📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

Zarathustra đã nói như thế - Friedrich Nietzsche - HẾT 🔒

85 trả lời, 15.218 lượt xem — Trang 2 / 3
VỀ NHỮNG CON NHỆN ĐỘC


Hãy nhìn xem, kia là cái hang nhện độc! Ngươi có muốn nhìn thấy chính con nhện độc không? Kia là mạng nhện; ngươi hãy sờ vào đó đi để thấy nó run lẩy bẩy.
Lập tức con nhện độc bò đến ngay: chào mi, hỡi nhện độc! Dấu hiệu trên lưng mi hình tam giác màu đen; và ta cũng biết rõ những gì trong tâm hồn mi nữa.
Sự trả thù ngự trị trong tâm hồn mi: mi nhe miệng cắn chỗ nào thì lập tức nơi đó có một mụt đen nổi lên; nọc độc của sự trả thù của mi làm linh hồn quay cuồng điên đảo!
Chính vì thế ta mới nói với bọn mi bằng ẩn dụ, bọn mi, những kẻ làm linh hồn quay cuồng điên đảo, bọn mi, những kẻ rao giảng sự bình đẳng! Đối với ta, bọn mi chỉ là những con nhện độc, những kẻ đầy lòng cừu thù lén lút.
Nhưng rồi, sau cùng, ta cũng khám phá ra những cái hang trú ẩn của bọn mi: chính vì thế ta cười vào mũi bọn mi bằng tiếng cười vút xuống từ những đỉnh cao của ta!
Chính vì thế, ta mới xé rách mạng nhện của bọn mi để cơn giận dữ xui bọn mi phải bò ra khỏi chiếc hang đầy dối trá và lòng cừu oán phục thù tuôn trào ra đằng sau những lời lẽ “công chính” của bọn mi.
Bởi vì đối với ta, con người phải được giải thoát khỏi mọi tư tưởng cừu oán phục thù: đó là chiếc cầu dẫn đến những hy vọng cao tuyệt nhất, và đấy là chiếc cầu vồng lóng lánh sắc màu của ta sau những cơn giông bão dữ dội lê thê.
Nhưng những con nhện độc thì lại muốn sự thể diễn ra khác đi. “Công bằng, công chính đối với chúng ta là làm tràn ngập thế giới bằng những trận bão xuất phát từ sự trả thù của chúng ta” - những con nhện độc nói với nhau như thế.
“Chúng ta muốn trả thù, muốn sỉ nhục tất cả những kẻ nào mà chúng ta không bình đẳng với họ”: đấy là ước nguyện tự thâm tâm những con nhện độc.
Và còn nữa: “Kể từ nay trở đi, ý chí muốn bình đẳng cho tất cả mọi người sẽ là tên gọi của đức hạnh; và chúng ta muốn cất cao tiếng thét chống lại tất cả những kẻ nào mạnh mẽ!”
Hỡi những kẻ rao giảng sự bình đẳng, cơn điên cuồng độc đoán của sự bất lực nơi bọn ngươi cất cao tiếng hét đòi “bình đẳng”: những khát vọng độc đoán kín đáo nhất của bọn ngươi đã giả trang như thế dưới những lời lẽ của đức hạnh!
Tính huênh hoang tự kiêu đầy cay nghiệt, lòng ganh ghét bị ẩn ức, có lẽ đấy là tính huênh hoang và lòng ganh ghét của cha ông các ngươi bây giờ mới bùng vỡ ra bên ngoài như một ngọn lửa và một cơn điên cuồng phục hận.
Điều mà người cha im lặng thì người con nói lên bằng lời, và thường đứa con tỏ lộ cho ta bí mật của người cha.
Bọn chúng giống như những kẻ nồng nhiệt hăng say; nhưng không phải quả tim mà chính sự trả thù đã đốt lửa lên nơi bọn chúng. Và khi bọn chúng trở thành lạnh lùng, tế nhị, thì không phải tinh thần nhưng chính sự ganh ghét đã làm bọn chúng thành lạnh lùng, tế nhị.
Sự ganh ghét cũng dẫn bọn chúng bước trên con đường của những nhà tư tưởng; và đây là dấu hiệu chỉ sự ganh ghét của bọn chúng: bọn chúng luôn luôn đi quá xa, đến đỗi sau cùng sự mệt mỏi làm chúng lăn ra ngủ say trên tuyết lạnh.
Qua mỗi lời than vãn của bọn chúng, vang lên sự trả thù; mỗi lời ca tụng của bọn chúng đều mang theo một vết thương; và đối với bọn chúng, làm quan tòa phán xét là một hạnh phúc tối đại.
Thế nhưng, hỡi các bạn, đây là lời ta khuyên: đừng tin những kẻ có bản năng trừng phạt mạnh mẽ!
Bọn chúng là giống loài thấp kém và dòng dõi hạ tiện: bọn chúng có gương mặt của kẻ đao phủ và của con chó săn chuột.
Đừng tin vào những kẻ nói nhiều về sự công chính nơi họ! Thực vậy, linh hồn họ không phải chỉ thiếu mật ngọt mà thôi.
Và khi họ tự mệnh danh mình là “những người thiện hảo và những kẻ công chính”, các bạn đừng quên rằng chỉ cần có quyền lực là lập tức họ trở thành những tên pha-ri-xiên giả đạo đức ngay!
Hỡi các bạn, ta không muốn bị hòa lẫn với những kẻ khác, cũng chẳng muốn bị tan hòa với bất cứ ai.
Có những kẻ rao giảng đạo lý của ta về đời sống: nhưng đồng thời họ còn là những kẻ rao giảng về sự bình đẳng và là những con nhện độc.
Những con nhện độc ấy ca ngợi đời sống nhưng chúng lại ngồi trong hang, quay lưng lại với chính đời sống, đấy chỉ vì chúng muốn làm điều ác.
Chúng muốn gây tổn thương cho những kẻ hiện đang có quyền lực: vì đấy chính là những kẻ hãy còn quen thuộc nhất đối với sự rao giảng cái chết.
Nếu sự thể khác đi, thì những con nhện độc lại rao giảng khác đi: vì xưa kia bọn chúng chính là những kẻ đã sành sỏi trong việc bỉ báng thế giới và hỏa thiêu những kẻ ngoại đạo.
Những kẻ rao giảng sự bình đẳng ấy, là những kẻ mà ta không muốn bị trộn lẫn chung vào. Bởi vì sự công chính nói với ta như thế này: “Loài người không bình đẳng với nhau”.
Và loài người không nên trở thành bình đẳng với nhau. Tình yêu Siêu nhân của ta sẽ như thế nào nếu ta ăn nói khác đi?
Chính là qua hàng nghìn chiếc cầu, hàng nghìn con đường, con người sẽ gấp bước đổ xô về tương lai, và phải luôn luôn đặt giữa loài người thêm nhiều cuộc chiến tranh, nhiều sự bất bình đẳng: đấy chính là điều mà tình yêu vĩ đại của ta buộc ta phải thốt lên!
Trong sự thù địch của họ, họ phải trở thành những kẻ sáng tạo nên những ảnh tượng và những bóng ma, với những ảnh tượng và những bóng ma đó, họ sẽ dùng vào cuộc chiến tối thượng giữa họ với nhau.
Tốt và xấu, giàu và nghèo, thấp và cao, và tất cả những danh từ chỉ các giá trị: biết bao là khí giới, là biểu tượng huyên náo của sự chiến thắng mà cuộc đời phải luôn mang về cho chính mình.
Cuộc đời muốn được nâng cao lên trên những cột trụ và những bậc thang: cuộc đời muốn khám phá ra những phương trời xa thẳm, muốn thám hiểm những vẻ đẹp làm hoan lạc tâm hồn, chính vì thế cuộc đời cần phải có đỉnh cao.
Vì cần có đỉnh cao, cuộc đời cần có những bậc thang, và sự chống đối giữa những bậc thang đó với những kẻ leo cao! Cuộc đời muốn leo lên cao, và trong khi leo lên, cuộc đời muốn tự vượt bỏ chính mình.
Và nhìn đây, hỡi các bạn! Đây là chiếc hang của con nhện độc, nơi đấy có một đền điện xưa đã đổ nát hoang tàn, - các bạn hãy nhìn đền điện đó với đôi mắt rạng rỡ của kẻ giác ngộ!
Thực vậy, kẻ nào ngày xưa đã tích tập các tư tưởng của y vào những viên đá dựng thành thánh điện đó, kẻ ấy đã biết rõ bí mật của đời sống, giống như kẻ khôn ngoan nhất trong số các nhà hiền triết.
Trong vẻ đẹp cũng cần phải có sự chiến đấu, sự bất bình đẳng, một cuộc chiến tranh giành quyền lực và quyền thống trị tối thượng: đấy chính là điều kẻ nọ đã dạy cho chúng ta ở đây bằng ẩn dụ trong suốt rõ ràng nhất.
Nơi đây các khung vòm và các vòm cầu đập vỡ nhau trong một cuộc vật lộn linh thánh: ánh sáng và bóng tối tương tranh với nhau trong cố gắng của chúng hướng về linh thể.
Với cùng một sự chắc tâm và cùng một vẻ đẹp như thế, chúng ta hãy là thù địch của nhau, cả chúng ta nữa, hỡi các bạn ta ơi! Chúng ta hãy giao chiến với nhau một cách linh thánh!
Khổ thân! Chính ta lại bị con nhện độc, kẻ thù cố cựu của ta cắn phải. Với sự chắc tâm và vẻ đẹp linh thánh của nó, con nhện đã cắn phập vào ngón tay ta!
“Cần phải có một hình phạt, cần phải có sự công chính, - con nhện độc nghĩ như thế; không phải là vô ích khi ngươi ca hát lên ở đây những khúc tụng ca ca ngợi sự thù địch”.
Ừ, con nhện đã trả thù! Hỡi ôi, giờ đây nó sắp làm linh hồn ta quay cuồng chóng mặt với sự trả thù!
Nhưng mà, hỡi các bạn, để cho ta đừng lảo đảo quay cuồng, các bạn hãy cột cứng ta vào chiếc cột trụ này! Ta thích chẳng thà làm một đạo sĩ ẩn tu trên đầu cột trụ còn hơn làm một cơn lốc phục hận!
Thực vậy, Zarathustra không phải là một cơn lốc và một vòi rồng; và nếu hắn có là kẻ khiêu vũ, thì hắn không phải là kẻ khiêu vũ của loài nhện độc.
 
Zarathustra đã nói như thế.
0
VỀ NHỮNG NHÀ HIỀN TRIẾT NỔI DANH


Tất cả các ngươi, những nhà hiền triết nổi danh, các ngươi đã phụng sự cho dân chúng và sự mê tín của dân chúng - nhưng các ngươi đã không phụng sự chân lý! Và chính vì thế mà dân chúng ngưỡng vọng tôn kính các ngươi.
Và cũng chính vì thế dân chúng đã khoan thứ cho sự thiếu Đức tin của các ngươi, vì nó chỉ là một trò đùa và là một con đường quanh co dẫn về với dân chúng. Cũng như người chủ để mặc kệ bọn nô lệ của mình và cười cợt thỏa thích vì sự bồng bột của bọn chúng.
Nhưng kẻ bị dân chúng thù ghét như chó sói bị lũ chó nhà thù ghét, kẻ ấy chính là tinh thần tự do, kẻ thù của những xiềng xích buộc ràng, kẻ không hề tôn sùng, và cư ngụ trên những rừng cao.
Xua đuổi họ ra khỏi hang động, - đấy chính là điều mà dân chúng vẫn luôn luôn gọi là “ý thức về sự công chính phải lẽ”: dân chúng còn kích thích những con chó dữ tợn nhất của họ để chống lại tinh thần tự do.
“Bởi vì chân lý có ở nơi nào có dân chúng! Khổ thân! Khổ thân cho kẻ nào tìm kiếm!” - những lời đó cứ vang dội mãi mãi qua mọi thời đại.
Hỡi những nhà hiền triết nổi danh! Các ngươi đã muốn tìm cách đặt định lý do vững chãi cho sự kính ngưỡng của dân chúng: đấy chính là điều được các ngươi gọi là “ý chí ước muốn sự thật”.
Và lòng các ngươi luôn luôn nhủ thầm: “Ta đã đến từ dân chúng: và đấy cũng chính là nơi tiếng nói của Thượng đế đã đến với ta”.
Kiên quyết, khôn ngoan, giảo quyệt như những con lừa, các ngươi luôn luôn bênh vực cho dân chúng.
Và muốn giao hảo tốt đẹp với dân chúng, nhiều kẻ quyền lực đã bắt kế một con lừa trước những con ngựa của họ, một nhà hiền triết trứ danh!
Nhưng giờ đây, hỡi các nhà hiền triết trứ danh, ta muốn rằng sau cùng các ngươi nên vứt bỏ đi bộ da sư tử.
Bộ da lốm đốm tạp sắc của con thú săn mồi, cùng những túm lông gáy của kẻ thám hiểm, tìm kiếm, chinh phục.
Hỡi ôi! Muốn học tin tưởng vào “tính chất đích thực” của các ngươi, thì trước hết ta phải nhìn thấy các ngươi đập vỡ ý chí kính mộ của mình.
Ta gọi con người đích thực là kẻ bỏ đi vào trong những vùng sa mạc không Thượng đế, là kẻ đập vỡ tan quả tim tín mộ của mình.
Bước đi trên cát vàng nóng bỏng, bị ánh mặt trời thiêu đốt, hắn thèm khát liếc nhìn những hòn đảo với những suối nước tràn trề, nơi mà đời sống an nghỉ dưới những cái cây tỏa đầy bóng mát.
Nhưng cơn khát của hắn không thuyết phục hắn trở thành giống với những kẻ an nhàn tự mãn đó; bởi vì nơi nào có ốc đảo xanh tươi thì nơi đó cũng có những thần tượng.
Đói khát, tàn bạo, cô đơn, vô tín ngưỡng, không Thượng đế: đấy là ước muốn của ý chí con mãnh sư.
Giải thoát khỏi hạnh phúc của hạng nô lệ, giải phóng khỏi những thần linh, khỏi những sùng bái ngưỡng mộ, không sợ hãi và kinh hoàng, cao cả và cô đơn: đấy là ý chí của kẻ chân thực.
Chính sa mạc đã luôn luôn là nơi sinh sống của những con người chân thực, những tinh thần tự do, như là những chủ nhân của sa mạc; còn các thành phố là nơi cư ngụ của các nhà hiền triết nổi danh và được nuôi ăn kỹ lưỡng - những con thú dùng chở nặng.
Bởi vì luôn luôn những nhà hiền triết kéo chiếc xe của dân chúng đi, như một bầy lừa!
Không, ta không thù ghét bọn chúng: nhưng ta thấy chúng chỉ là những tôi tớ, những con vật kéo xe bị đóng yên cương, ngay cả khi những bộ yên cương bằng vàng làm chúng lấp lánh chói sáng.
Và thường khi, bọn chúng đã là những tôi tớ ngoan ngoãn, đáng được ca tụng. Bởi vì đức hạnh khuyên như thế này: “Nếu phải làm tôi tớ, thì hãy tìm kẻ mà những sự phục vụ của mi có ích nhất cho họ! Tinh thần và đức hạnh của chủ mi phải tăng trưởng lớn mạnh thêm vì mi đang phục vụ cho ông ta: như thế, mi mới tự mình tăng trưởng lớn mạnh cùng với tinh thần và đức hạnh ông ta!”
Và thực vậy, hỡi các nhà hiền triết nổi danh, đám tôi tớ của dân chúng, các ngươi đã tự mình tăng trưởng lớn mạnh cùng với tinh thần và đức hạnh của dân chúng, và dân chúng đã lớn mạnh tăng trưởng nhờ các ngươi! Ta nói ra điều này là để tôn vinh các ngươi đấy!
Nhưng ngay cả trong đức hạnh của các ngươi, các ngươi vẫn còn là dân chúng, dân chúng với đôi mắt khờ dại ngu si, - đám dân chúng không biết bản chất của tinh thần là gì cả!
Tinh thần là sự sống phân cắt chia lìa chính sự sống: chính nhờ nỗi đau khổ riêng tư của mình, sự sống mới tăng gia được tri thức của nó, - các ngươi biết điều đó chứ?
Đây là hạnh phúc của tinh thần: được xức dầu thánh, và qua những dòng lệ, được làm nạn nhân linh thánh để tế lễ trên giàn hỏa, - các ngươi biết điều đó chứ?
Và kẻ tôn thờ yêu mến tri thức phải học xây dựng với những ngọn núi. Đối với tinh thần, việc chuyển dịch những ngọn núi là chuyện nhỏ nhặt chẳng đáng kể, - các ngươi biết điều đó chứ?
Các ngươi chỉ biết những hoa lửa do tinh thần bắn ra: nhưng các ngươi không biết tinh thần là chiếc đe cứng rắn đến bậc nào và cũng chẳng biết sự tàn bạo của chiếc búa tinh thần!
Thực ra, các ngươi không hề biết sự kiêu hãnh của tinh thần! Nhưng các ngươi lại càng chịu đựng không nổi sự khiêm tốn của tinh thần, nếu một ngày kia nó muốn lên tiếng nói.
Và các ngươi hãy còn chưa bao giờ có thể quăng vứt tinh thần mình vào trong một cái hố đầy tuyết lạnh: các ngươi hãy còn chưa đủ nóng để làm như thế! Vì vậy, các ngươi cũng chẳng hề biết đến những sung sướng ngất ngây mà sự lạnh lẽo giá băng của chiếc hố ban cho.
Nhưng trong mọi sự, các ngươi lại tỏ ra quá quen thuộc với tinh thần; và các ngươi đã luôn biến trí huệ hiền minh thành một bệnh viện, một chốn nương thân cho những tên thi sĩ tồi.
Các ngươi chẳng phải là những con ó: chính vì thế các ngươi đã không học được hạnh phúc chứa trong sự khủng khiếp kinh hoàng của tinh thần. Kẻ nào không phải là một con chim thì không nên xây tổ trên những hố thẳm.
Ta sờ thấy các ngươi hâm hẩm, âm ấm: nhưng mọi tri thức sâu thẳm đều giá lạnh. Những suối nguồn bí mật nhất của tinh thần đều lạnh lẽo như băng tuyết, và là một lạc phúc cho những bàn tay bị nóng bỏng, cho những con người hành động.
Các ngươi đang đứng đấy trước mặt ta, dáng điệu đáng kính và cứng đơ, lưng thẳng, hỡi các nhà hiền triết trứ danh! Các ngươi không bị xô đẩy trong sức mạnh của gió và ý chí.
Các ngươi có bao giờ từng thấy một cánh buồm vượt biển, căng phồng, run rẩy dưới cơn gió bạo tàn?
Như cánh buồm run rẩy dưới sự tàn bạo phũ phàng của tinh thần, Trí huệ Hiền minh của ta băng vượt qua biển cả, - Trí huệ Hiền minh hoang dã của ta!
Nhưng các ngươi, đám tôi tớ của dân chúng, hỡi những nhà hiền triết trứ danh, làm thế nào các ngươi có thể đến với ta được?
0
DẠ KHÚC


Đêm đã đến: những suối nước giờ đây cất cao tiếng nói tuôn trào. Và linh hồn ta cũng là một suối nước tuôn trào.
Đêm đã đến: tất cả những ca khúc của các tình nhân đều tỉnh dậy. Và linh hồn ta cũng là một ca khúc của các tình nhân.
Có một nỗi khao khát khôn nguôi, không bao giờ nguôi thỏa trong tâm hồn ta đang muốn cất lên tiếng nói. Trong ta có một khát vọng yêu thương đang nói lên bằng ngôn ngữ của tình yêu.
Ta là ánh sáng: A! Có nghĩa ta là bóng tối! Nhưng nỗi cô đơn của ta là được bao quanh bằng ánh sáng!
Hỡi ôi! Ta chỉ toàn là bóng tối và đêm đen! Ta say sưa mút lấy đôi vú căng phồng của ánh sáng.
Và các ngươi nữa, ta cũng chúc phúc cho các ngươi, hỡi những tinh tú nhỏ bé đang nhấp nhánh, những con sâu lóng lánh của bầu trời! Luồng ánh sáng mà các ngươi ban phát cho ta làm lòng ta tràn đầy lạc phúc.
Nhưng mà ta sống khép kín trong ánh sáng của riêng ta, ta thu thập vào mình những ngọn lửa bắn tỏa ra từ ta.
Ta chẳng biết đến hạnh phúc của kẻ nhận lấy, và ta đã thường mơ mộng rằng đánh cắp còn hạnh phúc nhiều hơn là nhận lấy.
Sự nghèo nàn của ta là ở chỗ: bàn tay ta không bao giờ ngừng ban phát; đối tượng của lòng ganh ghét trong ta chính là những đôi mắt đang ngước nhìn chờ đợi và những đêm tối rực sáng khát vọng của họ.
Ôi, nỗi khốn khổ của tất cả những kẻ ban phát! Ôi, sự mù tối của mặt trời ta! Ôi, khát vọng muốn khát vọng! Ôi, cơn đói đang giày vò ta giữa cơn no chán thỏa thuê!
Bọn chúng nhận lấy những gì ta ban cho bọn chúng: nhưng ta có thể chạm đến tâm hồn bọn chúng chưa? Có một hố thẳm giữa ban cho và nhận lấy; và hố thẳm nhỏ bé nhất là hố thẳm khó lấp đầy nhất.
Một cơn đói khát nảy sinh từ vẻ đẹp của ta; ta muốn làm khổ những kẻ ta soi sáng, muốn lấy trộm của những kẻ ta vừa ban cho, - ta khát khao sự ác độc.
Rụt tay lại khi bàn tay của bọn chúng đã vươn về phía tay ta, giống như thác nước khi sắp rơi ào xuống vẫn còn lưỡng lự dùng dằng: - ta khát khao sự ác độc như thế đấy.
Đấy là sự phục thù mà sự giàu sang phong phú vô bờ của ta đã âm mưu trù tính, đó là sự xảo quyệt thâm hiểm tuôn trào ra từ nỗi cô đơn của ta.
Hạnh phúc được ban phát chết ngay lúc ta ban phát, đức hạnh của ta chán ngán sự phong phú tràn bờ của chính mình.
Kẻ luôn luôn ban phát sẽ có nguy cơ đánh mất sự hổ thẹn: kẻ luôn luôn phân phối rốt cuộc sẽ có bàn tay và trái tim chai đá vô tình.
Mắt ta không còn khóc vì sự hổ thẹn của những kẻ van xin; tay ta đã trở thành quá cứng để cảm thấy sự run rẩy của những bàn tay ta làm đầy.
Những dòng lệ của mắt và lông tơ mềm mại của tay ta đã trở thành gì? Ô! Sự im lặng của tất cả những kẻ soi sáng.
Biết bao mặt trời đang xoay tròn trong thinh không hoang vắng: ánh sáng những mặt trời đó ngỏ lời với tất cả những gì mang chứa bóng đêm, - chỉ riêng đối với ta, chúng mới câm lặng không lời.
Hỡi ôi! Đấy là lòng thù hận của ánh sáng đối với tất cả những gì phát quang rực rỡ! Tàn nhẫn, nó cứ theo lộ trình của mình.
Bất công tận đáy lòng đối với tất cả những gì phát quang rực rỡ lạnh lùng băng giá đối với những mặt trời khác, - tất cả mọi mặt trời đều xoay vần như thế đó.
Như cơn dông bão, những mặt trời xoay theo quỹ đạo của mình; đấy là con đường của chúng. Chúng đi theo ý chí kiên quyết của mình; đấy là sự lạnh lùng băng giá của chúng.
Ồ! Chỉ các ngươi, những sinh thể tối tăm và thuộc về đêm tối mới tạo nên hơi nóng bằng ánh sáng! Ồ! Chỉ các ngươi mới kề môi uống sữa nồng cùng an lạc nơi đôi vú của ánh sáng!
Hỡi ôi, băng giá vây bọc quanh ta, bàn tay ta cháy bỏng khi chạm phải giá băng buốt lạnh! Hỡi ôi! Ta khao khát được uống lấy cơn khát của ngươi.
Đêm đã đến: hỡi ôi! Tại sao ta phải là ánh sáng! Và khao khát bóng tối! Và cô đơn!
Đêm đã đến: giờ đây khát vọng của ta tuôn trào như một suối nước, - khát vọng của ta muốn lên tiếng.
Đêm đã đến: những suối nước cất cao giọng nói tuôn trào. Và tâm hồn ta cũng là một suối nước.
Đêm đã đến: tất cả những khúc hát yêu thương đều thức dậy. Và tâm hồn ta cũng là một khúc hát yêu thương.
 
Zarathustra đã nói như thế.
0
VŨ KHÚC


Một buổi chiều kia, Zarathustra cùng các môn đệ băng qua khu rừng cao; trong khi đang đi tìm một suối nước, hắn đặt chân đến một đồng cỏ xanh rì, viền quanh bằng những cây cổ thụ và những bụi rậm tĩnh mịch: có một bầy thiếu nữ đang khiêu vũ trên cỏ xanh. Khi nhận ra Zarathustra, các cô ngừng khiêu vũ, nhưng Zarathustra thân ái tiến lại gần và nói như sau:
 
Hỡi những thiếu nữ diễm lệ, xin các cô đừng ngưng khiêu vũ! Ta không phải là kẻ phá đám đến với các cô bằng đôi mắt nguy hiểm, ta không phải là một kẻ thù của các thiếu nữ!
Ta là trạng sư biện hộ cho Thượng đế trước mặt Quỷ vương: thế nhưng Quỷ vương chính là Tinh thần Trì độn Nặng nề. Hỡi những sinh vật nhẹ nhàng phiêu hốt kia, làm sao ta có thể là kẻ thù của những vũ điệu thần thánh hay là của những bàn chân thiếu nữ với đôi mắt cá mỹ miều?
Cố nhiên, ta là một khu rừng và một đêm tối phủ từ những cái cây tỏa bóng rậm: nhưng kẻ nào không sợ đêm tối của ta thì sẽ tìm thấy những vườn hồng dưới đám cây trắc bá rừng ta.
Hắn cũng sẽ tìm thấy ở đấy vị thần bé nhỏ mà các cô thiếu nữ yêu thích: vị thần lặng im ngồi an nghỉ bên cạnh suối nước, đôi mắt nhắm lại mơ màng.
Thực ra, vị thần lười biếng nọ đang thiếp ngủ ngay giữa ban ngày! Hắn đã muốn đuổi bắt bươm bướm quá nhiều chăng?
Hỡi những nàng vũ nữ xinh đẹp, đừng giận dỗi nếu ta có sửa trị vị thần bé nhỏ kia đôi chút! Hắn sẽ kêu thét và có lẽ sẽ khóc lóc, - nhưng hắn vẫn sẵn sàng cười, ngay cả những khi hắn khóc!
Với đôi mắt đẫm lệ, hắn sẽ xin các ngươi nhảy múa một bản; và ta, ta sẽ phụ họa cuộc khiêu vũ của hắn bằng một khúc ca.
Một vũ khúc và một sự chế nhạo Tinh thần Trì độn Nặng nề, con quỷ tối cao và toàn năng mà loài người suy tôn là vị “chủ tể của thế gian”. - Và đây là ca khúc Zarathustra đã hát lên trong khi Thần Luyến ái cùng các thiếu nữ khiêu vũ:
 
“Ngày nọ, ta đã say đắm nhìn sâu vào đôi mắt nàng, ơi hỡi Cuộc đời! Và ta như bị chìm trong một hố thẳm sâu hút khôn dò!
Nhưng nàng đã kéo ta lên với một chiếc cần câu bằng vàng; và phá lên cười chế giễu khi ta gọi nàng là sâu thẳm khôn dò!
Nàng đã đáp lời ta: “Tất cả mọi con cá đều bảo như thế, cái gì chúng không thể dò được thì đều sâu thẳm khôn dò.
Về phần ta, ta chỉ là sự biến đổi vô thường, tàn bạo, ta chỉ là đàn bà trong mọi sự, nhưng không phải là một người đàn bà đoan trang đức hạnh.
Dẫu rằng loài người các ngươi cho ta là sâu thẳm, trung thành, vĩnh cửu, bí mật.
Nhưng, hỡi con người, các ngươi luôn luôn gán ép những đức hạnh của các ngươi cho chúng ta, hỡi những kẻ đức hạnh!”
Và kẻ bất tín đó cười vang; nhưng ta, ta không bao giờ tin vào nàng ta và nụ cười của nàng, khi nàng tự nói xấu mình như thế.
Và một ngày kia, khi ta thầm thì tâm sự với cô nàng Trí huệ Hiền minh hoang dại của ta, thì trí huệ ấy giận dữ nói thẳng vào mặt ta: “Mi ước muốn, mi khao khát, mi yêu thương cuộc đời, chính vì thế mi mới ca ngợi Cuộc đời!”
Suýt nữa ta đã hung bạo đáp lời và bảo cho người đàn bà giận dữ đó nghe sự thật, chẳng có câu trả lời nào tàn bạo hơn là nói sự thật cho trí huệ của mình.
Vì cả ba chúng ta đối xử liên hệ với nhau như thế, tận thâm tâm, ta chỉ yêu thương cuộc đời, - và thực ra, ta chỉ cuồng nhiệt yêu thương cuộc đời khi nào ta thù ghét cuộc đời.
Nhưng nếu ta ưa thích cô nàng Trí huệ Hiền minh, và thường khi là quá đỗi ưa thích, chính bởi vì nàng gợi nhớ ta quá nhiều về Cuộc đời!
Nàng cũng có cùng một đôi mắt, cùng một tiếng cười và cùng chiếc cần câu bằng vàng: ta còn có thể làm gì được nếu cả hai cùng giống hệt nhau như thế?
Và một ngày kia, khi Cuộc đời hỏi ta: “Cô nàng Trí huệ Hiền minh kia là ai thế?” ta đã vội vã trả lời: “Ờ, ờ, Trí huệ Hiền minh!
Người ta khao khát nàng và không bao giờ có thể thỏa mãn chán chê nơi nàng, người ta tìm cách nhìn qua mạng che mặt của nàng, người ta muốn quăng lưới bắt nàng.
Nàng có đẹp chăng? Nào ta biết! Nhưng ngay cả những con cá chép già nhất cũng còn cắn mồi của nàng.
Nàng thay đổi vô thường và cương ngạnh, ta đã thường nhìn thấy nàng cắn môi, chải ngược tóc lên.
Có lẽ nàng là kẻ hung dữ, xảo trá và là đàn bà trong mọi sự; nhưng chính lúc nàng tự nói xấu mình là lúc nàng quyến rũ hơn bao giờ hết”.
Khi ta nói thế với Cuộc đời, thì Cuộc đời vụt cười hung tợn và nhắm mắt lại rồi nàng cật vấn: “Mi đang nói về ai thế? Có lẽ là nói về ta, phải không?
Dẫu mi có lý chăng nữa, đấy có phải là những điều cần phải nói thẳng vào mặt ta? Bây giờ, hãy nói cho ta nghe về Trí huệ Hiền minh của mi!”
Hỡi ôi! Hỡi Cuộc đời yêu dấu, lúc bấy giờ mi lại mở mắt ra! Và ta như thấy mình bị rơi trở lại vào một hố thẳm hun hút khôn dò”.
 
Zarathustra đã hát như thế. Nhưng khi cuộc khiêu vũ chấm dứt và các thiếu nữ đã bỏ đi xa, hắn trở nên buồn bã. Sau cùng hắn bảo:
“Mặt trời đã lặn từ lâu; cánh đồng ẩm ướt, một cơn gió mát thổi đến từ rừng cao.
Có một cái gì xa lạ bí ẩn chung quanh đang đăm đăm nhìn ta với đôi mắt tư lự. Thế nào, mi vẫn còn sống à, Zarathustra?
Tại sao? Vì mục đích nào? Vì phương tiện nào? Đi về đâu? Ở đâu? Thế nào? Hãy còn sống, còn thở: đấy chẳng phải là điên rồ hay sao?
Than ôi, hỡi các bạn, chính đêm tối đang lên tiếng cật vấn trong ta. Xin tha thứ cho ta về nỗi buồn!
Đêm tối đã đến: xin tha thứ cho ta vì đêm tối đã đến!”
 
Zarathustra đã nói như thế.
0
MỘ KHÚC


“Nơi kia là hòn đảo ủ kín những mộ phần, hòn đảo tĩnh mịch, nơi đó cũng chôn vùi những ngôi mộ của tuổi thanh xuân ta. Ta muốn mang đến đấy một vòng hoa vĩnh cửu của lòng đời”.
Lòng đã quyết như thế, ta băng qua biển cả.
Ơi hỡi các ngươi, những hình ảnh và ảo tưởng của tuổi thanh xuân ta! Ơi hỡi những tia nhìn yêu thương, những khoảnh khắc linh thánh![1] Các ngươi chóng tan như bóng mây, bọt nước! Hôm nay ta nghĩ tưởng đến các ngươi như nghĩ đến những người chết yêu dấu.
Hỡi những người chết vô vàn yêu dấu của hồn ta, từ các ngươi tỏa bay đến ta một làn hương thơm ngát làm trái tim nguôi dịu và nước mắt ứa ra. Thực thế, mùi hương ấy lay động và làm khuây khỏa trái tim kẻ vượt biển một mình.
Ta, con người cô đơn nhất, ta luôn luôn là kẻ giàu sang và đáng thèm muốn ước ao nhất. Bởi vì ta đã sở hữu các ngươi và các ngươi hãy còn sở hữu được ta: hãy nói cho ta biết, còn rơi cho ai những quả táo chín đỏ rơi từ cây xuống cho ta này?
Ta luôn luôn là kẻ kế thừa và là nền đất cho tình yêu các ngươi! Hỡi các bạn yêu dấu! để tưởng niệm các bạn ta bừng nở thành những đức hạnh muôn màu nghìn sắc diễm lệ.
Hỡi ôi! Hỡi những điều kỳ diệu lạ lùng diễm tuyệt, chúng ta đã được sinh ra để sống cùng nhau; các ngươi đã tiến đến gần ta và gần dục vọng của ta, - không phải như những con chim nhút nhát, nhưng với đức tin cẩn vào kẻ có lòng tin cẩn!
Cố nhiên, cũng như chính ta, các ngươi được tạo ra cho lòng trung thành, cho những vĩnh cửu của trìu mến dịu dàng; giờ đây, hỡi những tia nhìn và những khoảnh khắc linh thánh, liệu ta có phải gán cho các ngươi một cái tên khác căn cứ vào sự bất trung của các ngươi không: ta hãy còn chưa biết được cái tên nào khác.
Thật ra, hỡi những kẻ trốn chạy lang thang, các ngươi đã lìa đời quá sớm đối với ta! Tuy nhiên các ngươi đã không chạy trốn ta cũng như đã không chạy trốn các ngươi; ta và các ngươi, cả hai đều vô tội ngây thơ trong sự bất trung của mình.
Chính vì muốn giết chết ta, người ta đã siết họng các ngươi, hỡi những con chim ca hót của những hy vọng ta! Ờ, đúng vậy, chính các ngươi, những kẻ yêu dấu nhất của ta, các ngươi là đích nhắm cho sự độc ác buông tên, - để tên nhọn kia làm thương tổn tim ta!
Và sự độc ác đã bắn trúng tim ta. Bởi các ngươi đã luôn là tài sản thân thiết nhất của ta, thứ ta sở hữu và sở hữu được ta: Chính vì thế, các ngươi phải chết trẻ và lìa đời quá sớm!
Mũi tên đã bắn về vật sở hữu dễ tổn thương nhất của ta: bắn vào chính ngươi, kẻ có làn da êm mượt lông tơ, và càng giống hơn nữa với một nụ cười vội tắt khi mới bị nhìn đến.
Nhưng ta muốn nhắn gửi lời này cùng các thù địch của ta: tất cả những vụ sát nhân này có nghĩa lý gì khi so sánh với điều bọn mi đã ban cho ta.
Điều bọn mi đã ban cho ta còn ác độc gấp trăm ngàn lần những sự sát nhân; bọn mi đã lấy mất của ta cái bất khả thay thế: đấy là điều ta cần phải nói với bọn mi, hỡi những thù địch của ta!
Bởi vì bọn mi đã giết chết những ảo tưởng của tuổi thanh xuân và những phép lạ thân thiết nhất của ta! Bọn mi đã lấy mất của ta những người bạn chơi, những tinh thần đầy lạc phúc tràn trề! Để tưởng niệm những người bạn đó, ta đặt lên đây vòng hoa này cùng lời nguyền rủa.
Lời nguyền rủa nhắm vào bọn mi, hỡi những thù địch của ta! Bởi vì bọn mi đã chặt đứt niềm lạc phúc vĩnh cửu trong ta, như một âm thanh bị vỡ vụn trong đêm tối lạnh giá. Ta đã chỉ kịp nhìn nó lấp lánh trong thoáng qua như một cái nhìn linh thánh.
Một ngày kia, vào một giờ thuận tiện, sự trinh khiết của ta đã bảo cùng ta: “Đối với ta, tất cả mọi hữu thể đều phải là linh thánh thiêng liêng!”
Lúc bấy giờ, bọn mi đã tấn công ta bằng những con ma nhơ bẩn. Hỡi ôi! Cái giờ thuận tiện ấy đã chạy trốn về đâu?
“Tất cả mọi ngày đều phải thiêng liêng đối với ta”, - một ngày kia trí huệ của tuổi thanh xuân đã nói thế; thực vậy, đó là ngôn ngữ của một trí huệ tràn đầy hoan lạc.
Nhưng rồi lúc bấy giờ, bọn mi, những thù địch của ta, bọn mi đã đánh cắp những đêm tối của ta và biến chúng thành những cơn mất ngủ quằn quại đớn đau. Hỡi ơi! trí huệ tràn đầy hoan lạc ấy đã chạy trốn về đâu?
Xưa kia, ta khao khát những con chim báo điềm lành; thế rồi bọn mi đã đặt trên đường đi của ta một con cú quỷ mị, bất tường. Hỡi ôi! Vậy thời khát vọng dịu dàng trìu mến ấy của ta đã chạy trốn về đâu?
Một ngày nọ, ta thệ nguyện khước từ tất cả mọi sự kinh tởm, buồn nôn, thì bọn mi liền biến tất cả những gì vây bọc gần gũi quanh ta thành những mụt nhọt ung thối! Hỡi ôi! Những lời thệ nguyện cao nhã nhất của ta đã chạy trốn về đâu?
Xưa kia, ta bước trên những con đường lạc phúc như một người mù: lúc bấy giờ bọn mi liền vứt những đồ nhơ bẩn trên đường đi của kẻ mù; giờ đây kẻ đó đã kinh tởm gớm ghét con đường mù lòa cũ.
Và khi ta đã làm điều khó khăn nhất đối với mình, khi ta xưng tụng những chiến thắng ta đã thu được đối với tự thân, thì bọn mi liền thúc đẩy những kẻ yêu thương ta la hét ầm lên rằng lúc đó ta đã làm họ thương tổn và khổ đau nhiều nhất.
Thực ra, bọn mi đã luôn luôn hành động như thế; bọn mi đã làm thương tổn chất mật ngọt ngào nhất của ta cùng sự cần mẫn nhiệt thành của những con ong hảo diệu nhất của ta.
Bọn mi bao giờ cũng gửi đến cho lòng bác ái của ta những kẻ ăn xin trơ trẽn vô liêm nhất; bọn mi luôn luôn xô đẩy đến chung quanh ta những kẻ trơ tráo bất trị nhất. Như thế, bọn mi đã làm tổn thương đến những đức hạnh của ta trong đức tin của chúng.
Và khi ta muốn đem vật thiêng liêng tôn quý nhất đối với ta làm của hiến tế, thì lòng “sùng tín” của bọn mi vội vã thêm vào đó những của lễ béo mập hơn: đến đỗi vật thiêng liêng tôn quý nhất của ta phải ngộp thở trong những khói mù từ mỡ béo của bọn mi.
Và một ngày kia, ta đã muốn khiêu vũ như chưa từng bao giờ khiêu vũ: ta muốn khiêu vũ ở bên trên tất cả những tầng trời. Lúc bấy giờ, bọn mi đã dùng mưu kế lung lạc người ca sĩ yêu thích nhất của ta.
Và hắn đã cất lên một âm điệu trầm buồn thảm khốc. Hỡi ôi! Hắn đã rúc lên điệu đó vào tai ta như một hồi còi tang!
Kẻ ca hát sát nhân, khí cụ của sự hung dữ, mi, kẻ ngây thơ vô tội nhất! Ta đã sẵn sàng cho cuộc khiêu vũ tuyệt mỹ nhất, thì những âm thanh của mi vang đến giết chết sự say sưa ngây ngất xuất thần của ta!
Chỉ khi khiêu vũ, ta mới biết cách nói lên ẩn dụ về những sự vật cao nhã tuyệt vời nhất: nhưng giờ đây biểu tượng ẩn dụ cao quý nhất của ta đành nằm im lặng vô thanh trong tứ chi ta.
Niềm hy vọng cao tuyệt nhất không được phát biểu và không được cứu chuộc. Và tất cả những ảo tưởng cùng những mối an ủi nguôi khuây của tuổi thanh xuân ta đều chết rũ!
Làm sao ta đã chịu đựng nổi điều đó, làm sao ta đã kiên trì vượt thắng được những vết thương như thế? Làm sao linh hồn ta đã phục sinh được từ những mộ phần kia?
Ờ, trong ta có một cái gì không thể bị thương tổn, không thể bị chôn vùi được, một cái gì làm vỡ tung những tảng đá rắn chắc: đó là ý chí của ta. Ý chí ta lặng lẽ tiến bước, bất di bất dịch theo dòng năm tháng.
Ý chí thân thiết ấy của ta muốn bước đi trên đôi chân ta; tâm trí nó cứng rắn tàn nhẫn và không thể tổn thương được.
Ta, ta chỉ bất khả tổn thương ở gót chân. Hỡi ý chí kiên trì của ta ơi! Mi luôn luôn sống còn, luôn luôn đồng dạng với chính mình. Mi luôn luôn mở được một con đường đi ra khỏi tất cả những mộ phần.
Tất cả những gì không thể bừng nở trong tuổi thanh xuân của ta đều còn sống sót nơi mi, với bộ dạng đầy sức sống, tươi trẻ, với lòng tràn đầy hy vọng, mi đến ngồi trên những phế tích úa vàng của những ngôi nhà mồ.
ờ, đối với ta, mi vẫn là kẻ phá hủy tất cả những ngôi mộ. Xin chào mi, hỡi ý chí của ta. Và chỉ nơi nào có những mộ phần, nơi đó mới có những sự phục sinh.
 
Zarathustra đã ca hát như thế.
 

