📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

Liêu Trai Chí Dị (Bộ dịch đầy đủ gồm 500 truyện) - HẾT 🔒

219 trả lời, 85.934 lượt xem — Trang 8 / 8
225 Phòng Văn Thục (Phòng Văn Thục)

Đặng Thành Đức người phủ Khai Phong (tỉnh thành Hà Nam) du học tới Duyện Châu (tỉnh Sơn Đông), ngụ trong ngôi chùa nát, chép thuê cho người coi việc làm sổ sách hộ tịch ở đó. Cuối năm đám nha dịch đều về nhà, riêng Đặng ở lại nấu cơm ăn một mình trong chùa. Sáng tinh mơ có người thiếu phụ gõ cửa vào, nhan sắc tuyệt đẹp, tới trước bàn thờ Phật thắp hương quỳ lạy rồi ra, hôm sau cũng thế. Đến khuya Đặng trở dậy thắp đèn, đang làm việc thì nàng tới sớm hơn. Đặng hỏi "Sao tới sớm thế?" nàng đáp "Sáng ra thì đông người lộn xộn, chẳng bằng cứ tới sớm, nhưng sớm quá lại sợ quấy rầy giấc ngủ của chàng, vừa rồi nhìn thấy ánh đèn, biết chàng đã dậy nên mới tới thôi". Sinh đùa nói "Trong chùa không có người, tới ở luôn cho khỏi mất công đi lại". Nàng mỉm cười đáp "Trong chùa không có người, thì chàng là ma à?". Đặng thấy có thể tán tỉnh, bèn chờ nàng làm lễ xong kéo ngồi lại đòi giao hoan. Nàng nói "Trước bàn thờ Phật làm thế sao được? Đã không có nhà cửa gì mà còn mong muốn bậy bạ". Đặng nài nỉ mãi không thôi, nàng nói "Cách đây ba mươi dặm, trong làng nọ có sáu bảy đứa nhỏ mời thầy dạy học chưa được. Chàng hãy tới đó hỏi Lý Tiền Xuyên, có thể được nhận, rồi nói là có mang vợ đi cùng, bảo họ xếp cho một gian nhà riêng, thiếp sẽ lo cơm nước cho, như thế mới là kế lâu dài”. Đặng sợ việc lộ ra sẽ bị tội, nàng nói "Không sao đâu, thiếp họ Phòng tên Văn Thục, không có ai thân thuộc, quanh năm ở nhờ nhà ông cậu, ai mà biết được!”. Đặng mừng rỡ từ biệt nàng, tới ngay làng nọ yết kiến Lý Tiền Xuyên, quả nhiên như đã bàn tính, hẹn sẽ mang gia quyến tới trước Tết.
Trở về, sáng ra nói cho cô gái biết, nàng hẹn sẽ chờ dọc đường. Đặng từ biệt bè bạn, thuê ngựa đi, được nửa đường quả nhiên gặp cô gái đứng chờ, bèn xuống ngựa trao dây cương cho nàng dắt rồi cùng đi. Tới nơi dạy học chung sống với nhau rất tương đắc, suốt sáu bảy năm như vợ chồng mà cũng không có ai tìm bắt người đi trốn. Cô gái chợt sinh được một đứa con trai, Đặng vì vợ ở nhà không sinh đẻ nên có con mừng lắm, đặt tên là Duyện Sinh. Cô gái nói “Vợ chồng giả rốt lại cũng khó thành chuyện thật, thiếp đang định từ giã chàng đi, lại sinh ra của nợ này không biết để làm gì?" Đặng nói "Đang tính nếu may mắn để dành được ít tiền sẽ cùng nàng trốn về quê, sao lại nói thế?”. Nàng đáp "Cảm ơn! Cảm ơn! Ta không thể nhăn nhở mơn trớn lấy lòng để mong chị cả bao dung, mà làm vú em cho người, trẻ con oe oe khó chịu lắm". Đặng thanh minh rằng vợ mình không ghen, cô gái cũng không nói gì. Hơn một tháng sau, Đặng thôi dạy học, định đi buôn chung với con trai Tiền Xuyên, nói với cô gái "Ta nghĩ làm thầy mở lớp thì không bao giờ giàu được, nay học đi buôn ngõ hầu còn có ngày về được quê”, nàng cũng không đáp. Đến tối, bỗng nàng bế con dậy, Đặng hỏi làm gì, nàng đáp "Thiếp muốn đi". Đặng vội trở dậy đuổi theo hỏi han, nhưng cổng còn chưa mở mà cô gái đã biến mất, sợ quá mới biết nàng không phải là người. Đặng vì thấy lai lịch nàng đáng ngờ nên không dám kể cho ai, chỉ nói thác là vợ về thăm cha mẹ ruột.
Trước kia, lúc Đặng ra đi có hẹn với vợ là Lâu thị rằng cuối năm sẽ về, nhưng suốt mấy năm không có tin tức gì, người ta đồn là đã chết. Anh trai thấy không có con, muốn nàng lấy chồng khác, Lâu xin đợi ba năm nữa, hàng ngày chỉ lủi thủi ở một mình một nhà, kéo sợi sinh nhai. Một hôm trời vừa tối, nàng ra đóng cổng ngoài thì có một cô gái bước vào, bế theo một đứa bé còn quấn tã, nói “Ta từ nhà mẹ đẻ trở về, tới đây thì vừa tối, biết chị ở có một mình nên xin ngủ nhờ ". Lâu mời vào, tới trong phòng nhìn kỹ thì là một người đẹp khoảng hơn hai mươi tuổi, vui vẻ cho nằm chung giường. Nhân đùa giỡn với đứa nhỏ, thấy nó trắng như quả bầu, than rằng "Mụ góa ta lại không có được một đứa con thế này". Cô gái nói "Ta đang ngại vì nuôi nó phiền quá, nếu cho chị làm con nuôi để nối dõi thì chị thấy sao?” Lâu nói "Chưa nói tới chuyện nương tử không nỡ dứt tình, cho dù có nỡ thiếp cũng không có sữa, làm sao nuôi được?” Cô gái nói "Chuyện đó có gì khó, lúc sinh cháu, ta cũng lo không có sữa, chỉ uống nửa tễ thuốc là có ngay. Nay thuốc thừa vẫn còn đây, xin biếu cho chị”, rồi lấy gói thuốc ra đặt trước cửa sổ. Lâu thị ậm ừ, chưa thấy có gì khác lạ. Kế ngủ đi, khi tỉnh dậy gọi thì đứa nhỏ còn đó mà cô gái đã mở cửa đi rồi, vô cùng khiếp sợ. Rạng sáng đứa nhỏ khát sữa khóc đòi bú, Lâu bất đắc dĩ phải uống thuốc, giây lát sữa chảy ròng ròng bèn cho nó bú.
Hơn một năm, đứa nhỏ ngày càng bụ bẫm, bắt đầu học nói, nàng thương yêu chẳng khác gì con mình đẻ ra, vì vậy bỏ luôn ý định cải giá. Nhưng sáng ra đã phải bế con, không làm gì được nên ngày càng túng thiếu. Một hôm cô gái chợt tới, Lâu sợ đòi lại con, trước tiên trách ngay về việc lẳng lặng bỏ đi không nói, kế kể tới nỗi khó nhọc nuôi nấng đứa nhỏ. Cô gái cười nói "Chị kêu ca khó nhọc thì ta không đòi con lại sao?", rồi vẫy gọi con. Đứa nhỏ khóc sà vào lòng Lâu thị, cô gái nói “Con nghé con không nhận mẹ nó nữa rồi! Của này dẫu trăm lượng vàng cũng khó đổi được, cứ chồng tiền ra để làm giấy tờ". Lâu tưởng nói thật giận tím mặt, cô gái cười nói “Chị đừng sợ, thiếp tới chính vì con mà! Sau khi ra đi, lo chị không có tiền nuôi cháu, nên tìm đủ cách kiếm được hơn mười lượng vàng”, rồi lấy vàng ra đưa Lâu. Lâu sợ nhận vàng xong cô gái sẽ có cớ đòi con nên nhất quyết từ chối, cô gái bèn đặt vàng lên giường rồi ra cửa đi thẳng. Lâu bế con đuổi theo ra thì nàng đã đi xa, gọi cũng không ngoái lại, còn ngờ là có ý ác, nhưng được vàng đem cho vay lấy lời, trong nhà cũng no đủ.
Ba năm sau Đặng buôn bán có tiền sắm sữa hành trang trở về nhà. Đang cùng hỏi han an ủi nhau, thấy có đứa nhỏ hỏi con nhà ai, vợ kể lại duyên do. Đặng hỏi tên, Lâu đáp "Mẹ nó gọi là Duyện Sinh, thiếp cũng giữ nguyên như cũ. Đặng ngạc nhiên nói "Thế thì đúng là con ta đấy". Hỏi lại ngày giờ thì đúng đêm cô gái bế con đi. Đặng bèn kể lại hết chuyện hợp tan với Phòng Văn Thục, hai vợ chồng càng thêm vui mừng khuây khỏa, vẫn mong cô gái trở lại nhưng rốt cuộc vẫn biệt tăm.

226. Nhốt Rắn (Khoán Xà)


Trong núi ở huyện Tứ Thủy (tỉnh Sơn Đông) vốn có ngôi chùa, bốn bề không có thôn xóm, ít người lui tới, chỉ có đạo sĩ trú ngụ. Có người nói rằng trong núi có nhiều rắn lớn, nên những kẻ du ngoạn càng lánh xa. Có một thiếu niên vào núi bắt chim ưng, vào sâu quá không có chỗ nào ngủ đêm, nhìn thấy phía xa có chùa chiền bèn rảo bước tới gõ cửa. Đạo sĩ hoảng sợ nói "Sao cư sĩ lại tới đây? May mà không gặp phải đám trẻ”, rồi vội bảo ngồi, dọn cháo cho ăn. Thiếu niên ăn thưa xong thì có một con rắn lớn bò vào, to hơn mười ôm, ngóc đầu nhìn khách, mắt long lên giận dữ. Khách cả sợ, đạo sĩ đánh vào đầu rắn quát “Ra ngoài!", con rắn mới mọp đầu bò vào gian phòng phía đông, ngoằn ngoèo mãi một lúc mới lọt hẳn vào trong, nằm khoanh tròn chật cả phòng, khách cả sợ run lẩy bẩy. Đạo sĩ nói “Trước nay ta vẫn nuôi nó, nên nếu có ta thì không sao, chỉ sợ có ai một mình gặp nó mà thôi”. Khách vừa ngồi yên, lại có một con rắn khác bò vào, hơi nhỏ hơn con trước, to độ năm sáu ôm, thấy khách thì dừng lại, trợn mắt thè lưỡi giống như con trước. Đạo sĩ lại quát, nó cũng bò vào phòng. Trong phòng không còn chỗ nằm, nó vắt nửa thân lên khoanh vào xà nhà, đất trên vách tường cứ rơi đồm độp. Khách càng sợ hãi, cả đêm không dám ngủ, sáng ra dậy sớm xin về. Đạo sĩ đưa ra cổng chùa, thì thấy trên tường dưới thềm lúc nhúc những rắn to bằng cái vò cái chậu, thấy người lạ đều toan cắn. Khách sợ, cứ nép vào sát người đạo sĩ mà đi, đạo sĩ đưa khách tới cửa núi mới trở về.
Quê ta có mấy người làm khách ở Trung Châu (tỉnh Phúc Kiến), tới ngủ nhờ trong một ngôi chùa nhốt rắn. Sư trong chùa làm cơm tối mời, có món canh thịt rất ngon nhưng cứ tròn tròn từng khúc từng khúc như cổ gà. Khách lấy làm lạ, hỏi sư giết bao nhiêu gà mà có lắm cổ thế. Sư đáp "Đây là rắn chặt ra đấy!". Khách phát hoảng, có người ra ngoài nôn mửa. Đến lúc nằm ngủ, chợt thấy trên bụng có vật gì mềm mềm động đậy, sờ thử thì là rắn, sợ hãi vùng dậy la ầm lên. Sư tỉnh dậy nói "Đó là chuyện thường, có gì lạ đâu mà!". Nhân đánh lửa soi lên vách cho xem, thì rắn lớn rắn nhỏ đầy trên tường, trên giường dưới sàn cũng toàn là rắn. Hôm sau sư dẫn khách vào điện Phật, dưới tòa Phật có cái giếng lớn, trong có con rắn to như cái chum lớn nghểnh đầu lên miệng giếng nhưng không bò lên. Soi đuốc xuống nhìn thì bên dưới lúc nhúc rắn con rắn cháu, tính ra có tới hàng trăm vạn con, cả một bầy bên dưới. Sư nói "Trước đây rắn lên khỏi giếng gây hại dữ lắm, từ khi xây tòa Phật bên trên để trấn yểm thì mới yên ổn".

0
Quyển XIII

234. Trộm Đào (Thâu Đào)

Lúc còn nhỏ có lần ta lên tỉnh chơi đúng vào dịp tiết Lập xuân. Theo lệ cũ thì trước đó một hôm, các nhà buôn bán trên phố đều kết kiệu hoa trỗi đàn sáo đưa đám rước tới tỉnh đường, gọi là "diễn xuân". Ta cùng bạn bè kéo nhau đi xem, hôm ấy người đông nghẹt, trên sảnh đường có bốn ông quan mặc áo đỏ ngồi đối diện nhau theo hướng đông tây. Lúc ấy ta còn là trẻ con, chẳng biết là những quan gì, chỉ nghe tiếng cười nói ồn ào, trống chiêng ầm ĩ. Chợt có một người dắt đứa trẻ con xỏa tóc, vác hòm lên thềm, như muốn thưa bẩm. Đang khi ồn ào ầm ĩ, cũng chẳng nghe là thưa gởi những gì, chỉ thấy trên thềm cười rộ. Kế có người lính hầu bước ra lớn tiếng sai diễn trò, người ấy vâng lệnh bắt đầu, hỏi diễn trò gì. Các quan nói với nhau vài câu, rồi người lính hầu lớn tiếng hỏi giỏi trò gì, người ấy đáp giỏi trò đánh tráo vật sống. Người lính hầu vào bẩm quan một lúc, lại trở ra sai diễn trò hái đào. Người diễn trò vâng dạ, cởi áo phủ lên cái hòm, làm ra bộ oán thán nói "Bậc quan trưởng thật chẳng nghĩ cho, băng chưa tan trời còn lạnh, lấy đâu ra đào? Không hái thì sợ quan giận, làm thế nào được?". Đứa con nói "Cha đã hứa, sao lại chối từ”. Người diễn trò ngẫm nghĩ hồi lâu rồi nói "Ta nghĩ kỹ rồi, đầu mùa xuân tuyết chưa tan, tìm đâu ra đào ở cõi trần. Chỉ vườn của Tây Vương mẫu bốn mùa cây cỏ đều xanh tươi, may ra thì có, phải lên trời ăn trộm thôi”. Đứa con nói "Ô, trời mà lên được à?”, đáp "Có cách đây". Bèn mở hòm lấy ra một cuộn dây dài vài mươi trượng thắt thòng lọng một đầu rồi ném lên không, sợi dây lơ lửng trên không rủ xuống như mắc vào vật gì vậy.
Không bao lâu càng ném càng cao, sợi dây cứ vào dần trong mây ra, khi cuộn dây trong tay đã hết bèn gọi đứa con nói “Con ơi lại đây! Cha già yếu, nặng nề lóng ngóng không leo được, ngươi đi một chuyến!", rồi đưa đầu sợi dây cho đứa con nói "Cứ bám vào mà leo lên". Thằng con cầm dây ra vẻ khó khăn, oán trách “Ông già thật là lẩm cẩm, một sợi dây thế này mà bảo ta bám vào leo lên trời cao muôn trượng, giả như nửa chừng dây đứt, còn gì là xương ta?". Người cha lại thúc ép, nói "Cha đã lỡ miệng hứa rồi, hối cũng không kịp. Con ráng đi một chuyến, đừng ngại khó nhọc, nếu ăn trộm được đào, ắt sẽ được thưởng hàng trăm đồng tiền vàng, cha sẽ cưới cho một con vợ đẹp". Đứa con bèn nắm sợi dây leo lên, tay kéo chân quặp, như con nhện leo tơ, dần dần vào trong mây không thấy đâu nữa. Hồi lâu có một trái đào to bằng cái bát rơi xuống, người diễn trò mừng rỡ nhặt lấy đem dâng lên, các quan trên sảnh đường chuyền tay nhau xem hồi lâu, cũng không biết là giả hay thật. Chợt sợi dây rơi xuống đất, người diễn trò hoảng sợ nói "Chết rồi! Trên trời có người cắt sợi dây của ta, thằng nhỏ biết bám vào đâu?". Giây lát có một vật rơi xuống, nhìn ra là cái đầu của đứa con, người diễn trò ôm lên khóc nói "Đây ắt là nó trộm đào bị người canh bắt được, con ta thế là chết rồi!". Giây lát lại một cái chân rơi xuống không thiếu chút gì. Người diễn trò hết sức bi thương, nhặt tất cả cho vào cái hòm đậy lại, nói "Già này chỉ có một đứa con hàng ngày cùng nhau lên bắc xuống nam, nay vâng nghiêm lệnh, không ngờ chuốc phải tai họa thảm lạ đến như thế, phải mang đi chôn thôi". Rồi lên sảnh đường quỳ xuống nói "Vì chuyện hái đào mà con ta chết rồi? Nếu các quan thương giúp tiền tho tiểu nhân chôn cất nó, sẽ xin kết cỏ ngậm vành để đền ơn". Mọi người ngồi xem kinh sợ, ai cũng cho tiền. Người diễn trò nhận lấy giắt vào lưng, rồi gõ vào cái hòm kêu "Bát Bát ơi, còn chờ gì mà không ra cám ơn?". Chợt một đứa trẻ tóc tai bù xù đầu đội nắp hòm chui ra khom người cúi đầu bái tạ, thì ra là đứa con. Ta lấy làm lạ về thuật ấy nên đến nay vẫn còn nhớ. Về sau nghe nói Bạch Liên giáo có thể làm được thuật ấy, có lẽ ngườỉ diễn trò là dòng dõi của họ chăng?

235. Thuật Mồm (Khẩu Kỹ)

Một cô gái tới làng, tuổi chừng hai mươi bốn, hai mươi lăm, khoác một túi thuốc đi bán. Có người hỏi xin chữa bệnh, cô gái không biết kê đơn, bảo đến tối hỏi thần, rồi chiều tối dọn dẹp sạch sẽ một gian phòng nhỏ, vào trong đóng chặt cửa lại. Mọi người xúm xít quanh cửa sổ lắng tai nghe ngóng, chỉ thì thào nóỉ chuyện, không dám ho hắng.
Đến giữa canh một, chợt nghe thấy tiếng rèm lay động, cô gái bên trong nói "Cô Chín tới phải không?” một cô gái đáp tới rồi. Lại hỏi "Lạp Mai theo cô Chín tới đấy à?", như có một tỳ nữ đáp vâng ạ. Ba người ríu rít trò chuyện không ngớt. Giây lát lại có tiếng rèm cửa lay động, cô gái nói “Cô Sáu tới rồi", mọi người cùng nói "Xuân Mai cũng bế tiểu lang theo đấy à", có tiếng một cô gái đáp "Tiểu ca kêu khóc không chịu ngủ, nhất định đòi đi theo nương tử, nặng như cả trăm cân, cõng mệt gần chết". Rồi nghe tiếng cô gái nựng nịu, tiếng cô Chín hỏi thăm, tiếng cô Sáu chuyện trò, tiếng hai người tỳ nữ dỗ dành, tiếng trẻ con cười giỡn, rộ lên một hồi. Kế lại nghe cô gái cười nói "Cậu ấm cũng nghịch ngợm quá, xa xôi như thế mà ôm cả con mèo theo". Rồi tiếng nói ngớt dần, lại có tiếng rèm cửa lay động, tất cả lại ồn ào nói "Cô Tư sao tới chậm thế?”, có tiếng một cô gái nhỏ lí nhí "Đường xa hàng ngàn dặm, đi với cô mãi mới tới được, cô đi lại chậm". Rồi mọi người lại thăm hỏi nhau, tiếng kéo ghế, tiếng gọi lấy thêm ghế, cứ nhộn nhạo cả lên ầm ĩ trong phòng, hồi lâu mới ngớt. Kế nghe tiếng cô gái hỏi thuốc, cô Chín cho là nên có sâm, cô Sáu cho là phải có kỳ, cô Tư bảo là cần có truật, bàn bạc một lúc lại nghe cô Chín gọi đem bút nghiên ra. Không bao lâu có tiếng xé giấy soàn soạt, tiếng đặt bút lách cách, tiếng mài mực rin rít, kế đó là tiếng ném bút kéo bàn vang vang, rồi nghe tiếng lấy thuốc trong bao sột soạt. Lát sau cô gái kéo rèm, gọi người bệnh, lấy thuốc nhận đơn rồi quay trở vào.
Lập tức nghe tiếng ba cô gái chào về, tiếng ba thị tỳ chào về tiếng trẻ con bi bô, tiếng mèo ngoao ngoao lại rộ lên cùng một lúc. Tiếng cô Chín trong mà cao, tiếng cô Sáu chậm mà trầm, tiếng cô Tư dịu mà ấm, cho đến tiếng của ba tỳ nữ đều có âm sắc riêng, nghe có thể phân biệt rõ ràng được. Mọi người tin là thần cho thuốc thật, nhưng uống thử thì không khỏi bệnh. Đó gọi là thuật mồm, dùng nó để bán thuốc mà thôi, nhưng cũng kỳ lạ thật!
Vương Tâm Dật kể lúc ở kinh đô ngẫu nhiên đi ngang chợ nghe tiếng ca hát đánh đàn, người xem đông nghẹt. Tới gần nhìn thì thấy một thiếu niên cao giọng ca hát, chỉ lấy một ngón tay đè vào má, vừa đương vừa hát, tiếng nghe vang vang, không khác gì tiếng đàn, cũng là dòng dõi của người biết thuật mồm.

