📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

Tổng tập truyện ma của Người Khăn Trắng - HẾT 🔒

301 trả lời, 269.525 lượt xem — Trang 10 / 11
Phần 5

Bẵng đi một thời gian khoảng nửa tháng, con quỷ không xuất hiện, nó không gây ra một cơn sốc nào nữa. Hình như nó cũng đã đánh hơi được điều gì rồi. Con người đang ra sức chống lại với nó. Tiêu diệt nó. Con quỷ dường như biến mất.

Tâm lý của Thoại Vũ cũng dần dần thư giãn đi. Lúc trước, ngày nào anh cũng nơm nớp lo sợ sự xuất hiện của con quỷ trong căn nhà này. Sợ mẹ anh lại bị sốc khi con quỷ hoành hành. Bà gầy đi trông thấy rõ, hai hốc mắt trũng sâu vì mất ngủ.

Không khí trong nhà Thoại Vũ lúc trước vốn lặng lẽ nay càng nặng nề hơn. Các thành viên thường khóa chặt mình trong phòng riêng, mỗi khi về nhà.

Thoại Vũ thấy mình cô đơn quá. Anh chỉ thấy lòng ấm áp khi ở cạnh Lâm Giang. Tiếng cười của cô ấy làm anh cảm thấy mình như trẻ hẳn ra. Mặc dù với cái tuổi của anh, thiên hạ chưa ai gọi là già, nhưng anh thì luôn nghĩ mình đã già khi đứng trước cô bé vừa tròn hai mươi tuổi này.

Thoại Vũ nhấc máy điện thoại lên và bấm số, đầu dây bên kia có người nhưng Thoại Vũ nhận ra ngay đó không phải là Lâm Giang, anh nói:

- Dạ làm ơn cho tôi gặp Lâm Giang.

- Xin anh chờ cho một chút.

- Dạ, cám ơn nhiều.

Một lúc sau, giọng nói nhỏ nhẹ quen thuộc vang lên:

- Alô! Dạ Giang nghe đây ạ.

- Em đang làm gì đó?

- À! Anh Vũ phải không?

- Ừ! Anh đây.

- Em đang đọc sách.

- Giang này! Tối nay anh mời em đi xem ca nhạc được không?

- Dạ... dạ... - Giọng Giang ngập ngừng.

Thoại Vũ cười nhẹ:

- Sao thế cô bé? Khó trả lời anh hả?

- Dạ không... nhưng mà em sợ ba mẹ em... Em không dám xin đâu.

- Thế thì anh sang xin phép hộ em nhé, được không?

- Dạ... cũng được... nhưng em lo quá.

- Em lo gì nào. Lo ba má la hả? Em lớn rồi mà đâu còn là cô bé nữa. Hay lo sợ anh ăn thịt em? Ồ! Anh không biết ăn thịt người đâu.

Lâm Giang cười khúc khích rồi trả lời:

- Từ trước tới nay em chưa từng đi chơi ban đêm với một người con trai nào cả. Có chăng là tụi em đi chung một nhóm, nên lần đầu em cũng hơi ngại...

- Lần đầu sẽ ngại, nhưng lần thứ hai, thứ ba, rồi tiếp theo nữa em sẽ không ngại đâu. Sau này anh sẽ cố gắng mời em đi chơi nhiều hơn nữa, có được không?

- Em cũng không biết nữa.

- Sao trả lời như vậy, em phải biết chứ?

- Câu này để dành em trả lời sau cho chắc ăn nhé. Bây giờ em chưa thể trả lời anh được đâu.

- Em khôn thật. - Thoại Vũ bật cười. - Thôi! Tạm biệt cô bé của anh. Nhớ sửa soạn sẵn, chiều nay anh sang xin phép ba mẹ em.

- Dạ, chào anh.

Lâm Giang cúp máy xuống, đưa tay ôm mặt, hai gò má cô nóng ran lên. Tim đập thình thịch trong ngực. Lần đầu tiên trong đời Giang hò hẹn với một người đàn ông. Cái cảm giác này thật lạ, vừa hồi hộp lo lo, nhưng đồng thời cũng cảm thấy thích thú, vui vui. Rồi sau đó là sự chờ đợi... đợi chờ từng giây, từng phút trôi qua... mau mau cho đến giờ hẹn với nhau.

Chiều xuống khi ba mẹ Lâm Giang đi làm về, vừa tắm xong thì Thoại Vũ xuất hiện. Đã từ lâu họ đã coi anh như người hàng xóm thân thiết. Anh vẫn thường sang nhà chơi, đôi lúc trò chuyện với ba má Lâm Giang. Có lúc là khám bệnh cho mọi người. Ông bà Lâm Ngọc ngấm ngầm cũng đã có những tình cảm đặc biệt dành cho anh.

Ba Lâm Giang thấy Thoại Vũ ăn mặc chỉnh tề thì hỏi to:

- A! Chào bác sĩ. Hôm nay đi đâu mà ăn mặc đẹp thế?

- Dạ chào cô chú. Cháu sang xin phép cô chú cho cháu mời Lâm Giang đi chơi tối nay có được không ạ?

Cả hai ông bà ngớ người ra nhìn nhau trong giây lát. Họ không hề nghĩ bác sĩ Vũ lại để ý đến con bé nhà họ. Điều đó ngoài sức tưởng tượng của ông bà. Họ chỉ nghĩ Thoại Vũ xem Lâm Giang như là đứa em gái thôi. Nào ngờ...

Thấy hai người cứ nhìn mình mãi Thoại Vũ lên tiếng:

- Dạ có được không ạ? - Thoại Vũ nhắc lại câu hỏi.

Cả hai cùng đồng thanh nói:

- Được! Được chứ.

Rồi họ quay sang nhìn nhau cười, ngầm hiểu ý nhau.

Bà Lâm Ngọc đứng lên:

- Bác sĩ ngồi chơi để tôi gọi Lâm Giang.

Vừa lúc đó Lâm Giang xuất hiện ở cầu thang, cô mặc chiếc váy màu tím hoa cà, điểm những bông hoa dại li ti màu trắng, bên trên là chiếc áo cổ lọ cũng màu trắng. Tóc cột cao lên, trông cô mới xinh đẹp làm sao, làm Thoại Vũ phải ngẩn ngơ giây lát.

Bà Lâm Ngọc nhìn con gái và thốt lên:

- Ôi! Con tôi xinh quá. Thì ra đã hẹn trước với anh Vũ rồi hả? Sao sửa soạn đẹp thế. Vậy mà không báo trước cho mẹ biết.

- Con chưa kịp nói ạ. - Mặt Giang lại đỏ lên.

Bà Lâm Ngọc nói:

- Con đi chơi đi. Con gái gì suốt ngày cứ ở trong nhà mãi. Phải ra đường mới học hỏi được chứ con. - Rồi quay sang Thoại Vũ. - Con bé nhà tôi nó nhát lắm, bác sĩ trông chừng nó giúp tôi nha.

- Dạ, cô chú yên tâm ạ. Xin phép cô chú cháu đi.

Lâm Giang khoanh tay lại:

- Thưa ba mẹ con đi chơi ạ.

- Ừ đi đi con.

Chờ cho hai người đi khuất, bà Lâm Ngọc quay sang nhìn chồng và cười bằng mắt:

- Anh nghĩ sao, thật bất ngờ nhỉ? Em không nghĩ bác sĩ Vũ lại chấm con gái mình.

- Có gì mà lạ. - Ba Lâm Giang nói giọng tự hào. - Em không thấy con gái mình xinh đẹp biết bao...

- Nhưng em nghĩ bác sĩ Vũ là người thành đạt, đẹp trai thì cũng sẽ chọn cho mình một người vợ cũng ngang tầm với mình chứ.

- Em nói vậy là sai. Sau này con gái mình tốt nghiệp đại học cũng làm ông này, bà nọ như ai chứ. Chúng quả thật là đẹp đôi.

Hai vợ chồng cùng nhìn nhau, ánh mắt đầy mãn nguyện.
 
***

Vừa ra khỏi nhà, Thoại Vũ quay sang nhìn Lâm Giang. Cái nhìn của Vũ làm Lâm Giang bối rối. Cô vân vê tóc mai.

- Sao anh nhìn em dữ vậy?

- Em xinh quá! - Thoại Vũ thốt lên như không kìm được lòng. - Quả thật anh chưa từng nhìn thấy ai xinh đẹp quyến rũ như em.

Lâm Giang lấy tay ôm đôi gò má đang ửng đỏ lên. Cô không biết nói gì, ngượng ngùng dí dí mũi giày xuống đất.

Thoại Vũ đề nghị:

- Hãy còn sớm, chúng ta đi ăn cơm nhé?

- Dạ.

- Em lên xe đi.

Lâm Giang ý tứ ngồi cách xa ra một chút. Đây là lần đầu tiên cô đi chung xe với Thoại Vũ. Có mấy lần anh đón cô ở cổng trường nhưng hai người luôn đi hai xe.

Thoại Vũ nhắc nhỏ:

- Em ngồi cẩn thận, kẻo ngã.

- Dạ.

Vũ cho xe chạy chầm chậm hướng về nhà hàng Hải Yến. Hai người chọn một cái bàn ngồi hướng mặt ra biển. Sau khi người bồi bàn đem thực đơn tới, Thoại Vũ đẩy sang cho Giang:

- Em "đi chợ" đi.

Lâm Giang tròn mắt với cái từ "đi chợ". Thoại Vũ bật cười:

- Em không hiểu à. "Đi chợ" là tiếng lóng dùng để gọi thức ăn đó.

- Thôi, anh gọi đi. Em ăn gì cũng được.

- Vậy anh chọn nhé.

Lâm Giang khẽ gật đầu. Thoại Vũ gọi một ít hải sản biển. Họ vừa ăn vừa trò chuyện. Thoại Vũ lột từng con tôm, bóc vỏ càng cua rồi mới bỏ vào chén cho Lâm Giang. Anh chăm sóc cô bé chu đáo. Còn Lâm Giang thì nhỏ nhẹ ăn từng miếng một. Cả trong cái cử chỉ ăn uống của cô cũng để lại cho Thoại Vũ một ấn tượng đẹp.

Ăn xong họ ngồi uống trà và thì thầm trò chuyện.

- Lâm Giang này! Em có thấy dễ chịu khi đi chơi với anh không?

Lâm Giang chớp chớp mắt nhìn xuống, đáp:

- Dạ có!

- Lần sau anh mời, em có đi nữa không?

Lâm Giang cười khúc khích:

- Lần sau, thì đợi lần sau trả lời.

- A! Cô bé cũng lém lỉnh thật. Thôi được, không xa đâu, sẽ có một lần sau cho em trả lời.

Thoại Vũ quay sang ngắm Lâm Giang thật kỹ rồi anh lắc đầu khe khẽ.

- Sao thế? Sao lại lắc đầu khi nhìn em vậy? - Lâm Giang tròn mắt hỏi.

- Anh muốn nhìn kỹ em và anh tự hỏi sao trên đời này lại có một người con gái như em nhỉ. Em duyên dáng và xinh đẹp vô ngần. Em cứ như người ở cõi tiên xuống đây vậy. Nhìn em tinh khiết, thanh cao như không hề vương vấn một chút bụi trần nào.

- Anh đề cao em quá đó! - Lâm Giang lí nhí trong miệng.

- Không, anh nói thật lòng đó, có thể lời nói không diễn đạt hết ý nghĩ của anh, vì từ trước tới giờ anh khá vụng về khi nói chuyện với người khác phái. Bởi thế nên có người nghĩ rằng anh rất khó tính.

- Ừ! Lúc đầu em cũng thấy thế. Em thấy anh nghiêm lắm... nghĩ rằng rất khó gần anh được.

Thoại Vũ nghiêng đầu một chút, nhìn Lâm Giang hỏi:

- Còn bây giờ thì sao?

- Bây giờ hả? - Lâm Giang hỏi lại. - Bây giờ thì anh Vũ tạo cho em một cảm giác rất thoải mái, rất tự tin khi đi chung với anh. Với anh, em thấy mình nhỏ bé kỳ lạ. Đi gần anh, em thấy mình được che chở, được an toàn tuyệt đối.

Thoại Vũ xúc động:

- Cám ơn những lời nói thật lòng của em. - Anh im lặng một lúc lâu rồi nói. - Anh cũng vậy. Cuộc sống của anh bây giờ có ý nghĩa nhất là khi gặp được em, được trò chuyện với em, được nghe em cười... Anh cảm thấy lòng ấm áp lạ thường. Anh chưa từng thấy thoải mái dễ chịu khi ở bên cạnh ai, như ở bên em Lâm Giang ạ! Bây giờ anh có tất cả, công danh, sự nghiệp, tiền tài. Nhưng anh vẫn thấy mình thiếu thiếu một cái gì đó. Anh luôn ở trong tâm trạng của một người cô độc, buồn bã. Giờ thì anh hiểu là anh thiếu gì. Anh thiếu một nửa còn lại của chính mình.

Lâm Giang nhìn anh và hỏi nhỏ:

- Vậy anh đã tìm ra nửa kia chưa?

Thoại Vũ nhìn như thôi miên vào mắt của Lâm Giang. Cô như bị ánh mắt đầy uy lực kia quyến rũ. Lâm Giang thấy tim mình chới với.

- Em có bằng lòng làm một nửa kia của anh không?

Lâm Giang bối rối, cô run giọng:

- Em sợ mình không đủ sức...

- Đừng! - Thoại Vũ đưa tay ngăn lại, như không muốn cho Lâm Giang nói tiếp. - Anh chỉ cần biết em có bằng lòng không thôi.

- Dạ... có ạ.

Thoại Vũ gần như nín thở chờ đợi câu trả lời của Giang, giờ đây anh thở ra nhè nhẹ. Cảm thấy yên lòng vô hạn. Cô bé đã đồng ý làm bạn gái của anh rồi. Hoan hô, cảm ơn đất trời, cảm ơn thượng đế đã ban tặng cho con cô gái yêu kiều, mỹ miều này. Thoại Vũ muốn hét lên thật to cho mọi người nghe thấy. Nhưng anh đã kìm lòng bởi anh biết tuổi tác của mình, không cho phép anh hành động như một cậu choai choai mới lớn được. Anh chỉ nói khẽ một câu.

- Cám ơn em... Cô bé của anh. Và anh cũng cám ơn thượng đế đã tạo ra em, để cho anh có được em hôm nay. Có được niềm hạnh phúc mà anh đã tìm kiếm bấy lâu nay.

Rồi nhẹ nhàng, anh nắm lấy bàn tay của Lâm Giang. Cứ thế tay trong tay, họ ngồi ngắm biển, mà nghe tim mình cháy bỏng một ngọn lửa đam mê. Ngọn lửa của tình yêu, huyền ảo và đầy mãnh lực.

Đêm hôm đó, họ đi xem ca nhạc và về nhà hơi khuya một chút. Tiễn Lâm Giang vào cổng rồi, Thoại Vũ mới quay về nhà mình. Anh mở cổng bằng chìa khóa riêng. Và dựng xe trước sân, anh chợt nghe một tiếng thét vang vọng từ trên lầu nhà mình. Đưa mắt nhìn lên lập tức anh thấy một bóng đen khổng lồ trên vai nó vác mẹ anh. Dường như bà đã ngất đi, khi cái tay con quỷ chạm vào người mình. Con quỷ bay từ trên lầu xuống, một tay bám vào cây cột tròn, rồi tụt xuống. Nó di chuyển nhẹ nhàng. Mặc dù trên vai đang vác một người.

Nó nhún mình nhảy lên bức tường cao rồi phóng ra ngoài.

Thoại Vũ sau phút giây bàng hoàng cực độ, vì đây là lần đầu tiên anh trực tiếp giáp mặt với con quỷ. Khi sực tỉnh lại, thì bóng con quỷ và mẹ anh đã mất hút sau bức tường.

Thoại Vũ cắm đầu chạy đuổi theo, anh lao ra đến cổng thì thấy bóng con quỷ đang chạy dưới bãi biển. Thoại Vũ phóng theo, anh tuy sợ nó nhưng vì mẹ. Thoại Vũ gần như quên bẵng nỗi sợ hãi, anh chỉ muốn cứu được mẹ của mình. Con quỷ đã chạy tới mép nước. Thoại Vũ đuổi theo kịp. Nó dừng lại đột ngột và quay phắt lại nhìn anh. Thoại Vũ đứng tim, anh khựng lại trước cái nhìn của nó. Đôi mắt trong đêm có màu lửa. Nhìn kỹ một chút, Thoại Vũ phát hiện ra, ngoài thân hình cao lớn đầy lông lá, con quỷ có một gương mặt rất giống người, mắt, mũi, miệng đều bình thường. Nếu như nó không long mắt lên, thì đó cũng là một đôi mắt to tròn và cái miệng không nhe ra, thì cũng chẳng thấy nanh của nó. Gương mặt được bao phủ bởi một lớp lông đen, nên nhìn nó luôn có cảm giác rờn rợn cả người.

Cả hai gườm nhìn nhau một lúc. Con quỷ tiếp tục bước xuống nước. Thoại Vũ dấn chân theo, anh không biết làm cách nào để đoạt lại mẹ mình. Với sức mạnh phi thường như nó, thì có đến mười người như Vũ cũng chưa chắc gì làm được chứ đừng nói chỉ có một mình anh. Thoại Vũ muốn hét lên cầu cứu, nhưng nhìn bãi biển vắng tanh, anh biết nếu mình có gào lên thì tiếng kêu cũng nhòa lẫn vào trong gió và sóng biển.

Thấy Thoại Vũ bước theo, con quỷ phát ra giọng nói ồm ồm, âm thanh khàn đục:

- Đứng lại! Tôi... không muốn... hại anh.

Thoại Vũ bất ngờ nghe giọng nói của con quỷ, anh giật bắn người lên và gần như ngả ngửa xuống cát. Nỗi sợ hãi bóp nghẹt trái tim anh.

Con quỷ bất thần lao xuống biển, nó dùng một tay giơ cao bà Minh Tuyền lên, rồi như một thân tàu rẽ sóng lướt đi. Thoại Vũ bật dậy lao theo xuống nước, anh gọi to:

- Mẹ! Mẹ ơi! Trả mẹ cho tôi...

Tiếng anh mất hút vào trong gió. Phút chốc con quỷ đã biến vào màn đêm đen kịt, bơi một khoảng khá xa, Thoại Vũ biết sức mình không thể bơi tiếp được, anh quay vào bờ ngồi ủ rũ, vai buông thõng xuống, mặc cho người ướt sũng, Vũ bật khóc ngon lành. Anh cảm thấy mình bất lực trước con quỷ. Anh không có cách nào cứu được mẹ, mặc dù với anh bà là một người mẹ có phần hơi lạnh lùng. Nhưng dù sao bà cũng là mẹ anh mà, Vũ thấy một sự mất mát to lớn, anh gào lên:

- Mẹ! Mẹ ơi! Mẹ đâu rồi. Tại sao lại là mẹ mà không là ai khác? Tại sao con quỷ lại bắt mẹ tôi?

Vũ ngã sụp xuống nằm úp mặt xuống cát. Anh ước gì con quỷ quay trở lại và bắt anh đi, ít ra thì anh cũng có dịp được ở cùng với mẹ. Nó bắt mẹ mình để làm gì? Có khi nào nó ăn thịt bà hay không? Nghe nói quỷ rất thèm ăn thịt người mà mẹ mình thì già lắm rồi, chỉ còn da bọc xương, thịt có béo bở gì đâu mà nó bắt đi. Nếu vậy, chắc nó sẽ nhốt mẹ mình ở đâu đó với ý đồ gì thì mình không thể hiểu được.

Vũ vùng dậy. Nhất định phải tìm cho ra mẹ, nhất định mình phải tìm cho bằng được.

Anh suy nghĩ và hành động ngay. Vũ bình tĩnh quay vào nhà, anh lên phòng cha anh gõ cửa. ông Nhật Tân ngạc nhiên vì không hiểu vì sao giờ này ông còn bị làm phiền. Ông bước ra mở cửa rồi hét lên nho nhỏ, nhảy lùi lại phía sau mấy bước. Trước mặt ông là một người cát trắng xóa, cát bám từ đầu đến chân, bám trắng cả mặt.

Thoại Vũ lên tiếng:

- Ba, con đây, ba đừng sợ

Ông Nhật Tân định thần nhìn lại, ừ nhỉ, thằng Vũ con trai ông đây mà, nhưng sao người ngợm nó lại thế kia.

- Vũ! Phải con đó không? - Ông hỏi giọng đầy vẻ nghi ngờ.

- Con đây mà ba. - Thoại Vũ gật đầu.

- Trời! Sao người con lại... - Ông bỏ dở câu nói đứng chết sững nhìn con.

Thoại Vũ không kịp giải thích, anh nói ngắn gọn:

- Ba! Mẹ đã bị con quỷ bắt đi rồi.

- Hả! - Ông Nhật Tân lảo đảo, choáng váng trước hung tin đó.

Thoại Vũ bước nhanh lại đỡ ấy cha.

- Ba. Bình tĩnh lại đi ba.

Anh dìu ba ngồi xuống giường, ông Nhật Tân lắp bắp:

- Con... Con có thể... nói rõ cho ba... nghe được không?

Thoại Vũ thuật lại câu chuyện một cách ngắn gọn cho ba anh nghe, anh kết một câu:

- Bây giờ thì ba biết tại sao người con dính đầy đất cát rồi đó!

Ông Nhật Tân đưa tay vuốt mồ hôi chảy ròng ròng trên trán. Ông thật sự bàng hoàng trước hung tin này.

Thoại Vũ hiểu được tâm trạng lo lắng của ba, anh nói:

- Ba à? Chuyện này con tính như thế này, gia đình mình cứ giấu chuyện mẹ bị quỷ bắt đi, con không muốn báo chí làm rùm beng lên, không muốn những kẻ hiếu kỳ sẽ đổ xô vào nhà ta. Con muốn tự tay mình điều tra chuyện này. Con sẽ tìm ra tung tích con quỷ và đưa mẹ trở về nhà.

- Con không thể làm được đâu Vũ ạ. Làm sao một mình con có thể đối đầu với con quỷ. Nếu nó ăn thịt con thì sao. Thôi không được đâu.

- Ba! Con năn nỉ ba, hãy để cho con đi cứu mẹ con. Con không thể ngồi khoanh tay mà chờ đợi được. Con sẽ nhờ nhà báo Vạn Thành cùng đi với con.

Ông Nhật Tân ngập ngừng như muốn nói điều gì nhưng nghĩ sao lại thôi.

Thoại Vũ nôn nóng:

- Bây giờ ba nghỉ đi, mọi việc cứ để cho con lo. Nếu ngày mai chị giúp việc có hỏi mẹ, ba cứ nói đêm qua mẹ đến nhà một người bà con chơi có thể vài ngày mới trở về.

Nói với cha xong Thoại Vũ chạy về phòng và điện thoại ngay cho nhà báo Vạn Thành.

- Alô! Anh Thành hả? Anh đến nhà tôi ngay nhé, có việc rất gấp. Đến ngay nhé.

Nghe giọng nói gấp gáp và nhấn mạnh của Thoại Vũ, Vạn Thành đã linh cảm có điều gì đó không hay lại xảy ra cho gia đình nhà bác sĩ. Anh cấp tốc lên đường ngay, mặc dù lúc đó đã hơn một giờ khuya.

Tới nơi nghe lời kể của bác sĩ Vũ, Vạn Thành bóp trán suy nghĩ và đi tới đi lui.

- Tôi đặt giả thuyết thế này, con quỷ này có thù sâu gì với bác gái, nên mới hành động từ trước tới nay nó luôn dồn về phía bác ấy. Thứ hai, nếu con quỷ muốn giết chết bác ấy thì thiếu gì cơ hội để ra tay. Nó có thể giết bà ngay tại đây, sao lại bắt bác ấy đi?

- Bởi vậy, tôi hy vọng nó chưa giết mẹ tôi, có thể nó sẽ giam giữ bà ở đâu đó.

- Anh nói đúng, con quỷ không thể sống dưới lòng đại dương. Nó có thể ở trong hang đá, hoặc trên những hoang đảo ngoài kia.

- À! Điều mà tôi bất ngờ nhất. - Thoại Vũ nói. Tôi không ngờ con quỷ có thể nói được tiếng người. Mặc dù âm thanh của nó khàn đục, ồ ồ, nhưng tôi vẫn nghe được.
 
- Ngày xưa, ông bà ta có những câu chuyện về ma quỷ. Ma, quỷ cho là hiện thân của người chết nên ma, quỷ cũng có thể nói được tiếng người. Anh không nghe kể chuyện ma khóc đến kể lể đến não nùng sao?

- Ừ! Trước đây tôi cho là chuyện hoang đường. Nhưng bây giờ thì tôi không biết lý giải làm sao cho có lý. Con quỷ, giọng nói của nó chính tôi chứng kiến mà. Còn nữa, tại sao con quỷ lại không giết tôi. Tại sao?

Đó là một câu hỏi cần có lời giải đáp.

- Anh Thành này, anh có thể đi cùng tôi không?

Vạn Thành nói không chút đắn đo:

- Đi chứ, tôi đâu thể bỏ qua dịp này và tôi cũng rất muốn giúp anh.

- Cám ơn anh, vậy để tôi liên hệ một người bạn, mượn tạm chiếc canô của anh ấy.

- Nhưng dù sao thì cũng phải chờ đến sáng đã. Chúng ta không thể liều lĩnh đi vào ban đêm.

- Thôi được. - Vũ thở dài. - Tôi sẽ lo canô và chúng ta sẽ lên đường ngay khi trời vừa hừng sáng.

Như dự định, hai người lên canô khi trời còn tranh tối tranh sáng, họ hướng mũi canô ra biển.

Nhấp nhô ngoài xa kia là những hòn đảo nho nhỏ, những vách đá cheo leo giăng đầy tổ yến.

Thoại Vũ cho canô chạy vòng quanh vách đá, anh lựa chỗ cho canô đậu lại rồi cùng Vạn Thành leo lên vách đá, thám hiểm xung quanh. Có một cái hang nhỏ, hai người đi vào, càng đi vào sâu, hang càng tối om. Cũng may Vũ đã chuẩn bị đèn pin. Anh vừa lấy đèn ra thì...

Bốp bốp... Cả Thoại Vũ và Vạn Thành chới với, xiểng niểng như có ai vừa dang tay tát vào mặt.

Hai người ôm mặt chưa kịp hoàn hồn thì tiếp theo... bụp... bụp... cứ như có ai đó đang quất mạnh vào người của cả hai vậy.

Vạn Thành và Thoại Vũ quay chân cắm đầu chạy ra bên ngoài.

- Ôi! Chuyện gì xảy ra thế.

- Hình như có ai vừa tát vào mặt tôi. - Thoại Vũ vừa thở vừa nói.

- Tôi cũng cảm thấy như vậy. - Vạn Thành nói.

- Chẳng lẽ ở đây có người?

- Nói chính xác hơn là có quỷ.

- Vậy mình có nên tiếp tục đi vào bên trong hay không? Vạn Thành nói.

Thoại Vũ đắn đo một chút rồi anh quyết định:

- Nếu anh ngại không vào thì tôi sẽ đi một mình.

Vạn Thành xua xua tay:

- Không! Không. Nếu anh vào thì tôi sẽ đi cùng chứ. Tôi đã đi cùng với anh rồi mà.

- Thôi được, mình hãy chuẩn bị mọi thứ cần thiết rồi hãy vào.

Thoại Vũ cầm đèn pin mở sẵn trên tay, tay bên kia anh cầm một con dao nhọn, tư thế sẵn sàng ứng phó với mọi tình huống.

Cả hai lại bước vô hang với một thái độ thận trọng hơn trước.

Họ đi vào khoảng mười bước, và khi vùng ánh sáng nhạt màu đi, bóng tối bắt đầu bao phủ. Bất ngờ một bóng đen lao thẳng tới chiếc đèn, rồi tiếp theo là những bóng đen khác bay vụt qua đầu họ. Nhưng lần này nhờ chuẩn bị tinh thần từ trước, nên họ có phần nào bình tĩnh hơn. Thoại Vũ nhảy lùi lại mấy bước rồi liên tục quét đèn pin tứ phía, những bóng đen bay loạng choạng.

Vạn Thành la lớn:

- Dơi! Những con dơi. Ôi, sao mà chúng to thế. Thật là khủng khiếp.

Thoại Vũ thở nhẹ một cái. Dơi, dù sao cũng chỉ là những con dơi, còn đỡ hơn con... nghĩ thế anh đã lấy lại tinh thần để đi tiếp.

Họ đi sâu vào bên trong nhiều hơn và thấy trong hang trống rỗng. Họ quay ra và nhìn xung quanh. Vách đá cheo leo trên đó treo đầy những tổ yến, Vạn Thành đề nghị:

- Vậy chúng ta ra những hòn đảo ngoài kia đi.

Thoại Vũ đồng ý và cả hai tiếp tục lên canô. Họ chọn một hòn đảo gần nhất chạy canô đến. Lang thang trên đảo mấy tiếng đồng hồ, họ không tìm thấy gì.

- Ta đến hòn đảo có nhiều cây cảnh kia đi. Vạn Thành đưa tay chỉ.

Thoại Vũ nhìn ra xa, có một hòn đảo màu xanh mượt.

Họ tiến lên.

Thoại Vũ và Vạn Thành lên đảo. Họ cẩn thận kéo canô lên bờ. Cả hai tiến sâu lên hòn đảo. Không khí ở đây yên lặng đến ghê người, ngoài tiếng hú của gió, chẳng có một chút gì thể hiện sự sống của con người.

Thoại Vũ thở dài:

- Chẳng lẽ chúng ta lại quay về trong tuyệt vọng.Trời ơi! Tôi thật sự lo quá, không biết bây giờ mẹ tôi ra sao rồi.

Vạn Thành lấy cái nón trên đầu xuống, cẩu thả lau mồ hôi chảy ròng ròng trên mặt, ánh nắng như thiêu, như đốt. Vạn Thành nói:

- Chúng ta cố một chút nữa xem sao. Đi quanh đảo thám hiểm thêm tí nữa.

Thoại Vũ lắc chiếc bình nước đeo trên hông:

- Thôi chết, hết nước rồi anh Thành ơi. Để tôi quay lại canô lấy nước nhé.

- Thôi khỏi đi, anh đi ra lại mất thêm một khoảng thời gian nữa. Chúng ta cố một chút đi anh.

Họ đi sâu vào hoang đảo hơn nữa, cây cối ở đây mọc xanh um, khác xa ở những hoang đảo họ vừa mới đi qua.

Một vài con thú rừng lao vút qua trước mặt họ, chúng vỗ cánh bay xao xác khi thấy bóng người lạ.

Vạn Thành đang đi, bỗng anh níu Thoại Vũ lại.
 
- Anh Vũ. Anh có nghe thấy gì không?

Thoại Vũ nhíu mày lắng nghe rồi anh lắc đầu khẽ.

Vạn Thành nghiêng nghiêng đầu, tai như cố hứng những tạp âm ồn ào xung quanh, mà phân tích.

- Hình như tôi nghe có tiếng suối chảy đâu đây. Tiếng nước róc rách, róc rách đó anh có nghe thấy không?

- Hình như là vậy. Chúng ta thử tìm xem. Thoại Vũ gật gù.

Cả Vạn Thành và Thoại Vũ đi về hướng có tiếng suối reo. Rồi cả hai cùng phát hiện ra một dòng suối nhỏ, nước trong veo. Họ chạy đến gần như vục mặt xuống dòng nước mát lạnh để tận hưởng cái cảm giác khoan khoái, dòng nước làm họ tỉnh hẳn người ra dưới cái nóng oi bức. Vạn Thành lấy tay vốc mộc vốc nước lên uống và kêu lên.

- Ôi! Nước suối ngọt quá. Thật là kỳ diệu, tôi chưa từng uống loại nước nào mà ngon như vậy. Anh thử uống xem.

Thoại Vũ ngần ngại, bởi anh vốn là bác sĩ, nên nhìn đâu cũng thấy vi trùng. Vạn Thành dường như hiểu ý, anh nói:

- Cứ thử uống một ngụm đi bác sĩ, không chết đâu mà sợ. Hồi tôi còn trong quân đội, khi hành quân băng rừng lội suối, đã không biết bao nhiêu lần uống nước lã như thế này mà có chết đâu. Càng ngày càng khỏe như voi ấy chứ.

Thoại Vũ cười, miễn cưỡng vốc một vốc nước lên uống, mặc dù anh cũng đang rất khát, ngụm nước vừa thấm vào cổ, Thoại Vũ cũng phải ồ lên:

- Ồ! Thật là kỳ lạ, nước ở đây thật ngọt!

Vạn Thành lội hẳn ra giữa dòng suối, anh mặc sức thỏa thuê vung nước lên khắp mặt. Tận hưởng cái cảm giác thoải mái đến tuyệt vời.

Thoại Vũ kiếm một tảng đá, ngồi ngâm chân xuống nước. Anh quan sát cảnh vật xung quanh. Thiên nhiên thật kỳ diệu, cứ như một bức tranh toàn mỹ, một màu xanh cây cối làm nền ở giữa là dòng suối trong vắt róc rách buồn trôi. Hai bên hoa dại mọc đầy, màu sắc sặc sỡ như tô điểm thêm cho bức tranh càng sinh động. Thoại Vũ nghĩ thầm, ước gì mình không phải bận tâm về bất cứ chuyện gì thì đây sẽ là nơi anh tự mình thả hồn phiêu du, bay bổng cùng với những cảm xúc thật lãng mạn...

Chợt Vũ nghĩ ngay tới Lâm Giang, giá như giờ này có cô bé ở đây thì hay biết mấy. Thoại Vũ tưởng tượng ra cảnh thấy Lâm Giang đang tung tăng chạy hái hoa bên bờ suối.

Ôi! Đó sẽ là một bức tranh đẹp tuyệt vời.
 
***

A... a... a...

Một âm thanh vang vọng lên, làm cắt ngang luồng suy nghĩ của Thoại Vũ, anh đứng bật dậy như một cái lò xo.

Hòa lẫn vào trong gió là một tiếng thét hãi hùng. Thoại Vũ quay sang Vạn Thành:

- Anh có nghe thấy gì không?

Thái độ của Vạn Thành cũng đang rất căng thẳng, anh đã nghe thấy tiếng thét.

- Có, tôi có nghe.

- Thả... thả... tôi ra...

Tiếng thét của ai đó lại vang lên. Cả Vạn Thành và Thoại Vũ không ai bảo ai, họ cùng lao lên, chạy về phía có tiếng thét. Họ chạy ngược lên phía trên dòng suối và phát hiện ra một cái hang đá, tiếng thét xuất phát từ nơi đó.

- Tôi... chết... mất... thôi...

Thoại Vũ kêu lên:

- Đó là tiếng của mẹ tôi.

Anh cắm đầu chạy như bay vào trong hang. Vạn Thành có phần tỉnh táo hơn, anh gọi giật giọng:

- Anh Vũ ơi, coi chừng, đề phòng con quỷ. Đây có thể là hang ổ của nó đó.

Thoại Vũ khựng lại một lúc nhưng rồi anh lại bước đi ngay. Lòng thầm nghĩ:

- Nếu có chết xin được chết cùng mẹ, mình không thể bỏ mặc mẹ trong lúc này. Nếu như con quỷ xuất hiện, mình đành chấp nhận đối đầu với nó.

Lòng hiếu thảo của một đứa con đã giúp Thoại Vũ vượt qua mọi nỗi sợ hãi. Anh tiếp tục đi vào trong hang. Ánh sáng từ bên ngoài rọi vào soi tỏ một khoảng không gian bên trong hang đá.

- Ai đó. Giọng nói run rẩy phát ra từ bên trong.

Thoại Vũ nhíu mày quan sát, anh phát hiện ra một người, gần như nửa nằm, nửa ngồi dưới đất. Tay chân hình như bị trói chặt, anh lao tới:

- Mẹ! Có phải là mẹ không?

Bà Minh Tuyền òa lên khóc khi nhận ra Thoại Vũ.

- Vũ! Có phải con không! Trời ơi, tôi có mơ không đây?

Thoại Vũ ngồi xuống ôm mẹ vào lòng.

- Mẹ! Anh nghẹn ngào, nước mắt tuôn trào ra. Mẹ ơi! Con đến để cứu mẹ đây.

Vạn Thành đứng sau lưng, anh quay mặt giấu nhanh sự xúc động của mình, trước sự hội ngộ của hai mẹ con.

Thoại Vũ ôm chặt lấy mẹ trong lòng, anh nghẹn ngào nói:

- Mẹ, tha lỗi cho con, con đã không bảo vệ được mẹ để mẹ phải chịu khổ như thế này.

- Mẹ không trách con đâu. - Giọng bà Minh Tuyền yếu ớt - Trời ơi! Mẹ cứ tưởng là mình sẽ chết mất xác ở đây mà không ai biết.

Vạn Thành nói nhanh:

- Hãy cởi trói cho bác gái đi anh Vũ.

Thoại Vũ bây giờ mới sực nhớ, anh vội vàng buông mẹ ra. Cả Vạn Thành và Thoại Vũ cúi xuống gỡ đoạn dây trên người bà Minh Tuyền ra. Bỗng nhiên một vùng tối bao phủ lấy họ, chút ánh sáng ít ỏi từ bên ngoài miệng hang rọi vào dường như bị che kín đi. Thoại Vũ và Vạn Thành cùng nhìn lên. Họ giật bắn cả người như vừa chạm phải điện. Trước mặt họ là một bóng đen cao to lạ thường, đã che khuất lối vào. Họ nhận ra con quỷ.

Cả Vạn Thành và Thoại Vũ cùng bật đậy, đứng ở thế thủ. Người họ toát mồ hôi hột. Những đôi mắt hướng về nhau, đầy lo sợ, ngờ vực xen lẫn kinh hoàng. Con quỷ tiến lên một bước, Vạn Thành nhảy lùi lại,

Còn Thoại Vũ, anh quỳ sụp xuống ôm chầm lấy mẹ như cố che chở cho bà.

Con quỷ dừng lại, nó nhìn Thoại Vũ rất lâu. Gần như không đếm xỉa gì đến sự có mặt của nhà báo Vạn Thành.

Thoại Vũ nhìn lại nó, như cố đoán những ý đồ sắp tới sẽ xảy ra với con quỷ. Nhưng thật lạ, anh nhìn vào mắt nó không thấy sự giận dữ, không hề thấy sự đối đầu.

Mà là một đôi mắt nhìn anh với cái nhìn da diết, đôi mắt như bộc lộ nỗi niềm thân thương sâu sắc.

Không khí im lặng, căng thẳng đến ngộp thở. Thoại Vũ thấy người mình run lên bần bật. Anh nhắm mắt lại một chút, thầm cầu nguyện: xin trời phật giúp con thoát khỏi tai kiếp này. Giờ đây không ai có thể cứu con được ngoài phép màu của thượng đế. Xin người hãy rủ lòng thương cho ba sinh mạng bé nhỏ trong hang này. Chúng con không thể nào chống lại nổi con quỷ này.

Bà Minh Tuyền run lẩy bẩy, hai tay bấu chặt vào người Thoại Vũ, anh thì thầm:

- Mẹ đừng sợ, nếu có chết con sẽ chết cùng mẹ.

Giọng nói ồm ồm chợt cất lên:

- Đừng sợ... tôi không làm hại anh đâu.

Cả Vạn Thành và Thoại Vũ cùng giật bắn người lên. Họ nhìn quanh quất, ngoài họ ra chỉ có con quỷ, đâu có ai. Vậy tiếng đó là tiếng con quỷ ư? Thoại Vũ run run giọng:

- Ông... ông vừa nói với tôi.

Con quỷ gật đầu. Nó tiếp tục bằng cái giọng ồm ồm đặc biệt:

- Anh... Vũ... đừng sợ...

Thoại Vũ hết ngạc nhiên này, đi đến ngạc nhiên khác. Anh đứng bật dậy:

- Ông... ông cũng biết nói tiếng người... Làm sao ông biết tên tôi... Ông thật ra là ai?... Là người hay là... Anh ngưng lại giữa chừng, nhìn con quỷ đắn đo.

Con quỷ như hiểu được sự thắc mắc của anh. Nó gật đầu rồi nói:

- Anh có muốn biết sự thật không?

Thoại Vũ gật đầu, không suy nghĩ, trong đầu anh bao nhiêu câu hỏi đang đặt ra mà anh không thể giải đáp được.

Con quỷ quay lưng đi và nói:

- Hãy đi theo tôi.

Anh đã thấy bớt căng thẳng. Con quỷ giờ đây dưới mắt anh không hề có một sự hung hăng nào cả.
 
- Để tôi cởi trói cho mẹ tôi.

Con quỷ quay phắt lại, giọng nó rít lên giận dữ đến bất ngờ:

- Bà ta không phải là mẹ anh...

Thoại Vũ ngơ ngác trước sự phản kháng của con quỷ, anh lắp bắp:

- Mẹ của tôi thật mà.

- Không phải. - Con quỷ giận dữ khoát tay. - Bà ta không phải là mẹ ruột của anh. Anh hãy theo tôi gặp người này.

Thoại Vũ nhanh tay cởi trói cho bà Minh Tuyền và nói nhỏ:

- Mẹ hãy chờ con ở đây.

Bà Minh Tuyền níu tay Vũ:

- Đừng đi, con đừng đi Vũ ơi.

- Bà câm đi, nếu nói thêm một lời nào nữa, tôi sẽ bóp chết bà ngay. - Con quỷ kêu rít lên. Giọng nó vang lên như sấm làm cho mọi người run lên lẩy bẩy.

Bà Minh Tuyền rũ người xuống đất, Thoại Vũ thấy lòng rối bời, anh không hiểu chuyện gì sắp xảy ra cho mình. Và anh cũng không hiểu... không hiểu gì cả... tai cứ ù đặc đi Anh nhìn mẹ rồi bước theo con quỷ, Vạn Thành lao theo sau giờ đây anh như một người thừa, nhưng anh vẫn muốn là người được nghe tiếp câu chuyện huyền bí này.

Ra khỏi hang, con quỷ đi lên phía trên dòng suối. Nó bước đi, hai vai rũ xuống, như có một nỗi buồn đang đè lên người nó.

Sắp đến một gốc cây to, tỏa bóng mát bên dưới thảm cỏ có một người đang nằm, xung quanh bà phủ đầy hoa dại. Trên người bà đắp ngang một tấm da hổ lông vằn, mắt nhắm nghiền lại. Bà như không hay biết sự có mặt của ba người.

Thoại Vũ nhìn kỹ người đàn bà nằm dưới cỏ. Bà ta gầy gò, dường như chỉ là da bọc xương. Gương mặt xanh tái giống như người đã chết. Bà ta là ai? Tại sao con quỷ lại đưa mình đến gặp bà ta?

Con quỷ quỳ xuống, giọng nó dịu dàng nhỏ nhẹ:

- Mẹ! Mẹ ơi! Mẹ xem con đưa ai đến cho mẹ đây.

Cả Vạn Thành và Thoại Vũ hết sức ngạc nhiên khi thấy con quỷ gọi người đàn bà là mẹ. Họ không hiểu chuyện gì đang xảy ra?

Người đàn bà mở mắt ra, yếu ớt nhìn xung quanh, bà ta thấy hai người lạ đang đứng trước mặt, đôi mắt bà ta lóe lên một tia sáng nhỏ. Con quỷ nắm lấy tay người đàn bà với bàn tay đầy móng vuốt của mình. Mắt nó chứa chan một tình yêu thương vô bờ bến.

- Mẹ ơi. Con đưa Thoại Vũ về cho mẹ rồi đây. Anh ấy đang đứng trước mặt mẹ.

- Thoại Vũ! Người đàn bà kêu lên nho nhỏ, âm thanh trìu mến, sung sướng khó tả. - Đâu, Thoại Vũ đâu rồi? Bà ta đưa mắt nhìn hai người và không thể xác định ngay ai là Thoại Vũ. Rồi một lúc mắt bà dừng hẳn lại nơi Thoại Vũ, giọng bà nghẹn ngào.

- Có phải là Thoại Vũ đây không?

Thoại Vũ ngơ ngác, nhìn chăm chăm vào mặt người đàn bà. Con quỷ nhìn hai người rồi gật đầu xác nhận:

- Mẹ đã nhận ra anh ấy rồi đó.

Rồi quay sang Thoại Vũ, mắt long lanh ngấn nước, giọng xúc động:

- Anh Vũ... đây, người nằm đây mới chính là mẹ của anh.

Thoại Vũ bàng hoàng, anh lắc mạnh đầu:

- Tôi không hiểu...tôi.... không hiểu gì cả. Trời! Chuyện gì đang xảy ra với tôi vậy?

- Rồi từ từ anh sẽ biết.

Người đàn bà đưa tay với với vào không khí, như cố nắm lấy tay Thoại Vũ, mắt bà nhòa lệ, bà chồm lên như cố hết sức với chút hơi tàn của mình.

- Vũ! Vũ con tôi... con của mẹ. Hãy lại đây, lại đây cho mẹ được nắm tay con một lần.

Con quỷ nhìn Thoại Vũ như van xin:

- Xin anh hãy đến với mẹ... mẹ đã chờ đợi giây phút này lâu lắm rồi... Tôi van anh... hãy tin đi, đây là sự thật, người nằm đây chính là mẹ của anh. Bà sắp đi xa... mãi mãi rồi.

Thoại Vũ như bị thôi miên, anh bước về phía người đàn bà. Quỳ xuống rồi như có một tình cảm thiêng liêng kỳ lạ nào đó, Thoại Vũ cảm thấy người đàn bà này gần gũi vô cùng. Một tình cảm trào lên trong tim, anh nắm lấy tay bà run run.

Người đàn bà khóc, nước mắt lăn dài trên gò má nhăn nheo. Bà nhìn anh không chớp mắt. Đôi mắt chan chứa tình mẫu tử thiêng liêng. Bà nói sau một giây ngước lên nhìn trời:

- Giờ đây, có chết tôi cũng đã mãn nguyện lắm rồi. Cảm ơn trời còn thương để cho mẹ con tôi có ngày gặp hôm nay.

Thoại Vũ thấy tim mình nhói đau, người đàn bà nằm đây làm anh xúc động mãnh liệt. Tại sao bà biết tên mình. Tại sao.... tại sao?

Người đàn bà đọc được những dấu hỏi trong đầu Thoại Vũ, bà bóp nhẹ tay anh, giọng run run:

- Hãy tin đi, mẹ chính là mẹ ruột của con.

- Mẹ chính là mẹ ruột của con? Thoại Vũ nhắc lại câu nói. Con không hiểu chuyện gì cả.

- Đó là một câu chuyện rất dài, chuyện của ba mươi năm về trước.

Anh nghe có tiếng nấc lên phía sau, Thoại Vũ quay lại, anh thấy con quỷ đang quay lưng về phía anh, vai nó run lên bần bật. Nó đang khóc... khóc như một đứa trẻ.

Còn Vạn Thành, anh đứng chết trân nhìn những gì đang xảy ra xung quanh mình.

Người đàn bà cất giọng yếu ớt.

- Thoại Vũ, con có muốn biết rõ sự thật về con không? Con có muốn nghe một câu chuyện đã xảy ra cách đây ba mươi năm không?

Thoại Vũ gật đầu:

- Dạ có. Con rất muốn biết.

Người đàn bà ngước mắt nhìn lên vòm cây xanh, một chuỗi sự kiện trong quá khứ hiện về. Bà như thấy mình sống lại thời xa xưa.

Môi bà mỉm cười, nụ cười đầu tiên Thoại Vũ nhìn thấy:

- Tất cả bắt đầu bằng một chiếc khăn choàng. Chiếc khăn định mệnh, vào một chiều rất đẹp, lúc ấy mẹ là một nữ sinh trung học, trên đường đi học về, chiếc khăn quàng cổ bằng voan mỏng màu trắng, có điểm những chùm hoa dại màu tím hoa cà, chợt bị gió cuốn bay đi, và nó đã quàng vào cổ của một khách qua đường. Chính chiếc khăn ấy là chiếc khăn định mệnh của đời ta. Lần gặp gỡ ấy tạo nên mối nhân duyên giữa mẹ và cha con, ông Nhật Tân.

Thoại Vũ nghe tim mình đập mạnh. Trời! Người đàn bà này đã nói đúng tên cha mình. Vậy... bà ta là ai?

Lời người phụ nữ nhè nhẹ, đều đều, bà ta nói tiếp:

- Mẹ và cha con đến với nhau bằng một tình yêu hết sức mãnh liệt. Yêu như chưa bao giờ được yêu. Đó là những ngày tháng hạnh phúc nhất đời ta. Rồi sau đó ta mới được biết cha con đã có vợ. Người vợ do cha mẹ chỉ định mà không hề có một chút yêu thương. Họ đã sống với nhau năm năm rồi mà chưa có con. Cha con lại là con trai một, nên ông bà nội cần người nối dõi tông đường. Họ bắt ba con phải cưới thêm một người vợ nữa. Ba con lại là người nặng nợ ân tình, nên mặc dù người vợ ấy không sinh được con, nhưng để phụ bạc người ấy thì không đành lòng. Một bên phải buộc có hiếu với mẹ cha, một bên thì không nỡ phụ bạc. Cha con là người sống rất có tình, ông đã buồn bã, lang thang nhiều ngày, rồi vô tình gặp mẹ. Tình cảm nảy sinh. Sau đó ông bà nội và người vợ của cha con đã đem trầu cau đến nhà cưới mẹ về cho cha.

Nói đến đây bà đưa mắt nhìn Thoại Vũ âu yếm.
 
- Chỉ một năm sau đó thôi. Bà dịu dàng nói. - Mẹ đã hạ sinh một bé trai kháu khỉnh và đặt cho cái tên là Thoại Vũ.

- Trời ơi! Là sự thật sao? Tôi không ngờ được trên đời này tôi còn có một người mẹ khác.

Người đàn bà nắm áo Thoại Vũ, dùng chút hơi tàn của mình, cố gượng lên để nhìn anh cho rõ.

- Mẹ... mẹ không hề nói dối con đâu.

Thoại Vũ nhìn vào mắt bà, bỗng dưng trong tim anh dâng lên một tình cảm khó tả. Anh không thể giải thích được. Nhưng anh đã tin và tin thật lòng vào những gì người đàn bà xa lạ này nói.

Khi sinh con ra, mẹ những tưởng rằng mình là người đàn bà hạnh phúc nhất trên trần gian này. Cả nhà ai cũng thương yêu và nhất là ông bà nội. Và cũng chính vì tình yêu mà mọi người dành cho mẹ con mình, đã tạo cho mẹ nghịch cảnh ngày hôm nay.

- Tại sao? - Thoại Vũ nôn nóng hỏi.

- Vì người vợ lớn của cha con đã đem lòng ganh ghét với mẹ. Bà ta kiếm cách dằn mặt mẹ rất nhiều, nhưng mẹ vì cha con nên cam tâm chịu đựng tất cả. Rồi mẹ lại có thai lần thứ hai, cả nhà vui mừng khôn xiết. Nhưng... - Người đàn bà nấc lên, giọng đau đớn. - Nhưng khi mẹ sinh ra đứa thứ hai thì... trời ơi... nó không bình thường như bao đứa trẻ khác. Mà... Bà đưa tay chỉ về phía con quỷ đen.

Thoại Vũ quay lại nhìn. Cả Vạn Thành cũng vậy. Họ không ngờ con quỷ kia lại chính là do con người sinh ra.

Giọng người phụ nữ đẫm nước mắt, bà kể:

- Lúc đầu mẹ cũng chẳng biết tại sao mẹ lại có thể sinh ra một đứa con lông lá, mặt nửa người nửa quỷ kia. Cả nhà gần như sợ điếng hồn, mọi người bàn phải giết nó đi. Hoặc vứt nó đi đâu đó. Cha con thì khủng hoảng tinh thần trầm trọng, ông lang thang suốt đêm ngoài đường. Mẹ đã khóc hết nước mắt vì dù cho nó có là quái thai đi nữa nó cũng là một phần núm ruột của mẹ. Mẹ không dành lòng vứt nó. Và đêm hôm đó bà Minh Tuyền đã nói với mẹ nếu mẹ không vứt nó xuống biển bà ta sẽ làm việc đó. Còn nếu không thì mẹ sẽ ra đi mãi mãi với một đứa con quái thai này. Lúc đó, con chỉ là một đứa bé lên hai tuổi, mẹ đau như có ai đâm vào tim mình khi đành phải xa con. Nhưng mẹ nghĩ dù sao con cũng là một đứa trẻ bình thường, mọi người sẽ chăm sóc cho con. Còn đứa thứ hai, đứa con bất hạnh này chỉ có mẹ là người chăm sóc cho nó.

Bà ngừng lại một chút như lấy hơi thở rồi nói tiếp:

- Đêm hôm đó bà Minh Tuyền đã tạo ra một hiện trường giả ở bãi biển, dàn cảnh như mẹ đang ôm đứa con thứ hai tự tử. Rồi bà bỏ mẹ con ta lên canô với một cái thuyền thúng. Bà chở hai mẹ con ta ra khơi và cho hai mẹ con xuống thuyền. Bỏ thêm một ít thức ăn và nói: - Sinh mạng của mẹ con cô phụ thuộc vào trời, sống và chết chỉ cách nhau gang tấc. Mẹ đã quỳ xuống van xin bà ta chăm sóc Thoại Vũ. Bà ta hứa. Rồi cuối cùng trước khi đi, bà ta nói cho mẹ biết một điều bí mật khủng khiếp, là bà ta đã ghét cay, ghét đắng mẹ từ khi mẹ bước vào nhà. Bà ta đã rắp tâm trả thù. Vì là một bác sĩ sản khoa rất giỏi, nên một ngày kia bà đã lấy được tinh trùng của một con khỉ lớn gọi là hắc tinh tinh. Bà ta đã cho mẹ uống thuốc ngủ và thực hiện cuộc thí nghiệm trên người mẹ. Cuối cùng mẹ đã thụ thai và sinh ra một đứa con nửa người nửa khỉ kia.

Thoại Vũ không biết mình đã khóc tự bao giờ. Nước mắt anh ướt đẫm áo. Câu chuyện đã làm cho anh xúc động.

Thoại Vũ quỳ xuống, anh ôm lấy người đàn bà chỉ còn da bọc xương.

- Mẹ! Trời ơi! Đây là mẹ của tôi sao? Mẹ ơi! Sao số phận khắc nghiệt lại đến với mẹ thế. Sao ông trời lại bất công quá vậy. Mẹ tôi có tội tình gì, sao đày đọa bà một kiếp người như vậy. - Thoại Vũ khóc như mưa, anh hoàn toàn tin vào sự thật câu chuyện này. Một người đàn bà xa lạ như thế này, không thể bịa ra một câu chuyện mà trong đó tên của mỗi người đều rất gần với Vũ.

Người đàn bà khóc lặng lẽ:

- Kiếp này mẹ tưởng chừng như không bao giờ còn được gặp con nữa. Vậy mà nhờ ơn trời...

Thoại Vũ áp bàn tay gầy khô của bà lên má mình. Một tình cảm trìu mến anh dành cho mẹ. Tình mẫu tử thiêng liêng không có gì thay thế được. Từ trong sâu thẳm trái tim họ đã cảm nhận được điều đó.

- Mẹ ơi! Con thật có lỗi con thật là bất hiếu đã để cho mẹ phải sống thế này.

- Con nào có lỗi gì. Nếu không có ngày hôm nay, con cũng không biết được sự thật phũ phàng này. Lẽ ra mẹ cũng không nói đâu, nhưng nghĩ mình gần đất xa trời rồi, mẹ đành nói sự thật cho em con biết. Nhìn nó ghê gớm như vậy nhưng nó cũng có dòng máu của mẹ trong đó. Nó được mẹ dạy dỗ từ nhỏ nên cũng biết nói được tiếng người. Khi nghe mẹ kể câu chuyện, nó đã tìm cho bằng được đến nhà của cha con. Nó đã biết con là anh nó cũng như biết người đàn bà kia là ai. Nó đã trả thù, mặc dù mẹ hết sức can ngăn.

Thoại Vũ nhìn về phía con người đằng kia. Anh không ngờ anh có một đứa em cùng mẹ như vậy.

Người đàn bà thở hắt hơi, níu lấy tay Vũ và nói:

- Cha con vẫn khỏe chứ?

- Dạ, cha vẫn khỏe.

- Cho mẹ gửi lời vĩnh... biệt cha con. Mẹ phải đi đây... các con...ở lại...

Người đàn bà từ từ nghiêng đầu sang một bên trút hơi thở cuối cùng. Thoại Vũ hét lên:

- Mẹ! Mẹ ơi! Đừng bỏ đi nhanh như vậy. Con còn chưa trả hiếu cho mẹ.

Con quỷ lao tới, nó ôm chầm lấy bà đau đớn tột cùng. Nó không khóc, chỉ ôm xiết lấy mẹ. Tất cả nỗi đau như trút hết vào trong mắt nó.

Vạn Thành ngồi vật xuống đất, mắt anh cay xè. Cả đời đi làm báo, chưa bao giờ anh nghe hoặc chứng kiến một câu chuyện đầy bi kịch như vậy. Chuyện tưởng chừng như không thể xảy ra được.

Thoại Vũ bỗng nghe tiếng cười man dại từ xa vọng lại. Anh nhìn lên, đằng xa, bà Minh Tuyền vừa chạy vừa cười nắc nẻ, bà hái hoa vung lên cao, rồi cười, bà ta đã phát điên.

Thoại Vũ có ý đưa xác mẹ vào đất liền. Nhưng con quỷ nhất định không cho và nói:

- Cả một đời mẹ đã gắn bó với hòn đảo này. Vậy thì hãy để mẹ nằm lại đây mãi mãi. Để em được chăm sóc mẹ.

Ngôi mộ được phủ đầy hoa dại. Trước lúc chia tay, Thoại Vũ nói với con quỷ, giờ đây anh nhìn kỹ ngoài vóc dáng to lớn, đầy lông lá, nó còn có một gương mặt rất giống người. Nó không dữ tợn như người ta nghĩ.
 
- Em muốn vào đất liền ở không?

Con quỷ buồn bã:

- Với hình hài này, tôi có thể ở chung với con người sao? Thôi anh cứ về đi. Tôi ở lại đây với mẹ.

- Thôi được. Thỉnh thoảng anh sẽ sang đây thăm mẹ và thăm...em.

Thoại Vũ đưa bà Minh Tuyền lên canô bà ta giờ đây là một người điên. Vũ không biết mình nên thương hay nên ghét bà. Người đàn bà độc ác, đã vì lòng ganh tị, ghen ghét của mình mà hại đời một người khác. Giờ đây thì Vũ đã hiểu tại sao gia đình anh luôn có một không khí nặng nề và lạnh lùng như vậy, ba mẹ anh vì sao không hạnh phúc và tại sao anh chưa hề cảm thấy được mẹ yêu chiều như bao trẻ khác.

Vạn Thành nhìn Thoại Vũ và nói:

- Thỉnh thoảng chúng ta sẽ lại ra hòn đảo này. Tôi thật sự bàng hoàng với những gì vừa chứng kiến.

Họ tạm biệt. Con quỷ đứng đó cho đến khi bóng nó chỉ là một chấm đen nhỏ xa tít. Vạn Thành lên tiếng:

- Chắc cha anh chưa biết được sự thật của câu chuyện này đâu. Ông ấy cứ nghĩ là mẹ anh đã tự tử chết rồi.

Thoại Vũ nhìn xa xăm:

- Thảo nào, tôi thường thấy cha hay ngắm nghía một chiếc khăn voan màu trắng có điểm bông dại màu tím hoa cà. Thì ra đó chính là chiếc khăn định mệnh đã đưa mẹ về với cha. Nhưng cũng chính chiếc khăn đó đã làm cho cuộc đời của mẹ trở nên bất bạnh như thế này.

- Và câu chuyện con quỷ đen, tôi kết thúc ở đây. Tôi không muốn mọi người biết chuyện này. Vạn Thành nói. - Nếu biết, người ta sẽ đổ xô tới đây và săn lùng nó, với nhiều mục đích khác nhau.

- Phải đó. - Thoại Vũ nói. - Cuộc đời nó đã quá nhiều bất hạnh rồi. Nó được sản sinh từ lòng hận thù, ghen ghét của con người. Chúng ta không nên làm cho nó đau đớn thêm. Sự phẫn nộ của nó sẽ không lường trước được đâu.

Cả hai cùng im lặng nhìn ra biển. Trong đầu Vạn Thành nghĩ, đây là lần đầu tiên án anh điều tra mà không viết thành báo để kết thúc câu chuyện.

Còn Thoại Vũ, anh nghĩ rằng người mà anh có thể chia sẻ được câu chuyện này chỉ có một, người đó chính là Lâm Giang.

Người con gái anh yêu, niềm hạnh phúc duy nhất của đời anh.
Sự đời cà khịa cái chơi
Khi vui muốn khóc, khi cười buồn tênh!
0
LINH MIÊU

Bà Thủy phải lấy hơi mấy lượt mới kể hết câu chuyện được:

- Lần cuối cùng là sáng sớm hôm nay, khi tôi cố gắng mở mắt ra thì nhìn thấy được anh ta nằm đó, không cử động nhưng mắt thì cứ nhìn tôi đăm đăm như muốn nói gì đó mà nói không được. Tôi sợ quá định kêu lên, nhưng cũng không tài nào kêu dược!

Ông pháp sư Hoàng Vệ lắng nghe rất kỹ, rồi nhẹ nhàng nói:

- Bà là người thứ hai kể câu chuyện này. Rõ ràng đó là một hồn ma, nhưng nó không giống như các hồn ma mà mọi người từng gặp. Nó không hại người, cũng không hung dữ hay ma mãnh. Đặc biệt hơn, nó là một người nam.

Bà Bích Thủy hỏi lại:

- Đã là ma thì nam hay nữ cũng như nhau, sao gọi là đặc biệt?

Nhắm mắt một lúc, rồi đột nhiên vị pháp sư nói:

- Nhưng ở đây thì khác! Nó không phải là một oan hồn bình thường như tôi tưởng. Bà xem đây...

Ông đưa cổ tay mình ra, bà Thủy nhìn thấy năm dấu đỏ rướm máu quanh cổ tay, bà kinh ngạc:

- Ông bị sao vậy và bị bao lâu rồi sao không bôi thuốc?

Ông pháp sư nghiêm giọng:

- Mới vừa bị tức thời! Hồn ma này đã cao tay ấn hơn tôi tưởng, nên suýt đã mất mạng với nó!

Ông lại đưa cổ tay bên kia, có hai dấu răng ngập sâu vào trong, hai dòng máu rịn chảy ra khiến bà Thủy sợ hãi:

- Chẳng lẽ thầy cũng mới vừa bị? Mà sao tôi không thấy ai ở đây cả?

Ông thầy hơi mất bình tĩnh:

- Nguy hiểm là ở chỗ này. Chính cái vẻ lừ đừ, chậm chạp và gần như bất động của nó đã làm hại tôi. Với những vết thương này một người bình thường coi như mất mạng, cũng may là tôi còn có thứ hộ thân.

Ông lấy trong túi áo ra một gói vải đỏ, bỏ nhanh vào miệng một vật gì được bọc trong đó. Rồi ông thu dọn đồ đạc và nói nhanh:

- Xin kiếu bà.

Bà Bích Thủy hốt hoảng:

- Kìa, thầy chưa làm giúp tôi chuyện đã nhờ thầy!

Lão pháp sư nhẹ lắc đầu:

- Tôi không thể giúp được gì nữa!

Ông ta đi ra cửa và phóng lên xe vù nhanh. Nhưng xe vừa ra tới cổng thì đâm sầm vào một xe khác và ngã lăn ra. Mọi việc diễn ra bên ngoài, nên trong nhà bà Bích Thủy không hề hay biết...

Nửa giờ sau...

Bà Bích Thủy sau một đêm mệt lả đã thiếp đi ngay khi lão pháp sư vừa đi ra. Nhưng chỉ một lát sau, bà đã nghe có người lay nhẹ mình cùng giọng nói bên tai:

- Dậy đi bà Thủy. Đi theo tôi...

Bà Thủy mở mắt ra tuy có hơi ngạc nhiên khi nhìn thấy ông pháp sư, nhưng vẫn không do dự khi ngồi bật dậy và bước ngay xuống giường. Bà chỉ hỏi khi bước ra tới cửa phòng:

- Mình đi đâu đây?

Ông pháp sư mặt lạnh như tiền:

- Đi rồi khắc biết!

Bước ra khỏi cửa một chút thì bà Thủy hầu như không còn định hướng được là mình đi đâu, bà hầu như phải vịn vào cánh tay của lão pháp sư mới đi được.
 
***

Khi người ta phát hiện ra bà Bích Thủy nằm ngất đi trong một ngôi nhà bỏ hoang ở phía sau nghĩa địa thì người tím tái, lạnh ngắt.

Cũng may là được cứu chữa kịp thời, nên sau đó bà thoát nạn. Nhưng khi người nhà hỏi chuyện thì bà Thủy nhất định không nói và lại tỏ ra sợ hãi một khi bị hạch hỏi.

Nhơn, cậu con trai cả của bà rất thương mẹ, nên ngăn không cho ai hỏi gì thêm, đích thân anh dìu mẹ về phòng riêng ngơi nghỉ. Sau đó, chính anh một mình trở lại ngôi nhà hoang đó để tìm hiểu thêm.

Và thật bất ngờ, lúc Nhơn bước vào ngôi nhà không còn cửa, anh đã gặp một anh chàng tuổi cỡ bằng anh, đang nằm im dưới đất.

Rõ ràng, lúc người phát hiện ra mẹ anh ở đây, người ta quả quyết là nhà không có ai khác, như vậy anh chàng này...

Nhơn đứng lặng một lúc lâu rồi mới đánh bạo bước tới xem tình trạng của người nằm đó và giật mình khi nhận ra anh ta còn thở! Thoạt tiên Nhơn định đi báo cho những nhà gần đó nhưng lại ngại lôi thôi, nên sau một phút lưỡng lự, anh bước ra ngoài đường lớn gọi một chiếc xe xích lô, anh bảo:

- Tôi có người thân bị bệnh bất ngờ, nhờ anh chở đi bệnh viện giùm.

Anh đưa tờ giấy bạc trị giá gấp ba lần cuốc xe, anh chàng đạp xích lô vui vẻ nhận lời liền:

- Thầy có cần đi theo không?

Nhơn đáp:

- Không cần, anh cứ đưa người nhà tôi tới bệnh viện đó, tôi sẽ đón.

Tuy nhiên khi Nhơn trở vào thì phải ngơ ngác khi không còn nhìn thấy anh chàng kia đâu.

- Ủa, sao kỳ vậy?

Anh chàng đạp xích lô bàn:

- Hay là người nhà của thầy đã tỉnh lại rồi và đi ra lúc thầy đi kêu xe?

Nhơn thở phào nhẹ nhõm, bởi thật sự lúc nãy anh vì lòng trắc ẩn nên phải tính chuyện cứu người gặp nạn, giống như người ta đã cứu mẹ mình. Còn bây giờ coi như không còn phiền toái nữa. Nhơn tìm cách nói khéo:

- Anh chờ ở đây, để tôi đi quanh tìm thử xem...

Anh nhìn thấy một lối ra khác, ngược lại với lối đã vào lúc nãy, nên đi nhanh ra hướng đó. Mục đích của Nhơn là để tránh phải giải thích lôi thôi với anh chàng đạp xe kia.

Chờ một lát sau không thấy Nhơn quay lại, anh chàng đạp xe ngơ ngác gọi:

- Thầy gì ơi, tôi trả lại tiền rồi còn đi kiếm ăn nữa chứ!

Anh ta gọi đến cả chục lần mà vẫn chẳng nghe trả lời. Túng thế, anh ta mới quay ra xe đậu cách đó vài chục thước. Và...

- Ủa?

Anh ta nhìn lên xe của mình và thấy một anh chàng đang nằm như chết trên đó!

- Kìa, anh...

Sờ thấy anh ta bất động, anh chàng hốt hoảng:

- Là người nhà của thầy kia đây mà, sao thầy ấy đi đâu vậy cà!

Anh ta định đứng đợi, nhưng nhớ lại lời dặn của Nhơn lúc nãy, anh ta lên xe đạp thẳng tới bệnh viện cấp cứu. Tới nơi, anh ta nhìn trước sau chẳng thấy Nhơn đâu thì hơi lo, nên sau cùng phải để khách trên xe, anh ta chạy thẳng vào trong để tìm.

Tìm hoài chẳng thấy Nhơn đâu, anh ta đành phải quay ra, tính sẽ dìu đại bệnh nhân vào và gửi ở chỗ cấp cứu. Tuy nhiên, khi trở ra anh ta ngơ ngác, bởi trên xe không hề có bệnh nhân! Mà thay vào đó là một con mèo mun nằm yên như chết trên nệm xe.

- Sao... sao thế này?

Anh ta còn đang thừ người ra thì vừa lúc con mèo phóng nhanh xuống xe và biến mất giữa dòng người qua lại trên đường...

Đúng ra việc đến đó là xong, bởi tiền công đã lấy rồi, cũng không phải tốn chút sức nào về người bệnh. Nhưng chẳng hiểu sao, anh chàng đạp xích lô cũng đứng đó chẳng muốn rời, như còn muốn chờ đợi điều gì đó...

Mãi đến khi có một người khách gọi xe, anh ta mới giật mình quay lại và lúng túng đáp:

- Dạ, xe đang đợi người...

Anh ta đợi đến trưa và cuối cùng đạp xe không về mà trong lòng cứ hoang mang không thôi.
 
***

Nghe con hỏi, bà Bích Thủy ngơ ngác:

- Mẹ có biết gì đâu, bởi khi mẹ tỉnh lại thì thấy đang nằm trong phòng mẹ rồi.

Nhơn kể lại:

- Người ta bắt gặp mẹ nằm trong một ngôi nhà bỏ hoang gần với nghĩa địa. Chính con khi tới đưa mẹ về cũng ngạc nhiên hết sức tại sao mẹ lại ở đó. Đâu, mẹ nhớ lại coi mẹ đã làm gì trước đó?

Bà Bích Thủy lúc ấy đã tỉnh táo hơn, bà lờ mờ nhớ lại chuyện ông pháp sư mà bà nhờ một người bạn rước về giùm, bà kêu lên khẽ:

- Ông pháp sư!

Nhơn ngạc nhiên:

- Ông pháp sư nào? Mẹ gặp ông ta ở đâu?

Bà Bích Thủy định giấu con, nhưng sau cùng bà nói rằng:

- Mẹ nằm mơ thấy một thằng nào đó cứ nằm nhìn mẹ hoài, làm mẹ sợ quá mấy đêm liền ngủ không được, nên phải nhờ người bạn rước ông thầy về coi giùm.

Nhơn giật mình:

- Thằng nào là... thằng nào?

- Một thằng con trai cỡ tuổi con!

- Có phải anh ta mặc chiếc áo sơ mi màu xanh và đi đôi giày vải không?

Bà Bích Thủy kinh hãi:

- Sao... sao con biết? Con cũng gặp hay sao?

Nhơn kể lại:

- Khi con trở lại ngôi nhà hoang thì gặp anh ta nằm ở đó!

Bà Bích Thủy thất thần:

- Rồi sao?

- Anh ta... biến mất khi con gọi xích lô chở đi bệnh viện giùm!

- Sao... sao con dính tới anh ta làm gì! Trời ơi, không xong rồi Nhơn ơi...

Bà run lẩy bẩy, khiến Nhơn phải trấn an:

- Bây giờ mọi việc qua rồi mẹ. Con nghĩ chắc anh chàng đó cũng là người đi lạc đường rồi vào ngôi nhà đó tá túc...

- Nhưng nó chính là đứa đã hiện ra trong giấc mơ của mẹ! Nó mặc cái áo đó, mang đôi giày vải đó. Nó...

Bà không biết dùng từ gì để nói về người con trai kia, nên chỉ run và sợ hãi. Nhơn phải nói:

- Có lẽ do mẹ yếu trong người rồi mất ngủ và sinh ra như vậy. Thôi, để lát nữa con đưa mẹ đi bác sĩ khám bệnh, uống thuốc là hết. Nhất là mẹ đừng để những hình ảnh như vậy trong đầu nữa.

Bà Bích Thủy nhẹ lắc đầu:

- Mẹ nào có dám nhớ đâu, nhưng trong đầu cứ luôn luôn bị ám. Mẹ nghĩ có lẽ phải nhờ ông thầy khác quá, chứ lão pháp sư họ Hoàng kia đã không đủ sức rồi.

Nhơn không tin những chuyện nhảm nhí, nên anh gạt ngang:

- Mẹ đừng bao giờ tin những ông gọi là pháp sư kiểu đó! Mẹ mà rước ông ta về nhà lần nữa là con đuổi ra đó!

Bà Bích Thủy sợ hãi:

- Con đừng có nói bậy! Pháp sư Hoàng Vệ nổi tiếng từ Hồng Kông, chính mẹ thấy hôm qua ông ấy bị cái vong của ai đó làm cho suýt mất mạng. Đây không phải là chuyện chơi, con không nên...

Nhơn sợ cãi thêm làm mẹ buồn, nên anh tìm cách đi vào phòng mình. Nhưng bà Thủy vẫn chưa yên tâm khi thấy con có thái độ như vậy, nên bà bước theo và dặn thêm:

- Con đừng có ý kiến gì, để mẹ lo...

Nhơn biết nếu mình vào phòng thì thế nào mẹ cũng theo vào và cứ nói mãi vụ đó, nên anh quyết định đi luôn ra ngoài cửa và định tìm quán cà phê nào đó ngồi cho hết buổi trưa. Nhưng vừa bước ra tới cổng thì đã giật mình khi nhìn thấy một con mèo mun nằm như chết ngay dưới chân.

- Ủa...

Nhơn tưởng con mèo nhà ai đi lạc, nên anh vội lấy chân đá nhẹ vào nó, nhằm làm cho nó đứng dậy và đi chỗ khác. Nhưng con mèo vẫn nằm im, khiến Nhơn phải gọi vào trong:

- Chị Tám ơi, ra coi con mèo nhà ai chết nằm ở cổng nhà mình nè!

Tám Thể là người giúp việc lâu năm trong nhà, chị chạy ra ngay và tỏ ra ngạc nhiên lẫn sợ hãi:

- Mèo mà tới nhà là không hay đó cậu! Mà lại là mèo mun và còn... chết nữa!

Nhơn biết chị ta nói lôi thôi đủ thứ mọi chuyện, nên giục:

- Chị hốt xác nó đem bỏ thùng rác đi, còn nói lôi thôi gì nữa!

Nhơn vừa bước ra cửa thì bỗng nghe tiếng mẹ mình la to:

- Không được bỏ thùng rác!

Bà đã chạy ra và như tỏ ra thành kính:

- Thầy bị sao vậy nè?

Nhơn nghe tiếng mẹ thì chưa quay lại, nhưng khi bà nói dứt câu ấy anh phải quay ngoắt lại và lên tiếng:

- Mẹ lại nữa rồi!

Anh nghĩ mẹ mình sắp nói linh tinh nên cau mày. Tuy nhiên bà Thủy hầu như bất chấp, bà giục Tám Thể:

- Mày đưa ông thầy vào nhà ngay đi, chắc là ông tới gặp tao mà gặp chuyện gì đó...

Chính Tám Thể cũng quá đỗi ngạc nhiên trước thái độ kỳ cục của bà chủ mình, nhưng chị ta cũng phải làm theo. Chị bế con mèo lên thì phát hiện thân thể nó còn nóng:

- Bà chủ, nó còn sống!

Nhơn ngán ngẩm vừa quay đi vừa lắc đầu...

Khi bế xác con mèo vào nhà rồi, Tám Thể lúng túng nói:

- Để nó ở đâu bà chủ?

- Thì mày đặt lên chiếc ghế nệm kia kìa. Ổng cao lớn, coi chừng nằm không vừa chiếc ghế đó!

Tám Thể không nhịn được, chị ta phải nói:

- Đây là con mèo mà bà!

Bà Bích Thủy gắt lên:

- Đây là ông pháp sư chứ mèo chuột gì, bộ mắt mày đui sao chứ?

Bị mắng, đáng lẽ như mọi khi Tám Thể không dám cãi, nhưng trước sự việc rành rành trước mắt như vậy, chị ta không thể im được nên nói đại:

- Bà nhìn sao, chứ chính cậu Hai vừa rồi cũng thấy đây là một con mèo đã nằm chết mà.

Chị ta đặt con vật xuống ghế rồi bỏ đi ngay vào trong, mặc dù biết làm như thế là vô phép với chủ. Đi vào vừa tới bếp thì chị ta đã nghe bà chủ gọi giật ngược:

- Tám, mày ra đây ngay, tiếp tao với!

Tám Thể miễn cưỡng đi trở ra phòng khách và chị ta sửng sốt khi nhìn thấy lão pháp sư Hoàng Vệ đang nằm trên ghế!

- Hả? Tại sao...

Thấy chị ta còn lừng khừng, bà Bích Thủy phải la lớn:

- Mày làm gì vậy Tám? Tiếp tao đỡ thầy vào phòng coi.

Tám Thể đành phải ghé vai một bên để cho ông pháp sư vịn, nhưng vừa đi chị ta vừa tự hỏi:

- Mình đâu có đui! Cũng không tâm thần... Chẳng lẽ một con mèo mà thành ông pháp sư sao?

Lạ một điều là khi chạm vào thân thể lão ta, Tám Thể có cảm giác giống như cơ thể của con mèo mà chị ta bế trên tay lúc nãy!

- Phòng nào bà?

- Mày đưa vào phòng khách.

Nhà có hai phòng để trống dành cho khách tới đột xuất, Tám Thể chưa biết đưa vào phòng nào thì bà chủ đã chỉ sang trái:

- Phòng này nè!

Gian phòng này thường dành riêng cho khách nữ, với những tiện nghi cho nữ, nghĩ bà chủ lộn, nên Tám Thể nhắc:

- Phòng này có bàn phấn, có những thứ không dành cho đàn ông.

Lúc này bà Thủy mới chợt nhớ ra, nhưng do đã đến sát cửa rồi, nên bà ta quyết đại:

- Kệ, cứ đưa vào đi. Coi bộ ông thầy mệt lắm rồi.

Đưa ông ta vào xong, bà dặn cô người Iàm:

- Lát nữa cậu Nhơn có về mày đừng nói là ông thầy ở trong này. Chờ ông ấy tỉnh lại là đi ngay, nó sẽ không hay biết...

Tám Thể nghi bà chủ có tình ý gì đó với người đàn ông này, nhưng sau đó chính bà đã nói khẽ với chị ta:

- Tao giao mày canh chừng ông ta, khi nào thấy ông ta tỉnh lại thì bảo ông ấy đi liền. Ông ấy có hỏi tao thì nói tao đi vắng nghe chưa!

- Thưa bà, con hổng dám!

Bà Thủy nạt:

- Tao bảo mày canh là ở ngoài canh, chứ có vào phòng đâu mà sợ. Vả lại ông ấy là người bình thường chứ có phải là gì đâu?

Tám Thể nhớ lại chuyện con mèo mun lúc nãy, nên cảm thấy ớn lạnh. Chị ta buộc lòng phải nghe theo, chứ trong lòng không yên. Bởi thế khi thấy Nhơn đi uống cà phê trở về, chị liền kín đáo nói:

- Cậu Hai vào phòng khách mà coi có ai ở trong đó không.

Nhơn nghe vậy thì quá đỗi ngạc nhiên:

- Ai trong đó?

- Dạ nghe nói là ông pháp sư gì đó...

Nhơn phát điên lên, anh không hỏi gì thêm, đã xông thẳng vào phòng. Và...

- Chị giỡn mặt với tôi hả chị Tám?

Tám Thể hốt hoảng:

- Cậu nói gì vậy cậu Hai? Tôi đâu có...

- Trong này có ai đâu, sao chị nói...

Tám Thể thất thần:

- Cậu nói gì vậy? Chính tôi đưa ông ta vào mà!

Chị ta lao thẳng vào phòng, bật đèn lên sáng choang và sững sờ:

- Ủa...

Gian phòng trống trơn, trên chiếc giường nệm thẳng thớm, chứng tỏ đâu có ai nằm lên. Chị ta thảng thốt:

- Không thể nào!

Nhơn bực dọc:

- Nhà này riết rồi... điên cái đầu mất thôi!

Anh gọi lên lầu:

- Mẹ ơi, mẹ xuống coi chị Tám Thể này bữa nay sao vậy nè!

Bà Bích Thủy cứ ngỡ con trai mình đã phát hiện được vị khách không mời, nên bà quýnh lên, chạy ngay xuống, giọng ấp úng:

- Mẹ... mẹ chỉ...

Tám Thể nói một câu không đầu không đuôi:

- Đi mất rồi, bà khỏi phải lo.

Không hiểu, nên bà Bích Thủy vẫn còn lo:

- Ông ta chỉ...

Lúc này Tám Thể mới nói thẳng:

- Đâu có ai trong phòng!

Bà Bích Thủy không thể nào tin, bà chạy ngay vào phòng, ngơ ngác hỏi:

- Đâu rồi?

Nhơn hỏi mẹ:

- Mẹ tìm con mèo để làm gì?

Bà Thủy nhìn sang Tám Thể:

- Chuyện gì vậy Tám?

Tám Thể là người lanh lợi, chị ta biết cách gỡ khó cho chủ mình:

- Con mèo... đã chạy mất rồi!

Nhơn bỏ lên phòng riêng rồi, bà Bích Thủy hỏi:

- Ông ta đâu rồi? Bộ mày đưa sang phòng khác hả?

Tám lắc đầu:

- Con đâu có làm gì. Tự ông ta làm...

Bà Thủy ngạc nhiên:

- Vậy là sao?

Tám Thể rùng mình:

- Con nghĩ trong chuyện này chắc là có gì đó... không bình thường. Bà có nghĩ đây là hồn ma không?

Bà Bích Thủy hơi lúng túng:

- Tao cũng không biết. Nhưng ông ta không thể nào biến mất lạ lùng như vậy được.

- Bà nói ông nào?

- Thì ông pháp sư!

- Nhưng con không hiểu bà rước ông thầy đó tới đây làm gì vậy? Hôm bữa đầu tiên ông ấy tới đây thì thái độ coi bộ tự tin lắm, vậy mà bữa nay ỉu xìu như gà mắc tóc vậy?

Không tiện nói ra hết, bà Thủy chỉ ậm ừ cho qua:

- Có lẽ ông ấy bị sao đó...

Bà không muốn cho Tám Thể hỏi thêm nhiều, nên bước ra khỏi phòng và dặn:

- Mày khóa cửa lại ngay đi.

Bà trở lên lầu ngay với tâm trạng bất an, định bụng sẽ uống mấy viên thuốc ngủ để tìm một giấc ngủ yên, bởi bà biết chắc là đêm nay sẽ lại bị một đêm mất ngủ nữa...

Nhưng, khi vừa mở cửa phòng ra bà đã phải một phen đứng tim, bởi ngay trước mắt bà, ông pháp sư Hoàng Vệ đang ngồi xếp bằng giữa phòng.

- Ông... sao ông lại ở đây?

Lão pháp sư ra dấu cho bà khóa cửa lại rồi đáp:

- Nếu tôi không kịp ra khỏi phòng thì làm sao yên được với thằng con của bà! Thằng đó coi bộ khó chịu dữ a!

Bà Bích Thủy hạ thấp giọng, sợ bên ngoài nghe:

- Thằng đó giống cha nó khi còn sinh tiền, nó gan dạ và ghét chuyện dị đoan mê tín lắm. Mà tại sao thầy lại tới đây vào giờ này và tại sao lại bị ngã ở cửa? Còn con mèo nữa?

Ông thầy làm ra vẻ ngơ ngác:

- Con mèo nào?

- Thì con trai tôi và con nhỏ người làm cũng đều thấy một con mèo mun nằm ở cổng nhà, chứ đâu phải là ông?

- Và bà tin lời họ?

- Không, nếu tin thì tôi đâu có đưa ông vào phòng.

Lão ta có cử chỉ và lời nói không giống lần trước, khi lão bất thần chụp lấy tay của bà Bích Thủy và nói nhanh:

- Đi theo tôi!

Bà Thủy bị bất ngờ nhưng cũng kịp phản ứng, bà ghì lại, vừa hỏi nhanh:

- Đi đâu? Mà sao ông dám...

Bà đã nhìn thấy ánh mắt khác thường của người đàn ông này nên cố vùng thoát ra. Tuy nhiên do bị lão ta nắm chặt quá nên nhất thời bà phải chịu để tay cho lão ta kéo.

- Đi theo tôi rồi bà sẽ biết!

Lão ta vừa định mở cửa thì bà Thủy đã lanh trí hô lớn:

- Thằng con tôi!

Lão ta phải bỏ tay ra và quay lại nhìn. Nhân cơ hội đó, bà Thủy xô mạnh vào lưng lão ta một cái khiến lão bị mất thăng bằng và ngã sấp vào tường.

Bà Thủy phóng chạy ra cửa vừa la lên:

- Bớ... Nhơn ơi, Tám ơi!

Nhơn đang ở trong phòng vội tuôn chạy qua phòng mẹ, còn Tám Thể cũng kịp có mặt. Họ hỏi lớn:

- Có chuyện gì vậy?

Nhơn chụp mẹ lại, hỏi nhanh:

- Gì vậy mẹ?

Bà Thủy nói tiếng được tiếng mất:

- Ông... ông ta...

Tám Thể hiểu ra:

- Lão pháp sư phải không?

Bà Bích Thủy không đáp được, Nhơn buông mẹ ra và chạy về phòng bà, mở cửa ra và ngạc nhiên:

- Sao lại là con mèo mun?

Tám Thể cũng chạy tới và hỏi còn to hơn:

- Sao bây giờ nó ở đây vậy bà?

Bà Bích Thủy như người mất hồn, đứng thừ người ra...
 
***

Vừa thoáng thấy bóng lão ta thì bà Bích Thủy đã vội quay mặt đi, nhưng không còn kịp nữa, bà đã bị lão ta phát hiện và gọi to:

- Bà đi đâu mấy hôm nay mà tôi tới nhà tìm hoài không gặp?

Pháp sư Hoàng Vệ vẫn trong bộ đồ lụa xá xẩu quen thuộc, từ trên xích lô bước xuống, đến trước mặt bà Thủy, thái độ đúng mực:

- Tôi bị bệnh mấy hôm, vừa mới đi được là đi tìm thăm bà ngay. Vậy mà hai lần ghé qua nhà đều gặp cậu gì đó, cậu ấy nói bà đi vắng. Vậy sức khỏe bà ra sao, có còn...

Bà Thủy vẫn còn sợ và giận chuyện sàm sỡ của lão ta bữa trước, nên nói nhát gừng:

- Ông còn hỏi nữa sao, tốt hơn hết là ông đừng tới đây nữa!

Ông Hoàng Vệ quá đỗi ngạc nhiên:

- Bà nói gì vậy, bà Thủy?

- Nói gì thì ông nhớ lại đi ắt biết! Thôi, chào ông!

Bà quay ngoắt đi, nhưng câu nói của ông ta đã khiến bà phải khựng lại:

- Bà giận tôi chuyện gì đó cũng được, nhưng tôi không thể không báo cho bà biết chuyện về con mèo mun!

Vừa nghe nhắc tới con mèo, bà Thủy đã hết vía:

- Lại chuyện gì nữa đây?

- Chuyện liên quan tới bà chứ không phải tôi. Đây, bà xem vết mèo cào tôi còn nguyên đây, cả mấy tuần nay tôi chữa trị cật lực mà vẫn chưa lành hẳn, nếu không muốn nói là sẽ chẳng bao giờ lành được, nếu không có bà.

Tưởng lão ta nham nhở nữa, bà Thủy xẵng giọng:

- Chuyện của tôi, tôi tự lo, không cần đến ông!

- Bộ bà không nhớ những dấu vết này tôi bị là hôm ở trong phòng bà, khi bà nhờ tôi tới để trừ khử cái vong của chàng trai. Ngay lúc đó, tôi đã phát hiện ra là bà mắc phải một mối duyên nợ rắc rối sâu sắc với một oan hồn, nhưng chưa kịp ra tay thì đã bị nó hành động trước rồi, khiến tôi trở tay không kịp! Đúng ra khi gặp phải một oan hồn cao tay ấn như thế thì tôi phải tránh xa, nếu không muốn mất mạng. Tuy nhiên, tôi không thể thấy bà nguy mà không cứu, như vậy còn đâu là lương tâm con người...

Giọng ông có vẻ chân thành, khiến bà Thủy hơi ngập ngừng:

- Nhưng, hôm sau... tại sao ông lại làm vậy?

Hoàng Vệ ngạc nhiên:

- Tôi làm gì?

- Thì.. ông chụp tôi, ôm tôi trong phòng, định làm bậy chứ còn gì nữa!

Hoàng Vệ điếng hồn:

- Có chuyện đó sao? Phải chăng... phải chăng...

Rồi ông ta la lên:

- Không xong rồi!

Bà Bích Thủy cau mày:

- Ông nói cái gì không xong?

- Thì vụ tôi sàm sỡ với bà! Bà biết tôi mà, hoặc nếu không tin thì bà hỏi bà bạn của bà coi, tôi có bao giờ làm điều gì bậy bạ không. Tôi có thờ tổ nghiệp với lời thề, nếu tôi mà lợi dụng hành nghề để giở trò gì thì sẽ hộc máu mà chết tức khắc! Vậy làm sao tôi có thể làm chuyện gì đó như bà nói...

Bà Bích Thủy gay gắt:

- Vậy chẳng lẽ là... ma làm?

- Bà nói không sai đâu. Chính cái vong mà bà nhìn thấy đêm nào cũng hiện ra nhìn bà say đắm đó! Nó muốn hại tôi nên làm cách đó khiến bà tẩy chay tôi, và như thế là... nó tiếp cận bà được dễ dàng, đâu còn ai ngăn cản nữa!

Những lời phân tích của lão ta đủ để bà Thủy ngộ ra, bà sợ hãi:

- Vậy ra... trời ơi, vậy mà tôi cứ ngỡ...

Rồi bà run run giọng:

- Không phải ông nắm tay tôi, lôi tôi đi sao?

Ông Hoàng Vệ ôm lấy đầu, rên rỉ:

- Hoàng Vệ này mà làm chuyện đó sao!

Ông ta móc túi đưa cho bà Thủy xem một tờ giấy mà trên đó vẽ ngoằn ngoèo những gì đó mà thoạt nhìn bà không hiểu gì hết:

- Cái này là cái gì?

Ông hạ thấp giọng:

- Nếu tôi không tới kịp thì vật này đã hại chết con trai bà rồi! Hôm tôi tới tìm bà mà không gặp được, tôi nhìn lên xe hơi của cậu Nhơn gì đó và phát hiện ra miếng giấy kỳ quặc này gắn ở bên hông xe. Chỉ cần cậu con trai bà chạy xe đi một đoạn thì xảy ra tai nạn hoặc án mạng ngay. Nếu tôi không lầm thì cậu nhà đã từng bị cái vong đó phá, suýt mang tội giết người, khi cậu ấy gặp cái xác ở nhà hoang...

Bà Thủy kêu lên:

- Đúng rồi. Cũng may là sau đó xác biến mất...

Ông Hoàng Vệ thở phào:

- Số cậu ấy còn lớn, nên hôm đó mới gặp được người đạp xích lô có mạng khắc chế được cái vong rắc rối kia!

Nhớ lại những chi tiết do Nhơn kể lại, bà Bích Thủy rùng mình:

- Trời ơi, suýt nữa con tôi...

Bà sợ sệt:

- Bây giờ phải Iàm sao đây thầy? Vừa rồi nó đã lẻn vào nhà nữa.

Hoàng Vệ nghiêm giọng:

- Nó không phải lẻn vào đâu, mà muốn vào lúc nào cũng được. Bà đã vướng phải nó rồi thì khó mà...

Ông không nói hết câu càng làm cho bà Bích Thủy lo sợ hơn:

- Làm sao đây thầy?

Hoàng Vệ đưa cho bà tờ giấy nhỏ:

- Tôi có người bạn, ông ta tay nghề cao hơn tôi lại có nhiều kinh nghiệm hơn, vậy bà nên thử tới nhờ ông ta xem sao. Đây là địa chỉ nhà ông ấy.

Cầm tờ giấy trong tay, nhưng bà Thủy vẫn còn lưỡng lự:

- Tôi chỉ ngại những rắc rối khác thôi. Hay là...

Bà hạ thấp giọng:

- Nếu thầy có giận về thái độ của tôi lúc nãy thì cho tôi xin Iỗi. Chẳng qua vì tôi quá hoang mang nên như vậy. Hay là thầy vẫn tiếp tục giúp tôi, tôi...

Hoàng Vệ nhẹ lắc đầu:

- Không phải tôi ngại khó, nhưng xét khả năng có hạn nên tốt hơn bà nên tới chỗ đó. Tuy nhiên, trước khi tới đó bà nên trở lại ngôi nhà hoang bữa trước một lần nữa.

Vừa nghe tới đó bà Thủy đã lè lưỡi, xua tay lia lịa:

- Không, không đâu! Có giết chết tôi thì tôi cũng không trở lại nơi mà tôi đã suýt chết một lần!

Hoàng Vệ vẫn khuyên:

- Tôi e là trước sau gì bà cũng phải trở lại đó mà thôi. Bà chủ động trở lại tốt hơn là bị bắt buộc.

Bà Bích Thủy nhìn sững ông, hỏi lại:

- Sao bắt buộc tôi phải trở lại nơi ấy? Mà nó ở chỗ nào cho tới giờ tôi cũng không nhớ? Lúc người ta cứu tôi thì chở thẳng về đây, tôi không nhìn thấy gì cả.

- Tôi tin khi trở lại đó rồi bà sẽ nhớ nó là đâu. Tôi sẽ giúp đưa bà tới đó.

Ngập ngừng một lúc rồi bà Thủy mới gật đầu:

- Thôi cũng được. Nhưng thầy phải ở đó với tôi chờ tôi về, tôi mới dám.

Hoàng Vệ gật đầu có vẻ cho qua chuyện:

- Thôi cũng được. Vậy gọi một chiếc taxi ta cùng đi.

Xe chạy khoảng gần hai mươi phút thì tới một đầu ngõ vắng, mà vừa nhìn thấy tức thời bà Bích Thủy kêu lên:

- Nơi này... Sao lại tới đây?

- Bà biết?

- Tôi... tôi...

Tuy đã gần hai chục năm rồi bà mới trở lại, nhưng làm sao quên được khi nơi đây là chốn mà bà đã trải qua thời con gái mới lớn. Nơi này...

Bà thừ người ra một lúc và cảm giác là lúc ấy ông Hoàng Vệ đã mở cửa xe bước xuống. Đến khi bà tỉnh người lại nhìn quanh thì chẳng còn thấy ông thầy đâu. Bà quýnh lên, sau khi trả tiền xe và bước hẳn xuống liền quay tìm ông ta.

- Thầy ơi!

Hình như Hoàng Vệ đã đi ngay từ lúc bước xuống xe rồi. Đáng lý bà Bích Thủy phải chùn bước khi không có người đi cùng, nhưng chẳng hiểu sao lúc ấy bà vẫn một mình đi thẳng vào khu đất vắng, chỉ có vài nóc nhà ở cách xa nhau. Nơi này người ta quen gọi là Đồng Ông Cộ.

Dừng lại trước ngôi nhà hoang, nhìn trước sau mấy lượt rồi mới bước vào, nhưng bà Bích Thủy vẫn sợ có người nhìn thấy. Và dẫu ngôi nhà trống trơn do bị bỏ hoang lâu ngày, có thể nhìn thấu suốt ra vách phía sau, nhưng bà vẫn lên tiếng hỏi:

- Có ai trong nhà không?

Dĩ nhiên là chẳng có ai trả lời, nhưng bà Thủy vẫn lặp lại câu hỏi:

- Có ai ở đây không, kể cả người không phải là chủ ngôi nhà?

Sau khi yên chí là không có người, bà mới bước tới phía tận cùng chiều dài ngôi nhà và đưa tay lay nhẹ vào chỗ vách ván đã cũ, chứng tỏ bà đã khá quen thuộc với ngôi nhà.

Sau mấy lần lay, bỗng dưng một miếng ván long ra để lộ một khe hở lớn. Bà Bích Thủy reo lên:

- Nó vẫn còn đây!

Bà kéo ra một chiếc hộp gỗ đã phủ đầy rêu mốc, nhưng vẫn ôm nó vào lòng bằng cử chỉ trìu mến lạ thường.

- Vậy mà mình cứ tưởng nhà đã bị phá và người ta đã đốt nó đi rồi!

Ôm chiếc hộp đến chỗ có ánh sáng trời rọi vào, bà Thủy nhắm mắt lại, vừa nhẹ nhàng mở nó ra.

Trong đầu bà mường tượng lọn tóc dài óng mượt mà chính bà đã cắt mái tóc thề của mình và đặt vào đó trước ngày đi lấy chồng và hầu như quên hẳn kỷ vật đó.

Nhưng khi bà mở mắt ra thì thay vì thấy lọn tóc, trong hộp lại là một bộ xương khô của... một con vật nhỏ nhắn giống như xương mèo!

- Trời ơi!

Bà Bích Thủy rụng rời tay chân, nhưng chẳng hiểu sao cái hộp trên tay bà vẫn không rớt xuống sàn. Rồi bỗng dưng bà nghe như bên tai có tiếng kêu khẽ "meo meo". Cho đến lúc đó thì bà ngã phịch xuống và ngất đi...
 
***

Việc mẹ mình đột nhiên mất tích khiến cho Nhơn lo lắng vô cùng. Anh hỏi mãi thì Tám Thể mới tiết lộ:

- Bữa đó bà nhốt ông pháp sư trong phòng chứ không phải con mèo. Nhưng chẳng hiểu sao khi cậu mở cửa ra lại thấy con mèo ở trong đó, còn ông kia thì biến mất? Cậu có thấy lạ không?

Nhơn nhớ lại con mèo đen, anh ngờ ngợ:

- Hình như con mèo này nó sao đó. Nhà mình có con nào như vậy không?

- Dạ không, bà và cậu đều không thích mèo, chó, nên tụi này cũng đâu dám nuôi. Mà cũng lạ, sau bữa đó rồi không thấy con mèo ấy đâu nữa?

Nhơn còn đang hoang mang thì chợt nghe có tiếng gọi cửa. Anh bảo Tám Thể:

- Chị ra coi ai. Nếu người lạ thì đừng cho vào, nói nhà đi vắng hết.

Tám Thể bước ra một lát trở vào báo:

- Dạ, đúng là người lạ, nhưng anh ta nói biết cậu và cần gặp để gửi trả lại cái gì đó.

Nhơn cau mày:

- Ai vậy?

- Một anh chàng đạp xích lô, nói tên là... là gì đó tôi quên rồi. Anh ra trông có vẻ lương thiện.

Nhơn chợt nhớ, anh kêu lên:

- Anh chàng chở nạn nhân đi bệnh viện!

Tám Thể quá đỗi ngạc nhiên:

- Chở ai đi bệnh viện hả cậu?

Nhơn nói nhanh:

- Ra mở cửa mời anh ta vào!

Nhơn nhớ lại chuyện hôm đó mà hơi lo. Chẳng biết nạn nhân nhờ anh ta chở đi bệnh viện ra sao rồi, mà tại sao anh ta lại biết nhà mình?

- Dạ, khách vào rồi cậu Hai.

Nhơn quay lại và nhận ra anh chàng đạp xích lô. Anh chàng kia cũng reo lên:

- Tôi cứ tưởng là không thể gặp lại cậu được! Tìm cầu may mà gặp...

- Sao, anh tìm tôi chắc không liên quan tới chuyện bữa đó chứ? Thật ra người mà tôi nhờ anh chở chỉ là...

Anh chàng mau miệng:

- Cậu cứ gọi tôi là Ba Gà tôi chạy xích lô này đã gần chục năm, chưa thấy ai trả một cuốc xe đạp non cây số mà bằng chạy đoạn đường chục cây số như cậu! Tôi tới để trả lại cậu tiền dư.

Nhơn xua tay:

- Không, đó là công của anh, bởi anh xứng đáng được nhận như vậy.

Anh chàng nói một câu quá bất ngờ với Nhơn:

- Thật ra bữa đó tôi có chở nạn nhân nào đâu. Đó chỉ là... một con mèo!

Nhơn trố mắt kinh ngạc:

- Anh nói gì? Chính là một anh chàng tôi tình cờ bắt gặp trong ngôi nhà hoang mà?

Ba Gà thật thà:

- Chở anh ta tới bệnh viện thật, nhưng vừa tới nơi thì anh ta biến mất, chỉ còn lại trên xe là một con mèo mun! Nhưng con mèo sau đó cũng biến mất. Tôi hoang mang hết sức, đứng chờ cậu một lúc lâu mới đạp xe về nhà. Chiều lại, trong lúc dọn nệm xe tôi mới phát hiện có vật này rơi trên nệm. Ban đầu tôi không nghĩ là của anh chàng bị ngất kia, vì vật này là của nữ. Nhưng sau đó suy nghĩ kỹ tôi dám chắc là của anh ta hay là của... con mèo gì đó, bởi suốt buổi sáng trước khi gặp cậu nhờ chở thì tôi đâu có chở ai.

Nhơn tiếp nhận một cây trâm cài tóc của phụ nữ làm bằng xương hay ngà gì đó, anh nói ngay:

- Vật này không phải của tôi, cũng chẳng biết của ai, nhưng do anh nhặt được thì anh cứ giữ lại mà xài, đưa tôi làm gì.

Anh chàng xua tay:

- Tôi không xài được cái này! Vả lại hồi tối qua tôi nằm chiêm bao thấy có ai đó kêu tên tôi, bảo tôi đem cây trâm này đến trả cho chủ của nó, lại chỉ đúng địa chỉ nhà này. Họ còn nói cứ tới hỏi bà Bích Thủy thì ắt có người nhận!

Nhơn giật mình:

- Bà Bích Thủy? Sao biết tên mẹ tôi?

Ba Gà mừng rơn:

- Vậy ra bà Bích Thủy là mẹ của cậu sao? Hèn chi trên cây trâm có khắc mấy chữ tên đó...

Nhơn nhìn lên cán cây trâm và quả nhiên ở đó có khắc hai chữ Bích Thủy còn rất rõ nét.

- Trời ơi, sao lại...

Nhơn cứ thừ người ra, trong lúc Ba Gà nói huyên thuyên:

- Không ngờ chiêm bao mà y như thật! Lúc đầu tôi chưa tính đi tìm, nhưng sáng nay khi leo lên xe, thay vì đạp đi kiếm ăn trước rồi mới tìm sau, nhưng chẳng hiểu thế nào, tôi cứ cắm đầu đạp và xe... tự nhiên tới đúng nhà này, y như có người dẫn đường.

Nhơn mân mê chiếc trâm mãi, anh nói thầm:

- Sao lại có chuyện này?

Anh đột nhiên hỏi:

- Từ mấy ngày trước đó anh có chở người nào là phụ nữ tuổi trung niên không?

Ba Gà cười:

- Phụ nữ đi xe thì ngày nào không có. Nhưng chiều nào về nhà tôi cũng giũ nệm xe rất kỹ, đâu để sót vật gì trên xe. Tôi chắc chắn vật này thuộc một là cái xác biết chạy mà cậu nhờ tôi chở, hai là của... con mèo mun!

Nói xong anh ta chào Nhơn:

- Xin kiếu cậu Hai, tôi đi kiếm ăn. Dẫu sao thì tôi cũng nhẹ cả người khi trả lại chiếc trâm này. Thú thật với cậu mấy bữa nay tôi cứ bồn chồn, ray rứt hoài trong người. Không biết có phải do giữ vật này hay không nữa.

Nhơn giữ anh ta lại:

- Anh đã tới đây rồi, tôi muốn cám ơn anh và xin gửi anh chút chi phí.

Nhơn móc tiền định đưa cho anh ta, nhưng Ba Gà xua tay:

- Tôi tới là để giao lại vật không phải của mình, chứ đâu dám nhận tiền công.

Anh ta đi nhanh ra cổng, mặc cho Nhơn gọi theo mấy lần. Còn lại một mình, Nhơn cứ nhìn cây trâm. Thật ra do lời anh chàng đạp xích lô kể và qua cái tên khắc trên thân trâm, chứ thật ra từ nào đến giờ Nhơn có thấy mẹ mình cài trâm trên đầu bao giờ đâu? Hay là của bà thời con gái? Mà như thế thì tại sao lại rơi trên xích lô?

Bao nhiêu câu hỏi cứ vang lên trong đầu khiến Nhơn vô cùng bối rối. Trong lúc anh còn chưa biết làm sao, bởi điều quan trọng nhất lúc này là sự có mặt của mẹ mình thì bà vẫn bặt vô âm tín.

Tám Thể thập thò muốn nói gì đó, nhưng thấy Nhơn cứ đăm chiêu nhìn đi đâu đâu, nên phải một lúc chị mới dám lên tiếng:

- Thưa cậu Hai, có ông pháp sư...

Đang rối lại bực mình, nên Nhơn quát lớn:

- Đuổi ông ta đi!

- Nhưng thưa cậu, ông ấy...

Hoàng Vệ bước vào phòng khách, ông từ tốn nói:

- Cậu có đuổi thì cũng để tôi nói hết đã, rồi tôi sẽ đi. Bởi giờ đây chuyện cứu người với tôi còn quan trọng hơn...

Nhơn hỏi nhát gừng:

- Ông cần gì?

- Cậu cần tôi thì đúng hơn!

Ông ta tự nhiên ngồi xuống ghế, đồng thời đặt chiếc hộp gỗ lên bàn, vừa chỉ tay, bảo:

- Đích thân cậu mở vật này ra đi, như thế sẽ có lợi cho mẹ cậu và cả bản thân cậu nữa.

Nhơn chưa hiểu chuyện gì nên tỏ vẻ khó chịu:

- Tư cách gì ông sai bảo tôi làm chuyện này chuyện nọ vậy?

Ông Hoàng Vệ vẫn không phật lòng:

- Tôi hỏi lại, cậu có muốn muốn cứu mẹ cậu không?

Bấy giờ Nhơn mới giật mình:

- Mẹ tôi làm sao?

- Cậu cứ đặt tay lên hộp, rồi chờ cậu kia nữa. Cả hai cùng giở nắp hộp ra một lượt.

Nhơn chưa hiểu "cậu kia" là ai thì đã thấy Ba Gà từ từ bước vào. Ông Hoàng Vệ giục anh ta:

- Cậu mau tới cạnh cậu Hai và làm đúng theo lời tôi đã dặn hồi nãy ngoài cổng.

Chờ cho Nhơn và Ba Gà cùng đặt tay lên nắp hộp xong, ông Hoàng Vệ hô một tiếng lớn:

- Lên!

Lúc ấy cả Nhơn và Ba Cà chưa ai kịp làm động tác gì thì nắp hộp đã bật ra, vừa lúc từ trong đó một con mèo mun nhảy ra, nhắm thẳng chỗ ông pháp sư mà lao tới. Thuận tay, ông Hoàng Vệ dễ dàng chụp nó trong tay và thở phào:

- Xong rồi!

Ông quay sang Nhơn, ông nói giọng thân tình:

- Cậu không biết nên gay gắt với tôi thôi, chứ thật ra tôi chỉ muốn giúp cậu và bà Bích Thủy thôi. Mà cậu có biết tại sao tôi làm vậy không?

- Ông với mẹ tôi...?

Hoàng Vệ lắc đầu:

- Ý cậu muốn nói tôi và mẹ cậu có quan hệ tình cảm chứ gì? Hoàn toàn sai! Tôi là người theo một thứ tôn giáo riêng, không thể quan hệ nam nữ được. Kể cả tiền tài tôi cũng không cần, bởi tôi không phải người lệ thuộc vào đồng tiền. Nói tóm lại, tôi đang sống sung túc. Tôi giúp mẹ con cậu chỉ vì... con mèo này đây!

Ông ta nắm con mèo mun đưa lên cao và bất thần ném mạnh nó xuống đất. Con mèo chỉ kịp kêu lên một tiếng rồi nằm im. Lúc này ông Hoàng Vệ mới cúi xuống nhặt nó lên trong tình trạng con mèo đã chết hoàn toàn. Ông nhẹ nhàng đặt nó vào trong chiếc hộp và bảo với Nhơn:

- Bây giờ cậu có thể nhờ cậu đạp xích lô này chở cậu tới chỗ bà mẹ cậu và đưa bà ấy về. Nhanh lên kẻo bà bị lạnh.

- Còn ông? - Nhơn ngập ngừng hỏi.

Ông Hoàng Vệ nói thêm trước khi bước ra ngoài:

- Tôi và ba cậu trước đây là bạn với nhau. Nhiều năm tôi sống ở Hồng Kông không về đây nên cậu chưa từng gặp. Tôi biết mẹ cậu gặp phải một việc mà người ta gọi là linh miêu ám, nên tôi về đây giúp.

Nhơn ngạc nhiên:

- Linh miêu là gì?

- Là con mèo bị vong hồn người cõi âm nhập. Con mèo này vốn trước đây vô tình nhảy qua thi thể một chàng trai mới vừa chết nên chàng trai ấy nhập vào nó. Mà chàng trai ấy lại chính là... người yêu cũ của mẹ cậu!

Nhơn sững sờ:

- Ông nói vậy là sao?

- Chuyện này rồi mẹ cậu sẽ kể cho mà nghe. Đây là mối tình thời con gái của mẹ cậu, tức trước ngày bà lấy ba cậu. Nhưng do chàng trai ấy khi hay tin mẹ cậu đi lấy chồng thì tự tử chết, hồn phách nhập vào con mèo mun và cứ đeo đẳng theo mẹ cậu hoài, nhất là từ khi ba cậu qua đời thì nó lại càng ám dữ, như muốn bắt mẹ cậu đi theo nó! Cũng may, trong nhà này có cậu là người có cái vong khắc với linh miêu, cộng thêm anh chàng đạp xe này một cách tình cờ lại giúp thêm một tay, nên cuối cùng con linh miêu đã phải chịu phép.

Ông quay sang anh chàng đạp xích lô Ba Gà:

- Thay mặt vợ người bạn tôi, bà Bích Thủy và cậu chủ nhỏ đây, tôi xin cám ơn cậu nhiều. Từ nay có lẽ bà Bích Thủy mỗi khi đi đâu chỉ nên nhờ cậu chở đi là an toàn...

Ông siết chặt tay Nhơn:

- Cậu thoát nạn rồi. Từ nay cố lo cho sức khỏe mẹ cậu hơn.

Lão ta bước ra ngoài và không quên nhắc:

- Cậu Nhơn nên đi ngay đi, ngôi nhà đó không an toàn đâu!

Đợi ông ta đi rồi, Nhơn giục:

- Anh để xích lô ở đó, tôi chở anh bằng xe hơi, để anh tiếp tôi đỡ mẹ tôi về đây.

Hai người đi nhanh tới chỗ ngôi nhà hoang. Vừa mở cửa ra đã thấy bà Bích Thủy ngồi co ro trong góc nhà. Bà mừng rú lên khi nhìn thấy con:

- Mẹ chết mất, con ơi!

Nhơn nhanh chóng đưa mẹ ra xe. Anh phải giải thích về sự có mặt của Ba Gà:

- Đấy là người góp công lớn trong việc giải cứu cho mẹ con mình. Từ nay con muốn nhờ anh ấy mỗi sáng tới đưa mẹ đi chợ và đi đây đó.

Bà Bích Thủy chờ cho Tám Thể bước ra ngoài rồi mới kể lại những gì bà biết và Nhơn đang rất muốn biết:

- Ngày mẹ còn đang học trường áo Tím thì mẹ có yêu người con trai tên Thái, ở cùng xóm. Mối tình của bọn mẹ trong sáng và thánh thiện lắm, nhưng cũng như tất cả những mối tình đầu, tình học trò đều không thành, cho nên khi mẹ vừa nghỉ học thì ông bà ngoại con bắt mẹ đi lấy chồng, tức lấy ba con sau này đó.

Nhơn e dè hỏi:

- Rồi người ấy của mẹ sao lại chết?

Giọng bà Bích Thủy trong nước mắt:

- Tội nghiệp lắm. Anh ấy con nhà nghèo, có cha cũng đạp xích lô như cậu Ba Gà đó, nên đâu có điều kiện để cưới xin mẹ. Mẹ cũng muốn cưỡng lại lệnh của ông bà ngoại con, nhưng là con gái mới lớn, tính tình lại yếu đuối, nên mẹ đâu còn cách nào khác hơn. Không ngờ ngay buổi chiều hay tin mẹ sắp làm lễ hỏi thì Thái đã chạy tới chỗ ngôi nhà mà lúc sáng con tới cứu mẹ đó, hồi ấy đó là ngôi nhà khang trang của ông bà ngoại con, anh ấy vừa nhìn thấy mặt mẹ thì ngã lăn ra và tắt thở! Thì ra Thái đã uống thuốc độc từ trước đó và chỉ chịu chết khi nhìn được mặt mẹ!

Bà Bích Thủy siết chặt tay con, tiếp lời:

- Mẹ vội đưa Thái vào nhà mình, chính ba con lúc ấy cũng có mặt và giúp mọi việc cho Thái. Mẹ nhớ ra rồi, lúc còn đang khăm liệm cho Thái thì có một con mèo mun bất thần nhảy ngang qua xác, nhiều người hoảng hốt, lo lắng về chuyện đó... Mẹ vì quá đau buồn nên cũng không để ý. Mãi cho đến những năm gần đây, bỗng dưng mẹ cứ nằm chiêm bao toàn thấy ác mộng, và rồi thấy một anh chàng trẻ tuổi nào đó cứ hiện ra và nhìn mẹ đắm đuối, khiến cho mẹ bị ám ảnh và mất ngủ...

Rồi chợt bà kêu lên:

- Mẹ nhớ ra rồi! Khuôn mặt xanh xám của chàng trai hiện ra trong giấc mơ của mẹ chính là Thái. Mặt Thái đã biến sắc do khi chết Thái bị thuốc độc hành hạ làm cho mặt không còn giữ được sắc thái tự nhiên nữa. Trời ơi! Vậy mà mẹ cứ tưởng...

Bà ôm mặt khóc ngất. Rồi trong suốt một tuần lễ, bà cứ gào gọi tên Thái...

Cũng may, sau đó ít lâu thì bà cũng nguôi ngoai và sống bình thản bên con. Một hôm bà nói với Nhơn:

- Con sớm có vợ đi, để mẹ vui với cháu nội trước khi nhắm mắt...

Nhiều năm sau đó không hề có một hiện tượng nào nữa như chuyện con linh miêu. Có lẽ cái vong của anh chàng Thái cũng đã cảm thông, để yên cho người yêu mình sống trọn cái tuổi già.
Sự đời cà khịa cái chơi
Khi vui muốn khóc, khi cười buồn tênh!
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2011-06-08 17:24:16Soccon>
TRANG LƯU BÚT ĐỊNH MỆNH

1. Cái Chết Của Một Người Bạn


Ngọc Nga khá vất vả mới khiến cho chiếc Mobilet nổ máy được. Vừa buông tay ra, cô đã phải ngồi bẹp xuống lề đường vừa ôm ngực thở dốc.

Nhìn bộ dạng của bạn mình, Hạnh Dung vừa lo vừa thương:

- Mày có sao không?

Ngọc Nga ra dấu chỉ vào miệng chứ không nói được nhưng Hạnh Dung hiểu được là Nga đang đòi uống nước, cô cũng ra dấu trả lời, rồi chạy băng qua đường nơi có xe nước mía. Con đường rộng mà xe cộ lại rất đông, nên phải mất đến một phút sau Dung mới len qua được bên kia, cô mua luôn hai bịch nước mía, định bụng sẽ dành cho bạn uống hết chứ mình không uống.

Cô quay về ngay khi vừa mua xong, quên cả tiền thối lại. Nhưng vừa bước được chưa đầy chục bước thì một chiếc xe lao tới...

- Chết rồi, đụng...

Ai đó la lớn khi thấy Hạnh Dung ngã xuống, hai bịch nước mía văng tung t óe. Từ bên kia đường, Ngọc Nga cũng nghe tiếng kêu và nhìn thấy xe cộ dồn cục lại, nhưng cô không nghĩ bạn mình bị nạn, nên cô đợi...

Bỗng người ngồi bán thuốc lá bên vệ đường gọi to vừa chỉ tay qua bên kia đường:

- Cô gì ơi. Cô đi xe Mobilet ơi! Bạn cô bị xe đụng bên kia kìa!

Lúc ấy Ngọc Nga mới hốt hoảng:

- Đâu? Đụng ở đâu?

Cô quên cả mệt nhọc vội băng qua đường. Tuy nhiên Nga bước chưa tới nửa đường thì đã thấy một chàng trai to cao, đang bế xốc Hạnh Dung trên tay vừa bước nhanh hướng ngược lại.

- Dung, mày có sao không?

Anh chàng kia biết Nga là bạn của nạn nhân nhưng không dừng lại mà vẫn tiếp tục bế Dung bước nhanh vào lề. Khi anh ta vừa đặt Dung xuống, đã thấy cô bật ngay dậy và nói lí nhí gì đó trong miệng, không nghe rõ. Ngọc Nga lao tới hỏi dồn:

- Mày có sao không? Thằng cha này đụng mày hả?

Cô nàng quay liền qua anh chàng kia, sừng sộ:

- Mắt mũi để đâu mà đụng vào người ta vậy hả?

Anh chàng chưa kịp trả lời đã nghe Dung nói:

- Không phải đâu, tại tao...

Cô ngừng nói, vừa nhăn mặt vừa bước nhích ra khỏi vòng tay của anh chàng. Thấy vậy, Nga còn dữ dằn hơn:

- Mày gần chết như vậy mà không sao gì! Để tao hỏi tội thằng cha này!

Lúc này anh chàng mới lên tiếng:

- Muốn hỏi tội thì cũng để người ta băng bó vết thương cho nạn nhân đã chứ. Bộ cô muốn nhìn bạn mình chảy hết máu sao?

Anh ta định xem chỗ đau dưới chân của Dung, nhưng cô đã vội xua tay:

- Không sao, hổng có máu đâu, chỉ đau vì... vì...

Ngọc Nga nhanh nhảu vén ngay ống quần của bạn lên, vừa tía lia:

- Coi vết thương sâu cạn thế nào đây?

Đúng như Hạnh Dung nói, chỉ là một vết bầm trên ống chân, chứ không có chảy máu. Hạnh Dung mắc cỡ vội kéo ngay ống quần xuống, càu nhàu:

- Con này... bộ muốn tao khoe...

Hiểu ý của bạn, Ngọc Nga đang lo mà cũng phải bật cười:

- Mày sợ phải khoe cặp ống sậy của mày hả?

Anh chàng kia cũng phải bật cười theo, vừa thở phào nhẹ nhõm. Điều ấy lại khiến Ngọc Nga nổi xung thiên:

- Đụng người ta gần chết sung sướng lắm sao mà còn cười?

Hạnh Dung lại phải biện hộ giùm anh chàng:

- Tại tao băng qua đường không ngó nên đâm vào xe người ta mà. Cho tôi xin lỗi...

Ngọc Nga quay qua bạn mình tru tréo lên:

- Con nhỏ này điên rồi chắc! Ai lại xin lỗi người đụng mình gần chết!

Dung phải bước đi mấy bước để cho Nga nhìn thấy, vừa nói:

- Chết đâu mà chết! Tao còn đủ sức lái Mobilet đưa mày đi mấy chục cây số cho coi!

Anh chàng hạ giọng từ tốn:

- Dẫu sao cô cũng để tôi đưa tới bác sĩ gần đây coi lại vết thương. Rồi có gì tôi sẽ lo...

Hạnh Dung sợ Ngọc Nga lại làm lôi thôi, nên vội nói:

- Không sao thật mà. Chỉ vì mất thăng bằng nên tôi bị ngã, cũng may... không đụng đâu hết.

Ngọc Nga đâu để yên:

- Phải đưa nó đi bệnh viện ngay, không nói năng lôi thôi gì hết!

Hạnh Dung bấy giờ mới nghiêm giọng:

- Làm gì phải đi bệnh viện, tao xức dầu một chút là xong thôi.

Anh chàng nghe vậy vội đứng ngay dậy và phóng đi. Ngọc Nga la lớn:

- Tính chuồn hả, anh kia?

Anh ta quay lại nói nhanh:

- Chuồn đi mua dầu xoa!

Lát sau anh ta trở lại với lọ dầu nóng trên tay, đưa cho Hạnh Dung:

- Cô xoa lên vết thương. Còn thuốc này để uống cho tan máu bầm. Còn hộp này là... kẹo the của Pháp, tặng cô này để cô... chửi cho âm thanh lớn hơn!

Vừa nói, anh ta vừa lấy ra tấm danh thiếp đưa cho Dung:

- Đây là tên và địa chỉ của tôi, có gì các cô cứ gọi, tôi sẽ có trách nhiệm...

Sợ Ngọc Nga lại gấu ó, nên Hạnh Dung chụp lấy tấm danh thiếp rồi cầm chặt trong tay, vừa nói với anh chàng:

- Được rồi, anh cứ đi đi, không sao đâu!

Anh chàng ái ngại nên chưa dám đi, Hạnh Dung phải giục:

- Anh ra dựng xe lên, để cản đường người ta kìa!

Nghe vậy anh chàng mới chạy vội đi. Ngọc Nga quay sang cự bạn:

- Mày dễ quá, để nó đi rồi lỡ có gì thì sao. Chà, thấy anh chàng đẹp trai rồi bủn rủn tay chân hả!

Hạnh Dung phải đập tay vào lưng bạn một cái rõ đau:

- Con quỷ, vô duyên! Mày cứ quen cái tật chuyện gì cũng ào ào, người ta bị tao đụng chứ nào có lỗi gì.

- Nhưng hễ xe đụng người là xe có lỗi! Gặp tao thì... tao níu lưng luôn.

Hạnh Dung trả đũa:

- Níu lại vì anh ta quá đẹp trai hả?

Bây giờ cả hai mới cùng cười phá lên. Hạnh Dung giục bạn:

- Sẵn xe còn nổ máy mình đi lẹ lên, trễ rồi đó!

Họ vọt xe đi rồi thì anh chàng lúc nãy chạy chiếc Vespa đảo qua, anh ta quan sát không thấy thì vội vọt đi nhanh, hình như anh ta cũng khá gấp gáp chuyện gì đó.
 
***

Hạnh Dung chở Ngọc Nga hướng về phía cầu Bình Lợi rồi thẳng về quốc lộ 13. Ngọc Nga tỏ ra rành đường, cô nhắc:

- Mình đi xe đạp phải mất cả buổi, nhưng xe gắn máy, dẫu là xe cà tàng này cùng lắm là hai tiếng đã tới. Chắc chắn là không trễ.

Họ đi Lái Thiêu dự cuộc họp cắm trại ở vườn măng cụt mà đám bạn hơn chục người đã đi trước từ sáng sớm.

- Mày coi lại xăng chưa, không lại dẫn bộ ná thở luôn đó!

- Xong rồi! Xăng đầy bình. Chỉ sợ nửa đường chiếc xe này giở chứng thôi. Tao sợ cái cục sắt này quá.

Ngọc Nga lại tỏ ra sành sỏi:

- Có chuyên gia đây thì khỏi lo. Ở nhà chiếc xe Mobilet của ông già tao, tao là chuyên gia đạp nổ máy và chùi bugi!

Đang tán chuyện xe cộ, bỗng dưng Hạnh Dung nhắc lại chuyện lúc nãy:

- Tao nghe mày chửi anh ta mà... tội nghiệp. Anh ta chịu trận cũng giỏi chứ gặp người khác thì...

Ngọc Nga vẫn chưa chịu:

- Người khác thì sao? Hễ đi xe mà va quẹt với người đi bộ thì thằng xe bị lỗi thôi. Xưa nay vậy mà!

