, dĩ nhiên vui sướng, nhưng vợ con thì làm sao!”. Đinh nói “Chuyện đó không lo, ta đã sắp xếp thay ông rồi, xin cứ thong thả ở chơi ít hôm, ta sẽ giúp tiền về". Bèn sai người gọi đám con bạc tới, bảo Dương làm cái đánh trọn đêm thắng được trăm đồng vàng, bèn tiễn Dương về Dương về tới nhà thấy phòng ốc bày biện đầy đủ, vợ mặc quần áo mới, có tỳ nữ hầu hạ, ngạc nhiên hỏi. Vợ đáp "Chàng đi được vài hôm thì có người chở vải vóc lúa gạo tới vác vào chất đầy nhà, nói là của ông khách họ Đinh tặng. Lại có thêm mười người tỳ nữ cho thiếp sai bảo” Dương cảm kích vô cùng, từ đó được đủ ăn, không làm nghề cũ nữa.
Dị Sử thị nói: Nghèo mà hiếu khách là điều hay ở đám rượu chè cờ bạc, nhưng người vợ của họ Dương là lạ lùng nhất. Còn nhận ơn của người mà không báo sao đáng là người, nhưng Đinh mỗ quả là kẻ cái ơn một bữa cơm cũng không quên vậy.

239. Con Chuột Có Nghĩa (Nghĩa Thử)

Dương Thiên Nhất kể có lần thấy hai con chuột ra kiếm ăn một con bị rắn nuốt mất. Con kia trợn mắt như hạt tiêu đứng nhìn, có vẻ rất căm giận. Rắn ăn no rồi, ngoằn ngoèo bò vào hang, vừa lọt vào hơn một nửa thì chuột lao tới cắn vào đuôi. Rắn tức giận lui ra, chuột lanh lẹn chạy trốn, rắn đuổi không kịp bèn quay lại, bò vào hang thì chuột lại tới cắn vào đuôi như trước. Rắn vào thì theo cắn, rắn ra thì bỏ chạy, cứ thế hồi lâu, rắn trở ra mửa con chuột chết ra trên mặt dất. Chuột tới ngửi ngửi, kêu chít chít như khóc thương rồi tha đi. Bạn ta là Trương Lịch Hữu có làm bài Nghĩa thử hành (Bài hành Con chuột có nghĩa) về chuyện này.

240. Quỷ Nhập Tràng (Thi Biến)

Huyện Tín Dương (tỉnh Sơn Đông) có ông Mỗ ở thôn Thái Điếm. Thôn cách huyện thành năm sáu dặm, cha con ông ta dựng quán cạnh đường cho người buôn bán qua lại nghỉ trọ, có bốn người phu xe chở hàng vẫn vào trọ ở đó. Một hôm trời rất tối bốn người cùng về tới thì quán trọ đã đầy khách. Bốn người không biết làm sao, cứ nài nỉ xin cho trọ lại. ông Mỗ ngẫm nghĩ tìm được một chỗ, nhưng ngần ngại sợ không hợp với khách. Bốn người lại nói chỉ cần có chỗ ngả lưng là đủ chứ không dám chọn lựa khen chê gì cả. Lúc ấy con dâu của ông Mỗ vừa chết, xác còn đặt trong nhà bên kia đường, con trai đi mua quan tài chưa về, ông thấy trong nhà còn rộng bèn dắt khách qua đó nghỉ.
Khách vào tới thì thấy trên bàn có ngọn đèn leo lét, phòng trong buông rèm, cái xác được đắp chăn đậy mặt nằm đó, chỗ ngủ bên ngoài thì có bốn cái giường đặt liền nhau. Mọi người đều đã mệt mỏi, lập tức lên nằm ngủ khò, chỉ còn một người mơ mơ màng màng chưa ngủ hẳn. Chợt nghe trong phòng người chết có tiếng cót két, vội mở mắt ra nhìn, thì thấy rõ dưới ánh đèn cái xác người đàn bà đã giở chăn ngồi dậy. Kế đó cái xác bước xuống đất từ từ bước ra chỗ đám khách nằm ngủ, sắc mặt lợt lạt vàng khè, vén tấm vải che mặt lên trán, cúi xuống trước giường lần lượt thổi vào mặt ba người kia. Y hoảng hốt, sợ sẽ thổi tới mình, vội kéo chăn trùm kín đầu nhắm mắt nín thở nghe ngóng.
Không bao lâu người đàn bà cũng tới thổi vào y rồi đi trở vào. Y nghe tiếng rèm sột soạt, hé chăn ra nhìn trộm thấy cái xác đã nằm lại trên giường như cũ. Y sợ quá không dám lên tiếng, ngầm lấy chân đạp vào mấy người kia thì họ đều nằm yên không động đậy, nghĩ rằng không còn cách nào, chẳng bằng mặc áo trốn đi. Vừa trở dậy mặc áo thì tiếng cót két trong kia lại vang lên, y hoảng sợ vội nằm xuống kéo chăn che kín đầu, thấy người đàn bà lại tới thổi liên tiếp, hồi lâu mới trở về. Giây lát nghe giường trong có tiếng động, biết là cái xác đã nằm xuống, bèn rón rén mặc áo quần trong chăn, rồi nhảy xuống đất bỏ chạy. Cái xác vùng dậy định đuổi, vừa ra khỏi màn thì y đã tung cửa chạy rồi.
Cái xác đuổi theo, y vừa chạy vừa la, muốn đập cửa quán gọi ông Mỗ dậy nhưng sợ không kịp, bèn cứ theo đường về phía huyện thành ráng sức chạy. Tới cửa đông huyện thành, thấy có ngôi chùa, nghe thấy tiếng gõ mõ, vội vàng chạy tới đập của. Đạo nhân trong chùa thấy có chuyện lạ, lại không mở cửa ngay, y còn chờ thì cái xác đã đuổi tới còn cách có một thước, y càng hoảng hốt. Ngoài cổng chùa có cây bạch dương chu vi khoảng bốn năm thước, y bèn chạy tới đó ẩn núp, cứ cái xác vòng bên này thì y chạy qua bên kia, cái xác càng giận dữ song khách cũng dần dần thấm mệt. Cái xác dừng lại, y đổ mồ hôi thở hổn hển, nép vào gốc cây. Cái xác chợt lao qua, giơ hai tay từ ngoài nhảy xổ vào chụp, y kinh hãi ngã xuống đất, cái xác chụp hụt, ôm gốc cây đứng sững ra đó.
Đạo nhân trong chùa nghe ngóng hồi lâu thấy yên ắng, bèn từ từ mở cửa ra, nhìn thấy y nằm trên mặt đất, nghĩ rằng đã chết, nhưng thấy tim còn đập thoi thóp bèn cõng vào, đến sáng mới tỉnh. Đạo nhân lấy nước cho uống rồi hỏi han, y thuật lại mọi việc. Lúc ấy đã xong hồi chuông sớm, trời đã sáng mờ mờ, đạo nhân ra xem chỗ gốc cây, quả thấy cái thây người đàn bà đứng sững ở đó, cả sợ bèn báo quan. Quan đích thân tới tra hỏi khám nghiệm, sai gỡ tay cái xác ra khỏi gốc cây, mãi vẫn không được. Nhìn kỹ lại thì tám ngón tay đều cong lại như cái móc cắm lút vào thân cây, lại sai mấy người cùng hết sức giật mạnh mới gỡ ra được, nhìn lại thì chỗ ngón tay bấu vào trong gỗ sâu hoắm như lấy dùi đóng vào. Quan sai người tới nhà ông Mỗ dò xét, thì ở đó đang ồn ào rầm rĩ vì xác mất khách chết. Người sai dịch thuật lại chuyện, ông Mỗ bèn đi theo tới chùa, lãnh cái xác về. Người khách khóc nói với quan huyện rằng "Bốn người cùng ra đi với nhau, nay chỉ có một người trở về, kể lại chuyện này làm sao làng xóm tin được?". Quan huyện bèn phát công văn sai người đưa y về quê.

241. Phun Nước (Phún Thủy)

Tiên sinh Tống Thúc Ngọc người huyện Lai Dương (tỉnh Sơn Đông) làm quan ở kinh, phủ đệ ở một chỗ rất hoang vắng. Một đêm, hai người tỳ nữ cùng mẹ tiên sinh là Thái phu nhân ngủ ở trong phòng, chợt nghe sau viện có tiếng phùn phụt như thợ may phun nước lên vải để cắt áo vậy. Thái phu nhân bảo một người tỳ nữ dậy xem, người tỳ nữ núp sau cửa sổ nhìn ra thì thấy một bà già người thấp lưng gù, tóc bạc phất phơ, đội một cái mũ chụp cao chừng hai thước, đi vòng quanh nhà, co ro như con hạc, vừa đi vừa phun, mãi vẫn không hết nước trong mồm. Người tỳ nữ kinh ngạc trỡ vào bẩm, Thái phu nhân cũng ngạc nhiên dậy xem, hai người tỳ nữ đỡ ra cạnh cửa sổ cùng nhìn.
Bà già chợt tới sát cửa sổ, phun thẳng vào trong, giấy dán cửa sổ rách toạch, ba người sợ hãi ngả lăn ra đất, nhưng người trong nhà đều không biết. Mặt trời lên cao, người trong nhà đều tụ họp, gõ cửa phòng không thấy trả lời mới hoảng sợ, vội nhấc cánh cửa lên mà vào, thấy một chủ hai tớ đều nằm chết cứng. Sờ tới thấy một tỳ nữ dưới ngực còn ấm, vội đỡ lên cứu chữa, hồi lâu mới tỉnh, kể lại mọi việc. Tiên sinh tới, đau đớn phẫn hận muốn chết, bèn sai theo vết nước tìm tới một chỗ. Đào xuống hơn ba thước thì lộ ra mớ tóc trắng, lại đào nữa thì thấy có một cái xác, hình dung giống như người tỳ nữ đã trông thấy, sắc mặt vẫn tươi tắn như còn sống. Tiên sinh sai đánh, thì xương thịt đã nát hết, bên dưới lớp da chỉ toàn là nước trong mà thôi.

0
242. Con Quái Trong Núi (Sơn Tiêu)

Tôn Thái Bạch từng kể ông cố của ông đọc sách trong chùa Liễu Câu ở Nam Sơn, có lần tháng tư về nhà, hơn chục ngày mới trở lại. Mở cửa vào thì thấy bụi bặm đầy bàn, tơ nhện ngập song, bèn sai kẻ hầu quét dọn, đến tối mới xong. Kế dọn giường trải chiếu, gối đầu nằm bên song nhìn ra cửa sổ ngắm trăng. Trằn trọc một lúc thì đêm đã yên ắng, chợt có tiếng gió ào ào nổi lên, cổng chùa rít kèn kẹt. Đang nghĩ một mình rằng chắc sư trong chùa quên cài cổng, thì tiếng gió đã tới cạnh phòng ở, kế đó cửa phòng mở tung. Còn đang ngờ vực chưa biết là gì thì tiếng động đã vào tới phòng, lại có tiếng dép quèn quẹt tới sát phòng ngủ, bắt đầu thấy sợ thì cửa phòng ngủ mở ra. Vội nhìn ra, thì thấy có một con quỷ lớn khom lưng bước vào, tiến tới đứng sừng sũng ở đầu giường, cao ngang xà nhà, mặt vàng như trái dưa già, mắt sáng lóng lánh nhìn khắp bốn vách, há miệng to như cái chậu, răng chơm chởm dài khoảng ba tấc, liếm mép nuốt nước bọt ừng ục, tiếng rền cả phòng. Ông sợ quá, nhưng lại nghĩ nó chỉ đứng cách mình trong gang tấc, không còn cách chạy trốn nữa, chẳng bằng nhân lúc sơ hở mà đâm. Bèn ngầm rút thanh bội đao dưới gối ra chém hết sức trúng vào bụng nó, nghe leng keng như chém vào đá. Con quỷ cả giận, vươn móng vuốt vồ ông, ông co người lại tránh, quỷ vồ trúng cái chăn, giật lấy rồi căm tức bỏ đi. Ông bị kéo rơi xuống giường, nằm dưới đất la ầm lên, người hầu cầm đèn chạy tới thì thấy cửa phòng vẫn đóng như cũ. Trèo cửa sổ vào trông thấy cả sợ, bèn đỡ ông lên giường, ông mới kể lại chuyện. Mọi người cùng đi tìm kiếm thì thấy cái chăn vắt ở của phòng ngủ, đem ra cửa mở xem thì thấy vết móng to như cái rổ, năm dấu ngón tay xuyên suốt từ bên này qua bên kia. Trời sáng ông không dám ở lại nữa, cắp tráp về nhà, sau tới hỏi sư trong chùa, thì không thấy có gì khác lạ nữa.

243. Con Quái Trong Đống Lúa (Thu Trung Quái)

Ông họ An ở huyện Tín Dương (tỉnh Sơn Đông) chăm việc đồng áng, gặp vụ lúa thu chín, gặt để thành đống trên bờ ruộng. Lúc ấy ở thôn bên cạnh có kẻ đi trộm lúa, nên ông sai đầy tớ nhân đêm có trăng chở thóc về làng nộp thuế, đong đếm xong thì trở lại, còn tự mình ở lại canh giữ, gối đầu lên cái mác ngủ cạnh đống lúa. Vừa mới thiu thiu, chợt nghe có tiếng người đạp lên lúa sàn sạt đi tới, ngỡ là bọn trộm, vội ngóc đầu dậy nhìn thì thấy một con quỷ cao hơn một trượng, mặt mũi hung dữ tới sát bên cạnh. Ông phát hoảng không biết làm sao, bèn nhảy bật dậy đâm bừa, con quỷ kêu rống như sấm sét bỏ chạy. Ông sợ nó quay trở lại, vác cái mác chạy về, gặp đầy tớ dọc đường, thuật lại chuyện mới rồi bảo họ đừng ra ruộng nữa, song mọi người cũng chưa tin lắm.
Hôm sau đang phơi thóc, chợt nghe có tiếng gầm vang tới, ông hoảng sợ nói “Con quỷ tới rồi", rồi bỏ chạy, mọi người cũng chạy tán loạn. Một lúc sau mới dần dần tụ họp lại, ông sai mọi người mang cung nỏ để rình. Hôm sau quả nhiên con quỷ tới, mọỉ người cùng bắn tên ra, quỷ sợ chạy mất, hai ba ngày không tới nữa. Khi đưa hết lúa về kho xong, rơm rạ còn vứt bỏ ngổn ngang ngoài ruộng, ông sai đầy tớ đánh thành đống, tự mình trèo lên xem xét, đứng cao hơn mặt đất vài thước, chợt nhìn ra xa hoảng sợ kêu lên "Con quỷ tới rồi!". Mọi người đang vội vàng tìm cung nỏ thì con quỷ đã xông tới sát ông, ông ngã quay ra, nó bèn cắn vào mặt rồi bỏ đi. Mọi người trèo lên cây rơm xem, thì trên mặt ông mất một miếng xương to bằng bàn tay, hôn mê không biết gì nữa, cõng về tới nhà thì chết. Sau đó không thấy nó nữa, không biết đó là loại quỷ quái gì.

244. Chàng Sáu Vương (Vương Lục Lang)

Họ Hứa ở phía bắc thành huyện Truy (tỉnh Sơn Đông) làm nghề đánh cá. Đêm nào cũng mang rượu tới bờ sông, uống rồi mới kéo lưới, uống rượu thì rót một chén xuống đất khấn "Ma da trên sông tới mà uống", cứ thế thành lệ. Người khác đánh cá có khi không được chút gì, chứ riêng Hứa thì đêm nào cũng được đầy giỏ. Một đêm vừa đem rượu ra uống một mình thì có một thiếu niên tới quanh quẩn cạnh đó. Hứa mời cùng uống, vui vẻ với nhau, trọn đêm chờ chẳng được con cá nào, Hứa rất thất vọng. Thiếu niên đứng dậy nói "Xin xuống dưới dòng xua cá lên cho ông", rồi nhẹ nhàng bước đi. Giây lát quay lại nói “Cá tới nhiều rồi đấy!” quả nhiên nghe tiếng cá đớp móng vang dưới sông, cất lưới lên thì được vài con dài cả thước. Hứa mừng quá, cám ơn định về, đưa cá biếu thì thiếu niên không nhận, nói "Nhiều phen được cho uống rượu ngon rồi, bấy nhiêu đâu đã đủ để báo đáp? Nếu như không ghét bỏ, xin cứ cho được uống rượu thế này thôi!". Hứa nói “Mới uống với nhau có một lần, sao lại nói là nhiều phen? Còn nếu chiếu cố tới nhau mãi, thì đó là điều ta rất muốn, chỉ thẹn không có gì để tỏ bày tình cảm thôi". Rồi hỏi họ tên, thiếu niên đáp “Ta họ Vương, không có tên tự, gặp nhau cứ gọi là chàng Sáu Vương được rồi", rồi từ biệt nhau.
Sáng ngày Hứa bán cá, mua rượu nhiều hơn, tối đến tới bờ sông đã thấy thiếu niên tới trước chờ đó. Lại cùng vui vẻ uống rượu với nhau, được vài chén, vội đứng dậy đi xua cá cho Hứa. Cứ thế được nữa năm, một hôm chợt nói với Hứa "Được quen biết nhau, tình thân còn hơn cả ruột thịt, nhưng sắp phải xa nhau rồi” lời lẽ rất ảo não. Hứa ngạc nhiên hỏi, thiếu niên định đáp lại thôi, mấy lần mới nói “Thân tình như hai người chúng ta, nói ra thì chắc ông không ngờ sợ chăng? Nay sắp chia tay, nói thật cũng chẳng hề gì, ta thật là ma đây. Lúc sống vốn hay rượu, say quá mà chết đuối, mấy năm làm ma ở đây rồi. Trước kia ông đánh cá được nhiều hơn người khác, đều là do ta xua cá vào để đền đáp cái ơn rót rượu xuống đất cho uống đấy. Ngày mai nghiệp căn đã hết, sẽ có người thay, ta sắp đi đầu thai, chỉ còn gặp nhau đêm nay, nên không khỏi bùi ngùi". Hứa thoạt nghe rất sợ, nhưng gần gũi đã lâu nên không khiếp hãi, lại vì thế mà thương cảm, rót rượu mời nói "Chàng Sáu uống chén này đi, đừng đau đớn nữa? Gặp nhau rồi lại chia tay, kể cũng đáng buồn, nhưng thoát khỏi nghiệp chướng chính là điều nên chúc mừng, buồn bã thì không phải lẽ”, bèn cùng nhau uống thật say. Hứa hỏi người thay là ai, đáp “Ông cứ chờ bên sông mà nhìn, trưa mai sẽ có người đàn bà qua sông chết đuối, là kẻ thay ta đấy!". Nghe gà trong làng đã gáy, hai người gạt lệ chia tay.
Hôm sau Hứa chờ bên sông để xem chuyện lạ. Quả thấy có người đàn bà bồng con tới, tới bờ sông thì khuỵu chân ngã xuống nước, đứa bé văng lên bờ, giơ tay quẫy chân khóc ầm lên. Người đàn bà trồi lên hụp xuống vài lần, chợt vùng vẫy bám được vào bờ trèo lên, nằm lăn ra đất thở dốc một lúc rồí trở dậy bồng con đi. Lúc người đàn bà rơi xuống sông, Hứa thấy bất nhẫn muốn nhảy xuống cứu, nhưng lại nghĩ đây là kẻ thay cho chàng Sáu được đi đầu thai, nên đứng lại không tới cứu nữa. Đến khi người đàn bà tự lên được bờ sông, Hứa ngờ rằng lời chàng Sáu nói không đúng. Tối đến ra đánh cá ở chỗ cũ, lại thấy thiếu niên tới, nói "Từ nay trở đi lại được gặp nhau, không nói chuyện chia tay nữa". Hứa hỏi tại sao, đáp “Người đàn bà ấy đúng là sắp phải thay ta, nhưng ta thương đứa bé còn đang tuổi phải bồng ẵm, bắt một người thay mà hại hai mạng sống nên tha cho chị ta. Người thay chẳng biết đến bao giờ mới có nữa, có khi cái duyên giữa hai người bọn ta chưa dứt chăng?”. Hứa cảm động than thở khen rằng "Tấm lòng nhân hậu thương người như thế có thể thấu tới Thượng đế", từ đó lại gặp gỡ nhau như trước.
Vài hôm sau thiếu niên lại tới từ biệt, Hứa nghĩ rằng chắc lại có kẻ thay. Thiếu niên nói “Không phải thế đâu, một ý niệm hôm trước quả làm cảm động lòng trời, nay đã trao cho ta chức thổ thần đất Ô Trấn huyện Chiêu Viễn (tỉnh Sơn Đông), sáng mai là ngày phải đi nhậm chức. Nếu ông không quên bạn cũ, xin tới thăm nhau một lần, đừng ngại xa xôi khó nhọc". Hứa chúc mừng nói “Ông ngay thẳng mà làm thần, quá đủ để an ủi lòng người, nhưng thần người khác nẻo, dẫu ta không ngại xa xôi khó nhọc, nhưng làm sao được gặp nhau?”. Thiếu niên đáp "Cứ tới đừng lo", dặn dò mấy lần rồi đi. Hứa về nhà, lập tức sắp xếp hành trang lên đường, vợ cười nói "Cách đây vài trăm dặm thì quả có một chỗ tên gọi như thế thật, có đều e rằng tượng đất không nói chuyện được với nhau thôi". Hứa không nghe, đi tới Chiêu Viễn, hỏi thăm người ở đó quả có đất Ô Trấn, bèn tìm tới đất ấy, vào nghỉ ở quán trọ, hỏi thăm đền thờ Thổ thần ở đâu. Chủ nhân kinh ngạc hỏi "Khách họ Hứa phải không?”. Hứa đáp "Đúng rồi, sao ông biết?". Lại hỏi “Khách ở huyện Truy phải không?", đáp "Đúng rồi, sao ông biết?". Chủ nhân không đáp, vội vã bước ra ngoài. Giây lát thì đàn ông bế con, đàn bà nép ở cửa chen chúc rần rần kéo tới đứng đông đặc phía ngoài.
Hứa ngạc nhiên, mọi người bèn nói "Mấy đêm trước thần báo mộng rằng có người bạn họ Hứa ở huyện Truy Xuyên sắp tới thăm, phải lo lắng giúp đỡ, bọn ta đã chờ lâu rồi". Hứa cũng lấy làm lạ lùng, bèn tới đền tế, khấn rằng “Sau khi chia tay ông, đêm ngày không quên nên lặn lội đường xa cho trọn lời hứa, lại được ơn báo mộng cho dân biết để tiếp đón, tình nghĩa xin ghi tạc trong lòng, song thẹn lễ vật đơn sơ, chỉ có chén rượu đục, nếu không ghét bỏ, xin như ngày còn uống rượu với nhau bên sông", khấn xong, đất giấy tiền vàng bạc. Lập tức có một cơn gió nổi lên trước bàn thờ vi vút hồi lâu mới tan. Đêm ấy Hứa nằm mộng thấy thiếu niên tới, áo mão rực rỡ khác hẳn ngày trước, cảm tạ nói “Đường xa vất vả tới thăm nhau, thật ta vừa mừng vừa tủi, nhưng hiện đã giữ chức mọn, không tiện hiện thân gặp mặt, gần trong gang tấc mà như cách trở núi sông, rất là đau lòng. Những cư dân ở đây có chút lễ mọn khoản tặng thay ta, lúc nào ông về, cũng xin sẽ theo tiễn".
Ở được vài hôm, Hứa muốn về, mọi người khẩn khoản lưu lại, sáng rước chiều mời, mọi người báo tin cho nhau, tranh nhau mang lễ vật tặng tiễn, chưa đầy bữa sáng vật tặng đã đầy túi, già trẻ đều tụ họp đưa ra tới ngoài thôn. Chợt có một con gió trốt nổi lên cuốn theo tới hơn mười dặm, Hứa vái dài nói !Xin chàng Sáu tự bảo trọng, đừng vất vả tiễn xa như thế. Lòng ông nhân ái vốn có thể tạo phúc cho dân một phương, cố nhân không phải dặn dò gì nữa". Trận gió còn cuốn quanh hồi lâu mới tan, dân làng cũng kinh ngạc than thở quay về. Hứa về tới nhà cũng hơi dư dật, không phải làm nghề đánh cá nữa. Về sau gặp người ở Chiêu Viễn, hỏi thăm thì được biết Thổ thần ở đó nổi tiếng linh thiêng. Cũng có người nói rằng đó là Thổ thần ở trang Thạch Khanh huyện Chương Khâu, chưa rõ thuyết nào là đúng.
Dị Sử thị nói: Thân trên đường mây xanh mà lòng không quên bạn nghèo hèn, nhờ thế mới được làm thần đấy. Ngày nay những kẻ quý hiển ngồi xe có mấy ai nhìn nhận bạn nghèo đâu! Quê ta có người tên Lâm Hạ, nhà rất nghèo nhưng có người bạn thuở nhỏ nhận chức quan béo bở, cho rằng tìm tới sẽ được giúp đỡ bèn hết sức kiếm tiền ăn đường, bôn ba ngàn dặm, nhưng người bạn đón tiếp khác hẳn với điều y mong muốn, phải vét túi bán ngựa mới về được tới nhà. Đám em họ hay đùa, nhại thiên Nguyệt lệnh trong Lễ ký đặt lời chọc ghẹo rằng "Đến tháng ấy, ca ca về, mũ lông điêu xơ xác, dù lọng không giương, ngựa cưỡi hóa thành lừa, giày bắt đầu há mõm", nghĩ cũng là một chuyện buồn cười.

0
245. Người Diễn Trò Rắn (Xà Nhân)

Anh Mỗ ở Sơn Đông sống bằng nghề diễn trò rắn, dạy được hai con rất thuần, đều màu xanh. Con lớn thì đặt tên là Đại Thanh, còn nhỏ gọi là Nhị Thanh. Con Nhị Thanh trên đầu có một cái chấm đỏ, đặc biệt khôn ngoan, lúc diễn trò bảo gì là làm nấy, người diễn trò rắn yêu quý khác hẳn với những con khác. Một năm nọ con Đại Thanh chết, y định tìm con khác thay nhưng chưa gặp dịp rảnh rỗi. Một đêm trọ lại ở chùa trong núi, sáng ra mở giỏ thì con Nhị Thanh cũng đâu mất, y lo buồn muốn chết, tìm tòi kêu gọi mà không thấy tăm hơi, lùm cây bụi cỏ nào cũng sục vào tìm, nghĩ rằng trước nay nó luôn trở về, vì vậy cứ ngồi đợi nó tự về. Mặt trời đã lên cao, cũng đã tuyệt vọng, bèn thất thểu lên đường. Đi được vài bước, nghe trong bụi cây có tiếng sột soạt, ngạc nhiên quay lại nhìn, thì thấy con Nhị Thanh bò tới. Y mừng như bắt được ngọc báu, đứng lại ở bên đường đợi, con rắn cũng dừng lại. Nhìn về phía sau thì thấy một con rắn nhỏ đi theo nó, bèn vỗ về nói “Ta cứ tưởng ngươi đi luôn rồi. Bạn nhỏ này là ngươi dắt về phải không?”. Bèn lấy thức ăn ra cho ăn, cho cả con rắn nhỏ ăn nữa, con rắn nhỏ tuy không bỏ đi nhưng có có vẻ sợ sệt không dám ăn. Nhị Thanh ngậm thức ăn cho nó, dáng như chủ nhà mời khách. Người nuôi rắn cũng đút cho, nó bèn ăn. Ăn xong nó theo Nhị Thanh chui vào giỏ, y vác về, dạy cho làm trò. Dần dà nó cũng vào khuôn phép không khác gì Nhị Thanh, y đặt tên là Tiểu Thanh, mang đi diễn trò khắp nơi, thu được rất nhiều tiền.
Đại để những người diễn trò rắn chỉ dùng những con dài hai thước là thôi, dài hơn thì quá nặng phải thay bằng con khác, nhưng vì con Nhị Thanh quá hay nên y chưa bỏ. Hai ba năm sau, nó đã dài hơn ba thước, nằm chật cả cái giỏ, y bèn quyết thả nó đi. Một hôm, đi tới Đông Sơn ở huyện Truy, bèn cho nó ăn thức ăn ngon, khấn thầm rồi thả ra. Nó đi rồi nhưng giây lát lại quay lại, cứ ngoằn ngòeo bò quanh cái giỏ. Người diễn trò rắn xua tay nói “Đi đi thôi, trên đời không có tiệc vui trăm năm không tan, từ nay ngươi náu thân nơi hang lớn, ắt sẽ thành thần long, đâu có thể ở trong giỏ được?". Rắn bèn đi, y đưa mắt nhìn theo, lại thấy nó quay trở lại, xua cũng không chịu đi, cứ lấy đầu cọ cọ vào cái giỏ, con Tiểu Thanh ở trong cũng quẫy lộn soàn soạt. Y chợt hiểu, nói "Ngươi muốn từ biệt Tiểu Thanh phải không?” Bèn mở giỏ, Tiểu Thanh bò ra, hai con gác đầu thè lưỡi như nói chuyện dặn dò với nhau, rồi cùng bò đi. Y đang nghĩ rằng chắc con Tiểu Thanh cũng không về, thì thấy nó lặng lẽ trở lại một mình bò vào nằm trong giỏ.
Từ đó theo hoàn cảnh mà tìm, nhưng không được con nào ưng ý, mà con Tiểu Thanh cũng lớn dần, không thể diễn trò được nữa. Về sau được một con cũng hơi thuần nhưng không bằng con Tiểu Thanh, mà con Tiểu Thanh đã to bằng cánh tay đứa trẻ con rồi. Trước là con Nhị Thanh ở trong núi, những người đốn củi thường trông thấy, vài năm sau lại dài thêm mấy thước to bằng cái tô, thường hay ra đuổi người, nên người đi đường e dè ít dám qua lại nơi ấy. Một hôm người diễn trò đi ngang, con rắn lao ra như gió, y hoảng sợ bỏ chạy, rắn đuổi theo càng gấp, quay lại thì thấy nó đã gần sát tới nơi rồi. Nhìn thấy chấm đỏ trên đầu mới nhận ra là con Nhị Thanh, bèn buông giỏ xuống kêu “Nhị Thanh, Nhị Thanh!". Rắn dừng lại, ngẩng đầu nhìn một lúc rồi phóng tới quấn lấy y như lúc còn diễn trò ngày trước. Y biết nó không có ý hại mình, nhưng nó quá to nặng, y đứng không vững ngã lăn xuống đất kêu lên, nó bèn buông ra. Lại lấy đầu cọ cọ vào cái giỏ, y hiểu ý, mở giỏ thả Tiểu Thanh ra. Hai con rắn gặp nhau quấn chặt lấy nhau một lúc lâu mới rời. Người nuôi rắn bèn nói với Tiểu Thanh "Ta đã muốn thả ngươi từ lâu, nay thế là có bạn rồi đấy", rồi nói với Nhị Thanh “Nguyên là ngươi dắt nó về, nay cứ dẫn nó đi. Nhưng dặn các ngươi một câu, là núi sâu chẳng thiếu cái ăn, đừng ra quấy nhiễu người đi đường mà phạm tội với trời”. Hai con rắn cúi đầu như hứa vâng lời rồi cất mình đi, con lớn trước con nhỏ sau, qua khỏi rừng cây là nơi chia tay, người diễn trò rắn đứng nhìn theo cho đến khi chúng khuất dạng mới rời đi. Từ đó người qua lại trên đường lại được yên ổn, không rõ chúng đi đâu.
Dị Sử thị nói: Rắn là một loài vật ngu xuẫn mà có ý quyến luyến người xưa, lại còn có thể theo sự dạy bảo, như là đủ cả trí khôn. Chỉ quái lạ cho những kẻ rõ ràng là người, mà đi với bằng hữu mười năm ân nhân mấy đời lại nghĩ tới chuyện quăng xuống giếng, ném đá lên, nếu không như thế thì lúc đau ốm cần thuốc thang lại nghênh ngang không đoái hoài gì tới mà còn giận dữ thù hằn, cũng thẹn với rắn kia lắm vậy.

246. Thần Mưa Đá (Bộc Thần)

Ông Vương Quân Thương đi nhậm chức ở Sở Trung (tỉnh Hồ Nam), định lên núi Long Hổ để làm lễ ở đền Thiên sư*. Tới hồ, vừa lên thuyền, lập tức có một người đi chiếc thuyền nhỏ tới, sai người trong thuyền báo xin gặp. Ông nhìn thấy người ấy tướng mạo khôi vĩ, rút trong bọc ra một tấm bài lệnh của Thiên sư nói "Thiên sư nghe nói ông sắp tới thăm, sai ta mang cung nỏ đi trước dẹp đường". Ông ngạc nhiên về việc biết trước chuyện chưa xảy ra, càng cho là thần kỳ, bèn thành tâm lên núi, Thiên sư bày tiệc khoản đãi. Những kẻ phục dịch thì áo mão râu tóc phần lớn khác với người thường, người xuống đón ông thì đứng hầu một bên. Giây lát, người ấy nói nhỏ với Thiên sư, Thiên sư nói với ông rằng "Đây là người cùng quê với tiên sinh, tiên sinh không nhận ra sao?". Ông hỏi là ai, Thiên sư đáp "Đây là người mà thế nhân vẫn gọi là Bộc thần (thần làm mưa đá) Lý Tả Xa đấy". Ông ngạc nhiên đổi cả sắc mặt. Thiên sư nói “Vừa được chỉ của Thượng đế sai đi làm mưa đá, nên xin chào ông đấy".
*Thiên Sư: tức Trương Đạo Lăng thời Hán, được Đạo giáo tôn làm Thiên sư, con cháu ông về sau cũng được tôn là Thiên sư.
Ông hỏi làm mưa đá ở đâu, người ấy đáp “Ở huyện Chương Khâu (tỉnh Sơn Đông)”. Ông thấy đất ấy sát nơi mình trấn nhậm, bèn rời ghế đứng dậy xin tha cho. Thiên sư nói “Đây là sắc lệnh của Thượng đế, mưa đá có số mục cả, làm sao tha miễn gì được". Ông nài nỉ không thôi, Thiên sư cúi đầu ngẫm nghĩ hồi lâu rồi quay dặn người ấy rằng "Cứ làm mưa đá ở nơi rừng núi, đừng để thiệt hại hoa màu của dân là được", lại nói “Khách quý đang ngồi đây, lên đường dùng văn không được dùng võ”. Vị thần bước đi, ra tới giữa sân chợt dưới chân sinh mây, hơi mù nghi ngút cuốn trên đất. Khoảng một khắc sau hết sức nhảy lên, mới chỉ cao hơn cây cối ở sân, lại nhảy lên, cao hơn lầu gác, ầm một tiếng sét nổ, bay luôn về phía bắc, nhà cửa lung lay, mâm bát xô lệch. Ông kinh hãi hỏi "Cứ thần ra đi là làm sấm sét à?". Thiên sư đáp "Vừa dặn trước nên y mới đi từ từ, nếu không thì đất bằng chợt dậy sét, đi luôn ngay rồi đấy”. Ông cáo biệt về, ghi lại ngày tháng, sai người qua Chương Khâu hỏi, quả hôm ấy có mưa đá rất lớn, đầy cả suối khe, nhưng hoa màu ngoài ruộng chỉ hư hại một ít.

247. Tội Nghiệt Nhà Sư (Tăng Nghiệt)

Trương sinh chết bất ngờ, hồn đi theo quỷ sứ tới gặp Diêm Vương. Diêm Vương tra lại sổ, thấy quỷ sứ bắt lầm bèn nổi giận trách mắng, bắt phải đưa về. Trương xuống khỏi điện, xin riêng với quỷ sứ cho được đi xem địa ngục, quỷ dắt đi khắp nơi ngục Cửu U, núi kiếm vạc dầu cho xem, tới đâu cũng giải thích tường tận. Sau cùng tới một chỗ, thấy có nhà sư bị buộc vào đùi treo ngược lên, đau đớn kêu gào muốn đứt hơi, tới gần nhìn thì ra là anh mình. Trương hoảng sợ, hỏi vì tội gì mà đến nông nổi này, quỷ sứ đáp "Người này làm sư, đi khuyến hóa tiền bạc các nơi lại đem đánh bạc chơi đĩ ráo cả, nên phạt như thế. Muốn thoát tai ách phải sám hối thôi". Trương được sống lại, nghĩ là anh mình đã chết. Lúc ấy người anh tu ở chùa Hưng Phúc, bèn tìm tới xem. Vào tới cổng đã nghe tiếng anh đau đớn kêu la, vào tới phòng thì thấy trên đùi nổi mụn nhọt to vỡ ra, máu chảy dầm dề, đang nằm buộc chân treo lên vách, từa tựa như cảnh mình đã thấy bị treo ngược dưới âm phủ vậy. Sinh hoảng sợ hỏi, người anh làm sư đáp "Treo lên còn đỡ, nếu không thì đau thấu tim gan". Trương nhân đó thuật lại chuyện mình mắt thấy tai nghe, nhà sư cả sợ, bỏ hết rượu chè, kính cẩn tụng kinh, được nửa tháng thì khỏi, sau trở thành một nhà sư thanh tu.
Dị Sử thị nói : Âm phủ xa xôi, kẻ ác cứ lấy đó để tự trấn an, mà không biết cái họa sờ sờ chính là sự trừng phạt của cõi u minh, có thể không cẩn thận sao!

248. Ba Kiếp (Tam Sinh)

Hiếu liêm họ Lưu nhớ được chuyện kiếp trước, là bạn đồng khoa với tiên huynh là Văn Phấn công, thường kể lại rất rõ ràng. Một kiếp ông là con nhà sĩ hoạn nhưng làm nhiều điều xấu xa, chết năm sáu mươi hai tuổi. Lúc ông vừa vào gặp, được Diêm Vương tiếp đãi theo lễ đối với người lớn tuổi, cho ngồi, mời uống trà. Nhìn thấy nước trà trong veo, tới giữa chén lại đục như keo, ông thầm nghi là thuốc lú, nhưng làm sao từ chối không uống được? Bèn nhân lúc Diêm Vương ngoảnh qua chỗ khác, lén đổ xuống góc bàn rồi làm như đã uống cạn. Lát sau bản tội lỗi kiếp trước của ông được kê ra, Diêm Vương nổi giận, sai quỷ sứ lôi xuống, phạt đầu thai làm ngựa, liền bị quỷ sứ trói lại dẫn di.
Tới một nhà nọ, bậc cửa rất cao không leo qua được, ông đang loay hoay, quỷ đã ra sức đánh mạnh, ông đau quá nhảy luôn lên, nhìn lại thì thấy mình đã đứng trong chuồng ngựa. Nghe tiếng người nói “ngựa đen sinh được ngựa đực con", biết rằng mình đã đầu thai làm ngựa, nhưng không sao nói được. Thấy đói quá, bất đắc dĩ phải tới bú ngựa mẹ. Được bốn năm năm thì trở nên to lớn nhưng rất sợ bị đánh đập, thấy roi là chạy. Người chủ cưỡi bao giờ cũng bỏ đinh thúc ngựa nên không khổ lắm, nhưng tên mã phu thì cứ siết chặt đai da mà cưỡi, hai gót cùng thúc, đau không chịu nổi. Vì thế ông uất ức, bỏ ăn ba ngày rồi chết.
Xuống tới âm phủ, Diêm Vương tra sổ thấy ông chưa hết hạn bị đày, trách phạt về tội trốn tránh, lột hết da, bắt làm chó. Ông buồn bã không muốn đi, lũ quỷ xúm lại đánh túi bụi, đau quá chạy tuông ra đồng, tự nghĩ thà chết còn hơn, phẫn uất nhảy xuống vực sâu, không sao lên được. Nhìn lại thì thấy mình đã nằm trong ổ chó, đang dược chó mẹ liếm láp, biết là đã đầu thai rồi. Lúc hơi lớn thấy phân người biết là nhơ bẩn, có điều ngửi thì thấy thơm, nhưng quyết không ăn. Được hơn một năm, uất ức muốn chết nhưng lại sợ bị trách phạt về tội trốn tránh, chủ lại cho ăn cơm mà không làm thịt. ông bèn cắn vào bắp chân chủ rứt đứt cả thịt ra, bị chủ tức giận đập chết.
Diêm Vương tra hỏi biết chuyện, giận tội cắn bậy, đánh cho ông mấy trăm gậy, đày làm rắn, nhốt vào hầm tối không cho nhìn thấy mặt trời. Ông rất buồn bã, bám vách leo lên trổ hầm chui ra, nhìn lại thì thấy mình đã nằm giữa đám cỏ, biến thành rắn rồi. Bèn quyết chí không giết các sinh vật, đói thì ăn trái cây. Được hơn năm, vẫn nghĩ rằng tự tử thì không được, cắn người để bị giết cũng không được, muốn tìm một cái chết yên lành nhưng chưa có dịp. Một hôm nằm trong đám cỏ, nghe tiếng xe chạy, bèn bò ra nằm giữa đường, bị cán đứt làm hai khúc. Diêm Vương ngạc nhiên vì thấy trở lại mau quá, ông kể lại mọi chuyện. Diêm Vương cho rằng vô tội mà chết nên tha, cho được hết hạn, được trở lại làm người, đó là ông Lưu. Lưu sinh ra đã biết nói, kinh sử đọc qua là thuộc lòng, đỗ Hiếu liêm năm Tân dậu, thường khuyên người ta là cưỡi ngựa nên nới lỏng dây cương, bỏ đinh thúc ngựa, thì còn hơn cả roi vọt.
Dị Sử thị nói: Trong đám thú vật có kẻ là bậc vương công đại nhân, xem đó đủ biết trong những bậc vương công đại nhân cũng chưa chắc là không có thú vật. Cho nên kẻ hèn làm điều lành thì như muốn có hoa mà trồng cây, kẻ sang làm điều lành thì như đã có hoa mà vun gốc. Trồng thì cây lớn, vun thì cây vững. Nếu không, thì phải kéo xe muối, bị thắng cương, làm thân ngựa, không thì phải ăn cứt đái, bị giết thịt, làm thân chó, không thì cũng phải thân mọc vẩy, bị ưng bắt, làm thân rắn.

