📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

Zarathustra đã nói như thế - Friedrich Nietzsche - HẾT 🔒

85 trả lời, 15.219 lượt xem — Trang 3 / 3
VŨ KHÚC THỨ NHÌ

1


Ta vừa nhìn sâu vào đôi mắt mi, hỡi Cuộc đời: ta đã nhìn thấy kim ngân lấp lánh trong đôi mắt đen thẳm tuyệt vời của mi. Khoái lạc ấy làm tim ta ngưng tiếng đập.
Ta đã nhìn thấy một chiếc thuyền vàng lấp lánh trên những làn nước đen thăm thẳm, một chiếc thuyền vàng óng bập bềnh, lướt sóng sâu thêm mãi, tan biến và lóe lên những dấu hiệu mới.
Mi ném một cái nhìn về phía đôi chân cuồng say khiêu vũ của ta, một cái nhìn ru nhẹ, tươi cười, nồng ấm hỏi han:
Chỉ có hai lần, bằng đôi tay của mi, mi lung lay chiếc vòng - và chân ta đong đưa, cuồng say nhảy múa.
Đôi gót chân ta bám chặt, đôi mắt cá chân ta lắng nghe để hiểu rõ lời mi: kẻ khiêu vũ luôn mang theo thính quan trong những đôi mắt cá.
Ta đã nhảy bổ về phía mi; lúc ấy mi đã lùi lại trước đà hăng nồng của ta: và lọn tóc dài bay phất phới của mi lượn sát về phía ta!
Bằng một cái nhảy, ta lánh xa mi cùng những con rắn của mi; nhưng mà mi đã có mặt ở đấy rồi, dáng nhẹ nghiêng xoay, đôi mắt tràn đầy khát vọng.
Với tia nhìn ám muội, mi dạy ta những con đường cam khổ; trên những con đường quanh co khổ nhọc, chân ta học biết những lọc lừa gian trá!
Ta sợ hãi mỗi khi mi gần gũi, ta yêu thương mỗi khi mi xa cách; cuộc trốn chạy của mi kéo ta gần lại, sự tìm kiếm của mi xui ta dừng bước: - ta đau khổ, nhưng, vì mi, có gì mà ta lại không sẵn lòng chịu đau khổ!
Mi, kẻ bị sự lạnh lùng đốt sáng, sự hận thù quyến rũ, sự chạy trốn gắn bó, kẻ bị những sự chế nhạo cười cợt làm động lòng!
Ai mà không thù ghét mi, hỡi kẻ trói buộc, bao bọc, dụ hoặc, hỡi kẻ kiếm tìm đang tìm gặp kia ơi! Ai mà lại không yêu mến mi, trong vẻ ngây thơ, nôn nóng, hỡi kẻ phạm tội hối hả với đôi mắt thơ dại kia ơi!
Giờ đây, mi lôi kéo ta về đâu, hỡi đứa trẻ hoang đàng, đỏm dáng? Và kìa, mi lại chạy trốn ta lần nữa, phũ phàng, bội bạc.
Ta đuổi theo mi bằng bước chân khiêu vũ, ngay cả trên một sàn nhảy mấp mô. Mi ở đâu? Hãy đưa tay cho ta nắm! Hay chỉ cần đưa ra một ngón tay thôi!
Nơi đây có nhiều hang động và bụi rậm: chúng ta sẽ lạc đường biền biệt! - Hãy dừng lại! Dừng bước lại đi thôi! Mi không nhìn thấy những con cú, những con dơi cất cánh bay lên?
Đồ cú vọ là mi! Đồ dơi đêm! Mi muốn miệt thị ta? Chúng ta đang ở đâu đây? Mi đã học tru rống từ loài chó?
Mi khả ái chìa về phía ta những chiếc răng trắng nhọn, đôi mắt dữ tợn của mi nhảy xổ về phía ta.
Ồ! Cuộc khiêu vũ gian nguy! Ta là kẻ săn đuổi: - mi muốn làm con chó săn hay con mồi của ta?
Giờ đây hãy lại gần ta! Nhanh hơn thế nữa, hỡi kẻ nhảy nhót xấu xa dị hợm! Giờ đây hãy nhảy lên cao! Và nhảy bên kia! - Khổ thân cho ta, khi nhảy lên, ta đã rơi phịch xuống đất!
A, hãy nhìn ta nằm sóng sượt? Hãy nhìn xem ta van nài ơn huệ nơi mi! Ta rất thích bước theo mi trên những con đường khả ái hơn;
- những con đường của tình yêu, xuyên qua những bụi rậm muôn màu tịch mịch! Hoặc là bên dưới kia, dọc theo cái hồ có những con cá vàng bơi lội nhảy múa tung tăng.
Giờ đây mi đã thấm mệt? ở dưới kia có những đàn cừu và những buổi hoàng hôn óng chuốt: nằm yên say ngủ khi những mục tử thổi sáo vi vu há chẳng phải là điều tuyệt diệu?
Mi đã quá mệt mỏi? Ta sẽ mang mi đến đó. Ta chỉ xin mi buông xuôi tay xuống! Có lẽ mi cũng khát? - Ta có thức uống sẵn đây, nhưng miệng lưỡi mi lại không thích uống!
Ồ! Con rắn nhanh nhẹn giảo quyệt này, mụ phù thủy luồn lọt trườn uốn này! Mi đã bỏ đi đâu? Trên mặt ta, ta còn thấy hai dấu tích của bàn tay mi, hai vết đỏ!
Thực ra, ta chán ngán vì cứ mãi làm kẻ chăn chiên ngoan ngoãn của mi! Hỡi mụ phù thủy, từ trước đến nay ta đã ca hát cho mi, giờ đây mi hãy vì ta mà la hét!
Mi phải nhảy múa và la hét theo nhịp roi của ta! Nhưng mà, ta đã bỏ quên cái roi ở nơi nào đó? - Ồ, không đâu!


2


Lúc bấy giờ, Cuộc đời trả lời ta như thế này, sau khi đã bịt chặt đôi tai thanh mảnh:
“Ồ, Zarathustra! Đừng nhấp nhấp cái roi của mi! Mi biết rõ mà: tiếng động ồn ào ám sát tư tưởng, - và kìa, óc ta đang dậy lên những tư tưởng rất đỗi dịu dàng.
Cả hai chúng ta đều là những kẻ phá đám thực sự. Bên kia bờ cõi thiện ác mới là xứ miền chúng ta tìm thấy hải đảo cùng đồng cỏ xanh rờn của chúng ta - của riêng hai chúng ta mà thôi! Chính vì thế chúng ta phải yêu thương nhau!
Và nếu ngay cả khi chúng ta không thành tâm yêu thương nhau tận đáy lòng, thì có phải vì thế mà chúng ta ghét bỏ nhau chăng?
Và mi há không biết rằng ta yêu thương mi? Thường khi ta lại yêu thương mi quá độ: lý do là vì ta ghen tức với Trí huệ Hiền minh của mi. Ồ! Trí huệ Hiền minh ngàn đời đó!
Nếu Trí huệ Hiền minh có lần vuột thoát khỏi mi thì, hỡi ôi, cả đến tình yêu của ta nữa cũng nhanh chân chạy trốn”.
Lúc bấy giờ, Cuộc đời đưa mắt đăm đăm nhìn lại đằng sau và chung quanh mình rồi hạ thấp giọng:
“Hỡi Zarathustra, mi không đủ trung thành với ta!
Mi không yêu ta thiết tha như lời mi nói; ta biết rằng mi muốn lìa bỏ ta liền ngay sau đấy.
Có một quả chuông cổ kính, nặng nề, rất đỗi nặng nề: quả chuông gióng lên báo hiệu nửa đêm ở trên kia, âm thanh vẳng đến tận hang động của mi;
- khi nghe chuông ấy báo nửa đêm, mi liền nghĩ đến chuyện rời bỏ ta sau đó.
Hỡi Zarathustra, mi nghĩ đến chuyện ấy mà, ta biết rằng mi muốn rời bỏ ta liền đó!”
Ta ngập ngừng đáp lại: “Ờ, phải rồi, nhưng mà mi, mi cũng biết thế mà”. Và ta thì thầm đôi lời vào tai Cuộc đời, giữa đám tóc rối màu cỏ khô xõa tung điên loạn.
“Mi biết thế à, hỡi Zarathustra? Chẳng ai biết điều đó cả đâu”.
Và cả hai chúng ta nhìn nhau và chúng ta đưa mắt nhìn đồng cỏ bao la, nơi cơn gió mát buổi chiều nhẹ thổi, rồi chúng ta cùng bật khóc. - Nhưng lúc bấy giờ, Cuộc đời đối với ta còn thân thiết hơn là tất cả Trí huệ Hiền minh của ta.
 
Zarathustra đã nói như thế.


3


                Một!
Ới con người, hãy cẩn trọng!
                Hai!
Nửa đêm sâu thẳm nói gì?
                Ba!
“Ta đã ngủ, ta đã ngủ,
                Bốn!
“Ta đã thức dậy từ một giấc ngủ say:
                Năm!
“Trần gian thì sâu thẳm.
                Sáu!
“Sâu thẳm hơn là ánh ngày từng nghĩ đến.
                Bảy!
“Nỗi khổ đau của trần gian thì sâu thẳm.
                Tám!
Hoan lạc sâu thẳm hơn đau khổ.
                Chín!
Đau khổ lên tiếng: hãy trôi qua và tàn tạ!
                Mười!
“Nhưng mọi hoan lạc đều khao khát thiên thu!
                Mười một!
“Khao khát thiên thu thăm thẳm!”
                        Mười hai!
0
BẢY ẤN TÍCH
(hay là KHÚC CA THUẬN mệnh)


1


Giá gì ta là một bốc sư đầy óc tiên tri đang bước đi trên một triền núi cao giữa hai vùng biển,
- bước đi giữa quá khứ và hiện tại, như một đám mây nặng nề, - kẻ thù của mọi thung lũng ngột ngạt, của mọi cái gì mệt nhọc và không thể sống nổi hoặc chết đi:
- sẵn sàng lóe lên ánh chớp giữa lòng trường dạ tối tăm, sẵn sàng nhoáng lên tia sáng giải thoát, chất chứa đầy những lằn chớp khẳng định xác ngôn, những lằn chớp cười vang tiếng “Vâng” thuận mệnh! Sẵn sàng giáng những tiếng sấm tiên tri:
- nhưng hạnh phúc thay kẻ nào chất đầy sấm chớp như thế!
Thực ra, hắn phải bị treo lơ lửng trên đỉnh cao rất lâu, như một cơn dông mù mịt, cơn dông mà một ngày kia sẽ phải thắp lên ánh sáng của tương lai!
Ồ! Làm thế nào ta không ngưỡng vọng đến vĩnh cửu, ngưỡng vọng chiếc vòng của những chiếc vòng, - chiếc vòng của sự hồi quy?
Ta hãy còn chưa tìm thấy người đàn bà mà ta muốn cùng nàng sinh con, nếu đó không phải là chính người ta đang yêu dấu: bởi vì ta yêu nàng, hỡi Thiên thu!
Bởi vì ta yêu nàng, hỡi Thiên thu!


2


Giá gì có lúc cơn giận dữ của ta đập vỡ các lăng tẩm, đẩy lùi các trụ biên thùy, xô ùa những bảng giá trị cũ vỡ vụn xuống các hố sâu:
Giá gì có lúc sự chế nhạo cợt đùa của ta vung vãi những lời lẽ bạo tàn, giá gì ta đến như một chiếc chổi quét tan mạng nhện, như một ngọn gió thanh lọc cho những hang động sặc mùi tử khí, ẩm mốc, cũ xưa:
Giá gì có lúc ta nhẹ nhàng ngồi trên nơi đã chôn vùi những thần thánh cũ, đưa tay chúc phúc và yêu thương thế giới, bên cạnh những lâu đài của những kẻ xưa kia từng phỉ báng thế giới:
- bởi vì ta yêu thương đến cả những giáo đường cùng lăng tẩm của những thần thánh, khi bầu trời đưa đôi mắt trong sáng nhìn xuyên qua vòm trời vỡ vụn; ta thích ngồi trên những giáo đường bị phá hủy, tựa như cỏ dại và trụ đá cổ xưa.
Ồ! Làm sao ta không nồng nàn khát khao vĩnh cửu, chiếc vòng của những chiếc vòng - chiếc vòng của sự hồi quy?
Ta hãy còn chưa tìm thấy người đàn bà mà ta muốn cùng nàng sinh con, nếu đó không phải là chính người đàn bà ta đang yêu dấu: bởi vì ta yêu nàng, hỡi Thiên thu!
Bởi vì ta yêu nàng, hỡi Thiên thu!


3


Giá gì có lúc một luồng gió thổi về phía ta, luồng gió của ngọn gió sáng tạo, của tính chất tất yếu linh thánh, cưỡng bách ngay chính những sự ngẫu nhiên phải nhảy vang điệu vũ của các vì sao:
Giá gì có lúc ta đã cười lên tiếng cười của lằn chớp sáng tạo mà tiếp theo là tiếng sấm rền vang tuân phục của hành động:
Giá gì có lúc ta chơi trò đen đỏ với thần thánh, trên chiếc bàn linh thiêng của mặt đất, đến độ mặt đất run rẩy vỡ vụn, phụt ra những con sông lửa:
- bởi vì mặt đất là một chiếc bàn linh thánh, run rẩy trong những lời lẽ sáng tạo tinh khôi, trong âm thanh của những con xúc xắc thần linh!
Ồ! Làm sao ta không nồng nàn khát khao vĩnh cửu, chiếc vòng của những chiếc vòng, - chiếc vòng của sự hồi quy?
Ta hãy còn chưa tìm thấy người đàn bà mà ta muốn cùng nàng sinh con, nếu đó không phải là chính người đàn bà ta đang yêu dấu: bởi vì ta yêu nàng, hỡi Thiên thu!
Bởi vì ta yêu nàng, hỡi Thiên thu!


4


Giá gì có khi nào ta nốc cạn một hơi chiếc bình sủi bọt trộn lẫn mọi sự!
Giá gì có khi nào tay ta trộn lẫn cái xa xôi diệu vợi với cái gần gũi cận kề, lửa nóng với tinh thần; hoan lạc với thống khổ và sự tệ hại với sự tuyệt vời:
Giá gì chính ta là một trong những hạt muối cứu chuộc này, thứ muối làm cho mọi sự pha trộn lẫn nhau trong chiếc bình trào bọt:
- bởi vì có một thứ muối nối liền Thiện với ác; và chính sự xấu ác vĩ đại nhất cũng đáng dùng làm gia vị và làm cho trào bọt.
Ồ! Làm sao ta không nồng nàn khát khao vĩnh cửu, chiếc vòng của những chiếc vòng - chiếc vòng của sự hồi quy?
Ta hãy còn chưa tìm thấy người đàn bà mà ta muốn cùng nàng sinh con, nếu đó không phải là chính người đàn bà ta đang yêu dấu: bởi vì ta yêu nàng, hỡi Thiên thu!
Bởi vì ta yêu nàng, hỡi Thiên thu!


5


Giá gì ta yêu biển cả và tất cả mọi cái gì giống với biển cả, nhất là khi biển cả giận dữ chống lại ta:
Giá gì ta mang trong hồn niềm hoan lạc đầy âu lo, đẩy buồm ta về chốn xa lạ, giá gì trong niềm hoan lạc của ta có nỗi hân hoan của kẻ vượt biển:
Giá gì sự nhẹ nhàng khinh khoái của ta mừng rỡ kêu thét lên: “Bờ bến đã mất tăm rồi - dịp may cuối cùng của ta đã mất. Vô hạn đang sôi sục quanh ta, thời gian và không gian lấp lánh tuyệt mù. Nào, lên đường thôi! Hỡi trái tim già nua thân ái!”
Ồ! Làm sao ta lại không nồng nàn khát khao vĩnh cửu, nôn nao muốn với tới chiếc vòng của những chiếc vòng - chiếc vòng của sự hồi quy?
Ta hãy còn chưa tìm thấy người đàn bà mà ta muốn cùng nàng sinh con, nếu đó không phải là chính người đàn bà ta đang yêu dấu: bởi vì ta yêu nàng, hỡi Thiên thu!
Bởi vì ta yêu nàng, hỡi Thiên thu!


6


Giá gì đức hạnh của ta là đức hạnh của một kẻ nhảy múa, giá gì đôi chân ta luôn nhảy nhót trên những hoan lạc óng vàng:
Giá gì sự dữ tợn của ta là một sự dữ tợn tươi cười, thơ thới an tâm giữa những nhánh hồng và những giậu rào hoa huệ:
- bởi vì trong tiếng cười, mọi điều ác tụ hội lại nhưng đã được thánh hóa và giải thoát nhờ lạc phúc tối thượng của tiếng cười!
Và giá gì điều sau này là điều đầu tiên và cuối cùng của ta: mọi cái gì trì độn nặng nề phải trở thành nhẹ nhàng khoái hoạt, mọi thân xác đều trở thành vũ công, mọi tinh thần đều trở thành chim chóc: thực thế, đấy là điểm ước muốn đầu tiên và cuối cùng của ta!
Ồ! Làm sao ta lại không khát vọng thiên thu, không nôn nóng vươn tới chiếc vòng của những chiếc vòng, - chiếc vòng của sự hồi quy?
Ta hãy còn chưa tìm thấy người đàn bà mà ta muốn cùng nàng sinh con, nếu đó không phải là chính người đàn bà ta đang yêu dấu: bởi vì ta yêu nàng, hỡi Thiên thu!
Bởi vì ta yêu nàng, hỡi Thiên thu!
 


7


Giá gì có lúc ta dàn trải những bầu trời bình lặng trên đầu ta, và ta bay bằng đôi cánh của chính ta trong bầu trời riêng tư đó:
Giá gì ta đã bơi lội nô đùa trong những vùng xa xôi sâu thẳm lóng lánh ánh sáng, và tự do của ta biến thành trí huệ của loài chim:
- bởi vì trí huệ hiền minh của loài chim bảo rằng: “Này, không có cao, không có thấp! Ngươi hãy ném mình bên này, bên kia, đằng trước, đằng sau, ngươi, kẻ khinh khoái nhẹ nhàng! Hãy ca hát lên! Đừng nói nữa!
- “những lời nói há chẳng phải dành cho những kẻ trì độn nặng nề? Tất cả những lời nói há chẳng phải đều lừa dối kẻ khinh khoái nhẹ nhàng sao? Hãy ca hát lên! Đừng nói nữa!”
Ồ! Làm sao ta không nồng nàn khát khao vĩnh cửu, không nôn nao với tới chiếc vòng của những chiếc vòng, - chiếc vòng của sự hồi quy?
Ta hãy còn chưa tìm gặp người đàn bà mà ta muốn cùng nàng sinh con, nếu đó không phải là chính người đàn bà ta đang yêu dấu: bởi vì ta yêu nàng, hỡi Thiên thu!
Bởi vì ta vêu nàng, hỡi Thiên thu!
0
PHẦN THỨ TƯ

Hỡi ôi! Trên trái đất này còn có nơi nào người ta phạm phải những điên cuồng vĩ đại hơn là những kẻ có lòng thương xót? Và trên mặt đất còn có gì gây ra nhiều thống khổ cho bằng cơn điên cuồng của những kẻ có lòng thương xót?
Khốn thay cho kẻ nào yêu thương mà lại không có một đỉnh cao vượt lên bên trên lòng thương hại của mình!
Một ngày nọ, Quỷ sứ bảo ta như thế này: “Cả Thượng đế cũng có hỏa ngục của ngài: đó là tình yêu loài người nơi Thượng đế”.
Và mới đây, ta đã nghe Quỷ sứ bảo như sau: “Thượng đế đã chết; chính lòng thương xót loài người của Thượng đế đã giết chết Thượng đế”.

Zarathustra
Về những kẻ có lòng thương xót
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
LỄ HIẾN MẬT


Những ngày, những tháng, những mùa Xuân lại trôi qua trên tâm hồn Zarathustra, hắn chẳng để tâm đến; nhưng mái tóc Zarathustra giờ đây đã bạc phau. Một ngày nọ, Zarathustra ngồi trên một tảng đá trước hang lặng im tĩnh mặc nhìn vào cõi xa xăm - bởi vì từ nơi này, ta nhìn thấy được biển cả, biển cả xa hút bên trên những hố thẳm quanh co khúc khuỷu. Hai con thú tư lự xoay quanh Zarathustra rồi sau cùng dừng lại trước mặt hắn.
“Hỡi Zarathustra, chúng lên tiếng hỏi, ngài đang đưa mắt dõi tìm hạnh phúc mình chăng?” Zarathustra trả lời: “Sá gì hạnh phúc! Từ lâu rồi ta không còn khát vọng đến hạnh phúc nữa, ta khát vọng công trình của ta”.
Hai con thú tiếp lời: “Hỡi Zarathustra, ngài thốt lên điều ấy như một kẻ đã chán chường hạnh phúc. Ngài không ngủ trong một hồ hạnh phúc màu thiên thanh đấy chứ?”
“Đồ hề! Zarathustra mỉm cười trả lời, các ngươi mới khéo chọn ẩn dụ làm sao! Nhưng các ngươi cũng biết rằng hạnh phúc của ta thì nặng nề và chẳng giống với một nguồn suối lỏng: hạnh phúc ấy đẩy xô ta và không muốn để ta ở lại, nó bám chặt vào ta như chất nhựa thông óng vàng nóng chảy”.
Lúc bấy giờ, hai con thú tư lự lại xoay quanh Zarathustra và một lần nữa, chúng lại đến trước mặt hắn. “Hỡi Zarathustra! chúng lên tiếng - vậy thì vì lẽ đó mà ngài mãi mãi trở thành vàng óng sậm màu hơn, mặc dầu tóc ngài muốn nhuốm vẻ bạc trắng và kết bằng cây gai? Nhìn xem kìa, ngài đang ngồi trong chất nhựa thông vàng óng của ngài!”
“Các ngươi nói nhăng nói cuội gì thế? - Zarathustra vừa cười vừa hỏi lớn. Thực ra, ta đã báng bổ khi nói đến nhựa thông. Điều đang xảy đến cho ta, cũng xảy đến cho tất cả mọi trái cây đang chín. Chính chất mật ngọt trong huyết quản đã làm máu ta thành đậm đặc hơn và cũng làm cho cả tâm hồn ta im lặng u trầm hơn”.
“Hỡi Zarathustra, sự việc phải như thế - hai con thú tiếp lời và nép sát thân thể vào Zarathustra. Nhưng ngày hôm nay, ngài không muốn leo lên một ngọn núi cao hay sao? Khí trời thật trong lành tinh khiết và hôm nay người ta phân biệt rõ thế giới hơn bao giờ hết”.
Zarathustra trả lời: “Các ngươi nói đúng đó, những lời khuyên của các ngươi thật tuyệt và rất hợp lòng ta: ngày hôm nay, ta muốn leo lên một đỉnh núi cao! Nhưng các ngươi hãy làm sao có được chất mật sẵn sàng cho ta trên đó: chất mật óng vàng thành tầng ong, chất mật vàng, trắng, ngọt ngào, mát lạnh. Các ngươi nên biết rằng, ta muốn cử hành lễ hiến mật trên núi cao”.
Nhưng khi Zarathustra đã leo lên đỉnh núi, hắn cho hai con thú tháp tùng theo hắn quay trở về, và nhận ra rằng mình đang cô đơn heo hút trên đỉnh cao. Khi ấy, hắn cười hân hoan và đưa mắt nhìn chung quanh rồi nói như vầy:
“Ta đã nói đến những lễ hiến dâng và dâng hiến mật ngọt; nhưng đấy chỉ là một xảo thuật của lời nói ta, và thực ra, đó là một cơn điên hữu ích. Ở đây ta có thể ăn nói tự do hơn là trước những nơi trú ẩn của những ẩn sĩ cô đơn u tịch và những gia súc của các nhà ẩn sĩ.
Ta đã nói gì về hành vi hy sinh hiến tế? Ta đang phung phí những gì thiên hạ cho ta, ta là kẻ phung phí với muôn ngàn bàn tay: làm sao ta còn dám gọi điều đó là hy sinh hiến tế!
Và khi ta đòi mật, thì thật ra ta chỉ đòi một miếng mồi, những thức uống dịu ngọt lầy nhầy mà những con gấu càu nhàu cùng những loài chim lạ tính khí bất thường ham thích.
Ta đã đòi hỏi miếng mồi ngon lành nhất, miếng mồi những thợ săn và thợ chài cần đến. Bởi vì nếu thế giới ví như một khu rừng tối ám đầy loài dã thú, một khu vườn hoan lạc đầy rẫy tất cả mọi thợ săn man rợ, ta thấy chẳng thà giống với một đại dương bao la, sâu thẳm không đáy còn hơn. - Một đại dương lúc nhúc những loài cá muôn màu nghìn sắc và những con cua mà ngay cả các thần linh cũng sẽ thích ham, đến nỗi vì tình yêu đại dương, các ngài sẽ biến thành những thợ chài quăng lưới: thế giới khi đó sẽ phong phú vô vàn những điều kỳ diệu lớn, nhỏ!
Nhất là thế giới loài người, đại dương loài người: chính đại dương đó là chốn ta quăng sợi dây vàng và bảo: Hỡi hố thẳm con người, hãy mở rộng!
Hãy mở rộng và ném cho ta những con cá, những con cua sắc màu óng ánh của mi! Với miếng mồi ngon nhất, ngày hôm nay ta nhặt hái cho ta những con cá người kỳ tuyệt nhất!
Ta đem chính hạnh phúc mình tung tóe, rải rác xa tít mù xa, giữa phương Đông, phương Nam và phương Tây, để xem thử có ít hay nhiều con cá người đã học biết cách trì kéo giãy giụa ở đầu hạnh phúc của ta.
Mãi đến khi, cắn nhằm chiếc lưỡi câu sắc nhọn ẩn kín của ta, những con cá bống sắc màu sặc sỡ nhất ở những đáy sâu phải vươn lên đến đỉnh cao của ta, vươn lên đến bên cạnh kẻ dữ tợn nhất trong những kẻ đánh cá người.
Bởi vì ta vẫn luôn luôn là thế đó từ nguyên sơ và tận cùng sâu thẳm tâm hồn: trì kéo, lôi cuốn, nâng cao, giáo dưỡng, một người lôi kéo, một kẻ dạy dỗ và một bậc thầy, kẻ mà xưa kia đã chẳng luống công vô bổ khi tự nhủ mình: “Hãy trở thành nguyên tính của mi!”
Vậy thời, giờ đây, con người phải leo lên đến bên ta; vì ta đang còn chờ dấu hiệu báo rằng giờ phút đi xuống của ta đã đến: chính ta hãy còn chưa xuống với loài người, như ta phải làm thế.
Chính vì vậy, ta đợi chờ ở đây trên những đỉnh cao chớn chở, lòng đầy xảo quyệt chế giễu, không nôn nóng cũng chẳng kiên trì, đúng hơn ta chờ đợi như một kẻ đã quên đi sự kiên trì mình đã học được, - vì hắn không còn kiên trì “thọ khổ” nữa.[1]
Vì vận mệnh ta để cho ta có đủ thời gian; có lẽ nó đã quên ta rồi chăng? Hoặc giả, ngồi trong bóng mát sau một tảng đá lớn, vận mệnh ấy đang đuổi bắt những con ruồi?
Thực ra, ta hết lòng cảm tạ vận mệnh vĩnh cửu đã chẳng hề đuổi băt hay thúc hối ta, nó đã để ta có thời gian làm những trò hề cùng những điều tàn bạo: đến độ ngày hôm nay ta đã có thể leo lên ngọn núi cao này để bắt cá.
Có người nào đã từng bắt cá trên những đỉnh núi cao? Và dẫu điều mà ta ước muốn trên đỉnh núi cao kia có là điên rồ chăng nữa, thì chẳng thà phạm phải một điều điên rồ còn hơn là trở thành long trọng và xanh và vàng vì phải chờ đợi ở chốn đồng bằng,
- trào bọt và bị phân thây trong cơn phẫn nộ vì phải chờ đợi, một cơn dông tố thánh thiện đến từ những ngọn núi cất tiếng tru la, như một người không còn kiên nhẫn kêu thét to lên về phía những thung lũng: “Hãy nghe đây nếu không ta sẽ quất đập ngươi bằng những cây roi của Thượng đế!”
Không phải vì thế mà ta thù ghét những kẻ hay nổi giận! Ta thấy chúng chỉ đáng cho một chuỗi cười! Chúng phải nôn nóng như thế: những cái trống lớn ồn ào chỉ thốt được nên lời ngày hôm nay hoặc vĩnh viễn không bao giờ thốt nên lời nữa!
Nhưng còn ta và vận mệnh của ta - chúng ta không nói cho thời “Hiện tại”, chúng ta cũng chẳng nói cho thời “Vĩnh cửu”: chúng ta có kiên nhẫn để nói, chúng ta có thời gian để nói, thời gian dư dật. Bởi vì một ngày nào đó, nó phải đến và sẽ không thể trôi qua.
Cái gì phải đến một ngày nào đó và sẽ không thể trôi qua? - Nỗi Tình cờ vĩ đại của chúng ta, nghĩa là thời Ngự trị vĩ đại và xa xôi của Con người, thời ngự trị của Zarathustra, sẽ kéo dài một nghìn năm.
Cái thời xa xôi ấy dẫu có xa xôi miên viễn đến đâu, nào có sá gì! Đối với ta, nó vẫn không vì thế mà kém vững chãi. Ta đứng thẳng, rất vững vàng kiên cố trên hai chân, trên một nền tảng vĩnh cửu, trên những tảng đá nguyên sơ rắn chắc, trên những ngọn núi cổ này, những ngọn núi cao vút hiểm trở nhất, nơi giao ngộ của mọi trận gió, như một đường phân chia, ta cất tiếng hỏi rằng: nơi đâu, ở hướng nào và về đâu?
Vậy thì, hãy cười lên, cười to lên đi, sự tàn bạo trong sáng vũ dũng của ta! Hãy ném tung từ những đỉnh cao chất ngất tia chớp của giọng cười giễu cợt của mi! Với lằn chớp đó, mi hãy làm mồi dụ hoặc những con cá người xinh đẹp nhất!
Và tất cả những gì thuộc về ta trong tất cả mọi đại dương, sự vật thuộc về riêng ta trong tất cả mọi sự vật, - mi hãy bủa lưới giùm ta, mi hãy đưa dẫn cái đó lên cao kia: đấy là điều ta đang chờ đợi - ta, kẻ hung tợn nhất trong các kẻ thợ chài.
Hãy vút ra xa bờ, vút ra xa bờ, hỡi lưỡi câu của ta! Hãy chìm xuống, thâm nhập sâu vào, hỡi miếng mồi làm bằng hạnh phúc của ta ơi! Hãy nhỏ xuống hạt sương êm dịu ngọt ngào nhất của mi, hỡi mật ngọt của lòng ta ơi! Hãy cắn sâu vào, hỡi lưỡi câu, cắn sâu vào bụng tất cả những nỗi buồn rầu ảo não tối đen.
Hỡi mắt ta, hãy vút ra xa bờ, vút ra xa bờ! Ôi, biết bao nhiêu đại dương quanh ta, biết bao nhiêu tương lai con người đang khởi đầu phát hiện. Và trên đầu ta - niềm im lặng pha hồng! Niềm im lặng không mây!”

[1] “ta chờ đợi như một kẻ đã quên đi sự kiên trì mình đã học được, - vì hắn không còn kiên trì “thọ khổ” nữa”, Nietzsche chơi chữ Geduld: sự kiên trì, kiên nhẫn, và động từ dulden: nhẫn nại chịu khổ, kiên trì chịu khổ.
0
TIẾNG KÊU THỐNG KHỔ


Ngày hôm sau, Zarathustra lại ngồi trên tảng đá cũ trước hang, trong khi hai con thú đi lang thang tìm kiếm những lương thực mới để mang về, - và cả mật mới nữa: vì Zarathustra đã phung phá tiêu tán mật cũ đến giọt cuối cùng. Nhưng giữa lúc Zarathustra đang ngồi đó, tay cầm thiền trượng vạch lại cái bóng do thân hình hắn in hằn trên mặt đất, tâm trí đắm chìm trong một trầm tư sâu thẳm, một trầm tư không hướng về chính Zarathustra lẫn cái bóng - thì bỗng nhiên hắn giật mình kinh hãi: hắn vừa nhìn thấy một cái bóng khác bên cạnh bóng kia. Trong khi Zarathustra vừa nhìn quanh vừa vụt đứng dậy, hắn nhìn thấy viên bốc sư đứng bên cạnh hắn, đó chính là kẻ mà có lần hắn đã nhìn thấy ăn và uống cùng bàn với hắn, kẻ tiên tri cho tâm trạng chán nản rã rời, kẻ đã rao giảng rằng: “Mọi sự đều đồng đẳng như nhau, chẳng có gì đáng phải bỏ công, thế giới không có nghĩa gì, kiến thức bóp nghẹt con người”. Nhưng từ đó đến nay, khuôn mặt của viên bốc sư đã biến đổi; và khi Zarathustra nhìn tận mặt y, lòng hắn xiết bao kinh hãi: biết bao là những lời tiên tri bi thống cùng những lằn chớp màu tro lạnh giá đã đi qua khuôn mặt này.
Viên bốc sư đã nhận rõ những gì đang diễn ra trong tâm hồn Zarathustra, nên y đưa tay vuốt mặt, như muốn xóa nhòa khuôn mặt đi; Zarathustra cũng làm giống như y. Khi cả hai đã điềm tĩnh và mạnh mẽ trở lại, họ đưa tay cho nhau nắm để tỏ rằng họ muốn nhìn nhận nhau.
Zarathustra lên tiếng trước: “Xin nồng nhiệt đón mừng bạn, viên bốc sư của cơn chán nản rã rời. Không phải là điều vô ích khi trước đây có lần bạn đã là người khách và kẻ cùng bàn của ta. Cả hôm nay nữa, xin bạn cứ ăn uống tự do trong hang đá của ta và xin thứ lỗi nếu một lão già tươi vui hoan hỉ lại ngồi cùng bàn với bạn!”
Viên bốc sư lắc đầu: “Một lão già hoan hỉ! Dẫu ngài là ai hay dẫu ngài muốn mình là ai đi nữa, hỡi Zarathustra, ngài cũng sẽ không ở trong tình trạng đó lâu đâu trên đỉnh cao này. Chẳng bao lâu nữa, chiếc thuyền của ngài sẽ không còn nơi ẩn náu”.
Zarathustra vừa cười vừa hỏi: “Vậy, ta đang ẩn nấp đấy à?” Viên bốc sư trả lời: “Những làn sóng chung quanh ngọn núi ngài đang dâng lên, dâng mãi không ngừng, những làn sóng của sự lầm than vô bờ, của sự buồn rầu ảo não: chẳng mấy chốc chúng sẽ làm nổi thuyền ngài lên và xô dạt ngài đi”.
Lúc bấy giờ, Zarathustra lặng im, kinh ngạc. Viên bốc sư tiếp lời: “Ngài không nghe gì cả nữa à? Tiếng xào xạc lẫn tiếng vo vo phát ra từ hố thẳm?” Zarathustra vẫn im lặng, lắng tai: lúc bấy giờ hắn nghe một tiếng thét dài mà những hố thẳm phát ra và dội trả lại lẫn cho nhau, bởi vì không có hố thẳm nào muốn giữ lại tiếng kêu ấy, một tiếng kêu bi thống vô ngần.
Sau cùng, Zarathustra lên tiếng: “Hỡi kẻ tiên tri của bất hạnh, đấy là tiếng kêu thống khổ, tiếng gọi của một người, phát xuất từ một vùng biển đen nào đó. Nhưng ta có sá gì nỗi thống khổ của loài người! Tội lỗi cuối cùng được dành cho ta, ngươi có biết tên nó là gì không?”
Lòng thương xót!” viên bốc sư trả lời với tấm lòng chan chứa khôn ngăn và y đưa hai tay lên: “Hỡi Zarathustra, tôi đến để kéo ngài tới tội lỗi cuối cùng ấy!”
Viên bốc sư vừa nói dứt thì tiếng kêu lại vang dội lên lần nữa, tiếng kêu dài hơn, đầy lo sợ hơn trước, và cũng đã nghe gần hơn. “Zarathustra! Ngài có nghe chăng? Viên bốc sư hỏi lớn, tiếng kêu ấy nhắm gửi đến ngài, tiếng thét ấy nhằm kêu gọi ngài đấy: đến đây, đến đây, đến đây đi, đến lúc rồi, quá đúng lúc rồi!”
Trong khi đó, Zarathustra câm lặng, tâm trí hắn rối loạn bời bời và bị kích động dữ dội. Sau cùng, hắn lên tiếng hỏi, như một kẻ còn ngập ngừng do dự: “Ai đang kêu gọi ta dưới kia như thế?”
- Ngài không biết kẻ đó thực à? Viên bốc sư hăng hái trả lời, tại sao ngài lại giả vờ như thế chứ? Chính con người thượng đẳng đang kêu cứu với ngài!
Zarathustra hỏi lớn, lòng tràn kinh hãi: “Con người thượng đẳng! Y muốn gì? Y muốn gì cơ chứ? Con người thượng đẳng! Y muốn gì ở đây?” - mồ hôi rịn đầy thân thể hắn.
Nhưng viên bốc sư không trả lời cho nỗi xao xuyến lo âu của Zarathustra, y lắng nghe, lắng nghe mãi, nghiêng mình trên hố thẳm. Và sự im lặng kéo dài, y đưa mắt ngoái nhìn ra sau, và thấy Zarathustra đang đứng run rẩy.
Y lên tiếng bằng một giọng đầy buồn bã:
“Hỡi Zarathutra, ngài không có bộ dáng của một kẻ mà hạnh phúc làm cho xoay cuồng: ngài sẽ phải nhảy múa để đừng bổ ngửa ra sau!
Và nếu ngài lại muốn khiêu vũ trước mặt tôi và làm đủ mọi trò nhảy nhót, cũng không ai có thể bảo tôi rằng: “Nhìn xem kìa, kia là con người tươi vui hoan hỉ cuối cùng đang khiêu vũ!”
Nếu có ai muốn leo lên đến đỉnh cao này để tìm kiếm con người hoan hỉ đó, thời y đã leo lên một cách luống công vô bổ: cố nhiên là y sẽ tìm thấy những hang động bí mật, những chỗ trú thân cho các ẩn sĩ, nhưng y sẽ chẳng bao giờ tìm thấy được những giếng nước hạnh phúc, những kho tàng chôn kín, hoặc những suối nguồn vĩnh phúc trinh tân.
Hạnh phúc! - làm thế nào để tìm thấy hạnh phúc nơi những con người bị chôn liệm rồi như thế, nơi những nhà ẩn sĩ như thế! Ta có còn phải tìm kiếm niềm hạnh phúc cuối cùng trên những hòn đảo Vĩnh Phúc xa tít đằng kia, trên những đại dương bị quên lãng?
Nhưng mà tất cả mọi sự đều như nhau, chẳng có gì đáng cho ta bỏ công, mọi sự kiếm tìm đều vô bổ, chẳng còn những hòn đảo Vĩnh Phúc trên cõi đời này nữa!”
Viên bốc sư than thở như thế; nhưng dứt lời than thở của y, Zarathustra đã lấy lại sự thanh thản tĩnh lặng và sự vững tâm, tựa như kẻ leo ra đến ánh sáng khi chui từ một vực thẳm lên.
“Không! Không! Ngàn lần không! - Zarathustra gầm lên, và đưa tay vuốt chòm râu bạc. Ta biết điều đó rõ hơn nhà ngươi! Hãy còn có những hòn đảo Vĩnh Phúc! Nhà ngươi đừng nói nữa, hỡi chiếc bị buồn phiền, hỡi kẻ hay khóc than rền rĩ!
Hãy thôi bập bềnh, hỡi làn mây mang mưa buổi sáng! Ngươi không thấy rằng ta đã bị xuyên thấu bằng nỗi buồn bã của tâm hồn ngươi và bị ướt đẫm như một con chó hay sao?
Giờ đây, ta quẫy mạnh thân hình chạy xa ngươi để thân thể khô ráo trở lại: ngươi chớ ngạc nhiên! Ta có vẻ bất nhã chăng? Nhưng nơi đây là triều đình của ta.
Về con người thượng đẳng của ngươi, ta sẽ đến tìm ngay người đó trong những cánh rừng này: tiếng kêu của y đã phát ra từ đó. Có lẽ một con dã thú đang hăm dọa y.
Y đang ở trong lãnh địa của ta: ta không muốn có điều bất hạnh xảy đến cho y nơi đây! Và thực ra, trong vùng ta cư ngụ, có rất nhiều thú hoang”.
Dứt lời, Zarathustra toan cất bước, lúc ấy, viên bốc sư bảo:
“Hỡi Zarathustra! Ngài là một tên xỏ lá ba que! Ta biết rõ mà: ngài muốn tránh gặp ta! Ngài thích ẩn trốn trong rừng sâu, và thích theo đuổi những con thú hoang!
Nhưng chuyện ấy sẽ giúp ích gì được cho ngài? Dẫu sao thì đến tối ngài cũng sẽ gặp lại ta; ta sẽ ngồi trong hang đá của ngài, kiên nhẫn, nặng nề như một khúc gỗ, ta sẽ chờ đợi”.
“Cầu mong như vậy! Zarathustra nói lớn và bỏ đi, - những gì thuộc về ta trong hang đá cũng thuộc về ngươi, hỡi tân khách của ta!
Nếu còn tìm thấy được mật ngon ở đó, ngươi cứ liếm cho đến khi hết sạch đi, hỡi con gấu cẳn nhẳn, và hãy lắng dịu tâm hồn ngươi xuống! Bởi vì chiều nay cả hai chúng ta đều sẽ vui vẻ,
- vui vẻ và hài lòng rằng ánh ngày đã tắt! Và cả chính ngươi cũng phải khiêu vũ theo âm thanh những ca khúc của ta, như thể ngươi đã là con gấu thông thái của ta.
Ngươi chẳng tin ư? Ngươi lắc đầu? Vậy thì hãy đi đi, hỡi con gấu già! Nhưng ta, ta cũng là một viên bốc sư”.
 