236. Vương Lan (Vương Lan)

Vương Lan người huyện Lợi Tân (tỉnh Sơn Đông) bị bạo bệnh chết. Diêm Vương xét lại thì là quỷ tốt bắt lầm, bèn trách phạt bắt đưa hồn Vương về nhập vào xác lại, thì xác đã nát. Quỷ sợ tội, nói với Vương "Người mà chết làm ma thì khổ, ma mà được thành tiên thì sướng, nếu được sướng thì cần gì phải sống lại làm người?". Vương cho là đúng, quỷ nói "Ở đây có một con hồ đã luyện được kim đan, trộm lấy mà nuốt thì hồn không tan, có thể sống mãi, muốn đi đâu làm gì đều được như ý, ông có chịu không?". Vương nghe theo, quỷ bèn dắt đi, tới một phủ đệ lớn, thấy lầu gác nguy nga nhưng vắng vẻ không có một người nào. Có con hồ đứng dưới trăng, ngửa đầu nhìn lên không, thở ra một hơi, trong miệng có vật tròn bay thẳng vào mặt trăng, hít vào một hơi, vật ấy rơi xuống lại há miệng ngậm lấy, rồi lại thở ra, cứ thế làm mãi. Quỷ bèn rón rén tới bên cạnh, chờ lúc hồ thở phun vật ấy ra vội cướp lấy đưa cho Vương nuốt. Hồ giật mình, nổi giận xông tới nhưng thấy họ có hai người, sợ chống không nổi đành căm hờn bỏ đi. Vương chia tay với quỷ, về tới nhà thì vợ con nhìn thấy đều hoảng sợ chạy tan. Vương kể lại mọi chuyện, vợ con dần dần yên tâm, từ đó lại ăn ở trong nhà như lúc trước.
Bạn là Trương sinh nghe chuyện tới thăm, gặp nhau cùng trò chuyện. Vương nói “Nhà ta và anh đều nghèo, nay có thuật có thể làm giàu được, anh cùng đi với ta được không?”. Trương vâng dạ, Vương lại nói "Ta có thể không cần thuốc vẫn chữa được bệnh, không cần bói vẫn đoán được mệnh, nhưng nếu ta ra mặt lỡ gặp người quen thì họ hoảng sợ, nên cứ ngầm theo anh thôi được không?”. Trương lại vâng dạ, rồi đó sắp xếp hành trang ngay hôm ấy lên đường. Tới địa giới tỉnh Sơn Tây, có người nhà giàu nọ có con gái đột nhiên bị hôn mê, thuốc thang cầu đảo hết cách vẫn không khỏi. Trương bèn tìm tới, tự xưng là chữa được. Phú ông chỉ có một người con gái ấy, nên rất thương yêu, hứa rằng nếu chữa được sẽ đền ơn ngàn đồng vàng. Trương xin vào xem, theo phú ông vào phòng, thấy cô gái nhắm mắt nằm yên, giở chăn lên vỗ vào người vẫn không hay biết gì.
Vương ngầm nói với Trương rằng "Hồn cô này lạc mất rồi, phải đi tìm mới được". Trương bèn nói với phú ông rằng bệnh tuy nguy nhưng vẫn có thể cứu được. Phú ông hỏi cần thuốc gì, Trương đáp rằng đều không cần, hồn con gái ông đi lạc rồi, đã sai thần đi tìm. Khoảng sau một giờ Vương chợt trở lại nói với Trương là đã tìm được. Trương bèn mời ông vào lại trong phòng xem, lại gọi cô gái, giây lát cô ta ngồi dậy, mở mắt nhìn. Phú ông cả mừng vỗ về hỏi han, cô gái nói "Con đang chơi trong vườn thì thấy một thiếu niên cầm cung bắn chim, có mấy người dắt ngựa theo hầu. Con đang muốn chạy thì họ cản đường, chàng thiếu niên ấy đưa cung cho con, bảo con bắn. Con xấu hổ từ chối, y bèn kéo con lên ngựa, thúc ngựa chạy rồi cười nói ‘Ta đang muốn vui vẻ với cô, đừng có xấu hổ’. Được vài dặm thì vào trong núi, con vừa la vừa chửi, y nổi giận xô con ngã xuống cạnh đường. Đang muốn về nhưng không biết đường, chợt thấy có một người tới nắm tay con kéo đi như bay, chớp mắt đã về tới nhà, chợt tỉnh dậy đây".
Phú ông cho là thần kỳ, quả tạ ơn Trương một ngàn đồng vàng. Đêm tới Vương bàn với Trương giữ lại hai trăm để ăn đường, còn bao nhiêu mang cả về nhà, gõ cửa đưa cho con, bảo đem ba trăm đồng qua đưa cho vợ Trương, rồi trở lại nhà phú ông. Hôm sau cáo từ, phú ông không thấy Trương cầm tiền bạc gì cả, càng lấy làm lạ, kính cẩn đưa tiễn. Vài hôm sau, Trương gặp người cùng làng là Hạ Tài trên đường. Tài ham uống rượu đánh bài không lo làm ăn nên nghèo mạt, nghe Trương học được phép lạ kiếm được rất nhiều tiền nên đi tìm. Vương khuyên Trương cho y chút ít tiền bảo vệ. Tài không bỏ nết cũ, chơi bời được chục hôm hết sạch tiền, lại đi tìm Trương.
Vương đã biết trước, nói "Tài là kẻ bừa bãi, không nên gần gũi, chỉ nên cho tiền bảo đi đi, nếu có tai họa cũng không nguy hiểm". Vài hôm quả nhiên Tài tới, năn nỉ xin đi theo, Trương nói "Ta đã biết ngươi sẽ tìm tới nữa, nhưng ngươi chỉ lo cờ bạc rượu chè, dẫu đưa ngàn đồng vàng cũng như bỏ vào cái túi không đáy. Nếu ngươi thật tâm bỏ thói xấu, thì ta tặng cho một trăm đồng vàng". Tài hứa hẹn thề thốt, Trương bèn dốc hết tiền bạc ra đưa cho. Tài trở về, trong túi có trăm đồng vàng, đánh bạc càng lớn, uống rượu chơi gái lu bù, coi tiền như rác. Chức dịch trong làng nghi ngờ bắt giải lên quan, khảo tra rất nặng. Tài khai rõ tiền bạc ở đâu mà có, quan bèn sai lính giải đi tìm Trương, được vài ngày bị thương nặng chết dọc đường.
Hồn Tài không quên Trương lại tìm tới nương tựa, nhân đó gặp Vương. Một hôm cùng uống rượu với nhau. Tài say quá la ầm lên, Vương ngăn lại không nghe. Gặp lúc quan Ngự sử tuần sát đi ngang, nghe tiếng la sai tìm bắt được Trương, Trương nói rõ sự thật. Quan Ngự sử tức giận phạt roi, rồi đốt điệp sớ cáo với thần. Đến đêm nằm mộng thấy một người mặc giáp vàng tới nơi "Đã xét Vương Lan vô tội mà chết đã thành quỷ tiên, làm việc chữa bệnh cũng là sự nhân đức, không thể coi là loại yêu tà quỷ mị. Nay vâng mệnh Thượng đế, đã trao cho y chức Thanh đạo sứ. Hạ Tài càn quấy bừa bãi, đã phạt giam vào núi Thiết Vi. Họ Trương không có tội gì, nên tha y ra". Quan Ngự sử tỉnh dậy lấy làm lạ, bèn tha cho Trương. Trương khoác gói về làng, trong túi còn mấy trăm đồng vàng, bèn đưa một nửa tới nhà Vương, con cháu Vương từ đó trở nên giàu có.

0
253. Con Hồ Ở Duy Thủy (Duy Thủy Hồ)

Họ Lý ở huyện Duy (tỉnh Sơn Đông) có tòa nhà không ở, chợt có một ông già tới thuê, xin trả năm mươi đồng vàng một năm. Lý ưng thuận, nhưng ông già đi luôn không thấy trở lại. Lý bảo người nhà cho người khác thuê, thì hôm sau ông già tới nói "Ta đã hỏi thuê rồi, sao lại định cho người khác thuê nữa?". Lý nói thật là ngờ ông không thuê, ông già nói "Ta định ở đây lâu, nên mới thong thả để chọn ngày tốt, sau mười ngày nữa mới dọn tới". Rồi trả trước tiền thuê một năm cho Lý, lại nói “Nếu trọn năm vẫn bỏ không, xin cũng chớ lạ". Lý đưa ra cửa, hỏi rõ ngày dọn tới, ông già chào ra về. Quá kỳ hẹn mấy hôm vẫn không thấy đâu, Lý tới xem thì thấy hai cánh cổng cài chặt nhưng bên trong có khói nấu cơm bốc lên và tiếng người ồn ào.
Lý ngạc nhiên gõ cửa vào thăm, ông già vội ra đón, cười nói rất thân mật. Lý ra về, sai người mang thức ăn qua biếu, ông già đáp lễ rất hậu. Vài hôm sau Lý mở tiệc mời, ông già qua trò chuyện rất vui vẻ. Lý hỏi quê quán, đáp là ở Tần Trung (vùng Thiểm Tây). Lý ngạc nhiên vì xa quá, ông già nói "Quý hương đây là đất phúc, chứ Tần Trung không thể ở lâu dài được, vì sắp có nạn lớn". Lúc ấy đang thời thanh bình, nên Lý nghe thế cũng bỏ qua không hỏi thêm. Mấy ngày sau ông già gởi thiếp mời Lý sang để đáp lễ với chủ nhân, căng màn ngồi trong trướng ăn uống, vật dùng đều sang trọng xa xỉ, Lý càng ngờ là bậc quý quan. Ông già thấy đã thân tình, tự xưng là hồ, Lý sợ hãi không dám qua lại nữa, đi trên đường trông thấy là tránh mặt.
Thân hào trong huyện nghe chuyện lạ, ngày nào cũng ruỗi xe giong ngựa tới cửa xin ra mắt làm quen, ông già cũng không từ chối một ai, dần dần quan lại có khi cũng ghé chơi. Riêng có quan huyện muốn tới chơi, ông già lại kiếm cớ từ chối. Quan huyện nhờ Lý tới nói để ông già nể mặt chủ nhà, ông cũng từ chối. Lý hỏi tại sao, ông dời ghế tới gần ghé tai nói nhỏ “Là ông không biết, chứ kiếp trước y là con lừa, nay tuy nghiễm nhiên cai trị dân, nhưng uống nước vo gạo cũng say*. Ta tuy vốn khác loài nhưng lấy làm thẹn bị xếp ngang hàng với y". Lý bèn tìm lời nói thác rằng hồ sợ quan huyện là bậc thần minh nên không dám gặp mặt, quan huyện tưởng thật bèn thôi. Lúc ấy là năm Khang Hy thứ 11 (1672). Không bao lâu đất Tần quả có nạn binh lửa, mới tin rằng hồ có tài tiên tri.
*Uống nước vo gạo cũng say: Ý nói chỉ cần được nhiều tiền thì không uống rượu cũng say, đây chỉ quan huyện tham lam, thích ăn hối lộ.
Dị Sử thị nói: Lừa là giống vật to lớn, tức giận thì đá mạnh hí vang, mắt lồi như cái chén, thở phì phì như trâu, không những tiếng hí khó nghe mà hình dáng cũng khó coi. Nhưng nếu cầm bó cỏ tới dụ, thì cụp tai nghểnh đầu, vui vẻ chịu đóng yên cương. Loại ấy mà cho cai trị dân thì đúng là uống nước vo gạo cũng say thật. Mong nhữug kẻ coi việc dân lấy con lừa làm răn mà biết thứ tự trên dưới như con hồ, thì đức sẽ tiến vậy.

254. Ông Mỗ Ở Thiểm Hữu (Thiểm Hữu Mỗ Công)

Mỗ công ở Thiểm Hữu (tức Thiểm Tây), thi đỗ Tiến sĩ năm Tân sửu, nhớ được chuyện kiếp trước. Thường kể rằng kiếp trước ông là học trò, đến tuổi trung niên thì chết, sau khi chết xuống nơi Diêm Vương xét xử, thì thấy đủ cả vạc dầu núi kiếm đúng như lời truyền ngôn ở nhân gian. Phía góc đông điện có đặt mấy cái giá treo da dê, chó, trâu. Viên lại gọi tên ai bị phạt làm ngựa làm heo thì đều bị lột hết quần áo ra, lấy bộ da trên giá chụp vào. Tới lượt ông, nghe Diêm Vương phán "Nên phạt làm dê", quỷ sứ bèn rút một bộ da dê trắng tới chụp vào người ông. Viên lại bẩm ông đã từng cứu một người thoát chết, Diêm Vương xem lại sổ, nói "Vậy thì tha cho y, tuy làm nhiều việc ác, nhưng việc thiện ấy đủ chuộc tội rồi". Quỷ sứ tới cởi bộ da dê ra, nhưng đã dính chặt vào người ông không gỡ ra được nữa. Hai con quỷ bèn tỳ tay xuống ngực ông lấy hết sức giật mạnh, đau đớn không bút nào tả xiết. Bộ da dê bị xé rách thành từng mảnh nhưng không lột sạch được, khi đã gỡ ra rồi trên vai vẫn còn một mảnh dính chặt, to bằng bàn tay. Khi ông sinh ra, trên lưng có một đám lông dê, cắt đi lại mọc.

255. Viên Lại Coi Văn Thư (Tư Trát Lại)

Du kích (một chức quan võ) Mỗ có nhiều thê thiếp, rất thích kiêng tên của họ. Như nói Niên là Tuế, Sinh là Ngạnh, Mã là Đại lư. Lại kiêng kỵ, bắt nói Bại là Thắng, An là Phóng. Thư từ công văn gởi đi các nơi vì vậy rất phiền nhiễu, nhưng người nhà nói tới là nổi giận. Một hôm viên lại coi văn thư bẩm việc, lỡ miệng phạm húy, Mỗ cả giận vớ cái nghiên đánh, viên lại chết ngay tại chỗ. Ba ngày sau Mỗ say rượu nằm nghỉ, thấy viên lại cầm tấm thiếp đi vào, hỏi có chuyện gì, viên lại đáp "Mã Tử An tới thăm" (Mã Tử An lai bái). Mỗ chợt biết là ma, vội vùng dậy tuốt đao vung lên, viên lại cười khẽ ném tấm thiếp xuống bàn rồi biến mất. Mỗ cầm tấm thiếp xem, thấy viết "Sui gia là con lừa lớn bướng bỉnh đánh rắm" (Tuế gia quyến ngạnh đại lư tử phóng thắng)*. Hung dữ giết người như thế, để tới nỗi bị ma quỷ mỉa mai, thật là đáng cười.
*Tuế gia quyến ngạnh đại lư tử phóng thắng: tức "Niên gia quyến sinh Mã Tử An bái" (Họ hàng bên vợ là Mã Tử An tới thăm). Tục lệ Trung Quốc xưa, người của hai nhà kết thông gia với nhau, ngang hàng thì gọi nhau là quyến đệ, với người bậc trên tự xưng là vãn sinh, với người bậc dưới tự xưng là quyến sinh. Theo văn cảnh thì Mã Tử An ở đây là hàng chú bác của vợ Mỗ tới thăm, nhưng viết danh thiếp theo lối kiêng húy của Mỗ nên thành ra một câu như vậy (chữ “bái" gần âm với chữ "bại", đổi thành chữ “thắng" gần âm với chữ "thí" “phóng thí" là đánh rắm).
Ở núi Ngưu Thủ có một nhà sư, lấy tên là Thiết Hán (Người đàn ông sắt), lại lấy tên là Thiết Thỉ (Cứt sắt), có bốn mươi bài thơ, ai đọc thấy cũng khâm phục. Tự khắc hai dấu ấn, một đề “Hỗn trướng hàng tử” (Vô lại khốn nạn), một đề "Lão thực phát bì" (Thành thật mặt dày). Tú tài Vương Tư Trực in thơ ấy, lấy tên là "Ngưu Sơn tứ thập thí” (Bốn mươi cái rắm Ngưu Sơn), hàng lạc khoản đề “Hỗn trướng hàng tử, Lão thực phát bì. Phóng bất tất độc kỳ thi, Tiêu danh dĩ túc giải ky" (Vô lại khốn nạn, Thành thật mặt dày. Thơ rắm không cần phải đọc, Nêu tên đã đủ để cười).

256. Học Quan (Tư Huấn)

Huấn đạo Mỗ điếc đặc, nhưng chơi thân với một con hồ, nhờ hồ ghé sát tai nói nên cũng nghe được. Mỗi lần yết kiến quan trên, đều có hồ ngầm theo giúp nên không ai biết Mỗ điếc. Được năm sáu năm, hồ từ biệt, dặn “Ông như con rối, không có người giật dây thì ngũ quan đều bỏ xó, để tới nỗi vì điếc mà chịu tội, chẳng bằng sớm từ chức cho có vẻ cao thượng. Mỗ tiếc bổng lộc không chịu nghe lời ấy, mấy lần cứ hỏi gà lại đáp vịt, quan Đốc học muốn cách chức, Mỗ lại xin quan huyện năn nỉ giùm. Một ngày nọ chấm thi, xướng danh xong Đốc học trở về, cùng các học quan ăn tiệc. Các học quan đều giắt sổ sách trong ống giày, đưa lên trình báo. Kế Đốc học cười hỏi sao riêng quý học quan không có gì trình báo vậy. Mỗ hoang mang không biết gì, người ngồi cạnh lấy khuỷu tay huých, lại lấy tay thò vào ống giày ra hiệu. Mỗ vì có người họ hàng gởi mua dương vật giả để dùng vào việc trong phòng, nên giấu trong ống giày, lúc ấy cũng mang theo. Thấy Đốc học tươi cười, tưởng là đòi vật ấy, bèn lấy ra đứng dậy kính cẩn thưa "Chỉ có tám tiền một cái là cùng, nên hạ quan không dám dâng lên". Cả tiệc cười ầm, Đốc học quát đuổi ra, kế cách chức Mỗ.
Dị Sử thị nói: Chốn đất bằng cũng cần có cột đá để ngăn sóng, quan Đốc học đòi trình báo nên mới dâng lên, vì thế mà bị cách chức, kể cũng oan thật.
Nhĩ lục của ông Chu Tử Thanh chép Cống sinh họ Trì ở huyện Đông Lai (tỉnh Sơn Đông) làm Huấn đạo ở huyện Nghi Thủy (tỉnh Sơn Đông), tính tình ngây ngốc. Thường khi họp mặt với mọi người thì im lặng không nói gì nhưng ngồi được một lúc lại khua chân múa tay, vừa khóc vừa cười, coi như chung quanh không có ai, nếu nghe có tiếng người cười thì lại thôi. Ăn tiêu rất bỏn xẻn, tích cóp được hơn trăm lượng vàng, ngầm chôn trong phòng đọc sách, ngay cả vợ con cũng không cho biết. Một hôm ngồi một mình, nhịn không được múa may tay chân, lúc sau nói “Làm điều ác, gây thù oán, ăn đói mặc rét, dành dụm được bấy nhiêu đâu phải dễ, nay giấu ở phòng đọc sách, nếu có người biết được thì làm sao?”. Cứ thế nói mấy lần, có một viên thư lại bên cạnh mà không biết. Hôm sau Trì đi vắng, viên thư lại lẻn vào đào lên lấy hết. Hai ba hôm sau, Trì không yên tâm, đào lên xem thì không còn gì, giẫm chân vỗ ngực, đau đớn tưởng chết. Người trong đám học quan cũng thật là nhiều màu nhiều vẻ vậy.


