📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Hiệu Đính Truyện

Hàn Phi Tử - Giản Chi và Nguyễn Hiến Lê 🔒

48 trả lời, 20.181 lượt xem — Trang 2 / 2
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2009-07-01 20:12:06huytran>
THIÊN XXXII
NGOẠI TRỪ THUYẾT TẢ THƯỢNG
(Trích)
(NHỮNG THUẬT ĐỂ DÀNH MÀ DÙNG; THIÊN NGOẠI, TẢ, THƯỢNG) 



Kinh 1. Đạo của bậc minh chủ cũng như lời Hữu Nhược đáp Mật tử. Các vị chúa thời nay[1] khi nghe nói thì khen sự văn nhã, tô chuốt. Khi xem việc làm thì trọng sự xa vời, viển vông, vì vậy quần thần, sĩ dân nói những lời vu khoát mà hành động xa sự tình (…).
Truyện. a/ Mật Tử Tiện[2] cai trị đất Đan Phụ. Hữu Nhược gặp ông ta, hỏi: “Sao ông gầy như vậy?” Mật Tử đáp: “Vua không biết rằng Bất Tề này vô dụng, sai cai trị đất Đan Phụ. Việc quan bận rộn, lòng rất lo âu, nên gầy”. Hữu Nhược bảo:
“Xưa vua Thuấn gẩy cây đàn năm dây, ca bài thơ Nam phong (trong Kinh Thi) mà thiên hạ trị. Nay đất Đan Phụ nhỏ như vậy mà cai trị đã phải lo âu, nếu trị cả thiên hạ mới làm sao? Biết thuật trị dân thì thân ngồi trên miếu đường, sắc diện (tươi) như gái đồng trinh, cũng chẳng hại gì cho việc cai trị; không biết thuật cai trị thì thân tuy gầy ốm tiều tụy, cũng chẳng có ích gì”.
b/ Vua Sở hỏi Điền Cưu (một môn đệ của Mặc tử):
- Mặc tử là một học giả nổi danh, suốt đời tận lực làm việc, đáng khen, nhưng lời nói rườm mà không nhã, tô chuốt, tại sao vậy?
Đáp:
- Xưa Tần bá (Tần Mục công) gả con gái cho công tử nước Tấn (Trùng Nhĩ), trang sức cho cô dâu, đưa theo bảy chục thiếu nữ bận áo gấm làm nàng hầu. Tới Tấn, người Tấn yêu những người thiếp đó mà coi thường con gái Tần Bá. Như vậy có thể bảo là khéo gả các nàng thiếp mà không khéo gả con gái. Nước Sở có người bán hạt châu qua nước Trịnh, làm cái hộp bằng gỗ mộc lan, xông bằng quế, tiêu cho thơm, điểm xuyết bằng châu ngọc, trang sức bằng ngọc mai khôi[3] lót bằng lông chim trả. Người nước Trịnh mua cái hộp mà trả lại châu. Như vậy có thể bảo là khéo bán cái hộp mà không khéo bán hạt châu. Ngày nay người ta thảo luận đều thích dùng lời khéo léo, văn hoa, bậc vua chúa thấy cái văn hoa mà quên rằng những lời đó vô dụng. Thuyết của Mặc Tử truyền cái đạo của tiên vương, luận lời của thánh nhân để tuyên cáo cho mọi người. Nếu dùng những lời văn nhã tô chuốt sợ người ta chỉ nhớ tới cái văn hoa mà quên cái hữu dụng của học thuyết, như vậy tức là lấy văn hoa làm hại cái hữu dụng, không khác việc người nước Sở bán hạt châu, Tần bá gả con gái. Vì vậy mà lời của Mặc Tử rườm mà không văn nhã tô chuốt.
c/ Mặc tử làm con diều bằng gỗ 3 năm mới xong, bay được một ngày thì hỏng. Một môn sinh bảo:
- Thầy khéo tay thật, làm cho diều gỗ bay được.
Mặc tử đáp:
- Ta đâu khéo bằng người làm cái đòn ngang xe. Họ chỉ dùng một khúc cây dài, không đầy 1 buổi sáng mà kéo được ba chục thạch[4] hoá vật, đi được rất xa mà dùng được mấy năm. Còn ta làm diều gỗ, 3 năm mới xong mà bay chỉ được 1 ngày.
Huệ tử nghe chuyện đó bảo:
- Mặc tử rất khéo (vì) cho việc làm đòn ngang là khéo, làm diều gỗ là vụng.

Kinh 2: bậc vua chúa khi nghe người nói mà không lấy công dụng làm mục đích thì kẻ biện thuyết sẽ nói nhiều về những thuyết “mũi gai đâm” và “ngựa trắng”; (khi coi bắn) không lấy sự trúng đích làm quan trọng thì người bắn tên nào cũng giỏi như Hậu Nghệ cả (vì bắn bậy thì thế nào cũng trúng một cái gì đó)(…).
Truyện 2. a/ Một người nước Tống vì vua nước Yên chạm một con khỉ cái vào đầu một mũi gai, nhưng nhà vua phải trai giới 3 tháng rồi mới thấy (hình cực nhỏ đó) được. Vua Yên lấy lộc ba cỗ xe[5] để nuôi anh ta. Viên “hữu ngự” (đánh xe hay hầu?) là một thợ sắt tâu:
- Thần nghe nói vua không thể trai giới mười ngày mà không có một bữa tiệc trong thời gian đó. Người nước Tống đó biết đại vương không thể trai giới lâu được để coi một vật vô dụng nên mới đưa ra kì hạn ba tháng. Hễ chạm trổ thì mũi nhọn để chạm phải nhỏ hơn vật được chạm. Thần là thợ đúc, không thể đúc cho anh ta dụng cụ để anh ta chạm hình đó. Vậy việc đó không có thực, (anh ta nói láo). Xin đại vương xét lại.
Vua Yên do đó bỏ tù anh ta, chất vấn, quả nhiên là nói láo, bèn đem giết. Người thợ đúc lại tâu thêm: “Tính kế mà không có tiêu chuẩn thì kẻ sĩ đàm luận đa số đưa ra những thuyết như “mũi gai” đó”.
(Còn một thuyết nữa đại khái cũng như thuyết trên, nhưng kết cục là anh chàng lừa bịp đó - người nước Vệ - khi biết lộ tẩy, trốn mất).
b/ Nghê Duyệt là người nước Tống, giỏi biện thuyết, đưa ra thuyết “ngựa trắng không phải là ngựa”[6] các biện sĩ ở Tắc Hạ[7] không ai bác được nhưng khi ông ta cưỡi ngựa trắng qua cửa ải thì chịu nộp thuế. Vậy dựa vào hư không, có thể thắng được một nước, mà khảo về thực tế, xét về hình trạng thì không gạt nổi một người.
d/ Có người khách (bảo có thể) dạy cho vua Yên cái phép không chết. Vua Yên sai người tới học, người này chưa học xong thì người khách đó chết. Vua Yên nổi giận, đem ra giết. Nhà vua biết rằng người khách nọ gạt mình, lại nhè giết người sai đi học vì tội chậm trễ. Tin một việc không thể có được mà giết bề tôi vô tội, đó là cái hại không biết suy xét (…).
g/ Có người vẽ cho vua nước Tề. Vua Tề hỏi:
- Vẽ cái gì khó nhất?
- Vẽ chó ngựa khó nhất.
- Cái gì dễ nhất?
- Ma quỉ dễ nhất.
Chó với ngựa ai cũng biết, cũng thấy trước mắt từ sáng tới chiều không thể vẽ bậy, không giống được, cho nên khó vẽ. Còn ma quỉ không có hình trạng, không thấy trước mắt nên dễ vẽ.
h/ Trẻ con chơi với nhau, lấy đất sét làm cơm, bùn làm canh, dăm bào làm thịt, nhưng chiều thì về nhà ăn cơm, vì cơm bằng đất, canh bằng bùn, chơi thì được chứ ăn không được. Khen những điều thời thượng cổ truyền tụng lại, nghe thì hay thì (mà?) thực tế vô dụng; giảng thuyết nhân nghĩa của tiên vương mà không biết chỉnh lí quốc gia, đó cũng là những việc để chơi chớ không thể đem trị nước được. Trọng nhân nghĩa, mà nước yếu loạn, đó là 3 nước Tấn (Hàn, Triệu, Ngụy từ Tấn tách ra); không trọng nhân nghĩa mà trị mạnh là nước Tần. Nhưng Tần tuy mạnh mà chưa làm đế (thống nhất thiên hạ) được là vì việc trị nước chưa hoàn tất.

*

Kinh 3. Cho tới đây chúng ta thấy mỗi kinh chỉ đưa ra một qui tắc, một thuật, kinh này đưa ra tới hai thuật.
Thuật thứ nhất: Hễ nuôi cái lòng “người khác phải vì mình” (nghĩa là nghĩ tới cái lợi của mình hơn cái lợi của họ) thì hai bên sẽ trách oán nhau; (ngược lại) nếu nuôi cái lòng “ai cũng vì bản thân của người đó thôi” (nghĩa là ai cũng nghĩ tới cái lợi của chính mình hơn cái lợi của người khác), thì sẽ nên việc[8].
Vì vậy mà có khi cha con oán trách nhau, mà mướn người làm công thì cho họ ăn ngon (…). 

Thuật thứ nhì: Nếu theo các học giả (trỏ Nho gia) mà thi hành cái đạo mang mang xa vời (không thực tế) của các tiên vương, thì có lẽ không hợp thời nay chăng? (…) Hành động không thích hợp với việc nước mà cứ xưng tụng tiên vương thì cũng như về nhà lấy cái ni đo chân vậy.
Truyện 3 (Trong phần truyện này Hàn Phi dẫn chứng tới 17 cố sự, nhưng có nhiều cố sự không liên quan gì tới hai thuật nêu ở phần kinh. Cơ hồ như Hàn Phi viết vội, chưa kịp sửa lại. Chúng tôi chỉ lựa 1 truyện a/ giải thích thuật thứ nhất và 3 truyện p/ r/ s/ giải thích thuật thứ nhì.)
a/ Cha mẹ không săn sóc con kĩ khi nó còn nhỏ thì lớn lên nó oán mình. Con được nuôi thành người rồi, mà cung dưỡng cha mẹ không được hậu thì cha mẹ giận, oán trách nó. Cha con là tình chí thân mà có khi còn trách nhau, oán nhau là do ai nấy đều muốn cho người khác phải vì mình (cha muốn cho con phải vì cha, con muốn cho cha phải vì con), chứ không muốn cho mỗi người chỉ vì bản thân của người đó thôi.
Mướn người gieo mạ, cày ruộng cho mình thì người chủ không ngại phí tổn mà cho họ ăn ngon, lại còn lựa tiền, vải tốt[9] mà trả công cho họ, như vậy không phải vì yêu họ đâu mà vì nghĩ: “Có vậy họ cầy mới sâu, cào cỏ mới kĩ cho mình”. Người làm công đó, hết sức cầy và cào cỏ, sửa sang bờ ruộng, không phải vì yêu chủ, mà vì nghĩ: “Có như vậy chủ mới cho ăn ngon, mà tiền, vải mới tốt”. Như vậy một bên cung dưỡng hậu hĩ, một bên gắng sức làm việc, có cái ân trạch giữa cha con, hai bên đều hết nghĩa vụ (vì) đều mưu cái lợi cho chính mình cả. Bởi vậy con người làm việc với nhau, cho, tặng nhau, nếu thấy có lợi cho mình thì dù là người nước Việt[10] cũng dễ hoà, nếu lòng thấy có hại thì dù là cha con cũng xa nhau, oán nhau.
p/ (Chu) thư có câu: “Thắt nó, buộc nó”. Một người nước Tống đọc tới đó, lấy hai cái dây lưng tự thắt, buộc bụng. Người ta hỏi: “Làm gì vậy?” Đáp: “Vì sách dạy như vậy”[11]
r/ Người đất Dĩnh (kinh đô nước Sở thời Xuân Thu, nay là Hồ Bắc) viết thư cho vị tướng quốc nước Yên. Viết ban đêm, lửa không đủ sáng, bèn bảo người cầm đuốc: “Đưa cây đuốc lên”. (Miệng nói vậy) tay viết lộn trong thư: “Đưa cây đuốc lên”. Mấy chữ đó không phải là ý trong thư. Tướng quốc nước Yên đọc tới đó, mừng lắm, bảo: “Đưa cây đuốc lên là trọng sự sáng, trọng sự sáng tức là tiến cử, bổ dụng người hiền”. Rồi ông ta tâu với vua, vua hoan hỉ (theo lời) và nhờ vậy nước Yên thịnh trị. Tuy thịnh trị đấy, nhưng đâu phải là ý trong thư. Đa số các học giả ngày nay giống như vậy.
a/ Một người nước Trịnh muốn mua giày, đo bàn chân mình rồi đặt cái ni ở chỗ ngồi. Anh ta ra chợ mà quên đem cái ni theo. Tìm được thứ giày muốn mua rồi, anh ta sực nhớ lại, bảo: “Tôi quên đem cái ni theo, để tôi trở về lấy”. Rồi quay về nhà, khi trở lại chợ thì chợ đã tan, không mua giày được. Người ta hỏi: “Sao không lấy chân để thử giày”. Đáp: “Nên tin cái ni, chứ không nên tin mình”.

Kinh 4. – Đâu có lợi thì dân theo về, danh được hiển thì kẻ sĩ chịu chết. Vì vậy, tuy kẻ dưới có công nhưng không hợp pháp mà cũng được thưởng thì người trên không được lợi gì ở kẻ dưới cả; tuy có thanh danh nhưng không hợp pháp mà cũng được khen thì kẻ sĩ lo cầu cái danh cho họ mà không bồi đắp cho danh của vua[12](…)
Truyện 4.
a/ Vương Đăng làm quan lệnh Trung Mâu, trình lên Tương chủ[13] rằng: “Trung Mâu có hai kẻ sĩ tên là Trung Chương và Tư Kì, đức rất trau giồi, học lại uyên bác, sao nhà vua không dùng họ?”. Tương chủ đáp: “Ông tìm gặp họ đi, ta sẽ đề cử họ làm trung đại phu”. Quan tướng quốc can: “Trung đại phu là chức quan trọng của Tấn, họ không có công mà được chức đó, không hợp với quan chế của Tấn. Phải chăng nhà vua mới nghe nói về họ chứ chưa thấy họ?” Tương chủ đáp: “Khi ta thâu dụng (Vương) Đăng thì nghe nói rồi sau mới gặp; nay Đăng chọn người thì cũng lại nghe nói thì sau mới gặp; như vậy không ngớt dùng người khác làm tai mắt cho mình”. Thế là Vương Đăng một ngày tiến dụng hai trung đại phu, họ được cấp nhà và đất. Người Trung Mâu (thấy vậy) bỏ việc ruộng nương, bán nhà đất để theo học nghề văn đông đến phân nửa số dân trong ấp. [14]
d/ Triệu Chủ phụ[15] sai Lí Tì xem nước Trung sơn có thể đánh được không. Lí Tì trở về đáp: “Đánh được. Nếu nhà vua không đánh gấp thì Tề, Yên sẽ đánh trước”. Chủ Phụ hỏi: “Đánh được là tại sao?” Đáp: “Vua nước đó thích thân cận với bọn sĩ ẩn trong hang núi, tự nghiêng lọng, ngồi chung xe[16] với hơn chục kẻ sĩ ở nơi hang cùng ngõ hẻm, dùng lễ bình đẳng đối với trên trăm kẻ sĩ áo vải”. Nhà vua bảo: “Theo lời ông nói thì ông ấy là một ông vua có hiền đức, sao lại nên đánh?”. Đáp: “Không phải vậy. Thích kẻ ẩn sĩ nổi danh mà dùng họ trong triều thì chiến sĩ sẽ biếng nhác ngoài mặt trận. Ở trên tôn trọng bọn học giả, ở dưới kẻ sĩ được dùng tại triều thì nông phu biếng nhác ở ngoài ruộng. Chiến sĩ biếng nhác ở mặt trận thì binh yếu, nông phu biếng nhác ở ngoài ruộng thì nước nghèo; ở ngoài binh yếu hơn địch, ở trong thì nước nghèo, như vậy không mất nước là điều chưa từng thấy; đánh Trung Sơn cũng là phải chứ?” Chủ phụ khen “phải”, rồi đem quân đánh Trung Sơn, diệt được.

Kinh 5. – Kinh Thi có câu: “Không đích thân làm lấy thì dân không tin” (…) Nhưng nếu không định rõ chức phận cao thấp, không bắt bề tôi làm cho được việc, mà tự mình làm việc của kẻ ở địa vị dưới thì cũng như xuống xe chạy bộ, ngủ khi đọc sách (…).
Truyện 5.
a/ Tề Hoàn Công thích mặc áo màu tía, (do đó) cả nước đều mặc đồ tía, mà lụa tía hoá ra đắt gấp 5 lần lụa trắng. Hoàn Công lo, hỏi Quản Trọng: “Quả nhân thích mặc màu tía, màu tía đắt quá mà trăm họ vẫn cứ thích màu tía, làm sao bây giờ”. Quản Trọng đáp: “Nhà vua muốn cấm chỉ sao không thử thôi không mặc màu tía!” Hoàn Công bảo: “Phải” rồi nói với kẻ tả hữu: “Ta rất ghét mùi hôi của màu tía”. Từ lúc ấy kẻ tả hữu có ai bận màu tía lại gần ông, ông đều bảo: “Dang ra, ta ghét mùi hôi của màu tía”. Hôm đó, trong cung không ai mặc màu tía nữa, hôm sau tại kinh đô không ai mặc màu tía nữa, qua ngày thứ ba trong cõi không còn ai mặc màu tía hết.
(Còn một thuyết khác đại ý hệt như thuyết trên, nên chúng tôi bỏ)
c/ Tống Tương công giao chiến với Sở ở Trác cốc (một cái hang bên bờ sông Trác). Quân Tống đã bày thế trận rồi mà quân Sở chưa qua sông. Quan hữu tư mã là Cấu Cường chạy tới dâng kế:
- Quân Sở đông mà quân Tống ít, nên thừa lúc họ mới qua được nửa số, chưa bày xong thế trận mà đánh thì họ tất thua.
Tương Công đáp:
- Quả nhân nghe người quân tử bảo: đừng tàn hại người đã bị thương, đừng bắt người có hai thứ tóc, đừng đẩy người ta vào chỗ hiểm, đừng đánh trống thúc quân tấn công khi người ta chưa bày xong thế trận. Nay quân Sở chưa qua hết mà đánh họ, là trái với điều nghĩa; hãy đợi họ qua sông hết, rồi sẽ đánh trống thúc quân tiến lên.
Quan hữu tư mã bảo:
- Nhà vua không thương dân nước Tống, để cho kẻ tâm phúc không được trọn vẹn (tức là chết), chỉ là giả (nhân) nghĩa[17]
Tương công bảo:
- Ông không trở về hàng ngũ, ta sẽ thi hành quân pháp. Quan hữu tư mã trở về hàng. Quân Sở đã sắp thành thế trận, Tương công mới đánh trống thúc quân. Quân Tống đại bại, ông bị thương ở bắp vế, ba ngày sau chết. Đó là cái hoạ hâm mộ nhân nghĩa.
d/ Tề Cảnh Công đi chơi Thiếu hải (tức Bột hải ở ngoài khơi tỉnh Sơn Đông). Một người trạm phi ngựa từ kinh đô tới tâu: “Tướng quốc Án Anh đau nặng sắp chết, e công về không kịp”. Công vụt đứng dậy. Một người trạm khác lại phi ngựa tới. Công sai thắng gấp con ngựa Phiền Táng[18] vào cỗ xe và sai Hàn Khu[19] đánh xe. Mới chạy được vài trăm bước, cho rằng Hàn Khu đánh xe chậm quá, công giằng lấy dây cương, đánh xe lấy. Lại được vài trăm bước nữa, cho rằng ngựa chạy chậm rì rì, công bỏ xe chạy bộ. Phiền Táng là con ngựa tốt, Hàn Khu là người đánh xe giỏi mà còn cho rằng không bằng xuống xe chạy bộ!
d/ Ngụy Chiêu vương muốn dự vào công việc của các quan, bảo Mạnh Thường quân: “Quả nhân muốn dự vào công việc của các quan”. Mạnh Thường quân nói: “Nhà vua muốn dự vào công việc của các quan thì sao không thử tập đọc luật pháp?” Chiêu vương mới đọc được trên mười cái thẻ[20] đã ngủ gục. Ông bảo: “Quả nhân đọc không nổi thứ luật pháp này”.
Không đích thân nắm quyền bính mà muốn làm công việc để cho bề tôi làm, thì tất nhiên là (mệt mỏi) phải ngủ gục!

*

Kinh 6. Việc nhỏ mà tin rồi thì việc lớn mới tin được. Cho nên bậc minh chủ phải thủ tín từ việc nhỏ tới việc lớn[21] Thưởng phạt mà không thủ tín thì cấm lệnh không được thi hành. (…)
Truyện 6. a/ Tấn Văn công đánh đất Nguyên, đem theo mười ngày lương thực, hẹn với các quan đại phu mười ngày sẽ về. Tới Nguyên mười ngày rồi mà không hạ được, ông đánh thanh la[22] rút quân về. Có người lính từ trong thành Nguyên ra thưa: “Đánh Nguyên ba ngày nữa thì tất hạ được”. Quần thần tả hữu đều can ông: “Nguyên, lương thực đã hết, sức đã kiệt, xin nhà vua chịu khó đợi”. Ông đáp: “Ta đã định kì hạn là mười ngày với sĩ tốt, nếu bây giờ không lui binh thì thất tín mất. Được đất Nguyên mà phải thất tín, ta không làm”. Rồi ông bãi binh, rút về. Người đất Nguyên nghe thấy vậy, bảo: “Có ông vua thủ tín như vậy, có nên không qui phục chăng?”, rồi kéo nhau ra hàng. Người nước Vệ nghe thấy vậy bảo: “Có ông vua thủ tín như vậy, có nên không đi theo chăng?” rồi hàng ông. Khổng tử nghe nói rồi ghi lại: “Đánh đất Nguyên mà được nước Vệ là nhờ chữ tín.”
d/ Ngụy Văn hầu hẹn đi săn với người nước Ngu. Đúng ngày hẹn[23] thì trời nổi cơn giông. Kẻ tả hữu khuyên đừng đi, ông không nghe, bảo: “Không nên. Lấy lẽ trời nổi cơn giông gió mà thất tín, ta không làm vậy được”. Rồi tự lấy xe xông pha cơn giông, tới chỗ hẹn, nhưng người nước Ngu chưa tới, bèn bãi cuộc đi săn[24].
đ/ Vợ Tăng tử (Tăng Sâm, môn sinh của Khổng tử) đi chợ, đứa con chạy theo khóc. Bà dỗ nó: “Con về đi, mẹ đi chợ về sẽ làm thịt heo cho con ăn”. Lúc bà đi chợ về, Tăng tử muốn bắt heo để giết, bà vợ ngăn: “Tôi nói đùa với nó vậy thôi mà”. Tăng tử bảo: "Mình cho là nói đùa, chứ trẻ không cho là nói đùa[25]. Trẻ không phải tự nhiên biết, toàn là học của cha mẹ, nghe lời cha mẹ bảo. Nay mình nói láo với nó tức là dạy nó nói láo. Mẹ nói láo với con, con mà không tin cha mẹ được, đó không phải là cách dạy con". Rồi ông làm thịt con heo, đem luộc.