Zarathustra đã nói như thế.
0
 
ĐÀM ĐẠO VỚI CÁC ÔNG VUA


1


Zarathustra lên đường, băng qua những ngọn núi, những khu rừng của hắn vừa được chừng một tiếng đồng hồ, thì đột nhiên hắn nhìn thấy một đám rước lạ lùng. Ở giữa con đường Zarathustra muốn đi, có hai ông vua tiến bước, cả hai đầu đội vương miện, thắt lưng màu đỏ huyết, sặc sỡ nhiều màu như những con chim hồng hạc: hai ông vua đẩy trước mặt mình một con lừa chở nặng. “Mấy ông vua này muốn gì đây trong vương quốc của ta?” Zarathustra kinh ngạc nhủ lòng như thế, và vội vã nấp vào sau một bụi rậm. Nhưng khi hai ông vua đến gần sát bên hắn, hắn buột miệng thì thào, như một người đang lẩm bẩm nói với chính mình: “Lạ thật, lạ thật! Sao vậy kìa? Ta nhìn thấy hai ông vua - nhưng lại chỉ có một con lừa!”
Lúc bấy giờ hai ông vua dừng bước, mỉm cười nhìn về phía phát ra tiếng nói, rồi họ quay lại nhìn vào mặt nhau: “Ở xứ chúng ta, thiên hạ cũng nghĩ đến những chuyện đó, nhưng họ không nói ra thành lời”.
Ông vua bên trái nhún vai, trả lời: “Đây chắc hẳn là một gã chăn dê, hoặc một ẩn sĩ đã sống quá lâu giữa đá và cây. Không có bầu bạn quả cũng làm hư hỏng cả những phong tục tốt”.
Ông vua kia vặn lại, với vẻ giận dữ đắng cay: “Những phong tục tốt! Vậy chứ chúng ta muốn trốn thoát khỏi cái gì đây, nếu không phải là muốn trốn khỏi những “phong tục tốt”, muốn trốn khỏi “giới thượng lưu” của chúng ta?
Thực ra, chẳng thà sống giữa những ẩn sĩ và những gã chăn dê còn hơn là sống với đám tiện dân óng vàng, ngụy hóa, nhạt phèo như nước ốc của chúng ta - dẫu rằng đám tiện dân đó tự gọi mình là “giới thượng lưu”,
- dẫu chúng tự gọi mình là “giai cấp quý phái”. Ở đấy, tất cả mọi sự đều là trá ngụy, thối nát, trước nhất là dòng máu, nhờ vào những chứng bệnh lâu đời xấu xa và những tay trị bệnh còn tồi tệ xấu xa hơn nữa.
Kẻ có giá trị nhất thời đại bây giờ, chính là người nông dân tráng kiện; hắn là kẻ thô bạo, giảo quyệt, ngoan cố bướng bỉnh và kiên trì chịu đựng: đó là dòng dõi quý phái nhất thời này.
Người nông dân là kẻ tốt lành nhất thời này; và dòng dõi nông dân phải trị vì. Nhưng đấy là sự trị vì của đám tiện dân, - ta không còn lầm lẫn hồ nghi gì nữa. Thế mà, tiện dân có nghĩa là: hỗn mang, lộn xộn.
Tình trạng loạn xà ngầu của đám tiện dân: mọi sự trộn lẫn với mọi sự, vị thánh nhân và tên vô lại, người quý tộc và dân Do Thái, cùng tất cả những con thú chở trên chiếc tàu của Noé.
Những phong tục tốt! Nơi xứ chúng ta, tất cả đều trá ngụy và thối nát. Chẳng còn ai biết tôn kính phụng thờ nữa; đấy chính là điều chúng ta ước muốn trốn thoát. Đấy là những con chó thèm ăn, rầy rà không chịu nổi, chúng thếp vàng trên những chiếc lá cọ.
Sự ghê tởm làm ta nghẹt thở, đến độ ngay cả các ông vua như chúng ta cũng đã trở thành trá ngụy, che đậy, hóa trang dưới bề ngoài xa hoa già cỗi nhạt màu của các đấng tiên vương, những huy chương trong cuộc lễ cho những con người ngu đần giảo hoạt nhất, và cho tất cả những ai tự biến mình thành kẻ cho vay nặng lãi của quyền hành.
Chúng ta không phải là những con người đệ nhất, nhưng chúng ta phải tỏ ra mình là những con người đệ nhất: rốt cuộc, chúng ta đã mệt mỏi, chán ngấy đến tận cổ những trò lừa gạt trí trá kia.
Cái làm chúng ta ngoảnh mặt khinh bỉ, chính là đám tiện dân, chính là tất cả những kẻ la lối bậy bạ, tất cả những con ruồi dính chặt không rời và những văn sĩ thổ tả, chính là xú khí của những tên chủ hiệu buôn, sự náo động của những kẻ nhiều tham vọng, những hơi thở thối tha: - ồ, thật xấu hổ khi phải sống giữa đám tiện dân lúc nhúc ấy,
- thật xấu hổ khi phải gắng sức tỏ ra là con người đệ nhất giữa đám tiện dân! Ồ, thật là kinh tởm! Kinh tởm! Kinh tởm! Nào có sá gì những ông vua như chúng ta”.
Lúc bấy giờ ông vua bên trái lên tiếng:
- “Chứng bệnh cũ của anh lại tái phát, sự kinh tởm lại xâm chiếm hồn anh, hỡi người bạn đáng thương! Anh không biết rằng có kẻ nào đó đang lắng nghe chúng ta hay sao?”
Đã thấy và nghe rõ tất cả những lời lẽ trên, ngay khi đó, Zarathustra đứng dậy, rời khỏi chỗ ẩn, tiến đến trước mặt hai ông vua và lên tiếng:
- “Kẻ lắng tai nghe các ngươi, kẻ thích nghe các ngươi, những ông vua, kẻ đó tên là Zarathustra.
Ta là Zarathustra, kẻ đã từng có lần bảo rằng: “Sá gì những ông vua!” Xin hãy tha lỗi cho ta nếu ta vui mừng khi nghe các ngươi nói cùng nhau: “Nào có sá gì những ông vua như chúng ta!”
Nhưng nơi đây, các ngươi đang ở trong vương quốc dưới sự thống trị của ta: các ngươi có thể tìm kiếm được gì trong vương quốc ta? Có lẽ, trên đường đi, các ngươi đã gặp kẻ mà ta đang tìm kiếm: ta đang tìm kiếm con người thượng đẳng”.
Khi nghe xong, hai ông vua đưa tay đấm ngực, rồi đồng thanh thốt lên:
- “Chúng ta đã được nhận ra!
Lời nói của ngài như lưỡi kiếm xuyên thủng những bóng tối dày đặc nhất trong lòng ta. Ngài đã khám phá ra nỗi thống khổ của ta. Bởi vì, chúng ta đang trên đường đi tìm con người thượng đẳng,
- con người cao cả hơn chúng ta, dẫu rằng chúng ta là những quốc vương. Chúng ta dắt theo con lừa này cốt dành cho con người đó. Bởi vì con người cao cả nhất cũng phải là vị chủ nhân cao nhất trên mặt đất.
Trong trọn vẹn định mệnh loài người, chẳng có sự sỉ nhục nào tàn tệ hơn khi những kẻ mạnh trên mặt đất đồng thời lại không là những nhân vật đệ nhất. Lúc bấy giờ, mọi sự đều trở thành giả mạo, tà vạy, quái dị.
Và khi họ lại là những con người tồi tệ nhất, giống như thú vật, thì lúc bấy giờ đám tiện dân leo lên và leo lên cao giá; sau cùng đức hạnh của đám tiện dân bảo rằng: “Này, chỉ có mình ta là đức hạnh!”
Zarathustra đáp lại:
“Ta vừa nghe những lời gì thế? Các ông vua quả thật khôn ngoan! Ta say mê và, quả vậy, ta đã nảy sinh ý muốn sáng tác một ca khúc về hiện tượng này:
- khúc ca của ta có lẽ sẽ không dành cho lỗ tai của mọi người thiên hạ. Đã từ lâu, ta học quên đi lòng tôn kính đối với những lỗ tai dài. Nào, hãy tiến lên!”
(Nhưng vào lúc này, có một chuyện xảy ra: cả con lừa cũng lên tiếng. Nó rống to với giọng rõ ràng và vẻ mặt láu cá hiểm độc: I-A.)
Một ngày nọ, vào Năm Đầu thế kỷ,
Trong men say dù chẳng nốc rượu nồng
Người Nữ Vu than thở suốt hư không:
“Ồ, tồi tệ! Suy đồi! Ôi, tồi tệ!
Hỡi trần gian sao suy đồi đến thế:
Oai vang xưa La Mã biến đâu rồi?
Nay chỉ là người gái của muôn nơi!
Và hoàng đế oai hùng César ấy,
Nay chỉ là con vật gầy run rẩy!
Cả Thượng đế cũng biến thành tên Do Thái!”


2


Hai ông vua lấy làm vui thích tán thưởng bài hát của Zarathustra:
“Hỡi Zarathustra! Chúng tôi đã hành sự đúng vô cùng khi lên đường tìm đến gặp ngài!
Bởi vì các thù địch của ngài đã chỉ cho tôi nhìn thấy hình ảnh ngài qua tấm gương của họ; trong gương, ngài có vẻ mặt nhăn nhó của quỷ ma với nụ cười chua cay đến độ làm chúng tôi hoảng sợ.
Nhưng nào có ích gì! Ngài không ngừng thâm nhập vào tai và lòng chúng tôi với những câu châm ngôn của ngài. Lúc bấy giờ, rốt lại chúng tôi bảo rằng: nào có quan hệ gì khuôn mặt của ông ta!
Chúng tôi phải nghe ngài nói, vì ngài là kẻ đã dạy: “Các bạn phải yêu hòa bình như một phương tiện mở ra những cuộc chiến tranh mới và hãy yêu một hòa bình ngắn hạn hơn là một hòa bình trường cửu!”
Từ trước đến nay, chưa từng có ai đã thốt ra những lời lẽ đầy thượng võ như thế. “Điều thiện hảo là gì? Dũng cảm, đấy chính là điều thiện hảo. Chính một trận chiến tranh tốt lành sẽ thánh hóa tất cả mọi sự”.
Hỡi Zarathustra, khi nghe đến những lời này, dòng máu của tổ tiên trỗi dậy trong huyết quản chúng tôi: lời nói đó đã như lời lẽ của mùa Xuân thốt ra với những thùng đựng rượu cũ.
Khi những lưỡi gươm giao chạm nhau giống những con rắn lốm đốm vết đỏ thẫm, thì lúc bấy giờ, những đấng tiên vương của chúng ta mới bắt đầu ham thích đời sống; đối với họ, mặt trời hòa bình thì lờ mờ và âm ấm, song hòa bình lâu dài làm các ngài xấu hổ.
Các đấng tiên vương của chúng tôi thở dài não nuột u sầu khi họ nhìn thấy những thanh gươm nhẵn bóng, không được dùng tới, treo trên tường! Giống như những thanh gươm đó, các ngài khao khát chiến tranh. Bởi vì mọi thanh gươm đều muốn uống máu người và lóe sáng khát vọng”.
Trong khi hai ông vua nói năng ba hoa như thế về lạc phúc của các đấng tiên vương của họ, với lòng hăng say nồng nhiệt, thì Zarathustra lại ước muốn chế nhạo sự nồng nhiệt của họ vô cùng: bởi vì trước mặt Zarathustra là hai ông vua rất thanh thản, hai ông vua với vẻ mặt già nua thanh thoát. Nhưng Zarathustra đã tự thắng mình. Hắn lên tiếng:
“Nào, lên đường đi thôi! Các ngươi đang ở đúng đường, trên kia là hang đá của Zarathustra; và tối nay hẳn phải là một buổi tối dài dặc! Giờ đây, một tiếng kêu thống khổ cấp bách đang kêu gọi ta rời xa các ngươi.
Hang đá của ta sẽ được vinh dự nếu có các ông vua dừng chân tại đó đợi chờ; nhưng quả thật là các ngươi sẽ phải đợi chờ lâu lắm!
Mà nào quan hệ gì! Thời đại hôm nay, có nơi nào người ta học chờ đợi tốt hơn là trong các chốn triều đình? Và trong tất cả những đức hạnh của các ông vua, đức hạnh độc nhất còn lại cho họ hiện nay, há chẳng phải đức hạnh được gọi bằng tên là “biết chờ đợi” hay sao?”
 
Zarathustra đã nói như thế.
0
CON ĐỈA HÚT MÁU


Dáng điệu tư lự, Zarathustra tiếp tục con đường, hắn leo xuống thấp mãi, xuyên qua những khu rừng, đi dọc theo những đầm lầy; nhưng, như chuyện vẫn xảy ra với tất cả mọi người đang trầm tư đến những điều khó khăn nhất, vì lơ đễnh Zarathustra vấp phải một người. Lập tức, cùng lúc, có một tiếng kêu đau đớn, hai lời nguyền rủa và hai chục lời chửi bới ào vào mặt Zarathustra: đến nỗi Zarathustra kinh hãi, giơ gậy lên và lại đập vào kẻ hắn vừa vấp phải. Nhưng hầu như liền sau đó Zarathustra lấy lại được bình tĩnh ngay, và hắn cười ồ lên trong lòng về sự ngu xuẩn của mình.
“Xin lỗi ngươi”, Zarathustra nói với người vừa bị hắn vấp phải, lúc đó đã giận dữ đứng dậy nhưng rồi lại ngồi xuống ngay. “Xin lỗi ngươi và trước hết, xin ngươi hãy nghe một ẩn ngôn:
Như một lữ khách đang mơ mộng đến những chuyện viển vông trên một con đường cô liêu thì sơ ý va phải một con chó đang nằm ngủ, một con chó nằm phục dưới ánh mặt trời.
Cả hai chồm dậy, cộc cằn xáp lại gần nhau; giống như những kẻ tử thù, cả hai đều kinh sợ chết người: hai chúng ta là như thế đó.
Nhưng tuy vậy, tuy vậy - chỉ còn thiếu chút nữa là cả hai, con chó và người lữ khách cô đơn ấy sẽ ôm chầm lấy nhau mà mơn trớn. Cả hai há chẳng phải đều cùng là những kẻ cô đơn?”
Kẻ bị Zarathustra vấp phải trả lời, vẫn với giọng điệu giận dữ:
- “Dẫu ngài là ai, ngài vẫn tiến đến quá gần tôi, chẳng phải chỉ bằng bàn chân ngài mà còn bằng câu chuyện của ngài nữa! Này, vậy ra tôi là một con chó à?” - và trong khi hỏi như thế, kẻ đang ngồi đó vụt đứng dậy, kéo cánh tay để trần của y ra khỏi đầm lầy. Bởi vì từ lúc đầu, y cứ nằm dài trên đất, ẩn khuất và khó nhận ra, như một kẻ đang rình dò một con mồi trong các đầm lầy.
“Nhưng mà, ngươi làm gì thế?” Zarathustra kinh hãi kêu lên, vì thấy có rất nhiều máu chảy trên cánh tay trần của người nọ. “Chuyện gì đã xảy đến cho ngươi? Một con thú độc ác đã cắn ngươi phải không, hỡi kẻ bất hạnh kia?”
Kẻ bị chảy máu kia cười ngạo, vẫn với giọng giận dữ: “Chuyện ấy có quan hệ gì đến ngài cơ chứ?” Y hỏi lớn và muốn cất bước tiếp tục con đường. “Ở đây, ta đang ở tại nhà ta và trong lãnh địa của ta. Bất cứ ai muốn chất vấn ta cũng được cả, nhưng ta sẽ không trả lời cho một kẻ vụng về.”
“Ngươi lầm rồi - Zarathustra đáp bằng giọng thương hại và đưa tay giữ người kia lại. Ngươi lầm rồi: ở đây, ngươi không ở nhà ngươi đâu, mà đang ở trong lãnh địa của ta. Và nơi đây, nhất thiết phải đừng xảy ra điều bất hạnh nào cho bất luận là ai.
Ngươi cứ gọi ta bằng bất luận tên gì ngươi muốn, - ta vẫn là kẻ mà ta phải là. Ta là Zarathustra.
Nào, trên cao kia là con đường dẫn tới thạch động của Zarathustra: hang đá không xa đây lắm - ngươi không muốn đến hang ta để săn sóc các vết thương ư?
Hỡi kẻ bất hạnh, quả thực ngươi chẳng gặp may trong cõi đất này: trước tiên là con thú đã cắn ngươi, rồi thì con người lại giẫm bước lên ngươi!”
Nhưng khi nghe đến tên Zarathustra thì kẻ kia liền thay đổi thái độ. Y kêu lên:
- “Chuyện gì đang xảy đến cho tôi đây? Đối với tôi, trên cuộc đời này, còn có quan trọng hơn là con người độc nhất mang tên Zarathustra kia, và con thú độc nhất sống bằng máu người, con đỉa?
Chính vì con đỉa mà tôi đã phủ phục nằm đây, trên bờ đầm lầy, như một kẻ đánh cá, và khi cánh tay căng thẳng của tôi bị cắn nát mười lần thì một con vật xinh đẹp hơn lại khởi sự cắn vào máu tôi: Zarathustra!
Ồ, hạnh phúc! Ôi, phép màu! Xin chúc phúc cho cái ngày đã lôi kéo ta đến chốn đầm lầy này! Chúc phúc cho cái giác hút thiện hảo nhất còn đang sống ngày hôm nay, chúc phúc cho con đỉa vĩ đại của những ý thức: Zarathustra!”
Kẻ bị Zarathustra vấp phải đã nói như thế. Và Zarathustra hài lòng về những lời lẽ cùng dáng điệu thanh nhã đầy tôn kính của y. Zarathustra vừa đưa tay cho y vừa hỏi: “Ngươi là ai? Giữa hai chúng ta còn nhiều điều cần phải soi sáng và làm cho tươi tỉnh lại: nhưng ta thấy rằng ánh sáng đã lên, trong sáng và thuần khiết.”
Người bị chất vấn trả lời:
- “Tôi là Kẻ tận tâm của tinh thần, và trong những sự việc của tinh thần, khó có kẻ nào để tâm đến chúng một cách khắc nghiệt, chật hẹp, chặt chẽ hơn tôi, trừ người mà tôi đã học hỏi: Zarathustra.
Chẳng thà đừng biết gì cả còn hơn là biết quá nhiều chuyện, nhưng chỉ biết nửa vời! Chẳng thà làm một người điên cho riêng mình còn hơn làm một nhà hiền triết trong ý kiến của những kẻ khác! Tôi là người đi đến tận căn để:
- dẫu nó lớn hay nhỏ, nào có can hệ gì? Dẫu nó tên là đầm lầy hay trời cao, nào có can hệ gì? Một mẩu đất lớn bằng bàn tay cũng đủ cho tôi: miễn đất đó thực sự là đất cứng!
- một mẩu đất lớn bằng bàn tay: người ta có thể đứng vững trên đó. Trong khoa học tận tâm đích thực, chẳng có gì lớn và chẳng có gì nhỏ.”
Zarathustra hỏi: “Vậy, có lẽ ngươi là kẻ tìm biết về loài đỉa? Ngươi theo đuổi loài đỉa đến tận những nguyên nhân đệ nhất, vì ngươi là kẻ tận tâm?”
Kẻ bị Zarathustra vấp phải trả lời:
“Hỡi Zarathustra, đấy sẽ là một điều kỳ quái, làm thế nào tôi dám chuyên tâm nghĩ về một chuyện như vậy!
Nhưng điều mà tôi làm chủ và sành sỏi, chính là bộ óc con đỉa: - bộ óc con đỉa là vũ trụ của riêng tôi!
Và đấy cũng là một vũ trụ! Nhưng xin ngài tha lỗi vì lòng kiêu hãnh của tôi lại bộc lộ nơi đây, bởi vì trong lĩnh vực này, chẳng ai sánh kịp với tôi. Chính vì thế, tôi mới bảo: “Nơi đây chính là lãnh địa của tôi”.
Biết bao lâu rồi, tôi theo đuổi cái sự việc độc nhất kia, bộ óc loài đỉa, cốt cho chân lý có thể co kéo dẻo dai thành sợi không thoát khỏi tay tôi nữa! Ở đây chính là vương quốc của tôi.
Chính vì thế tôi đã vứt bỏ những gì còn lại, chính vì thế tôi lãnh đạm với mọi cái còn lại; và kề cận tri thức khoa học của tôi, là sự ngu dốt đen tối của tôi trải rộng.
Ý thức về tinh thần đòi hỏi tôi phải biết rõ một điều, còn ngoài ra thì mù tịt mọi điều khác: tôi đã kinh tởm tất cả những biện pháp nửa vời của tinh thần, kinh tởm tất cả những tinh thần mây khói, bập bềnh và nồng nhiệt.
Nơi nào sự chân thực của tôi ngừng lại, nơi đó khởi đầu sự mù quáng của tôi. Và tôi muốn mù quáng. Tuy nhiên, nơi nào mà tôi muốn tri thức, tôi cũng muốn chân thực, nghĩa là chặt chẽ, nghiêm khắc, khổ hạnh, tàn bạo, không thể nguôi ngoai.
Hỡi Zarathustra, có một hôm ngài đã dạy rằng: “Tinh thần, chính là đời sống tự phân cắt chia lìa chính đời sống”, câu đó đã dẫn tôi đến với đạo lý của ngài và đã quyến rũ tôi say mê đạo lý ấy. Thực ra, tôi đã tăng trưởng tri thức khoa học của tôi bằng chính máu huyết thân thể mình.”
- “Điều ngươi nói quả là hiển nhiên”, Zarathustra ngắt lời y; và máu vẫn tiếp tục chảy từ cánh tay trần của kẻ tận tâm vì có mười con đỉa đang bám chặt vào đấy.
“Hỡi con người kỳ dị kia ơi, trong sự hiển nhiên này, tức là chính bản thân ngươi, chứa đựng biết bao lời giảng dạy! Và có lẽ ta sẽ không dám trút ra tất cả những lời giảng dạy vào trong hai lỗ tai nghiêm khắc của nhà ngươi.
Nào! Chúng ta chia biệt nơi đây thôi! Nhưng ta mong sẽ được gặp lại ngươi. Trên kia là con đường dẫn đến hang đá của ta. Đêm nay ngươi sẽ là một người khách quý của Zarathustra.
Zarathustra cũng muốn cứu chữa lại trên thân xác ngươi sự tổn hại hắn đã gây ra khi lỡ giẫm đạp lên ngươi: đấy là điều ta đang nghĩ đến. Nhưng giờ đây, một tiếng kêu thống khổ đang cấp bách kêu gọi ta rời xa ngươi.”
 
Zarathustra đã nói như thế.
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2009-07-28 10:23:05Sun Ming>
VIÊN PHÁP SƯ

1


Nhưng khi vòng quanh một tảng đá, Zarathustra lại nhìn thấy cách đó không xa ở bên trên hắn, trên cùng đường đi, có một người đang múa máy tay chân như một tên điên giận dữ rồi cuối cùng y quăng mình nằm sấp xuống mặt đất. Lúc bấy giờ, Zarathustra tự nhủ: “Ta hãy dừng bước! Kẻ đó hẳn là con người thượng đẳng, chính tiếng kêu thống khổ đầy khủng khiếp đã xuất phát từ miệng y, - ta muốn thử xem ta có thể tiếp cứu gì được không”. Nhưng khi Zarathustra chạy vội đến bên người đàn ông đang nằm sấp trên mặt đất, thì hắn nhìn thấy một lão già run rẩy, đôi măt trừng trừng; tất cả những cố gắng của Zarathustra để dựng lão ta dậy và làm lão ta đứng lên đều vô ích. Kẻ khốn khổ dường như chẳng nhận thấy rằng có người ở bên cạnh; trái lại, y không ngớt ngó nhìn dớn dác láo liên và làm những cử chỉ rất não lòng, như một kẻ bị hắt hủi bỏ rơi, bị cô lập hoàn toàn khỏi thế giới. Tuy nhiên, rốt cuộc, sau nhiều cơn rùng mình nhảy nhổm, co quắp cả thân người, y bắt đầu than vãn bằng những lời lẽ sau đây:
Ai sẽ sưởi ấm ta, ai còn yêu thương ta nữa?
Hãy đưa về ta những bàn tay nồng ấm!
Hãy cho ta than hồng để sưởi nóng con tim.
Nằm sóng sượt, run rẩy,
Như một kẻ đang hấp hối được sưởi ấm đôi chân
Run lẩy bẩy vì những cơn sốt xa lạ,
Run rẩy trước những mũi tên giá buốt bén nhọn
                                                     của mùa Đông
Một kẻ bị ngươi săn đuổi, hỡi tư tưởng!
Bất khả danh, ẩn khuất, kinh hoàng,
Kẻ săn đuổi những đám mây trời!
Bị ngươi giáng sấm sét xuống đầu,
Con mắt chế giễu đăm đăm nhìn ta từ đáy sâu bóng tối
Ta nằm dài như thế đó,
Ta uốn cong người, lăn tròn, vặn vẹo đớn đau
Hứng chịu tất cả những khổ hình ngàn kiếp
Bị bắn hạ
Bởi bàn tay ngươi, kẻ thợ săn tàn bạo nhất trần đời,
Ngươi, vị Thượng đế bí ẩn lạ lùng!
 
Hãy xuyên thấu mạnh thêm!
Hãy xuyên thấu thêm một lần nữa,
Hãy xuyên thủng vỡ tan quả tim nồng ấm!
Tại sao vẫn diễn mãi những khổ hình đau đớn
Với những mũi tên cùn nhụt này?
Tại sao ngươi còn ngắm nhìn
Mà không bao giờ chán ngán nỗi thống khổ đớn đau
                                                         của nhân loại,
Với ánh sáng chớp lòa ngạo nghễ trong đôi mắt thần
                                                    linh của ngươi?
Ngươi không muốn giết người,
Mà chỉ muốn hành hạ đớn đau, hành hạ đớn đau?
Tại sao ngươi lại hành hạ ta thống khổ?
Hỡi Thượng đế giảo quyệt, bí ẩn lạ lùng?
 
Ồ! Ồ!
Ngươi đã trườn lết đến gần
Trong đêm khuya tịch mịch.
Ngươi muốn gì? Cứ lên tiếng đi!
Ngươi xô đẩy ép chạm sát vào ta.
Ồ, ngươi đã tiến đến quá gần!
Hãy cút đi! Cút cho thật gấp!
Ngươi đang nghe làn hơi ta thở,
Ngươi đang nghe quả tim ta máy động
Hỡi kẻ ganh tị là ngươi!
Ngươi ganh tị vì điều chi thế?
Hãy cút đi! Cút đi! Tại sao lại có chiếc thang này?
Ngươi muốn thâm nhập vào
Tận tim ta nồng ấm?
Tận những tư tưởng
Bí ẩn nhất của ta chăng?
Hỡi kẻ mặt dày mày dạn! Kẻ bí ẩn! - Tên trộm đạo!
Ngươi muốn ăn trộm những gì?
Ngươi muốn rình dò nghe lén những gì?
Ngươi muốn được gì từ sự giày vò hành hạ?
Hỡi ngươi, kẻ giày vò hành hạ!
Hỡi ngươi, đấng Thượng đế vừa là Đao thủ!
Hoặc giả ta phải như con chó,
Lăn tròn trước mặt ngươi?
Tận tụy, loạn cuồng, ly tán khỏi bản thân mình,
Ve vẩy đuôi bày tỏ lòng yêu thương ngươi?
Hoài công vô ích thôi! Hãy xuyên sâu thêm nữa!
Hỡi chiếc gai nhọn tàn bạo nhất! Không,
Ta không phải là con chó ngoan ngoãn của ngươi, -
                                              ta chỉ là con thịt của ngươi thôi,
Hỡi tay thợ săn hung tợn,
Kẻ tù nhân kiêu hãnh nhất của ngươi
Hỡi kẻ trộm đạo bên kia những đám mây lờ lững!
Sau cùng, ngươi hãy nói đi,
Ngươi muốn gì nơi ta, hỡi kẻ trộm đạo trên đường,
Ngươi, kẻ ẩn thân dưới những lằn chớp! Kẻ bí ẩn,
                                                        hãy nói đi!
Ngươi muốn gì nơi ta, - hỡi Thượng đế bí ẩn xa lạ!
Sao? Tiền chuộc của ta à?
Tại sao ngươi lại muốn một món tiền chuộc?
Nhưng mà ngươi đòi hỏi quá nhiều đấy nhé!
Lòng kiêu hãnh của ta khuyên ngươi như thế!
Và ngươi hãy nói cho thật ít lời - lòng kiêu hãnh khác
                                            của ta khuyên ngươi như thế!
Ha ha!
Chính ta là điều ngươi muốn? Ta!
Ta à? Toàn thể con người ta?
 
Ha ha!
Và ngươi lại giày vò hành hạ ta, hỡi kẻ điên dại là ngươi!
Ngươi đã giày vò hành hạ lòng kiêu hãnh của ta!
Hãy ban cho ta tình yêu - ai là người sẽ sưởi ấm ta?
Ai là kẻ vẫn còn thương yêu ta?
Hãy chìa về ta những bàn tay nồng ấm!
Hãy cho ta than hồng để sưởi nóng con tim!
Hãy ban cho ta, kẻ tối ư cô độc,
Kẻ mà băng giá, ồ, băng giá bảy tầng
Đã dạy cho khao khát kẻ thù
Khao khát, ngay cả những thù địch,
Hãy ban cho ta, - ờ, ban cho trọn vẹn
Hỡi kẻ thù hung tợn nhất,
Hãy ban cho ta trọn vẹn hồn ngươi!
 
Ồ, hắn đã biến mất rồi,
Ngay cả hắn cũng đã cao chạy xa bay,
Kẻ đồng hành độc nhất, cuối cùng,
Kẻ đại thù,
Người xa lạ bí ẩn của ta,
Tên đao thủ thần linh!
 
Không! Ngươi hãy quay trở lại
Cùng với tất cả những giày vò thống khổ,
Ngươi hãy quay trở lại với con người cô đơn cuối
                                         cùng trong số những kẻ cô đơn!
Ồ, ngươi hãy quay trở lại!
Tất cả những suối lệ của ta
Đều ào chảy đến ngươi,
Và ngọn lửa nồng lay lắt sau cùng của tim ta
Lại bừng sáng vì ngươi!
Ồ, ngươi hãy quay trở lại,
Ngươi, Thượng đế bí ẩn xa lạ! Ngươi, nỗi thống khổ!
                                           Ngươi, nỗi niềm hạnh phúc cuối cùng của ta!


2


Nhưng đến đây thì Zarathustra không thể dằn lòng lâu hơn được nữa, hắn cầm lấy cây gậy, giáng hết sức bình sinh vào kẻ đang than vãn. Vừa quất đập hắn vừa thét lớn trong tiếng cười phẫn nộ:
“Dừng lại, dừng lại ngay, đồ đóng trò hề! Đồ làm bạc giả! Quân dối trá thành tinh! Ta đã nhận rõ ra mi rồi!
Ta muốn châm lửa vào hai chân mi, hỡi đồ phù thủy vô liêm sỉ, ta biết nướng chín những kẻ mang dòng máu của mi”.
- “Thôi, thôi! Lão già vừa năn nỉ vừa nhảy phắt dậy, đừng đánh tôi nữa, hỡi Zarathustra! Tôi làm tất cả mọi trò đó chỉ để đùa bỡn thôi mà!
Những trò ấy nằm trong nghệ thuật của tôi; tôi chỉ muốn thử nghiệm chính ngài khi đưa ra sự thử thách nhỏ mọn đó![1] Nhưng thật ra, ngài đã thấu suốt ý định của tôi.
Song, cả ngài nữa - sự thử thách ngài đã ban cho tôi không phải là nhỏ! Ngài cứng rắn phũ phàng, hỡi Zarathustra hiền triết! Ngài đánh đập tàn nhẫn với những “chân lý” của ngài, cây tích trượng có đốt của ngài bắt tôi phải thú nhận chân lý ấy!”
Zarathustra trả lời, giọng hãy còn tức giận và gương mặt sa sầm:
“Chớ nịnh hót ta, hỡi tên kép hát tận linh hồn. Mi là giả mạo. Mi nói gì về chân lý?
Mi, con công của những con công, đại dương của hư vinh phù phiếm, mi đã diễn trò trước mặt ta đó hở, đồ phù thủy xấu xa? Ta sẽ phải tin vào ai khi mi cất lời than vãn như thế?”
Lão già đáp:
“Tôi chính là Kẻ khổ hạnh của tinh thần. Ngày xưa, chính ngài đã bày đặt ra chữ này,
 - nhà thi sĩ pháp sư sau cùng dùng tinh thần mình chống lại chính mình, kẻ đã bị chuyển hóa từ nội tâm và bị tri thức khoa học xấu xa cùng ý thức bất ổn của y làm thành băng giá cứng đơ.
Và ngài nên thú thật điều này đi, hỡi Zarathustra. Ấy là, muốn khám phá ra những trò tiểu xảo cùng những dối trá của tôi, ngài đã phải cần đến thời gian! Khi nâng đầu tôi lên giữa hai bàn tay, ngài đã tin rằng tôi đang thực sự bị khốn khổ giày vò.
Tôi đã nghe ngài rên rỉ: “Người đời chẳng thương yêu y, họ chẳng thương yêu y tí nào!”
Đánh lừa được ngài về điểm này là điều làm cho sự hung tợn của tôi thầm kín cất tiếng reo vui”.
Zarathustra trả lời, giọng tàn nhẫn:
“Mi hẳn đã đánh lừa được nhiều kẻ tinh tế hơn ta về chuyện đó. Ta không cẩn trọng đề phòng đối với những kẻ cố ý đánh lừa. Ta phải coi thường sự cẩn trọng, số phận ta muốn thế.
Nhưng còn mi - mi phải lầm lẫn: ta hiểu mi khá đủ để biết rõ điều ấy! Những lời nói của mi bao giờ cũng phải có hai, ba hay bốn nghĩa. Ngay cả những gì mi vừa thú nhận bây giờ cũng chẳng đủ thật, cũng chẳng đủ hư đối với ta!
Hỡi đồ làm bạc giả dữ tợn, làm sao mi có thể hành động khác đi! Mi sẽ che đậy tô điểm cả đến chứng bệnh của mi nếu mi xuất hiện trần truồng trước viên y sĩ chữa trị cho mi.
Cũng thế, mi vừa mới tô điểm che đậy sự dối trá của mi trước mặt ta, khi mi bảo rằng: “chỉ để đùa bỡn thôi mà!” Cả trong câu nói đó cũng có vẻ nghiêm trang đứng đắn. Mi đúng một cái gì giống như một kẻ khổ hạnh của tinh thần!
Ta đoán nhận ra mi rồi: mi đã trở thành viên Pháp sư cho tất cả mọi người thiên hạ, thế nhưng đối với chính bản thân mi, mi chẳng còn dối trá lẫn giảo quyệt nữa, - đối với chính bản thân mi, mi đã vỡ mộng và tỉnh ngộ!
Mi đã gặt hái sự kinh tởm như là chân lý độc nhất của mi. Nơi con người mi, chẳng còn lời nào là thật nữa, nhưng cái miệng của mi hãy còn là thật: nghĩa là, sự kinh tởm đang dán chặt vào miệng mi”.
Khi Zarathustra nói đến đây thì viên Pháp sư già lớn tiếng trả lời bằng giọng cao ngạo:
“Ngài là ai chứ! Ai lại dám nói với ta như thế, nói với ta, kẻ vĩ đại nhất trong những người còn sống ngày hôm nay?” - và y ném một cái nhìn xanh lục phủ chụp lấy Zarathustra. Nhưng liền sau đó, y thay đổi thái độ và buồn rầu bảo:
“Hỡi Zarathustra, tôi đã mỏi mệt với tất cả những thứ đó, các nghệ thuật của tôi làm tôi kinh tởm, tôi không là người vĩ đại. Nào có ích gì mà giả vờ như thế! Nhưng ngài biết rõ điều này: tôi đã tìm kiếm sự cao đại!
Tôi muốn biểu trưng cho một vĩ nhân và có rất nhiều người đã bị tôi thuyết phục tin theo như vậy: nhưng sự dối trá này đã vượt quá sức tôi. Chính sự dối trá này làm tôi vỡ tan thây.
Hỡi Zarathustra! Nơi con người tôi tất cả đều là dối trá; nhưng tôi vỡ tan thây - đó lại là điều có thật nơi tôi”.
Zarathustra đáp, dáng vẻ u sầu và đôi mắt lặng lẽ cúi nhìn xuống đất:
“Đi tìm sự cao đại như thế là một điều vinh dự về phần mi, nhưng sự tìm kiếm đó cũng phản bội mi nữa. Mi không vĩ đại.
Hỡi lão già pháp sư vô liêm sỉ, điều tốt đẹp nhất và chân thật nhất nơi mi, điều mà ta xưng tụng nơi mi, là mi đã mỏi mệt chán ngán chính bản thân mình và mi đã thốt lên câu: “Tôi không là người cao đại”.
Chính đó là chỗ làm ta xưng tụng mi như một kẻ khổ hạnh của tinh thần: dẫu cho đấy là điều chỉ xảy ra trong một chớp mắt, thì trong chớp mắt ấy mi cũng đã chân thực.
Nhưng, hãy nói cho ta biết mi tìm gì ở đây trong những khu rừng, giữa những tảng đá của ta? Và nếu mi đã nằm dài trên con đường ta đi chỉ vì ta, thì thử hỏi, mi muốn chứng cứ gì từ nơi ta?
Mi muốn cám dỗ hoặc thử thách ta về chuyện gì?”
Zarathustra nói như thế và đôi mắt hắn tóe lửa. Lão già pháp sư im lặng một lúc, rồi trả lời:
“Tôi đã cám dỗ hoặc thử thách chăng? Tôi chỉ tìm kiếm mà thôi.
Hỡi Zarathustra, tôi đi tìm một kẻ nào chân thực, thẳng thắn, đơn sơ, một kẻ không giả vờ, một kẻ tuyệt đối liêm khiết, một chiếc bình đựng trí huệ hiền minh, một bậc thánh của tri thức, một vĩ nhân!
Ngài há không biết thế sao, hỡi Zarathustra? Tôi đi tìm Zarathustra”.
Lúc bấy giờ, một sự im lặng trải dài ra giữa hai người; trong khi ấy, Zarathustra đắm chìm vào một trầm tư thăm thẳm, đến nỗi hắn nhắm mắt lại. Nhưng sau đó, quay trở về với kẻ đối thoại, Zarathustra cầm lấy bàn tay của lão già pháp sư và bảo, giọng đầy lễ độ pha giảo hoạt:
“Được rồi! Trên kia là con đường dẫn đến hang đá của Zarathustra. Hang đá của ta chính là chỗ ngươi có thể tìm kiếm kẻ mà ngươi khát khao tìm kiếm.
Và ngươi hãy hỏi ý kiến hai con thú của ta, con ó và con rắn: chúng sẽ giúp ngươi tìm kiếm. Nhưng hang đá ta rất rộng lớn.
Quả thật, chính bản thân ta, ta cũng chưa nhìn thấy bậc vĩ nhân nào. Đối với cái gì cao đại, thì con mắt của kẻ tinh tế nhất ngày hôm nay cũng hãy còn quá thô vụng. Thời này là thời ngự trị của đám tiện dân.
Ta đã gặp quá nhiều người vươn tay duỗi chân và phình lớn bụng ra, trong khi đám dân chúng la gào: “Kìa, kìa! Một vĩ nhân!” Nhưng mà tất cả những chiếc bễ thợ rèn ấy dùng được vào việc gì cơ chứ? Rốt lại, gió luôn luôn chui lò ra từ chúng.
Rốt lại, con ếch luôn luôn phải vỡ tan thây, con ếch đã phình bụng quá to: lúc bấy giờ, gió trốn thoát khỏi bụng ếch. Đâm mũi nhọn vào bụng một kẻ vênh váo, ta gọi đấy là một cuộc giải trí hấp dẫn. Các con yêu dấu của ta ơi, hãy lắng nghe điều đó!
Hiện tại của chúng ta đang thuộc về đám tiện dân: ai còn biết được kẻ nào là lớn hay nhỏ nữa? Ai còn đi tìm sự cao đại mà thành công được chứ! Cao tay nhất là một kẻ điên: những người điên đang thành công trong việc đó.
Ngươi lại đi tìm những vĩ nhân, hỡi kẻ điên cuồng kỳ lạ; vậy, ai đã dạy ngươi đi tìm họ? Hôm nay có phải là lúc thuận tiện cho chuyện tìm kiếm đó không? Hỡi kẻ kiếm tìm ranh mãnh kia ơi! Tại sao ngươi lại cám dỗ và thử thách ta chứ?”[2]
 
Zarathustra đã nói như thế, tâm hồn hắn được khích lệ vui tươi, và vừa cất tiếng cười, Zarathustra vừa tiếp tục bước đi.
 