249. Chàng Cảnh Thứ Mười Tám (Cảnh Thập Bát)

Chàng Cảnh thứ mười tám người huyện Tân Thành (tỉnh Sơn Đông) bị bệnh nặng, biết không sống được, nói với vợ rằng "Sắp vĩnh biệt nhau rồi. Sau khi ta chết, thủ tiết hay lấy chồng khác đều tùy nàng, nhưng xin cứ nói rõ”. Vợ im lặng không đáp, Cảnh cứ hỏi riết, lại nói “Thủ tiết thì tốt, lấy chồng khác là thường tình, cứ nói rõ có gì phải ngại? Ta sắp cùng nàng vĩnh biệt, nàng mà thủ tiết thì ta được an ủi, nàng mà lấy chồng khác thì ta cũng dứt được tình!”. Vợ rầu rĩ nói "Nhà không có đấu thóc thừa, chàng còn sống đã không đủ ăn, lấy gì mà thủ tiết”. Cảnh nghe thấy chụp lấy vai vợ, uất ức nói "Nhẫn tâm quá!”, dứt lời thì chết, tay vẫn nắm cứng vai vợ không buông. Vợ kêu ầm lên, người nhà đổ tới, phải hai người bẻ ngón tay, ra sức giật mạnh mới gỡ ra được. Cảnh không biết là mình đã chết, ra khỏi cửa thấy có hơn mười chiếc xe nhỏ, mỗi chiếc có mười người, đều có danh sách dán trên thùng xe. Người đánh xe thấy Cảnh, giục lên xe mau. Cảnh thấy trên xe đã có chín người, mình là người thứ mười, lại nhìn tới danh sách thì thấy tên mình ở cuối cùng.
Xe chạy rầm rập, tiếng bánh xe khua vang chẳng nghe thấy gì khác, cũng chẳng biết là đi đâu. Lát sau tới một chỗ, nghe tiếng người nói rằng “Đây là đất Nhớ quê”. Cảnh nghe thấy lấy làm ngờ, lại nghe đám đánh xe nói với nhau rằng "Hôm nay chém ba người", lại càng hoảng sợ. Đến khi nghe họ trò chuyện, đều là chuyện dưới âm phủ, mới sực nghĩ ra "Chẳng lẽ mình đã thành ma rồi sao?” Nhớ lại gia đình chẳng thấy luyến tiếc gì, duy còn mẹ già tuổi đã cao, vợ đi lấy chồng khác sẽ không có người săn sóc, nghĩ tới đó bất giác nước mắt vòng quanh. Đi một lúc nữa, thấy có đài cao mấy nhận, rất nhiều người lên xuống, kẻ bị gông người bị xiềng, kêu khóc rầm rĩ, nghe người ta nói là đài Nhìn quê. Mọi người tới đó đều nhao nhao nhảy xuống xe, người đánh xe hoặc đánh đập hoặc giữ lại, chỉ tới Cảnh thì giục lên dài. Cảnh đi hơn mười bước thì tới tầng trên cùng, nghểnh đầu nhìn thấy rõ cả nhà cửa cổng nẻo, nhưng phòng ốc như bị mây mù che kín, ngậm ngùi khôn xiết.
Ngoảnh nhìn bốn phía, thấy có một người mặc áo ngắn màu xanh kề vai cùng đứng. Người ấy hỏi tên họ Cảnh, Cảnh nói rõ, người ấy cũng tự xưng là thợ mộc ở Đông Hải. Thấy Cảnh buồn rầu, hỏi có chuyện gì, Cảnh lại nói rõ, người ấy bàn với Cảnh xuống đài bỏ trốn. Cảnh sợ bị đuổi bắt, người ấy nói không sao, Cảnh lại sợ đài cao xuống không được, người ấy nói cứ theo mình, rồi nhảy xuống trước. Cảnh cũng nhảy theo, tới đất không hề hấn gì, mừng là không có ai biết. Nhìn thấy chiếc xe vẫn còn ở dưới đài, hai người vội bỏ chạy. Được mấy chặng, chợt nghĩ rằng tên họ vẫn còn trong danh sách dán trên xe, sợ bị đuổi theo bèn quay trở lại, nhấm nước bọt vào tay xóa tên mình, rồi lại bỏ chạy, thở không ra hơi vẫn không dám dừng chân.
Một lúc sau về tới cổng, người ấy đưa Cảnh vào phòng, chợt thấy xác mình, Cảnh bèn nhập vào sống lại. Thấy mệt mỏi khát nước, bèn gọi lấy nước, người nhà hoảng sợ đưa nước tới. Cảnh uống hơn một thạch rồi ngồi dậy chắp tay như lạy tạ, kế đó lại ra cửa như tiễn khách rồi trở vào nằm vật xuống không động đậy. Người nhà thấy hành động kỳ quái, ngờ là không phải sống lại thật, nhưng nhìn kỹ thấy không có gì khác lạ, bèn tới gần hỏi han, Cảnh mới thuật lại rõ ràng mọi chuyện. Người nhà hỏi ra cửa làm gì, Cảnh đáp "Chào người thợ mộc". Lại hỏi sao uống nước nhiều thế, Cảnh đáp "Ban đầu là uống cho ta, kế là uống cho người thợ mộc". Người nhà đổ cháo cho ăn, mấy ngày thì khỏi, từ đó rất ghét vợ, không bao giờ ngủ chung.

0
250. Yêu Quái Trong Nhà (Trạch Yêu)
 
Trong loạn Tạ Thiên* phủ đệ các quan đều bị giặc chiếm, nhà quan Đốc học Vương Tương có rất nhiều giặc ở. Lúc thành bị phá, quan binh tràn vào chém giết thẳng tay, thây chất đầy sân, máu chảy ngập cửa. Ông Vương vào thành, dọn dẹp sạch sẽ để ở, thường giữa ban ngày cũng nhìn thấy ma, ban đêm thì ma trơi lập lòe quanh giường, trong góc tường có tiếng ma khóc. Một hôm thư sinh Vương Hạo Địch tới ngủ nhờ, nghe dưới gầm giường có tiếng kêu nho nhỏ "Hạo Địch, Hạo Địch" liên tiếp, rồi kêu to dần, nói "Ta chết khổ lắm". Kế đó tiếng khóc vang lên khắp sân. Ông Vương nghe thấy, cầm kiếm xông vào lớn tiếng quát “Các ngươi không biết ta là Vương Học viện à?". Chỉ nghe tiếng nhổ, tiếng cười, tiếng khịt mũi rộn lên. Ông Vương vì thế lập đàn tràng, tụng kinh siêu độ, tối đem cơm ra cúng, thì thấy ma trơi lập lòe khắp mặt đất bay ra.
*Tạ Thiên: người Cao Uyển tỉnh Sơn Đông, nổi dậy chống nhà Thanh năm Thuận Trị thứ 3 (1646).
Trước đó người gác cửa nhà ông là họ Vương mắc bệnh, hôn mê đã mấy ngày, đêm ấy chợt tỉnh lại. Vợ đưa cơm tới, Vương nói "Chẳng biết chủ nhân có chuyện gì lại bày cơm ở sân cho ăn, ta cũng theo mọi người vào ăn, no rồi mới về, nên không thấy đói”. Từ đó ma quỷ tuyệt tích, hoặc giả chuông trống nạo bạt của đạo Thích cũng có ích chăng!
Dị Sử thị nói: Ma tà quỷ quái chỉ có đức mới ngăn cản được. Lúc thành bị hãm, quan binh kéo vào, người đều hoảng sợ, nhưng ma quỷ lại coi thường, hay đó là những ma quỷ chết phi mạng chăng? Muốn nói với tất cả các bậc đại nhân tiên sinh trong thiên hạ, là đem bộ mặt người ra còn không đủ để dọa ma quỷ, mong rằng đừng đem bộ mặt ma quỷ ra để dọa người vậy.

251. Bốn Mươi Ngàn Đồng (Tứ Thập Thiên)

Đại Tư mã họ Vương người huyện Tân Thành (thuộc tỉnh Sơn Đông) có người quản gia, gia tư cũng vào loại khá. Một đêm mơ thấy một người tới nói “Ngươi thiếu bốn mươi ngàn đồng, nay phải trả lại”. Y hỏi, người ấy không đáp, cứ đi thẳng vào nhà trong. Lúc y tỉnh dậy, vợ đã sinh được một con trai, biết là oan nghiệt kiếp trước, bèn lấy ra bốn mươi ngàn đồng để riêng vào một phòng, mọi chi phí quần áo, thức ăn, thuốc men cho con đều lấy ở đó. Được ba bốn năm, tiền trong phòng chỉ còn bảy trăm đồng, nhìn thấy người vú ôm đứa con tới cho đùa giõn bên cạnh, y bèn nói với nó rằng “Bốn mươi ngàn đồng sắp hết, ngươi chuẩn bị đi đi thôi". Y vừa dứt lời, đứa con chợt biến sắc mặt, nghẹn cổ trợn mắt, bế lên vỗ về thì đã đứt hơi chết rồi. Bèn lấy số tiền còn lại để chôn cất thì vừa đủ, chuyện này quả đủ để răn kẻ mắc nợ vậy.
Trước đây có người đã già mà không có con, hỏi một nhà sư, nhà sư nói "Ngươi không mắc nợ người khác, người khác cũng không mắc nợ ngươi, làm sao mà có con được”. Đại khái sinh con hiền, đó là báo đáp cái duyên của ta, sinh con không hiền, đó là đòi nợ ta, con sống cũng chớ mừng, con chết cũng chớ buồn thương vậy.

252. Cửu Sơn Vương (Cửu Sơn Vương)

Họ Lý ở huyện Tào Châu (tỉnh Sơn Đông) là Chư sinh ở huyện, gia cảnh khá giả nhưng nhà cửa không rộng rãi lắm, phía sau nhà có mấy mẫu vườn vẫn bỏ hoang. Một hôm có ông già tới thuê, đưa ra trăm đồng vàng, Lý vì chỉ có đất không nên từ chối. ông già nói "Xin cứ nhận cho, đừng nghĩ ngợi gì". Lý không nỡ phật ý, bèn nhận tiền, chờ xem chuyện lạ. Hôm sau, người trong thôn thấy xe ngựa rầm rộ chở người tới nhà Lý, đều cho rằng nhà Lý không lấy đâu đủ chỗ ở. Hỏi thăm thì Lý hoàn toàn không hay biết, vội về xem xét nhưng chẳng nghe thấy trong vườn có gì lạ. Mấy ngày sau ông già chợt tới thăm, lại nói “Được nương nhờ dưới mái đã mấy hôm, nhưng mọi việc đều phải bắt đầu, đào lò đắp bếp bận rộn nên chưa rảnh để trọn lễ làm khách. Hôm nay có sai đám trẻ làm cơm, mong được hạ cố qua chơi”.
Lý đi theo, vào tới vườn sau thấy nhà cửa đẹp đẽ, rõ ràng vừa xây cất xong. Vào tới bên trong thì thấy bày biện sang trọng, vò rượu sôi bên tường, ấm trà reo dưới bếp. Kế đó cơm rượu dọn lên, đủ cả món ngon vật lạ, nhìn thấy trước sân có nhiều người trẻ tuổi qua lại, lại nghe sau rèm cửa có tiếng đàn bà con gái thì thào cười nói, hầu trai tớ gái như là có tới hàng ngàn người. Lý biết là hồ, hết tiệc ra về, ngầm muốn giết hại. Từ đó lần nào ra chợ cũng mua lưu hoàng diêm tiêu, dần dần tích lại được mấy trăm cân, bèn ngầm rắc khắp trong vườn rồi phóng hỏa. Lửa khói bốc lên tận trời cuồn cuộn như cái nấm đen, mùi vị khét lẹt, tro bụi mù mịt không sao tới gần, chỉ nghe tiếng kêu khóc vang dậy điếc tai. Đến khi lửa tắt vào xem, thấy hồ chết đầy vườn, cháy đầu sém trán không biết bao nhiêu mà kể.
Đang còn nhìn ngó, ông già chợt từ ngoài đi vào, vẻ mặt đau đớn nói “Vốn không có thù oán gì với nhau, thuê mảnh vườn bỏ hoang thì mỗi năm trả trăm đồng vàng cũng chẳng phải ít, sao lại nhẫn tâm giết sạch cả nhà nhau thế. Mối thù vô cùng thê thảm này thế nào cũng phải trả", rồi biến mất. Lý ngờ rằng sẽ bị ném đá liệng ngói phá phách, nhưng hơn một năm vẫn không thấy có chuyện gì khác lạ. Lúc ấy vào đầu đời Thuận Trị (1644-1661), bọn cướp ẩn náu trong núi, tụ họp hàng vạn người, quan quân không sao dẹp được. Lý vì gia đình có nhiều người, thường lo cảnh loạn lạc. Chợt có một người thầy bói tới thôn, tự xưng là Nam Sơn ông, nói chuyện họa phúc của người đều đúng như chính mắt nhìn thấy, rất nổi tiếng.
Lý gọi tới nhà nhờ bói vận mạng, ông ta kinh ngạc đứng dậy cung kính nói "Thật đúng là chân mệnh Thiên tử”. Lý nghe thế hoảng sợ, cho là nói bậy, ông ta nghiêm sắc mặt thuyết phục. Lý nửa tin nửa ngờ, bèn hỏi “Lại có hạng người tay trắng mà nhận mệnh trời làm Thiên tử à?". Ông ta đáp "Không phải thế. Đế vương xưa nay có nhiều người vốn là thất phu, đâu phải sinh ra đã làm Thiên tử”. Lý động tâm, dời ghế tới trước mặt hỏi, ông ta quả quyết xin gánh vác quân sư, xin cứ chuẩn bị trước vài ngàn bộ giáp trụ cung tên. Lý lo người ta không chịu theo, ông ta nói "Thần xin vì đại vương đi liên kết các núi, đính ước với họ, cứ nói rằng đại vương có chân mệnh Thiên tử, sĩ tốt trong núi chắc chắn sẽ hưởng ứng”. Lý mừng rỡ sai ông ta đi, rồi đào tiền chôn lên, chế tạo binh giáp. Ông già đi mấy hôm mới về, nói "Nhờ uy phúc của đại vương, thêm ba tấc lưỡi của thần, các núi đều xin cầm roi theo dưới cờ", quả có mấy ngàn người theo về.
Lý bèn phong ông ta làm Quân sư, dựng cờ dấy quân, cờ xí san sát như rừng, chiếm cứ núi non xây dựng trại sách, thanh thế rất lớn. Quan huyện được tin dẫn quân tới đánh, bị ông ta chỉ huy đám giặc đánh bại. Quan huyện sợ, cấp báo cho phủ Duyện Châu (tỉnh Sơn Đông), quân Duyện Châu từ xa kéo tới, bị ông ta đem đám giặc mai phục đánh tan, tướng sĩ bị giết rất nhiều. Thanh thế của Lý càng lớn, có tới hàng vạn quân, bèn tự xưng là Cửu Sơn vương. ông ta sợ thiếu ngựa chiến, gặp lúc trong kinh đô đưa ngựa chiến xuống Giang Nam, bèn phái một cánh quân chặn đường cướp hết, từ đó danh tiếng Cửu Sơn vương càng lừng lẫy. Lý bèn gia phong ông ta là Hộ quốc đại tướng quân, mình thì nằm khểnh trên núi, nghênh ngang tự đắc, cho rằng chẳng bao lâu sẽ khoác long bào trị vì thiên hạ.
Quan tỉnh Sơn Đông vì chuyện ngựa bị cướp đang định đem quân đánh dẹp, lại được tin báo của phủ Duyện Châu, bèn phát vài ngàn tinh binh chia làm sáu đường tiến đánh, quân mã cờ xí đông đặc dưới núi. Cửu Sơn vương cả sợ, gọi ông ta tới bàn kế sách, thì không biết ông ta đã bỏ đi đâu rồi. Cửu Sơn vương túng thế không còn cách nào, lên núi nhìn xuống nói “Nay mới biết quân thế của triều đình lớn mạnh như vậy!". Kế đó quân thua bị bắt, vợ con đều bị giết, mới tỉnh ngộ rằng Nam Sơn ông là con hồ già ngày trước báo thù cho Lý bị diệt tộc.
Dị Sử thị nói: Phàm người ta lo cho vợ con, nhón chân cúi đầu thì lấy đâu ra tội mà giết, mà giả như có giết được cũng không sao giết cả họ được. Mưu của con hồ khéo thật. Nhưng muốn phá cái cây không sao trồng thì dẫu có tưới cũng không mọc được. Kẻ kia giết hồ tàn ác như thế thì trong lòng đã có mầm mống làm giặc cướp, nên hồ mới nuôi cho cái mầm ấy lớn lên mà báo thù. Ví như nay ra đường giữ người ta lại nói rằng “Ông là Thiên tử" thì không ai không hoảng sợ bỏ chạy. Đã biết rõ rằng đó là cái việc diệt tộc mà còn vui thích nghe theo, thì cả vợ con đều bị giết đã thấm vào đâu! Những kẻ nghe thấy lời quấy, vừa nghe thì nổi giận, kế lại nửa tin nửa ngờ, nghe nữa thì tin theo, đến khi thân danh rơi rụng mới biết là lầm, đại khái cũng đều như thế cả.
 
0
258. Cô Gái Hồ (Hồ Nữ)

Y Duyện người huyện Cửu Giang (tỉnh Giang Tây) đang đêm thấy có cô gái tới, trong bụng biết là hồ nhưng thích vì cô ta đẹp, bèn chung chạ, giấu không cho ai biết, cả cha mẹ cũng không hay. Lâu sau thân xác gầy mòn, cha mẹ hỏi riết, Y mới thưa thật. Cha mẹ lo lắm, sai người vào ngủ cùng phòng nhưng vẫn không ngăn cản được. Người cha đích thân vào ngủ thì hồ không tới, mà người khác thì hồ lại tới. Y hỏi, hồ đáp "Thứ bùa chú của thế tục làm sao ngăn cản ta được? Nhưng phải có luân lý chứ, chẳng lẽ lại ngủ với nhau trước mặt cha chàng sao?". Người cha nghe thế đêm nào cũng vào ngủ cùng phòng với con, hồ bèn không tới nữa. Sau gặp lúc giặc giã tới cướp, người trong làng chạy hết, cả nhà lạc nhau. Y chạy vào núi Côn Lôn, bốn bề hoang vắng, lại lẻ loi một mình, trời thì đã chiều, lòng càng lo sợ. Chợt thấy một cô gái đi tới, nghĩ rằng cũng là người chạy loạn, khi tới gần té ra là cô gái hồ. Giữa khi loạn lạc, gặp được người quen Y rất mừng rỡ. Cô gái nói “Trời đã tối, không còn đi đâu được chàng nên nghỉ lại đây, ta sẽ chọn chỗ xây tạm một cái phòng để tránh cọp beo".
Rồi đi về phía bắc mấy chặng, ngồi thụp xuống trong bụi cỏ, không biết làm gì. Giây lát quay ra dắt Y đi về phía nam, khoảng hơn mười bước lại kéo quay lại. Chợt thấy hàng ngàn cây đại thụ vây quanh một ngôi nhà cao, tường đồng cột sắt, nóc trắng như bạc. Tới gần thì thấy tường cao ngang vai, bốn phía không có cửa nẻo gì, mà trên tường lởm chởm chông nhọn, cô gái đạp lên vượt qua, Y cũng đi theo. Khi vào tới nơi, ngờ rằng nhà vàng không phải do người xây nhân hỏi ngôi nhà ở đâu ra. Cô gái cười đáp “Chàng cứ ở lại đây, sáng mai xin tặng luôn cho chàng, bấy nhiêu vàng bạc ăn suốt nửa đời cũng không hết". Kế chào từ biệt, Y năn nỉ lưu giữ, cô gái bèn ở lại, nói "Bị người chán ghét ruồng bỏ, đã quyết là vĩnh biệt, nay lại không thể cầm lòng được”. Khi Y tỉnh giấc, cô gái hồ không biết đã đi đâu rồi. Đến khi trời sáng Y vượt tường ra ngoài, ngoảnh lại chỗ ngủ thì không thấy đình đài nhà cửa gì cả, chỉ có bốn cái trâm cắm trong cái vòng tay, chỗ chụm lại phía trên lồng vào một cái nhẫn, những cây đại thụ thì là gai góc rậm rạp biến thành.

259. Vương Đại (Vương Đại)

Lý Tín là con bạc trong huyện. Ban ngày nằm ngủ, chợt thấy bạn cờ bạc trước kia là Vương Đại, Phùng Cửu tới rủ đi chơi. Lý cũng quên rằng họ đã chết, vui vẻ đi theo. Ra khỏi cửa, Vương Đại qua rủ Chu Tử Minh trong thôn, Phùng bèn dắt Lý đi trước, vào miếu ở xóm đông. Lát sau Chu cũng theo Vương tới. Phùng đem xúc xắc ra, chuẩn bị gầy sòng. Lý nói “Lúc nãy vội vàng không mang tiền theo, không chơi được, làm thế nào?", Chu cũng nói thế. Vương nói "Quan nhân họ Hoàng thứ tám ở Yến Tử cốc cho vay lãi, chúng ta cùng tới đó hỏi vay chắc được". Rồi đó bốn người cùng đi, lửng thửng một lúc tới một thôn ấp, trong thôn nhà cửa san sát. Vương chỉ vào một ngôi nhà nói "Đây là nhà công tử họ Hoàng". Có một người lão bộc trong nhà ra hỏi, Vương ngỏ ý, người lão bộc lập tức trở vào bẩm, lát sau quay ra nói vâng lệnh công tử mời Lý vào gặp.
Lý theo Vương vào thấy Công tử khoảng mười tám mười chín tuối, cười nói thân thiết, đem một chuỗi tiền lớn ra đưa cho Lý, nói "Biết ông vốn là người sòng phẳng nên cho vay không ngại, chứ Chu Tử Minh thì ta không tin". Vương năn nỉ giùm, công tử muốn Lý đứng ra bảo lãnh, Lý không chịu, Vương đứng cạnh nói mãi Lý mới chịu, rồi cũng vay một ngàn đồng ra đưa cho Chu, lại thuật rõ lời công tử để khích Chu phải trả. Ra khỏi cửa cốc, chợt gặp một người đàn bà đi tới, thì là vợ họ Triệu cùng thôn, tính hay gây gỗ chửi bới. Phùng nói "ở đây vắng người, đùa giỡn con mụ dữ dằn này một chút”. Bèn cùng Vương đuổi theo vào trong cốc, người đàn bà la lớn, Phùng vốc đất nhét vào miệng. Chu khen ngợi nói "Loại đàn bà này thì phải nút cả cái kia lại". Phùng bèn tuột quần người đàn bà, lấy một hòn đá dài nhét vào chỗ kín, người đàn bà đau đớn lăn ra như sắp chết, cả bọn bèn bỏ chạy.
Rồi lại trở về miếu đánh bạc với nhau từ trưa đến tối, Lý thắng lớn, Phùng và Chu thua sạch tiền, Lý vì có nhiều tiền chia bớt cho Vương, lại nhờ Vương trả giùm cho công tử họ Hoàng. Vương lại chia tiền cho Chu và Phùng, lại gầy sòng mới. Không bao lâu chợt nghe tiếng người xôn xao, rồi có một người xông vào miếu nói "Thành hoàng gia đích thân đi bắt cờ bạc, hiện tới đây rồi". Cả bọn hoảng sợ, Lý bỏ tiền leo qua tường chạy, ba người kia tiếc tiền nên đều bị bắt. Ba người bị giải ra ngoài quả thấy một vị thần ngồi trên ngựa, sau ngựa có hơn hai mươi người bị trói. Trời chưa sáng thì về tới huyện thành, cổng thành cũng vừa mở bèn vào. Tới nha thự, Thành hoàng lên ngồi quay mặt về phía nam, gọi giải phạm nhân vào, cầm sổ gọi tên từng người. Điểm danh xong, sai lấy búa sắc chặt hết ngón tay cái, lấy mực đen mực đỏ bôi lên hai mắt cả bọn rồi sai giải ra dong ba vòng quanh chợ.
Bọn lính áp giải đòi tiền hối lộ mới chịu bôi hết mực trên mặt cho, mọi người ai cũng đưa tiền ra, chỉ có Chu không chịu, nói là hết sạch tiền rồi. Tên lính áp giải hẹn giải về tới nhà rồi đưa tiền cũng được, Chu cũng không chịu, y bèn chỉ vào mặt Chu nói "Ngươi thật là hạt đậu bằng sắt, có rang cũng không nở nổi", rồi chắp tay chào bỏ đi. Chu ra khỏi thành, nhổ nước bọt vào tay áo vừa đi vừa lau mặt, tới sông soi xuống thấy dấu mực vẫn còn nguyên, vốc nước lên rửa nhưng mực bám chặt không trôi, mới hối hận thất thểu về nhà. Trước đó vợ họ Triệu đi thăm mẹ ruột, đến tối vẫn chưa thấy về, người chồng vội đi đón. Tới chỗ cửa cốc, thấy vợ nằm bên đường, nhìn dáng vẻ biết là gặp ma, vội móc đất trong miệng ra cõng về. Người đàn bà tỉnh dậy nói được, Triệu mới biết là trong chỗ kín còn có hòn đá, bèn nhẹ nhàng lấy ra. Đến khi vợ kể lại mọi chuyện, Triệu tức giận lên huyện kiện Lý và Chu.
Quan huyện gởi trát đòi xuống thì Lý mới tỉnh dậy, Chu thì vẫn còn mê man như chết. Quan huyện cho là Triệu vu khống, phạt đánh roi và bắt giam luôn cả người vợ, vợ chồng không biết làm sao bẩm rõ được. Hôm sau Chu tỉnh dậy, chung quanh hai mắt chợt biến thành một vòng màu đen một vòng màu đỏ, lại la lớn rằng đau ngón tay cái, người nhà tới nhìn thấy gân xương đã đứt hết, chỉ da bên ngoài còn liền mà thôi, mấy hôm sau thì rụng ra. Vết mực đỏ mực đen quanh mắt thấm luôn vào thịt, ai nhìn thấy cũng phì cười. Mấy hôm sau thấy Vương tới đòi nợ, Chu lớn tiếng nói không có tiền, Vương tức giận bỏ đi. Người nhà hỏi biết, đều nói thần thánh ma quỷ vô tình, khuyên trả đi, Chu không nghe cứ gân cổ cãi, lại nói “Ngay cả quan huyện cũng bênh vực ta, âm phủ dương gian cũng chỉ có một phép tắc, huống chi là nợ cờ bạc?".
Hôm sau có hai tên quỷ tới, nói là công tử họ Hoàng cũng kiện, đang chờ bắt Chu lên hỏi cung, Lý Tín cũng bị người tới bắt đi để làm chứng, hai người lăn ra chết cùng một lúc. Ra tới ngoài thôn thì gặp nhau, Vương và Phùng cũng tới. Lý nói với Chu ráng “Anh còn mang bộ mặt bên đỏ bên đen, lại dám tới gặp quan à?” Chu vẫn nói như cũ, Lý biết là keo kiệt tiếc tiền bèn nói "Ngươi đã mê muội như thế thì ta sẽ xin gặp công tử họ Hoàng để trả nợ cho ngươi". Rồi cùng tới chỗ Công tử, Lý vào nói rõ mọi việc. Công tử không chịu, nói rằng “Người nào thiếu nợ mà lại đòi ông trả?". Lý ra nói lại với Chu, lại tính bỏ tiền ra giả là tiền của Chu để trả, Chu càng tức tối, chửi rủa công tử, quỷ bèn trói lại lôi đi. Lát sau tới huyện thành, vào gặp Thành hoàng, Thành hoàng quát “Thằng vô lại mắt còn vết mực kia, định quịt nợ à?".
Chu thưa "Công tử bỏ tiền cho vay lãi, dụ dỗ ta đánh bạc, nên mới bị trừng phạt thế này”. Thành hoàng gọi người lão bộc nhà họ Hoàng lên, giận dữ nói “Chủ ngươi mở sòng dụ dỗ người ta đánh bạc, lại còn đòi nợ sao?". Người lão bộc thưa "Lúc họ vay tiền, công tử ta không biết là họ vay để đánh bạc. Nhà công tử ta ở Yến Tử cốc, họ đánh bạc bị bắt ở miếu Quan âm, cách nhau hơn chục dặm, mà xưa nay công tử ta không mở sòng bạc bao giờ”. Thành hoàng quay lại quát Chu "Vay tiền mà cứng cổ không chịu trả, lại còn nói ngược, vô lương tới như ngươi là cùng”. Toan phạt đánh trượng, Chu lại kêu là lãi nặng. Thành hoàng hỏi “Lãi mấy phân?", người lão bộc thưa "Tiền gốc còn chưa trả đồng nào". Thành hoàng tức giận nói "Gốc còn chưa trả mà đã dám kêu lãi nặng à?". Bèn phạt đánh ba chục trượng, sai áp giải về nhà để trả nợ.
Hai tên quỷ áp giải Chu về, đòi tiền hối lộ, không cho sống lại ngay, cứ trói nhốt trong nhà xí, sai báo mộng cho người nhà. Người nhà đốt hai mươi xấp tiền giấy, lửa vừa tắt thì biến thành hai lượng vàng và hai ngàn đồng. Chu đem vàng trả nợ, lấy tiền hối lộ hai tên quỷ áp giải, chúng mới chịu cởi trói cho hồn nhập vào xác. Chu sống lại, hai mông lở loét, máu mủ bê bết, mấy tháng mới lành. Vợ họ Triệu thì về sau không dám chữi bới gây gỗ với ai nữa, mà Chu thì chỉ còn bốn ngón tay và hai khoanh mắt một đỏ một đen như cũ, xem đó đủ biết bọn con bạc không phải là người.
Dị Sử thị nói: Chuyện không công bằng ở đời đều do quan lại gây ra, làm quá cả mực thước. Ngày trước những kẻ giàu có cho vay nặng lãi để bắt con gái nhà lành, người ta không ai dám nói, không thì đơn kiện có đưa lên quan cũng dùng pháp luật che chở cho chúng, nên ngày trước dân ghét quan đều nói là đầy tớ của bọn nhà giàu. Những bậc quan hiền về sau xét rõ mối tệ ấy thì lại làm trái hẳn lại. Có viên Cử nhân vay nhiều tiền buôn bán lớn, ăn tiêu xa xỉ, dựng đình đài mua ruộng tốt mà quên rằng tiền bạc ấy từ đâu mà có. Mỗi khi có người đòi nợ thì trợn mắt nhìn, báo lên quan thì quan nói “Ta không phải là đầy tớ cho người". Than ôi, như thế có khác gì Hòa thượng lười nhác không tu hành để giảm nỗi khổ cho người thế gian đâu! Ta vẫn nói quan xưa thì gian mà quan nay thì ác, kẻ gian vốn đáng chết song kẻ ác cũng đáng giận, cho vay tiền lấy lãi nhẹ thì đâu phải chỉ có lợi cho người giàu?
Trương Thạch Niên làm Tri huyện huyện Truy, rất ghét cờ bạc, cũng sai bôi mực lên mặt bọn cờ bạc dong đi trên phố như lối âm phủ, nhưng hình phạt thì không tới nỗi chặt ngón tay, mà trong huyện hết cả cờ bạc. Ông làm quan rất giỏi xét việc hiểu người, đang lúc giấy tờ sổ sách bận bịu, lại sắp đến trưa, mà có ai đánh bạc bị bắt giải vào, thì ông đều lắng nghe lời khai rồi hỏi thăm cả quê quán tuổi tác, gia đình có bao nhiêu người, làm ăn sinh sống thế nào, hỏi xong đều khuyên nên bỏ cờ bạc rồi tha. Có một người đưa tờ khai đóng thuế xong, tự cho rằng không có tội gì, đã định lui ra. Ông gọi lại hỏi thăm một lượt rồi nói "Tại sao người lại cờ bạc?". Người kia ra sức biện bạch rằng cả đời không biết cờ bạc là gì, ông cười nói "Trong lưng ngươi đang giắt xúc xắc". Khám ra thì đúng thế, mọi người đều cho là thần, nhưng không ai biết ông dùng cách gì.

0
260. Người Thiếp Đàn Ông (Nam Thiếp)

Có một viên quan ở Dương Châu (tỉnh Giang Tô) mua thiếp, đi khắp mấy nhà mà không chọn được người vừa ý. Chỉ có một bà già ở trọ bán con gái, đứa con gái khoảng mười bốn mười lăm tuổi, trông rất xinh xắn, lại giỏi múa hát. Ông ta mừng lắm bỏ ra một số tiền lớn mua về, hóa ra là đàn ông. Ông ta sợ quá, căn vặn tới cùng, thì ra là người kia mua bọn con trai xinh xắn về cho ăn mặc, trang sức giả làm con gái để lừa người ta mà thôi. Sáng ra, ông ta sai người nhà tới chỗ bà già, thì bà ta đã trốn mất rồi. Ông ta thẫn thờ, không biết tính sao. Vừa lúc ấy có người bạn đồng niên là Mỗ ở Chiết Trung tới thăm, bèn kể lại chuyện. Mỗ đòi xem mặt, vừa trông thấy đã rất ưa thích, mang đủ số tiền ra mua lại đứa con trai rồi mang đi.
Dị Sử thị nói: Nếu gặp được kẻ tri âm thì cho dù là bậc giai nhân tuyệt thế cũng không chịu đổi, tại sao bà già không biết việc đời kia còn mất công làm giả ra con gái làm gì?

261. Uông Khả Thụ (Uông Khả Thụ)

Uông Khả Thụ người huyện Hoàng Mai ở Hồ Quảng (tỉnh Hồ Bắc) nhớ được chuyện ba kiếp trước. Một kiếp ông ta làm học trò, đọc sách trong chùa, nhà sư trong chùa có con ngựa cái đẻ được ngựa đực con, ông ta thích bèn cướp lấy. Sau ông ta chết, Diêm Vương xem sổ giận về tội tham lam tàn bạo, phạt làm ngựa để trả nợ cho nhà sư. Nhà sư lại rất chăm chút thương yêu, ông ta muốn chết mà không được. Đến khi hơi lớn, định nhảy xuống khe núi tự tử, nhưng lại sợ phụ cái ơn thương yêu chăm sóc, càng bị Diêm đình trị tội nặng hơn, nên đành yên phận. Được vài năm, mãn hạn được tha, cho đầu thai làm con một nhà nông, vừa sinh ra đã biết nói, cha mẹ cho là điềm bất tường, bèn giết chết, lại được đầu thai vào nhà Tú tài họ Uông. Tú tài gần năm mươi tuổi mới sinh được con trai nên rất mừng rỡ. Uông khi sinh ra, vẫn nhớ kiếp trước vì biết nói sớm mà bị giết, nên không dám mở miệng. Được ba bốn tuổi, người nhà đều cho là bị câm.
Một hôm người cha đang làm văn thì có bạn tới thăm, gác bút trên bàn ra tiếp khách. Uông vào thấy bài văn cha làm dở dang, bất giác ngứa nghề, viết tiếp luôn tới hết bài. Khi người cha trở lại phòng thấy thế, hỏi là có ai tới, gia nhân đều bẩm là không có. Người cha ngờ vực, hôm sau viết một đề văn để trên bàn rồi bỏ ra ngoài. Lúc sau quay lại, rón rén đi vào, thì thấy con đang nằm phục trên bàn làm văn, đã viết được vài hàng. Uông thấy cha tới hoảng sợ kêu lên, quỳ xuống xin tha chết. Người cha mừng nắm tay kéo dậy nói "Nhà ta chỉ có một mình con, lại biết làm văn, đó là cái may của gia đình, sao lại sợ sệt?", từ đó lại dạy thêm cho con đọc sách. Uông trẻ tuổi đã đỗ Tiến sĩ, sau làm quan tới chức Tuần phủ Đại Đồng.

262. Vương Thập (Vương Thập)

Người dân ở huyện Cao Uyển (tỉnh Trực Lệ) là Vương Thập, đội muối từ huyện Bác Hưng (tỉnh Trực Lệ) về, nửa đêm bị hai người chặn bắt. Vương cho là lính tuần bắt muối lậu, bèn vứt muối định chạy, nhưng cuống chân chạy không được bị bắt, năn nỉ xin tha. Hai người kia nói "Bọn ta không phải là lính tuần bắt muối lậu, mà là quỷ". Thập sợ, nhưng xin được về nhà từ biệt vợ con, quỷ không cho, nói "Lần này đi chưa tới nỗi chết, chẳng qua chỉ tạm làm phu một thời gian thôi". Thập hỏi làm chuyện gì, quỷ đáp "Diêm Vương mới dưới âm phủ đáo nhiệm, thấy sông Nại Hà bị lấp tắc, hầm xí ở mười tám nhà ngục đều đầy nên bắt ba hạng người xuống vét sông Nại Hà là bọn ăn trộm, bọn làm tiền giả và bọn buôn muối lậu, lại có một hạng phải dọn hầm xí, là bọn chứa đĩ”. Thập theo vào thành, tới một nha thự, thấy Diêm Vương ngồi trên, đang lập sổ sách. Quỷ lên bẩm "Bắt được một tên buôn muối lậu là Vương Thập”. Diêm Vương nhìn xuống, giận dữ nói "Bọn buôn muối lậu, trên thì trốn thuế nước, dưới thì hại dân đen, tức như bọn tham quan gian thương mới gọi là bọn buôn lậu, chứ còn kẻ lương dân trong thiên hạ, nghèo quá thì phải kiếm chác chút đỉnh, cầu đủ cơm ăn mà thôi, thì sao gọi là buôn lậu được?". Bèn phạt hai tên quỷ, bắt đi mua bốn đấu muối, thêm cả vào số muối của Thập rồi vác về nhà cho Thập, giữ Thập lại trao cho gậy và bài gỗ, sai theo bọn quỷ đốc thúc việc vét sông.
Thập theo quỷ đi, tới cạnh sông Nại Hà, thấy dân phu dưới sông nối nhau đông đặc như kiến. Lại thấy nước sông đỏ ngầu, tới gần thì hôi thối không sao chịu nối. Nhưng người vét sông đều trần truồng ôm thúng lên xuống, xúc xương vụn thịt nát vào đầy thúng, chỗ sâu thì bẩn cả lên tới đỉnh đầu. Ai lười nhác thì lập tức bị gậy đập vào lưng vào đùi. Những người cùng đốc thúc đều lấy vải thơm quấn lại như cái nút, ngậm chặt vào miệng mới dám tới gần bờ sông. Thập thấy trong đám phu có người thầu buôn muối ở Cao Uyển bèn theo hành hạ, y xuống thì đánh vào lưng, lên thì đánh vào đùi. Người thầu sợ, cứ lặn hụp mãi dưới sông, Thập mới thôi. Qua ba ngày ba đêm, dân phu vét sông chết mất một nửa, công việc cũng hoàn thành, hai tên quỷ bắt Thập trước đây lại đưa Thập về nhà, tỉnh dậy thì biết mình đã sống lại. Trước đó Thập đội muối chưa về tới, trời sáng vợ ra mở cửa thì thấy hai bao muốì trước sân mà mãi không thấy Thập về, bèn nhờ người đi tìm. Thấy Thập chết trên đường, bèn cõng về, sờ vào mũi thấy còn thở nhẹ, lấy làm lạ nhưng không biết tại sao, khi Thập dã tỉnh dậy mới nói rõ.
Người thầu buôn muối cũng chết vào hôm trước, đến lúc ấy thì tỉnh dậy, những chỗ bị đánh đều sưng to, da thịt toàn thân lở loét, hôi thối không sao tới gần. Thập cố ý tới thăm, y nhìn thấy Thập vội rúc đầu vào chăn, giống như lúc còn ở Nại Hà. Hơn một năm y mới khỏi, không làm thầu buôn muối nữa.
Dị Sử thị nói: Một chuyện buôn muối, triều đình gọi là “lậu” là không làm theo phép công, quan lại và thương nhân gọi là “lậu” là không theo lệ riêng của họ. Gần đây ta tới vùng Tề Lỗ (tỉnh Sơn Đông) tận mắt nhìn thấy, thì những người thầu buôn muối đặt vựa đều vạch ra khu vực buôn bán, không những dân trong hạt không được qua hạt khác mua mà ngay cả dân  chợ này cũng không được qua chợ khác mua. Mà trong chợ còn đặt mồi nhử dân nơi khác tới mua, bán ở huyện khác thì rẻ mà bán cho dân trong huyện thì đắt. Lại còn đặt lính tuần ngăn bắt trên đường để người trong hạt không sao lọt lưới, nếu có người trong hạt giả mạo dân nơi khác tới mua thì không bắt tội. Cứ người bán nơi này nhử người mua nơi khác như vậy nên dân đen giả mạo là người nơi khác vượt cõi buôn bán càng nhiều.
Nếu bị bắt thì trước hết là bị lính tuần đánh nát tay chân rồi giải lên quan, kế bị quan gông cùm giam nhốt, gọi là bọn buôn muối lậu. Than ôi oan thay! Trốn mấy vạn tiền thuế thì không phải là buôn lậu mà mang túi xách giỏ lại là buôn lậu, người nơi này mua ở nơi khác thì không phải là buôn lậu mà mua tại nơi mình ở lại là buôn lậu, oan lắm vậy? Luật buôn muối trong chợ rất nghiêm nhưng chỉ nghiêm với những lính khổ dân nghèo, lấy công làm lời mà thôi. Không cấm được nên nay không cấm gì nữa mà lại thành ra giết những lính khổ dân nghèo. Vả lại lính khổ dân nghèo vợ con nheo nhóc, người trên mà giữ phép không làm bậy thì kẻ dưới biết nhục không làm càn, chỉ bất đắc dĩ mới bỏ mười đồng vốn để mong được một đồng lời mà thôi.
Nếu dân đều như thế thì ban đêm có thể không cần đóng cửa, chẳng phải là dân lương thiện trên đời sao! Kẻ thầu buôn muối kia không chỉ phải đào vét sông Nại Hà mà thôi đâu, còn phải bắt dọn cả hầm xí mới đáng tội. Mà quan thì lễ tết hàng năm đều nhận quà biếu của họ, nên đem pháp luật giúp họ giết dân lành, nếu tính cho người nghèo khổ thì quả không còn cách nào là buôn hàng lậu làm tiền giả. Kẻ cướp ăn cướp giữa ban ngày thì quan như điếc, bọn đúc tiền giả đúc tiền khói lửa mù trời thì quan như mù. Thế nhưng như ngày khác đào sông, giả như chưa tới những kẻ như Vương Thập mà số phu còn thiếu, thì quan giở pháp luật ra ngay đấy. Than ôi. Kẻ trên không nhân từ để cầm cân nảy mực mà cứ theo phép của bọn gian thương, càng ngày pháp luật càng nguy, thì còn trách gì hạng dân gian trá điêu ngoa ngày càng nhiều thêm mà loại dân hiền lành lương thiện ngày cứ chết dần!
Trước đây trong huyện có người thầu buôn muối, hàng năm cứ đưa số tiền một ngàn thạch muối tới dâng cho quan huyện, gọi nhã là Tiền mua muối. Lại gặp những dịp lễ tết cũng biếu xén rất hậu, người thầu mà có việc vào gặp thì quan đối xử rất trân trọng, có khi trò chuyện, có khi mời trà. Nên người buôn lậu bị bắt giải tới thì quan trùng phạt rất nặng không hề nương tay. Năm ông Trương Thạch làm Tri huyện huyện Truy, người thầu tới gặp, cũng theo lệ cũ chỉ vái mà không lạy. Ông giận nói "Quan trước nhận tiền của ngươi nên không thể không kính trọng người, chứ ta mua muối chợ mà ăn, gã thầu buôn muối nhà ngươi là cái gì mà dám vào công đường không chịu làm lễ?". Bèn sai lột áo đánh cho một trận, người thầu dập đầu năn nỉ rối rít mới được tha.
Sau trong chợ bắt được hai người buôn muối lậu, một người chạy thoát, một người bị giải tới quan. Ông hỏi hai người cùng đi buôn, người kia đâu rồi? Người buôn lậu đáp chạy mất rồi. ông hỏi "Chân ngươi đau không chạy được à?" người kia đáp "Thưa được chứ!”. Ông nói "Đã bị bắt là không chạy được, nếu đúng là được thì chạy thử xem có chạy được thật không?”. Người kia chạy vài bước toan dừng, ông nói "Chạy mau đừng dừng xem nào!”. Người kia cắm đầu cắm cổ lao ra khỏi huyện đường chạy luôn, ai thấy cũng cười. Việc ông thương dân như vậy rất nhiều, đây chỉ là chuyện vặt, nhưng đến nay người trong huyện vẫn còn ca ngợi kể lại.