257. Họ Đoàn (Đoàn Thị)


Đoàn Thụy Hoàn là nhà giàu ở huyện Đại Danh (tỉnh Hà Bắc). Bốn mươi tuổi vẫn không có con, nhưng vợ là Liên thị cả ghen nên muốn mua thiếp mà không dám. Đoàn tư thông với một tỳ nữ, Liên thị biết được, đánh người ấy mấy trăm roi, đem bán cho nhà họ Loan ở Hà Gian. Đám cháu trong họ sớm tối xin ăn thừa tự, Đoàn không trả lời, chúng đều có vẻ tức giận, muốn cho một đứa ăn thừa tự thì cả bọn ngăn trở. Liên thị hung dữ cũng không làm được gì, mới hối hận uất ức nói "ông nay hơn sáu mươi tuổi, chẳng lẽ không sinh được con trai à?". Bèn mua cho chồng hai người thiếp, nghe Đoàn vào phòng họ ngủ cũng không hỏi tới. Được hơn năm, hai người thiếp đều có mang, cả nhà đều mừng rỡ. Từ đó Liên thị mới hơi yên lòng, phàm đám cháu có ai nài nỉ xin ăn thừa tự, lập tức lớn tiếng chửi mắng. Không bao lâu, một người thiếp sinh con gái, một người thiếp sinh con trai nhưng đứa nhỏ vừa lọt lòng đã chết ngay. Vợ chồng thất vọng, chỉ còn trông chờ vào tương lai mà thôi.
Hơn năm sau, Đoàn bị trúng phong nằm liệt giường, đám cháu càng mặc sức hoành hành, trâu ngựa vật dùng trong nhà cứ tự tiện tới tranh nhau mang đi. Liên thị ra chửi mắng thì chúng hỏi vặn lại, muốn tính toán thì không sao tính toán được, sớm chiều khóc lóc. Đoàn vì thế bệnh càng nặng, kế chết. Đám cháu tới họp ngay trước quan tài bàn việc chia gia sản. Liên thị tuy đau đớn nhưng không thể ngăn cấm được, muốn giữ lại một mảnh ruộng tốt để già trẻ sinh sống, mà họ cũng không chịu. Liên thị nói "Các ngươi không muốn để lại chút gì, định cho mụ già này và đứa nhỏ kia chết đói phải không?". Tranh cãi suốt ngày không xong, Liên thị chỉ phẩn uất đấm ngực kêu khóc. Chợt có người khách tới điếu tang, vào thẳng chỗ quan tài khóc lóc rất thảm thiết, rồi xé khăn tang buộc lên đầu, mọi người đều không biết là ai. Hỏi thì khách đáp “Người chết là cha ta đấy" mọi người càng hoảng sợ, khách mới thong thả nói rõ.
Trước đây người tỳ nữ mà Liên thị bán về làm thiếp họ Loan được năm sáu tháng thì sinh ra Hoài. Loan coi như con mình, đến năm mười tám tuổi cho vào học ở nhà phán. Sau Loan chết, các con trai chia gia tài, không chia đều cho Hoài. Hoài về hỏi mẹ mới biết nguyên do, nói "Đã là họ khác, thì ai có dòng giống kẻ ấy, cần gì ở đây nhận trăm mẫu ruộng của người?”. Bèn trở về nhà Đoàn, lúc ấy Đoàn đã chết, kể lại mọi chuyện đều có chứng cứ rõ ràng. Liên thị vừa uất ngã bệnh, nghe thế mừng rỡ, đi thẳng ra nói với đám cháu bên chồng "Ta nay lại có con rồi những trâu ngựa vật dùng các ngươi đã lấy đi mau đem trả lại nếu không ta sẽ kiện đấy". Đám cháu Đoàn tái mặt nhìn nhau, im lặng giải tán. Hoài bèn đưa mẹ ruột về ở với Liên thị, cùng chịu tang cha. Đám cháu Đoàn bất bình, bàn nhau đuổi Hoài đi, Hoài biết được nói "Họ Loan không coi ta là họ Loan, họ Đoàn lại không coi ta là họ Đoàn, vậy ta là con ai?". Phẫn uất muốn kiện lên quan, họ hàng xúm lại can ngăn, đám cháu Đoàn mới thôi.
Nhưng Liên thị vì việc bọn kia bắt trâu ngựa không chịu thôi, Hoài can ngăn, Liên thị nói "Không phải ta tiếc trâu ngựa, mà là tức giận trong lòng. Cha người vì uất ức mà chết, sở dĩ ta nén khóc nuốt lệ là vì không có con trai. Nay đã có con, còn sợ gì nữa? Chuyện trước ngươi không biết đâu, chờ ta kiện sẽ biết". Hoài ra sức can ngăn, Liên thị không nghe, đưa đơn kiện lên huyện, quan huyện bắt đám cháu Đoàn lên hỏi cung, Liên thị căm tức đứng bên cạnh tố cáo rành rọt. Quan huyện tức giận, trừng trị đám cháu Đoàn, tịch thu trâu ngựa vật dùng trả lại. Liên thị về, gọi những đứa cháu chồng trước đó không đòi chia gia tài tới, đem những trâu ngựa vật dùng đòi lại được chia hết cho họ. Liên thị sống hơn bảy mươi tuổi, lúc sắp chết, gọi con gái con dâu và cháu gái tới dặn "Các ngươi nhớ lấy, nếu đã ba mươi tuổi mà chưa sinh nở thì nên cầm bán hết vòng vàng cưới thiếp cho chồng, chứ không có con trai khổ lắm"
 Dị Sử thị nói: Liên thị tuy cả ghen nhưng về sau tự sửa ngay được, nên cuối đời mới có thể rửa hận thảnh thơi. Xem thái độ khảng khái khích liệt như thế, cũng là kẻ hào kiệt vậy.
Tưởng Giá người huyện Tế Nam (tỉnh Sơn Đông) có vợ là Mao thị không sinh đẻ được mà hay ghen, bà vú vẫn khuyên, Mao thị không nghe, nói "Chẳng thà tuyệt tự, chứ không để chồng liếc mắt đưa tình với ai cả, cho khỏi tức giận”. Tưởng gần bốn mươi tuổi, muốn có người nối dõi, bèn hỏi xin đứa con của người anh, người anh ưng thuận, lại hỏi chị dâu chị dâu cũng ưng thuận, nhưng có ý cản trở. Thằng bé mỗi lần tới nhà chú, vợ chồng đều bồng ám vỗ về, mang kẹo bánh ra cho ăn, hỏi "Có chịu tới nhà chú ở không?” thằng bé cũng chịu. Người anh dặn riêng nó rằng "Nếu chú có hỏi nữa, con nói là không chịu, nếu chú hỏi tại sao không chịu, con nói rằng cứ chờ chú chết rồi thì lo gì ruộng vườn không về tay cháu. Một hôm, Giá đi buôn xa nhà, thằng bé qua chơi, Mao thị lại hỏi, thằng bé đáp như lời cha dặn, Mao thị nổi giận đuổi thằng bé về, nói “Vợ người ta còn sống sờ sờ đây, mà đã chăm chăm nhắm tới ruộng vườn của người ta rồi à? Tính lầm rồi đấy!". Bèn không đợi chồng về, sai ngay gia nhân đi tìm mua thiếp cho chồng. Lúc bấy giờ có bà mối bán tỳ thiếp giá rất cao, Mao thị dốc hết tiền mặt trong nhà ra mua vẫn không đủ. Người anh sợ để chậm thì nàng hối hận, lén đưa tiền cho bà mối, dặn nói với Mao thị là cho thiếu. Mao thị mừng đưa người thiếp về. Đến khi Giá về, Mao thị kể lại chuyện, Giá cũng tức giận, từ đó không qua lại gì với anh nữa. Hơn một năm sau, người thiếp sinh được con trai, vợ chồng cùng mừng rỡ, Mao thị nói “Không biết bà mối kia nghe ai mà cho thiếu tiền, cả năm nay không thấy tới hỏi. Cái ơn ấy không thể quên được, nay đã có con, chẳng lẽ còn để thiếu tiền sao?”. Giá mang tiền tới đưa bà mối, bà ta cười nói "Phải tạ ơn ông bác bên nhà chứ đừng tạ ơn già này, ta nghèo xác xơ, ai dám cho thiếu tiền?", rồi kể hết sự thật. Lúc ấy Giá mới biết, về nói với vợ, nhìn nhau rơi nước mắt. Vội bày tiệc mời người anh sang, vợ chồng cùng quỳ lạy, mang tiền ra trả lại, người anh không nhận, bèn cùng nhau ăn uống rất vui vẻ. Sau Giá sinh được ba con trai.

0
272 Mộ Tào Tháo (Tào Thào Trủng)

Ngoài thành huyện Hứa (tỉnh Hà Nam) có sông chảy rất xiết bờ sông có một chỗ dựng đứng, nước rất sâu. Một hôm mùa hè có người xuống chỗ đó tắm, chợt như bị đao búa chém nát, thi thể nổi lên, sau có một người nữa cũng bị như vậy. Người ta sợ hãi đồn đãi, quan huyện nghe được, bèn sai người đóng cừ gỗ ngăn lấp thượng lưu. Khi nước chảy cạn, thấy chỗ dưới bờ sông có hang sâu, cửa hang đặt bánh xe xoay bằng sức nước, trên gắn đao bén. Nhổ bỏ bánh xe tiến vào hang, thấy có tấm bia nhỏ viết chữ triện đời Hán, đọc kỹ thì là mộ của Tào Mạnh Đức Bèn phá quan tài thu lấy hết vàng bạc chôn theo, vứt bỏ xuống đi.
Dị Sử thị nói: Hậu hiền có thơ rằng "Tận quật thất thập nhị nghi trủng, Tất hữu nhất trủng táng quân thi" (Đào hết bảy mươi hai mộ giả*, Ắt có một mộ chôn thây ông), ngờ đâu thật ra mộ Tào Tháo lại ngoài số mộ giả ấy? A Man gian giảo thật. Nhưng bộ xương nát sau hơn ngàn năm vẫn không giữ được, thì trí trá như vậy có ích gì? Than ôi, cái khôn của A Man chính là cái ngu của A Man vậy.
*Bảy mươi hai mộ giả: tương truyền Tào Tháo lúc sắp chết có dặn làm bảy mươi hai ngôi mộ giả để đề phòng có kẻ đào mộ mình.

273. Chửi Người Trộm Vịt (Mạ Áp)

Bạch gia trang ở phía tây huyện ta có người nọ bắt trộm vịt của hàng xóm ăn thịt. Đến đêm thấy ngứa, sáng ra nhìn thì thấy lông vịt mọc đầy người, nhổ thì đau, sợ quá nhưng không có cách nào chữa khỏi. Đến đêm nằm mơ thấy một người nói “Bệnh của ngươi là trời phạt, phải được người mất vịt chửi cho thì lông vịt mới rụng". Nhưng ông già hàng xóm lại là người cao nhã tự trọng, bình sinh bị mất trộm chưa từng động thanh sắc. Người nọ bèn đặt chuyện nói với ông già rằng “Con vịt bị mất ấy là do tên Mỗ trộm, y rất sợ bị chửi, nếu ông ra ngõ đứng chửi thì cũng có thể ngăn chặn y về sau”. Ông già cười nói "Ai rảnh rỗi mà đi chửi bọn người xấu”, rốt lại cũng không chửi. Người nọ bí quá, phải thú thật. Ông già bèn chửi, người ấy mới được khỏi bệnh.
Dị Sử thị nói: Hay thật! Người nhường nhịn thật đáng sợ, nhường nhịn một lần mà lông vịt mọc đầy người kẻ trộm. Hay thật? Người hay chửi nên lấy đó làm răn. Chửi một câu thì kẻ trộm hết tội, nên làm điều lành phải có thuật, ông già hàng xóm kia là người lấy việc chữi mắng làm điều nhân từ đấy.

274. Yêu Nhân Giả Gái (Nhân Yêu)

Mã sinh tên Vạn Bảo là người huyện Đông Xương (tỉnh Sơn Đông), tính ngông nghênh không chịu bị trói buộc. Vợ là Điền thị cũng phong lưu phóng khoáng, vợ chồng rất hòa hợp. Có người con gái tới ngụ nhà bà già góa chồng bên hàng xóm, nói là bị cha mẹ chồng ngược đãi nên bỏ trốn, lại may vá cực khéo, làm giúp cho bà già mấy thứ, bà già rất mừng bèn giữ lại ở cùng. Được vài hôm, tự nói rằng biết phép xoa bóp, có thể chữa các bệnh đàn bà. Bà già thường qua nhà sinh chơi, khen ngợi thuật của cô gái song Điền thị cũng không để ý. Một hôm sinh nhìn trộm cô gái qua khe vách, thấy trạc mười tám mười chín tuổi, dáng vẻ phong vận, trong lòng rất thích, bèn bàn với vợ bảo bị bệnh gọi qua chữa giúp. Bà già qua trước, tới bên giường Điền thị nằm hỏi thăm rồi nói "Được nương tử gọi tới, thì cô ta phải qua. Song cô ta rất sợ gặp mặt đàn ông, nên xin đừng để cho lang quân vào phòng”. Vợ sinh nói "Nhà cửa chật hẹp, người này kẻ kia ra vào, làm sao mà tránh gặp mặt được". Kế lại nghĩ ngợi rồi nói “Ông cậu ở thôn Tây gọi chồng ta qua uống rượu tối nay, thôi cứ bảo ở luôn lại đó đừng về, thì cũng tiện”. Bà già đồng ý ra về. Vợ chồng sinh bàn xong kế đánh tráo, cười chờ thi hành.
Lúc trời tối, bà già đưa cô gái qua, nói “Tối nay lang quân có về không?”. Điền thị đáp "Không về đâu”. Cô gái mừng nói "Như vậy mới tiện". Bà già chuyện trò vài câu rồi cáo từ ra về, Điền thị bèn thắp đèn trải giường, để cô gái lên giường trước rồi cởi áo tắt đèn. Chợt nói "Quên cài then cửa nhà bếp, không khéo chó vào ăn vụng” rồi ra mở cửa phòng, đánh tráo cho sinh vào. Sinh rón rén vào, lên giường, cô gái mơn trớn nói “Ta sẽ chưa cho nương tử khỏi bệnh". Sinh lặng ngất không đáp, cô gái bèn xoa bụng sinh, mò tới dưới rốn thì dừng tay lại, ú ở hoảng sợ như nắm phải rắn rết, vội nhảy choàng dậy muốn chạy trốn. Sinh hoảng sợ, gọi thắp đèn. Vợ sinh cho rằng việc vỡ lỡ, vội thắp đèn bước vào, đang định điều đình, nhìn thấy cô gái lạy phục dưới đất xin tha mạng thì xấu hổ hoảng sợ, vội bước ra. Sinh căn vặn, y nói “Ta là người huyện Cốc Thành (tỉnh Thiểm Tây) tên Vương Nhị Hỷ, có anh là Đại Hỷ là học trò của Tang Xung nên được dạy lại thuật giả làm đàn bà". Lại hỏi "Đã làm ô nhục bao nhiêu người rồi?", đáp "Vào đời hành đạo chưa lâu, mới lừa có mười sáu người thôi". Sinh nghĩ tội đáng giết, đã định đi báo quan, song lại thương vì dung mạo đẹp đẽ, bèn trói quặt hai tay ra sau lưng rồi thiến đi, máu chảy lênh láng, khoảng sau bữa cơm thì tỉnh lại. Sinh bèn đặt y nằm trên giường, đắp chăn lên cho, dặn rằng !Ta sẽ cắt thuốc chữa cho, khi nào lành rồi phải theo ta suốt đời, nếu không việc lộ ra không được tha chết đâu”, họ Vương vâng dạ.
Hôm sau bà già qua, sinh tiếp nói "Nó là đứa cháu gái của ta tên Vương Nhị Thư, vì có tật kín lúc mới sinh ra nên bị nhà chồng đuổi, đêm qua gặp hỏi lai lịch mới nhận ra. Nhưng nó đang bị cảm nhẹ, ta đang định đi mua thuốc và xin phép bà cho nó được  lại bên này làm bạn với vợ ta". Bà già vào phòng thăm thấy mặt xám như tro, bèn ngồi xuống bên giường hỏi han, Vương nói "Bệnh kín đã phát ra, sợ là bệnh nặng", bà già tin bèn ra về. Sinh cắt thuốc châm chước điều trị cho Vương, về sau bình phục, giúp đỡ Điền thị giặt giũ quét dọn, nấu cơm xách nước, chăm chỉ còn hơn cả tỳ nữ. Không bao lâu, yêu nhân Tang Xung bị giết, đồng bọn bảy người đều bị chém ở chợ. Duy có Nhị Hỷ lọt lưới, quan ra lệnh truy nã, khám xét rất nghiêm ngặt. Người trong thôn đều ngầm nghi ngờ Vương, bèn tập hợp các bà già tới khám, cho mặc quần sờ vào chỗ kín, từ đó mới hết nghi ngờ Vương cho rằng được nhờ ơn đức mà sống nên theo hầu Mã sinh đến trọn đời. Về sau chết được chôn cạnh mộ của Mã, đến nay vẫn còn nguyên vẹn.
Dị Sử thị nói: Mã Vạn Bảo có thể nói là kẻ khéo dùng người vậy. Trẻ em thích bắt cua để chơi, vì sợ nó có càng, đều bẻ càng rồi nuôi. Than ôi, nếu hiểu được ý ấy thì có thể trị cả thiên hạ vậy.
 