Hạnh Dung cãi lại:

- Mày nói bậy! Bộ đi bộ rồi có quyền cứ lăn đùng ra rồi muốn gì cũng được sao? Ba tao nói đi bộ hay đi xe đều phải phân lỗi, phải đàng hoàng. Có khi người đi bộ còn phải bồi thường cho người đi xe nữa đó!

Ngọc Nga phá lên cười:

- Chắc mày đang muốn tìm anh ta để tạ lỗi và bắt đền... vài chiếc hôn chứ gì!

Đang lái xe, chứ nếu không thì Hạnh Dung đã đánh cho con nhỏ mấy cái. Cô phải đe dọa:

- Mày còn nói giọng đó tao lủi xe vào đống rơm bên đường bây giờ!

- Nè, con khỉ... mà cũng phải công nhận thằng ấy đẹp trai thật đó chứ! Lại đi chiếc Vespa láng cón nữa, ra dáng công tử lắm! Thảo nào...

- Lại bắt đầu nữa rồi... Tao cấm mày chọc ghẹo kiểu đó nghe!

- Ừ thì cũng được, tao muốn hỏi anh chàng tên gì thôi.

- Tao làm sao biết?

Ngọc Nga châm chọc:

- Chưa gì đã giấu kỹ rồi! Chứ cái gì trong túi mày đó?

Chợt nhớ ra, Hạnh Dung móc trong túi áo tấm danh thiếp đưa ra cho Nga:

- Mày coi thì biết, tao chưa đọc thì lấy gì biết!

Ngọc Nga đọc rất nhanh:

- Nguyễn Hoàng Phi, kỹ sư.

Rồi cô nàng xuýt xoa:

- Kỹ sư nghe! Ái chà, kỹ sư mà hợp với hoa hậu thì chắc cho ra đời cả lô kỹ sư và công chúa con quá!

Hạnh Dung lủi ngay xe vào lề, với tay nhéo bạn một cái đau điếng!

- Tao không lái xe nữa! Nếu mày không...

Ngọc Nga kêu lên một tiếng, nhưng vẫn không quạu mà tiếp tục đùa:

- Biết đâu đấy là cơ duyên?

- Con quỷ, mày có im đi không!

Họ chọc ghẹo nhau mãi cho đến khi tới ngã rẽ từ quốc lộ vào một con đường nhựa nhỏ hơn, tức hướng đi về Thuận An, Lái Thiêu.

Hai mươi phút sau, họ tới bãi gửi xe và nhanh chóng đi bộ qua cầu ván để thẳng vào khu vườn trái cây nổi tiếng. Nơi đó đã có đầy đủ các bạn bè. Trong số những bạn cùng lớp Đệ Nhị A1 còn có vài bạn lạ mà theo lời giới thiệu của Châu trưởng lớp thì sẽ còn vài vị khách đặc biệt hơn. Châu nói:

- Bữa nay sẽ dành cho các bạn ở đây một sự ngạc nhiên. Nhất là với Hạnh Dung, cô hoa khôi của nhóm chúng ta một sự bất ngờ!

Hạnh Dung vừa tới còn mệt, nhưng cũng lên tiếng:

- Dung thì cũng giống như các bạn, làm gì có bất ngờ khi mọi cái đều bình thường cả.

- Vậy mà có đấy!

Châu vừa dứt lời thì lấy từ trong giỏ xách ra một quyển sổ được gói giấy cẩn thận, vừa nói to lên:

- Các bạn có đồng ý bắt chủ nhân của quyển sổ này phải khao chúng ta một chầu trái cây hôm nay không?

Một tràng pháo tay vang lên:

- Ý kiến quá hay!

Hạnh Dung ngơ ngác:

- Sổ gì vậy?

Châu mở luôn quyển sổ ra, đưa lên trước mặt Dung:

- Chắc Dung nhận ra đây là gì rồi phải không? Thú thật mình rất tôn trọng sự riêng tư của chủ nhân quyển sổ, nên chỉ đọc những dòng trên bìa thôi, còn bên trong thì đã được người gửi yêu cầu bí mật và niêm phong cẩn thận rồi.

Vừa trông thấy, Dung đã kêu lên:

- Quyển lưu bút!

Châu xác nhận:

- Đúng, đây là quyển lưu bút của Hạnh Dung.

- Nhưng... làm sao nó lại trong tay Châu? Mình nhớ là...

Biết tính Dung rất thẳng, lại nóng và thường hay nổi xung thiên mỗi khi có ai phạm tới chuyện riêng tư của mình, nên Châu phải giải thích ngay:

- Mình nói rồi, có người bạn nhờ mình chuyển cho Dung vật này chứ mình không thể nào lại xen vào chuyện của bạn. Người đó tuy không có mặt đây, nhưng sẽ có một đại diện giải trình thêm với Dung. Người ấy kia...

Theo tay chỉ của Châu, Hạnh Dung nhìn về phía bờ đất tường dẫn vào vườn cây, có một chàng trai đang bước chậm vào.

- Ủa, anh chàng Hoàng Phi của mày kia!

Người la lên đó là Ngọc Nga. Riêng Hạnh Dung thì ngơ ngác mất vài giây rồi cũng lúng túng nói lí nhí trong miệng:

- Anh... anh ta...

Đến phiên Châu ngạc nhiên:

- Ủa... đã quen nhau?

Hạnh Dung chưa kịp đáp thì lúc ấy anh chàng đã bước tới và đến lượt anh ta khựng lại, nhìn sững vào Dung:

- Cô... cô cũng...

Trong Iúc Dung còn đang ngỡ ngàng thì Ngọc Nga đã nhanh nhảu:

- Sự tình cờ đáng nghi ngờ! Thì ra người ta vờ đụng xe để hẹn nhau ở đây!

Châu ngạc nhiên:

- Ai đụng xe?

Lúc này Hoàng Phi phải chủ động lên tiếng:

- Thì ra cô cũng đến dự buổi họp mặt hôm nay?

- Phải vậy, lúc sáng mình cùng đi một thể.

Châu cũng nói luôn:

- Đây là người đại diện cho Giáng Hương để đến trao cho Dung quyển lưu bút này!

Hạnh Dung càng lúng túng hơn:

- Vậy mà Dung không biết. Anh... anh là...

Chàng trai Hoàng Phi cũng giật mình:

- Vậy đây là Hạnh Dung?

Châu nói:

- Hạnh Dung và Giáng Hương là hai người bạn thân nhất, trong lớp luôn ngồi cạnh nhau, cho đến khi Giáng Hương đi du học hồi đầu năm.

- À, thì ra...

Anh chàng lịch sự nói thêm:

- Em gái tôi vẫn thường nhắc Dung luôn, kể cả khi đã sống ở Pháp. Việc nó giữ quyển lưu bút này quá lâu cũng đã khiến cho nó luôn áy náy... Chắc là cô Dung không giận em tôi chứ?

Ngọc Nga luôn tìm dịp để chen vào trêu chọc:

- Giận làm sao được khi bạn mình có ông anh đẹp trai như thế kia?

Cả bọn được dịp cười ồ lên, khiến cho ngay cả anh chàng Phi cũng ngượng, đừng nói gì Hạnh Dung. Cô nàng phải quay sang các bạn nghiêm giọng:

- Không phải chuyện đùa đâu các bạn. Mình xin lỗi...

Cô cầm lấy quyển sổ từ trên tay Châu, vừa nói:

- Khi Giáng Hương đi Pháp mà cầm luôn quyển lưu bút này, tôi cứ chờ hoài mà không thấy nó gửi về thì cũng có hơi buồn, nhưng sau đó nghĩ như thế cũng tốt, bởi nó sẽ có thì giờ đọc lại những dòng trong đó của nhiều bạn bè, ắt là vui hơn khi ở xứ người. Nên từ đó tôi không còn chờ nữa.

Châu phá tan bầu không khí còn bỡ ngỡ đó bằng câu nói:

- Thôi, chuyện gì đó để chút nữa nói, bây giờ anh Phi đã chịu khó vượt mấy chục cây số để đến đây rồi thì bọn này xin mời anh cùng tham dự buổi cắm trại cho vui!

Hoàng Phi lịch sự từ chối:

- Mình chỉ muốn trực tiếp đến đây để gửi vật này về cho chủ nhân của nó, và đã gặp rồi thì xin kiếu, phải về ngay vì hôm nay nhà có giỗ, mình không thể vắng mặt được. Một lần nữa xin cám ơn cô Châu đã vui lòng cho mình biết hôm nay có buổi cắm trại này, và có mặt của cô Hạnh Dung đây để mình có dịp gặp và xin lỗi.

Châu nhân dịp giải thích luôn:

- Do anh Phi đây không biết địa chỉ của Dung, nên hôm qua tới nhà mình hỏi, mình muốn nhân dịp này mời anh ấy cùng lên đây chơi và gặp Dung luôn. Vậy mà cô nàng Dung này để cho anh ấy về, quả là quá vô tình!

Phi lại phải lên tiếng lần nữa:

- Tôi xin lỗi, bởi hôm nay nhà có giỗ tôi phải về cho kịp giờ. Chứ nếu không thì ở lại chơi tới bao giờ cũng được!

Ngọc Nga nhanh nhảu:

- Tiễn người ta ra xe đi, còn chần chừ gì nữa?

Châu cũng nói:

- Thôi được rồi, anh Phi có chuyện nhà thì bọn này không giữ. Để Dung tiễn anh ra xe. Xin mời anh hôm nào rảnh thì chúng ta gặp lại.

Ngọc Nga phá lên cười:

- Chuyện hẹn hò không cần tới Châu đâu!

Hạnh Dung cấu vào hông bạn mình một cái đau điếng rồi chủ động bước đi ngay để tránh sự trêu chọc của các bạn. Hoàng Phi đi theo sau và phải bước thật nhanh mới theo kịp cô nàng. Anh phải lên tiếng:

- Bộ Dung quen chốn này lắm sao mà đi qua cầu, đường đất giỏi quá!

Lúc đi xa chỗ các bạn rồi Hạnh Dung mới thấy tự tin hơn, cô hỏi thăm:

- Giáng Hương ra sao rồi mà chẳng thấy nó thư từ gì hết. Lần này nó có về không anh?

Hoàng Phi hơi chùng giọng:

- Nó... có chút việc, nên không về được. Nó nhờ tôi gửi lời cáo lỗi về sự giữ quá lâu quyển lưu bút này. Chắc Dung không giận?

Hạnh Dung xua tay:

- Em đã nói rồi, chỉ có mong đợi thôi và bây giờ đã nhận lại được rồi, còn giận gì nữa? Vậy khi nào thì anh Phi liên lạc được với Giáng Hương. Em muốn gửi cho nó mấy món quà...

- À, việc đó...

Thấy anh chàng có vẻ ngập ngừng, Dung nói liền:

- Cũng không sao, nếu anh thấy không tiện thì thôi.

Hoàng Phi vội nói:

- Không, không, chỉ là vì... tôi chưa định ngày trở qua bên đó. Để khi nào đi, tôi sẽ báo cho Dung.

Dung thích thú:

- Vậy ra anh Phi cũng ở bên Pháp như Giáng Hương!

- Phải...

- Anh tốt nghiệp rồi, chắc là làm việc bên ấy? Và chắc... đã lập gia đình ở bên đó?

Phi lắc đầu lia lịa:

- Làm gì có! Bộ Dung thấy tôi già lắm sao? Tôi còn đang...

Chẳng hiểu sao tự dưng Dung thấy vui vui, cô nói một câu chẳng ăn nhập gì với nội dung đang bàn:

- Con gái Pháp nghe nói đẹp lắm!

- Thua xa Dung!

Không ngờ anh chàng lại biết nịnh một câu thẳng như thế, Dung quay nhìn anh ta và bất chợt bốn ánh mắt chạm nhau. Dung cúi mặt xuống và nghe tim mình đập nhanh hơn gấp bội.

Khi ra tới Cầu Ván thì Hoàng Phi đột ngột nói:

- Bây giờ tôi mới dám nói lời xin lỗi... Tôi đã mạo muội viết mấy dòng trong cuốn lưu bút của Dung. Chắc Dung không trách chứ?

Hạnh Dung hơi bất ngờ, nhưng cô không tỏ sự khó chịu:

- Chắc là... Giáng Hương đã cho phép anh? Mà cũng đâu có sao, lưu bút là nơi ghi nhận tất cả tình cảm của bạn bè dành cho mình, mà anh thì còn hơn là bạn nữa...

Hoàng Phi nhìn sững cô:

- Dung nói thế nghĩa gì?

Hạnh Dung phải nói rõ ngay:

- Bởi vì anh là anh của Hương, bạn em, tức anh còn hơn là bạn rồi còn gì!

- À thì ra...

Cả hai cùng cười bẽn lẽn và tự dưng trong lòng họ cảm thấy thân thiện hơn, cho đến lúc Phi ra lấy xe. Anh nói với lại khi đã rồ máy xe:

- Châu đã nói địa chỉ của Dung rồi, có thể ngày mai tôi xin phép tới thăm và nói chuyện nhiều hơn. Cả quà của Giáng Hương nữa...

Hạnh Dung reo lên:

- Vậy thì mai em sẽ ở nhà chờ anh!

Nhưng rồi cô khựng lại:

- À mà không được, ngày mai em có việc phải đi với mẹ rồi. Hay là để thứ năm được không? Thứ năm em được nghỉ.

Phi hơi lưỡng lự, nhưng cũng gật đầu:

- Được rồi, mình sẽ gặp lại nhau.

Anh ta rồ xe chạy đi khá xa rồi mà Dung vẫn còn ngẩn ngơ nhìn theo. Chính cô cũng chẳng hiểu tại sao như vậy...

- Bị hớp hồn rồi sao cô nương?

Giọng nói của Ngọc Nga ngay phía sau khiến cho Dung giật mình, cô quay lại đưa tay dứ dứ như sắp đánh vào bạn, Nga lại càng có dịp trêu chọc:

- Si anh chàng rồi thì chịu đi, nếu không ta tấn công phỗng tay trên thì đừng có trách!

- Con khỉ!

Dung đuổi theo dọa đánh, Ngọc Nga thì cố tình trêu chọc, vừa chạy trước vừa nói với lại:

- Anh chàng đẹp trai cỡ đó thì coi chừng đó!
***

Suốt đêm qua, Dung cứ đọc đi đọc lại hoài bốn trang lưu bút của Hoàng Phi viết trong sổ. Trước dòng chữ của Phi có bút tích của Giáng Hương, nhưng lạ một điều là Giáng Hương chỉ viết vắn tắt và viết chưa tròn câu thì đã ngưng ngang:

"Mình biết việc đưa cho anh mình viết trong lưu bút của Dung là không đúng, bởi Dung và anh Phi chưa hề quen biết nhau. Tuy nhiên do anh ấy quá ái mộ Dung, cứ nằng nặc đòi phải viết để làm quen, nên cuối cùng mình đành phải chiều lòng anh ấy. Mình xin lỗi Dung, còn có điều này nữa, mình muốn nói riêng với Dung..."

Những dòng chữ của Giáng Hương ngưng ngang ở đó, rồi tiếp theo là những trang viết của Hoàng Phi. Mà cũng thêm một điều nữa rất lạ, mạch văn của Phi viết đang ngon trớn thì bỗng khựng lại, như bỏ dở nửa chừng.

Hạnh Dung đọc đi đọc lại và tính khi gặp lại anh, cô sẽ hỏi cho ra lẽ. Phải chăng Phi hết ý, mất hứng hay không muốn nói hết lòng mình?
 
Cũng may, sáng hôm nay là ngày thứ năm, Dung được nghỉ học, nên cô ngủ nướng thêm một chút. Khi thức dậy thấy đã chín giờ, cô giật mình, nhảy ngay xuống giường và dọn dẹp rất nhanh phòng ngủ của mình, và sau đó ra phòng khách dọn tươm tất trước sự ngạc nhiên của mẹ.

Bà Hồng lên tiếng hỏi ngay:

- Bữa nay chắc trời sắp có bão hay sao mà cô nương nhà này dọn dẹp kỹ vậy hả?

Biết mẹ trêu chọc mình, Dung nũng nịu:

- Mẹ này... bộ con gái mẹ làm biếng lắm hay sao?

- Không làm biếng, nhưng không được siêng cho lắm. À, hay là bữa nay đón khách?

Hạnh Dung tranh thủ ngay sự ủng hộ của mẹ:

- Đúng là con có khách. Có mấy người bạn...

Bà Hồng cười vừa xoa đầu con gái:

- Có vậy nên con tôi mới siêng đây! Mà cũng được, con ở nhà đón bạn, rồi muốn vui chơi gì đó cứ lấy đồ trong tủ lạnh ra mà làm. Mẹ có việc phải qua nhà bà Phán Giáo chiều mới về.

Hạnh Dung mừng rơn:

- Cám ơn mẹ!

- Sao lại cám ơn?

Dung lúng túng, sợ mẹ biết mình sẽ đón bạn trai:

- Dạ... dạ không. Con cám ơn vì mẹ cho con lấy đồ trong tủ lạnh.

- Con khỉ này, bộ mẹ cấm mày vui chơi với bạn hay sao?

Mười lăm phút sau bà xách giỏ đi, còn dặn lại:

- Con nhớ ở nhà chơi, đừng rủ rê bạn đi ra ngoài. Giờ này trộm đạo nhiều, bỏ nhà trống không nên.

- Dạ, mẹ cứ yên tâm đi... điều binh khiển tướng!

Bà Hồng tròn mắt nhìn con gái:

- Sao mày biết mẹ đi đánh bài?

Dung nheo mắt:

- Mỗi lần mẹ qua bà Phán Giáo thì chỉ có cầm tướng xanh tướng đỏ thôi, chứ có làm gì khác đâu, ai không biết!

- Mày giống hệt thằng cha của mày hồi trước! Lúc nào cũng nghĩ tao đi đánh bài.

- Thì ba nói đâu có sai! Vả lại đánh tứ sắc là để vui, giết thì giờ chứ phải cờ bạc ăn thua đủ đâu mà ngại?

Mẹ đi rồi Dung mới chạy đi thay bộ đồ mới mà từ tết đến giờ cô mới có dịp thử.

Bộ đồ bằng lụa hơi mỏng, nên Dung cứ đứng trước gương ngắm hoài, cứ sợ bị cho là khêu gợi! Thật ra cô khá hài lòng với bộ đồ tự tay đi mua hôm trước Tết, nhưng mặc lần đó chẳng có ai khen, ngoại trừ bị mẹ mắng cho:

- Con gái con lứa gì mà ăn mặc cứ... hơ hớ ra thế kia, bộ muốn trêu ngươi thiên hạ hả?

Do vậy Dung đã treo nó cho tới hôm nay. Nhìn ngắm kỹ lại, cô tự nhủ:

- Đẹp thấy mồ, đâu có gì khêu gợi đâu!

Bữa trước không có hẹn giờ với Phi, nên Dung đoán nếu anh ta có tới thì chắc sẽ tới buổi sáng, và giờ tới theo nguyên tắc lịch sự là vào khoảng chín đến mười giờ. Không ai tới chơi mà đi vào giờ trưa, gần bữa cơm. Vậy mà sao bây giờ đã gần mười một giờ rồi mà anh chàng vẫn chưa tới?

Chờ tới mười hai giờ mà vẫn chưa thấy, Dung gọi điện tới nhà Ngọc Nga và rủ:

- Tao với mày tới nhà của Giáng Hương, tao qua đón mày nghen!

Ngọc Nga cười to trong điện thoại:

- Nhớ rồi phải không con khỉ?

Lát sau Hạnh Dung chạy Velo Solex qua chở Ngọc Nga. Cô nàng vẫn chưa hết chọc:

- Bộ mày mê anh chàng thật hả?

Dung càu nhàu:

- Mê gì mà mê, chẳng qua anh ta hẹn qua nhà chơi và đem theo quà của con Giáng Hương gửi về mà tao chờ suốt buổi sáng không thấy. Nhân mẹ tao đi vắng nên tao muốn chủ động sang bên ấy lấy quà luôn. Có thể anh chàng tìm không ra địa chỉ, hay bỏ lạc địa chỉ rồi cũng nên.

Họ đã từng tới nhà Giáng Hương trước đây nhiều lần, chỉ gần một năm nay không sang vì Hương đi du học, nên họ đi rất nhanh đã tới. Ngọc Nga thắc mắc hỏi Dung:

- Sao trước giờ mình tới chơi mà không hề gặp anh chàng này hả mày? Mà có đúng anh ta là anh của con Hương không?

- Chắc chắn rồi!

- Sao mày dám quả quyết khi chỉ mới gặp anh ta có một lần?

Hạnh Dung thú nhận việc quyển lưu bút:

- Chính anh ta viết trong cuốn lưu bút của tao gửi cho con Giáng Hương. Anh em tụi nó viết chung cho tao.

Ngọc Nga kêu lên:

- Vậy mà mày dám giấu há! Đưa tao coi anh ta viết gì vậy!

- Thì từ từ đã, để hôm nào...

Đến nhà Giáng Hương chỉ còn mình bà ngoại ở, còn ba má Hương thì cũng đã định cư ở Pháp từ lâu, nên Hạnh Dung gọi tên của Hoàng Phi, chứ không gọi bà:

- Anh Phi ơi!

Cô gọi đến ba lần mà vẫn không nghe ai trả lời, mặc dù nhà có mở cửa. Phải gọi đến lần thứ tư thì mới có tiếng dép lê đi ra, rồi giọng bà ngoại của Hương hỏi vọng ra:

- Ai kêu có gì vậy?

Nhận ra ngoại, Hạnh Dung nói to:

- Con là bạn của Giáng Hương đây ngoại, con hỏi có anh Hoàng Phi ở nhà không ngoại?

- Cái gì? Hỏi gì?

- Dạ, con là Hạnh Dung, bạn học ngày trước của Giáng Hương, con muốn hỏi anh Hoàng Phi, anh của Hương?

Bà ngoại bước hẳn ra ngoài, bà nhận ra ngay Hạnh Dung và Nga, nên nói ngay:

- Hai đứa bây mà bà tưởng là ai. Con Giáng Hương đi bên Pháp từ lâu nay rồi, còn... Hoàng Phi thì cũng đâu có về.

Hạnh Dung nhìn sững bà:

- Con mới gặp anh Phi hôm chủ nhật rồi, anh ấy nói là về có mang theo quà của Giáng Hương gửi cho con.

Bỗng dưng sắc mặt bà cụ tái xanh, bà bước thụt lùi và lắp bắp hỏi:

- Con... con nói... gặp ai?

- Dạ, con gặp anh Hoàng Phi hôm chủ nhật rồi.

- Trời ơi!

Bà cụ kêu lên một tiếng thảng thốt rồi suýt nữa đã ngã xuống đất, khiến cho Hạnh Dung và Ngọc Nga hốt hoảng:

- Bà ngoại! Bà sao vậy?

Họ đỡ kịp nên bà không ngã, nhưng toàn thân bà bỗng lạnh ngắt, bà xua tay mấy cái rồi ra dấu cho hai đứa dìu vào nhà. Vào trong rồi còn hỏi Iại:

- Con nói gặp ai?

- Dạ, anh Hoàng Phi.

Bà đưa tay chỉ lên tủ thờ có hai ảnh chân dung:

- Có phải thằng đó không?

Hạnh Dung nhìn lên cùng lúc với Ngọc Nga, rồi cả hai cùng kêu lên:

- Chính anh ấy và cả... Gláng Hương nữa! Mà cái gì vậy ngoại? Đây là ảnh... ảnh của họ sao ngoại lại đặt trên tủ thờ?

Bà thều thào:

- Thì cả hai đứa nó giờ đã... ở trên đó rồi mà. Chúng nó...

Hạnh Dung lặp lại như người mất hồn:

- Sao lại như vậy? Sao lại... sao lại...

Ngọc Nga bình tĩnh hơn, hỏi lớn:

- Ngoại nói vậy có nghĩa cả hai đã chết rồi sao?

Bà cụ nhẹ gật đầu:

- Chết hết rồi...

- Ngoại!

Hạnh Dung thét lên một tiếng rồi đứng chết lặng. Cô tưởng chừng mình đang nghe lầm hoặc đang trong mơ... Cho đến khi Nga kéo cô về thực tế:

- Ngoại nói rõ hơn coi, Giáng Hương mất hồi nào?

Lúc này bà cũng có vẻ tỉnh táo hơn, bà từ từ kể:

- Nó chết cách đây sáu tháng, cùng với thằng anh của nó.

Hạnh Dung như đang trong cơn mộng du:

- Không thể nào... không thể như thế được...

Ngọc Nga rùng mình:

- Vậy ra người gặp mình hôm qua là... hồn ma! Anh chàng đụng xe vào mày cũng là... ma!

Bà cụ nghe vậy thì lại hoảng vía:

- Thằng Phi gặp tụi con thật sao?

Dung chưa kịp đáp thì Ngọc Nga đã nhanh miệng:

- Chẳng những gặp thôi, anh ấy còn đụng xe vào con Dung đây, suýt chết! Rồi anh ấy còn chạy xe lên Lái Thiêu nữa...

Bà cụ hỏi nhanh:

- Chạy Vespa?

Rồi bà chỉ ra nhà xe:

- Hèn chi chiếc Vespa lâu nay để trong nhà kho, bỗng hôm qua bà thấy ai đem ra nhà ngoài, mà còn lau chùi bóng loáng nữa! Chiếc xe này trước đây là của ba nó, từ khi ba nó chết thì cứ để trong kho, còn thằng Phi thì ngay từ năm lên sáu tuổi đã theo ông cậu nó qua Pháp ở rồi, đâu có về đây...

Hạnh Dung thất thần:

- Không thể nào đâu ngoại!

Ngọc Nga thì vừa rùn vai lại vừa nói bằng giọng run run:

- Tụi này gặp ma mà đâu có biết ngoại ơi...

Bà cụ vừa khóc vừa nói:

- Thằng Phi đâu phải là ma. Nó là thằng hiền lành. Hơn hai chục năm rồi bà không gặp nó, nhưng chắc chắn nó không phải là ma.

Ngọc Nga muốn nói gì đó, nhưng nhìn gương mặt thẫn thờ của Dung nên cô nín thinh cho đến lúc Hạnh Dung kiếu bà cụ ra về... Hỏi gì Dung cũng không nói.
Sự đời cà khịa cái chơi
Khi vui muốn khóc, khi cười buồn tênh!
0
2. Duyên Ma

Thấy con gái cứ suốt ngày buồn rầu, lo ra, bà Hồng phải nhắc:

- Con sắp tới ngày thi tú tài rồi đó, mà sao cứ lờ đờ như người mất hồn vậy.

Hạnh Dung chống chế:

- Tại con khó ở... vả lại bài thi con ôn xong hết rồi. Bảo đảm với mẹ là bằng tú tài kỳ này con lấy về cho mẹ là cái chắc!

- Thằng cha cô, Iúc nào cũng tự tin. Kỳ này cô mà trượt vỏ chuối thì tôi gả chồng cho biết!

Biết mẹ chỉ dọa chơi thôi, nhưng tự dưng Hạnh Dung thấy sợ, cô nhào tới ôm mẹ nũng nịu:

- Mẹ mà bắt con lấy chồng là con chết cho mẹ coi!

- Con khỉ, chỉ tài nói bậy! Thì con gái lớn phải lấy chồng chứ, chậm lắm là hết năm tới, thi tú tài xong thì cũng phải kiếm chồng để cho tôi có cháu ngoại chứ!

- Không đâu! Con ở với mẹ hà!

Bà Hồng cũng ôm con vào lòng:

- Nói chơi vậy chứ chỉ còn có hai mẹ con, gả đi rồi mẹ ở với ai! Thằng anh Hai mày thì đi biền biệt, nói hoài mà không chịu lấy vợ, mẹ buồn hết sức.

Chợt bà nhớ lại chuyện bà Phán Giáo nói mấy bữa trước, bà kể:

- Bác Phán có cái mối này, bà ấy nói hoài mà mẹ không nghe. Mẹ muốn biết ý con...

Hạnh Dung biết lại chuyện làm mai, nhưng tự dưng cô cũng thấy tò mò:

- Bác làm mai ai vậy mẹ? Chắc lại một anh chàng con nhà giàu, công tử bột...

Bà Hồng hơi nhỏ giọng:

- Lần này bác Phán nói cái mối ấy ở bên Tây.

Nghe tới đó, tự dưng Dung giật mình:

- Ở bên Tây, mà... ở đâu?

Bà Hồng cười xòa:

- Mẹ đâu có biết Tây là ở đâu. Mới chỉ nghe vậy thôi...

Tự dưng Dung nhớ tới Hoàng Phi. Cô thừ người ra một lúc rồi đột nhiên nói một mình:

- Phải chi hồi đó anh ta ở bên này...

Bà Hồng nghe không rõ, hỏi lại:

- Con nói ai ở bên này?

- Dạ... dạ không. Con muốn nói... cần gì phải ở Tây ở Tàu...

Bà Hồng dí tay vào trán con gái:

- Cha cô, ai cô cũng chê. Kén lắm rồi mai mốt gặp một thằng... trời ơi đất hỡi cho biết!

Dung chẩu mỏ ra:

- Bộ mẹ muốn con gái mẹ như vậy lắm hả?

Hai mẹ con đang nói chuyện thì chuông điện thoại reo vang. Đang ngồi gần máy nên bà Hồng nhấc lên, bà nghe rồi quay sang hỏi con:

- Bà ngoại của Giáng Hương là ai vậy con? Có phải con Giáng Hương bạn hồi đó của con không vậy?

Hạnh Dung giật thót tim, cô chẳng trả lời mẹ mà giằng lấy ống nghe áp vào tai. Nửa phút sau cô buông ống nghe xuống, lo lắng:

- Bà ngoại của Giáng Hương đang hấp hối. Con Ngọc Nga vừa báo tin cho con.

- Lâu nay con có ghé thăm bà không? Sao con Giáng Hương không thấy sang đây chơi vậy?

Dung thẫn thờ:

- Giáng Hương chết rồi.

Bà Hồng hốt hoảng:

- Chết khi nào?

- Gần cả năm rồi. Chết bên Pháp khi đi du học bên ấy.

Dung hấp tấp đi ra, bà Hồng căn dặn:

- Con qua thăm rồi có gì báo tin cho mẹ, mẹ cũng sang đó nữa.

Dung chạy nhanh qua thẳng đó, bởi Ngọc Nga dặn không cần ghé đón nó. Vừa sang tới cổng nhà Giáng Hương đã thấy Nga đứng chờ sẵn:

- Không biết sao bà ngoại Hương nhớ số điện thoại nhà tao, và nhờ người giúp việc gọi giùm.

- Bà ra sao rồi?

- Nằm thiêm thiếp, tao vào thăm bà biết nhưng không mở mắt ra, chỉ hỏi tên mày thôi.

- Hỏi sao?

Hạnh Dung bước nhanh vào, cô vừa xuất hiện thì bà cụ đã lên tiếng ngay:

- Hạnh Dung phải không?

- Dạ, con đây ngoại.

Bà nhướng mắt lên nhìn, thấy Ngọc Nga, bà nói rất khẽ:

- Nói nó ra ngoài một lát, bà có chuyện này muốn nói riêng với cháu!

Hạnh Dung phải nói khéo với bạn:

- Bà ngoại không chịu được hơi thở của đông người. Mày ra ngoài một lát đi rồi vào sau.

Ngọc Nga không hài lòng lắm, nhưng cũng phải bước ra. Lúc này bà cụ bỗng cầm tay Dung, thều thào:

- Nó... gửi cái này... cho con!

- Ai gởi bà ngoại?

- Thằng... Phi!

Hạnh Dung tưởng mình nghe lầm:

- Ngoại nói ai?

- Thằng Phi...

- Ngoại, anh Phi đã...

Giọng bà cụ càng khó nghe hơn:

- Nó... chết... nhưng nó vẫn...

Bà khó khăn lắm mới lấy được một vật gì đó từ dưới gối ra, đưa cho Hạnh Dung:

- Cái này gửi cho con.

Dung cầm lấy và đưa lên xem, đó là một sợi dây chuyền bằng kim loại trắng, có đính theo mặt cũng bằng một thứ chất liệu, hình quả tim, như kiểu dây chuyền dành tặng những người yêu nhau.

Còn đang ngơ ngác thì chợt Dung nhìn thấy cái mặt dây chuyền hình quả tim ấy có chốt mở ra, cô nhẹ tay mở và kinh ngạc kêu lên:

- Hình của con và...

Cô khựng lại, bởi nửa hình quả tim bên này thì ảnh cô, còn nửa bên kia thì là ảnh của... Hoàng Phi!

- Thưa ngoại...

Bà cụ sức đã kiệt, nhưng vẫn còn nói khá rõ ràng:

- Tối qua trong lúc bà mê man thì thấy vong hồn nó về, nó khóc và nói rằng nó đã yêu con từ lúc thấy hình con trong cuốn lưu bút con gửi cho Giáng Hương. Nó định sẽ về nước và hỏi con làm vợ, nhưng chưa kịp thì đã...

Bà ngừng một lúc rồi mới tiếp được:

- Nó chưa kịp về thì cả hai anh em đều chết trong một tai nạn giao thông bên đó. Do quá say mê con nên hồn nó cứ vất vưởng đi tìm... vừa rồi nó tìm về đây và gặp được con.

Hạnh Dung đánh bạo hỏi:

- Hồn ma sao con thấy anh Phi giống hệt như người, đâu có vẻ gì là ma vậy ngoại?

- Theo nó nói thì hình hài mà con nhìn thấy là xác của một người khác. Nó nhập hồn vào đó để đi gặp con. Bây giờ nó tha thiết van xin ngoại làm cách nào cũng phải cho nó gặp lại con, nó yêu con và muốn... cưới con làm vợ. Ngoại sợ quá, khuyên nó nên bỏ ý định đó đi, bởi dương gian âm cảnh làm sao cưới nhau được, nhưng nó quyết không nghe!

- Ngoại!

Hạnh Dung muốn nói gì đó, nhưng cô khựng lại. Bà cụ lại tiếp như muốn nói cho hết, sợ không còn kịp:

- Nó nói con nên đi tìm người mà nó đã mượn hình hài và nhận lời xin cưới của người đó! Muốn xác nhận đúng người thì con nên nhìn trên cổ người ấy, cũng có đeo một sợi dây chuyền với cái mặt giống như vậy.

- Nhưng thưa ngoại...

Hạnh Dung vừa nói được tới đó thì đã thấy bà cụ trợn ngược mắt lên rồi ngoẹo đầu sang bên...

- Kìa, ngoại!

Khi Ngọc Nga chạy vào thì đã nhìn thấy bà ngoại của Hương tắt thở rồi. Cô quay sang hỏi bạn:

- Lúc nãy bà trối trăng điều gì vậy?

Hạnh Dụng muốn giấu, nhưng sau cùng cô nói hết với Nga. Cô bạn lắm lời này vội nói:

- Số mày như vậy rồi, phải làm theo thôi!

Hạnh Dung lo lắng:

- Nhưng tao làm sao...

Cả hai đứng chết lặng rất lâu...
 
***

Sáng vừa mở mắt ra, người mệt nhoài bởi đã mấy đêm liền Hạnh Dung không tài nào ngủ được, thì đã nghe tiếng của mẹ vọng từ ngoài vào:

- Con thay đồ ra tiếp khách với mẹ, có bác Phán qua chơi, muốn gặp con.

Hạnh Dung nói nhanh:

- Con đang mệt, mẹ tiếp đi!

- Không được, phải có con. Cứ ra rồi để mẹ nói chuyện. Bác ấy có đề nghị gì thì con chỉ việc lắc đầu bảo rằng chờ học xong tú tài 2 đã. Nghe lời mẹ đi.

Được lời của mẹ như vậy, nên dù không muốn Hạnh Dung cũng phải đi trang điểm sơ rồi đi ra.

Bà Phán cũng vừa từ ngoài cổng bước vào, đi theo sau bà là một người phụ nữ có tuổi khác và... một chàng trai.

Bước chưa tới phòng khách thì giọng bà Phán đã oang oang:

- Dẫn rể quý tới nhà dây, cô dâu quý đâu ra đón đi chứ!

Biết tính con không thích như vậy, nên bà bảo khẽ con gái:

- Bác ấy muốn nói gì cũng được, con cứ chịu đựng.

Hạnh Dung quả là đang chịu cực hình, cô vừa mệt vừa chán nản, nên miễn cưỡng đứng dậy chào cho phải phép:

- Thưa bác Phán, con chào bác! Thưa...

Tự dưng cô khựng lại, trố mắt nhìn chàng trai bước vào sau cùng. Hai tròng mắt của Dung như muốn lọt ra ngoài! Bởi chàng trai kia chính là... Hoàng Phi!

Anh chàng cũng khựng lại, nhìn Dung trân trối. Nhưng hình như anh ta chưa nhận thức rõ người đứng trước mặt mình là ai. Bà Phán nhạy cảm, lên tiếng hỏi liền:

- A, hai đứa biết nhau à?

Bà Hồng cũng hỏi con:

- Con quen?

Hạnh Dung nhất thời chưa đáp, cô vẫn nhìn xoáy vào chàng trai và sau cùng mới lên tiếng:

- Anh Hoàng Phi!

Bà mẹ của chàng trai nhận ra, bà cười nói:

- Dù cô gọi chưa đúng, nhưng cũng gần với tên của nó. Khương Duy là tên con trai bác!

Anh chàng tuy chưa nhận ra Dung, nhưng anh ta cũng nhẹ gật đầu chào rất lịch sự, rồi bước tới chìa tay ra cho Dung bắt. Cô nàng như bị hớp hồn, cứ nắm chặt tay anh ta không chịu buông ra.

Bà Hồng phải đưa tay kín đáo nhéo vào hông con gái một cái để Dung chấm dứt cử chỉ đó. Và có lẽ để tránh chướng mắt, bà nói to:

- Hay là để người lớn mình nói chuyện, còn hai đứa trẻ thì ra sau vườn làm quen đi, lát nữa vào sau!

Hạnh Dung chỉ cần nghe mẹ nói thế, cô đã kéo tay anh chàng ra ngay nhà sau. Khi ra đến ngoài, cô nhìn xoáy vào mắt anh ta rồi hỏi:

- Hoàng Phi phải không?

Anh chàng vẫn tỉnh như không:

- Khương Duy. Mình tên là Khương Duy. Nhưng mình biết bạn.

Câu nói càng khiến Dung thêm nghi ngờ:

- Có phải anh là người có cái này phải không?

Dung đưa tay lên vạch cổ áo anh ta ra và càng sửng sốt khi nhận ra sợi dây chuyền trông giống y như vật cô có trong túi áo. Cô móc ra ngay và đưa lên so, bất chợt anh chàng kêu lên:

- Hạnh Dung!

Anh ta thay đổi sắc diện một cách đột ngột, từ dáng vẻ chậm chạp bỗng trở nên nhanh nhẹn, hoạt bát hẳn lên, giống y như một Hoàng Phi mà lần đầu tiên Hạnh Dung đã gặp.

- Đúng là em rồi, Hạnh Dung! Anh cứ ngỡ sẽ chẳng bao giờ gặp lại em.

Để chắc hơn như những lời của bà ngoại Hương kể, Hạnh Dung đưa tay lên định giở mặt dây chuyền của anh chàng ra, thì chính anh ta đã tự tháo ra và đưa hẳn cho Dung:

- Em giữ luôn cho đủ cặp!

Dung mở trái tim mặt dây chuyền ra, và cả hai cái đều giống y hệt như nhau!

- Đúng là anh rồi!

Hạnh Dung không một chút sợ hãi, nắm lấy tay Khương Duy, nói đủ cho anh ta nghe:

- Em biết rồi, anh ẩn trong xác của anh chàng Khương Duy, nhưng thật ra anh là Hoàng Phi!

Anh chàng đáp rất khẽ:

- Chuyện này chỉ chúng ta biết thôi.

Lúc đó ở trong nhà...

Bà Phán Giáo đã bắt mạch được Hạnh Dung kết chàng trai mình mai mối, nên bà mạnh miệng nói:

- Tôi làm mai mối hay lắm, nhiều cặp đã thành và con cái đầy đàn, gia đình hạnh phúc. Chưa có cặp nào xảy ra chuyện gì!

Bà quay sang bà Hồng:

- Chị tin tôi đi, con Dung nhà chị mà ưng cậu cả nhà bà bác sĩ đây thì xứng không ai bằng! Mà coi bộ con nhỏ cũng đã kết thằng Duy lắm rồi. Hình như chúng nó có quen nhau trước.

Bà Hồng vẫn giữ đúng ý đã bàn với con gái, nên nói:

- Nói gì thì nói cũng phải đợi cháu nó học xong tú tài 2 cái đã.

Bà bác sĩ Xuân vội lên tiếng:

- Mình làm đám hỏi trước rồi đợi khi cháu nó học xong thì tính liền cũng tiện.

- Chuyện này phải để tôi tính lại với con nhỏ. Nó khó tính và hơi cứng đầu. Hồi ba nó còn sống ông không cho ai ép uổng gì nó cả.

Bà Phán lấy lòng bà bạn của mình:

- Anh chị bạn tôi đây chỉ có con Dung là con gái, mà hiện giờ chỉ còn hai mẹ con sống hủ hỉ với nhau, nên chị ngại phải xa con...

Bà bác sĩ Xuân liền nói:

- Không sao cả, thằng Khương Duy là con cả, sau nó còn có ba người em nữa, cho nên nếu chị muốn thì tôi đồng ý cho cháu nó ở bên này cùng tiếp tay với vợ phụng dưỡng chị.

Bà Hồng còn đang phân vân thì từ nhà sau Hạnh Dung và anh chàng bước ra, tay trong tay. Cô nàng lên tiếng ngay:

- Tụi con tính rồi mẹ, con vẫn đi học, còn anh Phi thì đi làm, chờ khi nào con thi xong rồi làm đám cưới luôn!

Bà Hồng kêu lên:

- Kìa, con.

Dung đến bên mẹ, rất chủ động:

- Con và Phi biết nhau. Phi đây chính là anh ruột của Giáng Hương bạn con.

Bà Hồng ngơ ngác:

- Con nói gì vậy?

Bà bác sĩ Xuân cũng trố mắt:

- Ai là Phi? Thằng con bác là Khương Duy mà. Nó là con trai của bác, chứ đâu phải là anh của Giáng Hương nào đó như con nói đâu?

Bỗng anh chàng lên tiếng:

- Hạnh Dung nói đúng, con là Hoàng Phi!

Cả ba người đàn bà đều ngơ ngác, hết nhìn hai đứa trẻ rồi nhìn nhau. Bà Hồng hỏi đầu tiên:

- Con có tỉnh táo không Hạnh Dung?

Dung cười nhẹ với mẹ:

- Con của mẹ đây mà! Con lúc nào cũng tỉnh táo và nhớ lời mẹ dặn. Con...

- Nhưng sao lại có chuyện kỳ cục này?

Bà bác sĩ Xuân cũng chen vào:

- Thằng Khương Duy nhà tôi là đứa hiền lành, thậm chí có người nói là nó quá ngây ngô, vậy mà sao hôm nay lại... lanh lợi và còn biết đẩy đưa với mẹ nó nữa!

Bà Hồng đột ngột đứng dậy và ra dấu cho Hạnh Dung biết:

- Con vào trong này mẹ hỏi chút coi!

Bà kéo tay Dung đi thẳng vào phòng riêng. Trong khi đó, còn lại ngoài này bà bác sĩ tranh thủ nói với bà Phán Giáo:

- Như chị thấy đó, thằng Duy nhà tôi hơi thất thường nên tôi mới muốn cưới vợ cho nó, chỉ hy vọng có chất con gái vào sẽ giúp nó đỡ hơn chút đỉnh, có ai ngờ chỉ mới gặp con này thì nó lại biến đổi, thật khó mà lường.

Bà Phán nheo mắt:

- Người ta nói đàn bà con gái có khả năng siêu phàm vậy đó!

Bất chợt anh chàng Khương Duy lên tiếng:

- Mẹ và bác Giáo nói đúng mà chưa đủ. Đúng là hơi con gái làm con tim người ta rộn ràng hơn, nhưng phải là hai con tim của hai người có duyên có nợ kia chứ!

Bà bác sĩ Xuân bây giờ mới nhìn thẳng vào con:

- Duy, nói cho mẹ nghe coi, đúng là con kết con nhỏ này lắm phải không? Con... hết bông lơn rồi hả?

Anh chàng chỉ tay lên sợi dây chuyền trên cổ mình, khoe:

- Tụi con có duyên tiền định với nhau, chứ đâu phải đợi đến bây giờ!

Bà Xuân ngạc nhiên:

- Kìa, con đeo sợi dây đó hồi nào vậy? Xưa nay con có chịu đeo bất cứ thứ gì trên người đâu, nói mẹ nghe coi Khương Duy?

Tiện tay, anh ta giở luôn mặt dây chuyền ra, gí sát vào mặt mẹ mình:

- Mẹ coi kỹ đi, hai tấm ảnh trong này có phải là con với Hạnh Dung không?

- Kìa con!

Bà thuận tay chụp lấy và giật phăng ra, sờ lên từng tấm ảnh, thấy nó được in hẳn vào mặt trái tim, chứ không phải là mới dán vào.

- Mẹ không thể hiểu nổi...

- Giờ thì mẹ đã hiểu rồi đây! Nhưng mẹ làm như vậy là mẹ hại con, khiến con có thể... chết liền!

Lời anh chàng vừa dứt thì bỗng sắc mặt tái xanh, người run rẩy... Cũng may vừa lúc ấy Hạnh Dung bước ra kịp, cô nhanh tay giằng lấy sợi dây chuyền từ tay bà bác sĩ Xuân rồi đeo lên cổ cho anh chàng ngay, vừa trách móc:

- Bác làm vậy là bác giết con bác đó biết không? Đây là sợi dây định mệnh, phải có nó luôn trên cổ thì mạng sống mới duy trì được. Nếu không...

Khương Duy sau khi được đeo trở lại sợi dây chuyền thì hết tình trạng run rẩy và tím tái kia, anh nhoẻn miệng cười với Hạnh Dung:

- Cám ơn em.

Giọng Dung nhẹ và ngọt lịm:

- Hoàng Phi, em phải luôn ở bên anh mới được.

Bà Hồng cũng vừa bước ra. Trái với thái độ lúc nãy, sắc mặt lúc này biến đổi, bà lặng lẽ ngồi xuống ghế và chẳng nói gì... Thấy vậy, bà Phán mới lên tiếng:

- Qua trao đổi với con gái, chị quyết định ra sao?

Bà Hồng chỉ đáp gọn một câu:

- Xong rồi!

Bà đứng lên và đi thẳng vào trong trở lại. Để cho hai bà khách nhìn nhau ngơ ngác...
 
***

Ngọc Nga vừa bước vào sân đã hỏi liền:

- Hạnh Dung không có nhà hả bác?

Bà Hồng đáp:

- Nó đi học từ sáng sớm, nói bữa nay có kiểm tra gì đó.

Nga xua tay lia lịa:

- Bữa nay lớp được nghỉ, đâu có học bác!

Bà Hồng ngạc nhiên:

- Ủa, sao con Dung dám nói gạt bác kìa! Nào giờ nó có bao giờ như vầy đâu...

Ngọc Nga ghé sát tai bà thì thầm:

- Bữa nay con biết chắc là con Dung đi với bồ nó, bởi vậy con mới qua đây nói cho bác nghe chuyện này.

Thấy thái độ khác thường của Nga, bà Hồng hỏi:

- Có chuyện gì vậy con?

- Con Hạnh Dung phải lòng một anh chàng... cõi âm đó bác!

Tưởng mình nghe lầm, nên bà Hồng hỏi lại:

- Con nói vậy là sao?

Nga nói rõ từng tiếng:

- Con Dung bị một hồn ma ám, nó mê anh chàng ấy. Đó là Hoàng Phi, anh con Giáng Hương.

Bà Hồng kêu lên:

- Hoàng Phi! Đúng rồi, chính thằng đó. Nhưng sao là hồn ma?

Ngọc Nga kể hết với bà chuyện cô biết được ở nhà Giáng Hương bữa trước và còn quả quyết:

- Chính mắt con và Dung đã nhìn thấy anh chàng đó với con Giáng Hương được thờ trên bàn thờ ở nhà ngoại nó. Con không dám ngăn con Dung, bởi vậy mới nói cho bác hay, để bác bằng mọi cách phải ngăn con Dung lại, nó yêu mù quáng như vậy thì chỉ có chết mà thôi!

Bà Hồng thất thần:

- Trời ơi, con tôi!

Bà lảo đảo ngồi phịch xuống bậc thềm mà miệng cứ lẩm bẩm hoài:

- Con ơi, con giết mẹ rồi...

Ngọc Nga còn nói rõ hơn:

- Chính bà ngoại của Giáng Hương trước khi nhắm mắt đã kêu con Dung tới và dặn dò, trối trăng rất kỹ. Con Dung thuật lại với con là nó phải đi tìm một anh chàng đeo sợi dây chuyền có mặt trái tim, trong đó có ảnh của hai đứa nó, bởi đó là người được Hoàng Phi nhập hồn vào. Bác đừng cho con Dung đi tìm nghe bác, nó sẽ lấy phải ma đó.

Bà Hồng thều thào:

- Chậm mất rồi!

Ngọc Nga tính hỏi thêm thì vừa lúc Hạnh Dung từ ngoài cổng dắt xe vào. Nhìn thấy Nga, Dung đã lên tiếng liền:

- Mày mách với mẹ tao chuyện đó phải không? Con này nhiều chuyện!

Rồi cô quay sang mẹ, nói nghiêm túc như một người lớn tuổi:

- Ma chưa hẳn là xấu. Con đã chấp nhận rồi thì con chịu. Còn nếu mẹ phản đối thì con thà chết theo anh ấy, chứ mẹ đừng bắt con phải xa người con yêu!

Ngọc Nga trực tiếp nghe Dung nói những lời đó thì tái mặt, lẩm bẩm:

- Con này hết thuốc chữa rồi.

Trong đầu Nga có một dự tính mà trước khi tới đây cô đã định sẽ nói cho bà Hồng nghe, nhưng sự trở về đột ngột của Dung đã khiến cho cô chưa kịp nói ra. Nga nghĩ đợi có dịp sẽ nói cho bằng được, mà theo cô là để cứu bạn mình...

Nhưng hình như Hạnh Dung đã đọc được ý nghĩ của bạn, cô nói thẳng:

- Mày tính xúi mẹ tao đi rước thầy về trừ tà bắt hồn ma của Hoàng Phi phải không? Anh Phi đã đoán biết hết rồi, mày mà nói ra thì tao với mày hết tình bạn bè, mà e sinh mạng của mày cũng không an toàn. Mày không tin cứ thử coi!

Ngọc Nga giật mình, cô lúng túng:

- Tao… tao chỉ...

- Tao biết mày không phải là người xấu, mà chỉ muốn giúp đỡ bạn thôi, nhưng tao nói rõ ràng, đây là duyên số của tao nên để tao chịu. Vả lại, tao đã hiểu về Hoàng Phi lắm rồi, anh ấy sẽ sống như một người dương trần bình thường. Vậy tốt hơn hết là mày đừng đem chuyện này nói lại với ai khác. Riêng mẹ tao, để tao sẽ tìm cách nói thêm cho bà hiểu...

Bà Hồng chẳng nói thêm lời nào. Bà như người mất hồn, ngồi chết điếng cho đến khi Hạnh Dung dìu bà vào nhà trong. Còn Ngọc Nga định vào theo, nhưng bỗng dưng cô nàng cảm thấy ớn lạnh và rùng mình liền mấy cái, rồi mắt như hoa lên, người lảo đảo nên cuối cùng đã lặng lẽ ra về mà không báo cho bạn mình biết...

Việc Ngọc Nga phát bệnh và nghỉ học hơn một tuần khiến mọi người hoảng hốt, lo lắng. Chỉ có Hạnh Dung là không. Cô chờ cho đến ngày thứ tám, khi Nga có mòi hơi trầm trọng thì tới thăm.

Lúc riêng chỉ có hai người, Dung mới nói:

- Tao biết mày vẫn tốt, nhưng cái tính thày lay của mày nó hại mày như vậy đó. Có phải sau khi ở nhà tao về, mày vẫn còn có ý định đi thỉnh bùa chú gì đó để đưa cho mẹ tao phải không? Phi đã nói cho tao biết hết và chính anh ấy đã tìm cách ngăn mày, bằng cách khiến cho mày bị bệnh nặng, để mày khỏi làm càn. Bây giờ mày công nhận lời tao nói chưa, còn có ý định tào lao nữa không? Nếu hết rồi thì dậy đi, cùng đi ăn cơm với tao và Hoàng Phi.

Ngọc Nga bật dậy ngay và kêu lên:

- Mày đừng bắt tao phải đi gặp anh chàng đó.

Hạnh Dung giọng chân tình:

- Khi hồn đã nhập vào một người cõi trần rồi thì Hoàng Phi đâu phải là ma nữa. Tao tin rằng sau khi gặp anh ấy rồi mày sẽ không còn có ý nghĩ bậy nữa. Thôi, dậy đi và cùng tao đi một vòng...

Ngọc Nga bước xuống giường như người chưa từng bị bệnh...
Sự đời cà khịa cái chơi
Khi vui muốn khóc, khi cười buồn tênh!
0
Quyển XXXXV:
CON MA NHÀ HỌ LÝ

Phần 1


Hôm qua, khi chiếc xe Traction của cha từ từ ngừng lại trước sân thì Nguyệt Ánh đã có linh tính không hay. Cô nói nhỏ với em gái:

- Chị đoán thế nào cũng có bà ấy về cùng ba.

Lời tiên đoán của Nguyệt Ánh không sai, bởi bước theo sau ông chủ Thiên Thời là một người đàn bà tuy đã trung niên, nhưng từ cách ăn mặc cho tới cách trang điểm đều giống như các cô gái trẻ. Nhất là đôi môi thoa son đỏ chót, mà khi vừa thoạt nhìn thấy Lan Anh đã thốt lên ngay:

- Giống như mấy cô đào cải lương!

Vừa nhìn thấy hai cô con gái, ông Thiên Thời đã gọi ngay:

- Hai con ra đây chào dì Hai!

Lan Anh nguýt một cái, nói nhanh với chị:

- Dì cái con khỉ!

Nguyệt Ánh bấu em một cái, vừa nhắc:

- Kệ, đừng để ba mất mặt.

Cô kéo Lan Anh bước ra đứng ngay trên bậc tam cấp, chào cha như mọi khi:

- Ba mới về. Thưa dì...

Lan Anh thì không nói gì, cô chỉ khẽ cúi đầu.

Ông Thiên Thời quay sang người đàn bà:

- Đây là Nguyệt Ánh, Lan Anh, hai đứa con gái mà anh nói với em. Chúng nó...

Ông chưa nói hết câu thì bà ta đã chận ngang:

- Lần sau có chào hỏi thì cũng nên nhìn thẳng vào người mình đang chào, chớ nhìn ngang liếc dọc thế kia là không phải phép. Con gái phải biết lễ, biết phép để còn lấy chồng sau này!

Chưa gì đã bị bà ta chỉnh cho rồi, nên Lan Anh không dằn được, lên tiếng ngay:

- Con nhà này không lé mắt, cũng không sợ ai mà phải liếc ngang liếc dọc, chỉ có điều là có cần nhìn hay không mà thôi!

Ông Thiên Thời thấy không khí chưa gì đã căng thẳng, nên vội nói át đi:

- Nguyệt Ánh, Lan Anh đi lo cơm nước để ba đãi dì Hường. Những gì dì Hường nhắc không phải thừa đâu, cũng giống như ba thường nhắc thôi. Đi đi con.

Nguyệt Ánh biết ý cha, nên kéo tay Lan Anh đi:

- Thôi, bỏ đi.

Bữa cơm thì hai cô đã chuẩn bị xong khi nhận được tin cha về cùng với khách. Ban đầu hai chị em không hình dung khách của cha lại quá quắc như thế này, nên đã chuẩn bị tiệc đãi, bây giờ tuy có bực mình, nhưng dù sao thì cũng đỡ phải lo cái việc mà trong lòng hai đứa đều không muốn.

Nguyệt Ánh gọi Sáu Chi, đứa giúp việc và bảo:

- Lát nữa chị lo cho bả, còn tụi em thì khó ở, nên ba có hỏi chị nói tụi em đi nằm rồi!

Cả hai đi thẳng ra sau nhà, nơi có con kênh nhỏ, mà thường khi muốn giải buồn họ đều ra lấy xuồng bơi lòng vòng một lúc...

Trong khi đó ở trong nhà bà Hường đã bắt đầu chì chiết:

- Hai đứa con gái của anh coi bộ không ngoan ngoãn như anh nói đâu. Chúng khó dạy à nghen!

Ông Thiên Thời cố xoa dịu:

- Chúng là con nít, có gì mình nói sau. Bây giờ em phải chứng tỏ mình là bà chủ tương lai chớ.

Bà ta trừng mắt nhìn ông:

- Đã là chủ rồi chớ còn tương lai gì nữa.

Ông Thiên Thời nói êm:

- Thì đương kim chủ nhân. Còn trên cả... phó tướng này nữa đó nghen!

Bà ta nguýt một cái sắc như dao cạo, rồi bước thẳng vô căn phòng mà ông Thiên Thời đã dọn trước. Giọng bà ta nghe rất khó ưa:

- Cái phòng gì cũ xì, vậy mà anh nói là phòng của chủ nhân, phòng hạng sang! Như vậy đủ chứng tỏ chủ nhân trước đây không có mắt thẩm mỹ gì hết!

Biết cái kiểu ăn nói này sớm muộn gì cũng đụng chạm với hai cô con gái của mình, bởi chúng nó có thể nhịn cái gì được, chứ ai nói chạm tới người mẹ quá cố của chúng thì có chuyện ngay.

Nên ông vội khỏa lấp:

- Thì cái gì không hài lòng mình sửa lại từ từ. Chớ ở xứ này nhà tui là số một rồi đó.

Cái phòng ngủ của vợ chồng ông Thiên Thời trước kia, đã được ông cho người sửa lại khá tươm tất, sang trọng hơn với chiếc giường Hồng Kông đặt mua khá nhiều tiền từ Sài Gòn chở về, thay thế chiếc giường ngủ mà ông cùng bà vợ trước sử dụng đã trên mười lăm năm, mặc dù vẫn còn tốt. Ngoài ra ông còn cho thay toàn bộ màn ở các cửa, cũng bằng vải ngoại, mà ông tin rằng chưa có nhà giàu nào ở tỉnh Rạch Giá này có được.

Bà Hường bước vô phòng, chỉ mới nhìn sơ qua đã càu nhàu:

- Màu màn cửa tối mò, cái drap giường cũng vậy, thời buổi này ai xài drap màu trắng nữa, thiếu gì bông hoa đẹp.

Ông Thiên Thời cũng nói cho xong chuyện:

- Không chịu thì đổi cái khác...

Ông mở đèn lên sáng choang cả gian phòng và vào tận phòng tắm, vừa tự hào giới thiệu:

- Cả tỉnh Rạch Giá chưa chắc nhà nào có phòng tắm nước máy, có vòi sen như nhà này. Có cả bồn ngâm nước nữa, tiếng Tây người ta gọi là beignore. Chỉ có ông chủ Thiên Thời này mới dám xài đó nghen!

Bà ta nguýt ông một cái:

- Cái bồn này bà già trầu của ông trước khi chết đã có ngâm thân chưa, nếu ngâm rồi thì gỡ bỏ ngay, mua cho tui cái khác!

- Làm gì có, tui mới lắp đặt đây mà. Còn nguyên tem luôn!

Lễ động phòng của hai ông bà trắc trở ngay từ đầu như vậy, chủ yếu là do tính khí quá quắt của người đàn bà mới nhập gia này. Vậy mà ông Thiên Thời cũng ráng chịu đựng cho qua. Cũng may khi con Sáu Chi mời xuống ăn cơm thì coi như ông được giải thoát, ông hối:

- Mình xuống ăn cơm rồi còn nghỉ ngơi, anh đói lắm rồi.

Mâm cơm dọn thịnh soạn nhưng chỉ có hai người ăn. Ông Thiên Thời hỏi:

- Hai đứa nó đâu rồi sao không ra ăn luôn?

Sáu Chi đáp:

- Dạ, hai cô nói khó ở rồi đi ra sau nhà. Chắc là đi bơi xuồng rồi, vì hồi sáng có mấy người bạn học của hai cô tới, họ có hẹn đi bơi xuồng.

Sáu Chi đã bịa chuyện để cho sự vắng mặt của hai cô chủ nhỏ hợp lý, chớ cô còn lạ gì cái nhăn mặt khó chịu của cả hai khi đón khách mới hồi nãy. Ông Thiên Thời cằn nhằn:

- Hai đứa này không biết gì hết, có khách thì phải ở nhà lo chớ!

Bà Hường lại có dịp mắng mỏ:

- Thiếu người dạy nên vậy đó! Mà thôi, có mặt tụi nó lại ăn mất ngon!

Sáu Chi nghe nói mà cũng phát tức. Cô ta đã làm cho nhà này kể từ khi bà chủ cũ còn khỏe mạnh, bà thương cô và ngược lại cô cũng thương bà nhiều. Gần sáu năm ở trong nhà này cô chưa từng bị bà chủ nói nặng lời lần nào, bữa cơm nào bà cũng bắt phải ngồi ăn chung, không phân biệt chủ tớ. Vậy mà nay, từ lúc ngồi xuống mâm, bà Hường này chỉ chăm chú lo trách người này, chê cái kia, chứ không hề quan tâm tới người phục vụ...

Chán nản, Sáu Chi bước tránh ra, đi làm vài công việc lặt vặt khác. Và suốt buổi cơm hôm đó cô nghe toàn là lời của bà Hường nói, không nghe ông chủ Thiên Thời nói gì. Câu cuối cùng cô còn nghe rất rõ bà ta bảo:

- Người ăn kẻ làm trong nhà này có lẽ tui phải coi lại, nếu cần thì cho nghỉ, mướn đứa khác tui ưng ý hơn!

Ông Thiên Thời bấy giờ mới lên tiếng:

- Trong nhà này chỉ có thằng Sĩ tài xế là người lái xe cẩn thận, làm nào giờ chưa từng để xảy ra gì, tui ưng ý lắm, còn con Sáu Chi thì là đứa được lòng cả nhà, lại siêng năng, hiền lành, đâu có ai khác mà phải cho nghỉ.

Bà ta cố tình nói cho Sáu Chi nghe:

- Nhưng tui muốn mọi cái trong nhà này phải mới. Người dính tới bà già trầu kia tui hổng ưa.

Sáu Chi nghe mà ức lắm, nhưng cô vẫn cố nhịn. Chờ cho xong bữa cơm, cố dọn dẹp rồi đi tìm hai cô chủ nhỏ. Không thấy hai người ở bờ kênh, Sáu Chi lại đi vòng qua chỗ ngôi mộ của bà chủ. Nơi mà ngày nào Sáu Chi cũng ra đốt nhang cúng, thậm chí còn ngồi lại lâu hơn hai cô gái con bà.

Khi bước tới nơi Sáu Chi ngạc nhiên khi thấy ở đầu mộ có một bó hoa còn tươi.

- Hoa của ai vậy kìa?

Hoa rất lạ, Sáu Chi chưa từng thấy bao giờ, nên không biết là hoa gì, mặc dù đó chỉ là một thứ hoa cẩm chướng mà dân thành thị thường hay dùng.

- Của ai vậy hà?

Từ phía sau lưng chợt có một giọng nói rất lạ:

- Cứ tưởng là sẽ không có người tới để chiêm ngưỡng hoa. Ai ngờ cũng có, mặc dù không phải là...

Sáu Chi bật đứng dậy, ngạc nhiên hỏi:

- Anh là ai vậy, sao đặt hoa trước phần mộ của bà tui?

Khách là một chàng trai cỡ trên hai mươi tuổi, người có vẻ thư sinh, hiền lành, nghe Sáu Chi hỏi đã trả lời rất thành thật:

- Tôi là Hiếu, chắc là chị chưa biết, nhưng ngược lại tôi biết chị là Sáu Chi.

Sáu Chi càng kinh ngạc hơn:

- Sao anh biết tui?

- Nghe Nguyệt Ánh nói.

Sáu Chi hiểu ra:

- À, thì ra anh là bạn của Nguyệt Ánh? Hay của Lan Anh?

Anh chàng tên Hiếu cười rất tươi:

- Đâu chị thử đoán coi tui xứng làm bạn với cô nào?

Sáu Chi rất tự nhiên:

- Cô Nguyệt Ánh thì đã mười chín, còn cô Lan Anh thì mới mười bảy. Vả lại không lẽ em lại có bồ trước chị?

Hiếu kêu lên:

- Sao chị biết tụi tui bồ với nhau!

Sáu Chi tâm lý:

- Không có chàng trai nào không phải là bồ hay có tình ý gì đó với một cô gái mà chịu khó mang hoa tới thăm mộ mẹ cô nàng cả! Chắc chắn anh là bồ rồi! Cô Nguyệt Ánh phải không?

Hiếu lại một lần nữa cười hiền hoà:

- Chị đúng là nhà tâm lý đại tài rồi!

Thấy mình đoán đúng, Sáu Chi thích thú:

- Vậy mà lâu nay Nguyệt Ánh kín miệng như bưng! Cô này giỏi thiệt...

Sáu Chi nhìn quanh rồi hỏi:

- Anh gặp cô Hai chưa?

Hiếu lắc đầu:

- Chưa. Nhưng thôi, tôi có việc phải đi ngay. Phiền chị về nói lại với Nguyệt Ánh là có tôi ghé thăm mộ. Có gì tối sẽ gặp lại sau.

Anh ta nói xong quay bước đi. Nhưng vừa bước mấy bước thì quay lại nói:

- Chị vào nhà ngay, hình như trong nhà đang có chuyện gì, có ai đó la hét om sòm trong đó!

Lúc này Sáu Chi mới lắng nghe và quả là có tiếng gấu ó từ trong nhà vọng ra. Cô chạy vào ngay và đúng lúc ông chủ Thiên Thời chạy ra hỏi liền:

- Mày có thấy giỏ đồ của bà Hường đâu không?

Sáu Chi ngơ ngác:

- Từ lúc bà về tới giờ con có ở trong nhà đâu mà thấy.

Bà Hường bước ra tới, bà tru tréo nhắm vào Sáu Chi:

- Nhà gì trộm cắp như rươi, đồ đạc mới hở ra là mất tiêu liền! Con kia, mày lấy cái giỏ của tao để đâu, nói mau.

Không còn nhịn được nữa, Sáu Chi phản ứng:

- Bà nói thì phải có bằng chứng, không được nói càng! Nhà này từ bao giờ chưa từng có ai là ăn trộm cả, bà chủ trước đây từng để quên mấy chục lượng vàng mà còn không mất nữa là.

Bị phản ứng bà ta quê, nên nổi xung thiên:

- Mày hỗn láo hả con ranh con kia! Tao đuổi mày từ bây giờ!

Sáu Chi không vừa:

- Tui làm là làm cho ông chủ và mấy cô trong nhà này, chớ bộ ham làm cho bà để ăn vàng sao chớ! Tui sẽ nghỉ liền sau khi chờ gặp hai cô chủ tui đã.

- Nhưng tao muốn mày ra khỏi nhà tao ngay!

- Nhà nào của bà? Nhà này là của ông chủ đây và hai cô Nguyệt Ánh, Lan Anh. Chừng nào những người này đuổi thì tui đi liền!

- Nhưng tao...

Ông chủ Thiên Thời phải lên tiếng:

- Chuyện gì cũng từ từ. Con Sáu đây quán xuyến hết công việc trong nhà, nay cho nó nghỉ thì lấy ai làm...

Nghe ông ta nói vậy bà ta tru tréo lên:

- Nếu ông binh nó thì tui sẽ đi cho ông coi!

Bà ta ngoe nguẩy đi vô phòng có lẽ định lấy va li, nhưng chợt nghe bà kêu lên từ trong ấy:

- Ủa, sao lại ở đây!

Ông Thiên Thời bước vào và ngạc nhiên khi thấy cái túi mà bà Hường bảo mất hồi nãy đang nằm giữa giường. Bà ta cầm giỏ lên soát lại đồ đạc trong đó rồi thở phào:

- Còn nguyên!

Ông Thiên Thời lắc đầu:

- Vậy mà bà hô hoán!

Bà ta bị bẽ mặt, nhưng vẫn giọng điệu khó ưa:

- Mà không mất của thì cũng phải đuổi con nhỏ hỗn láo đó đi thì tui mới ở trong nhà này!

Ông Thiên Thời phải dịu giọng:

- Được rồi, để mai tui tính.

Ông hỏi lại:

- Trong giỏ có gì mà em la dữ vậy?

Bà ta hạ thấp giọng:

- Cả tài sản của tui ôm theo ông, chớ phải ít đâu! Gần một trăm lượng vàng và cả đống hột xoàn nữa! Số này tui lấy luôn của lão thầu khóan gởi hùn làm ăn, chưa ăn được mà mất thì có nước tự tử!

Ông Thiên Thời rùng vai:

- Bao nhiêu đó thì ăn thua gì, bà về đây tui còn cho bà gấp chục lần nữa. Nhưng thôi, đem để trong tủ khóa lại đi, rồi ngủ một giấc, sáng mai tính.

Bà ta ôm kè kè cái giỏ, đưa vào tủ đứng cất, khóa lại cẩn thận, rồi nhét xâu chìa khóa vào trong lưng quần.

Suốt từ đó tới đêm, ông Thiên Thời hầu như không rời bà ta nửa bước, cũng không hỏi thăm hai cô con gái đi chơi đã về chưa.

Nửa đêm...

Bỗng dưng bà Hường choàng tỉnh bởi hình như bà vừa bị ai đó thọt léc vào nách. Bà bật ngồi dậy ngơ ngác hỏi:

- Ai làm gì vậy?

Bà nghĩ ông Thiên Thời ngọ ngoạy tay chân, nhưng khi nhìn sang, bà ta ngạc nhiên thấy ông đang nằm co dưới sàn, ngủ ngáy khò khò!

- Ông Thiên Thời, sao lại...

Bà hỏi chưa dứt lời thì chợt há hốc mồm khi nhìn ra cửa sổ phòng, nơi đó có một người đang ngồi vắt vẻo, quay lưng vô và hầu như chẳng để ý tới gì xung quanh. Hoảng quá, bà ta hỏi bằng giọng run run:

- Ai... ai vậy?

Người kia vẫn không quay lại, cũng không lên tiếng. Rồi bỗng dưng cả thân người nhảy ra phía ngoài!

- Kìa?

Bà Hường hốt hoảng chạy ra cửa nhìn xuống. Trước tầm mắt bà ta là một chàng trai trên dưới hai mươi tuổi, đang nằm sãi tay, bất động trên thảm cỏ.

- Ông Thiên Thời! Ông Thiên Thời!

Bà gọi đến mấy lần mà ông Thiên Thời vẫn nằm im, quýnh quá bà ta phải chạy lại lay ông, lúc đó mới phát hiện là người ông lạnh ngắt và hầu như hơi thở sắp tắt!

- Trời ơi!

Tiếng kêu của bà ta khá lớn, nên dẫu không muốn, nhưng Sáu Chi vẫn phải từ phòng mình chạy lên và lên tiếng:

- Cửa khóa làm sao tui vô được!

Bà ta phải bước tới mở chốt cửa vừa nói nhanh:

- Mày coi tiếp tao đỡ ổng lên giường. Không biết bị sao mà người lạnh như thây ma vầy nè!

Sáu Chi tiếp bà ta kéo ông chủ lên giường, cô nói nhanh:

- Ông lạnh là bị cảm gió rồi, để con đi lấy dầu.

- Khỏi, mày chạy ra cửa sổ coi ai nằm dưới kia kìa!

Sáu Chi quá đỗi ngạc nhiên, nên không kịp hỏi lại, đã bước tới cửa nhìn xuống và cô ngơ ngác hỏi:

- Có ai đâu?

Bà Hường gắt lên:

- Mắt mày đui sao không thấy, có thằng nào nằm đó, tao mới thấy nó té từ trên này xuống đó!

- Làm gì có?

Không thèm để ý việc ông Thiên Thời đang ưỡn người lên, có dấu hiệu bất thường, bà ta chạy lại cửa sổ nhìn xuống và kinh ngạc.

- Nó mới nằm đó mà? Nó... là ai vậy?

Sáu Chi bực mình:

- Con không thấy thì làm sao biết?

Bà ta gắt lên:

- Tao muốn hỏi trong nhà này có đàn ông nào khác không?

Sáu Chi đáp nhát gừng:

- Không có!

- Ủa... như vậy chẳng lẽ...

Bà ta chợt hốt hoảng nói to:

- Có khi nào...

Bà vừa chạy tới bên tủ áo, vừa run run tra chìa khóa vào mở tủ. Rồi giọng bà ta thất thanh:

- Trời ơi... của cải của tôi!

Trước mắt bà cái túi đựng mấy trăm lượng vàng đã không còn ở chỗ cũ! Bà xốc tung quần áo trong đó lên và kéo cả hộc tủ nhỏ bên trong ra. Vẫn chẳng thấy gì. Số vàng đã không cánh mà bay!

- Thằng đó lấy!

Bà ta tuôn chạy ra ngoài, vòng ra ngoài cửa sổ, chỗ bà thấy chàng trai nằm lúc nãy. Chẳng hề có một dấu vết gì chứng tỏ là vừa có người té xuống. Nhìn quanh cũng chẳng thấy bóng ai.

- Trời ơi!

Bà ta cứ luôn miệng kêu trời và cuối cùng chạy trở lên phòng ngủ. Không nhìn thấy Sáu Chi ở đó, bà gào to:

- Con gì đó, mày vô đây tao hỏi coi!

Phải một lúc sau Sáu Chi mới trở lên. Cô hỏi:

- Bà cần gì con?

Bao nhiêu bực dọc bà ta đổ lên đầu cô gái:

- Vàng của tao đâu? Tụi bây lấy hết của tao rồi phải không?

Sáu Chi hết nhịn nổi, cô phản ứng liền:

- Ai lấy gì của bà? Bà ăn nói lung tung kiểu đó tui không nhịn à nghen!

Bà ta vẫn bù lu bù loa:

- Quân ăn cướp, tụi bây không ăn dộng được của tao đâu, tao giết,..

Bà lao tới như mụ điên, Sáu Chi buộc phải vừa né tránh vừa kêu cứu:

- Cô Hai cô Ba ơi, bà ta giết tui!

Nguyệt Ánh và Lan Anh thề với lòng là sẽ không gặp mặt bà ta nữa, nhưng khi nghe Sáu Chi la hét, họ cùng chạy lên. Nguyệt Ánh hỏi trước:

- Chị bị sao vậy chị Sáu?

Sáu Chi chưa kịp nói thì mụ Hường đã gầm lên:

- Cả hai đứa mày nữa, tụi bây lấy vàng của tao thì mau trả lại đây!

Lan Anh vốn ngang bướng, đã phản ứng liền:

- Bà kia, bà giở trò gì đây hả? Bà tưởng chị em tui sợ bà sao chớ! Bà...

Vừa khi ấy họ nhìn thấy ông Thiên Thời nằm như chết trên giường thì hốt hoảng:

- Ba sao vậy? Ba ơi...

Họ quên hết mọi chuyện, cùng lao vào phòng. Nguyệt Ánh sờ vào người cha, cô hét lên:

- Ai làm gì ba, trời ơi! Mụ ta phải không?

Lan Anh xốc nổi hơn, cô la làng chói lói:

- Người ta giết ba tôi rồi, bớ bà con ơi!

Mụ Hường lúc này chứng tỏ mình là một con người đáo để, mụ ta cũng la to hơn:

- Bớ thiên hạ ơi, tụi nó ăn cắp tiền vàng của tôi! Đồ quân ăn cướp, đồ ác nhơn!

Tiếng kêu la của họ vang vọng ra tận bên ngoài, tuy nhiên xưa nay chuyện xảy ra trong ngôi nhà giàu này ít khi được láng giềng can thiệp, bởi vậy mặc cho họ la, thật lâu sau vẫn không có người tới. Tài xế lái xe cho ông Thiên Thời thì tối về nhà riêng ngủ, phải sáng hôm sau mới đi làm.

Thấy kêu la chẳng có kết quả gì, mụ Hường xoay qua tru tréo kiểu khác:

- Tụi bây ỷ đông chống lại tao phải không? Nhưng bây nên nhớ, em tao là lính kín của Tây, chỉ cần tao báo cho nó biết tức thì nó gông cổ tụi bây lại hết cho biết tay!

Lan Anh không vừa:

- Không làm chuyện gì bậy thì sợ gì lính kín hay lính hở, hổng ai sợ bà đâu!

Bà ta trở lại tủ áo, lấy ra gói vải đựng vàng bị mất lúc nãy, giũ tung nó ra làm bằng chứng:

- Vàng tao mới để trong này, tụi bây không lấy thì ai vô đây lấy? Cái thằng con trai lúc nãy trèo cửa sổ vô, thấy tao bỏ chạy, nhảy xuống đất suýt chết, đúng là đồng bọn với tụi bây rồi! Nó... nó...

Nói tới đây bỗng dưng mụ ta giật mình, khi thấy từ trong túi vải rơi ra một vật. Đó là chiếc đồng hồ đeo tay hiệu Telda.

Mụ ta ngơ ngác:

- Cái này... đâu phải của tao?

Nguyệt Ánh thì kêu lên:

- Cái này... mụ lấy ở đâu ra?

Cô cúi xuống nhặt lên và nhận biết ngay:

- Của Hiếu mà!

Lan Anh cũng nói:

- Vật này do chị tặng cho anh Hiếu hồi ảnh đi học ở Sài Gòn mà! Từ lâu ảnh vẫn đeo, sao bây giờ nó lại ở đây? Phải chăng...

Rồi chợt nghĩ ra, Lan Anh chỉ vào mặt bà ta hỏi lớn:

- Bà ăn cắp vật này ở đâu?

Mụ Hường không ngờ mình bị phản pháo khá bất ngờ, nhưng vốn là người đầy kinh nghiệm và gian xảo, nên mụ ta lấy lại bình tĩnh liền:

- Đúng là giữa tụi bây và thằng ăn trộm vừa rồi có thông đồng với nhau rồi! Hãy nói mau, nó té bị thương nặng rồi được tụi bây đem giấu ở đâu?

Nguyệt Ánh hoảng hốt:

- Bà làm gì anh ấy phải không?

Câu hỏi của Nguyệt Ánh vô tình như xác nhận chàng trai kia có liên hệ với mình, nên bị mụ Hường chụp lấy:

- Nó là người yêu của mày phải không? Giấu nó ở đâu nói mau, đừng để tao truy ra thì lúc đó có lạy tao, tao cũng không tha!

Nghe bà ta nói người nào đó té trọng thương, Nguyệt Ánh quá sức lo lắng:

- Bà đã làm gì người ta rồi? Tôi sẽ ăn thua đủ với bà...

Sáu Chi chen vào nói:

- Chưa biết người kia là ai, cô đừng để mắc mưu bà ta.

Lan Anh cũng nói:

- Chắc gì đó là anh Hiếu. Em nghĩ mụ này đã lấy cắp cái đồng hồ này ở chỗ nào đó, mình phải bắt mụ ta khai ra ngay!

Cô quay sang mụ ta, gằn giọng:

- Bà tưởng cả vú lấp miệng em được hả! Tui sẽ bắt bà phải nói ra...

Cô thuận tay chụp lấy cây gài cửa, đưa cao nhắm vào bà ta:

- Bà nói ngay không, lấy vật này ở đâu? Bà không nói tui đập một cây này thì chết không kịp trối đâu!

Bà ta lùi một bước, nhưng miệng vẫn tru tréo:

- Mày tính giết người diệt khẩu phải không! Tao nói cho mà biết...

Mụ ta bất thần chụp lấy con dao rọc giấy trên bàn và lao nhanh về phía ông Thiên Thời, vừa quát:

- Tụi bây mà áp đảo tao, thì thằng cha tụi bây sẽ không thoát chết đâu!

Nguyệt Ánh ngăn em mình:

- Từ từ đã...

Thấy kế sách này có hiệu quả, mụ Hường lại làm tới:

- Tụi bây không khai ra vụ ăn cắp vàng thì tao sẽ làm thịt thằng cha tụi bây ngay bây giờ!

Mụ ta đưa tay lên cao, như sắp vung dao đâm xuống, bỗng lúc đó mụ thét lên một tiếng:

- Trời ơi!

Rồi ngã ngửa ra phía sau, con dao rớt xuống sàn nhà. Từ khóe miệng mụ ta tuôn ra hai dòng máu...
Sự đời cà khịa cái chơi
Khi vui muốn khóc, khi cười buồn tênh!
0
Phần 2

Mặc dù không tìm thấy dấu vết gì của Hiếu, nhưng những gì mụ Hường nói đã khiến cho Nguyệt Ánh hoang mang. Cô thức suốt đêm để suy nghĩ mà cũng chẳng làm sao hiểu được tại sao Hiếu lại đột nhập vào nhà làm gì, để đến nỗi phải nhảy lầu? Hiếu xưa nay là một chàng trai hiền lành, đứng đắn, từ khi yêu cô đến bây giờ đã hơn ba năm mà chưa một lần dám tới nhà và cũng chưa bao giờ anh đòi hỏi bất cứ điều gì sằng bậy, chứ đừng nói là chuyện lén lút tới nhà và trèo tường lên phòng ngủ như thế này. Nhưng tại sao chiếc đồng hồ, kỷ vật riêng mà lúc nào Hiếu cũng đeo dính trên tay, lý do nào lại ở trong phòng của ông Thiên Thời, nếu không do chính Hiếu mang tới và vô tình đánh rơi lại. Như vậy vụ mất vàng gì đó mà mụ Hường nói là có thật và Hiếu là người... đã gây ra?

Chính điều nghi ngờ này đã khiến cho Nguyệt Ánh quyết định phải đi tìm Hiếu cho bằng được. Mặc dù cả nhà Hiếu đã chuyển về một tỉnh khác, chớ không còn ở chung huyện với Nguyệt Ánh như trước kia, nhưng một khi đã quyết rồi thì cô nhất định đi cho bằng được, mặc cho sức khỏe của ông Thiên Thời vẫn chưa có dấu hiệu gì khả quan hơn. Phải mất gần một buổi Nguyệt Ánh mới tìm ra nơi cư ngụ của cha mẹ Hiếu, mà cô hy vọng là Hiếu có về đây, bởi hằng năm vào thời điểm này Hiếu vẫn thường về chơi trong mấy tháng nghỉ hè và đã nhiều lần Hiếu đã tìm sang chỗ hẹn ước của hai người để gặp nhau.

Do giữa Hiếu và cô yêu nhau lén lút, cha mẹ hai bên chưa biết, nên khi Nguyệt Ánh xuất hiện trước cửa nhà Hiếu thì người đàn bà đang quét sân nhìn khách với vẻ xa lạ, ngạc nhiên:

- Cô kiếm ai?

- Dạ, con muốn hỏi thăm nhà của bác giáo? Bác có phải là...

- Tui là vợ giáo Chấn, cô kiếm ông giáo nhà tui có chuyện chi không?

Nguyệt Ánh mừng rơn:

- Dạ, con chào bác giáo. Con muốn hỏi có anh Hiếu ở nhà không?

Bà già nhìn sững cô gái vừa hỏi tên con mình mà như nhìn một vật thể lạ nào đó. Bà hơi run giọng hỏi lại:

- Cô... cô là gì của con tôi? Bao lâu rồi cô không gặp nó?

Nguyệt Ánh thật thà:

- Dạ, hơn sáu tháng rồi bác ạ.

Bà già thở hắt ra:

- Thảo nào!

Rồi bà bỗng nghẹn ngào:

- Cô tới quá trễ rồi!

Nguyệt Ánh hoảng hốt:

- Bác nói sao? Có chuyện gì vậy?

Bà già quay bước vào nhà, nói với lại:

- Cô vô đây.

Mời Nguyệt Ánh ngồi ở bộ ván gỗ ngoài hàng hiên, bà hỏi lại:

- Cô quen sao với thằng Hiếu?

Nguyệt Ánh hơi lúng túng:

- Dạ... tụi con... là bạn thân. Con và Hiếu...

Hiểu ra, bà thở dài:

- Có phải cô tên là Nguyệt Ánh không?

- Dạ, chính con là Nguyệt Ánh. Trước kia con học chung trường với anh Hiếu, nhưng dưới hai lớp, chúng con...

Bà chận lời:

- Tui hiểu rồi. Có lần Hiếu nó nói bóng gió về chuyện này và nói rằng khi nào lấy vợ thì nó chỉ lấy người bạn quen lâu năm mà thôi, không lấy người nào khác.

Nguyệt Ánh xúc động:

- Dạ... con hiểu lòng dạ anh Hiếu. Hè này con định yêu cầu anh Hiếu dẫn về ra mắt bác và cả ba con bên nhà nữa. Anh Hiếu có hứa với con.

Bà già bỗng òa lên khóc nức nở, khiến cho Nguyệt Ánh ngơ ngác:

- Thưa bác... có chuyện gì vậy?

Bà đứng lên bước vào nhà trong rồi đưa tay chỉ lên bàn thờ:

- Nó ở trên đó chờ con lâu nay!

Nguyệt Ánh trợn tròn hai mắt, chết sững giây lâu rồi mới thốt nên lời:

- Bác... bác nói gì? Anh Hiếu... Hiếu sao vậy?

- Nó chết rồi, trong một tai nạn xe hơi cách đây hai tháng. Do nó không nói nên bác đâu có biết cháu ở đâu mà tìm để báo tin. Bởi vậy suốt hai tháng nay nó cứ về hoài, đòi phải đi tìm cháu mà bác biết tìm ở đâu. Bác biết tên cháu là do vậy.

Nguyệt Ánh tưởng đâu trời sập trên đầu, cô gào lên:

- Trời ơi, anh Hiếu!

Rồi cô ngất xỉu. Bà mẹ Hiếu phải đỡ cô lên ghế. Mãi một lúc sau Nguyệt Ánh mới tỉnh lại, cô không tin đó là sự thật, lay tay bà mẹ Hiếu hỏi lại:

- Có thiệt không bác?

Không đợi câu trả lời, Nguyệt Ánh chạy tới bên bàn thờ, chụp lấy bức ảnh thờ của Hiếu và gào lên:

- Tại sao thế này hả anh Hiếu? Tại sao anh không giữ lời với em mà bỏ đi một mình!

Giọng bà mẹ Hiếu vẫn trong nước mắt:

- Nó chết oan nên hồn phách cứ lẩn quẩn quanh đây. Bữa nay cháu tới đây là may mắn cho nhà bác. Con hãy thắp cho nó nén nhang để vong hồn nó yên ổn ở suối vàng...

Nguyệt Ánh đốt nhang mà hai tay run run. Bất chợt, cô thốt lên khiến bà mẹ Hiếu giật mình:

- Anh ấy đã tới nhà tìm con!

- Hồi nào?

- Dạ, mới đêm qua.

Cô kể lại chuyện xảy ra ở nhà, nhưng giấu không nói tới vụ bà Hường mất vàng. Tuy nhiên lúc ấy bà già vụt nói:

- Tối qua có cái này để trên bàn thờ, cháu xem coi nó viết cho ai?

Đó là một mảnh giấy với mấy chữ viết vội:

"Nó sẽ giúp cho em nhiều trong những ngày sắp tới. Hãy thường xuyên ra thăm mộ mẹ em."

Nguyệt Ánh lẩm bẩm:

- Anh Hiếu viết cho mình...

Bà mẹ Hiếu không hiểu nên hỏi lại:

- Nó dặn vậy là sao?

Nguyệt Ánh lắc đầu:

- Con cũng chưa biết. Nhưng đúng là Hiếu dặn dò con điều gì đó...

Nguyệt Ánh nhớ lại lời của Sáu Chi kể về việc gặp chàng trai đặt bó hoa cẩm chướng trên đầu mộ của mẹ, cô vụt nói:

- Đúng là anh ấy rồi! Và ngôi mộ...

Cô vội chào bà mẹ Hiếu, xong đi nhanh về nhà. Từ đó về nhà có hơn sáu chục cây số, lại đi bằng phương tiện trung chuyển mấy lượt, nhưng vì sốt ruột nên Nguyệt Ánh vẫn cương quyết đi. Mãi đến hơn mười giờ đêm cô mới về tới.

Khi vừa bước vô nhà thì đã thấy Lan Anh cùng Sáu Chi ra đón ở cửa, Nguyệt Ánh ngạc nhiên:

- Sao hai người biết tui về giờ này?

Sáu Chi chưa kịp trả lời thì Lan Anh đã nói:

- Em đang ngủ thì nghe như có ai gọi tên mình, biểu ra đón chị và cùng nhau ra mộ của má!

Nguyệt Ánh ngạc nhiên:

- Ra ngoài mộ giờ này làm gì?

- Em hổng biết, nhưng có ai đó gọi như vậy. Giọng của đàn ông!

Nguyệt Ánh giọng buồn hiu:

- Là của Hiếu đó.

Lan Anh sửng sốt:

- Anh Hiếu... sao rồi?

Nguyệt Ánh buông thõng:

- Anh ấy chết rồi!

- Trời ơi!

Lan Anh kêu lên rồi sững sờ nhìn chị mình. Sáu Chi cũng bàng hoàng hỏi:

- Sao chết vậy?

- Bị tai nạn.

Thuật sơ lại chuyện biết được bên nhà Hiếu cho em gái nghe, Lan Anh vụt nói:

- Có thể ở ngoài mộ mẹ có điều gì đó!

Sáu Chi giục:

- Mình ra ngoài đó coi thử!

Nguyệt Ánh hỏi về cha:

- Ba sao rồi?

Sáu Chi đáp thay:

- Ông chủ không sao, nhưng vẫn mê man. Thỉnh thoảng ông có tỉnh lại, nhưng không nói gì hết, chỉ rưng rưng nước mắt rồi lại lịm đi...

Nguyệt Ánh thở dài, trong khi Lan Anh nói oang oang:

- Em nghi mụ ác nhơn đã làm gì đó khiến ba ra nông nỗi như vậy!

Sợ giọng nói của Lan Anh quá lớn khiến mụ Hường trong nhà nghe được, nên Nguyệt Ánh ra dấu cho em nhỏ lại và bảo khẽ:

- Mình sẽ tính sau, bây giờ ra ngoài mộ đã.

Lúc này đã nửa đêm, trời không trăng nên tối mò, nhìn cách vài thước trước mặt không thấy gì. Cũng may cả ba người đã quá quen thuộc khu vườn của mình nên đi không khó khăn lắm. Lát sau họ đã tiến gần tới ngôi mộ. Chợt Sáu Chi nói khẽ:

- Hình như có ai kìa!

Theo tay chỉ của Sáu Chi, chị em Nguyệt Ánh nhìn theo và phát hiện có hai bóng người đang lom khom trước đầu mộ. Lúc ấy có giọng nói của nữ từ phía hai người kia phát ra:

- Làm nhanh đi kẻo tụi nó phát hiện!

Một giọng đàn ông tiếp theo:

- Giờ này chắc họ ngủ say hết rồi, ai mà biết.
 
- Con chị lớn thì đi rồi, chỉ có con nhỏ và đứa ở còn lại ở nhà, nhưng hồi chiều tui đã bỏ thuốc mê vô lu nước uống, tụi nó ăn cơm rồi uống nước đó, chắc chắn là sẽ ngủ tới sáng cũng chưa dậy nổi!

- Giỏi! Bà giỏi lắm. Có như vậy mới không uổng công tui đi thỉnh bùa tận bên Miên về và chịu cực đào mồ vào giờ này chớ!

- Có vậy tui mới... thương!

Giọng đàn ông có vẻ hờn dỗi:

- Thương mà về ở với thằng già Thiên Thời ấy. Tui nói thiệt, nếu bà không ngăn thì hôm nó lên Sài Gòn rước bà, tui đã cho đàn em làm thịt nó rồi!

- Cái đầu ông đặc sệt, không nghĩ ngợi sâu xa gì hết! Tui không làm như vậy thì làm sao chiếm cái sản nghiệp này được! Chỉ tiếc một điều là ta chưa kịp ra tay thì đã mất mấy trăm lượng vàng rồi. Phen này tui quyết phải lấy lại gấp chục lần cho coi!

- Chính vụ mất vàng này sẽ có lợi cho bà nhiều hơn. Người ta sẽ hiểu là trước khi về đây bà cũng có nhiều tiền của và đến khi lão già Thiên Thời mà chết rồi thì việc bà chiếm gia sản này sẽ không ai dị nghị. Họ nói sao được khi bà cũng đã hy sinh một số tiền lớn rồi! Buông con tép ta sẽ bắt được con tôm càng bà ơi!

Vừa nói chuyện họ vừa ra sức đào, cuốc cật lực. Lan Anh hốt hoảng:

- Họ đào mộ của mẹ kìa!

Nguyệt Ánh tuy có bình tĩnh hơn, nhưng cô cũng bắt đầu nóng mặt, hỏi Sáu Chi:

- Họ làm gì vậy?

Sáu Chi chưa kịp đáp thì đã nghe giọng của người đàn bà nói nhanh:

- Đặt nó xuống đi!

- Ừ, tui đặt liền!

Chẳng hiểu họ đặt vật gì, mà hình như chỉ đặt cạnh đầu mộ thôi chớ không đào sâu xuống mộ huyệt.

Một vài giây sau đó nghe giọng tên đàn ông:

- Xong rồi. Bây giờ thì chính cái hồn ma của con mụ dưới mồ này sẽ hiện về bóp cổ thằng chồng già của nó, mình không cần ra tay!

Mụ kia hỏi nghe rất rõ:

- Ông liệu bùa này có linh nghiệm không đó? Tui chỉ muốn thằng chả chết cho nhanh, rồi tới phiên mấy đứa con của lão nữa, chớ còn để chúng nó sống ngày nào thì tui không yên.

- Bà yên tâm, bùa này ở bên Miên người ta sùng bái, chỉ cần chôn nó xuống đầu mộ trong vòng hai mươi bốn giờ là sẽ phát huy tác dụng. Vong hồn con mụ này sẽ hiện về và bắt luôn cả chồng con nó đi một lượt. Bảo đảm hiệu quả sẽ làm bà không thể ngờ!

Lan Anh không kiềm chế được, suýt la lên, cũng may là Sáu Chi bụm miệng cô bé lại kịp.

Nguyệt Ánh nói khẽ:

- Mụ này còn hơn rắn độc nữa! Mình phải làm sao, chớ không khéo sẽ chết dưới tay mụ ta mất.

Đằng kia sau khi thực hiện xong mưu đồ, cả hai đứng lên. Lúc này Nguyệt Ánh đã nhìn rõ được mặt người đàn ông, cô kinh ngạc:

- Ông Sĩ tài xế!

Cả Lan Anh và Sáu Chi cũng đã nhận ra. Sáu Chi quá đỗi ngạc nhiên:

- Sao lại là ông ta? Người này lâu nay trung thành với ông chủ lắm mà?

Lan Anh quá tức, cô vụt chạy tới định lật mặt hai con người xảo trá đó. Nhưng lạ làm sao, khi cô vừa nhấc chân lên thì như có ai kéo lại, không nhúc nhích được. Cả Nguyệt Ánh cũng thế, cô chẳng làm sao cử động được, đành phải đứng im. Trong khi đó thì mụ Hường và tài xế Sĩ ung dung rời khỏi hiện trường. Họ vừa đi vừa nói huyên thuyên đủ thứ chuyện.

Cho đến khi họ đi khá xa rồi chị em Nguyệt Ánh mới nhấc chân lên được, nhưng Sáu Chi đã khuyên:

- Đừng đuổi theo làm gì, mình phải coi họ chôn cái gì ở mộ của bà cái đã.

Sáu Chi giúp hai cô chủ nhỏ bới chỗ đất vừa bị đào lên ở đầu mộ và họ ngạc nhiên khi moi lên được một pho tượng bằng gỗ, đẽo và chạm khắc giống y cái hình người. Dẫu trong bóng tối lờ mờ, nhưng vừa thoạt trông thấy, chị em Nguyệt Ánh đã kêu lên:

- Hình nhân của mẹ!

Sáu Chi hiểu chuyện, cô khuyên:

- Pho tượng này đã bị yểm bùa, cô không nên giữ trong người.

Nguyệt Ánh lo lắng:

- Nhưng lúc nãy họ nói đó, cái này họ dùng để trấn yểm làm cho vong hồn mẹ bị sai khiến để về giết ba và tụi em. Vậy mình phải làm sao đây!

Đã từng nghe nói về những pho tượng tà ma, nên Sáu Chi bàn:

- Muốn hủy hoặc vô hiệu hóa bức tượng này chỉ có mấy ông thầy cao tay ấn, hoặc...

Thấy Sáu Chi ngập ngừng, Lan Anh giục:

- Chị Sáu nghĩ cách gì đi chớ, chẳng lẽ để cho mẹ bị... hay sao!

Sáu Chi nghĩ rất nhanh:

- Chị nghĩ ra rồi, Lan Anh đưa vật đó cho chị!

Cô cầm lấy pho tượng gỗ chạy bay tới ao nước dơ ở cuối vườn, nơi hằng ngày lũ heo, bò thường trầm mình và phóng uế. Chẳng chần chừ Sáu Chi ném ngay pho tượng xuống đó! Một tiếng rú vang lên từ ao nước, khiến cho chị em Nguyệt Ánh hốt hoảng chạy bay tới, họ ngơ ngác hỏi:

- Chuyện gì vậy chị Sáu?

Sáu Chi lắc đầu:

- Chị không biết, nhưng chắc chẳng phải là điều xấu. Hai cô coi kìa.

Từ dưới lớp bùn có một ngọn lửa xanh lặc lè lóe lên, rồi thật nhanh, ngọn lửa bay lên cao, biến mất dạng trong bóng đêm. Sáu Chi chấp tay vái theo hướng đó:

- Hồn bà có thiêng thì xin phù hộ cho ông và hai cô tai qua nạn khỏi.

Lan Anh bị kích động nên nói giọng run run:

- Không lẽ mẹ mình để cho họ biến thành... ma hay sao?

Nguyệt Ánh định nói, nhưng cô chưa kịp mở miệng thì bên tai đã nghe có tiếng của ai đó rất khẽ:

- Cứ làm như không hay biết, rồi sẽ ổn thôi...

Nguyệt Ánh kêu lên:

- Hiếu! Anh ở đâu?

Giọng nói kia là của Hiếu. Nhưng khi Nguyệt Ánh hỏi thì lại im bặt. Lan Anh sợ sệt hỏi:

- Bộ... anh Hiếu thành ma hả?

- Không, chính anh ấy đã giúp chúng ta khám phá ra hành động mờ ám này của mụ Hường và tên tài xế khốn kiếp!

Sáu Chi nhận xét:

- Theo những gì mình nghe và thấy được thì giữa bà Hường và ông tài xế đã có sự thông đồng với nhau.

Lan Anh rít lên:

- Đúng là nuôi ong tay áo mà!

Nguyệt Ánh nhớ lại:

- Hèn gì có lúc thấy chú Sĩ cứ rù rì chuyện gì đó với ba, rồi chở ba đi Sài Gòn có khi mấy tuần mới về. Thì ra chú ấy âm mưu bán đứng ba đã từ lâu rồi.

Lan Anh được dịp đay nghiến:

- Lâu nay em đã không ưa cái tay đó, người gì có cặp mắt gian xảo thấy rõ, vậy mà ba cũng tin.
 
Chợt nhớ ra, Nguyệt Ánh hối mọi người:

- Ta trở lại mộ của mẹ đi, coi lời dặn của Hiếu còn có gì nữa không.

Họ trở lại và ngạc nhiên khi nhìn thấy một bó hoa cẩm chướng còn tươi, nằm trên đầu mộ.

Nguyệt Ánh nói:

- Hoa này lúc còn sống mẹ rất thích. Cả ba cũng không biết cái sở thích này, chỉ có tui biết do được mẹ kể. Lúc còn con gái mẹ thường được một người con trai tặng cho loài hoa này...

Sáu Chi cũng nói:

- Bữa trước tui cũng gặp loài hoa này trên mộ. Chắc hai lần chỉ là do một người. Nhưng lạ quá, họ xuất hiện và biến mất quá nhanh, chỉ mới đây thôi.

Nguyệt Ánh lẩm bẩm:

- Chẳng lẽ là Hiếu?

Cô nhớ những lời Hiếu viết trong giấy và thầm khấn rằng:

- Nếu là anh thì hãy làm gì đó cho em tin.

Lời khấn thầm của Nguyệt Ánh vừa dứt thì bỗng nhiên bó hoa vút bay lên cao, rồi rơi xuống đúng ngay trước mặt cô. Nguyệt Ánh run lên:

- Đúng là Hiếu rồi!

Cô nhặt bó hoa lên và nói với Sáu Chi:

- Chị với Lan Anh vô nhà xem cha thế nào, đưa ông qua phòng của tụi em nằm đỡ cho tới sáng. Còn em thì ở đây có chút việc...

Khi Sáu Chi và Lan Anh trở vô nhà, vừa bước vào phòng thì tá hỏa:

- Ông chủ đâu rồi cô Ba?

Lan Anh hốt hoảng khi không thấy cha mình nằm trên giường:

- Họ đã làm gì ba em rồi?
 
***

Trong khi đó, ở một chợ quê cách nhà ông Thiên Thời khoảng hơn mười cây số, mụ Hường và tài xế Sĩ đang có mặt.

Mụ Hường bực bội ra mặt khi phải ở trong một ngôi nhà tồi tàn. Mụ càu nhàu:

- Bộ hết chỗ rồi sao đưa tôi tới ở chỗ này? Dơ dáy lại muỗi mòng nữa, chịu sao nổi!

Tài xế Sĩ an ủi:

- Ở dơ vài bữa thôi, khi nào đạo bùa linh ứng thì mình trở về và tha hồ mà sung sướng!

- Sao ông nói bùa chỉ cần chôn xuống thì sẽ linh ứng ngay mà từ đêm qua tới giờ không thấy gì hết?

- Sao bà biết là không có gì? Nó sẽ hiển linh lên cha con họ, chớ đâu có đụng tới chúng ta.

Tài xế Sĩ đứng dậy, nhìn bóng mặt trời rồi nói:

- Bà ráng ở trong nhà, đừng ló ra ngoài, để tôi ra chợ nghe ngóng tin tức ở nhà lão Thiên Thời xem sao.

- Nhớ mua về cho tui dĩa cơm sườn. Đói quá trời rồi!

Tài xế Sĩ xua tay:

- Để tui mua đỡ cho bà khúc bánh mì ăn lót dạ được rồi. Đâu có tô, dĩa gì mà mua cơm. Vả lại mua cơm đem về sẽ gây sự chú ý cho người chung quanh đây.

Hắn ta đi khá lâu. Khi trở về với vẻ lo lắng:

- Chẳng hiểu sao lão Thiên Thời đã biến mất, không có ở nhà!

Mụ Hường ngơ ngác:

- Biến đi đâu? Lúc mình đi lão ta còn nằm trên giường và tui đã khóa cửa lại cẩn thận mà.

- Tui mới nghe mấy tay đạp xe lôi truyền miệng nhau là nhà ông chủ Thiên Thời đang rộn lên vì chuyện ông ta bỗng dưng mất tích. Họ đã báo làng lính chia nhau đi tìm. Cầu trời cho họ đừng nghi chúng ta gây ra.

Vẫn quen thói đanh đá, chanh chua, mụ Hường lớn tiếng:

- Cũng tại ông hết, khi không ai biểu trốn ra khỏi nhà chi cho họ nghi! Mình ở nhà và chờ kết quả đến có phải hay hơn không?

Tài xế Sĩ đưa tay chận ngang miệng mụ ta và nói rất khẽ:

- Bà biết một mà không biết mười. Nếu chúng ta ở nhà thì khi xảy ra vụ vong hồn vợ lão ra tay thì liệu nó có tha cho mình không, hay là mụ ta sẽ diệt luôn bà và tui nữa?

Mụ Hường rên rỉ:

- Bây giờ rối rắm thêm nữa rồi. Ông liệu có cách nào trở về được không?

Tài xế Sĩ trấn an:

- Chưa biết lão ấy mất tích do dâu, nhưng cứ cho là do mụ vợ gây ra, như vậy không phải là mình sắp đắc lợi rồi hay sao!

Tuy vậy mụ Hường vẫn lo ngay ngáy trong lòng. Mụ bảo tài xế Sĩ:

- Ông giả vờ như không biết gì, quay về nhà thám thính xem hư thực thế nào? Có ai hỏi ông đi đâu thì nói là bị bệnh bất ngờ nên phải đi nhà thương, giờ mới trở về. Trong lúc đó ông tìm cách tung tin là cả tui cũng bị mất tích nữa, để họ không nghi ngờ.

Thấy tài xế Sĩ còn do dự, mụ đốc thêm:

- Đâu có ai hay biết vụ ông cấu kết với tui. Vả lại ông là người thân cận của ông Thiên Thời, nên chắc chắn hiện giờ họ đang cần ông hơn ai hết. Cứ nghe tui về đi.

Tài xế Sĩ trở về và thở phào nhẹ nhõm khi thấy mọi người trong nhà đều mừng rỡ. Nhất là Sáu Chi, cô ta reo lên:

- Cả nhà đang đợi anh tới để đi tìm ông chủ.

Nguyệt Ánh bấm Lan Anh, không cho nói và nhẹ nhàng bảo tài xế Sĩ:

- Chú Sĩ có biết thường khi ba em đi đâu, ghé nơi nào không? Nếu biết thì chú lái xe đi tìm ba em giùm. Tụi em nghi trong lúc không có ai ở nhà thì ba tỉnh lại, rồi trong lúc đầu óc không tỉnh táo, ba đã đi tới nơi nào đó.

Tài xế Sĩ nhân cơ hội nói theo ý của mụ Hường:

- Tui nghi chắc là có điều gì đó bất ổn cho cả ông chủ và bà Hường nữa. Thôi, được rồi, tui sẽ lái xe đi tìm. Nhưng ở nhà nếu có chuyện gì thì các cô cũng đừng hoảng loạn, cứ đóng cửa lại, ở trong nhà chờ tui về.

Khi anh ta lái xe đi rồi Lan Anh mới gầm lên:

- Đồ giả nhân giả nghĩa! Em nghi chính nó và mụ kia đã thủ tiêu ba chớ không ai vô đây!

Sáu Chi trấn an:

- Sở dĩ tui biểu ông ta lái xe đi là để tiện việc mình theo dõi coi ông ta tới đâu. Chiếc xe này ở tỉnh mình chỉ có ba chiếc, mà hai chiếc kia đều thuộc mấy nhà giàu khác, họ thường đậu xe trước cửa nhà. Bây giờ mình chỉ việc lần theo để hỏi thăm thì người ta sẽ chỉ nơi nào hắn ta lái xe tới.

Lan Anh tiếc rẻ nói:

- Phải biết vậy lúc nãy em chui vô cốp xe để theo dõi hắn!

Nguyệt Ánh xua tay:

- Một mình ba gặp nạn chưa đủ sao, em còn muốn nạp mạng cho họ nữa à!

Sáu Chi trấn an:

- Theo tui thì mình cứ chờ ở nhà. Mình cấm cửa không cho mụ kia trở về, như vậy nếu lỡ ông chủ có mệnh hệ nào thì mình cũng giữ được tài sản này.

Lan Anh hưởng ứng liền:

- Mụ ấy mà dám vác mặt về đây là em la làng liền, em hô cho thiên hạ biết chính mụ ta đã hại ba!

Cuộc tính toán và chờ đợi của chị em họ cho đến chiều hôm đó vẫn không thấy gì. Cả đêm hôm đó cũng nặng nề trôi qua.

Sáng hôm sau khi trời vừa rạng sáng thì cả nhà đã giật mình khi nghe tiếng huyên náo ngoài cửa.

Khi Sáu Chi ra nhìn thì hốt hoảng báo tin:

- Làm gì mà làng lính đông quá hai cô ơi!

Nguyệt Ánh nhìn kỹ và càng ngạc nhiên hơn khi thấy có cả tài xế Sĩ trong số người đông đảo kia.

- Anh ta bị bắt hay sao vậy?

Nguyệt Ánh chưa tự giải đáp được thắc mắc thì Sáu Chi đâ kêu lên:

- Ông Sĩ dẫn lính về nhà đó!

Họ chưa kịp có phản ứng gì thì đã nghe giọng oang oang ngoài cổng:

- Mở cửa ra mau, sở mật thám tới khám nhà đây!

Do có chìa khóa riêng để lái xe ra, đem xe vào hàng ngày, nên tài xế Sĩ đã tự động mở cửa mời người đàn ông ra vẻ là cầm đầu toán lính mặc thường phục vào. Khi họ bước vô tới bậc thềm thì tài xế Sĩ kề tai Nguyệt Ánh nói nhỏ:

- Hai đứa đừng sợ, người này là em ruột của bà Hường, làm ở sở mật thám Tây trên Sài Gòn, họ về đây là chỉ để bắt người âm mưu hại ông chủ thôi!

Lan Anh nghe lỏm được, cô hỏi liền:

- Ai hại ba tui!

Chỉ tay sang Sáu Chi, tài xế Sĩ nói khẽ:

- Con này đây!

Lan Anh la lớn:

- Làm gì có chuyện đó!

Nguyệt Ánh cũng không còn giữ được bình tĩnh:

- Chú nói bậy gì vậy? Chị Sáu là người ở gần bên tụi này từ mấy bữa nay, làm gì có...

Tên cầm đầu nhóm lính, được gọi là thầy Ba Sung, dõng dạc lên tiếng:

- Nhân danh chính quyền bảo hộ Pháp, chúng tôi có lệnh bắt đối với bị can Trần Thị Chi, tức Sáu Chi về tội âm mưu bắt cóc người. Lệnh bắt được thi hành!

Hai tên lính kín nhào tới khóa tay Sáu Chi ngay, trước sự phản ứng dữ dội của Lan Anh:

- Sao lại bắt chị ấy? Ba tui đâu phải do chị Sáu bắt cóc, mà chắc chắn là do bà Hường gây ra rồi! Có bắt thì kiếm bà ta mà bắt!

Tên Ba Sung hất hàm cho đám thuộc hạ:

- Giải đi ngay!

Họ áp giải Sáu Chi ra xe rất nhanh và sẵn sàng dùng biện pháp mạnh để ngăn sự phản đối của chị em Nguyệt Ánh. Một tên đã xô ngã cả hai người rồi đóng cổng lại lập tức. Khi họ đi xa Lan Anh mới gào lên:

- Quân dã man, lũ côn đồ!

Nguyệt Ánh giờ hoang mang tột độ, cô chưa biết phải làm sao thì chợt nghe bên tai mình có một giọng nói ấm áp, quen thuộc rất khẽ, hình như chỉ mình cô nghe:

- Lên phòng thờ mẹ trên lầu, đốt ba cây nhang và chờ ở đó. Hai chị em không được đi ra ngoài.

- Anh Hiếu!

Nhìn quanh không thấy ai, Nguyệt Ánh kéo tay em đi:

- Đừng ở đây nữa!
 
***

Bọn thuộc hạ Ba Sung đưa Sáu Chi vào căn phòng tối, nằm biệt lập ở khuôn viên khá rộng.

Nơi đây chúng gọi là cát-sô Địa ngục. Một tên gọi là cai đội Ngô dằn mặt nạn nhân bằng hai cái tát thật mạnh, vừa đe dọa:

- Tao nói gì nghe nấy, cãi là coi như xong đời mày, nghe chưa!

Sáu Chi vốn ngang ngạnh, gan dạ, nên tuy bị hù dọa, cô vẫn hất hàm thách thức:

- Muốn giết thì cứ giết, chớ đừng hòng hù dọa. Tui không biết gì hết nên mấy người đừng tốn công vô ích!

Đội Ngô là một tên ác ôn, từng tra tấn dã man nhiều người dẫu họ không hề có tội, thành có tội, do sợ đòn roi nên khai đại. Hắn cười như ác quỷ:

- Mày cứng đầu, để coi sức chịu được tới đâu.

Hắn vừa định lấy dụng cụ tra tấn ra thì có lệnh của tên sếp, nên phải đi ngay. Không quên khóa cửa lại cẩn thận và dặn mấy tên cai ngục:

- Tụi bây không được cho con nhỏ trong này ăn uống, để tao về sẽ cho nó biết đá biết vàng!

Hắn gặp Ba Sung, tên này ra lệnh:

- Mày cùng với mấy tên nữa đi ngay xuống chợ Nhỏ rước bà chị tao. Đưa thẳng bà ta về nhà của lão Thiên Thời. Nếu có đứa nào chống đối thì bắt nhốt hết. Nếu cần thì có thể bắn hạ chúng tại chỗ, vu cho tội hoạt động chống đối!

- Dạ, em làm ngay!
Sự đời cà khịa cái chơi
Khi vui muốn khóc, khi cười buồn tênh!
0
Phần 3

Phải mất gần một đêm bọn Đội Ngô mới về tới Rạch Giá, từ đó chúng về vùng Chợ Nhỏ chỉ mất vài chục phút. Căn nhà tồi tàn mà mụ Hường đang cư ngụ đã được tài xế Sĩ chỉ dẫn cụ thể, nên bọn họ tìm ra không khó. Vốn đã có quen biết với mụ Hường trước đây, nên Đội Ngô tin chắc hắn sẽ rước bà này về không có gì trở ngại.

Vậy mà mọi việc lại ngoài dự tính của hắn. Khi mở khóa ngoài, đẩy cửa ngôi nhà vào thì Đội Ngô quá đỗi ngạc nhiên, bởi mụ đàn bà không có trong đó!

Bà ấy đi đâu được khi đúng như thằng cha Sĩ đã nói là cửa ngoài đã bị khóa, không ai bên ngoài vào được? Không lẽ bà ta tàng hình?

Đội Ngô tìm kiếm khắp nơi, cuối cùng phải tìm cách liên lạc về cho Ba Sung. Tên trùm lính kín này điên tiết lên, quát tháo om sòm trong ống nghe:

- Tụi bây về đây ngay!

Đội Ngô lại phải ngồi xe quay về ngay, mặc dù đã đi suốt đêm không ngủ rồi. Hắn về tới nơi thì nghe Ba Sung ra lệnh:

- Mày xuống lôi con nhỏ Sáu Chi lên đây!

Nghe lệnh, Đội Ngô đích thân xuống phòng giam biệt lập, mở cửa ra và đinh ninh là con nhỏ bị giam đã một ngày một đêm không cho ăn uống, chắc là đang nằm liệt một góc. Nhưng...

- Ủa, kìa!

Trước mặt hắn ta không phải là Sáu Chi, mà là... mụ Hường!

- Sao lại như vầy?

Mụ Hường đang nằm thiêm thiếp, khi nghe có tiếng người đã bật dậy, mụ ngơ ngác:

- Ai đây?

Khi nhận ra Đội Ngô, mụ ta mừng rơn:

- Dữ hôn, tới bây giờ tụi bây mới xuống cứu tao!

Đội Ngô hỏi lại:

- Sao bà lại ở đây?

Chưa biết việc mình nằm trong khám, mụ Hường bù lu bù loa:

- Thằng cha Sĩ biểu tao cứ ở đây, đợi chả lo giải quyết xong công việc thì trở lại rước, khiến tao chờ đến mỏi mòn, ăn mấy khúc bánh mì khô khốc nuốt nghẹn bản họng luôn. Mau đưa tao về Sài Gòn gặp thằng Ba Sung đi!

Đội Ngô chỉ tay ra ngoài:

- Thì đây là chỗ của ông Sung, chớ bà tưởng mình đang ở đâu?

Lúc này mụ ta mới ngạc nhiên:

- Sao tao lại ở đây? Mà sao chỗ này...

Đội Ngô đành phải nói thật:

- Đây là phòng giam. Khi bà vô đây có gặp con Sáu Chi không?

Mụ ta há hốc mồm:

- Tao bị nhốt vì tội gì?

Đội Ngô phải dài dòng giải thích mụ ta mới hiểu và vô cùng kinh ngạc:

- Sao lại có chuyện này?

Đội Ngô báo cho Ba Sung biết chuyện, hắn gầm lên:

- Đứa nào gan trời dám thả con Sáu Chi? Phải tra cho ra coi đứa nào làm chuyện này!

Tội nghiệp cho mấy tên cai ngục, hết thảy bọn chúng đều ngơ ngác, kêu trời:

- Tụi này đâu có biết gì! Chìa khóa phòng giam thì ông Đội giữ, tụi tui đâu đứa nào có chìa khác để mở thì làm sao thả người được. Còn chuyện bà này vô nằm trong đó tụi tui cũng không hay, chẳng hiểu sao...

Ba Sung cũng bứt đầu gãi tai, chẳng hiểu tại sao?

Tài xế Sĩ lo lắng:

- Tôi đã về nhà lão Thiên Thời rồi, con Sáu Chi không có ở đó. Chắc chắn là như vậy, bởi nhà đó tuy rộng lớn, nhưng không một nơi nào để con ấy trốn được. Vụ này ông Ba coi lại kỹ coi có ai trong đám lính của ông vì thấy con nhỏ có nhan sắc rồi đem giấu để... xài riêng không?

Ba Sung nuốt nước miếng một cách thèm thuồng.

- Con nhỏ ấy tui thấy cũng phải thèm, huống hồ là mấy thằng cốt đột kia. Tuy nhiên rõ ràng là không cách nào nó trốn khỏi trại giam được, ngoại trừ có cánh!

Mụ Hường còn lo lắng hơn:

- Con này tuy là đầy tớ trong nhà, nhưng nó khôn lanh nên tụi kia dựa vào nó. Nó bày vẽ mọi chuyện để hai con ranh con kia làm theo. Nó mất tích hay chết càng tốt, vì ta nhổ được cái gai độc. Nhưng tui lo là nó... còn sống và âm thầm giúp tụi kia!

Ba Sung gạt ngang:

- Chuyện ấy dứt khoát không có!

Anh ta quay sang hỏi Đội Ngô:

- Có tin tức gì của lão Thiên Thời không?

Đội Ngô lắc đầu:

- Dạ, tụi em đã cho dò la khắp nơi mà chẳng nghe tin tức gì. Lão ta tên đầy đủ có phải là Lý Thiên Thời không vậy!

Ba Sung bực mình gắt lên:

- Chưa cần phải biết rõ lý lịch lão ta đâu! Tìm được lão ta hay cái xác cũng được, tên họ tính sau!

Đội Ngô hạ thấp giọng:

- Nếu đúng lão ta tên ấy thì đã có mộ lão ta trong vườn nhà rồi. Tức lão ta đã chết!

Mụ Hường giật mình:

- Sao có chuyện đó được? Trong vườn nhà lão ta chỉ có ngôi mộ của con vợ lớn của hắn. Ở đó chỉ độc nhất có ngôi mộ đó thôi. Chính tôi với tài xế Sĩ đây đã tới đó...

Tài xế Sĩ cũng xác nhận:

- Đúng là như vậy. Chắc chắn không có ngôi mộ nào khác!

Đội Ngô quả quyết:

- Tối qua người của tui đã leo tường vào vườn và nhìn rõ ở đó có hai ngôi mộ. Một mộ cũ tên Lê Thị Kiểm, còn ngôi mộ mới là họ Lý như tui vừa nói.

Ba Sung cũng ngạc nhiên:

- Hay là lão ấy đã chết! Vậy thì ai chôn, không lẽ hai đứa con gái miệng còn hôi sữa đó?

Mụ Hường lẩm bẩm:

- Đúng là lão ta họ Lý, nhưng không lẽ...

Mụ quay sang tài xế Sĩ:

- Hay là... đạo bùa đã linh ứng? Như vậy... cả mấy đứa nhỏ cũng đã...

Tài xế Sĩ vỗ đùi đánh đét một cái:

- Đúng rồi! Vậy mà qua nay nghĩ không ra! Vong hồn mụ vợ hắn đã làm theo sự sai khiến của đạo bùa và cả nhà ấy đã bị mụ ta bắt theo hết rồi!

Anh ta mừng quá nên quay sang ôm chầm lấy mụ Hường mà không cần giữ gìn trước mặt tên ác ôn Ba Sung! Tên này có vẻ khó chịu, nhưng chỉ nhẹ lắc đầu rồi quay đi chỗ khác. Lát sau hắn ta ra lệnh:

- Thằng Đội Ngô, mày liên lạc với đám theo dõi dưới đó, hỏi kỹ lại coi tình hình ra sao rồi. Hai đứa con gái còn ở trong nhà hay không?

Vừa khi ấy có điện báo về từ Rạch Giá. Đội Ngô đích thân nghe và tái mặt báo lại với sếp mình:

- Thưa sếp, tụi nó báo về là trong vườn nhà đó bây giờ có tất cả... bốn ngôi mộ!

Mụ Hường kêu lên đầu tiên:

- Mộ của ai mà tới bốn cái?

- Dạ, tụi nó có ghi tên tuổi hẳn hoi, ngoài hai ngôi mộ như đã nói, hai ngôi mộ mới một là của Lý Nguyệt Ánh, một của Lý Lan Anh.

- Cái gì? Cả nhà chúng nó đã... chết hết rồi sao?

Lần này tới phiên mụ ta ôm cổ tài xế Sĩ hôn lấy hôn để khiến cho Ba Sung phải lên tiếng:

- Chị vừa vừa thôi. Bây giờ việc phải làm là về ngay dưới đó, coi tình hình có đúng như vậy không, rồi cho tiến hành làm thủ tục giấy tờ ngụy tạo, để chiếm lấy tài sản của lão họ Lý kia. Mà chị nhớ, mọi việc đều phải tuân thủ theo ý của thằng này nghe chưa!

Anh ta nói như ngầm cho hiểu rằng tài xế Sĩ chỉ đóng vai trò phụ mà thôi. Tài xế Sĩ hiểu điều đó, nhưng hình như anh ta cũng biết vị thế của mình, nên nhất thời cam chịu...

Ba Sung ra lệnh:

- Đội Ngô dẫn theo hai đứa nữa, hộ tống bà chị tao về đó lo cho xong mọi việc. Ngày mai tao sẽ về sau.

Hắn đứng lên đi về căn phòng riêng dành cho sếp ở trụ sở, vừa dặn kỹ lần nữa:

- Nhất định phải xác minh cho chắc chắn về cái chết của nhà đó. Sau đó phải bằng mọi cách ém nhẹm mọi tin tức, không để cho thiên hạ bàn tán. Còn chị Hường nữa, cũng phải làm bộ thương xót, khóc lóc cho thiệt một chút, chớ đừng chưa gì đã mừng vui, hí hửng ra mặt, thiên hạ sẽ nghi ngờ, nghe chưa!

Tuy là chị, nhưng nhất nhất mọi việc mụ Hường đều phải nghe theo thằng em ác ôn, đầy quyền lực này. Bởi vậy mụ nói xuôi theo:

- Chị biết mà...

Cả bọn lên xe đi ngay.

Ba Sung một mình trở về phòng riêng. Vừa mở cửa bước vào hắn đã suýt kêu lên, bởi trước mắt hắn là một cô gái đang trong tư thế gợi tình, nằm trên giường mà... không có gì che chắn! Người đó lại là… Sáu Chi mới lạ!

- Cô... cô là?

- Là Sáu Chi, tội phạm mà anh Ba đang cho truy tìm đây!

- Nhưng... nhưng sao cô lại...

- Thì trốn từ phòng giam tối tăm, chật chội sang đây để... hầu ông anh không được sao? Em đâu có bỏ trốn luôn!

Đã bị cô người làm này hớp hồn ngay khi vừa bắt về đây, giờ lại đứng trước cô ta trong tư thế...chết người như thế này, bảo sao Ba Sung còn giữ được vẻ hùng hổ, dữ dằn nữa! Hắn cười hềnh hệch:

- Em làm anh hết hồn. Còn bây giờ...