[1] “Ơi hỡi những tia nhìn yêu thương, những khoảnh khắc linh thánh”, Nietzsche chơi chữ Blicke: những tia nhìn, và chữ Augenblicke: những khoảnh khắc. Augenblicke do chữ Augen là “những con mắt” nên còn có nghĩa là “những thoáng nhìn của đôi mắt”, mà bản dịch không chuyển ra được, vì phải nắm lấy nghĩa thứ nhất.
[/align] [/align]
0
VỀ SỰ CHIẾN THẮNG TỰ THÂN


“Ý chí truy cầu chân lý”, đấy là tên mà các ngươi, những kẻ khôn ngoan hiền triết bậc nhất, dùng để gọi sức mạnh thúc đẩy làm các ngươi đầy khao khát nồng nàn, có phải thế không?
Ý chí muốn đạt đến tính khả tưởng của mọi hữu thể: ta gọi ý chí của các ngươi như thế đó!
Các ngươi muốn làm cho mọi cái đang hiện thể đều trở thành khả tưởng, bởi vì các ngươi hồ nghi có căn cứ rằng mọi cái đang hiện thể đã hoàn toàn là khả tưởng.
Mọi cái gì đang hiện thể đều quy phục và gấp lại theo ý các ngươi. Ý chí các ngươi đòi hỏi như thế.
Tất cả mọi sự phải trở thành dịu dàng nhẵn nhụi và phải quy phục tinh thần như là tấm gương và phản ánh của tinh thần.
Đấy là tất cả ý chí của các ngươi, hỡi những kẻ hiền triết nhất trong số các hiền triết; đấy là một ý chí cường lực, ngay cả khi các ngươi nói về “thiện” “ác” và đưa ra những phán đoán giá trị.
Các ngươi muốn sáng tạo nên một thế giới để các ngươi có thể quỳ gối sùng bái: đấy là hy vọng cuối cùng, là cơn say sưa tối hậu của các ngươi.
Cố nhiên, những người tâm trí đơn sơ, đám đông dân chúng, giống như một con sông trên đó bồng bềnh một chiếc thuyền trôi. Mang mặt nạ và long trọng ngồi trên thuyền là những phán đoán về giá trị.
Các ngươi đã phóng đặt ý chí cùng những giá trị của các ngươi trên dòng sông biến dịch; những tin tưởng của dân chúng về thiện ác biểu lộ cho ta thấy một ý chí cường lực rất cổ xưa.
Chính các ngươi, hỡi những nhà hiền triết khôn ngoan nhất, các ngươi cùng ý chí thống trị trỗi vượt của các ngươi đã đặt những người khách như thế vào trong thuyền ấy, đã trang điểm cho họ bằng những trang sức và những tên gọi tráng lệ, rực rỡ.
Giờ đây, dòng sông lôi cuốn chiếc thuyền các ngươi, dòng sông phải lôi cuốn thuyền đi. Dầu cho sóng có vỡ tan trào bọt và xô đẩy sườn thuyền với lòng phẫn nộ, nào có hề gì!
Hỡi những nhà hiền triết khôn ngoan nhất, không phải dòng sông là mối nguy hiểm, là kết cục cho điều thiện và điều ác của các ngươi mà chính là ý chí, ý chí cường lực, - ý chí  sống còn, miên man bất tuyệt và sáng tạo.
Nhưng, để các ngươi lĩnh hội được ngôn ngữ của ta về thiện và ác, ta sẽ còn nói cho các ngươi nghe về sự sống, về bản chất sinh vật.
Ta đã theo dõi sinh thể mang sự sống, ta đã theo đuổi nó trên khắp những con đường lớn nhỏ, cốt để thấu hiểu những lề thói của nó.
Khi sự sống im hơi, ta đã thu đón cái nhìn của sinh thể trên một tấm gương trăm mặt, để con măt của sự sống lên tiếng với ta, và con mắt ấy đã ngỏ lời cùng ta.
Nhưng bất luận nơi nào gặp sinh thể, ta đều nghe những tiếng nói vâng phục. Tất cả mọi sinh thể đều vâng phục.
Và đây là điều thứ nhì: người ta chỉ huy điều khiển kẻ không biết tự vâng phục chính mình. Đấy là lề thói của những vật sống.
Đây là điều thứ ba ta đã nghe được: chỉ huy, điều khiển thì muôn vàn khó khăn hơn vâng phục. Bởi vì kẻ ban lệnh chỉ huy phải mang gánh nặng của tất cả những kẻ vâng phục, và gánh nặng này dễ dàng đè y bẹp rúm tan tành.
Trong mọi việc chỉ huy ban lệnh, ta đều nhìn thấy một sự thử thách, một sự liều lĩnh. Và khi ban lệnh chỉ huy thì sinh thể luôn luôn đánh liều đời sống của mình.
Khi tự ban lệnh chỉ huy chính mình, thì hắn cũng vẫn phải trả giá cho quyền ban lệnh chỉ huy đó. Nhất thiết hắn phải là quan tòa, kẻ trả thù và là nạn nhân cho lề luật của chính mình.
Làm sao chuyện ấy có thể xảy ra được? Ta tự hỏi mình. Cái gì thuyết phục sinh thể vâng phục và chỉ huy, và vâng phục ngay trong lúc chỉ huy?
Giờ đây, hãy nghe ta nói, hỡi những nhà hiền triết khôn ngoan nhất. Hãy khảo sát một cách đứng đắn xem ta đã bước vào tận trái tim của đời sống, tận những cội rễ của trái tim nó  hay chưa!
Bất luận gặp gỡ sinh thể nơi nào, ta đều gặp thấy ý chí cường lực; và ngay cả trong ý chí của kẻ vâng phục, ta cũng tìm thấy ý chí muốn làm chủ nhân.
Kẻ yếu phải phụng sự cho kẻ mạnh, đấy là điều mà ý chí hắn bắt hắn ngả theo, một ý chí đến phiên nó muốn làm chủ nhân của cái gì còn yếu hơn nó. Đấy là niềm vui duy nhất mà ý chí ấy không muốn khước từ.
Cũng giống như kẻ thấp hèn vâng phục kẻ cao đại nhất, để đến lượt mình được hưởng vui sướng và quyền lực đối với kẻ thấp hèn nhất, cũng thế, kẻ cao đại tột vời nhất trong tất cả vẫn còn vâng phục và đánh liều sinh mạng mình để đạt đến quyền lực.
Đấy là sự vâng phục của kẻ cao đại nhất; sự vâng phục chứa đầy liều lĩnh, nguy hiểm, bạt mạng, đánh đu với cái chết.
Bất luận nơi nào con người hiến tế, phụng sự và đưa mắt nhìn yêu thương trìu mến, nơi đó cũng có ý chí muốn làm chủ nhân. Chính nhờ những con đường quanh co khuất khúc, kẻ yếu đuối nhất đã lẻn vào trong pháo đài, vào tận quả tim kẻ mạnh nhất, - ở đó hắn đánh cắp quyền lực.
Chính đời sống đã thổ lộ với ta niềm bí ẩn sau đây. - “Này, nó bảo ta, ta là cái phải luôn tự vượt bỏ chính mình.
Thực ra, dẫu mi có gọi đó là ý chí sáng tạo hay bản năng hướng đến mục tiêu, hướng đến một cái gì cao nhã nhất, xa vời nhất, đa tính nhất, thì tất cả điều đó đều như nhau, và đấy cũng là một bí mật độc đáo duy nhất.
Ta thích chẳng thà suy tàn tiêu diệt còn hơn là khước từ khát vọng độc nhất ấy; thực vậy, nơi nào có sự tàn tạ, sự rơi rụng của những chiếc lá, nơi đó đời sống tự hy sinh chính mình, - để đạt tới quyền lực.
Ta phải là sự chiến đấu, sự biến dịch, mục tiêu và sự chống đối giữa các mục tiêu. Hỡi ôi! Kẻ nào đoán chừng được ý chí của ta, chắc hẳn cũng đoán được rằng những con đường hắn phải bước theo sẽ quanh co khuất khúc ngần nào!
Dẫu có sáng tạo nên vật gì và có yêu thương nó cách nào đi nữa, ta cũng phải lập tức biến thành thù địch của nó và thù địch của tình yêu ta: ý chí ta ra lệnh như thế.
Và mi nữa, mi, kẻ tìm kiếm yêu thương tri thức, mi chỉ là con đường mòn và là ấn tích của ý chí ta: thực ra, ý chí ta, cường lực của ta cũng bước đi trên những dấu chân của ý chí truy cầu chân lý của mi!
Kẻ nào đã tuyên bố về “ý chí khát sống” là kẻ chắc chắn chưa chạm mặt chân lý; ý chí khát sống ấy không hiện hữu.
Bởi vì cái gì không hiện hữu thì không thể ước ao hiện hữu; và cái gì đang hiện hữu thì làm thế nào nó lại ước ao hiện hữu nữa?
Chỉ nơi nào có đời sống, nơi đó mới có ý chí: không phải ý chí khao khát sự sống, nhưng là ý chí cường lực, như ta đã giảng dạy cho mi.
Có nhiều sự việc mà sinh thể cho là cao hơn cả đời sống, nhưng trong chính sự phán định giá trị ấy, vẫn ngân vang lên giọng nói sang sảng của ý chí quyền lực!”
Đấy là điều xưa kia cuộc đời đã dạy cho ta, và hỡi những nhà hiền triết khôn ngoan nhất, chính nhờ lời dạy đó, ta mới giải đoán được ẩn ngữ cõi lòng các ngươi.
Ta nói thực cùng các ngươi: cái thiện và cái ác trường tồn bất hoại, - không hề hiện hữu! Cái thiện và cái ác phải mãi mãi không ngừng tự vượt bỏ chính mình.
Những giá trị cùng những ngôn ngữ của các ngươi về thiện ác chỉ là những phương tiện để biểu tỏ sức mạnh, hỡi những kẻ phán đoán về giá trị: đấy là tình yêu ẩn giấu của các ngươi, là sự rạng rỡ, cơn rùng mình, sự tràn trề tuôn chảy của tâm hồn các ngươi.
Nhưng có một quyền lực mạnh mẽ hơn đang lớn mạnh trong những giá trị của các ngươi, một chiến thắng mới mẻ làm vỡ tung quả trứng và lớp vỏ trứng.
Bất cứ kẻ nào phải sáng tạo trong thiện và ác đều tất yếu phải là kẻ hủy hoại và đập vỡ những giá trị.
Như thế, sự hung ác tệ hại nhất là thành tố bất khả phân của sự thiện hảo tốt lành nhất. Nhưng sự thiện hảo tốt lành ấy chính là sự sáng tạo.
Chúng ta hãy nói về những điều đó, hỡi những nhà hiền triết khôn ngoan nhất, dẫu rằng nó có làm ta đau đớn, bởi vì im lặng còn tệ hại hơn: tất cả những chân lý câm lặng không thốt nên lời đều trở thành nọc độc.
Và cầu cho tất cả những gì mỏng manh đến va chạm vào những chân lý của ta đều bị vỡ tung thành nghìn mảnh! Hãy còn nhiều ngôi nhà cần phải xây dựng nên!
 
Zarathustra đã nói như thế.
0
VỀ NHỮNG CON NGƯỜI CAO NHÃ




Đáy biển cưu mang trong hồn ta thì tĩnh lặng. Ai là kẻ đoán được rằng nó ẩn giấu những con quái vật vui tươi?
Biển sâu của ta bất động tịch nhiên, nhưng nó lấp lánh những ẩn ngữ cùng những tiếng cười bập bềnh.
Hôm nay ta đã gặp một con người cao nhã, một con người nghiêm trang bệ vệ, một kẻ khổ hạnh của tinh thần: ồ! Linh hồn ta đã cười ngặt nghẽo trước vẻ xấu xí của hắn!
Ngực phồng căng như kẻ hít đầy không khí, con người cao nhã đứng đấy, im lặng:
Trang sức bằng những chân lý xấu xí khủng khiếp, chiến lợi phẩm sau cuộc săn, và mặc những bộ quần áo tả tơi; trên người hắn cũng trang điểm nhiều gai - nhưng ta chẳng hề thấy có lấy một đóa hoa hồng.
Hắn còn chưa học biết được tiếng cười và vẻ đẹp. Vẻ mặt ủ rũ buồn rầu, tay thợ săn đó vừa trở về từ khu rừng tri thức.
Hắn đã từ cuộc chiến trở về với những con dã thú: nhưng sự nghiêm trang trì trệ của hắn hãy còn bộc lộ một con dã thú - một con dã thú chưa bị chế phục.
Hắn vẫn đứng đó như một con hổ sắp nhảy chồm lên, song ta không ưa những linh hồn căng thẳng như linh hồn hắn.
Hỡi các bạn, các bạn sẽ bảo ta rằng không nên tranh luận về sở thích và màu sắc. Nhưng cả cuộc đời là trường chiến đấu xoay quanh những sở thích cùng những màu sắc.
Sở thích vừa là quả cân, vừa là chiếc cân; và khốn thay cho tất cả sinh vật nào muốn sống mà không có sự tranh đấu về những quả cân, chiếc cân cùng người sử dụng cân!
Con người cao nhã đó chán ngán tính cao nhã của mình, lúc bấy giờ hắn sẽ băt đầu đẹp ra; chỉ khi đó ta mới có thể thưởng thức nổi hắn và thấy hắn là ngon lành khoái khẩu.
Vì chỉ khi nào quay mặt khỏi chính mình, hắn mới vượt qua được chiếc bóng của mình, thật vậy, khi đó hắn mới nhảy vào mặt trời của mình.
Kẻ khổ hạnh của tinh thần đó đã ngồi trong bóng mát quá lâu; đôi má hắn đã trở thành xanh mét, và trong khi chờ đợi, hắn gần như chết đói.
Ta còn đọc thấy trong mắt hắn một vẻ khinh thị với nếp nhăn chán tởm trên đôi môi. Quả thật, giờ đây hắn đang nghỉ ngơi, nhưng để nghỉ ngơi, hắn đã không nằm dài dưới ánh nắng mặt trời:
Hắn phải làm như con bò rừng; và hạnh phúc của hắn phải bốc lên mùi đất chứ không phải mùi của sự khinh bỉ mặt đất.
Ta thích nhìn thấy hắn giống như một con bò rừng màu trắng, thở phì phò, la rống trước chiếc cày: và lời la rống đó phải là tiếng hát ca tụng tất cả những gì thuộc về mặt đất trần gian.
Khuôn mặt hắn ám tối; bóng tối của bàn tay hắn nô giỡn trên mặt. Tia nhìn hắn hãy còn chìm sâu trong bóng tối.
Chính hành động của hắn hãy còn là một bóng tối phóng chiếu trên hắn: bàn tay làm tối ám kẻ hành động[1]. Hắn hãy còn chưa vượt bỏ được hành động của mình.
Dẫu ta yêu thích cái gáy bò rừng của hắn, nhưng giờ đây ta cũng muốn nhìn thấy tia nhìn của thiên thần.
Hắn cũng phải học quên đi ý chí anh hùng: ta muốn hắn là một kẻ được nâng cao chứ không phải chỉ là một con người cao nhã: - khí tinh thuần của chính hắn, con người không ý chí, phải nâng hắn lên cao.
Hắn đã nhiếp phục những quái vật, hắn đã soi thấu những ẩn ngữ: nhưng hắn cũng phải giải thoát cho những quái vật cùng những ẩn ngữ của hắn; hắn phải chuyển hóa chúng thành những đứa con của trời cao.
Tri thức của hắn hãy còn chưa học cười và học được đức không ganh ghét; ngọn trào đam mê của hắn hãy còn chưa dịu xuống trong vẻ đẹp.
Thực vậy, khát vọng của hắn phải câm tiếng đắm chìm xuống không phải trong sự thỏa mãn chán chê mà là trong vẻ đẹp.
Sự duyên dáng là thành phần của sự khoan thứ nơi những tâm hồn cao đại.
Cánh tay lơ đễnh vắt ngang đầu: kẻ anh hùng phải nghỉ ngơi như thế, hắn phải vượt thắng như thế ngay cả trong sự nghỉ ngơi của mình.
Nhưng chính bởi vì, đối với người anh hùng, vẻ đẹp là điều khó khăn nhất trong tất cả mọi sự. Vẻ đẹp vượt thoát khỏi mọi ý chí tàn bạo.
Ở đây hơn một tí, kém một tí, cũng đã là nhiều rồi, và cũng chính là điểm thiết yếu.
Hỡi những con người cao nhã! Điều khó khăn nhất đối với các ngươi là giữ cho bắp thịt được dãn ra yên nghỉ và ý chí được tháo gỡ yên cương.
Khi quyền lực trở thành duyên dáng và đi xuống cõi hữu hình thì ta gọi sự đi xuống đó là vẻ đẹp.
Ta chẳng đòi hỏi vẻ đẹp nơi bất cứ ai nhiều hơn là mi, hỡi mi là kẻ quyền lực: lòng thiện hảo của mi phải là sự chiến thắng cuối cùng đối với tự thân mi.
Ta tin rằng mi có khả năng làm tất cả mọi điều hung dữ, chính vì thế ta muốn điều thiện cho mi.
Thực ra, ta luôn luôn cười những kẻ yếu đuối tưởng mình là thiện hảo tốt lành vì chúng có đôi chân tàn tật!
Mi phải băt chước đức hạnh của chiếc cột: càng lên cao, chiếc cột càng luôn xinh đẹp, thanh nhã hơn; nhưng ở bên trong, nó càng cứng rắn và chịu đựng kiên trì hơn.
Vâng, hỡi con người cao nhã, một ngày kia mi sẽ xinh đẹp và mi sẽ đưa chiếc gương soi cho sắc đẹp mi soi mặt vào.
Lúc bấy giờ linh hồn mi sẽ rùng mình run rẩy vì những khát vọng linh thánh; và sẽ có sự tôn sùng kính ngưỡng ngay cả trong tính huênh hoang phù phiếm của mi!
Bởi vì đây là bí ẩn của linh hồn: chỉ khi nào kẻ anh hùng đã lìa bỏ linh hồn, lúc đó kẻ siêu-anh-hùng mới tiến đến gần nó trong giấc mộng.
 
Zarathustra đã nói như thế.
 

[1] “bàn tay làm tối ám kẻ hành động”: die Hand verdunkelt den Handelnden. Nietzsche chơi chữ với chữ Hand: bàn tay và chữ Handelnden (cũng có chữ Hand): kẻ hành động.
[/align] [/align]
0
VỀ XỨ SỞ VĂN MINH


Ta đã phóng bay quá xa vào tương lai: một cơn rùng mình run sợ vồ chụp lấy hồn ta.
Khi đưa mắt nhìn chung quanh, thì ô kìa, ta chỉ thấy thời gian là bạn đồng hành độc nhất.
Lúc bấy giờ ta bay ngược trở về càng lúc càng nhanh: ta đã đến gần các ngươi như vậy đó, hỡi những con người hiện đại, trong các xứ sở văn minh.
Lần đầu tiên, ta nhìn thấy các ngươi bằng con mắt thích đáng, với một khát vọng chân thật, thực ra, ta đã đến với tấm lòng đầy hoài vọng.
Nhưng chuyện gì đã xảy đến cho ta? Dẫu rằng lòng có kinh hoàng sợ hãi, ta phải bật cười! Mắt ta chưa hề nhìn thấy cái gì vằn vện lốm đốm nhiều sắc màu như thế!
Ta cứ cười, cười mãi trong khi chân ta run rẩy và cả lòng ta cũng run rẩy. “Quả thực, đây chính là xứ của tất cả những bình đựng thuốc màu!” Ta nghĩ thầm như thế.
Với khuôn mặt và tay chân tô phết bằng năm mươi đốm màu khác biệt, các ngươi ngồi đấy trong khi ta nhìn kinh ngạc, hỡi các ngươi, những con người thời đại!
Và chung quanh các ngươi, năm mươi chiếc gương tâng bốc, bắt chước trò chơi màu sắc của các ngươi!
Thực ra, hỡi con người thời đại, các ngươi không thể mang chiếc mặt nạ nào tốt hơn khuôn mặt của các ngươi. Ai có thể nhận ra các ngươi được chứ?
Được bao phủ bằng những dấu hiệu của quá khứ và được bôi lem luốc bằng những dấu hiệu mới: ngươi lẩn tránh khỏi mọi kẻ đoán tính khí triệu trưng như thế đấy.
Và ngay cả khi người ta có thể thăm dò kỹ càng tim thận, các ngươi làm cho ai tin được rằng các ngươi có tim thận? Các ngươi dường như được nhồi luyện bằng màu sắc và những mẩu giấy dán lại với nhau.
Mọi thời đại và mọi dân tộc đều ném một cái nhìn lẫn lộn xuyên qua những tấm mạng che các ngươi; mọi phong tục và mọi tín ngưỡng đều nói năng lẫn lộn xuyên qua những cử chỉ của các ngươi.
Nếu người ta lột bỏ những tấm mạng che, những khăn choàng, những sắc màu cùng những điệu bộ cử chỉ của các ngươi, thì chỉ còn lại một cái làm hoảng sợ chim chóc.
Thực ra, chính ta là một con chim hoảng sợ vì một ngày nọ ta đã nhìn thấy các ngươi trần truồng, không màu sắc; và ta đã xa bay chạy trốn khi bộ xương đó lại tỏ những cử chỉ thương yêu với ta.
Vì ta thích chẳng thà làm kẻ bị khổ sai trong hỏa ngục, giữa những bóng tối của quá khứ còn hơn! - Những dân cư ở hỏa ngục còn béo mập và có thực hơn là các ngươi!
Vâng, hỡi những con người thời đại, chính sự chua chát trong ruột ta làm ta không thể chịu đựng nổi các ngươi dầu các ngươi trần truồng hay có quần áo!
Tất cả những gì đe dọa trong tương lai, và tất cả những gì chưa hề làm hoảng sợ các con chim lạc lối, những cái đó quen thuộc và làm an tâm hơn là “tính chất thực tại” của các ngươi.
Vì các ngươi nói như thế này: “Chúng ta hoàn toàn là thực tại, và không có đức tin hay mê tín”, rồi các ngươi vênh váo ưỡn ngực ra như thế. - Nhưng hỡi ôi! Ngực các ngươi trống rỗng!
Vâng, làm sao các ngươi có thể tín ngưỡng được, khi các ngươi lam nham tạp sắc như thế? - Các ngươi, những bức vẽ họa lại tất cả những gì con người đã từng tin tưởng.
Các ngươi là những lời bác bỏ sống động đối với mọi đức tin, và các ngươi đập gãy xương mọi tư tưởng. Không thể tin tưởng: đấy là tên ta gọi các ngươi! Hỡi những con người thực tại!
Mọi thời đại phỉ báng lẫn nhau trong tinh thần các ngươi; và những giấc mộng cùng những cuộc nói chuyện tầm phào của mọi thời đại hãy còn thực tại hơn sự tỉnh thức của các ngươi!
Các ngươi là những con người khô cằn, không sinh sản: chính vì thế các ngươi thiếu đức tin. Nhưng kẻ nào phải sáng tạo thì luôn luôn sẽ có những giấc mộng tiên tri cùng những dấu hiệu của tinh tú - và hắn có đức tin vào đức tin!
Các ngươi là những cánh cửa hé mở với những phu đào huyệt đứng chờ, và đây là thực tại của các ngươi: “Mọi sự đều đáng bị lụi tàn hủy diệt”.
Hỡi ôi! Các ngươi đang đứng trước mặt ta, khô cạn, nghèo nàn, không sinh sản, với những chiếc xương sườn gầy còm. Vài kẻ trong bọn các ngươi có lẽ đã ý thức được tình trạng này. Họ tự nhủ:
“Trong khi ta ngủ, hẳn có một vị thần đến lấy một cái gì đó của ta? Thực vậy, một cái gì vừa đủ để tạo thành một người đàn bà?
Thật kỳ lạ thay sự nghèo nàn của những xương sườn của ta!” Nhiều con người thời đại đã nói như thế.
Ờ, các ngươi, những con người thời đại, các ngươi làm ta bật cười! Nhất là khi các ngươi ngạc nhiên về mình mình!
Khổ thân cho ta nếu ta không thể cười lớn về sự ngạc nhiên của các ngươi, nếu ta bị buộc phải uống cạn tất cả mọi sự ghê tởm trong chén các ngươi!
Nhưng ta xem nhẹ các ngươi, vì ta có những sự việc nặng nề hơn cần phải mang vác. Nào có hề gì nếu có những con ruồi hay những con sâu bâu thêm vào trên gánh nặng của ta!
Thực vậy, gánh nặng của ta sẽ không vì thế mà nặng thêm. Và hỡi con người thời đại, nỗi mệt nhọc vĩ đại của ta không phát sinh từ các ngươi.
Hỡi ôi! Giờ đây đâu là nơi ta sẽ leo lên nữa với cõi lòng khát vọng miên man? Từ trên đỉnh cao của mọi ngọn núi, ta đưa mắt dõi tìm những tổ quốc, những vùng đất quê hương, những vùng Quê Cha và những vùng Đất Mẹ.
Nhưng ta không tìm thấy quê hương ở bất cứ nơi nào: ta lang thang phiêu bạt qua mọi đô thị; ta là một khởi hành trước mọi cánh cổng; những con người thời đại mà vừa mới đây lòng ta hướng đến, bây giờ đối với ta lại là những kẻ lạ làm ta phì cười; ta đã bị trục xuất khỏi mọi vùng quê cha và đất mẹ, ta đã bị đuổi khỏi mọi quê hương.
Vì vậy, ta chỉ còn yêu thương xứ sở của những đứa con ta, hải đảo xa lạ giữa lòng biển tuyệt mù khói sóng: đấy chính là miền đất ta đang dong buồm tìm kiếm.
Ta muốn, nhờ các con ta, chuộc lại tội đã làm con của cha ông ta: ta muốn cứu chuộc hiện tại này bằng toàn thể tương lai!
 
Zarathustra đã nói như thế.
0
VỀ TRI THỨC BĂNG TRINH


Hôm qua lúc trăng vừa lên, ta tưởng trăng muốn sinh hạ một mặt trời: trăng nằm sóng sượt cuối chân trời, nặng nhọc, tròn đầy.
Nhưng trăng đã dối gạt ta với sự hoài thai đó; và ta sẵn sàng tin vào người đàn ông trong mặt trăng hơn là tin vào người đàn bà.
Cố nhiên, cả gã đàn ông nhút nhát sống về ban đêm đó cũng có rất ít chất đàn ông. Quả vậy, hắn lướt qua những mái nhà với tâm hồn tràn ngập lo lắng.
Bởi vì gã thầy tu trong mặt trăng ấy lòng tràn đầy dâm đãng, ganh tị; hắn thèm muốn mặt đất cùng tất cả hoan lạc của những kẻ yêu nhau.
Không, ta không yêu hắn, con mèo quỷ quái trên những mái nhà; tất cả những kẻ nào bò lết chung quanh những cửa sổ mở hé, ta đều kinh tởm chúng.
Đầy tín mộ, lặng lẽ, hắn lướt qua những tấm thảm sao cườm nhấp nhánh: nhưng ta thù ghét tất cả những bước chân ai bước quá nhẹ nhàng không làm cho những đinh thúc ngựa kêu vang.
Mỗi bước chân của một con người trung hậu chân chất đều vang lên tiếng nói; nhưng con mèo thì lướt qua lén lút không tiếng động. Hãy nhìn kia, mặt trăng tiến đến một cách bất chính như một con mèo.
Ta xin tặng các ngươi ẩn dụ này, hỡi các người giả đạo đức nhiều tình cảm, các ngươi, những kẻ đi tìm “tri thức thuần túy”! Ta gọi các ngươi là những kẻ dâm đãng!
Các ngươi cũng yêu thương trái đất cùng những gì thuộc về mặt đất: ta đã đoán đúng lắm mà! - Nhưng trong tình yêu của các ngươi, còn có sự hổ thẹn và ý thức bất ổn, - các ngươi giống như mặt trăng.
Người ta đã thuyết phục tinh thần các ngươi khinh bỉ tất cả những gì thuộc về mặt đất, nhưng người ta đã không thuyết phục nổi ruột rà tạng phủ các ngươi: thế mà, ruột rà tạng phủ đó há chẳng là cái gì mạnh mẽ nhất nơi các ngươi sao?
Giờ đây, tinh thần các ngươi xấu hổ vì phải vâng lời ruột rà tạng phủ và tinh thần đi theo những con đường lén lút, giả trá để thoát khỏi sự xấu hổ của mình. Tinh thần giả trá lừa phỉnh của các ngươi tự nhủ mình như thế này:
“Lý tưởng cao đại nhất đối với ta là nhìn cuộc đời mà không nảy sinh lòng thèm khát và không lè lưỡi thèm thuồng như một con chó đói.
Sung sướng trong sự chiêm ngưỡng, với ý chí đã chết, lòng không tham lam thèm muốn ích kỷ, - lạnh lùng và toàn thân thể phủ màu tro lạnh cây khô, nhưng đôi mắt thì say ngập ánh trăng.
Điều ta ưa thích nhất là - kẻ bị quyến rũ tự dụ hoặc chính mình như thế - yêu thương trái đất như mặt trăng yêu thương trái đất và chỉ chạm đến vẻ đẹp nó bằng đôi mắt.
Và đây là điều ta gọi là tri thức trinh tuyền về vạn sự: chỉ đòi hỏi các sự vật để được phủ phục nằm dài trước chúng, như một tấm gương với trăm ngàn con mắt”.
Ô! Những kẻ giả đạo đức đa cảm! Ô! Những kẻ dâm đãng! Các ngươi thiếu sự hồn nhiên trong dục vọng: chính vì thế các ngươi mới phỉ báng dục vọng.
Thật vậy, các ngươi không yêu thương mặt đất như những kẻ sinh nở, như những kẻ hoan say trong biến dịch!
Ở đâu có sự hồn nhiên ngây thơ? Ở nơi đó có ý chí muốn sinh nở. Và kẻ nào muốn sáng tạo một cái gì vượt quá mình là kẻ có ý chí thuần khiết nhất dưới mắt ta.
Ở đâu có vẻ đẹp? Ở nơi đó ta buộc phải ước muốn với toàn thể ý chí của mình; ở nơi đó ta muốn yêu thương và tan biến để cho một hình ảnh nào đó không chỉ còn thuần túy là hình ảnh mà thôi.
Yêu thương và tan biến: hai điều đó hòa hợp song đôi với nhau từ vạn cổ. Muốn yêu thương, tức là cũng sẵn sàng muốn sự chết. Ta đã nói với các ngươi như thế đấy, hỡi những kẻ hèn nhát!
Nhưng giờ đây cái nhìn lén lút đa dâm của các ngươi lại muốn được gọi là sự chiêm ngưỡng! Và những gì người ta có thể chạm phớt với đôi mắt hèn nhát phải được gọi là “đẹp”! Ôi, các ngươi, những kẻ làm vấy bẩn những từ ngữ cao nhã nhất!
Nhưng, hỡi những con người trinh khiết, những kẻ tri thức thuần túy, đây là lời nguyền rủa dành cho các ngươi, các ngươi chẳng bao giờ sinh nở được, dẫu rằng các ngươi nằm sóng sượt ở chân trời, nặng nề và đầy đặn.
Thực vậy, miệng các ngươi đầy những lời lẽ tao nhã: và hỡi những kẻ dối láo kia! Các ngươi muốn làm cho chúng ta tin rằng quả tim các ngươi tràn trề lai láng hay sao?
Trái lại, những lời lẽ của ta là những lời lẽ thô lỗ, bị khinh bỉ, bị vặn vẹo bất thành hình thể, và ta sẵn lòng nhặt lấy những gì rơi rớt xuống đất trong những bữa tiệc của các ngươi.
Chúng đủ để ta nói lên sự thật với những kẻ giả đạo đức. Ừ, thực thế, với những xương cá, những vỏ sò và những chiếc lá gai nhọn của ta, ta có thể chích đâm vào mũi các ngươi, hỡi những kẻ giả đạo đức!
Không khí bao giờ cũng bị nhiễm độc thối tha chung quanh các ngươi và những bữa tiệc của các ngươi: bởi vì những tư tưởng dâm đãng, những sự dối trá cùng những giấu giếm bí mật của các ngươi đều bay đầy trong không khí.
Vậy, trước hết, các ngươi hãy dám tin vào chính mình, - vào chính mình, và vào những ruột rà tạng phủ của mình! Kẻ nào không tin vào chính mình thì luôn luôn dối trá.
Các ngươi lẩn trốn chính mình đằng sau mặt nạ của một Thượng đế, các ngươi, những kẻ “thuần túy”! Con sâu khủng khiếp đang ngọ nguậy bò lết của các ngươi đã ẩn nấp dưới mặt nạ của một Thượng đế.
Thật vậy, các ngươi làm thành ảo mộng với “sự chiêm ngưỡng” của các ngươi! Xưa kia, chính Zarathustra cũng đã bị lừa bịp vì những lốt vỏ thần thánh của các ngươi; hắn không đoán ra con rắn nào đã cuộn tròn lúc nhúc trong lớp da đó.
Hỡi những kẻ đi tìm tri thức thuần túy! Trước kia ta đã tưởng nhìn thấy linh hồn linh thánh trong những trò chơi của các ngươi! Trước kia, ta đã tưởng rằng chẳng có nghệ thuật nào cao siêu hơn những trò giả ngụy của các ngươi!
Khoảng cách ngăn chia ta với các ngươi đã che giấu những nhơ bẩn của loài rắn các ngươi cùng những mùi hôi thối, lẫn sự giảo quyệt của một con thằn lằn quanh quất bò tìm khoái lạc nơi đấy.
Nhưng ta đã tiến đến gần các ngươi: lúc bấy giờ ánh sáng bừng lên, - và giờ đây ánh sáng cũng bừng lên cho các ngươi nữa, - những tình yêu dành cho mặt trăng đã tàn lụi.
Hãy nhìn mặt trăng kìa! Mặt trăng đang lơ lửng trên cao, kinh ngạc và xanh xao - trước ánh sáng rạng đông!
Bởi vì rạng đông nồng ấm đã dâng lên, - tình yêu trái đất của rạng đông đang tiến đến gần! Mọi tình yêu của mặt trời đều ngây thơ vô tội và là khát vọng của kẻ sáng tạo.
Hãy nhìn xem: rạng đông lướt tới, nôn nao cuống quít bồi hồi trên mặt biển! Các ngươi chẳng cảm thấy cơn khát cùng hơi thở nồng ấm trong tình yêu của rạng đông sao?
Rạng đông muốn bú lấy biển khơi, muốn uống những chiều sâu thăm thẳm của biển cả cho tràn ngập tận những chiều cao của mình, và dục vọng của biển dâng trào lên với trăm ngàn đồi vú nhấp nhô.
Bởi vì biển cả muốn được ghì hôn, muốn được bú lấy bởi cơn khát nồng cháy của mặt trời; biển muốn trở thành không khí và chiều cao và con đường mòn ánh sáng và trở thành chính ánh sáng!
Thực vậy, giống như mặt trời, ta yêu thương cuộc đời cùng tất cả những biển sâu.
Và đối với ta, Tri thức tối thượng chính là điều này: tất cả những gì sâu thẳm phải leo lên tới đỉnh cao của ta!
 
Zarathustra đã nói như thế.
0
VỀ NHỮNG NHÀ HỌC GIẢ


Lúc ta đang nằm ngủ, thì có một con cừu đến gặm vòng hoa trường xuân trên đầu ta; trong khi gặm ăn, cừu nọ be be: “Zarathustra không còn là một học giả nữa”.
Sau đó con cừu bỏ đi với bộ dạng vênh vang kiêu hãnh. Một đứa trẻ đã thuật lại cho ta nghe câu chuyện này.
Ta thích nằm dài nơi nào có những đứa trẻ chơi đùa, nằm dài theo bức tường đổ nát rêu phong, giữa những cây thảo nhi và cây anh túc màu đỏ.
Ta hãy còn là một học giả đối với các đứa bé thơ ngây và cả đối với những cây thảo nhi và cây anh túc màu đỏ. Chúng hoàn toàn hồn nhiên vô tội ngay cả trong sự hung tợn của mình.
Nhưng ta không còn là một học giả đối với những con cừu. Đấy là số phận của ta - xin chúc phúc cho số phận đó!
Bởi vì, đây là sự thật: ta đã rời khỏi căn nhà những học giả và đã đóng ập cửa lại sau lưng ta.
Linh hồn khát khao của ta đã ngồi chung bàn với bọn chúng quá lâu, ta không như bọn chúng, được huấn luyện để theo đuổi tri thức như để đập vỡ những hạt hồ đào.
Ta yêu mến tự do và khí trời trên mặt đất tươi mát phiêu diêu; ta thích được nằm ngủ yên trên những tấm da bò còn hơn là ngủ trên những lễ mạo tôn vinh cùng những phẩm giá đáng tôn kính của chúng.
Ta quá nồng nàn và bị thiêu hủy cháy bỏng vì những tư tưởng của chính mình: chúng thường làm ta hụt mất cả hơi thở. Lúc đó, ta phải bước ra ngoài bầu trời cao rộng khoảng khoát, xa những căn phòng chứa đầy bụi bặm.
Nhưng rồi cả bọn chúng cũng ngồi mát mẻ dưới bóng cây tươi mát: khắp nơi, bọn chúng chỉ muốn làm những khán giả và bọn chúng cẩn trọng không đến ngồi trên những bậc thang bị mặt trời hun nóng.
Như kẻ đứng dừng lại trên đường phố, há hốc miệng ngắm nhìn những khách bộ hành qua lại, bọn chúng cũng há hốc miệng chờ đợi và nhìn những tư tưởng của người khác.
Nếu ta chạm tay đến bọn chúng thì vụt cái, dẫu trái với ý chúng, chúng để thoát ra mịt mù bụi bặm chung quanh, giống như những bao đựng bột; nhưng ai mà còn đoán rằng bụi mù của bọn chúng là đến từ hạt giống và sự vinh quang vàng óng của những cánh đồng mùa Hạ?
Khi chúng tưởng mình là kẻ Trí huệ Hiền minh thì những lời châm chọc ti tiện, những chân lý bé nhỏ của chúng làm ta rùng mình ớn lạnh: Trí huệ Hiền minh của bọn chúng thường mang mùi vị của đầm lầy hôi thối! Và thực vậy, ta đã từng nghe tiếng ếch nhái kêu gào ỏm tỏi trong những lời lẽ bọn chúng!
Bọn chúng rất khéo léo và có những ngón tay xảo diệu: sự đơn giản chân chất của ta nào có đáng gì bên cạnh sự phức tạp của chúng! Những ngón tay xảo diệu của bọn chúng muốn xuyên qua, đan kết, thêu dệt: chúng đan những đôi tất dài cho tinh thần như thế đó!
Bọn chúng đúng là những chuyển động tuyệt hảo của quả lắc: miễn là người ta để ý lên dây cót bọn chúng cho chắc! Lúc bấy giờ, chúng sẽ chỉ giờ không nhầm lẫn và đồng thời phát ra một tiếng tích tắc đầy khiêm tốn.
Chúng làm việc, giống như những máy xay và những chày giã: chỉ cần vứt hạt giống lúa mì vào đó! Chúng sẽ biết làm thế nào nghiền nát và biến nó thành một thứ bụi trắng!
Những ngón tay đó canh chừng và nghi kỵ đối với những ngón tay xảo diệu nhất. Sẵn óc đặt bày ra sự tinh quái nhỏ nhen, bọn chúng rình dò những kẻ mang kiến thức khập khiễng, - bọn chúng rình dò như những con nhện.
Ta đã luôn nhìn thấy bọn chúng cẩn trọng chế hóa thuốc độc của mình; và bao giờ bọn chúng cũng mang găng bằng thủy tinh để che các ngón tay khi chế hóa.
Bọn chúng cũng biết chơi với những con xúc xắc gian lận; ta đã nhìn thấy bọn chúng nồng nhiệt chơi đùa đến độ đổ cả mồ hôi.
Chúng ta xa lạ lẫn nhau và những đức hạnh của chúng còn làm ta kinh tởm hơn là những sự giả ngụy cùng những con xúc xắc gian lận của chúng.
Và khi nào sống với chúng, ta luôn luôn ở bên trên bọn chúng. Chính vì thế, bọn chúng mới thù ghét ta.
Chúng chẳng muốn nghe ai bảo rằng có kẻ bước đi trên đầu bọn chúng; vì thế bọn chúng đã tích tụ đầy những gỗ, đất cùng rác rưởi dơ bẩn giữa ta và đỉnh đầu bọn chúng.
Như thế bọn chúng dập tắt được tiếng bước chân ta; và cho đến bây giờ, chính những kẻ học giả nhất là những kẻ ít nghe nói về ta nhất.
Bọn chúng đã đặt xen vào giữa bọn chúng và ta tất cả những sự yếu đuối, tất cả những lỗi lầm của con người: - trong ngôi nhà của bọn chúng, bọn chúng gọi đó là “một trần nhà đôi”.
Nhưng, mặc tất cả, ta vẫn bước đi trên đầu bọn chúng với những tư tưởng của ta. Ngay cả khi muốn bước đi trên những lỗi lầm của riêng ta, ta cũng sẽ còn bước đi bên trên và trên đầu bọn chúng.
Bởi vì loài người chẳng bao giờ bình đẳng với nhau; sự công chính dạy như thế. Và điều ta ước muốn, bọn chúng không có quyền ước muốn!
 
Zarathustra đã nói như thế.
0
VỀ NHỮNG THI SĨ


“Từ khi hiểu biết rõ ràng hơn về thân xác, thì tinh thần đối với ta chỉ là tinh thần trong một giới hạn nào đó; và tất cả những gì “thường tồn”, “bất hoại” đều chỉ là ẩn dụ biểu tượng.”[1] Zarathustra bảo với một trong những môn đệ của hắn.
Người môn đệ trả lời: - Trước đây, con đã nghe thầy nói như thế; và thầy cũng nói thêm: “Nhưng mà các thi sĩ đã nói dối quá nhiều”. Vậy tại sao thầy lại bảo rằng các thi sĩ nói dối quá nhiều?
“Tại sao? Zarathustra đáp. Mi hỏi tại sao à? Ta không phải thuộc dòng những kẻ mà người ta có quyền chất vấn về cái “tại sao” của họ.
Kinh nghiệm ta đã sống là thuộc về ngày hôm qua sao? Từ lâu rồi, ta đã thử thách lý lẽ của những ý kiến của ta.
Ta há chẳng bắt buộc phải làm một chiếc thùng ký ức để có thể giữ lại những lý lẽ cùng ta?
Ta phải vất vả khổ nhọc lắm để giữ gìn những ý kiến của ta; và nhiều con chim đã vỗ cánh xa bay.
Ta cũng gặp trong chuồng bồ câu ta một con thú không thuộc chuồng ta, một con thú xa lạ; con thú run rẩy khi ta chạm tay vào thân nó.
Vậy thì, ngày nọ, Zarathustra đã bảo mi thế nào? Hắn bảo rằng các thi sĩ nói dối quá nhiều? - Nhưng còn Zarathustra, chính hắn cũng là một thi sĩ.
Mi tin rằng hắn đã nói lên sự thật về chuyện ấy? Tại sao mi lại tin như thế?”
Người môn đệ trả lời: “Con tin vào Zarathustra”. Song Zarathustra lắc đầu mỉm cười. Hắn bảo:
“Đức tin không làm ta được lạc phúc, nhất là đức tin vào chính ta.
Nhưng giả thử có một kẻ nào đó bảo một cách đứng đắn rằng các thi sĩ nói dối quá nhiều, thì kẻ đó có lý: chúng ta nói dối quá nhiều.
Chúng ta cũng biết quá ít và chúng ta là những học sinh tồi; vì vậy chúng ta bắt buộc phải nói dối.
Kẻ nào trong số các thi sĩ như chúng ta, lại không pha giả rượu mình? Nhiều sự pha trộn nhiễm độc đã được thực hiện trong các hầm rượu của chúng ta, biết bao sự việc không thể diễn tả thành lời đã được thành tựu trong các hầm đó!
Bởi vì biết quá ít, nên chúng ta hết lòng yêu thương trìu mến những kẻ nghèo hồn, nhất là khi những kẻ đó lại là phụ nữ!
Chúng ta còn thèm thuồng cả những gì được các bà già kể cho nhau nghe khi chiều xuống. Đấy là cái chúng ta gọi là Người Đàn bà Muôn thuở trong tâm hồn chúng ta.
Và làm như thể có một con đường bí mật riêng biệt dẫn đến tri thức, một con đường cấm đối với kẻ học được một vài điều gì đó, chúng ta tin vào dân chúng, tin vào điều mà chúng ta gọi là “sự khôn ngoan” bình dân của họ.
Thế mà, tất cả mọi thi sĩ đều tin rằng kẻ nào nằm dài trên cỏ xanh hay trên một triền đồi hoang vắng cô liêu vểnh tai nghe ngóng, thì sẽ lĩnh hội được một vài điều giao ngộ kỳ bí nào đó giữa trời và đất.
Khi thấy cõi lòng tuôn trào những cảm xúc dịu dàng, các thi sĩ luôn tin rằng đấy chính là thiên nhiên đang yêu mê si đắm họ:
Thiên nhiên kiều diễm lén lút lướt đến thì thầm vào tai họ những bí mật cùng những lời tâng bốc vuốt ve trìu mến; rồi các thi sĩ huênh hoang khoác lác về những điều đó trước mặt tất cả loài người!
Hỡi ôi! Có quá nhiều điều giao ngộ giữa trời và đất mà các thi sĩ là những kẻ độc nhất đã phải mơ màng đến!
Nhất là những điều bên trên bầu trời: bởi vì tất cả những thần linh đều là những biểu trưng và những lời dối quanh dối quất của thi sĩ.
Thực ra, chúng ta luôn bị lôi kéo lên cao - nhất là lên đến những miền mây bay: đấy chính là chỗ chúng ta đặt những đứa con hoang tạp sắc của chúng ta và chúng ta gọi đó là các Thần linh và các Siêu nhân.
Bởi vì tất cả những Thần linh cùng Siêu nhân đó đủ nhẹ nhàng để ngự trên những chiếc ghế như thế!
Ờ! Ta quá đỗi chán ngán tất cả những gì bất toàn mà lại cố sức muốn mình là biến cố quan trọng! Ồ! Ta chán ngán quá đỗi những thi sĩ!”
 
Khi nghe Zarathustra nói thế, người môn đệ nổi giận, nhưng vẫn im lặng. Zarathustra cũng im lặng; đôi mắt hắn quay nhìn vào nội tâm như đang nhìn vào vùng xa thẳm khơi vơi. Sau cùng, Zarathustra thở dài và lấy hơi lại. Hắn bảo:
“Ta là kẻ thuộc về ngày hôm nay và ngày xưa, nhưng có một cái gì đó trong ta thuộc về ngày mai, thuộc về ngày hôm sau nữa, một cái gì đó thuộc về tương lai.
Ta chán ngán tất cả thi sĩ, các thi sĩ cũ lẫn mới. Ta thấy tất cả bọn chúng đều hời hợt thiển bạc và tất cả bọn chúng đều là những biển cả bị khô cạn nước.
Tư tưởng chúng đã không thâm nhập đủ sâu: chính vì tình cảm chúng không xuống đến tận những hố miền sâu thẳm.
Một ít khoái lạc cùng một ít buồn chán: đấy vẫn còn là điều tốt đẹp nhất trong những suy niệm của bọn chúng.
Ta thấy tiếng đàn thụ cầm của bọn chúng thoáng hiện phù ảo như những hơi thở thì thào và sự chạy trốn của những bóng ma; từ trước đến giờ bọn chúng đã biết được gì từ sự nồng nàn gay gắt đắm say của các thanh điệu!
Bọn chúng cũng chẳng đủ sạch sẽ đối với ta: chúng quấy đục mọi thứ nước để làm cho mình có vẻ sâu thẳm.
Bọn chúng thích xem mình như những kẻ trung gian môi giới, nhưng đối với ta, bao giờ bọn chúng cũng chỉ là người của những phương sách trung dung và của những biện pháp nửa vời, những kẻ pha trộn thỏa hiệp nhơ bẩn.
Than ôi! Ta đã ném lưới xuống biển chúng để bắt cá ngon, nhưng bao giờ ta cũng chỉ kéo lên được đầu của một vị thần linh xưa cũ.
Như thế, biển cả đã cho kẻ đói lòng một tảng đá rắn. Và bọn chúng dường như cũng được sinh từ biển cả.
Cố nhiên, người ta tìm thấy những hạt ngọc trai nơi chúng: đó lại là điều làm cho chúng càng giống những con sò vỏ cứng; và thay vì tâm hồn, ta đã tìm thấy nơi chúng một ít nước bọt mằn mặn.
Chúng đã học được của biển cả tính huênh hoang khoác lác; biển cả há chẳng phải là con công vênh váo nhất trong loài công?
Ngay cả trước mặt một con trâu xấu xí nhất, biển cũng xòe đuôi ra múa; biển không ngừng miệt mài dàn trải lụa là bạc quý từ chiếc quạt bằng ren của mình.
Con trâu nhìn biển giận dữ, linh hồn nó giống như cát biển, càng giống hơn với bụi rậm, nhưng giống nhất là với đầm lầy.
Vẻ đẹp, biển cả và sự lộng lẫy của con công nào có quan hệ gì với nó! Đấy là ẩn dụ biểu tượng ta xin trao tặng các thi sĩ.
Thực vậy, tinh thần của các thi sĩ là con công vênh váo nhất trong loài công và là một biển cả huênh hoang khoác lác!
Tinh thần của thi sĩ muốn có những khán giả: dẫu đấy chỉ là những con trâu!
Thế nhưng, ta đã chán ngán tinh thần ấy rồi: và ta nhìn thấy sẽ đến lúc tinh thần ấy tự chán ngán chính mình.
Ta đã nhìn thấy những thi sĩ hóa thân và đưa mắt nhìn vào chính bản thân mình.
Ta đã nhìn thấy những kẻ khổ hạnh của tinh thần tiến đến: bọn chúng xuất sinh từ trong đám thi sĩ”.
 