 
 
 
 
 
 
 

[1] “tôi chỉ muốn thử nghiệm chính ngài khi đưa ra sự thử thách nhỏ mọn đó”, chơi chữ với chữ Probe, vốn có hai nghĩa thử nghiệm, thử thách và trình diễn, trưng bày. Bản Việt ngữ chỉ diễn được một nghĩa.
[2] “Tại sao ngươi lại cám dỗ và thử thách ta chứ?” do động từ versuchen vừa có nghĩa là thử thách vừa có nghĩa là cám dỗ.
0
MIỄN DỊCH


Nhưng chỉ ít lâu sau khi thoát khỏi viên Pháp sư, Zarathustra lại thấy có một người ngồi trên vệ đường hắn đang đi, một người cao lớn, đen tuyền, khuôn mặt gầy nhom, xanh mét. Dáng vẻ bề ngoài của người này làm Zarathustra khó chịu kinh khủng. Zarathustra tự nhủ lòng:
“Khổ thân cho ta! Ta đang nhìn thấy sự buồn rầu ảo não trá hình mang mặt nạ. Khuôn mặt này dường như xuất xứ từ đám linh mục: bọn chúng muốn gì trong vương quốc của ta?
Ối dào! Vừa mới thoát được tên pháp sư kia thì lại có ngay một tên thầy pháp khác đặt bước đi qua trên con đường của ta,
- một tên thầy pháp nào đó, với đôi tay xảo diệu, một kẻ ảo não làm phép lạ nhờ vào ơn phước Thượng đế, một kẻ khinh thị nhẹ nhàng thế giới: giá gì quỷ dữ đến mang hắn đi!
Nhưng quỷ dữ không bao giờ có mặt đúng chỗ khi ta cần đến; quỷ dữ luôn luôn đến quá chậm, cái đồ loắt choắt mắc dịch, cái đồ què chân liệt cẳng đó!”
Zarathustra lầm bầm chửi rủa như thế, mà lòng rất nôn nóng, và Zarathustra nghĩ đến chuyện phải làm thế nào để đi qua trước mặt con người đen tuyền đó mà mắt vẫn không nhìn y. Nhưng sự thể lại diễn tiến một cách khác. Bởi vì cũng lúc đó, kẻ đang ngồi trước mặt chợt nhận ra sự hiện diện của hắn. Giống như vừa gặp được một hạnh phúc bất ngờ, y tất ta tất tưởi nhảy cẫng lên chạy bổ về phía Zarathustra.
Y lên tiếng: “Dẫu ngài là ai đi nữa, xin hãy giúp đỡ cho một kẻ lạc đường đang kiếm tìm, một lão già có thể gặp phải bất hạnh ở chốn này!
Thế giới này xa cách, lạ lùng vô tận đối với ta, ta đã nghe những con dã thú gầm thét tru tréo; và ngay chính kẻ có thể cho ta nơi trú ngụ, kẻ đó lại đã biến mất.
Ta đi tìm kẻ kính tín cuối cùng, bậc thánh, một ẩn sĩ sống cô đơn hoang tịch trong rừng, nên hãy còn chưa nghe nói đến điều mà ngày nay tất cả mọi người đều nghe biết”.
Zarathustra lên tiếng hỏi: “Điều mà ngày nay mọi người đều biết, đó là điều gì thế? Có lẽ đấy là chuyện đấng Thượng đế mà trước kia mọi người tin tưởng, nay đã chết rồi?”
Ông lão buồn bã trả lời: “Ngài nói đúng. Và ta chính là kẻ đã phục dịch cho đấng Thượng đế thuở xưa ấy đến tận giây phút cuối cùng.
Nhưng giờ đây, ta đang được miễn dịch. Ta không có chủ song lại chẳng tự do; vì vậy, ta chẳng bao giờ vui tươi được nữa, trừ những lúc sống trong hoài niệm.
Chính vì thế, ta mới leo lên những ngọn núi này để cử hành thêm lần nữa một đại lễ, cho thích hợp với địa vị một cựu Giáo hoàng và một linh mục của giáo hội (vì ngài nên biết, ta là vị Giáo hoàng cuối cùng) - một cuộc lễ tràn đầy những hoài niệm kính tín và sự tôn thờ Thượng đế.
Nhưng giờ đây, ngay cả chính y, con người kính tín nhất trong loài người, bậc thánh sống trong khu rừng, kẻ không ngừng cảm tạ Thượng đế bằng cách hát ca và than thở lầm bầm, y cũng đã chết.
Ta không gặp y khi tìm thấy cái chòi tranh y dùng làm nơi ẩn cư - nhưng ta thấy có hai con chó sói đứng đó tru rống lên vì y đã chết, bởi lẽ tất cả thú vật trong rừng đều thương mến y. Lúc bấy giờ, ta cắm đầu bỏ chạy.
Ta đã hoài công đặt chân đến những khu rừng và những ngọn núi này chăng? Lúc bấy giờ, ta bèn quyết định đi tìm một người khác, một kẻ kính tín nhất trong tất cả những kẻ không tín ngưỡng Thượng đế, - ta đi tìm Zarathustra!”
Lão già nói như thế và đưa mắt sắc lạnh nhìn kẻ đối diện. Nhưng Zarathustra đã đưa tay nắm lấy tay viên cựu giáo hoàng, ngắm nghía lão hồi lâu với lòng ngưỡng mộ. Rồi Zarathustra lên tiếng:
“Chao ôi! Bàn tay ngài mới thon đẹp làm sao, thưa đại nhân! Đây là bàn tay của một người luôn ban ơn phước. Nhưng hiện giờ, bàn tay ấy đang cầm tay kẻ mà ngài đang tìm kiếm, bàn tay ấy đang nắm giữ chính ta, Zarathustra.
Ta là Zarathustra, kẻ bất tín, người đã ném ra câu hỏi: “Ai là người bất tín hơn ta để ta vui hưởng lời giáo huấn của y?”
Zarathustra nói như thế, và cái nhìn hắn thâm nhập vào trong những ý tưởng cùng những hậu ý của viên cựu giáo hoàng. Sau cùng, vị giáo hoàng lên tiếng:
“Kẻ đã yêu thương và sở hữu Thượng đế nhiều nhất, cũng là kẻ đã đánh mất Thượng đế trọn vẹn nhất:
Hãy nhìn xem, ta cho rằng giữa hai chúng ta, giờ đây ta mới chính là kẻ bất tín nhất. Nhưng ai lại muốn đem lòng hoan hỉ vì chuyện đó!”
Sau một khoảng im lặng thật sâu, với dáng trầm ngâm tư lự, Zarathustra lên tiếng hỏi:
“Ngươi đã phục dịch Thượng đế đến giây phút cuối cùng? Ngươi biết rõ Thượng đế chết như thế nào chứ? Có phải quả thật như người ta kể rằng chính lòng thương xót đã làm Thượng đế nghẹt thở,
rằng khi nhìn thấy con người bị đóng đinh, Thượng đế đã không chịu đựng nổi,
rằng tình yêu dành cho con người lại biến thành hỏa ngục và sau cùng là cái chết của Thượng đế?”
Viên cựu Giáo hoàng không trả lời, mà lại đưa mắt ngó quanh ra chỗ khác, với một vẻ dữ tợn pha lẫn đớn đau ảo não trên gương mặt.
Sau một lúc suy nghĩ chín chắn, Zarathustra lại tiếp lời, mắt hắn vẫn nhìn thẳng vào tròng trắng măt của lão già:
“Thôi, ngươi cứ để ông ấy đi đi. Ngươi cứ để Thượng đế đi đi, vì Thượng đế đã thua mất. Và dẫu rằng chỉ nói toàn điều tốt về cái chết của Thượng đế là điều làm ngươi được vinh dự, ngươi cũng như ta đều biết rõ Thượng đế là ai, cũng như biết rằng Thượng đế đi theo những con đường kỳ dị”.
“Nói thật giữa ba con mắt với nhau,[1] - viên cựu Giáo hoàng bảo với vẻ tươi tỉnh trở lại (vì ông ta đui mất một mắt) - đối với những chuyện về Thượng đế, ta là người rành rẽ hơn cả Zarathustra và ta có quyền như thế.
Tình yêu của ta đã phục dịch cho Thượng đế suốt những năm trường, ở nơi nào ý chí của ta cũng đều dõi theo ý chí Thượng đế. Nhưng, một người nô bộc giỏi phải biết rõ hết - nhất là những chuyện mà chủ y tự giấu giếm cả với chính bản thân mình.
Đó là một Thượng đế bí ẩn, đầy những huyền nhiệm. Thực ra, chính con trai của Ngài cũng chỉ đến với Ngài bằng những con đường cong quẹo quanh co. Ở cánh cửa của đức tin vào đứa con trai, có sự ngoại tình.
Kẻ nào ca tụng Ngài như một Thượng đế của Tình yêu là kẻ có một ý tưởng thấp kém về chính tình yêu. Vị Thượng đế đó chẳng muốn mình cũng là một quan tòa ban bố thưởng phạt đấy sao? Nhưng kẻ nào yêu thương, thì sẽ yêu thương vượt quá hình phạt cùng sự đền bù tưởng thưởng.
Khi vị Thượng đế phương Đông đó còn trẻ, Ngài cứng rắn và khao khát trả thù, và Ngài đã dựng lên một hỏa ngục để giải trí các sủng thần của mình.
Nhưng sau cùng, Thượng đế đã trở thành già nua, nhu nhược, dịu dàng và trắc ẩn, giống với một nội tổ hơn là một người cha, và Thượng đế càng giống hơn nữa với một lão bà lụ khụ run run không vững.
Thượng đế đến ngồi ở góc lò sưởi, khuôn mặt nhăn nheo, lo lắng vì đôi chân yếu ớt của mình, mỏi mệt chán chường thế giới, chán nản không còn ước muốn gì nữa. Sau cùng, vào một hôm, Thượng đế chết ngạt vì lòng thương xót quá lớn của Ngài”.
Zarathustra ngắt lời:
“Ông cựu Giáo hoàng, chính ông đã tận mắt nhìn thấy những điều đó chứ? Rất có thể là chuyện đó đã diễn ra như thế, - như thế và cũng có thể là khác. Khi các đấng thần linh chết, bao giờ họ cũng chết theo nhiều cách.
Nhưng chẳng can hệ gì! Dẫu sự thể đã diễn ra như thế hay khác đi - thì Thượng đế cũng không còn nữa! Thượng đế đã làm đôi mắt và hai tai ta ghê tởm, ta chẳng hề muốn trách cứ Thượng đế điều gì tệ hại.
Ta yêu kẻ nào có cái nhìn trong sáng và ăn nói thẳng thắn. Nhưng còn Thượng đế thì - như ông đã biết rõ đấy, ông cựu linh mục, - Thượng đế có một cái gì giống với lề lối các ông, lề lối của các linh mục: Thượng đế là kẻ lờ mờ không minh bạch.
Thượng đế có tinh thần rối loạn mơ hồ. Chẳng phải Thượng đế thù ghét chúng ta, với hơi thở hổn hển giận dữ, về chuyện chúng ta hiểu bậy Thượng đế đó sao? Nhưng tại sao Thượng đế lại không ăn nói một cách minh bạch hơn chứ?
Và nếu lỗi đó là do hai lỗ tai ta, thì tại sao Thượng đế lại ban chi cho chúng ta hai lỗ tai nghe chẳng rõ điều ông ấy nói? Giả sử có cáu ghét bám vào lỗ tai ta thì thử hỏi, ai đã đặt cáu ghét vào đó?
Thượng đế như một kẻ làm đồ gốm chưa học xong nghề; có quá nhiều việc Thượng đế làm hỏng. Nhưng vì làm hỏng mà đâm ra trả thù những đồ gốm và những tạo vật do chính tay mình nặn ra, thì đấy quả là một tội lỗi đi nghịch lại óc thẩm mỹ.
Cũng có một óc thẩm mỹ trong lĩnh vực của lòng thương xót; óc thẩm mỹ này cuối cùng đã bảo: “Hãy cất khỏi chúng ta vị Thượng đế ấy đi. Chẳng thà không có Thượng đế, chẳng thà quyết định vận mạng theo trí óc mình, chẳng thà điên dại, chẳng thà tự mình là chính Thượng đế, còn hơn!”
“Ta đang nghe những lời gì đây? - Viên cựu Giáo hoàng ngắt ngang và vểnh tai lắng nghe. Hỡi Zarathustra, ngài còn tín mộ nhiều hơn là ngài đã tưởng, với một lòng vô tín đắm say như thế. Ta không biết vị Thượng đế nào ở trong ngài đã hoán cải ngài theo con đường bất tín như thế.
Chẳng phải chính lòng thương xót của ngài đã ngăn không cho ngài tin vào một đấng Thượng đế? Và sự chính thực vĩ đại quá mức của ngài, rốt lại, sẽ kéo ngài vượt qua bên kia cõi bờ thiện ác?
Vậy thì ngài hãy nhìn xem cái gì đã được dành riêng cho ngài? Ngài có hai con mắt, một bàn tay và một cái miệng, được dành để chúc phúc đến tận thiên thu. Người ta không chúc phúc chỉ với bàn tay mà thôi.
Ở gần bên ngài, dẫu rằng ngài muốn là người bất tín nhất, ta vẫn ngửi thấy một mùi hương bí ẩn của khói nhang cùng những lời chúc phúc: ta cảm thấy điều ấy lẫn trong đớn đau và khoái lạc tuyệt vời.
Hỡi Zarathustra, hãy cho ta làm tân khách của ngài, chỉ trong một đêm thôi! Sẽ chẳng còn nơi nào trên mặt đất ta thấy tốt lành hơn là ở bên cạnh ngài!”
“Amen! Cầu cho được vậy, - Zarathustra đáp với sự kinh ngạc tột độ. Trên kia là con đường, đằng kia là hang đá của Zarathustra.
Thực ra, ta rất thích tự mình dẫn ngươi về hang, vì ta yêu mến tất cả những người kính tín. Nhưng giờ đây, có một tiếng kêu thống khổ đang hối hả kêu gọi ta lìa xa ngươi.
Trong lãnh địa của ta, phải đừng có tai ương bất hạnh nào xảy đến cho bất luận là ai: hang đá của ta là một hải cảng tốt. Và ta rất thích đem đặt tất cả những kẻ buồn rầu ảo não lên trên đất liền và trên những đôi chân cứng cáp.
Nhưng ai sẽ gỡ nỗi ưu uất ra khỏi vai ngươi đây? Ta quá yếu đuối không làm nổi chuyện đó… Thực ra, chúng ta có thể chờ cho hết kiếp, mãi đến khi có kẻ nào đó hồi sinh lại Thượng đế của ngươi.
Bởi vì vị Thượng đế xa xưa đó không còn sống nữa: Thượng đế đã thực sự chết rồi”.
 
Zarathustra đã nói như thế.

[1] “Nói thật giữa ba con mắt với nhau”: unter drei Augen gesprochen, mô phỏng diễn ngữ thông dụng unter vier Augen gesprochen: nói thật với nhau (nghĩa đen: nói với nhau dưới bốn con mắt nhìn), vì viên cựu giáo hoàng chột mắt.
[/align] [/align]
0
 
KẺ XẤU XÍ NHẤT LOÀI NGƯỜI


Zarathustra lại lang thang qua những ngọn núi, những cánh rừng: đôi mắt Zarathustra tìm kiếm, tìm kiếm mãi, nhưng chẳng nơi nào chúng bắt gặp kẻ mà chúng muốn nhìn thấy, kẻ khốn nạn đã thét lên tiếng kêu thống khổ. Tuy nhiên, suốt dọc đường, cõi lòng Zarathustra tràn đầy hoan lạc và biết ơn. Hắn tự nhủ: “Ngày hôm nay đã ban cho ta biết bao điều tốt lành để đền bù lại chuyện nó đã khởi sự một cách tệ hại thế kia! Ta đã gặp những kẻ đối thoại kỳ dị vô song!
Giờ đây ta sẽ nghiền ngẫm, nhai đi nhai lại thật lâu lời nói của họ; những lời lẽ đó tựa như những hạt giống tốt, răng ta sẽ không ngừng nghiền nát và xay vụn chúng, cho đến khi chúng chảy ra những dòng sữa ngọt ngào trong tâm hồn ta!”
Nhưng khi con đường vòng quanh một tảng đá, thời đột nhiên phong cảnh thay đổi, và Zarathustra bước vào trong cõi chết. Nơi đây dựng đứng lên những tảng đá màu đen pha lẫn sắc đỏ: chẳng chút cỏ xanh, cây cối, chẳng có lấy một tiếng chim kêu. Bởi vì đấy là một thung lũng mà tất cả những con vật đều lánh xa, ngay cả những loài dã thú; duy chỉ có một giống rắn màu xanh lục to lớn dễ sợ là đến đấy nằm chết khi đã già. Chính vì thế những người chăn súc vật mới gọi nơi đây là thung lũng Rắn Chết.
Zarathustra mãi đắm chìm trong những hoài niệm đen thẳm, bởi vì hắn thấy rằng hình như mình đã đặt chân đến thung lũng này rồi. Và một sức nặng đè trĩu trên tinh thần Zarathustra: đến độ hắn bắt đầu đi chậm lại cho đến khi, sau cùng, hắn dừng hẳn lại. Nhưng lúc bấy giờ, khi mở mắt ra, Zarathustra thấy một cái gì đang ngồi bên vệ đường, một cái gì mang khuôn mặt người nhưng hầu như chẳng có gì là người cả - một cái gì khó có thể gọi tên. Hốt nhiên, Zarathustra đâm ra hổ thẹn vô cùng vì đã tận mắt nhìn thấy một điều như vậy: mặt mũi đỏ bừng đến tận chân tóc bạc phơ, Zarathustra quay mắt đi và cất bước để rời khỏi nơi chốn không hay này. Nhưng đột nhiên, một âm thanh cất lên trong cõi sa mạc chết ấy: từ mặt đất bốc lên một thứ tiếng khò khè, ọc ọc, như khi vào ban đêm nước ọc ọc trong một ống dẫn bị bịt kín; sau cùng tiếng động đó trở thành một giọng nói, một lời nói của con người. Giọng nói ấy bảo:
“Zarathustra, Zarathustra! Hãy giải đoán ẩn ngữ của ta nào: hãy nói đi! Nói đi! Đâu là sự trả thù chống lại người chứng?
Hãy dừng lại và quay bước trở lui: nơi đây có băng giá trơn trượt! Hãy coi chừng lòng kiêu hãnh của ngươi sẽ bị gãy chân chốn này!
Ngươi tự tưởng mình là hiền minh trí huệ, hỡi Zarathustra kiêu hãnh! Vậy ngươi hãy thử giải đoán ẩn ngữ của ta xem nào, ngươi là kẻ đập vỡ những trái hồ đào cứng rắn nhất, - hãy giải đoán ẩn ngữ là chính ta đây! Hãy nói đi: ta là ai?”
Nhưng khi Zarathustra nghe xong những lời lẽ trên, thì điều gì xảy đến trong tâm hồn hắn? Hắn nảy lòng thương xót và đột nhiên ngã quỵ xuống tựa như một cây sồi chống chọi từ lâu với những nhát rìu của đám tiều phu nay đột nhiên gục xuống nặng nề, làm kinh hãi ngay những kẻ muốn đốn hạ nó. Song Zarathustra đã từ mặt đất trỗi dậy. Và khuôn mặt hắn lộ vẻ cứng rắn. Hắn bảo bằng một giọng sắt đá tàn nhẫn:
“Ta nhận rõ mi rồi: mi là kẻ đã giết chết Thượng đế. Hãy để ta bỏ đi xa.
Mi không chịu đựng nổi kẻ đã nhìn thấy mi, kẻ đã nhìn thấy mi thường xuyên thấu suốt từ bên này qua bên kia, mi, Kẻ xấu xí nhất loài người! Mi đã trả thù người chứng đó!”
Zarathustra nói như thế và muốn bỏ đi, nhưng sinh vật không thể gọi tên đó đã nắm lấy một vạt áo của hắn và lại bắt đầu ọc ọc tìm chữ. Sau cùng, gã thốt ra: “Hãy ở lại, Zarathustra!
- Hãy ở lại! Đừng bước qua con đường của ngài nữa. Tôi đã đoán ra chiếc rìu nào đã đốn hạ ngài ngã gục; hỡi Zarathustra, xin ngợi ca vì ngài lại hiên ngang đứng vững dậy được!
Tôi biết rõ, ngài đã đoán được tâm trạng của kẻ đã giết chết Thượng đế, - kẻ sát hại Thượng đế. Hãy ở lại! Xin ngài hãy ngồi xuống cạnh tôi, làm thế không phải là vô ích đâu.
Tôi sẽ đi về với ai đây nếu không phải là về với ngài? Hãy ở lại, hãy ngồi xuống đây. Nhưng đừng nhìn vào tôi! Hãy xưng tụng sự xấu xí của tôi như thế!
Họ đang ngược đãi tàn hại tôi: giờ đây ngài là nơi trú ẩn cuối cùng của tôi. Chẳng phải họ đang theo đuổi tôi bằng lòng thù hận hay bằng đám cảnh binh của họ đâu! Ồ! Tôi sẽ cười nhạo những sự ngược đãi tàn bạo như thế, tôi sẽ lấy làm hãnh diện và vui vẻ vì điều đó!
Từ trước đến nay, tất cả những thành công há chẳng dành cho những kẻ bị ngược đãi hành hạ tột cùng? Và kẻ nào tài hành hạ sẽ dễ học được chuyện theo đuôi:[1] - vì vậy, họ chẳng luôn bám đằng sau gót kẻ khác đó sao? Nhưng chính lòng thương xót của họ... Chính lòng thương xót của họ là điều làm tôi chạy trốn; chính vì lòng thương xót ấy, tôi mới đi tìm một chỗ trú ẩn nơi ngài. Hỡi Zarathustra, xin ngài hãy che chở cho tôi, ngài, chỗ trú ẩn tối cao của tôi, ngài là kẻ duy nhất đã đoán nhận được tôi:
Ngài đã đoán được tâm trạng của kẻ đã giết chết Thượng đế. Hãy ở lại đây! Và nếu ngài muốn bỏ đi, thời hỡi người lữ khách hối hả kia ơi, chớ có đặt bước trên con đường theo đó tôi đã đến. Con đường ấy đầy rẫy xấu xa hung hiểm.
Ngài có thù ghét tôi vì tôi cứ mãi lắp bắp nói năng không sõi như thế chăng? Vì tôi đã ban cho ngài những lời khuyên? Nhưng ngài hãy biết rõ điều này, chính tôi, Kẻ xấu xí nhất loài người, là kẻ có đôi chân to lớn nặng nề nhất: con đường nào tôi đã đi qua đều trở thành xấu xa hư hỏng. Tôi làm hư và đạp lún tất cả mọi con đường.
Nhưng tôi đã thấy rõ rằng ngài muốn im lặng bước qua cạnh tôi, và tôi đã nhìn thấy sự đỏ mặt hổ thẹn của ngài: chính do đó tôi mới nhận ra rằng ngài là Zarathustra.
Mọi người khác đều vứt cho tôi của bố thí, lòng thương hại, bằng cái nhìn hay lời nói. Nhưng để nhận của bố thí, tôi không đủ là người ăn xin, ngài đã đoán ra được thế.
Tôi quá giàu có, giàu có vô ngần về những chuyện vĩ đại, khủng khiếp, những chuyện xấu xí nhất và khó diễn tả thành lời nhất! Hỡi Zarathustra, sự hổ thẹn của ngài đã làm tôi vinh hạnh.
Phải khó khăn vô vàn tôi mới trốn thoát khỏi đám đông lúc nhúc những kẻ đầy lòng xót thương bác ái, để tìm thấy kẻ độc nhất trong tất cả mọi người, kẻ hôm nay lên tiếng giảng dạy rằng: “Lòng thương xót là điều trái thời thô bạo”. Kẻ đó chính là ngài, hỡi Zarathustra,
 - dẫu rằng đó là lòng xót thương của một đấng Thượng đế hay lòng thương xót của loài người: thương xót là một sự lăng nhục xâm hại đến lòng băng trinh tiết tháo. Và ý chí không muốn trợ giúp có thể còn cao quý hơn một vài đức hạnh quá vội vã chạy ùa đến cứu giúp.
Thế mà, chính thứ đức hạnh này, lòng xót thương bác ái, là điều mà hiện nay đám tiện dân xem là đức hạnh tuyệt hảo nhất: bọn chúng không có lòng tôn kính đối với sự bất hạnh vĩ đại, sự xấu xí vĩ đại, sự kỳ quái vĩ đại.
Cái nhìn của tôi bay vượt qua trên tất cả những thứ đó, như con chó dùng đôi mắt thống ngự những chiếc lưng của đàn cừu non lúc nhúc. Đấy là những sinh vật bé mọn, xám xịt, ngoan ngoãn giống như lũ cừu.
Giống như một con cò hất đầu ra sau, khinh bỉ quay mắt khỏi những ao đầm phẳng lặng cạn cợt, cũng thế, tôi đưa mắt khinh thị nhìn xuống bên trên đám đông lúc nhúc những lượn sóng nhỏ màu xám dạt dào những ý chí của những tâm hồn hèn mọn.
Đã quá lâu rồi, người ta cho bọn tiện dân là có lý, chính vì vậy cuối cùng người ta đã ban cho bọn chúng quyền lực - giờ đây bọn chúng cất tiếng rao giảng: “Chỉ có những điều mà đám tiện dân gọi là tốt, thì mới là điều tốt”.
Và điều ngày nay người ta gọi là “chân lý” chính là điều được giảng dạy do một kẻ thuyết giảng xuất thân từ hàng ngũ tiện dân, kẻ đã từng nói về chính mình rằng: “Ta là chân lý”.
Chính kẻ tự cao tự đại đó từ lâu đã thổi căng chiếc mào của đám tiện dân - chính đó là kẻ mà khi rao giảng: “Ta là chân lý”, đã không rao giảng một sai lầm tơ tóc nào.
Người ta đã từng trả lời lễ độ hơn cho một kẻ tự cao tự đại như thế chưa? Tuy nhiên, hỡi Zarathustra, ngài bước qua trước mặt họ và bảo: “Không! Không! Ba lần không!”
Ngài đã cảnh giác con người đề phòng sự sai lầm của họ, ngài đã là người đầu tiên lên tiếng cảnh giác về lòng thương xót, trong khi ngỏ lời không phải cho tất cả mọi người cũng chẳng phải cho một ai, mà cho chính ngài và những kẻ mang dòng máu của ngài.
Ngài hổ thẹn về sự hổ thẹn của kẻ kiên trì chịu đựng những thống khổ lớn lao. Và thực ra, khi ngài bảo: “Hỡi loài người, hãy đề phòng, chính từ lòng thương xót mới bốc lên một đám mây vĩ đại!”
Khi ngài rao giảng: “Tất cả những kẻ sáng tạo đều cứng rắn khốc liệt, tất cả mọi tình yêu vĩ đại đều cao vượt hơn lòng xót thương bác ái của tình yêu”, thì hỡi Zarathustra, tôi thấy ngài hình như đã hiểu thấu những dấu hiệu của thời đại!
Nhưng còn chính ngài, ngài hãy cảnh giác đề phòng lòng xót thương bác ái của riêng ngài! Bởi vì có nhiều kẻ đang lên đường hướng về ngài, nhiều kẻ đang đau khổ, đang hoài nghi, đang tuyệt vọng, đang tự trầm mình và hóa thành băng giá.
Tôi cũng cảnh giác ngài hãy đề phòng chính tôi. Ngài đã đoán nhận được ẩn ngữ tốt đẹp nhất và tệ hại nhất của tôi: chính bản thân tôi và những gì tôi đã làm. Tôi đã biết rõ chiếc rìu có thể đốn hạ ngài được.
Tuy nhiên, - kẻ ấy phải chết: y đã nhìn với đôi mắt thấu suốt mọi sự, - y đã nhìn thấy những chiều sâu và những hố thẳm của con người, y đã nhìn thấy tất cả những hổ thẹn cùng sự xấu xí được che kín của con người.
Lòng bác ái của y chẳng hề biết đến sự hổ thẹn; y len lỏi vào trong những uẩn khúc đê tiện nhất của tôi. Y phải chết, y, kẻ tò mò tọc mạch lộ liễu, kẻ xót thương bác ái đó.
Y đã không ngừng nhìn thấy tôi; tôi muốn trả thù một chứng nhân như thế, không thì chính tôi phải giã từ cuộc sống.
Vị Thượng đế đã nhìn thấy tất cả mọi sự, ngay cả con người, vị Thượng đế đó phải chết! Con người không thể chịu đựng nổi chuyện một chứng nhân như thế mà vẫn cứ còn sống mãi”.
Kẻ xấu xí nhất loài người nói như thế. Nhưng Zarathustra đã đứng lên, sửa soạn cất bước: vì hắn thấy giá lạnh tận tim gan. Zarathustra bảo:
“Hỡi sinh vật khó có thể gọi tên, ngươi đã khuyên ta đừng bước theo con đường của ngươi. Để thưởng công, ta yêu cầu ngươi hãy bước theo con đường của ta. Nhìn kìa, trên kia là thạch động của Zarathustra.
Hang đá của ta thì to lớn, sâu thẳm và có nhiều xó xỉnh khuất lấp; kẻ ẩn dật cô tịch nhất cũng tìm được chỗ ẩn náu trong hang.
Chung quanh hang có hàng trăm chỗ nứt nẻ, hàng trăm xó góc hẻo lánh dành cho tất cả những kẻ nào bò sát, bay lượn hay nhảy nhót.
Ngươi, kẻ lưu đày tự đày ải chính mình! Ngươi không còn muốn sống giữa loài người và giữa lòng xót thương bác ái của loài người nữa sao? Được rồi! Hãy làm y như ta. Như thế ngươi cũng sẽ được học hỏi từ ta. Chỉ kẻ nào hành động mới học hỏi được.
Ngươi hãy bắt đầu bằng cách trò chuyện cùng hai con thú của ta! Con thú kiêu hãnh nhất đời và con thú giảo quyệt nhất đời - ước mong rằng chúng sẽ là những cố vấn tốt cho cả hai chúng ta!”
Zarathustra đã nói như thế, rồi hắn tiếp tục con đường của mình, dáng điệu trầm ngâm hơn trước và bước đi chậm rãi hơn, vì hắn tự chất vấn mình nhiều điều song chẳng tìm ra câu trả lời một cách dễ dàng.
Zarathustra nghĩ thầm trong lòng:
“Gã đó khốn khổ ngần nào! Trong khi lõm bõm những lời lẽ cay đắng chứa đầy sự hổ thẹn ẩn kín, trông gã mới xấu xí làm sao!
Thiên hạ bảo ta rằng gã tự yêu thương chính mình. Than ôi! Tình yêu chính mình ấy hẳn phải to lớn vĩ đại dường nào! Có bao nhiêu khinh bỉ mà gã đã không vượt qua được!
Cả kẻ đó nữa cũng tự yêu thương chính mình bằng cách tự khinh bỉ chính mình. Đối với ta, gã là một tình nhân vĩ đại và một kẻ khinh bỉ vĩ đại ngất trời.
Ta chưa hề gặp ai tự khinh bỉ mình sâu xa đến thế: cả niềm khinh bỉ ấy cũng nằm trong phương trời của sự cao đại hoằng viễn. Hỡi ôi! Kẻ đó có lẽ là con người thượng đẳng mà ta đã nghe thốt ra tiếng kêu thống khổ chăng?
Ta yêu những người cảm nghiệm sự khinh bỉ ngút trời. Nhưng, con người là một cái gì cần phải được vượt qua”.
 

