Diễn Đàn » Tác giả người Việt

Lê Tràng Kiều, một đời hành động

0 trả lời, 882 lượt xem — Trang 1 / 1
Lê Tràng Kiều, một đời hành động

Anh Chi

Nhà văn Lê Tràng Kiều tên thật là Lê Tài Phúng. Ông sinh năm 1912 tại quê hương Nam Định và sống thời niên thiếu ở đó, theo học trường Thành Chung một vài năm. Năm ông mười sáu tuổi thì gia đình ông chuyển cư lên Hà Nội, ở tại làng Mọc Quan Nhân, một trong năm làng Mọc của Hà Nội xưa, nay thuộc phường Nhân Chính, quận Thanh Xuân. Đất kẻ Mọc cũng là quê hương của nhà văn Nguyễn Tuân, là quê ngoại của nhà văn Vũ Trọng Phụng. Vậy nên, ngay từ tuổi mới lớn, Lê Tràng Kiều đã kết bạn với Nguyễn Tuân và Vũ Trọng Phụng. Họ cùng trang lứa, cùng trở thành những nhà văn tiêu biểu của Việt Nam những năm 30 của thế kỷ XX. Khi mới lên sống ở Hà Nội, Lê Tràng Kiều theo học ở trường Thăng Long, và sớm tỏ rõ một tài năng văn chương, báo chí.

Từ năm 1930, 1931, Lê Tràng Kiều đã viết các bài báo về văn học, về văn hóa xã hội, đăng trên tờ Văn học tạp chí. Ông sớm bộc lộ thiên hướng làm phê bình văn học và làm báo, hòa nhập rất nhanh vào đời sống văn chương đương thời, có ảnh hưởng nhiều đến các nhà văn. Giao du rất nhiều với các nhà văn khi đó, nhưng Lê Tràng Kiều quan hệ thân thiết với một số nhà văn cùng chí hướng là Vũ Trọng Phụng, Lưu Trọng Lư, Nguyễn Tuân, Vũ Trọng Can, Hoài Thanh, Bùi Huy Phồn, Lan Khai, Ngọc Giao, Thâm Tâm, Quỳnh Dao cùng một số tác giả sân khấu như Vi Huyền Đắc, Chu Ngọc, Bùi Nguyên Cát... Từ năm 1935, 1936, Lê Tràng Kiều có những đóng góp rất đáng kể cho văn học nước ta. Nhất là từ khi ông làm chủ bút tờ Hà Nội báo, cùng các bạn thân thiết đã làm cho phần văn học của báo tạo nên một ấn tượng mạnh mẽ trong đời sống xã hội. Những tiểu thuyết như Giông tố, Vỡ đê của Vũ Trọng Phụng; những vở kịch thơ Anh Nga, Tần Ngọc của Phạm Huy Thông... đã được giới thiệu, đăng tải nhiều kỳ trên Hà Nội báo và được độc giả vô cùng tán thưởng. Một nhà thơ trẻ chưa đầy mười lăm tuổi là Nguyễn Xuân Sanh, cũng được Lê Tràng Kiều trân trọng giới thiệu trên Hà Nội báo tác phẩm đầu tay Trường ca lạc loài, in liền trên 13 kỳ báo. Vinh hạnh lớn này suốt đời khích lệ nhà thơ Nguyễn Xuân Sanh. Tình bạn văn chương của Lê Tràng Kiều và Vũ Trọng Phụng là một mối tình tri kỷ lớn. Khi Vũ Trọng Phụng đang được độc giả hâm mộ bởi một loạt phóng sự đặc sắc, Lê Tràng Kiều đã có bài viết biểu dương tài năng Vũ Trọng Phụng; đồng thời đã tâm huyết trao đổi với Vũ Trọng Phụng rằng: Ông Phụng hãy viết những truyện ngắn hay những truyện dài về xã hội, tôi dám chắc sự nghiệp văn chương của ông sẽ rực rỡ vô cùng... Vũ Trọng Phụng đã trân trọng lắng nghe lời khuyên của Lê Tràng Kiều, lập tức đổ tâm dồn sức vào truyện dài về xã hội, và năm 1936 đó, ông sáng tạo được ba tiểu thuyết xuất sắc, làm vinh dự cho văn học nước Việt, là Giông tố, Số đỏ và Vỡ đê. Cuốn tiểu thuyết đầu tiên, nhà văn đặt tên là Thị Mịch. Lê Tràng Kiều nhận đăng tải ngay trên Hà Nội báo. Nhưng lập tức nhà kiểm duyệt đã can thiệp, đòi cấm. Lê Tràng Kiều và Vũ Trọng Phụng, sau một thời gian ngắn, đã quyết định đổi tên tiểu thuyết thành Giông tố, và đã đăng tải hết trên Hà Nội báo mà giới chức kiểm duyệt không kịp hiểu đó cũng chỉ là truyện về Thị Mịch, Nghị Hách... Về sau, khi xuất bản Giông tố thành sách, Vũ Trọng Phụng đã in lời đề tặng Lê Tràng Kiều ở đầu sách rất trân trọng.