Sáu Chi nũng nịu:

- Hồi nãy anh bước vô cũng làm cho em hết hồn! Em cứ bị ám ảnh cái bộ mặt hung dữ, cô hồn của tên đội gì đó...

- Đội Ngô. Hắn tuy vậy chớ không dám làm gì em đâu. Chẳng qua...

- Nhưng hôm qua hắn ra lệnh giam em trong đó, không cho ăn uống và còn hăm bóp cổ em chết nữa!

Ba Sung nheo mắt:

- Dọa em thôi, chớ ai nỡ hành hạ một người đẹp như vầy!

Vừa nói hắn vừa sà xuống định dang tay ôm lấy tấm thân trần đó, nhưng Sáu Chi đã nhanh hơn, cô lăn vào sát vách, vừa đẩy đưa:

- Làm gì gấp dữ vậy! Người ta nói mấy người thấy gái như mèo thấy mỡ là người chỉ muốn hưởng thụ nhục dục thôi chớ không hề có tình cảm gì! Mà em thì... em muốn được anh Ba thương yêu, chiều chuộng thật tình kia.

Ba Sung vốn là tên háo sắc, già không bỏ, nhỏ không tha, nên hắn làm sao không hưởng thụ cho bằng được cái miếng mỡ ngay trước miệng mèo như thế này. Do đó hắn cũng đẩy đưa:

- Ừ, thì chỉ vì... anh thương em mà!

Hắn bất thần chụp được Sáu Chi và ghì cứng. Cô gái chỉ chống cự lấy lệ, sau đó nằm im, khiến cho Ba Sung khoái chí:

- Như vầy có phải là ngoan không. Chiều anh đi rồi anh cất nhắc cho làm... bà này bà nọ, chớ ai lại cứ đi ở đợ hoài. Nhan sắc của em còn hơn cả con ông chủ em nữa!

- Nhưng...

Bỗng dưng cô nàng òa lên khóc, khiến Ba Sung hốt hoảng:

- Em sao vậy?

Cố dằn cơn xúc động, Sáu Chi nghẹn ngào nói:

- Tuy muốn thoát kiếp tôi đòi, nhưng em vốn trọng tình nghĩa, nên em lo cho những đứa con ông Thiên Thời...

Ba Sung cười hô hố:

- Em còn bận tâm làm gì những đứa đó cho mất công! Họ đã...

Hắn chưa kịp nói ra thì Sáu Chi đã chận lời:

- Trước khi hiến dâng cho anh, em muốn xin anh một điều. Nếu anh đồng ý thì từ nay em sẽ thuộc về anh mãi mãi... còn bằng không thì em thà cắn lưỡi chết tại đây, chớ quyết không để anh làm nhục!

- Chuyện gì?

- Em muốn anh ký lệnh tha cho tất cả người trong nhà họ Lý.

Ba Sung trợn mắt:

- Anh chưa bắt họ thì tha cái gì?

- Em biết tuy chưa bắt họ, nhưng anh đã có lệnh cho câu lưu họ về tội gì đó do bộ hạ anh chụp cho họ một khi bà chị anh chiếm được tài sản của ông Thiên Thời. Em còn chút tình cảm với họ, cũng muốn trả ơn họ đã nuôi nấng em từ lâu nay. Anh đồng ý đi thì em sẽ chấp nhận để cho anh muốn làm gì thì làm và em cũng chẳng bao giờ xen vô chuyện của bà Hường với ông Thiên Thời nữa.

Bình thường ai mà nói câu này thì lập tức bị hắn trừng trị ngay, nhưng bây giờ thì hắn thoải mái, gật đầu ngay:

- Được, anh hứa.

Hắn nghĩ là Sáu Chi chưa hay chuyện cả nhà họ Lý đã chết hết, nên mới xin như vậy. Còn bây giờ hắn có ký một chục cái lệnh thì cũng chẳng ăn thua gì, lại được lòng người đẹp! Hắn bảo:

- Để xong việc này anh sẽ làm theo lời em!

Sáu Chi chìa ra một tờ giấy đã đánh máy sẵn:

- Em biết thế nào anh cũng đồng ý nên đã thảo sẵn tờ giấy này, anh coi lại rồi ký tên và đóng dấu cho em, trước khi chúng ta... mây mưa một trận tơi bời!

Ba Sung lấy viết trong túi áo ra ký liền cái rẹt, chưa kịp nói gì thêm thì Sáu Chi đã chỉ vào hộc tủ bàn viết:

- Con dấu của anh lúc nào cũng để trong đó, đóng luôn đi!

Hơi ngạc nhiên về sự rành rẽ của cô nàng, nhưng vì ham muốn nhục dục nên Ba Sung làm theo mà không suy nghĩ. Xong đâu đó hắn nheo mắt:

- Còn gì nữa không!

Sáu Chi nhắm mắt lại, đáp rất ngọt ngào:

- Tùy anh thôi...

Ba Sung như con hổ đói vồ mồi. Hắn chiếm đoạt, hưởng thụ như chưa bao giờ được hưởng. Hắn hoàn toàn bất ngờ trước sự hấp dẫn, quyến rũ cực kỳ của bông hoa đồng nội, điều này càng làm cho hắn tiếc sao mình không chiếm đoạt sớm hơn!

Và cũng chính vì quá say đắm cuộc mây mưa nên Ba Sung quên không hỏi lý do nào Sáu Chi đã thoát ra khỏi phòng giam? Và đó là hậu quả mà sau đó chỉ chưa đầy nửa giờ, hắn đã phải nhận lãnh...

Lúc ấy là vào giữa trưa...

Theo quy định lâu nay, mỗi khi tên sếp ác ôn này vào phòng riêng đóng cửa lại thì mọi người muốn vào phải gõ cửa, nhưng chỉ được gõ khi không thấy bóng đèn đỏ bên ngoài đang sáng lên.

Còn khi đã có đèn đỏ thì dẫu có chuyện gì gấp cũng không được gõ hay gọi. Do đó suốt hơn hai giờ liền Ba Sung ở trong đó thì hầu như mọi công việc liên quan tới hắn ta đều ngừng trệ. Một vài nhân viên có hồ sơ trình ký hoặc trực tiếp xin chỉ thị đều phải sốt ruột chờ. Một thư ký riêng của Ba Sung đã lầm bầm:

- Chơi bời gì mà giữa giờ làm việc chẳng biết! Điệu này mấy cái lệnh giam người lấy ai đâu ký quyết định?

Tài xế riêng của hắn ta thì lo lắng điều khác:

- Không khéo thì khi bà nhà tới đây sẽ nổ ra chiến tranh cho coi!

Vài người nghe điều đó đều thích thú:

- Chà, cuộc đụng độ sẽ gay cấn, nảy lửa đây.

Và họ chờ để xem...

Đúng bốn giờ thì bà vợ của Ba Sung xuất hiện. Chẳng biết do có việc cần đột xuất hay do ai đó báo tin... mà khi vừa xuống xe ngoài cổng, mụ Anna đã xộc thẳng vào phòng riêng của chồng.

Tên tài xế tuy làu bàu chuyện sếp mình mê đắm tửu sắc, nhưng khi thấy ông ta sắp nguy thì đã vội phá lệ, vừa gõ cửa phòng vừa la lớn:

- Bà Anna tới sếp ơi!

Vẫn không nghe động tĩnh bên trong, khiến anh này phải la lên lớn hơn:

- Bà sếp tới ông sếp ơi!

Không nghe trả lời, tên tài xế nghĩ ông sếp mình đang mê trận quên đời nên đập cửa ầm ầm với lời báo động dồn dập:

- Bà tới ông ơi! Bà tới!

Mụ Anna trừng mắt và quát:

- Mày báo động hả, mở cửa ra!

Nhưng cửa đã khóa bên trong. Mụ Anna quát:

- Lấy búa đập cửa ra!

Ai dám làm chuyện đó, cho nên mọi người đều lần lượt tản đi chỗ khác và biến luôn, bởi họ biết cuộc đại chiến giữa hai người sẽ biến họ thành nạn nhân bất đắc dĩ!

Điên tiết vì chẳng có ai giúp sức, mụ Anna tự tay cầm một cục đá to đập vào cánh cửa gỗ và sau ba bốn cú đập mạnh, cánh cửa đã bung ra mà vẫn chẳng nghe bên trong có phản ứng gì.

Khi cửa mở toang ra, mụ Anna không tin vào mắt mình khi nhìn thấy trên chiếc giường nhỏ phía sau bàn làm việc của chồng là một... bộ xương người!

- Trời ơi! Bớ người ta...

Lúc này nhiều nhân viên mới dám chạy trở lại và đến phiên họ kinh hãi! Tên tài xế riêng của Ba Sung run run giọng nói:

- Rõ... rõ ràng hồi nãy... ông sếp vô trong đó mà... ổng vô... và đâu thấy trở ra...

Khi thấy có đông người tới mụ Anna mới dám bước tới gần chỗ bộ xương, nhìn kỹ và thét lên:

- Trời ơi, ông Sung!

Trên cổ tay của bộ xương vẫn còn mang chiếc đống hồ Oméga bằng vàng, vật quen thuộc của chồng, mà mụ Anna vừa nhìn thấy đã nhận ra ngay! Mụ ta lại nhìn lên cổ, sợi dây chuyền vàng hình mỏ neo có khắc tên mụ và Ba Sung lại càng khẳng định bộ xương này là của Ba Sung!

- Trời ơi!

Mụ ta ngã lăn ra và nằm bất động...
 
***

Bọn Đội Ngô phải phá cổng rào mới vào được nhà ông chủ Thiên Thời. Họ không gặp ai trong nhà, sau một hồi tìm kiếm, tài xế Sĩ nhắc:

- Mình ra sau vườn coi mấy ngôi mộ xem. Tại sao mấy đứa con lão ta cũng chết?

Khi họ ra ngoài chỗ khu mả thì vô cùng sửng sốt khi có bốn ngôi mộ nằm song song nhau. Một cái của bà Kiểm, một của ông Thiên Thời, còn hai cái kia thì của Nguyệt Ánh và Lan Anh.

Tài xế Sĩ thắc mắc:

- Họ chết thì có thể do bị vong hồn của vợ ông Thiên Thời, nhưng ai đã chôn họ mới là việc lạ.

- Ai đã vào đây?

Một tên nói:

- Nhà này chỉ còn duy nhất con Sáu Chi là còn sống, chẳng lẽ là nó làm việc này?

Đội Ngô phản bác:

- Không thể là nó, bởi thời gian xảy ra ở đây thì con nhỏ đó còn bị giam ở trên kia.

Tài xế Sĩ nhắc:

- Nhưng anh quên là nó đã thoát ra mà mình vẫn chưa biết là đi đâu hay sao?

Đội Ngô bực dọc:

- Không nói lôi thôi nữa, hãy đào mồ tụi nó lên coi, biết đâu đây là một âm mưu thì sao?

Nghe cũng có lý, nên bọn ba bốn tên hè nhau đào lần lượt bốn ngôi mộ. Tuy vậy cả bọn vừa đào mà vừa run, bởi việc đào mộ đối với chúng là một chuyện xưa nay chưa từng làm!

Ngôi mộ đầu tiên bọn chúng đào là mộ có bia đề tên Lan Anh. Đội Ngô nói giọng mất dạy:

- Nghe nói con nhỏ này đanh đá lắm, đào lên xem thử khi chết mặt mày có còn dữ dằn hay không?

Nhát cuốc của tên lính vừa chạm vào nắp quan tài, bỗng hắn bật bắn ra xa đến gần hai thước!

Tên thứ hai la lên:

- Coi chừng rắn!

Hắn nói và chưa kịp nhảy lên thì đã bị một con rắn cắn vào chân, rồi một con nữa cắn vào cổ tay hắn một nhát nữa! Tài xế Sĩ nhìn thấy từ trong quan tài bò ra toàn là rắn, hắn nhảy lùi ra và la lên:

- Chạy đi, rắn đầy kia kìa!

Cả hai tên thuộc hạ của Đội Ngô đều bị rắn cắn nằm tại chỗ. Riêng Đội Ngô thì nhờ lẹ chân chạy theo tài xế Sĩ nên không bị gì. Tuy nhiên hắn run như cầy sấy, vừa lắp bắp:

- Những con rắn này... phải chăng là... quỷ ma!

Tài xế Sĩ đột nhiên nói trong hốt hoảng:

- Không lẽ... điều ấy xảy ra?

Đội Ngô vừa chạy vừa hỏi:

- Chuyện ấy là chuyện gì!

Tài xế Sĩ nhớ lại khi thỉnh đạo bùa Miên, ông thầy đã có nói rõ: "Lá bùa này linh nghiệm thì vong hồn người chết sẽ bị sai khiến, còn ngược lại thì sẽ có hậu quả khôn lường...”. Hậu quả khôn lường đó phải chăng là... những con rắn này!

Ý nghĩ của hắn chưa dứt thì đã nghe Đội Ngô thét lên một tiếng rồi ngã lăn ra đất. Một con rắn rất to đang quấn chặt lấy cổ hắn!

Trong phút chốc đã có ba người trong nhóm đào mộ đã bị rắn cắn chết, bảo sao tài xế Sĩ không sợ điếng hồn! Hắn gần như chạy không nổi, phải lết đi từng bước...

Phải đến khi lết được vô tới thềm nhà thì hắn đã kiệt sức, gục xuống.

Trong mơ hồ hắn cảm giác như có người đứng trước mặt mình. Người đó cất tiếng gọi khe khẽ:

- Thằng phản bội, hãy đền mạng!

Cố nhướng mắt lên, tài xế Sĩ càng hốt hoảng, bởi người đang đứng kia chính là... bà chủ đã quá cố của hắn, vợ ông Thiên Thời!

- Bà... bà...

- Nuôi mày là nuôi ong tay áo, nuôi khỉ dòm nhà. Mày đã bán đứng chủ mày, cũng như trước kia mày bỏ thuốc độc trong thức ăn cho tao ăn, để dọn đường cho con quỷ cái Hai Hường xâm nhập nhà này! Mày còn độc hơn những con rắn độc ngoài kia nữa!

Tài xế Sĩ vẫn cố nói:

- Tha cho con bà ơi... con xin làm bất cứ gì bà sai biểu... Con phải làm như vậy chẳng qua là do hoàn cảnh gia đình con quá túng bấn, nên con mới táng tận lương tâm...

Hắn nói tới đó thì bỗng nhiên kêu thét lên một tiếng và cả thân người run lên bần bật rồi nằm im như xác chết...

***

Buổi sáng trời thật trong. Mặt trời vừa lên khỏi ngọn tre phía sau vườn thì cũng là lúc có một người xuất hiện trước bốn ngôi mộ. Quỳ xuống trước mộ bà chủ Thiên Thời, người đó giật mình khi thấy đã có một bó hoa cẩm chướng đặt ở đó tự lúc nào rồi.

- Cậu Hiếu còn nhanh hơn tôi nữa!

Người đó từ từ giở chiếc nón đội che gần kín mặt xuống, để lộ ra khuôn mặt hiền hòa, xinh xắn.

Đó là Sáu Chi!

Cô quay lại phía sau nói lớn:

- Mời hai cô ra đây!

Có hai người xuất hiện tiếp theo. Đó là Nguyệt Ánh và Lan Anh!

Cả hai ôm chầm lấy Sáu Chi mừng mừng tủi tủi:

- Chị Sáu! Tụi này cứ ngỡ là sẽ không bao giờ còn gặp lại chị nữa!

Sáu Chi vuốt tóc hai cô gái:

- Tội nghiệp hai cô chủ nhỏ của tôi! Phải để hai cô phải chịu khổ sở, sống chui rúc trong căn phòng thờ tối tăm trên lầu là việc bất đắc dĩ... Chẳng qua cũng là để tránh tai họa mà thôi. Giờ thì xong hết cả rồi....

Sáu Chi móc trong túi ra một tờ giấy rồi đặt ngay mộ của bà Thiên Thời, vừa bảo hai cô gái:

- Các cô lạy bà đi. Chính bà đã giúp cho việc này đấy.

Nguyệt Ánh và Lan Anh cùng lạy theo Sáu Chi. Bỗng tờ giấy mà Sáu Chi vừa lấy ra đó bốc cháy như được ai đó đốt lên! Sáu Chi nói:

- Đó là tờ giấy mà tên Ba Sung đã viết theo lệnh của bà, ra lệnh bãi bỏ sự truy cứu ông chủ và hai cô!

Nguyệt Ánh ngơ ngác:

- Truy cứu gì?

- Theo xúi biểu của thằng tài xế Sĩ, tên Ba Sung ra lệnh cho thuộc hạ truy nã các cô và ông chủ về tội danh mà hắn tự đặt ra, nhằm có cớ bắt giam và thủ tiêu. Vong hồn của bà đã hiện ra cứu tôi khỏi trại giam, rồi bà còn giả làm tôi, gạt cho tên Ba Sung giở thói dê xồm ra nữa... Lúc đầu bà chỉ muốn gạt hắn, để hắn ký giấy tha cho ông và cô thôi, chớ không có ý hại hắn, chẳng ngờ hắn say máu làm tới, xúc phạm tới bà, cho nên bà đã hóa kiếp cho hắn và sau đó trừ diệt luôn mấy tên ác ôn, côn đồ, cả thằng phản bội Sĩ nữa. Bởi vậy giờ đây tờ giấy này không còn cần nữa.

Rồi Sáu Chi vái riêng với bà chủ mình:

- Thưa bà, theo lệnh bà con đã giấu những người thân của bà được an toàn. Nay họ đứng trước mặt bà đây, xin bà tiếp tục phù hộ cho họ...

Nguyệt Ánh òa lên khóc:

- Má ơi, sao má không về giúp tụi con sớm hơn, suýt nữa tụi con đã chết dưới bàn tay của bọn quỷ sứ kia rồi!

Lan Anh cũng khóc theo:

- Mấy bữa nằm chui trong phòng, nghe bên ngoài tụi lính kín đi rầm rập, con sợ muốn chết, tưởng tiêu đời rồi. Còn ba nữa, ổng chưa đi nổi ra đây vì ba bốn ngày không ăn...

Sáu Chi lại nói:

- Tất cả là nhờ bà che chở cho đó. Sở dĩ lâu nay bà không về giúp các cô được là cũng bởi khi chôn bà, thằng tài xế Sĩ đã lén bỏ một lá bùa dưới gối bà nằm, do vậy hồn phách của bà không thể nào liên lạc được với người thân. Khi thằng Sĩ và mụ Hường kia chôn lá bùa tiếp theo để sai khiến bà về hại chồng con thì bị mình phát hiện kịp thời và đem quăng xuống vũng nước dơ, vô tình hóa giải tác dụng của chúng và nhờ vậy cũng giải thoát luôn cho hồn phách của bà bị giam cầm từ lâu. Bà thoát được nên mới cứu được cả nhà. Trong chuyện này còn phải kể luôn công của cậu Hiếu nữa...

Nghe nhắc tới Hiếu, Nguyệt Ánh kêu lên:

- Mấy hôm rày sao em không còn nghe Hiếu về nữa?

Chỉ sang mấy ngôi mộ bên cạnh, Sáu Chi nói:

- Chính vong hồn của cậu ấy đã thực hiện những ngôi mộ này, nhằm che mắt bọn ác ôn kia. Trong mộ không hề có xác ai hết, chỉ có lũ rắn độc.
 
Lan Anh le lưỡi sợ hãi:

- Mộ không chôn người thì để làm gì, sao không cho đào lên đi, san phẳng để đỡ phải sợ!

Sáu Chi nghiêm giọng:

- Lúc trước thì không có ai, chỉ có rắn độc nhưng nay thì có chôn người rồi.

Nguyệt Ánh ngạc nhiên:

- Ai trong đó?

- Chính là ba tên thộc hạ của Ba Sung! Chúng bị rắn độc cắn chết và cậu Hiếu đã chôn chúng luôn trong đó!

Nguyệt Ánh trầm ngâm:

- Đâu có thể để xác bọn chúng trong vườn nhà mình được. Phải làm cách nào đó.

Sáu Chi cười nói:

- Đợi qua bốn mươi chín ngày thì cậu Hiếu của cô sẽ đưa chúng nó đi xa. Cậu ấy chu toàn lắm...

Nguyệt Ánh nói thật khẽ:

- Anh ấy vốn là người như vậy...

Cô quay sang hướng khác, nói vọng vào:

- Em sẽ ở vậy mãi để dành cho anh...

Sáu Chi nắm tay hai cô, hối:

- Phải vô để mừng ông thoát nạn đi chớ!

Họ vừa bước vô nhà thì đã thấy ông Thiên Thời ngồi ở ghế trưởng kỷ. Mặt ông tuy có xanh xao, nhưng vẫn có nụ cười thật tươi. Ông ôm cả hai cô con gái mình vào lòng:

- Ba xin lỗi hai con...

Lan Anh lại òa lên khóc! Nguyệt Ánh phải lên tiếng:

- Như vầy là mừng rồi, còn khóc nỗi gì nữa!

Vừa khi ấy có tiếng của một người ăn xin từ ngoài cổng vọng vào:
 
- Xin quý bà quý cô rủ lòng thương, bố thí cho kẻ hèn này vài đồng xu lẻ, ít hột cơm thừa để sống qua ngày...

Sáu Chi vội nói:

- Đó là mụ Hai Hường! Từ khi Ba Sung bị hóa kiếp thì mụ ta trở thành điên dại, đi lang thang xin ăn. Vong hồn bà chủ cho tui biết, đó là cái quả mà bà ta phải nhận lãnh, để trả cho những ác nghiệp mà mình đã gây ra.

Ông Thiên Thời nhìn ra, chợt thở dài. Rồi bảo:

- Ba mê muội, suýt nữa nghe bà ta mà hại các con rồi...

Nguyệt Ánh lên tiếng liền:

- Chẳng qua ba bị họ bỏ bùa, sai khiến thôi. Nay má đã giúp ba gỡ được rồi, còn lo gì nữa!

Ông Thiên Thời đứng lên, tuy yếu, nhưng vẫn đi được:

- Dẫn ba ra thăm mộ má các con.

Trong lúc đó thì giọng xin ăn của mụ Hai Hường xa dần và có lẽ đó là lần cuối mụ ta tới chốn này...
Sự đời cà khịa cái chơi
Khi vui muốn khóc, khi cười buồn tênh!
0
GIỌT MÁU OAN NGHIỆT

Bản nhạc cuối cùng vừa chấm dứt thì cũng là lúc Bích Trâm nghe nhói đau ở bụng dưới. Cô buông tay người khách nhảy ra và nói làu bàu mấy tiếng rồi bước nhanh về phía quầy. Tài pán Marie Lan tinh mắt nhìn thấy đã tiến ngay lại hỏi nhanh:

- Em sao vậy Bích Trâm?

- Em... em...

Cô nói không thành lời, bởi lúc đó cơn đau quặn lên dữ dội. Marie Lan giục người quản lý quầy rượu:

- Anh giúp đưa nó vào phòng trang điểm, nhanh lên.

Bích Trâm hầu như không còn biết gì sau đó...

Khi cô mở mắt ra thì vô cùng ngạc nhiên khi thấy mình nằm trong một gian phòng rất lạ. Chung quanh không có ai khác...

Cố nhận diện xem nơi này là đâu, nhưng Bích Trâm không tài nào đoán ra, bởi từ cách trang trí, cho đến những đồ vật cố định đều khá lạ mắt, nếu không nói là vô cùng lập dị, chiếc giường ngủ không làm gỗ hay sắt thông thường, mà hầu như toàn bộ thiết kế bằng một chất liệu giống xương hay ngà vô cùng sang trọng. Toàn phòng không có lấy một chiếc tủ áo hay bàn viết, bàn phấn như các phòng khác. Cho nên nhất thời chưa thể đoán đây là căn phòng của nam hay nữ.

Cũng may, khi nhìn ra cửa sổ, Bích Trâm nhận ra một búi tóc giả đang máng ở đó, cô buộc miệng:

- Là nữ!

Có nghĩa là cô đang nằm trong một phòng ngủ của nữ. Là ai? Nhất định không phải là Marie Lan rồi, bởi người tài pán này sống với chồng con ở một khu lao động nghèo, mà căn phòng này mới nhìn đã biết là thuộc một ngôi nhà sang trọng bậc nhất!

Nhớ lại mang máng chuyện đã xảy ra, Bích Trâm đưa tay sờ bụng dưới của mình, cô vẫn còn cảm giác ê ẩm và bất giác tự nhủ:

- Không lẽ mình... bị dính rồi sao?

Cố nhớ lại lần chung chạ gần nhất với Linh, lần đó cả hai đã rất cẩn thận, tuy không dùng biện pháp tránh thai, nhưng nhất định không thể xảy ra hậu quả được, bởi Linh là người có nhiều kinh nghiệm, mà Bích Trâm thì đâu phải tay mơ.

Năm năm vào nghề vũ nữ đã dạy cho cô nhiều bài học về cách sống, cách tự bảo vệ mình... Như vậy cơn đau bụng vừa qua đâu phải là triệu chứng có bầu hay cái gì có liên quan?

Nhớ tới Linh, Bích Trâm đâm ra lo. Đã từ hơn tuần nay Linh không ghé vũ trường hay nhà cô.

Điều này trái với trước đây, cứ một đêm không ghé qua vũ trường thì hôm sau thế nào anh chàng cũng mò tới căn nhà thuê của người yêu và những lần như vậy anh thường ở lại cả ngày. Linh chưa có vợ, sống đời sống nghệ sĩ, tuy không giàu có nhưng cũng thong dong, thương Bích Trâm thật lòng và hai người hứa chắc với nhau là cuối năm nay sẽ chính thức làm đám cưới và khi ấy Bích Trâm sẽ bỏ hẳn nghề vũ nữ.

Giấc mộng con mà hai người dự tính không phải là chuyện viễn vông, bởi cả hai đều thật lòng và có quyết tâm. Nhất là với Bích Trâm, mặc dù cô được tiếng là một hoa khôi của vũ trường Mélody, có hàng tá đàn ông thèm thuồng, đeo đuổi, nhưng cô chỉ yêu mỗi mình Linh và quyết chung thủy với anh chàng.

Một tiếng động ở cửa phòng khiến Bích Trâm giật mình, cô quay lại vừa kịp nhìn thấy một bóng người lướt qua cửa sổ. Chủ nhà chăng?

Cô lên tiếng:

- Ai ngoài đó vậy?

Không có tiếng đáp lại, Bích Trâm bước nhanh ra định mở cửa, nhưng cửa khóa chặt, mà nhìn quanh lại không thấy chìa khóa, cũng không biết cách nào mở được cửa, nên Bích Trâm đành phải đứng trong nhìn ra cửa sổ và hỏi lại lần nữa:

- Ai ngoài đó vậy?

Vẫn im lặng. Bích Trâm đành đứng thừ người ra với thắc mắc càng nhiều hơn. Lúc này cô mới tò mò nhìn búi tóc treo lửng lơ trên song cửa. Một lọn tóc dày và dài, được búi lại thành một búi, nó không giống như kiểu đầu tóc mượn của các phụ nữ nông thôn, mà lại giống với kiểu tóc giả của các tiệm uốn tóc hay dùng để gắn vào đầu cho những người cần thêm tóc giả để bới.

Không dám đụng vào, tuy nhiên có lẽ do cơn gió thổi qua, nên búi tóc rơi xuống sàn, Bích Trâm đành phải cúi xuống nhặt lên và định máng lại chỗ cũ, nhưng chợt cô nhìn thấy có một mảnh giấy nhỏ đính kèm theo búi tóc. Buộc lòng phải nhìn mảnh giấy và Bích Trâm giật mình:

- Sao lại có tên Linh ở đây?

Trên mảnh giấy ghi vỏn vẹn hai chữ gửi Linh.

- Linh nào?

Bích Trâm tự hỏi và vô tình cầm luôn búi tóc trên tay một hồi lâu. Cuối cùng cô chợt hiểu ra, kêu lên:

- Đây là căn phòng của Linh?

Từ khi quen nhau tới nay đã gần hai năm, chưa lần nào Bích Trâm theo Linh về nơi ở riêng của anh, lý do là Linh ngại, bởi nơi anh ở là nhà của một người dì ruột, theo lời Linh nói thì bà ấy lại khó tính, hay thắc mắc này nọ về cuộc sống riêng tư của anh, nên Linh định khi nào hai người chính thức tính chuyện hôn nhân thì sẽ dẫn Bích Trâm về giới thiệu luôn.

- Thì ra anh ấy dối mình là nhà nghèo, chớ thật ra nhìn phòng này thì anh ấy đâu có nghèo!

Bích Trâm lẩm bẩm rồi cầm búi tóc quay trở lại giường. Bấy giờ cô mới thắc mắc dữ hơn về búi tóc này. Cô nào gởi cho Linh để làm gì, bởi tóc này chỉ để dành cho phụ nữ? Mà Bích Trâm thì chưa bao giờ nói với Linh về việc cô cần một đầu tóc giả, bởi tóc Bích Trâm vốn dài và đẹp, nếu không muốn nói là quyến rũ, nhiều người thèm thuồng mà không có được!

- Tóc này để làm gì?

Bích Trâm cứ lặp đi lặp lại câu hỏi trong đầu cho đến khi hai mắt cô như có ai đó kéo trì xuống.

Cơn buồn ngủ bất chợt kéo đến, khiến cho Bích Trâm dù mới vừa tỉnh lại sau cơn ngất, cũng không thể cưỡng lại được...
 
***
- Tỉnh lại đi chớ, ngủ gì mà li bì vậy?

Nghe giọng nói quen quen, Bích Trâm từ từ mở mắt ra, cô giật mình khi thấy đứng trước mặt mình là chị Marie Lan và Lan Ngọc, một đồng nghiệp.

Marie Lan càu nhàu:

- Mày sao vậy Bích Trâm, đau bệnh gì mà nằm cả hai ngày hai đêm, bữa nay nếu tao với con Lan Ngọc không tới đây thì chắc mày ngủ luôn quá!

Bích Trâm ngơ ngác nhìn quanh, cô nhận ra đây là căn phòng của mình và hoảng hốt:

- Em về đây hồi nào? Ai đưa em về?

Marie Lan lắc đầu:

- Con quỷ này mê ngủ đến không còn nhớ gì hết. Thì con Lan Ngọc và thằng bảo vệ vũ trường đưa mày về chớ ai.

- Về đâu?

- Thì về đây chớ về đâu nữa! Đêm hôm đó mày bị đau bụng rồi ngất đi, tao tính biểu tụi nó chở đi nhà thương, nhưng sau đó thấy mày không đến nỗi nào, nên mới biểu con Lan Ngọc hộ tống mày về luôn nhà.

Quay sang Lan Ngọc, Bích Trâm hỏi dồn:

- Mày đưa tao về đâu?

Lan Ngọc phá lên cười:

- Con khỉ này đầu óc có vấn đề rồi. Thì về đây chớ về đâu.

Bích Trâm nhớ lại căn phòng lạ, cô kêu lên:

- Tôi ở căn phòng đó và bị khóa chặt cửa không ra được!

Marie Lan cũng cười to:

- Con này bị rối loạn thần kinh rồi! Chắc là do mê sảng lâu quá mà ra.

Rồi chị quay sang Lan Ngọc trách:

- Sao bữa đó em không ở lại với nó cho đến lúc nó tỉnh hẳn đã?

Lan Ngọc kêu lên:

- Ở luôn tới bữa nay à? Tối đó em thấy nó thở đều nghĩ chắc sau khi cơn đau giảm sẽ tỉnh lại, mà nhà em có việc nữa, nên em mới bỏ về. Vả lại ở chung nhà với nó còn có bà chủ nhà mà, có gì họ sẽ giúp nó...

Bích Trâm nói lớn:

- Không phải căn phòng này! Em ở...

Chợt nhớ lại búi tóc, cô quay quanh giường tìm và reo lên:

- Nó đây rồi!

Bích Trâm nhặt lấy búi tóc nằm cạnh gối đưa lên nói:

- Vật này em lấy đi trong căn phòng ấy đấy!

Nhìn búi tóc, Marie Lan ngạc nhiên:

- Của ai vậy?

- Em cũng không biết, nhưng chắc chắn là của một cô gái nào đó.

Rồi cô kể lại khá tỉ mỉ chuyện mình nằm trong căn phòng lạ đó. Nghe xong Lan Ngọc kêu lên:

- Nó kể nghe giống như trong chuyện Liêu Trai quá!

Marie Lan cũng nói:

- Giống như người ta mơ gặp ma, thậm chí còn... ăn nằm với ma nữa!

Biết họ chế nhạo mình, Bích Trâm gắt lên:

- Không phải là mơ đâu! Nếu mơ thì làm sao có lọn tóc thật này ở đây?

- Nhưng nếu là thật thì... chuyện ấy là chuyện gì? Bây giờ mày thấy trong người ra sao, có cảm giác như vừa... ăn nằm với ma không?

Bích Trâm la lên:

- Chị nói bậy! Ăn nằm đâu mà ăn nằm...

Tuy nói vậy nhưng cô cũng đưa tay sờ xuống bụng dưới của mình. Cảm giác đau đau như bữa tối đó đã hết hoàn toàn.

Lan Ngọc hỏi:

- Bữa đó mày đau gì vậy? Có phải bị... kẹt rồi đau không?

- Đâu có, tao mới vừa hết mà.

Marie Lan bảo:

- Nó giống như người bị hư thai vậy đó!

- Làm gì có!

Cả Marie Lan và Lan Ngọc đều phá lên cười:

- Tụi tao tưởng đâu mày ham hố rồi vướng bầu chớ! Cũng may, chớ nếu thiệt thì hết làm ăn, đói nhăn răng con ơi!

- Mấy người nói bậy...

Bàn ra tán vào lại càng làm cho Bích Trâm thêm rối. Cô cứ thắc mắc hoài chuyện căn phòng lạ và búi tóc:

- Như vậy là sao? Nếu là giấc mơ thì làm sao lọn tóc còn ở đây?

Marie Lan cũng tán đồng:

- Chuyện này hơi lạ... Theo tao, con Bích Trâm hỏi lại bà chủ nhà xem, búi tóc này của ai. Có thể bà ta biết...

Bà chủ nhà sau đó lắc đầu bảo:

- Phòng cô Bích Trâm mỗi khi đi là khóa kín lại, đâu có ai vào đó được. Mà trong nhà này cũng chẳng ai có búi tóc đó.

Lan Ngọc nhắc:

- Mày liên lạc với Linh xem, hỏi anh ấy coi có phải căn phòng trong giấc mơ của mày có phải là của anh ấy không?

Bích Trâm lắc đầu:

- Tao không biết nhà của anh ấy.

- Vậy thử tìm anh ấy xem.

Bích Trâm vẫn lắc đầu:

- Hơn tuần nay tao không gặp Linh. Hình như là anh ấy đi xa ở đâu đó.

Mọi người rơi vào bế tắc. Lát sau Marie Lan mới nói:

- Thôi, tốt hơn hết là bây giờ con Bích Trâm hãy nghỉ ngơi cho khỏe rồi tối nay đi làm trở lại. Hai hôm rồi khách cứ hỏi em hoài, lão chủ vũ trường cằn nhằn quá trời.

Hai người bạn về rồi Bích Trâm cứ nằm đó mân mê búi tóc. Chẳng hiểu sao trong lòng cô cứ bị ám ảnh bởi khuôn mặt của một cô gái nào đó, mà mỗi lần cô ta hiện ra thì y như là Bích Trâm nhìn thấy tóc của cô ta bay bay theo gió, giống hệt như búi tóc trong tay mình. Phải chăng...

Bích Trâm tự hỏi nhiều lần, nhưng cuối cùng đành phải tự an ủi:

- Chịu thôi. Có thể là một giấc mơ.

Tuy nhiên, đến chiều hôm đó, trong khi đang trang điểm chuẩn bị đi làm thì bất ngờ bà chủ nhà bước vào đưa một mảnh giấy:

- Có người nhờ gởi cho cô.

Trong giấy ghi vắn tắt mấy dòng: “Có tin của anh Linh rất gấp. Vậy hết giờ làm việc ở vũ trường tối nay, Bích Trâm ra chỗ góc đường, đón chiếc xích lô của người đàn ông mặc áo đỏ, đội nón rộng vành, họ sẽ đưa tới chỗ Linh đang dưỡng thương. Anh ấy đang đợi Bích Trâm.”

Bích Trâm rất sốt ruột, nhưng chẳng cách nào hơn, nên đành phải đi làm và đợi đến nửa khuya. Sau buổi tối có hai người đàn ông vốn ái mộ Bích Trâm tới mời đi ăn tối, nhưng Bích Trâm đã khéo léo từ chối. Cô bảo:

- Em còn bệnh, nên phải về nhà ngay.

Người khách mời đưa cho Bích Trâm một xấp tiền giấy khá nhiều:

- Nghe em bệnh, anh gởi chút ít để em thuốc men và bồi dưỡng.

Bích Trâm không nhận thì người đó cứ nhét đại vô tay cô và đi thẳng ra xe rất nhanh. Đến khi xem lại Bích Trâm quá đỗi ngạc nhiên khi phát hiện lẫn trong xấp tiền có một mảnh giấy nhỏ ghi mấy chữ:

"Hãy coi chừng, đừng lên chiếc xích lô đó!"

Bích Trâm chạy theo ra ngoài thì người đàn ông đã biến mất. Cô thẫn thờ một lúc rồi quá giang xe một đồng nghiệp khác đi về thẳng nhà, thay vì ra chỗ góc đường. Ngang qua đó Bích Trâm thấy đúng là có một chiếc xích lô với người đạp xe mặc áo đỏ, đội mũ rộng vành!

Còn đang hoang mang chưa biết phải làm gì thì vừa khi mở cửa phòng vào, Bích Trâm sững sờ khi thấy có một cô gái lạ đang ngồi đợi sẵn trong phòng!

- Cô là ai?

Cô gái đẹp lạ lùng, mà mái tóc dài rủ xuống khuôn mặt thanh tú đã khiến cho Bích Trâm phải thốt lên ngay:

- Phải cô là...

Bích Trâm muốn hỏi cô ta có phải là cô gái mà cô mơ màng thấy trong lúc hoang mang hay không? Thì cô ta đã chủ động lên tiếng:

- Đúng ra cô phải tới chỗ tôi, chớ không để tôi cất công tới đây như đã hẹn!

Bích Trâm giật mình:

- Cô là người đã hẹn tôi tới để gặp Linh?

- Gần như là vậy. Thật ra thì người hẹn thật sự với cô là Linh chớ không phải tôi. Chẳng qua tôi muốn nhân cơ hội đó để gặp cô và giải quyết một vài việc cần phải giải quyết.

Bích Trâm hốt hoảng:

- Linh bị bệnh thật sao? Anh ấy...

- Có thể nói là anh ta bị bệnh khá nghiêm trọng. Nhưng chuyện của tôi còn quan trọng hơn, cho nên tôi muốn cô gặp tôi trước.

Bích Trâm quá lo lắng, nên giọng gay gắt:

- Cô là ai và đã làm gì Linh? Anh ấy phải chăng đã bị hãm hại?

Cô gái cười nửa miệng:

- Nói hãm hại thì e không đúng. Đây chẳng qua là anh ta đang trả giá cho những gì mình đã gây ra thôi! Cô chính là người sẽ cứu được anh ta, nếu...

Cô ta bỏ lửng câu nói càng khiến cho Bích Trâm sốt ruột thêm:

- Có chuyện gì cô nói ra đi, rồi chỉ cho tôi chỗ của Linh?

Cô gái hất mái tóc dài ra sau, bất ngờ cả một bên tóc phía trái rơi ra, để lộ một bên đầu bị trống, vì một phần tóc đã bị cắt, Bích Trâm chưa kịp hỏi thì cô ta đã nói:

- Bên tóc này đang nằm trong tay cô đó, chắc cô nhớ búi tóc lấy được trong căn phòng đó chớ?

- Nó... nó là của cô?

- Cô thử lấy ra đây và tôi gắn vào xem có đúng hay không?

Không đợi Bích Trâm lấy, cô ta đã đích thân lấy nó từ bên cạnh gối của Bích Trâm và đặt nó lên chỗ tóc bị khuyết. Nó vừa vặn y chang!

Giọng cô ta nghe chua chát:

- Khi người con gái không tiếc gì hết, kể cả mái tóc cha mẹ sinh ra trên đầu, để chứng minh tình yêu, mà người con trai vẫn nhẫn tâm bỏ đi theo mối tình khác, thì theo cô, cô phải xử ra sao?

Câu hỏi đột ngột làm cho Bích Trâm lúng túng:

- Chuyện đó... chuyện ấy... thật là đáng trách!

- Đáng hận mới đúng! Mà cô có biết người gây ra đó là ai không?

Tuy có ngờ ngợ, nhưng Bích Trâm lắc đầu:

- Tôi... chưa rõ.

- Thằng Linh khốn kiếp của cô đó!

Vừa dứt lời thì cô ta đứng bật dậy, nhìn thẳng vào mắt Bích Trâm, rít lên:

- Gieo cái gì ắt phải gặt cái nấy! Cô nói với nó là giọt máu nó đang để lại trong người tôi, bây giờ tôi trả lại cho nó!

Bich Trâm ngơ ngác nhìn chung quanh, cứ ngỡ có một đứa hài nhi nằm ở đâu đó. Nhưng thật bất ngờ, cô gái chỉ thẳng vào bụng của Bích Trâm, giọng lạnh lùng:

- Nó đang nằm trong bụng cô đó!

Bích Trâm hoảng hốt:

- Tôi... tôi làm sao? Tôi đâu có... bầu?

Cô gái cất lên một tràng cười dài:

- Cô đã cướp thằng đàn ông của tôi, dẫu rằng cô vô tình đi nữa, thì cô phải cùng lãnh hậu quả với thằng đàn ông chó kia? Cô phải mang giọt máu mà lúc chết tôi đã lỡ mang được năm tháng. Bây giờ nó sẽ tiếp tục lớn lên trong bụng cô và cô phải sinh dưỡng nó cho đến lúc nào nó biết được ai là kẻ đã gây ra cái chết cho mẹ nó!

- Kìa, cô...

Bích Trâm kêu lên, định giải thích cho rõ mối quan hệ của mình với Linh, thì cô gái đã cất giọng:

- Tôi là một hồn ma, nên những gì tôi làm bây giờ cô không cưỡng lại được đâu! Nhưng cảm thông cô là người chỉ vô tình, cho nên tôi chỉ nhờ cô mang hộ cái thai này, rồi sinh nở nó, chớ không làm hại cô. Với điều kiện là...

Cô gái vừa bước ra cửa vừa quay lại dặn:

- Với điều kiện là cô không được có bất cứ hành động nào chống lại tôi hoặc tìm cách trục cái thai ra!

Trước khi biến mất, cô ta còn nói rõ:

- Nói tên tôi là Mỹ Lan thì Linh ắt biết!

Cô ta thoắt cái đã mất bóng ngoài cửa. Bà chủ nhà cũng vừa chạy vô, ngơ ngác hỏi:

- Lúc nãy cô hay ai đó la hét gì trong này vậy?

Bích Trâm một tay ôm lấy bụng mình, vừa nói, giọng thất thần:

- Dạ, đâu có gì...
 
***

Cuối cùng thì Bích Trâm cũng gặp được Linh, khi anh chàng tìm tới nhà. Anh vô cùng ngạc nhiên khi ghé vũ trường và nghe tin Bích Trâm đã nghỉ làm, do vậy anh phải tìm về nhà. Anh càng sững sờ khi nhìn thấy Bích Trâm mang cái bụng bầu!

- Kìa, tại sao em...

Bích Trâm biết thế nào Linh cũng ngạc nhiên như vậy, nên cô đã sẵn câu giải thích:

- Trước khi nghe em nói về cái thai trong bụng này, thì em hỏi anh có nhớ gì về cô gái tên Mỹ Lan không?

Vừa nghe nhắc tới cái tên đó tức thời Linh sửng sốt:

- Sao... sao em biết người ấy?

- Điều này không quan trọng, trước hết anh phải trả lời em về cô gái tên Mỹ Lan đã?

- Anh... anh có quen...

- Hơn cả quen nữa phải không?

Linh đành phải thú nhận:

- Đúng, anh có quan hệ tình cảm với cô ấy trước đây.

- Rồi sao lại xa nhau?

- Tại vì...

- Anh hết yêu cô ta, hay bị phụ tình?

Linh nhìn vào Bích Trâm rồi trả lời một cách hơi gượng:

- Cô ấy... bỏ anh.

- Bỏ anh trong khi bụng mang thai hơn bốn tháng sao?

Câu hỏi làm cho Linh thất sắc:

- Em gặp cô ta? Và cô ta đã... nói điều đó?

Bích Trâm ngồi xuống đối diện với Linh, đưa tay chỉ vào bụng:

- Cái thai gần năm tháng của anh để trong bụng cô ấy bây giờ đang nằm trong bụng em đây!

Linh ngỡ Bích Trâm nói đùa, nên bật cười to:

- Em học ai cái kiểu nói đùa đó vậy, Bích Trâm?

Bích Trâm nghiêm giọng:

- Chính cô Mỹ Lan dạy em nói như vậy. Và anh hãy nhớ lại, cách đây chưa đầy hai tuần thì hai đứa mình còn chăn gối với nhau, bụng em đâu có to như bây giờ! Cái bụng bầu này em có được là sau đêm em bị ngất và được ai đó đưa về căn phòng lạ chỉ có một chiếc giường...

Linh hốt hoảng:

- Em cũng đã tới đó? Căn phòng có chiếc giường bằng ngà?

- Chính xác. Anh đã từng ở đó với Mỹ Lan?

Linh như cái bong bóng xì hơi, giọng thễu não:

- Mọi việc đều diễn ra ở đó. Và cũng chính nơi đó anh đã phạm tội...

Bích Trâm ngạc nhiên:

- Anh phạm tội với ai?

Linh thở dài:

- Thì với Mỹ Lan chớ còn với ai nữa! Hôm đó khi anh gặp em, khiêu vũ với em trong vũ trường xong, lúc đi ra về thì gặp một chiếc xích lô do người đàn ông...

Bích Trâm cắt ngang lời:

- Người đàn ông mặc áo đỏ, đội nón rộng vành!

Linh thất sắc:

- Em cũng đã gặp anh ta?

Bích Trâm lắc đầu:

- May là em chưa gặp, bởi đêm đó em được một người khách nào đó vừa cho tiền vừa báo tin, dặn không cho em tới. Nhưng...

Bỗng cô kêu lên:

- Lần đó thì không, nhưng trước đó, lúc em bị ngất đi thì... không lẽ người ấy đã đưa em về căn phòng ấy?

Cô kể lại cho Linh nghe mọi chuyện. Anh chàng quả quyết:

- Chính là như vậy rồi! Đêm hôm đó anh cũng bị bí mật đưa về nơi ấy và tại đó anh gặp Mỹ Lan.

- Sao cô ấy cũng ở chỗ đó?

- Bây giờ anh mới suy ra ai đó đã bí mật đưa Mỹ Lan về đó, rồi bắt anh tới, chỉ nhằm mục đích buộc anh phải chung chăn gối với Mỹ Lan!

Bích Trâm đâu dễ tin lời biện bạch đó, cô nhẹ lắc đầu:

- Lâu nay em cứ tin rằng anh là người trung thực, không biết nói dối, nào ngờ cuối cùng thì anh cũng để lộ nguyên hình. Anh nói vậy là để nói rằng chỉ vì bắt buộc nên anh mới ăn nằm với cô Mỹ Lan và sau đó để cô ấy mang bầu chớ gì?

- Nói có thể em không tin. Nhưng anh cũng xin nói hết đầu đuôi... Nguyên gia đình của Mỹ Lan trước đó đã muốn ép anh lấy Mỹ Lan, chỉ vì Mỹ Lan giao thiệp rộng, và có yêu một người đàn ông lớn tuổi đã có vợ và là một tay trùm giang hồ, chuyên làm ăn phi pháp, cha mẹ cô ấy không muốn con gái mình lấy một người chồng như vậy, nên cố tình gài cho anh và Mỹ Lan dính với nhau, đặt hai người tụi anh vào thế kẹt, phải lấy nhau nhằm chia cắt chuyện yêu đương linh tinh kia. Anh nhớ ra rồi, tại ngôi nhà đó, vào một đêm thanh vắng, chỉ có hai người tụi anh và... hình như cả hai đã bị cho uống thuốc kích thích, để rồi... mọi chuyện đã xảy ra mà bản thân anh cũng không làm sao kiềm chế nổi!

Linh ngừng lại một lát rồi tiếp:

- Một lần, rồi hai lần... và sau nhiều lần như vậy. Cho đến một hôm anh được Mỹ Lan báo tin rằng cô ấy đã có bầu được hai tháng. Đó là một tin sét đánh đối với anh, bởi khi đó anh đang tới với em, quyết tâm xây dựng lâu dài với em, người mà anh đã xác định chính là vợ anh sau này! Trong một lúc mất tự chủ và cãi nhau vì anh nghĩ mình bị lợi dụng, nghi ngờ cái thai chưa chắc là của anh, nên anh lớn tiếng, rồi Mỹ Lan cũng lớn tiếng lại, kèm theo những lời thách thức, do đó anh tát cô ấy mấy cái. Mỹ Lan không nhịn, thế là cô ấy lao vào anh, trên tay cầm một con dao rọc giấy, vừa hăm dọa. Trong lúc giằng co, anh đã lỡ tay đẩy con dao trúng vào cổ cô ấy và đâm rất sâu! Cô ấy chết ngay sau đó, khiến anh hoảng sợ bỏ chạy đi. Anh trốn luôn, bởi vậy nhiều ngày anh đã không tới với em được...

Bích Trâm bật khóc:

- Cuối cùng tội của anh mà em phải nhận hậu quả. Anh thử tưởng tượng xem, mai mốt em sẽ sinh ra một đứa con... ma thì phải làm sao?

Linh cũng lo sợ:

- Điều này... quả tình anh không nghĩ tới. Anh cũng không biết phải làm sao. Chỉ hy vọng rằng em không phải mang giọt máu ma trong người, mà đó thật sự là giọt máu của anh!

Bích Trâm rên rỉ:

- Thì đúng là giọt máu của anh chớ còn ai vô đây? Nhưng là giọt máu chuyển từ bụng một hồn ma sang cho em!

Linh đau khổ thật sự, anh chợt đứng lên và nói nhanh:

- Anh sẽ đi gặp cô ấy!

Bích Trâm hốt hoảng:

- Gặp một hồn ma, bằng cách nào?

- Anh sẽ tới căn phòng đó!

- Anh biết chỗ?

Linh lắc đầu:

- Chính xác thì anh không biết, nhưng anh tin là mình sẽ tìm ra và sẽ gặp Mỹ Lan. Anh sẽ nói phải quấy với cô ấy, chớ không thể để em chịu vạ lây như thế này!

Bích Trâm ngăn:

- Anh không nên. Xem chừng cô ấy hận anh lắm, sẽ không để anh yên đâu.

Linh vẫn quả quyết:

- Bằng giá nào thì anh cũng phải làm.

Anh đi ra và còn nói một câu mà Bích Trâm chắc sẽ nhớ rất lâu:

- Anh mãi mãi yêu em. Những gì anh làm, anh hứa với em không phải là lời hứa suông hay xạo sự. Anh yêu em.

Linh bước đi mà còn quay nhìn lại cô với ánh mắt rất lạ...
 
***

Bích Trâm rất đỗi ngạc nhiên khi vừa bước ra khỏi nhà đã gặp ngay một người đàn ông có tuổi bước tới chào và tự giới thiệu:

- Tôi là Đỗ Văn, người đã ái mộ cô từ lâu. Nay khó khăn lắm mới tìm được nhà, vậy xin cô dành cho ít thời gian.

Bích Trâm từ sau khi nghỉ làm vũ trường đã rất ngại gặp lại người quen cũ, cho nên cô cố tình né tránh:

- Tôi đang bệnh, vậy phiền ông để tôi đi khám bệnh đã.

Nhưng người đàn ông đã rất nhanh tay, nhét vào tay Bích Trâm một mảnh giấy và nói cũng rất nhanh:

- Cô đi ra đường sẽ gặp nguy. Nửa đêm nay cô sẽ sinh và nhớ là khi sinh con phải bọc nó trong một chiếc khăn màu đen hay vật gì đó màu đen cũng được. Như thế mới bảo đảm mạng sống cho cả hai!

Nói xong ông ta leo lên xe vù đi mất. Bích Trâm thừ người nhìn theo một lúc rồi chợt rùng mình.

Sau đó cô cảm thấy bất an nên quay trở vô nhà.

Vừa gặp bà chủ nhà bước ra, bà ngạc nhiên hỏi:

- Bụng bầu bì như vậy sao đi đâu không kêu xích lô mà đi, lại đi bộ chi cho mệt vậy?

- Dạ, con chỉ đi gần thôi.

Bà kéo tay Bích Trâm vô nhà:

- Lâu nay cô dọn tới ở mà chưa có dịp vô nhà chơi. Nay nghỉ ở nhà, nằm hoài trong phòng tù túng lắm, vậy thường xuyên qua bên đây chơi với bác cho vui. Bác ở có một mình, mà thấy cháu hiền lành dễ thương, nên mến...

Không từ chối được nên Bích Trâm đành phải theo vào phòng khách ngôi nhà lớn. Bà chủ nhà tỏ ra thân thiện:

- Ban đầu khi biết được cháu làm nghề gái nhảy thì ý bác không muốn cho thuê căn phòng đó bởi nói thiệt, bác có hơi ác cảm với cái nghề ấy. Tuy nhiên, khi cháu vô ở được vài tuần thì bác lại đổi ý, còn muốn hạ tiền nhà cho cháu nữa, nhất là mấy bữa thấy cháu bệnh. Mà nè...

Bà hơi ngập ngừng một lúc rồi mới hỏi:

- Hỏi thiệt cháu, mới mấy tuần trước bác đâu thấy cái bụng của cháu, mà sao nay lại... lớn như sắp sinh vậy? Hay là cháu nai nịt để đi làm?

Bích Trâm đáng lý ra nên giấu, nhưng chẳng hiểu sao cô lại tuôn ra hết, kể cho bà chủ nhà nghe chuyện cô đang gặp phải. Nghe xong bà hốt hoảng:

- Như vậy là không xong rồi! Mang thai của quỷ ma thì... làm sao cháu sống được! Mà còn nguy hiểm nữa...

Bà vừa kéo tay Bích Trâm vừa nói:

- Đi với bác lại chỗ này, bác có biết một ông thầy chuyên trừ tà yểm quỷ, phải nhờ ông ta giúp cháu mới được!

Bích Trâm hoảng hốt:

- Không được đâu, con đã hứa với người bắt con mang hộ cái thai này rồi. Con mà làm trái lời thì... con sợ lắm!

Cô giật tay ra và mất thăng bằng ngã vào vách, nơi có đặt chiếc đi văng gỗ, Bích Trâm bị té ngồi xuống đó và một cách ngẫu nhiên cô nhìn lên vách tường, nơi có treo ảnh chân dung lớn của một người đàn ông. Vừa trông thấy Bích Trâm đã kêu lên:

- Người... người này... là... là...

Thấy Bích Trâm có vẻ sợ, bà chủ nhà nói liền:

- Đó là chân dung của ông nhà tôi.

Bích Trâm ngơ ngác:

- Ông ấy... có phải tên là Đỗ Văn không?

Bà chủ nhà giật mình:

- Lâu nay ông ấy không còn ở nhà nữa, sao cháu biết?

- Cháu mới vừa gặp bác ấy ngay trước cửa nhà. Bác ấy còn giúp cháu...

Cô đưa ra mảnh giấy vừa rồi. Bà chủ nhà đọc xong chợt kêu lên:

- Những gì cháu kể hồi nãy có thể đúng với đứa con riêng của ông ấy!

Bích Trâm ngơ ngác:

- Cluyện thế nào cháu không hiểu?

Ngập ngừng một lúc rồi bà chủ nhà mới kể:

- Ông Đỗ Văn chồng bác cách nay hơn một năm bị bác đuổi ra khỏi nhà bởi lý do là... có gia đình riêng với người đàn bà khác đã từ lâu mà tới lúc ấy bác mới phát hiện được. Ông ấy có với người đàn bà kia một đứa con gái năm nay tuổi cỡ bằng cháu. Mà nghe nói cách nay hơn hai tháng đã xảy ra một vụ gì đó, khiến cho đứa con gái đó bị chết thảm! Ông ấy buồn lắm và có về đây một lần xin bác cho trở lại, nhưng bác vẫn cương quyết không chấp nhận. Lúc nãy cháu gặp có thể là ông ta lại muốn về đây để xin xỏ nữa...

Vừa khi ấy chợt có tiếng đẩy cánh cổng sắt, bà chủ nhà giật mình hỏi:

- Lúc nãy cháu vô nhà có khóa cổng lại không?

Bích Trâm kêu lên:

- Dạ, cháu vô ý quên rồi...

Vừa lúc một người đàn ông xuất hiện. Bích Trâm sửng sốt:

- Ông Đỗ Văn!

Bà chủ nhà trừng mắt:

- Ai cho phép ông trở về đây!

Ông ta nói nhanh:

- Tôi không yên tâm nên đánh bạo vô nhà để báo cho cô gái này một tin xấu. Cậu người yêu của cô đang gặp nguy hiểm!

Bích Trâm kinh hãi:

- Sao, anh Linh...

- Cậu ấy đang ở nhà tôi và sẽ bị con Mỹ Lan nó giết chết!

Rồi ông giải thích nhanh để mọi người hiểu:

- Mỹ Lan là đứa con riêng của tôi, cách nay hơn một tháng, nó đã bị chết trong một lần cãi nhau với người yêu là cậu Linh. Người mà sau này tôi mới biết cũng chính là người yêu của cô Bích Trâm đây. Chuyện con Mỹ Lan chết thì coi như xui rủi, nên tôi cũng không khó dễ hay truy cứu gì cậu Linh, nhưng con nhỏ thì không. Nó... thành oan hồn và quyết phải báo thù! Cái vong của nó linh lắm, cứ hiện lên và tìm cách báo oán người đã làm cho nó chết, cũng như những người liên quan tới kẻ nó muốn hại. Tình cờ tôi biết cô Bích Trâm đây bị nó đưa về nhà và ra tay hãm hại bằng cách khiến cô này mang cái thai của nó và sẽ là mầm họa cho cậu Linh sau này. Tôi thương con, nhưng không muốn nó ra tay độc ác, hại người, bởi vậy tôi luôn lén tìm cách cứu cô đây và cả cậu Linh nữa. Nhưng chẳng hiểu sao lúc nãy cậu ấy lại tự tìm tới nhà và gây sự với con Mỹ Lan. Mà như vậy thì chỉ có chết mà thôi!

Bích Trâm quên rằng mình đang mang bầu, cô vụt chạy ra ngoài, miệng nói lảm nhảm:

- Linh ơi đừng... đừng làm thế!

Ông Đỗ Văn phải chạy theo và nói:

- Cô đâu có nhớ chỗ đó, để tôi dẫn đường cho!

Bích Trâm bước đi như kẻ mộng du...
 
***

Một người đàn bà tuổi cỡ bà chủ nhà của Bích Trâm đứng ngay trước nhà, vừa thấy ông Đỗ Văn về thì mừng rơn:

- Tôi sốt ruột hết sức, sao ông đi gì mà lâu dữ vậy? Mà cô gái đó đâu, ông có dẫn về không?

Nhìn sang Bích Trâm bà vui hẳn lên:

- Đây rồi. Nhưng... sao lại là người có bầu? Nó biểu kiếm mấy cô gái làm nghề vũ nữ, càng trẻ đẹp chừng nào tốt chừng nấy mà...

Ông Đỗ Văn vội kéo tay bà vào một góc nhà, nói nhanh:

- Tôi không thể làm theo lời nó được! Lần trước chính vì thương nó, muốn nó không quậy phá mà tôi đã hại cô này, khiến cho cổ mang cái thai oan nghiệt của nó. Dòng máu ma đang trong người cô ấy!

Rồi ông quay sang Bích Trâm nói rất khẽ:

- Lúc nãy tôi ngăn không cho cô đi là vì vậy. Tôi không nỡ tiếp tay cho con Mỹ Lan hại người nữa. Chúng tôi khổ lắm cô ơi...

Người đàn bà lúc này cũng đã hiểu và cũng khóc với ông. Một lúc sau họ cùng thố lộ:

- Mỹ Lan là con gái chúng tôi. Nó vốn là đứa bướng bỉnh, quen được nuông chiều nên hư hỏng. Nó quan hệ tình cảm tùm lum nên lỡ mang bầu với một thằng không ra gì, đến khi chúng tôi hay được thì đã muộn, cho nên chỉ còn cách là tìm một người con trai đàng hoàng ép nó phải lấy, để cứu danh dự nhà này. Nào ngờ...

Bà khóc nức nở, nói tiếp:

- Oan hồn nó thành ma hiện về và bắt ba nó đây phải đi tìm những cô gái làm nghề vũ nữ, mà nó cho là đã giành người yêu với nó, để báo oán!

Bây giờ Bích Trâm mới lên tiếng:

- Sao cô ấy không tự đi tìm, mà phải nhờ đến bác trai đây?

Ông Đỗ Văn nói:

- Oan hồn nó chỉ linh ứng trong phòng nơi nó bị chết mà thôi.

- Nhưng cô ta đã tới tận nơi cháu ở một lần hôm trước!

Bà vợ nức nở:

- Chỉ bởi lần đó nó sốt ruột, muốn đạt được mục đích sớm nên mới xuất vong đi liều. Bởi vậy khi trở về nó suýt nữa đã... tiêu tán hồn phách!

Bà nói điều này ra rồi như biết mình đã lỡ lời, nên vội im lặng. Ông Đỗ Văn sau mấy giây lưỡng lự đành phải tiết lộ hết:

- Hồn phách của nó tuy quậy phá, nhưng với người ngoài, còn với chúng tôi thì nó vẫn là đứa con gái duy nhất, dẫu biết nó chỉ còn là hồn ma bóng quế, nhưng chúng tôi vẫn không nỡ để nó biến đi.

Bà chỉ tay vào phòng trong:

- Có thằng Linh tới, đang ở trong đó. Thấy nó cũng tội nghiệp, nhưng tôi không thể cản được...

Ông Đỗ Văn chép miệng:

- Oan nghiệt!

Rồi ông quay sang Bích Trâm, nói khẽ:

- Nó đã bắt cô mang giùm giọt máu nợ của nó trong người thì chắc nó sẽ không hại cô nữa đâu, vậy may ra đích thân cô vào trong đó năn nỉ nó đừng giết hại cậu Linh, hy vọng nó sẽ nghe...

Bích Trâm nói nhanh:

- Cháu sẽ làm, dẫu có chết cũng được. Cháu phải cứu anh Linh.

Vừa dứt lời Bích Trâm đã chạy nhanh vào nhà trong, mặc dù không nhớ lối vào. Cũng may, cô nghe văng vẳng giọng của Linh trong một gian phòng phía tay trái. Đẩy mạnh cửa vào, Bích Trâm sững sờ khi trước mặt mình hiện ra căn phòng giống hệt như căn phòng hôm trước!

Linh đang quỳ gối trước chiếc giường trống không, nhưng cứ nhìn nét mặt thất thần của anh cũng đủ biết là Linh đang sợ hãi tột cùng!

- Linh! Sao anh...

Lời Bích Trâm chưa dứt thì mấy chiếc gối từ trên giường đã bay vù vù nhắm thẳng vào cô. Bị xô ngược về sau, Bích Trâm bàng hoàng chợt hiểu đây là căn phòng của hồn ma cô Mỹ Lan.

Bỗng nghe Linh cất tiếng:

- Xin cô tha cho Bích Trâm, cô ấy là người hiền lương, vô tội. Tôi xin nhận hết mọi trách nhiệm, kể cả việc nuôi đứa con trong bụng cô ấy, miễn sao cô đừng bắt cô ấy phải tiếp tục mang bầu...

Một giọng sắc lạnh vang lên:

- Không mang bầu thì làm sao sinh con được! Chỉ bắt nó mang bầu và sinh con đã là nương nhẹ lắm rồi, chớ đúng ra hễ đứa nào là vũ nữ thì phải giết hết! Những đứa này chuyên làm mê đắm đàn ông, khiến họ bỏ bê gia đình, phụ rẫy người yêu.

- Nhưng... cô ấy còn phải làm để sống. Vả lại mang cái thai đó, khi đẻ ra thì...

- Máu ma mà do người đẻ thì vẫn là người, có sao đâu.

Bích Trâm cũng sụp xuống lạy mấy lạy liền, van xin:

- Tôi xin chấp nhận mang thai đứa bé này và sinh nở đàng hoàng theo ý cô. Chỉ xin cô đừng hại anh Linh. Cô phải để anh ấy sống mà làm lụng nuôi đứa nhỏ, chớ đời vũ nữ của tôi từ nay coi như hết. Tôi lạy cô...

Linh giành nói:

- Có giết thì hãy giết tôi, còn cô ấy xin hãy để cho sống. Tôi van cô...

Linh lao tới quỳ chắn ngang trước mặt Bích Trâm. Phần cô vũ nữ thì cũng cương quyết không kém, cô bất thần lao tới phía trước có lẽ muốn giành chết với người yêu. Nhưng do bụng có mang nặng nề nên vấp chân, Bích Trâm ngã chúi nhủi đầu xuống sàn nhà, bụng đập xuống thật mạnh.

Một tiếng thét kinh hoàng vang lên, cùng lúc ở phần bụng dưới của Bích Trâm máu tràn ra, thấm ướt cả một vũng!

Tiếng thét tiếp theo là của người khuất mặt Mỹ Lan. Tiếng thét không hiểu ý nghĩa là gì, chỉ biết sau đó thì căn phòng tối sầm lại, cùng lúc với những tiếng động ầm ầm liên tiếp. Hình như mọi cửa sổ, cửa cái đều đang bị đập mạnh.

Vừa lúc có tiếng kêu của vợ chồng ông Đỗ Văn:

- Mỹ Lan ơi, đừng!

Họ xuất hiện ngay cửa phòng và chỉ kịp nhìn thấy một luồng sáng lập lòe thoát ra khỏi cửa sổ!

- Mỹ Lan!

Giọng bà mẹ gào lên rồi quỵ xuống. Ông Đỗ Văn cũng đổ xuống bên cạnh vợ, thều thào:

- Nó... nó đi rồi. Nó vĩnh viễn đi rồi...

Một luồng khí lạnh thổi qua, khiến hai ông bà đều chìm vào cơn mê, đầu óc lờ mờ...

Khá lâu sau...

Lần lượt Linh mở mắt trước. Rồi tới Bích Trâm...

Và sau cùng vợ chồng ông Đỗ Văn tỉnh lại...

Khi cả bốn người hoàn hồn thì căn phòng đã sáng trở lại. Có tiếng trẻ con khóc oe oe khiến Linh giật mình kêu lên:

- Con... con nít! Trời ơi, Bích Trâm sinh rồi!

Có lẽ cú té ngã vừa rồi đã làm động cái thai và Bích Trâm đã sanh non! Bà mẹ Mỹ Lan hốt hoảng:

- Thai mới năm tháng mà sinh sao được!

Nhưng lúc ấy tiếng khóc lại vang lên nữa. Linh nhìn xuống thấy một hài nhi đỏ hỏn nằm trên sàn, nó đang huơ đạp và khóc dữ dội, chứng tỏ là một hài nhi còn sống. Anh quýnh lên:

- Đứa bé còn sống!

Chẳng hiểu sao lúc ấy Bích Trâm cũng bật dậy và một cách tự nhiên, cô bế đứa bé lên, nhẹ nhàng lấy vạt áo màu đen của mình trùm nó lại, vừa thốt lên:

- Tội nghiệp...

Ông Đỗ Văn mau mắn chạy đi, lát sau ông trở lại với chiếc khăn màu xanh đen, đưa cho Bích Trâm và giục:

- Mau trùm lại cho cháu!

Lúc ấy hầu như ai cũng quên thân phận của đứa bé. Hay đúng hơn, họ không muốn nghĩ đó là một giọt máu ma!

***

Đứa trẻ sinh thiếu tháng tưởng khó mà nuôi được, nào ngờ sau đó nó sống khỏe và lớn rất nhanh! Chỉ mới một tháng tuổi mà trông con bé chẳng khác một đứa trẻ bốn năm tháng, khiến ông bà Đỗ Văn cũng phải vui mừng:

- Vậy là mình có cháu rồi!

Ông Đỗ Văn muốn nhắc bà vợ về gốc tích của đứa trẻ, nhưng nhìn nó thấy thương quá nên ông cũng không nỡ nói ra. Linh thì hết nhìn Bích Trâm rồi nhìn đứa bé, anh thốt lên tự tấm lòng:

- Mình có con rồi!

Bích Trâm cũng âu yếm ôm con vào lòng, nói như bất cứ người mẹ nào vừa có đứa con đầu lòng:

- Hãy ngoan đi cục cưng của mẹ.

Đứa bé nhoẻn miệng cười và chớp chớp mắt liền mấy cái, như nghe và hiểu được những lời người lớn vừa nói. Đặc biệt là kể từ sau khi khóc lần đầu khi mới sinh ra, đến nay được một tháng mà nó chưa hề khóc tiếng nào!

Linh khẽ nói với Bích Trâm:

- Nó thương hai vợ chồng đang thất nghiệp, nên không làm khó mình đó em!

Ông Đỗ Văn đề nghị:

- Dẫu sao đây cũng là cháu của chúng tôi, nên từ nay cho chúng tôi nhận nó là... cháu ngoại và hai cháu cứ ở lại đây mọi thứ tôi lo.

Nhìn ánh mắt chân thành của ông bà, Bích Trâm và Linh nhẹ gật đầu:

- Chúng cháu xin nhận. Cho đến khi nào đứa bé cứng cáp thì chúng cháu sẽ liệu...

- Không liệu gì hết. Chúng tôi không còn con cái nào khác, nên hai đứa như con ruột của nhà này!

Bỗng đứa bé cười thành tiếng rồi đưa tay huơ huơ nhiều cái như đồng tình! Bà mẹ Mỹ Lan phải kêu lên:

- Cháu tôi nó nhận lời bà ngoại nó rồi!
 
***

Tuy cố quên nguồn gốc của đứa bé, nhưng cứ thỉnh thoảng Bích Trâm vẫn giật mình khi nhớ lại. Cô tâm sự với Linh, nhưng anh chàng vẫn lạc quan nói:

- Mặc kệ. Với tấm lòng thành, mình cứ van vái và cầu mong cho Mỹ Lan thương tình, để mọi việc trôi qua êm thắm...

Chẳng hiểu có phải do lòng thành của họ, hay do Mỹ Lan đã vĩnh viễn đi về cõi hư vô, mà sau đó nhiều ngày, mọi việc vẫn bình lặng trôi qua...

Đứa bé lớn lên bình thường không có biểu hiện của dòng máu ma. Nó phát triển bụ bẫm, trí não thông minh và được mọi người yêu quý.

Khi bé được ba tuổi thì Linh và Bích Trâm mới dám tổ chức lễ cưới. Ông bà Đỗ Văn đứng về phía nhà gái, tác hợp cho hai người. Con bé Thu Minh chạy lăng quăng theo chân bố mẹ khiến mọi người thích thú, khen không ngớt lời...
Sự đời cà khịa cái chơi
Khi vui muốn khóc, khi cười buồn tênh!
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2011-06-20 06:32:58Soccon>
CHIẾC VÒNG HÔN ƯỚC

1. Giấc mộng đêm hè


Hảo tự dưng thấy khó ngủ, nên anh đi tắm và sau đó mở toang cửa phòng ngủ trên lầu, nằm quay ra hướng cửa nhìn ra bầu trời đêm lác đác vài vì sao lạc. Bất giác Hảo tự nhủ:

- Thấy sao băng mà ước điều gì ắt được điều ấy!

Tự dưng anh mỉm cười với chính mình. Bởi đã lâu lắm rồi anh không hề có một ước mơ nào cả. Có thể do quá bận bịu cho kỳ thi lấy bằng cử nhân luật, đồng thời có lẽ do đâu óc Hảo luôn căng thẳng chuyện cứ bị mẹ mình giục cưới vợ, làm cho anh chàng chẳng hề dám nghĩ ngợi điều gì ngoài những điều xảy ra trước mắt.

Mà người ta nói cũng đúng, chỉ những người nhàn rỗi hay quá thiếu thực tế mới hay mơ mộng, ước mơ thôi...

- Cậu ơi, bà muốn gặp cậu dưới nhà, mời cậu xuống.

Tiếng gọi của bà Linh làm cắt ngang dòng suy nghĩ của Hảo, anh hỏi vọng ra:

- Bây giờ mấy giờ rồi mà mẹ tôi còn thức?

- Dạ, đã khá khuya rồi, nhưng bà vẫn đang ngồi đợi cậu ở phòng khách.

Miễn cưỡng Hảo mặc áo khoác ngoài rồi xuống phòng khách. Anh nhìn đồng hồ tay thấy đã hơn mười giờ, nên vừa thấy mặt mẹ anh đã càu nhàu:

- Con đang mất ngủ mà má càng làm con khó ngủ hơn. Việc gì để ngày mai không được sao má?

Bà Dung chép miệng:

- Phải thức tới giờ này má đâu có muốn. Nhưng cứ hễ nhắm mắt lại thì y như rằng lại nghe tiếng nói nhắc chuyện mà chính má con phát ngán ngẫm...

Hảo vừa ngáp vừa ngồi xuống ghế trường kỷ, lặp lại:

- Chuyện gì vậy má?

Bà Dung hơi khó nói, nhưng rồi cũng phải bộc bạch:

- Ai đó cứ giục má cưới vợ cho con hoài. Đã ba đêm liền, cứ vào khoảng chín mười giờ khi má đang ngủ thì bị gọi giật ngược dậy.

Hảo lại càu nhàu:

- Tại má cứ nhai trầu hoài, vôi và lá trầu nóng làm thần kinh má căng thẳng và sinh ra mộng mị lung tung. Má thôi đừng ăn trầu nữa sẽ hết ngay thôi!

Bà Dung lắc đầu:

- Má đã bỏ trầu từ cả tháng nay, từ lúc bị bịnh. Nhưng càng nhịn trầu thì buồn miệng, lại càng khó ngủ. Mà hễ ngủ thì y như là... chiêm bao. Ba bữa nay má chiêm bao thấy có một người nào đó lạ hoắc, cứ đứng trước mặt má nghiêm sắc mặt rồi nói như ra lệnh: "Bà phải cưới vợ cho thằng con trai ngay đi, không được để cho có người phải chờ đợi. Bà mà không nghe lời thì đừng trách sao tai họa tới". Đó, con nghĩ sao với lời đe dọa này?

Hảo xua tay:

- Ba cái chuyện vớ vẩn đó mà má cũng tin sao? Chẳng lẽ trong chiêm bao má thấy ai đó biểu giết người rồi má cũng nghe theo sao?

Bà Dung vẫn quả quyết:

- Nhưng chuyện này khác! Hình như ai đó biết chuyện con không thích lấy vợ nên quyết ép má phải giục con làm theo. Vả lại người ấy còn nói mối lương duyên này nếu không thành thì má và con sẽ không toàn mạng!

Hảo đến phải bực lên:

- Má còn nói chuyện đó nữa thì ngay sáng mai con sẽ đi chơi xa, đến khi nào má thôi không có ý đó nữa con mới về.

Bà Dung còn lạ gì tính thằng con cứng đầu như ba nó, có nói lắm thì cũng chỉ đưa tới hai mẹ con cãi nhau mà thôi, nên bà hơi dịu giọng:

- Nhưng con không thương má sao Hảo? Nếu tình trạng này kéo dài chắc là má sẽ điên mất!

Cũng thừa hiểu mẹ mình có bộ thần kinh không tốt, nên Hảo cũng bớt nói cứng:

- Thì cái gì má cũng để từ từ con tính, chớ gấp gáp sao được.

Nghe con nói câu đó bà Dung mừng rơn:

- Con hứa với má rồi đó nghen! Chỉ cần con hứa thôi, má cũng sẽ ngủ được tối nay.

- Nhưng mà...

Hảo định nói thêm, nhưng chợt nghĩ lại nên anh thôi. Dợm đứng lên đi về phòng thì bà Dung dặn thêm:

- Mấy ngày nay con phải ở nhà để mẹ an tâm, đừng đi đâu nghe chưa.

Hảo miễn cưỡng hứa:

- Dạ. Nhưng má cũng đừng có nghĩ ngợi linh tinh nữa. Má cần thuốc an thần không con đi mua?

Bà Dung lắc đầu:

- Má uống đến hai viên mỗi đêm, thay vì một viên như bác sĩ dặn, mà có tác dụng gì đâu.

- Má cũng đừng uống quá liều như vậy, càng có hại thêm mà thôi. Chỉ cần mỗi đêm một viên rồi thanh thản mà ngủ, như vậy sẽ có hiệu quả hơn.

Tuy dặn mẹ mình như vậy, nhưng chính Hảo khi trở về phòng lại càng nghĩ ngợi lung tung và hầu như chẳng tài nào chợp mắt được. Cho đến khi đồng hồ treo tường gõ hai tiếng khô khan...

Cảm giác hơi lạnh bên ngoài lùa vào một cách bất thường, khó chịu, Hảo đứng lên đóng cửa sổ lại. Đêm hè trời oi bức mà lại có những luồng gió khó chịu quá.

Hảo trở lại giường nằm và bắt đầu nhắm mắt lại, đếm số như nhiều lần mất ngủ anh vẫn hay làm. Một, hai... mười... hai mươi... cho đến số một ngàn thì đôi mắt của Hảo mới từ từ khép lại thật, cơn buồn ngủ ập đến...

- Nè, sao nhốt người ta trong này, ngộp thở quá đi thôi!

Tiếng của ai đó kêu khe khẽ khiến cho Hảo nhướng mắt lên nhìn, chỉ thấy lờ mờ một bóng con gái ở cách chỗ Hảo chừng vài thước.

- Ai vậy?

Đó là câu hỏi thoáng qua trong đầu Hảo, nhưng ngay lập tức tan biến ngay, bởi cơn buồn ngủ lại ập đến.

- Mở cửa ra mau! Mở cửa...

Hảo lại nhướng mắt lên và lại vẫn nhìn thấy cô gái ấy. Nhưng lần này cô nàng đứng gần cửa sổ hơn, như đang cố đưa tay mở cửa mà không mở được. Lúc này nàng ta quay mặt đối diện, cho nên Hảo nhìn khá rõ khuôn mặt thanh tú với mái tóc dài quá vai. Chỉ có điều là đôi mắt của nàng ta thì sáng nhưng đượm nét buồn sâu thẳm, khiến vừa thoạt nhìn thì Hảo đã có ấn tượng và chút gì đó xót xa... Cái bệnh muôn thuở của Hảo là như vậy, tuy không mê đắm đàn bà, nhưng rất nhạy cảm trước những ánh mắt buồn hay sầu khổ.

- Cô là...

Hảo chỉ hỏi được mấy tiếng đó, rồi như bị ai chận ngang miệng, không thể nói thêm nữa. Cho đến khi cô gái nhắc lại lời than vãn lúc nãy:

- Ngộp thở quá, làm ơn giúp thả em ra đi!

Hảo lấy làm lạ, tại sao cô nàng cũng ở trong phòng như anh mà lại kêu khó thở, trong khi anh thì vẫn bình thường?

- Cô sao vậy?

Lần này thì Hảo đã thốt được thành tiếng và thậm chí còn ngồi bật dậy nữa.

- Cô là ai?

Hảo dợm bước tới thì cô gái hốt hoảng đưa tay ngăn lại:

- Không được đến gần đây! Nếu anh mà tới thì... thì em chết liền tại đây!

Nàng vừa nói xong thì gục xuống, ôm mặt khóc nức nở. Điều này khiến cho Hảo hốt hoảng:

- Kìa, sao cô Iại...

Cô gái giải thích:

- Em đi lạc đường, lỡ đột nhập vào phòng anh, xin anh tha lỗi cho và thả giúp em ra... Nhưng mà không được, em ra bây giờ thì họ giết em chết mất. Xin cho em tá túc một chút nữa, với điều kiện là anh mở giùm cửa sổ ra, em không thể sống mà thiếu không khí được. Xin hãy giúp em...

Hảo ngạc nhiên:

- Ai đang truy đuổi cô?

Cô nàng rõ ràng là đang sắp ngộp thở, chỉ còn có thể huơ hai tay vào không khí một cách yếu ớt, như sắp chết. Hảo không còn kịp nghĩ gì thêm, anh nhảy tới và mở bung cánh cửa sổ ra. Vừa lúc ấy cô gái đổ sụp xuống sàn nhà, người run lên liên hồi.

- Kìa, cô sao vậy?

Cô gái lịm đi, nhưng nhịp thở vẫn còn đều. Hảo lo sợ định gọi mẹ mình, tuy nhiên kịp nghĩ nên anh nín im một lúc rồi nhẹ nhàng gọi:

- Cô ơi, cô có sao không?

Cô gái vẫn nằm im. Hảo chợt nhớ nếu một người bị ngất mà để nằm dưới gạch thì họ có thể bị nhập thổ mà chết, nên anh đánh bạo bế cô nàng lên, đưa lại giường mình. Sợ bị hiểu lầm, nên Hảo vội bật thêm ngọn đèn sáng và lúc này mới giật mình khi nhìn vào khuôn mặt cô nàng.

- Đẹp lạ thường!

Hảo phải thốt lên như vậy rồi đứng ngẩn ngơ một lúc cho đến khi có tiếng gọi của mẹ ở nhà dưới:

- Hảo ơi, có chuyện gì mà con mở đèn sáng nửa đêm vậy?

Sợ mẹ mình lên, nên Hảo vói vọng ra:

- Có con chuột chạy vào phòng nên con đang kiếm đập nó!

Rồi anh tức khắc tắt đèn. Lúc này Hảo mới bắt đầu suy nghĩ là làm sao với cô nàng đây và cô ta là ai? Vào phòng anh từ lúc nào? Trước khi xuống nhà gặp mẹ thì Hảo không hề thấy cô ta trong phòng mình mà...

Bao nhiêu câu hỏi không thể giải đáp trong nhất thời, mà nếu cứ để cô nàng trong phòng mình như thế này e rằng sẽ gặp rắc rối đây! Hảo suy nghĩ nhanh, rồi anh quyết định:

- Cứ để cô ta trong này, mình sang phòng bên ngủ tạm vậy.

Nhà còn mấy phòng trống, trong đó có gian phòng mà Hảo vẫn hay dùng làm nơi học bài. Anh bước ra ngoài, khóa cửa lại ở ngoài, đề phòng cô nàng bước ra đi lung tung chắc chắn sẽ gặp mẹ anh hoặc mấy chị người làm.

Một mình bên phòng kia, Hảo cũng không thể nào ngủ được. Anh ngồi chờ đến khi đồng hồ gõ năm tiếng thì vội trở về phòng, mở cửa vào với ý định là kêu cô nàng dậy để ra khỏi nhà trong khi mọi người còn say ngủ.

Nhưng khi Hảo mở cửa ra anh suýt nữa kêu to, bởi phòng trống không, chẳng thấy bóng dáng cô gái đâu mà cửa chính, cửa sổ đều vẫn còn khóa chặt.

Tìm một lượt khắp nơi trong phòng mà không hề thấy cô ta, Hảo tự hỏi:

- Chẳng Iẽ cô ta biến thành gió bay đi được sao?

Chợt Hảo nhìn thấy có một mảnh giấy đặt trên gối nằm với những chữ viết vội:

"Hãy tìm em ở thôn Đông Thạnh, huyện Thiện Nhân, tỉnh này... Em sẽ chết nếu không được cứu kịp thời. Hãy cứu em với!

Mỹ Hương."

Vừa lúc ấy có tiếng gọi của bà Dung:

- Ra đi với má tới chỗ này gấp, Hảo à!

Đang còn thẫn thờ, nhưng Hảo cũng phải mở cửa ra. Vừa nhìn thấy con, bà Dung đã nói gần nói xa:

- Không chậm trễ được con ơi, mau đi con.

Hảo ngạc nhiên:

- Đi đâu giờ này hả má?

Bà Dung kéo tay con, có lẽ sợ Hảo không chịu đi. Hảo phải kêu lên:

- Má phải để con mặc đồ đã chớ!

Đứng chờ cho con mặc quần áo xong bà Dung mới chịu đi. Xuống tới nhà dưới bà mới nói:

- Má mới vừa bị cái vong của ai đó vừa kêu gào vừa khóc lóc, nói rằng nếu má và con không tới đó liền thì họ sẽ bị chết, mà mẹ con mình cũng nguy tới tánh mạng nữa!

Đã quá chán với câu chuyện của mẹ, nhưng Hảo cũng phải lên tiếng hỏi:

- Đi đâu bây giờ má?

- Qua huyện Thiện Nhân.

Vừa nghe tới đó thì Hảo hoảng vía:

- Má nói đi đâu? Ai ở bên huyện đó?

- Không còn thời giờ nữa, cứ đi rồi ắt biết!

Bà Dung kéo con trai đi mà không cần biết Hảo đang rất hoang mang. Đến khi xe ngừng lại trước một ngôi nhà lớn thì bà Dung không đợi chủ nhà ra, đã gọi lớn vào trong:

- Mở cửa mau lên!

Từ trong có một người lớn tuổi bước ra và không ngờ họ lại rất mừng rỡ khi thấy hai người khách lạ, như đã quen từ lâu:

- Cả nhà đang chờ bà tới từ sáng sớm đến giờ!

Hảo ngạc nhiên, hỏi khẽ mẹ:

- Bộ nhà này quen với má hả?

Sợ con hỏi lôi thôi, bà Dung kéo Hảo đi nhanh vào trong. Có một đôi vợ chồng cỡ tuổi sáu mươi đang ngồi sẵn ở phòng khách, vừa thấy bà Dung vào họ đã reo lên:

- Bà tới kịp thời, may là chưa có chuyện gì xảy ra!

Người phụ nữ, chừng như là chủ nhà, vội nói:

- Suốt đêm rồi chúng tôi cứ bị thúc hối, bảo phải đi tìm bà cho bằng được. Sáng nay chúng tôi vừa tính đi thì nhà tôi đây, người ta gọi là ông giáo Thái, nhận được tin là bà sắp tới, nên cả hai ngồi đây chờ. Có phải bà là bà Dung ở Lộc Thiện? Còn đây là cậu Hảo, một luật sư tương lai?

Hảo ngạc nhiên quá đỗi khi thấy bà ta biết rõ về mình như vậy nên đánh bạo hỏi:

- Sao bác biết con?

Người đàn ông giờ mới lên tiếng:

- Chẳng những biết tên, nghề nghiệp của cậu, mà chúng tôi còn biết cậu có quen với con gái tôi nữa!

Bà Dung nhìn con, sửng sốt:

- Có đúng là con quen với cô nhà này không, Hảo?

Hảo lắc đầu, chưa kịp trả lời thì chợt có tiếng chân bước từ trong ra, rồi một người con gái xuất hiện.

- Hả?

Hảo chỉ kêu được một tiếng rồi sững người như trời trồng. Phần cô gái thì cũng giống như Hảo, cô tròn mắt nhìn khách rồi thốt lên trong sự sửng sốt:

- Là anh đây sao?

Người con gái đang đứng đó chính là cô gái đã lọt vào phòng của Hảo đêm qua! Cô nàng sau vài giây sững sờ, đã lấy lại bình tĩnh và cất tiếng:

- Đúng là anh rồi!

Bà chủ nhà quay sang con, hỏi khẽ:

- Đúng rồi phải không con? Đúng là người con muốn gặp rồi phải không?

Cô gái nhẹ gật đầu:

- Dạ đúng!

Rồi cô bất thần ngã đầu vào Hảo và... òa khóc trong niềm vui tột cùng. Hảo cũng hành động ngoài sức tưởng tượng của chính bản thân mình, anh đưa tay ôm đầu và vuốt lên mái tóc dài của cô nàng.

Tiếng cười giòn của ông chủ nhà:

- Tui nhẹ cả người! Vậy mà hai hôm nay ăn ngủ không yên, cứ ngỡ là tiêu cả rồi!

Bà vợ cũng phụ họa:

- Cho đến trước đây mấy phút tui cũng không tin là mọi việc sẽ kết thúc tốt đẹp, khi mà đến gần năm giờ sáng nay tui vẫn còn bị các vong hồn gào thét đòi giết cả nhà này nếu không tìm được chàng rể cho... con gái tui.

Trong lúc đó cô gái nói khẽ vào tai Hảo:

- Anh thấy chưa, em tha thiết năn nỉ anh qua đây ngay đâu phải là chuyện đùa. Chính mẹ anh cũng hiểu như vậy mà.

Lúc này bà Dung mới thở phào và nói với con, nhưng cho mọi người nghe:

- Tôi cũng mất ngủ và cứ lo ngay ngáy không biết chuyện gì sẽ xảy ra. Bởi cứ nhắm mắt lại ngủ thì nghe tiếng hối thúc phải cưới vợ cho con trai mình. Mà ngặt nỗi, thằng con trai tôi từ nào đến giờ có chịu ai đâu mà cưới. Nó cũng không hề quen với cô gái nào, vậy mà không ngờ lại biết và... thương cô bé này...

Bà giáo Thái vội nói:

- Con gái tôi tên Mỹ Hương, chính nó về đây kể lại là có quen biết với người con trai tên Hảo và nhất quyết là phải cưới cho được người này, nếu không thì chính nó sẽ đi tìm cái chết, chớ không đợi ai giết hại cả.

Trong khi tìm cách cho Hảo và Mỹ Hương ra chỗ khác nói chuyện, bấy giờ bà giáo Thái mới ngồi sát vào bà Dung, nói rất khẽ:

- Trước mặt tụi nó tui phải kể lạc quan như vậy, chớ sự việc thì không phải đơn giản như vậy đâu. Chắc chị đã rõ?

Bà Dung nhẹ gật đầu:

- Dạ tôi biết. Nhân đây tôi muốn hỏi anh chị, phải ta chỉ cho chúng nó giáp mặt là xong chuyện không?

- Tui cũng hy vọng là vậy. Nhưng theo nhà tui thì còn có những rắc rối khác. Để ông ấy kể cho chị nghe.

Ông giáo Thái đưa ra một cái hộp nhỏ bằng bạc đã khá cũ vừa nói:

- Đây là vật bắt đầu câu chuyện. Nó có suôn sẻ và êm xuôi là ở đây, nhất là ở người có duyên giữ nó.

Bà Dung nhìn sững ông Giáo Thái, hỏi lại:

- Và ai là người giữ nó?

Bây giờ ông Giáo Thái mới kể rõ hơn:

- Cách đây ba ngày trong lúc đào gốc cây mai để bón phân, tình cờ tôi thấy cái hộp này nằm dưới đất, vừa lấy lên thì tôi bị ngã vật ra, tay chân tê buốt và bị hành hạ suốt đêm đó...

Bà Dung kinh ngạc:

- Sao vậy? Trong cái hộp này có gì mà ghê gớm như vậy?

Ông giáo Thái từ từ mở nắp hộp ra, để lộ một chiếc vòng cũng bằng bạc nằm gọn trong đó. Bà Dung vẫn chưa hiểu:

- Nó chỉ là chiếc vòng, anh nói là bị hành hạ là sao?

Bà giáo Thái chen vô nói:

- Chị thử cầm nó lên coi, sẽ hiểu thôi.

Bà Dung quên cả dè dặt, cầm ngay chiếc vòng lên nhìn kỹ cả hai mặt rồi giật mình:

- Sao lại có tên của thằng con tôi ở đây vậy?

Rõ ràng trên chiếc vòng cũ hiện lên dòng chữ:

"Trần Thiện Hảo 19 tháng giêng... luật sư".

Ông giáo Thái chưa kịp nói gì thêm thì bà Dung đã lẩm bẩm:

- Đúng là tên họ và ngày sinh của thằng Hảo rồi...

Ông giáo Thái tiếp:

- Ban đầu tôi đâu biết cậu Hảo là ai, nghĩ chắc là ai đó làm thất lạc món đồ này. Nhưng ngay đêm đó tôi được ai đó hiện về trong giấc mơ gọi giật tôi dậy và phán bảo rằng nếu tôi không tìm được người con trai tên Hảo này đem về... làm rể thì cả nhà tôi phải chết. Sáng ra tôi kể lại cho nhà tôi nghe, bà ấy nói là tôi chiêm bao mộng mị, không tin. Đến khi chính bà ấy cũng bị y như vậy thì vợ chồng tôi mới tin là thật.

Bà giáo Thái tiếp lời:

- Có một cái vong bám theo chiếc vòng này, cứ ra lệnh cho tui phải làm theo lời bà ta. Tui tỏ ý không đồng tình thì suốt mấy đêm liền tui chẳng thể nào ngủ được. Có đêm tui còn bị đè đến muốn tắt thở luôn!

Bà Dung chưa thể nào tin:

- Tại sao có chuyện lạ kỳ như vậy? Anh chị nói cái vong là vong gì?

- Thì là vong người chết! Chị chưa từng nghe nói đến vong hay hồn người chết à? Vong là hồn ma hiện về được!

Bà Dung bắt đầu sợ:

- Nhưng sao cái vong gì đó có cái vòng này và bắt ép anh chị là ý gì?

Ông giáo Thái đành phải nói thẳng:

- Họ muốn ép chúng tôi phải gả con gái cho người mà họ chọn.

- Nhưng... người đó là ai?

- Thì là con trai của chị! Bộ chị không thấy cái tên con chị nằm trên chiếc vòng sao?

Bà Dung hốt hoảng:

- Trời ơi, vậy ra con tôi bị... ma quỷ ám rồi sao?

Ông giáo Thái thở dài:

- Mà nào vợ chồng tôi có đứa con gái như ý họ đâu...

Lời ông chưa dứt thì bà vợ đã chen ngang vô, có lẽ sợ ông nói hố:

- Ý ông nhà tui muốn nói... chúng tôi chỉ có một đứa con gái rượu, nay phải nghe theo lời ép buộc này thì...

Bà Dung bất nhẫn:

- Tôi cũng đâu muốn ép uổng gì ai. Vả lại thằng con tôi nó kén cá chọn tôm dữ lắm chớ đâu phải...

Nhưng vừa khi đó Hảo và Mỹ Hương cùng bước vô, họ cùng lên tiếng như một đôi song ca:

- Dạ, tụi con thương nhau chớ có ép gì nhau đâu. Ba má yên tâm, mối lương duyên này là do trời định và tụi con chỉ biết tuân theo thôi!

Vừa nói Mỹ Hương vừa giật chiếc vòng trên tay cha và phấn khởi nói:

- Đây là tín vật của chúng con do trời ban cho, chớ phải tụi con tự tới với nhau đâu. Phải không anh Hảo?

Hảo thường khi ít nói, nhất là nhát gái, giờ đây lại nhanh nhẩu:

- Vợ con nói đúng!

Bà Dung sững sờ nhìn con trai:

- Hảo, con vừa nói...

Hảo ôm vai Mỹ Hương, mặt lộ vẻ phấn khởi:

- Tụi con đã quyết định rồi, hai đứa sẽ cưới nhau. Nay chỉ còn chờ ý của hai bên cha mẹ thôi!

Mặc dù dẫn con đi tìm vợ do bị thúc ép, vậy mà khi nghe con nói, bà Dung lại một lần nữa kinh ngạc:

- Con nói thiệt?

Cả Mỹ Hương cũng lên tiếng:

- Chuyện trọng đại sao dám nói chơi được má!

Ông bà giáo Thái hình như không dám có ý kiến gì khác trong việc này, nên họ cùng gật đầu một lượt:

- Các con tính sao cũng được.

Bà Dung đành phải gật đầu theo:

- Tùy con thôi...

Mỹ Hương lấy chiếc vòng đeo vào tay Hảo, vừa dặn:

- Đây là chiếc vòng hôn ước, anh đeo vô rồi thì vĩnh viễn không được tháo ra đó nghen!

Hảo phấn khởi:

- Đeo vô để chúng ta có đôi bên nhau thì dại gì mà cởi ra!

Nhưng vừa đeo chiếc vòng vào tay thì bất ngờ Hảo kêu thét lên một tiếng rồi sau đó ngã bật ra nằm bất động. Bà Dung kinh hoảng:

- Trời ơi, sao vậy con!

Trong lúc mọi người lo sợ thì trái lại Mỹ Hương tỉnh táo như chẳng có gì xảy ra, cô nói:

- Có như vậy thì mọi việc mới tốt đẹp. Thôi bây giờ má có thể về được rồi, còn anh Hảo thì má để bên này con lo, chiều cả hai con cùng về một lượt.

Bà Dung đâu thể yên tâm:

- Nhưng mà... nó bị như vậy...

Mỹ Hương cúi xuống và thật bất ngờ, cô ta bế xốc Hảo trên tay, đi thẳng vào phòng trong trước sự ngơ ngác của hai bên cha mẹ. Chính bà giáo Thái cũng phải lên tiểng hỏi chồng:

- Sao nó mạnh dữ vậy?

Ông giáo Thái nhẹ lắc đầu:

- Làm sao tôi biết được? À mà không, tôi muốn nói... con gái mới lớn mà, nó khỏe hơn mình nhiều. Bà không nghe người ta nói tuổi mười bảy bẻ gãy sừng trâu sao!

Bà Dung sững sờ giây lâu rồi Iắc đầu, chép miệng:

- Tôi không thể nào hiểu nổi, nhưng tôi vẫn lo cho thằng Hảo...

Bà giáo Thái lên tiếng:

- Con gái tui đã nói rồi, chị cứ yên tâm ra về để chuẩn bị đám cưới cho tụi nó đi. Chớ điệu này tui e để lâu sẽ ăn thú phạt quá!

Ông giáo Thái cũng nói:

- Hổm nay tụi tôi đau đầu lắm rồi, nếu giải quyết được sớm thì trút cái gánh nặng ngàn cân này chắc tụi tôi làm heo ăn mừng quá!

Lại sợ ông chồng nói hớ, bà vợ phải chận ngang:

- Hổm nay ông ấy bị oan hồn ám nên nói năng cứ như là người cõi trên vậy đó. Thôi, nếu chị muốn về thì để tui biểu tụi nó đưa ghe cho về, đỡ mệt hơn đi xe.

Bà Dung vẫn còn muốn hỏi thêm, bà kề tai bà sui gia hỏi nhỏ:

- Tôi vẫn chưa biết cái vong, hay oan hồn là ai vậy? Mà tại sao họ lại can thiệp vô chuyện của con tôi và con anh chị?

Bà giáo Thái hình như muốn né tránh nên nói lảng ra:

- Chuyện này... có lẽ mình để sau này đi chị. Thôi, chị sửa soạn về, còn thằng Hảo thì để nó ngủ một lát sẽ dậy thôi. Nó bây giờ cũng giống như ông nhà tui lúc mới nhặt được chiếc vòng, ông cũng ngủ cả buổi mới tỉnh lại.

Bà Dung ngẩn người ra một lúc mới dặn lại trước:

- Anh chị Giáo nhớ lưu ý giùm thằng Hảo, tuy lớn vậy mà tính tình hời hợt lắm, nhiều khi...

Lời bà chưa dứt thì từ trong có tiếng của Mỹ Hương vọng ra:

- Má cứ yên tâm về đi, con lo được cho anh ấy mà. Chiều nay tụi con sẽ về ăn cơm, má nhớ dặn người làm nấu sẵn sớm tụi con về ăn!

Chẳng còn cách nào hơn, bà Dung đành vừa lắc đầu vừa nói khẽ:

- Toàn chuyện gì đâu không, chắc tôi đứng tim mà chết mất!

Bà không đi ghe như gợi ý của vợ chồng giáo Thái mà tự kêu xe ngựa. Vừa về tới nhà thì bà đã nghe chị người làm nói:

- Có một người khách tới tìm cậu Hảo, tui nói cậu đi vắng thì người đó vẫn xông vô nhà và còn nói rằng cô ta nhất định phải chờ để gặp cho được cậu Hảo!

Bà Dung ngạc nhiên:

- Cô ta đâu?

- Dạ, ở trên phòng cậu Hảo.

Bà Dung la toáng lên:

- Sao không có tôi ở nhà chị lại dám cho khách tự tiện vô ra như vậy chớ?

Chị người làm Hai Chanh sợ sệt:

- Dạ thưa bà chủ, con không cho nhưng cô ấy cứ nhất quyết đi đại vô nhà rồi còn chạy thẳng lên phòng cậu Hảo nữa. Con chưa kịp ngăn lại thì cô ấy đã đóng kín cửa phòng rồi ở miết trong đó cho tới giờ!

Bà Dung tự hỏi:

- Ai vậy? Không lẽ thằng Hảo có bạn gái nào khác sao?

Bà vội đi lên lầu, gõ cửa phòng con trai. Từ bên trong có người lên tiếng:

- Cửa không khóa, vô đi!

Nghe tiếng quen quen nên bà Dung đẩy nhanh cánh cửa và sững sờ khi thấy người đang nằm trên giường là... Mỹ Hương, con gái ông bà giáo Thái mà mình mới gặp bên nhà. Bà lắp bắp hỏi:

- Sao con về đây trước bác?

Cô gái lắc đầu:

- Tui tới tìm người tên Hảo, còn bà đây là...?

- Kìa, bác là má thằng Hảo đây, sao con không nhận ra bác hả Mỹ Hương?

Cô gái nghiêm giọng:

- Tui không phải là Mỹ Hương, mà là Ngọc Hạnh. Bà chưa trả lời câu hỏi của tui.

Bà Dung trố mắt:

- Con... cô nói sao? Bác già rồi nhưng đâu có lẫn mà mới tức thời đây đã quên! Con là Mỹ Hương, con gái ông bà giáo Thái ở bên Thiện Nhơn!

Cô gái gay gắt:

- Tui nói rồi, tui là Ngọc Hạnh và tui tới đây không phải để thăm bà, mà là đòi nợ thằng con trai!

Trước thái độ căng thẳng của cô ta, bà Dung phải dịu giọng:

- Tôi xin lỗi... Nhưng không thể nào... nhất định...

Bà định quay xuống nhà gọi Hai Chanh, nhưng chừng như biết ý bà nên cô gái tên Ngọc Hạnh đã chận ngang:

- Bà đừng sai người đi kêu ai đó tới, tui không ngại giết chết họ ngay đâu! Bà hãy bước vô đây nghe tui hỏi, khôn hồn nghe lời thì sống, mà cãi thì... thì chuyện xảy ra ắt bà đoán biết rồi.

Trước lời đe dọa đó bà Dung đành riu ríu bước vô phòng. Bà chưa kịp ngồi xuống đã nghe cô gái hỏi:

- Bà có nhìn thấy cái này chưa?

Cô ta đưa ra một chiếc vòng bạc giống y như chiếc vòng bà Dung mới nhìn thấy ở nhà giáo Thái.

- Ủa, sao nó lại ở đây?

Cô gái hỏi lớn:

- Bà thấy vật này ở đâu?

Tình thật bà Dung kể:

- Tôi mới vừa thấy ở nhà vợ chồng giáo Thái bên Thiện Nhơn, sao cô cũng có?

Cô gái hét lên:

- Quân chó má, bọn chúng đã ra tay trước ta rồi!

Chẳng hiểu ất giáp gì, bà Dung ngơ ngác:

- Cô nói vậy là sao?

Cô ta gầm gừ như con hổ cái:

- Chúng mày tính qua mặt tao phải không? Đâu có được! Phải cho tụi bây biết tay mới hiểu hậu quả của hành động ngu xuẩn là như thế nào!

Cô đứng vụt dậy, đôi mắt long lên tia hung ác khiến cho bà Dung phát khiếp, lùi lại. Cô ta quát lớn:

- Bà dẫn tui qua chỗ đó ngay bây giờ!

- Đi... đi đâu?

- Nhà có chiếc vòng mà bà vừa nói!

Giọng bà Dung run rẩy:

- Cô ơi, chính cô là người biết chuyện đó mà. Chính cô là Mỹ Hương mà...

Cô nàng thẳng tay bóp mạnh cổ bà, khiến bà Dung gần nghẹn họng, bà cố kêu lên:

- Tôi... tôi chết...

Thẳng tay cô nàng xô một cái thật mạnh, làm cho bà già té sấp xuống sàn nhà, trước mắt tối sầm lại, bên tai bà còn nghe văng vẳng:

- Muốn chết thì tao cho chết hết!

- Cô... xin cô...

Bà Dung chỉ kêu lên được mấy tiếng rồi ngất lịm…
Sự đời cà khịa cái chơi
Khi vui muốn khóc, khi cười buồn tênh!
0
2. Nỗi oan

Choàng tỉnh lại, nhìn thấy Mỹ Hương và Hảo trước mặt, bà Dung kêu thét lên:

- Đừng hại tôi!

Hảo hốt hoảng lên tiếng:

- Má sao vậy, con và Mỹ Hương đây mà!

Bà nhìn thẳng vào Mỹ Hương vừa xua tay lia lịa:

- Cô... cô này mới vừa ở đây...

Mỹ Hương phải lên tiếng ngay:

- Con chờ anh Hảo tỉnh lại ở nhà con thì đúng vào giờ cơm, ba má con bắt phải ăn rồi mới được đi. Ăn cơm xong là tụi con đi ngay, mới vừa về tới đây thì nghe chị Hai Chanh nói má có khách tới thăm mà lại tiếp trên phòng anh Hảo, nên con mới chạy lên ngay và... thấy má đang nằm ngủ say!

Bà Dung chưa tin hẳn nên bật ngồi dậy quay sang Hảo, hỏi bằng giọng sợ sệt:

- Đã có ai tìm con chưa?

Hảo ngơ ngác:

- Ai tìm đâu má?

- Một cô gái... mà cô ấy lại giống... giống y như cô này.

Nghe bà gọi mình là cô, Mỹ Hương kêu lên:

- Bộ má không nhận con là con dâu sao! Má...

Hảo cũng nói:

- Sớm muộn gì thì Mỹ Hương cũng là dâu con của má rồi, má đừng...

Bất chợt nhìn thấy chiếc vòng bạc trên cổ tay Hảo, bà kêu lên:

- Chiếc vòng ấy cũng giống hệch như chiếc này! Cô ta cũng có một chiếc...

Hảo gắt lên:

- Má nói cô nào?

Bà Dung phải nói thật:

- Có một cô gái đột nhập vô phòng con đây, cô đưa ra một chiếc vòng bạc giống như chiếc này rồi hỏi má có biết không. Sau khi nghe má nói vừa nhìn thấy nó ở nhà anh chị sui gia thì cô ấy giận dữ, trừng mắt nhìn má rồi còn hăm dọa sẽ giết hết người bên nhà... anh chị sui gia nữa!

Mỹ Hương hốt hoảng:

- Nguy rồi! Điều này có nghĩa là...

Cô quay sang nói với Hảo:

- Anh ở lại đây lo cho má, em phải chạy về nhà gấp.

Cô phóng ra ngoài chạy như bị ma đuổi nhưng dẫu vậy khi về tới nơi thì mọi việc đã quá trễ. Cả hai ông bà giáo Thái đã nằm gục trong nhà. Miệng của hai người đều trào máu.

Đúng ra trước cảnh như vậy thì Mỹ Hương phải gào khóc và tức tốc báo động để gọi người cấp cứu. Đằng này cô lại lặng lẽ bỏ đi và biến mất ở khu nhà mồ dòng họ Henri Phạm ngay trong khuôn viên nhà ông giáo Thái.

Nửa giờ sau Hảo cũng có mặt. Anh không thể yên tâm để Mỹ Hương đi một mình nên vụt chạy theo. Khi vào nhà anh chẳng còn nhìn thấy cảnh tượng mà Mỹ Hương mới thấy, có nghĩa cả hai ông bà giáo Thái đã không còn nằm ở đó nữa. Chỉ còn lại hiện trường mấy vết máu...

Chưa biết chuyện gì đã xảy ra, Hảo cố tìm kiếm khắp nhà, nhưng chẳng hề thấy bóng dáng ông bà Giáo đâu. Chợt nhìn thấy một chiếc khăn tay màu xanh nằm trên vạt cỏ, Hảo giật mình kêu lên:

- Cái này của Mỹ Hương mà?

Anh nhặt lên và tự dưng hướng mắt về phía cuối khu vườn. Linh tính báo cho Hảo biết có điều gì ở nơi đó...

Bước một cách dè dặt về phía đó, Hảo phát hiện ra một dãy nhà xây kiên cố đã cũ, nhưng hình như không phải để ở, mà Ià... nhà mồ. Quả đúng như vậy, khi nhìn thấy dòng chữ trên tấm biển "Mộ phần nhà họ Henri Phạm" thì Hảo kêu lên:

- Đây là nơi chôn cất dòng họ của Mỹ Hương!

Tò mò, Hảo không ngại khi bước thẳng vào bên trong nhà mồ và giật mình khi nhìn thấy chỉ có hai ngôi mộ xây bằng loại đá gì đó ánh lên màu đỏ phản chiếu ánh ngọn đèn le lói trên tường đến chói mắt.

Điều gây ngạc nhiên nhất đối với Hảo là cả một ngôi nhà mồ to lớn có thể chứa cả vài chục ngôi mộ mà chỉ trơ trọi có hai mộ phần. Phải chăng là nơi chôn cất hai người đức cao vọng trọng nhất của dòng họ?

Suy đoán không bằng đến gần xem thực tế, Hảo bước tới phía trước hai ngôi mộ và giật mình khi nhìn thấy hai mộ bia rất giống nhau từ hình thức cho tới tên họ người chết. Mộ bên trái mang tên Mỹ Hạnh còn mộ bên phải là Mỹ Hương.

- Sao lại là... Mỹ Hương?

Hảo kêu lên kinh ngạc rồi đứng thừ người ra. Một luồng khí lạnh đang chạy dọc theo sóng lưng anh, càng lúc càng lạnh hơn khiến Hảo bắt rùng mình.

- Trời ơi, chẳng lẽ...

Anh cố đọc kỹ dòng chữ ghi ngày tháng năm sinh và một lần nữa kêu lên:

- Đúng là cô ấy! Sinh ngày 15.03.1951 và chết ngày 18.06.1971 tức mới chết chưa đầy hai năm, lúc mới vừa tròn hai mươi tuổi!

Hảo nhẩm tính và gần bị choáng, vừa lúc anh đọc thêm mộ bia kế bên của người tên Mỹ Hạnh. Cô này sinh ngày 15.03.1951 và cũng chết ngày 18.06.1971 y như của Mỹ Hương.

- Họ cùng sinh và cùng chết một ngày! Vậy là... hai chị em song sinh!

Hảo rùng mình một lần nữa khi nhớ tới việc sáng nay anh đã trao đổi nụ hôn đầu tiên với Mỹ Hương tại khu vườn nhà này! Khi ấy chính Mỹ Hương đã hỏi anh một câu mà đúng ra nếu anh tỉnh táo, không bị chìm trong mê muội thì đã hiểu ngay ý nghĩa của nó. Câu hỏi quá rõ ràng:

"Nếu có một người không còn sống trên đời này nói yêu anh thì anh nghĩ sao? Anh có yêu người ta không?"

Lúc ấy Hảo đang như nguời cõi trên, anh chỉ biết rút đầu vào ngực cô nàng mà không đáp. Để rồi sau đó đã nói một câu thật mơ hồ:

- Được yêu thì phải yêu cho xứng với tình yêu của người ta cho mình...

Mà cũng kỳ lạ thật, lúc đó tại sao Hảo không hỏi cho rõ ràng tại sao là người sống mà cô nàng có thể lọt vào phòng riêng của anh một cách dễ dàng như thế được?

Nhớ lại những giấc mơ mà mẹ anh kể khiến cho Hảo càng khó hiểu hơn. Cũng như thái độ lập lờ của cha mẹ Mỹ Hương nữa, chắc chắn là còn có điều gì đó bí ẩn trong ngôi nhà này...

Hảo muốn bỏ ra ngoài, nhưng bất chợt anh lại nhìn thấy một vạt áo màu xanh quen thuộc của Mỹ Hương còn ló ra ngoài chỗ nắp đậy ngôi mộ đá.

- Của Mỹ Hương!

Sự thắc mắc và tò mò đã khiến Hảo đâm ra liều. Anh có một quyết định mà nếu lúc khác thì sẽ chẳng bao giờ làm như vậy. Anh đưa tay đẩy thử nắp mộ phần. Và... cái nắp xê dịch một cách nhẹ nhàng!

Cứ nghĩ tới một thi thể như còn sống của Mỹ Hương trong đó, Hảo hơi run... đến khi nguyên phần bên trong mộ huyệt lộ ra thì Hảo mới thét lên:

- Trời ơi!

Người đang nằm trong phần mộ không phải là Mỹ Hương, mà chính là... bà giáo Thái!

- Trời ơi, sao... sao vầy nè?

Hảo vừa hỏi vừa bước lui ra mấy bước. Bất chợt lưng anh va vào một người nào đó ở phía sau. Hảo quay lại và kêu thét lên:

- Trời ơi!

Thì ra người đứng ngay phía sau Hảo chính là... Mỹ Hương!

Hảo cố đứng vững, nhưng đôi chân cứ như bị ai kéo xuống, lảo đảo... Bỗng anh bị bàn tay của Mỹ Hương chụp lấy và nàng nhe răng ra chẳng biết là cười hay khóc mà chỉ mới thoạt nhìn vào Hảo đã rụng rời. Bởi hai bên khóe miệng là hai chiếc răng nanh nhô ra!

- Mỹ Hư... ơ... ng, e...m...

Hảo kêu chưa trọn tên thì đã bị ngay một cái tát cực mạnh, kèm theo tiếng quát:

- Còn kêu tao là Mỹ Hương nữa thì tao sẽ cắt luỡi!

Bây giờ Hảo mới sửng sốt nhìn kỹ. Mặt mày thì giống hệch, chỉ có cách ăn mặc thì không giống, nhất là giọng nói thì khác xa.

- Cô là...

Hảo đưa mắt nhìn xuống mộ bia có tên Mỹ Hạnh và chợt hiểu. Anh lắp bắp:

- Cô là Mỹ Hạnh!

Cô ta không đáp, lại đưa tay kia hình như định kéo Hảo tới gần hơn. Vô tình cổ tay có đeo chiếc vòng bạc của cô ta va chạm vào chiếc vòng trên tay Hảo, vang lên một tiếng khô khan và... cùng với một tiếng thét kinh hoàng từ miệng cô nàng. Rồi trước sự kinh ngạc của Hảo, cô ta lảo đảo ngã xuống.

- Cô Mỹ Hạnh!

Hảo cúi xuống định đỡ cô ta dậy thì ngẫu nhiên lại chụp đúng cổ tay có chiếc vòng bạc. Chẳng hiểu chiếc vòng rộng hay sao, mà vừa nắm phải thì nguyên cái vòng đã nằm gọn trong tay Hảo. Và... chẳng thể nào tin nổi, thân thể của cô nàng bỗng dưng bốc cháy, khói bốc lên xanh cả một góc phòng.

Khi khói tan thì chẳng còn trông thấy thi thể của Mỹ Hạnh đâu nữa. Hảo bàng hoàng:

- Trời ơi!

Vừa lúc ấy chiếc vòng bạc trong tay Hảo bỗng lóe sáng rồi có một luồng khí lạnh buốt chạy theo cánh tay anh, chạy lên tận đầu. Hoảng quá, Hảo tìm cách đặt chiếc vòng xuống nhưng không tài nào tháo ra được. Mà khí lạnh thì càng lúc càng mạnh thêm, khiến cho Hảo hầu như không còn kiểm soát được mình nữa. Anh lấy tay này chụp qua tay kia và chiếc vòng anh đang đeo cũng phát ra luồng khí lạnh khác, giống y như chiếc vòng kia. Hảo quýnh quá, liền kéo mạnh, chiếc vòng đó cũng rơi ra như chiếc kia và... cả hai rơi chồng lên nhau. Lúc ấy cái cảm giác kỳ lạ mới chấm dứt. Hảo ngơ ngác:

- Sao kỳ vậy?

Anh cúi xuống nhìn kỹ vào hai chiếc vòng và càng ngạc nhiên hơn khi trên vòng dòng chữ tên của anh bây giờ có thêm hai chữ Mỹ Hương lồng vào, còn chiếc kia thì thêm hai chữ Mỹ Hạnh xoắn lấy chữ Thiện Hảo.

Hảo hoang mang cực độ, anh lẩm bẩm:

- Sao lại có chuyện này? Tại sao là Mỹ Hạnh?

Vừa khi ấy Hảo nghe có tiếng động ở phần mộ, vừa quay lại anh đã hoảng kinh khi thấy bà giáo Thái đang trèo ra, vừa run lập cập.

- Cứu... cứu ông ấy với!

Hảo ngạc nhiên:

- Cứu ai bác?

- Ông nhà tui! Ông ấy bị...

Bà run run vừa đưa tay chỉ vào phần mộ kế bên. Hảo kinh ngạc:

- Ai ở trong đó?

- Ông nhà tui...

Hảo vừa đưa tay vịn vào thì nắp mộ đá dịch chuyển, rồi một cánh tay đưa lên. Trong lúc Hảo còn đang sợ sệt chưa dám đưa tay nắm lấy, thì bà Giáo đã nhào tới ôm lấy, cố kéo ra. Hảo buộc lòng phải tiếp bà cùng kéo mạnh. Ông giáo Thái ra ngoài rồi mà vẫn còn choáng, ông lảo đảo phải vịn vào thành mộ mới đứng vững. Ông cất giọng yếu ớt:

- Con nhỏ đâu rồi bà?

Bà giáo Thái lắc đầu:

- Tui đâu có biết...

Ông giáo Thái lẩm bẩm:

- Con Mỹ Hạnh... nó đâu có để cho yên...

Hảo chỉ xuống đất và nói nhanh:

- Cô ấy mới ở đây và... biến mất rồi!

Anh thuật nhanh cho ông bà giáo Thái nghe và hỏi lại:

- Cô ấy là ai mà có vẻ không thiện cảm với cháu và hình như là cả nhà này nữa.

Hai ông bà chừng như còn bị choáng sau khi bị lôi từ trong mộ huyệt ra, nên nhất thời họ chưa trả lời câu hỏi của Hảo. Mãi khi chợt nhớ ra điều gì đó, ông Giáo mới sợ sệt hỏi:

- Lúc nãy gặp nó, con có nghe Mỹ Hạnh nói gì hoặc làm gì không?

Chỉ vào hai chiếc vòng bạc, Hảo đáp:

- Có lẽ mọi thứ xuất phát từ những chiếc vòng này. Tại sao nó ở trong tay hai cô gái và đều có dính dáng tới cháu?

Ông giáo Thái sau một lúc ngập ngừng đã phải nói ra điều mà vợ chồng ông có vẻ giấu từ lâu:

- Nói thiệt với con, trong hai đứa này chỉ có con Mỹ Hạnh là con ruột của hai bác. Còn Mỹ Hương...

Tưởng mình nghe lầm, Hảo hỏi lại:

- Bác nói ai?

Bà giáo Thái giọng buồn hiu:

- Chính là con Mỹ Hạnh!

- Vậy còn Mỹ Hương?

- Đây là điều bất hạnh của gia đình bác, mà bây giờ có nói sơ lược thì con cũng không thể hiểu rõ nội tình. Hay là thế này...

Bà quay sang ông giáo Thái hỏi ý:

- Hay là tối nay mình lưu Hảo ở lại và kể hết cho nó nghe?

Ông giáo Thái gật đầu:

- Phải như vậy thôi. Hảo nghĩ thế nào nếu hai bác mời cháu ở lại đây?

Hảo không cần suy nghĩ thêm, anh gật đầu liền:

- Dạ, con sẽ ở lại. Miễn là...

Chừng như hiểu sự đắn đo của Hảo, ông giáo Thái nói nhanh:

- Cháu cần phải nhìn tận mắt, nghe tận tai thì mới có thể tin và cảm thông cho hai bác được. Thật ra vừa rồi hai bác đã gạt con và cả mẹ con nữa...

Câu nói đó khiến cho Hảo sững sờ:

- Hai bác nói thiệt?

Ông giáo Thái cúi xuống nhặt hai chiếc vòng lên và gói lại bằng chiếc khăn tay một cách cẩn thận, rồi bảo:

- Chính hai vật này nó đã hại bác và suýt nữa thì con cũng bị liên lụy.

Ông ra dấu cho Hảo rời khỏi ngôi nhà mồ với vẻ e dè và cẩn thận khóa cửa ngoài. Đồng thời ông bẻ vẹo cả hai chiếc vòng ra, rồi sau đó móc nó trở lại làm thành một vòng khóa thứ hai, rồi mới bỏ di. Hảo chưa hiểu hết câu chuyện, nhưng cũng đi theo họ vào nhà. Khi đã ở trong nhà rồi ông giáo Thái mới an tâm nói:

- Chính bác là người đi tận Thái Lan để mướn người ta làm hai chiếc vòng đó, chỉ nhằm cho cháu vào tròng, đồng thời cứu con gái của hai bác là Mỹ Hạnh. Nhưng không ngờ...

Nhưng lời của ông giáo Thái, Hảo càng nghe càng không tài nào hiểu nổi. Anh ngơ ngác hỏi lại:

- Bác nói gì vậy? Sao lại có cháu trong đó?

Bà giáo Thái tỉ mỉ hơn:

- Số là mười tám năm trước bác sinh một đứa con gái trong nhà bảo sinh tư nhân ở thị xã, nó có một cái bớt đen vắt ngang vai, nên vừa sinh nó ra bác đã linh tính sẽ có chuyện gì đó bất thường. Mà quả thật vậy, chỉ mới sinh được hai giờ thì con nhỏ khóc thét lên, dỗ gì cũng không nín. Người nó tím tái mà ngay như hộ sinh và bác sĩ cũng chẳng làm cách nào cho nó nín. Bác hoảng quá nên cứ nằm bên con mà khóc. Có một lúc vì quá mệt bác đã ngủ thiếp đi. Đến khi tỉnh dậy bác đã vô cùng sửng sốt khi nhìn thấy bên cạnh con mình còn có một đứa trẻ khác nằm ngủ ngon Iành. Nói thiệt, lúc đó bác không thể nào tin được, bởi hai đứa trẻ giống nhau như hai giọt nước, đến bác mà cũng lầm! Phải sau đó khi vạch lưng ra xem, bác mới biết đứa trẻ lạ khác con Mỹ Hạnh nhà bác là ở chỗ trên vai nó không có cái bớt màu đen quái dị.

- Nhưng... đứa trẻ đó ở đâu ra. Đó có phải là Mỹ Hương sau này không?

Bà giáo Thái thở dài đáp:

- Đúng là vậy! Nhưng nó ở đâu ra thì bác không thể biết.

Ông giáo Thái kể tiếp:

- Khi bác vô bảo sinh viện thăm thấy sự việc như vậy bác mới đi hỏi khắp các phòng, chẳng ai biết tung tích đứa bé. Cũng may, sau đó khi bác gái thay tả cho nó thì phát hiện ngay dưới lưng nó có những chữ viết chi chít trên lưng, những chữ có nội dung kỳ lạ vô cùng!

Hảo càng nghe càng bị thu hút bởi câu chuyện, anh lắng nghe kỹ những lời kể tiếp theo của ông giáo Thái:

- Nội dung những dòng chữ đó đại ý nói rằng đứa bé đó ra đời là từ một lời nguyền của một người có tên là Xuân Hương, người ấy căm thù một người đàn ông có tên là Trần Thiện Hữu, nên muốn đứa con rơi của mình lớn lên và tìm kẻ thù để báo cho được hận mà mẹ nó khi chết đi đã không báo được. Và hai bác là người có nghĩa vụ phải nuôi đứa trẻ ấy lớn lên, cho đến khi nào nó báo được thù mới thôi!

