Võ Huy Tấn- nhà ngoại giao lỗi lạc của vua Quang Trung
Hồ Mậu Đường
Năm Kỷ Dậu 1789, sau khi đại thắng quân Thanh, dẹp yên nội trị, vua Quang Trung tính đến việc đối ngoại, nhằm hòa hoãn với triều đình Mãn Thanh, tạm dẹp ngọn lửa binh đao, để muôn dân yên hưởng thái bình.
Vua chỉ dụ tìm người tài lo việc ngoại giao. Có người tiến cử Võ Huy Tấn, người làng Mộ Trạch, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương. Là một nho sinh thông minh trác việt, năm hai mươi tuổi Võ thi đỗ Giải nguyên khoa Mậu Tý, dưới đời Lê Cảnh Hưng, tiếng tăm lừng lẫy một vùng. Khi được tin có lệnh vời, Võ tìm cách lánh đi nơi khác, vì lòng còn vương vấn nhà Lê. Vốn trọng người tài, vua Quang Trưng lại tiếp tục cho vời. Lần này vâng lời cha khuyên, Võ vào kinh bệ kiến, được bổ chức Hàn lâm đại chiếu, phong tước bá. Vừa nhận chức thì nhà Thanh có thư sang. Võ liền được cử đi sứ.
Chuyến sứ trình này, Võ Huy Tấn tỏ ra là một người có tài ứng phó, có nhiều thơ văn thù ứng sắc sảo, đề vịnh tuyệt bút, được vua Càn Long nhà Thanh khen ngợi, giới sĩ phu Mãn Thanh thán phục. Về tài ứng phó của Võ, có thể chứng minh qua mẩu chuyện sau đây:
Một hôm ngồi trong công quán (tức nhà khách) ở Bắc Kinh, thấy trong cuốn sổ kê khai đồ cống của nước ta, Lại mục nhà Thanh gọi mình là Di- quan (tức là quan xứ mọi); Võ rất bất bình, hạ bút viết ngay bốn câu thơ vào cuối sổ:
'Di' tự tòng 'cung' hựu đới "qua'
Ngô bang văn hiến tự Trung hoa
Thần kinh khâm tứ An- nam quốc
Thử tự thư lai bất diệc ngoa?
Dịch nôm:
Chữ "di' là hợp 'cung' với 'qua'
Nước ta văn hiến tựa Trung hoa
Vua Tàu đã gọi An- nam quốc
Dùng chữ 'di' này hoá chẳng ngoa?
Thật là tài tình? Võ áp dụng lối 'sách tự' giải nghĩa chữ 'di" là hợp hai chữ "cung" và 'qua' (hai thứ vũ khí ngày xưa). Qua đó bài thơ bao hàm ý tứ rất thâm thuý: "Các chú coi tôi là 'di' (mọi) cũng phải thôi. Vì chính với những cái "cung' và 'qua' ấy, chúng tôi đã từng quét sạch các chú chất đầy một gò Đống Đa".
Thái độ phản kháng của Võ thật khôn khéo. Trong tình thế mình cần giữ hoà hoãn với phương Bắc, không thể phản đối một cách quyết liệt, trực diện, nhưng mặt khác vẫn phải giữ quốc thể, không thể để cho ngoại bang xem thường. Khi xem bài thơ, các sĩ phu nhà Thanh rất hiểu thâm ý của sứ giả Việt Nam, nhưng không làm gì được, vì lời lẽ thật mềm mỏng, từ tốn.
Với thành tích đó, khi về nước Võ Huy Tấn được vua thăng Công bộ thượng thư. Quang Trung thực sự phục tài ngoại giao của Võ, nên sau đó không lâu, vua lại cử Võ đi sứ lần nữa. Chuyến sứ trình này hết sức quan trọng vì vua nhà Thanh yêu cầu đích thân vua Quang Trung sang tiếp kiến. Trường hợp này quả là khó xử, nhưng nhà vua anh hùng của chúng ta đã có cách xử sự. Người cử một đoàn sứ giả thật hùng hậu, gồm toàn những nhân vật tài ba như Ngô Văn Sở, Đặng Văn Thân, Phan Huy ích, Võ Danh Tiêu, Nguyễn Tiến Lộc, Đỗ Văn Công... do Võ Huy Tấn đứng đầu, phò 'giả vương' sang Tàu tiến cống. 'Giả vương' là Phạm Công Trị, một vị triều thần có vóc dáng và diện mạo hao hao giống Quang Trung, được nhà vua chọn thay mình cùng đi với sứ bộ.