[1] Các bản xưa chép là “minh chủ”, nghĩa không thông. Nên các học giả sửa lại là “ám” (hôn ám) hoặc là “thời”. Chúng tôi nghĩ chữ “thời” (時) có thể lầm với chữ minh (明) được, chứ chữ “ám” thì khác xa quá.
[2] Học trò Khổng Tử, người nước Lỗ, tên là Bất Tề.
[3] Một loại ngọc màu đỏ.
[4] Mỗi thạch là 120 cân thời đó.
[5] Coi chú thích ở truyện 1 Thiên sau.
[6] Thuyết này các sách khác cho là của Công Tôn Long – Công Tôn Long phân biệt con ngựa và màu trắng. Ngựa là một ý niệm khái quát, ngựa trắng là một con ngựa thật, hai cái khác nhau, do đó ngựa trắng không phải là ngựa. Công Tôn Long ngụy biện.
[7] Ở Lâm Tri, kinh đô Tề, Tề Tuyên vương lập một công quán cho các kẻ sĩ mọi nơi lại đó giảng luận, coi phần I.
[8] Nguyên văn: Hiệp phù tương vị tắc trách vọng, tự vị tắc sự hành. Chúng tôi phiên âm và hiểu theo Trần Khải Thiên. Có nhà phiên âm là: … tương vi …, tự vi và dịch: Khi hai người làm chung nhau (tương vi) thì họ trách nhau, còn tự mình làm riêng rẽ (tự vi) thì việc chạy. E sai.
[9] Nguyên văn là dị. Có sách giảng là dễ lấy. Thời đó vải có thể dùng làm tiền để trả công, trao đổi hàng hoá.
[10] Thời đó người Trung Hoa ở miền Trung và miền Bắc coi người Việt ở Đông Nam là ngoại nhân.
[11] Sách nói về việc tu thân, phải giữ gìn, đừng phóng túng, người đó hiểu lầm.
[12] Nguyên văn: bất súc ư quân. Có sách dịch là: khống chế vua.
[13] Tức Triệu Vô Tuất, một trong ba người diệt Trí Bá, dọn đường cho việc chia ba nước Tấn.
[14] Pháp gia cho nghề văn là vô dụng.
[15] Vua Triệu, tức Võ Linh vương, ông tự xưng là Chủ phụ (như Thái thượng hoàng) sau khi lập con là Hà làm vua.
[16] Khi gặp kẻ sĩ ở trên đường, ông ta nghiêng lọng (tỏ vẻ kính trọng) rồi mời họ lên ngồi chung xe.
[17] Nguyên văn: đặc vị nghĩa nhĩ. Chữ vị đó, chúng tôi theo Trần Khải Thiên, đọc là ngụy.
[18] Tên một con ngựa quí.
[19] Một người đánh xe giỏi.
[20] Thời đó luật pháp viết hay khắc trên thẻ tre, vì chưa có giấy.
[21] Nguyên văn: tích ư tín: tích luỹ niềm tin.
[22] Thời đó, tiến quân thì đánh trống, lui quân thì đánh thanh la.
[23] Nguyên văn: minh nhật (hôm sau). Chiến Quốc sách - Ngụy 4 – chép là thị nhật (hôm ấy), có phần đúng hơn.
[24] Nguyên văn: bãi Ngu nhân. Chúng tôi theo Trần Khải Thiên mà dịch như vậy. Có thể dịch là: (xông pha cơn dông) để bảo người nước Ngu bãi cuộc đi săn.
[25] Nguyên văn: Anh nhi phi dữ hí dạ. Có thể dịch là: không thể nói láo với trẻ được.
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2009-06-26 21:33:51huytran>
THIÊN XXXIII
NGOẠI TRỪ THUYẾT TẢ HẠ (Trích)
(NHỮNG THUẬT ĐỂ DÀNH MÀ DÙNG – THIÊN NGOẠI, TẢ, HẠ) 



Kinh 1. Có tội mà bị trừng phạt thì không oán bề trên như người giữ cửa cụt chân cứu Tử Cao: có công mà được thưởng thì không cho đó là một ân huệ (...) như Chiêu Mão coi năm cỗ xe không hơn xà cạp và dép cỏ.
Truyện I – a/ Khổng tử làm tướng quốc nước Vệ[1], học trò là Tử Cao làm chức coi ngục, chặt chân một người phạm tội, người này sau làm chân giữ cửa. Có người ghét Khổng tử, nói với vua nước Vệ: “Trọng Ni muốn làm loạn”. Vua nước Vệ bắt Khổng tử, Khổng tử chạy kịp, các môn sinh đều trốn thoát, (chỉ có) Tử Cao không ra được vì cửa (thành) đã đóng[2], người cụt chân dẫn ông ta núp trong cái phòng ở chân cửa, viên lại tìm ông không được. Nửa đêm, Tử Cao hỏi người cụt chân: “Tôi không thể không thi hành pháp lệnh của vua, nên đích thân chặt chân của ông. Nay là lúc ông báo thù, mà sao ông lại giúp tôi trốn (ở đây)? Sao tôi lại được ông cứu như vậy?” Người cụt chân đáp: “Tôi bị chặt chân, vì tội tôi đáng vậy, làm sao khác được? Nhưng khi ngài định tội tôi, ngài xét mọi khía cạnh của pháp lệnh, tìm cách giúp tôi[3], muốn cho tôi khỏi tội, tôi biết vậy. Đến khi án đã quyết, tội đã định, ngài luôn buồn bã không vui, hiện rõ trên mặt, tôi thấy và biết vậy. Không phải ngài riệng thương tôi, bẩm tính ngài nhân từ như vậy. Tôi vui và mang ơn ngài là vì thế” (...).
c/ Tần và Hàn đánh Ngụy, Chiêu Mão (bề tôi nước Ngụy) qua phía Tây (Tần ở phía Tây) du thuyết mà Tần và Hàn bãi binh. Tề và Kinh đánh Ngụy, Mão qua phía Đông (Tề ở phía đông) du thuyết mà Tề và Kinh bãi binh. Ngụy Tương vương thưởng ông lộc năm cỗ xe[4], Mão nói: “Bá Di được chôn cất theo cấp tướng quân ở chân núi Thú Dương, và thiên hạ đều bảo: “Hiền (có khí tiết) và có tiếng nhân nghĩa như Bá Di mà chôn cất theo cấp tướng quân thì (cũng như) chôn còn hở tay chân[5]. Ngay thần bãi binh được bốn nước mà nhà vua cho thần lộc năm cỗ xe thì khác chi cho thần xà cạp và dép cỏ[6]".


*


Kinh 2: nên cậy vào thế lực mà không nên cậy vào tín nhiệm[7], cho nên Đông Quách Nha chống lại việc Quản Trọng làm tướng quốc; nên cậy vào thuật mà không nên cậy vào tín nhiệm, cho nên Hồn Hiên chỉ trích Văn Công. Bậc vua chúa có thuật trị nước thì thưởng một cách xác đáng để bề tôi phát triển hết tài năng, trừng phạt một cách cương quyết để ngăn cản gian tà, như vậy bề tôi dù có hành động lộn xộn, mình cũng lợi dụng được (...)
 Truyện 2 a/ Tề Hoàn công sắp lập Quản Trọng làm trọng phụ[8], ra lệnh cho quần thần: "Quả nhân sắp lập Quản Trọng làm Trọng Phụ, ai tán thành thì vào cửa rồi đứng qua bên trái, ai không tán thành thì vào cửa rồi đứng qua bên phải”, Đông Quách Nha đứng ở giữa. Hoàn công hỏi : “Quả nhân lập Quản Trọng làm trọng phụ, ra lệnh ai tán thành thì đứng bên trái, không tán thành thì đứng bên phải, sao ông lại đứng ở giữa cửa?” Nha đáp: “Thông minh như Quản Trọng có thể mưu tính lấy thiên hạ được không?” Công đáp: “Được”.
- “Quyết đoán như Quản Trọng có dám làm đại sự không?” Công đáp: “Dám”. Nha nói: “Thông minh có thể lấy thiên hạ, quyết đoán dám làm đại sự, mà nhà vua giao quyền bính cho ông ta thì ông ta tất dựa vào thế lực của nhà vua để trị nước Tề, có thể không nguy được không”. Công khen phải, rồi cho Thấp Bằng coi về nội chính, Quản Trọng coi về ngoại giao, hai người dòm ngó nhau[9].
b/ Tấn Văn công lưu vong ra nước ngoài. Cơ Trịnh bưng bình thức ăn theo hầu, lạc đường, mất dấu Văn công, khóc trên đường, nhịn đói rồi ngủ, chứ không dám ăn. Khi Văn công về nước, đem quân đánh đất Nguyên, chiếm được. Ông bảo: “Người chịu nhịn đói để giữ thức ăn trong bình cho ta, chắc không vì đất Nguyên mà phản ta”, rồi phong cho Cơ Trịnh làm huyện lệnh đất Nguyên. Quan đại phu Hồn Hiền nghe vậy, chê rằng: “Vì cái lẽ không đụng vào thức ăn trong bình mà tin rằng sẽ không vì đất Nguyên mà phản mình, chẳng phải là không có thuật trị nước ư? Bậc minh chủ không cậy vào cái lẽ bề tôi không phản mình mà ỷ vào cái lẽ họ không phản được mình, không ỷ vào cái lẽ họ không gạt mình mà ỷ vào cái lẽ họ không gạt được mình”.
c/ Dương Hổ bàn rằng: “Chúa mà hiền minh thì mình hết lòng phụng sự, nếu bất tài thi mình làm điều gian để thử chúa”. Ông ta bị đuổi ở nước Lỗ, bị nghi ở nước Tề[10], phải trốn qua Triệu, được Triệu Giản Chủ tiếp, phong làm tướng quốc; kẻ tả hữu hỏi: “Hổ giỏi cướp chính quyền, sao nhà vua lại dùng làm tướng quốc?”. Giản Chủ đáp: “Dương Hổ lo cướp chính quyền, ta lo giữ”, và ông dùng thuật để khống chế Hổ, Hổ không dám làm bậy, trung thành phụng sự, làm cho Giản chủ mạnh hơn lên, gần thành một bá chủ chư hầu.


*

Kinh 3: Văn Vương bỏ cái lễ vua tôi mà buộc lấy dây vớ, có lỗi mà còn khoe; Quí Tôn không phân biệt lúc ở triều, lúc về nhà, lúc nào cũng trang trọng, rốt cuộc bị hại.
Truyện 3. a/(Chu) Văn vương đem quân đánh nước Sùng, đến gò Phượng Hoàng thì dây vớ tuột, ông tự buộc lại. Thái Công Vọng hỏi: “Sao nhà vua lại tự buộc lấy?” Văn Vương đáp: “Những người mà vua dùng, bậc trên đều là thầy của vua, bậc giữa đều là bạn, bậc dưới đều là người sai khiến[11]. Ở đây đều là bề tôi của tiên vương, nên không có ai để sai khiến”.
Một thuyết khác bảo:
Tấn Văn Công giao chiến với Sở, tới gò Phượng Hoàng, dây dép tuột ra, ông tự buộc lại. Kẻ tả hữu hỏi “Nhà vua không sai người buộc lại cho được ư?”. Ông đáp “Ta nghe nói vua bậc trên ở gần ai thì đều nể họ; vua bậc trung ở gần ai thì đều yêu họ; vua bậc dưới ở gần ai thì đều khinh họ. Quả nhân tuy bất tiếu nhưng người của tiên vương còn đó, cho nên khó sai ai được”.
b/ Quí Tôn thích nuôi kẻ sĩ, suốt đời trang trọng, cách cư xử và ăn mặc ở nhà lúc nào cũng như ở triều đình. Nhưng có lần ông làm biếng nên sơ thất, không trang trọng được hoài. Các khách (kẻ sĩ ông nuôi) cho rằng ông đã chán và khinh họ nên oán ông, giết ông. Vì vậy bậc quân tử nên bỏ cái gì thái quá.[12]


*

Kinh 4: Khiến cho phạm điều mình cấm được lợi, hễ làm lợi cho mình lại bị cấm, như vậy vua dù là thần thánh cũng không trị nước được. Khen kẻ có tội, chê kẻ đáng thưởng thì dù là vua Nghiêu cũng không trị nước được. Làm cửa mà không cho người ta vào, bày cái lợi ra mà không cho người ta tiến lại (để hưởng), mối loạn sinh ra từ đó (...)
Truyện 4 b/ Tây Môn Báo làm quan lệnh đất Nghiệp, nghiêm khắc liêm khiết, không mảy may tư lợi, coi thường kẻ tả hữu của vua nên bọn họ kết bè nhau để hủy báng ông. Được một năm ông dâng báo cáo lên, nhà vua thu ấn của ông lại. Ông dâng biểu xin vua: “Trước thần không biết cách cai trị đất Nghiệp, nay thần biết rồi, xin được giao ấn lại để cai trị đất Nghiệp lần nữa, không được xin việc thì xin chịu tội chém." (Vua là) Văn Hầu thương tình cho phục chức. Từ đó Báo đánh thuế nặng bách tính, hối lộ kẻ tả hữu của vua. Được một năm ông dâng báo cáo lên. Văn Hầu nghinh tiếp và bái tạ ông, ông thưa: “Năm trước thần vì nhà vua mà trị đất Nghiệp thì nhà vua thu ấn của thần; năm nay thần vì các tả hữu của nhà vua mà trị đất Nghiệp thì vua bái tạ thần. Thần không thể trị đất Nghiệp được nữa”. Rồi trả ấn mà đi. Văn Hầu không nhận, bảo: “Trước kia quả nhân không biết ông, nay biết rồi, xin ông vì quả nhân mà rán trị đất Nghiệp cho”. Và trả lại ấn.
d/ Tử Xước nói không có thể đồng thời tay trái vẽ hình vuông và tay phải vẽ hình tròn được.
đ/ Dùng thịt đuổi kiến thì kiến càng đông, dùng cá đuổi ruồi thì ruồi càng bu lại.[13]

*


Kinh 5: bề tôi nào quá tự ti và tiết kiệm thì tước lộc không đủ để khuyến khích; ân sủng và vinh quang mà ban phát không tiết độ thì bề tôi áp bức vua chúa (...)
Bè đảng phụ họa cho nhau, bề tôi thỏa mãn được tư dục thì vua bị cô lập; quần thần lấy công tâm mà đề cử người, kẻ dưới không phụ họa nhau (làm điều gian) thì là vua sáng suốt (...)


 Truyện 5. a/ Vu Hiến Bá làm tướng quốc nước Tấn[14] mà rau lê rau hoắc mọc đầy dưới sân, gai góc sum suê ngoài cửa, bữa ăn không hai món, chỗ ngồi không có hai lớp chiếu, vợ không mặc đồ lụa, ở nhà không cho ngựa ăn lúa, ra ngoài không có xe theo hầu. Thúc Hưởng hay điều đó, lại nói với Miêu Bôn Hoàng, Bôn Hoàng chê : “Như vậy là lấy tước lộc của vua làm vui lòng kẻ dưới”.
(Còn một thuyết khác, đại ý cũng vậy chúng tôi bỏ).
b/ Quản Trọng làm tướng quốc nước Tề, tâu với vua:
“Thần sang nhưng nghèo”. Hoàn Công bảo: “Cho ông có nhà tam qui”[15]. (Có nhà tam qui rồi) Quản Trọng lại tâu: “Thần đã giàu rồi, nhưng địa vị thần còn thấp”. Hoàn Công đặt ông ta lên trên họ Cao, và họ Quốc (hai quí tộc lớn nhất của nước Tề). Ông ta lại xin: “Địa vị của thần cao rồi, nhưng thần còn sơ với nhà vua (không được ở trong công tộc)”. Hoàn Công bèn lập ông làm trọng phụ (như hàng cha chú của vua) Khổng tử nghe chuyện đó, chê Quản Trọng là “xa xỉ quá đáng, bức hiếp vua”.[16]
Còn 1 thuyết khác: “Quản Trọng ra ngoài thì dùng xe bọc màu đỏ với người hầu mặc áo xanh, về nhà thì cho đánh trống, trước sân bày vạc, trong nhà có đài tam qui. Khổng Tử nói: “Ông ta là một quan đại phu giỏi, nhưng quá đáng, và bức cấp trên”.
(Đoạn dưới chép về Tôn Thúc Ngao, tướng quốc Sở, chúng tôi bỏ).
d/ Đất Trung Mâu không có quan lệnh, Tấn Bình Công hỏi Triệu Võ:
- Trung Mâu là tay chân của Tấn, vai lưng của Hàm Đan, quả nhân muốn có một quan lệnh tốt ở đó, dùng ai được bây giờ?
Võ thưa:
- Có thể dùng Hình Bá Tử.
Công hỏi:
- Người đó không phải là kẻ thù của ông ư?
- Thù riêng không vào cửa công (nghĩa là việc công việc nước thì không kể đến thù riêng).
Công lại hỏi:
- Còn chức lệnh ở Trung phủ thì dùng ai?
- Dùng con của thần được.
Cho nên bảo: “Triệu Võ tiến cử người ở ngoài họ mình thì không chừa kẻ thù, tiến cử người trong thân thuộc của mình[17] thì không chừa con”. Ông tiến cử 46 người, đến khi ông mất, họ đều đến điếu với tư cách là khách (chứ không thân mật như người nhà). Đức vô tư của ông như vậy đó (...)
e/ Giải Hồ tiến cử kẻ thù của mình làm tướng quốc cho Giản chủ. Người thù đó cho rằng mình may mắn được tha thứ rồi nên lại bái tạ. Hồ giương cung muốn bắn ông ta, bảo: “Tiến cử người là việc công, vì cho rằng ngươi lãnh được nhiệm vụ; còn thù ngươi thì là cái oán riêng, ta không vì oán riêng mà chặn đường của ngươi, không tiến cử ngươi lên với vua”. Vì vậy có ân oán riêng thì không vào cửa công[18].


*

Kinh 6. Vua[19] hèn kém thì kị lời nói thẳng, ân nghĩa riêng tư mà chiếm phần ưu thắng thì công nghiệp của vua sẽ ít.
Truyện 6. – (Bốn truyện trong phần này không thực là những dẫn chứng mà chỉ hơi có liên quan tới phần kinh). Truyện đầu là lời Võ tử khuyên con đừng nói thẳng mà nguy đến thân; truyện thứ 2 thì là lời Tử Quốc khuyên con là Tử Sản (tướng quốc nước Trịnh) đừng nên trung với vua vì bị quần thần ghét mà nguy đến thân; truyện thứ 3; Lương Xa có công tâm quá tới mức chặt chân chị khi chị phạm tội nhỏ, vua đã chẳng khen mà còn chê là bất từ, cách chức huyện lệnh của ông ta; truyện cuối cùng, Quản Trọng bị bắt, từ nước Lỗ giải về Tề, dọc đường đói khát, được một người giữ biên giới tặng thức ăn. Người này hỏi sau này được trọng dụng thì Quản Trọng sẽ đền ơn anh ta ra sao. Quản Trọng không nghĩ đến ơn riêng đó, đáp sẽ dùng người hiền để giúp nước, và bị anh ta oán.


[1] Khổng tử không làm tướng quốc nước Vệ. Thời đó Khổng Khôi làm loạn: ngẫu nhiên cùng họ với Khổng tử, nên người ta lầm là Khổng Tử.
[2] Nguyên văn: Tử Cao hậu môn. Có sách dịch là Tử Cao đi ra ngõ sau, có sách dịch là: ra cửa sau cùng. Chúng tôi theo Trần Khải Thiên.
[3] Nguyên văn: tiên hậu thần di ngôn. Trần Khải Thiên giảng: tiên hậu là tả hữu, nghĩa là giúp.
[4] Thời dó thiên tử có vạn cỗ xe, vua chư hầu có 1000 cỗ, quan đại phu có 100 cỗ. Mỗi cỗ xe tương đương cho lộc của 6 dặm vuông đất.
[5] Bá Di con vua Cô Trúc có đạo đức, không ham ngôi vua, lại chê Chu Võ vương giết Vua Trụ trong lúc còn tang cha, nến không phục tòng Võ Vương, bỏ vào núi Thú Dương, chết đói ở đó.
[6] Ý nói: thưởng không hậu. Mấy hàng cuối này nguyên văn khó hiểu, mỗi sách giảng một khác. Chúng tôi theo bản của Trần Khải Thiên.
[7] Tức không nên quá tin bề tôi.
[8] Trọng phụ là tiếng tôn xưng (coi Quản Trọng như hàng cha chú mình) chứ không phải là chức tước.
[9] Truyện này e không có thực. Theo sử thì Quản Trọng nắm trọn quyền hành.
[10] Theo thiên XXXIX Nạn Tứ 2 thì Dương Hổ bị Tề Cảnh Công bỏ tù. Luận ngữ chép là Dưỡng (Dương?) Hóa (Hóa là tên tự).
[11] Câu này nguyên văn có bản chép khác và nghĩa cũng khác:.... vua vào bậc trên (hiền đức nhất) coi các bề tôi đều là thầy cả, bậc giữa thì coi bề tôi đều là bạn, bậc thấp nhất coi bề tôi đều là người để sai khiến.
[12] Năm truyện sau từ c/ đến g/, không được nói tới trong phần Kinh mà cũng chẳng liên quan gì đến Kinh.
[13] Ba truyện sau không liên quan đến phần Kinh, riêng truyện cuối h/ không được nói tới trong phần Kinh.
[14] Có sách chép là Mạnh Hiến Bá và nước Lỗ, sai.
[15] Về danh từ “tam qui” này có tới 5 – 6 thuyết: 1 – một lần cưới 3 vợ, 2 – phép đánh thuế, 3 – dựng đài tam qui; ngụ ý rằng 3 hạng người qui phục mình: dân qui phục, chư hầu qui phục, các rợ qui phục, chỉ bậc thiên tử mới đáng dựng đài đó, 4 – thuế chợ nộp vào kho nhà nước, 5 – chỗ chứa tiền của. Trần Khải Thiên nghiên cứu kỹ và cho rằng thuyết sau đây của Dực(?) có lý hơn; tam qui là tam bách thặng (300 cỗ xe). Quan Đại Phu có 100 cỗ xe, lộc mỗi cỗ xe bằng thuế một xã 30 nóc nhà, 6 dặm vuông. Quản Trọng được lộc tam qui, tức lộc ba trăm cỗ xe, bằng ba lộc đại phu, cho nên mới gọi là giàu.
[16] Trong Luận ngữ - Bất dật -22, Khổng Tử chê Quản Trọng là khí tượng nhỏ nhen, không tiết kiệm, không biết lễ.
[17] Nguyên văn : ngoại cử và nội cử, có sách giảng là cử người bên ngoài, bên trong.
[18] Truyện g/ không được nói tới trong phần kinh.
[19] Nguyên văn: công thất.
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2009-06-27 01:31:39huytran>
THIÊN XXXIV
NGOẠI TRỪ THUYẾT HỮU THƯỢNG
(Trích)
(NHỮNG THUẬT ĐỂ DÀNH MÀ DÙNG – THIÊN NGOẠI, HỮU, THƯỢNG)

