📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

Kinh Hoa Nghiêm 🔒

41 trả lời, 5.312 lượt xem — Trang 2 / 2
Kinh Hoa Nghiêm
Tập 5

Phẩm thập nhẫn
Thứ hai mươi chín



Bấy giờ, Phổ Hiền Bồ Tát bảo chư Bồ Tát:  "Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát có mười thứ nhẫn, nếu được nhẫn này thời được đến nơi vô ngại nhẫn địa của tất cả Bồ Tát, tất cả Phật pháp vô ngại vô tận.
Đây là mười nhẫn:  âm thanh nhẫn, thuận nhẫn, vô sanh pháp nhẫn, như huyễn nhẫn, như diệm nhẫn, như mộng nhẫn, như hưởng nhẫn, như ảnh nhẫn, như hóa nhẫn, như không nhẫn.
Mười nhẫn này, tam thế chư Phật đã nói, nay nói, sẽ nói.
Chư Phật tử!  Thế nào là đại Bồ Tát âm thanh nhẫn?
Nghĩa là nghe những pháp của chư Phật nói, chẳng kinh chẳng hãi chẳng sợ, thâm tín ngộ giải, ưa thích xu hướng, chuyên tâm ghi nhớ, tu tập an trụ.
Chư Phật tử!  Thế nào là đại Bồ Tát thuận nhẫn?
Nghĩa là ở nơi Phật pháp tư duy quán sát bình đẳng không trái, tùy thuận biết rõ, khiến tâm thanh tịnh, chánh trụ tu tập xu nhập thành tựu.
Chư Phật tử!  Thế nào là đại Bồ Tát vô sanh pháp nhẫn?
Đại Bồ Tát này chẳng thấy có chút pháp nào sanh, cũng chẳng thấy có chút pháp nào diệt.  Tại sao vậy?  Vì nếu đã vô sanh thời vô diệt.  Nếu đã vô diệt thì vô tận.  Nếu vô tận thời ly cấu.  Nếu ly cấu thời vô sai biệt.  Nếu vô sai biệt thời vô xứ sở.  Nếu vô xứ sở thời tịch tịnh.  Nếu tịch tịnh thời ly dục.  Nếu ly dục thời vô tác.  Nếu vô tác thời vô nguyện.  Nếu vô nguyện thời vô trụ.  Nếu vô trụ thời vô khứ vô lai.  Đây gọi là thứ ba, vô sanh pháp nhẫn của đại Bồ Tát.
Chư Phật tử!  Thế nào là như huyễn nhẫn?
Đại Bồ Tát này biết tất cả pháp đều như huyễn, từ nhân duyên khởi.  Ở trong một pháp hiểu nhiều pháp, trong nhiều pháp hiểu một pháp.  Đã biết các pháp như huyễn, đại Bồ Tát này rõ thấu quốc độc, chúng sanh, pháp giới.  Rõ thấu thế gian bình đẳng, Phật xuất thế bình đẳng, tam thế bình đẳng.  Thành tựu những thần thông biến hóa.
Ví như huyễn chẳng phải voi, ngựa, xe, nam, nữ, đồng nam, đồng nữ, chẳng phải cây, lá, bông, trái, đất, nước, lửa, gió, chẳng phải ngày, đêm, mặt trời, mặt trăng, chẳng phải nửa tháng, một tháng, một năm, trăm năm, một kiếp, nhiều kiếp, chẳng phải định, loạn, thuần, tạp, một, khác, chẳng phải rộng, hẹp, nhiều, ít, lượng, vô lượng, thô, tế.  Huyễn chẳng phải tất cả sự vật, tất cả sự vật chẳng phải huyễn, nhưng do huyễn thị hiện ra những sự vật sai khác.
Cũng vậy, đại Bồ Tát quán tất cả thế gian như huyễn.  Những là nghiệp thế gian, phiền não thế gian, quốc độ thế gian, pháp thế gian, thời thế gian, thú thế gian, thành thế gian, hoại thế gian, vận động thế gian, tạo tác thế gian.
Lúc Bồ Tát quán tất cả thế gian như huyễn, chẳng thấy chúng sanh sanh, chẳng thấy chúng sanh diệt, chẳng thấy quốc độ sanh diệt, chẳng thấy các pháp sanh diệt, chẳng thấy quá khứ có thể phân biệt được, chẳng thấy vị lai có khởi tác, chẳng thấy hiện tại một niệm trụ, chẳng thấy quán sát bồ đề, chẳng thấy Phật xuất hiện, chẳng thấy Phật niết bàn, chẳng thấy trụ đại nguyện, chẳng thấy nhập chánh vị, chẳng ngoài tánh bình đẳng.
Đại Bồ Tát này dầu thành tựu Phật độ mà biết quốc độ vô sai biệt.  Dầu thành tựu chúng sanh mà biết chúng sanh vô sai biệt.  Dầu khắp quán pháp giới mà an trụ pháp tánh vắng lặng chẳng động.  Dầu thấu rõ tam thế bình đẳng mà chẳng trái phân biệt pháp tam thế.  Dầu thành tựu uẩn xứ mà dứt hẳn sở y.  Dầu độ thoát chúng sanh mà rõ biết pháp giới bình đẳng không các thứ sai khác.  Dầu biết các pháp xa lìa văn tự không thể ngôn thuyết mà thường thuyết pháp biện tài vô tận.  Dầu chẳng chấp lấy việc giáo hóa chúng sanh mà chẳng bỏ đại bi, vì độ tất cả mà chuyển pháp luân.  Dầu vì chúng sanh khai thị nhân duyên quá khứ mà biết tánh nhân duyên không có động chuyển.  Đây gọi là như huyễn nhẫn thứ tư.
Chư Phật tử!  Thế nào là đại Bồ Tát như diệm nhẫn?
Đại Bồ Tát này biết tất cả thế gian đồng như dương diệm.
Ví như dương diệm chẳng có phương sở, chẳng phải nội, ngoại, hữu, vô, đoạn, thường, chẳng phải một màu, nhiều màu, cũng chẳng phải không màu, chỉ tùy theo ngôn thuyết thế gian mà hiển thị.
Cũng vậy, đại Bồ Tát như thật quán sát, rõ biết các pháp hiện chứng tất cả khiến được viên mãn.  Đây gọi là như diệm nhẫn thứ năm của đại Bồ Tát.
Chư Phật tử!  Thế nào là đại Bồ Tát như mộng nhẫn?
Đại Bồ Tát này biết tất cả thế gian như mộng.
Ví như mộng, chẳng phải thế gian, chẳng phải rời thế gian, chẳng phải dục giới, sắc giới, vô sắc giới, chẳng phải sanh diệt, nhiễm, tịnh, nhưng vẫn có hiển thị.
Cũng vậy, đại Bồ Tát biết tất cả thế gina đồng như mộng.  Vì không đổi khác, vì như tự tánh của mộng, vì như mộng chấp trước, vì như mộng tánh ly, vì như bổn tánh của mộng, vì như mộng hiện ra, vì như mộng vô sai biệt, vì như mộng tưởng phân biệt, vì như lúc mộng thức giấc.  Đây gọi là như mộng nhẫn thứ sáu của đại Bồ Tát.
Chư Phật tử!  Thế nào là đại Bồ Tát như hưởng nhẫn?
Đại Bồ Tát này nghe Phật thuyết pháp quán các pháp tánh tu học thành tựu đến bỉ ngạn, biết tất cả âm thanh đồng như vang không lai không khứ mà hiển thị như vậy.
Đại Bồ Tát này quán sát tiếng của đức Như Lai chẳng từ trong phát ra, chẳng từ ngoài phát ra, cũng chẳng từ nơi trong ngoài phát ra.  Dầu biết rõ tiếng chẳng phải từ trong, từ ngoài, từ trong ngoài phát ra, mà có thể thị hiện danh cú thiện xảo diễn thuyết thành tựu.
Ví như âm vang nơi hang từ duyên phát ra, mà cùng pháp tánh không trái nhau.  Khiến các chúng sanh theo loài được hiểu biết mà tu học.
Như thiên đế phu nhân, con gái vua A Tu La, tên Xá Chi, trong một âm thanh phát ra ngàn thứ âm thanh, nhưng phu nhân vẫn không có tâm nghĩ làm cho phát ra như vậy.
Cũng vậy, đại Bồ Tát nhập vô phân biệt giới, thành tựu tiếng tùy loại thiện xảo, ở trong vô biên thế giới hằng chuyển pháp luân.  Đại Bồ Tát này khéo hay quán sát tất cả chúng sanh, dùng tướng lưỡi rộng dài mà vì họ thuyết pháp.  Tiếng đó vô ngại khắp cõi nước mười phương khiến chúng sanh tuỳ sở nghi nghe pháp đều riêng khác.  Dầu biết tiếng không khởi mà khắp hiện âm thanh.  Dầu biết không sở thuyết mà nói rộng các pháp.  Diệu âm bình đẳng tuỳ loại đều hiểu riêng khác, đều dùng trí huệ mà có thể rõ thấu.  Đây gọi là như hưởng nhẫn thứ bảy của đại Bồ Tát.
Chư Phật tử!  Thế nào là đại Bồ Tát như ảnh nhẫn?
Đại Bồ Tát này chẳng phải sanh ở thế gian, chẳng phải mất ở thế gian, chẳng phải ở trong thế gian, chẳng phải ở ngoài thế gian, chẳng phải du hành nơi thế gian, chẳng phải đồng với thế gian, chẳng phải khác với thế gian, chẳng phải trụ ở thế gian, chẳng phải chẳng trụ ở thế gian, chẳng phải là thế gian, chẳng phải xuất thế gian, chẳng phải tu Bồ Tát hạnh, chẳng phải bỏ đại nguyện, chẳng phải thật, chẳng phải chẳng thật.  Dầu thường hành tất cả Phật pháp mà có thể làm xong tất cả thế sự.  Chẳng theo thế lưu cũng chẳng trụ pháp lưu.
Ví như mặt trời, mặt trăng, nam, nữ và các vật như nhà cửa, núi rừng, sông suối, v.v... hiện bóng trong những vật thanh tịnh như nước, dầu, châu bửu, gương sáng.  Bóng cùng nước gương, v.v.. chẳng phải một, chẳng phải khác, chẳng phải ly, chẳng phải hiệp.  Nơi trong giòng sông, bóng chẳng bị trôi, nơi giếng ao, bóng cũng chẳng bị chìm đắm.  Dầu bóng hiện trong đó không chỗ chấp trước, nhưng các chúng sanh biết ở chỗ đó có bóng ấy hiện, cũng biết chỗ kia không có bóng như vậy.  Vật gần vật xa dầu đều hiện bóng, nhưng bóng không theo vật mà có gần xa.
Cũng vậy, đại Bồ Tát hay biết tự thân và tha thân tất cả đều là cảnh giới của trí chẳng nhận là hai mà cho là tự tha riêng khác.  Dầu vậy nhưng nơi tự quốc độ, nơi tha quốc độ, đều riêng sai khác đồng thời hiện khắp.
Như một hột giống không có rễ, mầm, cọng, mắt, nhánh, lá, mà hay sanh khởi tất cả.
Cũng vậy, đại Bồ Tát vô nhị mà phân biệt hai tướng phương tiện thiện xảo thông đạt vô ngại.  Đây gọi là như ảnh nhẫn thứ tám của đại Bồ Tát.
Đại Bồ Tát thànht tựu như ảnh nhẫn này dầu chẳng qua đến cõi nước mười phương mà có thể hiện khắp tất cả cõi Phật.  Cũng chẳng rời đây, cũng chẳng đến kia, như bóng hiện khắp chỗ du hành vô ngại.  Làm cho chúng sanh thấy thân sai khác đồng với  tướng cứng chắc của thế gian.  Nhưng sự sai khác này chính là chẳng phải sai khác.  Khác cũng chẳng khác không có chướng ngại.
Đại Bồ Tát này từ nơi chủng tán Như Lai mà sanh thân ngữ và ý thanh tịnh vô ngại nên có thể được thân vô biên sắc tướng thanh tịnh.
Chư Phật tử!  Thế nào là đại Bồ Tát biết tất cả thế gian thảy đều như hóa?  Nghĩa là tất cả chúng sanh ý nghiệp hóa, vì giác tưởng sanh khởi.  Tất cả thế gian chư hành hóa, vì phân biệt sanh khởi.  Tất cả khổ vui điên đảo hóa, vì vọng thủ sanh khởi.  Tất cả thế gian pháp chẳng thật hóa, vì ngôn thuyết hiện khởi.  Tất cả phiền não phân biệt hóa, vì tưởng niệm sanh khởi.  Lại có thanh tịnh điều phục hóa, vì vô phân biệt hiện khởi.  Nơi tam thế chẳng chuyển hóa, vì vô sanh bình đẳng.  Bồ Tát nguyện lực hóa, vì tu hành quảng đại.  Như Lai đại bi hóa, vì phương tiện thị hiện.  Chuyển pháp luân phương tiện hóa, vì trí huệ vô úy biện tài diễn thuyết.
Đại Bồ Tát rõ biết thế gian xuất thế gian hóa hiện như vậy, chứng biết, biết rộng lớn, biết vô biên, biết đúng sự, biết tự tại, biết chân thật.  Chẳng phải hư vọng kién có thể huynh động được.  Tùy theo sở hành của thế gian cũng chẳng hư mất trí biết ấy.
Ví như hóa chẳng từ nơi tâm phát khởi, chẳng từ nơi tâm pháp phát khởi, chẳng từ nơi nghiệp phát khởi, chẳng thọ quả báo, chẳng phải thế gian sanh, chẳng phải thế gian diệt, chẳng thể theo dõi, chẳng thể rờ chạm, chẳng phải còn lâu, chẳng phải giây lát, chẳng phải ở nơi thế gina, chẳng phải rời thế gian, chẳng chuyển thuộc một phương, chẳng thuộc khắp các phương, chẳng phải hữu lượng, chẳng phải vô lượng, chẳng nhàm, chẳng dứt, chẳng phải chẳng nhàm dứt, chẳng phải nhàm, chẳng phải thánh, chẳng phải nhiễm, chẳng phải tịnh, chẳng phải sanh, chẳng phải tử, chẳng phải trí, chẳng phải ngu, chẳng phải thấy, chẳng phải chẳng thấy, chẳng phải y tựa thế gina, chẳng phải nhập pháp giới, chẳng phải thông minh, chẳng phải đần độn, chẳng phải lấy, chẳng phải chẳng lấy, chẳng phải sanh tử, chẳng phải niết bàn, chẳng có, chẳng phải không có.
Đại Bồ Tát phương tiện thiện xảo như vậy, du hành thế gian tu hạnh Bồ Tát.  Biết rõ thế pháp phân thân hóa hiện mà đến, chẳng chấp thế gian, chẳng lấy tự thân, nơi thế gian và thân không phân biệt.  Chẳng trụ thế gian, chẳng rời thế gian, chẳng trụ nơi pháp, chẳng rời nơi pháp.  Do bổn nguyện nên chẳng bỏ một chúng sanh giới, chẳng điều phục thiểu chúng sanh giới, chẳng phân biệt nơi pháp, chẳng phải chẳng phân biệt.  Biết các pháp tánh không lai không khứ.  Dầu không chỗ có mà tròn đầy Phật pháp.  Rõ pháp như hóa, chẳng có chẳng không.
Đại Bồ Tát lúc an trụ như hóa nhẫn đều hay tròn đủ tất cả đạo bồ đề của chư Phật lợi ích chúng sanh.
Đây gọi là như hóa nhẫn thứ chín của đại Bồ Tát.
Đại Bồ Tát thành tựu như hóa nhẫn này, phàm việc làm ra đều đồng với hóa, ví như hóa sĩ.
Nơi tất cả cõi Phật không chỗ y trụ.  Nơi tất cả thế gian không chỗ chấp lấy.  Nơi tất cả Phật pháp chẳng sanh phân biệt.  Dầu vậy mà hướng đến Phật bồ đề không rời mỏi, tu hạnh Bồ Tát, rời những điên đảo.  Dầu không có thân mà hiện tất cả thân.  Dầu không chỗ trụ mà trụ các quốc độ.  Dầu không có sắc mà hiện khắp các sắc.  Dầu chẳng chấp lấy thực tế mà chiếu sáng pháp tánh bình đẳng viên mãn.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát này nơi tất cả pháp không chỗ y chỉ nên gọi là bậc giải thoát.  Thảy đều bỏ rời tất cả lỗi lầm nên gọi là bậc điều phục.  Chẳng động chẳng chuyển vào khắp tất cả chúng hội Như Lai nên gọi là bậc thần thông.  Nơi pháp vô sanh đã được thiện xảo nên gọi là bậc vô thối.  Đủ tất cả lực, núi tu di núi thiết vi không làm chướng được, nên gọi là bậc vô ngại.
Chư Phật tử!  Thế nào là đại Bồ Tát như không nhẫn?
Đại Bồ Tát này rõ tất cả pháp giới như hư không, vì vô tướng.  Tất cả thế giới như hư không, vì vô khởi.  Tất cả pháp như hư không vì vô nhị.  Tất cả chúng sanh hạnh như hư không, vì vô sở hành.  Tất cả Phật như hư không, vì vô phân biệt.  Tất cả Phật lực như hư không, vì vô sai biệt.  Tất cả thiền định như hư không, vì tam thế bình đẳng.  Tất cả pháp diễn thuyết như hư không, vì chẳng ngôn thuyết được.  Tất cả thân Phật như hư không, vì vô trước vô ngại.
Bồ Tát dùng phương tiện như hư không rõ thấu tất cả pháp đều không chỗ có.
Đại Bồ Tát dùng nhẫn trí như hư không lúc thấu rõ tất cả pháp thời được thân và thân nghiệp như hư không, được ngữ và ngữ nghiệp như hư không, được ý và ý nghiệp như hư không.
Ví như hư không, tất cả pháp y tựa, chẳng sanh chẳng diệt.
Cũng vậy, đại Bồ Tát, tất cả pháp thân chẳng sanh chẳng diệt.
Ví như hư không, chẳng thể phá hoại được.  Cũng vậy, đại Bồ Tát, tất cả trí huệ các lực chẳng thể phá hoại được.
Ví như hư không là chỗ y chỉ của tất cả thế gian mà không sở y.  Cũng vậy, đại Bồ Tát là chỗ y chỉ của tất cả pháp mà không sở y.
Ví như hư không bất sanh bất diệt mà hay giữ lấy tất cả thế gian sanh diệt.  Cũng vậy, đại Bồ Tát không hướng không đắc mà hay thị hiện hướng đắc, khiến khắp thế gian tu hành thanh tịnh.
Ví như hư không chẳng có chỗ chẳng có góc mà hay hiển hiện vô biên chỗ góc.  Cũng vậy, đại Bồ Tát không nghiệp không báo mà hay hiển thị những thứ nghiệp báo.
Ví như hư không chẳng đi chẳng đứng mà hay thị hiện các thứ oai nghi.  Cũng vậy, đại Bồ Tát chẳng đi chẳng đứng mà hay phân biệt tất cả các hành.
Ví như hư không chẳng phải sắc chẳng phải phi sắc mà hay thị hiện các loại màu sắc.  Cũng vậy, đại Bồ Tát chẳng phải sắc thế gian, chẳng phải sắc xuất thế gian mà hay thị hiện tất cả thân sắc.
Ví như hư không chẳng phải lâu chẳng phải gần mà hay ở lâu hiển hiện tất cả vật.  Cũng vậy, đại Bồ Tát chẳng phải lâu chẳng phải gần mà hay ở lâu hiển thị những hạnh của Bồ Tát làm.
Ví như hư không chẳng phải tịnh chẳng phải uế, chẳng rời tịnh uế.  Cũng vậy, đại Bồ Tát chẳng phải chướng chẳng phải không chướng, chẳng rời chướng không chướng.
Ví như hư không tất cả thế gian đều hiện ra trước, chẳng phải hiện ra trước tất cả thế gian.  Cũng vậy, đại Bồ Tát, tất cả pháp đều hiện ra trước, chẳng phải hiện ra trước tất cả pháp.
Ví như hư không vào khắp tất cả mà không biên tế.  Cũng vậy, đại Bồ Tát vào khắp tất cả pháp, mà tâm Bồ Tát không biên tế.  Tại sao vậy?  Vì chỗ làm của Bồ Tát như hư không.  Nghĩa là việc tu tập, việc nghiêm tịnh, việc thành tựu thảy đều bình đẳng, một thể, một vị, một thứ phần lượng.  Như hư không thanh tịnh khắp tất cả chỗ.
Đại Bồ Tát như vậy chứng biết tất cả pháp, với tất cả pháp không có phân biệt.  Nghiêm tịnh tất cả Phật độ.  Viên mãn tất cả thân vô sở y.  Rõ tất cả phương không có mê lầm.  Đủ tất cả lực chẳng thể phá hoại.  Đầy đủ tất cả vô biên công đức.  Đã đến tất cả pháp xứ thậm thâm.  Thông đạt tất cả đạo ba la mật.  Ngồi khắp tất cả tòa kim cang.  Phát khắp tất cả tiếng tùy loại.  Vì tất cả thế gian mà chuyển pháp luân chưa từng lỗi thời.
Đây gọi là hư không nhẫn thứ mười của đại Bồ Tát.
Đại Bồ Tát thành tựu nhẫn này thời được thân Như Lai, vì vô khứ.  Được thân vô sanh vì vô diệt.  Được thân bất động, vì vô hoại.  Được thân chân thật, vì rời hư vọng.  Được thân nhất tướng, vì vô tướng.  Được thân vô lượung, vì Phật lực vô lượng.  Được thân bình đẳng, vì đồng tướng như.  Được thân vô sai biệt, vì quán tam thế bình đẳng.  Được thân đến tất cả chỗ, vì tịnh nhãn chiếu khắp không chướng ngại.  Được thân rời dục tế, vì biết tất cả pháp không hiệp tan.  Được thân hư không vô biên tế, vì phước đức tạng vô tận như hư không.  Được thân biện tài vô đoạn vô tận pháp tánh bình đẳng, vì biết tất cả, pháp tướng chỉ là một tướng, không tánh làm tánh như hư không.  Được thân âm thanh vô lượng vô ngại, vì không chướng ngại như hư không.  Được thân đầy đủ tất cả Bồ Tát hạnh thiện xảo thanh tịnh, vì nơi tất cả chỗ đều không chướng ngại như hư không.   Được thân tất cả Phật pháp thứ đệ tiếp nối, vì chẳng thể đoạn tuyệt như hư không.  Được thân trong tất cả cõi Phật hiện vô lượng Phật độ, vì rời tham chấp như hư không vô biên.  Được thân thị hiện tất cả pháp tự tại không thôi nghỉ, vì như hư không chẳng có biên tế.  Được thân tất cả thế lực kiên cố chẳng thể phá hoại, vì như hư không nhiệm trì tất cả thế gian.  Được thân các căn sáng lẹ như kim cang kiên cố không thể phá hoại, vì như hư không tất cả kiếp hỏa chẳng đốt cháy được.  Được thân có sức giữ lấy tất cả thế gian, vì sức trí huệ như hư không.
Chư Phật tử!  Trên đây gọi là mười nhẫn của đại Bồ Tát."
Bấy giờ, Phổ Hiền Bồ Tát muốn tuyên lại nghĩa này mà nói kệ rằng:
Như trong đời có người
Nghe chỗ có kho báu
Vì có thể hưởng được
Nên lòng rất vui mừng.
Cũng vậy, đại trí huệ
Bồ Tát chân Phật tử
Được nghe các Phật pháp
Tướng thậm thâm tịch diệt
Lúc nghe thâm pháp này
Trong tâm được an ổn
Chẳng kinh cũng chẳng hãi
Cũng chẳng sanh sợ sệt.
Đại sĩ cầu bồ đề
Nghe tiếng quảng đại này
Tâm tịnh hay kham nhẫn
Nơi đây không nghi lầm.
Tự nghĩ: do nghe được
Pháp thậm thâm vi diệu
Sẽ thành nhất thiết trí
Nhân thiên đại đạo sư.
Bồ Tát nghe tiếng này
Trong lòng rất hoan hỉ
Phát sanh ý kiên cố
Nguyện cầu các Phật pháp
Vì mến thích bồ đề
Nên tâm lần điều phục
Lòng tin thêm tăng trưởng
Không trái chê chánh pháp.
Thế nên nghe tiếng này
Nơi lòng được kham nhẫn
An trụ vững chẳng động
Tu hành hạnh Bồ Tát.
Vì cầu đạo bồ đề
Chuyên tu hướng về đó
Tinh tấn không thối chuyển
Chẳng bỏ những thiện nghiệp.
Vì cầu đạo bồ đề
Trong lòng không sợ hãi
Nghe pháp thêm dũng mãnh
Cúng Phật khiến hoan hỉ.
Như có người đại phước
Gặp được kho chân kim
Theo chân chỗ nên đeo
Chế tạo đồ trang nghiêm.
Bồ Tát cũng như vậy
Nghe nghĩa thậm thâm này
Tư duy thêm trí huệ
Để tu pháp tùy thuận.
Pháp hữu cũng thuận biết
Pháp vô cũng thuận biết
Tuỳ pháp đó như vậy
Như vậy biết các pháp.
Thành tựu tâm thanh tịnh
Minh triệt rất hoan hỷ
Biết pháp theo duyên khởi
Dũng mãnh siêng tu tập.
Bình đẳng quán các pháp
Biết rõ tự tánh đó
Chẳng trái Phật pháp tạng
Biết khắp tất cả pháp.
Chí nguyện thường kiên cố
Nghiêm tịnh Phật bồ đề
Bất động như tu di
Nhất tâm cầu chánh giác.
Do phát tâm tinh tấn
Lại tu đạo tam muội
Vô lượng kiếp siêng làm
Chưa từng có thối thất.
Pháp của Bồ Tát nhập
Là chỗ đi của Phật
Nơi đây rõ biết được
Thời không lòng lười chán.
Như lời chư Phật dạy
Bình đẳng quán các pháp
Chẳng phải nhẫn bất đẳng
Thành được trí bình đẳng.
Tùy thuận lời Phật nói
Thành tựu môn pháp này
Biết rõ đúng như pháp
Cũng chẳng phân biệt pháp.
Trong tam thập tam thiên
Có bao nhiêu thiên tử
Cùng đồng ăn một bát
Đồ ăn đều khác nhau
Đồ ăn riêng nhiều món
Chẳng từ mười phương đến
Đúng theo nghiệp đã tu
Tự nhiên hiện trong bát.
Bồ Tát cũng như vậy
Quán sát tất cả pháp
Đều từ nhân duyên khởi
Vô sanh nên vô diệt
Vô diệt nên vô tận
Vô tận nên vô nhiễm,
Nơi pháp biến dị kia
Biết rõ không biến dị.
Không đổi thời không xứ
Không xứ thời tịch diệt.
Trong lòng không nhiễm trước
Nguyện độ các chúng sanh
Chuyên niệm nơi Phật pháp
Chưa từng có tán động
Mà dùng tâm bi nguyện
Phương tiện đi trong đời.
Siêng cầu nơi thập lực
Ở đời mà chẳng trụ
Không đi cũng không đến
Phương tiện khéo thuyết pháp.
Nhẫn này là trên hết
Biết pháp là vô tận
Vào nơi chân pháp giới
Thật cũng không sở nhập.
Bồ Tát trụ nhần này
Thấy khắp các Như Lai
Đồng thời thọ ký cho
Gọi là thọ Phật chức.
Thấu rõ pháp tam thế
Tướng tịch diệt thanh tịnh
Mà đều độ chúng sanh
Để ở trong đường lành.
Các loại pháp thế gian
Tất cả đều như huyễn
Nếu biết được như vậy
Thời tâm không bị động
Các nghiệp từ tâm sanh
Nên nói tâm như huyễn
Nếu rời phân biệt này
Diệt hết cõi hữu lậu.
Ví như nhà huyễn thuật
Khắp hiện các sắc tượng
Cho chúng luống tham vui
Rốt ráo vô sở đắc.
Thế gian cũng như vậy
Tất cả đều như huyễn
Vô tánh cũng vô sanh
Thị hiện có các thứ.
Độ thoát các chúng sanh
Khiến biết pháp như huyễn
Chúng sanh chẳng khác huyễn
Biết huyễn không chúng sanh.
Chúng sanh và quốc độ
Những pháp trong tam thế
Như vậy đều không thừa
Tất cả đều như huyễn.
Huyễn làm hình nam nữ
Và voi, ngựa, trâu, dê
Nhà cửa, núi, suối, ao
Vườn, rừng, cùng bông, trái
Vật huyễn không trí giác
Cũng không có trụ xứ
Rốt ráo tướng tịch diệt
Chỉ theo phân biệt hiện.
Bồ Tát được như vậy.
Thấy khắp các thế gian
Tất cả pháp hữu vô
Thấu rõ đều như huyễn.
Chúng sanh và quốc độ
Các thứ nghiệp tạo ra
Vào nơi như huyễn tế
Với kia không nương chấp.
Được thiện xảo như vậy
Tịch diệt không hí luận
Trụ nơi bậc vô ngại
Khắp hiện oai lực lớn.
Các Phật tử dũng mãnh
Tùy thuận nhập diệu pháp
Khéo quán tất cả tưởng
Ràng rịt các thế gian.
Các tưởng như dương diệm
Khiến chúng hiểu điên đảo.
Chúng sanh đều riêng khác
Hình loại chẳng phải một
Thấu rõ đều là tưởng
Bỏ rời những điên đảo.
Chúng sanh đều riêng khác
Hình loại chẳng phải một
Thấu rõ đều là tưởng
Tất cả không chân thật.
Các chúng sanh mười phương
Đều bị tưởng che ngăn
Nếu bỏ thấy điên đảo
Thời diệt tưởng thế gian.
Thế gian như dương diệm
Do tưởng có sai khác
Biết thế gian do tưởng
Xa lìa ba điên đảo
Như nắng quá gắt nóng
Người đời cho là nước
Thật ra không có nước
Người trí chẳng nên cầu.
Chúng sanh cũng như vậy
Đời loài đều không có
Như diệm ở nơi tưởng
Cảnh giới tâm vô ngại.
Nếu lìa những vọng tưởng
Cũng lìa những hí luận
Kẻ ngu si chấp tưởng
Đều khiến được giải thoát.
Xa lìa tâm kiêu mgajn
Trừ diệt tưởng thế gian
Ở chỗ tận vô tận
Phương tiện của Bồ Tát.
Bồ Tát biết thế pháp
Tất cả đều như mộng
Chẳng chỗ, chẳng không chỗ
Thể tánh hằng tịch diệt.
Các pháp vô phân biệt
Như mộng, tâm không khác
Tam thế những thế gian
Tất cả đều như vậy.
Tánh mộng không sanh diệt
Cũng không có phương sở
Ba cõi đều như vậy
Người thấy tâm giải thoát.
Mộng chẳng tại thế gian
Chẳng tại phi thế gian
Cả hai chẳng phân biệt
Được nhập nơi bậc nhẫn.
Như trong mộng ngó thấy
Những cảnh loại khác nhau
Thế gian cũng như vậy
Cùng mộng không sai khác.
Người trụ trong mộng định
Biết đời đều như mộng
Chẳng phải một và nhiều
Chúng sanh các cõi, nghiệp.
Tạp nhiễm và thanh tịnh
Như vậy đều biết rõ
Cùng mộng đều bình đẳng.
Hạnh của Bồ Tát làm
Và cùng các đại nguyện
Biết rõ đều như mộng
Cùng thế gian không khác.
Biết thế gian không tịch
Chẳng hoại nơi thế pháp
Như chiêm bao ngó thấy
Những hình sắc dài vắn.
Gọi đây: như mộng nhẫn
Nhân đây biết thế pháp
Mau thành trí vô ngại
Rộng độ các chúng sanh.
Tu hành hạnh như vậy
Xuất sanh trí rộng lớn
Khéo biết các pháp tánh
Nơi pháp tâm không chấp.
Tất cả các thế gian
Những âm thanh sai khác
Chẳng phải trong, chẳng ngoài
Biết đó đều như vang.
Như nghe các tiếng vang
Tâm chẳng sanh phân biệt
Bồ Tát nghe âm thanh
Không phân biệt cũng vậy.
Chiêm ngưỡng các Như Lai
Và nghe nói pháp âm
Diễn khế kinh vô lượng
Dầu nghe mà không chấp.
Như vang không lai khứ
Tiếng đã nghe cũng vậy
Mà hay phân biệt pháp
Cùng pháp không trái lầm.
Khéo biết các âm thanh
Nơi tiếng không phân biệt
Biết tiếng đều không tịch
Khắp phát âm thanh tịnh
Biết pháp chẳng tại lời
Khéo vào vô ngôn tế
Mà hay hiện ngôn thuyết
Như vang khắp thế gian.
Biết rõ ngôn ngữ đạo
Đầy đủ phần âm thanh
Biết thanh tánh không tịch
Dùng thế ngôn để nói
Như âm thanh thế gian
Hiện đồng pháp phân biệt
Tiếng đó đều cùng khắp
Khai ngộ các quần sanh.
Bồ Tát được nhẫn này
Tịnh âm độ thế gina
Khéo diễn thuyết ba đời
Nơi đời không chấp trước.
Vì muốn lợi thế gian
Chuyên ý cầu bồ đề
Mà thường nhập pháp tánh
Nơi đó vô phân biệt.
Quán khắp các thế gian
Tịch diệt không thể tánh
Mà thường làm lợi ích
Tu hành ý chẳng động.
Chẳng trụ nơi thế gian
Cũng chẳng rời thế gian
Nơi thế không sở y
Y xứ bất khả đắc.
Rõ biết tánh thế gian
Nơi tánh không nhiễm trước
Dầu chẳng nương thế gian
Giáo hóa khiến siêu độ.
Bao nhiêu pháp thế gian
Đều biết tự tánh nó
Rõ pháp không có hai
Cũng không chấp không hai
Tâm cũng chẳng rời thế gian
Cũng chẳng trụ thế gian
Chẳng phải ngoài thế gian
Tu hành nhất thiết trí.
Ví như bóng trong nước
Chẳng phải trong chẳng ngoài
Bồ Tát cầu bồ đề
Biết thế chẳng phải thế
Chẳng nơi thế trụ xuất
Vì thế bất khả thuyết
Cũng chẳng trụ trong ngoài
Như bóng hiện thế gian.
Nhập nghĩa thậm thâm này
Lìa nhơ đều sáng suốt
Chẳng bỏ tâm bổn thệ
Đèn trí huệ chiếu khắp.
Thế gina không biên tế
Trí nhập cũng vô biên
Giáo hóa khắp quần sanh
Khiến họ bỏ những chấp.
Quán sát pháp thậm thâm
Lợi ích những quần sanh
Từ đây nhập vào trí
Tu hành tất cả đạo.
Bồ Tát quán các pháp
Biết chắc đều như hóa
Mà tu hạnh như hóa
Rốt ráo trọn chẳng bỏ.
Tuỳ thuận hoá tự tánh
Tu tập đạo bồ đề
Tất cả pháp như hóa
Bồ Tát hạnh cũng vậy.
Tất cả các thế gian
Và cùng vô lượng nghiệp
Bình đẳng đều như hóa
Rốt ráo trụ tịch diệt.
Những Phật trong tam thế
Tất cả cũng như hóa
Bổn nguyện tu các hạnh
Biến hóa thành Như Lai.
Phật dùng đại từ bi
Độ thoát hóa chúng sanh
Độ thoát cũng như hóa
Hóa lực vì thuyết pháp.
Biết thế gian như hóa
Chẳng phân biệt thế gian
Hóa sự nhiều loại khác
Đều do nghiệp sai biệt.
Tu tập hạnh bồ đề
Trang nghiêm nơi hóa thành
Vô lượng khéo trang nghiêm
Như nghiệp làm thế gian.
Pháp này rời phân biệt
Cũng chẳng phân biệt pháp
Cả hai đều tịch diệt
Hạnh Bồ Tát như vậy.
Hóa hải rõ nơi trí
Hóa tánh ấn thế gian
Hóa chẳng phải sanh diệt
Trí huệ cũng như vậy
Nhẫn thứ mười quán rõ
Chúng sanh và các pháp
Thể tánh đều tịch diệt
Không xứ sở như không
Được trí như không này
Lìa hẳn các chấp trước
Như hư không vô tướng
Nơi thế gian vô ngại
Thành tựu sức không nhẫn
Như hư không vô tận
Cảnh giới như hư không
Chẳng phân biệt hư không.
Hư không không thể tánh
Cũng chẳng phải đoạn diệt
Cũng không những sai khác
Trí lực cũng như vậy
Hư không không sơ tế
Cũng không có trung, hậu
Lượng đó bất khả đắc
Trí Bồ Tát cũng vậy.
Quán pháp tánh như vậy
Tất cả như hư không
Không sanh cũng không diệt
Sở đắc của Bồ Tát.
Tự trụ pháp như không
Lại vì chúng sanh nói
Hàng phục tất cả ma
Phương tiện của nhẫn này.
Tướng thế gian sai khác
Đều không chẳng có tướng
Vào nơi chỗ vô tướng
Các tướng đều bình đẳng
Chỉ dùng một phương tiện
Vào khắp các thế gian
Là biết pháp tam thế
Đều đồng tánh hư không.
Trí huệ cùng âm thanh
Và thân của Bồ Tát
Tánh đó như hư không
Tất cả đều tịch diệt.
Mười thứ nhẫn như vậy
Phật tử đã tu hành
Tâm họ khéo an trụ
Rộng vì chúng sanh nói.
Nơi đây khéo tu học
Thành tựu sức quảng đại
Pháp lực và trí lực
Là phương tiện bồ đề.
Thông đạt môn  nhẫn này
Thành tựu trí vô ngại
Vượt hơn tất cả chúng
Chuyển pháp luân vô thượng.
Hạnh quảng đại đã tu
Lượng đó bất khả đắc
Điều ngự sư trí hải
Mới phân biệt biết được
Bỏ ngã mà tu hành
Nhập vào pháp tánh sâu
Tâm thường trụ tịnh pháp
Dùng đây thí quần sanh.
Chúng san và sát trần
Còn biết được số đó
Công đức của Bồ Tát
Không thể biết hạn lượng.
Bồ Tát hay thành tựu
Mười thứ nhẫn như vậy
Trí huệ và công hạnh
Chúng sanh chẳng lường được.









Tôi nhìn em, đôi mắt ở đậu,
Giữa cõi mê, tôi ở thật lâu,
Em cũng hiểu, cho nên cười nụ,
Chút mưu toan, khơi một bể sầu.
canary
0



Kinh Hoa Nghiêm
Tập 5

Phẩm a tăng kỳ
Thứ ba mươi



Bấy giờ, Tâm Vương Bồ Tát bạch Phật rằng:  "Bạch Thế Tôn!  Chư Phật Thế Tôn diễn nói a tăng kỳ, vô lượng, vô biên, vô đẳng, bất khả sổ, bất khả xưng, bất khả tư, bất khả lượng, bất khả thuyết, bất khả thuyết bất khả thuyết.
Bạch Thế Tôn!  Thế nào là a tăng kỳ nhẫn đến bất khả thuyết bất khả thuyết?"
Phật bảo Tâm Vương Bồ Tát:  "Lành thay!  Lành thay!  Này thiện nam tử!  Nay ngươi muốn cho các thế gian nhập vào nghĩa số lượng của Phật đã biết mà hỏi đức Như Lai Ứng Đẳng Chánh Giác.
Thiện nam tử lóng nghe lóng nghe!  Khéo suy gẫm, Phật sẽ vì ngươi mà nói."
Tâm Vương Bồ Tát kính vâng thọ giáo.
Phật nói: "Này thiện nam tử!  Một trăm lạc xoa (1) làm một câu chi.  Câu chi lần câu chi làm một a giu đa.  A giu đa lần a giu đa làm một na do tha.  Na do tha lần na do tha làm một tần bà la.  Tần bà la lần tần bà la làm một căn yết la.  Căn yết la lần căn yết la làm một a già la.  A già la lần a già la làm một tối thắng.  Tối thắng lần tối thắng làm một ma bã la.  Ma bã la lần ma bã la làm một a bã la.  A bã la lần a bã la làm một đa bã la.  Đa bã la lần đa bã la làm một giới phần.  Giới phần lần giới phần làm một phổ ma.  Phổ ma lần phổ ma làm một nễ ma.  Nễ ma lần nễ ma làm một a bã câm.  A bã câm lần a bã câm làm một di già bà.  Di già bà lần di già bà làm một tỳ lã già.  Tỳ lã già lần tỳ lã già làm một tỳ già bà.  Tỳ già bà lần tỳ già bà làm một tăng yết lã ma.  Tăng yết lã ma lần tăng yết lã ma làm một tỳ tát la.  Tỳ tát la lần tỳ tát la làm một tỳ chiêm bà.  Tỳ chiêm bà lần tỳ chiêm bà làm một tỳ thạnh già.  Tỳ thạnh già lần tỳ thạnh già làm một tỳ tố đà.  Tỳ tố đà lần tỳ tố đà làm một tỳ bà ha.  Tỳ bà ha lần tỳ bà ha làm một tỳ bạc để.  Tỳ bạc để lần tỳ bạc để làm một tỳ khư đảm.  Tỳ khư đảm lần tỳ khư đảm làm một xứng lượng.  Xứng lượng lần xứng lượng làm một nhất trì.  Nhất trì lầ nhất trì làm một dị lộ.  Dị lộ lần dị lộ làm một điên đảo.  Điên đảo lần điên đảo làm một tam mạt gia.  Tam mạt gia lần tam mạt gia làm một tỳ đỗ la.  Tỳ đỗ la lần tỳ đỗ la làm một hề bã la.  Hề bã la lần hề bã la làm một từ tế.  Từ tế lần từ tế làm một châu quảng.  Châu quảng lần châu quảng làm một cao xuất.  Cao xuất lần cao xuất làm một tối diệu.  Tối diệu lần tối diệu làm một nê la bà.  Nê la bà lần nê la bà làm một a lý bà.  A lý bà lần a lý bà làm một nhất động.  Nhất động lần nhất động làm một ha lý bồ.  Ha lý bồ lần ha lý bồ làm một ha lý tam.  Ha lý tam lần ha lý tam lầm một hề lỗ già.  Hề lỗ già lần hề lỗ già làm một đạt lã bộ đà.  Đạt lã bộ đà lần đạt lã bộ đà làm một a lỗ na.  A lỗ na lần a lỗ na làm một ma lỗ đà.  Ma lỗ đà lần ma lỗ đà làm một sám mạc đà.  Sám mạc đà lần sám mạc đà làm một y lã đà.  Y lã đà lần y lã đà làm một ma lỗ ma.  Ma lỗ ma lần ma lỗ ma là một điều phục.  Điều phục lần điều phục làm một ly kiêu mạn.  Ly kiêu mạn lần ly kiêu mạn làm một bất động.  Bất động lần bất động làm một cực lượng.  Cực lượng lần cực lượng làm một a mạ đát la.  A mạ đát la lần a mạ đát la làm một bột mạ đát la.  Bột mạ đát la lần bột mạ đát la làm một già mạ đát la.  Già mạ đát la lần già mạ đát la làm một na mạ đát la.  Na mạ đát la lần na mạ đát la làm một hề mạ đát la.  Hề mạ đát la lần hề mạ đát la làm một tỳ mạ đát la.  Tỳ mạ đát la lần tỳ mạ đát la làm một bát la mạ đát la.  Bát la mạ đát la lần bát la mạ đát la làm một thi bà mạ đát la.  Thi bà mạ đát la lần thi bà mạ đát la làm một ế la.  Ế la lần ế la làm một tiết la.  Tiết la lần tiết la làm một đế la.  Đế la lần đế la làm một kệ la.  Kệ la lần kệ la làm một túy bộ la.  Túy bộ la lần túy bộ la làm một nê la.  Nê la lần nê la làm một kế la.  Kế la lần kế la làm một tế la.  Tế la lần tế la làm một tỳ la.  Tỳ la lần tỳ la làm một mế la.  Mế la lần mế la làm mộtu ta lã đồ.  Ta lã đồ lần ta lã đồ làm một mế lỗ đà.  Mế lỗ đà lần mế lỗ đà làm một khế lỗ đà.  Khế lỗ đà lần khế lỗ đà làm một ma đỗ la.  Ma đỗ la lần ma đỗ la làm một ta mẫu la.  Ta mẫu la lần ta mẫu la làm một a dã ta.  A dã ta lần a dã ta làm một ca mạ la.  Ca mạ la lần ca mạ la làm một ma già bà.  Ma già bà lần ma già bà làm một a đát la.  A đát la lần a đát la làm một hê lỗ gia.  Hê lỗ gia lần hê lỗ gia làm một tiết lỗ bà.  Tiết lỗ bà lần tiết lỗ bà làm một yết la ba.  Yết la ba lần yết la ba làm một ha bà bà.  Ha bà bà lần ha bà bà làm một tỳ bã la.  Tỳ bã la lần tỳ bã la làm một na bã la.  Na bã la lần na bã la làm một ma lã la.  Ma lã la lần ma lã la làm một ta bã la.  Ta bã la lần ta bã la làm một mế lã lỗ.  Mế lã lỗ lần mế lã lỗ làm một giả mạ la.  Giả mạ la lần giả mạ la làm một đà mạ la.  Đà mạ la lần đà mạ la làm một tỳ già ma.  Tỳ già ma lần tỳ già ma làm một ô ba bạt đa.  Ô ba bạt đa lần ô ba bạt đa làm một diễn thuyết.  Diễn thuyết lần diễn thuyết làm một vô tận.  Vô tận lần vô tận làm một xuất sanh.  Xuất sanh lần xuất sanh làm một vô ngã.  Vô ngã lần vô ngã làm một a bạn đa.  A bạn đa lần a bạn đa làm một thanh liên hoa.  Thanh liê hoa lần thanh liên hoa làm một bát đầu ma.  Bát đầu ma lần bát đầu ma làm một tăng kỳ.  Tăng kỳ lần tăng kỳ làm một thú.  Thú lần thú làm một chí.  Chí lần chí làm một a tăng kỳ.  A tăng kỳ lần a tăng kỳ làm một a tăng kỳ chuyển.  A tăng kỳ chuyển lần a tăng kỳ chuyển làm một vô lượng.  Vô lượng lần vô lượng làm một vô lượng chuyển.  Vô lượng chuyển lần vô lượng chuyển làm một vô biên.  Vô biên lần vô biên làm một vô biên chuyển.  Vô biên chuyển lần vô biên chuyển làm một vô đẳng.  Vô đẳng lần vô đẳng làm một vô đẳng chuyển.  Vô đẳng chuyển lần vô đẳng chuyển làm một bất khả sổ.  Bất khả sổ lần bất khả sổ làm một bất khả sổ chuyển.  Bất khả sổ chuyển lần bất khả sổ chuyển làm một bất khả xưng.  Bất khả xưng lần bất khả xưng làm một bất khả xưng chuyển.  Bất khả xưng chuyển lần bất khả xưng chuyển làm một bất khả tư.  Bất khả tư lần bất khả tư làm một bất khả tư chuyển.  Bất khả tư chuyển lần bất khả tư chuyển làm một bất khả lượng.  Bất khả lượng lần bất khả lượng làm một bất khả lượng chuyển.  Bất khả lượng chuyển lần bất khả lượng chuyển làm một bất khả thuyết.  Bất khả thuyết lần bất khả thuyết làm một bất khả thuyết chuyển.  Bất khả thuyết chuyển lần bất khả thuyết chuyển làm một bất khả thuyết bất khả thuyết.  Và bất khả thuyết bất khả thuyết lần bất khả thuyết bất khả thuyết làm một bất khả thuyết bất khả thuyết chuyển."
Đức Thế Tôn vì Tâm Vương Bồ Tát mà nói kệ rằng:
Bất khả ngôn thuyết bất khả thuyết
Sung mãn tất cả bất khả thuyết
Trong những kiếp bất khả ngôn thuyết
Nói bất khả thuyết chẳng hết được.
Bất khả ngôn thuyết các cõi Phật
Thảy đều nghiền nát làm vi trần
Trong một trần, bất khả thuyết cõi
Như một, tất cả đều như vậy.
Bất khả thuyết cõi Phật trên đây
Một niệm nghiền trần bất khả thuyết
Mỗi niệm nghiền nát cũng như vậy
Suốt bất khả thuyết kiếp luôn nghiền
Mỗi trần có bất khả thuyết cõi
Cõi này làm trần nói khó hơn
Dùng pháp toán số bất khả thuyết
Bất khả thuyết kiếp đếm như vậy.
Dùng những trần này đếm các kiếp
Một trần mười vạn bất khả thuyết
Kiếp ấy xưng tán một Phổ Hiền
Tất cả đầu lông đều cũng vậy
Lần lượt nhẫn đến khắp pháp giới.
Nơi đầu một lông có những cõi
Số đó vô lượng bất khả thuyết
Khắp lượng hư không những đầu lông
Nơi mỗi lông số cõi cũng vậy.
Những cõi nước nơi đầu lông kia
Vô lượng chủng loại trụ sai khác.
Có bất khả thuyết cõi các loại
Có bất khả thuyết cõi đồng loại
Ở trên bất khả thuyết đầu lông
Đều có cõi tịnh bất khả thuyết
Nhiều thứ trang nghiêm bất khả thuyết
Nhiều thứ kỳ diệu bất khả thuyết.
Ở trên mỗi mỗi đầu lông kia
Diễn bất khả thuyết danh hiệu Phật
Mỗi mỗi danh hiệu có Như Lai
Đều bất khả thuyết bất khả thuyết.
Ở trên thân mỗi đức Như Lai
Hiện bất khả thuyết lỗ chân lông
Trong mỗi mỗi lỗ chân lông kia
Hiện những sắc tướng bất khả thuyết.
Bất khả ngôn thuyết lỗ chân lông
Đều phóng quang minh bất khả thuyết
Ở trong mỗi mỗi quang minh kia
Đều hiện liên hoa bất khả thuyết.
Ở trong mỗi mỗi liên hoa kia
Đều có những cánh bất khả thuyết
Trong cánh của bất khả thuyết hoa
Đều hiện sắc tướng bất khả thuyết.
Trong những sắc bất khả thuyết kia
Lại hiện cánh hoa bất khả thuyết
Trong hoa quang minh bất khả thuyết
Trong hoa sắc tướng bất khả thuyết
Trong sắc tướng bất khả thuyết này
Mỗi mỗi hiện quang bất khả thuyết
Trong quang hiện nguyệt bất khả thuyết
Nguyệt lại hiện nguyệt bất khả thuyết.
Trong bất khả thuyết những mặt nguyệt
Mỗi nguyệt hiện quang bất khả thuyết
Nơi trong mỗi mỗi quang minh kia
Lại hiện mặt nhật bất khả thuyết.
Ở trong bất khả thuyết mặt nhật
Mỗi mỗi hiện sắc bất khả thuyết
Ở trong mỗi mỗi những sắc kia
Lại hiện quang minh bất khả thuyết.
Ở trong mỗi mỗi quang minh kia
Hiện bất khả thuyết tòa sư tử
Mỗi tòa trang nghiêm bất khả thuyết
Mỗi nghiêm quang minh bất khả thuyết.
Trong quang diệu sắc bất khả thuyết
Trong sắc tịnh quang bất khả thuyết
Ở trong mỗi mỗi tịnh quang kia
Lại hiện các thứ diệu quang minh.
Quang này lại hiện các thứ quang
Bất khả ngôn thuyết bất khả thuyết
Trong các thứ quang minh như vậy
Đều hiện diệu bửu như tu di.
Trong mỗi quang minh hiện diệu bửu
Bất khả ngôn thuyết bất khả thuyết
Một diệu bửu như tu di kia
Hiện những cõi nước bất khả thuyết.
Hết bửu tu di không còn thừa
Thị hiện cõi nước đều như vậy
Đem mỗi cõi nước nghiền làm trần
Mỗi trần sắc tướng bất khả thuyết.
Những cõi làm trần, trần có tướng
Bất khả ngôn thuyết bất khả thuyết
Các loại trần tướng như thế kia
Đều phát quang minh bất khả thuyết.
Trong quang hiện Phật bất khả thuyết
Pháp của Phật nói bất khả thuyết
Trong pháp diệu kệ bất khả thuyết
Nghe kệ được hiểu bất khả thuyết.
Hiểu bất khả thuyết trong mỗi niệm
Hiểu rõ chân đế bất khả thuyết
Thị hiện vị lai tất cả Phật
Thường diễn thuyết pháp không cùng tận.
Mỗi mỗi Phật pháp bất khả thuyết
Các thứ thanh tịnh bất khả thuyết
Xuất diệu âm thanh bất khả thuyết
Chuyển chánh pháp luân bất khả thuyết
Ở trong mỗi mỗi pháp luân kia
Diễn nói khế kinh bất khả thuyết
Ở trong mỗi moiox khế kinh kia
Phân biệt pháp môn bất khả thuyết
Ở trong mỗi mỗi pháp môn kia
Lại nói những pháp bất khả thuyết
Ở trong mỗi mỗi những pháp kia
Điều phục chúng sanh bất khả thuyết.
Hoặc lại ở trong một đầu lông
Bất khả thuyết kiếp thường an trụ
Như một đầu lông khác cũng vậy
Số kiếp an trụ đều thế cả.
Tâm đó vô ngại bất khả thuyết
Biến hóa chư Phật bất khả thuyết
Mỗi mỗi biến hóa các Như Lai
Lại hiện biến hóa bất khả thuyết.
Phật kia pháp thân bất khả thuyết
Trang nghiêm vô lượng bất khả thuyết
Qua đến mười phương bất khả thuyết.
Đi đến quốc độ bất khả thuyết
Quán sát chúng sanh bất khả thuyết
Thanh tịnh chúng sanh bất khả thuyết
Điều phục chúng sanh bất khả thuyết.
Những trang nghiêm kia bất khả thuyết
Những thần lực kia bất khả thuyết
Những tự tại kia bất khả thuyết
Những thần biến kia bất khả thuyết.
Sở hữu thần thông bất khả thuyết
Sở hữu cảnh giới bất khả thuyết
Sở hữu đa trì bất khả thuyết
Sở trụ thế gian bất khả thuyết.
Thanh tịnh thật tướng bất khả thuyết
Nói tu đa la bất khả thuyết
Nơi mỗi mỗi tu đa la kia
Diễn nói pháp môn bất khả thuyết.
Ở trong mỗi mỗi pháp môn kia
Lại nói các pháp bất khả thuyết.
Ở trong mỗi mỗi chánh pháp kia
Sở hữu quyết định bất khả thuyết.
Ở trong mỗi mỗi quyết định kia
Điều phục chúng sanh bất khả thuyết
Bất khả ngôn thuyết pháp đồng loại
Bất khả ngôn thuyết tâm đồng loại.
Bất khả ngôn thuyết pháp dị loại
Bất khả ngôn thuyết tâm dị loại
Bất khả ngôn thuyết căn dị loại
Bất khả ngôn thuyết ngữ dị loại.
Niệm niệm những chỗ du hành
Điều phục chúng sanh bất khả thuyết
Sở hữu thần biến bất khả thuyết
Sở hữu thị hiện bất khả thuyết
Trong đó thời kiếp bất khả thuyết
Trong đó sai biết bất khả thuyết
Bồ Tát đều hay phân biệt nói
Người giỏi tính đếm không biện được.
Chỗ một đầu lông cõi lớn nhỏ
Tạp nhiễm thanh tịnh cõi thô tế
Tất cả như vậy bất khả thuyết
Mỗi mỗi rõ ràng phân biệt được.
Đem một cõi nước nghiền làm bụi
Bụi đó vô lượng bất khả thuyết
Trần số vô biên cõi như vậy
Đều đến đồng nhóm đầu một lông.
Những cõi nước này bất khả thuyết
Đồng nhóm đầu lông không chật hẹp
Chẳng khiến đầu lông có thêm lớn
Mà những cõi kia chung đến nhóm.
Trên lông tất cả nhưng cõi nước
Hình tướng như cũ không tạp loạn
Như một cõi chẳng loạn các cõi
Tất cả cõi nước đều như vậy.
Hư không cảnh giới không biên tế
Đều để trên lông khiến đầy đủ
Đầu lông cõi nước như vậy thảy
Bồ Tát một niệm đều hay nói.
Trong một lỗ lông rất nhỏ bé
Bất khả thuyết cõi tuần tự vào
Lỗ lông hay chứa những cõi kia
Các cõi chẳng khắp lỗ lông được.
Lúc nhập kiếp số bất khả thuyết
Lúc thọ kiếp số bất khả thuyết
Ở lúc hàng liệt an trụ
Tất cả những kiếp không nói được.
Nhiếp thọ an trụ như vậy rồi
Sở hữu cảnh giới bất khả thuyết
Lúc nhập phương tiện bất khả thuyết
Nhập rồi chỗ làm bất khả thuyết.
Ý căn sáng tỏ bất khả thuyết
Du lịch các phương bất khả thuyết
Dũng mãnh tinh tấn bất khả thuyết
Tư tại thần biến bất khả thuyết
Sở hữu tư duy bất khả thuyết
Sở hữu đại nguyện bất khả thuyết
Sở hữu cảnh giới bất khả thuyết
Tất cả thông đạt bất khả thuyết.
Thân nghiệp thanh tịnh bất khả thuyết
Ngữ nghiệp thanh tịnh bất khả thuyết
Ý nghiệp thanh tịnh bất khả thuyết
Tín giải thanh tịnh bất khả thuyết
Diệu trí thanh tịnh bất khả thuyết
Diệu huệ thanh tịnh bất khả thuyết
Rõ các thật tướng bất khả thuyết
Dức các nghi lầm bất khả thuyết.
Xuất ly sanh tử bất khả thuyết
Siêu thăng chánh vị bất khả thuyết
Tam muội thâm bất khả thuyết
Tỏ thấu tất cả bất khả thuyết.
Tất cả chúng sanh bất khả thuyết
Biết tâm họ muốn bất khả thuyết
Biết nghiệp quả họ bất khả thuyết
Biết ý giải họ bất khả thuyết
Biết phẩm loại họ bất khả thuyết
Biết chủng tánh họ bất khả thuyết.
Biết họ thọ thân bất khả thuyết
Biết chỗ họ sanh bất khả thuyết
Biết họ đương sanh bất khả thuyết
Biết họ sanh rồi bất khả thuyết.
Biết họ hiểu rõ bất khả thuyết
Biết họ xu hướng bất khả thuyết
Biết họ ngôn ngữ bất khả thuyết
Biết họ tác nghiệp bất khả thuyết.
Bồ Tát đại từ bi như vậy
Lợi ích tất cả các thế gian
Hiện khắp thân mình bất khả thuyết
Vào các cõi Phật bất khả thuyết
Thấy các Bồ Tát bất khả thuyết
Pháp sanh trí huệ bất khả thuyết
Thỉnh nói chánh pháp bất khả thuyết
Biển bày Phật giáo bất khả thuyết
Hiện các thứ thân bất khả thuyết
Đến các cõi nước bất khả thuyết
Thị hiện thần thông bất khả thuyết
Khắp cùng mười phương bất khả thuyết
Xứ xứ phân thân bất khả thuyết
Gần gũi chư Phật bất khả thuyết
Sắm đồ cúng dường bất khả thuyết
Nhiều thứ vô lượng bất khả thuyết.
Bửu vật thanh tịnh bất khả thuyết
Liên hoa thượng diệu bất khả thuyết
Tràng thơm tối thắng bất khả thuyết
Cúng dường Như Lai bất khả thuyết.
Tín tâm thanh tịnh bất khả thuyết
Ngộ giải tối thắng bất khả thuyết
Chí nguyện tăng thượng bất khả thuyết
Cung kính chư Phật bất khả thuyết.
Tu hành bố thí bất khả thuyết
Tâm đó quá khứ bất khả thuyết
Có cầu đều thí bất khả thuyết
Tất cả đều thí bất khả thuyết
Trì giới thanh tinh bất khả thuyết
Tâm ý thanh tịnh bất khả thuyết
Tán thán chư Phật bất khả thuyết
Mến thích chánh pháp bất khả thuyết.
Thành tựu các nhẫn bất khả thuyết
Vô sanh pháp nhẫn bất khả thuyết
Đầy đủ tịch tịnh bất khả thuyết
Trụ tịch tịnh địa bất khả thuyết.
Khởi đại tinh tấn bất khả thuyết
Tâm đó quá khứ bất khả thuyết
Tâm chẳng thối chuyển bất khả thuyết
Tâm chẳng khuynh động bất khả thuyết
Tất cả định tạng bất khả thuyết
Quan sát các pháp bất khả thuyết
Tịch nhiên tại định bất khả thuyết.
Tỏ thấu các thiền bất khả thuyết
Trí huệ thông đạt bất khả thuyết
Tam muội tự tại bất khả thuyết
Tỏ thấu các pháp bất khả thuyết
Thấy rõ chư Phật bất khả thuyết.
Tu vô lượng hạnh bất khả thuyết
Phát quảng đại nguyện bất khả thuyết
Cảnh giới thậm thâm bất khả thuyết
Pháp môn thanh tịnh bất khả thuyết.
Bồ Tát pháp lực bất khả thuyết
Bồ Tát pháp trụ bất khả thuyết
Những chánh niệm kia bất khả thuyết
Những pháp giới kia bất khả thuyết.
Tu trí phương tiện bất khả thuyết
Học trí thậm thâm bất khả thuyết
Vô lượng trí huệ bất khả thuyết
Trí huệ rốt ráo bất khả thuyết
Những pháp trí kia bất khả thuyết
Tịnh pháp luân kia bất khả thuyết
Đại pháp vân kia bất khả thuyết
Đại pháp vũ kia bất khả thuyết
Những thần lực kia bất khả thuyết
Những phương tiện kia bất khả thuyết
Nhập trí không tịch bất khả thuyết
Niệm niệm tiếp nối bất khả thuyết.
Vô lượng hạnh môn bất khả thuyết
Niệm niệm hằng trụ bất khả thuyết
Chư Phật sát hải bất khả thuyết
Đều hay qua đến bất khả thuyết.
Các cõi sai biệt bất khả thuyết
Các thứ thanh tịnh bất khả thuyết
Sai biệt trang nghiêm bất khả thuyết
Vô biên sắc tướng bất khả thuyết
Các thứ xen lẫn bất khả thuyết
Cac thứ xinh đẹp bất khả thuyết
Cõi Phật thanh tịnh bất khả thuyết
Thế giới tạp nhiễm bất khả thuyết.
Biết rõ chúng sanh bất khả thuyết
Biết chủng tánh họ bất khả thuyết
Biết nghiệp báo họ bất khả thuyết
Biết tâm hành họ bất khả thuyết.
Biết căn tánh họ bất khả thuyết
Biết giải dục họ bất khả thuyết
Tạp nhiễm thanh tịnh bất khả thuyết
Quán sát điều phục bất khả thuyết.
Biến hóa tự tại bất khả thuyết
Hiện nhiều loại thân bất khả thuyết
Tu hành tinh tấn bất khả thuyết
Độ thoát chúng sanh bất khả thuyết
Thị hiện thần biến bất khả thuyết
Phóng đại quang minh bất khả thuyết
Các thứ sắc tướng bất khả thuyết
Khiến chúng sanh tịnh bất khả thuyết.
Mỗi mỗi lỗ lông bất khả thuyết
Phóng lưới quang minh bất khả thuyết
Lưới quang hiện sắc bất khả thuyết
Chiếu khắp cõi Phật bất khả thuyết.
Dũng mãnh vô úy bất khả thuyết
Phương tiện thiện xảo bất khả thuyết
Điều phục chúng sanh bất khả thuyết
Khiến thoát sanh tử bất khả thuyết.
Thân nghiệp thanh tịnh bất khả thuyết
Ngữ nghiệp thanh tịnh bất khả thuyết
Ý nghiệp thanh tịnh bất khả thuyết
Diệu hạnh thù thắng bất khả thuyết.
Thành tựu trí bửu bất khả thuyết
Thâm nhập pháp giới bất khả thuyết
Bồ Tát tổng trì bất khả thuyết
Khéo hay tu học bất khả thuyết.
Âm thanh bậc trí bất khả thuyết
Âm thanh thanh tịnh bất khả thuyết
Chánh niệm chân thật bất khả thuyết
Khai ngộ chúng sanh bất khả thuyết.
Đầy đủ oai nghi bất khả thuyết
Thanh tịnh tu hành bất khả thuyết
Thành tựu vô úy bất khả thuyết
Điều phục thế gian bất khả thuyết.
Những chúng Phật tử bất khả thuyết
Thắng hạnh thanh tịnh bất khả thuyết
Ngợi khen chư Phật bất khả thuyết
Ngợi khen vô tận bất khả thuyết.
Thế gian đạo sư bất khả thuyết
Diễn thuyết khen ngợi bất khả thuyết
Chư Bồ Tát kia bất khả thuyết
Công đức thanh tịnh bất khả thuyết.
Các biên tế kia bất khả thuyết
Hay trụ trong đó bất khả thuyết
Trí huệ trong trụ bất khả thuyết
Hết những kiếp trụ không nói được.
Mến thích chư Phật bất khả  thuyết
Trí huệ bình đẳng bất khả thuyết
Khéo vào các pháp bất khả thuyết
Nơi pháp vô ngại bất khả thuyết.
Tam thế như không bất khả thuyết
Tam thế trí huệ bất khả thuyết
Thấu rõ tam thế bất khả thuyết
Trụ nơi trí huệ bất khả thuyết
Diệu hạnh thù thắng bất khả thuyết
Vô lượng đại nguyện bất khả thuyết
Đại nguyện thanh tịnh bất khả thuyết
Thành tựu bồ đề bất khả thuyết
Chư Phật bồ đề bất khả thuyết
Phân biẹt nghĩa lý bất khả thuyết
Biết tất cả pháp bất khả thuyết.
Nghiêm tịnh cõi Phật bất khả thuyết
Tu hành các lực bất khả thuyết
Tu tập lâu dài bất khả thuyết
Một niệm ngộ giải bất khả thuyết
Chư Phật tự tại bất khả thuyết
Diễn rộng chánh pháp bất khả thuyết
Các thứ thần lực bất khả thuyết
Thị hiện thế gian bất khả thuyết
Thanh tịnh pháp luân bất khả thuyết.
Dũng mãnh hay chuyển bất khả thuyết
Các thứ khai diễn bất khả thuyết
Thương xót thế gian bất khả thuyết.
Bất khả ngôn thuyết tất cả kiếp
Khen những công đức bất khả thuyết
Bất khả thuyết kiếp còn hết được
Bất khả thuyết đức chẳng thể hết.
Bất khả ngôn thuyết chư Như Lai
Bất khả ngôn thuyết những thật căn
Ken bất khả thuyết đức của Phật
Bất khả thuyết kiếp không hết được.
Mười phương tất cả các chúng sanh
Tất cả đồng thời thành chánh giác
Ở trong một Phật hay hiện khắp
Bất khả ngôn thuyết tất cả thân.
Một thân trong số bất khả thuyết
Thị hiện ra đầu bất khả thuyết
Một đầu trong số bất khả thuyết
Thị hiện ra lưỡi bất khả thuyết
Một lưỡi trong số bất khả thuyết
Thị hiện âm thanh bất khả thuyết.
Một thanh trong số bất khả thuyết
Trải qua kiếp trụ bất khả thuyết.
Như một, tất cả Phật đều vậy,
Như một, tất cả thân đều vậy,
Như một, tất cả đầu đều vậy,
Như một, tất cả lưỡi đều vậy,
Như một, tất cả tiếng đều vậy,
Bất khả thuyết kiếp thường khen Phật,
Bất khả thuyết kiếp còn hết được
Công đức khen Phật không hết được.
Trong một vi trần hay có được
Bất khả ngôn thuyết cõi liên hoa
Trong mỗi mỗi cõi liên hoa kia
Hiền Thủ Như Lai bất khả thuyết.
Nhẫn đến pháp giới đều cùng khắp
Trong đó tất cả những vi trần
Thế gian hoặc thành hoặc trụ, hoại
Số đó vô lượng bất khả thuyết.
Chỗ một vi trần không biên tế
Vô lượng cõi nước khắp vào đến
Mười phương sai biệt bất khả thuyết
Sát hải an bày bất khả thuyết.
Trong mỗi mỗi cõi Như Lai
Thọ mạng kiếp số bất khả thuyết
Chư Phật sở hành bất khả thuyết
Thần thông đại lực bất khả thuyết
Trí không chướng ngại bất khả thuyết
Vào nơi lỗ lông bất khả thuyết
Lỗ lông nhân duyên bất khả thuyết
Thành tựu thập lực bất khả thuyết
Giác ngộ bồ đề bất khả thuyết
Nhập tịnh pháp giới bất khả thuyết
Được trí tạng sâu bất khả thuyết.
Các thứ số lượng bất khả thuyết
Như kia tất cả đều biết rõ.
Những thứ hình lượng bất khả thuyết
Nơi đây tất cả đều thông đạt.
Các thứ tam muội bất khả thuyết
Đều hay nhiều kiếp trụ ở trong
Ở chỗ bất khả thuyết chư Phật
Tu hành thanh tịnh bất khả thuyết
Được bất khả thuyết tâm vô ngại
Qua đến mười phương bất khả thuyết
Thần lực thị hiện bất khả thuyết
Chỗ làm vô tế bất khả thuyết.
Qua đến các cõi bất khả thuyết
Rõ thấu chư Phật bất khả thuyết
Tinh tấn dũng mãnh bất khả thuyết
Trí huệ thông đạt bất khả thuyết.
Nơi pháp chẳng làm chẳng không làm
Vào các cảnh giới bất khả thuyết
Bất khả xưng thuyết những đại kiếp
Hằng đi mười phương bất khả thuyết.
Phương tiện trí huệ bất khả thuyết
Chân thật trí huệ bất khả thuyết
Thần thông trí huệ bất khả thuyết
Niệm niệm thị hiện bất khả thuyết
Nơi bất khả thuyết các Phật pháp
Mỗi mỗi biết rõ bất khả thuyết
Hay trong nhất thời chứng bồ đề
Hoặc nhiều thế gian mà chứng nhập.
Đầu lông cõi Phật bất khả thuyết
Trong trần cõi Phật bất khả thuyết
Cõi Phật như vậy đều qua đến
Thấy chư Như Lai bất khả thuyết.
Thông đạt nhất thật bất khả thuyết
Khéo vào Phật chủng bất khả thuyết
Chư Phật quốc độ bất khả thuyết
Đều hay qua đến thành bồ đề.
Cõi nước chúng sanh và chư Phật
Thể tánh sai biệt bất khả thuyết
Tam thế như vậy không biên tế
Bồ Tát tất cả đều thấy rõ.







