Bàn Tài Đoàn - Nhà thơ cách mạng dân tộc Dao
Triều Ân
Mùa xuân 2003, đến thăm anh Bàn Tài Đoàn trong tâm trạng vui vì biết anh 90 tuổi. Anh cũng cảm nhận được lòng kính nể của tôi về một nhà thơ dân tộc, bởi tôi đứng rất lâu trước hai khung kính treo cao trên tường kia ghi nhận công lao của anh về văn chương Giải thưởng Hồ Chí Minh và Huân chương Độc lập hạng Nhì.
1- Trong một con người hiền lành giản dị chứa đựng một ý chí cách mạng mãnh liệt.
Tôi nhớ khi ấy là năm 1957, tôi cùng nhà văn Lâm Tiến đang công tác ở ban Nghiên cứu ngôn ngữ văn tự dân tộc Tày Nùng ở khu Việt Bắc, có sang sở Văn hoá khu thăm anh Bàn Tài Đoàn. Cuộc tiếp xúc ban đầu giản dị và dễ thân quen, anh đọc thơ Xuân lai hoa khai cho chúng tôi nghe. Giọng anh thật ấm áp.
Tôi nhớ những ngày đi dự Đại hội các nhà văn Việt Nam lần thứ hai ở Câu lạc bộ Đoàn Kết, Hà Nội, tôi ngồi giữa hai anh, Bàn Tài Đoàn một bên, Võ Huy Tâm một bên. Bàn Tài Đoàn chỉ lẳng lặng nghe, mắt nhìn đi đâu, chỗ nào nghe vui thì anh tủm tỉm cười, trông anh hiền lành đáng nể.
Sau này tôi có hiểu anh hơn, bởi nhiều lần anh phải dằn vặt suy nghĩ, băn khoăn “cuộc đời sao khổ thế”:
Nghĩ lại cuộc đời sao khổ thế
Sinh ra cả đời bị cực thân
Sống đời không có nơi nương tựa
Du cư đi khắp núi xa gần.
Anh Bàn Tài Đoàn chất phác hiền lành là vậy mà với anh khó có giây phút hồn nhiên thư thái.
Năm 1972 đế quốc Mỹ dùng máy bay ném bom bắn phá ác liệt miền Bắc Việt Nam, cũng có quả bom rơi xuống không nổ. Người ta tháo kíp, moi ruột, treo bom lên làm kẻng báo giờ lao động trong hợp tác xã nông nghiệp. Bàn Tài Đoàn trút hết căm thù vào quả bom bởi nó “làm tay sai cho giặc Mỹ”, phải treo mày lên, đánh mãi không nguôi giận.
Ngày nay mày bị dân treo cổ
Thay chủ Mỹ, mày bị tội này
Chủ mày: Nhà Trắng, Lầu Năm Góc
Còn mày, ở đây chịu đòn thay…
Với nền văn học hiện đại Việt Nam, thơ Bàn Tài Đoàn có vị trí quan trọng. Nhưng ở đây tôi muốn nói thơ anh là của đồng bào, thơ anh bám sát những vấn đề nóng hổi của cách mạng vùng đồng bào Dao.
Người Dao đọc, nghe, hớp lấy từng lời thơ anh bởi thơ anh nói đúng tâm tư nguyện vọng cũng như cuộc đời họ. Đồng bào Dao thuộc thơ anh như chính bài thơ đó là của họ sáng tác. Đây là hình ảnh vợ chồng Dao:
Xưa kia ta như đôi chim nhỏ
Bay đi bay lại được gặp nhau
Nam nữ thanh niên Dao hâm mộ thơ anh Bàn Tài Đoàn, bởi anh dành tất cả tình thương cho con cháu.
Một điển hình về cuộc sống người Dao xưa kia là thiếu muối. Thực dân Pháp đặt ra chính sách hạn chế muối để quần chúng li gián cán bộ bí mật (không ai dám nuôi vì mất thêm phần muối gia đình). Với người Dao, thiếu muối là hiện tượng triền miên:
Bắp vùi xuống đất trên khe đá
Nó mọc lên không chịu ra hoa
Con khóc đòi ăn cơm chấm muối
Định cư, định canh là một chính sách lớn của Đảng đối với vùng núi cao. Bàn Tài Đoàn đã có lúc nghĩ sâu sắc về cung cách làm ăn của người Dao, phải chặt phá rừng làm nương rẫy, mấy mùa qua đi đất bạc màu, lại du cư du canh, đi nơi khác khai phá rừng làm nương, anh rất băn khoăn:
Rừng xanh cây cối thật quý giá
Nổi lửa đốt, sau khi chặt phá
Không chặt, trong bụng không có cơm
Phải chặt bừa để không đói lả.