275. Công Tử Họ Vi (Vi Công Tử)

Công tử họ Vi là con nhà thế gia ở huyện Hàm Dương (tỉnh Thiểm Tây), tính dâm dật buông thả. Có lần mang theo mấy ngàn đồng vàng đi chơi, định thưởng thức hết các kỹ nữ nổi tiếng trong thiên hạ, phàm những chỗ ăn chơi không đâu không tớì, không thích thì chỉ ngủ một đêm là đi ngay, vừa ý thì ở lại cả vài tháng. Chú ruột công tử là một vị quan nổi tiếng mới về hưu, nghe thấy hành vi của cháu giận lắm, bèn mời thầy giỏi dựng nhà riêng, bắt công tử cùng các con đóng cửa đọc sách, tối thì ngủ cùng phòng với thầy. Công tử chờ thầy ngủ rồi là trèo tường trốn về, gần sáng mới trở lại, cứ thế làm mãi. Một hôm bị trượt chân ngã gãy tay, thầy mới biết, báo cho chú. Ông liền đánh thêm cho một trận rồi mới thuốc thang chữa chạy cho. Được hơn một tháng thì khỏi, ông giao hẹn với công tử rằng nếu học vượt hẳn các em, văn hay chữ tốt, thì ra ngoài tùy thích, còn nếu lén lút chơi bời thì sẽ đánh đòn như trước. Nhưng công tử rất thông minh, học thường vượt mức, sau vài năm thi đỗ khoa thi hương, muốn bỏ lời giao hẹn cũ, nhưng chú vẫn còn kiềm chế.
Khi công tử lên kinh thi, ông sai một người lão bộc đi theo, giao cho một quyển sổ nhật ký, dặn phải ghi chép lời nói việc làm hàng ngày, nhờ vậy mấy năm liền công tử không làm việc gì sai trái. Về sau công tử thi đỗ Tiến sĩ, ông mới hơi nới lệnh cấm, nhưng công tử vẫn sợ chú biết, nên những khi đi chơi bời vẫn mạo xưng là họ Ngụy. Một hôm công tử qua Tây An, gặp một người con hát tên La Huệ Khanh, tuổi chừng mười sáu mười bảy, xinh đẹp như con gái, thích lắm giữ lại mấy ngày, định đem theo về. Hỏi tới gia đình, Khanh đáp “Mẹ mất sớm, chỉ còn cha. Ta vốn không phải họ La. Mẹ ta lúc trẻ hầu hạ trong nhà họ Vi ở Hàm Dương, bị bán cho nhà họ La, được bốn tháng thì sinh ra ta. Nếu được theo công tử về, may ra có thể hỏi thăm được gốc gác". Công tử kinh ngạc, hỏi họ của người mẹ, đáp là họ Lã. Công tử vô cùng kinh hãi, toàn thân đẫm mồ hôi, vì mẹ Khanh chính là tỳ nữ trong nhà mình lúc trước. Bèn im lặng không nói, sáng ra cho Huệ Khanh rất nhiều tiền, khuyên nên bỏ nghề. Kế nói thác rằng có việc phải đi, hẹn lúc nào trở lại sẽ gọi, rồi giã từ bỏ đi .
Sau công tử được bổ làm quan huyện nọ thuộc Tô Châu, gặp một ca kỹ tên Thẩm Vi Nương, xinh đẹp phong nhã tuyệt trần, công tử rất ưa thích, hỏi đùa rằng "Tiểu tự của nàng có phải lấy từ câu ‘Xuân phong nhất khúc Đỗ Vi nương’ (Gió xuân một khúc Đỗ Vi nương) không?”. Nàng đáp “Không phải. Mẹ thiếp mười bảy tuổi đã là kỹ nữ nổi tiếng, có vị công tử ở Hàm Dương, cùng họ với ông, ở lại với mẹ thiếp ba ngày, hẹn chuyện cưới xin. Công tử đi rồi, tám tháng sau thì sinh ra thiếp, nên mới đặt tên là Vi, chứ thật ra đó là họ của thiếp. Lúc chia tay công tử có tặng mẹ đôi chim uyên ương bằng vàng, đến nay hãy còn. Nhưng công tử ra đi một lần là bặt tin luôn, mẹ thiếp vì thế phẫn uất buồn rầu mà chết. Thiếp lên ba tuổi thì được bà Thẩm nuôi nấng, nên lấy họ Thẩm”. Công tử nghe nói, hối hận nhục nhã không sao chịu được. Im lặng một lúc, chợt nghĩ ra một kế, ngồi phắt dậy khêu đèn, gọi Vi Nương ra uống rượu, rồi ngầm bỏ thuốc độc vẫn mang theo người vào chén. Vi Nương vừa nuốt khỏi cổ đã vật vã rên xiết, mọi người đổ tới thì đã tắt thở. Công tử gọi bọn con hát tới, nhờ họ chôn cất, lại lót tay rất nhiều tiền để bịt miệng. Nhưng đám khách thân quen với Vi Nương toàn là con nhà thần thế, nghe chuyện không rõ vì sao nàng chết, thảy đều bất bình, bèn góp tiền cho bọn con hát, xúi họ kiện lên quan trên. Công tử hoảng sợ phải dốc túi dập chuyện đi, cuối cùng bị cách chức vì tội bừa bãi khinh suất. Công tử về nhà thì đã ba mươi tám tuổi, rất hối hận về những hành vi trước kia, mà thê thiếp năm sáu người đều không có con trai, bèn xin đứa cháu nội của chú làm con nối dõi. Ông chú lại nghĩ chàng vô hạnh, sợ trẻ nhiễm thói xấu, nên tuy ưng thuận song lại đợi khi nào công tử già rồi mới cho qua. Công tử phẫn uất, muốn qua gọi, ông chú nghe thế than "Thế thì sắp chết thật rồi”. Bèn cho đứa con của người con trai thứ sang nhà công tử để sớm tối chăm sóc. Hơn một tháng, quả nhiên công tử chết.
Dị Sử thị nói: Thông dâm với tỳ nữ, chơi bời nơi kỹ viện là thói xấu thường thấy của người đời, nhưng ăn nằm với cả con ruột của mình thì những người làm cha trong đời nghe thấy cũng đều xấu hổ. Mà quỷ thần lại hý lộng run rủi tới như thế, nhưng vẫn không tự móc tim thắt cổ, mà lại đổ mồ hôi, bỏ thuốc độc, chẳng phải là kẻ mặt người dạ thú sao?

0
315. Chàng Rể Họ Kim (Kim Cô Phu)

Ở Cối Kê (huyện Thiệu Hưng, tỉnh Chiết Giang) có đền thờ Mai Cô. Thần vốn họ Mã, gia đình cư ngụ ở Đông Uyển, chưa làm đám cưới thì chồng đã chết, bèn thề ở vậy không lấy chồng, đến ba mươi tuổi thì chết. Người trong họ lập đền thờ, gọi là Mai Cô. Năm Bính thân có Kim sinh ở huyện Thượng Ngu (tỉnh Chiết Giang) đi thi ghé lại, vào miếu rồi ngẩn ngơ, ra về cứ tơ tưởng. Đến đêm, nằm mơ thấy một người tỳ nữ tới, truyền lệnh Mai Cô gọi. Sinh đi theo, vào tới miếu thấy Mai Cô đứng chờ dưới thềm cười nói "Được chàng có lòng đoái tưởng, tình rất quyến luyến nên không hiềm thô vụng, xin được nâng khăn sửa túi, Sinh líu ríu vâng dạ, Mai Cô đưa ra cửa, nói "Chàng cứ về, khi nào sắp đặt nhà cửa xong, sẽ xin tới đón", sinh tỉnh dậy sợ lắm.
Đêm ấy người trong vùng nằm mơ thấy Mai Cô nói "Kim sinh ở Thượng Ngu nay là chồng ta, phải đắp tượng chàng". Đến sáng, người trong thôn kể lại thì đều nằm mơ thấy thế, người tộc trưởng sợ nhơ bẩn danh tiếng trinh tiết, nên không chịu nghe theo. Không bao lâu thì cả nhà mắc bệnh, sợ hãi vội đắp tượng Kim sinh đặt bên trái tượng Mai Cô. Khi đã làm xong, Kim sinh nói với vợ con rằng “Mai Cô đón ta rồi!". Rồi mặc áo đội mũ mà chết. Vợ sinh đau xót căm hận, tới miếu chỉ vào tượng Mai Cô chửi mắng, lại lên điện thờ vả vào mặt tường bốn cái rồi bỏ đi. Đến nay họ Mã gọi sinh là chàng rể họ Kim.
Dị Sử thị nói: Không lấy chồng mà thủ tiết, không thể nói là bất trinh được. Nhưng làm ma mấy trăm năm rồi, lại thay đổi tiết tháo, sao mà vô sỉ thế. Đại khái là những hồn trinh phách liệt chưa chắc đã cần phải dựa vào tượng đất, cho nên miếu mạo kia có linh thiêng làm người ta sợ hãi cũng chỉ như loại hồ quỷ mà thôi.

316. Sâu Rượu (Tửu Trùng)

Họ Lưu ở huyện Trường Sơn (tỉnh Sơn Đông), thân thể to béo, tính hay rượu, thường một mình uống sạch một vò. Có ba trăm mẫu ruộng ở cạnh huyện thành, cứ một nửa là trồng lúa nếp, nhưng nhà vẫn giàu có, không vì uống rượu mà sa sút. Có nhà sư Tây Vực gặp Lưu, nói là trong người có tật lạ, Lưu đáp là không. Nhà sư nói “Có phải ông uống rượu thường không say phải không?”, Lưu đáp “Đúng thế”. Nhà sư nói “Đó là vì có con sâu rượu”, Lưu ngạc nhiên xin nhà sư chữa cho. Nhà sư đáp “Dễ thôi”. Hỏi phải dùng thuốc gì, nhà sư đáp không cần, chỉ bảo Lưu nằm sấp trên giường, trói cả chân tay lại. Rồi đặt một chậu rượu cách đầu Lưu một thước, giây lát Lưu thấy thèm rượu lắm, mùi rượu thơm ngát lại xông lên mũi, cổ khô như lửa đốt nhưng không làm sao uống được. Chợt thấy trong cổ họng ngứa ngáy, ọe ra một con vật rơi đúng vào chậu rượu. Nhà sư cởi dây trói cho Lưu tới xem, thấy con vật như cục thịt đỏ dài ba tấc, ngo ngoe như cá, có đủ cả mắt miệng. Lư hoảng sợ đem tiền ra tạ ơn, nhà sư không nhận,chỉ xin con sâu ấy mà thôi. Lưu hỏi dùng làm gì, nhà sư đáp “Đây là tinh hoa của rượu, đổ nước vào vò cho con sâu vào thì sẽ lập tức trở thành rượu ngon”. Lưu bảo làm thử thì đúng như thế. Từ đó Lưu rất ghét uống rượu, thân thể dần dần gầy bớt, nhà cũng sa sút dần, về sau không đủ cơm áo.
Dị sử thị nói: Một ngày uống một thạch mà vẫn giàu có, không uống một hớp lại thành nghèo khổ, có phải là một miếng cơm một hớp nước đều có số không? Có người nói con sâu rượu ấy là phúc của Lưu, nhà sư lừa lấy để làm trọn vẹn y thuật của mình, không biết đúng hay sai.

317. Con Chó Có Nghĩa (Nghĩa Khuyển)

Mỗ Giáp ở huyện Lộ An (tỉnh Sơn Tây) có cha bị giam giữ trong ngục sắp chết, bèn vét hết rương hòm được trăm đồng vàng lên huyện chạy chọt cứu cha. Lên ngựa ra đi có con chó đen trong nhà cứ chạy theo, đánh cũng không chịu về. Cứ thế được vài mươi dặm, Giáp xuống ngựa ghé vào bên đường đi tiểu, nhân đó nhặt đá ném, con chó mới bỏ chạy. Y lên đường đi tiếp thì con chó lại đuổi theo cắn vào đuôi vào chân ngựa, y tức giận lấy roi đánh, con chó tru lên thảm thiết chạy vượt lên trước cản đầu ngựa, như không cho đi. Y cho là điều không hay, tức giận quay ngựa lại đuổi. Nhìn thấy con chó đã đi xa, mới ra roi phóng ngựa thật nhanh. Tới huyện thì trời đã tối, sờ lại thắt lưng thì tiền đã rơi mất một nửa, sợ toát mồ hôi, hồn bay phách lạc. Thao thức cả đêm, chợt nghĩ tới việc con chó cản mình là có nguyên nhân. Trời sáng vội ra thành tìm kỹ trên đường, nhưng cũng biết đường cái lớn chạy suốt nam bắc, người đi như kiến, tiền đánh rơi làm sao còn được. Lần hồi tìm đến nơi xuống ngựa, thấy con chó nằm chết gục trong đám cỏ, mồ hôi ướt đẫm cả lông như tắm, nắm tai kéo lên thì bọc tiền rơi còn nguyên dưới ngực nó. Y cảm vì con chó có nghĩa bèn mua quan tài chôn, người ta nhân gọi chỗ đó là Mộ con chó có nghĩa (Nghĩa khuyển trủng).

318. Thần Núi Thái Sơn (Nhạc Thần)

Quan Đồng Tri phủ Dương Châu (tỉnh Giang Tô) đêm nằm mơ thấy Nhạc thần triệu tới, sắc mặt lời lẽ rất giận dữ. Ngẩng đầu thấy có một người đứng hầu cạnh thần, thái độ rất ôn hòa, tỉnh dậy sợ lắm. Sáng ra tới làm lễ ở Nhạc miếu, lạy phục xuống khấn khứa. Khi trở về ngang tiệm thuốc thấy một người giống hệt như người đứng cạnh thần trong giấc mơ, hỏi thăm thì là thầy thuốc. Về tới dinh chợt mắc bệnh nặng, bèn sai người đi mời người thầy thuốc ấy tới cắt thuốc, buổi tối uống thì nửa đêm chết.
Có người nói Diêm Vương và vua Đông Nhạc* thường sai mười vạn tám ngàn sứ giả nam nữ đi khắp thiên hạ giả làm thầy bói thầy thuốc, gọi là Sứ giả bát hồn (Câu hồn Sứ giả), cho nên những người uống thuốc không thể không cẩn thận vậy.
* Đông Nhạc: tức Thái Sơn. Nhạc thần trong tên truyện này tức thần núi Thái Sơn theo tín ngưỡng Trung Hoa.

319. Thần Ưng Hổ (Ưng Hổ Thần)

Miếu Đông Nhạc ở quận nằm ngoài cửa nam thành, hai bên có tượng thần cao hơn một trượng, tục gọi là thần Ưng hổ, dáng vẻ dữ tọn rất đáng sợ. Đạo sĩ trong miếu họ Nhiệm, cứ gà gáy là dậy thắp hương niệm kinh. Có tên trộm núp dưới hành lang, chờ đạo sĩ lên điện đọc kinh, lẻn vào trong phòng lục lọi tìm tiền bạc. Nhưng trong phòng không có gì đáng giá, chỉ có ba trăm đồng dưới đệm giường, y bèn giắt vào lưng, mở cổng bỏ đi. Chạy qua núi Thiên Phật trốn về phía nam, vừa xuống tới dưới núi thì thấy một người đàn ông cao hơn một trượng trên núi đi xuống, vai trái có một con chim ưng đậu, vừa khéo gặp nhau. Tới gần nhìn thì thấy người ấy mặt xanh như đồng sắt, rõ ràng là tượng thần vẫn thấy ở cổng miếu. Y hoảng sợ, lạy phục xuống đất run rẩy. Thần quát "Tiền ăn trộm được để đâu?”, tên trộm càng sợ, lạy lục không thôi. Thần bắt y trở về miếu, dốc hết tiền ăn trộm ra trả lại rồi quỳ xuống đó. Đạo sĩ đọc kinh xong, trở về phòng nhìn thấy vô cùng ngạc nhiên, tên trộm thuật lại mọi việc, đạo sĩ lấy lại tiền rồi tha cho y đi.

320. Ăn Đá (Hột Thạch)

Nhà Thái công Vương Khâm Văn ở huyện Tân Thành (tỉnh Sơn Đông) có người mã phu họ Vương lúc nhỏ vào học đạo ở núi Lao Sơn, lâu sau thì không ăn cơm, chỉ ăn quả tùng và đá trắng, lông mọc khắp người. Được mấy năm nghĩ tới mẹ đã già nên trở về làng, dần dần lại ăn những thức nấu nướng, nhưngvẫn ăn đá như cũ. Cứ cầm đá soi lên mặt trời là biết mùi vị ngọt đắng chua mặn thế nào, như là khoai vậy. Khi mẹ chết lại trở vào núi, đến nay đã mười tám năm rồi.

Phụ: Một Truyện Trong Trì Bắc Ngẫu Đàm (Trì Bắc Ngẫu Đàm Nhất Tắc)

Việc người tiên nấu đá ăn, người đời vẫn truyền. Người đầy tớ Vương Gia Lộc nhà ta lúc trẻ ở trong núi Lao Sơn, ngồi tĩnh tọa mấy năm, không ăn những thức nấu nướng, chỉ lấy đá làm cơm, khát thì uống nước suối, khắp người mọc lông dài hơn tấc. Sau vì có mẹ già nên trở về nhà, dần dần ăn những thức nấu nướng, lông trên người rụng hết. Nhưng vẫn thmh thoảng ăn đá thay cơm, cứ cầm viên đá soi lên mặt trời thì biết mùi vị ngọt mặn cay đắng thế nào. Sau mẹ chết, không biết đi đâu.

0
376. Hang Núi Tra Nha (Tra Nha Sơn Động)

Núi Tra Nha ở huyện Chương Khâu (tỉnh Sơn Đông) có cái hang núi như miệng giếng, sâu xuống mấy thước, phía bắc của hang chạy ngầm theo dãy núi. Gặp lúc có mấy người trong thôn bên cạnh nhân tiết Trùng dương (ngày chín tháng chín âm lịch) đi chơi, uống rượu ở đó rồi bàn nhau xuống xem thử. Ba người đốt đuốc dong dây leo xuống, thấy hang to như cái nhà, đi được vài chặng thì hẹp dần lại, cuối vách hang lại có một cái huyệt sâu ngoằn ngoèo phải bò mới vào được. Soi đuốc vào thấy tối om om mà sâu không biết tới đâu, hai người lo sợ bỏ ra, một người giật lấy đuốc cười hai người kia là nhát rồi chui vào. Qua khỏi chỗ hẹp lại tới một đoạn rộng rãi có thể đứng thẳng, lại đi tiếp. Trên nóc hang thì đá rủ xuống như sắp rơi mà không rơi, hai bên vách dụng thẳng, đá lô nhô như hình chùa miếu, có cả hình chim thú người quỷ. Chim như đang bay, thú như đang chạy, người thì kẻ đứng kẻ ngồi, quỷ thì đủ dạng như đang tức giận, trông rất kỳ quái xấu xí, y rùng mình sợ hãi.
Qua khỏi một đoạn bằng phẳng, đi thêm vài trăm bước, thấy vách phía tây mở ra một cái thạch thất. Bên trái có một khối đá mặt quỷ hình người đứng trợn mắt ngoác miệng, răng nanh lởm chởm trông rất dữ tợn, tay trái nắm thành quyền đặt ở hông, tay phải vươn năm ngón ra như bắt người. Y vô cùng hoảng sợ, lông tóc dựng đứng cả lên. Nhìn thấy trong cửa có đống tro, như có người từng tới đây, thấy yên tâm trở lại. Bèn bước thẳng vào trong, lại nhìn thấy trên mặt đất có chén bát, trong đầy bụi bặm nhưng đều là những thứ gốm sứ gần đây chứ không phải là đồ cổ. Cạnh đó có bốn cái bầu rượu bằng thiếc, y nảy lòng tham, bèn cởi dây lưng ra buộc đeo lên hông. Kế lại thấy có một cái xác nằm ở góc phía tây, tay chân giang rộng, sợ lắm, nhưng dần dần tới gần nhìn kỹ, thấy chân mang hài nhỏ, vẫn còn vết chỉ thêu hoa mai, biết đó là một thiếu phụ. Không rõ là người ở đâu, chết năm nào, quần áo đã mủn ra không nhận ra màu gì, mớ tóc xỏa tung như tơ rối đắp lên đầu lâu. Chỗ mắt và mũi chỉ còn bốn cái hốc, hai hàm răng vẫn còn, trắng phau phau, y biết đó là miệng. Lại nghĩ có thể trên đầu còn vật trang sức bằng vàng ngọc, bèn soi ngọn đuốc tới gần đầu lâu, thì như có hơi trong miệng thổi vào ngọn đuốc, ánh lửa cứ như chập chờn lay động, manh vải áo cũng lay lay. Y cả kinh run tay, ngọn đuốc tắt phụt, nhưng còn nhớ đường vội chạy mau trở ra. Không dám sờ lên vách, sợ đụng vào khối đá hình con quỷ nên húc đầu vào đá ngã lăn ra, vội chồm ngay dậy, thấy trên đầu ươn ướt lành lạnh, biết là máu nhưng không thấy đau, cũng không dám kêu. Ra tới chỗ đáy huyệt, vừa nằm xuống để bò ra thì chợt thấy như có người nắm chặt lấy tóc, y sợ quá ngất đi luôn.
Mọi người bên ngoài chờ lâu quá, lấy làm ngờ vực, lại dòng dây thả hai người xuống. Họ khom người chui vào, thấy y nằm sấp trên mặt đá, máu me bê bết, thân thể cứng đờ. Hai người mất vía không dám tới gần, ngồi đó run rẫy. Lát sau bên trên lại dòng dây thả thêm hai người nữa xuống, trong đó có kẻ gan dạ, mới dám chui hẳn vào kéo y ra đưa lên, nửa ngày mới tỉnh lại, kể rõ mọi việc. Đáng tiếc là y chưa đi tới chỗ tận cùng, nếu đi tới ắt là thấy được nhiều cảnh đẹp chuyện lạ. Sau quan huyện Chương Khâu nghe được chuyện, sai lấy đất đá lấp kín chỗ miệng huyệt, không ai vào được nữa.
Khoảng năm Khang Hy thứ 26, 27 (1677-1678) phía nam động Dương Mẫu bị lở sụt xuống, để lộ ra một cửa hang, nhìn vào thì thấy thạch nhũ san sát như rừng tre, không ai dám vào xem. Chợt có người đạo sĩ tới tự xưng là đệ tử của Chung Ly Quyền* nói rằng thầy sai tới trước để dọn dẹp động phủ. Người ở đó đưa cho đèn đuốc, đạo sĩ nhận lấy leo xuống, rơi lên đám thạch nhũ lởm chởm, bị đá đâm xuyên qua bụng mà chết. Báo lên quan, qua cho lấp kín cửa hang. Bên trong ắt có cảnh lạ, tiếc là đạo sĩ đã siêu thăng, không ai biết mà kể lại.
*Chung Ly Quyền: người thời Đường, là một trong Bát tiên (tám vị tiên) theo truyền thuyết Trung Quốc, được giới đạo sĩ tu tiên luyện đạo trước kia thờ phụng như sư tổ.