Tôi nhìn em, đôi mắt ở đậu,
Giữa cõi mê, tôi ở thật lâu,
Em cũng hiểu, cho nên cười nụ,
Chút mưu toan, khơi một bể sầu.
canary
0
Kinh Hoa Nghiêm
Tập 5

Phẩm thọ lượng
Thứ ba mươi mốt



Bấy giờ, Tâm Vương Bồ Tát ở trong chúng hội bảo chư Bồ Tát rằng: "Chư Phật tử!  Ở Ta Bà thế giới, cõi của Thích Ca Mâu Ni Phật đây một kiếp, nơi Cực Lạc thế giới, cõi A Di Đà Phật là một ngày một đêm.
Một kiếp ở Cực Lạc thế giới là một ngày một đêm nơi Ca Sa Tràng thế giới, cõi của Kim Cang Kiên Phật.
Một kiếp ở Ca Sa Tràng thế giới là một ngày một đêm nơi Bất Thối Chuyển Âm Thanh Luân thế giới, cõi của Thiện Thắng Quang Minh Liên Hoa Khai Phu Phật.
Một kiếp ở Bất Thối Chuyển Âm Thanh Luân thế giới là một ngày một đêm nơi Ly Cấu thế giới, cõi của Pháp Tràng Phật.
Một kiếp ở Ly Cấu thế giới là một ngày một đêm nơi Thiện Đăng thế giới, cõi của Sư Tử Phật.
Một kiếp ở Thiện Đăng thế giới là một ngày một đêm nơi Diệu Quang Minh thế giới, cõi của Quang Minh Tạng Phật.
Một kiếp ở Diệu Quang Minh thế giới là một ngày một đêm nơi Nan Siêu Quá thế giới, cõi của Pháp Quang Minh Liên Hoa Khai Phu Phật.
Một kiếp ở Nan Siêu Quá thế giới là một ngày một đêm nơi Trang Nghiêm Huệ thế giới, cõi của Nhất Thiết Thần Thông Quang minh Phật.
Một kiếp ở Trang Nghiêm Huệ thế giới là một ngày một đêm nơi Cảnh Quang Minh thế giới, cõi của Nguyệt Trí Phật.
Chư Phật tử!  Tuần tự như vậy, nhẫn đến quá trăm vạn a tăng kỳ thế giới, một kiếp ở thế giới rốt sau là một ngày một đêm nơi Thắng Liên Hoa thế giới, cõi của Hiền Thắng Phật.  Phổ Hiền Bồ Tát và chư đại Bồ Tát đồng hạnh đông đầy trong thế giới Thắng Liên Hoa này."








Tôi nhìn em, đôi mắt ở đậu,
Giữa cõi mê, tôi ở thật lâu,
Em cũng hiểu, cho nên cười nụ,
Chút mưu toan, khơi một bể sầu.
canary
0
Kinh Hoa Nghiêm
Tập 5

Phẩm chư Bồ Tát trụ xứ
Thứ ba mươi hai


Bấy giờ, Tâm Vương Bồ Tát ở trong chúng hội bảo chư Bồ Tát rằng: "Chư Phật tử!  Phương đông có một nơi tên là Tiên Nhân Sơn, từ xưa đến nay các chúng Bồ Tát thường ở trong đó.  Hiện nay có Kim Cang Thắng Bồ Tát cùng ở với ba trăm vị Bồ Tát quyến thuộc, mà diễn thuyết pháp.
Phương nam có một xứ tên là Thắng Phong Sơn, từ xưa đến nay các chúng Bồ Tát thường ở nơi đó.  Hiện nay có Pháp Huệ Bồ Tát cùng ở với năm trăm vị Bồ Tát quyến thuộc, mà diễn thuyết pháp.
Phương tây có một xứ tên là Kim Cang Diệm Sơn, từ xưa nay các chúng Bồ Tát thường ở nơi đó.  Hiện nay có Tinh Tấn Vô Úy Hành Bồ Tát cùng ở với ba trăm vị Bồ Tát quyến thuộc, mà diễn thuyết pháp.
Phương bắc có một xứ tên là Hương Tích Sơn, từ xưa đến nay các chúng Bồ Tát thường ở nơi đó.  Hiện nay có Hương Tượng Bồ Tát cùng ở với ba ngàn vị Bồ Tát quyến thuộc, mà diễn thuyết pháp.
Đông bắc phương có xứ tên là Thanh Lương Sơn, từ xưa đến nay các chúng Bồ Tát thường ở nơi đó.  Hiện nay có Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát cùng ờ với một vạn vị Bồ Tát quyến thuộc, mà diễn thuyết pháp.
Trong biển có một xứ tên là Kim Cang Sơn, từ xưa đến nay các chúng Bồ Tát thường ở nơi đó.  Hiện nay có Pháp Khởi Bồ Tát cùng ờ với một ngàn hai trăm vị Bồ Tát quyến thuộc, mà diễn thuyết pháp.
Tây nam phương có một xứ tên là Quang Minh Sơn.  Từ xưa đến nay các chúng Bồ Tát thường ở nơi đó.  Hiện nay có Hiền Thắng Bồ Tát cùng ờ với ba ngàn vị Bồ Tát quyến thuộc, mà diễn thuyết pháp.
Tây bắc phương có một xứ tên là Hương Phong Sơn, từ xưa đến nay các chúng Bồ Tát thường ở nơi đó.  Hiện nay có Hương Quang Bồ Tát cùng ở với năm ngàn vị Bồ Tát quyến thuộc, mà diễn thuyết pháp.
Trong đại hải lại có một xứ tên là Trang Nghiêm Quật, từ xưa đến nay các chúng Bồ Tát thường ở nơi đó. 
Phía nam nước Tỳ Xá Ly có một xứ tên là Thiện Trụ Căn, từ xưa đến nay các chúng Bồ Tát thường ở nơi đó.
Thành Ma Độ La có xứ tên là Mãn Túc Quật, từ xưa đến nay các chúng Bồ Tát thường ở nơi đó.
Thành Câu Trân Na có một xứ tên là Pháp Tọa, từ xưa đến nay các chúng Bồ Tát thường ở nơi đó.
Thành Thanh Tịnh Bỉ Ngạn có một xứ tên là Chân Lân Đà Quật, từ xưa đến nay các chúng Bồ Tát thường ở nơi đó.
Nước Ma Lan Đà có một xứ tên là Vô Ngại Long Vương Kiến Lập, từ xưa đến nay các chúng Bồ Tát thường ở nơi đó.
Nước Cam Bồ Già có một xứ tên là Xuất Sanh Từ, từ xưa đến nay các chúng Bồ Tát thường ở nơi đó.
Nước Chân Đán có một xứ tên là Na La Diên Quật, từ xưa đến nay các chúng Bồ Tát thường ở nơi đó.
Nước Sớ Lặc có một xứ tên là Ngưu Đầu Sơn, từ xưa đến nay các chúng Bồ Tát thường ở nơi đó.
Nước Ca Diếp Di La có một xứ tên là Thứ Đệ, từ xưa đến nay các chúng Bồ Tát thường ở nơi đó.
Thành Tăng Trưởng Hoan Hỷ có một xứ tên là Tôn Giả Quật, từ xưa đến nay các chúng Bồ Tát thường ở nơi đó.
Nước An Phù Lê Ma có một xứ tên là Kiến Ức Tạng Quang Minh, từ xưa đến nay các chúng Bồ Tát thường ở nơi đó.
Nước Càn Đà La có một xứ tên là Chiêm Bà La Quật, từ xưa đến nay các chúng Bồ Tát thường ở nơi đó."






Tôi nhìn em, đôi mắt ở đậu,
Giữa cõi mê, tôi ở thật lâu,
Em cũng hiểu, cho nên cười nụ,
Chút mưu toan, khơi một bể sầu.
canary
0
Kinh Hoa Nghiêm
Tập 5

Phẩm Phật bất tư nghì pháp
Thứ ba mươi ba



(Hán bộ quyển bốn mươi sáu)