(Người Dao suy nghĩ gì)
Nhưng có “bó đuốc sáng” rồi, anh phải nói cho đồng bào mình hiểu: Phải định cư, phải làm chủ núi rừng mình đang ở:
Làm chủ ở trên đồi trên núi
Giữ lấy rừng ta mãi mãi xanh
Đừng có châm lửa vào đốt cháy
Gỗ nứa trên rừng quý như vàng
(Được làm chủ)
Với chính sách phá bỏ cây thuốc phiện và cai nghiện ở vùng đồng bào, là một chính sách lớn đã có khá lâu, nay vẫn còn nóng hổi trong thời sự.
Thơ Bàn Tài Đoàn nêu lên cái tan cửa nát nhà, khuynh gia bại sản, cay cực của cảnh nghiện ngập:
Nay trâu mộng chui vào xe điếu ngủ
Ngọn đèn nướng hết bao đầu trâu.
Những câu thơ rất thực tế của Bàn Tài Đoàn dễ dàng lọt vào nhận thức của đồng bào, họ chấp nhận và nghe theo. Cho nên khi thơ Bàn Tài Đoàn nói đến giống lúa mới là đồng bào hưởng ứng không do dự.
Năm nay gieo lấy cây lúa mới
Để lúc thu hoạch được đầy kho
Khắp nơi họ cấy ăn no đủ
Ta nếu không theo chẳng đủ no.
(Năm mới về lòng nghĩ mới)
Nói thơ là nói tâm hồn, biểu đạt qua ngôn ngữ văn học. Một thời khá dài, không ít nhà thơ không dám bộc lộ tình cảm riêng tư, cá nhân trong thơ ca. Người ta chỉ ca ngợi cái lớn lao, qua đó khách quan toát lên được chủ thể trữ tình, tác giả trong thơ. Ai dám phá vỡ cái khuôn mẫu ấy sẽ là cách tân, mà cách tân tức là cách mạng. Thơ Bàn Tài Đoàn có cách tân.
Với sự nghiệp cách mạng và văn chương, Bàn Tài Đoàn vinh dự nhận được hai phần thưởng cao quý là Huân chương Độc lập hạng Ba, Huân chương Độc lập hạng Hai và Giải thưởng Văn học Hồ Chí Minh.
Năm 1984, anh được nhận Huân chương Độc lập. Anh nhớ mẹ, nhớ phong trào. Người mẹ đặt tên anh là Bàn Tài Tuyên, với Việt Minh anh có bí danh là Đoàn Kết, nước nhà độc lập rồi anh có tên Bàn Tài Đoàn. Nhìn lên bằng Huân chương Độc lập thấy tên mình thôi, anh đã nhớ đến mẹ anh:
Con viết vài dòng thư gửi mẹ
Mẹ nằm dưới mộ nghe tin mừng
Con vừa nhận được phần thưởng quý
Huân chương Độc lập, Nước ghi công.
Có những nét ngây thơ trong thơ gây cho ta xúc động; đây là “viết dòng thư gửi mẹ” mà địa chỉ người nhận “nằm dưới mộ”. Hẳn anh cũng biết, có bưu điệu nào chuyển giúp cho anh được? Chính cái vô lý ấy càng thể hiện được lòng nhớ nhung của anh da diết như thế nào đối với người mẹ Dao xưa nghèo đói, không nhà không cửa, đã đẻ anh trong một cái động núi xóm Xí Kèng.
Bàn Tài Đoàn viết câu chuyện thơ về nàng Vương Dìn. Cô gái có chồng đi bộ đội đánh Mỹ hy sinh, đành ở vậy nuôi con khôn lớn. “Mấy năm goá bụa ai cũng hỏi - Họ đến hỏi nàng đi bước hai - Có người cũng đến gặp mặt hỏi - Có người cách núi hỏi tuổi đời…” nhưng Vương Dìn không nhận - “họ yêu đến mấy cũng nhìn không”.