0
263. Hai Người Họ Ban (Nhị Ban)

Ân Nguyên Lễ người Vân Nam, giỏi thuật châm cứu. Gặp lúc giặc cướp nổi lên, Ân chạy giặc trốn vào trong núi sâu, trời đã chiều mà xóm làng phía trước còn xa, sợ gặp hùm sói, nhìn ra phía trước thấy có hai người đang đi, vội đuổi theo. Hai người quay lại hỏi khách tên gì, Ân bèn nói rõ họ tên quê quán, hai người kính cẩn nói "Là lương y Ân tiên sinh đây sao? Bọn ta ngưỡng mộ Thái Sơn Bắc đẩu đã lâu rồi". Ân hỏi lại, hai người xưng là họ Ban, một người là Ban Trảo, một người là Ban Nha. Lại nói "Thưa tiên sinh, đường cũng còn xa may là nhà đá gần đây, xin tạm khuất gót ngọc, bọn ta cũng có chuyện muốn nhờ". Ân mừng rỡ đi theo họ. Giây lát tới một chỗ, nhà xây cạnh hang đá đốt củi thay đèn, ân mới thấy rõ hai người họ Ban thân hình to lớn lực lưỡng, trông không giống người lương thiện, nhưng không còn cách nào, đành phải nghe theo họ.
Lại nghe trên giường có tiếng rên rỉ, nhìn kỹ thì thấy một bà già đang nằm, có vẻ đau đớn. Ân hỏi bệnh gì, Nha đáp "Vì chuyện này nên kính mời tiên sinh". Bèn soi lửa lên giường, Ân tới gần xem thì thấy dưới mũi của bà già có hai lỗ thủng to bằng cái chén, lại nói đau không chịu được, không thể ăn uống. Ân nói “Bệnh này dễ chữa thôi". Bèn lấy ngải ra đốt vào mấy mươi chỗ, nói “Qua đêm sẽ khỏi". Hai người họ Ban mừng rỡ, nướng thịt nai mời khách, chẳng có cơm rượu gì khác, chỉ có thịt mà thôi. Trảo nói “Bất ngờ không biết là có khách, mong ông đừng trách". Ân ăn no rồi ngủ, lấy đá làm gối, hai người họ Ban tuy thành thật chất phác, nhưng thô mãng đáng sợ, Ân vì vậy trăn trở không dám ngủ say.  Trời chưa sáng, bèn gọi bà già dậy hỏi bệnh tình. Bà già tỉnh dậy, sờ lên vết thương trên mặt thì đã hết đau, Ân bèn gọi hai người họ Ban dậy lấy lửa soi, nói “Khỏi rồi". Rồi chắp tay cáo biệt, họ Ban lại nướng một đùi nai tặng cho đi đường.
Ba năm sau, không có chuyện gì, Ân vì có việc phải vào núi, bị hai con sói cản đường không đi được. Trời đã chiều, cả bầy sói kéo tới vây quanh xông vào cắn xé, mấy lần suýt bị táp trúng, quần áo rách hết, tự nghĩ chắc chết. Chợt có hai con cọp phóng tới, bầy sói chạy tứ tán, hai con cọp giận dữ gầm thét, bầy sói sợ hãi nằm mọp cả xuống, hai con cọp vồ giết hết rồi bỏ đi. Ân run rẩy lên đường, sợ không có chỗ ngủ, chợt thấy một bà già đi tới, nhìn Ân nói "Ân tiên sinh bị một phen hoảng sợ”. Ân ngạc nhiên hỏi tại sao bà già biết mình, bà già đáp "Ta là bà già bị đau trong thạch thất đây". Ân mới nhớ ra, bèn xin tá túc. Bà già dẫn Ân về, đưa vào một gian phòng, đèn đuốc sáng trưng, nói “Già này chờ tiên sinh lâu rồi”. Bèn đưa quần áo ra cho Ân thay, rồi dọn đủ rượu thịt ra, mời mọc rất ân cần.
Bà già tự rót rượu vào chén lớn mà uống, chuyện trò rất hào sảng, không phải như bọn đàn bà tầm thường. Ân hỏi hai người kia là người thế nào với bà, sao hôm nay không thấy? Bà già đáp “Đó là hai thằng con ta, sai chúng đi đón tiên sinh mà giờ này chưa về, chắc lạc đường rồi”. Ân cảm vì nghĩa, cũng uống say lúc nào không biết, lăn ra ngủ luôn. Tỉnh dậy thì trời đã sáng, nhìn quanh chẳng thấy nhà cửa gì cả, chỉ thấy mình đang ngồi trên một tảng đá lớn, nghe phía dưới hốc đá có tiếng thở phì phò như trâu, tới gần xem thì thấy một con cọp già đang ngủ chưa tỉnh, ở mõm có hai vết sẹo lớn bằng nắm tay, vô cùng hoảng sợ, rón rén trốn đi. Lúc ấy mới biết hai con cọp giết bầy sói chính là hai người họ Ban vậy.

264. Quyên Góp (Mộ Duyên)

Thần ếch vẫn mượn lời thầy đồng, thầy đồng vì thế biết được thần vui hay giận, nói với tín chủ là "Thần vui", thì có điều may, nếu nói là "Thần giận" thì cả nhà ngồi thở ngắn than dài, có người bỏ cả cơm nước, lưu tục cho là đúng, có lẽ thần thiêng thật, không phải chỉ là tin xằng.
Có nhà buôn giàu có là Chu Mỗ, tính tình keo kiệt, gặp lúc mọi người góp tiền sửa đền thờ Quan Đế, người giàu người nghèo đều đóng góp, riêng Chu thì không chịu mất chút gì. Ít lâu sau, xây dựng không đủ tiền, những người đứng ra coi sóc không biết làm sao. Gặp lúc mọi người cầu thần ếch, thầy đồng chợt nói lời của Tướng quân Chu Thương, sai mở sổ lạc quyên thu thêm ít nhiều, mọi người nghe theo. Thầy đồng nói "Người góp rồi thì không ép, người chưa thì tùy sức mà góp". Mọi người đều kính cẩn vâng dạ, ai cũng ghi tên vào sổ, thầy đồng lên tiếng hỏi "Chu Mỗ có ở đây không. Chu đang trà trộn núp tránh phía sau, chỉ sợ thần biết, nghe thế biến sắc, sợ sệt bước lên. Thầy đồng chỉ vào sổ nói "Ghi tên vào”. Chu càng lính quýnh, thầy đồng nổi giận nói "Đi chơi gái còn dám trả hai trăm, chuyện hay lại tiếc à?". Đại khái Chu ăn nằm với một người đàn bà, bị người chồng bắt được, phải đưa ra hai trăm đồng để xin tha. Chu càng thẹn thùng sợ hãi, bất đắc dĩ phải ghi tên vào. Trở về kể với vợ, vợ nói “Đó là thầy đồng lừa bịp thôi". Thầy đồng mấy lần tới hỏi, rốt lại Chu cũng không đưa tiền ra.
Một hôm vừa ngủ dậy, chợt nghe ngoài cổng có tiếng khìn khịt như trâu thở, ra nhìn thì thấy một con ếch to lớn lấp cả hai cánh cổng, chỗm chỗm nhảy vào xoay mình gác đầu lên bậc thềm, cả nhà đều hoảng sợ. Chu nói "Chắc là tới đòi tiền quyên góp đây" Bèn thắp hương khấn vái, xin đưa trước ba chục, số còn lại sẽ đưa sau, con ếch không động đậy. Lại khấn xin đưa năm chục, con ếch chợt co lại, nhỏ hơn khoảng một thước. Lại khấn xin đưa thêm hai chục nữa, con ếch còn nhỏ bằng cái đấu, xin đưa cả, con ếch còn bằng nắm tay, thong thả nhảy ra, chui vào góc tường đi mất. Chu vội lấy ra năm chục đồng vàng đưa tới chỗ sửa đền, mọi người đều lạ lùng, Chu cũng không nói rõ lý do. Được vài ngày, thầy đồng lại nói “chu Mỗ còn thiếu năm chục, sao không tới đòi?". Chu nghe thế rất sợ, lại đưa tới mười đồng vàng, tự nghĩ là đã đủ rồi.
Một hôm, vợ chồng vừa bắt đầu ăn cơm, con ếch lại tới, hình thù to lớn giống hệt lần trước, trợn mắt lấy thế. Trong chớp mắt nhảy phóc lên giường, giường kêu răng rắc muốn sập, chúi đầu vào gối mà ngủ, bụng phình to như con trâu, đầy kín cả cái giường. Chu sợ hãi, vội mang bốn chục đồng vàng còn thiếu ra, con ếch không hề động đậy. Trong nửa ngày, lũ ếch kéo nhau tới tụ tập ở nhà Chu, đến hôm sau càng đông, phòng khách nhà kho không đâu không có, con nào cũng to như cái bát, bắt ruồi đớp muỗi nhảy cả vào nồi niêu, nhơ bẩn không nấu nướng ăn uống gì được. Được ba ngày thì lúc nhúc đầy sân không có chỗ nào hở, cả nhà khiếp sợ, không biết làm sao để đuổi đi, bất đắc dĩ phải tới hỏi thầy đồng. Thầy đồng nói "Đó là vì bốn chục vẫn còn thiếu. Chu bèn khấn khứa, xin góp thêm hai chục đồng vàng, con ếch lớn mới từ từ ngóc đầu dậy, xin góp thêm, mới động đậy một chân, tới một trăm mới nhấc cả bốn chân, nhảy xuống giường ra cửa, nghênh ngang bò mấy bước lại quay trở vào nằm giữa cổng. Chu sợ, hỏi thầy đồng, thầy đồng giải thích là nó đòi Chu phải lập tức giao tiền ra, Chu không biết làm sao, phải lấy đủ tiền đưa cho thầy đồng, con ếch mới đi. Nhảy được vài bước thì thân hình chợt co lại lẫn vào giữa bầy ếch, không thể nhận ra được, rồi cả bầy nhao nhao ồm ộp tan đi.
Khi đền sửa xong, ngày lạc thành cũng cần có tiền cúng tế, thầy đồng chợt chỉ vào những người đứng ra coi sóc nói "Người này người này phải bỏ ra đủ số, tất cả mười lăm người, còn sót hai người". Mọi người khấn "Bọn ta và hai người ấy đều đã góp tiền". Thầy đồng nói "Ta không nói chuyện giàu nghèo, mà chỉ nói tới chuyện tiền của các ngươi bị ăn bớt, loại tiền ấy không nuốt được đâu, sợ lại có tai bay vạ gió nghĩ tới bọn người coi sóc công việc vất vả, nên mới giúp các ngươi ngăn chặn tai họa. Ngoài những người liêm chính cẩn thận thì có người ngồi đồng của ta, ta không hề riêng tây, sẽ bảo y mang ra trước để làm gương cho mọi người". Nói xong chạy mau vào nhà, lục lọi rương hòm, vợ hỏi cũng không đáp. Mang hết tiền bạc ra nói với mọi người rằng “Người này bớt xén tám lượng bạc, nay xin xem lại". Rồi cùng mọi người cân lại, thì được hơn sáu lượng, sai người ghi số thiếu, mọi người ngạc nhiên không dám hỏi han, nhận lấy số bạc. Thầy đồng sau đó vẫn không biết gì, có người kể lại cho, rất thẹn thùng, đem cầm bán quần áo để bù, chỉ có hai người là còn thiếu. Khi việc xong, một người bệnh hơn một tháng, một người bị nổi mụn nhọt, tiền thuốc men vừa ăn khớp với số còn thiếu, người ta cho rằng đó là quả báo về tội bớt xén
Dị Sử thị nói: Con ếch già quyên tiền, không ai không thể không làm điều thiện, mà còn được nhiều hơn kẻ đòi đâm đòi đánh! Lại phát giác ra việc những người coi sóc bớt xén mà ngăn chặn tai họa cho họ, thì tỏ rõ sự oai mãnh chính là làm việc từ bi đấy.

0
265. Người Thợ Mộc Họ Phùng (Phùng Mộc Tượng)

Phủ quân Chu Hữu Đức sửa sang vương phủ cũ làm công thự. Lúc ấy vừa khởi công, có người thợ mộc là Phùng Minh Hoàn trực đêm ngủ lại. Tối vừa đi nằm, chợt thấy cửa sổ hé mở, trăng sáng vằng vặc, nhìn ra đầu tường thấy có một con trĩ đỏ đứng. Đang chăm chú nhìn con trĩ đã bay xuống đất. Giây lát có một cô gái cởi trần lộ nửa người tới nhìn vào, Phùng ngờ là bạn thợ có ai vụng trộm với nàng, yên lặng lắng nghe thì mọi người đều đã ngủ say, trong lòng rạo rực, thầm mong nàng tới lầm chỗ. Giây lát cô gái quả vượt cửa sổ vào tới nằm vào lòng Phùng, từ đó đêm nào cũng tới. Lúc đầu Phùng còn giấu, sau bèn nói rõ. Cô gái nói “Thiếp không tới lầm đâu, kính trọng chàng mà tới đấy”. Hai người ngày càng khắng khít, đến khi công thự xây xong, Phùng định về nhà, cô gái đã chờ ngoài đồng. Thôn Phùng ở vốn không xa quận thành lắm, cô gái bèn theo về. Vào tới nhà, người nhà chẳng ai nhìn thấy nàng, Phùng mới biết đó không phải là người. Được vài tháng tinh thần suy giảm, Phùng lo sợ, mời thầy pháp tới trấn yểm, nhưng chẳng có kết quả gì. Một đêm cô gái ăn mặc đẹp đẽ tới gặp Phùng nói "Duyên nợ ở đời đều có định số, nên tới thì đuổi cũng không đi, nên đi thì giữ cũng không được, đêm nay xin vĩnh biệt chàng", rồi biến mất.

266. Cầu Tiên (Kê Tiên)

Mễ Bộ Vân ở huyện Chương Khâu (tỉnh Sơn Đông) giỏi cầu tiên, mỗi lần họp mặt với bạn bè đều cầu tiên, cùng nhau xướng họa. Một hôm, có người bạn thấy đám mây nhỏ trên trời nghĩ được một câu là Dương chi bạch ngọc thiên (Trời ngọc trắng mỡ dê), xin tiên đối lại. Tiên viết “Hỏi lão Đổng ở nam thành". Mọi người ngờ là tiên không đối được, nên mới nói thác như thế. Sau Mễ có việc đi ngang cửa nam thành, tới một chỗ đất đỏ như đan sa, lấy làm lạ, thấy một ông già chăn lợn cạnh đó bèn hỏi. Ông ta đáp “Chỗ đó tục gọi là Trư huyết hồng nê địa (Đất bùn hồng máu lợn)". Mễ chợt nhớ lại lời tiên, hoảng sợ hỏi tên thì ông già tự xưng là lão Đổng. Câu đối không có gì lạ nhưng biết trước rằng qua cửa nam thành ắt gặp lão Đổng, mới thật là thần tiên vậy.

267. Thư Sinh Bùn (Nê Thư Sinh)

Thôn La có Trần Đại, lúc trẻ vụng về ngu xuẩn, lấy vợ là Mỗ thị rất đẹp. Nàng cho rằng lấy chồng không bằng người, uất ức bất đắc chí không chịu ngủ chung, mẹ chồng cũng để mặc. Một đêm Mỗ thị ngủ một mình, chợt nghe gió khua cửa rồi có một thư sinh bước vào phòng. Nàng rất sợ hãi, ra sức chống cự, nhưng gân cốt cứ nhũn ra, từ đó ít có đêm nào ngủ một mình. Hơn một tháng thì hình dung tiều tụy, mẹ lấy làm lạ hỏi, ban đầu nàng còn hổ thẹn không chịu nói, bà cứ hỏi mãi nàng mới nói thật. Mẹ hoảng sợ nói “Đó là yêu quái rồi”. Dùng hàng trăm cách bùa chú trấn yểm cũng không ngăn chặn được, bèn sai Đại lén núp trong phòng, cầm gậy chờ sẵn. Đến khuya, thư sinh quả nhiên lại tới, đặt mũ lên bàn, lại cởi áo mắc lên giá, chợt hoảng sợ nói “Có mùi người lạ”. Rồi vội vàng mặc áo vào. Đại trong chỗ tối nhảy xổ ra, đập trúng vào lưng, kêu thành tiếng bồm bộp, ngoảnh nhìn bốn phía thì thư sinh đã biến mất. Đốt đuốc lên soi, thì một mảnh áo bùn còn rơi trên mặt đất, cái mũ bằng bùn vẫn còn trên bàn.

268. Què Trả Nợ (Kiển Thường Trái)

Ông Lý Trứ Minh tính khẳng khái hay làm ơn. Có người làng là Mỗ thuê nhà ông ở, người này lúc trẻ lười biếng, không biết làm ăn, nhà càng ngày càng nghèo, nhưng cũng khéo nghề vặt, thường khi qua giúp việc nhà, ông cũng trả công rất hậu. Những lúc không còn gì ăn, tới ông năn nỉ, ông cũng lập tức chu cấp cho. Một hôm y nói với ông rằng "Tiểu nhân thường ngày vẫn được cho nhiều nên một nhà ba bốn miệng ăn may không đến nỗi chết đói, nhưng làm sao lâu dài được! Xin chủ nhân cho tiểu nhân mượn một thạch đậu làm vốn". Ông theo lời đưa cho, Mỗ đội về. Hơn một năm, không hề trả tí gì. Đến khi hỏi tới, thì số đậu làm vốn đã hết sạch cả, ông thương y nghèo cũng không đòi nữa. Ông đọc sách trong chùa, hơn ba năm sau, chợt nằm mơ thấy Mỗ tới nói "Tiểu nhân còn nợ đậu của chủ nhân, nay tới để trả". Ông an ủi rằng "Nếu bắt ngươi trả, thì số ngày thường vẫn thiếu làm sao tính hết?". Mỗ buồn rầu nói "Dĩ nhiên, nhưng nếu có làm việc gì giúp người, thì có nhận ngàn vàng cũng có thể không trả, còn nếu bỗng dưng nhận không của người, thì một đấu một thưng cũng phải tính, huống chi là nhiều hơn?". Nói xong biến mất.
Ông càng ngờ, kế đó người nhà bẩm là tối qua con ngựa cái đẻ được một con ngựa con rất to lớn ông chợt nghĩ ra nói “Hay đó là Mỗ chăng?". Mấy ngày sau ông về nhà, nhìn thấy con ngựa con, đùa gọi tên Mỗ, con ngựa con chạy tới như hiểu, từ đó thành tên. Ông cưỡi nó lên huyện Thanh Châu (tỉnh Sơn Đông), người quản gia trong phủ Phò mã nhìn thấy rất thích, muốn bỏ nhiều tiền ra mua, còn đang mặc cả chưa xong, ông vì có việc nhà gấp không chờ được, bèn cưỡi về. Hơn một năm sau, nó bị con ngựa đực cùng chuồng cắn nát xương chân, không thể chữa được . Có người thầy thuốc chữa bệnh ngựa tới nhà ông trông thấy nói “Xin cứ giao con ngựa này cho tiểu nhân mang về, sớm tối chăm sóc cũng phải mất nhiều thời gian, nếu may mà chữa khỏi, bán được giá sẽ chia lại cho ông". Ông theo lời, mấy tháng sau người thầy thuốc bán con ngựa được một ngàn tám trăm đồng, đem một nửa dâng cho ông. Ông nhận tiền, mới sực nghĩ ra là vừa đúng với số tiền đậu Mỗ còn thiếu ngày trước. Ôi! Món nợ ở cõi dương gian mà âm phủ bắt phải trả, cũng đủ để răn người vậy.

269. Đuổi Quái (Khu Quái)

Từ Viễn Công ở huyện Trường Sơn (tỉnh Sơn Đông) là Chư sinh của nhà Minh cũ, bỏ Nho theo Đạo, dần dần học được bùa phép, xa gần đều nghe danh. Có một nhà giàu ở huyện nọ sai người mang ngọc lụa kính cẩn tới mời, đem ngựa để đón. Từ hỏi mời ta có chuyện gì? Người gia nhân từ chối là không biết, chủ chỉ dặn phải cố mời bằng được mà thôi. Từ bèn lên đường, tới nhà thì trong sân đã dọn sẵn yến tiệc, chủ nhân đón tiếp rất lễ phép nhưng vẫn không nói là mời tới để làm gì. Từ không nhịn được, hỏi rằng “Ông muốn ta làm gì, mà còn ngờ vực chưa nói ra". Chủ nhân vội nói không có gì, lại mời uống rượu, lời nói úp mở không sao đoán được. Trong lúc trò chuyện, không biết đã sắp tối. Chủ nhân bèn mời Từ ra vườn uống rượu, vườn xây dựng rất đẹp đẽ nhưng cây cối rậm rạp, cảnh vật âm u, hoa dại mọc đầy, cỏ mọc um tùm. Tới một căn gác thì tơ nhện giăng đầy cả trên dưới. Rượu được vài tuần thì trời tối hẳn, chủ nhân sai thắp đèn uống rượu tiếp, Từ lấy cớ không uống được nhiều rượu từ chối, chủ nhân bèn sai dẹp bàn tiệc mang trà ra. Bọn gia nhân vội vàng dọn dẹp bát dĩa, cất hết lên bàn trong gian phòng bên trái trên gác. Đang giữa tuần trà, chủ nhân lấy cớ có việc bỏ đi, người gia nhân cũng cầm đuốc đưa Từ vào nghỉ ở gian phòng bên trái, cắm đuốc lên chỗ đầu bàn rồi bước ra, có vẻ rất vội vã.
Từ cho rằng y đi lấy chăn màn tới ngủ cùng, chờ hồi lâu không thấy tiếng người nữa, bèn tự đứng dậy đóng cửa đi nghỉ. Ngoài song trăng sáng vằng vặc, Từ vào phòng lên giường nằm, nghe tiếng côn trùng mùa thu kêu rả rích kéo dài một lúc, trong lòng bồi hồi không sao ngủ được. Giây lát trên sàn có tiếng giày thình thịch đi tới, như là đạp mạnh vào sàn, tiếng vang rất to, thoáng cái đã tới cầu thang, rồi tới trước cửa phòng. Từ sợ nổi da gà, vội kéo chăn trùm lên mặt, thì cánh cửa đã tự nhiên mở ra. Từ hé góc chăn ra nhìn, thì thấy một con quái đầu thú mình người, lông lá xồm xoàm dài như bờm ngựa, đen kịt một màu, răng nhe chơm chởm, mắt sáng lập lòe. Tới trước cái bàn, nó cúi xuống hít hít những thức ăn thừa trong bát dĩa, lè lưỡi liếm qua một cái thì mấy cái dĩa sạch như chùi. Kế bước tới cạnh giường, hít hít lên chăn, Từ sợ quá vùng dậy chụp cái chăn lên đầu nó rồi la rầm lên. Con quái bị bất ngờ hoảng sợ vùng ra, tung cửa chạy mất.
Từ mặc áo định trốn đi, thì cửa ngoài vườn khóa chặt, không sao ra được. Đi men theo tường thấy có chỗ tường thấp bèn leo qua, thì là chuồng ngựa của chủ nhân. Người coi chuồng ngựa hoảng sợ, Từ kể lại chuyện rồi xin ngủ nhờ. Gần sáng, chủ nhân sai tìm Từ, thấy không còn trên lầu, hoảng sợ, tìm mãi thì ra ngủ chỗ chuồng ngựa. Từ gặp chủ nhân, rất căm hờn, giận dữ nói "Ta không biết phép thuật trừ yêu quái, ông lại bắt ta làm mà không nói trước một tiếng, trong bao của ta có một chiếc Như ý câu, lại không đưa tới chỗ ta ngủ, thì chết ta rồi". Chủ nhân xin lỗi nói "Vốn ta cho rằng nếu nói rõ thì ông sẽ từ chối, lúc đầu cũng không biết trong hành lý có võ khí, thật là đáng chết". Từ rốt lại vẫn hậm hực, đòi đưa ngựa về, từ đó yêu quái trong vườn cũng hết. Chủ nhân mời tiệc trong vườn, cười nói với khách khứa rằng “Ta không quên công lao của Từ sinh đâu”.
Dị Sử thị nói: Mèo đen mèo vàng gì cũng được, cứ bắt được chuột là tốt, lời nói ấy không phải sai. Nếu sau khi chụp chăn lên đầu con quái rồi hoảng sợ kêu la mà Từ lại giấu diếm nỗi sợ sệt khoe khoang là đuổi được yêu quái, chắc thiên hạ sẽ cho rằng Từ sinh là bậc thần nhân.

0
270. Tần Sinh (Tần Sinh)

Tần sinh ở huyện Lai Châu (tỉnh Sơn Đông), pha rượu thuốc lỡ tay bỏ lầm thuốc độc vào, nhưng tiếc không nỡ đổ bỏ, bèn nút lại để đấy. Hơn một năm, đang đêm thèm rượn nhưng không mua đâu được, chợt nhớ tới hũ rượu còn cất, mở nút ngửi thấythơm phức, thèm chảy nước miếng, không nhịn được bèn lấy chén rót uống. Vợ năn nỉ can, sinh cười nói “Uống cho đã rồi chết, còn hơn là thèm rượu mà chết". Rồi uống cạn chén, lại rót nữa, vợ đứng dậy hất đổ cái hũ, rượu chảy tràn ra sàn, sinh bò xuống liếm như chó. Giây lát, sinh đau bụng cấm khẩu, đến nửa đêm thì chết. Vợ gào khóc, mua quan tài gọi người tẫn liệm. Đêm sau, chợt thấy một mỹ nhân bước vào, thân hình chỉ cao có ba thước, đi quanh quan tài, lấy nước rưới lên mặt sinh, giây lát sống lại. Sinh quỳ mọp hỏi, mỹ nhân đáp "Ta là hồ tiên, chồng ta vào trộm rượu nhà họ Trần uống bị say chết nên ta tới cứu về ngang đây thì thấy ông, thương kẻ đồng bệnh nên sai ta lấy thuốc thừa vào cứu. Nói xong thì biến mất.
Bạn ta là Cống sĩ Khâu Hành Tố, nghiện rượu, một đêm lên cơn thèm mà không biết mua ở đâu, trằn trọc mãi nhịn không được, tính lấy giấm uống đỡ. Bèn nói với vợ, vợ gạt ngang, Khâu cứ lấy ra làm bừa, cũng rót giấm vào bầu, đặt lên lò hâm, uống cạn rồi cũng say, phanh áo lăn ra ngủ. Hôm sau, vợ thấy bầu rượu khô queo bèn sai đầy tớ đi mua, trên đường gặp em ông ta là Tương Thần hỏi thăm, ngờ rằng chị dâu không chịu mua rượu cho anh uống. Người đầy tớ nói "Phu nhân nói nhà không có nhiều giấm, đêm qua đã hết một nửa, nếu ông uống lần nữa thì sạch cả con giấm”, người ta nghe thấy đều cười. Không biết là đã lên con thèm thì rượu độc cũng ngon, huống chi là giấm? Chuyện này cũng nên chép lại vậy.
Trước đây ta ở kinh, cùng người bạn đồng niên tới ăn tiệc ở nhà ông Mỗ. Chủ nhân không biết uống rượu nên rượu đưa ra mời khách rất dở, người bạn ta lại uống liên tiếp mấy chén lớn. Khi về tới nhà, ta hỏi "Thứ rượu ấy chua như giấm, mà ông nuốt được à?” Bạn ta đáp “Lúc đó cổ ráo miệng khô, cho dù là giấm cũng uống, huống chi là thứ còn được gọi là rượu sao?". Ta nghe thế bật cười, không ngờ rằng có người uống giấm thay rượu thật.

271. Lường Gạt (Cục Trá)


I.

Gia nhân nhà quan Ngự sử nọ tình cờ đứng trong chợ, có một người áo mũ đẹp đẽ sang trọng tới cạnh bắt chuyện, dần dà hỏi tới họ tên và quan chức của chủ nhân, người gia nhân cứ sự thật trả lời. Người kia tự xưng mình họ Vương, làm Nội sử của một Công chúa. Chuyện trò dần dần thân mật, y nói "Đường làm quan nguy hiểm đáng sợ, người được vinh hiển đều phải nương dựa vào bậc quý thích, quý chủ nhân cậy nhờ ai?". Người gia nhân cười, đáp không nương dựa ai cả. Vương nói “Thế thì đúng như người ta vẫn nói là Tiếc phí tổn nhỏ mà quên tai họa lớn đấy?". Người gia nhân hỏi "Nhưng biết nương tựa vào ai cho được?”. Vương đáp "Công chúa lấy lễ đãi người, lại có thể bảo bọc cho người. Quan Thị lang Mỗ cũng do ta tiến dẫn đấy. Nếu không tiếc ngàn vàng làm lễ ra mắt, thì muốn gặp công chúa cũng không khó lắm". Người gia nhân mừng lắm, hỏi chỗ ở của người ấy. Người ấy chỉ cửa nhà, lại nói “Hàng ngày qua lại cùng ngõ mà không biết sao?". Người gia nhân về bẩm lại, viên Ngự sử mừng rỡ, lập tức bày tiệc, sai người gia nhân sang mời Vương.
Vương vui vẻ tới, trong bữa tiệc nói rõ từ tính tình tới thói quen của công chúa rất rành rẽ, lại nói nếu chẳng phải chỗ cùng ngõ gần gũi thì phải thưởng y trăm đồng vàng chứ không có chuyện làm giùm không công, viên Ngự sử càng tỏ lòng biết ơn. Khi ra về y hẹn "Quan lớn cứ sắp sẵn lễ vật, ta sẽ cố tìm dịp bẩm với Công chúa, chỉ trong sớm chiều là có tin tới ông". Vài ngày sau y mới tới, cưỡi một con ngựa cực đẹp, nói với Ngự sử rằng “Xin mau sắp xếp vào hầu. Công chúa bận rộn lắm, người tới xin ra mắt nối nhau từ sớm đến tối không lúc nào ngớt. Hôm nay có một lúc rỗi, phải đi ngay, để lỡ thì không biết lúc nào mới có dịp nữa”. Viên Ngự sử vội đem vàng ròng lụa tốt theo y, đi quanh co hơn mười dặm mới tới phủ đệ công chúa, bèn xuống ngựa đứng chờ. Vương đem lễ vật vào trước, hồi lâu trở ra lớn tiếng gọi Công chúa triệu quan Thị ngự Mỗ, kế có mấy người nối nhau xướng lời tuyên triệu. Viên Ngự sử khép nép đi vào, thấy một mỹ nhân ngồi trên thềm cao, phong thái dung mạo như tiên, ăn mặc lộng lẫy, thị nữ đều mặc áo gấm dàn hàng la liệt. Viên Ngự sử phủ phục làm lễ bái yết, rất mực cung kính. Công chúa truyền lệnh cho phép ngồi, ban trà bằng chén vàng, nói vài câu khen ngợi. Thị ngự kính cẩn lui ra, trong nội điện lại truyền ban cho mũ lông điêu và tất bằng đoạn. Về tới nhà, viên Ngự sử rất biết ơn Vương, đích thân qua nhà y đưa thiếp xin gặp để cảm tạ, nhưng cửa đóng im ỉm, nghĩ rằng y đi hầu Công chúa chưa về, nhưng qua ba ngày liền vẫn không gặp. Bèn sai người đến cổng phủ Công chúa hỏi thăm, thì cũng thấy cổng đóng then gài. Hỏi người chung quanh, họ đều nói “ở đây không có Công chúa nào cả, hôm trước có mấy người đến thuê ở tạm, đã đi ba ngày rồi". Người kia về báo lại, chủ tớ chỉ còn biết ngậm đắng nuốt cay mà thôi.

II.

Phó tướng quân Mỗ mang tiền lên kinh để cầu cạnh được thăng chức nhưng khổ nỗi không có ai tiến dẫn. Một hôm có một người sang trọng tới chơi, tự nói anh vợ mình là người hầu cận thiên tử. Trà nước xong, y xin vào chỗ kín trò chuyện, nói "Hiện nay ở xứ ấy còn khuyết một chức Tướng quân, nếu chịu tốn kém thì ta sẽ dặn anh ta ca ngợi ông trước mặt Thánh chúa, việc mà xong thì kẻ có thế lực bao nhiêu cũng không tranh được". Mỗ vì người ấy đột nhiên tới tìm, ngờ là lừa dối, người ấy nói "Chuyện này không nên chần chừ, ta chẳng qua chỉ muốn kiếm chác chút đỉnh ở ông anh vợ chứ với tướng quân thì một xu cũng không đòi hỏi. Giờ chỉ cần thỏa thuận rõ số tiền thù lao, làm giấy giao kèo, khi nào ông được thiên tử triệu kiến rồi mới phải chồng tiền. Nếu không có kết quả gì thì tiền của ông còn trong túi chứ đã ai móc mất?", Mỗ mới mừng rỡ bằng lòng.
Hôm sau y tới đưa Mỗ đi gặp người anh vợ, nói là họ Điền, hách dịch như bậc công hầu, Mỗ vào gặp thì tiếp đãi rất ngạo mạn vô lễ. Người kia đưa tờ giao kèo cho Mỗ, nói “Ta vừa bàn với ông anh, chuyện này không đủ bạc vạn không được, xin ông ký xuống dưới này”. Mỗ theo lời, Điền nói "Lòng dạ người ta khó lường, chỉ ngại việc xong rồi, lại lật lọng". Người kia cười nói "Anh quá lo, đã có thể cho chẳng lẽ không đoạt lại được à? Vả lại các quan trong triều có người tình nguyện nộp tiền mà còn không được đường công danh sắp tới của tướng quân đây còn xa rộng lắm, chắc không tới nỗi như thế đâu. Mỗ cũng ra sức thề thốt rồi về, người kia tiễn chân, dặn "Ba ngày nữa, xin trả lời ông". Qua hai ngày, trời vừa sẩm tối, có mấy người chạy tới báo "Thánh thượng đang đợi”. Mỗ cả kinh vội vàng vào chầu, thấy thiên tử ngồi trên điện, quân nanh vuốt dày đặc chung quanh. Mỗ phủ phục làm lễ bái kiến xong, Hoàng thượng cho ngồi, thăm hỏi ân cần rồi ngoảnh lại nói với tả hữu “Trẫm nghe danh Mỗ vũ dũng phi thường, nay thấy mặt, quả thật có tài Tướng quân". Nhân đó lại nói “Xứ ấy là đất hiểm yếu, nay ủy thác cho khanh, khanh chớ phụ lòng trẫm, nay mai sẽ có sắc phong chính thức". Mỗ bái tạ lui ra, lập tức có người kia theo về nơi trọ, theo đúng giao kèo nhận tiền.
Rồi đó Mỗ cứ nằm khểnh đợi sắc phong, hàng ngày đã khoe khoang với bè bạn. Qua mấy ngày, hỏi dò mới biết chức Tướng quân khuyết kia đã có người được bổ rồi. Mỗ cả giận, tới thẳng bộ Binh chất vấn "Mỗ đây đã nhận mệnh của Hoàng đế, sao người khác lại được bổ?". Quan Tư mã ngạc nhiên, Mỗ kể lại mọi việc, có tới một nửa như cảnh trong mộng. Tư mã nổi giận bắt đưa qua quan Đình úy xét xử, lúc ấy Mỗ mới cung khai tên họ người tiến dẫn, nhưng trong triều không có ai như thế, lại phải tốn kém bạc vạn nữa để chạy chọt mới chỉ bị cách chức đuổi về.
Lạ thay! Hạng võ biền tuy ngu ngơ nhưng chốn triều đường lại có thể đóng giả được sao? Ngờ rằng bên trong có trò ảo thuật gì đây, như lời người ta thường nói là Hạng trộm cướp lớn không cần phải vung đao múa gậy.

III.

Lý sinh người huyện Gia Tường (tỉnh Sơn Đông) giỏi đánh đàn cầm. Tình cờ đi chơi trên đồng phía đông huyện thành, thấy thợ thổ đào được được một chiếc đàn cầm cổ, bỏ ít tiền ra mua. Lau chùi thấy thân đàn có ánh sáng lạ, so dây gảy thử thì tiếng trong vang lạ thường. Sinh mừng như bắt được ngọc quý, cất vào túi gấm, giấu trong phòng kín, dẫu họ hàng rất thân thiết cũng không cho xem. Có quan huyện họ Trình mới về nhậm chức đưa danh thiếp tới chào Lý. Lý vốn ít giao du song vì ông ta tới chào trước nên đành qua đáp lễ. Vài ngày sau ông ta mời qua uống rượu, nài nỉ quá nên Lý phải tới. Trình là người phong nhã hơn đời, nghị luận sâu rộng nên Lý cũng thích. Hôm sau, Lý gửi thư mời lại, chuyện trò càng thấy hợp. Từ đó, sớm ngắm hoa, đêm thưởng nguyệt không mấy khi không có nhau.
Được hơn năm, một hôm Lý vào huyện đường, tình cờ nhìn thấy một cái túi gấm đựng đàn cầm đặt trên ghế, bèn mở ra xem. Quan huyện hỏi có am hiểu nghề này không? Lý đáp không rành lắm nhưng thường ngày cũng thích. Quan huyện ngạc nhiên nói "Biết nhau không phải mới một ngày, sao lại không cho nhau được nghe tiếng đàn tuyệt kỹ? Xin đốt lò trầm, mong ông dạo vài khúc nhỏ". Lý vâng lời đánh đàn, Trình khen "Thật là bậc thầy! Ta cũng xin múa rìu qua mắt thợ, mong ông chớ cười”. Nói rồi gảy khúc Ngự phong, thanh âm lạnh lẽo, quả có cái ý xuất trần dứt tục. Lý vô cùng kính phục, xin tôn làm thầy, từ đó hai người giao du ngày càng thân thiết.
Được hơn một năm, Trình truyền lại cho Lý hết mọi ngón đàn, nhưng mỗi khi Trình tới nhà, Lý chỉ đem đàn thường ra chơi, chưa từng để lộ ra là có cây đàn quý. Một đêm uống rượu ngà ngà say, quan huyện nói “Ta mới soạn được một khúc đàn, ông nghe thử xem thế nào?”. Rồi gảy một khúc Tương phi vô cùng ai oán, Lý hết lời ca ngợi. Quan huyện nhân nói “Chỉ tiếc không có đàn tốt, nếu có thì âm điệu còn hay hơn nhiều. Lý vui vẻ nói “Ta có một cây đàn khác hẳn loại thường. Nay đã gặp tri âm đâu dám giữ kín mãi". Bèn mở hòm, xách túi gấm đựng đàn ra. Quan huyện lấy đàn ra, kéo Vạt áo lau ghế, đặt đàn lên gảy lại khúc nhạc, lúc khoan lúc nhặt theo đúng âm luật, xảo diệu nhập thần, Lý nghe mà tay bất giác cũng đánh nhịp theo.
Đàn xong, Trình nói "Chút ít tài mọn làm phụ cả cây đàn quý. Nếu cho tiện nội tấu một khúc thì còn có một hai tiếng nghe lọt tai". Lý kinh ngạc hỏi "Quý phu nhân cũng giỏi đàn sao?". Quan huyện cười nói "Những ngón đàn ông thấy trước nay đều do tiện nội truyền cho”. Lý nói “Tiếc rằng tiểu sinh không sao được nghe tiếng đàn nơi khuê các!". Quan huyện nói “Chúng ta giao du với nhau thân thiết, cần gì phải kiêng kỵ hình tích lặt vặt. Ngày mai xin mang đàn qua, tiện nội có thể cách rèm đàn cho ông nghe". Lý mừng rỡ, hôm sau ôm đàn qua, Trình lập tức sai bày tiệc, lúc sau mang cây đàn vào nhà trong rồi trở ra. Vừa ngồi vào bàn thì sau rèm đã thấp thoáng bóng giai nhân, kế đó mùi hương lan ngào ngạt tỏa ra tới của. Giây lát tiếng đàn khe khẽ trỗi lên, Lý lắng tai nghe không rõ là khúc gì, chỉ thấy tâm thần xao xuyến, thân xác chơi vơi hồn phách bay bổng.
Tiếng đàn ngưng, Lý liếc mắt qua rèm thấy một giai nhân khoảng ngoài hai chục xuân xanh, sắc đẹp tuyệt thế. Quan huyện lấy chén lớn chuốc rượu, tiếng đàn bên trong đổi sang khúc Nhàn tình. Lý cả thân xác tâm thần đều thấy rung động phiêu diêu, uống hơi quá chén thấy đã say, đứng dậy cáo biệt, lên tiếng xin lại cây đàn. Quan huyện nói "ông đang say, coi chừng ngã. Mời ngày mai lại qua chơi cho tiện nội được trổ hết tài nghệ", Lý bèn ra về. Hôm sau qua thì nhà cửa vắng tanh, chỉ có một người lính già gác cổng. Lý hỏi thăm, người lính nói “Lúc canh năm quan huyện đã đưa hết cả gia đình đi, không biết làm gì, chỉ hẹn ba ngày quay lại”. Đến ngày hẹn, Lý lại qua chờ, đến tối mịt vẫn không thấy âm hao. Các lại dịch ở huyện đều nghi ngờ, lấy cớ có việc phải bẩm phá cửa vào tìm, thấy trong nhà trống không, chỉ còn có mấy món bàn ghế, bèn đem chuyện bẩm lên quan trên, quan trên cũng không rõ vì sao.
Lý mất cây đàn, mất ăn mất ngủ, lặn lội suốt mấy ngàn dặm, hỏi thăm khắp nơi mới biết Trình sinh vốn người đất Sở, ba năm trước đây nhờ quyên tiền được bổ làm Tri huyện Gia Tường. Lý theo tên họ, quê quán đi tìm thì đất Sở hoàn toàn không có người ấy. Có người nói có một đạo sĩ họ Trình, giỏi đàn cầm, nghe đồn biết thuật điểm kim, ba năm trước bỗng đi đâu mất không thấy trở về, có lẽ là người ấy. So lại tuổi tác, hình dáng thì quả đúng không sai, lúc ấy mới biết đạo sĩ quyên tiền mua chức quan đều vì cây đàn. Kết giao hơn một năm không nói gì tới âm luật rồi mới đưa đàn ra, dạy đánh đàn, kế dùng sắc đẹp để làm xiêu lòng, dần dà suốt ba năm, lừa lấy được cây đàn là đi ngay, cái bệnh mê đàn của đạo sĩ so ra lại còn hơn cả Lý sinh. Cách lường gạt trong thiên hạ thì nhiều vô kể, nhưng như đạo sĩ thì còn là một kẻ phong nhã trong bọn lường gạt.

0
276. Đỗ Tiểu Lôi (Đỗ Tiểu Lôi)

Đỗ Tiểu Lôi là người phía tây huyện Ích Đô (tỉnh Sơn Đông). Mẹ bị lòa cả hai mắt, Đỗ thờ mẹ rất có hiếu, nhà tuy nghèo nhưng ngày nào cũng tìm thức ăn ngon dâng mẹ. Một hôm Đỗ có việc đi vắng, ra chợ mua thịt đưa vợ bảo làm bánh bao cho mẹ. Vợ Đỗ rất ngỗ nghịch, lúc băm thịt làm nhân bánh, trộn cả bọ hung vào. Mẹ Đỗ ngửi thấy mùi hôi thối không sao ăn được, bèn cất đi đợi con về. Khi Đỗ về hỏi mẹ bánh bao có ngon không, mẹ lắc đầu đưa cho xem. Đỗ bẻ bánh ra nhìn, thấy có bọ hung giận lắm, vào phòng muốn đánh vợ, lại sợ mẹ nghe tiếng, nén giận lên giường nằm, vợ hỏi gì cũng không đáp. Vợ lấy làm lo sợ quanh quẩn mãi dưới giường, hồi lâu thở phì phì. Đỗ quát “Không đi ngủ đi, còn chờ phải giục à!", vẫn không nghe trả lời. Đỗ dậy soi đèn xem thì không thấy vợ đâu, chỉ thấy có một con heo, nhìn kỹ thấy hai chân sau vẫn còn là chân người, mới biết đó là vợ mình hóa ra. Quan huyện nghe chuyện, sai buộc con heo dong ra cửa tây huyện thành để răn chúng. Đàm Vi Thần từng chính mắt nhìn thấy.

277. Bình Cổ (Cổ Bình)

Thôn ở phía bắc huyện Truy (tỉnh Sơn Đông) có cái giếng cạn, người trong thôn là Giáp và Ất dòng dây leo xuống vét. Đào được hơn thước thì đụng một cái đầu lâu, vô tình cuốc vỡ, thấy trong miệng có ngậm vàng, mừng rỡ giắt vào lưng. Lại đào tiếp, gặp sáu bảy cái đầu lâu khác, muốn tìm vàng nên đập vỡ hết nhưng chẳng thấy gì. Bên cạnh lại có hai cái vò đất nung, một cái bình cổ bằng đồng. Cái bình lớn một ôm, nặng mấy mươi cân, hai bên có quai, không biết dùng làm gì, chỉ thấy hoa văn rất đẹp. Hai cái vò cũng rất cổ, không phải là vật thời gần đây. Đến khi lên khỏi giếng, Giáp và Ất cùng chết, lát sau Ất tỉnh dậy nói "Ta là người thời Hán, gặp loạn Vương Mãng cả nhà đều bị ném xuống giếng, có chút ít vàng nên ngậm trong miệng để giấu nào phải là vật tẫn liệm, ai cũng có đâu. Tại sao lại đập nát hết đầu lâu, thật đáng giận?".
Mọi người thắp hương khấn vái xin sẽ chôn cất lại chu tất, Ất mới sống được, còn Giáp thì chết luôn. Tôn sinh Nhan Trấn nghe chuyện lạ, mua cái bình đồng mang về, hai cái vò đất thì một về tay Hiếu liêm họ Tuyên, có thể nhìn vào mà nghiệm được mưa nắng. Cứ thấy có một đốm sáng trên thân vò, bắt đầu nhỏ như hạt gạo, dần dần loang rộng ra thì không bao lâu trời sẽ mưa, đốm sáng thu nhỏ lại thì trời sẽ tạnh. Một cái thì về tay Tú tài họ Trương, dùng để xem lịch, ngày mùng một thì có một đốm đen như hạt đậu, ngày càng lớn dần, đến ngày rằm thì choán hết cả thân vò, sau đó thì nhỏ dần lại, đến ngày ba mươi thì trở lại như ban đầu. Vì chôn lâu dưới đất nên trên miệng bình có một hòn đá nhỏ chèn vào không đựng được gì cả, muốn gõ lấy ra, hòn đá rơi xuống làm miệng vò bị mẻ một miếng nhỏ, cũng là một việc đáng tiếc. Cắm hoa vào, hoa rụng thì kết quả, không khác gì với quả trên cây.
 