Zarathustra đã nói như thế.
 

[1] Nietzsche ám chỉ đến câu thơ chót của phần II vở kịch Faust của đại thi hào Goethe.
[/align] [/align]
0
VỀ NHỮNG BIẾN CỐ VĨ ĐẠI


Trên biển - không xa quần đảo Vĩnh Phúc của Zarathustra mấy - có một hải đảo - nơi đấy có một ngọn núi phun lửa không ngừng. Dân chúng, nhất là những mụ già trong đám dân chúng bảo rằng hòn đảo đó được đặt như một tảng đá chặn trước cửa vào hỏa ngục, và con đường hẹp dẫn đến cánh cửa ấy xuyên qua giữa núi lửa.
Vào thời kỳ đó, khi Zarathustra cư ngụ trên quần đảo Vĩnh Phúc, có một chiếc tàu đến buông neo tại hải đảo núi lửa, và thủy thủ đoàn lên bộ, đi săn thỏ. Nhưng vào khoảng giờ ngọ, giữa lúc thuyền trưởng cùng các thủy thủ tụ họp lại, đột nhiên họ nhìn thấy một người bước đi trên không, tiến lại gần họ, rồi một giọng nói cất lên rõ rệt từng lời: “Đến lúc rồi, đã đúng lúc rồi!” Khi chiếc bóng đến gần sát bên họ - chiếc bóng lướt qua rất nhanh về phía ngọn núi lửa, như một bóng ma, - họ kinh ngạc nhận ra đấy chính là Zarathustra; bởi vì mọi người đều đã gặp mặt hắn, chỉ trừ viên thuyền trưởng; và họ yêu thương Zarathustra như dân chúng vẫn thường thương yêu - một tình yêu pha lẫn sợ hãi ngang nhau.
Viên tài công già la lên: “Nhìn kìa! Zarathustra đang đi xuống hỏa ngục!”
Vào đúng lúc những thủy thủ đặt chân đến hòn đảo phun lửa, thiên hạ đã đồn đại với nhau rằng Zarathustra biến đâu mất tăm mất dạng. Khi hỏi các bạn của hắn, thì những kẻ ấy đều thuật lại rằng Zarathustra đang đêm đã xuống tàu bỏ đi mà không hé môi cho biết mình muốn đi đâu.
Như thế, mọi người đều sinh lòng lo lắng; sau ba ngày lo lắng, lại thêm câu chuyện của những thủy thủ, - dân chúng đều bảo rằng quỷ dữ đã bắt Zarathustra mang đi. Cố nhiên, đám môn đệ của Zarathustra chỉ buồn cười về những lời đồn đại đó, một người trong bọn còn bảo: “Tôi tin đúng hơn là Zarathustra đã bắt quỷ dữ mang đi”. Nhưng, tự thâm tâm, tất cả đám môn đệ đều lo lắng và nôn nao; vì thế họ vui mừng khôn xiết khi vào ngày thứ năm, Zarathustra lại tái hiện giữa bọn họ.
Và đây là câu chuyện về cuộc đàm luận giữa Zarathustra với con hỏa ngao ở địa ngục. Zarathustra lên tiếng:
 
“Trái đất có một lớp da; và lớp da ấy mang những chứng bệnh. Một trong những chứng bệnh đó, chẳng hạn, được gọi là: “con người”.
Một chứng bệnh khác được gọi là “chó ngao ở hỏa ngục”. Loài người đã thuật lại hay tin tưởng những điều dối trá về con chó ngao ấy.
Chính vì muốn đào sâu bí ẩn ấy, ta mới vượt biển; và thực vậy, ta đã nhìn thấy sự thật trần truồng, sự thật từ đôi chân trần đến tận cổ.
Giờ đây ta đã rõ chuyện có liên can tới con hỏa ngao và cả những gì về tất cả mọi con quỷ nổi loạn cùng những con quỷ mà không phải chỉ những bà già hiền hậu mới sợ hãi chúng mà thôi.
“Hãy ra khỏi hang sâu của mi, hỡi chó ngao! Ta đã thét lên như thế. - Và hãy thú nhận xem chiều sâu mi sâu thẳm ngần nào, và những chất mi nôn mửa, mi đã rút lấy từ đâu?
Mi đã nốc uống ê hề ở biển cả: muối mặn của tài lợi khẩu mi chứng tỏ điều đó. Thực ra, đối với một con chó ở những miền sâu thẳm, mi đã tự nuôi dưỡng quá nhiều bằng một thứ dưỡng chất quá ư cạn cợt.
Cao tay lắm, ta xem mi là kẻ có tài nói bằng bụng của mặt đất, và mỗi khi nghe những con quỷ của sự nổi loạn và vô dụng nói năng với nhau, ta luôn thấy chúng giống hệt với mi, với chất muối mặn, với những sự giả trá và hời hợt thiển bạc của mi.
Bọn mi biết cách tru tréo và rắc tro làm mù tối mắt! Bọn mi là những kẻ khoe khoang khoác lác nhất trên thế giới và bọn mi biết rành rẽ nghệ thuật làm bùn lầy sủi bọt sôi lên.
Nơi nào có mặt bọn mi, thì luôn luôn có bùn nhơ cùng nhiều sự vật khô xốp hút nước, với nhiều lỗ hổng, ép chặt vào nhau, - chính những sự vật đó ước muốn tự do.
“Tự do!” đó là tiếng mà bọn mi thích tru rống lên nhất: nhưng ta đã không còn tin vào những “biến cố vĩ đại” bất luận lúc nào có những tiếng tru tréo với khói mù vây quanh.
Và ta van mi hãy tin ta, hỡi tiếng ồn ào khủng khiếp của hỏa ngục! Những biến cố vĩ đại nhất đều bất thần xảy đến không phải trong những lúc ầm ĩ náo động nhất mà là giữa những giờ phút im lặng nhất.
Thế giới không xoay vần chung quanh những kẻ phát minh ra những tiếng ồn ào mới, nhưng xoay vần chung quanh những kẻ phát minh ra những giá trị mới; thế giới xoay vần im lặng vô thanh.
Và mi phải thú nhận điều này: một khi tiếng ồn ào huyên náo cùng khói mù của mi tan biến mất, thì luôn luôn người ta nhận ra rằng chẳng có điều gì quan trọng đã được tựu thành. Nào có quan hệ gì nếu một thành phố bị biến thành xác chết khô và một pho tượng lăn kềnh chổng gọng trong bùn lầy!
Ta xin nói thêm lời này đối với những kẻ phá đổ các pho tượng: quả thật chẳng còn gì điên rồ hơn là vứt muối xuống biển và xô vứt những pho tượng xuống sình lầy.
Pho tượng nằm im trong sình lầy của lòng khinh bỉ nơi các ngươi; nhưng lề luật của pho tượng muốn rằng nó sẽ tái sinh từ sự khinh bỉ của các ngươi, tái sinh lại sống động và xinh đẹp hơn!
Giờ đây pho tượng đứng thẳng dậy với những đường nét linh thánh quyến rũ hơn nhờ nỗi thống khổ diễn tả trong chúng, và thật vậy, pho tượng lại còn cám ơn các ngươi vì đã lật đổ nó, các ngươi, những kẻ lật nhào các pho tượng!
Nhưng đây là lời khuyên ta dành cho các ông vua, các Giáo hội và tất cả những gì bị suy yếu vì tuổi tác và đức hạnh, - các ngươi hãy để cho bị lật đổ, cốt để các ngươi trở lại với đời sống và đức hạnh trở về với các ngươi!”
Ta đã nói như thế trước mặt con hỏa ngao: lúc bấy giờ nó lầm bầm ngắt lời ta và hỏi: “Giáo hội? Giáo hội là cái gì thế?”
Ta đáp: “Giáo hội à? Đấy là một thứ quốc gia giả trá nhất. Nhưng hãy câm mồm mi lại, hỡi con chó giả đạo đức, mi biết rõ chủng loại của mi hơn ai cả mà!
Quốc gia là một con chó giả đạo đức cũng như chính bản thân mi; cũng như mi, nó thích nói bằng khói mù cùng những tiếng tru tréo, để làm cho thiên hạ tin rằng lời nói của nó xuất phát từ ruột rà tạng phủ của sự vật, y hệt như mi.
Bởi vì quốc gia tuyệt đối muốn mình là con thú quan trọng nhất trên mặt đất, và dân chúng tin như vậy”.
Ta vừa nói thế xong thì con hỏa ngao lồng lộn lên như điên cuồng vì ganh tị. Nó hét lên: “Sao? Con vật quan trọng nhất trên mặt đất à? Và dân chúng tin thế thật sao?” Từ cổ họng hỏa ngao, bắn phun ra vô khối hơi nước cùng âm thanh khủng khiếp đến nỗi ta tưởng đâu nó sắp chết ngạt vì giận dữ và ganh tức mất.
Sau cùng, con hỏa ngao dịu lại, hơi thở hổn hển của nó chậm dần; nhưng khi nó vừa im tiếng, ta mỉm cười bảo nó:
“Hỡi chó ngao hỏa ngục, mi nổi giận rồi: thế là ta có lý hơn mi nhé!
Và để ta tiếp tục có lý thêm, hãy để cho ta nói mi nghe về một con hỏa ngao khác: con hỏa ngao đó thực sự nói từ trái tim của quả đất.
Hơi thở của nó là một cơn mưa vàng: quả tim nó muốn như thế. Tro tàn và khói mù và nước miếng nóng sốt: nào có quan hệ gì đối với nó?
Tiếng cười bay lượn chung quanh nó như một đám mây đầy màu sắc, nó chẳng bận tâm gì đến những tiếng kêu la, những tiếng khạc nhổ và những cơn sôi bụng của mi.
Tuy nhiên, tiếng cười cùng vàng quý đó nó lấy từ trái tim quả đất; bởi vì mi nên biết rõ điều này: trái tim quả đất thì bằng vàng!”
Khi nghe dứt những lời trên, con hỏa ngao không thể nào tiếp tục nghe ta nói thêm được nữa. Xấu hổ, nó cụp đuôi lại và sủa bằng giọng thẹn thùng rồi lết mất vào hang”.
 
Zarathustra đã thuật chuyện lại như thế. Nhưng đám môn đệ của hắn nghe câu chuyện một cách nghễnh ngãng vì họ quá nôn nóng nói cho Zarathustra nghe về đám thủy thủ, các con thỏ và người đàn ông bay trên không.
 
“Ta phải nghĩ gì về chuyện ấy? Zarathustra bảo. Ta là một bóng ma chăng?
Chắc hẳn đấy là chiếc bóng của ta. Các ngươi đã từng nghe nói đến Kẻ lang thang phiêu bạt và Chiếc bóng của y?[1]
Có một điều chắc chắn: ta phải canh chừng cái bóng một cách nghiêm khắc hơn, bằng không cuối cùng nó sẽ phá hỏng thanh danh ta”.
Rồi, một lần nữa, Zarathustra lại lúc lắc cái đầu, kinh ngạc: “Ta phải nghĩ gì về chuyện ấy? Hắn lặp lại.
Tại sao bóng ma lại kêu lên: “Đến lúc rồi! Đã đúng lúc rồi?”
Đúng lúc cho cái gì?”
 
Zarathustra đã nói như thế.
 

[1] “Kẻ lang thang phiêu bạt và Chiếc bóng”, cũng là tên một tác phẩm của Nietzsche (1880).
[/align] [/align]
0
VIÊN BỐC SƯ TIÊN TRI


“...Ta nhìn thấy một nỗi sầu muộn mênh mông lan phủ khắp loài người. Những người thiện hảo nhất cũng chán ngán công việc mình.
Một học thuyết được truyền bá, lôi kéo theo một niềm tin: “Mọi sự đều trống rỗng, mọi sự đều bình đẳng như nhau, mọi sự đều đã hoàn tất cả rồi!”
Và từ mọi ngọn đồi âm vọng lại hồi thanh: “Mọi sự đều trống rỗng, mọi sự đều bình đẳng như nhau, mọi sự đều đã hoàn tất cả rồi!”
Chúng ta quả đã có gặt hái: nhưng tại sao những hoa trái của chúng ta đều bị thối nhũn và hóa nâu? Đêm vừa qua, cái gì đã rơi từ mặt trăng xấu xa kia xuống?
Mọi công việc đều là vô bổ, rượu chúng ta trở thành thuốc độc, con mắt hung ác đã làm khô cháy những cánh đồng cùng trái tim chúng ta.
Tất cả chúng ta đều bị khô cháy; và nếu lửa đỏ rơi xuống, chúng ta sẽ biến thành tro than, chúng ta đã chán ngán cả lửa đỏ nữa.
Tất cả mọi suối nguồn đều khô cạn đối với chúng ta và biển khơi đã rút xuống. Toàn thể mặt đất đều lùi trượt dưới chân nhưng hố thẳm không chịu nuốt chửng chúng ta vào.
“Hỡi ôi! Còn tìm đâu ra một đại dương nơi ta có thể trầm mình?” Lời than vãn của chúng ta vang dội như thế, bên trên những đầm lầy cạn cợt.
Thực ra, chúng ta đã quá chán ngán mỏi mệt ngay cả đối với cái chết. Giờ đây chúng ta tiếp tục tỉnh thức và sống sót - trong những ngôi nhà mồ!”
Một lần nọ, Zarathustra đã nghe một viên bốc sư nói thế;[1] lời tiên tri của ông ta đi thẳng vào tim và chuyển hóa tim hắn. Hắn bước đi lang thang buồn bã, chán ngán; và hắn trở nên giống hệt như những kẻ mà viên bốc sư tiên tri đã nói đến.
Hắn bảo với các môn đệ: “Thật vậy, chẳng bao lâu nữa, chúng ta sẽ bước vào một buổi hoàng hôn dằng dặc. Hỡi ôi! Làm thế nào cứu vớt ánh sáng của ta?
Làm thế nào để ánh sáng ta đừng bị ngạt thở trong nỗi buồn sầu rộng lớn đó? Ánh sáng ấy phải là ánh sáng soi chiếu những thế giới diệu vợi, những đêm tối xa vời nhất trong tương lai!”
Với lòng phiền não âu sầu như thế, Zarathustra cứ lang thang đây đó; suốt ba ngày, hắn chẳng ăn uống cũng chẳng ngủ nghỉ và mất hẳn tiếng nói. Sau cùng, Zarathustra rơi vào một giấc ngủ miệt mài. Các môn đệ ngồi vây quanh để canh giấc thật lâu; họ lo lắng chờ đợi Zarathustra tỉnh giấc, bắt đầu mở miệng nói lại và được chữa khỏi nỗi buồn.
Và đây là bài thuyết pháp của Zarathustra khi hắn thức tỉnh; tuy nhiên, giọng nói của hắn đến với đám môn đệ như đến từ một nơi xa xôi vời vợi:
 
“Hỡi các bạn, hãy lắng nghe giấc mộng mà ta đã thấy và giúp ta đoán ra ý nghĩa.
Giấc mộng vẫn còn là một ẩn ngữ đối với ta; ý nghĩa nó được giấu kín trong bản thân; bị giam cầm như thế, ý nghĩa ấy hãy còn chưa tung cánh bay lượn thỏa thuê bên trên giấc mộng.
Ta đã khước từ toàn thể sự sống, đó là điều ta đã mộng thấy. Ta đã trở thành một kẻ canh thức và gác dan cho các ngôi mộ, ở trên ngọn núi cô liêu của lâu đài Tử diệt.
Trên núi ấy chính là nơi ta canh giữ những quan tài của Tử diệt: những khung vòm ẩm mốc ngột ngạt đầy rẫy những của chiến thắng như thế. Xuyên qua những quan tài bằng thủy tinh, đời sống chiến bại đưa mắt ngắm nhìn ta.
Ta hít thở mùi vị những vĩnh cửu bụi bặm, linh hồn ta nằm đó, ngộp thở, phủ đầy bụi. Nơi đấy, ai là kẻ có thể thông hơi thoáng khí cho tâm hồn mình?
Đêm tối luôn luôn trong sáng chung quanh ta, nỗi cô đơn ngồi co rúm thu hình cạnh đêm tối; và một người bạn đồng hành thứ ba là sự im lặng chết chóc, ngắt quãng bởi những tiếng khò khè, người bạn tệ mạt nhất trong số các bạn của ta.
Ta có mang theo những chiếc chìa khóa, những chiếc chìa khóa hoen rỉ nhất; và ta biết dùng chúng để mở những cánh cửa cọt kẹt ồn ào nhất.
Giống tiếng kêu khàn khàn và hung dữ của một con quạ, những âm thanh lùa chạy khắp hành lang, khi những cánh cửa được mở ra: con chim ấy buông ra những tiếng kêu kinh tởm, nó không muốn bị đánh thức dậy.
Nhưng điều còn kinh hoàng hơn nữa, làm tim ta co thắt lại nhiều hơn, là khi mọi sự im tiếng, sự im lặng trở về ngự trị và ta ngồi một mình trong sự im lặng hung hiểm xảo quyệt đó.
Thời gian cứ trôi qua, cứ bò lướt qua như thế, nếu còn có thể nói đến thời gian - làm sao ta biết được! Nhưng rồi sau cùng xảy ra điều làm ta giật mình tỉnh dậy.
Ba lần, có những tiếng đập cửa như tiếng sấm sét, những khung vòm vang dội la rống lên ba lần liên tiếp: lúc bấy giờ ta tiến về phía cửa.
Ta kêu lên: “Alpa![2] Ai mang tro tàn hắn về núi cao? Alpa! Alpa! Ai mang tro tàn của hắn về núi cao?”
Ta tỳ cả người ấn trên chìa khóa, ta cố gắng nhấc cánh cửa lên, thân xác ta bị kiệt lực. Nhưng cánh cửa chẳng xê xích được lấy một phân.
Rồi một trận cuồng phong gầm thét bật tung hai cánh cửa ra: trận cuồng phong rít lên lồng lộn, kêu la, xuyên thấu, ném cho ta một cỗ quan tài đen:
Và giữa những tiếng gầm gừ, rít gió, những tiếng kêu thét lanh lảnh, cỗ quan tài vỡ nát, phun mửa ra hàng vạn chuỗi cười giòn giã.
Ta nhìn thấy hàng vạn khuôn mặt trẻ con, thiên thần, cú mèo, người điên cùng những con bướm lớn bằng những đứa bé nhăn mặt cười cợt, chế giễu, nguyền rủa ta.
Ta vô cùng hãi sợ; ta ngã bổ ra sau và kêu la kinh hoàng như chưa từng bao giờ kêu la như thế.
Nhưng tiếng kêu của ta đã làm ta vụt thức giấc. Và ta hồi tỉnh lại”.
 
Zarathustra thuật lại giấc mộng như thế, rồi im lặng: vì hắn hãy còn chưa thấu rõ ý nghĩa giấc mộng của mình. Nhưng người môn đệ được hắn thương yêu nhất đã đứng ngay dậy, năm lấy bàn tay Zarathustra, và bảo:
 
“Hỡi Zarathustra! Chính đời sống của thầy giải thích giấc mộng thầy đã thấy.
Chính bản thân thầy chẳng là ngọn gió rít lên lanh lảnh bật tung những cánh cửa của lâu đài Tử diệt đó sao?
Chính bản thân thầy chẳng là cỗ quan tài chứa đầy những hung bạo trăm màu nghìn sắc, những nét nhăn nhó thiên thần của đời sống?
Thực ra, tựa hồ trăm ngàn tiếng cười trẻ thơ, Zarathustra xông thẳng vào trong tất cả những căn phòng có người chết, cười cợt tất cả những kẻ canh đêm, tất cả những kẻ gác dan cho những ngôi mộ, tất cả những kẻ làm ồn ào náo động với những chiếc chìa khóa buồn rầu ảm đạm đó.
Thầy làm bọn họ sợ hãi đến ngã nhào bằng tiếng cười của thầy; và sự thức dậy chứng tỏ quyền lực của thầy đối với họ.
Ngay cả khi buổi hoàng hôn dằng dặc lê thê và nỗi chán ngán mỏi mệt chết người xảy đến, thầy, kẻ biện minh cho đời sống, thầy cũng sẽ không biến mất khỏi bầu trời của mình.
Thầy đã làm cho chúng con nhìn thấy được những ngôi sao mới, những vẻ lộng lẫy tinh khôi của đêm tối. Thực ra, thầy đã dàn trải tiếng cười bên trên chúng con như một mái lều muôn sắc.
Kể từ nay, những tiếng cười trẻ thơ sẽ luôn luôn tuôn trào từ những cỗ quan tài; một cơn gió mạnh sẽ mãi nổi lên lay động những nỗi chán ngán mỏi mệt chết người. Đối với chúng con, thầy chính là kẻ bảo đảm và kẻ tiên tri cho hiện tượng đó.
Thực ra, thầy đã mơ đến điều này: thầy đã mơ đến các thù địch của thầy: đấy là giấc mộng nặng nề nhất của thầy.
Nhưng cũng y như thầy đã thức giấc khỏi họ và hồi tỉnh trở về lại với mình, họ cũng sẽ thức tỉnh khỏi họ - và sẽ đến cùng thầy!”
Người môn đệ nói như thế, và các bạn đồng môn của anh ta chen chúc chung quanh Zarathustra, đưa tay nắm lấy tay hắn, họ muốn thuyết phục hắn rời khỏi giường, rời khỏi nỗi buồn để trở về lại với họ. Song Zarathustra vẫn ngồi thẳng trên giường, đôi mắt lạc loài xa lạ. Như một kẻ vừa trở về nhà sau một chuyến đi xa lâu ngày, hắn nhìn các môn đệ và chăm chú quan sát gương mặt họ, hắn vẫn chưa nhận ra được khuôn mặt của đám môn đồ. Nhưng khi các môn đệ nâng hắn đứng lên, đứng thẳng trên hai chân, thì đột nhiên mục quang của Zarathustra thay đổi hẳn, hắn hiểu rõ tất cả những gì đã xảy ra, hắn đưa tay vuốt râu và bảo bằng một giọng rổn rảng đầy khí lực:
“Thôi! Chuyện đó có lúc riêng của nó, hỡi các môn đệ, bây giờ hãy làm sao cho thầy trò chúng ta có được một bữa ăn ngon lành, và gấp gáp! Ta muốn đền chuộc lại những giấc mộng gở của mình bằng cách ấy!
Và hãy để viên bốc sư tiên tri ăn uống cạnh ta: thực vậy, ta sẽ chỉ cho lão một biển cả mà lão có thể đến trầm mình vào đó!”
 
Zarathustra đã nói như thế. Nhưng sau đó, hắn đăm đăm nhìn thật sâu vào mặt người môn đệ đã giải thích cho hắn nghe về giấc mộng, rồi hắn chậm rãi lắc đầu.
 

[1] “viên bốc sư tiên tri” ở đây là hình ảnh của triết gia Đức Arthur Schopenhauer (1788-1860), y sẽ xuất hiện trở lại ở Phần thứ tư.
[/align] [2] Alpa - từ cổ của chữ “Alp” (giống “elfe” trong tiếng Pháp) chỉ một cảnh tượng đáng sợ trong các giấc mơ.
[/align] [/align]
0
VỀ SỰ CỨU CHUỘC


Một ngày kia, khi Zarathustra băng qua chiếc cầu lớn thì những người tàn tật, những kẻ ăn xin ùa đến vây quanh hắn và một người gù nói với Zarathustra như thế này:
“Này, hãy nhìn kia, Zarathustra! Cả đám dân chúng cũng học hỏi được từ những lời thuyết pháp ngài rao giảng. Nhưng muốn họ tin ngài trọn vẹn, thì quả là còn thiếu một cái gì: đó là trước hết ngài phải hoán cải chúng tôi, những kẻ tàn tật! Ở đây, ngài đang có một sự tuyển lựa tốt đẹp ngay trước mắt và thực ra, đây là một cơ hội rất dễ nắm lấy. Ngài có thể chữa lành những người đui, khiến những người què chạy nhảy được và ngài có thể làm khuây khỏa chút ít kẻ đang chịu đựng một gánh đời quá nặng. Theo chỗ tôi nghĩ, đấy sẽ là cách thức đích thực để làm cho những người tàn tật phát khởi tín tâm vào Zarathustra”.
Song Zarathustra đã trả lời như thế này với kẻ vừa lên tiếng:
 
“Nếu lấy đi cục bướu của người gù thì đồng lúc người ta cũng lấy đi mất tinh thần của hắn, - đám đông dân chúng bảo thế. Nếu trả lại đôi măt cho kẻ mù, hắn sẽ nhìn thấy quá nhiều điều xấu xa ti tiện trên mặt đất, đến nỗi hắn sẽ nguyền rủa kẻ nào đã chữa lành mắt hắn. Về phần kẻ làm cho những người què chạy nhảy được, y đã phạm phải điều sai lầm vĩ đại nhất đối với họ: vừa mới chạy được, họ liền mang những tật xấu cao chạy xa bay cùng họ. - Đấy là những gì mà đám đông dân chúng rao giảng về những người tàn tật. Và tại sao Zarathustra lại không học hỏi từ dân chúng, nếu dân chúng học hỏi từ Zarathustra?
Kể từ khi sống giữa loài người, thì ta rất ít quan tâm đến chuyện kẻ này thiếu một con mắt, kẻ nọ một lỗ tai, kẻ thứ ba cụt hết hai chân, và những kẻ khác mất cả lưỡi, lỗ mũi hay cả đầu.
Ta đang nhìn thấy và đã nhìn thấy những điều tệ hại, kinh khiếp vô vàn, đến độ ta chẳng muốn nói gì về mọi sự và lại chẳng muốn im lặng về nhiều sự: ta đã nhìn thấy những con người thiếu mất tất cả, chỉ trừ họ có dư thừa quá nhiều một cái gì, - những con người chẳng có gì cả ngoại trừ một con mắt khổng lồ và một cái mồm vĩ đại hoặc một cái bụng khổng lồ, hoặc bất cứ một cái gì to lớn ngoại khổ, - ta gọi họ là những kẻ tàn tật đảo nghịch.
Khi từ nỗi cô đơn trở về, lần đầu tiên bước chân qua chiếc cầu này, ta không tin nổi vào mắt mình, ta không ngớt nhìn, chăm chú nhìn mãi, rồi sau cùng ta tự nhủ: “Đấy là một cái tai. Một cái tai lớn bằng cả một người”. Ta nhìn kỹ hơn nữa, và thực vậy, đằng sau chiếc tai ấy hãy còn nhích động một cái gì đó, một cái gì đo đỏ, nhỏ bé một cách đáng thương, bần tiện, mỏng manh. Cái lỗ tai khổng lồ ấy nằm trên một thân mảnh khảnh - thân đó là một con người! Nhìn qua kính phóng đại, ta có thể nhận ra một khuôn mặt bé nhỏ đầy ganh tị thèm khát; và cả một tấm linh hồn bé nhỏ phồng căng lên lủng lẳng ở đầu thân. Thế mà đám đông dân chúng bảo cho ta biết rằng cái lỗ tai ấy chẳng những chỉ là một con người mà còn là một vĩ nhân, một thiên tài. Nhưng ta chẳng hề tin vào đám đông dân chúng, nhất là khi họ nói về các vĩ nhân, - ta vẫn tin rằng đấy chính là một kẻ tàn tật nghịch đảo, kẻ có quá ít về mọi thứ nhưng lại có quá nhiều về một thứ”.
 
Khi Zarathustra đã nói thế với người gù lưng cùng những kẻ được người gù làm kẻ phát ngôn và thông ngôn, hắn quay về đám môn đệ và bảo với sự bất mãn in đậm trong lòng:
 
“Hỡi các bạn, thật ra, ta bước đi giữa loài người mà như bước đi giữa những mảnh vụn, những chi thể của con người.
Đối với mắt ta, quả là điều khủng khiếp vô cùng khi nhìn thấy những con người bị vỡ tan, bị phân tán như trên một bãi chiến trường hay một lò sát sinh.
Dẫu có chạy trốn từ hiện tại đến quá khứ, mắt ta vẫn luôn luôn nhìn thấy cùng một điều: những mảnh vụn, những chi thể, những sự ngẫu nhiên khủng khiếp, - nhưng chẳng nơi nào có con người cả.
Hỡi các bạn! Than ôi! Đối với ta, hiện tại và quá khứ trên mặt đất đều là những điều nhất thiết không thể nào chịu đựng nổi; và ta đã chẳng thể sống được nếu ta không là một kẻ tiên tri thấu thị thấy rõ cái gì nhất định phải xảy đến trong tương lai.
Kẻ thấu thị, kẻ ước muốn, kẻ sáng tạo, là chính tương lai và là chiếc cầu bắc về tương lai, hỡi ôi, đó cũng là một kẻ tàn tật đứng ở trên cầu: Zarathustra là tất cả những thứ đó.
Và các ngươi nữa, các ngươi đã thường tự hỏi: “Zarathustra là gì đối với chúng ta? Chúng ta sẽ gọi hắn như thế nào?” Và, cũng như ta, các người đã trả lời bằng những câu hỏi.
Zarathustra là kẻ hứa hẹn hay kẻ tựu thành? Kẻ chinh phục hay người kế thừa? Mùa Thu hay lưỡi cày? Một y sĩ hay một người được chữa lành bệnh?
Hắn là thi sĩ hay kẻ chân thực? Kẻ giải phóng hay người chế ngự? Người thiện hảo hay kẻ độc ác?
Ta bước đi giữa loài người như bước đi giữa những mảnh vụn của tương lai: tương lai mà ta hé thấy.
Và tất cả những gì cấu tạo, hình dung, đều chỉ nhằm mục tiêu quy tụ, hợp nhất lại trong một tổ hợp duy nhất tất cả những gì đang là mảnh vụn và ẩn ngữ và ngẫu nhiên!
Làm sao ta có thể chịu đựng nổi sự kiện mình là người cho được, nếu con người không đồng thời là thi sĩ, là kẻ tiên đoán ẩn ngữ và kẻ cứu chuộc sự ngẫu nhiên?
Cứu thoát tất cả những gì đã trôi qua, chuyển hóa tất cả những cái “đã xảy ra” thành “đấy là cái ta đã ước muốn”: chỉ điều đó ta mới gọi là sự cứu chuộc!
Ý chí - đây là tên gọi của kẻ giải phóng và kẻ mang đến niềm vui. Đấy chính là điều ta rao giảng cho các ngươi, hỡi các bạn! Nhưng các ngươi cũng nên học cả điều này: chính tự thân ý chí cũng còn bị tù túng giam cầm.
Ý chí là kẻ giải phóng; nhưng tên của kẻ xiềng xích ngay chính kẻ giải phóng là gì?
Đây là tên của sự nghiến răng và nỗi u sầu bí mật nhất của ý chí: “Đấy là chuyện đã qua”. Bất lực đối với tất cả những gì đã được thực hiện, ý chí là một khán giả độc ác đối với tất cả những gì đã xảy ra.
Ý chí không thể nào ước muốn hành động ngược dòng thời gian; ý chí không thể phá vỡ thời gian và sự tham muốn của thời gian: đấy là nỗi buồn sầu cô đơn nhất của ý chí.
Ý chí là kẻ giải phóng; nhưng ý chí đã trù định làm gì để tự giải phóng khỏi nỗi buồn sầu và để chế nhạo ngục tù của mình?
Như vậy, ý chí có tính cách giải phóng đã biến thành kẻ bất lương gây đau khổ, và ý chí trả thù tất cả những gì có thể chịu đựng đau khổ, vì ý chí không thể trở lui lại sau được.
Điều đó, vâng, chỉ điều đó mới là sự phục thù: nỗi oán cừu của ý chí đối với thời gian và “Cái đã qua” của thời gian.
Thực ra, có một cơn điên cuồng vĩ đại trong ý chí chúng ta; và đối với mọi người, quả là một lời nguyền rủa khi cơn điên cuồng đó đã học hỏi trở thành tinh thần.
Tinh thần trả thù phục hận: hỡi các bạn, từ trước đến nay, đấy chính là hình thức cao đẳng nhất của sự suy tưởng con người; và nơi nào có sự đau khổ, nơi đó người ta luôn luôn muốn có sự trừng phạt.
“Trừng phạt”, đó là tên mà sự trả thù tự dùng để gọi mình: với một từ ngữ giả trá, nó tạo nên một ý thức an bình.
Vì nơi kẻ khởi tâm ước muốn, có sự đau khổ, bởi lẽ y không thể ước muốn trở lui lại sau, - cho nên chính ý chí cùng toàn thể đời sống phải là một sự trừng phạt.
Và đám mây này kế tiếp đám mây khác đè nặng trên tinh thần: cho đến khi sau cùng, cơn điên cuồng rao giảng rằng: “Mọi sự đều trôi qua, chính vì vậy mọi sự đáng trôi qua”.
“Và cả định luật bảo rằng thời gian ngốn ngấu nhai nuốt chính những đứa con ruột thịt của mình, định luật ấy chính là công lý”: cơn điên cuồng đã rao giảng như thế.
“Sự vật đã được phối trí trên mặt đạo đức dựa theo quyền lợi và sự trừng phạt. Hỡi ôi! Đâu là sự giải thoát khỏi dòng sông của những sự vật và khỏi sự trừng phạt, phải hiện sinh?” Cơn điên cuồng đã nói như thế.
“Có thể nào có sự cứu rỗi nếu có một quyền vĩnh cửu? Hỡi ôi! Ta không thể nâng nổi tảng đá tên là “Cái đã xảy ra”: vì thế, tất cả mọi hình phạt cũng phải vĩnh cửu”. Cơn điên cuồng đã nói như thế.
“Chẳng hành động nào có thể bị hủy hoại: làm thế nào hành động lại bị tiêu trừ bởi hình phạt cho được? Điều này, vâng, chính điều này là điều có tính chất vĩnh cửu trong sự trừng phạt gọi là cuộc hiện sinh: cuộc hiện sinh chỉ có thể vĩnh viễn trở thành một chuỗi những hành động và những tội lỗi sai lầm.
“Trừ phi cuối cùng ý chí tự giải phóng chính mình, và trừ phi ý chí trở thành phi-ý-chí”: nhưng, hỡi các bạn, các bạn đã biết rõ ngụ ngôn của cơn điên cuồng này rồi!
Ta đã dẫn các bạn đi xa những ngụ ngôn đó khi ta dạy các bạn rằng: “Ý chí là sáng tạo”.
Tất cả những gì “đã xảy ra”, “đã hoàn tất” đều là mảnh vụn, ẩn ngữ và là sự ngẫu nhiên tàn bạo, - cho đến khi ý chí sáng tạo thêm vào: “Nhưng, đấy chính là điều ta đã ước muốn”.
- Mãi cho đến khi ý chí sáng tạo thêm vào: “Nhưng đấy chính là điều ta đang ước muốn! Đấy chính là điều ta sẽ ước muốn!”
Nhưng ý chí ấy đã có bao giờ nói thế chưa? Và khi nào nó sẽ nói? Ý chí đã được tháo gỡ ra khỏi cơn điên cuồng của nó chưa?
Ý chí đã trở thành kẻ cứu chuộc và kẻ mang lại niềm vui cho chính mình chưa? Ý chí đã tập quên đi tinh thần phục thù cùng tất cả những sự nghiến răng giận dữ chưa?
Và ai là kẻ đã dạy cho ý chí hòa giải với thời gian và một cái gì đó cao cả tót vời hơn tất cả mọi sự hòa giải?
Ý chí, tức là ý chí cường lực, phải ước muốn một cái gì cao xa hơn là sự hòa giải, - nhưng ý chí làm thế nào đạt đến đấy được? Ai là kẻ sẽ dạy cho ý chí ước muốn ngược dòng thời gian?”
 
Nhưng nói đến đây, đột nhiên Zarathustra ngừng lại, như kẻ đang bị nỗi kinh hoàng tối thượng vồ chụp. Với đôi mắt khiếp hãi thất thần, hắn nhìn các môn đệ; tia nhìn hắn như một mũi tên xuyên thấu những ý tưởng và hậu ý của họ.[1] Nhưng một lúc sau, Zarathustra lại bật cười và nói tiếp, lòng đã dịu lại:
“Thật khó mà sống giữa loài người, bởi vì rất khó giữ được im lặng. Nhất là đối với một kẻ ba hoa”.
Zarathustra đã nói như thế. Nhưng người gù đã lắng nghe tất cả câu chuyện, tay che lấy mắt; khi y nghe Zarathustra cười, y đưa mắt nhìn lên, tò mò, và chậm rãi bảo:
“Tại sao Zarathustra lại nói với chúng ta khác với những gì ông ta nói với các môn đệ?”[2]
Zarathustra đáp: “Nào có gì đáng ngạc nhiên đâu? Với những người gù, ta có thể nói bằng giọng điệu gù!”[3]
“Được rồi, - người gù bảo. Và với các môn đệ, người ta có thể tiết lộ những bí mật của tông phái.
Nhưng tại sao Zarathustra lại nói với các môn đệ khác với những gì Zarathustra tự nói với chính mình?”

[1] “những ý tưởng và hậu ý”: Gedanken und Hintergedanken, bản Việt ngữ và Pháp ngữ diễn tả gọn hơn bản Anh ngữ trước lối chơi chữ này.
[/align] [2] “Với những người gù, ta có thể nói bằng giọng điệu gù”, Bucklichte: người gù; bucklicht reden: nói nghiêng nói ngửa, nói trái lại. Bản Việt ngữ không chuyển được lối chơi chữ này để diễn tả cả hai nghĩa cùng một lúc.
[/align] [3] “Mi muốn nhìn thấu tất cả những lý lẽ cùng căn để vạn sự ”, GrundHintergrund. Grund vừa có nghĩa là nền tảng, vừa có nghĩa là lý tính, lý lẽ, đáy sâu, nên chúng tôi dùng chữ lý lẽ căn để.
[/align] [/align]
0
VỀ SỰ E DÈ CẨN TRỌNG
CỦA LOÀI NGƯỜI


Không phải chiều cao, nhưng chính dốc thẳm mới là điều khủng khiếp!
Dốc thẳm nơi cái nhìn phóng xuống hố thẳm hư không, nơi bàn tay với lên về những đỉnh cao. Đấy chính là nơi quả tim xao xuyến quay cuồng chóng mặt trước cái ý chí lưỡng diện của mình.
Hỡi ơi! Hỡi các bạn, các bạn đoán ra được cái ý chí lưỡng diện của ta chăng?
Bởi vì, đây, đây là dốc thẳm và mối nguy hiểm của ta: cái nhìn của ta phóng ào lên đỉnh cao trong khi bàn tay ta muốn bấu víu và giữ thăng bằng - trong những vực sâu.
Con người chính là nơi ý chí ta bấu chặt vào, ta bị buộc vào con người bằng những sợi xích, bởi vì ta bị cuốn hút về với Siêu nhân; bởi lẽ đấy là chỗ mà ý chí kia của ta muốn đi đến.
Chính vì thế ta sống đui mù giữa loài người, như thể ta không nhận ra họ; để cho bàn tay ta đừng mất hẳn đức tin nơi chỗ nương tựa vững vàng.
Ta không biết các ngươi, hỡi loài người: sự tối tăm và sự an ủi thường luôn vây phủ quanh ta.
Ta ngồi trước cánh cổng, phó thân cho tất cả những kẻ vô lại và ta hỏi: Ai muốn đánh lừa ta?
Sự e dè cẩn trọng đầu tiên đầy chất người của ta là cứ để mình bị đánh lừa, để khỏi bị bắt buộc phải nghi kị đề phòng những kẻ lừa gạt.
Hỡi ôi! Nếu nghi ngờ con người, thì con người có thể nào làm chiếc neo để neo trái cầu của ta lại? Ta rất dễ bị chiếc cầu nhấc bay lên cao tít tắp.
Sự e dè cẩn trọng đầu tiên chi phối vận mệnh của ta là: phải nhất thiết đừng e dè cẩn trọng gì cả.
Kẻ nào giữa loài người không muốn chết khát thì phải học uống trong tất cả các thứ ly; kẻ nào muốn còn trong sạch giữa loài người, phải học rửa mặt bằng nước bẩn.
Đây là lời ta thường tự nhủ để an ủi mình: “Nào, can đảm lên, hỡi trái tim già cỗi! Mi đã thất bại trong một tai ương: vậy mi hãy vui hưởng tai ương như một hạnh phúc!”
Và đây là sự e dè cẩn trọng đầy chất người, sự e dè cẩn trọng thứ hai của ta: ta dung tha kẻ huênh hoang khoác lác hơn là kẻ kiêu hãnh tự phụ.
Sự huênh hoang khoác lác bị xúc phạm há chẳng là mẹ đẻ của mọi bi kịch? Nhưng nơi nào lòng kiêu hãnh bị tổn thương, nơi đó mọc lên cái gì còn tốt đẹp hơn.
Muốn cuộc đời được đẹp khi ta nhìn, vở kịch đời phải được diễn cho xuất sắc, muốn thế cần phải có những kịch sĩ xuất thần.
Ta thấy tất cả những kẻ huênh hoang khoác lác đều là những kịch sĩ đại tài: họ diễn xuất và muốn thiên hạ ưa thích nhìn họ, - trọn vẹn tinh thần họ tập trung vào ý muốn đó.
Họ tự diễn kịch, tự bày đặt ra chính mình: bên cạnh họ, ta thích nhìn cuộc đời, - điều đó chữa ta khỏi chứng buồn sầu u uất.
Chính vì thế, ta dung thứ những kẻ huênh hoang khoác lác bởi họ là những y sĩ cho nỗi buồn sầu của ta, và vì họ buộc chặt ta vào với con người như vào một vở kịch.
Lại nữa: ai mà đo lường được tất cả chiều sâu của lòng khiêm tốn nơi những con người huênh hoang khoác lác? Ta yêu mến kẻ huênh hoang khoác lác và ta thương hại hắn vì lòng khiêm tốn của hắn.
Hắn muốn học hỏi nơi các ngươi để tin tưởng vào chính bản thân mình; hắn tự nuôi dưỡng bằng tia nhìn của các ngươi, hắn đón nhận lời ngợi ca từ bàn tay của các ngươi.
Hắn thích tin vào những sự dối trá của các ngươi, ngay khi các ngươi nói dối khéo léo về hắn: bởi vì tận đáy lòng, hắn thở dài tự hỏi: “Ta là ai?”
Nếu đức hạnh chân chính là đức hạnh không tự biết mình, thì kẻ huênh hoang khoác lác đúng là kẻ không biết đến sự khiêm tốn của mình!
Đây là sự e dè cẩn trọng thứ ba đầy chất người của ta: ta không để cho sự nhút nhát của các ngươi phá hỏng cái cảnh tượng khi ta nhìn thấy những kẻ độc ác.
Ta rất hoan hỉ được nhìn thấy những phép màu bừng nở do một mặt trời bốc lửa: những con hổ, những cây cọ và những con rắn rung chuông.
Ngay giữa loài người cũng có những sản phẩm của mặt trời bốc lửa, và cũng có những điều kỳ tuyệt nơi những kẻ độc ác.
Quả thật, như những kẻ hiền triết nhất trong các ngươi không hoàn toàn hiền triết theo mắt ta nhìn, cũng thế, ta đã tìm thấy sự độc ác của loài người ở bên dưới thanh danh họ.
Và ta thường lắc đầu tự hỏi: tại sao các ngươi còn rung chuông nữa thế, hỡi những con rắn đeo chuông?
Thực ra, có một tương lai, ngay cả cho sự ác, và buổi ngọ thiên bốc lửa nhất hãy còn chưa được con người khám phá ra.
Có biết bao nhiêu điều hôm nay người ta gọi là độc ác tàn tệ nhất, nhưng thật ra chúng chỉ vỏn vẹn rộng chừng mười hai bộ và kéo dài chừng ba tháng! Nhưng rồi một ngày kia, những con rồng vĩ đại hơn sẽ đến với trần gian.
Bởi vì muốn cho Siêu nhân có con rồng của mình, con Siêu long xứng đáng với hắn, thì cần phải có nhiều mặt trời đốt lửa rọi ấm khu rừng hoang ẩm ướt!
Trước tiên, những con mèo của các ngươi phải biến thành những con hổ và những con cóc mang nọc độc phải biến thành những con cá sấu: tay thợ săn thiện xạ phải thực hiện một chuyến đi săn ngon lành.
Thực vậy, hỡi những kẻ công chính và những con người thiện hảo! Nơi các ngươi, có nhiều sự việc đáng buồn cười, trước hết là nỗi sợ hãi của các ngươi đối với cái mà từ trước tới giờ đã được gọi là “quỷ dữ”!
Linh hồn các ngươi quá xa cách với mọi sự cao đại hùng vĩ, đến độ Siêu nhân sẽ làm các ngươi hoảng sợ vì lòng tốt của hắn!
Và các ngươi nữa, những nhà hiền triết và học giả, các ngươi sẽ chạy trốn trước mặt trời bốc lửa của Trí huệ, nơi mà Siêu nhân hân hoan tắm đẫm trần truồng trong đó!
Các ngươi nữa, những con người thượng đẳng mắt ta đã gặp thấy! Đây là nỗi nghi ngờ của ta đối với các ngươi và nụ cười thầm kín của ta: ta đoán rằng các ngươi sẽ xem Siêu nhân của ta là quỷ dữ!
Hỡi ôi! Ta đã chán ngán những con người thượng đẳng này rồi, ta đã mỏi mệt với những kẻ cao thượng nhất trong bọn họ: ta nảy sinh khát vọng leo lên tận “chiều cao” của họ, leo lên cao mãi, xa tít với họ, hướng về Siêu nhân.
Ta rùng mình run rẩy khi nhìn thấy những kẻ cao thượng nhất trong bọn họ trần truồng: lúc bấy giờ ta mọc cánh để bay đi chỗ khác, hướng về những tương lai xa tít mù khơi.
Hướng về những tương lai xa tít, hướng về những phương Nam ở tận cùng Nam, xa vời hơn bất cứ nhà nghệ sĩ nào đã từng mơ mộng đến: nơi các thần linh đều hổ thẹn vì mọi thứ y phục trên người!
Nhưng, ta muốn nhìn thấy các ngươi giả trang, các ngươi, hỡi loài người, hỡi những anh em và những kẻ láng giềng thân cận ta, ta muốn nhìn thấy các ngươi giả trang, và trang điểm lòe loẹt và huênh hoang khoác lác và trang nghiêm đứng đắn, hỡi các ngươi “những con người thiện hảo và những kẻ công chính!”
Và ta cũng muốn hóa trang mang mặt nạ ngồi giữa các ngươi để xét đoán sai lầm các ngươi và để tự xét đoán sai lầm chính mình: vì đấy là sự e dè cẩn trọng tối hậu đầy chất người của ta.
 