[1] “kẻ nào tài hành hạ sẽ dễ học được chuyện theo đuôi”, do verfolgen: hành hạ, ngược đãi, và folgen: theo đuổi, theo sau.
0

NGƯỜI ĂN XIN TỰ NGUYỆN


Khi Zarathustra đã rời Kẻ xấu xí nhất loài người, hắn lạnh run và cảm thấy mình đơn chiếc, bởi vì có nhiều tư tưởng giá buốt cô đơn thổi qua tinh thần hắn, đến độ cả tứ chi hắn cũng run lên vì lạnh. Nhưng trong khi tiếp tục leo lên càng lúc càng xa, trèo non vượt suối cùng khắp, khi thì đi dài theo những cánh đồng cỏ êm mượt xanh rờn, khi thì vượt qua những khe hố hoang dại đầy đá sỏi mà xưa kia một dòng thác hùng hổ đã chảy ào qua, Zarathustra đột nhiên thấy được sưởi ấm lại và tinh thần hắn bắt đầu phấn chấn.
“Chuyện gì đã xảy đến cho ta như thế? - Zarathustra tự hỏi, có một cái gì ấm nóng sống động làm ta tươi tỉnh lại, chắc nó phải đang ở gần ta.
Ta đã bớt đơn chiếc hơn: ta tiên cảm thấy những người bạn đồng hành, những người anh em xa lạ đang lảng vảng rình dò chung quanh ta, hơi thở nồng ấm của họ làm tâm hồn ta xúc động”.
Nhưng khi Zarathustra đưa mắt nhìn quanh tìm những an ủi cho nỗi cô đơn của mình, hắn nhìn thấy một đàn bò cái tụ tập trên một khu đồi cao: chính sự gần gũi cùng mùi vị của đàn bò đó đã sưởi ấm lòng hắn. Thế nhưng, những con bò ấy dường như đang chăm chú lắng nghe một kẻ nào ngỏ lời với chúng và chẳng hề đề phòng người khách lạ mới tới. Song khi đã đến gần đàn bò cái, hắn nghe rõ có một giọng nói của con người cất lên giữa đàn bò; và rành rành trước mắt, tất cả mọi con bò đều quay đầu về kẻ đang chuyện trò cùng chúng.
Lúc bấy giờ, Zarathustra vội vã leo lên núi để giải tán đám súc vật, vì hắn sợ rằng trên đó đang xảy ra một tai ương gì đó mà lòng xót thương của đám bò khó cứu chuộc lại được chăng. Song Zarathustra đã lầm. Bởi vì hắn thấy một người đàn ông ngồi bệt trên mặt đất dường như đang muốn thuyết phục những con bò đừng nên sợ hãi y; một con người thanh bình, một nhà thuyết giáo dịu hiền của rừng núi, mà ngay cả đôi mắt cũng thuyết giảng lòng tốt. “Ngươi tìm gì ở đây thế?” Zarathustra hỏi to, giọng kinh ngạc.
Người kia trả lời:
“Điều mà ta tìm kiếm ở đây à? Hỡi kẻ phá đám! Cũng là một điều như nhà ngươi, nghĩa là ta tìm kiếm hạnh phúc trên trần gian.
Chính vì thế ta muốn học sự khôn ngoan trí huệ từ đám bò cái này. Bởi vì ngươi nên biết, đã nửa buổi sáng nay ta nói với chúng và chúng sắp giảng dạy lại cho ta. Tại sao ngươi lại phá đám bọn chúng?
Nếu không quay trở lại và không trở thành những con bò cái, thời chúng ta chẳng thể vào được nước thiên đàng. Bởi vì có một đức tính chúng ta phải học hỏi từ loài bò: sự nhai đi nhai lại.
Và nói thật, dẫu con người có chiếm hữu được toàn thể địa cầu chăng nữa, nhưng nếu hắn không học được điều duy nhất này là “nhai đi nhai lại”, thì tất cả mọi cái khác sẽ phụng sự cho hắn về chuyện gì? Vì hắn sẽ chẳng tự giải thoát khỏi nỗi ảo não vĩ đại của mình:
- giải thoát khỏi nỗi ảo não vĩ đại hôm nay của loài người mang tên là sự kinh tởm. Và hôm nay, ai là kẻ không có sự kinh tởm đầy lòng, đầy miệng và đầy hai con mắt? Cả ngươi nữa! Cả ngươi nữa! Nhưng ngươi thử nhìn đám bò cái này xem!”
Con người thuyết giáo miền rừng núi đã nói như thế, rồi y quay mặt lại về phía Zarathustra, - bởi vì từ đầu đến giờ đôi mắt y vẫn trìu mến thương yêu nhìn mãi về đám bò cái. Đột nhiên y biến sắc. Y thốt kêu lên kinh hãi và đột ngột đứng bật dậy khỏi mặt đất:
“Kẻ mà ta đang trò chuyện là ai thế? Kẻ đó chính là con người không chán chường kinh tởm, chính là Zarathustra bằng xương bằng thịt, kẻ đã vượt thắng được sự kinh tởm vĩ đại, chính là con mắt, chính là cái miệng, chính là quả tim của Zarathustra đây mà!”
Khi thốt lên như thế rồi, y cúi hôn đôi bàn tay của người mà y đang ngỏ lời, đôi mắt tràn đầy lệ trong, y xử sự như thể có một quà tặng vô giá hay một món trân châu bất ngờ từ trên trời rơi xuống cho y. Trong khi ấy, đám bò cái nhìn ngắm quang cảnh ấy với lòng kinh ngạc.
Zarathustra vừa trả lời vừa né tránh những ve vuốt của người kia:
“Hỡi con người xa lạ khả ái, ngươi đừng nói về ta mà trước hết hãy nói cho ta nghe về ngươi; ngươi há chẳng phải là Kẻ ăn xin tự nguyện, kẻ mà ngày xưa đã vứt tung khỏi bản thân mình một tài sản vĩ đại,
- kẻ đã hổ thẹn về tài sản của mình và hổ thẹn về những người giàu sang, nên đã đến trú ẩn nơi những người bần cùng nhất để ban cho họ sự phong phú cùng tấm lòng của mình? Nhưng họ chẳng hề đón nhận y”.
Người ăn xin tự nguyện lên tiếng:
“Họ chẳng hề đón nhận tôi, ngài biết rõ điều đó. Chính vì vậy, sau cùng, tôi đã đến với những con thú và đến với đàn bò cái này”.
Zarathustra ngắt lời:
“Đấy chính là điều ngươi đã học được. Ban cho một cách khéo léo quả thật khó khăn vô ngần, so với chuyện nhận lấy một cách khéo léo; và ban cho một cách khéo léo là cả một nghệ thuật, đấy chính là kết quả tối thượng của thiện tính tài giỏi”.
Người ăn xin tự nguyện đáp:
“Nhất là trong thời đại chúng ta hiện nay, khi tất cả những gì thấp kém đều được nâng cao, đều thẹn thùng và kiêu hãnh theo lối của mình: lề lối của đám tiện dân.
Bởi vì, như ngài dư biết, đã đến lúc khởi đầu cuộc nổi loạn vĩ đại của đám tiện dân và nô lệ, cuộc dấy loạn tàn hại, chậm chạp lớn dần, lớn dần lên mãi;
Thời đại hôm nay, những kẻ ti tiện nổi loạn chống lại tất cả những gì bé nhỏ và chống lại tất cả của bố thí khiêm tốn; vậy thì những kẻ quá giàu sang phong phú nên cảnh giác đề phòng;
Những kẻ mà, tựa như một chiếc chai lọ phình bụng chậm rãi nhỏ giọt qua một chiếc cổ chai quá chật hẹp: chúng rất dễ làm vỡ cổ chai.
Sự ham muốn đầy dâm dật, lòng thèm khát đắng cay, mối hiềm thù gay gắt, lòng kiêu hãnh hạ lưu: tất cả những điều đó đã nhảy xổ vào mặt tôi. Bảo rằng người nghèo khổ là những người hạnh phúc, là bảo một điều không thật. Tuy nhiên, nước thiên đàng ở nơi những con bò cái”.
“Tại sao nước thiên đàng lại không ở nơi những người giàu sang chứ?” Zarathustra hỏi như thế để thử lòng y trong lúc hắn cản mấy con bò cái không cho chúng thân mật cạ mũi đánh hơi kẻ đối thoại yên bình ấy.
Người ăn xin tự nguyện trả lời:
“Tại sao ngài lại thử thách tôi? Ngài biết rõ điều đó hơn tôi mà, Zarathustra, vậy thì cái gì đã đẩy tôi về với những con người bần cùng nhất? Chẳng phải đấy là sự kinh tởm những con người giàu có nhất trong chúng ta hay sao?
- kinh tởm những tên tù khổ sai cho sự giàu có, những người với con mắt lạnh lùng, quả tim xâu xé bởi những ý tưởng trục lợi, biết buông lưới thủ lợi từ trong mỗi đống rác,
- kinh tởm đám tiện dân mà mùi hôi thối của chúng bốc lên làm thương tổn tận trời xanh,
- kinh tởm cái đám hạ lưu được sơn son thiếp vàng trá ngụy mà tổ tiên chúng với những ngón tay cong quắp đã là những kẻ cho vay nặng lãi hoặc những kẻ nhặt giẻ rách, kinh tởm cái bọn dễ tính với phụ nữ, dâm dật và chóng quên: - bởi vì bọn chúng chẳng khác với gái giang hồ là mấy.
Đám tiện dân ở bên trên, đám tiện dân ở bên dưới! Ngày nay, nào có hệ gì nữa “những người nghèo và những người nghèo”! Tôi đã học quên đi sự phân biệt nói trên và tôi đã chạy trốn xa tít mù, càng lúc càng tít mù xa, mãi đến khi tôi đến với mấy con bò cái này”.
Người giáo đồ yên bình nói như thế, y thở mạnh và chảy mồ hôi vì quá cảm xúc đối với những lời lẽ đã thốt ra: đến nỗi, đám bò cái lại ngạc nhiên thêm lần nữa.
Nhưng trong khi y thốt ra những lời trên, Zarathustra vẫn luôn mỉm cười nhìn thẳng vào mặt y và lặng lẽ lắc đầu.
“Hỡi người thuyết giáo của núi rừng, ngươi đang tự bức bách ngươi thái quá khi dùng những chữ khắc bạc đến thế. Miệng và mắt ngươi không hợp cho những điều khắc bạc như thế đâu.
Cả đến dạ dày ngươi cũng vậy, theo chỗ ta thấy: vì kỵ với tất cả những gì là phẫn nộ, hận thù và cặn bã thối tha. Dạ dày ngươi cần đến những thực phẩm êm dịu hơn: ngươi chẳng phải là một tay đồ tể.
Ta thấy, đúng hơn, ngươi thuộc dòng ăn cỏ cây trai tịnh. Có lẽ ngươi đang nhai những hạt thóc. Dẫu sao, ngươi không hợp với những niềm vui của loài ăn thịt sống, ngươi chỉ ưa thích mật ngọt của ong rừng”.
Người ăn xin tự nguyện trả lời, lòng đã vơi sầu muộn:
“Ngài đoán nhận tôi thật đúng. Tôi ưa thích mật ngọt và tôi cũng nhai những hạt thóc, bởi tôi tìm kiếm những gì ngon ngọt, làm cho hơi thở thuần khiết;
Và cũng là những gì đòi hỏi nhiều thời gian, dùng làm của tiêu khiển lẫn món ăn ngon trọn ngày cho những kẻ biếng lười nhác nhớm.
Nói đúng ra, đám bò cái này vượt thắng tất cả mọi đối thủ trong nghệ thuật đó: chúng đã phát minh ra việc nhai đi nhai lại và nằm dài sưởi nắng mặt trời. Vì thế chúng kiêng cữ được tất cả những tư tưởng nghiêm trang làm phồng lớn quả tim”.
- “Được rồi! Zarathustra bảo. Ngươi cũng sẽ gặp hai con vật của ta, con ó và con rắn, hiện nay chúng chẳng có kẻ nào tương đương trên mặt đất.
Này, kia là con đường dẫn đến hang đá: ngươi hãy làm khách trọ của ta đêm nay. Và ngươi hãy trò chuyện với hai con thú của ta về nỗi hạnh phúc tuyệt vời của loài thú vật,
- cho đến khi chính ta quay trở về hang. Bởi vì giờ đây một tiếng kêu thống khổ đang hối hả kêu cầu ta rời xa ngươi. Ngươi cũng sẽ tìm thấy nơi hang đá của ta chất mật mới, chất mật ngọt ngào của những bộng ong, óng vàng, dịu lạnh: ngươi hãy uống lấy mật ấy!
Giờ đây, hãy mau giã biệt đám bò cái của ngươi, hỡi con người quái dị khả ái, dẫu việc đó có đắt giá đến đâu đi nữa với ngươi. Vì chính đàn bò cái này là những người bạn tốt nhất và những vị thầy của ngươi!”
“Trừ một con duy nhất mà tôi hãy còn ưa thích hơn tất cả, Người ăn xin tự nguyện trả lời. Hỡi Zarathustra, chính ngài cũng là người tốt và ngài còn có giá trị hơn là một con bò cái!”
Zarathustra giận dữ hét lớn:
“Bước, bước mau! Đồ nịnh hót xấu xa! Tại sao ngươi lại muốn làm hư hoại ta bằng những lời tán tụng như thế và bằng mật ngọt của những lời nịnh hót này?
“Bước, bước mau xa khỏi ta!” Zarathustra hét lớn một lần nữa và giơ cao chiếc gậy quất vào người ăn xin hiền dịu; người ăn xin vội co giò chạy mất.
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2009-07-28 10:33:33Sun Ming>
CHIẾC BÓNG



Nhưng khi Người ăn xin tự nguyện vừa chạy xa và Zarathustra còn lại một mình đơn lẻ, thời hắn nghe một giọng nói mới lạ cất lên từ đằng sau: “Đứng lại, Zarathustra! Chờ tôi với! Chính tôi đây, hỡi Zarathustra, chiếc bóng của ngài đây!” Nhưng Zarathustra không dừng chân chờ đợi, vì đột nhiên một sự tủi giận xâm chiếm lòng hắn, do cái đám đông người đang chen chúc nhau trong vùng núi cao của hắn. Hắn tự nhủ:
“Sự cô đơn của ta đã ra sao rồi? Quả thật ta quá đỗi chán ngán; vùng núi này lúc nhúc những người là người, vương quốc của ta không còn thuộc về thế giới này nữa, ta cần có những ngọn núi mới.
Chiếc bóng của ta đang gọi ta. Nào sá gì chiếc bóng của ta! Cứ để chiếc bóng chạy đuổi theo ta - ta chạy trốn nó”.
Zarathustra tự nhủ lòng như thế và co giò chạy trốn. Nhưng kẻ ở đằng sau Zarathustra cất bước đuổi theo, đến nỗi có ba kẻ chạy theo sau nhau: trước hết là Người ăn xin tự nguyện, rồi đến Zarathustra, kẻ thứ ba và sau cùng là Chiếc bóng của Zarathustra. Nhưng ba người chạy chưa được bao lăm thì Zarathustra chợt ý thức được sự điên rồ của mình, và bằng một cử chỉ, Zarathustra rũ bỏ lòng tủi giận và sự kinh tởm ra xa.
Zarathustra nói lớn:
“Sao chứ? Những điều lố bịch kỳ cục nhất há chẳng luôn xảy đến cho những bậc thánh và những ẩn sĩ già nua như chúng ta hay sao?
Thực ra, cơn điên cuồng của ta đã lớn lên trong những vùng núi non cô tịch! Giờ đây ta đang nghe tiếng rổn rảng từ sáu bàn chân già cả của những tên điên đang đuổi theo nhau.
Nhưng Zarathustra có quyền sợ hãi một chiếc bóng chăng? Vì vậy, sau cùng, ta tin rằng chiếc bóng có đôi chân dài hơn ta”.
Zarathustra đã nói như thế và tươi cười hoan hỉ. Hắn dừng bước rồi đột nhiên quay lại - và ô kìa, Zarathustra đã làm chiếc bóng và hồn người của hắn bổ nhào, vì chiếc bóng ôm hắn quá gần và yếu ớt quá đỗi. Khi tận mắt quan sát chiếc bóng, Zarathustra đâm ra kinh hãi như đứng trước sự xuất hiện bất ngờ của một bóng ma; hồn người ấy mới ốm o, đen đúa, trũng rỗng và mỏi mệt ngần nào!
Zarathustra hỏi, vẽ dữ tợn:
- Mi là ai? Mi làm gì ở đây? Và tại sao mi lại tự xưng là chiếc bóng của ta? Mi làm ta không ưa nổi.
Chiếc bóng trả lời:
- Xin ngài thứ lỗi vì lỡ ra lại là tôi; và hỡi Zarathustra, nếu tôi có làm ngài ưa không nổi, tôi xin tán thành và ngợi khen ngài quả là có khiếu thẩm mỹ.
Tôi là một lữ khách, từ lâu rồi tôi bám chặt vào đôi gót chân ngài: tôi luôn luôn ở trên đường, nhưng lại không mục đích và vô gia cư, đến nỗi chỉ thiếu chút nữa, tôi đã là người Do Thái lang thang, trừ sự kiện tôi không phải là dân Do Thái cũng chẳng phải là thiên thu.
Rồi sao? Tôi cứ phải luôn luôn dấn bước trên đường mãi mãi? Tôi cứ phải trù trừ thất thường, bị xô đẩy và lôi kéo bởi gió bốn phương? Hỡi địa cầu, ngươi được tạo ra quá tròn cho chân ta!
Tôi đã ngồi trên tất cả mọi bề mặt; tôi đã ngủ yên trên những tấm gương soi và kính cửa hàng, tựa như hạt bụi mệt mỏi. Tất cả đều thu nhỏ tôi lại, chẳng có gì làm tôi giàu có, tôi biến mình thành mảnh dẻ ốm o.
Nhưng hỡi Zarathustra, chính ngài là người tôi đã theo chân và theo đuổi lâu nhất; dẫu cho tôi có trốn lánh ngài, thì không vì thế mà tôi chẳng phải là chiếc bóng tài giỏi nhất của ngài: nơi nào ngài ngồi xuống, tôi cũng nghỉ chân.
Cùng với ngài, tôi đã lang thang trong những thế giới xa vời lạnh lẽo nhất, như một bóng ma thích chạy nhảy trên những mái nhà bị mùa Đông nhuộm trắng và chạy nhảy trên mặt tuyết giá băng.
Cùng với ngài, tôi đã khát khao tất cả những trái cấm, tất cả những gì xấu xa, diệu vợi nhất; và giả sử tôi có thủ đắc được đức hạnh nào, thì đó là đức hạnh vô úy, đức hạnh chẳng hề kinh sợ bất cứ sự cấm đoán nào.
Cùng với ngài, tôi đã đập vỡ điều mà quả tim tôi đã phụng thờ mãi mãi, tôi đã lật nhào tất cả những biên giới cùng những ảnh tượng, tôi đã săn đuổi những khát vọng nguy hiểm vô vàn. Thật ra, tôi đã một lần bước qua bên kia tất cả những tội ác gớm ghê nhất.
Cùng với ngài, tôi đã mất đi đức tin nơi chữ nghĩa, nơi những giá trị đã được thừa nhận và những danh từ đao to búa lớn! Khi con quỷ thay da lột xác, thì cùng lúc nó chẳng thay đổi tên gọi đấy sao? Bởi vì chính tên gọi ấy cũng chỉ là một lớp da. Có lẽ chính con quỷ cũng chỉ là... một lớp da.
“Chẳng có gì là thật cả, mọi sự đều được phép làm”: đấy là điều mà ngày nọ tôi đã tự nhủ lòng để khích lệ mình thêm can đảm. Tôi bị vứt ùm cả đầu óc lẫn tim gan vào trong những vũng nước giá buốt cắt da. Hỡi ôi! Biết bao lần sau đó tôi đã thấy mình trần truồng đỏ cạch như một con tôm!
Hỡi ôi! Tôi đã làm gì với tất cả lòng tốt, với tất cả sự thẹn thùng và tất cả đức tin nơi những người thiện hảo! Hỡi ôi! Sự ngây thơ giả trá mà xưa kia tôi đã thủ đắc, sự ngây thơ của những con người thiện hảo và của những điều dối trá cao nhã của họ, bây giờ đang ở nơi đâu!
Rất thường khi tôi đã bước đi trên gót chân của Chân lý: lúc ấy, Chân lý đập mạnh vào đầu tôi. Đôi lúc tôi tưởng mình nói dối, và chỉ khi đó, tôi mới thấy rằng mình chạm vào Chân lý.
Quá nhiều sự việc đã được soi tỏ dưới mắt tôi, chính vì thế chẳng gì là quan hệ đối với tôi nữa. Chẳng gì còn tồn tại từ những điều tôi yêu thương nữa, - làm thế nào tôi còn có thể tự yêu thương chính mình được chứ?
“Sống theo ý thích của mình, hay hoàn toàn chẳng sống gì cả”: đấy là điều tôi ước muốn, đấy cũng là điều kẻ thánh thiện nhất ước muốn. Nhưng, hỡi ôi! Làm thế nào còn có được cho tôi một niềm vui thú?
Tôi hãy còn một mục tiêu nào đó chăng? Một bến bờ mà cánh buồm của tôi rong ruổi đến?
Một ngọn gió lành? Hỡi ôi! Chỉ duy có kẻ biết mình đi đâu mới biết đâu là ngọn gió lành thổi đến cho y, một ngọn gió thuận lợi.
Tôi còn lại gì? Một tấm lòng chán ngán, ngạo mạn, kiêu căng; một ý chí thất thường; đôi cánh vừa chập chững bay; một sống lưng bị gãy.
Cuộc tìm kiếm nơi trú ẩn của tôi - hỡi Zarathustra, ngài biết đó, - cuộc tìm kiếm này đã là cuộc thử lửa, là mối phiền não[1] làm tôi khánh kiệt, tiêu hủy cả đời tôi.
“Đâu là nơi trú ẩn của ta?” Nơi trú ẩn ấy chính là điều mà tôi hỏi thăm dò xét, nơi trú ẩn ấy chính là điều mà tôi đang tìm kiếm, đã kiếm tìm và đã không tìm thấy được. Ôi, vĩnh cửu mọi nơi, ôi vĩnh cửu không ở nơi nào cả, ôi vĩnh cửu - hoài công vô ích!”
Chiếc bóng nói như thế và khuôn mặt của Zarathustra cứ chảy dài ra khi nghe những lời trên. Sau cùng, Zarathustra bảo bằng giọng buồn rầu: “Mi là chiếc bóng của ta!
Hỡi tinh thần tự do lang bạt, hiểm họa của mi chẳng phải nhỏ nhoi! Mi đã gặp một ngày xấu; hãy coi chừng kẻo nó lại tiếp theo bằng một buổi tối còn tệ hại hơn nữa!
Những kẻ lang thang phiêu bạt như mi cuối cùng đều tự cảm thấy mình hạnh phúc, ngay cả trong một nhà tù. Mi đã từng nhìn thấy những kẻ sát nhân ngủ ra sao trong nhà tù chưa? Chúng ngủ một cách thanh thản, chúng yên tâm hưởng thụ sự an toàn mới mẻ.
Mi hãy đề phòng, rồi ra một đức tin chật hẹp sẽ xâm chiếm lấy mi, - một ảo tưởng khắc bạc và khốc liệt! Bởi vì kể từ lúc này trở đi, tất cả những gì là chật hẹp, kiên cố sẽ quyến rũ và cám dỗ hồn mi.
Mi đã đánh mất mục đích: hỡi ôi, làm thế nào mi sẽ có thể đền bù an ủi mình về sự mất mát đó? Mi há chẳng mất luôn cả con đường của mi đấy sao?
Hỡi kẻ lãng tử khinh bạc đáng thương, hỡi con bướm mỏi mệt kia! Tối nay mi có muốn ngơi nghỉ và một nơi chốn nương thân không? Hãy trèo lên hang đá của ta:
Trên kia là con đường dẫn lên hang đá. Giờ đây, ta muốn lánh xa ngươi cho thật mau. Ta cảm thấy như có một chiếc bóng đang đè nặng trên hồn ta.
Ta muốn chạy đi một mình, để chung quanh ta lại trở nên sáng rỡ. Chính vì thế ta còn cần phải hưởng thụ đôi chân một cách vui tươi khoái hoạt trong một thời gian lâu nữa. Tuy nhiên, vào đêm nay - tất cả sẽ khiêu vũ nơi hang đá của ta!”
 
Zarathustra đã nói như thế.


[1] “cuộc tìm kiếm này đã là cuộc thử lửa, là mối phiền não làm tôi khánh kiệt, tiêu hủy cả đời tôi”, do lối chơi chữ với các danh từ Suchung: sự tìm kiếm, Heim: nơi trú ẩn, quê hương, và Heimsuchung: mối phiền não đớn đau.
0
NGỌ THIÊN



Zarathustra lại cất bước chạy, chạy mãi, nhưng hắn không còn gặp một ai nữa, hắn cô thân độc ảnh và tự tìm gặp lại mình, hưởng thụ sự cô đơn, nếm nhắp sự cô đơn đó và nghĩ đến những điều tốt đẹp suốt mấy giờ liền. Nhưng vừa lúc chính ngọ, khi mặt trời ở đúng ngay trên đỉnh đầu, Zarathustra đi ngang qua trước một cây cổ thụ uốn mình cong queo sần sùi có đốt, được ôm siết bốn bên bằng tình yêu tràn trề của một gốc nho, đến độ chính vì thế người ta không nhìn thấy được thân cây: từ cây cổ thụ ấy, treo lủng lẳng vô vàn những chùm nho vàng mọng hiến dâng cho lữ khách qua đường. Lúc bấy giờ, Zarathustra có ý muốn làm dịu cơn khát nhẹ mơn trên đầu lưỡi bằng cách hái một chùm nho. Nhưng khi Zarathustra đã vươn tay ra rồi, lòng hắn lại nổi lên một ước vọng khác, mãnh liệt hơn: ước vọng được nằm dài ngủ dưới gốc cây trong buổi chính ngọ của đất trời.
Đấy là điều mà Zarathustra đã làm, và khi Zarathustra đã nằm dài trên mặt đất, trong nỗi lặng im tịch mịch cùng niềm bí ẩn của cỏ dại muôn màu, thì hắn đã quên đi cơn khát nhẹ và thiu thiu ngủ. Bởi vì, như một câu châm ngôn của Zarathustra đã bảo: “Có việc cần thiết hơn việc khác”. Tuy nhiên, đôi mắt Zarathustra vẫn mở lớn, vì hắn không chán chiêm ngưỡng và ngợi ca thân cây cổ thụ cùng tình yêu của gốc nho. Nhưng trong khi ngủ, Zarathustra tự nhủ với lòng mình như sau:
“Im lặng! Im lặng! Thế giới há chẳng vừa thành tựu đấy sao? Việc gì đang xảy đến cho ta đây?
Như một ngọn gió ngạt ngào vô hình vô ảnh đang khiêu vũ trên biển cả gợn sóng lăn tăn, nhẹ nhàng hiu hắt như một chiếc lông chim: cũng thế, giấc ngủ đang khiêu vũ trên ta.
Giấc ngủ không khép mắt ta lại, giấc ngủ để linh hồn ta tỉnh thức. Thực ra, giấc ngủ nhẹ nhàng hiu hắt như một chiếc lông chim.
Giấc ngủ đang thuyết phục ta, ta không biết là thế nào; giấc ngủ chạm đến ta từ bên trong bằng một bàn tay mơn vuốt, giấc ngủ đang bức bách ta. Ừ, nó đang bức bách ta, đến độ linh hồn ta mở rộng;
- linh hồn kỳ lạ của ta duỗi dài ra, mệt mỏi vô cùng! Đêm tối của ngày thứ bảy đã đến với linh hồn ta giữa khi chính ngọ chăng? Linh hồn ta đã lang thang quá lâu trong miền vĩnh phúc, giữa những điều tốt lành đang chín tới?
Linh hồn ta duỗi rộng dài ra, dài ra mãi! Linh hồn kỳ lạ của ta đã ngủ giấc bình yên. Nó đã nếm nhắp nhiều sự việc tốt đẹp lắm rồi, nỗi buồn rầu óng vàng này đang đè ép nó, linh hồn ta nhăn nhó mặt mày.
Như một chiếc thuyền đã vào trong vịnh biển yên tịnh nhất, giờ đây linh hồn ta đang áp lưng vào mặt đất, mỏi mệt vì những chuyến hải hành xa thẳm cùng những biển cả bất trắc khôn lường. Mặt đất há chẳng trung thành hơn sao?
Như một chiếc thuyền cặp bờ hầu như mơn nhẹ vào lòng đất - và lúc bấy giờ, chỉ cần một con nhện giăng tơ từ đất liền ra đến chiếc thuyền im bóng; chẳng cần đến sợi dây nào kiên cố hơn;
Như một chiếc thuyền mệt nhoài nằm im trong vịnh biển yên tịnh nhất, cũng thế, giờ đây ta đang yên nghỉ gần đất liền, trung thành, tín cẩn và trong niềm chờ đợi, được buộc chặt với đất liền bằng những sợi dây mong manh phiếu diểu nhất.
Ồ, hạnh phúc! ồ, hạnh phúc! Hỡi linh hồn ta, có gì mà mi không hát ca chứ? Mi đang yên nghỉ giữa lòng cỏ dại. Nhưng bây giờ là giờ phút bí mật và long trọng, giờ phút mà chẳng có kẻ chăn chiên nào vi vu tiếng sáo.
Hãy coi chừng! Buổi ngọ thiên thiêu đốt đang ngủ yên trên những đồng cỏ. Đừng ca hát! Hãy im lặng! Thế giới đã tựu thành.
Hỡi linh hồn ta, con chim miền đồng cỏ, đừng ca hát! Và cũng đừng thì thào khe khẽ nữa! Hãy nhìn kia - im lặng! Buổi chính ngọ già nua ngàn kiếp đang ngủ yên, buổi chính ngọ đang nhếch môi động miệng: vào giờ phút này, nó há chẳng đang uống lấy một giọt hạnh phúc, một giọt nâu sạm cổ xưa của thứ hạnh phúc óng vàng, của thứ rượu vàng óng? Hạnh phúc đẹp tươi của nó đang vụng trộm lướt đến bên mình. Một vị thần cũng cười tươi như thế là cùng. Im lặng!
- “Hạnh phúc! Phải có ít thứ dường nào để có đủ hạnh phúc!” Xưa kia ta đã nói như thế và tưởng rằng mình khôn ngoan trí huệ. Nhưng đấy chính là một sự báng bổ; giờ đây ta đã học biết được điều ấy. Những kẻ điên cuồng trí huệ nói bằng một ngôn ngữ tốt đẹp hơn nhiều.
Hạnh phúc là cái gì bé nhỏ nhất, im lặng nhất, nhẹ nhàng hiu hắt nhất, tiếng xào xạc của một con thằn lằn bò trong cỏ dại, một hơi thở, một sự trườn lướt, một cái nháy mắt - điều chẳng quan hệ gì lại tạo thành hạnh phúc tuyệt vời nhất. Im lặng!
Chuyện gì đã xảy đến cho ta? Hãy lắng nghe! Thời gian đã chạy trốn rồi chăng? Ta đã không té ngã?… Hãy lắng tai! Ta đã không bị té ngã vào cái giếng sâu của thiên thu vĩnh cửu đấy sao?
Chuyện gì đang xảy đến cho ta?... Im lặng! Ta đã bị đánh trúng vào quả tim? Hỡi ôi!… Đúng vào quả tim! Ồ, hỡi quả tim ta ơi, hãy vỡ tan, hãy vỡ tan thành từng mảnh sau một hạnh phúc như thế, sau một cú đánh như thế!
Sao? Thế giới chẳng vừa thành tựu đấy sao? Tròn đầy và chín mọng? Ôi! Quả cầu tròn mượt óng vàng[1] - quả cầu sẽ bay bổng về đâu? Có phải ta đang chạy đuổi theo sau nó! Suỵt!
Im lặng -” (vào lúc đó, Zarathustra vươn vai duỗi thân và cảm thấy rằng mình đang nằm ngủ). Zarathustra tự bảo:
“Đứng dậy, đồ mê ngủ! Đồ lười biếng ngủ ngày![2] Nào, đứng lên đi, hỡi đôi chân già lão! Đến giờ rồi, đã đúng giờ rồi! Mi còn phải vượt qua bao quãng đường dài nữa.
Mi đã ngủ nghê thả cửa, trong bao nhiêu lâu rồi? Trong một nửa thiên thu! Nào, bây giờ đứng dậy đi thôi, hỡi quả tim già lão của ta. Sau một giấc ngủ miệt mài như thế, phải cần có bao nhiêu thời gian để đánh thức mi dậy?”
(Nhưng Zarathustra đã thiếp ngủ trở lại và linh hồn hắn cưỡng kháng tự vệ và lại dàn trải rộng ra). - “Hãy để ta yên! Im lặng! Thế giới chẳng vừa thành tựu đấy sao? Ô! Quả cầu tròn mượt óng vàng đó!”
“Đứng lên đi, tên trộm vặt, đồ lười biếng![3] Zarathustra bảo. Sao? Cứ vươn tay duỗi chân, ngáp dài, rơi té xuống đáy những cái giếng sâu mãi hay sao? Mi là ai thế? Hỡi linh hồn ta!” (Vào lúc đó, Zarathustra hoảng kinh vì một tia sáng mặt trời rớt từ trên cao xuống ngay mặt hắn). Zarathustra thở dài, ngồi dậy:
“Hỡi trời xanh trên đầu ta, mi đang nhìn ta đấy à? Mi đang lắng nghe linh hồn kỳ lạ của ta?
Khi nào mi sẽ uống lấy giọt sương đã rơi trên tất cả mọi sự vật trần gian? Khi nào mi sẽ uống lấy linh hồn kỳ lạ này?
Hỡi giếng sâu của thiên thu vĩnh cửu! Hỡi hố thẳm hoan say kinh hãi của buổi ngọ thiên! Khi nào mi sẽ hút lấy linh hồn ta vào trong sâu thẳm của mi?”
 
Zarathustra đã nói như thế, rồi hắn đứng dậy khỏi chỗ nằm dưới gốc cây cổ thụ, như thể đứng dậy khỏi một cơn say cuồng kỳ lạ, và ô kìa, mặt trời vẫn còn nằm trên đỉnh đầu hắn. Căn cứ vào sự kiện đó, người ta có thể kết luận một cách hợp lý rằng ngày hôm đó Zarathustra đã thiếp ngủ chẳng được bao lâu.

[1] “Ôi! Quả cầu tròn mượt óng vàng”, thực ra phải dịch là “chiếc vòng tròn mượt ửng vàng” vì ở đây Nietzsche chơi chữ với chữ Reif (danh từ): chiếc vòng, và reif (tính từ): chín vàng. Dịch là quả cầu để nhắc đến quả đất, nhưng vẫn không quên ý nghĩa của vòng tròn.
[2][3] “Đồ lười biếng ngủ ngày!” dịch chữ Tagedieb: kẻ lười biếng nhác nhớm; phân tích nghĩa đen, Tagedieb còn có nghĩa “kẻ ăn trộm giờ giấc ban ngày”.
0
CUỘC CHÀO MỪNG


Sau những cuộc kiếm tìm dai dẳng vô vọng, khi Zarathustra quay trở lại hang đá thì trời đã xế chiều. Nhưng khi chỉ còn cách hang đá chừng hai mươi bước, lại xảy ra chuyện mà Zarathustra ít chờ đợi nhất: tai hắn lại nghe thấy tiếng kêu thống khổ vang dội núi rừng. Và điều kinh dị là vào lúc ấy, tiếng kêu lại xuất phát từ hang đá của Zarathustra. Nhưng đấy là một tiếng kêu kéo dài, kỳ lạ, pha trộn nhiều âm thanh hỗn tạp, và Zarathustra phân biệt rõ là tiếng kêu ấy tạo thành do nhiều giọng, dẫu rằng đứng cách xa, nó tựa hồ tiếng kêu của một chiếc họng duy nhất.
Lúc bấy giờ, Zarathustra vội phóng mình chạy bay về hang đá, và cái quang cảnh đang chờ đợi hắn sau tiếng kêu thét hòa tấu đó mới kỳ dị làm sao! Bởi vì tất cả những người mà trong ngày hôm nay hắn đã bước qua bên cạnh họ, đều ngồi kế cận nhau trên nền hang đá: ông vua bên phải và ông vua bên trái, lão Pháp sư, vị Giáo hoàng, Người ăn xin tự nguyện, Chiếc bóng, Kẻ tận tâm của tinh thần, viên Bốc sư ủ rũ và Con lừa; Kẻ xấu xí nhất loài người đội trên đầu mình một vòng hoa và quấn hai chiếc khăn choàng cổ màu đỏ thắm - bởi vì y thích giả trang và làm đẹp giống như tất cả những kẻ xấu xí trên cõi đời này. Nhưng ở giữa đám bạn đồng hành buồn bã đó, con ó của Zarathustra đứng sững, lông dựng lên, lo lắng, vì con ó đã phải trả lời quá nhiều chuyện mà lòng kiêu hãnh của nó không có câu trả lời, con rắn giảo quyệt quấn vòng tròn chung quanh cổ ó.
Zarathustra ngắm nhìn tất cả cảnh tượng đó với một nỗi kinh ngạc sâu xa, rồi hắn lần lượt nhìn kỹ mặt từng người khách của mình với một sự tò mò từ ái, hắn đọc rõ tâm hồn bọn họ và lại kinh ngạc thêm lần nữa. Trong khi đó, những kẻ tụ hội trong hang đá đã đứng dậy, kính cẩn chờ Zarathustra ngỏ lời. Và Zarathustra đã nói như sau:
“Hỡi các ngươi, những con người kỳ dị, những kẻ đang tuyệt vọng! Vậy ra tiếng kêu thống khổ vang đến tai ta chính là tiếng kêu của các ngươi? Giờ đây, ta cũng biết rõ nơi chốn cần phải tìm kẻ mà ta đã hoài công tìm kiếm suốt ngày hôm nay: Con người thượng đẳng.
Con người thượng đẳng đó, đang ngồi trong chính hang đá của ta! Nhưng tại sao ta lại kinh ngạc chứ! Chẳng phải chính bản thân ta đã lôi cuốn hắn về hang đá bằng những cuộc hiến mật và những tiếng còi rúc giả tiếng chim đầy tinh quái của hạnh phúc ta đấy sao?
Tuy nhiên, ta thấy hình như các ngươi chẳng hòa hợp với nhau khi các ngươi tụ tập lại nơi đây, các ngươi, những kẻ đã thét lên tiếng kêu thống khổ. Trước tiên, cần phải có một kẻ nào đó xuất hiện, một kẻ nào đó làm các ngươi lại há miệng cười, một kẻ khờ dại ngớ ngẩn vui tươi và nhân hậu, một tay khiêu vũ, một trận cuồng phong, một kẻ dại khờ tính tình thay đổi như chong chóng, một lão điên khùng nào đó: - ý các ngươi nghĩ thế nào?
Xin các ngươi thứ lỗi cho ta, các ngươi, những kẻ đang tuyệt vọng, xin các ngươi hãy thứ lỗi vì ta đã nói với các ngươi bằng những lời lẽ quả thật rất đơn sơ, không xứng đáng với những người khách như thế kia! Song các ngươi chẳng đoán được điều gì làm cho lòng ta thảnh thơi an nghỉ:
Đấy chính là các ngươi và quang cảnh do các ngươi hiến tạo, xin các ngươi thứ lỗi cho ta! Bởi vì khi nhìn thấy một kẻ tuyệt vọng, mỗi người đều khôi phục lại lòng can đảm của mình. Để an ủi phủ dụ một kẻ tuyệt vọng, mỗi người đều tin rằng mình khá mạnh.
Hỡi những người khách trứ danh của ta! Ta chính là người đã được các ngươi ban cho sức mạnh đó, một món quà vô giá! Một quà tặng đích thực của những người khách! Thôi, đừng giận dữ nếu ta cũng hiến tặng cho các ngươi những gì thuộc về ta.
Đây là vương quốc và lãnh địa của ta: nhưng trong buổi hoàng hôn cùng buổi tối hôm nay, chúng sẽ thuộc về các ngươi. Con ó và con rắn của ta sẽ sẵn sàng phục dịch các ngươi: hang đá của ta sẽ là nơi an nghỉ cho các ngươi!
Trong hang đá và bên cạnh ta, chẳng ai trong các ngươi sẽ bị tuyệt vọng; trong lãnh địa của ta, ta che chở mỗi người chống lại những con dã thú của họ. An toàn: đó là lợi ích đầu tiên ta hiến tặng cho các ngươi!
Và lợi ích thứ nhì, là ngón tay ta. Thế nhưng, nếu có được ngón tay ta, thì sớm muộn gì các ngươi cũng chộp lấy cả bàn tay ta. À, thêm vào đó, ta còn cho các ngươi tấm lòng của ta nữa. Ta xin hoan nghênh chào đón các ngươi, hỡi những người khách của ta!”
Zarathustra đã nói như thế, rồi hắn cười với lòng thương yêu hung tợn. Sau lời chào mừng này, những người khách lại nghiêng mình thi lễ lần nữa trong sự im lặng đầy tôn kính; nhưng ông vua bên phải đã nhân danh cả bọn trả lời Zarathustra:
“Hỡi Zarathustra! Căn cứ vào cách thức ngài đã đưa ra bàn tay và lời chào mừng, chúng ta nhận ra rằng ngài chính là Zarathustra. Ngài đã tự hạ mình trước chúng ta; một tí nữa thì ngài sẽ xúc phạm đến sự tôn kính của chúng ta.
Nhưng ai có thể tự hạ mình với biết bao là kiêu hãnh thế đó như ngài được? Điều này nâng cao chính chúng ta lên, và khích lệ đôi mắt lẫn quả tim chúng ta.
Chỉ cốt để nhìn thấy duy có điều ấy thôi, chúng ta sẵn lòng leo lên những ngọn núi cao hơn ngọn núi này. Bởi vì chúng ta đã đến đây với lòng khát khao ngoạn cảnh, chúng ta muốn nhìn thấy điều làm cho những đôi mắt vẩn đục trở thành trong sáng.
Và kìa, tất cả những tiếng kêu thống khổ của chúng ta đã tắt lặng. Giác quan và tấm lòng chúng ta đã bừng nở, xuất thần ngây ngất. Chỉ một tóc tơ nữa thôi, là tinh thần chúng ta sẽ trở nên dũng cảm hân hoan.
Hỡi Zarathustra, trên mặt đất chẳng có gì vui thỏa hơn là một ý chí cao vời hùng mạnh. Đấy là một cái cây tuyệt mỹ nhất trần đời. Toàn bộ một phong cảnh được khích lệ nhờ một cái cây như thế.
Ta so sánh ý chí ấy với một cây thông, thứ cây lớn mạnh như ngài, hỡi Zarathustra. Cao lớn, im lặng, cứng rắn, cô đơn, làm bằng thứ gỗ hảo diệu, uyển chuyển mềm mại nhất, lạ lùng tuyệt diệu.
Và sau cùng vươn những cành lá xanh rì, mạnh mẽ hướng về sự ngự trị của riêng mình, ném ra những câu hỏi mạnh bạo quất vào những trận gió, những cơn bão cùng tất cả những gì quen thuộc ở các đỉnh cao;
- và trả lời còn mạnh bạo hơn, với tư cách kẻ chiến thắng kiêu hãnh. Ồ! Ai lại chẳng leo lên những ngọn núi cao để chiêm ngưỡng những thứ cây như thế?
Hỡi Zarathustra, những kẻ ảo não ưu phiền nhất đều được khích lệ khi nhìn thấy cái cây của ngài; dáng vẻ bề ngoài của ngài làm an tâm những kẻ còn do dự và chữa lành tâm hồn họ.
Và thực vậy, hôm nay có nhiều cái nhìn đang hướng vọng về ngọn núi cùng cái cây cao vút của ngài; một khát vọng nung nấu đã bắt đầu trỗi dậy, và có rất nhiều kẻ đã học nêu lên câu hỏi: Zarathustra là ai?
Và tất cả những kẻ mà từ trước đến giờ ngài chưa hề rỉ vào tai họ chất mật ngọt cùng bài hát của ngài, tất cả những kẻ ẩn sĩ cô đơn và cô đơn hai bóng, đều đột ngột nhủ lòng:
“Zarathustra hãy còn sống sao? Cuộc đời chẳng còn đáng bỏ công sống nữa! Chẳng có gì là quan trọng, mọi sự đều vô bổ: trừ phi - trừ phi chúng ta sống với Zarathustra!”
“Tại sao hắn, kẻ đã được tiên báo lâu như thế, hắn lại không đến? - Nhiều người cất tiếng hỏi như vậy. Nỗi cô đơn đã thiêu rụi hắn rồi sao? Hay chính chúng ta phải tiến bước về với hắn?
Giờ đây, chính sự cô đơn lại thành mềm nhũn và vỡ vụn tan tành như một nấm mồ mở rộng, không còn có thể giữ lại những người chết. Khắp nơi người ta đều nhìn thấy những kẻ đội mồ sống lại.
Giờ đây, hỡi Zarathustra, những ngọn sóng triều đang dâng lên đến tận chỗ ngài. Chiếc thuyền của ngài sẽ không còn nằm yên trên cạn lâu hơn được nữa.
Về việc chúng tôi đã đến hang đá của ngài, chúng tôi là những kẻ từng nuôi lòng tuyệt vọng và không còn tuyệt vọng nữa: đấy chỉ là dấu hiệu và điềm triệu báo rằng sắp có những con người tốt đẹp hơn chúng tôi sẽ đến đây;
- bởi vì chính kẻ đó đang ở trên đường hướng về ngài, tàn vật cuối cùng của Thượng đế giữa loài người; nghĩa là: tất cả những người nuôi khát vọng, lòng ghê tởm mênh mông, sự chán chường ngun ngút.
- tất cả những kẻ không còn thiết tha muốn sống nữa trừ phi họ có thể học hy vọng trở lại - học biết nỗi hy vọng bao la từ chính ngài, hỡi Zarathustra!”
Ông vua bên phải nói như thế rồi nắm lấy bàn tay Zarathustra, muốn hôn lên đấy, song Zarathustra né tránh sự tôn sùng của ông ta và lùi lại, kinh hoàng, im lặng, tựa hồ đột nhiên hắn đã bỏ chạy xa tít khỏi chốn này. Nhưng, sau một lúc, Zarathustra lại định thần quay trở về với những người khách, rồi nhìn họ bằng tia nhìn trong sáng và dò xét, hắn ngỏ lời:
“Hỡi những con người thượng đẳng, những người khách của ta, ta sắp nói với các ngươi bằng Đức ngữ một cách rõ ràng.[1] Các ngươi không phải là những kẻ mà ta đã chờ đợi trên những ngọn núi cao này”.
(“Bằng Đức ngữ một cách rõ ràng?” Xin Thượng đế xót thương! - ông vua bên trái lúc đó tự nhủ với lòng mình như thế. Người ta đã thấy rằng vị hiền triết phương Đông ấy không biết rõ những con người Đức đầy lòng nhân hậu này!
Nhưng ông ta muốn nói “bằng Đức ngữ một cách sỗ sàng” - được đi! - Đấy không phải là cái gì làm thiên hạ chán ngán nhất trong thời này!”)
Zarathustra lại tiếp:
“Rất có thể tất cả các ngươi đây đều là những con người thượng đẳng: nhưng theo ta thấy, các ngươi hãy còn chưa đủ lớn và đủ mạnh.
Theo mắt ta thấy, có nghĩa là: vì cái ý chí không lay chuyển nổi, đang câm lặng trong ta, một ý chí lúc này đang im tiếng nhưng sẽ không lặng câm mãi mãi. Và nếu các ngươi là những người của ta, các ngươi vẫn không phải là cánh tay mặt của ta.
Bởi vì những kẻ như các ngươi, những kẻ đi trên những đôi chân bệnh hoạn mong manh yếu ớt, trước tất cả mọi sự đều muốn được kiêng nể e dè cẩn trọng, dẫu họ có biết đến điều đó hay giấu giếm điều đó.
Nhưng còn ta, ta không kiêng nể e dè cẩn thận cả tay lẫn chân, ta không kiêng nể e dè các chiến sĩ của ta: làm thế nào các người có thể tự mình có khả năng đảm đương nổi cuộc chiến tranh của ta?
Cùng với các ngươi, ta còn làm hỏng những chiến thắng của ta nữa. Và có hơn một người trong các ngươi bổ ngửa té nhào khi vừa nghe một khúc ầm vang của những hồi trống giục của ta.
Vì thế, theo ý ta, các ngươi không đủ cao đẹp, cũng không đủ quý phái. Ta cần đến những tấm gương trong suốt sáng ngời nhẵn bóng để đón tiếp đạo lý của ta. Phản ảnh trên bề mặt các ngươi, hình ảnh của chính ta sẽ bị biến dạng lệch lạc khó coi.
Trên vai các ngươi còn trĩu nặng biết bao gánh nặng, biết bao hồi niệm; và có hơn một tên lùn xấu xa đã ngồi chò hõ trong các xó xỉnh kín đáo nhất của các ngươi. Cả trong các ngươi, cũng vẫn có đám tiện dân ẩn mặt.
Dẫu thuộc về một chủng loại thượng đẳng, song về nhiều phương diện các ngươi vẫn bị vặn vẹo không ra hình thù. Trên cõi đời này, chẳng có người thợ rèn nào có thể sửa chữa và uốn thẳng các ngươi lại được.
Các ngươi chỉ là những chiếc cầu: làm sao cho những kẻ tốt đẹp hơn các ngươi có thể qua được bờ bến bên kia! Các ngươi biểu trưng cho những cấp độ: vì thế, các ngươi chớ nên nuôi lòng phẫn hận đối với kẻ ở bên trên các ngươi và đang leo lên chiều cao thẳm riêng của hắn!
Rất có thể một ngày kia, hạt giống các ngươi sẽ nảy sinh cho ta một đứa con đích thực và một kẻ thừa tự hoàn hảo: nhưng giờ phút đó hãy còn xa xôi vời vợi. Các ngươi không phải là những kẻ thủ đắc được tên họ và di sản của ta.
Các ngươi không phải là những người ta đang chờ đợi trên những ngọn núi cao này, các ngươi không phải là những người sẽ cùng ta xuống đến với loài người một lần cuối cùng. Các ngươi chỉ là những kẻ tiền phong đã đến để báo cho ta biết rằng có những con người khác, cao đại hơn, đang còn ở trên đường đi đến.
Không phải là những con người nuôi khát vọng vĩ đại, lòng kinh tởm mênh mông, sự chán ngán ngút ngàn, cũng không phải là cái mà các ngươi đã gọi là “những vết tích của Thượng đế trên mặt đất”.
- Không, không! Ba lần không! Ta đang chờ đợi những con người khác ở đây, trên những ngọn núi này, và nếu không có họ, ta chẳng thể nào bước chân ra khỏi nơi đây.
Ta đang chờ đợi những con người khác, vĩ đại hơn, mạnh mẽ hơn, chiến thắng hơn, những con người mà thể xác lẫn linh hồn rất thăng bằng kiên cố: họ, những con sư tử đang cười vang, họ phải huy hoàng đi đến.
Hỡi những ngươi khách kỳ lạ của ta, - các ngươi vẫn còn chưa nghe nói về những đứa con của ta sao chứ? Và các ngươi cũng chẳng nghe rằng các con ta đang ở trên đường đi đến?
Vậy thì các ngươi hãy nói cho ta nghe về những khu vườn, về Quần đảo Vĩnh Phúc, về chủng loại mới mẻ xinh đẹp của ta, - tại sao các ngươi lại không nói cho ta nghe về những điều đó chứ?
Ta khẩn nài tình thương yêu của các ngươi hãy đền bù lại lòng hiếu khách của ta như thế: các ngươi hãy nói cho ta nghe về những đứa con của ta. Chính vì chúng mà ta giàu có, chính vì chúng mà ta đã nghèo nàn: có gì mà ta đã không ban phát hết đâu?
- Có gì mà ta sẽ không ban cho để có được một điều: những đứa con ấy, những đám cây sống động ấy, những đám cây sống nhờ ý chí và nhờ hy vọng cao vời nhất của ta!”
 