278. Tần Cối (Tần Cối)


Nhà Tể tướng họ Phùng ở huyện Thanh Châu (tỉnh Sơn Đông) giết một con heo, đổ nước sôi cạo lông thấy da có hàng chữ rằng "Thân sau bảy đời của Tần Cối”. Mổ ra thì thịt rất hôi thối, bèn vứt bỏ cho chó. Ô hô, thịt của Cối mà chó cũng không thèm ăn. Nghe người ở huyện Ích Đô (tỉnh Sơn Đông) nói: Tổ tiên của Tể tướng bị Cối hại, nên lúc bình sinh rất kính trọng Vũ Mục vương*, lập một điện thờ Nhạc vương ở cạnh ngã tư đường phía bắc thành Thanh Châu, có tượng Tần Cối và Vạn Hầu Oa quỳ dưới đất để người tới cúng tế thì ném đá vào, hương lửa không dứt. Về sau lúc đại binh chinh phạt Vu Thất**, con cháu họ Phùng hủy tượng Nhạc vương, người quanh đó lại có tục thờ Tử Tôn Nương nương, nên đặt tượng của Cối và Oa lên giữa cho mọi người quỳ lạy. Sau trăm đời, chắc sẽ có chuyện lầm lẫn như Đỗ Thập di, Ngũ Tỳ Tu***, thật đáng cười.
* Vũ Mục vương: tức Nhạc Phi, tướng giỏi thời Nam Tống, cầm quân đánh Kim có công, bị gian thần là Tần Cối giả mệnh vua triệu về rồi vu khống giết chết trong ngục, được các triều đại sau truy phong là Vũ Mục vương.
**Vu Thất: thủ lãnh chống triều đình đời Thuận Trị nhà Thanh (1644-1661).
*** Đỗ Thập di, Ngũ Tỳ Tu: dân quê Trung Quốc thường ngoa truyền, tương đền thờ Ngũ Tử Tư (tức Ngũ Viên) thờ Ngũ Tỳ Tu, đền thờ Đỗ Thập di (tức Đỗ Phủ) thờ Đỗ Thập di (dì họ Đỗ thứ mười), vì đồng âm nên lầm ra như thế.
Lại ở trong thành Thanh Châu trước có đền thờ Tử Vũ, lúc Ngụy Đang nắm quyền, trong các nhà thế gia có kẻ xu nịnh, bôi xóa râu tóc áo mũ trên tượng Tử Vũ, đổi làm tượng Ngụy giám*, cũng là chuyện khiến người ta nghe thấy phải khiếp sợ vậy
*Ngụy giám: tức Ngụy Trung Hiền, hoạn quan thời Minh, có thế lực rất lớn, khuynh loát cả trong triều ngoài quận, sử sách xưa coi là kẻ gian thần

0
Quyển XIV

279. Yên Chi (Yên Chi)

Họ Biện ở huyện Đông Xương (tỉnh Sơn Đông) làm nghề chữa bệnh cho trâu, có cô con gái tên Yên Chi, tài sắc đủ bề. Người cha yêu dấu lắm, muốn gả cho con nhà cao quý, song những kẻ giàu sang lại khinh ông ta nghèo hèn không xứng làm thông gia, nên cô gái đến tuổi cập kê mà vẫn chưa hứa gả cho ai. Nhà đối diện có Vương thị vợ họ Cung, tính buông thả, thích đùa cợt, hay sang trò chuyện với cô gái. Một hôm cô gái đưa Vương thị ra cổng, thấy một thiếu niên đi qua, quần áo trắng tinh, phong thái hơn người, thấy lòng xao xuyến bèn liếc trộm. Thiếu niên cúi đầu rảo bước, đi xa rồi mà cô gái cứ nhìn theo mãi. Vương thi đoán được tình ý, đùa nói rằng “Tài Sắc như nương tử mà sánh đôi với người ấy thì không có gì phải hối tiếc". Cô gái đỏ bừng mặt nín lặng không nói gì. Vương thị hỏi có biết y không, cô gái đáp là không biết. Vương thị nói "Đó là Tú tài Ngạc Thu Chuẩn con ông Cử nhân đã chết ở ngõ Nam, ta vốn là người cùng làng nên có biết. Đàn ông trên đời không ai nhã nhặn bằng y đâu. Y mặc đồ trắng vì đang còn tang vợ, nếu nương tử vừa ý ta sẽ nhắn lời mai mối cho". Cô gái vẫn im lặng, Vương thị cười rồi về.
Mấy ngày sau vẫn không có tin tức gì, cô gái cho là Vương thị chưa rảnh đi ngay được, lại ngờ rằng họ là nhà dòng dõi không chịu hạ mình. Rồi cứ bồi hồi lo lắng, nghĩ ngợi quẩn quanh bỏ cả ăn uống, nằm liệt giường. Vương thị tới thăm, hỏi vì sao mà bị bệnh, cô gái đáp "Cũng chẳng biết nữa, từ hôm chị về rồi cứ thấy trong người khó chịu, hơi thở bây giờ chỉ còn thoi thóp, sống nay chết mai thôi?". Vương thị nói khẽ "Chồng ta đi buôn chưa về, nên chưa có người đánh tiếng cho chàng Ngạc. Ngọc thể không yên là vì thế chứ gì?”. Cô gái thẹn thùng hồi lâu, Vương thị lại đùa nói “Nếu đúng vì thế mà bệnh nặng thế này thì còn e dè gì nữa? Trước hết cứ nhắn tới gặp nhau một tối, chẳng lẽ y lại không chịu à!". Cô gái thở dài nói " Sự tình tới mức này không thể làm khác được, nhưng nếu họ không hiềm nhà ta thấp hèn, nhờ người mai mối tới dạm hỏi ngay thì ắt là ta khỏi bệnh, chứ hò hẹn tư tình thì nhất định là không được". Vương thị gật đầu trở về.
Lúc trẻ Vương thị đã tư thông với người học trò láng giềng là Túc Giới, khi đã lấy chồng rồi Túc vẫn rình lúc chồng thị đi vắng tìm tới với người xưa. Đêm ấy gặp lúc Túc tới, Vương thị kể lại chuyện cô gái để cười với nhau, lại đùa nhờ Túc đánh tiếng với Ngạc. Túc vốn biết cô gái đẹp từ lâu, nghe thế mừng thầm, định thừa gió bẻ măng. Toan bàn mưu với Vương thị nhưng lại sợ thị ghen, bèn làm ra vẻ vô tình hỏi rõ đường đi lối lại trong nhà cô gái. Đêm sau y trèo tường vào, đến thẳng phòng cô gái gõ nhẹ cửa sổ. Bên trong hỏi ai, y đáp là Ngạc. Cô gái nói “Sở dĩ thiếp nghĩ tới chàng là vì chuyện trăm năm chứ không phải vì vui một tối. Nếu quả thực chàng yêu thương thiếp thì mau nhờ mai mối tới hỏi, chứ nói chuyện lén lút kia nọ thì không dám vâng lời". Túc vờ ưng thuận nhưng cố xin cho được cầm tay một cái làm tin. Cô gái không đành lòng cự tuyệt, gượng dậy mở cửa. Túc vào lại đòi giao hoan, cô gái nói "Sao mà ác thế, chắc không phải là chàng Ngạc. Nếu đúng là chàng Ngạc, thì người ôn hòa văn nhã biết vì sao thiếp bệnh hẳn phải xót thương chứ đâu lại cuồng bạo thế này! Nếu cứ như thế, thiếp phải kêu lên, phẩm hạnh tổn thương thì chẳng ai có lợi đâu”.
Túc sợ lộ không dám cưỡng ép nữa, chỉ xin được gặp lại, cô gái hẹn ngày nghênh hôn. Túc cho rằng còn lâu quá, cứ nài nỉ, cô gái thấy y dằng dai đành hẹn đến khi khỏi bệnh. Túc xin vật làm tin, cô gái không cho. Túc nắm chân nàng tuột bừa lấy chiếc giày thêu rồi bỏ đi. Cô gái gọi lại, nói "Đã hẹn ước thân này là của chàng, có tiếc gì chiếc giày. Chỉ sợ vẽ hổ không nên lại ra con chó, để bị chê cười thôi. Nay vật mọn đã lọt vào tay chàng, chắc không thể lấy lại được nữa, nếu chàng phụ lòng, thiếp chỉ còn một chết thôi đấy?”. Túc trở ra, lại về nhà Vương thị ngủ, đi nằm vẫn không quên chiếc giày, ngầm mò trong tay áo thì không thấy đâu nữa. Vội dậy che đèn xốc áo tìm thầm, Vương thị hỏi không đáp, ngờ là Vương thị giấu. Thị cười cợt ngờ vực, Túc không giấu được, đành kể thật mọi chuyện. Nói xong đốt đuốc ra tìm ngòai cửa nhưng vẫn không có đành ôm hận trở vào ngủ, thầm mong đêm khuya không có ai qua lại, chiếc giày rơi vẫn còn trên đường, nhưng sáng dậy sớm ra tìm cũng không thấy đâu.
Trước đó trong ngõ có Mao Đại là kẻ lông bông không nghề nghiệp vẫn ve vãn Vương thị nhưng không được, biết Túc tư thông với thị nên muốn rình bắt để ép buộc. Đêm ấy y qua nhà thị, đẩy cổng thấy chưa gài bèn lẻn luôn vào. Vừa tới ngoài cửa sổ thì giẫm phải một vật mềm như nầm lụa, nhặt lên xem thì là một chiếc giày con gái bọc trong khăn. Y bèn núp rình, nghe rõ hết lời Túc kể, vô cùng mừng rỡ, lập tức trở ra. Vài đêm sau, y leo tường vào nhà cô gái, nhưng không biết chỗ nên tới lầm phòng người cha. Ông Biện nhìn qua cửa sổ thấy đàn ông, xem dáng cách biết là tới đây tìm con gái mình, nổi giận cầm dao xông ra. Mao Đại sợ bỏ chạy, định leo tường trở ra nhưng ông Biện đã đuổi sát tới, y bí quá không biết làm sao bèn quay lại cướp dao. Bà Biện chạy ra la lên, Mao sợ không chạy được bèn đánh chết ông Biện. Cô gái đã hơi đỡ, nghe tiếng ồn ào mới vùng dậy cùng đốt đèn ra soi thì cha đã bể sọ không nói được nữa, giây lát thì chết. Tìm được dưới chân tường chiếc giày thêu, bà mẹ xem lại thì là của Yên Chi. Hỏi gặng thì cô gái khóc kể lại hết mọi chuyện, nhưng không nỡ để Vương thị bị liên lụy nên chỉ nói là Ngạc tự tìm tới mà thôi.
Sáng ra, nhà họ Biện kiện lên huyện, quan huyện sai bắt Ngạc. Ngạc vốn vụng dại nhút nhát, mười chín tuổi rồi mà gặp người lạ vẫn thẹn thùng như trẻ con. Cho nên bị bắt tra hỏi thì vô cùng sợ hăi, trước công đường chẳng biết đối đáp ra sao, chỉ run lẩy bẩy. Quan huyện thấy thế càng tin chắc là kẻ phạm tội, sai tra tấn tàn nhẫn, thân học trò yếu ớt không chịu đau nổi nên Ngạc đành nhắm mắt nhận tội bừa. Giải lên phủ cũng thế, Ngạc oan ức đầy ruột, xin được gặp mặt Yên Chi đốl chất. Nhưng vừa gặp, cô gái đã chửi mắng tàn tệ, Ngạc lại đớ lưỡi không sao phân trần được. Vì vậy Ngạc bị khép tội chết, thẩm vấn nhiều lần, qua mấy viên quan, vẫn không ai nói khác.
 Sau đó án được ủy cho phủ Tế Nam phúc duyệt. Bấy giờ ông Ngô Nam Đại đang làm Tri phủ, vừa thấy Ngạc sinh đã ngờ không phải là kẻ giết người, bèn ngầm sai người nhẹ nhàng hỏi riêng, được lời khai cặn kẽ thì biết là Ngạc bị oan. Ông suy nghĩ mấy ngày mới hỏi cung lại. Đầu tiên hỏi Yên Chi rằng sau khi hẹn ước có ai biết chuyện không, cô gái trả lời là không. Lại hỏi lúc gặp Ngạc sinh có còn ai khác không, cô gái cũng trả lời là không. Ông bèn gọi Ngạc lên ôn tồn hỏi, Ngạc thưa lúc đi qua cổng nhà ông Biện thấy người hàng xóm cũ là Vương thị cùng một thiếu nữ đi ra thì vội rảo bước, đi qua không nói câu nào. Ông Ngô quát cô gái “Ngươi vừa nói khi gặp Ngạc không có ai khác, sao đây Ngạc nói có người đàn bà hàng xóm?". Rồi định tra tấn, cô gái sợ thưa “Tuy có Vương thị, nhưng không có dính líu gì tới chuyện này”. Ông thôi hỏi cung, sai bắt Vương thị.
Mấy ngày sau Vương thị tới, ông không cho gặp cô gái, lập tức thẩm vấn. Hỏi Vương thị ai là kẻ giết người, Vương thị thưa không biết, ông giả vờ nói "Yên Chi đã khai là ngươi biết rõ người giết ông Biện, còn giấu nữa à?". Vương thị vội kêu "Oan cho ta quá! Con dâm nữ ấy tự phải lòng trai, tuy ta có nói sẽ làm mối cho nhưng chỉ để đùa cho vui thôi. Nó tự dẫn gian phu vào nhà, làm sao ta biết!". ông hỏi cặn kẽ, thị mới thuật lại những lời nói đùa trước sau. Ông gọi cô gái lên, tức giận nói “Ngươi nói thị không biết chuyện, sao bây giờ thị lại khai ra chuyện làm mai mối?". Cô gái sa lệ đáp "Tự ta đã không ra gì khiến cha phải chết thảm, mà kiện tụng không biết đến năm nào mới xong, nên thật lòng không nỡ làm liên lụy tới người khác thôi!". Ông hỏi đã đùa cợt rồi có nói lại với ai không, Vương thị khai là không. Ông giận nói !Vợ chồng đầu gối tay ấp thì chuyện gì lại không nói, tại sao còn chối?". Vương thị khai chồng vắng nhà đã lâu. Ông nói "Dù thế nhưng kẻ đã trêu cợt người khác đều cười người ta ngu, tự cho mình là khôn, mà lại không nói với người nào, thì định lừa dối ai?”. Rồi sai kẹp mười đầu ngón tay, thị bất đắc dĩ phải khai thật là đã có nói với Túc, ông bèn cho thả Ngạc bắt Túc.
Túc tới khai là không biết gì, ông nói "Đi chơi gái thì không phải là kẻ tốt lành". Bèn sai tra khảo, Túc phải khai thật là có lừa cô gái, nhưng sau khi làm mất chiếc giày thì không dám tới nữa, còn quả thật không rõ về việc giết người. Ông giận dữ nói "Đã leo tường rồi thì có chuyện gì mà không làm?", rồi lại sai tra khảo, Túc không chịu nổi phải nhận bừa. Án đã thành, báo lên trên, ai cũng khen ông Ngô là thần minh. Bản án nghiêm khắc nặng nề, Túc chỉ còn có cách vươn cổ chờ chém. Nhưng Túc tuy là kẻ phóng đãng vô hạnh song vốn là một danh sĩ vùng Sơn Đông, nghe tiếng quan Học sứ họ Thi là bậc hiền năng lại yêu người tài, thương kẻ sĩ bèn làm một bài từ kêu oan rất thống thiết gởi tới. Ông Thi xem đi xem lại, ngẫm nghĩ rồi vỗ bàn nói "Gã học trò này bị oan rồi", bèn xin với quan trên cho được xét lại vụ án.
Hỏi Túc để rơi chiếc giày ở đâu, Túc khai là không rõ, chỉ nhớ rằng khi gõ cửa nhà Vương thị vẫn còn trong tay áo. Ông quay qua hỏi Vương thị rằng ngoài Túc Giới còn dan díu với ai khác không, Vương thị thưa là không. Ông hỏi “Đã là người không trinh tiết, lẽ nào chỉ tư thông với chỉ một người?". Khai rằng "Đã dan díu với Túc Giới từ lúc nhỏ nên chưa dứt tình, chứ về sau không phải không có kẻ ve vãn, song thực chưa từng dám đi lại với ai?”. Ông bảo nói rõ tên những kẻ ve vãn làm bằng chứng, Vương thị khai “Mao Đại ở cùng làng đã mấy lần gạ gẫm, nhưng đều cự tuyệt". Ông nỏi "Sao lại chợt trở nên trinh tiết như thế?", bèn sai đánh trượng. Người đàn bà rủ đầu hộc máu, song vẫn ra sức biện bạch là quả thật không có đi lại với ai khác.
Ông bèn sai thôi đánh, lại hỏi "Chồng ngươi đi vắng, chẳng lẽ không có kẻ nào kiếm cớ tới gạ gẫm à?". Vương thị đáp “Có tên Giáp, tên Ất đều lấy cớ tới mượn gạo vay tiền, có một hai lần vào nhà tiểu nhân". Đại khái tên Giáp, tên Ất đều là đám du đãng trong ngõ, cũng có tình ý với thị nhưng chưa tỏ vẻ gì. Ông ghi tên cả bọn, sai giải hết ra miếu Thành hoàng, bắt quỳ phục trước án thờ rồi nói "Đêm trước ta được thần báo mộng rằng kẻ giết người chỉ trong bốn năm đứa các ngươi. Nay trước mặt thần, không được dối trá. Nếu tự thú thì còn được giảm tội, nếu chối thì không tha thứ được". Cả bọn đồng thanh kêu là không hề làm việc giết người.
Ông sai bày hình cụ ra, chuẩn bị tra khảo, buộc tóc lột trần cả bọn, thảy đều kêu khóc là oan. Ông sai ngừng tra khảo, nói “Các ngươi đã không chịu tự thú thì để quỷ thần chỉ ra”. Rồi sai người lấy chăn che các cửa sổ thật kín, bắt cả bọn cởi trần vào trong phòng tối, đưa một chậu nước bắt phải rửa tay rồi đứng im quay mặt vào vách để thần viết vào lưng kẻ có tội. Lát sau gọi cả ra để khám, ông chỉ ngay vào Mao Đại nói "Đây mới đúng là thằng giặc giết người”. Đại khái là ông đã sai người bôi than lên vách, lại lấy nước pha muội đèn bắt cả bọn rửa tay. Kẻ giết người sợ thần viết vào lưng nên lén dựa lưng vào vách, lúc trở ra lại lấy tay che nên trên lưng có vệt đen. Ông vốn đã nghi Mao, đến lúc ấy giờ càng tin chắc, bèn dùng cực hình tra khảo, Mao phải khai hết sự thật. Ông bèn viết án từ rằng:
“Túc Giới theo thánh hiền noi đường đạo nghĩa, mà dâm tà thành kẻ vô lương. Chỉ vì hai trẻ dại khờ, hóa tính chuyện lành thành chuyện rủi, bởi có một lời tiết lộ, nên đứng núi nọ trông núi kia. Đã học Trọng tử trèo tường, lại giả Lưu lang vào động. Tham dâm hiếu sắc, thẹn cùng loài chuột có da, tuốt lá bẻ hoa, nhục bấy học trò vô hạnh. May mà nghe én bệnh khò khè, cũng còn tiếc ngọc, xót liễu mềm tiều tụy, chưa phải cuồng oanh. Cứ kể tha phụng trong lồng, nói là ý văn nhân cũng đúng, nhưng lại cướp giày bắt hứa, chẳng phải kẻ vô lại là gì? Cánh bướm qua tường, ngoài song có người có ý, giày sen rơi đất, trên thềm không tiếng không tăm. Trong cái giả nảy cái giả vì vậy, ngoài nỗi oan có nỗi oan ai tin? Leo tường cạy vách, làm nhơ áo mũ nhà nho, mượn mận thay đào, khó tan oán hòn kẻ sĩ. Vậy nên tha cho tội roi gậy, trừ vào lúc ở tù, tạm lột chức sinh viên, mở cho đường sửa nết." .
Còn như Mao Đại là lưu manh ngoài chợ, du đãng không nhà. Bị đàn bà chửi cho lòng dâm tà chẳng dứt, thấy trẻ con lén lút, ý giặc cướp chợt sinh. Theo gió xoay chiều hân hoan chiếc dép, mong tương được rượu lú lẫn mùi hương. Chẳng noi đạo lý giữ gìn thiên đức, cứ theo ma quỷ táng tận lương tâm. Cưỡi phứa bè sao trộm vào cung Nguyệt, qua bừa rạch nhỏ lén tới nguồn Đào. Để cho lửa dậy núi tình, sóng dâng bể dục. Vung dao đâm thẳng, ném chuột không kiêng bể đồ, thế cùng chạy đâu, phỏng lửa chi nề giật củi. Khoét vách vào nhà, mũ Trương Lý đội, ném giày giá họa, lưới cá chim sa. Trường phong lưu lại nảy đám quỷ ma, làng ôn nhu há dung loài độc ác. Phải chém đầu một kẻ, để thỏa dạ bao người.
Về phần Yên Chi thì thân chưa hứa giá, tuổi mới cập kê. Xét phận tiên nơi Nguyệt điện, phải sánh với Ngọc lang, nhưng người cũ đội Nghê thường, chi buồn không kim ốc. Thế mà cám Quan thư lại ước hảo cầu, sớm tối mộng xuân vương vấn, oán mơ rụng luống mong cát sĩ, ý tình thiếu nữ mê man. Chỉ vì một mối si tình, tới nỗi lũ gian gây nghiệt. Kể sắc tài sợ mất Yên Chi, ngại duyên phận nghĩ thương Thu Chuẩn. Hài sen đã chẳng vẹn mùi hương, cửa sắt lại khôn bền giá ngọc. Lệ tương tư mòn vóc tương tư, tới cho gây họa, lòng tình nghĩa xót niệm tình nghĩa, khiến phải oán người. Cỏ thơm giữ tiết, ngọc trắng may còn lành, ngục tối chịu oan, áo xanh mừng vẫn sạch. Vui bấy trong phòng cự tuyệt, tấm băng trong vẫn giữ với tình quân, hay sao ném quả trao lòng, cuộc phong nhã còn truyền dài kỳ sự. Mong quan Tri huyện, làm kẻ mai dong”.
Vụ án kết thúc, xa gần đều truyền tụng. Từ sau khi ông Ngô phúc án, Yên Chi mới biết Ngạc hàm oan. Ra khỏi công đường thấy nhau thường nhìn Ngạc nuốt lệ, như có ý đau đớn hối tiếc nhưng chưa nói ra được. Ngạc cảm động vì mối tình của cô gái, cũng rất yêu kính, nhưng lại nghĩ nàng xuất thân hèn kém, vả lại cứ ra vào nha môn, hàng ngàn người dòm ngó chỉ trỏ, nếu cưới làm vợ e thiên hạ chê cười, cứ ngày đêm băn khoăn không dút khoát được, khi bản án được đưa xuống mới quyết ý. Quan huyện an ủi Ngạc về việc bị bắt oan, đưa trống tới mừng đám cưới của hai người.
Dị Sử thị nói: Hay làm sao! Xử kiện không thể không thận trọng vậy! Cho dù biết người này oan song ai biết kẻ kia cũng bị sự việc tuy mờ ám nhưng ắt cũng có đầu mối để nhận biết, nếu không suy xét cẩn thận thì không thể nhận ra được vậy! Than ôi! Người ta đều phục các bậc hiền minh xử án sáng suốt nhưng không biết họ dụng tâm lao khổ tới mức nào. Những kẻ trị dân trên đời cứ cuộc cờ chén rượu qua ngày, mão cao áo rộng coi việc, dân tình oan khổ cũng không chịu suy nghĩ, đến buổi gióng trống ra công đường làm việc thì ngất ngưởng ngồi cao, dân bên dưới kêu ca thì dùng roi gậy gông cùm bịt miệng, lạ gì trong chốn tối tăm còn nhiều nỗi oan khiên!
Tiên sinh Ngu Thi Sơn là thầy ta, lúc ta còn nhỏ vẫn trộm thấy mỗi khi ông khích lệ học trò thì áy náy như chưa nói hết ý, có ai hơi bị oan ức thì ra sức che chở giúp đỡ cho, không bao giờ ra oai ở học đường để dua nịnh những kẻ cầm quyền, đúng là bậc Hộ pháp trong đạo Khổng chứ không phải chỉ là kẻ chủ trì văn giáo một thời mà thôi, chấm văn không hề nghe lệnh ai mà nâng cao hạ thấp cả. Lại yêu người tài như tiếc mạng sống, các quan Học sứ ngày sau chỉ biết làm theo lệ cũ không sao bằng được . Có người danh sĩ vào trường thi, làm đề bài "Bảo Tàng dữ yên?" (Cùng với núi Bảo Tàng chăng?) lại nhớ lầm núi Bảo Tàng là sông, viết xong bài thi mới biết là lầm, nghĩ rằng thế nào cũng bị đánh rót, bèn viết thêm một bài từ rằng "Bảo Tàng ở trong núi, lại lầm thành bên sông. Đầu non cũng mọc cung Thủy tinh, san hô dài trên đỉnh, ngọc trai sáng bên cây. Quay nhìn thì trong non quả có kẻ chèo thuyền, cáo với trời xanh, đánh rớt cho rồi, để bè bạn xem chơi”. Tiên sinh đọc tới đó bèn họa rằng “Bảo Tàng trong đường núi, chợt trở thành bên sông, tiều phu cứ nói lời ông chài. Tuy bài làm sai đề, nhưng văn chương lại hay, đâu nỡ xếp dưới người? Vẫn nghe kẻ lên non sợ nguy hiểm, nào gặp người thấy sông rụng rời", rồi vẫn lấy đỗ. Đó cũng là một chuyện phong nhã, một việc yêu tài của ông vậy.

0
280. Tiền Mưa (Vũ Tiền)

Có một người học trò ở huyện Tân Châu (tỉnh Sơn Đông) đang đọc sách trong phòng học thì có tiếng gõ cửa, ra xem thì thấy một ông già tóc bạc phơ, dáng vẻ thoát tục, bèn mời vào, hỏi họ tên. Ông già tự xưng họ Hồ tên Dương Chân, vốn là hồ tiên, vì hâm mộ ông là người cao nhã nên tới xin được kết bạn hôm sớm. Người học trò vốn tính khoáng đạt nên cũng không ngờ sợ, bèn cùng nhau bàn luận cổ kim. Ông già học rộng biết nhiều, nghị luận văn hoa hùng hồn, phun châu nhả ngọc, nói về kinh nghĩa thì lý luận sâu sắc, ý tứ lạ lùng. Người học trò rất khâm phục, giữ ông già ở lại rất lâu. Một hôm, y khẩn cầu “Ông thương ta hiền lành phúc hậu, nhưng vẫn nghèo khổ thế này, mà ông chỉ trở tay một cái là có vàng bạc ngay, sao không chu cấp cho đôi chút?". Ông già “hừ” một tiếng như thấy không được, nhưng lát sau lại cười nói "Việc đó rất dễ, nhưng phải có mười đồng tiền làm vốn". Người học trò đưa ra đủ số, ông già bèn cùng y vào phòng kín, giẫm chân đọc chú. Giây lát hàng trăm vạn đồng tiền từ xà nhà loảng xoảng rơi xuống như mưa rào, trong chớp mắt ngập tới đầu gối, rút chân lên lại ngập tới đùi, cả một căn nhà rộng mà tiền ngập tới ba bốn thước. Ông già quay lại hỏi “Ông vừa ý chưa?", y đáp "Đủ rồi". Ông già vẫy tay một cái, mưa tiền ngừng lại, rồi cùng đóng cửa cài then đi ra. Người học trò mừng thầm, cho rằng đã trở nên giàu có, nhưng lát sau vào lấy ra dùng thì gian phòng đầy tiền đã rỗng không, chỉ còn mười đồng làm vốn nằm trơ ra ở đó. Người học trò thất vọng, tức tối chữi mắng ông già lừa dối. Ông già giận dữ nói “Ta vốn là bạn văn chương chữ nghĩa chứ không định làm giặc cùng với ông. Muốn được như ý học trò nhà ông thì cứ kết bạn với bọn trèo tường khoét vách, chứ lão phu không thể vâng mệnh", rồi phẩy áo bỏ đi.

281. Hai Ngọn Đèn Lồng (Song Đăng)


Ngụy Vận Vượng người Bàn Tuyền huyện Ích Đô (tỉnh Sơn Đông) vốn là con nhà đại gia thế tộc, về sau sa sút không thể học hành, năm hơn hai mươi tuổi phải bỏ học, theo cha vợ làm nghề bán rượu. Một đêm Ngụy ngủ một mình trên lầu trong quán rượu, chợt nghe có tiếng bước chân, giật mình vùng dậy lắng tai nghe ngóng, tiếng bước chân càng gần, kế lên cầu thang càng lúc càng mau. Không bao lâu thấy có hai tỳ nữ cầm đèn lồng tới ngay đầu giường, phía sau là một thư sinh trẻ tuổi dắt một cô gái tới cạnh giường cười khẽ. Ngụy vô cùng ngạc nhiên nhưng biết ngay là hồ, toàn thân nổi gai ốc, cúi đầu không dám liếc lên. Thư sinh cười nói “Ông đừng đoán bậy, em gái ta với ông có tiền duyên, đêm nay nên thành thân". Ngụy nhìn thấy thư sinh mặt áo lông điêu rực rỡ lóa mắt, tự thẹn mình rách rưới nhơ bẩn, cúi mặt không biết đối đáp thế nào, thư sinh dắt hai tỳ nữ cầm đèn bỏ đi.
Ngụy lén nhìn cô gái, thấy lộng lẫy như tiên, trong lòng rất thích nhưng thẹn mình xấu xí, không thể cất lời suồng sã. Cô gái cười nói "Chàng không phải là bọn học trò, cần gì phải làm như lối bọn có học", Ngụy mới vui vẻ. Trời chưa sáng, hai tỳ nữ lại tới đưa cô gái đi, hẹn tối lại tới. Tối hôm sau quả nhiên cô gái lại tới, cười nói "Anh chàng ngây này có phúc gì mà không tốn một đồng lại được người vợ đẹp như thế này, tối tối tự tìm tới”. Ngụy bày rượu ra cùng uống, chơi trò giấu vật trong tay đánh đố, mười lần thì cô gái thắng tới chín, bèn cười nói "Chẳng bằng để thiếp giấu cho chàng đoán, trúng thì thắng, thua thì phạt, chứ để thiếp đoán thì chắc chắn là chàng thua”. Nguy theo lời, suốt đêm lấy đó làm trò vui. Nửa năm sau Ngụy về nhà, đang đêm trăng nói chuyện với vợ cạnh cửa sổ, chợt thấy cô gái ăn mặc đẹp đẽ ngồi trên đầu tường vẫy. Ngụy ra gặp, cô gái đưa tay kéo cùng leo ra ngoài rồi cầm tay Ngụy nói "Hôm nay vĩnh biệt chàng, xin tiễn nhau vài bước, gọi là tình nghĩa quen nhau nửa năm". Ngụy hoảng sợ hỏi lý do, cô gái đáp "Nhân duyên vốn có định số, cần gì phải nói". Cùng nhau chuyện trò, ra tới ngoài thôn thì hai tỳ nữ cầm đèn ngày trước đã đứng chờ, cùng nhau lên núi Nam Sơn, tới chỗ cao lại từ biệt, Nguy giữ lại không được, ba người đi luôn. Ngụy đứng thẫn thờ bàng hoàng, nhìn theo hai ngọn đèn lập loè xa dần đến lúc không thấy gì nữa mới buồn rầu trở về. Đêm ấy trên đầu núi có ánh đèn lửa, người trong thôn đều nhìn thấy.

282. Vợ Lẽ Đánh Cướp (Thiếp Kích Tặc)

Anh Mỗ nhà thế gia ở phía tây huyện thành Ích Đô (tỉnh Sơn Đông) rất giàu có, có một người thiếp rất xinh đẹp. Nhưng người vợ cả đối xử rất tàn tệ, đánh đập chửi mắng cả ngày, người thiếp vẫn hầu hạ rất kính cẩn. Mỗ thương xót, thường lén an ủi, người thiếp cũng không bao giờ tỏ lời oán hờn. Một đêm có mấy mươi tên cướp trèo tường vào phá tan cửa vách, Mỗ và vợ kinh hồn táng đảm, run cầm cập không biết làm sao. Người thiếp vùng dậy, lặng lẽ không nói một tiếng, rón rén mò trong phòng tìm được một cái đòn gánh, tung cửa xông ra. Bọn cướp dạt cả ra, người thiếp múa đòn gánh vù vù đánh ngã năm sáu tên, chúng hoảng sợ chạy tan, quýnh quáng không kịp trèo qua tường, chỉ bò lê bò càng trợn mắt há miệng, hồn phi phách tán. Người thiếp chống đòn gánh xuống đất, nhìn khắp mặt chúng cười nói "Các ngươi không đáng cho ta đánh mà cũng học làm ăn cướp, ta không giết các ngươi đâu, giết thì mang tiếng ta", rồi tha cho cả bọn về.
Mỗ cả sợ, hỏi sao biết võ nghệ, người thiếp đáp "Cha thiếp là thầy dạy võ, thiếp học được hết tài nghệ của cha, cho dù trăm người cũng địch được". Vợ Mỗ rất sợ, lại hối hận ngày thường mê muội không biết người, từ đó lúc nào cũng hòa nhã với người thiếp, nhưng người thiếp vẫn kính cẩn như cũ. Đàn bà láng giềng có người hỏi "Bà chị đánh lũ cướp như đánh heo đánh chó, sao trước đây lại cam cúi đầu chịu roi vọt?", người thiếp đáp “Đó là số phận của ta, chuyện khác làm sao dám nói”. Người nghe chuyện đều khen là hiền đức.
Dị Sử thị nói: Thân mang võ nghệ cao cường mà suốt mấy năm không ai biết, sau cùng lại đánh cướp ngăn họa, biến chim ưng thành chim cưu. Than ôi! Kẻ bắn trúng chim trĩ mới thấy vợ nhà cười, người đánh bạc thắng nên công chúa mới cùng về*, giỏi mà không thể cậy tài tự cho là mình giỏi cũng như thế chăng?
* Biến chim ưng... cùng về: biến chim ưng thành chim cưu là chữ trong Lễ ký, Nguyệt lệnh, nói chim cưu ưng có thể biến hóa, lúc giết mồi kiếm ăn bình thường thì hóa thành chim cưu, lúc phải giết đối phương để tự vệ mới hóa thành chim ưng, dùng ví với người nhân đức, đây chỉ việc người thiếp tha chết cho bọn cướp. Kẻ bắn trúng chim trĩ lấy tích Giả Đại phu nước Lỗ thời Xuân thu xấu trai mà cưới vợ đẹp, ba năm liền nàng không cười không nói, Giả Đại phu dong xe đưa nàng tới đất Như Cao, bắn được con chim trĩ, lúc ấy nàng mới tươi cười. Người đánh bạc thắng lấy tích Tiết Vạn Triệt cưới Đơn Dương công chúa con Đường Thái Tông, nhưng là người rất ngây ngốc nên công chúa hổ thẹn, mấy tháng liền không chịu ngủ chung. Thái Tông nghe biết phì cười, đặt tiệc gọi tất cả các con rể tới sai cùng đánh bạc, rồi giả thua rút thanh bội đao đeo ở lưng ra "gán" cho Vạn Triệt, lúc ấy công chúa mới vui mừng bảo Vạn Triệt lên ngồi cùng xe về nhà.

Phụ: Một Truyện Trong Trì Bắc Ngẫu Đàm(Trì Bắc Ngẫu Đàm Nhất Tắc)


Anh Mỗ ở phía tây huyện thành Ích Đô có người thiếp rất đẹp nhưng gặp vợ cả tàn ác, ngày nào cũng đánh đập chửi mắng, người thiếp chịu đựng không hề oán thán. Một đêm bọn cướp vào nhà, vợ chồng hoảng sợ không biết làm sao, người thiếp ngầm tìm được một cây gậy, mở cửa xông ra, múa gậy đánh ngã mấy tên, bọn còn lại bỏ chạy, hết. Người thiếp lớn tiếng quát  “Bọn chuột không đáng làm bẩn gậy của ta, tha cho chúng bay đấy, lần sau đừng tới tìm cái chết". Bọn cướp chạy rồi, người chồng hỏi học võ ở đâu, mới biết rằng cha người thiếp học võ ở chùa Thiếu Lâm, dạy lại cho con gái, hàng trăm người cũng không địch nổi. Hỏi tại sao chịu im lặng để vợ cả đày đọa, đáp “Đó là số phận, đâu dám nói gì!". Từ đó vợ chồng đều yêu thương nàng, hàng xóm láng giềng càng thêm kính trọng. Nay vẫn còn sống.

283. Bắt Hồ Bắn Quỷ (Tróc Hồ Xạ Quỷ)

Ông Lý Trứ Minh là con tiên sinh Khâm Trác, Tri huyện Tuy Ninh (tỉnh Giang Tô), tính hào sảng can đảm, có anh rể là tiên sinh Vương Quý Lượng ở huyện Tân Thành (tỉnh Sơn Đông). Nhà Vương tiên sinh có nhiều lầu gác, vẫn thường thấy chuyện quái dị. Có lần mùa hè ông tới đó chơi, ưa thích trên gác mát mẻ. Chủ nhân kể cho nghe chuyện quái dị để can, ông cười không tin, cứ bắt dọn giường trên gác. Chủ nhân chiều ý, sai đầy tớ tới ngủ cùng, ông từ chối nói chỉ thích ngủ một mình, mà bình sinh chẳng sợ chuyện quái dị. Chủ nhân bèn sai đốt hương trong lò, sắp xếp đâu đấy mới tắt đèn đóng cửa đi.
Ông nằm hồi lâu dưới ánh trăng, chợt thấy ấm trà trên bàn cứ lắc lư xoay vòng, không rơi xuống đất mà cũng không dừng lại. Ông quát lớn thì nó lạch cạch dừng lại, nhưng lại như có người rút mớ hương trong lò ra khua lên, ánh lửa như hoa bay tán loạn. Ông vùng dậy quát "Đồ yêu quái nào hỗn láo thế?", rồi cởi trần nhảy xuống giường định ra đuổi bắt. Nhưng lấy chân khua dưới giường chỉ được có một chiếc giày, ông cũng không tìm nữa, chạy chân không ra chỗ mớ hương đang khua khoắng. Mớ hương lại cắm trở lại vào lò, yên ắng như cũ không có gì lạ. Ông khom người mò tìm chiếc giày trong gầm giường, chợt bị một vật ném trúng giữa trán, thấy như là chiếc giày song bò ra đất tìm mà không thấy đâu. Bèn mở cửa xuống lầu, gọi người hầu đốt củi làm đuốc lên tìm vẫn không thấy, lại lên nằm ngủ lại.
Đến sáng, sai mấy người đi tìm chiếc giày, giở nệm kéo giường ra cũng không thấy, chủ nhân phải đưa giày cho ông mang. Hôm sau tình cờ ngẩng đầu nhìn thì thấy có chiếc giày dính trên xà nhà, khều xuống thì là giày của ông. Ông là người huyện Ích Đô, tới ngụ ở nhà họ Tôn trong huyện Truy (tỉnh Sơn Đông). Nhà rất rộng nhưng đều bỏ không, ông chỉ ở có một phía. Phía kia là gác cao, chỉ cách một bức tường, thỉnh thoảng lại thấy cửa gác tự mở ra đóng lại, ông cũng không để tâm. Một hôm tình cờ đang nói chuyện với đám người nhà ở sân, cửa gác chợt mở ra, có một người bé nhỏ ngồi quay mặt nhìn ra ngoài, cao chưa đầy ba thước, áo xanh quần trắng, mọi người chỉ trỏ nhìn ngó cũng không động đậy. Ông nói "Đây là hồ rồi", vội lấy cung tên chĩa vào gác định bắn. Người bé nhỏ ấy nhìn thấy, cười khành khạch mấy tiếng rồi biến mất. Ông cầm đao leo lên gác, vừa mắng vừa tìm nhưng không thấy đâu bèn trở xuống. Từ đó trong gác không còn sự quái dị nữa, ông ở mấy năm yên ổn không có chuyện gì. Con trưởng của ông là Hữu Tam, là thông gia với ta chính mắt thấy chuyện này.
Dị Sử thị nói: Ta sinh sau đẻ muộn không được theo hầu ông, nhưng nghe các bậc phụ lão kể lại thì rõ ràng là bậc trượng phu khẳng khái cương nghị, xem hai chuyện trên đây có thể thấy được đại khái. Giữ được cái khí hạo nhiên thì hồ quỷ có làm gì được.

284. Ma Mời Tiệc (Quỷ Tác Diên)

Tú tài Đỗ Cửu Uyển có vợ bị bệnh, gặp ngày tiết Trùng dương bạn bè rủ cùng đi chơi. Đỗ dậy sớm rửa mặt, nói rõ với vợ sẽ đi tới đâu rồi mặc áo đội mũ định ra đi, chợt thấy vợ ngất đi, lẩm bẩm như nói chuyện với ai khác. Đỗ lấy làm lạ, tới cạnh giường hỏi, vợ gọi Đỗ là con, người nhà đều lạ lùng. Lúc ấy quan tài của mẹ Đỗ còn quàn chưa chôn, Đỗ ngờ rằng hồn mẹ không vừa ý bèn khấn "Có phải là mẹ không?". Vợ mắng "Đồ súc sinh, không nhận ra cha ngươi à?". Đỗ nói "Nếu là cha, sao lại ám vợ con?". Vợ gọi tên Đỗ lúc còn nhỏ, nói "Ta chỉ vì vợ ngươi mà tới đây, sao lại oán hờn hả? Lẽ ra vợ ngươi phải chết rồi, đã có bốn người tới bắt. Người đứng đầu bọn họ là Trương Hoài Ngọc, ta phải hết sức năn nỉ mới được họ bỏ qua. Ta hứa là biếu họ chút ít, ngươi phải lo đấy". Đỗ theo lời, ra cổng đốt giấy tiền vàng bạc, vợ lại nói "Bốn người đi rồi, họ không nỡ làm ta mất mặt, sau ba ngày phải mở tiệc mời mới được. Mẹ ngươi già nua chậm chạp, không thể lo việc bếp núc, đến hôm ấy lại phải làm phiền vợ ngươi đi cho một chuyến". Đỗ nói "Âm dương hai nẻo khác nhau, làm sao mà nấu nướng thay được, xin cha miễn cho". Vợ nói "Ngươi đừng sợ, đi rồi lại về thôi, đây là việc lớn, đừng ngại vất vả". Nói xong im bặt, hồi lâu mới tỉnh.
Đỗ hỏi thì vợ không nhớ vừa rồi nói gì, chỉ đáp "Vừa rồi có bốn người tới bắt ta, may có cha năn nỉ xin, lại dốc hết vàng bạc trong túi ra biếu, họ mới đi. Ta thấy trong túi cha còn sót hai nén vàng, định ăn cắp một nén để chi dùng, cha nhìn thấy quát ‘Ngươi định làm gì đấy? Vàng này mà ngươi dùng được à?’, ta rút tay lại không dám nhúc nhích". Đỗ vì vợ bệnh nặng nên nghe thế nửa tin nửa ngờ. Ba hôm sau đang chuyện trò với nhau, vợ Đỗ chợt trợn mắt hồi lâu rồi nói "Vợ ngươi tham lắm, hôm trước thấy vàng của ta lại định ăn cắp. Nhưng vì nghèo quá nên làm như thế, cũng không trách được. Bây giờ ta đưa vợ ngươi đi nấu nướng giúp, đừng lo gì cả". Nói xong thì nhắm mắt đứt hơi, được nửa ngày mới sống lại, nói với Đỗ rằng "Mới rồi cha gọi ta đi, nói ‘Chẳng cần con đích thân làm lụng, ta đã có người nấu nướng rồi, chỉ cần con ngồi đó sai bảo là được. Cha ở dưới may mà cũng giàu có, mọi vật dùng đưa ra tiếp khách ngươi phải để ý giữ gìn’. Ta vâng dạ, xuống tới nhà bếp thấy hai người đàn bà cầm đao chặt thịt, ăn mặc đẹp đẽ gọi ta là chị dâu. Món nào sắp bưng lên đều mời ta tới xem qua trước. Bốn người hôm nọ đều ngồi trên tiệc, ăn uống xong rồi, chén bát rửa sạch cất hết, cha mới bảo ta về". Đỗ lấy làm lạ, thường kể cho bạn bè nghe.

