📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

Lớp Học Cuối Cùng - Mitch Albom - Hết 🔒

66 trả lời, 6.169 lượt xem — Trang 2 / 3
TUẦN THỨ NĂM
CHÚNG TÔI NÓI VỀ GIA ĐÌNH
 
Bấy giờ là tuần lễ đầu tháng Chín, thời điểm tựu trường. Lần đầu tiên sau 35 mùa thu liên tục, không có một lớp học nào trong khuôn viên trường đại học chờ đợi vị giáo sư già của tôi. Thành phố Boston tràn ngập sinh viên. Họ đậu xe san sát hai bên phố, mải miết lôi rương hòm từ thùng xe ra. Và đây, thầy Morrie đang ngồi trong phòng làm việc của mình. Cảnh tượng này thật bất công, nó giống như một cầu thủ bóng đá về hưu lần đầu tiên ngồi nhà xem trận banh qua truyền hình thay vì mặc áo ra sân và bực bội tự nhủ: Mình vẫn đá được kia mà. Từ kinh nghiệm tôi khám phá ra rằng tốt nhất là cứ để mặc họ - những cầu thủ với một thời oanh liệt đã qua - một mình. Đừng nói gì với họ. Thế nên, tôi cũng không nên nhắc nhở thầy Morrie về quỹ thời gian đang teo tóp lại của ông.
Để thu âm những cuộc nói chuyện với thầy Morrie, chúng tôi không sử dụng chiếc micro cầm tay nữa bởi lẽ đối với thầy việc cầm lâu trong tay một vật đã trở nên khó khăn - mà chuyển qua dùng loại micro gắn ve áo rất thịnh hành trong giới phóng viên truyền hình. Tuy nhiên, vì thầy Morrie chỉ mặc áo sơmi vải bông mềm và rộng thùng thình trùm lên cái thân thể đang co rút lại nên chiếc micro cứ tụt xuống treo lủng lẳng và tôi thường xuyên phải đưa tay sửa lại vị trí của nó. Thầy Morrie có vẻ thích thú lắm vì động tác này kéo tôi sát, gần như là muốn ôm lấy thầy. Ở thầy, nhu cầu được tiếp xúc với da thịt sống mạnh hơn bao giờ hết. Khi cúi người về phía thầy, tôi nghe thấy tiếng thở khò khè, tiếng ho nhẹ trong cổ họng thầy, còn thầy khẽ chép môi trước khi nuốt nước bọt.
"Nào, anh bạn của ta", thầy Morrie cất giọng. "Hôm nay chúng ta sẽ nói chuyện gì?"
"Về gia đình được chứ, thưa thầy?"
"Gia đình". Thầy nhắc lại và ngẫm nghĩ một thoáng. "Con thấy đó, gia đình ta, tất cả ở bên ta".
Thầy hất đầu về phía những tấm hình trên giá sách: hình của chính thầy khi còn nhỏ chụp chung với bà ngoại; hình chụp với cậu em trai David khi thầy đã là một thanh niên; hình thầy chụp với vợ, cô Charlotte; hình thầy Morrie chụp với hai người con trai. Rob, một nhà báo ở Tokyo và Jon, một chuyên gia máy tính ở Boston.
“Trong tinh thần những gì chúng ta nói với nhau trong mấy tuần qua, ta cho rằng vấn đề gia đình sẽ trở nên quan trọng hơn", thầy Morrie nói.
"Sự thật là không có nền tảng nào, không có mảnh đất an toàn nào mà người ta có thể đứng vững trên đó nếu không phải là gia đình. Đối với ta, điều này trở nên hiển nhiên khi ta lâm vào cảnh bệnh tật. Nếu ta không nhận được sự chu cấp, yêu thương, chăm sóc và quan tâm từ phía gia đình, ta sẽ chẳng có gì. Tình yêu là thứ quan trọng nhất, như thi sĩ vĩ đại Auden của chúng ta từng viết 'Hãy yêu nhau nếu không muốn lụi tàn'".
"Hãy yêu nhau nếu không muốn lụi tàn". Tôi chép lại câu thơ. "Auden nói thế thật sao?"
"Hãy yêu nhau nếu không muốn lụi tàn", thầy Morrie nhắc lại. "Một câu thơ hay, phải không? Và lại đúng nữa. Không có tình yêu chúng ta như những chú chim gãy cánh.
"Nói giả dụ ta đã ly dị, hay sống độc thân hay không có con cái. Căn bệnh này - mà ta đang phải đi qua - sẽ trở nên nặng nề hơn rất nhiều. Ta không đoan chắc là mình có thể chịu đựng nổi. Chắn chắn là mọi người nào là bạn bè, đồng nghiệp sẽ tới thăm ta. Thế nhưng, điều đó không giống với việc con có một người không bao giờ rời bỏ con, không giống khi con có được một người mà con biết rằng người đó để mắt tới con, luôn theo dõi con.
"Đây là một phần của cái gọi là gia đình. Trong gia đình không chỉ có tình yêu. Gia đình là nơi để các thành viên của nó hiểu rằng có những thành viên khác đang chú ý, trông chừng họ. Đây cũng là thứ mà ta rất thiếu sau khi mẹ ta qua đời và giờ đây ta gọi nó là "sự che chở tinh thần", tức là khi gia đình của con bảo vệ con. Không gì có thể đem lại cho con sự che chở đó. Tiền bạc? Không. Không phải danh tiếng".
Thầy nhìn tôi chằm chằm và nói thêm:
"Công việc cũng không nốt.”
Tuy việc lập gia đình có ghi trong một danh sách nhỏ của tôi, nhưng nó là một trong những việc mà chúng ta chỉ muốn giải quyết trước khi quá muộn. Tôi kể cho thầy Morrie về tình thế khó xử của thế hệ chúng tôi trong chuyện có con, rằng chúng tôi thường xem con cái như sợi dây cột chân tay, buộc chúng tôi vào những công việc của các "bậc phụ mẫu" mà chúng tôi không thích. Bản thân tôi cũng chia sẻ những cảm giác như vậy.
Nhìn qua thầy Morrie tôi tự hỏi nếu tôi ở vào tình cảnh của thầy, tức sắp chết, nhưng tôi lại không có gia đình, không con cái thì liệu tôi có chịu nổi sự trống trải hay không? Thầy nuôi dạy được hai cậu con trai trở thành những người biết yêu thương và chăm sóc và cũng giống như thầy, cả hai đều không ngại bày tỏ những cảm xúc của mình. Nếu thầy muốn, các con thầy sẽ ngưng công việc họ đang làm để về ở bên cha từng phút một trong những tháng cuối cùng của thầy. Nhưng đó lại là điều mà thấy không mong muốn.
"Đừng để cuộc sống của các con dừng lại", thầy dạy. "Nếu không, căn bệnh này sẽ huỷ hoại cả ba chúng ta thay vì mình cha".
Như vậy dẫu đang chết dần chết mòn, thầy Morrie vẫn tỏ ra tôn trọng những thế giới riêng của con cái. Thế nên, không có gì ngạc nhiên trước dòng thác âu yếm, vô vàn những cái hôn, những câu chuyện đùa vui khi các con thầy ngồi bên giường bệnh, cúi xuống nắm tay cha.
"Hễ người ta hỏi ta về chuyện nên có con hay không, chua bao giờ ta bảo họ phải làm gì", thầy Morrie nói, mắt nhìn tấm hình cậu con trai cả. "Ta chỉ nói: ‘Trong chuyện này không có cái gọi là kinh nghiệm'. Việc nào cũng vậy. Không có ai có thể thay thế cho con trong tình bạn và tình yêu. Nếu con muốn trải nghiệm cái cảm giác được chịu trách nhiệm về một sinh linh khác, con hãy học cách yêu và ràng buộc với nhau một cách sâu đậm nhất và lúc đó mới nên có con".
"Thế thầy có định làm lại cuộc đời một lần nữa không?" Tôi hỏi.
Tôi liếc nhìn tấm hình: Rob đang hôn thầy Morrie vào trán, còn thầy đang cười nhắm tít cả hai mắt.
"Ta có định trải nghiệm một lần nữa không à?", thầy hỏi tôi với ánh mắt ngạc nhiên. "Mitch, ta không muốn đánh mất bất cứ cảm giác nào mà ta đã từng đi qua trong đời, kể cả..."
Thầy nuốt nước bọt và đặt tấm hình vào trong lòng.
"Kể cả khi phải trả một cái giá đau đớn", thầy nói.
"Vì thầy sẽ rời bỏ họ mà đi". Tôi tiếp lời.
"Vì ta sẽ sớm rời bỏ họ mà đi", thầy Morrie nói.
Thầy mím môi, nhắm mắt lại và tôi nhìn thấy giọt lệ đầu tiên lăn xuống gò má thầy.
"Giờ thì", thầy Morrie thì thào. "Con kể đi".
"Con ư, thưa thầy?"
"Về gia đình con. Ta biết cha mẹ con. Nhiều năm trước trong lễ tốt nghiệp của con, ta đã gặp họ. Con có một người chị gái, đúng không?"
"Vâng", tôi đáp.
"Và một cậu em trai, phải vậy không?"
Tôi gật đầu.
"Vậy là giống ta”, thầy nói. "Ta có một người em trai".
"Người đó giống thầy", tôi nói.
“Nó cũng đến dự lễ tốt nghiệp của con, phải không?"
Tôi chớp mắt và trong ký úc tôi thấy lại tất cả: Mười sáu năm về trước, mặt trời mùa hè nóng đỏ, những bộ đồng phục xanh dương, tất cả chúng tôi vừa liếc ngang vừa choàng tay nhau để chụp hình bằng một chiếc máy ảnh tự động Instanmatic, tiếng ai đó đếm "Một, hai, baaaa..."
"Chuyện gì vậy", thầy Morrie hỏi khi thấy tôi chợt im lặng. "Con đang nghĩ gì vậy?"
"Không có gì, thưa thầy". Tôi đáp và chuyển sang đề tài khác.
0
Quả thực tôi có một đứa em trai, nhỏ hơn tôi hai tuổi tóc vàng hoe, mắt xanh lục trông không giống tôi và cũng chẳng giống người chị tóc đen của tôi.
Chúng tôi thường chòng ghẹo thằng em, nói với nó rằng những người lạ đã bỏ nó trên bậc thềm nhà chúng tôi khi nó còn bé tí tẹo. "Một ngày nào đó, người ta sẽ quay lại để bắt mày đi", tôi và chị tôi bảo nó thế. Mỗi khi nghe nói vậy thằng em khóc ré lên, nhưng chúng tôi cứ lặp lại câu chuyện đó.
Như bao đứa trẻ khác, thằng em tôi lớn lên trong nuông chiều, yêu thương và cả những trò hành hạ ngấm ngầm. Nó nuôi mộng trở thành nghệ sĩ hoặc ca sĩ. Trong bữa ăn, nó nhại lại từng nhân vật trong các chương trình truyền hình đã xem. Lúc nào trên môi nó cũng chực xuất hiện một nụ cười rạng rỡ. Tôi là một học trò giỏi, nhưng nó thì quá tệ. Tôi ngoan ngoãn dễ bảo, nó phá bỏ luật lệ. Tôi tránh xa rượu và ma tuý, nó từng thử qua mọi thứ mà người ta có thể đưa vào người được. Tốt nghiệp trung học chưa được bao lâu, nó liền bỏ sang châu Âu vì ưa cách sống tuỳ tiện ở đó hơn. Tuy vậy, nó vẫn được cả gia đình yêu mến. Mỗi khi nó về thăm nhà, sự có mặt đầy hoang dã và vui nhộn của nó khiến tôi cảm thấy mình cứng nhắc và bảo thủ.
Từ sự khác biệt giữa hai anh em, tôi suy luận rằng một khi chúng tôi trưởng thành, số phận sẽ đẩy chúng tôi về hai hướng đối ngược nhau. Tôi đã tính đúng, ngoại trừ một điều. Từ khi cậu tôi qua đời, tôi tin rằng tôi cũng sẽ phải đón nhận một cái chết tương tự một căn bệnh bất ngờ sẽ đem tôi đi. Vì thế tôi làm việc với tốc độ phát sốt phát rét. Tôi đem bệnh ung thư ra dọa bản thân. Tôi đã cảm thấy nhịp thở của nó. Tôi biết là nó sắp đến. Tôi chờ đợi nó theo cái cách mà kẻ tử tội chờ đao phủ xuất hiện.
Và tôi đã đúng. Nó đã tới.
Nhưng nó lại bỏ qua tôi.
Nó nhắm vào em trai tôi.
Nó cùng một dạng ung thư đã giết cậu tôi - ung thư tụy - một dạng khá hiếm. Và thế là người trẻ nhất trong gia đình tôi, thằng bé với mái tóc vàng hoe và đôi mắt xanh lục, phải qua điều trị bằng hoá chất và tia phóng xạ. Mái tóc em tôi rụng dần, khuôn mặt hốc hác chỉ còn xương. Lẽ ra phải là mình kia, tôi nghĩ. Nhưng em tôi không phải là tôi và cũng không phải là cậu tôi. Từ thủa nhỏ nó đã là thằng cứng đầu. Khi hai anh em tôi vật nhau dưới tầng hầm, nó nghiến răng cắn chiếc giày tôi đang đi cho tới khi tôi thét lên vì đau đớn và buông nó ra.
Và thằng em tôi đã chống chọi. Sống ở Tây Ban Nha, thằng em tôi vật lộn với căn bệnh ung thư nhờ sự trợ giúp của một loại thuốc đang được thử nghiệm. Lúc đó - và cho tới hiện nay - thứ thuốc đó chưa có mặt tại Mỹ. Em tôi đã bay khắp châu Âu để chữa trị. Sau năm năm, thứ thuốc đó có vẻ như đã đẩy lui căn bệnh của em tôi.
Đấy là tin mừng. Còn tin buồn là em tôi không muốn tôi, không phải chỉ mình tôi mà là bất kỳ ai trong gia đình, có mặt bên cạnh nó. Dù chúng tôi đã nhiều lần cố gọi điện và tìm cách ghé thăm nhưng nó không cho ai lại gần, khăng khăng rằng nó phải tự chống chọi với bệnh tật. Nhiều tháng đã qua đi nhưng chúng tôi không được tin gì của nó. Những lời nhắn vào máy điện thoại của nó không có hồi âm. Lòng tôi nặng trĩu ân hận vì những gì tôi phải làm cho em nhưng không làm được. Tôi giận dữ vì lẽ nó đã không cho chúng tôi làm những điều mà chúng tôi cho là đúng.
Vì thế một lần nữa tôi lao vào công việc. Tôi thích làm việc vì tôi có thể chế ngự được công việc. Tôi thích làm việc vì công việc là cái mà tôi có thể hiểu được và tôi có thể chịu trách nhiệm về nó. Mỗi lần tôi gọi điện thoại tới căn hộ của đứa em trai ở Tây Ban Nha và nghe câu thông báo bằng tiếng Tây Ban Nha do thằng em tôi ghi sẵn trong máy - một dấu hiệu nữa cho thấy anh em tôi ngày càng trôi dạt xa cách - tôi lại dập máy và làm việc nhiều hơn.
Có lẽ đây chính là một nguyên nhân khiến tôi bị thầy Morrie cuốn hút. Thầy để cho tôi có mặt ở những nơi thằng em tôi không chấp nhận.
Ngoảnh lại quá khứ, có lẽ thầy Morrie đã biết điều này từ rất lâu rồi.
0
Đó là một mùa đông khi tôi còn nhỏ, trên một ngọn đồi phủ đầy tuyết ở khu ngoại ô của chúng tôi. Tôi và đứa em trai nằm sấp trên một chiếc xe trượt, nó ở trên, tôi nằm phía dưới. Tôi cảm thấy hai gò má nó chạm vào vai tôi, hai chân nó tì vào hai đầu gối tôi.
Chiếc xe trượt lao ầm ầm lên mặt băng phía dưới chúng tôi. Chiếc xe tăng tốc và chúng ta lao xuống đồi.
“XE!”, ai đó hét lên.
Chúng tôi nhìn thấy chiếc xe đang chạy trên phố, hướng về bên tay trái chúng tôi. Chúng tôi la thất thanh và cố lái chiếc xe trượt sang hướng khác nhưng con lăn không nhúc nhích. Tài xế đập nhấn kèn và đạp mạnh thắng còn chúng tôi làm như mọi đứa trẻ khác trong tình thế đó: Chúng tôi nhảy ra khỏi xe trượt. Thu lu trong nhũng chiếc áo da trùm đầu, chúng tôi vừa lăn lông lốc như những cây gỗ dọc theo sườn đồi đầy tuyết ẩm ướt vừa chờ một sự va chạm với bánh xe cao su cứng ngắc. Chúng tôi hét lên: “A a a a aaa”. Chúng tôi sợ hãi tới mức ù cả hai tai, lăn tròn, thế giới hết ngược lại xuôi.
Nhưng sau đó là chấm hết. Chúng tôi thôi lăn lộn và nằm thở hổn hển, lấy tay chùi những hạt tuyết đang tan trên mặt. Người tài xế ngoặt sang phố khác, vẫy mấy ngón tay về phía chúng tôi. Chúng tôi thoát nạn. Chiếc xe trượt của chúng tôi chui tọt vào bờ tuyết, còn đám bạn bè vỗ vai chúng tôi 'Tuyệt” và “Các cậu nhẽ ra đi đời nhà ma rồi”.
Tôi nhìn thằng em và cười tới mang tai, niềm tự hào trẻ con đã kết nối chúng tôi. Cũng không nặng nề cho lắm, chúng tôi nghĩ thế, và chúng tôi sẵn sàng chết một lần nữa.
0
TUẦN THỨ SÁU
CHÚNG TÔI NÓI VỀ CẢM XÚC
 
Băng qua hàng nguyệt quế núi và cây gỗ thích Nhật bản, tôi bước lên mấy bậc thềm đá xanh trước nhà thầy Morrie. Cơn mưa trắng xóa như cái vung lớn đong đưa, úp chụp lên lối vào. Tôi nhấn chuông. Hiện ra trên ngưỡng cửa đón tôi không phải là chị giúp việc Connie mà là cô Charlotte, vợ thầy, một phụ nữ xinh đẹp tóc hoa râm với giọng nói thánh thót. Mọi lần tôi tới cô không có ở nhà - cô vẫn làm việc ở MIT như ý thầy muốn. Thế nên sáng nay gặp cô, tôi hơi ngỡ ngàng.
"Hôm nay thầy hơi khó ở" - Cô buồn rầu thông báo, mắt nhìn chằm chằm qua vai tôi một thoáng rồi quay người về phía bếp.
