Bút Ngữ đời và văn
Nguyễn Văn
Nhà văn Bút Ngữ, tên thật là Phan Đinh Khương (bố họ Phan, mẹ họ Đinh), sinh 1931 tại làng Kinh Đào, huyện Vũ Tiên, nay là Vũ Thư, tỉnh Thái Bình.
Trước Cách mạng Tháng Tám, Thái Bình là tỉnh nghèo. Vùng ông và gia đình ông còn nghèo khổ hơn. Tuy là nông dân nhưng bà con ở đây rất ít ruộng đất. Mỗi gia đình thường chỉ đủ đất làm nhà ở và trồng trọt vồng khoai, cây dong… Bố Bút Ngữ vừa cày cuốc, vừa làm “thợ may vườn”. Dân làng ai cần thì gọi ông may vá giúp. Mẹ, 9 lần đẻ, sinh 10 con. Bà chỉ quanh quẩn việc nhà và buôn thúng bán mẹt nên gia đình quanh năm nheo nhóc, thiếu đói.
Nạn đói năm ất Dậu (1945) gia đình Bút Ngữ phải bỏ làng dắt díu nhau vào Thanh Hoá kiếm sống. Vào đó, bố kiếm củi, mẹ nấu bánh đúc bán kiếm lãi mua cám ăn để sống - thứ cám đã bị người ta sàng sảy hết từng hạt tấm, chỉ còn “mày gạo” và vỏ trấu. Cháo cám, mỗi người mỗi bữa cũng chỉ được chia một bát con. Có lúc Bút Ngữ chỉ được “tận hưởng” cám dính đũa cả hoặc những miếng khê dưới đáy nồi.
Là con lớn trong nhà, Ngữ phải cùng bố mẹ nhường nhịn cho lũ em nhỏ. Anh ra bãi sông nhặt nhạnh hàng chục thứ cây cỏ dại như: thòm bóp, thàn bát, thài lài… về luộc ăn trừ bữa. ở chợ Bồng, Bút Ngữ xách cái ấm sành và mấy chiếc bát đàn đi bán nước rong.
Thời gian này, đàn em lít nhít của Bút Ngữ buồn bã ngồi xó nhà. Một đứa bám theo mẹ ra chợ. Có ông nông dân đi chợ thấy thằng bé áo quần rách rưới, thân thể gày gò, nhưng có thể chăn bò được, liền rủ đi làm con nuôi. “Cu cậu” đi luôn. Đằng đẵng hơn chục năm sau, mới tìm được gia đình.
Qua keo đói chết người, gia đình Bút Ngữ trở về quê, lại gặp nạn lụt lớn. Cả tỉnh Thái Bình chìm dưới làn nước đỏ. Chẳng còn thứ gì có thể nuôi sống con người, Bút Ngữ theo bố mẹ sang Giao Thủy (Nam Định) tá túc. Được người cho chốn ở, nhưng miếng ăn phải tự tìm. Vẫn đói và lao đao. Keo đói ất Dậu thảm khốc đã gặm nhấm sức khoẻ mọi người. Ông bố ốm nặng, không tiền mua thuốc, đành trông chờ vào số phận. Bút Ngữ cùng chú em kề cận, mò cua, kiếm củi góp tiền cho mẹ đong gạo làm quà bán bánh. Ông bố dần khỏi bệnh, phụ việc chợ búa cho bà mẹ. Thêm hai đứa em Bút Ngữ lại suy kiệt. Không tiền thuốc thang cứu chữa, từng đứa dần dần lăn ra chết. Cả hai thi thể nhỏ bé ấy đều phải bó chiếu chôn! Cũng những ngày “tha phương cầu thực” này, bà mẹ Bút Ngữ sinh lần thứ 9. Vì sinh đôi, biết để cả chẳng nuôi nổi, ông bà phải cho đi một.
Sau Cách mạng Tháng Tám, gia đình Bút Ngữ trở về quê, được chính quyền chia cho hai sào ruộng. Mảnh đất để trồng cấy và bát cơm đầy được nâng trên tay là niềm hạnh phúc vô song với gia đình Bút Ngữ.