377. Con Chó Có Nghĩa (Nghĩa Khuyển)

Thôn Chu có người lái buôn đi buôn bán tới huyện Vu Hồ (tỉnh An Huy), được món lãi lớn, thuê thuyền trở về. Ngang trên đê thấy có người đồ tể trói con chó toan giết, y trả tiền gấp đôi mua lấy, nuôi ở trong thuyền. Chủ thuyền vốn là dân trộm cướp, thấy khách có nhiều tiền, bèn ghé vào bãi lau sậy vắng vẻ, rút đao định giết chết. Y khẩn cầu xin được chết toàn thây, tên cướp bèn lấy chăn bó y lại ném xuống sông. Con chó nhìn thấy, tru lên thảm thiết rồi nhảy theo xuống cắn chặt lấy bó chăn, theo dòng nước trôi mãi không biết bao xa mới dạt lên bờ. Con chó  ướt lướt thướt ngoi lên, chạy tới chỗ có người sủa oăng oẳng đau đớn có người lấy làm lạ đi theo nó, thấy bó chăn nổi dập dềnh giữa nước bèn kéo lên, cắt dây buộc. Người khách buôn vốn chưa chết mới kể lại mọi chuyện. Lại năn nỉ một người chủ thuyền ở đó đưa trở lại Vu Hồ, định chờ thuyền tên cướp trở lại. Nhưng thuyền đi thì con chó lạc đâu mất, y rất thương tiếc. Tới chỗ của sông Vu Hồ chờ ba bốn ngày, thấy thuyền bè san sát như rừng mà không thấy thuyền tên cướp đâu.
Vừa gặp người lái buôn cùng quê, đang định theo về, chợt con chó lần tới, nhìn y thở khìn khịt như gọi cùng đi, y bèn theo nó. Con chó chạy mau lên một chiếc thuyền, nhảy chồm cắn vào đùi người chủ, dánh bao nhiêu nó cũng không nhả ra. Người lái buôn tới gần quát nó nhả ra, thì ra đó là tên cướp trước đây, vì y đã thay đổi cả quần áo, sơn sửa lại thuyền nên không tìm ra được. Mọi người trói y lại rồi khám thuyền, thì tiền bạc của y vẫn còn nguyên. Than ôi, một con chó mà còn báo ơn tới như thế, những kẻ không có tâm can trên đời cũng nên xấu hổ với nó mới phải!

378. Dương Đại Hồng (Dương Đại Hồng)


Tiên sinh Dương Liên tự Đại Hồng* lúc còn hàn vi là bậc danh nho ở đất Sở (vùng Hồ Nam), tự cho rằng mình không phải là hạng tầm thường. Sau kỳ thi hương, nghe có người báo danh sách thi đỗ, lúc ấy ông đang ăn cơm, vội ngậm miếng cơm hỏi có tên Dương mỗ không? Người kia đáp không có, ông bất giác thất chí nghẹn cổ ho sặc lên, miếng cơm trong miệng rơi xuống dính luôn ở ức, dần vón cục thành bệnh, vướng víu rất khó chịu. Những người quen biết an ủi khuyên ông dự thi khoa Di tài** ông lo không có tiền đi đường, họ góp được mười đồng vàng tặng tiễn, ông bèn miễn cưỡng lên đường.
* Dương Liên tự Đại Hồng: bản Hương Cảng chú nhân vật này có tên tự là Văn Nhụ, lại tự Đại Hồng, người ứng Sơn Hồ Bắc, thi đỗ Tiến sĩ năm Đinh mùi niên hiệu Vạn Lịch thời Minh, trong niên hiệu Thiên Khải làm quan tới chức Ngự sử, dâng sớ tham hặc hai mươi bốn tội của quyền thần Ngụy Trung Hiền, bị bè đảng của Ngụy giả chiếu chỉ bắt giam, bị hại chết trong ngục.
**Khoa Di tài: khoa thi chọn người có tài bị bỏ sót, là hình thức khoa cử đặc biệt tổ chức sau kỳ thi hương thông thường để chiếu cố cho những người có tài mà không may thi rớt. Ở Việt Nam trước đây không thấy có các khoa thi loại này.
Đêm ở nhà trọ nằm mơ thấy một người nói "Đường phía trước có người chữa được bệnh của ông, nên cố khẩn cầu”, rồi ra đi, lúc chia tay tặng một bài thơ trong có câu “Ba phen giỡn sáo bên bờ liễu, Tiền ném vào sông chớ oán hờn". Hôm sau ông lên đường đi tiếp, quả gặp một đạo sĩ ngồi dưới gốc liễu, liền tới lạy xin cứu giúp Đạo sĩ cười nói “Anh lầm to rồi! Ta làm sao chữa bệnh được? Xin ta đùa ba lần thì còn được". Rồi rút sáo ra thổi, ông nhớ lại giấc mơ, càng ra sức năn nỉ, lại dốc hết tiền trong túi dâng lên. Đạo sĩ cầm tiền ném luôn xuống sông. Ông vẫn cho rằng không dễ có được số tiền ấy, nín bặt vừa sợ vừa tiếc, đạo sĩ nói “Ông còn chưa dứt ra được à? Tiển ở bờ sông kia, xin cứ ra mà nhặt". Ông quay lại nhìn quả đúng, càng lấy làm lạ, gọi đạo sĩ là thần tiên. Đạo sĩ chỉ ra xa nói !Ta không phải là thần tiên, chỗ kia mới là thần tiên tới kìa!", rồi nhân lúc ông quay nhìn, đập cho một cái rất mạnh vào gáy rồi nói “Trần tục quá!". ông bị đập mạnh, ho sặc lên một tiếng, ọe ra một vật, rơi xuống đất như một cục gì đó, cúi xuống vạch ra nhìn, thì thấy giữa mớ chỉ máu là miếng cơm ngày trước vẫn còn nguyên, hết luôn cả bệnh. Quay lên nhìn thì đạo sĩ đã biến mất.
Dị Sử thị nói: Ông sống làm sông núi, chết làm trăng sao, cần gì phải trường sinh mới là bất tử! Có người cho rằng ông vẫn là người trần, không phải là thần tiên, nên tiếc rẻ cho ông. Ta thì nói rằng trên trời có thêm một bậc thần tiên chẳng bằng dưới đời thêm được một bậc thánh hiền, người hiểu điều ấy ắt sẽ không cho là ta thiên lệch vậy.

379. Trương Cống Sĩ (Cống Sĩ Họ Trương)

Cống sĩ họ Trương người huyện An Khâu (tỉnh Sơn Đông) bị bệnh, nằm ở giường chợt thấy có một người nhỏ bé từ ngực chui ra, cao khoảng nửa thước, đội mũ mặc áo nhà nho, dáng vẻ như con hát. Hát khúc Côn Sơn, âm thanh trong trẻo, lại nói rõ tên họ quê quán, đều giống hệt với mình. Những khúc người ấy hát đều là bình sinh Trương đã nghe, hát xong ngâm thơ rồi biến mất. Trương còn nhớ được đại khái, kể lại cho người ta nghe. Các ông Cao Tây Viên, Trương Tự Viên đều từng hỏi rõ, Trương kể lại rất rõ ràng, tiếc là không nhớ hết lời ca.

Phụ: Một Truyện Trong Trì Bắc Ngẫu Đàm (Trì Bắc Ngẫu Đàm Nhất Tắc)

Minh kinh Trương Mỗ người huyện An Khâu đang ngủ trưa, chợt thấy một người nhỏ bé từ ngục chui ra, cao khoảng nửa thước, đội mũ mặc áo nhà nho, dáng như con hát. Hát khúc Côn Sơn khúc điệu rất dễ nghe, lại tự nói tên họ quê quán, đều giống hệt với Trương. Những khúc người ấy hát đều là bình sinh Trương đã nghe qua, hát xong ngâm thơ rồi biến mất. Trương còn nhớ được đại khái, kể lại cho người ta nghe.

380. Tiên Ăn Mày (Cái Tiên)


Cao Ngọc Thành là con nhà thế gia cũ, ở một làng lớn trong huyện Kim Thành (tỉnh Cam Túc), giỏi châm cứu, chữa bệnh không phân biệt kẻ giàu người nghèo. Trong làng có một người ăn mày từ nơi khác tới, ống chân lở loét nằm ngoài đường, máu mủ bê bết, hôi tanh không thể tới gần. Dân làng sợ y chết, mỗi ngày cho ăn một bữa cầm hơi. Cao thấy thế thương xót, sai người dìu về, cho ở chái bếp. Gia nhân chê hôi tanh chỉ bịt mũi đứng xa xa, Cao đem ngải ra, đích thân chữa cho, hàng ngày cho ăn cơm rau. Được vài hôm y đòi ăn canh, tên đầy tớ tức giận quát mắng, Cao nghe thế lập tức sai cho y ăn canh. Chẳng bao lâu, y lại xin rượu thịt. Tên đầy tớ chạy lên báo "Thằng ăn xin kia thật buồn cười, mới đây còn nằm ngoài đường, chỉ mong mỗi ngày một bữa còn không được, nay thì ngày ba bữa còn chê khó nuốt, cho ăn canh lại đòi rượu thịt. Thứ người tham ăn này chỉ đem bỏ ra ngoài đường là phải!". Cao hỏi chân y ra sao, đáp "Đã tróc vảy dần dần, xem ra đi đứng được rồi, nhưng vẫn giả rên rỉ làm như đau đón lắm". Cao nói "Thì có tốn kém bao nhiêu đâu? Cứ cho y rượu thịt đến ngày lành hẳn đi, có khi y không oán giận ta”. Tên đầy tớ giả vâng dạ nhưng rốt lại vẫn không đem rượu thịt cho người ăn mày, mà cứ có dịp kháo chuyện với đám tôi tớ lại cùng nhau cười ông chủ khờ dại.
Hôm sau Cao đích thân xuống thăm người ăn mày. Y khập khiễng đứng lên cảm ơn, nói "Đội ơn nghĩa cao dày của ông, cứu sống người đã chết, đắp thịt lên xương khô, công ơn như trời che đất chở. Nhưng chỗ lở mới lành, chưa lại sức hẳn nên thèm ăn mặn thôi". Cao nghe biết tên đầy tớ không tuân lệnh hôm trước, gọi ra đánh cho một trận nên thân rồi lập tức sai dọn rượu thịt cho người ăn mày. Tên đầy tớ căm hận, nửa đêm phóng lửa đốt chái bếp rồi la ầm lên. Cao thức dậy xem, thì chái bếp đã cháy rừng rục, than rằng "Thôi rồi anh ăn mày!", rồi đốc thúc mọi người mau mau dập lửa, vào nhìn thì người ăn mày vẫn ngủ say giữa đám lửa, ngáy vang như sấm. Gọi dậy thì y làm ra vẻ kinh ngạc hỏi “Nhà cửa đâu rồi?”, mọi người mới bắt đầu hoảng sợ. Cao càng kính trọng, cho y lên ngủ trong phòng khách, may cho quần áo mới, hàng ngày trò chuyện. Hỏi họ tên, y nói là Trần Cửu.
Được vài hôm, mặt mày y càng thêm sáng sủa, ăn nói rất phong nhã, lại giỏi đánh cờ, lần nào đánh Cao cũng thua, bèn ngày ngày xin theo học, lĩnh hội được nhiều chỗ hay lạ sâu kín. Như thế nửa năm, người ăn mày không nói xin đi, mà Cao thì vắng y một giờ cũng mất vui, dẫu có khách quý cũng phải có y cùng ngồi uống rượu. Có khi gieo xúc xắc làm tửu lệnh, cứ Trần đánh giùm Cao thì lần nào cũng thắng. Cao lấy làm lạ, nhưng mỗi lần bảo làm phép cho vui thì y đều chối từ, nói là không biết. Một hôm nói với Cao "Ta định cáo biệt, lâu nay chịu ơn ông đã nhiều, có bữa tiệc mọn muốn mời, xin ông đừng gọi thêm ai khác". Cao nói "Quen biết nhau rất vui, sao lại chia tay? Vả lại ông làm sao có tiền mua rượu, nên cũng không dám phiền ông mời tiệc”. Trần cố mời, nói “Một chén rượn thì có gì là tốn kém”. Cao hỏi “Uống ở đâu?", đáp trong vườn. Bấy giờ đang giữa mùa đông, Cao ngại ngoài vườn lạnh lẽo, Trần quả quyết là không sao.
Cao bèn theo vào vườn, chợt thấy không khí ấm áp như vào đầu tháng ba, vào tới trong đình lại càng ấm. Trong vườn chim lạ hàng đàn, líu lo ríu rít, mường tượng như vào lúc cuối xuân. Trong đình thì bàn ghế đều khảm ngọc lưu ly, có một cái bình pha lê trong suốt có thể soi gương, trong có khóm hoa đong đưa, hoa thì đóa nở đóa rụng không đều. Lại có con chim trắng như tuyết nhảy nhót qua lại bên trên, đưa tay vỗ nhẹ thì chợt biến mất hết. Cao ngạc nhiên hồi lâu, ngồi xuống thấy con két đậu trên giá gọi "Dọn trà ra!", trong chớp mắt thấy con phượng đỏ từ phía đông ngậm một cái khay ngọc đỏ đặt hai cái chén pha lê đựng trà thơm bay tới đáp xuống, ngẩng cổ đứng thẳng. Uống xong, đặt chén vào khay, chim phượng liền ngậm lấy, cất cánh bay đi. Con két lại gọi "Dọn rượu ra!", lập tức có loan xanh hạc vàng từ trong mặt trời chấp chới bay xuống, con ngậm bầu con ngậm chén bày ra khắp bàn. Giây lát có bầy chim vỗ cánh lui tới không ngớt, tấp nập dâng thức ăn lên, món ngon vật lạ trong chớp mắt đầy cả bàn, đồ ăn thức uống đều là những vật phẩm phi thường.
Trần thấy Cao uống rất hào bèn nói “Tửu lượng của ông rất cao, phải lấy chén lớn mới được". Con két lại gọi "Đem chén lớn ra đây!", chợt thấy vành mặt trời chớp chớp, có con bướm lớn bấu một cái cốc anh vũ to bằng cái đấu nhẹ nhàng đáp xuống. Cao nhìn thấy bướm to hơn con nhạn, hai cánh sặc sỡ, dáng vẻ rực rỡ, khen ngợi hết lời. Trần gọi “Bướm mời rượu đi?", con bướm xòe cánh bay một vòng biến thành một giai nhân áo thêu phơ phất, bước tới dâng rượu. Trần nói “Không được mời rượu suông thôi đâu!", cô gái bèn thướt tha múa lượn. Múa đến lúc say sưa thì chân cách mặt đất hơn thước, ngửa người ra phía sau, uốn đầu xuống chạm gót chân rồi lật người đứng thẳng lên mà toàn thân không hề vương một hạt bụi. Rồi hát rằng:
Liên phiên tiếu ngũ đạp phương tùng,
Đê á hoa chi phất diện hồng.
Khúc chiết bất tri kim điền lạc,
Cánh tùy hồ điệp quá ly đông.

(Nói cười múa hát đạp hoa xuân
Cành dịu hoa tươi quét má hồng
Khúc đứt trâm vàng rơi chẳng biết
Lại theo cánh bướm vượt rào đông)
Dư âm lả lướt ngân dài như không dứt. Cao rất thích thú, kéo lại cùng uống. Trần sai ngồi, rót rượu cho nàng uống. Cao ngà ngà thấy lòng rạo rục, vụt đứng lên ôm chầm lấy nàng, nhưng nhìn lại thì đã biến thành quỷ Dạ Xoa, mắt lồi khỏi mí, răng nhe ngoài miệng, da đen sần sùi, vô cùng xấu xí ghê tởm. Cao mất vía buông tay, núp xuống dưới ghế run lẩy bẩy. Trần cầm đũa đánh vào miệng nó quát "Đi mau!", nó lập tức biến lại thành bướm, phấp phới bay đi. Cao hoàn hồn cáo biệt, thấy ánh trăng trong vắt, nói đùa với Trần "Rượu ngon nhắm tốt của ông từ trên không đưa xuống, chắc nhà ông trên trời, có thể dắt bạn bè lên chơi một chuyến được không?”. Trần đáp “Được”. Liền kéo tay Cao nhảy vọt lên, Cao thấy mình đang giữa không trung mênh mông, dần dần tới gần trời, ngẩng nhìn thấy cổng cao, tròn như miệng giếng. Bước vào thì sáng vằng vặc như ban ngày, lối đi bậc thềm đều lát đá xanh sạch bóng không một mảy bụi.
Có một gốc cây lớn cao mấy trượng, nở đầy hoa đỏ to bằng hoa sen, dưới có một cô gái đang giặt chiếc áo đỏ trên phiến đá, diễm lệ vô song. Cao đứng ngẩn ra nhìn quên cả bước đi. Cô gái thấy thế tức giận nói "Chàng cuồng ở đâu lại dám tới đây", rồi lấy chiếc chày đập áo ném trúng lưng Cao. Trần vội kéo nàng ra chỗ vắng trách móc. Cao bị chiếc chày ném trúng, chợt thấy tỉnh rượu hẳn, thẹn toát mồ hôi, bèn theo Trần trở ra, thấy có đám mây trắng cuộn lên dưới chân. Trần nói "Từ nay xin giã biệt, duy có một điều muốn dặn, xin ông đừng quên. Tuổi thọ của ông không dài, ngày mai phải đi mau vào núi tây mới có thể tránh được". Cao định giữ lại, y đã quay đi. Cao thấy đám mây dần dần hạ xuống, mình rơi lại vào vườn thì quang cảnh đã khác hẳn.
Về kể chuyện cho vợ con, thảy cùng lạ lùng hoảng sợ, nhìn lại chỗ áo bị chiếc chày ném trúng thấy có sắc đỏ như gấm, lại nghe có mùi hương lạ. Sáng sớm theo lời Trần dặn, mang lương khô đi vào núi, thấy sương mù dày đặc che khuất cả trời, mịt mờ không nhận ra đường sá gì cả, cứ rảo chân đi bừa, thình lình hụt chân rơi xuống một cái hang mờ mịt mây mù, sâu không biết bao nhiêu, nhưng may không bị gì cả. Hồi lâu định thần, ngẩng nhìn thấy hơi mây như lưới bủa bốn bề, bèn than rằng "Người tiên bảo ta trốn tránh, nhưng rốt lại vẫn không tránh khỏi kiếp số, biết khi nào mới thoát ra khỏi cái hang này được?". Lại ngồi một lúc, thấy xa xa thấp thoáng có ánh sáng, bèn đứng lên đi sâu vào, thì tới một cõi trời đất khác hẳn. Có hai ông già đang đánh cờ, thấy Cao tới cũng không ngó ngàng hỏi han gì cả, cứ tiếp tục đánh, Cao ngồi xổm xuống bên cạnh xem. Xong ván cờ, họ nhặt quân cờ cất vào hộp xong mới hỏi khách làm sao tới được nơi này? Cao đáp vì lạc đường rơi xuống, ông già nói “Chốn này chẳng phải nhân gian, không nên ở lâu Để ta đưa ông về". Rồi dắt Cao ra chỗ đáy hang, Cao thấy mình được mây mù vây bọc nâng lên rồi dừng lại trên đất bằng. Thấy sắc cây trong núi úa vàng, lá rơi cành rụng giống như cuối thu, ngạc nhiên nói "Ta ra đi giữa mùa đông, sao bây giờ lại biến ra lúc cuối thu?".
Vội vàng về nhà, vợ con đều kinh sợ họp nhau lại cùng khóc. Cao ngạc nhiên hỏi, vợ đáp "Chàng đi ba năm không về, ai cũng cho rằng đã chết rồi". Cao nói "Lạ thật! Ta vừa ra khỏi nhà một lúc thôi mà”. Giở lương khô trong lưng ra xem thì đã mục nát thành tro bụi, mọi người đều cho là chuyện lạ lùng. Vợ nói “Chàng đi rồi, ta nằm mơ thấy có hai người áo đen đai sáng, dáng như công sai đi đòi thuế, hung hăng xông vào trợn mắt hỏi "Y đi đâu rồi?”, ta quát lại "Chồng ta đi vắng rồi, cho dù các người là quan sai cũng đâu được vào thẳng phòng đàn bà nhà người ta thế này?". Hai người bèn quay ra, vừa đi vừa nói lạ thật lạ thật rồi đi mất!. Lúc ấy Cao mới sực hiểu ra rằng người mình đã gặp là tiên, hai người vợ mơ thấy là quỷ. Lần nào tiếp khách Cao cũng mặc chiếc áo có vết cái chày của tiên nữ ném trúng bên trong, mọi người đều nghe mùi thơm, không phải mùi xạ cũng không phải mùi lan, mà có mồ hôi lại càng thơm ngát.