Lần này nhà Thanh vời cho được vua Quang Trung sang trước là để tỏ uy phong, sau nữa để dự Đại khánh mừng thọ 'bát tuần' vua Càn Long. Nhà vua cho đón tiếp sứ bộ rất trọng thể, cung phụng đặc cách. Sau đó lại mời đi thăm Đằng Vương các. Đây là một toà lâu đài kiến trúc đặc sắc, xây dựng từ đời nhà Đường bên một dòng sông, phong cảnh hữu tình, thành nơi du ngoạn nổi tiếng của tỉnh Giang Tây, từng được đại thi hào Vương Bột (tức Vương Tử An) ca ngợi bằng một bài thơ tuyệt tác.
Vị quan sở tại yêu cầu sứ bộ ta vịnh thơ. Võ Huy Tấn cầm bút viết xong ngay, cuối bài thơ có ghi chú mấy lời sau: 'Than ôi, bến nam non tây, thuyền chài trận nhạn, những cảnh đẹp đứng trên gác cao trông thấy, bài thơ 'Đằng Vương các' của Tử An mô tả ra hết, sau này ai có làm bài khác cũng không thể hay hơn được. Tôi đi hộ giá, được đến du ngoạn cảnh này là nơi xưa nay thuyền sứ giả chưa bao giờ được ghé tới. Hoá chẳng phải vì có tiền duyên với phong cảnh và văn chương đó sao? Nhân vị Đốc kiến có ngỏ ý xin với Quốc vương (tức giả vương), tôi thừa lệnh cầm bút mạo muội viết xong ngay dâng lên'.
Lời lẽ có phần khiêm tốn, nhưng tứ thơ thì thật cao sâu. Vị Đốc kiến rất thích, liền cho khắc vào đá làm kỷ niệm của sứ bộ An nam.
Làm xong nhiệm vụ, sứ bộ từ giã triều đình Mãn Thanh về nước. Giả vương Phạm Công Trị được vua Càn Long ban tặng áo mũ, cân đai và một vạn lạng bạc. Lại còn bức chân dung do một danh hoạ Tàu vẽ và bài thơ thủ bút của vua Thanh đề tặng. Võ Huy Tấn cũng được tặng nhiều vật kỷ niệm, như bút long chương, mũ tam phẩm.
Ngoại giao thắng lợi, hai nước Việt- Hoa từ đó giao hảo, thân thiện. Vì có công lớn, Võ Huy Tấn được liệt vào hàng công thần, cùng với Ngô Thời Nhậm, Phan Huy ích chuyên lo việc bang giao. Tính ra ông đã đi sứ Trung Hoa tất cả bảy lần, đều thu được kết quả mong muốn. Vì thế Võ rất được vua Quang Trung trọng đãi. Tương truyền mỗi lần ngự giá đi đâu, vua cưỡi voi đi trước, Võ cưỡi voi theo sau. Trong những lúc cao hứng, vua Quang Trung thường vuốt bộ râu dài rất đẹp của Võ, tỏ ý quý mến. Để tỏ lòng biết ơn tri ngộ, Võ viết mấy câu thơ cảm tác:
Thi tráp thảo hoàn đa ứng chế
Hành trù tứ bão hựu thiêm trà
Văn chương lũ phụng luân âm tưởng
Mi mãn thân thừa ngự thủ thoa
Cánh hữu nhất ban kham hoạ xứ
Liễn đô, liên tượng tiếp quang hoa
Dịch nôm:
Thơ thảo nhiều khi làm ứng chế
Tiệc xong lại được thưởng thêm chè
Văn hay, lời thánh thường khen ngợi
Râu tốt, tay vua thích vuốt ve
Lại có chuyện này nên tả rõ:
Liền voi, rạng vẻ lúc đi về.
Năm ất Mão (1795) Võ Huy Tấn được đặc cách lên Thượng Trụ quốc thị Trung, đãi chiếu thượng thư. Sau một cơn bệnh hiểm nghèo, ông qua đời năm 1818, ở tuổi năm mươi hai.