"Em xin lỗi" - Tôi lí nhí đáp lại.
"Không sao đâu! Ông ấy sẽ rất mừng khi được gặp anh” - Cô vội trấn an - "Cô chắc là..."
Ngưng bặt giữ chừng, đầu nghiêng nghiêng nghe ngóng một cái gì đó, rồi cô tiếp:
"Cô đoán chắc thầy sẽ cảm thấy khoẻ hơn khi biết anh đang ở đây".
Tôi chìa ra mấy túi đồ mua ở siêu thị: "Đồ tiếp tế của em đây”, tôi nói nửa đùa nửa thật.
Một nụ cười chen lẫn đôi chút bực dọc thoáng qua trên gương mặt cô.
"Còn cả đống thức ăn kìa. Từ lúc anh về hồi tuần trước tới nay, thầy không ăn chút nào cả".
Tôi ngạc nhiên quá đỗi.
"Thầy không ăn gì sao?" Tôi hỏi lại.
Cô mở tủ lạnh. Thịt gà, miến, nước trái cây, rau xà lách... xếp đầy ắp. Tất cả những thú tôi mua cho thầy vẫn còn nguyên xi. Cô mở tủ đông. Trong đó thậm thí còn đầy hơn!
"Thầy không ăn được những món này. Chúng cứng quá làm sao thầy nuốt nổi!? Bây giờ, thầy chỉ ăn được đồ mềm và đồ lỏng thôi,"
"Nhưng sao thầy không nói với em nhỉ?" - Tôi hỏi.
Cô cười "Thầy không muốn anh buồn".
"Không! Điều đó không làm em buồn. Em chỉ muốn giúp thầy theo một cách nào đó. Ý em là, em chỉ muốn mang đến cho thầy một cái gì đó..."
"Thì anh đã mang đến cho ông ấy một cái gì rồi! Thầy mong anh suốt. Thầy khoe đang cùng anh thực hiện một công trình gì đó; rằng thầy phải tập trung toàn tâm toàn sức để chạy đua với thời gian. Cô nghĩ, việc này khiến thầy cảm thấy mình vẫn còn hữu ích..."
Một lần nữa, cô lại quay nhìn đi chỗ khác. Cô đứng đây mà tâm trí để ở đâu đâu. Tôi hiểu. Ban đêm là lúc những cơn ác mộng đến hành hạ thầy. Càng ngày thầy càng không thể ngủ được và dĩ nhiên, cả cô cũng thế. Thầy nằm thao thức, ho liên hồi nhiều giờ liền, cố buộc đống đờm dãi bướng bỉnh bật ra khỏi cổ họng. Hiện các hộ lý đã phải tức trực suốt đêm bên giường thầy. Ban ngày, học trò cũ, các giáo sư đồng nghiệp, và cả những hướng dẫn viên tham thiền nườm nượp ra vào thăm thầy. Có ngày, thầy phải tiếp đến nửa tá khách khứa. Họ ở lại tới tận khi cô Charlotte đi làm về. Cô chịu đựng "những kẻ đột nhập" với vẻ kiên nhẫn đáng nể dẫu rằng những giây phút quý báu của cô ở bên thầy đang bị những người khác tước đoạt.
"… cảm thấy hữu dụng" - cô tiếp - "Anh biết không, điều đó có ý nghĩa biết nhường nào!"
"Em cũng hy vọng như vậy" - Tôi thẫn thờ đáp.
Tôi giúp cô bỏ mớ thực phẩm mới vào tủ lạnh. Trên bệ bếp lỉnh kỉnh những mảnh giấy ghi chú, những tờ nhắn tin, hướng dẫn sử dụng thuốc. Mấy lọ thuốc mới hiện diện thêm trên bàn - Selestone dùng để kìm nén những cơn suyễn cho thầy. Afivan để giúp thầy ngủ, Naproxen để chống viêm nhiễm - cùng với một hộp sữa bột và thuốc nhuận tràng. Có tiếng gì như tiếng kẹt cửa vọng lại tù phía hành lang.
"Có lẽ thầy đó… Để cô đi xem sao".
Cô Charlotte lại liếc nhìn đống thức ăn. Đột nhiên tôi thấy xấu hổ quá. Ai đời lại đi mua những thứ mà thầy sẽ chẳng còn bao giờ được thưởng thức nữa.
0
Nỗi khủng khiếp về bệnh tật của thầy lớn dần lên khi tôi ngồi xuống cạnh thầy. Thầy ho dữ hơn. Một cơn ho khan khiến lồng ngực thầy rung lên bần bật, xô thầy nhổm về phía trước. Dứt cơn, thầy nằm bất động, mắt nhắm nghiền, chỉ có phần ngực còn nhúc nhích lấy hơi. Tôi ngồi yên, ngậm ngùi nhìn thầy vận dụng toàn bộ sức lực.
"Máy đã bật lên chưa?” - Thầy hỏi bất thình lình mà mắt vẫn nhắm nghiền.
"Rồi, rồi ạ!” - Tôi hấp tấp miệng trả lời thầy, tay cập rập nhấn đồng thời hai nút "Play" và "Record".
"Điều thầy đang làm ngay lúc này đây là", thầy nói tiếp, vẫn không mở mắt "tự siêu thoát khỏi nỗi thăng trầm của cuộc đời".
"Tự siêu thoát?"
“Đúng vậy! Tự siêu thoát. Điều này không quan trọng đối với một người đang hấp hối như thầy bằng đối với con người đang tràn trề sức sống. Hãy học cách tự siêu thoát".
Thầy mở mắt, thở hắt ra:
"Con có nhớ lời nhà Phật nói như thế này: Đừng bám víu vào cái gì cả, bởi lẽ mọi thứ đều vô thường".
"Nhưng khoan đã, thưa thầy. Chứ không phải như thầy vẫn luôn nói về việc chiêm nghiệm cuộc sống đấy sao? Tất cả những cảm xúc dễ chịu cùng tất cả những cảm xúc tồi tệ?"
"Phải rồi!"
"Con không hiểu, làm sao thầy có thể làm thế nếu thầy siêu thoát?"
"Ồ! Con đã bắt trúng mạch suy ngẫm rồi đấy. Mitch à. Nhưng siêu thoát không có nghĩa là ta không để cho dòng đời thâm nhập vào ta. Trái lại, ta phải để cho nó tràn ngập vào con người mình. Đó là cách ta bứt phá khỏi nó."
Tôi hoàn toàn mít đặc.
"Hãy cảm nhận mọi xúc cảm - yêu một người con gái, hay khóc than cho một người thân, hay chịu đựng điều thầy đang trải qua: nỗi khiếp đảm, sự đau đớn vì căn bệnh quái ác. Nếu ta kìm nén cảm xúc, nếu ta chạy trốn chúng, không cho chúng tự do chu du, thì ta sẽ không bao giờ siêu thoát được - vì ta còn mải sợ hãi!.. Ta sợ hãi nỗi đau, ta sợ hãi nỗi sầu bi, ta sợ hãi nỗi tê dại của tình yêu.
"Nhưng nếu ta dấn thân vào những cảm xúc đó, cứ lao mình vào dù có chìm lút cả đầu, thì cuộc đời ta sẽ lấp đầy bằng những kinh nghiệm. Ta sẽ biết đích xác nỗi đau xé da xé thịt là gì, sẽ hiểu tình yêu có hình dáng như thế nào, và sự khổ ải có màu sắc ra sao. Thầy đã bắt gặp cái cảm xúc đó. Bây giờ, thầy cần siêu thoát khỏi nó một lát".
Thầy ngưng nói và nhìn tôi chăm chú như để đảm bảo là tôi đồng ý với thầy.
"Thầy biết con nghĩ thầy nói thế vì thầy sắp chết. Nhưng thầy không nói khác đi đâu! Khi ta học được cách chết, ta sẽ học được cách sống".
Thầy Morrie kể về những giây phút hãi hùng nhất trong đời - khi thầy cảm thấy lồng ngực mình bị xé toang ra thành từng mảnh, khi thầy không biết chắc bao giờ hơi thở kế tiếp mới xuất hiện. Những thời khắc mới nghiệt ngã làm sao! Những cảm xúc đầu tiên của thầy là điếng hồn, chơi vơi, âu lo. Nhưng một khi thầy nhận ra chúng, nhìn thấy được kết cấu diện mạo cùng làn hơi của chúng, những cơn run lẩy bẩy dọc sống lưng, cơn bốc cháy chạy vụt qua óc, thì thầy "à" lên một tiếng: "Ôi dào! Đây là nỗi sợ ấy mà. Hãy từ từ bước qua nó. Hãy bước qua nó".
Tôi ngẩn người ra suy nghĩ. Trong cuộc sống hàng ngày, chúng ta cần điều này bao nhiêu lâu một lần? Có những lúc chúng ta cô đơn muốn khóc, nhưng chúng ta lại ép cho nước mắt chảy ngược vào trong, chỉ vì chúng ta không được mong đợi phải khóc. Có những khi ta cảm thấy dạt dào yêu thương một đồng sự, nhưng chúng ta lại nín thinh, bởi vì chúng ta lạnh gáy e ngại khi tưởng tượng đến những phản ứng của họ hàng mình trước những lời được thốt ra.
Biện pháp của thầy Morrie thì trái ngược hoàn toàn. Hãy mở vòi nước ra. Hãy đắm ướt mình trong những cảm xúc. Nó không làm hại anh đâu, mà chỉ giúp anh thôi! Nếu anh ôm nỗi sợ vào lòng, rồi lại cởi nó ra như cởi một cái áo sơmi, thì anh có thể tự nhủ: "Được rồi, nó chỉ là nỗi sợ. Mình sẽ không để nó điều khiển mình đâu, mà sẽ ngồi nhìn xem nó là cái gì".
Nỗi cô đơn cũng thế. Anh buông lỏng, để cho nước mắt tuôn trào, cảm nhận đầy đủ vị mặn chát của nó. Nhưng cuối cùng lại nói: "Ô! Đây là thời điểm tôi cô đơn. Tôi cóc sợ cô đơn, bây giờ tôi sẽ để nỗi cô đơn qua một bên, còn thiếu gì những cảm xúc khác trên thế gian này, tôi sẽ khám phá cho chúng cho coi".
"Hãy siêu thoát", thầy Morrie nhấn mạnh.
Thầy nhắm mắt lại. Và ho.
Cơn ho ùn ùn kéo đến. Hết cơn này đến cơn kia. Bất ngờ, thầy ngạt thở, hai lá phổi căng phồng lên như muốn nổ tung - chốc chốc nhảy xổ ra rồi lại ngưng ngay giũa đường, chốc chốc lại rơi tõm xuống - cướp mất hơi thở của thầy. Chỉ có tiếng ho khô khốc đón lấy cơn nghẹn. Hai tay thầy quơ quào trong không khí. Nhìn đôi mắt nhắm nghiền và đôi tay giãy giãy của thầy, mồ hôi tôi túa ra từng giọt trên trán. Như một cái máy, chẳng hiểu thế nào mà tôi lại kéo xốc thầy lên được, vỗ mạnh mấy cái sau vai thầy. Hú hồn, thầy tống chiếc khăn tay vào miệng và lôi ra một cục đờm.
Ngừng ho, thầy Morrie đổ vật xuống đống gối thở lấy thở để.
- "Ta... ổn rồi", thầy thì thào, giơ một ngón tay xương xẩu lên - "Chờ... chờ ta một chút".
Im lặng, cho đến khi hơi thở của thầy trở lại bình thường. Tôi cảm thấy mồ hôi mình rịn ra cả da đầu. Thầy bảo tôi đóng cửa sổ lại. À, gió lùa làm thầy lạnh. Tôi chẳng để ý thấy điều đó, dù nhiệt độ bên ngoài là 80 độ F (tương đương 26,5 độ C).
Hồi sau, thầy thì thào khe khẽ: "Thầy biết là mình ao ước được chết ngay".
Tôi lặng lẽ ngồi chờ.
"Ta muốn chết một cách êm ả. Một cách yên bình. Chứ không phải như con thấy thế này. Và đây là nơi dành cho sự siêu thoát len vào. Nếu thầy chết trong cơn ho, thì thầy cần phải siêu thoát khỏi nỗi khủng hoảng. Thầy cần phải nói: "Giờ khắc của mình đã điểm".
"Ta không muốn mang theo nỗi kinh sợ ra khỏi thế giới này. Ta muốn mục kích diễn biến của nó, chấp nhận nó, đi tới một nơi an lành, và thư giãn. Con có hiểu không?"
Tôi gật đầu.
"Nhưng thầy đừng đi,còn bạn bè, đồng nghiệp", tôi hốt hoảng nói thêm.
Thầy cố nở nụ cười: "Không. Chưa đâu! Thầy vẫn còn việc phải làm.”
0
“Thầy có tin vào sự đầu thai? - Tôi hỏi.
“Có lẽ có.”
“Thầy muốn đầu thai thành cái gì, thưa thầy?”
“Nếu được lựa chọn, ta muốn trở lại trần gian trong cái lốt của một con linh dương nhỏ.”
"Con linh dương, thưa thầy?”
Thầy cười ấm áp: “Con thấy lạ hả?”
Tôi ngắm nhìn thân thể gầy trơ xương của thầy, quần áo rộng thùng thình, đôi chân thầy nằm trong đôi bít tất, tựa cứng ngắc vào đống nệm lót, không cựa quậy, giống như một người tù trong lồng sắt. Tôi hình dung ra hình ảnh một con linh dương chạy xuyên qua sa mạc.
“Không ạ! Con không thấy có gì lạ cả.”
0
VỊ GIÁO SƯ - PHẦN HAI
 
Thay Morrie mà tôi biết, thầy Morrie mà nhiều người khác biết, có lẽ đã không trở thành người như chúng tôi biết, nếu ông không từng nhiều năm làm việc tại một bệnh viện tâm thần nằm ngay ngoài rìa Washington D.C., một nơi có tên là Chestnut Lodge (Quán trọ Hạt Dẻ) - cái tên thơ mộng khiến nhiều người ngộ nhận. Đó là một trong những nơi dừng chân đầu tiên của thầy sau quãng thời gian miệt mài lấy bằng cử nhân và bằng tiến sĩ ở Đại học Chicago. Từ chối làm nghề thuốc, luật sư, thương mại, thầy quyết định làm nghiên cứu để có thể cống hiến mà không khai thác ai.
Nghiễm nhiên, thầy có quyền quan sát và thu thập các hành vi của những bệnh nhân tâm thần. Ngày nay, công việc quái gở ấy đã trở nên bình thường, nhưng vào thập niên 1950, nó quả là một công việc mới mẻ, và thầy là một trong những bậc tiền bối khai phá nó. Thầy nhìn tận mắt những cảnh tượng: người thì la hét tối ngày, người lại khóc sướt mướt suốt đêm, kẻ thì xé rách hết quần áo, kẻ lại nhất quyết không chịu ăn - phải cưỡng chế, và tiêm thức ăn vào tĩnh mạch.
Có một nữ bệnh nhân tuổi trung niên cứ hay vụt chạy ra khỏi phòng, nằm dài úp mặt xuống sàn nhà, mặc cho y bác sĩ lấn bấn xung quanh. Thầy Morrie nhìn bà một cách kinh hãi. Thầy ghi chú (nhiệm vụ của thầy mà). Mỗi ngày bà đều hành động như nhau: buổi sáng ra đi, nằm sóng soài cho tới tối, không nói với ai, không đếm xỉa tới ai. Thầy buồn quá đỗi. Thầy ngồi xuống bên bà, thậm chí nằm dài bên cạnh, cố bứt bà ra khỏi nỗi sầu thảm. Cuối cùng, thầy thuyết phục được bà ngồi dậy, quay trở về phòng. Thầy nghiệm ra điều bà khát khao nhất cũng chính là điều mọi người ham muốn: ai đó biết rằng bà đang nằm trên sàn.
Năm năm ở Chestnut Lodge, dù không ai đòi hỏi, thầy Morrie vẫn kết bạn với vài người bệnh. Một bà đã tếu táo với thầy: "Tôi may mắn làm sao khi ở đây, vì chồng tôi dư đủ tiền để trả chi phí. Anh có thể tưởng tượng tôi sẽ thê thảm cỡ nào nếu như tôi phải sống trong những bệnh viện nhớp nháp rẻ tiền?"
Một phụ nữ khác, chuyên nhổ nước bọt vào người tới lui, nhưng lại gọi thầy Morrie là bạn. Họ trò chuyện hàng ngày, các bác sĩ cho rằng cần có ai đó canh chừng bà ta. Thế rồi một ngày kia, bà vùng bỏ trốn, thầy được yêu cầu đi bắt bà ta lại. Người ta đuổi theo bà sát nút. Quay lại trông thấy thầy, bà ta hét lên thất thanh:
"Ông cũng là một tên trong bọn họ".
"Một trong những người nào?"
"Bọn cai ngục. Chúng coi giữ tôi suốt".
Thầy Morrie nhận xét, các bệnh nhân tại đây hầu hết đều bị quên lãng, và bị chối bỏ. Họ cảm thấy như không tồn tại. Họ thiếu vắng lòng thương cảm - thứ mà các nhân viên không cho họ. Nhiều người thuộc các gia đình giàu có, nhưng của cải không mang lại cho họ hạnh phúc hay sự mãn nguyện. Đó là bài học thầy không bao giờ quên.
0
Tôi từng chọc ghẹo thầy rằng thầy bị sa lầy trong những năm 1960. Thầy từ tốn bảo quãng thời gian đó chẳng tệ gì hơn thời điểm chúng ta đang sống hiện nay.
Sau khi rời công tác trong lĩnh vực nghiên cứu sức khỏe tâm thần, thầy chuyển tới Đại học Brandeis. Thập niên 1960 vừa hé mà sân trường đã biến thành một xã hội thu nhỏ: ma tuý, tình dục, phân biệt chủng tộc, phản đối chiến tranh Việt Nam. Abbie Hoffman, rồi Jerry Rubin, rồi Angela Davis lần lượt vào trường. Sinh viên của thầy Morrie thuộc đủ mọi màu da.
Đó chỉ là một phần của bức tranh. Thay vì chỉ dạy học. Ở đây người ta còn phải giải quyết các vấn đề xã hội. Chẳng hạn như phong trào chống chiến tranh - một cuộc chiến cay đắng. Khi biết rằng sinh viên nào không đạt được điểm trung bình sẽ bị bắt quân dịch, các giáo sư đã nhất quyết không chấm điểm gì hết. Chính quyền dọa nếu thế thì tất cả đều bị đánh rớt. Thầy Morrie có một giải pháp: cho tất cả sinh viên đều được điểm "A". Và thầy giữ lời!