Đầu năm 1936, khi cuộc tranh luận về thơ mới, thơ cũ còn đang rất sôi động, thì Lê Tràng Kiều có bài viết khá quan trọng, in trên Hà Nội báo số 14. Bài Thơ mới khẳng định giá trị của phong trào Thơ mới và chúc mừng chiến thắng toàn vẹn của nó. Ông đã viết rằng: Ba năm qua... với thơ ca, văn học ta đã bước một bước dài. Một sự may mắn không ngờ! Chỉ trong vòng ba năm mà lần lượt đua nhau xuất hiện không biết bao nhiêu tác phẩm có giá trị mà trong cái dĩ vãng rất phẳng lặng mấy ngàn năm chỉ lơ thơ một vài cái... Và, ngay thời điểm đầu năm 1936 đó, Lê Tràng Kiều đã có sức nhìn nhận rất khái quát và thái độ rất chín chắn trước thơ ca dân tộc, không sa vào sự thái quá có mới, nới cũ: Từ bây giờ, lịch sử chỉ còn ghi giữ những áng thơ hay mà thôi, chứ không còn chia ra mới, cũ nữa!... Ngay sau đó, nhiều bài viết bảo vệ thơ cũ đã đả kích lại Hà Nội báo và bài Thơ mới. Trong đó, tiêu biểu nhất là bài viết bừng bừng nộ khí của ông Thái Phỉ, in trên báo Tin văn, nhằm đả kích Lê Tràng Kiều; và tờ Văn học tuần san ở Sài Gòn cũng đồng quan điểm với Tin văn, công kích Lê Tràng Kiều và Thơ mới. Cuộc bút chiến trở nên quyết liệt hơn, Lê Tràng Kiều lại công bố một bài viết của mình trên Hà Nội báo số 18 với sự khẳng định: Những bài thơ như “Tiếng thu”, “Bao la sầu”, “Một chiều thu”... không phải là di sản của một gia đình nào, của một phe phái nào, của một thời đại nào, nó đáng cho mọi người trong nước ngâm nga, đáng dịch ra tiếng nước ngoài cho người ta thấy rằng dân tộc ta không phải là không có người hiểu cái hay, cái đẹp ở đời... Và rồi, quy mô hơn, sâu sắc hơn, Lê Tràng Kiều cho đăng một loạt bài tiếp theo trên Hà Nội báo, lần lượt khẳng định giá trị thơ mới và những tài năng thơ Việt; khẳng định tính sâu sắc, tính đa dạng, tính phổ quát, tính cội nguồn và tính cách tân đều có trong các nhà thơ mới; và khẳng định thơ mới đã làm trẻ lại, làm sung sức tâm hồn dân tộc. Bài viết về thơ mới Thái Can trên Hà Nội báo số 20 đã chứng minh rằng thơ Thái Can mới mà rất gần với thơ cổ điển phương Đông. Ông viết: nếu trong các thi sĩ mới, có một thi sĩ gần với Nguyễn Khắc Hiếu, Chu Mạnh Trinh, Bà Huyện Thanh Quan hơn hết, thì là Thái Can. Đến bài về thơ Nguyễn Nhược Pháp trên Hà Nội báo số 21, Lê Tràng Kiều nêu bật phẩm chất thơ mới Nguyễn Nhược Pháp là sự bình dị, trong sáng, hồn nhiên. Ông đánh giá rằng, nhà thơ mới này đã dựng lại một thế giới: ngày xưa. Ông nhận định rằng, văn thơ nước ta đã già đi với đạo Khổng, nhưng với thơ mới ngày nay, nó đã bắt đầu trẻ lại. Trên Hà Nội báo số 22, Lê Tràng Kiều viết về thơ mới có ngay trong thơ Đông Hồ, khen Đông Hồ thoát xác từ một thi sĩ cũ trở thành một nhà thơ có khuynh hướng mới: Đông Hồ ngày trước là một ông cụ non lụ khụ... Nay thì Đông Hồ, với cái tuổi sắp đứng, còn biết yêu như yêu lần đầu tiên, nồng nàn, tha thiết. Song bài viết về thơ mới Nguyễn Vỹ, đang trên Hà Nội báo số 23, Lê Tràng Kiều khẳng định nhà thơ này quá mới, và cho rằng thơ mới ngoài hàm chứa cái hay cổ điển còn phải vô cùng mới về hình thức biểu hiện. Ông nhấn mạnh thành công của Nguyễn Vỹ qua bài Sương rơi, rằng: Đó là nhạc điệu thiên nhiên của những vật vô hình và hữu hình trong vũ trụ lúc đêm khuya, những vật ấy nối tiếp nhau mà tan vỡ thành giọt... “Từng giọt - Thánh thót - Từng giọt - Điêu tàn”... Và ông nói tới sự đóng góp của Nguyễn Vỹ cho thơ ca Việt Nam: Làm được một bài như “Sương rơi” cũng là nhiều lắm rồi. ở bài viết về Thế Lữ, đăng Hà Nội báo số 24, Lê Tràng Kiều chứng minh thơ mới đầy mộng ảo và rất đằm thắm, đã đạt tới cái hay kinh điển. Bài viết về thơ Vũ Đình Liên, Hà Nội báo số 26, Lê Tràng Kiều nhận định rằng, thơ mới Vũ Đình Liên đã làm sống lại dĩ vãng, sống lại những gì vô cùng thân yêu của quá khứ. Ông còn lưu tâm đến một phẩm chất của Vũ Đình Liên: Có thể nói, Vũ Đình Liên là một nhà thơ lao động, vì hơn nửa số tác phẩm của ông dành cho những anh em lao khổ... Và, tới Hà Nội báo số 30, Lê Tràng Kiều viết về Lưu Trọng Lư, người đầu tiên gieo hạt thơ mới vào đất Bắc. Ông so sánh Lưu Trọng Lư với Thế Lữ và Phạm Huy Thông, chỉ vài dòng mà thật đắc cách: Thế Lữ và Huy Thông thường ngẩng đầu lên nhìn trời, nhìn núi to sông rộng mà ca những bài ca hùng tráng... Lưu Trọng Lư thì cúi đầu xuống bước từng bước sợ sệt ngại ngùng như bao giờ cũng lo đạp phải những cái linh thiêng của trời đất rải xuống... Ông khẳng định phẩm chất tiêu biểu của thơ Lưu Trọng Lư là rất giàu nhạc điệu, và cũng khẳng định phẩm chất đó trong thơ mới Việt Nam... Tất cả sự đa dạng, phong phú, muôn màu muôn vẻ của các nhà thơ mới mà Lê Tràng Kiều trình bày trong loạt bài viết đăng trên Hà Nội báo đã có sức thuyết phục rất lớn trong đời sống văn học nước nhà những năm đó. Mãi đến 1942 các tác giả Thi nhân Việt Nam mới có đánh giá sự thắng lợi trọn vẹn của thơ mới Việt Nam. Nhưng, ngay từ 1936, với một loạt bài viết của mình, Lê Tràng Kiều đã thực sự khiến độc giả thấy được sự ưu việt tuyệt đối của thơ mới! Có thể nói, Thơ mới là một thành công rực rỡ của văn học dân tộc, và trong cuộc phấn đấu để khẳng định nó, khích lệ nó phát triển mạnh mẽ, có một vị trí rất vinh dự dành cho Lê Tràng Kiều.