(Báo Văn nghệ)
Hồ Mậu Đường
Năm Kỷ Dậu 1789, sau khi đại thắng quân Thanh, dẹp yên nội trị, vua Quang Trung tính đến việc đối ngoại, nhằm hòa hoãn với triều đình Mãn Thanh, tạm dẹp ngọn lửa binh đao, để muôn dân yên hưởng thái bình.
Vua chỉ dụ tìm người tài lo việc ngoại giao. Có người tiến cử Võ Huy Tấn, người làng Mộ Trạch, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương. Là một nho sinh thông minh trác việt, năm hai mươi tuổi Võ thi đỗ Giải nguyên khoa Mậu Tý, dưới đời Lê Cảnh Hưng, tiếng tăm lừng lẫy một vùng. Khi được tin có lệnh vời, Võ tìm cách lánh đi nơi khác, vì lòng còn vương vấn nhà Lê. Vốn trọng người tài, vua Quang Trưng lại tiếp tục cho vời. Lần này vâng lời cha khuyên, Võ vào kinh bệ kiến, được bổ chức Hàn lâm đại chiếu, phong tước bá. Vừa nhận chức thì nhà Thanh có thư sang. Võ liền được cử đi sứ.
Chuyến sứ trình này, Võ Huy Tấn tỏ ra là một người có tài ứng phó, có nhiều thơ văn thù ứng sắc sảo, đề vịnh tuyệt bút, được vua Càn Long nhà Thanh khen ngợi, giới sĩ phu Mãn Thanh thán phục. Về tài ứng phó của Võ, có thể chứng minh qua mẩu chuyện sau đây:
Một hôm ngồi trong công quán (tức nhà khách) ở Bắc Kinh, thấy trong cuốn sổ kê khai đồ cống của nước ta, Lại mục nhà Thanh gọi mình là Di- quan (tức là quan xứ mọi); Võ rất bất bình, hạ bút viết ngay bốn câu thơ vào cuối sổ:
'Di' tự tòng 'cung' hựu đới "qua'
Ngô bang văn hiến tự Trung hoa
Thần kinh khâm tứ An- nam quốc
Thử tự thư lai bất diệc ngoa?
Dịch nôm:
Chữ "di' là hợp 'cung' với 'qua'
Nước ta văn hiến tựa Trung hoa
Vua Tàu đã gọi An- nam quốc
Dùng chữ 'di' này hoá chẳng ngoa?
Thật là tài tình? Võ áp dụng lối 'sách tự' giải nghĩa chữ 'di" là hợp hai chữ "cung" và 'qua' (hai thứ vũ khí ngày xưa). Qua đó bài thơ bao hàm ý tứ rất thâm thuý: "Các chú coi tôi là 'di' (mọi) cũng phải thôi. Vì chính với những cái "cung' và 'qua' ấy, chúng tôi đã từng quét sạch các chú chất đầy một gò Đống Đa".
Thái độ phản kháng của Võ thật khôn khéo. Trong tình thế mình cần giữ hoà hoãn với phương Bắc, không thể phản đối một cách quyết liệt, trực diện, nhưng mặt khác vẫn phải giữ quốc thể, không thể để cho ngoại bang xem thường. Khi xem bài thơ, các sĩ phu nhà Thanh rất hiểu thâm ý của sứ giả Việt Nam, nhưng không làm gì được, vì lời lẽ thật mềm mỏng, từ tốn.
Với thành tích đó, khi về nước Võ Huy Tấn được vua thăng Công bộ thượng thư. Quang Trung thực sự phục tài ngoại giao của Võ, nên sau đó không lâu, vua lại cử Võ đi sứ lần nữa. Chuyến sứ trình này hết sức quan trọng vì vua nhà Thanh yêu cầu đích thân vua Quang Trung sang tiếp kiến. Trường hợp này quả là khó xử, nhưng nhà vua anh hùng của chúng ta đã có cách xử sự. Người cử một đoàn sứ giả thật hùng hậu, gồm toàn những nhân vật tài ba như Ngô Văn Sở, Đặng Văn Thân, Phan Huy ích, Võ Danh Tiêu, Nguyễn Tiến Lộc, Đỗ Văn Công... do Võ Huy Tấn đứng đầu, phò 'giả vương' sang Tàu tiến cống. 'Giả vương' là Phạm Công Trị, một vị triều thần có vóc dáng và diện mạo hao hao giống Quang Trung, được nhà vua chọn thay mình cùng đi với sứ bộ.