Bà giáo Thái tiếp lời chồng:

- Chúng tôi đâu còn cách nào khác ngoài việc phải làm theo lời dặn lạ kỳ đó. Tôi nuôi con bé và đặt tên là Mỹ Hương, gần giống như Mỹ Hạnh con ruột mình. Một tuần sau khi sinh, tôi đưa cả hai đứa con về nhà. Nửa đêm hôm đó tui nghe có tiếng ai đó gọi ngoài cửa sổ bảo rằng phải ra gốc cây ngoài vườn, đào lấy lên hai vật mà bắt buộc phải đeo nó vào cổ tay hai đứa trẻ. Họ bảo rằng nếu để lạc mất một trong hai vật đó thì mạng sống của hai đứa trẻ sẽ bị nguy và người nuôi dưỡng chúng cũng bị ảnh hưởng!

Bà nói tới đó thì ngừng lại, có thể do hết hơi, hoặc vì lý do gì đó... Ông giáo Thái lại phải nói tiếp:

- Chính tôi là người đem cuốc ra gốc cây trúc đào ngoài vườn, đào xuống và gặp hai vật ấy. Đó là đôi vòng bằng bạc mà cháu nhìn thấy hồi nãy.

Hảo chận ngang hỏi:

- Nhưng sao trên hai chiếc vòng lại có in tên của cháu?

- Đúng là ban đầu không phải là tên của cháu đâu, mà là mang tên Trần Thiện Hữu!

Hảo hốt hoảng:

- Sao là Trần Thiện Hữu? Mà Trần Thiện Hữu nào?

Ông giáo Thái lắc đầu:

- Bác cũng không biết. Mãi về sau này khi gặp mẹ cháu, bác mới biết người đó là...

Hảo bàng hoàng:

- Có phải là ba cháu không?

Ông giáo nhẹ gật đầu:

- Rất tiếc là... đúng như vậy!

- Không thể nào!

Hảo kêu lên và đứng bật dậy. Anh lặp lại:

- Ba cháu chết đã lâu, mà ông cũng không thể nào dính tới những người đó!

Ông giáo Thái cũng đứng lên, ông bước vô phòng riêng, lát sau trở ra với một bức ảnh đã khá cũ cầm trên tay, đưa cho Hảo và hỏi:

- Cháu xem ảnh này có phải là cháu và ba cháu không?

Vừa cầm tấm ảnh xem, Hảo đã thảng thốt kêu lên:

- Ba con đây mà!

Trong ảnh, Hảo chụp với cha hồi năm anh mới lên mười tuổi, tức trước khi cha chết năm sáu năm.

- Sao bác có tấm ảnh này?

- Bác đào lên được từ dưới gốc cây như vừa kể, cùng với hai chiếc vòng bạc!

Hảo càng kinh ngạc hơn:

- Sao tấm ảnh này lại ở dưới gốc cây?

Ông giáo Thái trầm giọng xuống:

- Điều này là như bác nói lúc nãy, nó dính tới một lời nguyền.

- Lời nguyền của ai?

- Của người tên Xuân Hương nào đó. Nhưng rủi là nó lại ứng vào nhà của bác, vào đúng đứa con duy nhất của hai bác, con Mỹ Hạnh!

Ông ngừng lại một lúc rồi giải thích tiếp một cách cặn kẽ:

- Ba cậu ngày trước có quan hệ tình cảm với một người con gái tên Xuân Hương. Chẳng hiểu thế nào mà cô gái ấy nửa chừng xuân gãy cánh thiên hương. Cô gái yểu mạng đó chẳng hiểu sao lại hận thù cha cậu và tìm cách báo oán mà chưa có dịp. Ngôi nhà này trước kia là của một ông Đốc phủ sứ, sau bán lại cho tôi. Có lẽ sự trùng hợp ngẫu nhiên đã khiến chúng tôi dính vào vụ này. Có nghĩa là chúng tôi bị dính vô điều rắc rối mà đúng ra là của ba cậu. Có lẽ oan hồn cô Xuân Hương đó lầm tưởng tôi là cha cháu, cho nên mới báo thù ngay đứa con đầu lòng của tôi...

Hảo chận ngang:

- Rồi đứa bé mà sau này là Mỹ Hương thì sao?

Bà giáo Thái chen vô:

- Đó là... đứa con cõi âm, do oan hồn cô Xuân Hương tạo ra để báo oán! Đấy là sự hiểu lầm mà vợ chồng tôi phải lãnh đủ. Như nhà tôi vừa kể, âm hồn nghĩ chồng tui là cha cháu, ông Trần Thiện Hữu!

Đến phiên ông tiếp:

- Hai cái vòng đó thật ra mang tên Trần Thiện Hữu. Tôi biết là cái vòng của cô Xuân Hương đã làm và báo oan sai người, cho nên tôi mới tìm thầy cúng và được biết cách hóa giải hữu hiệu nhất là phải có thầy giỏi, có khả năng làm ra hai chiếc vòng khác, ghi tên người khác để cho hai đứa bé đeo thay vì đeo đôi vòng mang tên Trần Thiện Hữu. Và như tôi đã nói, tôi đã được người hướng dẫn sang tận Thái Lan để cậy một ông thầy bùa danh tiếng bên đó, nhờ ông ấy gỡ đôi vòng có lời nguyền kia, đem về một đôi vòng mới mang tên Trần Thiện Hảo.

- Nhưng sao lại là tên cháu?

- Điều này tôi hoàn toàn không biết, mà là do chính ông thầy người Thái Lan tạo ra. Có thể ông ta làm theo bản năng, cái tên Trần Thiện Hảo đối xứng với Trần Thiện Hữu, Hữu - Hảo, hoặc là do hận thù!

Hảo bỗng hỏi:

- Ông thầy người Thái tên là gì?

- Tôi còn nhớ rất rõ, ông ta là Sinakul Thong Sác!

Hảo sửng sốt:

- Thong Sác! Trời ơi, có lẽ nào...

Tới phiên vợ chồng Giáo Thái kinh ngạc:

- Sao vậy? Cháu biết người này?

Hảo lắp bắp:

- Đó là... là người quen cũ của mẹ cháu! Ông ta ngày xưa làm thầy ở xứ này, sau thất tình khi mẹ cháu đi lấy chồng nên bỏ xứ ra đi. Mẹ cháu từng kể nhiều lần tên ông ta, ngày còn sống ba cháu cũng đã đôi lần đi tận Thái Lan để tìm, bởi giữa hai người có mối hiềm khích từ xa xưa...

Bà giáo Thái bịt miệng:

- Vậy thì đúng rồi! Thảo nào khi ông nhà tui tìm sang đó, sau khi kể chuyện thì ông ta tự ý làm đôi vòng khác, khắc tên Trần Thiện Hảo lên đó. Có lẽ ông ta nhằm trả thù, muốn hại giọt máu kẻ tình địch của mình!

Hảo ôm đầu rên rỉ:

- Trời ơi, sao người ta lại nhẫn tâm, báo thù ngay trên một đứa trẻ con như cháu?

Hảo muốn bỏ đi, anh định về nhà hỏi mẹ đôi điều nhưng vừa lúc ấy ông giáo Thái gọi lại và nói thêm:

- Bác còn chưa nói hết cho cháu nghe, khi được mười tuổi thì con Mỹ Hạnh của bác bỗng ngã bệnh. Nằm dưỡng bịnh được mấy ngày thì một hôm nó biến mất cho đến ngày nay. Sau hơn một năm chờ đợi trong vô vọng thì một đêm kia bác mơ thấy nó hiện về kêu gào thê thảm. Bác hỏi thì nó chẳng những không kể nguyên nhân mà lại chỉ thẳng vào mặt bác mắng xối xả, bảo rằng bác nuôi con người khác, bỏ bê nó. Bác nói gì nó cũng không nghe và trước khi nó đi nó còn lớn tiếng hăm dọa là sẽ khiến cho vợ chồng bác thê thảm mới hả dạ!

Bà giáo Thái lại phải tiếp sức với chồng kể tiếp, bởi kể tới đó thì do quá xúc động nên ông giáo Thái không còn đủ sức nói nữa:

- Sau đó bác mới hiểu ra, do khi đem hai chiếc vòng từ Thái Lan về, thay vì cho cả hai đứa trẻ đeo như lời dặn của ông thầy Thong Sác, đằng này chỉ cho có một mình con Mỹ Hạnh đeo, chỉ vì nó là con ruột của mình, chúng tôi muốn bảo vệ nó.

Hảo buột miệng:

- Có nghĩa là hai bác có ý muốn bỏ rơi Mỹ Hương!

Bà giáo Thái thật lòng:

- Quả là có như vậy, nhưng không phải chúng tôi bỏ rơi con Mỹ Hương, mà đúng hơn là sợ... Bởi ông Thong Sác đưa hai cái vòng đó và dặn kỹ rằng khi lớn lên chỉ đứa nào trong hai đứa mà được lời cầu hôn trước thì sẽ tồn tại, đứa còn lại sẽ khó toàn mạng. Do đó mà chúng tôi chỉ cho con Mỹ Hạnh đeo một chiếc vòng, còn chiếc kia thì đem chôn dưới đất. Không ngờ...

Ông giáo Thái nói:

- Không ngờ con Mỹ Hạnh chết mất xác, mang theo chiếc vòng đang đeo trong tay. Từ đó vợ chồng tôi nghĩ rằng con ruột của mình đã chết rồi thì còn giữ gìn gì nữa, nên tình cảm có chuyển sang cho con Mỹ Hương. Bởi dẫu sao thì vợ chồng tôi cũng nuôi nó từ tấm bé và suốt thời gian dài như vậy chẳng hề phát hiện nó có chút gì là con của ma quỷ cả. Có lẽ vì vậy mà vong hồn con Mỹ Hạnh sinh ra oán hận chúng tôi, cho là chúng tôi không thương nó!

Hảo vẫn còn thắc mắc:

- Nhưng sao hai bác lại xây cái nhà mồ mà trong đó có cả mộ của hai cô?

Bà giáo Thái chợt khóc nức nở:

- Là bi kịch mà vợ chồng tôi phải nhận lãnh đó, chớ đâu phải Iàm theo ý muốn đâu. Đầu tiên con Hạnh hiện về buộc vợ chồng tôi phải xây một cái mộ dành cho... con Mỹ Hương! Tôi hỏi sao con Mỹ Hương còn sống mà lại xây mộ thì nó bảo rằng nó muốn con Mỹ Hương chết theo nó và phải bị nhốt trong một nhà mồ như vậy và nó sẽ là người canh giữ không cho con Mỹ Hương sống, kể cả trong thế giới vô hình! Thì ra khi bị oan hồn cô Xuân Hương hại chết, nó trở thành ma, một thứ hồn ma đồng trinh nên linh ứng và nguy hiểm hơn cả oan hồn của Xuân Hương và nó quay lại trả thù ngay cả giọt máu rơi của ma là Mỹ Hương!

- Nhưng tại sao trong nhà mồ có tới hai mộ huyệt cho cả hai cô?

Ông giáo Thái lắc đầu:

- Tôi cũng chẳng biết tại sao. Bởi khi vừa xây xong ngôi mộ dành cho Mỹ Hương thì ngay sáng hôm sau đã thấy có thêm ngôi thứ hai mà chẳng biết ai xây.

Bà giáo Thái thì quả quyết:

- Chắc chắn là vong hồn cô Xuân Hương rồi! Bởi mấy đêm liền tôi đều nghe tiếng cãi vả bên ngoài vườn, lắng nghe kỹ tôi nhận ra trong hai người cãi có tiếng của Mỹ Hạnh. Nó cãi với người tên Xuân Hương. Thì ra khi chết thành ma thì con Mỹ Hạnh không còn sợ người bắt hồn nó nữa, mà ngược lại nó đâm ra muốn diệt luôn cái mầm mống của Xuân Hương. Nó bây giờ hầu như chẳng còn biết phân biệt ai là ai hết!

Hảo nhớ lại khi hai chiếc vòng chạm nhau thì Mỹ Hạnh ngã lăn ra rồi bốc cháy, anh kể cho ông giáo Thái nghe. Vừa nghe xong ông nói liền:

- Bác đã nghe cháu kể rồi, do vậy khi ra khỏi nhà mồ bác mới dùng hai chiếc vòng để khóa cửa lại. Theo bác, cách ấy sẽ khống chế được cả hai, bởi hai chiếc vòng đều là sản phẩm của ông thầy yểm bùa nổi tiếng, nó có khả năng triệt tiêu luôn những oan hồn uổng tử lộng hành.

Hảo nhìn hai người, dè dặt hỏi:

- Nhưng sao hai bác lại bị nhốt trong nhà mồ, mà lại nằm trong hai cái mộ huyệt đó? Vậy xác hai cô ở đâu?

- Cả hai đều không có xác, con Mỹ Hạnh thì đã mất xác ngay lúc còn nhỏ, còn con Mỹ Hương thì cách đây một năm cũng đã mất tăm, nghe nói chết trôi. Nhưng vong hồn hai đứa thì lúc nào cũng bám theo vợ chồng bác, cứ thúc giục bác phải tìm chồng cho chúng, mà nhất thiết phải là người con của ông Trần Thiện Hữu thì chúng mới chịu!

- Vậy ra hai bác tìm được cháu và gạt cho cháu tới để sa vào chiếc bẫy của hai cô con gái nhà bác?

Ông giáo Thái buồn bã lắc đầu:

- Hai bác chỉ muốn được yên thân thôi! Còn đưa cháu tới đây thì bác làm sao biết cháu là ai, ở đâu mà gọi tới. Chuyện này là do các hồn ma hoặc là do... mẹ cháu!

Hảo bài bác ngay:

- Mẹ cháu làm sao hại con mình mà đưa cháu tới đây? Nhất định là có uẩn khúc gì đây.

Hảo dứt khoát bỏ đi, anh về nhà. Thấy Hảo trở về chị người làm Hai Chanh mừng khôn xiết:

- Bà tỉnh lại lâu lắm rồi, cứ hỏi cậu đi đâu, tui đoán là cậu qua nhà Mỹ Hương nên nói đại. Bà hoảng hốt cứ đòi theo qua bên đó, nhưng do hai chân còn quá yếu đi không được nên bà cứ nằm đó khóc gào, cứ hối tui đi kêu cậu về, đừng ở bên cái nhà ma quỷ đó. Mà nhà nào là nhà ma quỷ vậy cậu?

Hảo không tiện nói ra nên anh giục chị ta:

- Chị đi rước thầy thuốc về trị bệnh cho má tôi đi.

Đợi cho Hai Chanh đi rồi Hảo mới ngồi xuống hỏi mẹ:

- Má nói cho con biết ông Thong Sác hiện giờ ở đâu?

Câu hỏi bất ngờ đó khiến bà Dung giật mình:

- Sao... sao con hỏi chuyện đó? Ông ấy thì có dính gì tới nhà ta nữa đâu...

Hảo nghiêm giọng:

- Con biết hết rồi, chính ông ta đã yểm bùa nhà mình, tính hại chết con để trả thù việc má bỏ ông ta đi lấy ba con ngày trước!

Bà Dung càng lúng túng:

- Ai... ai nói với con chuyện đó?

- Thì chính việc má xui con đi hỏi vợ đúng nhà vợ chồng ông giáo Thái đã nói lên điều đó rồi! Má, tại sao má đưa con vô chỗ chết?

Bà Dung ôm mặt khóc, hồi lâu sau mới nói:

- Việc ấy má hoàn toàn không làm. Mà là do... chính mấy cái vong hồn của hai đứa con gái đó nó xúi má, nó giục má phải đi hỏi vợ cho con bằng được!

Hảo kể lại chuyện biết được bên nhà giáo Thái cho mẹ nghe và lắc đầu bảo:

- Điều đó không đúng! Bởi theo lời nguyền thì một trong hai cô mà nhận được lời cầu hôn trước thì người còn lại sẽ chết, mà chắc gì khi con qua đó lại cầu hôn ai theo ý của họ. Như vậy hai oan hồn đó đã có người đứng sau lưng. Có thể là cô Xuân Hương, mà cũng có thể là... ông Thong Sác?

Bà Dung trầm ngâm một lúc rồi nói:

- Má nghĩ chắc là như vậy. Và đứa con gái được hậu thuẫn mạnh hơn đã thắng, đã được con ngỏ lời cầu hôn. Bởi vậy đứa kia mới chết lần thứ hai.

- Má nói cô Mỹ Hạnh?

- Mỹ Hạnh là người thua cuộc, còn người thắng như lời con kể thì đã chiếm được tình cảm của con. Cô ấy...

Hảo hốt hoảng:

- Như vậy con đã...

Anh không dám nói mình đã có hôn ước với Mỹ Hương, với hồn ma, nên lắp bắp:

- Con... con...

Bà Dung giọng rầu rĩ:

- Dẫu là ai thắng thì con cũng phải chết, bởi có ai yêu hồn ma mà được như ý đâu...

Lời bà chưa dứt thì bỗng có một giọng nói vang lên ngay trong nhà:

- Cũng có ngoại lệ chớ má! Người đó là con đây.

Cả hai quay lại và điếng hồn khi thấy Mỹ Hương đứng phía sau họ. Trông sắc mặt tươi thắm kèm nụ cười khả ái, Hảo giật mình:

- Em... à mà cô không sao chứ?

Mỹ Hương nũng nịu:

- Từng kêu em là em ngọt xớt, mà bây giờ lại cô này cô nọ nữa rồi! Bộ anh nói không còn chiếc vòng hôn ước thì mọi việc xóa bỏ hay sao?

- Nhưng...

- Em tuy là hồn ma, nhưng với nỗi oan ức lớn mà mẹ nuôi em đã mang nên em không thể về với cát bụi như họ được, mà em phải... kết thành nhân duyên với anh!

Hảo lắp bắp hỏi:

- Em là... là con của cô Xuân Hương?

Nàng lắc đầu:

- Em và cô ấy không hề có quan hệ máu thịt gì cả! Em là một đứa con bị bỏ rơi trong nhà bảo sinh đúng vào lúc bà giáo Thái sinh con, rồi em bị ghép vào chung giường với con bà Giáo.

- Ai đã làm chuyện đó?

Hảo hỏi với giọng nghi ngờ, Mỹ Hương đáp có vẻ thành thật:

- Em không hề biết, nhưng chắc chắn là có người sau lưng điều khiển em và có ý muốn cho em gặp được anh, như vừa rồi...

- Người đó là cô Xuân Hương?

Mỹ Hương vẫn lắc đầu:

- Em cũng không rõ, nhưng mới đây thì có một người ra mặt giúp em, đưa em ra khỏi nhà, tránh phải đối đầu với oan hồn của Mỹ Hạnh. Nhờ vậy mà em còn sống đến ngày nay.

Hảo trố mắt kinh ngạc:

- Cô là người sống?

Mỹ Hương cười, gật đầu:

- Là người sống như anh!

Hảo lắc đầu:

- Không thể tin dược! Người sống mà đột nhập vào phòng người khác dễ như bỡn, biến đi như gió là sao?

Mỹ Hương đáp:

- Đó là do em bị người ta sai khiến. Mọi điều là do họ...

Bà Dung nhìn Mỹ Hương từ đầu đến chân, vẻ sợ hãi vẫn còn nguyên:

- Cả hai cô gái nhà ông bà Giáo đều là ma, chớ đâu có ai là người! Tôi không tin...

Mỹ Hương vẫn giữ sự bình tĩnh:

- Vậy mà đây là sự thật! Và chỉ có một người nói thì bác sẽ tin thôi.

Vừa khi ấy có một tiếng tằng hắng phía sau, bà Dung và Hảo quay lại nhìn và kinh ngạc. Nhất là bà Dung, sững sờ trước con người mới vừa xuất hiện đó, bà lắp bắp:

- Ông... ông là...

- Mới có mười lăm năm không gặp mà bà đã quên rồi sao. Thảo nào...

- Thong Sác!

Nghe mẹ kêu cái tên đó Hảo trố mắt nhìn người đàn ông vừa vào, anh cũng lắp bắp:

- Ông... là...

Người đàn ông ăn mặc theo phong cách Thái Lan, nghiêm giọng nói:

- Tôi là Thong Sác! Là...

Ông ta chưa kịp nói thì bà Dung đã chận lại:

- Không được nói! Ông không đủ tư cách nói ra điều đó!

Nhưng Thong Sác vẫn nói:

- Đã đến lúc tôi không được quyền giữ riêng cho mình nữa rồi. Tôi sẽ nói...

Ông quay sang Hảo, nhìn anh với cặp mắt thật trìu mến:

- Hảo, ba đây mới chính là ba ruột của con đây!

Hảo nghe như có tiếng sét bên tai, anh run run hỏi:

- Ông... điên rồi hay sao?

- Không điên! Bởi nếu ta điên thì vừa rồi ta đã không nhanh tay cứu được con khỏi sự trừng trị của Mỹ Hạnh. Việc làm cho nó tan thành khói là do ta làm, chớ đâu phải tự dưng mà nó như vậy sao! Cũng như nếu ta không vì con thì đâu liều mạng với oan hồn dữ dằn của Xuân Hương. Vừa vĩnh viễn đuổi cô ta đi, lại vừa giành lại người con gái có duyên số với con, Mỹ Hương đây!

Trong lúc Hảo còn đang hoang mang, bán tín bán nghi thì bỗng mẹ anh thở dài rồi lên tiếng:

- Ông ấy nói đúng đó con!

Hảo kinh hãi:

- Sao lại có chuyện này?

Ông Thong Sác tiếp lời:

- Ngày mẹ con bỏ ta đi lấy chồng, tức ông Trần Thiện Hữu, cũng là lúc bà ấy đã có thai được hai tháng. Con là cái thai ấy! Không tin thì hỏi mẹ con coi...

Hảo đưa mắt nhìn mẹ và nhận được cái gật đầu của bà. Trong lúc đó thì giọng ông Thong Sác đều đều:

- Ta quả thật có hận thù với ba kế của con, nên lúc đầu có ý báo oán. Nhưng gần đây khi chứng kiến cảnh con và mẹ con khổ sở, lo âu, nên ta kịp nghĩ lại. Ta đã hối hận và quyết làm cái gì đó để chuộc lỗi...

Ông đứng lên, đưa cho Hảo và Mỹ Hương mỗi người một chiếc vòng bạc còn mới, nói bằng giọng chân thành:

- Vật này mới đúng là của hai con. Nó thuần túy là những chiếc vòng hạnh phúc, vòng hôn ước theo phong tục của người Thái. Vậy hai con hãy đeo cho nhau đi, nó hoàn toàn không nguy hiểm gì hết. Đeo vào sẽ được hạnh phúc dài lâu và còn... trị được tà ma nữa!

Ông nói xong bước đi thẳng không nhìn lại. Bất chợt nghe bà Dung kêu lên thảng thốt:

- Anh Thong Sác!

Nhưng ông ta đã biến rất nhanh ngoài đầu ngõ. Hảo đưa tay mình cho Mỹ Hương đeo chiếc vòng và chính anh cũng đeo cho nàng. Họ hoàn toàn bình yên sau khi đeo vòng vào...
Sự đời cà khịa cái chơi
Khi vui muốn khóc, khi cười buồn tênh!
0
KHI NGƯỜI CHẾT TRỞ VỀ

Vào thời năm 1955 mà lái một chiếc xe mui xếp (décapotable) đã là sang trọng và hách xì xằng lắm, mà người lái lại là một cô gái nữa, thì phải nói là cả bãi biển dọc từ Bãi Trước qua Bãi Dứa, Ô Quắn và Bãi Sau thiên hạ đều lác mắt nhìn.

Cô nàng dừng xe lại trước một nhà hàng hải sản ở Bãi Sau tức thời có hơn chục cặp mắt nhìn ra không chớp. Trong số họ có người nhận ra cô gái, nên kêu lên:

- Thu Vân!

Nhưng cô nàng hình như không để ý, cứ câng câng cái mặt đẹp như một tài tử điện ảnh, rồi rú ga phóng đi trước sự trầm trồ của thiên hạ. Người vừa kêu mà không được đáp lại đã không phiền lòng, trái lại còn hãnh diện mình là người duy nhất biết tên cô nàng. Anh ta quay sang mấy người bạn nói lớn:

- Con nhỏ này là con gái của chủ tiệm vàng Kim Xuân ở Chợ Lớn Mới, đi học bên Tây mới về đó!

- Hèn chi chơi như Tây!

Một người khác thêm vào:

- Thời buổi này mà một mình lái chiếc xe mui trần này từ Sài Gòn ra đủ biết không phải tay mơ rồi. Mà chiếc xe đẹp thiệt!

Một anh chàng khác phê bình:

- Khen người lái hoa nhường nguyệt thẹn không khen, lại đi khen chiếc xe!

- Nhan sắc đó thì còn lời lẽ đâu mà khen cho vừa nữa, thấy là đã hết hồn rồi!

Cuộc bàn luận quanh người đẹp có lẽ sẽ chẳng bao giờ chấm dứt nếu không có hai cặp nam nữ nữa vừa bước vô quán mà nhìn cách phục sức, cũng như phong cách của họ đã thấy có sự khác biệt ngay với những người chung quanh. Họ vừa kéo ghế ngồi xuống thì đã bị nhận diện bởi anh chàng biết tên cô gái lái xe mui trần lúc nãy. Anh ta gọi lớn:

- Henri Phạm! Phải toa đó không vậy?

Một trong số hai cặp vừa vào nghe có người gọi đã quay lại và reo lên:

- Ồ Quang, tình cờ thú vị quá vậy!

Anh chàng tên Quang quay sang mấy người bạn, nói như khoe:

- Tay này là anh ruột của con nhỏ Thu Vân hồi nãy. Có lẽ bọn họ đi chung với nhau và hẹn ở đây nên vừa rồi con nhỏ mới dừng xe lại nhìn. Bọn này đều du học bên Pháp và con nhà giàu nữa, nên ăn chơi dữ lắm!

Người tên Henri Phạm kia quay lại hỏi:

- Nãy giờ toa có nhìn thấy em gái moa đi qua đây không? Em gái moa lái chiếc décapotable màu đỏ...

- Có! Nàng đi về phía Ô Quắn, mới đi xong.

- Cám ơn toa, bọn này hẹn nhau ở đây, chắc nó không thấy nên chạy chơi một vòng, lát nữa trở lại thôi.

Anh ta nói xong thì quay lại với mấy người bạn của mình. Họ cầm bia chai ướp lạnh tu mấy hơi dài ra vẻ sành điệu. Quang khều người bạn ngồi cạnh nói khẽ:

- Tụi nó uống bia Pháp, hình như là mang theo đó chớ quán này làm gì có bán.

Vừa khi ấy anh chàng Henri Phạm đích thân cầm sang bốn chai bia lạnh vừa lấy ra từ trong thùng đá, đặt lên bàn và mời:

- Mời các anh cùng uống với mình cho vui!

Quang sợ các bạn ngại, nên vội nói:

- Henri đây là bạn của mình, cậu ấy có nhã ý mời thì các bạn đừng ngại. Vậy xin cám ơn toa!

Ngẫu nhiên mà hai nhóm hòa đồng với nhau, họ cụng ly vui vẻ và quên ngay cô nàng lái xe màu đỏ. Henri Phạm vui miệng nói:

- Bọn này ra dự lễ cưới của con gái ngài tỉnh trưởng, tổ chức ở vườn hoa sứ trên Bạch Dinh vào chiều nay. Bọn này ngủ ở Pacifique, nếu còn ở đây thì tối nay mình gặp nhau, nhảy chơi!

Quang đẩy đưa cho xong chuyện:

- Ờ, để bọn mình coi...

Chớ thật ra Quang không thích cách chơi của bọn con nhà giàu này lắm. Anh tự hiểu là khó lòng chơi theo kịp họ, hơn nữa kiểu chơi thác loạn thâu đêm của họ mà anh từng nghe kể khiến anh chào thua trước.

- Hay là lát nữa toa đi với bọn này, còn mấy bạn toa thì mình hẹn mai gặp để dùng điểm tâm chơi.

Quang từ chối ngay:

- Cám ơn toa, bọn này cũng có một chương trình riêng, nên phải đi ngay sau đây.

Họ cụng ly lần nữa, bọn Quang chuẩn bị chia tay thì chợt có tiếng người kêu thất thanh phía trước:

- Tai nạn ở Ô Quắn, kinh khủng lắm!

Ai đó hỏi:

- Tai nạn thế nào?

Người nọ đáp:

- Có một chiếc xe hơi lạc tay lái đâm đầu xuống vực sâu chỗ Ô Quắn, thảm khốc lắm!

Quang đứng bật dậy ngay và hỏi lớn:

- Có chết người không?

Nghe Quang hỏi, người nọ vừa chạy đi vừa đáp:

- Muốn biết tới đó mà xem! Một chiếc xe màu đỏ đẹp lộng lẫy bây giờ chỉ còn là đống sắt vụn mà thôi.

Cả nhóm của Henri Phạm cùng đứng bật dậy kêu lên:

- Hả? Xe... màu đỏ!

Họ chẳng hẹn mà cùng phóng như bay về hướng xảy ra tai nạn. Nơi đó cách Ô Quắn ngót một cây số, vậy mà cả bọn gần chục người chạy bộ chỉ chưa đầy mười phút đã tới. Nhìn thấy một đám người khá đông bu trên bờ vực sâu, Henri Phạm và Quang cùng chen vào nhìn xuống. Họ chỉ thấy một xác xe màu đỏ nằm kẹt giữa hai tảng đá, sóng biển đang vỗ vào bọt trắng tung ra từng đợt...

- Trời ơi, em tôi!

Henri Phạm như kẻ điên, bất kẻ hiểm nguy chạy ngay xuống vực, một người nào đó la lớn:

- Phải đi theo lối này mới xuống được!

Nhưng Henri Phạm không cần nghe, anh ta cứ lần theo các gờ đá, leo xuống một cách khó khăn mà vẫn không dừng bước. Quang là người thứ hai đi theo lối những người đứng gần đó chỉ cho. Anh xuống được trước, nhưng cũng chỉ cách chiếc xe bị nạn khoảng hơn ba chục mét. Rõ ràng là chiếc xe màu đỏ, mui trần và một người nằm bẹp dí ở tay lái!

- Trời ơi!

Quang kêu lên một tiếng kinh hoàng rồi đảo mắt tìm Henri Phạm. Lúc ấy anh chàng chỉ mới xuống được nửa phần đường và đành phải dừng lại vì không còn lối xuống nữa. Một người cứu hộ đã xuống trước nói vọng lên:

- Anh đó không được xuống nữa nguy hiểm lắm, để người của tụi tui tới đưa qua bên này!

Quang phải giải thích với họ:

- Đó là người nhà của nạn nhân, do quá sốt ruột nên xuống đại.

Họ cử một người khá rành leo trèo sang để giúp đưa Henri Phạm trở lại đúng đường xuống. Phải mất hơn mười phút sau anh ta mới xuống được chỗ của Quang, giọng anh ta gần như không còn hơi:

- Phải... phải là nó... là Thu Vân không?

Quang bình bĩnh hơn, anh chỉ chiếc xe đỏ và đáp:

- E rằng đúng!

Một người cứu hộ nói:

- Chúng tôi đã xuống được chỗ chiếc xe rồi, xe mang số NBK 538... và một cô gái bị kẹt giữa tay lái, đã chết rồi!

- Thu Vân!

Henri Phạm kêu thét lên rồi gục xuống...
 
***

Mãi đến chiều thì việc trục chiếc xe bị nạn mới hoàn tất. Trước đó thì xác nạn nhân đã được đưa lên, đặt nằm trong chiếc xe cấp cứu của bệnh vện chờ sẵn trên đường.

Quang cũng có mặt để giúp bạn, bởi lúc ấy Henri Phạm gần như không còn đứng nổi trên đôi chân nữa. Anh ta cầu viện tới Quang:

- Toa phải ở đây với moa, chờ đến khi ba má moa ra tới. Moa không còn tâm trí đâu mà lo nữa...

Quang siết chặt tay anh ta:

- Cậu yên tâm, Thu Vân cũng như em mình mà. Cậu có thể về khách sạn nghỉ ngơi, để mình theo xe cấp cứu về bệnh viện và làm các thủ tục cho đến khi ba má cậu ra tới mình sẽ bàn giao.

Nhìn chiếc xe mui trần bẹp dúm, Quang bất nhẫn. Mới buổi sáng đây cả bọn anh và cả bàn dân thiên hạ ở bãi sau còn trầm trồ, lé mắt bởi chiếc xe đẹp mê hồn này, mà bây giờ...

Henri Phạm cố lê bước theo Quang đi về phía chiếc xe chở xác, anh nói:

- Moa cũng phải theo nó tới phút cuối...

Quang kè một bên bạn mình tới chỗ xe. Tài xế lái xe cấp cứu mở cửa trước cho hai người ngồi, nhưng Henri Phạm yêu cầu:

- Cho tụi tôi ngồi sau với em gái tôi.

Cửa sau chở xác luôn khóa kín, nên tài xế phải tự tay mở khóa và dặn hai người:

- Xác đã quấn vải kín, hai cậu đừng mở ra.

Cửa vừa được mở, Henri Phạm yếu nên được Quang đỡ lên trước, rồi anh mới theo sau. Bỗng cả hai người đều kêu lên:

- Thu Vân đâu?

- Xác đâu?

Trong khoang xe không hề có cái xác vừa mới đem lên cách đó hơn mười lăm phút!

Nghe họ kêu, cả nhóm người đang trục xác và xe đều chạy lại và sửng sốt khi cái xác đã biến mất không để lại dấu vết gì! Người tài xế quả quyết:

- Chỉ có tôi ở đây với cái xác, sau khi đưa vô khoang sau rồi đích thân tôi khóa cửa lại, chìa khóa do tôi giữ, như vậy làm sao mất được?

Quang lặng người đi. Trong đầu anh cảm giác như nghe có một âm thanh kỳ dị, giống như tiếng khóc thảm thiết của ai đó... Nhưng âm thanh đó chỉ thoáng qua rồi tắt lịm...

- Thu Vân?

Quang nói ngay âm thanh mình vừa nghe được và kết luận:

- Hình như... cô ấy đang ở gần đây?

Người trưởng toán cấp cứu hỏi:

- Anh nói cô nào?

- Cô gái chết trong tai nạn.

Họ cười ồ lên:

- Giàu trí tưởng tượng quá cha nội ơi!

Quang không quan tâm tới sự chế nhạo của họ, anh đi quanh đó tìm kiếm... Lát sau anh nhặt được một mảnh vải, cầm tới hỏi Henri Phạm:

- Có phải cái này là một phần bộ áo váy của Thu Vân không?

Vừa nhìn thấy Henri Phạm đã kêu lên:

- Đúng rồi, vạt áo của nó!

- Như vậy xác chết đã ra ngoài xe rồi!

Nghe Quang nói, người trưởng toán cứu hộ quay sang hỏi tài xế.

- Anh có khóa chặt cửa thùng xe không?

Anh tài xế gân cổ lên:

- Chắc chắn mà! Mà cái xác đã giập nát làm sao... làm sao có thể tự bò ra ngoài được?

Quang vẫn quả quyết:

- Tôi có cảm giác cô ấy còn ở đâu đây...

Đích thân anh tìm quanh đó và thậm chí còn mở rộng ra một phạm vi xa hơn. Cuối cùng đành thất vọng quay lại và bảo:

- Chịu thôi.

Henri Phạm suy sụp hoàn toàn, anh ngồi hẳn xuống vệ đường vừa rên rỉ:

- Trời ơi, nó chết mà cũng không còn xác, sao trời ác với em tôi quá nè trời!

Anh ta cứ gào khóc như vậy suốt, khiến cho mấy người cứu hộ phải ái ngại, họ hỏi ý Quang rồi lẳng lặng rút lui cùng với xác chiếc xe bẹp dúm.

Khi họ đi rồi Henri Phạm quay sang hỏi Quang:

- Bây giờ mình phải làm sao đây?

Quang cũng chỉ biết thở dài:

- Mình cũng chẳng biết làm sao. Có lẽ phải đợi hai bác ra rồi sẽ tính.

Anh ta kéo tay bạn đứng dậy:

- Cậu phải về khách sạn đợi hai bác ra, kẻo hai bác ra mà không gặp cậu họ sẽ càng sốt ruột hơn.

Henri Phạm miễn cưỡng đứng lên đi bộ cùng Quang. Vừa đi được mấy bước bỗng Quang dừng lại và nói:

- Rõ ràng mình nghe có tiếng khóc của ai đó! Cậu nghe thử xem...

Henri Phạm lắng nghe kỹ và lắc đầu:

- Mình đâu có nghe gì?

Quang không tin vào tai mình, bởi càng lúc âm thanh nức nở càng rõ hơn trong đầu...
 
***

Đang lẽ chỉ ở chơi Ô Cấp hai ngày, nhưng cuối cùng Quang đã phải lưu lại đến nay là ngày thứ năm. Bởi hai ngày đầu phải tất bật với vụ việc của Thu Vân. Đụng chuyện mới thấy nhà giàu họ giải quyết công việc bối rối và dở hơn người nghèo nhiều. Chỉ nội việc sự mất tích xác chết không mà cha mẹ Thu Vân đã phải quýnh quáng chạy đi khắp mọi nơi, hết thuê người này, mướn người kia, mà cuối cùng thì cũng chẳng giải quyết được gì, họ cũng đành phải về tay không.

Chẳng hiểu sao Quang lại quyết định ở lại khi Henri Phạm và gia đình đã về hết sau khi tìm được xác Thu Vân. Mà cả nhóm bạn cùng đi với Quang cũng đã về, duy có Quang quyết định thuê một căn phòng ở một khách sạn rẻ tiền và ở lại. Anh chỉ giải thích ngắn gọn với người bạn:

- Mình bị sốc sau cú vừa rồi nên muốn ở lại thêm vài ngày cho khuây khỏa.

Sáng nay thay vì ra Ô Quắn và đi lang thang như mấy hôm rồi vẫn làm, Quang lại chuyển hướng, đi bộ lên Bạch Dinh. Cũng chẳng biết tại sao, chỉ cảm thấy cần một nơi ở độ cao để phóng tầm mắt ra biển xa, thư giãn nên Quang khá thích thú khi lên đứng bên hai khẩu đại bác và tự nhủ:

- Cứ mỗi ngày được đứng đây nhìn ra biển thì chắc mọi buồn phiền sẽ dứt hết!

Đứng hơn một giờ, Quang lững thững đi bộ xuống. Đúng ra anh đi theo các bậc thang xuống phía tay phải cho gần, nhưng bất chợt anh thoáng thấy một bóng áo vàng đi về hướng rừng hoa sứ, nơi vốn chỉ dành cho xe chạy lên xuống bởi đường dốc và xa hơn.

Kỳ lạ chưa! Bởi bóng áo vàng mà Quang vừa nhìn thấy giống Thu Vân y hệt!

Quang đổi hướng, anh bước nhanh về hướng đó. Cô nàng mặc bộ váy màu vàng nổi bật giữa rừng hoa sứ đang nở rộ và chỉ có một mình, nên càng khó lẫn vào ai khác. Cố thu ngắn khoảng cách, Quang đánh bạo cất tiếng gọi:

- Thu Vân!

Cô gái quay phắt lại và... Quang sững sờ:

- Thu Vân...

Đúng là Thu Vân... cô con gái đã chết trong tai nạn xe lật ở Ô Quắn!

Với ai có thể lầm được, nhưng Quang thì không, bởi anh từng nhiều lần tới nhà chơi và đã là bạn thời cô ta còn học ở Sài Gòn. Vả lại mới vừa nhìn thấy ở bãi sau cách chưa đầy một tuần. Lại vẫn chiếc váy màu vàng này nữa...

- Thu Vân!

Anh gọi lần thứ ba thì bỗng cô gái bước nhanh và chỉ sau đó vài giây đã mất hút trong rừng hoa sứ!

Quang tốc chạy theo vào khu vực rừng hoa, vốn có cắm bảng cấm người lạ xâm nhập. Vừa lúc đó có tiếng quát lớn phía sau:

- Anh kia, không được đi lối đó!

Quang quay lại phân bua:

- Tôi đuổi theo một người quen, anh thông cảm.

Nhưng nhân viên bảo vệ vẫn cương quyết:

- Không ai được vào đó hết! Mà trong ấy làm gì có ai đâu mà nói là người quen của anh?

Quang vẫn cố giải thích:

- Cô ấy vừa mới đi vô đó, tôi xin theo gọi cô ấy ra thôi!

Người bảo vệ vẫn không cho:

- Để tôi vào xem có ai mời ra cho.

Anh ta bước vô một lúc rồi trở ra xua tay nói:

- Làm gì có ai trong đó mà tìm!

Quang tiu nghỉu đứng một lúc mới chịu đi. Anh theo lối đó đi xuống đường mà trong lòng vẫn còn thắc mắc, chưa chịu từ bỏ ý định trở lại. Phải một lúc sau khi nhìn thấy bóng anh chàng bảo vệ lên trên khá xa, Quang mới lẻn vào và lom khom người hướng về chỗ lúc nãy.

Đây là lần đầu tiên bước vào giữa khu rừng hoa sứ mà xưa nay Quang chỉ đứng ngoài nhìn, anh cảm thấy khu rừng khá rộng, ăn thông lên tận vách núi phía trên...

Chẳng thấy bóng người nào, nên Quang tiện bước đi thẳng lên phía vách núi. Tuy khá chênh vênh nhưng cũng có một lối mòn nên sau hơn mười phút Quang đã lên được một khoảng rộng, bằng phẳng. Nơi đó có một ngôi nhà lá nhỏ, cửa đóng kín.

- Có khi nào...

Quang tự cười với ý nghĩ có thể Thu Vân đi vào ngôi nhà đó! Nhưng đã lỡ lên tới đây rồi không lẽ quay về, nên Quang bước đại tới bên ngôi nhà, anh cất tiếng gọi:

- Có ai trong nhà không?

Chẳng ai lên tiếng. Hình như đây chỉ là một trại của người làm rẫy, không có người ở thường xuyên.

Vừa định quay đi thì chợt mũi Quang ngửi được một hương thơm rất lạ, không phải hương hoa dại, cũng không phải hương tự nhiên bay theo gió.

Bất chợt anh kêu lên:

- Thu Vân!

Quang đẩy mạnh cánh cửa gỗ khép hờ, cửa bật vô trong và... chẳng có ai trong đó. Nhưng khi Quang nhìn lên vách lá anh phát hiện bộ váy màu vàng mà cô gái vừa mặc lúc nãy đang treo ở đó. Có lẽ hương thơm phát ra từ đó.

- Thu Vân! Có phải Thu Vân ở đây không?

Vẫn chẳng có hồi âm. Quang mở tung cửa cái, cửa sổ ngôi nhà, nhưng cũng chẳng thấy gì ngoài chiếc chõng tre xiêu vẹo, nhà vắng chủ.

- Nhưng tại sao bộ quần áo lại ở đây?

Quang bước ra ngoài tìm khắp chung quanh và cất tiếng gọi nhiều lần:

- Thu Vân! Cô Thu Vân!

Vẫn im phăng phắc...

Trở vô nhà, Quang đánh bạo cầm bộ váy xuống và len lén ngửi thử. Đúng là hương thơm từ đó, có nghĩa cô nàng vừa mới thay bộ đồ ra và cũng đồng nghĩa với việc cô nàng vẫn còn quanh quẩn đâu đây...

Nghĩ có thể cô ta đã phát hiện ra mình nên lánh mặt, nên Quang có ý nghĩ là giả vờ như đi xuống, nhưng kỳ thật là quay trở lại nấp bên ngoài ngôi nhà.

Hơn nửa giờ trôi qua vẫn chẳng thấy bóng ai. Trời bắt đầu nắng gắt mà bụng thì đói nên Quang đã bắt đầu nao núng, định bỏ cuộc, nhưng mục đích gặp cho bằng được con người mà cho tới giờ phút này Quang vẫn chưa thể nào tin được rằng cô ta chết rồi mà vẫn còn di chuyển cái xác đi được.

- Cô ấy thành ma?

Quang tự hỏi và có ngay câu trả lời, bởi hành tung kỳ lạ của cô nàng đã chứng minh điều đó. Nhưng tại sao Thu Vân lại chọn đúng nơi này để xuất hiện, phải chăng là có ý muốn báo cho Quang biết điều gì?
 
***

Mười hai giờ trưa...

Trong khi Quang đã hết kiên nhẫn thì bất ngờ từ trong ngôi nhà lá cánh cửa gỗ lại bung ra và... từ trong đó một bóng người hiện ra, mà vừa trông thấy người ấy Quang đã há hốc mồm kinh ngạc.

- Henri Phạm?

Đúng là anh chàng! Mà tại sao anh ta lại ở đây và xuất hiện như vừa từ dưới đất chui lên vậy? Quang định lên tiếng kêu, nhưng kịp nghĩ lại nên anh yên lặng chờ.

Henri Phạm thì sau khi quan sát một lượt khắp chung quanh, quay vô trong nhà ra dấu, lại một người nữa bước ra, mà lần này thì sự kinh ngạc của Quang còn gấp bội. Bởi đó là... Thu Vân.

Henri Phạm quay sang cô em gái nói mà không cần giữ lời, có lẽ nghĩ đây là chỗ hoang vu, không có ai ngoài họ:

- Bây giờ em có thể yên tâm xuống dưới kia, anh đã để sẵn chiếc xe khác và em cứ thế lái về thẳng Đà Lạt mà không cần phải về Sài Gòn đâu. Ở Đà Lạt chơi khoảng một tháng, rồi lên máy bay trở lại Pháp và... bắt đầu thụ hưởng hai chục triệu Franc Pháp tiền bồi thường của hãng bảo hiểm Pháp chi nhánh tại Sài Gòn. Trương mục ngân hàng mang tên anh, vì anh nhận là người bảo hộ cho em ở nước ngoài, được ba má ủy nhiệm. Từ nay cái tên Emile Thu Vân sẽ không còn nữa, mà thay vào đó là tên Anna Phạm. Mà cần gì cái tên Thu Vân đó nữa, miễn mình có được số tiền bồi thường lớn đủ trang trải lại những gì đã mất do chi tiêu quá lố từ nào đến giờ!

Thu Vân vỗ vào vai anh trai mình:

- Phục anh sát đất luôn! Qua mặt được hãng bảo hiểm nhân thọ chuyện đâu phải đơn giản, vậy mà anh cũng làm được. Nhưng khiến cho em phải một phen hú vía khi lái xe tới sát bờ vực sâu chỗ Ô Quắn, sợ gần chết. Rồi lại phải kéo cái xác của con nhỏ người làm và đặt nó ngồi vô chỗ lái xe, để nó giả làm em, sau đó lại phải nổ máy xe, vô số và... buông ra cho xe lao xuống vực. Sơ sẩy một chút là em bị rớt theo chiếc xe luôn.

Henri Phạm cười:

- Biết em có đủ bản lãnh nên anh mới giao làm nhiệm vụ đó chớ bộ! Và em đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ rồi còn gì. Chiếc xe đã lao thẳng xuống vực sâu và ai cũng đinh ninh rằng em đã chết trong vụ ấy rồi!

- Nhưng sao khi trục xe và xác chết lên anh lại để cho cái xác biến mất, suýt nữa thì bảo hiểm đã không chịu bồi thường rồi?

Henri Phạm cười to:

- Em có lanh nhưng chưa đủ khôn. Lúc ấy em không có mặt tại hiện trường nên đâu có biết là khi xác con nhỏ Thắm vừa mới kéo lên anh đã điếng hồn, bởi tuy thân thể nó giập nát, nhưng khuôn mặt còn nguyên, làm sao nói đó là em, cô Thu Vân được? Em có biết là lúc ấy anh phải lanh trí lắm mới ra lệnh cho hai thằng đàn em đi theo trà trộn làm nhân viên cứu hộ để nhân cơ hội người tài xế xe cứu thương lơ đễnh, đã lấy cắp cái xác con Thắm đem giấu.

- Không có xác làm sao hãng bảo hiểm chịu đền nhân mạng?

- Em cũng quên là chỉ đến tối là người ta tìm được xác chết của nạn nhân ở một hốc đá gần chỗ tai nạn xảy ra sao? Khi đó xác con Thắm đã được anh cho tụi nó lấy đá đập nát, để không còn nhận diện ra nữa. Và sau đó đã báo cho đội cứu hộ tới và mang về bệnh viện.

Thu Vân cười thành tiếng:

- Anh làm khéo đến nỗi đến ba má khi đứng trong nhà xác mà cũng chẳng nhận ra! Tội nghiệp, thấy má khóc chết lên chết xuống em sợ và đau lòng quá. Chuyện này mà vỡ lở ra chắc là không yên với ông bà cụ đâu!

Henri Phạm nhún vai:

- Nhằm nhò gì ba cái chuyện này. Mà mình cũng đâu ngu gì để lộ...

- Chỉ tội nghiệp ba má sẽ khổ đau vì mất con, trong lúc em vẫn còn sờ sờ đây...

Henri Phạm nghiêm giọng:

- Trong vụ xài phá đến cạn hết tiền ba gởi ở nhà băng bên Pháp đâu phải chỉ mình anh, mà em đóng góp đến phân nửa trong đó. Xong vụ này mình bí mật chuyển trả lại cho ba là ổn.

Chuẩn bị đi, chợt Henri Phạm nhớ ra, anh ta hỏi:

- Hồi nãy em có đóng kỹ nắp hầm chưa?

Thu Vân cười:

- Cái hầm bí mật này quả lợi hại, nằm ngủ dưới đó cả đêm cũng giống như ngủ trong phòng khách sạn, sướng thiệt.

- Anh phải mất cả tháng trời, nhờ thợ từ trong Sài Gòn ra làm mới được như vậy. Anh phải thủ sẵn một nơi như vậy để phòng khi lộ chuyện thì có nơi mà ẩn thân một thời gian. Em đâu có biết là cả chuyện vô ra rừng hoa sứ này anh cũng phải tốn tiền mới yên chớ bộ! Thôi, có lẽ là hôm nay là ngày chót, chúng ta không trở lại đây nữa, nên cũng không cần cái hầm, có bị lộ thì cũng chẳng sao. Thôi mình đi!

Họ đi rất nhanh xuống núi, xuyên qua rừng hoa sứ. Quang quá bức xúc với những gì vừa nghe, anh vừa định đứng lên gọi họ một tiếng và vạch trần những gì họ làm. Tuy nhiên, chẳng hiểu sao khi vừa đứng lên thì Quang đã ngã ngồi trở xuống như bị ai kéo lại vậy. Phải đến lần cố gắng thứ ba Quang mới có thể đứng thẳng lên, nhưng lúc ấy hai người họ đã đi khá xa rồi.

Bấy giờ Quang chỉ còn cách bước thẳng vào nhà với ý định xem cái hầm mà họ vừa nói ra sao. Nhưng điều ngạc nhiên đầu tiên của Quang là chiếc váy màu vàng của Thu Vân lúc mặc đi vào đây đã không còn, mà lúc nãy khi đi ra cô ta mặc bộ quần áo màu xám nhạt, đầu đội mũ như một cách ngụy trang, mà tay không hề xách giỏ hay cầm vật gì. Vậy bộ đồ màu vàng biến đi đâu?

Điều đó càng khiến cho Quang tò mò thêm, anh tìm nắp hầm và phát hiện ra ngay nó nằm ở gần gian bếp nguội lạnh, chỉ cần giở tấm ván lên là lộ ra một cái thang gỗ dẫn xuống dưới.

Chẳng do dự, Quang bước ngay xuống, thấy có cây đèn pin treo sẵn ở lối đi, Quang chụp lấy và soi tới trước. Quả đúng nó như một căn phòng đầy đủ tiện nghi, có cả giường nệm phẳng phiu và ở đầu giường có ngọn đèn ngủ màu hồng nhạt nữa.

- Có lẽ họ xài bình ắc quy chớ nơi này làm gì có điện!

Quang hơi thắc mắc về việc đó, nhưng thắc mắc của anh không tồn tại được lâu, bởi liền lúc đó anh chợt sững sờ khi nhìn thấy có một người đang nằm trùm mền trên giường mà phải nhìn kỹ mới thấy!

- Ai vậy?

Không thấy người nọ động đậy, Quang cất tiếng gọi:

- Ai đây, tôi muốn hỏi...

Anh gọi đến lần thứ ba mà vẫn chẳng thấy người nọ cử động hay lên tiếng, Quang chợt lo, anh bạo gan cúi xuống kéo đại góc mền ra và...

- Trời ơi!

Trước mắt Quang là... một cô gái lạ mặc bộ đồ màu vàng máng ở vách lúc nãy!

Không thể nào tin được, Quang gọi thêm lần nữa và cũng chẳng thấy cô nàng cử động. Quang hốt hoảng đưa tay chạm vào, rồi kinh hãi bởi thân thể cô ta đã lạnh cứng. Có nghĩa đó là một xác chết!

- Trời ơi!

Quang hoang mang tột độ, anh lúng túng mất vài giây rồi mới chạy tháo lên miệng hầm, định kêu ai đó. Nhưng chung quanh vắng tanh, vả lại nếu gọi người tới trong lúc này thì khác nào rước họa vào thân, bởi chỉ mình anh với một xác chết, ai mà tin được rằng anh không dính líu tới cái chết của cô nàng!

Lúng túng một hồi lâu Quang mới quyết định trở xuống hầm, lần này anh phải nhìn cho thật rõ, ít ra cũng tìm được cách nào đó báo động cho người ta biết... chớ không thể để một người chết nằm trong đó, mà chắc chắn khó lòng có ai hay được.

Nhưng khi Quang đặt chân trở xuống đó thì... cái xác của cô gái không còn ở đó nữa!
 
***

Việc đầu tiên của Quang khi trở về Sài Gòn là tìm tới nhà của cha mẹ Thu Vân. Họ là chủ một tiệm vàng lớn ở vùng Chợ Lớn mà đã đôi lần Quang có tới chơi với anh em Thu Vân, nên cha mẹ cô biết Quang. Vừa thấy Quang, bà Kim Tín đã òa lên khóc kể:

- Lâu nay con không ghé chơi nên bác không biết con ở đâu. Phải chi biết mà gọi con tới chơi thì chắc tụi nó không đi Ô Cấp làm gì để xảy ra cớ sự này!

Quang dò hỏi:

- Sau khi tai nạn xảy ra bác có kịp đem xác Thu Vân đi nhận diện không?

Ông Kim Tín nói thay vợ:

- Chính tôi xuống nhà xác bệnh viện để nhìn, nhưng có nhận dạng được nó đâu, bởi thi thể đâu còn nguyên vẹn.

- Henri Phạm đâu rồi bác?

- Ôi! Cái thằng lãng tử đó mà cháu hỏi làm gì. Nó về đây chỉ ở nhà có nửa buổi rồi đi biệt tới bữa nay. Cũng tại nó mà con Thu Vân mới lái xe đi Ô Cấp chớ hai bác đâu có cho. Đường sá xứ mình khác, đâu phải thấy vắng mà muốn chạy sao cũng được.

- Nghe nói có bảo hiểm phải không bác?

Ông Kim Tín hơi ngạc nhiên về sự hiểu biết của Quang, nhưng cũng đáp:

- Có! Nhưng do tụi thằng Henri và Thu Vân sống bên Pháp nên làm bảo hiểm bên đó, nên họ sẽ tiến hành thủ tục bồi thường bên đó. Nhưng còn bồi thường mà làm gì nữa khi mạng sống không còn?

Quang giả vờ hỏi:

- Hình như nhà có cô người làm tên Thắm phải không bác?

Đến lúc này thì ông Kim Tín không khỏi ngạc nhiên nói:

- Sao cháu biết con nhỏ đó?

Quang cười giả lả:

- Dạ, chẳng là vì cháu có quen với nhà cô ấy ở dưới quê...

Bà Kim Tín buột miệng nói:

- Thì ra là vậy, cháu ở làng Mỹ Quý hay Mỹ Lương của huyện Hòa Thành?

- Dạ, ở sát nhà của cô Thắm.

- Vậy là Mỹ Quý rồi! Huyện Hòa Thành tỉnh Ba Xuyên chỉ có cái xã Mỹ Quý là heo hút nhất, lại ít người biết, nên bác cũng hay quên là nó ở Mỹ Quý hay Mỹ Lương. Vậy ra cháu với nó là đồng hương. Mà cũng hay, dịp này bác hỏi cháu xem, gần đây cháu có gặp nó không?

- Dạ... gặp ai ạ?

- Con Thắm! Nó nghỉ làm ngang xương cả tuần nay mà chẳng biết đi đâu!

- Có thể cô ấy về quê chăng?

Ông Kim Tín bác ngay:

- Con nhỏ này từ ngày lên đây làm chưa bao giờ xin về quê lần nào, bởi lẽ đơn giản là nó không còn ai ở quê hết. Lẽ thứ hai là nó làm được bao nhiêu tiền lương đều gởi lại cho nhà tôi hết, không giữ đồng nào trong túi, như vậy lấy đâu tiền để đi.

Bà Kim Tín cũng nói:

- Con nhỏ hiền lành, dễ thương, tuy là không còn ở nhưng vợ chồng tui thương nó như con ruột. Tính năm tới nó đủ hai mươi tuổi thì coi mối nào được gả chồng cho nó. Con nhỏ tuy ít học nhưng đẹp người, đẹp nết, ai mà lấy được nó là có phước lắm!

Quang không kiềm chế được, buột miệng:

- Người như vậy mà bị hại thì...

Bà Kim Tín hốt hoảng:

- Ai hại nó?

Quang nói chữa:

- Dạ, cháu muốn nói nếu như rủi ro...

Ông Kim Tín nói:

- Tôi nghĩ chắc không có chuyện gì đâu. Con nhỏ này không chừng ham vui bị bạn bè rủ rê đi đâu đó, vài bữa thì về thôi.

Quang vòng vo mãi, cuối cùng anh mới hỏi thẳng điều mà hôm nay tới anh muốn hỏi:

- Ở Đà Lạt hai bác có nhà riêng hay nhà bà con gì trên đó không?

Bà Kim Tín nói thật:

- Tôi có một biệt thự bỏ không trên đó, chỉ thỉnh thoảng lên nghỉ mát vài hôm. Mà mùa này lạnh, nên phải ba bốn tháng nữa vợ chồng tui mới lên chơi.

- Vậy không chừng Henri Phạm cũng lên đó chơi, bao nhiêu lần rồi cậu ấy không lên Đà Lạt thưa bác?

- Cả chục năm rồi. Từ ngày đi du học nó về đây có bốn năm lần, mà lần nào cũng chỉ ở nhà, có đi nghỉ mát thì chỉ ra Ô Cấp thôi.

- Vậy hai bác có nhà riêng ở Ô Cấp không?

Kiểu hỏi như điều tra của Quang khiến cho ông Kim Tín bắt đầu thấy lạ, ông hỏi vặn lại:

- Hình như cháu muốn tìm hiểu điều gì phải không nào?

Quang lúng túng:

- Dạ không, cháu chỉ... hỏi cho biết vậy mà. Và cũng bởi... mới rồi cháu nằm mộng thấy Thu Vân...

Đây là Quang bịa chuyện, nhưng bà Kim Tín lại quan tâm:

- Cháu mộng thấy nó thế nào? Nó chết có yên ổn không? Bác cũng hơi lo, vì nó còn trẻ, lại chết tức tưởi như vậy nên bác sợ oan hồn...

Ông Kim Tín gạt ngang:

- Bà khéo tưởng tượng! Con gái mình là dân Tây học, làm gì có chuyện oan hồn với hồn oan.

Bà Kim Tín tại nức nở khóc:

- Ông cứ nói vậy hoài, trong lúc tui cứ mong cho vong hồn nó về một lần thôi cũng được, vậy mà chưa thấy...

Rồi bà hỏi Quang:

- Cháu mộng thấy nó nói gì?

Quang đã có toan tính trước, anh đáp:

- Dạ, cháu nghe cô ấy muốn tìm ngôi nhà nào đó ở Ô Cấp mà tìm chưa ra. Cả ba lần mộng thấy cô ấy thì cả ba lần Thu Vân đều chỉ nói có chuyện đó.

Lần này chợt ông Kim Tín buột miệng:

- Nhà ở Vũng Tàu, nó biết sao còn tìm!

Quang giả bộ:

- Dạ, con thấy Thu Vân có vẻ không nhớ, cô ấy chỉ nói là hình như nhà ở gần Bạch Dinh hay sao đó...

Bà Kim Tín vụt nói:

- Thì căn nhà biệt thự hướng ra bãi Dâu. Đúng là nó không nhớ, bởi khi đi du học thì nó mới có mười tuổi, mà ngôi nhà cũ đó tôi và ông nhà tôi cũng lâu lắm rồi không về đó, chẳng biết còn hay sập rồi nữa!

- Thảo nào...

Quang bỏ lửng câu nói khiến ông Kim Tín thắc mắc:

- Cháu nói gì?

Quang lại lảng sang chuyện khác:

- Dạ không. Cháu muốn nói... chẳng hiểu sao gần đây cháu hay mộng mị quá.

Anh vừa định đứng lên cáo từ thì chợt từ ngoài cửa có một người bước vào, mà vừa nhìn thấy thì cả ba người đang ngồi đều bật dậy một lượt:

- Trời ơi... Trời...

Bà Kim Tín té ngồi trở xuống, miệng lắp bắp:

- Con... con Thắm ông ơi.

Người vừa xuất hiện chính là Thắm, nhưng trong bộ váy màu vàng mà Quang đã thấy hôm ở rừng hoa sứ. Cô ta là cô gái nằm chết trong hầm hôm đó! Anh lắp bắp mãi, nói không thành lời:

- Cô đúng là...

Cô gái bình thản ngồi xuống và nhìn vào bà Kim Tín, hỏi bằng giọng không vui:

- Sao bà không đi tìm con?

Bà Kim Tín vẫn chưa tin vào mắt mình, giọng bà run rẩy:

- Có phải... thiệt là con không vậy?

- Là con đây! Con đâu có chết mà sao bà vẫn coi như con đã ra người thiên cổ? Ông bà biết là đã chôn ai không?

Quang vụt nói:

- Là cô Thắm!

Nãy giờ hình như cô gái không để ý đến Quang. Giờ nghe anh nói, cô mới quay sang và nói:

- Anh đã biết ngôi nhà trên núi lớn Ô Cấp thì cần trở lại đó để biết thêm điều cần biết!

Rồi cô lại quay sang ông bà chủ của mình:

- Hai người hãy chuẩn bị mà rời khỏi ngôi nhà này đi, vài ngày nữa nó không còn là của mình đâu!

Trong lúc ông bà Kim Tín còn đang ngơ ngác thì cô nàng vụt đứng lên và ra hiệu cho Quang đi theo:

- Anh ra đây!

Quang riu ríu bước theo. Khi ra tới ngoài rồi cô nàng lên tiếng:

- Anh đã gặp tôi nằm chết trong hầm ngôi nhà trên rừng hoa sứ rồi phải không? Vậy bây giờ anh có ngạc nhiên khi thấy con người đó có mặt tại đây không?

Quang sợ, nhưng anh vẫn cố nói cứng:

- Không phải một, mà là đã hai lần tôi nhìn thấy cô chết và biến mất. Như vậy kể cả lần này nữa, biết đâu cô lại...

Cô nàng bỗng cười phá lên:

- Không ngoại trừ lần này đâu!

Cô nàng vừa nói vừa dừng lại và quay ngoắc đối diện với Quang. Anh chàng há hốc mồm kinh ngạc, bởi trước mắt anh bây giờ không phải là Thắm nữa, mà là một cô gái khác với gương mặt bê bết máu!

- Anh chưa từng biết mặt thật của tôi, mà chỉ biết cái mặt biến dạng này phải không?

Quang còn chưa hiểu gì thì cô nàng buông một tiếng ngắn gọn:

- Thì như anh đã nghe họ nói rồi đó, tôi đã bị họ nhẫn tâm sát hại rồi mà còn hủy hoại nhan sắc thêm lần nữa.

Quang run giọng:

- Cô Thắm... tôi cảm thông với cô, tôi muốn giúp, nhưng mà...

Không để ý lời phân trần của Quang, cô nói tiếp:

- Và anh đã nghe anh em họ kể chuyện giết chết tôi rồi xô xuống vực sâu ở Ô Quắn cùng chiếc xe rồi phải không?

- Có... có nghe...

- Như vậy là anh biết đích xác cô Thu Vân đâu có chết, đúng không?

- Phải! Và bữa đó tôi thấy cô ta đi vào ngôi nhà trong rừng hoa sứ nữa.

- Chính nhờ vậy anh mới có động cơ tìm tới nhà cô ta và hiểu tôi đã bị chết oan như thế nào. Tôi nghèo cũng giống như anh và chỉ bởi nghèo hèn, cô thế, nên mới bị giết chết cho một mưu đồ gian ác của họ. Cũng như do anh nghèo và tốt bụng, nên suýt nữa anh đã bị sa vào bẫy của họ, để họ có gì sơ sẩy thì chính anh là người sẽ đứng ra nhận tội thay!

Quang ngơ ngác:

- Cô nói vậy là sao?

Nàng ta nhẹ giọng:

- Hôm ở rừng hoa sứ sau Bạch Dinh, chính anh bị cô Thu Vân dụ đi theo lên căn nhà hoang đó, còn cái xác mà anh nhìn thấy trong hầm là xác của tôi do bọn chúng lấy cắp được trong nhà xác bệnh viện, để làm tang chứng buộc tội anh...

Quang chận ngang:

- Nhưng tôi có bị gì đâu?

- May cho anh là tôi đã kịp thời cứu anh! Chính tôi đã biến đi và xui khiến anh rời ngôi nhà đó kịp thời. Bởi chỉ năm phút sau đó thì cảnh sát do Henri Phạm báo đã ập tới, họ chẳng gặp ai nên mọi việc coi như xong!

Quang không thể nào tin được, nhưng khi anh nhìn cô gái thì thấy cô ta mỉm cười, gật đầu:

- Tôi tuy chết oan, thù hận mọi người, nhưng không thể để cho một người ngay như anh bị nạn thay cho họ được! Do anh biết quá nhiều chuyện của họ, nên họ tìm cách thủ tiêu anh để bịt đầu mối. Anh có biết là họ đã tính trước mấy bước tiến và mấy bước lui. Tiến là nếu mọi việc êm xuôi, họ sẽ lãnh được tiền bảo hiểm nhân thọ, còn lui là phòng bất trắc, cơ mưu bị bại lộ. Lúc ấy họ sẽ đổ vấy lên đầu anh, nói chuyện giết tôi là do anh làm, mà bằng chứng do họ tạo ra sẵn là một túi tiền lớn họ dàn cảnh mang theo bên thi thể tôi để mọi người nghĩ động cơ anh giết tôi là vì muốn cướp tiền!

Trong lúc Quang còn đang hoang mang thì cô nàng vụt nói nhanh:

- Anh về nhà và đừng ngạc nhiên khi thấy số tiền bạc triệu để sẵn trong đó. Tiền đó tôi lấy được tại hiện trường, thứ mà họ định dùng để vu cáo anh. Đó là đồng tiền phi nghĩa, do đó không việc gì anh trả lại mà cứ giữ xài. Và còn nữa, khi hãng bảo hiểm đền tiền, thì thay vì họ nhận được, tôi sẽ khiến cho nó thuộc về anh! Anh sẽ dùng số tiền đó để thoát kiếp nghèo, hoặc làm từ thiện gì đó tùy anh. Thôi, vĩnh biệt anh, con người tốt bụng nhưng phải cái tội... quá tò mò!

Nói xong thoắt cái cô ta đã biến mất. Vừa khi ấy cha mẹ Thu Vân trong nhà chạy ra hỏi lớn:

- Thắm! Con Thắm đâu rồi?

Quang chỉ lắc đầu không đáp. Bà Kim Tín phải gào lên:

- Nó đâu rồi? Phải đó là hồn ma không?

Bây giờ chính ông Kim Tín là người có kết luận:

- Chưa chết mà hồn ma nỗi gì?

Nhưng bất thần, Quang nhìn thẳng vào ông nói:

- Cô ấy là hồn ma đó! Một oan hồn đáng lý về đòi nợ máu, nhưng cô ấy chưa làm. Có lẽ cô ấy chỉ muốn đòi nợ chính người đã gây ra tội ác mà thôi.

Nói xong Quang quay bước đi, bà Kim Tín gọi lớn:

- Kìa, cháu Quang! Cháu vừa nói gì?

Quang nói mà không quay lại:

- Hai bác sắp đón nhận những tin không tốt lành gì đâu.

Anh đi nhanh bởi không muốn trả lời thêm nữa. Anh tự nhủ:

- Biết nhiều quá là rước lấy phiền nhiễu nhưng cũng có được cái hay, như mình...

***

Ba tháng sau...

Bỗng nhiên Quang nhận được điện tín từ một ngân hàng Pháp bảo rằng anh có một số tiền mười triệu Franc Pháp mà không nói rõ là tiền gì. Quang định viết thư từ chối và nói rõ mọi chuyện cho họ biết và rút lại số tiền lớn đó. Tuy nhiên anh chưa kịp viết thì lại nhận được một thư khác từ một chi nhánh ngân hàng Pháp tại Sài Gòn chuyển đến, thông báo là anh có một trương mục tại ngân hàng họ với số tiền mười triệu đồng Franc.

Quang chưa kịp có phản ứng gì thì đêm đó anh đang ngủ vụt ngồi dậy khi nghe có tiếng nói từ cửa sổ vọng vào:

- Em đã nghĩ rồi, số tiền này thay vì trả lại cho hãng bảo hiểm, có nghĩa là anh tố cáo tội gian manh của anh em nhà Henri Phạm và Thu Vân, như thế họ sẽ ở tù thì anh cứ giữ mà làm từ thiện và cải thiện cuộc sống, đừng trả lại. Cứ để suốt đời con Thu Vân sẽ sống trong cảnh trốn chui trốn nhủi với cái tên giả, đó là cách nó phải trả giá cho tội ác của mình, đau khổ còn hơn là ngồi tù.

- Nhưng như thế này trước sau gì cũng đổ bể, tôi lại liên lụy, bởi tiền đang nằm trong trương mục của tôi.

Giọng nói kia giải thích rất rạch ròi:

- Mọi thứ em đã lo hết rồi. Em khiến cho đồng tiền luân chuyển từ Pháp về trương mục của anh mà chẳng ai biết được nguồn gốc. Không phải mình gian manh, nhưng để cho người thật thà, tốt bụng như anh khỏi phải liên lụy. Anh cứ yên tâm dùng số tiền ấy. Có thể một ngày nào đó anh sẽ cứu trợ ngược lại cho ông bà Kim Tín, bởi sớm muộn gì hai đứa con trời đánh ấy cũng làm cho gia sản nhà đó không còn một đồng.

Tự dưng có số tiền lớn như vậy khiến Quang lúng túng chẳng dám đụng vào. Nhưng lạ quá, cứ hàng tháng anh lại nhận được một số tiền để chi dụng mà không biết của ai cho.

Sau đó khi nhận được thông báo tình hình trương mục ngân hàng, Quang mới hiểu đã có người rút tiền giúp cho anh. Người giúp đó ngoài Thắm ra thì đâu còn ai nữa!

Và cứ thế, hễ mỗi khi Quang vừa có ý định làm ăn gì thì tự nhiên có ngay số tiền như ý chuyển đến. Được cái là Quang không hề lợi dụng số tiền đó để phung phí. Anh chủ yếu dùng để làm từ thiện, giúp đỡ người nghèo khác. Và đặc biệt, anh mua một mảnh đất rộng, chỉ xây một căn nhà nhỏ để ở, phần đất còn lại anh lập một cái miếu thờ, mà trong miếu chỉ thờ một bức họa do chính Quang vẽ lại theo trí nhớ chân dung của Thắm.

Từ đó Quang sống thanh thản một mình và tự nguyện làm ông từ chăm sóc ngôi miếu. Sau này người ta đồn ngôi miếu đó linh hiển lắm, cầu gì được nấy. Mà lời cầu khấn phải mang ý tốt thì mới được đáp ứng, còn ngược lại, nếu lợi dụng hay gian trá thì sau khi khấn vái sẽ mang bệnh chữa hoài không khỏi...
Sự đời cà khịa cái chơi
Khi vui muốn khóc, khi cười buồn tênh!
0
Quyển XXXXVII:
ĐỒI THIÊN THU

Giấc ngủ kéo dài hơn dự kiến, có lẽ do thời tiết mát mẻ, mà cũng có thể do cơn mệt của một ngày đường đi qua những đoạn đầy bụi và gập ghềnh, nên Mỹ Uyên ngủ say chưa từng thấy. Lúc tỉnh giấc, Uyên đưa tay xem đồng hồ thì không khỏi giật mình, đã hơn 1 giờ sáng! Như vậy cô đã ngủ đến hơn 6 giờ liền!

Vừa lúc ấy, có tiếng gọi khẽ ngoài phòng:

- Cô Út ơi, cô dậy chưa?

Biết đó là tiếng của chị người làm Tư Sương, nhưng Uyên vẫn còn vươn vai trên giường chưa chịu lên tiếng. Phải cho chị ta lặp lại lần thứ hai thì Uyên mới đáp:

- Dậy rồi. Có gì không chị Tư?

- Dạ, nãy giờ tôi gọi cả chục lần mà cô không lên tiếng, tôi đoán cô còn ngủ nên thôi. Tôi muốn dọn mâm cơm ra, sợ để trong phòng kiến, gián bâu.

Lúc này Mỹ Uyên mới nhớ ra, hồi 6 giờ chiều chị ta có dọn vào phòng cô mâm cơm nóng sốt, mời cô ăn, nhưng lúc đó do mệt nên Uyên dự tính nằm nghỉ một lúc sẽ ngồi dậy ăn, bởi thật sự lúc ấy cô đang đói... nhưng ngủ quên luôn tới giờ.

- Mâm cơm hả?

Uyên lúc này mới chịu nhảy xuống giường và mở cửa phòng trong tư thế mắt nhắm mắt mở:

- Chị vào lấy ra hâm lại giùm tôi, tôi ngủ quên...

Tư Sương rất mến cô chủ nhà này, nên vui vẻ bảo:

- Ngủ ngon hơn ăn mà cô!

Bước tới chỗ đặt mâm cơm, bỗng chị ta kêu lên:

- Ủa, cô Út... ăn rồi mà?

Mỹ Uyên giật mình:

- Ăn hồi nào? Sau lúc chị đem cơm vào là tôi ngủ liền một mạch tới giờ này, ăn uống gì đâu!

Chỉ mâm cơm đã sạch thức ăn, Tư Sương cười:

- Tưởng cô Út chê đồ ăn nấu vội của tôi, nào ngờ cô ăn ngon miệng quá!

Uyên bước tới nhìn vào mâm cơm, ngạc nhiên kêu lên:

- Tôi đâu có ăn!

Tới phiên Tư Sương ngạc nhiên:

- Vậy ai ăn?

Chị ta quay về phía cửa hỏi:

- Cô ngủ có đóng cửa không?

Uyên đáp quả quyết:

- Tôi khóa rồi còn gài chốt nữa! Vừa rồi tôi mở ra thì chốt khóa còn nguyên mà.

Nhìn lại cửa sổ vẫn còn chốt bên trong, Tư Sương cau mày:

- Đâu có ai lọt vào đây được? Mà cô Út...

Chị ta định hỏi lại xem cô chủ mình có lầm lẫn, ăn rồi mà quên... nhưng Mỹ Uyên như đã đoán được ý của chị, vội nói ngay:

- Bụng tôi còn đói cồn cào nè, sao có chuyện kỳ vậy?

Uyên hỏi lại:

- Nhà này bộ lâu nay ai muốn vào thì vào hay sao chị?

Tư Sương xua tay:

- Dạ, đâu có cô Út! Ở đây là biệt lập, vả lại khu vực này mọi người tôn trọng ông chủ, nên chưa bao giờ có ai dám bước vào trang trại này, chứ đừng nói là trộm đạo. Mà chuyện này tôi nghĩ có lẽ... hay là...

Chị không tìm ra được cách nói nào cho đúng. Bởi trộm nếu vào phòng thì lấy của cải, chứ sao lại chỉ ăn cơm? Còn kẻ gian khác thì...

Chị nhìn quanh rồi hỏi:

- Cô Út xem có mất mát gì không?

Uyên nhìn qua một lượt, thấy chiếc va li để ở đầu giường vẫn còn nguyên, cô nói:

- Đồ đạc tôi còn chưa lấy ra thì đâu có gì để mất!

- Vậy ai vào đây?

Tư Sương đứng thừ người ra một lúc, chị dọn mâm ra mà còn lầm bầm:

- Chuyện chưa từng xảy ra...

Ngồi lại trong phòng, chính Mỹ Uyên cũng không thể hiểu nổi:

- Sao có chuyện kỳ lạ này?

Lát sau, mâm cơm khác được bưng vào, Tư Sương hơi ngại nói:

- Do không chuẩn bị thức ăn sẵn, nên chỉ còn lạp xưởng với mấy cái trứng, cô Út ăn đỡ được không!

Uyên ngồi ngay vào bàn ăn:

- Tôi đang đói cồn cào, có bấy nhiêu đây là quý rồi!

Cô ăn một cách ngon lành. Lúc này Tư Sương mới tin thật là cô chủ mình không hề đụng tới mâm cơm kia. Chị ta ngồi nhìn Uyên ăn vừa thắc mắc:

- Chuyện này kỳ quá cô Út? Phải chăng...

Chị ta bước tới cửa sổ quan sát thật kỹ rồi lắc đầu nói:

- Tôi nghi có con gì đó nhảy vào đây ăn vụng, nhưng cửa sổ cao và chốt chặt thế này thì con gì vào được? Cô có nghi ai không cô Út?

Vốn tính không đa nghi, nên Uyên xuề xòa:

- Chuyện cũng đã xảy ra rồi, nghi ngờ mà làm gì! Có thể là... chuột bọ gì đó cũng nên!

- Cũng có thể... nhưng phòng này nào đến giờ không thấy chuột...

Quá đói, nên Mỹ Uyên ăn một loáng đã hết sạch mâm cơm với thức ăn đơn sơ. Cô còn khen:

- Chị chiên trứng có nghề đó nghen!

Được khen, Tư Sương cười toe toét:

- Lâu lắm rồi mới có người khen tôi, cám ơn cô Út!

Để không khí bớt căng do chuyện vừa rồi, Mỹ Uyên nói đùa:

- Sao chị không kiếm một người... để người ta khen cho. Chị mà gật thì chắc ở xứ này thiếu gì các anh chàng nhào vào, phải không chị Tư!

Tư Sương thẹn thùng, lúng túng:

- Cô Út này... ai mà chịu tôi cô ơi!

Uyên ăn xong thì đồng hồ tay của cô chỉ hơn 2 giờ. Định không ngủ tiếp nên Uyên lấy va li ra soạn đồ để treo lên móc, cô giật mình khi phát hiện trong va li của mình có một cành hoa hồng còn tươi đặt trong đó!

- Kỳ vậy?

Mỹ Uyên không hề đặt cành hoa này vào chung với quần áo của mình, vả lại nếu có đặt vào đó thì qua chặng đường hơn 5 tiếng đồng hồ, cánh hoa hồng không còn tươi như mới hái được!

Mà loại hồng vàng này không phải nơi nào cũng có. Cánh to, thân cao, lá nhỏ, là đặc trưng của loại hồng mà nếu Uyên nhớ không lầm thì chỉ có ở ngay trong nhà mình đây, do trước kia lúc còn sinh thời cha cô đã lấy giống từ nước ngoài về ươm và cho hoa. Nhưng vài năm nay thì do không có người chăm sóc nên hầu như bốn chậu hồng vàng nhà cô đã chết và tuyệt chủng luôn!

Vậy mà...

Điều làm cho Uyên sững sờ lúc này là việc ai đã đặt cành hoa vào va li mình và đặt vào lúc nào mà cô không hay biết. Nó có liên quan tới mâm cơm hồi đầu hôm không?

Bao nhiêu câu hỏi khiến cho suốt từ đó đến sáng, Mỹ Uyên không tài nào ngủ lại được. Cô cũng không buồn sắp xếp đồ đạc, mà chỉ biết ngồi ngẩn ngơ. Hồi nãy cô không quan tâm lắm vụ mâm cơm, nhưng bây giờ chỉ một cành hoa nhỏ, cô lại không yên trong lòng. Chắc chắn là có điều gì đây...

- Cô Út ơi, dậy sớm tập thể dục đi, rồi vào ăn cháo. Tôi có nấu nồi cháo cá ngon lắm để cô ăn, bù bữa đạm bạc đêm qua!

Nghe tiếng Tư Sương, Mỹ Uyên phải nói vọng ra:

- Được rồi, cám ơn chị, lát nữa tôi ăn.

Cô thấy cần một cuộc tản bộ với không khí trong lành buổi sáng để khuây khỏa cho bớt căng thẳng, nên thay đồ thể dục, Uyên đi ra sau vườn. Mảnh đất mà ngôi biệt thự của cha cô tọa lạc rộng có đến 5-6 héc-ta, một phần chung quanh nhà thì được vây quanh bởi tường rào cao, có cửa thông ra phần đất phía sau khá rộng, dẫn tới dãy đồi tít tắp đằng xa. Ít khi nào Uyên một mình đi lên phía sườn đồi thoai thoải kia, mặc dù vào những buổi sáng nơi đó rất đẹp, đặc biệt là lúc mặt trời lên. Có lần Mỹ Uyên đã nhìn thấy cha đứng trên đó nhìn về phía vầng thái dương vừa nhô lên, ông nhìn có vẻ say sưa lắm... đến khi bắt gặp con gái mình nhìn mình từ sau thì bỗng dưng ông nổi nóng, xua Uyên vào nhà ngay! Sau đó Uyên có hỏi cha tại sao như vậy thì ông lúc ấy có vẻ bình tâm lại, đã vỗ vai cô bảo:

- Chỗ ấy mặt trời lên đẹp lắm, nhưng... có lẽ không nên xem. Nhất là con còn nhỏ...

Uyên hỏi:

- Nhỏ thì đâu có ai cấm nhìn mặt trời lên đâu ba?

Cha cô không vừa lòng lắm cách hỏi của con, nhưng ông chỉ nói:

- Con biết vậy là đủ rồi.

Rồi chẳng hiểu sao, ông ra lệnh cho mọi người trong nhà kể cả cô:

- Từ nay không ai được ra chỗ sườn đồi, nhất là phía gần vực. Nơi đó nguy hiểm.

Ông chỉ nói thế thôi, nhưng người nhà từ Tư Sương, Sáu tài xế và cả mấy người làm vườn nữa, không ai dám trái lại. Có lần Tư Sương còn nói với Uyên:

- Mỗi lần tôi đứng bên sườn đồi đó mà nhìn xuống vực sâu, tự nhiên tôi chóng mặt liền!

Từ ngày đó cho tới nay đã hơn năm năm. Cha cô đã mất, nhưng mấy lần về ở đây, có lúc đến vài tháng, nhưng chưa lần nào Mỹ Uyên có dịp ra đây. Cho đến sáng nay cũng thế, cô chỉ muốn đi một vòng ở phần vòng rào của ngôi nhà, cho nên khi vừa đi tới tường phía sau thì Uyên quay lại. Tuy nhiên khi vừa xoay người đi, chợt cô nghe tiếng đàn ở đâu vọng lại.

Một bản nhạc rất quen thuộc mà vừa thoạt nghe Uyên đã phải dừng lại ngay: Bản Love Story!

Ban đầu Uyên ngỡ đó là nhạc từ máy radio, nhưng khi nghe kỹ thì không phải. Ai đó đang đánh đàn guitar, mà lại lúc chơi lúc ngừng.

Sáng sớm mà được nghe điệu nhạc quen thuộc, lại là bản tình ca Mỹ Uyên đã thuộc nằm lòng và thường hát một mình mỗi khi ngẫu hứng, bởi vậy Uyên lặng im và chăm chú lắng nghe. Quãng thời gian người chơi đàn ngừng lại là những lúc Uyên cụt hứng, làu bàu:

- Chơi thì chơi cho trọn...

Nhưng Uyên không phải chờ lâu, ngay lúc đó tiếng đàn lại trỗi lên. Lần này lại có kèm theo tiếng hát nữa! Mà là giọng của một chàng trai!

Mỹ Uyên hơi tò mò, cô nhìn qua song sắt cổng sau, hướng về phía ngọn đồi gần đó. Rõ ràng là tiếng đàn hát phát ra từ đó.

- Ai mà mới sáng sớm đã lên đó?

Tự hỏi và dĩ nhiên là không có câu trả lời, nhưng sự tò mò đã khiến Uyên theo quán tính đã mở chốt cửa bước ra phía ngoài. Sương sớm còn đọng lại trên đầu ngọn cỏ, nên Uyên bước tới đâu sương ướt thấm vào da lạnh buốt. Tuy nhiên lúc này Uyên không ngại sương, thứ mà cô rất ngại trước đây. Có lẽ do tiếng đàn hát mỗi lúc một rõ hơn và... quyến rũ hơn!

Như con mồi nhỏ bị thôi miên trước ánh nhìn của con mãnh hổ, Uyên bước thẳng lên đồi mà không kiểm soát được bước đi của mình! Cô đi khá nhanh, cho đến khi tiến rất gần với tiếng đàn hát thì chậm lại, và gần như bất động khi tiếng đàn hát ngừng lại.

Nghĩ là nó lại tiếp tục như lần trước, nhưng qua gần ba mươi giây không nghe lại âm thanh quyến rũ kia, Uyên tắc lưỡi:

- Sao lại...

Cô chờ thêm khá lâu nữa, vẫn im lặng... Lần này không đứng im nữa, Uyên bước nhanh tới trước. Cô quyết xem thử người vừa đàn hát đó là ai?

Nhưng khi đã lên tới đỉnh đồi rồi Uyên chẳng nhìn thấy ai. Đây là đồi cỏ chứ rất ít cây to, nên tầm mắt có thể phóng rất xa, nhìn rộng khắp một vùng... Vậy mà chẳng thấy bóng người nào.

- Kỳ vậy...

Mỹ Uyên nhìn lại chỗ gốc cây cổ thụ duy nhất ở đỉnh đồi nơi ngọn cỏ còn rạp xuống chứng tỏ có người vừa ngồi xong. Vậy anh ta đi đâu mà biến mất quá nhanh, trong khi nếu muốn biến khỏi tầm mắt trên đỉnh đồi này ắt phải đi gần năm phút.

Thất vọng vì nguồn cảm hứng buổi sáng bị cắt ngang, Mỹ Uyên vẫn chưa muốn rời đi. Cô bước lại chỗ gốc cây và tự dưng muốn ngồi lại nơi ấy. Tuy nhiên vừa ngồi xuống thì Uyên đã bật dậy ngay, bởi cô vừa ngồi lên một vật gì đó. Bật dậy và nhận ra vật đó chính là một chiếc nhẫn bằng chất liệu giống như ngà voi. Nhẫn khá lớn, cỡ tay của đàn ông!

- Chắc là của anh ta...

Mỹ Uyên không định cầm lên, nhưng vừa muốn quay đi thì cô lại đổi ý, cúi xuống nhặt chiếc nhẫn lên, sau khi ngắm qua một lượt, cô cho vào túi áo và quay trở lại.

Vừa bước qua một mô đất cao, chợt Uyên giật mình khi thấy trước mặt mình là cả một rừng hoa hồng vàng! Những đóa hồng vàng nở rộ đón ánh bình minh khiến cho Uyên phải sững sờ một lúc. Rồi cô lẩm bẩm:

- Những cánh hoa này sao giống...

Cô đã nhận ra, hồng vàng ở đây rất giống với cành hoa mà cô bắt gặp trong va li của mình!

- Thì ra...

Cô muốn nói thì ra hoa là ở nơi đây! Nhưng khi nghĩ tới người đem nó vào phòng mình thì Uyên lại ngừng ngay ý nghĩ. Không thể nào...

Tiện tay Uyên ngắt một cành hoa và mải mê nhìn nó như bị thôi miên. Mãi gần nửa phúc sau cô mới rời nơi đó.

Lúc đi lên, dù độ dốc, nhưng Uyên đi nhanh hơn khi xuống. Một phần bởi không có mục tiêu chinh phục, nhưng một phần có lẽ do vừa bước đi mà Uyên cứ thỉnh thoảng quay lại nhìn...

Khi xuống hết triền đồi, một cách ngẫu nhiên Uyên đưa tay sờ vào túi, cô giật mình kêu lên:

- Đâu rồi?

Chiếc nhẫn cô cẩn thận bỏ vào lúc nãy giờ đã biến mất? Túi của bộ áo khoác thể thao là áo mới, không có lỗ rách, vậy nó đi đâu?

Định trở lại để tìm, nhưng khi sờ xuống túi quần thì Uyên thở phào, bởi chiếc nhẫn lại ở đó.

- Kỳ lạ!

Uyên chỉ còn biết kêu thầm rồi bước trở vào nhà mà hình như đang muốn nghe lại tiếng đàn hát lúc nãy...

Khi vào nhà gặp Tư Sương, Uyên hỏi liền:

- Chị có nghe tiếng đàn hát hồi này không?

Sương ngạc nhiên:

- Ủa, đâu có nghe gì?

Uyên kể sơ lại sự việc và hỏi:

- Gần nhà mình có ai hay đàn hát không?

Tư Sương cũng lắc đầu:

- Tôi đâu có biết ai. Xóm này ít người, phần đông là thợ rừng, thợ săn, họ đi làm xa, nhiều khi cả năm không thấy về nhà. Nếu có chơi đàn thì họ chơi đàn cò, đàn kìm hay ca vọng cổ, chứ làm gì biết đàn nhạc ngoại gì đó như cô nói. Nhiều khi cô nghe họ hát băng hay radio gì đó không chừng!

Uyên quả quyết:

- Tôi chắc chắn đó là người hát. Tôi còn...

Cô định nói là mình nhặt được chiếc nhẫn, nhưng kịp ngừng lại. Rồi cô đưa cành hoa hồng vàng cho Tư Sương xem và kể:

- Tối qua tôi gặp một cành hồng giống như cành này trong va li của tôi, chị thấy có lạ không?

Tư Sương trố mắt:

- Cô nói thật hả?

- Mà chị có biết trong vườn mình ở đâu có nhiều hồng vàng này không?

- Ở trên đồi. Mà cũng lạ, ngày trước ông chủ trồng quanh nhà, chỉ bởi thiếu tưới có một thời gian ngắn là hỏng chết khô hết, vậy mà đám hồng vàng này không ai tưới tiêu gì hết lại sống tốt ở trên đồi, chẳng biết sao nữa?

- Ai trồng nó trên đó?

Có vẻ suy nghĩ, một lúc Tư Sương mới đáp:

- Hồi trước hình như cũng do ông chủ trồng.

Rồi cô hạ thấp giọng kể:

- Có chuyện này ít ai biết, hồi còn khỏe, mỗi khi lên trên này thì hầu như ngày nào ông chủ cũng lên trên đồi đó ở cả ngày! Ông chủ còn cho xây một cái nhà mát trên đó nữa để nghỉ trưa, có khi ngủ cả tối, chỉ một mình ông thôi. Cái nhà mát đó chỉ mới bị tháo dỡ đi vài năm nay, chỉ vì...

- Sao lại dỡ bỏ?

Tư Sương ngập ngừng một lúc mới chịu nói:

- Chuyện này là do bà chủ... Tôi nói cho cô nghe thôi, cô đừng nói lại cho bà chủ nghe...

Uyên động viên chị ta:

- Chị biết tính tôi rồi, có bao giờ tôi đứng về phía ba má tôi mà gây ác cảm với người làm trong nhà đâu?

Tư Sương mạnh dạn:

- Bởi vậy tụi tôi trong nhà này ai cũng quý mến cô và luôn hết lòng vì cô, kể từ khi cô thay quyền ông bà chủ cai quản cơ ngơi này. Chuyện này thật ra bà chủ bảo tôi phải giấu... Chính bà đã ra lệnh cho tôi mướn người dỡ bỏ cái nhà mát trên đồi. Chỉ vì...

Như sợ có người ngoài nghe được, Sương nói thật nhỏ:

- Trong ngôi nhà đó có ma!

Lần đầu tiên nghe chuyện đó, nên Uyên giật mình:

- Có chuyện đó sao? Mà từ nào giờ có nghe mẹ tôi nói gì đâu?

- Bà giấu dữ lắm. Đến cả tôi mà bà cũng không cho biết, mặc dù từ lúc ông chủ còn sống, chính tôi là người mỗi ngày lên trên đồi để quét dọn ngôi nhà mát cho ông.

- Chị cũng biết là trong ngôi nhà có ma?

Sương lắc đầu:

- Nói thật với cô là tôi không hề hay biết. Hình như ma cỏ gì đó chỉ nhát có mỗi mình bà mà thôi!

Uyên càng nghe càng rối:

- Chị nói gì tôi không hiểu. Sao ma chỉ nhát có mỗi mẹ tôi? Mà mẹ tôi đâu có sống trên này. Cũng giống như bây giờ, bà luôn ở nhà tại Sài Gòn mà?

- Đúng là thỉnh thoảng bà mới lên đây chơi và chỉ ngủ lại vài đêm thôi. Vậy mà...

Thấy Tư Sương có vẻ ấp úng, Uyên khó chịu:

- Chị nói chị quý tôi, vậy mà chuyện gì trong nhà này chị cũng giấu hết. Vậy là sao?

Chị ta đành phải thú thật:

- Không giấu gì cô... tiếng đàn hát mà cô vừa nói đó tôi nghe đã lâu rồi! Nó phát ra từ trong ngôi nhà mát trên đồi chính bà chủ cũng có nghe và có lần bà đã gặp một cô gái trên đó, chính cô ta!

Uyên phản đối:

- Người hát và đánh đàn là một, và người ấy chắc chắn là đàn ông. Bằng chứng là...

Cô muốn nhắc tới chiếc nhẫn bằng ngà, nhưng kịp ngừng lại, chỉ nói chung chung:

- Hồi sáng nay khi lên trên đồi, tôi đã nhìn thấy dấu vết còn lại là của đàn ông, mà giọng hát cũng là đàn ông một trăm phần trăm!

Tư Sương im lặng một lúc rồi tiếp:

- Tôi cũng đã nghe giống như cô nghe vậy, nhưng chính bà chủ đã nói với tôi là bà gặp... ma nữ. Nó đuổi bà không cho tới đó!

Uyên sửng sốt:

- Tới đó là tới đâu?

- Thì ngôi nhà mát trên đồi!

Uyên lắc đầu:

- Càng khó tin, bởi chị cũng biết rồi, mẹ tôi bị tai biến liệt nửa người từ mấy năm nay rồi, chỉ ngồi xe lăn, vậy làm sao bà lên trên đồi được? Mỗi lần lên đây bà chỉ ở trong phòng, còn cao lắm là nhờ con A Lìn đẩy xe đi vòng vòng quanh sân này thôi.

- Chính con Lìn đó đã đưa bà lên đồi!

Câu nói của Sương làm cho Uyên bị kích động:

- Chị Lìn đẩy xe đưa mẹ tôi lên đó làm gì?

- Có lẽ do bà ra lệnh. Tội nghiệp con nhỏ, chính vì làm việc ấy nên nó mới... chết ngay trên đồi đó!

- Trời ơi! Chị Lìn bị... bị chết trên đó?

Tư Sương bắt đầu hé lộ những điều mà Uyên không bao giờ nghĩ tới:

- Một lần, khi đẩy bà chủ lên đó rồi, tự dưng con Lìn vụt chạy về phía triền dốc bên kia, chỗ vực sâu và... nhảy xuống đó!

- Trời ơi! Rồi... rồi chị ấy...?

- Chết mất xác luôn! Lúc ấy ông chủ vẫn còn sống và bị sốc dữ lắm!

Uyên hiểu ra:

- Bởi vậy sau đó ba tôi cấm không cho ai đi lên đồi!

- Đúng vậy. Nhất là từ lúc bà chủ lên đây và gặp...

Chị ta lại nói hớ, sợ sệt nín bặt. Uyên hỏi tới:

- Chị nói tôi nghe xem, mẹ tôi thấy gì mà đến đỗi bà ra lệnh dỡ bỏ ngôi nhà mát trên đó?

- Tôi... tôi...

Tư Sương nói xong thì vụt chạy đi trước sự ngơ ngác của Uyên. Cô bực bội gọi giật lại, nhưng Sương đã lẫn mất ở đâu đó...
 
***

Mỹ Uyên tức tốc trở về Sài Gòn để gặp mẹ mình. Những nghi vấn trong lòng cô đã khiến Mỹ Uyên phải làm như vậy, mặc dù biết rằng lúc này mẹ mình đang bệnh nặng nằm liệt một chỗ.

Cũng may, khi Uyên trở về thì bà Mỹ Nhung tỉnh táo hơn bình thường. Bà nhìn con và nở nụ cười héo hắt, thều thào hỏi:

- Con... đi đâu về...

Uyên đã có chủ tâm, nên cô không giấu:

- Con lên trên nhà nghỉ của mình trên Đơn Dương.

Đang yếu đến độ không tự ngồi dậy được, vậy mà khi nghe Uyên nói bà đã rướn người lên và líu lưỡi hỏi:

- Con... lên... lên đó... làm... làm gì...?

Uyên đỡ mẹ dậy, cho bà nằm dựa vào gối, rồi lại tiếp:

- Con bây giờ quản lý cơ ngơi đó thì phải lên xuống trông chừng chứ. Con còn tính cho xây dựng lại cái nhà mát trên đồi nữa. Ở đó mà có nhà mát ngồi chơi hay tiệc tùng thì nhất trên đời, không đâu bằng! Con không hiểu ngày xưa tại sao lại phá nhà cũ đi?

- Con... con không... không được...

Bà chỉ nói được bấy nhiêu đó rồi thì lịm đi. Uyên hốt hoảng gọi to:

- Mẹ! Mẹ sao vậy?

Cô không ngờ lời nói khích của mình lại gây hậu quả như thế, nên quýnh lên, lo thoa dầu để cứu mẹ mình. Phải lâu lắm sau đó bà mới tỉnh lại. Nhưng vừa nhìn thấy Uyên thì bà lại hốt hoảng:

- Đừng... đừng con...

- Mẹ bảo con đừng cái gì? Con có làm gì đâu?

Bà cố hết sức nắm lấy tay Uyên như muốn lay mà lay không nổi, miệng bà mấp máy liên hồi nhưng phát không thành tiếng... Uyên phải chủ động hỏi:

- Có phải mẹ bảo con đừng xây cái nhà mát trên đồi hay không?

- Ừ... ừ...

Hiểu ý mẹ mình, nhưng Uyên giả vờ như không biết, lại hỏi:

- Cái nhà mát đó đâu có cản trở gì ai mà tại sao nó bị phá? Ít ra mẹ cũng nói cho con biết chứ... Nếu không thì con cứ xây lại, bởi con chuẩn bị chuyển về trên đó ở luôn. Con đưa mẹ lên cùng ở, có chị Tư Sương sẽ chăm sóc cho mẹ.

Bà Mỹ Nhung cố hết sức lực còn lại, cố đưa cả hai tay lên, ý phản đối:

- Không... đừng...

Nhưng rõ ràng bà không còn đủ sức để nói gì thêm. Hai tay bà rớt xuống và mắt trợn trừng.

- Mẹ!

Bà Mỹ Nhung đã rơi vào cơn mê sâu...
 
***

Cuối cùng thì Mỹ Uyên đã chẳng hỏi thêm được ở mẹ mình một chi tiết nào câu chuyện quanh những bí ẩn của ngọn đồi kỳ lạ trong phần đất nhà. Sau một buổi hôn mê, bà Mỹ Nhung đã trở lại trạng thái nửa mê nửa tỉnh như trước. Bác sĩ điều trị căn dặn kỹ:

- Tránh đừng để cho bệnh nhân bị xúc động mạnh. Những ai từng gây cho bà sự kích động thì không nên đối diện với bà, nhất là trong lúc này.

Do vậy, đêm hôm ấy tuy ở lại nhà nhưng Mỹ Uyên không túc trực bên giường bệnh của mẹ, mà ngủ ở phòng riêng. Tối đó, sự tò mò đã thôi thúc Uyên mò sang phòng mà ngày trước ba cô làm việc và thường ngủ lại ở đó. Phòng này không phải là phòng ngủ, nhưng do ba cô hay thức khuya làm việc, đôi khi quá mệt, ông hay ngủ lại nên trong phòng có để sẵn một giường nệm nhỏ. Tủ hồ sơ, bàn làm việc thì đầy. Kể từ khi ba chết, chưa bao giờ Uyên bước vào đây, một phần là vì cô tôn trọng nguyên tắc của ba cô, không nên táy máy đồ đạc của người khác, và một phần là do khi còn khỏe mạnh, mẹ Uyên cũng nghiêm cấm con cái không đứa nào được tự tiện bước vào phòng của cha. Kể cả bà, đã nhiều lần bà tuyên bố: Mẹ không đụng tới bất cứ cái gì của riêng ông ấy!

Lời tuyên bố đó đã cho Uyên hiểu một chút rằng: giữa ba và mẹ mình có điều gì đó lấn cấn, mà chẳng qua ông bà khéo léo không để cho con cái biết.

Kể từ ngày ba mất, Uyên là người duy nhất sau mẹ được quyền sở hữu chùm chìa khóa của căn nhà, nên việc cô vào căn phòng làm việc của ba mình rất dễ dàng. Là một doanh nhân thành đạt, làm chủ nhiều đồn điền, nên phòng làm việc của ông rất nhiều những tủ đựng hồ sơ kinh doanh. Lúc ông sắp mất, tuy Uyên chưa đủ lớn nhưng sau này chính vị luật sư nhận quản lý tài sản đã nói riêng với cô rằng ông đã có căn dặn: Chỉ có Mỹ Uyên là người được xem và quản lý những gì ba cô để lại.

Lúc này, khi đứng trong phòng của cha rồi Uyên mới nhận ra sự thiếu sót của mình. Đúng ra cô đã phải vào phòng này từ mấy năm nay, để xem cha mình để lại những gì, rồi căn cứ theo đó mà quản lý tài sản, việc kinh doanh. Bấy lâu nay Uyên chỉ dựa vào kinh nghiệm học được ở trường và óc thông minh riêng để quán xuyến công việc... Bởi vậy khi kéo ngăn tủ bàn làm việc của cha ra Uyên đã nhận thấy ngay điều mình cần học là ở đây! Xấp hồ sơ trên cùng đã có ghi sẵn đòng chữ: Những điều mà Mỹ Uyên nên xem!

Thì ra cha đã dành sẵn cho cô ở đây!

Vừa giở tập hồ sơ ra xem Uyên đã giật mình! Ngay tờ giấy đầu tiên đã có bút tích của cha: Mỹ Uyên nên làm ngay giúp cha...

Cô lật tiếp bên dưới thì hơi hụt hẫng, bởi ngoài tờ giấy đó thì chẳng còn giấy tờ gì khác. Mà ở cùi hồ sơ còn có dấu của việc bị xé vội, một mảnh giấy còn sót lại.

- Ai đã hủy đi những hồ sơ này?

Bên dưới hồ sơ là các giấy tờ khác sắp xếp theo thứ tự, đó là những công nợ của các mối làm ăn của công ty, mà trong di chúc để lại ông Minh cha cô đã có ghi. Hầu hết là công nợ mà chủ nợ là cha cô, tức cô là người thừa kế duy nhất, sẽ tiếp tục là chủ nợ của họ. Hầu hết là sắp đến hạn họ phải trả. Uyên buột miệng:

- Cũng may là mình xem kịp thời!

Và rõ ràng, người nào lấy cắp hồ sơ chỉ nhắm vào một loại giấy tờ nào đó. chứ không đụng đến giấy tờ có liên quan đến tiền bạc.

Ở một ngăn kéo khác, cũng phải dùng chìa khóa Uyên mới mở được, cô bắt gặp ngay một bức ảnh chân dung của một cô gái trẻ, đẹp, có nụ cười thật tươi, nhưng đôi mắt thì thật là buồn. Tấm ảnh không lộng khung, nên Uyên lật phía sau và đọc được dòng chữ: Kỷ niệm trên đồi Thiên Thu!

- Đồi thiên thu?

Nhìn kỹ thì bức ảnh này có bối cảnh phía sau là một khung cảnh nào đó quen quen... người chụp đã cắt từ một bức ảnh chụp ngoài trời, để phóng thành một ảnh chân dung...

- Phải rồi, trên ngọn đồi đó!

Uyên nhận ra và nhớ lại cảnh trên đỉnh đồi nhìn sang phía bên kia, nơi mà cha cô từng cấm không cho đứng ngắm!

Thì ra bức ảnh này được chụp nơi ấy và phải chăng là do chính cha cô chụp? ở một ảnh thứ hai thì đã là câu trả lời: vẫn tấm ảnh đó nhưng còn nguyên, chụp chung với một người đàn ông. Mà người đó chính là... cha của Uyên!

- Thảo nào...

Uyên kết nối những sự việc và lờ mờ nhận ra một chút ánh sáng trong bóng đêm dày đặc quanh cha mẹ mình...

- Người phụ nữ trẻ đẹp này phải chăng là đầu dây mối nhợ của sự lấn cấn giữa cha mẹ mình? Nhưng tại sao? Bao nhiêu câu hỏi lại dồn dập kéo về, khiến cho Uyên càng muốn khám phá thêm những điều của cha mà cô còn chưa biết. Sau hơn một tiếng đồng hồ lục lọi, Uyên đã có thêm bằng chứng để khẳng định rằng cha cô và người phụ nữ kia là một cặp đôi gắn bó cho đến ngày cha cô qua đời. Trong đó có một lá thư ngắn do cha cô viết chỉ cách ngày ông trút hơi thở cuối cùng khoảng một tuần lễ, gửi cho người phụ nữ tên Thiên Thu, báo cho cô ấy biết rằng ông đang hấp hối, sắp lìa xa, mong gặp được cô lần cuối ở tại ngôi nhà trên đỉnh đồi!

- Nhưng sao lá thư này còn ở đây?

Sau khi nhìn kỹ Uyên hiểu ra: Lá thư này cha cô đã gửi đi cho người con gái tên là Thiên Thu, nhưng bị trả lại và người phát thư có ghi: Người nhận đã chết, nhà không có ai nhận thay!

- Trời ơi!

Tự dưng Uyên kêu lên và sững sờ. Thì ra cha cô và cô người yêu này đã chết ở những thời điểm không xa nhau. Và tất cả lại có liên quan tới ngọn đồi mà ông gọi là đồi Thiên Thu! Mà phải chăng do người phụ nữ kia có tên là Thiên Thu nên cha cô đã đặt tên ngọn đồi là tên ấy?

Thêm một chút ánh sáng nữa lại vụt tắt ngay. Bởi sau đó, những gì liên quan tới cô gái đã không còn nữa trong đống hồ sơ khá nhiều trong phòng. Hình như có ai đó cố tình lấy đi, hay hủy hoại.

Uyên cố tìm thêm nhưng vẫn không có gì. Giở trở lại xấp hồ sơ có ghi: Những điều Mỹ Uyên nên xem... Uyên chợt hiểu, cô thốt lên:

- Đấy chính là những điều cha muốn nói về những ẩn tình giấu kín. Những trang nhật ký của ông! Ai đã làm chuyện này? Họ đã lấy đi điều mà cha mình muốn mình biết... mà người đó là ai, nếu không là...

Uyên chợt nghĩ ra, cô kêu lên khẽ:

- Mẹ!

Lúc ấy đã là nửa đêm. Chung quanh yên ắng, đặc biệt là trong ngôi nhà mà giờ đây chỉ có Uyên, mẹ và cô y tá trực. Uyên cho tất cả những đồ đạc của cha vào chỗ cũ, chỉ giữ mấy bức ảnh.

Cô đứng yên một lúc rồi bước qua phòng mẹ đang hôn mê. Không phải là không tôn trọng mẹ, nhưng Mỹ Uyên phải quyết định lẻn vào phòng riêng của bà là ở tình thế bắt buộc. Cô phải biết điều tối hệ trọng cho mắt xích cuối cùng, mà thiếu nó thì mọi vướng mắc trong lòng cô sẽ chẳng bao giờ được nối kết và sáng tỏ ra.

Bà Mỹ Nhung vẫn trong tình trạng hôn mê, hai cô y tá mà Uyên chi tiền để họ túc trực lo cho mẹ luôn là những người mẫn cán, họ túc trực theo ca rất nghiêm túc về giờ giấc. Nhưng với cô là người trả tiền công cho họ thì việc cô ra vào phòng của bệnh nhân là chuyện bình thường, chỉ có điều là theo yêu cầu của bác sĩ, Uyên không trực tiếp đối diện với mẹ, bởi mỗi lần như vậy sẽ gây ra sự kích động nơi bà.

Uyên bước vào phòng, ra dấu cho cô tá trực ca khuya bước ra ngoài, dặn chừng nào bệnh nhân hoặc cô gọi thì hãy vào. Sau đó Uyên bước lại tủ riêng của mẹ. Những tủ này cô không có chìa khóa, nhưng may quá, xâu chìa khóa của bà Mỹ Nhung lại ghim trong ổ khóa của một chiếc tủ trong phòng.

Mở tủ ra, ở ngăn quần áo thì Uyên không màng, cô kéo ngăn tủ nhỏ thường mẹ cô hay để nữ trang và những vật quý giá. Bà luôn khóa, nhưng hôm nay thì lại không. Có lẽ bà nghĩ nó ở trong phòng riêng mà cánh cửa tủ lại khóa chặt thì còn lo gì.

Và chính ở ngăn tủ đó, Uyên đã tìm thấy vật mình đang tìm. Một xấp giấy viết đầy chữ của cha, được xé ra đúng là từ xấp hồ sơ bị mất nhiều trang mà Uyên phát hiện lúc nãy.

Vừa cầm lên đọc nửa dòng đầu. Uyên đã biết ngay đó là những trang nhật ký của cha!

"Ngày... tháng... năm...

Mình gặp Thu trên đồi, nơi mình đã đứng suốt ba buổi chiều để đợi. Cuối cùng nàng cũng đã đến! Thật lộng lẫy, kiêu sa và dễ thương làm sao... Mình tự hỏi: tại sao mình để lỡ mất con người như thế này, để đi lấy một người mình không hề yêu? Phải chăng trời bắt mình phải trả giá!

Ngày... tháng... năm...

Vừa gặp thì nàng đã báo cho mình cái tin mà vừa nghe mình đã tái mặt, chết điếng...”

Đang đọc tới đó thì bỗng bà Mỹ Nhung kêu thét lên một tiếng, khiến Uyên phải ngừng lại. Vừa lúc đó cô y tá chạy vào. Cô cũng hốt hoảng:

- Bà bị nguy lắm rồi!
Sự đời cà khịa cái chơi
Khi vui muốn khóc, khi cười buồn tênh!
0
Phần 2

Mẹ mất ngay lúc Mỹ Uyên vừa khám phá ra một điều vô cùng quan trọng, nên vừa mai táng cho mẹ xong Uyên đã phải lập tức trở lên Đơn Dương. Cô tìm theo đúng cái địa chỉ mà cha cô ghi phía sau tập nhật ký.

Sở dĩ Uyên làm chuvện ấy ngay thay vì đọc hết tập nhật ký của cha là bởi ở dòng cuối cùng của nhật ký, ba Uyên đã dặn thật kỹ:

"Con muốn biết nhật ký ba viết có trung thực hay không thì trước tiên con phải tìm tới nhà của người phụ nữ mà ba đã dành cả một đời để yêu. Có biết rõ rồi thì con sẽ hiểu ba có phải là người chồng, người cha tệ bạc hay không!"

Địa chỉ mà ông Minh ghi thật ra không xa ngôi nhà của gia đình Uyên là bao. Uyên tìm được khá dễ, nhưng khi hỏi thì một bà lão duy nhất sống trong nhà chỉ khóc chứ không trả lời câu hỏi của Uyên. Mãi sau đó, khi đã dùng hết cách kể cả nước mắt, thì Uyên mới được bà già cho biết:

- Đây đúng là nhà của con Thu. Nhưng từ khi nó mất đi thì không một ai được phép bước vào. Kể cả tôi là bà của nó mà cũng chỉ được ngủ ở ngoài hiên này suốt năm năm nay.

Uyên ngạc nhiên:

- Sao vậy bà? Cô ấy chết rồi mà?

- Chính vì đã chết nên mới hiển linh!

- Hồn ma?

Bà cụ bước đi rất yếu, nhưng cũng ráng đứng lên mở cổng rào, mời Uyên:

- Nhưng đó chuyện của ngày hôm qua. Bắt đầu từ sáng nay thì khác. Mới sáng sớm tôi đã ngạc nhiên bởi cánh cửa vốn đóng chặt ngót năm năm qua, bỗng dưng mở toang và tôi không còn nghe tiếng khóc tỉ tê trong đó nữa!

Uyên còn chưa dám bước vào thì bà khuyến khích:

- Trước đây thì tôi không dám, nhưng từ bây giờ có lẽ khác rồi, cháu cứ bước vào đi, rồi muốn hỏi gì về con Thu tôi nói cho.

Uyên bước hẳn vào trong. Cô nhìn lên bàn thờ thì thấy một khung ảnh với chân dung giống hệt như tấm ảnh mà cô thấy ở nhà mình. Cô ngập ngừng hỏi:

- Thưa bà, con muốn biết cô Thu này có phải tên thật là Thiên Thu không?

- Đó là tên thật của nó. Một cái tên mà ai nghe cũng quở là tên không nên đặt cho một cô gái còn son trẻ như thế. Nhưng nó lại thích. Có lẽ bởi mang cái tên như vậy nên đã thành định mệnh của nó. Và bởi vì nó có cái tên quá kêu, quá kiêng kỵ với mọi người nên người ta đã bắt nó mang một cái tên khác hoàn toàn, một cái tên lạ lẫm, mà có lẽ vì thế mà nó đã trở thành... thiên thu!

- Tên gì, thưa bà?

- A Lìn!

Lời bà vừa thốt ra đã làm cho Uyên kinh hãi:

- A Lìn? Phải chăng đó là... người hầu của mẹ cháu?

Bà cụ sửng sốt nhìn Uyên:

- Vậy ra... cô là... là con của con người đó sao? Con người có cái tên đẹp, êm ái như nhung mà có lòng dạ độc ác hơn rắn độc, hùm beo!

- Kìa bà...

Uyên định lên tiếng bênh vực mẹ mình, nhưng kịp dừng lại khi nhìn thấy nét mặt đanh lại của bà cụ.

Rồi bất thình lình, bà cụ chỉ tay sang một bàn thờ khác phía vách bên kia, bảo Uyên:

- Cô có nhìn thấy thằng đó không? Nó chết khi mới hai mươi tuổi, tức lớn hơn con Thiên Thu hai tuổi. Nó cũng chết bởi lòng dạ rắn độc của mẹ cô!

- Kìa bà! Xin bà...

Nhưng bà cụ chừng như không còn để ý đến lời nói của Uyên nữa, mà rơi vào cơn xúc động khó kiềm chế được:

- Con người ta đang độ tuổi lớn, tuổi yêu, vậy mà chỉ vì ghen tuông, ích kỷ, mẹ cô đã nhẫn tâm sát hại nó, đẩy chúng nó xuống địa ngục, âm phủ. Cái thứ yêu tinh đó cuối cùng cũng phải đền tội, cũng phải...

Bà càng nói càng xúc động và giọng càng thê thiết hơn, điều đó càng khiến cho Mỹ Uyên không còn chịu đựng nổi, cô gào lên:

- Bà đừng nói nữa!

Uyên lao ra cửa trong tình trạng hoảng loạn và cứ thế, cắm đầu chạy một mạch không định hướng.

Nhưng phải chăng là ngẫu nhiên, khi cuối cùng Uyên lại dừng trên đỉnh đồi quen thuộc. Đến khi nhận ra, cô bàng hoàng kêu lên:

- Đồi Thiên Thu!

Đột nhiên, Uyên lại lao tới như mũi tên về hướng vực thẳm, vừa cất tiếng gọi thảng thốt:

- Mẹ!

Bởi lúc ấy ngay trước tầm mắt của Uyên là chiếc xe lăn của mẹ mình đang chới với sắp ngã xuống vực sâu!

- Mẹ ơi!
 
***

- Cô Út tỉnh lại rồi!

Tiếng reo mừng của Tư Sương cũng làm cho người mới vừa bừng tỉnh giật mình. Cô ngơ ngác nhìn quanh và cất tiếng hỏi:

- Mẹ tôi đâu?

Tư Sương nắm tay Uyên gọi khẽ:

- Tôi, Tư Sương nè!

Lúc này Uyên mới nhận ra, nhưng cô vẫn hỏi:

- Mẹ tôi có bị rơi xuống vực sâu kia không?

- Cô Út, chính tôi đã kịp cứu cô lúc đó đang sắp lao xuống vực sâu trên đồi. Nếu tôi tới không kịp thì cô đâu còn mạng, chẳng khác gì chị Lìn.

- Lìn! Chị vừa nói tới ai?

- Cô Út đâu còn lạ gì chị ấy, người đã đẩy xe lăn cho bà chủ suốt mấy năm trời. Người đã bị chết trên đồi...

Uyên không còn kiềm chế được, cô bật dậy nắm vai Tư Sương hỏi dồn:

- Tại sao chị Lìn chết? Và chị có biết Lìn chính là Thiên Thu không? Tại sao...

Câu hỏi dồn dập đó đủ khiến cho Tư Sương bàng hoàng, chị đờ người ra, cho đến khi Uyên dứt hỏi thì cũng là lúc Sương run rẩy như bị kinh phong:

- Cô... cô Út... biết rồi sao...

Và chị ta im lặng như người mất hồn, sắc mặt tái nhợt...

- Vậy là chị biết hết mà giấu tôi. Chị Sương, mọi việc thế nào?

Tư Sương bật khóc nức nở, hồi lâu mới nắm tay Uyên, nhẹ giọng bảo:

- Cô ráng đi theo tôi.

Chị ta dẫn Uyên về phòng riêng của mình. Đây là căn phòng ở dãy nhà riêng dành cho người giúp việc, nhưng khi bước vào trong thì chính Uyên cũng ngạc nhiên khi nhận ra phòng rộng và tươm tất chẳng khác gì các phòng trên ngôi nhà lớn hay cụ thể là phòng của Uyên.

Sương giải thích ngay:

- Đấy là sự ưu ái của cả ông bà chủ. Họ tưởng thưởng cho tôi, bởi vì suốt mười lăm năm tôi chỉ biết ở đây...

Nhưng điều ngạc nhiên lớn hơn là ngay sau khi Uyên nhìn thấy bức ảnh chân dung đặt trên một bàn thờ kê giữa nhà, cô kêu lên:

- Hình đó là ai?

Bức ảnh thờ kia giống y như ảnh thờ ở nhà bà cụ của cô Thiên Thu! Người mà bà cụ bảo rằng đã bị chết bởi mẹ Mỹ Uyên!

- Người này là...

Tư Sương đáp gọn:

- Là em ruột của tôi!

Uyên bị kích động:

- Người đó chết theo cô Thiên Thu phải không?

Không đợi Sương trả lời, Uyên đã tự bảo:

- Cả hai đều do một tay mẹ tôi...

Lời cô chưa dứt thì Tư Sương đã bịt cả hai tai lại gào to:

- Đừng nhắc chuyện đó! Đừng...

Rồi như kẻ bị tâm thần, chị ta thoát chạy ra khỏi nhà, nhằm hướng phía sau mà chạy. Uyên sững sờ một lúc, chợt cô nhớ ra, hốt hoảng:

- Đồi!

Uyên phóng theo và quả nhiên cô nhìn thấy bóng của Tư Sương chạy về hướng ngọn đồi. Và bất chợt từ trên đó có tiếng đàn guitar bài "Chuyện Tình" (Love Story) vọng lại. Uyên hơi khựng lại khi nghe bài nhạc, nhưng rồi nó như một động lực, khiến cô chạy nhanh hơn và thật bất ngờ, như có một phép mầu, Uyên lại chạy tới đỉnh đồi trước cả Tư Sương! Và đó cũng là thời khắc quyết định, bởi đúng lúc đó bỗng nhiên Tư Sương buông mình lăn tròn theo triền dốc, để rơi nhanh xuống phía vực sâu!

Bằng một động tác như được ai đó tiếp sức, Uyên vừa kịp đưa tay chụp lấy một cánh tay của Sương, rồi kéo lại. Động thái đó kịp lúc cứu mạng của Sương, bởi chỉ trong nháy mắt nữa thôi, cả thân thể cô ta sẽ rơi gọn xuống vực!

Được cứu rồi, nhưng Tư Sương vẫn chưa tin là mình đang còn ở trên đỉnh đồi. Cô kêu lên thảng thốt:

- Tôi đến đây rồi!

Uyên phải lên tiếng:

- Tôi đây, Uyên đây chị Tư.

Nhưng Sương vẫn nhắm nghiền đôi mắt, nói như nói với ai đó:

- Chờ tôi có lâu không? Hãy thông cảm, tôi phải chờ...

Rồi chị ta rơi vào trạng thái hôn mê sâu...

Mỹ Uyên phải khó khăn lắm mới kéo chị ta xuống triền đồi phía bên kia...
 
***

Sau khi giúp Tư Sương tỉnh lại và ngủ yên rồi, Mỹ Uyên mới trở lên phòng mình ngả lưng nghỉ. Suốt ngày qua, cô đã quá mệt với nhiều chuyện, giờ đây cô cần giấc ngủ hơn bao giờ hết. Nhưng chỉ vừa đặt lưng xuống thì Uyên lại bật dậy ngay và bật đèn sáng lên để xem lại tập nhật ký của cha.

Hôm ở nhà, Uyên chỉ mới xem một trang đầu và định để lúc nào rảnh sẽ xem tiếp. Nhưng bữa nay thì nhất thiết cô phải đọc cho hết, bởi những gì còn lại là một thách thức với Uyên...

"Ngày... tháng... năm...

Thu báo cho mình biết, cô bị Mỹ Nhung chặn đường khi đi từ nhà ra thị xã, và sau đó bị Nhung cùng ba người đàn bà khác kéo về một ngôi nhà hoang để ra tay hành hạ dã man! Thu cầu cứu mình và cơn thịnh nộ của mình lên tới cực độ, mình về gặp Mỹ Nhung, định sẽ ra tay thật nặng để trừng trị cái tội đã dám làm cái chuyện mà mình đã cấm từ lâu. Mỹ Nhung tuy là vợ mình, nhưng cô ấy hiểu hơn ai hết, mình đã yêu Thiên Thu từ trước khi mình lấy vợ. Một trong những đ điều kiện để mình chấp nhận cuộc hôn nhân với Nhung chính là việc Nhung không được quyền đụng đến Thu, bởi Thu đã phát nguyện đi tu, chỉ chờ nàng sinh xong đứa con đang lỡ mang với mình. Chính Mỹ Nhung đã đồng ý trước mặt mình và Thu, vậy mà sau đó lại âm thầm trở mặt. Mình hận Nhung và thứ tình yêu chỉ có nghĩa chứ không chút tình, phút chốc trở thành thù hận!

Tuy nhiên, khi mình định trút cơn thịnh nộ thì Nhung lại làm cho mình chùn tay: cô ấy báo cho mình cái tin mà mình phải sững sờ, rằng cô ấy cũng đang có thai với mình! Lòng dạ mình đau thắt, lương tâm mình ray rứt khó xử... Để rồi cuối cùng mình đành phải dẹp qua một bên cơn giận đang sục sôi.”

"Ngày... tháng... năm...

Trong lúc mình chuẩn bị đi tìm Thiên Thu để giúp nàng ổn định cuộc sống, xoa dịu tinh thần sau cú sốc dữ dội đó, thì xui cho mình, chẳng hiểu sao mình lại đau bụng đến tối tăm mặt mày, người sốt cao như lửa đốt và buộc phải nằm lại mất mấy ngày. Để rồi khi mình tìm tới một lương y quen thì ông ta báo cho mình cái tin dữ làm mình sững sờ: Mình bị ai đó cho uống phải một loại độc dược cực mạnh, khiến cho ngũ tạng bị phá hủy từ từ và sẽ liệt giường cho đến ngày chết! Mình còn chưa hết bàng hoàng thì độc dược đã phát huy tác dụng, rồi sau đó mình không thể làm gì ngoài nằm thiêm thiếp chờ chết! Trong lúc kiệt lực và gần đi vào hôn mê thì mình mơ hồ biết được là đang bị chuyển đi trên một chiếc xe...

