Diễn Đàn » Tác giả người Việt

Hàn Mặc Tử- những điều nên biết

0 trả lời, 321 lượt xem — Trang 1 / 1
Hàn Mặc Tử- những điều nên biết

Người cũng “điên” mà thơ cũng “điên”

Muốn hiểu thơ Hàn Mặc Tử nên biết ít nhiều về đời Hàn Mặc Tử. Vì ông là một nhà thơ lãng mạn. Nhà thơ lãng mạn, ngoài những điều khác ra, khẳng định rằng, tôi chẳng coi cái gì khác đáng gọi là thật ngoài cái thế giới bên trong của tôi. Mà tư tưởng, tình cảm, dù được diễn đạt theo cái nhìn chủ quan hay khách quan (theo nghĩa là trữ tình hay tự sự), đều liên quan đến quan niệm sống, đến những biến cố trong cuộc đời người viết. Vì thế, nhà thơ lãng mạn, như Hugo, cho rằng, cứ việc đọc lòng mình ra là thấy lòng người khác. Hàn Mặc Tử có quan niệm gần như thế về thi ca.

Làm thi sĩ là do thiên mệnh. Vậy thì nhà thơ có nói gì cũng là thực thi cái thiên mệnh đó thôi, thơ nói gì cũng là nói về người viết thôi, để rồi thông qua đời người viết mà người đời hiểu về đời họ. Thơ Hàn Mặc Tử, vì thế, gắn với đời Hàn Mặc Tử.

Nhưng không nên nhìn đời Hàn Mặc Tử bằng con mắt của kẻ đứng ngoài cuộc đời đó. Nhiều nhà phê bình quá nhấn mạnh đến khía cạnh bi thảm của cuộc đời ông. Tuy đời ông bi thảm thật, ngoài hai mươi tuổi đã vướng trọng bệnh, từ giã cõi đời khi tóc hãy còn xanh, nhưng với Hàn Mặc Tử, đó không phải là số phận mà là thiên mệnh. Khi Hàn Mặc Tử từ giã bạn bè để vào Quy Hoà sống những ngày cuối cùng, ông bảo ông đi lo chuyện ngàn năm. Chúng ta, những người sống trong một nền văn hoá nhạy cảm với số phận hơn là thiên mệnh, chúng ta thường đau thay cho Hàn Mặc Tử chứ chính ông, ông không khóc than vì trọng bệnh của ông.

Hàn Mặc Tử đặt tên cho một tập thơ của mình là đau thương nhưng trong đó, ông nói đến hương thơm và mật đắng, hàm ý rằng, đau thương chỉ như thứ nhuỵ hoa để con ong làm ra mật, ra hương.

Đời Hàn Mặc Tử gắn với tên tuổi của một vài người đẹp. Không ai trong số họ trở thành bạn đời của ông. Một số nhà phê bình thích xem đó là những bất hạnh, coi Hàn Mặc Tử như một kẻ thất tình. Họ bảo, đời ông càng đau thì thơ ông càng hay. Viết như thế có lẽ là không hiểu lắm về ông. Hàn Mặc Tử yêu tất cả những người con gái đó nhưng tình yêu này không vượt quá cái ranh giới tình đời, như tình yêu mà ông dành cho mẹ, cho chị gái, em trai, bạn hữu và độc giả, chứ không như một tình yêu trai gái thông thường.

Khi Mai Đình tới thăm ông ở Quy Hoà, ông không tiếp. Một người còn nặng tình trần tục cũng có thể không tiếp vì không muốn phô bày tấm thân tiều tuỵ ra trước mắt người đẹp. Nhưng với ông, lý do có lẽ hoàn toàn khác. Hàn Mặc Tử lớn lên trong một gia đình nề nếp. Dù ông có học trường Tây, mặc quần áo Tây, nói giỏi tiếng Tây, hiểu sâu Baudelaire và chấp nhận một vài chuẩn mực văn chương của Tây, ông vẫn là người giữ phong vận cũ, được Phan Bội Châu mến vì tài thơ làm theo lối thi dĩ ngôn chí. Một khi ông đã tự gọi mình là kẻ thanh bạch cùng bút nghiên (Hàn Mặc Tử), đã dùng danh xưng “túc hạ” để giữ khoảng cách trân trọng với Hoàng Cúc thì theo tôi cạn nghĩ, ông không thể cư xử với Mai Đình theo cách nào khác hơn là theo quy tắc nam nữ thụ thụ bất thân. Khi trả lời cho câu hỏi, Hàn Mặc Tử, anh là ai? Chế Lan Viên trách thiên hạ có lắm người viết sai về ông, không muốn nhắc lại những người phụ nữ đã đi qua đời ông như những cái tên, nhưng vẫn ngụ ý đến những “vết thương” tình trong lòng bạn. Nếu tôi ngờ rằng, gần Hàn Mặc Tử như Chế Lan Viên mà chưa hẳn đã thật hiểu Hàn Mặc Tử (không chỉ trong chuyện này), thì không biết có nên không, vì cả hai ông đều đã về cùng tiên tổ, nhưng quả thật, theo cảm nhận của tôi, người phụ nữ không hút hồn Hàn Mặc Tử như hút hồn lũ phàm phu, tục tử chúng ta, không đầu mày cuối mắt như trong thơ Nguyễn Bính, không lồ lộ xuân tình như trong thơ Xuân Diệu. Đối với ông, họ không phải là những bóng dáng khuynh thi như thường tình mà chỉ là những biểu tượng về cái đẹp trần tục.