0
285. Diêm Vương (Diêm La)

Tú tài Lý Trung Chi ở Lai Vu (thuộc tỉnh Sơn Đông) tính ngay thẳng thành thật, cứ vài ngày lại chết đi nằm cứng đơ như cái xác, ba bốn ngày mới tỉnh lại. Có người hỏi lúc chết đi gặp những gì, Lý đều giấu kín không nói ra. Lúc ấy có Trương sinh cũng vài ngày lại chết đi một lần, nói với người ta rằng "Lý Trung Chi là Diêm Vương đấy. Ta xuống âm ty cũng làm thuộc lại của ông ta", lại kể rõ cả biển ngạch câu đối trong cung điện dưới đó. Có người hỏi vừa rồi Lý xuống âm ty làm gì, Trương đáp "Không nói rõ được, nhưng có việc là ông đi khám ngục Tào Tháo, lại phạt đánh hai mươi trượng".
Dị Sử thị nói: Một cái án của A Man* nghĩ chắc trải qua vài mươi đời Diêm Vương rồi. ở dưới đó thì lại đầu thai làm súc vật hay quăng vào vạc dầu núi kiếm cũng đâu thiếu cách, tội nào lại chẳng trị được, cần gì phải giam lâu, mà mấy ngàn năm vẫn chưa xử được, vì sao thế nhỉ? Hay là kẻ tù nhân chịu hình phạt rồi thì án đã quyết, nên làm thế để y có muốn chết cũng không được chăng? Lạ thật?
*A Man: tên tự của Tào Tháo, Thừa tướng cuối thời Đông Hán, sử sách xưa coi là kẻ gian hùng lấn hiếp Thiên tử.

286. Hoa Sen Mùa Lạnh (Hàn Nguyệt Phù Dung)

Ở Tế Nam (tỉnh thành Sơn Đông) có một đạo nhân, không biết quê quán ở đâu, cũng không rõ tên họ là gì. Mùa đông mùa hè đều chỉ mặc một chiếc áo đơn, thắt dây lưng màu vàng, chẳng có áo quần gì khác, vẫn dùng nửa cái lược chải tóc, chải xong thì giắt luôn vào búi tóc như đội mũ. Ban ngày đi chân không ra chợ, tối thì ngủ ở đầu đường, băng tuyết cách người mấy thước đều chảy tan thành nước. Buối đầu mới tới vẫn làm phép thuật cho ngườí ta xem, người trong chợ tranh nhau cho tiền.
Trong chợ có tên vô lại đem rượu tới xin truyền phép cho, nhưng đạo nhân không chịu. Gặp lúc đạo nhân tắm ở bến sông, y tới vơ hết quần áo để bắt ép. Đạo nhân chắp tay vái, nói "Xin trả lại áo quần, ta không tiếc gì mà không truyền phép thuật". Tên vô lại sợ ông nói dối, không chịu đưa trả. Đạo nhân hỏi “Thật không chịu trả phải không?”, y đáp “Đúng thế!". Đạo nhân im lặng không nói gì nữa, chợt thấy chiếc dây lưng màu vàng biến thành con rắn to vài gang tay, quấn quanh sáu bảy vòng, trừng mắt cất đầu thè lưỡi nhìn y. Y hoảng sợ ngã khuỵu xuống đất, tái mặt đứt hơi xin tha mạng. Đạo nhân cầm lấy thì chiếc thắt lưng vẫn là thắt lưng, không phải là rắn, chỉ có một con rắn khác ngoằn ngoèo bò vào thành. Vì thế đạo nhân càng nổi tiếng, các nhà quyền quý nghe chuyện lạ đều mời mọc giao du.
Từ đó đạo nhân thường qua lại nhà các bậc tai mắt, quan lại trong hạt nghe danh, mỗi khi hội họp yến tiệc cũng mời đi cùng. Một hôm, đạo nhân mời các quan ăn tiệc ở thủy đình để đáp lễ. Đến ngày hẹn, người nào cũng nhận được thư mời đặt trên bàn, nhưng không biết từ đâu tới. Khách khứa tới nơi hẹn, đạo nhân cung kính ra đón, nhưng vào trong, thấy thủy đình trống không vắng vẻ, bàn ghế cũng chưa kê, có người ngờ là dối trá. Đạo nhân nói với các quan rằng "Bần đạo không có người hầu, xin các ông cho mượn vài vị tùy tùng giúp đỡ chút việc", các quan đều ưng thuận. Đạo nhân vẽ hai cánh cửa lên vách rồi lấy tay gõ bên trong có tiếng người đáp, bèn mở then nâng cửa lên. Mọi người chen lên nhìn ngó, thấy bên trong nườm nượp người đi lại ghế bàn màn trướng đều đầy đủ, kế có người chuyển tất cả ra ngoài cửa. Đạo nhân sai bọn người hầu của các quan đón lấy bày ra trong đình, lại dặn đừng nói chuyện với những người bên trong, bên trao bên nhận, chỉ nhìn nhau cười mà thôi. Giây lát mọi thứ bày ra khắp đình, vô cùng xa hoa lộng lẫy.
Kế đó là rượu ngon thơm phức, chả nướng nóng bỏng đều từ trong vách đưa ra, khách không ai không ngạc nhiên hoảng sợ. Ngôi thủy đình vốn kề bên hồ, cứ đến tháng sáu hàng năm thì hoa sen trải khắp vài mươi khoảnh, nhìn không thấy bờ. Nhưng bấy giờ đang giữa mùa đông, ngoài cửa sổ chỉ có khói xanh mịt mờ. Một viên quan chợt thở dài nói "Hôm nay vui vẻ thế này, mà tiếc là không có hoa sen Tô điểm?", mọi người cùng ồ lên tán đồng. Giây lát một người hầu chạy vào bẩm lá sen đã mọc đầy hồ rồi. Cả tiệc đều kinh ngạc, đẩy cửa sổ nhìn, quả thấy màu xanh ngút mắt, trong có những nụ sen chen lẫn. Trong chớp mắt, muôn cành ngàn đóa nhất tề nở rộ, gió bấc thổi tới, hương sen thấm vào tới tận tim óc, mọi người đều lấy làm lạ lùng. Sai một người lại dịch chèo thuyền ra hái sen, xa xa nhìn thấy thuyền vào sâu trong đám hoa, giây lát lại thấy chèo thuyền trở ra, tay không lên đình. Quan hỏi, người lại dịch thưa rằng "Tiểu nhân cưỡi thuyền tới, thấy hoa sen ở xa, gần tới bờ bắc ngoảnh lại lại thấy hoa sen xa xa phía nam". Đạo nhân cười nói "Đó chỉ là hoa giả trong ảo mộng thôi!". Không bao lâu tiệc tàn, gió bấc nổi mạnh thổi gảy hết cọng sen không còn sót cây nào.
Quan Quan sát sứ Tế Đông thích lắm, đưa đạo sĩ về dinh, hàng ngày trò chuyện vui chơi với nhau. Một hôm, quan cùng khách uống rượu. Quan vốn có thứ rượu ngon gia truyền, mỗi lần chỉ lấy ra một đấu. Hôm ấy khách uống thấy ngon, nài nỉ dốc vò uống cho hết, quan nhất định không nghe, chối từ là hết rồi. Đạo nhân cười nói với khách "Các ông muốn uống cho đã thèm, cứ hỏi bần đạo là được". Khách xin đưa ra. Đạo nhân cầm cái bầu bỏ vào tay áo, giây lát lấy ra rót cho tất cả khách khứa, so với rượu của quan thì không có gì khác. Quan ngờ vực, vào xem lại vò rượn, thì dấu niêm phong vẫn như cũ mà bên trong không còn gì. Trong lòng vừa thẹn vừa giận, bắt đạo sĩ cho là yêu quái, sai đánh đòn. Trượng vừa đập xuống, quan cảm thấy đùi chợt đau buốt, lại đánh trượng nữa, mông như rách toác ra. Tuy đạo nhân kêu la dưới thềm, mà Quan sát tóe máu trên ghế. Bèn thôi đánh trượng, đuổi đạo nhân đi. Đạo nhân bèn rời khỏi đất Tế, không biết là đi đâu. Sau có người gặp ở Kim Lăng, vẫn ăn mặc như xưa, hỏi thăm chỉ cười mà không đáp.

287. Dương Vũ Hầu (Dương Vũ Hầu)

Dương Vũ hầu Tiết Lộc là người ở đảo họ Tiết. Cha là ông Tiết, rất nghèo, chăn trâu cho nhà giàu trong làng. Chủ có đám ruộng bỏ hoang, ông chăn trâu ở đó cứ thấy rắn và thỏ đánh nhau trong bãi cỏ rậm nên lấy làm lạ, xin chủ cho khoảnh đất ấy để chôn cất cha mẹ, nhân lợp một gian nhà tranh ở luôn tại đó. Vài năm sau vợ ông lâm bồn, gặp lúc mưa lớn, có hai viên Chỉ huy sứ vâng mệnh ra thanh tra hải đạo đi ngang, ghé vào tránh mưa dưới chái nhà. Thấy trên nóc nhà có đàn quạ tụ họp, tranh nhau xòe cánh che những chỗ mái bị dột, họ lấy làm lạ lùng. Kế đó ông bước ra, họ hỏi vừa rồi làm gì trong nhà, ông thưa về việc vợ sinh nở. Họ lại hỏi sinh con trai hay con gái, ông đáp "Con trai". Hai viên Chỉ huy rất hoảng sợ, nói "Thế thì đứa nhỏ này ắt rất quý hiển, nếu không làm sao mà được hai viên Chỉ huy sứ bọn ta giữ gìn cho ngoài cửa?", tấm tắc khen ngợi rồi đi.
Khi hầu lớn lên, mặt mày dơ dáy mũi dãi lòng thòng, chẳng có gì là thông minh đĩnh ngộ. Họ Tiết trong đảo vốn thuộc sổ quân, một năm tới lượt nhà ông Tiết cắt ra một đinh đi đóng thú ở huyện Liêu Dương (tỉnh Liêu Ninh), con trai lớn của ông rất lo lắng. Năm ấy hầu mười tám tuổi, ai cũng cho là ngốc nghếch không chịu gả con gái cho, chợt nói với anh rằng "Anh hai cứ thở dài sườn sượt, có phải vì việc đi lính không?” người anh đáp “Đúng thế". Hầu cười nói !Nếu anh chịu gả đứa tớ gái cho em, em sẽ đi thay anh". Người anh mừng rỡ, lập tức đem người tớ gái gả cho, hầu đưa cả vợ lên đường tới nơi đóng thú. Vừa đi được vài mươi dặm chợt gặp cơn mưa rào, bên đường có sườn núi cao, hai vợ chồng chạy mau tới đó tránh mưa. Giây lát mưa tạnh lại tiếp tục lên đường, đi được một đoạn thì đá núi lở ra rơi xuống, người ở đó nhìn thấy có hai con cọp nhảy ra đuổi sát tới hai người thì biến mất. Hầu từ đó khỏe mạnh phi thường, phong thái khác hẳn trước, sau nhờ quân công được phong tước Dương Vũ hầu, con cháu được thế tập.
Đến niên hiệu Thiên Khải, Sùng Trinh (1621-1627 và 1628-1643) thời Minh, hậu duệ là ông Mỗ tập tước, chết không có con trai, vợ đang có mang nên tạm lấy người ngành thứ thay. Phàm những nhà thế gia như vậy nếu vợ có mang phải báo lên triều đình, nên quan sai bà đỡ tới chăm sóc vợ ông, đến khi sinh nở xong mới thôi. Hơn một năm, phu nhân sinh được một gái, nhưng sinh rồi mà bụng vẫn đau quặn, mãi mười lăm năm sau, thay tới mấy bà đỡ nữa mới sinh ra một trai, lại được tập tước hầu của ngành trưởng. Ngành thứ đồn ầm lên rằng đó không phải là con ông Mỗ, quan bèn bắt tất cả các bà đỡ, gông cùm gạn hỏi trăm cách vẫn không ai nói gì khác, việc tập tước mới xong.

Phụ: Một Truyện Trong Trì Bắc Ngẫu Đàm (Trì Bắc Ngẫu Đàm Nhất Tắc)


Cẩn quốc Trung Vũ công Tiết Lộc thời Minh là người huyện Giao Châu (tỉnh Sơn Đông). Cha sống trên đảo, chăn dê cho người ta, thường nghe ở chỗ thả dê có tiếng chuông trống dưới lòng đất vọng lên, biết đó là đất quý, dặn anh em Trung Vũ rằng "Ta chết rồi phải đem chôn ở đó", về sau các con làm như lời cha dặn. Lâu sau triều đình tuyển quân đi đóng thú ở Bắc Bình (thành Liêu Dương), người anh không chịu đi, Trung Vũ còn trẻ xin đi thay. Về sau theo quân dẹp loạn làm tới chức Đại Tướng quân, phong Dương Vũ hầu, lúc chết được truy phong Cẩn quốc công. Đất ông ở nay có tên là đảo họ Tiết (Tiết gia đảo)

0
288. Nát Rượu (Tửu Cuồng)

Mục Vĩnh Định là Cống sinh ở Giang Tây, hay say sưa bét nhè, họ hàng làng xóm đều không ưa. Có lần tình cờ tới nhà chú họ chơi, Mục là người ưa đùa giỡn, giỏi khôi hài nên khách khứa chuyện trò với y thích lắm, mới cùng nhau uống say khướt. Mục say rồi, chửi ráo tất cả khách khứa, mọi người nổi giận, cả bàn chửi mắng ầm ĩ, người chú đích thân ra khuyên giải đôi bên, Mục cho rằng ông có ý thiên lệch, khách khứa càng giận dữ. Người chú không biết làm sao, phải chạy tới nhà Mục báo tin. Người nhà tới dìu về, khi đỡ lên giường thì tay chân Mục đều rũ ra, vỗ gọi thì đã tắt hơi chết rồi.
Mục chết, thấy có hai người mũ đen trói giải đi, giây lát tới một nơi công thự lợp ngói trắng, tráng lệ hơn hẳn thế gian. Vào dưới thềm, thấy như còn chờ quan ra, tự nghĩ mình có tội gì đâu, có lẽ là đám khách kia kiện việc say rượu cãi nhau, quay nhìn hai người mũ đen thì thấy họ giận dữ mắt long sòng sọc nên không dám hỏi. Nhưng lại nghĩ mình là Cống sinh, cãi vả với người ta chắc cũng chẳng bị kết tội nặng. Chợt trên thềm có một viên lại ra nói lớn là những người kiện tụng sáng mai phải tới sớm. Lúc ấy những người dưới thềm nhốn nháo kéo ra như chim thú tan hàng, Mục cũng theo hai người mũ đen đi ra, nhưng không biết về đâu, cứ rụt cổ đứng dưới chái nhà bên chợ.
Hai người mũ đen giận dữ nói "Thằng vô lại nát rượu này, trời chiều rồi, ai cũng đi tìm chỗ ăn chỗ ngủ, ngươi định về đâu?". Mục run rẩy đáp “Ta không biết có chuyện gì, chưa hề nói với người nhà nên chẳng có đồng nào trong túi, còn biết về đâu được?". Hai người mũ đen nói “Thằng giặc uống rượu làm càn kia, ngươi uống rượu thì phải có tiền chứ, còn lôi thôi thì ta đập nát xương bây giờ". Mục cúi đầu không dám đáp, chợt một người trong cửa bước ra, thấy Mục kinh ngạc hỏi "Sao người lại tới đây?", Mục nhìn ra thì là cậu ruột mình. Cậu Mục họ Giả, đã chết mấy năm rồi, Mục nhìn thấy mới chợt hiểu ra là mình đã chết, càng thêm buồn sợ, chỉ sa nước mắt nói "Cậu cứu cháu với!". Giả nhìn qua hai người mũ đen nói "Đông Linh không phải ai lạ, xin mời vào tệ xá chơi", hai người bèn vào.
Giả đối xử với hai người rất cung kính, tiếp đón nồng hậu. Giây lát cơm rượu dọn ra, tất cả cùng ngồi vào bàn. Giả hỏi "Thằng cháu ta có việc gì mà lại phiền tới hai vị phải đi bắt?". Hai người mũ đen đáp "Đại vương tới chỗ Thái thượng lão quân, trên đường trông thấy lệnh điệt say rượu chửi bới bậy bạ, nên sai bọn ta bắt về đây". Giả hỏi đã gặp đại vương chưa, họ đáp "Thái thượng Lão quân xử án Hoa Tử* nên đại vương chưa về". Giả lại hỏi thằng cháu ta sẽ bị khép tội gì, họ đáp “Chưa biết chắc, nhưng đại vương rất ghét hạng người như thế này". Mục ngồi bên cạnh nghe hai người nói sợ toát mồ hôi, không ăn uống gì nổi. Không bao lâu, hai người mũ đen đứng dậy cám ơn nói "ăn uống no say rồi, xin gởi lệnh điệt lại đây, khi nào đại vương về sẽ tới thăm ông lần nữa", rồi chào đi.
* án Hoa Tử: nguyên văn là "hội Hoa Tử án", chưa rõ ý nghĩa, đây tạm dịch như trên.
Giả nói với Mục "Cháu không có anh em gì nên cha mẹ cưng chiều quá, không nỡ mắng một tiếng. Năm mười sáu mười bảy tuổi cứ uống vài chén rượu rồi là lằm bằm đi tìm người nói chuyện dông dài, hơi trái ý thì đập cửa xoay trần ra chửi mắng, nhưng lúc ấy còn có thể nói là trẻ con, tha thứ được. Không ngờ xa nhau hơn chục năm, cháu vẫn chứng nào tật nấy, bây giờ biết làm sao được!". Mục lạy phục xuống đất khóc lóc, chỉ nói là hối hận không kịp. Giả kéo dậy nói "Cậu bán rượu ở đây cũng có chút ít tiếng tăm, dĩ nhiên phải hết sức giúp đỡ. Hai người uống  rượu vừa rồi là Đông Linh sứ giả, cậu thường mời họ uống rượu, họ cũng thân thiết với cậu. Đại vương mỗi ngày có hàng ngàn việc cũng chưa chắc đã nhớ tới chuyện này. Ta dịu ngọt năn nỉ xin họ nể mặt tha cháu, có khi họ nghe".
Rồi lại ngẫm nghĩ, nói "Chuyện này khá lớn, phải tốn mười vạn mới xong được". Mục cám ơn, nói rằng tốn kém bao nhiêu xin chịu hết, Giả ưng thuận. Rồi đó Mục ngủ lại nhà cậu. Sáng hôm sau hai người mũ đen tới, Giả mời vào phòng kín nói chuyện một lúc rồi trở ra nói với Mục rằng "Xong rồi. Chỉ lát nữa cháu sẽ được trở về, ta đã hứa đặt tiền cọc trước, số còn lại khi nào cháu về tới nhà cứ thong thả gởi xuống". Mục mừng rỡ hỏi "Cả thảy là bao nhiêu?", Giả đáp "Mười vạn đồng". Mục nói "Cháu lấy đâu ra bấy nhiêu tiền được". Giả nói "Chỉ cần một trăm xấp giấy tiền vàng bạc là đủ mà". Mục mừng rỡ nói "Nếu thế thì dễ thôi". Chờ đến trưa, hai người mũ đen vẫn không quay lại, Mục muốn ra chợ chơi. Giả dặn là đừng đi xa, Mục vâng dạ rồi đi. Nhìn thấy phố xá buôn bán chẳng khác gì ở nhân gian, tới một chỗ nọ có tường vây bọc bốn phía giống như nhà tù, đối diện có một quán rượu, người ra vào tấp nập.
Ngoài quán rượu có một dòng suối dài, nước đen ngòm chảy cuồn cuộn không biết sâu cạn thế nào. Mục còn đang thơ thẩn nhìn ngó, chợt nghe một người trong quán rượu gọi “Ông Mục sao lại tới đây?". Mục vội ngoảnh nhìn, thì là một người láng giềng, mười năm trước còn sống vẫn làm bạn văn chương với nhau. Người ấy rảo bước ra nắm tay Mục, vui vẻ như lúc còn sống, rồi kéo vào quán rượu thăm hỏi lẫn nhau. Mục đang lúc có chuyện vui mừng, lại gặp người quen cũ nên cứ cạn chén liên tiếp, lát sau say rồi quên mình đã chết, lại giở thói cũ ra, dần dần lè nhè. Người bạn nói "Mấy năm không gặp, ngươi vẫn thế à?". Mục rất ghét người ta khuyên răn về việc cư xử lúc uống rượu nghe người bạn nói càng tức đập bàn chửi bới. Người bạn trợn mắt nhìn rồi phẩy tay áo bỏ ra, Mục đuổi theo tới đầu dòng suối, giật mũ người bạn. Người bạn tức giận nói "Đúng là đồ tồi!", rồi xô Mục xuống suối, suối không sâu mấy nhưng dưới đáy đầy đao bén cắm lởm chởm như chông đâm vào chân, Mục đứng chết cứng không cựa quậy gì được, thấy đau buốt tới tận óc. Làn nước đen trộn lẫn cả cứt đái nhơ bẩn, há miệng thở thì phải nuốt, không sao tránh được.
Người trên bờ đứng xem chen chúc như bức tùững chỉ trỏ cười nói nhưng chẳng một ai xuống kéo lên. Đang lúc nguy cấp, Giả chợt tới, nhìn thấy cả sợ, vội kéo lên dắt về nói "Ngươi thật chẳng ra sao, chết rồi mà chưa tỉnh ngộ, không đáng sống lại làm người nữa, xin cứ theo Đông Linh mà chịu tội". Mục cả sợ, khóc nói đã biết tội rồi. Giả mới nói "Mới rồi Đông Linh tới đây, chờ ngươi để làm giao kèo, người lại say sưa không về, ta sợ họ không chờ được, đã lập giao kèo đưa cho họ một ngàn quan tiền rồi, số còn lại hẹn trong một tuần, người về rồi phải trả gấp. Cứ buổi tối ra bãi cỏ ngoài thôn, gọi tên cậu mà đốt giấy tiền vàng bạc, thì chuyện này kể như xong". Mục hứa sẽ theo đúng lời, Giả bèn giục lên đường, đưa ra tới ngoài thành, lại dặn "Đừng nuốt lời làm lụy tới ta!", rồi chỉ đường cho về.
Lúc ấy Mục đã chết cứng ba ngày, người nhà cho là say chết, nhưng hơi thở vẫn mong manh như sợi tơ. Ngày hôm ấy sống lại, nôn một trận ra mấy đấu nước đen, hôi thối không sao chịu nổi. Nôn mửa xong thì toát mồ hôi ướt đẫm cả chăn nệm, mới thấy tỉnh táo. Kể lại chuyện lạ với người nhà, lại thấy chỗ bị đao đâm đau buốt, qua hôm sau thành mụn lở, còn may là không thối thịt, được mười ngày đã có thể chống gậy đi lại. Người nhà cùng xin trả nợ âm phủ, Mục tính lại thấy tốn tới mấy đồng vàng, lại đâm tiếc rẻ, nói "Vừa rồi có lẽ là say nên mơ thấy chuyện hư ảo, mà nếu không phải thế thì họ vì lợi riêng mà tha cho ta, làm sao dám nói cho Diêm Vương biết?". Người nhà khuyên can vẫn không nghe, nhưng trong lòng cũng sợ sệt, không dám uống rượu nữa.
Làng xóm cũng có người mừng là đã sữa đức, thỉnh thoảng mời uống rượu. Được hơn năm Mục dần dần quên món nợ ở âm phủ, bắt đầu buông thả nên thói cũ lại nay sinh. Một hôm uống rượu ở nhà vợ con trai lại chửi mắng khách khứa, chủ nhân đánh cho một trận rồi tống cổ ra ngoài, đóng chặt cửa lại. Lúc Mục bò lê bò càng con trai mới biết, dìu cha về nhà. vào tới phòng Mục lại quay mặt vào vách lạy rạp xuống như giã gạo nói "Xin trả nợ ông.". Nói xong lăn ra đất, nhìn tới thì đã đứt hơi chết rồi.

289. Nghề Võ (Vũ Kỹ)

Lý Siêu tự Khôi Ngô, người ở phía tây huyện Truy (tỉnh Sơn Đông), tính rộng rãi hay bố thí cho sư. Có nhà sư tới khất thực, Lý cho ăn no. Nhà sư rất cảm ơn, lại nói “Ta xuất thân từ chùa Thiếu Lâm, có chút nghề mọn xin truyền lại”. Lý mừng rỡ, mời ở lại nhà khách, đãi đằng trọng hậu, sớm tối theo học, ba tháng đã khá giỏi, rất đắc ý. Nhà sư hỏi ngươi thấy có ích không, Lý đáp "Được thêm nhiều lắm. Sư phụ có bao nhiêu tài nghệ ta đã học được cả". Nhà sư cười, bảo Lý ra múa thử. Lý cởi áo xoa tay, rồi như vượn chuyền chim đáp, múa may một hồi, lại nghênh ngang dừng lại. Nhà sư lại cười nói "Được rồi, người đã học được hết tài nghệ của ta, vậy hãy thử đấu một trận để phân cao thấp". Lý vui vẻ, lập tức ra đấu, đôi bên giao quyền, Lý cứ nhân chỗ sơ hở tấn công tới tấp. Nhà sư chợt xoay chân phóng ra một cước, Lý trúng đòn văng ra hơn một trượng. Nhà sư vỗ tay nói "Ngươi còn chưa học được hết tài nghệ của ta mà". Lý chống tay gượng bò dậy, thẹn thùng xin dạy cho.
Được vài hôm, nhà sư từ biệt ra đi. Sau Lý tình cờ tới huyện Lịch Hạ (tỉnh Sơn Đông), gặp một người cô trẻ tuổi múa võ trong bãi đất, người xem đông nghẹt. Ni cô nói với mọi người rằng “Múa may một mình rất là loạc choạc, nếu ai thích xin cứ ra đấu thử cho vui". Nói thế mấy lần mà người xem cứ nhìn nhau, khộng một ai lên tiếng. Lý đứng bên cạnh ngứa nghề không nhịn được, hăng hái xông vào. Ni cô cười tiến lên đón đỡ, vừa giao quyền người cô đã gọi nơừng tay, nói "Đây là quyền pháp Thiếu Lâm rồi". Lại hỏi Tôn sư là ai, Lý lúc đầu không chịu nói, người cô hỏi mãi mới nói tên nhà sư. Ni cô chắp tay nói "Hám hòa thượng là thầy ngươi sao? Nếu đúng thế thì không cần giao thủ nữa, xin chịu thua trước". Lý nài nỉ mấy lần, người cô cũng không chịu đấu mọi người khuyên mãi mới nói "Đã là đệ tử của Hám sư phụ thì cũng là người nhà, đùa vui một lúc cũng không sao, chỉ cần đánh tới thì ngừng tay là được rồi", Lý ưng thuận.
Nhưng lại cho rằng người cô ẻo lã, dễ đánh đổ, lại tuổi trẻ hiếu thắng, chỉ muốn đánh bại người cô để một sớm dương danh. Còn chưa phân thắng bại, người cô đã ngừng tay, Lý hỏi tại sao, chỉ cười không đáp Lý cho rằng đối phương đã sợ sệt, nài nỉ xin đấu nữa, người cô mới bước ra. Giây lát Lý phóng ra một cước, người cô xòe bàn tay chém luôn vào chân, Lý thấy dưới gối như bị đao chém trúng, ngã quỵ xuống không đứng lên nổi. Ni cô cười tạ rằng “Ta lỗ mãng xúc phạm, may mà chưa đến nỗi đắc tội!". Lý được vực về hơn một tháng mới khỏi. Hơn năm sau nhà sư lại tới, Lý kể lại mọi việc. Nhà sư hoảng sợ nói "Ngươi lỗ mãng quá, nếu gặp người khác thì sao? May mà đã nói tên ta ra trước, nếu không thì cái chân ấy bị chém gãy luôn rồi".

0
290. Chim Cưỡng (Cù Dục)

Vương Phần Tân nói ở quê ông có người nuôi chim cưỡng, dạy cho nói tiếng người, rất thành thục, đi đâu cũng mang theo, như thế được vài năm. Một hôm tới huyện Giáng Châu (tỉnh Sơn Tây), cách nhà còn xa mà tiền lưng đã cạn, y buồn lo nhưng không biết làm sao. Chim nói "Sao không bán ta đi? Đưa ta tới vương phủ chắc chắn được giá cao, lo gì không có tiền về nhà?". Y nói "Ta đâu nỡ làm thế ". Chim nói "Không sao, chủ nhân được tiền rồi cứ đi thật nhanh, chờ ta ở dưới gốc cây lớn phía tây cách thành hai mươi dặm". Y theo lời, đem chim vào thành, trò chuyện với nó, người xem kéo tới đông nghẹt. Có người quyền quý nhìn thấy, kể cho Tấn vương nghe, vương gọi y vào, tỏ ý muốn mua chim. Y nói "Tiểu nhân dựa vào con chim này sinh sống nên không muốn bán". Vương hỏi chim "Ngươi có muốn ở lại đây không?", chim đáp muốn. Vương mừng rỡ, chim lại nói "Chỉ cần mười đồng vàng thôi, đừng đưa nhiều hơn". Vương càng vui vẻ, lập tức sai đưa ra mười đồng vàng. Người kia làm ra vẻ căm hờn buồn bã bỏ ra.
Vương trò chuyện với chim, thấy đối đáp nhanh nhẩu, gọi lấy thịt cho ăn. Ăn xong, chim nói "Thần muốn tắm". Vương sai lấy chậu vàng múc nước, mở lồng cho nó ra tắm. Tắm xong, chim bay qua bay lại trước thềm, vỗ cánh rỉa lông, vẫn liến láu trò chuyện với vương không ngớt. Giây lát cánh khô hẳn, giương cánh bay lên, nói giọng Tấn (vùng Sơn Tây) rằng "Thần đi đây!", trong chớp mắt đã mất hút. Vương cùng các nội thị ngửa mặt than tiếc, vội tìm người kia thì đã đi xa rồi. Về sau có người tới Tần Trung (vùng Thiểm Tây), thấy y mang chim đi trong thành Tây An (tỉnh thành Thiểm Tây). Tiên sinh Tất Tải Tích* chép lại chuyện này.
*Tất Tải Tích: xem chú thích truyện Chúc ông, quyển II.

291. Thương Tam Quan (Thương Tam Quan)

Thành Gia Cát cũ có Thương Sĩ Võ là kẻ sĩ nhân. Vì say rượu nói năng xúc phạm người thế hào, bị người ấy sai gia nhân xúm lại đánh tơi bời, cõng về tới nhà thì chết. Thương có hai trai, lớn là Thần, thứ là Lễ và một gái là Tam Quan, mười sáu  tuổi, đã hẹn ngày cưới nhưng gặp việc cha chết phải đình lại. Hai anh Tam Quan đưa đơn kiện nhưng cả năm sau cũng chưa được xử nhà thông gia sai người đến gặp mẹ nàng xin cho tòng quyền làm đám cưới. Người mẹ định ưng thuận nhưng cô gái bước lên nói "Xác cha mất còn chưa lạnh mà đòi cưới xin, họ không có cha mẹ à?". Nhà thông gia nghe thế xấu hổ đành thôi. Không bao lâu hai anh đi kiện không được, chịu lép trở về, cả nhà bi phẫn. Hai anh định quàn xác cha để tiếp tục thưa kiện, Tam Quan nói "Người bị giết mà quan không xét, việc đời thế nào đủ biết rồi, chẳng lẽ trời sinh riêng cho hai anh em anh một Bao Công à? Để thi hài cha phơi ra như thế thì nỡ lòng nào!". Hai anh phục lời ấy, bèn lo mai táng cha.
Việc chôn cất vừa xong, Tam Quan ban đêm trốn đi, không biết đi đâu. Người mẹ lấy làm xấu hổ, sợ nhà thông gia biết, không dám nói cho họ hàng hay, chỉ dặn hai con trai ngấm ngầm tìm kiếm, nhưng suốt nửa năm vẫn không thấy tăm hơi. Gặp dịp người thế hào mở lễ mừng thọ, gọi phường trò tới giúp vui. Người phường trò tên Tôn Thuần dẫn theo hai đứa học việc để sai vặt, một người tên Vương Thành, mặt mũi bình thường nhưng tiếng hát trong vắt mọi người đều khen ngợi, một người tên Lý Ngọc, mặt mày xinh đẹp thanh tú như con gái, gọi ra bảo hát thì từ chối là ít luyện tập, ép thì những bài hát ra có một nửa chen cả các điệu hò vè của đàn bà con gái, cả tiệc vỗ tay ầm lên. Tôn thẹn quá, thưa với chủ nhà rằng thằng nhỏ này theo học chưa bao lâu, chỉ mới biết mời rượu, xin đừng trách, rồi sai ra chuốc rượu.
Ngọc lui tới dâng rượu, rất khéo đón ý chủ nhân, người thế hào rất vừa ý. Đến khi tan tiệc, khách khứa ra về, người thế hào giữ Ngọc lại ngủ cùng. Ngọc dọn giường cởi áo cho chủ, hầu hạ rất chu đáo, người thế hào càng thích, cho người hầu ra hết chỉ giữ có Ngọc lại trong phòng. Ngọc đợi đám người hầu ra hết liền đóng của cài then. Đám người hầu sang phòng khác ăn uống, lát sau nghe thấy trong phòng chủ ngủ có tiếng cành cạch, một người bước qua xem, chỉ thấy trong phòng tối đen yên lặng, đang định quay đi chợt nghe tiếng động lớn như vật nặng treo trên cao đứt dây rơi xuống, vội lớn tiếng hỏi nhưng không thấy ai trả lời. Y gọi mọi người phá cửa vào, thấy chủ nhân đã đầu lìa khỏi xác. Ngọc thì treo cổ tự tử, dây đứt xác rơi xuống đất, đầu dây vẫn còn lủng lẳng trên xà nhà. Mọi người hoảng sợ, gọi nhau vào tụ họp trong phòng bàn bạc nhưng không hiểu vì sao.
Đem xác Ngọc ra sân thì thấy trong giày tất trống không như không có bàn chân, cởi ra xem thấy bàn chân bó nhỏ, té ra là con gái. Họ càng hoảng sợ, gọi Tôn Thuần tới căn vặn. Thuần sợ lắm, không biết vì sao, chỉ nói “Tháng trước Ngọc tới xin học nghề, hôm nay xin đi theo tới đám mừng thọ, thật không rõ là từ đâu tới" Thấy Ngọc mặc tang phục bên trong, nhà thế hào ngờ là thích khách của họ Thương, bèn cắt ra hai người canh giữ xác chết. Cô gái mặt đẹp như ngọc, vỗ về thì thấy thân thể tay chân ấm áp mềm mại, hai người bèn bàn nhau lén hành dâm. Một người ôm xác cô gái nắn bóp vần vò, đang định cởi dây lưng thì chợt như bị đập mạnh vào đầu, hộc máu mồm chết ngay tại chỗ. Người kia sợ hãi kể lại, mọi người đều kính cẩn coi cô gái như thần minh. Sáng ra lên báo quan, quan gọi Thần và Lễ lên hỏi, họ đều nói không biết gì, chỉ nói em gái là Tam Quan đã bỏ nhà đi nửa năm rồi, sai tới xem xác chết thì đúng là Tam Quan. Quan cho là vịệc lạ lùng, cho hai người mang xác em gái về chôn cất, lại khuyên gia đình người thế hào không nên thù hằn.
Dị Sử thị nói: Trong nhà có nữ Dự Nhượng* mà không hay, thì hai người anh làm đàn ông ra sao cũng có thể biết rồi. Nhưng làm người như Tam Quan thì ngay cả kẻ qua sông Dịch** cũng còn thẹn là chưa bằng, huống hồ những kẻ tầm thường chìm nổi theo đời sao? Mong sao những đàn bà con gái trong thiên hạ mua chỉ về thêu tranh nàng để thờ, thì phúc đức chẳng kém gì so với việc thờ phụng Quan Đế đâu.
*Dự Nhượng: người thời Xuân thu, hủy hoại thân thể để cải trang báo thù cho chủ, người sau coi là bậc hiệp nghĩa.
** Kẻ qua sông Dịch: tức Kinh Kha, người thời Chiến quốc, kiếm khách của Thái tử Đan nước Yên sai đi hành thích Tần vương (tức Tần Thủy hoàng). Tương truyền khi sang sông Dịch để tiến vào địa giới nước Tần, Kinh Kha ngẩng mặt hát, lời ca rất khảng khái thê thiết.

292. Sư Tây Vực (Tây Tăng)

Sư Tây Vực từ Tây Vực tới, một người lên núi Ngũ Đài, một người tới núi Thái Sơn, trang phục tướng mạo đều khác hẳn người Trung nguyên. Tự nói rằng đường đi qua Hỏa Diệm Sơn, núi non trơ trọi, hơi nóng xông lên như lò lửa. Phàm đi phải chọn lúc sau cơn mưa, mà phải hết sức cẩn thận, nếu sơ sót đặt chân lên đá núi, đá sụt xuống thì khói lửa sẽ tuôn ra. Lại qua sông Lưu Sa, trong sông có hòn núi pha lê, vách núi cao chạm trời, bốn bề trong veo như không có cách bức gì cả. Lại có ải đủ cho một chiếc xe đi lọt, có hai con rồng nằm đối diện nhau giữ chặt cửa ải, người đi qua phải lạy rồng trước, nếu rồng cho qua thì há miệng ra. Rồng màu trắng, vảy đều sáng lấp loáng như pha lê. Họ nói rằng đi đường trải qua mười tám mùa nóng lạnh, lúc rời Tây Vực có mười hai người, mà tới được Trung Nguyên chỉ còn có hai. Ở Tây Vực đồn rằng Trung nguyên có bốn ngọn danh sơn là Thái Sơn, Hoa Sơn, Ngũ Đài, Lạc Già* mặt đất trên núi đầy vàng ròng, các vị Phật như Quan âm, Văn Thù đều còn sống ở đó, nếu tới được thì mình cũng sẽ được trường sinh bất tử như Phật. Theo như lời họ nói thì vẫn còn có người hâm mộ Tây Vực. Giả như có kẻ Tây du người Đông độ gặp nhau giữa đường, ai cũng kể chuyện xứ mình, thì chắc là sẽ nhìn nhau cười ngất, đôi bên khỏi phải lặn lội khổ cực vậy.
*Thái Sơn, Hoa Sơn, Ngũ Đài, Lạc Già: tức các núi Thái Sơn ở Sơn Đông, Hoa Sơn ở Thiểm Tây, Ngũ Đài ở Sơn Tây, Phổ Đà ở Chiết Giang, ngày trước đều có chùa chiền rất nổi tiếng trong đạo Phật ở Trung Hoa.

293. Tượng Quỷ Bằng Đất (Nê Quỷ)

Thái sử Đường Tế Vũ người hương ta, lúc lên vài tuổi có người anh họ dắt đi chơi chùa. Thái sử lúc còn nhỏ đã lỗi lạc, rất gan dạ, thấy pho tượng quỷ bằng đất ở hành lang trợn mắt sáng quắc, rất thích thú bèn lén lấy ngón tay móc lấy bỏ túi mang về. Về tới nhà thì người anh họ Thái sử chợt mắc bệnh nặng không nói được, giây lát lại vùng dậy lớn tiếng quát "Tại sao lại móc mắt ta?", rồi cứ la thét không thôi. Mọi người không biết chuyện gì, Thái sử mới nói việc mình đã làm. Người nhà bèn khấn "Trẻ con không biết gì nên nghịch ngợm làm tổn thương mắt quý, xin sẽ đem trả lại". Người anh họ Thái sử lớn tiếng nói "Nếu thế thì ta đi đây!” rồi ngã vật ra đất tắt hơi hồi lâu mới tỉnh. Hỏi lại những lời đã nói thì không nhớ gì, người nhà Thái sử bèn đưa mắt tới lắp trả vào tròng pho tượng.
Dị Sử thị nói: Lên thềm đòi mắt, tượng đất sao mà thiêng thế. Thấy Thái sử móc mắt, mà sao lại báo oán nơi người đi cùng, có lẽ vì Thái sử là người Tôn quý mà tính tình ngay thẳng chăng. Xem việc ông dâng thư lên cửa khuyết, phủi áo về non xưa, thì thần cũng phải sợ, huống chi là quỷ sao?

0
294. Biệt Ly Trong Mộng (Mộng Biệt)

Ông nội của tiên sinh Vương Xuân Lý chơi rất thân với em ông nội ta là ông Ngọc Điền. Một đêm ông nằm mơ thấy ông Ngọc Điền tới nhà, buồn bã trò chuyện. Hỏi có việc gì thì ông Ngọc Điền đáp “Ta sắp đi xa, nên tới chia tay với ông thôi". Hỏi đi đâu, ông Ngọc Điền đáp "Xa lắm", rồi đi ra. Ông tiễn tới sơn cốc, thấy vách đá có chỗ mở toang ra, ông Ngọc Điền chắp tay cáo biệt rồi đi giật lùi vào trong, dần dần mất hút, gọi không thấy trả lời, kế giật mình tỉnh dậy. Sáng ra, ông kể cho con lớn là Thái công Kính Nhất, sai chuẩn bị các vật dùng đưa đám, nói “Chuẩn bị để giúp đỡ cho đám tang ông Ngọc Điền". Thái công xin cứ qua hỏi thăm trước, nếu đúng sẽ qua phúng điếu. Ông không nghe, cứ mặc quần áo trắng sang, tới cổng thì phướn báo tang đã treo lên rồi. Than ôi! Người xưa với việc sống chết của bè bạn thành tín tới như thế đấy, việc xe tang của Nguyên Bá đợi Cự Khanh* há có phải là chuyện bịa đặt đâu!
*Cự Khanh: Hậu Hán thư, Độc hạnh truyện chép Phạm Thức tự Cự Khanh, chơi thân với Trương Thiệu ở Nhữ Nam. Thiệu tự Nguyên Bá, khi Nguyên Bá chết, Thức nằm mơ nghe Nguyên Bá gọi "Cự Khanh? Ta đã chết hôm ấy, sẽ chôn vào giờ ấy, huynh chưa quên ta nhưng làm sao tới kịp". Thức giật mình tỉnh dậy, vội vàng lên đường tới phó tang, còn chưa tới thì xe tang đã ra khỏi nhà Nguyên Bá. Nhưng tới gần miệng huyệt thì xe chở quan tài dừng lại không đi nữa. Giây lát thấy có người cưỡi xe mui trắng thắng ngựa bạch kêu khóc chạy tới, mẹ Nguyên Bá nói "Đó ắt là Phạm Cự Khanh". Cự Khanh tới, lạy phục trước quan tài khóc nói "Đi thôi anh Nguyên Bá! Sinh tử đôi đường, từ nay xin vĩnh biệt!", rồi cầm lá phướn đi trước dẫn đường, xe tang mới tiến lên được.

295. Tiên Ông Họ Tô (Tô Tiên)

Lúc ông Cao Minh Đồ làm Tri huyện Sâm Châu (tỉnh Hồ Nam) có một người con gái họ Tô giặt áo trên sông. Bờ sông có tảng đá lớn, cô gái ngồi trên đó, có một dải rêu xanh tươi rất đáng yêu nổi dập dềnh theo nước trôi quanh tảng đá ba vòng. Cô gái nhìn thấy chợt thấy cảm động, trở về nhà thì có thai, bụng cứ lớn dần. Người mẹ ngầm căn vặn, cô gái kể lại sự thật, mẹ không sao hiểu được. Vài tháng sau thì cô gái sinh được một con trai, người mẹ muốn vứt ra ngõ hẻm nhưng cô gái không nỡ. Bèn giấu đứa con vào trong tủ nuôi nấng, lại thề không lấy chồng để tỏ rõ rằng mình không có hai chồng. Nhưng không chồng mà chửa nên vẫn lấy làm nhục nhã, vì vậy đứa con đã lên bảy tuổi mà cũng ít người được nhìn thấy. Một hôm đứa con chợt nói "Con nay lớn dần, mà cứ giấu ở nơi tối tăm thế này thì làm sao lớn được? Con xin đi để khỏi làm lụy cho mẹ". Hỏi đi đâu, đứa con đáp “Con không phải là người, thì phải ra khỏi nhân gian lên trời thôi". Cô gái khóc hỏi khi nào về, đứa con đáp “Khi nào mẹ chết con mới về. Con đi rồi nếu mẹ có thiếu thốn cứ tìm trong cái tủ giấu con, sẽ được như ý". Nói xong lạy mẹ bước ra, cô gái đuổi theo nhìn thì đã mất dạng.
Cô gái kể lại cho mẹ, người mẹ rất lấy làm lạ lùng. Cô gái vẫn giữ chí cũ, mẹ con nương tựa nhau mà sống, nhưng gia cảnh ngày càng nghèo. Có hôm hết gạo, không biết làm sao, chợt nhớ lời con trai bèn vào mở tủ, quả nhiên có gạo, nhà mới nổi lửa. Từ đó cứ mong cầu là được như ý. Được ba năm, người mẹ bệnh chết, mọi chi phí vật dùng chôn cất đều lấy trong tủ ra. Chôn cất mẹ xong, cô gái ở một mình ba mươi năm, ít khi mở cửa. Có hôm người đàn bà láng giềng qua xin lửa, thấy nàng ngồi cao một mình trong phòng vắng, nói chuyện vài câu rồi về. Không bao lâu chợt thấy có đám mây ngũ sắc vấn vít quanh nhà nàng, tròn tròn như cái lọng, trong có một người ăn mặc đẹp đẽ đứng, nhìn kỹ thì là cô gáỉ họ Tô. Đám mây bay lượn hồi lâu rồi dần dần bay lên cao không thấy đâu nữa. Láng giềng đều ngờ vực hé cửa nhìn vào, thấy cô gái trang điểm ngồi yên, nhưng đã tắt hơi rồi. Mọi người cho rằng nàng không có chồng con, bàn việc chôn cất. Chợt có một thiếu niên bước vào, phong tư anh tuấn, hướng về mọi người nói lời cảm ơn. Láng giềng trước kia cũng ngầm biết rằng cô gái có con trai nên không nghi ngờ gì. Thiếu niên bỏ tiền ra chôn cất mẹ, trồng hai cây đào bên mộ rồi từ biệt đi. Đi được vài bước thì dưới chân có mây mù bốc lên không thấy đâu nữa. Hai cây đào về sau nảy bông kết trái rất thơm ngon, người ở đó gọi là Cây đào của tiên ông họ Tô, càng lâu năm càng xanh mượt không bị héo úa mục nát. Các quan ở đất ấy vẫn hái trái để tiếp bạn bè.