Ông càng ghi nhớ công ơn Đảng, cách mạng, càng căm thù đế quốc, phong kiến đã gây tang tóc cho dân tộc và gia đình ông. Ba đứa em chết vì ốm, đói, hai em cho làm con nuôi; năm 1951, bố ông bị giặc Pháp bắn chết. Thế là, chỉ trong mấy năm, cái gia đình ấy từ 12 người, chỉ còn lại 6!
Mười tám tuổi, Bút Ngữ xin lên huyện, nhận việc đào hầm bí mật bảo vệ tài liệu, cán bộ. Ông hào hứng với mọi công tác cách mạng, việc gì cũng làm tận lực, quyết tâm vượt khó khăn.
Ngày nhỏ, Bút Ngữ được học ít vì nghèo. Nhờ thừa hưởng cái “gien” thông minh của dòng họ, cộng với tự học, rèn luyện, trình độ chính trị, văn hoá của Bút Ngữ được nâng dần. Ông sáng tác thơ ca phục vụ kháng chiến sản xuất, tự tay in đất, in bột tán phát, được dùng hò hát trong các cuộc họp.
Nhờ đó, Bút Ngữ được điều lên làm cán bộ ty Tuyên truyền tỉnh rồi phòng Văn nghệ Khu Tả Ngạn. Khu giải thể, ông trở về Thái Bình làm báo, phụ trách toà soạn báo Thái Bình với chức danh Phó Tổng biên tập (Tổng biên tập là Tỉnh uỷ viên). Năm 1971, Tỉnh uỷ lại cử Bút Ngữ sang xây dựng Hội Văn học Nghệ thuật Thái Bình, đảm trách chức vụ Chủ tịch Hội cho đến khi về hưu (1991).
Bút Ngữ say mê sáng tác và sớm đạt hiệu quả. Năm 1954, ông đã có truyện ngắn in tập san Tả ngạn sông Hồng. Năm 1958-1959, báo Văn nghệ mở cuộc thi ca dao, ông đoạt giải khuyến khích. Bài Làm mưa dưới đây in vào sách giáo khoa lớp 2, từ năm 1960:
Bước lên đồng cao thấy con sông mới
Bước xuống đầu dưới thấy con mương đào
Bước về đầu sau thấy gàu đang tát
Bước ra đồng trước thấy guồng đang quay
Không mưa từ chín tầng mây
Thì mưa từ những bàn tay con người.
Bút Ngữ chăm học và cũng được đi học nhiều. Năm 1958, ông dự lớp sáng tác đầu tiên ở Khương Thượng, do nhà văn Nguyễn Huy Tưởng phụ trách. Vừa học ông vừa viết được truyện vừa Bên đồng nước úng, in chung với truyện ngắn của Ngô Ngọc Bội (Nxb Văn nghệ). Năm 1959, Bút Ngữ dự trại bồi dưỡng sáng tác kịch bản phim do Bộ Văn hoá mở, có chuyên gia Liên Xô, Trung Quốc giảng dạy. Năm 1961, Bút Ngữ đi học khoá 1 Trường Bồi dưỡng những người viết văn trẻ tại Quảng Bá, ông viết tập truyện Chiến đấu giữa đêm khuya, được Nxb Kim Đồng in.