Vì tôi thấy rằng, gần như mọi cuộc gặp gỡ với người khác giới trong đời và trong thơ ông đều mang nghĩa như cuộc hạnh ngộ giữa người trần với khách tiên, giữa người tỉnh với người mơ, và trên nhiều phương diện, giữa độc giả với thi nhân. Khi ông viết về gái quê, tôi không thấy những hình tượng của cô gái quê có chút cám dỗ nào dù ông có tả cái bẽn lẽn, cái sượng sùng, cái nụ cười của cô. Chính ông cũng bảo, ông hưởng dụng cái đẹp của gái một cách vô tội. Tôi không thể coi là ông thất tình, dù ông có viết:

Nghe tin em sắp lấy chồng

Anh cười đã lắm, anh buồn cũng ghê

Em ơi, em nuốt lời thề

Anh lầm anh tưởng gái quê thật thà.

(Gái quê)

Vì thế, cái chết của cô gái đồng trinh không làm cho ông khóc, không khiến ông tiếc thương vì nàng chẳng biết gì đến bụi trần, mà trái lại:

Thinh sắc cơ hồ lưu luyến mãi,

Chết rồi-xiêm áo trắng như tinh.

Ông nhìn thấy trong cái chết ấy sự siêu thoát hoàn hảo, một cuộc trở về hoàn hảo, hoàn hảo đến nỗi cái thinh sắc hay là linh hồn cứ nấn ná, không chịu rời cái xác dù đã ở với bùn mà vẫn không chịu vấy mùi bùn ấy. Ông muốn hồn mình nhập vào xác cô gái đồng trinh, như hồn Trương Ba nhập vào da anh hàng thịt, để mà kiểm nghiệm về mình, để xem hồn anh Trương Ba vốn đạo mạo có bị cái tầm thường trong thân xác anh hàng thịt đánh đổ hay không và ông hân hoan nhận thấy, khác với hồn Trương Ba và da anh hàng thịt trong cái nhìn của Lưu Quang Vũ, hồn ông và thân xác cô gái đồng trinh sắp yêu nhau vì đồng hội, đồng thuyền, vì đều trắng như tinh. Trắng như tinh không chỉ là trắng tinh mà còn là màu trắng của cái gì tinh anh, kỳ ảo, cái không thể có ở chỉ riêng cõi thế này.

Nghĩ và hành động như thế, ông đúng là người nhà trời, đúng là “điên” chứ đâu có tỉnh queo như chúng ta.

Cho nên, chẳng có gì lạ khi Hàn Mặc Tử tự gọi thơ mình là máu cuồng và hồn điên. Khi ai đó tự nói rằng mình điên, nghĩa là người đó không điên. Nhưng nói rằng mình điên, cũng có nghĩa là thấy mình không bình thường, thấy mình nhận biết và hành động theo cách thức không giống với cách thức mà những người bình thường nhận biết và hành động. Vậy thì Hàn Mặc Tử có bảo thơ ông là thơ điên, nhóm Quy Nhơn có tự phong cho họ một cái tên là trường thơ loạn chẳng qua cũng chỉ là những cách nói mà thôi. Điên hay loạn (cũng là một trong cách nghĩ của Hàn Mặc Tử và nhóm thơ Quy Nhơn) không chỉ tính cách của những người làm thơ mà chỉ nét khác biệt trong thơ của họ. Họ muốn thơ họ khác thơ người. Một khi họ đã muốn khác người, thì nếu ta có gọi họ là những người điên, cũng không đến nỗi xúc phạm họ lắm đâu, huống chi đây lại là cách họ “tự phong”, đầy kiêu hãnh. Cho nên, vấn đề không phải ở từ ngữ mà ở chỗ, việc tìm hiểu quan niệm thơ điên là cần thiết, nếu chúng ta muốn hiểu thơ Hàn Mặc Tử.

Theo tôi, khái niệm thơ điên nên được xét từ cả quan niệm về thi ca cũng như từ những lý thuyết về phương thức biểu đạt của thi ca. Về quan niệm về thi ca, ông viết:

(Vì thế,) thơ là một tiếng kêu rên thảm thiết của một linh hồn thương nhớ, ước ao trở lại với trời, là nơi đã sống ngàn kiếp vô thỉ, vô chung, với những hạnh phúc bất tuyệt…

(Quan niệm thơ)

Vậy thì với Hàn Mặc Tử, thơ là phương tiện cứu rỗi, là phương tiện đi tìm con đường sáng. Ông lại cho rằng, làm thi sĩ là do thiên mệnh, cho nên, thơ không chỉ để cứu mình, mà còn để cứu đời.