Mình phát hiện ra đang ở một nơi xa... Khi cơn mê giảm bớt, mình nhận ra đang nằm trong ngôi biệt thự ở Đơn Dương. Đêm hôm đó, mình nghe trộm được cuộc nói chuyện của ai đó ngoài cửa phòng. Có lẽ họ nghĩ mình hôn mê nên cuộc nói chuyện khá thoải mái xoay quanh chuyện hãm hại ai đó... Sau cùng mình điếng hồn, bởi hai người phụ nữ kia đang bàn một âm mưu hại người! Mà họ không phải ai xa lạ, chính là Mỹ Nhung và cô người làm tên Tư Sương!
 
Mỹ Nhung căn dặn:

- Mày phải cố duy trì sự sống cho ông ấy đến khi con Thiên Thu sinh con, bởi tao cần đứa con của nó, chứ tao nào có "bầu bì" gì đâu. Tao đã gạt được lão ta, để lão ta tin rằng tao đang có thai và không trừng trị tao về tội đã làm nhục con người yêu của lão. Sau khi con Thiên Thu gần ngày sinh, mày nhớ bảo thằng em trai mày trực tiếp đưa nó về Sài Gòn cho tao, lúc đó tao sẽ có cách tính nó.

Tư Sương đã hỏi lại Mỹ Nhung:

- Tại sao phải đưa cô ấy về Sài Gòn mà không để ở đây sinh xong, rồi sau đó con sẽ... ra tay? Còn thằng em trai con, sao lại phải là nó đưa Thiên Thu đi mà không phải là con?

Lúc ấy Mỹ Nhung đã nói:

- Mày quên là tao cần bắt đứa nhỏ để nuôi hay sao! Còn việc phải cần thằng em trai mày là bởi như mày nói, thằng ấy mê con Thiên Thu mà không được đáp lại, bởi vậy tao mới muốn cho nó tận mắt thấy cảnh con Thiên Thu mang thai với người khác, từ đó nó sẽ thù hận lão Minh nhà tao. Tao muốn mượn tay thằng em mày giết một lúc cả hai đứa nó.

Lúc ấy, mình đã nghe rõ tiếng kêu thất thanh của Tư Sương:

- Bà đừng bắt thằng em trai con làm chuyện ác nhân đó! Đúng là nó yêu Thiên Thu mà không được đáp lại, nhưng nó sẽ không bao giờ hại người đâu. Nó thà chịu đau khổ một mình chứ không làm kẻ sát nhân đâu!

Lúc ấy, mình nghe Mỹ Nhung gằn từng tiếng:

- Nếu mày không nghe theo tao thì hậu quả gì mày đã biết rồi! Tao sẽ nói cho mọi người biết chính mày đã đi mua độc dược, rồi chính mày đã bỏ vào thức ăn cho lão ấy ăn! Mày là thủ phạm chớ không phải tao!”

"Ngày... tháng... năm...

Mình còn biết thêm, sau khi căn dặn Tư Sương mọi việc, Mỹ Nhung đã đắc ý, nói toạc ra ý của bà ấy:

- Tuy trước sau gì tao cũng cho con Thiên Thu về chầu âm phủ, nhưng sẽ không để nó chết dễ dàng đâu, mà còn phải cho nó nếm mùi đau khổ nhiều hơn.

Tư Sương đã hỏi lại:

- Bà còn muốn thằng em con làm gì nữa?

Mỹ Nhung cười đắc ý:

- Tao sẽ giấu đứa con nó mới sinh, gạt nó rằng đứa bé bị bắt cóc và cho nó cùng thằng em trai mày đi tìm. Lúc ấy em mày chỉ cần...

Mình nghe Tư Sương thảng thốt kêu lên:

- Không được đâu bà ơi. Thằng em con sẽ không bao giờ ra tay...

Mỹ Nhung đã tính mọi việc đâu ra đó, bà ta nói:

- Mày khỏi phải lo. Chuyện hại con Thiên Thu không cần em mày ra tay đâu. Chỉ cần nó dẫn con Thu trở về Đơn Dương, rồi mọi việc sẽ có người khác lo!”

"Ngày... tháng... năm...

Người khác mà Mỹ Nhung nói chính là bà ta! Một tháng sau, khi mình còn nằm liệt giường thì Mỹ Nhung bất thần trở ra. Lần này bà ấy không đi một mình, mà cùng với Thiên Thu, nhưng Thu lại trong lốt một ả xẩm tên Lìn! Mình bị á khẩu và bất động, nên khi bà ta ngồi trên xe lăn mà người đẩy xe là... Thiên Thu đến trước mặt mình thì mình chỉ trào nước mắt chứ không làm sao lên tiếng được! Nhưng nghe thì mình nghe rất rõ, Mỹ Nhung đã không giấu giếm, nói thẳng:

- Cô người yêu nhỏ bé của ông bây giờ đã trở thành nàng hầu đẩy xe lăn cho tôi rồi! Mà ông biết tại sao cô ấy lại chấp nhận làm điều này không? Bởi... cô ta cũng bị tôi cho uống loại thuốc giống như của ông đã uống, tuy công dụng có khác nhau. Thuốc ông uống thì sau vài tháng nữa sẽ chết, còn thuốc cô ta uống thì không chết mà chỉ... khờ khờ, điên điên thôi. Ông thấy đó, nhìn thấy ông mà cô ta không hề xúc động, không nhận ra người tình của mình!

Mình điên tiết lên, nhưng chẳng làm gì được, đành chỉ biết quơ hai tay trong tuyệt vọng. Nhìn Thiên Thu đẩy xe lăn đi... Đi được mấy bước thì bà ta quay lại chọc tức mình:

- Ông không hỏi sao tôi lại ngồi xe lăn à? Thật ra, tôi có què cụt gì đâu, chẳng qua tôi giả vờ để hành hạ nó chơi thôi!

Bà ta nói xong thì bước ngay xuống xe, bước đi một cách linh hoạt, trong lúc vẫn giục Thiên Thu đẩy xe lên đồi!”

"Ngày... tháng... năm...

Mình ngất đi có lẽ khá lâu, sau khi mình thức gần suốt đêm để cố viết cho thật nhiều trang nhật ký mà mình định viết từ lâu mà chưa thực hiện được. Có lẽ do vận dụng sức quá căng thẳng, quá lâu, nên mình đã ngất đi. Lúc tỉnh lại, mình hơi giật mình khi nhìn thấy con Tư Sương đang quỳ bên cạnh. Nó bật khóc khi thấy mình tỉnh lại. Nó nói trong nghẹn ngào:

- Ông ơi... cô... cô Thiên Thu đã... đã rơi xuống vực rồi! Thằng em con lao theo mà không cứu kịp và cũng đã chết dưới vực sâu đó!

Mình vận toàn lực và bật lên được một tiếng "trời ơi!" rồi...”

"Ngày... tháng... năm...

Mỹ Uyên con! Nếu con đọc được những dòng này thì con đã biết mình là con của ai rồi! Và chắc con sẽ ngạc nhiên tại sao con là con duy nhất của ba với Thiên Thu, trong khi bà Mỹ Nhung không hề sinh cho ba được đứa nào, vậy tại sao gọi con là Út? Chỉ vì cho đến khi ba chết, chắc chắn sẽ không có ai là chị em của con nữa, ba gọi con là Út để khẳng định con là chót, là duy nhất. Bởi ba biết chắc là khi ba ra đi rồi thì bà Mỹ Nhung sẽ bày lắm trò nữa gạt con... Vậy con nên nhớ, sau con, ba không hề có con với ai nữa! Ba lạy trời cho con mau tìm được quyển nhật ký này, để đọc và biết hết sự thật. Có như thế con mới hiểu tại sao ba yêu cô Thiên Thu đến như thế và rồi đây con cũng yêu mẹ con như ba vậy...”

"Ngày... tháng... năm...

Mỹ Uyên của ba! Ba không còn sức để viết được nữa... Ba chỉ muốn lặp lại, đây là tất cả những gì con nên xem!

...Về tài sản thì trước đây vài tuần, khi nghe biết sự thật quanh âm mưu của người mà con gọi là mẹ, bà Mỹ Nhung, thì ba đã âm thầm nhờ luật sư lập tờ di chúc, để lại tất cả sản nghiệp này cho con. Chỉ duy nhất có con là đủ tư cách thừa hưởng. Tâm nguyện cuối cùng của ba là muốn con hãy tìm cho được hài cốt của mẹ Thiên Thu và lập mộ đàng hoàng. Nếu được thì hãy chôn cô ấy bên cạnh ba...”
 
***

Mỹ Uyên buông tập nhật ký xuống và bật khóc! Những gì cha cô viết là sự thật, mà cho đến giây phút này cô mới hiểu tại sao trong thâm tâm mình từ nào đến giờ tuy nghĩ bà Mỹ Nhung là mẹ của mình, nhưng chưa bao giờ Uyên có tình cảm sâu đậm với người đàn bà ấy...

Mỹ Uyên đã bỏ ra hơn chục ngày để tự thân đi tìm hài cốt mẹ dưới vực sâu. Địa hình hiểm trở, vực sâu nguy hiểm, những điều đó không làm chùn chân cô gái yếu đuối. Nhưng kết quả vẫn là con số không.

Đến ngày cuối cùng, khi tất cả những người giúp Uyên đi tìm đã phải chán nản buông xuôi, thì Mỹ Uyên chợt nhớ tới ngôi nhà của Thiên Thu!

Trở lại nơi đó thì ngay khi vừa nhìn thấy cô, bà cụ trong nhà đã reo lên:

- May quá, tôi đang tính đi tìm cô đây!

Bà kéo Uyên ngồi xuống, vừa thuật chuyện:

- Đêm qua tôi lại mơ thấy nó về, nó nói là sắp nhận lại con, tôi ngạc nhiên hỏi thì nó khóc chứ không nói...

- Cô Thiên Thu hả bà? Á, mà không phải là cô, mà là...

Bà già vuốt tóc Uyên:

- Nếu con Thu mà còn sống thì chắc giờ đây cũng đã có con cỡ tuổi con rồi! Bà thích một đứa cháu gái giống như con vậy...

Mỹ Uyên khóc òa lên khiến bà ngạc nhiên:

- Sao con khóc?

Bất thần ôm lấy bà, Uyên nghẹn ngào:

- Bà... là mẹ của cô Thiên Thu phải không?

Bà cụ hình như muốn giấu, nhưng trước ánh mắt thành khẩn của Uyên, bà hơi ấp úng một chút, rồi nhẹ gật đầu:

- Phải...

- Bà ngoại!

Bà cụ kinh ngạc:

- Cô... con gọi ta là gì?

- Bà ngoại của con! Con là con của mẹ Thiên Thu đây!

Bà cụ trợn tròn mắt:

- Con không gạt ta phải không?

- Chính là con đây, bà ngoại!

Giọng bà cụ thảng thốt:

- Hèn gì suốt đêm con Thiên Thu cứ hiện về và nói mãi về chuyện nó đã tìm được con rồi! Nhưng mà... theo ta biết thì con là con của... vợ thằng Minh? Mẹ con là... Mỹ Nhung?

- Không đâu ngoại. Để con kể ngoại nghe...

Mỹ Uyên tuần tự kể lại những gì cha viết trong nhật ký. Khi cô vừa dứt lời thì bà cụ nói liền:

- Tội nghiệp thằng em con Tư Sương! Chính nó đã tìm ra hài cốt của con Thiên Thu, đem về đây.

Uyên kinh ngạc:

- Nghe nói ông ấy cũng đã chết theo mẹ con, khi nhảy theo cứu rồi cũng rơi xuống vực sâu mà?

Bà cụ lắc đầu:

- Chỉ có mình con Thu chết. Thằng Năm Nhàn này nhảy theo rồi may mắn máng lại trên cành cây, không chết. Nhưng toàn thân thương tích đầy mình. Nó đã kẹt lại dưới khe sâu nhiều năm liền, sống được là nhờ ăn củ dại, trái rừng và uống nước suối. Nó bị gãy cả hai chân, mù hai mắt, nhưng vẫn ngày đêm cố công tìm cho bằng được hài cốt của Thiên Thu! Tội nghiệp, nó yêu Thiên Thu trong vô vọng, vậy mà vẫn một lòng chung thủy... Cho đến một ngày kia cách đây gần mười năm, một hôm nó lê lết về đây kêu cửa, ta ra mở cửa và cứ tưởng nó là ma! Đến khi nó nói ra ta mới biết sau bao nhiêu ngày tháng, nó đã tìm ra được hài cốt con Thu, nhưng chưa thể đưa về đây, nguyện thế nào cũng cố đem về cho bằng được! Ngoại cảm ơn nó vô cùng, giữ nó lại đây chăm sóc thương tích, nhưng vào một đêm thanh vắng, nó đã... treo cổ chết giữa phòng mà bây giờ ngoại thờ mẹ con. Tội nghiệp, nó đã đi theo mẹ con rồi...

Mỹ Uyên nhớ lại tiếng đàn hát bài Love Story, cô chép miệng:

- Đúng là ông ấy...

- Con nói ai?

- Dạ, người chung tình với mẹ con! Tội nghiệp ông ta!

Bà cụ thở dài:

- Bởi vậy ngoại mới thờ chung nó trong nhà với con Thu. Chỉ tiếc là cho tới bây giờ, ngoại vẫn chưa tìm ra nơi mẹ con vùi thân.

- Con đã tự đi tìm, rồi nhờ cả chục người, nhưng vẫn chưa thể tìm được.

Mỹ Uyên tỏ ý muốn được ở lại trong gian phòng đang thờ mẹ mình, bà cụ tỏ ý ngần ngại, nhưng sau cùng bà cũng đồng ý. Chỉ căn dặn:

- Con đừng ngủ lại trong đó. Đến khi nào cần ngủ thì ra ngoài này,với ngoại.

Uyên lần đầu tiên có được cái cảm giác gần gũi với mẹ ruột mình, nên cô cứ đứng trước bàn thờ, đốt hết nén nhang này lại tiếp nén khác. Cho đến quá nửa khuya...

Bà ngoại gọi mấy lượt mà Uyên vẫn chưa chịu ra, cuối cùng bà phải đi ngủ trước. Còn lại một mình, Mỹ Uyên cất tiếng khấn mẹ mình:

- Nếu mẹ có linh thiêng thì hãy hiện về cho con biết hài cốt mẹ bây giờ đang ở đâu? Di ngôn của ba cũng rất muốn được chôn gần bên mẹ, nay con đang muốn thực hiện lời dặn đó và quyết làm cho được. Mẹ giúp con đi...

Mỗi lần Uyên khấn thì nhang cháy bùng lên, nhưng ngay sau đó lại tắt phụt như có ai đó thổi không cho cháy! Uyên đốt đi đốt lại đến lần thứ sáu mà vẫn lặp lại như vậy. Cô chợt hiểu, nên lại khấn:

- Nếu mẹ không bằng lòng thì con sẽ đợi đến lúc nào mẹ ưng. Con ở đây đợi được.

Đến hơn một giờ sáng, quá mệt mỏi nên Uyên ngả đầu vào vách tủ thờ định ngủ. Nhưng chỉ mới lim dim thì chợt nghe có tiếng đàn vang lên ban đầu nhỏ, sau vài mươi giây thì lớn dần... Rồi tiếng hát cất lên. Bài Love Story lời Việt được hát rất hay, truyền cảm lạ thường...

- Chính là ông ấy!

Uyên đang lơ mơ nhưng cũng thốt lên được. Cô định gượng dậy, nhưng không tài nào nhấc tay chân lên được.

Tiếp đó, cô cảm giác như có một bóng người lướt qua trước bàn thờ, tiếng đàn hát chuyển động theo cái bóng lướt đi ấy, chừng như người hát đang muốn cho âm thanh đến khắp mọi hướng trong phòng...

Một lát sau, khi tiếng đàn hát dứt ngang thì tiếng khóc nức nở lại vang lên. Tiếng khóc của đàn ông.

Mỹ Uyên cố lắng nghe và nhận ra tiếng khóc than kia là của chính người vừa mới đàn hát! Bởi ngay lúc ấy thì Uyên nghe có tiếng nói, giọng khàn đục:

- Đừng về với ông ta, Thu ơi.

Một giọng nữ cất lên:

- Tôi không thể... không thể tiếp tục xa con được. Xin hãy rời xa tôi đi. Tôi muốn về với con gái mình! Xin hãy ngừng ngay tiếng đàn đó đi, tôi không thể mà...

Lời của người phụ nữ còn thống thiết hơn, khiến Uyên nghe tới đây thì lạnh bắt rùng mình. Rồi bỗng cô buột miệng:

- Mẹ Thiên Thu!

Trong lúc bức xúc Uyên đã thốt lên hơi lớn, điều đó làm cho cuộc đối thoại trong bóng tối dứt ngang!

Từ bên ngoài, bà ngoại gọi vào:

- Con kêu ai vậy?

Mỹ Uyên lúc ấy mới choàng tỉnh, cô có thể cử động và nói được bình thường. Cô nói vọng ra:

- Con đâu có nói gì!

- Vừa rồi bà nghe con kêu tên Thiên Thu mà?

- Dạ... có lẽ con nằm mơ! Mà ngoại ơi...

Uyên bước ra, lay tay bà hỏi:

- Hồi nào tới giờ ngoại có từng mơ thấy người đàn ông theo đuổi mẹ con không?

Bà gật đầu:

- Có, lần nào nó cũng khóc, cũng xin ngoại nói giúp để mẹ con thương nó. Nó si tình đến nỗi hình như ngày đêm theo vong hồn của mẹ con như hình với bóng.

Mỹ Uyên chợt hiểu:

- Con biết tại sao con đi tìm mà không thấy hài cốt của mẹ rồi! Chính người ấy đã giấu xác mẹ, chỉ vì muốn giữ riêng cho mình. Ông ấy sợ hồn mẹ con trở về bên cha con và con!

Bà cụ ngơ ngác:

- Có chuyện đó sao?

Uyên đáp:

- Mới rồi con nghe hai người nói chuyện và con đoán ra như vậy. Hài cốt của mẹ con có thể đã bị người ấy giấu ở nơi nào đó. Người ấy ghen bà ngoại ạ!

Bà cụ lẩm bẩm:

- Cũng có thể lắm...

Rồi bà kể:

- Trước đây đã đôi lần bà nghe tiếng thì thầm trong phòng này, khi thì tiếng đàn ông khóc, khi thì tiếng của mẹ con tỉ tê. Mẹ con luôn bứt rứt vì bị ngăn trở bởi ai đó... Bây giờ con nói điều này thì bà mới biết, đúng là cậu ấy ghen với ba con.

Mỹ Uyên lại xin phép bà, trở vào phòng, cô tiếp tục đốt nhang và khấn:

- Nếu mẹ quyết về với cha con và con thì hãy làm cách gì đó, giúp con tìm ra hài cốt của mẹ đi!

Uyên vái hai lần, đốt nhang cả hai lần đều bị tắt. Đến lần thứ ba thì cây nhang cô vừa cắm xuống bỗng vụt bay lên như pháo thăng thiên, và vọt ra ngoài cửa sổ! Linh tính mách bảo, Uyên chạy nhanh ra theo. Cô nhìn thấy cây nhang bay là đà trên ngọn cỏ về hướng phía trước nhà. Nó bay chậm, nên Uyên chạy không nhanh cũng theo kịp. Lúc ấy trời còn tối, nên ánh lửa ở đầu nhang chỉ nhỏ xíu nhưng cũng đủ để Uyên chạy theo.

Một lúc sau, Uyên giật mình khi nhìn thấy sườn đồi trước mặt. Ánh lửa nhỏ từ đầu nhang tiếp tục ở cách Uyên vài bước chân, hướng lên đồi! Mệt nhoài, nhưng như được ai tiếp sức, Uyên vẫn chạy lên đồi và cuối cùng cây nhang dừng lại và cắm sâu xuống đất dưới gốc cây cổ thụ như được ai đó làm!

- Phải chăng...

Mỹ Uyên nhìn chăm chú vào chỗ cây nhang đang cháy sắp tàn, cô thốt lên:

- Mẹ chỉ chỗ cho mình!

Không nghĩ ngợi gì thêm, Uyên dùng ngay một nhánh cây khô gần đó làm cuốc và cuốc lấy cuốc để. Chỉ vài phút sau, quả nhiên cách mặt đất chưa đầy hai tấc, đã lộ ra một cái đầu lâu trắng hếu!

- Mẹ!

Cuối cùng Uyên đã đào lên được trọn vẹn một bộ hài cốt, mà ở cổ tay bên trái của bộ xương vẫn còn nguyên chiếc vòng tay bằng sừng, trên đó có khắc dòng chữ: Lê Thị Thiên Thu.

- Mẹ! Con tìm được mẹ rồi!

Không kể bùn đất dơ, My Uyên ôm lấy đống xương rồi òa lên khóc! Tiếng khóc của Uyên theo gió bay xa. Trên đỉnh đồi gió càng lúc càng mạnh, lúc nãy mây đen còn vần vũ, tự dưng quang đãng rất nhanh. Một lúc sau, ánh mặt trời nhô lên từ hướng phía trái chân đồi...

Bỗng từ đâu, vang lên tiếng đàn rối nhịp, như ai đó đang điên cuồng đánh lên! Vẫn là tiếng đàn guitar, nhưng lúc này không phải là bản Love Story nữa, mà âm điệu cuồng điên, chứng tỏ người đàn đang trong tâm trạng bất an, giận dữ!
 
***

Cuối cùng thì Mỹ Uyên cũng đã thực hiện được điều mà cha cô ước nguyện: Đem xác ông về chôn trên đỉnh đồi, nằm bên cạnh là mộ của Thiên Thu!

Kể từ hôm đó, nhiều người nghe tiếng đàn, tiếng hát ai oán não nùng của một người đàn ông vang lên trên đồi. Chỉ có bà ngoại của Uyên mới hiểu, bà bảo Uyên:

- Tội nghiệp thằng đó...

Uyên khấn:

- Nếu bác linh hiển thì cứ về đây, cùng với ba mẹ con...

Sau đó, bà ngoại cô còn kể lại:

- Đêm qua thằng ấy nó hiện về, gục khóc bên bàn thờ con Thu. Khóc dữ lắm! Nhưng đến sáng thì lặng lẽ bỏ đi...

Từ đó, ngày nào Uyên cũng lên đồi và ngồi rất lâu bên hai ngôi mộ, mà ở trước mộ cô dựng duy nhất một tấm bia với dòng chữ: Đồi thiên thu hai mộ.
Sự đời cà khịa cái chơi
Khi vui muốn khóc, khi cười buồn tênh!
0
ĐÊM ĐỊNH MỆNH

Xe lửa chạy tuyến Sài Gòn - Phan Rang khởi hành lúc 5 giờ chiều, đáng lẽ chạy khoảng 5 tiếng thì tới nơi, nhưng xảy ra tai nạn dọc đường, nên đến gần 12 giờ đêm xe chỉ mới đỗ lại ở ga Mương Mán.

Vị hành khách lớn tuổi ngồi cạnh Thái chẳng hiểu đi đâu lúc tàu dừng chờ thông đường, mà đến khi tàu chạy lại thì không thấy bóng bà ta. Người soát vé hỏi Thái:

- Anh có quan hệ gì với bà cụ ngồi ghế này không?

Thái lắc đầu:

- Không hề quen biết. Chắc là bà ta đi quanh đâu đấy. Hoặc là xuống đất chưa kịp lên?

Người soát vé tàu quả quyết:

- Lúc tàu dừng, hành khách không một ai được bước xuống, bởi nơi đây không phải là nhà ga.

- Vậy chắc bà ta còn ở nơi nào đó trên tàu này.

- Nhưng từ hơn một tiếng đồng hồ rồi, chúng tôi đã yêu cầu hành khách trở lại yên vị để tàu khởi hành mà không hề thấy bà ta. Chẳng biết...

Anh ta lo lắng bước đi về phía toa sau, vừa lầm bầm:

- Già cả rồi, ngồi đâu thì ngồi một chỗ, đi đâu cho mất công người ta...

Anh ta vừa đi khuất thì chợt Thái phát hiện chiếc giỏ xách của bà hành khách vẫn còn để dưới gầm, anh định kêu theo, nhưng tàu chạy lắc lư, tiếng hụ còi inh ỏi nên có gọi thì anh ta cũng không nghe. Thái tự nhủ:

- Để lát nữa anh ta trở lại mình báo cũng được.

Một giờ sau, tàu đến ga Tháp Chàm. Vừa thấy anh nhân viên soát vé trở lại, Thái báo:

- Chiếc giỏ của bà ấy còn đây!

Anh nhân viên bảo:

- Anh lấy đưa tôi xem, nếu đồ đạc trong đó quan trọng thì chắc chắn bà ta còn trên xe. Tôi đã báo cho an ninh tàu rồi, người ta đang tìm kiếm.

Thái cúi xuống định lấy cái giỏ xách lên, nhưng anh giật mình:

- Ủa, nó đâu rồi?

Thái tìm đến mấy phút mà chẳng thấy gì, đến khi xem lại túi xách của mình để trên kệ cũng chẳng thấy, anh hốt hoảng:

- Cả cái túi của tôi cũng đâu mất rồi?

Trong lúc Thái luýnh quýnh tìm cái giỏ của mình thì chợt có tiếng hô hoán của ai đó phía trước:

- Sao tôi lại ngồi đây? Tôi ngồi ở toa trước mà, tôi... tôi còn có vợ nữa, cô ấy...

- Tôi cũng vậy, con nhỏ tôi ngồi bên cạnh, sao bây giờ lại...

Mọi người nhốn nháo, làm cho mấy nhân viên soát vé, phục vụ tàu rối cả lên, họ người này hỏi người kia:

- Nãy giờ có ai xếp lại chỗ không?

Người tổ trưởng toa tàu nghiêm giọng nói:

- Ai cũng ngồi theo đúng số vé, làm sao có chuyện lộn xộn này được. Yêu cầu người nào bị xáo trộn chỗ thì tự đi tìm lại đúng chỗ của mình đi.

Một lát sau thì trật tự được vãn hồi. Có người từ toa cuối đã bị đổi lên toa giữa này, mà cả người thân đi cùng và họ đều không hiểu tại sao. Có người nói:

- Từ khi chạy đến lúc này tôi không hề rời khỏi ghế, kể cả đi vệ sinh cũng không, vậy mà sao lại xê dịch chỗ kỳ cục vậy?

Ai cũng thắc mắc, nhưng chẳng một ai tìm được câu trả lời thích đáng. Một cụ già ngồi sau băng ghế của Thái bảo khẽ:

- Ma quỷ gì đó cậu ơi!

Thái quay lại nhìn ông ta thì bắt gặp một nụ cười bí hiểm. Trông mặt ông ta quen quen. Thái tự hỏi, rồi cứ mãi thắc mắc, cho đến khi tàu dừng lại ở ga lúc nào anh không hay.

- Tới rồi anh ơi! Hành lý bị mất thì xuống ga sẽ có người hướng dẫn anh cách khiếu nại.

Thái vừa đứng dậy đã kêu lên:

- Kìa, bà cụ.

Anh nhìn thấy bà hành khách già biến mất lúc nãy, giờ đang xách hai tay hai cái giỏ, trong đó có cả giỏ của mình!

- Bà ta!

Thái phóng thật nhanh xuống tàu, đuổi theo bóng bà cụ mà anh vừa thoáng thấy. Anh nghĩ mình sẽ bắt kịp dễ dàng, bởi bà ta đi khá chậm, nhưng đã ra khỏi khu vực nhà ga rồi mà Thái vẫn không tài nào vượt lên trước được. Rồi nháy mắt đã không còn thấy bóng bà ta nữa!

Vừa mệt vừa bực bội, Thái gắt lên:

- Công cốc!

Trong túi xách hầu như chứa hết những gì cần cho chuyến du lịch này, từ quần áo, giấy tờ đến tiền bạc. Hiện giờ túi quần của Thái chỉ còn lại mấy đồng tiền lẻ...

- Người lịch sự thế kia mà đi nghênh ngang giữa đường, bộ chán sống rồi sao hả?

Câu hỏi của ai đó khiến cho Thái giật mình và phát hiện ra trong lúc bực dọc anh đã đi giữa đường và đúng là đang cản ngay trước đầu chiếc xe du lịch.

- Xin lỗi.

Thái bước vội vào lề, nhưng khi vừa đặt chân lên lề thì anh đã nghe tiếng còi xe ngay phía sau lưng. Nhìn lại anh không khỏi ngạc nhiên, vì đó là chiếc xe mà anh vừa cản đường. Người trên xe đưa tay ra vẫy, vừa lên tiếng:

- Anh về đâu tôi cho quá giang!

Một giọng nói của con gái rất trong trẻo! Thái hơi bối rối:

- Tôi... tôi...

Chiếc xe dừng hẳn lại và một cô gái ngồi ở tay lái ló đầu ra:

- Không còn tiền trong túi thì chỉ có nước ngủ hè ngủ chợ thôi, lên đi!

Cửa xe phía trước mở ra, Thái hơi ngập ngừng, nhưng rồi cũng bước lên. Lúc này anh mới đưa mắt nhìn và gần như bàng hoàng khi nhận ra người lái xe là một cô gái đẹp đến nỗi Thái không thể nào tin vào mắt mình. Anh lắp bắp:

- Cô... cô...

Cô gái chỉ tay ra sau xe:

- Anh nhìn xem, có phải cái túi kia là của anh không?

Thái nhìn lại và kêu lên:

- Phải rồi, túi của tôi!

- Và còn có cả túi của bà lão nữa chứ!

Câu nói khiến Thái càng ngơ ngác, bởi bên cạnh túi của anh, có cả chiếc túi màu nâu mà lúc nãy anh nhìn thấy trên xe lửa!

- Sao... sao nó lại ở đây?

Không trả lời, cô gái nhấn ga cho chiếc xe hơi vọt nhanh về phía trước. Lát sau Thái đã nhìn thấy phong cảnh ngoại ô. Anh ngạc nhiên hỏi:

- Cô đi đâu vậy?

Nàng lại cười:

- Chứ không phải anh muốn đi tìm một người bạn thôn Vĩnh Phong sao?

Thái sửng sốt:

- Sao cô biết?

- Không phải anh đã nói chuyện với bà lão ngồi bên cạnh về mục đích chuyến đi này sao?

- Thế... cô là...

- Anh nói chuvện không nhỏ và người khác nghe được, đâu có gì lạ!

Trước hành tung kỳ lạ của cô nàng, Thái hơi lúng túng:

- Vậy ra cô có mặt trên xe lửa lúc nãy?

Cô nàng lại cười thành tiếng:

- Anh nghĩ một người vừa ngồi xe lửa lại vừa lái xe hơi được sao?

- Vậy tại sao cô biết tôi nói chuyện với bà cụ?

Cô nàng lại chỉ về hai chiếc giỏ xách:

- Anh quên là tôi đang giữ hai vật anh đang tìm sao?

Thái ngẩn người ra một lúc mới hỏi tiếp:

- Ở đâu cô có hai vật này?

Cô nàng không đáp, mà chỉ tay về phía trước:

- Tới nơi anh cần tìm rồi kìa!

Thái vô cùng ngạc nhiên khi cô ta dừng xe đúng ngay căn nhà của Phong, bạn anh:

- Sao cô biết nơi này?

- Có lẽ anh vào hỏi bạn anh thì rõ hơn!

Cô ta mở cửa xe, chờ cho Thái bước xuống lấy giỏ xách, cô nhắc:

- Anh nên lấy luôn cả cái giỏ của bà cụ!

Trong lúc Thái còn chưa kịp quyết định thì cô nàng đã với tay cầm chiếc giỏ đưa tận tay anh:

- Anh giữ đi, có lúc bà ấy tới lấy lại.

Vừa dứt lời thì nàng ta nhấn ga, chiếc xe vọt tới rất nhanh. Qua hơi gió, nàng ta nói với lại:

- Tôi tên Quỳnh Như.

Chỉ một thoáng sau thì không còn thấy chiếc xe màu vàng của cô ta đâu! Thái ngẩn ngơ:

- Kỳ lạ vậy? Cô ta là...

Anh không kịp suy nghĩ thêm, Phong đã từ trong nhà chạy ra:

- Y như rằng, cậu tới đúng giờ thật.

Thái ngạc nhiên:

- Sao cậu biết mình tới giờ này?

- Chứ không phải cậu nhắn người tới báo trước sao?

- Ủa, mình có nhắn ai đâu?

Đến phiên Phong ngơ ngác:

- Vậy bà cụ nói là quen với cậu tới đây cách một giờ là ai?

- Bà cụ? Có phải...

Phong mô tả:

- Bà ta mặc chiếc áo bà ba màu lựu chín, choàng chiếc khăn sọc xanh, nói giọng miền Trung.

Thái kêu lên:

- Chính là bà ta!

- Cậu sao vậy Thái? Cậu có việc gì với bà cụ sao?

Thái thuật lại chuyện trên xe lửa, kể cả chuyện vừa rồi với cô gái lạ:

- Mình cảm giác như đang đóng phim kinh dị, toát mồ hôi lạnh đây! Cô gái tên Quỳnh Như này còn rành cả cậu, nhà cửa của cậu nữa! Chính cô ta chở mình tới đây mà không cần ai chỉ đường, phải chăng cô ta là... bạn gái của cậu?

Phong đưa hai tay lên trời:

- Có trời mới làm chứng, mình mà có ai yêu thì... trời sập mất.

Thái hiểu bạn mình, anh ta gàn gàn, lập dị, nên lâu nay có cô nào ưa nổi, đừng nói là yêu!

- Vậy sao cô ta rành về cậu quá vậy?

Phong suy nghĩ một lúc rồi lắc đầu:

- Chịu thôi. Thậm chí ở vùng này mình còn không quen ai nữa là...

Không còn cách nào hơn, Thái đành kéo cả hai giỏ xách vào nhà, bảo Phong:

- Cái giỏ kia là của bà cụ bỏ quên trên xe. Còn bà ta nữa, tại sao bà cũng biết nhà cậu, mặc dù mình chỉ nói là thôn Vĩnh Phong, nhưng đâu có nói cụ thể nhà và tên cậu, sao bà ta tìm đúng và chính xác vậy?

Phong vẫn không làm sao hiểu nổi:

- Mình chịu thôi. Mình đang định chờ cậu ra để hỏi đây!

Sau khi soạn vài thứ để mặc ngay từ giỏ xách của mình, Thái hơi lưỡng lự khi nhìn chiếc giỏ xách kia, anh hỏi Phong:

- Mình để đây chờ bà ta trở lại lấy, hay là coi thử chứa thứ gì trong đó?

Phong xua tay:

- Không nên đâu, cứ để đó.

Rồi anh ta cười bảo Thái:

- Mình ở đây từ lâu mà đâu có chuyện gì như cậu vừa gặp đâu! Có lẽ thấy cậu là trai thành phố, lại đẹp trai, hào hoa nên họ phá chơi đó thôi!

- Nhưng họ là ai mới được?

Câu hỏi làm cho Phong cũng phải im lặng. Họ nhìn nhau rồi một lúc Thái nhẹ lắc đầu bảo:

- Suy cho cùng, gặp chuyện kinh dị mà với một người đẹp thì cũng... đáng gặp lắm!

Anh chưa kịp thay đồ, đã rủ Phong:

- Cậu có xe gắn máy không, mình đi kiếm cái gì ăn, rồi ghé qua ngôi nhà cổ mà mình có ý mua, được không?

Phong gật đầu:

- Mình cũng có ý định từ lâu là sẽ ghé qua ngôi nhà đó để nhìn lại mấy pho tượng gỗ mà nghe nói người chủ trước còn để lại, rất đẹp!

- Chứ không phải để hưởng chút hơi của cô vợ anh chàng điêu khắc gia đào hoa đó hay sao!

Phong ngạc nhiên:

- Cậu cũng biết chuyện người đẹp đó sao?

- Thì chính cậu đã kể cho mình nghe lần trước đó!

Phong tắc lưỡi:

- Chỉ tiếc là lần này cậu sẽ không còn dịp để ngắm dung nhan nàng ta nữa!

- Cô nàng chuyển chỗ ở khác?

Phong đáp làm cho Thái lạnh cả người:

- Chết rồi!

Phải mất vài giây Thái mới hỏi được:

- Cô ấy nghe nói còn trẻ lắm mà, sao lại chết?

- Mình đã được gặp mấy lần, quả là trẻ và đẹp đến mê hồn! Ở xứ này có lẽ đó là người con gái đẹp nhất!

- Hồng nhan bạc mệnh!

Phong gật gù:

- Đúng là hồng nhan bạc phận! Nghe nói cô ấy chết khi mới 23 tuổi, lấy chồng được có hai năm. Thật tội nghiệp! Và có lẽ vì thế nên ông chồng mới bán ngôi nhà cổ mà ông ta đã cất công đem từ Huế vào.

- Cậu biết tên cô nàng không?

Phong lắc đầu:

- Không.

- Lý do chết, cậu biết không?

- Chỉ nghe nói mơ hồ là ngủ rồi chết luôn mà chẳng biết nguyên do nào!

- Bao lâu rồi?

Phong tính nhẩm rồi đáp:

- Chưa lâu. Có lẽ chỉ mới hơn một năm nay thôi. Ông chồng điên loạn vì cái chết đó, nên từ ấy đến nay cứ ở miết trong nhà, không tiếp ai cả! Chẳng hiểu lần này cậu tới ông ta có chịu tiếp không đây?

Chiếc xe gắn máy cà tàng của Phong đang chạy ngon trớn lại giở chứng, tắt máy giữa đường. Hai người phải hì hục sửa, phải mất nửa giờ mới tới nơi. Nhìn cảnh yên ắng của ngôi nhà thiếu hẳn sinh khí, Thái phải buột miệng:

- Ngôi nhà đẹp như thế này mà vắng bóng một người đẹp như thế quả là đáng tiếc?

Anh bước tới rung chuông, mấy phút sau mới có một người đứng tuổi bước ra dè dặt hỏi:

- Hai anh tìm gì?

Thái chủ động:

- Tôi tìm ông chủ nhà. Nhà điêu khắc Lê Long, chẳng hay đã...

Người đàn ông hơi lưỡng lự:

- Ông chủ tôi... không...

Có lẽ ông ta muốn nói là không có ở nhà, nhưng lúc đó có tiếng người vọng ra từ trong:

- Mời các ông ấy vào. Họ là khách đến mua nhà đó mà!

Thái giật mình, nhìn vào trong thì bắt gặp một người đàn ông tuổi trên dưới năm mươi, cao gầy, có gương mặt khắc khổ. Người quản gia nói khẽ:

- Ông chủ đó. Mấy ông là ngoại lệ, chứ từ hơn một năm nay ông ấy không tiếp ai ở nhà cả.

Thái và Phong được chủ nhà tiếp tuy không niềm nở lắm, nhưng cũng khá lịch sự, Phong phải lên tiếng nói rõ:

- Tôi là Phong, còn bạn tôi là Thái. Tôi là người ở tỉnh này, đã từng biết ông đôi lần ở các cuộc triển lãm. Cách đây khoảng sáu tháng, tôi có nghe người bạn nói rằng ông có ý muốn bán ngôi nhà này, nên hôm nay dẫn người bạn tới xem.

Giọng chủ nhà buồn hiu:

- Tôi là Lê Long, như anh biết rồi đó. Đúng là tôi có ý bán ngôi nhà này, mặc dù khi xây dựng nó thì tôi tính sẽ mãi mãi cùng với nó...

Phong muốn nói, nhưng biết nói ra sẽ khiến chủ nhà không vui, nên anh kịp ngừng lại. Nhưng hình như đọc được ý nghĩ của anh, chủ nhà lên tiếng:

- Từ khi nhà tôi mất thì tôi không còn thiết gì nữa! Bởi còn sống trong ngôi nhà này ngày nào thì tôi sẽ nhớ... nàng đến... đi theo cô ấy thôi.

Thái đề nghị:

- Xin phép ông, tôi đốt cho bà nén nhang được không ạ?

Ông ta gật đầu:

- Anh cứ tự nhiên. Cám ơn anh.

Thái bước tới chỗ bàn thờ, nhìn vào bức chân dung trên đó, anh thảng thốt kêu lên:

- Cô ấy!

Chủ nhà ngạc nhiên:

- Anh vừa kêu gì?

Thái ấp úng:

- Dạ... dạ...

Thái ngập ngừng cũng phải, bởi người trong di ảnh với cô gái lái xe mà anh gặp sáng nay giống nhau như hai giọt nước!

- Đây là... bà nhà? Xin lỗi, bà nhà tên là... là...

- Quỳnh Như!

- Trời ơi!

Tiếng kêu thảng thốt của Thái khiến cho nhà điêu khắc Lê Long kinh ngạc:

- Cậu sao vậy?

- Quỳnh Như! Tôi mới gặp bà ấy sáng nay!

Ông chủ nhà bật đứng dậy, sự kích động khiến cho ông ta run rẩy:

- Cậu... cậu nói... cậu nói...

- Tôi mới gặp cô ấy sáng nay. Cô ấy lái chiếc xe màu vàng, mặc chiếc áo màu hồng nhạt và...

Lê Long chặn ngay lại:

- Đúng là cô ấy, nhưng cậu mới gặp sáng nay là nói dối! Cậu nói dối!

Không ngờ ông ta lại kích động dữ dội như vậy, nên Phong phải nói chen vào:

- Bạn tôi đi xe lửa từ Sài Gòn ra, khi xuống xe thì gặp một phụ nữ lái chiếc xe như mô tả, người đó... không biết có phải là bà nhà không, nhưng bạn tôi thấy giống với người trong ảnh này lắm...

Thái nói:

- Cô ấy còn xưng tên là Quỳnh Như nữa!

Lê Long vùng thét lên vừa xua tay:

- Các anh đi ngay khỏi nhà tôi! Đi ngay!

Cơn kích động làm cho ông ta co quắp người lại, run lên từng hồi... Thái nháy mắt cho Phong rồi nhẹ nhàng rút lui...
 
***

Suốt mấy ngày ở lại nhà Phong, thú tiêu khiển duy nhất của Thái là uống rượu và đi lang thang quanh phố. Phong bận một số việc riêng nên không thường đi với bạn đây đó như đã hứa. Thái tính trở về Sài Gòn, nhưng do cái giỏ xách của bà cụ, nên anh nấn ná lại để mong được gặp khi bà trở lại lấy món đồ bỏ quên đó. Nhưng đã ba ngày rồi mà chẳng hề thấy bóng dáng bà ta đâu. Sáng sớm nay, Thái bảo Phong:

- Trưa nay có lẽ mình về đây.

Phong bàn:

- Sao cậu không chờ vài hôm nữa để mình tiếp xúc lại với tay điêu khắc đó thử xem. Lần này mình có cách...

Thái chán nản:

- Mình mất hứng thú với tay đó. Vả lại, chuyện cô nàng đã làm cho mình choáng váng. Mình không thể nào tỉnh táo lại mỗi khi nhớ tới cuộc gặp gỡ với nàng ta. Rồi mình lại nghĩ tới lão chồng gàn dở ấy nữa...

Phong động viên:

- Mình có người chú, ông ấy chơi thân với tay điêu khắc gia ấy, để mình nhờ chú ấy nói chuyện...

Thái không hào hứng lắm, nhưng cũng nghe theo bạn. Anh rủ Phong:

- Bữa nay cậu rảnh không, tụi mình đi biển tắm chơi.

Phong nhìn đồng hồ tay:

- Trưa nay mình có việc làm cho bà già, hay cậu lấy xe mình đi chơi, chiều về tụi mình nhậu một bữa!

Thái từ chối lấy xe:

- Mình không quen chạy xe ở vùng này, để mình đi bộ, rồi gọi xe lam. Chiều gặp lại.

Lững thững một mình, Thái đi quanh chợ một lúc, vừa ngoắt chiếc xe lam thì chợt anh giật mình khi thấy chiếc xe hơi màu vàng bữa trước trờ tới!

- Cô nàng!

Thái căng mắt nhìn, nhưng khi xe tới ngang chỗ anh dừng lại thì Thái chợt kêu lên:

- Là ông!

Người lái xe không phải người đẹp bữa trước, mà lại là nhà điêu khắc Lê Long! Ông ta mở cửa xe ra, bảo:

- Cậu lên xe, tôi có việc muốn nói!

Phong vừa tò mò, vừa sốt ruột, nên leo lên ngay không cần khách sáo. Quay đầu xe lại, Lê Long nói ngắn gọn:

- Cậu về nhà tôi, ta nói chuyện về ngôi nhà mà cậu muốn mua.

Thái muốn hỏi thêm, nhưng thấy ông ta lạnh lùng, im lặng, nên anh cũng nín thinh luôn. Cho mãi đến khi xe về tới nơi. Lần này không có người quản gia, mà tự lão Lê Long phải mở cổng, cho xe vào tận sân, rồi mời Thái:

- Cậu vào đây, nhà bữa nay chỉ còn mỗi mình tôi.

Thái hơi ngạc nhiên khi thấy trên bàn ăn đã dọn sẵn một mâm thức ăn với hai chiếc ly và chai rượu vang đỏ.

Anh chưa kịp hỏi thì lão Long đã giải thích:

- Tôi ở nhà một mình nên đã làm sẵn để mời cậu. Tôi muốn xin lỗi về hành vi bữa trước. Cậu đừng từ chối...

Thái áy náy:

- Thật ra tôi mới là người có lỗi. Tôi chạm vào nỗi đau của ông...

Lê Long xua tay:

- Bỏ chuyện ấy đi, bây giờ ta uống với nhau, rồi bàn đến chuyện mua bán ngôi nhà. Nào, mời cậu!

Thái độ lão ta cởi mở, khác hoàn toàn với bữa trước. Thái nghe nhẹ nhõm, anh nâng ly:

- Xin uống với ông một ly!

Chỉ trong vòng mười lăm phút mà hai người đã uống cạn chai rượu vang, Lê Long hứng chí, đứng lên vừa nói:

- Phải uống rượu mạnh mới được! Bữa nay gặp cậu, chuyện mua bán ra sao chưa biết, nhưng đã tri kỷ thì ta, phải uống cho say mới thôi!

Ông ta bước vào trong, lát sau trở ra với chai Martell trên tay:

- Cậu dùng thứ này được chứ?

Thái gật:

- Được. Mà nếu không biết uống thì hôm nay cũng phải uống cùng ông mới phải đạo! Nào!

Họ uống như đôi tri kỷ lâu ngày gặp lại nhau. Trong suốt bữa nhậu đã đôi lần Thái muốn đề cập lại chuyện bà vợ ông ta, nhưng lần nào cũng vậy, khi vừa định mở miệng thì Thái cứ lắp bắp, không nói được.

- Cậu bảo rằng cậu đã gặp vợ tôi phải không?

Câu hỏi bất ngờ như thấu tâm can người khác của lão ta, khiến Thái giật mình:

- Tôi... tôi nói...

- Sở dĩ hôm đó tôi bị kích động mạnh khi nghe cậu nói là bởi có mặt cậu gì đó bạn của cậu...

- Đó là Phong, người bạn thân.

- Dẫu là bạn thân của cậu, nhưng tôi cũng không muốn cậu ta chen vào chuyện riêng tư của rôi. Từ khi Quỳnh Như mất thì tôi có phát nguyện, hễ ai nhìn thấy cô ấy thì phải chết! Lời nguyền đó đáng lý đã phát huy tác dụng ngay hôm ấy, nếu không có cậu...

Thái tròn mắt kinh ngạc:

- Ông... ông nói thật?

Lão ta bỗng cười một tràng dài, tiếng cười chẳng giống một con người bình thường! Thái nghe mà phát lạnh sống lưng, anh suýt để rơi ly rượu đang cầm trên tay!

Cũng may, vừa khi ấy có tiếng ai gọi ơi ới ngoài cửa. Lão Lê Long im lặng và ra dấu cho Thái cũng không được lên tiếng. Ai đó sau khi gọi liền mấy tiếng thì bỏ đi. Thái thắc mắc:

- Họ gọi người quản gia của ông mà, sao ông ta không lên tiếng?

- Anh ta chỉ lên tiếng khi nào tôi cho phép! Trong nhà này là vậy, không ai được tự tiện nói năng những gì mà tôi không muốn!

- Kìa ông...

Lão ta đưa ly rượu lên lần nữa, mời mà như ra lệnh:

- Nào, uống hết!

Cứ thế, mỗi lần lão ta hô "nào, uống hết" thì y như là Thái phải nâng ly lên nốc cạn, không cách nào từ chối được! Qua nửa giờ, cả chai rượu mạnh đã cạn. Thái đã mềm môi, nên khi ly rượu cuối cùng vừa nốc xong thì cũng là lúc anh gục xuống bàn. Trong mơ hồ, Thái cảm giác như có bàn tay thật mát mịn sờ lên khắp người...
 
***

Thái giật mình khi nhìn thấy người ấy xuất hiện trước mặt, anh thảng thốt kêu lên:

- Cô... có phải là cô không?

Nàng ta vẫn giữ nụ cười quyến rũ, vô cùng mê đắm:

- Người ta sờ sờ trước mắt mà còn phải hỏi! Nếu không phải là em thì là ai? Có muốn em xưng lại tên họ không, Quỳnh Như, nhớ chưa nào...

Thái vẫn còn lúng túng:

- Nhưng... nhưng mà...

- Đã tới nhà người ta uống rượu đến say khướt thế này mà còn chưa biết lỗi sao! Đàn ông các người đều giống như nhau cả, cứ gặp nhau là chè chén, say xỉn, chẳng còn biết gì khác!

- Nhưng chính ông nhà đã mời tôi...

- Ông nhà? Nghe đến người đó là em lợm giọng! Anh ta chỉ biết sống cho mình thôi, đồ ích kỷ!

Thái hơi bất ngờ trước thái độ của cô nàng, anh dè dặt hỏi lại:

- Cô vừa nói đến ông Lê Long?

Bất thần nàng thét lên:

- Đừng nhắc tên người ấy trước mặt tôi! Anh mà còn nhắc thì... thì đừng trách em!

Bình thường nàng nói năng dịu dàng, quyến rũ, nhưng lúc này tự dưng chất giọng biến đổi khác thường, chanh chua, hung ác chẳng khác nào ác quỷ!

- Cô... cô...

Thái không kịp hỏi thêm đã bị cô nàng chụp lấy tay kéo mạnh. Bàn tay ấy lạnh buốt, nhưng có cái gì đó chạy sang cơ thể, khiến anh như bị cuốn theo, không tự chủ được. Nàng kéo Thái vào phòng riêng, lạnh lùng bảo:

- Anh phải giúp em trả thù những gì lão ta đã gây ra cho đời em! Anh phải yêu em!

Thái hốt hoảng:

- Không! Không được...

Thái định vùng ra, nhưng bàn tay nàng đã siết chặt hơn anh tưởng, nên chẳng làm sao thoát được, chỉ còn biết lắp bắp nói:

- Ông ấy... ông ấy giết tôi chết!

Nàng phá lên cười:

- Đến anh mà cũng sợ tên ác tặc đó sao! Lão ta chỉ nói cái miệng thôi, chứ có làm gì được mà sợ. Nào, ta hãy tận hưởng!

Nàng kéo mạnh tay, Thái bị bổ nhào vào trong phòng tối đen như mực! Chẳng thấy gì ngoài tai nghe tiếng sột soạt của y phục cởi ra! Nỗi sợ hãi khiến Thái phải năn nỉ:

- Xin cô tha cho, nếu lão mà biết thì tôi chết ngay tại đây! Vừa rồi lão ta còn hăm dọa...

Giọng nàng đanh lại:

- Anh đã biết tôi đang là một hồn ma chứ gì? Vậy giữa tôi và anh ta, anh sợ ai, nói đi?

- Tôi... tôi...

Đang nói, Thái bị một bàn tay mát lạnh chụp ngang miệng, kèm theo hơi thở như băng giá phả vào mặt, cùng giọng nói xoáy vào tai:

- Lão ta nói đúng, đáng lý ra anh và bạn anh đã phải chết ngay khi bước vào ngôi nhà này cách đây mấy hôm. Lần đó sở dĩ lão để cho anh sống là bởi lão ta sợ em, chứ nếu không thì đố ai khi đã nhìn thấy em mà lão ta để yên! Lão ta ghen đến bệnh hoạn, ghen đến điên cuồng, ghen đến nhẫn tâm giết vợ mình, rồi ướp xác để trong nhà, ghen đến...

Lời nói còn tiếp tục, nếu lúc ấy Thái không vô tình chụp tay vào mặt cô ta. Thái kêu thét lên:

- Trời ơi, cô!

Bàn tay của Thái vừa mới chạm vào bộ mặt toàn xương, chứ không phải mặt hoa da phấn!

- Tôi... tôi van cô! Xin cô...

Nàng cười như pha lê vỡ:

- Chưa thấy anh chàng nào bạc nhược như anh! Ai đời được người đẹp ôm trong tay, nằm trong phòng vắng mà không dám làm gì cả. Anh có còn là đàn ông hay không?

- Tôi... tôi...

- Đã nói rồi, không phải sợ gì lão ta cả, khi anh ở gần em! Mà nói thật, lúc này anh có sợ, có muốn thoát ra khỏi đây để không phải thực hiện việc cùng em trả thù lão ta thì cũng không xong. Một khi Quỳnh Như này đã muốn thì không ai từ chối được.

Thái lại bị kéo ghì xuống chặt hơn, anh có cảm giác như toàn thân mình đang bị đóng dính vào thân thể nàng. Càng lúc hơi lạnh từ đó chuyền sang. Thái bắt rùng mình rồi lịm đi...
 
***

Bị rơi từ trên giường xuống khá đau, nên Thái choàng tỉnh. Anh ngơ ngác nhìn quanh và vô cùng ngạc nhiên khi phát hiện mình đang nằm trên sàn nhà của một căn phòng khá rộng, mà khắp nơi chỗ nào cũng đầy những tượng bằng đủ chất liệu, từ đồng, đá và thạch cao.

- Phòng làm việc của nhà điêu khắc!

Lúc này Thái mới nhớ lại chuyện đã qua, anh đưa tay sờ khắp người và còn nguyên cảm giác của một cuộc vận động thân thể với cường độ mạnh!

- Cô nàng!

Thái chồm dậy nhìn quanh lần nữa, không hề có... giường nệm nào ở đây, tuy nhiên mùi hương quyến rũ của phụ nữ như còn phảng phất chung quanh. Anh thử lên tiếng:

- Cô ơi! Quỳnh Như ơi!

Không có lời hồi đáp. Qua hương thơm còn rất đậm, Thái đoán có lẽ nàng ta mới rời nơi đây không lâu, nên anh bước chậm quanh những pho tượng và định sau khi ngắm một lượt, sẽ trở lại những phòng khác của ngôi nhà. Việc tự dưng mình ở trong phòng này không khiến Thái quan tâm nhiều bằng những pho tượng mà anh đang thấy, hầu như tượng nào cũng giống nhau ở khuôn mặt, vì hình như nó được tạc theo mẫu của cùng một người!

- Quỳnh Như!

Đến một pho tượng bằng thạch cao, lớn bằng kích cỡ người thật mà vừa nhìn là Thái đã kêu lên, bởi nó y như một Quỳnh Như bằng xương bằng thịt đang ngồi đó!

- Ai đây!

Thái vừa kêu vừa bước lùi mấy bước, bởi ngay trước mắt anh, chỗ dưới chân pho tượng có một bộ xương người trong tư thế phủ phục!

Còn chưa hết bàng hoàng thì chợt Thái nghe có tiếng người sau lưng:

- Cậu là người đã tới đây hôm trước phải không?

Người hỏi Thái là anh quản gia mà Thái đã từng gặp. Anh ta rất đỗi ngạc nhiên khi nhìn Thái trong y phục xốc xếch của một người mới ngủ dậy.

- Cậu... cậu qua đêm ở đây?

Thái lúng túng:

- Tôi... tôi uống rượu với ông chủ, rồi say...

Anh quản gia tròn mắt kinh ngạc:

- Uống với ông chủ nhà này?

- Từ đêm qua...

- Chết rồi!

Nghe anh ta kêu lên thảng thốt, Thái ngạc nhiên:

- Anh sao vậy?

- Câu đó phải để tôi hỏi cậu mới phải! Cậu có sao không chứ?

Thái không muốn thuật lại chuyện mình với Quỳnh Như, anh chỉ nói:

- Tôi mới bàn với ông chủ chuyện mua ngôi nhà này, rồi ông ấy làm tiệc mời tôi nhậu. Lúc ấy không thấy anh...

Anh quản gia nói một câu làm cho Thái lạnh cả người:

- Anh đã nhậu với hồn ma mà không biết!

Thái ngơ ngác:

- Anh nói gì?

Chỉ tay vào bộ hài cốt dưới chân pho tượng, anh ta nói:

- Người mà cậu nói đang quỳ ở đó!

Thái tưởng mình nghe lầm:

- Anh nói gì? Ông ta...

Anh quản gia giọng bình tĩnh:

- Bữa trước thấy cậu nói chuyện với ông ấy tôi định cho cậu biết mà không kịp. Lúc cậu bị ông ấy đuổi thì tôi mừng, bởi nếu không thì cậu và cậu bạn đã không còn mạng! Ông ấy đã chết từ lâu rồi. Người gặp cậu bữa đó chẳng qua chỉ là...

- Hồn ma phải không?

Nhìn pho tượng, Thái hỏi:

- Tại sao ông ta chết bên pho tượng thế này mà chẳng ai chôn cất?

Anh quản gia thở dài:

- Thật ra tôi là người đã mai táng cho ông ấy đàng hoàng, nhưng ông ấy không chịu. Hễ đem hài cốt chôn thì thế nào ông ấy cũng phản ứng, nổi điên hành tôi đến chết lên chết xuống, nên cuối cùng tôi phải đem xương cốt đặt lại đúng chỗ lúc ông ấy chết mới yên!

Ngừng lại một lúc, anh ta kể tiếp:

- Cách đây bốn năm, cô Quỳnh Như là vợ của ông ấy đột ngột ngã bệnh và qua đời thì ông ta như điên như khùng, cứ gào khóc rồi uống rượu, cho đến khi say khước và gục bất cứ đâu. Ông ấy điên vì mất vợ! Nhưng cũng chính vì ông ấy mà cô Quỳnh Như mới chết!

Câu chuyện rối rắm, Thái đang định hỏi thêm thì bất ngờ anh quản gia khựng lại, hai mắt trợn ngược và... máu tươi trào ra hai bên mép anh ta.

- Kìa, anh sao vậy?

Thái chỉ kịp đỡ cho anh ta khỏi bị ngã. Người anh ta mềm nhũn, bất động...

Hiểu ra, Thái lẩm bẩm:

- Là hồn ma!

Tuy đoán việc anh quản gia bị như thế là do động tới hồn ma nhà điêu khắc, nhưng Thái vẫn không nao núng, anh vẫn lên tiếng như nói với người còn sống:

- Người ta chỉ kể lại sự thật, sao lại hại anh ấy!

Đáp lời Thái là những cơn gió rít bên ngoài vườn.

Thái lại càng nói to hơn:

- Tôi muốn cô Quỳnh Như lên tiếng đi, có phải cô để cho ma quỷ trong nhà này lộng hành, giết bất cứ ai nói đến chuyện giữa hai người sao? Nếu cần thì cứ hại tôi đi, chứ đừng giết con người tội nghiệp này!

Thái vừa nói xong thì cảm giác như đang tuyên chiến với hiểm nguy, anh thu hết nghị lực, đứng trân người và chờ đợi... Vài phút trôi qua mà vẫn chưa thấy có hiện tượng gì khác lạ... Cuối cùng, anh thở hắt ra và nói rất rõ ràng, câu nói như dành cho Quỳnh Như:

- Tôi tôn trọng cô và không hề có ý gì khác, vậy cô Quỳnh Như hãy tỏ rõ mình không là một hồn ma xấu đi, bằng cách là báo cho tôi biết tôi phải làm gì lúc này. Nếu cô muốn đuổi tôi đi thì cứ làm cho tôi ngã văng ra cửa, nếu không tôi sẽ ở lại đây và hôm nay sẽ làm mâm cơm cúng cô!

Thái chờ đợi bị văng ra khỏi cửa. Nhưng đến hơn một phút sau mà anh vẫn còn đứng vững chỗ đó. Anh nhẹ giọng bảo:

- Cám ơn cô Quỳnh Như. Tôi sẽ làm như đã hứa!

Thái sờ ngực anh quản gia, thấy vẫn còn thở, nên vội kéo anh ta ra ngoài. Trong nhà lúc ấy không có ai khác, Thái phải chạy đi ra phố gần đó tìm mua lọ dầu. Khi anh trở về thì cũng may là anh chàng quản gia cũng vừa tỉnh lại. Anh ta chỉ tay ra ngoài chỗ bờ rào và nói:

- Cậu nên gặp người đó...

Thái ngạc nhiên:

- Gặp ai?

- Bà ta vừa quay đi, người mặc áo nâu đó!

Thái nhìn ra và kêu lên:

- Hình như là bà cụ bữa trước trên xe lửa!

- Cậu không cần phải đuổi theo làm gì, tôi biết nhà bà ấy. Ngày nào bà cũng tới đây, đứng ngoài nhìn mà.

- Bà ta cũng là ma?

- Không. Bà ấy chính là... mẹ của cô Quỳnh Như!

Thái hoài nghi:

- Bữa trước trên chuyến xe lửa bà ta đã biến mất như ma, tôi nghĩ...

- Không, bà ấy vẫn còn sống. Là người mẹ đau khổ, kể từ khi cô Quỳnh Như chết thì bà suốt ngày cứ tới đây, nhưng lão Lê Long không cho vào nhà, khiến bà ấy phải lang thang ngoài cửa, khi thì khóc, khi thì chạy đi làm bất cứ điều gì con gái nhờ làm!

Muốn đi tìm người đàn bà đó, nhưng nhớ lại lời hứa với vong của Quỳnh Như vừa rồi, Thái bảo:

- Rồi anh phải chỉ cho tôi nhà của bà cụ. Còn bây giờ tôi phải đi lo bữa cơm cúng cái đã!

Anh quản gia nói nhanh:

- Chuyện làm cơm cậu cứ để tôi. Còn cậu, nên tìm ngay bà cụ đi, lúc nãy tôi thấy bà ấy chạy nhanh vì sợ cậu nhìn thấy đó!

Anh ta ghi địa chỉ cho Thái rồi gượng đứng dậy, mặc dù còn rất yếu...

Thái bước nhanh ra cửa, hướng theo lối đi của bà cụ lúc nãy.

Nhà cũng không xa, chỉ mất hơn mười phút là đã tới. Cẩn thận hơn, Thái nhẹ đẩy cửa vào tránh gây ra tiếng động, cứ sợ bà cụ lại chạy mất. Nhưng thật bất ngờ, lúc anh còn đang bước nhẹ thì chợt có tiếng nói phía sau:

- Vào nhà thì cứ đường đường chính chính mà đi, việc gì phải rình mò như vậy anh chàng si tình!

Vừa quay lại thì Thái đã phải ngớ người ra, bởi người đang đứng đó chính là bà mẹ của Quỳnh Như! Bà ta không nhút nhát bỏ chạy, mà trái lại còn nói huyên thuyên:

- Cậu tới đây sao không đem cái giỏ trả lại cho tôi?

- Cái giỏ đó đang ở nhà bạn cháu. Hôm đó bà làm cháu đứng ngồi không yên. Mà sao bà biết nhà bạn cháu mà mang tới?

- Ở Vĩnh Phong ai mà không biết nhà bạn cậu. Cậu quên là nhà tôi và con gái tôi cũng ở Vĩnh Phong này hay sao? Hôm đó cậu đã tiết lộ tung tích mình, bảo sao tôi không tò mò...

Bà bỏ đi vào nhà, lát sau lấy ra cái giỏ đưa cho Thái:

- Thật ra đây chính là giỏ của cậu!

Thái nhìn thấy chiếc giỏ, anh ngạc nhiên:

- Giỏ đồ này là của bác, cháu đang giữ ở nhà bạn cháu mà?

Bà cụ cười:

- Nhưng bây giờ nó đang ở đây, thì cậu cứ biết nó là của cậu đi!

Thấy Thái ngây người ra, bà cụ bảo:

- Thôi, không làm cậu thắc mắc nữa, giỏ này là của tôi, nhưng tôi cố ý để quên lại trên tàu là để gửi cho cậu. Bộ mấy hôm nay cậu không mở nó ra xem à?

Vừa nói, bà tự tay mở giỏ ra. Thái giật mình:

- Pho tượng đồng này là chân dung của Quỳnh Như, sao bác để trong giỏ làm gì?

- Cậu chưa mở ra xem nên chưa biết những gì kèm theo đây. Cứ lấy ra và đọc đi!

Thái nhận một xấp giấy tờ từ tay bà cụ, anh lật từng trang xem và kêu lên:

- Sao thế này!

Trong tất cả giấy tờ về chủ quyền ngôi nhà cổ của vợ chồng Quỳnh Như thì đều ghi chuyển quyền sở hữu cho... Thái! Tên anh rành rành ra đó, bên dưới giấy tờ đã có công chứng hẳn hoi!

- Bác, sao lại...

Bà cụ hiền từ:

- Tôi lên xe là làm theo ý của con gái tôi. Nó chết rồi, nhưng vong linh nó biết rằng nó sẽ thuộc về ai và những gì của nó sẽ phải chuyển cho người còn sống!

Thái xua tay:

- Không được đâu bác! Cái này là sở hữu của vợ chồng cô ấy! Cô ấy có chồng...

Giọng bà cụ chùng xuống:

- Chồng con gì thằng ấy! Ngày trước do thất bại trong làm ăn nên vợ chồng tôi thiếu nợ một số tiền lớn, mà chủ nợ chính là thằng điêu khắc gia đó. Nó bắt ép chúng tôi phải gả con gái mình cho nó khi con Quỳnh Như mới có mười sáu tuổi! Tội nghiệp con nhỏ, không hề yêu, mà thật ra cũng chưa biết yêu là gì... vậy mà phải về làm vợ!

Bà phải ngừng lại để khóc, rồi mới kể tiếp:

- Nó làm vợ mà như ở tù. Bởi thằng nọ nó ghen tuông, ích kỷ đến lạ lùng! Hầu như nó nhốt con nhỏ trong nhà, không cho bước ra ngoài nửa bước! Nó ghen với bất cứ ai tới nhà, ghen cả với bà con anh em của Quỳnh Như. Trong số này có cả cậu...

Thái ngơ ngác:

- Sao lại có cháu? Từ nào đến giờ cháu chưa hề quen biết cô Quỳnh Như. Cháu chỉ mới tới nhà cô ấy lần đầu hôm vừa rồi!

Bà cụ thở dài:

- Cũng tại tôi. Cách đây hơn năm năm, lúc đó con Quỳnh Như chưa có chồng, trong một lần nói chuyện với mẹ cậu Phong, bạn cậu, bà ấy có nhắc tới cậu, bảo rằng cậu vừa tốt nghiệp ngành kiến trúc, đang còn độc thân...Lúc ấy tôi đang muốn tìm người gả con Quỳnh Như để tránh cho nó cảnh phải về làm vợ một người lớn hơn nó mấy chục tuổi, nên tôi có nhờ mẹ Phong giới thiệu cậu...Bà ấy chưa tiện giới thiệu, mà chỉ lấy bức ảnh của cậu tặng cho Phong, đưa cho tôi xem. Tôi lấy ảnh đó đem về cho Quỳnh Như xem, nào ngờ khi vừa trông thấy ảnh thì nó đã reo lên rằng cậu mới là nhân duyên của nó! Lúc đầu tôi cũng không tin, nhưng liên tiếp nhiều ngày liền, lúc nào Quỳnh Như cũng tơ tưởng đến cậu, cứ một hai đòi đi gặp cậu. Tôi chưa kịp giúp nó thì nhà của Lê Long đã thúc hối và đưa sính lễ qua đòi cưới ngay! Món nợ chúng tôi sẽ được xóa nếu tôi đồng ý cho con gái mình lên xe hoa với hắn! Thế là...

Bà kể đến đó thì gục đầu khóc nức nở...

Thái ngập ngừng một lúc rồi mới dám hỏi:

- Sao bác biết cháu ngồi tàu ra Phan Rang mà lên đó đón chứ?

- Không phải tôi biết, mà chính con Quỳnh Như. Từ lúc chết đi nó hiển linh, cứ hiện về với tôi, nhờ tôi làm hết chuyện này đến chuyện nọ. Hôm đó chính nó nhắc tôi đi vào Sài Gòn, mua vé tàu về Phan Rang, chỉ tôi biết cậu sẽ ngồi đâu, để tôi lên ngồi kế bên. Mục đích là gửi cho cậu mọi thứ trong cái giỏ này, bởi nó biết trước là cậu sẽ ra Phan Rang để mua ngôi nhà của nó. Và nó cũng biết thế nào thằng điêu khắc gia Lê Long cũng ngăn cản, nên nó đã làm trước mọi thủ tục giấy tờ, nhất quyết giao cho cậu tài sản còn lại đó.

- Sao cô ấy không giao cho bác hay người nhà của lão Lê Long?

- Tôi đã nói rồi, nó yêu cậu, nó quả quyết là cậu với nó có nhân duyên tiền định, nên giá nào nó cũng chỉ giao cho cậu thôi!

Thái còn đang ngẩn ngơ, chưa quyết sẽ nhận hay không nhận số giấy tờ thì bà cụ đã giục:

- Cậu về nhà đó ngay đi, không chỉ để cúng cơm cho nó, mà để giúp nó chôn cất bộ hài cốt dưới chân tượng đi.

- Nhưng... anh quản gia nói rằng...

- Trước đây thì khác, bây giờ khác rồi. Cậu về đó rồi sẽ biết!

Thái đành phải xách giỏ đồ đi trở lại ngôi nhà cổ. Vừa tới nơi, anh vô cùng ngạc nhiên khi thấy anh chàng quản gia đang khệ nệ khiêng bộ xương người ra ngoài.

Anh ta bảo:

- Vừa rồi đã xảy ra một cuộc đấu khẩu dữ dội giữa họ với nhau. Cuối cùng ông chủ Lê Long phải chịu thua. Nhưng khi bó tay, ông ấy đã tính đốt ngôi nhà này chứ không giao nó cho người khác! Tuy nhiên, chính hồn ma cô Quỳnh Như đã kịp ra tay trước, cô ấy khống chế được kẻ đã kiềm chế mình bấy lâu nay, khiến cho ông Lê Long phải chịu bỏ đi. Bây giờ hài cốt của ông ta chỉ còn nắm xương tàn, chứ không phải hồn ma trấn giữ ngôi nhà này nữa. Cậu có thể vào nhà một cách tự nhiên, hình như cô Quỳnh Như đang đợi cậu...

Thái rụt rè bước vào nhà, anh ngạc nhiên với mâm cơm đã đọn sẵn ở giữa nhà:

- Anh làm tất cả những món này?

Anh quản gia lắc đầu:

- Không phải. Chính cô Quỳnh Như đã làm chờ cậu! Cô ấy đang ở trong phòng đặt pho tượng mà lúc nãy cậu đã ở đó.

Thái bước vào và rất đỗi ngạc nhiên khi nhìn thấy thay cho pho tượng thạch cao lúc nãy, bây giờ là... một người bằng xương bằng thịt đang ngồi. Người đó là Quỳnh Như!

- Cô... cô còn sống?

Nàng cười thật mê đắm, cất giọng nhẹ như hơi gió:

- Em vẫn là hồn ma. Nhưng từ bây giờ em chỉ là hồn ma của anh thôi! Cứ nhìn và khi nào cần thì em hiện về như thế này, chứ đừng chạm vào người em!

Thái nhìn chăm chăm vào nàng. Nhưng trong phút chốc, bóng hình đó đã như làn sương khói, biến mất, chỉ còn lại cái bệ đặt tượng và... mùi hương cơ thể đến ngất ngây...
Sự đời cà khịa cái chơi
Khi vui muốn khóc, khi cười buồn tênh!
0
BỐN OAN HỒN TRONG NGÔI NHÀ HOANG

Thiện hết sức ngạc nhiên khi nhìn thấy bốn chiếc áo dài với bốn màu khác nhau được phơi dài theo dây giăng trước sân. Không phải một lần, mà có đến ba bốn buổi sáng rồi, lần nào đi ngang qua đây Thiện cũng nhìn thấy đúng bốn chiếc áo đó. Người ta phơi cho khô hay cố tình trưng bày nó trước mắt thiên hạ?

Gợi tính tò mò, sáng hôm nay Thiện dừng lại khá lâu trước bờ rào, nhìn vào bên trong. Đây là một ngôi nhà tuy không rộng lắm, nhưng có được một khoảng sân trồng rất nhiều hoa, được cắt tỉa công phu. Như vậy chứng tỏ gia chủ là người khéo tay, có óc thẩm mỹ và... chắc chắn đó là một phụ nữ!

- Cậu tìm ai?

Câu hỏi của một người lớn tuổi khiến Thiện giật mình quay lại, anh lúng túng trước một ông cụ trọng tuổi:

- Dạ... cháu chỉ tò mò... cháu nhìn mấy chiếc áo dài đẹp trong kia...

Sợ ông ta hiểu lầm:

- Cháu không có ý gì, chỉ bởi thấy mấy chiếc áo đẹp quá, mà lại...

- Mà lại phơi hết ngày này sang ngày khác chứ gì!

Không ngờ ông ta đọc được ý nghĩ của mình, Thiện cười bảo:

- Dạ...

Ông cụ nhanh nhẹn mở cổng:

- Mời cậu vào nhà chơi.

Hơi bất ngờ, nhưng làm sao Thiện từ chối được khi anh có dịp để hiểu thêm về ngôi nhà này, nên anh đáp một tiếng khẽ:

- Dạ.

Rồi bước theo vào trong. Thiện cứ nghĩ sẽ gặp vài người nữa trong nhà, nhưng anh hơi lạ khi nghe ông cụ bảo:

- Già ở đây một mình, nên rất cần có người để nói chuyện cho đỡ buồn. Chắc nhà cậu ở gần đây?

Thiện hỏi lại:

- Bác ở đây một mình? Nhưng sao...

- Sao lại có áo dài để phơi hả? Của con Út...

Rồi ông giải thích thêm:

- Nó không có đây, nhưng để lâu sợ bị ẩm, nên tôi đem ra phơi.

- Vậy mà cháu cứ nghĩ...

Ông già cất tiếng cười lớn:

- Cứ nghĩ trong nhà chắc là có một vài giai nhân phải không!

Thiện hơi ngượng, anh nói để chữa thẹn:

- Dạ, dẫu sao thì chủ nhân đi vắng của những chiếc áo cũng là những giai nhân!

Ông cụ nhìn Thiện với sự thích thú:

- Nói chuyện với cậu rất vui, chẳng hay cậu làm nghề gì mà ngày nào cũng đi bộ qua đây?

- Dạ... nếu nói là thất nghiệp thì cũng không sai! Bởi cháu đang nghỉ dưỡng dài hạn...

Ông già gật gù:

- Cậu chưa gì mà đã giống như tôi rồi! Nào, mình uống tách trà để nhìn bạn đồng liêu chứ!

Thấy ông vui vẻ nên Thiện cũng dạn dĩ hơn:

- Xin phép bác, cháu tò mò muốn hỏi, cô Út ở nhà đi học hay đi đâu ạ?

Hình như ông cụ đã chờ câu hỏi đó, ông đáp ngay:

- Nó đi học, nhưng lười nên ít khi chịu về thăm già này lắm. Có lẽ tại nơi này buồn quá, không thích hợp với tuổi trẻ.

Ông lại hỏi Thiện:

- Hằng ngày cậu đi bộ qua đây rồi tới đâu nữa?

- Dạ, tới ngôi nhà bỏ hoang trong cánh rừng kia.

Câu nói của Thiện vừa dứt thì bất ngờ ông cụ đứng bật dậy, mặt thất sắc:

- Cậu... cậu không được tới đó! Cậu không...

Thấy thái độ của ông, Thiện kinh ngạc:

- Kìa, bác sao vậy? Ngôi nhà ấy là thế nào?

- Nó... nó là...

Rồi trước sự ngơ ngác của Thiện, ông ta vụt chạy ra cửa và biến mất! Đứng thừ người ra một lúc, Thiện đành phải bước ra. Anh không quên khép cửa lại cẩn thận trước khi nhắm hướng mà mỗi ngày mình vẫn tới. Tác phẩm viết dở đang cần khung cảnh tịch liêu của ngôi nhà hoang để hoàn thành...

Đi được vài mươi bước, chợt Thiện nhớ là nhà chưa khóa cửa, mà như ông cụ nói, không có ai ở nhà, lỡ trộm đạo vào nhà thì sao? Chuyện anh tới ngôi nhà hoang trễ một chút thì đâu có sao... Do vậy Thiện quay trở lại, dự tính ngồi đợi.

- Ủa, mấy chiếc áo dài?

Không thấy bốn chiếc áo phơi ở sân nữa, Thiện tắc lưỡi:

- Xong rồi, bị trộm hết rồi!

Thiện hối hận là vừa rồi mình quá hấp tấp và bây giờ biết nói sao khi ông cụ trở lại? Anh còn thừ người ra thì chợt mắt sáng lên khi nhìn thấy bốn chiếc áo đã được xếp thẳng thớm để trên bộ đi-văng!

- Ủa...?

Thiện chưa tin là thật nên bước tới sát bên nhìn kỹ. Đúng là bốn chiếc áo đã phơi ngoài dây trước sân, không sai!

- Có ai trong nhà không?

Thiện lên tiếng gọi, nhưng không ai trả lời. Thắc mắc trong đầu Thiện càng tăng khi anh nhìn kỹ hơn, trên mỗi chiếc áo dài đều có đặt một chiếc khăn tay màu trắng tinh! Hương thơm từ những chiếc khăn tỏa ra nức mũi, chứng tỏ ai đó mới vừa ở đây xong!

Sự tò mò thôi thúc nên Thiện lấy từng chiếc khăn lên xem, anh thấy trên góc từng chiếc khăn đều có thêu tên khác nhau: Mai Hương, Lan Hương, Cúc Hương, Quế Hương.

- Bốn chiếc áo của bốn cô gái!

Thiện quả quyết như vậy, bởi qua phân định mùi hương, anh nhận thấy có bốn mùi khác nhau. Vả lại cầm bốn chiếc áo lên, so từng chiếc có kích cỡ không hoàn toàn giống nhau.

- Họ là bốn chị em?

Xâu chuỗi lại những sự việc, từ sự thảng thốt của ông cụ cho đến sự xuất hiện của ai đó trong nhà này, Thiện có ngay kết luận:

- Có gì không ổn trong chuyện này!

Và không còn lo ngôi nhà đang mở cửa, Thiện bước nhanh ra ngoài, đi về phía ngôi nhà hoang.

Tới nơi, Thiện ngạc nhiên khi thấy tất cả cửa nẻo đều bị khóa từ bên ngoài, khác với sự bỏ hoang như từ mấy hôm nay anh vẫn thấy và ra vào tự nhiên.

Hiểu là ông cụ đã làm, Thiện càng thắc mắc về ông ta hơn. Anh tự hỏi: Ông ta sợ mình phát hiện điều gì trong nhà chăng?

Từ mấy hôm nay, Thiện không hề để ý gì ngôi nhà này, bởi có một việc mà thiên hạ thường quan tâm khi vào ngôi nhà hoang nào đó, đó là sợ ma! Mà đối với Thiện, anh không hề có ý niệm gì về điều ấy. Bởi nếu có thì anh đã không chọn nơi như thế này để viết văn!

Không nhìn thấy ông cụ ở đó, Thiện đoán ông ta đã trở lại nhà sau khi ngăn không cho anh vào ngôi nhà này. Anh tự nhủ: Mình sẽ có dịp trở lại nhà ông ta. Nhà của tứ mỹ nhân kia!

- Cậu Hai, có phải cậu thường tới đây ngồi ngoài gốc cây kia làm việc không? Có người gửi cậu cái này.

Người vừa hỏi vừa đưa cho Thiện cái phong bì là một cư dân ở gần đó. Thiện ngạc nhiên hỏi:

- Ai đưa cho chị?

- Một cô gái, tôi có hỏi tên nhưng cô ấy không nói. Dặn tôi phải đưa tận tay cho cậu khi cậu tới đây.

- Lâu chưa chị?

- Mới đây thôi, cô ấy vừa đi thì cậu tới.

- Nãy giờ chị có thấy một ông lão tới đây khóa cửa hay không?

Chị nọ lắc đầu bảo:

- Người khóa cửa là một cô gái, chứ không phải ông già. Chính cô này...

Thiện bóc bì thư ra, anh thấy nét chữ con gái rất đẹp, chỉ có mấy dòng: "Vào nhà người ta mà không xin phép, suýt nữa đã bị ông già bắt gặp. Lần sau chừa nhé! Chìa khóa giấu ở dưới chậu hoa phù dung bên trái cửa ra vào. Mỗi lần sử dụng xong ngôi nhà, nhớ khóa cửa lại và đặt chìa khóa vào vị trí cũ!"

Thiện đọc xong thư định hỏi thêm chị kia, nhưng khi ngẩng lên thì chẳng còn thấy chị ta đâu!

- Kỳ lạ!

Thiện bắt đầu phải suy nghĩ về những điều kỳ quặc ở đây...
 
***

Phải mất hơn một buổi, Thiện mới nhìn thấy bốn chiếc áo dài xuất hiện trên dây phơi. Điều làm cho anh ngạc nhiên nhất là không nhìn thấy người ra phơi, mà chỉ trong nháy mắt cả bốn chiếc áo đã xuất hiện. Lạ một điều nữa là từ ngày hôm qua tới giờ cả ông cụ cũng không có mặt?

Rình cả một buổi mà cũng không thấy được người nào, Thiện hơi nản, anh lần mò sang những ngôi nhà gần đó dò hỏi, nhưng hầu như ai nghe anh hỏi câu:

- Chị có biết những ai ở trong ngôi nhà bên đó không?

Thì hầu như chục người như một chỉ lắc đầu. Duy nhất có một chàng trai đáp được một câu:

- Nhà đó không tiếp xúc với bên ngoài. Anh chờ gặp họ rồi hỏi.

Hình như mọi người đều muốn lảng tránh nói về ngôi nhà ấy, nên khi mặt trời sắp lặn mà vẫn chưa có kết quả gì, Thiện đành lững thững đi bộ về nhà. Vừa đi tới góc đường, chợt nghe có hai thanh niên vừa đạp xe vừa bàn tán với nhau:

- Bốn con nhỏ bữa nay hát hay hết chê luôn! Bọn chúng nó mặc bốn chiếc áo dài khác màu nhau mà hài hòa, bắt mắt dễ sợ! Nhất là con Quế Hương, nó mặc chiếc áo màu tím nhìn thấy phát mê!

Thiện giật nẩy người, anh gọi to:

- Này, hai anh!

Hai chàng trai nghe kêu thì giật mình dừng xe lại, Thiện chạy đến bên hỏi dồn:

- Hai anh vừa nói có cô Quế Hương gì đó hát ở đâu?

Nhìn Thiện, đoán anh không phải người bản xứ, nên một trong hai anh chàng nói:

- Ở Đà Lạt này mà bây giờ anh còn đi lang thang ngoài đường, không vào phòng trà nghe nhạc thì còn phí phạm nào bằng! Cô Quế Hương là ca sĩ trong ban tứ ca Hương Bốn Mùa, anh từng nghe chưa?

Thiện lẩm bẩm:

- Mai Hương, Lan Hương, Cúc Hương và Quế Hương...

Hai anh chàng cùng reo lên:

- Anh biết rồi đó, họ chính là thành viên của ban Hương Bốn Mùa đó. Tới mà nghe đi, đêm nay nghe nói họ sẽ hát riêng tặng cho ai đó mấy bài về Đà Lạt hay lắm! Tối qua tụi này xem rồi, nên bữa nay không định tới...

Họ vừa nói xong thì đạp xe đi ngay. Thiện hỏi với theo:

- Phòng trà ở đâu?

Một người cười to, nói vọng lại:

- Tới Đà Lạt mà không biết phòng trà ở đâu thì về nhà đi cha nội!

Quả thật là Thiện chưa hề đi phòng trà ca nhạc bao giờ, nên phải dò hỏi. Người chạy xe đêm chỉ rất rành rẽ:

- Ở đây có hai phòng trà, nhưng lớn và đông khách nhất là ở Palace, tôi sẽ đưa cậu tới đó!

Trên đường đi, Thiện gợi chuyện:

- Anh có bao giờ nghe nói về các ca sĩ phòng trà không?

Hình như Thiện đã khơi đúng mạch, nên anh chàng lái xe tuôn ra một hơi:

- Dân sành điệu phòng trà xứ này ai mà không mê bốn ca sĩ là chị em ruột!

- Họ là bốn cô Hương?

- Đó đó, anh biết rồi mà còn hỏi!

- Thật ra tôi cũng chỉ nghe người ta nói thôi. Anh đã từng gặp mặt họ chưa? Chắc anh cũng đã biết nhà? Giới chạy xe mà, người nổi tiếng nào mà không từng đi xe của các anh đôi lần?

Anh lái xe lắc đầu:

- Riêng bốn cô này thì khác. Chưa bao giờ họ đi xe của chúng tôi. Mà ngay cả giới vương tôn công tử xứ này cũng thế, đã có biết bao chàng trồng cây si, tối nào cũng tới phòng trà ngồi say mê nghe các nàng hát, để mong tan giờ đón đưa các nàng về nhà mà chưa một chàng nào toại nguyện!

- Chắc là đã có người làm việc đó rồi?

Anh chàng gật gù:

- Đúng là có người đưa đón!

Thiện chép miệng:

- Chắc là một đại gia giàu sụ, hay là...

Anh tài xế ngắt ngang:

- Một cụ già tuổi trên bảy chục. Ông ta lái chiếc xe hai mã lực cổ lỗ sĩ, cà tàng nhất thành phố này!

- Vậy sao các nàng chịu?

- Bởi... ông ta là bố của các cô ấy!

Thiện thở phào:

- Vậy mà tôi cứ tưởng...

- Tới nơi rồi cậu. Nếu vào nghe nhạc lát ra có đi xe thì nhớ tôi, tôi đậu ở đây chờ!

Trước khi xuống xe, Thiện còn hỏi thêm:

- Nếu ông già chạy chiếc xe hai mã lực cũ mèm thì sao xe anh bốn mã lực, không thử đuổi theo một lần xem nhà cửa các cô ấy ở đâu? Như bữa nay chẳng hạn, lát nữa anh đợi sẵn, khi các nàng ra, tôi sẽ nhờ anh bám theo nhé.

Anh tài xế lại lắc đầu:

- Có nhiều người thử làm rồi, nhưng chẳng một ai thành công! Không hiểu chiếc xe cũ mèm đó chạy bằng xăng gì, mà không xe nào theo kịp. Lão già đó lái về hướng ngã ba chùa rồi mất dạng. Đêm nào cũng thế!

Nhìn đồng hồ tay, anh chàng giục:

- Cậu vào đi kẻo lỡ mất bài "Ai lên xứ hoa đào". Cô em Út sẽ hát trước bài đó!

- Trong số bốn cô, cô nào là Út, cô nào là chị cả?

- Cô Út là Quế Hương, cô chị cả là Mai Hương.

- Cám ơn anh. Anh nhớ chờ tôi ở đây nhé!

Thiện theo dòng người bước vào bên trong. Do đi có một mình nên Thiện được xếp ngồi ở một bàn đơn, nằm ở một góc xa với sân khấu. Anh định xin đổi chỗ, nhưng vừa lúc ấy người phục vụ bước tới cạnh, nói khẽ vào tai Thiện:

- Bàn này có người đặt trước cho anh đó. Có một đóa hoa hồng để sẵn đó, người ta gửi riêng cho anh. Anh là Thiện?

Thiện ngạc nhiên lắm, anh lẩm bẩm:

- Mình đâu có quen ai ở đây?

Định quay lại hỏi thêm thì người phục vụ đã đi tự lúc nào rồi! Thiện cầm cành hoa hồng lên, anh thấy có mảnh giấy kèm theo: Khi về nhớ đi thẳng về ngôi nhà hoang. Chị em tôi cần gặp. Mai Hương.

- Đúng là họ rồi!

Và càng đúng hơn khi vừa lúc đó, người được giới thiệu ra hát là Quế Hương với bài "Ai lên xứ hoa đào". Cô nàng mặc chiếc áo dài màu tím than nổi bật và đẹp như cô gái liêu trai!

- Chiếc áo này!

Thiện không dằn lòng được nên đã kêu to lên, khiến cho vài người ngồi gần phải quay sang nhìn vào anh. Rồi một ai đó nói:

- Đêm nào cô ấy cũng mặc đúng chiếc áo màu này, nhưng mình không thấy nhàm chán. Trái lại...

Khi nàng cất giọng thì hầu như cả khán phòng đều im phăng phắc! Giọng nàng trong trẻo mượt mà, như quyện vào lòng người, khiến bài hát quá nổi tiếng này đã hay lại càng quyến rũ hơn, làm thiên hạ say đắm như quên cả không gian, thời gian...

Bản nhạc dứt rồi, thiên hạ vỗ tay rào rào, vậy mà Thiện như còn mê ngủ, anh ngây người ra và khi chợt nhớ đã là người vỗ tay sau cùng! Tiếng vỗ tay lạc điệu ấy đúng ra đã làm cho những người ngồi chung quanh khó chịu, tuy nhiên họ lại hưởng ứng, vỗ tay thêm lần nữa!

Chương trình hằng đêm của phòng trà này còn có gần chục ca sĩ khác, nhưng hầu như khán giả chỉ say mê nghe phần trình diễn của bốn chị em tên Hương. Người cuối cùng ra hát là Mai Hương. Thiện chăm chú nhìn còn kỹ hơn nhìn người em hát trước. Bởi cô nàng là người ký tên dưới lá thư mời Thiện tối nay...

Tuy nhiên, Thiện hơi thất vọng, bởi khi ra hát, cô nàng lại choàng kín hầu như cả gương mặt bằng một chiếc khăn choàng lớn. Kèm theo là lời cáo lỗi của người xướng ngôn viên:

- Hôm nay do một tai nạn, nên cô Mai Hương không thể xuất hiện trọn vẹn trước quý vị, xin quý vị thông cảm!

Mọi người hình như không chú ý lắm đến dung mạo của Mai Hương, mà có người còn nói:

- Đến đây là để nghe cô này hát, chứ đâu phải xem dung nhan!

Mai Hương được yêu cầu hát đến lần thứ hai. Khi bản nhạc chấm dứt thì cánh lái xe taxi và các tài xế xe nhà đều nháo nhào lên, bởi họ biết, đây là thời điểm mà đêm nào cũng chờ đợi: Xem tận mắt dung nhan bốn cô, cũng như bắt đầu cuộc đuổi theo chiếc xe hai mã lực đang chờ sẵn.

Thiện chưa ra vội bởi anh ngại chen lấn, chợt cô phục vụ lúc nãy xuất hiện, cô kéo tay Thiện đi ngược dòng người về phía cửa hậu, nơi dành riêng cho các ca sĩ tới và ra về. Anh chưa kịp hỏi thì cô nàng đã bảo khẽ:

- Hôm nay anh sẽ là người lái xe!

Thiện chưa kịp có ý kiến gì thì anh đã được đẩy lên chiếc xe Citroen hai mã lực. Đúng là chiếc xe cũ ngoài sức tưởng tượng của Thiện. Anh vừa ngồi sau tay lái thì đã nghe một giọng nói hơi lạ:

- Cứ lái với tốc độ tối đa, đừng bao giờ nhìn lại phía sau nhé!

Thiện biết lái xe, nhưng chưa bao giờ anh phải lái trong tình trạng như chạy trốn thế này. Bởi vậy khi vừa nổ máy thì anh hơi lúng túng... định cho xe ra khỏi lối đi hẹp dẫn từ hậu trường ra ngoài, nhưng bỗng dưng chiếc xe chồm lên, trong khi Thiện không hề nhấn ga!

- Không!

Thiện phải ôm vô-lăng thật chặt, cứ sợ xe va phải những người đi bộ hai bên. Xe ra tới cửa, có hàng chục xe khác đã nổ máy, sẵn sàng lao theo. Chợt có mấy người kêu lên:

- Sao trên xe không có bốn cô nàng!

Thiện muốn quay lại nhìn, nhưng hầu như cổ anh không thể cử động.

- Nhanh lên!

Thiện lại nghe tiếng người nói phía sau, chứng tỏ đang có người ngồi trên băng sau.

- Nhanh lên nữa!

Lần giục này là giọng nói khác. Thiện hầu như chỉ ôm tay lái chứ không hề nhấn ga, vậy mà xe lại lao vun vút với tốc độ kinh hồn! Điều này thật kỳ lạ, bởi chiếc xe cũ kỹ này đâu thể nào chạy đến tốc độ như thế này được?

Chỉ một lúc sau thì đã nghe có tiếng reo lên:

- Tới rồi!

Thiện hoàn hồn, anh nhìn ra và giật mình khi nhận khi trước mặt mình lúc này là ngôi nhà hoang mà anh tới mỗi ngày! Đây là khu vực vắng, hầu như không có nhà cửa chung quanh, mà ngôi nhà lại không có đèn, cũng may là trời đang có trăng non, nên trong bóng tối lờ mờ Thiện vẫn có thể nhận ra ngôi nhà...

Nhớ lại lời dặn lúc nãy trong bức thư ngắn, Thiện đánh bạo lên tiếng hỏi:

- Các cô bảo tôi về đây để làm gì?

Không nghe tiếng trả lời. Thiện hỏi lại lần nữa:

- Cô là cô Mai Hương phải không?

Vẫn im lặng...

Quên cả lời cảnh báo lúc nãy, Thiện quay lại nhìn và... ngơ ngác kêu lên:

- Đâu cả rồi?

Không có ai ngồi ở băng sau cả! Thiện cất tiếng hỏi lớn hơn:

- Các cô đâu rồi?
 
***

Cuối cùng, anh mở cửa xe bước xuống nhìn quanh. Trời lờ mờ, đủ cho Thiện nhìn thấy lối mòn dẫn vào ngôi nhà. Lưỡng lự một lúc, rồi anh bước chậm vào. Cửa mở như đang có người trong đó.

Thiện chưa dám bước hẳn vào thì như có bàn tay ai đó đẩy nhẹ, khiến Thiện lọt hẳn vào bên trong và...

- Ủa, sao lại...

Bên ngoài nhìn vào không thấy đèn, nhưng khi vừa vào trong thì ánh sáng lại bừng lên, chiếu sáng cả gian phòng rộng. Một bàn tiệc đã bày sẵn, thật linh đình!

- Mời!

Chỉ có tiếng nói mà không thấy người. Trong khi đó thì Thiện nhận ra có sự chuyển động chung quanh, giống như nhiều người đi tới đi lui! Anh đánh bạo lên tiếng:

- Phải các cô là chủ nhân những chiếc áo dài mà tôi đã thấy?

Có người phá lên cười, giọng cười trong trẻo:

- Đã biết rồi mà còn hỏi! Nào, ta nâng ly!

Chiếc ly trước mặt Thiện đã được rót đầy, mùi bia thơm phức, khiến anh không thể từ chối được, cầm lên nhấp một hớp thử. Nhưng chẳng hiểu sao, Thiện lại uống một hơi cạn!

- Vậy mới được chứ! Hôm nay anh là người khách duy nhất tụi này mời về đây để dự ngày giỗ mà từ lâu rồi tụi này chỉ thui thủi một mình...

- Giỗ? Mà giỗ ai vậy?

Có một nàng hỏi lại:

- Theo anh thì giỗ ai?

Rồi không đợi anh trả lời, một giọng khác lại nói:

- Giỗ cả bốn chúng tôi.

Thiện đã chuẩn bị tư thế từ trước, bởi anh đã xác định họ không là những người bình thường, nhưng lúc này anh cũng chới với:

- Cô... các cô nói...

Một nàng cười:

- Anh sợ rồi phải không? Nếu sợ thì có quyền rút lui. Coi như chúng tôi lại một phen thất vọng vậy...

- Tôi... tôi không...

Ánh sáng vụt tắt, chỉ còn lờ mờ ánh trăng non chiếu qua cửa sổ. Bỗng Thiện hít được mùi thơm cơ thể của phụ nữ ngay bên cạnh. Với ánh trăng đó cũng đủ cho anh nhìn thấy vây quanh anh lúc này là bốn người! Họ vui vẻ:

- Như thế này hài lòng chưa?

Rồi một người kể lể:

- Anh nói đúng, bọn này là chủ nhân bốn chiếc áo dài mà anh đã thấy. Sở dĩ tụi này phải bày ra phơi áo như thế là để gợi cho anh sự tò mò... để anh một lần bước vào đó và cho anh biết là tụi này có hiện diện!

Một nàng khác chen vào:

- Anh muốn biết tại sao nơi đây cũng là nhà tụi tôi mà không xuất hiện gặp anh nơi đây? Chỉ bởi ông cụ không cho. Anh thấy đấy, chỉ khi nào ông cụ bị lừa phải chạy đi khóa cửa ngôi nhà hoang thì bọn này mới được thoát ra và tự do như bây giờ. Tội nghiệp ông cụ lắm, chỉ vì thương yêu tụi này nên mới canh chừng cẩn mật như thế. Bây giờ thì ông không còn có dịp nữa rồi...

Thiện giật mình:

- Ông ấy sao rồi?

- Vĩnh viễn không trở lại đây nữa! Và anh từ nay sẽ được chọn để chăm sóc cho chị em chúng tôi. Kể cả việc lái xe chúng tôi đi hát mỗi đêm!

- Kìa, các cô...

- Chị Mai, anh ta từ chối kìa!

- Để em Quế thuyết phục đi, chắc là anh ta không từ chối đâu!

- Ờ, phải đó, chỉ có em Quế thôi!

Giọng một người trong trẻo hơn, mà người đó lại ngồi sát bên Thiện:

- Hai chị Lan, Cúc sao cứ ép người ta mãi thế! Chị Mai...

Người ngồi bên phải của Thiện chính là người được gọi là chị Mai, mà Thiện đoán là họ gọi chữ đầu của tên, lên tiếng:

- Em Quế, là phần em đó!

Bấy giờ cô ngồi phía tay trái của Thiện mới chịu tuân lời, bất thần cô nàng chụp lấy tay Thiện và giữ chặt:

- Cô em Út nhà này chưa từng gần đàn ông, mà hễ biết là giữ chặt luôn, đố thoát được!

Những người kia phá lên cười, trong lúc Thiện điếng hồn, định rút tay lại thì không được nữa. Một cảm giác kỳ lạ len vào cơ thể anh và chỉ trong một thoáng, người Thiện như bị lấy hết sinh lực, chẳng làm sao khác, đành phải ngồi trân người chịu trận. Một cô ngồi giữa có vẻ ganh tỵ:

- Chị Mai thiên vị, cái gì cũng cho Út hết, còn em đây chi! Bộ chị không nhớ, chính em là người bị thiệt thòi nhất từ nào đến giờ đó sao!

Người được gọi là chị Mai vội lên tiếng:

- Không lôi thôi nữa, lão gia mà trở về thì hư hết mọi chuyện bây giờ!

Nghe vậy nên cả mấy cô đều im lặng, chứng tỏ uy của cô chị cả rất lớn. Lát sau chính Quế Hương lên tiếng, nói vừa đủ cho Thiện nghe:

- Trong nhà này không có việc cãi lời. Anh nên làm theo để được sống và viết. Mục đích của các chị là muốn được anh viết về bọn này. Bởi vậy trong vô số người từng tới đây, chúng em chỉ chọn mỗi mình anh thôi!

Thiện giật mình:

- Viết? Các cô bảo tôi viết cái gì?

Chị cả hỏi lại:

- Anh không phải là nhà văn chuyên viết chuyện ma quỷ đó hay sao? Bọn này chính là những âm hồn, những người lâu nay luôn bị người trần thế nhìn với cái nhìn lệch lạc. Nên hôm nay tụi em muốn qua anh, nói cho mọi người hiểu rằng, thế giới âm phủ cũng giống như dương thế, có người tốt kẻ xấu. Bọn em chết oan, làm oan hồn chịu bao thiệt thòi, lại còn mang tiếng là quỷ ma, yêu tinh nữa! Anh hãy sống với bọn này đi, rồi sẽ hiểu có phải như vậy không?

Cô Út Quế Hương giọng phấn khởi lắm:

- Hôm nay đúng là ngày giỗ của bốn chị em. Đồng thời cũng là ngày... vui trăm năm của riêng em! Nào, ta nâng ly rượu mừng đi!

Những tiếng chạm ly chan chát mà Thiện cũng phải tham gia. Anh uống cạn liên tiếp ba ly và bắt đầu hứng chí, quên cả thực tại:

- Mừng các cô!

Một cô nàng, hình như là Lan Hương lên tiếng:

- Sao là các cô? Phải gọi là chị cho đàng hoàng chứ!

- Ờ, phải đó, bây giờ chúng ta đều là chị!

Họ cười vang cả nhà, trong khi Thiện thì đờ người ra. Bỗng cô chị cả nhắc:

- Ta cắt chiếc bánh ra đi, coi chừng lão gia về đó!

Cô Cúc Hương nhanh tay cắt chiếc bánh đặt giữa bàn, chia đều cho từng người, vừa lên tiếng:

- Đây là bánh cưới con Út với anh chàng này. Ủa mà quên, phải gọi là dượng Út chứ! Nào, ta ăn bánh rồi chờ nghe dượng Út nó nói vài lời chứ!

- Phải đó! Phải đó! Dượng nó lên tiếng đi chứ!

Thiện luýnh quýnh:

- Tôi... tôi không...

Cô Út không nói, mà bất thần đứng lên kéo theo Thiện. Anh chàng hoàn toàn thụ động, chỉ biết bước theo. Ba cô ngồi lại đều che miệng cười và một cô nói:

- Con nhỏ từ nào đến giờ không biết đàn ông là gì, lại hành động bạo nhất! Nó... đi động phòng đó!

Cô chị cả giọng nghiêm túc:

- Nó làm đúng thì phải ủng hộ chứ! Phần của Út xong rồi, còn chúng ta thôi...

Mấy tiếng sau cùng cô nói với giọng buồn hiu, khiến cho hai cô kia bỗng khóc òa lên!

Gian phòng rộng của ngôi nhà hoang lúc này đầy ắp tiếng khóc. Vậy mà nếu ai đứng bên ngoài thì sẽ không nghe được gì...

***

Mặc dù có bao nhiêu chuyện rắc rối, kỳ lạ quanh bốn cô ca sĩ phòng trà, nhưng không vì thế mà lòng ái mộ dành cho họ bị giảm sút. Mà trái lại, sự cuồng nhiệt càng tăng. Có lẽ ở đời thiên hạ luôn thích những chuyện vượt ra ngoài ranh giới của sự bình thường. Một đồn mười, mười đồn trăm, nhiều chuyện chung quanh bốn cô gái được thêu dệt, đi đâu người ta cũng nghe bàn tán, nhất ở các quán cà phê.

Một buổi sáng, một anh chạy xe ngựa nói và cả chục người vây quanh nghe:

- Mấy người biết không, tôi thấy có một anh chàng được cả bốn cô nàng mê như điếu đổ, cùng vây quanh như muốn bắt xác anh ta! Họ đã cho tay già kia "de" rồi!

- Làm sao anh thấy được? Hay cũng chỉ đồn thổi như mấy người kia thôi!

- Tôi canh đón khách ở cửa phòng trà, nên mọi diễn biến ở đó tôi đều rành rẽ cả. Hôm qua tôi thấy anh chàng trẻ măng lái xe cho họ đi, mà cả bốn cô đều vui như Tết! Đặc biệt lần này ba cô ngồi sau, một cô ngồi trước bên cạnh anh chàng lái xe đó, xem ra tình tứ lắm! Làm cho mấy tay vương tôn công tử si tình ấm ức lắm, họ thề sẽ trị cho anh chàng lớn mật kia một trận. Mà tối nay trận đòn thù đó sẽ diễn ra, coi đã mắt luôn!

Một vài người lớn tuổi nghe vậy phản đối liền:

- Sao để chuyện ấy xảy ra được chứ! Ỷ đông hiếp yếu mà coi được sao!

Chỉ tay vào chỗ đậu xe, anh ta bảo:

- Mọi hôm chiếc xe hai mã lực của họ đều đậu ở đó, sao bữa nay không thấy? Hay là anh chàng kia nghe chuyện đã chuồn mất rồi!

- Chưa tới giờ vãn hát mà. Mới có 9 giờ mà, còn hơn một tiếng nữa.

- Hồi ông già còn lái xe thì giờ này ông ta đã đem xe tới đậu chờ sẵn. Mà cũng lạ nghe, cỡ như bốn cô ấy thì muốn đi xe sang trọng cỡ nào không có, mắc gì phải nhét trên chiếc xe cà tàng đó? Mà anh chàng trẻ tuổi nữa, xem ra anh ta chỉ là tài xế thôi, chứ không phải là "bồ bịch" gì! Ai lại chọn bồ nghèo kiết xác như vậy!

Đang bàn tán xôn xao, chợt anh chàng đánh xe ngựa kêu lên:

- Lũ côn đồ tới rồi đó!

- Lũ nào?

- Thì mấy thằng được vài tay công tử si tình đeo đuổi theo bốn cô nàng thuê để thanh toán anh chàng lái xe kia. Họ kéo cả chục tên, kiểu này anh chàng kia không xong rồi!

Mọi người đưa mắt nhìn thì quả thấy có gần chục tên đầu gấu đang dàn hàng ngang chỗ đầu hẻm từ hậu trường ra.

Lúc ấy tiếng đàn hát bên trong cũng vừa tắt. Đã tới giờ tan hát. Cửa trước khách bắt đầu ra về. Những ca sĩ khác cũng tuần tự ra theo. Chờ mãi, đến hơn mười một giờ mà vẫn không thấy bốn cô bước theo cửa hậu trường, mấy tên côn đồ ngạc nhiên:

- Ủa, sao nó không ra?

Chúng táo tợn xộc vào tận bên trong thì mới ngẩn người ra, bởi đèn trong phòng trà đã tắt hết. Không còn một ai.

Bọn hơn chục tên cùng chạy ra, một tên nói to:

- Hôm qua tao đã nhìn thấy thằng lái xe đó đi ra từ ngôi nhà hoang ở cánh rừng phía thác Cam Ly, tụi mình lên đó tìm nó!

Họ ào ào phóng xe đi khiến nhiều người lo lắng:

- Không khéo bọn quỷ sứ này hại người ta mất. Mình phải báo nhà chức trách chứ!

Nhưng họ đâu làm cách nào theo kịp lũ côn đồ có tiếng là hung hãn này. Cả bọn phóng nhanh và chẳng mấy chốc đã tới bên ngoài ngôi nhà hoang. Ngôi nhà chìm trong bóng tối như thường lệ và không có biểu hiện nào chứng tỏ bên trong có người...

Nhưng tên đầu sỏ vẫn quả quyết:

- Ngôi nhà này tụi bay có nhớ không?

Câu hỏi của hắn làm cho bốn trong số gần chục tên đi theo giật mình! Một tên nói:

- Nhà này... hồi đó mình đã...

- Tụi bay nhớ rồi đó! Hồi bốn, năm năm trước, tụi mình hụt ăn một vụ ở đây, khi con mồi đã nằm trong tầm tay rồi mà lại để sổng mất!

Một tên có tham gia vụ đó, nói rành rọt hơn:

- Hồi đó đại ca phân công em lo chặn đường rút lui của vợ chồng tên chủ nhà này và lũ con gái còn bé của họ. Em chặn kín lối ra, không để ai thoát, nhưng đột nhiên nhà bốc cháy làm em không hiểu chuyện gì? Mà lửa cháy như vậy cũng có nghĩa là số tiền lớn của vợ chồng tên chủ nhà mới bán đất có được đã ra tro! Mình hụt ăn mà chỉ biết nhìn lửa để rồi tức trào máu thôi!

Tên đầu sỏ giọng hậm hực:

- Vì chuyện đó mà tao bị đàn anh đuổi việc, chê tao vô tích sự!

Tên đàn em nói:

- Chẳng riêng gì đại ca, cả bọn em cũng điêu đứng theo. Đàn anh của mình lúc đó ác, nhưng nghĩ lại ông ta điên lên cũng phải, bởi hỏng ăn vụ đó làm ông ta thua trắng bạc tỷ. Từ đó ông ấy bị phá sản và biệt tăm luôn!

Tên đại ca rít lên:

- Lão ta phá sản thì tao cũng vào tù! Ra tù rồi tao mới rõ là trong vụ đó không phải là vụ cướp tiền như lão nói và nhờ bọn mình làm đâu. Họ triệt hạ lẫn nhau đó! Tụi bay biết chủ nhà này là ai không? Lão ta cũng thuộc hàng đại gia như đàn anh của mình. Hôm đó lão đem về đây một số tiền lớn, chuẩn bị vụ làm ăn gì đó. Đàn anh của mình tính phỗng tay trên nhưng không thành, và sau đó còn bị họa lây bởi một cuộc phản đòn kỳ lạ, mà nghe đâu do chính chủ nhà này ra tay!

Tên kia ngạc nhiên:

- Nghe nói vụ cháy nhà bữa đó đã thiêu rụi cả nhà ông ta gồm ông ấy và bốn đứa con gái mà, lấy đâu mà trả thù đàn anh mình?

- Mấy hôm nay âm thầm theo dõi bốn con ca sĩ phòng trà đó, và hôm nay tới đây tao mới vỡ lẽ, vụ hỏa hoạn đó không làm chết tụi nó. Bằng chứng là bốn đứa con gái ấy giờ đây đã lớn lên, đã làm say đắm hầu hết con trai thành phố này!

Tên đàn em hốt hoảng:

- Phải vậy không đại ca?

Tên đại ca quả quyết:

- Chắc chắn là như vậy, nhưng qua vụ đó rồi hình như nhà họ khánh kiệt, phải sống âm thầm, nghèo khổ, đến đỗi cả bốn đứa con gái đều phải đi hát kiếm sống!

- Có lẽ là vậy...

Chúng đang ba hoa thì chợt đèn trong ngôi nhà hoang bật sáng choang đồng thời cánh cửa nhà mở rộng ra, cùng với một giọng nói to:

- Tới thì vào đi chứ, mấy thằng con đồ. Tao đã chờ bọn bay từ lâu lắm rồi!

Nghe giọng nói, tên đại ca giật mình:

- Ai như là... là lão ta? Lão Bá Đạt!

Một tiếng cười sang sảng vang lên:

- Mày vẫn còn nhớ phải không? Tao đây, kẻ mà hôm đó tụi bay định vào giết để cướp của vẫn còn đây!

Cả lũ giật mình, nhưng lúc ấy tên đại ca đã gầm lên:

- Ngày xưa chưa hạ được lão thì hôm nay tao sẽ giết lão trước, rồi chiếm cả bốn đứa con gái lão sau! Nào, xông vào tụi bay!

Chúng vừa tính chạy vào thì như bị ai đó nắm từng thằng ném mạnh vào nhà! Lần lượt có tám tên nằm lổn ngổn ở phòng khách ngôi nhà. Lúc này khi nhìn lên, tên đại ca mới hốt hoảng kêu lên:

- Ủa, sao lại có... có anh ở đây nữa?

Đứng giữa nhà ngoài ông cụ lên tiếng nãy giờ, còn có một người đàn ông khác mà tên nọ vừa gọi bằng anh. Ông này nhẹ giọng bảo:

- Tụi bay vẫn không chừa bản chất côn đồ! Ngày xưa cũng vì nghe lời xúi của bọn bay nên tao mới định ra tay hại anh Tám đây, việc không thành, nhưng hậu quả thì cả anh Tám và tao cùng nhận. Chỉ có tụi bay là ẵm trọn số tiền công thực hiện mưu đồ! Giờ tụi bay còn tính gì nữa đây? Vẫn ăn tiền của mấy tên công tử háo sắc, định hại con gái nhà này nữa phải không? Tụi bay lầm to rồi, hại họ không được đâu! Cỡ như tao mà còn làm ma vất vưởng đầu đường xó chợ đây, nữa là...

Ông ta nói xong quay sang ông cụ:

- Tôi xin lỗi tuy có muộn màng, nhưng vẫn phải xin lỗi. Chuyện ngày xưa chính tôi cũng gánh hậu quả thảm hại. Nhà cửa tiêu tan, vợ con ly tán. Ngay như thằng con đầu của tôi, tới giờ này cũng không biết ở đâu...

Ông cụ đưa tay chỉ vào trong nhà vừa nói:

- Nó đã tới đây trước ông!

Vừa lúc ấy Thiện từ trong bước ra, đi bên cạnh một cô gái cực đẹp mà vừa trông thấy ông cụ đã reo lên:

- Quế Hương, con!

Ông định chạy tới ôm cô gái, nhưng chợt nhớ ra, đã khựng lại và nói:

- Nó bây giờ đã là hồn ma, làm sao có thể gần người trần như tôi được!

Ông chỉ sang Thiện, hỏi:

- Ông không nhận ra con trai mình sao?

Lúc này người đàn ông mới ngơ ngác:

- Thiện... Thiện đây sao?

Thiện khựng lại, kêu lên:

- Cha!

Thiện định chạy tới, nhưng cha anh đã xua tay:

- Cha đã là người cõi âm, cha con ta chỉ có thể nhìn nhau thôi.

Giờ đến lượt ông cụ giải thích:

- Ngày xưa lúc ông thuê tụi này tới cướp nhà tôi thì cả nhà tôi gồm bốn đứa con gái đều chết trong lửa đỏ, chỉ mình tôi là thoát. Tôi sống với nỗi căm hận ông vô cùng, thề là sẽ đòi cho được món nợ đó! Bốn đứa con tôi thành ma, ở trong ngôi nhà hoang này và chúng nghe theo tâm nguyện của tôi, sẽ chờ một ngày nào đó rửa hận giúp tôi. Ngày ấy đã tới khi thằng con trai giang hồ của ông mò tới đây, như một định mệnh xô đẩy nó tới! Đầu tiên tôi lệnh cho hồn ma mấy đứa con tôi dụ cho thằng này vào tròng, rồi giết đi. Nhưng các con tôi chưa chịu, chúng có ý dụ cho tất cả những đứa từng tham gia vào cuộc thảm sát ngày trước phải lộ mặt. Cho nên mới có việc chúng nó đi hát, bởi chúng biết lũ côn đồ này thường tụ tập quanh những tụ điểm ăn chơi. Và các con tôi đã đúng khi bọn này hôm nay đã dẫn xác tới! Duy có một điều diễn ra ngoài ý muốn của tôi, nhưng biết làm sao hơn...

Ông nói tới đó thì nhìn sang con gái Út và Thiện, nhẹ lắc đầu. Trong lúc Thiện lên tiếng:

- Con đâu biết gì chuyện này. Con tới đây chỉ là tình cờ. Và ngày nay...

Ông cụ thở dài nói:

- Oan gia nghiệp chướng thế nào mà hôm nay con gái Út tôi lại đi yêu thằng con kẻ thù của cha nó, trời ơi!

Quế Hương quay sang hai người đàn ông:

- Con muốn anh Thiện khi viết về các oan hồn sẽ có nhận xét khác với thiên hạ xưa nay. Con yêu anh chân tình mà!

Vừa khi ấy ba cô gái cùng xuất hiện một lượt. Mai Hương lên tiếng:

- Lâu nay ba con luôn thúc giục tụi con phải trả thù, và tụi con cũng có ý như vậy. Nhưng từ khi gặp Thiện thì ý nghĩ đó dần tan biến đi. Qua Thiện, chị em chúng con nghĩ rằng, thù hận đâu giải quyết được gì. Vả lại, một người như cậu ấy thì đâu đáng phải bị trừng phạt. Đáng trừng trị chăng là lũ người này đây!

Cô đưa tay chỉ vào chín tên đang bò lê dưới sàn. Ông cụ cha cô cũng đồng tình:

- Lũ này thì không thể tha thứ được!

Bọn côn đồ kêu lên inh ỏi:

- Xin tha cho chúng tôi! Chúng tôi không dám nữa!

Nhưng cả bọn đã bị hất tung ra ngoài cửa, đồng thời chính ông bố Thiện cũng lên tiếng:

- Bọn này để cho tôi.

Thoắt một cái ông ta đã biến mất. Cùng lúc cả chín tên du đãng ngoài kia cũng biến mất theo.

Ông cụ quay sang các con, giọng trìu mến:

- Các con bây giờ tự lo được rồi. Hãy yêu thương nhau, nhất là phải chăm sóc cho thằng này...

Dứt lời, ông bước ra ngoài và đi nhanh. Thiện định gọi lại thì Quế Hương đã nói:

- Anh quên là ba còn có ngôi nhà, nơi chúng em phơi áo để dụ anh bữa trước. Ông cụ sẽ ở đó nhang khói cho mẹ chúng em. Còn chúng mình thì ở đây...

Mai Hương ra giọng chị cả:

- Tuy sống với bốn hồn ma, nhưng chỉ được quyền với mỗi con Út của chúng tôi thôi nhé!

Quế Hương nói khẽ đủ cho Thiện Nghe:

- Nếu có dịp nào đó, anh cũng nên làm mai cho ba chị có mối, cho vui...

Thiện cười gượng... Nhưng thật ra, sau một đêm làm chồng người cõi âm, anh đã hiểu được thế nào là lạc thú...
Sự đời cà khịa cái chơi
Khi vui muốn khóc, khi cười buồn tênh!
0
CÔ GÁI CÂM TRONG NHÀ HOANG

Nhìn bức ảnh chụp ngôi biệt thự có tên là Hoa Hồng, Bình ngạc nhiên:

- Nhà cửa như thế này mà bỏ hoang à?

Dự gật đầu:

- Chẳng những bỏ hoang mà bố tao còn định bỏ luôn ấy chứ?

Bình xí một tiếng:

- Phí của trời! Không ở được thì bán cho người ta ở!

Dự lại lắc đầu:

- Ông già tao là dân kinh doanh mà, cái nào bán được thì ổng bán sạch, đâu để mày nhắc! Chỉ có điều là chẳng ai dám mua ngôi nhà đó!

Bình ngạc nhiên:

- Tại sao?

- Bởi chẳng một ai vào ở đó được quá một đêm!

Bình ngửa cổ ra cười một hồi, khiến Dự cũng phải bực mình:

- Mày không tin lời tao nói hả? Hay là chê ông già tao nhát gan?

Bình nghiêm giọng:

- Chê ông già thì tao không dám, nói ông nhát gan cũng chưa chắc, chỉ có điều mày là thằng phải đáng cười nhất!

Bị chạm tự ái, Dự hất hàm hỏi:

- Mày coi thường tao hả? Vậy nếu là mày, liệu mày có dám vào ở trong ngôi nhà mà ma lộng như gánh hát đó không?

Bình lại cười ha hả:

- Mày mà cũng nói giọng như đàn bà đó, nghĩ cũng lạ!

Dự thách:

- Mày nói ngon, vậy có dám lên đó ở vài hôm không?

Bình nhìn bạn nheo mắt:

- Cá gì nào?

Dự lớn tiếng:

- Cá với mày chi phí cả chuyến đi, hai bữa nhậu linh đình ở thành phố!

Bình đưa tay ra bắt thật chặt với bạn:

- Nhận lời mày liền! Vậy bao giờ thực hiện?

- Mày muốn liền bây giờ cũng được! Sẵn lát nữa ông già có chuyến đi lên Phú Riềng, mày có thể cùng đi. À mà không, tao nói ông già để chiếc hai ngựa cho mày lái lên đó, để rồi nếu chạy làng thì có xe mà về! Tao cá mày ở lại đó hai ngày đêm. Ở một mình hay đem theo bạn gái hay bất cứ ai! Đây, tao đưa trước cho mày số tiền dư sức tiêu xài trong vòng một tuần!

Bình nhận chìa khóa chiếc xe Deux cheveaux (hai ngựa) và xua tay:

- Tiền tao không cần. Miễn là mày mua cho tao thức ăn đủ ăn trong một tuần, cả thức uống có men càng tốt!

Dự tán thành ngay:

- Được, tao sẽ cho người đi mua và để sẵn trên xe cho mày. Trong ngôi nhà đang có đầy đủ nào tủ lạnh, bếp ga và còn có hai kết bia "con cọp" đã mấy tháng rồi chưa uống!

- Tốt! Tao sẽ đi ngay. Mày báo tin về nhà cho má tao hay là tao vắng nhà khoảng một tuần đến mười ngày!

Dự nheo mắt:

- Tao bảo đảm là chỉ nội trưa mai thôi là mày bỏ của chạy lấy người về đây!

Trước khi ra lấy xe, Bình còn nói chắc nịch với bạn:

- Hai ngày sau tao sẽ mời mày lên chơi và nhậu trên đó một trận cho đã đời luôn!

- Chúc mày... không tháo chạy!

Khoảng nửa giờ sau thì Bình lên xe lái đi với đầy đủ lương thực được chuẩn bị sẵn. Dự nhìn theo bạn lắc đầu ái ngại...

Khi Bình đi một quãng khá xa rồi Dự mới chợt nhớ, anh chặc lưỡi:

- Mình quên nói cho nó biết, nếu chứng đau tim của nó còn thì không nên tham gia vụ này!

Ông Đoan, cha Dự sau khi biết chuyện Bình nhận thách đố, ông trách con:

- Con dại quá, đố chi chuyện nguy hiểm đó. Chính cha đã từng bị gần đứng tim ngay trong ngôi nhà đó và hơn một chục người vào đó ngủ đều không kịp mặc đồ khi chạy ra khỏi nhà! Lần này thằng Bình e rằng chịu không nổi...

Dự có hối tiếc cũng đã muộn, anh hỏi lại cha:

- Cụ thể là ma quỷ trong nhà đó ra sao cha?

Ông Đoan kể lại mà như còn sợ sệt:

- Có một cô gái mà bất cứ chỗ nào trong nhà mình cũng gặp cô ta cả! Mà không phải gặp suôn đâu, hễ là đàn ông con trai thì thế nào cũng bị đè khi đang ngủ. Mà chẳng phải chỉ đè, nó còn... còn... khiến nam nhân trở thành... phế nhân! Một lần cha suýt bị...

- Nghe chú Tư tài xế nói, bất cứ ai nằm trên giường đều bị hất tung xuống sàn. Đang tắm trong phòng tắm thì bị trấn nước đến tắt thở luôn, phải không cha?

- Đó chỉ là một trong những điều ghê rợn! Người ta nói khi xây ngôi nhà đó, cha bị người ta yểm do khu đất đó có người tranh giành. Ban đầu cha không tin, nhưng qua thời gian, những gì xảy ra trong đó cha mới tin là đúng!

Dự bắt đầu lo lắng cho bạn. Anh nhìn đồng hồ tay và đoán phải ba bốn tiếng nữa Bình mới tới ngoài đó, vùng giữa Bà Rịa đi Đất Đỏ. Trên đó có bắt điện thoại, nên khi Bình lên tới nơi thì Dự sẽ gọi, bảo rằng cha anh ra lệnh cho Bình phải quay về gấp. Có như thế Bình mới chịu về.

Đến gần 10 giờ, tức thời gian mà Dự cho là Bình đã tới nơi, anh quay điện gọi. Chuông bên đầu dây bên kia reo dài, đến lần reo thứ ba thì có người nhấc máy. Dự hỏi:

- Bình hả? Cậu lên tới lâu chưa, cha mình...

Nhưng đầu dây bên kia có một giọng cười cất lên, kèm theo câu nói:

- Xin chào!