Bút Ngữ chăm chỉ làm việc và tranh thủ mọi thời gian sáng tác, ít giao du chơi bời, cả khi đã nghỉ hưu. Ông đặt chỉ tiêu mỗi ngày phải viết mấy trang. Đủ mới đứng dậy. Chưa viết xong truyện này, ông đã nghĩ đến nội dung truyện khác. Truyện của ông ngợi ca những trung thần, minh chúa; nghĩa sĩ, anh hùng; những người đạo cao, đức trọng, chí khí hiên ngang, lấp sông dời núi… Đến những “pha” đó, lòng ông rộn lên niềm phấn hứng, ngòi bút tung hoành tuôn chảy từng trang, từng hồi. Ông phê phán lũ hôn quân, bạo chúa, ác bá sài lang, kẻ hại nhân ích kỷ và bọn nhũng tham đục khoét của nước, của dân…
Ngoài mấy tập viết về đề tài hiện đại, Bút Ngữ đi sâu vào đề tài lịch sử. Tập Đêm về sáng, viết về cuộc biểu tình nông dân Tiền Hải; tập Pháo đài đồng bằng (làng Nguyễn, anh hùng đánh Pháp); tập Người đi đầy trên đại dương (Kỳ Đồng Nguyễn Văn Cẩm); Người thời loạn (cuộc chống Pháp của Tôn Thất Thuyết - Hàm Nghi); Vua Ba Vành (chống triều đình nhà Nguyễn); Cử nhân Bùi Viện… tất cả các tập sách trên được các nhà xuất bản in bao cấp. Ông chưa phải bỏ tiền túi ra in cuốn nào, cả những năm cơ chế thị trường.
Mấy chục năm cần cù sưu tầm tài liệu, suy nghĩ để viết nên ba nghìn trang sách và hàng trăm tiểu luận, truyện ngắn, bút ký, ta thấy sự cố gắng của Bút Ngữ tới chừng nào. Tuy viết nhiều, nhưng ông luôn cẩn trọng trong chọn lựa ý tứ, sử dụng câu chữ, không tuỳ tiện đại khái.
Khi phụ trách toà báo tỉnh, Bút Ngữ đọc khá kỹ từng bài của phóng viên, biên tập, sửa từng từ, thêm từng dấu chấm. Hằng tháng, ông tổ chức họp rút kinh nghiệm, khen bài viết hay, chê bài viết ẩu, cùng mọi người “dọn vườn” báo nhà.
Với mình, Bút Ngữ cũng rất khắt khe. Dù bài ngắn hay tiểu thuyết, ông đều sửa đi sửa lại dăm bảy lần. Bản thảo của ông rất nhiều chỗ xoá, chỗ thêm, dòng chồng lên dòng, chữ chen lên chữ, với rất nhiều dấu móc lên, chỉ xuống và các màu mực. Khi thấy đã vừa lòng, ông mới ngồi kỳ cạch gõ máy chữ, vừa gõ vừa sửa thêm. Đọc lại lần cuối, ông vẫn sửa tiếp.
Tuy vậy, ông vẫn viết trong hồi ký của mình: “Điều thấy rõ là những tập viết và in thời kỳ đầu thường yếu kém. Kể số đầu sách chỉ để tự tin mà làm tiếp. Truyện ký, nội dung đúng nhưng viết vụng. Truyện lịch sử thì nhiều, văn ít. Truyện ngắn, viết dài, lời rậm, ý thưa…”.
Bút Ngữ viết nhiều, thành công cũng đáng chú ý. Chuyện xóm Chài được tặng giải Ba của Nxb Kim Đồng và tái bản. Hai lần Uỷ ban Trung ương Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật Việt Nam tặng thưởng cho hai tập sách Vua Ba Vành và Anh Ngạn. Tập Cụ Bảng Đôn được Nxb Kim Đồng giới thiệu sang Hội Nhà văn Việt Nam tặng thưởng văn học năm 2002. Ngoài ra, ông còn bốn lần được nhận giải thưởng văn học nghệ thuật Lê Quý Đôn của tỉnh Thái Bình.
Thành tích nhiều nhưng Bút Ngữ cũng có những “cái dại”.
Khi ông làm Chủ tịch Hội Văn nghệ tỉnh, Tỉnh uỷ dự định đưa ông lên làm Trưởng ty Văn hoá. Ai cũng mừng cho sự “thăng quan tiến chức” đó, vì Văn hoá là một cơ quan lớn với mấy trăm cán bộ, nhân viên, còn Hội Văn nghệ chỉ hơn chục người. Mặc cho tổ chức tỉnh thuyết phục, Bút Ngữ vẫn từ chối, nói là sức khoẻ và năng lực kém, không thể kham được!