Về phương thức biểu đạt của thi ca, ông cho rằng:

Từ sự thực đi tới bào ảnh, từ bào ảnh đi tới huyền diệu, và từ huyền diệu đi tới chiêm bao. Mông lung đã trùm lên sự vật và cõi thực, bị ánh sáng của chiêm bao vây riết…

(Chiêm bao với sự thực)

...Như cách chúng ta nói ngày nay, là thơ bắt nguồn từ hiện thực. Đây thôn Vỹ Dạ bắt nguồn từ một tấm thiếp thăm hỏi có thật. Cách nghĩ này có cội rễ từ cổ xưa. Cha ông ta bảo, đối cảnh sinh tình, còn người xưa ở phương Tây thì bảo văn chương là mô phỏng, tức là bắt chước cái dáng vẻ bên ngoài của hiện thực. Nhưng chỗ “điên” của thơ Hàn Mặc Tử là thơ ca không dừng đỗ ở hiện thực. Sự thực chỉ là khởi đầu. Vì “bào” là bọt nước. Bào ảnh là cái ảnh nổi lên bên trên của sự vật. Rồi lại từ bào ảnh đi tới huyền diệu. Thế là, theo ý chúng tôi, xa hơn cả Baudelaire, chạm đến bờ Siêu thực. Vì, với Baudelaire, hình tượng thơ chỉ đi từ sự thực đến huyền diệu, còn với Siêu thực thì thay vào sự thực là bào ảnh, theo cách diễn đạt của Hàn Mặc Tử. Để hiểu điều này, chúng ta cần nhìn lại lý thuyết hình tượng của phương Tây. Từ thời Cổ đại Hy Lạp, một triết gia đã bảo rằng, cái mà ta nhìn thấy không phải là bản chất của sự vật mà chỉ là bức ảnh của sự vật. Nói như thế cũng giống như nói rằng, ta chỉ có thể biết về bóng đá ở mức xem những trận đá bóng bằng màn ảnh tivi thôi, nghĩa là không bao giờ nắm được cái động lực bên trong của sự vật. Nói thì đơn giản như vậy nhưng đó là cả một lý thuyết phức tạp, đụng đến toàn bộ một nền văn hoá. Người phương Đông chúng ta, trong thời cổ đại, hoàn toàn không nghĩ như triết gia Hy Lạp. Do được trang bị lý thuyết về âm dương, các triết gia ngày xưa của ta tin chắc rằng, chúng ta biết điều ngược lại. Từ thần sắc của sự vật, do nắm quy luật bên trong là dịch, hay là biến, ta biết rằng thần sắc ấy là do một trạng thái cân bằng âm dương nhất định gây ra. Vì thế, văn chương của ta xưa mới tải đạo, tức là chở cái bản chất. Theo lý thuyết của phương Tây, thì trái lại. Cho nên, văn chương phải mô phỏng, tức là hoạ lại và phán xét sự vật bằng cái vẻ ngoài của nó. Vì đó là phương cách duy nhất khiến người viết và người đọc cùng nhận biết ở mức độ như nhau. Do lý thuyết này, hình tượng văn chương phương Tây lấy sự tả chân làm nguyên tắc. Nguyên tắc tả chân, về căn bản, tồn tại đến tận Hugo và chủ nghĩa lãng mạn (và ngày nay nữa, sau khi Siêu thực nhường trận địa, như văn chương hiện đại của ta). Văn chương “nói” bằng hình ảnh và hình ảnh được căn theo nguyên mẫu là hiện thực. Baudelaire phá bỏ nguyên tắc đó vì theo ông, sự tả chân là không đủ. Cái mà ta nhìn thấy để tả chân là cái thuộc một thế giới đã biến chất. Thơ ca phải tìm ra giá trị siêu hình cùng với cái hữu hình, tức là phản ánh cả cái có thể tả chân và cái không thể tả chân. Vì thế, hình tượng thơ không chỉ thực mà còn huyền diệu. Nếu chỉ dừng ở đây, Hàn Mặc Tử không khác gì Baudelaire và cũng không khác nhiều với các nhà thơ cổ của ta: Thơ phải gồm cả đời lẫn đạo (dĩ nhiên, với thơ cổ, là đạo trời đất chứ không phải là đạo Kitô). Nhưng cách xây dựng hình tượng thơ của Hàn Mặc Tử không gần cách của thơ xưa của ta, là vạch ra hình thế (âm dương) của sự vật, mà gần cách của Baudelaire hơn, là tả thực theo dạng thức của tượng trưng: Trăng ngả ngốn hay hình tượng chị Lễ trong bài thơ văn xuôi Chơi giữa mùa trăng là như thế. Nhưng “bào ảnh” thì không còn là tượng trưng nữa. Bào ảnh không còn là ảnh về sự vật mà, như cái bọt nước, khác với nước, đã là một ký hiệu về sự vật, thoát ly sự vật. Cái ký hiệu này siêu thực (suréaliste) vì nó vượt lên trên cái dáng vẻ tự nhiên mà ta có thể nhận ra từ hiện thực. Hai câu sau trong khổ thơ đầu của Đây thôn Vỹ Dạ đã có thể xem là bào ảnh. Nó là mơ, là ký hiệu nên có thể có khuôn mặt chữ điền, một yếu tố mà ta sẽ thấy là không lôgic nếu ta xét đó là tả thực. “áo trắng” trong Đây thôn Vỹ Dạ cũng có thể xem là bào ảnh. Nó chỉ cô gái nhưng không cho phép ta nhận ra cô gái bằng dáng vẻ như thực của cô. Thơ với Hàn Mặc Tử đa phần là cõi mơ. Yến Lan bảo, nghe Hàn Mặc Tử đọc thơ, thấy một cái gì rất mông lung là vì thế: Thơ ông luôn dắt ta ra ngoài cõi thực. Huyền thoại cũng là một kiểu sáng tạo theo nguyên lý siêu thực. Các nhà siêu thực cho rằng, sáng tạo như thế sẽ khiến tác phẩm của họ “thực” hơn. Baudelaire chính là người đặt nền móng cho chủ nghĩa tượng trưng và siêu thực về mặt lý thuyết, còn trong sáng tác, ông căn bản vẫn là một thi sĩ lãng mạn. Hàn Mặc Tử gần Baudelaire trong cách xây dựng hình tượng thơ và trong nhiều trường hợp, ông sáng tạo theo lối siêu thực. Nhưng may thay, trong thơ Hàn Mặc Tử lại không chỉ có Baudelaire và Siêu thực. Trăng, chẳng hạn, lại là hình tượng truyền thống trong thơ cổ của ta chứ không phải vay mượn. Hơn nữa, khác với thơ của nhiều nhà thơ mới khác, các môtip trong thơ ông thường có nguồn gốc trong văn hoá dân tộc ngay trong trường hợp phải xử lý một chủ đề mới mẻ. Cho nên, thơ ông vừa giữ cái cốt cách của thơ Việt, vừa giàu “chất kỹ thuật” như thơ Phương Tây.