Tác giả thuỷ chung bởi cách mạng đã dìu dắt anh đến với thơ. Trong cuốn Hồi ký “Từ nhân dân mà ra”, Đại tướng Võ Nguyên Giáp có đoạn kể: “Một lần trong một lớp học, các đồng chí giới thiệu với tôi, có đồng chí Đoàn Kết làm bài hát lượn rất giỏi. Đồng chí Đoàn Kết trước kia đi làm công cho một tên chánh Mán, đã làm một bài hát lượn kể lại cuộc đời cực khổ của mình, hát lên, nhiều người nghe rớt nước mắt. Đồng chí Đoàn Kết nhà rất nghèo, nhưng khi đến lớp lại mang theo nhiều gạo, ngoài phần mình, còn đem thêm để giúp đỡ các anh em khác. Tính tình đồng chí rất tốt, hồn nhiên, vui vẻ. Tôi gợi ý đồng chí nên đem nội dung học tập làm thành bài hát. Đồng chí Đoàn Kết lấy ít tàu lá chuối về, cắt ra từng mảnh đặt xuống mặt đất. Anh ngồi rung đùi, tay cầm con dao Mán vạch trên lá, viết những bài hát lượn bằng một thứ chữ giống như chữ Nôm. Những bài hát của anh được các hội viên rất thích. Đồng chí Đoàn Kết hồi đó, là nhà thơ Bàn Tài Đoàn ngày nay”.
Anh yêu vô cùng tiếng nói và chữ viết dân tộc Dao nhưng ý nghĩ trong câu thơ “Người Dao ta là dân một nước Việt Nam” ấy luôn luôn làm cho tâm hồn Bàn Tài Đoàn trong sáng (Nông Quốc Chấn).
Theo thơ anh, dường như anh còn nặng nợ với núi sông, với các đồng chí đã dìu dắt mình trưởng thành về nhiều mặt trong đó có thơ. Anh nhớ những kỷ niệm ấy, không gì khác, đó là lòng thuỷ chung. Đã nhận thì nhớ trả. Đã chịu ơn phải nhớ công ơn. Ta quý anh Đoàn biết mấy, khi thấy trên đời không hiếm kẻ quên ân nhân mình. Anh nhớ đồng chí Văn:
Đồng chí tình thân như ruột thịt
Dìu dắt tôi đi bước đường thơ
Giấy bằng lá chuối, dao làm bút
Ngày nay nên người, nhớ lại xưa
(Gặp đồng chí Văn, 1969)
Đã nói thơ là phải nói nghệ thuật, kể cả thơ văn xuôi. Với văn học ngôn ngữ là yếu tố thứ nhất. Với thơ lại càng quan trọng hơn, bởi thơ phải vận dụng điêu luyện, chắt lọc tinh tuý của ngôn ngữ, nhằm làm sao bài thơ có sức truyền cảm mãnh liệt.
Nhưng nói cho cùng cái tình cảm chân thành trong thơ có vai trò quan trọng hơn cả, nếu chỉ khoác lên bài thơ những tấm áo hoa mỹ che giấu một tình cảm giả tạo, bài thơ khó được quần chúng chấp nhận. Hơn nữa, làm thơ cần chú ý đến đối tượng thơ nếu bài thơ biểu hiện bằng ngôn ngữ văn học xa lạ, quần chúng nghe rồi, không hiểu nổi bài thơ nói gì, thì tác giả cũng phải suy nghĩ.
Bàn Tài Đoàn kể chuyện anh sinh ra ở động núi, chẳng khác gì con nai đẻ con ở hang, loài khỉ vượn đẻ con trong hốc đá. Sự so sánh ấy gây cảm xúc về người mẹ anh nghèo, cực, cay đắng, sống trong xã hội cũ như thế nào.
Tháng chín cuối thu năm Quý Sửu
Tôi ra đời giữa núi rừng này
Sí Kèng hang đá che mưa gió
Như vượn, như nai, kiếp đắng cay.