Sau năm 1991, Bút Ngữ về nghỉ hưu. Tỉnh cho ông một suất đất ở cách Thị xã gần 6 kilômét. Ông xây cái móng rồi để đấy. Sau rất lâu, ông được mua một suất khác. Nhận phần đất mới, ông sinh tư lự: “Như thế là tham lam. Một mình nhận hai suất đất!”. Rồi ông trả lại mảnh đất được cấp trước đây. Ai cũng bảo ông “hâm”. Bọn tham nhũng “sài” của dân dăm bảy suất đất ngon, mỗi suất đáng giá hàng tỷ bạc, có đứa nào nhả ra đâu? Ông bảo, mặc kệ chúng, cầm bút thì phải làm như viết, vả lại mình còn là đảng viên!
Ông trả mảnh đất đó và đề xuất với tỉnh cấp cho nhà thơ Đỗ Trọng Khơi.
Năm ất Dậu (1945) gia đình Bút Ngữ khốn khổ vì nạn đói. Ông phải bán nước rong ở Thanh Hoá, kiếm sống. ất Dậu (2005) Bút Ngữ lên tuổi 75 và “giàu” hơn. Ông ở trong căn buồng hơn chục mét vuông đầy ắp sách báo. Đó là những sáng tác đã được in của ông và vô số tư liệu để sưu tầm, tra cứu. Trong gian buồng ấy, ông kê hai chiếc ghế sa lông gỗ, đóng từ thập niên 70, thế kỷ trước và một máy đánh chữ “ốp ti ma” cũ xin của cơ quan khi về hưu, sơn đã vữa, chữ đã mòn, đánh lên giấy chữ đen đặc, chữ mất nét. Lần nào đến chơi, tôi cũng thấy Bút Ngữ cúi gò trước chiếc máy ấy - chiếc máy mà tiếng gõ chỉ còn kêu “lạch xạch”, như sức khoẻ của ông ọp ẹp.
Chúc ông “sáng con mắt, chặt đầu gối”, tiếp tục hưng phấn sáng tác và sáng tác ngày một hay.
(Báo Văn nghệ)
Nguyễn Văn
Nhà văn Bút Ngữ, tên thật là Phan Đinh Khương (bố họ Phan, mẹ họ Đinh), sinh 1931 tại làng Kinh Đào, huyện Vũ Tiên, nay là Vũ Thư, tỉnh Thái Bình.
Trước Cách mạng Tháng Tám, Thái Bình là tỉnh nghèo. Vùng ông và gia đình ông còn nghèo khổ hơn. Tuy là nông dân nhưng bà con ở đây rất ít ruộng đất. Mỗi gia đình thường chỉ đủ đất làm nhà ở và trồng trọt vồng khoai, cây dong… Bố Bút Ngữ vừa cày cuốc, vừa làm “thợ may vườn”. Dân làng ai cần thì gọi ông may vá giúp. Mẹ, 9 lần đẻ, sinh 10 con. Bà chỉ quanh quẩn việc nhà và buôn thúng bán mẹt nên gia đình quanh năm nheo nhóc, thiếu đói.
Nạn đói năm ất Dậu (1945) gia đình Bút Ngữ phải bỏ làng dắt díu nhau vào Thanh Hoá kiếm sống. Vào đó, bố kiếm củi, mẹ nấu bánh đúc bán kiếm lãi mua cám ăn để sống - thứ cám đã bị người ta sàng sảy hết từng hạt tấm, chỉ còn “mày gạo” và vỏ trấu. Cháo cám, mỗi người mỗi bữa cũng chỉ được chia một bát con. Có lúc Bút Ngữ chỉ được “tận hưởng” cám dính đũa cả hoặc những miếng khê dưới đáy nồi.
Là con lớn trong nhà, Ngữ phải cùng bố mẹ nhường nhịn cho lũ em nhỏ. Anh ra bãi sông nhặt nhạnh hàng chục thứ cây cỏ dại như: thòm bóp, thàn bát, thài lài… về luộc ăn trừ bữa. ở chợ Bồng, Bút Ngữ xách cái ấm sành và mấy chiếc bát đàn đi bán nước rong.