Chế Lan Viên bảo, Hàn Mặc Tử chẳng có siêu thực gì hết, ông chỉ là lãng mạn thôi. Tôi không nghĩ như thế. Ông là lãng mạn đã đành, nhưng cũng rất siêu thực. May thay, cái tài của ông đã khiến những bào ảnh do ông sáng tạo không thành những mẹo lạ hoá, những sự lên gân, làm dáng, khiến thơ ông vẫn đến được với nhiều cách đọc.

Thơ Hàn Mặc Tử đẹp không phải vì mỹ từ này hay danh hiệu kia mà người đời hay chính ông gán cho nó mà đẹp vì một tài năng và một tấm lòng thể hiện ra trong đó. Đây thôn Vỹ Dạ là một ví dụ.



Kỳ II: Đây thôn Vỹ Dạ (lời bình)

1. Vì tấm thiếp hỏi thăm của Hoàng Cúc là có thật, cũng như việc gửi tặng bài thơ là có thật nên ta xem khổ thơ đầu có liên quan đến tấm thiếp. Nhà thơ cầm tấm thiếp trên tay mà như được gặp lại người xưa. Lời thăm hỏi ghi trên tấm thiếp biến thành một lời vừa như mời mọc, vừa như trách móc:

Sao anh không về chơi thôn Vỹ?

Nhìn nắng hàng cau, nắng mới lên.

Lời mời mọc hay thoáng giận hờn của người thương? Chúng ta không biết. Dù sao thì theo những gì mà tiểu sử nhà thơ cho biết, đây cũng không phải lời của Hoàng Cúc mà chỉ là lời mà nhà thơ “vận” cho mình. Có thể là, bức ảnh trên tấm thiếp khiến nhà thơ nhận ra:

Vườn ai mướt quá xanh như ngọc,

Lá trúc che ngang mặt chữ điền.

Trong ảnh có vườn không hay chỉ có màu xanh cây lá? Lá trúc có che mặt nhà thơ không hay chỉ che mặt của người trong ảnh? Ai có khuôn mặt chữ điền? Chúng ta cũng không biết nốt. Có thể hai dòng thơ trên là “tả thực” một chuyến viếng thăm của nhà thơ về Vỹ Dạ. Dù mối liên hệ giữa sự thực ngoài đời và hình tượng trong thơ có như chúng ta hình dung hay không thì việc truy tìm như thế cũng ít hữu ích: một là, nghĩa của khái niệm tả thực nên được hiểu là như thật về mặt khuôn mẫu nhưng là do bịa; hai là, cái thật mà Hàn Mặc Tử hướng đến, như hầu hết các nhà lãng mạn, là cái thật về nội tâm, tâm linh, chứ không phải là sự thật của thế giới bên ngoài. Nhà thơ lãng mạn cho người tình của mình chết để mà khóc thương bất chấp trong thực tế, có thể là hoàn toàn ngược lại. Ba là, với Hàn Mặc Tử thì bào ảnh tuy vẫn còn là ảnh nhưng không mang dáng vẻ thật của sự vật được miêu tả nữa. Bốn là, những gì được nói trong thơ của Hàn Mặc Tử còn phải được xem có thể là mơ. Năm là, giá trị hiện thực của văn chương nên được xem là giá trị mà hình tượng “nói” với chúng ta một điều gì đó chứ không phải là bản thân nó. Vì năm lý do ấy, giữa thơ và ảnh hay giữa thơ và cuộc thăm viếng ngoài đời giống nhau nhiều hay ít có quan trọng gì đâu. Vì ta có thể hoàn toàn gạt bỏ câu chuyện tấm thiếp sang một bên mà vẫn có một khả năng giảng về nó. Dĩ nhiên, theo tôi nghĩ, muốn giảng thơ Hàn Mặc Tử thì nên giả định rằng, mọi yếu tố, từ chữ nghĩa, cảm xúc đến con người, sự kiện, từ không gian đến thời gian trong thơ ông thường tuân thủ cả cái lôgic của giấc mơ chứ không phải chỉ là lôgic của hiện thực đời thường. Nếu có một chi tiết nào đó phi lý, xét theo lôgic của hiện thực đời thường, thì rất có thể, nó sẽ không phi lý trong giấc mơ.