Những năm giữa và cuối thập kỷ 30 của thế kỷ XX, nhà văn Lê Tràng Kiều có những cống hiến thực sự cho văn học, đồng thời ông cũng gặp những khó khăn rất đáng kể. Thời đó, trong đời sống báo chí, văn chương, một số người nêu vấn đề Truyện Kiều của Nguyễn Du, coi đó là sách dâm ô có thể làm bại hoại đến những phong tục thẩm mỹ của dân gian. Lê Tràng Kiều đã phải viết bài bênh vực Truyện Kiều. Ông khẳng định, trên Hà Nội báo số 2, 1936: Truyện Kiều là một tác phẩm có thể an ủi nhân dân, sau những giờ cần lao hay ngay trong những giờ cần lao họ có thể ngâm nga những câu... để được hả hê lòng. Thời gian này, tác phẩm Văn chương và hành động mà ông đồng tác giả với Hoài Thanh và Lưu Trọng Lư, đã bị nhà đương cục cấm lưu hành khi vừa mới in xong. Rồi tờ Hà Nội báo cũng lại bị đình bản. Dù vậy, ông cùng các bạn văn cùng chí hướng vẫn tâm huyết và kiên định. Lê Tràng Kiều gây dựng một tờ báo mới, là tuần báo Tiểu thuyết Thứ Năm (TTTN). Ngay những số đầu, TTTN đã đăng các tác phẩm của Đồ Phồn, Vũ Trọng Can, Nguyễn Đình Lạp, Lưu Trọng Lư, Phạm Huy Thông... Rồi tiếp đó, bắt đầu đăng tải tiểu thuyết Quý phái của Vũ Trọng Phụng. Nhưng mới được 13 số thì TTTN lại bị đình bản! Lê Tràng Kiều và các bạn văn lại lao đao, vất vả. Mãi đến tháng 10 năm 1938, tờ TTTN mới được xuất bản trở lại. Để có thể ra báo, Lê Tràng Kiều phải chấp nhận với chủ báo Lê Cường là: lương anh em tòa soạn và nhuận bút cho cộng tác viên thì tòa báo phải lo lấy, mà tiền bán báo thì chủ báo Lê Cường thu. Vừa làm chủ bút vừa lo chạy quảng cáo để nuôi anh em, Lê Tràng Kiều vẫn viết rất nhiều. Cả đời viết, Lê Tràng Kiều dùng một số bút danh nữa, như Lê Tùng, Phan Hữu, Trường Thiên... Riêng bút danh Lê Tràng Kiều và bút danh Nàng Lê ông dùng nhiều nhất trong thời kỳ làm báo TTTN. Qua các số báo TTTN trong tay chúng tôi, ông có tới hơn 20 bài phê bình, tiểu luận văn học, ngoài ra còn các bài bình luận xã hội và cả ký sự điều tra... Đó là chưa kể một số truyện ngắn ký bút danh Tình Thiên, chúng tôi có nghi vấn là một bút danh khác của ông.