Thời gian này, đàn em lít nhít của Bút Ngữ buồn bã ngồi xó nhà. Một đứa bám theo mẹ ra chợ. Có ông nông dân đi chợ thấy thằng bé áo quần rách rưới, thân thể gày gò, nhưng có thể chăn bò được, liền rủ đi làm con nuôi. “Cu cậu” đi luôn. Đằng đẵng hơn chục năm sau, mới tìm được gia đình.
Qua keo đói chết người, gia đình Bút Ngữ trở về quê, lại gặp nạn lụt lớn. Cả tỉnh Thái Bình chìm dưới làn nước đỏ. Chẳng còn thứ gì có thể nuôi sống con người, Bút Ngữ theo bố mẹ sang Giao Thủy (Nam Định) tá túc. Được người cho chốn ở, nhưng miếng ăn phải tự tìm. Vẫn đói và lao đao. Keo đói ất Dậu thảm khốc đã gặm nhấm sức khoẻ mọi người. Ông bố ốm nặng, không tiền mua thuốc, đành trông chờ vào số phận. Bút Ngữ cùng chú em kề cận, mò cua, kiếm củi góp tiền cho mẹ đong gạo làm quà bán bánh. Ông bố dần khỏi bệnh, phụ việc chợ búa cho bà mẹ. Thêm hai đứa em Bút Ngữ lại suy kiệt. Không tiền thuốc thang cứu chữa, từng đứa dần dần lăn ra chết. Cả hai thi thể nhỏ bé ấy đều phải bó chiếu chôn! Cũng những ngày “tha phương cầu thực” này, bà mẹ Bút Ngữ sinh lần thứ 9. Vì sinh đôi, biết để cả chẳng nuôi nổi, ông bà phải cho đi một.
Sau Cách mạng Tháng Tám, gia đình Bút Ngữ trở về quê, được chính quyền chia cho hai sào ruộng. Mảnh đất để trồng cấy và bát cơm đầy được nâng trên tay là niềm hạnh phúc vô song với gia đình Bút Ngữ.
Ông càng ghi nhớ công ơn Đảng, cách mạng, càng căm thù đế quốc, phong kiến đã gây tang tóc cho dân tộc và gia đình ông. Ba đứa em chết vì ốm, đói, hai em cho làm con nuôi; năm 1951, bố ông bị giặc Pháp bắn chết. Thế là, chỉ trong mấy năm, cái gia đình ấy từ 12 người, chỉ còn lại 6!
Mười tám tuổi, Bút Ngữ xin lên huyện, nhận việc đào hầm bí mật bảo vệ tài liệu, cán bộ. Ông hào hứng với mọi công tác cách mạng, việc gì cũng làm tận lực, quyết tâm vượt khó khăn.
Ngày nhỏ, Bút Ngữ được học ít vì nghèo. Nhờ thừa hưởng cái “gien” thông minh của dòng họ, cộng với tự học, rèn luyện, trình độ chính trị, văn hoá của Bút Ngữ được nâng dần. Ông sáng tác thơ ca phục vụ kháng chiến sản xuất, tự tay in đất, in bột tán phát, được dùng hò hát trong các cuộc họp.
Nhờ đó, Bút Ngữ được điều lên làm cán bộ ty Tuyên truyền tỉnh rồi phòng Văn nghệ Khu Tả Ngạn. Khu giải thể, ông trở về Thái Bình làm báo, phụ trách toà soạn báo Thái Bình với chức danh Phó Tổng biên tập (Tổng biên tập là Tỉnh uỷ viên). Năm 1971, Tỉnh uỷ lại cử Bút Ngữ sang xây dựng Hội Văn học Nghệ thuật Thái Bình, đảm trách chức vụ Chủ tịch Hội cho đến khi về hưu (1991).