296. Đạo Sĩ Họ Đơn (Đơn Đạo Sĩ )

Công tử họ Hàn là nhà thế gia trong huyện. Có đạo sĩ họ Đơn giỏi làm trò, công tử thích phép thuật của ông ta, nên đãi làm thượng khách. Đơn hàng ngày ngồi cùng khách khứa, cứ thoắt lại biến mất không thấy đâu. Công tử muốn học phép ấy, Đơn không chịu. Công tử nài nỉ mãi, Đơn nói "Ta không phải tiếc thuật mọn, mà là sợ hỏng đạo lớn. Phép này truyền cho người quân tử thì được, nếu không thì ắt sẽ có người mượn nó mà đi ăn trộm. Công tử thì ta không ngại chuyện đó, nhưng có thể ra ngoài thấy con gái đẹp nảy lòng yêu thích, tàng hình vào chốn phòng khuê của họ, thì đó là làm điều ác thả lòng dâm, nên ta không dám vâng lệnh". Công tử không ép buộc được nhưng trong lòng tức giận lắm, ngầm cùng đầy tớ tính cách đánh cho một trận để hạ nhục. Nhưng lại sợ ông ta trốn mất, nên lấy tro mịn rải lên sân phơi thóc, nghĩ rằng tả đạo có thể tàng hình song thế nào cũng để lại vết chân trên tro, có thể theo vết mà đuổi đánh. Rồi đó dụ Đơn tới, sai người cầm roi da trâu đổ ra đánh, Đơn chợt biến mất, trên tro quả có vết giày, người hai bên xúm lại đập bừa phứa, nhưng trong phút chốc không còn nhận ra Đơn đứng ở đâu nữa.
Công tử trở về, Đơn cũng tới nói với đám đầy tớ rằng "Ta không thể ở đây được nữa, xưa nay vẫn làm phiền các ngươi hầu hạ, hôm nay chia tay phải có cái gì để báo đáp". Rồi rút trong tay áo ra một bình rượu ngon, lại mò tìm đưa ra một đĩa thức ăn, đặt cả lên bàn. Đặt xong lại mò tìm trong tay áo, hơn mười lần như thế, rượu thịt đầy cả một bàn, rồi gọi mọi người cùng vào ăn uống, các thứ vật dùng đều là lấy trong tay áo ra. Công tử họ Hàn nghe chuyện lạ, sai bảo diễn trò. Đơn vẽ lên vách một ngôi thành, lấy tay đập mạnh, cổng thành mở ra. Nhân đó đem hành lý vật dùng quăng vào cổng thành trước, chắp tay chào nói "Ta đi đây!", rồi nhún người nhảy vào thành. Cổng thành đóng lại, đạo sĩ biến mất. Sau nghe nói đạo sĩ tới ở huyện thành Thanh Châu (tỉnh Sơn Đông), dạy trẻ con vẽ vòng đen trong lòng bàn tay, đùa ném vào người ta, hoặc lên áo hoặc lên mặt, cái vòng lập tức bay ra in vết vào họ.
Lại nghe nói rất giỏi thuật trong phòng, có thể dùng hạ bộ hút hết một bình rượu nóng, công tử từng có lần thử bảo làm trước mặt.

297. Đại Phu Năm Bộ Da Dê (Ngũ Cổ Đại Phu)

Sướng Thể nguyên người huyện Hà Tân (tỉnh Sơn Đông) tự Nhữ Ngọc. Lúc còn là Chư sinh, nằm mơ thấy có người gọi mình là Quan Đại phu năm bộ da dê* mừng rỡ cho là điềm tốt. Sau gặp lúc giặc giã, bị chúng bắt lột hết áo quần, nhốt trong phòng vắng. Lúc ấy là mùa đông rất lạnh, Sướng mò mẫm trong bóng tối được mấy tấm da khoác lên người nên không tới nỗi chết rét. Trời sáng nhìn lại, thì đúng là năm tấm da dê, bật cười việc thần đùa giỡn với mình. Sau từ chân Cống sinh được bổ làm Tri huyện Lạc Nam (tỉnh Thiểm Tây).
* Quan Đại phu năm bộ da dê: nguyên ván là “Ngũ cổ Đại phu” lấy tích Bách Lý Hề thời Xuân thu có tài chính trị nhưng xuất thân nghèo hèn phải làm nô lệ cho người ta, Tần Mục công biết là kẻ có tài bèn sai người đem năm bộ da dê chuộc về, cất nhắc lên chức Đại phu, người đương thời nhân đó gọi Hề là Ngũ cổ đại phu. Hán ngữ gọi dê là dương, dê cái đen là cổ.

Phụ: Một Truyện Trong Trì Bắc Ngẫu Đàm(Trì Bắc Ngẫu Đàm Nhất Tắc)

Sướng Thể Nguyên người huyện Hà Tân, lúc trẻ nằm mơ thấy thần gọi mình là Quan Đại phu năm bộ da dê, lấy làm tự đắc. Sau gặp lúc giặc giã, Thể Nguyên bị giặc bắt nhốt vào một gian phòng. Mùa đông lạnh quá, Thể Nguyên tìm trong góc vách được năm tấm da dê đắp lên người, mới sực hiểu ra là thần đùa giỡn với mình. Sau thi đỗ khoa Minh kinh được bổ làm Tri huyện Lạc Nam.

0
298. Con Thú Đen (Hắc Thú)

Nghe Thái công Lý Kính Nhất kể rằng ông Mỗ ở Thẩm Dương (tỉnh thành Liêu Ninh) họp bạn ăn tiệc trên núi, nhìn dưới núi có con cọp tha con vật tới, lấy chân đào hố chôn rồi bỏ đi. Ông Mỗ sai người đào lên xem, thấy có con hươu chết, bèn lấy đi rồi lấp đất lại như cũ. Giây lát cọp dẫn con thú đen lông dài hơn một tấc tới. Cọp đi trước, dáng như kính cẩn đón khách. Tới chỗ huyệt, con thú ngồi xuống nhìn chằm chằm chờ, cọp đào hố lên thì hươu đã mất, sợ sệt nằm mọp xuống không dám động đậy. Con thú tức giận vì bị lừa dối, lấy chân tát vào trán cọp, cọp chết ngay lập tức, con thú cũng bỏ đi.
Dị Sử thị nói: Chẳng biết con thú kia tên gọi là gì, nhưng hỏi lại hình dáng thì không hề to hơn cọp. Thế mà cọp giơ đầu chịu chết, sợ sệt tới mức ấy hay sao? Phàm loài vật đều có giống khắc chế nhau, về lý thì không thể hiểu nổi. Như khỉ rất sợ đười ươi, từ xa nhìn thấy là xếp hàng lạy rạp xuống, không con nào dám bỏ trốn, trố mắt nín thở chờ. Đười ươi tới, lấy tay nắn bóp xem gầy hay béo, con nào béo thì đặt một viên đá lên đầu đánh dấu. Khỉ cứ đội viên đá nằm im thin thít, cứng đờ như con gà gỗ, chỉ sợ làm rơi viên đá. Đười ươi đánh dấu xong cứ theo thứ tự các viên đá mà bắt khỉ ăn thịt, no rồi mới đuổi đám còn lại đi. Ta thường nói quan lại tham lam giống như đười ươi, cũng nắn bóp thăm dò xem dân gầy hay béo mà đánh dấu rồi lần lượt bắt lấy ăn thịt, mà dân thì cứ nghiêng tai chờ ăn tới mình, không dám hó hé, nín bặt giống như khỉ vậy, đáng thương xót thay!

299. Ngự Sử Ở Phong Đô (Phong Đô Ngự Sử)

Ngoài huyện thành Phong Đô (tỉnh Tứ Xuyên) có cái hang rất sâu, người ta đồn là công thự của Diêm Vương. Những đồ dùng trong ngục đều nhờ thợ trên nhân gian làm, các thứ gông cùm hư nát cứ ném ra chỗ cửa hang, quan huyện sai lấy cái mới thay vào, qua đêm thì biến mất. Ở huyện có quy chế về chi phí cho việc đó, trải qua nhiều năm vẫn thế. Thời Minh có quan Ngự sử hành đài họ Hoa đi xét án tới Phong Đô không tin chuyện ấy, muốn vào hang xem để dứt mối ngờ vực. Mọi người đều nói không nên, ông không nghe, cầm đuốc vào hang, lấy hai người nha lại đi theo. Đi được hơn một dặm đuốc chợt tắt, nhìn thấy một đường bậc thềm rộng rãi, có ngôi điện lớn rộng hơn mười gian, bên trên có các vị quan mặc áo cầm hốt ngồi la liệt, chỉ có gian phía đông còn trống một chỗ. Một vị thấy ông tới, xuống thềm ra đón, cười hỏi “Tới rồi đấy à? Từ lúc chia tay đến nay vẫn khỏe chứ?”. Ông hỏi đây là nơi đâu, vị quan đáp "Đây là âm phủ”. Ông ngạc nhiên cáo từ, vị quan chỉ chỗ ngồi còn trống nói "Đó là chỗ của ông, làm sao còn về được nữa?". Ông càng sợ, nài nỉ xin tha cho. Vị quan nói "Số phận đã định, làm sao trốn tránh được!". Rồi lấy một quyển sổ đưa ông xem, trên chú rằng "Ngày ấy tháng ấy đem xác phàm về âm phủ”. Ông nhìn thấy, run cầm cập như bị dội nước lạnh, lại nghĩ tới mẹ già con dại, nước mắt hai hàng.
Chợt có vị thần mặc giáp vàng bưng tờ sắc thư bằng lụa vàng tới, mọi người lạy đón rồi mở ra đọc, mừng ông rằng “Ông có cơ được trở lại dương gian rồi”. Ông mừng rỡ hỏi, họ đáp “Vừa rồi là chiếu chỉ của Thượng đế đại xá cho cõi U minh", rồi chỉ đường cho ông đi trở ra. Đi được vài chặng thì thấy tối đen như mực, không nhận được đường đi, ông rất sợ hãi. Chợt có một thần tướng từ bên ngoài cưỡi xe vào, mặt đỏ râu dài, ánh sáng quanh người chiếu ra mấy thước, ông bước tới đón lạy khẩn cầu. Thần nói “Niệm kinh Phật có thể ra được”, nói xong đi thẳng. Ông nghĩ lại kinh kệ, phần lớn đều không nhớ, chỉ có kinh Kim cương là từng học nhiều, bèn chắp tay đọc. Chợt thấy như có một tia sáng chiếu ở phía trước, lại quên mất một câu, ánh sáng trước mặt lại tắt ngấm. Ông định trí tĩnh tâm một lúc, càng đọc đường đi càng sáng bùng mới ra được ngoài hang, còn hai người nha lại cùng đi thì không rõ ra sao.

300. Người To Lớn (Đại Nhân)


Hiếu liêm Lý Chất Quân ở huyện Trường Sơn tỉnh Sơn Đông) đi tới phủ Thanh Châu (tỉnh Sơn Đông), trên đường gặp sáu bảy người nói năng líu nhíu, nhìn kỹ thì hai bên gò má người nào cũng có vết sẹo to như đồng tiền, lấy làm lạ hỏi vì sao mà mang bệnh giống nhau. Họ kể rằng năm trước tới Vân Nam, trời tối lạc đường vào trong núi lớn, non sâu khe thẳm không sao ra được. Trong sơn cốc có một cây đại thụ cành to vài thước, tàn cây rủ xuống che rợp hơn mẫu đất. Họ không biết ngủ ở đâu, bèn cùng xuống ngựa cởi áo nghỉ ngơi dưới gốc cây. Đến khuya tiếng cọp gầm sói hú cú rúc dơi khua nối nhau rộ lên, họ cứ ngồi bó gối nhìn nhau không ai ngủ được. Chợt thấy một người to lớn đi tới, cao hơn một trượng, họ đều co quắp bò rạp xuống không dám thở mạnh. Người to lớn tới nơi, bắt ngựa xé ăn, trong khoảnh khắc ăn sạch sáu bảy con ngựa. Kế bẻ một cành cây dài, bắt họ xỏ qua mang tai như xâu cá mang đi. Được vài bước thì cành cây kêu răng rắc, người to lớn ấy như sợ họ rơi mất, bèn chập hai đầu cành cây lại, lấy một tảng đá lớn dằn lên rồi đi. Họ chờ y đi khuất, rút dao lưng chặt đứt cành cây rồi gượng đau bỏ chạy.
Chưa được bao xa thì người kia lại dắt một người to lớn nữa tới, họ hoảng sợ chui vào núp trong bãi cỏ rậm. Thấy người tới sau còn to lớn hơn, tới dưới gốc cây thì qua lại tìm kiếm như mong mỏi lắm mà không được, cất tiếng gào thét như chim lớn kêu, rồi như giận người kia lừa dối mình, tát luôn vào mặt. Người to lớn cúi đầu nhẫn nhục cam chịu không dám tỏ vẻ gì, kế cùng bỏ đi. Lúc ấy họ mới run sợ chui ra, ba chân bốn cẳng chạy một hồi, nhìn thấy đầu núi có ánh đèn lửa vội kéo nhau chạy tới, gặp một người đàn ông trong thạch thất, bèn cùng vào vái lạy kể lể nỗi khổ. Người đàn ông kéo lên bảo ngồi, nói "Giống vật ấy thật rất đáng căm hận, nhưng ta cũng không kiềm chế nổi, phải chờ xá muội về mới tính được". Không bao lâu, có một cô gái vác hai con cọp từ ngoài vào, hỏ họ làm sao tới được đây. Họ cúi lạy rồi kể lại mọi việc. Cô gái nói "Ta đã biết hai đứa ấy làm ác lâu rồi, nhưng không ngờ lại hung dữ đến thế, phải trừ khử ngay mới xong”. Rồi vào phòng lấy ra một chiếc chùy đổng nặng ba bốn mươi cân, ra cửa đi mau.
Người đàn ông nướng thịt cọp đãi khách, thịt chưa chín cô gái đã trở về, nói "Chúng thấy ta thì chạy trốn, ta đuổi theo vài mươi dặm, chặt được một ngón tay đem về đây. Rồi ném ngón tay xuống đất, to như bắp chân người thường. Họ vô cùng hoảng sợ, hỏi họ tên nhưng hai anh em im lặng không đáp. Giây lát thịt chín, họ đau đớn ăn không được, cô gái lấy thuốc đắp cho, đều lập tức thấy hết đau. Kế cô gái đưa họ tới dưới gốc cây, thấy hành lý vẫn còn ở đó, ai nấy bèn đeo lên. Đi được hơn mười dặm, qua chỗ đánh nhau lúc tối, cô gái chỉ cho nhìn, họ thấy dưới hốc đá vẫn còn đọng lại hơn một chậu máu. Ra tới ngoài núi, cô gái mới chia tay quay về.

301. Tú Tài Họ Liễu (Liễu Tú Tài)

Cuối thời Minh ở hai phủ Thanh, Duyện có nạn cào cào phá lúa, dần dần tụ họp tới huyện Nghi Thủy (đều thuộc tỉnh Sơn Đông). Quan huyện Nghi Thủy lo lắng, hết ngày làm việc về nằm nghĩ ngợi, chợp mắt mơ thấy một người Tú tài tới yết kiến, đội mũ cao mặc áo xanh, vóc dáng cao lớn hiên ngang, nói là có cách ngăn được nạn cào cào. Quan huyện hỏi, ông ta đáp “Sáng mai trên đường phía tây nam có một người đàn bà cưỡi con lừa cái bụng to, đó là Thần Cào cào đấy, năn nỉ bà ta thì có thể thoát nạn". Quan huyện tỉnh dậy lấy làm lạ, sáng sớm mang đủ lễ vật ra cửa nam huyện thành chờ đợi hồi lâu, quả thấy có người đàn bà búi tóc cao đội khăn xám cưỡi con lừa già khập khiễng đi lên phía bắc. Quan huyện lập tức thắp hương rót rượu đón lạy bên đường, giữ lừa lại không cho đi.
Người đàn bà hỏi quan Đại phu định làm gì, quan huyện năn nỉ cầu khẩn xin tha cho huyện nho khỏi nạn cào cào ăn lúa. Người đàn bà nói "Đáng hận gã Tú tài họ Liễu múa mép làm lộ chuyện bí mật của ta. Thế thì để cho y phải đem thân chịu tội, không làm hại tới lúa má cũng được", kế uống cạn ba chén rượu rồi biến mất. Sau cào cào tới huyện, bay rợp cả mặt trời nhưng không đáp xuống ruộng lúa, chỉ tụ họp trên cây dương liễu, qua khỏi nơi nào thì dương liễu ở đó trụi cả lá. Lúc ấy mới sực hiểu ra Tú tài họ Liễu là thần cây liễu. Có người nói đó là vì quan huyện thương dân nên làm cảm động tới thần, thật đúng vậy.

0
302. Công Tử Họ Đổng (Đổng Công Tử)

Nhà Thượng thư Đổng Khả Úy ở phủ Thanh Châu (tỉnh Sơn Đông) gia pháp rất nghiêm, đàn ông đàn bà trong ngoài không dám nói chuyện với nhau một câu. Một hôm có người tớ gái và người tớ trai đùa giỡn với nhau ngoài cửa giữa, bị công tử nhìn thấy. Công tử giận quát, hai người bỏ chạy. Đến đêm, công tử và đứa hầu nhỏ ngụ trong phòng sách, lúc ấy mùa hè trời nóng, cửa phòng chỉ khép hờ. Đến khuya đứa hầu nhỏ nghe trên giường có tiếng động rất lớn, tỉnh dậy nhìn ra chỗ trăng sáng thì thấy người tớ trai ban ngày cầm một vật đi ra cửa. Nó cho rằng là việc trong nhà nên cũng không lạ lắm, lại ngủ tiếp. Chợt nghe tiếng giày vang lên, một người đàn ông cao lớn mặt đỏ râu dài như Quan Vũ cầm một cái đầu người bước vào. Đứa hầu nhỏ sợ hãi bò vào gầm giường, nghe trên giường có tiếng lách ca lách cách, rồi tiếng giữ áo, tiếng xoa bụng, lát sau thì im, tiếng giày lại vang lên, người kia đi ra. Nó rụt cổ chui ra, thấy ngoài cửa sổ đã rạng sáng, sờ soạng lên giường thì tay áo bị dính ướt, ngửi thấy có mùi máu tanh, vội kêu lớn gọi công tử, công tử mới tỉnh dậy. Nó kể lại rồi thắp đèn lên, thấy máu đầy nệm gối, cả sợ nhưng không hiểu vì sao.
Chợt có người sai dịch của quan gõ cửa. Công tử ra gặp, họ ngạc nhiên, chỉ nói là chuyện lạ! Hỏi thì họ đáp “Vừa rồi trên phố có một người dáng vẻ mê man, la lớn rằng: Ta giết chủ nhân rồi. Mọi người thấy áo y dính máu, bắt đưa lên quan, hỏi ra thì là gia nhân của công tử. Y nói là đã giết công tử, chôn đầu ở cạnh miếu Quan Đế. Tới đó khám xét, thì hố đào còn mới, mà đầu thì không thấy đâu”. Công tử kinh ngạc hoảng sợ, tới chỗ công đường, thì người ấy chính là tên tớ trai đùa giỡn với người tớ gái. Quan cũng rất bàng hoàng ngạc nhiên, trách phạt nặng nề rồi thả y. Công tử không muốn kết oán với kẻ tiểu nhân, đem người tớ gái gả cho y rồi bảo đi nơi khác.
Được vài hôm, đám tuần canh đêm nghe trong nhà y có một tiếng ầm vang dội, vội chạy mau tới gọi cửa không thấy đáp, vạch cửa sổ leo vào xem, thì thấy vợ chồng cùng giường nệm đều bị chặt đứt làm đôi, trên xác và gỗ giường đều còn vết như bị một thanh đao chém vậy. Quan Công hiển linh vốn rất nhiều, nên chuyện này chẳng có gì là lạ.

303. Lãnh Sinh (Lãnh Sinh)

Lãnh sinh ở huyện Bình Thành (tỉnh Sơn Đông) lúc nhỏ ngu độn, năm hơn hai mươi tuổi cũng chưa thông hiểu được một kinh*. Sau chợt có hồ tới ở chung, thường nghe trò chuyện với nhau suốt đêm. Anh em ruột hỏi thăm, sinh cũng không chịu nói lộ ra một tiếng. Như thế ít lâu, chợt sinh mắc bệnh điên khùng thay đổi cả tính nết. Cứ những khi làm văn, có đề rồi thì đóng cửa ngồi một mình, giây lát cười rộ, người nhà tới nhìn trộm thì thấy sinh cầm bút viết mau không ngừng, thế là được một bài văn, xem tới bản thảo thì văn chương tinh diệu. Năm ấy được vào học ở trường tỉnh, năm sau được ăn lương. Mỗi khi làm bài trong trường thì cười vang cả lớp, vì vậy nổi tiếng là Tiếu sinh (Thư sinh cười), may mà toàn gặp lúc quan Học sứ đã về nghỉ nên không nghe thấy. Sau gặp quan Học sứ nọ dạy học rất nghiêm, suốt ngày ngồi trên lớp, chợt nghe tiếng sinh cười, tức giận bắt lên toan trách phạt thật nặng. Các quan giúp việc bẩm giúp là sinh mắc bệnh điên khùng, Học sứ mới thôi giận tha cho, nhưng truất tên không cho học ở trường nữa. Từ đó sinh gởi gắm ý tình điên khùng nơi thơ rượu, có làm bốn quyển Thơ Điên, văn chương siêu bạt rất đáng đọc.
*Một kinh: tức một trong ngũ kinh Thi, Thư, Dịch, Lễ, Xuân thu của Nho gia, người học ngày xưa coi như các giáo trình cơ bản phải biết.
Dị Sử thị nói: Đóng cửa cười một tiếng, có khác gì nhà Phật đốn ngộ* đâu? Cười rộ mà làm văn, cũng là một việc hay, sao lại vì thế mà bị truất, quan Học sứ làm thế là lầm lắm! Học sư Tiên sinh Tôn Cảnh Hạ ngày trước đi thăm bạn, tới ngoài cửa sổ không nghe tiếng chuyện trò mà chỉ nghe tiếng cười trong giây lát vang lên mấy lần, cho rằng bạn đang đùa giỡn với người khác. Bước vào nhìn thì trong phòng chỉ có một mình người bạn, lấy làm lạ. Người bạn lại cười rộ nói “Gặp lúc rảnh rỗi, trò chuyện một mình cho vui thôi".
* Đốn ngô: phái Nam Tông trong Phật giáo đại thừa chủ trương người tu hành có thể tiệm ngộ (dần dần ngộ đạo) nhưng cũng có thể đốn ngộ (bất ngờ ngộ đạo), nghĩa là có những bước nhảy vọt trong nhận thức.
Cung sinh trong huyện có nuôi con lừa tính nết rất ương bướng. Cứ đi đường gặp người quen mà sinh chắp tay xin lỗi rằng “Đang có việc gấp không xuống lừa chào được, xin bỏ qua" thì nó lập tức khuỵu chân nằm xuống, nhiều lần như thế. Cung vừa thẹn vừa tức, bèn bàn với vợ, bảo vợ giả làm người đi đường, còn mình cưỡi lừa đi quanh sân, chắp tay xin lỗi vợ như nói với mọi người, con lừa quả nhiên lại nằm xuống, bèn lấy dùi nhọn đâm bắt nó đứng lên. Vừa có người bạn tới thăm, đang định gõ cửa thì nghe Cung nói với vợ "Không xuống lừa chào được, xin bỏ qua”, giây lát lại nói nữa. Người bạn lấy làm lạ, gõ cửa vào hỏi nguyên do. Vợ chồng Cung kể rõ mọi việc, cùng nhau ôm bụng bò ra cười. Hai truyện trên đây có thể chép phụ vào chuyện Lãnh sinh cười để lưu truyền vậy.

304. Hồ Trị Tội Dâm Tà (Hồ Trừng Dâm)

Mỗ sinh mua nhà mới ở, thường bị hồ quấy phá, mọi thứ thức ăn vật dụng đều bị hủy hoại, lại có lúc bỏ cả đất cát vào cơm canh. Một hôm có người bạn tới thăm, gặp lúc sinh đi vắng đến tối chưa về, vợ sinh nấu cơm mời khách, kế cùng người tớ gái dọn xuống ăn sau. Sinh vốn không tự kiềm thúc, thích chứa thuốc kích dâm, không biết hồ đem bỏ vào Tô cháo lúc nào. Vợ sinh ăn, thấy có mùi thơm như xạ, hỏi người tớ gái, người tớ gái đáp là không thấy gì. Ăn xong thì thấy lửa dục bốc lên không sao kìm được, càng gắng đè nén càng thấy thèm khát, nghĩ trong nhà không thể tư thông với ai, chỉ có bạn chồng ở đó, bèn tới gõ cửa phòng. Khách hỏi ai, vợ sinh nói thật, khách hỏi có chuyện gì, vợ sinh không đáp, khách từ tạ nói "Ta cùng chồng ngươi lấy đạo nghĩa kết bạn, không dám làm chuyện cầm thú”. Người đàn bà còn nấn ná, khách quát "Văn chương phẩm hạnh của ông anh ta bị ngươi vùi chôn cả rồi?”, rồi đứng trong cửa nhổ toẹt.
Người đàn bà hổ thẹn, lui về tự nghĩ "Tại sao mình lại làm như thế?". Chợt nhớ mùi lạ trong cháo giống như mùi thuốc kích dâm, vội kiểm lại thuốc trong bao, thấy xáo trộn rơi rớt, trong Tô cháo vừa ăn cũng thế. Biết nước lạnh có thể giải trừ, bèn lấy uống vào, giây lát thấy tỉnh táo lại, song thẹn thùng không biết ăn nói với khách thế nào. Trăn trở hồi lâu thì gần sáng, càng sợ sáng ra không mặt mũi nào nhìn người ta, bèn cởi dây lưng tự treo cổ. Người tớ gái hay được cứu xuống thì đã gần tắt thở, cả giờ sau mới khẽ thở lại được. Khách thì đã bỏ đi trong đêm. Sáng ra sinh mới về, vào thấy vợ nằm, hỏi gì cũng không đáp, chỉ ứa nước mắt. Người tớ gái kể lại việc tự tử, sinh cả sợ cứ hỏi riết, vợ sinh bảo người tớ gái ra ngoài rồi thuật lại hết mọi việc. Sinh than rằng “Đó là ta bị báo ứng về tội dâm tà, chứ nàng có tội gì đâu? May mà có được người bạn tốt, nếu không thì còn mặt mũi nào nữa?". Từ đó bỏ hết thói xưa, hồ cũng thôi không quấy phá nữa.
Dị Sử thị nói: Người ta vẫn răn nhau là đừng chứa thuốc độc trong nhà, chứ không ai răn là đừng chứa thuốc kích dâm, đó cũng là vì sợ đao gươm mà coi thường giường nệm vậy. Nào biết rằng thuốc ấy có khi còn độc hại hơn cả thuốc độc đâu, nên chứa để dùng với vợ nhà thôi. Thế mà còn khiến quỷ thần phát ghét tới như thế, huống chi những kẻ thả lòng dâm đãng lắm khi chẳng phải chỉ dùng có thuốc kích dâm mà thôi.
Mỗ sinh đi thi, từ trên quận về thì trời đã tối, có gói hạt sen củ ấu, vào nhà để cả lên ghế. Lại có một cái đằng tân ngụy khí* đem ngâm trong chậu. Mấy người láng giềng thấy sinh vừa về mang rượu qua chơi, sinh vội đẩy cái chậu vào gầm giường ra chào, rồi bảo vợ làm thức ăn để uống rượu với khách. Uống rượu xong khách về, vội trở vào soi đèn xuống gầm giường thì cái chậu đã trống không. Hỏi vợ, vợ nói “Mới rồi đã đem nấu với củ ấu đãi khách, còn tìm cái gì". Sinh nhớ lại trong thức ăn có những cọng màu đen trộn lẫn vào, mọi người đều không biết là gì, bèn cười phá lên nói "Bà vợ ngây này, đó là cái gì mà đem đãi khách chứ", vợ cũng ngờ vực nói "Lúc nãy ta còn trách chàng không nói cách nấu, vật ấy hình thù xấu xí, cũng không biết gọi là gì, chỉ đành thái bừa ra vậy". Sinh bèn nói cho biết, vợ chồng cùng cười ầm lên. Nay Mỗ sinh đã thi đỗ, người ta vẫn kể lại chuyện ấy để trêu chọc.

*Đằng tân ngụy khí: chưa rõ là gì, nhưng theo văn cảnh có lẽ là một đồ vật bằng mây.

0
305. Chợ Núi (Sơn Thị)

Chợ núi ở Hoán Sơn là một trong tám cảnh đẹp ở huyện, nhưng thường vài năm chưa gặp một lần. Công tử Tôn Võ Niên cùng bạn bè uống rượu trên lầu, chợt thấy có ngọn tháp vọt lên cao tới tận trời, cùng nhìn nhau kinh ngạc, nghĩ rằng quanh đây không có Thiền viện nào như vậy. Không bao lâu nhìn thấy cung điện xuất hiện vài mươi chỗ, ngói biếc cột bay, lơ lửng giữa không trung, mới sực hiểu ra đó là chợ núi. Giây lát thấy tường cao ngút mắt, nhà cửa san sát kéo dài sáu bảy dặm giống hệt thành quách. Bên trong có lầu gác, thềm sảnh, phố xá rõ ràng, tính ra có tới hàng ngàn hàng vạn. Chợt có trận gió lớn nổi lên, cát bụi bay mù mịt, thánh quách vẫn thế. Đến khi gió lặng trời trong, tất cả đều biến mất, chỉ còn có một ngôi lầu cao tới tận trời. Lầu có năm lớp mái, cửa đều hé mở, có năm đốm sáng kéo thành một hàng, phía ngoài là trời. Cứ từng tầng từng tầng mọc lên, càng lên cao đốm sáng càng mờ đi, đến tám tầng thì chỉ còn như ánh sao, lên nữa thì tối đen, không biết là còn bao nhiêu tầng nữa. Trên lầu thấp thoáng có người, kẻ ngồi kẻ đứng không như nhau. Lát sau lầu thấp dần xuống, có thể nhìn thấy nóc, lúc sau chỉ còn như lầu thường, rồi còn như ngôi nhà cao, kế còn bằng nắm tay rồi bằng hạt đậu, sau cùng không thấy đâu nữa. Nghe có người đi sáng sớm nói thấy trên núi cũng có khói bếp chợ búa không khác gì nhân gian, nên còn có tên là chợ ma.

306. Tôn Sinh (Tôn Sinh)

Tôn sinh người hương ta lấy con gái nhà thế gia cũ họ Tân về nhà chồng thì mặc mấy lớp quần áo, dây lưng ràng rịt, toàn thân quấn vải kín mít, không chịu ngủ chung với chồng. Thường đặt trâm nhọn ở đầu giường để tự vệ, Tôn bị đâm mấy lần nên kê giường ngủ riêng, nhưng ban ngày gặp nhau, cô gái cũng chẳng mấy khi nói cười với chồng. Bè bạn đều biết chuyện, hỏi riêng Tôn rằng "Phu nhân có uống rượu được không?", Tôn đáp cũng uống được đôi chút. Người bạn đùa nói "Ta có cách thu xếp rất hay có thể làm được". Tôn hỏi, người bạn đáp "Cứ lấy thuốc mê bỏ vào rượu lừa cho uống, xong rồi thì tùy ý ông muốn gì cũng được thôi". Tôn cười nhưng trong lòng thầm phục là kế hay, liền tới thầy thuốc mua vị ô đầu pha vào rượu, đem về đặt lên bàn. Tối đến, Tôn lấy rượu khác ra độc ẩm vài chén rồi đi ngủ. Cứ thế ba đêm liền, người vợ vẫn không uống.
Một đêm Tôn vừa đi nằm, thấy vợ còn ngồi trên giường bèn giả ngáy khò khò. Người vợ bèn xuống giường, lấy rượu đặt lên lò hâm. Tôn mừng thầm, kế thấy vợ uống cạn một chén, lại rót chén nữa uống hết một nửa, còn lại đổ trở lại vào bầu rồi dọn giường đi ngủ. Hồi lâu không thấy có tiếng động mà đèn thì mờ mờ chưa tắt, Tôn ngờ là còn thức, bèn gọi lớn là khêu bấc đèn lên. Vợ không đáp, Tôn gọi nữa cũng vẫn không đáp, tới xem thì thấy đã say mềm. Tôn mở chăn cắt dây lưng cởi quần áo ra, người vợ mới tỉnh dậy nhưng không cử động được, cũng không kêu lên được. Đến khi tỉnh hẳn rất căm hờn, treo cổ tự tử. Tôn đang ngủ nghe tiếng thở khò khè, vùng dậy tới cứu, thì lưỡi đã thè ra hai tấc rồi. Tôn hoảng sợ vội cắt dây đỡ xuống giường, hồi lâu mới tỉnh lại.
Tôn từ đó rất căm ghét vợ, vợ chồng cứ tránh mặt nhau, nhìn thấy nhau thì cúi đầu bỏ đi, bốn năm năm liền không nói chuyện với nhau một câu. Có khi người vợ cười nói với người khác trong phòng mà thấy chồng vào lập tức đổi sắc mặt, lạnh lùng như băng tuyết. Tôn thường ngủ ở phòng sách, cả năm không vào ngủ chung phòng với vợ, nếu bị ép thì vào phòng ngoảnh mặt vào vách im lặng rồi ngủ mà thôi, cha mẹ rất lấy làm lo lắng. Một hôm có người người cô tới nhà, nhìn thấy vợ Tôn không ngớt lời khen ngợi, mẹ Tôn cũng không nói gì, chỉ thở dài sườn sượt. Người cô hỏi, mẹ Tôn đem chuyện kể lại, người cô nói "Chuyện đó dễ mà". Mẹ Tôn mừng rỡ nói "Nếu làm cho con dâu ta đổi ý được, xin báo ơn hậu.
Người cô nhìn trong phòng không có ai, bèn rỉ tai mẹ Tôn nói "Xin mua một bức tranh nam nữ hành lạc, ba ngày nữa ta sẽ làm phép cho". Người cô ra về, mẹ Tôn theo lời mua tranh chờ sẵn. Ba ngày sau người cô tới, dặn "Chuyện này phải giữ kín, đừng để vợ chồng họ biết". Rồi cắt lấy hình người trong tranh, lấy ba chiếc tăm cắm vào, bỏ thêm một nhúm ngải, lấy giấy trắng gói lại, vẽ vài dòng loằng ngoằng như giun bên ngoài. Rồi bảo mẹ Tôn lừa con dâu ra khỏi phòng, lấy trộm chiếc gối tháo đường may ra bỏ gói giấy vào, khâu lại đặt vào chỗ cũ, kế chào đi. Đến đêm, mẹ Tôn ép con trai vào ngủ trong phòng vợ, bà vú biết chuyện tới rình nghe trộm. Sắp hết canh hai, nghe vợ Tôn gọi tên Tôn lúc còn nhỏ, Tôn không đáp. Người vợ lại gọi, Tôn căm tức hạ giọng quát nạt. Đến sáng mẹ Tôn tới phòng xem, thấy vợ chồng quay lưng vào nhau, biết rằng phép thuật của người cô không công hiệu, bèn gọi con ra chỗ vắng khuyên nhủ.
Tôn nghe nhắc tới tên vợ càng giận dữ nghiến răng nghiến lợi, mẹ giận dữ chửi mắng, Tôn cũng bất chấp, cứ thế bỏ đi. Hôm sau người cô tới, mẹ Tôn kể lại việc phép thuật không công hiệu. Người cô ngờ vực lắm, bà vú vào kể lại những gì nghe thấy, người cô cười nói "Trước nghe nói là vợ ghét chồng, nên chỉ làm phép với vợ. Nay vợ đã chuyển ý nhưng ý chồng chưa chuyển, xin làm phép với cả hai người, ắt sẽ hiệu nghiệm". Mẹ Tôn nghe theo, lấy gối con trai ra, người cô lại làm phép như lần trước rồi bảo đem đặt lại trong phòng. Đêm ấy hết canh một còn nghe trên hai chiếc giường trong phòng vợ chồng Tôn có tiếng trở mình, tiếng ho hắng, như đều không ngủ được. Hồi lâu nghe hai người thì thào nói chuyện với nhau trên một giường, nhưng không rõ là nói gì. Gần sáng còn nghe tiếng cười đùa, khanh khách mãi không thôi.
Bà vú kể lại, mẹ Tôn mừng rỡ tạ ơn người cô rất hậu. Từ đó vợ chồng Tôn hòa thuận đằm thắm, đến nay người nào cũng trên ba mươi tuổi, sinh được một trai hai gái, hơn mười năm trời không cãi nhau một câu. Bạn bè hỏi riêng, Tôn cười đáp "Trước đó thấy bóng là nổi giận, sau đó lại nghe tiếng thì vui vẻ, thật cũng chẳng biết tâm ý mình ra sao".
Dị Sử thị nói: Đổi ghét làm thương, phép thuật ấy chẳng cũng thần kỳ sao! Nhưng có thể khiến cho người vui mừng thì cũng có thể khiến cho người tức giận, phép thuật thần kỳ cũng là phép thuật đáng sợ đấy. Bậc tiên triết nói "Có sáu hạng đàn bà* không nên cho vào cửa", lời ấy thật là có kiến thức thay.
* Sáu hạng đàn bà: nguyên văn là "lục bà", tức "tam cô lục bà", gồm ni cô (bà vãi), đạo cô (nữ đạo sĩ), quái cô (bà thầy bói), nha bà (đàn bà nhổ răng), môi bà (bà mối), sư bà (bà phù thủy), kiền bà (đàn bà già không chồng), dược bà (đàn bà bán thuốc), ổn bà (bà đỡ). Nhìn chung đây là những người vì địa vị và nghề nghiệp nên có quan hệ xã hội rộng, biết nhiều chuyện riêng của người ta, dễ sinh chuyện rắc rối, ngày xưa lại hay trọng nam khinh nữ nên nói như vậy.

307. Tú Tài Huyện Nghi Thủy (Nghi Thủy Tú Tài)

Tú tài Mỗ ở huyện Nghi Thủy (tỉnh Sơn Đông) học trong núi, đêm có hai mỹ nhân tới, cười nụ không nói gì, cùng lấy tay áo phủi giường nối nhau ngồi xuống, im lặng không nói tiếng nào. Lát sau một người đứng lên trải chiếc khăn lụa ra bàn, trên có ba bốn hàng chữ thảo, Tú tài cũng chưa nhìn xem là viết những gì. Một người đặt một nén bạc khoảng ba bốn lượng xuống, Tú tài cầm lấy bỏ vào tay áo, người kia cầm chiếc khăn lên nắm tay kéo nhau đi cười nói "Trần tục không sao chịu được” Tú tài mò lại nén bạc thì không còn nữa. Người đẹp ngồi đó trao cho ý tình thì không nhìn ngó tới, mà tiền bạc thì lấy, đúng là tướng ăn mày, làm sao chịu nổi! Hồ kia có thể biết kẻ sang người hèn, phong thái cao nhã ra sao có thể biết vậy.

0
308. Nhà Sư Chết (Tử Tăng)

Đạo sĩ nọ đi vân du, chiều tối ghé vào một ngôi chùa vắng. Thấy tăng phòng đóng chặt, bèn trải tấm bồ đoàn ra ngồi dưới hành lang. Đêm khuya chợt nghe tiếng mở cửa, thấy một nhà sư bước ra, toàn thân đẫm máu, nhưng như không nhìn thấy đạo sĩ, đạo sĩ cũng làm như không nhìn thấy. Nhà sư đi thẳng tới Phật điện, lên chỗ tòa sen, ôm đầu tượng Phật mà cười, hồi lâu mới đi. Đến sáng đạo sĩ thấy cửa phòng vẫn đóng chặt như cũ lấy làm lạ, vào trong thôn kể lại việc mình trông thấy. Mọi người tới chùa phá cửa vào xem, thì thấy nhà sư bị giết nằm trên mặt đất, nệm chiếu trong phòng xáo trộn vương vãi, biết là bị kẻ cướp vào giết. Lại ngờ chuyện hồn nhà sư cười là có lý do, bèn cùng nhau tới xem xét đầu tượng Phật, thấy phía sau đầu tượng có vết, cạy ra thấy bên trong giấu hơn ba chục lượng vàng, bèn lấy để chôn nhà sư.
Dị Sử thị nói: Lời ngạn có câu Đồng tiền liền khúc ruột thật không phải sai! Phàm người ta nhịn ăn nhịn mặc mà không biết để lại của cải cho ai, cũng đã là ngây ngốc rồi, huống chi nhà sư còn không có cả kẻ thừa kế của cải sao! Sống không chịu ban phát làm ơn, chết còn nhìn lại mà cười, bọn đầy tớ của tiền bạc đáng than thở tới như thế đấy? Phật nói "Một đồng không chịu bỏ, Chỉ có nghiệp theo mình", chắc là nói nhà sư ấy chăng!

309. Trâu Bay (Ngưu Phi)

Anh Mỗ người trong huyện mua được một con trâu rất khỏe. Đêm nằm mơ thấy trâu mọc cánh bay mất, cho là điềm không hay, sợ là sẽ bị mất, bèn dắt ra chợ bán lỗ, lấy khăn bọc tiền lại quàng lên vai. Về được nửa đường thấy có con chim ưng đang ăn con thỏ, tới gần cũng rất dạn không bay. Y vồ con ưng, lấy hai đầu khăn buộc chân buộc cánh nó. Con ưng giẫy giụa một lúc mối khăn buộc cánh lỏng ra, nó mang cả khăn vùng bay mất, mang cả tiền đi. Mỗ cứ nói rằng số trời đã định thì không sao tránh khỏi, nhưng nếu không bị giấc mơ làm cho ngờ vực, không tham của rơi trên đường, thì con thú chỉ biết đi làm sao mà bỗng chốc bay được!