(Tháng chín mùa thu năm
Quý Sửu)
Trong không khí hào hùng miền Bắc bắn rơi nhiều máy bay Mỹ, Bàn Tài Đoàn miêu tả khí thế chiến đấu của ta:
Bỗng còi báo động vang thành phố
Súng nổ trên đầu tựa rang ngô.
(Những ngày nằm bệnh viện)
Thơ Bàn Tài Đoàn viết bằng chữ Nôm Dao Tiền (vay mượn hình thức chữ Hán để ghi âm ngôn ngữ mình) khi anh ngâm nga theo điệu páo dung, quần chúng Dao Tiền nam thanh nữ tú vây quanh anh nuốt lấy từng câu hát.
*
Cuối cùng tôi muốn nhắc lại hai câu kết bài thơ mà tôi đã viết trên bức tượng tặng anh:
Ngoảnh lại nẻo thơ ai tiếp gót
Bâng khuâng lặng lẽ mắt nhìn xa.
Đó là nỗi băn khoăn, có thể nói, băn khoăn chung của bạn bè làm văn học nghệ thuật. Và nếu chỉ đọc hai câu thơ trên đây, có thể ta chưa hiểu hết hoặc đánh giá đúng nhà thơ cách mạng Bàn Tài Đoàn. Bởi vì từ tháng 3-1977, hơn một phần tư thế kỷ về trước, Bàn Tài Đoàn đã thấy vấn đề, và thiết tha có được một đội ngũ người làm thơ dân tộc Dao.
Chúng ta kính nể anh, khi anh làm bài thơ tha thiết, chân tình rất mực “Muốn tìm bạn” làm thơ, nối bước đường thơ vì anh biết anh đã ở tuổi xế chiều.
Ngày nay tôi đã nhiều tuổi tác
Như mặt trời sắp xế về tây
Con đường làm thơ dài dằng dặc
Nghĩ ai sẽ nối bước đi này.
(Muốn tìm bạn, 3-1977)
Chúng ta kính chúc nhà thơ lão thành cách mạng Bàn Tài Đoàn có sức khoẻ, sống lâu, chúc cây đại thụ thơ dân tộc Dao toả cành sum suê rợp bóng đứng sừng sững giữa trời đất núi rừng quê hương..
(Báo Văn nghệ)
Triều Ân
Mùa xuân 2003, đến thăm anh Bàn Tài Đoàn trong tâm trạng vui vì biết anh 90 tuổi. Anh cũng cảm nhận được lòng kính nể của tôi về một nhà thơ dân tộc, bởi tôi đứng rất lâu trước hai khung kính treo cao trên tường kia ghi nhận công lao của anh về văn chương Giải thưởng Hồ Chí Minh và Huân chương Độc lập hạng Nhì.
1- Trong một con người hiền lành giản dị chứa đựng một ý chí cách mạng mãnh liệt.
Tôi nhớ khi ấy là năm 1957, tôi cùng nhà văn Lâm Tiến đang công tác ở ban Nghiên cứu ngôn ngữ văn tự dân tộc Tày Nùng ở khu Việt Bắc, có sang sở Văn hoá khu thăm anh Bàn Tài Đoàn. Cuộc tiếp xúc ban đầu giản dị và dễ thân quen, anh đọc thơ Xuân lai hoa khai cho chúng tôi nghe. Giọng anh thật ấm áp.
Tôi nhớ những ngày đi dự Đại hội các nhà văn Việt Nam lần thứ hai ở Câu lạc bộ Đoàn Kết, Hà Nội, tôi ngồi giữa hai anh, Bàn Tài Đoàn một bên, Võ Huy Tâm một bên. Bàn Tài Đoàn chỉ lẳng lặng nghe, mắt nhìn đi đâu, chỗ nào nghe vui thì anh tủm tỉm cười, trông anh hiền lành đáng nể.
Sau này tôi có hiểu anh hơn, bởi nhiều lần anh phải dằn vặt suy nghĩ, băn khoăn “cuộc đời sao khổ thế”:
Nghĩ lại cuộc đời sao khổ thế
Sinh ra cả đời bị cực thân
Sống đời không có nơi nương tựa
Du cư đi khắp núi xa gần.
Anh Bàn Tài Đoàn chất phác hiền lành là vậy mà với anh khó có giây phút hồn nhiên thư thái.