Bấy giờ, trong đại hội có chư Bồ Tát nghĩ rằng:
Quốc độ của chư Phật, thế nào là bất tư nghì?  Bổn nguyện của chư Phật, thế nào là bất tư nghì?  Chủng tánh của chư Phật, thế nào là bất tư nghì?  Chư Phật xuất hiện, thế nào là bất tư nghì?  Thân của chư Phật, thế nào là bất tư nghì?  Âm thanh của chư Phật, thế nào là bất tư nghì?  Trí huệ của chư Phật, thế nào là bất tư nghì?  Tự tại của chư Phật, thế nào là bất tư nghì?  Vô ngại của chư Phật, thế nào là bất tư nghì?  Giải thoát của chư Phật, thế nào là bất tư nghì? 
Bấy giờ, đức Thế Tôn biết tâm niệm của chư Bồ Tát, bèn dùng thần lực gia trì, trí huệ nhiếp thọ, quang minh chiếu sáng, oai thế tràn đầy, làm cho Thanh Liên Hoa Tạng Bồ Tát an trụ nơi vô úy của Phật, nhập Phật pháp giới, được oai đức thần thông tự tại của Phật, được quán sát quảng đại vô ngại của Phật, biết tuần thứ chủng tánh của tất cả Phật, an trụ trong bất khả thuyết phương tiện Phật pháp.
Lúc đó, Thanh Liên Hoa Tạng Bồ Tát bèn hay thông đạt pháp giới vô ngại, hay an trụ thâm hạnh ly chướng, hay thành mãn Phổ Hiền đại nguyện, hay thấy biết tất cả Phật pháp, do tâm đại bi quán sát chúng sanh, muốn cho họ thanh tịnh tinh tấn tu tập không nhàm lười, thọ hành tất cả pháp Bồ Tát, trong một niệm xuất sanh Phật trí, hiểu rõ tất cả trí môn vô tận, tổng trì biện tài thảy đều đầy đủ, thừa thần lực của chư Phật bảo Liên Hoa Tạng Bồ Tát rằng: "Phật tử!  Chư Phật Thế Tôn có vô lượng trụ.  Những là:  thường trụ đại bi, trụ nhiều loại thân làm những Phật sự, trụ tâm bình đẳng chuyển tịnh pháp luân, trụ tứ biện tài thuyết vô lượng pháp, trụ bất tư nghì tất cả Phật pháp, trụ tiếng thanh tịnh khắp vô lượng cõi, trụ bất khả thuyết pháp giới thậm thâm, trụ hiện tất cả thần thông tối thắng, trụ hay khai thị pháp rốt ráo vô ngại.
Phật tử!  Chư Phật Thế Tôn có mười thứ pháp khắp cùng vô lượng vô biên pháp giới: 
Một là tất cả chư Phật có vô biên tế thân sắc tướng thanh tịnh, vào khắp các cõi mà không nhiễm trước.
Hai là tất cả chư Phật có vô biên tế nhãn vô ngại, đều hay thấy rõ tất cả pháp.
Ba là tất cả chư Phật có vô biên tế nhĩ vô ngại, đều hay hiểu rõ tất cả âm thanh.
Bốn là tất cả chư Phật có vô biên tế tỷ, hay đến bỉ ngạn tự tại tất cả Phật.
Năm là tất cả chư Phật có quảng trường thiệt, phát ra âm thanh vi diệu cùng khắp pháp giới.
Sáu là tất cả chư Phật có vô biên tế thana, ứng theo tâm của chúng sanh cho họ đều được thấy.
Bảy là chư Phật có vô biên tế ý, trụ nơi vô ngại bình đẳng pháp thân.
Tám là tất cả chư Phật có vô biên tế giải thoát vô ngại thị hiện sức đại thần thông vô tận.
Chín là tất cả chư Phật có vô biên tế thế giới thanh tịnh, theo sở thích của chúng sanh hiện những Phật độ, đầy đủ vô lượng những thứ trang nghiêm, mà ở trong đó chẳng sanh nhiễm trước.
Mười là tất cả chư Phật có vô biên tế Bồ Tát hạnh nguyện, được trí viên mãn du hý tự tại, đều hay thông đạt tất cả Phật pháp.
Trên đây là mười thứ Phật pháp vô biên tế cùng khắp pháp giới của đức Như Lai Ứng Đẳng Chánh Giác.
Phật tử! Chư Phật Thế Tôn có mười thứ niệm niệm xuất sanh trí:
Một là trong một niệm, tất cả chư Phật đều hay thị hiện vô lượng thế giới, từ cõi trời giáng xuống.
Hai là trong một niệm, tất cả chư Phật đều hay thị hiện vô lượng thế giới, Bồ Tát thọ sanh.
Ba là trong một niệm, tất cả chư Phật đều hay thị hiện vô lượng thế giới, xuất gia học đạo.
Bốn là trong một niệm, tất cả chư Phật đều hay thị hiện vô lượng thế giới, dưới cội bồ đề thành đẳng chánh giác.
Năm là trong một niệm, tất cả chư Phật đều hay thị hiện vô lượng thế giới, chuyển diệu pháp luân.
Sáu là trong một niệm, tất cả chư Phật đều hay thị hiện vô lượng thế giới, giáo hóa chúng sanh, cúng dường chư Phật.
Bảy là trong một niệm, tất cả chư Phật đều hay thị hiện vô lượng thế giới, bất khả thuyết nhiều loại thân Phật.
Tám là trong một niệm, tất cả chư Phật đều hay thị hiện vô lượng thế giới, nhiều thứ trang nghiêm vô số trang nghiêm, tất cả trí tạng tự tại của Như Lai.
Chín là trong một niệm, tất cả chư Phật đều hay thị hiện vô lượng thế giới, vô lượng vô số chúng sanh thanh tịnh.
Mười là trong một niệm, tất cả chư Phật đều hay thị hiện vô lượng thế giới, tam thế chư Phật, có nhiều loại căn tánh, nhiều cách tinh tấn, nhiều thứ hạnh giải, ở trong tam thế thành đẳng chánh giác.
Phật tử!  Chư Phật Thế Tôn có mười điều chẳng lỗi thời:
Một là tất cả chư Phật thành đẳng chánh giác chẳng lỗi thời.
Hai là tất cả chư Phật thành thục cả có duyên chẳng lỗi thời.
Ba là tất cả chư Phật thọ ký cho chư Bồ Tát chẳng lỗi thời.
Bốn là tất cả chư Phật theo tâm của chúng sanh mà thị hiện thần lực chẳng lỗi thời.
Năm là tất cả chư Phật theo chỗ hiểu của chúng sanh mà thị hiện thân Phật chẳng lỗi thời.
Sáu là tất cả chư Phật trụ nơi đại xả chẳng lỗi thời.
Bảy là tất cả chư Phật vào các tụ lạc chẳng lỗi thời.
Tám là tất cả chư Phật nhiếp thọ các chúng sanh tịnh tính chẳng lỗi thời.
Chín là tất cả chư Phật điều phục những chúng sanh ác chẳng lỗi thời.
Mười là tất cả chư Phật hiện bất tư nghì Phật thần thông chẳng lỗi thời.
Phật tử!  Chư Phật Thế Tôn có mười thứ cảnh giới vô tỳ bất tư nghì:
Một là tất cả chư Phật một lần ngồi kiết già cùng khắp mười phương vô lượng thế giới.
Hai là tất cả chư Phật nói một cú nghĩa đều hay khai thị tất cả Phật pháp.
Ba là tất cả chư Phật phóng một quang minh đều chiếu khắp tất cả thế giới.
Bốn là tất cả chư Phật ở nơi một thân đều hay thị hiện tất cả thân.
Năm là tất cả chư Phật ở trong một xứ đều hay thị hiện tất cả thế giới.
Sáu là tất cả chư Phật ở trong một trí đều hay quyết rõ tất cả các pháp không bị ngăn ngại.
Bảy là tất cả chư Phật ở trong một niệm đều hay qua khắp mười phương thế giới.
Tám là tất cả chủ Phật ở trong một niệm đều hiện Như Lai vô lượng oai đức.
Chín là tất cả chư Phật ở trong một niệm duyên khắp tam thế:  Phật và chúng sanh, tâm không tạp loạn.
Mười là tất cả chư Phật ở trong một niệm cùng với tam thế tất cả Phật đồng một thể không hai.
Phật tử!  Chư Phật Thế Tôn hay xuất sanh mười thứ trí:
Một là tất cả chư Phật biết tất cả pháp không chỗ xu hướng, mà hay xuất sanh hồi hướng nguyện trí.
Hai là tất cả chư Phật biết tất cả pháp đều không có thân mà hay xuất sanh thanh tịnh thân trí.
Ba là tất cả chư Phật biết tất cả pháp bổn lai không hai, mà hay xuất sanh năng giác ngộ trí.
Bốn là tất cả chư Phật biết tất cả pháp vô ngã vô chúng sanh, mà hay xuất sanh điều chúng sanh trí.
Năm là tất cả chư Phật biết tất cả pháp bổn lai vô tướng, mà hay xuất sanh liễu chư tướng trí.
Sáu là tất cả chư Phật biết tất cả thế giới không có thành hoại, mà hay xuất sanh liễu thành hoại trí.
Bảy là tất cả chư Phật biết tất cả pháp không có tạo tác, mà hay xuất sanh trí nghiệp quả trí.
Tám là tất cả chư Phật biết tất cả pháp không có ngôn thuyết, mà hay xuất sanh liễu ngôn thuyết trí.
Chín là tất cả chư  Phật biết tất cả pháp không có nhiễm tịnh, mà hay xuất sanh tri nhiễm tịnh trí.
Mười là tất cả chư Phật biết tất cả pháp không có sanh diệt, mà hay xuất sanh liễu sanh diệt trí.
Phật tử!  Chư Phật Thế Tôn có mười thứ phổ nhập pháp:
Một là tất cả chư Phật có thân tịnh diệu vào khắp tam thế.
Hai là tất cả chư Phật đều đầy đủ ba thứ tự tại giáo hóa khắp chúng sanh.
Ba là tất cả chư Phật đều đầy đủ những đà la ni, hay khắp thọ trì tất cả Phật pháp.
Bốn là tất cả chư Phật đều đầy đủ bình đẳng đại bi, hằng chẳng bỏ lìa tất cả chúng sanh.
Sáu là tất cả chư Phật đều đầy đủ thậm thâm thiền định, hằng khắp quán sát tất cả chúng sanh.
Bảy là tất cả chư Phật đều đầy đủ thiện căn lợi tha, điều phục chúng sanh không có thôi dứt.
Tám là tất cả chư Phật đều đầy đủ tâm vô ngại, hay khắp an trụ tất cả pháp giới.
Chín là tất cả chư Phật đều đầy đủ thần lực vô ngại, một niệm hiện khắp tam thế chư Phật.
Mười là tất cả chư Phật đều đầy đủ trí huệ vô ngại, một niệm lập khắp tam thế kiên cố.
Phật tử!  Chư Phật Thế Tôn có mười pháp quảng đại khó tin thọ:
Một là tất cả chư Phật đều hay trừ diệt tất cả loại ma.
Hai là tất cả chư Phật đều hay hàng phục tất cả ngoại đạo.
Ba là tất cả chư Phật đều hay điều phục tất cả chúng sanh đều làm cho họ vui đẹp.
Bốn là tất cả chư Phật đều hay qua đến tất cả thế giới hóa đạo mọi loài.
Năm là tất cả chư Phật đều hay trí chứng pháp giới thậm thâm.
Sáu là tất cả chư Phật đều hay dùng thân vô nhị hiện những thân tràn đầy thế giới.
Bảy là tất cả chư Phật đều hay dùng âm thanh thanh tịnh khởi bốn biện tài thuyết pháp không dứt, phàm có tín thọ thời chẳng luống công.
Tám là tất cả chư Phật đều hay ở trong một lỗ lông xuất hiện chư Phật số đồng với số tất cả thế vi trần, không lúc nào đoạn tuyệt.
Chín là tất cả chư Phật đều hay ở trong một vi trần thị hiện các cõi đồng với số tất cả thế giới vi trần, đầy đủ các thứ trang nghiêm thượng diệu, hằng ở trong đó chuyển diệu pháp luân giáo hóa chúng sanh mà vi trần chẳng lớn, thế giới chẳng nhỏ, thường dùng chứng trí an trụ pháp giới.
Mười là tất cả chư Phật đều liễu đạt pháp giới thanh tịnh, dùng trí quang minh phá si ám của thế gian, làm cho đều được khai hiểu nơi Phật pháp, theo dõi Như Lai, trụ trong thập lực.
Phật tử!  Chư Phật Thế Tôn có mười công đức lớn rời lỗi hoàn toàn thanh tịnh:
Một là tất cả chư Phật đủ oai đức lớn, rời lỗi thanh tịnh.
Hai là tất cả chư Phật đều sanh nơi nhà tam thế Như Lai, chủng tộc đều thiện, rời lỗi thanh tịnh.
Ba là tất cả chư Phật tột vị lai tế tâm vô sở trụ, rời lỗi thanh tịnh.
Bốn là tất cả chư Phật nơi pháp tam thế đều vô sở trước, rời lỗi thanh tịnh.
Năm là tất cả chư Phật biết những loại tánh đều là một tánh, không từ đâu đến, rời lỗi thanh tịnh.
Sáu là tất cả chư Phật tiền tế hậu tế phước đức vô tận đồng với pháp giới, rời lỗi thanh tịnh.
Bảy là tất cả chư Phật vô biên thân tướng khắp mười phương cõi, tuỳ thời điều phục tất cả chúng sanh, rời lỗi thanh tịnh.
Tám là tất cả chư Phật được bốn đức vô úy lìa những khủng bố, ở trong chúng hội đại sư tử hống, phân biệt rành rẽ tất cả các pháp, rời lỗi thanh tịnh.
Chín là tất cả chư Phật trong bất khả thuyết bất khả thuyết kiếp nhập niết bàn, chúng sanh nghe danh hiệu được phước vô lượng như Phật hiện tại công đức không khác, rời lỗi thanh tịnh.
Mười là tất cả chư Phật ở xa trong bất khả thuyết bất khả thuyết thế giới, nếu có chúng sanh nhất tâm chánh niệm thời đều được thấy, rời lỗi thanh tịnh.
Phật tử!  Chư Phật Thế Tôn có mười điều rốt ráo thanh tịnh:
Một là tất cả chư Phật đại nguyện thuở xưa rốt ráo thanh tịnh.
Hai là tất cả chư Phật giữ gìn phạm hạnh rốt ráo thanh tịnh.
Ba là tất cả chư Phật rời những mê lầm thế gian rốt ráo thanh tịnh.
Bốn là tất cả chư Phật trang nghiêm cõi nước rốt ráo thanh tịnh.
Năm là tất cả chư Phật có những quyến thuộc rốt ráo thanh tịnh.
Sáu là tất cả chư Phật chỗ có chủng tộc rốt ráo thanh tịnh.
Bảy là tất cả chư Phật sắc thân tướng hảo rốt ráo thanh tịnh.
Tám là tất cả chư Phật pháp thân vô nhiễm rốt ráo thanh tịnh.
Chín là tất cả chư Phật nhất thiết chủng trí không có chướng ngại rốt ráo thanh tịnh.
Mười là tất cả chư Phật giải thoát tự tại chỗ làm đã xong, đến bỉ ngạn rốt ráo thanh tịnh.
Phật tử!  Chư Phật Thế Tôn nơi tất cả thế giới, tất cả thế gian, có mười thứ Phật sự:
Một là nếu có chúng sanh chuyên tâm nghĩ nhớ thời Phật hiện ra trước họ.
Hai là nếu có chúng sanh tâm chẳng điều thuận thời Phật vì họ mà thuyết pháp.
Ba là nếu có chúng sanh hay sanh tịnh tín thời Phật làm cho họ được vô lượng thiện căn.
Bốn là nếu có chúng sanh hay nhập pháp vị thời đều hiện chứng không pháp nào chẳng biết.
Năm là giáo hóa chúng sanh không hề nhàm mỏi.
Sáu là du hành các cõi Phật qua lại vô ngại.
Bảy là đại bi chẳng bỏ tất cả chúng sanh.
Tám là hiện thân biến hóa hằng không đoạn tuyệt.
Chín là thần thông tự tại chưa từng thôi nghỉ.
Mười là an trụ pháp giới hay khắp quán sát.
Phật tử!  Chư Phật Thế Tôn có mười thứ pháp trí hải vô tận:
Một là tất cả chư Phật vô biên pháp thân, pháp trí hải vô tận.
Hai là tất cả chư Phật vô lượng Phật sự, pháp trí hải vô tận.
Ba là tất cả chư Phật cảnh giới Phật nhãn, pháp trí hải vô tận.
Bốn là tất cả chư Phật vô lượng vô số nan tư thiện căn, pháp trí hải vô tận.
Năm là tất cả chư Phật mưa khắp tất cả cam lồ diệu pháp, pháp trí hải vô tận.
Sáu là tất cả chư Phật tán thán Phật công đức, pháp trí hải vô tận.
Bảy là tất cả chư Phật ngày trước đã tu những nguyện hạnh, pháp trí hải vô tận.
Tám là tất cả chư Phật tận vị lai tế hằng làm Phật sự, pháp trí hải vô tận.
Chín là tất cả chư Phật biết rõ tâm hành của tất cả chúng sanh, pháp trí hải vô tận.
Mười là tất cả chư Phật phước trí trang nghiêm không ai hơn, pháp trí hải vô tận.
Phật tử!  Chư Phật Thế Tôn có mười thứ thường pháp:
Một là tất cả chư Phật thường thực hành tất cả những ba la mật.
Hai là tất cả chư Phật nơi tất cả pháp thường rời hẳn mê lầm.
Ba là tất cả chư Phật thường đủ đức đại bi.
Bốn là tất cả chư Phật thường có đủ thập lực.
Năm là tất cả chư Phật thường chuyển pháp luân.
Sáu là tất cả chư Phật thường vì chúng sanh mà thị hiện thành chánh giác.
Bảy là tất cả chư Phật thường thích điều phục tất cả chúng sanh.
Tám là tất cả chư Phật tâm thường chánh niệm pháp bất nhị.
Chín là tất cả chư Phật giáo hóa chúng sanh xong rồi thường thị hiện nhập vô dư niết bàn.
Mười là tất cả chư Phật cảnh giới thường không biên tế.
Phật tử!  Chư Phật Thế Tôn có mười môn diễn thuyết vô lượng:
Một là tất cả chư Phật diễn thuyết vô lượng chúng sanh giải thoát môn.
Hai là tất cả chư Phật diễn thuyết vô lượng chúng sanh hạnh môn.
Ba là tất cả chư Phật diễn thuyết vô lượng chúng sanh nghiệp quả môn.
Bốn là tất cả chư Phật diễn thuyết vô lượng hóa chúng sanh môn.
Năm là tất cả chư Phật diễn thuyết vô lượng tịnh chúng sanh môn.
Sáu là tất cả chư Phật diễn thuyết vô lượng Bồ Tát hạnh môn.
Bảy là tất cả chư Phật diễn thuyết vô lượng Bồ Tát nguyện môn.
Tám là tất cả chư Phật diễn thuyết vô lượng tất cả thế giới thành kiếp hoại kiếp môn.
Chín là tất cả chư Phật diễn thuyết vô lượng Bồ Tát thâm tâm tịnh Phật sát môn.
Mười là tất cả chư Phật diễn thuyết vô lượng tất cả thế giới tam thế chư Phật nơi những kiếp đó thứ đệ xuất hiện môn.
Tất cả chư Phật diễn thuyết vô lượng nhất thiết chư Phật trí môn.
Phật tử!  Chư Phật Thế Tôn có mười điều vì chúng sanh làm Phật sự:
Một là tất cả chư Phật thị hiện sắc thân vì chúng sanh mà làm Phật sự.
Hai là tất cả chư Phật phát diệu âm thanh vì chúng sanh mà làm Phật sự.
Ba là tất cả chư Phật có chỗ thọ vì chúng sanh mà làm Phật sự.
Bốn là tất cả chư Phật không chỗ thọ vì chúng sanh mà làm Phật sự.
Năm là tất cả chư Phật dùng địa, thủy, hỏa, phong vì chúng sanh mà làm Phật sự.
Sáu là tất cả chư Phật thần lực tự tại thị hiện tất cả cảnh giới sở duyên vì chúng sanh mà làm Phật sự.
Bảy là tất cả chư Phật nhiều thứ danh hiệu vì chúng sanh mà làm Phật sự.
Tám là tất cả chư Phật dùng cảnh giới chư Phật vì chúng sanh mà làm Phật sự.
Chín là tất cả chư Phật nghiêm tịnh cõi Phật vì chúng sanh mà làm Phật sự.
Mười là tất cả chư Phật vắng lặng không lời vì chúng sanh mà làm Phật sự.
Phật tử!  Chư Phật Thế Tôn có mười pháp tối thắng:
Một là tất cả chư Phật đại nguyện kiên cố chẳng gì ngăn trở phá hoại được, nói ra tất thực hành, lời nói không có hai.
Hai là tất cả chư Phật vì muốn viên mãn tất cả công đức nên tột kiếp vị lai tu hạnh Bồ Tát chẳng mỏi lười.
Ba là tất cả chư Phật vì muốn điều phục tất cả chúng sanh nên qua đến bất khả thuyết bất khả thuyết thế giới để vì chúng sanh không lúc nào đoạn tuyệt.
Bốn là tất cả chư Phật đối với hai hạng chúng sanh:  kính tin và hủy báng, tâm đại bi xem đồng bình đẳng không khác.
Năm là tất cả chư Phật từ lúc sơ phát tâm nhẫn đến thành Phật trọn không thối thất tâm bồ đề.
Sáu là tất cả chư Phật chứa nhóm vô lượng những công đức lành đều đem hồi hướng tánh nhất thiết trí, với các thế gian trọn không nhiễm  trước.
Bảy là tất cả chư Phật ở chỗ chư Phật tu học ba nghiệp, chỉ thực hành hạnh Phật chẳng phải hạnh nhị thừa, đều để hồi hướng tánh nhất thiết trí, thành tựu vô thượng chánh đẳng bồ đề.
Tám là tất cả chư Phật phóng đại quang minh, quang minh này bình đẳng chiếu tất cả chỗ và chiếu tất cả Phật pháp, làm cho chư Bồ Tát tâm được thanh tịnh viên mãn nhất thiết trí.
Chín là tất cả chư Phật rời bỏ sự vui thế gian chẳng tham chẳng nhiễm, mà nguyện khắp thế gian lìa khổ được vui không có những hý luận.
Mười là tất cả chư Phật thương các chúng sanh chịu những sự khổ, giữ gìn Phật chủng, đi nơi cảnh giới Phật, xuất ly sanh tử, đến bậc thập lực.
Phật tử!  Chư Phật Thế Tôn có mười điều vô chướng ngại trụ:
Một là tất cả chư Phật đều hay qua đến tất cả thế giới, vô chướng ngại trụ.
Hai là tất cả chư Phật đều hay trụ ở tất cả thế giới, vô chướng ngại trụ.
Ba là tất cả chư Phật đều hay ở nơi tất cả thế giới đi, đứng, nằm, ngồi, vô chướng ngại trụ.
Bốn là tất cả chư Phật đều hay ở nơi tất cả thế giới diễn thuyết chánh pháp, vô chướng ngại trụ.
Năm là tất cả chư Phật đều hay ở nơi tất cả thế giới trụ ở cung trời Đâu Suất, vô chướng ngại trụ.
Sáu là tất cả chư Phật đều hay nhập pháp giới tất cả tam thế, vô chướng ngại trụ.
Bảy là tất cả chư Phật đều hay ngồi pháp giới tất cả đạo tràng, vô chướng ngại trụ.
Tám là tất cả chư Phật đều hay niệm niệm quán tâm hành của tất cả chúng sanh, dùng ba môn tự tại giáo hóa điều phục, vô chướng ngại trụ.
Chín là tất cả chư Phật đều hay dùng một thân trụ ở vô lượng bất tư nghì chỗ chư Phật và tất cả chỗ để lợi ích chúng sanh, vô chướng ngại trụ.
Mười là tất cả chư Phật đều hay khai thị chánh pháp của vô lượng chư Phật nói, vô chướng ngại trụ.
Phật tử!  Chư Phật Thế Tôn có mười thứ tối thắng vô thượng trang nghiêm:
Tất cả chư Phật đều đầy đủ những đại nhân tướng và tùy hình hảo, đây là thân trang nghiêm tối thắng vô thượng thứ nhất.
Tất cả chư Phật đều đầy đủ sáu mươi thứ âm thanh, mỗi âm thanh có năm trăm phần, mỗi phần có vô lượng trăm ngàn âm thanh thanh tịnh dùng để nghiêm hảo, có thể ở trong tất cả chúng khắp pháp giới không hãi sợ, đại sư tử hống diễn nói pháp nghĩa thậm thâm của Như Lai.  Chúng sanh được nghe không ai chẳng hoan hỷ, tùy căn dục của họ đều được điều phục.  Đây là ngữ trang nghiêm tối thắng vô thượng thứ hai.
Tất cả chư Phật đều đầy đủ thập lực các đại tam muội, mười tám pháp bất cộng trang nghiêm ý nghiệp, chỗ có cảnh giới đều thông đạt vô ngại, tất cả Phật pháp đều được vô dư pháp giới trang nghiêm để dùng trang nghiêm.  Pháp giới chúng sanh, tam thế tâm hành đều riêng khác, trong một niệm đều thấy rõ cả.  Đây là ý trang nghiêm tối thắng vô thượng thứ ba.
Tất cả chư Phật đều hay phóng vô số quang minh.  Mỗi mỗi quang minh có bất khả thuyết lưới quang minh làm quyến thuộc chiếu khắp tất cả Phật độ, diệt trừ đen tối của tất cả thế gian, thị hiện vô lượng chư Phật xuất thế, thân đó bình đẳng thảy đều thanh tịnh, chỗ làm Phật sự đều không luống uổng, hay làm cho chúng sanh đến bậc bất thối chuyển.  Đây là quang minh trang nghiêm tối thắng vô thượng thứ tư.
Tất cả chư Phật lúc hiện mỉm cười, đều ở nơi miệng phóng ra trăm ngàn ức na do tha a tăng kỳ quang minh.  Mỗi quang minh đều có vô lượng bất tư nghì các thứ màu chiếu khắp mười phương tất cả thế giới.  Ở trong đại chúng phát lời thành thật, thọ ký đạo vô thượng chánh giác cho vô lượng vô số bất tư nghì chúng sanh.  Đây là lìa si hoặc thế gian hiện vi tiếu trang nghiêm tối thắng vô thượng thứ năm.
Tất cả chư Phật đều có pháp thân thanh tịnh vô ngại, nơi tất cả pháp thông đạt rốt ráo, trụ nơi pháp giáo không có biên tế.  Dầu ở thế gian mà chẳng tạp với thế gian.  Rõ thật tánh thế gian, thực hành pháp xuất thế.  Dứt đường ngôn ngữ, siêu uẩn xứ giới.  Đây là pháp thân trang nghiêm tối thắng vô thượng thứ sáu.
Tất cả chư Phật đều có vô lượng thường quang minh vi diệu, bất khả thuyết bất khả thuyết những thứ sắc tướng dùng làm nghiêm hảo, làm tạng quang minh viên mãn, chiếu khắp mười phương không chướng ngại.  Đây là thường diệu quang minh trang nghiêm tối thắng vô thượng thứ bảy.
Tất cả chư Phật đều có vô biên diệu sắc, khả ái diệu sắc, thanh tịnh diệu sắc, tuỳ tâm hiện diệu sắc, diệu sắc che chói tất cả ba cõi, diệu sắc đến bỉ ngạn vô thượng.  Đây là diệu sắc trang nghiêm tối thắng vô thượng thứ tám.
Tất cả chư Phật đều sanh trong tam thế Phật chủng, chứa những báu lành rốt ráo thanh tịnh không có lầm lỗi, rời sự chê khinh của thế gian, là chỗ trang nghiêm nhất của diệu hạnh thanh tịnh thù thắng trong tất cả pháp, thành tựu đầy đủ.  Nhất thiết chủng trí, chủng tộc thanh tịnh không ai khinh chê được.  Đây là chủng tộc trang nghiêm tối thắng vô thượng thứ chín.
Tất cả chư Phật dùng đại từ lực trang nghiêm thân mình, rốt ráo thanh tịnh không có những khát ái, thân hành đã dứt hẳn, tâm đã khéo giải thoát, người thấy không chán, đại bi cứu hộ tất cả thế gian.  Là phước điền đệ nhất, là bậc thọ cúng vô thượng thương xót lợi ích tất cả chúng sanh đều làm cho họ thêm lớn vô lượng phước đức trí huệ.  Đây là đại từ đại bi công đức trang nghiêm tối thắng vô thượng thứ mười của Phật.
Phật tử!  Chư Phật Thế Tôn có mười pháp tự tại:
Tất cả chư Phật nơi tất cả pháp đều được tự tại.  Thấu rõ tất cả thân, vị thân, diễn thuyết các pháp biện tài vô ngại.  Đây là pháp tự tại thứt nhất.
Tất cả chư Phật giáo hóa chúng sanh chưa từng lỗi thời, tuỳ theo sở thích mong cầu của họ mà nói chánh pháp, đều làm cho họ điều phục không đoạn tuyệt.  Đây là pháp tự tại thứ hai.
Tất cả chư Phật hay làm cho tận hư không giới vô lượng vô số các thứ trang nghiêm tất cả thế giới chấn động sáu cách.  Làm cho thế giới đó hoặc cất lên, hoặc hạn xuống, hoặc lớn, hoặc nhỏ, hoặc hiệp, hoặc tan, chưa từng não hại chúng sanh.  Chúng sanh trong thế giới đó chẳng hay chẳng biết, không nghi, không cho là lạ.  Đây là pháp tự tại thứ ba.
Tất cả chư Phật dùng sức thần thông đều hay nghiêm tịnh tất cả thế giới, trong khoảng một niệm, hiện khắp tất cả thế giới trang nghiêm.  Những trang nghiêm này trải qua vô số kiếp nói chẳng thể hết, thảy đều ly nhiễm thanh tịnh vô tỉ.  Những sự nghiêm tịnh của tất cả cõi Phật, đều làm cho bình đẳng vào trong một cõi.  Đây là pháp tự tại thứ tư.
Tất cả chư Phật thấy một chúng sanh đáng được giáo hóa, vì họ mà trụ thọ mạng trải qua bất khả thuyết bất khả thuyết kiếp, nhẫn đến tận vị lai tế ngồi kiết già, thân tâm không mỏi, chuyên tâm ghi nhớ chưa từng bỏ quên, phương tiện điều phục chẳng lỗi thời.  Như vì một chúng sanh, vì tất cả chúng sanh đều cũng như vậy.  Đây là pháp tự tại thứ năm.
Tất cả chư Phật đều hay qua khắp tất cả thế giới, nơi sở hành của tất cả Như Lai, mà chẳng tạm bỏ tất cả pháp giới.  Mười phương đều riêng khác.  Mỗi mỗi  phương có vô lượng thế giới hải.  Mỗi mỗi thế giới hải có vô lượng thế giới chủng.  Phật dùng thần lực, khoảng một niệm đều qua đến, chuyển pháp luân thanh tịnh vô ngại.  Đây là pháp tự tại thứ sáu.
Tất cả chư Phật vì muốn điều phục tất cả chúng sanh trong mỗi niệm thành vô thượng chánh giác, mà nơi tất cả Phật pháp chẳng phải đã giác, hiện giác, cũng chẳng phải sẽ giác, cũng chẳng trụ nơi bậc hữu học, mà đều thấy biết thông đạt vô ngại, vô lượng trí huệ, vô lượng tự tại, giáo hóa điều phục vô lượng chúng sanh.  Đây là pháp tự tại thứ bảy.
Tất cả chư Phật hay dùng nhãn xứ làm nhĩ xứ Phật sự, hay dùng nhĩ xứ làm tỹ xứ Phật sự, hay dùng tỷ xứ làm thiệt xứ Phật sự, hay dùng thiệt xứ làm thân xứ Phật sự, hay dùng thân xứ làm ý xứ Phật sự, hay dùng ý xứ trong tất cả thế giới trụ thế xuất thế các thứ cảnh giới, trong mỗi mỗi cảnh giới hay làm vô lượng Phật sự quảng đại.  Đây là pháp tự tại thứ tám.
Tất cả chư Phật lỗ lông nơi thân, mỗi lỗ lông hay dung chứa tất cả chúng sanh, mỗi mỗi chúng sanh thân họ đồng với bất khả thuyết cõi Phật mà không chật hẹp.  Mỗi chúng sanh một bước đi có thể qua đến vô số thế giới, lần lượt trải qua vô số kiếp như vậy, đều thấy chư Phật xuất thế giáo hóa chúng sanh, chuyển tịnh pháp luân, khai thị bất khả thuyết, tam thế chánh pháp, khắp hư không giới tất cả chúng sanh thọ thân các loài oai nghi qua lại và những đồ sở thích mà họ thọ hưởng đều đầy đủ cả, ở trong lỗ lông thân Phật vẫn không chướng ngại.  Đây là pháp tự tại thứ chín.
Tất cả chư Phật trong khoảng một niệm hiện tất cả thế giới vi trần số Phật.  Mỗi mỗi đức Phật đều ở nơi tất cả pháp giới chúng diệu liên hoa quảng đại trang nghiêm thế giới, trên tòa liên hoa tạng sư tử mà thành đẳng chánh giác, thị hiện chư Phật tự tại thần lực.  Như ở nơi chúng diệu liên hoa quảng đại trang nghiêm thế giới như vậy, ở trong tất cả pháp giới, bất khả thuyết bất khả thuyết các thứ trang nghiêm, các thứ cảnh giới, các thứ hình tướng, các thứ thị hiện, các thứ kiếp số thanh tịnh thế giới.  Như ở trong khoảng một niệm như vậy, ở trong tất cả niệm của vô lượng vô biên a tăng kỳ kiếp, một niệm hiện tất cả, một niệm trụ vô lượng, mà chưa từng dùng chút sức phương tiện.   Đây là pháp tự tại thứ mười của chư Phật.
Phật tử!  Chư Phật Thế Tôn có mười thứ vô lượng bất tư nghì Phật pháp viên mãn:
Tất cả chư Phật, mỗi tướng thanh tịnh đều đủ trăm phước.
Tất cả chư Phật thảy đều thành tựu tất cả Phật pháp.
Tất cả chư Phật thảy đều thành tựu tất cả thiện căn.
Tất cả chư Phật thảy đều thành tựu tất cả công đức.
Tất cả chư Phật đều hay giáo hóa tất cả chúng sanh.
Tất cả chư Phật đều hay vì tất cả chúng sanh mà làm chủ.
Tất cả chư Phật đều thành tựu cõi Phật thanh tịnh.
Tất cả chư Phật đều thành tựu nhất thiết chủng trí.
Tất cả chư Phật đều thành tựu sắc thân tướng hảo, người thấy thân Phật thời được lợi ích, công chẳng luống uổng.
Tất cả chư Phật đều đủ chánh pháp bình đẳng của chư Phật.
Tất cả chư Phật khi làm Phật sự rồi, không đức Phật nào chẳng thị hiện nhập niết bàn.
Phật tử!  Chư Phật Thế Tôn có mười phương tiện thiện xảo:
Tất cả chư Phật biết rõ tất cả pháp đều rời hý luận mà hay khai thị thiện căn của chư Phật.  Đây là phương tiện thiện xảo thứ nhất.
Tất cả chư Phật biết tất cả pháp đều không chỗ thấy, đều chẳng biết nhau, không trói không mở, không thọ không nhóm, không thành tựu, tự tại rốt ráo đến bờ kia, nhưng nơi các pháp đều biết chân thật, chẳng riêng chẳng khác mà được tự tại, không ngã không thọ, chẳng hoại thực tế, đã được đến nơi bậc đại tự tại, thường hay quan sát tất cả pháp giới.  Đây là phương tiện thiện xảo thứ hundefinedi.
Tất cả chư Phật lìa hẳn các tướng, tâm không sở trụ, mà biết rõ tất cả chẳng loạn chẳng lầm, dầu biết tất cả tướng đều không tự tánh, mà đúng như thể tánh của nó đều hay khéo vào, cũng thị hiện vô lượng sắc thân và tất cả Phật độ thanh tịnh, những tướng trang nghiêm vô tận, nhóm đèn trí huệ diệt sự tối lầm của chúng sanh.  Đây là phương tiện thiện xảo thứ ba.
Tất cả chư Phật trụ nơi pháp giới, chẳng trụ quá khứ, vị lai, hiện tại.  Vì trong tánh như hư không có tướng tam thế. Mà hay diễn thuyết tam thế vô lượng chư Phật xuất hiện thế gian.  Làm cho người nghe thấy khắp cảnh giới của tất cả chư Phật.  Đây là phương tiện thiện xảo thứ tư.
Tất cả chư Phật thân, ngữ, ý nghiệp không chỗ tạo tác, không lai không khứ không trụ, rời những số pháp, đến nơi tất cả pháp bỉ ngạn mà làm tạng các pháp, đủ vô lượng trí, rõ suốt những pháp thế xuất thế, trí huệ vô ngại, thị hiện vô lượng thần lực tự tại, điều phục tất cả pháp giới chúng sanh.  Đây là phương tiện thiện xảo thứ năm.
Tất cả chư Phật biết tất cả pháp chẳng thấy được, chẳng phải một chẳng phải khác, chẳng phải lượng chẳng phải vô lượng, chẳng lai quá khứ, đều không tự tánh, cũng chẳng trái với các pháp thế gian.  Tất cả người trí ở trong không tự tánh, mà thấy tất cả pháp, tự tại với các pháp.  Nói rộng các pháp mà thường an trụ chân như thật tánh.  Đây là phương tiện thiện xảo thứ sáu.
Tất cả chư Phật ở trong một thời gian biết tất cả thời gian, đủ thiện căn thanh tịnh, nhập chánh vị mà không sở trước.  Nơi tất cả thời gian:  ngày, tháng, năm, kiếp, thành, hoại.  Những thời gian như vậy, chẳng trụ chẳng bỏ mà hay thị hiện hoặc ngày, hoặc đêm, một ngày, bảy ngày, nửa tháng, một tháng, một năm, trăm năm, một kiếp, nhiều kiếp, bất khả tư kiếp, bất khả thuyết kiếp, nhẫn đến tận vị lai tế kiếp, hằng vì chúng chuyển diệu pháp luân, chẳng đoạn chẳng thối không thôi dứt.  Đây là phương tiện thiện xảo thứ bảy.
Tất cả chư Phật hằng trụ pháp giới thành tựu vô lượng Phật vô úy và bất khả sổ biện tài, bất khả lượng biện tài, vô tận biện tài, vô đoạn biện tài, vô biên biện tài, bất cộng biện tài, vô cùng biện tài, chân thật biện tài, phương tiện khai thị tất cả cú biện, tất cả pháp biện, tuỳ theo căn tánh và cùng dục giải, dùng các thứ pháp môn nói bất khả thuyết bất khả thuyết trăm ngàn ức na do tha khế kinh, sơ trung hậu đều lành, thảy đều rốt ráo.  Đây là phương tiện thiện xảo thứ tám.
Tất cả chư Phật trụ tịnh pháp giới, biết tất cả pháp vốn không danh tự, không tên quá khứ, không tên hiện tại, không tên vị lai, không tên chúng sanh, không tên phi chúng sanh, không tên quốc độ, không tên phi quốc độ, không tên pháp, không tên phi pháp, không tên công đức, không tên phi công đức, không tên Bồ Tát, không tên Phật, không tên số, không tên phi số, không tên sanh, không tên diệt, không tên có, không tên không, không tên một, không tên nhiều.  Tại sao vậy?  Vì thể tánh các pháp bất khả thuyết.  Tất cả các pháp không phương không xứ, chẳng thể hiệp nói, chẳng thể tan nói, chẳng thẻ một nói, chẳng thể nhiều nói, âm thanh chẳng đến, ngôn ngữ đều dứt.  Dầu theo thế tục có các thứ ngôn thuyết mà không chỗ phan duyên, không chỗ tạo tác, xa lìa tất cả tưởng chấp hư vọng.  Như vậy rốt ráo đến nơi bỉ ngạn.  Đây là phương tiện thiện xảo thứ chín.
Tất cả chư Phật biết tất cả pháp bổn tánh tịch tịnh.  Vì không sanh nên chẳng phải sắc.  Vì không hí luận nên chẳng phải thọ.  Vì không danh số nên chẳng phải tưởng.  Vì không tạo tác nên chẳng phải hành.  Vì không chấp thủ nên chẳng phải thức.  Không nhập xứ nên chẳng phải xứ.  Vô sở đắc nên chẳng phải giới.  Nhưng cũng chẳng hoại tất cả pháp.  Bổn tánh vô khởi vì như hư không.  Tất cả pháp thảy đều không tịch, không nghiệp quả, không tu tập, không thành tựu, không xuất sanh, chẳng số, chẳng không số, chẳng hữu, chẳng vô, chẳng sanh, chẳng diệt, chẳng cấu, chẳng tịnh, chẳng nhập, chẳng xuất, chẳng trụ, chẳng không trụ, chẳng điều phục, chẳng không điều phục, chẳng chúng sanh, chẳng không chúng sanh, chẳng thọ mạng, chẳng không thọ mạng, chẳng nhân duyên, chẳng không nhân duyên.  Mà hay biết rõ những chúng sanh chánh định, tà định và bất định, vì họ thuyết diệu  pháp cho họ đến bỉ ngạn, thành tựu thập lực, tứ vô úy, hay sư tử hống, đủ nhất thiết trí, trụ cảnh giới Phật.  Đây là phương tiện thiện xảo thứ mười của chư Phật.
Phật tử!  Chư Phật Thế Tôn có mười Phật sự quảng đại vô lượng vô biên bất tư nghì, tất cả chư thiên và người không thể biết được.  Tam thế tất cả hàng thanh văn, độc giác cũng chẳng biết được.  Chỉ trừ thần lực của Như Lai.
Tất cả chư Phật nơi tận hư không khắp pháp giới tất cả thế giới cung trời Đâu Suất, đều hiện thọ sanh tu hạnh Bồ Tát làm Phật sự lớn, vô lượng sắc tướng, vô lượng oai đức, vô lượng quang minh, vô lượng âm thanh, vô lượng ngôn từ, vô lượng tam muội, vô lượng trí huệ, cảnh giới sở hành nhiếp lấy tất cả trời, người, ma, phạm, sa môn, bà la môn, a tu la, v.v... đại từ vô ngại, đại bi rốt ráo, bình đẳng lợi ích tất cả chúng sanh.  Hoặc làm cho họ sanh cõi trời, cõi người.  Hoặc tịnh các căn của họ, hoặc điều tâm của họ.  Có lúc vì họ mà nói ba thừa sai khác, hoặc nói viên mãn nhất thừa, khắp đều tế độ cho họ ra khỏi sanh tử.  Đây là Phật sự quảng đại thứ nhất.
Tất cả chư Phật từ trời Đâu Suất giáng thần thai mẹ, dùng tam muội rốt ráo quán pháp thọ sanh: như huyễn, như hóa, như bóng, như hư không, như dương diệm, tuỳ sở thích mà thọ vô lượng vô ngại, nhập pháp vô tránh, khởi trí vô trước, ly dục thanh tịnh, thành tựu tạng diệu trang nghiêm quảng đại, thọ thân rốt sau, trụ nơi lầu các đại bửu trang nghiêm mà làm Phật sự.  Hoặc dùng thần lực mà làm Phật sự.  Hoặc dùng chánh niệm mà làm Phật sự.  Hoặc hiện thần thông mà làm Phật sự.  Hoặc hiện trí nhật mà làm Phật sự.  Hoặc hiện cảnh giới quảng đại của chư Phật mà làm Phật sự.  Hoặc hiện vô lượng quang minh của chư Phật mà làm Phật sự.  Hoặc nhập vô số tam muội quảng đại mà làm Phật sự.  Hoặc hiện từ tam muội đó khởi mà làm Phật sự.
Bấy giờ, đức Như Lai ở trong mẫu thai, vì muốn lợi ích tất cả thế gian nên hiện nhiều cách để làm Phật sự.  Những là hoặc hiện sơ sinh, hoặc hiện đồng tử, hoặc hiện tại cung, hoặc hiện xuất gia, hoặc lại thị hiện thành đẳng chánh giác, hoặc thị hiện nhập đại niết bàn.  Như vậy, đều đùng các thứ phương tiện ở nơi tất cả phương, tất cả lưới, tất cả vòng, tất cả thứ, tất cả thế giới mà làm Phật sự.  Đây là Phật sự quảng đại thứ hai.
Tất cả chư Phật đều đã thanh tịnh tất cả thiện nghiệp, tất cả sanh trí đều đã sáng sạch, mà dùng sanh pháp dạy dỗ dẫn dắt quần mê, cho họ khai ngộ thực hành đủ các nghiệp lành.  Vì chúng sanh mà thị hiện đản sanh nơi vương cung.  Tất cả chư Phật nơi những sắc dục cung điện kỷ nhạc đều đã xa lìa không tham nhiễm, thường quán các cõi rỗng không chẳng có thể tánh, tất cả đồ vui thích đều chẳng chân thật, trì Phật tịnh giới rốt ráo viên mãn.  Quán những thê thiếp và kẻ hầu hạ nơi nội cung mà sanh lòng đại bi.  Quán các chúng sanh hư vọng chẳng thật mà sanh lòng đại từ.  Quán các thế gian không một gì là đáng thích mà sanh lòng đại hỉ.  Với tất cả pháp tâm được tự tại mà sanh lòng đại xả.  Đủ Phật công đức hiện sanh pháp giới, thân tướng viên mãn, quyến thuộc thanh tịnh, mà đối với tất cả đều không nhiễm trước.  Dùng âm thanh tuỳ loại mà vì chúng diễn thuyết, cho họ sanh lòng nhàm lìa thế pháp, như chỗ sở hành thị hiện đắc quả.  Lại dùng phương tiện tuỳ nghi giáo hóa:  kẻ chưa thành thục thời làm cho thành thục, kẻ đã thành thục thời làm cho được giải thoát.  Vì họ mà làm Phật sự cho họ chẳng thối chuyển.  Lại dùng tâm từ bi quảng đại hằng vì chúng sanh mà thuyết pháp, lại vì họ thị hiện ba thứ tự tại, cho họ khai ngộ tâm được thanh tịnh.  Dầu ở nội cung mọi người đều thấy, mà ở trong tất cả thế giới làm Phật sự.  Dùng đại trí huệ, dùng đại tinh tấn thị hiện những Phật thần thông vô ngại vô tận hằng trụ nơi ba thứ nghiệp phương tiện thiện xảo là thân nghiệp rốt ráo thanh tịnh, ngữ nghiệp theo trí huệ mà phát ra, ý nghiệp thậm thâm vô ngại.  Dùng phương tiện này để lợi ích chúng sanh.  Đây là Phật sự quảng đại thứ ba.
Tất cả chư Phật thị hiện ở những cung điện trang nghiêm, quán sát nhàm lìa bỏ mà xuất gia, muốn cho chúng sanh biết rõ thế pháp đều là vọng tưởng vô thường hư hoại, rất nhàm lìa chẳng nhiễm trước, dứt hẳn phiền não tham ái, tu hạnh thanh tịnh lợi ích chúng sanh.  Đương lúc xuất gia bỏ oai nghi thế tục, trụ trong pháp vô tránh, đầy đủ bổn nguyện vô lượng công đức.  Dùng ánh sáng đại trí diệt si tối thế gian.  Làm phước điền vô thượng cho các thế gian.  Thường vì chúng sanh mà tán thán công đức của Phật, cho họ ở nơi Phật gieo trồng những cội lành, dùng mắt trí huệ thấy nghĩa chân thật.  Lại vì chúng sanh mà khen nói công đức xuất gia thanh tịnh không lỗi, vĩnh viễn được xuất ly, mãi mãi làm tràng cao trí huệ cho thế gian.  Đây là Phật sự quảng đại thứ tư.
Tất cả chư Phật đủ nhất thiết trí, nơi vô lượng pháp đều đã thấy biết, dưới cội bồ đề thành đẳng chánh giác, hàng phục ma quân, oai đức đặc tôn.  Thân Phật sung mãn tất cả thế giới.  Thần lực chỗ làm vô biên vô tận.  Nơi nhất thiết trí đúng nghĩa sở hành đều được tự tại.  Tu các công đức đều đã viên mãn.  Tòa bồ đề của Phật đầy đủ trang nghiêm cùng khắp mười phương tất cả thế giới, Phật ngồi trên tòa này chuyển diệu pháp luân, nói tất cả hạnh nguyện của Bồ Tát, khai thị vô lượng Phật cảnh giới cho chư Bồ Tát đều được ngộ nhập, tu hành những diệu hạnh thanh tịnh, lại hay giáo hóa tất cả chúng sanh, khiến họ gieo căn lành sanh trong đất bình đẳng của Như Lai, trụ nơi vô biên diệu hạnh của Bồ Tát, thành tựu tất cả pháp công đức tối thắng.  Tất cả thế giới, tất cả chúng sanh, tất cả cõi Phật, tất cả pháp, tất cả Bồ Tát, tất cả giáo hóa, tất cả tam thế, tất cả điều phục, tất cả thần biến, tất cả tâm sở thích của tất cả chúng sanh đều khéo biết rõ mà làm Phật sự.  Đây là Phật sự quảng đại thứ năm.
Tất cả chư Phật chuyển bất thối pháp luân, vì làm cho chư Bồ Tát chẳng thối chuyển.  Chuyển vô lượng pháp luân, vì làm cho tất cả thế gian đều biết rõ.  Chuyển khai ngộ tất cả pháp luân, vì hay đại úy sư tử hống.  Chuyển nhất thiết pháp trí tạng pháp luân, vì khai cửa pháp tạng trừ ám chướng.  Chuyển vô ngại pháp luân, vì đồng hư không.  Chuyển vô trước pháp luân, vì quán tất cả pháp chẳng có chẳng không.  Chuyển chiếu thế pháp luân, vì làm cho tất cả chúng sanh được tịnh pháp nhãn.  Chuyển khai thị nhất thiết trí pháp luân, vì cùng khắp tất cả tam thế pháp.  Chuyển tất cả Phật đồng nhất pháp luân, vì tất cả Phật pháp chẳng trái nhau.  Tất cả chư Phật dùng vô lượng vô số trăm ngàn ức na do tha pháp luân như vậy, tùy theo tâm sai biệt của các chúng sanh mà làm Phật sự chẳng thể nghĩ bàn.  Đây là Phật sự quảng đại thứ sáu.
Tất cả chư Phật vào nơi tất cả vương đô thành ấp, vì những chúng sanh mà làm Phật sự.  Những là đô ấp của nhân vương, đô ấp của thiên vương, của long vương, dạ xoa vương, càn thát bà vương, a tu la vương, ca lâu la vương, khẩn na la vương, ma hầu la già vương, la sát vương, tỳ xá xà vương.  Tất cả đô ấp của chư vương như vậy lúc Phật vào cửa thành thời đại địa chấn động, quang minh chiếu khắp.  Người đui được thấy, kẻ điếc được nghe, kẻ điên cuồng được tỉnh, kẻ nghèo thiếu khốn khổ được no ấm yên vui.  Tất cả nhạc khí được kêu.  Những đồ trang sức, hoặc đeo hay chẳng đeo đều tự phát diệu âm, ai nghe tiếng đều vui mừng cả.  Tất cả chư Phật sắc thân thanh tịnh đầy đủ tướng tốt, người thấy không chán, hay vì chúng sanh mà làm Phật sự.  Những là hoặc đoái ngó, hoặc quán sát, hoặc động chuyển, hoặc co duỗi, hoặc đi, đứng, ngồi, nằm, hoặc nín, hoặc nói, hoặc hiền thần thông, hoặc thuyết pháp, hoặc dạy bảo, tất cả như vậy đều vì chúng sanh mà làm Phật sự.  Tất cả chư Phật khắp ở vô số thế giới, trong biển tâm sở thích của các loài chúng sanh mà khuyên họ niệm Phật, thường siêng quán sát gieo những căn lành, tu hạnh Bồ Tát, khen Phật sắc tướng vi diệu đệ nhất, tất cả chúng sanh khó gặp gỡ.  Nếu ai được thấy Phật mà sanh lòng kính tin thời phát khởi vô lượng pháp lành, chứa Phật công đức đều khắp thanh tịnh.  Khen ngợi Phật công đức như vậy rồi, phân thân qua khắp mười phương thế giới khiến các chúng sanh đều được chiêm ngưỡng phụng thờ, tư duy quán sát cung kính cúng dường, trồng những căn lành được phật hoan hỷ, thêm lớn Phật chủng, đều được thành Phật.  Dùng hạnh như vậy mà làm Phật sự.  Hoặc vì chúng sanh mà thị hiện sắc thân, hoặc phát diệu âm, hoặc chỉ vi tiếu, khiến họ tin mến, cúi đầu đảnh lễ, khom mình chấp tay, ca ngợi khen tặng thăm viếng hỏi thăm, dùng đây mà làm Phật sự.  Tất cả chư Phật dùng vô lượng, vô số, bất khả thuyết, bất khả tư những Phật sự như vậy, ở trong tất cả thế giới tuỳ tâm chúng sanh sở thích, dùng sức bổn nguyện, sức đại từ bi, sức nhất thiết trí, phương tiện giáo hóa đều làm cho họ được điều phục.  Đây là Phật sự quảng đại thứ bảy.
Tất cả chư Phật hoặc trụ A Lan Nhã mà làm Phật sự.  Hoặc ở chỗ tịch tịnh mà làm Phật sự.  Hoặc ở chỗ rãnh rang mà làm Phật sự.  Hoặc ở chỗ của Phật mà làm Phật sự.  Hoặc trụ trong tam muội mà làm Phật sự.  Hoặc ở một mình nơi vườn rừng mà làm Phật sự.  Hoặc ẩn thân chẳng hiện mà làm Phật sự.  Hoặc trụ nơi trí thậm thâm mà làm Phật sự.  Hoặc trụ cảnhh giới vô tỷ của Phật mà làm Phật sự.  Hoặc trụ những thân hành bất khả kiến, tuỳ tâm sở thích sở nguyện của chúng sanh phương tiện giáo hóa không thôi nghỉ mà làm Phật sự.  Hoặc dùng thân trời cầu nhất thiết trí mà làm Phật sự.  Hoặc dùng thân rồng, thân dạ xoa, nhẫn đến thân nhân và phi nhân cầu nhất thiết trí mà làm Phật sự.  Hoặc dùng thân thanh văn, thân độc giác, thân Bồ Tát cầu nhất thiết trí mà làm Phật sự.  Hoặc có lúc thuyết pháp, có lúc nín lặng mà làm Phật sự.  Hoặc nói một Phật, hoặc nói nhiều Phật mà làm Phật sự.  Hoặc nói chư Bồ Tát, tất cả hạnh, tất cả nguyện làm một hạnh nguyện mà làm Phật sự.  Hoặc nói cảnh giới Phật là cảnh giới thế gian mà làm Phật sự.  Hoặc nói cảnh giới thế gian là cảnh giới Phật mà làm Phật sự.  Hoặc nói cảnh giới Phật là chẳng phải cảnh giới mà làm Phật sự.  Hoặc trụ một ngày, hoặc trụ một đêm, hoặc trụ nửa tháng, hoặc trụ một tháng, hoặc trụ một năm, nhẫn đến trụ bất khả thuyết kiếp vì các chúng sanh mà làm Phật sự.  Đây là Phật sự quảng đại thứ tám.
Tất cả chư Phật là tạng sanh ra thiện căn thanh tịnh, làm cho các chúng sanh ở trong Phật pháp sanh tín giải thanh tịnh, các căn điều phục lìa hẳn thế gian.  Làm cho chư Bồ Tát ở nơi đạo bồ đề đủ sáng trí huệ chẳng do tha ngộ.  Hoặc hiện thế gian thảy đều vô thường mà làm Phật sự.  Hoặc nói chỗ làm thảy đều đã xong mà làm Phật sự.  Hoặc nói công đức viên mãn không thiếu mà làm Phật sự.  Hoặc nói dứt hẳn những căn bổn mà làm Phật sự.  Hoặc khiến chúng sanh nhàm rời thế gian tuỳ thuận tâm Phật mà làm Phật sự.  Hoặc nói thọ mạng trọn về nơi hết mà làm Phật sự.  Hoặc nói thế gian không một việc đáng vui mà làm Phật sự.  Hoặc vì tuyên nói tận vị lai tế cúng dường chư Phật mà làm Phật sự.  Hoặc nói chư Phật chuyển tịnh pháp luân khiến người được nghe rất vui mừng mà làm Phật sự.  Hoặc vì tuyên nói cảnh giới của chư Phật khiến họ phát tâm tu hành mà làm Phật sự.  Hoặc vì tuyên nói niệm Phật tam muội, khiến họ phát tâm thường thích thấy Phật mà làm Phật sự.  Hoặc vì tuyên nói các căn thanh tịnh, siêng cầu Phật đạo tâm không lười trễ mà làm Phật sự.  Hoặc chỉ tất cả cõi Phật, quán sát những cảnh giới các loại nhân duyên mà làm Phật sự.  Hoặc nhiếp tất cả những thân chúng sanh đều làm thân Phật, làm cho những chúng sanh lười biếng buông lung đều an trụ nơi cấm giới thanh tịnh của Như Lai mà làm Phật sự.  Đây là Phật sự quảng đại thứ chín.
Tất cả chư Phật lúc nhập niết bàn, vô lượng chúng sanh rất lo khổ kêu gào khóc than, nhìn nhau mà nói rằng:  Đức Như Lai Thế Tôn có đại từ bi, thương xót lợi ích tất cả thế gian, làm nơi cứu, làm chỗ về cho các chúng sanh.  Đức Như Lai xuất thế rất khó gặp.  Phước điền vô thượng nay đã mất hẳn.  Dùng việc như vậy làm cho chúng sanh mến luyến buồn khóc mà làm Phật sự.  Lại vì hóa độ tất cả trời, người, bát bộ, nên tùy theo sự thích muốn của họ, mà nát thân Phật thành ngọc xá lợi vô lượng vô số bất tư nghì, khiến các chúng sanh phát lòng tin thanh tịnh, cung kính tôn trọng, hoan hỷ cúng dường, tu các công đức đầy đủ viên mãn, lại xây tháp các thứ trang nghiêm đặt ở trong cung điện của trời, người, bát bộ để cúng dường.  Răng, móng, tóc của Phật cũng đều dựng tháp cúng dường.  Làm cho người thấy đều niệm Phật, niệm pháp, niệm tăng, tin mến không thôi, thành kính tôn trọng, bố thí cúng dường khắp mọi nơi, tu các công đức.  Do phước này, họ được sanh cõi trời hay trong nhân gian, dòng họ tôn vinh, tài sản đầy đủ, những quyến thuộc đều thanh tịnh, chẳng đọa ác thú, thường sanh thiện đạo, hằng được thấy Phật đủ những pháp lành, mau được xuất ly ba cõi, đều tùy sở nguyện được chứng quả nơi thừa của họ đã tu.  Đối với đức Như Lai thời biết ơn và báo ơn.  Trọn làm chỗ quy y cho thế gian.  Chư Phật Thế Tôn dầu nhập đại niết bàn, vẫn làm phước điền thanh tịnh bất tư nghì cho chúng sanh, là phước điền tối thượng công đức vô tận, làm cho các chúng sanh đầy đủ thiện căn, phước đức viên mãn.  Đây là Phật sự quảng đại thứ mười của chư Phật.
Phật tử!  Những Phật sự này quảng đại vô lượng bất tư nghì, tất cả thế gian trời, người, nhẫn đến tam thế thanh văn, độc giác đều chẳng biết được.  Chỉ trừ khi oai thần của Như Lai gia hộ.
Phật tử!  Chư Phật Thế Tôn có mười điều vô nhị thực hành pháp tự tại:
Một là tất cả chư Phật đều hay khéo nói lời thọ ký, quyết định không hai.
Hai là tất cả chư Phật đều hay tùy thuận tâm niệm của chúng sanh làm cho ý họ được thỏa mãn, quyết định không hai.
Ba là tất cả chư Phật đều hay hiện giác tất cả pháp, diễn thuyết ý nghĩa, quyết định không hai.
Bốn là tất cả chư Phật đều hay đầy đủ tam thế Phật trí huệ, quyết định không hai.
Năm là tất cả chư Phật đều biết tam thế tất cả sát na là một sát na, quyết định không hai.
Sáu là tất cả chư Phật đều biết tam thế tất cả cõi Phật vào một cõi Phật, quyết định không hai.
Bảy là tất cả chư Phật đều biết tam thế tất cả lời Phật là một lời Phật, quyết định không hai.
Tám là tất cả chư Phật đều biết tam thế tất cả chư Phật cùng tất cả chúng sanh được giáo hóa thể tánh bình đẳng, quyết định không hai.
Chín là tất cả chư Phật đều biết thế pháp và Phật pháp tánh không sai khác, quyết định không hai.
Mười là tất cả chư Phật đều biết tam thế chư Phật có bao nhiêu thiện căn đều đồng một thiện căn, quyết định không hai.
Phật tử!  Chư Phật Thế Tôn có mười pháp trụ, để an trụ tất cả pháp:
Một là tất cả chư Phật trụ giác ngộ tất cả pháp giới.
Hai là tất cả chư Phật trụ đại bi ngữ.
Ba là tất cả chư Phật trụ bổn đại nguyện.
Bốn là tất cả chư Phật trụ chẳng bỏ điều phục chúng sanh.
Năm là tất cả chư Phật trụ pháp không tự tánh.
Sáu là tất cả chư Phật trụ bình đẳng lợi ích.
Bảy là tất cả chư Phật trụ pháp không quên mất.
Tám là tất cả chư Phật trụ tâm không chướng ngại.
Chín là tất cả chư Phật trụ tâm hằng chánh định.
Mười là tất cả chư Phật trụ vào khắp tất cả pháp chẳng trái tướng thực tế.
Phật tử!  Chư Phật Thế Tôn có mười điều biết hết tất cả pháp không thừa sót:
Một là biết hết tất cả pháp quá khứ, không thừa sót.
Hai là biết hết tất cả pháp vị lai, không thừa sót.
Ba là biết hết tất cả pháp hiện tại, không thừa sót.
Bốn là biết hết tất cả pháp ngôn ngữ, không thừa sót.
Năm là biết hết tất cả đạo thế gian, không thừa sót.
Sáu là biết hết tất cả tâm chúng sanh, không thừa sót.
Bảy là biết hết tất cả những phẩm vị thượng trung hạ thiện căn của Bồ Tát, không thừa sót.
Tám là biết hết tất cả trí viên mãn và những thiện căn của Phật chẳng tăng, chẳng giảm, không thừa sót.
Chín là biết hết tất cả pháp đều từ duyên khởi, không thừa sót.
Mười là biết hết tất cả thế giới chủng, trong tất cả pháp giới những sự sai biệt như lưới thiên đế, không thừa sót.
Phật tử!  Chư Phật Thế Tôn có mười thứ lực.  Những là:  quảng đại lực, tối thượng lực, vô lượng lực, đại oai đức lực, nan hoạch lực, bất thối lực, kiên cố lực, bất khả hoại lực, tất cả thế gian bất tư nghì lực, tất cả chúng sanh vô năng động lực.
Phật tử!  Chư Phật Thế Tôn có mười thứ tràng đại kim cang dũng kiện pháp:
Tất cả chư Phật thân chẳng hư hoại, mạng chẳng thể dứt, thế gian độc dược không thể trúng, tất cả thế giới những tai thủy, hỏa, phong đều không thể làm hại đến thân Phật.  Tất cả các ma, thiên, long, bát bộ, quỷ, thần, hết thế lực của họ mưa kim cang lớn như núi tu di và núi thiết vi khắp cả đại thiên thế giới đồng thời rơi xuống, chẳng thể làm tâm Phật kinh sợ, nhẫn đến một sợi lông cũng chẳng lay động, Phật vẫn đi đứng ngồi nằm như thường không đổi.  Chỗ của Phật ngự, bốn phương xa gần chẳng cho rớt xuống thời không thể mưa xuống được.  Giả sử Phật không ngăn mà tha hồ cho mưa, thời cũng trọn chẳng bị tổn hại.  Nếu có chúng sanh được Phật hộ trì và Phật sai sử còn chẳng làm hại được, huống là thân của Như Lai.  Đây là tràng đại na la diên dũng kiện pháp thứ nhất của Phật.
Phật tử!  Tất cả chư Phật đem tất cả núi tu di, núi thiết vi, núi đại thiết vi, đại hải, núi rừng, cung điện, nhà cửa trong những thế giới khắp pháp giới để vào một lỗ lông đến suốt kiếp vị la mà các chúng sanh chẳng hay chẳng biết.  Chỉ trừ người được thần lực của đức Như Lai gia bị.  Bấy giờ nơi một lỗ lông, chư Phật giữ lấy tất cả thế giới suốt kiếp vị lai, hoặc đi đứng ngồi nằm chẳng hề biết mỏi nhọc.  Ví như hư không khắp giữ gìn tất cả thế giới khắp pháp giới mà không mỏi nhọc.  Chư Phật giữ lấy tất cả thế giới suốt kiếp vị lai nơi một lỗ lông không mỏi nhọc cũng như vậy.  Đây là tràng đại kim cang dũng kiện pháp thứ hai của chư Phật.
Phật tử!  Tất cả chư Phật có thể trong khoảng một niệm bước được bất khả thuyết bất khả thuyết thế giới vi trần số bước.  Mỗi mỗi bước đó bất khả thuyết bất khả thuyết phật sát vi trần số quốc độ.  Đi mãi như vậy trải qua tất cả vi trần số kiếp.  Giả sử có một tòa núi đại kim cang lớn bằng tất cả quốc độ mà đức Phật đã bước qua trên kia.  Có bất khả thuyết bất khả thuyết phật sát vi trần số núi đại kim cang như vậy, chư Phật có thể đem tất cả để vào một lỗ lông.  Số lỗ lông nơi thân Phật bằng với số lỗ lông của tất cả thân chúng sanh trong pháp giới cộng lại.  Nơi mỗi mỗi lỗ lông trên thân Phật đều để số núi đại kim cang như trên rồi giữ lấy mà du hành khắp thập phương tất cả thế giới, từ tiền tế suốt đến vị lai tế tất cả kiếp không ngơi nghỉ.  Thân Phật không tổn cũng không mỏi nhọc.  Tâm Phật luôn trụ đại định không tán loạn.  Đây là tràng đại kim cang dũng kiện pháp thứ ba của chư Phật.
Phật tử!  Tất cả chư Phật khi đã một lần ngồi ăn xong, ngồi kiết già trải qua tiền tế hậu tế bất khả thuyết kiếp, nhập nơi an lạc bất tư nghì  của chư Phật hưởng.  Thân Phật an trụ vắng lặng bất động, nhưng cũng chẳng bỏ phế việc hóa độ chúng sanh.
Phật tử!  Ví như có người nơi mỗi mỗi thế giới khắp hư không đều dùng đầu sợi lông thứ để đo lường.  Chư Phật có thể ở nơi chỗ một đầu lông ngồi kiết già suốt kiếp vị lai, như nơi chỗ một đầu lông, tất cả chỗ đầu lông cũng đều như vậy.
Phật tử!  Giả sử mười phương thế giới, tất cả chúng sanh trong đó, thân của họ đều lớn bằng tất cả thuyết phật sát vi trần số thế giới, nhẹ nặng cũng bằng.  Chư Phật có thể để tất cả chúng sanh đó trên đầu một ngón tay, tất cả đầu ngón tay cũng đều như vậy, trải qua suốt tất cả kiếp vị lai, đem tất cả chúng sanh ấy vào mỗi mỗi thế giới khắp hư không cùng pháp giới không thừa sót.  Mà thân tâm của Phật trọn không mỏi nhọc.  Đây là tràng đại kim cang dũng kiện pháp thứ tư của chư Phật.
Phật tử!  Tất cả chư Phật có thể ở nơi một thân hóa hiện bất khả thuyết bất khả thuyết phật sát vi trần số đầu.  Mỗi mỗi đầu hóa hiện bất khả thuyết bất khả thuyết phật sat vi trần số lưỡi.  Mỗi mỗi lưỡi hóa xuất bất khả thuyết bất khả thuyết phật sát vi trần số âm thanh sai khác, chúng sanh trong pháp giới không ai chẳng nghe.  Mỗi mỗi âm thanh diễn bất khả thuyết bất khả thuyết phật sát vi trần số pháp.  Mỗi mỗi pháp có bất khả thuyết bất khả thuyết phật sát vi trần số văn tự cú nghĩa.  Như vậy diễn thuyết suốt bất khả thuyết bất khả thuyết phật sát vi trần số kiếp.  Mãn số kiếp này rồi lại diễn thuyết suốt bất khả thuyết bất khả thuyết phật sát vi trần số kiếp.  Thứ đệ như vậy nhẫn đến hết tất cả thế giới vi trần số, hết tất cả chúng sanh tâm niệm số, vị lai tế kiếp còn có thể cùng tận, Như Lai hóa thân chuyển pháp luân không có cùng tận:  những là trí huệ diễn thuyết pháp luân, dứt những nghi hoặc pháp luân, chiếu tất cả pháp pháp luân, khai vô ngại tạng pháp luân, khiến vô lượng chúng sanh hoan hỷ điều phục pháp luân, khai thị tất cả Bồ Tát hạnh pháp luân, cao thăng viên mãn mặt nhật đại trí huệ pháp luân, khắp thắp đèn sáng trí huệ soi thế gian pháp luân, biện tài vô úy các thứ trang nghiêm pháp luân.  Như một thân Phật dùng sức thần thông chuyển những pháp luân sai biệt như vậy, tất cả thế pháp không ví dụ được.  Khắp hư không giới mỗi mỗi chỗ bằng đầu lông, có bất khả thuyết bất khả thuyết phật sát vi trần số thế giới, trong mỗi mỗi thế giới, niệm niệm hiện bất khả thuyết bất khả thuyết phật sát vi trần số hóa thân, mỗi mỗi hóa thân cũng đều chuyển pháp luân như vậy.  Âm thanh thuyết pháp, văn tự, câu nghĩa, mỗi mỗi sung mãn tất cả pháp giới, trong đó chúng sanh đều hiểu rõ được, mà ngôn âm của Phật không đổi, không dứt, không cùng tận.  Đây là tràng đại kim cang dũng kiện pháp thứ năm của chư Phật.
Phật tử!  Tất cả chư Phật đều dùng đức tướng trang nghiêm hông ngực như kim cang không bị tổn hoại.  Ngồi kiết già dưới cội bồ đề, quân ma số đông vô biên, các thứ dị hình rất đáng kinh sợ, chúng sanh thấy đó không ai chẳng kinh sợ, hãi hùng cuồng loạn hoặc ngất chết.  Chúng ma như vậy đầy chật hư không, Như Lai thấy đó lòng chẳng sợ, chẳng biến sắc, chẳng động một lông, cũng chẳng phân biệt lìa những hỉ nộ, vắng lặng thanh tịnh, trụ chỗ của Phật trụ, đủ sức từ bi, các căn điều phục, tâm vô uý và hay dẹp phục tất cả quân ma, khiến chúng ma hồi tâm cúi đầu quy y, rồi sau đó đức Phật dùng tam luân giáo hóa, khiến họ đều phát tâm vô thượng bồ đề, vĩnh viễn chẳng thối chuyển.  Đây là tràng đại kim cang dũng kiện pháp thứ sáu của chư Phật.
Phật tử!  Tất cả chư Phật có âm thanh vô ngại.   Âm thanh đó khắp tất cả thế giới mười phương, chúng sanh được nghe tự nhiên điều phục.  Âm thanh của chư Như Lai phát ra, tất cả núi lớn như tu di đều không ngăn chướng được.  Cung trời, cung rồng, cung của bát bộ thần cũng không ngăn chướng được.  Những âm thanh cao lớn của tất cả thế giới cũng không che chướng được.  Tuỳ theo tất cả chúng sanh đáng được hóa độ đều được nghe, đều hiểu rõ văn tự cú nghĩa.  Đây là tràng đại kim cang dũng kiện pháp thứ bảy của chư Phật.
Phật tử!  Tất cả chư Phật tâm không chướng ngại.  Trong trăm ngàn ức na do tha bất khả thuyết bất khả thuyết kiếp hằng khéo thanh tịnh.  Tam thế tất cả chư Phật đồng một thể tánh, không đục, không mờ, không ngã, không ngã sở, chẳng trong, chẳng ngoài, rõ cảnh trống lặng chẳng sanh vọng tưởng, không sở y, không sở tác, chẳng trụ các tướng, dứt hẳn phân biệt, bổn tánh thanh tịnh, bở rời tất cả phan duyên ức niệm, với tất cả pháp thường không chống đối.  Trụ nơi thực tế ly dục thanh tịnh, nhập chân pháp giới.  Diễn thuyết vô tận, rời số lượng, chẳng số lượng, bao nhiêu vọng tưởng tuyệt vi vô vi.  Tất cả ngôn thuyết, nơi bất khả thuyết vô biên cảnh giới đều đã thông đạt, vô ngại, vô tận trí huệ phương tiện thành tựu thập lực.  Tất cả công đức trang nghiêm thanh tịnh.  Diễn thuyết vô lượng những pháp đều chẳng trái với thật tướng.  Nơi những pháp quá khứ vị lai hiện tại trong pháp giới đều bình đẳng không khác rốt ráo tự tại.  Nhập tạng tối thắng của tất cả pháp.  Với tất cả pháp môn chánh niệm chẳng lầm.  An trụ mười phương tất cả cõi Phật mà không động chuyển.  Được trí bất đoạn, biết tất cả pháp rốt ráo không sót.  Hết những hữu lậu, tâm khéo giải thoát, huệ khéo giải thoát, trụ nơi thực tế thông đạt vô ngại, tâm thường chánh định.  Nơi tam thế pháp và tâm hành của tất cả chúng sanh, khoảng một niệm liễu đạt tất cả đều không chướng ngại.  Đây là tràng đại kim cang dũng kiện pháp thứ tám của chư Phật.
Phật tử!  Tất cả chư Phật đồng một pháp thân, cảnh giới vô lượng thân, công đức vô biên thân, thế gian vô tận thân, tam giới bất nhiễm thân, tùy niệm thị hiện thân, chẳng thật chẳng hư bình đẳng thanh tịnh thân, không lai không khứ vô vi bất hoại thân, nhất tướng vô tướng pháp tự tánh thân, không xứ không phương khắp tất cả thân, thần biến tự tại vô biên sắc tướng thân, các loại thị hiện vào khắp tất cả thân, diệu pháp phương tiện thân, trí tạng phổ chiếu thân, thị pháp bình đẳng thân, phổ biến pháp giới thân, không động không phân biệt, chẳng có chẳng không thường thanh tịnh thân, chẳng phương tiện chẳng không phương tiện, chẳng diệt chẳng không diệt, tùy theo những tín giải của tất cả chúng sanh đáng hóa độ mà thị hiện thân.  Từ tất cả công đức mà sanh ra thân, đủ tất cả Phật pháp chân như thân, bổn tánh tịch tịnh không chướng ngại thân, thành tựu tất cả vô ngại pháp thân, trụ khắp tất cả pháp giới thanh tịnh thân, phân hình cùng khắp tất cả thế gian thân, không phan duyên không thối chuyển trọn giải thoát đủ nhất thiết trí rõ thấu khắp cả thân.  Đây là tràng đại kim cang dũng kiện pháp thứ chín của chư Phật.
Phật tử!  Tất cả chư Phật đồng ngộ tất cả Như Lai pháp, đồng tu tất cả Bồ Tát hạnh, hoặc nguyện hoặc trí thanh tịnh bình đẳng, cũng như đại hải đều được đầy đủ, hành lực tôn thắng chưa từng thối kiếp, trụ nơi vô lượng cảnh giới của các tam muội, hiển thị tất cả đạo, khuyến thiện căn ác, trí lực đệ nhất, diễn pháp vô úy, tuỳ có ai hỏi đều khéo đáp, trí huệ thuyết pháp bình đẳng thanh tịnh, thân ngữ ý hành đều không tạp.  Trụ nơi Phật chủng tánh của chư Phật đã trụ.  Dùng trí huệ Phật mà làm Phật sự.  Trụ nhất thiết trí diễn vô lượng pháp, không có căn bổn, không có biên tế, thần thông trí huệ bất tư nghì.  Tất cả thế gian không ai hiểu được.  Trí huệ thâm nhập thấy tất cả các pháp vi diệu quảng đại vô lượng vô biên, tam thế pháp môn điều khéo thông đạt, tất cả thế giới đều hay khai hiểu.  Dùng trí xuất thế nơi các thế gian làm bất khả thuyết Phật sự.  Thành trí bất thối vào số chư Phật.  Dầu đã chứng được pháp chẳng thể ngôn thuyết rời vă tự, mà hay khai thị các thứ ngôn từ.  Dùng trí Phổ Hiền nhóm những hạnh lành.  Thành tựu diệu huệ một niệm tương ưng, đều biết rõ được tất cả pháp.  Tất cả chúng sanh như trước đã nhớ, đều y theo tự thừa để ban dạy pháp đó.  Tất cả các pháp, tất cả thế giới, tất cả chúng sanh, tất cả tam thế, ở trong pháp giới cảnh giới như vậy có vô lượng vô biên, dùng trí vô ngại đều thấy biết được.  Tất cả chư Phật trong một niệm, tuỳ chỗ đáng hóa độ mà xuất thế, ở cõi thanh tịnh thành đẳng chánh giác, hiện thần thông lực, khai ngộ tam thế tất cả chúng sanh, tâm ý và thức chẳng lỗi thời.  Chúng sanh vô biên, thế giới vô biên, pháp giới vô biên, tam thế  vô biên chư Phật tối thắng cũng vô biên đều hiện trong đó mà thành chánh giác, dùng Phật trí huệ phương tiện khai ngộ không thôi dứt.  Tất cả chư Phật dùng thần thông lực hiện tối diệu thân, trụ vô biên xứ, đại bi phương tiện tâm không chướng ngại, trong tất cả thời gian thường vì chúng sanh thuyết pháp không thôi dứt.  Đây là tràng đại kim cang dũng kiện pháp thứ mười của chư Phật.
Phật tử!  Tràng đại kim cang dũng kiện pháp của tất cả chư Phật vô lượng vô biên bất tư nghì.  Tất cả chúng sanh và hàng nhị thừa không hiểu biết được.   Chỉ trừ người được đức Như Lai dùng thần lực gia hộ.
Phật tử!  Chư Phật Thế Tôn có mười pháp quyết định:
Những là tất cả chư Phật quyết định từ trời Đâu Suất thọ mãn hạ sanh.
Tất cả chư Phật quyết định thị hiện thọ sanh ở thai mười tháng.
Tất cả chư Phật quyết định nhàm chán thế tục thích cầu xuất gia.
Tất cả chư Phật quyết định ngồi dưới cây bồ đề ngộ các Phật pháp thành đẳng chánh giác.
Tất cả chư Phật quyết định trong một niệm ngộ tất cả pháp, tất cả thế giới thị hiện thần lực.
Tất cả chư Phật quyết định hay ứng thời chuyển diệu pháp luân.
Tất cả chư Phật quyết định hay tùy kia đã gieo căn lành ứng thời thuyết pháp để thọ ký cho họ.
Tất cả chư Phật quyết định hay ứng thời vì họ mà làm Phật sự.
Tất cả chư Phật quyết định hay vì chư Bồ Tát đã thành tựu mà thọ ký.
Tất cả chư Phật quyết định hay một niệm đáp khắp lời hỏi của tất cả chúng sanh.
Phật tử!  Chư Phật Thế Tôn có mười pháp tốc tật:
Một là tất cả chư Phật, nếu có người thấy Phật, thời mau được xa lìa tất cả ác thú.
Hai là tất cả chư Phật, nếu có người thấy Phật, thời mau được viên mãn công đức thù thắng.
Ba là tất cả chư Phật, nếu có người thấy Phật, thời mau được thành tựu thiện căn quảng đại.
Bốn là tất cả chư Phật, nếu có người thấy Phật, thời mau được sanh lời trời tịnh diệu.
Năm là tất cả chư Phật, nếu có người thấy Phật, thời mau trừ dứt được tất cả nghi lầm.
Sáu là tất cả chư Phật, nếu có người đã phát bồ đề tâm mà được thấy Phật, thời mau được thành tựu tín giải quảng đại vĩnh viễn không thối chuyển, có thể tuỳ chỗ đáng độ mà giáo hóa chúng sanh.  Nếu người chưa phát tâm bồ đề mà được thấy Phật thời mau phát tâm vô thượng chánh đẳng chánh giác.
Bảy là tất cả chư Phật, nếu người chưa nhập chánh vị mà được thấy Phật thời mau nhập chánh vị.
Tám là tất cả chư Phật, nếu ai được thấy Phật, thời mau được thanh tịnh tất cả các căn thế gian và xuất thế gian.
Chín là tất cả chư Phật, nếu có ai được thấy Phật, thời mau diệt trừ được tất cả chướng ngại.
Mười là tất cả chư Phật, nếu có người được thấy Phật, thời mau được vô úy biện tài.
Phật tử!  Chư Phật Thế Tôn có mười điều phải thường ghi nhớ pháp thanh tịnh:
Một là tất cả chư Phật về nhân duyên quá khứ, tất cả Bồ Tát phải thường ghi nhớ.
Hai là tất cả chư Phật hạnh thanh tịnh thù thắng tất cả Bồ Tát phải thường ghi nhớ.
Ba là tất cả chư Phật đầy đủ các ba la mật, tất cả Bồ Tát phải thường ghi nhớ.
Bốn là tất cả chư Phật thành tựu đại nguyện, tất cả Bồ Tát phải thường ghi nhớ.
Năm là tất cả chư Phật chứa nhóm thiện căn, tất cả Bồ Tát phải thường ghi nhớ.
Sáu là tất cả chư Phật đã đủ phạm hạnh, tất cả Bồ Tát phải thường ghi nhớ.
Bảy là tất cả chư Phật hiện thành chánh giác, tất cả Bồ Tát phải thường ghi nhớ.
Tám là tất cả chư Phật sắc thân vô lượng, tất cả Bồ Tát phải thường ghi nhớ.
Chín là tất cả chư Phật thần thông vô lượng, tất cả Bồ Tát phải thường ghi nhớ.
Mười là tất cả chư Phật thập lực, tứ vô úy, tất cả Bồ Tát phải thường ghi nhớ.
Phật tử!  Chư Phật Thế Tôn có mười điều trụ nơi nhất thiết trí:
Một là tất cả chư Phật ở trong một niệm đều biết tam thế tất cả chúng sanh tâm và tâm sở hành.
Hai là tất cả chư Phật ở trong một niệm đều biết tam thế tất cả chúng sanh chứa nhóm các nghiệp và nghiệp quả báo.
Ba là tất cả chư Phật ở trong một niệm đều biết tất cả chúng sanh tùy sở nghi mà dùng tam luân giáo hóa điều phục.
Bốn là tất cả chư Phật ở trong một niệm biết hết  pháp giới tất cả chúng sanh chỗ có tâm tướng, ở tất cả xứ khắp hiện Phật xuất thế, khiến họ đều được phương tiện nhiếp thọ.
Năm là tất cả chư Phật ở  trong một niệm tùy khắp tâm nhạo dục giải của tất cả chúng sanh trong pháp giới mà thị hiện thuyết pháp cho họ điều phục.
Sáu là tất cả chư Phật ở trong một niệm đều biết tâm sở thích của tất cả chúng sanh trong pháp giới mà vì hiện thần lực.
Bảy là tất cả chư Phật ở trong một niệm khắp tất cả chỗ tù theo tất cả chúng sanh đáng được hóa độ mà thị hiện xuất thế, vì họ nói thân Phật chẳng nên thủ trước.
Tám là tất cả chư Phật ở trong một niệm đến khắp pháp giới tất cả chỗ, tất cả chúng sanh, tất cả lục đạo.
Chín là tất cả chư Phật ở trong một niệm tùy các chúng sanh có ai nhớ tưởng, không chỗ nào là Phật không đến ứng.
Mười là tất cả chư Phật ở trong một niệm đều biết chỗ hiểu và chí muốn của tất cả chúng sanh mà vì họ thị hiện vô lượng sắc thân.
Phật tử!  Chư Phật Thế Tôn có mười Phật tam muội vô lượng bất tư nghì:
Một là tất cả chư Phật hằng tại chánh định ở trong một niệm khắp tất cả chỗ vì khắp chúng sanh mà nói rộng diệu pháp.
Hai là tất cả chư Phật hằng tại chánh định, ở trong một niệm khắp tất cả chỗ vì các chúng sanh mà nói vô ngã tế.
Ba là tất cả chư Phật hằng tại chánh định, ở trong một niệm khắp tất cả chỗ vào suốt tam thế.
Bốn là tất cả chư Phật hằng tại chánh định, ở trong một niệm khắp tất cả chỗ vào khắp mười phương Phật độ quảng đại.
Năm là tất cả chư Phật hằng tại chánh định, ở trong một niệm khắp tất cả chỗ hiện khắp vô lượng Phật thân.
Sáu là tất cả chư Phật hằng tại chánh định, ở trong một niệm khắp tất cả chỗ nói chân tế ly dục của tất cả pháp.
Tám là tất cả chư Phật hằng tại chánh định, ở trong một niệm khắp tất cả chỗ diễn thuyết tất cả duyên khởi tự tánh.
Chín là tất cả chư Phật hằng tại chánh định, ở trong một niệm khắp tất cả chỗ thị hiện vô lượng sự trang nghiêm quảng đại của thế gian và xuất thế gian, khiến các chúng sanh thường được thấy Phật.
Mười là tất cả chư Phật hằng tại chánh định, ở trong một niệm khắp tất cả chỗ khiến các chúng sanh đều được thông đạt tất cả Phật pháp vô lượng giải thoát, rốt ráo đến nơi bỉ ngạn vô thượng.
Phật tử!  Chư Phật Thế Tôn có mười vô ngại giải thoát:
Một là tất cả chư Phật hay ở nơi một vi trần hiện bất khả thuyết bất khả thuyết chư Phật xuất thế.
Hai là tất cả chư Phật hay ở nơi một vi trần hiện bất khả thuyết bất khả thuyết chư Phật chuyển tịnh pháp luân.
Ba là tất cả chư Phật hay ở nơi một vi trần hiện bất khả thuyết bất khả thuyết chúng sanh được giáo hóa điều phục.
Bốn là tất cả chư Phật hay ở nơi một vi trần hiện bất khả thuyết bất khả thuyết chư Phật quốc độ.
Năm là tất cả chư Phật hay ở nơi một vi trần hiện bất khả thuyết bất khả thuyết Bồ Tát thọ ký.
Sáu là tất cả chư Phật hay ở nơi một vi trần hiện tam thế tất cả chư Phật.
Bảy là tất cả chư Phật hay ở nơi một vi trần hiện tam thế tất cả thế giới chủng.
Tám là tất cả chư Phật hay ở nơi một vi trần hiện tam thế tất cả thần thông.
Chín là tất cả chư Phật hay ở nơi một vi trần hiện tam thế tất cả chúng sanh.
Mười là tất cả chư Phật hay ở nơi một vi trần hiện tam thế tất cả Phật sự."