         Kinh 1, bề tôi nào mà vua dùng quyền thế cải hóa không được thì trừ đi (...)
         Truyện 1. – a/ Thưởng và khen không khuyến khích được, phạt và chê cũng không sợ, dùng cả bốn cách mà không biến đổi được thì trừ đi.
         d/ Người đi săn nhờ sự vững chắc của xe, dùng chân của sáu con ngựa, sai Vương Lương (một người giỏi đánh xe ngựa) cầm cương thì thân không mệt mà đuổi kịp những con thú chạy nhanh. Nay bỏ cái tiện lợi của xe, không dùng sáu con ngựa, không dùng tài đánh xe của Vương Lương mà xuống xe chạy bộ đuổi theo con thú thì dù có chân của Lâu Quí (một người chạy rất nhanh) cũng không sao đuổi kịp thú. Dùng ngựa tốt xe bền thì dù kẻ tôi tớ (không quen đi săn) cũng dư sức săn được thú. Nước là xe của vua, quyền (thế) là ngựa của vua, không dùng cái thế để cấm và giết bọn bề tôi chuyên mua lòng dân (bằng cách ban ân huệ riêng cho dân), mà cứ muốn phải có đức để cùng tranh dân với bề tôi thì cũng như không dùng xe của vua, sức của ngựa mà bỏ xe xuống chạy bộ vậy.
         đ/ Tử Hạ, môn đệ của Khổng Tử, nói: “Sách Xuân Thu chép cả chục vụ bề tôi giết vua, con giết cha, tất cả những vụ đó đều không phải chỉ trong một ngày mà xảy ra, trái lại do chất chứa dần dần rồi sau mới phát”. Kẻ gian làm bậy với dân, mỗi ngày một chất chứa, chất chứa rồi thì sức mạnh lên, có thể giết vua, vì vậy mà bậc minh chủ nên sớm diệt họ. Nay Điền Thường[1] đã làm loạn, đã lần lần thấy rồi, mà vua (Tề Giản Công) không giết đi, Án Tử không khuyên vua giết bọn bề tôi xâm lăng mà khuyên ban ân huệ cho dân, vì vậy mà sau Giản Công bị họa. Cho nên Tử Hạ bảo: “Người nào giỏi nắm cái thế thì diệt ngay ý gian khi nó mới manh nha”.
         g/ Thái Công Vọng được phong ở nước Tề, tại phía đông. Trên bờ biển đông nước Tề có hai anh em ruột đều là cư sĩ: Cuồng Duật và Hoa Sĩ. Họ bàn với nhau: "Chúng ta không làm bề tôi thiên tử, không làm bạn chư hầu, cày ruộng mà ăn, đào giếng mà uống, không cầu gì ở người khác, không nhận danh hiệu (chức tước), bổng lộc của vua, không làm quan, mà lao động để sống"! Thái công Vọng khi đến Doanh Khâu (kinh đô Tề lúc đó) sai bắt giết hai người ấy, đó là đợt giết đầu tiên.
Chu công Đán ở nước Lỗ hay tin, phái người gấp tới hỏi: "Hai người đó là bậc hiền, nay ông mới tới nhận nước, đã giết ngay người hiền, tại sao vậy?" Thái công Vọng đáp: “Hai anh em nhà đó bàn với nhau: “Chúng ta không làm bề tôi thiên tử không làm bạn chư hầu, cày ruộng mà ăn, đào giếng mà uống, không cầu gì ở người khác, không nhận danh hiệu, bổng lộc của vua, không làm quan mà lao động để sống”. Họ không chịu làm bề tôi của thiên tử thì Vọng này không coi họ là bề tôi được; họ cày ruộng mà ăn, đào giếng mà uống, không cầu gì ở người khác, thì tôi không thể thưởng phạt, khuyên cấm họ được. Vả lại họ không nhận danh hiệu vua ban thì dù họ có tài trí cũng không để cho Vọng tôi dùng ; họ không cầu bổng lộc của vua thì dù họ có hiền đức cũng không lập công với Vọng được. Họ không chịu làm quan thì không trị họ được, họ không lãnh nhiệm vụ thì họ không trung với mình. Tiên vương sở dĩ sai khiến thần dân được là nhờ tước lộc hoăc hình phạt. Nay, dùng cả bốn cái đó không đủ để sai khiến họ thì Vọng tôi cai trị ai nổi bây giờ? Không đeo binh pháp mà được vẻ vang, không tự cày bừa mà nổi danh, đó cũng không phải là điều đem ra dạy dân được (….). Họ tự cho là hiền sĩ trong đời mà không để cho chúa dùng, hạnh của họ cực hiền nhưng vô dụng cho vua, đó đâu phải là bề tôi của bậc minh chủ, có khác chi con ngựa kí (chạy rất nhanh) mà không lái qua tả qua hữu được, vì vậy mà tôi phải giết.


*
 
            Kinh 2. Bậc vua chúa là cái đích lợi và hại (ai nhắm trúng, tức đoán đúng ý của vua, thì có lợi, ngược lại thì có hại. Người nhắm đích rất đông, cho nên bậc vua chúa dễ bị chia uy quyền với bề tôi[2]. Vì vậy nếu điều yêu ghét của vua bộc lộ ra thì bề tôi lợi dụng mà làm cho vua bị mê hoặc; vua tiết lộ lời của bề tôi cho người khác biết thì bề tôi khó nói (tố cáo) mà vua không còn là thần thánh nữa (…)
            Truyện 2.  a/ Thân tử (Thân Bất Hại) nói: “Sự sáng suốt của bề trên mà để lộ ra thì người dưới sẽ đề phòng; sự không sáng suốt của bề trên mà để lộ ra thì người dưới sẽ gạt bề trên; sự hiểu biết của bề trên mà để lộ ra thì người dưới sẽ dối sự thật; sự không ham muốn mà để lộ ra thì bề dưới sẽ rình bề trên; sự ham muốn của bề trên mà lộ ra thì người dưới sẽ nhử bề trên. Cho nên bảo: "Ta không dựa vào đâu mà biết người (tức bề tôi) được, chỉ có vô vi (không làm gì cả) là có thể dò xét được họ thôi”[3]
            d/ Tĩnh Quách quân (Điền Anh) làm tướng quốc nước Tề. Vợ vua chết, chưa biết ai sẽ được lập làm hoàng hậu, ông dâng vua hoa tai bằng ngọc để biết. (Truyện này giống Truyện Tề III 2 trong Chiến Quốc sách).
               
e/ (Tần Huệ vương đuổi Công tôn Diễn đi, vì nghe lời gièm pha của Cam Mậu mà ngờ Công tôn Diễm bép xép để tiết lộ việc ông cho Diễn làm tướng quốc thay Cam Mậu. (Truyện này chép trong Chiến Quốc sách – Tần II 13, nên chúng tôi không dịch lại).
 
            g/ Đường Khê công nói với (Hàn) Chiêu hầu : “Nay có một cái chén ngọc đáng giá ngàn vàng mà không có đáy, có thể đựng rượu được không ?”. Chiêu hầu đáp: "Không được".
            - “Có cái vò bằng đất nung mà không rịn, có thể đựng rượu được không ?” – “Được” – Cái vò bằng đất, cực xấu xí rẻ tiền, mà không rịn thì đựng được rượu, còn cái chén ngọc đáng giá ngàn vàng, cực quí mà không có đáy thì đựng nước cũng không được, thì còn ai rót nước uống vào đó nữa ? Làm vua mà tiết lộ lời nói của bề tôi thì không khác gì chén ngọc không đáy, dù là bậc thánh trí cũng không dùng hết thuật được vì không kín tiếng”. Chiêu hầu đáp: "Phải". Ông nghe lời khuyên của Đường Khê công, từ đó về sau, hễ muốn thi hành một việc lớn trong thiên hạ thì luôn luôn ngủ một mình sợ ngủ mê, nói mớ mà người khác biết mưu tính của mình.
 
            (Còn một thuyết nữa, gần y hệt thuyết trên; bỏ).


*
          
            Kinh 3. Thuật sở dĩ không thi hành được là có lí do; (người bán rượu) không giết con chó (dữ) thì rượu hóa chua, mà bọn bề tôi cầm quyền là bầy chó dữ của nước; còn bọn tả hữu của vua là bầy chuột làm hại nền xã tắc (vì dòm ngó tình ý của vua). (…) (Muốn diệt bọn đó thì phải cương quyết như) Trang vương trả lời thái tử (bắt thái tử giữ phép nước như mọi người) (…) ( và phải nén đau khổ trừ bỏ bề tôi mình yêu nhất nếu họ phạm pháp như) Văn công chém Điên Hiệt[4]).
 
            Truyện 3.     a/ Nước Tống có người bán rượu, đong rượu rất ngay thẳng, tiếp khách rất ân cần, bài rượu treo thật cao, nhưng vẫn ế, rượu (để lâu) hóa chua, lấy làm lạ, hỏi một ông già trong xóm tên là Dương Thiến. Thiến đáp: “Tại chó của chú dữ quá!” Hỏi : “Chó dữ thì tại sao rượu lại ế?”  Đáp: "Có người sai trẻ mang tiền, cầm bình hoặc vò tới mua, chó của chú xông ra cắn, vì vậy rượu để tới chua, không người mua". Nước cũng vậy, có loài chó dữ. Những kẻ sĩ biết đạo đem thuật (trị nước) tới muốn soi sáng cho bậc chúa muôn cỗ xe thì bọn đại thần làm chó dữ, xông ra cắn, vì vậy mà chúa bị che lấp, lấn áp, kẻ sĩ có đạo không được dùng.
 
            Do lẽ đó mà (xưa kia khi Tề) Hoàn công hỏi Quản Trọng : “Trị nước thì cái gì đáng lo nhất?”, Quản Trọng đáp: "Đáng lo nhất là bầy chuột nền xã". Hỏi: “Sao lại lo chuột nền xã ?” Đáp: “Nhà vua đã thấy người ta lập nền xã (nơi thờ thần đất đai) rồi chứ? Người ta trồng một cây (tượng trưng cho thổ thần), rồi tô đất màu lên. Chuột khoét đất, đào hang ở trong nền xã; hun khói thì sợ cây cháy mà dội nước thì sợ trôi mất màu, vì vậy mà không sao bắt được chuột nền xã. Nay bọn tả hữu của nhà vua khi ra thì ỷ vào quyền thế mà bóc lột dân chúng, khi vào thì lập bè đảng che giấu tội ác không cho vua thấy, bên trong dò xét tình ý của vua để cho bên ngoài biết, ở trong và ở ngoài, quyền thế đều lớn, ăn hối lộ của các quan lại mà hóa giàu. Người chấp chính không giết họ thì phép nước sẽ loạn mà giết thì vua không chịu, che chở mà giữ họ[5], họ cũng là loài chuột nền xã trong nước đấy”.
           
            Hạng bề tôi cầm quyền mà tự ý ra cấm lệnh, khiến cho thiên hạ thấy rõ rằng ai vị họ thì tất có lợi, không vị họ thì tất bị hại, hạng đó cũng là chó dữ đấy. Đại thần làm chó dữ, cắn kẻ sĩ có đạo; kẻ tả hữu làm chuột nền xã dò xét tình ý của chúa, chúa không giác ngộ thì làm sao khỏi bị che lấp mà nước khỏi bị suy vong![6]
 
            (Còn một thuyết khác nữa, nội dung không khác,  nên bỏ)
 
            c/ Kinh Trang vương có phép “mao môn” (cũng gọi là trĩ môn)[7] bảo: “Quần thần, đại phu và các công tử vào triều, nếu móng ngựa đạp lên chỗ ở dưới máng xối thì viên đình lý (coi sân chầu) sẽ chặt đòn xe và giết kẻ đánh xe”. Một hôm thái tử vô triều, móng ngựa đạp lên chỗ ở máng xối, viên đình lí bèn chặt đòn xe và giết người đánh xe. Thái tử nổi giận, vô khóc lóc với vua: “Xin vua vì con mà giết tên đình lí đi”. Trang vương đáp: “Đặt ra pháp luật là để kính trọng tôn miếu, xã tắc; cho nên ai lập pháp, theo lệnh tôn kính xã tắc thì đều là bề tôi của xã tắc, sao lại giết được ? Còn kẻ phạm pháp, bỏ lệnh, không tôn kính xã tắc là lấn quyền thế của vua, phạm thượng. Bề tôi lấn quyền thế của vua thì vua mất uy: kẻ dưới phạm thượng thì địa vị của bề trên nguy. Uy mất, địa vị nguy, xã tắc không giữ được, ta lấy gì mà để lại cho con cháu?” Thái tử liền trở về, không vào nhà mà ở ngoài ba ngày, hướng về phía bắc lạy mấy lần, xin tha tội chết.
 
            (Một thuyết khác nữa cũng giống thuyết trên, nên bỏ)
 
            g/ ( Truyện này dài, chúng tôi cắt trên, cắt dưới, chỉ dịch đoạn giữa) (…) Tấn Văn công hỏi Hồ Yển[8]:
-         Hình phạt thi hành đến đâu là cùng cực ?
Hồ Yển đáp:
-         Không tránh người thân và đại thần, thi hành cả với người mình yêu.
Công khen: “Phải”.

Hôm sau, Công ra lệnh đi săn ở Phố Lục, ra hẹn giữa trưa phải tới chỗ, ai tới trễ thì bị trị tội như quân pháp. Một sủng thần của Công là Điên Hiệt tới trễ. Viên lại (thi hành mệnh lệnh) xin trị tội Điên Hiệt. Văn công rơi lệ, lo lắng, do dự. Viên lại nói: "Xin thi hành pháp luật", chém Điên Hiệt ngang lưng để cho dân chúng thấy rõ ràng pháp luật đã ban thì thi hành đúng. Từ đó dân chúng đều sợ, bảo: "Vua quí trọng Điên Hiệt như vậy mà còn thi hành pháp luật, huống hồ là đối với chúng ta" (…).
 






[1] Điền Thành (hoặc Điền Thường, coi chú thích thiên Ngũ đố) ban ân huệ riêng cho dân để dân theo mình mà xa vua, như vậy là có ý chiếm ngôi của Tề giản công. Giản Công biết là nguy cho mình, hỏi Án Tử cách đối phó ra sao. Án Tử khuyên Giản Công ban ân huệ cho dân hơn Điền Thành thì dân sẽ bỏ Điền Thành mà theo mình.
[2] Nguyên văn : “cố nhân chủ công hĩ” thật khó hiểu, chúng tôi theo bản của Trần Khải Thiên. Có người dịch là: cho nên bậc vua chúa có nhiều kẻ bao vây.
[3] Vì không làm gì thì không để lộ ý của mình ra, cứ núp vào sự hư tĩnh thì bề tôi thì không đoán được ý mình mà mình dò được ý họ.
[4] Đoạn này nếu dịch sát thì rất khó hiểu nên chúng tôi bất đắc dĩ phải cắt bớt và giảng giải.
[5] Nguyên văn: quân bất an, cứ nhi hữu chi. Có bản chép là: cứ quân sở an, cứ nhi hữu chi? và dịch là: vua căn cứ vào đâu mà bắt tội họ (vì họ lập bè đảng che giấu cho nhau rồi).
[6] Sáu hàng cuối này, Trần Khải Thiên cho là lời của Quản Trọng. Chúng tôi cho là giọng của Hàn Phi.
[7] Cung điện vua chư hầu có 3 cửa: ngoài, giữa, trong. Mao môn là cửa giữa.
[8] Cậu của Văn công, tòng vong với công, sau giúp công lập được nghiệp bá. Thường gọi là cậu Phạm.

0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2009-06-26 21:41:25huytran>
THIÊN XXXV
 
NGOẠI TRỪ THUYẾT HỮU HẠ (Trích)
 
(NHỮNG THUẬT ĐỂ DÀNH MÀ DÙNG – THIÊN HẠ NGOẠI, HỮU, HẠ)
 
 Kinh 1. - Việc thưởng phạt giao cho bề tôi thì cấm lệnh không được thi hành (…).
 
 Truyện 1.
 b/ Quan tư thành (một chức lớn) Tử Hãn tâu với vua Tống: "Khen thưởng và ban ơn là làm cho dân thích, việc đó xin vua đảm nhiệm lấy; chém giết, trừng phạt là làm cho dân ghét, việc này thần xin đảm đương". Vua Tống bảo: "Được". Từ đó hễ có việc ban lệnh ra oai, trừng trị đại thần thì ông bảo: "Hãy hỏi Tử Hãn". Do đó đại thần sợ Tử Hãn, dân chúng theo ông ta. Được một năm, Tử Hãn giết vua Tống cướp ngôi. Vậy là Tử Hãn dùng cách thả con heo nái (làm cho ngựa sợ)[1] để cướp nước của vua.
 
 Kinh 2. Nước trị và mạnh là nhờ pháp luật ; nước loạn và yếu là do bề tôi lập bè đảng mưu tư lợi[2].Vua chúa hiểu rõ lẽ đó thì dùng hình phạt cho đúng mà bỏ lòng nhân đối với kẻ dưới. Có công lao thì mới được tước lộc, có tội thì bị hình phạt. Bề tôi biết rõ như vậy thì tận lực tới chết mà bỏ lòng trung với vua[3]. Vua hiểu cái lẽ bất nhân (không ban ơn riêng), bề tôi hiểu rõ cái lẽ bất trung thì có thể lập được nghiệp vương (...).
 
 Truyện 2. a/ Tần Chiêu vương đau, dân chúng mỗi lí (hai mươi lăm nhà là một lí) chung nhau mua bò và nhà nào cũng cầu cho vua hết bệnh. Công tôn Thuật ra ngoài thấy vậy, bèn vào mừng vua: "Trăm họ đều chung nhau mỗi lí mua bò để cầu nguyện cho nhà vua hết bệnh". Chiêu vương sai người đi dò hỏi, quả có như vậy, ra lệnh: "Phạt mỗi lí phải nộp hai áo giáp (bằng da tê ngưu). Không ra lệnh mà tự ý cầu nguyện là thương quả nhân. Họ thương quả nhân thì quả nhân cũng phải đổi pháp luật mà làm vừa lòng họ, như vậy pháp luật không đứng được, pháp luật không đứng được sẽ đưa tới nước loạn và mất nước. Không bằng phạt mỗi lí hai áo giáp mà cho nước loạn được trị trở lại".
 
 (Còn một thuyết nữa cũng đại ý như vậy, bỏ)
 
 b/ Nước Tần rất đói kém. Ứng hầu[4] xin với vua :”Rau cỏ hột quả trong năm vườn của nhà vua đủ để cứu đói cho dân, xin nhà vua phát cho họ”. Chiêu Tương vương bảo :”Theo pháp luật nước Tần ta thì dân có công mới được thưởng, có tội mới bị phạt. Nay phát cho dân rau quả trong năm vườn, tức là dân có công hay không đều được thưởng cả. Khiến cho dân có công hay không đều được thưởng là gây loạn cho nước. Phát rau quả trong năm vườn mà nước loạn sao bằng đừng phát mà nước được trị”.
 
 d/ Công Nghi Hưu làm tướng quốc nước Lỗ thích ăn cá. Cả nước tranh nhau mua cá tặng ông, ông không nhận. Em trai ông hỏi: "Anh thích ăn cá mà sao người ta tặng lại không nhận!". Đáp: "Chỉ vì thích ăn cá mà không nhận đấy, vì nhận phải chịu ơn của người, chịu ơn của người thì phải uốn cong pháp luật, uốn cong pháp luật thì mất chức tướng quốc, mất chức tướng quốc thì người trong nước không tặng ta cá nữa mà ta cũng không tự cung cấp cá được (vì hết bổng lộc). Còn như không nhận cá thì vẫn còn làm tướng quốc, có thích ăn cá thì tự cung cấp cá hoài được”. Truyện đó cho ta thấy rõ ràng trông cậy ở người không bằng trông cậy ở mình, nhờ người ta làm cho mình không bằng tự mình làm lấy.



Kinh 3. Bậc vua chúa[5] lấy việc nước ngoài làm gương, thì việc bên ngoài không thể không thành, bởi vậy mà Tô Đại chê vua Tề. Bậc vua chúa lấy việc thời cổ làm gương thì bọn xử sĩ (không ra làm quan) mà tư tưởng không hợp với nhà cầm quyền sẽ không được vinh hiển, bởi vậy mà Phan Thọ nói về tình của vua (Hạ) Vũ, (…). Phương Ngô không ngồi cùng xe với kẻ mặc áo như mình, không ở cùng nhà với người trong họ, huống hồ là cho người khác mượn quyền mình, Ngô Chương nói chuyện thì không vờ thương ghét, huống hồ là thương ghét thật (…).
 
 Truyện 3.
 
 a/ Tử Chi làm tướng quốc nước Yên, chức cao mà chuyên quyền. Tô Đại được vua Tề sai đi sứ qua Yên. Vua Yên hỏi : "Vua Tề là ông vua ra sao?" Đáp : "Không thể làm bá chủ được" – “Sao vậy?” – “Xưa Tề Hoàn công làm bá chủ, nội chính giao cho Bão Thúc, ngoại giao giao cho Quản Trọng. Ông bỏ xõa tóc mà vui với đàn bà, suốt ngày dạo phố phường. Còn vua Tề ngày nay thì không tin đại thần.” Nghe lời Tô Đại, vua Yên càng tin Tử Chi hơn. Tử Chi biết chuyện đó, sai người tặng Tô Đại trăm dật vàng (mỗi dật khoảng 20 – 30 lượng) để ông ta tiêu.
 
 (Còn một thuyết nữa, bỏ).
 
 b/ Phan Thọ nói với vua Yên :”Nhà vua nên đem nước nhường cho Tử Chi. Người ta sở dĩ khen vua Nghiêu hiền đức là vì ông nhường thiên hạ cho Hứa Do, Hứa Do tất không nhận, như vậy vua Nghiêu được tiếng là nhường thiên hạ cho Hứa Do mà thực ra vẫn không mất thiên hạ. Nay nhà vua nhường nước cho Tử Chi, Tử Chi tất không nhận ; nhà vua sẽ được tiếng là nhường nước cho Tử Chi mà đức hạnh sẽ ngang với vua Nghiêu”. Vua Yên bèn đem việc nước giao hết cho Tử Chi, quyền của Tử Chi cực lớn.
 
 (Còn hai thuyết nữa, và chỉ hai thuyết này mới nhắc đến vua Hạ Vũ trong phần kinh đã nói, nhưng chúng tôi cũng bỏ vì ý nghĩa không khác. – xin ghi thêm : Chiến Quốc Sách – Yên 9 – cũng chép truyện đó gần giống hết thuyết thứ nhất chúng tôi đã dịch).
 
 c/ Phương Ngô Tử (không rõ là ai) bảo :”Ta nghe nói theo lỗ (lối?) cổ, vua đi đường không ngồi cùng xe với người y phục đẹp đẽ như mình, tại nhà thì không ở chung với người trong họ mình (để người ngoài khỏi lầm những người trong họ đó là vua); huống hồ là cho bề tôi mượn quyền của mình mà làm mất cái (uy) thế của mình đi.
 
 d/ Ngô Chương (bề tôi nước Hàn) nói với Hàn Tuyên vương : ”Bậc vua chúa không nên giả vờ thương người vì như vậy một ngày kia không thể lại ghét họ trở lại được; không nên giả vờ ghét người vì như vậy một ngày kia không thể lại thương họ trở lại được. Sự giả vờ thương hay ghét mà để lộ ra một chút thì kẻ nịnh bợ nhân đó mà khen chê (người mình giả vờ thương hay giả vờ ghét), (lúc đó) dù là bậc minh chủ cũng không bỏ được thái độ vờ thương, vờ ghét của mình, huống hồ lại thành thực thương hay ghét (thì làm sao còn có thể bỏ thương bỏ ghét được nữa).
 
 Một thuyết khác bảo : Ngô Chương nói: “Bậc vua chúa không nên giả thương giả ghét bề tôi; giả thương rồi thì không trở lại ghét được nữa, giả ghét rồi thì không thể trở lại thương được nữa”.
 