2. Nếu gác sang một bên tất cả các chi tiết liên quan đến xuất xứ của bài thơ, chúng ta có thể thấy gì? Bài thơ có dáng dấp của một bài thơ được viết theo lối hát giao duyên. Nhưng khác với hát giao duyên, cuộc đối thoại trong bài thơ diễn ra như thể, đó vừa là một cuộc trò chuyện bình thường giữa cô gái và chàng trai, lại như thể, đó không là một cuộc trò chuyện bình thường, mà như non tâm tình với nước trong thơ Tản Đà, tâm tình với một khoảng cách. Không bình thường còn vì, lời đáp của chàng trai – nếu ta có thể xem như vậy – lại giống như lời chàng trai tách mình ra khỏi mình để nói về mình như một ai khác, khi không “xưng tôi” mà viện ra một khuôn mặt chữ điền, bằng một sáo ngữ chỉ người đàn ông trung hậu. Tôi không muốn tin rằng, một người thạo lối tu từ cổ và tinh tế, cẩn trọng về ngôn từ như Hàn Mặc Tử lại lấy cụm từ này để chỉ khuôn mặt cô gái, như có người đã giảng. Nếu ta xem vườn ai và khuôn mặt chữ điền vẫn tiếp tục sự đối lập cô gái-chàng trai, nhưng dưới hình thức phiếm định như trong mơ và chàng trai nói về giấc mơ của chàng, thay cho lời đáp, thì đó là một dụng ý nghệ thuật, giống như trắng như tinh cũng là một dụng ý nghệ thuật.

Vì chính sự không minh bạch về cách thức “đối thoại” giữa nàng và chàng mới tạo cho ngôn từ thi ca nhiều lớp nghĩa. Khởi đầu, cuộc tâm tình cho ta cảm giác là diễn ra ở một nơi cụ thể, giữa những con người cụ thể nhưng vì ta không biết họ có đối thoại như cuộc đối thoại bình thường không, họ có nhận ra nhau hay không nhận ra nhau, giữa họ có một khoảng cách như thế nào (giữa những người tỉnh đối diện với nhau hay giữa một người tỉnh với một người mơ) nên không gian mất tính cách là một không gian xác định. Thôn Vỹ có vẻ không còn chỉ là thôn Vỹ nữa. Đến hai khổ thơ sau thì những người tâm tình dứt khoát không chỉ là cô gái và chàng trai, mà còn là gió, là mây nên không gian sẽ hoàn toàn không còn giới hạn cụ thể. Gió và mây khiến cuộc đối thoại diễn ra như thể liền anh và liền chị xứ quan họ hát đối đáp với nhau: tương ngộ mà không lộ diện vì không lấy tư cách cá nhân mà chỉ lấy tư cách của liền anh, liền chị để mà bày tỏ cùng nhau. Địa danh cụ thể mất tính cách cụ thể để mang tính cách một nơi công cộng như cái sân đình.

Chúng ta cũng có thể xem bài thơ như lời độc thoại của một chàng trai, bộc bạch về làng quê của người thương, về mối liên hệ giữa họ và về những tình cảm của họ. Bài thơ mang tính cách là những suy tư, hồi tưởng. Lôgic nối kết những sự kiện và tình cảm trong đó là lôgic của mộng mơ. Nhưng cho dù có là đối thoại hay là độc thoại thì ta cũng phải làm sáng tỏ các “vai” được nhà thơ dàn dựng để hiểu bài thơ.

Chàng trai nhận được một lời mời. Nàng mời chàng về chơi thôn Vỹ. Về có thể là đến một nơi đã hẹn nhưng còn có nghĩa là trở lại một chốn cũ, có thể là đến một nơi mà chàng cần phải biết nhưng cũng có thể có nghĩa là trở lại nơi mà chàng đã từ đấy rồi ra đi. Ta không thể xác định thôn Vỹ là nơi chàng đã biết hoặc chưa biết. Về chơi, để mà:

Nhìn nắng hàng cau, nắng mới lên.