Zarathustra đã nói như thế.
0
GIỜ PHÚT IM LẶNG NHẤT


“Hỡi các bạn, việc gì đã xảy đến cho ta? Các bạn nhìn thấy ta bị rối loạn, bị xô đẩy xa vời, vâng phục dẫu lòng chẳng muốn, và sẵn sàng bỏ đi, - hỡi ôi! Bỏ đi xa biệt các bạn.
Ờ, một lần nữa Zarathustra lại phải quay trở về trong nỗi cô đơn, nhưng lần này con gấu quay trở về hang động mà lòng chẳng được vui!
Chuyện gì đã xảy đến cho ta? Ai đã ban cho ta lệnh đó? Hỡi ôi! Cô nàng tình nhân giận dữ của ta đã đòi hỏi như thế, nàng đã ngỏ lời cùng ta. Ta chưa từng bao giờ nói tên nàng cho các bạn biết sao?
Hôm qua, khi chiều xuống, giờ phút im lặng nhất của ta đã lên tiếng với ta: đấy chính là tên cô nàng tình nhân kinh khủng của ta.
Và đây là những gì đã xảy ra, - bởi vì ta phải nói hết tất cả cho các bạn nghe, để tim các bạn đừng nhẫn tâm với kẻ bỏ ra đi vội vã!
Các bạn có biết nỗi kinh hoàng của kẻ thiếp ngủ?
Hắn rùng mình ớn lạnh toàn thân, vì cảm thấy mặt đất lùi trượt tan bay và mộng mị khởi đầu.
Ta nói cho các bạn điều này bằng ẩn dụ: hôm qua, vào giờ phút im lặng nhất, mặt đất đã lùi trượt dưới chân ta; và giấc mộng đã khởi đầu.
Chiếc kim đồng hồ xê dịch, chiếc đồng hồ của đời ta ngưng đập, chưa bao giờ ta cảm nghe một sự im lặng tịch mịch như thế chung quanh ta, đến độ lòng ta hoảng sợ.
Thình lình, ta nghe như có một giọng gì lên tiếng không lời: “Mi biết rõ điều đó mà, Zarathustra”.
Khi nghe tiếng thì thào đó, ta đã bật kêu lên vì kinh hoàng, máu dồn ngược hết lên mặt ta, nhưng ta vẫn im lặng.
Lúc bấy giờ, tiếng đó lại thoảng nhẹ không lời: “Mi biết rõ điều đó mà, Zarathustra, nhưng mi lại không nói!”
Sau cùng, ta đành trả lời, với dáng điệu thách đố: “Ờ, ta biết đó, nhưng ta không muốn nói ra!”
Lúc bấy giờ, tiếng nói lại thoảng nhẹ không lời: Mi không muốn à, hỡi Zarathustra? Thật thế chăng? Mi đừng ẩn trốn đằng sau dáng điệu thách đố ấy!”
Và ta, ta bật khóc nức nở run rẩy như một đứa trẻ và bảo: “Hỡi ôi! Ta muốn lắm, nhưng làm thế nào ta có thể nói ra được? Hãy xá miễn cho ta việc ấy! Đấy là một việc vượt quá sức ta!”
Lúc bấy giờ, giọng đó vang vọng không lời: “Sá gì bản thân mi, hỡi Zarathustra? Hãy thốt ra lời của mình rồi vỡ vụn tan thây!”
Ta đã trả lời: “Hỡi ôi! Đấy có phải là lời của ta chăng? Ta là ai? Ta chờ đợi một kẻ xứng đáng hơn nữa; kẻ mà ta cũng không xứng được đập vỡ chính mình vào kẻ ấy”.
Lúc bấy giờ, tiếng đó vang vọng không lời: “Sá gì bản thân mi? Mi hãy còn chưa đủ khiêm cung, lòng khiêm cung mang lớp da cứng rắn nhất”.
Và ta đã trả lời: “Có gì mà lớp da của lòng khiêm cung ta chưa từng chịu đựng đâu! Ta cư ngụ ở dưới chân đỉnh cao ta: chiều cao của những đỉnh cao ta cao vượt ngần nào? Chưa từng có kẻ nào nói cho ta nghe điều ấy. Nhưng ta biết rất rõ những thung lũng của ta”.
Lúc bấy giờ, tiếng đó lại văng vẳng không lời: “Ồ, hỡi Zarathustra, kẻ nào phải dời chuyển những ngọn núi thì cũng phải dời chuyển những thung lũng và những miền sâu”.
Và ta trả lời: “Lời của ta hãy còn chưa dời chuyển được những ngọn núi và những gì ta rao giảng chưa đến được quả tim loài người. Quả thật là ta đã đến với loài người, nhưng ta hãy còn chưa đến được với họ”.
Lúc bấy giờ, giọng đó thoang thoảng không lời: “Mi có biết chăng? Giọt sương rơi trên cỏ ban đêm vào giờ phút im lặng nhất”.
Và ta trả lời: “Bọn chúng chế giễu ta khi ta đã khám phá và bước đi theo con đường riêng của mình; thực ra, lúc ấy chân ta đã run rẩy.
Và bọn chúng đã bảo với ta điều này: “Mi chẳng còn biết đến con đường nữa, và bây giờ mi lại chẳng biết đến cả chuyện bước đi!”
Lúc bấy giờ, tiếng đó lại văng vẳng không lời: “Có sá gì những lời chế giễu của bọn chúng! Mi là kẻ đã học quên đi sự vâng phục: giờ đây mi phải ban lệnh chỉ huy.
Mi há không biết kẻ được tất cả mọi người cần thiết nhất à? Đấy là kẻ ban lệnh chỉ huy những sự việc vĩ đại.
Thành tựu những sự việc vĩ đại là điều khó khăn, nhưng vô vàn khó khăn hơn nữa là ban lệnh đối trị những sự việc vĩ đại.
Và đây là lỗi lầm không thể nào tha thứ được của mi: mi có quyền lực, nhưng mi lại không muốn thống ngự trị vì”.
Ta đã trả lời: “Ta thiếu tiếng rống của con mãnh sư để ra lệnh”.
Lúc bấy giờ, tiếng đó lại thoang thoảng bên ta như một giọng thì thào: “Chính những lời lẽ im lặng nhất mới mang lại bão tố. Chính những tư tưởng đến nhẹ nhàng trên bước chân bồ câu mới điều động thế giới.
Ồ, hỡi Zarathustra, mi phải bước đi như bóng ma của những gì sẽ xảy đến một ngày gần đây, mi sẽ ban lệnh thống trị như thế, và trong khi ban lệnh thống ngự, mi là kẻ đi tiên phong dẫn đạo”.
Ta trả lời: “Ta xấu hổ”.
Lúc bấy giờ, giọng nói đó lại vang vọng không lời: “Mi phải trở lại làm trẻ thơ và không xấu hổ.
Mi hãy còn mang giữ lòng kiêu hãnh của tuổi trẻ trong lòng, mi chỉ có được tuổi trẻ quá muộn màng: nhưng kẻ nào muốn trở thành trẻ thơ thì cũng phải vượt thắng tuổi trẻ của mình”.
Và ta mặc tưởng trầm tư một hồi lâu với tấm thân run rẩy. Sau cùng, ta vẫn lặp lại câu trả lời đầu tiên: “Ta không muốn”.
Lúc bấy giờ, chung quanh ta như bùng nổ một tràng cười. Hỡi ơi! Chuỗi cười ấy xé nát lòng ta và xuyên thủng tim ta!
Và lần cuối cùng, tiếng đó lại vang vọng bên ta: “Ồ, hỡi Zarathustra, hoa quả của mi đã chín muồi, nhưng mi lại chưa chín muồi cho những hoa quả của mi!
Vậy thì một lần nữa mi phải quay trở vào trong nỗi cô đơn, để sự cứng rắn của mi được dịu dàng thêm nữa”.
Và chung quanh ta lại nổi lên một tràng cười và những bước chân xào xạc chạy trốn; rồi thì chung quanh ta là một sự im lặng trùng trùng. Nhưng lúc bấy giờ ta đã nằm duỗi dài trên đất, mồ hôi vã ra đầy thân thể.
Giờ đây, các bạn đã nghe hết mọi chuyện và các bạn đã biết vì sao ta lại phải quay trở về trong nỗi cô đơn. Hỡi các bạn, ta chẳng hề giấu giếm các bạn điều gì.
Nhưng các bạn cũng học biết được từ miệng ta ai là kẻ lặng lẽ kín đáo nhất loài người - kẻ vẫn hằng ước muốn mình là như thế!
Hỡi các bạn, hãy còn một điều nữa ta muốn bày tỏ cùng các bạn, hãy còn một điều nữa ta muốn ban cho các bạn. Tại sao ta đã không ban nó cho các bạn trước đây? Ta là một kẻ bủn xỉn keo kiệt chăng?”
Nhưng khi Zarathustra thốt ra những lời này, nỗi đau đớn đột nhiên vồ chụp lấy hắn trước ý nghĩ rằng mình sắp phải lìa bỏ những bạn bè, đến nỗi hắn òa lên khóc nức nở; và chẳng ai có thể an ủi làm hắn nguôi khuây. Rồi trong đêm tối, hắn một mình bỏ đi biền biệt, bỏ lại đằng sau những bạn hữu.
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2009-07-28 10:09:50Sun Ming>
PHẦN THỨ BA


“Các ngươi nhìn lên cao khi các ngươi khát vọng sự thăng tiến. Còn ta, ta cúi nhìn xuống thấp bởi vì ta đã lên đến chốn cao vời mù tuyệt.
Ai trong các ngươi có thể cười ngất khi được nâng lên trên những đỉnh cao?
Kẻ nào đã leo lên những ngọn núi cao nhất đều bật cười vì tất cả những bi kịch giả tạo hay có thực”.

Zarathustra, Về Đọc và Viết
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
KẺ LANG THANG PHIÊU BẠT


Đêm đã nửa khuya khi Zarathustra bắt đầu lên đường ở trên đỉnh núi cao của hải đảo để sáng sớm hôm sau có thể sang đến bờ bên kia, đấy chính là nơi hắn muốn cập bến. Ở đấy có một hải cảng thuận lợi mà những tàu bè ngoại quốc thích buông neo; các tàu bè này chở những dân cư ở vùng đảo Vĩnh Phúc muốn vượt biển. Thế nhưng, trong khi leo qua ngọn núi, dọc đường tâm trí Zarathustra cứ nghĩ đến vô vàn những chuyến lữ hành cô đơn mà hắn đã thực hiện trong thời thanh xuân. Và biết bao là quả núi, biết bao là chỏm ngọn cùng chóp đỉnh hắn đã vượt qua.
Ta là một khách lữ hành phiêu bạt, một tay trèo núi, Zarathustra tự nhủ lòng, ta không thích những đồng bằng và ta thấy rằng ta không thể bất động một thời gian lâu được.
Bất kể số mệnh ta là gì, bất luận những cuộc phiêu lưu nào đang chờ đợi ta, ta vẫn luôn luôn thấy đó là một cuộc lữ hành, một chuyến đăng sơn: rốt cuộc thì mỗi người chỉ sống điều mà họ cưu mang sẵn trong tự thân.
Đã qua rồi những thời ta có thể phó mặc sự việc cho may rủi, và còn có gì có thể xảy đến với ta mà lại đã không sẵn thuộc về ta?
Nó chỉ việc quay trở về thôi, và sau cùng nó trở về với ta, cái bản ngã riêng tư của ta cùng những thành phần của chính nó mà từ lâu đã ở ngoại quốc, phân tán giữa tất cả những sự việc và những tình cờ, ngẫu nhĩ.
Ta còn biết một điều này nữa: giờ đây ta đang đứng trước đỉnh cao cuối cùng của đời ta, ta đang đứng trước điều đã bị tách xa khỏi ta trong một khoảng thời gian dài lâu vời vợi. Than ôi! Ta phải leo qua con đường nhiêu khê hiểm trở nhất của ta! Hỡi ơi! Ta đã bắt đầu cuộc lữ hành cô độc nhất của ta!
Nhưng bất luận kẻ nào thuộc dòng giống của ta cũng đều không tránh khỏi giờ phút đó, giờ phút lên tiếng bảo: “Chỉ giờ đây mi mới theo con đường cao nhã của mi! đỉnh cao và hố thẳm đã hòa lẫn vào nhau!
Mi đang bước đi trên con đường cao đại của mi: giờ đây những gì từ trước đến nay là mối nguy hiểm tối hậu của mi thì bây giờ lại trở thành nơi ẩn náu tối thượng cho mi.
Mi đang bước đi trên con đường cao đại của mi: giờ đây lòng can đảm vô song của mi là cảm nhận rằng đằng sau mi chẳng còn con đường nào nữa!
Mi đang bước đi trên con đường cao đại của mi: ở đây chẳng ai còn lén lút theo đuổi mi! Chính những bước chân mi đã xóa sạch con đường đằng sau, bên trên con đường đó đã viết nên dòng chữ: Bất khả.
Và nếu từ đây trở đi mi không có được chiếc thang nào thì mi phải biết leo vượt lên khỏi đầu mình: mi còn muốn làm thế nào khác hơn nữa, để leo lên cao hơn?
Leo lên đầu mi, vượt qua bên kia, bên trên cõi lòng riêng tư của mi! Lúc ấy điều êm dịu nhất đối với mi sẽ trở thành cay đắng nhất.
Kẻ nào cứ mãi sợ sệt e dè thì rốt lại sự sợ sệt e dè thái quá sẽ làm hắn mang bệnh. Phúc thay cho những gì làm thành cứng rắn! Ta không ca tụng những xứ miền tràn lan bơ nồng mật ngọt.
Muốn thấy nhiều thứ thì phải tập đưa mắt nhìn ra ngoài mình - sự cứng rắn tàn bạo ấy cần thiết cho tất cả những kẻ nào leo núi.
Song kẻ nào đi tìm tri thức với đôi mắt lộ liễu hớ hênh thì làm thế nào hắn có thể nhìn được gì khác hơn là những lý lẽ cạn cợt?
Nhưng còn mi, hỡi Zarathustra! Mi muốn nhìn thấu tất cả những lý lẽ cùng căn để vạn sự:[1] vậy thì mi phải tự vượt lên chính mình, - vượt lên cao hơn, cao tít đến tận chỗ mà ngay cả những vì sao cũng còn nằm la đà bên dưới mi!
Vâng! Từ trên cao nhìn xuống chính mình và cả những vì sao của mình nữa: chỉ điều đó với ta mới là đỉnh cao, điều đó với ta vẫn là đỉnh cao tối hậu phải vượt qua!”
 
Zarathustra tự nhủ như thế trong khi vượt núi và an ủi lòng mình bằng những châm ngôn cứng rắn, bởi vì tim hắn bị tổn thương tan nát hơn bao giờ hết. Khi hắn đã lên đến đỉnh cao của hải đảo, hắn nhìn thấy mặt biển phía bên kia trải dài trước mắt: lúc bấy giờ, hắn đứng lặng yên và câm nín không lời trong một lúc lâu. Nhưng trên đỉnh cao này, đêm thì lạnh lẽo và trong sáng và đầy những vì sao nhấp nhánh.
Sau cùng, Zarathustra buồn bã nhủ lòng: “Ta đã nhận ra số phận của ta rồi. Nào! Ta đã sẵn sàng. Nỗi cô đơn tối hậu của ta vừa mới khởi đầu.
Hỡi ơi! Hỡi biển cả buồn thảm đen ngòm bên dưới ta. Ồ, hỡi nỗi bất mãn tối đen khuya khoắt! Ồ, số mệnh; ồ, biển cả! Chính mi là nơi chốn ta phải hướng về.
Ta đang đứng trước đỉnh núi cao nhất và cuộc lữ hành biền biệt nhất đời ta: chính vì thế ta phải đi xuống, đi xuống thật sâu như ta chưa bao giờ lên cao như thế.
Lặn xuống thật sâu trong đau khổ như ta chưa từng bao giờ lặn xuống, đến tận làn sóng tối đen sầu khổ nhất! Số mệnh của ta muốn như thế! Được rồi! Ta đã sẵn sàng.
Những ngọn núi cao nhất phát sinh từ đâu? Xưa kia ta đã hỏi như thế. Lúc bấy giờ, ta đã học biết được rằng những ngọn núi cao nhất xuất sinh từ biển cả.
Ấn tích đó được ghi hằn trên những tảng đá và những chỏm cao đứng dựng. Chính từ chốn thấp nhất là nơi mà chỗ cao nhất đạt đến đỉnh cao của mình”.
 
Zarathustra đã nói như thế trên đỉnh núi cao nơi khí trời buốt lạnh; nhưng khi hắn tiến đến gần biển và sau cùng chỉ còn mình hắn chơ vơ đơn chiếc giữa những tảng đá ngầm lố nhố, hắn lại cảm thấy mệt mỏi vì con đường của mình và lòng hắn tràn đầy khát vọng hơn bao giờ hết.
“Vạn sự đều hãy còn ngủ yên, - hắn bảo. Ngay cả biển cả cũng yên ngủ. Con mắt kỳ lạ mơ màng mê ngủ của biển cả nhìn về ta.
Nhưng hơi thở của biển cả thì nồng ấm, ta cảm nhận được điều đó. Và ta cũng cảm biết được rằng biển cả đang nằm mộng. Trong khi nằm mộng, biển cả trở mình lăn lộn trên những gối tảng chai cứng.
Hãy lắng nghe! Hãy lắng nghe! Những hoài niệm xấu xa làm biển thốt ra những lời rên xiết! Hoặc giả đó là những điềm triệu bất tường?
Hỡi ôi! Ta sầu thảm cùng mi, hỡi con quái vật u tối, và ta lại thù ghét chính mình vì mi.
Hỡi ôi! Sao tay ta lại không có đủ sức mạnh? Quả thực, ta muốn giải thoát mi ra khỏi những giấc mộng xấu gở!”
 
Trong khi nói như thế, Zarathustra bật cười về chính mình với tấc lòng u hoài cay đắng.
Hắn bảo: “Sao! Zarathustra! Mi lại còn muốn ca hát những lời vỗ về biển cả?
Hỡi ôi! Hỡi Zarathustra, hỡi thằng điên mà đầy lòng từ ái, say mê tín cẩn? Nhưng mà bao giờ thì mi cũng vẫn như thế đó: mi luôn luôn thân ái tiến đến gần những sự vật khủng khiếp.
Mi muốn vuốt ve tất cả những con quái vật. Một thoáng hơi thở nồng ấm, một tí lông mềm chung quanh những vuốt sắc: chỉ cần như thế là mi lập tức thương yêu và lôi cuốn về với mình!
Tình yêu là mối nguy hiểm của con người cô đơn một bóng; tình yêu đối với vạn sự miễn là chúng sống động! Thật vậy, cơn điên cuồng và lòng khiêm tốn nhún nhường của ta trong tình yêu có một vẻ gì đáng buồn cười!”
 
Zarathustra đã nói như thế và hắn lại bật cười một lần nữa; nhưng vừa khi ấy hắn vụt nghĩ đến những bạn bè bị bỏ rơi, và như thể đã phạm tội với họ trong tư tưởng, hắn lại vụt nổi giận với chính mình vì những tư tưởng của mình. Và liền đó, trong khi vẫn còn cười, Zarathustra lại bật khóc: - hắn khóc u hoài cay đắng vì giận dữ và hối tiếc triền miên.
 

[1] “Mi muốn nhìn thấu tất cả những lý lẽ cùng căn để vạn sự”, GrundHintergrund. Grund vừa có nghĩa là nền tảng, vừa có nghĩa là lý tính, lý lẽ, đáy sâu, nên chúng tôi dùng chữ lý lẽ căn để.
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2009-07-28 07:52:16Sun Ming>
VỀ ẢO TƯỢNG VÀ ẨN NGỮ


1

Trong đám thủy thủ, khi biết rằng Zarathustra đang có mặt trên tàu - bởi vì cùng xuống tàu với hắn, có một người dân quần đảo Vĩnh Phúc - thì thiên hạ tò mò chờ đợi nôn nao. Song Zarathustra im lặng suốt hai ngày liền, lạnh lùng câm nín trong nỗi u sầu, chẳng hề đáp trả những cái nhìn và những câu chất vấn. Tuy nhiên, vào buổi chiều ngày thứ hai, Zarathustra lại khai mở thính quan, lắng nghe tuy vẫn còn im lìm câm nín: bởi vì trên con tàu nọ từ chốn viễn phương đi đến và còn muốn lướt sóng xa vời hơn nữa, người ta có thể nghe được nhiều sự việc dị kỳ nguy hiểm. Mà Zarathustra lại là bạn thân của tất cả những kẻ lữ hành phiêu bạt, những người thích sống giữa lòng nguy hiểm. Và ô kìa! Vì mải lắng tai nghe, sau cùng miệng lưỡi của hắn đã nhích động và khối băng giá trong lòng hắn tan đi - hắn khởi sự nói như thế này:
“Với các bạn, là những kẻ kiếm tìm gan góc, những nhà thám hiểm, và tất cả những kẻ băng vượt những trùng khơi dữ dội dưới những cánh buồm phồng căng giảo hoạt.
Với các bạn, là những kẻ mê đắm ẩn ngữ, ngây ngất ánh sáng nhạt mờ phiêu lãng, những kẻ để tâm hồn mình bị cuốn hút về những tiếng sáo vi vu trong mọi làn nước xoáy phỉnh lừa:
- Bởi vì các bạn không muốn sờ soạng sợi dây dẫn đạo bằng bàn tay e dè sợ sệt; và bất cứ nơi nào các bạn có thể ước đoán tiên tri, các bạn đều ghét phải đưa ra kết luận.
Riêng với các bạn mà thôi, ta xin kể lại ẩn ngữ mà ta đã nhìn thấy, ảo tượng của con người cô độc khôn cùng.
Vừa mới đây, ta ưu sầu bước đi trong ánh hoàng hôn nhợt nhạt, khuôn mặt tối tăm khốc liệt, đôi môi mím chặt. Hơn một mặt trời đã tắt lịm với ta.
Một nẻo đường nhất mực đi lên, đi lên mãi xuyên qua những mô đá lô nhô, một nẻo đường dữ tợn và cô đơn không muốn dung chứa cỏ cây bụi rậm, một con đường núi nghiến rít lên dưới bước chân ta thách thức.
Câm lặng lầm lì, ta bước đi lên mãi trên tiếng rít mạnh giễu cợt của sỏi đá, bàn chân ta giẫm nát những viên đá tròn trơn trượt, cố gắng đi lên, lên mãi.
Lên cao hơn, cao hơn nữa: - bàn chân ta thách đố cái tinh thần sa trụy cứ muốn lôi cuốn nó xuống miền sâu, xuống hố thẳm, Tinh thần Trì độn Nặng nề, con quỷ và kẻ thù truyền kiếp của ta.
Lên cao hơn nữa, - mặc dù nó ngồi đè nặng trên thân ta, cái tinh thần trì trệ nặng nề, nửa lùn tịt, nửa chuột chù, què quặt và xui khiến quặt què tê cóng, cứ liên miên rót chì vào tai ta, cứ rót mãi vào não cân ta, từng giọt từng giọt, những tư tưởng đá chì.
“Hỡi Zarathustra! Nó thì thào từng tiếng với giọng điệu giễu cợt, hỡi Zarathustra, viên đá của trí huệ hiền minh! Ngươi đã tung cao vô ngần, - nhưng mọi viên đá tung lên bao giờ cũng phải rơi rớt xuống!
“Hỡi Zarathustra! Viên đá của Hiền minh Trí huệ, viên đá tung lên trời ném vỡ những vì sao! Chính tự thân ngươi được ngươi tung vút lên cao như thế đó, - nhưng mọi viên đá tung lên bao giờ cũng phải rơi rụng xuống!
Ngươi tự kết tội bản thân, ngươi tự ném đá chính ngươi: Hỡi Zarathustra! Ngươi đã quăng ném viên đá lên thật cao, nhưng rồi viên đá sẽ rớt xuống đầu ngươi!”
Nói như thế xong, thằng lùn im tiếng; và sự im lặng của nó kéo dài triền miên đến nỗi ta bị đè ép nặng nề ngộp thở; như thế, khi người ta là đôi bóng, thì thật ra người ta còn cô đơn hơn là khi một mình một bóng!
Ta bước lên, bước lên mãi, mơ màng, trầm mặc, - nhưng mọi sự cùng đè nén ta ngạt thở. Ta giống như một người bệnh bị nỗi đau đớn giày vò mệt mỏi, và một ác mộng lôi hắn thức dậy khỏi giấc ngủ đầu tiên.
Tuy nhiên, trong ta vẫn còn có một cái gì đó mà ta gọi là lòng can đảm: chính nó đã dập tắt mọi chán nản rã rời trong lòng ta từ trước đến nay. Lòng can đảm ấy cuối cùng khiến ta dừng chân lên tiếng: “Hỡi thằng lùn! Ta với mi hãy đọ sức! Ta hoặc mi phải có một người chết!”
Vì lòng can đảm chính là kẻ sát hại tuyệt vời nhất, - lòng can đảm xung trận tấn công: bởi vì trong mọi cuộc tấn công đều có những hồi kèn thúc quân vang dội.
Mà con người là con vật can đảm nhất, chính vì thế nó đã chiến thắng mọi con vật. Trong hồi kèn xung trận, con người đã vượt qua mọi thống khổ điêu linh; nhưng sự thống khổ của con người là nỗi thống khổ sâu thẳm triền miên nhất.
Lòng can đảm cũng giết chết nỗi choáng váng kinh hoàng bên bờ hố thẳm: và ở đâu mà con người lại chẳng ở bên bờ hố thẳm? Chỉ cần đưa mắt nhìn ngó thôi, há chẳng đủ phát hiện trùng trùng những hố thẳm quanh mình?
Lòng can đảm là kẻ sát hại siêu tuyệt; lòng can đảm cũng giết luôn lòng xót thương lân mẫn. Mà xót thương lân mẫn là hố thẳm sâu xa nhất: càng nhìn sâu vào sự sống, con người càng nhìn sâu thẳm vào trong thống khổ.
Nhưng lòng can đảm là kẻ sát hại tuyệt vời, lòng can đảm xung trận tấn công: cuối cùng nó tiêu diệt cả sự chết, vì nó lên tiếng: “Sao? Cuộc sống là thế đó sao? Nào! Ta hãy bắt đầu trở lại!”
Mà, trong một châm ngôn như thế, có rất nhiều hồi kèn xung trận réo vang. Kẻ nào có tai, thì hãy nghe ra!


2


“Dừng lại thôi, thằng lùn! - ta bảo. Hai ta hãy đấu sức! Hoặc ta hoặc mi phải có một người chết! Nhưng trong hai đứa, ta là kẻ mạnh nhất: - mi không biết được tư tưởng sâu thẳm nhất của ta! Tư tưởng ấy, mi không thể nào mang vác gánh chịu nổi!”
Lúc bấy giờ xảy ra chuyện làm thân thể ta nhẹ nhàng hơn: thằng lùn nhảy vọt khỏi vai ta, thằng lùn lố lăng thô lỗ! Và nó ngồi chồm hỗm trên một tảng đá trước mặt ta. Nhưng ngay tại chỗ hai chúng ta dừng chân, dường như ngẫu nhiên mà có một trụ quan.
“Hãy nhìn trụ quan kia, hỡi thằng lùn, - ta tiếp lời. Nó có hai mặt. Hai nẻo đường giao ngộ gặp gỡ nhau tại đây, hai nẻo đường mà từ trước đến giờ chẳng hề có ai đi đến tận cùng cả.
Cái con đường dài chạy lùi trở lại phía sau kia, nó dài một mãi mãi thiên thu; và cái con đường dài phóng thẳng tới trước, nó cũng là một thiên thu vĩnh viễn khác nữa!
Hai con đường viễn tuyệt ấy bác bỏ nhau, va chạm nhau. Và chính nơi đây, tại trụ quan này, là nơi hai con đường đó giao ngộ. Tên của trụ quan đã được ghi đậm trên kia, đó là: “khoảnh khắc tu du”.
Nhưng nếu có người bước đi theo một trong hai con đường đó - đi xa, xa vời mãi mãi, thì hỡi thằng lùn, mày có nghĩ rằng hai con đường nọ sẽ còn đối kháng, trừ khử nhau mãi mãi chăng?”
Thằng lùn thì thào một cách khinh miệt: “Mọi cái gì thẳng đều dối trá hư ảo. Mọi chân lý đều cong cong, ngay cả thời gian cũng là một vòng tròn”.
Ta bừng bừng lửa giận: “Tinh thần nặng nề trì độn kia ơi! Mày đừng nhìn sự việc đơn giản quá đỗi như thế! Bằng không, hỡi thằng thọt chân cà nhắc, ta sẽ bỏ mày ngồi lại đây, - và mày đừng nên quên rằng chính ta đã cõng mày lên đến đỉnh cao này”.
“Mày hãy xem xét kỹ khoảnh khắc tu du này! - ta tiếp tục. Từ trụ quan khoảnh khắc hiện tại, một con đường miên viễn thiên thu phóng lùi lại phía sau: đằng sau chúng ta có một thiên thu vĩnh viễn.
Mọi sự vật biết chạy há chẳng từng băng qua đường đó? Mọi sự vật có thể xảy ra, há chẳng phải là đã từng xảy ra, đã hoàn tất, đã trôi qua thành quá khứ?
Và nếu mọi sự đang hiện thể bây giờ, đã từng có phen hiện thể, thì hỡi thằng lùn, mày nghĩ sao về cái khoảnh khắc tu du này? Cả trụ quan này há chẳng phải đã từng hiện thể trước kia?
Và mọi sự há chẳng vương vấn tương liên trùng điệp với nhau đến nỗi cái khoảnh khắc tu du này đang lôi kéo theo sau mình tất cả những sự việc tương lai? Và như thế, lôi kéo theo cả chính mình?
Bởi vì mọi sự vật biết chạy há chẳng phải là tái hồi đi lại một lần nữa cái con đường viễn tuyệt đang phóng lên kia!
Và cái con nhện đang chậm chạp bò dưới ánh trăng, và ngay cả ánh trăng này nữa, và ta và ngươi đang gặp gỡ nhau dưới trụ quan này, thì thào nói về những sự việc thiên thu vĩnh cửu, há chẳng phải là hết thảy chúng ta đều đã từng hiện thể cả ở nơi đây?
Chúng ta há chẳng phải quy hồi và chạy trở lại một lần nữa trên con đường trước mặt đang phóng lên cao, con đường viễn tuyệt âm u kia, - há chẳng phải là chúng ta phải vĩnh viễn quy hồi trầm luân trở lại?”
Ta đã nói như thế, và với giọng càng lúc càng thấp hơn, bởi lẽ ta đâm ra sợ hãi chính tư tưởng và những hậu ý của ta. Lúc bấy giờ, bất thình lình ta nghe một con chó tru rống bên cạnh hai người.
Ta đã bao giờ từng nghe một con chó tru rống như vậy? Những ý tưởng của ta giật lùi, gắng công nhớ lại. Ờ, phải rồi! Khi ta còn bé, vào cái tuổi thơ dại xa xôi:
Ta đã từng nghe một con chó tru rống thảm thương như thế. Và ta cũng nhìn thấy con chó ấy, lông lá dựng ngược, ngẩng đầu, run rẩy giữa đêm khuya thinh lặng vô ngần, lúc mà ngay cả những con chó cũng tin rằng có ma quỷ đi hoang.
Đến nỗi ta cảm thương con chó ấy. Bởi vì vầng trăng vằng vặc vừa nhô lên phía trên ngôi nhà, trong một nỗi im lặng lạnh tanh chết chóc. Vầng trăng, chiếc đĩa tròn rạng lửa ấy, dừng lại trên mái nhà như trên một thứ tài sản xa lạ.
Đấy chính là điều đã khiến con chó kinh hoàng: bởi vì những con chó vốn tin rằng có kẻ trộm và ma quỷ lang thang. Và khi nghe con chó tru vang trở lại, thì lòng ta lại thương cảm bùi ngùi.
Hỡi ôi! Thằng lùn và trụ quan, con nhện và những tiếng thì thào đêm nọ, tất cả những thứ đó giờ đây đã trôi dạt chốn nào? Ta đã nằm mộng chăng? Ta vừa thức giấc? Ta đột nhiên thấy mình đứng chơ vơ giữa những tảng đá man dại hoang liêu, lạc loài giữa màu trăng hoang tịch.
Nhưng có một người nằm sóng sượt đó kia! Và coi kìa, con chó vùng nhảy, lông lá dựng ngược, rền rĩ than van; - giờ đây khi nhìn thấy ta đi đến, con chó rú vang trở lại, la gào... Ta có bao giờ từng nghe một con chó gào la cầu cứu như thế này chưa?[1]
Và quả thật, ta chẳng bao giờ thấy một cảnh nào tương tự cảnh kia. Ta thấy một gã chăn chiên trẻ tuổi đang nằm quằn quại, thở khò khè, thân thể co quắp, khuôn mặt rã rời, và một con rắn trì trệ đen ngòm đang lòng thòng ngoài miệng gã.
Ta có bao giờ nhìn thấy xiết bao ghê tởm kinh hoàng não nuột trên một khuôn mặt người! Có lẽ trong lúc gã mục tử nọ say ngủ, thì con rắn đã bò lòn vào trong vòm họng, và cứ nằm lì trong đó!
Ta bèn đưa tay lôi con rắn ra, nhưng chỉ luống công! Chẳng thể nào rứt con rắn ra khỏi cổ họng gã mục tử. Lúc bấy giờ có cái gì thét lớn trong cõi hồn ta: “Hãy cắn! Cắn đi! Cắn cho nát đầu con vật!” - Chính như vậy, đó là tiếng thét của lòng ta; kinh hoàng, thù hận, ghê tởm, cảm thương, trọn cả thiện ác trong ta đều bật kêu lên trong cùng một tiếng thét.
Hỡi các bạn gan lì đang đứng quanh ta, hỡi các bạn phiêu lưu kiếm tìm gan dạ, dù các bạn là ai mặc lòng, các bạn đã xuống tàu băng vượt qua đại hải chưa người thám hiểm với tấm buồm phồng căng giảo hoạt! Các bạn, những kẻ vui say ẩn ngữ, các bạn hãy đoán xem ý nghĩa ẩn ngữ ta đã nhìn thấy, và hãy giải thích cho ta nghe cái ảo tượng của con người tối ư cô độc!
Bởi vì đấy là một ảo tượng và một tiên tri: - biểu tượng trong quang cảnh ta nhìn thấy? Và kẻ phải đi đến một ngày nào đó là ai?
Ai là gã mục tử bị con rắn bò lòn vào cổ họng? Cái con người mà cổ họng sẽ tràn ngập những gì tối đen khủng khiếp nhất, con người đó là ai?
Lúc bấy giờ, tuân theo tiếng kêu khuyên nhủ của ta, mục tử nọ đã há miệng cắn, hắn đã cắn phập một cái! Hắn nhổ đầu con rắn ấy ra xa, - và đứng vụt dậy.
Lúc bấy giờ hắn không còn là người, cũng chẳng phải là mục tử trước kia, - hắn đã biến dạng hóa thân, rạng rỡ hào quang. Hắn cất tiếng cười! Ta chưa từng bao giờ nghe một con người cười như hắn trong cõi đời này.
Hỡi các anh em, ta đã nghe một tiếng cười lồng lộng, tiếng cười không phải của một con người. Và giờ đây, một khát vọng gặm nhấm hồn ta, một khát vọng sẽ không bao giờ nguôi thỏa.
Nỗi khát vọng tiếng cười đó gặm nhấm hồn ta: Ồ, làm sao ta còn có thể cam chịu để sống! Và làm sao ta còn có thể cam chịu chết đi được nữa, bây giờ!”
 
Zarathustra đã nói như thế.

[1] “Ta có bao giờ từng nghe một con chó gào la cầu cứu như thế này chưa”: giống với một cảnh Nietzsche từng mục kích khi còn nhỏ. Cha ông bị ngã lăn ra chết, và Nietzsche nghe tiếng chó sủa rân lên mới chạy đến và biết được cái chết của người cha.
0
VỀ NIỀM LẠC PHÚC BẤT ĐẮC DĨ


Mang nặng những ẩn ngữ và những cay đắng triền miên như thế trong tâm hồn, Zarathustra vượt biển. Nhưng khi đã cách xa quần đảo Vĩnh Phúc và các bạn bè bốn ngày đường, hắn hoàn toàn thắng vượt được mọi đau khổ: - chiến thắng, bước chân kiên định, hắn lại ngạo nghễ đứng thẳng trên vận mệnh mình.[1] Chính lúc đó, Zarathustra mới nói như thế này với ý thức đầy nỗi khoái hoạt nhẹ nhàng của hắn:
“Một lần nữa ta lại tĩnh lặng cô đơn và ta muốn thế, cô đơn với bầu trời thuần khiết cùng biển cả phóng dật tự do. Và một lần nữa, buổi xế trưa đang vây phủ quanh ta.
Lần đầu tiên, khi ta tìm thấy các bạn ta, cũng chính là buổi xế trưa; khi ta gặp họ một lần khác nữa, cũng chính là buổi xế trưa, vào giờ mà mọi ánh sáng trở nên tịch mịch lặng lẽ hơn.
Bởi vì những mẩu hạnh phúc đang lờ lững giữa trời và đất đang tìm kiếm một linh hồn kết bằng ánh sáng để làm nơi trú ẩn. Giờ đây hạnh phúc đã làm cho mọi ánh sáng thành lặng lẽ u tịch hơn.
Hỡi buổi xế trưa của đời ta! Một ngày nọ, cả hạnh phúc của ta nữa cũng lăn xuống thung lũng để tìm một nơi trú ẩn: lúc bấy giờ, nó đã tìm thấy những tâm hồn cởi mở, hiếu khách ấy!
Hỡi buổi xế trưa của đời ta! Ước gì ta bị bỏ rơi hắt hủi để có được một điều duy nhất: sự vun trồng sống động những ý tưởng của ta và buổi bình minh của những hy vọng cao vời nhất!
Một ngày kia kẻ sáng tạo tìm kiếm những bạn đồng hành và những đứa con phôi dựng từ niềm hy vọng của hắn. Và kìa, hắn không thể tìm thấy được, nếu hắn không khởi đầu bằng cách tự mình sáng tạo ra chúng.
Cũng thế, ta đang ở giữa công trình của ta, ta đang đi đến với những đứa con ta và trở về bên cạnh chúng: chính vì những đứa con của hắn mà Zarathustra phải tự làm cho mình hoàn hảo.
Bởi vì tận đáy lòng sâu kín, người ta chỉ yêu mến con cái cùng công trình tác phẩm của mình, và một tình yêu vĩ đại đối với chính mình là dấu hiệu của sự phong phú: đấy là điều ta đã quan sát thấy được.
Các con của ta hãy còn xanh mướt trong mùa Xuân đầu đời. Chúng đứng cạnh nhau và cùng bị lay động theo ngọn gió, những cái cây của khu vườn và của mảnh đất tốt đẹp nhất đời ta.
Và thực vậy! Nơi nào quần tụ những cái cây như thế, nơi đó chính là quần đảo Vĩnh Phúc!
Nhưng một ngày kia ta sẽ bứng chúng lên để đặt chúng tự mình đứng riêng rẽ một mình: cốt cho mỗi đứa học được sự cô đơn, lòng dũng cảm và đức cẩn trọng.
Với bộ dạng sần sùi, cong queo vặn vẹo, với sự cứng rắn uyển chuyển, mỗi đứa trong bọn chúng sẽ phải đứng cạnh biển cả, làm ngọn hải đăng sống động của đời sống bất khả thắng đoạt.
Bên dưới kia, nơi những cơn bão tố lao mình vào biển lớn, nơi chiếc vòi của núi biếc hút nước ngày đêm, mỗi đứa đều phải trông giắng ngày đêm, ngõ hầu thỏa mãn sự thử thách và nhìn nhận .
Hắn phải được nhìn nhận và chấp thuận, để cho người ta biết rằng hắn có phải là kẻ mang dòng máu và nguồn gốc của ta hay chăng, hắn có phải là chủ nhân của một ý chí kiên trì, câm lặng ngay cả khi thốt lên tiếng nói, và nhượng bộ theo lối mỗi khi ban phát là một lần lấy đi:
- Để cho một ngày kia hắn trở thành bạn đồng hành của ta, sáng tạo và nghỉ ngơi cùng với Zarathustra: - một kẻ ghi ý chí của ta trên những bảng giá trị của ta, cho sự thành tựu tuyệt vời hơn của vạn vật.
Và, vì hắn cùng những đồng loại của hắn, ta phải tự thành tựu chính mình: chính vì thế, giờ đây ta trốn chạy hạnh phúc của ta và hiến mình cho tất cả những khổ nạn, bất hạnh, điêu linh - hiến mình cho sự thử thách cùng sự tự vấn lương tâm cuối cùng của ta.
Thực vậy, đã đến lúc ta ra đi, và cái bóng của kẻ lữ hành và thời gian dài dặc nhất và giờ phút im lặng nhất, tất cả đều bảo cùng ta: “Đã đến lúc rồi!”
Gió đã thổi qua chiếc lỗ khóa và bảo ta: “Đến đây!” Cánh cửa tự mở ra một cách âm hiểm và bảo ta: “Đi đi!”
Nhưng ta bị xiềng chặt vào tấc lòng yêu dấu dành cho những đứa con ta: chính khát vọng, khát vọng tình yêu, đã làm ta bị chiếc còng này lưu giữ để trở thành con mồi cho những đứa con ta và ta trầm một diệt vong vì chúng.
Khát vọng - đối với ta, là đã tự đánh mất mình. Ta các ngươi, hỡi những đứa con ta! Trong sự sở hữu này, mọi sự đều phải chắc chắn và không có gì được là ước vọng cả.
Nhưng mặt trời của tình yêu ta đang che phủ đỉnh đầu, Zarathustra bị nung nấu chín mùi trong tinh chất của mình, lúc những bóng đen cùng những mối nghi ngờ đã bay bổng lên cao.
Ta đã thèm khát hơi lạnh và mùa Đông: “Ồ, ước sao hơi lạnh và mùa Đông làm ta lại lạnh run, răng đánh bò cạp!” Ta thì thầm như thế khi mà những lớp sương mù giá lạnh dâng lên từ ta.
Dĩ vãng của ta đập vỡ các ngôi mộ vùi chôn, nhiều nỗi đau đớn bị chôn sống nay choàng tỉnh dậy: dĩ vãng chỉ ngủ yên ẩn kín dưới những cỗ quan tài.
Như thế, tất cả mọi sự đều bảo cùng ta bằng những dấu hiệu: “Đến giờ rồi!” Nhưng còn ta, ta không nghe thấy. Cho đến khi cuối cùng hố thẳm của ta khởi sự chuyển dịch lại và tư tưởng ta vồ cắn lấy ta.
Hỡi ôi! Tư tưởng phát xuất từ hố thẳm của ta, mi, tư tưởng của ta! Khi nào ta sẽ tìm thấy được sức mạnh để nghe mi đào xới với tấc lòng không còn run rẩy nữa?
Tim ta đập nhảy như muốn vọt lên cổ họng khi ta nghe mi đào xới! Ngay cả sự im lặng của mi cũng muốn làm ta nghẹt thở, mi, im lặng thâm trầm cũng như hố thẳm của ta.
Chẳng bao giờ ta dám gọi mi ra ngoài mặt. Nhưng giờ đây đã đủ rồi, cái việc ta cưu mang mi trong sâu kín hồn ta. Ta hãy còn chưa đủ mạnh cho sự dũng cảm tối hậu của con mãnh sư, cho sự táo bạo tối hậu.
Nỗi đau khổ của mi luôn luôn khá khủng khiếp đối với hồn ta: nhưng một ngày kia, ta sẽ tìm thấy sức mạnh cùng tiếng rống của con mãnh sư để triệu gọi mi đến.
Khi thắng vượt điều đó trong ta, ta sẽ thắng vượt một điều còn lớn lao hơn nữa, và một chiến thắng sẽ là ấn tích cho sự thành tựu của ta!
Cho đến khi đó, ta vẫn tiếp tục lang thang trên những đại dương bất trắc; sự ngẫu nhiên phỉnh nịnh tâng hót ta bằng những lời lẽ trơn tuột; ta đưa mắt nhìn ra đằng trước, nhìn lại đằng sau, - ta hãy còn chưa nhận ra cứu cánh.
Giờ phút cho cuộc chiến đấu tối thượng của ta hãy còn chưa đến, - hay nó đã đến với ta vào lúc này? Thực vậy, với một vẻ đẹp tinh quái, biển cả cùng đời sống chung quanh đang giương mắt nhìn ta!
Hỡi buổi xế trưa của đời ta! Hỡi hạnh phúc trước giờ chiều xuống! Hỡi hải cảng giữa trùng dương! Hỡi an bình trong bất trắc! Ta nghi ngờ tất cả các ngươi!
Thực vậy, ta nghi ngờ vẻ đẹp tinh quái của các ngươi. Ta giống như kẻ tình nhân nghi ngờ một nụ cười quá óng mượt dịu dàng.
Cũng như kẻ tình nhân ghì đẩy người tình yêu dấu tới trước mặt mình, dịu dàng ngay cả trong sự cứng rắn phũ phàng, cũng thế, ta xô đẩy tới trước hồn ta giờ phút ngọt mật tràn lan hạnh phúc này.
Hãy cút xa ta, hỡi phút giờ hạnh phúc! Cùng với mi, một diễm phúc tuyệt vời đã đến với hồn ta, dẫu lòng ta chẳng muốn! Ta đứng đấy, sẵn sàng cho nỗi đau khổ lớn lao nhất của ta: - mi đã đến không đúng lúc.
Hãy cút xa ta, hỡi phút giờ hạnh phúc! Tốt hơn mi nên tìm một chỗ trú ẩn dưới kia, - nơi những đứa con của ta! Hãy vội vã lên! Hãy chúc phúc cho chúng trước khi chiều xuống, bằng cách ban hạnh phúc ta cho chúng!
Chiều đã đến gần: mặt trời đang lịm tắt, hạnh phúc của ta đã bỏ đi xa!”
Zarathustra đã nói thế. Và suốt đêm, hắn chờ đợi khổ nạn điêu linh của mình: nhưng hắn đợi chờ vô ích. Đêm vẫn vời vợi trong sáng, tĩnh mịch, và hạnh phúc lại càng lúc càng tiến đến gần. Vào lúc gần sáng, tuy nhiên, Zarathustra lại cười thầm trong lòng, và hắn bảo bằng một giọng khôi hài: “Hạnh phúc đang chạy đuổi theo ta. Lý do là vì ta không chạy theo những người đàn bà. Thế mà, hạnh phúc là một người đàn bà”.
 