 Kinh 4. - Bậc vua chúa là người giữ pháp luật, xét bề tôi có thể làm được việc hay không để định công. Nghe nói quan lại dù loạn thì vẫn có hạng dân riêng giữ được đức hạnh, tiết tháo (độc thiện kì thân) ; chứ không nghe nói dân loạn mà có quan lại riêng tốt (nghĩa là dân loạn luôn luôn do quan lại xấu), cho nên bậc minh chủ trị quan lại chứ không (trực tiếp) trị dân (hễ quan lại tốt thì dân không loạn) (…)
 Truyện 4. Muốn lay cây thì không kéo từng cái lá một, như vậy tốn công mà không xuể ; nắm thân nó mà lắc qua phải qua trái thì lá đều rung rinh hết (…) Người khéo bủa lưới thì kéo dây lưới; chứ nếu kéo từng mắt lưới một cho tới hết cả vạn cái mắt thì mệt và khó. Kéo dây lưới lên là bắt được cá rồi. Quan lại là dây lưới của dân, cho nên thánh nhân trị quan lại chứ không (trực tiếp) trị dân.
 
 c/ Tháo Phủ (một người giỏi đánh xe thời cổ) đương cào cỏ, thấy hai cha con nhà nọ đi ngang. Con ngựa sợ, chùn lại, không chịu đi nữa. Người con xuống xe lôi nó, người cha xuống đẩy xe, và nhờ Tháo Phủ tiếp tay đẩy giùm. Tháo Phủ xếp đồ cào cỏ, buộc lại, đặt trên xe, giúp (cha) con nhà đó đánh xe, mới bắt đầu so cương cầm roi, chưa kéo cương, quất roi mà ngựa đã lồng lên. Nếu Tháo Phủ không biết đánh xe thì dù hết sức cực nhọc đẩy xe, ngựa cũng không đi. Đằng này ông khỏe ru, được ngồi xe mà người lại mang ơn, chỉ nhờ ông có thuật đánh xe. Nước là xe của vua, (quyền thế) là ngựa của vua. Không có thuật để điều khiển (việc nước) thì đã mệt sức mà không tránh khỏi loạn; có thuật để điều khiển thì đã an lạc mà lại lập được nghiệp đế vương.
 
 Kinh 5. – Tùy theo cái “lí” (tại sao, thế nào), của việc mà hành động thì không mệt mà thành công. Vì vậy mà Tư Trịnh ngồi trên càng xe mà hát để qua cây cầu cao (…).
 
 Truyện 5. a/ Tư Trịnh tử đánh xe lên một cây cầu cao mà không được, bèn ngồi trên càng xe mà hát, (tức thì) người đi trước ông ngừng lại, người đi sau đẩy xe cho ông và ông lên được dốc cầu. Nếu ông không có thuật lôi kéo người (để giúp ông) thì dù ông có gắng sức đến chết, xe cũng không lên cầu được. Đằng này ông khỏi phải mệt thân mà xe lên được, là nhờ ông có thuật lôi kéo người để giúp ông.
 d/ Diên Lăng Trác tử ngồi trên xe thắng con ngựa lớn màu xanh có vằn như lông chim trĩ, phía trước có dây cương mang móc, phía sau có cây roi đầu nhọn, vì vậy mà ngựa muốn tiến thì bị cái móc cản, muốn lui thì bị đầu roi đâm, nó đành phải quay ngang. Tháo Phủ đi ngang qua, (thấy vậy) rơi lệ, bảo: "Đời xưa trị dân cũng vậy. Thưởng là để khuyến khích, vậy mà thưởng rồi mà còn chê trách; phạt là để ngăn cấm, vậy mà phạt rồi lại còn khen thêm. Dân đứng giữa mà không biết theo đường nào, thánh nhân khóc cho họ là vì vậy".
 

[1] Theo chú thích của bản đời Tống. Ý nói dùng hình phạt để cho quần thần và dân chúng sợ mình.
[2] Nguyên văn là: 阿, có sách giảng là : quanh co, không theo đúng pháp luật
[3] Nghĩa là có được thưởng thì mới hết lòng, chứ không vì tình riêng mà trung với vua.
[4] Tức Phạm Tuy (cũng có sách là Phạm Thư), có tài biện bác, được Tần trọng dụng, phong chức là Ứng hầu.
[5] Có bản chép là minh chủ.
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2009-06-26 07:01:14huytran>
THIÊN XXXVI

NẠN NHẤT (Trích)

(BIỆN NẠN - I)

Nạn là những điều khó khăn hoặc khó hiểu. Trong thiên này và ba thiên sau, Hàn Phi bác bẻ (biện) những hành động của cổ nhân ông cho là không hợp lí (nạn), chủ ý cũng là để làm sáng tỏ thêm một số thuật trị nước của ông.

Thiên gồm chín tiết. Mỗi tiết gồm hai phần: bắt đầu từ hai chữ “hoặc viết” (có kẻ bảo) là lời bác bẻ của Hàn Phi. Chúng tôi đánh số mỗi tiết, lại đặt một tiêu đề (tóm tắt đại ý) cho mỗi tiết.

*

1- Trong chiến tranh phải lừa gạt quân địch.

Tấn Văn công sắp khai chiến với Sở, vời cậu Phạm (1) lại hỏi:
- Ta sắp khai chiến với Sở, họ đông, ta ít, làm sao bây giờ?
Cậu Phạm đáp:
- Thần nghe nói người quân tử trọng lễ thì cực lực giữ sự trung tín; (nhưng) trong lúc chiến tranh không ngại trá ngụy, nhà vua cứ dùng mưu mô mà lừa gạt.
Văn công từ biệt Cậu Phạm rồi, vời Ung Quí vô mà hỏi:
- Ta sắp khai chiến với Sở, họ đông, ta ít, làm sao bây giờ?
Ung Quí đáp:
- Đốt rừng để săn bắn thì bắt được nhiều thú, nhưng sau sẽ không còn con nào nữa. Dối trá với dân thì thu lợi được một lần thôi, sau không gạt được lần nữa.
Văn công khen phải. Từ biệt Ung Quí rồi, ông dùng mưu của Cậu Phạm đánh thắng được Sở. Lúc khải hoàn, ông ban tước để thưởng người có công, đặt Ung Quí ở trên Cậu Phạm. Quần thần hỏi: “Trận đánh Thành Bộc là nhờ mưu của Cậu Phạm, dùng lời của cậu ấy mà thưởng công lại đặt cậu ấy ở sau, như vậy có nên chăng?” Văn công đáp:
- Lẽ ấy các ông không biết được. Lời Cậu Phạm chỉ là lời quyền biến dùng tạm một thời, còn lời của Ung Quí là cái lợi muôn đời.
Trọng Ni nghe chuyên đó bảo: “Văn Công làm bá chủ chẳng cũng đáng ư? Đã biết lẽ quyền biến một thời, lại hiểu cái lợi vạn đại”.

*

Có người bảo: Ung Quí không trả lời đúng câu hỏi của Văn công. Trả lời một câu hỏi thì phải tùy vấn đề lớn hay nhỏ, hoãn hay gấp mà đáp. Vấn đề cao lớn mà mình đáp như thể nó nhỏ và hẹp thì bậc minh chủ không nghe. Văn công hỏi về cách lấy ít chống đông, mà đáp rằng: “Sau không gạt được lần nữa”, như vậy là đáp không đúng.
Lại thêm Văn công không biết cái lẽ quyền biến một thời, cũng không biết cái lợi muôn đời. Đánh mà thắng thì nước và thân mình đều được yên; binh mạnh và uy thế vững, sau có chiến tranh nữa cũng không thể lớn hơn vậy, thế thì sao lại lo không có cái lợi muôn đời? Còn như đánh mà không thắng thì nước mất, binh yếu, thân chết, danh mất, lo tránh được cái chết trước mắt còn không kịp, đâu còn rảnh để đợi cái lợi muôn đời? Cái lợi muôn đời ở trong cái thắng lợi ngày nay, mà cái thắng lợi ngày nay ở chỗ gạt kẻ địch. Cho nên bảo Ung Quí không đáp đúng câu hỏi của Văn công.
Vả lại, Văn công không hiểu lời của Cậu Phạm. Cậu Phạm bảo “Không ngại trá ngụy” không phải là bảo lừa gạt dân của mình mà bảo là lừa gạt địch. Địch là nước mình đánh, sau dù không lừa gạt được lần nữa thì có hại gì đâu? Văn công sở dĩ đặt Ung Quí lên trên Cậu Phạm, là vì ông ấy có công chăng? Nhưng thắng được quân Sở là do mưu của Cậu Phạm, vậy lời của Cậu mới đúng? Ung Quí chỉ nói “sau không gạt được lần nữa”, lời không có gì là hay cả. Mà Cậu Phạm thì đã có đủ cả công lẫn lời nói hay. Cậu bảo: “Người quân tử trọng lễ thì cực lực giữ sự trung tín”; trung là để yêu kẻ dưới, tín là để không gạt dân, còn lời nào hay hơn lời đó nữa? Nhưng Cậu lại nói trá ngụy phải là mưu kế hành quân. Vậy Cậu Phạm trước đã nói được lời hay, sau lai có công chiến thắng, thế là có hai công mà lại bị để ra sau, còn Ung Quí không có công nào lại được thưởng trước. “Văn công làm bá chủ, chẳng cũng đáng ư?” Trọng Ni nói vậy là không biết thưởng đúng.

2 - Trị dân không phải là đem thân mình ra làm gương để cảm hoá dân mà là dùng cái thế để trừng trị dân, sửa đổi họ.

Nông phu ở Lịch sơn lấn ruộng nhau, ông Thuấn lại đó cày ruộng được một năm thì bờ ruộng đều chỉnh tề cả. Dân chài ở bờ sông (Hoàng Hà) tranh nhau các bãi trên sông, ông Thuấn đến đó đánh cá, được một năm thì người trẻ nhường những bãi đó cho người lớn tuổi. Đồ gốm thợ Đông Di làm đều xấu dễ vỡ, ông Thuấn lại đó làm lò gốm, được một năm, các đồ gốm đều tốt, chắc chắn. Trọng Ni khen: “Làm ruộng, đánh cá, làm đồ gốm không phải là chức vụ của ông Thuấn, mà ông đích thân tới làm tại chỗ, là muốn sửa khuyết điểm cho dân. Ông quả thực là bậc nhân đức. Ông chịu khó nhọc mà dân chịu theo ông, cho nên bảo: “Thánh nhân dùng đức mà cảm hóa người”.

*

Có người bảo (…)
Ông Thuấn sửa khuyết điểm (cho dân), một năm mới sửa được một tật, ba năm được ba tật. Tuổi thọ của ông có hạn mà tật của dân thì vô cùng: lấy cái hữu hạn để trừ cái vô cùng, thì trừ được bao nhiêu đâu. Nếu dùng sự thưởng phạt bắt dân thi hành, mà ra lệnh rằng: “Hễ làm đúng phép thì được thưởng, trái phép thì bị phạt” thì sáng ban lệnh, chiều sự tình đã thay đổi rồi, chiều ban lệnh, sáng hôm sau đã thay đổi, chỉ trong mười ngày là khắp nước thay đổi cả, đâu phải đợi tới một năm? Ông Thuấn không biết khuyên vua Nghiêu bắt dân theo lệnh của ông, mà lại đích thân chịu lao khổ, chẳng phải là không biết thuật trị dân ư? Vả lại nếu phải đích thân chịu lao khổ rồi mới cảm hoá được dân, thì ngay Nghiêu, Thuấn cũng khó làm được, còn dùng (quyền) thế mà uốn nắn kẻ dưới thì vị chúa tầm thường nào cũng cho là dễ. Muốn trị thiên hạ mà lại bỏ cái cách một vị chúa tầm thường cũng dễ dàng làm được, để theo cái cách mà Nghiêu, Thuấn cũng cho là khó làm, thì kẻ đó chưa có thể cho làm chính trị được.

3 - Thuật dùng bề tôi: không cho một người kiêm nhiệm nhiều chức,  không để cho bọn tả hữu ngăn cách vua với quần thần.

Quản Trọng không biết giảng điều đó cho Hoàn công.
Quản Trọng đau. Tề Hoàn công lại thăm, hỏi: “Trọng phụ đau, nếu bất hạnh mà tận số thì có khuyên quả nhân điều gì không?” Quản Trọng đáp:
- Nhà vua không hỏi thì thần cũng đã tính tâu với vua. Thần xin nhà vua đuổi Thụ Điêu, trừ Dịch Nha và xa công tử Khai Phương nước Vệ. Dịch Nha lo việc ăn uống cho nhà vua, biết chỉ có thịt người là nhà vua chưa được nếm, bèn luộc đầu con mình để dâng lên. Tình người là không ai không yêu con, nay con mình mà không yêu thì làm sao yêu vua được? Nhà vua hay ghen mà thích các cung tần, Thụ Điêu bèn tự thiến để được cai quản các cung tần. Nhân tình không ai không yêu bản thân, nay bản thân mà mình không yêu thì làm sao yêu vua được? Khai Phương thờ nhà vua mười lăm năm, Tề cách Vệ chỉ vài ngày đường, mà Khai Phương bỏ mẹ đi làm quan lâu như vậy không về thăm, mẹ mà còn không yêu thì làm sao yêu vua được? Thần nghe nói cố giả dối (giả đạo đức) thì không được lâu, che sự hư nguỵ thì không được bền. Xin nhà vua đuổi ba người đó đi.
Quản Trọng chết rồi, Hoàn công không làm theo lời khuyên đó, đến khi chết, giòi trong thây bò ra tới cửa (2) mà chưa chôn.

*

Có người bảo:
Lời Quản Trọng khuyên Hoàn công đó không phải là lời của một người biết pháp độ. Ông ta muốn đuổi Thụ Điêu, Dịch Nha là cho rằng họ không yêu thân họ để làm thoả ý muốn của vua. “Bản thân mà mình không yêu thì làm sao yêu vua được?” Nếu vậy thì có bề tôi nào tận lực tới chết để thờ vua, Quản Trọng tất sẽ không dùng, mà bảo: “Họ không yêu cái sức của họ mà làm cho tới chết thì làm sao yêu vua được?” Như thế là muốn vua đuổi hết các trung thần đi. Vả lại, nếu lấy lẽ họ không yêu thân họ mà suy đoán rằng họ không yêu vua, thì cũng có thể lấy lẽ Quản Trọng không chết vì công tử Củ để suy đoán rằng ông sẽ không chết cho Hoàn công, vậy thì ông cũng thuộc hạng bề tôi phải đuổi đi.
Đạo của bậc minh chủ không phải vậy. Lập ra cái mà dân muốn để họ làm việc cho mình, vì vậy mà đặt ra tước lộc để khuyến khích họ; lập ra cái mà dân ghét để ngăn cấm sự gian tà, vì vậy mà đặt ra hình phạt để ra oai với họ. Khen thưởng mà xác thực, hình phạt mà cương quyết thì bề tôi có công được cất nhắc mà kẻ gian tà không được dùng, như vậy dù có Thụ Điêu, hắn cũng không làm gì được vua; mà bề tôi sẽ tận lực thờ vua, vua ban tước lộc để báo đáp bề tôi. Vua tôi đối với nhau không có cái tình cha con, đều là tính toán với nhau cả; hễ vua có đạo (tức thuật) thì bề tôi tận lực mà việc gian tà không phát sinh, vua vô đạo thì bề tôi trên che lấp cái sáng của vua, dưới thực hành tư dục của mình. Quản Trọng không làm cho Hoàn công hiểu rõ pháp độ đó (chỉ khuyên đuổi Thụ Điêu), giả sử đuổi Thụ Điêu rồi thì một Thụ Điêu khác lại đến, đó không phải là cách tận diệt được sự gian tà.

Hoàn công sở dĩ chết, giòi bò ra tới cửa mà không được chôn, là vì bề tôi thế lực mạnh quá, thế lực mạnh quá thì nắm hết quyền của vua; bề tôi nắm hết quyền của vua thì lệnh của vua không đạt tới cấp dưới mà tình thực của bề tôi không thông lên vua được. Sức của một người có thể ngăn cách được vua tôi với nhau, khiến vua không biết được thiện và ác, không thấy được hoạ và phúc, do đó mà có cái hoạ chết không được chôn. Cái đạo của bậc minh chủ là một bề tôi không được kiêm nhiều chức, một chức không kiêm nhiều việc; kẻ hèn thấp không phải nhờ kẻ tôn quí mới được tiến dụng, đại thần không phải nhờ kẻ tả hữu của vua mới được yết kiến vua; bách quan đều được trình ý kiến lên vua, quần thần cùng nhau lo việc công; vua có thấy công bề tôi rồi mới thưởng, biết tội bề tôi rồi mới phạt; sự thấy, biết đó phải đúng, mà sự thưởng phạt không lầm, như vậy thì làm sao có cái hoạ chết không được chôn? Quản Trọng không giảng rõ lẽ đó cho Hoàn công hiểu, chỉ xin đuổi ba người. Vì vậy mà tôi bảo Quản Trọng không có pháp độ.

4- Không có công thì không thưởng, không có tội thì không phạt (lược bỏ)

5- Vua phải giữ đạo vua, bề tôi phải giữ lễ bề tôi.

Tóm tắt: Tấn Bình công giữa đám bề tôi,  bảo không gì sướng bằng làm vua vì nói ra, không ai dám cãi. Sư Khoáng, một nhạc sư đui có tư cách, ngồi ở bên, làm bộ không biết rằng chính vua đã nói câu đó, cầm cây đàn đập, Bình công đỡ được, hỏi Sư Khoáng, Sư Khoáng thưa: “Có kẻ tiểu nhân nào nói đó nên thần đánh nó”. Bình công nhận chính mình nói. Sư Khoáng không tạ tội, chỉ đáp: “Bậc vua chúa không nên nói như vậy” Bình công đã không trừng trị mà còn khen.
Hàn Phi chê Bình công không giữ đạo vua, Sư Khoáng không giữ lẽ bề tôi.


*


6- Bề tôi mà khinh vua thì là loạn.
Tóm tắt: Hàn Phi chê thái độ Tề Hoàn công trọng một ẩn sĩ là Tiểu Thần Tắc tới nỗi hạ mình năm lần đến tìm Tiểu Thần Tắc rồi mới được gặp, và bảo: “Nếu Thần Tắc có tài mà giấu tài (không chịu thờ vua) thì đáng bị tội; nếu không có tài mà kiêu căng với vua như vậy thì đáng giết”.

7 – Không tha kẻ có tội. (lược bỏ)

8 - Bề tôi phải trọng vua, làm sáng tỏ pháp luật, không được đòi vua tăng tước lộc cho mình.

(Truyện 5b thiên Ngoại trừ thuyết tả hạ, Hàn Phi đã chép lại việc Quản Trọng xin Hoàn công ban cho mình nhà Tam qui, cho mình ở trên họ Cao, họ Quốc, lại được vào hàng công tộc, để khuyên các vua chúa nên tiết độ trong việc ban tước lộc, nếu không sẽ bị đại thần áp bức.
Ở đây ông nhắc lại truyện đó để bác ý kiến của một số người đã bênh Quản Trọng. Chúng tôi bỏ đoạn đầu chép những yêu sách của Quản Trọng).
(…) Tiêu Lược (không rõ là ai) bảo:
- Quản Trọng cho rằng hèn thì không trị được người sang nên xin được ở trên họ Cao, họ Quốc; nghèo thì không trị được người giàu, nên xin được có nhà Tam Qui; sơ thì không trị được người thân, nên xin được gọi là Trọng phụ. Xin như vậy không phải vì tham mà để cho tiện việc trị nước.

*

Có người bảo: Sai một kẻ tôi tớ đem mệnh lệnh của vua đến các quan khanh tướng thì không ai dám không nghe, không phải vì khanh tướng là hèn mà tôi tớ là sang mà vì lệnh vua ban xuống, không ai dám không theo. Nếu Quản Trọng trị nước mà không có lệnh của Hoàn Công thì là nước không có vua; nước không có vua thì không thể trị được. Còn như dựa vào uy của Hoàn Công để ban phát lệnh của Hoàn Công thì dù kẻ đó là tôi tớ, mọi người cũng phải tin (mà thi hành) chứ không phải đợi được ở trên họ Cao, họ Quốc, được vua tôn là Trọng phụ, rồi lệnh mới được thi hành! Các viên hành sự, đô thừa (quan chức rất nhỏ) ngày nay khi phụng mệnh vua đi trưng thu đâu có né tránh các bậc tôn quí mà chỉ tới các kẻ nghèo hèn? Cho nên hành sự mà hợp pháp thì dù (ti tiện như) hoạn quan cũng được khanh, tướng phục, hành sự mà phi pháp thì dù là quan lớn cũng phải thua một tên dân thường. Quản Trọng không lo tôn vua, làm sáng tỏ pháp độ, mà chỉ nghĩ đến việc được vua thêm sủng ái, thêm chức tước, thì nếu không ham giàu sang cũng là mờ ám, không biết thuật. Cho nên tôi bảo rằng Quản Trọng là bậy mà Tiêu Lược đã ca tụng ông ta thái quá.

*
9 – Có thuật thì dùng hai cận thần cũng không sao; không có thuật mà dùng họ thì họ sẽ tranh quyền nhau mà kết giao với nước ngoài, nếu chỉ dùng một thì người đó sẽ chuyên quyền giết mình.

Hàn Tuyên vương hỏi Cù (3) Lưu:
- Ta muốn dùng cả hai ông Công Trọng và Công Thúc, nên chăng?
Cù Lưu đáp:
- Xưa nước Ngụy dùng cả hai ông Lâu và Địch (4) mà mất đất Tây Hà. Sở dùng cả hai ông Chiêu và Cảnh mà mất đất Yên và đất Dĩnh, nay nhà vua dùng cả Công Trọng và Công Thúc thì họ tranh quyền nhau, mà kết giao với nước ngoài, sẽ là mối lo cho nước.

*

Có người bảo: Xưa Tề Hoàn công dùng cả hai ông Quản Trọng và Bão Thúc; Thành Thang dùng cả hai ông Y Doãn và Trọng Huỷ. Nếu dùng cả hai người mà là mối lo của nước thì Hoàn Công đã không làm nên nghiệp bá, Thành Thang không làm nên nghiệp vương, (Tề) Mân vương chỉ dùng một mình Náo Xỉ mà bị (Náo Xỉ) giết ở miếu Đông, (Triệu) Chủ phụ chỉ dùng một mình Lí Đoái mà bị (Lí Đoái) bỏ đói tới chết. Vậy nếu vua quả có thuật thì dùng hai người không phải là mối lo; không có thuật mà dùng hai người thì họ tranh quyền nhau, mà kết giao với nước ngoài, dùng một người thì họ sẽ chuyên quyền mà giết mình. Cù Lưu không có phép thuật để làm qui tắc cho vua, khuyên vua đừng dùng hai người mà dùng một thôi, như vậy nếu tránh được cái lo mất Tây Hà, Yên, Dĩnh thì tất mắc cái nạn bị giết hoặc bị bỏ đói tới chết (…) (5).









(1) Tức Hồ Yển, cậu của Tấn Văn Công, có công giúp Văn công dựng nghiệp bá.
(2) Có bản chép là giòi từ thây (尸) bò ra. Sửa là từ cửa (户) bò ra thì đúng hơn vì Hoàn Công chết mấy tuần rồi chưa được chôn.
(3) Ta quen đọc là cù, chính ra phải đọc là cu hoặc cưu.
(4) Có sách bảo là Lâu Hoãn và Địch Hoàng; có sách bảo là Lâu Tị và Địch Cường.
(5) Bỏ câu cuối: Thi Cù Lưu vi hữu thiện dĩ tri ngôn dã, mà bản Trần Khải Thiên giảng là: thế là Cù Lưu chưa làm điều thiện (hữu = vị) mà biết nói (dĩ: nhị). Thật lúng túng, khó hiểu.
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2009-06-25 08:55:24huytran>
THIÊN XXXVII
NẠN NHỊ (Trích)
(BIỆN NẠN - II)


1 – Hình phạt cần phải thích đáng, nhiều ít không thành vấn đề.
(Tề) Cảnh công qua nhà Án tử (Án Anh), bảo:
- Nhà ông nhỏ mà lại gần chợ, xin ông dời qua ở vườn Dự Chương.
Án tử vái hai lần, từ tạ:
- Anh tôi nghèo, sáng chiều đều phải đi chợ, nên không tiện dời đi xa.
Cảnh công cười, hỏi:
- Nhà ông thường đi chợ, vậy có biết hàng hoá mắc hay rẻ không?
Hồi đó Cảnh công dùng nhiều hình phạt quá, nên Án Anh đáp:
- (Mọi vật giá đều) nhảy vọt lên[1], duy có giày là rẻ.
- Sao vậy?
- Vì hình phạt (chặt chân) nhiều quá.
Cảnh công kinh ngạc, biến sắc, bảo: “Quả nhân tàn bạo lắm ư?” rồi bớt bỏ đi năm hình phạt.