Tôi nhìn em, đôi mắt ở đậu,
Giữa cõi mê, tôi ở thật lâu,
Em cũng hiểu, cho nên cười nụ,
Chút mưu toan, khơi một bể sầu.
canary
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2009-12-17 03:58:57canary>
Kinh Hoa Nghiêm
Tập 5

Phẩm Như Lai thập thân tướng hải
Thứ ba mươi bốn



(Hán bộ quyển bốn mươi tám)

Bấy giờ, Phổ Hiền đại Bồ Tát bảo chư Bồ Tát rằng:  "Chư Phật tử!  Nay tôi sẽ vì các ngài mà diễn nói những tướng hải của Như Lai.
Chư Phật tử!  Trên đảnh đức Như Lai có ba mươi hai bửu trang nghiêm đại nhân tướng.  Trong đó có đại nhân tướng tên là Quang chiếu tất cả phương khắp phóng vô lượng lưới đại quang minh, tất cả diệu bửu dùng làm trang nghiêm.  Tóc báu cùng khắp kín đầy mềm nhuyễn, mỗi mỗi đều phóng ánh sáng ma ni bửu chiếu khắp tất cả vô biên thế giới, đều hiện thân Phật sắc tướng viên mãn.  Đây là thứ nhất.
Kế có đại nhân tướng tên là Phật nhãn quang minh vân, dùng ma ni vương để trang nghiêm phóng ra ánh sáng màu huỳnh kim như tướng lông giữa chặn mày.  Quang minh phóng ra đây chiếu khắp tất cả thế giới.  Đây là thứ hai.
Kế có đại nhân tướng tên là Sung mãn pháp giới vân, bửu luân thượng diệu dùng để trang nghiêm, phóng ánh sáng đèn phước trí của Như Lai, chiếu khắp mười phương tất cả pháp giới những thế giới hải, trong đó hiện khắp tất cả chư Phật và chư Bồ Tát.   Đây là thứ ba.
Kế có đại nhân tướng tên là Thị hiện phổ chiếu vân, trang nghiêm bằng chân kim ma ni.  Những diệu bửu đó đều phóng quang minh chiếu bất tư nghì cõi nước Phật.  Tất cả chư Phật xuất hiện trong quang minh này.  Đây là thứ tư.
Kế có đại nhân tướng tên là Phóng bửu quang minh vân, ma ni bửu vương thanh tịnh trang nghiêm.  Tùy lưu ly bửu làm hoa nhụy.  Ánh sáng chiếu khắp mười phương tất cả thế giới, trong đó hiện khắp tất cả thần biến, ca ngợi trí huệ công đữc của Như Lai đã tu hành thuở xưa.  Đây là thứ năm.
Kế có đại nhân tướng tên là Thị hiện Như Lai khắp pháp giới đại tự tại vân, Bồ Tát thần biến bửu diệm ma ni làm mão, đầy đủ Như Lai lực giác ngộ tất cả bửu diệm quang luân làm tràng hoa.  Quang luân này chiếu khắp thập phương thế giới, trong đó thị hiện tất cả Như Lai ngồi đạo tràng, mây nhất thiết trí đầy khắp hư không vô lượng pháp giới.  Đây là thứ sáu.
Kế có đại nhân tướng tên là Như Lai phổ đăng vân, dùng đại tự tại bửu hải hay chấn động cõi nước trong pháp giới để trang nghiêm.  Phóng tịnh quang minh chiếu khắp pháp giới.  Trong đó khắp hiện công đức hải của thập phương chư Bồ Tát, và khắp hiện trí huệ tràng hải của tam thế chư Phật.  Đây là thứ bảy.
Kế có đại nhân tướng tên là Phổ chiếu chư Phật quảng đại vân, trang nghiêm với nhân là la bửu, như ý vương bửu, ma ni vương bửu, thường phóng Bồ Tát diệm đăng quang minh chiếu khắp mười phương tất cả thế giới, trong đó hiển hiện các sắc tướng hải của tất cả chư Phật, và hiển hiện đại âm thanh hải, thanh tịnh lực hải của tất cả chư Phật.  Đây là thứ tám.
Kế có đại nhân tướng tên là Viên mãn quang minh vân, trang nghiêm với các thứ bửu hoa bằng thượng diệu lưu ly ma ni vương, phóng lưới đại quang minh khắp mười phương tất cả thế giới.  Tất cả chúng sanh đều thấy đức Như Lai hiện ngồi trước mình, khen ngợi công đức pháp thân của chư Phật và chư Bồ Tát, khiến vào cảnh giới thanh tịnh của Như Lai.  Đây là thứ chín.
Kế có đại nhân tướng tên là Chiếu khắp tất cả Bồ Tát hạnh tạng quang minh vân, trang nghiêm với những bửu hoa đẹp.  Bửu quang chiếu khắp vô lượng thế giới.  Bửu diệm trùm khắp tất cả quốc độ.  Thập phương thế giới thông đạt vô ngại.  Chấn động Phật âm tuyên thông pháp hải.  Đây là thứ mười.
Kế có đại nhân tướng tên là Phổ quang chiếu diệu vân, trang nghiêm bằng tỳ lưu ly nhân đà la kim cang ma ni.  Bửu quang ma ni sắc tướng sáng thấu chiếu khắp tất cả thế giới hải, phát ra âm thanh vi diệu tràn đầy pháp giới.  Như thế đều từ trí huệ đại công đức hải của chư Phật mà hóa hiện.  Đây là thứ mười một.
Kế có đại nhân tướng tên là Chánh giác vân, dùng tạp bửu hoa để trang nghiêm.  Những bửu hoa đó đều phóng quang minh, đều có Như Lai ngồi đạo tràng, khắp đầy tất cả vô biên thế giới, khiến các thế giới đều khắp thanh tịnh, dứt hẳn tất cả vọng tưởng phân biệt.  Đây là thứ mười hai.
Kế có đại nhân tướng tên là Quang minh chiếu diệu vân, dùng bửu diệm tạng hải tâm vương ma ni để trang nghiêm, phóng đại quang minh.  Trong quang minh hiển hiện vô lượng Bồ Tát và Bồ Tát hạnh, tất cả Như Lai, trí thân, pháp thân, các sắc tướng hải đầy dẫy pháp giới.  Đây là thứ mười ba.
Kế có đại nhân tướng tên là Trang nghiêm phổ chiếu vân, dùng kim cang hoa tỳ lưu ly bửu để trang nghiêm, phóng đại quang minh, trong quang minh có tòa đại bửu liên hoa, đầy đủ trang nghiêm, che trùm pháp giới, tự nhiên diễn thuyết bốn hạnh Bồ Tát.  Tiếng đó thấu khắp pháp giới hải.  Đây là thứ mười bốn.
Kế có đại nhân tướng tên là hiện Phật tam muội hải hạnh vân, trong một niệm thị hiện Như Lai vô lượng trang nghiêm, trang nghiêm khắp tất cả pháp giới bất tư nghì thế giới hải.  Đây là thứ mười lăm.
Kế có đại nhân tướng tên là Biến hóa hải phổ chiếu vân, trang nghiêm với diệu bửu liên hoa như núi tu di.  Những bửu quang minh từ Phật nguyện sanh, hiện các sự biến hóa không có cùng tận.  Đây là thứ mười sáu.
Kế có đại nhân tướng tên là Nhất thiết Như Lai giải thoát vân, trang nghiêm với diệu bửu thanh tịnh, phóng đại quang minh trang nghiêm tất cả tòa sư tử của chư Phật.  Thị hiện tất cả sắc tướng của chư Phật, và vô lượng Phật pháp, cùng chư Phật sát hải.  Đây là thứ mười bảy.
Kế có đại nhân tướng tên là Tự tại phương tiện phổ chiếu vân, trang nghiêm bằng những tỳ lưu ly hoa, chân kim liên hoa, ma ni vương đăng, diệu pháp diệm vân, phóng tất cả quang minh thanh tịnh bửu diệm mật vân của chư Phật tràn đầy pháp giới, trong đó hiện khắp tất cả đồ trang nghiêm đẹp tốt.  Đây là thứ mười tám.
Kế có đại nhân tướng tên là Giác Phật chủng tánh vân, trang nghiêm với vô lượng bửu quang, đầy đủ ngàn luân, trong ngoài thanh tịnh, từ thiện căn thuở xưa sanh ra.  Quang minh này chiếu khắp thập phương thế giới, phát minh trí nhật, tuyên bố pháp hải.  Đây là thứ mười chín.
Kế có đại nhân tướng tên là Hiện tất cả tướng Như Lai tự tại vân, trang nghiêm với những bửu anh lạc, lưu ly bửu hoa, phóng đại bửu diệm đầy khắp pháp giới.  Trong đó hiện khắp tam thế vô lượng chư Phật bằng số vi trần trong tất cả Phật độ, như sư tử vương dũng mãnh vô úy, đều đầy đủ sắc, tướng và trí huệ.  Đây là thứ hai mươi.
Kế có đại nhân tướng tên là Biến chiếu nhất thiết pháp giới vân, Như Lai bửu tướng thanh tịnh trang nghiêm, phóng đại quang minh chiếu khắp pháp giới, hiển hiện tất cả vô lượng vô biên trí huệ diệu tạng của chư Bồ Tát.  Đây là thứ hai mươi mốt.
Kế có đại nhân tướng tên là Tỳ Lô Giá Na Như Lai tướng vân, trang nghiêm với bửu hoa thượng diệu và tỳ lưu ly thanh tịnh diệu nguyệt, đều phóng vô lượng trăm ngàn vạn ức ma ni bửu quang, đầy khắp tất cả hư không pháp giới.  Trong đó hiển hiện vô lượng cõi Phật, đều có Như Lai ngồi kiết già.  Đây là thứ hai mươi hai.
Kế có đại nhân tướng tên là Phổ chiếu nhất thiết Phật quang minh vân, trang nghiêm với những đèn báu đẹp, phóng tịnh quang minh chiếu khắp mười phương tất cả thế giới, đều hiện chư Phật chuyển pháp luân.  Đây là thứ hai mươi ba.
Kế có đại nhân tướng tên là Phổ hiện nhất thiết trang nghiêm vân, trang nghiêm với những bửu diệm phóng tịnh quang minh tràn đầy pháp giới, niệm niệm thường niệm bất khả thuyết bất khả thuyết tất cả chư Phật và chư Bồ Tát ngồi nơi đạo tràng.  Đây là thứ hai mươi bốn.
Kế có đại nhân tướng tên là Xuất tất cả pháp giới âm thanh vân, trang nghiêm với ma ni bửu hải và thượng diệu chiên đàn.  Phóng lưới đại diệm tràn đầy pháp giới, trong đó diễn khắp âm thanh vi diệu, hiển thị tất cả  nghiệp hải của tất cả chúng sanh.  Đây là thứ hai mươi lăm.
Kế có đại nhân tướng tên là Phổ chiếu chư Phật biến hóa luân vân, Như Lai tịnh nhãn dùng làm trang nghiêm, quang chiếu tất cả thế giới mười phương.  Trong đó hiện khắp tất cả đồ trang nghiêm của tam thế Phật.  Lại phát diệu âm diễn nói pháp hải quảng đại bất tư nghì.  Đây là thứ hai mươi sáu.
Kế có đại nhân tướng tên là Quang chiếu Phật hải vân, quang minh chiếu khắp tất cả thế giới, khắp cả pháp giới không bị chướng ngại, đều có đức Như Lai ngồi kiết già.  Đây là thứ hai mươi bảy.
Kế có đại nhân tướng tên là Bửu đăng vân, phóng Phật quảng đại quang minh, chiếu khắp mười phương tất cả pháp giới.  Trong đó hiện khắp tất cả chư Phật và chư Bồ Tát cùng bất tư nghì các chúng sanh hải.  Đây là thứ hai mươi tám.
Kế có đại nhân tướng tên là Pháp giới vô sai biệt vân, phóng Phật đại trí quang minh, chiếu khắp mười phương cõi Phật, và tất cả Bồ Tát đạo tràng chúng hội vô lượng pháp hải.  Trong đó hiện khắp các thứ thần thông.  Lại phát diệu âm tùy tâm sở thích của các chúng sanh mà diễn nói hạnh nguyện của Phổ Hiền Bồ Tát, khiến họ hồi hướng.  Đây là thứ hai mươi chín.
Kế có đại nhân tướng tên là An trụ tất cả thế giởi hải phổ chiếu vân, phóng bửu quang minh tràn đầy tất cả hư không pháp giới.  Trong đó hiện khắp đạo tràng tịnh diệu và thân tướng trang nghiêm của Phật cùng Bồ Tát, khiến ai ngó thấy đều được vô sở kiến.  Đây là thứ ba mươi.
Kế có đại nhân tướng tên là Nhất thiết bửu thanh tịnh quang diệm vân, phóng vô lượng quang minh thanh tịnh ma ni diệu bửu của chư Phật và Bồ Tát, chiếu khắp mười phương tất cả pháp giới, trong đó hiện khắp chư Bồ Tát hải đều đầy đủ thần lực của Như Lai, thường du hành thập phương cùng tận cõi hư không tất cả sát võng.  Đây là thứ ba mươi mốt.
Kế có đại nhân tướng tên là Chiếu khắp tất cả pháp giới trang nghiêm vân, ở ngay giữa tất cả tướng lần lần vun cao, trang nghiêm với diêm phù đàn kim nhân đà la võng, phóng tịnh quang vân tràn đầy pháp giới, niệm niệm thường hiện tất cả thế giới chư Phật Bồ Tát đạo tràng chúng hội.  Đây là thứ ba mươi hai.
Trên đây là ba mươi hai tướng đại nhân trang nghiêm trên đảnh của đức Như Lai.
Chư Phật tử!  Giữa chặn mày của đức Như Lai có đại nhân tướng tên là Biến pháp giới quang minh vân, trang nghiêm với ma ni bửu hoa, phóng đại quang minh đủ những bửu sắc, dường như mặt trời mặt trăng, suốt thấu thanh tịnh.  Quang minh này chiếu khắp mười phương quốc độ, trong đó hiển hiện tất cả thân Phật.  Lại xuất diệu âm tuyên dương pháp hải.   Đây là thứ ba mươi ba.
Mắt của Như Lai có đại nhân tướng tên là Tự tại phổ kiến vân, trang nghiêm với những diệu bửu, ma ni bửu quang thanh tịnh sáng suốt, thấy khắp tất cả  đều không chướng ngại.  Đây là thứ ba mươi bốn.
Mũi của Như Lai có đại nhân tướng tên là Nhất thiết nhất thiết thần thông trí huệ vân, trang nghiêm với diệu bửu thanh tịnh, những quang minh bửu sắc giăng che trên đó, trong đó xuất hiện vô lượng hóa Phật tọa bửu liên hoa qua đến các thế giới, vì tất cả Bồ Tát và tất cả chúng sanh diễn bất tư nghì Phật pháp hải.  Đây là thứ ba mươi lăm.
Lưỡi của Như Lai có đại nhân tướng tên là Thị hiện âm thanh ảnh tượng vân, trang nghiêm với diệu bửu nhiều màu, do thiện căn nhiều đời trước thành tựu.  Lưỡi đó rộng dài che khắp tất cả thế giới hải.  Đức Như Lai hoặc vui vẻ vi tiếu tất phóng tất cả ma ni bửu quang, quang minh này chiếu khắp mười phương pháp giới, hay làm cho tất cả tâm được thanh lương.  Tam thế tất cả chư Phật đều hiển hiện sáng rỡ trong quang minh đó, đều phát âm thanh vi diệu quảng đại khắp tất cả cõi, trụ vô lượng kiếp.  Đây là thứ ba mươi sáu.
Lưỡi của Như Lai lại có đại nhân tướng tên là Pháp giới vân, bằng phẳng các thứ báu trang nghiêm, phóng diệu bửu quang sắc tướng đều viên mãn như quang minh từ giữa chặn mày phóng ra.  Quang minh này chiếu khắp tất cả cõi Phật, chỉ vi trần hiệp thành không có tự tánh.  Trong quang minh lại hiện vô lượng chư Phật đều phát diệu âm thuyết tất cả pháp.  Đây là thứ ba mươi bảy.
Đầu lưỡi của Như Lai có đại nhân tướng tên là Chiếu pháp giới quang minh vân, trang nghiêm với như ý bửu vương, tự nhiên hằng xuất  bửu diệm màu chân kim, trong đó ảnh hiện tất cả Phật hải, lại phát diệu âm tràn đầy tất cả vô biên thế giới.  Trong mỗi mỗi diệu âm đủ tất cả âm thanh đều diễn thuyết pháp, người nghe tâm vui đẹp, trải vô lượng kiếp nghiền ngẫm chẳng quên.  Đây là thứ ba mươi tám.
Đầu lưỡi của Như Lai lại có đại nhân tướng tên là Chiếu diệu pháp giới vân, dùng ma ni bửu vương để nghiêm sức diễn những sắc tướng quang minh vi diệu đầy khắp vô lượng cõi nước, khắp pháp giới đều thanh tịnh.  Trong đó đều có vô lượng chư Phật và chư Bồ Tát đều phát diệu âm phương tiện khai thị, tất cả Bồ Tát hiện tiền thính thọ.  Đây là thứ ba mươi chín.
Hàm trên trong miệng của Như Lai có đại nhân tướng tên là Thị hiện bất tư nghì pháp giới vân, dùng nhân đà la bửu và tỳ lưu ly bửu để trang nghiêm.  Phóng hương đăng diệm thanh tịnh quang vân đầy khắp tất cả pháp giới mười phương, thị hiện các thứ thần thông phương tiện, khắp tất cả thế giới hải, khai diễn pháp thậm thâm bất tư nghì.  Đây là thứ bốn mươi.
Trong miệng của Như Lai, phía dưới răng nanh hữu có đại nhân tướng tên là Phật nha vân, tướng luân chữ vạn bằng những bửu ma ni dùng trang nghiêm, phóng đại quang minh chiếu khắp pháp giới, trong đó hiện khắp tất cả thân Phật, châu lưu thập phương khai ngộ quần sanh.  Đây là thứ bốn mươi mốt.
Phía trên răng nanh hữu có đại nhân tướng tên là Bửu diệm di lô tạng luân, trang nghiêm với ma ni bửu tạng.  Phóng kim cang hương diệm thanh tịnh quang minh.  Mỗi mỗi quang minh tràn đầy pháp giới thị hiện tất cả thần lực chư Phật, lại hiện tất cả đạo tràng tịnh diệu trong thập phương thế giới.  Đây là thứ bốn mươi hai.
Phía dưới răng nanh tả có đại nhân tướng tên là Bửu đăng phổ chiếu vân, trang nghiêm với tất cả diệu bửu nở hoa pháp hương.  Phóng đăng diệm vân thanh tịnh quang minh đầy khắp tất cả thế giới hải.  Trong đó hiển hiện tất cả chư Phật ngồi tòa liên hoa tạng sư tử.  Chúng Bồ Tát vi nhiễu quanh Phật.  Đây là thứ bốn mươi ba.
Phía trên răng nanh tả có đại nhân tướng tên là chiếu hiện Như Lai vân, trang nghiêm với thanh tịnh quang minh, diêm phù đàn kim, lưới báu và hoa báu, phóng đại diệm luân đầy khắp pháp giới, trong đó hiện khắp tất cả chư Phật, dùng thần lực ở trong hư không lưu bố pháp nhũ, pháp đăng, pháp bửu, giáo hóa tất cả chúng Bồ Tát.  Đây là thứ bốn mươi bốn.
Răng của Như Lai có đại nhân tướng tên là Phổ hiện quang minh vân, giữa mỗi mỗi răng có tướng hải trang nghiêm.  Nếu lúc Phật vi tiếu đều phóng quang minh đủ những bửu sắc, bửu diệm ma ni uyển chuyển xoay phía hữu lưu bố pháp giới đều cùng khắp, diễn ngôn âm của Phật, thuyết hạnh Phổ Hiền.  Đây là thứ bốn mươi lăm.
Môi Như Lai có đại nhân tướng tên là Ảnh hiện tất cả bửu quang vân, phóng quang minh quảng đại màu diêm phù đàn kim, màu liên hoa, màu tất cả bửu, chiếu khắp pháp giới làm cho đều thanh tịnh.  Đây là thứ bốn mươi sáu.
Cổ Như Lai có đại nhân tướng tên là Phổ chiếu tất cả thế giới vân, trang nghiêm với ma ni bửu vương, mềm nhuyễn mịn láng, phóng tỳ lô giá na thanh tịnh quang minh, đầy khắp mười phương tất cả thế giới, trong đó hiện khắp tất cả chư Phật.  Đây là thứ bốn mươi bảy.
Vai hữu của Như Lai có đại nhân tướng tên là Phật quảng đại nhất thiết bửu vân, phóng quang minh màu tất cả bửu, màu chân kim, màu liên hoa, thành lưới bửu diệm, chiếu khắp pháp giới trong đó hiện khắp tất cả Bồ Tát.  Đây là thứ bốn mươi tám.
Vai hữu của Như Lai lại có đại nhân tướng tên là Tối thắng bửu phổ chiếu vân, màu thanh tịnh như vàng diêm phù đàn, phóng ma ni quang tràn đầy pháp giới, trong đó hiển hiện tất cả Bồ Tát.  Đây là thứ bốn mươi chín.
Vai tả của Như Lai có đại nhân tướng tên là Tối thắng quang chiếu pháp giới vân, các thứ trang nghiêm như trên đảnh và giữa mày phóng bửu quang minh vàng diêm phù đàn, màu liên hoa thành lưới sáng lớn tràn đầy pháp giới, trong đó thị hiện tất cả thần lực.   Đây là thứ năm mươi.
Vai tả của Như Lai lại có đại nhân tướng tên là Quang minh biến chiếu vân, tướng đó xoay về phía hữu, trang nghiêm với ma ni bửu vương màu vàng diêm phù đàn, phóng những quang minh bửu hoa hương diệm tràn đầy pháp giới, trong đó hiện khắp tất cả chư Phật và cùng tất cả cõi nước nghiêm tịnh.  Đây là thứ năm mươi mốt.
Vai tả của Như Lai lại có đại nhân tướng tên là Phổ chiếu diệu vân, tướng đó xoay phía hữu vi mật trang nghiêm, phóng quang minh thanh tịnh Phật đăng diệm vân đầy khắp pháp giới, trong đó hiển hiện tất cả  Bồ Tát, những sự trang nghiêm thảy đều diệu hảo.  Đây là thứ năm mươi hai.
Giữa ngực Như Lai có đại nhân tướng hình như chữ vạn tên là Kiết tường hải vân, trang nghiêm với  ma ni bửu hoa, phóng những quang diệm vân màu tất cả bửu tràn đầy pháp giới làm cho khắp thanh tịnh.  Lại diễn diệu âm diễn thông pháp hải.  Đây là thứ năm mươi ba.
Bên hữu tướng kiết tường có đại nhân tướng tên là Thị hiện quang chiếu vân, dùng lưới nhân đà la để trang nghiêm, phóng đại quang luân đầy khắp pháp giới, trong đó hiện khắp vô lượng chư Phật.  Đây là thứ năm mươi bốn.
Bên hữu tướng kiết tường lại có đại nhân tướng tên là Phổ hiện Như Lai vân dùng ma ni bửu quang của chư Bồ Tát để trang nghiêm, phóng đại quang minh chiếu khắp mười phương tất cả thế giới đều làm cho thanh tịnh, trong đó thị hiện tam thế Phật ngồi nơi đạo tràng, khắp hiện thần lực, tuyên rộng pháp hải.  Đây là thứ năm mươi lăm.
Bên hữu tướng kiết tướng lại có đại nhân tướng tên là Khai phu hoa vân, trang nghiêm với ma ni bửu hoa, phóng bửu hương diệm đăng thanh tịnh quang minh tạng như liên hoa, đầy khắp pháp giới.  Đây là thứ năm mươi sáu.
Bên hữu tướng kiết tường lại có đại nhân tướng tên là Khả duyệt lạc kim sắc vân, trang nghiêm với ma ni vương tất cả bửu tâm vương tạng, phóng tịnh quang minh chiếu khắp pháp giới hiện tất cả trong đó, như Phật nhãn quảng đại quang minh ma ni bửu tạng.  Đây là thứ năm mươi bảy.
Bên hữu tướng kiết tường lại có đại nhân tướng tên là Phật hải vân, dùng tràng hoa tỳ lưu ly bửu hương đăng để trang nghiêm.  Phóng quang minh thanh tịnh ma ni bửu vương hương đăng đại diện đầy hư không khắp mười phương tất cả quốc độ.  Trong đó hiện khắp đạo tràng chúng hội.  Đây là thứ năm mươi tám.
Bên tả tướng kiết tường có đại nhân tướng tên là Thị hiện quang minh vân, vô số Bồ Tát toạ bửu liên hoa dùng làm trang nghiêm, phóng quang minh ma ni vương bửu diệm thanh tịnh khắp tất cả pháp giới hải.  Trong đó thị hiện vô lượng Phật, và Phật diệu âm diễn thuyết các pháp.  Đây là thứ năm mươi chín.
Bên tả tướng kiết tường lại có đại nhân tướng tên là Thị hiện khắp pháp giới quang minh vân, dùng ma ni bửu hải để trang nghiêm, phóng đại quang minh khắp tất cả cõi, trong đó hiện khắp các chúng Bồ Tát.  Đây là thứ sáu mươi.
Bên tả tướng kiết tường lại có đại nhân tướng tên là Phổ thắng  vân, trang nghiêm với tràng nhật quang minh ma ni vương bửu vân, phóng đại quang diệm, tràn đầy pháp giới những thế giới hải, trong đó thị hiện tất cả thế giới, tất cả Như Lai, tất cả chúng sanh.  Đây là thứ sáu mươi mốt.
Bên tả tướng kiết tường lại có đại nhân tướng tên là Chuyển pháp luân diệu âm vân, trang nghiêm với tất cả pháp đăng thanh tịnh hương nhụy, phóng đại quang minh tràn đầy pháp giới, trong đó hiện khắp tất cả chư Phật có bao nhiêu tướng hải và tâm hải.  Đây là thứ sáu mươi hai.
Bên tả tướng kiết tường lại có đại nhân tướng tên là Trang nghiêm vân, dùng tam thế tất cả Phật hải để trang nghiêm, phóng tịnh quang minh nghiêm tịnh tất cả Phật độ, trong đó hiện khắp tất cả thập phương chư Phật, chư Bồ Tát và những hạnh sở hành của chư Phật, chư Bồ Tát.  Đây là thứ sáu mươi ba.
Tay hữu của Như Lai có đại nhân tướng tên là Hải chiếu vân, các báu trang nghiêm, hằng phóng nguyệt diệm thanh tịnh quang minh tràn đầy hư không tất cả thế giới, phát đại âm thanh khen ngợi tất cả Bồ Tát hạnh.  Đây là thứ sáu mươi bốn.
Tay hữu của Như Lai lại có đại nhân tướng tên là Ảnh hiện chiếu diệu vân, dùng tỳ lưu ly đế thanh ma ni bửu hoa để trang nghiêm, phóng đại quang minh chiếu khắp liên hoa tạng, ma ni tạng tất cả thế giới của thập phương Bồ Tát an trụ.  Trong đó đều hiện vô lượng chư Phật, dùng tịnh pháp thân ngồi cội bồ đề, chấn động tất cả cõi nước mười phương.  Đây là thứ sáu mươi lăm.
Tay hữu của Như Lai lại có đại nhân tướng tên là Đăng diệm man phổ nghiêm tịnh vân, dùng tỳ lô giá na bửu để trang nghiêm, phóng đại quang minh thành lưới biến hóa, trong đó hiện khắp những chúng Bồ Tát đều đội bửu quan, diễn những hạnh hải.  Đây là thứ sáu mươi sáu.
Tay hữu của Như Lai lại có đại nhân tướng tên là Phổ hiện tất cả ma ni vân, dùng liên hoa diệm đăng để trang nghiêm, phóng hải tạng quang đầy khắp pháp giới.  Trong đó hiện khắp chư Phật ngồi tòa liên hoa.  Đây là thứ sáu mươi bảy.
Tay hữu của Như Lai lại có đại nhân tướng tên là Quang minh vân, dùng ma ni diệm hải để trang nghiêm, phóng những quang minh thanh tịnh bửu diệm, hương diệm, hoa diệm tràn đầy tất cả thế giới.  Trong đó hiện khắp đạo tràng của chư Phật.  Đây là thứ sáu mươi tám.
Tay tả của Như Lai có đại nhân tướng tên là Tỳ lưu ly thanh tịnh đăng vân, dùng bửu địa diệu sắc để trang nghiêm, phóng Như Lai kim sắc quang minh, niệm niệm thường hiện tất cả đồ trang nghiêm thượng diệu.  Đây là thứ sáu mươi chín.
Tay tả của Như Lai lại có đại nhân tướng tên là Nhất thiết sát trí huệ đăng âm thanh vân.  Dùng nhân đà la võng kim cang hoa để trang nghiêm.  Phóng diêm phù đàn kim thanh tịnh quang minh, chiếu khắp mười phương tất cả thế giới.  Đây là thứ bảy mươi.
Tay tả của Như Lai lại có đại nhân tướng tên là An trụ bửu liên hoa quang minh vân, dùng những bửu diệu hoa để trang nghiêm.  Phóng đại quang minh như tu di đăng chiếu khắp tất cả thế giới mười phương.  Đây là thứ bảy mươi mốt.
Tay tả của Như Lai lại có đại nhân tướng tên là Biến chiếu pháp giới vân, dùng tràng hoa diệu bửu, bửu luân, bửu bình, lưới nhân đà la và những diệu tướng để trang nghiêm.  Phóng đại quang minh chiếu khắp tất cả cõi nước mười phương.  Trong đó thị hiện tất cả pháp giới, tất cả thế giới hải, tất cả Như Lai ngồi tòa liên hoa.  Đây là thứ bảy mươi hai.
Ngón tay hữu của Như Lai lại có đại nhân tướng tên là Hiện chư kiếp sát hải triều vân, dùng thủy nguyệt diệm tạng ma ni vương tất cả bửu hoa để trang nghiêm, phóng đại quang minh đầy khắp pháp giới.  Trong đó hằng phát âm thanh vi diệu khắp tất cả cõi.  Đây là thứ bảy mươi ba.
Ngón tay tả của Như Lai có đại nhân tướng tên là An trụ tất cả bửu vân.  Dùng đế thanh kim cang bửu để trang nghiêm.  Phóng ma ni vương chúng bửu quang minh đầy khắp pháp giới.  Trong đó hiện khắp tất cả chư Phật và chư Bồ Tát.  Đây là thứ bảy mươi bốn.
Bàn tay hữu của Như Lai có đại nhân tướng tên là Chiếu diệu vân, dùng ma ni vương thiên bức bửu luân để trang nghiêm.  Phóng bửu quang minh xoay phía hữu tràn đầy pháp giới.  Trong đó hiện khắp tất cả chư Phật.  Mỗi mỗi thân Phật quang minh rực rỡ, thuyết pháp độ người, làm thanh tịnh thế giới.   Đây là thứ bảy mươi lăm.
Bàn tay tả của Như Lai có đại nhân tướng tên là Diệm luân phổ tăng trưởng hóa hiện pháp giới đạo tràng vân.  Dùng nhật quang ma ni vương thiên bức luân để trang nghiêm.  Phóng đại quang minh tràn đầy tất cả những thế giới hải.  Trong đó thị hiện tất cả Bồ Tát diễn thuyết tất cả hạnh hải của Phổ Hiền, vào khắp tất cả Phật độ, mỗi Bồ Tát đều khai ngộ vô lượng chúng sanh.  Đây là thứ bảy mươi sáu.
Âm tàng của Như Lai có đại nhân tướng tên là Phổ lưu xuất Phật âm thanh vân.  Dùng tất cả diệu bửu để trang nghiêm.  Phóng ma ni đăng hoa diệm quang minh chiếu sáng rực rỡ đủ những màu báu, chiếu khắp hư không pháp giới.  Trong đó hiện khắp tất cả chư Phật du hành qua lại cùng khắp mọi nơi.  Đây là thứ bảy mươi bảy.
Hông hữu của Như Lai có đại nhân tướng tên là Bửu đăng mạn phổ chiếu vân, các báu ma ni dùng để trang nghiêm.  Phóng bất tư nghì bửu diệm quang minh, giăng bày mười phương tất cả pháp giới, cùng hư không pháp giới đồng làm một tướng mà hay xuất sanh tất cả các tướng.  Trong mỗi mỗi tướng đều hiện thần biến tự tại của chư Phật.  Đây là thứ bảy mươi tám.
Hông tả của Như Lai có đại nhân tướng tên là Thị hiện tất cả pháp giới hải quang minh vân, che trùm hư không như liên hoa.  Nghiêm sức với diệu bửu thanh tịnh.  Phóng lưới quang minh chiếu khắp tất cả pháp giới mười phương.  Trong đó hiện khắp những tướng đẹp.  Đây là thứ bảy mươi chín.
Vế hữu của Như Lai có đại nhân tướng tên là Phổ hiện vân dùng ma ni nhiều màu để trang nghiêm.  Vế và bắp chân trên dưới xứng nhau.  Phóng ma ni diệm diệu pháp quang minh trong một niệm hay thị thiện khắp tất cả du bộ tướng hải của đấng bửu vương.  Đây là thứ tám mươi.
Vế tả của Như Lai có đại nhân tướng tên là Hiện tất cả Phật vô lượng tướng hải vân, dùng tất cả bửu hải tùy thuận an trụ để trang nghiêm, du hành rộng lớn phóng tịnh quang minh chiếu khắp chúng sanh, đều khiến mong cầu Phật pháp vô thượng.  Đây là thứ tám mươi mốt.
Bắp chân lộc vương y ni diên bên hữu của Như Lai có đại nhân tướng tên là Tất cả hư không pháp giới vân.  Dùng quang minh diệu bửu để trang nghiêm.  Tướng đó tròn thẳng hay khéo bước đi, phóng quag minh thanh tịnh màu vàng diêm phù đàn chiếu khắp chư Phật thế giới, phát âm thanh lớn đều chấn động khắp nơi.  Lại hiện tất cả quốc độ của chư Phật trụ giữ hư không, bửu diệm trang nghiêm, vô lượng Bồ Tát hóa hiện trong đó.  Đây là thứ tám mươi hai.
Bắp chân lộc vương y ni diên bên tả của Như Lai có đại nhân tướng tên là Trang nghiêm hải vân, màu như chân kim, hay khắp du hành tất cả cõi Phật, phóng quang minh tất cả bửu thanh tịnh tràn đầy kháp pháp giới ra làm Phật sự.  Đây là thứ tám mươi ba.
Lông trên bắp chân báu của Như Lai có đại nhân tướng tên là Phổ hiện pháp giới ảnh tượng vân.  Lông đó xoay bên hữu.  Mỗi mỗi đầu lông phóng bửu quang minh đầy khắp tất cả mười phương tất cả pháp giới, thị hiện tất cả thần lực của chư Phật.  Những lỗ lông đó đều phóng quang minh, tất cả cõi Phật đều hiện trong đó.  Đây là thứ tám mươi bốn.
Dưới bàn chân của Như Lai có đại nhân tướng tên là Tất cả Bồ Tát hải an trụ vân, màu như hoa sen thanh tịnh bằng vàng kim cang diêm phù đàn, phóng bửu quang minh chiếu khắp mười phương những thế giới hải.  Mây bửu hương diệm cùng khắp mọi nơi.  Lúc cất chân sắp bước thời hơi thơm lan khắp đủ những màu báu khắp pháp giới.  Đây là thứ tám mươi lăm.
Trên bàn chân hữu của Như Lai có đại nhân tướng tên là Phổ chiếu nhất thiết quang minh vân, dùng tất cả các báu để trang nghiêm, phóg đại quang minh tràn đầy pháp giới thị hiện tất cả chư Phật, chư Bồ Tát.  Đây là thứ tám mươi sáu.
Trên bàn chân tả của Như Lai có đại nhân tướng tên là Phổ hiện nhất thiết chư Phật vân, dùng bửu tạng ma ni để làm trang nghiêm, phóng bửu quang minh, trong mỗi niệm hiện tất cả thần biến và pháp hải của Phật.  Đạo tràng của đức Phật ngự suốt đến kiếp vị lai không gián đoạn.  Đây là thứ tám mươi bảy.
Khoảng giữa ngón chân hữu của Như Lai có đại nhân tướng tên là Quang chiếu nhất thiết pháp giới hải vân.  Trang nghiêm với tu di đăng ma ni vương thiên bức diệm luân, phóng đại quang minh đầy khắp mười phương pháp giới những thế giới hải.  Trong đó hiện khắp tất cả những tướng bửu trang nghiêm của chư Phật.  Đây là thứ tám mươi tám.
Khoảng giữa ngón chân tả của Như Lai có đại nhân tướng tên là Hiện nhất thiết Phật hải vân.  Trang nghiêm với ma ni bửu hoa, tràng hương diệm đăng, tất cả bửu luân. Hằng phóng bửu hải thanh tịnh quang minh đầy khắp hư không khắp đến mười phương tất cả thế giớ.  Trong đó thị hiện những tướng chữ vạn và thanh âm viên mãn của tất cả chư Phật và chư Bồ Tát.  Lợi ích vô lượng tất cả chúng sanh.  Đây là thứ tám mươi chín.
Gót chân hữu của Như Lai có đại nhân tướng tên là Tự tại chiếu diệu vân.  Dùng bột báu đế thanh để trang nghiêm.  Thường phóng Như Lai diệu bửu quang minh.  Quang minh này đẹp tốt tràn đầy pháp giới đều đồng một tướng không sai khác.  Trong đó thị hiện tất cả chư Phật ngồi đạo tràng diễn nói diệu pháp.  Đây là thứ chín mươi.
Gót chân tả của Như Lai có đại nhân tướng tên là Thị hiện diệu âm diễn thuyết pháp hải vân. Dùng biến hóa hải ma ni bửu, hương diệm hải, tu di hoa ma ni bửu và tỳ lưu ly để trang nghiêm.  Phóng đại quang minh đầy khắp pháp giới.  Trong đó hiện khắp thần lực của chư Phật.  Đây là thứ chín mươi mốt.
Lưng bàn chân hữu của Như Lai có đại nhân tướng tên là Thị hiện tất cả trang nghiêm quang minh vân, các báu làm thành rất trang nghiêm đẹp, phóng quang minh thanh tịnh màu vàng diêm phù đàn, chiếu khắp mười phương tất cả pháp giới.  Tướng quang minh đó như đại vân che khắp tất cả đạo tràng của chư Phật.  Đay là thứ chín mươi hai.
Lưng bàn chân tả của Như Lai có đại nhân tướng tên là Hiện chúng sắc tướng vân.  Dùng nguyệt diệm tạng tỳ lô giá na bửu và nhân đà la ni la bửu để trang nghiêm.  Niệm niệm du hành các pháp giới hải, phóng ma ni đăng hương diệm quang minh đầy khắp pháp giới.  Đây là thứ chín mươi ba.
Chu vi bàn chân hữu của Như Lai có đại nhân tướng tên là Phổ tạng vân.  Dùng nhân đà la ni la kim cang bửu để trang nghiêm.  Phóng bửu quang minh đầy khắp hư không.  Trong đó thị hiện tất cả chư Phật ngồi đạo tràng trên tòa sưu tử ma ni bửu vương.  Đây là thứ chín mươi bốn.
Chu vi bàn chân tả của Như Lai có đại nhân tướng tên là Quang minh biến chiếu pháp giới vân.  Dùng ma ni bửu hoa để trang nghiêm.  Phóng đại quang minh tràn đầy pháp giới, bình đẳng một tướng.  Trong đó thị hiện tất cả thần lực tự tại của chư Phật và chư Bồ Tát, dùng đại diệu âm diễn thuyết pháp giới vô tận pháp môn.  Đây là thứ chín mươi lăm.
Đầu ngón chân hữu của Như Lai có đại nhân tướng tên là Thị hiện trang nghiêm vân, rất đáng mến thích, dùng chân kim thanh tịnh diêm phù đàn để trang nghiêm.  Phóng đại quang minh đầy khắp mười phương tất cả pháp giới.  Trong đó thị hiện vô tận pháp hải, những thứ công đức, thần thông biến hóa của chư Phật, chư Bồ Tát.  Đây là thứ chín mươi sáu.
Đầu ngón chân tả của Như Lai có đại nhân tướng tên là Hiện nhất thiết Phật thần biến vân.  Dùng bất tư nghì Phật quang minh nguyệt diệm phổ hương ma ni bửu diệm luân để trang nghiêm.  Phóng quang minh thanh tịnh nhiều bửu sắc đầy khắp tất cả thế giới hải.  Trong đó thị hiện tất cả chư Phật và chư Bồ Tát diễn thuyết tất cả Phật pháp hải.  Đây là thứ chin mươi bảy.
Chư Phật tử!  Tỳ Lô Giá Na Như Lai có hoa tạng thế giới hải vi trần số đại nhân tướng như vậy.  Mỗi mỗi thân phần của Như Lai dùng những tướng vi diệu báu đẹp để trang nghiêm."
Tôi nhìn em, đôi mắt ở đậu,
Giữa cõi mê, tôi ở thật lâu,
Em cũng hiểu, cho nên cười nụ,
Chút mưu toan, khơi một bể sầu.
canary
0

Kinh Hoa Nghiêm
Tập 5

Phẩm Như Lai tùy hảo quang minh công đức
Thứ ba mươi lăm



Bấy giờ, đức Thế Tôn bảo Bửu Thủ Bồ Tát rằng: "Phật tử!  Như Lai Ứng Đẳng Chánh Giác có tùy hảo tên là Viên Mãn Vương.  Trong tuỳ hảo này phóng đại quang minh tên là Xí Thạnh, có bảy trăm vạn a tăng kỳ quang minh làm quyến thuộc.
Phật tử!  Lúc ta làm Bồ Tát, ở cung trời Đâu Suất, ta phóng đại quang minh tên là Quang Tràng Vương chiếu mười phật sát vi trần số thế giới.  Trong những thế giới đó, chúng sanh nơi địa ngục gặp được quang minh này thời liền hết khổ được mười thứ thanh tịnh nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân và ý cũng như vậy.  Họ đều vui mừng hớn hở.  Từ địa ngục chết, họ sanh về cõi trời Đâu Suất.  Trong cõi trời này có cái trống tên là Thậm khả ái nhạo.  Khi những trời mới sanh xong thời cái trống đó phát âm bảo họ rằng: Này các thiên tử!  Do người chẳng phóng dật, ở chỗ đức Như Lai gieo căn lành, ngày trước gần gũi các thiện trí thức nên nhờ oai lực của đức Tỳ Lô Giá Na Bồ Tát, các người thoát khỏi địa ngục mà sanh về đây.
Phật tử!  Dưới bàn chân của Bồ Tát có thiên bức luân tên là Quang minh phổ chiếu vương.  Nơi đây có tuỳ hảo tên là Viên mãn vương thường phóng bốn mươi thứ quang minh.  Trong đó có một quang minh tên là Thanh tịnh công đức có thể chiếu ức na do tha phật sát vi trần số thế giới, tùy những nghiệp hành, những dục lạc của chúng sanh đều làm cho họ được thành thục.  Chúng sanh nơi a tỳ địa ngục gặp quang minh này thời đều mạng chung sanh về cõi trời Đâu Suất.  Đã sanh thiên rồi, thời nơi trống phát âm bảo họ rằng:  Lành thay!  Lành thay!  Các thiên tử!  Tỳ Lô Giá Na Bồ Tát nhập ly cấu tam muội, các thiên tử nên đảnh lễ.
Các thiên tử nghe tiếng trống phát âm khuyến cáo như vậy đều nghĩ rằng:  Lạ lùng ít có, nhân gì mà phát tiếng vi diệu như vậy.
Thiên cổ liền bảo các thiên tử rằng:  Tiếng của ta phát ra là do sức những thiện căn làm thành.  Chư thiên tử!  Như ta nói ta mà không chấp ta, không chấp của ta, tất cả chư Phật cũng như vậy, tự nói là thật mà chấp ngã và ngã sở.  Chư thiên tử!  Như âm thanh của ta chẳng từ phuog đông đến, chẳng từ mười phương đến, nghiệp báo thành Phật cũng như vậy, chẳng phải từ mười phương đến.  Chư thiên tử!  Như các người xưa ở địa ngục, thân và địa ngục chẳng phải mười phương đến, chỉ do các người điên đảo, ác nghiệp, ngu si, triền phược mà sanh thân địa ngục, đây không căn bổn, không có chỗ nào đến.
Chư thiên tử!  Do oai đức lực của Tỳ Lô Giá Na Bồ Tát nên có quang minh phóng ra, nhưng quang minh này chẳng phải từ mười phương đến.  Cũng vậy, tiếng thiên cổ ta phát ra cũng chẳng phải từ mười phương đến, chỉ do sức tam muội thiện căn, sức oai đức bát nhã ba la mật mà xuất sanh âm thanh, thanh tịnh như vậy, thị hiện những tự tại như vậy.
Chư thiên tử!  Như núi tu di, trên đảnh có cung điện thượng diệu của tam thập tam thiên, các đồ vui sướng, nhưng những đồ vui này chẳng phải từ mười phương đến.  Cũng vậy, tiếng thiên cổ ta chẳng phải từ mười phương đến.
Chư thiên tử!  Ví như ức na do tha phật sát vi trần thế giới đều nghiền ra thành vi trần.  Ta vì chúng sanh như số vi trần ấy, theo sở thích của họ mà thuyết pháp khiến họ rất vui mừng.  Ta đối với họ chẳng sanh mỏi chán, chẳng sanh thối khiếp, chẳng sanh kiêu mạn, chẳng sanh phóng dật.
Chư thiên tử!  Tỳ Lô Giá Na Bồ Tát trụ ly cấu tam muội cũng như vậy.  Nơi bàn tay hữu trong một tùy hảo phóng một quang minh xuất hiện vô lượng thần lực tự tại.  Tất cả thanh văn, bích chi Phật còn chẳng biết được huống là các chúng sanh.  Chư thiên tử!  Các người nên qua cúng dường và gần gũi Bồ Tát đó, chớ có tham đắm nơi đồ vui ngũ dục.  Tham nơi đồ vui ngũ dục thời chướng những thiện căn.
Chư thiên tử!  Ví như kiếp hỏa đốt cháy núi tu di tiêu tan không còn sót.  Sự tham dục ràng buộc nơi tâm cũng như vậy, trọn chẳng thể sanh lòng niệm Phật.
Chư thiên tử!  Các người nên phải biết ơn và báo ơn.  Những chúng sanh chẳng biết ơn và báo ơn phần nhiều bị hoạnh tử đọa vào địa ngục.  Chư thiên tử!  Các người xưa kia ở trong địa ngục nhờ quang minh chiếu đến thân mà thoát nơi kia sanh về đây.  Các người phải mau hồi hướng tăng trưởng thiện căn.
Chư thiên tử!  Như ta, thiên cổ chằng phải nam, chẳng phải nữ, mà có thể hiện vô lượng vô biên sự bất tư nghì.  Cũng vậy, chư thiên tử các người chẳng phải nam nữ mà hay thọ dụng những thứ cung điện viên làm thượng diệu.
Như thiên cổ ta chẳng sanh chẳng diệt, sắc, thọ, tưởng, hành, thức cũng như vậy, chẳng sanh chẳng diệt.  Các người nếu có thể hiểu được như vậy, nên biết là đã được nhập vô y ấn tam muội.
Chư thiên tử nghe tiếng trống trên đây xong, đều được chưa từng có.  Liền hóa làm một vạn lùm mây hoa, một vạn lùm mây hương, một vạn lùm mây âm nhạc, một vạn lùm mây tràng, một vạn lùm mây lọng, một vạn lùm cây ca tụng, rồi cùng nhau qua cung điện của Tỳ Lô Giá Na Bồ Tát ngự, đồng chắp tay cung kính đứng qua một phía muốn được chiêm ngưỡng Bồ Tát mà chẳng được thấy.
Bấy giờ có vị thiên tử bảo rằng:  "Tỳ Lô Giá Na Bồ Tát đã ẩn nơi đây mà sanh xuống nhân gian nơi cung của nhà vua Tịnh Phạn, ngự lầu các chiên đàn ở thai bà Ma Gia phu nhân."
Chư thiên tử dùng thiên nhãn xem, thấy thân Bồ Tát ở nhà vua Tịnh Phạn tại nhân gian.  Phạm thiên, dục thiên chầu hầu cúng dường.
Chư thiên tử đều nghĩ rằng:  Nếu chúng ta chẳng đến thăm viếng thưa hỏi Bồ Tát, mà ái trước nơi thiên cung này dầu chỉ một niệm cũng là không nên.
Mỗi mỗi thiên tử cùng quyến thuộc mười na do tha người sắp sửa xuống Diêm Phù Đề.
Trong thiên cỏ phát âm bảo rằng:  Chư thiên tử!  Đại Bồ Tát chẳng phải mạng chung ở đây mà sanh nơi kia.  Chỉ dùng thần thông tùy tâm sở nghi của các chúng sanh làm cho họ được thấy.  Như ta hiện nay chẳng phải mắt thây mà hay phát âm.  Đại Bồ Tát nhập ly cấu tam muội cũng như vậy, chẳng phải mắt thấy mà hay thị hiện thọ sanh các nơi, lìa phân biệt, trừ kiêu mạn, không nhiễm trước.  Chư thiên tử nên phát tâm vô thượng bồ đề, trị sạch ý mình, gìn oai nghi lành, sám hối trừ tất cả nghiệp chướng, phiền não chướng, báo chướng, kiến chướng.  Dùng hết pháp giới chúng sanh số thân, đầu, lưỡi, dùng hết pháp giới chúng sanh số thân nghiệp lành, ngữ nghiệp lành, ý nghiệp lành, sám hối trừ những chướng tội lỗi.
Chư thiên tử nghe lời này rồi được chưa từng có, tâm rất hoan hỷ mà hỏi thiên cổ rằng:  Đại Bồ Tát làm thế nào sám hối trừ tất cả tội ác.
Do sức thiện căn tam muội của Bồ Tát, thiên cổ phát âm bảo rằng:  Chư thiên tử!  Bồ Tát biết các nghiệp chẳng từ phương đông đến, chẳng từ mười phương đến mà đồng chứa nhóm ở nơi tâm.  Chỉ từ điên đảo sanh, không có trụ xứ.  Bồ Tát quyết định thấy rõ như vậy không có nghi lầm.
Như thiên cổ ta nói nghiệp, nói báo, nói hạnh, nói giới, nói hỷ, nói an, nói các tam muội.  Chư Phật và Bồ Tát cũng như vậy, nói ngã, nói ngã sở, nói chúng sanh, nói tham sân si, nói các loại nghiệp.  Mà thật ra không ngã, không ngã sở.  Những nghiệp tạo ra, quả báo của sáu loài, tìm cầu mười phương đều chẳng thể được.
Ví như tiếng thiên cổ ta chẳng sanh chẳng diệt, chư thiên tạo ác chẳng nghe tiếng khác mà chỉ nghe tiếng địa ngục giác ngộ.  Cũng vậy, tất cả các nghiệp chẳng phải sanh, chẳng phải diệt, tuỳ có tu tập thời họ lấy quả báo.
Như thiên cổ ta phát âm, trong vô lượng kiếp chẳng thể cùng tận, không gián đoạn, đều không có lai không có khứ.  Nếu có khứ lai thời có đoạn thường.   Tất cả chư Phật trọn không nói có pháp đoạn thường.  Trừ dùng phương tiện để thành thục chúng sanh.
Như thiên cổ ta phát âm tuỳ tâm chúng sanh trong vô lượng thế giới đều khiến được nghe.  Cũng vậy, tất cả chư Phật tuỳ tâm chúng sanh đều khiến được thấy.
Như có cái gương pha lê tên là Năng chiếu, gương này trong sạch sáng suốt, lớn vô lượng vô biên bằng mười thế giới.  Trong các quốc độ, tất cả hình tượng của núi sông, của mọi loài, nhẫn đến ngạ quỷ, súc sanh, địa ngục đều hiện trong gương đó.
Này chư thiên tử!  Các người nghĩ thế nào?  Những ảnh tượng kia có thể cho là đến vào trong gương rồi từ gương mà đi chăng?
Đáp rằng:  Không thể nói thế được.
Này chư thiên tử!  Cũng vậy, tất cả các nghiệp dầu hay xuất sanh các quả báo mà không chỗ đến và đi.
Ví như nhà huyễn thuật, huyễn hoặc mắt người.  Phải biết các nghiệp cũng như vậy.
Nếu biết được như trên đây, thời là chân thật sám hối tất cả tội ác đều được thanh tịnh.
Lúc nói pháp này, chư Đâu Suất thiên tử trong trăm ngàn ức na do tha phật sát vi trần số thế giới được vô sanh pháp nhẫn.   Vô lượng bất tư nghì vô số lục dục thiên tử phát tâm vô thượng bồ đề.  Trong thời lục dục, tất cả thiên nữ đều bỏ thân nữ phát tâm vô thượng bồ đề.
Bấy giờ, chư thiên tử nghe nói Phổ Hiền quảng đại hồi hướng, vì được thập địa, vì được chư lực trang nghiêm tam muội, vì dùng ba nghiệp thanh tịnh bằng số chúng sanh mà sám hối trừ tất cả những trọng chướng, nên liền thấy trăm ngàn ức na do tha phật sát vi trần số hoa sen thất bửu. Trên mỗi mỗi hoa sen đều có Bồ Tát ngồi kiết già phóng đại quang minh.  Mỗi mỗi Bồ Tát nơi mỗi tùy hảo phóng đại quang minh bằng số chúng sanh.  Trong quang minh đó có chư Phật bằng số chúng sanh ngồi kiết già theo tâm của chúng sanh để thuyết pháp.  Mà còn chưa hiện sức chút ít phần của ly cấu tam muội.
Bấy giờ chư thiên tử đem những hoa trên, lại ở trên thân mỗi lỗ lông hóa làm những mây hoa đẹp bằng số chúng sanh cúng dường đức Tỳ Lô Giá Na Như Lai bằng cách rải hoa lên chỗ Phật.  Tất cả hoa đó đến dừng ở trên thân Phật.  Những mây hương rưới khắp vô lượng phật sát vi trần số thế giới.  Nếu có chúng sanh nào thân được thấm hương thời được an lạc như tỳ kheo nhập đệ tứ thiền, tất cả nghiệp chướng đều tiêu diệt.  Nếu có ai được ngửi, thời đối với năm trần sắc, thinh, hương, vị và xúc, trong đó có năm trăm phiền não, ngoài đó cũng có năm trăm phiền não, kẻ tham nhiều có hai vạn một ngàn phiền não, kẻ sân nhiều có hai vạn một ngàn phiền não, kẻ si nhiều có một vạn hai ngàn phiền não, kẻ đẳng phần có một vạn hai ngàn phiền não, rõ biết tất cả đều hư vọng.  Biết như vậy rồi được thành tựu hương tràng vân tự tại quang minh thanh tịnh thiện căn.
Nếu có chúng sanh nào thấy lọng đó thời gieo được một thanh tịnh, kim võng chuyển luân vương một hằng hà sa thiện căn.
Phật tử!  Bồ Tát trụ nơi ngôi chuyển luân vương này thời giáo hóa chúng sanh trong trăm ngàn ức na do tha phật sát vi trần số thế giới.
Phật tử!  Như đức Nguyệt Trí Như Lai ở Minh Cảnh thế giới, thường có tứ chúng ở các thế giới khác hóa hiện thân họ đến nghe pháp.  Như Lai này rộng vì họ mà diễn thuyết những sự bổn sanh, chưa từng có một niệm gián đoạn.  Nếu có chúng sanh nào nghe danh hiệu Nguyệt Trí Phật, thời được sanh về thế giới của Phật đó.
Cũng vậy, Bồ Tát an trụ nơi ngôi thanh tịnh kim võng chuyển luân vương, nếu có ai gặp được quang minh, thời ắt được bậc Bồ Tát đệ thập địa, vì do sức thiện căn tu hành từ trước.
Phật tử!  Như người được sơ thiền, dầu chưa mạng chung đã thấy cung điện ở Phạm thiên mà được thọ an lạc nơi phạm thế.
Đại Bồ Tát an trụ nơi ngôi thanh tịnh kim võng chuyển luân vương phóng ma ni kế thanh tịnh quang minh.  Nếu có chúng sanh nào gặp được quang minh này đều được bậc Bồ Tát đệ thập địa, thành tựu vô lượng trí huệ quang minh, được mười thứ thanh tịnh nhãn, nhẫn đến mười thứ thanh tịnh ý, đầy đủ vô lượng thậm thâm tam muội, thành tựu nhục nhãn thanh tịnh như vậy.
Phật tử!  Giả sử có người đem ức na do tha phật sát nghiền làm vi trần, một vi trần là một cõi, lại đem vi trần số phật sát đó nghiền làm vi trần.  Những vi trần này đều để trên bàn tay tả, cầm đi qua phương đông khỏi ngần ấy vi trần số thế giới mới bỏ xuống một vi trần, đi mãi đến hết số vi trần ấy, chín phương kia cũng như vậy.  Mười phương tất cả những thế giới như vậy, hoặc dính vi trần hoặc chẳng dính đều đem hiệp làm một Phật độ.
Này Bửu Thủ!  Phật độ như vậy có thể nghĩ bàn được chăng?"
"Bạch Thế Tôn!  Phật độ như vậy rộng lớn vô lượng kỳ đặc ít có chẳng thể nghĩ bàn được.  Nếu có chúng sanh nào nghe ví dụ này mà hay sanh được lòng tin hiểu, phải biết lại là kỳ đặc ít có."
Phật nói: "Như vậy!  Như vậy!  Như lời của ngươi nói.  Này Bửu Thủ!  Nếu có thiện năm tử thiện nữ nhân nghe ví dụ này mà sanh lòng tin thời ta thọ ký cho người ấy quyết định sẽ thành vô thượng chánh đẳng chánh giác.  Sẽ được Như Lai vô thượng trí huệ.
Này Bửu Thủ!  Giả sử lại có người đem ngàn ức phật sát vi trần số Phật độ rộng lớn như trên đã nói nghiền làm vi trần, rồi đem vi trần này y theo ví dụ trước mỗi mỗi bỏ xuống nhẫn đến hiệp làm một Phật độ.  Lại nghiền làm vi trần.  Thứ đệ như vậy lần lượt đến tám mươi lần.  Tất cả Phật độ quảng đại như vậy có bao nhiêu vi trần, nhục nhãn thanh tịnh nghiệp báo của Bồ Tát, trong một niệm đều có thể thấy rõ.  Cũng tháy trăm ức phật sát rộng lớn vi trần số Phật như gương pha lê trong sạch sáng suốt chiếu mười phương phật sát vi trần số thế giới.
Này Bửu Thủ!  Như vậy đều là phước đức thiện căn của thanh tịnh kim võng chuyển luân vương tam muội làm thành."