Ngay khi thập niên 1960 khuấy động giảng đường, nó cũng xách động các giáo sư trong khoa của thầy. Họ mặc quần Jeans và đi xăng đan lên lớp - nơi họ coi là lẽ sống của mình. Họ chọn cách diễn thuyết, vận dụng các học thuyết. Họ gửi sinh viên đến Deep South tham dự chương trình đòi quyền công dân, vào nội ô thành phố để thâm nhập thực tế. Họ hòa mình vào các cuộc tuần hành phản kháng ở Washington. Thầy Morrie đi xe buýt cùng học trò. Một lần ngồi trên xe, thầy khoái chí trông thấy một nhóm phụ nữ mặc váy xòe, cổ đeo xâu chuỗi, tiến đến trước hàng lính gác một cách thánh thiện, và đặt những chùm hoa ngay các nòng súng. Rồi họ trở về ngồi trên bãi cỏ, tay nắm tay, cố gắng thức tỉnh Lầu Năm Góc. "Họ không thành công", sau đó thầy nhớ lại, "nhưng đó thật là một nỗ lực lớn lao".
Có lần, một nhóm sinh viên da đen chiếm Ford Hall trong khu Đại học Brandeis và treo một băng rôn đề "TRUỜNG ĐẠI HỌC MALCOLM X” to tướng vòng quanh tòa nhà. Ford Hall có nhiều phòng thí nghiệm hóa học, cho nên một số nhà chức trách nghi ngại họ chế tạo bom dưới tầng hầm. Thầy Morrie biết tỏ tường hơn - tới tận cốt lõi sự việc. Chẳng qua là loài người muốn quan trọng hóa vấn đề ấy mà!
Cuộc cầm cự kéo dài vài tuần. Không ai biết nó sẽ kéo dài bao lâu nếu như không có thầy Morrie xuất hiện. Thầy đang đi ngang qua tòa nhà thì một kẻ chống đối nhận ra vị giáo sư yêu quý của mình bèn rối rít gọi và cuống quít ra hiệu cho thầy trèo vào qua đường cửa sổ.
Một giờ sau, thầy bò ra bằng lối cũ với một danh sách những yêu sách cho ban giám hiệu. Vụ việc này được truyền bá khắp nơi.
Thầy luôn luôn tạo hòa khí.
Ở Brandeis, thầy dạy học trò về tâm lý xã hội, những căn bệnh thần kinh, quy trình đội nhóm, và sức khỏe. Ngày nay những điều đó được gọi là hướng nghiệp, hoặc đào sâu hơn là "Sự phát triển cá nhân".
Chính vì điều này mà những sinh viên kinh tế, luật ngày nay sẽ coi những đóng góp của thầy là ngây thơ dớ dẩn. Học trò của thầy đã kiếm được bao nhiêu tiền? Họ đã chiến thắng được mấy thương vụ? Một lần nữa, có mấy sinh viên luật, kinh tế thăm lại thầy cũ? Trong khi học trò của thầy Morrie thăm thầy thường xuyên. Trong những tháng cuối đời, hàng trăm người trở về từ New York, Boston, California, Luân Đôn, Thụy Sĩ. Từ những văn phòng nhà máy, đến những chương trình học đường trong nội thành. Người ta viết thư, gọi điện đến. Họ đi hàng trăm dặm để đến thăm thầy, nói chuyện, và mỉm cười với thầy.
"Chúng em chưa bao giờ có một người thầy nào khác như thầy cả" - Họ đồng thanh biểu lộ như thế.
0
Kể từ khi được học với thầy Morrie, tôi được hiểu biết thêm về cái chết, về các quan niệm của những nền văn hóa khác nhau, về chặng đường cuối cùng của cuộc đời. Cư dân một bộ lạc ở vùng Cực miền Bắc Mỹ tin rằng vạn vật đều có linh hồn đựng trong một mô hình thu nhỏ của cơ thể đang cầm giữ linh hồn ấy. Một con nai có một con nai nhỏ trong nó, một con người có một phiên bản người trong anh ta. Khi hình hài lớn chết đi, hình hài nhỏ vẫn còn sống tiếp. Nó trôi bềnh bồng và nhập vào sinh vật mới sinh gần đấy. Bằng không, nó sẽ trú ngụ tạm thời ở đâu đó trên trời, trong bụng của một nữ thần vĩ đại, và chờ cho đến khi mặt trăng đưa nó trở về trái đất.
Người ta kể rằng, thỉnh thoảng mặt trăng bận di chuyển các linh hồn mới đến nỗi mà nó biến mất khỏi bầu trời. Điều đó giải thích tại sao có những đêm không trăng. Cuối cùng, mặt trăng bao giờ cũng trở lại.
Họ tin chắc như thế.
0
TUẦN THỨ BẢY
CHÚNG TÔI NÓI VỀ NỖI SỢ HÃI TUỔI GIÀ
 
Thầy Morrie đã buông xuôi. Thầy cần có người làm vệ sinh cá nhân cho thầy.
Thầy đối mặt với "sự cố tế nhị" đó thật dũng cảm. Khi ngồi bô, thầy không thể tự xoay xở một mình được nữa. Thầy thông báo sự bất lực của mình với cô hộ lý Connie.
"Cô có phiền lòng không khi làm cái công việc này cho tôi?"
Cô ấy trả lời là "không".
Tôi nhận xét thấy thầy đã chủ động hỏi cô ấy trước. Thầy thừa nhận cần phải có thời gian để làm quen với điều đó vì nó chứng tỏ mình đã hoàn toàn đầu hàng bệnh tật rồi. Những điều riêng tư căn bản nhất bây giờ đã bỏ thầy ra đi - đi tắm, lau mặt mũi, rửa ráy các chỗ kín. Thầy dựa vào người khác hầu như tất cả mọi thứ. Ngoại trừ thở và nuốt thức ăn là thầy tự làm lấy!
Tôi hỏi thầy làm sao thầy có thể lạc quan trong tình trạng như thế.
“Mitch à, thật buồn cười! Ta là một người độc lập vì vậy ta có xu hướng đấu tranh chống lại các chuyện lôi thôi như được đỡ lên xe hay được thay quần áo giùm. Ta hơi xấu hổ vì nền văn hóa giáo dục chúng ta cho rằng, chúng ta phải xấu hổ khi không thể tự rửa đít cho mình. Nhưng sau đó ta suy nghĩ: hãy quên phứt những gì nền văn minh hô hào đi. Phần lớn quãng đời của mình, ta đã vứt bỏ nền văn minh, xếp xó nó rồi. Ta sẽ không xấu hổ nữa. Một sụ thỏa hiệp vĩ đại đấy chứ?
"Và con có biết điều gì xảy ra không? Điều lạ lùng nhất trần đời!"
Đó là điều gì vậy thưa thầy?
"Ta bắt đầu thích thú sự lệ thuộc của mình. Ta vui sướng khi người ta lật mình tới lật lui, xoa kem lên mông. Người ta lau trán, mát xa cẳng chân thầy. Thầy mê mẩn. Thầy nhắm mắt lại và chìm đắm trong trạng thái phiêu diêu. Dường như thầy với nó đã quen thuộc nhau từ lâu lắm rồi.
"Nó giống ta trở lại là một đứa trẻ. Ai đó nâng ta lên, vuốt ve ta. Tất cả chúng ta đều đã trải qua thời ấu thơ đã biết thế nào là một đứa trẻ. Nó ở bên trong con người ta. Với ta, chỉ là nhớ lại và hưởng thụ.
"Thật vậy. Khi mẹ ôm ta, vỗ về ta, xoa đầu ta, biết bao nhiêu cho vừa - không ai cảm thấy bằng lòng là đủ. Chúng ta hoài niệm, khắc khoải được trở lại những ngày bé thơ, được cưng nựng - tình yêu vô điều kiện, sự quan tâm vô điều kiện. Tất cả chúng ta đều chưa thưởng thức trọn vẹn.
"Thầy biết là mình đã thiếu thốn lắm!”
Tôi nhìn thầy và chợt hiểu. Thảo nào thầy rất thích tôi cúi xuống và chỉnh sửa chiếc micrô, vuốt lại mấy cái gối, hay lau mắt cho thầy. Sự đụng chạm giữa con người với nhau. Thầy đã cho đi như một người lớn, và nhận lại như một đứa trẻ.
Ngày hôm đó, chúng tôi nói về tuổi già, chính xác hơn là nói về nỗi ám ảnh tuổi già - một trong những vấn đề nằm trong danh sách "CÁI GÌ GẶM NHẤM THẾ HỆ TRẺ" của tôi. Ngồi trong xe từ sân bay Boston tới đây, tôi nhẩm đếm những bảng quảng cáo lớn treo vắt vẻo giữa phố. Một tráng niên đội mũ cao bồi, miệng ngậm điếu thuốc một cách điệu nghệ; hai cô gái xinh đẹp mỉm cười rạng rỡ bên chai dầu gội đầu; một thiếu niên hấp dẫn mặc quần Jeans không kéo khóa, một phụ nữ sexy trong chiếc váy nhung đen đứng ngả ngớn bên một người đàn ông mặc áo dạ hội - cả hai cùng cầm chung một ly rượu whisky nâng lên.
Tôi không ám chỉ tới bất kỳ ai đã bước qua tuổi 35. Tôi thú thật với thầy Morrie là hình như mình đã bước sang bên kia sườn đồi, đã cố nấn ná hòng ở lại đỉnh. Tôi làm việc như điên. Tôi kiểm tra đường ngôi trong gương. Tôi đã không còn ở giai đoạn tự hào về tuổi tác của mình nữa - không cần phải nuôi dưỡng hay o bế nó nữa. Nhưng có lẽ những gì tôi làm là để níu kéo nó ở lại vì lo sợ mình đã quá cận kề tuổi 40. Một sự quên lãng chuyên nghiệp!
Thầy Morrie nhìn tuổi tác với viễn cảnh sáng sủa hơn.
"Tất cả những thứ đó trĩu nặng trên vai tuổi trẻ - Ta không mua chúng đâu! Nghe này. Ta rành nỗi thống khổ của tuổi trẻ, vì vậy đừng nói với ta là điều đó thật tuyệt! Lũ trẻ đến cầu cứu ta với những cuộc đấu tranh, gây gổ, và cảm giác trống vắng. Quan niệm về cuộc đời của họ thật bi đát - thảm hại đến nỗi họ tự sát...
"Cộng với những bất hạnh, tuổi trẻ còn không thông thái. Họ u mê về cuộc đời. Ai mà thiết sống khi không hiểu cái gì đã, đang và sẽ diễn ra cơ chứ!? Khi người ta lừa phỉnh anh, dụ anh mua nước hoa để trở nên đẹp đẽ hoặc hãy mua quần jeans để trở nên gợi cảm - anh tin lời. Thật nhảm nhí!"
"Thế thầy chưa từng lo lắng tuổi già ập đến sao?" Tôi hỏi.
"Mitch à! Ta ôm ấp tuổi già, đón nhận nó vào lòng."
"Ôm ấp cơ ạ?"
"Thật đơn giản, khi càng già ta càng học thêm được thêm nhiều điều. Nếu ta cứ mãi ở tuổi 22, thì ta luôn luôn ấu trĩ như tuổi 22. Già đi không có nghĩa là khô héo đi. Con biết không? Điều đó có nghĩa là ta lớn lên. Nó vượt xa cái ý nghĩ tiêu cực rằng ta sẽ chết. Nó tích cực ở chỗ ta hiểu rằng ta sẽ chết. Để rồi ta sẽ sống tử tế hơn".
"Vâng, thưa thầy" - Tôi thắc mắc - "Nhưng nếu tuổi già quý báu như thế thì tại sao người ta cứ hay phải thốt lên: "Ôi, ước gì tôi được trẻ lại". Thầy có bao giờ nghe ai đó thổ lộ kiểu: "Tôi mong mình 65 tuổi" chưa ạ?"
Thầy mỉm cười:
"Con có biết điều đó phản ánh cái gì không? Một cuộc sống không như ý! Sống không đầy đủ! Sống không có ý nghĩa! Vì nếu tìm ra niềm vui sống, ta  sẽ không muốn quay trở lại. Ta muốn lớn lên. Ta muốn thấy nhiều hơn, làm nhiều hơn. Ta không thể chờ đến năm 65 tuổi".
"Con nghe kỹ điều ta nói đây. Con phải biết một điều gì đó. Tất cả những người trẻ tuổi nên biết một điều gì đó. Nếu ta luôn chống chọi lại sự già nua, thì ta luôn luôn u uất vì nó sẽ đến. Và Mitch này..."
Thầy hạ giọng:
"Vấn đề là, rồi thế nào cuối cùng ta cũng phải chết!"
Tôi gật đầu.
“Điều ta tự nói với chính mình chẳng là cái gì cả".
"Con biết, thưa thầy".
"Nhưng hy vọng nó sẽ không lâu lắc", thầy thì thào.
Thấy nhắm mắt trong vẻ bình thản, rồi nhờ tôi sửa lại cái gối sau đầu. Thầy cần sửa sang tư thế cho thoải mái luôn. Cơ thể thầy được chèn trong chiếc ghế đẩu bằng gối trắng, nệm mút vàng, và khăn lông xanh. Thoạt nhìn, trông cứ tưởng như thầy khăn gói để chuẩn bị nhổ neo ra khơi.
"Cám ơn con", thầy nói khi tôi nắn lại chiếc gối.
“Dạ không có chi".
"Mitch, con đang nghĩ gì vậy?"
Tôi ngập ngừng:
"À... Dạ... con đang tự hỏi làm sao mà thầy không ganh tị với những người trẻ trung, mạnh khỏe".
"Ồ, thầy nghĩ là có đấy!", thầy nhắm mắt lại - "Ta ganh tị họ có thể đi tới các câu lạc bộ thể dục thể hình, đi bơi, đi khiêu vũ - nhất là đi khiêu vũ. Nhưng sự ganh tị đến với ta, ta đuổi nó đi. Em có còn nhớ sự siêu thoát không? Hãy tống cổ nó đi. Hãy tự nhủ: "Đó là sự tị hiềm, tôi sẽ bứt rời ra khỏi nó và bước qua!".
Thầy ho, một tràng dài. Thầy ấn một chiếc khăn vào miệng và khạc nhổ yếu ớt vào đó. Ngồi bên, tôi cảm thấy khỏe khoắn hơn thầy gấp nhiều lần. Thật lố bịch! Tôi có thể cầm thầy lên, quăng thầy qua vai mình như thảy một bịch bông. Thế mà tôi lại cảm thấy lúng túng với ưu thế của mình. Có thể, tôi hiểu mình không thể vượt trội hơn thầy về bất cứ mặt nào khác.
"Làm thế nào thầy có thể lánh xa sự ganh tị..."
"Cái gì?"
"Thầy á?"
Thầy mỉm cười.
“Mitch này! Người già thật khó mà không ganh tị với người trẻ. Nhưng vấn đề là hãy công nhận mình là ai và hãy hoan hỉ với nó. Con đang ở tuổi ba mươi. Ta cũng đã có thời ở tuổi của con. Và bây giờ đây, ta đang ở tuổi 78.
"Con cần phải tìm cho ra xem hiện tại điều gì làm cho cuộc sống của con đẹp đẽ, chói lọi, và không ảo tưởng. Nhìn lui sẽ khiến con đua tranh. Mà tuổi tác không phải là ý niệm tranh đua".
Thầy thở ra và hạ mắt xuống, như thể ngắm nhìn hơi thở mình phát tán trong không trung.
"Sự thật là, trong con người thầy có đủ mọi tuổi tác. Thầy là một đứa trẻ 3 tuổi, 5 tuổi; thầy là một thanh niên 37, một người đàn ông 50 tuổii. Thầy đã kinh qua tất cả và hiểu hết. Thầy sướng vui làm đứa trẻ khi thích hợp là trẻ con. Thầy mừng rỡ làm ông già hóm hỉnh nếu tình thế thích hợp cho thầy là một ông già. Thầy nghĩ đến tất cả những con người mà thầy có thể hóa thân vào. Thầy đã đi qua mọi lứa tuổi, cho đến tuổi hiện tại của thầy đây. Con hiểu chứ?"
Tôi gật đầu.
"Vậy thì ta còn ganh tị gì nữa khi chính mình đã từng trẻ tuổi?
0
TUẦN THỨ TÁM
CHÚNG TÔI NÓI VỀ TIỀN BẠC
 
Tôi cầm tờ báo lên cho thầy Morrie đọc.
TÔI KHÔNG MUỐN TRÊN MỘ BIA MÌNH CÓ KHẮC DÒNG CHỮ: “TÔI KHÔNG BAO GIỜ LÀM CHỦ ĐƯỢC MỘT MẠNG LƯỚI.”
Thầy Morrie cười phá lên, lắc đầu. Ánh nắng ban mai chiếu rọi qua ô cửa sổ sau lưng thầy, đậu xuống chậu dâm bụt màu hồng đặt nơi bệ cửa. Trùm cá mập truyền thông đại chúng Ted Turner, nhà sáng lập đài CNN than thở mới thống thiết làm sao vì không giành giật được mạng CBS tại cuộc thương lượng đa công ty! Sáng nay tôi đem câu chuyện này kể cho thầy nghe, xem ông tỉ phú lẫy lừng này có giành dược một vị trí nào đó trong trái tim vị cựu giáo sư của tôi hay không. Hơi thở thầy biến mất, cơ thể cứng đờ, cuộc sống của thầy hắt hiu từng ngày - liệu thầy có hăng hái chuyện làm chủ một mạng lưới?
“Đó là tất cả mọi mặt của cùng một vấn đề đấy. Mitch à. Chúng ta đặt giá trị của mình lên điều sai trái. Và nó dắt mũi chúng ta tới cuộc sống ảo tưởng viễn vông. Thầy nghĩ ta nên bàn về chuyện này."
Thầy lưu tâm cao độ. Có ngày tốt ngày xấu. Hôm nay thầy có vẻ khá hơn. Đêm qua có một nhóm nhạc acappella địa phương tới đàn hát cho thầy vui. Nghe thầy hào hứng kể lại, tôi ngỡ như chính nhóm Ink Spot nổi danh ghé thăm vậy. Ngay trước khi ốm nặng, thầy đã mê âm nhạc lắm. Bây giờ tình yêu đó còn mãnh liệt hơn - nó khiến thầy ứa nước mắt. Thỉnh thoảng thầy vẫn nghe nhạc opera vào ban đêm, hòa mình vào mỗi làn điệu trầm bổng.