để biết rằng nơi ấy, cảnh ấy mùa này còn đẹp nắng, để thấy rằng người ấy, tình ấy giờ này còn chờ mong. Hàng cau không che tầm mắt, cái nắng mới lên không đốt khuôn mặt. Vậy mà:

Vườn ai mướt quá, xanh như ngọc,

Lá trúc che ngang mặt chữ điền.

Chàng đã đáp lại lời mời nhưng chàng không thấy nắng hàng cau mà chỉ thấy một màu xanh mướt, thấy một lá trúc che ngang khuôn mặt chữ điền, như thể có một vật làm dấu, ngăn sự hung hãn của kẻ ngoại giới trước khu vườn của người ngọc. Ngoài cổng các gia đình ở thôn quê ta xưa vẫn có tục lệ để lá dấu. Nó nhắc rằng, chẳng hạn, có một em bé chưa đầy cữ, xin hãy đừng vào. Phải chăng cái lá trúc này cũng là lá dấu? Chúng ta không thể đoan chắc. Nhưng ta có quyền hình dung như thế vì cái mà ta có thể đoan chắc là chàng trai đã đáp lại lời mời, nếu không phải là trong thực thì cũng là trong mộng, và chàng đã không vào chơi mà chỉ đứng ngoài chiêm vọng. Vậy thì vườn ai (chứ không phải là vườn của em), lá trúc và khuôn mặt chữ điền (chứ không phải khuôn mặt của anh) là ba yếu tố nói lên một cuộc tìm kiếm mà không gặp mặt, hoặc gặp nhau nhưng có một khoảng cách giữa cô gái và chàng trai.

Vì sao, nàng mời chàng nhìn nắng hàng cau mà chàng lại thấy vườn ai mướt quá? Vì sao chàng về chơi thôn Vỹ mà không gặp người ngọc? Vì chàng là chàng đấy mà không phải là chàng. Vì thôn Vỹ là thôn Vỹ đấy mà không phải là thôn Vỹ. Nàng mời một chàng trai, trách cứ một chàng trai, nũng nịu với một chàng trai, nhưng đến thăm nàng, tạ lỗi với nàng lại là một kẻ mộng mơ, chỉ biết chiêm ngắm cái không đúng như lời mời mọc. Chàng đã không về thôn Vỹ để hoàn tất một cuộc hò hẹn như thói thường. (Nếu đối chiếu với tiểu sử nhà thơ thì ta biết rằng, Hàn Mặc Tử tự xem mình là kẻ rơi xuống cõi đời, bơ vơ, bỡ ngỡ và lạ lùng. Phải chăng, cái tôi trữ tình ở đây là cái tôi của một Hàn Mặc Tử không tiếp nhận, hay là chỉ “lợi dụng” cái trần tục chứ không phải là cái tôi của một chàng trai theo nghĩa thông thường?).

Thôn Vỹ là làng quê của người thương, nhưng dưới con mắt của kẻ viếng thăm, của kẻ ngoại giới, thôn Vỹ là một cõi khác. Điều này ta có thể chắc vì trước cuộc hẹn hò này, cõi chàng và cõi nàng vốn riêng nhau:

Gió theo lối gió, mây đường mây,

Một khi chàng và nàng cũng là gió, cũng là mây thì cái tình mà chàng đi tìm chỉ là cái tình vô hình chứ không phải cái tình hữu hình, hoặc ít ra, cái mà chàng đến tìm ở thôn Vỹ cũng không hẳn là dung nhan của người đẹp, là hơi ấm của một cái nắm tay, là hương thơm của một hơi thở. Vậy chàng là ai?

Họ muốn gặp nhau vì họ vốn xa cách. Cái tình khi bị xa cách gây ra sự sầu thảm như mọi sự xa cách giữa những người tình:

Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay

Không có gì để truy tìm trong những từ ngữ của dòng thơ trên cả. Đó chỉ là sự diễn tả những cảnh buồn, buồn trong cô đơn, vì người buồn, cảnh có vui đâu bao giờ mà thôi. Chàng và nàng đều buồn khi mỗi người một cõi. Mỗi người một cõi vì sông ngăn, núi trở, hay vì gió nói tiếng gió, mây nói lời mây? Bất luận thế nào thì đất trời cũng kêu than. Bất luận thế nào thì xa cách vẫn là hiện hữu:

Thuyền ai đậu bến sông trăng đó,

Có chở trăng về kịp tối nay?