Zarathustra đã nói như thế rồi đột nhiên hắn ngừng lại nửa chừng, vì nỗi niềm hoài vọng xâm chiếm lấy hắn. Hắn nhắm mắt, khép miệng lại, khi đà phấn khích của lòng hắn càng gia tăng mạnh mẽ. Và cả những người khách của hắn nữa, cũng im lặng, bất động, đớn đau, trừ có lão Bốc sư già là đưa tay múa máy.


[1] “bằng Đức ngữ một cách rõ ràng”: deutsch und deutlich, Nietzsche chơi chữ dựa vào lối phát âm tương tự của deutsch: bằng Đức ngữ, và deutlich: một cách rõ ràng; thành ngữ deutsch reden có nghĩa là: nói một cách rõ ràng.
0
BỮA ĂN CUỐI CÙNG[1]



Bởi vì vào lúc ấy, viên Bốc sư cắt ngang lời chào mừng của Zarathustra và các người khách: lão chen lấn đến phía trước, như một kẻ không có thời giờ để mất, lão cầm lấy bàn tay của Zarathustra và nói lớn: “Nhưng mà, hỡi Zarathustra!
Có việc cần thiết hơn việc khác, đó chính là điều ngài đã dạy: nào! Giờ đây có một việc đối với tôi còn cần thiết hơn tất cả mọi việc khác.
Tôi muốn nói lên một lời vừa đúng dịp: ngài đã chẳng mời tôi dùng bữa đấy sao? Và ở đây có nhiều người đã vượt qua các quãng đường dài. Tuy vậy, ngài không muốn đãi chúng tôi no nê bằng những lời nói đấy chứ?
Vì vậy, tất cả các ngài đều đã nói quá nhiều đến chuyện chết lạnh, chết chìm, chết ngạt và những khổ nạn khác của thân xác; nhưng chẳng có ai nhớ đến khổ nạn của riêng tôi: nỗi sợ hãi bị chết đói”.
(Viên Bốc sư già nói như thế, và khi nghe những lời này, hai con thú của Zarathustra bỏ chạy vì kinh hãi: chúng thấy rằng tất cả những gì lúc ban ngày chúng đã mang về hang đá chẳng đủ làm no cho riêng một mình lão Bốc sư).
Viên Bốc sư tiếp tục: “Đó là chẳng nói đến nỗi sợ hãi bị chết khát. Và dẫu tai tôi có nghe tiếng nước chảy vỗ vào thành đá, giống như những lời thuyết giảng của trí huệ khôn ngoan, nghĩa là dồi dào triền miên không hề mỏi mệt, thì riêng phần tôi, tôi vẫn muốn uống rượu.
Tất cả mọi người đều không phải là kẻ mới sinh ra đã biết uống nước lã suốt đời như Zarathustra. Nước lã cũng không tốt cho những kẻ mệt mỏi úa tàn: thức uống chúng ta cần đến chính là rượu, - chỉ rượu mới đem lại một sự bình phục đột ngột và một sức khỏe tức thì”.
Về chuyện này, vì lão Bốc sư đòi phải có rượu, nên ông vua bên trái, ông vua trầm ngâm ít nói, cũng lên tiếng. Ông ta bảo: “Chúng tôi đã chăm nom đến chuyện rượu, tôi và anh tôi, ông vua bên phải: chúng tôi có rất nhiều rượu, - cả một khối chở trên lưng con lừa, giờ chúng ta chỉ còn thiếu bánh mì”.
“Bánh mì à? Zarathustra vừa hỏi vặn vừa cười. Chính bánh mì lại là thứ những con người sống cô đơn chẳng hề có. Nhưng con người không chỉ sống bằng bánh mì, con người còn sống nhờ thịt ngon và ở đây ta có hai chú cừu tơ.
Giờ đây các người hãy xẻo thịt chúng cho chóng, gia vị và ướp chúng bằng cây đan sâm: ta thích thịt cừu non làm như thế. Và chúng ta chẳng thiếu rễ cây lẫn trái cây, chúng có đủ cả ngay cho những kẻ háu ăn và những người tinh tế khó tính nhất, chúng ta cũng chả thiếu gì những hạt có vỏ cứng hay những ẩn ngữ khác để đập vỡ.
Vậy thời chẳng mấy chốc nữa, chúng ta sẽ dự một bữa ăn ngon. Nhưng kẻ nào muốn ăn với chúng ta thời phải bắt tay vào việc, các ông vua cũng như những kẻ khác. Bởi vì nơi hang đá của Zarathustra, ngay cả một ông vua cũng có thể là một người đầu bếp.”
Lời đề nghị này được đưa ra thuận lòng mọi người; duy chỉ có Người ăn xin tự nguyện là kinh tởm thịt, rượu và đồ gia vị. Lão ta pha trò:
“Xin các ngài hãy lắng nghe lời kẻ tham ăn háu uống Zarathustra! Người ta có trèo lên các hang động và núi cao để làm một bữa yến tiệc như thế hay không?
Thực ra, giờ đây tôi hiểu rõ điều mà ngày xưa Zarathustra đã giảng dạy cho chúng ta: “Xin cảm tạ sự nghèo hèn!” Và tôi hiểu vì sao Zarathustra muốn trừ khử những người ăn xin”.
Zarathustra đáp:
“Hãy thanh thản vui tươi như chính ta đây. Cứ giữ những thói quen của ngươi, hỡi ông bạn quý của ta ơi! Hãy nhai hạt thóc, uống nước lã, ca tụng thức ăn của nhà ngươi, miễn là nó làm cho ngươi vui vẻ!
Ta chỉ là một lề luật cho những người mang dòng máu của ta, ta không phải là một lề luật cho tất cả mọi người. Nhưng kẻ nào mang dòng máu của ta thời phải có những khúc xương cứng cáp và những bàn chân nhẹ nhàng,
- tươi vui khao khát những cuộc chiến chinh và những yến tiệc, chẳng buồn phiền, không mơ mộng, luôn sẵn sàng cho những sự việc khó khăn nhất như sẵn sàng cho cuộc lễ trọng của mình, khang kiện và vẹn toàn lành mạnh.
Những gì tốt đẹp đều thuộc về những con người mang dòng máu của ta và thuộc về chính ta, và nếu người ta không sẵn lòng ban cho chúng ta, chúng ta sẽ vồ chụp lấy: - thực phẩm ngon lành nhất, bầu trời tinh khiết nhất, những tư tưởng mãnh liệt nhất, những người đàn bà diễm lệ nhất”.
Zarathustra đã nói như thế; và ông vua bên phải lên tiếng: “Lạ chưa! Đã có bao giờ người ta nghe được những điều chính xác như thế thốt ra từ miệng một nhà hiền triết?
Và thực ra, đối với một nhà hiền triết, đấy chính là điều kỳ dị nhất: với tất cả mọi thứ đó ông ta vẫn cứ thông minh và chẳng có gì là ngu dốt hơn cả”.
Ông vua bên phải nói như thế với sự kinh ngạc, trong khi đó con lừa kết thúc câu nói này bằng một tiếng I-A láu cá. Nhưng tiếng be be đó là khởi đầu của bữa ăn dài nọ, bữa ăn được các sách sử gọi là “Bữa ăn cuối cùng”. Trong bữa ăn này, chẳng bàn tới vấn đề nào khác hơn là Con người thượng đẳng.
 

[1] “bữa ăn cuối cùng”, dịch chữ Abendmahl, một hình thái cổ của chữ Abendessen, vốn chỉ có nghĩa là “bữa ăn tối”. Nhưng chữ Abendmahl còn được dùng trong Thánh kinh để chỉ bữa ăn cuối cùng của Giêsu với môn đệ, trong đó Giêsu ban Thánh thể cho các môn đệ, cho nên chúng tôi thêm chữ “cuối cùng” để gợi nhắc lại ý nghĩa mà Nietzsche muốn ám chỉ tới.
[/align] [/align]
0
VỀ CON NGƯỜI THƯỢNG ĐẲNG



1


“Lần đầu tiên khi đến với loài người, ta đã phạm phải cơn điên của kẻ cô đơn, cơn điên rồ vĩ đại: ta đã đứng ở chốn công trường.
Và vì ngỏ lời với tất cả mọi người, cho nên ta chẳng nói với một ai. Song vào buổi tối, những người đi dây làm trò xiếc và những xác chết đã là bạn đồng hành của ta; và ngay chính ta, ta cũng gần giống như một xác chết.
Nhưng cùng với bình minh, một chân lý mới mẻ đã hiện đến với hồn ta; lúc bấy giờ, ta đã học nói rằng: “Sá gì chốn công trường và đám tiện dân! Sá gì tiếng ồn ào tạp nham và những lỗ tai dài của đám tiện dân!”
Hỡi những người thượng đẳng, hãy học từ ta điều này: ở chốn công trường, chẳng có ai tin vào những người thượng đẳng. Nếu các ngươi muốn thuyết giảng ở chốn công trường, thời cũng được đi! Nhưng đám tiện dân sẽ nheo nheo con mắt: “Tất cả chúng ta đều bình đẳng”.
“Những người thượng đẳng à?” - đám tiện dân hỏi như thế và nheo nheo con mắt, - không có những người thượng đẳng, tất cả chúng ta đều bình đẳng, mọi người đều có giá trị bằng người khác, trước mặt Thượng đế chúng ta đều bình đẳng!”
Trước mặt Thượng đế! - Trong khi mà vị Thượng đế ấy đã chết. Nhưng trước đám tiện dân, chúng ta không muốn là những người bình đẳng. Hỡi những người thượng đẳng, các ngươi hãy xa lánh chốn công trường!


2


Trước mặt Thượng đế! - Trong khi mà vị Thượng đế ấy đã chết! Hỡi những người thượng đẳng, vị Thượng đế ấy đã là mối nguy hiểm lớn nhất của các ngươi.
Các ngươi chỉ được phục sinh kể từ khi vị Thượng đế ấy yên nghỉ trong mồ. Chỉ lúc này đây, mới ló dạng buổi Đại Ngọ Thiên, chỉ lúc này đây con người thượng đẳng mới trở thành chủ nhân!
Hỡi các anh em, các ngươi có hiểu lời ta vừa thốt? Các ngươi kinh sợ: tâm hồn các ngươi đã choáng váng rồi sao! Hố thẳm đang ngoác miệng trước mắt các ngươi? Con chó ngao của hỏa ngục đã lẽo đẽo sủa vang đằng sau các ngươi?
Nào bước đi! Hỡi những người thượng đẳng! Chỉ lúc này đây, ngọn núi của tương lai nhân loại mới sắp trổ sinh. Thượng đế đã chết: giờ đây, chúng ta muốn cho Siêu nhân được sống.
 
 
 


3


Hôm nay, những kẻ lo lắng ưu tư nhất lên tiếng hỏi: “Làm thế nào bảo trì con người?” Nhưng Zarathustra lại cất tiếng hỏi, điều độc nhất và tiên quyết cần phải hỏi: “Làm thế nào vượt bỏ con người?”
Siêu nhân nung nấu trong lòng ta, chính Siêu nhân là đối tượng duy nhất đối với ta, - chứ chẳng phải con người: chẳng phải kẻ lầm than nhất, chẳng phải kẻ ưu sầu nhất, chẳng phải kẻ thiện hảo nhất.
Hỡi các anh em, điều mà ta có thể yêu thương nơi con người, nằm ở chỗ: con người là một sự chuyển tiếp và một sự suy tàn. Và cả nơi các anh em nữa, cũng có nhiều điều làm ta yêu thương và hy vọng.
Hỡi những người thượng đẳng! Các ngươi đã khinh bỉ, đó là điều làm ta hy vọng. Bởi vì những kẻ khinh bỉ dữ dội nhất cũng chính là những người ngưỡng mộ mê cuồng nhất.
Các ngươi đã tuyệt vọng, đó là điều cần phải tôn vinh nơi các ngươi. Các ngươi đã không học biết làm thế nào các ngươi sẽ có thể đầu hàng, các ngươi đã không học biết những sự cẩn trọng vụn vặt nhỏ nhen.
Ngày hôm nay, bọn người ti tiện đã trở thành chủ nhân, tất cả bọn chúng đều thuyết giảng sự khước từ, sự khiêm cung, sự cẩn trọng, sự chuyên tâm, và những đức hạnh nhỏ nhen.
Cái gì xuất phát từ đám đàn bà hoặc từ bọn hầu phòng, và nhất là sự pha trộn của đám tiện dân hiện nay, cái đó muốn trở thành chủ nhân của tất cả số mệnh con người. Ồ! Kinh tởm! Kinh tởm! Thật kinh tởm!
Cái đó lên tiếng hỏi đi, hỏi lại và không ngừng lên tiếng hỏi: “Làm thế nào bảo trì con người một cách tốt đẹp nhất, lâu dài nhất, dễ chịu nhất?” Họ là những chủ nhân như thế đó của hôm nay.
Hỡi các anh em, các anh em phải vượt bỏ những chủ nhân hiện thời, - những kẻ ti tiện đó: chính bọn chúng là hiểm họa lớn nhất đối với Siêu nhân.
Hỡi các người thượng đẳng, xin các ngươi hãy vượt bỏ những đức hạnh nhỏ nhen, những sự cẩn trọng nhỏ nhen, những sự tôn kính đối với những hạt cát, sự đông đảo lúc nhúc của bầy kiến, sự tự mãn đáng thương, “hạnh phúc của tối đại đa số”!
Chẳng thà tuyệt vọng còn hơn là buông tay đầu hàng. Và thật vậy, ta yêu các ngươi bởi vì các ngươi không biết sống ở thời đại hôm nay, hỡi những người thượng đẳng! Bởi vì chỉ như thế các ngươi mới sống viên mãn tuyệt vời nhất!


4


Hỡi các anh em! Các anh em có dũng cảm can trường? Các anh em có thừa cả quyết? Không phải là thứ can trường trước những người chứng, mà là lòng dũng cảm của những kẻ cô đơn, lòng can trường của những con ó chẳng hề có lấy một đấng Thượng đế làm khán giả ngắm nhìn.
Những tâm hồn lạnh lẽo, những con la, những người mù, những kẻ say rượu chẳng hề có cái mà ta gọi là con tim. Kẻ nào có con tim thì biết được sự sợ hãi, nhưng lại chế phục được sợ hãi; đó là kẻ nhìn sâu vào hố thẳm với niềm kiêu hãnh ngất trời.
Kẻ nào nhìn sâu vào hố thẳm, nhưng với đôi mắt của con ó - kẻ nào ôm choàng hố thẳm với những móng vuốt bén ngời của con ó, kẻ đó là người dũng cảm can trường.


5


“Con người là loài hung bạo” - tất cả những kẻ hiền triết nhất đều nói như thế để an ủi vỗ về ta. Than ôi! Giá mà điều đó vẫn còn đúng đến hôm nay! Vì sự xấu ác là sức mạnh tốt đẹp nhất cho con người.
“Con người phải trở thành tốt lành và hung tợn hơn” - đó là đạo lý do chính ta giảng dạy. Điều xấu ác vĩ đại nhất thì cần thiết cho điều thiện hảo tót vời nhất của Siêu nhân.
Đối với người thuyết giáo cho đám tiện dân, thì đau khổ và gánh vác những tội lỗi của loài người là điều tốt lành. Nhưng còn ta, ta vui hưởng đại tội như niềm an ủi lớn lao cho lòng mình.
Song những lời lẽ ấy không dành cho những lỗ tai dài của đám tiện dân: tất cả mọi lời nói đều không xuất sinh cho mọi cửa miệng. Đấy là những điều tinh tế xa vời; ước gì những chiếc chân cừu sẽ không cố chộp cho bằng được chúng!


6


Các ngươi, những người thượng đẳng, các ngươi có tin rằng ta có mặt nơi đây để sửa chữa lại những gì mà các ngươi đã làm sai lạc bậy bạ hay không?
Hoặc giả, từ nay về sau, ta muốn ru các ngươi ngủ thật say sưa, vì các ngươi là những người đang đau khổ? Hoặc giả, ta sẽ chỉ cho các ngươi những con đường mòn dễ dàng hơn, vì các ngươi là những kẻ lang thang lạc lõng và đang bị lâm nguy trong núi lớn?
Không, không, ba lần không! Dòng giống của các ngươi phải bị diệt vong ngày càng nhiều hơn - bởi vì số mệnh của các ngươi phải càng ngày càng kinh khổ khắc bạc hơn.
Vì chỉ như thế - chỉ như thế con người mới lớn lên đến tận chiều cao nơi mà sấm sét bủa vào đầu hắn, và làm hắn vỡ tan: đủ cao vời cho sấm sét!
Tinh thần cùng khát vọng của ta hướng đến con số ít ỏi, hướng đến những điều lâu dài, xa xôi vời vợi. Nỗi khốn khổ ngắn ngủi nhỏ nhoi đông đảo của các ngươi nào có nghĩa lý gì đối với ta!
Đối với ta, các ngươi hãy còn khổ đau chưa đúng mức! Bởi lẽ các ngươi chỉ mới đau khổ vì chính mình, các ngươi hãy còn chưa thống khổ con người. Nói ngược lại là các ngươi nói dối! Tất cả các ngươi, các ngươi đều không đau khổ nỗi thống khổ mà ta đã từng chịu đựng.


7


Sấm sét không gây hại nữa, là điều chẳng đủ, đối với ta. Ta chẳng hề muốn đánh lạc đường sấm sét, ta muốn sấm sét học cách phục vụ cho ta.
Từ lâu rồi, Trí huệ Hiền minh của ta kết tụ lại như một đám mây, Trí huệ ấy càng lúc càng tĩnh lặng tối ám hơn. Mọi Trí huệ Hiền minh một ngày nọ phải vụt ra những lằn chớp dữ, đều như thế.
Đối với những con người thời đại kia, ta chẳng muốn làm ánh sáng, cũng chẳng muốn được gọi là ánh sáng. Ta muốn xuyên mù mắt bọn chúng. Hỡi sấm sét của trí huệ ta! Hãy đánh vỡ mắt bọn chúng đi!


8


Đừng nên ước muốn điều gì quá sức các ngươi: có một sai lầm xấu xa nơi những kẻ ước muốn quá sức mình.
Đặc biệt là khi họ ước muốn những điều cao đại! Vì họ đánh thức dậy lòng hồ nghi đối với những con người cao đại, những kẻ xài bạc giả và đóng kịch tinh tế kia,
- mãi đến khi, cuối cùng, họ giả trá trước chính họ, với đôi mắt ám muội, những tấm gỗ bị mọt ăn mòn ruỗng và được sơn sửa trang hoàng bằng những danh từ đao to búa lớn, bằng những đức hạnh làm dáng, bằng vẻ hào nhoáng của những đồ mạo hóa.
Hỡi những người thượng đẳng! Hãy cẩn trọng đề phòng. Hiện giờ, đối với ta, chẳng gì quý giá và hiếm hoi hơn là tính chân thực.
Thời đại hôm nay há chẳng thuộc về đám tiện dân? Thế mà, đám tiện dân chẳng biết cái gì là lớn, cái gì là nhỏ, cái gì là ngay thẳng hay chính trực: chúng quanh co âm hiểm một cách ngây thơ vô tội vạ, chúng luôn luôn nói dối.


9


Hỡi những người thượng đẳng, những con người can đảm, những con người thẳng thắn, hãy nuôi lòng hoài nghi triệt để ở thời đại hiện nay! Và hãy giữ kín những lý lẽ của các ngươi. Bởi vì thời hiện đại đang thuộc về đám tiện dân!
Điều mà đám tiện dân đã học tin vào không lý do, thì ai có thể dùng đến những lý lẽ để đảo ngược lại?
Ở chốn công trường, người ta thuyết phục đám đông bằng điệu bộ. Còn những lý lẽ chỉ tổ làm bọn tiện dân sinh lòng e dè nghi hoặc.
Và nếu có lần nào chân lý cất tiếng ca khải thắng ở chốn công trường, thì lúc bấy giờ, các ngươi hãy lên tiếng hỏi với lòng hoài nghi lành mạnh: “Sự sai lầm vĩ đại nào đã tận lực đấu tranh cho chân lý đó?”
Các ngươi cũng phải cẩn trọng đề phòng những nhà học giả thông thái! Chúng thù ghét các ngươi, vì chúng nghèo nàn vô bổ! Chúng có những đôi mắt lạnh lẽo khô khan, trước mặt chúng tất cả mọi con chim đều bị trụi lông xơ xác.
Chúng khoe khoang là chẳng hề nói dối. Nhưng bất lực trong việc nói dối là điều hãy còn quá cách xa với tình yêu chân lý! Các ngươi hãy cẩn trọng đề phòng!
Sự thiếu vắng cơn sốt nhiệt cuồng thì hãy còn lâu mới được gọi là tri thức! Ta không tin vào những tinh thần bị đông lạnh cứng đơ. Kẻ nào không biết nói dối thời cũng chẳng biết rõ chân lý là gì.


10


Nếu muốn leo lên cao, các ngươi hãy sử dụng đôi chân của chính mình! Đừng bắt kẻ khác mang các ngươi lên cao, đừng ngồi trên lưng hay trên đầu của kẻ khác!
Còn ngươi, ngươi đã nhảy lên ngựa rồi! Giờ đây, ngươi cho ngựa phóng nước đại về mục tiêu của ngươi chăng? Nhưng mà bạn ơi, cái chân khập khiễng của bạn cũng ngồi trên lưng ngựa!
Khi ngươi đến đích rồi và khi nhảy xuống ngựa, thì hỡi con người thượng đẳng, chính ngay lúc đó, ngươi sẽ sảy chân vấp ngã trên đỉnh cao của ngươi!


11


Hỡi những người thượng đẳng, các ngươi là những kẻ sáng tạo! Người ta chỉ thai nghén đứa con riêng của chính mình.
Các ngươi đừng để bị đưa dẫn vào chỗ sai lầm! Vậy, ai là kẻ láng giềng của các ngươi? Và ngay cả khi các ngươi làm điều tốt “cho kẻ láng giềng”, thì các ngươi cũng chưa sáng tạo những gì tuyệt hảo cho hắn.
Các ngươi, những kẻ sáng tạo, các ngươi hãy quên tiếng “cho” ấy đi: chính đức hạnh của các ngươi muốn rằng các ngươi đừng dính líu gì với các tiếng “cho”, “bởi”, “bởi vì”. Các ngươi phải nhét chặt tai lại để đừng nghe đến những tiếng giả trá ti tiện ấy.
“Cho kẻ láng giềng đồng loại”, chỉ là đức hạnh của hạng tiện dân. Nơi họ, người ta bảo: “Kẻ nào giống nhau thì quần tụ nhau” và “Bàn tay này rửa sạch bàn tay kia”: - họ chẳng có được quyền lực cũng như sức mạnh của lòng ích kỷ của các ngươi!
Trong lòng ích kỷ của các ngươi, những kẻ sáng tạo, có sự tiên liệu và sự cẩn trọng của người đàn bà đang thai nghén! Điều mà hãy còn chưa có ai tận mắt nhìn thấy, chính là hoa trái kết thành: chính hoa trái đó là cái được tình yêu các ngươi che chở, bảo trì và nuôi dưỡng.
Chỗ nào có được trọn vẹn tình yêu của các ngươi - nơi đứa con các ngươi - thì chỗ đó cũng có tất cả đức hạnh các ngươi! Công trình của các ngươi, ý chí của các ngươi, đấy chính là kẻ “đồng loại” láng giềng của các ngươi: các ngươi đừng làm gia tăng thêm những giá trị giả mạo!


12


Hỡi những người thượng đẳng, những kẻ sáng tạo! Kẻ nào phải sinh nở đều lâm bệnh, và kẻ nào đã sinh nở đều phải bị ô uế.
Hãy hỏi những người đàn bà: người ta không sinh nở vì sinh nở đem lại lạc thú. Sự đau đớn làm cho những con gà mái và những nhà thơ cùng cục tác.
Hỡi các ngươi, những kẻ sáng tạo, nơi các ngươi có nhiều sự ô uế. Bởi vì các ngươi đã phải làm những người sản mẫu.
Một đứa trẻ vừa cất tiếng chào đời: ôi, biết bao là ô uế mới đã đến với trần gian! Hãy lánh xa! Kẻ nào đã sinh nở thời phải lau rửa tâm hồn mình!


13


Chẳng nên đức hạnh vượt quá sức mình! Và chẳng nên đòi hỏi nơi các ngươi điều gì bất như thực.
Hãy bước đi theo những dấu tích mà đức hạnh của ông cha các ngươi đã từng bước đi. Làm sao các ngươi lại muốn leo vút lên cao nếu như ý chí của ông cha các ngươi không leo cao cùng với các ngươi?
Nhưng kẻ nào muốn làm kẻ dẫn đầu, hãy nên cẩn trọng coi chừng kẻo lại làm kẻ theo đuôi đội sổ! Và chốn nào đã có những tật xấu của ông cha, thì các ngươi đừng nên tìm kiếm sự thánh thiện!
Sự thể sẽ ra sao nếu có kẻ đòi hỏi nơi bản thân mình sự trinh khiết, trong khi ông cha y đã giao du đi lại với phụ nữ và thích nốc rượu mạnh cùng ngốn thịt heo rừng?
Đấy sẽ là một sự điên rồ! Quả vậy, ta thực tâm thấy rằng sự việc sẽ tốt đẹp hơn nhiều nếu một người như thế là chồng của một, hai hay ba người phụ nữ!
Giả sử họ có lập nên những tu viện và cho đề trên cửa: “Con đường dẫn đến sự trinh khiết”, thì ta cũng vẫn bảo rằng: “Nào có ích gì! đây lại thêm một sự điên rồ mới nữa!”
Họ có tạo cho chính mình một nhà trừng giới và một nơi trú ẩn? Họ cứ làm đi! Nhưng ta vẫn chẳng tin gì vào chuyện đó!
Trong sự cô đơn, điều mà mỗi người mang đến sẽ lớn mạnh thêm lên, kể cả con thú nội tâm. Vì vậy phải khuyên ngăn nhiều người đừng nên héo lánh với cô đơn.
Mãi đến bây giờ, trên cõi đời này, còn gì ô uế hơn là một vị thánh sống trong sa mạc? Chung quanh những con người như thế, chẳng phải chỉ có quỷ ma được tháo tung xiềng xích, mà còn có cả con lợn lòng.


14


Rụt rè, hổ thẹn, vụng về, giống như một con hổ nhảy hụt đà chới với: hỡi những người thượng đẳng, ta đã thường thấy các ngươi lẻn ra một mình như thế. Các người đã gieo hỏng một ván xúc xắc.
Nhưng nào có sá gì, các ngươi là những kẻ gieo quân xúc xắc! Các ngươi đã không học chơi đùa và chế giễu như ta phải chơi đùa và chế giễu! Chúng ta há chẳng luôn ngồi nơi chiếc bàn vĩ đại của sự chế giễu và trò chơi đấy sao?
Và vì các ngươi đã làm hỏng những chuyện trọng đại, đấy có phải là một lý lẽ để các ngươi làm hỏng chính mình chăng? Và nếu các ngươi làm hỏng chính mình, thì đấy có phải là một lý do để làm hỏng con người? Nhưng, nếu con người bị làm hỏng: ồ thôi, hãy can đảm lên!


15


Một sự việc càng cao tuyệt trong chủng loại của mình thời càng ít có cơ thành tựu. Các ngươi, những người thượng đẳng đang tụ hội ở đây, chẳng phải các ngươi đều bị hư hỏng thất bại hết cả đấy hay sao?
Tuy nhiên, hãy can đảm lên, nào sá gì chuyện đó! Còn không biết cơ man những điều có thể tựu thành được! Hãy học cười nhạo chính mình, cười ầm cho thật hả hê!
Cũng vậy, có gì đáng kinh ngạc đâu khi các ngươi bị thất bại, khi các ngươi chỉ thành công một nửa, vì các ngươi là những kẻ bị đập vỡ nửa vời! Chẳng phải tương lai loài người đang va chạm chen lấn nhau trong bản thân các ngươi sao?
Điều xa vời sâu thẳm nhất mà con người có được, chiều cao các ngôi sao và sức mạnh bao la của hắn: tất cả những điều đó há chẳng đang sủi bọt tràn bờ trong chiếc nồi của các ngươi sao?
Nào có kinh ngạc gì, nếu có hơn một chiếc nồi bị vỡ! Hãy học cười nhạo ầm vang chính mình cho thật hả hê! Hỡi những người thượng đẳng, hãy còn không biết bao nhiêu là điều có thể tựu thành được!
Và, thực ra, biết bao điều đã thành tựu! Mặt đất này có biết bao sự việc tốt lành và toàn hảo, thành tựu mỹ mãn!
Hỡi những người thượng đẳng, hãy đặt chung quanh các ngươi những sự việc tốt lành và toàn hảo. Sự trưởng thành óng chuốt của chúng làm bình phục quả tim chúng ta. Sự hoàn hảo dạy chúng ta hy vọng.


16


Tội lỗi lớn nhất từ trước đến nay trên mặt đất là gì? Há chẳng phải là lời nói của kẻ đã bảo rằng: “Khốn thay cho những kẻ nào cất tiếng cười vang nơi trần thế!”
Y đã không tìm thấy những lý do để cười vang trên mặt đất? Nếu quả thế, thì y đã tìm kiếm rất tồi. Ngay đến một đứa trẻ cũng còn tìm được một cái gì đó để cười.
Kẻ thốt ra lời lẽ trên chưa biết yêu thương đúng mức, bằng không, y cũng đã thương yêu chúng ta, những con người cười vang hoan hỉ! Nhưng y đã thù hận lăng nhục chúng ta bằng cách giao phó chúng ta cho những lời than vãn cùng những tiếng nghiến răng.
Vậy thì, khi không yêu thương, người ta phải lập tức cất lời nguyền rủa hay sao? Ta thấy điều đó thật là bất nhã. Nhưng đấy lại chính là điều mà con người không có lòng khoan thứ đó đã làm. Y xuất thân từ đám tiện dân.
Và chính bản thân y, y cũng yêu thương chưa đủ; bằng không, có lẽ y sẽ ít phẫn hận hơn về chuyện thiên hạ chẳng yêu thương y. Mọi tình yêu cao đại đều chẳng những ước muốn tình yêu, mà còn ước muốn một cái gì nhiều hơn thế nữa.
Các ngươi hãy lánh xa con đường của những kẻ không có lòng khoan thứ ấy! Đấy là một lũ người nghèo nàn bệnh hoạn, một giống người thuộc đám tiện dân: giống đó đưa đôi mắt ranh mãnh nhìn ngó cuộc đời này, giống đó có đôi mắt xấu xa đối với mặt đất trần gian này.
Các ngươi hãy lánh xa con đường của những kẻ không có lòng khoan thứ ấy! Chúng có những đôi chân nặng trịch, những trái tim lên cơn sốt: chúng chẳng hề biết khiêu vũ. Đối với những con người như thế, làm sao mặt đất trần gian lại có thể nhẹ nhàng cho được!
 