"Lẽ ra con nên nghe họ chơi. Thật là mê ly", thầy xuýt xoa.
Thầy vốn thường đam mê những thú vui bình thường, hát, cười sảng khoái, khiêu vũ. Hơn bao giờ hết, hiện vật chất đã không còn hoặc còn rất ít ý nghĩa đối với thầy. Khi chết, người ta luôn nghe văng vẳng bên tai lời răn bảo: "Anh không thể mang của cải theo cùng". Thầy Morrie hình như đã biết điều đó từ lâu lắm rồi.
"Nước Mỹ sở hữu một phương pháp tẩy não độc chiêu" - thầy thở dài não nề "Con có biết người ta làm gì để tẩy não nhau không? Người ta lập đi lập lại một điều gì đó - liên miên không ngớt. Ở đất nước này, người người tôn sùng cách thức tra tấn lỗ tai của nhau. Sở hữu vật chất thì rất tốt. Có nhiều của cải hơn thì thật tuyệt. Buôn bán thông thương phát đạt là điều đáng mơ ước. Nhiều, hãy nhiều hơn nữa, càng nhiều càng tốt, tiến lên và tiến lên. Bọn họ nhắc tới nhắc lui, ra rả thâu đêm suốt sáng - cho đến khi chúng ta mụ mẫm cả người, đến độ không còn tâm trí nghĩ đến chuyện gì khác hơn là kiếm tiền. Bao nhiêu con người ngụp lặn bì bõm trong dòng tư tưởng thời thượng đó - và không còn biết đến điều gì khác quan trọng trên đời.
"Bất cứ khi nào, bất cứ nơi đâu thầy đặt chân tới, thầy đều bắt gặp những con người muốn ăn tươi nuốt sống một cái gì đó mới mẻ. Họ ngấu nghiến một chiếc xe hơi; vồ vập một thứ đồ trang sức; háo hức một món đồ chơi mới nhất. Chưa đủ! Họ lại còn muốn những người khác trầm trồ thán phục điều họ có và điều họ làm: "Hãy đoán xem tôi đạt được điều gì? Hãy đoán xem tôi nhận được cái gì?"
"Con biết không Mitch, ta luôn tìm cách lý giải bản chất của hiện tượng này. Ôi chao! Niềm khao khát tình yêu của những con người hay chạy theo vật chất cháy bỏng quá, da diết quá nên họ đành phải chấp nhận giải pháp thay thế. Họ nâng niu quý mến của cải; họ thực dụng - những mong vật chất có thể thay thế được vòng tay ôm ghì hoặc nụ hôn nồng nàn của người thân. Nhưng làm sao chuyện đó xảy ra được cơ chứ! Ta không thể đem nhà cửa ra đổi lấy tình yêu và sự âu yếm. Ta không thể lấy đô la ra để lấn lướt sự dịu dàng và tình đồng chí.
“Tiền bạc hay quyền lực đều không thể là thứ thay thế được cho nghĩa nhân - cái cách chúng ta đối xử với nhau chân tình mới đáng kể. Ta quả quyết với con rằng, khi ta ngồi hấp hối ở đây - hay đối với bất cứ ai sắp lìa xa cõi đời - thì cả tiền bạc lẫn quyền lực (cho dù dồi dào và phong phú tới cỡ nào) đều không mang lại cho thầy cái cảm giác lâng lâng mà thầy đang ráo riết tìm kiếm".
Tôi kín đáo liếc quanh phòng làm việc của thầy. Mọi thứ vẫn y nguyên như ngày đầu tôi tới với thầy. Tùng hàng sách vẫn nằm im trên kệ. Vài tờ giấy vẫn mở hờ hững trên chiếc bàn cũ. Các căn phòng vẫn chưa chỉnh trang hay nâng cấp thêm. Đã nhiều năm nay rồi, thầy Morrie không mua sắm đồ đạc mới - trừ các thiết bị và dụng cụ y tế! Cái ngày thầy nhận ra mình ốm nghiêm trọng cũng là ngày thầy mất đi hứng thú sắm sửa.
Vậy đó! Cái tivi cô thầy thường cùng nhau xem, chiếc xe hơi cô Charlotte lái đi làm mỗi ngày đều vẫn là những đồ lỗi mốt cũ kỹ. Cả bồn nước, bát đĩa, bộ đồ ăn bằng bạc, khăn trải bàn cũng thế. Tuy nhiên, căn nhà đã biến đổi thần kỳ. Nó chan hòa tình yêu tình gia đình, tình bạn, tình đồng nghiệp, tình thầy trò. Nó râm ran tiếng nói cười, tiếng giảng giải lẽ sống, tiếng rủ rỉ khuyên răn. Nó là nơi họp mặt của các vị giáo sư đáng kính, các nhà doanh nghiệp, các luật sư thành đạt, các y bác sĩ tất bật, các chuyên gia liệu pháp lặng lẽ, và cả nhóm nhạc acappella địa phương. Nó đã trở thành một căn nhà giàu có, dù cho tài khoản trong ngân hàng của thầy vơi đi nhanh chóng.
Thầy trầm ngâm:
"Một sự giằng xé dữ dội giữa điều ta muốn với điều ta cần. Chúng ta cần thực phẩm, nhưng chúng ta lại muốn kem trái cây sôcôla. Chúng ta phải tự thành thực với chính mình. Rõ ràng, anh không cần chiếc xe hơi thể thao đời mới nhất. Anh cũng không cần ngôi biệt thự rộng lớn nhất. Sự thật trớ trêu là, anh không cảm thấy thỏa mãn với những thứ đó. Chính anh mới biết đích xác điều gì làm cho anh mãn nguyện!"
Thầy nói cái gì ạ!?
"Hãy cho người khác những gì con phải cho!"
Lời thầy nghe sao giống như lời tuyên thệ của hướng đạo sinh.
"Ta không có ý nói đến tiền bạc, Mitch à. Điều ta muốn nêu bật ở đây là thời gian, là mối lo lắng, là những cuộc chuyện trò kia! Những điều đó không quá khó khăn lắm đâu. Gần đây có một trung tâm dưỡng lão. Rất nhiều người già đến đó hàng ngày. Các nam thanh nữ tú với bất cứ kỹ năng gì khả dĩ truyền đạt cho người khác - như vi tính chẳng hạn - đều luôn được dang tay đón nhận. Họ rất biết ơn anh. Bằng cách cho đi những gì mình có, anh đã khởi đầu nhận được sự trọng vọng và sự ngưỡng mộ.
"Những nơi như thế có rất nhiều. Ta chẳng cần phải có tài năng kiệt xuất mới giúp đỡ được họ. Những người cô đơn trong những bệnh viện hay nhà mở đang đau đáu khát khao tình đồng loại. Anh có thể đến chơi bài với các ông bà lão, anh sẽ tìm ra lòng tự trọng mà từ trước tới nay anh chưa hề cảm nhận được bởi vì người ta rất cần anh.
"Con hãy ghi nhớ điều ta nói về việc tìm ra ý nghĩa cuộc sống? Ta đã viết ra rồi, nhưng bây giờ ta có thể nhắc lại: Hãy hết lòng yêu người, hãy gắn bó mật thiết với cộng đồng quanh ta, và hãy chí thú tìm kiếm điều có thể mang lại cho ta mục đích cùng ý nghĩa cuộc sống.
"Con nên nhớ trong đầu rằng", thầy toét miệng cười nói thêm - "tất cả những điều đó không dính líu gì đến lương bổng cả!"
Tôi lọ mọ ghi chép vào xấp giấy màu vàng. Hí húi đưa bút chẳng qua chỉ vì tôi không muốn thầy nhìn vào mắt mình - sợ thầy đọc được suy nghĩ của tôi. Suốt quãng đời từ khi tốt nghiệp, tôi đã nhắm mắt nhắm mũi chạy đuổi theo những gì mà thầy chống lại kịch liệt - tiện nghi vật chất, nhà cao cửa rộng. Tôi đã lao đi cùng với đoàn vận động viên giàu có và nổi tiếng - hăm hở vươn tới một cái đích vô hình. Tôi tự thanh minh rằng những nhu cầu của tôi rất thực tiễn; rằng lòng tham của tôi thật nhỏ nhặt so với tham vọng của vô khối người.
Tôi đang còn hoang mang trước màn khói bảng lảng thì thầy Morrie đã khéo vén nó lên:
“Mitch à! Nếu ta cứ cố khoa trương cho những người thuộc tầng lớp thượng lưu coi, thì hãy quên điều đó đi. Họ sẽ nhìn xuống ta bằng nửa con mắt! Còn nếu như ta muốn "làm màu" cho những người cùng đinh ngước lên xem, thì hãy cũng quên đi. Ta sẽ chẳng khơi dậy trong họ điều gì khác hơn là sự ghen tị! Địa vị không dẫn ta đi đâu cả. Chỉ mở toang trái tim ra mới cho phép ta bay bổng giữa mọi người".
Thầy ngừng lại, nhìn tôi:
"Thầy đang chết phải không?"
Thầy không cần câu trả lời của tôi.
"Thưa thầy, nhưng mà tại sao thầy lại nghĩ rằng ta phải rộng lòng thấu hiểu những vấn đề của người khác, trong khi chính bản thân mỗi người chúng ta đây đều phải quằn quại với nỗi đau bi thiết của riêng mình?"
"Tất nhiên là ai cũng có nỗi thảm sầu riêng. Nhưng chỉ có tấm lòng hướng về người khác mới khiến ta cảm thấy mình đang sống. Không phải xe hơi hay cái nhà của ta; không phải diện mạo của ta trong gương làm được điều ấy! Khi thầy san sẻ thời gian của mình cho ai đó; khi thầy làm cho một người nở nụ cười sau nỗi mất mát của họ. Chỉ những khi ấy thầy mới cảm thấy tràn trề sinh lực hơn bao giờ hết.
"Con hãy làm những gì trái tim mách bảo. Khi đó, con sẽ được thanh thản, con sẽ không thèm khát, đố kỵ với người khác. Ngược lại, lòng con sẽ trĩu nặng những cảm xúc tiêu cực vì không được đền đáp.”
Thầy ho húng hắng rồi với tay tìm chiếc chuông treo trên ghế. Thầy quờ quạng mấy lần không thấy, nên tôi phải ấn nó vào tay thầy.
"Cám ơn con", thầy nói sẽ sàng và rung chuông yếu ớt gọi Connie.
"Cái tay Ted Turner này không thể nghĩ tới cái gì khác hơn cho bia mộ của mình sao?" Thầy tủm tỉm cười.
0
“Mỗi đêm đi ngủ, tôi chết.
Và sớm hôm sau, tôi tái sinh khi thức dậy”
MAHATMA GANDHI
0
TUẦN THỨ CHÍN
CHÚNG TÔI NÓI VỀ PHUƠNG CÁCH TÌNH YÊU DÂNG TRÀO
 
Lá cây ngả vàng, lìa cành, bay chấp chới dọc West Newton. Ngược lên Detroit, tiến trình đàm phán của công đoàn đang lâm vào bế tắc - phe này lên án phe kia không chịu hợp tác. Các chương trình tin tức thời sự loan đi những mẩu tin giật gân. Tại vùng nội ô Kentucky, ba kẻ đầu gấu ném tấm bia mộ vỡ vụn của một người đối lập lên cầu. Một toán quân phiến loạn trong cuộc xung đột sắc tộc đập nát cửa kính xe hơi lại qua, giết chết một bé gái đang trên đường đi hành hương cùng gia đình. Ở California, phiên tòa xét xử cầu thủ bóng chày O.J.Simpson bước sang hồi gay cấn. Cả nước Mỹ hừng hực. Trong phi trường, đài CNN trang bị hẳn cả màn hình cỡ lớn, giúp hành khách cập nhật phiên tòa ngay từ cổng dẫn ra đường băng.
Tôi cố gọi điện cho em trai mình ở Tây Ban Nha năm sáu bận - khẩn khoản muốn hàn huyên với em "vì bấy lâu nay anh đã ngẫm nghĩ rất nhiều về chuyện anh em mình". Vài tuần sau, em báo qua điện tín: mọi thứ vẫn đâu vào đấy, nhưng em xin lỗi vì không thích bàn bạc đến bệnh tật.
Ồ! Với người thầy tôn kính của tôi, bệnh tật không chỉ được nhắc tới mà chính nó đang nhấn chìm thầy. Cả tuần nay, cô y tá đã phải đút ống thông vào niệu quản của thầy cho nước tiểu chảy qua một vòi cao su tới cái bịch đặt dưới chân ghế. Chân thầy cần phải được xoa bóp thường xuyên. Trừ phi chúng nhúc nhích khỏi gối đệm vài inch (1 inch + 0.33m), còn đâu thầy cảm thấy đau xốn óc như bị ai chọc mạnh cái xiên vào đùi - dù chúng không thể nhúc nhích, động đậy (một trong những trò đùa dai gớm ghiếc của căn bệnh ALS đây mà!). Khi tiếp chuyện, thầy hay nhờ khách nâng chân lên đôi chút, hay sửa lại cái đầu cho ngay với gối. Tôi rùng mình tưởng tượng ra cảnh mình không thể tự nâng đầu mình.
Mỗi lần tôi đến, thầy đều như tan biến vào trong chỗ ngồi - xương sống rệu rã uốn cong theo hình ghế. Mỗi sáng, thầy vẫn đòi được nâng dậy, dìu qua phòng làm việc, đặt vào giữa đám sách vở, giấy tờ cùng cây dâm bụt trên bậu cửa sổ. Thật là nét điển hình trong tính cách của thầy khi thấy có điều triết lý gì đó toát lên từ khung cảnh này.
"Ta đã tóm gọn sự thể trong một câu cách ngôn mới nhất như thế này."
Tôi dỏng tai lắng nghe.
"Khi anh nằm trên giường tức là anh đã chết rồi".
Thầy cười. Chỉ có thầy mới cười được với chuyện như thế.
Thầy vẫn thường nhận được điện thoại từ đám phóng viên chương trình truyền hình Câu chuyện hàng đêm trong đó có cả Ted Koppel.
"Họ muốn đến phỏng vấn ta một lần nữa, nhưng họ nói họ muốn chờ", thầy thuật lại.
Còn chờ cái gì nữa? Chẳng phải thầy sắp trút hơi thở cuối cùng sao?
"Có lẽ. Cũng không còn bao lâu đâu."
Xin thầy đừng nói vậy.
"Ta xin lỗi con".
Tôi phát cáu vì người ta muốn chờ đến khi thầy tôi khô héo quắt queo.
Thầy cười xuề xòa:
"Con đừng hậm hực! Có vẻ họ đang sử dụng thầy cho một màn kịch nhỏ. Tốt thôi! Có lẽ thầy cũng đang sử dụng họ. Họ giúp thầy truyền đạt thông điệp tới hàng triệu người. Thầy không thể làm được điều đó nếu như không có họ. Đó là một thỏa hiệp mà!"
Thầy bật ho. Cơn ho bỗng hóa thành tiếng súc miệng khùng khục và mãi mới kết thúc bằng một cục đờm trên chiếc khăn nhàu nát.
"Dù sao, Mitch con. Ta cũng nên nhắc họ tốt hơn không nên chờ quá lâu vì ta sắp mất giọng rồi. Khi cái của nợ này - thầy chìa cục đờm ra - đụng phải phổi là ta không thể nói được lời nào. Ta chẳng thể nói lâu mà không nghỉ lấy sức. Ta đã hoãn lại nhiều cuộc hẹn, nhiều lắm. Ta yếu quá! Nếu không thể quan tâm đúng mực tới họ, ta không thể giúp được họ đến nơi đến chốn".
Tôi nhìn cái máy ghi âm mà cảm thấy tội lỗi, như thể mình đã cướp lấy tất cả thời gian quý báu còn lại của thầy.
"Chúng ta thôi luôn được không thầy". Tôi rụt rè hỏi. "Thầy mệt quá rồi ạ!"
Thầy nhắm mắt và lắc đầu. Dường như thầy đang chờ cho cơn đau đi qua.
"Không! Cả thầy và con cần phải tiếp tục". Thầy cương quyết. "Đây là đề án cuối cùng hai chúng ta làm chung với nhau, con biết đấy!"
Tôi nhớ lại công trình đầu tiên chúng tôi cùng làm với nhau ở đại học - dĩ nhiên là từ đề nghị của thầy Morrie. Nếu thầy không bảo rằng tôi có khả năng viết một chương trình danh dự thì có lẽ chẳng đời nào tôi nghĩ đến.
Giờ đây chúng tôi lại bên nhau, lại cùng làm chuyện cũ. Khởi sự bằng một ý tưởng. Một ông già đang hấp hối nói chuyện với một thanh niên mạnh khỏe, nhắn nhủ hắn ta phải biết điều gì. Lần này tôi không bị thầy hối thúc phải hoàn thành mau mau như thuở nào!
"Hôm qua có người hỏi thầy một câu thú vị”. Thầy hồ hởi nói, ánh mắt lướt qua vai tôi dán vào bức thảm treo tường.
Đó là tấm thảm đề những vần thơ chan chứa niềm hy vọng bạn bè tặng nhân dịp mừng thọ thầy 70 tuổi: HÃY BÁM TRỤ ĐƯỜNG CHẠY. ĐIỂM MẤU CHỐT LÀ SỨC SỐNG. MORRIE THÂN VÊU. BẠN MÃI LÀ TẤM GUƠNG SÁNG CHÓI VỀ TINH THẦN DẺO DAI.
"Câu hỏi đó là gì ạ?" Tôi bồn chồn.
"À, họ hỏi thầy có sợ bị quên lãng sau khi chết hay không".
"Thế thầy có sợ không ạ?"
"Thầy nghĩ mọi người vẫn sẽ luôn nhớ tới mình. Thầy có rất nhiều bạn bè thân thiết - từng gắn bó keo sơn với nhau. Và tình yêu là thứ giữ cho ta sống ngay cả khi ta đã từ giã cõi đời”.
Nghe dạt dào như câu thơ: “Tình yêu bảo bọc ta giữa đời".
Thầy nghẹt thở.
"Có lẽ thế thật! Nhưng Mitch này! Tất cả những điều đó hàm ý điều chúng ta đang làm, phải không? Đã bao giờ con vẫn còn nghe văng vắng tiếng thầy khi về tới nhà khi ngồi âm thầm một mình, khi thiu thiu trên máy bay, hay khi đang lái xe?"
"Vâng, có ạ!" Tôi thừa nhận.
"Thế thì con sẽ không quên thầy khi thầy ra đi. Hãy nghĩ tới giọng nói của thay thì thầy sẽ hiện hữu”.