Riêng nàng hay cả hai háo hức về cuộc hội ngộ vào tối nay? Riêng nàng hay cả hai không biết chàng có thể về đúng lúc, hay suốt đời chậm trễ? Chắc rằng, nàng chờ mong còn chàng thì không muốn lỡ hẹn. Nhưng cái mà chàng có thể mang về tối nay, và có lẽ cũng là cái mà nàng chờ đợi vào tối nay, không phải là con người chàng, ái tình trần tục của chàng, mà là một con thuyền chở trăng, chở ánh sáng cho tối nay, chở cái từ trời cao toả xuống nhân gian, soi sáng cho nhân gian. Cái gì có thể là trăng, là cái nối trời với đất, là ánh sáng để xua đi bóng tối, mà lại là cái mà một người thương chờ đợi ở một người thương, mà một người thương muốn dâng tặng cho một người thương, nếu không phải là thơ trong quan niệm và trong lối nói thường thấy ở Hàn Mặc Tử? Nhưng ta chưa cần liên tưởng hay suy luận vội, cho dù chuyện hẹn hò giữa đôi trai gái mang dáng dấp một cuộc truy tìm cái đẹp, mang dáng dấp chuyện tâm giao và duyên nợ giữa thi nhân và người đời. Vì muốn biết chàng ở đây có thể là một thi sĩ hay không, ta còn có thể xem chàng tìm gì và thấy gì ở nàng.

Mơ khách đường xa, khách đường xa,

áo em trắng quá, nhìn không ra…

Cuộc tìm kiếm giữa hai người không có vẻ diễn ra trong thực mà là trong mơ. Chúng ta cũng chẳng biết ai là người mơ, chỉ riêng chàng hay chỉ riêng nàng, hay cả hai, với một câu thơ không có chủ ngữ: mơ khách đường xa, khách đường xa… Nhưng điều chắc chắn là khi tương ngộ, có lẽ là dưới ánh trăng mà chàng mang tới, ta giả định thế, chàng đã không nhận ra nàng mà chỉ nhận ra một màu áo trắng. Màu áo trắng (hay là màu trắng thanh cao?) hiện diện ở chỗ một người tình hò hẹn. Thứ mà người tình si đã gặp, đúng hơn, đã chiêm bao hay là chiêm ngưỡng, hay là đã tìm thấy, không phải là một người đẹp, một người tình bằng xương, bằng thịt mà là một cái khác. Nếu cái khác, chứ không phải là người tình, là hiện hữu duy nhất với chàng trong cuộc hội ngộ đó thì việc chàng chỉ nhận ra nó là vì nàng chỉ có nó hay vì chàng chỉ đi tìm nó? Có thể là vì cả hai lẽ, ít nhất là đối với chàng.

Vậy thì tình ở đây là cái tình không ân ái. Nhưng tình không ân ái không phải là không thắm thiết, không trăn trở đến mức như một nỗi đau, như một sự hờn dỗi:

Ai biết tình ai có đậm đà?

Thứ tình ấy chỉ có thể là thứ tình giữa thi nhân, đúng hơn, một thi nhân lãng mạn, với người đời, tình của kẻ có thiên mệnh đau đời để tìm ra cái đẹp, tìm ra ánh sáng và trả lại chúng cho đời. Điều này không còn là suy luận nữa, bởi vì nơi mà họ gặp gỡ là nơi:

ở đây sương khói mờ nhân ảnh,

Một nơi mà không thể nhận ra hình người thì chỉ có thể được xem, hoặc là cõi tiên, hoặc là cõi mộng chứ không thể là cõi trần. Nhưng niềm khát khao sự đồng cảm của người khác khiến chúng ta nghĩ rằng, nơi ấy khó có thể là cõi tiên vì cõi tiên là nơi không hề có âu tư, sầu muộn. Vậy thì nơi ấy chỉ có thể là bến sông Thơ, là trời mơ mộng, là thiên giới ngay ở cõi hạ giới, ngay trong cuộc đời này, thậm chí, ngay trong tâm trí và máu thịt của nhà thơ điên này. Điên vì khao khát trăn trở mang trăng, hay là ánh sáng, hay là sự thanh cao, tóm lại là cái đẹp cho đời. Nếu ta thấy trong nỗi niềm khát khao trăn trở ấy có một cái gì hối thúc, hơi hoảng loạn thì đó thường là cảm xúc bất lực mà các nhà thơ lãng mạn cảm thấy khi diễn tả cái đẹp, cái phi thường, cái mà họ cho là người đời không thể nhận biết nếu không có thi sĩ, cái mà thi ca cần phải đạt đến nhưng dường như không bao giờ đạt được. Nếu ta có thấy trong niềm khát khao, trăn trở ấy, trong nỗi băn khoăn ai biết tình ai có đậm đà ấy, sự da diết của một nỗi đau thì nỗi đau ấy cũng chỉ có thể so sánh với nỗi đau của sự thất tình hay sự phụ tình theo nghĩa bóng, nỗi đau mà một thi sĩ có thể trải nghiệm khi thấy thơ của mình không đến được với lòng người đọc.