[1] hắn lại chế phục và làm chủ định mệnh mình.
[/align] [/align]
0
TRƯỚC BUỔI RẠNG ĐÔNG


“Ôi vòm trời trên đầu ta, vòm trời trong xanh thuần khiết, vòm trời thăm thẳm cao thâm! hố thẳm vô ngần của ánh sáng! Nhìn ngắm ngươi, ta run lên từng ước vọng linh thiêng.
Lao vụt xác hồn ta vào trong chốn cao viễn của ngươi, đó là chiều sâu thẳm của ta vậy! Náu thân trong cõi thuần khiết trinh tân của ngươi, đó là sự hồn hậu ngây thơ của ta vậy!
Thần linh được bao phủ bằng vẻ đẹp kiều diễm của ngài: và như thế đó, ngươi che giấu những tinh tú lóng lánh của nhà ngươi. Ngươi chẳng nói, và như thế đó, ngươi báo biểu cho ta trí huệ hiền minh của nhà ngươi.
Ngày hôm nay, ngươi đã vì ta mà đứng lên lồng lộng im lìm trên biển cả trào bọt; tình yêu thương từ ái cùng sự ngại ngùng e thẹn của nhà ngươi đang hiển lộ với linh hồn ta trào bọt.
Ngươi đã đến với ta trong vẻ diễm lệ vô song và được vẻ diễm lệ của mình che phủ, ngươi nói với ta bằng tiếng nói không lời, ngươi tự hiển lộ mình bằng Trí huệ Hiền minh của ngươi:
Ồ, làm sao ta lại không đoán ra được hết mọi nỗi niềm ngại ngùng e lệ của nhà ngươi! Ngươi đã đến với ta trước khi vầng dương ló dạng, ta, kẻ cô độc khôn cùng!
Chúng ta là bạn thâm giao từ khi hạnh ngộ. Chúng ta cùng chia nhau cơn sầu muộn, nỗi kinh hoàng và sự sâu thẳm; cả đến mặt trời cũng là của chung hai đứa.
Chúng ta không nói gì hết với nhau, bởi vì chúng ta biết quá nhiều sự việc: - chúng ta im lặng, và qua những nụ cười im bóng, chúng ta trao đổi hiểu biết cho nhau.
Ngươi há chẳng phải là ánh sáng phát ra từ lửa nóng của ta? Linh hồn ngươi há chẳng phải là chị em với trí tuệ ta?
Chúng ta đã chung đôi học hỏi tất cả mọi sự; chúng ta đã chung đôi học cách điệu tự vượt lên chính mình, thấu đạt đến bản lai diện mục của mình, và học cách cười những nụ cười trong sáng không mây che:
- Không mây, chúng ta mỉm cười với những con mắt trong suốt, xuyên qua những khoảng cách xa xôi vời vợi, trong khi ở bên dưới chúng ta, sự thúc ép, cưỡng bách, cứu cánh và tội lỗi bốc khói như mưa mù.
Và khi bước đi một mình, thì linh hồn ta khát vọng cái gì trong những đêm thâu và trên những nẻo đường lầm lỗi? Và khi trèo non vượt núi, ta tìm kiếm người nào trên những đỉnh cao, nếu không phải chính là ngươi?
Mọi cuộc lữ hành, mọi chuyến đăng sơn của ta, há chẳng phải chỉ là một nhu cầu, một phương kế của kẻ vụng về bất lực? Toàn thể ý chí ta chẳng có mục đích nào khác hơn là tung cánh bay vèo, bay vút đến bên ngươi.
Và ta đã thù hận cái gì, thù hận hơn cả thù hận những đám mây thoáng hiện, cùng tất cả những gì làm tối ám khuôn mặt ngươi? Nỗi thù hận của ta chính là điều ta thù hận nhất, bởi vì chính nó đã làm vẩn đục khuôn mặt kiều diễm của nhà ngươi!
Ta oán hận những làn mây thoáng hiện phôi pha, những con mèo hoang luồn lết; chúng nó cướp giật mất những gì ta với ngươi cùng có chung nhau: sự khẳng định thênh thang, tiếng “Vâng” thuận nhận vô hạn tất cả mọi sự việc trần gian.
Ta oán hận những kẻ môi giới trung gian và những kẻ pha trộn lẫn lộn, những làn mây trôi nổi phôi pha: cái bọn hỗn tạp bất quyết, chẳng hề dạy dỗ cách chúc phúc nguyện cầu hay lời nguyền rủa từ tận đáy tâm can. Ta thích chẳng thà ẩn trốn trong một chiếc thùng bưng bít không nhìn thấy trời cao, hay là trong một hố thẳm, hơn là đành lòng nhìn thấy ngươi, vòm trời rạng rỡ ánh sáng, bị những đám mây phù ảo pha phôi làm vẩn đục!
Và thường thường ta vẫn có ý muốn dính chặt chúng lại bằng những tia chớp óng vàng, và tựa sấm sét ầm vang, ta muốn đánh chập chọe trên cái bụng dạ bồ hóng của chúng nó, như một tay chơi chập chọe cuồng nộ điên rồ. Vì bọn chúng đã cướp mất của ta cái tiếng “Vâng” thuận mệnh lồng lộng của nhà ngươi, hỡi vòm trời cao xanh thuần khiết trên kia! Vòm trời sáng rỡ, hố thẳm chan chứa vô ngần ánh sáng! Bởi vì bọn chúng che lấp mất không cho ngươi nghe thấy tiếng “Vâng” lồng lộng của hồn ta!
Bởi vì ta thà chọn ồn ào sấm động cùng những hủy hoại của thời tiết xấu hơn là sự nghỉ ngơi an lạc đầy do dự cẩn trọng của mấy con mèo; và giữa nhân gian, ta thù ghét nhất là cái bọn dụ dự trù trừ bất quyết, bước đi rón rén, những đám mây phất phơ thoáng hiện, nghi ngờ, do dự.
Và “Kẻ nào không biết nguyện cầu chúc phúc thì phải học nguyền rủa cho thâm trầm” - bài học đó rơi xuống cho ta tự trời xanh trong sáng, cái ngôi sao nhấp nhánh ánh cườm trên vòm trời của ta, ngay cả trong những đêm tăm tối.
Thế mà, ta mãi mãi chúc phúc và thốt lên tiếng “Vâng” thuận nhận, miễn là ngươi cứ mãi mãi hiện diện quanh ta, hỡi trời xanh trong sáng, hỡi hố thẳm rạng ngời ánh sáng! - ta mang lời chấp nhận thênh thang qua suốt những hố thẳm.
Ta đã trở thành kẻ nói lời chúc phúc và kẻ thốt lên tiếng “Vâng” thuận mệnh; ta đã tranh đấu suốt bao lâu vì chuyện đó. Ta đã làm một chiến sĩ đấu tranh quyết liệt, cốt để có được cái ngày bàn tay ta tự do chúc phúc.
Và đây là lời giáng phúc của ta: hãy hiện thể ở bên trên vạn sự như mình là bầu trời thăm thẳm của chính mình, mình là mái nhà cong tròn che chở cho chính mình, là chiếc chuông màu thiên thanh và sự chắc tâm mãi mãi muôn đời của chính mình. Ồ, hạnh phúc xiết bao là kẻ chúc phúc theo lối đó!
Bởi vì vạn sự cùng nhận cuộc tẩy lễ ở tại suối nguồn của thiên thu vĩnh cửu, bên kia bến bờ thiện ác; nhưng thiện và ác chính chúng cũng chỉ là những bóng mờ phiêu hốt, những nỗi phiền muộn ẩm ướt, những làn mây thoáng hiện pha phôi.
Quả vậy, đây là một lời chúc phúc chứ không phải một câu nguyền rủa, khi dạy rằng: “Trên vạn sự trùng trùng, có bầu trời ngẫu nhiên, bầu trời hồn nhiên thăm thẳm, bầu trời chắc-có-lẽ, bầu trời táo bạo gan lì”.[1]
“Bởi sự ngẫu nhiên tình cờ”[2] - đấy là chỗ cao nhã quý phái tối sơ trên trần thế, ta đã đem sự cao nhã ấy giao trả cho vạn sự trần gian, ta đã giải phóng vạn sự ra khỏi vòng nô lệ cho cứu cánh, mục tiêu.
Niềm tự do thanh thản như trời xanh lồng lộng ấy, ta đã đem đặt lên mọi sự vật, giống như những chiếc chuông xanh ngát thiên thanh, khi ta dạy rằng ở bên trên vạn sự và bởi vạn sự, chẳng có một “ý chí vĩnh cửu” nào xác định ý chí của mình cả.
Thay thế ý chí kia, ta đã đặt vào sự táo bạo gan lì và cơn điên cuồng hào sảng, lúc ta dạy rằng: “Chỉ có một điều sẽ đời đời là bất khả, - đấy là: có lý”.
Tuy nhiên, một chút ít lý tính, một chút Trí huệ Hiền minh, rải rác từ tinh cầu này sang vì sao nọ, - cái chút men kia được pha trộn vào mọi sự: vì tình yêu sự điên cuồng hào sảng mà chất men Trí huệ Hiền minh được pha trộn vào mọi sự!
Một chút ít Trí huệ Hiền minh hẳn nhiên vẫn là điều khả dĩ; nhưng ta đã tìm gặp trong mọi sự vật niềm xác nhiên hoan lạc này: đó là vạn sự vẫn cứ còn ưa thích nhảy múa trên đôi chân của sự Ngẫu nhiên.
Ôi! Vòm trời trên đầu ta! Vòm trời cao viễn xanh lơ thuần khiết! Giờ đây, điều này đối với ta là vẻ thuần khiết mênh mang của nhà ngươi, ấy là: chẳng hề có con nhện thiên thu và mạng nhện ngàn đời vạn kiếp của lý trí:
- Ngươi hãy làm cái rầm thượng để cho những Ngẫu nhiên thần thánh đi về nhảy múa, ngươi hãy làm một cái bàn linh thánh cho những con xúc xắc và những tay chơi linh hiện!
Nhưng nhà ngươi đỏ mặt? Ta đã thốt ra những điều bất khả diễn ngôn? Ta đã nguyền rủa chăng khi muốn nguyện cầu chúc phúc cho ngươi?
Hoặc giả, lòng ngại ngùng e thẹn cuộc chung đôi đã khiến ngươi đỏ mặt? - Ngươi muốn bảo ta hãy đi đi; hãy im lặng bởi vì giờ đây ngày đã sáng?
Trần gian thì sâu thẳm - sâu thẳm vô ngần hơn là ánh ngày đã từng tư tưởng đến. Và sự vật trần gian đều không thể biểu ngôn trước ánh ngày. Nhưng ánh sáng ban ngày đã đến: vậy, chúng ta hãy chia biệt nhau thôi!
Ôi! Vòm trời trên đầu ta, vòm trời bẽn lẽn, nồng nàn! ôi, hạnh phúc của hồn ta trước buổi rạng đông! Ngày đã đến: chúng ta hãy chia biệt nhau thôi!”
 
Zarathustra đã nói như thế.
 

[1] “bầu trời” dịch chữ Himmel, còn có nghĩa nữa là thiên đàng, không thể dịch được cả hai nghĩa trong cùng một chữ.
[/align] [2] “Bởi sự ngẫu nhiên tình cờ” trong nguyên bản là von Ohngefãhr, còn có thể hiểu là: “đức ngài Ngẫu Nhiên”, vì ở đây Nietzsche dùng Ohngefãhr như một danh từ riêng với tước hiệu von ở trước để chỉ thuộc dòng quý tộc.
[/align] [/align]
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2009-07-28 08:02:00Sun Ming>
VỀ ĐỨC HẠNH LÀM CHO TI TIỆN NHỎ BÉ


1


Khi Zarathustra trở lại đất liền, hắn không tiến thẳng về ngọn núi và hang đá của mình, nhưng cứ đi vòng vo quanh quẩn và nêu ra nhiều câu hỏi, đầu óc hắn biết được điều này việc nọ, đến đỗi hắn cười cợt nói về chính mình: “Ta là một con sông, qua nhiều khúc quanh co, đang chảy ngược về nguồn!” Bởi vì Zarathustra muốn biết loài người đã ra sao trong thời gian hắn vắng mặt: loài người đã trở thành cao cả hay nhỏ bé ti tiện hơn. Một ngày kia, Zarathustra nhìn thấy một dãy nhà mới; lúc ấy hắn kinh ngạc tự hỏi:
“Mấy ngôi nhà này có nghĩa gì đây? Thực thế, chẳng tâm hồn vĩ đại nào đã xây dựng nên chúng để biểu tượng cho chính linh hồn mình!
Một đứa trẻ ngu ngốc nào chắc hẳn đã kéo chúng ra từ chiếc hộp đồ chơi? Vậy, một đứa trẻ khác phải xếp chúng vào lại trong hộp!
Và những căn buồng cùng những căn gác nọ: con người có thể bước ra từ đó và trở về lại đó được chăng? Ta thấy hình như chúng được tạo ra cho những hình nhân bằng lụa, hoặc những con mèo tham lam sẵn sàng để người ta ve vuốt”.
Rồi Zarathustra dừng lại, suy nghĩ miên man. Sau cùng hắn buồn bã nhủ lòng: “Mọi sự đã trở thành nhỏ bé ti tiện hơn!
Khắp nơi, ta đều nhìn thấy những chiếc cửa thấp hơn: những người mang dòng máu của ta hãy còn có thể bước ngang qua cửa đó, nhưng họ phải khòm lưng xuống!
Hỡi ơi! Khi nào ta mới trở về quê hương yêu dấu, nơi ta sẽ không bị cưỡng bách phải cúi thấp, phải nghiêng mình trước những kẻ ti tiện nhỏ bé!”
Zarathustra thở dài đưa mắt nhìn vào chốn xa xôi diệu vợi.
Cùng ngày đó, Zarathustra đọc bài thuyết giáo nói về đức hạnh làm cho nhỏ bé ti tiện.


2


“Ta bước qua giữa đám dân chúng này và ta đã giữ cho mắt ta mở rộng: bọn chúng không tha thứ nếu ta không chịu ganh tị với những đức hạnh của chúng.
Bọn chúng cắn xé ta vì ta bảo với bọn chúng rằng: với đám người nhỏ bé, phải có những đức hạnh ti tiện, - thế bởi vì ta không hiểu nổi rằng sự hiện hữu của những đám người nhỏ bé là cần thiết!
Ta luôn luôn giống một con gà trống lạc lõng trong một sân nuôi gà vịt xa lạ, một con gà trống mà ngay cả những con gà mái ranh cũng xúm vào mổ cắn; nhưng ta không thù ghét những con gà mái ấy.
Ta lễ phép đối với chúng như đối với tất cả những điều bực bội nhỏ bé; chìa gai góc bén nhọn của mình ra đối với những tên nhỏ bé, theo ý ta đấy chỉ là sự khôn ngoan của loài nhím.
Buổi tối, khi quây quần chung quanh lò sưởi, tất cả bọn họ đều ồn ào bàn luận đến ta; bọn họ nói về ta, nhưng thử hỏi mấy ai chịu vì ta mà tư tưởng!
Đấy chính là sự im lặng mới mà ta đã học được: tiếng ồn ào chúng rây rắc chung quanh ta trải nặng một chiếc áo choàng lên những tư tưởng của ta.
Bọn chúng bàn tán với nhau: “Đám mây u ám ấy muốn gì nơi chúng ta? Hãy coi chừng, không khéo nó lại mang đến một cơn dịch hạch!”
Vừa mới đây một mụ đàn bà đã giữ chặt đứa con lại không cho tiến đến gần ta. Mụ hét tướng lên: “Hãy dắt trẻ con lánh xa! Những đôi mắt như vậy sẽ đốt cháy linh hồn những đứa trẻ”.
Bọn chúng ho khúc khắc khi ta nói: bọn chúng tưởng rằng ho là một vấn nạn đập vào những cơn gió lớn, - bọn chúng chẳng hề đoán ra nổi hơi gió của hạnh phúc ta!
“Chúng ta hãy còn chưa có thời giờ cho Zarathustra”, đấy là điều bọn chúng vấn nạn; nhưng một thời đại “không có thời giờ” cho Zarathustra thì nào có đáng gì?
Bọn chúng vẫn xưng tụng vinh danh ta: nhưng làm sao ta có thể ngủ yên trên vinh quang của chúng được? Lời ca tụng của bọn chúng đối với ta là một vòng gai nhọn, lời ca tụng ấy vẫn còn chích đâm đau nhói mỗi khi ta nâng nhắc nó lên.
Ngay cả điều này nữa, ta cũng đã học được giữa đám bọn chúng: kẻ nào ca tụng thì làm bộ như trả lại cái gì người ta đã ban cho hắn song thực ra, hắn chỉ muốn người ta ban phát cho hắn càng nhiều hơn nữa!
Hãy hỏi bàn chân ta xem! Thực ra, chân ta chẳng muốn nhảy múa cũng chẳng muốn đứng yên bất động trên một nhịp điệu và trên những tiếng tích tắc như thế.
Bọn chúng muốn lôi cuốn ta về với đức hạnh nhỏ bé của chúng, bọn chúng muốn lôi chân ta nhảy múa theo nhịp điệu của hạnh phúc nhỏ bé.
Ta bước qua giữa đám dân chúng này và ta giữ cho mắt ta mở rộng trừng trừng: bọn chúng đã trở thành nhỏ bé và bọn chúng tiếp tục càng lúc càng trở thành nhỏ bé hơn: - điều ấy bắt nguồn từ học thuyết về hạnh phúc và đức hạnh của bọn chúng.
Bởi vì bọn chúng khiêm tốn ngay cả trong đức hạnh; bọn chúng muốn được thoải mái, dễ chịu. Thế mà, chỉ có đức hạnh nhỏ bé khiêm tốn mới hòa hợp được với sự thoải mái, dễ chịu.
Cố nhiên, bọn chúng cũng học biết theo lối riêng để đi thẳng tới trước: nhưng ta gọi đó là đi quàng xiên - vì thế bọn chúng trở thành một chướng ngại cho tất cả những ai vội vã.
Và nhiều kẻ trong bọn chúng bước tới trước mà mắt vẫn nhìn lui lại sau, chiếc cổ thẳng đơ: ta sẵn lòng va mạnh vào bọn người đó!
Chân và mắt phải không được dối trá, cũng không được chối bỏ. Nhưng có nhiều sự dối trá giữa những con người nhỏ bé.
Một vài kẻ trong bọn chúng “ước muốn”, nhưng phần lớn chỉ là “bị ước muốn”. Một vài kẻ trong bọn chúng là chân thật, nhưng phần lớn chỉ là những tên đóng kịch hạng tồi.
Trong đám bọn chúng có những tên đóng kịch mà không tự biết và những tên đóng kịch bất đắc dĩ, - những kẻ thành thật thì luôn luôn hiếm hoi, nhất là những kẻ đóng kịch thành thật.
Ở đây rất hiếm những đức tính của đàn ông: chính vì thế, đàn bà mới biến thành đàn ông. Bởi vì chỉ kẻ nào đủ lẫm liệt trượng phu mới có thể giải thoát người đàn bà trong con người đàn bà.
Và đây là điều giả đạo đức tệ hại nhất ta đã gặp trong đám bọn chúng: cả kẻ ban lệnh chỉ huy cũng giả vờ có những đức hạnh của kẻ vâng phục.
“Tôi phục vụ, anh phục vụ, chúng ta phục vụ”, - sự giả đạo đức của những kẻ thống trị đọc tụng như thế, và khốn thay cho những kẻ mà vị thầy tối tôn của họ chỉ là kẻ tôi tớ hàng đầu.
Hỡi ôi! Sự tò mò của đôi mắt ta cũng đã lang thang lạc lõng đi đến với những sự giả đạo đức của bọn chúng: và ta đã đoán rõ đúng thứ hạnh phúc ruồi nhặng cùng tiếng vù vù trước những cửa kính nhuộm nắng của chúng.
Ta thấy hễ còn có lòng thiện hảo tốt lành, thì còn có sự yếu đuối. Hễ còn có sự công chính, lòng lân mẫn xót thương, thì còn có sự yếu đuối.
Bọn chúng tròn trịa, chính trực và thiện ích đối với nhau, như những hạt cát tròn trịa, chính thực và thiện ích đối với những hạt cát.
Choàng ôm khiêm tốn một hạnh phúc nhỏ bé, đấy là điều bọn chúng gọi là sự “khiêm nhẫn” và trong lúc đó, chúng đã vội vàng khiêm tốn mắt la mày lét liếc nhìn một hạnh phúc bé nhỏ khác!
Trong sự ngây ngô khờ khạo của bọn chúng, thật ra chúng chỉ muốn một điều duy nhất: muốn đừng ai xử ác với mình. Chính vì thế chúng mới sốt sắng với mỗi người và làm điều thiện cho mỗi người.
Nhưng đấy là sự hèn nhát: dẫu chúng gọi đó là “đức hạnh”.
Và khi những con người nhỏ bé ấy nói đến sự khô rắn, tàn bạo, thì ta chỉ nghe trong giọng nói họ sự khàn hơi khàn tiếng, bởi vì mỗi một cơn gió đều làm họ khan tiếng khản hơi!
Bọn chúng tinh tế, những đức hạnh của bọn chúng có những ngón tay tinh tế. Nhưng chúng thiếu những nắm tay: những ngón tay của chúng không biết giấu mình sau những nắm tay cứng rắn.
Đối với bọn chúng, đức hạnh chính là cái làm thành khiêm tốn và thuần tính: nhờ đức hạnh, chúng đã biến một con chó sói thành một con chó nhà và biến con người thành loài gia súc tuyệt hảo nhất cho con người.
Nụ cười thỏa thích bé nhỏ của chúng như nói với ta: “Chúng tôi đã đặt ghế ngồi của mình vào chỗ giữa, cách đều những tay giác đấu đang giãy chết và những con heo cái thỏa thuê”.
Nhưng đấy, đấy chính là sự tầm thường: dẫu rằng nó có được gọi là sự điều độ.


3


Ta bước qua giữa đám đông này và đã để rơi rớt xuống nhiều lời, nhiều tiếng: nhưng bọn chúng không biết chộp lấy, cũng chẳng biết giữ lại.
Bọn chúng ngạc nhiên sao ta đã không đến để sỉ mạ sự phóng đãng cùng những tật xấu; và thật vậy, ta cũng chẳng đến để khuyên bảo mọi người đề phòng những tên bợm móc túi.
Bọn chúng ngạc nhiên sao ta không sẵn sàng làm cho chúng hết khờ khạo ngớ ngẩn và mài giũa sự khôn ngoan hiền triết của bọn chúng: làm như thể hãy còn chưa có đủ những kẻ tinh ma mà giọng nói nghiến rít như một cây viết chì than đá!
Khi ta thét lên: “Hãy nguyền rủa tất cả những con quỷ hèn nhát đang ở trong các ngươi, những con quỷ muốn kêu rên than vãn, muốn chắp tay nguyện cầu và kính ngưỡng” thì lúc bấy giờ bọn chúng ồn ào la ó: “Zarathustra là kẻ bất kính”.
Và đám giáo sư dạy sự khiêm nhẫn cho bọn chúng lại la ó to hơn ai hết, nhưng chính bọn đó là những kẻ mà ta thích rống vào tai chúng lời này: “Ờ! Ta Zarathustra, kẻ bất kính!”
Đám giáo sư dạy sự khiêm nhẫn đó! Ở khắp mọi nơi, chỗ nào có sự nhỏ bé ti tiện, sự bệnh hoạn và giống bướm vải, thì nơi đó bọn chúng bò lê lui tới như những con rận; và chỉ sự kinh tởm của ta mới ngăn không cho ta nghiến nát bọn chúng.
Thế nhưng, đây là bài thuyết giáo của ta dành cho tai bọn đó: ta là Zarathustra, kẻ bất kính đã nói rằng: “Ai là kẻ bất kính hơn ta, để ta sung sướng được thọ huấn cùng hắn?”
Ta là Zarathustra, kẻ bất kính: ta sẽ tìm thấy người đồng đẳng với ta ở nơi đâu? Đồng loại của ta là tất cả những người nào tự phó mình cho ý chí họ và giải thoát khỏi mọi hình thức khiêm nhẫn.
Ta là Zarathustra, kẻ bất kính: ta nấu sôi trong chiếc nồi của ta tất cả những gì ngẫu nhiên. Và chỉ khi nào sự ngẫu nhiên được nấu chín đúng độ rồi ta mới đón chào nó để làm dưỡng chất nuôi sống đời ta.
Thật vậy, nhiều sự ngẫu nhiên đã tiến đến gần ta như một ông chủ: nhưng ý chí của ta đã lên tiếng nói với nó còn lẫm liệt uy vũ hơn nữa, và nó đã quỳ gối trước mặt ta để van xin -
- van xin ta ban cho chỗ trú ngụ cùng sự đón tiếp thân ái, và nó bảo với ta bằng giọng nịnh nọt tâng bốc: “Này Zarathustra, nhìn xem, chỉ có một người bạn mới đến nhà một người bạn như thế!”
Nhưng tại sao ta lại lên tiếng nói, khi chẳng còn ai nghe! Ta muốn thét lớn lên khắp ngàn phương gió lộng:
Hỡi các người nhỏ bé, các ngươi càng lúc càng nhỏ bé thêm lên, các ngươi bị chia cắt phân xé thành từng mảnh vụn, các ngươi, những kẻ ưa thích sự an nhàn thoải mái! Rốt cuộc lại, các ngươi sẽ chết -
- sẽ chết vì những đức hạnh nhỏ bé, vì sự sơ hốt nhỏ bé, vì sự khiêm nhẫn nhỏ bé của các ngươi.
Các ngươi quá xoay xở, các ngươi quá kiêng dè: đấy là miền đất đang nuôi dưỡng các ngươi! Nhưng muốn một cây trở thành lớn mạnh, thì những gốc rễ của cây ấy phải đâm thẳng vào đá cứng!
Ngay những gì các ngươi loại bỏ cũng kết dệt thành bức màn tương lai của nhân loại, ngay cả hư vô của các ngươi cũng là một mạng nhện sống nhờ máu của tương lai.
Và khi các ngươi lấy đi, thì như thể các ngươi đánh cắp, hỡi những người đức hạnh nhỏ bé; tuy nhiên, ngay trong đám trộm cắp lừa đảo, danh dự cũng bảo rằng: “Chỉ nên đánh cắp nơi nào ta không thể cướp lấy”.
“Điều đó được ban cho” - đấy cũng là một học thuyết của sự khiêm nhẫn. Nhưng ta, ta bảo cùng các ngươi, những kẻ ưa sự an nhàn thoải mái: điều đó được lấy đi và điều đó sẽ luôn luôn lấy đi từ các ngươi nhiều hơn nữa!
Hỡi ôi! Ước gì các ngươi thoát khỏi những ước muốn nửa vời như thế, ước gì các ngươi tự mình quyết định cho sự lười biếng cũng như cho hành động.
Hỡi ôi! Ước gì các ngươi hiểu thấu lời ta: “Hãy luôn luôn làm điều các ngươi muốn, - nhưng trước hết hãy là những kẻ có thể ước muốn!”
“Hãy yêu thương kẻ lân cận như chính mình, nhưng trước hết hãy là kẻ yêu thương chính mình -
- Yêu thương chính mình với tình yêu bao la, với sự khinh bỉ ngất trời!” Zarathustra, kẻ bất kính, đã nói như thế.
Nhưng tại sao lại nói khi chẳng ai nghe! Thời gian hãy còn quá sớm cho ta.
Giữa đám đông dân chúng này ta là kẻ tiên phong cho chính mình, ta là tiếng gà gáy cất lên trên những con đường tối ám báo hiệu cho chính ta.
Nhưng giờ của chúng đã đến! Và cả giờ của ta nữa cũng đến rồi! Từng giờ, từng phút bọn chúng càng trở nên nhỏ bé, nghèo nàn, vô bổ hơn, - loài cỏ khốn khổ! đất đai khốn nạn!
Và chẳng bao lâu bọn chúng sẽ ở trước mặt ta như cỏ khô, như một hoang nguyên, và thật vậy, bọn chúng chán ngán mỏi mệt vì chính mình, - và bọn chúng khát lửa còn hơn là khát nước!
Ôi, giờ phút hạnh phúc của sấm sét! Ôi, bí nhiệm trước buổi Ngọ Thiên! Một ngày kia ta sẽ biến bọn chúng thành những đám lửa chạy và những kẻ tiên báo với những cái lưỡi bằng lửa: -
- Chúng sẽ tiên tri bằng những cái lưỡi lửa: ồ, nó đang đến, nó đang cận kề, buổi Đại Ngọ Thiên kia!”
 
Zarathustra đã nói như thế.
0
TRÊN NÚI ÔLIU


Mùa Đông, người khách tinh quái, đang ngồi trong nhà ta, hai bàn tay ta xanh mét vì tình bạn của mùa Đông ôm siết.
Ta xưng tụng người khách tinh quái ấy, nhưng ta thích để hắn một mình. Ta thích thoát khỏi hắn; và trong khi chạy nhảy, người ta thoát được mùa Đông.
Với hai chân nóng ấm cùng những tư tưởng nồng cháy, ta chạy đến nơi gió lặng, ta chạy đến xó xỉnh nắng ấm của vườn ôliu.
Ta cười ông khách khắt khe của ta, và ta tạ ơn hắn đã bắt hộ đám ruồi tại nhà cùng làm câm lại nhiều thứ tiếng ồn ào vi vút.
Bởi vì hắn không chịu đựng nổi khi nghe một con ruồi hay cả hai con bay vi vu; hắn làm cô đơn cả những đường phố, đến nỗi ban đêm, ánh trăng cũng sợ hãi khi rọi xuống đó.
Mùa Đông là một người khách cứng rắn, khắc bạc, nhưng ta xưng tụng hắn, và ta không cầu nguyện vị thần lửa bụng phệ như những kẻ yếu đuối vẫn làm.
Chẳng thà để răng đánh bò cạp chút đỉnh còn hơn là ngưỡng vọng những thần tượng! - đấy là bản tính của ta. Và ta đặc biệt thù ghét tất cả những thần tượng của lửa, những thần tượng nồng nhiệt, sôi sục làm con người nghẹt thở.
Khi yêu thương ai, thì vào mùa Đông ta yêu kẻ đó diễm tuyệt hơn là vào mùa Hạ: ta chế nhạo kẻ thù cay độc, táo tợn hơn kể từ khi mùa Đông ngự ở trong nhà ta.
Táo tợn, thật vậy, ngay cả khi ta bò lết vào giường: - hạnh phúc được chăn màn phủ kín của ta cười lớn và còn khua chuông gióng trống nữa; cả giấc mộng dối trá của ta cũng cười lớn.
Ta, ta mà bò lết? Chẳng bao giờ. Suốt đời ta chẳng bao giờ bò lết trước những quyền thế; và nếu có khi nào ta nói dối, thì đó là vì tình yêu. Chính vì thế ta hài lòng, ngay cả khi nằm trong một chiếc giường mùa Đông.
Một chiếc giường của kẻ nghèo sưởi ấm ta hơn một chiếc giường xa hoa lộng lẫy, vì ta ganh tị với sự nghèo nàn của ta. Và chính trong mùa Đông, sự nghèo nàn mới trung thành với ta nhất.
Mỗi ngày, ta bắt đầu bằng một sự độc ác, ta chế nhạo mùa Đông bằng cách tắm nước lạnh: điều đó làm người bạn nghiêm khắc của ta gầm gừ trong bụng.
Ta cũng thích cù lét mùa Đông bằng một cây nến nhỏ: cốt để sau cùng, nó để cho bầu trời thoát khỏi cảnh xám tro tối ám.
Bởi vì chính trong buổi sáng, ta mới xấu tính nhất: vào giờ khắc đầu ngày, khi những cái thùng nước kêu vang cót két bên miệng giếng, và những con ngựa thốt ra tiếng hí ấm nóng trên những con đường xám đục.
Lúc bấy giờ, ta nôn nao chờ đợi bầu trời rạng rỡ, bầu trời mùa Đông với bộ râu tuyết trắng, lão già đầu tóc bạc phơ.
- Bầu trời mùa Đông, tịch mịch khơi vơi, đôi khi che giấu cả mặt trời trong im lặng.
Có phải ta đã học được những giờ phút im lặng triền miên từ bầu trời đó? Hoặc giả bầu trời đã học được điều đó từ chính ta? Hoặc giả mỗi kẻ trong chúng ta đã tự mình sáng nghĩ nên sự im lặng đó?
Tất cả những sự việc tốt đẹp đều có vô vàn nguồn gốc, - tất cả những sự việc tốt đẹp nhí nhảnh đều nhảy xô vào hiện hữu: làm thế nào chúng không làm thế một cách hoan hỉ trong chỉ một lần duy nhất!
Cả sự im lặng triền miên nữa, cũng là một sự việc tốt đẹp nhí nhảnh. Và giống với bầu trời mùa Đông, ta đưa măt nhìn với con mắt trong suốt tròn trịa.
- Như bầu trời mùa Đông, phải làm cho im tiếng cái ý chí kiên quyết của mặt trời: thật vậy, ta đã học rành nghệ thuật và niềm vui mùa Đông ấy!
Nghệ thuật và sự hung ác thân thiết của ta chính là đã dạy cho im lặng của ta đừng tự phản bội chính nó bằng im lặng.
Bằng sự đánh lưỡi những lời lẽ và những con xúc xắc, ta lừa gạt những con người long trọng đang mím môi chờ đợi: cả ý chí lẫn mục tiêu của ta phải thoát khỏi những kẻ rình dò nghiêm khắc đó.
Để chẳng một ai có thể nhìn vào trong hố thẳm của những lý lẽ và của ý chí tối hậu của ta, ta đã sáng chế ra sự im lặng miên man trong sáng.
Ta đã gặp nhiều kẻ tinh ranh che giấu mặt mày và khuấy động mặt nước của hắn để đừng ai có thể nhìn xuyên qua và nhìn thấu đến tận đáy.
Nhưng chính nơi họ mới phát sinh những kẻ tài tử khả nghi nhất trước những khó khăn; và người ta đã đánh lưỡi bắt được những con cá ẩn kín nhất của hắn.
Trái lại, những kẻ sáng sủa, những kẻ chân chất đôn hậu, những kẻ trong suốt lại là những con người trầm mặc vi tế nhất. Họ sâu thẳm đến nỗi làn nước trong suốt nhất cũng không phơi bày họ được.
Hỡi bầu trời mùa Đông lặng lẽ với bộ râu tuyết trắng, hỡi chiếc đầu bạc phơ với đôi mắt trong sáng trên ta! Ô, biểu tượng linh thánh cho linh hồn ta cùng sự táo bạo của linh hồn.
Ta đã không phải chạy trốn biệt tích, như kẻ đã nuốt vàng vào bụng, - cốt để người thiên hạ đừng mở toang tâm hồn ta ra đấy hay sao?
Ta há chẳng phải leo lên đứng trên những cây cà kheo để bọn chúng, tất cả những kẻ đố kỵ buồn rầu đang vây quanh, đừng nhìn thấy đôi chân dài của ta?
Tất cả những linh hồn bốc khói, đóng kín, cũ mòn, mốc meo, ốm o kia, làm sao lòng đố kỵ của bọn chúng lại có thể chịu đựng nổi hạnh phúc tuyệt vời lồng lộng của hồn ta?
Chính vì thế ta chỉ phô cho chúng thấy mùa Đông cùng băng giá phủ đầy trên những đỉnh cao. Ta không cho chúng thấy rằng ngọn núi của ta được bao quanh bằng tất cả những vòng sáng của mặt trời!
Bọn chúng chỉ nghe lồng lộn rít lên những cơn dông bão mùa Đông của ta: chúng không biết rằng ta phiêu du trên những đại dương nồng ấm hơi nóng, như những ngọn gió nồm mệt mỏi lừ đừ, nặng nề nóng bức.
Bọn chúng thương hại cho những tai biến và những ngẫu nhiên của đời ta: - nhưng châm ngôn của ta là: “Hãy để cho sự ngẫu nhiên đến với ta: sự ngẫu nhiên thì ngây thơ như một đứa bé!”
Làm thế nào bọn chúng có thể chịu đựng nổi hạnh phúc tràn bờ của ta nếu ta không bố trí chung quanh hạnh phúc ấy những tai biến cùng những khốn khổ của mùa Đông, những chiếc mũ nồi của con hải cẩu cùng những tấm áo choàng của tuyết vạn niên -
- nếu chính ta không thương hại cho lòng thương hại của bọn chúng, lòng thương hại của những kẻ đố kỵ tối kém ấy?
- nếu chính ta không thở dài run lập cập trước mặt bọn chúng, trong khi nén tâm kiên nhẫn để mình bị bao phủ trong lòng thương hại của chúng?
Đây là trí huệ hân hoan và lòng hào hiệp của ta: trí huệ ấy không hề giấu giếm mùa Đông cùng những ngọn gió giá băng của nó; nó cũng không hề giấu giếm những chỗ nứt nẻ trên thân thể mình.
Đối với kẻ này, cô đơn là sự chạy trốn khỏi cơn bệnh; đối với kẻ khác, cô đơn là sự chạy trốn trước những người bệnh.
Tất cả những kẻ nghèo hèn và những kẻ vô tài bất tướng đầy ám muội chung quanh ta, chúng phải nghe ta khua vang vòng đeo và rên rỉ vì cơn lạnh mùa Đông! Với những lời rên rỉ cùng những bước chân như thế, ta chạy trốn khỏi những căn phòng ấm nóng của chúng.
Cứ để cho chúng phàn nàn thương hại những thương tích nứt nẻ trên thân thể ta: “Rốt cuộc hắn sẽ bị đóng băng vì giá lạnh của tri thức hắn!” - chúng phàn nàn thở than như vậy.
Trong lúc đó, với đôi bàn chân nóng ấm, ta chạy nhảy tung tăng, trên ngọn núi ôliu của ta, trong xó xỉnh nắng ấm của ngọn núi ôliu, ta ca hát và cười nhạo mọi lòng thương xót.
 
Zarathustra đã nói như thế.
0
VỀ SỰ THA THỨ BỎ QUA


Trong khi chậm rãi băng qua nhiều dân tộc và nhiều thành phố như vậy, bằng nhiều lối rẽ quanh co, Zarathustra quay trở về với núi non cùng thạch động của mình. Bất ngờ, hắn đến trước cửa một đại đô thị. Từ trong cửa, một gã điên mồm miệng sùi bọt nhảy xổ ra, hai tay giăng thẳng cản đường. Đấy chính là gã điên được dân chúng đặt tên là “Con khỉ của Zarathustra”, bởi vì gã đã sao chép lại y hệt văn phong cùng ngữ khí chứa trong những lời lẽ của Zarathustra, đôi khi gã cũng vay mượn kho tàng trí huệ của hắn. Gã điên nói như thế này với Zarathustra:
 
“Hỡi Zarathustra, đây là nơi phố thị: mi chẳng có gì để tìm kiếm nhưng lại có thể đánh mất tất cả trong đó.
Tại sao mi muốn bước chân qua khu rác rưởi nhơ bẩn này chứ? Hãy thương xót đôi chân mi! Tốt hơn mi nên khạc nhổ vào cánh cửa của đô thị rồi quay bước trở lui!
Đây chính là hỏa ngục nung cháy những tư tưởng cô liêu. Nơi đây, người ta nấu sống những tư tưởng lớn và biến chúng thành món thịt hầm.
Nơi đây, tất cả những tình cảm vĩ đại đều thối nhũn, băng hoại: nơi đây người ta chỉ để kêu lên rổn rảng những tình cảm nhỏ bé ti tiện, khô cằn như những tiếng sanh, tiếng phách.
Mi không ngửi thấy mùi những lò sát sinh và những phạn điếm của tinh thần? Những hơi khói của tinh thần bị hạ sát không làm bốc khói khắp đô thị này sao?
Mi không nhìn thấy những linh hồn lơ lửng như những bó đuốc nhão mềm dơ bẩn? - và bọn chúng biến những đống giẻ rách thành những tờ nhật báo.
ở đây mi há chẳng hiểu rằng tinh thần đã biến thành trò chơi chữ? Tinh thần tạo ra một tình trạng xấu xa kinh tởm cho những từ ngữ - và chính với sự xấu xa này, chúng làm thành những tờ nhật báo!
Bọn chúng khiêu khích lẫn nhau nhưng không biết để làm gì. Bọn chúng giải minh lẫn nhau nhưng không biết vì sao. Bọn chúng lắc rung chất sắt và rung vang chất vàng của chúng.
Bọn chúng lạnh lẽo và vội đi tìm hơi nóng trong rượu; bọn chúng được sưởi ấm và đi tìm sự tươi mát nơi những tinh thần lạnh lẽo; công luận làm chúng phát sốt và làm tất cả bọn chúng thành hăng hái nhiệt nồng.
ở đây, tất cả mọi dục vọng, mọi tật xấu đều mặc sức tung hoành, nhưng cũng còn có những con người đức hạnh, còn có nhiều đức hạnh khéo léo, tích cực, chủ động.
Có nhiều đức hạnh ngoan ngùy, với những ngón tay để viết, những ngón tay sẵn sàng chờ đợi và khích lệ trong sự cần mẫn siêng năng, - những đức hạnh ban thưởng bằng những huy chương nho nhỏ, hay hạ sinh những đứa con gái ngốc nghếch không có hậu môn.
Nơi đây hãy còn có nhiều lòng thương hại, nhiều triều thần tận tâm và nhiều sự thấp hèn quỵ lụy trước vị Thượng đế của binh đội.
Bởi vì chính từ “trên cao” mà những ngôi sao cùng nước bọt duyên dáng móc mưa tuôn dội; những ước vọng của tất cả mọi bộ ngực không có ngôi sao đều hướng lên cao.
Mặt trăng có riêng triều đình và triều đình có những hộ tinh: những đám dân chúng ăn xin cùng với tất cả những đức hạnh ăn xin khéo léo đều cất cao lời cầu nguyện hướng đến tất cả những gì xuất phát từ triều đình.
“Tôi phục vụ, anh phục vụ, chúng ta phục vụ” - tất cả những đức hạnh khéo léo đều nguyện cầu hướng về vị chủ tể như thế: để sau cùng, ngôi sao tưởng thưởng được gắn lên trang hoàng cho lồng ngực chật hẹp.
Nhưng mặt trăng xoay vần quanh tất cả những gì thuộc trái đất; cũng thế, vị chủ tể xoay vần chung quanh cái gì mang nặng tính chất mặt đất nhất: - thế nhưng, cái có tính cách mặt đất nhất, chính là vàng của những tên chủ hiệu buôn!
Vị Thượng đế của binh đội không phải là Thượng đế của những nén vàng. Vị chủ tể mưu sự, nhưng thành sự là ở tên chủ hiệu buôn!
Nhân danh tất cả những gì trong sáng, mạnh mẽ, tốt lành trong ngươi, hỡi Zarathustra, hãy khạc nhổ vào cái thành phố của những tên chủ hiệu buôn này và quay bước trở lui!
Nơi đây mọi dòng máu tội lỗi, ấm nồng, sủi bọt đều chảy trong mọi động mạch: hãy khạc nhổ trên đại đô thị, lò chứa rác vĩ đại, nơi tập trung tất cả những gì xấu xa cặn bã!
Hãy khạc nhổ trên thành phố của những linh hồn suy nhược, những lồng ngực chật hẹp, những con mắt đố kỵ, những ngón tay nhờn nhẫy.
Hãy khạc nhổ trên thành phố của những kẻ quấy rầy, những tên láo xược, những kẻ viết nhảm và những kẻ la hét không phải thời, những kẻ tham vọng cực độ.
Hãy khạc nhổ trên thành phố nơi tụ hội tất cả những gì là sâu mục, ô danh, dâm dật, u ám, thối rữa, ung loét, nổi loạn.
Hãy khạc nhổ trên đại đô thị - và quay bước trở lui!”
 