Lần này nhà Thanh vời cho được vua Quang Trung sang trước là để tỏ uy phong, sau nữa để dự Đại khánh mừng thọ 'bát tuần' vua Càn Long. Nhà vua cho đón tiếp sứ bộ rất trọng thể, cung phụng đặc cách. Sau đó lại mời đi thăm Đằng Vương các. Đây là một toà lâu đài kiến trúc đặc sắc, xây dựng từ đời nhà Đường bên một dòng sông, phong cảnh hữu tình, thành nơi du ngoạn nổi tiếng của tỉnh Giang Tây, từng được đại thi hào Vương Bột (tức Vương Tử An) ca ngợi bằng một bài thơ tuyệt tác.
Vị quan sở tại yêu cầu sứ bộ ta vịnh thơ. Võ Huy Tấn cầm bút viết xong ngay, cuối bài thơ có ghi chú mấy lời sau: 'Than ôi, bến nam non tây, thuyền chài trận nhạn, những cảnh đẹp đứng trên gác cao trông thấy, bài thơ 'Đằng Vương các' của Tử An mô tả ra hết, sau này ai có làm bài khác cũng không thể hay hơn được. Tôi đi hộ giá, được đến du ngoạn cảnh này là nơi xưa nay thuyền sứ giả chưa bao giờ được ghé tới. Hoá chẳng phải vì có tiền duyên với phong cảnh và văn chương đó sao? Nhân vị Đốc kiến có ngỏ ý xin với Quốc vương (tức giả vương), tôi thừa lệnh cầm bút mạo muội viết xong ngay dâng lên'.
Lời lẽ có phần khiêm tốn, nhưng tứ thơ thì thật cao sâu. Vị Đốc kiến rất thích, liền cho khắc vào đá làm kỷ niệm của sứ bộ An nam.
Làm xong nhiệm vụ, sứ bộ từ giã triều đình Mãn Thanh về nước. Giả vương Phạm Công Trị được vua Càn Long ban tặng áo mũ, cân đai và một vạn lạng bạc. Lại còn bức chân dung do một danh hoạ Tàu vẽ và bài thơ thủ bút của vua Thanh đề tặng. Võ Huy Tấn cũng được tặng nhiều vật kỷ niệm, như bút long chương, mũ tam phẩm.
Ngoại giao thắng lợi, hai nước Việt- Hoa từ đó giao hảo, thân thiện. Vì có công lớn, Võ Huy Tấn được liệt vào hàng công thần, cùng với Ngô Thời Nhậm, Phan Huy ích chuyên lo việc bang giao. Tính ra ông đã đi sứ Trung Hoa tất cả bảy lần, đều thu được kết quả mong muốn. Vì thế Võ rất được vua Quang Trung trọng đãi. Tương truyền mỗi lần ngự giá đi đâu, vua cưỡi voi đi trước, Võ cưỡi voi theo sau. Trong những lúc cao hứng, vua Quang Trung thường vuốt bộ râu dài rất đẹp của Võ, tỏ ý quý mến. Để tỏ lòng biết ơn tri ngộ, Võ viết mấy câu thơ cảm tác:
Thi tráp thảo hoàn đa ứng chế
Hành trù tứ bão hựu thiêm trà
Văn chương lũ phụng luân âm tưởng
Mi mãn thân thừa ngự thủ thoa
Cánh hữu nhất ban kham hoạ xứ
Liễn đô, liên tượng tiếp quang hoa
Dịch nôm:
Thơ thảo nhiều khi làm ứng chế
Tiệc xong lại được thưởng thêm chè
Văn hay, lời thánh thường khen ngợi
Râu tốt, tay vua thích vuốt ve
Lại có chuyện này nên tả rõ:
Liền voi, rạng vẻ lúc đi về.
Năm ất Mão (1795) Võ Huy Tấn được đặc cách lên Thượng Trụ quốc thị Trung, đãi chiếu thượng thư. Sau một cơn bệnh hiểm nghèo, ông qua đời năm 1818, ở tuổi năm mươi hai.
(Báo Văn nghệ)
Love mickey,