0
381. Người Trong Lỗ Tai (Nhĩ Trung Nhân)

Đàm Tấn Nguyên là Chư sinh ở huyện, rất tin thuật đạo dẫn, mùa đông mùa hè đều hít thở luyện tập. Được vài tháng, thấy như có kết quả. Một hôm đang ngồi xếp bằng luyện tập, nghe trong lỗ tai có giọng nói nhỏ như tiếng nhặng kêu “Có thể thấy rồi!", mở mắt ra thì không nghe thấy gì nữa. Nhắm mắt điều hòa hơi thở, lại nghe như cũ, cho rằng đã thành tựu, mừng thầm. Từ đó cứ lần nào ngồi tập cũng nghe, nhân muốn chờ lúc giọng nói cất lên, sẽ lên tiếng đáp xem ra sao. Một hôm nghe thấy, ứng tiếng khẽ nói “Có thể thấy rồi!”, liền nghe trong lỗ tai có tiếng rột rẹt như có con gì chui ra, hé mắt nhìn thì thấy một người nhỏ bé dài chừng ba tấc, mặt mày hung dữ như quỷ Dạ Xoa chạy loăng quăng dưới đất, trong lòng lấy làm lạ, bèn ngưng thần chờ xem sao. Chợt có người hàng xóm hỏi mượn vật dùng, đập cửa kêu lớn, người nhỏ bé nghe thấy có vẻ hoảng hốt, chạy vòng trong phòng như con chuột mất hang. Đàm thấy thần hồn đều tan tác, cũng không biết người nhỏ bé ấy chạy đi đâu, rồi bị bệnh điên, kêu gào không ngớt, thuốc men chạy chữa nửa năm mới hơi đỡ.

382. Cắn Quỷ (Giảo Quỷ)

Thẩm Lân Sinh nói có người bạn là ông Mỗ mùa hè ngủ trưa, đang lúc thiu thiu thấy một người đàn bà vén rèm bước vào nhà, mặt che vải trắng, áo tang quần gai đi thẳng vào nhà trong, nghĩ là đàn bà hàng xóm qua chơi với vợ. Nhưng lại nghĩ chẳng lẽ lại mặc đồ tang vào nhà người ta à? Còn đang ngờ vực lo sợ, người đàn bà đã trở ra, nhìn kỹ thì khoảng hơn ba mươi tuổi, sắc mặt bủng beo vàng vọt, mắt mũi nhăn nhíu, dáng vẻ rất đáng sợ, cứ quanh quẩn không đi, dần dần tới sát giường. Ông bèn giả như ngủ say để chờ xem ra sao. Không bao lâu, người đàn bà vén áo leo lên giường, nằm đè lên bụng ông ta, thấy nặng hàng trăm cân. Đầu óc ông vẫn sáng suốt, nhưng nhấc tay thì tay mềm nhũn, nhấc chân thì chân rã rời, vội la lớn kêu cứn, nhưng không cất thành tiếng được. Người đàn bà lấy miệng hôn hít lên mặt ông, nhìn thấy trán mũi mắt môi đều vẹo vọ, mà môi lạnh như băng, hơi lạnh thấu xương. Ông đang lúc nguy cấp lại nghĩ được kế, định là chờ thị hôn tới cằm sẽ cắn cho một cái. Lát sau quả thị hôn tới cằm, ông thừa cơ lấy hết sức táp luôn vào gò má, cắn ngập cả răng. Người đàn bà đau quá nhảy xuống, vừa giật vừa gào. Ông ra sức cắn, chỉ biết là máu me đầy mặt, ướt đẫm cả gối, đang còn giằng nhau thì nghe tiếng vợ ngoài sân, vội la là có ma, vừa nới răng ra thì người đàn bà đã biến mất. Vợ ông chạy vào không thấy gì, cười là ông nằm mơ la hoảng. Ông kể lại chuyện quái dị, lại nói có vết máu làm chứng đây. Vợ chồng cùng xem lại, thì thấy như là nước mưa dột ướt đẫm cả gối nệm, cúi ngửi thì tanh hôi vô cùng, ông mới nôn mửa một trận. Mấy hôm sau còn thấy lợm giọng.

383. Bắt Hồ (Tróc Hồ)

Ông họ Hồ anh con bác người thông gia của ta là Thanh Phục, tính vốn gan dạ. Một hôm đang ngủ trưa thì nghe có con vật leo lên giường, kế thấy người đong đưa lâng lâng như bay lên mây, nghĩ thầm chẳng lẽ là hồ quỷ gì sao? Hé mắt nhìn thì thấy con vật to bằng con mèo, đuôi vàng mũi biếc từ cạnh chân rón rẻn bò lên, như sợ ông tỉnh giấc. Nó cứ bò sát vào người ông, tới chân thì thấy chân nhũn ra, tới đùi thì thấy đùi rã rời, vừa bò lên tới bụng thì ông vùng dậy chụp, đè cổ nó xuống. Con vật kêu gào giẫy giụa nhưng không sao thoát được. Ông vội gọi vợ ra, lấy thắt lưng thắt ngang bụng nó, rồi giữ chặt hai đầu dây, cười nói "Nghe nói ngươi giỏi biến hóa lắm, nay ta chống mắt ra xem ngươi biến hóa cách nào?” Vừa nói xong, con vật chợt thót bụng lại chỉ còn nhỏ như cái quản bút, suýt nữa thoát được. Ông ngạc nhiên vội ra sức kéo dây siết lại, nó lại phình bụng ra như cái tô không sao siết được, lúc mệt lại thót lại. Ông sợ nó thoát, kêu vợ giết mau, vợ tìm quanh quất không biết dao để đâu, ông ngoảnh sang chỉ chỗ. Quay nhìn lại thì chiếc thắt lưng vẫn siết như cũ, mà con vật đã mất tăm rồi.

384. Chém Trăn (Trảm Mãng)

Thôn Hồ Điền có hai anh em nọ Hồ đi hái củi, vào trong núi sâu, gặp con trăn lớn. Người anh đi trước bị nó nuốt, người em đi sau lúc đầu hoảng sợ định chạy, nhưng thấy anh bị nuốt lại nổi giận, rút búa chặt củi ra chém vào đầu trăn, con trăn bị thương không nuốt được nữa. Nhưng đầu người anh đã bị nuốt, còn từ vai trở xuống vẫn còn ở ngoài. Người em lúc gấp rút không còn cách nào, bèn nắm chặt hai chân anh, hết sức giành giật với con trăn mới kéo được anh ra, con trăn cũng mang vết thương bỏ đi. Nhìn lại thì người anh đã mất cả tai và mũi, không còn thở nữa, bèn ghé vai cõng về, dọc đường phải dừng lại nghỉ hơn chục lần mới về được tới nhà, chữa chạy nửa năm mới khỏi. Đến nay trên mặt toàn là sẹo, chỗ tai và mũi chỉ còn có lổ không mà thôi. Ôi, trong những người làm ruộng lại có người em yêu thương anh tới như thế sao! Có người nói sở dĩ con trăn không làm hại bởi bị cảm hóa vì đại nghĩa, kể ra cũng đúng.

385. Chó Ma (Dã Cẩu)

Trong loạn Vu Thất, người chết như rạ. Có người dân là Lý Hóa Long từ trong núi trốn về, vừa gặp đại binh kéo tới. Lý sợ bị vạ lây nhưng gấp quá không có nơi ẩn núp, bèn nằm lăn vào giữa đám xác người giả chết. Đại binh đã kéo qua hết Lý vẫn chưa dám chui ra, chợt thấy đám xác chết mất đầu cụt tay nhao nhao đứng thẳng cả lên, một cái xác bị chém đầu nhưng đầu còn dính trên vai cất tiếng nói "Chó ma tới rồi, làm sao bây giờ”. Đám xác chết cũng rầm rộ ứng tiếng "Làm sao bây giờ”, giây lát chợt đổ vật cả xuống, tất cả lại yên ắng. Lý run bần bật định đứng lên, chợt có con vật quái lạ tới, đầu thú mình người, bò xuống cắn đầu xác chết, nhưng chỉ hút óc mà thôi. Lý sợ nằm rúc vào đám xác chết, con vật tới nắm vai Lý muốn cắn vào đầu Lý nằm sấp ép sát xuống đất nên không cắn được, nó bèn lật đống xác chết lại, đầu Lý lộ ra. Lý cả sợ, quờ tay xuống lưng vớ được hòn đá to bằng cái chén bèn nắm lấy. Con vật bò xuống toan cắn, Lý vụt chồm dậy la lớn quăng luôn hòn đá vào đầu nó, trúng giữa mõm, con vật gào lên như tiếng cú kêu, ôm mệng bỏ chạy, khạc máu ra đường, Lý tới nhìn thấy trong bãi máu có hai cái răng, giữa thì cong mà trên thì nhọn sắc, dài hơn bốn tấc. Bèn nhặt lấy mang về, đưa cho người ta xem, nhưng chẳng ai biết đó là con gì.

386. Hồ Vào Vò (Hồ Nhập Bình)


Vợ người họ Thạch ở thôn Vạn bị hồ ám, lo sợ mà không biết làm sao. Phía sau cánh cổng có cái vò đất, mỗi khi nghe người cha chồng tới, hồ lập tức chui tọt vào đó núp, người đàn bà thấy nó đã quen như vậy, bèn ngầm tính kế mà không nói ra. Một hôm hồ vừa chui vào vò, người đàn bà vội lấy chăn bông nút miệng vò lại, đem đặt lên bếp, quạt lửa rang. Cái vò nóng lên, hồ kêu rằng “Nóng quá. Đừng đùa ác như thế” Người đàn bà không nói gì, hồ lại càng kêu to hơn, lát sau thì im bặt. Gỡ cái chăn nút miệng vò ra xem, chỉ thấy còn một nhúm lông, vài giọt máu mà thôi.

387. Vu Giang (Vu Giang)

Người làng nọ là Vu Giang, cha ngủ ngoài ruộng bị sói ăn thịt. Lúc ấy Giang mười sáu tuổi, nhặt được chiếc giày của cha rơi lại, vô cùng đau xót căm hờn. Đêm tới chờ mẹ ngủ rồi, lén cắp chùy sắt đi, ra nằm ở chỗ cha ngủ đợi trả thù. Không bao lâu, một con sói mò tới quanh quẩn đánh hơi, Giang nằm yên không động đậy. Giây lát con sói lại lấy đuôi quét lên mặt, lại cúi xuống liếm vào chân, Giang vẫn không động đậy. Kế con sói mừng rỡ nhảy lên định cắn vào cổ, Giang vùng dậy vung chùy đập nó vỡ sọ chết ngay tại chỗ, rồi giấu xác vào bãi cỏ rậm cạnh đó. Không bao lâu lại có một con sói mò tới, cũng làm như con trước, lại bị Giang đánh chết. Giang nằm đến nửa đêm không có con nào tới nữa, chợt chợp mắt ngủ đi, mơ thấy cha nói "Giết hai con sói ấy đủ rửa hận cho ta rồi, nhưng con kéo bầy giết ta thì mõm trắng chứ không phải là hai con này". Giang tỉnh dậy nằm chờ mãi đến sáng nhưng không đánh thêm được con nào, muốn kéo hai con sói về nhưng sợ mẹ lo lắng, bèn vứt xuống cái giếng cạn rồi về. Đêm sau lại ra nằm chỗ đó, nhưng không có con sói nào tới. Ba bốn đêm liền như thế mới chợt có một con sói tới cắn vào chân Giang lôi đi mấy chặng, Giang bị gai góc đá sỏi đâm cào trầy xước cả người vẫn nằm yên như chết. Con sói bèn dừng lại toan móc ruột Giang, Giang vùng dậy đập một chùy, con sói lăn ra, lại đập thêm mấy chùy cho chết hẳn, nhìn kỹ lại thì đúng là mõm trắng, cả mừng vác về, lúc ấy mới nói cho mẹ biết. Mẹ khóc lóc đi theo, tới chỗ giếng cạn thì xác hai con sói kia vẫn còn.
Dị Sử thị nói: Trong những người làm ruộng lại có kẻ anh tuấn như thế sao? Nghĩa khí sinh ra từ lòng thành, không những là can đảm mà mưu trí cũng lạ lùng nữa.

388. Đứa Con Gái ở Chân Định (Chân Định Nữ)

Ở vùng huyện Chân Định (tỉnh Sơn Đông) có một đứa con gái mồ côi cha, được nhà chồng đưa về nuôi nấng. Ở được một hai năm thì có thai, bụng to ra, nghĩ là có bệnh, về nói với mẹ. Mẹ hỏi "Có động đậy không?” đáp “Có". Người mẹ rất lạ lùng, nhưng thấy con còn quá nhỏ tuổi, không dám quyết định. Ít lâu sau sinh được con trai. Người mẹ khen ngợi nói "Không ngờ mẹ bằng nắm tay lại sinh được thằng cu con".

389. Tiêu Minh (Tiêu Minh)

Thị độc Đổng Mặc Am trong nhà bị hồ quấy phá, ném đá liệng ngói, cứ bất chợt lại ào ào như mưa đá. Gia nhân kéo nhau chạy núp, chờ đến lúc yên ắng mới dám trở ra làm việc. Ông lo lắng, mượn nhà quan Tư mã Tôn Tộ Đình, dời gia đình sang ở để tránh, mà hồ vẫn theo quấy phá như trước. Một hôm đang lúc ngồi chờ vào chầu, kể lại chuyện lạ cho các quan nghe. Đại thần có người nói đạo sĩ Tiêu Minh ở huyện Quan Đông (tỉnh Liêu Ninh) đang ngụ trong kinh thành, biết hết các loại bùa chú, rất cao tay. Ông tìm tới xin giúp, đạo sĩ vẽ bùa bằng mực son, bảo đem về dán trên vách. Nhưng hồ vẫn không sợ, ném đá liệng ngói còn quá trước. Ông lại tới kể với đạo sĩ, đạo sĩ tức giận, đích thân tới nhà ông lập đàn làm phép. Lát sau thấy một con hồ lớn nằm phục trước đàn. Đám gia nhân bị khổ cực đã nhiều, tức giận đầy ruột đổ ra, một người tỳ nữ vừa tới gần đánh vào nó thì ngã lăn ra đất, tắt hơi chết luôn. Đạo sĩ nói “Con vật này hung hãn lắm, ta đây còn chưa hàng phục được lập tức, đàn bà con gái sao lại coi thường mà đụng vào nó?". Kế lại nói "Thôi mượn xác lấy lời khai của nó cũng được". Rồi chĩa hai ngón tay đọc thần chú một lúc, người tỳ nữ chợt sống dậy, bò lạy. Đạo sĩ hỏi hồ vốn ở đâu, người tỳ nữ nói lời hồ rằng “Bọn ta vốn ở Tây Vực, tới kinh đô cả thảy có mười tám đứa". Đạo sĩ nói "Chốn kinh sư này làm sao cho các ngươi ở lâu được? Phải đi ngay đi”, hồ không đáp. Đạo sĩ đập bàn giận dữ quát “Ngươi muốn cưỡng lệnh ta à? Nếu còn chần chừ, ta sẽ làm phép không tha cho đâu!". Hồ mới tỏ vẻ sợ sệt, xin vâng lời, đạo sĩ lại thúc đi cho mau. Người tỳ nữ lại ngã vật ra đất tắt hơi, hồi lâu mới dần dần tỉnh lại. Giây lát thấy có một đám những khối màu trắng xoay tròn như quả cầu men theo thềm mà đi, lần lượt theo nhau, trong chớp mắt đã đi hết. Từ đó mới được ở yên.

390. Yêu Quái Trong Nhà (Trạch Yêu)

Ông Lý ở huyện Trường Sơn (tỉnh Sơn Đông) là cháu quan Đại Tư khấu, trong nhà có nhiều sự quái dị. Có lần thấy dưới chái nhà có cái giường màu đỏ như thịt, rất tươi nhuận. Lý vì trong nhà không có vật ấy, tới gần lấy tay vỗ vào thử, nó lập tức cong lại, mềm như thịt, Lý hoảng hốt bỏ chạy. Lúc sau trở lại nhìn, thì thấy bốn chân nó di động, rúc dần vào trong vách. Lại thấy có cây gậy trắng dựng dựa vào vách, bóng láng dài dài, tới gần nhấc lên thì thấy mềm mại rơi xuống ngoằn ngoèo bò vào vách, trong chớp mắt đã mất hút.
Năm Khang Hy thứ 17 (1678), Vương Tuấn Thăng dạy học trong nhà ấy, chặp tối vừa lên đèn, Vương cởi giày lên giường nằm. Chợt thấy một người bé nhỏ cao khoảng ba tấc từ ngoài đi vào, dạo một vòng rồi trở ra. Giây lát vác hai cái giường nhỏ vào bày trong nhà, mềm mại như lưng trẻ con, kết bằng cành đay. Giây lát lại có hai người bé nhỏ vác một cái quan tài vào, chỉ dài khoảng bốn tấc, đặt ở trên giường. Sắp đặt chưa xong, một người đàn bà dắt mấy tỳ nữ vào, cũng đều bé nhỏ như mấy người trước. Người đàn bà mặc áo tang, thắt dây gai ở lưng, đeo mạng vải che mặt, lấy tay áo bịt mỉệng nức nở khóc, tiếng như nhặng kêu. Sinh hé mắt nhìn trộm hồi lâu, lông tóc dựng cả lên, khắp người lạnh toát. Bèn la lớn định chạy, nhưng nhảy xuống giường rồi run sợ quá không đứng lên nổi. Người trong nhà nghe tiếng la đổ cả tới, thì đám người nhỏ bé kia đã không thấy đâu nữa.

391. Thần Tướng (Linh Quan)

Đạo sĩ Mỗ ở quán Triều Thiên thích thuật luyện khí. Có ông già tới ngụ ở quán cũng có cùng sở thích, bèn kết làm đạo hữu. Được vài năm, cứ đến ngày tế Giao thì ông già đã ra đi từ tuần trước, tế xong lại trỡ về. Đạo sĩ ngờ hỏi, ông già đáp “Chúng ta không thù ghét gì nhau, nên xin nói thật, ta là hồ đây. Sắp tới ngày tế Giao thì phải trừ tà uế, ta không ở được nên phải đi trốn thôi” Một năm kia đến kỳ lại ra đi, nhưng lâu quá không thấy trở lại. Đạo sĩ đang còn ngờ thì một hôm ông ta chợt về, bèn hỏi vì sao lần này đi lâu thế. ông ta đáp "Suýt nữa ta không được gặp lại ông rồi! Hôm trước muốn trốn xa mà lười nên ngại đi, thấy nhà tắm rất kín đáo bèn tới núp dưới khạp nước. Không ngờ thần tướng tới đó dọn dẹp, giở ra trông thấy, giận dữ định đánh, ta sợ bỏ chạy. Thần tướng đuổi theo rất gấp, tới sông Hoàng Hà thì dần dần đuổi kịp, ta túng thế không biết làm sao núp luôn vào dưới hầm xí, thần thấy ở đó nhơ bẩn quá mới bỏ đi. Ta trở ra thì bị nhiễm mùi hôi thối, không thể đi đâu cả, mới xuống sông tắm rửa, náu mình trong hang, mấy trăm ngày mới hết hôi thối. Hôm nay tới đây để từ biệt và có lời dặn ông. ông cũng nên đi chỗ khác, kiếp nạn sắp tới rồi, đây không phải là chỗ yên ổn đâu. Nói xong từ biệt ra đi. Đạo sĩ theo lời đi nơi khác, không bao lâu thì có biến cố năm Giáp thân*.
*Biến cố năm Gíáp thân: tức năm Giáp thân 1644, năm quân Thanh vào chiếm Bắc Kinh, bắt đầu thay nhà Minh cai trị Trung Quốc.