Nhưng đến đây thì Zarathustra ngắt lời gã điên sùi bọt và bịt miệng gã lại. Zarathustra hét lên:
 
- Ê! Im miệng đi! Ngôn ngữ và lề lối nói năng của mi đã làm ta ghê tởm từ lâu.
Tại sao mi lại sống quá lâu bên ao đầm đến nỗi mi biến thành cóc nhái?
Giờ đây trong mạch máu của mi há chẳng đang chảy một dòng máu ao đầm lầy lội, một dòng máu tội lỗi sủi bọt, đến nỗi chính bản thân mi, giờ đây, mi đã học ềnh oang và phỉ báng phạm thượng?
Tại sao mi không bỏ đi vào rừng sâu xa biệt? Tại sao mi không cày xới cho tan nát mặt đất này? Biển cả há chẳng đầy những hải đảo xanh tươi viễn mộng?
Ta khinh bỉ sự khinh bỉ của mi; và nếu mi cảnh cáo cho ta biết, - thì tại sao mi lại không cảnh cáo chính bản thân mi trước?
Chỉ tình yêu mới có thể đem đến cho ta cánh bay của lòng khinh bỉ, cánh bay của con chim tiên báo của ta, chứ không phải từ ao đầm lầy lội!
Hỡi gã điên sùi bọt, người ta gọi mi là con khỉ của ta: nhưng ta, ta thích gọi mi là con lợn càu nhàu; bằng tiếng càu nhàu cẳn nhẳn của mi, rốt cuộc mi làm hỏng hết lời ca ngợi cơn điên rồ của ta.
Cái gì thoạt tiên đã làm mi đâm ra càu nhàu cẳn nhẳn như thế? Chẳng có ai tâng bốc phỉnh nịnh mi cho đủ: - chính vì thế, mi đã ngồi cạnh những đám rác rến này, cốt để có lý do cẳn nhẳn càu nhàu,
- cốt để có lý do mà trả thù phục hận! Bởi vì hỡi gã điên hám danh kia ơi, sự trả thù chính là tất cả bọt nổi của mi, ta đã đoán đúng thế mà!
Những lời lẽ điên cuồng của mi làm ta lầm lẫn, ngay cả khi mi có lý đi nữa! Và dẫu sao, lời lẽ của Zarathustra cũng nghìn lần có lý: mi, mi sẽ luôn luôn làm ta lầm lẫn với lời lẽ của ta!”
 
Zarathustra nói như thế, rồi đưa mắt nhìn đô thị, hắn thở dài im lặng hồi lâu. Sau cùng, hắn lên tiếng như sau:
 
“Cả ta nữa, ta cũng kinh tởm đô thị này, chứ không phải chỉ kinh tởm gã điên. Cả nơi đây lẫn trong đó, chẳng có gì để cải thiện cho thành tốt đẹp hơn, cũng chẳng có gì để làm cho thành tệ hại hơn!
Khốn nạn cho đô thị này! - ta muốn nhìn thấy cột lửa lớn phóng xuống đốt cháy nó tan tành!
Bởi vì phải có những cột lửa lớn như thế đi trước buổi Đại Ngọ Thiên. Nhưng buổi Đại Ngọ Thiên có thời khắc và vận mệnh của riêng mình.
Tuy nhiên, hỡi gã điên, ta ban cho mi lời dạy này thay cho lời từ giã: khi không thể yêu thương được nữa, thì cứ im lặng tha thứ mà bước qua!”
 
Zarathustra đã nói như thế, rồi hắn im lặng bước qua gã điên và đô thị.
0
VỀ NHỮNG KẺ BỘI GIÁO


1


Hỡi ôi, tất cả những thứ xanh tươi rực rỡ sắc màu trên cánh đồng cỏ này xưa kia, giờ đây đã úa tàn xám xịt! Và xưa kia ta đã mang biết bao là mật ngọt hy vọng từ chốn này về cho chiếc tổ ong của ta!
Tất cả những quả tim trẻ trung đó đều đã già cỗi, - và không phải chỉ già cỗi mà thôi! Chúng còn mệt mỏi chán ngán, tầm thường và thiếu nồng nhiệt. Chúng giải thích sự kiện này bằng cách bảo rằng: “Chúng tôi đã lại trở thành những con người kính tín”.
Xưa kia, ta hãy còn nhìn thấy họ bước đi, vào lúc ngày mới chớm hồng, trên đôi chân can đảm ngang tàng: nhưng rồi họ đã mệt mỏi với tri thức, và giờ đây họ lại còn phỉ báng lòng dũng cảm ban mai của họ.
Thực vậy, có hơn một người ngày xưa đã cất cao chân lên nhảy múa như một vũ công, tiếng cười là dấu hiệu báo cho hắn trong Trí huệ Hiền minh của ta, - rồi thì hắn suy nghĩ. Và giờ đây ta vừa nhìn thấy hắn khòm lưng xuống, bò lê đến với cây thánh giá.
Xưa kia, họ đã bay lượn chung quanh ánh sáng, chung quanh tự do, như những con ruồi và những thi sĩ trẻ tuổi. Rồi già hơn một chút, lạnh thêm một chút: thế là họ đã ngồi sau lò sưởi, giống như những giáo sĩ cùng những kẻ giả vờ tận lòng tín mộ.
Họ đã mất hết can đảm bởi vì nỗi cô đơn diệu vợi của hồn ta đã nuốt chửng lấy ta như một con cá voi?
Trong suốt một thời gian đằng đẵng, với đầy lòng thèm khát, chúng đã vểnh tai vô vọng mà không nghe thấy những tiếng kèn, những lời kêu gọi phát ra từ kẻ truyền lệnh của ta?
- Hỡi ôi! Con số những kẻ mà tâm hồn giữ được sự can đảm và sự hung hãn mãnh liệt trường kỳ thì luôn luôn quá ít; chính trong số những con người hiếm hoi này, tinh thần mới kiên trì không thối chuyển. Còn lại, chỉ là sự hèn nhát.
Còn lại: luôn luôn là số đông người nhất, là những người bình thường, những người vô tích sự, những kẻ thừa thãi. - Tất cả bọn đó đều hèn nhát!
Kẻ nào mang dòng máu của ta sẽ gặp trên đường mình đi những cuộc phiêu lưu giống như những cuộc phiêu lưu ta đã sống qua: đến nỗi những bạn đồng hành đầu tiên của hắn sẽ là những thây ma và những thằng hề.
Tuy vậy, cũng có những người bạn đồng hành thứ nhì, - bọn họ được gọi là những tín đồ: một đám đông sống động, chan chứa tình yêu, tràn ngập điên rồ, tràn đầy sự sùng kính trẻ con.
Kẻ nào mang dòng máu của ta giữa loài người thì không nên quyến luyến với đám tín đồ này; bất luận kẻ nào biết rõ loài người yếu đuối phù du thì đều không nên tin vào những mùa Xuân cùng những đồng cỏ muôn màu đó.
Nếu đám tín đồ ấy có thể làm khác đi, thì chúng cũng sẽ muốn khác đi. Cái nửa vời làm thương tổn cái tròn đầy, nguyên vẹn. Khi những chiếc lá úa tàn, tại sao ta lại cất lời than vãn?
Hỡi Zarathustra, cứ để họ bước đi, cứ để họ rơi rụng, và đừng nên than vãn! Tốt hơn, ngươi nên thổi qua bọn họ với tiếng xào xạc dịu êm của gió, -
- hãy thổi gió qua giữa những chiếc lá này, hỡi Zarathustra, sao cho tất cả những gì đã úa tàn sẽ rơi rụng lìa xa ngươi mau hơn nữa!


2


“Chúng tôi đã lại trở thành những người kính tín” - những kẻ bội giáo thú nhận như thế; nhiều kẻ trong bọn chúng còn quá hèn nhát nên chưa dám thú nhận điều đó.
Ta nhìn thẳng vào mặt họ, - ta nói thẳng vào bộ mặt với đôi má đỏ bừng của họ: “Các ngươi thuộc về hạng người lại chắp tay cầu nguyện!
Thế mà, cầu nguyện là một sự xấu hổ! Không phải xấu hổ đối với tất cả mọi người, nhưng đối với ngươi, đối với ta và đối với kẻ nào có đôi chút ý thức trong đầu. Đối với ngươi, cầu nguyện là một điều xấu hổ!
Ngươi biết rõ điều đó: con quỷ sứ hèn nhát trong ngươi thích chắp tay hoặc khoanh tay lại và ước muốn một đời sống dễ dãi hơn: - con quỷ hèn nhát ấy bảo ngươi: “Có một Thượng đế”.
Nhưng làm thế ngươi thuộc về bọn người sợ hãi ánh sáng, ngươi thuộc về những kẻ bị ánh sáng làm lo âu sợ sệt. Giờ đây, hằng ngày ngươi phải lao đầu sâu hơn nữa vào trong đêm tối và sương mù.
Thật vậy, ngươi đã khéo chọn giờ: những con chim ăn đêm vừa cất cánh bay lên. Giờ của những kẻ sống đêm đã đến, giờ của đêm tối, giờ của sự nghỉ ngơi, khi mà chúng không được “ngơi nghỉ”.
Ta nghe thấy và cảm nhận điều đó: đã đến giờ cho những cuộc săn, những đám rước; không phải những cuộc săn tồi bại man dại, nhưng là những cuộc săn êm dịu, hư nhược, yếu hèn, - của những kẻ ẩn lánh trong các xó xỉnh, miệng thì thầm cầu nguyện.
- Những cuộc săn những tín đồ giả mạo, đầy ứ tâm hồn: tất cả mọi chiếc bẫy chuột của tâm hồn một lần nữa đều sập xuống! Tuy nhiên, bất luận nơi nào ta kéo màn lên, vẫn có một con bướm nhỏ vội vã thoát bay.
Nó đã nép mình nơi đó với một con bướm nhỏ khác? Bởi vì ở khắp mọi nơi, ta đều cảm thấy có những cộng đồng nho nhỏ ẩn kín, và ở khắp mọi nơi, chỗ nào có những túp lều xa vắng khuất tịch, thì đều có những tín đồ ngoan đạo mới với đầy mùi vị những tín đồ ngoan đạo.
Bọn chúng tụ tập với nhau suốt những đêm dài và bọn chúng bảo nhau: Xin cho tôi trở thành giống như những hài nhi kêu gọi “Chúa ôi!” - Mồm miệng cùng dạ dày họ đã bị hư hỏng vì những tay chế hóa mứt ngọt đầy lòng kính tín.
Hoặc giả, suốt những buổi chiều dài, họ quan sát chỗ ẩn nấp săn mồi đầy tinh ranh của một con nhện, con nhện rao giảng sự khôn ngoan trí huệ cho những con nhện đồng loại bằng cách dạy rằng: “Dệt mạng nhện dưới mấy cây thánh giá là chỗ lý tưởng vô cùng!”
Hoặc giả họ ngồi câu suốt ngày ở bờ ao đầm, và họ tin rằng như thế là sâu thẳm; nhưng kẻ nào câu nơi không có cá, ta cho rằng hắn chưa xứng được gọi là người cạn cợt!
Hoặc giả với lòng hoan hỉ kính tín, họ học chơi đàn thụ cầm nơi một tác giả những khúc đoản ca, một kẻ ham thích tiêm dần những giọt âm thanh thụ cầm vào quả tim những thiếu phụ, vì hắn đã quá mệt mỏi với những mụ già cùng những lời khen tụng xưng dương của các mụ.
Hoặc giả họ học rùng mình nơi một nhà hiền triết loạn óc nửa chừng, kẻ đứng trong những căn phòng tối chờ những linh hồn hiện ra - trong khi linh hồn thì tếch đi một mạch.[1]
Hoặc giả họ lắng tai nghe một nhạc sĩ già, một lão nhạc sĩ mệt nhoài, đàng điếm, kẻ đã được những ngọn gió than van dạy cho sự khóc than của âm điệu; giờ đây hắn rao giảng sự buồn rầu bằng một âm điệu não lòng.
Một vài kẻ trong bọn chúng lại là những kẻ canh gác ban đêm: giờ đây, họ biết thổi tù và, đi tuần rảo ban đêm và đánh thức dậy những sự việc cổ lỗ nằm im ngủ từ ngàn đời. Hôm qua, trong đêm tối, dọc theo những bức tường rêu phong của khu vườn, ta đã nghe năm lời lẽ bàn về những sự việc cổ lỗ ngàn đời đó: những lời lẽ xuất phát từ miệng những lão già canh gác ban đêm, những lão già buồn rầu, lỏng khỏng.
“Xét tư cách làm Cha thì ông ấy chẳng chăm sóc con cái cho đủ cẩn thận chút nào: các ông cha của loài người còn chăm sóc con cái giỏi hơn ông ấy.
- Ông ấy quá già rồi! Ông ấy chẳng để tâm gì đến con cái cả, - một lão canh đêm khác phụ họa.
- Ông ấy con không đã chứ? Chẳng ai có thể chứng minh điều đó trừ phi ông ấy tự chứng minh lấy! Từ lâu rồi, tôi đã muốn có dịp được thấy ông ấy chứng minh một cách nghiêm túc.
- Chứng minh à? Không phải ông ta chẳng bao giờ chứng minh cả đấy hay sao? Ông ấy gặp khó khăn khi phải chứng minh. Ông ấy lưu tâm nhiều đến chuyện thiên hạ tín mộ mình.
- Ờ! Ờ! Đức tin cứu ông ấy, đức tin vào chính ông ấy. Đấy là thói quen của mấy mụ già! Chúng ta cũng giống y như vậy!”
Hai người canh đêm và những con cú bàn tán với nhau như thế, rồi họ đưa mồm rúc tù và buồn thảm. Đấy là chuyện đã xảy ra hôm qua vào lúc ban đêm, dọc theo những bức tường rêu phong của khu vườn.
Về phần ta, tim ta thắt lại vì cười; chắc hẳn tim ta muốn vỡ ra, nhưng chẳng biết làm sao, và nó làm cả cơ hoành của ta chấn động.
Thực vậy, ta đến chết ngạt mất vì cười khi nhìn thấy những con lừa say sưa và nghe những kẻ canh đêm nghi ngờ Thượng đế như thế.
Cái thời đó chẳng phải đã trôi qua lâu rồi, ngay cả cho những kẻ hoài nghi kiểu ấy - hay sao? Ai có quyền đánh thức dậy những sự việc cổ lỗ ngàn đời như thế, những kẻ thù của ánh sáng, khi chúng đã ngủ mê?
Từ lâu rồi, đã hết thời của những thần linh cổ xưa: thật vậy, các thần linh đã có một kết thúc tốt đẹp và vui vẻ.
Chư vị không trải qua một buổi “hoàng hôn” chết chóc ảm đạm gì cả[2] - nói thế là nói láo! Chư vị chỉ chết vì cười, giản dị thế thôi!
Câu chuyện xảy ra khi có một vị thần tự mình thốt ra lời lẽ bất kính nhất, - lời này: “Chỉ có một Thượng đế duy nhất! Ngươi không được phép thờ những thần linh khác trước mặt ta”.
- Một bộ râu già phẫn nộ của thần linh, một thần linh ganh tị đã quên mất điểm này. -
Lúc bấy giờ, tất cả các thần linh đều phá lên cười và vừa đong đưa trên ghế ngồi họ vừa la hét: “Bảo rằng có nhiều thần linh chứ không có một Thượng đế thần linh duy nhất, chẳng phải là điều linh thánh sao?”
Kẻ nào có tai thì hãy lắng hiểu lời ta.
 
Zarathustra đã nói như thế trong thành phố được hắn đem lòng yêu thương, thành phố mang tên “Con Bò Tạp Sắc”. Bởi vì từ đấy, chỉ còn hai ngày đường nữa là Zarathustra quay về tới hang đá, bên cạnh con ó và con rắn; linh hồn Zarathustra vui tươi cuống quýt dạt dào khi cảm thấy quá gần với lúc trở lại quê hương.
 
 

[1] “kẻ đứng trong những căn phòng tối chờ những linh hồn hiện ra - trong khi linh hồn thì tếch đi một mạch”, Nietzsche chơi chữ với hai nghĩa của chữ Geist: linh hồn, thần hồn.
[2] Trang 302: “Chư vị không trải qua một buổi “hoàng hôn” chết chóc ảm đạm gì cả”, có ý muốn miệt thị Wagner với vở nhạc kịch Hoàng hôn của những thần linh (Gõtterdãmmerung).
0
TRỞ LẠI QUÊ HƯƠNG


Hỡi cô đơn! Hỡi cô đơn, quê hương của ta! Biết bao lâu rồi ta đã sống man rợ nơi những xứ miền hoang vu xa lạ để không trở về với mi mà nước mắt chảy dài!
Giờ đây, mi hãy trỏ tay đe dọa ta như một người mẹ già đe dọa con cái, và mỉm cười với ta như một người mẹ hiền cười mơn con cái; giờ đây mi hãy bảo cùng ta: Là ai đấy cái kẻ xưa kia đã chạy trốn xa ta như một cơn dông tố? - cái kẻ mà xưa kia đã la hét lúc lìa bỏ ta? ‘Ta đã bầu bạn quá lâu cùng nỗi cô đơn và ta đã học quên đi im lặng!’ Thế thì bây giờ ắt hẳn mi đã học được điều ấy rồi chăng?
Hỡi Zarathustra, ta đà biết rõ mọi sự, ta biết rằng mi, kẻ cô đơn độc ảnh, mi đã bị bỏ rơi hắt hủi giữa đám đông lố nhố loài người hơn là khi ở cùng ta!
Bị bỏ rơi hắt hủi là một chuyện, được trầm mình trong nỗi cô đơn lại là một chuyện khác: đấy, đấy chính là điều mi đã học được giờ đây! Mi đã học được rằng giữa loài người bao giờ mi cũng vẫn chỉ là một kẻ man dại và xa lạ:
Man dại và xa lạ ngay cả lúc họ yêu thương mi bởi vì trước tất cả mọi sự, họ chỉ thích được mi nể nang, xoay xở!
Nhưng về đây, mi lại được thoải mái tự do như trong chốn ngụ cư của mi; ở đây mi có thể toàn quyền ăn nói và tuôn trào ra bất luận điều gì; ở đây tuyệt chẳng có ai hổ thẹn về những cảm giác táo bạo thầm kín của mình.
Ở đây, mọi sự chen nhau chạy đến cùng lời nói của mi, ve vuốt vỗ về mi trong trăm ngàn trìu mến, vì tất cả mọi sự ấy muốn được cưỡi trên lưng mi. Ngồi cưỡi trên tất cả những biểu tượng, mi phóng nước đại đến tất cả những chân lý.
Ở đây, mi có thể ăn nói với tất cả mọi sự một cách chính trực thẳng thắn: thực vậy, khi người ta ăn nói với tất cả mọi sự một cách chính trực thì những lời nói sẽ ngân vang như những lời tán tụng!
Tuy nhiên, bị hắt hủi bỏ rơi lại là chuyện khác. Ồ, hỡi Zarathustra, mi còn nhớ chứ? Khi con ó của mi réo gọi trên đầu, khi mi đứng lưỡng lự giữa rừng sâu, gần bên một xác chết, do dự chẳng biết đi về đâu:
Khi mi bảo rằng: ‘Cầu cho những con vật của ta sẽ hướng dẫn ta! Ta thấy rằng sống giữa loài người còn nguy hiểm hơn là sống với loài thú’. - Đấy, đấy chính là lúc bị bỏ rơi hăt hủi!
Và mi còn nhớ chứ, hỡi Zarathustra? Khi mi ngồi trên hải đảo, một giếng rượu giữa những thùng rỗng, ban phát hết cho những kẻ khác không hề so đo tính toán:
 - để sau cùng mi bị chết khát giữa những kẻ say mèm, rồi mi than thở cả đêm: “Lấy phải chăng phúc hơn là cho? Và đánh cắp phải chăng phúc hơn là nhận lấy?” Đấy, đấy chính là lúc bị bỏ rơi hăt hủi!
Và mi còn nhớ chứ, hỡi Zarathustra? Lúc giờ phút im lặng nhất hiện đến với mi, xua đuổi mi ra ngoài tự thân mi, và lên tiếng cùng mi qua những lời thì thào hung bạo: “Hãy nói đi rồi vỡ tan thây!”
- Lúc giờ phút im lặng nhất làm mi kinh tởm sự chờ đợi cùng sự im lặng của mi, lúc nó khiến mi buồn chán về lòng can đảm đầy khiêm tốn e dè của mình. Đấy, đấy chính là lúc bị bỏ rơi hăt hủi!”
Hỡi cô đơn! Hỡi cô đơn, quê hương của ta! Lời mi nói với ta thật hòa ái thục hiền biết bao!
Chúng ta chẳng cật vấn nhau, chúng ta chẳng than vãn cùng nhau, chúng ta mở rộng lòng sánh đôi chung bước cùng nhau qua những cánh cửa mở rộng.
Bởi vì nơi mi, tất cả đều rộng mở sáng ngời; ngay cả những giờ khắc ở đây cũng lướt qua với những bước chân nhẹ nhàng khinh khoái. Bởi vì trong bóng tối thâm u, thời gian lại nặng nề hơn là ngoài ánh sáng.
Nơi đây, tất cả những lời nói về tính thể cùng những đền điện bí mật của lời nói đều rộng mở cho ta; nơi đây tất cả tính thể đều khát khao trở thành ngôn ngữ, tất cả biến dịch thể đều muốn ta dạy thốt cho ra lời.
Nhưng mà ở dưới kia, tất cả lời nói đều là vô vọng hão huyền! Khôn ngoan nhất là cứ quên phắt và bỏ qua: - đấy chính là điều ta đã học được!
Kẻ nào muốn lĩnh hội tất cả mọi sự việc giữa chốn thế nhân thì phải đưa tay vồ nắm lấy mọi sự. Nhưng đôi tay ta quá sạch để mà có thể làm chuyện đó.
Ta ghê tởm ngay cả hơi thở họ. Hỡi ôi! Tại sao ta đã sống quá lâu như thế giữa những tiếng ồn ào huyên náo cùng hơi thở thối tha của họ.
Ồ, sự im lặng tuyệt vời vây phủ quanh ta! Ồ, những mùi hương thuần khiết chung quanh ta! Ồ, sự im lặng đã cho ta hít đầy không khí trong lành tràn trề hai lá phổi! Ồ, sự im lặng đang lắng nghe kia, sự im lặng tuyệt vời!
Nhưng mà ở dưới kia, mọi sự đều ồn ào lên tiếng và chẳng ai nghe. Nếu mi có thể rung chuông khai báo Trí huệ Hiền minh của mi, thì những chủ hiệu buôn ở chốn công trường vẫn khuất lấp tiếng chuông mi bằng tiếng rủng rỉnh những đồng tiền của họ.
Nơi bọn họ tất cả đều ham nói và chẳng ai còn biết cách nghe. Tất cả mọi sự đều rơi tõm xuống nước, nhưng chẳng có vật gì rơi xuống giếng sâu.
Nơi bọn họ tất cả đều ham nói và chẳng có gì thành tựu hay trưởng thành được cả. Tất cả đều ồn ào cục tác như gà mái, nhưng tìm đâu ra một kẻ chịu ngồi im trong ổ để ấp trứng?
Nơi bọn họ, tất cả mọi sự đều ồn ào lên tiếng, tất cả mọi sự đều bị lằng nhằng ra từng mảnh. Và những gì hôm qua còn quá cứng rắn đối với thời gian cùng những răng nhọn của thời gian, thì ngày hôm nay đã treo lửng lơ mòn nhẵn rã rời ngoài mồm mép của con người thời đại!
Nơi bọn họ, tất cả mọi sự đều ồn ào lên tiếng nói, tất cả mọi sự đều bị phản bội. Và những gì xưa kia còn là điều bí nhiệm và bí ẩn của những tâm hồn sâu thẳm, thì ngày hôm nay đã thuộc về những tên thổi kèn lơ láo ngoài đường phố và những tên khoa đại ồn ào!
Ồ, tinh thể kỳ dị của con người! Tiếng ồn ào huyên náo trên những con đường tối ám! Giờ đây mi đã nằm lại đằng sau ta rồi: - mối nguy hiểm lớn lao nhất của ta đã rớt lại đằng sau ta rồi!
Bao giờ thì sự xoay xở kiêng dè cùng lòng thương xót cũng vẫn là mối nguy hiểm lớn lao nhất của ta, và tất cả mọi người đều thích được kiêng dè nể nang và thích được thương hại.
Giữ kín những chân lý tận đáy thẳm tâm hồn, với đôi tay rồ dại và trái tim khờ khạo đầy rẫy những sự dối trá nhỏ nhoi của lòng thương xót: ta đã luôn luôn sống như thế giữa loài người!
Ta đã ngồi giữa bọn họ với chiếc mặt nạ trá hình, sẵn sàng đánh lạc tự thân để mà có thể chịu đựng nổi bọn họ, và thường hay tự khuyến dụ mình: “Mi khờ dại điên rồ! Mi không hiểu loài người!”
Mình quên đi những gì mình biết về loài người khi mình sống giữa loài người. Có quá nhiều tấm bình phong che đậy họ: những con mắt xa xôi thấu nhập nào có ích gì ở đấy?
Khi nào họ không nhận ra ta, lúc ngông cuồng ngây dại, thì ta lại đâm ra kiêng dè xoay xở họ hơn là chính ta: vì vốn quen cứng rắn phũ phàng đối với mình, thường khi ta phải trả thù ta vì sự xoay xở kiêng dè ấy.
Bị những con ruồi mang nọc độc châm chích khắp người, và bị đục khoét như một hòn đá bị gặm nhấm bởi những giọt nước bạo tàn, ta ngồi như thế đó giữa đám bọn họ và lòng còn tự nhủ: “Mọi cái gì nhỏ bé đều vô tội vì sự nhỏ bé của mình!”
Nhất là những kẻ tự nhận mình là những “con người thiện hảo”: ta thấy bọn chúng đúng là những con ruồi nhiều nọc độc nhất: bọn chúng châm chích một cách vô tội ngây thơ; bọn chúng dối trá một cách vô tội ngây thơ; làm thế nào bọn chúng có thể công chính với ta được chứ?
Lòng xót thương lân mẫn dạy rằng kẻ nào sống giữa đám người thiện hảo thì phải dối trá. Lòng xót thương lân mẫn làm nặng nề bầu khí vây quanh những tâm hồn tự do phóng dật. Bởi vì sự ngu xuẩn của hạng người thiện hảo thì không thể nào đo lường nổi.
Tự ẩn giấu chính mình và giấu sự giàu sang phong phú của mình: đấy, đấy chính là điều ta đã học được dưới kia, bởi vì ta thấy tất cả mọi người đều nghèo nàn khô kiệt tâm hồn! Đây cũng là sự giả dối của lòng xót thương lân mẫn nơi ta:
- ta nhìn thấy và đánh hơi được trong mỗi một người, điều gì là vừa tinh thần cho họ, điều gì là quá tinh thần cho họ!
Những nhà hiền triết cứng đơ của họ, thì ta gọi là hiền triết, chứ tránh nói là cứng đơ, - như thế đó, ta đã tập nuốt được lời lẽ. Những người phu đào huyệt của họ, ta gọi là những người khảo cứu và học giả thông thái, - như thế đó, ta đã học đổi được lời lẽ.
Những người phu đào huyệt mang bệnh vì ham đào. Dưới đống nhơ bẩn ngàn đời ấy yên ngủ bao nhiêu mùi hôi thối. Đừng nên khuấy động những ao đầm lầy lội. Nên trèo lên núi cao mà sống.
Lỗ mũi phồng căng hạnh phúc của ta lại được thở lại sự tự do vời vợi trên những đỉnh núi cao! Vậy là sau cùng lỗ mũi ta đã được giải thoát khỏi mùi hôi nhân thế!
Cảm thấy nhồn nhột vì làn không khí tươi mát như những chất rượu sủi bọt, linh hồn ta nhảy mũi - linh hồn ta nhảy mũi và cất tiếng reo vui: “Cầu trời cho sức khỏe của mi!”
 
Zarathustra đã nói như thế.
 
0
VỀ BA ĐIỀU XẤU ÁC

1


Trong giấc mộng, giấc mộng cuối cùng của ta vào buổi sáng hôm nay, ta đã đứng trên một mỏm đất ở bên kia thế giới, - ta cầm một cái cân trong tay và ta cân thế giới.
Ồ, tại sao bình minh đã đến với ta quá sớm? Hơi nóng ganh tị của nó đã đánh thức ta dậy! Bình minh luôn ganh tị với hơi nóng tỏa lan từ những giấc mộng ban mai của ta.
Có thể đo đếm được đối với kẻ có thời giờ, có thể cân lường được đối với một tay cân lường tài giỏi, nằm trong tầm bay của những đôi cánh khỏe mạnh, hiển lộ đối với những kẻ tầm cầu linh thánh: giấc mộng của ta đã nhìn thấy thế giới như thế!
Giấc mộng của ta, một kẻ hải hành dũng cảm, phân nửa là tàu, nửa kia là sóng gió ba đào, lặng lẽ như một con bướm, nôn nóng như một con diều hâu: ngày hôm nay, giấc mộng ấy kiên nhẫn trong rảnh rỗi vô vàn để cân lường thế giới.
Trí huệ của ta đã bí mật ngỏ lời cùng nó, Trí huệ ban ngày của ta, hoan hỉ và tỉnh thức, Trí huệ chế giễu tất cả những “thế giới vô hạn”! Vì Trí huệ ấy bảo: “Nơi nào có sức mạnh thì rốt cuộc con số sẽ trở thành chủ nhân, vì con số mang nhiều sức mạnh hơn”.
Giấc mộng của ta, giấc mộng hữu hạn đó, đã đưa mắt nhìn với sự chắc chắn vô ngần! Không phải với lòng tò mò, không phải với sự lộ liễu, không phải nhát gan khiếp đảm, cũng không tôn sùng trọng vọng,
- như cả một trái táo ngon ngọt dâng đến tay ta, một trái táo chín vàng, mang làn da tươi mát, dịu mềm, êm mượt nhung tơ: thế giới đã tự dâng hiến cho ta như thế;
- như một cái cây đưa tay ra dấu với ta, một cái cây tỏa những cành lá um tùm, khỏe mạnh, cong oằn vặn vẹo thành chỗ nương tựa nghỉ ngơi cho kẻ lữ hành mỏi mệt: thế giới đã được đặt trên mỏm đất của ta như thế;
- như những bàn tay duyên dáng nâng một chiếc hộp nhỏ đến gặp gỡ ta, - một chiếc hộp nhỏ mở ra trong sự say mê khoái cảm của những đôi mắt thẹn thùng sùng mộ; thế giới đã như thế khi gặp gỡ ta hôm nay;
- không có đủ ẩn ngữ để xua đuổi tình yêu loài người, không có đủ chất hòa tan để ru ngủ trí huệ con người: - một sự việc tốt đẹp của con người, đấy, đấy là thế giới mà người ta đã phỉ báng không tiếc lời, thế giới đó hôm nay đã xuất hiện với ta như thế.
Ta vô vàn cảm tạ giấc mộng ban mai của ta vì đã cân lường thế giới ở giây phút ban sơ! Thế giới: giấc mộng và sự an ủi khích lệ đó của con tim, đã đến với ta như một sự việc tốt đẹp của con người.
Giờ đây, để mô phỏng thế giới giữa thanh thiên bạch nhật, múc nguồn cảm hứng từ bài học tuyệt vời nhất trong các bài học, ta muốn đặt lên chiếc cân ba tội ác vĩ đại nhất và cân lường chúng theo lề lối con người.
Kẻ nào dạy câu chúc phúc thì cũng dạy lời nguyền rủa: đâu là ba điều đáng nguyền rủa nhất trên mặt đất? Chính chúng là đối vật ta muốn đặt lên bàn cân.
Khoái lạc, ước muốn thống trị, lòng ích kỷ: ba điều này là những điều bị nguyền rủa phỉ báng nhất từ trước đến nay, - và ta muốn cân lường chúng theo lề lối con người.
Nào! Đây là mỏm đất của ta và kia là đại dương thăm thẳm: đại dương đang lăn về phía ta, rợn sóng, vuốt ve, - đại dương, con ác quỷ trăm đầu già nua và trung thành mà ta yêu thích.
Chính đây là nơi ta muốn cầm cân trên mặt biển động sóng, ta cũng chọn một người chứng ngó nhìn - ta chọn mi, mi, hỡi cái cây đứng cô tịch, mi với mùi hương nồng nã, vòng hoa sum suê rộng lớn, hỡi cái cây ta yêu dấu!
Giây phút hiện tại tiến về tương lai băng qua chiếc cầu nào? Sức mạnh nào cưỡng chế cái cao nhã phải cúi mình về phía cái thấp kém? Và ai ra lệnh cho sự vật cao nhã nhất phải lớn mạnh thêm nữa?
Giờ đây chiếc cân đang cân bằng và bất động: ta đã ném lên đó ba câu hỏi nặng nề, đĩa cân bên kia mang ba câu trả lời nặng trĩu.


2


Khoái lạc - đối với tất cả những kẻ khổ hạnh khinh miệt thân xác, là mũi nhọn để kích thích, là chiếc đài để bêu xấu kẻ phạm tội nặng; đó là “thế giới” bị nguyền rủa nơi tất cả những kẻ nuôi ảo giác về thế giới bên kia: bởi vì khoái lạc miệt thị và làm mê loạn tất cả những học thuyết rối loạn.
Khoái lạc - đối với đám tiện dân, đó là ngọn lửa chậm thiêu đốt; đối với những khu rừng bị mọt ruỗng và những khúc vải xoắn lợm giọng, đó là chiếc hỏa lò ngấu nghiến.
Khoái lạc - đối với những tâm hồn tự do thì đó là sự ngây thơ phóng dật khơi vơi, là hạnh phúc điền dã trên mặt đất, là sự tri ân quá thừa thãi tương lai đối với hiện tại.
Khoái lạc - đấy chỉ là thuốc độc dịu ngọt cho những kẻ cằn cỗi điêu tàn, nhưng đối với những kẻ mang ý chí của con mãnh sư, thì đó là chất thuốc bổ tuyệt diệu nhất, chất rượu của men nồng mà người ta dè dặt giữ gìn một cách kính cẩn thiêng liêng.
Khoái lạc - là vĩnh phúc tuyệt vời nhất, biểu tượng của hạnh phúc và hy vọng tối thượng. Bởi vì đối với nhiều thứ, đã hứa hẹn sự hợp nhất và còn hơn là sự hợp nhất,
- đối với nhiều thứ còn xa lạ với nhau hơn là người đàn ông xa lạ với người đàn bà: có ai đã từng hiểu trọn vẹn sự kiện người đàn ông và người đàn bà xa lạ với nhau biết đến chừng nào?
Khoái lạc - song le, ta muốn chắn rào quanh những tư tưởng và vây rào quanh những lời lẽ ta: ta e rằng những con heo bẩn thỉu cùng những kẻ bồng bột nhiệt cuồng sẽ xông vào vườn của ta! -
Khát vọng thống trị - đấy là món đồ chơi làm chết người dành cho những tâm hồn cứng rắn nhất, là cuộc tuẫn đạo khủng khiếp dành cho những kẻ hung bạo nhất, là ngọn lửa âm u của những giàn hỏa sống.
Khát vọng thống trị - đấy là chiếc phanh dữ tợn được đặt vào những dân tộc phù phiếm nhất, là sự hổ thẹn của tất cả những đức hạnh bất xác, cưỡi trên tất cả những lòng kiêu hãnh.
Khát vọng thống trị - đấy là cơn động đất phá vỡ và ly cách tất cả những gì bị mối mọt ăn mòn trống rỗng, đấy là kẻ đập vỡ những ngôi nhà mồ sơn trắng với tâm hồn phẫn nộ gầm gừ, đấy là dấu hỏi vọt hiện ra bên cạnh những câu trả lời non yểu.
Khát vọng thống trị - đứng trước cái nhìn của nó, con người bò lết khom mình, khát vọng làm con người nô lệ và hạ thấp xuống thua loài rắn, loài heo; cho đến khi, cuối cùng, lòng khinh bỉ ngất trời kêu gào bùng vỡ trong nó.
Khát vọng thống trị - đấy là vị đạo sư khủng khiếp rao giảng lòng khinh bỉ ngất trời, kẻ rao giảng cho những đô thị và những đế quốc lời này: “Hãy cút khỏi đây!” - mãi cho đến khi, cuối cùng, tự chúng kêu thét lên: “Ước gì ta có thể bỏ đi!”
Khát vọng thống trị - kẻ quyến rũ dụ hoặc, cũng leo lên đến những con người tinh khiết, những kẻ cô đơn, leo lên đến những đỉnh cao, cháy bỏng như một tình yêu vạch lên trên bầu trời những hạnh phúc đỏ thắm quyến rũ.
Khát vọng thống trị - nhưng ai còn muốn gọi đó là một khát vọng, khi kẻ cao nhã chịu hạ mình ước mong quyền lực! Thực vậy, chẳng có gì là cuồng say, bệnh hoạn trong những khát vọng như thế, và những sự hạ mình như thế!
Bảo rằng đỉnh cao đơn độc cô liêu không vĩnh viễn tự cô lập và không tự hài lòng với chính mình; bảo rằng núi cao phải đi xuống lũng sâu và gió núi phải thổi xuống đồng bằng:
Ồ! Ai dám đặt đúng tên thật cho một khát vọng như thế! “Đức hạnh ban phát” - đấy là tên mà xưa kia Zarathustra đã dùng để gọi điều bất khả diễn ngôn này.
Chính lúc đó - thật vậy, đây là lần đầu tiên! - lời nói của hắn cũng đã ca ngợi lòng ích kỷ, lòng ích kỷ thiện hảo lành mạnh xuất phát từ một linh hồn cường tráng:
- từ linh hồn cường tráng sở đắc một thân xác cao cả, một thân xác mỹ diệu, chiến thắng và hòa điệu: chung quanh thân xác đó mọi vật trở thành gương soi:
- thân xác uyển chuyển, quyến rũ, kẻ vũ công mà biểu tượng và sự diễn tả là chính linh hồn tươi sáng hân hoan. Niềm hân hoan ích kỷ của những thân xác và những linh hồn như thế tự gọi mình là “đức hạnh”.
Vì nói về thiện và ác, lòng hân hoan ích kỷ ấy cư ngụ nơi chính tự thân mình, như giữa lòng một khu rừng thiêng; bằng những tên gọi ban cho hạnh phúc của mình, nó loại trừ xa mình tất cả những gì đáng khinh bỉ.
Nó loại trừ xa mình tất cả những gì hèn nhát; nó bảo rằng: cái gì hèn nhát xấu xa! Nó thấy đáng khinh bỉ con người ưu tư cứ không ngừng thở dài than vãn, nhưng lại thu nhặt ngay cả những lợi lộc nhỏ bé nhất.
Nó cũng khinh bỉ mọi trí huệ đáng thương hại: bởi vì, thật thế, cũng có thứ trí huệ nở hoa trong bóng tối; một thứ trí huệ của đêm tối cứ luôn luôn than thở: “Mọi sự đều vô bổ!”
Nó không đếm xỉa đến lòng nghi ngờ đầy sợ hãi cùng tất cả những kẻ nào muốn nghe những bài giảng đạo thay vì những cái nhìn và những nắm tay: - và nó cũng chẳng đếm xỉa đến trí huệ quá hồ nghi nữa, - vì đấy là cách xử sự của những linh hồn hèn nhát.
Nó thấy kẻ khúm núm xiểm nịnh còn thấp hèn hơn nữa, con chó nằm phủ phục xuống ngay lập tức, kẻ quá sức khiêm cung; và cũng có trí huệ khiêm cung, bò lết, kính tín và khúm núm.
Nhưng nó thù ghét đến kinh tởm kẻ nào chẳng hề muốn tự bảo vệ mình, kẻ nào nuốt ực những nước bọt nọc độc và những cái nhìn hung ác, kẻ kiên nhẫn quá nhẫn nhục, kẻ chịu đựng tất cả mọi sự và bằng lòng tất cả mọi sự; vì đấy chính là lề thói của bọn bồi phòng.
Giả sử kẻ nào nô lệ trước những thần linh và những cú đá của thần linh hay trước con người và những ý kiến ngu xuẩn của con người, thì lòng ích kỷ ngất ngây hạnh phúc ấy liền nhổ nước bọt vào mặt tất cả sự nô lệ đó.
Xấu ác: - đấy là tiếng nói dùng để gọi tất cả những gì khom mình nô lệ, đôi mắt nhấp nháy khuất phục, quả tim bị giày vò cắn rứt, và cái lối ôm hôn giả ngụy nhu thuận, với cặp môi rộng hèn hạ.
Và trí huệ giả mạo: đấy là tiếng nó dùng để gọi những trò chơi chữ của bọn bồi phòng, bọn già cả và những kẻ đã kiệt lực; nhất là tất cả những sáng chế điên khùng phi lý của đám linh mục.
Thế nhưng, bọn hiền triết giả mạo, tất cả đám linh mục, những kẻ chán ngán mỏi mệt vì thế giới, những kẻ mang linh hồn của lũ đàn bà hay của những tên bồi phòng, - ôi, chính là những kẻ luôn luôn nuôi dưỡng âm mưu nhằm đến lòng ích kỷ!
Chính điều này đã là đức hạnh và đã được gọi là đức hạnh: ta phải nổi dậy chống lại lòng ích kỷ! “Vô vị lợi”, “vô tư”, đấy chính là điều mà những kẻ khiếp nhược mệt mỏi vì thế giới và tất cả những con nhện đó, khát khao được trở thành, - với những lý do rất hợp lý.
Nhưng giờ đây, chính là dành cho bọn chúng mà mới có ban ngày, khúc quanh, lưỡi gươm phán xét, buổi đại ngọ thiên: và nhiều sự việc sẽ trở thành hiển nhiên!
Và kẻ xưng tụng cái Tôi và thánh hóa lòng ích kỷ, thực ra, kẻ tiên tri hiền triết đó, nói chính điều hắn biết: “Nhìn kìa, buổi đại ngọ thiên đang đến, đang đến gần!”
 
Zarathustra đã nói như thế.
0


VỀ TINH THẦN TRÌ ĐỘN NẶNG NỀ


1


Ngôn ngữ ta là ngôn ngữ của dân chúng; ta nói năng quá thô tháo, quá thân ái đối với những kẻ khờ khạo tầm thường. Nhưng lời nói của ta có vẻ lạ lùng hơn đối với những văn sĩ quèn và những văn sĩ chỉ tổ bôi cho bẩn giấy.
Tay ta là bàn tay của một thằng điên: khốn thay cho tất cả những tấm bảng và những tường thành; khốn thay cho tất cả những gì có chỗ cho những trang sức và những bức tranh quèn của một gã điên!
Chân ta là một móng ngựa; ta dùng nó phi nước kiệu phóng nước đại trèo non vượt suối cùng nơi, và ta mang theo con quỷ cùng tấm thân khoái lạc trong cuộc phóng chạy của ta.
Dạ dày ta có lẽ là dạ dày một con ó. Vì nó thích thịt cừu hơn cả mọi thứ khác. Nhưng chắc chắn nó là dạ dày của loài chim.
Được nuôi dưỡng bằng những sự vật hồn nhiên đạm bạc, sẵn sàng đánh căp và nôn nóng bay cao - ta là thế đó; làm sao ta không tự xem mình thuộc loài chim cho được!
Nhất là, vì ta là kẻ thù của tinh thần trì độn nặng nề nên ta mới kể mình thuộc loài chim: thực vậy, ta là kẻ tử thù, kẻ thù bất cộng đái thiên, kẻ thù muôn kiếp. Nơi nào mà sự thân thiết của ta lại đã không bay lên và lạc lối?
Ta có thể cất lên một giọng hát ở trên kia - và ta muốn hát lên giọng đó: dẫu rằng ta cô tịch một mình trong một căn nhà trống và ta chỉ có thể hát riêng cho những lỗ tai chúng ta mà thôi.
Cố nhiên, cũng có những ca sĩ khác chỉ có được chiếc họng nhu nhuyễn, bàn tay hùng biện, con mắt chứa chan biểu lộ và quả tim thức tỉnh khi nào căn nhà lố nhố những người: - còn ta, ta không giống với họ.