“Vâng, con sẽ luôn nhớ tới giọng nói của thầy!"
"Nếu con muốn khóc tí chút thì cứ khóc đi".
Thầy ơi! Thầy vốn luôn khiến con muốn khóc - ngay từ khi con còn là một sinh viên năm nhất.
"Một ngày buồn bã nào đó thầy sẽ đến bên con".
"Vâng, vâng... Con sẽ chờ thầy..."
0
"Thầy đã quyết định xong điều thầy muốn khắc trên bia mộ mình”.
Tôi không muốn nghe thầy nói về mộ chí.
"Tại sao vậy? Nó làm con khó chịu hả? Thế thì thôi không nói về nó nữa vậy!"
"Không, không ạ! Con muốn nhìn thẳng vào nó. Thầy đã quyết định điều gì rồi ạ?"
Thầy liếm môi:
"Thầy đang nghĩ đến dòng chữ này: Một Nhà Giáo Tận Tụy Đến Phút Cuối".
Thầy chờ trong khi tôi cảm thụ.
Một Nhà Giáo Tận Tụy Đến Phút Cuối
"Con thấy có được không?" Thầy gặng hỏi.
"Vâng, rất tuyệt ạ!"
0
Tôi yêu quý cung cách thầy Morrie bừng sáng khi tôi bước vào. Thầy hay phấn khởi như thế với bất kỳ ai. Tôi biết chứ! Nhưng tài năng tuyệt vời của thầy thể hiện ở chỗ nó khiến cho mỗi người mỗi cảm thấy nụ cười thầy dành cho mình có nét độc đáo riêng biệt, không thể lẫn lộn vào đâu.
"Hà, hà... anh bạn bồ tèo của tôi đây rồi" - thầy thường đón tôi với cung giọng khàn khàn cao vút. Nó không đơn thuần dừng lại ở lời chào đon đả. Khi thầy ở bên ai là thầy thật sự hướng toàn tâm toàn ý vào người đó. Thầy nhìn thẳng vào mắt họ, lắng nghe như thể họ là người duy nhất trên thế gian. Con người chúng ta ắt sẽ thuận hòa biết chừng nào, nếu như chúng ta đều bắt đầu mỗi ngày theo cách này - thay vì kiểu ậm ừ dấm dẳng của người bồi bàn, của anh tài xế tắc xi, hay của ông thủ trưởng.
"Thầy tin tưởng hoàn toàn vào sự hiện diện. Có nghĩa là ta phải thật tình ở bên người tiếp chuyện với ta. Lúc thầy đang nói chuyện với em đây, Mitch à, thầy chỉ cố tập trung vào những gì giữa hai chúng ta thôi. Thầy không nghĩ về điều chúng ta đã nói hồi tuần trước. Thầy không đề cập tới chuyện gì sẽ xảy ra vào thứ Sáu này. Thầy cũng không kể về cuộc phỏng vấn tiếp theo của Koppel, hay về chuyện thầy sẽ uống thuốc gì. Thầy đang nói chuyện với em, và về em".
Đầu óc tôi lang thang hồi tưởng lại ngày xưa, lúc tôi còn sinh hoạt trong Nhóm Hành Động, thầy đã dạy chúng tôi quan điểm này. Hồi đó, tôi đã nghe như uống từng lời. Phải chăng nó chỉ là một bài học trong khóa đào tạo? Nó quan trọng đối với cuộc sống thực tiễn như thế nào? Ngay giây phút này đây, tôi hiểu rằng nó có giá trị hơn hẳn mọi thứ người ta đã dạy chúng tôi ở trường đại học.
Thầy sờ soạng tìm tay tôi, và khi đưa tay mình đặt vào tay thầy tôi bỗng thấy mình thật tệ hại. Con người này đây, nếu muốn, đều có quyền tiêu tốn từng giây phút để mà tủi thân, để cảm thấy cơ thể mình đang teo tóp đi, hoặc để đếm từng hơi thở khò khè. Quá nhiều người trong chúng ta chỉ gặp chuyện bé cỏn con mà đã làm mình làm mẩy than khóc ỉ ôi. Con mắt họ đờ đẫn nếu có ai đó nói dài hơn 30 giây. Họ còn có điều gì khác trong tâm trí - gọi điện cho một người bạn, gởi đi một bức fax, mộng tưởng về hình bóng người yêu. Họ chỉ bừng tỉnh sau khi ta ngưng nói, và trả lời chiếu lệ: "Ừ hử"; hoặc "Ồ, thật thế hả?" rồi đâu lại vào đó.
"Một phần của vấn đề, Mitch à, đó là người ta quá vội vã". Thầy lý giải "Người ta không tìm thấy ý nghĩa cuộc sống, vì vậy họ chạy như đèn cù để tìm kiếm. Họ nghĩ về chiếc xe hơi, về căn nhà hay công việc kế tiếp. Nhưng buồn thay! Sau đó họ lại thấy các thứ kia thật là vô nghĩa, và rồi họ lại tiếp tục hối hả chạy".
"Một khi ta đã bắt đầu chạy thì thật khó có gì kìm thắng nổi ta lại". Tôi góp lời.
"Không khó thế đâu". Thầy lắc đầu "Con có biết thầy làm gì không? Hồi thầy còn lái xe được, khi có người muốn vượt qua mặt thầy trên đường, thầy thường hay giơ tay lên..."
Thầy cũng cố giơ tay lên để minh họa, nhưng cánh tay thầy chỉ nhấc được chừng vài inch.
“… Thầy giơ tay lên như thể làm một cử chỉ chịu thua, rồi thầy vẫy tay và mỉm cười. Thay vì giơ ngón tay không chịu nhường đường, con hãy để cho họ đi và mỉm cười với họ. Con biết không? Hầu như lần nào họ cũng mỉm cười trở lại".
"Sự thật là thầy không việc gì phải vội vã lái xe chạy thục mạng. Thầy thích nhắm năng lượng của mình vào con người hơn".
Thầy đã làm điều này giỏi hơn bất kỳ ai mà tôi biết. Những người ngồi kế thầy đã từng trông thấy mắt thầy ươn ướt khi họ bày tỏ chuyện buồn khủng khiếp hoặc ánh lên nét cười khi họ kể cho thầy nghe một câu chuyện tiếu lâm hạng bét. Thầy luôn sẵn sàng bộc lộ những cảm xúc mà hình như đã biến mất ở thế hệ bùng nổ trẻ em chúng tôi (ở đây ý nói đến những người được sinh ra trong thập niên 1960). Chúng tôi chỉ giỏi nói chuyện xã giao: "Anh làm gì? Anh sống ở đâu?”, nhưng bao nhiêu lâu một lần chúng tôi mới thật sự lắng nghe ai đó, và được ai đó lắng nghe, mà không cố lợi dụng gì ở họ, xin họ cho đi quá giang, mong họ tuyển dụng mình, hay muốn được họ thăng chức? Tôi tin chắc những vị khách đến thăm thầy trong mấy tháng vừa qua bị cuốn hút không phải bởi vì họ muốn hạ cố quan tâm tới thầy mà là vì họ mong được thầy quan tâm để ý tới. Bất chấp sức tàn lực cạn, cơ thể đang tàn úa dần, người đàn ông già nua nhỏ bé này luôn lắng nghe bằng cái cách mà họ muốn người khác lắng nghe mình.
Tôi bảo thầy là người cha mà ai cũng ao ước có.
"Ờ, thầy có đôi chút kỷ niệm về điều này..."
0
Lần cuối cùng Morrie gặp cha mình là ở trong nhà xác thành phố. Ông Charlie Schwartz là một người Nga kín tiếng, thích đọc báo một mình dưới cây đèn đường trên đại lộ Tremont ở Bronx. Hàng đêm, khi Morrie còn nhỏ, ông có thói quen đi dạo sau bữa ăn tối. Những lúc ấy Morrie sẽ cùng cậu em trai David len lén nhìn qua khe cửa sổ, dán mắt vào người đàn ông nhỏ thó nước da hồng hào với mái tóc dày màu xám nhạt đang trầm tĩnh tựa lưng vào cột đèn. Và cậu bé Morrie thầm ước cha ở nhà và trò chuyện với hai anh em. Nhưng điều này thật hiếm hoi! Cha chúng cũng chẳng hề xoa đầu và nói "Chúc ngủ ngon" với chúng!
Morrie thề rằng sau này có con anh sẽ âu yếm chúng suốt ngày. Thật thế, anh đã nựng nịu những đứa con của mình không biết chán khi chúng ra đời. Ông Charlie vẫn sống ở Bronx trong thời gian Morrie lập gia đình. Thói quen đọc báo và đi dạo vẫn còn đó. Một đêm nọ khi ông đi ra ngoài sau bữa tối, cách nhà một vài khu phố, có hai tên cướp chặn ông lại.
“Đưa tiền đây", một trong hai thằng rít lên đồng thời rút súng ra chĩa vào người ông.
Quá sợ hãi, ông Charlie móc bóp quăng ra và bỏ chạy. Ông chạy khắp phố phường, tới bậc thềm nhà một người bà con rồi ngã quy xuống.
Lên cơn đau tim, ông qua đời ngay đêm hôm ấy!
Morrie được triệu tới để nhận diện nạn nhân. Anh bay thẳng từ New York tới nhà xác! Người ta dẫn anh xuống cầu thang vào phòng lạnh, nơi cất giữ thi hài người chết.
"Đó có phải là cha anh không?" Người trông coi hỏi.
Morrie nhìn cái xác sau tấm kính. Người đang nằm còng queo kia đã từng la mắng anh, giám sát anh, đã từng dạy anh học và làm. Người này đã im lặng khi Morrie muốn nói, đã bắt Morrie hãy quên đi những ký ức về người mẹ khi anh muốn tìm hiểu thế giới.
Anh gật đầu và lê bước. Bầu không khí ảm đạm, sặc mùi chết chóc của căn phòng - sau này thầy kể lại - đã bó chặt mọi chức năng của các cơ bắp trong anh. Cho mãi đến mấy ngày sau anh mới bật ra được tiếng khóc.
Dẫu sao thì cái chết của cha đã giúp Morrie tự xoay xở cho riêng mình. Anh thấu hiểu lắm: rất nhiều cái ôm hôn, tiếng nói cười, và lời "Chúc ngủ ngon" đã câm nín ra đi vĩnh viễn - đó là tất cả những gì anh không thể nhận được từ cha và mẹ mình.
Trong giờ phút biệt ly, Morrie ao ước có những người thân yêu ở bên anh, cùng san sẻ nỗi đau thương với mình. Anh không muốn bất cứ ai phải chờ đợi héo hon một cú điện thoại, một bức thư báo, hay phải nhìn qua khe của sổ lắp kính trong một tòa nhà lạnh lẽo xứ người.
0
Trong các khu rừng nhiệt đới miệt Nam Mỹ, có một bộ lạc tên là Desana. Họ coi thế giới như là một khối năng lượng kết dính tất cả mọi sinh vật lại với nhau. Mỗi một sinh vật ra đời đều sinh ra từ cái chết, mỗi cái chết đều đem lại sự sống mới - bằng cách này năng lượng vẫn luôn bảo toàn.
Khi săn bắn để lấy thực phẩm, người Desana biết rằng con thú họ giết sẽ để lại một cái lỗ trong cái giếng linh hồn. Và họ tin rằng các lỗ ấy sẽ được lấp đầy bằng linh hồn của những người thợ săn khi họ chết đi. Không có con người chết, không có con chim hay con cá nào ra đời.
Tôi thích ý tưởng này. Thầy Morrie cũng thích nó. Càng gần ngày thầy từ trần, thầy càng thấy rõ rằng chúng ta thảy đều là những sinh vật trong cùng một khu rừng. Cái gì ta lấy đi, chính ta phải trám chỗ vào.
“Điều đó là lẽ công bằng”, thầy bảo.
0
TUẦN THỨ MƯỜI
CHÚNG TÔI NÓI VỀ HÔN NHÂN
 
Tôi mang theo một vị khách mới - vợ tôi.
Ngay từ ngày đầu tôi đến, thầy cứ nhắc nhở suốt: "Chừng nào thì thầy có thể gặp Janine đây?", "Khi nào thì con mới đưa cô ấy tới thăm thầy?". Tôi luôn kiếm cớ thoái thác, cho mãi gần đây khi tôi gọi điện hỏi thăm tình hình sức khỏe thầy.
Phải chờ một lát mới nghe lao xao tiếng ai đó lọng cọng cầm ống nói ghé sát vào tai thầy - thầy thậm chí còn không tự nhấc nổi điện thoại lên!
"Hiiii" - Tôi nghe tiếng thầy thở phì phò.
"Thưa thầy, thầy có ổn không ạ?"
"Mitch... thầy của con... dạo này tệ hại lắm...". Thầy thở hắt.
Giấc ngủ của thầy càng ngày càng chập chờn. Hầu như đêm nào thầy cũng phải xài bình dưỡng khí. Tiếng ho dùng dằng nghe thất kinh như bóp gan bóp ruột, và thầy chẳng thể biết nó có dừng lại hay không. Thầy luôn bảo rằng mình sẽ chết lúc bệnh lan tới phổi. Tôi ớn lạnh xương sống, thấy cái chết quá đỗi cận kề.
"Con sẽ gặp lại thầy vào thứ Ba tới". Tôi hứa "Và thầy trò mình sẽ trò chuyện vui vẻ với nhau".
"Mitch này! "
"Dạ ?"
"Vợ con có ở đó không vậy?"
"Có ạ! Cô ấy đang ngồi sát bên con".
"Con chuyển ống nghe để thầy nói chuyện với cô ấy đi".
Tôi lập gia đình với một phụ nữ nhạy cảm hơn mình gấp nhiều lần. Mặc dù chưa bao giờ gặp thầy Morrie nhưng Janine vẫn cầm máy - nếu là tôi thì chắc hẳn tôi đã lắc đầu nguầy nguậy và nhanh nhảu ra hiệu "tôi không có nhà" "tôi không có nhà" rồi!
Nhìn kiểu cách cô liên lạc với thầy cũ của tôi, không ai mà không tưởng là hai người đã từng quen biết nhau từ hồi ở trường đại học. Đầu dây bên này tôi chỉ thấy cô nhát gừng: "Uh-huh... vâng… anh Mitch có nói với con... dạ, cám ơn thầy...".
Cô cúp máy và quyết định: "Thứ Ba này em sẽ cùng đi với anh".
Đầu đuôi sự việc là thế.
Giờ đây chúng tôi đang ngồi trong phòng làm việc của thầy - xúm xít quanh chiếc ghế xếp. Thầy Morrie - với sự tự thỏa hiệp - quả là ga lăng một cách vô hại. Thường hay phải ngừng giữa chừng cuộc đàm đạo với khách để ho hoặc để ngồi bô, thế mà chẳng hiểu sao khi nói chuyện với Janine, thầy cứ như là đã dự trữ sẵn một nguồn năng lượng dồi dào để khỏi phải làm những việc "lặt vặt" đó! Thầy ngắm nghía tấm ảnh cưới của chúng tôi mà Janine mang theo.
"Con sinh trưởng ở Detroit phải không?” Thầy ân cần.
"Vâng ạ ".
"Vào cuối những năm 1940 thầy đã dạy học ở đó khoảng một năm. Thầy vẫn còn nhớ một câu chuyện buồn cười như thế này".
Thầy ngưng lại, đôi tay lụm khụm cầm chiếc khăn mùi xoa. Tôi đỡ lấy cho thầy xì mũi vào (nhẹ hều). Tôi cẩn thận vắt sạch hai lỗ mũi thầy y như một bà mẹ chăm sóc con trong xe hơi.
"Cám ơn, Mitch". Thầy nhìn Janine nháy mắt. "Trợ thủ đắc lực của thầy đấy".
Janine mỉm cười.
"Nào, để thầy kể chuyện cho nghe. Lúc đó nhóm giáo viên xã hội học bọn thầy thường chơi bài tây với nhân viên các khoa khác - trong đó có một chàng bác sĩ phẫu thuật. Một đêm, sau khi chơi xong vài ván bài anh chàng đó đề nghị thầy: ‘Morrie này, tôi muốn xem anh giảng bài có được không?’ - Thầy đồng ý. Thế là chàng ta đến dự một trong những lớp học của thầy. Tan học, chàng này lại bảo: ‘Hay lắm, Morrie à. Thế anh có vui lòng muốn đến xem tôi làm việc hay không? Tối nay tôi có một ca mổ’. Vì muốn đáp lại tấm thịnh tình của bạn nên thầy nhận lời.
"Thầy được đích thân chàng bác sĩ chở đến bệnh viện. ‘Hãy tắm rửa sạch sẽ, đeo khẩu trang vào và khoác cái áo choàng này lên’, chàng ta ra lệnh cho thầy. Sau đó thầy chỉ biết rằng mình đứng ngay sát chàng ta bên bàn mổ. Một bệnh nhân, một phụ nữ, nằm dài trên bàn, trần truồng từ thắt lưng trở xuống. Anh chàng bạn thầy cầm con dao lên và rạch đánh xoẹt một đường. Như thế này này..."
Thầy khua ngón tay xuống.
“Thầy đứng trố mắt nhìn trân trân. Rồi thầy bắt đầu run lẩy bẩy. Ôi chao, máu! Máu ở đâu mà lắm thế! Cô y tá đứng cạnh thầy hốt hoảng hỏi: ‘Có chuyện gì vậy thưa bác sĩ?’. ‘Tôi đếch phải là bác sĩ. Hãy đưa tôi ra khỏi đây ngay lập tức!’ - Thầy quát vào mặt cô ta".
Chúng tôi cùng cười vang. Cả thầy cũng cười - cười hết cỡ mà thầy có thể cười được. Đây là lần đầu tiên trong suốt mấy tuần nay thầy mới kể chuyện cũ rôm rả như thế. Thật lạ, tôi nghĩ bụng bảo dạ, thầy sợ điếng hồn khi nhìn người khác bị bệnh, vậy mà bây giờ chính thầy lại bị ốm kịch liệt.