Đây thôn Vỹ Dạ, theo cách hiểu mà tôi trình bày trên đây, có chủ đề là thi sĩ với thi ca và cuộc đời, một chủ đề không quen thuộc trong truyền thống văn chương của ta. Có thể bài thơ còn cho phép một hoặc vài cách đọc khác (như nhiều người đã đọc), nhưng với chủ đề như tôi đã nói, thì cô gái và trăng đều là những biểu tượng ở các cấp độ ẩn dụ và tượng trưng, thậm chí có khi là bào ảnh. Nếu cô gái chính là cái đẹp, đồng thời cũng là đối tượng mà thi ca hướng đến thì hình tượng có khi là ẩn dụ, có khi là bào ảnh. Nếu ta liên tưởng trăng với thơ thì sự liên tưởng đã là tượng trưng, ít ra là ở cấp độ từ ngữ. Vì giữa hai sự vật không có mối liên hệ ngầm. Tuy nhiên, việc chúng tôi dùng các thuật ngữ ngoại nhập để chỉ “kỹ thuật” thơ của Hàn Mặc Tử không có nghĩa là chúng tôi chỉ thấy mối liên hệ giữa thơ Hàn Mặc Tử và thơ Pháp. Thực tế là, thơ Hàn Mặc Tử rất giàu tính cách truyền thống: Đây thôn Vỹ Dạ có dáng dấp một bài thơ đối đáp, với những vai “phi ngã” trong đối đáp, với cách nói vòng (détour) không khác bao lăm với với cách nói tượng trưng theo lý thuyết Phương Tây nhưng không “Tây”. Bài thơ còn khai thác một môtip cổ, môtip tương ngộ và tương phùng. Nhưng cách xử lý môtip thì không cổ, không minh hoạ sự hữu duyên hay vô duyên mà minh hoạ cho một quan niệm của chủ nghĩa lãng mạn về thi ca: thơ tìm cái đẹp trong cuộc sống và trả nó lại cho người đời. Cuộc truy tìm cái đẹp biến nhà thơ thành một kẻ cô đơn gần như tuyệt đối, vì không phải bao giờ cũng thành công hay cũng được chia sẻ. Tính trữ tình của bài thơ cũng thể hiện ở đấy. Nó chỉ diễn tả những trăn trở về nghệ thuật trong lòng nhà thơ mà thôi.

Bài thơ cho ta cảm giác là nó vừa “quen” vừa “lạ”, vừa như một bài thơ tình mà lại không phải là một bài thơ tình đích thực. Tuy vậy, ai cũng có thể thích nó. Người Việt nào cũng có thể nhận ra ở đấy lời tạ lỗi của một người thương với một người thương, lời bày tỏ về một tấm tình đằm thắm, về niềm khát khao được chia sẻ. Thế là bài thơ rất “quen”, như thơ tình truyền thống của ta. Tuy nhiên, bài thơ không mang dáng vẻ cũ vì nó không khởi đầu phi ngã mà khởi đầu như một người tình cụ thể nói với một người tình cụ thể, tức là khởi đầu bằng sự giao tiếp giữa một tâm hồn với một tâm hồn như trong các bài thơ chỉ xuất hiện từ thời có Phong trào Thơ Mới. Đặc biệt là, sự hoà trộn giữa thực và mơ, giữa cá nhân và mặt nạ, giữa không gian thực và không gian ảo, giữa sự diễn đạt bằng ngôn ngữ đời thường và bằng biểu tượng đã khiến bài thơ không còn là một bài thơ tình như cảm nhận ban đầu nữa. Nó trở thành “đất” của sự suy ngẫm và liên tưởng, sự khám phá của người đọc.

Xuất phát điểm của xúc cảm trong bài thơ còn có thể bắt nguồn từ tôn giáo, từ tư tưởng coi cuộc đời trần thế chỉ là một chặng đường mà linh hồn phải đi qua để về với một thế giới khác, coi những cám dỗ của cuộc đời trần thế chỉ là những cạm bẫy, hay thậm chí, chỉ là những gì mà một con chiên đã nguyện dâng hiến đời mình cho Chúa phải lấy làm răn. Nó khiến cái tình khác giới cũng trở thành cái tình thoát tục, thánh thiện. Nhưng trong thơ Hàn Mặc Tử nói chung và trong Đây thôn Vỹ Dạ nói riêng, không có thái độ khinh thị, dè bỉu cuộc đời trần thế, như phần cốt lõi của tư tưởng tôn giáo. Cho nên, trong bài thơ, tôi không nhận thấy sắc thái trần tục của xúc cảm đã đành, nhưng tôi cũng không nhận thấy sắc thái tôn giáo, dù chỉ ở mức xa vời. Đọc Đây thôn Vỹ Dạ, tôi chỉ nhận thấy một niềm khát khao mang thơ đến cho đời, niềm khát khao của một thi nhân nhập thế theo một cách riêng, nhập thế bằng thi ca. Điều này khiến cho thơ Hàn Mặc Tử không còn là thơ của một nhà thơ-con chiên nữa, mà là thơ của một nhà thơ, của một thế hệ, đau đời và thương đời, muốn sưởi ấm cho đời, nhưng không có cách nào khác hơn là xẻ lồng ngực ra để dâng tặng trái tim đỏ máu của riêng mình cho đời mà không thể toan tính một điều gì khác, ngoài sự cảm thông của độc giả. Tôi cho rằng, đó là nét đẹp không tôn giáo, nét đẹp từ cảm hứng lãng mạn của bài thơ.



(Báo Văn nghệ Trẻ)
Love mickey,
Đăng nhập để trả lời
0