Bút Ngữ say mê sáng tác và sớm đạt hiệu quả. Năm 1954, ông đã có truyện ngắn in tập san Tả ngạn sông Hồng. Năm 1958-1959, báo Văn nghệ mở cuộc thi ca dao, ông đoạt giải khuyến khích. Bài Làm mưa dưới đây in vào sách giáo khoa lớp 2, từ năm 1960:
Bước lên đồng cao thấy con sông mới
Bước xuống đầu dưới thấy con mương đào
Bước về đầu sau thấy gàu đang tát
Bước ra đồng trước thấy guồng đang quay
Không mưa từ chín tầng mây
Thì mưa từ những bàn tay con người.
Bút Ngữ chăm học và cũng được đi học nhiều. Năm 1958, ông dự lớp sáng tác đầu tiên ở Khương Thượng, do nhà văn Nguyễn Huy Tưởng phụ trách. Vừa học ông vừa viết được truyện vừa Bên đồng nước úng, in chung với truyện ngắn của Ngô Ngọc Bội (Nxb Văn nghệ). Năm 1959, Bút Ngữ dự trại bồi dưỡng sáng tác kịch bản phim do Bộ Văn hoá mở, có chuyên gia Liên Xô, Trung Quốc giảng dạy. Năm 1961, Bút Ngữ đi học khoá 1 Trường Bồi dưỡng những người viết văn trẻ tại Quảng Bá, ông viết tập truyện Chiến đấu giữa đêm khuya, được Nxb Kim Đồng in.
Bút Ngữ chăm chỉ làm việc và tranh thủ mọi thời gian sáng tác, ít giao du chơi bời, cả khi đã nghỉ hưu. Ông đặt chỉ tiêu mỗi ngày phải viết mấy trang. Đủ mới đứng dậy. Chưa viết xong truyện này, ông đã nghĩ đến nội dung truyện khác. Truyện của ông ngợi ca những trung thần, minh chúa; nghĩa sĩ, anh hùng; những người đạo cao, đức trọng, chí khí hiên ngang, lấp sông dời núi… Đến những “pha” đó, lòng ông rộn lên niềm phấn hứng, ngòi bút tung hoành tuôn chảy từng trang, từng hồi. Ông phê phán lũ hôn quân, bạo chúa, ác bá sài lang, kẻ hại nhân ích kỷ và bọn nhũng tham đục khoét của nước, của dân…
Ngoài mấy tập viết về đề tài hiện đại, Bút Ngữ đi sâu vào đề tài lịch sử. Tập Đêm về sáng, viết về cuộc biểu tình nông dân Tiền Hải; tập Pháo đài đồng bằng (làng Nguyễn, anh hùng đánh Pháp); tập Người đi đầy trên đại dương (Kỳ Đồng Nguyễn Văn Cẩm); Người thời loạn (cuộc chống Pháp của Tôn Thất Thuyết - Hàm Nghi); Vua Ba Vành (chống triều đình nhà Nguyễn); Cử nhân Bùi Viện… tất cả các tập sách trên được các nhà xuất bản in bao cấp. Ông chưa phải bỏ tiền túi ra in cuốn nào, cả những năm cơ chế thị trường.
Mấy chục năm cần cù sưu tầm tài liệu, suy nghĩ để viết nên ba nghìn trang sách và hàng trăm tiểu luận, truyện ngắn, bút ký, ta thấy sự cố gắng của Bút Ngữ tới chừng nào. Tuy viết nhiều, nhưng ông luôn cẩn trọng trong chọn lựa ý tứ, sử dụng câu chữ, không tuỳ tiện đại khái.
Khi phụ trách toà báo tỉnh, Bút Ngữ đọc khá kỹ từng bài của phóng viên, biên tập, sửa từng từ, thêm từng dấu chấm. Hằng tháng, ông tổ chức họp rút kinh nghiệm, khen bài viết hay, chê bài viết ẩu, cùng mọi người “dọn vườn” báo nhà.
Với mình, Bút Ngữ cũng rất khắt khe. Dù bài ngắn hay tiểu thuyết, ông đều sửa đi sửa lại dăm bảy lần. Bản thảo của ông rất nhiều chỗ xoá, chỗ thêm, dòng chồng lên dòng, chữ chen lên chữ, với rất nhiều dấu móc lên, chỉ xuống và các màu mực. Khi thấy đã vừa lòng, ông mới ngồi kỳ cạch gõ máy chữ, vừa gõ vừa sửa thêm. Đọc lại lần cuối, ông vẫn sửa tiếp.