0
408. Hai Truyện Xử Án (Chiết Ngục Nhị Tắc)

I.

Phía tây huyện ta có thôn cạnh núi. Có kẻ trong thôn đi buôn bị giết trên đường, đêm hôm sau thì người vợ tự tử, em trai người đi buôn khóc lóc lên kêu với quan. Lúc ấy ông Phí Huy Vĩ làm huyện lệnh Truy Xuyên, đích thân tới khám nghiệm, thấy bọc tiền của người ấy còn năm nén bạc vẫn giắt trong lưng, biết đây không phải là vụ giết người cướp của. Bèn đòi hương chức ở thôn ấp tới hỏi, thẩm xét qua một lượt không được chút manh mối gì, cũng thả cho về cả chứ không bắt bớ một ai, chỉ sai họ ngấm ngầm dò xét, cứ mười ngày một lần lên huyện bẩm lại mà thôi. Được nửa năm việc hầu như bị dìm đi, em trai người đi buôn oán ông nhân từ nhu nhược, lên huyện làm ầm ĩ. Ông giận nói "Người không nêu được đích danh kẻ nào, lại muốn ta bắt bớ đánh đập kẻ lương dân à?", sai quát đuổi ra. Em trai người đi buôn không có cách nào, căm hờn trở về chôn cất anh và chị dâu.
Một hôm có mấy người thiếu thuế bị bắt giải lên huyện, trong đó có một người tên Chu Thành sợ bị giam, bẩm rằng đã lo đủ tiền nộp thuế, rút bọc tiền giắt trong lưng đưa lên cho quan xem. Ông xem xong hỏi "Nhà ngươi ở làng nào?", đáp ở thôn Mỗ. Lại hỏi cách thôn cạnh núi phía tây huyện bao xa, đáp là năm sáu dặm. Ông hỏi "Năm rồi thôn ấy có người đi buôn bị giết, là gì của ngươi?”, đáp là không hề quen biết. Ông chợt đùng đùng nổi giận nói "Ngươi giết y, lại còn nói là không hề quen biết à?", Chu ra sức phân trần, ông không nghe, sai tra tấn, quả nhiên y chịu nhận tội. Trước đó vợ người đi buôn là Vương thị đi thăm họ hàng, thẹn vì không có món đồ trang sức nào, nói với chồng bảo sang nhà hàng xóm mượn chiếc thoa, chồng không chịu. Vương thị bèn sang mượn rồi đi thăm họ hàng, giữ gìn rất cẩn thận, trên đường về tháo ra cho vào bọc tiền cất trong tay áo, về tới nhà xem lại thì đã làm rơi mất, không dám nói với chồng, cũng không có cách nào đền cho hàng xóm, lo buồn muốn chết.
Hôm ấy Chu tình cờ nhặt được, biết là của Vương thị làm rơi, bèn rình lúc người đi buôn vắng nhà, nửa đêm nhảy tường vào, định lấy đó ép Vương thị ngủ với mình. Hôm ấy trời nóng nực, Vương thị ngủ ở sân, Chu tới cưỡng ép, Vương thị tỉnh giấc la lớn. Chu vội ngăn lại, đưa chiếc thoa ra. Xong rồi Vương thị dặn "Từ nay về sau đừng tới nữa, đàn ông nhà ta dữ lắm, y biết thì chết cả". Chu tức giận nói "Ta mà cầm cái thoa này tới kỹ viện thì đủ ngủ mấy đêm, chẳng lẽ mới có một lần mà đã đủ à?”. Vương thị nói ngọt rảng “Không phải ta không muốn. Nhưng chồng ta nhiều bệnh, chẳng bằng cứ thong thả, chờ y chết rồi sẽ tính". Chu bèn về, vì vậy rình giết người đi buôn, đêm tới nói với Vương thị "Bây giờ y đã bị người ta giết rồi, xin nàng theo lời hứa”. Vương thị nghe thế khóc ầm lên, Chu hoảng sợ bỏ trốn, sáng ra thì Vương thị chết.
Ông hỏi rõ được hết sự thật, bèn khép tội Chu. Người ta đều phục là ông sáng suốt như thần, song không rõ ông dựa vào đâu mà biết là Chu giết người đi buôn. Ông nói “Chuyện này không khó, chỉ cần để ý đúng chỗ thôi. Lúc ta khám nghiệm xác chết, thấy bọc tiền có thêu chữ Vạn, bọc tiền của Chu cũng thế, cùng là do tay một người thêu. Khi hỏi thì y đáp là không hề quen biết người kia, lời lẽ sắc mặt đều có vẻ giả trá, cho nên biết được".
Dị Sử thị nói: Những người xét án trên đời, nếu không thẳng tay kết tội cũng bắt bớ đánh đập vài mươi người, bừa bãi quá lắm! Trên thềm sai đánh người huỳnh huỵch, quát thét tới trưa, rồi nghênh ngang nói "Ta lo việc dân mệt quá!". Gõ ba hồi trống nghỉ thì giọng nói sắc mặt đều lộ vẻ tự đắc, không quyết được việc án mà cũng chẳng nghĩ ngợi gì, chỉ chờ tới lúc ra công đường thì tra khảo cho nặng mà thôi? Ô hô, có phải nhờ vậy mà rõ được dân tình đâu!

II.


Trong huyện có Hồ Thành cùng làng với Phùng An, nhiều đời có hiềm khích với nhau. Cha con Hồ hung dữ, Phùng nhịn nhục qua lại chơi bời, song rốt lại Hồ vẫn ngờ vực. Một hôm cùng uống rượu, Hồ hơi say không còn giữ gìn nữa, bèn nói khoác rằng "Ta chẳng sợ gì nghèo, gia tài trăm lượng vàng chẳng phải là khó kiếm". Phùng thấy nhà Hồ không giàu, bèn chế nhạo. Hồ tỏ vẻ thành thật nói “Nói thật nhé, đêm qua gặp nhà buôn giàu trên đường mang rất nhiều hàng, ta đã giết y quăng xuống giếng cạn ở núi nam rồi". Phùng lại cười nhạo. Lúc ấy em rể của Hồ là Trịnh Luân nhờ mua ruộng đất, có gởi ở nhà Hồ mấy trăm đồng tiền vàng, Hồ bèn đem ra giả làm chứng cớ, Phùng mới tin. Hôm sau Phùng ngầm lên huyện tố cáo, ông cho bắt Hồ tra hỏi, Hồ bèn nói hết sự thật, hỏi tới Trịnh Luân và người bán ruộng cũng không sai. Bèn tới chỗ giếng cạn, dòng dây sai một người lính lệ xuống xem, thì quả có một cái thây người không đầu dưới đáy giếng. Hồ hoảng sợ không biết làm sao phân trần, chỉ kêu là oan.
Ông giận, sai đánh vài mươi tát, nói “Chứng cớ rõ ràng, còn kêu oan à?", sai đóng gông tử tù giam lại. Cái thây thì không cho mang lên, chỉ hiểu thị cho các làng gọi người nhà tới nhận. Vài hôm sau có người đàn bà tới nhận là vợ người chết, nói rằng chồng tên Hà Giáp, mang vài trăm đồng tiền vàng đi buôn, bị Hồ giết chết. Ông nói "Dưới giếng có xác người chết thật, nhưng chắc đâu đúng là chồng ngươi". Người đàn bà cả quyết đó là chồng mình, ông bèn cho mang cái xác lên, xét ra quả đúng. Người đàn bà không dám tới gần, chỉ đứng xa xa gào khóc. Ông nói "Đã bắt được thủ phạm rồi, nhưng thi thể người chết chưa đầy đủ, ngươi cứ tạm về nhà, khi nào tìm được cái đầu, sẽ báo quan trên xét rồi kết án". Rồi cho gọi Hồ trong ngục ra, nói "Ngày mai mà không đem được cái đầu tới đây, sẽ đánh cho một trận". Lính lệ giải Hồ đi cả ngày trở về, hỏi cái đầu đâu, Hồ chỉ kêu khóc. Ông sai bày các thứ hình cụ ra, làm như sắp tra khảo rồi bảo dừng lại, nói "Hay là trong đêm ngươi vội vã quăng bừa không biết là rơi ở đâu sao không chịu tìm cho kỹ?”. Hồ kêu là oan, ông tha cho, bắt phải tìm gấp.
Ông lại hỏi người đàn bà có mấy đứa con rồi, thưa rằng không có. Hỏi thân thích của Giáp còn những ai, thưa rằng "Chỉ còn có một ông chú. Ông bùi ngùi nói "Còn trẻ đã chết chồng, lênh đênh như vậy, rồi lấy gì mà sống?” Người đàn bà bật khóc, xin ông thương xót. Ông nói “Tội kẻ giết người đã rõ, chỉ cần tìm được đầu người chết, án này sẽ kết thúc. Kết thúc án này xong, ngươi có thể cải giá ngay. Ngươi là đàn bà trẻ tuổi, khỏi ra vào công đường nữa". Người đàn bà cảm kích khóc lạy rồi ra, ông ra lệnh cho người làng tìm giúp cái đầu xác chết. Qua một đêm, lập tức có Vương Ngữ cùng thôn báo là đã tìm được, ông đưa ra khám nghiệm cái đầu rõ ràng xong, bèn thưởng cho y một ngàn đồng tiền, gọi chú của Giáp lên nói "án lớn đã xong nhưng mạng người là lớn, chưa hết năm chưa kết thúc được. Cháu ngươi đã chết, vợ y còn trẻ không biết lấy gì mà sống, cứ cho đi lấy chồng khác, từ nay về sau không hỏi tới nữa. Nếu có quan trên cần xem xét lại, chỉ cần ngươi có mặt là đủ". Người chú của Giáp không chịu, ông ném hai cái thẻ tre xuống”*, vừa lại định cãi, ông lại ném ra một cái thẻ tre nữa, người chú của Giáp sợ, vâng dạ lui ra. Người đàn bà nghe chuyện tới tạ ơn ông, ông hết sức dịu ngọt an ủi, lại ra lệnh ai muốn cưới người ấy phải bẩm với quan.
*Ném hai cái thẻ tre xuống: ngày xưa lệ ở công đường sắp đánh đòn trách phạt kẻ có tội thì quan ném thẻ tre ra làm hiệu lệnh. Đây ý nói Phí Huy Vĩ dọa sẽ đánh đòn người chú của Hà Giáp.
Ngay sau đó có kẻ lên huyện thưa với quan xin cưới, đó là Vương Ngũ, người tìm ra cái đầu xác chết. ông gọi người đàn bà lên huyện hỏi “Ngươi đã biết kẻ giết người thật là ai chưa?” thưa là Hồ Thành. Ông nói "Không phải đâu, ngươi và Vương Ngũ mới đúng là thủ phạm đấy". Hai người hoảng hốt, ra sức biện hộ là bị oan ức. Ông nói “Ta đã biết sự thật từ lâu, nhưng để từ từ mới nói ra, là vì sợ vạn nhất có chỗ oan uổng thôi. Cái thây chưa mang lên khỏi giếng, sao ngươi đã biết đó đúng là chồng ngươi, rõ ràng đã biết trước rằng y đã chết rồi. Vả lại người đi buôn chết mà áo mặc rách mướp, lấy đâu ra vài trăm đồng tiền vàng?". Lại nói với Vương Ngữ rằng "Tại sao ngươi biết rõ chỗ cái đầu như vậy? Sở dĩ ngươi gấp gáp như thế, là vì muốn lấy ngườì đàn bà này sớm thôi”. Hai người mặt xám như tro không nói được câu nào, đến khi bị tra khảo, quả đều khai nhận tội. Đại khái Vương Ngũ và người đàn bà tư thông với nhau đã lâu, bèn mưu giết chồng người đàn bà, lại gặp đúng lúc Hồ Thành nói đùa nên thành chuyện. Ông bèn tha cho Hồ, phạt trượng rồi đày Phùng An ba năm vì tội vu cáo. Án ấy kết thúc, không người nào bị chịu cực hình oan uổng.
Dị Sử thị nói: Thầy ta nổi tiếng nhân ái, cứ xem chuyện này đủ biết người nhân dụng tâm lao khổ thế nào. Lúc ông vừa làm huyện lệnh Truy Xuyên, Tùng vừa tới tuổi nhược quan*, được ông quý mến lắm cho là tài giỏi, nhưng ngu độn bất tài, lại trở thành con hạc không múa khiến Dương công xấu hổ** . Đó là việc không sáng suốt duy nhất trong đời thầy ta đấy, mà thật là do tội của Tùng, nghĩ đau lòng thay!
*Tùng: tức Bồ Tùng Linh tự xưng.
** Con hạc không múa khiến Dương công xấu hổ: lấy tích Dương Thúc Tử nuôi con hạc biết múa, nhưng có lần có khách, ra lệnh cho nó múa thì nó cứ đứng im. Đây tác giả có ý nói mình lận đận công danh làm phụ lòng tin tưởng của Phí Huy Vĩ .

409. Hiệp Khách Chim (Cầm Hiệp)

Chùa nọ ở huyện Thiên Tân (tỉnh Hà Bắc) có đôi hạc làm tổ ở góc điện Phật. Giữa mái và trần điện Phật có con rắn lớn như cái chậu, khi hạc con vừa mọc lông cánh thì bò ra nuốt sạch. Đôi hạc kêu bi thảm mấy hôm rồi bay mất. Cứ thế ba năm, đôi hạc như cho rằng rắn không tới đó nữa, vẫn trở về làm tổ như cũ. Khi hạc con vừa lớn, đôi hạc bay đi, ba ngày mới về, vào tổ kêu ríu rít, mớm cho hạc con ăn. Con rắn lại ngoằn ngoèo bò lên, gần tới tổ thì đôi hạc hoảng sợ, bay ra kêu gấp, lên thẳng trên trời. Chợt nghe tiếng ào ào, trong chớp mắt trời đất tối sầm, mọi người kinh hãi, nhìn ra thấy một con chim lớn cánh che rợp mặt trời từ trên không lao xuống mau như cơn lốc, giơ móng chụp vào rắn, đầu con rắn đứt ra rơi xuống làm sập cả mấy thước tường góc điện, rồi giương cánh bay đi. Đôi hạc bay theo sau như tiễn đưa. Cái tổ hạc lật nghiêng, hai con hạc con rơi xuống đất, một con sống một con chết. Sư ở đó đem con còn sống đặt lên gác chuông, lúc sau đôi hạc về lại tiếp tục nuôi mớm cho. Đến khi hạc con đủ lông cánh thì cùng bay đi.
Dị Sử thị nói: Năm kế lại tới, chắc không ngờ là tai họa sẽ lại tới. Ba năm không dời tổ, thì đã quyết ý báo thù, ba ngày không trỡ về, đủ biết chuyến ấy là đi cầu cứn. Con chim lớn ắt là kiếm tiên của loài chim, ào ào bay tới, đánh một nhát rồi đi, kỳ diệu như vậy còn có gì nói thêm được nữa? Ở Tế Nam có người lính đóng trong dinh, thấy chim hạc bay qua, giương cung bắn, hạc theo tiếng dây cung bật rơi xuống, trong mỏ còn ngậm cá để mớm cho con. Có người khuyên nhổ mũi tên thả nó ra, người lính không chịu. Giây lát, con hạc vùng mang tên bay mất, về sau cứ qua lại quanh đó hơn hai năm, vẫn mang mũi tên như cũ. Một hôm người lính ngồi ở cửa dinh, con hạc bay qua, mũi tên rơi xuống đất. Người lính nhặt lên nhìn, nói “Mũi tên này vẫn không bị gì sao!”. Vừa lúc thấy trong tai ngứa ngứa, nhân cầm mũi tên ngoáy, chợt có cơn gió mạnh thổi cánh cửa đóng sầm lại, đập mũi tên xuyên qua đầu, người lính chết luôn.
 
410. Chim Hồng (Hồng)

Có người đánh lưới chim ở phủ Thiên Tân (tỉnh Trực Lệ) bắt được một con chim hồng. Con trống theo y về tới tận nhà, kêu thảm thiết lượn trên nóc, đến chiều tối mới bay đi. Hôm sau người ấy ra khỏi nhà từ sáng sớm, thì con hồng đã tới bay theo kêu la, rồi nhảy xuống đậu sát dưới chân y. Người ấy chụp bắt luôn, thì nó vươn cổ lên nhả ra nửa nén vàng, y hiểu ý nói  “Đây là nó chuộc vợ đây". Bèn thả con mái ra, đôi chim quẩn quanh cạnh nhau một lúc như vừa đau thương vừa mừng rỡ, rồi mới cùng bay đi. Người ấy đem cân vàng, thì được hơn hai lượng sáu đồng cân. Ôi, loài chim biết gì mà cũng chung tình tới như thế. Ở đời không gì buồn bằng nỗi buồn ly biệt, loài vật cũng như thế chăng .

411. Voi (Tượng)

Ở đất Quảng (tỉnh Quảng Đông) có người đi săn mang cung tên vào núi, nhân ngồi nghỉ mệt bất giác ngủ thiếp đi, bị một con voi tới đưa vòi cuốn lấy mang đi, tự nghĩ rảng sẽ bị giết chết. Không bao lâu con voi đặt y xuống dưới một gốc cây lớn, cúi đầu kêu một tiếng, một đàn voi ào ào kéo tới đứng vây chung quanh, như muốn khẩn cầu điều gì. Con voi kia bèn nằm xuống dưới gốc cây, ngẩng nhìn lên cây rồi cúi xuống nhìn người đi săn, như muốn y leo lên. Người đi săn hiểu ý, bèn leo lên lưng voi rồi vịn cành leo lên cây, song lên tít trên cao rồi vẫn chưa hiểu chúng muốn mình lên đây làm gì. Giây lát có con sư tử tới đàn voi đều nằm rạp xuống. Con sư tử chọn lấy một con to béo, định xé xác ăn thịt, cả bầy voi run sợ không con nào dám bỏ chạy, chỉ cùng ngẩng nhìn lên trên cây như xin thương xót cứn giúp. Người đi săn giơ nỏ ngắm vào con sư tử bắn một phát, sư tử lăn ra chết, bầy voi chầu cả lên không như nhảy nhót lạy tạ, người đi săn bèn leo xuống. Con voi kia lại nằm xuống, lấy vòi kéo áo y như bảo cưỡi lên nó. Người đi săn bèn leo lên lưng, voi bước đi. Tới một chỗ, nó lấy chân đạp đất lộ ra một cái hầm, bên dưới có vô số ngà voi. Người đi săn xuống lựa lấy bó lại, con voi lại chở y ra khỏi núi rồi mới trở về.