Có thể thấy rõ, giai đoạn từ 1936 đến 1940, Lê Tràng Kiều viết rất nhiều và sống rất tận tâm với văn học nước nhà. Cũng thời kỳ này, ông cùng với Chu Ngọc, Vũ Trọng Can, Bùi Nguyên Cát đã lập ra Ban kịch Hà Nội được khán giả Hà Nội rất ưa chuộng. Tài năng và tâm huyết của Lê Tràng Kiều thật đáng trân trọng. Với một tài năng và tâm huyết như vậy thì không khó khăn nào có thể làm ông ngừng hoạt động, cống hiến cho xã hội. Ngay khi tờ TTTN bị ngừng bản, Lê Tràng Kiều vào Nam. Và năm 1940 đó, ông lại chủ trương một tờ báo khác ở Sài Gòn, là báo Lá lúa. Những năm này đất nước trải qua bao đau thương, biến động khôn lường, nghề văn chương báo chí thực vô cùng khó khăn. Rồi Cách mạng tháng Tám. Rồi toàn quốc kháng chiến chống thực dân Pháp. Ngay thời điểm cuối năm 1946, Lê Tràng Kiều lại tập hợp được nhóm bạn cùng chí hướng gồm Thiết Can, Lý Hải Châu, Thê Húc Phạm Văn Hạnh, Mai Văn Bộ, Vũ Tùng… Ông cùng bạn bè ra tờ báo Dân quyền với khẩu hiệu in ngay bên tên báo: “Một dân tộc - Việt Nam; một lực lượng - đoàn kết; một phương pháp: tranh đấu; một tinh thần - dân chủ; một mục đích - độc lập”. Báo Dân quyền theo đường hướng chống đế quốc thực dân và chính thể bù nhìn, nên lại bị cấm. Nhưng, nhóm các ông lại ra tờ báo khác. Lại bị cấm. Rồi lại có tờ báo mới thay thế. Thực chất, tòa soạn các báo Ngày nay, rồi Việt báo, rồi Lẽ sống, rồi Phụ nữ... đều là do nhóm Lê Tràng Kiều làm. Vậy là, từ khi vào Nam, Lê Tràng Kiều đã từ lĩnh vực văn học chuyển sang lĩnh vực báo chí chính trị xã hội… Cả đời ông đã viết rất nhiều, nhưng có lẽ chỉ mới có một tác phẩm xuất bản thành sách, là cuốn Văn chương và hành động mà khi mới được in ra đã bị chính quyền thực dân bắt đình bản và tịch thu hết. Tác phẩm đó, được tác giả ghi dưới tên sách: Thay lời tuyên ngôn của văn phái phương Đông. Đây là cuốn sách gồm những tiểu luận văn chương. Ngay sau Lời nói đầu là tiểu luận ý nghĩa đời người. Trong tiểu luận này, Lê Tràng Kiều có luận về tín ngưỡng, rằng: Phải tin ở cuộc sống, phải hăng hái sống, phải làm thế nào cho đời ta và đời của mọi người chung quanh ta ngày một đầy đủ thêm, dồi dào thêm, đẹp đẽ thêm - đó là một tín ngưỡng căn bản… Thế rồi, hầu như cuộc đời Lê Tràng Kiều đã được dẫn dắt bởi tín ngưỡng đó. Ông đã hành động, luôn luôn hành động, làm báo và viết báo, viết rất nhiều những bài báo vun đắp cho tinh thần chiến đấu của nhân dân vì độc lập, hạnh phúc, tự do và thống nhất… Suốt thời kỳ đấu tranh thống nhất đất nước, bà con miền nam đã thân mật gọi ông và các bạn ông là Nhóm ký giả kháng chiến.