Dự hoảng, run giọng hỏi lại:

- Cô... cô là ai? Còn bạn tôi...

- Bạn anh chết rồi!

Dự buông máy xuống gọi lớn:

- Cha ơi!

Ông Đoan hình như đã lên đường đi Phú Riềng rồi. Dự càng quýnh lên, anh định bỏ mặc điện thoại đó, chạy ra ngoài, nhưng trong điện thoại còn có tiếng người nheo nhéo. Cuối cùng anh phải cầm lên và áp vào tai, bên kia vẫn giọng cười lúc nãy và giọng nói như xé lụa:

- Con trai hả? Sao không lên đây chơi, mà ở đó gọi hoài!

Dự không còn chịu đựng nổi, anh dập điện thoại xuống và nói gần như mếu:

- Mình hại thằng Bình rồi!

Suy nghĩ mãi, cuối cùng Dự gọi điện sang nhà cha Bình, báo tin dữ. Vừa nghe tin là cha mẹ Bình kêu thét lên, họ kêu taxi qua ngay nhà và hầu như không kịp hỏi đã khóc ré lên. Dự phải trấn an họ:

- Để cháu kể lại mọi chuyện đã.

Ông bà Thái, cha mẹ Bình, ngồi chăm chú nghe Dự kể chuyện. Họ lo sợ nhưng vẫn muốn biết thêm:

- Trong điện thoại báo tin là thằng Bình bị giết, mà ai giết?

Dự đành phải khai thật:

- Thưa hai bác, ngôi nhà đó có ma. Con có nói mà Bình không tin, một hai đòi lên cho bằng được! Hay tin nhưng đã quá khuya rồi mà nhà không còn chiếc xe nào, nên cháu định sáng mai mới lên đó sớm!

Bà Thái khóc òa lên:

- Bình ơi, con sắp cưới vợ rồi, sao mà dại quá vậy con!

Ông Thái nhìn đồng hồ rồi chép miệng:

- Đã mười hai giờ rồi.

Chợt có chuông điện thoại reo vang. Dự tính cầm lên nghe, nhưng còn sợ, trong lúc chuông đã reo tới lần thứ ba. Ông Thái sốt ruột quá nên bốc lên nghe đại.

- A lô... Bình hả? Con hả Bình? Có phải là con không?

Bên kia đầu dây nói liên tục mà bên này ông Thái hình như vẫn chưa tin là con mình, nên ông rụt rè... Dự phải chụp lại ống nghe rồi hỏi:

- Phải Bình không?

- Bộ mày cũng không nhận ra giọng của tao nữa sao thằng khỉ gió. Tao, Bình đây. Tao đã ra tới nơi gần hai tiếng rồi, tao vừa mới tắm xong, đang làm cơm, sắp ăn. Ngôi nhà tuyệt vời lắm, nếu có thêm em nào nữa cùng ở thì nhất trần đời!

- Mày... mày thật hả Bình? Sao hồi nãy tao gọi điện thì ai đó nói mày... chết rồi? Có phải hồn ma mày không vậy?

Bên kia Bình cười, vẫn giọng cười hô hố như thường lệ:

- Tao đang mong gặp cái em nào như mày nói để mời ăn cơm cùng đây, mà không thấy!

- Bình, mày nói thật tao nghe, mày không sao chứ?

Lại vẫn giọng cười ngạo mạn của Bình:

- Nếu có sao thì tao đâu gọi được cho mày. Vừa rồi nghe như giọng ba tao?

- Ừ, ba má mày đang ngồi đây lo lắng cho mày. Họ cứ tưởng...

Dự đưa lại ống nghe cho ông Thái, ông mừng quá, giọng run run:

- Bình hả con? Con không sao là ba má mừng rồi! Vậy sáng mai về sớm, đừng ở ngoài đó nữa!

Họ mừng vô hạn trước tin vui này. Chỉ có Dự là lo. Tuy đã biết Bình không hề gì, nhưng việc anh trực tiếp nghe giọng nói lạ trong điện thoại đã khiến cho Dự thẫn thờ suốt đêm hôm đó...
 
***

Đã qua một đêm ngủ yên trong ngôi nhà ma, Bình sảng khoái hẳn khi tỉnh dậy vào buổi sáng hôm sau. Anh tự nhủ:

- Như vầy thì có gì đâu ghê gớm?

Bình vốn lạc quan tếu, nên anh lại nghĩ, hay là mình với ma quỷ hạp nhau, nên ai cũng bị ma nhát, còn mình thì ma lại ưa?

Nằm nướng thêm một lúc nữa Bình mới rời khỏi giường, việc đầu tiên theo thói quen của Bình là tắm, anh nhớ đêm qua sang nước từ lu nước mưa bên ngoài vào đầy hồ nhỏ bên trong nhà tắm, nên nghĩ là sáng nay mình sẽ tha hồ tắm táp một trận cho đã thèm. Tuy nhiên, khi vào nhà tắm thì Bình hơi ngạc nhiên, bởi hồ nước cạn khô. Anh chán nản:

- Chắc hồ bị thủng rồi, uổng công mình!

Bình lại phải xách xô đi chuyền nước. Nhưng khi ra tới hồ nước mưa lớn phía ngoài, lại một lần nữa anh kinh ngạc, bởi hồ không còn miếng nước nào!

- Ủa, hồi đêm mình thấy còn hơn nửa hồ mà, đâu có lý nào?

Anh nhìn quanh, không phát hiện dấu vết nước thoát ra, cũng không thể ai đó trong một đêm lại có thể múc hết nước trong hồ này đi? Bình bắt đầu bực bội. Bởi ở đây thiếu cái gì thì khắc phục được, chứ còn thiếu nước thì chịu.

Bình suy nghĩ mãi, cuối cùng anh quay số điện thoại của Dự, định hỏi anh chàng về cách lấy nước để dùng, bởi anh ta là chủ nhà thì chắc sẽ biết cách...

- A lô, Dự hả...

Nhưng ở đầu dây bên kia một giọng nữ cất lên:

- Tắm chưa hả anh chàng ngạo mạn?

Bình giật mình, anh hỏi lại:

- Ai vậy? Có Dự ở nhà không cho tôi nói chuyện...

- Có Bích thôi, chứ không có Dự!

- Bích nào, tôi cần gặp Dự!

Bỗng có một tiếng nổ lớn, gần xé màng nhĩ của Bình phát ra từ trong ống nghe! Khiến cho Bình làm rơi ống nghe xuống, lảo đảo lùi ra xa. Trong phút chốc mắt anh hoa lên và suýt ngã chúi về phía trước.

Cố trấn tỉnh, Bình cầm lại ống nghe và lần này anh nghe giọng nói từ bên kia khá quen thuộc:

- Mày gọi tao hả Bình?

Giọng của Dự! Bình mừng quá, anh định hỏi bạn về giọng nữ lúc nãy, nhưng kịp ngừng lại, anh chỉ hỏi:

- Tao muốn hỏi mày lấy nước ở đâu để xài?

Dự đáp ngay:

- Nghe ba tao nói cái hồ chứa nước chứa đến hơn mười ngàn lít, một chục người xài vài ba tháng vẫn chưa hết.

- Hết sạch rồi!

Dự ngạc nhiên:

- Sao lại hết được? Mới hôm rồi Tư tài xế ghé lại thì vẫn thấy còn gần đầy hồ mà. Hay là ai đã lén vào múc xài hết rồi! Thôi, mày đi bộ ra ngoài xóm nhờ người ta chở nước tới xài đỡ đi...

Bình định đặt ống nghe xuống thì Dự hỏi:

- Còn dám ở nữa không?

Nghĩ bây giờ mình kể thêm những bất tiện thì anh ta sẽ cười ngạo, nên Bình cất tiếng cười ha hả:

- Ở đã quá trời, ngu gì về!

Sau đó Bình mò ra xóm nhà cách đó khoảng vài trăm mét. Anh ngạc nhiên khi hầu như nhà nào cũng đóng kín cửa, hoặc có mở cửa thì lại không có người. Phải mất gần một giờ Bình mới tìm thấy một ông già đang ì ạch đẩy chiếc xe bò, bởi con bò ốm đến nỗi bước đi không muốn vững. Chặn ông ta lại, Bình lễ phép hỏi:

- Thưa bác, ở đây có ai có thể nhờ đi lấy nước về xài không ạ?

Ông già ngừng tay lại thì con bò già cũng đứng lại, vì hình như nó không đủ sức đi một mình. Ông ngước nhìn Bình rồi hỏi:

- Cậu ở đâu?

Bình chỉ tay về ngôi nhà lớn duy nhất trong xóm này:

- Dạ, cháu mới về ở ngôi biệt thự của ông Dương Đoan.

Vừa nghe đến đó ông già lắc đầu ngay:

- Nhà đó thì thiếu gì nước, cần gì phải đi lấy nước giếng chi cho mệt!

Ông ta định cúi xuống đẩy tiếp, nhưng Bình đã bất ngờ kéo ông ta lại:

- Ai lại đẩy chiếc xe bò khi có bò kéo! Nè bác, hay là bác biết chỗ lấy nước, bác hãy giúp đi, con trả bác tiền hút thuốc!

Chẳng nói chẳng rằng, ông già tiếp tục đẩy xe đi. Nhưng đi được mấy bước chợt ông lên tiếng:

- Cậu có cần người ở giúp việc không?

Đang cần một thứ mà ông ta lại hỏi thứ khác, trong lúc bực mình. Bình đáp đại:

- Cần, ông có ai thì dẫn tới!

- Có. Con gái tôi.

Bình hơi giật mình:

- Con gái ông... mà bao nhiêu tuổi?

- Mười tám!

Bình lại một phen ngơ ngác:

- Mười tám... sao bác không để cô ấy phụ đẩy xe mà cho đi làm với người khác?

Ông ta lại cúi xuống đẩy xe tiếp, có lẽ nghĩ Bình đã từ chối. Chợt Bình chạy theo và nói:

- Được đó bác. Hay là bác cho cô ấy tới rồi giúp cháu đi lấy nước trước đã...

Bây giờ ông lão mới ngừng hẳn việc đẩy xe, ông cười lần đầu tiên với Bình, hai hàm chỉ toàn nướu, chứ không còn chiếc răng nào, giọng thật thà:

- Nhưng tôi nói trước, con gái tôi nó bị câm. Cậu có chịu mướn không?

Thảo nào. Bình nói thầm, và sau cùng anh gật đầu:

- Dạ được. Cháu mướn người làm chứ đâu phải mướn để nói chuyện đâu.

Ông già lại nói:

- Thường người câm thì bị điếc, vậy cậu liệu có nói chuyện được với nó không?

- Dạ...

Thấy Bình lưỡng lự, ông già chợt cười thành tiếng:

- Nói vậy chứ con nhỏ nhà tôi còn nghe được chút đỉnh. Cậu cứ nói chuyện nhỏ nhẹ với nó là nó nghe theo liền.

Bây giờ tới phiên Bình phá lên cười:

- Bác mới nói cô ấy chỉ nghe được chút đỉnh mà lại bảo nói nhỏ cho cô ấy nghe, là sao?

Ông già bảo:

- Tôi nói thật đó. Con gái tôi rất nhát, mỗi lần nghe ai nói chuyện lớn tiếng là nó khóc và bỏ chạy ngay. Do vậy trời phú cho nó cách nhìn nhép miệng của người đối diện mà đoán ra câu nói của người đó. Chỉ yêu cầu mỗi khi nói chuyện cậu phải bước tới gần, để nó nhìn.

Đúng là quá bất tiện, tuy nhiên lúc này anh cần có nước, nên gật đầu đại:

- Thôi cũng được. Bác cứ cho cô ấy tới đi, rồi cháu sẽ coi cách cô ấy làm việc mà tính tiền công.

- Được rồi, cậu cứ đi đâu chơi đi, lát nữa về nhà sẽ có nước cho tắm! Mà nè, con gái tôi ban ngày không ra khỏi nhà, do nó mặc cảm về bệnh tật. Nó chỉ tới để giúp cậu vào ban đêm, có được không?

Bình cũng đành phải gật đầu, tuy nhiên anh cũng dặn:

- Riêng hôm nay thì cháu cần có nước tắm bây giờ.

- Tôi đã nói rồi, khi cậu về nhà thì đã có nước tắm! Cứ mỗi tối nó tới, dù cậu ngủ rồi nó vẫn làm, như dọn dẹp nhà cửa cho cậu, giặt giũ áo quần. Cậu nhớ khi nào cần lắm mới nên thức dậy gặp nó, đừng làm nó giật mình.

Bình vừa gật đầu mà vừa chép miệng:

- Lại rắc rối đây...

Ông già lại lẳng lặng đẩy xe đi. Nhìn cảnh ông cùng con bò ta có thể hình dung ra cảnh người già đi xuống âm phủ! Bình thở dài rồi lững thững đi trở về nhà...

Quãng đường từ đó về ngôi nhà không xa, nên Bình chỉ đi một lúc là tới và lần này anh thật sự sững sờ, bởi trước mắt anh, hồ nước đã đầy trở lại!

- Cái gì vậy?

Anh không tin vào mắt mình nên tận tay thọc vào trong nước và khi cảm nhận đó là nước thật thì mới ngẩn người ra...

- Không thể hiểu nổi!

Anh vừa tắm mà vừa nghĩ tới lời thách đố của Dự. Thì ra ma là như thế này đây! Nhưng ông lão vừa rồi là người thật chứ đâu phải ma, mà tại sao ông ta lại biết khi Bình trở về nhà thì nước sẽ đầy trở lại? Phải chăng người ở vùng này đã quá quen với những chuyện như thế này rồi?

Tắm táp xong Bình nghe bụng cồn cào, anh bước tới mở chiếc tủ lạnh cũ mèm ra, trong đó ngày hôm qua lúc mới tới anh đã dồn hết những thức ăn dự trữ vào, hôm nay sẽ dùng từ từ...

- Ủa, kỳ vậy?

Cả một tủ đầy những món như xúc xích, thịt nguội, trứng và cả hai tảng thịt bò lớn nữa, Dự đã cho người nhà đi mua để Bình mang theo và rõ ràng anh đã cho hết vào đây, anh còn kiểm từng món nữa mà. Bây giờ sao lại biến mất hết, hầu như chẳng còn gì?

- Không thể tin nổi... chẳng lẽ ai vào trộm hết?

Cũng có khả năng đó, bởi lúc nãy đi Bình không khóa cửa. Thở dài chán nản, Bình lẩm bẩm:

- Lại phải nhờ người đi mua thức ăn khác rồi!

Nhưng cái gay go là sáng nay lấy gì để ăn bữa điểm tâm? Bình đành phải mặc lại áo, định đi ra ngoài để tìm quán xá gì đó, ăn đỡ. Nhưng khi bước ra tới ngõ, anh thấy có một con thỏ trắng nằm thoi thóp ở đó. Con vật vừa đẹp vừa dễ thương, Bình cúi xuống đỡ nó lên thì nhận ra ở đùi sau của nó bị một mũi tên của ai đó bắn, còn ghim chặt.

- Dã man thật!

Rất nhẹ tay Bình nâng con thỏ và định đưa nó vào thềm nhà, nơi đó anh sẽ tìm cách lấy mũi tên ra. Nhưng vừa khi ấy anh lại nghe tiếng chim kêu rất gần, tiếng kêu ra vẻ đau đớn lắm! Nhìn xuống đất và một lần nữa anh phải kêu lên:

- Tội nghiệp chưa!

Một con chim khá lớn, đang nằm sải cánh, máu nhuộm đỏ cả một bên cánh của nó, đúng là cũng đang bị thương! Bình quên ngay cơn đói, anh lại nâng con chim lên và cùng lúc đem hai con vật tội nghiệp vào hiên. Một cách nhẹ nhàng, Bình kéo mũi tên ra khỏi đùi con thỏ. Nó kêu ré lên đau đớn, nhưng sau đó nằm im đi, kiệt sức, nhưng có vẻ đã không còn nguy hiểm nữa. Đến con chim thì vết thương của nó không nặng lắm, nhưng do trúng ngay cánh nên hầu như nó không còn cử động được nữa, Bình phải dùng khăn sạch lau máu cho nó, rồi cột cố định vết thương.

Sợ nhà có mèo, nên sau khi chăm sóc kỹ vết thương rồi Bình mang hai con vật vào phòng riêng của mình, đặt chúng lên giường tấn gối, mền chung quanh. Xong đâu đó rồi anh mới đi.

Phải lội bộ khá xa Bình mới tìm được một quán nước, nhưng ngoài cà phê ra, chỉ có vài cái bánh ú, Bình đành phải ăn tạm. Vậy mà anh ăn ngon lành, vừa ăn vừa khen:

- Ngon chưa từng thấy!

Thấy anh ăn ngon như đã nhịn đói lâu ngày, chị chủ quán hỏi:

- Cậu ở đâu tới, chứ đâu phải người xứ này phải không?

Bình thú thật:

- Tôi mới tới ở chơi ngôi nhà hoang của ông Dương Đoàn, chị biết nhà đó?

Vừa nghe nói chị ta đã tròn xoe mắt, hỏi:

- Cậu không biết gì sao dám ở đó?

Bình biết chị ta muốn nói điều gì, nên anh cười bảo:

- Nhà có ma chứ gì!

Chị chủ quán ra vẻ nghiêm trọng:

- Ma thật chứ không phải chơi đâu! Từ ba bốn năm nay nhà đó bỏ hoang, ông chủ đó hồi trước làm giàu nhờ xứ này, cất nhà đó lên cũng như đồn điền ở đây, vậy mà cuối cùng phải bỏ đi biệt, không thấy léo hánh về nữa!

Bình giả vờ hỏi:

- Ma làm gì mà người ta sợ dữ vậy?

- Cái cậu này không biết trời đất gì hết. Ma nhát, ma hại người chứ làm gì!

Rồi chị ta hạ thấp giọng kể:

- Hồi đầu, lúc ông chủ Đoàn bỏ đi, ông ấy có nhờ người xứ này vào ở giữ nhà, nhưng cả bọn người vào đều hộc máu xém chết cả bốn, nên từ đó đến nay không ai dám ở nữa. Cậu không nên ở lâu...

Bình vẫn giọng nửa đùa nửa thật:

- Thiên hạ sợ không dám ở thì mình ở! Tôi định sau khi ở vài ngày thử xem, nếu được tôi về đây ở luôn, kiếm vợ xứ này, chị thấy có được không?

Chị chủ quán rùng vai, lắc đầu:

- Nghe cậu nói mà phát ớn lạnh rồi! Mà thật tình cậu ở đó mà không gặp rắc rối gì sao?

Bình cười cười:

- Tôi cũng đang muốn gặp ma một lần thử coi, ma đẹp xấu thế nào mà tiếc là suốt từ hôm qua tới giờ chưa gặp được!

Bình ăn xong còn mua thêm mấy cái bánh ú và hỏi:

- Chị có thể nấu cơm cho tôi ăn vài bữa được không?

Sau vài giây suy nghĩ, chị ta đáp:

- Nấu thì được, nhưng cậu phải ra đây ăn, chứ tôi không đem tới nhà đó được.

- Cũng được. Mỗi bữa tôi sẽ ra đây ăn.

Chợt nhớ ra, Bình nói:

- Hay là thế này, bữa nào tôi ra không được thì chị gửi cho ông già đánh xe bò thường đi ngang đây, được chứ?

Chị chủ quán ngạc nhiên:

- Ông già nào? Ở đây làm gì có ai đánh xe bò. Xứ này chỉ có xe ngựa thôi, xe bò làm sao leo dốc nổi?

- Có mà. Một ông lão với chiếc xe bò do con bò già kéo qua đường này, tôi mới gặp hồi nãy. Ông ta còn nói là có cô con gái câm nữa...

Bình nói chưa dứt lời thì chị chủ quán đã đứng vụt dậy, khiến cho cái bàn Bình đang ngồi ăn bị đổ sang một bên! Chị ta lắp bắp:

- Cậu... cậu gặp ông ta? Cậu gặp...

Bình ngạc nhiên:

- Chị sao vậy?

Sự sợ hãi làm cho da mặt chị ta tái mét, giọng run run:

- Không xong rồi cậu ơi... ông già đó tôi nhớ ra rồi... ông ta chính là cha của cô gái mà ngày xưa đã chết trong ngôi nhà ấy. Đó là ông già Tư, là người làm vườn cho nhà ông Đoàn. Ông ta có cô con gái mười tám tuổi, cũng giúp việc trong nhà đó... Rồi một hôm người ta hay tin cô gái câm đó treo cổ chết trong đó!

Bình không để chị ta nói hết, đã chặn ngang:

- Sao cô ta chết?

- Tôi không rõ, chỉ có ông già Tư cha cô ta mới biết. Bởi vậy ông ta mới nổi điên, xách dao rượt chém ông chủ Đoàn, thiên hạ cho rằng ông ta bị sốc trước cái chết của con nên điên, nên bảo vệ để ông Đoàn thoát thân. Tuy nhiên sau đó ông ta không ở trong ngôi nhà đó nữa, mà đem xác con gái để trên một cái cộ, dùng một con bò kéo, chở xác con đi khắp nơi kêu oan, nói rằng con mình đã bị người ta giết! Hỏi ai giết thì ông ta không nói, chỉ ngửa mặt lên trời khóc rống lên! Từ đó ngôi nhà ấy bỏ hoang, do ông Đoàn cũng không dám ở, bởi ma hiện như tôi vừa kể lúc nãy!

- Vậy ông chủ nhà có dính gì tới cái chết của cô gái câm kia không?

Chị chủ quán hình như cảm thấy mình kể tới đó là quá nhiều, nên vội lắc đầu, từ chối nói tiếp. Bình bắt đầu hoang mang, nên đứng dậy đi về mà không đề cập tới chuyện nhờ nấu cơm nữa.

Vừa về tới cổng ngoài Bình đã có linh tính như điều gì đó khác thường vừa xảy ra trong nhà. Anh nhẹ nhàng mở cổng, bước từng bước vào trong... Nhưng chẳng thấy có gì khác thường, nên Bình thở phào, anh bước vào phòng riêng định thay đồ rồi bắt đầu một ngày trong ngôi nhà hoang.

Tuy nhiên...

Vừa đẩy cửa phòng bước vào, Bình đã khựng lại và kêu lên:

- Cô là ai?

Trên giường của anh có một cô gái mặc quần áo toàn trắng đang nằm ôm hai con vật bị thương mà Bình đã cứu lúc nãy. Cô ta nhìn Bình với đôi mắt thân thiện. Bình lặp lại câu hỏi:

- Cô là ai?

Bấy giờ cô gái mới ngồi lên, cất giọng thật trong trẻo:

- Đây là những lời nói đầu tiên trong đời tôi, bởi từ nhỏ tôi đã bị câm cho tới lúc chết. Mà khi đã chết rồi thì đâu có dịp nói chuyện trực tiếp với ai. Chào anh, tôi là con ma giữ nhà này! Đúng hơn là ở nhà này để chờ ngày đòi nợ!

Bình nghe lạnh từ sống lưng, anh hơi mất tự nhiên:

- Cô... cô chính là con gái ông già Tư?

Cô ta bước xuống giường, vẫn nhìn Bình với nụ cười:

- Đúng là tôi phải giữ lời hứa giữa cha tôi với anh, tôi phải tối tối tới đây để giúp anh công việc nhà... Nhưng giờ đây thì không thể rồi, tôi vừa mới đòi được món nợ mạng sống mà tôi phải chờ đợi bấy lâu nay. Con nợ của tôi đang ở trên lầu, lát nữa anh lên sẽ biết là ai. Còn anh, đúng ra anh cũng đã phải trả giá cho sự ngạo mạng lẫn liều mạng của mình! Nhưng vừa rồi, bằng tấm lòng nhân hậu, bằng nghĩa cử của một con người không có máu ác, qua việc anh cứu hai con vật yêu của tôi, nên tôi tha cho anh. Vậy sau khi giải quyết xong chuyện cái xác trên lầu, anh có thể đi hay ở tại ngôi nhà này là tùy anh, tôi không có quyền ngăn anh nữa. Mà suy cho cùng, anh là người xứng đáng làm chủ ngôi nhà này hơn.

Cô ta nói xong định bước ra ngoài, nhưng khi tới ngang cửa, cô ta quay lại nói tiếp:

- Anh cũng nên rõ câu chuyện mà bà chủ quán kể cho anh nghe lúc nãy. Người hại tôi chết chính là ông chủ họ Dương tên Đoàn! Chính lão ta đã cưỡng hiếp tôi rồi ngụy tạo cái chết treo cổ của tôi! Tôi làm ma chỉ để đòi mạng lão ta, nhưng lâu nay lão trốn biệt, giờ mới vác xác về đây chịu tội...

Cô ta thoắt cái đã không còn thấy bóng!

Bình vội chạy lên lầu thì thấy có một gian phòng mở toang cửa, anh nhìn vào và thét lên:

- Bác Đoàn!

Thì ra ông Dương Đoàn, cha của Dự đã treo cổ chết tự lúc nào rồi!

Vừa khi ấy từ dưới nhà có tiếng chuông điện thoại reo vang. Bình chạy xuống nghe và nhận ra giọng của Dự ở đầu dây bên kia:

- Bình hả? Ba mình vừa điện thoại về cho hay sáng nay ông sẽ ghé lại chỗ cậu đó. Ông có vẻ kích động lắm, có gì cậu coi chừng ông ấy với. Mình sẽ lên ngay trưa nay.

Bình định báo tin cho bạn, nhưng Dự đã cúp máy.

Đứng lặng người một lúc, cuối cùng Bình nói đủ cho mình nghe:

- Đúng ở đây có ma thật...
 
HẾT

Sự đời cà khịa cái chơi
Khi vui muốn khóc, khi cười buồn tênh!
0
Truyện Tổng tập truyện ma của Người Khăn Trắng

Đã được mang vào thư viện

Cảm ơn Soccon nhiều nha

và chúc Soccon năm mới 2012 vạn sự như ý









0
HỒN MA LIÊN CHI

Thấy đò đã rời khỏi bến khá lâu rồi mà anh chàng vẫn còn ngồi mãi bên ly nước có một mình, bà Sáu chủ quán cất tiếng hỏi:

- Ủa, sao cậu không về chuyến đò vừa rồi? Đó là chuyến cuối về Tân Thành, cậu không đi thì chẳng còn chuyến nào nữa. Trời sắp tối rồi đó.

Anh chàng bấy giờ mới ngẩng lên cười gượng:

- Dạ, cháu chờ...

Bà chủ quán đang lúc rảnh việc, nên bước tới kéo ghế ngồi gần và hỏi, vẻ tò mò:

- Cậu chờ ai khi chẳng còn chuyến đò nào?

- Nhưng, có thể người ta cũng tới ngồi chờ như cháu.

Bà chủ quán cười ngất trước sự ngây ngô của anh chàng ra dáng học trò này:

- Cậu đi học ngoài tỉnh phải không? Vậy nhà ở đâu bên kia sông, hay ở làng nào phía dưới?

Anh chàng lắc đầu:

- Dạ không. Nhà cháu không ở vùng này.

Bà Sáu ngạc nhiên:

- Cậu không ở vùng này mà còn ngồi đây khi trời sắp tối, bộ có nhà quen ở gần sao?

Anh ta lại lắc đầu:

- Dạ, cũng không.

Tưởng anh ta đùa, bà Sáu trợn mắt:

- Tôi hỏi thật mà cậu cứ đùa! Quán tôi cũng sắp dẹp rồi, không còn chỗ đâu mà cà kê đó.

Chàng trai bây giờ mới đứng lên, móc tiền trả và nói:

- Tưởng dì còn bán thì cháu đợi bạn, còn không thì cháu xin đi.

Thấy cậu ta có vẻ thật thà, bà Sáu không nỡ:

- Nói vậy chứ tới hơn sáu giờ tôi mới dẹp tiệm. Mà tôi hỏi thật, cậu đợi ai vậy?

- Con gái ông Cả Dư.

Lời anh chàng vừa dứt thì bà Sáu há hốc mồm, vừa bước lùi mấy bước. Giọng run như lên cơn sốt rét:

- Cậu... cậu là...

- Cháu là bạn học của cô ấy hồi mấy năm trước. Vừa rồi gặp lại, cô ấy có hẹn với cháu ở bến đò này.

- Cô ấy tên Liên Chi phải không?

- Dạ đúng.

Thật ra bà Sáu hỏi cũng bằng thừa, bởi nhà ông Cả Dư chỉ có cô con gái duy nhất, đâu có người thứ hai.

- Cậu... cậu gặp cô ấy lâu chưa?

- Dạ, mới tuần rồi.

Câu trả lời của cậu ta không ngờ lại khiến cho bà chủ quán tái mặt! Bà nhìn vị khách trẻ mà như nhìn một con quái vật. Phải vài mươi giây sau, bà mới lùi được hẳn vào quầy hàng và bất thần nói:

- Tôi dọn hàng, nghỉ bán!

Bất ngờ trước thái độ của bà ta, nhưng chàng trai vẫn lịch sự trả tiền xong, cúi chào và bước ra khỏi quán. Thay vì đi trở lại là con đường anh ta tới lúc nãy, đàng này anh chàng lại bước thẳng xuống bờ sông, nơi con đò đã rời bến, bỏ lại bến nước vắng lặng, đìu hiu...

Trước khi đi khuất, anh chàng còn quay lại dặn với:

- Nếu lát nữa có cô ấy tới và hỏi Thành Tâm, thì dì làm ơn nói cháu đi ngắm cảnh ở bờ sông một lát.

Anh chàng không để ý, lúc ấy bà chủ quán vừa dẹp hàng vừa run rẩy. Miệng bà ta cứ lẩm bẩm:

- Con Liên Chi... con Cả Dư! Liên Chi...

Chỉ vài phút sau thì quán đã được đóng cửa. Chẳng ai hiểu vì sao bà chủ quán lại hấp tấp rời quán và đi rất nhanh như chạy trốn chỗ đó...

Khi ấy trời chưa tối. Và hình như bà chủ quán nhớ lầm. Thật ra còn một chuyến đò nữa mới là chuyến cuối. Bởi lúc bà ta vừa rời quán, chừng mười phút sau thì từ bên kia sông, con đò đã trở lại. Trên đò chỉ duy nhất một người khách.

Vừa bước lên bờ, vị khách nữ duy nhất đó quay khắp nơi tìm, và tỏ ra thất vọng khi thấy quán đóng cửa. Cô lẩm bẩm:

- Sao hẹn mà không tới?

Chợt nhìn ra bờ sông, cô reo lên:

- Kia rồi!

Cô bước ngay ra đó và bắt gặp người đang đợi mình ngồi ngắm sông nước.

- Sao lại ngồi đây?

Thành Tâm quay lại và reo lên:

- Cứ tưởng là tối nay phải ngủ bờ ngủ bụi rồi chứ!

Họ nắm tay nhau mừng khôn xiết kể, và anh chàng sôi nổi như trẻ con:

- Nào, để anh ngắm Liên Chi xem, có gì thay đổi không?

Cô gái ấy chính là Liên Chi. Cô chỉ xuống xuồng rồi bảo:

- Chúng ta đi ngay, kẻo mưa tới.

Con đò chợt quay trở lại. Liên Chi giải thích:

- Đúng ra là hết đò rồi. Đây là ghe nhà, em đặc biệt ra đón anh. Ta đi nhanh về kẻo không kịp.

- Bộ nhà xa lắm sao?

Đưa tay chỉ về phía hạ nguồn:

- Ở cách đây ba cây số.

Chiếc đò lại đi ngược về phía thượng nguồn, Tâm ngạc nhiên hỏi:

- Ủa, sao mình lại đi về hướng này?

Con đò cứ băng băng tiến lên phía nước ngược. Nghe Tâm hỏi, nhưng Liên Chi vẫn không nói gì, mãi lát sau cô mới lên tiếng:

- Mình tìm chỗ riêng tư chứ về nhà toàn người lớn không, làm sao mình vui chơi thoải mái được!

Nghe có lý nên cho dù con đò có đi hơn nửa tiếng lên phía nước ngược, Tâm vẫn bình thản chờ. Mãi đến khi thấy trời bắt đầu tối, anh mới lo lắng hỏi:

- Sắp tới chưa?

Bàn tay mát rượi của Liên Chi đặt lên vai Tâm, giọng nàng nhẹ như hơi thở:

- Không sợ phải ngủ bờ bụi đâu. Tới nơi rồi!

Chiếc xuồng tấp vào một nơi mà chưa kịp nhìn lên, Tâm đã biết là rất vui. Bởi tiếng nhạc réo rắt từ trên vọng xuống cho Tâm biết là có một cuộc vui đang diễn ra nơi ấy.

- Bộ đông người lắm sao?

- Có ai đâu mà đông?

- Sao tiếng nhạc rộn rã quá, chắc là đông người đang vui đó?

Liên Chi xua tay:

- Không có ai ngoài chúng mình ra. Đây là ngôi nhà mát của ba Liên Chi. Hầu như không có ai ở. Kể cả ông quản gia già chuyên lo chuyện nhà mình cũng vừa cho nghỉ. Chỉ có chúng ta thôi, và Tâm sẽ là người phục vụ cho Liên Chi đấy nhé!

Anh chàng vui ra mặt:

- Có làm hầu phòng hay đầy tớ sai vặt cũng được miễn phục vụ cho nàng công chúa là kẻ này xin tình nguyện!

Liên Chi nắm tay Tâm chạy thẳng lên bờ, mãi đến khi đến trước một ngôi nhà lớn, Tâm mới chợt nhớ và hỏi:

- Người chèo đò lúc nãy đâu?

Liên Chi nhéo anh một cái đau điếng:

- Cứ lo người chèo đò mà không để ý gì tới người ta cả! Nãy giờ chưa thấy hỏi thăm một tiếng.

Tâm chợt nhớ, anh cười gượng:

- Mình nghĩ đã gặp nhau rồi, hỏi cũng bằng thừa...

Anh siết chặt tay người yêu và bất chợt kêu lên:

- Sao em lạnh quá vậy?

Nàng cười khúc khích:

- Tại vì... nhớ!

- Xạo.

Họ đuổi bắt nhau trong ngôi nhà rộng thênh thang mà chẳng gặp ai khác. Đúng như cô nàng nói, có lẽ người nhà không có mặt. Liên Chi chỉ lên lầu bảo:

- Ngày trước cả nhà em ở đây, sau mới chuyển về dưới kia, nên trên lầu em còn căn phòng với đầy đủ tiện nghi. Nếu cần, sau này khi có chồng em dùng làm nơi... động phòng hoa chúc!

Nàng nói chơi mà như thật, vừa liếc mắt sang Tâm, khiến anh chàng nghe rộn lên trong lòng niềm vui khó tả.

- Lên đây!

Nắm tay Tâm, nàng kéo đi khá tự nhiên, như hai người yêu nhau từ lâu. Mặc dù cả hai chỉ mới gặp lại nhau vài tuần trước đây, sau hơn năm năm xa cách, kể từ khi học lên trung học đệ nhất cấp.

- Đây là phòng ngày trước của mẹ. Còn kia là phòng của dì út, phòng của dì Năm, còn phòng này là của... em.

Căn phòng được nàng giới thiệu là phòng của mình, khi vừa mở cửa bước vào Tâm đã hốt hoảng kêu lên:

- Có cái gì!

Một bầy dơi quạ từ trong bay ra khiến Tâm phải né sang bên, bởi chúng quá đông!

- Sao chúng vào được vậy?

Trong lúc Tâm chú ý đàn dơi thì Liên Chi lại bình thản, cô còn xua chúng ra nhanh, rồi quay sang bảo Tâm:

- Nhà không người ở mà...

Cô nàng định đóng cửa lại ngay thì chợt Tâm nhìn thấy gì đó bên trong phòng, anh ngăn lại:

- Có cái gì kìa!

Theo đà đẩy của Tâm, cánh cửa phòng được mở hẳn ra và... để lộ một bộ xương người còn nguyện vẹn chân tay, đầu cổ!

- Trời ơi!

Tâm kêu lên và lùi lại mấy bước. Liên Chi chỉ khựng lại rồi mím chặt đôi môi. Tưởng nàng sợ, Tâm vội nói:

- Em đóng cửa lại và ta báo động cho mọi người!

Nhưng thật bất ngờ, nàng lại lắc đầu:

- Không cần. Thôi, ta xuống dưới nhà!

Nàng lại kéo tay Tâm đi nhanh như lúc lên. Xuống tới dưới rồi vẫn chẳng nghe nàng nhắc tới chuyện bộ xương người, Tâm dò xét:

- Bộ lâu lắm rồi em không tới đây sao?

Nàng nhẹ lắc đầu, rồi nói lảng sang chuyện khác:

- Làm hết cả tiếng nhạc, mất vui!

Tâm nhớ ra tiếng nhạc lúc đầu mà nãy giờ im bặt, anh hỏi:

- Ờ, sao không còn nghe tiếng nhạc như lúc mình mới tới?

- Bay hết rồi còn đâu!

Tâm ngạc nhiên:

- Cái gì bay?

- Mấy con dơi!

Nàng trả lời xong có lẽ thấy chưa rõ, nên lại tiếp:

- Chính mấy con dơi hòa tấu đã tạo ra âm thanh mà thoạt nghe ai cũng tưởng đó là tiếng nhạc!

Đây là lần đầu tiên Tâm nghe lý giải như vậy, anh tỏ ra hoài nghi:

- Xưa nay anh chưa từng nghe chuyện lạ này. Thì ra những con dơi ở đây khác thường...

Anh còn định hỏi nữa thì bỗng Liên Chi tỏ ra bồn chồn và nói:

- Anh đợi em ở đây, em hơi khó ở, cần vào trong một lát...

Khi cô nàng đi rồi Tâm mới để ý quan sát kỹ chung quanh. Ngôi nhà nói là ít người ở, nhưng tường và trần nhà, sàn nhà đều sạch bóng, không có lấy một chút bụi hay mạng nhện nào.

Mười phút...

Hai mươi phút trôi qua...

Tâm bắt đầu sốt ruột khi chưa thấy Liên Chi trở lại. Chờ đến nửa giờ, Tâm bước ra sau nhà thì cũng chẳng thấy ai và cũng chẳng có phòng vệ sinh riêng ở đó.

- Liên Chi đi đâu?

Sự tò mò cộng với một động lực vô hình thúc đẩy, Tâm lại bước trở lên lầu. Anh nhẹ bước tới chỗ căn phòng phát hiện ra bộ xương lúc nãy, và từ từ đẩy cửa vào...

- Trời ơi!

Hình ảnh trước mắt làm cho Tâm kinh hãi lùi lại. Liên Chi đang dùng dao chém xối xả vào bộ xương người nằm dưới sàn! Và quái lạ làm sao, máu từ trong hài cốt kia lại tuôn chảy ra có vòi!

Liên Chi hình như quá say sưa, nên không để ý thấy Tâm. Nhờ vậy, anh chàng mới ba chân bốn cẳng chạy xuống lầu, rồi bất kể bên ngoài trời tối, anh phóng đại xuống sông, mặc dù không hề biết lội!

Tâm rơi xuống một đáy nước và lạnh buốt, anh nhắm mắt lại khi nghĩ tới cái chết. Nhưng như thế này còn sướng hơn là chứng kiến hình ảnh người con gái anh thương đang vung dao chém loạn xạ như thế.

Tâm nghe văng vẳng như có ai gọi mình, nhưng giây phút đó anh lại nghĩ tới chuyện kinh hoàng kia, nên không hề cho rằng có ai đó gọi với thiện ý...

Có lẽ đêm đã khuya...
 
***

Bà chủ quán phải gọi lại đến lần thứ mười:

- Cậu gì ơi! Cậu...

Lần này thì may mắn, Tâm mở mắt ra. Anh nhìn quanh, thấy trời vừa mờ sáng và có mấy người đứng cạnh mình thì lại hốt hoảng la lên:

- Ma!

Giọng bà Sáu trầm ấm:

- Tôi đây chứ ma cỏ gì. Cậu nhớ tôi không, chủ quán ở bến đò nè!

Tâm bắt đầu trấn tĩnh lại, anh cố nhìn thật kỹ và reo lên:

- Đúng là dì rồi! Nhưng sao...

Bà đưa tay ngăn không để Tâm nói tiếp:

- Cậu còn mệt lắm, để lát nữa hãy nói. Tôi giải thích cho cậu hiểu, hồi hôm này, nếu tôi và mấy người nữa tới không kịp thì cậu không chết đuối cũng chết vì... ngôi nhà đó!

Tâm lần nhớ lại chuyện đêm qua, anh chợt hỏi:

- Liên Chi đâu?

Bà Sáu lắc đầu:

- Hôm qua vừa nghe cậu nhắc tới tên con nhỏ đó là tôi sợ thất thần rồi! Vậy mà cuối cùng cậu cũng bị lọt vào tay nó. Nó là...

Một người đàn ông tên Chín Lành, chồng của bà chủ quán vội lên tiếng:

- Vợ tôi bán quán ở đó đã chứng kiến cả chục trường hợp giống như cậu. Nhưng chưa có người nào lọt được tới ngôi nhà hoang ấy, bởi vậy khi nghe bà ấy về báo lại tôi đã đoán ắt có chuyện chẳng lành, nên gọi thêm mấy người nữa đi theo cậu tới nơi ấy. May quá...

Tâm vẫn còn nhớ lờ mờ, hỏi:

- Vậy ngôi nhà đó có gì? Mà cô Liên Chi ấy là con của một bá hộ vùng này mà?

- Điều đó thì đúng, nhưng là đúng cách đây gần sáu năm, chứ bây giờ cô ta là... là...

Bà Sáu chen ngang vào:

- Là ma!

Tâm ngơ ngác:

- Sao lại là ma?

- Cậu vào nhà đó không gặp điều gì sao?

Muốn giấu chuyện về Liên Chi, nhưng Tâm đã được nghe chính bà Sáu kể thêm:

- Nó là con gái độc nhất của ông Cả Dư trong làng này. Ngôi nhà đó được xây lên cách đây năm năm và vừa mừng tân gia thì xảy ra chuyện động trời, khiến nó bị bỏ hoang cho đến nay!

- Nhưng cô ấy... tôi mới gặp lại mấy tuần nay mà?

- Cô ta đã chết cách đây năm năm rồi, chết trong vụ thảm sát nhà Cả Dư lần đó!

Những người chung quanh đó đều nói y như vậy, nhưng Tâm có vẻ còn ngờ ngợ... cho nên cuối cùng ông Chín Lành bảo:

- Được rồi, tôi sẽ đưa cậu tới tận nhà Cả Dư bên Tân Thành, rồi cậu sẽ nghe hết mọi chuyện.

Trước khi đi, Tâm cũng kể cho họ nghe chuyện quan hệ giữa anh và Liên Chi:

- Ngày trước chúng tôi học chung với nhau ở trường tỉnh. Khi lên trung học thì chuyển lên Sài Gòn nên cả hai không còn học chung nữa. Bỗng cách đây ít lâu tôi nhận được tin qua một người bạn, họ nói rằng Liên Chi muốn gặp tôi để gửi trả lại một kỷ vật thuở học trò. Ngày trước tôi và Liên Chi vốn có tình ý với nhau, nên khi nghe tin nhắn như thế, tôi đã tìm gặp cô ấy và nhận được lời cô ấy mời về đây chơi nhân dịp nghỉ hè.

Bà chủ quán thở dài:

- Con trai nào cũng được cô ấy mời như vậy cả. Tôi đã ngăn chặn được bốn, năm trường hợp rồi, chỉ có duy nhất một cậu trước đây mà tôi sợ cậu cũng giống như cậu ta...

Tâm nhớ lại bộ xương trong phòng Liên Chi, anh kêu lên:

- Phải chăng chính là anh ta?

Rồi Tâm giục:

- Chú đưa cháu tới nhà cô ấy xem sao?
 
***

Một ngôi nhà ngói còn đồ sộ hơn là ngôi nhà đêm qua, Tâm phải buột miệng khen:

- Nhà lớn quá!

Chín Lành chép miệng:

- Vậy mà cũng bỏ hoang từ lâu rồi đó cậu!

Tâm ngỏ ý muốn vào nhà, Chín Lành lưỡng lự một lúc rồi cũng đồng ý:

- Tôi vào với cậu, nếu có ai gặp thì cậu nói giùm một tiếng là mình vào chỉ để xem, chứ không hề có ý trộm đồ đạc gì trong đó.

Ở gian giữa nhà có một bàn thờ lớn, trên đó có bốn bức ảnh chân dung đặt song hàng nhau. Vừa nhìn thấy, Chín Lành nói ngay:

- Hai người lớn là ông bà cả, con người kế bên thì cậu biết rồi, đó là cô Liên Chi, người con trai bên bìa trái đó chính là... kẻ gây ra tai họa cho nhà họ!

Tâm ngơ ngác:

- Kẻ gây ra họa sao lại được thờ chung?

- Đó mới là chuyện để cả làng này bàn tán.

Sau khi xem qua hết ngôi nhà, dẫn Tâm ra ngoài. Chín Lành kể:

- Tôi trước đây là quản gia cả hai ngôi nhà, bởi vậy tôi biết rành về nó. Ông bà Cả chỉ có mỗi cô con gái cưng là Liên Chi, nên khi có người tới dạm hỏi là hứa gả liền. Anh chàng kia chính là chàng rể tương lai của họ. Tuy nhiên, trong lúc hôn lễ chưa cử hành thì vào một đêm tiệc tùng ở ngôi nhà mới xây, đã xảy ra một thảm kịch kinh hoàng!

Chính chàng rể tương lai đó trong cơn say xỉn đã lộ nguyên hình là một tay đào mỏ. Anh ta lớn tiếng cự cãi với ông bà Cả, đòi phải hứa chia cho anh ta toàn bộ tài sản thì anh ta mới chịu tiến hành lễ cưới! Còn không thì anh ta sẽ bỏ, không cưới! Trong khi đó thì cô Liên Chi đã lỡ ăn nằm với anh ta rồi, mà hình như cũng đang có thai nữa...

Chín Lành ngừng lại một chút rồi kể tiếp, giọng bùi ngùi nói:

- Khi bị ông bà Cả từ chối, rồi bị Liên Chi vạch mặt thì anh chàng đó nổi điên, cầm dao chém chết hết cả nhà rồi sau đó tự sát theo. Tôi là người đưa hài cốt nhà ấy về thờ ở đây, ban đầu chỉ có ba người thôi. Nhưng tay hung thần kia đã thành quỷ thành tinh, cứ hiện về đòi phải đặt ảnh của anh ta lên chung bàn thờ mới chịu!

Ông ngừng lại, thêm một lần thở dài:

- Anh ta thành tinh thành quỷ nên cả làng này ai cũng sợ, cô Liên Chi bị anh ta điều khiển, nên mấy năm nay cứ dụ các chàng trai quen biết về, để rồi sau đó hạ sát. Theo tôi biết thì cô ta làm như vậy là bởi anh chàng kia ghen, không muốn ai lui tới nhà này. Cách đây gần một năm, có một chàng trai nghe nói trước đây cũng là bạn học, theo Liên Chi về ngôi nhà đó, để rồi chẳng bao giờ thấy trở ra...

Tâm buột miệng:

- Anh ta đã thành bộ xương khô trong đó rồi.

- Đáng lẽ đã tới phiên cậu ngày hôm qua! Theo tôi dự đoán, sở dĩ cậu thoát chết được có lẽ nhờ đàn dơi quạ bay ra lúc cậu vào nhà!

Tâm ngạc nhiên:

- Đúng là có đàn dơi quạ! Nhưng tại sao chúng lại cứu cháu?

- Tôi đã chứng kiến nhiều lần, hễ ai chưa tới số chết thì khi mở cửa căn phòng có bộ xương ra thì cả đàn dơi sẽ bay hết ra ngoài, điều đó có nghĩa là người ấy thoát nạn!

Tâm ngẩn người ra rất lâu. Những gì anh đã chứng kiến, cùng với lời kể của Chín Lành đã làm cho Tâm cảm giác lạnh cả người…
Sự đời cà khịa cái chơi
Khi vui muốn khóc, khi cười buồn tênh!
0
2. GIỌT MÁU CÒN LẠI

Mặc dù đã về hưu từ nhiều năm, nhưng quan tri phủ họ Hoàng, tục gọi Hoàng Nhân đại gia, vẫn được mọi người biết tiếng. Dù là tiếng ác, nhưng dẫu sao không một ai ở phủ Diên Sơn, vùng ven biển này lại không quen tên, thuộc nết ông ta. Họ Hoàng còn khá nổi tiếng ở khoảng dù giàu sang tột bậc, chức trọng quyền cao, cái gì cũng có, chỉ tiếc một đều là không có con! Đây là điều bất hạnh duy nhất mà vợ chồng ông ta mắc phải. Đến nỗi khi ngã bệnh nặng, dẫu thầy thuốc cấm đoán, nhưng suốt mấy tháng trời nằm trị bệnh, ông ta cũng bắt bà vợ trẻ hơn ông đến hơn chục tuổi phải ngày đêm ở bên cạnh. Một phần để hầu hạ, chăm sóc bệnh, nhưng mặt khác, quan trọng hơn là để giúp lão ta có con!

Với người khác thì chuyện có một vài đứa con nó dễ như ăn cơm, uống nước hằng ngày, vậy mà lão Hoàng lại cực khó, đúng hơn là nan giải vô cùng!

Biết chồng bệnh, nhưng vì thấy ông quá thiết tha, gần như là lời trối trăng mỗi khi yêu cầu bà cho lão một đứa con nối dõi. Hoàng phu nhân, tên tục là Nguyệt Ánh đã phải hứa để chồng yên tâm:

- Mình cứ ráng uống thuốc, nhất là thuốc bổ, em sẽ cố có kết quả kỳ này!

Và hình như trời không phụ lòng lão ta, một tuần trăng sau Hoàng phu nhân báo tin:

- Em đã... có dấu hiệu!

Đang rất yếu sức, vậy mà khi nghe tin ấy, lão Hoàng đã bật dậy ngay, hổn hển nói:

- Nếu đúng vậy... tôi... tôi tri ân bà. Tôi...

Lão chỉ nói được có vậy rồi ngã vật ra nằm thiêm thiếp. Đó là hậu quả của nhiều lần thức dậy nửa đêm (theo lời dặn của thầy thuốc) ráng sức lên đỉnh vu sơn đi tìm con!

Lão Hoàng qua đời chỉ sau đó một tuần. Bà Nguyệt Ánh thương khóc chồng thì ít mà lo cho cái thai mới tượng hình thì nhiều. Chẳng hiểu sao, kể từ khi bà cấn thai thì hầu như đêm nào cũng thấy ác mộng. Mà những cơn ác mộng đều giống nhau: bà thấy một đứa bé khôi ngô tuấn tú cứ đứng ngay trước mặt bà mà cười và đòi đánh!

Khi tỉnh dậy, bà thắp nhang khấn vái. Mỗi lần như vậy thì bà yên được vài giờ, rồi sau đó lại tiếp tục bị ác mộng hành hạ.

Chuyện tưởng chỉ có vậy. Nào ngờ khi cái thai được chín tháng mười ngày theo thông lệ thì bà Ánh chẳng có dấu hiệu gì của một cuộc chuyển dạ, chờ thêm chục ngày nữa vẫn chẳng có tín hiệu. Đi khám thai thì thầy thuốc sau khi xem mạch đã phán một câu gọn lỏn:

- Chưa có dấu hiệu sinh, ít nhất cũng một tháng nữa!

Bà Nguyệt Ánh cãi lại:

- Tôi tính ngày tháng rất kỹ, sao lại có chuyện trễ đến như vậy?

Vị lương y quả quyết:

- Đó là tôi nói sớm, chớ thật ra chẳng hề có một biểu hiện gì về sinh sản trong vòng một vài tháng tới cả!

Không tin ông thầy thuốc này, bà cho gia nhân đi rước những lương y nổi tiếng hơn về. Sau khi khám kỹ, họ cũng nói y như vậy:

- Chưa có dấu hiệu sinh!

Có đến mười thầy thuốc đã nói như vậy cho nên bà Ánh không còn nhờ ai nữa. Bà tự an ủi:

- Có lẽ do mình lớn tuổi rồi nên mang thai không như người bình thường. Thôi thì mặc, lúc nào sinh cũng được miễn không có biến chứng gì thì không cần lo.

Kết quả thật ngoài sức tưởng tượng: Bà Ánh mang thai đến tháng thứ mười bốn thì có triệu chứng thất thường.

Bà ta nghe đau bụng rồi kêu gào đau đớn. Cuộc chuyển dạ sinh kỳ lạ đã trải qua năm ngày ròng lăn lộn, kêu la mà bà ta vẫn chưa sinh được! Thật ra đó không phải là chuyển bụng sinh.

Một buổi chiều, trong lúc người nhà đi vắng thì có một vị đạo sĩ mặc đạo bào màu đen rất lạ, đột ngột ghé qua. Vừa bước vào tới cửa ông ta đã lên tiếng:

- Ở đây nghiệp chướng nặng quá, sao không giải nó đi?

Bà Ánh đang nằm kêu la trên ghế trường kỷ, nghe vậy ngẩng lên nhìn và khó chịu khi thấy người lạ. Tuy nhiên, lúc đó vị đạo sĩ lại lên tiếng:

- Nghiệp chướng nơi này nặng lắm, không khéo lại nguy đây!

Gợi tò mò, Nguyệt Ánh hỏi:

- Nghiệp chướng gì?

Ông ta chỉ thẳng vô bụng của bà Ánh, bảo:

- Ở đây!

Nghĩ lão ta điên, bà Ánh quát lớn:

- Ông ở đâu vào đây nói nhảm, đi đi!

Mặc cho bà ta đuổi, lão đạo sĩ vẫn trầm tĩnh nói tiếp:

- Tôi chẳng mắc mớ gì chuyện này, nhưng khi đi ngang qua đây phát hiện được, tôi chẳng thể làm ngơ. Bà sắp gặp tai nạn lớn, một là bà chết, hay là... đứa bé trong bụng phải chết!

Vừa nghe lão ta nói tới đó, bà Nguyệt Ánh đã thét lên:

- Nói bậy!

Rồi bà ta ôm lấy bụng của mình, như sợ bị xâm hại.

- Đây là đứa con mà chồng tôi lúc sắp chết cũng muốn có nó cho bằng được. Ông chẳng biết gì thì hãy đi ra đi!

Bà lớn tiếng, đáng lý phật ý, nhưng vị đạo sĩ vẫn không tỏ ra chút phiền lòng, ông tiếp tục nói:

- Mạng sống của bà tùy thuộc vào vật trong bụng mà bà đang mang.

- Ông im đi!

Bà Nguyệt Ánh cố đứng lên để đi vào trong, tránh phải nghe người khách lạ này nói nữa. Đứng nhìn theo bà, vị đạo sĩ khẽ lắc đầu:

- Nghiệp chướng khó trừ!

Nói xong, ông lặng lẽ bỏ đi. Khi ra tới ngoài rồi ông vẫn còn ray rứt nên quay vào nói, cố tình cho chủ nhà nghe:

- Vẫn còn chưa muộn! Nếu bà muốn sống thì chiều nay tìm tôi ở bến đò.

Ông ta đi rồi, lúc này trong nhà bà Ánh bỗng gào lên:

- Trời ơi!

Bà kêu được mấy tiếng đó rồi ngất đi.

Đến chiều, lúc vừa tỉnh lại thì bà nôn nóng đòi người nhà dẫn đi ra bến đò. Bà dặn:

- Phải tìm cho được lão đạo sĩ. Ông ta sẽ làm hại con tôi.

Lúc ra tới chỗ bến vắng, bà đã gặp ngay ông đạo sĩ mà không cần tìm. Vừa trông thấy bà, ông chỉ một chiếc xuồng nhỏ và bảo:

- Bà hãy xuống xuồng đi, nó sẽ giúp bà được toại nguyện. Vẫn còn kịp!

Bà Nguyệt Ánh nhìn thẳng vào ông ta, giọng giận dữ:

- Tôi tìm để hỏi tội ông, tại sao ông cứ muốn hại con tôi? Lúc hôn mê, tôi được nó báo là ông đang tìm cách giết nó. Vậy là sao?

Vị đạo sĩ nghiêm giọng:

- Chỉ bởi tôi muốn cứu bà. Bà đâu biết thứ bà mang trong người là mối họa lớn cho bà, cho cả sản nghiệp của bà nữa! Hãy làm theo lời tôi đi!

Ông nói dứt lời thì bất thần dùng tay đẩy nhẹ, khiến cho bà Ánh mất thăng bằng nhào ngay xuống chiếc xuồng đang không có người. Cũng may là dù ngã bất ngờ nhưng bà chẳng sao, kể cả cái thai trong bụng cũng không hề hấn gì.

Chiếc xuồng không ai bơi nhưng đã tự động rời bến, khiến bà Ánh phải la lên:

- Tôi không biết lội, không biết bơi xuồng, phải kéo tôi vào mau lên!

Vị đạo sĩ vẫn lờ đi, ông ngửa mặt lên trời, lẩm bẩm gì trong miệng mà người đứng gần cũng không nghe được.

Trời đang lặng gió, bỗng sóng nổi lên, rồi gió như lốc xoáy, khiến chiếc xuồng quay như chong chóng. Tiếng của bà Ánh lúc đầu còn la lớn, nhưng chỉ một lúc sau thì im bặt.

Khi gió ngừng thì chiếc xuồng đã tự động cập bến, Bà Ánh hầu như chẳng còn biết gì nữa. Lúc này ông đạo sĩ mới gọi lớn:

- Đưa bà ấy về, nhớ là không được để bà ấy một mình đi ra ngoài.

Dặn xong, ông vừa định bước đi thì bất ngờ ông nghe một tiếng khóc của trẻ con vang lên. Sững sờ giây lát, rồi ông nhẹ lắc đầu thở dài:

- Số kiếp cả thôi! Đành chịu.

Đứa hài nhi do bà Ánh sinh ra trong hoàn cảnh này đáng lý rất lo ngại, tuy nhiên nhìn nó chòi đạp và cất tiếng khóc thì có vẻ bình thường. Giây lát sau nó lại nín khóc và đưa tay quơ quơ như thèm sữa hay khát nước, ông đạo sĩ phải xua tay bảo mấy gia đinh của bà Ánh vừa có mặt kịp thời:

- Hãy mang bà ấy về. Mọi việc là do số trời cả!

Ông bước đi vừa lắc đầu chán nản...
 
***

Bà Nguyệt Ánh dù sinh nở bất thường, nhưng cuối cùng cũng có được một đứa con trai như bà hằng mong đợi. Thằng bé ra đời chậm hơn bình thường đến bốn tháng, nên sau khi sinh đã có những biểu hiện khác người. Nó biết đi khi vừa được sáu tháng tuổi và biết nói như một đứa trẻ lên năm khi mới tám tháng! Điều ấy là bất thường và kỳ lạ, nhưng vì quá thương con, quý trọng giọt máu duy nhất của chồng còn để lại, nên bà Ánh hầu như không quan tâm những gì khác, ngoài tình thương yêu dành cho con, ngày đêm nâng niu chăm sóc cho cậu quý tử của mình.

Khi thằng bé Bảo An đầy năm, bà Nguyệt Ánh chuẩn bị một lễ thôi nôi thật lớn, mời hầu như khắp mọi người trong vùng. Dẫu chồng không còn đương chức, nhất là ông đã chết, nhưng tiếng tăm của nhà họ Hoàng vẫn còn lớn, nên lời mời của bà vẫn được hưởng ứng tích cực.

Mới sáng sớm ngày lễ thôi nôi mà đã có mấy chục người từ những nơi rất xa kéo đến. Đến trưa, tức thời khắc chính thức khai tiệc thì hầu như cái khuôn viên rộng lớn của dinh thự Hoàng Nhân đã không còn một chỗ trống. Trong số khách dự có cả vị đạo sĩ áo đen lần trước. Ông lặng lẽ chen vào giữa đám đông như mọi người, rồi hầu như chẳng còn thấy bóng dáng nữa...

Một đứa bé ở tuổi thôi nôi thì thông thường đều do mẹ hoặc người nhà bế ra để chào khách dự tiệc, nhưng ở đây thì khác. Bởi cậu bé Bảo An đã lớn như một đứa bé lên năm tuổi nên chính nó tự đi ra và bất ngờ đứng lên bàn cất tiếng:

- Chào bà con! Bữa nay bà con xa gần đều có mặt, trong số này có người tốt cũng có kẻ xấu, nên tôi muốn nhìn mặt kẻ xấu trước. Vậy ai là kẻ xấu hãy bước ra!

Dĩ nhiên không ai chịu nhận mình là kẻ xấu, cho nên thằng bé kêu gọi tới lần thứ hai mà vẫn chưa một ai bước ra. Chẳng những thế, trong số khách mời có nhiều người tỏ ra bực bội, tự hỏi, tại sao lại để một đứa nhóc con như thế nói năng hỗn láo, phạm thượng!

- Tư cách gì mà thằng nhỏ này lại ăn nói như thế?

Người vừa lên tiếng chính là anh rể của lão Hoàng. Tuy ông nay đã khá lớn, nên khi giận phát âm có phần run và nghẹn. Ông ta vừa dứt lời thì thằng bé phá lên cười:

- Chờ hoài cuối cùng cũng chường mặt ra. Lão tính tới đây hôm nay là nhằm mục đích khác, chứ đâu chỉ đi dự đám thôi nôi, phải không?

Bị thằng nhóc nói đúng tim đen, nên lão già tên gọi là Sáu Hết quát luôn:

- Tao tới đây đòi món nợ mà ba mày còn nợ của tao ngày trước, mẹ con bay phải trả lại cho tao!

Lão vừa nói vừa bước ra, tới ngay trước mặt bà Nguyệt Ánh và thằng bé Bảo An đưa tay chỉ vào nó:

- Thím dạy con như vậy sao? Nó là con nít, sao đủ tư cách để hoạnh họe người lớn đáng tuổi cô bác nó? Kẻ xấu là sao mà người tốt là thế nào?

Bà Ánh chưa kịp đáp thì thằng bé đã hớt ngang:

- Tốt là không bòn rút nhà này, còn kẻ xấu là tìm cách chống lại nhà họ Hoàng và còn đi vu khống, nói xấu ba tôi nữa. Chính ông đã đi rêu rao là ba tôi ở ác, tham lam đủ điều, ông còn chối không?

Ông Sáu Hết giận đến run người:

- Thằng ranh con hỗn láo. Chính ba mày ngày còn làm quan đã lấy hết đất đai của tao đem bán, rồi còn vu cáo tao là phản tặc, khiến tao bị tù đày nhiều năm trời, gia đình ly tán, sản nghiệp tiêu tan, đây tay trắng lại mang bệnh sắp chết đây!

Chẳng những không nao núng, thằng bé còn ngửa mặt cười vang:

- Vui quá, lại có một thằng hề già ra làm trò! Còn ai là kẻ xấu nữa không, bước ra hết đi.

Noi gương lão Sáu Hết, có đến gần chục người nữa bước ra đứng dàn hàng ngang vừa lên lếng:

- Bữa nay chúng tôi tới đây là để đòi nợ, đòi sự công bằng. Nhà họ Hoàng phải trả ngay đất đai, tài sản cho chúng tôi!

- Còn ai nữa ra luôn!

Giọng thằng bé đầy thách thức, nó lại quay khắp hướng với nụ cười nửa miệng y như một người trưởng thành. Bỗng một người xuất hiện, người mà vừa trông thấy thì bà Ánh đang đứng cạnh con đã phải giật mình.

Đó là ông đạo sĩ mặc đạo bào đen. Bà lắp bắp:

- Ông... ông tới đây làm gì? Đâu có ai mời.

Lão vẫn bình tĩnh:

- Ở đây hôm nay chỉ có một số người được mời, còn lại là những người tới để đòi nợ như quý vị đây vừa nói. Tôi cũng đòi nợ như mọi người đây!

Thằng bé quen thói trịch thượng như nãy giờ, nó nhìn ông đạo sĩ vừa hất hàm:
 
- Ông bước lại gần đây coi!
 
Bà Nguyệt Ánh muốn ngăn con lại nhưng không còn kịp nữa, ông đạo sĩ đã bước tới và với giọng chậm rãi như thường lệ:

- Nghiệt súc quá ngông cuồng! Lần trước ta không cương quyết nên ngươi mới lọt ra đời được, còn bây giờ...

Lão đưa tay lên, từ trong tay áo rơi ra một tấm vải màu vàng, vừa chụp lấy lão vừa hô to:

- Nghiệt súc, biến!

Bị bất ngờ nên thằng bé chới với, đến khi thấy nguy nó chỉ còn biết thụp người xuống. Cũng may vừa khi ấy bà Nguyệt Ánh đã nhanh trí, lấy cả thân mình của bà đè lên con vừa bảo:

- Nằm yên!

Mọi người chỉ nghe một tiếng kêu thét lên sau đó và khi nhìn lại họ đều hốt hoảng, bởi bà Nguyệt Ánh đã nằm bất động, khóe miệng tuôn đầy máu! Trong khi thằng bé thì đã nhanh chân lủi trốn mất trong đám đông khách khứa.

Lão đạo sĩ một lần nữa thở dài:

- Trời hại nhà họ Hoàng này rồi!

Nhiều người chưa hiểu chuyện đã vây quanh ông, hỏi dồn:

- Chuyện gì đã xảy ra vậy? Liệu bà Hoàng có sao không?

Lão đạo sĩ sau khi đưa tay bắt mạch cho bà Ánh đã trấn an:

- Bà ấy không sao, chỉ bị nội thương nhẹ thôi, rồi sẽ tỉnh lại ngay mà.

Rồi lão giải thích thêm:

- Lúc nãy nếu bà ấy không che chở cho nó thì thằng con nghiệt súc kia đã phải tàn đời rồi. Tôi phải ra tay như vậy là chỉ để cứu cái nhà này khỏi họa diệt vong thôi. Nó là oan gia là kết tinh của bao nhiêu oan hồn uổng tử đầu thai về để hại dòng họ Hoàng này táng tận, tiêu vong!

Vài người trong thân tộc vốn không rõ chuyện ác của Hoàng đại nhân ngày trước, nên tỏ ra không đồng tình.

- Dù sao thằng bé cũng là giọt máu hiếm hoi còn lại của họ Hoàng, sao ông làm như vậy?

Lão đạo sĩ lắc đầu:

- Các vị không biết đó thôi, nó đâu phải là người! Không thấy sao, mới có một tuổi mà nói năng hành động như một người lớn và còn hỗn láo, trịch thượng nữa. Nếu để nó tồn tại thì cái nhà này không mấy chốc chẳng còn gì.

- Nhưng dẫu sao...

Vừa lúc đó bà Nguyệt Ánh tỉnh lại, bà quên cả đau đớn gào khóc, kêu gọi con trai:

- Bảo An ơi, chạy đi con! Hãy chạy và trốn đi, đừng để lão ta giết con!

Lão đạo sĩ nhẹ giọng:

- Tôi không giết nó, chỉ muốn thu nạp để tách nó ra khỏi đây. Nhưng tôi đành chịu thất bại, bởi ngoài có bà đỡ cho nó còn được lũ yêu tinh đồng bọn theo rất đông, lần này tôi không làm gì được thì lần sao khó mà thành công. Thôi, tùy bà, tôi xin cáo từ!

Ông đi nhanh ra cửa rồi mất dạng.

Bà Nguyệt Ánh hơi ngượng với mọi người, nên chống chế:

- Do nó là con cầu tự mà, nên tôi cưng chiều, khiến nó hỗn hào. Nhưng trẻ con mà, rồi mình sẽ uốn nắn nó từ từ...

Bà lủi thủi đi vào nhà, miệng cứ gào kêu tên con...
 
***

Bà Nguyệt Ánh không chết, nhưng từ hôm đó bà hầu như hôn mê. Bảo An bỏ đi đâu mất không thấy bóng.

Nhưng trong nhà lại xảy ra những chuyện khá ly kỳ: Bọn gia nhân báo rằng ở phòng ngủ của bà Ánh đêm nào cũng có bóng người ra vào!
 
Bà Ánh hôn mê có đến cả tuần sau. Rồi cuối cùng bà tỉnh lại trong trạng thái như người đau nặng lâu ngày. Người bà gầy rạc sụt cân đến không ngờ, trọng lượng mất đi gần phân nửa!

Người nhà kể chuyện về bóng người ra vào phòng bà mỗi đêm, bà Ánh nhẹ lắc đầu bảo:

- Đâu có ai ra vào. Tôi không ăn uống, cũng không dậy được thì làm sao tiếp xúc với ai.

Khi xem lại đồ đạc trong phòng, bà giật mình:

- Sao mất hết nhiều thứ?

Bà ráng dậy, lần tới chỗ tủ đựng nữ trang tiền bạc thì bàng hoàng:

- Trời ơi. Tiền bạc... nữ trang... không còn...

Bà chỉ nói được mấy tiếng rồi lại ngất. Tôi tớ trong nhà bị nghi là thủ phạm nên cùng tập trung lại, chờ bà hồi tỉnh họ cùng thề thốt:

- Tụi con ở với bà từ lâu nay, không hề dám tham lam gì, xin bà đừng nghi oan!

Bà Ánh dịu giọng hơn thường khi:

- Ta biết ai lấy rồi, các ngươi không phải lo.

Bà nói xong thì ôm mặt khóc nức nở. Đám gia nhân không hỏi, nhưng họ đều có chung nhận định như bà.

Vài người trong số họ nói với nhau:

- Thằng Bảo An chắc là ma quỷ, chứ người gì mà mới một tuổi đã lớn xác và khôn lanh như vậy? Chính nó đó chứ không ai, nó đã vào phòng bà chủ để lấy cắp tiền.

- Nhưng nó còn con nít thì lấy nhiều tiền để làm gì? Nếu có, chắc là cũng do ai đó xúi giục. Mà mấy hôm nay nó đi đâu không thấy về, hay là đã bị ông đạo sĩ bữa đó làm gì rồi?
 
Họ lo lắng cũng bằng thừa, bởi ngay chiều hôm đó Bảo An ra về. Nó khinh khỉnh với mọi người trong nhà, cũng chẳng lên phòng thăm mẹ, nó vào phòng riêng vốn là thư phòng của ông Hoàng ngày trước và đóng cửa lại. Khi họ đem chuyện báo lại cho bà Ánh nghe, chẳng những không rầy la, bà còn dặn mấy đứa phục vụ:

- Tụi bay phải canh xem cậu cần gì thì phục vụ cho cậu. Đừng nói gì chuyện mất đồ hết.

Vú em của Bảo An là Thị Hai nhận trách nhiệm chuyện đó. Chị lên phòng gõ cửa thì từ trong, Bảo An nạt lớn:

- Để tao yên!

Thị Hai lên tiếng:

- Tôi nè cậu Hai, nếu cậu cần gì thì cứ gọi, tôi nằm ngủ ở ngay ngoài này chờ phục vụ cậu!

Giọng của Bảo An dịu lại:

- Thị Hai hả, ừ được. Mày vào đây tao bảo.

Thị Hai đã là vú nuôi nó từ lúc mới lọt lòng, cả việc bú mớm chị cũng đích thân lo, bởi chị là gái một con, từng có sữa con so rất ngon, bởi đứa con mới sinh ra của chị đã phải bỏ do bạo bệnh.

Nghe giọng điệu không bình thường của Bảo An, chị có hơi lạ, nhưng không nghĩ gì khác, chị đẩy cửa bước vào phòng.

- Gài cửa lại...

- Dạ, cậu Hai.

Việc phải xưng dạ thưa với một thằng nhóc đã là kỳ, lại còn phải nghe nó kêu mình bằng mày này mày nọ nữa, Thị Hai bực lắm nhưng ráng chịu đựng bởi thân phận tôi đòi.

- Lại gần đây bóp chân cho tao coi, đi qua nay mỏi nhừ cả hai chân!

Thị Hai đẩy đưa:

- Bà kiếm cậu khắp nơi, bà khóc thương vì nhớ cậu đến phát bệnh nằm liệt giường mấy hôm nay.

Chợt nó hỏi:

- Bà ấy có hỏi gì tôi không?

- Dạ có, à mà không! Bà chỉ hỏi không biết cậu đi đâu.

- Vậy thôi sao? Còn chuyện tiền bạc...

Thị Hai ngạc nhiên:

- Cậu hỏi tiền bạc gì? Bộ cậu...

Bỗng nó phá lên cười:
 
- Hỏi chơi vậy chớ tôi biết bà ấy phát hiện ra vụ mất tiền, và bà ấy nghi cho tôi lấy! Mà haha... tôi lấy thì đã sao, bà ấy còn thiếu gì tiền ba tôi để lại nữa!

Thị Hai trố mắt:

- Cậu Hai lấy thật hả?

Thằng bé trợn mắt nhìn lại Thị Hai:

- Làm gì ngạc nhiên dữ vậy? Mày có muốn xài không tôi cho?

Thị Hai hốt hoảng:

- Cậu Hai đừng làm tôi sợ! Tôi không bao giờ dám...

Thằng bé bất thần vùng dậy, chụp lấy Thị Hai kéo về phía mình khiến chị ta không làm chủ được, phải ngã sấp lên người nó:

- Đừng làm vậy cậu Hai! Đừng...

Nhưng chị ta đã bị Bảo An chặn ngang miệng bằng sức mạnh đáng ngạc nhiên...

- Kêu lên là tao giết chết liền. Tao đâu phải là thằng bé con Bảo An đâu, cứ nhìn lại tao coi.

Lúc này Thị Hai không còn hồn vía nữa, nhưng cũng liếc nhanh về phía nó, rõ ràng người đang khống chế chị là một ai đó khác, chứ chẳng phải Bảo An!

Tuy nhiên, giọng vẫn là giọng của nó:

- Tao đi lang thang mấy ngày nay mà tới đâu người ta cũng từ chối không cho tao vào mặc dù đó là những kỹ viện, những lầu xanh. Họ nói tao còn con nít, cấm vào! Mà tao thì đang phát triển thành người lớn, tao muốn được cái mà người lớn có. Vậy thôi, mày chiều tao, lén lút giữa tao với mày thôi, mọi việc sẽ không ai hay... rồi tao cho tiền đời mày sẽ hết khổ, hết cơ cực. Nghe tao thì yên mà không nghe thì mày biết rồi, tao có thể giết chết bất cứ đứa nào mà tao muốn! Thế nào theo tao chứ? Hãy nói ừ đi trong khi tao còn năn nỉ...

Thị Hai chết điếng trong lòng, nói thuận thì quyết là không, mà chống cự lại thì chỉ có nước chết! Thằng tiểu quỷ này xưa nay muốn gì được nấy. Nay hình dáng nó hiện tại lại không phải là nó, mà với sức một đứa cường tráng như vậy làm sao chị chống lại được?

Đang còn lưỡng lự, bỗng có người gọi bên ngoài:

- Bà chủ kêu Hai ơi!

Chỉ chờ có thế, Thị Hai vùng ra định chạy đi, thì bất chợt thằng quỷ kéo mạnh lại, chị ta vô phương cựa quậy.

- Để tao!

Hắn nói vọng ra:

- Tao sai con Hai đi chợ rồi!

Có thể bên ngoài biết Thị Hai chưa đi đâu nhưng ai dám cãi lời. Họ lên báo cho bà chủ như vậy rồi nhìn nhau lắc đầu.

Bà Nguyệt Ánh thay vì rầy con, bà lại chỉ đăm chiêu một chút rồi im lặng. Từ đó, bà cũng chẳng nhắc tới số tiền bạc nữ trang bị mất.

Thằng con tiểu quỷ của bà thì đang làm một chuyện động trời ngay trong nhà mà hầu như bà không quan tâm, hay là có biết mà lờ đi...

Nửa đêm hôm đó, chính tên khốn kiếp ấy bước ra khỏi phòng rồi tỉnh như không, hô lớn:

- Con Hai chết rồi!

Khi mọi người chạy lên thì thấy Thị Hai nằm sóng sài dưới sàn, chết mà không kín thân thể! Lúc này, chính bà Ánh khi nhìn Bảo An trước mặt mình cũng phải kinh ngạc, bởi đó là một thanh niên lực lưỡng chứ không phải là đứa con bé bỏng của bà!

Trong khi mọi người hãi hùng thì Bảo An dửng dưng bước ra ngoài, buông lại một câu lạnh lùng:

- Đổi phòng khác cho tôi!

Bà Nguyệt Ánh cũng chiều theo:

- Đổi phòng cho cậu Hai.

Rồi bà cố bước theo con ra ngoài định nói gì đó nhưng Bảo An hình như biết mà vẫn tảng lờ, đi luôn. Người mẹ đau khổ chỉ biết nhìn theo rồi ôm mặt khóc.
 
***

Nhờ tiền bạc và cũng nhờ mối quan hệ cũ của ông Hoàng nên chuyện động trời về cái chết của cô hầu gái bị xếp hồ sơ, không truy cứu. Bà Ánh phải tốn khá bộn. Rõ ràng là bà muốn được yên thân và cũng muốn cho đứa con trai cầu tự của mình không bị tai tiếng.

Nhưng chừng như nghiệp chướng không giới hạn đó. Chỉ một tháng sau thì chuyện gì đến đã đến!

Một buổi sáng, khi bà Ánh còn đang nằm trong phòng riêng thì bên ngoài có tiếng người la hét vang. Lát sau mấy con hầu chạy vào báo tin dữ:

- Bà ơi, cậu Hai nguy rồi!

- Chuyện gì mà nguy?

- Người ta kéo tới đòi bắt cậu Hai vì tội... gian dâm với vợ và con người ta!

Bà Ánh vừa chạy ra đã nhìn thấy cả chục người đang ra sức xô đổ cổng rào. Cũng may, vừa khi ấy có mấy tay lính lệ của làng tới, họ chặn lại:

- Có chuyện gì thì ra nhà làng mà kiện cáo, sao lại phá nhà người ta?

Mấy người đang giận dữ đã gào lên:

- Làng xã các người bênh nhau, có thưa kiện cũng như không! Thằng tiểu yêu nhà này nó làm loạn xóm làng, gây tang tóc cho mọi người mà quân lính các người có ra tay không, hay là để yên cho nó làm tới?

Một lính lệ nói lớn:

- Sao không ra tay! Mới rồi làng đã bắt nó ra đóng gông ngoài sân làng rồi!

Anh ta quay sang bà Ánh:

- Thằng con nhà bà phạm tội tày trời, hãm hiếp giết cả nhà người ta, nên bị bắt sắp giải lên quan rồi!

- Trời ơi, con tôi!

Bà Ánh chỉ kêu được mấy tiếng rồi đứng như trời trồng. Lát sau, bà mới xua tay:

- Không. Không có chuyện đó! Con tôi còn nhỏ làm sao nó làm được chuyện tày đình ấy mà mấy người vu oan!

Khi mấy tên lính lệ dìu bà ra tận nhà làng thì rõ ràng trước mắt là Bảo An đang bị cùm tay chân. Vừa nhìn thấy mẹ, nó đã lồng lộn lên:

- Thả tao ra, không thì cả lũ bay phải chết hết!

Bà Ánh bất nhẫn khi nhìn con trong tình cảnh ấy, nhưng bà cũng đành phải chịu thôi. Ngay trưa hôm đó, người ta áp giải thằng tiểu quỷ lên quan huyện. Người này vốn là bạn đồng liêu với ông Hoàng ngày trước, cũng muốn nhẹ tay với Bảo An. Tuy nhiên, vừa gặp mặt ông thằng khốn kiếp đã chỉ thẳng vào ông hét lớn:

- Mày phải cứu tao ra, không thì tao sẽ giết hết cả nhà mày!

Trước thái độ quá đáng của nó, bà Ánh phải lên tiếng:

- Không được hỗn!

Bất ngờ, nó quay sang bà trợn mắt lên:

- Bà chết tới nơi mà còn chưa biết sao?

Huyện lệnh Đinh Liêm đập bàn quát lớn:

- Súc sinh!

Rồi ông ra lệnh cho lính lệ nọc hắn ra đánh hai chục hèo. Rất lạ là dù bị đánh tóe máu, nhưng hắn vẫn gào thét chửi bới chứ không kêu đau. Bà Ánh bất nhẫn quay mặt đi chỗ khác, hồi lâu khi quay lại thì người ta đã đưa Bảo An đi rồi. Hỏi thì bà được viên huyện lệnh đáp vắn tắt:

- Phải đưa ngay nó lên phủ, để người ta trị tội nó. Thằng bé này tuy tuổi còn trẻ con, nhưng hành động là người lớn nên không thể xem thườmg được.
 
***

Do Bảo An tuổi còn nhỏ nên không ghép tội hết được, mặc dù đó là trọng tội, phải chết. Khi đưa lên phủ, họ truyền giam vào nhà lao chờ lệnh. Huyện quan Đinh Liêm muốn làm tiền nhà họ Hoàng, nên cho người tâm phúc tìm tới nhà gặp bà Nguyệt Ánh. Nhưng khi họ tới nơi thì hay tin bà Ánh đã về thành phố để khiếu nại.

Tưởng bà ta cố ý lánh mặt, nên huyện quan ra lệnh hành quyết ngay, dù đó là một lệnh trái luật. Tuy nhiên, khi lính vào nhà lao để dẫn phạm nhân ra thì chỉ còn thấy cái xác của một đứa bé nằm đó, nhưng không phải là xác của Bảo An!

Chuyện báo lên quan huyện, lão Đinh Liêm hốt hoảng đến tận nơi xem thực hư. Và lão ta chết điếng khi nhìn thấy cái xác. Đó là đứa con trai lên ba của ông ta...

- Trời ơi!

Lão kêu lên và ngất tại chỗ.

Trong khi đó thì ở bến đò nơi bà Nguyệt Ánh trên đường đi khiếu kiện, đã bất ngờ gặp lại vị đạo sĩ. Bà hơi khó chịu nhưng không cách nào hơn là phải chào hỏi lấy lệ, rồi định xuống đò thì ông đạo sĩ đã lên tiếng:

- Bà đi làm gì cho mất công. Nó tới đây bây giờ.

Bà Ánh nhìn lại phía sau thì thấy một xe ngựa chạy nhanh tới và thả xuống một người.

- Con!

Bảo An không đáp, chạy nhanh xuống đò và đuổi hết những người cùng đi:

- Lên hết, để tôi đi!

Mấy người kia biết nó nên vừa thấy đã muốn tránh xa. Còn lại trên đò chỉ có hai mẹ con. Nhưng thằng khốn ấy không hề nhìn mẹ nó, lại tự tay chèo con đò ra giữa dòng.

Lão đạo sĩ kêu lớn:

- Bà hãy nhảy xuống sông lội vào bờ đi, nếu không muốn chết chung với thằng đó!

Bà Nguyệt Ánh đời nào chịu nghe, bà còn bước lại gần con hơn, cất giọng trìu mến:

- Làm sao con thoát ra được vậy? Mẹ lo cho con quá.

Bất ngờ tên khốn kiếp dùng tay gạt ngang, khiến cho bà Ánh lảo đảo và ngã xuống sông. Đã không ra tay cứu mẹ, mà hắn còn ngửa mặt lên trời cười như điên như dại! Nhanh như chớp, lão đạo sĩ phóng xuống và nhanh tay chụp được bà Ánh kéo lên.

Vừa lúc ấy, con đò mà Bảo An đang chèo chống bỗng chao đảo rồi quay tít như chong chóng. Tiếng la hét vang lên:

- Cứu tôi! Cứu!
 
Nhưng chẳng một ai nhảy xuống cứu. Khi con đò ngừng lại thì người ta chẳng còn thấy bóng dáng Bảo An đâu. Mặt nước chỗ gần con đò ấy có máu trào lên. Rồi mọi thứ trở lại bình yên...

Ông đạo sĩ thở dài:

- Đành thôi, chẳng còn cách nào hơn.

Bà Nguyệt Ánh chợt hiểu, bàng hoàng định kêu lên, nhưng vội ngừng lại ngay. Trong đầu bà sáng ra và hiểu rằng mình không nên làm gì.

Giọng lão đạo sĩ vẫn đều đều:

- Đáng lý nó đã chết trong ngục rồi, nhưng bọn bảo hộ cho nó là lũ oan hồn cứ cố tình giải thoát cho nó, còn giết hại thêm một mạng người nữa, để cho nó ra đây gặp bà, trừ nốt người mà nó cho là cản trở việc tiêu diệt nhà họ Hoàng. Cũng may tôi đã hay được. Giờ đây thì mọi việc qua rồi, đứa con nghiệp chướng đó đã vĩnh viễn không trở lại nữa. Nó chính là một giọt máu gần ngày sinh của một người đàn bà bị chồng bà giết hại khi chị ta cự tuyệt sự cưỡng bức của ông Hoàng. Nó đầu thai vào là để báo oán đó.

Bà Ánh không còn cố tình bênh vực cho con nữa, bà lẳng lặng nghe rồi ôm mặt khóc. Lão đạo sĩ phải an ủi:

- Bà may mắn thoát nạn rồi. Tuy rằng sau này bà sẽ chẳng còn gì cả. Nhưng ở đời đâu chỉ giàu sang mới sống được. Rồi mọi việc sẽ đâu vào đó...

Ông nói xong lại bỏ đi.

Bà Nguyệt Ánh thẫn thờ một lúc rồi cũng trở về nhà.

Ngày hôm sau...

Toàn bộ gia sản của dòng họ Hoàng đều bị tịch biên bởi quan huyện Đinh Liêm. Chẳng biết có phải đó là từ trên hay không, chỉ biết là sau khi thực hiện được việc ấy thì ông ta vui lắm. Hình như đó là một việc trả thù riêng tư!

Bà Nguyệt Ánh trắng tay, khăn gói trở về quê cũ. Đáng lý thất vọng lắm, nhưng tự dưng lòng bà cảm thấy thanh thản không còn vướng bận bất cứ chuyện gì nữa...
Sự đời cà khịa cái chơi
Khi vui muốn khóc, khi cười buồn tênh!
0
5. XÁC AI TRONG PHÒNG?

Lưỡng lự khá lâu trước khi quyết định, Hóa bảo người quản lý nhà nghỉ:

- Anh cho tôi chọn khu nhà trên đường lên Liang Biang.

Người quản lý nhìn Hóa khá chăm chú, cuối cùng đưa anh xâu chìa khóa:

- Như đã nói với anh, nơi đó khá vắng vẻ, chỉ dành cho những du khách nghỉ vào mùa hè. Hiện nay chỉ có một cặp đang ở, nhưng đến trưa mai thì họ sẽ trả phòng, chưa có khách nào mới ngoài anh. Mà anh nói sẽ ở trong bao lâu?

- Một tuần và cũng có thể hơn.

- Được rồi, anh cứ cầm chìa khóa đi theo người hướng dẫn lên đó trước, sau đó người mang thức ăn trữ tủ lạnh sẽ lên sau. Ở đó không có hàng quán ăn nên anh sẽ phải dùng thức ăn trữ sẵn. Hằng ngày sẽ có người mang điểm tâm, cơm trưa, chiều cho anh. Nếu đêm anh muốn ăn gì thì gọi điện thoại. Mà điện thoại cũng chỉ gọi được nội bộ thôi, không gọi đường dài được.

Hóa thừa biết những điều đó nên không chú ý lắm, vội cầm xâu chìa khóa rồi leo lên chiếc xe Mobylette cà tàng của anh nhân viên hướng dẫn. Dọc đường, anh còn hỏi Hóa:

- Sao ở trung tâm tiện nghi hơn mà anh không ở, lên chi chỗ khu này buồn thấy mồ luôn, lại thiếu mọi tiện nghi nữa?

Hóa cười:

- Tại tôi thích khung cảnh thiên nhiên, thích yên bình và tránh sự quấy nhiễu.

Anh chàng kia lại nói:

- Nếu cần không khí trong lành, yên tĩnh thì hằng ngày anh cũng có thể lên núi mà chơi, chiều về khách sạn trung tâm để nghỉ ngơi. Việc gì phải...

- Nhưng sao bằng ta ở ngay nơi đó!

Khi lên tới nơi, Hóa chợt nhớ ra, anh nhờ:

- Có thể nào mỗi ngày anh mua giúp tôi một tờ báo ngày, rồi gởi người mang điểm tâm lên, được không? Đây, tôi đưa trước anh tiền đủ mua 1 tuần.

Anh chàng lắc đầu:

- Năm nay là 1960 rồi, nhưng ở Đà Lạt này anh muốn coi nhật trình của Sài Gòn thì phải đợi đến buổi chiều mới có! Vậy làm sao mua cho anh được.

Hóa cười:

- Mua báo buổi chiều cũng được, sáng gửi lên cũng không sao, miễn là có báo để đọc. Tôi vốn ghiền đọc báo mà, mới cũ gì cũng tốt.

Khi anh chàng hướng dẫn tên Tâm đi rồi, Hóa mới bước vào nhận phòng của mình. Nói chung là cũng tạm được. Tuy không khang trang, hiện đại bằng các khách sạn ở trung tâm thành phố, nhưng cũng giường nệm, máy nước nóng tuy cổ lỗ sĩ, nhưng còn hoạt động tốt. Hóa đặc biệt hài lòng với cửa sổ phòng ở hướng ra đỉnh đồi phía sau. Từ đó, anh có thể phóng tầm mắt suốt một quãng dài. Xa tận rừng sâu. Cái thú đam mê cháy bỏng đó đã khiến Hóa chọn khung cảnh sống này.

Tắm rửa vừa xong thì chị nhân viên mang thức ăn cũng vừa tới. Có khá đủ lương thực, chị ta chỉ từng thứ:

- Nếu tối đến, cậu có thích và tự tay làm được thì vài món này có thể có được nồi cháo nóng. Tôi mang cho cậu mấy chai rượu vang và cả chai rượu mạnh nữa đây. Cái tủ lạnh chỉ để trữ thức ăn, chứ không làm đá được, hay đúng hơn là làm rất lâu đặc. Mà cũng đâu cần đá, xứ lạnh mà.

Hóa cám ơn chị ta rồi bảo:

- Chiều nay chị không cần phải mang cơm lên, tôi sẽ ăn nhẹ rồi đi ngủ cũng được.

Nhưng chị ta đã chỉ một "gà mên" để riêng:

- Sao lại không ăn cơm. Xứ lạnh mau đói bụng lắm. Tôi đã mang cho cậu bữa chiều, cậu dùng ngay cho còn nóng.

Đợi chị ta đi rồi, Hóa mới ngả lưng xuống giường đến lúc này anh mới cảm thấy mỏi nhừ cả lưng và vai. Gần suốt ngày ngồi xe lửa Sài Còn, Tháp Chàm, rồi ba bốn tiếng ngồi ôtô - ray leo dốc lên tới Đà Lạt, quả là có sức chịu đựng thì mới kham nổi. Hóa giờ khoái ngủ một giấc hơn là ăn. Và anh đã nằm và ngủ ngon lành, gà mên cơm vẫn còn y nguyên đó...

Nửa đêm...

Hóa choàng tỉnh thì vô cùng ngạc nhiên khi thấy trên bàn có một mâm cơm đã dọn sẵn.

- Ai vào đây?

Hóa bước xuống nhìn thì rõ ràng gà mên cơm đã được bày ra hết trên bàn. Và còn hơn thế nữa, có cả một đĩa trái cây tráng miệng đã gọt sẵn, đặc biệt là chai rượu vang đã khui, chỉ chờ rót là uống.

- Ai mà chu đáo thế này?

Vốn tính cẩn thận, Hóa lên tiếng hỏi:

- Có ai vào nhà không?

Không ai đáp, chung quanh im phăng phắc. Từ cửa sổ nhìn ra cũng không thấy gì bởi màn đêm dày đặc. Hóa cảm thấy đói bụng, anh đắn đo một chút rồi ngồi xuống ăn ngon lành, anh tự nhủ:

- Chắc là chị đưa cơm trở lại, thấy mình ngủ nên không gọi dậy.

Ăn xong người khỏe khoắn, nhìn đồng hồ thì thấy chỉ mới 10 giờ, anh quyết định thử bước ra ngoài xem ban đêm có gì hay, đồng thời hít thở khí trời mát lạnh mà từ lâu anh đã thèm khát.

Lúc này Hóa mới để ý thấy trong dãy nhà còn có một căn phòng sáng đèn. Chắc là phòng của cặp đôi mà người quản lý khách sạn nói lúc chiều. Thì ra đâu chỉ có mình anh trong chốn tịch liêu này.

- Bớ! Giết... giết người!

Tiếng kêu thật lớn, thật rõ ràng phát ra từ dãy nhà!

Hóa giật mình, cố định hướng xem chính xác tiếng là đó là từ phòng nào.

- Cứu... cứu!

Tiếng kêu lúc này nhỏ hơn, chừng như người bị hại đang nguy hiểm, có thể là sắp tắt thở! Hóa tốc chạy về phía căn phòng có đèn sáng. Đến gần thì đúng là âm thanh kêu cứu đang phát ra từ đó.

- Cứ... ư…

Âm thanh cuối lịm dần... Quên cả hiểm nguy, Hóa cũng không kịp vòng ra phía cửa trước, đã tung mạnh vào cánh cửa sổ đang khép hờ, cửa bật ra. Vừa kịp lúc Hóa nhìn thấy một bóng người to lớn, đang vác trên vai một người khác nhỏ hơn, tóc người đó xõa dài xuống tận sàn nhà.

- Anh ta giết người rồi tẩu thoát đây!

Do dãy nhà khá dài, nên Hóa phải chạy sang mất đến hơn một phút mới ra được phía cạnh mặt tiền. Hoàn toàn vắng lặng, không có bóng ai. Khựng lại một chút, Hóa bước lần về phía cửa phòng của căn hộ còn sáng đèn. Cửa phòng mở toang, đúng là vừa rồi vác xác chết chạy anh ta đã không kịp đóng cửa!

- Không thể để anh ta thoát được!

Hóa vừa lẩm bẩm vừa đuổi theo hướng mà anh đoán là anh chàng nào đó đã chạy. Xuống dốc đến hơn trăm thước mà cũng chẳng phát hiện được dấu vết gì.

- Khuya và tối thế này...

Hóa hơi chán nản quay trở lại, anh nghĩ sẽ điện thoại về trung tâm báo cho họ biết để may ra...

Vừa bước vào phòng, Hóa tá hoả khi nhìn thấy một người con gái nằm xõa tóc trên giường của mình!

Vừa định lên tiếng hỏi thì Hóa phát hiện trên lưng áo cô gái có vết máu loang, anh hốt hoảng:

- Trời ơi, án mạng!

Muốn bước tới điện thoại đặt gần xác chết thì Hóa lại ngại, anh chỉ còn biết la to:

- Bớ người ta, giết người!

Anh la đến khàn cả cổ mà vẫn chẳng ai nghe. Mà thực tế thì lúc ấy ngoài Hóa ra, đâu còn ai ở đó. Làm sao bây giờ?

Quyết định thật nhanh Hóa tức tốc chạy trở lại con đường đã đuổi theo lúc nãy. Anh nhớ lúc chiều đi qua nửa đoạn đường lên đây anh có thấy một đồn công an nhỏ, phải báo ngay cho họ.

Phải mất hơn mười lăm phút sau, Hóa mới xuống tới đồn. Viên cảnh sát trực đang ngủ gật trên bàn, Hóa phải gõ ba lần vào cửa anh ta mới giật mình tỉnh dậy. Vừa thấy Hóa thở hổn hển anh ta hỏi:

- Bị cướp hay gặp thú dữ?

Hóa đưa tay ôm ngực, phải vài giây sau mới nói thành lời:

- Gi...ế... t ng...ư... ờ... i!

- Ai giết?

- Ở trên kia!

Một cảnh sát thứ hai thức giấc, họ cùng hỏi kỹ và phải nửa phút sau Hóa mới bình tĩnh thuật lại cho họ nghe mọi việc và yêu cầu:

- Xin các anh hãy mau lên đó thủ phạm chạy chưa xa!

Hai người cảnh sát đem theo cả súng cùng đi theo Hóa. Một người rành khu này nên nói:

- Vùng này vắng, không có đường xe hơi chạy, nên dẫu có thoát xuống dưới kia thì cũng không chạy xa được. Để tôi gọi bộ đàm cho trạm canh phía dưới, họ sẽ chặn được hắn ta thôi!

Phải mất gần nửa giờ, họ mới lên tới nơi. Hóa chỉ và phòng mình và bảo:

- Xác chết đang ở trong đó. Phòng là phòng của tôi, nhưng trong lúc tôi ra ngoài thì hắn vác xác bỏ vào đó, rồi chạy mất.

Hóa mở cửa phòng ra và...

Hóa hốc mồm nhìn vào, cả sáu con mắt căng ra mà chẳng hề thấy gì trong đó! Một viên cảnh sát hỏi:

- Xác chết nào đâu?

Hóa lúng túng:

- Mới... mới đây thôi mà! Một cô gái tóc dài, bị đâm trên lưng.

Người cảnh sát còn lại làu bàu:

- Cha này bị mộng du rồi!

Tức quá Hóa vào xem kỹ giường ngủ của mình mong thấy một dấu vết gì đó để chứng minh, nhưng tuyệt nhiên không, ra nệm vẫn trắng tinh!

- Kỳ cục quá... !

Chợt nhớ ra Hóa nói:

- Qua phòng của họ!

Anh dẫn hai người cảnh sát sang phòng sáng đèn của cặp đôi kia. Bên trong đèn sáng, nhưng cửa đóng kín. Một anh cảnh sát gõ cửa mấy tiếng. Có người lê dép đi ra vừa làu bàu:

- Nửa đêm mà cũng gọi...

Một cô gái tóc dài tận lưng, bước ra trong trang phục dùng cho phòng ngủ, vừa trông thấy, một cảnh sát đã khoát tay:

- Được rồi, cô khỏi ra, cho tôi hỏi, nãy giờ cô có nghe chuyện gì xảy ra không?

Cô ta lắc đầu:

- Đâu có nghe gì!

Rồi cô ta quay vào, đóng cửa lại. Hóa thẫn thờ nhìn theo. Hai nhân viên cảnh sát cằn nhằn:

- Cha này có tâm thần hay mộng du thì đi nơi khác mà làm phiền. Nửa đêm nửa hôm.

Họ bỏ đi, trong khi Hóa thừ người ra rất lâu mà chưa cất bước về phòng mình được...
 
***

Sau khi nghe kể lại chuyện, chị người làm hơi biến sắc. Chị kề tai Hóa nói khẽ:

- Hôm qua tôi tính nói mà sợ cậu không tin, ở đây người ta vẫn thường xuyên gặp chuyện như vậy. Hồi trước nghe đâu có một cặp tới ở rồi xảy ra ghen tuông thế nào đó, anh chàng giết cô nàng chết, sau đó tự tử chết theo? Bây giờ thỉnh thoảng hay hiện về phá phách những người một mình. Theo tôi, tốt hơn hết là cậu nên trả phòng đi...

Hóa bướng bỉnh không muốn nghe lời. Tuy nhiên, sau khi suy nghĩ, anh lặng lẽ trả phòng, ra đi với bao thắc mắc trong lòng....
Sự đời cà khịa cái chơi
Khi vui muốn khóc, khi cười buồn tênh!
0
2. Khi Người Chết Trở Về

Thấy Hoàng Lộc quá mệt sau hai đêm thức trắng bên quan tài vợ, ông bà Tân Phát đều khuyên anh:

- Con phải ngủ lấy sức, chứ thức suốt như vậy chịu sao nổi!

Nhưng Lộc vẫn cương quyết:

- Con không sao ngủ được ba má à. Hễ nhắm mắt lại là con thấy hình ảnh vợ con như hôm xảy ra tai nạn và con lại bị sốc, lại hãi hùng!

Bà Tân Phát lắc đầu:

- Biết rằng vậy, nhưng con không thể chịu đựng nổi đâu. Hay là con cứ vái vong hồn vợ con, nó sẽ giúp con thanh thản mà nghỉ ngơi.

Lộc ngắm nghiền mắt lại, cố làm theo lời mẹ vợ, nhưng vừa lúc đó anh bỗng thảng thốt kêu lên:

- Coi kìa! Vợ con!

Anh hướng về cửa ra vào nhìn người phụ nữ vừa bước vào. Vợ chồng ông bà Tân Phát cũng nhìn theo và cùng reo lên:

- Trời ơi, con... Mỹ Dung!

Lúc này những người giúp lo ma chay đã đi ngủ hết, nên chỉ có ba người họ với nỗi sợ hãi thất thần. Hoàng Lộc là người tỉnh táo nhất, anh lên tiếng hỏi:

- Có phải là em không... Mỹ Dung?

Người phụ nữ vừa bước vào giương mắt nhìn ba người, nhìn Hoàng Lộc khá kỹ, rồi cất tiếng đáp:

- Chào cả nhà. Xin phép cho tôi được đốt nén hương cho người chết được không ạ?

Vừa nói cô ta vừa bước sát tới bên quan tài, một lần nữa bà Tân Phát rú lên:

- Mỹ Dung, con ơi!

Ông Tân Phát bình tĩnh hơn, dìu vợ lùi mấy bước, vừa khe khẽ gọi:

- Có phải con thác thiêng và về thăm cha mẹ không Mỹ Dung?

Người kia trừng mắt nhìn hai ông bà, ngơ ngác hỏi:

- Ai là Mỹ Dung? Tôi là Ngọc Hương, nhà tôi ở gần đây hay tin nhà có tang nên sang chia buồn. Sao ông bà gọi tôi là Mỹ Dung?

Hoàng Lộc tròn mắt nhìn vào vợ mình, gọi to:

- Mỹ Dung, anh đây mà!

Cô ta lại trừng mắt với Lộc:

- Cả nhà này sao vậy? Không cho người ta đốt nhang thì thôi, sao lại có thái độ này? Tôi là Ngọc Hương, chẳng dính dáng gì tới Mỹ Dung nào đó cả...

Lộc phải gắt lên:

- Em đừng đùa dai nữa, cả nhà đang đau buồn vì em, sao em lại...

Anh định đưa tay chụp lấy tay vợ mình thì cô nàng bước lùi lại rất nhanh vừa la lên:

- Nhà này điên rồi!

Vừa nói cô ta vừa tháo chạy ra ngoài, và phải vài giây sau Hoàng Lộc mới tốc chạy theo, anh kêu lớn:

- Mỹ Dung! Em đừng...

Nhưng anh không tài nào đuổi theo kịp, bởi lúc ấy dòng người và xe cộ bên ngoài rất đông. Trong khi ấy ở trong nhà, ông bà Tân Phát chưa kịp hoàn hồn thì những người khác đã thức giấc, họ ngơ ngác hỏi nhau:

- Chuyện gì vậy?

Một người kịp nhìn thấy nắp quan tài hé mở, liền kêu lên:

- Sao cái nắp quan tài như vậy?

Tư Quan là người đã cùng với những người trong đội mai táng hôm qua đã đóng quan tài cẩn thận, liền lên tiếng:

- Nắp áo quan này có nạy cũng chưa chắc ra được, sao lại như thế này?

Anh ta bước tới và kêu lên:

- Cô Mỹ Dung sao thế này?

Ông Tân Phát kịp bước tới cùng với vợ, ông nhìn vào và sững sờ:

- Nó còn đây mà!

Điều bà Tân Phát sững sờ là hai giọt nước mắt ở khóe mắt của xác con, nó giống như bữa đầu tiên bà đã bắt gặp và kịp lau. Bà gào lên:

- Nó còn sống ông ơi!

Nhưng khi tay bà chạm vào xác con thì lạnh ngắt. Nhưng hai giọt lệ thì tuôn chảy giống như người sống đang khóc! Bà gào to:

- Con ơi!

Tay bà chạm vào giọt nước mắt bà bỗng rú lên, bởi nó đỏ như máu! Ông Tân Phát nhìn thấy thì hốt hoảng:

- Bà đừng đụng vào!

Nhưng lúc ấy cả hai bàn tay của bà Tân Phát đã nhuộm đầy máu, khi bà đưa lên thì cũng là lúc Hoàng Lộc từ ngoài cửa bước vào với gương mặt hớt hải:

- Con sắp đuổi kịp thì vợ con biến mất vào xóm nhà bên trong hẻm, con...

Anh chợt nhìn thấy cảnh trước mắt thì khựng lại. Ông Tân Phát lên tiếng:

- Con Mỹ Dung còn đây. Nó...

Lộc bước tới nhìn thấy xác vợ mà vẫn chưa tin:

- Không thể nào...

Anh nói thế bởi người mà anh vừa đuổi theo không hề khác với vợ mình bất cứ điểm nào, kể cả bộ đồ cô ấy mặc trên người cũng chính là bộ đồ mà khi liệm xác, anh đã mặc vào cho Mỹ Dung.

- Không thể nào!

Anh nhìn hai bàn tay đầy máu của mẹ vợ với sự kinh ngạc:

- Má sao vậy?

Ông Tân Phát chỉ vào mắt của con gái:

- Nước mắt nó chảy ra và bà ấy chạm vào thì bị như vậy!

Tư Quan nói:

- Xác đã liệm rồi, bà bị như vậy bây giờ ông bà và cậu Hai phải đốt nhang làm lễ lại, coi như nhập quan lần thứ hai. Mợ Hai chắc có điều chi uất ức đây, nên mới thế này...

Ông Tân Phát đồng ý:

- Thì chú làm giúp cho đi!

Nhưng Hoàng Lộc ngăn lại:

- Con không thể nào tin được chuyện xác vợ con và người phụ nữ vừa rồi. Không thể có việc người giống người kỳ lạ đến như vậy!

Tư Quan vẫn đề nghị:

- Chuyện gì đó mình tính sau, còn bây giờ hãy đóng nắp áo quan lại, chứ để thế này không tiện. Mợ Hai giờ đã về với cõi âm, không thể...

Chợt bà Tân Phát gắt lên:

- Bây giờ tôi mới để ý làm gì có chuyện người chết sống lại như vừa rồi, trong khi con tôi còn nằm nguyên trong quan tài này! Đúng rồi, chắc chắn là ông lại sinh tâm mà bấy lâu nay tôi không hay biết! Ông... ông nói đi, có phải con nhỏ đó là con riêng của ông không?

Ông Tân Phát ngơ ngác:

- Con riêng nào?

- Thì con nhỏ vừa mới vào đây đòi đốt nhang đó, chứ con nào nữa! Chỉ có dòng máu của ông thì mới có đứa giống con Mỹ Dung như khuôn đúc vậy thôi! Cả tới thằng Lộc mà còn lầm nữa là...

- Nói bậy! Tôi mà có con rơi con rớt hồi nào.

Lộc thì vẫn như người mê ngủ:

- Không thể tin được! Giống nhau như hai giọt nước... giống nhau...

Bà Tân Phát quên cả việc hai bàn tay mình đang dính đầy máu, bà chụp vai chồng và nổi cơn tam bành:

- Bây giờ cháy nhà mới ra mặt chuột nè trời! Bấy lâu nay tôi đui mù nên đã tin tưởng ông, vậy mà...

Bà khóc rống lên trước sự ngơ ngác của mọi tôi tớ trong nhà. Nhất là Tư Quan, anh ta đang sốt ruột muốn đóng nắp áo quan lại, mà như vậy thì biết làm sao? Anh ta nhắc nhở Hoàng Lộc:

- Cậu Hai xem...

Lộc quay lại anh ta và bảo:

- Anh cứ để đó cho tôi.

Nhưng câu nói của Lộc vừa dứt thì bỗng dưng nắp quan tài tự động đóng sầm lại. Tư Quan ngơ ngác:

- Sao kỳ vậy cậu?

Hoàng Lộc bước tới cố kéo ra, nhưng nắp áo quan như đã được đóng đinh chắc cứng, không làm sao lay chuyển được. Ông Tân Phát nhân cơ hội nói lớn:

- Bà làm chuyện tào lao khiến cho hồn con mình nó bị kinh động rồi kìa!

Hoàng Lộc cũng nói:

- Ba má gác chuyện đó lại đi, bây giờ phải tập trung lo cho Mỹ Dung đã...

Tuy nói là tập trung lo, nhưng Lộc cũng không biết là lo cái gì. Cho đến khi Tư Quan nhắc, vì ông bà Tân Phát cũng cho người mời các nhà sư tụng niệm theo nghi thức Phật giáo:

- Lát nữa đây có mấy nhà sư tới tụng kinh. Trong số mấy vị sư này có sư Thiện Tánh rành về tà ma, hay là mình nhờ ông xem thử.

Lộc gật đầu:

- Phải đó!

Vừa khi ấy thì ba nhà sư bước vào. Nhờ vậy mà cuộc tranh luận giữa đôi vợ chồng già mới tạm yên. Nhưng bà vẫn quay sang nhà sư có pháp danh Thiện Tánh và đề nghị:

- Nhờ thầy xem giùm, con gái tôi...

Bà nói chưa dứt lời thì sư Thiện Tánh đã lên tiếng vừa chỉ vào quan tài:

- Hồn người này vừa xuất ra lại nhập vào ngay, nếu không...

Ông quay lại nhìn Hoàng Lộc:

- Giữa vợ cậu với ai đó có mối hận thù gì không mà như vậy?

Lộc ngạc nhiên:

- Hận thù gì ai đâu thầy?

- Có! Chết mà còn hiện về khi hạn bốn mươi chín ngày chưa qua là có chuyện rồi! Cậu không nhìn thấy trên hai khóe mắt của bức ảnh kia có nước mắt sao?

Bấy giờ Lộc và mọi người mới nhìn lên bức ảnh chân dung dựng trước quan tài, họ thấy rõ hai dòng lệ tuôn ra y như người còn sống! Bà Tân Phát kêu lên:

- Trên xác nó cũng có!

Nhà sư chậm rãi nói:

- Hiện tượng này là sự hoàn dương, bởi có điều oan ức chưa giải được. Phải giải trước khi mai táng, còn không thì...

Ông quay sang Lộc nói khẽ:

- Vợ cậu chết không do tai nạn xe, mà chết trước khi xe rơi xuống vực!

Vợ chồng ông Tân Phát kinh hãi:

- Có chuyện đó sao Lộc?

Hoàng Lộc còn đang bàng hoàng thì nhà sư vội nói tiếp:

- Chuyện này có thể không dính tới cậu đây, nhưng việc cô ấy chết là có điều uẩn khúc. Tôi sẽ tụng kinh cầu siêu cho vong hồn cô ấy siêu thoát, rồi việc gì đó gia chủ tính sau...

Ông bắt đầu buổi cầu kinh. Trong khi đó thì ông bà Tân Phát kéo Lộc ra ngoài truy vấn:

- Ông thầy nói vậy là sao?

Lộc thành thật thuật lại:

- Khi tụi con đi gần tới đèo Bảo Lộc thì Mỹ Dung kêu nhức đầu, con lấy dầu xoa thì Dung cho biết có đỡ hơn. Cô ấy chỉ có biểu hiện là không được khỏe thôi, chứ không có điều gì khác thường. Sau đó, Dung ngả đầu trên ghế ngủ thiếp đi, con để yên cho cô ấy ngủ. Đến khi xe con đang chạy thì bỗng nghe có tiếng động gì đó khác thường dưới gầm xe, con tính dừng lại xem, nhưng do lúc ấy đang lên dốc, nên con phải chờ cho hết dốc mới tấp vào lề. Tuy nhiên...

Hoàng Lộc kể đến đó thì quá kích động nên phải dừng lại một chút rồi mới tiếp:

- Như con đã nói rồi, bỗng dưng lúc ấy xe chao đảo dữ dội, rồi thì con không còn điều khiển xe được nữa, và...

Bà Tân Phát kêu lên:

- Đúng rồi, con Mỹ Dung đã ngất trước khi xe bị nạn, có phải đã bị đầu độc không?

Hoàng Lộc hốt hoảng:

- Ai đầu độc? Vợ con trước đó nửa phút vẫn còn tỉnh mà, cô ấy đâu có biểu hiện gì của sự bị đầu độc?

Ông Tân Phát nói:

- Như vậy thì phải để lại xác con Dung, chờ khám nghiệm tử thi đã, không được đem chôn!

Hoàng Lộc cũng đồng tình:

- Chắc phải làm vậy thôi.

Nhưng bà thì phản đối:

- Con tôi đã chết thảm chết thương như vậy mà nay còn banh xác ra mổ xẻ nữa, tội nó lắm mấy người biết không!

Bà khóc oà lên. Từ trong nhà, sư Thiện Tánh bước ra, giọng từ tốn nói:

- Không cần phải làm vậy đâu. Chuyện này thuộc tâm linh, hãy để cho cái vong người chết quyết định.

Bà Tân Phát vụt hỏi:

- Như vậy là sao thầy?

- Đợi tôi tụng xong kinh cầu siêu này thì gia đình có thể cho mai táng được rồi. Mọi chuyện còn lại hãy để vong hồn cô ấy tự quyết định. Cứ làm như vậy đi rồi mọi việc sẽ sáng tỏ thôi.

Ông quay vào nhà mà còn nói với lại:

- Người cõi âm hành xử rõ ràng hơn cõi dương gian.

Ông tiếp tục gõ mõ cầu kinh trong khi bà Tân Phát đứng ngồi không yên, bà chốc chốc lại hỏi chồng:

- Có nên nghe theo lời thầy không?

Lộc chen vào:

- Con nghĩ cứ làm theo như thế. Việc bây giờ có lẽ con sẽ cho người giám định lại chiếc xe bị nạn của tụi con. Người ta đã trục được nó và đưa về gara gần đây.

Ông Tân Phát còn bức xúc:

- Ông thầy nói con Mỹ Dung chết trước lúc xe rơi xuống hố thì còn coi lại chiếc xe làm chi!

Lộc vẫn cương quyết:

- Theo con là có! Con đang nghi tới một số sự việc...

Anh bỏ vào đứng cạnh quan tài vợ, lâm râm khấn vái điều gì đó rất lâu.

Đến giữa trưa hôm đó thì buổi tụng kinh chấm dứt. Trước khi ra về, sư Thiện Tánh gọi riêng Lộc ra bảo:

- Cậu sẽ gặp nhiều khó khăn cho việc tìm ra những khúc mắc quanh cái chết của vợ cậu, tốt hơn hết là cậu nên đưa xác cô ấy về chôn trên đất riêng của mình hơn là chôn ở nghĩa địa.

Lộc do dự:

- Điều này ba mẹ con không đồng tình. Họ muốn chôn ở nghĩa địa để tiện bề thăm viếng hơn. Hay là thầy nói giúp giùm...

Sư Thiện Tánh gật đầu:

- Được, để ta nói.

Nhờ ông thuyết phục, cuối cùng vợ chồng ông Tân Phát mới thuận theo.

Nhưng bà vẫn ra điều kiện:

- Con phải bảo đảm là sau này nếu con có lấy vợ khác thì việc thăm viếng của gia đình bên này không có trở ngại gì. Bằng không thì má sẽ cho chuyển mộ đi nơi khác liền!

Hoàng Lộc nói chắc:

- Con xin hứa với ba má là đời con chỉ có một lần lấy vợ thôi. Ngôi nhà của con sẽ mãi mãi là nhà của Mỹ Dung. Con xin thề có vong linh cô ấy.

Theo lời khuyên của thầy Thiện Tánh thì việc an táng Mỹ Dung được thực hiện vào chiều tối hôm ấy. Ông nhấn mạnh:

- Giờ Dậu thích hợp cho việc an táng này.

Ngôi biệt thự nhỏ của Lộc còn một khoảng sân trồng nhiều hoa phía sau.

Anh an táng vợ ngay giữa những luống hoa nhiều màu sắc...
 
***

Ba Minh đứng ngồi không yên khi liên tục hai ngày rồi chuông điện thoại nhà ông cứ reo rồi lại tắt ngay khi có người nhấc ống nghe lên.

Ông ta bực mình lắm nên đã ba lần đích thân nhấc máy lên và chửi vào đó những lời nặng nề nhất!

Và sáng hôm nay cũng thế. Khi ông vừa thay đồ xong định đi thì chuông reo.

Vừa cầm máy lên ông đã chửi xối xả:

- Đồ mất lịch sự, đồ...

Lời ông ta chưa dứt thì đầu dây bên kia đã có giọng nữ trong trẻo cất lên:

- Làm gì hung hăng dữ vậy ông trùm côn đồ!

Từ nào đến giờ chưa có ai dám ăn nói xấc xược như vậy với ông, nên Ba Minh gay gắt ngay:

- Ai vậy? Bộ...

- Muốn giết tôi sao? Giống như giết người ở đèo Bảo Lộc hả?

Ba Minh thót tim. Giọng ông không còn tự nhiên:

- Ai... ai nói đó?

- Cần gì biết là ai khi ông chưa trả lời tôi? Có phải ông định giết tôi như giết vợ chồng Hoàng Lộc không?

Ba Minh dập ngay ống nghe xuống, mặt ông tái xanh! Chuông điện thoại lại reo. Không dám nhấc máy, nên chuông reo có đến gần một phút, cuối cùng ông ta nhanh tay ấn nút cúp cuộc điện đàm và thở phào!

Nhưng lạ lùng sao, tiếng nói trong điện thoại vẫn vang lên:

- Biết sợ rồi sao ông Minh. Tôi tưởng người dám làm mọi chuyện tày trời như ông thì đâu có sợ ai, dẫu là hồn ma báo oán chăng nữa!

Người của Ba Minh phát lạnh và run, điều mà suốt cuộc đời làm giang hồ của hắn chưa bao giờ xảy ra!

Ông ta có muốn kiềm chế lại cũng không được, cái lạnh lạ lùng xuất phát từ trong ruột gan mà ra, cho nên càng cố gắng kiềm chế thì ông ta càng run lập cập và suýt nữa thì hai hàm răng đã chạm vào nhau.

- Thế nào, bây giờ ông chịu nói chuyện với tôi chưa, ông Minh?

Ba Minh như con gà mắc mưa, run giọng hỏi:

- Cô là ai?

- Hồn ma. Ông từng nghe nói về oan hồn chưa?

- Cô... tôi đâu có làm gì...

Giọng trong điện thoại bắt đầu sắc lạnh hơn:

- Không làm gì, chỉ giết người rồi ném xác người ta xuống vực sâu thôi, phải không?

- Tôi... tôi..

Ông ta thật sự bị suy sụp:

- Tôi xin cô...

- Ô kìa, trùm côn đồ, giết người như ngóe mà bây giờ hèn thế sao! Vậy lúc ông đích thân xả thắng xe của Hoàng Lộc, để khi đổ đèo thì mất thắng, ông có sợ không?

- Tôi... tôi...

Ông ta chỉ lặp lại mấy lần như vậy chứ không nói được câu nào khác. Giọng trong điện thoại vẫn vang lên:

- Rồi ai tráo lọ đầu gió của Lộc, để khi vợ anh ta hít vào thì bị hôn mê hả?

- Tôi... tôi...

- Mục đích chính của tội ác đó là gì? Do dược trả tiền công cao hay lý do nào khác, hãy tự nói đi, ông Minh. Đừng để tôi ra tay!

Ba Minh vừa run rẩy vừa cố bò lết ra tận cửa ra vào. Đến khi đứng lên được thì ông thoắt chạy như điên ra chiếc xe hơi nhà đang đậu sẵn. Khi xe ra tới đường rồi ông mới thở phào nhẹ nhõm. Ít ra thì ông cũng đã thoát được cái giọng nói chết người đó!

Ông ta có cuộc hẹn làm ăn với mấy khách hàng tại một địa điểm ở trung tâm thành phố và đáng lẽ khi rồ ga ông phải tới đó ngay, nhưng chẳng hiểu sao hướng xe của ông ta lại đi về khu vực ngoại ô.

Gần nửa giờ sau, Ba Minh cho xe rẽ vào một ngôi nhà bề thế nằm sâu trong một hoa viên sực nức mùi hoa kiểng. Đón anh là một phụ nữ ngồi trên chiếc xe lăn, bà ta đã tự lăn xe ra tận bậc tam cấp khi thấy xe của Ba Minh đi vào.

Ba Minh bước xuống xe và âu yếm với người đó bằng cách bế bà ta trên tay, đưa vào phòng khách, vừa cất giọng trìu mến:

- Đã nói rồi, Ly Ly không được tự lăn xe ra ngoài đó, lỡ ngã xuống bậc tam cấp thì sao?

Người có tên là Ly Ly nũng nịu:

- Thì đã có anh đỡ, lo gì!

- Đâu phải lúc nào anh cũng có mặt ở đây để đỡ. Mà anh còn đang có nhiều việc phiền lòng đây...

Ly Ly tuy đã có tuổi, nhưng là một phụ nữ đẹp, có sức quyến rũ không thua gì con gái trẻ. Người ta nói người phụ nữ khuyết tật luôn có sức quyến rũ, hấp dẫn tiềm tàng mà khó có người đàn bà lành lặn nào có được... Bởi vậy Ba Minh, một tay giang hồ khét tiếng, dưới trướng có không biết bao nhiêu em út trẻ đẹp, lại đi mê bà ta như điếu đổ, trong khi bà ta còn có chồng con và Ba Minh thì đang sống cùng hai bà vợ trẻ khác!

Giọng Ly Ly như mật ngọt:

- Bộ bị hai cái gông kia cột chặt sao mà mặt mày bí xị, hốc hác vậy cưng?

- Cột đâu mà cột, mà có cột thì làm sao giữ nổi thằng Ba Minh này?

Cuộc chuyện trò tình tứ giữa họ bị cắt ngang bởi chuông điện thoại reo vang.

Đã bị tiếng chuông điện thoại hành hạ suốt hai hôm nay, nên vừa nghe chuông reo Ba Minh đã nói liền:

- Đừng nghe!

Ly Ly cau mày:

- Sao lại đừng nghe? Em đang chờ điện thoại của Lan Hương từ Pháp gọi về mà.

- Nhưng...

Ba Minh không tiện nói ra ý của mình nên không cản nữa, để cho Ly Ly nhấc máy lên. Chẳng biết bà ta nghe ai nói gì trong điện thoại mà nhìn sững Ba Minh vừa quay ra hỏi:

- Ai mà biết anh ở đây?

Ba Minh hốt hoảng:

- Nói là anh vừa đi ra ngoài.

Nhưng giọng trong điện thoại đã vang lên giống y như lúc Ba Minh ở nhà mình:

- Sao vậy ông Ba Minh! Ông nghĩ là chạy trốn sang đây rồi có thể thoát được sao? Mà liệu ông thoát thì cô con gái cưng của ông và bà Ly Ly đây ở bên Pháp có thoát được chăng?

Câu nói này chẳng riêng Ba Minh sợ tái mặt, mà Ly Ly cũng rúng động. Bà run giọng hỏi:

- Cô là ai mà biết con gái chúng tôi?

Giọng người kia phá lên cười sắc như dao và sau tràng cười là một loạt âm thanh gầm rú nghe rợn người:

- Vừa nghe nói đến tên con gái mình thì đã lo sốt vó, trong khi đó thì lại đi giết con gái người khác không gớm tay!

Bà Ly Ly không còn giữ bình tĩnh được nữa, và điều khiển chiếc xe lăn thật nhanh, tiến sát tới bên điện thoại và chụp ống nghe lên, giọng bà run run:

- Cô... cô nói gì về con gái tôi? Nó... nó đâu có làm gì nó chỉ biết đi học thôi mà...

- Vậy con gái người ta thì sao, nó cũng chỉ biết sống vui và đi lấy chồng, có được hạnh phúc thôi, có làm gì ai đâu mà ông chồng của bà giết hại nó?

- Cô nói... ông ấy giết ai?

- Muốn biết giết ai thì bà hỏi người đàn ông bên cạnh bà đi!

Đến lúc này thì Ba Minh không còn giữ bí mật nữa, ông ta nói ra điều mà ngay cả người tình yêu dấu của mình ông cũng định giấu:

- Chỉ vì anh không muốn con gái mình bị chị Lệ Thủy bỏ rơi. Từ lâu anh đã muốn thằng Hoàng Lộc là con rể nhà mình. Chính em cũng muốn điều đó, bởi giữa em và chị Lệ Thủy từng hứa hẹn là sẽ làm sui gia với nhau mà...