*


Có người bảo: Án tử bảo giá nhảy vọt lên, không phải là nói thực, chỉ muốn mượn lời đó khuyên vua đừng dùng nhiều hình phạt nữa. Đó là cái hại không biết thuật trị nước. Hình phạt mà thích đáng, thì nhiều cũng vô hại, nếu không thích đáng thì tuy ít cũng là hại. Án tử không giảng cho vua lẽ thích đáng của hình phạt, mà chỉ chê là nhiều quá, đó là cái hại vô thuật. Phạt quân thua trận thì đến số ngàn số trăm vẫn chưa ngăn được sự bại tẩu; vậy thì dùng hình phạt để dẹp loạn, chỉ sợ không xuể mà kẻ gian hãy còn. Án tử không xét là thích đáng hay không mà chỉ cho là nhiều quá chẳng là bậy ư? Tiếc cỏ tranh thì làm cho hại lúa má, nhân từ với đạo tặc là làm hại cho lương dân. Nay làm nhẹ hình phạt mà khoan dung tức là làm lợi cho kẻ gian, hại cho người.


2- Không có công thì không thưởng mà có tội thì phải phạt:
Hàn Phi chê Tề Hoàn công phát của kho, tha tội nhẹ cho dân khi ông ta ân hận vì mắc một lỗi nhỏ (uống rượu say đánh rớt mão).


3 - Muốn tránh hoạ thì đừng làm, đừng cho thấy:
Xưa, Văn Vương xâm lấn nước Vu, đánh nước Cử, chiếm nước Phong, ba lần dùng binh như vậy nên bị vua Trụ ghét. Văn Vương sợ, dâng đất Lạc Tây, một miền đất nhỏ (phì nhiêu)[2] rộng một ngàn dặm vuông để xin bỏ hình bào lạc,[3] thiên hạ đều mừng. Trọng Ni nghe chuyện đó bảo: "Văn Vương thật là nhân từ coi nhẹ một nước ngàn dặm mà xin bỏ hình bào lạc! Văn Vương thật là minh trí, bỏ đất ngàn dặm để được lòng thiên hạ!"

*



Có người bảo:
         Trọng Ni khen Văn Vương là minh trí, chẳng là lầm ư? Bậc minh trí biết chỗ tai họa mà tránh, cho nên thân (không?) bị hại. Nếu Văn Vương bị vua Trụ ghét vì ông không được lòng dân, mà ông tìm cách được lòng dân để vua Trụ không ghét nữa, như vậy là phải. Nay vua Trụ đã ghét ông vì ông rất được lòng dân, mà ông lại coi rẻ đất đai để thu phục lòng dân thì cảng thêm bị vua Trụ nghi, nên mới bị xiềng xích trong ngục Dữu Lí đấy. Các ông già nước Trịnh có câu: “Hiểu đạo lý thì nên đừng làm gì, đừng cho thấy.” Lời đó thật thích hợp với Văn Vương để cho người khác khỏi nghi ông, Trọng Ni khen Văn Vương minh trí là chưa hiểu lời nói đó![4]


4- Ngũ Bá (Tề Hoàn công, Tống Tương công, Tấn Văn công, Tần Mục công, Sở Trang công) sở dĩ thành công là nhờ sức của các vua lẫn bề tôi, chứ không phải của riêng bề tôi, hoặc của riêng vua.
Hàn Phi đưa ra chứng cứ: “Xưa Cung Chi Kì ở nước Ngu, Hi Phụ Kì ở nước Tào, đều là những bề tôi minh trí, đoán trúng việc, làm nên công, mà hai nước đó đều bị diệt vong là vì có bề tôi tốt mà không có vua hiền. Lại như Kiển Thúc giúp nước Ngu mà Ngu bị diệt vong, giúp nước Tần thì Tần thành bá chủ, như vậy đâu phải là ở nước Ngu thì tối tăm, ở Tần thì sáng suốt, chỉ do gặp được vua giỏi hay không”. (….)


5-Trị nước không phải là việc dễ, nhàn, vì dù lựa được bề tôi giỏi rồi, cũng phải có thuật sai khiến họ, xét họ, đối phó với họ.


6- Cần xét kĩ lí do rồi mới kết luận được.
Lí Khắc[5] trị nước Trung Sơn. Quan lệnh ấp Khổ Hình trình bản kế toán, số thu quá nhiều, Lí Khắc bảo: “Lời nói khéo léo, nghe thì thích, nhưng không hợp tình lí, như vậy gọi là "điệu ngôn" (lời không thực, hư ngôn). Không có mối lợi về núi, rừng, chằm hang mà số thu được nhiều, như vậy gọi là “điệu hóa” (hóa vật không có thực, hư vật). Người quân tử không nghe “điệu ngôn”, không nhận “điệu hóa”; ông nên từ chức đi.


*


Có người bảo:
Lí tử lập thuyết: “Lời nói khéo léo, nghe thì thích nhưng không hợp tình lí, như vậy gọi là “điệu ngôn”. Khéo nói là làm cho người nghe thích, cái đó tùy người nghe. Người nói đã không phải là người nghe thì sự khéo nói cũng không phải là sự thích[6]. Cái mà Lí tử bảo không hợp tình lí không tùy thuộc người nghe mà tùy thuộc lời người đó nghe được. Người nghe nếu không phải là tiểu nhân (vô học) thì là quân tử. Tiểu nhân không hiểu tình lí, vậy không thể xét lời nói xem có hợp tình lí hay không; quân tử biết xét lời nói xem có hợp tình lí hay không thì tất không thể thích được (vì lời nói khéo không hợp tình lí). Vậy bảo “Lời nói khéo nghe thì thích nhưng không hợp tình lí” là nói sai”.
- Thu được nhiều mà cho là “điệu hóa”, lời đó chưa phải là luôn luôn đúng[7]. Lí tử không sớm cấm điều gian, để cho viên lệnh làm kế toán như vậy, là có lỗi rồi. Ông không có thuật nào để biết là gian, mà cứ thấy ghi thu được nhiều là nói láo, thì mới làm sao đây khi số thu bất thường[8]? Thu được nhiều (có thể) là nhờ được mùa. Làm lụng mà chú trọng đến sự hòa hợp của âm dương, trồng trọt mà hợp với bốn mùa, không mất mát vì muộn quá, sớm quá, không bị các họa lạnh quá hay nóng quá thì thu hoạch được nhiều. Tìm hiểu kỹ thuật nuôi súc vật, nghiên cứu đất xem phù hợp với loại cây nào thì lục súc sinh sản nhiều, ngũ cốc tươi tốt mà thu được nhiều. Hiểu rõ việc cân, lường, kế toán, xét rõ địa hình, biết dùng cái tiện lợi của xe thuyền, máy móc, thì dùng sức ít, kết quả lớn mà thu được nhiều. Làm cho sự đi lại các chợ, búa, cửa ải và cầu được tiện lợi để đem hàng hóa từ chỗ dư tới chỗ thiếu, khách mua bán qui lại, ngoại hóa tụ lại, rồi tiết kiệm trong việc tiêu xài, ăn uống, xây cất cung thất, chế tạo khí giới, có đủ vật thường dùng mà không phung phí vào những vui chơi xa xỉ, thì thu được nhiều. Những sự thu được nhiều đó đều do sức người; nếu lại thêm mưa thuận gió hòa, nóng lạnh thích hợp thì dù đất không tăng, gặp năm được mùa, số thu cũng nhiều. Sức người và thời tiết, hai cái đó đều làm cho thu vào nhiều, không phải là mối lợi của rừng núi, chằm hang. Vậy gọi là “điệu hóa” chỉ vì không có mối lợi rừng núi, chằm hang mà thu được nhiều, là lời nói của kẻ không biết thuật trị nước.


*


7- Vua không cần xông pha tên đạn mà cần biết cách thưởng phạt.
 
Tóm tắt: Triệu Giản tử vây một thành của Vệ, đứng phía sau đánh trống thúc quân mà quân không tiến. Nghe lời khuyên của Chúc Quá ông xông tới trước, đứng chỗ tên đạn mà thúc quân, lúc đó quân mới theo ông xông lên, mà đại thắng. Hàn Phi chê là không cần như vậy, cứ thưởng công cho xứng, phạt tội cho nghiêm thì quân sĩ sẽ tử chiến vì mình.
 

[1] Nguyên văn, dũng quí 踴蕢có sách giảng (tức là) tả một đồ dùng để chôn cất (vì nhiều người chết chém mà đồ đó đắt giá). Có sách lại giảng “dũng” là giày cho người cụt chân (vì tội mà bị chặt chân) hoặc chân giả cho người cụt chân dùng.
[/align] [2] Nguyên văn là xích nhưỡng, có sách cho là tên đất, tên nước.
[/align] [3] Coi chú thích ở Thiên XL Nạn thế.
[/align] [4] Tư tưởng trong đoạn này giống Đạo gia, nên có học giả còn ngờ.
[/align] [5] Lí Khắc, hoặc Lí Đoái, Lí Khôi - coi phần I.
[/align] [6] Nguyên văn: Ngôn phi thích giả dã, tắc biện phi duyệt giả dã. Câu này có sách không chép, đại ý là: Không phải có người thích mà là khéo nói.
[/align] [7] Nguyên văn: vị khả viễn hạnh giả Trần Khải Thiên cho viễn = cửu (lâu). Chúng tôi đoán ý mà dịch như trên.
[/align] [8] Nguyên văn là 倍(bội) (chữ tiếng Trung này trong sách viết sai thành chữ (vị 位: vị trí) bản Trần Khải Thiên bảo chữ bội 倍(nghĩa là gấp đôi) đó xưa dùng như chữ (bội = trái đạo ngược lí) 悖
[/align] [/align]
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2009-06-24 23:43:12huytran>
THIÊN XXXVIII
NẠN TAM (TRÍCH)
(BIỆN NẠN-III)
 
1-Phải trọng dụng kẻ cáo gian (tố cáo kẻ gian)



Lỗ Mục công hỏi Tử Tư (cháu nội của Khổng Tử):
- Ta nghe nói con của họ Bàng Giản[1] bất hiếu. Hạnh kiểm nó ra sao?
Tử Tư đáp:
- Người quân tử tôn hiền, trọng đức, nêu điều tốt ra để khuyên người, còn những hạnh kiểm lầm lẫn là để cho tiểu nhân nhớ, thần không biết tới.
Tử Tư lui ra, Tử Phục Lệ Bá (một đại phu nước Lỗ) vô, Mục công hỏi về con họ Bàng Giản. Tử Phục Lệ Bá đáp:
- Nó có ba cái lỗi mà nhà vua chưa được nghe.

Từ đó, Mục Công quý Tử Tư mà coi thường Lệ Bá.


*


Có người bảo:
Công Thất[2] nước Lỗ ba đời bị họ Quí lấn áp, cũng là đáng! Bậc minh quân tìm người tốt để thưởng, kẻ gian để phạt, hai việc đó đều chung một nghĩa. Cho nên kẻ báo cáo người tốt là để cùng với vua mà mừng, kẻ báo cáo đứa gian là để cùng với vua mà ghét, và cả hai người báo cáo đó đều đáng khen thưởng. Không báo cáo với vua là không đồng lòng với vua mà kẻ dưới sẽ đứng về phe gian, thái độ đó đáng chê phạt. Tử Tư không báo cáo lỗi (của con họ Bàng Giản) mà Mục Công quí, Lệ Bá báo cáo mà Mục Công coi rẻ. Nhân tình ai cũng thích được quí mà ghét bị coi rẻ, vì vậy họ Quí làm loạn mà không biết, và vua Lỗ mới bị lấn áp. Đó là cái thói của các ông vua mất nước, dân nước Trâu và nước Lỗ[3] cho thói đó là đẹp, và riêng Mục Công lại quí, chẳng là trái lẽ ư?


*


2- Không nên nghe lời tô điểm (giả dối, tự biện hộ) của bề tôi.

(Hàn Phi ghét hạng bề tôi khi vua mình bị địch giết, vội đầu hàng địch và hứa sẽ thờ vua địch như thờ vua cũ của mình).


3- Không để cho kẻ dưới lấn người trên, địa vị trên dưới phải phân minh:
Có người đố Tề Hoàn công: “Cái khó thứ nhất, cái khó thứ nhì, cái khó thứ ba là cái gì?” Hoàn Công không giải đáp được, hỏi Quản Trọng, Quản Trọng đáp: “Cái khó[4] thứ nhất là gần bọn kép hát mà xa kẻ sĩ, cái khó thứ nhì là rời quốc đô để thường ra biển chơi, cái khó thứ ba là vua đã già mà chậm lập thái tử”. Hoàn Công khen phải rồi không đợi lựa ngày mà làm lễ lập thái tử ở thái miếu.


*


Có người bảo:
Quản Trọng giải câu đố đó không đúng. Việc dùng kẻ sĩ không ở chỗ xa hay gần (xa họ vẫn có thể dùng được); còn bọn kép hát và hề lùn giải muộn cho vua lúc nhàn, cho nên vua gần bọn họ mà xa kẻ sĩ, nước vẫn trị được, không phải là điều khó. Có được (quyền) thế mà không biết dùng, chỉ cố giữ lấy quốc đô, không rời nó, tức là lấy sức một người (tức vua) mà cấm cả một nước (chiếm quốc đô); lấy sức một người mà cấm cả một nước, ít ai thành công được. Sáng suốt thì có thể soi thấu được việc gian ở xa, thấy được chỗ kín đáo nhỏ nhặt, hễ ra lệnh tất được thi hành, thì dù có đi chơi xa ở biển, trong nước cũng không có biến loạn, vậy có bỏ quốc đô, ra chơi ở biển mà không bị cướp ngôi, bị giết, không phải là điều khó (….) Không chia hai địa vị và quyền thế, để cho con thứ ở địa vị thấp (không lấn được thái tử), không cho ái thiếp mượn quyền thế của mình, thì dù già mà chậm lập thái tử cũng không sao; vậy thì lập thái tử trễ mà con thứ không làm loạn, cũng không phải là điều khó. Những cái này mới khó: để cho người ta lập được thế mạnh rồi mà giữ cho người ta không lấn hại mình, đó có thể gọi là cái khó thứ nhất; quí ái thiếp mà giữ sao cho khỏi có hai hoàng hậu (ái thiếp quyền ngang với hoàng hậu), đó là cái khó thứ nhì; yêu con thứ mà giữ sao cho con đích (con dòng lớn, tức thái tử) khỏi bị nguy; chuyên nghe một bề tôi mà giữ sao cho họ không đối địch với mình, đó có thể gọi là cái khó thứ ba.


*


 4- Làm cho dân vui, chọn người hiền và tiết kiệm, ba việc đó không cần bằng biết rõ bề tôi.
 Nhiếp[5] công (một đại phu nước Sở) tự là Tử Cao hỏi Trọng Ni về chính trị, Trọng Ni đáp: “Việc chính trị cốt làm cho kẻ ở gần vui mà kẻ ở xa tìm đến.”
Lỗ Ai Công hỏi về chính trị, Trọng Ni đáp: “Chính trị cốt ở chỗ lựa người hiền”.
 Tề Cảnh công hỏi về chính trị, Trọng Ni đáp: “Việc chính trị cốt ở việc tiết kiệm tài sản”.
 Ba ông đó ra, Tử Cống (một đệ tử của Trọng Ni) hỏi: “Ba ông đó cùng hỏi một câu về chính trị mà thầy đáp mỗi ông một khác là tại sao?” Trọng Ni đáp: “Nước Nhiếp kinh đô lớn mà đất đai nhỏ, dân có lòng phản bội, cho nên việc cai trị cốt làm cho kẻ ở gần vui mà kẻ ở xa tìm đến. Lỗ Ai Công có ba vị đại thần, họ ngoài thì ngăn cản kẻ sĩ các nước chư hầu bốn bên, trong thì kết bè đảng để gạt vua; khiến cho tôn miếu không được quét dọn, nền xã tắc (nơi thờ Thần Đất và Thần Nông) không được cúng tế, tất là tại ba đại thần đó cả, vì vậy mà thầy bảo việc chính trị cốt ở chỗ lựa người hiền. Tề Cảnh Công xây cửa Ung (cửa thành) và đài Lộ Tẩm, (nhân vui mà) trong một buổi sáng cho ba đại phu một thái ấp ba trăm cỗ xe[6] bởi vậy thầy bảo việc chính trị cốt ở chỗ tiết kiệm tài sản”.


*


Có người bảo:
 Câu trả lời của Trọng Ni là lời nói làm cho mất nước. Dân nước Nhiếp đã có lòng phản bội mà còn khuyên Nhiếp Công làm cho người ở gần vui, người ở xa tìm đến, như vậy là dạy cho dân chờ mong ân huệ. Dùng chính sách gia ân đó thì kẻ không có công được thưởng, kẻ có tội được tha, mà pháp độ sẽ bại hoại. Pháp độ bại hoại thì chính trị loạn, dùng chính trị loạn để trị dân bại hoại, là việc chưa từng thấy thành công. Vả lại dân có lòng phản bội là vì sự sáng suốt của vua có chỗ không thấu đáo. Không chỉ cho Nhiếp Công thêm sáng suốt mà lại khuyên làm cho kẻ ở gần vui, kẻ ở xa tìm đến, đó là không dùng quyền thế của mình để cấm mà cùng với bề tôi tranh dân bằng ân huệ, như vậy làm sao giữ được quyền thế của mình (….)
Ai Công có bề tôi, ngoài thì ngăn cản (người nước khác đến), trong thì lập bè đảng mê hoặc vua; vậy mà Trọng Ni lại khuyên ông lựa người hiền không phải theo cách xét công nghiệp của người, chỉ chọn người lòng mình cho là hiền thôi. Nếu Ai Công biết rằng ba đại thần của mình (tức Mạnh Tôn, Thúc Tôn, Quí Tôn) ngoài thì ngăn cản kẻ sĩ các nước chư hầu, trong thì kết bè đảng, thì ba người đó không đứng được một ngày nữa; chính vì Ai Công không biết lựa người hiền, chỉ lựa người mà lòng ông cho là hiền, nên họ mới được giao cho việc nước. Tử Khoái nước Yên cho Tử Chi là hiền mà chê Tôn Khanh[7] cho nên phải chết nhục. Phù Sai cho thái tử Phỉ là có trí, Tử Tư[8] là ngu cho nên bị nước Việt diệt. Vua Lỗ nhất định không biết ai là hiền, mà lại khuyên ông lựa người hiền, tức là khiến ông bị cái họa của Phù Sai và Tử Khoái nước Yên. Bậc minh quân không tự đề cử bề tôi mà để cho bề tôi tự tiến thân (bằng cách lập công), không tự cho ai là hiền mà xét ai tùy theo công nghiệp của người đó; bổ nhiệm họ để xét họ, giao cho công việc để thử tài rồi phán đoán tùy theo kết quả, cho nên quần thần ngay thẳng, không mưu lợi riêng, không giấu người hiền, không tiến cử kẻ bất tiếu, như vậy vua đâu có khó nhọc về việc chọn người hiền?
 Cảnh Công ban 100 cỗ xe cho bề tôi mà Trọng Ni khuyên ông phải tiết kiệm tài sản, là không có thuật để phân biệt xa xỉ và tiết kiệm; vả lại riêng vua phải kiệm ước thì đâu đủ tránh được sự nghèo. Ví dụ có ông vua lấy lộc ngàn dặm để nuôi miệng mình thì dù Kiệt, Trụ cũng không xa xỉ bằng; hoặc nước Tề rộng ba ngàn dặm mà Hoàn Công lấy lộc một nửa nước để tự cung dưỡng thì là xa xỉ hơn Kiệt, Trụ. Nhưng Hoàn Công đứng đầu ngũ bá chính là nhờ khi nào nên xa xỉ, khi nào nên tiết kiệm (…) Bậc minh quân khiến cho bề tôi không lo việc riêng, cấm họ nhờ gian trá mà sống; bề tôi nào tận lực làm việc thì tất biết, biết thì tất thưởng; bề tôi nào tham ô làm việc riêng tư thì tất biết, biết thì tất phạt. Như vậy bề tôi trung sẽ hết lòng với việc công, dân và kẻ sĩ hết sức với việc nhà, bách quan sẽ thanh liêm, tự kiềm chế mình để phục vụ vua, và trong việc thưởng vua có xa xỉ gấp hai Cảnh công cũng không hại gì cho nước. Vậy lời khuyên tiết kiệm tài sản không phải là điều cần gấp cho Cảnh Công. Trọng Ni chỉ trả lời ba ông Nhiếp công, Ai công, Cảnh công một câu này thôi là họ không lo gì nữa cả: “Phải biết kẻ dưới”. Biết rõ người dưới thì cấm ngay từ khi ý gian mới hiện, cấm như vậy thì sự gian không tích lũy, thì không có lòng làm phản. Biết rõ người dưới thì thấy một cách tường tận, thấy tường tận thì sáng suốt trong việc thưởng phạt, sáng suốt trong việc thưởng phạt thì nước không nghèo. Cho nên tôi bảo rằng chỉ trả lời ba ông ấy một câu: “Phải biết kẻ dưới” là họ không còn lo gì nữa.


*
 

5- Trị dân thì đừng cậy ở trí khôn của mình mà cứ theo pháp luật- Phải lấy vật trị vật, lấy người trị người.
 Tử Sản nước Trịnh sáng sớm ra đi, qua cửa phường Đông Tượng[9] nghe tiếng một người đàn bà khóc, bèn vỗ vào tay người đánh xe, (bảo ngừng lại), lắng tai nghe một lát rồi sai người thuộc hạ bắt người đàn bà đó, lại tra hỏi thì ra mụ ta đã tự tay thắt cổ chồng. Hôm khác, người đánh xe hỏi ông: “Ngài làm sao biết được?” Ông đáp: “Vì thấy tiếng khóc mụ đó run sợ. Thường tình hễ người thân của mình mới đau thì mình lo lắng, khi sắp chết thì mình run sợ, khi chết rồi thì mình đau xót. Mụ đó khóc chồng chết, không đau xót mà run sợ, vì vậy mà biết có tình ý gian”.


*


Có người bảo:
 Tử Sản trị dân cách đó cũng chẳng rắc rối ư? Phải đợi trông thấy, nghe thấy rồi mới biết được là gian thì nước Trịnh bắt được ít kẻ gian lắm. Không dùng bọn lại coi về ngục tụng, không dùng chính sách khảo sát nhiều mặt, không làm sáng tỏ phép đo lường, mà cậy vào sự tận dụng trí thông minh, sự suy tư mệt trí của mình mới biết được kẻ gian, chẳng là thiếu thuật quá ư? Vả lại sự việc thì nhiều mà trí lực thì ít, ít không thắng được nhiều, cho nên phải lấy vật mà trị vật; kẻ dưới thì nhiều mà người trên thì ít, ít không thắng được nhiều, cho nên phải dùng người mà trị người; như vậy không lao lực mà được việc, không dùng nhiều trí lực mà bắt được kẻ gian. Người Tống có câu: “Nếu Nghệ (người bắn giỏi) bảo con chim sẻ nào bay qua cũng bắn được thì là Nghệ nói khoác. Nếu lấy thiên hạ làm cái lưới thì không một con chim sẻ nào sẽ thoát được.” Muốn biết kẻ gian thì cũng phải có cái lưới lớn mới không để thoát một kẻ nào cả. Không sửa cái lưới[10] mà cứ lấy lòng (trí khôn) mình làm cung tên thì dù Tử Sản cũng là khoác lác. Lão tử bảo: “Lấy trí khôn trị nước, tức là giặc (cái họa) của nước”[11] lời đó áp dụng vào Tử Sản được.