Sau năm 1975, đất nước hòa bình thống nhất, trong một buổi làm việc tại Hội Văn nghệ Giải phóng, ở Thành phố Hồ Chí Minh, Lê Tràng Kiều gặp lại Nguyễn Xuân Sanh mới từ Hà Nội vào. Hai ông ôm riết lấy nhau hồi lâu. Sau gần bốn mươi năm xa cách, trong câu chuyện hàn huyên, Lê Tràng Kiều chỉ muốn nghe Nguyễn Xuân Sanh kể về những tiến triển của văn chương ngoài Bắc. Ông nhớ quê hương trong nỗi nhớ văn chương thật sâu thẳm, thật diết da. Đó là những giờ phút bừng dậy trong Lê Tràng Kiều một sức sống văn chương to lớn tiềm ẩn nơi đáy lòng mấy chục năm trường…

Khi đi tìm hiểu về cuộc đời Lê Tràng Kiều, chúng tôi gặp gỡ được một số người từng sống cùng ông, từng cùng ông làm báo TTTN, cùng ông hoạt động trong Ban kịch Hà Nội, và tất nhiên, gặp cả nhà thơ lão thành Nguyễn Xuân Sanh để hỏi chuyện. Vậy nên chúng tôi mới biết được một số chuyện cuộc sống của ông, một số việc ông đã làm, như chúng tôi viết ở trên. Chúng tôi cũng được biết, nhà văn Lê Tràng Kiều đã qua đời tại Thành phố Hồ Chí Minh năm 1977, bởi bệnh nặng. Từ ngày ông qua đời đến nay đã một phần tư thế kỷ trôi qua. Những người hiểu về con người và sự nghiệp của Lê Tràng Kiều mỗi ngày thêm thưa vắng. Trong bộ sách đồ sộ Tổng tập văn học Việt Nam dày hàng mét, phần về Lê Tràng Kiều chỉ có dăm dòng mà: chưa rõ năm sinh, năm mất, cũng không ghi về quê quán! Lê Tràng Kiều đâu có còn cảm thấy điều gì về những ứng xử trong đời sống trần thế. Có chăng, chỉ bạn đọc yêu văn học mới là những người bị tổn thất, nếu không được biết về văn tài và cuộc đời của ông. Chúng tôi nghĩ đến cuộc sống hôm nay, chảy cuồn cuộn ngoài kia, trên đất nước toàn vẹn. Chúng ta đã hòa nhập với thế giới, vươn tới công bằng, vươn tới văn minh, vươn tới mãi. Và lại nhớ đến tác phẩm Văn chương và hành động, tiểu luận ý nghĩa đời người, Lê Tràng Kiều có luận cả về văn minh: Văn minh chẳng qua là những sức sống của con người xung đột với cái tàn ác của vũ trụ, là sự nỗ lực vĩ đại của loài người để thoát mình khỏi cái chết, cái hư vô... Và, chúng tôi bỗng muốn nói với Lê Tràng Kiều, một câu thôi, rằng, những gì ông làm được trong suốt cuộc đời rong ruổi ngoài Bắc trong Nam, một cuộc đời hành động đâu có chết được, và những ý nghĩa của nó càng không thể bị chìm vào hư vô!

A . C
Love mickey,
Đăng nhập để trả lời
0