Tôi nhìn em, đôi mắt ở đậu,
Giữa cõi mê, tôi ở thật lâu,
Em cũng hiểu, cho nên cười nụ,
Chút mưu toan, khơi một bể sầu.
canary
0
Kinh Hoa Nghiêm
Tập 5

Phẩm Phổ Hiền hạnh
Thứ ba mươi sáu

(Hán bộ quyển bốn mươi chín)

Phổ Hiền đại Bồ Tát lại bảo chúng hội Bồ Tát rằng: "Chư Phật tử!  Như trước đã nói, đây chỉ là tùy theo căn khí thích nghi của chúng sanh mà lược nói ít phần cảnh giới của Như Lai.
Tại sao vậy? 
Chư Phật Thế Tôn vì các chúng sanh vô trí làm ác, chấp ngã và ngã sở, chấp trước lấy thân, điên đảo nghi lầm, tà kiến phân biệt, hằng tương ưng với những kiết phược, theo dòng sanh tử, xa đạo Như Lai nên mới xuất thế.
Chư Phật tử!  Tôi không thấy một pháp nào là lỗi lầm lớn như chư Bồ Tát sanh lòng sân với Bồ Tát khác.  Tại sao vậy?  Vì chư Bồ Tát sanh lòng sân với Bồ Tát khác thời liền thành tựu trăm vạn chướng môn.
Những gì là trăm vạn chướng môn?
Chính là:  Chướng chẳng thấy bồ đề, chướng chẳng nghe chánh pháp, chướng sanh vào thế giới bất tịnh, chướng sanh vào ác thú, chướng sanh vào chỗ nạn, chướng nhiều bệnh tật, chướng bị nhiều hủy báng, chướng sanh các loài ngoan độn, chướng hư mất chánh niệm, chướng khuyết thiếu trí huệ, nhãn chướng, nhĩ chướng, tỹ chướng, thiệt chướng, thân chướng, ý chướng, ác tri thức chướng, ác bạn đảng chướng, chướng thích tu tập tiểu thừa, chướng thích gần gũi phàm ngu, chướng chẳng tin ưa người có đại oai đức, chướng thích ở chung với người lìa chánh kiến, chướng sanh nhà ngoại đạo, chướng ở cảnh giới ma, chướng rời Phật giáo, chướng chẳng thấy bạn lành, chướng thiện căn gặp nạn, chướng thêm pháp bất thiện, chướng sanh chỗ hạ liệt, chướng sanh biên địa, chướng sanh nhà người ác, chướng sanh trong ác thần, sanh trong ác long, ác dạ xoa, ác càn thát bà, ác a tu la, ác ca lâu la, ác khẩn na la, ác ma hầu la già, ác la sát, chướng chẳng thích Phật pháp, chướng thích tập việc trẻ con, chướng thích tiểu thừa, chướng chẳng ưa đại thừa, chướng tánh hay kinh sợ, chướng tâm thường lo rầu, chướng chẳng thích thấy nghe thần thông tự tại của Phật, chướng chẳng được những căn của Bồ Tát, chướng chẳng thực hành tịnh hạnh của Bồ Tát, chướng thối kiếp thâm tâm của Bồ Tát, chướng chẳng sanh đại nguyện của Bồ Tát, chướng chẳng phát tâm nhất thiết trí, chướng lười biếng đối với Bồ Tát hạnh, chướng chẳng thể trừ sạch các nghiệp, chướng chẳng thể nhiếp thủ đại phước, chướng trí lực chẳng thể sáng lẹ, chướng đoạn trí huệ quảng đại, chướng chẳng hộ trì Bồ Tát hạnh, chướng ưa chê ba lời nhất thiết trí, chướng xa lìa chư Phật bồ đề, chướng thích ở cảnh giới ma, chướng chẳng chuyên tu Phật cảnh giới, chướng chẳng quyết định phát hoằng thệ của Bồ Tát, chướng chẳng thích cùng ở với Bồ Tát, chướng chẳng cầu Bồ Tát thiện căn, chướng tánh nhiều nghi ngờ, chướng tâm thường ngu tối, chướng chẳng chịu xả vì không thể thực hành hạnh thí bình đẳng của Bồ Tát, chướng sanh phá giới vì chẳng giữ được Phật giới, chướng khởi ngu si não hại sân hận vì chẳng vào được môn kham nhẫn, chướng sanh lười biếng vì chẳng thể thực hành Bồ Tát đại tinh tấn, chướng khởi tán loạn vì chẳng thể được những tam muội, chướng sanh ác huệ vì chẳng tu bát nhã ba la mật, chướng ở trong xứ phi xứ chẳng thiện xảo, chướng ở trong sự độ sanh không phương tiện, chướng ở trong Bồ Tát trí huệ chẳng hay quán sát, chướng ở trong pháp Bồ Tát xuất ly chẳng hay rõ biết, chướng mắt như sanh manh vì chẳng thành tựu Bồ Tát mười thứ mắt quảng đại, chướng miệng như dê câm vì tai chẳng nghe pháp vô ngại, chướng tỹ căn hư hoại vì chẳng đủ tướng hảo, chướng thành tựu thiệt căn vì chẳng thể biện rõ ngôn của chúng sanh, chướng thành tựu thân căn vì khinh tiện chúng sanh, chướng thành tựu ý căn vì tâm nhiều cuồng loạn, chướng thành tựu thân nghiệp vì chẳng giữ ba thứ luật ghi, chướng thành tựu ngữ nghiệp vì hằng khởi bốn thứ tội lỗi, chướng thành tựu ý nghiệp vì nhiều tham sân tà kiến, chướng tặc tâm cầu pháp, chướng đoạn tuyệt cảnh giới Bồ Tát, chướng ở trong pháp Bồ Tát dũng mãnh sanh tâm thối khiếp, chướng ở trong đạo Bồ Tát xuất ly sanh lòng biếng trễ, chướng ở trong môn Bồ Tát trí huệ quang minh sanh lòng thôi dứt, chướng ở trong Bồ Tát niệm lực sanh lòng liệt nhược, chướng ở trong Như Lai giáo pháp chẳng hay trụ trì, chướng ở nơi đạo Bồ Tát ly sanh chẳng hay thân cận, chướng chẳng hay tu tập đạo Bồ Tát không hư mất, chướng tùy thuận chánh vị nhị thừa, chướng xa lìa chủng tánh tam thế Phật và Bồ Tát.
Chư Phật tử!  Nếu Bồ Tát đối với Bồ Tát mà sanh một tâm sân thời thành tựu trăm vạn chướng môn như vậy.  Tôi chẳng thấy có một pháp nào lỗi ác lớn như chư Bồ Tát sanh lòng sân với Bồ Tát khác.  Vì thế nên chư đại Bồ Tát muốn mau đầy đủ hạnh Bồ Tát phải siêng tu mười pháp:
Một là tâm chẳng xa bỏ tất cả chúng sanh.
Hai là đối với chư Bồ Tát xem như Phật.
Ba là trọn chẳng huỷ báng tất cả Phật pháp.
Bốn là biết các quốc độ không có cùng tận.
Năm là rất có lòng tin mến nơi Bồ Tát hạnh.
Sáu là chẳng bỏ tâm bình đẳng hư không pháp giới bồ đề.
Bảy là quán sát bồ đề nhập Như Lai lực.
Tám là siêng năng tu tập vô ngại biện tài.
Chín là giáo hóa chúng sanh không nhàm mỏi.
Mười là trụ nơi tất cả thế giới không tâm nhiễm trước.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát an trụ trong mười pháp này rồi thời có thể đầy đủ mười thứ thanh tịnh:
Một là thông đạt thậm thâm pháp thanh tịnh.
Hai là thân cận thiện trí thức thanh tịnh.
Ba là hộ trì chư Phật pháp thanh tịnh.
Bốn là liễu đạt hư không giới thanh tịnh.
Năm là thâm nhập pháp giới thanh tịnh.
Sáu là quán sát vô biên tâm thanh tịnh.
Bảy là cùng Bồ Tát đồng thiện căn thanh tịnh.
Tám là chẳng chấp trước các kiếp thanh tịnh.
Chín là quán sát tam thế thanh tịnh.
Mười là tu hành tất cả những Phật pháp thanh tịnh.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát trụ nơi mười pháp này rồi thời đầy đủ mười thứ trí quảng đại:
Một là trí biết tất cả tâm hành của chúng sanh.
Hai là trí biết tất cả nghiệp báo của chúng sanh.
Ba là  trí biết tất cả Phật pháp.
Bốn là trí biết lý thú thâm mật của tất cả Phật pháp.
Năm là trí biết tất cả môn đà la ni.
Sáu là trí biết tất cả văn tự biện tài.
Bảy là trí biết tất cả ngôn ngữ âm thanh từ biện thiện xảo của chúng sanh.
Tám là trí hiện thân mình ở khắp trong tất cả thế giới.
Chín là trí hiện ảnh tượng mình ở khắp trong tất cả chúng hội đạo tràng.
Mười là trí ở nơi tất cả chỗ thọ sanh đều đầy đủ nhất thiết trí.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát trụ trong mười trí này rồi thời được mười thứ phổ nhập:
Một là tất cả thế giới vào một lỗ lông, một lỗ lông vào tất cả thế giới.
Hai là tất cả thân chúng sanh vào một thân, một thân vào tất cả thân chúng sanh.
Ba là tất cả kiếp vào một niệm, một niệm vào tất cả kiếp.
Bốn là tất cả Phật pháp vào một pháp, một pháp vào tất cả Phật pháp.
Năm là bất khả thuyết xứ vào một xứ, một xứ vào bất khả thuyết xứ.
Sáu là bất khả thuyết căn vào một căn, một căn vào bất khả thuyết căn.
Bảy là tất cả căn vào phi căn, phi căn vào tất cả căn.
Tám là tất cả tưởng vào một tưởng, một tưởng vào tất cả tưởng.
Chín là tất cả ngôn âm vào một ngôn âm, một ngôn âm vào tất cả ngôn âm.
Mười là tất cả tam thế vào một thế, một thế vào tất cả tam thế.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát quán sát như vậy rồi thời an trụ mười tâm thắng diệu:
Một là an trụ tâm thắng diệu tất cả thế giới ngữ ngôn phi ngữ ngôn.
Hai là an trụ tâm thắng diệu tất cả chúng sanh tưởng niệm không chỗ y chỉ.
Ba là an trụ tâm thắng diệu rốt ráo hư không giới.
Bốn là an trụ tâm thắng diệu vô biên pháp giới.
Năm là an trụ tâm thắng diệu tất cả Phật pháp thâm mật.
Sáu là an trụ tâm thắng diệu pháp thậm thâm vô sai biệt.
Bảy là an trụ tâm thắng diệu trừ diệt tất cả nghi lầm.
Tám là an trụ tâm thắng diệu tất cả thế bình đẳng vô sai biệt.
Chín là an trụ tâm thắng diệu tam thế chư Phật bình đẳng.
Mười là an trụ tâm thắng diệu tất cả Phật lực vô lượng.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát an trụ mười tâm thắng diệu này rồi thời được mười thứ Phật pháp thiện xảo trí:
Một là trí thiện xảo liễu đạt và xuất sanh Phật pháp thậm thâm quảng đại.
Hai là trí thiện xảo tuyên thuyết các thứ Phật pháp.
Ba là trí thiện xảo chứng nhập Phật pháp bình đẳng.
Bốn là trí thiện xảo minh liễu Phật pháp sai biệt.
Năm là trí thiện xảo ngộ giải Phật pháp vô sai biệt.
Sáu là trí thiện xảo thâm nhập trang nghiêm Phật pháp.
Bảy là trí thiện xảo một phương tiện vào Phật pháp.
Tám là trí thiện xảo vô lượng phương tiện vào Phật pháp.
Chín là trí thiện xảo biết vô biên Phật pháp vô sai biệt.
Mười là trí thiện xảo dùng tự tâm tự lực không thối chuyển nơi tất cả Phật pháp.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát nghe pháp này rồi đều phải phát tâm cung kính thọ trì.  Vì đại Bồ Tát thọ trì pháp này ít tốn công lực mà mau được vô thượng chánh đẳng chánh giác, đều được đầy đủ tất cả Phật pháp, đều bằng với tam thế Phật pháp."
Bấy giờ, do thần lực của Phật, do pháp như vậy, mười phương đều có mười bất khả thuyết trăm ngàn ức na do tha phật sát vi trần số thế giới chấn động sáu cách, mưa mây tất cả hoa hơn hẳn chư thiên, và mây hương, mây hương bột, y, lọng, tràng, phan, ma ni bửu, v.v... và cùng mây tất cả đồ trang nghiêm.  Mưa mây những kỹ nhạc, mây chư Bồ Tát, mây bất khả thuyết sắc tướng của Như Lai, mây bất khả thuyết khen ngợi đức Như Lai:  Lành thay!  Lại mưa mây âm thanh của Như Lai tràn đầy cả pháp giới, mây bất khả thuyết thế giới trang nghiêm, mây bất khả thuyết tăng trưởng bồ đề, mây bất khả thuyết quang minh chiếu diệu, mây bất khả thuyết thần lực thuyết pháp.
Như ở thế giới này thấy đức Như Lai thành đẳng chánh giác nơi bồ đề tràng dưới cội bồ đề trong Bồ Tát cung điện diễn thuyết pháp này, tất cả thế giới trong mười phương cũng đều như vậy.
Bấy giờ, do thần lực của Phật, do pháp như vậy, mười phương đều qua khỏi ngoài mười bất khả thuyết phật sát vi trần số thế giới, có mười phật sát vi trần số đại Bồ Tát đến cõi này, đông đầy khắp mười phương, đồng nói rằng:  "Lành thay!  Lành thay!  Phật tử Phổ Hiền có thể nói thâm pháp thọ ký thệ nguyện rất lớn của Như Lai.
Phật tử!  Chúng tôi tất cả đồng hiệu là Phổ Hiền đều từ thế giới Phổ Thắng nơi đức Phổ Tràng Tự Tại Như Lai mà đến cõi này, đều nhờ thần lực của Phật, diễn thuyết pháp này ở tất cả chỗ, tất cả đều bình đẳng như chỗ đã nói nơi chúng hội này không có thêm bớt.
Chúng tôi đều thừa oai thần của Phật đến đạo tràng này chứng minh cho Phật tử.
Như tại đạo tràng này, chúng tôi mười phật sát vi trần số đại Bồ Tát đến chứng minh, trong tất cả thế giới ở mười phương cũng đều như vậy."
Bấy giờ, Phổ Hiền đại Bồ Tát do thần lực của Phật, do sức thiện căn của mình, quán sát mười phương đến cả pháp giới, muốn khai thị Bồ Tát hạnh, muốn tuyên thuyết bồ đề giới của Như Lai, muốn nói đại nguyện giới, muốn nói tất cả thế giới kiếp số, muốn thuyết minh chư Phật tuỳ thời nghi mà xuất thế, muốn nói Như Lai tùy chúng sanh căn cơ thuần thục mà xuất hiện cho họ cúng dường, muốn nói rõ đức Như Lai xuất thế chẳng uổng công, muốn nói rõ đã gieo thiện căn tất được quả báo, muốn thuyết minh đại oai đức Bồ Tát vì tất cả chúng sanh mà hiện hình thuyết pháp cho họ khai ngộ, nên nói kệ rằng:
Phật tử phải hoan hỷ
Bỏ lìa những chướng cái
Nhất tâm cung kính nghe
Hạnh nguyện của Bồ Tát
Thuở xưa, chư Bồ Tát
Tối Thắng Nhân Sư Tử
Như kia đã tu hành
Tôi sẽ tuần tự nói
Cũng nói những kiếp số
Thế giới và các nghiệp
Và đến đấng Vô Đẳng
Ở đó mà xuất thế
Quá khứ Phật như vậy
Đại nguyện mà xuất thế
Thế nào vì chúng sanh
Diệt trừ những khổ não.
Tất cả Luận Sư Tử
Tiếp nối tu đã mãn
Được Phật bình đẳng pháp
Cảnh giới nhất thiết trí
Thấy ở đời quá khứ
Tất cả Nhân Sư Tử
Phóng lưới đại quang minh
Chiếu khắp mười phương cõi
Tư duy phát nguyện này:
Ta sẽ làm Thế Đăng
Đầy đủ Phật công đức
Thập lực, nhất thiết trí
Tất cả các chúng sanh
Quá nặng tham, sân, si
Ta sẽ đều cứu thoát
Khiến diệt khổ ác đạo
Phát thệ nguyện như vậy
Kiên cố không thối chuyển
Tu đủ hạnh Bồ Tát
Được mười vô ngại lực
Thệ nguyện như vậy rồi
Tu hành không thối khiếp
Chỗ làm đều không luống
Hiệu là Luận Sư Tử
Ở trong một Hiền kiếp
Ngàn Phật hiện ra đời
Phổ nhãn của chư Phật
Tôi sẽ thứ đệ nói
Như trong một Hiền kiếp
Vô lượng kiếp cũng vậy
Chỗ làm Phật vị lai
Tôi sẽ phân biệt nói
Như một phật sát chủng
Vô lượng cõi cũng vậy
Đấng thập lực vị lai
Công hạnh, nay tôi nói
Phật xuất thế kế nhau
Tuỳ nguyện tùy danh hiệu
Tùy kia được thọ ký
Tuỳ kia trụ thọ mạng
Tùy chánh pháp đã tu
Chuyên cầu đạo vô ngại
Tùy chúng sanh được độ
Chánh pháp trụ thế gian
Tuỳ Phật độ đã tịnh
Chúng sanh và pháp luân
Diễn thuyết thời phi thời
Thứ đệ độ quần sanh
Tùy nghiệp của chúng sanh
Chỗ làm và tin hiểu
Thượng, trung, hạ chẳng đồng
Độ họ khiến tu tập
Vào nơi trí như vậy
Tu những hạnh tối thắng
Thường làm nghiệp Phổ Hiền
Rộng độ các quần sanh
Thân nghiệp không chướng ngại
Ngữ nghiệp đều thanh tịnh
Ý hành cũng thanh tịnh
Tam thế đều vậy cả
Bồ Tát tu như vậy
Rốt ráo đạo Phổ Hiền
Xuất sanh trí thanh tịnh
Chiếu khắp cả pháp giới
Những kiếp đời vị lai
Cõi nước bất khả thuyết
Một niệm đều biết rõ
Nơi đó không phân biệt
Hành giả hay xu nhập
Bậc tối thắng như vậy
Những pháp Bồ Tát này
Tôi sẽ nói phần ít
Trí huệ vô biên tế
Thông đạt Phật cảnh giới
Tất cả đều khéo vào
Chỗ làm chẳng thối chuyển
Đầy đủ huệ Phổ Hiền
Viên mãn nguyện Phổ Hiền
Vào nơi trí vô đẳng
Tôi sẽ nói hạnh đó
Ở trong một vi trần
Đều thấy các thế giới
Chúng sanh nếu ai nghe
Mê loạn tâm nghi cuồng
Như ở một vi trần
Tất cả trần cũng vậy
Thế giới đều vào trong
Bất tư nghì như vậy
Trong mỗi trần đều có
Thập phương tam thế pháp
Cõi loài đều vô lượng
Đều hay phân biệt biết
Trong mỗi trần đều có
Vô lượng những cõi Phật
Chủng loại đều vô lượng
Nơi một trần đều biết
Trong pháp giới chỗ có
Nhiều thứ những dị tướng
Các loài đều sai khác
Đều hay phân biệt rõ
Thâm nhập trí vi tế
Phân biệt các thế giới
Tất cả kiếp thành hoại
Đều hay thuyết rõ ràng
Biết những kiếp dài vắn
Tam thế tức nhất niệm
Các hạnh đồng, chẳng đồng
Đều hay phân biệt rõ
Vào sâu các thế giới
Rộng lớn, chẳng rộng lớn
Một thân vô lượng cõi
Một cõi vô biên thân
Trong mười phương chỗ có
Những thế giới dị loại
Rộng lớn vô lượng tướng
Tất cả đều được biết
Trong tất cả tam thế
Vô lượng các quốc độ
Đầy đủ trí thậm thâm
Đều biết kia thành bại
Mười phương các thế giới
Có thành hoặc có hoại
Bất khả thuyết như vậy
Hiền đức đều sâu rõ
Hoặc có những quốc độ
Nhiều loại đất nghiêm sức
Các loài cũng trang nghiêm
Đây do nghiệp thanh tịnh
Hoặc có các thế giới
Vô lượng thứ tạp nhiễm
Đây do chúng sanh cảm
Tất cả đúng như nghiệp
Vô lượng vô biên cõi
Rõ biết tức một cõi
Vào các cõi như vậy
Số đó chẳng  biết được
Tất cả các thế giới
Đều vào trong một cõi
Thế giới chẳng là một
Lại cũng không tạp loạn
Thế giới có ngửa úp
Hoặc cao hoặc lại thấp
Đều là chúng sanh tưởng
Đều hay phân biệt biết
Những thế giới rộng rãi
Vô lượng và vô biên
Biết nhiều thứ là một
Biết một là nhiều thứ
Các Phật tử Phổ Hiền
Đều dùng trí Phổ Hiền
Biết rõ số các cõi
Số đó không ngằn mé
Biết thế giới như hóa
Cõi hoá, chúng sanh hóa
Pháp hóa, chư Phật hóa
Tất cả đều rốt ráo
Tất cả các thế giới
Cõi vi tế, cõi lớn
Nhiều thứ trang nghiêm lạ
Đều do nghiệp gây nên
Vô lượng chư Phật tử
Khéo học nhập pháp giới
Thần thông lực tự tại
Cùng khắp cả mười phương
Kiếp bằng số chúng sanh
Nói tên những cõi đó
Cũng chẳng nói hết được
Chỉ trừ Phật khai thị
Thế giới và Như Lai
Những danh hiệu sai khác
Trải qua vô lượng kiếp
Nơi đó chẳng thể hết
Huống là trí tối thắng
Tam thế những Phật pháp
Từ nơi pháp giới sanh
Đầy khắp Như Lai địa
Niệm thanh tịnh vô ngại
Huệ vô biên vô ngại
Phân biệt nói pháp giới
Được đến nơi bỉ ngạn
Quá khứ những thế giới
Quảng đại và vi tế
Tu tập chỗ trang nghiêm
Một niệm đều biết được
Bậc Sư Tử trong người
Tu tập những hạnh Phật
Thành bậc Đẳng Chánh Giác
Thị hiện những tự tại
Như vậy đời vị lai
Thứ đệ vô lượng kiếp
Có bao nhiêu Như Lai
Bồ Tát đều biết được
Có bao nhiêu hạnh nguyện
Có bao nhiêu cảnh giới
Như vậy siêng tu hành
Trong đó thành chánh giác
Cũng biết chúng hội kia
Thọ mạng hóa chúng sanh
Dùng các pháp môn này
Vì chúng chuyển pháp luân
Bồ Tát biết như vậy
Trụ bậc Phổ Hiền hạnh
Trí huệ đều rõ ràng
Xuất sanh tất cả Phật
Đời hiện tại hiện có
Tất cả những Phật độ
Vào sâu những cõi này
Thông đạt nơi pháp giới
Trong những thế giới kia
Hiện tại tất cả Phật
Nơi pháp được tự tại
Ngôn luận không chỗ ngại
Cũng biết chúng hội kia
Sức tịnh độ ứng hóa
Tận vô lượng ức kiếp
Thường tư duy việc này
Đức Điều Ngự Thế Tôn
Chỗ có oai thần lực
Tạng trí tuệ vô tận
Tất cả đều được biết
Xuất sanh mắt vô ngại
Nhĩ tỹ thân vô ngại
Lưỡi rộng dài vô ngại
Hay khiến chúng hoan hỷ
Tâm tối thắng vô ngại
Rộng lớn khắp thanh tịnh
Trí huệ khắp tràn đầy
Đều biết pháp tam thế
Khéo học tất cả hóa
Cõi hóa, chúng sanh hóa
Thế hóa, điều phục hóa
Rốt ráo hóa bỉ ngạn
Thế gian những sai khác
Đều do nơi tưởng trụ
Nhập Phật phương tiện trí
Nơi đây đều biết rõ
Bất khả thuyết chúng hội
Mỗi mỗi vì hiện thân
Đều khiến thấy Như Lai
Độ thoát vô biên chúng
Trí chư Phật rất sâu
Như mặt nhật hiện ra
Trong tất cả cõi nước
Hiển hiện khắp không dứt
Rõ thấu các thế gian
Giả danh không có thật
Chúng sanh và thế giới
Như mộng như quang ảnh
Nơi các pháp thế gian
Chẳng sanh chấp phân biệt
Người khéo rời phân biệt
Cũng chẳng thấy phân biệt
Vô lượng vô số kiếp
Hiểu đó tức một niệm
Biết niệm cũng vô niệm
Như vậy thấy thế gian
Vô lượng các cõi nước
Một niệm đều siêu việt
Trải qua vô lượng kiếp
Chẳng động nơi bổn xứ
Bất khả thuyết những kiếp
Tức là khoảng giây lát
Chẳng thấy dài và vắn
Rốt ráo pháp sát na
Tâm trụ nơi thế gian
Thế gian trụ nơi tâm
Nơi đây chẳng vọng khởi
Phân biệt hai, chẳng hai
Chúng sanh, thế giới kiếp
Chư Phật và Phật pháp
Tất cả như huyễn hóa
Pháp giới đều bình đẳng
Ở khắp mười phương cõi
Thị hiện vô lượng thân
Biết thân từ duyên khởi
Rốt ráo không chỗ chấp
Y nơi trí vô nhị
Xuất hiện Nhân Sư Tử
Chẳng chấp pháp vô nhị
Biết không hai, chẳng hai
Rõ biết các thế gian
Như dương diệm như ảnh
Như vang cũng như mộng
Như huyễn như biến hóa
Tuỳ thuận nhập như vậy
Chỗ sở hành chư Phật
Thành tựu trí Phổ Hiền
Chiếu khắp thâm pháp giới
Chúng sanh, cõi, nhiễm trước
Tất cả đều bỏ lìa
Mà khởi tâm đại bi
Tịnh khắp các thế gian
Bồ Tát thường chánh niệm
Luận Sư Tử diệu pháp
Thanh tịnh như hư không
Mà khởi đại phương tiện
Thấy thế gian mê đảo
Phát tâm đều cứu độ
Sở hành đều thanh tịnh
Cùng khắp các thế giới
Chư Phật và Bồ Tát
Phật pháp thế gian pháp
Nếu thấy tánh chân thật
Tất cả vô sai biệt
Như Lai tạng pháp thân
Vào khắp trong thế gian
Dầu ở tại thế gian
Mà không nhiễm thế pháp
Ví như nước trong sạch
Ảnh tượng không lai khứ
Pháp thân khắp thế gian
Nên biết cũng như vậy
Rời nhiễm trước như vậy
Thân thế đều thanh tịnh
Lặng dừng như hư không
Tất cả không có sanh
Biết thân là vô tận
Không sanh cũng không diệt
Chẳng thường chẳng vô thường
Thị hiện các thế gian
Trừ diệt các tà kiến
Khai thị nơi chánh kiến
Pháp tánh không lai khứ
Chẳng chấp ngã, ngã sở
Thí như nhà huyễn thuật
Huyễn hiện các sự vật
Không từ đâu sự đến
Sự đi không về đâu
Huyễn tánh chẳng hữu lượng
Cũng chẳng phải vô lượng
Ở trong đại chúng kia
Thị hiện lượng vô lượng
Dùng tâm tịch định này
Tu tập những thiện căn
Xuất sanh tất cả Phật
Chẳng lượng, chẳng vô lượng
Hũu lượng và vô lượng
Thảy đều là vọng tưởng
Thấu rõ tất cả loài
Chẳng chấp lượng vô lượng
Pháp thậm thâm của Phật
Rộng lớn rất tịch diệt
Trí thậm thâm vô lượng
Biết các loài thậm thâm
Bồ Tát lìa mê đảo
Tâm tịnh thường tương tục
Khéo dùng sức thần thông
Độ vô lượng chúng sanh
Kẻ chưa an khiến an
Đã an chỉ đạo tràng
Khắp pháp giới như vậy
Nơi tâm không chấp trước
Chẳng trụ nơi thực tế
Chẳng nhập nơi niết bàn
Khắp thế gian như vậy
Khai ngộ các quần sanh
Pháp số chúng sanh số
Biết rõ mà chẳng chấp
Khắp mưa những pháp vũ
Nhuận đầy cả thế gian
Ở khắp các thế giơi
Niệm niệm thành chánh giác
Mà tu hạnh Bồ Tát
Chưa từng có thối chuyển
Thế gian các thứ thân
Tất cả đều biết rõ
Biết thân pháp như vậy
Thời được thân chư Phật
Biết khắp các chúng sanh
Những kiếp và những cõi
Mười phương không bờ mé
Biển trí đều nhập cả
Thân chúng sanh vô lượng
Vì họ mà hiện thân
Thân của Phật vô lượng
Người trí đều xem thấy
Trong một niệm biết rõ
Chư Như Lai xuất hiện
Trải qua vô lượng kiếp
Ca ngợi không thể hết
Chư Phật hay hiện thân
Xứ xứ nhập niết bàn
Trong một niệm vô lượng
Xá lợi đều sai khác
Đời vị lai như vậy
Có ai cầu Phật quả
Tâm bồ đề vô lượng
Trí quyết định đều biết
Trong tam thế như vậy
Có bao nhiêu Như Lai
Tất cả đều biết được
Gọi trụ hạnh Phổ Hiền
Phân biệt biết như vậy
Vô lượng các hạnh địa
Vào nơi chỗ trí huệ
Pháp đso chẳng thối chuyển
Trí vi diệu rộng lớn
Thâm nhập cảnh Như Lai
Nhập rồi chẳng thối chuyển
Gọi là Phổ Hiền huệ
Tất cả đấng tối thắng
Vào khắp cảnh giới Phật
Tu hành chẳng thối chuyển
Được vô thượng bồ đề
Tâm vô lượng vô biên
Những nghiệp đều sai khác
Đều do tưởng huệ nhóm
Bình đẳng đều biết rõ
Nhiễm ô, chẳng nhiễm ô
Tâm học, tâm vô học
Bất khả thuyết những tâm
Trong mỗi niệm đều biết
Biết rõ chẳng một hai
Chẳng nhiễm cũng chẳng tịnh
Cũng lại không tạp loạn
Đều từ tâm tưởng sanh
Đều thấy rõ như vậy
Tất cả các chúng sanh
Tâm tưởng đều chẳng đồng
Khởi các thứ thế gian
Dùng phương tiện như vậy
Tu những hạnh tối thắng
Từ Phật pháp hóa sanh
Được gọi là Phổ Hiền
Chúng sanh đều vọng khởi
Tưởng lành, dữ, các loài
Do đây hoặc sanh thiên
Hoặc bị đoạ địa ngục
Bồ Tát quán thế gian
Do nghiệp vọng tưởng sanh
Vì vọng tưởng vô biên
Thế gian cũng vô biên
Tất cả các quốc độ
Lưới vọng tưởng hiện ra
Vì phương tiện lưới huyễn
Một niệm đều vào được
Nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân
Ý căn cũng như vậy
Thế gian tưởng sai khác
Bình đẳng đều hay vào
Mỗi mỗi cảnh giới nhãn
Vô lượng nhẫn đều vào
Những thứ tánh sai biệt
Vô lượng bất khả thuyết
Chỗ thấy vô sai biệt
Cũng lại không tạp loạn
Đều tuỳ nơi tự nghiệp
Thọ dụng quả báo đó
Sức Phổ Hiền vô lượng
Đều biết tất cả kia
Tất cả cảnh giới nhãn
Đại trí đều hay nhập
Các thế gian như vậy
Đều hay phân biệt biết
Mà tu tất cả hạnh
Cũng lại không thối chuyển
Phật thuyết, chúng sanh thuyết
Nhẫn đến quốc độ thuyết
Tam thế thuyết như vậy
Đều rõ biết tất cả
Vị lai trong quá khứ
Hiện tại trong vị lai
Tam thế lẫ thấy nhau
Mỗi mỗi đều rõ ràng
Như vậy vô lượng thứ
Khai ngộ các thế gian
Nhất thiết trí phương tiện
Biên tế bất khả đắc.




Tôi nhìn em, đôi mắt ở đậu,
Giữa cõi mê, tôi ở thật lâu,
Em cũng hiểu, cho nên cười nụ,
Chút mưu toan, khơi một bể sầu.
canary
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2009-12-18 08:39:29canary>
Kinh Hoa Nghiêm
Tập 6

Phẩm Như Lai xuất hiện
Thứ ba mươi bảy



(Hán bộ quyển năm mươi)