2


Kẻ nào một ngày kia dạy cho con người biết bay thì sẽ phải thay đổi tất cả những biên thùy giới hạn; đối với hắn, ngay cả những biên thùy cũng bay bổng lên cao; hắn đặt tên thánh lại cho trái đất, hắn sẽ gọi trái đất là “đứa con nhẹ nhàng”.
Con đà điểu phóng nhanh hơn con tuấn mã nhanh nhất, nhưng cả con đà điểu cũng hãy còn nặng nhọc giấu đầu vào đất cát nặng nề: người nào chưa biết bay cũng thế.
Hắn thấy cả trái đất lẫn đời sống là nặng nề, và đấy chính là điều mà tinh thần trì độn ước muốn! Thế nhưng, kẻ nào muốn trở thành nhẹ bỗng như chim thì phải yêu thương chính mình: - ta, Zarathustra, ta dạy như thế.
Không phải thương yêu chính mình bằng tình yêu của những con bệnh và những kẻ cuồng loạn: bởi vì nơi những người đó, ngay cả lòng tự ái cũng bốc lên mùi hôi thối.
Phải học yêu thương chính mình, ta dạy các ngươi như thế, yêu thương chính mình bằng một tình yêu trong sạch, lành mạnh: để mình có thể chịu đựng nổi mình và đừng lang thang lêu lổng.
Sự lang thang lêu lổng này có tên là “tình yêu kẻ láng giềng đồng loại”: chính bằng chữ “tình yêu” này người ta đã nói dối tài tình, đã giấu giếm cho đến tận bây giờ, nhất là bởi những kẻ đè nặng lên mọi người hơn là ai khác.
Thực vậy, học yêu thương chính mình, đấy không phải là một mệnh lệnh cho hôm nay hoặc cho ngày mai. Trái lại, đấy là nghệ thuật vi tế nhất trong các nghệ thuật, nghệ thuật quỷ quyệt nhất, nghệ thuật sau cùng và kiên nhẫn nhất.
Bởi vì đối với kẻ đã sở đắc nghệ thuật đó, mọi sự sở đắc đều được che giấu cẩn mật; và trong tất cả những kho tàng, kho tàng nào gần ngươi nhất sẽ được khám phá sau cùng, - đấy là công trình của tinh thần trì độn nặng nề.
Ngay khi còn nằm trong nôi, người ta đã mớm cho chúng ta những lời lẽ, những giá trị nặng nề; “Thiện” và “Ác”: đó là tên của món di sản ấy. Vì cớ những giá trị này, người ta tha thứ cho chúng ta để cho chúng ta được sống.
Chính để cấm đoán đúng lúc không cho họ yêu thương chính mình, người ta mới để cho những đứa con đến với mình: đấy là công trình của tinh thần trì độn nặng nề.
Còn chúng ta - chúng ta trung thành kéo lê theo những gì người ta chất lên mình, trên đôi vai mạnh mẽ, bên trên những ngọn núi khô cằn! Và khi chúng ta đổ mồ hôi ra thì người ta bảo: “Ờ, cuộc đời quả thật nặng nề để ta mang vác!”
Nhưng thật ra, chỉ có con người mới nặng nề để ta mang vác! Bởi vì hắn kéo lê trên đôi vai mình quá nhiều sự việc dị kỳ xa lạ. Tựa con lạc đà, hắn quỳ gối xuống để người ta chất đầy lưng mình.
Nhất là con người khỏe mạnh, kiên nhẫn, kẻ có tinh thần đáng kính: hắn mang chất trên đôi vai quá nhiều lời lẽ và giá trị xa lạ nặng nề, - cho đến khi đời sống biến thành một sa mạc đối với hắn!
Thật vậy, nhiều sự việc riêng tư của các ngươi cũng quá nặng nề để mang vác! Và ở bên trong thì con người giống với con sò, con người cũng đáng tởm, mềm nhão, trơn tuột khó nắm bắt,
- đến độ phải cần đến một thứ vỏ quý phái cùng với những đồ trang sức cao nhã. Nhưng ngay cả nghệ thuật này cũng cần phải được học hỏi cẩn trọng: nghệ thuật làm cho có được một lớp vỏ ngoài, một bộ dạng đẹp đẽ và một sự hôn mê mù quáng khôn ngoan!
Nơi con người, ta còn bị đánh lừa về nhiều chuyện, và sự buồn bã, nghèo nàn của những lớp vỏ chỉ là lớp vỏ bề ngoài. Nhiều sức mạnh và lòng tốt bị che kín đã chẳng bao giờ được đoán nhận ra; những món ăn khoái khẩu nhất không gặp được người thưởng thức.
Những người đàn bà biết rõ điều đó, những người đàn bà tao nhã nhất. Béo một chút, ốm một chút. - Ồ! Biết bao là vận số gắn liền với một chuyện ngó chẳng ra gì!
Rất khó mà khám phá ra con người, và còn khó khăn vạn bội là việc tự khám phá ra chính mình; tinh thần vẫn thường nói dối về linh hồn. Đấy là công trình của tinh thần trì độn nặng nề.
Những kẻ nào đã tự mình khám phá ra chính mình, sẽ bảo: “Đây là điều thiện của ta và điều ác của ta”. Bằng những lời lẽ đó, hắn làm câm miệng loài chuột chũi và tên lùn bảo rằng: “Thiện chung cho tất cả mọi người, ác chung cho tất cả mọi người”.
Thực vậy, ta cũng chẳng yêu mến những kẻ nào cho rằng mọi sự đều tốt lành đối với họ và thế giới này là thế giới tốt đẹp nhất trong các thế giới. Ta gọi họ là những kẻ tự mãn.
Sự tự mãn nếm qua mọi sự: đấy không phải là mùi vị tuyệt vời nhất! Ta xưng tụng những cái lưỡi cùng những dạ dày ương ngạnh, khó khăn, đã học nói lên những tiếng: “Tôi”, “Vâng” và “Không”.
Nhưng gặm nhai tiêu hóa tất cả, thì đấy là điều tuyệt trần cho những con lợn! Luôn luôn kêu lên I-A,[1] thì chỉ có những con lừa cùng những kẻ thuộc giống lừa mới học như thế!
Màu vàng sẫm và đỏ nồng: sở thích của ta đòi hỏi như thế, - sở thích của ta pha trộn máu vào tất cả mọi màu. Nhưng kẻ nào quét vôi trắng căn nhà mình thì kẻ đó biểu lộ một tâm hồn bị quét vôi trắng.
Có kẻ mê say những xác chết khô, kẻ khác lại say mê những bóng ma; tất cả bọn chúng đều là thù địch của thịt da xương máu. Tất cả bọn chúng đều không hợp với ta. Bởi vì ta thích máu.
Ta không thích ở nơi mà mỗi người đều khạc nhổ, sùi bọt mồm bọt miệng: đấy là sở thích của ta, - ta rất thích được sống giữa những tên trộm cùng những lời thề thốt giả dối. Chẳng ai có vàng trong miệng cả.
Nhưng mà kẻ liếm nước bọt lại làm ta kinh tởm hơn nữa; và con thú đáng tởm nhất ta đã gặp giữa loài người, ta gọi nó là con vật ăn bám: nó không muốn yêu thương, nhưng nó lại muốn sống nhờ tình yêu.
Ta gọi là khốn khổ kẻ nào chỉ có một sự chọn lựa giữa hai đàng: trở thành những con thú hay những tay trị thú dã man hung tợn. Ta không muốn xây nhà ta bên cạnh họ.
Ta cũng gọi kẻ phải luôn luôn chờ đợi là khốn khổ, - tất cả những tên thu thuế thông hành và những tên chủ hiệu buôn, tất cả những ông vua và những kẻ bị thanh toán ấy đều không hợp với ta.
Thật vậy, cả ta nữa, ta cũng đã học đợi chờ, nhưng ta chỉ chờ đợi chính mình. Nhất là ta đã học đứng thẳng, bước đi, chạy nhảy, leo trèo và khiêu vũ.
Đây là đạo lý của ta: bất luận kẻ nào muốn học bay thì trước hết phải học đứng thẳng, bước đi, chạy nhảy, leo trèo và khiêu vũ. Người ta không thể nhất đán bay bổng ngay liền được.
Với những chiếc thang dây, ta đã học leo lên hơn một chiếc cửa sổ, với đôi chân dẻo dai khéo léo ta đã leo lên những cột buồm: ngồi trên những cột buồm vút cao của tri thức bao giờ cũng là một hạnh phúc vĩ đại đối với ta!
- bốc lửa trên những cột buồm cao như những ngọn lửa con: chỉ là một chút ánh sáng lắt lay, nhưng lại là một nỗi khích lệ lớn lao cho những chiếc tàu chìm và những kẻ đắm tàu.
Ta đã đến được chân lý của ta theo nhiều con đường và bằng nhiều cách; ta đã không dùng một chiếc thang duy nhất để leo lên đến đỉnh cao nơi đó mắt ta đắm chìm trong cõi xa xăm.
Lòng ta bao giờ cũng vẫn miễn cưỡng khi phải mở miệng hỏi đường, - chuyện đó luôn trái ngược với lòng ta! Ta luôn luôn thích tra vấn và thử thách chính những con đường.
Thử thách và tra vấn, đấy là lộ trình của ta: - thật vậy, người ta cũng phải học trả lời cho những câu hỏi như thế! Vì đấy là sở thích của ta:
- đấy không phải là một sở thích tốt hay xấu, nhưng đấy là sở thích của ta, sở thích mà ta không xấu hổ cũng chẳng cần giấu giếm.
“Từ trước đến giờ đấy là con đường của ta, - còn đâu là con đường của nhà ngươi?” ta đã trả lời như thế cho những kẻ hỏi ta về “con đường”. Bởi vì không có con đường.
 
Zarathustra đã nói như thế.
 
 

[1] Trang 322: I-A: tiếng kêu của con lừa, trong Đức ngữ là Ia, đọc giống với Ja là vâng, dạ, ừ. Kéo dài giọng đọc tiếng I-A, thì ta sẽ có chữ Dạ của Việt ngữ, một chữ Dạ chỉ rõ tính cách giả mạo của con lừa trong sự chấp nhận. Ở đây, Việt ngữ gần Đức ngữ hơn là các bản Pháp và Anh.
[/align] [/align]
0
VỀ NHỮNG BẢNG GIÁ TRỊ CŨ VÀ MỚI

1


Ta ngồi đây chờ đợi, vây quanh là những tấm bảng cũ vỡ nát lẫn lộn với những tấm bảng mới được viết dở dang. Khi nào mới đến giờ của ta?
- Giờ của sự đi xuống tàn tạ của ta: vì ta còn muốn đến với loài người thêm một lần nữa.
Đây là điều ta đang chờ đợi, bởi vì trước hết phải có những dấu hiệu báo tin rằng giờ của ta đã đến: con sư tử cười với đàn bồ câu vây quanh.
Trong khi chờ đợi ta nói năng như một kẻ nhàn rỗi, ta tự nói với chính mình. Chẳng ai thuật lại cho ta điều gì mới, vì vậy ta thuật lại chuyện ta cho chính ta nghe.


2


Khi đến với loài người, ta thấy họ an nhiên tọa thị trên một định kiến ngàn đời: định kiến cho rằng từ lâu họ đã biết rành rẽ cái gì là thiện, cái gì là ác đối với con người.
Mọi cuộc thảo luận về đức hạnh đều là một điều cổ lỗ, mệt nhọc đối với họ, dẫu rằng kẻ nào muốn ngủ ngon cũng hãy còn nói về “thiện” và “ác” trước khi đi ngủ.
Ta đã làm rối loạn cơn say ngủ đó khi ta rao dạy rằng: Hãy còn chưa có một người nào biết được thế nào là thiện và ác, trừ phi đấy là kẻ sáng tạo.
Thế nhưng, kẻ sáng tạo là kẻ ban cho loài người một mục đích, ban cho mặt đất ý nghĩa và tương lai: chỉ kẻ sáng tạo mới sáng tạo nên thiện và ác của vạn sự.
Ta đã ra lệnh cho họ lật đổ những giảng tòa cổ lỗ, và, hễ nơi nào quan niệm cổ lỗ ấy còn an vị, ta ra lệnh cho họ cười vào mặt những nhà hiền triết ủ rũ khổ hạnh, cười vào mặt bất luận những kẻ đen đủi nào đến đậu như một nỗi hăm dọa trên cây nhân sinh.
Ta đã ngồi bên lề đại lộ mộ phần với những xác chết cùng bầy kền kền - và ta đã cười ồ toàn thể quá khứ cùng vẻ rạng rỡ quang vinh hư thối của quá khứ họ.
Thật vậy, giống những kẻ rao giảng sự hối hận và những thằng điên, ta đã ném lời nguyền rủa la ó lên tất cả những gì cao thượng và đê tiện của bọn chúng, - Ồ, ti tiểu làm sao những gì cao thượng nơi chúng, ti tiểu làm sao những gì đê tiện nơi chúng, - Đó, ta đã cười như vậy.
Khát vọng khôn ngoan của ta trào vọt ra từ ta với những tiếng la hét và những tiếng cười; trí huệ hoang dã thì phát sinh trên những ngọn núi cao: khát vọng mênh mang của ta chắp cánh bay lên cao vút.
Thường thường, nó đã mang ta đi xa, vượt quá những đỉnh cao, hướng về những chiều cao mới, giữa những tiếng cười rộn rã: ta lướt bay rít gió như một mũi tên, trong cơn xuất thần ngây ngất vì mặt trời:
- lướt bay xa vời, trong một tương lai mà chưa hề có ai từng nhìn thấy, ở những miền phương Nam nóng bức hơn mà chưa có thi sĩ nào đã từng mơ mộng đến: nơi đó, nơi những vị thần linh nhảy múa hoan ca xấu hổ vì tất cả những y phục trên người:
- cốt cho ta nói bằng những ẩn dụ, cốt cho ta bập bẹ ấp úng và bước đi khập khà khập khiễng như những thi sĩ; thực ra, ta xấu hổ vì bị bắt buộc vẫn còn là một thi sĩ!
Nơi mà toàn thể biến dịch đối với ta đều là những cuộc khiêu vũ và những sự sung mãn linh thánh, nơi mà thế giới được tháo tung xiềng xích và kinh hoàng trú ẩn trong chính mình:
- như một cuộc chạy trốn vĩnh viễn khỏi mình và một cuộc tìm kiếm vĩnh viễn tự ngã mình nơi nhiều vị thần linh, như một mâu thuẫn ngất ngây hạnh phúc tự thân, một sự tái lập và trở về với chính tự thân mình của nhiều vị thần linh.
Nơi mà thời gian đối với ta là một sự chế nhạo tuyệt vời những khoảnh khắc, nơi mà sự tất yếu chính là tự do, tự do tự mình làm chất men kích thích cho tự do!
Nơi mà ta cũng đã gặp thấy con quỷ cố cựu lẫn kẻ thù truyền kiếp của ta, Tinh thần Trì độn Nặng nề cùng tất cả những gì tinh thần ấy đã sáng tạo nên: sự cưỡng chế, luật lệ, tất yếu, hậu quả, mục tiêu, ý chí, thiện và ác: -
Bởi vì chẳng phải là có những sự việc trên đó người ta có thể nhảy múa và vượt qua? Chẳng phải là có những con chuột chũi và thằng lùn nặng nề, vì cớ những con người nhẹ nhàng khinh khoái nhất?


3


Đấy cũng là nơi mà trên đường đi ta đã nhặt được chữ “Siêu nhân” và đạo lý này: con người là cái cần phải được vượt qua,
- con người là một chiếc cầu chứ không phải một cứu cánh: tự nhủ rằng mình hạnh phúc vì buổi ngọ thiên và buổi chiều tà của mình, như một con đường dẫn đến những bình minh mới:
- lời lẽ của Zarathustra về buổi Đại Ngọ Thiên và tất cả những gì ta đã treo lơ lửng bên trên loài người, giống như những buổi hoàng hôn mới hiện màu tím thẫm.
Thực vậy, ta đã làm cho loài người thấy những ngôi sao mới cũng như những đêm tối tinh khôi; trên những đám mây, ban ngày và ban đêm, ta đã trải rộng tiếng cười, như một chiếc lều muôn sắc.
Ta đã truyền dạy cho loài người tất cả những tư tưởng, tất cả những khát vọng của ta: ta đã dạy họ phải tích tập, kết nối tất cả những gì còn là phân tán và ẩn ngữ và ngẫu nhiên tàn bạo nơi con người.
Với tư thế là thi sĩ, là kẻ tiên đoán những ẩn ngữ, là kẻ cứu chuộc sự ngẫu nhiên, ta đã dạy loài người sáng tạo tương lai và trong khi sáng tạo, giải thoát những gì đã xảy ra.
Giải thoát quá khứ nơi con người, và biến đổi tất cả “những gì đã xảy ra” cho đến khi nào ý chí lên tiếng: “Chính ta đã muốn nó xảy ra như thế mà! Đấy chính là điều ta sẽ ước muốn thêm lần nữa”.
Đấy chính là điều ta gọi là giải thoát đối với loài người, đấy chính là điều độc nhất ta đã dạy họ gọi là giải thoát.
Giờ đây, ta chờ đợi sự giải thoát của ta, - để quay trở lại một lần cuối cùng bên cạnh loài người.
Bởi vì một lần nữa, ta muốn quay trở về với bọn họ: cõi nhân thế chính là chỗ ta muốn tiêu vong, và trong khi chết, ta muốn dâng hiến cho loài người tặng phẩm giàu sang nhất của ta!
Ta đã học điều đó từ mặt trời khi mặt trời lặn - học từ mặt trời quá giàu sang phong phú: lúc bấy giờ mặt trời tung rải tràn lan trên mặt biển số vàng ròng trong tài sản vô tận của mình,
- đến nỗi ngay cả những người đánh cá nghèo nàn nhất lúc ấy cũng chèo thuyền về với những mái chèo dát vàng óng ánh! Cảnh ấy ngày xưa ta đã thấy và trong khi nhìn ngắm, nước mắt ta không ngừng chảy dài.
Tựa như mặt trời, Zarathustra cũng muốn biến dạng: giờ đây hắn ngồi đấy, đợi chờ, vây quanh bởi những bảng giá trị vỡ nát và những bảng giá trị mới viết còn chưa trọn.


4


Hãy nhìn xem, đây là một bảng giá trị mới; nhưng đâu là người anh em sẽ cùng ta mang vác nó trong thung lũng và trong những quả tim của nhục thể?
Tình yêu lớn lao của ta đối với những gì xa vời nhất đòi hỏi như thế: đừng chú tâm đến kẻ láng giềng đồng loại! Con người là một cái gì cần phải bị vượt qua.
Người ta có thể đạt đến chỗ tự vượt qua mình bằng vô số những con đường và những phương tiện: đạt đến đó, chính là bổn phận của mi. Nhưng chỉ tên hề mới nghĩ rằng: “Người ta cũng có thể nhảy vọt qua khỏi con người”.
Hãy tự vượt mình, ngay cả nơi kẻ láng giềng đồng loại: mi không được để họ ban cho mi một quyền lợi nào mà tự mi có khả năng chiếm lấy.
Những gì mi làm, thì chẳng có ai khác làm được khi đến phiên họ. ở đây, chẳng có phần thưởng.
Kẻ nào không thể tự chỉ huy mình được thì phải vâng lời, và nếu có kẻ biết tự điều khiển thì kẻ đó lại càng phải là kẻ biết vâng lời hơn cả.


5


Đấy là cách thái của những tâm hồn cao nhã: những tâm hồn ấy chẳng muốn có bất cứ cái gì theo kiểu cho không, nhất là đời sống.
Kẻ thuộc về đám tiện dân thì lại muốn sống chẳng vì gì cả; nhưng chúng ta, chúng ta là những kẻ đã tự ban đời sống cho mình, chúng ta luôn luôn suy tưởng đến cái mà chúng ta có thể đền bù lại tốt đẹp hơn!
Thật vậy, đây là một châm ngôn cao nhã: “Những lời lẽ cuộc đời hứa hẹn với ta, chính ta lại là kẻ muốn giữ cho trọn”.
Không nên muốn hưởng thụ khi mình không ban phát sự hưởng thụ. Và ta không nên muốn hưởng thụ!
Bởi vì sự hưởng thụ và sự ngây thơ là những điều thẹn thùng nhất: cả hai đều không muốn bị tìm kiếm. Phải sở đắc chúng - nhưng tốt hơn vẫn là tìm kiếm lỗi lầm và đau khổ!


6


Hỡi người anh em, kẻ tiên phong bao giờ cũng bị hy sinh. Thế mà, chúng ta là những kẻ tiên phong báo hiệu.
Tất cả chúng ta đều đổ máu tại bàn thờ linh thánh dành cho những vật hiến tế; chúng ta thiêu nướng tất cả, nhân danh những thần tượng cũ.
Những gì tốt đẹp nơi chúng ta thì hãy còn quá trẻ trung non yếu: đấy chính là điều làm bạc lòng những kẻ già nua. Thịt chúng ta mềm mại, da chúng ta chỉ là lớp da cừu: - làm sao chúng ta lại không cám dỗ những gã linh mục tôn thờ thần tượng chứ!
Cái gã linh mục tôn thờ thần tượng đang sửa soạn một buổi tiệc bằng những gì ngon lành tốt đẹp nhất trong ta, gã ấy hãy còn cư ngụ trong tâm hồn mỗi người chúng ta. Hỡi ôi! Hỡi các anh em, làm thế nào mà những kẻ tiên phong sẽ không bị hy sinh hiến tế chứ!
Nhưng vận mệnh của chúng ta đòi hỏi như thế; và ta yêu mến những kẻ nào chẳng hề muốn tự bảo thủ lấy mình. Những kẻ nào đắm trầm tiêu diệt, ta yêu mến họ hết lòng: bởi vì họ vượt qua bến bờ lồng lộng bên kia.


7


Chân thật: ít người biết như thế! Và kẻ biết thì lại không muốn làm! Ít hơn tất cả mọi kẻ khác, là những kẻ thiện hảo.
Ồ! Những kẻ thiện hảo đó! Những người thiện hảo chẳng bao giờ nói sự thật; thiện hảo theo kiểu đó, là một căn bệnh của tinh thần.
Những con người thiện hảo đó nhẫn nhịn, đầu hàng, quả tim họ lặp lại, lý trí họ vâng theo: nhưng kẻ nào vâng phục thì không tự hiểu trọn chính mình!
Tất cả những gì là xấu ác đối với những con người thiện hảo, phải được kết tập lại để từ đó làm nảy sinh một chân lý: hỡi các anh em, các anh em có đủ sự hung tợn tàn bạo cho chân lý ấy chăng?
Lòng dũng cảm táo lợn, sự nghi kỵ triền miên, sự khước từ gay gắt, sự kinh tởm, sự bất quyết trong đời sống, - thật quá đỗi hiếm hoi khi những thứ ấy được đoàn tụ cùng nhau. Thế mà, chính từ những mầm giống đó mới phát sinh chân lý.
Từ trước đến nay, mọi khoa học đều được phát triển song hành với ý thức sai lạc. Hãy đập vỡ, đập vỡ cho ta những bảng giá trị cũ, hỡi các ngươi, là những kẻ giác ngộ tri thức!


8


Khi những chiếc đà vượt qua dòng nước, khi những chiếc cầu và những lan can bắc qua dòng sông thì người ta không còn đức tin vào kẻ nào khẳng định rằng: “Mọi sự đều trôi chảy”.
Ngay cả bọn người ngu ngốc cũng phản đối điều này. Bọn chúng sẽ kêu ầm lên: “Sao! Mọi sự đều trôi chảy à? Chẳng lẽ những tấm ván và lan can cầu không bắc qua sông đó sao? Ở bên trên con sông, mọi sự đều vững chãi, những giá trị của vạn vật, những chiếc cầu, những khái niệm, tất cả “thiện” và “ác”: tất cả mọi thứ đó đều rắn chắc, vững chãi!”
Nhưng rồi khi mùa Đông, kẻ chế ngự các con sông, hiện đến, thì những người tinh ranh nhất liền biết hồ nghi; thật vậy, lúc bấy giờ, không chỉ những kẻ ngu ngốc mới bảo rằng: “Tất cả mọi sự phải chăng là không bất động?”
“Thật ra, xét cho cùng mọi sự đều bất động” - đấy là một lời rao giảng đích thực của mùa Đông, một điều tốt lành cho những lúc nghèo cằn, một an ủi ngọt ngào cho mặt trời đông giá và những kẻ sợ lạnh.
“Thật ra, xét cho cùng mọi sự đều bất động” - nhưng ngọn gió rã băng lên tiếng phản đối lại lời này!
Ngọn gió rã băng, một con bò mộng chẳng hề lao khổ, một con bò mộng điên giận, một kẻ phá hủy đã phá băng với những cái sừng giận dữ! Mà băng giá dẫu sao - phá vỡ những chiếc cầu!
Hỡi các anh em! Giờ đây mọi sự há chẳng trôi chảy đấy sao? Tất cả những lan can cùng tất cả những chiếc cầu chẳng rơi xuống nước đấy sao? Ai còn lưu tâm đến “thiện” và “ác” nữa?
“Khốn khổ cho chúng ta! Vinh quang cho chúng ta! Ngọn gió rã băng đang thổi tới!” - Hỡi các anh em, hãy rao giảng như thế trên tất cả những đường phố.


9


Có một cơn điên rồ cổ lỗ tên là “Thiện” và “ác”. Từ trước đến nay, bánh xe của cơn điên rồ này đã xoay chuyển chung quanh những viên bốc sư cùng những nhà chiêm tinh.
Ngày xưa, thiên hạ tin vào những viên bốc sư và những nhà chiêm tinh: chính vì thế họ mới tin rằng mọi sự đều là định mệnh: “Mi phải, bởi vì phải như thế”.
Rồi thì thiên hạ đâm ra hồ nghi tất cả những viên bốc sư và những nhà tiên tri, chính vì vậy họ mới tin rằng mọi sự đều là tự do: “Mi có thể, bởi vì mi muốn”.
Hỡi các anh em, từ trước đến giờ, người ta chỉ đưa ra những lời phỏng đoán về những tinh tú và về tương lai, nhưng người ta đã chẳng hề biết được gì cả: chính vì thế, người ta đã chỉ đưa ra những phỏng đoán về thiện và ác mà chẳng hề biết gì cả!


10


“Mi không được ăn cướp! Mi không được giết người!” Những lời lẽ này ngày xưa được gọi là thánh hạnh: người ta đã quỳ gối trước chúng, người ta lặng lẽ cúi đầu, cung kính tháo giày ra. Nhưng ta xin hỏi ngươi: trên thế giới nơi nào có những kẻ cướp và kẻ sát nhân tuyệt hảo hơn là những kẻ cướp và kẻ sát nhân khích động từ những lời lẽ thánh hạnh trên đây?
Toàn diện đời sống há chẳng bao hàm sự ăn cướp cùng sát nhân? Và khi thánh hóa những lời răn dạy đó, người ta đã chẳng ám sát chính chân lý hay sao?
Hoặc giả, người ta đã thánh hóa tất cả những gì nói ngược và đối nghịch với cuộc sống, nghĩa là rao giảng sự chết? - Hỡi các anh em, hãy đập vỡ, đập vỡ cho ta những bảng giá trị cũ.


11


Lòng thương hại của ta đối với tất cả quá khứ biểu lộ ra như thế: ta xem quá khứ như bị bỏ rơi,
- bị bỏ rơi cho ân sủng, cho tinh thần và sự điên cuồng của tất cả mọi thế hệ trong tương lai, những thế hệ sẽ biến đổi tất cả những gì đã xảy ra thành một chiếc cầu cho chính bản thân mình!
Một kẻ chuyên chế vĩ đại có thể xuất hiện, một con quỷ tinh ranh xảo quyệt sẽ cưỡng ép toàn thể quá khứ nhờ ân sủng và sự bất sủng của mình: cho đến khi hắn biến quá khứ thành một chiếc cầu cho chính mình, một dấu hiệu, một lời tiên báo và một tiếng gà gáy báo trước bình minh.
Nhưng đây là mối nguy hiểm và lòng thương hại khác nữa của ta: - những tư tưởng của kẻ thuộc dòng dõi đám tiện dân chỉ vươn lên đến nội tổ của y - nhưng với nội tổ thì thời gian kết thúc.
Như thế toàn bộ quá khứ đều bị hy sinh: bởi vì có thể một ngày kia đám tiện dân sẽ trở thành chủ nhân và chúng đem chính thời gian dìm ngộp trong vũng nước cạn. Chính vì thế, hỡi các anh em, cần phải có một giai cấp quý tộc mới, thù địch với tất cả những gì thuộc đám tiện dân và sự chuyên chế, một giai cấp sẽ viết chữ “cao thượng” trên những bảng giá trị mới theo một phong cách mới.
Bởi lẽ cần phải có nhiều người cao thượng cùng nhiều loại cao thượng, mới thành hình được giai cấp quý tộc! Hoặc giả như xưa kia ta đã nói bằng ẩn dụ: “Có các thần linh, đấy chính là điều thiêng liêng, nhưng chẳng hề có Thượng đế!”


12


Hỡi các anh em, ta giao phó và chỉ định cho các anh em một sự cao nhã mới: các anh em phải là những kẻ sáng tạo, những nhà giáo dục và những kẻ gặt hái tương lai đối với ta,
- thật vậy, đây không phải một sự cao nhã mà các anh em có thể mua được bằng vàng như những chủ hiệu buôn: bởi vì cái gì có giá thì có ít giá trị.
Từ nay về sau, điều làm các anh em hãnh diện không phải là dòng dõi, mà là mục tiêu của các anh em! Ý chí và bước chân muốn tự vượt chính mình: đấy phải là vinh dự mới của các anh em!
Thật vậy, vinh dự của các anh em không nằm ở chỗ đã phục vụ cho một ông hoàng - sá gì những ông hoàng! - hay trở thành thành trì bảo vệ cho những gì đang hiện thể, cốt cho chúng vững chãi cứng rắn hơn!
Cũng không nằm ở chỗ dòng giống của các anh em đã trở thành triều thần, và mặc áo sặc sỡ lố lăng như những tên múa rối, các anh em đã học đứng thẳng thân mình cứng đơ suốt nhiều giờ liền trên những đầm lầy cạn cợt.
Bởi vì biết đứng thẳng là một công lao nơi những triều thần: và tất cả những triều thần đều tưởng rằng sự được phép ngồi xuống là một trong những diễm phúc họ sẽ được thụ hưởng sau khi chết!
Cũng chẳng phải nằm ở trong một tinh thần được bọn họ gọi là tinh thần thánh thiện, tinh thần đã đưa dẫn tổ tiên các anh em đến những vùng đất hứa, những vùng đất mà ta chẳng hề hứa hẹn với bất luận người nào, bởi vì trong cõi miền mọc lên cái cây tệ hại nhất, cây thập tự giá, chẳng có gì xứng đáng được hứa cho!
Thật vậy, khi “tinh thần linh thánh” ấy đưa dẫn các hiệp sĩ của nó đến bất luận xứ miền nào, thì đám rước gồm những hiệp sĩ đó bao giờ cũng được dẫn đầu bằng những con dê, con ngỗng, những kẻ điên điên, tàng tàng!
Hỡi các anh em! Sự cao nhã của các anh em không nên nhìn về đằng sau, mà phải nhìn ra bên ngoài! Các anh em phải là những kẻ bị trục xuất khỏi mọi tổ quốc lẫn mọi xứ sở tổ tiên!
Các anh em phải yêu thương xứ sở của con cái các anh em: tình yêu này phải là sự cao nhã mới của các anh em, - xứ sở hoang tịch chưa vết chân người trên những vùng biển khơi xa tít, đấy chính là những vùng mà ta ra lệnh cho những thuyền buồm các anh em phải tìm kiếm và kiếm tìm mãi mãi.
Bằng những đứa con của mình, các anh em phải cứu chuộc lại tội lỗi đã làm con cái cha mẹ các anh em; như thế, các anh em sẽ giải thoát được quá khứ! Ta đặt bên trên các anh em bảng giá trị mới này!


13


“Sống, nào có ích gì? Mọi sự đều phù phiếm, vô bổ! Sống - tức là đập rơm; sống - tức là bị thiêu cháy mà không được sưởi nóng”.
Những lời bàn tán ba hoa cổ lỗ sĩ đó hãy còn được xem là “hiền minh”, chúng đã già cỗi, và bốc lên mùi u sầu ẩm ướt, chính vì thế người ta lại càng xưng tụng chúng. Cả sự thối nhũn  cũng khiến cho thanh nhã.
Những đứa trẻ có thể nói như thế này: chúng sợ lửa, bởi vì lửa đã làm phỏng da chúng! Có nhiều chất trẻ con trong những cuốn cổ thư dạy về sự khôn ngoan trí huệ.
Nhân danh quyền nào, kẻ “đập rơm” chế nhạo điều hắn đang làm? Người ta phải há miệng ngáp dài vì những chuyện điên rồ đại loại như thế!
Những kẻ đó ngồi vào bàn nhưng lại chẳng mang đến chút gì, ngay cả một cơn đói cồn cào gan ruột. Và xem kìa, bọn chúng còn bêu riếu báng bổ: “Mọi sự đều là phù phiếm, vô bổ!”
Nhưng, hỡi các anh em, quả vậy, ăn uống cho khéo, không phải là một nghệ thuật phù phiếm vô bổ! Hãy đập vỡ, đập vỡ cho ta những tấm bảng của những bất mãn đời đời!


14


“Đối với những con người trong sạch thì mọi sự đều trong sạch”, dân chúng bảo thế. Nhưng ta, ta bảo cùng các ngươi: “Đối với loài heo, thì vạn sự đều chìm ngập trong chuồng heo!”
Chính vì thế, những kẻ cuồng tín cùng những kẻ buồn phiền mang quả tim nhu nhược chán nản mới rao giảng như thế này: “Trần gian là một quái vật nhơ bẩn khủng khiếp”.
Bởi vì tất cả những kẻ đó đều có tinh thần ô uế; nhất là những kẻ không có sự an bình và nghỉ ngơi, khiến bọn chúng phải nhìn trần gian từ sau lưng, - những kẻ rao giảng ảo tượng về một cõi-bên-kia.
Đối với những kẻ này, ta nói thẳng vào mặt bọn chúng, dẫu rằng làm thế là chẳng lịch sự chút nào: trần gian cũng có lưng, đấy là chỗ trần gian giống với con người, - thật vậy!
Chốn trần gian có nhiều nhơ bẩn; thật vậy! Nhưng thế không đủ để biến trần gian thành một quái vật nhơ bẩn khủng khiếp!
Hiểu rằng nơi trần gian có nhiều sự vật bốc mùi hôi thối, là hiền minh: chính sự kinh tởm tạo nên đôi cánh cùng sức mạnh tiên báo những suối nguồn!
Nhưng kẻ cao thượng nhất vẫn mang chứa một cái gì đáng tởm, và ngay cả kẻ cao thượng nhất vẫn là một cái gì đáng bị vượt qua!
Hỡi các anh em! Thật là khôn ngoan khi nghi ngờ rằng có nhiều nhơ bẩn uế trọc ở trần gian!


15


Ta đã nghe những kẻ thành kính nuôi ảo tưởng về thế giới bên kia nhủ với lương tâm họ với những lời sau đây, và thật vậy, đấy là những lời lẽ không gian xảo cũng chẳng nhạo báng, - dẫu rằng chẳng có gì sai lạc hay tệ hại hơn trên mặt đất này:
“Hãy để cho thế giới là thế giới. Đừng nhích động dẫu là một ngón tay chống lại nó!
Hãy để dân chúng bị siết cổ, bị cắt họng, bị đối xử bạo ngược, bị lột da bởi những kẻ nào muốn làm thế: đừng nhích động dẫu là một ngón tay để cản ngăn điều đó. Như thế, họ sẽ học biết khước từ thế giới.
Lý trí của mi, mi phải nhai nuốt, bóp nghẹt nó đi; bởi lý trí ấy thuộc về thế giới này. Như thế, mi sẽ học biết khước từ thế giới!”
- Hỡi các anh em! Hãy đập vỡ, đập vỡ cho ta những tấm bảng cũ của những tín đồ kia! Hãy đập vỡ trong miệng các anh em những lời lẽ của những kẻ thống mạ trần gian!


l6


“Kẻ nào học hỏi nhiều, thì kẻ đó học quên đi mọi khát vọng bạo liệt” - đấy là điều ngày nay người ta thì thầm với nhau trên mọi đường phố tăm tối.
“Sự hiền minh làm mỏi mệt, chẳng có gì đáng công cả; ngươi không được thèm khát!” - Tấm bảng giá trị mới này ta thấy đã được treo ngay cả trên những quảng trường.
Hỡi các anh em, hãy đập vỡ, đập vỡ cho ta cả bảng giá trị mới ấy! Những con người mỏi mệt vì thế giới đã treo bảng ấy lên, những tên linh mục rao giảng sự chết và những tên ngục tốt: bởi vì, đấy, đấy cũng là một lời kêu gọi hướng đến sự nô lệ.
Họ đã học hỏi sai lạc và đã không học hỏi những điều tuyệt hảo, tất cả mọi sự họ đều làm quá sớm, quá nhanh; họ ăn bậy, nuốt bạ, chính vì thế họ đã làm hỏng dạ dày của mình,
- bởi vì tinh thần của họ là một chiếc dạ dày bị hỏng; chính khuyên họ sự chết! Thực vậy, hỡi các anh em, tinh thần một chiếc dạ dày!
Đời sống là một nguồn vui, nhưng đối với kẻ nào để chiếc dạ dày hư hỏng của mình lên tiếng thì đời sống là cha đẻ ra sự phiền muộn sầu khổ, và tất cả mọi suối nguồn của đời sống đều bị nhiễm độc.
Tri thức là một niềm vui cho kẻ nào mang ý chí của con mãnh sư. Nhưng kẻ nào mệt mỏi thì chỉ thi hành những ý chí xa lạ, hắn bập bềnh theo tất cả những lượn sóng.
Đây là điều mà tất cả những người yếu đuối đã sa vào: họ lạc lối trên những con đường đang đi. Sau cùng sự chán ngán mỏi mệt của họ nêu lên câu hỏi: “Tại sao ta đã theo con đường này? Tất cả mọi sự đều đồng đẳng như nhau cả!”
Họ thú vị khi nghe thuyết giảng cho lỗ tai bọn họ: “Chẳng gì đáng nhọc công cả! Ngươi không nên ước muốn!” Thế nhưng, đó là một tiếng gọi hướng đến sự nô lệ.
Hỡi các anh em! Zarathustra đến như một làn gió mát cho tất cả những ai đã mỏi mệt vì con đường mình đi; làn gió ấy còn làm hắt hơi biết bao lỗ mũi bị nghẹt kín.
Hơi thở tự do phóng dật của ta thổi xuyên qua những bức tường, đến tận những nhà tù và những tinh thần tù ngục!
Ý chí sẽ giải thoát con người, bởi vì “muốn” chính là sáng tạo: đấy là điều ta rao giảng. Và chỉ vì muốn sáng tạo, ngươi mới nên học hỏi!
Và chỉ từ ta, các ngươi mới nên học hỏi, học hỏi tận tường. Kẻ nào có tai thì cứ lắng hiểu!


17


Chiếc thuyền đã sẵn sàng - có lẽ nó đưa dẫn về chốn hư vô thăm thẳm - ai muốn đáp thuyền về chốn “có lẽ” ấy?
Chẳng ai trong các ngươi muốn đáp thuyền của sự chết cả! Vậy mà các ngươi lại muốn chán ngán mỏi mệt vì thế giới!
Chán ngán mỏi mệt vì thế giới! Trong khi các ngươi chẳng lần nào mê say thế giới! Ta đã luôn nhìn thấy các ngươi khát khao trái đất, yêu mến nỗi mệt mỏi trần thế của riêng mình.
Không phải là vô bổ khi các ngươi thõng thượt môi ra: một ước vọng trần thế nhỏ nhoi hãy còn đè nặng trên đôi môi ấy! Và trong cái nhìn của ngươi, há chẳng bềnh bồng một đám mây nhỏ bé của niềm vui trần thế mà ngươi còn chưa quên được đấy sao?
Trên trái đất có nhiều sáng chế tốt đẹp, một số thì hữu dụng, một số thì khoái hoạt: vì tình yêu chúng, ta phải yêu thương trái đất.
Và có vài sáng chế tốt đẹp, đến nỗi chúng giống như đôi nhũ hoa đàn bà, vừa hữu dụng vừa khoái hoạt.
Nhưng còn các ngươi, những kẻ chán ngán mỏi mệt vì thế giới và những kẻ lười biếng! Phải quất đập vuốt ve các ngươi bằng roi, bằng những nhát roi để làm cho đôi chân của các ngươi linh hoạt lên!
Bởi vì nếu các ngươi không phải là những con bệnh hay những sinh vật cũ mòn vô dụng, bị trái đất chán ngán, thì các ngươi là những tên phá đám xảo quyệt hoặc những con mèo hoang đàng, tham lam, nham hiểm. Và nếu không muốn bắt đầu chạy nhảy lại một cách hân hoan, các ngươi phải nên biến dạng mất đi!
Không nên nuôi ước muốn làm y sĩ cho những kẻ mắc bệnh nan y: Zarathustra đã dạy như thế. Vậy thì, hãy biến mất đi!
Nhưng cần phải có nhiều can đảm để thực hiện một cứu cánh hơn là làm một vần thơ mới; tất cả những y sĩ và thi sĩ đều biết điều đó.


l8


Hỡi các anh em, có những bảng giá trị được tạo ra do sự mệt nhọc và những bảng giá trị được tạo ra do sự lười biếng bại hoại thối nát: dẫu sử dụng cùng một thứ ngôn ngữ, chúng vẫn muốn được nghe theo những lối khác nhau.
Hãy nhìn cái gã đang chết khát kia. Hắn chỉ còn cách mục tiêu chừng một gang tay, nhưng vì mệt mỏi chán nản, hắn đã nằm dài ra trên cát, làm nũng. Ồ, cái gã đó!
Giờ đây, mặt trời phóng đâm những tia sáng xuống thân thể hắn, những con chó liếm mồ hôi toát ra từ thân thể hắn: nhưng hắn vẫn nhất mực nằm yên vị và thích chẳng thà chết khát còn hơn.
Chết khát khi chỉ còn một gang tay nữa là đến đích! Thực vậy, các ngươi cần phải lôi đầu hắn cho hắn ngửa mặt nhìn trời, - lôi đầu vị anh hùng đó!
Thực vậy, tốt hơn các ngươi nên để hắn nằm nguyên chỗ hắn đã nằm xuống, cho giấc ngủ đến với hắn, giấc ngủ phủ dụ, với tiếng xào xạc nhẹ nhàng của cơn mưa nước mát:
Hãy để hắn nằm yên cho đến khi nào hắn tự mình thức dậy, - đến khi hắn tự mình từ khước hết mọi sự nhọc mệt và tất cả những thứ đã rao dạy hắn sự mỏi mệt chán ngán!
Nhưng hỡi các anh em, hãy đuổi xa khỏi hắn những con chó, những tên lười biếng bò lê cùng tất cả đám chấy rận lúc nhúc này!
- tất cả đám chấy rận lúc nhúc rặt những kẻ “có giáo dục” chuyên sống nhờ mồ hôi của những vị anh hùng!


19


Ta vẽ những vòng tròn chung quanh ta và những biên giới thánh linh; càng leo lên những ngọn núi cao thì số người theo ta càng lúc càng ít đi; ta phôi dựng một dãy núi càng lúc càng linh thánh.
Nhưng hỡi các anh em, nơi nào các anh em muốn leo lên cùng ta, các anh em phải cẩn trọng đề phòng đừng để cho loài ký sinh ăn bám leo lên theo các anh em!
Một con vật ký sinh: một con sâu bò lết, mềm mại, muốn tự nuôi béo bằng tất cả những xó xỉnh bệnh hoạn thương tích của các anh em.
Và nghệ thuật tài khéo của nó là tiên đoán xem nơi nào thì tâm hồn đang leo lên đó đã mỏi mệt chán ngán: chính trong nỗi buồn bã chán nản, trong sự hổ thẹn tinh tế của các anh em, con sâu đó mới xây nên cái tổ kinh tởm của nó.
Nơi nào mà kẻ dũng mãnh tỏ lộ sự yếu đuối, nơi nào mà kẻ cao nhã quá khoan dung, đấy, đấy là nơi con sâu xây chiếc tổ kinh tởm của nó: con vật ký sinh trú ngụ nơi nào mà kẻ vĩ đại có những xó xỉnh nhỏ bé bị lâm bệnh.
Đâu là chủng loại cao cả nhất của tính thể và đâu là chủng loại thấp kém nhất? Con vật ký sinh là chủng loại thấp kém nhất, nhưng chẳng phải kẻ thuộc chủng loại cao cả nhất lại nuôi dưỡng trong mình nhiều con vật ký sinh nhất hay sao?
Vì linh hồn có chiếc thang dài nhất và có thể xuống đến tận nơi thấp nhất, làm thế nào linh hồn đó không mang nhiều những con vật ký sinh nhất? -
- linh hồn bao la nhất, có thể chạy nhảy, lang thang và lạc lối trong chính mình, linh hồn cần thiết nhất, vì vui khoái mà lao mình vào ngẫu nhiên.
- linh hồn đang hiện thể, linh hồn lao thẳng vào dòng biến dịch; linh hồn sở hữu, linh hồn ước muốn đi vào trong ý chí và ước vọng.
- linh hồn tự chạy trốn chính mình và tự gặp lại chính mình trong vòng tròn rộng nhất; linh hồn thông tuệ vô song mà cơn điên đang cố sức thuyết phục với sự dịu dàng trìu mến khôn cùng.
- linh hồn tự yêu mến chính mình nhất, trong đó mọi sự đều có chỗ lên và chỗ xuống, cơn nước lớn và cơn nước ròng của chúng: - Ồ! Làm thế nào mà linh hồn cao nhã nhất lại không mang theo những con vật ký sinh tệ hại nhất?


20


Hỡi các anh em, ta có tàn ác chăng? Ta bảo thật cùng các anh em: cái gì đã ngã xuống, thì phải xô đạp thêm vào cho ngã hẳn!
Tất cả những gì thuộc thời đại hôm nay đều đang rơi ngã, phân tán: ai muốn lưu giữ chúng lại? Riêng ta - ta muốn xô đạp thêm vào!
Các ngươi có biết nỗi khoái lạc xô lăn những tảng đá xuống những hố thẳm hiểm trở? Những con người thời đại hôm nay: kìa, hãy nhìn họ đang lăn xuống những chiều sâu của ta! Hỡi các anh em, ta là một khai đề cho những tay chơi tuyệt diệu hơn! Ta là một gương mẫu![1] Hãy theo gương ta!
Nếu có kẻ nào mà các anh em không dạy được cho hắn bay bổng lên cao thì ít ra các anh em cũng dạy được cho hắn rơi ngã xuống nhanh hơn!