Năm 1972 đế quốc Mỹ dùng máy bay ném bom bắn phá ác liệt miền Bắc Việt Nam, cũng có quả bom rơi xuống không nổ. Người ta tháo kíp, moi ruột, treo bom lên làm kẻng báo giờ lao động trong hợp tác xã nông nghiệp. Bàn Tài Đoàn trút hết căm thù vào quả bom bởi nó “làm tay sai cho giặc Mỹ”, phải treo mày lên, đánh mãi không nguôi giận.
Ngày nay mày bị dân treo cổ
Thay chủ Mỹ, mày bị tội này
Chủ mày: Nhà Trắng, Lầu Năm Góc
Còn mày, ở đây chịu đòn thay…
Với nền văn học hiện đại Việt Nam, thơ Bàn Tài Đoàn có vị trí quan trọng. Nhưng ở đây tôi muốn nói thơ anh là của đồng bào, thơ anh bám sát những vấn đề nóng hổi của cách mạng vùng đồng bào Dao.
Người Dao đọc, nghe, hớp lấy từng lời thơ anh bởi thơ anh nói đúng tâm tư nguyện vọng cũng như cuộc đời họ. Đồng bào Dao thuộc thơ anh như chính bài thơ đó là của họ sáng tác. Đây là hình ảnh vợ chồng Dao:
Xưa kia ta như đôi chim nhỏ
Bay đi bay lại được gặp nhau
Nam nữ thanh niên Dao hâm mộ thơ anh Bàn Tài Đoàn, bởi anh dành tất cả tình thương cho con cháu.
Một điển hình về cuộc sống người Dao xưa kia là thiếu muối. Thực dân Pháp đặt ra chính sách hạn chế muối để quần chúng li gián cán bộ bí mật (không ai dám nuôi vì mất thêm phần muối gia đình). Với người Dao, thiếu muối là hiện tượng triền miên:
Bắp vùi xuống đất trên khe đá
Nó mọc lên không chịu ra hoa
Con khóc đòi ăn cơm chấm muối
Định cư, định canh là một chính sách lớn của Đảng đối với vùng núi cao. Bàn Tài Đoàn đã có lúc nghĩ sâu sắc về cung cách làm ăn của người Dao, phải chặt phá rừng làm nương rẫy, mấy mùa qua đi đất bạc màu, lại du cư du canh, đi nơi khác khai phá rừng làm nương, anh rất băn khoăn:
Rừng xanh cây cối thật quý giá
Nổi lửa đốt, sau khi chặt phá
Không chặt, trong bụng không có cơm
Phải chặt bừa để không đói lả.
(Người Dao suy nghĩ gì)
Nhưng có “bó đuốc sáng” rồi, anh phải nói cho đồng bào mình hiểu: Phải định cư, phải làm chủ núi rừng mình đang ở:
Làm chủ ở trên đồi trên núi
Giữ lấy rừng ta mãi mãi xanh
Đừng có châm lửa vào đốt cháy
Gỗ nứa trên rừng quý như vàng
(Được làm chủ)
Với chính sách phá bỏ cây thuốc phiện và cai nghiện ở vùng đồng bào, là một chính sách lớn đã có khá lâu, nay vẫn còn nóng hổi trong thời sự.
Thơ Bàn Tài Đoàn nêu lên cái tan cửa nát nhà, khuynh gia bại sản, cay cực của cảnh nghiện ngập:
Nay trâu mộng chui vào xe điếu ngủ
Ngọn đèn nướng hết bao đầu trâu.
Những câu thơ rất thực tế của Bàn Tài Đoàn dễ dàng lọt vào nhận thức của đồng bào, họ chấp nhận và nghe theo. Cho nên khi thơ Bàn Tài Đoàn nói đến giống lúa mới là đồng bào hưởng ứng không do dự.
Năm nay gieo lấy cây lúa mới
Để lúc thu hoạch được đầy kho
Khắp nơi họ cấy ăn no đủ
Ta nếu không theo chẳng đủ no.
(Năm mới về lòng nghĩ mới)
Nói thơ là nói tâm hồn, biểu đạt qua ngôn ngữ văn học. Một thời khá dài, không ít nhà thơ không dám bộc lộ tình cảm riêng tư, cá nhân trong thơ ca. Người ta chỉ ca ngợi cái lớn lao, qua đó khách quan toát lên được chủ thể trữ tình, tác giả trong thơ. Ai dám phá vỡ cái khuôn mẫu ấy sẽ là cách tân, mà cách tân tức là cách mạng. Thơ Bàn Tài Đoàn có cách tân.