310. Bói Gương (Kính Thính)

Anh em họ Trịnh ở huyện Ích Đô (tỉnh Sơn Đông) đều là kẻ sĩ có tài văn chương. Người anh sớm nổi tiếng, cha mẹ thương yêu quá đáng, vì vậy yêu thương cả con dâu. Người em rủi ro nên cha mẹ không những không thích mà còn ghét bỏ cả con dâu thứ, đối xử tàn tệ, thành ra tình trạng bên thương bên ghét rất rõ ràng trong nhà. Vợ người em cứ nói chồng cũng là đàn ông, sao lại không thể tranh giành cho vợ con, rồi bỏ không chịu ngủ chung nữa. Người em vì thế phẫn chí ra sức học tập, cũng được nổi tiếng, cha mẹ mới dần dần nhìn ngó tới, nhưng rốt lại cũng không được thương yêu như người anh. Người con dâu thứ rất mong mỏi ở chồng, năm ấy gặp kỳ thi hương, đêm trừ tịch lén đi bói gương*. Thấy có hai người đùa giỡn xô đẩy nhau, nói "Ngươi cũng ra cho mát".
*Bói gương: nguyên văn là "kính thính", một hình thức bói toán dân gian ở Trung Quốc, người bói bưng gương đứng trước bàn thờ Táo thần cầu khấn rồi bước ra nghe lời người ta nói để xem điềm may rủi.
Người con dâu thứ về nghĩ mãi không rõ là điều may hay rủi nên cũng để đó. Thi xong hai anh em cùng về, lúc ấy đang là mùa hè rất nóng bức, hai người con dâu lúi húi trong bếp nấu cơm cho thợ cày, nóng nực rất khổ. Chợt có người báo danh tới nhà báo tin người anh thi đỗ. Người mẹ xuống bếp, nói với con dâu lớn "Con trai lớn thi đỗ rồi, con ra ngoài cho mát". Người con dâu thứ vừa giận vừa tủi, chảy nước mắt thổi lửa. Giây lát lại nghe báo người em cũng thi đỗ, người con dâu thứ ném luôn cái que chọc lò xuống đứng lên nói "Ta cũng ra ngoài cho mát.". Lúc ấy trong lòng chất chứa hờn oán nên bất giác buột miệng nói thế, đến khi nghĩ lại mới biết chuyện bói gương đã nghiệm.
Dị Sử thị nói: Nghèo hèn thì cha mẹ không cho là con, việc ấy cũng có. Chốn trường thi thì không phải chỗ phẫn khích là thành công được, nhưng vợ người em phẫn khích khuyên chồng, cũng vì oán vọng không biết dựa vào đâu. Nhưng nếu người em không thi đỗ khoa ấy mà vợ cũng ném cái que chọc lò xuống đứng lên, thì mới thật là chuyện hay ngàn thuở vậy.

311. Dịch Trâu (Ngưu Hoàng)

Trần Hoa Phong người huyện Mông Sơn (tỉnh Sơn Đông) ngày hè nóng nực ra ngủ dưới gốc cây ngoài đồng. Chợt có một người vội vã đi tới, quấn một cái khăn quanh đầu, đi mau tới dưới bóng cây, ngồi xuống một tảng đá quạt lấy quạt để, mồ hôi chảy ròng ròng. Trần ngồi dậy cười nói “Bỏ cái khăn ra thì không quạt cũng mát”. Khách nói “Bỏ ra thì dễ, nhưng đội lên thì khó”. Trần cùng khách trò chuyện, thấy học hành rất uẩn súc. Kế khách nói “Bây giờ chẳng mong ước điều gì, chỉ cần có rượu ngon ngâm lạnh, uống vào một hơi vừa thơm vừa mát, vào tới ruột gan rồi thì có thể đỡ nóng được một nửa”. Trần cười nói "Chuyện đó dễ lắm, ta xin lo cho ông", rồi nắm tay khách nói "Tệ xá cũng gần đây, xin mời ghé qua chơi", khách cười đi theo.
Vào tới nhà, Trần lấy rượu cất dưới hầm đá ra, lạnh tê cả răng. Khách cả mừng, uống liên tiếp một hơi hơn chục chén. Trời vừa xế chiều chợt mưa xuống, Trần bèn thắp đèn trong phòng lên. Khách cởi khăn ra cùng ngồi, trò chuyện một hồi, Trần thấy phía sau gáy khách lúc lúc lại lóe sáng, lấy làm ngờ vực. Không bao lâu khách say, lăn ra ngủ ở giường, Trần đẩy ngọn đèn tới gần nhìn trộm, thấy sau vành tai khách có một cái lổ sâu hoắm to bằng cái chén, miệng lỗ có mấy mảnh da che khuất như cánh cửa, bên ngoài có lớp da mềm rủ xuống che khuất, trong thì trống rỗng. Trần sợ lắm, lén nhấc búi tóc khách lên, lấy trâm vạch lớp da xem, thấy có một vật như con trâu nhỏ theo chỗ tay khều bay ra, phá tung cửa sổ mà đi. Trần hoảng sợ không dám vạch nữa. Vừa định quay đi, khách đã tỉnh dậy, hoảng sợ nói "Ngươi lén xem chuyện trộm kín của ta, thả con trâu dịch ra, làm sao bây giờ”. Trần lạy hỏi nguyên do, khách đáp “Đã tới nước này thì còn ngại ngùng gì nữa. Nói thật với ngươi, ta là ôn thần lục súc đây, vừa rồi anh thả con trâu dịch ra, chỉ sợ là trong vòng trăm dặm trở lại đây sẽ không còn giống trâu nữa".
Trần vốn làm nghề nuôi trâu, nghe thế cả sợ, lạy xin chỉ cách giải trừ. Khách nói "Ta chắc không tránh được tội rồi, còn cách để giải trừ thì có sâm đắng giã ra là hiệu nghiệm nhất, nhưng phải truyền ra cho nhiều người, không nên giữ riêng thì được rồi". Nói xong chào ra cửa, lại vốc đất vun lên ở chân vách, nói “Mỗi lần dùng một viên cũng công hiệu”, rồi chắp tay chào, chớp mắt không thấy đâu nữa. Không bao lâu sau, trâu bò trong vùng quả nhiên mắc bệnh, bệnh dịch lan ra. Trần muốn thủ lợi, giữ kín bài thuốc không chịu truyền rộng ra, chỉ nói với em. Người em làm thử thì công hiệu như thần, nhưng Trần làm thuốc đổ cho trâu mình uống thì vô hiệu, nuôi hai trăm con đều chết sạch, chỉ còn bốn năm con trâu cái già, cũng nối nhau lăn ra sắp chết. Trần buồn rầu không biết làm sao, chợt nhớ tới vốc đất ở chân vách, cũng nghĩ chưa chắc đã có công hiệu, nhưng cũng lấy cho trâu uống. Qua đêm thì trâu đều đứng dậy cả, mới sực hiểu rằng sở dĩ thuốc không công hiệu là vì thần phạt mình có ý riêng tư. Vài năm sau, trâu cái sinh đẻ, đàn trâu của Trần mới dần dần được như cũ.

312. Chu Tam (Chu Tam)

Trương Thái Hoa ở châu Thái An (tỉnh Sơn Đông) là một viên lại giàu có. Nhà bị hồ quấy phá không sao chịu nổi, tìm mọi cách giải trừ đều vô hiệu, trình với quan Châu doãn, quan cũng không biết làm sao. Lúc bấy giờ ở phía đông châu cũng có hồ tới ở nhà dân, mọi người đều nhìn thấy, là một ông già tóc bạc, nghe nói trò chuyện cư xử với người trong nhà đều theo lễ của loài người. Ông ta tự xưng là thứ hai, mọi người đều gọi là Hồ Nhị gia. Gặp lúc có người Chư sinh tới yết kiến quan Châu doãn, kể lại chuyện ấy, quan bày kế cho viên lại, bảo tới hỏi ông ta. Lúc ấy trong thôn Đông có người làm lính lệ ở châu, viên lại tới hỏi thăm, quả có chuyện ấy thật, bèn cùng nhau về nhà người lính lệ, bày tiệc mời Hồ. Hồ tới, chào hỏi ăn uống không khác gì người thường, viên lại nhân đó nói điều mình mong muốn.
Hồ nói "Ta vốn biết rõ, nhưng không thể giúp ông được. Người bạn ta là Chu Tam đang ngụ cư ở Nhạc miếu, có thể giúp được, ta xin đi mời giùm ông". Viên lại mừng rỡ cảm tạ. Lúc chia tay Hồ hẹn với viên lại là sáng mai cứ bày tiệc ở phía đông Nhạc miếu chờ. Viên lại theo lời, quả nhiên Hồ dắt Chu tới. Chu râu xoăn mặt đen, mặc quần áo đi ngựa, uống được mấy chén, hỏi viên lại rằng "Vừa rồi Hồ nhị đệ đã nói rõ ý ông, nhưng bọn kia rất đông, không thể dỗ dành được, thể nào cũng phải dụng võ. Xin cho ta được tới ở nhờ nhà ông, thì khó nhọc bao nhiêu cũng không dám từ chối". Viên lại nghe thế, nghĩ thầm bớt được một con hồ thì lại thêm một con hồ, chỉ là lấy tai họa này thay tai họa khác. Còn đang ngần ngừ không dám ưng thuận, Chu đã biết ý, nói “Ông sợ nhau ư? Ta không phải như chúng, mà còn có túc duyên với ông, xin đừng ngờ vực", viên lại bèn ưng thuận.
Chu lại dặn sáng mai bảo người nhà đóng cửa ngồi trong phòng, đừng lên tiếng. Viên lại về nhà làm như lời dặn, quả nghe trong sân có tiếng đâm chém ác đấu kịch liệt, hơn một giờ mới yên. Mở cửa ra nhìn, thấy máu lốm đốm đầy cả bậc thềm, trong sân có mấy cái đầu hồ to bằng cái bát. Lại nhìn qua nhà dưới, thì Chu đã ngất ngưởng ngồi ở trong, chắp tay cười nói "Nhờ ông tin tưởng gởi gắm, nên đã quét sạch bọn yêu nghiệt rồi”. Từ đó Chu ở lại trong nhà, gặp nhau thân mật như chủ khách vậy.

0
313. Lưu Tính (Họ Lưu)

Họ Lưu người trong huyện là kẻ hung dữ. Sau rời huyện Truy tới ở huyện Nghi (đều thuộc tỉnh Sơn Đông), tính cũ vẫn không bỏ, người làng vừa sợ vừa ghét. Lưu có mấy mẫu ruộng liền bờ với ruộng Miêu mỗ, Miêu vốn chăm chỉ, ven ruộng trồng rất nhiều đào. Đào vừa có trái, con Miêu ra vin hái, Lưu tức giận xua đuổi, nói là đào của mình. Đứa con kêu khóc chạy về kể với Miêu, Miêu còn đang kinh ngạc sợ hãi thì Lưu đã tới trước cổng mắng chửi, lại đòi đi kiện. Miêu cười ra dàn hòa, Lưu không biết trút giận vào đâu, tức tối bỏ đi. Lúc ấy trong huyện có Lý Thúy Thạch đi buôn bán ở huyện Nghi, Lưu mang đơn kiện lên huyện thì gặp nhau trong thành. Lý thấy là người cùng huyện vốn quen biết, hỏi là đi đâu. Lưu kể lại, Lý cười nói "Tiếng tăm của anh mọi người đều biết rồi, ta vốn biết Miêu mỗ rất hòa hoãn hiền lành, đâu dám chiếm đoạt của ai, có phải là anh nói ngược không vậy?”, rồi xé nát đon kiện của Lưu, kéo Lưu vào quán rồi khuyên giải. Lưu tức tối không chịu, lấy trộm bút mực trong quán rượu viết lại đơn kiện nhét vào bọc, định sẽ đi kiện nữa.
Không bao lâu Miêu cũng tới, kể lại hết mọi việc rồi năn nỉ Lý cứu giúp, nói "Ta là người nhà quê, nửa đời không gặp bậc quan trưởng, nếu có thể khỏi phải kiện tụng, thì đâu dám giữ mấy gốc đào?". Lý gọi Lưu ra, nói việc Miêu tình nguyện nhường nhịn, Lưu còn chỉ trời vạch đất chửi mắng không thôi, Miêu chỉ lễ phép thưa gởi, không dám cãi lại câu nào. Chuyện xong cùng về, qua bốn năm ngày, thấy người trong thôn đồn rằng Lưu đã chết, Lý ngạc nhiên than thở. Hôm sau Lý có việc ra ngoài, thấy Lưu nghiễm nhiên chống gậy đi tới. Tới nơi, ân cần hỏi thăm, lại mời Lý tới nhà chơi. Lý đi theo, hỏi "Hôm trước nghe tin dữ, té ra là sai”. Lưu không đáp, chỉ kéo Lý vào thôn, tới nhà, bày rượu ra khoản đãi, mói nói "Tin đồn hôm trước không sai đâu. Hôm trước vừa ra khỏi nhà, thấy có hai người tới bắt lên gặp quan, hỏi có chuyện gì chỉ nói không rõ. Ta tự nghĩ mình ra vào nha môn mấy mươi năm nay, chẳng sợ gì gặp quan, cũng chẳng sợ hãi gì nên cứ đi theo. Tới công thự thấy người ngồi trên vẻ mặt giận dữ nói "Ngươi là Lưu Mỗ phải không? Tội ác ngập đầy mà không tự hối, lại còn cướp đoạt của người về làm của mình, loại ngang ngược này thì phải bỏ vào vạc dầu. Một người tra sổ nói "Người này có làm một điều lành, có thể tha tội". Người ngồi trên giở sổ xem, dịu nét mặt nói “Tạm đưa y về". Mấy mươi người đồng thanh quát đuổi ra, ta hỏi "Vì việc gì mà bắt ta tới, vì việc gì mà tha ta ra, xin được hỏi rõ”. Viên lại cầm sổ bước xuống chỉ cho xem một hàng, trên ghi năm Sùng Trinh thứ 13 (1640) thời Minh bỏ ra ba trăm đồng cứu một người, giúp cho vợ chồng họ được đoàn tụ. Viên lại nói “Nếu không như thế thì hôm nay đã phải chết, đầu thai làm súc vật rồi". Ta sợ quá bèn theo hai người kia đi ra. Hai người đòi tiền hối lộ, ta tức giận nói “Không biết rằng Lưu Mỗ ta ra vào nha môn hai chục năm nay, chỉ chuyên cướp đoạt của cải của người khác à? Tại sao lại dám đòi thịt từ miệng cọp già hả?". Hai người không đáp, đưa ta tới thôn rồi chắp tay nói “Chuyến này bọn ta chưa uống của ngươi hớp nước nào đấy nhé". Hai người đi rồi, ta vào nhà thì sống lại, té ra đã chết một ngày rồi".
Lý nghe xong lấy làm lạ, nhân hỏi rõ đầu đuôi chuyện Lưu làm điều lành. Trước là vào năm Sùng Trinh thứ 13 mất mùa lớn người ta phải ăn thịt nhau. Lúc ấy Lưu làm chức Chủ Bổ lệ ở huyện Truy, gặp hai người đàn ông đàn bà khóc lóc rất thảm thiết, hỏi thăm thì họ đáp "Vợ chồng mới lấy nhau được hơn một năm, năm nay mất mùa, không thể cả hai cùng sống nên thương tâm”. Lát sau Lưu lại thấy họ trước quán bán dầu, như đang cãi cọ gì đó. Tới gần hỏi han, chủ quán họ Mã nói "Hai vợ chồng này đói sắp chết, hàng ngày vẫn xin ta bã dầu ăn qua ngày, nay lại muốn bán vợ cho ta, nhưng ta đã mua cả chục người trong nhà rồi. Cũng có gì quan trọng đâu, rẻ thì ta mua, không thì thôi. Kể cũng buồn cười, cứ đem tới ép người ta mua". Người đàn ông nói "Năm nay gạo thóc đắt như ngọc, tính ra nếu không có đủ ba trăm đồng thì không đủ phí tổn đi tránh nạn đói. Vốn là muốn cả hai người cùng được sống, chứ nếu bán vợ mà cũng không thoát chết thì cần gì. Thật không dám nói giá cả chỉ mong ông làm việc để đức lại cho con cháu thôi". Lưu thương xót, hỏi Mã trả bao nhiêu, Mã đáp "Hôm nay giá đàn bà chỉ có một trăm". Lưu xin đừng nói bớt, lại xin giúp thêm một nửa cho đủ số ba trăm, Mã nhất định không chịu. Lưu nổi nóng nói với người đàn ông rằng "Y keo kiệt như thế chẳng đáng nói nữa, ta xin tặng đủ số anh cần, nếu có thể tránh nạn đói mà còn được vợ chồng thì càng hay!". Bèn dốc túi đưa tiền cho, hai vợ chồng khóc lạy rồi đi. Lưu kể xong, Lý cực lực ca ngợi.
Từ đó Lưu bỏ hẳn nết cũ, đến nay đã bảy mươi tuổi vẫn còn khỏe mạnh. Năm rồi Lý tới thôn, thấy Lưu đang cãi cọ với người ta, mọi người xúm quanh can ngăn mà không được. Lý cười gọi “Ngươi lại muốn kiện giành cây đào phải không?”. Lưu vội vàng thay đổi sắc mặt, khép nép thu tay lại bỏ đi.
Dị Sử thị nói: Anh em Lý Thúy Thạch đều có tiếng là giàu có nhưng Thúy Thạch tính thuần hậu, ưa làm điều lành, chưa từng kiêu ngạo rằng mình giàu có, cũng là bậc quân tử thành thật cẩn thận vậy. Xem việc ông can chuyện tranh cãi, khuyên làm điều lành thì con người bình sinh thế nào có thể biết được. Lời xưa nói "Kẻ giàu có không nhân đức”, ta không biết Thúy Thạch là kẻ trước nhân đức rồi sau giàu có hay là trước giàu có rồi sau nhân đức?

Phụ: Một Truyện Trong Truy Xuyên Chí, Nghĩa Hậu Truyện (Truy Xuyên Chí Nghĩa Hậu Truyện Nhất Tắc)

Lý Vĩnh Khang tự Thúy Thạch, tính thuần hậu, hay cứu kẻ nạn, ưa giúp kẻ nghèo. Cách huyện thành Truy Xuyên ba mươi dặm về phía tây có đường hang núi, dân ở đó bắc cầu để tiện qua lại. Cầu bắc ngang hai bờ vực, tính ra phí tổn tới hàng ngàn đồng vàng, Khang phá gia tài tới giúp đỡ mới làm được. Lại quyên tiền sửa cầu ở thôn Tiêu, chưa xong thì qua đời, em là Vĩnh Dự hết sức giúp đỡ làm cho xong để noi chí anh. Trong làng có nhà thế hào độc ác họ Mỗ ở cạnh nhà họ Miêu, Miêu trồng mấy gốc đào, con Miêu ra hái trái, Mỗ giận dữ nói là đào của mình, định kiện lên quan. Khang gặp biết chuyện, xé nát đơn kiện, ra sức can ngăn, Mỗ còn tức giận không chịu thôi, kế bị âm phủ trừng phạt nên hối hận tỉnh ngộ, rất cảm ơn Khang. Bài Long Tuyền ký của quan Thái sử họ Đường, bộ Liêu Trai chí dị của viên Minh kinh họ Bồ* đều có chép. Quan Tri huyện là ông Dương My viết tặng bốn chữ “Danh cao nguyệt đán” (Nổi tiếng như vầng trăng rằm) để biểu dương, người trong huyện đều cho là vinh dự.
* Bộ Liêu Trai chí dị của viên Minh kinh họ Bồ: tức Liêu Trai chí dị của Bồ Tùng Linh.

314. Quan Giữ Kho (Khố Quan)

Ông Trương Hoa Đông ở huyện Trâu Bình (tỉnh Sơn Đông) phụng chỉ ra tế Nam Nhạc, đi theo đường Giang Hoài. Định nghỉ lại ở dịch trạm, đội tiền khu mở đường bẩm rằng trong trạm có chuyện quái dị, ngủ lại thế nào cũng có chuyện rắc rối. Trương không nghe cứ nghỉ lại, nửa đêm đang đội mũ đeo kiếm ngồi, chợt nghe có tiếng giày bước vào. Nhìn ra thì là một ông già tóc bạc, mũ đen đai đen, lấy làm lạ hỏi. Ông già dập đầu nói "Ta là quan giữ kho, giám thủ kho tàng của đại nhân đã lâu rồi, may gặp ấn kiếm quang lâm, hạ quan xin được thôi giữ trách nhiệm nặng nề này”. Trương hỏi trong kho còn bao nhiêu, ông già nói còn hai mươi ba ngàn năm trăm lượng vàng. Trương nghĩ vàng nhiều dễ thiếu, hẹn lúc trở về sẽ kiểm lại, ông già vâng dạ lui ra.
Trương tới Nam Trung, được biếu xén rất hậu, đến khi trở về nghỉ lại ở dịch trạm. Ông già lại tới yết kiến, Trương hỏi về tiền bạc trong kho, ông ta đáp "Đã điều hết qua Liêu Đông lo việc binh lương rồi". Trương thấy lời nói trước sau trái ngược rất ngạc nhiên, ông già nói “Lộc mệnh của đời người đều đã có số nhất định, thêm bớt một chút cũng không được. Đại nhân đi chuyến này muốn có bao nhiêu đã được bấy nhiêu, còn muốn gì nữa?", nói xong ra đi. Trương kiểm lại số tiền được biếu xén, so với số trong kho ông già nói lần trước thì vừa đúng khớp mới than thở miếng cơm hớp nước cũng là tiền định, không thể mong cầu quá phận được.

0
321. Quỷ Trong Miếu (Miếu Quỷ)

Chư sinh Vương Khải Hậu ở huyện Tân Thành (tỉnh Sơn Đông) là cháu cố của quan Cha chánh Trung Vũ công Vương Tượng Khôn. Một hôm thấy có người đàn bà bước vào phòng, to béo đen đủi chẳng có gì đẹp, cười bước tới gần giường, thái độ rất lả lơi. Vương cự tuyệt cũng không đi. Từ đó cứ nằm ngồi trong phòng đều thấy, nhưng vẫn cương quyết như trước, không hề động tâm. Người đàn bà tức giận tát vào mặt Vương thành tiếng nhưng không đau lắm. Kế lấy dây lưng quàng lên xà nhà, thắt lại thành cái vòng treo cổ, Vương bất giác tự treo mình dưới xà nhà, đưa cổ ra như tự ải. Người nhà nhìn thấy đôi giày dưới chân Vương tự nhiên lơ lửng trên không, tuy không chết nhưng từ đó bị điên, chợt nói “Ngươi nhảy xuống sông với ta nào!" rồi chạy thẳng ra sông. Người nhà níu kéo giữ lại mới thôi, cứ hàng trăm chuyện như thế, mỗi ngày vài lần, thuốc men bùa chú đều vô hiệu.
Một hôm, chợt thấy có võ sĩ mang xiềng khóa bước vào nhà giận dữ quát “Kẻ thành thật chất phác như vậy mà ngươi dám quấy nhiễu à?", rồi trói người đàn bà lại dẫn đi. Từ cửa trong ra tới ngoài cửa sổ thì ngườỉ đàn bà biến ra hình dáng khác, mắt sáng như điện chớp, miệng đỏ như chậu máu. Mọi người nhớ lại bốn pho tượng đất ngoài cổng miếu Thành hoàng, thấy giống hệt một trong bốn pho tượng ấy. Từ đó Vương khỏi bệnh.

322. Động Đất (Địa Chấn)

Ngày mười bảy tháng sáu năm Khang Hy thứ 7 (1668) vào giờ Tuất có động đất lớn. Lúc ấy ta đang ở huyện Tắc Hạ (tỉnh Sơn Đông) vừa mới cùng người anh họ là Lý Đốc Chi thắp đèn uống rượu, chợt nghe có tiếng ầm ầm như sấm sét, từ phía đông nam vang về phía tây bắc. Mọi người cả sợ, không biết việc gì. Giây lát bàn ghế đổ lỏng chỏng, chén bát rơi vỡ, cột kèo mái nhà kêu răng rắc, mọi người thất sắc nhìn nhau. Hồi lâu mới biết là động đất, ai nấy đều vội vàng chạy mau ra ngoài. Thấy lầu gác nhà cửa sụt xuống rồi lại nhô lên, tiếng tường sập ngói đổ cùng tiếng đàn bà trẻ con kêu khóc vang lên ầm ầm huyên náo. Người thì chóng mặt không đứng được, ngồi bệt cả xuống đất, lăn lóc theo mặt đất rung lên. Nước sông dâng lên hơn một trượng, tiếng gà kêu chó sủa ầm ĩ khắp thành. Hơn một giờ sau mới yên ắng trở lại, nhìn ra đường phố thì đàn ông đàn bà trần truồng tụm ba tụm bảy tranh nhau kể lể hỏi han, quên cả là chưa mặc quần áo. Về sau nghe nói chỗ nọ giếng sập không múc nước được, nhà kia bị dời phía trước thành phía sau, núi Thê Hà bị xé toác, đáy sông Nghi Thủy sụt xuống một chỗ rộng mấy mẫu, thật là tai biến phi thường.

323. Tướng Công Họ Trương (Trương Lão Tướng Công)

Tướng công họ Trương người đất Tấn (vùng Sơn Tây) sắp gả con gái, đưa gia quyến về Giang Nam để mua sắm. Thuyền tới núi Kim Sơn (huyện Trấn Giang tỉnh Giang Tô) thì ông lên bờ, dặn người nhà chờ dưới thuyền, đừng nấu nướng gì. Đại khái dưới sông có con thuồng luồng ăn thịt người, cứ nghe mùi thơm là tới phá thuyền nuốt ngườỉ, làm hại đã lâu. Ông đi khỏi, người nhà lại quên lời dặn, nướng thịt trong thuyền, chợt có làn sóng lớn lật úp thuyền, vợ con đều chết hết. Trương quay về đau đớn căm hận vô cùng, nhân lên Kim Sơn gặp sư trong chùa trên núi hỏi về con thuồng luồng, định bụng báo thù.
Nhà sư nghe chuyện, hoảng sợ nói "Ta ở gần đây đã lâu, vẫn sợ nó gây họa nên thờ phụng như thần minh, cầu khấn xin đừng tức giận hại người, thường vẫn giết trâu bò ném xuống sông, vừa chìm được một nửa thì thuồng luồng đã nhảy lên nuốt gọn rồi bỏ đi, ai mà trả thù được nó?". Trương nghe thế chợt nghĩ ra kế, bèn gọi thợ rèn đắp lò ở lưng núi, nung đỏ một khối sắt nặng hơn trăm cân rồi dò xét xem thuồng luồng thường ở đâu, sai hai ba người khỏe mạnh lấy kìm lớn kẹp khối sắt ném xuống sông. Thuồng luồng nhảy lên đớp nuốt mau rồi lặn xuống, trong chớp mắt thấy sóng dậy lên như núi, chờ khi sóng lặng thì thấy thuồng luồng chết nổi trên mặt nước. Người qua lại trên sông và sư trên chùa đều mừng rỡ, xây đền thờ tướng công họ Trương, vẽ tượng để thờ, Tôn làm thủy thần, ai vào cầu khấn cũng thấy linh nghiệm.

324. Biến Người Thành Súc Vật (Tạo Súc)

Việc dùng yêu thuật để làm người ta mê man có nhiều lối, có khi dùng thuốc bỏ vào thức ăn cho người ta mê man đi theo, tục danh là đánh thuốc mê (đả dự ba), Giang Nam gọi là bỏ thuốc (xả dự). Trẻ con không biết gì, nhiều đứa bị hại. Lại có kẻ biến người thành súc vật, gọi là “tạo súc", thuật ấy ở Giang Bắc ít có, từ Hoàng Hà về nam mới có nhiều. Nhà trọ nọ ở Dương Châu, có người dắt năm con lừa tới, buộc tạm sau chuồng, nói ta đi một lúc nữa sẽ về ngay, lại dặn đừng cho ăn uống gì cả, rồi đi. Lừa bị phơi nắng, giẫm chân hí ran, chủ nhà trọ bèn dắt vào chỗ mát. Lừa thấy nước, chạy ào tới, chủ nhà trọ bèn cho chúng uống, lập tức đều lăn ra đất, hóa thành đàn bà. Lấy làm lạ, hỏi họ vì sao mà biến ra như vậy, đều lưỡi cứng đơ không nói được, bèn đem giấu họ vào trong phòng. Đến khi chủ lừa về, xua năm con dê vào sân, hoảng hốt hỏi lừa ở đâu. Chủ nhà trọ mời ngồi, mang cơm rượu lên, nói khách cứ ăn uống, lừa sẽ có ngay. Rổi ra ngoài, cho năm con dê uống nước, đều nhào lăn ra hóa thành trẻ con. Bèn ngầm báo quan, quan sai lính tới vây bắt người kia, đóng gông đem giết.

325. Tay Đao Mau Lẹ (Khoái Đao)

Cuối đời Minh, đất Tề (vùng Sơn Đông) có nhiều trộm cướp, các làng đều đặt hương binh giữ gìn, bắt được cướp là giết ngay. Huyện Chương Khâu (tỉnh Sơn Đông) vốn nhiều trộm cướp, có một người hương binh mang lưỡi đao rất bén, giết gần hết sạch. Một hôm bắt được hơn mười tên, áp giải ra chợ, trong bọn có một tên biết người hương binh, lân la nói “Nghe nói tay đao của ông rất mau lẹ, chặt đầu người không bao giờ cần tới nhát thứ hai, xin ông giết ta". Người hương binh nói “Được, cứ đi sát vào ta, đừng rời xa". Tới nơi xử chém rút đao vung tay, cái đầu tên cướp rơi xuống liền, lăn ra ngoài mấy bước còn quay lại khen ngợi "Tay đao mau lẹ thật”.

326. Con Hồ Ở Phần Châu (Phần Châu Hồ)

Quan huyện Phần Châu (tỉnh Sơn Đông) họ Chu, ở một căn nhà có nhiều hồ. Có đêm ông đang ngồi một mình, chợt có cô gái qua lại trước đèn, lúc đầu cho là người trong nhà nên không để ý, tới khi nhìn ra thì là người lạ, nhưng dung mạo rất xinh đẹp. Trong lòng biết là hồ, nhưng thấy đẹp đẽ nên ưa thích, lớn tiếng gọi lại. Cô gái dừng chân cười nói "Lớn tiếng ra lệnh, ai là tỳ nữ của chàng đấy?". Chu cười đứng lên, mời ngồi tạ lỗi, rồi ngủ với nhau, lâu ngày thương yêu nhau như vợ chồng. Một hôm chợt nói với Chu "Chàng sắp được thăng chức, sắp phải xa nhau rồi". Hỏi còn bao lâu, đáp "Sắp rồi, nhưng người tới mừng ở cửa thì người điếu tang tới cổng, không nhậm chức được” Ba ngày sau, quả nhiên Chu nhận được lệnh thăng chức, ngay hôm sau lại được tin mẹ mất, bèn xin nghỉ về*. Muốn hồ cùng đi, hồ nói là không được, chỉ đưa tới bến sông. Chu lại ép lên thuyền, hồ nói "Chàng vốn không biết, hồ thì không thể qua sông”. Chu không nỡ chia tay, bịn rịn mãi ở bên sông, cô gái chợt bỏ đi, nói là sẽ tìm một người quen, lát sau quay về, lập tức có người khách tới chào hỏi. Cô gái cùng khách cách mặt chuyện trò, khách về bèn ra, nói "Mời lên thuyền, thiếp cùng chàng qua sông". Chu hỏi "Vừa nói không qua sông được, sao giờ lại nói thế”, hồ đáp “Người vừa gặp không phải ai khác, chính là Hà bá sông này. Thiếp vì chàng thương mến nên cố xin, ông ta hẹn trong mười ngày phải về, nên có thể đi cùng nhau ít hôm”. Bèn cùng qua sông, đến ngày thứ mười, quả nhiên từ biệt mà đi.
* Xin nghĩ về: nguyên văn là "giải nhiệm" (thôi giữ chức). Lệ ngày xưa quan lại có tang cha mẹ phải tạm nghỉ chức về cư tang.

0
327. Ba Chuyện Về Rồng (Long Tam Tắc)

I.

Ở địa giới Bắc Trực có con rồng rơi vào làng. Vất vả nặng nề bò lê vào nhà người thân hào nọ, lọt được vào cửa, nằm chắn ở đó người trong nhà chạy hết lên lầu kêu la, bắn súng vang trời. Rồng bèn ra ngoài cổng, dừng lại ở cái rãnh nước sâu không quá một thước, xuống đó quẫy lộn, toàn thân dính bùn bê bết, hết sức bay lên, nhưng được một thước lại rơi xuống. Sâu bọ lúc nhúc ba ngày, ruồi nhặng bám đầy trên vẩy, chợt trời mưa lớn, ầm ầm bay thẳng lên không đi mất.

II.

Phòng sinh cùng bạn lên Ngưu Sơn (thuộc tỉnh Sơn Đông), vào chùa viếng cảnh, chợt thấy trên giá gác chuông có một viên ngói vàng rơi xuống, trên có con rắn nhỏ, bé tí như con giun đất bò quanh một vòng đã to bằng chiếc dây lưng. Mọi người đều hoảng sợ, biết đó là rồng, vội chạy xuống núi. Vừa tới lưng núi, nghe trong chùa vang lên một tiếng sét nổ chấn động cả sơn cốc trên trời xuất hiện một đám mây đen như cái lọng, trong có một con rồng lớn đang uốn lượn, giây lát thì mất hút.

III.

Trang trại Tiểu tướng công ở huyện Chương Khâu (tỉnh Sơn Đông) có người đàn bà đi ngoài đồng, gặp cơn gió lớn tạt bụi đầy mặt, thấy một con mắt tối sầm lại, như bị cái vỏ trấu lọt vào, hết dụi tới thổi cũng không hết. Lật mi mắt lên nhìn kỹ, thì tròng mắt không bị gì, nhưng có một sợi chỉ đỏ chạy ngoằn ngoèo trong thịt. Có người nói “Đó là trập long", người đàn bà lo sợ chờ chết. Hơn ba tháng sau trời đổ mưa lớn, chợt một tiếng sấm lớn vang lên, rồng vạch mi mắt bay ra, người đàn bà không bị gì.

328. Trên Sông (Giang Trung)

Vương Thánh Du đi chơi ở Giang Nam, neo thuyền giữa sông. Chặp tối đi nằm, thấy trăng sáng vằng vặc không ngủ được, sai đứa tiểu đồng đấm bóp. Chợt nghe thấy nóc thuyền như có tiếng chân trẻ con bước, đạp lên mui thành tiếng, từ cuối thuyền dần dần đi tới của khoang thuyền, ngờ là kẻ trộm, vội nhỏm dậy hỏi đứa tiểu đồng thì nó cũng nghe thấy như vậy. Còn đang thì thào hỏi nhau, chợt thấy một người nằm trên nóc thò đầu nhìn vào khoang thuyền. Vương cả kinh tuốt kiếm gọi đám người hầu, cả thuyền đều tỉnh dậy. Vương kể chuyện mình vừa thấy, có người ngờ là hoa mắt nhìn lầm. Chợt có tiếng thanh la nổi vang, mọi người đổ ra nhìn khắp bốn phía đều chẳng thấy một ai, chỉ có trăng sáng sao thưa, sóng sông gờn gợn mà thôi. Mọi người xúm xít ngồi sát nhau trên thuyền, chợt thấy ánh lửa xanh như ngọn đèn lồng xuất hiện trên mặt nước, trôi tới cạnh thuyền thì tắt, lập tức có một người đen thui bật dậy, đứng thẳng trên mặt nước, lấy tay vịn thuyền mà đi. Mọi người vội nói "Đúng là vật ấy đấy" toan bắn ra nhưng vừa giương cung lên thì người ấy vội hụp luôn xuống nước, không sao thấy được nữa. Hỏi những người chèo thuyền, họ nói "Đây là nơi chiến trường ngày xưa, thường có ma quỷ xuất hiện, chẳng có gì lạ".

329. Hai Chuyện Làm Trò (Hý Thuật Nhị Tắc)

I.

Có người làm trò bằng cái thùng, cái thùng ấy có thể chứa được một thăng, rỗng không không có đáy, cũng như các vật dùng làm xiếc thông thường. Người làm trò trải hai cái chiếu trên mặt đường, đặt cái thùng lên, cầm một cái thăng đặt vào trong thùng, nhấc ra thì đầy một thăng gạo trắng, dốc lên trên chiếu. Lại đặt vào, lại dốc ra, giây lát thì chiếu đầy cả gạo. Kế đó lại lường từng thăng từng thăng gạo đổ vào thùng, hết rồi thì nhấc lên, cái thùng lại rỗng không, thật là lạ lùng.

II.

Lý Kiến Điền người huyện Lợi Tân (tỉnh Sơn Đông) rảnh rỗi dạo chơi trong chợ bán đồ gốm tại Nhan Trấn, muốn mua một cái vò lớn, trả giá mãi với người chủ hàng không được bèn bỏ về. Đến đêm trong lò còn hơn sáu mươi cái vò nung xong chưa lấy ra, nhưng mở cửa lò thì chẳng còn gì, người chủ cả kinh, ngờ là do Lý, tới nhà van nài, Lý nói là không biết, người ấy cố nài nỉ. Bèn nói "Ta mang ra khỏi lò giùm ông, không mất cái nào, đang để ở dưới lầu Khôi Tinh, không phải sao?". Người ấy tới xem, quả đủ số. Lầu ở núi phía nam trấn, cách chợ hơn ba dặm, thuê người chở về, ba ngày mới xong.

330. Mỗ Giáp (Mỗ Giáp)

Có Mỗ Giáp tư thông với vợ người đầy tớ, sau giết người đầy tớ lấy người vợ, sinh được hai trai một gái. Trải mười chín năm, có đám giặc lớn phá thành, cướp bóc sạch cả. Một tên giặc trẻ tuổi cầm đao vào nhà Giáp. Giáp nhìn ra thấy giống hệt người đầy tớ đã chết, than rằng “Ta phải chết rồi”. Bèn dốc rương chuộc mạng nhưng tên giặc không thèm, cũng không nói một câu, chỉ tìm người mà giết, chém hết một nhà hai mươi bảy người cả đàn ông đàn bà rồi bỏ đi. Giáp bị chém vào cổ chưa đứt, giặc đi rồi thì tỉnh lại, vẫn còn nói được, ba ngày sau mới chết. Than ôi, quả báo vốn chẳng sai, đáng sợ làm sao!

331. Ba Con Quái Ở Cù Châu (Cù Châu Tam Quái)

Trương Ác Trọng đi lính đóng ở huyện Cù Châu (tỉnh Chiết Giang) nói ở Cù Châu lúc ban đêm yên tỉnh, không ai dám đi ra ngoài một mình, vì trên lầu chuông có quỷ, trên đầu có một cái sừng, dáng vẻ hung dữ, nghe tiếng người đi thì xuống, người ta sợ chạy thì đuổi theo, những người gặp phải về nhà mà bệnh thì phần nhiều đều chết. Lại trong thành có một cái ao, đêm có một tấm vải trắng như tấm rèm trải trên mặt đất, người nào đi qua mà nhặt, lập tức bị cuốn dìm xuống nước. Lại có con ma vịt khi đêm tới bên ao hoàn toàn yên ắng, ai nghe tiếng vịt kêu, lập tức bị bệnh.

332. Người Phá Lầu (Chiết Lâu Nhân)

Hà Quýnh Khanh là người huyện Bình âm (tỉnh Hà Nam). Lúc đầu làm Huyện lệnh ở đất Tần (vùng Thiểm Tây), có một người bán dầu mắc tội nhẹ nhưng ăn nói bướng bỉnh, Hà giận bèn ra lệnh đánh chết. Sau làm quan ở bộ Lại, nhà thêm giàu có, cho xây một ngôi lầu. Ngày khởi công khách khứa tới nâng cốc chúc mừng, chợt thấy trong đám có người bán dầu. Hà đang thầm hoảng sợ ngờ vực, chợt nghe báo người thiếp sinh được con trai, bèn buồn bã nói "Thợ dựng lầu chưa xong, người phá lầu đã tới rồi”. Mọi người đều cho rằng Hà nói đùa, không biết rằng thật ra Hà có nhìn thấy người bán dầu thật. Về sau đứa con trai lớn lên, rất ương bướng, phá tán của cải, chỉ làm tôi mọi cho người, cứ được đồng nào là mua dầu thơm để ăn.
Dị Sử thị nói: Thường thấy các nhà phú quý có phủ đệ lầu gác san sát, khi chết rồi, qua ngang thì nhà cũ đã thành đất hoang, đủ biết nhà ấy có Người phá lầu giáng sinh vậy. Người ở địa vị cao, lại có thể không cẩn thận sao!

0
333. Rết Lớn (Đại Yết)

Tướng quân Bành Hoằng thời Minh đánh giặc vào đất Thục, vào chỗ núi sâu, có một ngôi chùa lớn bỏ không hàng trăm năm không có sư tu hành. Hỏi dân ở đó thì họ nói trong chùa có yêu quái, ai vào là chết ngay. Bành sợ là có giặc ẩn núp ở trong, sai quân chặt cỏ tiến vào, tới điện trước thì có hai con chim điêu bay vù ra cửa. Vào điện giữa cũng không thấy có gì lạ, đi tiếp thì tới gác chuông, nhìn khắp chung quanh cũng không thấy có gì, nhưng những người bước vào đều thấy đầu đau buốt không chịu nổi. Bành đích thân tiến vào, cũng thấy như vậy. Giây lát có một con rết lớn như chiếc đàn tỳ bà từ trên vách ngọ nguậy bò xuống, cả toán quân hoảng hốt bỏ chạy, Bành bèn sai đốt luôn chùa.

334. Nô Lệ Da Đen (Hắc Quỷ)

Tổng trấn họ Lý ở huyện Giao Châu (tỉnh Sơn Đông) mua được hai tên nô da đen, đen bóng như sơn, da chân chai cộm lên, cắm ngược đao đưa mũi nhọn lên cho họ đạp lên đi lại cũng không hề hấn gì. Tổng trấn cưới kỹ nữ cho làm vợ, sinh được con trai da lại trắng, bọn đầy tớ trong nhà đùa giỡn, nói là không phải con y. Tên nô da đen nghi ngờ, giết chết đứa con thì xương đều đen, mới hối hận. Tổng trấn thường sai hai người đối diện với nhau múa hát, thần thái điệu bộ cũng rất dễ nhìn.

335. Phu Xe (Xa Phu)


Có người phu xe đẩy chiếc xe chở nặng lên đèo, đang lúc cố hết sức thì bị một con sói tới táp vào mông. Muốn bỏ tay ra thì sợ hàng đổ đè lên người, nhịn đau đẩy tiếp, lên tới đỉnh đèo thì con sói đã rút được một miếng thịt bỏ đi rồi. Lựa đúng lúc người ta không có cách nào chống cự mà trộm nếm một miếng thịt, cũng là sự ranh mãnh buồn cười vậy.

336. Con Ma Mê Cờ (Kỳ Quỷ)

Tướng quân Đốc đồng huyện Dương Châu (tỉnh Giang Tô) là Lương công nghỉ quan về làng, hàng ngày thường mang bầu rượu túi cờ đi chơi khắp rừng núi. Gặp ngày tiết Trùng dương lên núi chơi, cùng khách đánh cờ, chợt có một người tới, lân la bên cạnh, say sưa nhìn vào bàn cờ mãi không đi. Nhìn lên thấy mặt mũi vàng vọt, quần áo rách rưới, nhưng thần thái nhàn nhã, có dáng dấp văn nhân. Ông vái chào mời ngồi, cũng nhún nhường từ tạ. Ông chỉ lên bàn cờ nói “Chắc tiên sinh cũng giỏi nghề này, sao không thử với người khách đây". Người ấy khiêm tốn từ chối một lúc mới bày cờ đánh. Ván đầu thì thua, có vẻ nổi nóng như không kìm được. Lại chơi ván nữa, lại thua, ông rót rượu mời cũng không uống, nài khách chơi nữa. Từ sáng đến chiều không có vẻ gì là mệt nhọc, rồi giành nhau về một quân cờ hai bên cãi vã ầm lên. Bỗng người ấy rời chiếu sợ hãi đứng dậy, thần sắc buồn thảm. Giây lát quỳ gối hướng về phía ông, dập đầu xin cứu. ông hoảng hốt ngờ vực, đỡ dậy nói "Trò chơi thôi mà, sao lại làm thế". Người ấy nói "Xin dặn người đi bắt đừng buộc cổ tiểu nhân". Ông càng lạ lùng, hỏi người đi bắt là ai? Thưa "Là Mã Thành".
Vốn là ông có người gia nhân tên Mã Thành làm sai nhân dưới cõi âm, thường mười mấy ngày lại xuống âm ty một lần cầm công văn đi bắt người. Ông lạ lùng về lời nói của người ấy, bèn sai người tới xem Thành ra sao, thì đã nằm cứng đơ hai ngày rồi. Ông quát Thành không được vô lễ, trong chớp mắt, người ấy lăn ra đất rồi biến mất, ông hoảng sợ hồi lâu mới biết đó là ma. Hôm sau Mã Thành tỉnh dậy, ông gọi tới hỏi chuyện, Thành thưa "Người ấy quê ở huyện Hồ Tương tỉnh Hồ Nam, rất mê cờ, phá tán cả sản nghiệp. Cha lo buồn, nhốt lại trong phòng học, lại leo tường ra, tìm tới chỗ vắng chơi bời với bọn đánh cờ. Cha nghe chuyện chửi mắng, rốt lại cũng không cấm đoán được, tức giận mà chết. Diêm Vương cho rằng y không có đức, phạt giam vào ngục quỷ đói, đến nay đã bảy năm rồi. Gặp lúc Phượng lâu ở Đông Nhạc làm xong, Đế quân phát công văn đi các nơi tìm văn nhân soạn bài văn bia, Diêm Vương bèn thả y ra khỏi ngục, sai đi ứng mệnh để chuộc tội, không ngờ trên đường lại lần lữa trễ hạn. Nhạc đế sai người bảo Diêm Vương hỏi tội, vương giận sai tiểu nhân theo bắt, nhưng được lệnh chủ nhân trước, nên chưa dám đem dây ra trăng trói". Ông hỏi “Vậy đến giờ y ra sao rồi?”. Mã Thành thưa “Vẫn giao cho ngục lại giam giữ, mãi mãi không được đầu thai nữa". Ông than "Mê thú vui làm hại cả đời, là như thế chăng?”.
Dị Sử thị nói: Thấy cờ mà quên sự chết, đến khi đã chết, thấy cờ lại quên sự sống, không phải là ham muốn quá đáng so với người thường sao! Nhưng nghiện cờ tới như thế, mà vẫn chưa thành tay giỏi, đến nỗi làm một con ma mê cờ chết mãi không được sống lại dưới cửu tuyền, thật đáng thương vậy!