Bà Ly Ly trợn tròn đôi mắt:

- Nói vậy con dâu chị Lệ Thủy chết là do anh?

Ba Minh nín thinh, chỉ có giọng trong điện thoại là vang lên:

- Chẳng những giết người con dâu vô tội kia, mà ông ta còn định giết luôn Hoàng Lộc nữa!

Không tin đó là sự thật, bà Ly Ly tròn mắt nhìn Ba Minh khiến ông ta lúng túng, run rẩy:

- Tôi... tôi... không có ý giết thằng Lộc. Hôm đó, tôi đã cho người phá cái chốt cửa bên tay lái, định hễ chiếc xe vừa sắp lao xuống vực thì bằng phản ứng tự nhiên, Hoàng Lộc sẽ tung cửa xe ra để thoát thân và chỉ ngã trên bờ vực, chứ đâu có ngờ. Nhưng cuối cùng Hoàng Lộc cũng đâu có chết!

- Trời ơi, anh Minh!

Bà Ly Ly thét lên rồi ngã chúi người về phía trước, toàn thân run lên bần bật.

Có lẽ cơn đau tim của bà đang bộc phát.

Ba Minh hoảng hốt:

- Ly Ly, em sao vậy?

Giọng kia lại vang lên:

- Ông lại phạm thêm một tội ác nữa rồi!

Sau câu nói đó thì giọng ấy im bặt... Chỉ có tiếng nấc của Ba Minh:

- Em ơi, anh chỉ muốn giành lại tình yêu cho con gái mình thôi. Chỉ còn một tháng nữa thì nó đã về nước, nó cần có một tấm chồng như con trai chị Lệ Thủy, có như vậy thì ngôi nhà này và những tài sản khác nữa của tụi mình mới không bị ngân hàng tịch biên để trả nó cho công ty bất động sản mà hiện nay thằng Hoàng Lộc đang làm giám đốc! Tôi chỉ muốn giữ hạnh phúc cho mẹ con em thôi mà...

Lời ông ta càng nói thì người bà Ly Ly càng co giật dữ dội hơn. Đến khi chợt nhớ ra thì Ba Minh mới bế xốc bà ta lên, chạy bay vào phòng riêng để cứu chữa.

Nhưng hình như đã quá trễ...
Sự đời cà khịa cái chơi
Khi vui muốn khóc, khi cười buồn tênh!
0
3. Quỷ Nhập

Bà Lệ Thủy dậy thật sớm và dặn Hai Sương:

- Bữa nay tao có khách, tụi bay lo đi chợ làm thức ăn đãi khách.

Hai Sương hỏi lại:

- Khách bao nhiêu người thưa bà?

- Khoảng bốn năm người!

- Dạ, là đàn ông hay đàn bà, khách chỉ ăn cơm hay khách nhậu ạ?

Bà Lệ Thủy bảo:

- Khách toàn đàn ông. Mày mua cho tao một nửa con chó.

Hai Sương sửng sốt:

- Bà... bà nói mua con gì?

- Mua thịt chó! Mày kêu xe đi xuống Trại Mát. Ở đó có bán thịt chó làm sẵn, mua về và chỉ làm đúng một món nướng cho tao thôi.

Hai Sương xanh mặt:

- Con... con đâu có biết làm thịt chó. Con cũng không quen mùi nữa...

- Không quen rồi sẽ quen. Đem về đây rồi tao sẽ chỉ cho cách làm.

Trước thái độ kỳ lạ của bà chủ, Hai Sương thấy hơi kỳ lạ. Bà ta ở nước ngoài về mà sao lại bảo nấu món thịt chó đãi khách?

- Mày ngạc nhiên vì tao bảo làm món thịt chó hả?

Không ngờ bà ta hiểu thấu tâm trạng mình, nên Hai Sương hơi lúng túng:

- Dạ... con chỉ lo món thịt chó hơi lạ, xưa nay đâu nghe ai đãi khách...

Bà Lệ Thủy bỗng phá lên cười:

- Người ta không đãi mà mình đãi mới hay! Vả lại những người này phải đãi họ thịt chó họ mới thích.

Hai Sương biết tính chủ, càng nói thì bà càng bảo lưu ý của mình, nên chị ta vừa lấy xe máy ra mà vẫn còn thắc mắc, nhưng vẫn đi mua. Khi chạy xe tới Trại Mát, vùng ngoại ô của thành phố Đà Lạt thì Hai Sương mới càng lúng túng hơn, bởi nhìn quanh chẳng thấy nơi nào bày bán thịt chó. Mà hỏi thăm thì Hai Sương lại không dám, bởi ai đời một phụ nữ lại đi tìm mua thịt chó?

Còn đang hoang mang, bỗng có người hỏi từ bên ngoài đường:

- Có phải cô kiếm mua thịt chó không?

Hai Sương giật mình:

- Dạ... dạ phải. Nhưng sao anh lại biết?

Người đàn ông trung niên cười cười:

- Thấy cô ngơ ngác thế kia thì biết ngay mà! Nhưng nói cho vui thôi, chứ đã có người dặn rồi, cô cứ lấy thịt mà mang về, khỏi phải trả tiền.

Hai Sương càng ngạc nhiên hơn:

- Có phải bà chủ tôi dặn không?

Người đàn ông lắc đầu:

- Cô không cần biết. Hãy mang về đi.

Ông ta vừa nói vừa đưa cho Sương một cái túi nhựa và dặn:

- Đem về nhà hãy mở ra, và chỉ cần làm theo hướng dẫn ghi trong giấy là sẽ có món ngon ngay.

Hai Sương xách cái giỏ mà tay run run. Từ nào đến giờ cô có biết thịt chó nó ra làm sao, cứ tưởng tượng nguyên con chó mới làm thịt nằm trong giỏ là Sương đã muốn nôn ói rồi.

Chị ta gồng mình cầm lấy và cắm đầu đạp xe như bay trở về nhà.

Vừa tới cổng nhà đã thấy thấp thoáng mấy người khách lạ đứng trong sân.

Bà Lệ Thủy nhìn ra giục:

- Mau đem vào đi, còn chần chừ gì nữa.

Rồi bà quay sang một người khách trẻ và bảo:

- Đã có cậu này rồi thì mày giao món thịt đó cho cậu ấy làm.

Nói xong, bà ta lại hướng về người đàn ông có tuổi đang đứng quay mặt vào trong và nói:

- Món ăn này mình ăn ngay tại sân thích hơn anh!

Người đàn ông quay lại, thì ra ông ta là Ba Minh. Nghe hỏi, ông ta miễn cưỡng đáp:

- Ừ cũng được. Mình vừa ăn vừa nói chuyện! Tốt nhất là chị không nên để cho mấy người làm ở ngoài này...

- Anh yên tâm, sẽ chỉ có đám mình thôi. Nào, mời cùng ngồi quanh bàn đá này, trong lúc cậu gì đó mang gói thịt tới đây, ta bày lên bàn rồi đưa bếp lò ra sau.

Tên đàn em của Ba Minh đặt chiếc giỏ lên bàn, vừa định mở ra thì đã bị bà Lệ Thủy ngăn lại:

- Không, vinh dự này phải để cho anh Ba chứ!

Ba Minh cười rất gượng:

- Ai cũng được mà, đâu hề gì.

Ông ta nói thế nhưng vẫn đưa tay mở dây cột giỏ ra. Gói khá lớn lại cột hơi kỹ, nên phải mất gần nửa phút ông ta mới mở bung được lớp bọc bên ngoài.

Vừa nhìn thấy vật bên trong thì Ba Minh đã kêu thét lên:

- Trời ơi!

Trước mặt ông ta và mọi người là một chiếc đầu lâu người, chứ không phải con chó. Mà cũng không phải cái đầu lâu bình thường, bởi tuy đã nằm rời thân thể, nhưng đôi mắt của cái đầu ấy vẫn còn chớp mắt như người sống!

Bọn thủ hạ của hắn do đứng bên ngoài nên nhanh chân chạy đi, còn Ba Minh thì cứng đờ một chỗ! Tuy nhiên, cũng chỉ chạy được mấy bước rồi chẳng hiểu bị gì mà đều đứng khựng lại như bị chôn chân xuống đất!

Bà Lệ Thủy bỗng dưng phá lên cười:

- Lũ giết người mà cũng biết sợ xác chết sao?

Nghe giọng bà là lạ, Ba Minh nhìn sững và lắp bắp hỏi:

- Chị Thủy, có phải là chị không?

Bà Lệ Thủy vẫn giọng cười khác thường:

- Nếu không phải thì là ai? Trước tiên, anh hãy nhìn vào cái đầu lâu kia xem là ai cái đã!

Ba Minh nhìn xuống lần nữa và lần này còn thét lên kinh hoàng hơn lần trước:

- Ly Ly!

Rõ ràng cái đầu của bà Ly Ly đang nhìn ông với đôi dòng lệ đang tuôn trào hai bên khóe mắt! Ba Minh vồ lấy và ôm đầu lâu vào lòng, vừa khi ấy có một tiếng rú lạ thường cất lên từ đầu lâu ấy, và... Ba Minh bật ngửa ra, buông rơi chiếc đầu lâu lăn lông lốc dưới đất.

Bọn đàn em hắn nhìn rõ mọi diễn biến, cả bọn chúng đều líu cả lưỡi, muốn kêu lên mà cũng không làm sao mở miệng được. Cho đến khi bà Lệ Thủy vụt đứng lên, tiến về phía chúng và cất tiếng hỏi:

- Đứa nào làm hư thắng xe của Hoàng Lộc?

Vừa hỏi, bà vừa chỉ thẳng vào một tên gọi là Hùng Sùi:

- Chính mày phải không?

Tên này vừa mở miệng định chối thì bỗng hắn thét lên đau đớn. Nhìn lại thì đã thấy miệng hắn đầy máu, một phần lưỡi của hắn đã rơi xuống đất!

Những tên còn lại kinh hoảng nhưng cũng đành đứng như bị trời trồng, cho đến khi bà Lệ Thủy hỏi tiếp:

- Thằng nào bỏ thuốc mê vào ly nước cho vợ Hoàng Lộc uống?

Bốp! Chát!

Vừa hỏi xong thì bà giương thẳng tay tát vào hai bên má thằng đàn em tên Năm Gà:

- Chính mày chứ còn ai vào đây!

Lại một cái lưỡi nữa rơi ra cùng lúc với tiếng kêu thảm thiết của tên nọ!

Đến lượt Ba Minh. Nãy giờ ông ta đã thất kinh hồn vía, vừa run vừa muốn chạy trốn, nhưng cũng là lúc bị gọi tên:

- Tụi nó chỉ là tay sai, được chủ sai đâu thì làm đó! Còn ông, ai đã sai bảo ông? Ông lý giải là do sợ con gái mình không lấy người chồng giàu phải không? Cho nên ông bằng mọi giá phải loại đối thủ của mình. Hành động đó của ông đã khiến cho người phụ nữ trót yêu ông mà cả đời phải hy sinh, chịu tật nguyền do ông cho uống nhầm thuốc phá thai, rồi vì ông mà bà ta phải chịu cảnh xa chồng, do người đàn ông kia không thể nào chịu nổi cảnh vợ mình mê một tay trùm xã hội đen như ông. Bây giờ bà ấy đã chết, bởi biết ông gây ra tội ác tày trời. Ông còn muốn gì nữa? Còn đứa con gái ông sắp về nước phải không?

Ba Minh gào lên, van lơn:

- Đừng, xin đừng hại tới con tôi. Mọi tội lỗi là do tôi, con gái tôi không biết gì hết, nó cũng không muốn làm theo tội ác của tôi đâu!

Ông ta vừa cử động tay chân được thì cũng là lúc cái đầu lâu của bà Ly Ly tự nhiên lăn đến dưới chân. Thuận tay, ông ta cúi xuống ôm lấy và nức nở khóc.

Nhưng lạ lùng thay, bỗng nhiên ông ta phát tru lên một tiếng thật dài, thật kinh khủng, rồi phóng mình xuống đất! Lúc đó Hai Sương và vài người nữa trong nhà nghe tiếng gào thét bên ngoài đã chạy ra nhìn, và sửng sốt khi nhìn thấy Ba Minh vừa nhảy xuống đất đã biến thành một con chó mực to tướng.

Hai Sương là người xách chiếc giỏ thịt chó về cho nên chị ta càng thêm kinh hãi khi nhìn thấy hiện tượng đó. Chị líu cả lưỡi:

- Ông... ông ta...

Khi ấy bà Lệ Thủy quay lại và nói to cho người nhà nghe:

- Kẻ ác nhân này đã đền tội rồi đó, vậy bà chủ của mấy người cũng được tha từ nay. Và hãy nói với bà ta không được đối xử với con dâu mình như vậy nữa!

Nói dứt lời thì như cái bóng, hình hài bà ta thành sương khói biến mất...

Sáu Xinh đứng bên cạnh nói với Sương:

- Bà ra coi, sao bà chủ mình biến đi đâu?

Hai Sương thất thần:

- Kỳ quá...

Chợt chị ta nhớ ra, bảo:

- Hồi nãy nghe bà ấy nói gì không? Tại sao bà ta nói là đã tha cho bà chủ mình rồi? Vậy bà ta là ai?

Họ chẳng hẹn mà cùng chạy vào nhà, gõ cửa phòng bà Lệ Thủy:

- Bà chủ ơi!

Họ gọi đến khàn cả cổ mà vẫn chẳng có tiếng trả lời, mà bên trong lúc ấy hình như có âm thanh ú ớ.

Hai Sương nói:

- Mình tông đại cửa vào thôi, biết đâu bà chủ bị nạn gì đó!

Họ tung được cửa thì vừa kịp nhìn thấy bà Lệ Thủy ngã lăn xuống sàn nhà.

- Bà chủ!

Họ vực bà dậy thì vừa lúc bà Lệ Thủy tỉnh lại, sợ hãi hỏi:

- Nó đâu rồi?

Hai Xinh hỏi:

- Bà chủ hỏi ai?

- Nó... vợ thằng Lộc...

Sau khi hoàn hồn lại, bà kể:

- Tao đang ngủ trong này chợt thấy có ai đè lên thân thể, rồi cổ tao như bị chặn ngang, không nói hay kêu la gì được. Mà cả chuyện ngồi dậy cũng không thể.

Hai Sương ngơ ngác:

- Vậy người nãy giờ ở ngoài sân tiếp khách là ai? Rồi hồi sáng này có phải bà sai con đi mua thịt chó không?

Bà Lệ Thủy tròn mắt kinh ngạc:

- Tao bảo mua thịt chó làm gì? Mà từ sáng tới giờ tao có ra khỏi phòng đâu, tao bị ai đó đè cứng trên giường này như tụi bay thấy đó!

Mọi người như từ trên trời rơi xuống, nhất là Hai Sương, chị ta ngẩn người một lúc rồi tự hỏi:

- Phải chăng là... mợ Hai?

Sáu Xinh nghe vậy liền hỏi:

- Oan hồn cô Mỹ Dung hả?

Hai Sương như người mất hồn:

- Oan hồn! Đúng là oan hồn!
 
***

Lan Hương vừa bước xuống phi trường, mới bước vào phòng chờ lấy hành lý thì đã thấy một thanh niên đưa tay vẫy vẫy ở cửa đợi. Lúc đầu tưởng là vẫy ai nên Hương không đáp lại, nhưng sau đó nhìn kỹ, cô thấy trên tay anh ta cầm một miếng bìa cứng đề tên LAN HƯƠNG, thì cô giật mình tự hỏi:

- Chẳng lẽ là anh chàng này?

Cô lấy một mảnh giấy nhỏ trong túi áo khoác và đọc lại: Hoàng Lộc sẽ chờ ở phi trường.

Chỉ biết Hoàng Lộc trước khi đi du học, đã cách trên mười năm rồi, nên lúc này đứng trước mặt anh ta chắc gì Lan Hương đã nhớ. Tuy nhiên, khi nhìn lại một lần nữa anh chàng cầm tấm bìa đề chữ Lan Hương kia, cô nàng thầm nghĩ: vượt quá mong đợi của mình rồi!

Hương còn nhớ cách nay hơn một tháng, cô đã nhận được lá thư của cha, trong đó ông có viết:

"Ba đã tìm được cho con người con trai mà con mong đợi, thằng Hoàng Lộc mà trước khi đi du học con từng khen là đẹp trai, thông minh mà lại hiền lành.

Mặc dù khi ấy Lộc mới có mười hai tuổi, còn bây giờ nó đã gần ba mươi, đang là một mẫu đàn ông khôi ngô tuấn tú, lại giỏi giang, giàu có. Ba má mà được nó làm rể thì còn hạnh phúc nào bằng!"

Cách ngày Hương về nước mấy hôm, cô còn nhận được một điện tín đánh từ quê sang, nói rằng khi về nước cô sẽ nhận được nhiều tin vừa xấu vừa tốt một lúc nhưng chính niềm hạnh phúc bất ngờ sẽ giúp cô vượt qua những tin gọi là xấu! Lúc đó, Lan Hương chưa hình dung được là chuyện gì. Cho đến hôm nay, suốt hơn mười giờ ngồi trên máy bay, cô nghĩ mãi mà vẫn chưa ra chuyện gì đang chờ mình ở nhà...

Sau khi lấy được hành lý, Lan Hương vừa đẩy xe ra tới cửa thân nhân đón thì Hoàng Lộc đã tiến đến gần và lên tiếng ngay:

- Tôi là Hoàng Lộc, đến đón Lan Hương theo sự cho phép của hai bác.

Lan Hương lịch sự, nhẹ giọng:

- Em đã được ba má nhắc nhiều về anh, nhưng không ngờ...

Lộc nói liền:

- Không ngờ gặp là thất vọng phải không!

Hai người cười vui và ngay từ phút giây ấy, họ đã thân nhau ngay. Điều này cả hai cũng không hiểu tại sao...

Đến khi Lộc lái xe đưa Hương về thẳng nhà mình thì thay vì ngạc nhiên, cô đã rất tự nhiên đi theo Lộc vào nhà và còn hỏi:

- Nhà có đủ phòng cho em ngủ lại không?

Hoàng Lộc đã chuẩn bị từ trước, anh chỉ về một căn phòng khang trang nhất trong nhà, đáp:

- Chẳng những có phòng mà còn là căn phòng đẹp nhất nữa!

Lan Hương không hỏi gì đến sự vắng mặt của cha mẹ mình, cho đến khi Lộc chủ động nói ra:

- Nếu bây giờ Hương nghe một tin buồn thì em sẽ làm sao?

Nàng bất ngờ hỏi:

- Anh muốn nói tới chuyện ba má em phải không?

Lộc gật đầu:

- Đúng vậy! Em có buồn lắm không?

Cô nàng sa nước mắt, nhưng vẫn tỉnh táo:

- Lúc ngồi trên xe anh, chẳng hiểu tại sao em lại nghe văng vẳng bên tai mình báo tin buồn này. Lúc đó em bàng hoàng, vừa muốn khóc lên thì bất chợt xe anh quẹo vào nhà, ngừng lại thì em như... một người khác. Bây giờ em chỉ bùi ngùi một lúc rồi thôi...

Hoàng Lộc cầm lấy tay nàng, nói rất khẽ:

- Từ bây giờ em không còn là... Lan Hương nữa! Đúng hơn, em là Lan Hương, nhưng thực chất em là... vợ anh thật sự!

Lộc nói những lời này vừa nhìn Hương, cô nàng không có phản ứng gì, ngoài việc nhìn anh đắm đuối.

Sau đó, hai người đứng trước bàn thờ của Mỹ Dung, Hoàng Lộc lên tiếng:

- Anh đã làm theo đúng những gì em muốn rồi đó! Bây giờ Lan Hương đã về đây, cô ấy rõ ràng hoàn toàn không biết những gì cha mẹ mình làm. Cô ấy...

Lời của Lộc chưa dứt thì đã nghe chính miệng Lan Hương thốt lên:

- Em biết rồi, không quay lại nhìn em sao?

Hoàng Lộc quay lại nhìn và anh kêu lên thích thú:

- Em đây mà, Mỹ Dung.

Tiếng cười khúc khích của cô nàng vừa lúc cánh cửa lớn mà Lộc vừa mở lúc nãy bỗng dưng sập lại, đèn đang sáng cũng tắt ngúm. Chỉ còn lại tiếng reo vui của hai con người trong bóng tối:

- Làm người ta hết hồn!

- Cám ơn em đã đền cho anh...

- Nhớ đây là phần thưởng dành cho con người trung thực, hết lòng yêu vợ của anh. Nếu anh lạng quạng thì chẳng những mất em luôn mà cả cái xác Lan Hương này cũng sẽ thuộc về người khác đó nghe!

- Ai dại gì mà để mất... cả hai!

Một cú nhéo đau điếng, mà người lãnh đủ chính là Hoàng Lộc. Anh chàng ráng nhịn đau, nhưng đến lúc chịu không nổi phải kêu lên:

- Đau, đừng nhéo chỗ đó em!

Trong bóng tối, hai người quyện lấy nhau và có lẽ hạnh phúc sẽ ở với họ lâu lắm...
 
***

Chuyện Lan Hương và Hoàng Lộc thành hôn với nhau tuy diễn ra âm thầm, nhưng vẫn có một số người biết. Họ bàn tán với nhau:

- Thằng Lộc sao tệ quá, vợ mới chết chưa đầy sáu tháng đã lấy vợ khác rồi!

Người lại nói:

- Mà cũng lạ, nghe nói vong hồn cô Mỹ Dung linh lắm, mà sao lại chấp nhận cho người vợ mới của Lộc về ở trong ngôi nhà còn bàn thờ cô ta trong đó?

Mặc ai nói gì thì nói, Lộc và Lan Hương vẫn hạnh phúc bên nhau. Bà Lệ Thủy vẫn ở Đà Lạt, nhưng thỉnh thoảng về Sài Gòn. Mỗi lần về, bà đều rất hòa hợp với Lan Hương, khác xa với thái độ hờ hững, đố kỵ với Mỹ Dung ngày trước.

Và nếu có ai nhìn thấy thì sẽ ngạc nhiên hơn, bởi bà luôn đứng trước bàn thờ của Mỹ Dung và lâm râm khấn vái rất thành khẩn. Có lần bà còn gọi Lan Hương lại gần, đứng trước bàn thờ và nói:

- Má biết lỗi của mình, biết được tấm lòng vị tha của con khi chấp nhận cho Lan Hương đem xác mình về nhập với hồn của con để làm vợ thằng Lộc. Má cám ơn con...

Bí mật của Lộc và Lan Hương chỉ có bà Lệ Thủy biết, và bà đã thề với lòng là sẽ mãi mãi giữ kín. Bởi vậy nhiều người ngạc nhiên tại sao Lan Hương từ lúc về nước chưa một lần về nhà thăm ngôi nhà của mẹ cô.

Ngôi biệt thự đồ sộ đó bị bỏ hoang... Tuy nhiên, khi tìm hiểu thì người ta mới phát hiện ra trong nhà không phải hoàn toàn vắng hoe mà thật ra còn có một... con chó mực rất lớn trú ngụ! Con chó đó là hiện thân của Ba Minh!

Ngôi biệt thự tuy không có người, nhưng chỉ có con chó ấy, nó đã giữ cho ngôi nhà luôn luôn ấm cúng như có người ở. Không một kẻ trộm nào dám léo hánh vào bởi đã từng có mấy lượt, kẻ tham lọt vào nhà và lập tức bị con chó cắn cổ, xé xác.

Chỉ có vợ chồng Lan Hương là biết chuyện. Họ thường tâm sự với bà Lệ Thủy:

- Con chó mực đó là hồn của Ba Minh nhập vào. Ba Minh là kẻ đại ác, nên chết không thành ma mà thành quỷ. Tuy nhiên, nó đã bị Mỹ Dung khắc chế, nhốt nó vĩnh viễn trong ngôi nhà đó. Ở trong ngôi nhà thì nó chỉ là con chó tinh ranh, nhưng bình thường nó không có gì nguy hiểm. Trừ phi có ai đó tìm cách đưa nó ra ngoài, lúc đó nó sẽ trở nên cực kỳ nguy hiểm! Người bị nó nhập sẽ là quỷ nhập tràng, nguy hiểm khôn lường...

Bà Lệ Thủy lo sợ hỏi:

- Sao con không diệt nó hẳn cho rồi, để như vậy sẽ có ngày...

Nhưng vong hồn Mỹ Dung đã quả quyết:

- Chỉ khi nào anh Lộc ruồng bỏ Lan Hương, tức ruồng bỏ con, thì lúc đó con mới để cho con chó mực thoát ra ngoài. Và lúc ấy nạn nhân đầu tiên sẽ là... Hoàng Lộc!

Hoàng Lộc dúi mặt vào tóc vợ, âu yếm:

- Trời có sập anh cũng không dám bỏ em nữa là...
Sự đời cà khịa cái chơi
Khi vui muốn khóc, khi cười buồn tênh!
0
Quyển XXIX:
YỂU MỆNH

1. Người Con Gái Bạc Phận

Vượt qua vô vàn khó khăn, cuối cùng hai người mới được toại nguyện. Đám cưới vừa xong là Văn mệt phờ người, anh ngủ vùi một đêm mãi gần giữa trưa hôm sau mới giật mình tỉnh dậy. Vừa mở mắt ra, anh đã nhận được một tiếng thở dài ngay bên cạnh.

- Anh xin lỗi.

Văn quay sang nói với tác giả tiếng thở dài vừa rồi và lại nhận thêm một cái ngúng nguẩy, xoay người nhanh sang nơi khác kèm theo tiếng thở dài còn dài hơn.

- Người ta biết lỗi rồi mà. Chỉ vì đêm qua anh quá say, khi vào tới phòng đã không còn biết trời trăng gì nữa. Thậm chí anh còn không biết có em nằm bên cạnh nữa!

Cho đến lúc này Ngọc Mai mới chịu quay mặt lại, giọng vẫn còn hờn dỗi:

- Đêm động phòng của anh là như vậy đó hả?

Biết lỗi của mình nên Văn lại xuống giọng hơn nữa:

- Biết lỗi rồi mà... tha cho lần đầu đi, rồi anh sẽ đền bù xứng đáng cho.

Ngọc Mai bật dậy ngay, vừa chỉ tay xuống nệm, nơi có vài ba vết màu đỏ loang lổ:

- Anh hưởng đời con gái mà như vậy đó sao? Anh có biết là suốt đêm qua em khóc bao nhiêu nước mắt không?

Văn cũng giật mình và bật dậy ngay, mắt nhìn vào dấu vết đó vừa run giọng hỏi:

- Anh... anh đã làm gì?

Lần này không phải là tiếng thở dài nữa, mà là một tiếng kêu thảng thốt:

- Anh không biết mình đã làm gì?

- Ờ... anh say quá, có ngóc đầu dậy nổi đâu...

- Vậy vậy ai đã làm ăn như gà mổ. Làm tiêu đời con gái người ta mà chẳng màng tới kết quả ra sao nữa. Ai đã...

Văn thật sự tỉnh táo:

- Em nói đêm qua anh đã… đã... làm gì? Anh còn mặc nguyên quần áo đây mà! Anh...

Văn không ngờ chỉ câu nói đó của mình mà Ngọc Mai đã òa lên khóc! Quá đỗi ngạc nhiên, Văn hỏi:

- Em làm sao vậy, Mai? Anh nói không phải sao, anh ngủ như chết và có làm gì đâu?

Thêm câu nói này nữa thì sức chịu đựng của Mai đã hết, cô nhảy phóc xuống giường, vừa ôm mặt khóc vừa chạy bay ra khỏi phòng. Văn gọi với theo:

- Mai! Dừng lại đã.

Vừa đuổi theo vợ, Văn vừa cảm giác đầu mình nặng như chì, anh lảo đảo và suýt ngã sấp ngoài cửa. Nhưng do Mai cứ nhắm hướng đường xe mà chạy, nên Văn cũng phải cố đuổi theo.

Trong khi đó thì mấy bà cô, bà dì tới dự cưới đêm qua còn ngủ lại trong nhà, khi nghe cuộc đuổi bắt của vợ chồng Văn đã cùng thức dậy ra xem. Họ đã không tiếp Văn đuổi theo giữ Mai lại mà còn đứng nhìn nhau và cười. Bà cô thứ Sáu còn trẻ nên bạo miệng hơn, đã lên tiếng:

- Thằng Văn này không biết tâm lý gì hết. Chắc là con nhỏ vừa ngủ dậy thấy bị... mất đời con gái nên mắc cỡ! Mà thằng cũng tệ, phải biết tâm lý con gái chứ nó cảm giác như bị mất, đồng thời như phạm tội... Chắc là thằng Văn nói gì không khéo làm cho con nhỏ quá ngượng mà bỏ chạy đó, Chắc là chạy về bên nhà.

Bà dì út kéo tay mấy bà kia:

- Mình vào coi kết quả có đáng mừng không?

Cả bốn bà vừa cô vừa dì đã cùng bước vào phòng tân hôn của vợ chồng Văn. Người la lên đầu tiên là cô Sáu:

- Điểm son rồi chị Hai ơi! Chị trúng độc đắc rồi! Trúng số rồi!

Mấy bà kia sau khi nhìn mấy đốm màu đỏ trên nệm cũng đều la lên.

- Hỷ sự thật rồi!

Đối với các bà còn nặng cổ tục thì việc nhìn thấy dấu vết "con gái" sau đêm tân hôn của cô dâu là điều đại hỷ, nên việc họ cùng la lớn mà không ngượng là có lý của nó.

Bà mẹ chồng Hai Ngân từ trong bước ra, chỉ nghe thôi cũng đã mãn nguyện, bà thở một hơi dài như trút được gánh nặng:

- Suốt đêm qua tới giờ tôi cứ ngay ngáy trong lòng...

Rồi bà quay sang các chị em chồng phân bua:
 
- Cưới vợ cho con thời nay nó cực vậy đó. Lo nết ăn nết ở của nó chỉ một, mà lo... đời con gái của nó còn không là gấp mười lần! Tôi thấy con Ngọc Mai sống theo tân thời nên cũng lo lo. Cũng may, trời còn thương nhà này.

Mấy bà kia được dịp tự tán dương mình:

- Thấy không, tụi này có con mắt tinh đời mà, thoạt nhìn đã biết con nhỏ có phước tướng, cưới nó về rồi đây chị Hai phát tài cho coi!

Một bà dì lại nói:

- Có được con dâu còn… "nguyên vẹn" là điều phải ăn mừng lớn đó! Thôi, bảo tụi nó đem giặt tấm drap đi, để con nhỏ lại mắc cỡ nữa bây giờ!

Nhưng bà cô Sáu lại nói:

- Không cần. Phải để cho con Mai nó tự đi giặt, còn mình thì hãy đóng cửa lại, làm như không biết gì...

Nửa giờ sau..

Trong lúc cả nhà đang phấn khởi trước dấu hiệu vui thì Văn trở về với bộ mặt rầu rĩ, anh thấy mọi người nhìn mình thì bực dọc:

- Làm như con là quái vật hay sao vậy?

Bà Hai Ngân phải lên tiếng:

- Mấy cô mấy dì đang có ý định làm bữa tiệc riêng mừng vợ chồng con đó!

Văn trố mắt:

- Mừng chuyện gì?

Cô Sáu là người bạo miệng nhất:

- Chuyện con có được con vợ đại hỷ!

Dì út thì nói:

- Thời buổi này mà được con vợ như nó là đại phước đó! Thiên hạ bỏ ra bạc triệu cũng không có, chứ phải chơi đâu!

Thật bất ngờ, Văn buông một câu:

- Có gì đâu mà quý, máu lươn đó?

Bà Hai Ngân nghe như sét đánh ngang tai, bà há hốc mồm rồi vài giây sau mới hỏi:

- Con... con nói gì?

Văn nói toẹt ra:

- Con mới chạy qua nhà cô ta hỏi cho ra lẽ, tuy cô ta không chịu nhận, nhưng con biết chắc đó là... máu lươn! Chứ có phải...

Cô Sáu la lên:

- Tụi bay điên rồi hay sao mà làm vậy? Sao mày biết?
 
Văn sa sầm nét mặt vốn đã nặng từ nãy giờ:

- Đêm qua con say bí tỉ, ngủ mê như chết thì làm sao... có chuyện đó được. Cô ta đã...

Bà Hai Ngân chụp lấy vai con:

- Chuyện này có thật!

- Còn thật với giả gì nữa. Sáng nay khi thức dậy con biết chắc mình... không có làm gì hết, vậy mà cô ta lại trách con. Làm ăn không ra gì, rồi còn nổi giận bỏ chạy khi con tỏ ý nghi ngờ. Đến khi con chạy theo về nhà cha mẹ cô ấy, hỏi thì cô ấy làm dữ, đóng ầm cửa lại không thèm tiếp chuyện với con. Má coi như vậy có tức không!

Bà Ngân thừ người ra trước cái tin bất ngờ này, mãi một lúc sau bà mới thở dài một tiếng rồi lặng lẽ bỏ đi về phòng riêng. Mấy bà dì bà cô xúm lại định hỏi, nhưng Văn đã buồn bã rút vào phòng mình, rồi suốt chiều đó anh không hề bước ra ngoài, cũng chẳng buồn cơm nước gì...

***

Bà Ngân vừa xuống xe xích lô thì đã nghe có người gọi mình:

- Chị Hai! Vào đây!

Mắt hơi kém nên nhìn dáo dác mà không thấy ai, chỉ nghe giọng hơi quen quen thôi, nhưng bà Ngân vẫn bước về phía người gọi.

- Có dâu mới rồi quên bạn bè hết sao!

Bước tới gần hơn, lúc này bà Ngân mới nhận ra bà bạn cũ:

- Trời ơi, bà coi mắt mũi tôi đó, cách có chục bước mà như mù.

Bà Tư Xinh hình như đã có ý đợi sẵn, nên nói:

- Biết chị thế nào cũng đi chùa nên tôi đợi, chẳng ngờ đợi đến mỏi cổ ra chị mới tới. Sao đi chùa trễ vậy?

Bà Ngân chỉ giỏ trái cây, giải thích:

- Bận chờ con nhỏ bán trái cây, nó hẹn đem xoài cát vừa chín tới để mình cúng Phật, mà giao trễ đến gần một tiếng đồng hồ, làm trưa trờ trưa trật tôi mới đi được. Mà sao bà không tìm tôi ở nhà lại chờ ở đây?

- Tôi không dự đám cưới được nên ngại đến nhà. Vả lại có chút chuyện nên muốn gặp chị ở đây tiện hơn.

Đã lâu không gặp nhau, vừa rồi lại không thấy bà ta tới dự đám cưới, nên bà Ngân có ý ngại:

- Tôi có bảo sắp nhỏ qua gửi thiệp và lời cáo lỗi với bà, mấy bữa đó tôi nhức cái chân đi không được, chứ đúng ra phải trực tiếp qua mời. Sao, có giận gì không! Tôi xin lỗi.

Bà Tư khoát tay:

- Không có chuyện đó đâu, người xin lỗi phải là tôi. Nhưng bữa nay tôi gặp chị không phải vì chuyện đó, mà là...

Bà ta hạ thấp giọng ra vẻ quan trọng:

- Có một người muốn gặp chị, nhờ tôi nói trước...

Bà Ngân ngạc nhiên:

- Ai muốn gặp tôi sao lại phải nhờ bà? Bộ người ta không thể biết nhà tôi sao?

- Chị nhớ người này không?

Vừa lúc đó, người đàn bà nãy giờ ngồi quay mặt vào tường giờ mới quay ra, vừa nhìn thấy thì bà Ngân đã reo lên:

- Chị Năm!

Người được kêu là chị Năm đó là Năm Thảnh, một người đối với bà Ngân có mối thâm tình còn hơn là một người bạn cũ. Và chẳng hiểu sao, sau tiếng kêu thảng thốt đó thì bà Ngân lại biến sắc! Giọng bà hơi run:

- Chị Năm về hồi nào, mà sao tôi không hay.

Giọng người phụ nữ có vẻ không tự nhiên:

- Tôi đâu có được hoan nghênh, nên làm sao báo trước! Mà cũng phải, báo trước thì đâu có cuộc gặp hôm nay!

- Chị Năm.

Có lẽ hiểu ý, nên Tư Xinh đứng lên:

- Xong nhiệm vụ rồi, tôi xin kiếu, rồi bữa nào sẽ qua nhà gặp chị Hai sau. Tôi đi có chút việc nhà...

Không giữ bà lại có lẽ cũng hạp ý bà Năm Thảnh, nên bà ta nghiêm giọng nói:

- Chuyện này có lẽ giải quyết giữa tôi với chị tốt hơn.

Bà Ngân bắt đầu lộ rõ sự lo lắng, bối rối:

- Tôi không có ý đó...

- Chị muốn nói là không có ý nuốt lời hứa với tôi chứ gì? Nhưng bằng chứng là chị có tôn trọng những gì đã hứa đâu. Chị đã là bà mẹ chồng của cô dâu mà đứa con gái đó không là con gái của tôi!

Bà Ngân lúng túng:

- Tôi không có ý...

- Tốt hơn là chị đừng nói với tôi những lời thanh minh ấy. Chị đã cưới vợ cho con trai mình, trong khi nhẫn đính hôn với con gái tôi thì nó vẫn còn đeo. Chị giải thích sao về điều này đây?

Bà Ngân như một tội nhân đứng trước mặt quan tòa, bà đáp buông xuôi:

- Chuyện này tôi cũng không biết nói sao nữa. Thằng Văn nó cũng không có ý bội bạc, chỉ vì... chỉ vì...

- Chỉ vì đám đó giàu hơn nhà tôi, con dâu mới đẹp hơn con Xuân Lan nhà tôi, đúng không. Vậy thì ngày đó chị mai mối xin cưới con gái tôi làm gì? Chị có nhớ là khi chị dẫn thằng Văn qua coi mắt con nhỏ, chính tôi đã nói là tôi chỉ có mỗi con Xuân Lan, nên tôi chưa muốn gả, vậy mà chị nói cho bằng được, chị hứa hẹn đủ điều đến nỗi con nhỏ cũng phải xiêu lòng, nó bỏ cả năm học cuối để chuẩn bị về nhà chồng, để rồi...

Những lời của bà ta nói đến đâu bà Ngân nghe buốt óc đến đó. Dẫu bà đã biết trước sẽ có ngày này, nhưng đối mặt với nó bà lại mất hết can đảm để nói thật. Bởi sự thật này nó có điều sâu kín, khó nói ra một lúc...

Phải mất đến gần một phút sau, bà Ngân mới nói được một câu có đầu có đuôi:

- Ông nhà tôi trước khi mất có nợ một số tiền lớn của bên đó, nên mẹ con tôi không còn cách nào khác hơn là phải tiến hành lễ cưới. Tôi cưới dâu mà lòng đau như cắt chứ có sung sướng gì đâu...

- Đau lòng mà sao còn đòi con dâu phải còn trinh tiết!

Bất ngờ trước câu nói của bà ta, bà Ngân ngơ ngác:

- Sao... chị biết chuyện đó?

- Bởi biết mới gặp chị để nghe chị giải thích ra sao? Bị ép buộc phải cưới con người ta, sao còn đòi hỏi? Muốn đòi hỏi tiêu chuẩn cao sao chê con gái tôi?

Nói tới đó bà ta đứng phắt dậy, nói gần như rít lên:

- Tội ác của mẹ con chị rồi đây trời sẽ phạt cho sáng mắt ra! Đã ác độc làm cho con gái tôi thất vọng vì nhục nhã, nay còn làm cho một đứa con gái khác chết oan vì tội bêu xấu, hỏi còn chỗ nào để nói nữa không!

Bà Ngân như bị sét đánh ngang tai, bà bàng hoàng:

- Chị Năm nói gì? Ai… chết?

Bà Năm Thảnh cười khẩy:

- Đẩy con gái người ta chỉ sau một đêm tân hôn vào chỗ chết mà còn ngây thơ hỏi ai chết, có lẽ chỉ có mẹ con nhà mấy người thôi!

Bà ta nói xong bước đi liền, không thèm nhìn lại dù cho bà Ngân kêu liền mấy tiếng. Phải một lúc sau thì bà Ngân mới hoàn hồn, chạy ra gọi xích lô mà quên cả cái giỏ trái cây đi cúng chùa! Hấp tấp bảo người đạp xe:

- Chú chạy tới chợ Tân Định giùm.

Nhà của Ngọc Mai.

Vừa ngừng xe trước cửa, bà Ngân đã điếng hồn khi nhìn thấy người ra vào tấp nập, mà sắc mặt người nào cũng căng thẳng. Nhác thấy bà, một người trong nhà đã thốt lên:

- Quân sát nhân còn dám vác mặt tới đây nữa sao?

Bà sui gia cũng vừa đi đâu về, bà ta lên tiếng ngay khi thấy bà Ngân:

- Tôi tốn tiền xe để kêu mấy người qua đây đền mạng cho con tôi, sao mấy người ác quá vậy!

Bình thường thì giữa bà Ngân và gia đình Ngọc Mai đã chỉ bằng mặt mà không bằng lòng, đặc biệt là với người đàn bà nổi tiếng là cay nghiệt đanh đá trong giới buôn hột xoàn, đá quý, mà từ cái tên Ba Tú đã được người ta đổi thành Tú Bà Bà. Nay xảy ra chuyện thì phải biết...

- Sao bà chưa vào mà đền mạng cho con tôi, còn đứng đó để chờ tôi rước vào hay sao?

Vừa sợ vừa nhục, bà Ngân chưa biết phải xử lý ra sao thì chợt bà nghe có tiếng phía sau lưng:

- Má để con đưa vào!

Quay lại nhìn thấy Văn đi cùng một người phụ nữ lạ tuổi trung niên, bà Ngân ngạc nhiên:

- Sao con cũng tới vậy?

Văn rất tự tin, mặc dù lúc đó mọi ánh mắt trong nhà đều đổ dồn ra mẹ con anh với sự hằn học, như chực xỉa xói, chửi bới! Và quả nhiên như thế, bà Ba Tú đã hất hàm nói lớn:

- Nhà này không đón loại người kia như khách, mà là tội phạm, là quân ác!

Lời bà ta vừa dứt thì có hai ba thanh niên lao ra, giữ tay Văn lại. Họ vừa định lôi Văn đi, thì người phụ nữ đi theo đã lên tiếng:

- Các người hãy khoan manh động.

Rồi bà quay sang bà Tú:

- Bà không còn nhớ tôi sao? Người đã tiếp bà qua điện thoại ba lần hồi đầu tuần này. Người đã...

Người này vừa nói tới đó thì bà Tú đã bị rung động:

- Vậy bà là...

- Hai Xuân. Bà nhớ ra chưa?

Chỉ bấy nhiêu đó thôi. Bà Tú như bị trời trồng, thần sắc tái nhợt ngay:

- Bà... bà...

Lúc này Văn mới lớn tiếng:

- Con chỉ muốn thắp hương cho vợ con, và mẹ con cũng tới đây với ý tốt. Vậy má...

Anh chưa dứt lời thì bà Tú đã đưa mắt nhìn mấy thanh niên kia, họ buông Văn ra rồi rút đi hết. Lúc này khách mới được mời một cách nhã nhặn:

- Dạ, mời chị sui.

Văn vẫn tỏ ra lịch sự:

- Thưa má, con không có ý làm tổn thương...

Bây giờ người phụ nữ đi theo Văn mới lại tiếp:

- Tôi cũng muốn giấu chuyện này, bởi nó là danh dự một con người. Nhưng bởi chuyện xảy ra tày đình quá, nên buộc lòng tôi phải lên tiếng. Thật ra việc tôi giúp cho cô Ngọc Mai có được là chỉ nhằm... bảo vệ hạnh phúc lứa đôi mà thôi… Việc một chút máu lươn, máu cá đó cũng chỉ để...

Lúc này bà Ngân mới hiểu hết đầu đuôi, bà sửng sốt nhìn bà sui gia, rồi nhìn người phụ nữ kia:

- Trời ơi, sao lại cần phải làm tới những chuyện ấy! Trinh tiết người con gái còn ở đức hạnh, phẩm chất, chứ đâu chỉ ở mấy vết máu dính ở drap nệm. Trời ơi, tội ác này dẫu không nhúng tay vào, nhưng tôi cũng không làm sao tránh được tội! Ngọc Mai ơi, sao con...

Bà lao tới chỗ quan tài cô con dâu, trong lúc Văn cũng làm thế và gục xuống nấc lên trong niềm đau vô bờ...

Bà Tú lặng người đi, rồi cuối cùng bà cũng bật khóc. Chợt một người từ trong nhà ra, có lẽ chưa biết nội dung cuộc nói chuyện giữa đôi bên nãy giờ, nên giọng bà ta tỏ ra đanh đá.

- Mấy người rõ là quân sát nhân mà! Cháu tôi chỉ mới về nhà chồng một đêm mà mấy người nhẫn tâm làm cho nó phẫn chí phải tự tử chết, trong lúc cái bào thai trong bụng nó đã trên hai tháng rồi...

Ý bà ta cho rằng tác giả bào thai là của Văn, cho nên mới mạnh miệng nói như thế. Nào ngờ lời đó vừa thốt ra thì cả mấy người ở đó đều tái mặt. Chính bà Tú cũng kêu lên:

- Trời ơi!

Rồi bà quỳ xuống ngay trước đầu quan tài con gái. Bà Ngân thì vừa nhìn sang con trai mình, hoang mang tột độ:

- Con... có chuyện đó sao con không nói?

Văn tế nhị, không muốn nói chuyện ấy, nhưng ở thế chẳng làm cách nào hơn, nên anh phải lên tiếng:

- Con với Ngọc Mai chưa một ngày quan hệ với nhau trước khi cưới. Vả lại nếu đã có gì với nhau thì việc gì Ngọc Mai phải dàn cảnh những dấu máu đó làm gì...

Sự hung hăng của người kia cũng bị xìu ngay, nhưng bà ta cũng vẫn cố vớt vát:

- Tôi là cô của nó, tôi đâu để cháu mình bị oan ức như vậy được!

Tuy nhiên lúc ấy bà Tú đã tỉnh lại, bà đưa tay kéo nhẹ cô em chồng của mình lại gần, thều thào:

- Đừng nói nữa… Người ta đâu có gì sai...

Bà cô già vẫn chưa chịu:

- Nhưng con Mai nó chết oan với cái thai trong bụng là cháu của họ!

Bà Tú lạc giọng:

- Tôi nói không... phải mà. Mọi việc là ở... thằng Tài con bà Sanh...

Nói chỉ được bấy nhiêu đó rồi bà lại xỉu một lần nữa.

Bà cô thì sau một lúc sững sờ đã gào lên:

- Đồ quân khốn nạn! Tao sẽ giết hết tụi bay!

Rồi bà bỏ chạy ra ngoài, để lại mẹ con bà Ngân đứng bơ vơ đó. Trong lúc ấy thì người nhà của bà Tú cuống cuồng lên lo cứu bà tỉnh lại, mà không một ai chú ý đến điều bất thường đang xảy ra: Có một người phụ nữ trẻ đầu trùm gần kín trong chiếc khăn choàng, đã bước vào nhà và đứng ngay trước cửa nhìn vào cỗ quan tài rất lâu mà không nói gì. Lạ một điều là giữa lúc đó bên ngoài có nhiều khách đến dự lễ tang đang ngồi, vậy mà hầu như không một ai để ý. Hoặc là họ không nhìn thấy? Một lúc sau thì người đó lặng lẽ bỏ đi. Có người trong nhà bước qua chỗ cô ta vừa đứng chợt nhìn thấy một mảnh giấy nhỏ của ai đó đánh rơi. Chị cầm lên và đọc thấy mấy chữ viết vội: Văn, tôi hận anh?

Người nhặt được mảnh giấy đó là chị họ của Ngọc Mai, chị gọi lớn vào trong:

- Văn, có ai gửi cậu cái gì nè!

Văn bước ra ngay và sau khi đọc, anh bàng hoàng kêu:

- Của Ngọc Mai! Cái này chị lấy ở đâu ra!

Văn lặng người, ai nghe kỹ mới biết là anh vừa nói:

- Ngọc Mai, anh xin lỗi...

Chỉ có Văn mới biết những dòng chữ kia là do Ngọc Mai viết. Mà hình như là mới vừa viết đây thôi...
Sự đời cà khịa cái chơi
Khi vui muốn khóc, khi cười buồn tênh!
0
2. Cô Gái Tuổi Tuất

Gần ba năm sau...

Sau một thời gian dài sống gần như khép kín, tách biệt khỏi mọi cuộc vui chơi... Văn mới trở lại đời sống bình thường. Hôm nay cũng là chuyến đi chơi đầu tiên của anh sau mấy năm và nơi anh đến là một vùng biển vắng, rất ít du khách. Chính Văn cũng chẳng hiểu sao mình lại chọn khu Mũi Nai của Hà Tiên, có thể là một sai lầm khi ngẫu hứng chọn lựa. Tuy nhiên, khi đặt chân tới rồi thì anh mới cảm thấy là mình chọn không lầm.

Bởi ở một nơi vắng và còn hoang sơ này mới thích hợp cho một cuộc tịnh dưỡng tinh thần. Văn chọn một nhà trọ bình dân ở gần bãi biển và còn cẩn thận hỏi người chủ phòng trọ:

- Ở đây có đông khách lắm không?

Bà chủ thật thà:

- Chỉ có cuối tuần thì mới có thêm một số khách, hoặc là dịp lễ, còn không thì lai rai ít người thôi. Nếu cần sự yên tĩnh thì nơi này quá thích hợp.

Văn cũng không giấu giếm:

- Tôi chỉ ngại có quá đông người. Nếu vắng được như vậy có lẽ tôi sẽ ở chơi một tuần.

Bà chủ mừng rỡ:

- Được những người khách như cậu thì tôi thích lắm. Mà cậu cũng đừng đi ra ngoài hàng quán ăn cơm chi cho mất công, thích ăn uống gì cứ cho biết, tôi sẽ phục vụ cậu như ở nhà.

Văn tỏ ra thích thú:

- Được vậy cũng tốt. Vậy mỗi ngày bà cứ cho ăn gì cũng được, miễn là đừng có thịt. Tôi ngán thịt và những món nhiều mỡ, chất béo.

Sau khi dặn dò, Văn ngủ một giấc dài...

Đến khi choàng dậy thì thấy trời đã tối, đồng thời anh ngửi được mùi thức ăn thơm lừng. Đói bụng, Văn định bước ra ngoài nhắc bà chủ dọn cơm, nhưng khi vừa bước xuống giường anh đã giật mình khi nghe có người nói ngay trong phòng mình:

- Em tính kêu nhưng chưa kịp thì anh đã dậy. Em xin lỗi đã vào phòng mà không xin phép. Chỉ vì em sợ để thức ăn bên ngoài mèo chó ăn...

Nhìn thấy một mâm cơm còn nghi ngút khói đặt trên bàn, Văn ngạc nhiên:

- Cô là ai mà lại mang cơm vào đây?

Lúc này Văn mới nhìn kỹ cô gái đang xới cơm một cách tự nhiên, anh hơi giật mình bởi nhan sắc cực kỳ quyến rũ, không có vẻ gì là con gái xứ này, hơn nữa khó lòng nghĩ rằng đây là người giúp việc cho bà chủ nhà trọ.

Do vậy Văn hơi lúng túng:

- Cô đây là…

Vừa khi ấy bà chủ nhà trọ xuất hiện, bà đáp thay:

- Quên nói với cậu, tôi còn có con nhỏ cháu ở xa tới chơi, hôm nay nghe có khách nên nó giúp một tay.

- Dạ, cám ơn bà chủ.

Cô gái trở nên dạn dĩ hơn:

- Người trực tiếp làm lại không được lời cám ơn nào, cũng hơi buồn...

Bà chủ nhà trọ phải chặn lời:

- Con nhỏ này, ăn nói...

Văn chen vào:

- Không, cô ấy nói đúng, tất nhiên sau bà chủ nhà là phải cám ơn cô nhiều nhưng bên cạnh đó tôi lại xin được trách...

Anh chưa dứt lời, bà chủ đã lo lắng hỏi:

- Có chuyện gì làm cậu không hài lòng?

Văn chỉ vào cô gái:

- Có, cô này...

Bà chủ nhà trọ càng hoảng hơn:

- Xuân Lan, con làm gì để khách phiền vậy?

Cô gái tên Xuân Lan hốt hoảng:

- Dạ, con có làm gì đâu, ngoài nghe lời dì con mang cơm vào đây thôi. Có chăng là con quên gõ cửa lúc bưng cơm vào.

Văn xua tay:

- Tôi đâu dám trách chuyện ấy. Tôi chỉ muốn nói điều đã nói rồi với bà chủ, tôi không muốn bị phá vỡ sự yên tĩnh. Mà cô đây...

Chợt ngớ ra, bà thở phào:

- Tưởng chuyện gì, chứ điều ấy thì... cho tôi xin lỗi. Nhưng con Xuân Lan này đâu phải là khách trọ hay ai xa lạ nó là con cháu trong nhà, cũng kể như...

Xuân Lan lại mau miệng:

- Coi như là người hầu cũng được!

Văn áy náy:

- Ai dám có người hầu như cô!

Bà chủ trọ hình như cố ý:

- Nếu cậu không phiền thì từ bữa nay tôi xin để nó dọn cơm, lau dọn phòng cho cậu. Con nhỏ tuy dáng tiểu thư như vậy chứ nó giỏi giang và siêng năng lắm.

Rồi không để Văn có ý kiến, bà chủ trọ bước ra khỏi phòng với một câu nói thòng:

- Xuân Lan, hãy giúp cho khách quý của chúng ta!
 
Lúc đầu đúng là Văn không thích sự có mặt của một người như cô gái này trong phòng mình, nhưng chỉ sau chưa được hai phút thì trong đầu Văn lại đổi chiều suy nghĩ. Anh dịu giọng:

- Nãy giờ tôi nói đùa, thật ra được một người như cô dọn cơm cho ăn thì dẫu bụng no vẫn muốn ăn!

Và ngay sáng hôm sau, khi bữa điểm tâm được dọn bởi một người khác thì Văn đã cảm thấy khó chịu:

- Sao không phải là cô gì đó...

Cô bé phục vụ thật thà:

- Dạ, cô Lan bị đau bụng không dậy nổi.

Văn hốt hoảng:

- Có nặng lắm không? Bây giờ cô ấy ở đâu?

- Dạ, ở phòng phía sau.

Rồi chẳng màng tới mâm thức ăn, Văn phóng ra khỏi phòng trước sự ngạc nhiên của con bé phục vụ:

- Kìa, cậu!

Văn luýnh quýnh như người thân của mình bệnh nặng, anh chạy ra phía sau thấy có hai căn phòng đều đóng kín cửa, chẳng biết Xuân Lan ở bên nào để gõ cửa thì chợt anh nghe từ phía sau lưng.

- Ủa, mới sáng sớm anh đã thức rồi sao?

Quay lại thấy Xuân Lan, Văn hơi sửng sốt:

- Vậy ra... cô không phải đang đau?

Cô nàng ngạc nhiên:

- Sao anh biết?

- Thì... con bé gì đó nói…

- À, con nhỏ bé Tư nhiều chuyện. Việc con tôi đau bụng thì có gì phải nói với khách. Con này thật là...

Văn trố mắt:

- Cô vừa nói gì? Ai bệnh?

Có lẽ lỡ lời nhưng sau đó thì Xuân Lan vẫn tự nhiên trả lời.

- Dạ, đó là con gái em. Lúc nửa đêm nó đau quá nên em phải ra tận thị xã kiếm thuốc.

- Cô, có con rồi?

Thấy vẻ ngạc nhiên của Văn, Xuân Lan không khỏi bật cười.

- Chuyện em có con sao anh lại sửng sốt như vậy? Chẳng khác gì một anh chàng khi được người yêu báo tin có thai!

- Ồ không... không phải vậy! Chỉ vì tôi thấy cô...như con gái mà.

Vừa lúc đó từ trong phòng có tiếng trẻ con khóc thét lên, khiến Xuân Lan hốt hoảng:

- Trời ơi, con tôi.

Cô chạy nhanh vào phòng và hét to từ trong đó:

- Dì Hai ơi, con của con!

Văn quên cả giữ ý, anh bước nhanh vào và nhìn thấy một đứa bé còn rất nhỏ, chỉ khoảng vài tuổi, lăn lộn trên giường, người tím tái như sắp chết đến nơi.

Trong lúc Xuân Lan còn đang lúng túng chưa biết phải làm sao, ngoài cách ôm con vào lòng, đứa bé có lẽ quá đau, nên nó giãy giụa càng dữ hơn. Văn rất nhanh nhẹn, anh lao tới bế xốc nó lên và chạy bay ra ngoài, vừa nói với lại:

- Qua bên phòng tôi, tôi có thuốc đau bụng và có cách làm cho nó bớt đau!

Anh về tới phòng mình thì Xuân Lan cũng chạy theo kịp. Cô tiếp với Văn đặt đứa bé xuống giường. Văn tỏ ra khá sành về chăm sóc bệnh, vừa làm anh vừa giải thích:

- Tôi là một bác sĩ chuyên khoa nhi, nên đi đâu tôi cũng mang theo.

Anh pha một chút thuốc và bảo Xuân Lan:

- Cô cho cháu uống đi!

Do quá sợ nên tay cô run, đút mấy muỗng thuốc mà cũng không xong. Văn phải giành lấy muỗng và bảo:

- Cô để tôi!

Anh đút thuốc cho đứa bé chẳng khác gì một ông bố thương con, lo cho con. Nhìn từng động tác của anh, Xuân Lan có vẻ cảm phục lắm. Sau khi đút hết số thuốc, Văn còn lấy dầu xoa khắp vùng bụng cho đứa bé và sau đó bảo Xuân Lan.

- Cô tiếp tôi giữ chặt cháu lại, để tôi xem kỹ coi cháu có bị đau ruột thừa không?

Anh dùng tay ấn lên bụng bên phải của đứa bé, khám đi khám lại mấy lượt và trầm ngâm không nói gì... Sốt ruột Xuân Lan hỏi.

- Cháu có sao không anh?

Văn thở phào:

- Không có dấu hiệu của đau ruột thừa. Có thể cháu nó bị trúng thực. Uống thuốc này vào, một lát sau nếu cháu đi tiểu được thì ổn, còn không thì có lẽ phải đưa đi bệnh viện.

Lời của Văn vừa dứt thì... chính Xuân Lan cũng muốn ngạt thở, bởi đứa bé xổ ra tất cả những gì có trong bụng! Mùi tanh tưởi, hơi thối tỏa lan khắp phòng.

- Chết rồi, nó... làm bậy trên giường rồi!

Văn tỏ ra cảm thông:

- Không hề gì, cứ để cho cháu đi… Được như thế này mình có thể yên tâm rồi!

Quả nhiên như vậy, sau một hồi xổ ra những gì tích tụ khiến bụng đau con bé dịu lại ngay, nó không còn lăn lộn la khóc nữa. Và trước sự bất ngờ của Xuân Lan, đích thân Văn cúi xuống bế đứa bé lên một cách nhẹ nhàng rồi bước thẳng vào nhà tắm để rửa. Xuân Lan hốt hoảng:

- Không, dơ lắm, để em!

Nhưng Văn đã rất tự nhiên, ôm bé trong lòng, ngồi xổm xuống và nhẹ nhàng rửa cho nó. Xuân Lan phải tiếp anh nên chỉ một lúc sau, đứa bé đã được rửa sạch và đúng phương pháp, không để cho bé bị lạnh. Anh chỉ nói:

- Cô giúp dọn tấm trải giường giùm, thay cho tấm khác để tôi đặt cháu lên.

Xuân Lan đề nghị:

- Hay để em ẵm cháu về bên phòng em...

- Không nên, cháu đang đi vào giấc ngủ sau khi kiệt sức vì đau bụng. Bây giờ giấc ngủ của cháu còn tốt hơn cả thuốc. Cô làm theo lời tôi đi, trong lúc tôi bế cháu thì cô thu dọn đi.

Phải mất gần mười phút mới xong. Thời gian đó, Văn khéo léo ẵm đứa bé trên tay, áp sát nó vào lòng, vừa bước tới lui vừa nhẹ nhàng ru cho nó ngủ. Vừa dọn giường, Xuân Lan vừa liếc mắt nhìn và không giấu được xúc động. Khi đặt bé xuống xong, Văn nói:

- Lúc này cháu nó cần ngủ cho say. Chỉ cần đụng khẽ vào là cháu giật mình và có thể ảnh hưởng tới bộ thần kinh non nớt của cháu. Tốt hơn là cô cứ ở đây với cháu, tôi ra ngoài chơi cũng được.

- Hay là... anh cứ qua bên phòng của em nằm nghỉ đỡ.

- Ồ không. Ai lại...

- Không sao cả, phòng bên em cũng giống y như bên anh thôi. Được như vậy em mới không áy náy...

Sau một chút ngần ngừ, Văn gật đầu:

- Thôi, cũng được.

Anh bước đến phòng của Xuân Lan và khá ngạc nhiên khi cánh cửa gài chốt bên trong. Vậy còn ai trong phòng ngoài mẹ con Xuân Lan?

Anh vừa định quay bước thì chợt cánh cửa mở toang ra, nhưng lại chẳng thấy người mở. Tò mò, Văn bước tới và lên tiếng:

- Ai trong đó vậy?

Không ai đáp, nên buộc lòng Văn phải bước hẳn vào trong. Anh nhìn thấy một người nằm trên giường, mặt quay vào trong.

- Xin lỗi, ai vậy?

Cửa phòng tự dưng đóng sập lại, cùng lúc người trên giường cất tiếng:

- Tự tiện vào nhà là tư cách gì vậy?

Nghe giọng quen quen, Văn giật mình:

- Cô là...

- Tôi hỏi anh chưa trả lời?

- Tôi… được chủ phòng này cho phép ngủ nhờ. Tôi...
 
Văn đứng cách giường đến hai thước vậy mà chẳng hiểu sao, như bị một sức hút mạnh, khiến cả người anh lao tới sát bên giường và rồi bất thần anh bị người nọ kéo mạnh lên giường. Văn mất bản năng tự vệ, anh ngã nằm chồng lên người cô ta.

- Tôi… tôi xin lỗi!

Thay vì than phiền, cô nàng lại kéo sát người Văn vào mình, kề tay anh nói thật nhỏ:

- Không nhận ra người quen sao?

Văn có muốn quay lại nhìn cũng không được, bởi nàng ta ôm quá chặt, trong khi Văn đang rất hoang mang bởi giọng nói, trong đầu anh đang lướt qua những hình ảnh có thể là người chủ nhân của giọng nói... Bỗng anh kêu lên:

- Ngọc Mai!

Tiếng kêu của anh đồng thời với vòng tay của cô nàng lơi ra. Văn vừa chồm dậy được thì lại một lần nữa phải ngạc nhiên tột cùng:

- Kìa... sao lại là cô?

Trước mặt Văn là Xuân Lan.

- Sao lại là cô?
 
Văn kinh ngạc hỏi lại.

Tưởng mình nhìn lầm, Văn phải cúi xuống nhìn lại lần nữa. Nàng ta đang nhìn anh với nụ cười kỳ lạ...

Văn phóng người xuống và chạy một mạch về phòng mình. Chưa tới cửa, anh đã kêu lớn:

- Cô Lan ơi!

Văn khựng lại ngay cửa phòng và thất sắc! Bởi trong phòng anh, Xuân Lan đang ngồi dưới sàn mà đầu thì dựa vào cạnh giường ngủ một cách ngon lành!

- Cô Lan.

Văn gọi, nhưng cô nàng không tỉnh lại ngay, hình như còn trong cơn mơ, giọng thì thào:

- Con chờ mẹ… mẹ sắp làm được điều đó rồi... chờ mẹ nghe con.

- Cô Xuân Lan! Cô...

Lúc này Xuân Lan mới tỉnh hẳn, cô bật dậy, vừa ngơ ngác:

- Có chuyện gì vậy?

- Ở... ở bên phòng cô...

Anh nói và chạy như bay về hướng phòng của Xuân Lan. Cô nàng chạy theo. Khi đứng trước cửa phòng, Văn mới lắp bắp nói:

- Ở trong này...

- Cái gì trong đó?

- Một cô... một cô giống như cô!

Chẳng hiểu Văn muốn nói gì, Xuân Lan bước hẳn vào trong và nhìn khắp một lượt, cũng chẳng thấy gì. Chính Văn cũng kinh ngạc:

- Cô ta mới ở đây mà? Cô ấy nằm trên giường cô!

Chẳng còn thấy cô ta, Văn tái mặt khi nhớ tới giọng nói quen thuộc và hồi nãy bất chợt anh tưởng đó là giọng của Ngọc Mai.

Thấy Văn thừ người ra, Xuân Lan hỏi:

- Anh bị sao vậy?

Văn đành phải kể lại chuyện vừa rồi. Nghe xong, Xuân Lan giật mình:

- Ở đây làm gì có chuyện kỳ lạ ấy xảy ra? Nơi đây vắng khách nên cũng đâu có ai tới tận phòng riêng của em để lộng hành như vậy!

Xuân Lan tỏ ra bị kích động nhiều trước sự việc này, nhưng cũng may, vừa lúc đó thì tiếng khóc thét của đứa bé bên kia khiến cô phải chạy về. Văn cũng chạy theo và một lần nữa anh biến sắc khi nhìn thấy trên cổ của bé có đeo một vòng chuỗi màu tím rất nổi bật, mà vừa thoạt trông thấy nó Văn đã sửng sốt?

- Sao lại như thế này.

Xâu chuỗi này chính anh đã mua theo yêu cầu của Ngọc Mai ngay sau lễ hỏi của hai người và ai cũng nhận xét rằng nó là xâu chuỗi có màu sắc độc nhất vô nhị. Điều đó cũng đúng, bởi sau đó mỗi khi đeo Ngọc Mai đều nhận được những tia nhìn trầm trồ. Và chính người chủ hiệu kim hoàn, nơi bán xâu chuỗi đã nói với Văn rằng đó là xâu chuỗi duy nhất đem về Việt Nam. Không thể có xâu thứ hai!

Vậy tại sao bây giờ nó lại ở đây? Văn bước lại gần hơn xem kỹ và anh phải thốt lên:

- Ngọc Mai!

Mà cũng lạ, đứa bé đang khóc thét, vậy mà khi nghe Văn kêu hai tiếng Ngọc Mai thì tức thời nó nín lặng và đưa mắt dáo dác tìm...

Xuân Lan ôm con vào lòng cô nói nhỏ đủ mình nghe:

- Mẹ đã hứa rồi mà, mẹ không để con phải khổ tâm. Hãy tin mẹ...

Văn nghe không rõ, tưởng cô than trách gì với con, nên anh lên tiếng:

- Cháu giật mình thôi, chứ không sao đâu. Cô xem, sắc mặt cháu đã khá lên nhiều rồi.

Xuân Lan hơi lúng túng:

- Em, em nói chuyện để xem nó tỉnh hẳn chưa, chứ không có gì...

Cô nàng không tỏ ra chút ngạc nhiên gì với sự xuất hiện xâu chuỗi trên cổ con mình, cho đến khi Văn hỏi:

- Xâu chuỗi này ở đâu cô có và cô đeo cho cháu lúc nào vậy?

- Ủa, nãy giờ em không để ý. Cái này không phải của em, mà cũng chẳng biết ai đã đeo lên cổ cháu nữa? Rõ ràng lúc nãy đâu có!

Văn thẫn thờ một lúc rồi nhẹ thở dài...

Câu chuyện thương tâm sau đêm tân hôn ba năm trước như một đoạn phim đang diễn ra trước mắt, khiến trong một tích tắc không kiềm chế được, anh ôm đầu khóc lên rưng rức. Xuân Lan ngạc nhiên:

- Anh sao vậy? Anh vừa gọi Ngọc Mai, mà đó là ai?

Văn có nhu cầu trút cạn nỗi niềm mà từ rất lâu rồi anh không biết thổ lộ cùng ai:

- Ngọc Mai là người vợ chỉ chung sống với tôi có đúng một đêm tân hôn rồi ra đi vĩnh viễn. Mà thật ra đêm tân hôn đó đâu đáng được gọi là đêm thiêng liêng của một đôi vợ chồng đúng nghĩa. Chẳng qua cũng tại tôi. Tôi là thằng đàn ông chẳng ra gì, đồ bỏ đi. Cũng tại tôi mà…
 
Xuân Lan tỏ ra quan tâm đến câu chuyện:

- Anh nói lỗi tại anh, vậy sao lúc ấy anh không xin lỗi hoặc là tỏ cho cô ấy biết là anh hối hận chẳng hạn?

Văn lắc đầu:

- Tôi có dịp nói lời nào đâu!

- Nhưng phải có nguyên nhân gì mới khiến cô ấy bỏ anh chứ?

Văn thở dài:

- Cô nói điều này đúng. Nguyên nhân là bởi từ sự vô tình của tôi trước nỗi đau của Ngọc Mai. Dẫu biết rằng lúc ấy nàng cần một sự cảm thông, an ủi. Vậy mà tôi quá khốn nạn!

Xuân Lan hơi bị kích động qua câu nói của Văn:

- Anh nói cảm thông là cảm thông điều gì?

Văn không giấu giếm:

- Cô ấy lỡ có thai với người tình và trong đêm động phòng đó, nàng sợ tôi phát hiện ra, nên đã...

Văn không tính nói ra, nhưng vô tình Xuân Lan lại khơi đúng mạch:

- Có phải nàng tìm cách qua mặt anh chuyện trinh tiết không?

Văn giật mình:

- Sao cô biết?

- Thì... chuyện vợ chồng trong đêm tân hôn từ ngàn xưa mà! Có phải anh quá căng thẳng chuyện ấy?

Văn buông một tiếng thở dài:

- Căng thẳng thì có, nhưng chính vì sự căng thẳng đó mà tôi đã phạm vào một tội ác không thể tha thứ được!

- Tội ác gì?

- Giết vợ!

- Ủa, chính anh trực tiếp giết?

- Không trực tiếp, nhưng vì lòng ích kỷ, hẹp hòi, đã đẩy nàng tìm tới cái chết, như vậy không phải do tôi giết là gì.

Ngừng lại một lúc, Văn không thể không nói ra hết những gì chất chứa trong lòng:

- Mẹ tôi và các cô, dì của tôi đều lên án việc Ngọc Mai có thai hai tháng khi về nhà chồng, điều đó cũng là lẽ thường tình, bởi có ai chấp nhận được một cô dâu mang về nhà mình đứa con của người khác! Trong trường hợp đó, đáng lẽ tôi phải là người cảm thông, chia sẻ nỗi đau với Ngọc Mai, đằng này tôi xuôi tay, bất lực. Đau cho tôi hơn khi vài tuần sau đó, tôi tìm hiểu và được biết rằng Ngọc Mai đã bị lừa và cô ấy đang chơi vơi giữa dòng nước lũ, còn một bàn tay cứu giúp là tôi, thì tôi lại phủ phàng từ chối. Cô ấy chết là tự giải thoát mình, nhưng đó là bản án nặng nề nhất mà tôi phải gánh chịu. Bởi vậy từ ba năm nay, tôi để cho nỗi ăn năn gặm nhấm lương tâm mình...

Khi nhìn sang đứa trẻ, Văn bỗng ứa nước mắt lần nữa, rồi giọng anh chùng hẳn xuống:

- Tội lỗi của tôi càng nặng hơn khi Ngọc Mai chết mang theo cả bào thai hơn hai tháng, mà nếu còn sống thì chắc cũng cỡ tuổi này!

Nói xong thì cơn xúc động của Văn đã lên tới cực điểm, nên anh bật khóc như chưa bao giờ được khóc như thế. Đứa bé đột ngột ngồi bật dậy, khỏe như những đứa trẻ bình thường! Nó nhìn Văn rồi cất tiếng:

- Nếu con ông còn sống thì ông có nuôi nó không?

Trước câu hỏi bất ngờ của nó, Văn hơi lúng túng, nhưng cũng trả lời suôn sẻ:

- Chắc chắn là bác sẽ nuôi như con ruột mình! Bác thề trước trời đất, bằng cả lương tâm mình, bác sẽ làm một người cha tốt nếu có được đứa con như vậy!

- Nhưng nó là con người khác mà?

Không ngờ đứa bé mới hơn ba tuổi lại hỏi được câu hỏi như vậy, nên Văn cúi xuống vuốt lên tóc nó giọng trìu mến.

- Bác ao ước có được một đứa con như cháu vậy. Bác muốn lắm.

Có lẽ cử chỉ đó, những lời nói đó của Văn đã chạm vào nỗi niềm của cô nàng, nên bỗng dưng Xuân Lan bật khóc.

Đứa bé ôm mẹ và cũng khóc theo! Trong phút chốc, cả ba người đều ràn rụa nước mắt. Đột nhiên Xuân Lan ôm con đứng dậy rồi chạy bay ra cửa. Đứa bé quay lại nhìn Văn như không muốn rời...

Và chẳng biết mẹ nó hay chính nó đã ném mạnh xâu chuỗi về phía Văn. Anh sợ nó rơi rồi bị đứt, nên vươn tay ra chụp. Xâu chuỗi quấn chặt vào tay Văn, rồi chẳng hiểu bằng cách nào, nó lại quấn thành nhiều vòng, ôm sát lấy cổ tay Văn như người ta đeo chiếc vòng xuyến!

Chính Văn cũng ngạc nhiên, anh kêu khẽ:

- Sao thế này?

Anh thử cởi ra, nhưng không làm sao cởi cho được, mà nếu cố sức thì chắc chắn xâu chuỗi sẽ bị đứt!

Ngẩn người ra một lúc và cũng từ giây phút đó, tự dưng Văn cảm thấy như có một luồng khí lạnh chạy dài theo sống lưng, rồi lan ra khắp cơ thể. Khí lạnh ấy chạy đến đâu thì Văn nghe như có hàng vạn mũi kim châm vào da thịt mình. Anh hốt hoảng kêu lên:

- Làm sao đây!

Lời anh chưa dứt thì cả thân người Văn lảo đảo, rồi đổ xuống sàn nhà...
Sự đời cà khịa cái chơi
Khi vui muốn khóc, khi cười buồn tênh!
0
3. Cuộc Hội Ngộ

Phải hai tuần sau thì Văn mới bình phục và rời khỏi bệnh viện Rạch Giá. Thay vì trở về Sài Gòn ngay theo lệnh của mẹ, nhưng Văn lại quyết định một lần nữa xuống Hà Tiên. Anh trở lại bãi biển Mũi Nai, quyết tìm lại ngôi nhà trọ mà ở đó anh đã gặp những con người kỳ lạ.

Nhưng như một giấc mơ, dẫu đã đi tìm cả buổi mà vẫn chưa tìm ra đúng nơi anh từng ở hồi tuần trước. Hỏi thì ai cũng lắc đầu bảo:

- Ở đây làm gì có ngôi nhà trọ đó.

Bãi tắm Mũi Nai khá nhỏ, vào thời ấy chỉ có đúng hai nhà trọ, mà cả hai Văn đều tới và đều thất vọng, bởi từ phòng ốc cho tới con người, chẳng có nơi nào giống với nơi kia. Kể cả hai căn phòng nằm phía sau như chỗ ở của Xuân Lan cũng không hề có. Vậy hóa ra những gì vừa trải qua là một giấc mơ sao?

Văn hoang mang, nghi ngờ cả trí nhớ của mình... Nhưng cuối cùng anh vẫn quả quyết rằng những gì đã xảy ra là thật. Bởi vật còn lại trên cổ tay anh đã nói lên tất cả, đó là xâu chuỗi màu tím. Nó càng lúc càng như bám chặt lấy thịt da Văn, mặc dù lúc ở bệnh viện hình như người ta đã có ý lột nó ra nhưng không thành công.

Giờ đây tuy nó không còn gây ra cảm giác lạnh buốt như lúc mới đeo, nhưng dẫu cho có như thế thì Văn vẫn không có ý muốn cởi nó ra nữa.

Văn cố kiên nhẫn nán tại Mũi Nai thêm một đêm. Anh thuê một phòng và đêm đó có ý thức rất khuya để đợi... nhưng đến quá nửa đêm, do quá mỏi mệt nên Văn thiếp đi cho đến sáng. Vừa thức dậy, Văn đã bàng hoàng khi trên cổ tay mình không còn thấy xâu chuỗi nữa! Mọi cửa nẻo đều đóng kín nên khó có người ngoài lọt vào. Mà cho dù có người khác thì cũng chẳng làm sao lột xâu chuỗi ra được. Vậy mà...

Văn bần thần rất lâu, bỏ cả bữa ăn sáng chỉ để tập trung đi tìm xem có ai đeo xâu chuỗi ấy trên cổ. Nhất là những đứa bé, gặp đứa nào Văn cũng cố tình lại gần và nhìn kỹ...

Đến trưa hôm đó, chẳng còn hy vọng gì nên Văn định chỉ ở cho hết một ngày tiền phòng nữa rồi sẽ đi.

Nhưng khi anh trở về phòng trọ thì quá đỗi ngạc nhiên khi thấy phòng của mình đã có người khác trú ngụ! Hỏi ra thì chủ nhà trọ chưa từng cho anh thuê phòng, bằng chứng là trong sổ lưu trú không hề có tên anh vào đêm qua.

Sau một hồi cãi vã, Văn đành phải hỏi thuê phòng khác, nhưng đã bị từ chối với lý do nhà trọ hết phòng. Quá bực mình, Văn sang nhà trọ còn lại. Nhưng điều không ngờ đã xảy ra: nhà trọ ấy cũng báo là hết phòng.

Bực quá, Văn hỏi:

- Ở bãi biển này làm gì có khách nhiều đến đỗi cả hai nhà trọ mà hết cả phòng?

Chủ phòng trọ đưa sổ cho Văn xem thì quả nhiên cả mấy chục phòng đều đã có người ở! Văn đành tiu nghỉu gọi xe ra chợ Hà Tiên với ý định trở về Sài Gòn ngay. Nhưng lúc ấy đã quá trưa, nên bến xe vắng tanh. Phòng bán vé báo cho Văn biết là đã hết xe, muốn đi phải mua vé trước và chờ sáng ngày hôm sau.

Tối đó, Văn đành phải thuê phòng khách sạn ở lại. Khi đăng ký ở khách sạn Giang Thành, Văn nghe cô tiếp tân bảo:

- Cũng may cho anh, bữa nay có nhiều khách từ tỉnh khác tới, người ta đặt chỗ trước hết cả hai chục phòng ở đây. Căn phòng này vốn là của hai mẹ con một vị khách đã ở đây mấy ngày rồi, đáng lẽ cô ấy còn ở lại tới chủ nhật này, nhưng chẳng hiểu sao lại đột ngột trả phòng và đi lúc sáng nay, nên mới còn trống cho anh mướn đấy.

Văn hơi tò mò:

-Hai mẹ con đó tên gì vậy cô?

Cô lễ tân nhìn Văn vừa cười cười:

- Chà, bộ đi tìm người yêu hả? Cô ấy tên là... Xuân Lan và đứa bé cỡ ba tuổi...

Vừa nghe đến đó, Văn đã cuống lên:

- Cô ấy đâu?

Cô lễ tân đáp:

- Đi từ sớm rồi. Nghe nói về Cần Thơ.

Văn hỏi một câu hơi quá tò mò:

- Cần Thơ mà huyện, xã nào cô có biết không?

Vậy mà chẳng ngờ cô lễ tân lại biết:

- Hôm qua nghe cô ấy nói quê mình ở gần chợ Ô Môn, Cần Thơ.

- Ô Môn!

Tự dưng Văn giật mình! Hình như anh đã có nghe ai đó nói quê cũng ở địa danh này... Nhất thời Văn chưa thể nhớ đó là quê của ai, nhưng trong đầu Văn cứ lởn vởn mấy từ Ô Môn... Ô Môn...

Văn nghĩ, đây là sự ngẫu nhiên đến lạ lùng. Anh vô tình lại thuê đúng căn phòng người mà mình muốn đi tìm! Phải chăng đó là cơ duyên?

Mải nghĩ miên man nên khi cô lễ tân đưa xâu chìa khóa phòng mà Văn vẫn còn lơ đãng nhìn đi nơi khác...

- Chìa khóa phòng của anh đây.

Văn lững thững đi tìm phòng. Anh định sau khi nhận phòng rồi sẽ đi một vòng quanh chợ, để may ra còn có thể gặp mẹ con cô ấy...

Nhưng khi vừa mở cửa phòng, bật đèn lên thì Văn ngạc nhiên khi nhìn thấy xâu chuỗi màu tím đang nằm trên gối.
 
***

Xe đò dừng ở đầu cầu Ô Môn, Văn lưỡng lự một lúc rồi mới bước xuống. Việc Văn quyết định ghé nơi này là một hành động mạo hiểm. Bởi đây là lần đầu anh đến nơi này. Nhìn nhà cửa hai bên đường, chưa thấy có vẻ gì là thị trấn thì Văn lại càng lo, liệu nếu không tìm ra chỗ cần tìm mà trời tối thì làm cách nào để ngủ tạm, trong khi chẳng hề thấy có nhà trọ nào quanh đây?

Gọi một chiếc xe ôm, Văn hỏi bác tài:

- Gần đây có nơi nào trọ qua đêm không bác?

Nhìn qua Văn một lượt bác tài đáp:

- Tìm khách sạn sang trọng như ở Cần Thơ thì không có, chứ phòng trọ bình dân thì thiếu gì. Mà cậu muốn ở gần đây hay vào trong thị trấn?

- Thị trấn còn cách bao xa bác?

- Khoảng năm trăm thước thôi, nhưng mấy người muốn ngủ qua đêm rồi sáng mai đón xe đò đi Sài Gòn thì người ta thường ở chỗ nhà trọ gần đây. Cậu Hai cần chỗ nào?

Leo lên xe xong, thay vì về chỗ trọ, Văn lại bảo:

- Bác chạy cho cháu mấy vòng thị trấn này, bao nhiều tiền cháu sẽ trả.

Bác tài mỉm cười:

- Chà, dân thành thị lần đầu về chợ quê muốn ngắm mấy cô gái quê phải không?

Văn thấy ông ta vui nên cũng đùa.

- Gái quê dễ thương hơn con gái thành thị bác ơi!

Bác tài cười lớn tiếng:

- Coi bộ muốn kiếm vợ xứ này hay sao vậy?

Văn vui miệng đùa:

- Nếu kiếm thì có dễ không bác?

Ông già đáp ngay:

- Dễ ợt.

- Bác biết có ai làm mai cho cháu được không?

Văn nói đùa, nhưng ông già lại tưởng thật:

- Cái vụ đó thì tôi dám nhận lời lắm à! Tôi có đứa cháu gái, năm nay chỉ mới 21 tuổi, đẹp như gái thành thị, chỉ có điều...

Đã lỡ đùa rồi nên Văn đùa tới luôn:

- Kể cả gái đã từng có chồng rồi cũng được, miễn hiền và ngoan và đạt yêu cầu!

Ông già nói luôn:

- Nó lỡ có một con rồi...

Tự dưng Văn chợt nghĩ tới Xuân Lan:

- Con được mấy tuổi bác?

- Cỡ ba tuổi! Cậu dám lấy gái có con rồi không? Tôi xem tướng cậu năm nay có lẽ cũng gần ba chục, mà chọn gái còn son thì e khó...

Văn cười:

- Son hay không son đều được cả, miễn hạp nhãn!

- Cậu nói thật không, tôi giới thiệu liền?

- Con của bác?

- Không, tôi có quen với chỗ này, họ có một đứa con gái tuy tuổi còn trẻ mà đã lỡ…

Văn chưa kịp có thêm ý kiến gì thì đã được đưa tới một nơi cách thị trấn Ô Môn chừng nửa cây số xe ngưng trước một ngôi nhà ngói xưa khá rộng. nhưng vắng người.

- Cậu xuống đi, trong nhà có người đang đợi cậu!

Lời vừa dứt thì bác tài cũng vừa nhấn bàn đạp, mà không cần lấy tiền xe. Chiếc xe lôi vọt đi trước sự ngỡ ngàng của Văn:

- Kìa bác...

Văn chưa biết phải làm gì thì đã nghe người trong nhà nói vọng ra:

- Đã tới rồi thì vào nhà đi chứ?

Rồi một bà cụ từ trong bước ra, nheo mắt nhìn khách cho rõ. Văn cúi chào:

- Dạ, kính chào bà. Con đi kiếm nhà một người tên là... Xuân Lan. Chẳng hay bà có biết vùng này có ai tên đó không ạ?

Bà cụ mở cổng rào ra, vừa nói:

- Đã tới rồi thì vào đi, còn hỏi gì?

Ngạc nhiên bởi thái độ bà cụ và cả ông lái xe lôi. Văn phải hỏi lại:

- Cháu cần tìm một người tên là Xuân Lan, vậy bác có biết?

Bà cụ không trả lời, lại khóa cổng, rồi đi thẳng vào trong sau khi nói.

- Cậu ngồi ở phòng khách đợi.

Bà bỏ đi ra nhà sau, khiến Văn càng khó xử hơn. Anh cứ lúng túng không biết phải làm sao thì chợt nhìn thấy trên tường có một khung ảnh lớn, trong đó có hàng chục bức ảnh nhỏ hơn, mà một trong những tấn ảnh đó khiến cho Văn phải giật mình:

- Sao lại là họ?

Anh bước vào gần hơn để nhìn và bàng hoàng kêu lên:

- Chính là họ rồi!

Trong ảnh là cha mẹ của Ngọc Mai và cả ảnh của cô nữa, có lẽ chụp cách năm ba năm gì đó. Trông Ngọc Mai chẳng khác gì lúc về nhà chồng!

- Đây là...

Văn vừa buột miệng thốt ra chưa dứt lời, thì sau lưng anh đã có người lên tiếng:

- Ngạc nhiên phải không? Trái đất tròn mà...

Nghe tiếng quen quen, Văn quay lại đã kêu lên:

- Kìa… má!

Bà mẹ của Ngọc Mai đang đứng giữa phòng khách với bộ mặt lạnh lùng! Văn tưởng như mình nhìn lầm:

- Má... sao má lại ở đây?

Bà Thảnh ngồi xuống ghế và chỉ chiếc ghế đối diện:

- Cậu ngồi xuống đây.

Văn như người từ trên trời rơi xuống, anh ngồi mà lúng túng thấy rõ:

- Con... con không hề biết má ở đây. Con chỉ...

- Chỉ đi tìm người con gái tên Xuân Lan phải không?

Bị lật tẩy, Văn càng cuống lên:

- Dạ... sao... sao má biết? Nhưng mà con chỉ tìm để trả lại cô ấy xâu chuỗi...

Không ngờ bà mẹ vợ đã tinh ranh hơn Văn tưởng:

- Xâu chuỗi màu tím là của con Ngọc Mai, cậu lại tìm tới trả cho người khác là sao? Hay là có mới nới cũ?

Trước câu hỏi quá hóc búa, Văn như con gà mắc tóc.

- Dạ... con... con...

- Sao anh không nói rõ xâu chuỗi đó là của con bé Ngọc Ngà!

Người vừa thốt ra câu nói đó chính là Xuân Lan, xuất hiện cùng với con bé Ngà, nó vừa trông thấy Văn thì nhào tới và reo lên:

- Chú!

Lúc này trên mặt bà Thảnh mới hết căng thẳng, bà quay sang bảo:

- May cho cậu, nếu không có con nhỏ này...

Bà nói xong thì đứng lên đi vào liền, khiến Văn có muốn hỏi thêm cũng không được. Anh nhìn Xuân Lan với tất cả sự kinh ngạc:

- Sao cô cũng ở đây?

Nàng cười:

- Thì đây là nhà em mà!

- Vậy còn...

- Anh muốn hỏi người vừa rồi hả, đó là dì ruột của em, từ Sài Gòn mới về để... đợi gặp anh!

Câu nói này càng làm cho Văn hoang mang:

- Sao lại có chuyện đó?

Nàng cười thành tiếng:

- Bộ anh tưởng tự nhiên anh biết nơi này mà tới sao? ở khách sạn Giang Thành hôm qua, đâu phải tự dưng người ta chỉ cho anh biết em ở xứ này? Cũng như lúc nãy, làm sao bác đạp xe lôi biết anh mà chở đến tận đây?

Văn rùng mình:

- Thì ra...

- Anh cũng đừng lo, mọi điều cũng chỉ tạo cơ hội cho anh đến gặp người mà anh ngại gặp nhất mà thôi và anh đã gặp rồi đó. Nhưng xem ra dì em cũng không đến đỗi quá căng thẳng với anh, khác với thái độ của bà suốt ba năm nay. Bà chỉ muốn gặp và ăn tươi nuốt sống anh thôi, chắc anh biết nguyên do?

- Vậy cô là...

- Em đã nói rồi, em là cháu của dì Thảnh.

Nhớ lại chuyện xâu chuỗi và những gì xảy ra ở Hà Tiên, Văn hỏi dồn:

- Vậy chuyện của Ngọc Mai, chuyện về xâu chuỗi kia...

Xuân Lan nhẹ lắc đầu:

- Mọi việc không phải do tôi. Anh muốn biết thì cứ hỏi dì tôi. Còn bây giờ...

Cô quay lại, tìm thì chẳng còn thấy bé Ngọc Ngà đâu. Nàng hoảng hốt:

- Ngà ơi, con ở đâu?

Chẳng nghe con bé trả lời, cô càng quýnh lên. Văn cũng hoảng, anh cùng chạy đi tìm. Cả hai chạy khắp nhà, ra cả ngoài sân vườn cũng chẳng thấy. Lúc này Xuân Lan đã thấy run, cô líu cả lưỡi:

- Không… không được... không xong rồi!

Văn hỏi mãi cô ta mới nói rõ hơn:

- Để cho con bé đi coi như nó sẽ trở về với mẹ nó, và như vậy có nghĩa là... là... anh phải đi khỏi đây ngay!

Văn ngơ ngác:

- Cô nói gì tôi không hiểu? Vậy hóa ra cô không phải là mẹ của bé Ngọc Ngà sao? Và tại sao tôi không được ở lại đây?

Nàng nói như hét:

- Anh đi ngay đi!

Nói xong, nàng ta gục xuống khiến Văn càng hoảng sợ hơn:

- Kìa, cô Lan. Cô sao vậy?

Xuân Lan lịm dần và suýt ngã xuống đất, may mà Văn đã đỡ kịp. Anh gọi lớn:

- Cô tỉnh lại đi, cô Lan!

Cô nàng chỉ còn là cái xác biết thở nhè nhẹ... Văn chẳng còn cách nào hơn nên phải bế cô lên, định bước vào nhà thì anh nghe Lan thì thào:

- Đừng vào đó, hãy đưa em ra ngoài...

Văn làm theo như cái máy. Anh đưa Xuân Lan ra ngoài cổng, vừa nhìn thấy một chiếc xe lôi trờ tới, anh gọi:

- Chở đi bệnh xá gần nhất!

Xe chạy một lúc thì đột nhiên ngừng ngay cửa một nhà trọ, Văn khoát tay:

- Không phải đây!

Nhưng một lần nữa, anh nghe giọng thì thào của Xuân Lan:

- Cứ đưa em lên đây!

Một người trong phòng trọ bước ra giúp đưa cô vào phòng. Họ nói:

- Cô này là khách ở đây mà.

Văn nói cho họ rõ:

- Không, nhà cô ấy ở gần đây cô ấy bị bệnh nên tôi phải đưa đi bệnh viện ngay!

Nhân viên tiếp tân quả quyết:

- Cô Xuân Lan này ở đây từ hôm qua với một đứa bé, lúc nãy nó chạy về trước và đang ở trong phòng!

Vừa khi ấy, bé Ngọc Ngà từ trong chạy ra, nó một lần nữa mừng rỡ khi gặp Văn:

- Chú, con chờ chú về.

Văn còn thắc mắc nhưng không thể hỏi đứa bé ba tuổi, vả lại anh còn phải lo cứu chữa cho Xuân Lan trước. Nhân viên nhà trọ nói cho Văn biết:

- Cô ấy nói lúc sáng rằng mình về chơi nhà người quen, tôi cứ tưởng đến chiều cô ấy mới về, nên vừa rồi có một cô bạn của cô ấy tới đây tìm, tôi đã chỉ cho vào phòng đợi, bây giờ chắc còn trong đó.

Bé Ngà nói:

- Đi rồi, chỉ để lại cái này.

Nó đưa ra cho Văn một cái bọc, trong đó có một gói giấy được gói khá chu đáo:

- Con về phòng thì không gặp cô ấy, nhưng khi con vào trong phòng rồi thì cô ấy đứng từ ngoài nói vọng vào, dặn con lấy cái bọc này đưa cho má Xuân Lan hoặc người nào đi cùng má Lan cũng được. Vậy chú cũng là người được gửi cái này, chú mở ra xem đi.

Văn không định mở, nhưng nghe con bé nói vậy anh mở ra xem thử. Vật gói kỹ kia khi được mở ra khiến cho Văn điếng hồn, đó là bức ảnh chụp Ngọc Mai lúc vừa tự tử đang còn nằm yên trên giường!

- Trời ơi!

Văn chỉ kêu được mấy tiếng rồi thì lảo đảo, mặt xanh tái! Con bé Ngà không hiểu chuyện gì, nó hoảng sợ:

- Chú, chú làm sao vậy chú?

Văn cố lắm mới nói được mấy tiếng:

- Ngọc... Mai...

Bé Ngà bỗng ôm cứng lấy Văn, như sợ anh chết. Nó gào lên:

- Chú ơi, chú!

Xuân Lan lúc ấy kêu lên ú ớ:

- Đừng đừng hại người ta… đừng...

Con bé Ngà cũng hét lớn:

- Đừng hại chú này! Con thương chú ấy!

Vừa nói nó lại càng siết chặt Văn hơn như sợ ai đó bắt mất anh, đến nỗi Văn cũng phải ngạc nhiên:

- Chú có sao đâu con?

Bé Ngà vẫn không lơi tay nó càng la lớn hơn và cứ xoay người hết bên này lại qua bên kia, như đang cố che chở cho anh khỏi bị ai đó tấn công! Và đến khi Văn không còn đủ sức để đứng vững thì một lần nữa con bé lại thét lên:

- Mẹ, đừng hại người ta!

Rồi như liều mình, nó ngã nhoài lên thân thể vừa đổ xuống của Văn, chẳng khác gì tấm lá chắn. Lúc ấy thì Xuân Lan cũng đã nằm yên. Vậy bé Ngà sợ ai? Chẳng thể lý giải được, bởi lúc ấy cả Văn và Xuân Lan đều đã ngất đi. Chỉ còn chị chủ nhà trọ, chị hốt hoảng giục mấy người làm lo cấp cứu cho hai người. Tuy nhiên, khi mấy người kia kéo bé Ngà ra khỏi người Văn thì con bé nhất quyết không bỏ ra, nó gào lên:

- Đừng để mẹ giết chú này!

Cho đến khi họ đưa Văn vào phòng mà con bé vẫn còn ôm cứng anh. Chị chủ nhà trọ nói với một nhân viên:

- Chạy vào xóm trong, chỗ gần nhà máy xay có một ngôi nhà ngói xưa, cô này có bà con ở đó, báo cho họ biết cô ấy đang bị bệnh ngoài này, kêu họ ra ngay.

Người nhân viên chạy đi một lúc khá lâu, khi trở về đã lắc đầu báo:

- Em kiếm nãy giờ mà có ngôi nhà ngói xưa nào đâu, chỉ có một cái nhà lớn, nhưng khi nhìn vào thấy chỉ có mồ mả chung quanh chứ đâu có người ở!

Chị chủ phòng trọ ngạc nhiên:

- Tôi cũng nhớ ở đó không có người nào ở, mà sao cô này lại nói có bà dì ở đó! Mày có hỏi kỹ mấy người chung quanh đó không?

- Dạ có, ai cũng nói nhà ấy đã bỏ hoang từ lâu rồi, cách đây mấy năm có chôn một người, thành ra nơi ấy gần như là cái nghĩa trang gia đình, chứ đâu phải nhà ở.

Vẫn chưa tin hẳn, nên chị chủ phòng trọ lại sai một người khác đi hỏi. Vài mươi phút sau người này về, cũng báo y như vậy:

- Đó đúng là một nghĩa địa gia tộc, nghe nói của một bà nhà giàu nào đó ở Sài Gòn, quê quán ở xứ này, nên bây giờ khu đất đó dùng làm nơi chôn người chết. Ngôi mộ nào cũng xây đá kiên cố lắm, nhưng ngôi nhà ngói lớn thì không ai ở đã từ lâu rồi.

Trong lúc họ còn đang bàn tán thì Văn tỉnh lại. Anh nhìn thấy bé Ngà vẫn đang bám chặt lấy anh và đã ngủ khì thì xúc động lắm, định gỡ bé ra cho nó ngủ trên giường, nhưng con bé dù đang ngủ vẫn cự tuyệt, không chịu buông tay ra!

Chị chủ nhà hỏi Văn:

- Lúc nãy cậu đưa cô này về từ đâu vậy?

Nghe Văn kể, chị ta kêu lên:

- Chỗ đó là nghĩa địa chứ đâu phải nhà!

Văn không tin, anh định gửi bé Ngà lại để tự đi xem thực hư, nhưng con bé vẫn nhất định không rời ra, nên cuối cùng Văn đành phải bế nó theo, kêu xe lôi chạy trở về chỗ lúc nãy. Tận mắt chứng kiến mà Văn vẫn còn chưa tin, anh hỏi một người gần đó, người ta nói rành rẽ:

- Đây là đất hương hỏa của ông Cả mà ngày xưa người ta gọi là Cả Tự, khi ông mất đi thì để lại cho người con gái tên Thảnh, nhưng sau đó bà này cũng chuyển lên Sài Gòn ở, rất ít khi về đây. Ngôi nhà dần dần xuống cấp, cuối cùng bà Thảnh dùng khu đất ấy làm từ đường thờ tổ tiên. Nhưng chỉ được một thời gian thì việc thờ tự cũng chẳng ai lo, nên hầu như ngôi nhà đành bỏ hoang. Chỉ có khu đất rộng gần một mẫu chung quanh đã lần hồi biến thành nghĩa trang gia tộc. Hình như có đến gần mười ngôi mộ được chôn trong đó, mà mới nhất là mộ của người con gái bà Thảnh chết cách đây ba bốn năm, được đem về mai táng và thỉnh thoảng bà có về nhang khói. Nhưng mới đây nghe tin bà ấy cũng đã chết, nhưng mộ phần thì không thấy đem về đây, có lẽ đã được hỏa táng rồi cũng nên.

Nghe bà ta kể rành rọt như vậy nên Văn không thể không tin, sau một lúc lưỡng lự, anh quyết định vào bên trong khuôn viên ngôi nhà. Vẫn là ngôi nhà mà anh tới lúc sáng, nhưng bây giờ nó là một ngôi nhà hoang, rêu phong, nhện giăng đầy. Văn đứng thẫn thờ khá lâu rồi chợt nhớ, anh bế bé Ngà ra thẳng sau vườn, nơi có đến chục ngôi mộ đá nằm san sát nhau. Một ngôi mộ mới nhất, nổi bật hơn nằm ở cuối dãy, mà vừa thoạt nhìn thấy Văn đã thót tim! Khi bước lại gần bỗng bé Ngà khóc thét lên và co quắp người lại ôm cứng lấy Văn, anh phải dỗ nó:

- Cháu đừng sợ, chú chỉ xem qua rồi đi ra ngay!

Ánh mắt của Văn dừng lại ở dòng chữ trên mộ bia: Phần mộ Lê Thị Ngọc Mai. Bên trên dòng chữ là ảnh chân dung của Mai, gương mặt buồn hiu.

- Ngọc Mai!

Văn kêu lên rồi đứng chết lặng. Trong lúc bé Ngà kéo tay anh giục đi:

- Đi đi chú! Đi đi...

Văn bước đi mà mắt cứ ngoái lại nhìn vào ngôi mộ.

Nó như có một mãnh lực kỳ lạ, khiến Văn cứ muốn chạy trở lại. Rồi văng vẳng bên tai Văn nghe như có tiếng ai đó gọi tên mình. Anh vừa định lên tiếng thì bàn tay nhỏ nhắn của bé Ngà đã bụm ngang miệng, khiến anh không thể thốt lên được. Và một lần nữa con bé lại giục:

- Đi nhanh lên đi chú!

Mãi đến khi tới ngoài cổng, con bé mới òa lên khóc và nói rất nhỏ vào tai Văn:

- Người ta đang muốn bắt chú đi, chú mau chạy đi!

Thấy Văn vẫn còn nấn ná chưa chịu bỏ đi, con bé lại giục.

- Chạy nhanh lên!

Lúc này chợt Văn nghe như có bước chân người phía sau lưng, anh cảm nhận hơi thở của ai đó sát vào gáy mình, đồng thời có một mùi hương rất quen thuộc phả vào mũi anh... Văn buột miệng:

- Ngọc Mai!

Đúng là loại nước hoa mà Ngọc Mai thường dùng khi còn sống, khi ấy Văn vẫn thường nói chỉ duy nhất nàng mới dùng loại nước hoa pha lẫn giữa hương của đàn ông với phụ nữ...

Lúc này Văn cảm giác như có luồng hơi lạnh buốt đang phủ lên gáy mình và hình như… Bỗng con bé Ngà hét lên một tiếng rồi buông tay ra khỏi Văn! Anh hốt hoảng khi nhìn quanh không thấy con bé.

- Cháu ơi! Cháu ở đâu?

Văn điếng hồn khi con bé tự dưng biến mất, mà quên là lúc ấy cái cảm giác lành lạnh sau gáy cũng không còn...

Văn trở về nhà với bộ dạng thất thần. Vừa bước vào cửa nhà trọ, anh đã nghe tiếng khóc nức nở của ai đó từ bên trong. Và khi anh vào hẳn phòng khách thì đã nghe Xuân Lan gào lên:

- Con bé chết rồi!

Văn đang như kẻ mất hồn, đã giật mình:

- Cái gì, bé Ngà đâu?

Chỉ đứa bé đang nằm im trong lòng, mắt nhắm nghiền, Xuân Lan nói qua màn nước mắt:

- Nó chết rồi!

Hốt hoảng. Văn cúi xuống chạm tay vào mũi con bé, không còn tín hiệu của hơi thở, Văn gào lên:

- Trời ơi, chú hại cháu rồi!

Đột nhiên Văn hét vào mặt Xuân Lan:

- Chính cô! Cô là nguyên nhân làm cho con bé chết!

Lan ngơ ngác:

- Anh nói gì vậy? Chính em vừa tỉnh lại thì đã thấy con nhỏ nằm bên cạnh rồi. Lúc nãy nó lại đi với anh, vậy ai đã làm gì con bé?

Câu hỏi khiến Văn nhớ lại diễn biến câu chuyện vừa rồi, anh buông tiếng thở dài:

- Ngọc Mai...

Xuân Lan hoảng hốt:

- Anh vừa nói gì? Anh gặp chị ấy?

Văn không giấu:

- Tôi vừa cùng bé Ngà vào ngôi nhà hoang và ra nghĩa địa...

Anh vừa nói tới đó thì Xuân Lan đã thất thần kêu lên:

- Anh dẫn xác đến đó là tới số rồi.

Rồi cô nhìn lại bé Ngà:

- Nhưng sao con bé lại như thế này? Nó là con..

Nàng định nói hết ý, nhưng bỗng ngừng bặt và vẻ sợ hãi lộ rõ. Văn hỏi:

- Cô sao vậy?

Xuân Lan không trả lời, rồi bất ngờ cô ôm bé Ngà đứng vụt dậy và chạy biến ra ngoài. Văn gọi theo.

- Cô Xuân Lan, đừng đưa con bé đi.

Nhưng bóng cô nàng và bé Ngà phút chốc đã không còn thấy nữa...
Sự đời cà khịa cái chơi
Khi vui muốn khóc, khi cười buồn tênh!
0
4. Hóa Giải Hận Thù

Tìm kiếm đến chồn chân mà vẫn chẳng thấy Xuân Lan đâu, Văn chán nản quay về phòng trọ. Chị chủ nhà chỉ căn phòng của Lan và bảo:

- Nếu còn ở lại thì anh cứ ở trong phòng cô ấy, chờ xem có thể chiều hoặc mai gì đó cô ấy sẽ trở lại.

Thật tình thì Văn vẫn muốn lưu lại đây thêm, bởi những gì quanh Ngọc Mai anh vẫn còn quá mù mờ.

Nhất là chuyện của con bé Ngà đang làm cho Văn hối hận, đau khổ... Do đó, tối hôm ấy Văn ngủ lại phòng của Xuân Lan.

Lúc ở trong phòng anh mới phát hiện cô ta còn bỏ lại túi xách quần áo. Ban đầu Văn không có ý định lục lọi gì trong đó, nhưng lúc nửa đêm thì bỗng trong đầu anh lóe lên một ý nghĩ lạ, anh lẩm bẩm:

- Có thể nào chính là cô ấy chăng?

Văn đang liên tưởng Xuân Lan chính là... Ngọc Mai! Bởi những gì đã xảy ra có khả năng là như vậy. Văn bật dậy và nhẹ nhàng mở chiếc túi vải ra. Bên trong chỉ có vài bộ quần áo của Xuân Lan và bé Ngọc Ngà. Nhưng điều làm cho Văn chú ý là còn có một bức ảnh mà vừa nhìn vào Văn biết ngay đó là bức ảnh mà anh đã nhìn thấy trong ngôi nhà lúc sáng, ảnh của Ngọc Mai và gia đình. Có đủ mặt, từ Ngọc Mai, bà mẹ và một người đàn ông đứng bên cạnh bà Thảnh. Điều này cũng lạ, bởi khi cưới Mai thì Văn đã biết là cô ấy mồ côi cha từ khá lâu, mà bức ảnh này có lẽ chụp cách khi Mai chết không lâu lắm?

Lật ra phía sau bức ảnh còn có dòng chữ: sinh Ô Môn, tử về Giang Thành!

- Giang Thành!

Văn được biết Giang Thành là tên gọi khác của Hà Tiên! Anh giật mình:

- Thì ra là vậy?

Nhìn đồng hồ tay thấy mới hai giờ sáng, nhưng Văn đã thay đồ, xách theo túi xách của Xuân Lan và trả phòng. Chị chủ nhà trọ ngạc nhiên:

- Giờ này mà cậu đi đâu?

- Tôi có việc phải đi gấp, nếu cô Xuân Lan có trở lại chị làm ơn nói là tôi đi tìm cô ấy ở Giang Thành.

Văn đi ngay giờ ấy và cũng may là có chuyến xe đò chạy tuyến Cần thơ đi Hà Tiên qua đó khá sớm. Nhờ vậy, Văn tới nơi vào giữa trưa hôm ấy.

Sự trở lại của Văn làm cho cho khách sạn Giang Thành ngạc nhiên:

- Ủa, tưởng cậu đã về Sài Gòn rồi, sao giờ này còn ở đây?

Văn hỏi liền:

- Chị có thấy cô gái và đứa con hôm trước trở lại đây hay không?

- Có. Nhưng chỉ ghé đây dặn trước phòng để mai quay về ở rồi đi ngay.

Văn thất vọng:

- Lỡ cả rồi!

Nghe vậy, người chủ khách sạn hỏi:

- Cậu muốn gặp cô ấy lắm sao?

- Dạ cần lắm. Nhất là tôi muốn biết xem đứa bé con của cô ấy tình trạng sức khỏe ra sao rồi?

- Cháu bé còn bệnh, sốt mê man nhưng có vẻ không sao, nên cô ấy mới quyết định về thăm mộ cha, trước khi trở lại đưa cháu bé đi trị bệnh.

Văn hốt hoảng:

- Sao lại làm vậy, tính mạng đứa nhỏ quan trọng hơn chứ.

Anh vội đi ngay. Người chủ khách sạn hỏi:

- Cậu tính đi đâu? Sao không ở lại đây đợi, thế nào cô ấy cũng trở lại mà.

Văn sốt ruột:

- Tôi muốn tìm gặp đứa bé ngay, nó đang trong tình trạng nguy hiểm, có thể tử vong chứ không phải chỉ bệnh nặng đâu.

Nghe vậy, ông chủ khách sạn sau một lúc suy nghĩ, chợt nhớ ra:

- Hôm trước ở đây cô ấy có nói là dòng họ mình có khu từ đường trên đường lên Thạch Động. Có thể bây giờ cô ấy đang ở đó cũng nên!

Đưa cho Văn chiếc xe đạp, ông bảo:

- Đây lên chỗ đó hơi xa. Mà ngoài đi bộ và xe đạp ra không có phương tiện gì khác, vậy cậu cứ lấy chiếc xe đạp này đi cho tiện. Cậu biết đường lên Thạch Động?

Ông chỉ đường cặn kẽ cho Văn và còn dặn:

- Nếu cần đưa cháu bé đi bệnh viện Rạch Giá thì tôi có chiếc xe hơi, sẽ giúp đưa cháu đi.

Văn đạp xe theo đường đã được hướng dẫn và không khó đã tìm ra khu đất từ đường duy nhất trên đoạn đường đó. Khi hỏi một người đánh xe bò đi qua, Văn được ông ta cho biết khá rành rẽ:

- Đây là đất của ông Hương Chủ Mạnh, đã có thời là một trong những người giàu nhất xứ này. Ông ấy mới chết cách nay chưa lâu và hiện được chôn cùng bà vợ trẻ hơn ông cả chục tuổi.

Chưa biết chắc có phải nơi mình cần tìm không, nhưng Văn cũng bước vào trong khuôn viên khu từ đường. Có hai ngôi mộ xây khá bề thế nằm giữa khu vườn rộng, và trên mộ bia một trong hai ngôi mộ có dòng chữ phần mộ Trần Thị Thảnh đã đập vào mắt Văn tức thời. Anh bước lại gần và còn nhìn rõ ảnh chân dung của người chết nữa:

- Bà ấy đây rồi!

Đây là mộ của bà Thảnh, mẹ của Ngọc Mai! Bên cạnh là mộ của người đàn ông tên Phan Văn Hoài, với ảnh chân dung mà vừa nhìn Văn nhận ra ngay, đó là người đàn ông trong bức ảnh nằm trong túi xách của Xuân Lan.

- Thì ra...

Vừa khi ấy có tiếng cất lên từ phía sau:

- Không cách nào thoát được anh!

Văn quay lại và kêu lên:

- Xuân Lan!

Thấy cô chỉ có một mình, Văn hỏi ngay:

- Con bé đâu?

Xuân Lan đáp, giọng cực kỳ buồn thảm:

- Chết rồi!

Cô chỉ tay vào một ngôi nhà nhỏ dưới tàn cây gần đó Văn chạy nhanh vào và đứng khựng lại trước xác của Ngọc Ngà nằm trên chiếc giường cũ.

- Nó đã chết từ lúc ở bên Ô Môn, nhưng em cố đưa nó về đây để hy vọng bà ngoại nó cứu được. Nào ngờ họ là những người quá vô cảm, nhẫn tâm nhìn cháu ruột của mình chết!

- Cô nói họ là ai?

- Dì tôi, bà Thảnh!

- Nhưng tại sao phải là bà ấy mới cứu được bé Ngà?

Có lẽ định không nói, nhưng rồi Xuân Lan không kiềm chế được, đã thốt ra:

- Vì nó mà bà ngoại nó, người lúc nào cũng thúc ép mẹ nó làm chuyện báo thù? Chính vì muốn báo thù mà mẹ nó đã nghe bà ngoại, tìm cách giết hại anh, trong lúc bé Ngà thì lại bênh vực cho anh, nó muốn cứu anh nên đã lao vào người mẹ nó và đã chết từ tay mẹ nó!

Văn ngơ ngác:

- Cô nói gì vậy, ai là mẹ của bé Ngà?

- Ngọc Mai!

Câu trả lời của Xuân Lan khiến Văn bàng hoàng:

- Con của Ngọc Mai, có nghĩa là...

- Chính nó là giọt máu của anh đó!

- Trời ơi!

Trong lúc Văn ngồi xuống bế con lên tay thì Xuân Lan đều giọng kể:

- Khi Ngọc Mai chết thì đã có thai trên hai tháng. Người chết oan lại mang thai thì sau khi chết phải sinh con trả lại cho đời, bởi đứa bé chưa tới số. Em vốn là con riêng của ba, trước khi ba chắp nối với dì Thảnh. Một hôm khi đang ngủ, em giật mình tỉnh giấc bởi có ai đó đặt bên cạnh mình một đứa trẻ sơ sinh. Em hoảng quá thì lúc ấy bà Thảnh đã hiện về báo cho biết đó chính là con của Ngọc Mai, bắt em phải nuôi và coi như con, không được kể lại chuyện ấy với ai. Không phải em sợ bị hồn ma giết hại, mà vì em thương đứa bé tội nghiệp này, nên em đã chấp nhận nuôi nó và coi như con mình. Vậy mà cách đây vài tuần, bà ta lại không để cho em và con bé được yên, khi buộc em phải tìm cách gặp anh để trả thù giúp Ngọc Mai!

Văn giật mình:

- Vậy em không phải là... hồn ma của Ngọc Mai sao?

- Em là nạn nhân cũng như anh thôi! Việc anh không chọn khu nghỉ mát nào khác mà chọn Mũi Nai cũng là do xui khiến của hồn ma của bà Thảnh và Ngọc Mai. Họ xui anh tới đây để em ra tay.

Văn chặn lời:

- Nhưng tại sao Ngọc Mai không trực tiếp ra tay, cô ấy là một hồn ma mà?

Chỉ vào bé Ngà, Xuân Lan nói:

- Cũng bởi con bé này. Chẳng hiểu sao dẫu chưa một lần biết mặt anh, nhưng lúc nào nó cũng bênh vực, che chở cho anh. Chính nó là vật cản đã khiến cho dì Thảnh và Ngọc Mai không ra tay được. Họ lại càng hận anh lắm, anh biết không!

Văn thở dài:

- Tôi biết và nỗi ăn năn lâu nay đã gặm nhấm lòng tôi khôn nguôi. Tôi không ân hận gì nếu bị họ giết chết!

Xuân Lan nghiêm giọng:

- Không được, anh phải sống vì con anh chứ!

- Nhưng...

Văn muốn nói thật đứa bé không phải là dòng máu của mình, nhưng kịp nghĩ lại, anh lảng sang hướng khác:

- Tôi ngạc nhiên không hiểu sao hai mẹ con họ lại không chôn chung một nơi ở Ô Môn mà hai người hai nơi như thế này?

Lan thở dài:

- Cũng do ba em. Ông ấy và Ngọc Mai không thuận với nhau lúc còn sống, đến khi chết họ cũng thề không nằm gần nhau. Ba em có một lời nguyền khi nhắm mắt, không ngờ lời nguyền đó đã linh ứng sau này, và cũng bởi vì lời nguyền nên Ngọc Mai không thể tự tiện tới vùng đất này để ra tay hại anh. Đây nè, em cho anh coi lời nguyền...

Xuân Lan đi vào góc nhà tìm một lúc, rồi lo lắng nói:

- Em bỏ quên cái túi xách ở đâu mất rồi, trong túi có vật ấy...

Văn đưa chiếc túi vải đang cầm trên tay ra:

- Phải cái này không?

Xuân Lan mừng rỡ:

- Đúng rồi!

Cô cầm lấy tấm ảnh chụp chung ra, chỉ tay vào người đàn ông trong ảnh.

- Đây là ba em. Lúc tấm hình này chụp thì không có ông, bởi ông đã chết trước đó mấy năm rồi. Nhưng khi biết mẹ con bà Thảnh muốn dùng em để hại người, đó là hại anh, thì ông đã linh ứng, đưa hình ông ghép vào trong này, để ngăn chặn không cho họ làm hại em nếu sau này em bị họ ép đến đường cùng. Anh có thấy dòng chữ viết phía sau ảnh này không? Sinh Ô Môn, tử Giang Thành! Đó chính là lời nguyền của ba, ý ông muốn nói là bà Thảnh sinh ra ở Ô Môn, nhưng khi chết thì chôn ở Hà Tiên này. Mà có như vậy thì sinh mạng em sẽ không sao, bởi khi bà ấy nằm ở đây thì còn có ba em, sẽ không để làm hại em được! Chính vì vậy mà em mới giữ bé Ngà ở đây để nuôi, cho nó được yên ổn. Vậy mà chỉ vì muốn ngăn chặn không cho họ hại anh, để rồi con bé phải mạng vong như thế này. Tội cho nó...

Nghe kể chuyện, Văn sững sờ, anh gào lên:

- Có muốn giết thì cứ giết tôi, cớ sao lại hại con bé mới ngần này tuổi!

Văn ôm con bé và chạy thẳng ra chỗ hai ngôi mộ rồi bằng một động tác bất ngờ, anh lao đầu vào mộ bia của bà Thảnh. Sức lao khá mạnh, nếu trúng vào thì có thể vỡ đầu. Đó là một hành động tự sát mà chính Văn cũng chẳng hiểu tại sao mình làm vậy!

Xuân Lan chạy ra sau, cô vừa kịp nhìn thấy đã la lên:

- Đừng! Anh đừng...

Tuy nhiên, khi đầu của Văn va vào thành mộ bia thì như có một cái đệm êm ái đỡ lấy, khiến anh chỉ bị ngã mà không bị thương tích gì. Vừa khi ấy, Văn chợt nghe có tiếng thì thào:

- Con không sao, ba ơi!

Văn bật ngay dậy và mừng như bắt được vàng:

- Ngọc Ngà, con còn sống sao?

Con bé Ngà ôm chầm lấy Văn như nó vẫn thường làm, hơi ấm từ người nó làm cho Văn nhẹ hẳn đi, anh nói và khóc:

- Cứ tưởng con bỏ ba rồi...

Xuân Lan chạy tới, cô mừng không kém:

- Mẹ cứ tưởng con không thương mẹ nữa chứ!

Không hẹn mà cả Văn và Xuân Lan đều ôm chầm lấy bé Ngà, chẳng khác gì cặp vợ chồng đang âu yếm đứa con cưng! Và họ giữ như vậy khá lâu...

Chẳng hiểu có sợi dây vô tình nào đó đã cột chặt họ lại với nhau, nên sau phút bất chợt đó, họ đã nhìn nhau với ánh mắt đầy cảm thông, trìu mến. Rồi Xuân Lan lên tiếng:

- Vừa rồi vong hồn của ba đã đỡ cho anh không va đầu vào mộ bia đó! Ba không muốn anh chết, bởi trên đời này còn có đứa con gái bé bỏng của ba đang bơ vơ!

Văn bất chợt siết chặt tay nàng, nói khẽ vừa đủ cho nhau nghe:

- Em sẽ không bơ vơ nữa...

Con bé Ngà vội chen vào:

- Còn bỏ con cho ai?

Văn siết chặt nó vào lòng:

- Có ba, mẹ đây chi!

Họ tràn ngập trong niềm hạnh phúc tuy bất ngờ, nhưng đó là điều tất yếu...
 
***

Văn cứ sợ bé Ngà không thể sống lâu, bởi người ta nói thường những đứa bé nửa âm nửa dương như Ngà thì chỉ thọ được cao lắm là tới mười tuổi. Vậy mà đã mười bốn năm trôi qua, bây giờ Ngọc Ngà đã đến tuổi mười bảy, mà chẳng có dấu hiệu gì cho thấy cô bé yểu mệnh Văn vừa mừng vừa lo, anh bàn với vợ:

- Anh nghe người ta nói, nếu Ngà vừa qua tuổi mười bảy, bước sang tuổi mười tám mà vẫn chưa có gì xảy ra thì phải làm lễ cúng thật lớn để rửa vong cho nó! Vậy chúng ta nên chuẩn bị là vừa, bởi chỉ còn chưa đầy mười ngày nữa là Ngà qua tuổi mười tám!

Xuân Lan kề sát vào chồng, thì thầm:

- Em đã lo cả rồi, mà anh cũng yên tâm, mấy đêm liền ba đều hiện về báo cho em biết rằng cái vận yểu mệnh của dòng họ chị Ngọc Mai đã qua và bé Ngà cũng chính thức được tồn tại trên cõi trần này rồi.

Lúc ấy Ngọc Ngà vừa từ dưới bếp bước lên, thấy cha mẹ bàn bạc, cô nói:

- Bữa nay con đãi ba má món cá trê chiên chấm nước mắm gừng, món ruột của hai ông bà!

Văn nhẹ cười với con gái:

- Chỉ sợ quả bom nổ chậm này không còn bao lâu nữa để cho tôi với má nó hưởng cái thú ăn ngon này nữa đây! Con gái là con nhà người ta mà.

Ngọc Nga giãy nảy:

- Không, con không lấy chồng đâu, con ở mãi với ba má thôi.

Và cũng như hồi nhỏ, Ngà vẫn còn thói quen cứ sà vào lòng cha mà giữ chặt:

- Con không bao giờ rời xa ba má!

- Con khỉ, nói phải giữ lời đó nghen!

Không ai lột da mà sống mãi, nhưng có lẽ hạnh phúc mà họ đang được hưởng là bất tận...
Sự đời cà khịa cái chơi
Khi vui muốn khóc, khi cười buồn tênh!
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2011-04-18 15:55:22Soccon>
TIẾNG HÚ RỪNG TRÀM

Phần 1
 
Mùa nước nổi...

Con kinh Xáng chảy từ Sông cái Mỹ Văn xuyên qua Mỹ Hiệp Sơn cho tới tận đầu kinh Bảy Nam Thái Sơn năm nào cũng vậy, hễ mùa khô thì nước cạn tới đáy, còn mùa nước nổi thì nước ngập tràn đồng, không còn phân biệt được đâu là sông, đâu là bờ.

Đôi vợ chồng trẻ Ba Tài và Mỹ Lệ nghĩ nước tràn sông sẽ dễ đi, nên mãi tới gần hai giờ chiều họ mới rời kinh Bảy để đi về Mỹ Hiệp Sơn. Con kinh Xáng vốn quá quen thuộc với họ, nên dù đoạn giữa khá vắng, nhưng Ba Tài vẫn tự tin nói với vợ:

- Em coi chừng nào cơm chín, mình dừng lại chỗ có hàng tràm gie ra sông để nghỉ. Ăn tối mình đi thì khoảng bảy giờ là tới Vọng Thê, như vậy đêm nay mình đã có mặt ở nhà, chấm dứt một tháng trời lênh đênh sông nước!

Mỹ Lệ thở dài:

- Buôn bán kiểu này chắc lần sau em xá dài, không bao giờ dám đi bán hàng nữa! Cũng may là sáng nay bán được cho tiệm tạp hóa ở chợ Nam Thái Sơn số xoài còn lại, chứ nếu không thì có nước đổ xuống sông?

Cuộc chuyện trò của vợ chồng họ được một lúc thì đã tới khúc giữa của con kinh, nơi đã vài lần Ba Tài cho ghe dừng lại nghỉ ngơi. Lần này vừa nhìn thấy đám khói bốc lên từ chỗ đó, anh tắc lưỡi:

- Có người chiếm chỗ trước mình rồi!

Lệ thì lại thích:

- Có thêm người đậu lại vui hơn! Em đã ngán cảnh phải thui thủi đậu ghe ở bến vắng lắm rồi!

Ba Tài cho ghe tấp lại chỗ hàng tràm quen thuộc. Tưởng là có ghe khác. Nào ngờ khi đậu lại mới hay khói bốc lên từ một con cúi rơm do ai đó bỏ lại lúc nấu nướng xong. Rơm đang cháy sém vào thân cây tràm lớn. Ba Tài càu nhàu:

- Để lửa kiểu này gặp mùa khô nó cháy hết rừng chứ chẳng phải chơi!

Anh định khoát nước dập tắt lửa, nhưng Lệ đã ngăn lại:

- Để đó em nhúm lửa, khỏi phải quẹt hao đá lửa!

Vợ chồng họ bắt đầu bữa cơm chiều khá sớm và nhanh chóng. Ăn vừa xong, Lệ đã giục chồng:

- Đi về cho sớm, trời chuyển mưa rồi kìa?