17


Tất cả những sự việc tốt lành đều tiến gần đến mục tiêu bằng những con đường cong quẹo. Như những con mèo, chúng uốn cong lưng, chúng gừ gừ trong họng vì hạnh phúc gần kề, tất cả những sự việc tốt lành đều cười tươi hoan lạc.
Tiến trình của một kẻ nào đó giúp ta đoán được hắn đã bước vào con đường riêng tư của bản thân mình hay chưa. Hãy nhìn ta bước đi đây! Nhưng kẻ nào tiến đến gần mục tiêu của mình thì không từ tốn bước đi mà lại nhẹ nhàng khiêu vũ.
Và, thực vậy, ta đã chẳng hề trở nên một pho tượng đá và ta chẳng còn đứng yên đó nữa, cứng nhắc, tê cóng, bọc đá như một cột trụ. Ta thích chạy thật nhanh.
Và dẫu rằng trên mặt đất trần gian có những đầm lầy cùng thống khổ dày đặc, kẻ có đôi chân nhẹ nhàng vẫn chạy nhảy thênh thang trên sình lầy, vẫn khiêu vũ phiêu bồng như trên một mặt băng được quét dọn sạch sẽ.
Hỡi các anh em, hãy nâng lòng lên cao, lên cao, cao vời hơn nữa! Và đừng quên đôi chân mình! Hỡi những kẻ khiêu vũ tài ba, hãy nâng thêm chân lên, và tốt hơn thế, các ngươi hãy biết trồng chuối ngược!


18


Vòng hoa hồng hiến tặng cho kẻ cười vang hoan hỉ đó, chính ta đã tự đặt lên đầu mình, chính ta đã phong thánh cho tiếng cười của ta. Hiện giờ, ta chẳng tìm thấy kẻ nào đủ mạnh để đảm đương chuyện đó.
Zarathustra kẻ phiêu bồng khiêu vũ, Zarathustra con người nhẹ nhàng khinh khoái, kẻ vẫy đập cánh mình, sẵn sàng, nhanh nhẹn, nhẹ nhàng một cách linh thánh:
Zarathustra vị bốc sư, Zarathustra kẻ tươi cười hoan hỉ, không nôn nã, chẳng hẹp hòi cố chấp, một kẻ yêu những cơn phóng mình nhảy vọt xòe chân,[1] tự tay ta đã đặt vòng hoa hồng phụng hiến ấy trên đầu mình!


19


Hãy nâng lòng lên cao, hỡi các anh em, cao lên! Cao vời hơn nữa! Và đừng quên nâng cả chân mình lên cao! Hỡi những kẻ khiêu vũ tài ba, hãy nâng thêm chân lên, và tốt hơn thế, các ngươi hãy biết trồng chuối ngược!
Cả trong hạnh phúc cũng có những con thú nặng nề và những kẻ thọt chân từ thuở sơ sinh. Chúng cố gắng một cách đặc biệt dị kỳ giống như một con voi cố gắng trồng chuối ngược.
Chẳng thà cuồng điên vì hạnh phúc còn hơn là điên cuồng vì đau khổ, chẳng thà khiêu vũ một cách nặng nề còn hơn là bước đi như người khập khễnh. Vậy, các ngươi hãy học trí huệ khôn ngoan từ ta: ngay cả điều tệ hại nhất cũng có hai mặt.
- Ngay cả điều tệ hại nhất cũng có những đôi chân vững chãi để cất lên khiêu vũ. Vậy thì, hỡi những người thượng đẳng, các ngươi hãy tự thân học đứng thẳng trên đôi chân mình!
Vậy thì, các ngươi hãy quên đi nỗi ưu uất cùng tất cả những sự buồn rầu của đám tiện dân! Ồ, ta thấy những tên hề của đám tiện dân hôm nay mới buồn bã làm sao! Nhưng thời đại hôm nay đang thuộc về đám tiện dân!


20


Hãy như ngọn gió khi phóng đi từ những hang sâu trên núi; gió muốn khiêu vũ trên tiếng kêu rít của chính mình. Các đại dương rền rĩ náo động khi gió thổi qua.
Kẻ nào chắp cánh cho những con lừa và vắt sữa những con sư tử cái, kẻ đó đáng được xưng tụng, kẻ có tinh thần tốt lành và bất khuất thổi qua như một cơn dông tố trên tất cả những gì đang hiện hữu hôm nay và trên toàn thể đám tiện dân.
- Kẻ nào làm kẻ thù của tất cả những đầu óc ngu xuẩn, những đầu óc điên tàng, kẻ thù của tất cả những chiếc lá khô và cỏ dại: xin hãy ngợi ca tinh thần kẻ ấy, tinh thần dông bão, man dại, tốt lành và tự do, tinh thần khiêu vũ trên những đầm lầy và những buồn phiền như trên những đồng cỏ mượt!
Kẻ nào thù ghét những con chó bệnh hoạn của đám tiện dân và toàn thể cái bọn hư hỏng tối ám đó: xin hãy ngợi ca tinh thần kẻ ấy, tinh thần của tất cả những tinh thần tự do, cơn dông bão tươi cười thổi bụi vào mắt của tất cả mọi kẻ mê nghiện màu đen, thổi bụi vào tất cả những nơi mưng mủ.
Hỡi những người thượng đẳng, điều tệ hại nhất nơi các ngươi là: các ngươi đã không chịu học khiêu vũ như ta phải khiêu vũ! - Khiêu vũ trên cao khỏi đầu mình! Nào có sá gì chuyện các ngươi thất bại!
Hãy còn biết bao nhiêu điều có thể tựu thành. Vậy thì hãy học cười vang cao vút khỏi đầu các ngươi! Hỡi những kẻ khiêu vũ tài ba, hãy nâng lòng lên cao, cao hơn, cao vời hơn nữa! Và chớ quên cười thật ầm vang!
Vòng hoa của con người cười tươi hoan hỉ, vòng hoa hồng thắm đó, hỡi các anh em, ta ném tặng cho các anh em đó! Ta đã phong thánh cho tiếng cười. Hỡi những người thượng đẳng, vậy thời các ngươi hãy học cười cho thật ầm vang!

[1] “một kẻ yêu những cơn phóng mình nhảy vọt xòe chân”, Nietzsche chơi chữ với chữ Sprũnge: những cơn phóng mình nhảy vọt, và seitensprũnge: nghĩa đen là “nhảy qua một bên”; nghĩa dùng theo thành ngữ là “đào tẩu, bỏ chạy”. Bản Việt ngữ chưa có chữ thỏa đáng.
[/align] [/align]
0
SẦU CA


1


Khi Zarathustra thốt ra những lời trên, thì hắn đang đứng ở lối vào thạch động, nhưng sau những lời cuối cùng, Zarathustra rời bỏ những người khách và chạy trốn một lúc ra bên ngoài với bầu trời lồng lộng thênh thang. Zarathustra nói lớn:
“Hỡi những mùi hương trinh tuyền chung quanh ta, hỡi niềm hạnh phúc thanh thản an bình chung quanh ta! Nhưng mà, các con thú của ta đâu rồi? Của ta, của ta, con ó và con rắn của ta!
Hỡi hai con thú của ta, hãy nói cho ta rõ: tất cả những con người thượng đẳng đó, - có lẽ họ không thơm tho lắm? Ôi những mùi hương trinh tuyền chung quanh ta! Chỉ lúc này ta mới biết rõ và mới cảm thấy ta yêu thương các ngươi dường nào, hỡi những con thú của ta!”
Và Zarathustra còn nói một lần nữa: “Ta yêu các ngươi, hỡi những con thú của ta!” Trong khi đó con ó và con rắn dựa kề ôm chặt Zarathustra khi hắn thốt lên những lời này, và chúng ngước đôi mắt lên nhìn hắn. Cả ba cùng đứng lặng im như thế hít thở khí trời trinh khiết. Bởi vì ở ngoài này, không khí tốt lành hơn là nơi những con người thượng đẳng.


2


Nhưng khi Zarathustra vừa mới rời khỏi hang đá thì lão già Pháp sư đứng lên và ngỏ lời, lão vừa nói vừa đưa cặp mắt tinh quái nhìn quanh: “Hắn ta đã ra khỏi hang rồi!
Và hỡi những Con người thượng đẳng - xin cho phép ta cù lét các ngài bằng cái tên đầy ngợi ca nịnh hót này, như chính Zarathustra đã gọi. Tinh thần tinh quái lừa đảo của ta, tinh thần pháp sư, đã xâm chiếm lấy hồn ta: con quỷ u buồn của ta,
- con quỷ mà tận thâm tâm, là kẻ thù địch của lão già Zarathustra đó: xin hãy tha thứ cho nó! Giờ đây, con quỷ ấy muốn thi thố trò quỷ thuật của nó trước mặt các ngài. Đây là giờ của ; và ta hoài công chiến đấu chống lại tà thần đồi bại xấu xa ấy.
Với tất cả các ngài, bất luận những danh dự mà các ngài tự ban cho mình bằng lời nói, dẫu rằng các ngài tự ban cho mình tên là “những tinh thần tự do” hay “những kẻ chân thực” hay “những kẻ khổ hạnh của tinh thần”, “những kẻ được tháo tung xiềng xích” hay “những kẻ nuôi khát vọng vĩ đại”,
với tất cả các ngài, những kẻ đang đau đớn vì sự kinh tởm mênh mông như ta, kẻ mà đối với hắn Thượng đế cũ xưa đã chết rồi, nhưng vẫn còn chưa có một đấng Thượng đế mới nằm trong nôi hồng quấn quanh những lớp tã, với tất cả các ngài thì tà thần xấu xa của ta, con quỷ pháp sư của ta, sẽ sẵn lòng cho tất cả các ngài.
Ta biết rõ các ngài, hỡi những con người thượng đẳng, ta biết rõ hắn ta, - ta biết rõ lão quỷ lùn mà ta miễn cưỡng yêu thương, lão Zarathustra đó: rất thường khi ta thấy hắn có vẻ giống với một chiếc mặt nạ xinh đẹp của bậc thánh nhân,
- giống với một sự giả trang mới mẻ quái lạ làm tươi vui tà thần xấu xa của ta, con quỷ u sầu của ta: - thường khi dường như ta yêu thương Zarathustra vì có lợi ích cho tà thần xấu xa của ta.
Nhưng mà đang xâm chiếm hồn ta, tà thần xấu xa đó, tinh thần của sự u sầu, con quỷ của buổi hoàng hôn, nó đang quật ngã ta: và thực ra, hỡi những người thượng đẳng, nó nuôi một khát vọng,
- các ngươi hãy mở rộng mắt ra! - khát vọng muốn trần truồng, trong bộ dáng đàn ông hay đàn bà, ta hãy còn chưa biết rõ: nhưng nó đang đến đó, nó quật ngã ta. Khổ thân cho ta! Xin các ngài hãy mở rộng giác quan!
Ánh ngày đang hạ thấp xuống đối với mọi sự vật trần gian; buổi chiều tà đang đến, ngay cả đối với những sự vật tốt đẹp nhất. Hãy lắng tai nghe và nhìn kỹ, hỡi những con người thượng đẳng, cái tinh thần phiền não u sầu trong buổi hoàng hôn này, dẫu khoác lấy bề ngoài nam nhân hay nữ giới, quả là một con quỷ ghê gớm ngần nào!”
Viên Pháp sư già nói như thế, và ranh mãnh đưa mắt nhìn khắp lượt chung quanh, rồi lão vươn tay nâng chiếc đàn thất cầm của mình lên tấu khúc.


3


Quang đãng trên không,
Khi hạt sương trong
Đã rơi xuống vỗ về lòng đất lạnh,
Không chút dư âm, bóng mờ sương ảnh
- Hạt cam lồ như cánh đấng từ bi
Mang hài sen nhẹ lướt bước chân đi -
Ngươi nhớ chăng, nhớ những khi lửa nóng
Đốt tâm can, ngày xưa ngươi khát vọng
Hạt sương lòng trong bóng mát cành dương,
Nước mắt thần hàn gắn vết đau thương,
Nhưng tiếc thay trên đường khô cỏ cháy,
ánh tà dương đã bạo tàn đuổi chạy
Đuổi ngươi qua bóng tối mấy hàng cây,
ánh mặt trời đầy hiểm độc, gắt gay.
 
Cười chế nhạo: “Phải mày là chân lý?
Không! Trật rồi hắn chỉ là thi sĩ!
Một loài nai đầy quỷ quyệt đáng khinh.
Hắn phải dối lừa, cố ý, chân tình,
Như lúc đi săn hắn rình mồi thú,
Thú hóa trang với sắc màu đầy đủ,
Hắn làm theo để tự hóa trang chơi,
Tự biến thành ra giống thú, con mồi.
 
Vậy chăng, kẻ tự xưng tôi chân lý?…
Không đâu! Hắn chỉ điên và thi sĩ,
Dùng đôi lời bóng bẩy khá nhiều duyên,
Hát ca vang trong mặt nạ chàng điên,
Bước lang thang trên miền ngôn ngữ bịa,
Trên cầu vồng với muôn màu sắc tía,
Giữa thiên đàng bịp, giữa địa cầu lừa,
Bước lang thang bay đây đó đong đưa,
Chỉ một chàng điên! Lại vừa thi sĩ!
 
Vậy chăng, kẻ tự xưng tôi chân lý?…
Không êm, chẳng cứng,
Không ầm ĩ, chẳng lạnh lùng,
Bị hóa thành hình ảnh đóng vào khung,
Hay lại được tôn sùng làm tượng đá,
Trước đền thờ đấng Thiên vương cao cả,
Giữa cung môn làm bộ hạ đứng bên thềm:
Không! Hắn tận thù chân lý dựng đền,
Tránh điện nguy nga quen miền thảo mãng,
Tính bất thường thích linh miêu kết bạn,
Phóng mình qua mọi cửa hắn tung bay,
Bất cứ đâu! Không nhất định đó đây,
Hít khí trời trong núi cây rừng rậm,
Hít đam mê, hít thiết tha say đắm!
Mong được đùa trong cây rậm rừng già,
Giữa đám hùm beo sặc sỡ màu hoa,
Thân hồng mạnh và đẹp như là tội lỗi,
Với đôi môi đầy tình yêu khiêu gợi,
Ngạo đời tuyệt diệu, quỷ đói, thiên thần,
Chạy nhảy, dã man, luồn trốn, nói gian.
 
Hoặc nữa, làm đại bàng đôi mắt quắm,
Nhìn từ lâu, đăm chiêu nhìn hố thẳm:
Trong hố thẳm chúng chìm đắm hồn say,
Hạ thấp dần chúng nhẹ lướt vòng xoay,
Bỗng như điện, như tên bay thẳng cánh,
Xuống đàn cừu lẹ làng không kịp tránh,
Như hổ đói chúng vồ mạnh cừu non,
Với giống cừu chúng thù hận linh hồn,
Ghét luôn ai tướng cừu còn dính mặt,
Tóc láy như len, lờ đờ cặp mắt,
Vẻ dịu dàng xám ngắt giống cừu non.
 
Hổ báo rừng già, ác điểu đầu non,
Là ước vọng của tâm hồn thi sĩ,
Có khuôn mặt, ngươi lấy làm thích chí,
Hỡi chàng điên, chàng thi sĩ điên ơi!…
 
Ngươi là kẻ quá hiểu rõ con người,
Như Thượng đế, như loài cừu không khác:
Thượng đế ở trong người, đành xé nát,
Cừu trong người, cũng cười lạt phân thây.
Hạnh phúc ngươi là ở tại nơi đây!
Hạnh phúc của độc ưng hay độc báo,
Hạnh phúc của thi nhân, của chàng điên bạo!…
 
Trên không trong lành,
Khi mảnh trăng thanh
Đưa nhẹ hào quang sắc xanh màu lá,
Với chút ghen, giữa ánh hồng chiều hạ,
- Thù ghét ban ngày,
Trợt bước chân bay,
Trước những vườn hoa nghiêng cây hồng thắm,
Cho đến khi chúng âm thầm chìm lặn
Mờ hẳn trong đêm:
 
Nhớ ngày xưa ta cũng rớt từ trên,
Từ giấc mơ điên khi thèm chân lý.
Từ ánh ban ngày để cùng tri kỷ,
Nay sợ ngày, ánh sáng chỉ thêm đau,
Ta chìm dần trong chiều tối, đêm sâu:
Cháy tâm can ta ôm đầu ước vọng,
- Ngươi nhớ chăng, nhớ những khi lửa nóng,
Sôi máu hồng ngươi ước vọng bao lần
Ước làm sao ta kiếm được chữ chân
Chân là được ra khỏi ngàn chân lý!
Chỉ để làm điên!
Chỉ làm thi sĩ!
0
VỀ KHOA HỌC


Viên Pháp sư hát lên như thế; và tất cả những người tụ họp trong hang đá tựa như những con chim bị mắc vào chiếc lưới của sự khoái lạc giảo quyệt ưu uất của lão. Duy chỉ có Kẻ tận tâm của tinh thần là không để mình bị vướng lưới: y vội giật lấy chiếc thụ cầm trên tay viên Pháp sư và la lớn: “Không khí! Hãy để không khí trong lành ùa vào! Hãy vời Zarathustra vào hang đá! Mi đã làm đặc thêm và đầu độc không khí trong hang này, hỡi đồ phù thủy già!
Hỡi con người giả dối sâu hiểm kia, sự quyến rũ của mi dẫn đến những khát vọng, những khu rừng xa lạ. Và khốn thay cho chúng ta nếu những người như mi mà lại nói về chân lý và ban cho chân lý tầm quan trọng!
Khốn thay cho tất cả mọi tinh thần tự do tự tại nào không cẩn trọng đề phòng những tên pháp sư như thế! Thế là rồi đời tự do của họ! Mi rao giảng sự quay về với những ngục tù và mi dẫn dắt vào trở lại trong chốn ngục tù,
- hỡi con quỷ già ưu uất kia, lời than vãn của mi có chứa đựng một chiếc còi để giả tiếng chim, mi giống những kẻ khi thốt lời ca tụng sự trinh khiết, lại bí mật mời gọi người ta hướng đến những khoái lạc!”
Kẻ tận tâm nói như thế; nhưng viên Pháp sư già đưa cặp mắt nhìn chung quanh lão, vui hưởng sự chiến thắng của mình, và hoàn trả lại sự tủi giận mà Kẻ tận tâm đã gây cho lão. Rồi lão nói bằng giọng khiêm tốn: “Mi im miệng đi. Những bài hát hay đều muốn có những vọng âm hay; sau những bài hát hay, phải im lặng thật lâu.
Đấy là điều mà tất cả những con người thượng đẳng kia đang làm. Nhưng còn mi, có lẽ mi đã chẳng hiểu gì nhiều về bài thơ vĩ đại của ta. Nơi con người mi, chẳng có chút gì mang chất tinh thần pháp sư”.
Kẻ tận tâm đáp lại: “Mi đã ngợi khen ta khi tách biệt ta ra khỏi mi như thế! Được lắm! Nhưng còn các người kia, ta nhìn thấy gì đây? Các ngươi đang còn ngồi đó với những cái nhìn tràn đầy khát vọng.
Hỡi những tâm hồn tự do, vậy thời tự do của các ngươi đã bỏ đi biền biệt về đâu? Ta thấy các ngươi gần giống với những kẻ đã nhìn những cô gái khỏa thân nhảy múa suốt một lúc lâu: cả tâm hồn các ngươi cũng bắt đầu nhảy múa!
Hỡi những con người thượng đẳng kia ơi, nơi các ngươi hẳn có quá nhiều hơn điều mà viên Pháp sư gọi là cái tinh thần phù chú lừa đảo xấu xa của lão: - chúng ta phải khác biệt với nhau.
Thật vậy, trước khi Zarathustra quay trở về thạch động, chúng ta đã nói năng và suy tưởng chung nhau khá đủ để ta biết rằng bản chất chúng ta khác biệt với nhau.
Các ngươi và ta, chúng ta đi tìm những điều khác biệt nhau ở chốn này. Bởi vì phần ta, ta đi tìm nhiều sự an toàn hơn, chính vì thế ta đã đến hang đá của Zarathustra. Quả vậy, chính Zarathustra là ngọn tháp, là ý chí kiên cố nhất, - trong lúc mà hiện nay mọi sự đều dao động, cả mặt đất cũng rung động đảo điên. Nhưng còn các ngươi, khi ta nhìn ánh mắt của các ngươi, thì hầu như ta thấy rằng các ngươi đang đi tìm nhiều sự bất ổn hơn, nhiều cơn rùng mình hơn, nhiều mối nguy hiểm hơn, nhiều cuộc động đất hơn. Ta thấy hầu như các ngươi thèm muốn, hỡi những người thượng đẳng, hãy xá lỗi cho sự phỏng đoán của ta, - các ngươi thèm muốn đời sống nguy nan hiểm nghèo nhất, đời sống gây cho bản thân ta nhiều sợ hãi nhất, đời sống của những con dã thú, thèm khát những cánh rừng, những hang động, những ngọn núi dựng và những mê cung.
Và không phải những kẻ dẫn đưa các ngươi ra khỏi nguy nan là những kẻ làm các ngươi hài lòng nhất, mà chính là những kẻ đánh lạc lối các ngươi, dẫn các ngươi xa lạc khỏi mọi con đường, những con quỷ quyến rũ. Nhưng nếu những khát vọng kể trên là chân thật nơi các ngươi, thì không vì thế mà ta thấy chúng kém là những điều bất khả.
Bởi vì sự sợ hãi chính là tình cảm bẩm sinh và nguyên sơ của loài người; sự sợ hãi là nguyên nhân giải thích vạn sự, là nguyên nhân của lội lỗi nguyên tổ và của đức hạnh nguyên tổ. Cả đức hạnh của ta nữa, cũng phát sinh từ sự sợ hãi, đức hạnh ấy có tên là: Tri thức Khoa học.
Bởi vì sự sợ hãi những con dã thú - đây chính là sự sợ hãi mà loài người đã biết đến từ vạn cổ, kể cả sự sợ hãi đối với con vật mà con người che giấu và kinh sợ trong chính bản thân mình - Zarathustra gọi đó là “con thú nội tâm”.
Sự sợ hãi lâu dài xa xưa đó, sau cùng, đã được tinh luyện và được tâm linh hóa, - hiện nay ta thấy hình như nó mang tên là Tri thức Khoa học”.
Kẻ tận tâm đã nói như thế; nhưng vào đúng lúc đó, Zarathustra đã quay trở vào thạch động, đã nghe và đoán được những lời lẽ cuối cùng, Zarathustra ném một nắm bông hồng cho Kẻ tận tâm và cười vang trên những “chân lý” của y. Zarathustra hỏi lớn: “Sao! Ta vừa nghe gì vậy kìa? Thực ra, ta thấy rằng nhà ngươi là một kẻ điên hoặc giả chính ta mới là kẻ điên: và ta vội vã hoàn trả lại chân lý của nhà ngươi về chỗ cũ.
Bởi vì sự sợ hãi là ngoại lệ của chúng ta. Nhưng còn lòng can đảm, thú ưa phiêu lưu và niềm vui đối với điều bất xác, đối với những gì hãy còn chưa được thử làm liều, - lòng can đảm, theo ta, đấy là biểu trưng cho toàn bộ lịch sử nguyên thủy của con người.
Lòng can đảm này, sau cùng được tinh luyện, được tâm linh hóa, lòng can đảm vừa nói của con người, với đôi cánh của con ó và sự giảo quyệt của con rắn: theo như ta thấy lòng can đảm ấy hiện nay mang tên là...”
Zarathustra!” tất cả những người tụ tập trong hang đá đồng kêu lớn lên như cùng một giọng, rồi phá lên cười ầm; nhưng có một cái gì đó bốc lên từ họ tựa hồ một đám mây đen. Cả viên Pháp sư già cũng phá lên cười và lão bảo bằng một giọng giảo quyệt: “Ồ! Tinh thần xấu xa của ta đã bỏ đi rồi!
Và ta đã chẳng lưu tâm cảnh giới các ngươi ngờ vực tinh thần đó sao, khi ta bảo rằng nó là một kẻ lường gạt, một tinh thần dối trá lừa đảo?
Nhất là khi tinh thần ấy hiện lộ trần truồng. Nhưng còn ta, ta có thể làm gì với những sự ác hiểm của nó! Có phải ta là kẻ đã tạo nên nó và đã tạo nên thế giới đâu?
Nào! Giờ đây, một lần nữa, ta hãy trở thành những con người thiện hảo tươi vui! Và dẫu rằng Zarathustra có tia nhìn ảm đạm - các ngươi hãy nhìn ông ấy xem! Ông ấy đang thù ghét ta - thì trước khi đêm xuống, Zarathustra sẽ lại học thương yêu và ca ngợi ta, Zarathustra không thể sống lâu mà không làm những điều điên cuồng như thế.
Zarathustra thương yêu những kẻ thù: chính Zarathustra là người biết rành nghệ thuật ấy, trong tất cả những người ta đã gặp. Nhưng Zarathustra lại trả thù những người bạn!”
Viên Pháp sư già đã nói như thế, và những người thượng đẳng nhiệt liệt hoan hô lão, đến nỗi Zarathustra cất bước chạy vòng trong hang đá, vừa chạy hắn vừa đưa tay ra lắc tay những người bạn của mình với vẻ dữ tợn và lòng thương yêu, - như thể hắn có một điều gì cần xin lỗi và sửa sai đối với mỗi người. Nhưng khi Zarathustra đến trước cửa hang, thì hắn lại thèm khát cuồng điên bầu không khí trinh khiết đang ngự trị bên ngoài, thèm khát con ó và con rắn, - và hắn muốn trốn thoát bỏ đi.
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2009-07-28 10:56:48Sun Ming>
GIỮA NHỮNG NÀNG GÁI THƠ SA MẠC


1


“Đừng bỏ đi!” Lúc bấy giờ, kẻ lữ hành lang thang phiêu bạt nói thế, kẻ lữ hành tên gọi là Chiếc bóng của Zarathustra. - “Đừng bỏ đi, hãy ở lại bên chúng tôi, nếu ngài bỏ đi thì nỗi khổ não nặng nề xưa cũ ắt sẽ trở lại xâm chiếm tâm hồn chúng tôi.
Lão Pháp sư nọ đã vung vãi cho chúng tôi cái phần tệ hại nhất của lão, và coi kìa vị cựu Giáo hoàng vô ngần tín mộ, đã để lệ trào lên mắt và đã lại đáp thuyền lang thang trở lại trên mặt biển U sầu.
Tuy nhiên, những ông Vua kia lại có mòi tươi tỉnh; bởi vì hôm nay, giữa chúng ta, chính họ là những người đã học tươi tỉnh tài khéo nhất. Nếu bọn họ không có chứng nhân thì ta dám đánh cuộc rằng cái trò lơ láo kia sẽ khởi đầu trở lại, nơi bọn họ nữa -
- cái trò lơ láo của những đám mây, của những ngọn gió Thu gào thét;
- cái trò lơ láo của những hồi than van gào thét và những tiếng kêu thống khổ của chúng ta: hỡi Zarathustra! Hãy ở lại bên chúng ta. Nơi đây có vô lượng những khốn cùng ẩn kín muốn thốt ra lời, vô lượng buổi chiều tà, vô lượng mây giăng, vô lượng không khí nặng!
Ngài đã nuôi dưỡng chúng tôi bằng những dưỡng chất nhân gian và những châm ngôn trầm mạnh hào hùng: vậy xin ngài đừng để những tinh thần ẻo lả yếu mềm lại vồ xông tới chúng tôi vào giờ tráng miệng!
Riêng ngài, phải, chỉ riêng ngài mới biết cách phôi dựng quanh mình bầu không khí cương mãnh và thuần khiết! Ta có bao giờ gặp thấy trên trần gian này một bầu không khí thuần khiết như bầu không khí trong thạch động của ngài chăng?
Thế mà chính ta đã từng du hành nhiều xứ sở, lỗ mũi ta đã học biết hít thở và lượng giá nhiều làn không khí: nhưng chỉ riêng bên ngài, khứu giác ta mới cảm nhận được niềm vui chan chứa nhất!
Nếu chẳng là, - nếu chẳng là, - ồ, xin tha thứ cho ta một kỷ niệm cũ càng! Xin tha thứ cho ta một khúc ca cũ kỹ sau buổi ăn mà xưa kia ta đã sáng tác ra giữa những nàng gái thơ sa mạc.
Bởi vì, bên cạnh những nàng gái thơ sa mạc ấy, cũng phất phơ một bầu không khí thuần khiết tươi mát của phương Đông; chính tại chốn xa xôi vời vợi đó ta mới sống cách xa biền biệt cái cõi châu Âu già cỗi, âm u, ẩm ướt và u sầu!
Lúc bấy giờ, ta đã yêu những nàng gái phương Đông ấy, cùng với những vương quốc khác của những vòm trời biêng biếc không hề có mây mù hay tư tưởng lượn bay.
Các ngươi không thể nào ngờ tới biết bao là kiều diễm khả ái khi các nàng ngừng nhảy múa, ngồi đó im lìm thăm thẳm mà chẳng hề nghĩ tưởng suy tư, giống như những bí ẩn nhỏ nhoi, những ẩn ngữ bí mật được phong kín đợi chờ, những hạt hồ đào sau bữa tiệc,
- diễm ảo dị thường, thật như thế đó! Nhưng chẳng có mây che: giống như những ẩn ngữ đang mời người giải đoán: chính để tôn vinh những nàng kiều nữ xinh xinh đó, mà ta đã đặt ra khúc tụng ca hát cuối bữa ăn này”.
Người lữ khách tên gọi là Chiếc bóng của Zarathustra đã nói như thế; và trong khi mọi người trong hang đá chưa có ai kịp trả lời thì gã đã vớ lấy cây thất cầm của viên Pháp sư già, và đưa mắt nhìn quanh, vẻ mặt bình an thông tuệ, hai chân khoanh lại. Nhưng hai lỗ mũi của gã phập phồng hít thở không khí, vừa chậm rãi thong dong vừa có vẻ như tra vấn hỏi han, như một kẻ vừa lạc chân đến những xứ miền mới lạ, đang nếm hưởng làn không khí mới tinh. Rồi gã khởi sự la rống lên khúc hát.


2


Sa mạc lớn dần: khốn thay cho kẻ nào ôm giữ sa mạc!
 
A!
Trọng thể! Huy hoàng!
Một cuộc khởi đầu đích đáng!
Với sự trọng thể của bờ cõi Phi châu!
Xứng hợp cho một con mãnh sư,
Hoặc với một kẻ rống vang đạo lý…
- Nhưng có nghĩa gì sự đó
Hỡi các bạn gái diễm kiều,
Ở dưới chân các nàng, lần đầu tiên,
Một gã Âu châu được phép ngồi an nghỉ
Dưới bóng kè xanh. Selah.
 
Dị thường thay, ồ thật vậy!
Ta cũng ngồi đây,
Cận kề với sa mạc nhưng mà
Đã xa cách ngàn trùng với sa mạc,
Và chẳng hề bị tàn phá:
Ngất ngây bởi
Khu ốc đảo tươi mát tí hon
- Bởi vì nó vừa mở rộng hai khóe môi và ngáp
Cái miệng diễm kiều khả ái,
Cái miệng thơm tho nồng nã nhất trong những cái
miệng tí hon kiều diễm:
Và ta rớt vào trong đó,
Rớt vào tận đáy, xuyên qua - xuyên qua
Giữa các bạn đây,
Hỡi các bạn gái diễm kiều! Selah.
 
Vinh hiển, vinh hiển thay, con kình ngư nọ
Nếu nó chăm sóc hạnh phúc
Của người khách trọ! - Ồ, các em hiểu chứ
Lời bóng bẩy đó của ta?
Vinh hiển thay chiếc bụng bao la nọ
Nếu chiếc bụng ấy quả là
Một chiếc bụng khả ái của vùng ốc đảo xanh tươi,
Như nơi ốc đảo này: - Nhưng ta nghi hoặc
Bởi vì ta đến từ cõi Âu châu
Cõi miền đa nghi hơn tất cả những mụ vợ tầm phào
                                                              luống tuổi.
Cúi xin Thượng đế cải thiện chốn này!
Amen!
 
Vậy đó, ta đã ngồi đây,
Trên vùng ốc đảo tí hon kiều diễm này,
Giống như một hạt chà là,
Nâu nâu, dịu mật, óng lừng,
Thèm mong một làn môi cong tròn thiếu nữ,
Hơn cả thèm muốn hàm răng nanh,
Những hàm răng thiếu nữ,
Lạnh buốt, trắng tinh như băng tuyết và bén nhọn vô cùng
Bởi lẽ bên cạnh các nàng
Là chốn mà quả tim các hạt chà là nồng nàn khao
                                                             khát. Selah.
 
Giống như những hoa trái kia của giờ ngọ,
Quá đỗi giống nhau,
Ta đã nằm đó,
Vi vút chung quanh là những côn trùng có cánh
Đùa giỡn chung quanh ta,
Và giữa những ý tưởng cùng nhiệt hứng khát khao
Càng tí hon hơn nữa,
Cuồng dại hung tàn hơn nữa,
Ta được vây bọc bởi các em,
Hỡi những con mèo cái tí hon, những nàng gái thơ
                                                                diễm lệ,
Im lìm e ấp và đầy rẫy hoảng sợ không đâu,
Doudou và Souleika
- bị thôi miên hấp dẫn, nếu ta phong kín trong một tiếng
                                                                    tân kỳ
Vô ngần là tình cảm
(cúi xin Thượng đế thứ tha tội lỗi
                                                chống lại ngôn ngữ này)
- Ta ngồi hít thở không khí tuyệt vời,
Không khí của thiên đường diễm ảo, thật vậy,
không khí trong sáng, nhẹ nhàng, óng ả,
tuyệt hảo như chưa từng bao giờ
rớt xuống từ mặt trăng kia.
Có phải do ngẫu nhiên,
Hoặc vì tự phụ,
Mà sự việc ấy xảy ra?
Như những thi sĩ xa xưa từng kể lại!
Nhưng ta, kẻ hoài nghi, ta nghi ngại,
Chính bởi vì ta đến
Từ cõi Âu châu
Vốn đa nghi hơn mọi mụ vợ đà luống tuổi.
Cầu xin Thượng đế cải thiện chốn này!
Amen!
 
Uống trọn bầu không khí diễm tuyệt,
Lỗ mũi căng phồng như những chén rượu không chân,
Không tương lai, không hoài niệm,
Ta ngồi như thế đó tại chốn kia,
Hỡi những cô bạn gái diễm kiều,
Và ta đưa mắt nhìn chiếc lá kè,
Như một nàng vũ nữ,
Đang uốn cong lưng, tròn nhịp đong đưa thân thể,
- thiên hạ sẽ bắt chước múa may khi nhìn nàng lâu quá!
Như một nàng vũ nữ,
Đang đứng quá lâu, thật là lâu quá,
Đứng hoài hoài mãi mãi trên một ống chân.
- Và ta tưởng từ đây nàng quên mất
Chiếc ống chân thứ hai!
Bởi vì ta hoài công tìm kiếm
Cái kho tàng song sinh
- Cái ống chân thứ hai ấy, -
Trong cõi miền gần gũi thiêng liêng
Của những mảnh quần gấp nếp, những mảnh quần bời bời
                                                                bay loạn
Khả ái diễm kiều.
Vâng, nếu các nàng chịu tin cả vào ta,
Hỡi những cô bạn diễm kiều;
Thì ta sẽ xin được nói rằng nàng đã đánh mất nó rồi!…
Hu! Hu! Hu!
Chiếc ống chân thứ hai kia
Nó đã bỏ đi rồi!
Đi mãi mãi!
Hỡi ơi! Tai hại ngần nào cho ống chân duyên dáng kia!
Nó sẽ dừng lại nơi đâu? Khi bị bỏ rơi buồn rũ
Cái ống chân cô độc ấy mà?
Có lẽ rằng nó đang hãi sợ
Một con quái vật hung tàn, một con mãnh sư vàng rực
óng ánh dát vàng? Hoặc giả nó đã bị
Gặm nhấm mất rồi? - Hỡi ơi! Hỡi ơi!
 
Ồ, đừng khóc chứ!
Hỡi những quả tim mềm mại dịu dàng,
Đừng khóc chứ,
Hỡi những trái tim của hạt chà là, của nhũ hoa căng sữa,
                                                       trái tim của những nàng mọi đen.
Đừng khóc nữa,
Hỡi nàng Doudou xanh xao!
Hãy hùng mạnh lên, hỡi Souleika! Can đảm! Can đảm lên!
- Hoặc là phải cần đến
Có lẽ là ở nơi đây
Một cái gì kích lực, một liều thuốc bổ?
Một châm ngôn thơm ngát?
Một lời khuyến dụ trang trọng?
 
A! Hãy lên cao, hỡi phẩm cách!
Hỡi phẩm cách đức hạnh, phẩm cách Âu châu!
Hãy thổi ào, thổi ào qua lần nữa!
Hỡi kẻ thét gầm đức lý!
A!
Hãy tru rống thêm lần nữa,
Tru rống la gào đức hạnh!
Như con mãnh sư đức hạnh, trước những nàng gái thơ sa
                                                                       mạc!
- Bởi vì những tiếng thét gào của đức hạnh,
Hỡi những nàng thiếu nữ mỵ kiều,
Chính là khát vọng nấu nung của con người Âu châu,
                                               những cơn đói cào ruột của con người Âu châu!
Bây giờ ta đã ở tại đây rồi,
Ta, kẻ Âu châu,
Ta chẳng thể làm gì khác hơn, cúi xin Thượng đế trợ giúp![1]
Amen!
 
Sa mạc lớn dần, khốn thay cho kẻ nào mang giữ sa mạc!

[1] “Ta chẳng thể làm gì khác hơn, cúi xin Thượng đế trợ giúp!”: Ich kan nicht anders, Gott helfe mir, câu nói thời danh của Luther trước Quốc hội Worms.
0
THỨC TỈNH


1


Sau bài hát của Kẻ lang thang phiêu bạt và Chiếc bóng, hang đá bỗng nhiên vang động những tiếng cười nói tiếng ồn ào; vì tất cả những người khách tụ họp trong hang đều cất tiếng nói cùng một lúc và cả đến con lừa cũng không thể giữ im miệng lưỡi. Zarathustra lại rơi vào một cơn thù hận thoáng qua và một chút lòng cười nhạo những người khách của hắn; dẫu rằng Zarathustra vui sướng vì nỗi vui mừng của họ. Hắn thấy đấy là dấu hiệu của sự bình phục. Vì thế, hắn lẻn ra khỏi hang, bên ngoài bầu trời lồng lộng, và hắn nói với hai con thú của mình:
“Bây giờ, nỗi thống khổ của họ đã tẩu tán về đâu? Zarathustra lên tiếng và trong cõi lòng hắn cũng đã tan mất chút buồn phiền nhỏ nhoi. - Ta thấy dường như trong hang đá của ta họ đã học quên đi những tiếng kêu thống khổ của mình!
- dẫu rằng điều bất hạnh là họ vẫn còn chưa học quên được sự kêu la.” Và Zarathustra đưa hai tay bịt hai tai lại, vì trong lúc ấy những tiếng I-A của con lừa pha trộn đặc biệt với những sự vui mừng hớn hở của những con người thượng đẳng nọ.
Zarathustra lại tiếp lời:
“Họ đang hân hoan vui vẻ, và ai biết được có lẽ họ đang vui vẻ nhờ ở chủ nhân! Nếu họ đã học cười từ nơi ta, thì họ lại chẳng học được tiếng cười của ta.
Nhưng nào có hề gì! Họ là những lão già: họ bình phục theo lối riêng của họ; lỗ tai ta đã từng chịu đựng những điều tệ hại nhất nhưng không vì thế mà trở thành ưu sầu ảo não.
Ngày hôm nay là một chiến thắng: kẻ thù sinh tử ngàn đời của ta, Tinh thần Trì độn Nặng nề, giờ đây đã tháo lui và bỏ chạy! Cái ngày hôm nay đã khởi sự một cách tệ hại nhọc nhằn, giờ đây ngày ấy sắp kết thúc tươi đẹp vô ngần!
Và ngày muốn chấm dứt. Chiều đã đến rồi: tay kỵ mã tài tình đang phóng ngựa vượt qua biển cả. Người kỵ mã lòng đầy hạnh phúc đó đang trở lại trên chiếc yên đỏ thắm, hắn đong đưa trên lưng con tuấn mã tài tình tuyệt diệu làm sao!
Bầu trời đưa mắt nhìn trầm tịnh, thế giới đang dàn trải trong chiều sâu thăm thẳm. Ồ! Tất cả các ngươi, những con người đặc biệt đã đến cạnh ta! Sống cạnh ta là một điều đáng bỏ công khó nhọc”.
 