21


Ta yêu những kẻ dũng cảm. Nhưng là một tay kiếm giỏi, chưa đủ, còn cần phải biết đối thủ của mình là ai!
Thường khi kiềm chế mình lại và bỏ qua thì can đảm hơn: cốt để dành mình cho một kẻ thù xứng đáng hơn!
Các ngươi chỉ có những kẻ thù xứng đáng cho lòng thù hận, nhưng chẳng hề có được kẻ thù xứng đáng với lòng khinh bỉ. Các ngươi phải hãnh diện vì kẻ thù của mình: đấy là điều ta đã từng có phen giảng dạy cho các ngươi.
Hỡi các bạn ta! Các ngươi phải tự dành bản thân cho kẻ thù xứng đáng nhất của mình. Chính vì thế, có nhiều kẻ thù mà khi chạm mặt họ, ta phải buông tay bỏ qua.
Nhất là bầy lũ tiện dân lúc nhúc, nói năng phát biểu ầm ĩ bên tai các ngươi về dân tộc, quốc gia.
Các ngươi đừng thèm để mắt nhìn đến những lý lẽ “bênh vực” hay “lên án” của chúng! Trong đó có nhiều sự chính xác và nhiều sự sai lầm. Kẻ làm khán giả nào chứng kiến thời phải nổi giận.
Làm khán giả chứng kiến và chặt chém, thật ra chỉ là một mà thôi. Vậy, các ngươi hãy đi vào rừng sâu và hãy để cho thanh gươm các ngươi im ngủ!
Hãy bước đi con đường của mình! Và hãy để cho các dân tộc, các quốc gia đi theo con đường của chúng! - những con đường tăm tối trên đó chẳng lóe lên chút ánh sáng hy vọng nào!
Người chủ hiệu buôn phải ngự trị; nơi nào mà tất cả mọi sự đều lóe sáng thì đấy chỉ là vàng của tên chủ hiệu buôn! Đây không còn là thời gian của các vua chúa nữa: cái mà hôm nay được gọi là dân chúng thì không xứng đáng cho các vị vua.
Hãy nhìn xem kia! Giờ đây các quốc gia đó đang tự mình bắt chước những tên chủ hiệu buôn: chúng thu thập những lợi ích nhỏ nhặt nhất trong tất cả những đống rác tanh hôi.
Chúng rình dò, bắt chước lẫn nhau, đấy là điều chúng gọi là “giao hảo tốt đẹp với lân bang”. Ôi, cái thời sung sướng xa xôi, tuyệt vời kia, khi mà một dân tộc tự nhủ: “Ta muốn làm chủ tể những dân tộc khác!”
Bởi vì, hỡi các anh em, cái gì tốt đẹp nhất thì phải trị vì; cái gì tốt đẹp nhất cũng nuôi ý muốn thống ngự! Và nơi nào có đạo lý giảng dạy khác với lời này, nơi đó không có cái tốt đẹp nhất.


22


Nếu bọn chúng có cơm ăn mà không phải tốn hao gì cả, thì quả là điều bất hạnh! Bọn chúng la hét đuổi theo những gì? Sự duy trì bọn chúng, đó là chủ đề duy nhất mà bọn chúng duy trì.[2] Thời bọn chúng cần phải sống một cuộc đời cứng rắn khắc bạc!
Đấy là những con thú săn mồi: trong việc “cần lao” của chúng, cũng có cả sự cướp bóc; trong “lợi tức” của chúng, cũng có cả sự giảo quyệt! Chính vì thế, bọn chúng cần phải sống một đời sống cứng rắn, khắc bạc!
Bọn chúng phải trở nên những con thú săn mồi tuyệt hảo nhất, tinh tế hơn, giảo quyệt hơn, những con thú giống người hơn: bởi vì con người là con thú săn mồi tuyệt diệu vô song.
Con người đã học các đức tính từ mọi con vật; chính vì thế, con người đã sống cuộc đời cứng rắn, khắc bạc nhất trong tất cả các loài thú.
Chỉ có những con chim là còn bay cao trên đầu người. Và nếu con người lại học bay được nữa thì, hỡi ôi! còn có chiều cao nào mà tính tham lam háu mồi của hắn lại không xông xáo bay vụt đến!


23


Ta muốn rằng đàn ông và đàn bà phải như thế đấy, đàn ông thì có khả năng chinh chiến, đàn bà thì có khả năng sinh nở, nhưng cả hai đều phải có khả năng nhảy múa bằng cả đầu óc lẫn chân tay.
Mỗi ngày qua đều xem như đã bị hư mất, nếu ít nhất ta không nhảy múa lấy một lần. Và tất cả chân lý nào chẳng gây nổi nơi ta ít ra một tràng cười vang dội, thì đấy chính là sự sai lầm chứ không phải chân lý.


24


Hãy cẩn trọng đề phòng phương thức kết thúc những cuộc hôn nhân của các ngươi, hãy cẩn trọng đề phòng để đấy không phải là một kết thúc bậy bạ! Các ngươi đã kết thúc quá sớm: vì thế hậu quả là có một sự tan vỡ cắt đứt hôn nhân.[3]
Chẳng thà phá vỡ hôn nhân còn hơn là uốn nắn cong queo và dối gạt! - Đây là điều mà một người đàn bà đã tỏ lộ với ta: “Quả thật, tôi đã phá vỡ những mối dây ràng buộc của hôn nhân, nhưng mà trước hết, chính những mối dây ràng buộc của hôn nhân đã phá vỡ tan tành con người tôi!”
Ta đã thấy rằng những kẻ nào không xứng hợp với nhau thì cứ luôn luôn bị khêu động bởi sự trả thù tệ hại nhất: họ tấn công và thù hận tất cả mọi người chỉ vì họ không thể bước đi riêng biệt một mình được nữa.
Chính vì thế, ta muốn rằng những kẻ nào chánh tín, phải tự nhủ lòng: “Chúng mình yêu nhau: hãy coi chừng nuôi dưỡng sự trìu mến của chúng mình! Biết đâu lời hứa hẹn thề thốt của chúng mình chỉ là một lỗi lầm ngộ nhận?”[4]
- “Hãy cho chúng mình một kỳ hạn, một cuộc kết hợp ngắn ngủi để xem thử chúng mình có thể kết hợp lâu dài được không. Song đôi chung sống bao giờ cũng vẫn là một chuyện trọng đại!”
Đấy chính là lời ta khuyên tất cả những người chánh tín. Tình yêu của ta dành cho Siêu nhân cùng tất cả những gì phải đến sẽ ra sao, nếu ta khuyên nhủ và nói năng khác đi?
Các ngươi không phải chỉ việc sinh sôi nảy nở cho nhiều, nhưng phải nâng cao hồn lên. Hỡi các anh em, mong cho các anh em được giúp đỡ trong lĩnh vực đó nhờ khu vườn của hôn nhân.


25


Kẻ nào đã sở đắc kinh nghiệm về những nguồn gốc cũ xưa thì cuối cùng sẽ đi tìm những nguồn suối tương lai và những nguồn gốc mới.
Hỡi các anh em, chẳng bao lâu nữa là đến thời khai sinh những dân tộc mới, thời những nguồn suối tinh khôi thì thào dào dạt trong những chiều sâu mới mẻ.
Bởi vì cơn động đất - cơn động đất đã vùi chôn biết bao suối nguồn, tạo nên biết bao cơn khát - chính nó cũng nâng tới ánh sáng những sức mạnh nội tại cùng những điều bí nhiệm.
Cơn động đất vén mở cho thấy những suối nguồn mới. Trong tai kiếp của những dân tộc thời cổ, những suối nguồn mới đã trào vọt ra chan chứa.
Và kẻ nào kêu thét lên: “Nhìn xem, đây là một suối nước cho nhiều kẻ chết khát, một ý chí cho nhiều khí cụ”: - thì chung quanh kẻ đó đã tụ tập một dân tộc, nghĩa là một đám người muốn lao mình vào một cuộc thử nghiệm.
Kẻ biết chỉ huy ban lệnh là kẻ phải vâng phục - đấy là điều mà người ta cố gắng thử nghiệm. Hỡi ôi! Với cái giá phải trả bằng biết bao tìm kiếm lâu dài, thử nghiệm, sai lầm thất bại, cùng những mưu định mới!
Xã hội loài người là một mưu định thí nghiệm, một sự tìm kiếm trường kỳ,[5] đấy là điều ta giảng dạy cho các ngươi: xã hội ấy tìm kiếm kẻ ban lệnh chỉ huy!
Hỡi các anh em! Một mưu định thí nghiệm chứ không phải là một “khế ước”! Hãy đập vỡ, đập vỡ tan tành cho ta chữ đó, chữ của những tâm hồn hèn nhát và những kẻ nửa vời!


26


Hỡi các anh em! Đâu là mối nguy hiểm lớn lao nhất, đe dọa toàn thể tương lai con người? Há chẳng phải là nơi những người thiện hảo cùng những kẻ công chính sao?
Nơi những kẻ nói năng cảm nghĩ như thế này trong tâm hồn họ: “Chúng ta đã biết rõ cái gì là thiện hảo và công chính, chúng ta cũng đã sở đắc được nó; khốn cho những kẻ nào còn muốn tìm kiếm nơi đây!”
Dẫu tội ác những kẻ hung ác gây ra có khủng khiếp đến mức nào đi nữa, thì tội ác do bọn người thiện hảo gây ra vẫn là tội ác tai hại kinh khiếp nhất trong các tội ác!
Dẫu tội ác mà những kẻ bỉ báng thế giới gây ra có trầm trọng đến mức nào chăng nữa, tội ác gây ra do bọn người thiện hảo vẫn là tội ác tai hại khủng khiếp nhất trong các tội ác!
Hỡi các anh em! Một ngày kia, có kẻ nào đó đã nhìn sâu vào tận đáy tâm hồn của bọn người thiện hảo và công chính, và đã bảo: “Đây là những tên pha-ri-siên, những tên giả đạo đức”. Nhưng người ta chẳng hiểu ý chỉ của y khi thốt ra lời đó.
Những người thiện hảo và những kẻ công chính tự họ phải không hiểu nổi y: tinh thần họ bị tù hãm trong ý thức an bình của họ. Sự ngu xuẩn của những con người thiện hảo là một sự khôn ngoan không lường nổi.
Nhưng đây là sự thật: bọn người thiện hảo nhất định phải là những tên Pha-ri-siên giả đạo đức. - Họ không có sự lựa chọn nào!
Những người thiện hảo nhất định phải đóng đinh hành hình kẻ sáng tạo nên đức hạnh của chính họ! Đấy là sự thật!
Trong khi đó, một người khác khám phá ra xứ miền quê hương của bọn họ - quê hương, đất đai cùng tâm hồn của những người thiện hảo và những kẻ công chính, - kẻ đó lên tiếng hỏi: “Bọn người thiện hảo công chính thù ghét ai nhất?” Bọn chúng thù ghét nhất là kẻ sáng tạo: kẻ sáng tạo phá vỡ tan tành những tấm bảng ghi những giá trị cũ. Kẻ sáng tạo là kẻ phá vỡ, bọn chúng liền gọi hắn là kẻ phạm tội phá vỡ luật hình.
Bởi vì những người thiện hảo không thể sáng tạo được: bao giờ họ cũng là khởi đầu cho sự kết thúc.
Bọn họ đóng đinh kẻ viết nên những giá trị mới trên những tấm bảng mới, bọn họ tự hy sinh tương lai cho bản thân mình, bọn họ đóng đinh hành hình toàn thể tương lai loài người!
Những con người thiện hảo bao giờ cũng vẫn luôn là khởi đầu cho sự kết thúc.


27


Hỡi các anh em, các anh em cũng đã hiểu rõ lời này? Cùng những gì mà ngày nọ ta đã nói về “con người đê tiện”?
Đâu là mối nguy hiểm lớn lao nhất cho tương lai con người? Há chẳng phải nơi những người thiện hảo và những kẻ công chính sao?
Hãy đập vỡ, hãy đập nát cho ta những con người thiện hảo và những kẻ công chính! - Hỡi các anh em, các anh em đã hiểu rõ lời này?


28


Các anh em chạy trốn trước mặt ta? Các anh em kinh hoàng khiếp sợ? Các anh em run rẩy trước lời lẽ đó?
Hỡi các anh em, chỉ khi nào ta bảo các anh em đập vỡ những con người thiện hảo cùng những bảng giá trị của bọn chúng, khi đó ta mới đưa dẫn con người ra chốn trùng khơi bát ngát.
Và chỉ bấy giờ mới xảy đến cho con người nỗi khủng khiếp mênh mông, cái nhìn bao la phóng theo vòng tròn, cơn bệnh đau đớn trầm kha nhất, nỗi kinh tởm ngút ngàn, cơn say sóng ngất ngây.
Những người thiện hảo đã trỏ cho các anh em những bến bờ lừa đảo và những an toàn giả tạo; các anh em đã được sinh ra trong những dối trá của các người thiện hảo và đã hồn nhiên an trú trong đó. Những người thiện hảo đã làm sai lạc biến tính tất cả mọi sự từ đầu đến cuối.
Những kẻ nào đã khám phá ra xứ miền mang tên là “con người” thì đồng thời cũng khám phá ra miền đất mang tên “tương lai của con người”. Giờ đây đối với ta, các anh em phải là những thủy thủ dũng cảm gan lì.
Hãy bước thẳng tới vào đúng lúc, hỡi các anh em, hãy học bước thẳng tới trước! Biển cả thì thăm thẳm sóng trào: mọi sự đều được cưu mang trong biển cả. Nào! Bước đi, hỡi những quả tim lão luyện của những chàng thủy thủ!
Sá gì tổ quốc! Chúng ta muốn dong buồm thẳng đến nơi kia, nơi quê hương diệu vợi của những đứa con chúng ta! Nơi kia, còn náo động sôi trào hơn biển cả, nỗi khát vọng mênh mông của ta phóng mình thẳng tới.


29


“Tại sao lại quá cứng rắn như thế? - Một ngày nọ cục than hầm trong bếp bảo với viên kim cương; chúng ta chẳng phải bà con thân cận với nhau sao?”
Tại sao lại quá yếu mềm như thế? Hỡi các anh em, ta yêu cầu các anh em điều đó; các ngươi há chẳng phải là anh em của ta sao?
Tại sao quá yếu mềm, èo uột, cong queo như thế? Tại sao có quá nhiều sự khước từ, quá nhiều sự chối nhận như thế trong tâm hồn các anh em? Tại sao có quá ít định mệnh trong đôi mắt nhìn của các anh em?
Nếu các anh em không muốn là những định mệnh, những kẻ bất khả lay chuyển thì làm sao một ngày kia các anh em chiến thắng được cùng với ta?
Nếu sự cứng rắn của các anh em không muốn chói sáng, cắt đứt, rạch xẻ thì làm thế nào một ngày kia các anh em sáng tạo được cùng với ta?
Bởi vì những kẻ sáng tạo thì cứng rắn, tàn bạo. Và đây phải là diễm phúc tuyệt vời cho các anh em: được in hằn dấu tay mình lên những thế kỷ, như in dấu vào sáp mềm.
Diễm phúc được đưa tay viết lên trên ý chí của hàng triệu năm như viết trên chất thép cứng, - cứng rắn còn hơn chất thép, cao nhã tuyệt vời còn hơn chất thép. Chỉ kẻ cứng rắn tàn bạo nhất mới là kẻ quý phái cao nhã nhất.
Hỡi các anh em, bảng giá trị mới này, ta treo trên đầu các anh em: hãy trở thành cứng rắn, tàn bạo!


30


Ồ! Mi, hỡi ý chí của ta! Sự ngưng dứt tất cả nỗi khốn khổ, điêu linh, mi, tính cách tất yếu của ta! Hãy giữ gìn ta khỏi tất cả mọi chiến thắng bé nhỏ!
Thiên sủng của tâm hồn ta mà ta gọi là số mệnh! Mi, kẻ ở trong ta, kẻ ở bên trên ta! Hãy bảo tồn gìn giữ ta cho một số mệnh cao cả!
Và hỡi ý chí ta, sự cao đại hoằng viễn cuối cùng của mi, mi hãy bảo tồn nó cho lúc kết thúc! Hỡi ôi! Ai mà không khuất phục trước chiến thắng của mình?
- để cho một ngày kia ta sẵn sàng và chín đỏ khi tới buổi Đại Ngọ Thiên: sẵn sàng và chín đỏ như chất thép được nung trắng lên, như đám mây chất đầy sấm sét, như chiếc vú bò căng phồng sữa ngọt;
- sẵn sàng cho chính ta và cho ý chí giấu kín nhất của ta, một chiếc cung nôn nóng muốn biết đến mũi tên, một mũi tên nôn nóng lao vút về phía ngôi sao của mình;
- một ngôi sao sẵn sàng và chín đỏ trong buổi ngọ thiên của mình, nồng nàn, thấu suốt, hạnh phúc vì mũi tên rạng rỡ hủy hoại mình!
- là chính mặt trời và ý chí tàn liệt của mặt trời, sẵn sàng phá hủy trong chiến thắng;
Hỡi ý chí, sự ngưng dứt mọi khốn khổ điêu linh! Mi, sự tất yếu của ta! Hãy bảo tồn gìn giữ ta cho một chiến thắng lớn lao!”
 
Zarathustra đã nói như thế.

[1] “ta là một khai đề cho những tay chơi tuyệt diệu hơn! Ta là một gương mẫu!” Nietzsche chơi chữ Vorspiel: khai đề và Beispiel: gương mẫu, thí dụ.
[/align] [2] Unterhalt: sự duy trì; Unterhaltung: vừa có nghĩa sự duy trì, vừa có nghĩa là sự giải trí, vui đùa. Bản Việt ngữ bỏ mất nghĩa thứ hai.
[/align] [3] Nietzsche chơi chữ Eheschliessen: sự kết ước hôn nhân và chữ Ehebrechen nghĩa đen là phá vỡ hôn nhân; nghĩa thông dụng là: ngoại tình.
[/align] [4] “Biết đâu lời hứa hẹn thề thốt của chúng mình chỉ là một lỗi lầm ngộ nhận?” Nietzsche chơi chữ Versprechen: sự hứa hẹn, thề thốt, và Versehen: lỗi lầm ngộ nhận. Phân tích ra, hai chữ này còn dẫn tới một liên tưởng khác: trong chữ versprechensprechen là “nói” và trong chữ versehensehen là “nhìn”.
[/align] [5] “Xã hội loài người là một mưu định thí nghiệm, một sự tìm kiếm trường kỳ”, thêm một lối chơi chữ nữa mà Nietzsche thường sử dụng với hai chữ versuchen: thử nghiệm, mưu định, toan tính và suchen: tìm kiếm.
[/align] [/align]
0
KẺ BÌNH PHỤC


1


Một buổi sáng nọ, ít lâu sau khi trở về hang đá, Zarathustra bỗng phóng mình đứng vụt dậy từ thảo sàng rồi vừa la hét bằng một giọng khủng khiếp, hắn vừa vung tay múa chân xua đuổi như thể trên thảo sàng của hắn có một kẻ nào khác cứ nằm ì ra đó không muốn đứng dậy: tiếng hét của Zarathustra vang dội ồn ào đến nỗi con ó và con rắn kinh hãi tiến lại gần hắn và trong tất cả các hang động gần bên hang động của Zarathustra, tất cả mọi con thú đều phóng mình chạy trốn, - bay, lượn, bò, nhảy, tùy loài có cánh hay có chân. Nhưng Zarathustra đã thốt ra những lời như sau:
“Hỡi tư tưởng cao thẳm u trầm, hãy đứng dậy, hãy lộ diện ra từ những hố thẳm của ta! Hỡi con rồng đang say ngủ, ta là tiếng gà gáy và là bình minh của mi: hãy đứng dậy, đứng dậy mau! Giọng nói ta cuối cùng sẽ đánh thức mi dậy!
Hãy gỡ nút bịt tai mi ra; hãy lắng nghe đây! Bởi vì ta muốn nghe hiểu mi! Đứng dậy, đứng dậy mau! Ở đây có đủ sấm sét để cho ngay cả những mộ phần cũng nghe thấu được!
Hãy dụi mắt để xua đuổi giấc ngủ của mi cùng mọi sự nặng nề mù quáng. Hãy nghe ta bằng cả đôi mắt của mi nữa: giọng nói của ta là một phương dược, ngay cả đối với những kẻ bị mù lòa khi mới sơ sinh.
Và khi đã thức dậy rồi, mi sẽ thức tỉnh mãi mãi như thế. Ta không có thói quen đánh thức những tổ tiên cổ đại dậy để rồi sau đó bảo họ tiếp tục ngủ lại![1]
Mi nhích động, dang duỗi tay chân, mi há miệng ngáp dài? Hãy đứng dậy, đứng dậy mau! Điều cần yếu nơi mi không phải là há miệng ngáp dài mà là phải nói nên lời! Zarathustra đang gọi mi - Zarathustra, kẻ vô tín ngưỡng!
Ta, Zarathustra, kẻ phát ngôn của đời sống, kẻ phát ngôn của thống khổ, kẻ phát ngôn của vòng tròn trầm luân vô hạn, - ta đang kêu gọi mi, hỡi tư tưởng sâu thẳm nhất của ta!
Ồ, nỗi hân hoan bùng vỡ trong hồn ta! Mi đang đến rồi đó, - ta nghe âm vọng tiếng bước chân mi! Hố thẳm của ta đang lên tiếng. Ta đã quay chiều sâu thẳm tối hậu của ta về với ánh sáng!
Ồ, niềm vui! Hãy đến đây! Hãy đưa tay cho ta nắm! - A, để yên! Á! À! - Kinh tởm! Quá kinh tởm! - Khốn khổ cho ta!”

2


Nhưng khi Zarathustra vừa thốt xong những lời này thì hắn ngã lăn xuống đất như một người chết, rồi cứ nằm dài như thế rất lâu, như một người đã trút linh hồn. Khi định thần lại, Zarathustra tái xanh, run rẩy, hắn cứ nằm dài ra như thế, và luôn mấy hôm liền chẳng thiết gì ăn uống. Hắn ở trong tình trạng ấy suốt bảy ngày; trong khi đó con ó và con rắn ngày đêm túc trực chẳng rời, trừ đôi lúc con ó bay ra ngoài tìm lương thực. Con ó đặt trên thảo sàng của Zarathustra tất cả những gì đem về trong đôi vuốt nhọn, đến nỗi cuối cùng Zarathustra nằm trên một thảo sàng đầy rơm vàng đỏ, đầy nho, táo, cỏ thơm và trái thông. Dưới chân Zarathustra, nằm dài hai con cừu mà con ó phải khó khăn lắm mới xoáy được của mấy gã chăn chiên.
Cuối cùng, sau bảy ngày, Zarathustra ngồi dậy. Hắn đưa tay cầm lấy một quả táo, đặt lên mũi ngửi và thấy rằng mùi vị quả táo thơm ngon dễ chịu. Lúc bấy giờ, con ó và con rắn tin rằng đã đến lúc ngỏ lời với Zarathustra. Chúng bảo:
“Hỡi Zarathustra, ngài đã nằm yên như thế bảy ngày rồi với đôi mắt nặng trĩu u sầu, giờ ngài không muốn đứng dậy sao?
Hãy ra khỏi hang đá: thế giới đang chờ đợi ngài như một khu vườn. Ngọn gió đang đùa giỡn với những làn hương trĩu nặng đang muốn bay đến cùng ngài; và tất cả những con suối đều muốn quấn quít theo bước chân ngài.
Trong khi ngài nằm cô tịch triền miên suốt bảy ngày liền, vạn vật đều thở dài than tiếc. Bây giờ xin ngài hãy bước ra ngoài hang đá! Vạn vật muốn làm những y sĩ chữa trị cho ngài!
Phải một mối chắc tâm mới đã đến với ngài, nặng nề chứa chất đầy những men nồng? Ngài đã nằm đó như một đống bột nhào, linh hồn ngài đã căng phồng, tràn lan tứ phía”.
 
“Hỡi các con thú của ta, Zarathustra đáp lại, các ngươi cứ tiếp tục thỏ thẻ êm đềm như thế và hãy để ta lắng nghe! Lời thỏ thẻ của các ngươi làm ta bình phục: nơi nào êm vang lời thỏ thẻ thì ta thấy như thế giới đang trải rộng trước mắt tựa một khu vườn.
Biết bao là dịu dàng nằm trong những lời những ý! Những lời những ý há chẳng phải là những cầu vồng và những chiếc cầu ảo tưởng nối liền giữa những tính thể đời đời ngăn cách?
Có một thế giới khác biệt thuộc về mỗi linh hồn. Đối với mỗi linh hồn, thì mọi linh hồn khác là một thế giới hậu cảnh.
Chính giữa những sự vật giống nhau nhất mới thoát lên những ảo tưởng đẹp đẽ vô ngần; bởi vì những hố thẳm nhỏ hẹp nhất mới là những hố thẳm vô vàn khó vượt qua.
Đối với ta, làm thế nào còn có một cái gì ở bên ngoài ta được? Chẳng có gì bên ngoài bản ngã! Nhưng tất cả những thanh điệu đều làm ta quên đi điều đó; có thể quên được nó, lòng ta êm dịu xiết bao!
Danh xưng và thanh điệu há chẳng được ban cho sự vật để con người được lành bệnh đấy sao? Ngôn ngữ là một cơn điên dịu nhẹ: trong khi phát biểu thành lời, con người khiêu vũ tung tăng trên mọi sự.
Mọi ngôn ngữ đều êm dịu vô ngần, mọi dối trá của thanh điệu đều êm đềm khôn tả! Những thanh điệu nâng bước tình yêu của chúng ta nhảy múa mê say trên những chiếc cầu vồng khảm ngọc.”
 
“Hỡi Zarathustra, lúc bấy giờ, con ó và con rắn bảo rằng, đối với những kẻ tư tưởng như chúng ta, thì chính những sự vật đang khiêu vũ: tất cả mọi sự đều chạy đến, đưa bàn tay chào đón, tươi cười, chạy trốn - rồi quay về trở lại.
Tất cả mọi sự đều đi đến, đều trở về, bánh xe hiện hữu quay tròn vĩnh viễn. Tất cả mọi sự đều chết đi, tất cả mọi sự đều trổ hoa trở lại, vòng hiện hữu tự quay đuổi theo chính mình vĩnh viễn đời đời.
Tất cả mọi sự đều vỡ vụn, và tất cả mọi sự lại được gắn liền, cùng một tòa lâu đài tính thể đó được xây nên vĩnh viễn. Tất cả mọi sự đều phân tán chia lìa, tất cả mọi sự lại chào mừng gặp gỡ nhau lần nữa; chiếc vòng hiện hữu luôn trung thành với chính mình qua ngàn triệu kiếp.
Ở mỗi một khoảnh khắc, đều bắt đầu sự hiện hữu; chung quanh mỗi một cái “Ở đây” đều chu tuần lĩnh vực của cái “Ở kia”. Trung tâm điểm nằm tại khắp mọi nơi. Con đường của vĩnh cửu là con đường quanh co khúc khuỷu.”
 
Zarathustra lại mỉm cười, trả lời:
“Ồ, hỡi những con thú tinh ranh của ta! Các ngươi biết quá rõ điều gì phải được thành tựu trong bảy ngày qua:
- Con quái vật ấy đã lẻn vào trong cuống họng ta để làm ta ngạt thở! Nhưng bằng một nhát cắn ngon lành, ta đã cắn đứt đầu con quái vật và phun nhổ ra xa.
Và các ngươi - các ngươi đã có một chiến lợi phẩm! Nhưng ta nằm đây, mệt mỏi vì đã cắn và nhổ, ta còn đau ốm vì sự giải thoát của chính mình.
Các ngươi đã dự khán tất cả những điều ấy? ồ, các con thú của ta ôi, các ngươi cũng tàn bạo nữa sao? Các ngươi cũng muốn ngắm nhìn nỗi khổ đau quằn quại của ta như loài người đã làm sao? Bởi vì con người là con vật tàn nhẫn nhất.
Từ trước đến giờ con người đã cảm thấy thoải mái dễ chịu khi họ dự khán những bi kịch, những trận đấu bò rừng cùng những cuộc hành hình; và khi họ bày đặt ra hỏa ngục thì thực ra, hỏa ngục đó chính là thiên đàng của họ trên mặt đất.
Khi bậc vĩ nhân rên xiết kêu la, thì lập tức kẻ tiện nhân chạy đến bên cạnh; và lòng đố kỵ làm lưỡi hắn thòng ra khỏi miệng. Nhưng hắn lại bảo đó là “lòng lân mẫn xót thương”.
Hãy nhìn kẻ tiện nhân kia, nhất là bọn thi sĩ: các ngươi có thấy lời lẽ của hắn buộc tội cuộc đời với biết bao là nồng nhiệt? Hãy nghe hắn nói, nhưng hãy nhận rõ nỗi khoái lạc hắn hưởng thụ trong mọi lời buộc tội.
Những kẻ buộc tội cuộc đời này: với một liếc nhìn thoáng nhanh, quả cuộc đời đã có lý. Cuộc đời kinh hãi bảo rằng: “Mi yêu ta à? Hãy chờ một chốc nhé, ta hãy còn chưa có thời giờ dành cho mi”.
Con người là con thú tàn bạo nhất đối với chính mình; và nơi tất cả những người tự gọi mình là “kẻ phạm tội”, “kẻ mang vác thánh giá”, “kẻ thọ hình”, các ngươi đừng quên nghe thấy nỗi khoái lạc xen lẫn trong những lời than vãn và buộc tội của họ!
Và chính ta nữa - ta có muốn vì thế mà làm kẻ buộc tội con người không? Hỡi ơi! Hỡi các con thú thân yêu, điều xấu ác khủng khiếp nhất thì cần thiết cho điều thiện hảo nhất của con người, đấy là điều duy nhất ta đã học được từ trước đến nay.
Điều xấu ác khủng khiếp nhất là sức mạnh tuyệt vời khôn tả của con người, là viên đá cứng rắn nhất dành cho kẻ sáng tạo tốt thượng: con người phải trở nên thiện hảo hung tợn phũ phàng hơn.
Ta chưa từng bị gắn chặt vào chiếc thập giá hàm ngụ ý nghĩa con người là xấu xa, nhưng ta đã la hét lên như chưa từng có ai đã la hét:
“Hỡi ôi! Tại sao sự hung ác tệ hại nhất của loài người lại quá đỗi nhỏ nhoi đến thế! Hỡi ôi! Tại sao sự tốt lành thiện hảo nhất của loài người lại quá đỗi nhỏ nhoi đến thế!
Nỗi kinh tởm loài người: đấy chính là tên con thú đã bò vào cổ họng ta làm ta ngạt thở; và cả những gì mà viên bốc sư đã tiên đoán: “Mọi sự đều bình đẳng, chẳng có gì đáng nhọc công, tri thức làm ta ngạt thở”.
Một buổi hoàng hôn dằng dặc đang cực nhọc lê lết trước mặt ta, một nỗi buồn rầu mỏi mệt say cuồng chết người đang há miệng ngáp dài:
“Con người hạ tiện mà mi chán ngán mỏi mệt, con người ấy sẽ quay trở lại trong vạn kiếp thiên thu” - nỗi buồn của ta ngáp dài như thế, nó lê lết chân đi mà không thể ngủ.
Mặt đất của con người chuyển biến thành hang động đối với ta, lòng đất sụp đổ, mọi đời sống đều trở thành lụn bại hư hỏng thối tha, thành những đống xương khô và quá khứ nhờn tuột.
Những lời than vãn của ta quyện lại trên các nấm mồ và không thể rời xa; những tiếng thở dài cùng những câu hỏi của ta vang dội, tắc nghẹn, gặm nhấm, than thở đêm ngày:
“Hỡi ôi! Con người sẽ vĩnh viễn quay trở về! Con người đê tiện hèn hạ nhất và con người quý phái cao nhã nhất: họ quá giống nhau, ngay kẻ cao thượng nhất cũng quá đỗi là người!
Kẻ vĩ đại nhất cũng quá nhỏ bé ti tiện! - Đấy chính là căn nguyên sự chán ngán của ta đối với con người! Và ngay cả con người ti tiện nhất cũng trở về vĩnh viễn! Đấy chính là nguyên nhân làm ta chán mọi hiện hữu. Hỡi ôi! Thật kinh tởm! Kinh tởm! Quá kinh tởm!”
 
Zarathustra đã nói như thế, rồi hắn thở dài, hắn rùng mình ớn lạnh, vì chợt nhớ lại cơn bệnh của mình. Nhưng lúc bấy giờ, con ó và con rắn không để cho hắn tiếp tục nói nữa. Hai con thú trả lời hắn như sau:
“Hỡi kẻ bình phục, đừng nói nhiều nữa! Tốt hơn ngài nên cất bước ra khỏi hang, đi đến nơi nào mà thế giới đang chờ đón ngài như một hoa viên.
Hãy đến với những bông hồng, những con ong cùng những bầy bồ câu! Nhất là hãy đến bên những con chim ca hót: để học hát ca như chúng vậy.
Vì những kẻ bình phục thì phải hát ca; hãy để cho con người mạnh khỏe nói năng. Và khi mà con người mạnh khỏe cũng đâm ra thèm muốn những điệu ca, thì đấy sẽ là những điệu khác với những điệu của kẻ bình phục”.
Zarathustra cười nhạo các con thú của hắn:
- Ồ, loài thú ranh mãnh; ồ, cối xay lời lẽ, các ngươi im đi. Các ngươi thật biết tỏ tường ta đã tự bày đặt cho mình niềm an ủi nào trong bảy ngày qua!
Ta phải cất tiếng hát ca lên lần nữa, đấy là niềm an ủi và sự bình phục ta đã tự bày ra cho mình. Các ngươi có muốn biến thứ đó thành chiến lợi phẩm chăng?
 
Hai con thú lại trả lời:
- Đừng nói thêm nữa, tốt hơn ngài nên tìm một cây đàn cho những kẻ bình phục, một cây đàn mới tinh khôi!
Bởi vì, hãy nhìn xem kìa Zarathustra! Cần phải có những cây đàn mới cho những bài ca mới của ngài.
Hãy ca hát và tràn trề, hỡi Zarathustra, hãy chữa trị tâm hồn ngài bằng những bài hát mới: để cho ngài có thể mang vác định mệnh vĩ đại của ngài, một định mệnh chưa từng có đối với loài người.
Bởi vì, hỡi Zarathustra, các con thú của ngài biết rõ ngài là ai và ngài phải trở thành cái gì: ngài là kẻ tiên tri rao giảng sự quy hồi vĩnh cửu của vạn vật, - đấy, giờ đây, đấy chính là định mệnh của ngài!
Ngài phải là kẻ đầu tiên rao giảng đạo lý quy hồi vĩnh cửu, - làm thế nào định mệnh vĩ đại ấy không đồng thời là mối nguy hiểm lớn lao nhất và cơn bệnh triền miên của ngài!
Ồ! Chúng tôi biết ngài rao dạy điều gì: vạn sự đều vĩnh viễn trở về và chúng ta, chúng ta cũng trở về cùng vạn sự, chúng ta đã từng có mặt hằng hà sa số lần và vạn vật đã có mặt ở đó cùng với chúng ta.
Ngài dạy rằng có một Đại Niên của biến dịch, một con quái vật Đại Niên; như một chiếc đồng hồ bằng cát, nó phải không ngừng quay trở lại để chảy trôi và trút sạch hết một lần nữa:
- đến nỗi tất cả những năm đó đều giống hệt nhau, giống nhau từ lớn đến nhỏ, - đến nỗi tất cả chúng ta đều giống hệt với chính chúng ta, trong Đại Niên ấy, giống nhau từ những điều lớn lao nhất đến những điều nhỏ bé nhất.
Và hỡi Zarathustra, nếu ngài muốn chết ngay vào giờ phút này thì ngài cũng biết rõ ngài sẽ tự nhủ mình ra sao; - nhưng mà các con thú của ngài đang van xin ngài đừng chết!
Ngài sẽ nói mà không run rẩy, lại còn thở ra nhẹ nhõm: bởi vì một gánh nặng và một sự đè ép nặng nề sẽ được cất khỏi ngài, ngài, kẻ kiên nhẫn nhất trần gian!
Giờ đây, ta tử vong và ta biến mất - ngài sẽ nói như thế - và trong giây phút, ta sẽ chẳng còn là gì nữa hết. Linh hồn cũng tử vong như thân xác.
Nhưng một ngày kia sẽ trở lại sự đan kết những nguyên nhân làm ta bị siết chặt lại, - nó sẽ tái tạo lại ta! Chính ta, ta là thành phần trong những nguyên nhân của sự quy hồi vĩnh cửu.
Ta sẽ trở về cùng với mặt trời này, trái đất này, con ó này, con rắn này - không phải cho một đời sống thiện hảo hơn hay tương tự;
- ta sẽ vĩnh viễn trở về cho cùng một đời sống này, nhất thể giống nhau, cả về lớn lẫn nhỏ, cốt để một lần nữa lên tiếng rao giảng về sự vĩnh viễn quy hồi của vạn vật:
- cốt để tuyên bố lần nữa đạo lý xuất sinh từ buổi Đại Ngọ Thiên của trái đất và loài người, cốt để rao giảng một lần nữa sự xuất hiện của Siêu nhân.
Ta đã thốt ra lời, lời của ta đập vỡ tan ta từng mảnh: định mệnh thiên thu của ta muốn như thế, - ta tàn hoại như một kẻ tiên báo!
Giờ đây, đã đến lúc mà kẻ đang tan biến tự chúc phúc cho chính mình. Như thế, chấm dứt sự đi xuống tàn hoại của Zarathustra”.
 
Khi hai con thú thốt ra những lời đó xong, chúng im lặng chờ đợi Zarathustra tỏ lộ với chúng điều gì; nhưng Zarathustra không nghe thấy rằng chúng đã im lặng. Hắn nằm dài, yên tĩnh, đôi mắt nhắm nghiền như say ngủ dẫu thực ra hắn không ngủ: hắn đang thầm lặng trò chuyện với linh hồn mình. Về phần con ó và con rắn, khi thấy Zarathustra im lặng như vậy, chúng tôn trọng sự im lặng mênh mông bao quanh hắn và cẩn trọng lánh ra xa.
 

[1] Nietzsche ám chỉ đến Wagner. Trong phần mở đầu của màn III vở nhạc kịch Siegfried, Kẻ lang thang (Wotan) gọi Erda, tượng trưng Đất Mẹ, thức giấc, rồi sau đó bảo nàng ngủ trở lại.
0
  VỀ NỖI KHÁT VỌNG MÊNH MÔNG


Hỡi hồn ta, ta đã dạy mi nói “Hôm nay”, cũng như “Ngày kia” và “Thuở nọ”, ta đã dạy mi nhảy múa vòng tròn bên trên tất cả những gì đã hiện thể ở đây, ở kia và ở chỗ khác.
Hỡi hồn ta, ta đã giải phóng mi khỏi mọi xó ngách, ta đã tránh cho mi khỏi bụi bặm, mạng nhện và ánh sáng lờ mờ.
Hỡi hồn ta, ta đã lau rửa mi khỏi mọi sự hổ thẹn nhỏ nhen, mọi đức hạnh ti tiện và ta đã thuyết phục mi đứng trần truồng dưới đôi mắt nóng bỏng của mặt trời.
Với cơn dông bão mang tên “tinh thần”, ta đã thổi ào qua biển đen sâu thẳm của mi, ta đã xua tan những đám mây và đã siết cổ kẻ siết cổ cắt họng tên là “tội lỗi”.[1]
Hỡi hồn ta, ta đã cho mi được quyền nói lên tiếng “Không” như dông bão, và nói lên tiếng “Vâng” như bầu trời rộng mở nói “Vâng”: giờ đây mi tĩnh lặng vô ngần như ánh sáng, mi xuyên thấu qua những cơn bão khước từ phủ nhận.
Hỡi hồn ta, ta đã trả lại cho mi niềm tự do bát ngát thênh thang đối với những gì được sáng tạo và những gì vô sinh; và còn có ai cảm nhận được như mi nỗi khoái lạc tràn trề của tương lai?
Hỡi hồn ta, ta đã trả lại cho mi lòng khinh bỉ, không phải lòng khinh bỉ như sự gặm khoét của loài mọt gỗ, mà là lòng khinh bỉ lồng lộng ngút ngàn đầy từ ái thương yêu, yêu thương say đắm nhất khi mình phải khinh bỉ nhất.
Hỡi hồn ta, ta đã dạy cho mi cách thuyết phục khuyến dụ đến độ chính những căn để cũng thuận theo ý mi: giống như mặt trời thuyết phục biển cả dâng cao đến tận chiều cao của nó.
Hỡi hồn ta, ta đã cất khỏi mi mọi sự vâng lời, mọi sự quy phục và nô lệ; chính ta đã ban cho mi cái tên “Kẻ dứt bặt thống khổ” và “Định mệnh”.
Hỡi hồn ta, ta đã ban cho mi những tên gọi mới và những đồ chơi sặc sỡ, ta đã gọi mi là “định mệnh”, là “vòng tròn của những vòng tròn”, là “quả chuông màu thiên thanh vĩnh thúy”.
Hỡi hồn ta, ta đã ban phát cho lãnh địa của mi tất cả mọi trí huệ mi cần uống lấy, tất cả mọi thứ rượu mới và cả những rượu của trí huệ, những thứ rượu nồng được cất chứa từ một thời cổ xưa vô tận.
Hỡi hồn ta, ta đã đổ trút vào mi mọi mặt trời, mọi đêm tối, mọi im lặng, mọi khát khao, - lúc bấy giờ đối với ta, mi lớn mạnh lên như một gốc nho.
Hỡi hồn ta, giờ đây mi đứng đó, giàu có, nặng nề, một gốc nho với những vú sữa căng phồng, với những chùm nho vàng óng sum suê:
Một gốc nho đầy đặn, nặng nề hạnh phúc, đợi chờ trong sự giàu có, và lại còn hổ thẹn trong sự đợi chờ.
Hỡi hồn ta, giờ đây chẳng nơi nào còn có một linh hồn yêu thương chan chứa, ôm ấp bao phủ và mênh mông hơn nữa! Còn có nơi nào mà tương lai và quá khứ lại gần gũi hơn là nơi mi?
Hỡi hồn ta, ta đã ban hết cả cho mi, bàn tay ta đã trút sạch hết cho mi. - Và giờ đây! Giờ đây mi mỉm cười bảo ta, lòng đầy sầu muộn: “Kẻ nào trong hai chúng ta phải thốt lời cảm tạ?
- Há chẳng phải kẻ ban cho phải cảm tạ kẻ thuận lòng nhận lấy? Ban cho há chẳng phải là một nhu cầu? Nhận lấy há chẳng phải vì lòng thương hại?
Hỡi hồn ta, ta biết nụ cười nở trên nỗi u sầu của mi rồi: sự giàu có tràn trề quá độ giờ đây đang đưa đôi tay đầy khát vọng ra!
Sự sung mãn của mi đưa đôi mắt nhìn lên những mặt biển gầm thét, nó tìm kiếm và đợi chờ; khát vọng vô hạn của sự sung mãn lấp loáng qua bầu trời tươi cười của đôi mắt mi!
Và thực ra, hỡi hồn ta, ai nhìn thấy nụ cười của mi mà không rơi nước mắt? Ngay cả những thiên thần cũng rơi lệ khi nhìn thấy lòng hảo tâm vô tận trong nụ cười của mi.
Chính hảo tâm của mi, hảo tâm bao la vô tận của mi, không muốn than vãn, khóc la: và hỡi hồn ta ơi, nụ cười của mi lại ước muốn những dòng lệ đăng, và miệng mi run rẩy thèm thuồng những tiếng nức nở.
“Mọi dòng lệ há chẳng phải là một lời than vãn? Và mọi lời than vãn chẳng phải là một lời buộc tội?” Mi đã tự nhủ mình như thế.
Chính vì vậy ta thích cười vang, hỡi hồn ta, ta thích cười vang hơn là gieo rắc nỗi khổ ải của mi, -
- gieo rắc thành những dòng lệ đắng tất cả nỗi khổ gây ra do sự sung mãn của mi và tất cả sự nôn nao làm cho cây nho khao khát người hái nho cùng chiếc máng ép quả!
Nhưng nếu mi không muốn khóc, khóc cho đến khi cạn hết nỗi u sầu tím sẫm của mi, thì mi phải hát ca, hỡi linh hồn ta! - Nhìn xem đây, ta, ta cũng cười vang, ta là kẻ bảo cho mi biết trước chuyện đó;
- hãy ca hát bằng một giọng rền rĩ, cho đến khi tất cả những đại dương đều câm tiếng để lắng nghe nỗi khát vọng mênh mông của mi;
- cho đến khi trên những mặt biển lắng trầm hoài vọng, lướt đi chiếc thuyền buồm óng vàng kỳ diệu, chung quanh chất vàng óng ánh của chiếc thuyền nảy tung những sự việc tốt đẹp tinh quái dị kỳ;
- và nhiều con thú lớn nhỏ, cùng tất cả những gì có đôi chân mỏng mảnh lạ kỳ, để có thể chạy nhảy trên những con đường mòn đầy hoa tím ấy;
- chạy đến chiếc thuyền vàng kỳ diệu, chiếc thuyền của ý chí tự do, và chạy đến với chủ mình: nhưng chính vị chủ ấy là người hái nho đang đứng đợi với chiếc máy ép bằng kim cương;
- kẻ giải phóng vĩ đại của mi, hỡi hồn ta, kẻ bất khả ngôn - kẻ mà đối với mi chỉ những bài hát của tương lai mới biết tìm ra tên gọi! Và thực ra hơi thở của mi đã tỏa rộng hương thơm những bài hát của tương lai;
- mi đã bốc cháy và mơ mộng, mi đã khát khao được ghé miệng uống nơi tất cả mọi giếng nguồn phủ dụ và trang trọng; nỗi u sầu của mi đã an nghỉ trong niềm lạc phúc tỏa ra từ những bài hát của tương lai!
Hỡi linh hồn ta, giờ đây, ta đã ban cho mi tất cả, cả đến điều tốt lành tối hậu của ta, và hai tay ta trút sạch vì mi: - đấy là tặng vật cuối cùng của ta: mi hãy ca hát lên!
Ta đã bảo mi hãy ca hát lên, giờ đây, hãy cất tiếng hỏi: bây giờ trong hai chúng ta, ai là kẻ phải thốt lời cảm tạ? - Nhưng tốt hơn, hãy ca hát cho ta, hãy ca hát lên, ồ, hỡi hồn ta! Và hãy để ta cảm tạ ơn mi”.
 
Zarathustra đã nói như thế.
 

[1] “đã siết cổ kẻ siết cổ cắt họng tên là tội lỗi”, ở đây Nietzsche dùng chữ Wũrgerin, giống cái, vì tội lỗi mà Nietzsche muốn nhân cách hóa là giống cái: die Sũnde.
0