Với sự nghiệp cách mạng và văn chương, Bàn Tài Đoàn vinh dự nhận được hai phần thưởng cao quý là Huân chương Độc lập hạng Ba, Huân chương Độc lập hạng Hai và Giải thưởng Văn học Hồ Chí Minh.
Năm 1984, anh được nhận Huân chương Độc lập. Anh nhớ mẹ, nhớ phong trào. Người mẹ đặt tên anh là Bàn Tài Tuyên, với Việt Minh anh có bí danh là Đoàn Kết, nước nhà độc lập rồi anh có tên Bàn Tài Đoàn. Nhìn lên bằng Huân chương Độc lập thấy tên mình thôi, anh đã nhớ đến mẹ anh:
Con viết vài dòng thư gửi mẹ
Mẹ nằm dưới mộ nghe tin mừng
Con vừa nhận được phần thưởng quý
Huân chương Độc lập, Nước ghi công.
Có những nét ngây thơ trong thơ gây cho ta xúc động; đây là “viết dòng thư gửi mẹ” mà địa chỉ người nhận “nằm dưới mộ”. Hẳn anh cũng biết, có bưu điệu nào chuyển giúp cho anh được? Chính cái vô lý ấy càng thể hiện được lòng nhớ nhung của anh da diết như thế nào đối với người mẹ Dao xưa nghèo đói, không nhà không cửa, đã đẻ anh trong một cái động núi xóm Xí Kèng.
Bàn Tài Đoàn viết câu chuyện thơ về nàng Vương Dìn. Cô gái có chồng đi bộ đội đánh Mỹ hy sinh, đành ở vậy nuôi con khôn lớn. “Mấy năm goá bụa ai cũng hỏi - Họ đến hỏi nàng đi bước hai - Có người cũng đến gặp mặt hỏi - Có người cách núi hỏi tuổi đời…” nhưng Vương Dìn không nhận - “họ yêu đến mấy cũng nhìn không”.
Tác giả thuỷ chung bởi cách mạng đã dìu dắt anh đến với thơ. Trong cuốn Hồi ký “Từ nhân dân mà ra”, Đại tướng Võ Nguyên Giáp có đoạn kể: “Một lần trong một lớp học, các đồng chí giới thiệu với tôi, có đồng chí Đoàn Kết làm bài hát lượn rất giỏi. Đồng chí Đoàn Kết trước kia đi làm công cho một tên chánh Mán, đã làm một bài hát lượn kể lại cuộc đời cực khổ của mình, hát lên, nhiều người nghe rớt nước mắt. Đồng chí Đoàn Kết nhà rất nghèo, nhưng khi đến lớp lại mang theo nhiều gạo, ngoài phần mình, còn đem thêm để giúp đỡ các anh em khác. Tính tình đồng chí rất tốt, hồn nhiên, vui vẻ. Tôi gợi ý đồng chí nên đem nội dung học tập làm thành bài hát. Đồng chí Đoàn Kết lấy ít tàu lá chuối về, cắt ra từng mảnh đặt xuống mặt đất. Anh ngồi rung đùi, tay cầm con dao Mán vạch trên lá, viết những bài hát lượn bằng một thứ chữ giống như chữ Nôm. Những bài hát của anh được các hội viên rất thích. Đồng chí Đoàn Kết hồi đó, là nhà thơ Bàn Tài Đoàn ngày nay”.
Anh yêu vô cùng tiếng nói và chữ viết dân tộc Dao nhưng ý nghĩ trong câu thơ “Người Dao ta là dân một nước Việt Nam” ấy luôn luôn làm cho tâm hồn Bàn Tài Đoàn trong sáng (Nông Quốc Chấn).