Zarathustra đã nói như thế. Và lúc bấy giờ, những tiếng kêu thét, những chuỗi cười lại vang vọng từ hang đá. Nhưng Zarathustra đã tiếp lời:
“Bọn họ đang nhe miệng cắn, con mồi của ta đang bị cắn, cả nơi họ, kẻ thù cũng tháo chạy: Tinh thần Trì độn Nặng nề. Họ đã học cười chính bản thân mình rồi: ta có nghe rõ chăng?
Lương thực nuôi người của ta, những châm ngôn ngạt ngào chân xác, đã có hiệu quả. Và thực ra, ta không nuôi họ bằng những rau cải làm trương bụng, mà bằng một lương thực dành cho những chiến sĩ, một lương thực cho những kẻ chinh phục: ta đã đánh thức dậy những khát vọng tinh khôi.
Có những hy vọng mới mẻ đang máy động trong tay chân của họ, quả tim họ dãn nở ra vươn duỗi chân tay. Họ đã tìm thấy những từ ngữ mới. Chẳng mấy chốc tinh thần họ sẽ hít thở được sự táo bạo hăng nồng.
Cố nhiên, thứ thực phẩm này không dành cho những đứa trẻ nít, cũng chẳng dành cho những người đàn bà mảnh mai suy nhược, dẫu họ trẻ hay già. Phải có những phương tiện khác để thuyết phục dạ dày bọn đó; ta không phải là vị lương y và chủ nhân bọn họ.
Sự kinh tởm chán ngán ấy đang rời xa những con người thượng đẳng kia. Ồ, được lắm! Đấy là chiến thắng của ta. Trong vương quốc của ta, họ cảm thấy an toàn, mọi nỗi hổ thẹn ngu đần đều bỏ chạy, họ đang thổ lộ tâm tình.
Họ đang thổ lộ tấm lòng mình, những giờ phút tuyệt vời lại trở về với họ! Họ chẳng có việc gì làm và họ đang nhàn tản nhai đi nhai lại, - họ trở thành có lòng biết ơn thâm tạ.
Đấy chính là điều ta xem như là dấu hiệu tốt đẹp nhất: họ trở thành có lòng biết ơn. Chẳng bao lâu nữa, họ sẽ bày ra những cuộc lễ và sẽ dựng nên những bia đá cho những nỗi vui ngày cũ của mình.
Họ là những kẻ đang bình phục!” Zarathustra đã nói như thế, tâm hồn hắn tràn đầy vui tươi hoan lạc, đôi mắt hắn nhìn ngó ra bên ngoài; trong khi đó, con ó và con rắn nép sát vào thân thể Zarathustra và đi gần sát với hạnh phúc cùng sự im lặng của hắn.
 


2


Nhưng đột nhiên lỗ tai Zarathustra kinh hoảng, vì thạch động từ trước đến giờ vang dội tiếng ồn ào cười nói, bỗng rơi vào một sự im lặng chết chóc; lỗ mũi của Zarathustra đánh hơi thấy một mùi hương khói thơm tho, như mùi những trái thông đang cháy.
“Chuyện gì thế? Họ đang làm gì trong kia?” Zarathustra vừa tự hỏi vừa tiến lại gần cửa hang để lẩn lút quan sát những thực khách của mình. Nhưng, kỳ dị thay! Zarathustra đã tận mắt nhìn thấy những gì trong lúc đó?
“Tất cả bọn họ đều lại trở thành những con người kính tín! Họ đang cầu nguyện. Họ là những thằng điên!” Zarathustra lẩm bẩm với cõi lòng kinh ngạc sững sờ. Và thật vậy, tất cả những con người thượng đẳng đó - hai ông vua, vị Giáo hoàng hồi hưu, viên Pháp sư trâng tráo, Người ăn xin tự nguyện, Kẻ lang thang phiêu bạt và Chiếc bóng, lão Bốc sư Tiên tri, Kẻ tận tâm của tinh thần và Kẻ xấu xí nhất loài người: tất cả bọn họ đều quỳ gối trên nền hang, giống như những đứa trẻ và những bà già tín mộ, họ quỳ gối sùng bái Con lừa. Và Kẻ xấu xí nhất loài người đã bắt đầu lõm ba lõm bõm, sùi cả bọt mồm bọt mép, như thể có một điều gì bất khả ngôn muốn vọt thoát ra từ y; nhưng sau cùng, khi y thực sự nói được, thời những lời y độc tụng là một lời cầu nguyện kỳ dị đầy kính mộ, nhằm tôn vinh con lừa đang được khói hương sùng bái. Và đây là bài cầu nguyện đó:
Amen! Vinh danh và trí huệ và lòng biết ơn và sự ngợi ca và sức mạnh của Thượng đế ta, vĩnh cửu đời đời!
- Và con lừa be be lên tiếng: I-A.
Ngài mang những gánh nặng của chúng ta, ngài đã khoác lấy khuôn mặt của kẻ nô bộc, ngài kiên trì nhẫn nại trong lòng và chẳng bao giờ nói lên tiếng “Không”; và kẻ nào yêu thương Thượng đế của mình, kẻ đó trừng phạt ngài càng hăng hái.
- Và con lừa be be lên tiếng: I-A.
Ngài không hề mở miệng ra lời, trừ phi là để luôn luôn nói lên tiếng “Vâng” với thế giới ngài đã sáng tạo nên; như thế ngài hát tụng thế giới của ngài. Chính sự giảo quyệt là nguyên nhân sự câm lặng nơi ngài: vì thế hiếm khi ngài lầm lẫn.
- Và con lừa be be lên tiếng: I-A.
Trong vẻ tầm thường, ngài băng qua thế giới. Màu da của thân xác bao phủ đức hạnh của ngài là màu xám.[1] Nếu có tinh thần, ngài giấu kín tinh thần ấy; nhưng tất cả mọi người đều tin vào hai lỗ tai dài của ngài.
- Và con lừa be be lên tiếng: I-A.
Biết bao là trí huệ hiền minh ẩn kín trong sự kiện ngài có đôi lỗ tai dài và luôn luôn thốt lên tiếng “Vâng” thuận nhận, và chẳng bao giờ lên tiếng bảo “Không”. Chẳng phải ngài đã sáng tạo thế giới theo hình ảnh của ngài, nghĩa là càng ngu đần đến mức tối đa càng tốt?
- Và con lừa be be lên tiếng: I-A.
Ngài biết rõ những con đường thẳng và những lối quanh co; những gì loài người gọi là thẳng hay cong quẹo đều ít can hệ đến ngài. Vương quốc của ngài nằm ở bên kia cõi bờ thiện ác. Sự ngây thơ vô tội của ngài nằm ở chỗ ngài chẳng biết chút gì về tinh thể của sự ngây thơ vô tội.
- Và con lừa be be lên tiếng: I-A.
Hãy nhìn đây, ngài chẳng hề xua đuổi xa ngài bất luận kẻ nào, cả người hành khất, lẫn những ông vua. Ngài để mặc cho những đứa trẻ đến với ngài, và nếu những người tội lỗi muốn quyến rũ dụ hoặc ngài, ngài chỉ cần thốt ra một tiếng I-A.
- Và con lừa be be lên tiếng: I-A.
Ngài yêu thương những con lừa cái cùng những trái vả tươi mát, ngài không khinh miệt bất luận thứ thực phẩm nào. Một cây thảo nhi làm ngài nhột nhột quả tim khi ngài đói. Ở trong ngài, là cả trí huệ khôn ngoan của một đấng Thượng đế.
- Và con lừa be be lên tiếng: I-A.

[1] “Màu da của thân xác bao phủ đức hạnh”, dịch chữ Leib Farbe vừa có nghĩa “màu da thân xác” vừa có nghĩa “màu da ưa thích”.
0
LỄ TRỌNG DÀNH CHO CON LỪA


1


Nhưng đến đoạn này của lời cầu nguyện, thời Zarathustra không thể tự dằn lòng lâu hơn được nữa. Zarathustra cũng thét to lên: I-A, với giọng to hơn cả giọng con lừa, rồi nhảy xổ vào giữa đám khách đã hóa điên của mình. “Các ngươi đang làm gì thế, hỡi những đứa trẻ nít? Zarathustra vừa hét lớn vừa lôi những người đang quỳ gối cầu nguyện đứng dậy. Khốn nạn cho các ngươi, nếu có ai khác hơn là Zarathustra nhìn thấy các ngươi vào đúng lúc này!
Mọi người sẽ cho rằng, cùng với đức tin mới mẻ của các ngươi, các ngươi đã trở thành những kẻ tệ hại nhất trong số những kẻ báng bổ Thượng đế, hoặc giả là những kẻ rồ dại nhất trong số các mụ già!
Còn chính ngươi, hỡi vị cựu Giáo hoàng già nua, ngươi làm sao thỏa ý được khi sùng bái một con lừa như vậy, làm như con lừa là Thượng đế?”
Vị Giáo hoàng trả lời:
“Hỡi Zarathustra, xin ngài thứ lỗi cho ta, nhưng mà trong những sự vụ liên can đến Thượng đế, ta sáng suốt hơn ngài. Và điều ấy quả đúng là như thế.
Chẳng thà sùng bái Thượng đế dưới hình thức này, còn hơn là không sùng bái Thượng đế! Hỡi người bạn thiết của ta, xin ngài hãy suy ngẫm về lời ấy: ngài sẽ đoán ngay ra được rằng lời nói ấy chứa đựng trí huệ khôn ngoan.
Kẻ nào đã bảo: “Thượng đế là tinh thần” - thì cho đến bây giờ, trên mặt địa cầu này, kẻ đó đã bước một bước dài nhất và nhảy một cái nhảy xa nhất về hướng tâm trạng hoài nghi vô tín: một lời nói như thế không dễ gì cứu chữa lại được trên trần gian!
Quả tim già nua của ta lại nhảy múa và vui mừng nhảy cẫng lên vì hãy còn có một cái gì đáng được sùng bái trên mặt đất này. Hỡi Zarathustra, xin ngài hãy tha thứ cho quả tim già nua của một vị Giáo hoàng tín mộ!”
Zarathustra quay qua bảo với Kẻ lang thang phiêu bạt và Chiếc bóng:
“Còn ngươi, ngươi tự gọi mình là tinh thần tự do và ngươi tưởng mình là tinh thần tự do thật. Thế mà ở đây, ngươi lại buông thả theo những sự tôn thờ thần tượng cùng những lễ lạc lạ lùng như thế kia sao?
Thật ra, ở đây ngươi còn làm những điều tệ hại hơn là những điều ngươi đã làm bên cạnh các cô gái tóc nâu quái quỷ kia, ngươi, kẻ tín đồ mới mẻ và tinh ranh!”
“Thật là điều đáng buồn, quả vậy, Kẻ lang thang phiêu bạt và Chiếc bóng trả lời, ngài đã có lý: nhưng tôi có thể làm gì được chứ? Hỡi Zarathustra, vị Thượng đế cũ đã hồi sinh, dẫu ngài có muốn nói gì cũng thế.
Chính Kẻ xấu xí nhất loài người đã là nguyên nhân mọi sự: chính y đã hồi sinh Thượng đế. Và giả sử y có bảo rằng ngày xưa y đã giết chết Thượng đế rồi, ngài cũng đừng tin: nơi các đấng thần linh, bao giờ cái chết cũng vẫn chỉ là một định kiến mà thôi.”
Zarathustra lại tiếp lời:
“Còn ngươi, hỡi viên Pháp sư vô liêm già lão, ngươi làm gì thế? Trong những giờ phút tự do này, ai còn dám tin vào ngươi nữa, nếu ngươi lại đi tin vào những trò con lừa linh thánh kia?
Ngươi đã làm một điều xuẩn ngốc; làm sao một người giảo quyệt như ngươi lại có thể làm một điều xuẩn ngốc như thế chứ?”
Viên Pháp sư giảo quyệt đáp lời:
“Hỡi Zarathustra, ngài đã có lý, đây quả là một điều xuẩn ngốc - nó khá đắt giá đối với tôi”.
“Còn ngươi nữa, Zarathustra quay lại bảo với Kẻ tận tâm của tinh thần, ngươi hãy suy nghĩ kỹ đi và sờ tay lên lỗ mũi! Trong chuyện này chẳng có gì làm rộn đến lương tâm của ngươi à? Tinh thần ngươi há chẳng quá tinh sạch cho những sự sùng bái đó và cho hương khói của những con người quá sùng mộ thế kia sao?”
Kẻ tận tâm trả lời, và lấy ngón tay sờ lên lỗ mũi:
“Trong quang cảnh này có một cái gì đó đem lại thiện ích cho lương tâm tôi.
Có lẽ tôi không có quyền tin tưởng vào Thượng đế: nhưng điều chắc chắn là chính dưới hình thức này, tôi thấy Thượng đế xứng đáng cho người ta tin tưởng nhất.
Theo chứng từ của những tín đồ nhiệt tâm nhất thì Thượng đế phải là vĩnh cửu; khi mà người ta có thời giờ dư dật nhàn nhã, người ta sẽ sử dụng thời giờ. Khi tiến bước chậm chạp và ngu xuẩn chừng nào hay chừng đó thì một vị Thượng đế như thế có thể bước đi xa được.
Và kẻ nào có quá nhiều tinh thần sẽ thích đeo bám lấy ngay cả sự ngu xuẩn và sự điên cuồng. Hỡi Zarathustra, xin ngài hãy tự suy ngẫm về chính mình!
Thực vậy, chính ngài, vì có quá nhiều trí huệ khôn ngoan, ngài rất có thể biến thành một con lừa.
Một nhà hiền triết toàn hảo chẳng thích đi theo những con đường quanh co đấy sao? Bề ngoài chỉ dạy cho ta rõ điều đó, hỡi Zarathustra - bề ngoài của ngài!”
- “Và sau cùng, ngươi! Zarathustra nói với Kẻ xấu xí nhất loài người lúc đó hãy còn đang phủ phục dưới đất, hai tay dang ra về phía con lừa (vì y đã cho lừa uống rượu) - Hãy nói đi, kẻ lõm bõm chẳng ra lời, ngươi đã làm gì ở đây?
Ta thấy như ngươi đã biến hình, mắt ngươi long lanh sáng, chiếc áo choàng của đấng linh thiêng che phủ vẻ xấu xí của ngươi: ngươi đã làm ?
Điều mà mấy người kia vừa nói có thật chăng, có quả là ngươi đã hồi sinh Thượng đế? Và tại sao? Thượng đế bị giết chết và trừ khử, há không phải là chuyện hữu lý?
Ta thấy như chính ngươi đã được thức tỉnh: ngươi đã làm gì? Tại sao ngươi đã hoán tâm hối đạo? Hãy nói đi, kẻ ấm ớ chẳng thành lời!”
Kẻ xấu xí nhất loài người trả lời:
“Hỡi Zarathustra, ngài là một tên ba que xỏ lá!
Nếu Thượng đế còn sống, hoặc nếu Thượng đế sống lại lần nữa, hoặc nếu Thượng đế đã chết hẳn, thì thử hỏi trong hai chúng ta, ai là kẻ biết rõ điều ấy nhất? Ta xin hỏi ngài điều đó.
Nhưng có một điều mà ta biết rõ, - hỡi Zarathustra! Ta đã học biết điều này từ chính ngài thuở xưa kia: kẻ nào muốn giết hại tàn liệt sâu thẳm nhất thì kẻ đó phá lên cười.
“Người ta sát hại không phải bằng cơn phẫn nộ điên cuồng, mà chính bằng tiếng cười” - ngày xưa ngài đã thuyết giảng như thế. Hỡi Zarathustra, ngài là người ẩn mặt, là kẻ phá hoại không giận dữ, là vị thánh nguy hiểm, ngài là một tên ba que xỏ lá!”


2


Nhưng lúc bấy giờ, trong lòng kinh ngạc vì những câu trả lời như thế của bọn ba que xỏ lá, Zarathustra lại phóng mình ra cửa hang, rồi la thét bằng một giọng chát tai, Zarathustra ngỏ lời với đám thực khách:
“Hỡi tất cả các ngươi, những kẻ điên cuồng láu lỉnh, những tên múa rối! Các ngươi che giấu giả trang trước mắt ta nào có ích gì!
Quả tim của mỗi kẻ trong các ngươi rúng động vì niềm vui sướng hân hoan, bởi vì sau cùng các ngươi đã lại trở thành giống như những đứa trẻ, nghĩa là đầy lòng tín mộ,
- bởi vì sau cùng các ngươi đã lại hành động y hệt như những đứa trẻ, bởi vì các ngươi đã cầu nguyện, chắp hai tay lại và thì thào: hỡi Thượng đế thân yêu!
Nhưng giờ đây, các ngươi hãy rời bỏ căn phòng trẻ con này, cái hang đá riêng của các ngươi, nơi mà ngày hôm nay mọi trò trẻ con đều được quyền phô diễn. Các ngươi hãy ra ngoài để làm cho mát mẻ lòng cuồng nhiệt nóng nảy trẻ con của các ngươi và làm dịu bớt nhịp đập tim của các ngươi!
Cố nhiên, nếu không trở thành như những đứa trẻ, thời các ngươi sẽ không thể bước được vào thiên đàng kia. (Và Zarathustra đưa tay chỉ lên trời xanh).
Nhưng chúng ta hoàn toàn chẳng muốn bước vào nước thiên đàng: chúng ta đã trở thành người, - vì thế chúng ta ước muốn vương quốc của mặt đất trần gian”.


3


Và Zarathustra lại bắt đầu ngỏ lời. Zarathustra bảo:
“Hỡi những người bạn mới của ta ơi, những con người quái dị, các ngươi, những người thượng đẳng, giờ đây, các ngươi làm ta hài lòng khôn xiết!
- kể từ khi các ngươi đã lại trở nên vui vẻ. Thực vậy, các ngươi đều rạng rỡ hân hoan: ta thấy rằng đối với những bông hoa như các ngươi, cần phải có những cuộc lễ mới,
- một cơn điên cuồng dũng cảm thoáng qua, một sự tôn thờ Thượng đế nào đó, hay một lễ trọng nào đó dành cho con lừa, một lão già điên, một Zarathustra hoan hỉ, một cơn lốc mang hơi gió chiếu rọi tâm hồn các ngươi.
Các ngươi đừng quên đêm nay, đừng quên lễ trọng dành cho con lừa này, hỡi những người thượng đẳng! Các ngươi đã bày đặt ra những điều ấy trong hang đá của ta và ta cho đấy là một dấu hiệu tốt đẹp, - chỉ có những kẻ đang thời kỳ bình phục mới phát minh bày đặt ra được điều đó.
Và nếu các ngươi cử hành một lần nữa lễ trọng dành cho con lừa như lần này, các ngươi hãy hành lễ bằng tình yêu dành cho các ngươi, các ngươi cũng hãy hành lễ bằng tình yêu dành cho ta! Và hãy hành lễ để tưởng nhớ đến ta!”
 
Zarathustra đã nói như thế.
0
KHÚC HÁT CUỒNG SAY


1


Trong khi đó, tất cả mọi người đều lần lượt đi ra ngoài nơi thoáng khí trong đêm tối tươi mát trầm mặc, và đích thân Zarathustra cầm tay dẫn Kẻ xấu xí nhất loài người để chỉ cho hắn thấy thế giới ban đêm của mình, mặt trăng tròn vành vạnh, lửng lơ và những dòng thác bạc réo trào bên cạnh hang đá. Sau cùng, cả bọn ngừng lại đó, đứng gần bên nhau, tất cả những con người già cả nhưng quả tim được an ủi và dũng cảm đó kinh ngạc tận nơi sâu kín cõi lòng mà thấy rằng mình rất thoải mái trên mặt đất; trong lúc đó, sự thân mật của ban đêm càng lúc càng tiến đến gần quả tim của họ. Và một lần nữa, Zarathustra lại nghĩ thầm trong trí: “Ồ! Giờ đây những con người thượng đẳng đó làm ta vui sướng dường nào!” - nhưng hắn không nói ra điều đó, vì hắn kính trọng hạnh phúc cùng sự im lặng của họ.
Nhưng lúc bấy giờ, có một chuyện đáng kinh ngạc nhất xảy ra trong cái ngày đầy rẫy những chuyện kinh ngạc này: Kẻ xấu xí nhất loài người đã bắt đầu lại một lần cuối cùng để kêu ọc ọc và thổi phì phì, sau cùng, khi hắn đã tìm ra được chữ, thì            ô kìa, một câu hỏi phát ra từ cửa miệng hắn, rõ ràng và chính xác, một câu hỏi tốt lành, sâu thẳm và sáng sủa làm rung động quả tim của tất cả những người nghe.
Kẻ xấu xí nhất loài người cất tiếng hỏi:
“Hỡi các bạn của ta, đang tụ họp nơi đây, các bạn giống với cái gì? Nhờ ngày hôm nay, đây là lần đầu tiên ta hài lòng vì đã sống cuộc đời ta trọn vẹn.
Chỉ chứng nghiệm điều đó không thôi, là điều chẳng đủ đối với ta. Sống trên mặt đất là chuyện đáng bõ công: một ngày, một cuộc lễ với Zarathustra đã dạy cho ta biết yêu thương mặt đất.
“Đời sống có phải là thế đó chăng?” ta sẽ hỏi cái chết như thế. “Được rồi! Nào, chúng ta hãy khởi đầu lại!”
Hỡi các bạn của ta, các bạn nghĩ thế nào? Há các bạn chẳng muốn nói với cái chết giống như ta: “Đời sống có phải là thế đó chăng? Được rồi, vì tình yêu Zarathustra, chúng ta hãy khởi đầu lại!”
Kẻ xấu xí nhất loài người nói như thế; và lúc ấy trời đã gần Nửa đêm. Và các bạn nghĩ rằng chuyện gì đã xảy ra vào lúc đó? Ngay khi những người thượng đẳng nghe xong câu hỏi của hắn, đột nhiên họ ý thức được sự hóa thân cùng sự bình phục của mình, và họ hiểu rõ ai là kẻ đã đem đến cho họ sự khởi thức đó; lúc bấy giờ, họ đổ xô về phía Zarathustra với lòng biết ơn, kính trọng đầy trìu mến, và mỗi người hôn bàn tay Zarathustra theo cách thái riêng của mình: kẻ thì khóc, người thì cười. Trong lúc đó, lão Pháp sư già nhảy múa vì vui mừng; và nếu lão ta có hơi chếnh choáng say rượu vào lúc ấy, theo ý kiến một vài người kể chuyện lại, thì chắc chắn là lão ta còn say sưa hơn nữa vì cuộc đời ngọt ngào dịu nhẹ, và lão đã bỏ rơi tất cả mọi nỗi chán nản rã rời. Có người còn thuật lại rằng lúc bấy giờ ngay cả con lừa cũng bắt đầu khiêu vũ: bởi vì không phải là chuyện vô bổ khi Kẻ xấu xí nhất loài người đã cho con lừa uống rượu. Dẫu sự thực có thật là như thế hay khác đi chăng nữa, dẫu con lừa có thực sự khiêu vũ hay không vào buổi tối đó, thì buổi tối ấy đã có những phép lạ vĩ đại và dị kỳ hơn là chuyện con lừa biết khiêu vũ. Nói tóm lại, “Chẳng có can hệ gì!” như Zarathustra sẵn lòng nói thế.


2


Trong khi chuyện ấy xảy đến cho Kẻ xấu xí nhất loài người, thời Zarathustra vẫn đứng đó, tựa như một kẻ say rượu: cái nhìn của hắn tắt lặng, lưỡi hắn líu lại, đôi chân hắn run rẩy như muốn ngã. Và ai có thể đoán được những tư tưởng nào đã xẹt qua tâm hồn Zarathustra vào lúc đó? Nhưng người ta thấy rằng tinh thần Zarathustra đi thụt lùi và bay về trước, tinh thần ấy đang phiêu du ở một cõi miền rất xa xôi miên viễn, có thể nói được là “ở trên một chỏm núi cao giữa hai mặt biển,
- nối liền quá khứ và tương lai, tựa một đám mây nặng nề”, như có người đã viết. Dần dà, trong khi những con người thượng đẳng ôm lấy Zarathustra, hắn hơi định tĩnh trở lại, và đưa tay ngăn bớt sự nồng nhiệt của đám đông những người tôn sùng và đang lo âu vì hắn; nhưng hắn vẫn im lìm không nói. Đột nhiên, Zarathustra quay đầu lại, vì hình như hắn vừa nghe thấy một tiếng gì đó: lúc bấy giờ, hắn đặt ngón tay lên miệng ra hiệu và bảo: “Hãy đến đây!”
Lập tức có một sự im lặng trầm tịnh kỳ dị bao quanh hắn; nhưng từ cõi miền sâu thẳm, chậm chạp dâng vọng lên âm thanh của một tiếng chuông. Zarathustra lắng tai nghe ngóng, những con người thượng đẳng cũng làm thế; rồi Zarathustra đặt một ngón tay lên miệng ra dấu lần thứ nhì và bảo lần nữa: “Hãy đến đây! Đến đây! Đã gần Nửa đêm rồi!” - và giọng nói của Zarathustra đã bị biến đổi. Nhưng Zarathustra chẳng hề nhích động khỏi chỗ: lúc bấy giờ, sự im lặng càng dàn trải ra sâu thẳm mịt mùng bí ẩn hơn nữa, và tất cả mọi người đều lắng tai nghe ngóng, kể cả con lừa cùng hai con thú vinh dự đi theo hầu Zarathustra, con ó và con rắn, và cả chiếc hang đá của Zarathustra, cả vầng trăng vằng vặc tươi mát và cả chính đêm tối mênh mông. Trong lúc đó, Zarathustra đặt ngón tay lên miệng ra hiệu lần thứ ba và bảo: “Hãy đến đây! Đến đây! Đến đây! Bây giờ chúng ta hãy bước đi nào! Đã đến giờ rồi: chúng ta hãy bước vào trong Đêm tối!”


3


Hỡi những người thượng đằng, gần Nửa khuya rồi: vì thế ta muốn thì thầm với các ngươi một điều, một điều mà chiếc chuông già nua kia đã thì thầm cùng ta,
- với biết bao là bí mật, kinh hoàng và thân ái; một điều mà chiếc chuông già nua buổi nửa khuya kia đã khởi đầu lên tiếng cùng ta, chiếc chuông đã kinh nghiệm hơn bất luận kẻ nào,
- chiếc chuông đã từng đếm nhịp tim của tổ phụ các ngươi. Hỡi ôi! Hỡi ôi! Nó thở dài não nuột làm sao! Nó cười vui dường nào trong mộng mị! Cái giờ phút già nua Nửa khuya, sâu thẳm, nghìn trùng sâu thẳm!
lm lặng! lm lặng! Người ta đang nghe rất nhiều sự vật không thể tự lên tiếng vào lúc ban ngày; nhưng giờ đây, khí trời tươi mát, cả tiếng đập của quả tim các ngươi cũng đà lịm tắt,
- giờ đây, những sự vật lên tiếng và nghe hiểu nhau, chúng len vào những tâm hồn đêm tối và quá tỉnh thức: Hỡi ôi! Hỡi ôi! Nó thở dài não nuột làm sao! Nó cười vui dường nào trong mộng mị!
Ngươi há chẳng nghe cái giờ phút già nua Nửa khuya, giờ phút nghìn trùng sâu thẳm kia đang bí mật lên tiếng với chính ngươi, với lòng kinh hãi và thân ái ngần nào?
Ới con người, hãy cẩn trọng!


4


Khổ thân cho ta! Thời gian đã trôi qua chốn nào? Có phải ta đang rơi xuống những giếng sâu thăm thẳm? Thế giới đang yên ngủ!
Hỡi ôi! Hỡi ôi! Tiếng chó tru, mặt trăng vằng vặc giữa trời. Ta thích chết, ta thích chết còn hơn là bảo cho các ngươi biết những gì mà quả tim nửa khuya của ta đang suy tưởng đến.
Ta đã chết rồi. Thôi thế là xong! Hỡi loài nhện độc, tại sao ngươi lại giăng màn lưới chung quanh ta? Ngươi đang thèm khát máu tươi? Hỡi ôi! Hỡi ôi! Giọt sương đang rơi, giờ đang đến,
- giờ phút mà ta lạnh run và đông cứng lại thành băng, giờ phút lên tiếng hỏi, hỏi, hỏi hoài hỏi mãi: “Ai có đủ tấm lòng và con tim để làm chuyện đó?”
- Ai phải là vị chủ nhân của mặt đất? Ai muốn bảo: những dòng sông lớn nhỏ ấy phải chảy qua chúng ta như thế!
- giờ đang đến gần: hỡi con người thượng đẳng, hãy cẩn trọng đề phòng! Ngôn ngữ này dành riêng cho những lỗ tai tinh tế, dành riêng cho lỗ tai các ngươi - Nửa đêm sâu thẳm đang nói gì?


5


Ta bị xô dạt đến đằng kia, linh hồn ta đang khiêu vũ. Nhiệm vụ thường ngày! Nhiệm vụ thường ngày! Ai phải là vị chủ nhân của thế giới?
Mặt trăng vô ngần tươi mát, gió lặng câm. Hỡi ôi! Hỡi ôi! Các ngươi đã cất cánh bay đủ cao chưa? Các ngươi đã khiêu vũ: nhưng một chiếc chân không phải là một chiếc cánh.
Hỡi những kẻ khiêu vũ tuyệt vời, giờ đây mọi niềm vui đều đã qua đi. Rượu đã biến thành cặn đắng, mọi ly tách đều trở thành mỏng mảnh, những ngôi nhà mồ bập bẹ.
Các ngươi đã bay chưa đủ cao: giờ đây các ngôi nhà mồ bập bẹ! “Hãy cứu vớt những người chết! Tại sao đêm tối quá lê thê? Mặt trăng không làm chúng ta say cuồng được sao?”
Hỡi những người thượng đẳng, các ngươi hãy cứu vớt những ngôi nhà mồ, hãy đánh thức những thây ma dậy! Hỡi ôi! Tại sao con sâu hãy còn đục khoét nữa? Giờ đang đến, nó đang đến,
- tiếng chuông vang vọng vi vu, quả tim hãy còn khò khè, con sâu đang gặm nhấm, con mọt gỗ, con sâu của quả tim. Hỡi ôi! Hỡi ôi! Trần gian thì sâu thẳm!


6


Hỡi cây thất cầm dịu ngọt! Hỡi cây thất cầm dịu ngọt! Ta yêu tiếng âm nhạc của ngươi, thứ tiếng của con cóc đang say! Như thứ tiếng đang đến với ta từ xa, từ một ngày xưa xa xôi, từ những ao hồ diệu vợi của tình yêu!
Hỡi quả chuông già nua! Hỡi cây thất cầm dịu ngọt! Tất cả những đau khổ đã xé nát lòng ngươi, nỗi đau khổ của người cha, nỗi đau khổ của những người cha, nỗi đau khổ của đấng tổ tiên. Ngôn ngữ của ngươi đã chín muồi,
- ngôn ngữ ấy đang chín muồi như mùa Thu và buổi xế trưa óng vàng và quả tim ẩn sĩ của ta; giờ đây ngươi lên tiếng: chính thế giới đã chín muồi, quả nho đang nâu sẫm lại,
- giờ đây, trần gian muốn chết, chết vì hạnh phúc tràn trề. Hỡi những người thượng đẳng, các ngươi không cảm thấy điều ấy hay sao? Một cách bí mật, một mùi vị lửng lơ;
- một làn hương và một mùi vị của vĩnh cửu thiên thu, một mùi vị của chất rượu óng vàng, nâu sẫm, của những đóa hồng diễm phúc, của nỗi niềm hạnh phúc cổ xưa;
- một nỗi hạnh phúc say sưa muốn chết, một nỗi hạnh phúc của giờ phút Nửa khuya cất lên tiếng hát - trần gian thì sâu thẳm: sâu thẳm hơn là ánh ngày từng nghĩ đến!


7


Hãy mặc ta! Hãy để mặc ta! Ta quá trinh khiết đối với ngươi. Đừng động chạm đến ta! Thế giới của ta há chẳng vừa được thành tựu đó sao?
Làn da ta quá tinh khiết cho những bàn tay của ngươi. Hãy để mặc ta, hỡi làn ánh sáng ảm đạm u tối, lăng nhăng bá láp và nặng nề kia! Giờ phút Nửa khuya há chẳng trong sáng hơn đấy sao?
Những người trinh khiết nhất phải là những vị chủ nhân của thế giới, những con người vô danh nhất, những con người mạnh mẽ nhất, những tâm hồn nửa khuya trong sáng và sâu thẳm hơn tất cả mọi ánh ngày.
Hỡi ánh ngày, ngươi đang sờ soạng bước theo ta? Ngươi đang sờ soạng bước theo hạnh phúc của ta đó à? Ta có vẻ quá giàu có đối với ngươi, kẻ cô đơn, một kho tàng giấu kín, một hầm chứa vàng?
Hỡi thế giới, mi đang thù ghét ta? Ta có tầm phào thế tục đối với mi chăng? Ta có là người tin đạo chăng? Ta là viên bốc sư chăng? Nhưng mà, hỡi ánh ngày và thế giới, các ngươi quá đỗi nặng nề,
- các ngươi hãy vươn những bàn tay thông minh hơn về phía một hạnh phúc sâu thẳm hơn, về một nỗi thống khổ bất hạnh sâu thẳm hơn, về một vị Thượng đế nào đó, chứ đừng vươn tay về phía ta:
- nỗi bất hạnh của ta, hạnh phúc của ta thì sâu thẳm, hỡi ánh ngày xa lạ, tuy thế, ta không phải là một Thượng đế, cũng chẳng phải là một hỏa ngục của Thượng đế: Nỗi đau khổ của trần gian thì sâu thẳm.
 


8


Hỡi thế giới kỳ dị! Nỗi thống khổ của Thượng đế thì sâu thẳm hơn! Ngươi hãy chộp lấy nỗi thống khổ Thượng đế, chứ đừng vồ lấy ta! Ta là ai? Một cây thất cầm dịu ngọn đang say cuồng,
- một cây thất cầm nửa khuya, một cái chuông kêu như cóc, chẳng một ai hiểu được, nhưng vẫn phải lên tiếng trước những người điếc, hỡi những con người thượng đẳng! Bởi vì các ngươi không hiểu được ta!
Đã qua rồi! Qua rồi! Ôi, tuổi trẻ! Ôi, ngọ thiên! Giờ đây là buổi chiều và đêm tối đã đến, và giờ phút nửa khuya, - ngọn gió, con chó tru la:
- ngọn gió chẳng phải là một con chó sao? Gió rên rỉ, gió sủa vang, gió tru tréo. Hỡi ơi! Giờ phút Nửa khuya đang thở dài, cười vang, khò khè và hỗn loạn như thế kia!
Nhà nữ thi sĩ say cuồng ấy đang thốt lên tiếng nói khô khan ngần nào! Nàng đã vượt quá mức say cuồng của mình? Nàng đã thức tỉnh quá khuya, nàng đang bắt đầu gặm nhấm lại?
- Cái giờ phút Nửa khuya già nua và sâu thẳm này đang gặm nhấm lại nỗi đau khổ của mình trong mộng mị, và hơn thế nữa, nó đang gặm nhấm lại niềm vui tươi hoan lạc. Bởi vì: khi nỗi đau khổ đã sâu thẳm, thì, Hoan lạc còn sâu thẳm hơn là đau khổ!


9


Hỡi thân nho, ngươi tán tụng ngợi ca ta quá mức! Ta há đã chẳng đẽo gọt thân ngươi sao? Ta tàn bạo và ngươi chảy máu: lời ngợi ca mà ngươi gửi đến cho sự tàn bạo say sưa của ta muốn điều gì?
“Tất cả những gì đã thành tựu, tất cả những gì đã chín muồi - đều muốn chết!” ngươi nói như thế. Hãy chúc phúc, xin hãy chúc phúc cho con dao của người trồng nho! Nhưng còn tất cả những gì chưa chín muồi thì lại muốn sống: hỡi ôi!
Nỗi đau khổ bảo rằng: “Hãy qua đi, hãy qua mau, hỡi đau khổ!” Nhưng tất cả những gì đang đau khổ đều muốn sống, để chín, để trở thành vui tươi và tràn đầy khát vọng,
- tràn đầy khát vọng về cái gì xa xôi miên viễn nhất, sáng sủa nhất. “Ta muốn có những kẻ thừa kế, ta muốn có những đứa con, ta không ước muốn chính ta”, tất cả những gì đang đau khổ đều nói thế.
Nhưng niềm vui tươi hoan lạc thì không muốn có những kẻ thừa kế lẫn những đứa con, - niềm hoan lạc tự ước muốn chính mình, niềm hoan lạc ước muốn thiên thu vĩnh cửu, sự quy hồi của những sự vật, tất cả những gì vĩnh viễn giống nhau.
Đau khổ bảo: “Hỡi quả tim, hãy vỡ tan ra, hãy trào máu! Nào, hai chân, hãy bước tới! Đôi cánh, hãy vút bay! Hỡi nỗi đau khổ, hãy tiến tới! Đằng kia! Trên kia!” Được rồi! Nào bước đi! Hỡi quả tim già úa của ta; Đau khổ lên tiếng: Hãy trôi qua và tàn tạ!”


10


Hỡi những người thượng đẳng, các ngươi nghĩ như thế nào? Ta có là một viên bốc sư? Ta có là một kẻ mơ mộng? Ta có là một người đoán điềm giải mộng? Một quả chuông vang vọng lúc nửa khuya?
Một giọt sương? Một làn hơi nước, một mùi hương nồng nã của thiên thu? Các ngươi há không nghe điều đó sao? Thế giới của ta vừa thành tựu, Nửa khuya cũng là đúng ngọ Nửa trưa.
Nỗi đau khổ cũng là một hoan lạc, sự nguyền rủa cũng là một lời chúc phúc, đêm tối cũng là một mặt trời, - các ngươi hãy lánh xa! E ta sẽ dạy các ngươi rằng một kẻ hiền minh trí huệ cũng là một người điên.
Các ngươi đã từng bao giờ thốt lên tiếng “Vâng” với niềm hoan lạc? Hỡi các bạn ta, lúc bấy giờ các ngươi cũng sẽ nói “Vâng” với tất cả những khổ đau. Tất cả mọi sự đều được kết buộc, mắc míu, hợp nhất nhau trong tình yêu.
Các ngươi đã từng ước muốn một điều gì đó sẽ trở lại hai lần chưa? Các ngươi đã có khi nào bảo rằng: “Mi làm ta hài lòng, hỡi hạnh phúc, khoảnh khắc vèo qua như một thoáng thiên thu!” Chỉ như thế, các ngươi mới ước muốn mọi sự quy hồi trở lại!
- Tất cả lại một lần nữa, tất cả vĩnh viễn, tất cả được ràng buộc, mắc míu, đầy tình yêu. ồ! Chỉ như thế, các ngươi mới thực sự yêu thương thế giới.
- Các ngươi, những con người vĩnh cửu, các ngươi yêu thương thế giới một cách thiên thu vĩnh cửu và chưa từng có; các ngươi cũng nói với nỗi đau khổ - hãy qua đi, nhưng hãy trở lại: bởi vì mọi hoan lạc đều khao khát thiên thu.