*


 6- Trị nước chỉ nên dựa vào cái thế của mình thôi. (Lược bỏ)


7-Thưởng phạt mà chỉ căn cứ vào bề ngoài thì bề tôi gian dối sẽ gạt mình được (Lược bỏ).



8- Pháp (luật) thì phải cho mọi người biết, thuật thì phải giấu mọi người.
Quản Tử (Quản Trọng) nói: “Lời nói ở nhà riêng thì phải đầy nhà riêng (nghĩa là ai cũng nghe thấy, không giấu ai cả), lời nói ở công đường thì phải đầy công đường, như vậy gọi là làm vua thiên hạ”.


*



Có người bảo:
Quản Trọng bảo “Lời nói ở nhà riêng phải đầy nhà riêng, lời nói ở công đường thì phải đầy công đường” không phải chỉ riêng trỏ những việc du hí, ăn uống, mà tất còn trỏ những việc lớn[12] nữa. Những việc lớn của bậc vua chúa nếu không phải là pháp luật thì là thuật. Pháp luật là cái chép trong sách vở, bày ở công sở và công bố cho toàn dân. Thuật là cái giấu trong lòng để so sánh mọi việc mà ngầm chế ngự quần thần. Cho nên pháp luật không gì bằng phải bày ra cho mọi người biết, mà thuật thì không muốn người khác thấy. Bậc minh chủ nói đến pháp luật thì hết thảy những kẻ ti tiện trong nước đều được nghe biết, chớ nào phải đầy nhà riêng mà thôi; còn như dùng thuật thì những kẻ yêu mến, thân cận cũng không được nghe, làm sao có thể đầy nhà riêng được? Vậy lời nói của Quản Tử không phải là lời nói đúng với pháp thuật.

[1] Bộ mễ bên chữ gian  Tự điển không có – Các nhà chú thích cho là chữ 撊(giản).
[2] Họ vua một nước chư hầu.
[3] Trâu và Lỗ là nơi phát nguyên của đạo Nho, nên dân hai nước đó được sự giáo hóa của Nho gia, có thói quen khen đức hạnh và giấu tội lỗi của người khác.
[4] Khó giữ cho nước khỏi loạn, ngôi vua khỏi mất.
[5] Chữ diệp là lá, đây đọc là Nhiếp, tên đất và tên họ.
[6] Thời đó thái ấp của đại phu là 100 cỗ xe, mỗi cỗ bằng sáu dặm vuông. Coi chú thích thiên XXXIII Ngoại trừ thuyết tả hạ.
[7] Tức Tuân Khanh, sư phụ của Hàn Phi. Hàn chỉ nhắc tới thầy ở mỗi đoạn này, mà không ai biết việc đó ra sao. Tử Khoái là vua nước Yên, xem chú thích thiên VII Nhị Bính.
[8] Phù Sai là vua nước Ngô không nghe lời Tử Tư, sau bị Câu Tiễn, vua Việt diệt.
[9] Có sách giảng là xóm thợ phía đông.
[10] Có sách chép là “bất tu kì lí” và giảng là không học cái lẽ đó.
[11] Đạo đức kinh – Chương LXV 2. Dĩ trí trị quốc, quốc chi tặc (dã).
[12] Nguyên văn: đại vật (vật lớn), có người giảng là lễ pháp.
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2009-06-26 18:30:39huytran>
THIÊN XXXIX
NẠN TỨ (Trích)
(BIỆN NẠN – IV) 



         Thiên này gồm bốn tiết và khác với ba thiên trên ở chỗ sau lời phê bình lại dẫn thêm một lời phê bình lời phê bình đó - đều của Hàn Phi - để bác ý kiến trên hoặc xét thêm một khía cạnh nữa của vấn đề.


*

1 -  Bề tôi và vua nên giữ phận mình. Lược bỏ.

2 - Vua nên sáng và nghiêm.
Dương Hổ nước Lỗ muốn đánh Tam Hoàn (ba đại phu trong công thất Lỗ, con của Lỗ Hoàn Công: Mạnh tôn, Thúc tôn và Quí tôn) không được, phải trốn qua Tề, Tề Cảnh Công lấy lễ tiếp đãi. Bão Văn tử can: “Không nên, Dương Hổ được họ Quí yêu mà lại đánh Quí tôn, là vì ham sự giàu có của họ ấy. Nhà vua giàu có hơn Quí tôn và nước Tề lớn hơn nước Lỗ, Dương Hổ sẽ còn hết sức gian trá nữa”. Cảnh Công bèn bỏ tù Dương Hổ.[1]

*

Có người bảo:
Nhà có ngàn vàng thì con cái bất nhân, vì họ quá gấp mưu lợi. (Tề) Cảnh Công đứng đầu trong ngũ bá, (mới đầu) tranh nước mà giết anh là vì cái lợi lớn quá. Giữa vua tôi không có tình anh em ruột thịt. Trong việc cướp quyền giết vua, chế ngự một nước vạn cỗ xe để hưởng cái lợi lớn thì bề tôi nào chẳng là Dương Hổ. Việc làm hễ tinh tế, khéo léo thì thành, sơ suất, vụng về thì thất bại. Bề tôi chưa khởi loạn là vì dự bị chưa đủ. Nhưng bề tôi nào cũng có cái lòng (cướp ngôi) như Dương Hổ mà vua không biết, là vì việc làm của họ tinh tế, khéo léo. Dương Hổ vì tham muốn đánh bề trên, mà để cho thiên hạ biết được là do hắn sơ suất, vụng về. (Không khuyên Cảnh Công trừng phạt bọn bề tôi gian xảo của Tề[2] mà khuyên ông trừng phạt tên Dương Hổ vụng về, đó là chỗ sai trong lời khuyên của Bão Văn tử. Bề tôi trung tín hay gian trá là tuỳ hành động của vua: vua sáng suốt và ngiêm khắc thì họ trung tín, vua nhu nhược và hôn ám thì họ gian trá. Sáng suốt là biết được cái tinh tế, nghiêm khắc là không tha tội. Không biết ai là bề tôi gian xảo của Tề[3] mà trị loạn thần của Lỗ, chẳng cũng bậy ư?


*

(Lại) có người bảo:
(…) Vua sáng và nghiêm thì bề tôi trung tín. Dương Hổ làm loạn ở Lỗ, việc không thành, chạy qua Tề, Tề không trừng trị, tức là để cho Hổ lại làm loạn ở Tề. Vua sáng suốt thì biết rằng việc trừng trị Dương Hổ có thể cứu loạn được cho Tề, như vậy là tinh tế thấy được tình thế (khi loạn chưa phát). Lời xưa có câu: “Chư hầu lấy nước làm tình thân”. Vua nghiêm khắc thì tội của Dương Hổ không thể bỏ qua, đó là phép “không tha tội”. Vậy giết Dương Hổ là để cho bề tôi phải trung tín. Chưa biết được bọn bề tôi của Tề kẻ nào gian xảo, mà bỏ sự trừng phạt một kẻ đã hiển nhiên làm phản, thế là trách kẻ chưa hẳn đã làm bậy mà không trừng trị cái tội rành rành, hành động đó bậy. Trừng phạt một kẻ làm loan ở Lỗ để thị oai với bọn bề tôi có lòng gian (ở Tề) mà lại được tình thân ái của Quí tôn, Mạnh tôn, Thúc tôn, lời khuyên của Bão Văn có gì là trái đâu.


*

3 – Chưa đáng giận thì đừng tỏ sắc giận ra, chưa đáng phạt thì đừng tỏ ý muốn phạt ra.
(Lược bỏ)


*
 
4 – Dùng người thì tránh đừng dùng kẻ mình yêu mà không thực hiền.
(Hàn Phi chép lại ở đây cố sự một người hầu bàn (đúng ra là hề lùn) đem giấc mộng thấy bếp để khuyên Vệ Linh Công đừng để cho một sủng thần là Di Tử Hà “che khuất”. Cố sự đó ông đã kể trong truyện là thiên Nội trừ thuyết thượng. Cuối truyện Hàn Phi thêm câu này:
“Vệ Linh công khen phải rồi đuổi Ung Tư, không dùng Di Tử Hà nữa mà dùng Tư không Cẩn”, rồi ông phê bình như sau:
Có người bảo:
Người hề lùn đó khéo đặt sự chuyện nằm mộng để bày tỏ cái đạo làm vua, nhưng Linh công không hiểu hết lời của anh ta. Đuổi Ung Tư, không dùng Di Tử Hà mà dùng Tư không Cẩn là bỏ người mình yêu mà dùng người hiền. Nhưng Tử Đô nước Trịnh cho Khánh Kiến là hiền mà bị Khánh Kiến che lấp. Tử Khoái nước Yên cho Tử Chi là hiền[4]  mà bị Tử Chi che lấp. Bỏ người mình yêu mà dùng người mình cho là hiền, chưa chắc đã khỏi bị một người đứng phía trước mà che mình. Kẻ bất tiếu đứng phía trước của chúa, không nhất định là làm hại sự sáng suốt của chúa. Nếu không thấy sự sáng suốt cho mình mà để cho người (mình cho là) hiền đứng phía trước thì đất bị nguy.


*

(Lại) có người bảo:
Khuất Đào (một ông quan đời Xuân Thu) thích củ ấu, vua Văn vương thích dưa xương bồ. Hai món đó không phải là món ngon mà hai bậc hiền đó đều chuộng, vậy hợp khẩu vị chưa nhất định là ngon. Tấn Linh hầu ưa Tham Vô Tuất,[5] Tử Khoái nước Yên cho Tử Chi là hiền, hai người bề tôi đó không phải là kẻ sĩ chính trực mà được hai ông tôn trọng, vậy người mình cho là hiền vị tất đã hiền. Dùng người mình cho là hiền mà thực ra không hiền thì cũng như dùng người mình yêu, không khác gì. Dùng người thực sự hiền với dùng người mình yêu, hai cái khác nhau. Vì vậy Sở Trang vương dùng Tôn Thúc (Ngao) (một hiền thần) mà làm bá chủ, còn Thương Tân (tức vua Trụ nhà Thương) dùng Phí Trọng (một nịnh thần) mà bị diệt, hai ông vua đó đều dùng người mình cho là hiền mà kết quả trái ngược nhau. Tử Khoái nước Yên tuy đề cử người ông cho là hiền mà chỉ như dùng người ông yêu thôi. Trường hợp Vệ Linh Công có khác gì vậy? Người hề lùn đó chưa nhận ra được điều ấy. Vua Vệ bị che lấp mà không biết mình bị che lấp, sau khi anh ta nói, vua mới biết rằng mình bị che lấp, cho nên đuổi bọn bề tôi che lấp mình đi, như vậy là thêm sự sáng suốt cho mình rồi. Bảo: “Không thêm sự sáng suốt cho mình, mà để cho người (mình cho là) hiền đứng phía trước che mình thì tất bị nguy” (lời đó đúng); nhưng nay vua Vệ đã thêm sự sáng suốt cho mình rồi, thì dù bị (người mới dùng) che lấp mình, tất không bị nguy nữa.

[1] Sau Dương Hổ qua Triệu, được Triệu Giản chủ trọng dủng. Coi truyện 2c, thiên XXXIII, Ngoại trừ thuyết tả hạ.
[2] [3] Các nhà hiệu chú đều cho rằng phải thêm như vậy mới đủ nghĩa. Coi [3] sẽ thấy.
[4] Coi chú thích thiên VII Nhị kinh – chưa rõ truyện Tử Đô và Khánh Kiến.
[5] Chưa rõ là ai.
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2009-06-26 20:48:30huytran>
THIÊN XXII
THUYẾT LÂM THƯỢNG (Trích)
(RỪNG MƯU MÔ - PHẦN TRÊN) 



Thuyết lâm có thể hiểu là rừng truyện, rừng cố sự; chúng tôi dịch là Rừng mưu mô vì thiên này cũng như thiên sau, (Thuyết lâm hạ), (mà mọi học giả đều nhận là của Hàn Phi) chép toàn những mưu mô của người trước, đa số là chính trị gia, một số ít là người thường. Hàn Phi nhớ đâu chép đấy, không sắp đặt, phân loại, cũng không nhằm mục đích chứng minh học thuyết của ông mà cơ hồ chỉ để tặng các nhà cầm quyền và độc giả của ông một cái “túi thuật” của cổ nhân thôi.
Thiên này gồm 34 truyện, thiên sau gồm 37 truyện, tổng cộng là 71 truyện.[1]
Có một số truyện chép cả,
+ Trong Chiến Quốc sách, như:
Truyện XXII.8 tức truyện Ngụy sách 1.1 (Chiến Quốc sách, Lá Bối 1972)
- XXII 10 - Tống sách -1 nt.
- XXII 13 - Đông Chu sách 10 nt.
- XXII 17 - Sở sách IV 8 nt.
- XXII 22 - Ngụy sách 122 nt.
- XXII 28 – 8 - Ngụy sách 11.13 nt.
- XXII 34 - Tề sách 1.3 nt.
+ Hoặc trong Liệt tử, như: Truyện XXII.31 tức truyện Liệt tử II 16 (Liệt tử - Dương tử - Lá Bối 1972)
- XXII.9 - Liệt tử VIII 24 nt.
Những truyện trùng nhau đó chép gần y hệt nhau, chỉ khác nhau ít chữ, không rõ sách nào chép của sách nào.
Chúng tôi bỏ không dịch lại những truyện đó, trừ truyện XXII.10, và chỉ trích trong thiên này 8 truyện để giới thiệu với độc giả, vì cho cả hai thiên đều không quan trọng, chỉ đáng coi là phần phụ lục thôi. Chúng tôi đánh số từng truyện cho dễ kiếm




1. Thang đã diệt nhà Hạ (vua Kiệt), sợ mang tiếng là tham nên (làm bộ) đem thiên hạ nhường cho (một ẩn sĩ là) Vụ Quang, nhưng sợ Vụ Quang nhận, lại sai người thuyết Vụ Quang: “Thang giết vua mà muốn gieo tiếng xấu cho ông đấy”. Do đó, Vụ Quang nhảy xuống sông tự tử[2].
2. Tần Vô vương bảo Cam Mậu tự lựa lấy cho mình một trong hai chức: “bộc” (một chức hầu cận) hay “hành” (sứ thần). Mạnh Mão khuyên Cam Mậu[3]:
- Ông nên xin làm quan “bộc”. Sở trường của ông là đi sứ. Tuy ông giữ chức “bộc”, nhà vua cũng sẽ sai ông đi sứ; mà ông vừa cầm ấn quan “bộc” vừa làm việc của quan “hành”, như vậy là kiêm cả hai chức.
5. Nước Tấn đánh nước Hình, Tề Hoàn Công muốn cứu; Bão Thúc tâu:[4]
- Còn sớm quá! Nước Hình không mất thì nước Tấn không mệt, Tấn không mệt thì Tề không được trọng. Vả lại cái công cứu một nước nguy không lớn bằng cái đức phục hưng một nước đã mất. Tốt hơn, đại vương nên chậm cứu nước Hình để làm cho nước Tấn mệt, đợi cho Hình mất rồi, phục hưng lại cho; như vậy xét về “thực” là có lợi mà xét về “danh” lại càng tốt.
Hoàn Công không cứu Hình nữa.
10. Tề đánh Tống. Tống sai Tang Tôn tử xuống phía Nam cầu cứu với nước Kinh (Sở). Vua Kinh rất mừng, hứa sẽ tận lực giúp. Tang Tôn tử lo lắng ra về, người đánh xe thấy vậy hỏi:
- Việc cầu cứu có kết quả mà sao ngài lại có vẻ lo lắng?
Tang Tôn tử đáp:
- Tống nhỏ mà Tề lớn. Cứu nước Tống nhỏ mà để cho nước Tề lớn ghét, điều đó ai cũng lấy làm lo mà vua Kinh lại mừng, chắc ông ta (hứa hão) để chúng ta kiên tâm chống cự. Chúng ta kiên tâm chống cự, (Tề?) sẽ mệt; đó là điều có lợi cho Kinh.
Tang Tôn tử về nước. (Quả nhiên) Tề chiếm năm thành của Tống rồi mà Kinh vẫn chưa đem quân cứu.
16. Quản Trọng và Thấp Bằng[5] theo Tề Hoàn Công đi đánh nước Cô Trúc. Mùa xuân đi, mùa Đông về, quên đường lạc lối. Quản Trọng bảo:
- Có thể dùng trí nhớ của con ngựa già được.
Họ bèn thả con ngựa già đi trước rồi theo nó mà tìm được đường về. Tới một chỗ trong núi, thiếu nước, Thấp Bằng bảo:
- Loài kiến, mùa đông ở phía nam của núi (vì có ánh nắng, ấm áp), mùa hè ở phía Bắc của núi (vì có bóng mát). Chỗ nào ổ kiến cao một tấc, đào xuống một nhẫn (8 thước thời đó) thì có nước.
Họ cho đào và được nước.
Quản Trọng là bậc thánh, Thấp Bằng là bậc trí, mà có điều không biết cũng không ngại học con ngựa già và loài kiến. Ngày nay, người ta không biết rằng mình ngu để học cái sáng suốt của thánh nhân, chẳng là lầm lẫn ư?
26. Vua Trụ uống rượu suốt đêm[6], vui say[7] không biết ngày nào nữa, hỏi kẻ tả hữu, không kẻ nào biết, bèn sai người hỏi Cơ tử[8]. Cơ tử nói với môn đồ:
- Làm chúa thiên hạ mà tới nỗi cả nước không ai biết ngày, như vậy thiên hạ nguy rồi. Cả nước không ai biết mà ta biết thì ta cũng nguy rồi.
Rồi ông lấy cớ là say cũng không biết ngày.
30. Thấp Tư Di (một vị quan nước Tề) lại thăm Điền Thành tử[9], Điền Thành tử cùng ông ta lên lầu ngắm cảnh bốn phía. Ba phía đều trống, duy có phía Nam là bị cây nhà Thấp tử che khuất. Điền Thành tử không nói gì. Thấp tử sai người đốn cây đó, mới chặt được vài nhát thì ông ta bảo thôi. Người quản gia hỏi sao đổi ý như vậy. Ông ta đáp:
- Người xưa có ngạn ngữ này: “Biết cá trong vực sâu là điều bất tường”. Họ Điền đương mưu tính đại sự[10] mà tôi tỏ cho ông ta thấy rằng tôi hiểu được ẩn ý của ông thì tôi tất nguy. Không đốn cây này, chưa phải là có tội, mà biết được điều người ta không nói ra mới là tội lớn.
Bèn thôi không đốn cây nữa.
32. Một người nước Vệ gả con gái, dạy nó: “Con phải góp nhặt của riêng, nghen. Làm vợ người ta mà bị đuổi về là chuyện thường; sống với nhau tới già mới là chuyện hiếm có”. Người con nghe lời, gom góp của riêng, mẹ chồng cho là quá lo việc riêng tư, đuổi cô ta về. Lúc về nhà tiền của cô ta gấp bội lúc về nhà chồng. Người cha không tự nhận rằng mình dạy con sai mà còn tự đắc rằng mình khôn, đã làm giàu thêm được. Ngày nay bọn bề tôi làm việc quan đều một loại như vậy.

[1] Vài truyện là ngụ ngôn hoặc danh ngôn.
[2] Truyền thuyết truyền ngôi này không chắc có thực, và được nhiều sách nhắc tới; nhưng chỉ Hàn Phi là cho rằng Thang không thực tâm, chỉ làm bộ nhường thôi và dùng “thuật” đó.
[3] Cam Mậu là tả thừa tướng của Tần Võ Vương, Mạnh Mão làm xá nhân, thuộc quyền Cam Mậu.
[4] Hình là một nước nhỏ ở tỉnh Trực Lệ ngày nay. Bão Thúc là bạn thân của Quản Trọng (Coi tiểu sử Quản Trọng trong phần nhất).
[5] Một bề tôi giỏi của Hoàn Công.
[6] Tương truyền vua Trụ ở trong cung, đóng cửa, đốt đước để dâm lạc, “lấy 120 ngày làm một đêm”, vì vậy mà quên ngày.
[7] Có bản chép là cu (sợ). Chữ cu với chữ hoan (vui) hơi giống nhau.
[8] Cơ tử là chú vua Trụ, can Trụ không được, giả điên, làm tên nô lệ. Chu Võ Vương diệt Trụ rồi, phong ông làm vua Triều Tiên.
[9] Điền Thành tử hay Điền Thành, Điền Thường, Điền Hằng, hay Trần Hằng ở đời Xuân Thu, làm đại phu triều Tề Giản công, giết Giản Công để lập Bình Công. Sau con cháu ông ta cướp ngôi nước Tề.
[10] Ám chỉ việc Điền Thành tử mưu giết Giản Công. Coi thêm chú thích thiên XXXIV, Ngoại trừ thuyết hữu thượng.
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2009-06-27 01:13:35huytran>
THIÊN XXIII
THUYẾT LÂM HẠ (Trích)
(RỪNG MƯU MÔ - PHẦN DƯỚI) 



1.                 Bá Lạc dạy hai người coi tướng những con ngựa hay đá, dắt họ lại chuồng ngựa của Triệu Giản tử. Một người lựa một con ngựa hay đá đưa ra, còn người kia đi theo sau ba lần vỗ vào chỗ xương cụt ở mông của con ngựa, nhưng nó không đá; người lựa ngựa tự cho rằng mình coi tướng ngựa sai. Người kia bảo: “Anh coi không sai đâu, nó hay đá đấy nhưng vai ngắn mà đầu gối sưng. Ngựa khi đá thì cất chân sau lên mà chân trước phải chịu tất cả sức nặng; đầu gối nó sưng thì làm sao chịu được, cho nên chân sau không cất lên được. Anh giỏi coi tướng ngựa nhưng dở coi đầu gối sưng”. Việc gì cũng có lí do, mà chỉ bậc trí giả mới biết rằng đầu gối sưng thì không chịu được sức nặng. Huệ tử[1] bảo: “Nhốt con vượn vào cũi thì nó không khác gì con heo”. Hễ cái thế bất lợi thì không tỏ được khả năng của mình.
2.                  Hoàn Hách[2] nói: “Phép tạc tượng thì mũi nên cho lớn, mắt cho nhỏ vì mũi lớn thì có thể đục lại cho nhỏ, chứ đã nhỏ thì không làm cho lớn lên được; còn mắt nhỏ thì có thể đục lại cho lớn, chứ đã lớn thì không thể làm cho nhỏ lại được”. Làm việc gì khác cũng vậy, hễ việc làm rồi, sau sửa lại được thì ít khi thất bại.
8.                 Quan thái tể nước Tống quyền lớn mà chuyên chính. Quí tử[3] sắp yết kiến vua Tống. Lương tử[4] hay tin bảo Quí tử: “Trong khi hầu chuyện vua, tất phải có quan thái tể cùng ngồi nghe chứ? Nếu không thì ông khó tránh được họa đấy”. Quí tử bèn khuyên vua Tống nên trọng sức khoẻ, đừng quan tâm quá đến việc nước.
16. Ba con bọ chét (sống bám vào con heo) sắp đi kiện nhau. Một con khác đi ngang qua, hỏi: “Kiện nhau về việc gì vậy?” Ba con kia đáp: “Vì tranh nhau chỗ béo bở”. Con thứ tư bảo: “Các anh không lo ngày tế chạp[5] tới, người ta đốt cỏ mao thui con heo ư? Mà còn tranh nhau nữa?” Ba con kia nghe vậy bèn xúm nhau hút máu con heo (cho thật nhiều); con heo gầy đi, khỏi bị giết.
24. Chu Táo hỏi Cung Tha[6]:
- Xin ông vì tôi mà tâu với vua Tề rằng nếu vua Tề giúp tôi làm quan ở Ngụy thì tôi xin làm cho Ngụy sẽ phải thờ Tề.
Cung Tha bảo:
- Không được. Như vậy tỏ rằng ông không có thế lực gì ở Ngụy, vua Tề tất không giúp một người không có thế lực gì ở Ngụy để kết oán với một người khác đã có thế lực ở Ngụy. Tốt hơn ông nên nói: “Nhà vua muốn thì thần xin thuyết nước Ngụy thờ nhà vua”. Như vậy vua Tề cho rằng ông đã có thế lực ở Ngụy, tất ưng ông. Rốt cuộc ông có thế lực ở Tề, rồi nhờ Tề mà có thế lực ở Ngụy nữa.
27. Vua nước Kinh (Sở) đánh nước Ngô. Vua Ngô sai bắt Tư Vệ Quệ Dung[7] khao quân Kinh. Tướng nước Kinh bảo: “Bắt trói hắn lấy máu thoa trống”. (Khi bắt rồi) ông ta hỏi (Tư Vệ Quệ Dung): “Người có bói rồi mới đi không?”
Đáp
- Có
- Quẻ tốt không?
- Tốt
Người nước Kinh hỏi
- Nay Tướng nước Kinh sắp lấy máu chú thoa trống, quẻ tốt ở chỗ nào?
Đáp:
-        Chính vì vậy mà quẻ tốt đấy. Nước Ngô sai người qua đây xem tướng Kinh có giận hay không. Nếu tướng quân giận thì nước Ngô sẽ đào hào cho sâu thêm, đắp lũy cho cao thêm; nếu không giận thì nước Ngô sẽ thủng thẳng. Nay tướng quân giết tôi thì nước Ngô sẽ phòng thủ gắt. Và quẻ đó bói cho cả nước, không phải cho một bề tôi. Giết một bề tôi còn cả nước được bảo tồn, thì sao không gọi là tốt được? Lại thêm, nếu kẻ chết rồi không biết gì nữa thì lấy máu tôi bôi trống có ích gì đâu; nếu chết rồi mà còn biết thì trong khi lâm chiến, tôi sẽ làm cho trống không kêu.
Người Kinh nghe vậy thôi không giết ông ta.
32. Tề đánh Lỗ, đòi cái đỉnh đất Sàm. Lỗ đưa một cái đỉnh giả qua. Người Tề bảo: “Đỉnh đó giả”. Người Lỗ cãi: “Đỉnh đó thật”. Người Tề bảo: “Mời ông Nhạc Chính Tử Xuân[8] sang đây, chúng tôi sẽ tin lời ông ấy”. Vua Lỗ cho mời Nhạc Chính Tử Xuân, ông hỏi: “Sao không dám đưa cái đỉnh thật qua?” Nhà vua bảo: “Ta quí cái đó”. Ông đáp: “Thần cũng quí cái tín nghĩa của thần vậy”.
37. Người nước Trịnh có một cậu con sắp đi xa[9]. Trước khi đi, cậu ta dặn người nhà: “Phải sửa bức tường hư để kẻ bất lương khỏi vô trộm.” Một người hàng xóm cũng nói vậy. Chưa kịp sửa tường thì quả nhiên bị trộm rồi. Người nước Trịnh đó cho con mình là khôn mà ngờ hàng xóm là kẻ trộm.