Bấy giờ, Thế Tôn từ trong tướng bạch hào giữa chặn mày, phóng đại quang minh tên là Như Lai Xuất Hiện.  Có vô lượng trăm ngàn ức na do tha a tăng kỳ quang minh làm quyến thuộc.  Quang minh đó chiếu khắp mười phương tất cả thế giới tận hư không pháp giới, hữu nhiễu bảy vòng, hiển hiện Như Lai vô lượng tự tại, giác ngộ vô số chúng Bồ Tát, chấn động tất cả thập phương thế giới, trừ diệt tất cả khổ ác đạo, chói che tất cả cung điện ma, hiển thị tất cả chư Phật Như Lai ngồi tòa bồ đề thành Đẳng Chánh Giác và cùng tất cả đạo tràng chúng hội.  Quang minh đó làm những sự như vậy rồi trở lại hữu nhiễu chúng Bồ Tát nhập vào đảnh đầu của Như Lai Tánh Khởi Diệu Đức Bồ Tát.
Lúc đó, tất cả đại chúng trong đạo tràng này thân tâm hớn hở rất hoan hỷ mà nghĩ rằng:  Rất lạ ít có nay đây đức Như Lai phóng đại quang minh tất sẽ diễn nói thậm thâm đại pháp.
Như Lai Tánh Khởi Diệu Đức Bồ Tát ở trên tòa liên hoa trịch bày vai hữu, quỳ gối hữu, chắp tay nhất tâm hướng lên Phật mà nói kệ rằng:
Chánh giác công đức đại trí hiện
Khắp đạt cảnh giới đến bỉ ngạn
Đồng với tam thế chư Như Lai
Vì thế nay tôi cung kính lễ
Đã lên bờ cảnh giới vô tướng
Mà hiện thân diệu tướng trang nghiêm
Phóng ra ngàn quang minh ly cấu
Phá dẹp quân ma đều hết sạch
Mười phương bao nhiêu những thế giới
Đều hay chấn động không có thừa
Chưa từng kinh sợ một chúng sanh
Thần lực đức Thiện Thệ như vậy
Hư không pháp giới tánh bình đẳng
Đã được như vậy mà an trụ
Tất cả quần sanh vô số lượng
Đều khiến dứt ác trừ những lỗi
Khổ hạnh siêng nhọc vô số kiếp
Thành tựu tối thượng đạo bồ đề
Ở các cảnh giới trí vô ngại
Cùng tất cả Phật đồng thể tánh
Đạo sư phóng ra quang minh này
Chấn động mười phương các thế giới
Đã hiện vô lượng sức thần thông
Rồi lại trở vào nhập thân tôi
Trong pháp quyết định khéo học được
Vô lượng Bồ Tát đều đến nhóm
Khiến tôi phát khởi lòng vấn pháp
Thế nên nay tôi thỉnh pháp vương
Nay chúng hội này đều thanh tịnh
Khéo độ thoát được các thế gian
Trí huệ vô biên không nhiễm trước
Những bậc hiền này đều về nhóm
Lợi ích thế gian đấng Đạo Sư
Trí huệ tinh tấn đều vô lượng
Nay đem quang minh chiếu đại chúng
Khiến tôi thỉnh hỏi pháp vô thượng
Ai ở cảnh giới của Như Lai
Mà hay chân thật khai diễn đủ?
Ai là Pháp Trưởng Tử của Phật?
Thế Tôn Đạo Sư xin hiển thị.
Bấy giờ, đức Như Lai liền ở trong miệng phóng ra đại quang minh tên là Vô ngại vô úy, có trăm ngàn ức a tăng kỳ quang minh làm quyến thuộc, chiếu khắp mười phương tất cả thế giới tận hư không pháp giới, hữu nhiễu mười vòng, hiển hiện Như Lai các thứ tự tại, khai ngộ vô lượng những chúng Bồ Tát, chấn động tất cả mười phương thế giới, diệt trừ tất cả những khổ ác đạo, chói che tất cả những cung điện ma, hiển thị tất cả chư Phật Như Lai ngồi tòa bồ đề thành Đẳng Chánh Giác và đến tất cả chúng hội đạo tràng.  Đại quang minh này làm những sự như vậy rồi trở lại hữu nhiễu chúng hội Bồ Tát, nhập vào miệng của Phổ Hiền đại Bồ Tát.  Đại quang minh nhập xong thời thân và tòa sư tử của Phổ Hiền Bồ Tát hơn lúc trước và hơn thân tòa của chư Bồ Tát gấp trăm lần, chỉ trừ tòa sư tử của Như Lai.
Như Lai Tánh Khởi Diệu Đức Bồ Tát hỏi Phổ Hiền đại Bồ Tát: "Thưa Phật tử!  Đức Thế Tôn đã thị hiện thần biến quảng đại làm cho chúng Bồ Tát đều hoan hỷ chẳng thể nghĩ bàn, thế gian chẳng biết được.  Đó là loại tướng gì?"
Phổ Hiền đại Bồ Tát nói: "Phật tử!  Thuở xưa, tôi thấy chư Như Lai Ứng Đẳng Chánh Giác thị hiện thần biến quảng đại như vậy, liền nói pháp môn Như Lai xuất hiện.  Cứ theo tôi suy gẫm:  Nay đức Như Lai hiện tướng này tất sẽ nói pháp môn đó."
Lúc Phổ Hiền Bồ Tát nói lời trên xong, tất cả đại địa thảy đều chấn động, xuất sanh vô lượng quang minh vấn pháp.
Như Lai Tánh Khởi Diệu Đức Bồ Tát hỏi Phổ Hiền Bồ Tát: "Thưa Phật tử!  Đại Bồ Tát phải thế nào để biết pháp xuất hiện của chư Phật Như Lai?  Xin Phật tử nói cho.  Vô lượng trăm ngàn ức na do tha chúng hội Bồ Tát này đều tu tịnh nghiệp đã lâu, niệm huệ thành tựu, đã đến bờ rốt ráo đại trang nghiêm, đủ tất cả hạnh oai nghi của Phật, chánh niệm chư Phật chưa từng quên mất, lòng đại bi quán sát tất cả chúng sanh, quyết định biết rõ thần thông cảnh giới của chư đại Bồ Tát, đã được thần lực của chư Phật gia hộ, hay thọ tất cả diệu pháp của Như Lai, đủ vô lượng công đức như vậy đều đến nhóm họp tại đây.
Phật tử đã từng ở chỗ vô lượng trăm ngàn ức na do tha Phật, thừa sự cúng dường, thành tựu diệu hạnh tối thượng của Bồ Tát, nơi môn tam muội đều được tự tại, vào chỗ bí mật của tất cả chư Phật, biết các Phật pháp, dứt những nghi lầm, được thần lực của Phật gia hộ, biết căn khí của chúng sanh tuỳ theo sở thích của họ mà nói pháp chân thật giải thoát, tùy thuận Phật trí, diễn  nói Phật pháp đến nơi bỉ ngạn, có vô lượng công đức như vậy.
Lành thay Phật tử!  Xin nói pháp xuất hiện của Như Lai Đẳng Chánh Giác, những thân tướng, ngôn âm, tâm ý, cảnh giới, hạnh đã làm, thành đạo, chuyển pháp luân, nhẫn đến thị hiện nhập đại niết bàn, thấy nghe thân cận được sanh thiện căn.  Những sự như vậy xin Phật tử nói cho."
Như Lai Tánh Khởi Diệu Đức Bồ Tát muốn tuyên rõ nghĩa này bèn hướng về Phổ Hiền Bồ Tát mà nói kệ rằng:
Lành thay vô ngại đại trí huệ
Khéo tỏ vô biên cảnh bình đẳng
Nguyện nói công hạnh của chư Phật
Đại chúng được nghe đều mừng rỡ
Bồ Tát thế nào tùy thuận nhập
Chư Phật Như Lai hiện ra đời
Cảnh giới thân, ngữ, ý thế nào
Và chỗ thực hành xin đều nói
Thế nào chư Phật thành chánh giác?
Thế nào Như Lai chuyển pháp luân?
Thế nào Thiện Thệ nhập niết bàn?
Đại chúng được nghe lòng hoan hỷ
Nếu có thấy Phật đại pháp vương
Thân cận thêm lớn các thiện căn
Xin nói những tạng công đức kia
Chúng sanh thấy rồi được những gì?
Nếu ai được nghe tên Như Lai
Hoặc  hiện tại thế hoặc niết bàn
Nơi phước tạng kia sanh thâm tín
Có những lợi gì xin tuyên nói
Chúng Bồ Tát đây đều chắp tay
Chiêm ngưỡng Như Lai, ngài và tôi
Cảnh giới biển công đức quảng đại
Bậc tịnh chúng sanh xin vì nói
Xin dùng nhân duyên và thí dụ
Diễn nói diệu pháp nghĩa tương ưng
Chúng sanh nghe rồi phát đại tâm
Hết nghi trí sạch như hư không
Như khắp trong tất cả cõi nước
Chư Phật đã hiện thân trang nghiêm
Nguyện dùng diệu âm và nhân dụ
Dạy Phật bồ đề cũng như kia
Mười phương mười môn những cõi nước
Ức na do tha vô lượng kiếp
Như nay Bồ Tát chúng tập họp
Nơi kia tất cả đều khó thấy
Chư Bồ Tát đây đều cung kính
Nơi nghĩa vi diệu sanh khát ngưỡng
Nguyện dùng tịnh tâm khai diễn đủ
Pháp quảng đại Như Lai xuất hiện.
Phổ Hiền đại Bồ Tát bảo Như Lai Tánh Khởi Diệu Đức Bồ Tát và đại chúng chư Bồ Tát: "Chư Phật tử!  Chỗ này chẳng thể nghĩ bàn.  Nghĩa là đức Như Lai Đẳng Chánh Giác, do vô lượng pháp mà được xuất hiện.  Vì chẳng phải do một duyên, chẳng phải do một sự, Như Lai xuất hiện được thành tựu, mà do mười vô lượng trăm ngàn vô số sự mới được thành tựu.  Những gì là mười?
Một là do quá khứ vô lượng bồ đề tâm nhiếp thọ tất cả chúng sanh làm thành.
Hai là do quá khứ vô lượng chí nguyện thanh tịnh thù thắng làm thành.
Ba là do quá khứ vô lượng đại từ đại bi cứu hộ tất cả chúng sanh làm thành.
Bốn là do quá khứ vô lượng hạnh nguyện tương tục làm thành.
Năm là do quá khứ vô lượng tu các phước trí tâm không nhàm đủ làm thành.
Sáu là do quá khứ vô lượng cúng dường chư Phật giáo hóa chúng sanh làm thành.
Bảy là do quá khứ vô lượng trí huệ phương tiện thanh tịnh đạo làm thành.
Tám là do quá khứ vô lượng thanh tịnh công đức tạng làm thành.
Chín là do quá khứ vô lượng trang nghiêm đạo trí làm thành.
Mười là do quá khứ vô lượng thông đạt pháp nghĩa làm thành.
Vô lượng a tăng kỳ pháp môn viên mãn như vậy làm thành Như Lai.
Chư Phật tử1  Ví như đại thiên thế giới này, chẳng phải do một duyên, chẳng phải do một sự mà được thành tựu, phải do vô lượng duyên, vô lượng sự mới được thành.  Những là nổi giăng mây lớn, tuôn xối mưa lớn, bốn thứ phong luân nối tiếp làm sở y.  Gì là bốn thứ?
Một tên là năng trì, vì hay trì đại thủy.
Hai tên là năng tiêu, vì hay tiêu đại thủy.
Ba tên là kiến lập, vì kiến lập tất cả xứ sở.
Bốn tên là trang nghiêm, vì trang nghiêm phân bố đều thiện xảo.
Như trên đây đều do cộng nghiệp của chúng sanh và thiện căn của chư Bồ Tát phát khởi, làm cho tất cả chúng sanh trong đó đều tùy sở nghi mà được thọ dụng.
Vô lượng nhân duyên như vậy mới thành đại thien thế giới.  Pháp tánh như vậy không có sanh giả, không có tác giả, không có trí giả, không có thành giả, nhưng đại thiên thế giới vẫn được thành tựu.
Cũng vậy, Như Lai xuất hiện chẳng phải do một duyên, chẳng phải do một sự mà được thành tựu, phải do vô lượng duyên vô lượng sự mới thành tựu được.  Những là từng ở chỗ Phật quá khứ lắng nghe thọ trì đại pháp vân, đại pháp võ.  Do đây có thể khởi Như Lai bốn thứ đại trí phong luân:
Một là đại trí phong luân đà la ni niệm trì chẳng quên, vì hay trì tất cả đại pháp vân đại pháp võ của Như Lai.
Hai là đại trí phong luân xuất sanh chỉ quán, vì hay tiêu diệt tất cả phiền não.
Ba là đại trí phong luân hồi hướng thiện xảo, vì hay thành tựu tất cả thiện căn.
Bốn là đại trí phong luân xuất sanh ly cấu sai biệt trang nghiêm, vì khiến quá khứ những chúng sanh được hóa độ, thiện căn của họ thanh tịnh, thành tựu sức thiện căn vô lậu của Như Lai.
Đức Như Lai thành đẳng chánh giác như vậy, pháp tánh như vậy, vô sanh vô tác mà được thành tựu.
Đây là tướng xuất hiện thứ nhất của đức Như Lai Đẳng Chánh Giác, chư đại Bồ Tát phải biết như vậy.
Lại nữa, chư Phật tử!  Ví như đại thiên thế giới lúc sắp thành, mây lớn tuôn mưa gọi là hồng chú.  Tất cả phương xứ chẳng thể thọ, chẳng thể trì, chỉ trừ đại thiên thế giới lúc sắp thành.
Cũng vậy, đức Như Lai đẳng chánh giác nổi đại pháp vân, tuôn đại pháp vũ, gọi là thành tựu Như Lai xuất hiện, tất cả hàng nhị thừa tâm chí hẹp kém không thọ được, không trì được, chỉ trừ sức tâm tương tục của chư đại Bồ Tát.
Đây là tướng xuất hiện thứ hai của đức Như Lai đẳng chánh giác, đại Bồ Tát phải biết như vậy.
Lại nữa, chư Phật tử!  Ví như chúng sanh vì do nghiệp lực, mây lớn tuôn mưa, đến không từ đâu, đi không về đâu.
Cũng vậy, đức Như Lai Đẳng Chánh Giác, do sức thiện căn của chư Bồ Tát, nổi đại pháp vân, tuôn đại pháp vũ, cũng đến không từ đâu, đi chẳng đến đâu.
Đây là tướng xuất hiện thứ ba của đức Như Lai Đẳng Chánh Giác, đại Bồ Tát phải biết như vậy.
Lại nữa, chư Phật tử!  Ví như mây lớn tuôn xối mưa lớn.  Trong đại thiên thế giới tất cả chúng sanh không biết được số.  Nếu muôn tính đếm, chỉ luống phát cuồng.  Duy có Ma Hê Thủ La, chủ của đại thiên thế giới, do sức thiện căn đã tu từ quá khứ, nhẫn đến một giọt đều biết rõ cả.
Cũng vậy, đức Như Lai Đẳng Chánh Giác nổi đại pháp vân, tuôn đại pháp vũ, tất cả chúng sanh, thanh văn, duyên giác đều không biết được.
Nếu muốn nghĩ lường tâm ắt cuồng loạn.  Chỉ trừ đại Bồ Tát, chủ của tất cả thế gian, do sức giác huệ đã tu từ quá khứ, nhẫn đến một văn một câu nhập vào tâm chúng sanh đều biết rõ cả.
Đây là tướng xuất hiện thứ tư của đức Như Lai Đẳng Chánh Giác, đại Bồ Tát phải biết như vậy.
Lại nữa, chư Phật tử!  Ví như lúc mây lớn tuôn mưa, có mây lớn mưa lớn tên là năng diệt, diệt được hỏa tai.  Có mây lớn mưa lớn tên là năng khởi, hay khởi đại thủy.  Có mây lớn mưa lớn tên là năng chỉ, hay ngăn đại thủy.  Có mây lớn mưa lớn tên là năng thành, hay thành tất cả các báu ma ni.  Có mây lớn mưa lớn tên phân biệt, hay phân biệt tam thiên đại thiên thế giới
Cũng vậy, đức Như Lai xuất hiện nổi đại pháp vân, tuôn đại pháp vũ.  Có đại pháp vũ tên là năng diệt, hay diệt tất cả phiền não chúng sanh.  Có đại pháp vũ tên là năng khởi, hay khởi tất cả thiện căn của chúng sanh.  Có đại pháp vũ tên là năng chỉ, hay ngăn kiến hoặc của tất cả chúng sanh.  Có đại pháp vũ tên là năng thành, hay thành tất cả trí huệ pháp bửu.  Có đại pháp bửu tên là phân biệt, phân biệt tất cả tâm sở thích của chúng sanh.
Đây là tướng xuất hiện thứ năm của đức Như Lai, đại Bồ Tát phải biết như vậy.
Lại nữa, chư Phật tử!  Ví như mây lớn tuôn nước đồng một vị mà tùy những chỗ mưa có vô lượng sai biệt.
Cũng vậy, đức Như Lai xuất hiện tuôn đại bi pháp thủy đồng một vị mà tùy sở nghi thuyết pháp có vô lượng sai biệt.
Đây là tướng xuất hiện thứ sáu của đức Như Lai, đại Bồ Tát phải biết như vậy.
Lại nữa, chư Phật tử!  Ví như đại thiên thế giới, lúc mới bắt đầu thành, trước hết thành cung điện của trời cõi sắc, kế đến thành cung điện của trời cõi dục, kế đến thành chỗ ở của loài người và những loài khác.
Cũng vậy, đức Như Lai xuất hiện, trước hết khởi những hạnh trí huệ Bồ Tát, kế khởi những hạnh trí huệ duyên giác, kế khởi những hạnh trí huệ thiện căn thanh văn, kế khởi những hạnh trí huệ thiện căn hữu vi của các chúng sanh khác.
Như mây lớn tuôn nước một vị, vì theo thiện căn của chúng sanh sai khác nên khởi các loại cung điện chẳng đồng.
Đại bi pháp vũ nhất vị của Như Lai tuỳ căn khí của chúng sanh mà cói sai khác.
Đây là tướng xuất hiện thứ bảy của đức Như Lai, đại Bồ Tát phải biết như vậy.
Lại nữa, chư Phật tử! Ví như lúc thế giới ban đầu sắp thành, có đại thủy khởi đầy khắp đại thiên thế giới, sanh hoa sen lớn tên là Như Lai xuất hiện công đức bửu trang nghiêm, che khắp trên mặt nước, ánh sáng chiếu tất cả thế giới mười phương.  Lúc đó Ma Hê Thủ La và Tịnh Cư Thiên thấy hoa sen đó, liền quyết định biết trong kiếp này có bao nhiêu đức Phật như vậy xuất thế.
Bấy giờ trong đó có phong luân nổi lên tên là Thiên tịnh quang minh hay làm thành cung điện chư thiên cõi Sắc.  Lại có phong luân tên là Tịnh quang trang nghiêm hay thành cung điện chư thiên cõi Dục.  Lại có phong luân tên là Kiên mật vô năng hoại hay thành những đại và tiểu luân vi sơn cùng kim cang sơn.  Lại có phong luân tên là Thắng cao hay thành núi Tu Di.  Lại có phong luân tên là Bất động hay thành mười núi lớn là núi Khư Đà La, núi Tiên Nhân, núi Phục Ma, núi Đại Phục Ma, núi Trì Song, núi Di Dân Đà La, núi Mục Chân Lân Đà, núi Ma Ha Mục Chân Lân Đà, Hương Sơn và Tuyết Sơn.  Có phong luân tên là An trụ hay thành đại địa.  Có phong luân khởi tên là Trang nghiêm hay thành cung điện của địa thiên, long cung, càn thát bà cung.  Có phong luân khởi tên là Vô tận tạng hay thành tất cả đại hải trong đại thiên thế giới.  Có phong luân khởi tên là Phổ quang minh tạng hay thành những ma ni bửu trong đại thiên thế giới.  Có phong luân khởi tên là Kiên cố căn hay thành tất cả Như Ý thọ.
Mây lớn tuôn mưa một thứ nước đồng một vị không có sai khác.  Do chúng sanh thiện căn chẳng đồng nên phong luân chẳng đồng.  Phong luân sai khác nên thế giới sai khác.
Cũng vậy, Như Lai xuất hiện đầy đủ thiện căn công đức, phóng quang minh đại trí vô thượng tên là trí bất tư nghì chẳng dứt Như Lai chủng, chiếu khắp tất cả thế giới mười phương, thọ Như Lai quán đảnh ký cho chư Bồ Tát sẽ thành chánh giác xuất hiện ra đời.
Chư Phật tử!  Như Lai xuất hiện lại có quang minh đại trí vô thượng tên là Thanh tịnh ly cấu hay thành Phật trí vô lậu vô tận.
Lại có quang minh đại trí vô thượng tên là Phổ Chiếu hay thành trí bất tư nghì Như Lai khắp vào pháp giới.
Lại có quang minh đại trí vô thượng tên là Trì Phật chủng tánh hay thành sức chẳng khuynh động của Như Lai.
Lại có quang minh đại trí vô thượng tên là Hoánh xuất vô năng hoại hay thành trí vô úy vô hoại của Như Lai.
Lại có quang minh đại trí vô thượng tên là Nhất thiết thần thông hay thành những pháp bất cộng nhất thiết chủng trí của Như Lai.
Lại có quang minh đại trí vô thượng tên là Xuất sanh biến hóa hay thành trí chẳng hư mất của Như Lai khiến người thấy nghe thân cận sanh thiện căn.
Lại có quang minh đại trí vô thượng tên là Phổ tuỳ thuận hay thành thân trí huệ phước đức của Như Lai, vì tất cả chúng sanh mà làm lợi ích.
Lại có quang minh đại trí vô thượng tên là Bất khả cứu cánh hay thành diệu trí thậm thâm của Như Lai, tuỳ chỗ khai ngộ làm cho tam bảo chủng vĩnh viễn chẳng đoạn tuyệt.
Lại có quang minh đại trí vô thượng tên là Chủng chủng trang nghiêm hay thành thân tướng hảo trang nghiêm của Như Lai, khiến tất cả chúng sanh đều hoan hỷ.
Lại có quang minh đại trí vô thượng tên là Bất khả hoại hay thành thọ mạng thù thắng vô tận đồng với hư không giới pháp giới của Như Lai.
Chư Phật tử!  Nước một vị đại bi của Như Lai không có phân biệt, vì các chúng sanh sở thích chẳng đồng căn tánh đều khác nên khởi nhiều thứ phong luân sai khác, khiến các Bồ Tát thành tựu pháp Như Lai xuất hiện.
Tất cả Như Lai đồng một thể tánh, trong đại phong luân xuất sanh các thứ trí huệ quang minh.
Chư Phật tử!  Phải biết đức Như Lai ở nơi một vị giải thoát, xuất sanh vô lượng bất tư nghì các thứ công đức.  Chúng sanh nghĩ rằng đây là thần lực của Như Lai tạo ra.
Chư Phật tử!  Đây chẳng phải thần lực của Như Lai tạo ra.
Chư Phật tử!  Chẳng bao giờ có nhẫn đến một Bồ Tát chẳng ở nơi chỗ Phật từng gieo căn lành mà có thể được ít phần trí huệ của Như Lai.  Chỉ do sức oai đức của chư Phật khiến các chúng sanh đủ công đức của Phật.  Mà đức Phật Như Lai không phân biệt, không thành, không hoại, không có tác giả, cũng không có pháp làm.
Đây là tướng xuất hiện thứ tám của đức Như Lai Đẳng Chánh Giác, chư đại Bồ Tát phải biết như vậy.
Lại nữa, chư Phật tử!  Như y hư không khởi bốn phong luân ay giữ lấy thủy luân:  Một tên là an trụ, hai tên là thường trụ, ba tên là cứu cánh, bốn tên là kiên cố.
Bốn phong luân này hay giữ lấy thủy luân.  Thủy luân hay giữ lấy đại địa cho khỏi tan hư.
Vì thế nên nói địa luân y nơi thủy luân, thuỷ luân y nơi phong luân, phong luân y nơi hư không, hư không không chỗ y.  Dầu không chỗ y mà hư không có thể làm cho đại thiên thế giới được an trụ.
Cũng vậy, Như Lai xuất hiện y nơi quang minh vô ngại huệ phát khởi bốn thứ đại trí phong luân của Phật hay giữ lấy thiện căn của tất cả chúng sanh.
Một là đại trí phong luân nhiếp khắp chúng anh đều làm cho hoan hỷ.
Hai là đại trí phong luân kiến lập chánh pháp khiến các chúng sanh đều sanh ưa thích.
Ba là đại trí phong luân giữ gìn thiện căn của tất cả chúng sanh.
Bốn là đại trí phong luân đủ tất cả phương tiện thông đạt vô lậu giới.
Chư Phật Thế Tôn đại từ cứu hộ tất cả chúng sanh, đại bi độ thoát tất cả chúng sanh, đại từ đại bi lợi ích khắp cả.  Nhưng đại từ đại bi y đại phương tiện thiện xảo.  Phương tiện thiện xảo y Như Lai xuất hiện.  Như Lai xuất hiện y vô ngại huệ quang minh.  Vô ngại huệ quang minh không chỗ y.
Đây là tướng xuất hiện thứ chín của đức Như Lai Đẳng Chánh Giác, đại Bồ Tát phải biết như vậy.
Lại nữa, chư Phật tử!  Ví như đại thiên thế giới đã thành tựu rồi, nhiêu ích vô lượng chúng sanh.  Những loài thủy tộc được lợi ích nơi nước.  Lục địa chúng sanh được lợi ích nơi đất liền.  Cung điện chúng sanh được lợi ích nơi cung điện.  Hư không chúng sanh được lợi ích nơi hư không.
Cũng vậy, Như Lai xuất hiện nhiều thứ lợi ích cho vô lượng chúng sanh.  Những là người thấy Phật sanh hoan hỷ thời được lợi ích nơi sự hoan hỷ.  Kẻ an trụ nơi tịnh giới thời được lợi ích nơi tịnh giới.  Kẻ trụ nơi các thiền định và môn vô lượng thời được lợi ích nơi thánh xuất thế đại thần thông.  Kẻ trụ pháp môn quang minh thời được lợi ích nhân quả chẳng hoại.  Kẻ trụ vô sở hữu quang minh thời được lợi ích tất cả pháp chẳng hoại.  Vì thế nên nói rằng đức Như Lai xuất hiện lợi ích tất cả vô lượng chúng sanh.
Đây là tướng xuất hiện thứ mười của đức Như Lai Đẳng Chánh Giác, đại Bồ Tát phải biết như vậy.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát biết Như Lai xuất hiện thời biết vô lượng, vì biết thành tựu vô lượng.  Thời biết quảng đại, vì biết cùng khắp mười phương.  Thời biết không lai khứ, vì biết lìa sanh, trụ, diệt.  Thời biết vô hành, vô sở hành, vì biết lìa tâm ý thức.  Thời biết không thân, vì biết như hư không.  Thời biết bình đẳng, vì biết tất cả chúng sanh đều vô ngã.  Thời biết vô tận, vì biết khắp tất cả cõi vô tận.  Thời biết vô thối, vì biết tận hậu tế không đoạn tuyệt.  Thời biết vô hoại, vì biết Như Lai trí không có đối đãi.  Thời biết vô nhị, vì biết bình đẳng quán sát hữu vi và vô vi.  Thời biêt tất cả chúng sanh đều được lợi ích, vì bổn nguyện hồi hướng tự tại đầy đủ."
Phổ Hiền đại Bồ Tát muốn tuyên lại nghĩa này mà nói kệ rằng:
Thập Lực Đại Hùng vô thượng nhất
Ví như hư không vô đẳng đẳng
Cảnh giới quảng đại chẳng lường được
Công đức thứ nhất siêu thế gian
Thập lực công đức vô biên lượng
Tâm ý tư lương chẳng đến được
Một pháp môn của đức Thế Tôn
Chúng sanh ức kiếp chẳng biết được
Mười phương quốc độ nghiền làm trần
Hoặc có tính đếm biết số đó
Công đức bằng một lông của Phật
Ngàn muôn ức kiếp không nói được
Như người cầm thước đo hư không
Lại có người theo tính số thước
Biên tế hư không chẳng thể được
Cảnh giới Như Lai cũng như vậy
Hoặc có người trong khoảng sát na
Biết được tâm chúng sanh ba thuở
Dầu nhiều kiếp bằng số chúng sanh
Chẳng biết được một niệm của Phật
Ví như pháp giới khắp tất cả
Chẳng thấy lấy được, làm tất cả
Cảnh giới thập lực, cũng như vậy
Khắp tất cả, chẳng phải tất cả
Chân như ly vọng hằng tịch tịnh
Không sanh không diệt khắp tất cả
Cảnh giới của Phật cũng như vậy
Thể tánh bình đẳng chẳng tăng giảm
Như thực tế mà chẳng phải tế
Khắp tại tam thế cũng chẳng khắp
Cảnh giới Như Lai cũng như vậy
Khắp tại tam thế đều vô ngại
Pháp tánh không làm không biến đổi
Dường như hư không vốn thanh tịnh
Chư Phật tánh tịnh cũng như vậy
Bổn tánh phi tánh rời có không
Pháp tánh chẳng ở nơi ngôn luận
Rời hẳn ngôn thuyết hằng tịch diệt
Cảnh giới thập lực tánh cũng vậy
Tất cả văn từ chẳng biện được
Biết rõ các pháp tánh tịch diệt
Như chim bay không chẳng có dấu
Do bổn nguyện lực hiện sắc thân
Khiến thấy Như Lai đại thần biến
Có ai muốn biết Phật cảnh giới
Phải tịnh ý mình như hư không
Xa lìa vọng tưởng rời chấp lấy
Khiến tâm hướng đến đều vô ngại
Vì thế Phật tử phải khéo nghe
Tôi dùng chút dụ rõ Phật cảnh
Thập lực công đức chẳng lường được
Vì ngộ chúng sanh nay lược nói
Đạo sư đã hiện nơi thân nghiệp
Ngữ nghiệp, tâm nghiệp các cảnh giới
Chuyển diệu pháp luân nhập niết bàn
Tất cả căn lành nay tôi nói
Ví như thế giới mới an lập
Chẳng phải một duyên mà thành được
Vô lượng phương tiện nhiều nhân duyên
Làm thành đại thiên thế giới này
Như Lai xuất hiện cũng như vậy
Vô lượng công đức mới được thành
Sát trần tâm niệm còn biết được
Thập lực sanh nhân chẳng lường được
Ví như kiếp sơ mây tuôn mưa
Mà khởi bốn thứ đại phong luân
Chúng sanh thiện căn Bồ Tát lực
Thành đại thiên này đều an trụ
Thập lực pháp vân cũng như vậy
Khởi trí phong luân ý thanh tịnh
Xưa các chúng sanh đã hồi hướng
Đạo Sư khiến thành quả vô thượng
Như có mưa to hiệu hồng chú
Không có nơi nào dung thọ được
Chỉ trừ thế giới lúc sắp thành
Hư không thanh tịnh sức gió lớn
Như Lai xuất hiện cũng như vậy
Khắp mưa pháp vũ đầy pháp giới
Những kẻ ý liệt không thọ được
Chỉ trừ tâm thanh tịnh quảng đại
Ví như trên không tuôn mưa lớn
Không từ đâu đến không đi đâu
Tác giả, thọ giả cũng đều không
Như vậy tự nhiên khắp thấm ướt
Thập lực pháp vũ cũng như vậy
Không khứ, không lai, không tạo tác
Bổn hạnh làm nhân sức Bồ Tát
Tất cả đại tâm đều nghe lãnh
Ví như mây to tuôn mưa lớn
Không ai đếm được số giọt mưa
Chỉ trừ Ma Hê Thủ La Thiên
Đủ sức công đức đều biết rõ
Thiện thệ pháp vũ cũng như vậy
Tất cả chúng sanh không lường được
Chỉ trừ đấng Tự Tại thế gian
Như trong bàn tay xem thấy rõ
Ví như mây to tuôn mưa lớn
Hay diệt, hay khởi, cũng hay dứt
Tất cả trân bửu đều hay thành
Đại thiên mọi vật đều sai khác
Thập lực pháp vũ cũng như vậy
Diệt ác, khởi lành, dứt kiến chấp
Báu nhất thiết trí đều khiến thành
Chúng sanh sở thích đều sai khác
Ví như trên không mưa một vị
Tuỳ chỗ được mưa đều chẳng đồng
Tánh của mưa kia không phân biệt
Nhưng tuỳ vật khác, tất như vậy
Như Lai pháp vũ chẳng một khác
Bình đẳng tịch tịnh lìa phân biệt
Nhưng tùy sở hóa nhiều loại khác
Tự nhiên vô biên tướng như vậy
Ví như thế giới lúc mới thành
Trước thành sắc giới thiên cung điện
Kế dục thiên cung, kế đến người
Cung càn thát bà thành sau rốt
Như Lai xuất hiện cũng như vậy
Trước khởi vô biên Bồ Tát hạnh
Kế độ duyên giác ưa tịch diệt
Kế chúng thanh văn, đến chúng sanh
Chư thiên mới thấy điềm liên hoa
Vui mừng biết Phật sẽ xuất thế
Do nước, sức gió khởi thế gian
Cung điện núi sống đều thành lập
Như Lai thiện lực đại quang minh
Khéo thọ ký cho chư Bồ Tát
Bao nhiêu trí luân thể đều sạch
Đều hay khai thị các Phật pháp
Ví như rừng cây nương đất có
Đất nương nơi nước chẳng tan hư
Nước nương phong luân, phong nương không
Mà hư không kia không nương dựa
Tất cả Phật pháp nương từ bi
Từ bi lại nương phương tiện lập
Phương tiện nương trí, trí nương huệ
Thân vô ngại huệ không chỗ nương
Ví như thế giới đã thành lập
Tất cả chúng sanh được lợi ích
Loài ở đất, ở nước, hư không
Hai chân, bốn chân đều được lợi
Pháp Vương xuất hiện cũng như vậy
Tất cả chúng sanh đều được nhờ
Nếu có thấy nghe và thân cận
Đều khiến trừ diệt những hoặc não
Như Lai xuất hiện pháp vô biên
Thế gian mê lầm chẳng biết được
Vì muốn khai ngộ những hàm thức
Trong không ví dụ mà nói dụ
"Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát phải như thế nào mà thấy thân của đức Như Lai Đẳng Chánh Giác?
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát phải ở vô lượng xứ mà thấy thân Như Lai.  Vì chư đại Bồ Tát chẳng nên ở một pháp, một sự, một thân, một quốc độ, một chúng sanh mà thấy Như Lai.
Ví như hư không đến khắp tất cả chỗ sắc phi sắc, chẳng phải đến chẳng phải chẳng đến.  Vì hư không chẳng có thân.
Cũng vậy, thân Như Lai khắp tất cả chỗ, khắp tất cả chúng sanh, khắp tất cả pháp, khắp tất cả quốc độ, chẳng phải đến chẳng phải chẳng đến.  Vì thân Như Lai là không có thân.  Vì chúng sanh mà thị hiện thân Phật.
Đây là tướng thứ nhất của thân Như Lai.  Chư đại Bồ Tát phải thấy như vậy.
Lại nữa, chư Phật tử!  Ví như hư không rộng rãi chẳng phải sắc mà hay hiển hiện tất cả sắc.  Nhưng hư không kia không có phân biệt cũng không hý luận.
Thân của Như Lai cũng vậy.  Vì do trí quang minh khắp chiếu sáng làm cho tất cả chúng sanh, thế gian, xuất thế gian, các nghiệp thiện căn đều được thành tựu.  Nhưng thân Như Lai không có phân biệt cũng không hý luận.  Vì từ xưa đến nay, tất cả chấp trước, tất cả hý luận đều đã dứt hẳn.
Đây là tướng thứ hai của thân Như Lai.  Chư đại Bồ Tát phải thấy như vậy.
Lại nữa, chư Phật tử!  Ví như mặt nhật mọc lên, vô lượng chúng sanh ở Diêm Phù Đề được lợi ích.  Những là phá tối làm sáng, biến ướt thành khô, sanh trưởng cỏ cây, thành thục lúa mạ, chói suốt hư không, hoa sen nở xoè, người đi thấy đường, kẻ ở nhà xong công việc.  Vì mặt nhật khắp phóng vô lượng quang minh.
Như Lai trí nhật cũng như vậy, dùng vô lượng sự khắp lợi ích chúng sanh.  Những là diệt ác sanh lành, phá ngu làm trí, đại từ cứu hộ, đại bi độ thoát, làm cho họ tăng trưởng căn, lực, gián phần, khiến sanh lòng tin sâu chắc, bỏ lìa tâm ô trược, khiến kẻ thấy nghe chẳng hư nhân quả, khiến được thiên nhãn thấy chỗ thọ sanh sau khi chết, khiến tâm vô ngại chẳng hư căn lành, khiến trí tỏ sáng mau nở giác hoa, khiến họ phát tâm thành tựu bổn hạnh.  Vì thân mặt nhật trí huệ quảng đại của Như Lai phóng vô lượng quang minh chiếu sáng khắp nơi.
Đây là tướng thứ ba của thân Như Lai, chư đại Bồ Tát phải thấy như vậy.
Lại nữa, chư Phật tử!  Ví như mặt nhật mọc lên, trước hết chiếu những núi lớn như núi tu di, v.v... kế chiếu hắc sơn, kế chiếu cao nguyên, sau rốt chiếu khắp đại địa.  Mặt nhật chẳng nghĩ rằng ta trước chiếu đây rồi sau sẽ chiếu nơi kia.  Chỉ do núi và mặt đất có cao và thấp nên chiếu có trước và sau.
Đức Như Lai Đẳng Chánh Giác cũng như vậy.  Thành tựu vô biên pháp giới trí luân, thường phóng vô ngại trí huệ quang minh.  Trước chiếu chư đại Bồ Tát, kế chiếu duyên giác, kế chiếu thanh văn, kế chiếu chúng sanh có thiện căn quyết định, tuỳ theo tâm khí của họ mà thị hiện trí quảng đại, sau rốt chiếu khắp tất cả chúng sanh, nhẫn đến kẻ tà định cũng chiếu đến để làm nhân duyên lợi ích thuở vị lai khiến họ được thành thục.
Nhưng đức Như Lai Đại Trí Nhật Quang Bồ Tát đại hạnh, nhẫn đến sau rốt sẽ chiếu tà định chúng sanh.  Chỉ phóng trí quang bình đẳng chiếu khắp, vô ngại, vô chướng, vô phân biệt.  Chư Phật tử!  Ví như mặt nhật, mặt nguyệt, tùy thời xuất hiện, núi lớn, hang tối chiếu khắp không riêng tư.
Như Lai trí huệ cũng như vậy, chiếu khắp tất cả không có phân biệt.  Tuỳ theo chúng sanh căn khí, sở thích không đồng mà trí huệ quang minh có nhiều thứ khác nhau.
Đây là tướng thứ tư của thân Như Lai, đại Bồ Tát phải thấy như vậy.
Lại nữa, chư Phật tử!  Ví như mặt nhật mọc lên, những kẻ sanh manh vì không nhãn căn nên trọn không thấy.  Dầu không thấy, nhưng vẫn được ánh sáng mặt nhật làm lợi ích.  Vì do mặt nhật mà biết thời tiết ngày đêm, thọ dụng các thứ y phục, ẩm thực, khiến thân mạnh khoẻ khỏi tật bệnh.
Như Lai trí nhật cũng như vậy.  Những kẻ không tin, không hiểu, phá giới, phá kiến tà mạng sanh sống, vì không tín nhãn nên chẳng thấy chư Phật trí huệ.  Dầu không thấy, nhưng vẫn được sự lợi ích nơi trí huệ của Phật.  Vì do oai lực của Phật làm cho những chúng sanh đó, các sự khổ nơi thân và những phiền não nhân khổ vị lai đều được tiêu diệt.
Chư Phật tử!  Đức Như Lai có quang minh tên là Tích tập tất cả công đức.  Có quang minh tên là Chiếu khắp tất cả.  Có quang minh tên là Thanh tịnh tự tại chiếu.  Có quang minh tên là Xuất đại diệu âm.  Có quang minh tên là Hiểu khắp tất cả ngữ ngôn khiến sanh hoan hỷ.  Có quang minh tên là Thị hiện cảnh giới tự tại dứt hẳn tất cả nghi ngờ.  Có quang minh tên là Trí vô trụ tự tại chiếu khắp.  Có quang minh tên là Trí tự tại dứt hẳn tất cả hý luận.  Có quang minh tên là Tùy sở nghi xuất diệu âm.  Có qunag minh tên là Xuất âm thanh tự tại thanh tịnh trang nghiêm quốc độ thành thục chúng sanh.
Chư Phật tử!  Mỗi lỗ lông của đức Như Lai phóng ra ngàn thứ quang minh như vậy.  Năm trăm quang minh chiếu khắp hạ phương, năm trăm quang minh chiếu khắp thượng phương, các chúng Bồ Tát ở chỗ chư Phật trong tất cả cõi.  Những Bồ Tát đó thấy quang minh này đồng thời đều được cảnh giới Như Lai:  Mười đầu, mười mắt, mười tai, mười mũi, mười lưỡi, mười thân, mười tay, mười chân, mười địa, mười trí đều thanh tịnh tất cả.  Chư Bồ Tát đó trước đã thành tựu những xứ, những địa, khi thấy quang minh này thời lại thanh tịnh hơn, tất cả thiện căn thảy đều thành thục, hướng đến nhất thiết trí.  Hạng trụ ở nhị thừa thời diệt tất cả phiền não.  Ngoài ra một phần sanh manh chúng sanh nhờ quang minh này, thân đã an lạc nên tâm họ cũng thanh tịnh nhu nhuyến điều phục kham tu niệm trí.  Các chúng sanh nơi ác đạo:  Địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh đều được khoái lạc giải thoát những khổ, khi mạng chung đều được sanh lên cõi trời hoặc nhân gian.
Chư Phật tử!  Những chúng sanh đó chẳng biết do nhân duyên gì, do thần lực nào mà sanh về đây.  Hàng sanh manh kia nghĩ rằng ta là Phạm thiên, ta là phạm hóa.  Bấy giờ đức Như Lai trụ trong phổ tự tại tam muội, phát ra sáu mươi thứ diệu âm mà bảo họ rằng các ngươi chẳng phải là phạm thiên, phạm hóa, cũng chẳng phải là đế thích, hộ thế làm ra, mà đều do thần lực của Như Lai.  Những chúng sanh đó nghe lời trên đây liền đều được biết đời trước và đều rất hoan hỷ.  Vì tâm hoan hỷ nên tự nhiên hiện ra mây hoa ưa đàm, mây hương, mây âm nhạc, mây y phục, mây lọng, mây tràng, mây phan, mây hương bột, mây châu báu, tràng sư tử lầu các bán nguyệt, mây ca ngâm khen ngợi, mây những đồ trang nghiêm, đều cúng dường đức Như Lai với lòng tôn trọng.  Vì những chúng sanh đó được tịnh nhãn, Đức Như Lai thọ ký vô thượng bồ đề cho họ.
Chư Phật tử!  Như Lai trí nhật lợi ích cho hàng sanh manh chúng sanh như vậy, làm cho họ được thiện căn thành thục đầy đủ.
Đây là tướng thứ năm của thân Như Lai, chư đại Bồ Tát phải biết như vậy.
Lại nữa, chư Phật tử!  Ví như mặt nguyệt có bốn pháp kỳ đặc vị tằng hữu:
Một là che chói quang minh của tất cả tinh tú.
Hai là theo dõi thời gian mà hiện tròn khuyết.
Ba là trong nước đứng trong ở đại địa đều hiện bóng cả.
Bốn là tất cả người thấy mặt nguyệt đều đối trước mắt họ, mà nguyệt thân không phân biệt không hý luận.
Chư Phật tử!  Thân của Như Lai cũng như vậy, có bốn pháp kỳ đặc vị tằng hữu:
Một là che chói tất cả hàng thanh văn, duyên giác, những chúng hữu học, vô học.
Hai là tuỳ theo sở nghi mà thị hiện thọ mạng dài vắn chẳng đồng, nhưng thân Như Lai không tăng giảm.
Ba là trong căn khí bồ đề chúng sanh tâm tịnh nơi tất cả thế giới đều hiện bóng trong đó.
Bốn là tất cả chúng sanh có ai thấy Như Lai đều cho rằng đức Như Lai chỉ hiện trước tôi.  Như Lai theo sở thích của họ mà thuyết pháp, theo địa vị của họ khiến được giải thoát, theo chỗ đáng độ khiến thấy thân Phật.  Nhưng thân Như Lai vẫn không phân biệt không hý luận.  Những điều lợi ích làm ra đều được rốt ráo.
Đây là tướng thứ sáu của thân Như Lai, chư đại Bồ Tát phải biết như vậy.
Lại nữa, chư Phật tử!  Ví như đại phạm thiên vương dùng chút phương tiện hiện thân khắp đại thiên thế giới.  Tất cả chúng sanh đều thấy đại phạm vương hiện ở trước mình.  Nhưng đại phạm vương này chẳng phân thân, cũng không các thứ thân.
Cũng vậy, chư Phật Như Lai không có phân biệt không hý luận, cũng chẳng phân thân, không các thứ thân.  Nhưng tùy sở thích của tất cả chúng sanh mà thị hiện Phật thân, cũng vẫn chẳng nghĩ rằng hiện ngần ấy thân.
Đây là tướng thứ bảy của thân Như Lai, chư đại Bồ Tát phải biết như vậy.
Lại nữa, chư Phật tử!  Ví như y vương khéo biết các thứ thuốc và những chú luận, đều dùng được tất cả những thứ thuốc có ở Diêm Phù Đề.  Lại do năng lực của những thiện căn đời trước và sức đại minh chú làm phương tiện, nên chúng sanh được thấy y vương đều được lành mạnh.  Y vương này biết mạng sắp chết, nghĩ rằng sau khi ta chết, tất cả chúng sanh không nơi nương tựa.  Nay ta phải nên vì họ mà hiện phương tiện.  Lúc đó y vương chế thuốc thoa thân mình dùng sức minh chú gia trì, nên dầu đã chết mà thân chẳng rã, chẳng héo, chẳng khô, cử chỉ nhìn nghe không khác lúc còn sống, phàm có chữa trị đều được lành mạnh.
Cũng vậy, đức Như Lai Đẳng Chánh Giác vô thượng y vương trải qua vô lượng trăm ngàn ức na do tha kiếp tu luyện pháp dược đã được thành tựu, tu học tất cả phương tiện thiện xảo đại minh chú lực đều được viên mãn đến bỉ ngạn.  Khéo trừ diệt được tất cả bệnh phiền não của chúng sanh, và trụ thọ mạng trải qua vô lượng kiếp.  Thân Phật thanh tịnh không tư lự, không động dụng, tất cả Phật sự không hề thôi nghỉ.  Chúng sanh được thấy, cá bệnh phiền não đều được tiêu diệt.
Đây là tướng thứ tám của thân Như Lai, chư đại Bồ Tát phải thấy như vậy.
Lại nữa, chư Phật tử!  Ví như đại hải có châu đại ma ni tên là Tạng Tỳ Lô Giá Na họp tất cả quang minh.  Nếu có chúng sanh nào chạm phải quang minh của châu này thời đồng một màu với bửu châu.  Nếu ai được thấy châu này thời mắt được thanh tịnh.  Tuỳ quang minh này chiếu đến chỗ nào thời mưa ma ni bửu tên là an lạc, làm cho chúng sanh khỏi khổ và được vừa ý.
Chư Phật tử!  Thân của Như Lai cũng như vậy, là đại bửu tụ, là tạng đại trí huệ tất cả công đức.  Nếu có chúng sanh nào chạm phải quang minh của thân Phật thời đồng màu với thân Phật.  Nếu ai được thấy thân Phật thời được pháp nhãn thanh tịnh.  Tuỳ chỗ nào mà quang minh của thân Phật chiếu đến đều làm cho các chúng sanh khỏi khổ bần cùng, nhẫn đến đầy đủ sự vui Phật bồ đề.
Chư Phật tử!  Như Lai pháp thân không phân biệt, cũng không hý luận mà hay vì khắp tất cả chúng sanh làm Phật sự lớn.
Đây là tướng thứ chín của thân Như Lai, chư đại Bồ Tát phải thấy như vậy.
Lại nữa, chư Phật tử!  Ví như đại hải có đại như ý ma ni bửu vương tên là Tạng trang nghiêm tất cả thế gian.  Thành tựu đầy đủ trăm vạn công đức.  Tuỳ bửu vương này ở chỗ nào thời làm cho các chúng sanh tai hoạn tiêu trừ sở nguyện đầy đủ.  Nhưng chẳng phải chúng sanh ít phước mà được thấy như ý bửu vương này.
Cũng vậy, thân Như Lai tên là Hay làm cho tất cả chúng sanh đều được hoan hỷ.  Nếu có ai thấy thân Như Lai, nghe danh hiệu Như Lai, khen công đức Như Lai thời đều làm cho thoát hẳn khổ hoạn sanh tử.  Giả sử tất cả thế giới tất cả chúng sanh đồng thời chuyên tâm muốn thấy đức Như Lai, đều làm cho được thấy, sở nguyện được đầy đủ.
Chư Phật tử!  Chẳng phải chúng sanh ít phước đức mà thấy được thân Như Lai, chỉ trừ thần lực tự tại của Phật gia hộ cho kẻ đáng được điều phục.  Nếu có chúng sanh nhân thấy thân Phật bèn gieo căn lành nhẫn đến thành thục, vì thành thục nên mới khiến thấy thân Như Lai.
Đây là tướng thứ mười của thân Như Lai, chư đại Bồ Tát phải thấy như vậy.
Do vì tâm vô lượng khắp mười phương vậy.  Vì sở hành vô ngại như hư không vậy.  Vì vào khắp pháp giới vậy.  Vì trụ chân thực tế vậy.  Vì vô sanh vô diệt vậy.  Vì bình đẳng trụ tam thế vậy.  Vì lìa hẳn tất cả phân biệt vậy.  Vì an trụ thệ nguyện tột hết thuở vị lai vậy.  Vì nghiêm tịnh tất cả thế giới vậy.  Vì trang nghiêm mỗi mỗi thân Phật vậy."
Phổ Hiền đại Bồ Tát muốn tuyên lại nghĩa này mà nói kệ rằng:
Ví như hư không khắp mười phương
Hoặc sắc phi sắc, hữu phi sắc
Tam thế chúng sanh: thân, quốc độ
Ở khắp không biên tế như vậy
Cũng thế, chân thân của chư Phật
Tất cả pháp giới đều khắp cả
Chẳng thể thấy được, chẳng lấy được
Vì độ chúng sanh mà hiện thân
Ví như hư không chẳng lấy được
Khiến khắp chúng sanh tạo những nghiệp
Hư không chẳng nghĩ: ta làm gì?
Ta làm thế nào, làm vì ai?
Thân nghiệp của Phật cũng như vậy
Khiến khắp quần sanh tu pháp lành
Như Lai chưa từng có phân biệt
Rằng ta làm những việc nơi kia
Ví như mặt nhật mọc thế gian
Ánh sáng phá tất cả tối tăm
Núi, cây, ao sen, đất, các vật
Tất cả mọi loài đều lợi ích
Chư Phật xuất hiện cũng như vậy
Sanh trưởng hạnh lành cho nhân thiên
Trừ hẳn si tối được trí sáng
Hằng thọ tôn vinh tất cả vui
Ví như mặt nhật lúc xuất hiện
Trước chiếu núi cao kế các núi
Sau chiếu cao nguyên và đại địa
Mà mặt nhật vẫn không phân biệt
Thiện Thệ quang minh cũng như vậy
Trước chiếu Bồ Tát, kế duyên giác
Sau chiếu thanh văn và chúng sanh
Mà Phật bổn lai không động niệm
Như sanh manh chẳng thấy mặt trời
Ánh sáng cũng lợi ích cho họ
Khiến biết thời tiết thọ uống ăn
Lìa hẳn tai hoạ thân an ổn
Bất tin chúng sanh chẳng thấy Phật
Phật cũng vì họ làm lợi ích
Nghe danh nhẫn đến chạm quang minh
Nhân đây nhẫn đến được bồ đề
Ví như tịnh nguyệt tại hư không
Hay chói tinh tú, hiện tròn khuyết
Tất cả nước trong đều hiện hình
Ai cũng xem thấy ở trước mình
Như Lai quang minh cũng như vậy
Hay che nhị thừa, hiện lâu mau
Hiện khắp trong tâm của nhân thiên
Ai ai cũng nói Phật trước mình
Thí như Phạm vương ở cung mình
Hiện khắp nơi trong cõi đại thiên
Tất cả chân thiên đều được thấy
Thật chẳng phân thân đến nơi kia
Chư Phật hiện thân cũng như vậy
Tất cả mười phương đều khắp cả
Thân Phật vô số chẳng kể được
Cũng chẳng phân thân chẳng phân biệt
Như có Y vương giỏi phương thuật
Nếu ai được thấy bệnh đều lành
Y vương dầu chết, thuốc thoa thân
Khiến thân hành động như lúc sống
Vô thượng y vương cũng như vậy
Đầy đủ phương tiện nhất thiết trí
Do diệu hạnh xưa hiện Phật thân
Chúng sanh được thấy phiền não diệt
Ví như trong biển có bửu vương
Khắp pháp vô lượng những quang minh
Chúng sanh chạm đến đồng màu bửu
Nếu ai được thấy, mắt thanh tịnh
Vô thượng y vương cũng như vậy
Chạm quang minh Phật tất đồng màu
Nếu ai được thấy hành ngũ nhãn
Phá những mê tối trụ Phật đia
Ví như ma ni như ý bửu
Tuỳ có người cầu đều đầy đủ
Chúng sanh kém phước chẳng thấy được
Chẳng phải bửu vương có phân biệt
Thiện Thệ bửu vương cũng như vậy
Người cầu đều toại theo sở thích
Chúng sanh không tin chẳng thấy Phật
Chẳng phải Thiện Thệ quên bỏ họ.

(Hán bộ quyển năm mươi mốt)

Bấy giờ, Phổ Hiền đại Bồ Tát lại nói với chư Bồ Tát:  "Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát phải biết như thế nào về âm thanh của đức Như Lai Đẳng Chánh Giác?
Đại Bồ Tát phải biết âm thanh của đức Như Lai là đền khắp tất cả, khắp đến vô lượng âm thanh.
Phải biết âm thanh của đức Như Lai, tuỳ tâm sở thích của thính giả đều làm cho họ hoan hỷ, vì thuyết pháp minh liễu.
Phải biết âm thanh của đức Như Lai, tuỳ tín giải của thính giả đều làm cho họ hoan hỷ, vì tâm được thanh lương.
Phải biết âm thanh của đức Như Lai giáo hóa chẳng lỗi thời, vì người đáng được nghe thời đều được nghe.
Phải biết âm thanh của đức Như Lai không sanh diệt, vì như vang ứng tiếng.
Phải biết âm thanh của đức Như Lai không chủ, vì do tu tập tất cả công hạnh phát khởi.
Phải biết âm thanh của đức Như Lai rất sâu, vì khó lường được.
Phải biết âm thanh của đức Như Lai không tà vạy, vì do pháp giới phát sanh.
Phải biết âm thanh của đức Như Lai không đoạn tuyệt, vì vào khắp pháp giới.
Phải biết âm thanh của đức Như Lai không biến đổi, vì đã đến nơi rốt ráo.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát phải biết âm thanh của đức Như Lai chẳng phải lượng, chẳng phải vô lượng, chẳng phải chủ, chẳng phải không chủ, chẳng phải thị giáo, chẳng phải không thị giáo.
Ví như thế giới lúc sắp hoại, không chủ không làm, tự nhiên phát ra bốn thứ âm thanh:
Một là âm thanh nói: "Mọi người nên biết sơ thiền an lạc, rời những lỗi dục nhiễm vượt khỏi cõi dục."  Chúng sanh nghe rồi tự nhiên được thành tựu Sơ thiền, bỏ thân cõi dục sanh lên Phạm thiên.
Hai là âm thanh nói: "Mọi người nên biết nhị thiền an lạc không giác không quán vượt hơn phạm thiên."  Chúng sanh nghe xong tự nhiên được thành tựu Nhị thiền, bỏ thân phạm thiên sanh lên Quang Âm thiên.
Ba là âm thanh nói:  "Mọi người nên biết tam thiền an lạc không lỗi lần lượt hơn Quang Âm thiên."  Chúng sanh nghe xong tự nhiên được thành tựu tam thiền, bỏ thân Quang Âm thiên sanh lên Biến Tịnh thiên.
Bốn là âm thanh nói: "Mọi người nên biết tứ thiền tịch tịnh hơn Biến Tịnh thiên."  Chúng sanh nghe xong tự nhiên được thành tựu tứ thiền, bỏ Biến Tịnh theien sanh lên Quảng Quả thiên.
Bốn thứ âm thanh trên đây không chủ không làm, chỉ do sức thiện nghiệp của chúng sanh mà phát sanh.
Cũng vậy, âm thanh của đức Như Lai, không chủ không làm, không có phân biệt, chẳng phải nhập chẳng phải xuất, chỉ từ pháp lực công đức của Như Lai phát sanh bốn thứ âm thanh quảng đại:
Một là âm thanh nói:  "Đại chúng nên biết tất cả hành pháp đều là khổ.  Những là địa ngục là khổ, súc sanh là khổ, ngạ quỷ là khổ, không phước đức là khổ, chấp ngã ngã sở là khổ, tạo những ác hạnh là khổ.  Muốn sanh cõi trời hay nhân gian phải gieo căn lành sanh trong nhân thiên rời khỏi các chỗ nạn."  Chúng sanh nghe xong bỏ lìa điên đảo tu những hạnh lành, rời khỏi những chỗ nạn mà sanh trong nhân thiên.
Hai là âm thanh nói:  "Đại chúng nên biết tất cả hành pháp tràn đầy những khổ như hòn sắt nóng, hành pháp vô thường là pháp diệt mất.  Nếi bàn tịch tịnh vô vi an lạc lìa xa khốn khổ, tiêu sạch nhiệt não."  Chúng sanh nghe xong siêng tu pháp lành, nơi thanh văn thừa được tùy thuận âm thanh nhẫn.
Ba là âm thanh nói:  "Đại chúng nên biết thanh văn thừa do lời người khác mà được tỏ ngộ, trí huệ hẹp kém, lại có độc giác thừa tỏ ngộ chẳng do thầy, đại chúng nên họ."  Những người thích thắng đạo nghe lời này xong liền bỏ thanh văn thừa mà tu độc giác thừa.
Bốn là âm thanh nói:  "Đại chúng nên biết hơn hàng nhị thừa còn có thắng đạo gọi là đại thừa, là chỗ tu hành của Bồ Tát thuận sáu môn ba la mật, chẳng dứt hạnh Bồ Tát, chẳng bỏ tâm bồ đề, ở vô lượng sanh tử mà chẳng mỏi nhàm, hơn hàng nhị thừa, gọi là đại thừa, là đệ nhất thừa, là thắng thừa, là tối thắng thừa, là thượng thừa, là vô thượng thừa, là thừa lợi ích tất cả chúng sanh."  Nếu có chúng sanh nào lòng tin hiểu rộng lớn, căn khí mạnh lẹ, đời trước gieo căn lành, được thần lực của đức Như Lai gia hộ, có chí nguyện thù thắng mong cầu Phật quả, nghe lời này xong liền phát tâm bồ đề.
Chư Phật tử!  Âm thanh của đức Như Lai, chẳng từ thân phát ra, chẳng từ tâm phát ra mà có thể lợi ích vô lượng chúng sanh.
Đây là tướng thứ nhất của âm thanh Như Lai, chư đại Bồ Tát phải biết như vậy.
Lại nữa, chư Phật tử!  Ví như  vang, do hang núi và âm thanh mà phát ra không có hình trạng, chẳng ngó thấy được, cũng không phân biệt mà có thể theo dõi tất cả ngữ ngôn.
Cũng vậy, âm thanh của đức Như Lai không có hình trạng, chẳng thấy được, chẳng phải có phương sở, chẳng phải không phương sở, chỉ tùy nơi duyên dục giải của chúng sanh mà phát ra, tánh âm thanh này rốt ráo, không nói không bày, chẳng tuyên thuyết được.
Đây là tướng thứ hai của âm thanh Như Lai, chư đại Bồ Tát phải biết như vậy.
Lại nữa, chư Phật tử!  Ví như chư thiên có pháp cổ lớn tên là giác ngộ.  Lúc chư thiên tử nếu ham vui phóng dật, thời pháp cổ nơi hư không phát ra tiếng bảo chư thiên tử đó rằng:  "Chư thiên tử nên biết tất cả dục lạc thảy đều vô thường hư vọng điên đảo giây lát đã biến hoại, chỉ kẻ cuồng ngu mới tham luyến.  Chư thiên tử chớ phóng dạt, nếu phóng dật sau sẽ đoạ ác thú ăn năn đã muộn."  Chư thiên tử nghe âm thanh này lòng rất kinh hải, liền bỏ những sự dục lạc trong thiên cung, cùng nhau đến chỗ thiên vương cầu pháp tu hành.
Tiếng của thiên cổ không chủ không làm, không khởi không diệt mà có thể lợi ích vô lượng chúng sanh.
Phải biết đức Như Lai cũng như vậy.  Vì muốn giác ngộ chúng sanh phóng dật mà phát ra vô lượng diệu pháp âm thanh.  Những là tiếng vô trước, tiếng chẳng phóng dật, tiếng vô thường, tiếng khổ, tiếng vô ngã, tiếng bất tịnh, tiếng tịch diệt, tiếng niết bàn, tiếng vô lượng tự nhiên trí, tiếng Bồ Tát hạnh bất khả hoại, tiếng trí địa vô công dụng của Như Lai đến tất cả chỗ.  Dùng âm thanh này khắp trong pháp giới để khai ngộ.
Vô số chúng sanh được nghe âm thanh này đều rất hoan hỷ siêng tu pháp lành.  Đều ở nơi tự thừa mà cầu xuất ly.  Những là hoặc tu thanh văn thừa, hoặc tu độc giác thừa, hoặc tu Bồ Tát vô thượng đại thừa, nhưng âm thanh của Như Lai không trụ phương sở, không có ngôn thuyết.
Đây là tướng thứ ba của âm thanh Như Lai, chư đại Bồ Tát phải biết như vậy.
Lại nữa, chư Phật tử!  Ví như Tự Tại Vương có thiên thể nữ tên là Thiện Khẩu.  Nơi miệng thiên nữ này phát ra một âm thanh hay hòa cùng với trăm ngàn thứ nhạc, trong mỗi thứ nhạc lại có trăm ngàn âm thanh sai khác.
Chư Phật tử!  Thiên nữ Thiên Khẩu từ nơi miệng phát ra một âm thanh mà thành vô lượng âm thanh như vậy.
Phải biết đức Như Lai cũng thế, từ trong một âm thanh phát ra vô lượng âm thanh, tùy theo tâm sở thích sai khác của chúng sanh đều đến khắp, đều làm cho hiểu.
Đây là tướng thứ tư của âm thanh Như Lai, chư đại Bồ Tát phải biết như vậy.
Lại nữa, chư Phật tử!  Ví như Đại Phạm Thiên Vương trụ nơi Phạm cung xuất phạm âm thanh, tất cả phạm chúng đều được nghe, mà âm thanh đó chẳng ra ngoài phạm chúng.  Chư phạm chúng mỗi đều tự nghỉ Đại Phạm Thiên Vương riêng nói với tôi.
Diệu âm của đức Như Lai cũng như vậy, chúng hội trong đạo tràng đều được nghe,  mà âm thanh đó chẳng ra ngoài chúng hội.  Vì người căn chưa thành thục thời chẳng nên nghe.  Những người được nghe, mỗi mỗi đều tự nghĩ:  Đức Như Lai Thế Tôn riêng vì tôi mà nói.
Chư Phật tử!  Âm thanh của đức Như Lai không xuất không trụ, mà có thể thành tựu tất cả Phật sự.
Đây là tướng thứ năm của âm thanh Như Lai, chư đại Bồ Tát phải biết như vậy.
Lại nữa, chư Phật tử!  Ví như nước đồng một vị, tùy đồ đựng khác nhau nên nước cũng sai khác.  Nước không lo nghĩ cũng không phân biệt.
Cũng vậy, ngôn âm của đức Như Lai chỉ có một vị giải thoát.  Tùy theo tâm sai khác của chúng sanh nên có vô lượng sai khác.  Nhưng vẫn không niệm lự cũng không phân biệt.
Đâyt là tướng thứ sáu của âm thanh Như Lai, chư đại Bồ Tát phải biết như vậy.
Lại nữa, chư Phật tử!  Ví như A Na Bà Đạt Đa Long Vương ngồi mây dầy mưa khắp Diêm Phù Đề.  Cây trái lúa mạ đều được sanh trưởng, sông rạch ao suối đều tràn đầy.  Nước mưa này chẳng từ thân long vương chảy ra, mà có thẻ thành tựu những việc lợi ích như trên.
Cũng vậy, đức Như Lai Đẳng Chánh Giác nổi mây đại bi khắp mười phương cõi, khắp rưới pháp cam lồ vô thượng, khiến chúng sanh đều hoan hỷ, thêm lớn pháp lành, viên mãn các thừa.
Âm thanh của Như Lai chẳng từ ngoài lại, chẳng từ trong ra, mà có thể lợi ích tất cả chúng sanh.
Đây là tướng thứ bảy của âm thanh Như Lai, chư đại Bồ Tát phải biết như vậy.
Lại nữa, chư Phật tử!  Ví như Ma Na Tư Long Vương muốn làm mưa nhưng chưa tiện mưa liền.  Trước kéo mây trùm khắp hư không ngưng đình bảy ngày, chờ các chúng sanh làm việc xong, vì đại long vương đó có tâm từ bi chẳng muốn chúng sanh bị não loạn.  Quá bảy ngày long vương mới mưa nhỏ thấm ướt cả đại địa.
Cũng vậy, đức Như Lai Đẳng Chánh Giác sắp ban pháp vũ nhưng chưa tiện ban liền, trước nổi pháp vân thành thục chúng sanh, vì muốn lòng họ chẳng kinh sợ.  Chờ lúc họ đã thành thục mới ban pháp vũ cam lồ, diễn nói pháp lành thậm thâm vi diệu, lần lần làm cho họ đầy đủ pháp vị vô thượng nhất thiết chủng trí của Như Lai.
Đây là tướng thứ tám của âm thanh Như Lai, chư đại Bồ Tát phải biết như vậy.
Lại nữa, chư Phật tử!  Ví như trong biển có đại long vương tên là Đại Trang Nghiêm, lúc ở trong đại hải tuôn mưa, hoặc mưa mười thứ trang nghiêm, hoặc trăm, hoặc ngàn, hoặc trăm ngàn thứ trang nghiêm nước vẫn không sai khác chỉ do sức bất tư nghì của long vương khiến những thứ trang nghiêm nhẫn đến có trăm ngàn vô lượng thứ sai khác.
Cũng vậy, đức Như Lai Đẳng Chánh Giác lúc vì chúng sanh thuyết pháp, hoặc dùng mười thứ âm thanh để thuyết, hoặc dùng trăm ngàn, hoặc dùng tám vạn bốn ngàn âm thanh để nói tám vạn bốn ngàn hạnh.  Nhẫn đến hoặc dùng vô lượng trăm ngàn ức na do tha âm thanh thuyết pháp sai khác, làm cho người nghe đều sanh lòng vui mừng.  Âm thanh của Như Lai vẫn không phân biệt, chỉ do chư Phật nơi thậm thâm pháp giới viên mãn thanh tịnh hay tuỳ theo sở nghi của căn khí chúng sanh mà phát ra nhiều thứ ngôn âm đều làm cho hoan hỷ cả.
Đây là tướng thứ chín của âm thanh Như Lai, chư đại Bồ Tát phải biết như vậy.
Lại nữa, chư Phật tử!  Ví như Ta Kiệt La Long Vương muốn hiện sức đại tự tại làm lợi ích chúng sanh đều khiến vui mừng, từ tứ châu thiên hạ nhẫn đến Tha Hóa Tự Tại thiên, nổi lưới đại vân giăng khắp mọi nơi, đại vân có vô lượng sắc tướng sai khác:  hoặc màu sáng chói như vàng diêm phù đàn, như tỳ lưu ly, như bạch ngân, như pha lê, như mã não, như xích chân châu, như nước trong sạch, như các thứ đồ trang nghiêm, hoặc màu sáng chói như mâu tát la, như thắng tạng, như vô lượng hương, như vô cấu y.  Mây lớn đã giăng khắp rồi phát ra nhiều thứ điển quang đủ màu.  Mây màu vàng diêm phù đàn phát ra điển quang màu lưu ly, mây màu lưu ly phát ra điển quang màu vàng, mây màu pha lê phát ra điển quang màu bạch ngân, mây màu bạch ngân phát ra điển quang màu pha lên, nhẫn đến mây màu nước trong phát ra điển quang màu các thứ đồ trang nghiêm, mây màu các thứ đồ trang nghiêm phát ra điển quang màu nước trong, mây nhiều màu phát ra điển quang một màu, mây một màu phát ra điển quang nhiều màu.
Lại trong mây lớn phát ra các thứ tiếng sấm tùy sở thích của chúng sanh đều làm cho họ hoan hỷ.  Nhưng là tiếng sấm như ca ngâm của thiên nữ, hoặc như tiếng thiên nhạc, hoặc như tiếng ca ngâm của long nữ, hoặc như tiếng ca ngâm của càn thát bà nữ, hoặc như tiếng ca ngâm của khẩn na la nữ, hoặc như tiếng đại địa chấn động, hoặc như tiếng hải triều, hoặc như tiếng gầm hét của thú vương, hoặc như tiếng chim hót lảnh lót, và vô lượng thứ tiếng khác.
Đã nổi sấm rồi tiếp nổi gió mát làm cho lòng chúng sanh hoan hỷ rồi sau mới tuôn nhiều thứ mưa, làm lợi ích an lạc vô lượng chúng sanh.  Từ Tha Hóa thiên đến đại địa, ở tất cả chỗ  mưa chẳng đồng nhau.  Ở trong đại hải thời mưa nước trong mát tên là Vô đoạn tuyệt.  Ở Tha Hóa thiên thời mưa các thứ nhạc âm như tiêu, sáo, v.v... tên là Mỹ Diệu.  Ở Hóa Lạc thiên thời mưa đại ma ni bửu tên là Phóng đại quang minh.  Ở Đâu Suất thiên thời mưa đồ đại trang nghiêm tên là Thủy Kế.  Ở Dạ Ma thiên thời mưa hoa đẹp lớn tên là Chủng chủng trang nghiêm cụ.  Ở Tam Thập Tam thiên thời mưa những diệu hương tên là Duyệt Ý.  Ở trời Tứ Thiên vương thời mưa thiên bửu y tên là Phú Cái.  Ở cung long vương thời mưa xích chân châu tên là Dũng xuất quang minh.  Ở cung A Tu La thời mưa những vũ khí tên là Hàng phục oán địch.  Ở châu bắc Uất Đơn Việt thời mưa các thứ hoa tên là Khai Phu.  Ba châu kia cũng mưa như vậy, tuỳ theo mỗi xứ mà mưa chẳng đồng.
Dầu Ta Kiệt La Long Vương tâm bình đẳng không có bỉ thử, chỉ do chúng sanh thiện căn có khác mà mưa có sai biệt.
Cũng vậy, đức Như Lai Đẳng Chánh Giác vô thượng pháp vương muốn đem chánh pháp giáo hóa chúng sanh, trước giăng thân vân che khắp pháp giới, tuỳ theo sở thích của chúng sanh mà hiện thân chẳng đồng.  Hoặc vì chúng sanh mà hiện sanh thân, hoặc hiện hóa thân, hoặc hiện lực trì thân, hoặc hiện sắc thân, hoặc hiện tướng hảo thân, hoặc hiện phước đức thân, hoặc hiện trí huệ thân, hoặc hiện thân đủ năng lực bất khả hoại, hoặc hiện vô úy thân, hoặc vì chúng sanh mà hiện pháp giới thân.
Đức Như Lai dùng vô lượng thân như vậy hiện khắp mười phương tất cả thế giới, tùy sở thích sai khác của chúng sanh mà thị hiện các thứ quang minh: hoặc vì chúng sanh mà hiện quang minh tên là Vô sở bất chí, hoặc hiện quang minh tên là Vô biên quang, hoặc hiện quang minh tên là Nhập Phật bí mật pháp, hoặc hiện quang minh tên là Ảnh hiện quang, hoặc vì chúng sanh hiện quang minh tên là Chiếu diệu qunag, hoặc hiện quang minh tên là Nhập vô tận đà la ni môn, hoặc hiện quang minh tên là Chánh niệm bất loạn, hoặc hiện quang minh tên là Cứu cánh bất hoại, hoặc hiện quang minh tên là Thuận nhập chư thú, hoặc vì chúng sanh hiện quang minh tên là Mãn tất cả nguyện đều làm cho hoan hỷ.
Đức Như Lai hiện vô lượng quang minh như vậy rồi, lại tuỳ tâm sở thích của chúng sanh mà phát ra vô lượng tiếng tam muội:  những là tiếng tam muội thiện giác trí, tiếng tam muội xí nhiên ly cấu hải, tiếng tam muội nhất thiết pháp tự tại, tiếng tam muội kim cang luân, tiếng tam muội tu di sơn tràng, tiếng tam muội hải ấn, tiếng tam muội nhật đăng, tiếng tam muội vô tận tạng, tiếng tam muội bất hoại giải thoát lực.
Trong thân Như Lai phát ra vô lượng tiếng tam muội sai biệt như vậy rồi, sắp ban pháp vũ trước hiện thoại tướng khai ngộ chúng sanh.  Những là từ nơi vô chướng ngại đại từ bi tâm hiện ra đại trí phong luân của Như Lai tên là Hay làm cho tất cả chúng sanh được vui thích hoan hỷ bất tư nghì.  Tướng tốt lành này đã hiện thời tất cả Bồ Tát và chúng sanh, thân cùng tâm đều được thanh lương.  Sau đó từ mây đại pháp thân của Như Lai, mây đại từ bi, mây đại bất tư nghì của Như Lai ban pháp vũ quảng đại bất tư nghì, làm cho tất cả chúng sanh thân tâm đều thanh tịnh.
Những là vì Bồ Tát ngồi đạo tràng bồ đề ban đại pháp vũ tên là Pháp giới vô sai biệt.
Vì tối hậu thân Bồ Tát ban đại pháp vũ tên Bồ Tát du hí mật giáo của Như Lai.
Vì nhất sanh bổ xứ Bồ Tát ban đại pháp vũ tên là Thanh tịnh phổ quang minh.
Vì quán đảnh Bồ Tát ban đại pháp vũ tên là Được trang nghiêm với đồ trang nghiêm của Như Lai.
Vì đắc nhẫn Bồ Tát ban đại pháp vũ tên là Hoa trí huệ công đức bửu nở xoè chẳng dứt hạnh Bồ Tát đại bi.
Vì Bồ Tát an trụ nơi thập trụ, thập hạnh, thập hồi hướng ban đại pháp vũ tên là Vào môn hiện tiền biến hóa rất sâu mà thực hành Bồ Tát hạnh không thôi dứt không mỏi nhàm.
Vì sơ phát tâm Bồ Tát ban đại pháp vũ tên là Xuất sanh hạnh đại từ bi cứu hộ chúng sanh của Như Lai.
Vì hạng cầu độc giác thừa ban đại pháp vũ tên là Biết rõ pháp duyên khởi xa lìa nhị biên được quả giải thoát bất hoại.
Vì chúng sanh cầu thanh văn thừa ban đại pháp vũ tên là Dùng kiếm đại trí huệ chặt đứt tất cả oán tặc phiền não.
Vì chúng sanh chứa nhóm thiện căn quyết định hay chẳng quyết định ban đại pháp vũ tên là Hay khiến thành tựu các pháp môn sanh lòng rất hoan hỷ.
Chư Phật Như Lai tuỳ tâm chúng sanh ban những pháp vũ quảng đại như vậy đầy khắp tất cả vô biên thế giới.
Chư Phật tử!  Đức Như Lai Đẳng Chánh Giác, tâm của ngài bình đẳng, nơi pháp không lẫn tiếc, chỉ vì chúng sanh căn dục chẳng đồng nên ban pháp vũ thị hiện có sai khác.
Đây là tướng thứ mười của âm thanh Như Lai, chư đại Bồ Tát phải biết như vậy.
Lại nữa, chư Phật tử!  Phải biết âm thanh của đức Như Lai có mười thứ vô lượng.
Một là như hư không giới vô lượng, vì đến tất cả chỗ.
Hai là như pháp giới vô lượng, vì không chỗ nào chẳng khắp.
Ba là như chúng sanh giới vô lượng, vì khiến tất cả tâm hoan hỷ.
Bốn là như các nghiệp vô lượng, vì nói quả báo của nghiệp.
Năm là như phiền não vô lượng, vì đều làm cho trừ diệt.
Sáu là như ngôn âm của chúng sanh vô lượng, vì tùy theo sự hiểu biết mà làm cho được nghe.
Bảy là như dục giải của chúng sanh vô lượng, vì khắp quán sát cứu độ.
Tám là như tam thế vô lượng, vì vô biên tế.
Chín là như trí huệ vô lượng, vì phân biệt tất cả.
Mười là như Phật cảnh giới vô lượng, vì nhập Phật pháp giới.
Chư Phật tử!  Âm thanh của đức Như Lai Đẳng Chánh Giác thành tựu vô số vô lượng như vậy, chư đại Bồ Tát phải biết như vậy."
Phổ Hiền đại Bồ Tát muốn rõ lại nghĩa này mà nói kệ rằng:
Đại thiên thế giới lúc sắp hoại
Do phước chúng sanh có tiếng hảo
Tứ thiền tịch tịnh không sự khổ
Khiến ai được nghe đều ly dục.
Thập Lực Thế Tôn cũng như vậy
Phát diệu âm thanh khắp pháp giới
Vì nói các hạnh khổ vô thường
Khiến họ thoát hẳn biển sanh tử
Như trong hang lớn chốn thâm sơn
Tùy có âm thanh đều vang dội
Dầu hay theo dõi ngôn ngữ kia
Mà vang rốt ráo vô phân biệt
Thập Lực ngôn âm cũng như vậy
Tùy kia căn thục vì thị hiện
Khiến họ điều phục sanh hoan hỷ
Chẳng nghĩ ta nay hay thuyết pháp
Như có thiên cổ tên Năng Giác
Thường ở hư không chấn pháp âm
Răn những thiên tử ưa phóng dật
Khiến họ nghe xong lìa say đắm
Thập Lực pháp cổ cũng như vậy
Phát ra các thứ âm thanh diệu
Giác ngộ tất cả các quần sanh
Khiến họ đều chứng bồ đề quả
Tự Tại Thiên Vương có bửu nữ
Trong miệng khéo tấu trăm ngàn tiếng
Trong mỗi tiếng lại có trăm ngàn
Thiện Thệ âm thanh cũng như vậy
Một tiếng mà phát tất cả tiếng
Tuỳ họ tánh dục có sai khác
Đều khiến nghe xong dứt phiền não
Ví như Phạm Vương phát một tiếng
Hay khiến phạm chúng đều hoan hỷ
Tiếng đến phạm chúng chẳng ra ngoài
Mỗi người đều nói riêng mình nghe
Thập Lực Thế Tôn cũng như vậy
Diễn một ngôn âm đầy pháp giới
Chỉ nhuần chúng hội chẳng ra xa
Bởi người chưa tin, chưa thọ được
Như nước trong kia đồng một tánh
Vị tám công đức không sai khác
Nhân đất, tại đồ, đều chẳng đồng
Vì thế khiến nước có sai khác
Nhất thiết Trí âm cũng như vậy
Pháp tánh một vị không phân biệt
Tùy các chúng sanh hạnh chẳng đồng
Nên khiến người nghe nhiều sai khác
Như Vô Nhiệt Não Đại Long Vương
Tuôn mưa thấm khắp đất Diêm Phù
Hay khiến cỏ cây đều sanh trưởng
Nhưng nước chẳng từ thân rồng ra
Chư Phật diệu âm cũng như vậy
Ban khắp pháp giới đều đầy thấm
Hay khiến sanh thiện, diệt các ác
Chẳng từ trong ngoài, mà được có
Như Ma Na Tư Đại Long Vương
Nổi mây bảy ngày chưa vội mưa
Chờ các chúng sanh làm việc xong
Rồi sau mới mưa thành lợi ích
Thập Lực diễn nghĩa cũng như vậy
Trước dạy chúng sanh khiến thành thục
Rồi sau vì nói pháp thậm thâm
Khiến họ được nghe chẳng hãi sợ
Đại Trang Nghiêm Long ở trong biển
Rưới mưa mười thứ đồ trang nghiêm
Hoặc trăm, hoặc ngàn, trăm ngàn thứ
Dầu nước một vị, trang nghiêm khác
Vô Thượng Biện Tài cũng như vậy
Nói mười, hai mươi các pháp môn
Hoặc trăm, hoặc ngàn đến vô lượng
Chẳng sanh tâm niệm có sai khác
Tối Thắng Long Vương Ta Kiệt La
Nổi mây trùm khắp tứ thiên hạ
Ở tất cả xứ mưa đều khác
Nhưng tâm long vương không hai niệm
Chư Phật Pháp Vương cũng như vậy
Đại bi thân vân khắp mười phương
Vì người tu hành ban pháp khác
Nhưng với tất cả vô phân biệt.
Phổ Hiền đại Bồ Tát lại bảo đại chúng Bồ Tát:  "Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát phải biết tâm của đức Như Lai Đẳng Chánh Giác như thế nào?
Tâm, ý, thức của Như Lai đều bất khả đắc.  Chỉ nên dùng trí vô lượng mà biết tâm Như Lai.
Như hư không là chỗ nương dựa của tất cả vật, mà hư không không chỗ dựa.
Như Lai trí huệ cũng như vậy, là chỗ sở y của tất cả trí thế gian và trí xuất thế, mà Như Lai trí không sở y.
Đây là tướng thứ nhất của tâm Như Lai, chư đại Bồ Tát phải biết như vậy.
Lại nữa, chư Phật tử!  Ví như pháp giới thường xuất sanh tất cả thanh văn, độc giác, Bồ Tát giải thoát, mà pháp giới không tăng không giảm.
Như Lai trí huệ cũng như vậy, hằng xuất sanh tất cả trí huệ thế gian và xuất thế gian, mà Như Lai trí huệ không tăng không giảm.
Đây là tướng thứ hai của tâm Như Lai, chư đại Bồ Tát phải biết như vậy.
Lại nữa, chư Phật tử!  Ví như đại hải, nước biển chảy ngầm khắp dưới đất của bốn châu thiên hạ và tám mươi ức tiểu châu, có ai đào đất đều được nước cả.  Nhưng đại hải vẫn không có phân biệt là mình phát ra nước chảy ngầm khắp nơi.
Nước biển Phật trí cũng như vậy, chảy vào trong tâm của tất cả chúng sanh.  Nếu có chúng sanh quán sát cảnh giới, tu tập pháp môn, thời được trí huệ thanh tịnh minh liễu.  Nhưng Như Lai trí bình đẳng không hai, không phân biệt.  Chỉ tuỳ theo tâm hành sai khác của chúng sanh mà trí huệ của họ được riêng khác chẳng đồng nhau.
Đây là tướng thứ ba của tâm Như Lai, chư đại Bồ Tát phải biết như vậy.
Lại nữa, chư thiện nam tử!  Ví như đại hải có bốn bửu châu đủ vô lượng công đức hay sanh tất cả trân bửu trong đại hải.  Nếu trong đại hải không có bửu châu này, thời dầu là một trân bửu cũng không có được.
Đây là bốn bửu châu:  Một tên là Tích tập bửu, hai tên là Vô tận tạng, ba tên là Viễn ly xí nhiên, bốn tên là Cụ túc trang nghiêm.
Bốn bửu châu này, tất cả phàm phu, chư long thần đều chẳng thấy được.  Vì Ta Kiệt La Long Vương cho bửu châu này xinh đẹp vuông vức nên cất chỗ thâm mật trong cung.
Biển đại trí huệ của đức Như Lai Đẳng Chánh Giác cũng như vậy, trong đó có bốn đại trí bửu châu đầy đủ vô lượng phước trí công đức.  Do đây có thể sanh tất cả trí huệ của chúng sanh, của thanh văn, độc giác, bậc hữu học, vô học và trí huệ của chư Bồ Tát.
Đây là bốn đại trí bửu:  Một tên là Đại trí huệ bửu phương tiện thiện xảo không nhiễm trước.  Hai là Đại trí huệ bửu khéo phân biệt pháp hữu vi, vô vi.  Ba là Đại trí huệ bửu phân biệt nói vô lượng pháp mà chẳng hoại pháp tánh.  Bốn là Đại trí huệ bửu biết thời phi thời chưa từng lầm lỗi.
Nếu trong biển đại trí huệ của đức Như Lai không có bốn đại trí huệ bửu này thời tất cả chúng sanh, không một ai vào được đại thừa.
Những chúng sanh phước mỏng chẳng thể thấy được bốn đại trí huệ bửu này.  Vì để nơi tạng thâm mật của đức Như Lai.
Bốn đại trí bửu này bình đẳng chánh trực đoan khiết diệu hảo, có thể lợi ích những chúng Bồ Tát, làm cho họ được trí huệ quang minh.
Đây là tướng thứ tư của tâm Như Lai, chư đại Bồ Tát phải biết như vậy.
Lại nữa, chư Phật tử!  Ví như đại hải có bốn đại bửu sáng chói rực rõ bày ở đáy biển, tánh rất nóng, thường hay rút uống vô lượng dòng nước lớn của trăm sông chảy vào biển, vì thế nên đại hải không có tăng giảm.
Đây là bốn đại bửu:  một tên là Nhật tạng, hai tên là Ly nhuận, ba tên là Hỏa diệm quang, bốn tên là Tận vô dư.
Nếu trong đại hải không có bốn đại bửu này thời nước sẽ ngập tràn từ bốn châu thiên hạ lên đến Hữu Đảnh.
Chư Phật tử!  Quang minh của đại bửu Nhật tạng nếu chiếu nhằm nước biển thời đều biến thành sữa.  Quang minh của Ly nhuận đại bửu nếu chiếu nhằm sữa này thời liền biến thành lạc.  Quang minh của Hỏa diệm quang đại bửu chiếu nhằm lạc này thời biến thành tô.  Quang minh của Tận vô dư đại bửu chiếu nhằm tô này thời biến thành đề hồ, như lửa cháy phừng đều không còn sót thừa.
Chư Phật tử!  Cũng vậy, biển đại trí huệ của đức Như Lai Đẳng Chánh Giác có bốn đại trí huệ bửu đầy đủ vô lượng oai đức quang minh.  Trí quang minh này chạm đến chư Bồ Tát, nhẫn đến khiến được đại trí của Như Lai.
Đây là bốn đại trí bửu:  một Đại trí bửu diệt tất cả lượng sóng tán thiện.  Hai là Đại trí bửu trừ tất cả pháp ái.  Ba là Đại trí bửu huệ quang chiếu khắp.  Bốn là Đại trí bửu cùng với Như Lai bình đẳng vô biên vô công dụng.
Lúc chư Bồ Tát tu tập tất cả pháp trợ đạo phát khởi vô lượng tán thiện.  Tất cả thế gian, thiên, nhân, a tu la chẳng phá hư được.  Đức Như Lai dùng quang minh của đại trí bửu diệt tán thiện chiếu đến Bồ Tát này khiến bỏ tất cả tán thiện, chuyên tâm một cảnh trụ nơi chánh định.  Lại dùng quang minh của đại trí bửu trừ pháp ái chiếu đến Bồ Tát này khiến trừ bỏ lòng tham đắm nơi tam muội, phát khởi đại thần thông.  Lại dùng quang minh của đại trí bửu huệ quang phổ chiếu chạm đến Bồ Tát này, khiến bỏ thần thông quảng đại đã phát khởi, mà trụ nơi đại minh công dụng hạnh.  Lại dùng quang minh của đại trí bửu cùng Như Lai bình đẳng vô biên vô công dụng chiếu đến Bồ Tát này, khiến bỏ đại minh công dụng hạnh đã phát khởi, nhẫn đến được bậc Như Lai bình đẳng, dứt sạch tất cả công dụng không sót thừa.
Nếu không có quang minh của bốn đại trí bửu của đức Như Lai chiếu đến, thời tất không có một Bồ Tát nào được bậc Như Lai.
Đây là tướng thứ năm của tâm Như Lai, chư đại Bồ Tát phải biết như vậy.
Lại nữa, chư Phật tử!  Như từ thuỷ tế lên đến Phi Tưởng Phi Phi Tưởng thiên, trong đó cả đại thiên quốc độ, những chúng sanh cõi Dục, cõi Sắc, cõi Vô Sắc, đều nương hư không mà khởi mà trụ.  Vì hư không cùng khắp vậy.  Dầu hư không đó dung khắp ba cõi mà không phân biệt.
Như Lai trí huệ cũng như vậy.  Hoặc thanh văn trí, hoặc độc giác trí, hoặc Bồ Tát trí, hoặc hữu vi hạnh trí, hoặc vô vi hạnh trí, tất cả đều nương Như Lai trí mà khởi mà trụ.  Vì trí huệ của Như Lai khắp tất cả.  Dầu dung khắp tất cả vô lượng trí huệ, mà Như Lai trí huệ vẫn không phân biệt.
Đây là tướng thứ sáu của tâm Như Lai, chư đại Bồ Tát phải biết như vậy.
Lại nữa, chư Phật tử!  Như đảnh núi tuyết có cây dược vương tên là Vô tận căn.  Rễ cây dược vương này mọc từ thuỷ luân tế suốt thấu kim cang địa sâu mười sáu vạn tám ngàn do tuần.   Lúc cây dược vương này mọc rễ thời tất cả ở Diêm Phù Đề mọc rễ, lúc thân cây dược vương mọc lên thời tất cả thân cây ở Diêm Phù Đề mọc lên, nhánh lá bông trái cũng như vậy.  Cây dược vương này, gốc hay sanh vậy, cây hay sanh gốc rễ. Gốc rễ không cùng tận nên gọi là Vô tận căn.
Cây dược vương này hay làm cho những cây ở tất cả xứ đều được sanh trưởng, chỉ trừ hai nơi địa ngục và trong thủy luân không thể làm tăng trưởng.  Nhưng cũng không nhàm bỏ hai nơi đó.
Cây đại dược vương trí huệ của Như Lai cũng như vậy.  Do quá khứ phát sanh thành tựu tất cả trí huệ pháp lành, trùm khắp tất cả chúng sanh giới, trừ diệt tất cả những khổ ác đạo.  Bi nguyện quảng đại làm gốc rễ, sanh trong chủng tánh trí huệ chân thật của tất cả Như Lai.  Phương tiện thiện xảo kiên cố bất động dùng làm thân cây.  Trí khắp pháp giới các ba la mật dùng làm nhánh cây.  Thiền định, giải thoát, các đại tam muội dùng làm lá cây.  Tổng trì biện tài bồ đề phần pháp dùng làm bông, chư Phật giải thoát rốt ráo không biến đổi dùng làm trái.
Cây đại dược vương trí huệ của đức Như Lai cớ sao lại được gọi là Vô tận căn?  Vì rốt ráo không thôi dứt.  Vì chẳng dứt Bồ Tát hạnh.  Bồ Tát hạnh tức là Như Lai tánh. Như Lai tánh tức là Bồ Tát hạnh nên được gọi là Vô tận căn.
Chư Phật tử!  Lúc cây đại trí huệ của Như Lai mọc rễ thời làm cho tất cả Bồ Tát sanh rễ đại từ bi chẳng bỏ chúng sanh.
Lúc thân cây đại trí huệ này sanh lên thời làm cho tất cả Bồ Tát tăng trưởng thân cây thâm tâm tinh tấn kiên cố.
Lúc nhánh của đại trí huệ này sanh thời làm cho tất cả Bồ Tát sanh trưởng lá công đức tịnh giới đầu đà thiểu dục tri túc.
Lúc bông đại trí huệ này sanh thời làm cho tất cả Bồ Tát đầy đủ bông thiện căn tướng hảo trang nghiêm.
Lúc trái đại trí huệ này sanh thời làm cho tất cả Bồ Tát được trái vô sanh nhẫn cho đến quả chư Phật quán đảnh nhẫn.  Trí huệ của Như Lai chỉ không thể làm cho hai chỗ được lợi ích sanh trưởng:  một là hàng nhị thừa sa vào hố sâu vô vi quảng đại, hai là những chúng sanh hư hoại thiện căn chìm trong nước đại tà kiến tham ái.  Nhưng vẫn không hề nhàm bỏ hai chỗ đó.
Chư Phật tử!  Trí huệ của đức Như Lai không tăng giảm, vì gốc rễ khéo an trụ sanh trưởng không thôi dứt.
Đây là tướng thứ bảy của tâm Như Lai, chư đại Bồ Tát phải biết như vậy.
Lại nữa, chư Phật tử!  Ví như đại thiên thế giới, lúc kiếp hỏa khởi đốt cháy tất cả cây cỏ lùm rừng, nhẫn đến núi thiết vi, núi đại thiết vi đều cháy không thừa sót.  Giả sử có người cầm cỏ khô ném vào trong lửa đó tất là phải cháy hết.  Nhưng cũng cho là cỏ đó được chẳng cháy.  Chớ còn không thể nói rằng trí huệ của đức Như Lai phân biệt không biết hết tam thế tất cả chúng sanh, tất cả quốc độ, tất cả kiếp số, tất cả các pháp.   Vì trí huệ Như Lai bình đẳng thấu rõ tất cả.
Đây là tướng thứ tám của tâm Như Lai, chư đại Bồ Tát phải biết như vậy.
Lại nữa, chư Phật tử!  Ví như phong tai lúc phá hoại thế giới, có gió lớn nổi lên tên là Tán hoại, có thể phá hư đại thiên thế giới, núi thiết vi, v.v... đều nát thành bụi.  Lại có gió lớn tên là Năng chướng bao che xung quanh đại thiên thế giới, ngăn gió Tán hoại không cho thổi đến những thế giới khác.  Nếu không có gió Năng chướng này thời thập phương thế giới sẽ tan hư cả.
Cũng như vậy, đức Như Lai Đẳng Chánh Giác có đại trí phong tên là Năng diệt, có thể diệt trừ tập khí phiền não của tất cả chư đại Bồ Tát.  Có đại trí phong tên là Xảo trì, khéo giữ  gìn chư Bồ Tát căn khí chưa thành thục chẳng cho đại trí phong Năng diệt dứt tất cả tập khí phiền não.  Nếu không có đại trí phong Xảo trì của Như Lai, thời vô lượng Bồ Tát sẽ sa vào bậc thanh văn, bích chi Phật.  Do trí Xảo trì này làm cho chư Bồ Tát vượt khỏi bậc nhị thừa an trụ nơi bậc rốt ráo của Như Lai.
Đây là tướng thứ chín của tâm Như Lai, chư đại Bồ Tát phải biết như vậy.
Lại nữa, chư Phật tử!  Trí huệ của đức Như Lai không chỗ nào là chẳng đến.  Vì không một chúng sanh nào mà chẳng có đủ Như Lai trí huệ, chỉ do vọng tưởng điên đảo chấp trước nên không chứng được.  Nếu rời vọng tưởng thời nhất thiết trí, tự nhiên trí, vô ngại trí liền hiện tiền.
Ví như quyển sách lớn bằng đại thiên thế giới biên chép hết cả những sự trong đại thiên thế giới.  Những là biên chép hết những sự trong Đại Thiết Vi sơn thời lượng bằng núi Đại Thiết Vi, biên chép những sự trong đại địa thời lượng bằng đại địa, biên chép những sự trong trung thiên thế giới thời lượng bằng trung thiên thế giới, biên chép những sự trong tiểu thiên thế giới thời lượng bằng tiểu thiên thế giới.  Như vậy nhẫn đến biên chép những sự trong bốn châu thiên hạ, trong đại hải, trong tu di sơn, trong cung điện của Địa Cư thiên, của Không Cư thiên, của Sắc Giới thiên, của Vô Sắc Giới thiên, biên chép mỗi xứ thời lượng của sách cũng bằng như vậy.  Quyển sách lớn này dầu lượng bằng đại thiên thế giới mà toàn ở tại trong một vi trần.  Như một vi trần, tất cả vi trần cũng đều như vậy.
Bấy giờ, có một người trí huệ sáng suốt, thành tựu đầy đủ thiên nhãn thanh tịnh, thấy quyển sách này ở trong vi trần không chút lợi ích cho các chúng sanh, bèn nghĩ rằng tôi nên dùng sức tinh tấn phá vỡ vi trần đó để đem quyển sách lớn ra làm cho các chúng sanh được lợi ích.  Nghĩ xong, người này liền dùng phương tiện phá vỡ vi trần đem quyển sách lớn ra, làm cho các chúng sanh được lợi ích.  Như nơi một vi trần, tất cả vi trần cũng đều như vậy.
Cũng vậy, trí huệ của đức Như Lai vô lượng vô ngại có thể lợi ích khắp tất cả chúng sanh, đầy đủ ở trong thân chúng sanh.  Chỉ vì hàng phàm phu vọng tưởng chấp trước nên chẳng biết chẳng hay, chẳng được lợi ích.
Bấy giờ, đức Như Lai do trí nhãn thanh tịnh vô ngại xem khắp pháp giới tất cả chúng sanh mà nói rằng:  Lạ thay!  Lạ thay!  Tại sao các chúng sanh này có đủ trí huệ Như Lai, mà ngu si mê lầm chẳng hay chẳng thấy.  Ta nên đem thánh đạo dạy cho họ lìa hẳn vọng tưởng chấp trước.  Từ trong thân, họ thấy được trí huệ Như Lai quảng đại, như Phật không khác.  Nói xong, đức Như Lai liền đem thánh đạo dạy chúng sanh cho họ lìa vọng tưởng.  Lìa vọng tưởng rồi thời chứng được Như Lai vô lượng trí huệ lợi ích an lạc tất cả chúng sanh.
Đây là tướng thứ mười của tâm Như Lai, chư đại Bồ Tát phải biết như vậy.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát phải dùng vô lượng vô ngại bất tư nghì tướng quảng đại như vậy để biết tâm của đức Như Lai Đẳng Chánh Giác."
Phổ Hiền đại Bồ Tát muốn nói rõ lại nghĩa này mà nói kệ rằng:
Muốn biết tâm chư Phật
Nên quán trí huệ Phật
Phật trí không chỗ nương
Như hư không vô y
Chúng sanh mọi điều vui
Và những trí phương tiện
Đều nương Phật trí huệ
Phật trí không y chỉ
Thanh văn và độc giác
Cùng chư Phật giải thoát
Đều nương nơi pháp giới
Pháp giới không tăng giảm
Phật trí cũng như vậy
Xuất sanh nhất thiết trí
Không tăng cũng không giảm
Không sanh cũng không diệt
Như nước thường chảy ngầm
Ai đào đều được nước
Nước không niệm, vô tận
Công lực khắp mười phương
Phật trí cũng như vậy
Ở khắp tâm chúng sanh
Nếu ai siêng tu hành
Mau được trí quang minh
Như rồng có bốn châu
Xuất sanh tất cả báu
Cất châu chỗ thâm mật
Kẻ phàm chẳng thấy được
Phật bốn trí cũng vậy
Xuất sanh tất cả trí
Người khác không thấy được
Chỉ trừ đại Bồ Tát
Như biển có bốn châu
Hay rút tất cả nước
Khiến biển chẳng tràn đầy
Cũng lại không thêm bớt
Trí Như Lai cũng vậy
Dứt sóng trừ pháp ái
Rộng lớn không ngằn mé
Hay sanh Phật Bồ Tát
Hạ phương đến Hữu Đảnh
Dục, Sắc, Vô Sắc giới
Tất cả nương hư không
Hư không chẳng phân biệt
Thanh văn và độc giác
Bồ Tát các trí huệ
Đều nương nơi Phật trí
Trí Phật vô phân biệt
Núi tuyết có dược vương
Tên là Vô Tận Căn
Hay sanh tất cả cây
Gốc, thân, nhánh, bông, trái
Phật trí cũng như vậy
Sanh trong Như Lai chủng
Đã được bồ đề rồi
Lại sanh Bồ Tát hạnh
Như người cầm cỏ khô
Để vào trong kiếp hỏa
Kim cang còn cháy đỏ
Cỏ khô tắt phải cháy
Tam thế kiếp và cỏ
Trong đó các chúng sanh
Cỏ khô cho chẳng cháy
Phật trí biết tất cả
Có gió tên Tán Hoại
Hay phá hoại đại thiên
Nếu không gió khác ngăn
Sẽ hoại vô lượng cõi
Gió đại trí cũng vậy
Diệt phiền não Bồ Tát
Lại có gió Thiện Xảo
Khiến trụ bậc Như Lai
Như có quyển sách lớn
Lượng bằng đại thiên giới
Ở trong một vi trần
Tất cả trần cũng vậy
Có một người thông minh
Tịnh nhãn đều thấy rõ
Phá trần đem sách ra
Lợi ích khắp chúng sanh
Phật trí cũng như vậy
Ở khắp tâm chúng sanh
Bị vọng tưởng buộc ràng
Chẳng hay cũng chẳng biết
Chư Phật đại từ bi
Khiến họ trừ vọng tưởng
Phật trí bèn xuất hiện
Lợi ích chư Bồ Tát