Nghe vợ nói có lý nên Ba Tài vội nhổ sào sửa soạn lui ghe. Nhưng thật bất ngờ, cơn mưa đổ như trút nước ngay khi trời còn quang! Lệ hốt hoảng:

- Kiếm chỗ có nhà trú đỡ đi anh!

Ba Tài nhìn chung quanh rồi thất vọng:

- Cách đây cả cây số mới có nhà, bây giờ mưa quá lớn đâu đi được.

Họ đành phải cột dây ghe vào gốc tràm chịu trận. Ba Tài trấn an vợ:

- Mưa kiểu này sẽ không dai đâu, ráng chịu một chút là tạnh thôi!

Và họ cắn răng chịu đựng. Cứ ngỡ cơn mưa rào sẽ qua mau. Nhưng họ không thể ngờ được tình huống tồi tệ nhất mà họ phải trải qua sau đó...

Cơn mưa càng lúc càng lớn, giông gió nổi lên mạnh chưa từng thấy. Mùa nước nổi mà mưa giông thế này đúng là bi kịch cho những người đi xuồng ghe. Ba Tài đã quen sông nước, dãi dầu mưa nắng nhiều, vậy mà một lúc sau anh bắt đầu lo. Chiếc ghe năm trăm giạ của anh thường chở cả mấy tấn hàng, nay lại là ghe trống nữa, nên không sợ chìm vì nước mưa, nhưng lúc ấy Lệ lại gào lên khi phát hiện nước tràn quá nhiều tát không kịp:

- Nước phía sau nhiều lắm, anh tiếp em tát ra kẻo chìm ghe.
 
 Lệ la lạc cả giọng, nhưng lúc đó Ba Tài còn phải lo ghì dây cột, cố giữ cho chiếc ghe không bị trôi theo cơn gió mỗi lúc một lớn hơn! Đến một lúc, giọng của Lệ hầu như không còn phát ra được nữa. Phần do đã la quá nhiều nãy giờ nên giọng không còn nghe rõ được, phần nữa là âm thanh của con người đều bị át đi bởi tiếng gầm rú của giông bão.

- Ghe sắp chìm rồi!

Đó là câu nói cuối cùng của Lệ mà Ba Tài còn nghe tiếng được tiếng mất trong màn mưa, để tới sau đó họ hầu như không liên lạc được với nhau mặc dù chỉ đứng cách nhau chưa đầy mười thước. Chiếc ghe đã bắt đầu lắc lư dữ dội và ngay sau đó nó tròng trành theo gió và những đợt sóng lùa cực mạnh. Ba Tài đã phát hiện ghe của mình bị trôi. Anh gào lên:

- Bám chặt mui ghe!

Anh còn la mấy lần nữa, nhưng đó là những tiếng gào cuối cùng. Bởi nếu có thể nhìn rõ được qua màn mưa thì ắt Ba Tài đã phải bàng hoàng, bởi bóng dáng mảnh mai của Mỹ Lệ vừa bị bắn tung ra khỏi ghe.

Mưa gió vẫn hoành hành suốt ba tiếng đồng hồ sau. Chiếc ghe gần như bị lật úp và trôi dạt theo dòng nước đang cuồn cuộn chảy, trên một dòng sông mênh mông...

Đêm tối mịt mùng...

Cho đến rạng sáng ngày hôm sau...

Mưa đã bắt đầu tạnh. Người đầu tiên phát hiện ra chiếc ghe mắc cạn ngay trước cửa nhà mình là một lão nông, khi ông vừa đẩy được cánh cửa xiêu vẹo bởi cơn gió suýt làm sập từ đêm qua. Nhìn thấy chiếc ghe nằm nghiêng chiếm hết phần sân, ông kêu lên:

- Ghe của ai mà leo lên tận nhà mình nè bà ơi!

Bà lão đang dọn lại nhà bếp bị mưa dột tứ tung, vừa lên tiếng:

- Chắc là trời cho mình ghe để đi chở lúa trúng năm nay đó.

Ông lão nghển cổ sang nhà hàng xóm gọi lớn:

- Năm Xị ơi, qua coi giùm tao coi ghe của ai mà nằm trên sân vậy nè?

Từ bên căn nhà lá đã bị sập gần phân nửa mái trước, có tiếng đáp lại:

- Tôi thấy rồi, tính chờ ông dậy báo cho ông biết là của trời cho ông đó, ông Sáu ơi!

Ông Sáu Đời chỉ tính bước lại coi qua, chứ sức ông thì làm sao chuyển dời được chiếc ghe dài gần bằng cái nhà. Nhưng bỗng ông giật mình khi thấy từ trong ghe có đôi chân trần của ai thò ra ngoài!

- Năm Xị! Mày qua coi, có xác chết đây nè!

Khi Năm Xị chạy qua thì cả bà Sáu cũng có mặt. Bà quá sợ nên run rẩy nói:

- Mau cứu người ta ra đi rồi báo cho chòm xóm biết!

- Thật là tội nghiệp...

Không đợi thêm người, chính ông Sáu đã đẩy được phần mui ghe bị sập lên và thấy được cả người bị nạn kẹt bên trong. Ông kêu lên:

- Một người đàn ông, Năm ơi!

Khi họ kéo được xác ra thì đó là Ba Tài! Năm Xị lo lắng:

- Dám còn người trong ghe nữa lắm à!

Anh ta ra sức chui vào trong khoang ghe để tìm. Cuối cùng anh lắc đầu bảo:

- Hết rồi!

Bà Sáu chạy đi tìm chiếc chiếu cũ để đắp xác nạn nhân, nhưng khi vừa cúi xuống thì bà hốt hoảng kêu lớn:

- Còn thở!

Ông Sáu Đời quay lại nhìn rồi cũng reo lên:

- Còn sống thật Năm ơi!

Năm Xị đã đôi lần cứu người chết đuối nên có kinh nghiệm, anh ta la lên:

- Bà Sáu trải chiếc chiếu ra để anh ta nằm lên, rồi mình đốt lửa hơ cho anh ta ấm, người tím tái hết rồi!

May mắn, sau hơn mười phút hơ lửa, Ba Tài đã hồi tỉnh. Vừa mở mắt ra, anh chàng đã bàng hoàng kêu lên:

- Mỹ Lệ! Em đâu Lệ ơi.

Ông Sáu Đời phải trấn an:

- Chỉ có mình cậu trên ghe. Chắc ai đó còn bám víu được ở đâu đó, không sao đâu!

Bấy giờ Ba Tài mới nhìn chung quanh, anh trấn tĩnh lại và bắt đầu mếu máo:

- Sao con vợ tôi nó không chịu bám ghe... nó yếu đuối quá mà, sao chịu nổi sóng gió hả trời!

Sau một hồi gào khóc kêu tên vợ, Ba Tài mới bắt đầu kể lại chuyện mình bị nạn. Anh nói:

- Tôi đang đậu ghe ở giữa kinh Xáng thì gió nổi lên...

Ông Sáu chép miệng:

- Ở đây là gần cầu số 5 cách kinh Xáng đến hơn ba chục cây số.

Năm Xị cũng nói:

- Lần đầu tiên trong đời tôi mới thấy ghe trôi ngược từ dưới lên trên, suýt chút nữa là trôi tới tận Bảy Núi rồi!

Ba Tài giật mình:

- Đây là cầu số 5 sao? Vậy gần nhà tôi.

- Cậu ở đâu?

- Dạ, ở Vọng Thê, ở trên triền núi Ba Thê.

Năm Xị reo lên:

- Gần quê của vợ tôi rồi!

Anh quay gọi về nhà:

- Má mấy đứa nhỏ ơi, qua nhìn bà con nè!

Vợ Năm Xị chạy qua và la lên:

- Ba Tài đây mà! Trời ơi, sao vậy nè?

Sau khi nghe kể chuyện, chị Năm lo lắng:

- Con Mỹ Lệ hồi còn con gái là đứa bơi lội dở nhất trong đám bạn bè tụi tôi. Sao anh dám cho nó đi theo ghe?

Ba Tài mếu máo:

- Túng tiền quá nên tính đi chuyến này rồi nghỉ luôn. Con vợ tôi nó cũng cằn nhằn hoài, không thích đi buôn bán dưới ghe.

- Có ghe chở hàng đi bán đây đó là nhất đời rồi, chỉ hiềm con nhỏ bơi lội dở, không ưa sông nước thôi. Mà thôi, bây giờ đã như vậy rồi, anh Ba cứ nghỉ ngơi cho khỏe rồi tôi bảo ông chồng tôi cùng với anh đi tìm con Lệ.

Ba Tài lòng nóng như lửa đốt, liền đề nghị:

- Nhà chị có xuồng, làm ơn cho tôi mượn, tôi muốn đi tìm ngay. Chậm một giây nào là...

Anh ta lại khóc như trẻ con, khiến mấy người chung quanh cũng mủi lòng. Bà Sáu nói:

- Tôi có chiếc xuồng con, chịu được sóng gió, lùm bụi, cậu cứ lấy mà đi. Cần thì ông nhà tôi đi theo giúp nữa.

Năm Xị nói:

- Thôi, chú Sáu ở nhà, để tôi đi với Ba Tài được rồi.

Họ bắt đầu cuộc tìm kiếm, bắt đầu ở chỗ nhà, lần ngược theo hướng gió đi về phía kinh Xáng, băng qua đồng tràm bị ngã rạp vì gió bão.

Lúc gió bão đi ghe chắc chừng vài giờ, còn lúc này Ba Tài không bỏ sót lùm tràm nào còn nhô lên khỏi mặt nước, nên phải mất gần cả ngày mà vẫn chưa tới được kinh Xáng. Năm Xị nói:

- Tôi có nhà người quen ở khúc kinh Xáng dưới này, hay là ta ghé đó nghỉ ăn cơm đã, rồi đi tiếp.

Ba Tài không muốn nghỉ, nhưng phải chiều lòng bạn, nên miễn cưỡng chống ghe về phía đó. Tiếp họ là vợ chồng anh chàng chuyên lấy củi ở rừng tràm, Tám Đối vừa nghe nói mục đích chuyến đi đã reo lên:

- Dám cái này lắm à! Sáng nay đi kiếm củi ở vạt rừng phía trước, vợ tôi thấy có chiếc áo của ai vất trên nhánh tràm, thấy còn mới nên nó lấy về tính để mặc. Coi phải áo của chị nhà không?

Ba Tài vừa nhìn thấy chiếc áo đã la hoảng lên:

- Áo của vợ tôi mà!

Rồi anh khóc rống lên, Tám Đối nói thật lòng:

- Áo đang mặc trong người mà bị lột ra, máng trên nhánh cây là đã bị gió nước cuốn trôi mạnh lắm!

Ba Tài hầu như chẳng còn nghe ai nói gì nữa, anh chỉ khóc, vừa ôm chiếc áo vào lòng vừa gào lên từng hồi...

***

Suốt ba ngày như điên như dại, tìm kiếm hầu như khắp các cánh đồng mà chẳng thấy dấu vết gì của vợ. Ba Tài trở về nhà như cái xác không hồn!

Người ở xóm vừa trông thấy anh đã kêu lên:

- Thằng này bộ thành ma hiện về hay sao vậy? Con vợ mày nó đợi mày ba bốn bữa nay, khóc hết nước mắt vì mày.

Ba Tài tưởng mình nghe lầm:

- Mấy người nói gì? Con vợ tôi chết thì hãy để vong hồn nó yên, đừng có...

Dì Mười bán tạp hóa trợn mắt nhìn Tài:

- Cái thằng bộ khùng sao chứ, vợ mày nó uổng công đợi mày quá!

Ba Tài vẫn giọng tưng tửng:

- Còn vợ đâu mà đợi với chờ!

Dì Mười cứ tưởng Tài khùng, bà la lớn:

- Về nhà nhanh lên đi, con vợ mày nó khóc hết nước mắt rồi đó!

Đến nước này Ba Tài mới ngớ người ra:

- Cái gì? Dì Mười nói giỡn hay thật?

Vừa hỏi, Ba Tài vừa cắm đầu chạy một mạch về nhà mà trong lòng hoang mang tột độ. Từ xa, Tài đã nhìn thấy nhà mình có khói bốc lên, chứng tỏ có người! Mà nhà anh ta thì ngoài hai vợ chồng ra có ai khác đâu mà nấu với nướng?

- Mỹ Lệ!

Ba Tài nhìn thấy vợ đang nhúm lửa nấu cơm trong bếp mà không tin đó là sự thật! Anh phải gọi lần thứ hai:

- Lệ! Có phải là em không?

Mỹ Lệ đứng dậy reo lên rồi nhào tới ôm chầm lấy chồng, cô nghẹn ngào:

- Tưởng anh không về...

Rồi cô khóc như mưa! Thật quá bất ngờ đến không thể nào tin nổi! Tài lắp bắp:

- Em... em thật... thật không vậy?

Mỹ Lệ cũng sờ nắn từ vai xuống ngực Ba Tài nghi ngờ:

- Có phải anh thật không vậy?

Vợ chồng mừng như vừa qua cơn ác mộng. Mỹ Lệ kể:

- Em bị nước cuốn trôi và em ngất đi, cho đến khi tỉnh lại thì thấy mình nằm trên một chiếc ghe lớn. Em hoảng hốt khi thấy mình đang mặc bộ quần áo của người khác. Thì ra vợ chồng người chủ ghe tốt bụng đã vớt được em trong lúc em ngất xỉu nằm trên một chiếc xuồng lật úp.

Ba Tài kể lại những ngày đi khắp cánh rừng tràm tìm kiếm. Nhớ lại chiếc áo, anh hỏi:

- Chiếc áo máng lại trên nhánh tràm, vậy khi người ta vớt em thì... trần trụi hay sao?

Lệ ngượng ngùng:

- Lúc đó còn biết gì nữa... Mà thôi kệ, miễn còn sống trở về với anh là mừng rồi!

Suốt đêm hôm đó hai vợ chồng hầu như không ngủ, đến gần sáng Lệ hỏi một câu làm Ba Tài giật mình:

- Chuyện anh với cô út Sương hồi đó kết thúc ra sao?

Ba Tài trố mắt:

- Sao khi không em hỏi chuyện đó làm gì? Chuyện ấy là thời anh còn trai trẻ, anh và cô ấy có... nhưng xong hết trước ngày anh cưới em mà! Anh coi như không còn nhớ gì...

- Nhưng em thì nhớ! Anh có biết là trong lúc hôn mê khi trôi trên sóng nước em thấy gì không? Thấy có người nói là anh phụ cô đã bỏ rơi khi cô ấy đã... có thai! Đúng không?

Ba Tài giật mình:

- Ai nói... bậy bạ vậy? Làm gì có chuyện đó!

- Đâu phải ai nói, mà em mơ thấy. Mấy hôm nay nằm nhà chờ anh, em cũng còn mơ tiếp giấc mơ kỳ lạ đó? Em chờ anh về để hỏi...

Tài gạt ngang:

- Không hề có chuyện ấy!

Rồi như không muốn cho vợ đề cập đến chuyện đó nữa, Tài lảng sang chuyện khác:

- Nói cho tôi nghe coi, bữa được người ta vớt lên thì ai vớt, ai thay quần áo cho em? Có phải thằng cha chồng của bà chủ ghe không?

Lệ nguýt dài:

- Đừng đánh trống lảng, hãy trả lời em lần nữa đi, có phải hồi trước lấy người ta có thai rồi bỏ không?

- Đã nói không có mà!

Tài khỏa lấp bằng hành động âu yếm, nhưng Lệ vẫn chưa chịu buông tha:

- Hỏi là hỏi chơi vậy chứ em biết hết rồi! Em còn biết cái thai khi đó đã được trên ba tháng nữa... Và hồi đó anh còn tính đặt cho con là Minh Lộc nữa. Tài Lộc mà!

Nghe vợ nói quá chi tiết nên Tài giật mình:

- Sao… sao em biết? Ai nói?

Giọng Lệ càng lúc càng tỉnh táo hơn, đến đỗi Ba Tài phải giật mình:

- Lệ, sao em cứ nhắc lại chuyện đó hoài vậy. Bộ không thương anh sao?

- Thương anh, nhưng anh đâu có thương người ta! Anh bỏ người ta trong lúc bụng mang dạ chửa, vậy lương tâm anh ở đâu?

Câu nói của Lệ khiến Tài phải ngồi bật dậy nhìn thẳng vào mặt cô:

- Lệ! Có phải là em không? Tại sao...

Mỹ Lệ không trả lời mà đứng lên bước xuống khỏi giường, lát sau trở lại đặt lên bụng Tài một vật gì đó mềm mềm, lành lạnh như vừa lấy từ dưới nước lên.

- Cái gì vậy?

- Nhìn thì biết.

Tài định nhảy xuống giường đốt đèn, nhưng Lệ đã nói:

- Anh sờ sẽ biết ngay là cái gì mà.

Ba Tài đưa tay sờ vào và kêu lên thảng thốt:

- Tóc!

Đó là lọn tóc dài được khoanh lại. Điều đó gợi ngay cho Tài một hình ảnh:

- Út Sương.

Một tiếng thở dài trong bóng tối:

- Ít ra thì anh cũng đã thừa nhận.

- Em...

Tài đưa tay định mơn trớn, xoa dịu cô vợ trẻ, nhưng lúc ấy anh giật mình, bởi tay anh vừa chạm vào một thân thể sũng nước, lạnh ngắt!

- Lệ!

Toàn thân Lệ bất động, Tài phải lay mấy lượt cũng chẳng chịu nhúc nhích. Hốt hoảng, Tài nhảy xuống tìm cách đốt đèn dầu lên, nhưng tìm mãi mà không thấy cây đèn đâu. Phải loay hoay mãi anh mới đốt được đèn và soi vào mùng, kèm theo tiếng gọi lần nữa:

- Lệ!

Nhưng Tài điếng hồn khi thấy chỗ của Lệ nằm giờ chỉ còn là bộ quần áo đẫm nước, mà Lệ thì chẳng thấy đâu!

- Lệ ơi! Em ơi...

Ba Tài có linh tính chẳng lành, anh tốc chạy ra ngoài vừa kêu vang. Nhưng do chung quanh rất ít nhà cửa, nên dù tiếng kêu vọng lớn trong đêm, phải một lúc sau mới nghe có tiếng của Hai Mười hỏi lớn:

- Cái gì vậy Ba Tài?

- Vợ...vợ con mất tiêu rồi!

Khi hỏi ra sự tình, mọi người đều ngạc nhiên:

- Nó đi đâu giờ này? Hay là mày làm gì nó giận rồi trốn ở đâu đó chăng?

Dì Mười và mấy người nữa cùng với Tài chia nhau đi tìm, nhưng mãi tới sáng hôm sau cũng chẳng thấy tăm hơi gì của Lệ. Đến khi mặt trời lên thì có người từ dưới triền núi chạy lên báo:
 
- Chiếc ghe của anh Ba Tài đâu mất rồi!

Ba Tài sững người, kêu khẽ:

- Lệ đi rồi!

Mất chiếc ghe coi như Ba Tài cụt chân. Mùa nước nổi chung quanh núi đều là nước, núi Ba Thê giờ như một ốc đảo cô lập giữa đại dương. Giờ có muốn đi tìm Lệ cũng chẳng biết làm sao, bởi hầu như nhà nào cũng chỉ có một chiếc xuồng dùng để đi lại, đâu có ai dư!

Dì Mười lúc đó mới thắc mắc:

- Không biết bữa con Lệ về đây nó đi bằng gì mà chẳng thấy xuồng ghe gì hết?

Ba Tài thẫn thờ như người mất hồn. Khi anh trở về nhà thì bộ quần áo ướt của Lệ cũng chẳng thấy! Thay vào đó là cái nón lá cũ của ai để trên gối, mà khi cầm lên Tài phải giật mình, vì bên trong nón có dòng chữ viết bằng than củi:
 
- Tìm em ở rừng tràm.

Ba Tài kinh hãi:

- Không xong rồi!

Anh qua năn nỉ dì Mười:

- Dì Mười làm ơn cho con mượn chiếc xuồng của ai để đi tìm vợ con. Nó gặp nguy.

Không cho cũng kỳ, nên dì Mười dặn thòng:

- Mày có đi thì đi cho nhanh mà về, để ngày mốt tao còn đi núi sập.

Tài bơi chiếc xuồng nhỏ nhẹ tênh, nó lướt đi vù vù, vậy mà anh vẫn còn thấy chậm. Lòng dạ anh nóng ran như lửa cháy, nên không thiết gì ăn uống, cứ băng đồng nước, nhắm hướng rừng tràm mà đi. Vạt rừng này kéo dài từ Mỹ Hiệp Sơn qua tới Nam Thái Sơn, biết tìm Lệ ở đâu.

Mông lung như vậy, chẳng hiểu sao Tài lại đi rất tự tin, cứ nhắm hướng giữa rừng mà bơi. Rừng tràm sau cơn bão lớn giờ xơ xác, ngã rạp, nên vốn đã chằng chịt giờ lại um tùm, khó đi hơn. Trời tối mà Ba Tài còn loay hoay giữa chốn mịt mùng, không biết phải làm sao.

Giữa lúc còn đang hoang mang thì bỗng chiếc xuồng của Tài đâm phải vật gì đó trước mũi. Vừa khi ấy, anh thấy lờ mờ và reo lên:

- Mỹ Lệ!

Chiếc ghe của Tài đậu phía trước, anh quýnh lên:

- Đây rồi!

Tài nhảy phóc lên ghe, vừa kêu rối rít:

- Lệ ơi, em đâu?

Nhưng anh thất vọng, bởi trên ghe không có ai. Chiếc ghe mắc kẹt vào giữa hai cây tràm lớn và nằm yên ở đó, còn người trên ghe thì đã biến đi từ lúc nào rồi...

- Lệ ơi!

Tiếng kêu của Tài vang vọng cả khu rừng. Bất chợt anh nghe một tràng tiếng hú nối theo tiếng kêu của anh. Tiếng hú lúc đầu nhỏ và ngắn, sau lan dần ra và càng lúc càng lớn. Nghe lạnh cả người!

Nghĩ tới vợ trong khung cảnh này, bất chợt Tài rùng mình! Anh buột miệng:

- Lệ, em có làm sao không?

Chờ cho tràng tiếng hú kia vừa dứt, Tài lại cất tiếng gọi vợ lần nữa:

- Lệ ơi, anh tìm em. Anh là Ba Tài đây!

Một lần nữa tràng tiếng hú lại nối theo y như lần trước, lần này tiếng hú ở gần hơn và nghe rõ hơn, đúng là... giọng của một người nữ!

Thần hồn Ba Tài hoảng loạn, anh chỉ kịp thốt lên:

- Mỹ Lệ, trời ơi!

Rồi đứng chết lặng. Lẽ nào như thế? Lẽ nào Mỹ Lệ là người phát ra tiếng hú đó? Hoang mang đến cực độ, Tài chỉ biết chấp tay van vái:

- Xin đừng để vợ con như vậy xin trời Phật...

Lời của Tài chưa dứt thì chợt một tràng cười như xé lụa vang lên. Giọng cười nghe bi thương hơn và qua giọng cười đó, bỗng Tài nhận ra âm thanh quen thuộc làm Tài bừng tỉnh, anh kêu lên:

- Út Sương!

Tiếng thốt của Tài nhỏ, chỉ đủ mình anh nghe, nhưng chẳng hiểu sao đã có tiếng đáp vọng lại:

- Vẫn còn nhớ cố nhân sao!

Tài lắp bắp:

- Anh... anh không có ý...

Một vật gì đó bay vụt tới rơi ngay trước mặt Tài..Anh cầm lên và giật mình.

- Bộ quần áo của Mỹ Lệ!

Bộ quần áo này lúc sáng còn nằm trên giường khi Lệ biến mất. Bây giờ nó vẫn đẫm nước, như được lột và quăng từ dưới nước lên. Bất chợt, Tài kêu to:

- Mình ơi!

Tràng cười kia lại vang lên, kèm một tiếng rít ghê rợn:

- Tình quá!

Và tiếp theo là cả thân thể lõa lồ của Mỹ Lệ vọt lên từ dưới nước, rơi đúng vào chân của Tài. Anh nhận ra ngay và vội cúi xuống ôm lấy. Nhưng như trong cơn mơ, bàn tay Tài vừa chạm vào cơ thể vợ thì khác nào chạm vào nước. Anh hốt hoảng.

- Lệ! Em sao vậy?

Cũng vừa lúc ấy Tài lảo đảo, rồi mắt mũi tối sầm lại…
Sự đời cà khịa cái chơi
Khi vui muốn khóc, khi cười buồn tênh!
0
Phần 2

- Kìa, cậu đã tỉnh lại rồi, may quá!

Mở mắt ra nhìn thấy một lão nông trung niên ngồi trước mặt mình, Ba Tài chồm ngay dậy, hỏi liền:

- Vợ tôi đâu chú?

Đưa tay ra dấu cho Tài nằm yên, người chủ nhà nhỏ nhẹ nói:

- Kêu tôi bằng anh thôi. Tôi năm nay chỉ mới ba chín, chắc lớn hơn chú chút đỉnh thôi.

Ba Tài đâu còn nghĩ gì khác ngoài vợ mình:

- Kêu bằng gì cũng được, nhưng vợ tôi đâu?

- Vợ nào, tôi chỉ thấy có mình chú nằm chết giấc trên ghe nên đem về đây, chứ nào có ai khác.

- Nhưng vợ tôi nó... nó...

Chợt nhớ lại chuyện đã qua, Tài nhìn quanh rồi thảng thốt kêu lên:

- Người ta đã làm gì vợ tôi rồi? Chú... à mà anh có thấy ai ở chỗ ghe của tôi không?

Người đàn ông lắc đầu:

- Tôi đi giăng câu ngang qua vạt rừng đó thì nghe có tiếng hú, biết có chuyện chẳng lành nên tôi vội tới. Cũng may là còn kịp cứu chú.

- Anh có biết ai hú không?

- Kêu tôi bằng Hai Chà là được rồi. Còn ai hú thì làm sao mà biết được, ngoại trừ mình cũng là ma như họ!

Tài giật mình:

- Đó là ma sao?

- Tôi ở đây lâu đời lắm rồi, nhưng hiện tượng này chỉ mới có chừng hơn một năm nay. Ban đầu tôi cứ tưởng người điên nào đó, nhưng kiếm tìm hoài mà chẳng thấy ai trong khu rừng này cả. Rồi chắc chắn đó là ma!

- Một hồn ma nữ?

- Đúng. Đã nhiều đêm tôi nghe tiếng một người đàn bà vừa hú vừa khóc! Nhất là vào những đêm trời tối hay mưa gió, chỉ nội nghe tiếng hú thôi thì dẫu cho tim bằng đá óc bằng thép cũng phải rùng mình! Tôi nè, là dân làng chài mà nhiều lần đã phải thót tim khi nghe tiếng hú vừa khóc thê lương đó. Cậu mà nghe thì...

Chợt anh ta hỏi:

- Hay là cậu nghe rồi nên mới ngất đi phải không?

Ba Tài gật đầu:

- Chẳng riêng tôi, mà còn con vợ tôi nữa.

Anh đem chuyện mất tích của vợ mình và những gì đêm qua kể lại. Vừa nghe xong Hai Chà đã vỗ đùi:

- Đúng y như vậy rồi! Hồi năm ngoái có một cặp vợ chồng lấy củi ngang qua khu rừng đó thì cũng bị như vậy. Chỉ vì người chồng tên là Tài.

Ba Tài kinh ngạc:

- Tên Tài thì có gì liên quan tới hồn ma?

- Vậy mà có đó. Tôi để ý rồi, đã nhiều cặp vợ chồng hoặc đàn ông đi một mình hễ ai qua đó cũng bị hồn ma hiện ra quấy phá, thậm chí nguy hiểm tới tính mạng nữa, tất cả đều có tên là Tài! Ở xóm trên đã có ba người bị y như vậy!

- Đều tên là Tài!

- Đúng vậy. Chú mày biết tại sao không? Chỉ bởi hình như hồn ma đó có thù hận điều gì với một người tên Ba Tài!

Ba Tài giật bắn người, suýt nữa anh đã để lộ thân phận của mình, cũng may là Hai Chà đã nói tiếp:

- Tôi đã tìm thấy một cái gò đất cao giữa cánh đồng tràm, trên gò có một cây gáo cổ thụ, thân cây cỡ hai người ôm và trên đó còn ghi lại mấy chữ để giải thích vì sao có chuyện hận thù người tên Tài!

Ba Tài lắng nghe rất kỹ, thấy Hai Chà dừng lại hút thuốc, anh hỏi tới:

- Sao nữa anh Hai?

- Trên thân cây viết mấy chữ như vậy: Hận Ba Tài suốt kiếp. Đó, chú mày thấy chưa, chỉ vì hận Ba Tài nào đó mà oan hồn ấy hại bất cứ người đàn ông nào tên Tài vô phước đi ngang qua!

- Ở gò đất đó có nhà cửa gì không anh Hai?

- Chỉ có một cái chòi nhỏ, nhưng có lẽ cất đã lâu ngày nên bây giờ dột nát hết rồi. Tuy nhiên, nơi đó còn có một vật sót lại, có lẽ đó là kỷ vật của hai người lúc còn mặn nồng với nhau.

Anh ta đi vào nhà lấy ra một chiếc lược làm bằng sừng trâu rất xinh xắn, đưa cho Tài xem:

- Trên chiếc lược này còn khắc mấy chữ, cậu đọc coi.
 
Tài vừa nhìn thấy chiếc lược đã giật mình run rẩy... bởi không cần nhìn kỹ Tài cũng biết trên cán lược có dòng chữ: Cho người thương không bao giờ xa cách!

Hai Chà đợi cho Tài đọc xong, anh ta mới nói:

- Tôi đoán giữa Ba Tài này với cô gái oan hồn vốn là cặp đôi với nhau, và từng có thời tới chỗ cái chòi đó để ở hay tình tự gì đó, cho đến khi...

Bỗng dưng Ba Tài thét lớn:

- Đừng nói nữa.

Rồi như một kẻ điên, anh lao người ra trước nhà và không làm chủ được bản thân, đã bước hụt chân ngã luôn xuống nước! Và có lẽ nước lạnh đã làm cho Tài tỉnh lại, anh vẫn đứng yên dưới nước, nhưng lại ôm mặt khóc nức nở, Hai Chà ngạc nhiên:

- Chú làm sao vậy?

Ba Tài không đáp, lẳng lặng leo lên ghe, mãi đến khi chống ra cách nhà vài chục thước mới nói với lại:

- Cám ơn anh Hai, tôi phải đi tìm vợ tôi!

Hai Chà đứng nhìn theo và lắc đầu:

- Thằng này số chết hay sao đây!

Anh lấy chiếc lược sừng đặt lên bàn thờ giữa nhà, thành kính khấn vái:

- Việc cô sai tôi chưa làm được, nhưng thằng đó sớm muộn gì cũng tới nộp mạng cho cô thôi!

Nếu ai để ý sẽ thấy bàn thờ kia chỉ có một bát nhang, không có ảnh thờ, nhưng lại có một lọn tóc phụ nữ khá dài. Giống y như lọn tóc mà Ba Tài đã thấy ở nhà đêm vợ biến mất!

Nén nhang đã tắt tự bao giờ, bỗng dưng sau lời khấn của Hai Chà nó vụt cháy trở lại. Bấy giờ Hai Chà lại tiếp tục khấn:

- Em yên tâm, dẫu em còn bị phán quan cấm cung, không thể ra ngoài đi báo thù được nhưng Hai Chà này nguyện vì em, sẽ làm cho kẻ đã gây ra cái chết oan uổng của em phải đền tội ngay trong mùa nước nổi này!

Anh ta khấn xong thì bước ngay ra ngoài, lên chiếc xuồng nhỏ bơi theo hướng Ba Tài vừa đi. Chiếc xuồng nhỏ nên lướt rất nhanh, và có lẽ thuộc đường, nên khi anh ta tới gò đất thì chưa thấy ghe của Tài.

- Ủa, anh ta phải tới đây mà?

Hai Chà chợt nhìn sang chỗ gốc cây cổ thụ, nơi có khắc dòng chữ và kêu lên:

- Anh ta dám làm chuyện này sao?

Gốc cây gáo, chỗ có khắc dòng chữ vừa mới bị ai đó dùng dao vạt bằng mặt, xóa hết những chữ khắc đã mấy năm qua. Dấu vết vạt còn mới nguyên.

- Thằng Ba Tài này dám sao!

Nhưng anh ta chưa kịp nổi cơn giận thì bỗng thấy ở phía bên kia gốc cây có một nấm mộ đất còn mới. Trên đầu mộ có cái bệ bằng cây tràm tươi vạt mặt, khắc mấy dòng: Mộ phần Lưu Mỹ Lệ.

Quá uất ức, Hai Chà lao tới dùng chân đạp mạnh vào đầu ngôi mộ, định xô ngã cái bệ. Nhưng bỗng anh ta rú lên một tiếng đau đớn rồi ngã lăn ra. Những ngón chân anh ta tóe máu ròng ròng, giống như vừa bị ai chặt đứt!

Từ không trung, bỗng vang lên tràng tiếng hú lạ lùng, ghê rợn. Mà nghe kỹ thì cách hú không hề giống với tiếng hú mà Ba Tài đã nghe. Vẫn của một người nữ, nhưng khác với tiếng hú mà Hai Chà đã biết:

- Út Sương, không phải là em, vậy ai đang hú?

Trả lời cho anh ta là một tiếng khóc dội lên từ gò mả cũ, đối diện với mả mới. Vừa nghe Hai Chà đã hốt hoảng:

- Sao em lại khóc, Út Sương?

Tiếng khóc càng lúc càng bi thương hơn, và Hai Chà hiểu việc gì đã xẩy ra.

- Có phải em bị người ta hại rồi phải không? Ai? Con Mỹ Lệ hay là...?

Hình như giữa anh ta và cái vong dưới mộ có thể truyền đạt ý nghĩ cho nhau, nên chỉ một lát sau thì anh đã gầm lên:

- Trời ơi, mình chậm mất rồi!

Anh ta hấp tấp rời ngay gò đất như chạy trốn. Và lúc này chiếc ghe của Ba Tài mới cập bến, Tài bước lên với dáng điệu thẫn thờ, nhưng khi đứng trước ngôi mộ mới thì anh vội ngồi thụp xuống và gào lên:

- Đừng bỏ anh Lệ ơi!

Rồi quay lại phía sau, anh mọp sát người xuống mặt đất, giọng van lơn:

- Út Sương ơi, anh tạ tội với em, xin em đừng làm như vậy tội cho cô ấy. Nếu có muốn trả thù thì anh đây, em cứ ra tay!

Tài nằm hẳn ra đất và chẳng buồn ngồi dậy. Anh chờ và chờ rất lâu. Vẫn không có gì xảy ra cho đến khi trời sẫm tối. Lúc này không phải Ba Tài ngồi, mà có ai đó kéo anh dậy, vừa nhìn mặt người đó, Tài đã run lên:

- Hai Chà! Anh... làm gì?

Trên tay Hai Chà cầm cây mác sáng ngời, mắt anh ta long lên:

- Mày phải chết!

Anh ta vung tay lên và chặt xuống. Phụp một cái!

Nhưng thay vì chặt trúng vào Ba Tài đang ngã ngồi dưới đất, cây mác lại nhắm thẳng vào thân cây gáo và mũi mác cắm phập vào đó, gần lút nửa cây mác!

Và từ trong thân cây có một dòng máu chảy ra, kèm theo một tiếng thét kinh hoàng!

- Út Sương!

Đó là tiếng gào của Hai Chà, và sau tiếng gào đó thì anh ta gục xuống ngay, miệng hộc máu tươi có vòi!

Ba Tài ngơ ngác nhìn, chưa hiểu tại sao anh ta lại như vậy thì anh nghe có tiếng từ dưới nấm mộ mới, vừa đủ cho anh nghe:

- Anh hãy rời đây ngay, không thì nguy đến tính mạng!

- Mỹ Lệ!

Tài quay sang ôm lấy nấm mộ, nhưng giọng nói kia lại thúc giục.

- Đi nhanh lên đi! Những giọt máu tươi này sẽ làm cho cô ả thoát ra được chốn giam cầm, và thế là anh chết ngay.

- Không, anh không đi đâu hết, anh sẽ ở lại đây vĩnh viễn cùng em.

- Đi đi.

Ba Tài bị đẩy mạnh một cái ra xa và nằm gọn dưới ghe!

Vừa lúc đó, có một chiếc xuồng nhỏ khác vụt tới và một người phóng lên ghe, cắp ngang người Ba Tài, nhảy gọn lên gò đất cao. Vừa đặt Tài xuống, ông đã dang tay tát cho anh hai cái liền và quát:

- Thằng khốn kiếp, quen thói trăng hoa thì sẽ nhận hậu quả thôi!

Bị đánh quá đau, nhưng thay vì kêu la, trái lại Ba Tài lại reo lên với tất cả sự vui mừng.

- Ba!

Trước mặt Tài lúc này là một người đàn ông lớn tuổi, nhưng còn khỏe, thân hình cao lớn, dữ tợn! Và người đó là cha của Tài!

- Ba! Sao ba ở đây? Ba là... là...

- Một hồn ma! Bởi ta làm sao là người được khi đã chết hơn mười năm rồi!

Rồi ông chỉ vào ngôi mộ cũ:

- Nó là mầm mống của mọi kiếp nạn mà con phải gánh chịu! Con còn nhớ trước khi ba chết, ba đã từng dặn con điều gì không?

Tài hạ thấp giọng:

- Dạ, năm đó con mười sáu tuổi, lúc hấp hối ba có dặn con là đừng bao giờ dan díu với phụ nữ đã có chồng hoặc người đã có người yêu, bởi trong đời người có hai cái tội lớn nhất: thứ nhất là phá hại đời con gái người ta, thứ hai là lấy vợ người khác!

Ông già gằn giọng:

- Vậy con đã làm đúng chưa?

- Dạ...

Giọng ông già đanh lại:

- Con đã làm sai hết những gì ba dặn! Việc con dan díu với Út Sương khi cô ấy đã có chồng là Hai Chà, như vậy là sao?

Ba Tài lắp bắp:

- Dạ... con không biết... Đến khi biết thì đã lỡ rồi... Mà con cũng không biết Hai Chà là chồng của Út Sương... Cho đến khi...

- Con lớn xác chứ đầu óc chưa lớn! Con có biết gần ba năm trước, khi con đưa Út Sương trốn vào gò đất này để tránh tiếng đời dị nghị, con đâu có biết là mình đã vướng vào cái vòng oan nghiệt. Út Sương khi ấy đâu còn là người nữa...

Ba Tài kinh hãi:

- Ba nói sao? Sương là...

- Khi nó báo tin cho con biết đã có thai hai tháng và rủ con đi trốn vào rừng là đã có ý định giết con rồi. Một con ma nữ muốn giết người tình của nó đâu có gì lạ, nhưng lạ một điều là người chết tại đây năm đó không phải con, mà là nó. Con Út Sương?

Ba Tài có vẻ sợ hãi:

- Ba đừng nói chuyện đó!

Nhưng ông già vẫn nói:

- Ngày đó cũng may ta hay kịp nên tới cứu con đúng lúc. Thật ra cái chết của Út Sương đâu phải do con. Con đã bị hàm oan mà không tìm cách để minh oan, chưa chi đã vội đi lấy vợ tiếp, để cho người ta gán cho cái tội bội nghĩa bạc tình, tội giết vợ rồi chạy tội?

Ba Tài cũng không ngờ tình tiết này, anh ngơ ngác:

- Sao có chuyện đó ba? Chính con đã bỏ đi trong lúc Út Sương mang thai tới ngày sinh. Cô ấy sinh khó và chết ở chỗ này, trong lúc con bỏ về và không trở lại mà?

Điưa tay chỉ vào Hai Chà, ông nói:

- Cũng giống như lần này, lần đó chính anh ta đã bám theo con và Út Sương tới tận đây. Người mà hắn muốn giết là con, nhưng xui rủi sao, khi hắn ra tay thì lại nhằm vào Sương. Cô gái bị chết trước khi ngã xuống sông, nên con tưởng chính mình gây ra cái chết đó! Ba cũng cùng hoàn cảnh với con, nên ba cảm thông được nỗi khổ trong lòng mà con phải chịu oan, nên bấy lâu nay lúc nào ba cũng theo để che chở cho con. Nếu không có ba thì làm sao con thoát qua được cơn bão tố vừa rồi!

- Vậy sao ba để cho Mỹ Lệ phải chết!

Ông già thở dài:

- Con mới hiểu một mà chưa hiểu hai, ba. Mà ba hỏi thật với Mỹ Lệ, con có yêu thương nó không?

Ba Tài đáp nhanh:

- Điều này ba khỏi phải hỏi. Nếu không yêu thì con đâu có bỏ cả danh vọng ở chốn thị thành mà lên sống cùng cô ấy ở núi Ba Thê. Con cũng giống như ba, đã bỏ hết...

Ông già bỗng phá lên cười, giọng cười vừa chua xót vừa bi thương:

- Cũng chỉ vì đàn bà cả. Con ơi!

Rồi giọng ông chùng xuống:

- Cũng giống như con, ba đã lỡ vướng vào người phụ nữ đã có chồng và vì đó mà tiêu tan cả sự nghiệp và mạng sống. Ba đã vì chuyện ấy mà bỏ cả mẹ con ở lại, để rồi bà ấy chết vì chịu không nổi cảnh đời ngang trái...

Ông nói như sắp khóc, Ba Tài nói lảng chuyện khác:

- Ba, con muốn ở lại đây với vợ con được không ba?

Ông già gầm lên giận dữ:

- Thằng điên, bộ muốn chết sao chứ!

Ông thẳng chân đạp một cái thật mạnh, Ba Tài bị hất tung xuống ghe, còn nhanh hơn hồi nãy, kèm theo tiếng quát:

- Một mạng của ba đủ rồi!

Tài vẫn cố nói:

- Nhưng còn vợ con nằm đó, con không đành...

- Con vợ mày... Mà thôi, tao bảo đi là đi!

- Vợ con ba ơi!

- Đi nhanh lên, rồi... mày sẽ gặp nó! Đi đi!

Lúc đó, cây gáo cổ thụ bỗng chuyển động giống như bị ai đó cưa sắp ngã. Cùng lúc, những tiếng hú kinh người cất lên vang động cả khu rừng. Nằm trên ghe mà Ba Tài có cảm giác như mình bị quay tròn như chiếc bông vụ.

Chóng mặt và muốn ói, Tài chỉ kịp kêu lên một tiếng rồi chiếc ghe như bị lôi đi vùn vụt...

Tuy không nhìn thấy, nhưng lúc ấy Ba Tài nghe rất rõ tiếng gầm lên như con hổ bị thương của cha, cùng lúc có những tiếng thét lên kinh hoàng của phụ nữ.

Mọi thứ đã ở lại sau lưng Ba Tài. Anh ngất lịm...
 
***

Ngay đêm trở về nhà ở Ba Thê, Tài đã chứng kiến một việc rất lạ. Tuy anh vắng nhà đã bốn năm ngày, nhưng nhà cửa vẫn sạch sẽ, tươm tất. Và lúc về vì quá mệt, Tài đã nằm ngủ một giấc dài... đến khi tỉnh dậy đã thấy một mâm cơm ai dọn sẵn còn nóng sốt.

Cứ tưởng Dì Mười bên cạnh thấy tình cảnh đơn chiếc của anh nên lo giúp bữa ăn, tuy nhiên khi mở mắt ra nhìn thì thấy cửa anh đã chốt bên trong, làm sao bên ngoài đưa cơm vào được. Trong lúc Tài còn đang hoang mang thì một giọng nói quen thuộc đã cất lên mà không thấy người:

- Thắp nhang cho ba đi, rồi ăn cho lại sức!

Tài bàng hoàng:

- Mỹ Lệ! Em...

- Đừng nói lớn, người ngoài nghe được họ tò mò. Em bây giờ chỉ về được với anh qua đêm như thế này thôi. Đó cũng là nhờ ba đã hy sinh cứu em thoát được thảm kịch vừa rồi.

Ba Tài ngơ ngác.

- Chuyện gì đã xảy ra?

- Sau khi anh đi rồi thì một cuộc tàn sát đã xảy ra, mà người phát động là Út Sương! Cô ấy bị ba và một số oan hồn khác bắt nhốt ở gò đất cây gáo đó từ nhiều năm, chỉ có thể nhờ người chồng còn sống là Hai Chà đi trả thù giùm và đáng lẽ cô ấy còn bị giam cầm ở đó mãi mãi… Nhưng vừa rồi lúc Hai Chà chém anh thì mũi mác đá vô tình lạc vào thân cây, mà thân cây gáo chính là nơi giam vong hồn của Út Sương, thế là máu chảy tuôn ra và hồn cô ta theo đó mà thoát! Điều đó có nghĩa là Út Sương sẽ trực tiếp đi theo anh và sớm hay muộn thì anh cũng phải đền mạng!

Trong lúc Ba Tài đang căng thẳng đầu óc, thì giọng của vợ anh lại tiếp, trấn an anh:

- Nhưng bây giờ thì không sao rồi. Chính ba anh đã phải hy sinh cái mạng sống ở cõi âm, quyết sống mái một trận với Út Sương, cuối cùng cả hai cùng tan hồn! Anh yên tâm, Út Sương giờ đây đã vĩnh viễn tiêu diêu cùng cát bụi...

- Ba anh!

- Ba thì cũng vậy. Và nhờ có ông mà anh sẽ được sống.

Rồi cô hạ thấp giọng:

- Nhưng sống như thế nào mới là quan trọng!

Ba Tài hiểu ý:

- Em vẫn sợ anh lăng nhăng nữa chứ gì!

- Không sợ sao được khi mới ngần này tuổi mà anh đã qua hai đời vợ! Ai mà biết được là sẽ còn bao nhiêu đời nữa...

- Anh sẽ...

- Bây giờ anh đừng hứa hẹn gì cả. Khi em còn sống thì em ghen theo kiểu người sống, anh có thể chống đỡ được, còn hiện tại thì em là một oan hồn, mà anh biết rồi đó, oan hồn hành động ai mà lường được! Em sẽ ghen cho anh coi!

- Mỹ Lệ, anh hứa mà...

- Thì cứ sống cho đàng hoàng đi, em hứa sẽ là người vợ phục vụ anh hết mình, hết kiếp âm này luôn!

Rồi nàng hạ thấp giọng, sợ có người khác nghe:

- Em chỉ về với anh vào ban đêm, còn ban ngày anh chỉ nghe tiếng em nói mà không thể nhìn nhau được. Vậy anh có dám hứa là cho đến hết kiếp dương trần của anh, anh sẽ không bao giờ lấy người con gái nào khác nữa không?

Ba Tài nói không cần suy nghĩ:

- Sao lại không hứa! Anh bảo đảm với em rằng Ba Tài này sẽ không bao giờ mơ màng tới phụ nữ nào khác.

- Chắc không?

- Chắc trăm phần trăm!

- Vậy thì ăn hết phần cơm kia đi, em mới tin.

Bụng đang đói cồn cào nên không đợi nhắc lần thứ hai, Ba Tài đã ngồi vào ăn ngon lành. Giọng nói của vợ vẫn đều đều bên tai:

- Từ nay em sẽ lo cơm nước cho anh, sẽ lo hết mọi việc trong nhà này, nhưng để mọi người không nghi ngờ, em sẽ đem về đây cô em gái bà con...

Vừa nghe, Ba Tài đã la lên:

- Sao được! Đã nói là anh không bao giờ quen ai nữa kia mà!

- Cái này là do em cho phép. Em sẽ cho đứa em về đây thay em, sống với anh như vợ chồng.

- Không! Anh không thể...

Giọng nàng nghiêm túc:

- Không phải anh sống với nó như lấy người khác đâu mà không với chịu! Xác của nó mà hồn là của em, anh hiểu rồi chứ.

Rồi nàng nói rõ hơn:

- Đứa em của em nó vắn số, năm sau thì chết, lúc đó em sẽ nhập hồn vào nó và... về ở với anh! Còn từ đây đến đó anh vẫn cư tang vợ, vẫn phải sống âm thầm cùng em như thế này.

Tài lúng túng:

- Anh... anh không biết tính sao...

- Không trăng sao gì hết, cứ nghe em mà làm. Sáng mai làm một bữa tiệc, mời chòm xóm tới thông báo việc em bị chết và cúng cơm.

Nàng nói xong thì biến mất. Ba Tài có hỏi thêm gì cũng không nghe trả lời...

Hơn một năm sau...

Một hôm, bỗng có một cô gái khuôn mặt giống y như Mỹ Lệ, từ dưới triền núi đi lên, trên tay xách nguyên một va li quần áo, giống như đi về nhà chồng. Cô vừa bước vào cửa đã hỏi ngay Tài:

- Sao vợ về mà không ra đón?

Tài ngơ ngác, bởi giọng nói thì hoàn toàn là của... Mỹ Lệ! Anh lắp bắp:

- Anh... anh chưa biết em là...

Nàng cười như thân quen tự bao giờ:

- Em là vợ anh từ hôm nay, sao còn đứng đó?

Nàng ta đưa va li cho Tài một cách tự nhiên và sau đó bước vào nhà, đi thẳng ra sau bếp, giống như người đã sống trong nhà từ lâu!

Trưa hôm đó theo ý của Lệ, Ba Tài dọn một tiệc nhỏ, mời đầy đủ hàng xóm và chính thức giới thiệu:

- Giới thiệu với bà con, đây là cô em họ của vợ tôi, thấy hoàn cảnh tôi đơn chiếc, nên từ nay cô ấy về đây giúp đỡ...

Dì Mười là người nhanh nhảu, nói thẳng ý mình:

- Con chị chết rồi, sao không bắt con em thế vai? Còn ai bằng chính con em mình, chắc vong hồn con Lệ cũng vui lắm!

Thấy Ba Tài không nói gì, còn cô gái thì bẽn lên cúi đầu, mọi người cùng vỗ tay:

- Đẹp đôi quá rồi, vậy thì nhân bữa nay ta coi như lễ cưới đi!

Vậy đó....

Nhờ bữa tiệc nhỏ ấy mà từ đó cô em vợ Mỹ Lan đã chính thức trở thành nội tướng của Tài. Hơn một năm sau thì họ có đứa con đầu.
Sự đời cà khịa cái chơi
Khi vui muốn khóc, khi cười buồn tênh!
0
HỒN AI TRÊN ĐÈO CẢ

Qua khỏi Đại Lãnh một quãng không xa, Tường định tấp vào quán bán cháo đêm mà anh vẫn thường hay ăn, nhưng khi vừa dừng lại thì thấy treo bảng nghỉ bán. Anh chép miệng chán nản, bởi nếu không ăn và nghỉ xả hơi ở đây trước khi lên đèo Cả thì phải sang tận bên kia chân đèo mới có nơi để dừng lại.

Còn đang phân vân, thì một phụ nữ lớn tuổi bước ra chỉ tay về phía trước.

- Cách đây chừng mười phút chạy xe, trước khi lên đèo, nhìn bên trái có một quán mới mở bán đồ ăn ngon lắm.

Tường cám ơn rồi cho xe chạy tiếp. Anh tính, nếu tới đó mà không vừa ý thì thà để bụng đói chạy qua bên kia đèo chứ không ghé quán nào khác.

Chạy theo lời người ấy chỉ, mãi vẫn chưa thấy có quán nào, anh định chạy luôn thì bỗng có một chiếc xe nhỏ chạy ngược chiều như muốn đâm vào xe mình. Tường nhanh mắt bẻ tay lái cho xe quẹo gấp về phía tay trái, tấp hẳn vào một khoảng sân rộng. Hú hồn!

Tường đang lầm bầm rủa tay chạy xe ẩu suýt gây tai nạn, thì chợt nhìn vào trong, anh thấy ngôi nhà có đèn sáng, bày vài cái bàn và ở thân cây phía trước có treo tấm bảng nhỏ đề mấy chữ: Cháo hải sản.

- Đúng là trong cái rủi có cái may!

Tường đoán quán mà người phụ nữ chỉ là quán này. Anh cho xe sát vào trong cùng của khoảng sân rộng và bước ngay xuống mà không cần hỏi, bởi anh đã nhìn thấy nồi cháo đang bốc khói và mùi thơm của cháo đang khiến bao tử anh cồn cào.

Người chào hỏi Tường là một cô gái còn rất trẻ, tuy khuôn mặt trùm kín trong vuông khăn màu đậm:

- Mời quý khách dùng món cháo mới chín. Có mực tươi, hàu sống và tôm he mới bắt về!

Tường nghe giọng nói đã có cảm tình, nhưng chỉ tiếc là không nhìn được gương mặt để vừa ăn vừa tán tỉnh mấy câu cho đỡ buồn ngủ. Anh gọi:

- Cô cho một tô cháo hàu, dĩa mực và tôm!

- Chu cha, gọi chi dữ vậy, ăn sao hết.

Giọng nói của dân vùng Phú Khánh nghe vừa mộc mạc vừa dễ thương khiến Tường bật cười! Anh đùa:

- Nếu một mình ăn không hết thì ai đó cùng ăn cho đủ hai mình!

Cô chủ quán cũng khá bạo miệng:

- Muốn hai mình thì sẽ có hai mình ngay. Lúc đó đừng sợ nhé.

- Việc chi mà phải sợ!

Tường cũng bắt chước giọng của cô nàng và thật bất ngờ, anh nhận được một ân huệ, cô nàng lột nhanh khăn trùm đầu ra, lộ một khuôn mặt đẹp mê hồn!

- Chu cha! Người thế này mà ngồi bán cháo ư? Ai dám ăn!

Nàng cười giòn:

- Mắc chi mà không dám ăn, bộ người đẹp rồi hớp hồn được thiên hạ sao!

Quán lúc ấy không có khách nào khác ngoài Tường, nên anh có cớ chọc:

- Có lẽ mấy người khác sợ bị hớp hồn nên không dám ăn.

- Ngoại trừ anh phải không?

Thấy nàng ta vui vẻ, dạn dĩ nên Tường không ngại hỏi:

- Đẹp như thế này mà lại một mình buôn bán, sao không chọn đại một ông xã nào đó để sai vặt, cô chủ?

Nàng lại cười giòn:

- Nói chi mà nghe lạ thế! Đã sắm được ông xã thì phải cưng như cưng trứng chứ sao lại bắt làm!

Tô cháo hàu thơm phức, kèm hai dĩa mực và tôm tươi ngon. Tường nhanh miệng mời:

- Cô chủ nói có hai mình mà giờ vẫn chưa thấy, thế thì bắt đền đấy!

- Đền thì đền chứ sợ chi!

Cả hai cùng cười vui, khuấy động không khí đang vắng lặng của quán ăn giờ ít khách. Và người "ăn cho có đôi”, với Tường không ai khác hơn là cô chủ quán! Cô múc riêng cho mình tô cháo, vừa ăn vừa bảo Tường:

- Cái này là tôi bắt đền đây!

Tường liếc nhìn gương mặt bầu bĩnh, dễ thương, anh tò mò hỏi:

- Cô đâu phải người gốc ở xứ này phải không?

- Dạ đúng, em gốc Huế.

- À, thảo nào...

Đang ăn thì bất chợt một cơn mưa thật to ập đến. Tường lo lắng:

- Chà, đêm mà mưa lớn thế này qua đèo mới gay đây!

Cô chủ quán cũng phụ hoạ:

- Mưa thế này mà qua đèo thì gay thật!

- Chỉ có ngừng xe và... ăn cháo thôi!

Câu nói đùa của Tường vô tình nhưng lại đúng, nên cô chủ cười đồng tình:

- Ông trời thương người ta một chút mà cũng châm chọc nữa sao!

Câu chuyện rôm rả giữa hai người có lẽ sẽ chấm dứt khi có nhiều xe dừng trú mưa, nhưng hơi lạ là đã khá lâu mà vẫn không có chiếc xe nào dừng lại.

Tường phải lên tiếng:

- Sao không có khách? Hay là tại quán của cô không treo bảng bên ngoài nên ít người biết?

Cô chủ lắc đầu và vẫn hồn nhiên:

- Nhiều khách chỉ thêm mệt, trong khi em chỉ muốn nghỉ sớm thôi. Bán cả ngày, còn sức đâu mà ngồi tới khuya. Phải chi ngồi mà đấu hót suông thì không ngán...

Câu nói vui ấy không ngờ đã trở thành sự thật. Hơn nửa giờ sau vẫn không có thêm khách nào. Vừa khi đó, lại có một tin không hay do mấy người đi ngược chiều đường đèo báo về:

- Đèo bị lở đá, xe không qua được!

Cô chủ quán buột miệng nói:

- May cho anh! Nếu không ngừng ăn cháo thì giờ này anh cũng đang ở trên đèo?

Tường công nhận:

- Đúng là đang ở lưng chừng đèo!

Anh thầm cám ơn cô chủ quán và còn muốn bảo: Ngồi nói chuyện với người đẹp như thế này thì đèo không bị lở cũng nên ngồi, bao lâu cũng được!

- Anh nói chi?

Tường lắc đầu:

- Đâu có chi mà nói. Ngồi nhìn không đủ rồi, cần gì nói!

Cô nàng lại cười thật giòn:

- Cánh tài xế các anh người nào cũng miệng lưỡi khéo nói, ai mà dám tin!

- Chưa tin thử sao biết là không dám?

- Tin để cho chết sao!

Thấy cô nàng vui tính, Tường lấn thêm một bước:

- Nãy giờ đã được ăn ngon, nghe nói chuyện có duyên nè, mà chưa biết tên cô chủ?

- Ái Liên. Tên xấu thấy mồ!

Cô nàng lại giọng giữa Trung và Nam khiến Tường bật cười:

- Tên xấu thấy mồ mà cũng có người thích thấy mồ luôn! Hân hạnh được biết cô Ái Liên. Còn tôi là Tường.

Họ như đã quen nhau lâu ngày, có thể do tương đồng một điểm nào đó. Nên sau khi tạnh mưa thì nàng là người đề nghị trước:

- Không thể qua đèo ít nhất cho tới ngày mai, chờ người ta thông đường. Mà xe của anh chỉ để ngồi chứ không thể nằm ngủ, vậy thì tốt hơn hết hãy về nhà em nghỉ đỡ đêm nay.

Tường áy náy:

- Nhưng... còn người nhà của cô?

Nàng cười tươi:

- Điều đó thì khỏi lo, bởi em đang ở một mình!

Tường cũng không ngờ mình lâm vào tình cảnh khó xử nhưng đầy thú vị này, nên sau vài giây lưỡng lự đã gật đầu ưng thuận.

- Thôi, đã làm phiền thì phiền cho trót!

Nhà của Ái Liên chỉ cách chỗ bán khoảng vài trăm mét, phía trong khu vườn cây rậm rạp. Tường đi bộ theo nàng, để xe lại đó.

Bước vào nhà, điều đập vào mắt Tường đầu tiên là ảnh chân dung của một người con gái thoạt trông giống hệt như Ái Liên, nếu ảnh đó không đặt trên bàn thờ thì Tường đã ngỡ đó chính là ảnh của cô chủ quán?

Thấy anh nhìn chăm chăm vào bàn thờ, nàng lên tiếng ngay:

- Đó là người chị song sinh với em. Chị ấy chết bởi tai nạn trên đèo Cả.

Tường buột miệng:

- Giống nhau như hai giọt nước!

Giọng nàng đượm buồn:

- Người ta nói chị ấy chết để cho em sống, hoặc ngược lại. Chị em song sinh cũng khổ!

Nàng muốn bày tiệc ra nhậu, nhưng Tường lại ngại:

- Cô ở nhà một mình, tôi là đàn ông, ngồi "nhậu nhẹt" e không tiện lắm!

Ái Liên mạnh dạn:

- Em giữ mình lâu nay nhưng nào có ai khen tiếng nào. Bây giờ tiếp khách ngồi nhậu chơi thì có gì đâu mà ngại!

Nàng cứ bày tiệc ra và rót rượu cụng ly với Tường:

- Lâu lắm rồi, kể từ ngày chị em mất đến nay, đây là lần đầu tiên em uống rượu, lại uống với đàn ông nữa!

- "Dô"!

Tường chẳng nghĩ gì khác ngoài sự cảm thông, anh nâng ly cụng đến lần thứ ba thì nói thẳng:

- Cô uống như vậy là vừa rồi. Như thế ngủ sẽ ngon.

Nhưng Ái Liên dứt khoát:

- Em một khi đã uống thì phải uống tới bến luôn! Anh sợ em không uống được rượu hả, lầm to! Ba em người Bình Định mà, nơi đó nổi tiếng rượu Bàu Đá, anh quên rồi sao!

Nàng lại uống ba cốc nữa, ngang bằng với Tường, nhưng trong lúc Tường đã chếnh choáng thì xem ra nàng vẫn vững vàng.

- "Dô" nữa đi?

Tiếng thách của nàng lúc này Tường chỉ còn nghe văng vẳng, nhưng cũng cố nâng ly lên.

Rổn! Một tiếng đổ vỡ vang lên. Chiếc ly từ tay của Tường do anh không còn điều khiển được, đã rơi xuống sàn. Ái Liên đưa tay vỗ nhẹ vào vai anh, gọi khẽ:

- Dậy đi chớ, bỏ người ta uống một mình sao?

Tường say như chưa bao giờ say như vậy. Anh hầu như không còn biết gì nữa...

Ái Liên đứng dậy, tỉnh táo đi về phía bàn thờ, rồi nhẹ nhàng bê bức ảnh chân dung xuống, đi trở lại chỗ Tường đang nằm gục trên bàn, cô nàng cầm khung ảnh đưa lên quá đầu, miệng lâm râm những gì không nghe rõ, sau đó gần nửa phút mới từ từ đặt bức ảnh vào phía bên dưới mặt của Tường. Anh chàng hoàn toàn không hay biết...

Ái Liên sau đó nhẹ nhàng ngồi xuống sàn, hướng mặt ra cửa, hai tay đặt ngang ngực rồi... bật khóc? Tiếng khóc nghe thê lương vô cùng và cứ thế vang vọng vào đêm trường. Chỉ tiếc là Tường đã đi vào cơn mê của hơi men, nên không nghe được...

Vài tiếng cú kêu như đáp lại tiếng khóc của người trong nhà.

Đêm dần khuya. Cơn mưa mới dứt lúc nãy, giờ đột ngột trở lại nặng hạt hơn và gió thổi mạnh hơn, như muốn bứng cả nóc nhà đi!
 
***

- Này anh ơi, sao lại nằm đó?

Nghe tiếng người hỏi, Tường bật dậy và hỏi lại:

- Đây là đâu?

Người hỏi anh là một nông dân đi cắt cỏ nuôi dê, ông ta nhìn Tường ngạc nhiên:

- Anh đâu phải người xứ này? Mà tại sao lại nằm bãi tha ma mà ngủ?

Tường giật mình nhìn lại sau lưng và phát hiện ra có đến hơn chục ngôi mộ cũ nằm rải rác. Anh lặp lại câu hỏi:

- Chỗ này là nơi nào?

- Nghĩa địa, bộ anh không thấy sao?

- Tôi... tôi... đang ở....

Anh dần nhớ lại và thảng thốt kêu lên:

- Ái Liên!

Ông già cắt cỏ hỏi lại:

- Anh kêu ai?

- Ái Liên! Bác biết nhà cô Ái Liên bán cháo hải sản ở đâu không?

Lão ta trố mắt nhìn Tường như nhìn một con quái vật vừa bước lùi trong tư thế chuẩn bị chạy. Đến lúc thấy Tường bước về phía mình thì lão vụt chạy như ma đuổi! Tường gọi giật lại:

- Bác, cho cháu hỏi!

Nhưng ông già đã chạy thục mạng, phút chốc đã biến mất sau lùm cây.

Tường lẩm bẩm:

- Vậy nhà của Ái Liên ở đâu? Chẳng lẽ mình uống say đến nỗi như người mộng du, ra nằm ngủ ở nghĩa địa này?

Anh đi dần vào xóm. Cố nhớ lại những gì đã nhìn thấy trong đêm, nhưng tuyệt nhiên không thể nhận ra quán cháo, dấu tích của xóm nhà đêm qua. Anh hỏi một người khác:

- Chị biết quán cháo hải sản của cô Ái Liên?

Chị ta lắc đầu:

- Ở đây đâu có ai là Ái Liên. Cũng chẳng có ai bán cháo cả.

Dò hỏi đến hơn một tiếng đồng hồ vẫn chẳng ra manh mối. Cuối cùng, Tường phát hiện chiếc xe của mình nằm ở cạnh hai cái mộ đá! Anh lại hỏi thì một người gần đó trả lời:

- Sau cơn mưa tối qua, có nhiều cây đổ, nhiều xe bị lật, sáng dậy thấy chiếc xe này nằm đây chúng tôi tưởng nó bị xô dạt vào đây, và chủ của nó chắc là bị nạn rồi...

Tường nói:

- Chủ chiếc xe là tôi. Nhưng đêm qua tôi đậu trước quán cháo hải sản của một cô tên là Ái Liên.

Người nọ giương mắt nhìn Tường rồi lắc đầu:

- Ở đây vốn là một nghĩa địa công cộng, nhưng lâu nay có vài người tới đây định cư, họ cất nhà bên ngoài nghĩa địa, nhưng cũng không ai ở được lâu, lần lượt chuyển đi hết. Nhà tôi là căn cuối cùng còn lại, nhưng chắc cũng phải chuyển đi sớm thôi.

Tường quả quyết:

- Chính tôi đêm qua đã ăn cháo ở đó, rồi còn về nhà cô Ái Liên ấy để ngủ nhờ mà!

Anh đang nói tới đó thì bất chợt từ trong nhà, bác nông dân cắt cỏ lúc nãy xuất hiện! Ông ta bảo thẳng với Tường:

- Lúc nãy nghe anh nói, tôi cứ tưởng anh là người đội mồ về! Anh có biết anh vừa nhắc tới ai đó không?

Tường ngơ ngác:

- Ai đâu?

- Thì cô Ái Liên đó! Anh hãy nhìn bên trái kia xem, ai ở kia?

Tường nhìn theo tay ông ta chỉ, và giật mình khi thấy một ngôi mộ đá có tên bia trắng ghi rõ dòng chữ: Ái Liên chi mộ!

Tường lạnh toàn thân, anh đứng không còn vững nữa, phải vịn tay vào cạnh một ngôi mộ.

- Không... không phải tên này...

Người đàn ông nói tiếp:

- Ở xứ này không ai dám nhắc tới tên tục của người đó, duy chỉ có anh! Muốn biết tại sao thì anh cứ chạy xe lên cây số 8 lưng chừng đèo sẽ rõ.

Ông ta nói xong là bỏ đi ngay. Tường định quay tìm bà vợ ông ta, nhưng cũng chẳng thấy. Đứng ngẩn ngơ một lúc, Tường đành ra lấy xe đi lên đèo Cả.

Dọc đường, anh nghe người ta kháo nhau chuyện đoạn đèo sạt lở đã được thông, nên xe cộ qua lại rất nhiều.

Lên tới đoạn đường được chỉ, Tường không phải mất công hỏi lâu, anh đã nhìn thấy một ngôi miếu ngay khúc cua. Từ chỗ miếu có một lối mòn dẫn lên núi, Tường lưỡng lự vài giây rồi men theo đó đi lên. Đường hẹp nhưng không khó đi lắm. Lát sau, anh đã đứng trước một gian nhà lá, trông giống như một cái am hơn là nhà.

- Ai lại ở trong này?

Tường tự hỏi và dĩ nhiên là không thể tìm được câu trả lời nếu không gặp được người ở.

- Tôi biết thế nào rồi anh cũng tới!

Giọng nói của ai đó ngay phía sau lưng khiến Tường giật mình quay lại. Anh trố mắt kinh ngạc và reo lên:

- Ái Liên!

Một Ái Liên đang đứng đó, trên tay đang cầm một bó rau, hình như mới hái được ngoài bìa rừng. Nàng chỉ nhoẻn miệng cười nhẹ, rồi bước đi thẳng vào nhà mà không nói gì thêm. Tường bước theo hỏi dồn:

- Tại sao người ta nói cô đã... chết rồi?

Lúc này nàng mới nhẹ giọng đáp:

- Người chết là làm sao sống lại được. Đúng là Ái Liên đã chết!

Tường hốt hoảng:

- Cô đừng bắt tim tôi phải ngừng đập lần nữa, Ái Liên!

Nàng vẫn nhẹ giọng:

- Em là Thuỳ Liên, chị gái của Ái Liên.

Nhớ lúc uống rượu, Ái Liên đã kể về người chị song sinh của nàng bị tai nạn trên đèo, Tường vụt hỏi:

- Có phải cô đã chết vì tai nạn trên đèo này.

Cô gái lắc đầu:

- Không phải tôi, mà là Ái Liên. Chị em song sinh quá giống nhau nên dễ bị nhầm lẫn.

Tường trầm ngâm:

- Vậy ra tôi đã...

- Anh đã gặp oan hồn của nó đêm qua. Anh đã nhậu với nó cho đến lúc say mèm, gục ngủ tại bàn.

- Đó đâu phải là bàn, là nghĩa địa!

- Người sống có nhà thì người chết có nghĩa trang, đâu có gì lạ? Bây giờ anh sợ phải không? Vậy mà vong hồn của nó về báo ngay cho tôi rằng anh là người tốt, có tình cảm, có thể tin cậy được để phó thác chuyện riêng của mình. Nó kỳ vọng ở anh nên đã không dám làm phiền gì… trong khi anh cũng biết rồi, người ở chỗ đó sợ nó như thế nào! Chỉ cần nhắc tên Ái Liên là thiên hạ ở đó đã chết khiếp rồi! Nó không tha cho bất cứ người đàn ông nào đâu!

Tường như người mất hồn:

- Có chuyện đó sao?

Nàng Thuỳ Liên chỉ một ảnh chân dung treo trên vách nhà:

- Ảnh đó là của nó, còn ảnh này là của em.

Hai bức ảnh chỉ khác nhau màu áo, còn thì giống nhau khó mà phân biệt được.

- Hai chị em chụp ảnh này chỉ trước ngày nó bị nạn mười ngày. Hôm đó em mặc đúng chiếc áo này.

Tường nhìn lại và nhận ra đúng chiếc áo cô nàng đang mặc giống y như trong ảnh. Anh thở dài:

- Không ngờ. Thật là không thể tin được!

Thuỳ Liên kể tiếp:

- Ái Liên linh lắm, từ ngày chết nó luôn hiện hồn về ở chỗ mà anh gặp nó, mặc dù nó chết ở đoạn đèo này, đúng chỗ miếu mà anh thấy trước lúc lên đây.

Tường định hỏi, thì nàng đã nói ra:

- Chỉ vì nó muốn tìm kẻ đã gây ra cái chết cho nó! Mà người đó lại có vóc dáng giống y như anh vậy!

Tường lại toát mồ hôi lần nữa, anh hơi run giọng hỏi:

- Ai đã làm chuyện đó, cánh lái xe chăng?

Thuỳ Liên nhẹ lắc đầu:

- Không hề dính gì tới cánh lái xe đò hay xe tải, mà một người cũng có chiếc xe du lịch giống như của anh!

- À, thì ra...

Lúc ấy Tường chợt hiểu, anh lẩm bẩm:

- Bởi vậy suốt buổi tối đó đâu có thấy tài xế xe đò hay xe tải nào ghé qua.

- Nó canh nhiều đêm lắm mới có một người như anh ghé vào chỗ nó chờ.

- Quán cháo là có thật?

- Thật với người cõi âm, chứ thật ra đêm qua anh đã ăn... trái cây mà cứ tưởng là cháo hàu, cháo mực! Nhưng không sao, khi nhận diện anh không phải là người mà nó đợi, Ái Liên đã cho anh ăn cháo thật và cũng uống rượu thật. Chỉ có điều rượu ma thì mau say và say dữ lắm!

- Thảo nào...

- Bây giờ anh còn sợ không?

Tường cười như mếu:

- Có sợ thì mọi thứ đã vào bụng hết rồi!

Tự dưng Tường muốn nôn ói, anh ôm lấy ngực thì Thuỳ Liên lại nói:

- Anh yên tâm, trong bụng anh không có gì phải sợ đâu. Hồn ma một khi đã hại người thì đố ai thoát được, còn đã có cảm tình thì chỉ có giúp thôi, chứ không bao giờ hại. Ái Liên nó thật sự mến anh, dặn em phải giúp đỡ để anh qua đèo được an toàn, chứ thật ra số của anh là chuyến này sẽ bị tai nạn trên đoạn đường đèo này!

Thấy Tường xanh mặt, nàng tiếp lời liền:

- Bây giờ thì không sao rồi, kiếp nạn anh đã qua là nhờ Ái Liên đó!

Rồi nàng đột ngột hỏi:

- Anh có muốn đền đáp lại Ái Liên chút gì không?

Tường ngập ngừng:

- Chuyện ấy...

Nàng thở dài:

- Cũng không sao. Làm sao bắt người khác làm theo ý mình được!

Tường nói nhanh:

- Ý tôi không phải vậy! Đối với Ái Liên, tôi có cảm tình đặc biệt, bây giờ biết hoàn cảnh của cô ấy như thế lẽ nào tôi lại làm ngơ! Tôi xin tự nguyện...

- Vậy tốt rồi. Chuyện chỉ đơn giản thế này thôi, anh ra tới Huế không?

Tường gật:

- Tôi đang trên đường đi Huế.

- Tốt lắm. Ái Liên nhờ anh gửi giùm nó vật này một người ở An Cựu, anh sẵn lòng không?

Vừa nói, nàng ta đi vào trong lấy ra một chiếc hộp nhỏ bằng sơn mài khá xinh, đưa cho Tường:

- Anh đem vật này trao cho một người tên là Trọng, địa chỉ có ghi ở đáy hộp.

Tường lặp lại:

- Đưa cho Trọng ở An Cựu. Chỉ có thế thôi?

- Anh đưa chiếc hộp này người ấy khắc biết. Rồi thôi, nếu không thích thì anh không cần hỏi gì thêm. Làm xong việc ấy lượt về hai chị em sẽ khao anh một chầu!

Nói xong, cô nàng sợ Tường hiểu khác nên vội nói:

- Lần này là em khao thật chứ không phải như Ái Liên đâu. Nhưng sẽ có mặt Ái Liên, anh không sợ chứ?

Tường không đáp, anh cầm lấy chiếc hộp rồi cho vào túi ngay.

- Được, tôi sẽ làm y như lời cô dặn!

Tường định đi, nhưng bị gọi giật lại:

- Anh đã lên nhà thì phải ở lại ăn bữa cơm rau rồi mới đi chứ, hay lại sợ?

Tường không còn cách nào khác nên đành phải nhận lời. Quả nhiên, anh được ăn bữa cơm hết sức đạm bạc, nhưng lại vô cùng ngon miệng, một phần có lẽ vì cái bụng đói từ đêm qua đến giờ.

Trong lúc ăn, Tường được Thuỳ Liên giải thích thêm:

- Bọn em chỉ còn có hai chị em trên đời, nên khi Ái Liên mất đi em không biết phải đi đâu, bởi vậy đành phải chọn ở lại đây, như một cách tưởng nhớ em mình. Đồng thời ngăn không cho nó hành động quá trớn...

Mãi khi gần xong bữa cơm, Tường mới mạnh dạn hỏi:

- Tôi hỏi có hơi tò mò một chút, Trọng là người thế nào? Phải chăng anh ta là người mà Ái Liên đã chờ ở đây?

Câu hỏi khiến Thuỳ Liên khó trả lời, nhưng sau một lúc ngập ngừng, nàng cũng đáp:

- Với anh thì tôi không giấu. Con người đó là nguyên nhân mọi chuyện bi thảm ngày nay... Nhưng thôi, tốt hơn là anh đừng tìm hiểu gì thêm nữa.

Để tránh không nói thêm, Thuỳ Liên đứng lên và bước ra ngoài. Tường cũng bước ra thềm, anh chào từ giã:

- Tôi đi cho sớm. Cám ơn cô Thuỳ Liên nhiều và tôi sẽ nhớ rất lâu bữa cơm hôm nay.

Xuống đến hơn hai phần ba đoạn đường núi, bỗng Tường chợt nhớ là mình quên chưa hỏi thăm nhà trước kia của hai người ở Huế là chỗ nào, để lỡ khi tìm không được Trọng anh còn có chỗ để gửi lại món quà. Tường vừa quay lại thì chợt nghe có người gọi lớn.

- Phải anh là chủ chiếc xe Simca kia không?

Tường nhìn ra đường, chỗ đậu xe lúc nãy thì không thấy xe mình đâu, hoảng hốt kêu lên:

- Chiếc xe!

Rồi nhìn xa chỗ đó chừng vài chục thước, Tường thấy chiếc xe đậu nép vào một hốc đá, y như là xe bị tai nạn. Anh chưa kịp hỏi thì người đàn ông lạ vừa nói chuyện với anh lên tiếng giải thích:

- Chỉ cách đây vài phút có một chiếc xe tải trong lúc đổ đèo đã lạc tay lái, đâm sầm vào xe của anh đang đậu. Tôi chạy xe đằng sau thấy tự dưng xe của anh như có người lái, nó chạy một cách ngon lành, tới và dừng đúng vào chỗ nó đang dừng!

- May quá!

Người đàn ông kia tự giới thiệu:

- Tôi là Quan, người lái xe qua đường đèo này hơn chục năm nay, và đây là lần đầu tiên thấy một người như anh dám lên trên đó.

Tường cau mày:

- Trên đó thì đã sao? Đâu có gì...

Anh chàng tên Quan ấy lè lưỡi, rùn vai:

- Cho vàng tôi cũng không dám lên! Anh có biết ngôi miếu này thờ ai không?

Tường đáp cho qua chuyện:

- Một cô gái chết do tai nạn giao thông.

- Không phải một, mà là hai!

Tường sững sờ:

- Anh nói hai... là sao?

- Thì là hai người chết chứ sao!

Tường nghĩ anh ta chỉ biết qua tin đồn, nên quả quyết:

- Chỉ có một người. Tôi vừa gặp cô chị và cả đêm qua, tôi cũng đã gặp hồn người chết!

Anh chàng Quan xanh máu mặt, bước lùi một bước, lập cập hỏi:

- Anh... anh nói giỡn hả cha nội?

Vừa đi về xe của mình, Tường vừa nói:

- Anh có muốn gặp cô Ái Liên thì cứ xuống chân đèo sẽ được như ý!

Đã từng được nghe nhiều về oan hồn cô Ái Liên, nên anh chàng Quan chắp hai tay xá xá mấy lượt:

- Cho con xin đi, để con làm ăn nuôi vợ con!

Anh ta làm nốt công việc khi dừng xe lại đây là đốt nén nhang cho miếu. Vừa bật quẹt lên thì quẹt lại tắt ngay, mặc dù lúc ấy trời không có gió! Anh ta hoảng khấn:

- Xin cho tôi tạ lỗi, nếu có xúc phạm gì tới quý cô.

Khấn xong thì việc đốt nhang của anh ta mới thực hiện được. Vừa xong là anh ta xá liền mấy cái rồi rút lui ngay.

Trong khi đó thì Tường quá đỗi ngạc nhiên, không hiểu sao chiếc xe của mình lại có thể nằm gọn trong hốc đá chật chỉ vừa đủ xe nằm yên thôi, chứ lái vào thì hầu như không thể!

Phải mất hơn nửa giờ, sau khi cố sức đẩy hai hòn đá to đùng để dọn đường thì Tường mới thoát ra được. Tự dưng anh buột miệng:

- Cám ơn Ái Liên!
 
***

- Kiếm ai?

Tường ngỡ đó là một cụ già nên đáp:

- Dạ thưa bác, cháu muốn tìm anh Trọng.

Một tiếng vật rơi và đổ vỡ vang lên, hình như vật gì bị rơi ra khỏi tay của người trong kia. Rồi im lặng...

Tường phải lặp lại:

- Cháu có món quà của người bạn cũ muốn gửi tặng cho anh Trọng.

Cửa xịch mở, một khuôn mặt ló ra, lúc ấy Tường mới giật mình, bởi đó là một phụ nữ tuổi còn trẻ, chỉ khoảng ba mươi. Anh lúng túng:

- Dạ xin lỗi, tôi... tôi muốn hỏi Trọng...

Vẫn giọng khàn đục ấy cô ta lên tiếng:

- Ở đây không có ai tên Trọng cả, mời anh đi cho.

Tường lấy hộp quà ra, lật đáy hộp lên vừa đọc địa chỉ:

- Số...thôn... An Cựu đây mà! Vậy chẳng lẽ nơi này còn có một địa chỉ giống như vậy ở chỗ khác?

- Nhung tôi nói là không có!

Chị ta gắt lên vừa định đóng cửa lại thì chợt có một giọng nói khác vang lên:

- Ai muốn tìm Trọng?

Chị ta quay lại nói to như quát:

- Đã bảo không được ra mà?

Nhưng người đàn ông nọ đã tiến sát ra cửa, vừa nhìn thấy chiếc hộp, anh ta đã rú lên:

- Ái Liên! Trời ơi ...

Anh ta nhảy tới chụp lấy vật trên tay Tường và mở nó ra ngay. Trong hộp có duy nhất một mặt dây chuyền bằng ngọc xanh, mà vừa trông thấy nó thì anh chàng đã ôm vào lòng như có được một báu vật!

Cô nàng giọng khàn kia gào lên:

- Buông nó ra! Bộ anh muốn chết hay sao chứ!

Nhưng Trọng vẫn giữ chặt lấy vừa ngửa mặt lên, thét to:

- Anh gặp lại em rồi Ái Liên ơi!

Anh ta vừa nói xong thì vùng tháo chạy ra ngoài đường như kẻ tâm thần.

Vừa chạy vừa reo lên:

- Ái Liên! Em ở đâu?

Người phụ nữ định chạy theo, nhưng chị ta vấp ngã ngay ngạch cửa. Tường phải đỡ dậy, vừa hỏi:

- Anh Trọng bị sao vậy, mà sao chị không cho tôi gặp anh ấy? Phải chăng...

Lúc này bỗng người phụ nữ oà lên khóc nức nở. Tiếng khóc bật ra như một cách giải bớt những điều chất chứa trong lòng. Tường để cho cô ta khóc một lúc rồi mới bảo:

- Phải chạy đi tìm anh ấy về thôi, không thể để Trọng chạy đi trong tâm trạng như vậy được.

Tuy nhiên, nhìn cái mắt cá chân của chị ta sưng vù, Tường không nỡ bỏ đi, phải dìu chị ta vào nhà. Bất chợt, chị ta hỏi:

- Anh là gì của cô Ái Liên. Phải chăng...

Tường đáp mà không suy nghĩ:

- Tôi vừa gặp cô ấy và từ chỗ cô ấy về đây.

Người phụ nữ dù đang đau cũng phải chống tay lùi mấy bước, miệng lắp bắp:

- Anh... anh là... là... oan hồn!

Rồi không để Tường nói, chị ta chắp hai tay lại xá liền mấy cái, vừa van lơn lia lịa:

- Xin đừng giết tôi! Xin để tôi nói, tôi sẽ nói....

Tường còn đang ngơ ngác thì chị ta đã sụp xuống lạy sát đất, vừa tuôn ra những lời mà người nghe đi từ ngạc nhiên này đến sửng sốt khác:

- Năm đó vì quá ghen nên tôi đã cho người phá gần hỏng thắng xe chở chị em Thuỳ Liên, Ái Liên đi. Quả nhiên khi xe qua đèo, vừa đổ dốc thì tai nạn xảy ra, cả chiếc xe lao xuống vực sâu! Tôi chỉ chủ tâm giết mỗi Ái Liên thôi, bởi nó là người yêu của chồng tôi, nó cướp tình yêu bấy lâu Trọng dành cho tôi! Không ngờ liên luỵ đến cả con chị nó nữa. Từ khi bay tin hai đứa nó chết ở đèo Cả, tôi đã nhốt chặt Trọng trong nhà, không hề cho đi ra ngoài, chỉ sợ anh ấy biết chuyện. Mãi vừa rồi khi anh đem món quà tới thì mọi việc mới lộ ra. Bây giờ tôi hối hận quá, xin anh đừng bắt tôi về, tôi sợ gặp Ái Liên lắm, cô ấy sẽ giết tôi mất!

Tường biết chị ta nhầm mình cũng là một oan hồn, nên anh hỏi:

- Lâu nay chị chưa gặp oan hồn của Ái Liên lần nào?

- Dạ chưa. Chỉ có nằm mơ thấy thôi. Mà lần nào cô ấy cũng xoã tóc đứng nhìn tôi. Mặt mày cô ấy đầy những máu...

- Bây giờ chị mới hối hận sao?

- Không, tôi đã sống trong nỗi hối hận từ lâu nay, đêm nào tôi cũng gào khóc, van xin cô ấy tha tội cho. Bởi vậy giọng tôi bị khàn đục như anh thấy đây...

- Thế chị biết gì về cái mặt dây chuyền ngọc bích lúc nãy?

Chị ta gật đầu:

- Đó là kỷ vật mà Trọng đã tặng cho Ái Liên. Cô ấy đeo nó lúc chết, nên vừa nhìn thấy là Trọng nhận ra ngay!

- Bấy lâu nay sao Trọng chịu giam mình trong nhà này?

- Trọng điên!

- À, thì ra thế....

Lúc ấy, có lẽ sau những lời thú tội quá căng thẳng nên chị ta gục ngay xuống đó ngất đi. Tường lắc đầu rồi lặng lẽ quay bước...
 
***
 
Bốn ngày sau, Tường trở lại đèo Cả. Khi vừa lên tới chỗ ngôi miếu thì anh vô cùng ngạc nhiên khi thấy có một ngôi mộ mới được chon bên cạnh miếu! Anh hỏi thì được một người đi bộ qua đó nói:

- Cách đây mấy ngày, có một thằng cha giống như điên, leo từ dưới dốc lên tới đây rồi cứ đứng trước miếu vừa khóc vừa kêu tên ai đó... rồi đập đầu vào vách núi mà chết!

Tường bị kích động:

- Có biết anh ta kêu tên gì không?

Người kia lè lưỡi rồi nói:

- Lại kêu đúng tên mà dân ở đây ai cũng huý kỵ, đó là...

Anh ta không dám nói ra, Tường phải tiếp:

- Ái Liên!

Anh ta rùn vai sợ hãi, vừa bước đi như chạy xuống chân đèo. Tường lẩm bẩm:

- Họ đã gặp nhau rồi. Ơn trời...

Tường thấy ai còn để lại bó nhang chưa đốt, anh châm lửa đốt ba cây nhang vừa khấn:

- Anh đã làm giúp em điều mà em muốn. Cầu cho hương hồn em siêu thoát...

Anh vái xong thì đi bộ lên núi như lần trước. Nhưng lên đến nơi thì chỉ thấy ngôi nhà lá trống không, chẳng có bóng dáng của Thuỳ Liên.

Đứng tần ngần rất lâu, cuối cùng Tường đi trở xuống núi. Vừa đi anh vừa nói thầm:

- Không biết là cô có còn sống hay đã là oan hồn, chỉ xin cô nhận cho Tường này lời cám ơn. Chính cô đã cho tôi biết thế nào là giá trị đích thực của tình yêu. Tôi xin hứa, mỗi lần qua đây sẽ thắp cho cô và Ái Liên một nén nhang...

Tường chạy xe xuống đèo, và có ý định một lần nào đó nếu có dịp đi ngang qua đây vào ban đêm, thế nào anh cũng ghé lại chỗ đã ăn cháo, dù biết đó là khu nghĩa địa bỏ hoang...
Sự đời cà khịa cái chơi
Khi vui muốn khóc, khi cười buồn tênh!
0
LỜI NGUYỀN NĂM CŨ

Ba mươi lăm năm về trước, Lan là luật sư cho một văn phòng luật có tiếng tăm tại thành phố Sài Gòn. Tuấn - chồng nàng, là kỹ sư điện của nhà máy Thủy cục tại Thủ Đức.

Lúc ấy hai người chỉ vừa mới cưới nhau được gần một năm. Gia đình hai bên đều giàu có nên đám cưới đã được tổ chức rất lớn tại nhà hàng Đồng Khánh, khách dự tiệc có đến hơn bốn trăm người. Ai cũng phải khen họ thật là xứng đôi vừa lứa.

Sau hai tuần trăng mật tại Đà Lạt, vợ chồng Tuấn Lan dọn về ở trong một ngôi biệt thự ngoại ô Sài Gòn, gần bên bờ sông, mà bên chồng đã mua cho sẵn.

Lan rất thích nơi này. Chung quanh là tường xây bao quanh. Ngôi biệt thự nằm lẫn trong khu vườn cây ăn trái đủ loại với không khí trong lành. Nhất là khung cảnh yên tĩnh cộng với cảnh vật hữu tình rất hợp với Lan. Ở đây cũng thuận tiện vì không quá xa chỗ làm của cả hai vợ chồng, và khi cần chỉ việc lái xe vượt cầu Sài Gòn vào thành phố không quá mười lăm phút.

Tuấn rất thích đồ cổ nên thường tìm mua những món đồ xưa để trang trí trong nhà dù phải trả giá cao thế nào đi chăng nữa. Trong số những đồ vật mua được có một chiếc gương cổ gắn trên giá chạm trổ rất cầu kỳ. Lan thích cái gương này lắm. Nàng đặt nó trong phòng ngủ và hàng ngày ngắm mình trong gương.

Cuộc sống cứ thế êm đềm trôi đi.

Nhưng chuyện đã xảy ra vào một đêm mà Tuấn phải trực tại sở còn Lan ngủ một mình ở nhà. Đêm đó Lan mơ thấy một thiếu phụ trẻ đẹp hiện đến nói chuyện với nàng. Người thiếu phụ đó nói bà ta chính là mẹ ruột của nàng, còn cha mẹ nàng hiện nay chỉ là cha mẹ nuôi mà thôi. Nếu không tin thì nàng có thể đi hỏi cha mẹ nàng cho ra lẽ. Sau đó thiếu phụ biến mất.

Hôm sau Lan thức dậy và nhớ lại chuyện trong đêm, nhưng nàng chỉ nghĩ đó là giấc mơ nên không để ý gì cho lắm. Tuy nhiên, liền mấy đêm sau, người thiếu phụ ấy lại hiện ra trong giấc mơ của Lan và quả quyết nàng là con của bà ta. Lan đâm ra thắc mắc, không biết đó là sự thực hay chỉ là bị ám ảnh chuyện gì rồi mơ mộng thôi. Nàng tảng lờ đi.

Sau đó thì đêm nào nàng cũng thấy thiếu phụ đó, lúc thì chân thành, lúc thì khóc lóc nức nở khi nàng từ chối không nhận bà ta là mẹ.

Cuối cùng, vào một ngày chủ nhật, Lan về nhà cha mẹ chơi, lúc ở trong bếp một mình với mẹ, nàng bèn hỏi:

- Mẹ à, có phải con chỉ là con nuôi của ba mẹ không?

Mẹ nàng hơi biến sắc mặt nhưng cố trấn tĩnh:

- Ai nói chuyện tầm bậy đó cho con vậy? Ba con mà nghe là chết với ông ấy đó, nghe chưa!

Rồi mẹ nàng nói lảng qua chuyện khác. Lan không hài lòng lắm nhưng sợ làm phật lòng mẹ nên không dám hỏi thêm.

Nàng lại tiếp tục gặp người thiếu phụ kia trong mơ. Lan quyết định hỏi riêng vú Ba, người đã chăm sóc nàng từ lúc sơ sinh cho đến ngày lấy chồng. Trước nay Lan vẫn xem vú Ba như một người mẹ thứ hai, bà vú Ba cũng yêu thương nàng như là con đẻ. Vú Ba vốn là người chất phát, thật thà, chẳng bao giờ nói dối hay làm phật lòng ai. Gặp vú Ba, Lan chận đầu:

- Vú đừng có giấu con nữa nghe! Con biết con là con nuôi của ba mẹ con! Xin vú hãy nói cho con biết sự thật đi!

Vú Ba mặt tái xanh lắp bắp:

- Trời ơi làm sao cô biết được? Đời nào ông bà nói cho cô biết điều đó? Ai nói cho cô biết vậy?

- Thì có người cho con biết, con chỉ cần vú xác nhận và cho con biết thêm những gì vú đã biết!

- Cô biết rồi thì vú cũng không giấu làm gì. Nhưng vú cũng chẳng biết gì nhiều đâu.

- Thì điều gì vú biết thì cứ kể cho con nghe. Biết đâu nhờ đó mà con tìm ra nguồn gốc của mình cũng nên!

- Cô biết đó, ba mẹ cô chỉ có mình cô là con một mà thôi! Thật ra thì bác sĩ cho biết là ông bà không thể có con được! Vú chỉ biết là hai mươi hai năm về trước, ông nói là có chuyện phải đi xa vài ngày. Vú nhớ rõ lúc đó là mùa thu, khi trở về ông ẵm theo một bé gái. Ông nói là xin được của một người đàn bà ở dưới Long An. Bà ta vì nghèo quá không nuôi nổi đàn con quá đông nên đành lòng để con mình cho người khác nuôi. Đứa bé đó chính là con đó! Vú chỉ biết vậy thôi và vú đảm nhận việc nuôi dưỡng con từ đó. Vú cũng không dám hỏi thêm gì từ ông bà nên không biết thêm nữa!

Lan biết rằng có hỏi ba mẹ nàng thì ông bà cũng không nói, nhưng xem ra nàng đã có được một chi tiết mà nàng cần. Đó chính là nơi ba nàng xin đứa con.

Là một luật sư, Lan có thể dùng tài năng và điều kiện sẵn có của mình để truy ra nguồn cội.

Nghĩ vậy nên Lan bèn lấy một tuần nghỉ phép và nói với chồng là nàng phải đi lo một công việc cho một thân chủ tại Long An. Khi đến nơi, nàng vào tòa án xin người lục sự tìm xem tài liệu về những ai đã cho con vào mùa Thu của hai mươi hai năm về trước. May mắn, nàng có được danh sách của những đứa trẻ được cho cùng tên của người cho và người nhận.

Sau khi xem xét kỹ lưỡng và so sánh tên tuổi trong danh sách đó, nàng biết được tên của mẹ ruột nàng là Trần Thị Tuyết Liễu.
 
Tiến hành công việc xa hơn. Lan còn yêu cầu ông lục sự cho xem lại hồ sơ của người đàn bà tên Tuyết Liễu này.

Một sự thật bất ngờ là người này là một tử tội, vì mang thai nên được dời ngày xử tử cho đến sau khi sinh con. Đứa con được sinh ra trong khám đường và mang đi cho, sau đó bà ta bị xử bắn vì tội đã giết chồng!

Trở lại Sài Gòn với tâm trạng đau khổ vì sự thật nàng đã tìm ra. Lan chán nản không muốn tìm kiếm thêm về thân thế của mình nữa. Đêm đó người thiếu phụ lại hiện ra trong giấc mơ và lần này bà ta kể cho nàng đầy đủ chi tiết về bà và vì sao bà phải bị xử bắn...
 
***

Bà ngoại con là con của một điền chủ giàu có ở Cần Đước, Long An. Cần Đước chỉ cách thị xã Tân An chưa tới mười lăm cây số. Vùng này lúc ấy nổi tiếng có một trong những vựa lúa gạo của miền Tây.

Bà có một sắc đẹp mặn mà với làn da trắng nõn của cô gái miệt vườn. Vì là con nhà giàu nên bà ngoại con được cha mẹ cho lên tỉnh thành ăn học. Trong một buổi dạ vũ mừng Tết, bà con đã gặp một công tử hào hoa phong nhã. Chàng là con cưng của quan Tham tố ở tòa bố tỉnh.

Mới gặp nhau là họ đã bị tiếng sét ái tình đánh trúng. Sau đó họ hẹn hò với nhau rồi cuối cùng nhà trai lên xin cưới hỏi. Hai vợ chồng chung sống trong gia đình cha mẹ chồng. Trong hai năm đầu tình nghĩa họ rất mặn nồng nhưng đến năm thứ ba thì ông ngoại con theo bè bạn chơi bời nhậu nhẹt và bắt đầu lơ là với vợ.

Bà con lúc đầu còn nói bóng gió nhỏ nhẹ để khuyên chồng nhưng đâu cũng về đấy. Về sau bà khóc lóc năn nỉ xin chồng hãy xa lánh bọn bạn bè xấu nhưng cũng không xong, còn bị chồng chửi rủa đánh đập nữa.

Quá lắm nên bà ngoại con quay ra cầu cứu cha mẹ chồng. Chẳng những không được bênh vực mà còn bị cha chồng nói là: "Chồng mày nó là đàn ông, phải để cho nó giao du với người đời chứ! Còn nó có lăng nhăng với đứa nào thì đã có sao đâu? Trai thời năm thê bảy thiếp là chuyện thường tình mà".

Bà con vốn rất yêu thương chồng nên chỉ cắn răng chịu đựng. Mà thời đó có gì đi nữa thì cũng phải chịu thôi. Đàn bà mà bỏ nhà đi thì không ai chứa, cũng chẳng biết làm gì ăn, và làm nhục cha mẹ của mình. Cứ thế mà bà con cố sống cho qua ngày.

Nhưng rồi bà có thai mẹ. Gần ba tháng bà mới biết đúng là mình có thai.

Đêm đó bà thức đợi chồng về để báo tin vui. Đến nửa đêm, ông ngoại con mới về nhà, hơi thở nồng nặc mùi rượu. Bà lấy khăn ướt lau người và mặt mày cho ông, thay quần áo và dìu ông vào giường. Lúc sau bà thủ thỉ với ông là bà có thai rồi. Đã không vui thì chớ ông ấy còn mắng bà là ông chưa muốn có con, bởi có nó chỉ làm bận bịu thêm thôi. Quá thất vọng bà chỉ biết ôm mặt khóc thầm trong đêm côi.

Từ hôm đó ông càng đi chơi khuya nhiều hơn, về nhà thì gắt gỏng mắng nhiếc và có khi còn đánh đập bà nếu bà có lên tiếng cãi lại. Ông bây giờ công khai đi chơi với đào nhí cả ngay ban ngày ban mặt mà còn ra vẻ ta đây là đào hoa nữa. Bà nhiều lúc muốn tự tử chết đi cho xong cái kiếp bạc phận của mình nhưng lại thương đứa con trong bụng không có tội tình gì. Cha mẹ chồng và các em chồng đều về phe ông con, họ nói móc nói xói đủ điều.

Cho đến một đêm kia sau khi đi nhậu nhẹt chơi bời về, ông con chửi và đánh bà một trận và còn nói là sẽ bỏ bà để lấy vợ khác. Sau đó ông lăn ra giường ngủ như chết. Bà nằm thao thức khóc ấm ức, suy nghĩ về số phận hẩm hiu của mình, tình yêu của mình dành cho chồng, và tương lai đen tối khi bị chồng ruồng bỏ.

Cuối cùng bà quyết định chết và trước khi chết bà sẽ giết luôn cả ông con! Bà nghĩ là chắc sang thế giới bên kia thì có lẽ hai vợ chồng sẽ có hạnh phúc hơn.

Thế rồi bà con nhè nhẹ đi ra phòng khách, nơi đó có treo một cây kiếm ngắn cổ xưa trên tường. Cha chồng hay nói rằng thanh kiếm này là báu vật từ triều đại nhà Lê nên ông ta rất quý và treo trong phòng khách làm cảnh. Bà con mang thanh kiếm đó vào phòng, rút kiếm ra khỏi vỏ, ánh thép xanh rợn người. Hai tay giơ cao nó lên bà đâm phập xuống ngay tim của ông. Thấy máu phọt mạnh ra, bà xây xẩm té xỉu. Khi tỉnh dậy bà không còn đủ can đảm để tự kết liễu đời mình. Ở đây cũng không xong, bà bèn cầm theo thanh kiếm tang vật, lấy ít vật dụng cần thiết và lẻn ra sau nhà đẩy chiếc tam bản ra lạch và kiếm đường chèo về nhà cha mẹ mình. Khi ra đến sông lớn bà quăng thanh kiếm xuống sông và cắm cúi chèo như kẻ mất hồn.

Hơn một ngày sau bà mới về đến nhà. Vừa bước vào nhà thì đã có mấy ông cò trên tỉnh đợi sẵn, họ bắt còng bà và giải đi xử về tội giết chồng! Tại tòa, bà nhận hết tội mà họ gán cho. Tòa xử rất nhanh và bà lãnh án tử hình mặc dù họ không tìm được thanh kiếm hung khí.

Nhưng bà đang có thai mẹ nên tòa cho đình án tử đến sau khi bà con sinh nở.

Rồi thì cũng tới ngày đó, bà con sinh ra mẹ trong nhà lao. Họ mang mẹ về trao lại cho ông bà cố của con. Chỉ hôm sau họ mang bà con ra pháp trường xử bắn. Trước khi bắn họ hỏi bà con có điều gì trăng trối lại không. Bà con đã dõng dạc thét to vào đám đông đến coi xử bắn, trong đó có cả họ hàng nhà chồng, rằng: "Tôi chết đi rồi cũng nguyện thành ma về trả thù bọn đàn ông bội bạc, con cháu tôi cũng sẽ làm như vậy! Đó là lời nguyền của tôi trước khi chết! Hãy nhớ lấy!".

Rồi họ nổ súng bắn chết bà con. Mẹ được ông bà ngoại của mẹ nuôi lớn lên, không ai hở môi cho mẹ biết gì về quá khứ của mình: ông bà chỉ nói là cha mẹ của mẹ bị chết trong một tai nạn sau khi sinh ra mẹ mà thôi. Mẹ lớn lên và trở thành một cô gái có nhan sắc nổi tiếng ở vùng Cần Đước. Chắc ông bà nhớ hậu quả khi xưa nên không cho mẹ lên tỉnh học. Mẹ chỉ học hết trung học đệ nhất cấp là phải ở nhà phụ việc cơm nước với bà ngoại rồi.

Nhưng rồi tiếng đồn về mẹ bay xa, con trai của các điền chủ khác cũng tìm đến để dò hỏi. Mẹ cũng phải lòng một anh chàng đẹp trai con của một điền chủ ở thị xã Tân An. Tuy không ở gần nhau nhưng anh ta thường lặn lội xuống Cần Đước để gặp mẹ. Việc cưới hỏi cũng đến. Mẹ về ở bên nhà chồng ở gần cầu Voi. Đến khoảng hơn một năm thì có một trận dịch hạch tràn lan khắp các tỉnh và giết chết cả mấy ngàn người. Không may là trong đó có cả gia đình ông bà ngoại của mẹ. Mẹ trở thành kẻ không thân nhân. Người thân của mẹ bây giờ chỉ là những người bên gia đình chồng.

Mẹ cũng làm quen được với một vài người bạn gái mới ở gần nhà. Họ với mẹ chơi thân và coi nhau như chị em trong nhà vậy. Cả ngày mẹ chỉ quanh quẩn ở nhà giúp bà nội con hoặc đi chơi với các bạn gái hàng xóm thôi chứ không đi đâu xa cả. Ba con đi cả ngày chiều tối mới về. Ba con nói phải đi lo công chuyện của ông con, mẹ luôn tin tưởng ở ba con nên cũng chẳng hỏi han gì nhiều.

Cuối năm đó mẹ có bầu con. Ba con và mẹ rất vui mừng. Ông bà nội con lo mua mọi thứ đồ bổ cho mẹ để sau này con sanh ra được mạnh khỏe. Ba mẹ sắm sửa các vật dụng và quần áo cho con để chờ ngày con chào đời. Cuộc sống thật hạnh phúc.

Nhưng một đêm kia mẹ mơ thấy một thiếu phụ trẻ đẹp hiện về trong giấc mơ. Bà ta cho mẹ biết mẹ là con của bà ta. Sau đó bà hiện về hàng đêm để trò chuyện với mẹ. Cho đến một đêm bà bảo mẹ là ba con không trung thành với mẹ đâu. Bọn đàn ông trên đời này luôn luôn phản bội. Bọn sở khanh đó đáng chết. Bà bảo mẹ phải giết ba con vì trước sau gì thì ba con cũng bỏ mẹ thôi. Mẹ chống đối lại và xác nhận là ba con rất trung thành và yêu thương mẹ. Nhưng bà ấy bảo cứ chờ xem. Bà kể lại chuyện bất hạnh của đời bà và lời nguyền bà đã nói trước khi chết. Bây giờ là thời gian để bà thực thi lời nguyền ấy.

Mẹ rất kinh hoàng nhưng mãnh lực ma quái của bà con làm mẹ mềm nhũn cả ý chí mình. Thấm thoát mẹ đã có bầu được năm tháng. Bụng mẹ càng ngày càng lớn, đi lại cũng khó khăn hơn. Ông lang khuyên ba mẹ không nên làm chuyện vợ chồng với nhau nữa để giữ an toàn tuyệt đối cho con. Từ ấy ba con thỉnh thoảng lại vắng nhà cả đêm. Mẹ vẫn mơ thấy bà con hiện về thúc giục mẹ thi hành lời nguyền: phải giết chết ba con!

Nhiều lúc mẹ bị quyền lực huyền bí của bà con sai khiến và hứa sẽ giết ba con nếu có dịp. Một đêm kia bà con bảo mẹ mở ngăn kéo của cái tủ gỗ trong phòng. Mẹ nhìn thấy cây kiếm ngắn cổ xưa nằm đó từ bao giờ. Bà con nói ngày xưa với chính thanh kiếm này bà đã giết chết kẻ phản bội. Sáng hôm sau, khi thu dọn quần áo của ba con đi giặt, mẹ thấy có vết son lạ trên áo và mùi nước hoa vẫn còn phảng phất trên đó. Mẹ mang đến hỏi ba con thì ông ấy chối quanh và còn nạt át giọng mẹ nữa. Mẹ trở về phòng và khóc một mình. Chẳng lẽ bà con nói đúng hay sao? Chẳng lẽ bọn đàn ông toàn là một lũ phản bội hay sao?

Mẹ thiếp đi và bà con lại hiện về an ủi mẹ. Rồi với giọng đanh chắc bà bảo là đã tới giờ hành động, Rằng nó đã phản bội con từ lâu rồi, chỉ tại con quá ngây thơ mới tin vào sự trung thành của nó mà thôi. Hôm sau mẹ lại chơi nhà chị bạn, chuyện vãn một hồi mẹ hỏi:

- Chị là hàng xóm với gia đình chồng em, em với chị coi nhau như chị em ruột! Em xin chị cho em biết chị có biết gì về cuộc sống của chồng em không?

Người kia hỏi lại mẹ:

- Sao em lại hỏi thế? Có gì xảy ra trong cuộc sống vợ chồng của tụi em à?

Mẹ đáp:

- Chồng em thỉnh thoảng đi suốt đêm. Hôm qua em còn thấy dấu son lạ và mùi nước hoa trên áo anh ấy nữa. Nếu chị biết gì thì làm ơn nói cho em biết với. Em là kẻ lạ từ xa đến và chỉ biết nhà chồng và mấy chị em gần đây thôi. Nếu chị biết gì thì làm ơn cho em biết, em đội ơn chị!

- Chị luôn coi em như em gái ruột mình nên chị cũng không giấu gì em. Chồng em nổi tiếng là một công tử ăn chơi nức tiếng của vùng này. Đó cũng là lý do mà cậu ấy phải đi lấy vợ xa. Con gái của nhà giàu có ở đây đều biết tiếng cậu ấy nên đâu ai chịu gả cho cậu ta đâu. Hàng ngày cậu ấy tụm bè tụm đảng với mấy tên công tử khác, ăn chơi bài bạc và phá làng phá xóm! Ở đây ai cũng biết danh! Chỉ tội nghiệp em quá ngây thơ nên chẳng biết gì hết.

Mẹ cám ơn chị bạn ấy rồi về. Thế ra là ba con luôn làm mặt giả dối với mẹ mà thôi. Đi ăn chơi mà nói là đi lo công việc, đêm ngủ với gái về nói là phải đi lên tỉnh lo giấy tờ. Mẹ chỉ biết khóc cho phận mình, sao nó oan trái giống hoàn cảnh của bà ngoại con quá!

Một chiều mưa gió khi ba con về nhà mùi rượu nồng nặc, áo quần xốc xếch.

Mẹ bèn đỡ ba con vào phòng rồi trách:

- Sao anh nhậu nhẹt gì mà say quá độ như vậy? Say mà dầm mưa có bữa trúng gió chết dọc đường không ai hay đó!

Ba con nạt mẹ:

- Á à! Thì ra cô cầu cho tui chết chứ gì? Cô tưởng cô hay lắm ư? Cô chỉ là con bé mồ côi thôi! Tui thách cô đó! Chịu được thì ở không được thì đi đi! Không ai chứa cô đâu! Mẹ cô ấy à? Cũng là một con giết chồng thôi! Tui mà biết trước chuyện này thì đời nào tui cưới cô. Mẹ nào con nấy mà. Dang ra cho tui đi ngủ! Tui không cần đứa nào giúp hết.

Ba con chửi bới mẹ một hồi nữa rồi nằm lăn ra ngủ như chết. Mẹ thay quần áo ướt cho ông ấy, thấy trong túi có gì cồm cộm mẹ lấy ra xem. Thì ra đó là một tấm hình của một cô gái trẻ ăn mặc hở hang giống như gái nhảy, phía sau có đề dòng chữ "tặng anh yêu" và chữ ký tên nguệch ngoạc. Mẹ buông rơi tấm hình xuống đất, ôm mặt khóc. Đúng rồi chẳng sai vào đâu được nữa. Ba con phản bội mẹ từ lâu mà mẹ có biết gì đâu!

Đột nhiên mẹ nghe tiếng bà con ngay cạnh bên: "Mẹ đã nói mà con không tin! Bây giờ con sáng mắt ra chưa? Hãy giết chết tên phản bội kia đi!".

Mẹ như bị thôi miên, từ từ đi đến bên tủ kéo ngăn lấy cây kiếm cầm trên tay.

Trong đầu mẹ nghe toàn những câu chửi rủa đay nghiến của ba con. Xen lẫn vào đó là tiếng thúc giục của bà con. Mẹ như kẻ không hồn bước lại gần ba con, rút thanh kiếm khỏi vỏ, rồi cắm phập xuống tim của kẻ bạc tình.

Như một kẻ mộng du, mẹ đúc thanh kiếm vào vỏ, mở cửa sau bước ra hông nhà. Mưa vẫn còn rơi xối xả, mẹ đẩy chiếc xe đạp và đạp như bay về hướng thị xã Tân An.

Mẹ không còn ai là thân nhân trên đời này cả. Mẹ chỉ theo sự hướng dẫn vô hình nào đó mà đạp xe đi. Trong tiềm thức mẹ có nghe ai nói là hãy vất thanh kiếm xuống sông và mẹ làm theo lời bảo như một cái máy.

Sau đó mẹ đạp xe vào cục cảnh sát Tân An. Chỉ có một viên cảnh sát đang ngồi gác và hút thuốc trong văn phòng. Thấy mẹ ông ta hỏi khuya khoắt thế này mà bà có việc gì đến báo cảnh sát vậy. Mẹ trả lời với giọng khô cứng: "Tôi đâm chết chồng tui rồi! Tui đến đây để nộp mạng!". Ông cảnh sát bán tín bán nghi không biết phải làm gì. Ngay lúc đó có mấy chiếc xe gắn máy vừa trờ tới, mấy người hồng hộc chạy vào la lớn: "Thầy cò ơi! Có án mạng ở nhà ông hội đồng Bảy! Con trai ổng bị người ta đâm chết trong nhà! Ông mau cho người tới làm an-kết đi!" Ông cảnh sát quay lại phía mẹ nói: "Cô đưa tay cho tui còng mau lên!". Rồi ông ta nhốt mẹ vào phòng giam và đánh thức mấy người khác dậy để đi theo mấy người báo tin.

Hôm sau họ giải mẹ lên nhà khám tỉnh Long An đợi chờ ngày xử. Cũng giống như bà con, mẹ nhận hết lỗi và bị nhận án tử hình. Mẹ cũng được hoãn ngày bắn cho tới khi sinh con ra. Khi sinh con ra họ mang con đi nói là làm giấy tờ và tìm người để cho. Và rồi mẹ bị họ mang ra pháp trường bắn. Mẹ cũng mang theo lời nguyền là sẽ trả thù bọn đàn ông khốn nạn trên đời này. Và con chính là kẻ thi hành lời nguyền ấy!
 
***

Lan thấy cảm thương cho số phận của hai người, nhưng nàng không muốn vì sự hận thù của họ mà nàng đành phải giết chết chồng mình. Hơn thế nữa, Tuấn rất hiền lành. Nàng biết rõ tính chồng vì hai người quen và tìm hiểu nhau suốt mấy năm lúc còn ở đại học. Hai người thật sự yêu nhau và tự ý kết hôn với nhau, đâu có bị ép buộc, hay gả bán cho một người xa lạ như mẹ và bà nàng xưa kia đâu?

Nàng biết Tuấn rất rõ, một người đàn ông có trách nhiệm, yêu thương vợ và không hề dính líu đến tứ đổ tường như một số đông người có chức vị khác. Và một điểm nữa là Lan cũng yêu Tuấn tha thiết. Nàng không thể nào ra tay giết người mình yêu dấu được.

Thế nhưng dù nàng có biện bạch cách mấy đi nữa thì mẹ nàng vẫn hiện về thúc đẩy nàng làm điều đó. Về vào ban đêm thì không xong mẹ nàng bèn về luôn ở nhà nàng, đóng đô trong cái gương cổ trong phòng ngủ.

Mỗi khi nàng soi gương thì hình bóng mẹ nàng lại hiện ra nhắc nhở cái sứ mạng nàng cần phải thi hành. Nói nhẹ không xong, mẹ nàng lên tiếng đe dọa...

Một sáng kia, Lan thức dậy để sửa soạn bữa sáng cho chồng trước khi đi làm, Tuấn cũng đã thức nhưng vẫn còn nằm ráng trong giường, mắt nhắm nhưng tai vẫn nghe mọi sự chung quanh. Lan đến soi gương và mẹ nàng lại hiện ra trong đó. Vẫn như trước, bà trách móc nàng sao không thi hành lệnh của bà.

Lan bèn bực dọc nói:

- Tại sao mẹ lại bắt con giết chết người con yêu dấu? Anh ấy có tội tình gì mà phải chết vì sự thù hận của người xưa chứ?

- Đó là lời nguyền và con là người kế tục để làm việc đó! Không ai làm thay con được. Chính tay con phải dùng thanh kiếm để đâm chết người chồng của con. Con của con sau này cũng sẽ làm tròn lời nguyền này sau khi con bị xử chết. Đó là luật đã do bà ngoại con đã đặt ra. Con cháu phải biết tuân theo mà thôi!

- Không! Con không bao giờ chịu làm những điều vô lý đó đâu!

Một làn ánh sáng với luồng gió mạnh phát ra từ chiếc gương thổi bắn Lan vào vách. Nàng đau đớn la lên một tiếng và bất tỉnh. Tuấn nằm nghe hết mọi chuyện, khi thấy Lan bị hất văng vào tường chàng vùng dậy bế nàng lên giường.

Nhìn vào gương chàng quát to:

- Bà hãy cút đi đi! Hãy để cho chúng tôi yên! Tại sao bà lại nhẫn tâm phá hạnh phúc của con bà vậy?

Hình bóng trong gương bỗng biến thành một con tinh dữ dằn với đôi mắt rực lửa:

- Tao phải giết bọn đàn ông phản bội chúng mày! Mày cũng không thoát khỏi lời nguyền của chúng tao đâu!

Tuấn với tay lấy chiếc guốc của vợ ném vào chiếc gương, nhưng chiếc guốc bật trở lại trúng vào thái dương anh. Thế là Tuấn cũng lăn ra bất tỉnh! Lúc tỉnh dậy thì Lan đã ngồi sẵn ở cạnh bên chàng. Trời đã trưa rồi.

Hai vợ chồng sợ lắm. Tuấn gọi điện thoại tới sở làm của hai người xin nghỉ một ngày. Xong xuôi chàng chở Lan đi ra chợ Thị Nghè ăn trưa. Trong lúc ăn Lan nói với chồng:

- Anh kêu người tới mang cái gương đó đi nghe anh! Bà ấy ám ảnh em mấy tháng nay rồi đó!

Trên đường về, Tuấn ghé qua Hàng Xanh kêu người bán đồ cũ lại nhà để cho ông ta cái gương cổ đó. Họ về đến nhà, ông bán đồ cổ vào phòng khiêng cái gương đi. Lập tức một bóng hình dữ tợn hiện ra trong gương cười the thé và một trận cuồng phong cùng với ánh sáng tuôn ra từ cái gương thổi bay ông ta ra ngoài cửa sổ. Ông ta rớt xuống đất va đầu vào cục đá chết ngay lập tức. Giọng cười vẫn vang vọng xen lẫn tiếng gầm rú:

- Chỉ khi nào hoàn tất lời nguyền tao mới ra khỏi đây! Lan, con phải thi hành việc đó rồi thay thế mẹ truyền lời nguyền này cho con con! Chỉ lúc đó mẹ mới đi đầu thai được thôi!

Tuấn bèn gọi điện thoại cho cảnh sát báo tin tai nạn xảy ra. Chàng giấu không nói gì về con yêu tinh cả, mà dù có nói thì chắc là cũng chẳng ai chịu tin.

Cảnh sát cho đây là tai nạn nên vợ chồng Lan không gặp rắc rối gì.

Hôm sau, Tuấn xin nghỉ buổi chiều và đến Lăng Ông ở Gia Định. Nơi đây có một ông thầy chuyên coi tướng số kiêm thầy pháp nổi tiếng để nhờ xem quẻ về con yêu tinh ở trong nhà. Sau khi bấm độn và làm phù phép, ông thầy phán:

- Con yêu tinh này rất dữ dằn! Hiện nay không có ai đủ tài để diệt được nó đâu. Nó chỉ đi đầu thai nếu có ai thay thế nó mà thôi!

- Như thế thì tụi tôi đành phải chịu chết hay sao?

- Đúng ra thì vẫn còn một cách duy nhất! Phải kiếm ra cho được thanh kiếm của nó và chính người con gái của nó dùng thanh kiếm này đâm vào ngực nó thì mới có thể tiêu diệt được nó mà thôi!

Nói tới đây ông thầy pháp giống như bị ai đập vào đầu ngã lăn quay ra đất bất tỉnh nhân sự. Các đệ tử của ông phải làm mọi cách mới vực ông tỉnh dậy được. Ông nói:

- Thôi thí chủ mau về đi! Có lẽ tôi không giúp ích gì được cho ông đâu. Nó còn định giết luôn cả tôi đó thí chủ thấy chưa?

Tuấn ra về cũng không nói gì cho Lan biết về việc này. Chàng sợ phải làm cho nàng hoang mang thêm. Nhưng điều làm chàng suy nghĩ nhiều nhất là con yêu tinh đã biết chàng đang tìm cách tiêu diệt nó. Chàng sợ nó sẽ ra tay sớm tìm cách giết chàng.

Nửa đêm đó như có linh tính, Tuấn mở mắt ra thì thấy Lan đang đứng ở bên giường, hai tay nắm chặt thanh gươm ngắn trong tư thế sắp đâm xuống ngực chàng. Ánh mắt Lan như ngây dại mất hồn, Tuấn vội vàng la lớn:

- Lan! Mau tỉnh lại đi em! Đừng làm theo lời con yêu tinh đó.

- Tao phải giết bọn đàn ông phản bội trên đời này!

Lan trả lời với giọng điệu xa lạ như vọng về từ thế giới bên kia.

- Em hãy mau tỉnh lại đi! Nhìn kỹ anh nè! Em biết anh yêu em nhất trên đời này mà! Không gì có thể làm anh xa em được. Em biết là anh luôn trung thành với em mà! Tỉnh dậy đi Lan. Hãy xét lại xem, có khi nào anh ruồng rẫy em hay đối xử lạnh nhạt với em không? Tỉnh lại đi em, đừng để con yêu tinh cái kia làm tan đi hạnh phúc của chúng mình! Còn đứa con vô tội của chúng ta nữa, đừng để nó lại phải đeo theo lời nguyền khủng khiếp ấy theo nó vào cuộc đời này!

Lúc này, bóng con yêu tinh ở trong gương cũng gào lên:

- Hãy giết bọn đàn ông phản bội đi con! Chúng nó không đáng được sống! Bây giờ là lúc con hoàn thành lời nguyền của chúng ta, hãy mau xuống tay đi!

- Đừng nghe lời nó em! Lan hãy mau thức tỉnh lại đi! Vợ chồng ta đang hạnh phúc, chúng ta sắp có đứa con đầu lòng! Đừng để bọn ma quái yêu tinh kia phá đi hạnh phúc của chúng ta!

Mặt Lan bấy giờ bỗng trở nên tỉnh táo hơn. Nàng như vừa thoát ra khỏi một cơn mộng du. Nàng đã nghe tiếng Tuấn kêu gào và có lẽ lời kêu gào thống thiết đã thắng được ma lực đang thống trị trong nàng. Nhìn mình tay đang giơ cao thanh kiếm chực đâm chồng, Lan hoảng hốt hạ rơi thanh kiếm xuống, miệng la lớn:

- Trời ơi! Chuyện gì đang xảy ra vậy hả anh? Sao cây kiếm này lại trong tay em? Chút nữa là em đã giết chết anh rồi!

- Hãy giết chết nó đi còn chần chờ gì nữa con! Giết nó mau đi cho lời nguyền được trọn vẹn. - Con yêu tinh lại gào gọi Lan.

- Em hãy bình tâm tỉnh trí lại đi! Con yêu tinh kia muốn cắt đứt cuộc sống êm đềm của chúng ta. Nó dùng ma lực để khiến em làm chuyện điên rồ! Hãy nghĩ đến tương lai của chúng ta, đến con của chúng ta!

- Em phải làm gì bây giờ đây? Trời ơi! - Lan nói như khóc.

- Bây giờ em hãy phóng thanh kiếm đó vào ngực con yêu tinh kia để phá vỡ lời nguyền của nó mau đi em. - Tuấn vội trả lời vợ.

- Đừng nghe lời bọn đàn ông khốn nạn con ơi! Con hãy giết nó ngay đi. Đừng nghe lời nó xúi xiểm mà giết mẹ con nghe chưa! - Con yêu tinh phản ứng lại tức thì.

- Hãy mau phóng thanh gươm đi em. Chỉ có một mình em là có thể phá được lời nguyền này mà thôi! Em nghe rõ chưa? Chỉ có mình em thôi! - Tuấn càng gào to lên như muốn để át đi mọi ma lực còn sót lại trong Lan.

Thình lình Lan vung tay lên và phóng nhanh thanh kiếm vào cái bóng con yêu tinh ở trong gương. Cái gương lập tức vỡ tan ra thành từng mảnh vụn cùng theo đó là một tiếng rú rợn người. Con yêu tinh và cả thanh gươm tiêu biến mất theo một làn khói mờ.

Vợ chồng Lan ôm chầm lấy nhau mà khóc, mừng mừng tủi tủi. Tai nạn xem như đã qua đi rồi. Hai người ngồi tâm sự ôn lại các vui buồn trong đời cho đến sáng. Lúc này Tuấn mới đứng lên dọn dẹp nhà cửa, chàng mang cái khung gương ném xuống sông như để xóa đi cái ám ảnh đã qua. Từ đó về sau vợ chồng Lan sống hạnh phúc không còn bị khuấy phá gì nữa. Lời nguyền chính thức đã bị phá vỡ.

Đến cuối năm đó Lan sinh được một bé gái giống nàng như đúc. Nàng lạy tạ ơn trời đất vì con nàng không phải chịu cảnh sinh trong tù và đeo theo lời nguyền như mẹ và bà ngoại của nàng nữa. Hai năm sau một bé trai lại ra đời và họ sống êm đềm trong hạnh phúc cùng nhau cho tới lúc đầu bạc răng long.
Sự đời cà khịa cái chơi
Khi vui muốn khóc, khi cười buồn tênh!
0
«« « 7 8 9 10 11 » »»