412. Hòa Thượng Tử Hoa (Tử Hoa Hòa Thượng)

Đinh Mỗ ở huyện Chư Thành (tỉnh Sơn Đông) là cháu nội của ông Dã Hạc. Còn trẻ tuổi đã nổi tiếng là danh sĩ, bị bệnh chết, qua một đêm lại sống lại nói “Ta ngộ đạo rồi". Lúc ấy có nhà sư tinh thông kinh kệ, Đinh sai người mời tới, bảo ngồi trước giường giảng kinh Lăng nghiêm, cứ nghe xong một đoạn lại nói không phải như thế. Lại nói "Ta mà khỏi bệnh thì chứng ngộ không khó, nhưng chỉ có Mỗ sinh là chữa được bệnh cho ta, phải cố mời tới". Lúc ấy trong huyện có Mỗ sinh giỏi y đạo nhưng không làm nghề chữa bệnh, Đinh cho người mời mấy lần mới tới, vừa bốc thang thuốc đầu tiên cho uống, bệnh Đinh đã giảm. Mỗ sinh về nhà, chợt thấy một cô gái từ ngoài vào, nói “Ta là thị tỳ trong phủ Đổng Thượng thư đây. Hòa thượng Tử Hoa có thù với thiếp, nay mới được rửa hận, ông lại muốn cứu y sống à? Nếu còn chữa bệnh cho y sẽ có tai họa đấy!", nói xong biến mất. Mỗ sợ, từ chối không chữa bệnh cho Đinh nữa. Bệnh Đinh lại phát, hết sức mời Mỗ, Mỗ bèn kể lại mọi việc, Đinh than rằng “Oan nghiệt từ kiếp trước, chắc ta chết rồi” kế chết. Sau Mỗ tìm hỏi, quả trước đó có một vị cao tăng là Hòa thượng Tử Hoa, thường được phu nhân của Đổng Thượng thư ở phủ Thanh Châu (tỉnh Sơn Đông) rước về nhà cúng dường, song không ai rõ được oan nghiệt từ đâu mà sinh ra.

0
12. Bạch Liên Giáo (Bạch Liên Giáo)

Tư Hồng Nho thủ lĩnh Bạch Liên giáo vốn là nhà nông. Cày ruộng ở chân núi, được một pho tượng Phật bằng đồng, một thanh kiếm bằng sắt, cùng hai quyển sách tả đạo. Ngày đêm học tập, không gì không tinh thông. Bèn tự xưng là Như Lai xuất thế, mê hoặc dân ngu. Từng có người khách đêm tới nhà, Từ vẽ một cái mặt trăng treo lên vách, cả gian phòng sáng bừng. Trong phòng chất đầy vàng bạc, để người ta tùy ý lấy không ngăn cấm. Không cần tôi tớ, chỉ rút trong túi ra hai hình người giấy cao ba tấc đặt xuống đất, lập tức vươn dài ra cao bằng người, lại thướt tha xinh đẹp. Một người ăn mặc lối văn sĩ, tuấn nhã phong lưu, một người ăn mặc lối võ sĩ, đeo kiếm mang cung. Sai dọn rượu bày tiệc đi lại rất mau lẹ. Lại lấy ra hơn mười người bằng giấy, làm phép đều biến thành mỹ nữ, áo lông xiêm ráng, ca múa mời rượu. Có thể sai khiến quỷ thần, cho dù các loại cây cối loài vật ở núi sông thành thị cũng đều có thể biến ra trong nháy mắt. Lại đưa ra một tấm gương bảo người ta soi vào có thể thấy được số phận trọn đời. Có người thì khăn lượt mũ sa, có người giáp vàng áo thêu, người soi vào không ai không mừng rỡ nhảy nhót.
Tin tức đồn đãi khắp nơi, lúc ấy người ta nối gót nhau tới xin soi, trước cửa đông nghịt. Từ thấy những người bị mê hoặc ngày càng đông, bèn treo gương tự soi, thì thấy đội mũ miện mặc long bào, nghiễm nhiên là bậc vương giả. Bèn phao tin rằng "Phàm những người ăn mặc đẹp đẽ trong gương đều là người trong hội Long Hoa, được Như Lai định rõ là sẽ làm quan, đều nên gắng sức để tìm phú quý". Mọi người đều ngạc nhiên mừng rỡ lạy phục xuống. Kế đó chế cờ lệnh cầm tiết việt, không ai không nhảy nhót đi theo, chưa từng có người nào không tuân lệnh. Không đầy vài tháng, đã có hàng vạn người theo về, một dải Đằng Dịch theo gió mà rạp. Về sau đại quân thảo phạt, giết sạch không ai sống sót. Bọn họ vọng tưởng một bước lên trời, mà không tự răn!
Bành Đô ty người Trường Sơn, sống trong quân ngũ nhiều năm, dũng cảm hơn người. Lúc thảo phạt, gặp hai cô gái để bím tóc cặp đao sắt, thúc ngựa dữ, hung hãn dị thường, Bành ra sức tiếp chiến. Hai cô gái không thể tới gần Bành, mà Bành cũng không sao làm hai người bị thương. Từ sáng đến chiều, liên tiếp ba ngày Bành kiệt sức, thở dốc mà chết. Về sau bắt được quân giặc hỏi cung, mới biết hai cô gái ấy là người giấy đao gỗ, ngựa cưỡi chỉ là ghế gỗ mà thôi. Đao ngựa giả mà làm  chết tướng quân thật, lạ thay!

13. Sai Dịch Ma (Quỷ Lại)

Hai người sai dịch ở Lịch Thành vâng lệnh Huyện lệnh Hàn Thừa Huyên đi công cán ở quận khác, cuối năm mới về. Trên đường gặp hai người, ăn mặc giống như mình. Cùng đi suốt nửa ngày dần dần nói chuyện với nhau. Hai người kia tự xưng là sai dịch quận Tế Nam. Sai dịch nói "Những nha dịch trong quận, mười người thì bọn ta biết tới tám chín. Hai ông thì chưa từng quen biết". Người kia nói "Nói thật, ta là sai dịch ma trong miếu Thành hoàng, nay là mang công văn tới miếu Đông Nhạc". Sai dịch hỏi trong công văn viết gì, đáp "Tế Nam sắp có kiếp nạn lớn, là báo danh những người bị giết". Sai dịch cả sợ hỏi bao nhiêu người chết, đáp "Cũng không rõ lắm, nhưng e gần trăm vạn", sai dịch càng hoảng sợ. Nhân hỏi thời hạn, đáp là tháng giêng. Hai người sai dịch nhìn nhau, tính ngày về tới nơi vừa đúng hôm Trừ tịch. Sợ bị mắc nạn, nhưng chần chừ thì sợ bị khiển trách. Ma nói “Lỡ hạn tội nhỏ, gặp nạn họa lớn, nên tránh đi chỗ khác, tạm thời đừng về". Sai dịch theo lời, chia tay theo đường tắt trốn đi. Không bao lâu quân tới có gần trăm vạn người chết, hai người nha lệ được thoát.
Dị Sử thị nói: Theo lành tránh dữ là then chốt trên thế gian. Không ngờ dưới địa phủ cũng như thế. Hay là hai người sai dịch ấy không có tên trong kiếp nạn, nên sai dịch ma khuyên như thế chăng?

14. Khách Rết (Yết Khách)

Có người thương nhân phương Nam buôn rết, hàng năm tới Lâm Câu, thu mua rất nhiều. Thổ nhân cầm kẹp gỗ vào núi, vào hang sâu lật đá tảng tìm bắt. Hết một năm lại tới, ngụ ở chỗ trọ cũ chợt thấy bồn chồn, lông tóc dựng đứng mà sợ sệt gấp bội lúc bình thường. Chợt nói với chủ nhân "Làm hại vật sống đã nhiều, nay bị ma rết tức giận, sắp tới giết ta, xin cứu ta với”. Chủ nhân thấy trong phòng có cái vò lớn, bèn bảo vào đó ngồi xổm rồi lấy nắp đậy lại. Không bao lâu, một đại hán bước vào, đầu tóc xõa tung vẻ mặt hung dữ, hỏi chủ nhân "Người khách phương Nam ở đâu?", đáp đã ra ngoài. Người ấy vào phòng nhìn quanh, khịt khịt mũi thành tiếng mấy lần, rồi ra cửa đi. Chủ nhân nói “May ra thì thoát nạn chăng!", rồi bước vào mở nắp vò lên, thì người khách đã hóa thành máu.

15. Con Hồ Trong Dinh Thự Tuân Hóa (Tuân Hóa Thự Hồ)

Khưu công người Chư Thành, làm Quản đạo đạo Tuân Hóa. Trong dinh thự vốn có nhiều hồ, ở ngôi lầu trong cùng thường xuyên có hồ tụ họp, thỉnh thoảng ra hại người. Chửi mắng lại càng lộng hành, nhĩmg người làm quan ở đó chỉ làm tiệc cầu khấn, không ai dám xúc phạm. Khưu công đáo nhiệm, nghe thế nổi giận. Hồ cũng sợ công cương nghị, biến thành một bà già, nói với người nhà của công "Xin bẩm lại với đại nhân là đôi bên không có thù oán gì, xin làm khách ba ngày nữa, sẽ đưa hết già trẻ đi," Công nghe cũng im lặng không nói gì. Hôm sau duyệt binh xong, bảo đừng tan về, sai đem hết súng ống trong các doanh tới, chĩa quanh lầu cùng phát đạn, trong giây lát ngôi lầu thành đất bằng. Lông da máu thịt trên trời rơi xuống rào rào, nhưng thấy giữa đám mưa máu mịt mờ có một làn khí trắng như đám mây vọt ra. Mọi người nhìn lên nói "Có một con thoát rồi”, nhưng từ đó trở đi trong dinh thự yên ổn. Sau hai năm, công sai một người đầy tớ tin cẩn mang bạc về kinh để thu xếp việc thăng chuyển. Việc chưa xong, người ấy còn ở lại trong nhà một nha dịch để chờ trả tiền dần duyên*. Một hôm chợt có ông già tới kinh đô kêu oan, nói vợ con bỗng dưng bị tàn sát. Lại nói công cắt xén quân lương, nịnh nọt thượng cấp, hiện cất ở nhà Mỗ, có thể làm bằng chứng. Xét sớ hỏi lý, cùng tới nhà người nha dịch kia, tìm kiếm không ra tiền bạc. Ông già nhịp chân xuống đất, công sai hiểu ý, đào xuống quả nhiên lấy được vàng. Trên vàng bạc đều có khắc tên quận giải về. Sau đó tìm ông già, thì đã đi mất. Bắt láng giềng để tìm người ấy, cũng không có ai. Công vì thế mắc nạn. Ông già tức là con hồ trốn thoát vậy.
*Tiền dần duyên: dần duyên cũng như dần nghị, chỉ việc quan lại giao du với nhau. Tiền dần duyên tức tiền quan lại tặng biếu để làm quen, đây chỉ tiền hối lộ.
Dị Sử thị nói: Hồ quấy phá người ta, thì rất đáng tru diệt. Nhưng đã sợ mà xin tha, cũng nên giữ trọn lòng nhân, có thể nói công cũng quá nóng nảy vậy. Nếu làm quan ở Quan Tây mà như thế, thì há chỉ một con hồ trắng thù hận thôi sao?

16. Huyện Lệnh Ngô Huyện (Ngô Lệnh)

Ông Mỗ làm Huyện lệnh Ngô huyện, quên mất tên họ, cứng rắn có tiếng. Tục đất Ngô rất trọng thần Thành hoàng, dùng gỗ tạc tượng, may gấm làm áo, dáng vẻ như người sống. Gặp ngày cúng thần thì dân cư góp tiền mở hội, xe kiệu chật đường. Cờ phướn la liệt, trống kèn đàn sáo vừa trỗi vừa đi, ồn ào ầm ĩ, chen chúc trên đường. Thói quen đã thành lệ, không năm nào dám bỏ phế. Ông tới đó, gặp lúc họ đang đi, bèn ngăn lại hỏi, dân ở đó kể lại chuyện. Lại nói tiền bạc đóng góp rất nhiều, ông tức giận, chỉ vào thần trách mấy câu "Thành hoàng là chủ một huyện, nếu ngu xuẩn ương bướng không thiêng thì là ma . quỷ tối tăm ngu muội, không đáng để thờ phụng. Còn nếu linh thiêng thì phải biết tiếc của cải, sao lại được tốn phí vô ích, làm hao tổn máu mỡ của dân”. Nói xong kéo tượng thần xuống đất, đánh hai mươi roi. Từ đó tập tục lập tức thay đổi. Ông trong sạch ngay thẳng không riêng tư, chỉ là trẻ tuổi thích đùa giỡn. Ở đó hơn một năm, ngẫu nhiên bắc thang trong giải vũ trèo lên bắt chim sẻ, hụt chân rơi xương gãy đùi, kế chết. Người ta nghe thấy trong đền Thành hoàng có giọng ông tức giận lớn tiếng, giống như tranh cãi với thần, mấy ngày không ngớt. Mọi người không quên ơn ông, kéo nhau tới tụ họp, khẩn cầu xin thôi, sẽ xây một miếu riêng, giọng ông liền tắt. Miếu mới cũng gọi là miếu Thành hoàng, xuân thu cúng tế, còn linh thiêng hơn miếu cũ Ngô huyện đến nay vẫn có hai Thành hoàng.

17. Nha Dịch Sâu Mọt (Đố Dịch)

Tiến sĩ Lý Khuông Cửu người Trâu Bình làm quan rất liêm khiết công minh. Từng có người nhà giàu bị người ta vu cáo, nha dịch dọa nói "Quan đòi hai trăm lượng vàng, mau thu xếp cho xong, không thì có tai họa đấy". Người nhà giàu sợ hãi vâng dạ, thu xếp được một nửa, nha dịch không chịu, người nhà giàu hết sức nài nỉ. Nha dịch nói "Không phải ta không ra sức, nhưng sợ quan không chịu. Đợi lúc xét xử, ngươi cứ nhìn ta, ta sẽ bẩm lại số này, quan ưng thuận hay không thì cũng có thể biết ta không có ý gì khác". Giây lát ông xét vụ ấy. Tên nha dịch biết ông không hút thuốc, bèn tới gần hỏi hút thuốc không, ông chỉ lắc đầu. Tên nha dịch bước xuống, nói khẽ “Vừa rồi nói ra con số, quan lắc đầu không chịu, ngươi thấy rõ chứ”. Người nhà giàu tin thật, càng hoảng sợ, bèn ưng thuận con số lúc đầu. Tên nha dịch biết ông nghiện trà, bèn tới gần hỏi uống trà không, ông gật đầu. Tên nha dịch lấy cớ đi pha trà, lại bước xuống nói khẽ “Quan ưng thuận rồi, đã gật đầu, ngươi thấy rõ chứ?”. Kế vụ ấy xét xong, người nhà giàu quả nhiên được tha. Tên nha dịch lập tức thu tiền, lại đòi thêm tiền tạ ơn. Than ôi, tên nha dịch ấy cũng gian trá thật.

18. Nha Dịch (Tạo Lệ)

Trong niên hiệu Vạn Lịch, Huyện lệnh Lịch Thành mơ thấy thần Thành hoàng đòi người hầu hạ, lập tức ghi tên tám người nha dịch vào sớ điệp đốt trong miếu. Đến đêm, tám người đều chết. Đầu tiên một người nghe bảy người kia đã chết, trong lòng sợ hãi, cắn ngón tay mà chết. Phía đông miếu có quán rượu, chủ quán vốn quen biết cả tám người. Đêm ấy có một người tới mua rượu, bèn hỏi mời khách nào. Đáp "Bạn đồng liêu rất đông nên mua một vò, chỉ thiếu họ Tự mà thôi". Đến sáng, gặp người nha dịch khác, mới biết người ấy đã chết. Tới miếu mở cửa vào thì vò rượu còn đó, rượu bên trong vẫn còn đầy, nhưng mùi vị giống hệt nước lã. Quay về nhìn lại tiền thì đều là tro giấy. Quan huyện bèn đắp tám pho tượng đặt trong miếu, riêng người cắn ngón tay thì pho tượng tươi tắn như người sống. Con cháu tám nhà đều quanh năm cúng tế. Các nha dịch trong huyện nhận chức, trước tiên đều ra đó tế lễ, nếu không ắt sẽ gặp chuyện bị trách phạt.

19. Trư Bà Long (Trư Bà Long)

Trư Bà Long sản ở Giang Tây, hình dáng như con rồng mà ngắn , có thể bay là đà, thường lên dọc bờ sông bắt ngỗng vịt để ăn. Có người săn được, thì bán thịt cho hai nhà họ Trần họ Kha. Hai họ ấy đều là hậu duệ của Trần Hữu Lượng, nhiều đời ăn thịt trư bà long, chú họ khác thì không dám ăn. Có người khách từ Giang Tây tới, bắt được một con, buộc lại trong thuyền. Một hôm ghé thuyền ở Tiền Đường, dây buộc hơi lỏng, nó chợt nhảy xuống sông, sóng nước nổi lên, thuyền buôn chìm hết.

20. Bạc Nén (Nguyên Bảo)

Lâm Giang ở Quảng Đông, vách núi dựng đứng, thường có bạc nén khảm vào vách đá. Phía dưới dốc núi sóng lớn, thuyền bè không thể ghé vào. Có người khua mái chèo cố tới gần để khều, thì dính cứng không lay động được. Nếu số người ấy lấy được, thì khều một cái là rơi xuống ngay, quay lại thì đã qua kiếp khác rồi.

21. Vu Tử Du (Vu Tử Du)

Người trên bờ biển nói, một hôm trong biển chợt có hòn núi cao nhô lên, người ở đó đều hoảng sợ. Có Tú tài đi nhờ thuyền đánh cá, mua rượu độc ẩm. Đến đêm có một thiếu niên bước vào, mặc áo đội mũ nhà nho, tự xưng là Vu Tử Du, chuyện trò phong nhã, Tú tài rất thích, bèn cùng nhau uống rượu. Đến nửa đêm rời tiệc cáo từ. Tú tài nói “Nhà ông ở đâu, đêm tối mờ mịt thế này, việc gì phải làm khổ mình”. Đáp "Ta không phải là người ở đây. Vì sắp đến tiết Thanh minh, theo đại vương lên mộ. Gia quyến đã đi trước, đại vương tạm nghỉ lại, giờ Thìn sáng mai sẽ lên đường nên phải trở về để lo việc buổi sáng". Tú tài cũng không biết đại vương là ai. Đưa ra tới đầu thuyền, người ấy nhảy xuống nước bơi đi, mới biết là yêu cá. Hôm sau, giờ Thìn thấy đỉnh núi rung động, trong chớp mắt biến mất, mới biết hòn núi ấy là một con cá lớn, tức cái mà người kia gọi là đại vương. Tục truyền tiết Thanh minh, cá lớn trong biển dắt con cái đi bái mộ, hay là chuyện có thật chăng? Đầu niên hiệu Khang Hy, dưới biển nổi sóng, có con cá lớn gào thét mấy hôm, tiếng như trâu rống. Kế chết, những người quảy sọt tới xẻ thịt, chen chúc trên đường. Con cá to khoảng một mẫu, chỉ không có tròng mắt, hốc mắt sâu như cái giếng, bên trong đầy nước, người xẻ thịt vô ý rơi vào đó là lập tức chết đuối. Có người nói cá lớn dưới biển bị biếm chức là bị khoét mắt, lấy mắt làm ngọc dạ quang.

22. Em Trai Lý Tượng Tiên (Lý Tượng Tiên Đệ)

Lý Tượng Tiên ở Thọ Quang, học vấn uyên bác là kẻ sĩ cao khiết ở vùng Hải, Đại. Biết kiếp trước là sư, sinh ra đã sợ bú, trên kia đã kể rõ. Con trai sớm đỗ đạt, nhưng mình chỉ lấy văn học mà sống đến trọn đời. Đó là cái mà Phật gia vẫn nói là phúc nghiệp chưa tu chăng? Người em cũng sớm nổi tiếng, nhưng sinh ra có tật kín, mấy tháng mới động đậy. Lúc động thì bật dậy, không kể gì tới tân khách, từ ngoài la lối bước vào, lúc ấy tỳ nử bà vú đều tránh mặt. Tới cửa lại khựng lại, không vào phòng mà quay ra. Anh em đều là người kỳ lạ vậy.

23. Núi Vũ Di (Vũ Di)

Núi Vũ Di có vách đá dựng đứng cao ngàn nhận, người ta thường nhặt được trầm hương vàng ngọc chất đống bên dưới. Thái thú nghe chuyện, sai vài trăm người làm thang lên đỉnh để xem chuyện lạ, ba năm mới làm xong. Thái thú lên thang, sắp tới đỉnh thì thấy một bàn chân buông xuống, ngón cái to bằng cái chày giặt áo, lớn tiếng gọi "Đừng xuống, sắp rơi rồi”, cả kinh vội trèo xuống. Vừa tới đất thì giá gỗ khô mục sụp xuống tan nát không còn gì.

0
Đã mang avéo thư viện

Cảm ơn bevang đã góp sức cho thư viện

Chúc vui
0
«« « 4 5 6 7 8 » »»