(Hán bộ quyển năm mươi hai)

Phổ Hiền đại Bồ Tát lại bảo chư Bồ Tát: "Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát phải biết cảnh giới của đức Như Lai Đẳng Chánh Giác như thế nào?
Đại Bồ Tát dùng trí huệ vô ngại biết tất cả cảnh giới thế gian là cảnh giới Như Lai.  Biết tất cả tam thế cảnh giới, tất cả cõi cảnh giới, tất cả pháp cảnh giới, tất cả chúng sanh cảnh giới, chân như vô sai biệt cảnh giới, pháp giới vô chướng ngại cảnh giới, thực tế vô biên tế cảnh giới, hư không vô phần lượng cảnh giới, cảnh giới không cảnh giới, đều là Như Lai cảnh giới.
Chư Phật tử!  Như tất cả thế gian cảnh giới vô lượng, Như Lai cảnh giới cũng vô lượng.  Như tất cả tam thế cảnh giới vô lượng, Như Lai cảnh giới cũng vô lượng.  Nhẫn đến như cảnh giới không cảnh giới vô lượng, Như Lai cảnh giới cũng vô lượng.  Như cảnh giới không cảnh giới tất cả xứ không có, Như Lai cảnh giới cũng vậy, tất cả xứ không có.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát phải biết tâm cảnh giới là Như Lai cảnh giới.  Như tâm cảnh giới vô lượng vô biên vô phược vô thoát.  Như Lai cảnh giới cũng vô lượng vô biên vô phược vô thoát.  Vì do tư duy phân biệt như vậy như vậy, nên hiển hiện vô lượng như vậy như vậy.
Chư Phật tử!  Như đại long vương tùy tam tuôn mưa, mưa đó chẳng từ trong ra, chẳng từ ngoài ra.
Như Lai cảnh giới cũng như vậy.  Tuỳ ở sự tư duy phân biệt như vậy thời có vô lượng hiển hiện như vậy, ở trong mười phương đều không chỗ đến.
Chư Phật tử!  Như nước đại hải đều từ tâm lực của long vương khởi ra.
Biển nhất thiết trí của chư Phật Như Lai cũng như vậy, đều từ đại nguyện thuở xưa của Như Lai mà sanh khởi.
Chư Phật tử!  Biển nhất thiết trí vô lượng vô biên bất tư nghì, chẳng thể ngôn thuyết.  Nhưng nay tôi lược nói ví dụ, đại chúng nên lắng nghe.
Nam Diêm Phù Đề này có hai ngàn năm trăm con sông chảy vào đại hải.  Tây Câu Gia Ni có năm ngàn con sống chảy vào đại hải.  Đông Phất Bà Đề có bảy ngàn năm trăm con sông chảy vào đại hải.  Bắc Uất Đơn Việt có một vạn con sông chảy vào đại hải.  Bốn châu thiên hạ có hai vạn năm trăm con sông như vậy luôn nối tiếp chảy vào đại hải, nước sông đó đã rất nhiều.
Trong đại hải lại có Thập Quang Minh Long Vương mưa nước nhiều gấp bội nước sông.  Lại có Bá Quang Minh Long Vương mưa nước nhiều gấp bội nước mưa trên.  Lại có Đại Trang Nghiêm Long Vương, Ma Na Tư Long Vương, Lôi Chấn Long Vương, Nan Đà Long Vương, Bạt Nan Đà Long Vương, Vô Lượng Quang Minh Long Vương, Liên Chú Bất Đoạn Long Vương, Đại Thắng Long Vương, Đại Phấn Tấn Long Vương, có tám mươi ức đại long vương như vậy đều làm mưa xuống đại hải và đều tuần tự nhiều gấp bội.  Thái tử của Ta Kiệt La Long Vương tên là Diêm Phù Tràng mưa xuống đại hải lại hơn gấp bội long vương trên.
Nước trong cung điện của Thập Quang Minh Long Vương chảy vào đại hải gấp bội nước mưa trên.  Nước trong cung điện của Bá Quang Minh Long Vương chảy vào đại hải lại gấp bội.  Nhẫn đến cung điện của tám mươi ức đại long vương đều riêng khác và đều có nước chảy vào đại hải tuần tự gấp bội nhau.
Ta Kiệt La Long Vương mưa vào đại hải nước nhiều hơn trên.  Nước trong cung điện của Ta Kiệt La Long Vung chảy vào đại hải lại nhiều gấp bội.  Nước này màu lưu ly xanh biếc, chảy ra có giờ, do đây nên nước triều của đại hải không lỗi giờ.
Chư Phật tử!  Như vậy đại hải:  nước vô lượng, châu báu vô lượng, chúng sanh vô lượng, đại địa nương dựa cũng vô lượng.
Đại hải vô lượng như vậy so với trí hải vô lượng của đức Như Lai không bằng một phần trăm, không bằng một phần ngàn, nhẫn đến không bằng một phần ưu ba ni sa đà.  Chỉ tùy tâm chúng sanh mà lập ví dụ.  Nhưng Phật cảnh giới chẳng phải ví dụ đến được.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát phải biết trí hải của Như Lai vô lượng, vì từ sơ phát tâm tu Bồ Tát hạnh không dứt.
Phải biết bửu tụ của Như Lai vô lượng vì tất cả pháp bồ đề phần tam bảo chủng chẳng dứt.
Phải biết chúng sanh trụ trong đó vô lượng, vì tất cả hàng hữu học vô học thanh văn, duyên giác thọ dụng.
Phải biết trụ địa vô lượng, vì chư Bồ Tát từ Sơ Hoan Hỷ địa đến bậc Cứu Cánh Vô Ngại địa ở nơi đó.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát vì nhập vô lượng trí huệ lợi ích tất cả chúng sanh, ở nơi cảnh giới của đức Như Lai Đẳng Chánh Giác phải biết như vậy."
Phổ Hiền đại Bồ Tát muốn rõ lại nghĩa này mà nói kệ rằng:
Như tâm cảnh giới vô biên lượng
Chư Phật cảnh giới cũng như vậy
Như tâm cảnh giới từ ý sanh
Phật cảnh như vậy phải quán sát
Như long chẳng rời khỏi cung điện
Do tâm oai lực tuôn mưa lớn
Nước mưa dầu không chỗ đến đi
Tuỳ long tâm nên đều đầy đủ
Thập Lực Mâu Ni cũng như vậy
Không từ đâu đến chẳng đi đâu
Nếu có tịnh tâm thời hiện thân
Lượng bằng pháp giới vào lỗ lông
Như biển trân bửu vô biên lượng
Chúng sanh đại địa cũng như vậy
Thủy tánh một vị đồng không khác
Kẻ sanh trong đó đều được lợi
Như Lai trí hải cũng như vậy
Tất cả chỗ có đều vô lượng
Hữu học vô học trụ các địa
Đều ở trong đó được lợi ích.
"Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát phải biết hạnh của đức Như Lai Đẳng Chánh Giác như thế nào?
Đại Bồ Tát phải biết vô ngại hạnh là Như Lai hạnh, phải biết chân như hạnh là Như Lai hạnh.
Chư Phật tử!  Như chân như:  tiền tế bất sanh, hậu tế bất động, hiện tại bất khởi.  Như Lai hạnh cũng vậy:  chẳng sanh, chẳng động, chẳng khởi.
Chư Phật tử!  Như pháp giới: chẳng phải hữu lượng, chẳng phải vô lượng, vì vô hình.  Cũng vậy, Như Lai hạnh chẳng phải hữu lượng, chẳng phải vô lượng, vì vô hình.
Chư Phật tử!  Như chim bay ngang hư không trải qua trăm năm, chỗ đã bay qua cùng chỗ chưa bay qua đều chẳng thể lường, vì hư không giới không biên tế.  Cũng vậy, Như Lai hạnh, giả sử có người trải qua trăm ngàn ức na do tha kiếp phân biệt diễn thuyết đã nói chưa nói đều chẳng thể lường, vì Như Lai hạnh không ngằn mé.
Chư Phật tử!  Đức Như Lai Đẳng Chánh Giác trụ hạnh vô ngại, không có chỗ trụ mà hay khắp vì tất cả chúng sanh thị hiện công hạnh.  Làm cho họ thấy rồi được vượt hơn tất cả đạo chướng ngại.
Chư Phật tử!  Ví như Kim Sí Điểu Vương bay trên hư không, đảo liệng chẳng đi, dùng mắt thanh tịnh quán sát trong cung điện của chư long, phấn khởi sức mạnh lấy hai cánh quạt nước biển rẽ ra làm hai, bắt rồng mạng sắp chết để ăn.
Đức Như Lai Đẳng Chánh Giác cũng như vậy, an trụ hạnh vô ngại dùng Phật nhãn thanh tịnh quán sát pháp giới tất cả chúng sanh, nếu là hạng từng đã gieo thiện căn đã thành thục, dùng sức mạnh thập lực vỗ hai cánh chỉ quán quạt tách nước biển tham ái sanh tử ra làm hai mà bắt lấy họ vào trong Phật pháp, cho họ dứt tất cả vọng tưởng hý luận, an trụ nơi hạnh vô ngại vô phân biệt của Như Lai.
Chư Phật tử!  Như mặt nhật mặt nguyệt không gì sánh, riêng đi vòng giữa hư không làm lợi ích chúng sanh, mà không tự nghĩ từ đâu đến và đi đến đâu.
Chư Phật Như Lai cũng như vậy, tánh vốn tịch diệt không phân biệt, thị hiện du hành khắp pháp giới, vì muốn làm lợi ích tất cả chúng sanh, mà làm Phật sự không thôi nghỉ, vẫn không sanh hý luận phân biệt là ta từ đó đến rồi đi qua kia.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát phải dùng vô lượng phương tiện vô lượng tánh tướng như vậy, để thấy biết công hạnh của đức Như Lai Đẳng Chánh Giác."
Phổ Hiền đại Bồ Tát muốn rõ lại nghĩa này mà nói kệ rằng:
Ví như chân như chẳng sanh diệt
Không có nơi chỗ không thể thấy
Bậc Đại Nhiêu Ích, hạnh như vậy
Vượt hơn tam thế chẳng lường được
Pháp giới: chẳng giới, chẳng không giới
Chẳng phải hữu lượng chẳng vô lượng
Đấng Đại Công Đức hạnh cũng vậy
Chẳng lượng, vô lượng, vì vô thân
Như chim bay đi ức ngàn năm
Trước sau hư không chẳng không khác
Nhiều kiếp diễn thuyết hạnh Như Lai
Đã nói chưa nói chẳng thể lường
Điễu Vương trên cao xem đại hải
Rẽ nước bắt lấy rồng để ăn
Thập Lực hay cứu người thiện căn
Khiến khỏi biển ải trừ phiền não
Ví như nhật nguyệt đi hư không
Chiếu đến tất cả chẳng phân biệt
Thế Tôn đi khắp cả pháp giới
Giáo hóa chúng sanh chẳng động niệm.
"Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát phải biết đức Như Lai thành Đẳng Chánh Giác như thế nào?
Đại Bồ Tát phải biết đức Như Lai thành Đẳng Chánh Giác nơi tất cả nghĩa không chỗ quán sát, nơi pháp bình đẳng không chỗ nghi lầm, không hai, không tướng, không làm, không thôi, không lượng, không mé, rời xa hai bên an trụ nơi trung đạo, vượt khỏi tất cả văn tự ngôn thuyết, biết tất cả chúng sanh tâm niệm nghĩ tưởng, căn tánh, ưa thích, phiền não nhiễm tập.  Tóm lại, biết rõ tam thế tất cả pháp.
Chư Phật tử!  Ví như đại hải có thể ẩn hiện tất cả hình tượng sắc thân của các chúng sanh trong bốn châu thiên hạ, thế nên mọi loài đều cùng gọi là đại hải.
Chư Phật bồ đề cũng như vậy, hiện khắp tất cả chúng sanh căn tánh ưa thích, mà không sở hiện, thế nên gọi là chư Phật bồ đề.
Chư Phật tử!  Phật bồ đề, tất cả văn tự chẳng tuyên được, tất cả âm thanh chẳng đến được, tất cả ngôn ngữ chẳng nói được, chỉ tùy chỗ sở nghi mà phương tiện khai thị.
Chư Phật tử! Lúc đức Như Lai thành Đẳng Chánh Giác được thân lượng bằng tất cả chúng sanh, được thân lượng bằng tất cả pháp, được thân lượng bằng tất cả cõi, được thân lượng bằng tất cả tam thế, được thân lượng bằng tất cả Phật, được thân lượng bằng tất cả ngữ ngôn, được thân lượng bằng chân như, được thân lượng bằng pháp giới, được thân lượng bằng hư không giới, được thân lượng bằng vô ngại giới, được thân lượng bằng tất cả nguyện, được thân lượng bằng tất cả hạnh, được thân lượng bằng tịch diệt niết bàn giới.
Như thân đã được, ngôn ngữ và tâm đã được cũng như vậy.  Được vô lượng vô số tam luân thanh tịnh như vậy.
Chư Phật tử!  Lúc đức Như Lai thành Chánh Giác, ở trong thân Như Lai, thấy khắp tất cả chúng sanh thành chánh giác.  Nhẫn đến thấy khắp tất cả chúng sanh nhập niết bàn đều đồng một tánh.  Một tánh đây chính là không tất cả tánh.  Không những tánh gì?  Không tánh tướng, không tánh tận, không tánh sanh, không tánh diệt, không tánh ngã, không tánh phi ngã, không tánh chúng sanh, không tánh phi chúng sanh, không tánh bồ đề, không tánh pháp giới, không tánh hư không, cũng lại không tánh thành chánh giác.  Vì biết tất cả pháp đều không tánh nên được nhất thiết trí đại bi tương tục cứu độ chúng sanh.
Chư Phật tử!  Ví như hư không, tất cả thế giới hoặc thành hoặc hoại, hư không thường chẳng thêm bớt, vì hư không vốn vô sanh.
Chư Phật bồ đề cũng như  vậy, hoặc thành chánh giác hay chẳng thành chánh giác, cũng không tăng giảm.  Vì bồ đề vốn không tướng, không phi tướng, không một, không nhiều.
Chư Phật tử!  Giả sử có người hay hóa làm hằng hà sa tâm, mỗi mỗi tâm lại hóa làm hằng hà sa Phật, đều không sắc, không hình, không tướng.  Hóa như vậy tột hằng hà sa kiếp không thôi nghỉ.
Này chư Phật tử!  Các ngài nghĩ thế nào?  Người đó hóa tâm, hóa Phật, có tất cả là bao nhiêu?"
Như Lai Tánh Khởi Diệu Đức Bồ Tát nói: "Như theo tôi hiểu nghĩa của ngài nói thời hóa cùng chẳng hóa đồng nhau không khác.  Sao lại hỏi là có bao nhiêu?"
Phổ Hiền Bồ Tát nói: "Lành thay! Lành thay!  Đúng như lời ngài nói.
Giả sử tất cả chúng sanh ở trong một niệm đều thành chánh giác cùng chẳng thành chánh giác đồng nhau không khác.  Vì bồ đề không có tướng.  Nếu không tướng thời không tăng không giảm.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát phải biết như vầy:  Thành đẳng chánh giác đồng với bồ đề một tướng không tướng.  Lúc đức Như Lai thành đẳng chánh giác dùng phương tiện nhất tướng nhập tam muội thiện giác trí.  Nhập rồi ở một thân quảng đại thành chánh giác hiện thân bằng số tất cả chúng sanh trụ ở trong thân.  Như một thân quảng đại thành chánh giác tất cả thân quảng đại thành chánh giác đều như vậy cả.
Chư Phật tử!  Đức Như Lai có vô lượng môn thành chánh giác như vậy, vì thế phải biết đức Như Lai hiện thân vô lượng.  Vì vô lượng nên nói thân Như Lai là vô lượng giới đồng với chúng sanh giới.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát phải biết thân Như Lai trong một lỗ lông có thân chư Phật bằng số tất cả chúng sanh.  Vì đức Như Lai thành đẳng chánh giác rốt ráo không sanh diệt.  Như một lỗ lông khắp pháp giới, tất cả lỗ lông cũng đều như vậy.  Phải biết chẳng có một chút chỗ nào là không có thân Phật.  Vì đức Như Lai thành đẳng chánh giác không chỗ nào chẳng đến.  Tuỳ sở năng, tuỳ thế lực, ở dưới cây bồ đề đạo tràng trên tòa sư tử, hiện nhiều thân thành đẳng chánh giác.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát phải biết tâm mình, niệm niệm thường có Phật thành chánh giác.  Vì chư Phật Thế Tôn chẳng rời tâm này mà thành chánh giác.  Như tâm mình, tâm của tất cả chúng sanh cũng đều như vậy, đều thường có Như Lai thành đẳng chánh giác, rộng lớn cùng khắp không chỗ nào chẳng có, chẳng rời, chẳng dứt, không thôi nghỉ, nhập pháp môn phương tiện bất tư nghì.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát phải biết đức Như Lai thành đẳng chánh giác như vậy."
Phổ Hiền đại Bồ Tát muốn rõ lại nghĩa này mà nói kệ rằng;
Chánh Giác biết rõ tất cả pháp
Không hai lìa hai đều bình đẳng
Tự tánh thanh tịnh như hư không
Ngã cùng phi ngã chẳng phân biệt
Như biển ấn hiện thân chúng sanh
Do đây gọi biển là đại hải
Bồ đề ấn khắp các tâm hành
Vì thế nên gọi là chánh giác
Ví như thế giới có thành hoại
Mà ở hư không chẳng thêm bớt
Tất cả chư Phật hiện thế gian
Bồ đề một tướng thường không tướng
Như người hóa tâm hóa làm Phật
Hóa cùng chẳng hóa tánh không khác
Tất cả chúng sanh thành bồ đề
Thành cùng chẳng thành không tăng giảm
Phật có tam muội tên Thiện Giác
Dưới cây bồ đề nhập định này
Phóng vô lượng quang bằng chúng sanh
Khai ngộ quần sanh như sen nở
Như tam thế kiếp sát, chúng sanh
Có những tâm niệm và căn, dục
Thân bằng số ấy đều hiện ra
Nên Chánh Giác gọi là vô lượng.
"Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát phải biết đức Như Lai Đẳng Chánh Giác chuyển pháp luân như thế nào?
Đại Bồ Tát phải biết như vầy:  đức Như Lai dùng sức tâm tự tại không khởi không chuyển mà chuyển pháp luân, vì biết tất cả pháp thường không khởi.  Dùng ba thứ chuyển dứt chỗ đáng dứt mà chuyển pháp luân, vì biết tất cả pháp lìa biên kiến.  Lìa dục tế phi tế mà chuyển pháp luân.  Vì nhập tất cả pháp hư không tế.  Không có ngôn thuyết mà chuyển pháp luân, vì biết tất cả pháp chẳng thể nói.  Rốt ráo tịch diệt mà chuyển pháp luân, vì biết tất cả pháp là tánh niết bàn.  Dùng tất cả văn tự, tất cả ngữ ngôn mà chuyển pháp luân, vì âm thanh của Như Lai không chỗ nào chẳng đến.  Biết tiếng như vang mà chuyển pháp luân, vì rõ tánh chân thật của các pháp.  Trong một âm thanh phát ra tất cả âm thanh mà chuyển pháp luân, vì rốt ráo không chủ.  Không sót không hết mà chuyển pháp luân, vì trong ngoài không nhiễm trước.
Chư Phật tử!  Ví như tất cả văn tự ngữ ngôn tột kiếp vị lai nói chẳng hết được.  Phật chuyển pháp luân cũng như vậy, tất cả văn tự an lập hiển thị không thôi nghỉ không cùng tận.
Chư Phật tử!  Như Lai pháp luân đều nhập tất cả ngữ ngôn văn tự mà không chỗ trụ.  Ví như viết chữ vào khắp tất cả sự, tất cả lời, tất cả toán số, tất cả chỗ thế gian và xuất thế gian mà không chỗ trụ.
Âm thanh của đức Như Lai cũng như vậy, vào khắp tất cả xứ, tất cả chúng sanh, tất cả pháp, tất cả nghiệp, tất cả báo, mà không chỗ trụ.
Các thứ ngữ ngôn của tất cả chúng sanh đều chẳng rời pháp luân của đức Như Lai, vì thật tướng của ngôn âm chính là pháp luân vậy.
Đại Bồ Tát phải biết đức Như Lai chuyển pháp luân như vậy.
Lại nữa, chư Phật tử!  Đại Bồ Tát muốn biết đức Như Lai chuyển pháp luân, thời phải biết chỗ xuất sanh pháp luân của đức Như Lai.
Chư Phật tử!  Đức Như Lai tuỳ theo tâm hành dục lạc vô lượng sai khác của tất cả chúng sanh, phát ra ngần ấy âm thanh mà chuyển pháp luân.
Chư Phật tử!  Đức Như Lai có tam muội tên là Cứu cánh vô ngại vô úy.  Nhập tam muội này rồi, ở mỗi mỗi thân mỗi mỗi niệm thành đẳng chánh giác, đều phát ra ngôn âm bằng số tất cả chúng sanh.  Trong mỗi mỗi ngôn âm đầy đủ các ngôn âm đều riêng khác mà chuyển pháp luân, làm cho tất cả chúng sanh đều hoan hỷ.
Người biết được đức Như Lai chuyển pháp luân như vậy, phải biết người này đã tùy thuận tất cả Phật pháp.  Không biết như vậy thời chẳng phải là tùy thuận.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát phải biết đức Phật chuyển pháp luân như vậy, vì vào khắp vô lượng chúng sanh giới."
Phổ Hiền đại Bồ Tát muốn rõ lại nghĩa này mà nói kệ rằng:
Như Lai pháp luân không sở chuyển
Tam thế vô khởi cũng vô đắc
Như văn tự không thời gian hết
Thập Lực pháp luân cũng như vậy
Như chữ vào khắp mà không đến
Chánh Giác pháp luân cũng như vậ
Vào các ngôn âm không chỗ vào
Hay khiến chúng sanh đều hoan hỷ
Phật có tam muội tên Cứu Cánh
Nhập định này rồi mới thuyết pháp
Tất cả chúng sanh vô lượng biên
Khắp pháp ngôn âm khiến tỏ ngọ
Trong mỗi ngôn âm lại còn diễn
Vô lượng ngôn âm đều sai khác
Thế gian tự tại vô phân biệt
Tùy họ sở thích khắp khiến nghe
Văn tự chẳng từ trong ngoài ra
Cũng chẳng hư mất, không chứa nhóm
Mà vì chúng sanh chuyển pháp luân
Tự tại như vậy rất kỳ đặc.
"Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát phải biết đức Như Lai Đẳng Chánh Giác nhập niết bàn như thế nào?
Đại Bồ Tát muốn biết đại niết bàn của đức Như Lai, cần phải biết rõ căn bổn tự tánh.  Như chân như niết bàn, Như Lai niết bàn cũng như vậy.  Như thực tế niết bàn, Như Lai niết bàn cũng như như vậy.  Như pháp giới niết bàn, Như Lai niết bàn cũng như vậy.  Như hư không niết bàn, Như Lai niết bàn cũng như vậy.  Như pháp tánh niết bàn, Như Lai niết bàn cũng như vậy.  Như ly dục tế niết bàn, Như Lai niết bàn cũng như vậy.  Như vô tướng niết bàn, Như Lai niết bàn cũng như vậy.  Như ngã tánh tế niết bàn, Như Lai niết bàn cũng như vậy.  Như nhất thiết pháp tánh tế niết bàn, Như Lai niết bàn cũng như vậy.  Như chân như tế niết bàn, Như Lai niết bàn cũng như vậy.  Vì niết bàn vô sanh vô xuất.  Nếu pháp vô sanh vô xuất thời vô diệt.
Chư Phật tử!  Như Lai chẳng vì Bồ Tát mà nói chư Phật cứu cánh niết bàn, cũng chẳng vì Bồ Tát mà thị hiện việc ấy.  Vì muốn cho Bồ Tát thấy tất cả Như Lai thường ở trước, ở trong một niệm thấy quá khứ, vị lai sắc tướng viên mãn đều như hiện tại, cũng chẳng móng tưởng là hai chẳng hai.  Vì đại Bồ Tát đã lìa hẳn tưởng chấp.
Chư Phật Như Lai vì muốn làm cho chúng sanh có lòng mến thích nên xuất hiện ra đời.  Vì muốn chúng sanh luyến mộ mà thị hiện niết bàn.  Nhưng thật ra đức Như Lai không có xuất thế cũng không niết bàn.  Vì đức Như Lai thường trụ thanh tịnh pháp giới, tuỳ theo tâm của chúng sanh mà thị hiện.
Chư Phật tử!  Ví như mặt nhật mọc chiếu khắp tất cả thế gian, trong tất cả đồ đựng nước trong sạch đều có bóng mặt nhật hiện, cùng khắp các xứ mà không có đến đi.  Nếu có một đồ đựng bị bể thời chẳng hiện bóng mặt nhật.  Đây không phải lỗi ở mặt nhật mà do đồ đựng nước bị bể.
Như Lai trí cũng như vậy, hiện khắp pháp giới không trước không sau.  Trong tâm thanh tịnh của tất cả chúng sanh đức Như Lai đều hiện.  Tâm thường thanh tịnh thời thường thấy thân Phật.  Nếu tâm ô trược, hư bể thời không thấy Như Lai.
Chư Phật tử!  Nếu có chúng sanh nên do niết bàn mà được độ thời đức Như Lai vì họ mà thị hiện niết bàn.  Nhưng thật ra đức Như Lai không sanh, không mất, không có diệt độ.
Ví như hỏa đại nơi tất cả thế gian hay làm thành lửa.  Hoặc có lúc ở một xứ lửa tắt.  Nhưng chẳng phải lửa ở tất cả thế gian đều tắt.
Đức Như Lai Đẳng Chánh Giác cũng như vậy, ra làm Phật sự ở tất cả thế giới.  Hoặc ở một thế giới việc làm đã xong hiện nhập niết bàn, há lại tất cả thế giới chư Phật Như Lai đều diệt độ!
Đại Bồ Tát phải biết đức Như Lai Đẳng Chánh Giác đại niết bàn như vậy.
Lại nữa, chư Phật tử!  Ví như thuật sĩ giỏi biết huyễn thuật, dùng sức huyễn thuật ở trong tất cả cõi nước, thành ấp, tụ lạc nơi đại thiên thế giới mà thị hiện huyễn thân, dùng sức huyễn giữ còn đến cả kiếp.  Hoặc ở một xứ huyễn sự đã xong bèn ẩn thân chẳng hiện.  Nhưng chẳng phải tất cả xứ đều ẩn thân.
Đức Như Lai Đẳng Chánh Giác cũng như vậy, giỏi biết vô lượng trí huệ phương tiện các thứ huyễn thuật, hiện thân khắp tất cả pháp giới, giữ gìn còn mãi tột thuở vị lai.  Hoặc ở một xứ, tuỳ tâm của chúng sanh việc làm đã xong bèn thị hiện nhập niết bàn.  Há lại vì ở một xứ đức Phật nhập niết bàn bèn cho rằng tất cả Phật đều diệt độ!
Đại Bồ Tát phải biết đức Như Lai Đẳng Chánh Giác đại niết bàn như vậy.
Lại nữa, chư Phật tử!  Lúc đức Như Lai Đẳng Chánh Giác thị hiện niết bàn, bèn nhập bất động tam muội.  Nhập tam muội này rồi, ở mỗi mỗi thân Phật đều phóng vô lượng trăm ngàn ức na do tha đại quang minh.  Mỗi mỗi quang minh đều hiện vô số hoa sen.  Mỗi mỗi hoa sen đều có bất khả thuyết nhị hoa diệu bửu.  Mỗi mỗi nhị hoa đều có tòa sư tử.  Trên mỗi mỗi tòa đều có đức Như Lai ngồi kiết già.  Số thân Phật bằng với số tất cả chúng sanh, đều đủ mọi sự công đức trang nghiêm thượng diệu, từ bổn nguyện lực mà sanh khởi.
Nếu có chúng sanh thiện căn thành thục, thấy thân Phật rồi đều thọ hóa.  Nhưng thân Phật kia tột vị lai tế rốt ráo an trụ tùy nghi hóa độ tất cả chúng sanh chưa từng lỗi thời.
Chư Phật tử!  Thân của  đức Như Lai không có phương xứ, chẳng thật chẳng hư, chỉ do bổn thệ nguyện lực của chư Phật, hễ chúng sanh đáng được độ thời bèn xuất hiện.
Đại Bồ Tát phải biết đức Như Lai Đẳng Chánh Giác đại niết bàn như vậy.
Chư Phật tử!  Đức Như Lai trụ nơi vô lượng vô ngại cứu cánh pháp giới, hư không giới, chân như, pháp tánh, vô sanh, vô diệt và thực tế, vì các chúng sanh mà tùy thời thị hiện.  Do bổn nguyện giữ gìn nên không thôi nghỉ.  Chẳng bỏ tất cả chúng sanh, tất cả cõi, tất cả pháp."
Phổ Hiền đại Bồ Tát muốn rõ lại nghĩa này mà nói kệ rằng:
Mặt nhật phóng sáng chiếu thế gian
Đồ hư nước lọt bóng liền mất
Tối Thắng Thế Tôn cũng như vậy
Chúng sanh không tin thấy nhập diệt
Như hỏa đại thành lửa thế gian
Hoặc một thành ấp có lúc tắt
Tối Thắng Thế Tôn khắp pháp giới
Xứ giáo hóa xong hiện nhập diệt
Thuật sĩ hiện thân tất cả cõi
Chỗ việc đã xong thời ẩn thân,
Như Lai hóa xong cũng như vậy
Ở cõi nước khác thường thấy Phật
Phật có tam muội tên bất động
Hóa chúng sanh rồi nhập định này
Một niệm thân phóng vô lượng quang
Quang hiện liên hoa, hoa có Phật
Phật thân vô số khắp pháp giới
Chúng sanh có phước thời được thấy
Như vậy vô số mỗi mỗi thân
Thọ mạng trang nghiêm đều đầy đủ
Như tánh vô diệt, Phật niết bàn
Ngôn từ ví dụ thảy đều dứt
Tất cả nghĩa thành không cùng sánh.
"Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát phải biết ở chỗ đức Như Lai Đẳng Chánh Giác, thấy nghe thân cận gieo trồng thiện căn như thế nào?
Đại Bồ Tát phải biết ở chỗ đức Như Lai, thấy nghe gần gũi gieo trồng thiện căn thảy đều chẳng luống, vì xuất sanh vô tận giác huệ, vì rời tất cả chướng nạn, vì quyết định đến nơi cứu cánh, vì không hư dối, vì tất cả nguyện viên mãn, vì chẳng hết hạnh hữu vi, vì tùy thuận trí vô vi, vì sanh Phật trí, vì tột vi lai tế, vì thành thắng hạnh nhất thiết chủng, vì đến vô công dụng trí địa.
Chư Phật tử!  Ví như tượng phu ăn chút ít chất kim cang trọn không tiêu tất phải xuyên lủng thân lọt ra ngoài.  Vì chất kim cang chẳng cùng ở chung với nhục thân tạp uế.
Nơi đức Như Lai, gieo một ít căn lành cũng như vậy, tất phải xuyên thấu tất cả phiền não hữu vi hạnh đến nơi trí vô vi cứu cánh.  Vì chút thiện căn này chẳng cùng ở chung với những hữu vi hạnh phiền não.
Chư Phật tử!  Giả sử cỏ khô chất đống lớn bằng núi tu di, ném vào cỏ một đóm lửa nhỏ tất sẽ cháy hết cả.  Vì lửa hay cháy vậy.
Nơi đức Như Lai, gieo một ít thiện căn cũng như vậy, tất hay cháy hết tất cả phiền não rốt ráo đến vô dư niết bàn.  Vì chút thiện căn tánh rốt ráo vậy.
Chư Phật tử!  Ví như núi tuyết có cây dược vương tên là Thiện Kiếp.  Nếu ai được thấy thời cặp mắt được thanh tịnh.  Nếu ai được nghe thời tai được thanh tịnh.  Nếu ai được ngửi thời mũi được thanh tịnh.  Nếu ai được nếm thời lưỡi được thanh tịnh.  Nếu ai được chạm đến thời thân thanh tịnh.  Nếu có ai lấy đất nơi gốc cây ấy, cũng có thể dùng để trị bệnh được.
Đức Như Lai Đẳng Chánh Giác cũng như vậy, có thể làm tất cả sự lợi ích cho chúng sanh.  Nếu có ai thấy sắc thân Như Lai thời mắt được thanh tịnh.  Nếu ai được nghe danh hiệu Phật thời tai được thanh tịnh.  Nếu ai ngửi được giới hương Như Lai thời mũi được thanh tịnh.  Nếu ai nếm được pháp vị của Như Lai thời lưỡi được thanh tịnh, đủ tướng rộng dài, hiểu pháp ngữ ngôn.  Nếu ai được chạm đến quang minh của Như Lai thời thân được thanh tịnh rốt ráo được pháp thân vô thượng.  Nếu ai nhớ niệm đức Như Lai thời được niệm Phật tam muội thanh tịnh.  Nếu ai cúng dường chỗ đất của đức Như Lai đi qua, và tháp miếu thờ Phật cũng được đủ thiện căn trừ diệt tất cả họa phiền não, được vui của hiền thánh.
Chư Phật tử!  Nay tôi nói với các ngài:  mặc dầu có chúng sanh vì nghiệp chướng che đậy nên thấy nghe nơi Phật mà chẳng có lòng mến tin, vẫn cũng gieo được căn lành không luống uổng, nhẫn đến rốt ráo nhập niết bàn.
Đại Bồ Tát phải biết ở nơi đức Như Lai, thấy nghe gần gũi gieo trồng căn lành như vậy, đều lìa tất cả pháp bất thiện, đầy đủ thiện pháp.
Chư Phật tử!  Đức Như Lai dùng tất cả ví dụ nói nhiều sự, không có ví dụ nào nói được pháp này.  Vì bất tư nghì, đường tâm trí tuyệt vậy.  Chư Phật, chư Bồ Tát chỉ tuỳ tâm của chúng sanh khiến họ hoan hỷ mà nói ví dụ, chớ chẳng phải là rốt ráo.
Pháp môn này gọi là chỗ bí mật của đức Như Lai, gọi là chỗ mà tất cả thế gian chẳng biết được, gọi là nhập Như Lai ấn, gọi là khai cửa đại trí, gọi là thị hiện chủng tánh Như Lai, gọi là thành tựu tất cả Bồ Tát, gọi là tất cả thế gian không làm hư hoại được, gọi là một bề tuỳ thuận cảnh giới Như Lai, gọi là hay thanh tịnh tất cả chúng sanh giới, gọi là diễn thuyết Như Lai căn bổn thật tánh pháp bất tư nghì rốt ráo.
Chư Phật tử!  Pháp môn này đức Như Lai chẳng nói với những chúng sanh khác.  Chỉ nói với chư Bồ Tát xu hướng đại thừa, chỉ nói với chư Bồ Tát ngồi nơi bất tư nghì thừa.  Pháp môn này chẳng vào tay của tất cả chúng sanh khác, chỉ trừ chư đại Bồ Tát.
Chư Phật tử!  Ví như Chuyển Luân Thánh Vương có bảy báu.  Nhân bảy báu này mà hiển bày luân vương.  Bảy báu này chẳng vào tay chúng sanh khác chỉ trừ thái tử do đệ nhất phu nhân sanh, đầy đủ trọn vẹn các tướng thánh vương.  Nếu Chuyển Luân Thánh Vương không có thái tử đầy đủ đức tướng, thời sau khi thánh vương thăng hà trong vòng bảy ngày các báu đều tan mất.
Cũng vậy, kinh này chẳng vào tay của các chúng sanh khác, chỉ trừ chân tử của đức Như Lai Pháp Vương sanh nhà Như Lai, gieo căn lành Như Lai.  Nếu không có những chân tử này, thời pháp môn đây chẳng bao lâu sẽ tan mất.  Vì tất cả hàng nhị thừa chẳng được nghe kinh này huống là thọ trì, đọc tụng, biên chép, phân biệt giải thuyết.  Chỉ có chư Bồ Tát mới có thể được như vậy.
Do những cớ trên đây, chư đại Bồ Tát nghe pháp môn này nên rất vui mừng, dùng tâm tôn trọng cung kính đảnh lễ.  Vì đại Bồ Tát tin ưa kinh này thời mau được vô thượng chánh đẳng chánh giác.
Chư Phật tử!  Giả sử có Bồ Tát trong vô lượng trăm ngàn ức na do tha kiếp thực hành sáu môn ba la mật, tu tập những pháp bồ đề phần, nếu chưa nghe pháp môn đại oai đức bất tư nghì của Như Lai đây.  Hoặc nghe rồi mà chẳng tin, chẳng hiểu, chẳng thuận, chẳng nhập, thời chẳng được gọi là chân thật Bồ Tát.  Vì chẳng được sanh nhà Như Lai.  Nếu được nghe pháp môn vô chướng ngại trí huệ vô lượng bất tư nghì của Như Lai đây, nghe rồi tin hiểu tuỳ thuận ngộ nhập.   Nên biết người này sanh nhà Như Lai, tuỳ thuận cảnh giới của tất cả Như Lai, đầy đủ pháp Bồ Tát, an trụ cảnh giới nhất thiết chủng trí, xa lìa tất cả những pháp thế gian, xuất sanh tất cả công hạnh của Như Lai, thông đạt tất cả pháp tánh của Bồ Tát, nơi đức tự tại của Phật không lòng nghi lầm, trụ nơi pháp vô sư, thâm nhập cảnh giới vô ngại của Như Lai.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát nghe pháp này rồi, thời có thể dùng bình đẳng trí biết vô lượng pháp, thời hay dùng tâm chánh trực lìa các phân biệt.  Thời có thể dùng thắng dục lạc hiện tiền được thấy chư Phật.  Thời có thể dùng sức tác ý nhập hư không giới bình đẳng.  Thời có thể dùng niệm tự tại đi vô biên pháp giới.  Thời có thể dùng sức trí huệ đủ tất cả công đức.  Thời có thể dùng trí tự nhiên lìa tất cả cấu nhiễm thế gian.  Thời có thể dùng tâm bồ đề vào tất cả thế giới mười phương.  Thời có thể dùng sức quán sát lớn biết tam thế chư Phật đồng một thể tánh.  Thời có thể dùng trí thiện căn hồi hướng vào khắp pháp như vầy:  chẳng vào mà vào, chẳng phan duyên nơi một pháp, hằng dùng một pháp quán sát tất cả pháp.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát thành tựu công đức như vậy, dùng chút ít công lực liền được vô sư tự nhiên trí."
Phổ Hiền đại Bồ Tát muốn tuyên lại nghĩa này mà nói kệ rằng:
Thấy nghe cúng dường chư Như Lai
Thời được công đức vô biên lượng
Ở trong hữu vi trọn không hết
Tất diệt phiền não lìa những khổ
Như người nuốt chút ít kim cang
Tất không tiêu được phải ra ngoài
Công đức cúng dường đấng Thập Lực
Diệt phiền não đến kim cang trí
Như cỏ khô bằng núi tu di
Ném đóm lửa nhỏ đều cháy hết
Chút ít công đức cúng dường Phật
Tất đoạn phiền não đến niết bàn
Núi tuyết có thuốc tên Thiện Kiến
Thấy nghe ngửi chạm têu các bệnh
Nếu ai thấy nghe đấng Thập Lực
Được thắng công đức đến Phật trí.
Bấy giờ, do thần lực của Phật, do pháp như vậy, mười phương đều có mười bất khả thuyết trăm ngàn ức na do tha thế giới sáu cách chấn động:  những la đông vọt tây lặn, tây vọt đông lặn, nam vọt bắc lặn, bắc vọt nam lặn, mé vọt giữa lặn, giữa vọt mé lặn.  Mười tám tướng động:  những là động, biến động, đẳng biến động, dũng biến dũng, đẳng biến dũng, khởi biến khởi, đẳng biến khởi, chấn biến chấn, đẳng biến chấn, hống biến hống, đẳng biến hống, kích biến kích, đẳng biến kích.  Mưa mây hoa hơn cõi trời, mây lọng, mây tràng, mây phan, mây hương, mây tràng hoa, mây hương hoa, mây đồ trang nghiêm, mây đại quang minh ma ni bửu, mây chư Bồ Tát ca ngợi, mây thân sai khác của bất khả thuyết Bồ Tát.  Mưa mây thành chánh giác, mây nghiêm tịnh bất tư nghì thế giới, mây âm thanh ngữ ngôn của Phật đầy khắp vô biên thế giới.
Như ở bốn châu thiên hạ này thần lực của đức Như Lai thị hiện như vậy, làm cho chư Bồ Tát rất hoan hỷ, cùng khắp mười phương tất cả thế giới đều cũng như vậy.
Bấy giờ, mười phương đều qua khỏi tám mươi bất khả thuyết trăm ngàn ức na do tha phật sát vi trần số thế giới, đều có tám mươi bất khả thuyết trăm ngàn ức na do tha phật sát vi trần số Như Lai đồng hiệu Phổ Hiền đều hiện ra trước Phổ Hiền Bồ Tát mà bảo rằng:  "Lành thay Phật tử!  Nhà ngươi có thể thừa oai lực của Phật, tùy thuận pháp tánh mà diễn nói pháp Như Lai xuất hiện bất tư nghì.
Này Phật tử!  Mười phương chúng ta tám mươi bất khả thuyết trăm ngàn ức na do tha phật sát vi trần số chư Phật đồng hiệu Phổ Hiền đều nói pháp này.
Này Phật tử!  Nay trong pháp hội này có mười vạn sát vi trần số đại Bồ Tát được tất cả thần thông tam muội của Bồ Tát, chư Phật chúng ta đều thọ ký họ một đời sẽ được vô thượng chánh đẳng chánh giác.
Lại có phật sát vi trần só chúng sanh phát bồ đề tâm, chư Phật chúng ta cũng thọ ký họ ở đời vị lai trải qua bất khả thuyết phật sát vi trần số kiếp, đều được thành Phật đồng hiệu là  Phật Thù Thắng Cảnh Giới.
Chư Phật chúng ta vì muốn cho chư Bồ Tát vị lai được nghe pháp này, nên đều cùng hộ trì.  Như hóa độ chúng sanh nơi bốn châu thiên hạ này, mười phương trăm ngàn ức na do tha vô số vô lượng, nhẫn đến bất khả thuyết bất khả thuyết pháp giới hư không tất cả thế giới, hóa độ chúng sanh cũng đều như vậy."
Bấy giờ, do thần lực của thập phương chư Phật, do nguyện lực của Tỳ Lô Giá Na, do pháp như vậy, do sức thiện căn, do Như Lai khởi trí chẳng vượt ngoài tâm niệm, do Như Lai ứng duyên chẳng lỗi thời, do tùy thời giác ngộ chư Bồ Tát, do thưở trước tu hành không hư mất, do làm cho được hạnh Phổ Hiền quảng đại, do hiển hiện tất cả trí tự tại, nên mười phương đều qua khỏi mười bất khả thuyết trăm ngàn ức na do tha phật sát vi trần số Bồ Tát đồng đến nơi đây, đầy khắp tất cả mười phương pháp giới, thị hiện sự quảng đại trang nghiêm của Bồ Tát, phóng lưới đại quang minh, chấn động tất cả mười phương thế giới, làm hư tan tất cả cung điện của các loài ma, tiêu diệt tất cả những khổ ác đạo, hiển hiện tất cả oai đức của Như Lai, ca ngâm khen ngợi vô lượng pháp công đức sai biệt của Như Lai, khắp mưa tất cả những thứ mưa, thị hiện vô lượng thân sai biệt, lãnh thọ vô lượng Phật pháp, do thần lực của Phật nên đồng nói rằng: "Lành thay Phật tử!  Ngài có thể nói pháp bất khả hoại của Như Lai đây.
Này Phật tử!  Chư Bồ Tát chúng tôi đều hiệu Phổ Hiền, đều từ thế giới Phổ Quang Minh chỗ của đức Như Lai Phổ Tràng Tự Tại mà đến đây.  Tất cả thế giới đó đều nói pháp này.  Văn cú như vậy, nghĩa lý như vậy, tuyên thuyết như vậy, quyết định như vậy, đều đồng ở đây chẳng thêm chẳng bớt.
Chư Bồ Tát chúng tôi đều do thần lực của Phật, do được pháp Như Lai nên đến nơi đây để chứng minh cho ngài.
Như chúng tôi đến đây, mười phương khắp hư không khắp pháp giới tất cả thế giới bốn châu thiên hạ cũng như vậy."
Bấy giờ, Phổ Hiền Bồ Tát thừa thần lực của Phật, quán sát tất cả Bồ Tát đại chúng, muốn tuyên rõ lại oai đức quảng đại xuất hiện của Như Lai, chánh pháp chẳng thể trở hoại của Như Lai, vô lượng thiện căn đều chẳng luống, chư Phật xuất thế ắt đủ tất cả pháp tối thắng, giỏi quán sát được tâm chúng sanh tuỳ nghi thuyết pháp chưa từng lỗi thời, sanh Bồ Tát vô lượng pháp quang, tất cả chư Phật tự tại trang nghiêm, tất cả Như Lai một thân không khác sanh khởi do từ đại hạnh thuở trước.  Nói kệ rằng:
Tất cả Như Lai những công hạnh
Thế gian ví dụ  không kịp được
Vì khiến chúng sanh được ngộ giải
Chẳng dụ làm dụ mà hiển thị
Pháp thậm thâm vi mật như vậy
Trăm ngàn muôn kiếp khó được nghe
Người tinh tấn trí huệ điều phục
Mới được nghe nghĩa bí áo này
Nếu nghe pháp này sanh hoan hỷ
Kia từng cúng dường vô lượng Phật
Được Phật gia trì chỗ nhiếp thọ
Trời người ca ngợi thường cúng dường
Đây là pháp cứu thế đệ nhất
Đây là cứu độ những quần phẩm
Đây hay xuất sanh đạo thanh tịnh
Các ngài thọ trì chớ phóng dật.