Connie gõ cửa, báo rằng bữa trưa của thầy đã sẵn sàng. Chẳng phải món xúp cà rốt, bánh nướng rau, hay patê Hy Lạp tôi mua cho thầy từ cửa hàng Bread & Circus. Cho dù tôi đã cố tìm mua những thức ăn mềm nhất thì chúng vẫn nằm ngoài sức nhai và nuốt của thầy! Hầu như thầy chỉ ăn thức lỏng mà thôi, cùng lắm là một ít vụn bánh mì ngâm trong sữa cho nhão nhoét ra. Cô Charlotte chủ trương xay ép tất cả mọi thứ thành nước để thầy hút bằng ống hút. Mỗi tuần tôi đều ghé siêu thị mua thức ăn đem đến - chẳng phải để thầy ăn mà chỉ để được ngắm gương mặt rạng ngời của thầy khi nhìn mấy túi đồ tôi giơ lên khoe. Tôi mở tủ lạnh. Cơ man nào là thức ăn! Tôi thầm mong một ngày nào đó chúng tôi sẽ trở lại và cùng thầy ăn một bữa trưa ra trò. Tôi có thể nhìn thấy thầy vụng về nhai nuốt cho thức ăn chảy ròng ròng thật vui mắt quanh miệng. Một hy vọng hão huyền!
"Thế thì... Janine này" Thầy gọi.
Janine nhoẻn miệng cười.
"Con rất đẹp. Con đưa tay đây cho thầy nắm".
Cô đưa tay ra.
“Mitch bảo rằng con là một ca sĩ".
"Vâng ạ".
"Anh ấy nói là con hát rất hay".
"Ồ không, ảnh chỉ nói thế thôi!" Cô cười.
Thầy nhướng đôi lông mày lên:
"Con có thể hát cho thầy nghe một bài được không?"
Cho đến bây giờ tôi đã nghe vô số người yêu cầu điếu này với Janine, kể từ khi tôi quen biết cô. Khi phải đi hát để kiếm sống, thì người ta luôn phải nghe khán giả la lối hạch sách: "Hãy hát bài này bài nọ đi!" Bị chạm tự ái nghề nghiệp, và vốn thường mực thước trong cư xử, Janine thường không bao giờ đáp ứng mà tìm cách lịch sự từ chối - điều mà bây giờ tôi mong chờ.
Nhưng cô đã cất tiếng hát.
Khi em mơ bóng anh
Em quên hết cuộc đời
Em quên hết cả những điều bình thường
Đó là một bản tình ca của Ray Noble, rất thịnh hành hồi thập niên 1930. Janine hát thật du dương - nhìn thẳng vào mắt thầy Morrie. Một lần nữa, tôi sững sờ về khả năng của thầy - biệt tài bắt người vốn dĩ thường hay dồn nén, che giấu cảm xúc phải bộc lộ ra ngoài. Căn phòng đong đầy giọng ca êm dịu của vợ tôi. Một nụ cười ngây ngất đọng trên môi thầy. Thật kỳ diệu! Trong khi cơ thể thầy xuôi xị như một bao cát thì ta lại có cảm tưởng hình như nó đang nhảy múa.
Gương mặt anh ẩn vào từng cánh boa
Em ngắm nhìn đắm say
Mắt anh lấp lánh trong ánh sao trời
Em chỉ mơ đến anh thôi
Em luôn nhớ về anh
Người yêu hỡi…
Janine hát xong. Đôi mắt thầy bỗng mở to và thầy để mặc cho hai hàng nước mắt lăn xuống má. Bao năm nay tôi đã nghe vợ mình hát rất nhiều lần, nhưng chưa lần nào tôi thả hồn vào bài hát như cái cách thầy lắng nghe lúc này.
0
Hôn nhân. Phần lớn những người mà tôi biết đều gặp phải rắc rối với nó. Người thì lận đận trên con đường bước vào. Người thì giãy giụa muốn thoát khỏi đường bước vào. Người thì giãy giụa muốn thoát khỏi ra. Thế hệ chúng tôi phải tranh đấu tận lực với nó, như thể nó là một con cá sấu xấu xí từ đầm lầy tăm tối ngoi lên!
Tôi đã từng tham dự nhiều đám cưới. Đã từng hôm trước nâng ly chúc mừng đôi uyên ương, thì hôm sau liền trông thấy chú rể ngồi ríu rít trong nhà hàng với một phụ nữ khác - mà hắn ta giới thiệu với tôi là "bạn" và phân bua nhẹ không: "Anh biết đấy, tôi đã chia tay với Susan (hay Annie gì đó) rồi". Tại sao chúng tôi lại vướng víu vào lắm rối rắm? Tôi đem thắc mắc của mình ra hỏi thầy Morrie. Chính tôi đây đã phải đắn đo suốt bảy năm trời mới quyết định cưới Janine, kể từ bữa tôi ngỏ lời yêu cô. Phải chăng những người trạc tuổi tôi cẩn thận hơn lớp đàn anh, hay đơn giản chỉ vì chúng tôi nghĩ đến bản thân mình nhiều hơn?
"Hừm! Thầy cảm thấy tội nghiệp cho thế hệ của con" - Thầy phân trần - “Sống giữa nền văn minh này, việc tìm ra được một mối quan hệ thương yêu với ai đó thật quan trọng, vì toàn bộ những gì còn lại của nền văn minh cũng không mang lại cho ta điều ta khao khát. Đám trẻ đáng thương ngày nay, họ hoặc là quá ích kỷ để dấn thân vào một mối yêu đương thực sự, hoặc là vội vã đâm đầu vào hôn nhân nhanh đến chóng mặt, để rồi sáu tháng sau, họ ly dị. Chẳng có gì đáng ngạc nhiên - họ không biết chính mình là ai thì làm sao mà có thể biết được người mình lấy làm vợ hay chồng cơ chứ!?”
Vẻ mặt thầy rúm lại. Hồi còn đứng lớp thầy đã từng tư vấn cho nhiều cặp yêu nhau bất hạnh.
"Thật đáng buồn. Bởi vì người thân yêu là rất quan trọng. Chúng ta sẽ cảm nhận rốt ráo điều đó, nhất là khi ta phải ở trong tình cảnh như thầy đây - khi không còn hơi sức nữa. Một người bạn thì tuyệt vời thật đấy! Nhưng bạn bè không thể túc trực ở đây hàng đêm nhìn ta ho và mất ngủ. Ta cần một người ở bên mình suốt đêm để an ủi, vỗ về ta, cố gắng chia sẻ nỗi đau với ta.
Cô Charlotte và thầy Morrie đã cưới nhau được 44 năm - họ gặp nhau từ hồi sinh viên. Tôi quan sát họ ở bên nhau. Cô nhắc thầy uống thuốc; ngồi bên vuốt ve cổ thầy; hay chuyện trò về những đứa con. Cô thầy đã từng làm việc chung như một đội nhóm, không cần nhiều hơn một cái liếc mắt để hiểu ra ý nghĩ của nhau. Cô Charlotte là một người kín đáo dè dặt, trái ngược với vẻ hướng ngoại của thầy Morrie, ấy thế mà thầy vô cùng nể trọng cô. Tôi biết thế vì đôi lúc đang nói chuyện với tôi, thầy bỗng bảo. "Có lẽ Charlotte không thoải mái khi thầy bật mí điều này đâu!" rồi ngưng ngay. Đó thường là lý do duy nhất khiến thầy thu hồi câu chuyện.
"Thầy học được rất nhiều thứ từ hôn nhân. Qua nó, ta có thể được kiểm nghiệm. Ta tìm ra ta là ai và người bạn đời là ai, xem cả hai xứng với nhau hay không thích hợp cho nhau".
"Thưa thầy, có quy tắc luật lệ nào báo cho ta biết cuộc hôn nhân của mình có suôn sẻ hay không?"
Tôi hỏi.
Thầy cười chúm chím:
"Sự đời không đơn giản đâu, Mitch ạ".
Tôi hiểu.
"Nhưng, vẫn có những nguyên tắc mà thầy biết là rất ứng nghiệm trong tình yêu và hôn nhân. Nếu ta không tôn trọng người bạn đời, ta sẽ gặp rất nhiều phiền toái. Nếu ta không biết cách thỏa hiệp, ta sẽ gặp khổ đau. Nếu ta không thể nói chuyện thẳng thắn với nhau, ta sẽ sống trong cảnh ức chế ngột ngạt. Nếu ta không chia sẻ cho nhau giá trị của cuộc sống, ta sẽ gấu ó nhau suốt ngày. Cả hai người phải có chung những giá trị".
"Con có biết trong mọi giá trị của cuộc sống thì đâu là giá trị lớn nhất?" Thầy chất vấn tôi.
"Không ạ."
Thầy khụt khịt mũi và nhắm mắt trong giây lát.
"Riêng thầy" - thầy thở khọt khẹt, mắt vẫn nhắm - "Thầy nghĩ rằng hôn nhân là điều ta nhất thiết phải thực hiện. Ta sẽ bỏ lỡ vô số mùi vị cuộc sống nếu ta ruồng rẫy nó".
Thầy kết thúc đề tài bằng cách trích dẫn câu thơ mà thầy tin như một lời cầu nguyện:
"Hãy yêu nhau đi, nếu không thì ngươi sẽ bị hủy diệt".
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2009-08-04 04:36:52HanAn>
“Thưa thầy, con xin phép hỏi thầy một câu”.
“Con muốn hỏi gì nào?”
"Thầy có nhớ câu chuyện về thánh Job không ạ?”
'Trong sách Thánh kinh đó phải không?”
'Đúng ạ. Job là một người tốt, nhưng Chúa bắt anh ta phải đau khổ để kiểm chứng niềm tin của anh ta”.
"Thầy nhớ rồi”.
“Chúa tước đi của anh ta mọi thứ - nhà cửa, tiền bạc, gia đình...”
"Và cả sức khỏe của anh ta nữa”.
“Bắt anh ta phải chịu đựng bệnh tật”.
'Để chứng thực lòng trung kiên của anh ta .
"Đúng, để kiềm tra sức chịu đựng của anh ta. Vì vậy mà con tự hỏi...”
"Con tự hỏi điều gì?”
“Thầy nghĩ gì về điều Chúa đã làm ạ?”
Thầy ho dữ dội. Đôi bàn tay thầy run bần bật buông dọc theo thân người.
“Thầy nghĩ rằng Chúa thật quá đáng!” - Thầy cười mông lung.
0
TUẦN THỨ MƯỜI MỘT
CHÚNG TÔI NÓI VỀ NỀN VĂN HOÁ CỦA CHÚNG TA
 
"Hãy vỗ thật mạnh vào!"
Tôi vỗ lưng thầy bồm bộp.
"Mạnh nữa!"
Tôi lấy hết sức đập lưng thầy một lần nữa.
"Ở gần vai ấy... thế... thế... Nào, bây giờ thì thấp xuống".
Thầy Morrie mặc độc chiếc quần pyjama nằm bẹp trên giường, đầu bị trật khỏi cụm gối nệm, miệng há nặng nhọc. Chuyên gia vật lý trị liệu đang chỉ cho tôi cách đấm bóp nhằm ép khí độc ra khỏi phổi thầy - để chúng hoạt động và thầy có thể thở. Thầy cần phải được xoa bóp thường xuyên.
"Thầy biết... là em... đã có lần... muốn tống cho thầy một quả...". Thầy thở gấp gáp.
"Vâng". Tôi đùa khi dộng nắm đấm lên làn da màu ngọc thạch trên lưng thầy. "Đó là khi thầy cho con điểm "B" hồi con học năm thứ hai".
Rắc! Rắc!...
Chúng tôi cười khúc khích. Tiếng cười rón rén e sợ quỷ sứ nghe thấy. Khung cảnh êm đềm thấp thoáng này không phải là thứ mà tất cả chúng ta ai cũng từng trải qua, không phải ai cũng lý giải được - thật chẳng khác nào một bài tập thẩm mỹ cuối cùng, một ân huệ, trước lúc tắt thở! Căn bệnh bây giờ đã gần lan đến vùng nguy hiểm nhất - hai lá phổi. Thầy dự báo mình sẽ chết trong cơn nghẹn thở. Tôi sợ sệt mường tượng: rõ ràng không còn cách ra đi nào kinh khủng hơn! Chốc chốc, thầy nhắm mắt lại, cố tợp từng ngụm không khí nhỏ tí qua hai lỗ mũi và miệng, trông giống như thầy đang cố sức nâng nhấc cái mỏ neo.
Bên ngoài, trời se lạnh. Tháng Mười đến. Cây cối trút lá chất thành đống trên các bãi cỏ quanh West Newton. Bác sĩ vật lý trị liệu cho thầy đã phải đến sớm hơn thường lệ. Tôi tự cảm thấy mình vô duyên khi đứng xớ rớ xem các chuyên gia đặc biệt cùng các y tá hì hục chăm sóc thầy. Mấy tuần trôi qua tôi đã dần quen và đã bớt ngượng ngùng. Tôi muốn ở đó, muốn tận mắt trông thấy mọi thứ. Điều này thật trái ngược với bản tính của tôi. Nhưng tất cả những hành vi tôi biểu hiện trong vài tháng qua ở nhà thầy cũng chẳng giống tôi tí nào!
Tôi muốn nhìn bà chuyên gia đánh vật với thầy ở trên giường - vỗ phầm phập vào xương sườn của thầy, hỏi chừng xem thầy có cảm thấy đám xung huyết tan ra trong người hay không. Lúc nghỉ lấy hơi, bà hỏi tôi có muốn thử làm. Tôi trả lời "Có". Gương mặt vùi trong gối của thầy giãn ra một nụ cười.
"Nhẹ tay thôi! Thầy già rồi!" Thầy kêu lên nho nhỏ.
Tôi gõ như gõ trống trên khắp lưng thầy theo lời chỉ dẫn của lương y. Tôi ghét chuyện thầy phải nằm bẹp gí trên giường dù với bất cứ lý do gì (tôi nhớ lại câu cách ngôn của thầy: "Khi ta nằm trên giường tức là ta chết"). Lúc đó thầy cong queo như một nhúm cây khô nhỏ tí teo, như cơ thể một cậu bé chứ không phải là hình hài một người đàn ông. Vẻ xanh xao trên da thầy, mái tóc bạc trắng phất phơ trên đầu thầy, và cả đôi cánh tay đu đưa lèo khèo vô dụng  của thầy... Tôi nhìn và ngẫm nghĩ. Chúng ta đã phải bỏ ra bao nhiêu thời gian và công sức tập thể dục, uốn nắn hình thể, tập tạ, nhảy dây... cuối cùng chỉ để cho thiên nhiên mang đi hết cả! Dưới từng ngón tay đang miết, tôi cảm nhận những cục xương của thầy nhô ra nhọn hoắt. Thịt da nhăn nheo! Đấm thầy thật mạnh theo hướng dẫn, nhưng thật sự tôi chỉ muốn vận hết sức bình sinh mà đục tay vào tường!
“Mitch này!". Thầy thở hổn hển, cất giọng như tiếng máy khoan trong khi tôi vỗ đồm độp.
"Dạ?"
"Thầy... cho con... điểm "B"... hồi nào vậy?"
0
Thầy Morrie hoàn toàn tin vào điều tốt đẹp ở con người, nhưng thầy cũng tiên liệu được sự tiến triển của nó.
"Con người chỉ trở nên ác nghiệt khi họ bị đe dọa" - Thầy nói sau màn đấm bóp - “Mà sự đe dọa xuất phát từ đâu? Từ nền văn hoá và từ nền kinh tế của chúng ta! Ngay cả những người hiện đang có việc làm, dù tạm được hay béo bở, vẫn luôn bị đe dọa - họ lo sợ bị mất việc - cho nên lúc nào họ cũng canh cánh bồn chồn. Khi bất an - bị đe dọa - ta chỉ cum cúp vun vén, tính toán thiệt hơn cho bản thân mình (hay gia đình mình). Ta bắt đầu tôn thờ đồng tiền như vị chúa tể. Đó là bộ mặt muôn màu muôn vẻ của nền văn hoá của chúng ta".
Thầy thở phì phì:
"Chính vì thế mà thầy không chuốc nó vào thân!"
Tôi gật đầu và bóp chặt lấy tay thầy. Chúng tôi thường nắm tay nhau. Có một sự thay đổi trong tôi. Những gì trước kia khiến tôi nhột nhạt hay buồn nôn thì bây giờ đã khiến tôi bình thản. Cái ống thông nước tiểu đeo tòn teng bên người thầy, chứa đầy thứ chất lỏng màu xanh ngoét, đặt kế chân tôi cạnh chân ghế thầy. Cách đây vài tháng nó có thể làm tôi kinh tởm, nhưng bây giờ tôi chẳng thèm đếm xỉa mảy may đến nó. Cả cái mùi ngai ngái bệnh hoạn vương vất trong phòng sau khi thầy ngồi bô cũng thế. Thầy chẳng thể "xa hoa" đến mức có thể di chuyển từ chỗ này đến chỗ kia, vào nhà cầu, đóng cửa lại, và phun một ít nước hoa xịt phòng khi đi ra. Cái ghế của thầy; cái giường của thầy - đó chính là cuộc sống của thầy! Giả sử như cuộc sống của tôi mà bị ép chặt trong một cái đê (Một dụng cụ đeo vào đầu ngón tay khi khâu vá để tránh bị kim đâm), thì tôi nghi ngờ không biết mình có thể làm cho nó có mùi dễ ngửi hơn không (!).
"Đây là điều minh chứng của việc tự xây dựng cho mình một nền văn minh phụ - Thầy tiếp - Thầy không có ý kêu rêu là ta phải xem thường tất cả các quy tắc luật lệ trong cộng đồng chúng ta. Thầy không trần truồng chạy nhông nhông ngoài đường. Thầy không vượt đèn đỏ. Những điều vặt vãnh như thế thì thầy có thể tuân thủ. Nhưng những điều lớn lao như cách ta nghĩ, điều ta định giá trị - là những thứ mà ta phải tự chọn lựa cho mình. Ta không thể để cho bất cứ ai - hay để cho xã hội - quyết định giùm ta. Như trường hợp của thầy. Những điều mà thầy được trông chờ là phải xấu hổ - như không thể tự mình bước đi, không thể tự rửa ráy, muốn khóc thét lên mỗi sáng thức dậy - chẳng còn có thể làm cho cái tôi bên trong thầy cảm thấy ngượng ngập hay mắc cỡ nữa".
"Các phụ nữ phải sống dở chết dở nếu như họ không mỏng manh dễ coi mà lại sồ sề, ục ịch! Các quý ông hãi hùng khiếp vía nếu như họ không giàu có mà phải cắc củm từng đồng! Đó chỉ là những thứ mà nền văn minh nhồi nhét vào đầu óc chúng ta - khiến ta tôn sùng. Thôi đừng tôn sùng nó nữa!"
Tôi hỏi thầy sao thầy không chuyển đi nơi khác sinh sống khi thầy còn trẻ.
"Đi đâu?"
"Dạ, con không biết. Có thể là Nam Mỹ, Tân Guinea - - bất cứ nơi nào ít ích kỷ hơn nước Mỹ".