[1] Tức Huệ Thi, một triết gia đồng thời với Trang tử, làm tướng quốc cho Lương Huệ Vương.
[2] [3] [4] Ba nhân vật: Hoàn Hách, Quí tử, Lương tử này không rõ là ai.
[5] Một ngày tế lễ chư thần trong tiết đông chí.
[6] Chu Táo: chỉ biết là một người nước Ngụy - Cung Tha là một mưu thần nước Tề.
[7] Chỉ biết là bề tôi nước Ngô.
[8] Người nước Lỗ, học trò ông Tăng tử nổi tiếng là hiền sĩ.
[9] Nguyên văn là hoạn. Có sách giảng là đi làm quan, hoặc đi du học. Truyện này trong thiên Thuế nạn chép là người nước Tống.
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2009-06-24 23:40:22huytran>
THIÊN XI
VẤN BIỆN.

(HỎI VỀ SỰ TRANH BIỆN)


Có người hỏi:
-        Do đâu mà có sự tranh biện?
Đáp:
-        Do bề trên (vua chúa) không sáng suốt.
Lại hỏi:
-          Tại sao bề trên không sáng suốt mà lại sinh ra tranh biện?
Đáp:
-                      Trong nước của một vị minh quân thì lệnh là lời nói rất quí, pháp luật là rất thích đáng. Lời không thể có hai cùng quí[1], pháp luật không thể có hai cùng thích đáng. Cho nên lời nói và việc làm mà không theo pháp lệnh thì phải cấm. Nếu có người nào (bảo) không theo pháp lệnh mà có thể đối phó với sự gian trá, thích ứng với sự biến động, mưu lợi, dò đoán được sự tình thì bậc vua chúa nên thu nạp lời người đó mà xét xem có thực tế không. Lời nói của họ mà thích đáng thì thưởng lớn,[2] không thích đáng thì phạt nặng. Như vậy người ngu sợ tội mà không dám nói (bậy), người thông minh không cãi lí, do đó mà không có sự tranh biện. Đời loạn thì không vậy. Vua ban lệnh mà dân lấy văn học để chê bai, công sở có pháp luật mà dân lấy hành động riêng để sửa pháp luật theo ý mình; vua làm loạn pháp lệnh mà trọng trí lược, hành vi của bọn học giả, vì vậy mới có nhiều văn học. Phàm lời nói và hành vi phải lấy công dụng làm tiêu chuẩn. Mài mũi tên cho thật bén rồi lấy bắn càn thì thế nào mũi tên cũng trúng một sợi lông mùa thu (lông tơ), nhưng như vậy không thể bảo là bắn giỏi được, vì không có cái đích nhất định. Đặt một cái đích rộng năm tấc, đứng cách xa trăm bước thì nếu không phải là Nghệ và Phùng Mông[3] tất bắn không trúng được, vì phải nhắm một cái đích nhất định. Cho nên nhắm đích nhất định, thì đích rộng tới năm tấc mà bắn được như Nghệ và Phùng Mông đã là khéo rồi; không có đích nhất định mà bắn càn thì dù trúng mười cái lông mùa thu cũng là vụng. Nay nghe lời nói, xét hành vi (của ai) mà không lấy công dụng làm tiêu chuẩn thì lời tuy rất tinh thâm, hành vi tuy rất kiên cường, cũng chỉ là lời nói càn (việc làm càn) thôi. Cho nên thời loạn thì người ta cho lời khó hiểu là tinh thâm, cho sự uyên bác là hùng biện; xét hành vi thì người ta cho sự xa rời quần chúng là hiền minh, cho sự phạm thượng là cao ngạo. Bậc vua chúa thích lời tinh thâm, hùng biện, trọng hành vi hiền minh, cao ngạo, cho nên tuy có người lập ra pháp luật, định hành vi nào nên giữ nên bỏ, phân biệt lời nào phải lời nào trái, (tới chỗ này chắc sắp chữ thiếu?) nên kẻ mặc áo nhà Nho và bọn đeo kiếm (hiệp khách) mới đông, nông phu và chiến sĩ mới ít, lời luận về “chắc, trắng”, “không có chiều dầy"[4] mới nổi lên mạnh, mà pháp lệnh của quốc gia không còn. Vì vậy mà tôi bảo rằng bề trên không sáng suốt thì sinh ra tranh biện.
 

[1] Nghĩa là về một việc đã ra lệnh thì phải theo, chứ không thể vừa theo lệnh đó vừa theo một mệnh lệnh ngược hoặc khác hẳn.
[2] Nguyên văn: hữu đại lợi = có lợi lớn (cho người nói), tức là người đó sẽ được thưởng.
[3] Hai người bắn giỏi thời xưa – Phùng Mông là học trò của Nghệ. Nhiều người đọc là Bàng Mông hoặc Bồng Mông, nhưng lối đọc này bị các học giả Nhân Sư Cổ và Nguyễn Nguyên bác.
[4] )   Công Tôn Long tách rời cái cứng và cái trắng (li kiên bạch) Như phiến đá trắng, lúc thì ta thấy nó trắng mà không thấy nó chắc, lúc thì thấy nó chắc mà không thấy nó trắng, thấy cái nọ, không thấy cái kia, như vậy là cái nọ lìa cái kia, không chứa cái kia.
Huệ Thi bảo: cái không có chiều dày thì không chồng chất lên được, vậy mà nó lớn tới ngàn dặm (vô hậu, bất khả tích dã, kì đại thiên lí).
Coi thiên Thiên hạ trong Trang tử. Không rõ Huệ Thi (một nhà ngụy biện cũng như Công Tôn Long) muốn nói gì. Có người không chấm câu sau chữ hậu và giảng là: không có cái gì có chiều dày mà không chồng chất lên được, chất hoài nó sẽ lớn tới ngàn dặm.
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2009-06-26 21:09:55huytran>
THIÊN XII

THUẾ NẠN

(DU THUYẾT KHÓ)



1.      Du thuyết khó ở chỗ hiểu được tâm lý đối phương[1]
Du thuyết khó, nhưng không khó ở chỗ trí thức của ta đủ thuyết phục được vua chúa hay không, cũng không khó ở chỗ khẩu tài của ta phát biểu được rõ ý của ta hay không, cũng không khó ở chỗ ta dám tung hoành phóng dật diễn hết ý của ta hay không, mà khó ở chỗ hiểu được tâm lí đối phương để cho lời chúng ta hợp với tình ý của họ. Như đối phương nghĩ tới danh dự thanh cao mà ta đem tài lợi ra thuyết thì tất họ cho ta là bỉ lậu, tư cách đê hèn mà không dùng ta, xa lánh ta. Nếu đối phương nghĩ tới tài lợi mà ta đem danh dự thanh cao thuyết thì họ cho ta là không biết thời thế, không hiểu sát sự tình, tất không thu dụng ta. Đối phương trong lòng thích tài lợi mà ngoài mặt bộ thích danh dự cao, nếu ta đem danh dự thanh cao ra thuyết thì bề ngoài họ thu dụng ta mà thực tâm xa lánh ta; nếu ta đem tài lợi ra thuyết thì bề trong họ dùng lời ta mà bề ngoài xa lánh ta. Những điều đó không thể không xét được.



2.      Những điều nên tránh để khỏi nguy hiểm tới thân.
Việc làm phải kín đáo mới thành công, lời nói vì tiết lậu mà thất bại. Không nhất định là mình có ý tiết lậu ra, có khi chỉ vì vô tình nói đến điều đối phương muốn giấu mà thân cũng nguy rồi. Đối phương bề ngoài làm việc đó mà thực sự nhắm mục đích khác, kẻ du thuyết không những biết việc mưu tính của họ lại còn biết họ vì lẽ gì mà làm như vậy, thế là thân sẽ nguy. Mình giúp họ lập kế hoạch về một việc đặc biệt nào đó mà thỏa đáng, có kẻ thông minh ở ngoài dò xét biết được, việc tiết lậu ra, họ sẽ cho là chính mình tiết lậu, như vậy thân sẽ nguy. Tình chưa thân, ân huệ chưa thấm nhuần, mà nói hết ra như chỗ cực thân với nhau, nếu ý kiến của mình được thi hành mà thành công thì rồi mình cũng bị quên; còn nếu như ý kiến của mình thi hành không được mà thất bại thì sẽ bị nghi, như vậy thân sẽ nguy. Bậc quí nhân có điều lầm lỗi mà kẻ du thuyết đem lễ nghĩa ra bàn để che cái ác của họ, như vậy thân sẽ nguy. Bậc quý nhân được người ta bày cho một mưu kế nào mà thích, coi đó là công của mình, kẻ du thuyết biết rõ đầu đuôi, như vậy thân sẽ nguy. Ép buộc họ làm một việc mà họ không làm được, ngăn cản không cho họ làm một việc mà họ không thể không làm, như vậy thân sẽ nguy. Cùng phê bình với họ về các đại thần của họ thì họ cho là mình có lòng li gián bọn họ với nhau; cùng phê bình với họ về hạng quan nhỏ của họ thì họ cho rằng mình được yêu mà lộng quyền. Phê bình những người họ yêu thì họ cho rằng mình muốn nhờ cậy bọn đó; phê bình những kẻ họ ghét thì họ cho rằng mình muốn dò xét lòng họ. Lời của mình thẳng tuột mà vắn tắt thì họ cho là mình bất trí, vụng về; còn như mình biện bác tế toái thì họ cho là mình rườm rà, tô điểm. Bày tỏ sự tình, ý kiến một cách sơ lược thì họ bảo mình nhút nhát, không dám nói hết; suy xét kỹ sự tình và trình bày một cách phóng túng thì họ bảo mình lỗ mãng, khinh mạn. Đó là những chỗ khó khăn trong sự du thuyết, không thể không biết được.

3.      Những thuật để thành công.
Điều cốt yếu của phép du thuyết là biết tô điểm cái mà đối phương khoe khoang tự phụ và che giấu cái đối phương lấy làm hổ thẹn. Họ gấp muốn làm một việc thì phải thuyết sao cho việc riêng đó thành ra nghĩa chung mà khuyến khích họ làm. Trong ý họ, họ cho việc đó là đê hèn nhưng không thể không làm được thì kẻ du thuyết phải tô điểm sao cho việc đó hóa ra đẹp đẽ, nếu không làm thì đáng tiếc. Trong lòng họ cho việc đó là cao thượng nhưng thực tế họ không làm được, kẻ du thuyết phải vạch rõ chỗ hỏng của việc (cho?) họ thấy nó xấu, rồi khen rằng không làm là sáng suốt. Họ muốn khoe trí thì kể cho họ nghe nhiều việc khác đồng loại với việc họ định làm để họ tham khảo được rộng, khiến cho họ dùng kiến nghị của ta mà ta cứ giả đò như không biết, để họ không ngờ rằng mình đã mở trí cho họ. Muốn dâng cái ý rằng đôi bên (họ và người khác) nên chung sống với nhau thì phải khen rằng hành động như vậy sẽ được tiếng tốt mà đồng thời ám chỉ rằng cũng hợp với tư lợi của họ nữa; muốn bày tỏ sự nguy hại thì cho họ thấy rằng như vậy sẽ bị phỉ báng mà đồng thời ám chỉ rằng có hại riêng cho họ nữa. Nên khen những người hành vi giống hành vi của họ, mưu tính những việc giống việc của họ.  Nếu có kẻ nào cũng dơ dáy như họ thì nên tô điểm cho là không có gì thương phong bại tục; có kẻ nào cũng thất loại như họ thì nên tỏ rõ rằng kẻ đó không hề lầm lẫn. Nếu họ tự nhận rằng năng lực dồi dào thì đừng đem những nỗi khó khăn ra làm nhụt chí của họ;[2] nếu họ tự cho là quyết đoán hơn người thì đừng vạch những lầm lẫn của họ cho họ giận, nếu họ cho rằng mưu tính sáng suốt thì đừng đem sự thất bại ra nén lòng họ. Đừng trái với chủ ý của họ, đừng xung đột trong lời nói với họ, như vậy rồi mới đem hết tài trí ra trần thuyết. Đó là cái phép làm cho họ thân cận, không hoài nghi, rồi mới có thể hết lời thuyết phục họ được.
Y Doãn làm đầu bếp, Bách Lí Hề[3] làm tôi mọi, đều là vì muốn bề trên biết tới mình. Hai ông đó đều là bậc thánh mà còn làm những việc ti tiện để cầu tiến thân, xấu xa như vậy đó. Nay ta làm tên đầu bếp hay kẻ tôi mọi mà có thể được vua chúa lắng nghe lời ta, dùng mưu ta để cứu đời thì có gì đáng xấu hổ cho hạng sĩ có tài năng đâu. Trên dưới ở gần nhau đã lâu ngày, tình đã thân thiết mà ân trạch đã thấm nhuần, bàn những kế hoạch sâu sắc mà không bị nghi ngờ, tranh biện mà không bị tội, lúc đó ta mới có thể phân tích lợi hại để lập sự nghiệp cho vua, nói thẳng điều phải trái để sửa đức hạnh của vua; vua tôi đối đãi với nhau được như vậy là ta thành công trong sự du thuyết.

4.      Dẫn cố sự để chứng minh.
Xưa kia Trịnh Vũ Công muốn đánh nước Hồ, mới đầu đem con gái gả cho vua Hồ để làm cho vua Hồ vui lòng. Rồi hỏi quần thần: “Trẫm muốn dùng binh thì nước nào nên đánh?” Quan đại phu là Quan Kỳ Tư bảo: “Nên đánh nước Hồ”. Vũ Công giận, sai đem giết Quan Kỳ Tư, bảo: “Hồ là nước anh em, sao nhà ngươi lại bảo nên đánh?” Vua Hồ nghe chuyện đó, cho là nước Trịnh thân với mình, không đề phòng, quân Trịnh đánh úp mà chiếm được.
Nước Tống có một nhà giàu, trời mưa, tường đổ. Người con nói” “Không xây lại thì sẽ bị trộm”. Cha người hàng xóm cũng nói như vậy. Tối, quả nhiên mất trộm lớn; người trong nhà rất khen người con là khôn ngoan mà nghi cha người hàng xóm.
Lời hai người đó nói đều đúng cả mà nặng (Quan Kỳ Tư) thì bị giết, nhẹ (cha người hàng xóm) thì bị nghi, vậy đủ thấy: biết không phải là khó, biết dùng cái biết mới khó. Cho nên lời đoán của Nhiễu Triều[4] rất xác đáng, người nước Tống coi ông là bậc thánh mà người nước Tần coi ông là vô dụng[5]. Điều đó không thể không xét được.

5.      Phải xem vua yêu hay ghét mình; đừng làm trái ý vua.
Xưa Di Tử Hà được vua Vệ yêu. Theo phép nước Vệ, hễ lén đánh xe của vua thì bị tội chặt chân. Mẹ Di Tử Hà đau, có người hay tin, đương đêm báo cho Di Tử Hà; Di Tử Hà truyền lệnh giả rồi ngồi xe vua ra khỏi cung. Vua hay được khen: “Thực có hiếu, vì mẹ mà quên tội chặt chân”. Một hôm khác, Di Tử Hà cùng dạo trong vườn với vua, ăn một trái đào, thấy ngọt, lấy nửa trái đào ăn dở đút cho vua. Vua bảo: “Thực là yêu ta. Quên miếng ngon mà đút cho ta”. Đến khi dung nhan Di Tử Hà suy kém, tình yêu của vua lơi là, có tội với vua, vua bảo: “Nó đã tự tiện lên ngồi xe của ta, lại đút cho ta trái đào nó ăn dở”. Hành vi của Di Tử Hà có thay đổi gì đâu mà trước thì được khen, sau lại bắt tội, chỉ tại lòng yêu ghét đã thay đổi vậy. Cho nên được vua yêu thì tài trí hóa ra hợp ý, bị vua ghét thì tài trí hóa ra không hợp ý, bị tội mà càng hóa sợ. Cho nên kẻ sĩ can gián, du thuyết, đàm luận, không thể không xét vua chúa yêu hay ghét mình rồi sau mới nên thuyết.
Rồng là con vật thuần, có thể lấn lớn mà cưỡi, nhưng dưới họng nó có những vẩy ngược chu vi rộng cả thước, ai mà đụng tới thì nó sẽ giết. Bậc vua chúa cũng có những vẩy ngược, kẻ du thuyết mà biết đừng đụng tới thì là tạm được rồi. 

[1] Chúng tôi chia đoạn, đánh số và đặt tiêu đề cho mỗi đoạn. Thiên này chúng tôi đã dịch trong Cổ văn Trung Quốc (Tao đàn 1966) nay sửa lại vài chỗ.
[2] Nguyên văn: khái (概) là cái ống để gạt thóc, sau trỏ công việc gạt thóc, do đó có nghĩa là làm cho vơi đi.
[3] Y Doãn là một tể tướng giỏi đời Thương, có công đánh vua Kiệt, hồi trẻ nghèo, muốn được tiến cử lên vua Thương, phải xin làm đầu bếp đem phép gia vị trong thuật nấu ăn để giảng cho vua Thang hiểu về vương đạo. Đó chỉ là truyền thuyết, chưa đáng tin.
Bách Lí Hề là một vị tể tướng giỏi nhà Tần. Trước làm đại phu nước Ngu, ông bị bắt làm tù binh, sau trốn được, bị nước Sở bắt phải làm đầy tớ chăn bò. Tần Mục công đem năm bộ da dê chuộc ông, giao cho việc nước. Vậy ông vì hoàn cảnh mà phải chăn bò chứ không cố ý chăn trâu bò để cầu cạnh vua Tần biết đến. Tác giả dẫn thí dụ đó hơi ép.
[4] Nhiễu Triều là một đại phu nước Tần. Một vị công khanh nước Tấn tên là Sĩ Hội trốn qua Tần, được Tần Mục Công trọng: nước Tấn thấy vậy sai người lén qua Tần thuyết phục Sĩ Hội và đón Sĩ Hội về. Nhiễu Triều biết trước việc đó, can vua Tần, vua Tần không nghe.
[5] Chữ lục (戮) (giết) ở đây, (vi lục ư Tần) theo Cổ kim văn tuyển, nên coi là chữ nhục, có nghĩa là bị nhục không được vua Tần tin dùng.
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2009-06-24 23:38:45huytran>
THIÊN III

NẠN NGÔN

(KHÓ NÓI)


Thần là Phi, không phải là khó nói. Sở dĩ khó nói là vì: lời nói xuôi tai, thân mật, hoạt bát, trơn tru đẹp đẽ, có thứ tự thì bị xem là hoa mĩ, không thành thực; lời nói đôn hậu, cung kính, cương trực, cố chấp thận trọng, chu đáo thì bị xem là vụng về, mà lộn xộn; nói nhiều mà tường tận dẫn chứng, so sánh đưa tỉ dụ bị xem là trống rỗng, vô dụng; lời nói tóm tắt, giản lược, trình những phép chính mà không tô điểm thì bị xem là khái quát không rõ ràng; lời nói đụng chạm tới người thân cận của vua và thấu đáo nhân tình thì bị xem là lấn người, không khiêm nhượng; lời nói mênh mông, quảng bác xa xôi, khó lường thì bị xem là khoe khoang, vô dụng; nói những chuyện vặt trong nhà, đưa cả những con số ra thì thì bị xem là bỉ lậu; nói mà hợp thế tục, tránh xa không làm phật ý người thì bị xem là tham sống, nịnh bề trên, nói mà khác thế tục, không cận nhân tình thì bị xem là quái đản; lời nói mẫn tiệp, hùng hồn nhiều văn vẻ thì bị xem là tô điểm, không thành thật; bỏ hết văn hoa, cái chất phác nói thẳng sự việc ra thì bị xem là quê mùa; thường dẫn thi thơ kinh điển, kể những phép tắc thời xưa thì bị xem là chỉ biết tụng sách cổ. Đó là những lẽ làm cho thần là Phi khó nói mà rất sợ sệt. Cho nên đồ đo lường tuy đúng vị tất đã được theo, nghĩa lý tuy hoàn bị, vị tất đã được dùng. Nếu đại vương không tin lời thần muốn nói thì (xin xem người đời xưa can vua), tội nhẹ thì bị hủy báng mà tội nặng thì bị họa chết chóc đến mình[1].
(Chúng tôi cắt bỏ đoạn giữa Hàn Phi dẫn chứng hơn một chục cổ nhân – như Ngũ Tử Tư, Khổng Tử, Quản Trọng, Y Doãn, Văn Vương, Tỉ Can, Tôn Tử, Ngô Khởi, Thương Ưởng….đều là “bậc hiền tài, trung lương, có đạo thuật, vì chẳng may gặp một ông vua hung bạo, hôn ám mà phải chết” Cuối cùng Hàn Phi kết luận:)
Vậy tuy là hiền thánh cũng không thoát chết, không tránh khỏi bị lăng nhục. Tại sao vậy? Tại khó thuyết phục được kẻ ngu.[2] Lời nói phải thì trái tai, phật ý, không phải là hiền nhân, thánh nhân thì không chấp nhận được. Xin đại vương xét kỹ cho.