337. Cái Đầu Lăn Lộn (Đầu Cổn)


Hiếu liêm Tô Trinh Hạ một hôm làm việc quan về, nằm nghỉ trưa thấy một cái đầu người từ dưới đất chui lên, to bằng cái chén, lăn lộn ở dưới giường mãi không thôi, hoảng sợ mắc bệnh nằm liệt giường không dậy được. Sau ông ngủ ở nhà người đàn bà phóng đãng, gặp cái họa sát thân, hay đó là điềm báo trước chăng?

338. Hai Chuyện Quả Báo (Quả Báo Nhị Tắc)

I.

Mỗ sinh ở An Khâu thông hiểu việc bói toán nhưng tính tình tham lam dâm đãng, cứ sắp đi trộm cắp gian dâm là bói trước. Một hôm chợt mắc bệnh, người nhà sắc thuốc, sinh không uống, nói “Thật ra ta biết rồi, âm ty giận ta khinh nhờn số trời, sắp trừng phạt nặng nề, uống thuốc mà làm được gì". Không bao lâu hai mắt chợt lòa, hai tay vô cớ tự nhiên gãy ra.

II.

Mỗ Giáp có người bác không con. Giáp tham gia tài của bác nên tình nguyện làm người nối dõi để thờ cúng. Người bác chết, ruộng vườn tài sản về cả tay Giáp nhưng Giáp lại nuốt lời không hề cúng giỗ. Lại có một người chú giàu có mà cũng không con, Giáp lại xin làm con để ăn thừa tự. Người chú chết, Giáp lại nuốt lời, từ đó gộp cả tài sản ba nhà làm một, nổi tiếng giàu có một vùng. Chợt bị bạo bệnh phát điên, tự nói "Ngươi muốn được sống mà hưởng giàu có ư?” rồi lấy dao bén tự cắt từng miếng từng miếng thịt trên người ném xuống đất. Lại nói "Ngươi làm tuyệt dòng dõi người khác mà còn muốn có người nối dõi ư?”, rồi mổ bụng kéo ruột ra mà chết. Không bao lâu đứa con của Giáp cũng chết, gia sản về tay người khác. Quả báo như thế thật đáng sợ vậy.

339. Thịt Rồng (Long Nhục)

Quan Thái sử Khương Ngọc Toàn nói ở dưới Long Đôi (địa danh ngoài quan ải), cứ đào xuống đất vài thước là có đầy thịt rồng, mặc ý muốn cắt xẻo bao nhiêu cũng được nhưng đừng nói tới chữ "Rồng". Có người nói đây là thịt rồng, lập tức bị trời nổi sấm sét đánh chết. Thái sử từng ăn thịt ấy, quả không phải là lời bịa đặt.

0
Quyển XV

340. Bịp Bợm (Niệm Ương)

Dị Sử thị nói: Lòng người mà hiểm độc thì ở một chỗ cũng đã đáng sợ, huống chi còn đi khắp nam bắc thì cái hại càng ghê gớm. Như những kẻ giương cung phi ngựa ăn cướp ngay ngoài kinh đô thì mọi người đã rõ, hay những kẻ rọc túi xách giỏ ăn cắp trong chợ, người ta vừa ngoảnh đi ngoảnh lại đã mất sạch tiền bạc hàng hóa, thì còn hiểm độc hơn. Lại có những kẻ chỉ là tình cờ gặp gỡ mà lời lẽ ngon ngọt, mới quen mà rất được lòng người, khiến người ta lầm coi như bạn tốt nên bị lừa mất cả tiền của, chúng tùy hoàn cảnh mà bày kế lừa, không phải chỉ theo một kiểu. Cho nên lời tục gọi kẻ ăn nói ngon ngọt là Định bịp. Nay ở mạn bắc có rất nhiều kẻ như thế, nên càng nhiều người bị hại.
Vương Tử Tốn người hương ta là Chư sinh ở huyện, nhân Hữu Toàn tiên sinh làm Hàn lâm trong kinh nên định tới thăm viếng. Bèn mang hành trang lên bắc, ra khỏi Tế Nam (tỉnh thành Sơn Đông) được vài dặm, có một người cưỡi ngựa đen đi cùng đường, hỏi thăm vài câu qua loa, Vương cũng trả lời. Người ấy tự xưng là họ Trương, làm công sai ở huyện Thê Hà (tỉnh Sơn Đông) được cử đi công cán ở kinh đô, lời lẽ nhún nhường, thái độ ân cần, đi cùng nhau vài mươi dặm thì hẹn cùng trọ chung một chỗ. Vương đi trước thì y thúc ngựa bám theo, Vương đi sau thì y dừng lại chờ. Người đầy tớ của Vương sinh nghi, lớn tiếng xua đuổi không cho đi cùng, Trương thẹn giục ngựa đi. Xế chiều Vương nghỉ lại ở nhà trọ, tình cờ ra cửa thấy Trương đang uống rượu ở phòng ngoài. Đang ngạc nhiên thì Trương đã trông thấy Vương, vội đứng dậy chắp tay chào, khép nép như kẻ tôi tớ, dần dà hỏi hết chuyện nọ tới chuyện kia, Vương cũng trả lời qua loa chứ không ngờ vực gì, song người đầy tớ của Vương vẫn đề phòng suốt đêm. Mờ sáng Trương tới gọi Vương dậy cùng đi, người đầy tớ dằn giọng cự tuyệt, Trương bèn bỏ đi.
Ăn sáng đâu đấy xong Vương mới lên đường, đi được nửa ngày thấy trước mặt có một người cưỡi ngựa trắng tuổi chừng bốn mươi trở lại, áo mũ tươm tất, ngủ gà ngủ gật suýt ngã ngựa, lúc đi trước, lúc đi sau Vương suốt mười dặm. Vương lấy làm lạ hỏi "Đêm qua làm gì mà buồn ngủ dữ vậy?”. Người ấy nghe hỏi càng tỏ vẻ mỏi mệt đáp "Ta họ Hứa, người huyện Thanh Uyển (tỉnh Hà Bắc), có người anh họ bên ngoại là Cao Phồn làm Tri huyện Lâm Tri (tỉnh Sơn Đông). Anh ruột ta theo mở trường dạy học trong công thự, ta tới thăm cũng được cho chút ít tiền bạc. Đêm qua vào nhà trọ, lại lầm ngủ cùng phòng với bọn bịp bợm, sợ hãi không dám chợp mắt mới mỏi mệt tới như thế này". Vương hỏi thế nào là Bịp bợm, Hứa đáp “Ông ít ra ngoài, chưa biết chuyện nguy hiểm, chứ hiện nay có đám lưu manh lấy lời lẽ ngon ngọt dụ dỗ người đi đường, nương tựa nhau cùng đi cùng nghỉ rồi nhân lúc sơ hở lừa lấy tiền bạc. Trước người họ hàng của ta là họ Đoàn đã bị mất sạch cả tiền ăn đường, chúng ta đều phải cẩn thận". Vương tỏ ý tán đồng. Quan huyện Lâm Tri với Vương vẫn là chỗ quen biết, Vương từng tới công thự thăm, biết cả các môn khách, quả có người họ Hứa nên không ngờ vực gì nhân đó cùng chuyện trò, hỏi thăm cả anh ruột của Hứa. Hứa hẹn tối cùng trọ một chỗ, Vương theo lời.
Người đầy tớ của Vương vẫn nghi là giả dối, ngầm bàn với chủ cứ đi tụt lại sau nên lạc mất luôn. Quá giờ Ngọ hôm sau, lại gặp một thiếu niên chừng mười sáu mười bảy tuổi, cưỡi con ngựa khỏe mạnh, áo mũ trang nhã, rất đẹp trai, đi cùng đường hồi lâu không trò chuyện với nhau câu nào. Xế chiều, thiếu niên chợt nói "Sắp tới Khuất Luật (phía nam huyện Đức Châu tỉnh Sơn Đông) rồi". Vương khẽ ờ, thiếu niên lại thở dài sườn sượt như không kìm được. Vương nói chuyện qua loa rồi hỏi thăm, thiếu niên than "Ta họ Kim, người Giang Nam, học hành suốt ba năm tốn không biết bao nhiêu tiền, đi thi một chuyến không ngờ lại trượt! Anh ruột ta làm chức Chủ chính trong kinh, nên ta đem cả vợ con lên để chờ sai phái. Bình sinh chưa từng đi xa thế này, mặt mũi lấm bụi, nghĩ thấy buồn quá". Rồi rút khăn lau mặt, thở than không thôi. Nghe giọng thì đúng là người Giang Nam, nhỏ nhẹ như con gái, Vương thấy mến nên tìm lời an ủi. Thiếu niên nói "Ta cưỡi ngựa đi trước, chờ mãi không thấy vợ con đâu, sao bọn đầy tớ cũng không ai tới kìa? Trời đã tối rồi, làm thế nào?". Rồi nấn ná chờ đợi, đi rất chậm. Vương bèn đi trước, cách nhau khá xa mới vào quán trọ.
Vào phòng trọ thì thấy một chiếc giường sát vách đã có khách để hành lý, Vương hỏi chủ nhân thì người khách trở vào cầm hành lý bước ra nói "Xin cứ nghỉ ở đây, ta qua phòng khác cũng được". Vương nhìn thì ra là Hứa, bèn giữ lại, Hứa mới thôi. Hai người trò chuyện một lúc, lại có người mang hành lý bước vào, thấy Vương và Hứa trong phòng, quay ngay ra nói "Phòng có khách rồi". Vương nhìn kỹ thì ra là thiếu niên trên đường, còn chưa kịp nói gì thì Hứa đã vội đứng lên giữ lại, thiếu niên mới ngồi xuống. Hứa hỏi tên họ quê quán, thiếu niên cũng đáp như nói với Vương trên đường. Lát sau thiếu niên mở hành lý lấy tiền, toàn là vàng nén nặng trịch, tính toán đưa cho chủ trọ dặn làm mâm rượu để tối uống nói chuyện. Vương và Hứa tranh nhau ngăn lại, thiếu niên cũng không nghe. Kế đó cơm rượu dọn lên, lúc ăn uống thiếu niên nói chuyện văn chương rất phong nhã. Vương hỏi đề thi ở trường Giang Nam, thiếu niên nói rõ, lại đọc đoạn mở đầu và những câu đắc ý trong bài thi của mình. Nói xong lại tỏ vẻ rất tức tối về việc bị đánh trượt. Thiếu niên vì lạc mất vợ con, tối không có đầy tớ hầu hạ, sợ không biết chăm sóc cho ngựa, Vương thấy thế sai người đầy tớ cho ngựa thiếu niên ăn uống giùm, thiếu niên cảm tạ mãi.
Lát sau, thiếu niên lại bực dọc nói "Đã gặp chuyện rủi ro, ra khỏi nhà cũng chẳng có gì hay, đêm qua ở quán trọ gặp phải lũ người xấu, đổ xí ngầu hò hét inh ỏi, điếc tai nhức óc không sao ngủ được. Tiếng Giang Nam gọi xúc xắc là xí ngầu, Hứa không hiểu bèn hỏi, thiếu niên lấy tay làm động tác như gieo xúc xắc, Hứa cười lấy trong túi ra một con xúc xắc hỏi "Phải cái này không?". Thiếu niên ừ, Hứa bèn đổ xúc xắc làm tửu lệnh để uống rượu cho vui. Rượu ngà ngà, Hứa xin cùng gieo xúc xắc xem ai làm cái. Vương chối từ nói không biết đánh bạc, Hứa bèn chơi với thiếu niên, lại nói riêng với Vương rằng “Ông đừng nói lộ ra, thằng công tử bột này giàu lắm, lại còn trẻ, chưa chắc đã thuộc hết nước bài, để ta kiếm chút ít, sáng mai sẽ tạ ơn ông”. Hai người bèn qua phòng khác chơi, lát sau nghe tiếng hò hét rất ồn ào, Vương lén qua nhìn thì thấy người công sai huyện Thê Hà cũng có ở đó, nảy dạ nghi ngờ, bèn trải chăn nằm ngủ.
Lại một lát sau, cả bọn vào kéo Vương dậy đánh bạc, Vương nhất định chối từ rằng không biết, Hứa tình nguyện đánh thay, Vương cũng không chịu, nhưng Hứa cứ gieo xúc xắc thay Vương. Lát sau vào giường nói với Vương “Ông thắng được mấy ván rồi đấy". Vương mơ ngủ ậm ừ, chợt có mấy người xô cửa vào quát tháo ầm ĩ. Người đứng đầu tự xưng họ Đồng, là công sai đi bắt cờ bạc. Lúc bấy giờ lệnh cấm cờ bạc rất nghiêm, mọi người đều hoảng sợ. Đồng lớn tiếng quát Vương, Vương cũng lấy tên người họ hàng làm Hàn lâm ra năn nỉ, Đồng hết giận, trò chuyện cùng Vương rất thân mật, cười bảo cứ đánh bạc cho vui mọi người lại tiếp tục chơi, Đồng cũng ngồi vào đánh. Vương nói với Hứa "Ta không biết chuyện ông thắng hay thua gì cả, chỉ muốn ngủ yên, xin đừng quấy rầy nữa". Hứa không nghe, cứ lui tới báo thắng thua này nọ. Đến khi kết thúc, tính lại thì Vương thua khá nhiều, Đồng bèn tới lục hành lý của Vương lấy tiền. Vương uất ức nhỏm dậy giành lại, Kim kéo tay Vương nói nhỏ “Chúng là bọn lưu manh, rất là khó lường, chúng ta là bạn văn chương, không thể không chiếu cố cho nhau. Lúc nãy ta thắng cũng được bấy nhiêu, đủ để trả cho ông. Bây giờ xin đổi, cứ bảo Hứa trả cho Đồng, ông trả cho ta, chẳng qua chỉ là che giấu tai mắt của họ, xong chuyện rồi ta sẽ đưa lại cho ông thôi. Không thế thì chẳng lẽ là bạn bè văn chương đạo nghĩa mà lại lấy tiền của ông sao?".
Vương vốn trung hậu nên tin lời. Thiếu niên bèn bước ra, đem chuyện đánh đổi nói với Đồng, rồi mở hành lý của Vương trước mặt mọi người lấy số tiền thiếu, Đồng thì lấy tiền của Hứa và Trương rồi đi. Thiếu niên lại mang hành lý của mình tới ngủ chung với Vương, chăn đệm đều đẹp đẽ tinh khiết. Vương cũng gọi người đầy tớ tới ngủ ở đầu giường, ai cũng yên lặng. Hồi lâu, thiếu niên cố ý trở mình, nhích phần dưới tới sát người đầy tớ. Người đầy tớ dịch người tránh ra, thiếu niên lại nhích người sát tới, da dẻ mịn màng mềm mại như mỡ. Người đầy tớ động tình bèn thử mơn trớn vuốt ve, song thiếu niên rất nhu thuận. Chăn gối lào xào, Vương nghe thấy rất kinh sợ lạ lùng nhưng cũng không nghi là có chuyện gì khác.
Trời vừa sáng, thiếu niên đã trở dậy, giục Vương dậy đi sớm, lại nói "ông mệt mỏi lắm rồi, những tiền bạc đồ vật gởi khi đêm, trên đường sẽ xin đưa lại". Vương vẫn không nói gì, thiếu niên đã xách hành lý lên ngựa, Vương bất đắc dĩ phải theo. Thiếu niên giục ngựa phi nhanh, càng lúc càng xa, Vương cho rằng sẽ chờ mình phía trước nên lúc đầu cũng không để ý. Lại nghĩ thiếu niên ăn nói phong nhã, bọn bịp bợm không thể được như vậy. Đến khi đuổi mau theo vài mươi dặm thì đã mất hút, mới sực hiểu ra rằng Trương Hứa Đồng với thiếu niên là cùng một bọn, bày kế này không được thì chuyển sang kế khác, quyết đưa vào tròng cho bằng được. Việc trả nợ đổi hành lý đã gài sẵn một cái bẩy rồi, giả như kế xách hành lý bỏ chạy không xong, cũng sẽ dựa vào lời giao ước đổi nợ khi đêm mà cướp lấy mang đi. Vì mấy mươi đồng vàng mà theo suốt vài trăm dặm, lại sợ người đầy tớ của Vương phát hiện, đem thân xác để lấy lòng, cái thuật ấy kể cũng khổ thật.
Vài năm sau, lại có chuyện của Ngô sinh. Huyện ta có Ngô sinh, tự là An Nhân, góa vợ năm ba mươi tuổi, vẫn ở một mình. Có người Tú tài tới chơi trò chuyện, dần dần thân thiết, có một thằng hầu nhỏ tên Quỷ Đầu, cũng chơi thân với tiểu đồng của Ngô là Báo Nhi, lâu ngày biết họ là hồ. Ngô đi chơi xa, họ cũng đi cùng, nhưng ở cùng phòng mà người khác không nhìn thấy. Ngô ở kinh đô, sắp về làng, nghe chuyện Vương sinh bị bọn bịp bợm lừa, dặn tiểu đồng phải cẩn thận, hồ cười nói đừng lo, chuyến đi này chẳng có gì đáng ngại. Tới huyện Trác (tỉnh Hà Bắc), có một người buộc ngựa ngồi hút thuốc trong quán, quần áo tươm tất, thấy Ngô đi qua, cũng đứng dậy lên xe theo sau, dần dần bắt chuyện với Ngô. Tự xưng là họ Hoàng ở Sơn Đông, làm quan Đề đường ở bộ Hộ đang về nam, muốn có người đi cùng đường cho khỏi vắng vẻ. Từ đó Ngô dừng y cũng dừng, cứ vào ăn uống là trả tiền cho cả Ngô. Ngô ngoài mặt tỏ vẻ biết ơn song trong lòng ngờ vực, ngầm hỏi hồ, hồ chỉ nói không hề gì, Ngô mới hết ngờ.
Đến tối cùng vào chỗ trọ, có một thiếu niên đẹp trai đã vào trước ngồi đó. Hoàng vào thấy chắp tay làm lễ, mừng rỡ hỏi thiếu niên rời kinh lúc nào, đáp là hôm qua. Hoàng bèn kéo vào cùng phòng, nói với Ngô rằng "Đây là Sử lang, em họ ngoại của ta, cũng là văn sĩ, có thể nói chuyện văn chương với bậc quân tử, đêm nay trò chuyện cũng không hiu quạnh”. Bèn đưa tiền bảo chủ trọ làm mâm rượu, thiếu niên nho nhã học rộng, cùng Ngô trò chuyện rất tương đắc. Lúc uống rượu lại đưa mắt làm hiệu cho Ngô, làm trò đánh đố, phạt Hoàng uống mấy chén liên tiếp rồi vỗ tay cười Ngô càng vui thích. Kế Sử và Hoàng bàn đánh bạc, rủ Ngô cùng chơi, người nào cũng đặt tiền ra bàn. Hồ dặn Báo Nhi ngầm ra cài cửa, lại dặn Ngô rằng “Nếu có tiếng người ồn ào, cứ làm như đang ngủ, đừng lên tiếng", Ngô theo lời. Ngô gieo xúc xắc đặt nhỏ thì thua, đặt lớn thì thắng. Hơn một canh thắng được hai trăm đồng vàng, Sử và Hoàng cạn tiền, xin bán ngựa. Chợt nghe tiếng gọi cửa rất gấp, Ngô vội đứng dậy ném xúc xắc vào lửa, trùm chăn giả như đang ngủ. Hồi lâu thấy chủ trọ tìm chìa khóa không được, bọn kia phá cửa hung hăng xông vào, có tới mấy người đi bắt cờ bạc. Sử và Hoàng đều nói là không có.
Một người lật chăn chỉ mặt Ngô nói là con bạc, Ngô quát cãi lại, mấy người kia cứ đòi khám hành lý của Ngô. Đang lúc không biết làm sao chống cự, chợt nghe ngoài cổng có tiếng xe ngựa tiền hô hậu ủng, Ngô vội chạy ra la lớn, bọn kia mới sợ kéo trở vào phòng, xin đừng la nữa. Ngô bèn ung dung đem hành lý gởi chủ trọ, tiếng xe ngựa đi xa rồi, bọn kia ra cửa đi mất. Hoàng và Sử đều tỏ vẻ vừa sợ vừa mừng, bắt đầu đi ngủ. Hoàng bảo Sử ngủ cùng giường với Ngô, Ngô lấy túi tiền trong lưng để xuống dưới gối mới bảo Sử trải chăn ra ngủ. Không bao lâu, Sử mở chăn Ngô ra nói nhỏ "Thích anh là người lỗi lạc, xin được vui vầy thương yêu. Ngô biết là giả trá, nhưng tính ra vẫn lời nhiều, bèn ưng thuận. Sử hết sức chiều chuộng, không ngờ Ngô vốn to lớn mạnh mẽ, Sử đau đớn không kham nổi, lúc lúc lại nài nỉ xin thôi. Ngô thì cứ làm tới cùng, lúc đưa tay sờ xuống thấy máu chảy lênh láng mới thôi cho về chỗ ngủ. Đến sáng, Sử mệt mỏi không dậy nổi, nói thác là bị ốm bất ngờ, xin Ngô và Hoàng cứ đi trước. Lúc chia tay Ngô tặng tiền cho Sử để thuốc men, trên đường trò chuyện với hồ, mới biết tiếng xe ngựa nghi trượng lúc đêm đều do hồ làm ra.
Hoàng trên đường càng nịnh nọt Ngô, tối đến cùng vào nhà trọ, gặp gian phòng nhỏ chỉ có một chiếc giường, lại sạch sẽ tinh khiết nhưng Ngô chê chật. Hoàng nói "Hai người nằm thì chật, nhưng một mình ông nằm thì rộng, có việc gì đâu?". Ăn cơm xong bèn qua phòng khác, Ngô cũng mừng được ngủ một phòng thì có thể tiếp bạn hồ, nhưng ngồi chờ rất lâu mà hồ không tới. Chợt nghe ngoài cửa sổ có tiếng đàn, Ngô mở cửa nhìn thì có một cô gái trẻ ăn mặc đẹp đẽ bước vào, tự đóng hết cửa lại rồi nhìn Ngô cười, xinh đẹp như tiên. Ngô mừng rỡ bước tới hỏi, thì là con dâu của chủ nhà trọ, bèn cùng giao hoan, vô cùng mặn nồng. Cô gái chợt sa nước mắt, Ngô kinh ngạc hỏi, nàng đáp "Thật không dám giấu, chủ nhà trọ sai thiếp tới đây để làm mồi nhử ông. Trước đây bước vào phòng của khách là sẽ bị gài cửa để bắt ngay, không biết vì sao tối nay lâu quá họ không tới?". Lại nức nở nói "Thiếp là con gái nhà lương thiện, thật không chịu nổi cảnh sống này, nay đã dốc lòng theo ông, xin ông rủ lòng thương xót cứu cho". Ngô cả sợ không biết làm sao, cứ bảo nàng ra mau, cô gái chỉ cúi đầu khóc lóc.
Chợt nghe Hoàng và chủ trọ đập cửa ầm ầm, rồi Hoàng nói lớn "Suốt đường ta rất kính trọng, tại sao hạng người như ngươi lại dụ dỗ vợ em ta?". Ngô sợ, thúc cô gái ra mau, nghe ngoài cửa sổ có tiếng quát tháo đập phá. Ngô run rẫy toát mồ hôi, cô gái cũng nằm phục xuống đất khóc. Lại nghe có người can ngăn chủ trọ, chủ trọ không nghe, xô cửa càng gấp. Người can ngăn nói “Xin hỏi ông chủ muốn làm gì vậy? Muốn giết người à? Thì mấy người khách bọn ta ở đây không ngồi yên để mặc cho ngươi làm chuyện hung dữ đâu, nếu một trong hai người chạy mất thì tội ấy để ai chịu? Muốn kiện lên quan à? Thì đàn bà trong nhà không dạy dỗ phải chịu nhục, mà lại cho ra ở quán trọ thì rõ ràng là giả trá, làm sao dám chắc là cô ta không khai lời khác?". Chủ nhà trọ trợn mắt không nói gì được, Ngô nghe trong lòng thầm cám ơn nhưng không biết là ai.
Lúc đầu khi nhà trọ sắp đóng cửa thì có một Tú tài cùng đầy tớ vào ngủ trọ, mang theo rượu ngon, rót mời tất cả mọi người, thấy Hoàng và chủ trọ lại càng ân cần mời mọc. Hai người chối từ muốn đi, Tú tài kéo áo năn nỉ ngồi lại, hồi lâu mới tìm cách đi được , vác gậy chạy tới phòng Ngô. Tú tài nghe tiếng ồn ào mới bước vào can ngăn, Ngô nép bên cửa sổ nhìn ra thì là ông bạn hồ, mừng thầm. Lại thấy chủ trọ có vẻ hơi sợ, bèn lớn tiếng dọa, lại bảo cô gái cứ nói thử một câu xem sao? Cô gái khóc nói "Hận không được bằng người, bị bắt làm những việc hèn hạ!”. Chủ trọ nghe thấy mặt xám như tro. Tú tài quát mắng "Bọn ngươi thật là cầm thú, nay đã lộ mạt rồi, những khách trọ ở đây đều lấy làm tức giận”. Hoàng và chủ trọ đều vứt bỏ dao gậy, quỳ xuống khẩn cầu. Ngô cũng mở cửa bước ra, giận dữ chửi mắng. Tú tài lại can Ngô, hòa giải đôi bên. Cô gái lại khóc lóc nói thà chết không về lại. Trong nhà có mấy người tỳ nữ chạy ra kéo đi, nàng cứ nằm lăn ra đất kêu khóc thảm thiết.
Tú tài khuyên chủ trọ bán nàng cho Ngô, chủ trọ dập đầu nói “Làm kẻ cắp ba mươi năm, nay gặp phải bà già, còn nói gì nữa?", bèn theo lời Tú tài. Ngô không chịu mất nhiều tiền, Tú tài đứng ra điều đình cho hai bên, ngã giá năm mươi lượng vàng xong, giao tiền nhận người. Sáng ra cùng nhau thu dọn hành lý lên đường, chở cô gái đi. Cô gái chưa từng cưỡi ngựa nên đi rất chậm, đến trưa thì dừng lại nghỉ. Lúc sắp đi tiếp, gọi Báo Nhi thì không thấy đâu, chờ đến lúc trời xế cũng không thấy tăm hơi, Ngô ngờ vực lo lắng hỏi hồ. Hồ đáp “Đừng lo, nó sắp tới rồi". Chờ đến lúc trăng mọc Báo Nhi mới tới. Ngô hỏi đi đâu, Báo Nhi cười nói "Công tử cúng cho bọn gian ác mất năm mươi lượng, ta trộm lấy làm bất bình nên theo kế của Quỷ Đầu quay lại đòi", rồi lấy vàng đưa ra.
Ngô kinh ngạc hỏi, thì ra Quỷ Đầu biết cô gái chỉ có một người anh đi xa mười năm không về, bèn biến thành hình dáng người ấy, bảo Báo Nhi giả làm anh em họ vào đòi gặp em gặp chị. Chủ trọ hoảng sợ, bịa đặt là đã bị bệnh chết, hai đứa tiểu đồng dọa kiện lên quan. Chủ trọ càng sợ, đưa tiền ra năn nỉ, cò kè mãi tới bốn mươi hai lượng vàng hai đứa mới chịu đi. Báo Nhi kể rõ mọi chuyện rồi, Ngô lập tức cho nó luôn số tiền ấy. Ngô đưa cô gái về, gia đình hòa thuận, lại thêm giàu có. Hỏi kỹ cô gái, thì người trẻ tuổi đẹp trai là chồng nàng, đại khái Sử tức là Kim vậy. Nàng lấy ra một chiếc khăn, nói "Đây là họ lấy được của người họ Vương ở Sơn Đông". Thì ra bọn kia là một đảng rất đông, chủ trọ cũng là một trong số đó. Không ngờ người Ngô sinh gặp là kẻ đã làm Vương Tử Tốn khổ cực kêu trời, chẳng cũng hay sao! Lời xưa có câu Chơi dao có ngày đứt tay, thật là đúng lắm!

0
341. Vũ Hiếu Liêm (Cử Nhân Võ)

Cử nhân võ họ Thạch khăn gói lên kinh xin bổ dụng. Tới huyện Đức Châu (tỉnh Sơn Đông) bị bạo bệnh, thổ huyết không dậy nổi, nằm bẹp trong thuyền, tên đầy tớ bèn ăn cắp hết tiền bỏ trốn. Thạch tức giận, bệnh càng nặng thêm, lại không còn tiền lo cơm cháo thuốc men, chủ thuyền năn nỉ xin Thạch lên bờ. Lúc ấy có một người đàn bà đi chơi ngắm trăng, tới bên bờ nghe biết chuyện bèn tình nguyện đem thuyền chở Thạch. Chủ thuyền mừng rỡ, đỡ Thạch qua thuyền người đàn bà. Thạch nhìn thấy người đàn bà khoảng hơn bốn mươi tuổi, ăn mặc đẹp đẽ, dáng vẻ sang trọng, rên rỉ cảm tạ. Người đàn bà đích thân xem bệnh cho Thạch rồi nói "Chàng vốn bị lao lực, nay thì hồn phách đã về cõi âm rồi”. Thạch nghe thế kêu gào khóc lóc, người đàn bà nói “Ta có thuốc hay có thể cải tử hồi sinh, nhưng nếu chàng khỏi bệnh thì đừng quên nhau”. Thạch khóc lóc thề thốt, người đàn bà bèn lấy một viên thuốc cho uống, được nửa ngày thì hơi đỡ. Người đàn bà cứ ngồi cạnh giường săn sóc, chu đáo còn hơn cả vợ đối với chồng, Thạch càng cảm động. Hơn tháng thì khỏi hẳn, Thạch đi bằng đầu gối tới trước mặt nàng tạ ơn, kính trọng như đối với mẹ ruột. Người đàn bà nói "Thiếp lẻ loi không nơi nương tựa, nếu chàng không chê là già xấu, xin được theo nâng khăn sửa túí". Năm ấy Thạch hơn ba mươi tuổi, vợ chết đã mấy năm, nghe thế vô càng mừng rỡ, bèn cùng nàng kết làm vợ chồng. Người đàn bà đưa tiền cho Thạch lên kinh lo công việc, hẹn khi nào trở lại sẽ cùng về.
Thạch lên kinh được lục dụng, được bổ làm quan võ ở tỉnh, đem tiền còn thừa mua ngựa nghẽo dù lọng rất oai vệ. Vì nghĩ người đàn bà đã luống tuổi không xứng đôi, nên lấy trăm đồng vàng tới hỏi con gái họ Vương làm thiếp. Nhưng vẫn ngại ngùng, sợ người đàn bà biết được nên tránh Đức Châu, theo đường vòng tới nơi làm quan, hơn một năm cũng không báo tin. Có người em họ của Thạch tình cờ tới Đức Châu, ở cạnh nhà người đàn bà, nàng biết bèn hỏi thăm tin Thạch, người ấy cứ sự thật nói rõ. Người đàn bà tức giận mắng lớn rồi kể lại mọi việc, người ấy cũng lấy làm bất bình thay, bèn an ủi rằng "Có lẽ vì anh bận bịu việc công chưa rảnh để đi đón được, xin chị cứ gởi thư, ta sẽ chuyển cho". Người đàn bà theo lời, người kia cầm thư về đưa cho Thạch, Thạch cứ làm ngơ. Lại hơn một năm nữa, người đàn bà tự tới, Thạch tìm cớ để nàng ở ngoài quán trọ. Người đàn bà tới công thự nhờ người tiếp khách nói lại tên họ, Thạch ra lệnh ngăn không cho vào. Một hôm Thạch đang ăn tiệc thì có tiếng mắng chửi ầm lên, vừa đặt chén rượu xuống lắng nghe thì người đàn bà đã vén rèm bước vào. Thạch hoảng sợ, mặt xám như tro, người đàn bà chỉ Thạch mắng "Đồ bạc tình vui vẻ quá nhỉ? Thử nghĩ xem phú quý này ở đâu mà có vậy? Ta đối xử với ngươi không tệ, muốn cưới hầu thiếp mà bàn với ta thì đã làm sao?". Thạch nhũn chân mất vía không trả lời được, hồi lâu quỳ xuống tự thú, tìm lời ngon ngọt xin bỏ qua, nàng mới hơi nguôi.
Thạch bảo Vương thị lấy lễ làm em tới ra mắt, Vương thị không chịu, Thạch năn nỉ mãi mới đi. Vương thị vào lạy, người đàn bà cũng lạy trả, nói "Em đừng sợ, ta không phải là kẻ ghen tuông độc ác, nhưng đối xử như thế này thật không ai chịu nổi, nếu là em cũng không muốn có người chồng như y", rồi kể lại hết đầu đuôi mọi việc. Vương thị cũng tức giận, bênh vực người đàn bà mắng Thạch, Thạch không biết làm sao phân trần, chỉ xin được chuộc lỗi, mãi mới được yên. Lúc đầu khi người đàn bà chưa vào, Thạch đã dặn người canh cửa không được để nàng vào trong. Khi nàng vào trong nhà rồi, Thạch giận lắm, lén căn vặn người canh cửa, người ấy cứ quả quyết rằng cửa nẽo vẫn khóa chặt không ai vào được cả, hậm hực mãi. Thạch lấy làm ngờ nhưng không dám hỏi người đàn bà, hai người tuy vẫn cười nói với nhau bình thường nhưng vẫn không gần gũi nhau. May là người đàn bà tính ưa yên tĩnh, tối không giành chồng, cơm chiều xong là đóng cửa phòng ngủ sớm, cũng chẳng quan tâm tới việc ban đêm chồng ngủ ở đâu. Vương thị buổi đầu còn lo sợ, sau thấy thế càng thêm kính trọng, cứ sáng sớm là qua hầu như đối xử với mẹ chồng.
Người đàn bà đối đãi với kẻ dưới khoan hòa có lễ phép nhưng xét việc sáng suốt như thần. Một hôm Thạch bị mất ấn thụ cả nha môn nháo nhác đi tìm nhưng không sao tìm thấy, nàng cười nói "Đừng sợ, cứ xuống giếng tìm". Thạch theo lời, quả nhiên tìm thấy ấn thụ, hỏi tại sao biết thì nàng chỉ cười mà không nói, xem vẻ như biết rõ kẻ trộm nhưng rốt lại vẫn không chịu nói ra. Được một năm, thấy hành động cử chỉ có nhiều điều lạ, Thạch ngờ không phải là người, thường chờ lúc nàng đã ngủ sai người rình nghe ngóng, chỉ nghe tiếng giũ áo trên giường suốt đêm, không biết là làm gì. Người đàn bà và Vương thị rất thân thiết thương yêu nhau, có một đêm Thạch qua dinh quan án sát chưa về, nàng uống rượu với Vương thị quá chén say lăn ra giường biến thành con chồn. Vương thị thương xót, lấy chăn đắp cho. Không bao lâu Thạch về, Vương thị kể lại chuyện lạ, Thạch muốn giết đi. Vương thị nói "Cho dù là hồ thì cũng có phụ gì chàng nào?". Thạch không nghe, vội vàng đi tìm đao thì người đàn bà đã tỉnh dậy, mắng Thạch “Ngươi hành động như rắn rết mà lòng dạ như sài lang, nhất định không sống lâu được đâu. Viên thuốc đã uống ngày trước mau trả lại cho ta". Rồi nhổ toẹt vào mặt Thạch, Thạch chợt thấy lạnh buốt như bị dội nước đá lên đầu, cổ họng ngứa ngáy, khạc ra thì viên thuốc vẫn còn nguyên như trước. Người đàn bà nhặt lấy căm tức bỏ đi, đuổi theo thì đã biến mất. Ngay đêm ấy bệnh cũ của Thạch lại phát, thổ huyết mãi không cầm được, nửa năm thì chết.
Dị Sử thị nói: Cử nhân họ Thạch mềm mỏng như học trò, có người nói là nhờ quy lụy nên được làm quan, trò chuyện với ai cũng dè dặt e ngại, đang tuổi tráng niên đã chết, sĩ phu thương xót lắm. Đến khi nghe chuyện phụ bạc người vợ hồ, thì thấy đâu khác gì chàng họ Lý?

Phụ: Truyện Hoắc Tiểu Ngọc (Hoắc Tiểu Ngọc Truyện)


Trong niên hiệu Đại Lịch thời Đường (766-779) có Lý Ích thi đỗ Tiến sĩ, vẫn muốn tìm người xứng đôi vừa lứa. Có bà Bão thứ mười một ở Trường An làm mối, dẫn Lý tới nhà Hoắc Tiểu Ngọc. Ngọc vốn là con gái Hoắc vương gia, vương chết nên đổi sang họ Trịnh. Ngọc gặp Lý rất mừng rỡ yêu thương, thề không bỏ nhau. Lý về nhà thì mẹ đã dạm hỏi cho cô em bên ngoại họ Lư rồi, Tiểu Ngọc vì vậy uất ức thành bệnh. Lý làm đám hỏi xong, tìm nơi vắng để ở, không cho ai biết. Một hôm cùng bạn bè đi chơi chùa Sùng Kính, chợt gặp một người dáng vẻ ngang tàng vái chào nói “Ông có phải là chàng họ Lý thứ mười không? Tệ xá cách đây không xa, mời ông quá bộ ghé chơi một lần". Lý đi theo, tới chỗ nhà họ Trịnh muốn quay về, người kia xô cửa bước vào nhà nói "Lý Thập lang tới.". Ngọc nghe nói Lý tới, ngồi dậy nói "Chàng Lý ơi chàng Lý ơi, hôm nay vĩnh biệt nhau rồi, sau khi ta chết thế nào cũng làm quỷ dữ phá phách cho vợ con người không được ở yên", rồi tắt thở. Hơn tháng sau Lý cưới Lư thị, chợt nghe ngoài cửa có tiếng chắc lưỡi rất to, nhìn ra thì thấy một người đàn ông núp sau tấm rèm vẫy Lư thị rối rít. Hơn mười ngày sau, Lý đi chơi vừa về tới nhà, Lư thị đang đánh đàn, chợt ngoài cửa có một cái kẹp tóc bằng vàng buộc giải đồng tâm kết ném vào rơi đúng vào lòng Lư thị. Lý tức tối căn vặn, Lư thị không sao thanh minh được, Lý giận dữ đánh cho một trận, kiện ra quan bỏ vợ luôn.

342. Diêm Vương (Diêm Vương)


Lý Cửu Thường người huyện Lâm Câu (tỉnh Sơn Đông) mang bầu rượu đi ngoài đồng, thấy một cơn lốc ào ào cuốn tới, bèn kính cẩn rót rượu xuống đất mời. Sau có việc đi xa, thấy ven đường có một tòa phủ đệ rộng lớn, điện gác nguy nga tráng lệ, trong có một người hầu bước ra mời Lý vào. Lý từ chối, người hầu lại càng mời mọc ân cần, Lý nói "Chúng ta chưa gặp nhau lần nào, chắc anh lầm rồi". Người hầu nói không phải lầm, lại nói đúng cả tên họ Lý. Lý hỏi đây là nhà ai, người hầu đáp cứ vào thì sẽ biết. Vào trong đi ngang một cổng vòm, thấy một người đàn bà bị đóng đinh vào tay chân căng ra trên cánh cửa, Lý tới gần nhìn thì ra là chị dâu mình, vô cùng hoảng sợ. Lý có người chị dâu bị cái mụn nhọt lớn lở ra trên cánh tay, nằm bệnh hơn một năm chưa khỏi, vẫn nghĩ thầm không biết vì sao lại tới nỗi thế. Đến lúc ấy lại ngờ chị dâu làm điều ác, run sợ đi chậm lại, người hầu giục đi mau vào trong.
Tới trước điện, thấy trên có một người đội mão mặc áo như bậc vương giả, thần thái oai nghi mạnh mẽ. Lý quỳ rạp xuống không dám ngẩng đầu. Vương sai người đỡ dậy ôn tồn nói "Đừng sợ. Vì trước đây ta có quấy quả ông chén rượu nên muốn gặp một lần để cám ơn thôi không có chuyện gì đâu. Lý mới bắt đầu yên tâm, nhưng vẫn không biết lý do, Vương lại nói "Ngươi không nhớ chén rượu rót trên đồng sao?". Lý sực nghĩ ra, biết là thần, dập đầu nói “Vừa thấy người chị dâu chịu hình phạt nặng nề như vậy, vì tình cốt nhục nghĩ thấy đau lòng, xin đại vương thương xót tha cho!". Vương nói "Người này rất ghen tuông độc ác, chịu hình phạt như vậy là phải. Ba năm trước người thiếp của anh ngươi sinh nở, thị ngầm lấy kim đâm vào dạ con, người thiếp đến nay vẫn thường đau đớn, thử hỏi còn tính người không?". Lý cố khẩn cầu Vương nói "Thôi vì nể mặt ông nên ta tha cho, khi ông trở về nên khuyên thị bỏ thói ác cũ đi". Lý tạ ơn lui ra, đi ngang cổng vòm thì thấy trên cánh cửa không còn có người nữa.
Lý về nhà, tới thăm chị dâu, thấy đang nằm trên giường, máu mủ đầy chiếu, lúc ấy người thiếp vừa làm chuyện trái ý nên chị ta đang mắng chửi. Lý khuyên "Chị đừng nên thế nữa, hôm nay bị đau đớn bệnh tật đều là vì ngày thường tàn nhẫn đố kỵ mà ra đấy". Người chị dâu tức giận nói "Chú mà muốn làm đàn ông giỏi thì đã có thím nó ở nhà rất hiền lành, chồng muốn ngủ nhà nào ăn nhà nào cũng được không dám nói một tiếng, đủ cho chú nắm quyền làm chồng rồi, đừng thay cả anh chú mà trị gái già này?". Lý khẽ cười nói "Chị đừng nóng, ta mà nói thẳng ra thì sợ là có khóc lóc ăn năn cũng không kịp kia". Người chị dâu nói "Ta không ăn cắp một sợi chỉ nào của Tây Vương mẫu, cũng chưa từng chớp mắt trước bàn thờ Ngọc Hoàng, lòng dạ thanh thản, việc gì phải khóc lóc ăn năn chứ? ". Lý nói khẽ ‘Mũi kim đâm vào dạ con kia đáng tội gì?". Người chị dâu chợt biến sắc, hỏi tại sao nói thế. Lý kể lại mọi việc, người chị dâu run lẩy bẩy, nước mắt vòng quanh sợ sệt rên rỉ "Ta không dám thế nữa!". Còn đang kêu khóc thì chợt thấy hết đau. Từ đó trở đi chị ta bỏ nết cũ, sau được khen là hiền thực. Người thiếp về sau lại sinh nở, lúc dạ con lộ ra, vết kim hãy còn.
Dị Sử thị nói: Có kẻ nói trên đời không ít kẻ ghen tuông độc ác như người đàn bà nọ, chỉ hận là âm phủ để lọt lưới nhiều quá. Ta cho rằng không phải thế, vì cõi âm chưa chắc đã không có hình phạt nào nặng hơn việc đóng đinh lên cánh cửa, chẳng qua vì không có ai biết kể lại mà thôi.

0
«« « 4 5 6 7 8 » »»