"Mỗi xã hội đều tồn tại những vấn đề riêng". Thầy hạ mắt xuống. Một cử chỉ ráng sức duy nhất thầy có thể làm được để diễn tả sự coi thường.
"Thầy nghĩ, cách đối phó với nó là phải lánh xa nó đi. Ta cần phải gầy dựng cho riêng mình một nền nếp văn minh mới. Hãy nhìn kỹ vào! Cho dù ta sống ở nơi đâu thì khiếm khuyết to lớn nhất của loài người vẫn là sự thiển cận! Chúng ta không cần nhìn thấy cái mà chúng ta sẽ trở thành. Chúng ta cần nhìn thấu vào tiềm năng của mình, cần trải lòng hòa nhập vào tất cả mọi thứ mà chúng ta sẽ là. Nhưng nếu chúng ta bị bao vây bởi những con người lúc nào cùng nhao nhao: "Tôi muốn cái của tôi", thì chúng ta sẽ kết thúc bằng một nhúm người đạt được mọi thứ và một đội quân ngày đêm canh chừng sợ đám người nghèo nổi loạn và ăn cắp mất".
Thầy ngó xa xăm qua cửa sổ. Từng làn gió thổi vọng lại - lúc thì vi vu, xào xạc, lúc thì rít thun thút rợn người. Thầy dòm đăm đăm giây lâu vào những căn nhà lân cận, rồi khề khà:
“Vấn đề là, Mitch à, con người không thể tin rằng chúng ta rất giống nhau! Da trắng - da đen, người Thiên Chúa Giáo - người theo đạo Tin Lành, đàn ông - đàn bà. Nếu nhân loại nhìn ra nhiều điểm tương đồng ở nhau hơn, thì chúng ta sẽ nhiệt tình gia nhập vào căn nhà chung trên thế giới này. Và chúng ta sẽ chí thú chăm lo cho nó y hệt như chúng ta vun vén cho chính căn nhà của mình".
"Nhưng hãy tin thầy, khi ta sắp chết ta sẽ thấy một điều thật hiển nhiên. Chúng ta đều có điểm xuất phát giống nhau - được sinh ra - và đều có một kết cục như nhau - chết đi. Vậy thì chúng ta khác biệt ở chỗ nào?!"
"Hãy chăm bón cho ngôi nhà của loài người. Hãy chăm chút vào con người. Hãy xây dựng một cộng đồng quây quần quanh những người yêu và được yêu".
Thầy nắn nhẹ bàn tay tôi, tôi xiết tay thầy trở lại - chặt hơn. Giống như lễ hội rước kiệu hàng năm, lúc ta gõ mạnh chiếc búa và nhìn những cái đĩa xoay tít trên que. Tôi có thể cảm nhận lửa nhiệt trong cơ thể mình cháy hầm hập trên lồng ngực và cổ thầy, lan ửng lên má và mắt thầy. Thầy cười hạnh phúc.
"Lúc khởi đầu cuộc sống - khi còn đỏ hỏn - ta cần người khác để sống sót, phải không? Và lúc cuối đời khi rũ rượi giống như thầy đây - ta cũng cần người khác để sống sót".
Giọng thầy chùng xuống chỉ còn nghe thảng hoặc, nhẹ ru:
"Và một điều bí mật: ở quãng giữa cuộc đời ta cũng cần người khác biết bao!"
0
Chiều hôm đó, Connie và tôi vào phòng ngủ để xem phiên tòa tuyên án O. J. Simpson. Một hiện tượng sôi sục khi mọi nguyên tắc, luật lệ đều chống lại bồi thẩm đoàn. Simpson bảnh bao trong bộ complê màu xanh da trời, lọt thỏm giữa đội quân luật sư bào chữa lẫn những kẻ buộc tội (họ muốn tống khứ anh ta vào ngục cách đó vài bước chân). Khi viên chánh án tuyên bố "Vô tội!", Connie chợt rú lên như bị cắt tiết:
"Ôi, Chúa ôi!"
Chúng tôi trông thấy Simpson ôm chầm lấy các luật sư biện hộ. Chúng tôi nghe tiếng bình luận viên cố giải thích tất cả những chuyện đó là gì. Chúng tôi nhìn đám đông da đen reo hô phấn khích trên các đường phố quanh tòa án, còn đám người da trắng thì ngồi chết lặng trong các nhà hàng. Phán quyết đã được tuôn ào xuống - mặc cho những vụ giết người dã man vẫn nhởn nhơ diễn ra hàng ngày. Connie bỏ ra khỏi phòng - cô ấy xem đã đủ.
Tôi nghe tiếng cửa phòng làm việc của thầy Morrie đóng lại. Tôi trân trối ngó chiếc tivi. Mọi người trên khắp thế giới đều đang chứng kiến điều này. Tôi thầm nhủ. Kế đến, tôi nghe tiếng lách cách vọng sang từ phòng bên - thầy Morrie được đỡ dậy khỏi bô. Tôi cười hì hì.
Trong khi "Phiên Tòa Thế Kỷ" tiến đến hồi kết ngoạn mục, thì vị cựu giáo sư của tôi đang đi toa lét!
0
Năm 1979. Một trận đấu bóng rổ diễn ra sôi nổi trong nhà thi đấu trường Đại học Brandeis. Đội bóng chơi quá xuất sắc. Sinh viên cổ động trên khán đài kết thành bè cùng đồng thanh: "Chúng ta là số một! Chúng ta là số một!”. Thầy Morrie đang ngồi gần đó liền dội cho họ một gáo nước lạnh. Ngay thời điểm họ gào thét hăng say nhất “Chúng ta là số một!”, thì thầy đứng lên dõng dạc hô: “Thế số hai thì đã làm sao nào?!”
Khối sinh viên há hốc mồm ra nhìn thầy. Họ ngưng la. Thầy thản nhiên ngồi xuống, nở một nụ cười chiến thắng.
0
PHUƠNG TIIỆN NGHE NHÌN
PHẦN BA
 
Nhóm phóng viên truyền hình phụ trách chương trình Câu chuyện hàng đêm trở lại lần thứ ba và cũng là lần cuối cùng. Toàn bộ diễn biến của sự việc đã hoàn toàn khác - giống như một cuộc chia tay xé lòng hơn là một cuộc phỏng vấn. Trước đó, đích thân Ted Koppel gọi đến vài lần.
"Thưa giáo sư, ngài có ngồi nổi suốt đợt phát sóng hay không?" Ông ta cẩn thận hỏi.
Thầy Morrie không chắc lắm:
"Bây giờ tôi mệt mỏi luôn, Ted à. Tôi nghẹn thở hoài. Nếu tôi không thể nói được câu nào thì anh nói giùm tôi được không?"
"Được thôi, thưa giáo sư!". Koppel chấp thuận.
Nhưng không hiểu sao kẻ nổi danh "máu lạnh" này bỗng chêm vào:
"Nếu ngài không muốn thì thôi vậy, nhưng dù sao thì chúng tôi cũng sẽ đến để chào ngài lần cuối”.
Xong xuôi, thầy cười toe toét một cách láu lỉnh:
"Ta sẽ thâu phục hắn cho mà xem".
Giờ đây Koppel đã xem thầy như "một người bạn". Vị cựu giáo sư của tôi thế nào mà đã tỉ tê dụ dỗ được cả đại diện của giới truyền thông đại chúng.
Để chuẩn bị cho cuộc phỏng vấn vào chiều thứ Sáu, thầy Morrie vẫn mặc cái áo sơmi từ hôm trước. Thầy thay áo cách ngày - và hôm nay không phải là ngày thay áo như lịch trình thì việc gì phải xáo trộn nề nếp (!).
Không giống như hai cuộc phỏng vấn Koppel-Schwartz trước đó, lần này diễn ra hoàn toàn trong phòng làm việc của thầy. Lần đầu gặp thầy tôi, Koppel - còn ôm hôn được - nhưng bây giờ ông ta phải chịu bị "xếp cá mòi" sát bên kệ sách ngõ hầu máy camera có thể thu trọn hình.
Trước khi bắt đầu, Koppel hỏi thăm tình hình sức khỏe thầy:
"Thưa giáo sư, ngài cảm thấy sao ạ?"
Thầy nặng nhọc giơ một tay lên ngang bụng. Chỉ được đến cỡ đó!
Koppel đã có câu trả lời.
Máy quay bật lên, lia khắp phòng - buổi phỏng vấn thứ ba bắt đầu.
Koppel hỏi thầy có sợ hãi không khi cái chết sát sườn. Thầy bảo "không". Thật ra thầy đã bớt sợ hơn, cơn sợ không còn rõ mồn một nữa. Thầy bảo mình đang cố phớt lờ thế giới bên ngoài, không cần nghe đọc báo, chẳng thèm để ý đến e-mail hay thư từ - thay vào đó, chỉ nghe nhạc và nhìn ra ngoài cửa sổ ngắm lá cây chuyển màu.
Nhiều người khác cũng vướng phải căn bệnh ALS như mình - Thầy biết lắm chứ - Và không hiếm người trong số họ tăm tiếng nổi như cồn. Đó là Stephen Hawking, nhà vật lý đại tài, tác giả cuốn Lịch Sử Thời Gian. Cả đời ông ta đã sống chung với một cái lỗ to tướng trong cổ họng, phải nói chuyện qua một máy khuếch đại âm thanh điều khiển bằng vi tính, phải đánh máy bằng cách chớp mắt vào thiết bị cảm biến.
Thật là một kỳ quan - đáng thán phục và chiêm ngưỡng - nhưng đó không phải là cách mà thầy Morrie muốn sống! Thầy bảo với Koppel rằng mình biết khi nào là thời điểm cần phải ra đi.
"Đối với tôi, Ted à, sống có nghĩa là phải giao tiếp, phản hồi lại người khác. Có nghĩa là tôi cần phải được biểu lộ cảm xúc và cảm nghĩ. Tôi cần nói với mọi người, cảm nhận họ..."
Thầy thở thườn thượt:
"Khi những điều đó không còn thì Morrie này cũng không tồn tại!"
Họ nói chuyện với nhau như bạn bè. Giống hai cuộc phỏng vấn trước, Koppel lưu tâm đến "vấn đề vệ sinh thân thể" - hy vọng thầy sẽ phản ứng lại một cách dí dỏm. Nhưng thầy mệt quá không thể cười được nữa. Thầy lắc đầu.
"Tôi thậm chí còn không thể ngồi thẳng trên bô được. Vì vậy người hộ lý đã phải bế tôi suốt từ đầu đến cuối, và lại còn phải chùi rửa cho tôi. Thế đấy!"
Thầy tâm sự với Koppel là mình muốn chết nhẹ nhàng. Rồi thầy ngâm nga câu cách ngôn mới nhất của mình:
"Đừng đi quá nhanh. Nhưng cũng đừng dùng dằng nấn ná quá lâu!"
Koppel đau khổ gật đầu. Mới có sáu tháng trôi qua kể từ buổi phỏng vấn đầu tiên, thế mà hình hài thầy Morrie Schwartz đã tàn tạ phát sợ. Nó héo úa bày ra trước mắt khán thính giả toàn quốc, phảng phất dáng vẻ thần chết. Nhưng lạ thật! Cơ thể thầy càng mục nát đi thì tâm hồn thầy lại càng sáng bừng lên. Mặc dù thầy không cố ý, nhưng tôi không thể không liên tưởng đến bối cảnh tên tử tội nói lời cuối cùng:
"Hãy nhân ái và có trách nhiệm đối với nhau. Chỉ cần tất cả chúng ta học thuộc bài học đó thì thế giới này sẽ tươi đẹp hơn".
Thầy thở mạnh lấy hơi để hô khẩu hiệu:
"Yêu nhau hay là chết!?"
Cuộc phỏng vấn chấm dứt, nhưng không hiểu vì lý do gì mà tay camera vẫn để cho máy chạy.Và phân cảnh cuối cùng được thâu gọn trong băng.
"Ngài đã làm một việc phi thường, thưa giáo sư” - Koppel bày tỏ sự hài lòng.
Thầy mỉm cười yếu ớt.
"Có gì đâu. Tôi chỉ cho anh điều tôi có".
"Ngài luôn luôn như vậy mà".
"Ted à, căn bệnh đã tấn công tinh thần tôi nhưng nó không lấy được tâm linh tôi. Nó lấy được cơ thể tôi chứ không cướp được linh hồn tôi".
Koppel suýt khóc:
"Thưa giáo sư, ngài đã nỗ lực đáng khâm phục".
"Anh nghĩ thế hả?" - Thầy ngước mắt nhìn lên trần nhà - "Tôi đã phải mặc cả với Chúa trời ở trên kia. Tôi hỏi Người xem Người có đồng ý cho tôi được là một trong những thiên thần của Người hay không".
Đó là lần đầu tiên thầy Morrie chịu tiếp chuyện với Thượng đế.
0
TUẦN THỨ MƯỜI HAI
CHÚNG TÔI NÓI VỀ LÒNG VỊ THA
 
“Hãy tha thứ cho bản thân mình trước khi chết. Tiếp đến, hãy tha thứ cho người khác”.
Vài ngày sau buổi phỏng vấn của nhóm Câu chuyện hàng đêm. Bầu trời mưa dầm dề u ám. Thầy Morrie nằm thu lu trong chăn. Tôi ngồi đằng cuối giường xoa chân cho thầy. Chúng đã chai sần lên và co quắp lại, các móng chân đều ngả sang màu vàng. Tôi vớt một ít thuốc mỡ trong lọ, bôi lên mắt cá thầy và xoa bóp.
Đây cũng là món tôi bắt chước các hộ lý từ mấy tháng trước - một cố gắng nhằm vớt vát bất cứ điều gì tôi có thể làm được cho thầy. Bệnh tật khiến thầy không thể ngọ nguậy ngón chân dù vẫn luôn buốt thốn. Tất nhiên, mát xa thường xuyên sẽ giảm bớt phần nào. Nhưng còn hiển nhiên hơn, thầy thích được vuốt ve, đụng chạm! Và tôi tự nguyện làm bất cứ điều gì, miễn là thầy sướng vui!
“Mitch à”, - Thầy quay trở lại đề tài lòng vị tha - “Không có gì hay ho ở sự báo thù hay cố chấp. Những thứ đó đã đè nặng suốt cuộc đời ta, khiến ta hối tiếc khôn nguôi. Lòng kiêu hãnh. Tính tự ái. Tai sao chúng ta lại phải khổ sở với chúng đến thế?'
Tầm quan trọng của lòng vị tha là mối bận tâm của tôi. Tôi đã xem nhiều bộ phim, trong đó, vị tộc tưởng hay người cha trong gia đình trước khi hấp hối cứ nằng nặc cho đòi đứa con bị từ chối đến gặp, có lẽ để được ra đi yên lành. Tôi  tự hỏi không biết thầy có chất chứa điều gì trong lòng, một nhu cầu trĩu nặng đến nỗi cần phải nói 'Ta xin lỗi' trước khi chết.
Thầy gật.
“Con có thấy bức tượng điêu khắc đằng kia không?”
Thầy nghiêng đầu về phía một bức tượng bán thân bằng đồng đỏ đặt trên tủ sách phía bức tường đối diện. Gương mặt một người đàn ông trạc tuổi 40, đeo nơ, một ít tóc lòa xòa trước trán.
“Đó là ta đấy! Một người bạn đã tạc hình ta cách đây 30 năm. Tên ông ta là Norman. Chúng ta đã từng thân thiết nhau một thời gian dài, từng rủ nhau đi bơi, đón xe lên New York. Ông đã dắt ta về nhà mình ở Cambridge và tạc tượng ta ở dưới tầng hầm. Phải mất hàng tháng mới làm xong, nhưng ông vẫn muốn chỉnh sửa cho nó thật hoàn thiện".
Tôi dòm kỹ gương mặt trong tượng. Thầy Morrie nằm co ro trong chăn thật khác xa thầy Morrie mạnh khỏe, trẻ trung, đang nhìn đăm đăm thầy trò chúng tôi. Ngay cả bức tượng cũng có ánh mắt ngông nghênh. Tôi nghĩ người bạn tác giả của thầy có lẽ cũng có ý đồ triết lý gì đây.
"Hừ, phần sau của câu thuyền thật buồn. Norman và vợ chuyển tới Chicago. Sau đó, cô Charlotte, vợ thầy phải nằm viện qua một cuộc giải phẫu khá nặng. Hai vợ chồng Norman không hề liên lạc gì cả. Cô Charlotte và ta cảm thấy bị tổn thương vì không bao giờ họ gọi hỏi thăm xem cô có mạnh không. Thế là chúng ta cắt đứt quan hệ".
"Vài năm sau ta gặp lại Norman vài bận và anh ta luôn cố làm lành. Nhưng ta nhất quyết không chịu! Ta không thông lời phân bua của anh ta. Vì quá kiêu ngạo nên ta đã phủi bỏ tình bạn.”
Thầy nghẹn ngào:
"Mitch à, cách đây... vài năm... Norman đã chết vì bệnh ung thư. Ta rất buồn. Ta không bao giờ trông thấy ông ta nữa. Ta đã không tha thứ. Bây giờ điều đó đang làm ta đau đớn, chua xót lắm".
Thầy khóc thầm lặng. Và vì đầu thầy gục xuống nên nước mắt lăn vòng qua má trước khi chảy vào miệng thầy.
"Con xin lỗi" - Tôi lặng người.
"Không nên thế. Nước mắt làm ta nguôi ngoai, không có gì phải xấu hổ cả".
Tôi cắm cúi xoa đôi chân tê dại của thầy - mặc thầy than khóc những hoài niệm.
"Chúng ta không chỉ cần tha thứ cho người khác, mà chúng ta còn cần phải tha thứ cho chính mình, Mitch à " .
"Thưa thầy, tha thứ cho chính mình ư?"
"Đúng thế, con ạ. Cho tất cả những gì chúng ta đã không làm, tất cả những gì mà lẽ ra chúng ta đã làm. Con không được để cho mình bị mắc kẹt trong niềm tiếc nuối về điều có lẽ đã được thực hiện. Điều đó chẳng giúp gì cho con khi con rơi vào tình cảnh như ta đây".
"Ta luôn mong ước làm được nhiều việc hơn. Uớc gì ta đã viết được nhiều sách hơn. Ta đã từng tự đấm vào ngực mình. Bây giờ ta thấy nó chẳng thay đổi được gì. Thôi thì hãy an bình. Con cần an bình với chính mình và với mọi người quanh con".
Tôi cầm chiếc khăn giấy cúi xuống chậm nước mắt cho thầy. Thầy chớp chớp mắt, hơi thở rền rĩ như tiếng ngáy.