Nhận định : Vì đoạn cuối có câu “Tại khó thuyết phục được kẻ ngu” nên nhiều học giả ngờ rằng thiên này không phải là một bài biểu do Hàn Phi viết, mà do người sau ngụy tạo. Nhưng có nhà như Léon Vandermeersch (trong sách đã dẫn, trang 183) lại bảo chính giọng phạm thượng đó chứng tỏ rằng thiên đó của Hàn Phi, chứ nếu người sau viết thì tất không dám cho Hàn Phi mạt sát vua là “kẻ ngu” như vậy. Và ông đoán rằng bài biểu đó không phải để dâng lên vua Hàn, mà để gởi Tần Thủy Hoàng khi Hàn Phi biết chắc rằng mình không thoát chết, chẳng cần giữ ý nữa. Chúng tôi ghi lại cả hai ý kiến. Thực hư ra sao, chưa dám quyết đoán.

[1] Nguyên văn: Đại vương nhược dĩ thử bất tín, tắc tiểu giả dĩ vi hủy, tỉ phỉ báng, đại giả hoạn họa tai hại tử vong cập kì thân. Có sách giảng là: nếu đại vương không tin lời người nói thì người nói ít ra cũng bị cho là có ý hủy báng, nhiều hơn thì bị tai họa chết chóc đến mình.
[2] Ở đây có bản thêm 6 chữ: cố quân tử bát thiểu dã; ngờ rằng sai.
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2009-06-26 21:15:25huytran>
THIÊN XI

CÔ PHẪN

( NỖI UẤT CÔ ĐƠN )

Kẻ sĩ biết thuật[1] tất nhìn xa, xét rõ; không xét rõ thì không thấu được tư tâm của kẻ khác. Kẻ sĩ giỏi pháp độ tất cương nghị mà ngay thẳng, không ngay thẳng thì không hiểu chính được kẻ gian. Bề tôi nào cứ tuân lệnh (vua) mà làm, theo pháp luật mà thi hành chức vụ thì không gọi là “trọng nhân”[2]. Kẻ nào không có lệnh (vua) mà tự chuyên, làm trái pháp luật để lợi cho mình, làm hao tốn của nước để ích cho nhà, dùng khí lực khiến được vua theo mình, như vậy mới là trọng nhân. Kẻ sĩ biết thuật, xét rõ mà được dùng thì thấu được tình mờ ám của trọng nhân. Kẻ sĩ giỏi pháp độ, ngay thẳng mà được dùng thì kiểu chứng được hành vi gian tà của trọng nhân. Cho nên kẻ sĩ biết thuật, giỏi pháp độ mà được dùng thì hạng bề tôi tôn quí tất bị gạt ra ngoài,[3] thành thử họ với bọn cầm quyền thù nhau đến một mất một còn.
Bọn cầm quyền mà nắm sự thưởng phạt thì chư hầu ở ngoài và bách quan trong triều đều bị họ sai khiến. Chư hầu không nương tựa vào họ thì việc không thành, cho nên địch quốc ca tụng họ; bách quan không nhờ cậy họ thì công nghiệp không tiến, cho nên quần thần bị họ sai khiến; kẻ tả hữu của vua không nhờ cậy họ thì không được gần vua, cho nên che giấu lỗi của họ; hạng học sĩ không nhờ cậy họ thì lộc ít, lễ thấp[4], cho nên nói tốt cho họ. Bọn gian thần nhờ bốn sự yểm trợ đó (của chư hầu, quần thần, kẻ thù của nhà vua, các học sĩ) mà tự tô điểm cho chúng. Bọn trọng nhân không thể trung với chúa mà tiến cử kẻ thù (tức các kẻ sĩ có pháp thuật), các vua chúa không vượt được bốn sự yểm trợ trên mà xét rõ bọn gian thần, cho nên vua chúa bị che lấp thì đại thần càng quyền cao chức trọng. Bọn đại thần đương cầm quyền, ít khi không được tin yêu, lại được vua biết từ lâu, cho nên đón được ý vua, vua thích hay ghét cái gì họ cũng thích, ghét cái đó, nhờ vậy mà tiến thân. Quan tước cao quí mà bè đảng lại đông nên được cả nước khen. Còn kẻ sĩ giỏi pháp thuật có muốn yết kiến vua thì lại thiếu tình thân yêu tin cậy, không được cái may mắn được vua biết từ lâu, mà lại đem lời pháp thuật ra kiểu chính lòng vua, tất làm trái ý vua. Địa vị họ đã thấp, lại không bè đảng nên bị cô lập. Họ là kẻ sơ tình mà muốn tranh với kẻ thân cận của vua, tất nhiên là không thắng được; họ mới tới mà muốn tranh với kẻ quen biết từ lâu, tất nhiên là không thắng được; họ làm trái ý vua mà muốn tranh với kẻ chiều ý vua, tất nhiên là không thắng được; họ ở địa vị thấp hèn mà muốn tranh với kẻ cao quí, tất nhiên là không thắng được; họ chỉ có một miệng mà muốn tranh với cả nước, tất nhiên là không thắng được. Kẻ sĩ giỏi pháp thuật ở vào năm cái thế không thắng được đó nên có đợi mấy năm nữa cũng không được yết kiến vua, còn bọn đương cầm quyền thừa năm cái thế thắng được kia mà sớm chiều trình bày trước mặt vua, như vậy thì kẻ sĩ giỏi pháp thuật do đường nào mà được tiến cử, còn vua chúa biết bao giờ mới được giác ngộ? Thế đã không thắng được vua mà lại không sống chung được (với bọn trọng nhân); tất có kẻ mất người còn, kẻ sĩ giỏi pháp thuật làm sao khỏi bị nguy? Bọn trọng nhân nếu có vu tội lỗi cho ai thì sẽ dùng phép công mà giết người đó; không thể vu được thì sai người ám sát[5]. Tóm lại, làm sáng tỏ pháp luật là trái ý vua chúa, nếu không bị quan giết thì tất cũng chết vì bị ám sát.
Những kẻ lập bè đảng vào hùa với nhau để che lấp vua, nói những lời trái pháp luật để mưu tư lợi thì tất được bọn trọng nhân tin dùng; ai có thể gán cho công lao thì trọng nhân sẽ tặng cho quan tước cao sang, ai có thể gán cho tiếng tốt thì mượn thế nước ngoài mà cho được quí trọng. Vậy che lấp vua mà hùa theo một họ riêng (trỏ bọn đại thần tự chuyên) thì nếu không được chức tước vinh hiển, cũng được quí trọng nhờ thế nước ngoài. Nay các vua chúa không dùng cách tham nghiệm[6] mà trừng phạt, không đợi thấy công lao rồi mới ban tước lộc, thì kẻ sĩ biết pháp thuật làm sao dám liều chết mà đưa ý kiến, bọn gian thần làm sao chịu bỏ tư lợi mà rút lui? Thành thử vua chúa càng mất địa vị còn các họ riêng càng được tôn quí. Nước Việt tuy giàu, mạnh, mà các vua Trung nguyên (như Chu, Tề, Lỗ…) đều cho là vô ích cho mình, bảo : “Nước đó (ở xa) ta không chế ngự được” (có ích lợi gì cho ta đâu). Nay bậc làm vua một nước đất rộng dân đông, mà bị đại thần chuyên quyền che lấp thì nước đó cũng như nước Việt vậy (vô ích cho vua). Nước Việt, mình không chế ngự được, mà nước mình, mình cũng không chế ngự được, đó là chỗ giống nhau; vậy mà nước Việt thì mình biết là vô ích cho mình, còn nước mình thì mình lại không biết vậy, thế là không biết xét sự giống nhau ở đâu[7]. Người ta bảo nước Tề mất, không phải vì đất và thành mất, mà vì họ Lữ mất quyền mà quyền về họ Điền hết[8]. Người ta bảo nước Tấn mất cũng không phải vì đất và thành mất, mà vì họ Cơ[9] mất quyền mà sáu quan khanh chuyên quyền. Nay đại thần cầm quyền độc đoán mà chúa ở trên không biết thâu quyền lại, tức là không sáng suốt. Mắc cùng bệnh với một người chết thì không sao sống được; cùng có những hành vi với một nước mất thì nước cũng không sao còn được. Theo dấu vết của Tề, Tấn mà mong cho nước yên ổn tồn tại, là điều không thể được.
Pháp và thuật khó thi hành được, không phải chỉ những nước vạn cỗ xe (nước lớn) mới vậy, mà các nước ngàn cỗ xe (nước nhỏ) cũng vậy. Kẻ tả hữu của bậc vua chúa không nhất định là người trí; bậc vua chúa nghe lời được hay của người trí, rồi đem lời đó bàn với kẻ tả hữu, như vậy là cùng với người ngu luận về người trí[10]; bậc vua chúa thấy hành vi của người hiền mà trọng, rồi đem hành vi đó bàn với kẻ tả hữu, như vậy là cùng với kẻ càn dở luận về người hiền. Kế hoạch của người trí phải do người ngu quyết định, hành vi của người hiền phải do kẻ gàn dở phê phán, thì kẻ sĩ trí mưu và hiền lấy làm xấu hổ mà lời bàn của bậc vua chúa sai lầm hết. Bề tôi mà muốn được làm quan, thì hạng sĩ có đức hạnh phải sửa mình cho liêm khiết, hạng sĩ có trí mưu phải luyện tài biện luận để tiến nghiệp, chứ không thể dùng của cải đút lót và thờ người; chỉ trông vào đức liêm khiết, tài biện luận của mình, mà lại không chịu bẻ cong pháp luật để trị nước, như vậy không thể thờ kẻ tả hữu của vua chúa, không thỏa mãn yêu cầu của chúng được. Bọn tả hữu có đức không được như Bá Di[11], yêu sách (kẻ sĩ) không được, không được (kẻ sĩ) đút lót, tất không kể gì tới công sửa mình cho liêm khiết, luyện tài biện luận cho hơn người của kẻ sĩ mà chỉ hủy báng, vu oan cho họ thôi. Thế là cái công luyện tài biện luận hóa công toi, cái đức liêm khiết bị hủy báng, rốt cuộc kẻ sĩ hiền, trí bị bỏ rơi mà sự sáng suốt của vua chúa bị che lấp. Không xét công lao nhiều ít mà phán đoán về tài trí, đức hạnh, không dùng cách khảo nghiệm để thẩm xét tội lỗi, chỉ nghe lời kẻ tả hữu thân cận, như vậy, triều đình tất đầy kẻ bất tài mà bọn ngu xuẩn tham ô nắm hết các chức vụ. Mối lo của nước có vạn cỗ xe là đại thần có quyền lớn quá; mối lo của nước có ngàn cỗ xe là kẻ tả hữu được tin dùng quá; đó là những mối lo chung của các bậc vua chúa. (Tới nông nỗi đó thì) bề tôi có tội nặng của bề tôi mà vua chúa cũng có lỗi lớn của vua chúa.

Cái lợi của vua chúa và bề tôi vốn khác nhau. Sao biết được điều ấy? Đáp: Cái lợi của vua chúa ở chỗ kẻ nào có tài thì giao cho quan chức, còn cái lợi của bề tôi ở chỗ mình vô tài mà được làm quan; cái lợi của vua chúa ở chỗ ai có công lao thì mới thưởng cho tước lộc, còn cái lợi của bề tôi ở chỗ mình không có công mà cũng được giàu sang; cái lợi của vua chúa ở chỗ khiến cho hào kiệt trổ hết tài năng, còn cái lợi của bề tôi ở chỗ kết bè đảng mà mưu tư lợi. Do đó mà đất đai của nước bị tước lần đi[12] mà tư gia cứ giàu thêm, vua chúa mạt địa vị mà quyền của đại thần mạnh lên; vua thất thế mà bề tôi nắm quyền trong nước, vua phải xưng là phiên thần[13] cho nước ngoài mà tướng quốc thì chẻ phù[14] (ra lệnh cho quần thần), như vậy là bề tôi lừa vua để mưu lợi riêng cho mình. Cho nên đại thần cầm quyền, một khi vua có sự thay đổi[15] mà còn được sủng ái như trước thì mười người không chắc được hai ba. Tại sao vậy? Tại tội của họ lớn quá. Bề tôi có tội lớn, lừa gạt chúa, tội đó đáng chết. Kẻ sĩ có trí, thấy xa, sợ tội chết nên không theo chúng. Kẻ sĩ có đức, liêm khiết, cho sự vào bè với gian thần là xấu hổ, nên không theo chúng. Vậy kẻ đi theo bọn đại thần đương cầm quyền, nếu không phải là ngu xuẩn, không sợ chết thì tất là tham ô không tránh bọn gian. Bọn đại thần nắm hạng người ngu xuẩn tham ô đó để trên thì gạt chúa, dưới thì thu lợi, vơ vét của dân[16], kết bè đảng, vào hùa nhau, trăm miệng như một làm mê hoặc chúa, bại hoại pháp luật để loạn sĩ dân, khiến cho nước suy vong, mất lần đất đai, chúa bị hao tổn, nhục nhã, tội đó lớn lắm. Bề tôi có tội lớn mà vua chúa không cấm được, cũng là có lỗi lớn. Khiến cho ở trên vua có lỗi lớn, như vậy mà mong nước không bị diệt vong, là điều không thể được.

[1] Nguyên văn là tri (知) thuật chi sĩ, có sách đọc là trí thuật; chúng tôi nghĩ nên đọc là tri để ứng với năng (năng pháp chi sĩ) ở dưới. Cả hai đều là động từ hết.
[2] Hạng quý tộc quyền cao chức trọng thủ cựu, chỉ nghĩ tới tư lợi.
[3] Nguyên văn: tại thằng chi ngoại = phần ở ngoài lằn dây mực tức phần phải đẽo hoặc cưa bỏ đi.
[4] Nguyên văn: lễ ti, có sách giảng là không được thấy (dự) những lễ lớn; ý nói là không được trọng vọng.
[5] Nguyên văn: dĩ tư kiếm nhi, cùng chi = mượn cây kiếm riêng mà trừ đi, tức là dùng thích khách để trừ.
[6] Xét mọi mặt xem có hợp nhau không rồi mới quyết đoán.
[7] Câu này chúng tôi lấy ý mà dịch.
[8] Họ Lữ đây là hậu duệ của Lữ Vọng, được phong làm vua nước Tề. Họ Điền làm đại thần ở Tề, sau cướp ngôi Tề. Coi chú thích thiên Ngũ đố.
[9] Họ Cơ là họ vua Chu và một số vua chư hầu: Lỗ, Tấn, Trịnh.
[10] Chỗ này chắc thiếu một câu: Kẻ tả hữu của bậc vua chúa không nhất định là người hiền.
[11] Một ẩn sĩ liêm khiết đời Chu: Coi truyện Bá Di trong Sử kí của Tư Mã Thiên – Văn Học tái bản 1994.
[12] Vì gian thần cấu kết với nước ngoài, khuyên vua cắt đất để thờ nước ngoài.
[13] Nước nhỏ chịu lệ thuộc nước lớn, tức như thuộc địa của nước lớn.
[14] Phù là thẻ tre (hay gỗ) để làm tin. Ghi hiệu lệnh trên thẻ đó rồi chẻ làm hai, một nửa giao cho kẻ thừa hành, một nửa thì mình giữ lại.
[15] Như khi vua chết hoặc bị tiếm ngôi. Có sách giảng là khi vua thay đổi chính sách. Trường hợp này có thể có, nhưng rất hiếm.
[16] Nguyên văn: xâm ngư, nghĩa là xâm đoạt như bủa lưới bắt cá
0
THIÊN XIII
HÒA THỊ
(HỌ HÒA) 



Người nước Sở là ( Biện) Hòa tìm được trong núi Sở một khối ngọc sống, đem dâng vua Lệ vương[1]. Lệ vương sai thợ ngọc xem. Thợ ngọc bảo chỉ là một cục đá. Lệ vương cho (Biện) Hòa là nói láo, ra lệnh chặt chân trái ông ta. Khi Lê vương mất, Võ vương[2] nối ngôi, (Biện) Hòa lại dâng ngọc lên. Võ vương lại sai thợ ngọc xem, thợ ngọc lại bảo chỉ là đá. Võ vương lại cho là Biện Hòa nói láo, ra lệnh chặt chân phải ông ta, Võ vương chết, Văn vương[3] lên nối ngôi, (Biện) Hòa ôm khối ngọc mà khóc ở chân núi Sở ba ngày đêm, hết nước mắt thì khóc ra máu. Văn vương hay tin, sai người hỏi nguyên do :
- Trong thiên hạ có nhiều người bị chặt chân, sao mà riêng ông khóc lóc bi thảm đến vậy ?
(Biện) Hòa đáp :
- Tôi không đau xót vì bị chặt chân mà vì nỗi : thiệt là ngọc mà lại bảo là đá, kẻ sĩ ngay thẳng mà lại bảo là nói láo, tôi đau xót vì lẽ đó.
Nhà vua bèn sai thợ mài khối ngọc đó, được một hòn ngọc quí, và đặt tên là : “ngọc bích Biện Hòa”. 


*
Châu ngọc là thứ mà nhà vua muốn có gấp, dù Biện Hòa dâng một khối ngọc không tốt thì cũng không hại gì cho nhà vua, thế mà phải bị chặt hai chân rồi khối ngọc mới được nhận là quí; nhận ra được của báu, khó như vậy đó. Ngày nay bậc vua chúa cần có pháp thuật để ngăn cấm quần thần, sĩ dân, gian tà chưa chắc đã gấp như cầu có ngọc bích Biện Hòa[4]; sở dĩ kẻ sĩ có đạo ( tức có pháp thuật) chưa bị giết là vì họ chưa dâng thứ ngọc lập nên nghiệp đế vương (tức pháp thuật) cho vua vậy. Vua chúa dùng thuật thì đại thần không thể tự chuyên, kẻ thân cận không dám bán quyền chức; quân thi hành pháp luật thì bọn du thủ du thực vội quay về nghề nông, bọn sĩ du thuyết phải chịu cảnh nguy hiểm ngoài mặt trận[5]. Vậy thì pháp thuật là cái quần thần, sĩ dân cho là tai họa; bậc vua chúa nếu không phản đối lời bàn bạc của đại thần, không bất chấp lời chê bai của nhân dân, cứ làm đúng theo đạo thì kẻ sĩ có pháp thuật dù chết, đạo[6] vẫn không được chấp nhận. 


*
Xưa Ngô Khởi dạy[7] Sở Điệu vương về tục (tình hình) nước Sở: “Quyền thế của đại thần lớn quá, các vị hầu được phong đất nhiều quá, như vậy họ áp bức chúa ở trên, ngược đãi dân ở dưới, nước tất nghèo mà binh tất yếu. Chi bằng đối với con cháu các vị hầu được phong đất, cứ ba đời thì thu tước lộc lại, tài giảm lương bổng của thư lại, bỏ các chức quan không cần thiết đi để có tiền nuôi các chiến sĩ được chọn và huấn luyện kĩ”. Điệu vương mới thi hành kế hoạch đó được một năm thì chết và Ngô Khởi bị chặt tay chân ở Sở. Thương quân (tức Thương Ưởng) dạy Tần Hiếu công thi hành phép ngũ gia và thập gia liên bảo, nhà nào có tội, nhà khác phải tố cáo, nếu không thì bị liên lụy; đốt thi thư[8] mà làm rõ pháp luật; chặn những lời thỉnh cầu của tư gia mà thưởng những người có công lao với đất nước; cấm bọn đi nơi này đi nơi khác xin xỏ làm quan, hiển dương nông dân và chiến sĩ. Hiếu Công thi hành kế hoạch đó mà vua được tôn sùng, yên ổn, nước được phú cường, tám năm[9] sau chết, Thương quân bị xe xé thây ở nước Tần. Sở không dùng Ngô Khởi mà bị mất đất và loạn. Tần thi hành phép của Thương quân mà phú cường. Lời hai ông ấy đều đúng mà Ngô Khởi bị chặt chân tay. Thương quân bị xe xé thây là tại sao? Tại bọn đại thần oán[10] pháp thuật mà dân chúng ghét sự cai trị. Đời nay, đại thần tham quyền, dân chúng quen cảnh loạn còn hơn Tần và Sở thời xưa nữa, mà bậc vua chúa không có ai nghe lời phải như Điệu vương, Hiếu Công, như vậy kẻ sĩ giỏi pháp thuật làm sao được mạo hiểm cái nguy của hai ông ấy mà làm sáng tỏ pháp thuật của mình được? Do đó mà đời nay mới loạn mà không ai thực hiện nghiệp bá vương được.

[1], [2], [3] Có sách chép là Văn vương, Vũ vương và Thành vương.[4] Chỗ này ngờ mất một câu.[5] Nghĩa là phải đánh giặc, không nói nhảm nữa. Có sách giảng là bọn sĩ du thuyết không dám nói bậy về chiến tranh nữa.[6]Đạo đây là pháp thuật.[7] Nguyên văn là "giáo": có lẽ Hàn Phi muốn tỏ lòng kính trọng Ngô Khởi và Thương Ưởng.[8] Sử không chép việc này, chỉ chép việc Tần Thuỷ Hoàng nghe lời Lý Tư mà đốt sách thôi. Thi thư là sách của Nho gia.[9] Mười tám năm thì đúng hơn; chắc thiếu chữ thập.[10] Nguyên văn là khổ pháp, có sách giảng là khổ vì pháp thuật.
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2009-06-29 18:52:22huytran>
Sau đây là danh sách các bạn đã tham gia đánh máy cuốn Hàn Phi Tử. Danh sách có thể còn thiếu sót, khi nào phát hiện ra thêm, tôi sẽ bổ sung. Nếu bạn nào không thấy tên mình ở đây, xin cho tôi được biết.

Rất mong website nào đăng lại cuốn Hàn Phi Tử nhớ kèm theo danh sách này.

Trần Mạnh Hùng, tuusacqui, heo_ mapyeu , Cobe, sherlockhomes, muatrongdem, snowqueen244, cunhoi, Ct.Ly, hoa_ sua, caufale, Chipmuck, taczan299, hai au trang, Ut cung, tuyenduong114.

Đây là 1 cuốn sách rất khó đánh, đặc biệt là những đoạn Hán Việt, nên các bạn đều đã phải bỏ nhiều công sức và sự kiên nhẫn vào đó. Đặc biệt xin ghi nhận sự giúp đỡ của hai bạn cunhoi và heo_mapyeu, lúc nào cũng vui lòng nhận hết những phần việc khi thiếu người đánh. Cảm ơn tất cả các bạn.
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2009-07-09 23:59:19Ct.Ly>
Đã mang vào thư viện

Thành thật cảm ơn HuyTran đã scan truyện cùng sự đóng góp của các bạn

Trần Mạnh Hùng, tuusacqui, heo_ mapyeu , Cobe, sherlockhomes, muatrongdem, snowqueen244, cunhoi, Ct.Ly, hoa_ sua, caufale, Chipmuck, taczan299, hai au trang, Ut cung, tuyenduong114.

Đã bỏ nhiều công sức để hoàn tất quyển sách này

Thân
0
Xin lỗi, có 1 chỗ bị lỗi mà tôi chưa sửa, thiên Vấn biện là số XLI (41) chứ không phải XI (11)
0


Đã sửa lại rồi

http://vnthuquan.net/truyen/truyen.aspx?tid=2qtqv3m3237nvnvn2nnn2n31n343tq83a3q3m3237n2n2n
0
«« « 1 2 » »»