Theo thơ anh, dường như anh còn nặng nợ với núi sông, với các đồng chí đã dìu dắt mình trưởng thành về nhiều mặt trong đó có thơ. Anh nhớ những kỷ niệm ấy, không gì khác, đó là lòng thuỷ chung. Đã nhận thì nhớ trả. Đã chịu ơn phải nhớ công ơn. Ta quý anh Đoàn biết mấy, khi thấy trên đời không hiếm kẻ quên ân nhân mình. Anh nhớ đồng chí Văn:
Đồng chí tình thân như ruột thịt
Dìu dắt tôi đi bước đường thơ
Giấy bằng lá chuối, dao làm bút
Ngày nay nên người, nhớ lại xưa
(Gặp đồng chí Văn, 1969)
Đã nói thơ là phải nói nghệ thuật, kể cả thơ văn xuôi. Với văn học ngôn ngữ là yếu tố thứ nhất. Với thơ lại càng quan trọng hơn, bởi thơ phải vận dụng điêu luyện, chắt lọc tinh tuý của ngôn ngữ, nhằm làm sao bài thơ có sức truyền cảm mãnh liệt.
Nhưng nói cho cùng cái tình cảm chân thành trong thơ có vai trò quan trọng hơn cả, nếu chỉ khoác lên bài thơ những tấm áo hoa mỹ che giấu một tình cảm giả tạo, bài thơ khó được quần chúng chấp nhận. Hơn nữa, làm thơ cần chú ý đến đối tượng thơ nếu bài thơ biểu hiện bằng ngôn ngữ văn học xa lạ, quần chúng nghe rồi, không hiểu nổi bài thơ nói gì, thì tác giả cũng phải suy nghĩ.
Bàn Tài Đoàn kể chuyện anh sinh ra ở động núi, chẳng khác gì con nai đẻ con ở hang, loài khỉ vượn đẻ con trong hốc đá. Sự so sánh ấy gây cảm xúc về người mẹ anh nghèo, cực, cay đắng, sống trong xã hội cũ như thế nào.
Tháng chín cuối thu năm Quý Sửu
Tôi ra đời giữa núi rừng này
Sí Kèng hang đá che mưa gió
Như vượn, như nai, kiếp đắng cay.
(Tháng chín mùa thu năm
Quý Sửu)
Trong không khí hào hùng miền Bắc bắn rơi nhiều máy bay Mỹ, Bàn Tài Đoàn miêu tả khí thế chiến đấu của ta:
Bỗng còi báo động vang thành phố
Súng nổ trên đầu tựa rang ngô.
(Những ngày nằm bệnh viện)
Thơ Bàn Tài Đoàn viết bằng chữ Nôm Dao Tiền (vay mượn hình thức chữ Hán để ghi âm ngôn ngữ mình) khi anh ngâm nga theo điệu páo dung, quần chúng Dao Tiền nam thanh nữ tú vây quanh anh nuốt lấy từng câu hát.
*
Cuối cùng tôi muốn nhắc lại hai câu kết bài thơ mà tôi đã viết trên bức tượng tặng anh:
Ngoảnh lại nẻo thơ ai tiếp gót
Bâng khuâng lặng lẽ mắt nhìn xa.
Đó là nỗi băn khoăn, có thể nói, băn khoăn chung của bạn bè làm văn học nghệ thuật. Và nếu chỉ đọc hai câu thơ trên đây, có thể ta chưa hiểu hết hoặc đánh giá đúng nhà thơ cách mạng Bàn Tài Đoàn. Bởi vì từ tháng 3-1977, hơn một phần tư thế kỷ về trước, Bàn Tài Đoàn đã thấy vấn đề, và thiết tha có được một đội ngũ người làm thơ dân tộc Dao.
Chúng ta kính nể anh, khi anh làm bài thơ tha thiết, chân tình rất mực “Muốn tìm bạn” làm thơ, nối bước đường thơ vì anh biết anh đã ở tuổi xế chiều.
Ngày nay tôi đã nhiều tuổi tác
Như mặt trời sắp xế về tây
Con đường làm thơ dài dằng dặc
Nghĩ ai sẽ nối bước đi này.
(Muốn tìm bạn, 3-1977)
Chúng ta kính chúc nhà thơ lão thành cách mạng Bàn Tài Đoàn có sức khoẻ, sống lâu, chúc cây đại thụ thơ dân tộc Dao toả cành sum suê rợp bóng đứng sừng sững giữa trời đất núi rừng quê hương..
(Báo Văn nghệ)
Love mickey,