“Hãy tha thứ cho mình và tha thứ cho người. Đừng chần chừ Mitch à. Không phải ai cũng có được những giây phút ngây ngất như ta đây khi được con xoa dịu - không phải ai cũng may mắn như ta".
Tôi vứt chiếc khăn ướt nhem vào sọt rác rồi quay trở lại với cái chân cứng ngắc. Lẽ nào như thế này mà là may mắn? Tôi ấn mạnh ngón cái vào da thịt khô đét của thầy nhưng thầy chẳng cảm thấy gì.
"Mitch à, con hãy tránh tình trạng căng thẳng của sự đối đầu. Con có ghi nhớ điều ta dạy không? Mọi vật đều tỏa ra muôn phương, phải không nào?"
"Con sẽ ghi nhớ ạ".
"Ta đã than khóc vận xui của mình, nhưng ta đã sướng rơn khi có cơ hội làm điều đúng đắn".
Chúng tôi ngồi im lặng nghe mưa đập thình thịch vào cửa sổ. Chậu dâm bụt sau lưng thầy vẫn sống hiên ngang - nhỏ bé mà kiên cường.
"Mitch này". Thầy bỗng gọi khẽ.
"Dạ ?"
Tôi tỉ mẩn xoa ngón chân thầy, chăm chú để khỏi phải biểu lộ bất cứ cảm xúc gì.
"Hãy nhìn thẳng vào ta đây, con à".
Tôi ngước lên bắt gặp ánh nhìn đăm đắm của thầy. "Ta không hiểu sao con đã trở lại gặp ta sau chừng ấy năm. Nhưng ta muốn nói với con điều này..."
Giọng thầy nghẹn lại.
"Nếu ta có thêm một đứa con trai... thì ta muốn nó... là con".
Tôi vội hạ mắt xuống, bóp chặt thớ thịt chết trong tay. Trong thoáng chốc, tôi sợ quá - như thể nếu nhận lời thầy tức là phản bội lại cha mình. Nhưng khi ngước lên, tôi thấy thầy mỉm cười qua làn nước mắt chan hòa. Phải rồi! Làm gì có sự phản bội nào ở thời điểm như thế này - tôi biết mà!
Tất cả những gì tôi sợ là lời chào vĩnh biệt.
0
“Ta đã chọn nơi an nghỉ cuối cùng cho mình rồi”.
“Ở đâu thế ạ?”
“Không xa đây lắm. Trên một ngọn đồi bên dưới một tàng cây soi bóng xuống hồ, rất nên thơ - một nơi thật bình yên để suy tưởng?.
“Thầy đang nghĩ đến chuyện nằm đó để suy nghĩ phải không ạ”.
“Ta đang nghĩ đến chuyện nằm đó để chết”.
Thầy cười khúc khích. Tôi cũng cười.
“Con có đến thăm ta không?”
“Thăm thầy ấy ạ?”
“Đến chỉ để nói chuyện thôi mà. Hãy hẹn vào thứ Ba hàng tuần - con chẳng vẫn luôn đến với ta vào mỗi thứ Ba đấy sao!”
“Thầy trò mình là những người của ngày thứ Ba mà”.
“Đúng thế. Những người của ngày thứ Ba. Hãy đến và nói chuyện với ta, được chứ?”
Thầy lịm đi.
"Hãy nhìn ta đây”. Thầy bảo.
“Con đang nhìn ạ”.
“Con sẽ đến bên mộ ta để kể cho ta nghe về những nỗi khó khăn bức xúc của con, phải không?”
“Về những bức xúc của con ấy ạ?”
“Và thầy sẽ đưa đường chỉ lối cho con, phải không ạ?”
“Ta sẽ khuyên con tất cả những gì ta có thể. Có phải là ta vẫn luôn luôn làm vậy đấy chứ?”
Tôi vẽ ra trong óc ngôi mộ thầy nằm trên đồi, soi bóng xuống hồ. Chỉ cần một chỗ khoảng chừng hơn một mét, người ta đặt thầy xuống, phủ đất lên và đậy phiến đá lại. Vào tuần sau? Không! Có lẽ một vài ngày sau? Tôi ngồi đó một mình, tay bó chặt gối, nhìn chối chết vào khoảng không.
"Nhưng mọi thứ sẽ không còn giống như thế này nữa. Con không thể nghe tiếng thầy nói.”
“Ờ, con hãy nói chuyện...”
Thầy nhắm mắt lại và cười.
“Con hãy trò chuyện với ta, ngay cả sau khi ta chết. Và ta sẽ lắng nghe con.
0
TUẦN THỨ MƯỜI BA
CHÚNG TỐI NÓI VỀ NGÀY TOÀN HẢO
 
Sau một hồi tranh luận với cô Charlotte, thầy Morrie trăn trối muốn được hỏa thiêu - có lẽ cô thầy đã quyết định giải pháp tối ưu. Họ chọn giáo sĩ Do Thái Al Axelrad - một người bạn lâu năm của cả hai - chủ trì lễ an táng. Ông ấy đến thăm thầy đồng thời để cùng bàn bạc về cách thức tổ chức đám ma.
"Al này?"
"Cái gì vậy?"
"Anh phải đảm bảo là không quay chín tôi quá đấy nhé!"
Viên giáo sĩ bàng hoàng. Thầy Morrie bông phèng cả với cơ thể mình. Càng cận ngày vĩnh biệt, thầy càng nhìn nó như một cái vỏ ốc, một cái hộp chứa linh hồn. Xương thịt nó đang tan rữa mỗi thứ một nơi hòng dễ dàng "dứt áo ra đi".
"Chúng ta rất ớn cảnh tượng chết chóc" - Thầy nói khi tôi ngồi bên.
Tôi chỉnh lại chiếc micrô trên cổ áo thầy nhưng nó cứ rơi phịch xuống. Thầy ho! Bây giờ thầy ho trường kỳ!
"Bữa nọ ta đã đọc một quyển sách. Trong đó người ta mô tả rằng: Ngay khi có một người chết trong bệnh viện, người ta liền vội vàng trùm mền kín mít mặt hắn ta lại, rồi đẩy cái xác xấu số đó trên một thanh trượt và chuyển đi. Người ta không thể chờ nổi cho đến khi nó khuất khỏi tầm nhìn của họ. Họ đối xử với cái chết như thể nó là bệnh truyền nhiễm".
Thầy liếc nhìn bàn tay tôi đang lóng ngóng xếp chỗ cho chiếc micrô.
"Cái chết không phải là dịch bệnh. Nó cũng tự nhiên như chính cuộc sống vậy. Nó là một điều khoản trong bản hợp đồng chúng ta thảo ra".
Thầy ho tiếp. Tôi quay lại và chờ - luôn luôn chầu chực một cái gì đó nghiêm trọng. Thầy vừa trải qua nhiều đêm khiếp đảm. Những đêm dài hãi hùng! Thầy chỉ ngủ được vài giờ, rồi những cơn ho ghê hồn lại lay thầy thức giấc. Y tá đến bên thầy, đấm lưng, cố ép độc khí ra. Ngay cả khi hơi thở trở lại bình thường - tức là với sự trợ giúp của bình dưỡng khí thì cuộc chiến đấu đó vẫn cứ khiến thầy kiệt sức suốt ngày hôm sau.
Hiện mũi thầy lúc nào cũng gắn thường trực một ống dẫn oxy. Tôi ghét trông thấy cái vật xù xì xấu xí ấy. Nó tượng trưng cho sự bất lực. Tôi chỉ muốn giật phứt nó đi.
"Đêm qua...” - Thầy khẽ nói.
"Dạ? Đêm qua thầy làm sao ạ?”
“Ta đã ho khốc liệt hàng giờ. Ta thật sự không thể kiểm soát được nó nữa. Ta không thở được, cũng không thể ngăn chặn cơn nghẹt. Ta cảm thấy choáng váng xây xẩm mặt mày... sau đó ta lại cảm thấy yên bình. Ta biết mình đã sẵn sàng lên đường.”
Thầy mở to mắt.
"Mitch, đó là một cảm giác không tài nào diễn tả nổi - một cảm giác thanh thản, chấp nhận điều đang diễn ra. Ta chợt nghĩ về giấc mơ hồi tuần rồi. Ta mơ mình vượt qua một cây cầu bước vào một thế giới hư ảo - trong tư thế trực chỉ đến bất cứ vùng đất nào".
"Nhưng thầy chưa đi mà".
Thầy ngừng một lát rồi lắc đầu nhè nhẹ.
"Đúng là ta đã chưa đi. Nhưng ta cảm thấy mình sẽ đi. Con có hiểu không?"
"Đó là thứ mà tất cả chúng ta đều tìm kiếm - một tâm tưởng bình an về cái chết. Rốt cuộc, chúng ta nên biết rằng để có được sự yên bình ấy làm hành trang lên đường thì mỗi người chúng ta phải ra sức thực hiện một công việc vất vả vô cùng".
"Công việc đó là gì vậy, thưa thầy?"
"Đó là phải tạo dựng sự yên bình trong lúc còn sống".
Thầy đòi ngắm chậu hoa dâm bụt. Tôi vòng ra đằng sau, bê đến và nâng lên gần mắt cho thầy coi. Thầy cười.
"Dần dần rồi nó cũng sẽ chết - Thầy nhắc lại - Gút mắc là ở chỗ chúng ta khua chiêng gõ mõ không thèm để mắt tới nó, bởi vì chúng ta không chịu nhìn nhận mình là một phần của thiên nhiên. Do bởi chúng ta nghĩ mình là con người cho nên chúng ta tự phong cho mình là một gì đó cao siêu hơn thiên nhiên".
Thầy cười trìu mến với cái cây.
"Đâu phải vậy! Muôn loài đều sinh ra và chết đi".
Rồi thầy nhìn tôi.
"Con có đồng ý không?"
"Dạ, có ạ".
"Tốt". Thầy khẽ khàng "Nào, bây giờ là thời điểm quyết toán đây. Lúc này là lúc quyết định xem chúng ta khác cỏ cây và thú vật ở chỗ nào. Miễn là chúng ta yêu thương nhau và nhớ về cảm giác tình yêu mình đã tận hưởng thì chúng ta chết mà như vẫn còn sống. Tất cả tình yêu chúng ta gửi gắm cho nhau vẫn còn đó. Mọi ký ức vẫn còn nguyên. Chúng ta vẫn sống trong trái tim tất cả những người mà chúng ta từng ôm ấp, nâng niu".
Giọng thầy lạc đi, the thé - báo hiệu thầy cần nghỉ dưỡng sức một chút. Tôi đặt chậu cây trở lại chỗ cũ trên bệ cửa sổ và định bụng sẽ tắt máy ghi âm đi nhưng may mắn là vẫn ghi kịp câu nói sau cùng của thầy.
"Cái chết kết thúc cuộc sống nhưng không chấm dứt tình thân". 
0
Khoa học kỹ thuật ghi nhận nhiều tiến bộ trong công cuộc chữa trị bệnh ALS. Một loại thuốc mới vừa được chuẩn y tuy không thể chữa dứt điểm nhưng cũng làm chậm lại quá trình tàn phá - có lẽ vài tháng. Thầy biết tin này nhưng bệnh thầy trầm trọng quá rồi. Ngoài ra, phải nửa năm nữa thuốc mới được bày bán rộng rãi trên thị trường.
"Nó không dành cho ta đâu. Thôi đừng thèm nghĩ đến nó làm gì".
Trong suốt quãng thời gian ốm nặng, thầy chẳng bao giờ tự thắp sáng một tia hy vọng vu vơ rằng mình sẽ khỏi. Thầy rất thực tế. Có lần, tôi hỏi giả sử có ai đó vung chiếc gậy phù thủy làm phép màu cho thầy hết bệnh thì thầy có trở lại đúng như con người thầy trước kia hay không.
Thầy lắc đầu.
"Ta chẳng muốn trở lại, cũng chẳng có đường cho ta trở lại. Bây giờ ta đã là TA khác rồi. Ta đã có thái độ khác. Ta đã chiêm ngưỡng cơ thể mình theo một cách khác, không còn như trước đây đâu. Ta đã khác ở chỗ bây giờ ta đang cố chứng minh một triết lý lớn lao, một triết lý cuối cùng".
"Con có biết đó là triết lý gì không? Rằng: một khi con đã nhúng tay vào những vấn đề quan trọng thì con không thể rút tay lại được nữa - ví như đâm lao phải theo lao!"
“Nhưng vấn đề quan trọng mà thầy nói đến đó là cái gì vậy ạ?"
"Theo ta thấy thì, đó là những vấn đề về tình yêu, trách nhiệm, tinh thần, và ý thức. Giả sử bây giờ mà ta mạnh khỏe, thì đó vẫn là những vấn đề ta quan tâm. Chúng phải cùng ta đi suốt cuộc đời".
Tôi cố hình dung ra một thầy Morrie tráng kiện. Tôi mường tượng cảnh thầy tung chăn, bước ra khỏi ghế, đi dạo quanh vùng lân cận - giống như chúng tôi đã cùng nhau tha thẩn trong khuôn viên trường đại học. Tôi nhẩm tính, ấy thế mà đã 16 năm rồi kể từ lần cuối cùng tôi thấy thầy bước đi. 16 năm rồi sao?
"Nếu một ngày nào đó thầy mạnh khỏe hoàn toàn thầy sẽ làm gì ạ?"
"Ta sẽ làm gì trong 24 tiếng đồng hồ của một ngày?”
"Vâng ạ!"
"Nào để ta coi... ta sẽ thức dậy sớm, tập thể dục, ăn một bữa sáng ngon lành với bánh vòng và trà, đi bơi, rủ bạn bè tới nhà ăn trưa. Phải rồi, thỉnh thoảng ta sẽ mời họ tới chơi để tán gẫu chuyện gia đình, về vấn đề của họ, và về chuyện chúng ta cần phải giữ liên lạc với nhau. Sau đó ta sẽ đi dạo trong vườn, ngắm nhìn màu xanh cây lá, dõi mắt ngắm chim trời hòa mình vào thiên nhiên mà bấy lâu ta xa cách. Tối đến, ta sẽ hẹn nhau đi nhà hàng, ăn bánh bột nhồi hay vịt quay. Ta thích thịt vịt lắm! Thời gian còn lại, chúng ta sẽ khiêu vũ - ta sẽ nhảy cùng các bạn nhảy xinh xắn ta gặp ở đó cho đến khi mệt nhoài. Rồi ta về nhà, leo lên giường đánh một giấc êm đềm tới sáng".
"Chỉ có thế thôi ạ?"
“Thế thôi!"
Tầm thường! Tầm thường quá! Tôi thật sự thất vọng! Tôi những tưởng thầy sẽ bay sang Ý, ăn trưa với tổng thống, nô đùa tung tăng trên sóng biển, hay hưởng thụ những thú vui ngoại quốc. Sau vài tháng nằm mẹp chẳng thể nhấc ngón chân, làm sao thầy có thể thấy được ngày toàn hảo trong những thứ tầm thường đó?!
Nhưng tôi nhận ra đó là tất cả cốt lõi của sự việc.
0
Trước khi ra về, thầy gợi ý.
"Con có muốn nói chuyện với ta về em trai của con hay không?"
Tôi sững người. Không biết làm thế nào mà thầy nắm bắt được điều đang lấn cấn trong đầu đứa học trò này. Suốt mấy tuần nay tôi ráng gọi qua Tây Ban Nha cho thằng em, nhưng qua một người bạn tôi được tin nó phải bay đi bay về như con thoi tới bệnh viện ở Amsterdam.
"Mitch, ta biết là con đau lòng vì không được ở bên người con yêu quý. Nhưng con cần phải bình tâm với ước nguyện của em con. Có thể em con không muốn can thiệp vào cuộc sống của con. Có thể em con không chịu nổi cái gánh nặng ấy. Ta cũng thường nhắn những người quen của ta rằng hãy cứ an tâm sống và làm việc, đừng bận lòng đến ta làm gì - đừng xáo trộn cuộc sống bởi vì đằng nào ta cũng sắp chết rồi”.
"Nhưng nó là em trai của con thầy ạ".
"Ta biết, chính vì thế mới khiến con đau lòng". Thầy xoa dịu.
Tôi hồi tưởng hình ảnh Peter lúc nó lên tám, một thiên thần tóc xoăn óng vàng bồng bềnh. Tôi thấy mình vật lộn với nó trên khoảng sân bên nhà, bông cỏ ghim đầy hai đầu gối chiếc quần jeans. Tôi thấy nó đứng trước gương hát líu lo, tay cầm cây chổi giả làm micrô. Tôi nhớ lại khi hai chúng tôi bò lên gác xép trốn để hù bố mẹ chơi, khoái chí nhìn họ chạy đôn chạy đáo đi tìm con về ăn tối.
Rồi tôi nghĩ đến lúc em tôi trưởng thành, bỏ nhà đi lưu lạc. Gương mặt nó gầy gò và xanh xao vì phải trải qua quá trình hóa trị liệu khá lâu.
"Thưa thầy tại sao em con không muốn gặp con?"
Thầy thở dài:
"Không bao giờ có sẵn một khuôn mẫu nào cho các mối quan hệ cả. Chúng ta cần phải dàn xếp chúng trên tinh thần thương yêu nhau, với vị thế chia đều cho các bên. Chúng ta muốn điều gì, cần cái gì, chúng ta có thể làm được gì, cuộc đời của chúng ta sẽ ra sao".
"Trong kinh doanh người ta thương lượng để chiếm đoạt, để chiến thắng - người ta thương lượng để đạt được điều họ muốn. Có lẽ con đã quá quen thuộc với triết lý đó rồi. Tình yêu thì khác hẳn! Tình yêu là khi con quan tâm đến hoàn cảnh của người khác một cách hết lòng hết dạ y như con chú ý đến bản thân mình vậy”.
"Con đã từng sống những giây phút yên ấm đặc biệt bên em trai mình, và bây giờ con không còn được hưởng những giây phút thần tiên đó nữa. Con muốn chúng quay trở lại, chứ không bao giờ muốn mất chúng. Nhưng con ạ! Đó lại chính là cái phần cay đắng của kiếp người. Ngưng lại, làm mới, ngưng lại, làm mới. Cứ thế..."
Tôi nhìn thầy - trông thấy tất cả cái chết trên đời và cảm thấy chơi vơi.
"Ta chắc là con sẽ tìm ra cách trở lại với em con".
"Làm sao thầy biết ạ?"
Thầy cười hóm hỉnh:
"Thì cũng giống như con đã tìm lại ta đấy thôi?!"
0