11


- Tất cả mọi hoan lạc đều khao khát thiên thu của vạn sự, khao khát mật ngọt, men nồng, khao khát một buổi Nửa khuya say cuồng, khao khát những ngôi nhà mồ, khao khát sự an ủi của những dòng lệ đắng nhỏ trên những cửa mộ, khao khát một hoàng hôn đỏ thắm ánh vàng.
- Còn có gì mà hoan lạc lại chẳng hề khát khao ước muốn! Hoan lạc khát khao hơn, thân ái hơn, đói khát hơn, khủng khiếp hơn, bí mật hơn tất cả mọi đau khổ, hoan lạc tự khát khao ước muốn chính mình, hoan lạc tự ngoạm cắn chính mình, ý chí ước muốn chiếc vòng hồi quy sôi sục trong hoan lạc,
- hoan lạc khát khao tình yêu, hoan lạc khát khao thù hận, hoan lạc nằm trong sự phong phú, hoan lạc ban cho, hoan lạc vứt bỏ xa mình, hoan lạc van xin để có người đón nhận, hoan lạc cảm tạ kẻ nào đã cướp lấy nó. Hoan lạc thích được thù ghét,
- hoan lạc giàu có đến nỗi nó khát khao đau khổ, hỏa ngục, thù hận, hổ thẹn, tàn tật, khát khao thế giới, - bởi vì thế giới, ồ! Các ngươi biết điều ấy rồi!
Hỡi những người thượng đẳng, chính các ngươi là đối tượng khao khát của hoan lạc, kẻ phóng túng sa đà, người diễm phúc, - hoan lạc theo đuổi nỗi đau khổ của các ngươi, hỡi những người bị sa hỏng! Tất cả mọi hoan lạc thiên thu đều theo đuổi những sự việc bị sa hỏng.
Bởi vì mọi hoan lạc đều khát khao ước muốn chính mình, chính vì thế hoan lạc khát khao sự thống khổ! Hỡi hạnh phúc! Hỡi khổ đau! Ồ, trái tim, hãy vỡ tan ra từng mảnh! Vậy thì, hỡi những con người thượng đẳng, hãy học biết điều này: hoan lạc khát khao ước muốn thiên thu vĩnh cửu.
- hoan lạc khát khao ước muốn thiên thu của vạn sự, khát khao thiên thu thăm thẳm, tuyệt mù!


12


Giờ đây, các ngươi đã học được khúc hát của ta chưa? Các ngươi đã đoán được khúc hát ấy muốn nói gì chưa? Nào! Hỡi những con người thượng đẳng, hãy hát lên khúc hát của ta, hãy lần lượt hát lên!
Giờ đây, chính các ngươi hãy hát ca lên điệu hát có tên là “xin một lần nữa”, khúc hát có nghĩa là: “trong vĩnh cửu ngàn đời”! Hãy cất tiếng hát lên, hỡi những con người thượng đẳng, hãy lần lượt cất tiếng hát lên điệu hát của Zarathustra!
 
Ới con người, hãy cẩn trọng!
Nửa đêm sâu thẳm nói gì?
“Ta đã ngủ. Ta đã ngủ.
“Và ta đã thức dậy từ một giấc ngủ say.
“Trần gian thì sâu thẳm,
“Sâu thẳm hơn là ánh ngày từng nghĩ đến.
“Nỗi đau khổ của trần gian thì sâu thẳm,
“Hoan lạc sâu thẳm hơn đau khổ.
“Đau khổ lên tiếng: hãy trôi qua và tàn tạ!
“Nhưng mọi hoan lạc đều khao khát thiên thu,
“- Khát khao thiên thu thăm thẳm!
0
DẤU HIỆU



Vào buổi sáng tinh mơ, tiếp theo đêm đó, Zarathustra nhảy ra khỏi thảo sàng, buộc lại thắt lưng và bước ra ngoài hang đá, nồng nàn, mạnh mẽ như một mặt trời ban mai ló dạng khỏi những ngọn núi sẫm đen màu u tối.
Zarathustra lên tiếng như ngày xưa hắn đã từng lên tiếng:
“Hỡi thiên thể vĩ đại kia ơi, tất cả hạnh phúc của mi sẽ ra sao nếu không có những người mà mi soi chiếu!
Và nếu họ vẫn cứ nằm trong hang, trong khi mi đã thức dậy và đi đến để ban phát rải tung, thì nỗi e lệ đầy kiêu hãnh của mi sẽ phẫn nộ biết chừng nào!
Ồ, họ hãy còn yên ngủ, những con người thượng đẳng đó, trong khi ta đã thức tỉnh: họ chẳng phải là những bạn đồng hành thực sự của ta! Họ chẳng phải là những người mà ta chờ đợi ở đây, trên miền núi cao chất ngất.
Ta muốn khởi đầu công trình của ta, ta muốn bắt đầu ngày của ta, nhưng họ lại không hiểu đâu là những dấu hiệu của buổi sáng của ta, đối với họ, tiếng động bước chân ta chẳng phải là một dấu hiệu báo thức.
Họ hãy còn yên ngủ trong hang đá của ta, giấc mộng họ hãy còn cuốn chặt lấy những khúc hát cuồng say của ta. Lỗ tai lắng nghe ta, - lỗ tai vâng mệnh: đó là cái mà thân thể họ đang còn thiếu”.
Zarathustra tự nhủ lòng như thế trong lúc mặt trời ló dạng; lúc bấy giờ, Zarathustra đưa mắt dò hỏi nhìn lên những đỉnh cao, vì hắn nghe trên đầu mình tiếng kêu sắc lạnh của con ó thân yêu. “Ồ! Con ó của ta đang kêu trên đỉnh cao kia, chính đấy là điều làm ta hài lòng và hợp ý. Những con thú của ta đã thức giấc, vì ta đã thức giấc.
Con ó của ta đã thức giấc, và cũng như ta, nó đang ca ngợi mặt trời. Với những móng vuốt sắc ngời, con ó đang quặp chặt lấy làn ánh sáng trinh tân. Các ngươi là những con thú đích thực của ta, ta thương yêu các ngươi.
Nhưng ta hãy còn thiếu những con người đích thực của ta.”
Zarathustra đã nói như thế, song lúc bấy giờ đột nhiên Zarathustra thấy mình bị vây phủ chung quanh như bởi hằng hà sa số con chim đang bay lượn, bị vây phủ trong tiếng xào xạc dịu nhẹ của muôn vàn đôi cánh, và sự hợp bầy chung quanh đầu hắn lớn lao đến nỗi Zarathustra phải nhắm mắt lại. Và thực ra, đấy giống như một đám mây tên bắn tung về phía một kẻ thù mới. Nhưng, ô kìa, đấy là một đám mây yêu thương phủ xuống một người bạn mới!
“Chuyện gì đang xảy đến cho ta?” Zarathustra kinh ngạc tự hỏi, và hắn chậm rãi ngồi xuống tảng đá lớn nằm trấn trước cửa hang. Nhưng khi quờ tay chung quanh hắn, xua trên đuổi dưới để ngăn bớt sự trìu mến của bầy chim, thời Zarathustra lại gặp một chuyện dị kỳ hơn nữa: bất thần tay hắn thọc sâu vào một mớ lông rậm dày ấm nóng; đồng thời trước mặt hắn vang dội một tiếng gầm, - tiếng gầm kéo dài và êm dịu của một con sư tử.
Dấu hiệu đã hiển hiện rồi!” Zarathustra bảo, và lòng hắn vụt biến đổi. Thực vậy, khi nhìn rõ trước mặt mình, hắn nhận ra một con vật khổng lồ màu vàng rực đang nằm dưới chân, tựa đầu lên đầu gối hắn, như chẳng muốn xa rời hắn trong tình thương yêu trìu mến của nó, giống như một con chó đã tìm gặp lại chủ mình. Trong khi ấy, những con bồ câu cũng không kém xôn xao sốt sắng hơn con sư tử trong tình yêu của mình, và mỗi lần có một con bồ câu bay chạm phớt qua mũi sư tử, con sư tử lại lắc đầu kinh ngạc, và há miệng cười ngây ngô.
Khi nhìn thấy tất cả những cảnh tượng đó, Zarathustra chỉ thốt được một câu: “Các đứa con của ta đang tiến đến gần, các đứa con của ta!” - rồi Zarathustra trở nên câm lặng hoàn toàn. Nhưng lòng hắn được vơi dịu bớt và từ đôi mắt hắn, những giọt lệ ứa ra rơi xuống bàn tay. Zarathustra không để tâm đến bất cứ chuyện gì, hắn cứ ngồi đấy, bất động, không đưa tay ra ngăn cản những con vật. Lúc bấy giờ, những con bồ câu lượn qua lượn lại, đậu trên vai Zarathustra, vuốt ve mái tóc bạc phơ của hắn; và chúng chẳng hề mỏi mệt trong sự trìu mến cũng như bộc lộ tâm tình. Trong khi đó, con mãnh sư không ngớt le lưỡi liếm những giọt lệ rớt xuống trên hai bàn tay của Zarathustra, vừa liếm, nó vừa gầm gừ trách móc một cách rụt rè. Đấy là những gì mà các con vật đã làm.
Tất cả những việc đó kéo dài rất lâu hay rất mau, chẳng ai biết được: bởi vì, đối với những sự việc như thế, trên mặt đất này chẳng có thời gian để đo đếm. - Song trong lúc đó, những con người thượng đẳng đã thức giấc trong hang đá của Zarathustra, họ cùng sửa soạn kéo nhau đi thành đoàn đến trước mặt Zarathustra để ngỏ lời chào mừng ban mai, bởi vì khi thức giấc, họ không thấy Zarathustra ở trong hang cùng bọn họ. Nhưng khi họ đã ra đến cửa hang và âm thanh những bước chân của họ vang ra báo trước, thì con sư tử giật mình rồi đột nhiên nó bỏ Zarathustra ngồi đấy để nhảy phóng về phía hang, miệng rống lên những tiếng gầm giận dữ; lúc bấy giờ, nghe tiếng sư tử rống, những con người thượng đẳng buột mồm kêu lên một tiếng kinh hãi rồi bỏ chạy tháo lui; trong chớp mắt, họ biến mất dạng.
Về phần Zarathustra, chính hắn cũng bị choáng tai và phóng tâm lơ đãng, hắn đứng dậy khỏi tảng đá, đưa mắt nhìn xung quanh, rồi vẫn đứng đó, kinh ngạc, hắn tự vấn lòng mình, suy tưởng và cô đơn. Sau cùng, Zarathustra chậm rãi bảo: “Ta đã nghe thấy gì? Chuyện gì vừa xảy đến cho ta?”
Và hồi niệm đã trở lại cùng Zarathustra và trong chớp mắt hắn đã hiểu rõ tất cả những gì đã xảy ra giữa ngày hôm qua và ngày hôm nay. Zarathustra vừa đưa tay vuốt chòm râu bạc vừa bảo: “Đây là tảng đá, đây là chỗ mà sáng hôm qua ta đã ngồi; và đấy chính là chỗ viên Bốc sư đã tiến đến gần ta, đấy là chỗ ta đã nghe lần đầu tiên tiếng kêu mà ta vừa mới nghe lúc nãy đây, tiếng kêu to thống khổ.
Hỡi những con người thượng đẳng! Chính nỗi thống khổ của các ngươi là điều mà viên Bốc sư đã báo trước cho ta biết vào buổi sáng hôm qua,
- chính nỗi thống khổ đó là điều mà viên Bốc sư đã muốn kéo lôi ta đến để cám dỗ thử thách ta; lão ta đã bảo: hỡi Zarathustra, tôi đến để đưa ngài tới tội lỗi cuối cùng của ngài đây.
Tới tội lỗi cuối cùng của ta? Zarathustra buột miệng kêu lên, và hắn cười ồ giận dữ về chính lời nói mình. - Cái gì đã được dành cho ta như là tội lỗi cuối cùng của ta?”
Một lần nữa, Zarathustra lại chìm đắm miên man trong chính mình, và lại ngồi xuống trên tảng đá lớn để trầm tư. Đột nhiên, hắn đứng bật dậy:
Lòng xót thương! Lòng xót thương bác ái đối với con người thượng đẳng!” Zarathustra bật kêu lên, và khuôn mặt hắn trở thành trơ trơ vô cảm. Ồ, điều đó đã qua rồi!
Nỗi đam mê và lòng xót thương bác ái của ta, nào có quan hệ gì? Ta đã tìm kiếm hạnh phúc chăng? Không, ta đang tìm kiếm công trình của ta!
Ồ! Con sư tử đã đến, những đứa con của ta đang đến gần, Zarathustra đã chín muồi, giờ của ta đã đến:
Kia là Bình Minh của ta, ngày của ta đang khởi sự; hãy thức giấc, thức giấc, hỡi Ngọ Thiên vĩ đại!”
 
Zarathustra đã nói như thế, rồi hắn rời khỏi hang đá, nồng nàn và mạnh mẽ như mặt trời buổi ban mai ló ra từ những ngọn núi đen sẫm u buồn.
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2009-07-29 06:40:02Sun Ming>
PHỤ LỤC
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
NIETZSCHE: NĂM TẢN VĂN VỀ ZARATHUSTRA

I

Mùa Hạ 1883.
Hỡi đấng quân vương, nhà ngươi đã bảo: cái hình ảnh bước đi đằng trước đám đông dân chúng, cái hình ảnh biến tất cả bọn họ thành những kẻ chế tạo hình ảnh, hình ảnh đó phải phụng sự cho quần chúng của nhà vua.
Thời đại này không còn phải của những ông vua nữa: đám đông dân chúng chẳng còn xứng đáng nữa để có những ông vua.
Hãy hủy hoại, hỡi đấng quân vương, nhà ngươi phải hủy hoại tất cả những con người nào mà trước họ chẳng phiêu bồng bay lượn một hình ảnh nào: họ là những kẻ thù tồi tệ nhất của toàn thể nhân loại!
Và giả sử ngay các ông vua cũng là như thế thì, hỡi đấng quân vương, nhà ngươi hãy hủy hoại họ nếu nhà ngươi có được quyền lực đó.
Những viên chánh án và biện lý của luật pháp đã thỏa thuận với nhau để hủy diệt một kẻ gây hại. Họ hỏi xem ý ta có muốn cho luật pháp được tự do hành xử, hay muốn cho ân huệ lấn lướt Luật pháp.
Đối với một đấng quân vương thì điều gì là khó lựa chọn nhất. Ân huệ hay Luật pháp?
“Luật pháp”, ông vua trả lời, vì ông ta là một người có tâm hồn độ lượng.
“Vậy thì ngươi hãy chọn luật pháp và dành ân huệ lại cho những kẻ hung bạo để bọn chúng tự vượt bỏ được chính mình.”
“Ta đã nhận ra Zarathustra rồi, ông vua mỉm cười bảo. Còn ai khác hơn Zarathustra mà lại biết lăng nhục một cách kiêu hãnh dường kia! Nhưng điều mà nhà ngươi gặt hái được, là một án tử hình”,
- rồi ông vua chậm rãi thấp giọng đọc, làm như chỉ có mình ông ta đang cô độc với chính mình: “Bị kết án tử hình, Zarathustra, kẻ quyến dụ quần chúng.”
“Hãy giết chết đám đông quần chúng nếu nhà ngươi có được quyền lực đó”, Zarathustra lại thét lên lần nữa với vẻ kinh hoàng, tia nhìn của hắn xuyên thấu những tư tưởng của ông vua.
Và ông vua, dáng điệu trầm ngâm, bước lui vài bước đến tận bên khung cửa sổ; ông ta chẳng thốt ra lời nào, cũng chẳng đưa mắt nhìn Zarathustra. Sau cùng, ông ta quay mặt về phía cửa sổ.
Nhưng khi nhìn qua cửa sổ, ông vua thấy một cái gì đó làm cho mặt mày ông ta biến sắc hẳn. “Zarathustra, ông vua bảo với vẻ lễ phép của một đấng quân vương, xin ngài hãy tha thứ cho ta vì ta đã không trả lời ngài ngay. Ngài đã ban cho ta một lời khuyên: và, quả vậy, ta sẽ sẵn lòng nghe theo! Song lời khuyên đó đến quá chậm rồi!”
Nói xong, ông vua xé toạc tấm giấy da cừu vứt xuống đất. Hai người lặng lẽ chia tay.
Điều mà ông vua đã nhìn thấy từ khung cửa sổ, là đám đông dân chúng: đám đông dân chúng đang chờ đợi Zarathustra.

II

Mùa Hạ 1883.
Hỡi ôi! Cái gì đã làm ta trở thành cô đơn và hung bạo, giống như con gấu trong những hang động ở những xứ miền hoang dại?
Hỡi ôi! Ai đã lưu đày ta giữa những đá tảng và những cơn bão tố chẳng yêu thương trìu mến?
- Về tình yêu của chúng ta? Hỡi ôi! Giờ đây ta lại tìm gặp tri thức tàn bạo nọ - vậy, ai là kẻ đã xua đuổi ta vào trong sa mạc và làm ta thành hoang dại dã man?
Hoài công! Vô ích! Chính các ngươi đã xua đẩy ra ngoài kẻ hoang dại dã man: chẳng phải khát vọng bằng hữu của các ngươi đã biến ta thành một con gấu của hang động hoang liêu?
Hỡi ôi! Và ta lại bị thay đổi khác đi vì sự hiện diện của chúng, kể từ khi ta tự gọi mình là kẻ bị lưu đày: và cơn cuồng dại điên rồ của tình yêu đó làm ta càng trở thành xa lạ, khiếp đảm hơn.
Ta muốn đổ ào tất cả sự hung tợn của hồn ta trên tất cả những bạn hữu: có lẽ như thế ta sẽ quyến dụ những thù địch của ta về với điều đang hướng dẫn chỉ đạo cho ta.
Một lần nữa, ta lại cô đơn và bị đày ải. Ta bị đày ải do những người bạn của ta vào trong nỗi cô đơn, và do những người yêu thương trìu mến ta. Vì vậy, ta muốn ngỏ lời với các kẻ thù của ta.
Ta muốn lên tiếng với những kẻ nào thù hận ta: có lẽ ta sẽ quyến dụ họ một cách hiệu quả hơn là khi quyến dụ những bạn hữu.
Vì vậy, giờ đây ta đang nôn nóng khát khao những thù địch của mình cũng như xưa kia ta đã từng khát khao mọi chân lý.
Lúc bấy giờ, ta đã gọi chân lý là tất cả những gì làm ta khốn khổ, tất cả những gì làm ta điêu đứng nhất.

III

Mùa Hạ 1883.
“Hỡi Zarathustra, làm thế nào ngài đã đạt đến trí huệ hiền minh?” - các ngươi lên tiếng hỏi như thế để học hỏi nghệ thuật đạt đến trí huệ hiền minh.
Điều trước tiên, là ta chẳng hề bao giờ hỏi bất cứ ai làm thế nào người ta leo lên đến trí huệ hiền minh. Ta đã không tìm ra kẻ có những lỗ tai xứng hợp cho lời lẽ của miệng ta.
Điều gì khó khăn nhất đối với ta thì ta đã học làm nó trong bí mật: ai là kẻ đã nhìn thấy ta cô thân độc ảnh xuống tàu trên những đại hải kinh hoàng và mới mẻ?
Và khi ta đã quay lưng lại với mọi thần tượng thân yêu, ai là kẻ đã nhìn thấy ta cất bước bỏ đi? Chẳng ai nhìn thấy ta đã bỏ đi vào trong lò than hồng của sa mạc.
Bằng vô số con đường và vô số lề lối, ta đã học leo lên cao, và ta còn cảm tạ ngọn gió rã băng: bởi vì ngọn gió ấy làm dòng sông ta dâng trào lên và làm vỡ vụn băng giá.
Với những cục nước đá, ta đã thường leo lên và chộp lấy miền đất đã được hứa cho ta: tất cả mọi người không phải ai cũng đều có thể chinh phục theo lối đó.
Bởi vì ta là một kẻ chinh phục trên nẻo đường đi về của chân lý ta: tay ta vạch đậm tên Zarathustra ở khắp nơi nào ta đặt chân đến.

IV

1884-1885
“Chúng ta đã kêu la cầu cứu một hạnh phúc: nhờ hạnh phúc ấy chúng ta đã leo lên được đến dưới tầm mắt nhìn của ngài! Giờ đây, nói làm sao xiết lòng biết ơn vô ngần của chúng ta đối với tất cả sự kinh tởm chán ngán, đối với bầu không khí hư hỏng lụn bại nọ, nhờ đó chúng ta đã học nêu lên câu hỏi và kiếm tìm mãi mãi và leo lên cao,
- học nêu lên câu hỏi đúng chỗ, đúng chiều cao: “Zarathustra còn sống chăng? Làm thế nào mà Zarathustra hãy còn sống được?”
Đối với kẻ nào biết truy vấn tài tình thì câu trả lời đã hiển lộ ra một nửa. Và sự thật là cả trọn vẹn một câu trả lời, một câu trả lời tốt đẹp hiện đang ở trước mắt chúng ta: Zarathustra hãy còn sống và sống hơn bao giờ hết...
Zarathustra kẻ khiêu vũ, Zarathustra kẻ bay bổng trong không gian, chớp cánh làm hiệu, sẵn sàng cất cánh vút lên, làm hiệu với mọi loài chim, sẵn sàng và sẵn có, nhẹ nhàng và sắp sẵn một cách linh thánh.
- Zarathustra kẻ tươi cười hoan hỉ, Zarathustra kẻ trầm mặc lạnh lùng, không nôn nóng cũng chẳng hẹp hòi bụng dạ, nhưng là kẻ yêu thích những cơn phóng mình nhảy vọt xòe chân múa nhảy;
- kẻ mang vương miện của nụ cười, một vương miện kết thành những đóa hồng rực rỡ. Hỡi Zarathustra, chính bàn tay ngài đã choàng vương miện lên đầu ngài như thế đó, ngày hôm nay sẽ chẳng có kẻ nào khác đủ mạnh như thế.
Và ngay cả khi ngài đã nhìn thấy những sự việc tồi tệ và đen tối hơn bất cứ máy nghiền màu đen nào, ngay cả khi chẳng có bậc thánh nào đã từng băng qua những địa ngục của ngài,
- ngay cả khi ngài tự quấn mình trong những đêm tối mới và lao mình xuống những hố thẳm mới, giống như một làn sương mù âm u lạnh giá; thì bao giờ rốt cuộc lại ngài cũng vẫn trải rộng trên đầu ngài mái lều muôn sắc.
- ngài đã trải rộng tiếng cười giòn giã của ngài bên trên đêm tối, bên trên hỏa ngục, bên trên sương mù của những hố thẳm; và nơi nào dựng đứng lên cái cây vĩ đại kiên cường của ngài, nơi đó bầu trời chẳng thể nào âm u lâu mãi được.”
Đến đây thì Zarathustra cắt ngang lời thuyết giáo của ông vua, hắn đặt ngón tay lên miệng ông vua và bảo: “Ồ, những ông vua này!
Họ thỏa thuận với nhau để tôn vinh và tuyên đọc những lời lẽ long trọng: bọn họ đã quen với chuyện đó rồi! Nhưng mà, lỗ tai ta sẽ ra sao?
Lỗ tai ta thu nhỏ lại và càng lúc càng nhỏ bé lại, các ngươi không nhìn thấy sao?
Tai ta co quắp lại trước những lời lẽ long trọng ồn ào nọ.
Và thực vậy, hỡi các ông vua, với những lời ca ngợi kiểu đó, các ngươi có thể lật nhào một kẻ mạnh nhất; không nên nốc cạn, vì để tôn vinh bất luận người nào, một chén rượu tràn như thế.”

V

1884-1885
Zarathustra nhìn viên Bốc sư tiên tri khiêu vũ và đưa tay trỏ vào mặt lão. Nhưng liền ngay sau đó, Zarathustra đột ngột trốn thoát khỏi đám đông những người cảm tạ và thương yêu trìu mến hắn; hắn leo lên một núi đá đứng dựng; dọc đường lên núi, hắn bứt vài đóa hồng và chồi hồng. Từ trên đỉnh cao của núi đá, tay cầm hoa hồng, buổi chiều hôm ấy Zarathustra lên tiếng thuyết giáo lần cuối cùng: đưa mắt nhìn đám người tuyệt vọng nọ nay không còn tuyệt vọng nữa, đám người chết trôi nay đã đứng vững an lành trên đất liền, Zarathustra cười vui hoan hỉ, hắn bện những hoa hồng đã bứt được thành một vòng hoa và đọc bài thuyết giáo mà thiên hạ gọi là “Bài Thuyết giáo hoa Hồng”.
“Bước ra, bây giờ mi hãy bước ra đi, hỡi tên quỷ lùn được thả lỏng. Mi nói về ai thế? Hãy cất cánh bay lên, hỡi ngọn cuồng phong của bão tố - giống như một tiếng thét và một niềm hoan lạc. Mi hãy chớp cánh bay vút lên trên những đại hải bao la cho đến khi mi tìm thấy Quần đảo Vĩnh Phúc!
Mi hãy ngỏ lời chào mừng các con ta trên đảo, mi hãy mang đến cho chúng lời chào mừng của một kẻ sống cạnh mặt trời, láng giềng với tuyết lạnh, thân cận với con ó, hãy mang đến cho chúng tình yêu của phụ thân chúng thay cho lời chào mừng.
Hỡi các con ta, hỡi những đứa con tốt lành của ta, hỡi chủng loại mới mẻ và tươi đẹp của ta: các con ta đang chờ đợi gì trên châu đảo của chúng?
Há chẳng phải đã đến lúc, đã quá đúng lúc để sau cùng chúng đi đến với phụ thân chúng? - Hỡi ngọn cuồng phong mang bão tố của ta ơi, mi hãy thổi qua bên tai chúng câu hỏi đó. Ta há chẳng đang chờ đợi các con của ta giống như một người mái tóc đã trở nên bạc xám?
Hãy vút ra ngoài, ra ngoài, hỡi tinh thần được tháo tung xiềng xích của những cơn bão ta! Từ đỉnh cao những hang động trên núi lớn, mi hãy phóng mình vào biển cả, mi hãy vội vàng lên và chúc phúc cho các con ta trước khi đêm tối đến,
- chúc phúc cho các con ta bằng hạnh phúc của ta, hạnh phúc của vòng hoa hồng thắm này! Mi hãy tung ném hoa hồng lên trên châu đảo của chúng như một dấu hỏi cất lên tiếng hỏi: “Từ nơi chốn nào đã đến một hạnh phúc tuyệt vời dường kia?”
Mãi cho đến khi chúng học biết nêu ra câu hỏi: “Cha chúng ta hãy còn sống à? Làm thế nào cha chúng ta, Zarathustra, hãy còn sống được? Người cha già Zarathustra có còn yêu thương các con của mình chứ?”
Hãy lôi kéo các con ta về với ta bằng hạnh phúc tuyệt vời phiêu diêu nhất của ta! Hãy quyến rũ chúng đến với lòng hoài vọng chân thành và nóng sốt của người cha đang nung nấu trong ta! Ngươi hãy rót lên chúng, từng giọt từng giọt một, mật ngọt tình yêu ngan ngát từ trái tim từ ái của một người cha!
Gió thổi mạnh, gió thổi mạnh, mặt trăng vằng vặc soi chiếu, ồ hỡi những đứa con xa xôi yêu dấu của ta, sao các ngươi lại không đến bên cạnh phụ thân các ngươi? Gió thổi mạnh, chẳng còn đám mây nào che ám bầu trời, thế giới đang yên ngủ. Ồ, hạnh phúc, hạnh phúc ơi!”
 
Nhưng khi vừa thốt ra những lời lẽ trên, Zarathustra rùng mình ớn lạnh tận gốc rễ quả tim: bởi vì khi nhìn xuống dưới chân, hắn thấy rằng mình hoàn toàn cô thân độc ảnh. Hắn đã quên những người khách, - đám khách của hắn có lẽ cũng đã quên lãng hắn rồi chăng? “Các ngươi ở đâu? Các ngươi đang ở đâu?” Zarathustra bật kêu lên trong đêm tối: nhưng đêm tối câm lặng không lời.
“Các ngươi ở đâu? Các ngươi ở đâu rồi, hỡi các con thú của ta?” Zarathustra lại kêu to lên lần nữa, mắt nhìn vọng về đêm tối. Nhưng cả đến hai con thú của Zarathustra cũng nín lặng không lời.
0
Chú thích của người dịch


“Zarathustra đã nói như thế” của Nietzsche là một tác phẩm nổi tiếng khó dịch, vì những ẩn ý, những biểu tượng, những hình ảnh hết sức cụ thể để chỉ những chân lý trừu tượng, vì những lối chơi chữ mang hai, ba nghĩa khác biệt nhau, vì tư tưởng triết học được diễn tả hết sức cô đọng và nhẹ nhàng mây khói như thi ca, vì những lối ghép chữ mới lạ tân kỳ của Nietzsche. Nietzsche không muốn làm bạn đường với những độc giả vội vàng, và bởi đó, nông cạn hời hợt.
Vì thế, trong khi biên dịch, ngoài nguyên bản Đức ngữ Also sprach Zarathustra trong bộ Friedrich Nietzsche, Werke in drei Bãnden, cuốn II, do Karl Schlecta san nhuận (Carl Hanser Verlag, Mũnchen, 1960), chúng tôi còn sử dụng kinh nghiệm dịch thuật Zarathustra trong các bản dịch Anh ngữ và Pháp ngữ hiện hành:
1) Thus Spoke Zarathustra, bản dịch của Walter Kaufmann, trong The Portable Nietzsche; bản in lần thứ 21 (1967) của n.x.b The Viking Press - New York, từ những trang 103-439.
2) Thus Spoke Zarathustra, bản dịch với lời giới thiệu của R. J. Hollingdale; bản in lần thứ 4 (1967) của n.x.b Penguin Books.
3) Thus Spoke Zarathustra, bản dịch của Marianne Cowan, bản in lần thứ 5 (1968) của n.x.b Henry Regnery Company: Chicago.
4) Ainsi parlait Zarathustra, bản dịch với lời tựa của Genevière Bianquis, trong tùng thư song ngữ Đức-Pháp, n.x.b Aubier.
5) Ainsi parlait Zarathustra, bản dịch của Henry Albert, n.x.b Mercure de France (1967).
6) Ainsi parlait Zarathustra, bản dịch của Maurice Betz, tựa của Henri Thomas, n.x.b Gallimard (1965).
Nói chung, có thể nhận định về các bản dịch ấy trên hai phương diện: văn từ, tức là phương tiện chuyên chở của ngôn ngữ dịch và nội dung ẩn mật mà phương tiện ấy đưa dẫn đến.
Về mặt văn từ, các bản dịch Pháp thường để lộ nhiều sơ hốt so với các bản Anh ngữ. Chẳng hạn, nơi trang 312-313, bản dịch của Bianquis, ta thấy câu “so tief der Mensch in das Leben sieht, so tief sieht er auch in das Leiden” được chuyển thành “quand l’homme plonge son regard dans la vie, c’est dans la pitié qu’il le plonge” (khi con người nhìn sâu vào đời sống thì con người càng nhìn sâu vào lòng thương xót), trong khi thực ra câu đó có nghĩa “càng nhìn sâu vào đời sống, con người càng nhìn sâu thẳm vào trong thống khổ”. Lý do chắc là vì Bianquis đọc lầm chữ Leiden (sự đau khổ, thống khổ) trong nguyên bản thành chữ Mitleiden là “lòng thương xót”. Bản của Betz (trang 182): “l’homme voit au fond de la souffrance aussi profondément qu’au fond de la vie” cũng không lột tả được nguyên ý, trừ bản của Albert (trang 146): “l’homme voit au fond de la souffrance, aussi profondément qu’il voit au fond de la vie”.
Một thí dụ nữa, trong bài Sầu ca, câu nguyên văn tiếng Đức là: “er selber dũnkt mich õfter gleich einer schõnen Heiligen-Larve” đã được Albert (trang 274) lẫn Betz (trang  339) dịch là: “il me semble le plus souvent semblable à une belle larve de saint” (và thường khi ta thấy hắn có vẻ giống với một con sâu xinh đẹp của bậc thánh nhân) thay vì phải dịch là “... à un beau masque de saint” (giống như chiếc mặt nạ xinh đẹp của bậc thánh nhân) để chuyển xuống đoạn dưới (xin đọc lại trang 606 bản Việt ngữ), dẫu rằng trong Đức ngữ, chữ Larve mang cùng lúc hai ý nghĩa “mặt nạ” và “con sâu”.
Thêm vào đó là một số những lỗi kỹ thuật không được đính chính, nên có thể làm sai lạc tinh thần nguyên tác. Chẳng hạn “âme” in lộn thành “âne”, “esprit de lourdeur” in thành “esprit de douleur”, vân vân.
So sánh những cách dịch và những khuyết điểm trong từng bản dịch sẽ là một công việc kéo dài, vượt quá khuôn khổ bài Chú thích này, vì nhân đó, chúng tôi cũng phải đưa ra quan điểm dịch thuật của riêng mình. Nếu nhớ rằng đa số trong sáu dịch giả dẫn thượng đều là những dịch giả tài ba chuyên môn về Nietzsche, thì ta sẽ dễ dàng thông qua vấn đề văn từ để bước thẳng tới vấn đề thứ hai có tính cách căn để hơn mà ta đã nêu ra: văn từ sử dụng đưa dẫn tới nội dung tư tưởng nào?
Đối diện với câu hỏi này, ta sẽ lập tức thấy rằng tất cả mọi bản dịch đều là bất toàn, bao lâu còn chưa trả lời được câu hỏi căn bản “Zarathustra là ai?”
Đặt vào một bầu khí triết học mới, ngôn ngữ dịch Zarathustra liền thay đổi bình diện và người ta hầu như bắt buộc phải dịch trở lại Zarathustra một lần nữa. Chẳng hạn, đặt vào trong kiến giải của Heidegger về Nietzsche, thì một chữ đơn giản là Der Genesende (Kẻ bình phục, trang 441 bản Việt ngữ) cũng đã đặt thành bao nhiêu vấn đề. Nếu dịch theo nghĩa thông thường như các bản Anh và Pháp là “The Convalescent” hay “Le Convalescent”, thì ta đã vô tình đánh rơi mất ý nghĩa triết học của Zarathustra dưới khía cạnh là một “kẻ bình phục”. Theo sự phân tích của Heidegger, der Genesende, cùng ngữ tộc với động từ genesen, do ngữ căn Hy Lạp neomai, nostos, mà ý nghĩa là “quay trở về nơi cư trú”. Vậy, der Genesende, là kẻ đang lên đường bình an quay trở lại quê hương, quy hồi về với vận mệnh và tinh thể của mình. Đó là ý nghĩa Nietzsche muốn nêu lên khi gọi Zarathustra là der Genesende. Bản Việt ngữ có thể dùng chữ “kẻ bình phục” hay “kẻ hồi phục”, trong ý nghĩa thông thường là “kẻ vừa qua cơn bệnh nặng” và ý nghĩa triết học là “kẻ đang phục hồi hay quy hồi về với tinh thể của mình”. Ở đây, Việt ngữ đã có cơ hội may mắn song hành với Đức ngữ mật thiết, hơn là các ngôn ngữ khác, để khai mở những ẩn ngữ còn được che giấu trong Zarathustra.
Nhưng còn những lần nào, Việt ngữ lại che khuất thêm những ẩn ngữ ấy đi?
Đó có lẽ là lý do tại sao mãi đến bây giờ, mặc dầu đã có hàng chục bản dịch Zarathustra, tác phẩm này vẫn được dịch đi dịch lại mãi, như một cám dỗ và thách thức luôn luôn mới mẻ: “Tác phẩm dành cho tất cả và không dành cho một ai”.
 
Nhằm giới hạn bớt chiều dài và tính cách khúc mắc của tác phẩm, phần Chú thích sau đây hoàn toàn dựa theo R. J. Hollingdale trong bản dịch đã dẫn. Người dịch nhân đây cũng xin ngỏ lời cảm tạ Giáo sư Ngô Trọng Anh đã cho phép sử dụng bản dịch bài thơ Sầu Ca (trang 607-611) đã đăng trên tạp chí Tư Tưởng, Viện Đại học Vạn Hạnh, như một đóng góp đầy thơ mộng cho ngày sinh nhật sắp đến của Nietzsche.
0
MỤC LỤC
 
Giới thiệu
Những bài thuyết giáo của Zarathustra
Về ba cuộc hóa thân
Về những giảng tòa về đức hạnh
Về những người nuôi ảo tưởng thế giới bên kia
Về những kẻ khinh miệt thân xác
Về những hoan lạc và đam mê
Về người tội nhân mặt mét
Về đọc và viết
Về cái cây trên đỉnh núi
Về những kẻ rao giảng sự chết
Về chiến tranh và các chiến sĩ
Về thần tượng mới
Về những con ruồi ở công trường
Về sự trinh khiết
Về bằng hữu
Về một nghìn lẻ một mục đích
Về tình yêu kẻ láng giềng
Về những con đường của kẻ sáng tạo
Về những thiếu nữ và bà già
Về vết cắn của con rắn độc
Về con cái và hôn nhân
Về cái chết tự nguyện
Về đức hạnh ban phát
 
Phần thứ hai
Đứa bé với tấm gương
Trên những hòn đảo Vĩnh Phúc
Về những kẻ có lòng thương xót
Về các linh mục
Về những con người đức hạnh
Về đám tiện dân
Về những con nhện độc
Về những nhà hiền triết nổi danh
Dạ khúc
Vũ khúc
Mộ khúc
Về sự chiến thắng tự thân
Về những con người cao nhã
Về xứ sở văn minh
Về tri thức băng trinh
Về những nhà học giả
Về những thi sĩ
Về những biến cố vĩ đại
Viên bốc sư tiên tri
Về sự cứu chuộc
Về sự e dè cẩn trọng của loài người
Giờ phút im lặng nhất
 
 
Phần thứ ba
Kẻ lang thang phiêu bạt
Về ảo tượng và ẩn ngữ
Về niềm lạc phúc bất đắc dĩ
Trước buổi rạng đông
Về đức hạnh làm cho ti tiện nhỏ bé
Trên núi ôliu
Về sự tha thứ bỏ qua
Về những kẻ bội giáo
Trở lại quê hương
Về ba điều xấu ác
Về tinh thần trì độn nặng nề
Về những bảng giá trị cũ và mới
Kẻ bình phục
Về nỗi khát vọng mênh mông
Vũ khúc thứ nhì
Bảy ấn tích (hay là Khúc ca thuận mệnh)
 
Phần thứ tư
Lễ hiến mật
Tiếng kêu thống khổ
Đàm đạo với các ông vua
Con đỉa hút máu
Viên pháp sư
Miễn dịch
Kẻ xấu xí nhất loài người
Người ăn xin tự nguyện
Chiếc bóng
Ngọ thiên
Cuộc chào mừng
Bữa ăn cuối cùng
Về con người thượng đẳng
Sầu ca
Về khoa học
Giữa những nàng gái thơ sa mạc
Thức tỉnh
Lễ trọng dành cho con lừa
Khúc hát cuồng say
Dấu hiệu
 
Phụ lục
Nietzsche: năm tản văn về Zarathustra
I
II
III
IV
V
Chú thích của người dịch
 
 
0
Đã mang vào thư viện

Thành thật cảm ơn Sun Ming đã góp sức cho thư viện
0
«« « 1 2 3 » »»