Tuy vậy, ông vẫn viết trong hồi ký của mình: “Điều thấy rõ là những tập viết và in thời kỳ đầu thường yếu kém. Kể số đầu sách chỉ để tự tin mà làm tiếp. Truyện ký, nội dung đúng nhưng viết vụng. Truyện lịch sử thì nhiều, văn ít. Truyện ngắn, viết dài, lời rậm, ý thưa…”.
Bút Ngữ viết nhiều, thành công cũng đáng chú ý. Chuyện xóm Chài được tặng giải Ba của Nxb Kim Đồng và tái bản. Hai lần Uỷ ban Trung ương Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật Việt Nam tặng thưởng cho hai tập sách Vua Ba Vành và Anh Ngạn. Tập Cụ Bảng Đôn được Nxb Kim Đồng giới thiệu sang Hội Nhà văn Việt Nam tặng thưởng văn học năm 2002. Ngoài ra, ông còn bốn lần được nhận giải thưởng văn học nghệ thuật Lê Quý Đôn của tỉnh Thái Bình.
Thành tích nhiều nhưng Bút Ngữ cũng có những “cái dại”.
Khi ông làm Chủ tịch Hội Văn nghệ tỉnh, Tỉnh uỷ dự định đưa ông lên làm Trưởng ty Văn hoá. Ai cũng mừng cho sự “thăng quan tiến chức” đó, vì Văn hoá là một cơ quan lớn với mấy trăm cán bộ, nhân viên, còn Hội Văn nghệ chỉ hơn chục người. Mặc cho tổ chức tỉnh thuyết phục, Bút Ngữ vẫn từ chối, nói là sức khoẻ và năng lực kém, không thể kham được!
Sau năm 1991, Bút Ngữ về nghỉ hưu. Tỉnh cho ông một suất đất ở cách Thị xã gần 6 kilômét. Ông xây cái móng rồi để đấy. Sau rất lâu, ông được mua một suất khác. Nhận phần đất mới, ông sinh tư lự: “Như thế là tham lam. Một mình nhận hai suất đất!”. Rồi ông trả lại mảnh đất được cấp trước đây. Ai cũng bảo ông “hâm”. Bọn tham nhũng “sài” của dân dăm bảy suất đất ngon, mỗi suất đáng giá hàng tỷ bạc, có đứa nào nhả ra đâu? Ông bảo, mặc kệ chúng, cầm bút thì phải làm như viết, vả lại mình còn là đảng viên!
Ông trả mảnh đất đó và đề xuất với tỉnh cấp cho nhà thơ Đỗ Trọng Khơi.
Năm ất Dậu (1945) gia đình Bút Ngữ khốn khổ vì nạn đói. Ông phải bán nước rong ở Thanh Hoá, kiếm sống. ất Dậu (2005) Bút Ngữ lên tuổi 75 và “giàu” hơn. Ông ở trong căn buồng hơn chục mét vuông đầy ắp sách báo. Đó là những sáng tác đã được in của ông và vô số tư liệu để sưu tầm, tra cứu. Trong gian buồng ấy, ông kê hai chiếc ghế sa lông gỗ, đóng từ thập niên 70, thế kỷ trước và một máy đánh chữ “ốp ti ma” cũ xin của cơ quan khi về hưu, sơn đã vữa, chữ đã mòn, đánh lên giấy chữ đen đặc, chữ mất nét. Lần nào đến chơi, tôi cũng thấy Bút Ngữ cúi gò trước chiếc máy ấy - chiếc máy mà tiếng gõ chỉ còn kêu “lạch xạch”, như sức khoẻ của ông ọp ẹp.
Chúc ông “sáng con mắt, chặt đầu gối”, tiếp tục hưng phấn sáng tác và sáng tác ngày một hay.
(Báo Văn nghệ)
Love mickey,