Tôi nhìn em, đôi mắt ở đậu,
Giữa cõi mê, tôi ở thật lâu,
Em cũng hiểu, cho nên cười nụ,
Chút mưu toan, khơi một bể sầu.
canary
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2010-02-02 10:33:21canary>
Kinh Hoa Nghiêm
Tập 6

Phẩm ly thế gian
Thứ ba mươi tám



(Hán bộ quyển thứ 53)


Bấy giờ, đức Thế Tôn ở nước Ma Kiệt Đề trong đạo tràng bồ đề A Lan Nhã điện Phổ Quang Minh, ngồi tòa liên hoa tạng sư tử diệu ngộ viên mãn, tuyệt hẳn hai hạnh, đạt pháp vô tướng, an trụ nơi chỗ trụ của Phật, được Phật bình đẳng, đến chỗ không chướng ngại pháp chẳng thể chuyển, chỗ làm vô ngại lập bất tư nghì, thấy khắp tam thế, thân hằng đầy khắp tất cả quốc độ, trí hằng sáng thấu tất cả pháp, rõ tất cả hạnh, hết tất cả nghi, thân không thể lường, trí đồng với chỗ cầu của tất cả Bồ Tát, đến bỉ ngạn rốt ráo không hai của Phật, đầy đủ bình đẳng giải thoát của Như Lai, chứng bậc Phật bình đẳng không trung biên, tột nơi pháp giới, khắp hư không giới, cùng bất khả thuyết trăm ngàn na do tha phật sát vi trần số đại Bồ Tát câu hội.
Chư đại Bồ Tát này đều là bậc một đời sẽ được vô thượng bồ đề, đều từ những cõi nước phương khác mà đồng đến tập họp, đều đủ Bồ Tát phương tiện trí huệ:  những là khéo hay quán sát tất cả chúng sanh, dùng sức phương tiện khiến họ điều phục trụ nơi pháp Bồ Tát.  Khéo hay quan sát tất cả thế giới, dùng sức phương tiện đều khắp qua đến.  Khéo hay quán sát cảnh giới niết bàn, tư duy suy lường lìa hẳn tất cả hý luận phân biệt mà tu diệu hạnh không có gián đoạn.  Khéo hay nhiếp thọ tất cả chúng sanh.  Khéo vào vô lượng pháp phương tiện.  Biết các chúng sanh rỗng không chẳng có mà chẳng hoại nghiệp quả.  Khéo biết tâm sử, chư căn, cảnh giới, phương tiện các loại sai biệt của chúng sanh.  Đều hay thọ trì tam thế Phật pháp, tự được hiểu rõ lại vì người giải thuyết.  Đều khéo an trụ nơi vô lượng pháp thế và xuất thế, biết tánh chân thật của tất cả pháp.  Nơi tất cả pháp hữ vi vô vi đều khéo quán sát biết không có hai.  Ở trong một niệm đều có thể chứng được trí huệ của tam thế chư Phật.  Ở trong mỗi niệm đều hay thị hiện thành đẳng chánh giác, làm cho tất cả chúng sanh phát tâm thành đạo.  Nơi cảnh sở duyên của một chúng sanh đều biết cảnh giới của tất cả chúng sanh.  Dầu nhập Như Lai nhất thiết trí địa mà chẳng bỏ hạnh Bồ Tát, cũng chẳng bỏ sự nghiệp, trí huệ, phương tiện của Bồ Tát, mà vẫn không sở tác.  Vì mỗi mỗi chúng sanh trụ vô lượng kiếp, mà trong  vô sớ kiếp khó gặp được.  Chuyển chánh pháp luân, điều phục chúng sanh đều không bỏ luống.  Hạnh nguyện thanh tịnh của tam thế chư Phật đều đã đầy đủ.
Thành tựu vô lượng công đức như vậy.  Tất cả Như Lai trong vô biên kiếp nói chẳng hết được.
Tên của các ngài là:  Phổ Hiền Bồ Tát, Phổ Nhãn Bồ Tát, Phổ Hóa Bồ Tát, Phổ Huệ Bồ Tát, Phổ Kiến Bồ Tát, Phổ Quang Bồ Tát, Phổ Quán Bồ Tát, Phổ Chiếu Bồ Tát, Phổ Tràng Bồ Tát, Phổ Giác Bồ Tát.
Mười bất khả thuyết trăm ngàn ức na do tha phật sát vi trần số chư đại Bồ Tát như vậy, thảy đều thành tựu hạnh nguyện Phổ Hiền, thâm tâm đại nguyện đều đã viên mãn.  Chỗ của tất cả chư Phật xuất thế đều có thể qua đến thỉnh chuyển pháp luân.  Khéo hay thọ trì pháp nhãn của chư Phật.  Chẳng dứt chủng tánh của tất cả chư Phật.  Khéo biết tất cả chư Phật ra đời, thứ đệ thọ ký danh hiệu, quốc độ, thành Phật chuyển pháp luân.  Thế giới không Phật hiện thân thành Phật.  Hay khiến chúng sanh tạp nhiễm đều được thanh tịnh.  Hay diệt tất cả nghiệp chướng của Bồ Tát, vào nơi pháp giới thanh tịnh vô ngại.
Bấy giờ, Phổ Hiền đại Bồ Tát nhập quảng đại tam muội tên là Phật Hoa Nghiêm.
Lúc Bồ Tát nhập tam muội này, tất cả thế giới mười phương chấn động sáu cách, mười tám tướng, phát âm thanh lớn không đâu chẳng nghe.  Sau đó Bồ Tát mới từ tam muội xuất định.
Bấy giờ, Phổ Huệ Bồ Tát biết đại chúng đã vân tập, hỏi Phổ Hiền Bồ Tát rằng: "Thưa Phật tử!  Xin ngài diễn thuyết:  những gì là y chỉ của đại Bồ Tát?  Những gì là kỳ đặc tưởng?  Những gì là hạnh?  Những gì là thiện tri thứ?  Những gì là siêng tinh tấn?  Những gì là tâm được an ổn?  Những gì là thành tựu chúng sanh?  Những gì là giới?  Những gì là tự biết thọ ký?  Những gì là nhập Bồ Tát?  Những gì là nhập Như Lai?  Những gì là nhập tâm hành của chúng sanh?  Những gì là nhập thế giới?  Những gì là nhập kiếp?  Những gì là nói tam thế?  Những gì là biết tam thế?  Những gì là phát tâm không mỏi nhàm?  Những gì là trí sai biệt?  Những gì là đà la ni?  Những gì là diễn thuyết Phật?  Những gì là phát tâm Phổ Hiền?  Những gì là Phổ Hiền hạnh pháp?  Do những cớ gì mà sanh lòng đại bi?  Những gì là nhân duyên phát bồ đề tâm?  Những gì là sanh tâm tôn trọng đối với thiện tri thức?  Những gì là thanh tịnh?  Những gì là các ba la mật?  Những gì là trí tùy giác?  Những gì là chứng trí?  Những gì là lực?  Những gì là bình đẳng?  Những gì là Phật pháp thật nghĩa cú?  Những gì là thuyết pháp?  Những gì là trì?  Những gì là biện tài?  Những gì là tự tại?  Những gì là tánh vô trước?  Những gì là tâm bình đẳng?  Những gì là xuất sanh trí huệ?  Những gì là biến hóa?  Những gì là lực trì?  Những gì là được đại hân ủy?  Những gì là thâm nhập Phật pháp?  Những gì là y chỉ?  Những gì là phát tâm vô úy?  Những gì là phát tâm không nghi hoặc?  Những gì là bất tư nghì?  Những gì là xảo mật ngữ?  Những gì là xảo phân biệt trí?  Những gì là nhập tam muội?  Những gì là biến nhập?  Những gì là môn giải thoát?  Những gì là thần thông?  Những gì là minh?  Những gì là giải thoát?  Những gì là viên lâm?  Những gì là cung điện?  Những gì là sở nhạo?  Những gì là trang nghiêm?  Những gì là phát tâm bất động?  Những gì là chẳng bỏ tâm thâm đại?  Những gì là quán sát?  Những gì là thuyết pháp?  Những gì là thanh tịnh?  Những gì là ấn?  Những gì là trí quang chiếu?  Những gì là vô đẳng trụ?  Những gì là trí như biển nhập vô thượng bồ đề?  Những gì là như thật trụ?  Những gì là phát tâm đại thừa thệ nguyện như kim cang?  Những gì là đại phát khởi?  Những gì là cứu cánh đại sự?  Những gì là bất hoại tín?  Những gì là thọ ký?  Những gì là thiện căn hồi hướng?  Những gì là được trí huệ?  Những gì là phát tâm vô biên quảng đại?  Những gì là phục tạng?  Những gì là luật nghi?  Những gì là tự tại?  Những gì là vô ngại dụng?  Những gì là chúng sanh vô ngại dụng?  Những gì là quốc độ vô ngại dụng?  Những gì là pháp vô ngại dụng?  Những gì là thân vô ngại dụng?  Những gì là nguyện vô ngại dụng?  Những gì là thần thông vô ngại dụng?  Những gì là thần lực vô ngại dụng?  Những gì là lực vô ngại dụng?  Những gì là du hí?  Những gì là cảnh giới?  Những gì là lực?  Những gì là vô uý?  Những gì là pháp bất cộng?  Những gì là nghiệp?  Những gì là thân?  Những gì là nghiệp?  Những gì là ngữ?  Những gì là tịnh tu ngữ nghiệp?  Những gì là được  thủ hộ?  Những gì là thành xong việc lớn?  Những gì là tâm?  Những gì là phát tâm?  Những gì là tâm châu biến?  Những gì là chư căn?  Những gì là thân tâm?  Những gì là thâm tâm tăng thượng?  Những gì là siêng tu?  Những gì là quyết định giải?  Những gì là quyết định giải nhập thế giới?  Những gì là quyết định giải nhập chúng sanh giới?  Những gì là tập khí?  Những gì là thủ?  Những gì là tu?  Những gì là thành tựu Phật pháp?  Những gì là thối thất Phật pháp đạo?  Những gì là ly sanh đạo?  Những gì là quyết định pháp?  Những gì là xuất sanh Phật pháp đạo?  Những gì là đại trượng phu danh hiệu?  Những gì là đạo?  Những gì là vô lượng đạo?  Những gì là trợ đạo?  Những gì là tu đạo?  Những gì là trang nghiêm đạo?  Những gì là chân?  Những gì là tay?  Những gì là bụng?  Những gì là tạng?  Những gì là tâm?  Những gì là mặc giáp?  Những gì là khí tượng?  Những gì là đầu?  Những gì là mắt?  Những gì là tai?  Những gì là mũi?  Những gì là lưỡi?  Những gì là thân?  Những gì là ý?  Những gì là đi?  Những gì là đứng?  Những gì là ngồi?  Những gì là nằm?  Những gì là chỗ sở trụ?  Những gì là chỗ sở hành?  Những gì là quán sát?  Những gì là khắp quán sát?  Những gì là phấn tấn?  Những gì là sư tử hống?  Những gì là thanh tịnh thí?  Những gì là thanh tịnh giới?  Những gì là thanh tịnh nhẫn?  Những gì là thanh tịnh tinh tấn?  Những gì là thanh tịnh định?  Những gì là thanh tịnh huệ?  Những gì là thanh tịnh từ?  Những gì là thanh tịnh bi?  Những gì là thanh tịnh hỉ?  Những gì là thanh tịnh xả?  Những gì là nghĩa?  Những gì là pháp?  Những gì là phước đức trợ đạo cụ?  Những gì là trí huệ trợ đạo cụ?  Những gì là minh túc?  Những gì là cầu pháp?  Những gì là minh liễu pháp?  Những gì là tu hành pháp?  Những gì là ma?  Những gì là ma nghiệp?  Những gì là bỏ rời ma nghiệp?  Những gì là thấy Phật?  Những gì là Phật nghiệp?  Những gì là mạn nghiệp?  Những gì là trí nghiệp?  Những gì là ma nhiếp trì?  Những gì là Phật nhiếp trì?  Những gì là pháp nhiếp trì?  Những gì là công nghiệp trụ Đâu Suất thiên?  Cớ gì nơi Đâu Suất thiên cung mất?  Cớ gì hiện ở thai?  Những gì là hiện vi tế thú?  Cớ gì hiện sơ sanh?  Cớ gì hiện vi tiếu?  Cớ gì hiện đi bảy bước?  Cớ gì hiện đồng tử?  Cớ gì hiện ở nội cung?  Cớ gì hiện xuất gia?  Cớ gì hiện khổ hạnh?  Qua đến đạo tràng thế nào?  Ngồi đạo tràng thế nào?  Những gì là tướng kỳ đặc khi ngồi đạo tràng?  Cớ gì hiện hàng ma?  Những gì thành Như Lai lực?  Chuyển pháp luân thế nào?  Cớ gì nhân chuyển pháp luân được pháp bạch tịnh?  Cớ gì đức Như Lai Đẳng Chánh Giác hiện nhập niết bàn?
Lành thay Phật tử!  Những pháp như vậy xin ngài diễn nói cho."
Bấy giờ, Phổ Hiền Bồ Tát bảo Phổ Huệ và chư Bồ Tát rằng: "Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát có mười chỗ y chỉ:
Dùng bồ đề tâm là y chỉ, vì hằng chẳng quên mất.  Dùng thiện tri thứ làm y chỉ, vì hòa hiệp như một.  Dùng thiện căn làm y chỉ, vì tu tập tăng trưởng.  Dùng ba la mật làm y chỉ, vì tu hành đầy đủ.  Dùng nhất thiết pháp làm y chỉ, vì rốt ráo xuất ly.  Dùng đại nguyện làm y chỉ, vì tăng trưởng bồ đề.  Dùng các hạnh làm y chỉ, vì khắp đều thành tựu.  Dùng tất cả Bồ Tát làm y chỉ, vì đồng một trí huệ.  Dùng cúng dường chư Phật làm y chỉ, vì tín tâm thanh tịnh.  Dùng tất cả Như Lai làm y chỉ, vì như từ phụ dạy răn chẳng dứt.
Nếu chư Bồ Tát an trụ nơi pháp y chỉ này thời được là chỗ sở y đại trí vô thượng của Như Lai.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát có mười thứ tưởng kỳ đặc:
Nơi tất cả thiện căn tưởng là tự thiện căn.  Nơi tất cả thiện căn tưởng là chủng tử bồ đề.  Nơi tất cả chúng sanh tưởng là căn khí bồ đề.  Nơi tất cả nguyện tưởng là tự nguyện.  Nơi tất cả pháp tưởng xuất ly.  Nơi tất cả hạnh tưởng là tư hạnh.
Nơi tất cả pháp tưởng là Phật pháp.  Nơi tất cả pháp ngữ ngôn tưởng là đạo ngữ ngôn.  Nơi tất cả Phật tưởng là từ phụ.
Nơi tất cả Như Lai tưởng không hai.  Nếu chư Bồ Tát an trụ nơi mười pháp tưởng này thời được tưởng thiện xảo vô thượng.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát có mười thứ hạnh:
Tất cả chúng sanh hạnh, vì làm cho khắp được thành thục.  Tất cả cầu pháp hạnh, vì tu học tất cả.  Tất cả thiện căn hạnh, vì đều khiến tăng trưởng.  Tất cả tam muội hạnh, vì nhất tâm bất loạn.  Tất cả trí huệ hạnh, vì không chi chẳng biết rõ.  Tất cả tu tập hạnh, vì không chi chẳng tu được.
Tất cả phật sát hạnh, vì thảy đều trang nghiêm.  Tất cả thiện hữu hạnh, vì cung kính cúng dường.  Tất cả Như Lai hạnh, vì tôn trọng thừa sự.  Tất cả thần thông hạnh, vì biến hóa tự tại.
Nếu chư Bồ Tát an trụ nơi mười hạnh này thời được hạnh đại trí huệ vô thượng của Như Lai.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát có mười bậc thiện trí thức:
Thiện trí thức khiến an trụ bồ đề tâm.  Thiện trí thức khiến sanh thiện căn.  Thiện trí thức khiến thực hành các môn ba la mật.  Thiện trí thức khiến giải thoát tất cả pháp.  Thiện trí thức khiến thành thục tất cả chúng sanh.  Thiện trí thức khiến được quyết định biện tài.  Thiện trí thức khiến chẳng nhiễm trước tất cả thế gian.  Thiện trí thức khiến trong tất cả kiếp tu hành không nhàm mỏi.  Thiện trí thức khiến an trụ hạnh Phổ Hiền.  Thiện trí thức khiến nhập nơi trí của chư Phật đã nhập.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát có mười sự siêng tinh tấn:
Siêng tinh tấn giáo hóa tất cả chúng sanh.  Siêng tinh tấn thâm nhập tất cả pháp.  Siêng tinh tấn nghiêm tịnh tất cả thế giới.  Siêng tinh tấn tu hành tất cả sở học của Bồ Tát.  Siêng tinh tấn diệt trừ tất cả ác của chúng sanh.  Siêng tinh tấn ngăn dứt tất cả ba ác đạo khổ.  Siêng tinh tấn dẹp pháp tất cả quân ma.  Siêng tinh tấn nguyện vì tất cả chúng sanh làm mắt thanh tịnh.  Siêng tinh tấn cúng dường tất cả chư Phật.
Siêng tinh tấn khiến tất cả Như Lai đều hoan hỷ.
Nếu chư Bồ Tát an trụ nơi mười pháp siêng tinh tấn này thời được đầy đủ tinh tấn ba la mật vô thượng của Như Lai.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát có mười thứ tâm được an ổn:
Mình trụ bồ đề tâm cũng phải khiến người trụ bồ đề tâm, nên tâm được an ổn.  Mình rốt ráo rời giận hờn đấu tranh cũng phải khiến người rời giận hờn đấu tranh, nên tâm được an ổn.
Mình rời pháp phàm ngu cũng khiến người rời pháp phàm ngu, nên tâm được an ổn.  Mình siêng tu thiện căn cũng khiến người siêng tu thiện căn, nên tâm được an ổn.  Mình trụ đạo ba la mật cũng khiến người trụ đạo ba la mật, nên tâm được an ổn.  Mình sanh tại nhà Phật cũng khiến người sanh tại nhà Phật, nên tâm được an ổn.  Mình thâm nhập pháp chân thật không tự tánh cũng khiến người nhập pháp chân thật không tự tánh, nên tâm được an ổn.  Mình không phỉ báng tất cả Phật pháp, cũng khiến người không phỉ báng tất cả Phật pháp, nên tâm được an ổn.  Mình viên mãn nhất thiết trí bồ đề nguyện cũng khiến người viên mãn nhất thiết trí bồ đề nguyện, nên tâm được an ổn.  Mình thâm nhập trí tạng vô tận của tất cả Như Lai cũng khiến người nhập trí tạng vô tận của tất cả Như Lai, nên tâm được an ổn.
Nếu chư Bồ Tát an trụ nơi tâm an ổn này thời được sự an ổn đại trí vô thượng của Như Lai.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát có mười cách thành tựu chúng sanh:
Dùng bố thí để thành tựu chúng sanh.  Dùng sắc thân để thành tựu chúng sanh.  Dùng thuyết pháp để thàng tựu chúng sanh.  Dùng đồng hạnh để thành tựu chúng sanh.  Dùng không nhiễm trước để thành tựu chúng sanh.  Dùng khai thị Bồ Tát hạnh để thành tựu chúng sanh.  Dùng thị hiện rõ ràng tất cả thế giới để thành tựu chúng sanh.  Dùng thị hiện oai đức lớn của Phật pháp để thành tựu chúng sanh.  Dùng những thần thông biến hiện để thành tựu chúng sanh.  Dùng những phương tiện vi mật thiện xảo để thành tựu chúng sanh.
Bồ Tát dùng mười pháp này để thành tựu chúng sanh giới.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát có mười loại giới:
Giới chẳng bỏ bồ đề tâm.  Giới xa lìa bậc nhị thừa.  Giới quán sát lợi ích tất cả chúng sanh.  Giới khiến tất cả chúng sanh an trụ nơi Phật pháp.  Giới tu tất cả sở học của Bồ Tát.  Giới nơi tất cả pháp vô sở đắc.  Giới đem tất cả thiện căn hồi hướng bồ đề.  Giới chẳng tham trước tất cả thân Như Lai.  Giới tư duy tất cả pháp lìa nhiễm trước.  Giới chư căn luật nghi.
Nếu chư Bồ Tát an trụ nơi giới này thời được giới quảng đại ba la mật vô thượng của Như Lai.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát có mười pháp thọ ký, Bồ Tát do đây mà biết mình thọ ký:
Dùng ý thù thắng phát bồ đề tâm, tự biết thọ ký.  Trọn chẳng nhàm bỏ hạnh Bồ Tát, tự biết thọ ký.
Trụ tất cả kiếp thực hành hạnh Bồ Tát, tự biết thọ ký.  Tu tất cả Phật pháp, tự biết thọ ký.  Nơi tất cả Phật giáo một bề thâm tín, tự biết thọ ký.  Tu tất cả thiện căn đều khiến thành tựu, tự biết thọ ký.  Đặt tất cả chúng sanh nơi Phật bồ đề, tự biết thọ ký.  Với tất cả thiện trí thức hòa hiệp không hai, tự biết thọ ký.  Nơi tất cả thiện trí thức tưởng là Phật, tự biết thọ ký.  Hằng siêng thủ hộ bổn nguyện bồ đề, tự biết thọ ký.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát có mười pháp nhập Bồ Tát:
Nhập bổn nguyện.   Nhập hạnh.  Nhập tu.  Nhập ba la mật.  Nhập thành tựu.  Nhập sai biệt nguyện.  Nhập các thứ trí giải.
Nhập trang nghiêm Phật độ.  Nhập thần lực tự tại.  Nhập thị thiện thọ sanh.
Bồ Tát dùng mười pháp này nhập khắp tam thế tất cả Bồ Tát.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát có mười pháp nhập Như Lai:
Nhập vô biên thành chánh giác.  Nhập vô biên chuyển pháp luân.  Nhập vô biên pháp phương tiện.  Nhập vô biên âm thanh sai biệt.  Nhập vô biên điều phục chúng sanh.  Nhập vô biên thần lực tự tại.  Nhập vô biên những thân sai biệt.  Nhập vô biên tam muội.  Nhập vô biên lực vô úy.  Nhập vô biên thị hiện niết bàn.
Bồ Tát dùng mười pháp này nhập khắp tam thế tất cả Như Lai.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát có mười pháp nhập chúng sanh hạnh:
Nhập tất cả chúng sanh quá khứ hạnh.  Nhập tất cả chúng sanh vị lai hạnh.  Nhập tất cả chúng sanh hiện tại hạnh.  Nhập tất cả chúng sanh bất thiện hạnh.  Nhập tất cả chúng sanh tâm hạnh.  Nhập tất cả chúng sanh giải hạnh.  Nhập tất cả chúng sanh phiền não tập khí hạnh.  Nhập tất cả chúng sanh giáo hóa điều phục thời phi thời hạnh.  Bồ Tát dùng pháp này vào khắp hạnh của tất cả chúng sanh. 
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát có mười cách nhập thế giới:
Nhập thế giới nhiễm.  Nhập thế giới tịnh.  Nhập thế giới nhỏ.  Nhập thế giới lớn.  Nhập thế giới trong vi trần.  Nhập thế giới vi tế.  Nhập thế giới úp.  Nhập thế giới ngửa.  Nhập thế giới có Phật.  Nhập thế giới không Phật.
Bồ Tát dùng đây vào khắp tất cả thế giới ở mười phương.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát có mười thứ nhập kiếp:
Nhập kiếp quá khứ.   Nhập kiếp vị lai.  Nhập kiếp hiệb tại.  Nhập kiếp đếm được.  Nhập kiếp không đếm được.  Nhập kiếp đếm được tức là kiếp không đếm được.  Nhập kiếp không đếm được tức là kiếp đếm được.  Nhập tất cả kiếp tức là phi kiếp.
Nhập phi kiếp tức là tất cả kiếp.  Nhập tất cả kiếp tức một niệm.  Bồ Tát dùng pháp này vào khắp tất cả kiếp.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát có mười pháp nói tam thế:
Quá khứ thế nói quá khứ thế.  Quá khứ thế nói vị lai thế.  Quá khứ thế nói hiện tại thế.  Vị lai thế nói quá khứ thế.  Vị lai thế nói hiện tại thế.  Vị lai thế nói vô tận.  Hiện tại thế nói quá khứ thế.  Hiện tại thế nói vị lai thế.  Hiện tại thế nói bình   đẳng.  Hiện tại thế nói tam thế tức một niệm.
Bồ Tát dùng pháp này nói khắp tam thế.
Đại Bồ Tát có mười pháp biết tam thế:
Biết những an lập.  Biết những ngữ ngôn.  Biết những luận nghi.  Biết những quy tắc.  Biết những xưng tán.  Biết những chế lệnh.  Biết kia giả danh.  Biết kia vô tận.  Biết kia tịch diệt.  Biết tất cả không.
Bồ Tát dùng đây biết khắp tất cả những pháp tam thế.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát phát mười thứ tâm không mỏi nhọc nhàm chán:
Cúng dường tất cả chư Phật tâm không mỏi nhàm.  Gần gũi tất cả thiện trí thức tâm không mỏi nhàm.  Cầu tất cả pháp tâm không mỏi nhàm.  Nghe chánh pháp tâm không mỏi nhàm.
Tuyên nói chánh pháp tâm không mỏi nhàm.  Giáo hóa điều phục tất cả chúng sanh tâm không mỏi nhàm.  Đặt tất cả chúng sanh nơi Phật bồ đề tâm không mỏi nhàm.  Nơi mỗi mỗi thế giới trải qua bất khả thuyết bất khả thuyết kiếp thực hành Bồ Tát hạnh tâm không mỏi nhàm.  Du hành tất cả thế giới tâm không mỏi nhàm.  Quán sát tư duy tất cả Phật pháp tâm không mỏi nhàm.
Nếu chư Bồ Tát an trụ pháp này thời được đại trí vô thượng không mỏi nhàm của Như Lai.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát có mười thứ sai biệt trí:
Trí sai biệt biết chúng sanh.  Trí sai biệt biết các căn.  Trí sai biệt biết nghiệp báo.  Trí sai biệt biết thọ sanh.  Trí sai biệt biết thế giới.  Trí sai biệt biết pháp giới.  Trí sai biệt biết chư Phật.  Trí sai biệt biết các pháp.  Trí sai biệt biết tam thế.
Trí sai biệt biết tất cả đạo ngữ ngôn.  Nếu chư Bồ Tát an trụ nơi pháp này thời được trí sai biệt quảng đại vô thượng của Như Lai.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát có mười thứ đà la ni:
Văn trì đà la ni, vì trì tất cả pháp chẳng quên mất.  Tu hành đà la ni, vì như thật khéo quán tất cả pháp.  Tư duy đà la ni, vì biết rõ tánh của tất cả pháp.  Pháp quang minh đà la ni, vì chiếu tất cả tư nghì Phật pháp.  Tam muội đà la ni, vì ở khắp chỗ hiện tại tất cả Phật nghe chánh pháp tâm chẳng loạn.  Viên âm đà la ni, vì hiểu rõ bất tư nghì âm thanh ngữ ngôn.
Tam thế đà la ni, vì diễn nói tam thế những Phật pháp bất tư nghì.  Chủng chủng biện tài đà la ni, vì diễn nói vô biên những Phật pháp.  Xuất sanh vô ngại nhĩ đà la ni, vì đều có thể nghe được pháp của bất khả thuyết chư Phật đã nói.  Nhất thiết Phật pháp đà la ni, vì an trụ nơi lực vô uý của Như Lai.
Nếu chư Bồ Tát muốn được đà la ni này phải siêng tu học.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát nói mười Phật:
Thành chánh giác Phật.  Nguyện Phật.  Nghiệp báo Phật.  Trụ trì Phật.  Niết bàn Phật.  Pháp giới Phật.  Tâm Phật.  Tam muội Phật.  Bổn tánh Phật.  Tùy nhạo Phật.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát phát mười tâm Phổ Hiền:
Phát tâm đại từ, vì cứu hộ tất cả chúng sanh.  Phát tâm đại bi, vì chịu khổ thay cho tất cả chúng sanh.  Phát tâm thí tất cả, vì đều xả bỏ tất cả sở hữu.  Phát tâm nhớ nhất thiết trí làm trước nhất, vì thích cầu tất cả Phật pháp.  Phát tâm công đức trang nghiêm, vì học tất cả hạnh Bồ Tát.  Phát tâm như kim cang, vì tất cả chỗ thọ sanh không quên mất.  Phát tâm như biển, vì tất cả pháp trắng trong đều chảy vào.  Phát tâm như tu di sơn, vì tất cả ác ngôn đều nhẫn thọ.  Phát âm an ổn, vì ban sự vô úy cho tất cả chúng sanh.  Phát tâm bát nhã ba la mật cứu cánh, vì khéo quán sát tất cả pháp vô sở hữu.
Nếu chư Bồ Tát an trụ tâm này thời mau được thành tựu trí thiện xảo của Phổ Hiền.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát có mười Phổ Hiền hạnh pháp:
Phổ Hiền hạnh pháp nguyện trụ tất cả kiếp vị lai.  Phổ Hiền hạnh pháp nguyện cúng dường cung kính tất cả Phật vị lai.
Phổ Hiền hạnh phát nguyện an trí tất cả chúng sanh nơi hạnh của Phổ Hiền Bồ Tát.  Phổ Hiền hạnh pháp nguyện chứa nhóm tất cả thiện căn.  Phổ Hiền hạnh pháp nguyện nhập tất cả ba la mật.  Phổ Hiền hạnh pháp nguyện đầy đủ tất cả Bồ Tát hạnh.  Phổ Hiền hạnh pháp nguyện trang nghiêm tất cả thế giới.  Phổ Hiền hạnh pháp nguyện sanh tất cả cõi Phật.  Phổ Hiền hạnh pháp nguyện khéo quán sát tất cả pháp.  Phổ Hiền hạnh pháp nguyện nơi tất cả Phật quốc độ thành vô thượng bồ đề.
Nếu chư Bồ Tát siêng tu phàp này thời mau được viên mãn hạnh nguyện Phổ Hiền.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát dùng mười pháp quán sát chúng sanh mà khởi đại bi:
Quán sát chúng sanh không nương không dựa mà khởi đại bi.
Quán sát chúng sanh tánh chẳng điều thuận mà khởi đại bi.
Quán sát chúng sanh nghèo không căn lành mà khởi đại bi.
Quán sát chúng sanh mãi mãi ngủ mê mà khởi đại bi.  Quán sát chúng sanh làm pháp bất thiện mà khởi đại bi.  Quán sát chúng sanh bị trói bởi dục phược mà khởi đại bi.  Quán sát chúng sanh chìm biển sanh tử mà khởi đại bi.  Quán sát chúng sanh mãi mang bệnh khổ mà khởi đại bi.  Quán sát chúng sanh không muốn pháp lành mà khởi đại bi.  Quán sát chúng sanh mất những Phật pháp mà khởi đại bi.
Bồ Tát hằng dùng tâm này quán sát chúng sanh.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát có mười nhân duyên phát bồ đề tâm:
Vì giáo hóa điều phục tất cả chúng sanh mà phát bồ đề tâm.
Vì trừ diệt tất cả khổ cho chúng sanh mà phát bồ đề tâm.
Vì ban cho tất cả chúng sanh đầy đủ sự an lạc mà phát bồ đề tâm.  Vì dứt sự ngu si của tất cả chúng sanh mà phát bồ đề tâm.  Vì ban Phật trí cho tất cả chúng sanh mà phát bồ đề tâm.  Vì cung kính cúng đường tất cả chư Phật mà phát bồ đề tâm.  Vì thuận theo Phật giáo cho chư Phật hoan hỷ mà phát bồ đề tâm.  Vì thấy sắc thân tướng hảo của tất cả Phật mà phát bồ đề tâm.  Vì nhập trí huệ quảng đại của tất cả Phật mà phát bồ đề tâm.  Vì hiển hiện lực vô úy của tất cả Phật mà phát bồ đề tâm.
Nếu Bồ Tát phát tâm vô thượng bồ đề để được ngộ nhập nhất thiết chủng trí, lúc thân cận cúng dường thiện trí thức phải khởi mười tâm:
Khởi tâm cung cấp hầu hạ.  Tâm hoan hỷ.  Tâm không trái.
Tâm tuỳ thuận.  Tâm không cầu lạ.  Tâm nhất tướng.  Tâm đồng thiện căn.  Tâm đồng nguyện.   Tâm Như Lai.  Tâm đồng viên mãn hạnh.
Nếu đại Bồ Tát đã khởi tâm như vậy thời được mười thứ thanh tịnh:
Thâm tâm thanh tịnh, vì đến nơi rốt ráo không mất hư.  Sắc thân thanh tịnh, vì tùy sở nghi để thị hiện.  Âm thanh thanh tịnh, vì rõ thấu tất cả ngữ ngôn.  Biện tài thanh tịnh, vì khéo nói vô biên Phật pháp.  Trí huệ thanh tịnh, vì bỏ rời tất cả tối ngu si.  Thọ sanh thanh tịnh, vì đầy đủ sức tự tại của Bồ Tát.
Quyến thuộc thanh tịnh, vì thành tựu những thiện căn cho các chúng sanh đồng hạnh thuở quá khứ.  Quả báo thanh tịnh, vì trừ diệt tất cả những nghiệp chướng.  Đại nguyện thanh tịnh, vì cùng chư Bồ Tát tánh không hai.  Công hạnh thanh tịnh, vì dùng hạnh Phổ Hiền mà xuất ly.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát có mười thứ ba la mật:
Thí ba la mật, vì xả bỏ tất cả sở hữu.  Giới ba la mật, vì thanh tịnh Phật giới.  Nhẫn ba la mật, vì an trụ Phật nhẫn.  Tinh tấn ba la mật, vì tất cả chỗ làm chẳng thối chuyển.  Thiền ba la mật, vì nhớ một cảnh.  Bát nhã ba la mật, vì như thật quán sát tất cả pháp.  Trí ba la mật, vì nhập Phật lực.  Nguyện ba la mật, vì đầy đủ những đại nguyện Phổ Hiền.  Thần thông ba la mật, vì thị hiện tất cả công dụng tự tại.  Pháp ba la mật, vì sao khắp tất cả Phật pháp.
Nếu chư Bồ Tát an trụ pháp này thời được đầy đủ đại trí ba la mật vô thượng của Như Lai.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát có mười trí tùy giác:
Trí tùy giác tất cả thế giới vô lượng sai biệt.  Trí tuỳ giác tất cả chúng sanh giới bất tư nghì.  Trí tùy giác tất cả pháp, một vào nhiều pháp, nhiều vào một pháp.  Trí tuỳ giác tất cả pháp giới rộng lớn.  Trí tùy giác tất cả hư không giới rốt ráo.  Trí tùy giác tất cả thế giới nhập quá khứ thế.  Trí tuỳ giác tất cả thế giới nhập vị lai thế.  Trí tùy giác tất cả thế giới nhập hiện tại thế.  Trí tuỳ giác tất cả Như Lai vô lượng hạnh nguyện đều ở nơi một trí mà được viên mãn.  Trí tùy giác tam thế chư Phật đều đồng một hạnh mà được xuất ly.
Nếu chư Bồ Tát an trụ pháp này thời được tất cả pháp tự tại quang minh, sở nguyện đều viên mãn, trong khoảng một niệm đều hay hiểu rõ tất cả Phật pháp thành đẳng chánh giác.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát có mười điều chứng trí:
Biết tất cả pháp một tướng.  Biết tất cả pháp vô lượng tướng.
Biết tất cả pháp tại một niệm.  Biết tất cả chúng sanh tâm hành vô ngại.  Biết tất cả chúng sanh các căn bình đẳng.
Biết tất cả chúng sanh phiền não tập khí hiện hành.  Biết tất cả chúng sanh tâm sử hiện hành.  Biết tất cả chúng sanh thiện và bất thiện hiện hành.  Biết tất cả Bồ Tát nguyện hạnh tự tại trụ trì biến hóa.  Biết tất cả Như Lai đầy đủ thập lực thành đẳng chánh giác.
Nếu chư Bồ Tát an trụ pháp này thời được tất cả phương tiện thiện xảo.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát có mười thứ năng lực:
Năng lực nhập tự tánh của tất cả pháp.  Năng lực nhập tất cả pháp như hóa.  Năng lực nhập tất cả pháp như huyễn.  Năng lực nhập tất cả pháp đều là Phật pháp.  Năng lực nơi tất cả pháp không nhiễm trước.  Năng lực nơi tất cả pháp rất hiểu rõ.  Năng lực nơi tất cả thiện trí thức hằng chẳng bỏ rời tâm tôn trọng.  Năng lực làm cho tất cả thiện căn thuận đến trí vương vô thượng.  Năng lực nơi tất cả Phật pháp thâm tín chẳng hủy báng.  Năng lực làm cho nhất thiết trí tâm bất thối thiện xảo. 
Nếu chư Bồ Tát an trụ pháp này thời đủ những năng lực vô thượng của Như Lai.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát có mười thứ bình đẳng:
Nơi tất cả chúng sanh bình đẳng.  Tất cả pháp bình đẳng.  Tất cả cõi bình đẳng.  Tất cả thâm tâm bình đẳng.  Tất cả thiện căn bình đẳng.  Tất cả Bồ Tát bình đẳng.  Tất cả nguyện bình đẳng.  Tất cả ba la mật bình đẳng.  Tất cả hạnh bình đẳng.  Tất cả Phật bình đẳng.
Nếu chư Bồ Tát an trụ pháp này thời được pháp vô thượng bình đẳng của chư Phật.
Chư Phật tử! Đại Bồ Tát có mười câu thật nghĩa Phật pháp:
Tất cả pháp chỉ có danh.  Tất cả pháp dường như huyễn.  Tất cả pháp dường như bóng.  Tất cả pháp chỉ duyên khởi.  Tất cả pháp nghiệp thanh tịnh.  Tất cả pháp chỉ văn tự làm ra.  Tất cả pháp thực tế.  Tất cả pháp vô tướng.  Tất cả pháp đệ nhất nghĩa.  Tất cả pháp là pháp giới.
Nếu chư Bồ Tát an trụ pháp này thời khéo nhập nhất thiết chủng trí vô thượng chân thật nghĩa.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát nói mười pháp:
Nói pháp thậm thâm.  Nói pháp quảng đại.  Nói các loại pháp.  Nói pháp nhất thiết trí.  Nói pháp tùy thuận ba la mật.  Nói pháp xuất sanh Như Lai lực.  Nói pháp tam thế tương ưng.  Nói pháp làm cho Bồ Tát chẳng thối.  Nói pháp tán thán Phật công đức.  Nói pháp tất cả Bồ Tát học tất cả Phật bình đẳng, tương ưng với cảnh giới của tất cả Như Lai.
Nếu chư Bồ Tát an trụ pháp này thời được pháp xảo thuyết vô thượng của Như Lai.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát có mười pháp trì: 
Trì tất cả phước đức thiện căn đã chứa nhóm.  Trì pháp của tất cả Như Lai diễn thuyết.  Trì tất cả ví dụ.  Trì môn lý thú của tất cả pháp.  Trì tất cả môn xuất sanh đà la ni.  Trì tất cả trừ nghi hoặc.  Trì pháp thành tựu tất cả Bồ Tát.  Trì môn bình đẳng tam muội của tất cả Như Lai nói.  Trì môn chiếu minh của tất cả pháp.  Trì năng lực thần thông du hí của tất cả chư Phật.
Nếu chư Bồ Tát an trụ nơi pháp này thời được năng lực trụ trì đại trí vô thượng của Như Lai.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát có mười thứ biện tài:
Biện tài vô phân biệt nơi tất cả pháp.  Biện tài vô sở tác nơi tất cả pháp.  Biện tài vô sở trước nơi tất cả pháp.  Biện tài thấu rõ tánh không nơi tất cả pháp.  Biện tài không nghi tối nơi tất cả pháp.  Biện tài Phật gia bị nơi tất cả pháp.  Biện tài tự giác ngộ nơi tất cả pháp.  Biện tài văn cú sai biệt thiện xảo nơi tất cả pháp.  Biện tài nói chân thật nơi tất cả pháp.  Biện tài tuỳ theo tâm của tất cả chúng sanh làm cho họ hoan hỷ.
Nếu chư Bồ Tát an trụ pháp này thời được biện tài xảo diệu vô thượng của Như Lai.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát có mười thứ tự tại:
Tự tại giáo hóa điều phục tất cả chúng sanh.  Tự tại chiếu khắp tất cả pháp.  Tự tại tu tất cả hạnh thiện căn.  Tự tại trí quảng đại.  Tự tại cấm giới vô sở ý.  Tự tại tất cả thiện căn hồi hướng bồ đề.  Tự tại tinh tấn bất thối chuyển.  Tự tại trí huệ dẹp phá tất cả chúng ma.  Tự tại tuỳ sở thích khiến phát tâm bồ đề.  Tự tại tùy sở ưng hóa hiện thành chánh giác.
Nếu chư Bồ Tát an trụ nơi pháp này thời được tự tại đại trí vô thượng của Như Lai.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát có mười pháp vô trước:
Vô trước nơi tất cả thế giới.  Vô trước nơi tất cả chúng sanh.  Vô trước nơi tất cả pháp.  Vô trước nơi tất cả sở tác.  Vô trước nơi tất cả thiện căn.  Vô trước nơi tất cả chỗ thọ sanh.  Vô trước nơi tất cả nguyện.  Vô trước nơi tất cả hạnh.  Vô trước nơi tất cả Bồ Tát.  Vô trước nơi tất cả Phật.
Nếu chư Bồ Tát an trụ nơi pháp này thời có thể mau chuyển tất cả  tưởng được trí huệ thanh tịnh vô thượng.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát có mười thứ tâm bình đẳng:
Tâm bình đẳng chứa nhóm tất cả công đức.  Tâm bình đẳng phát tất cả nguyện sai biệt.  Tâm bình đẳng nơi tất cả thân chúng sanh.  Tâm bình đẳng nơi nghiệp báo của tất cả chúng sanh.  Tâm bình đẳng nơi tất cả pháp.  Tâm bình đẳng nơi tất cả quốc độ tịnh uế.  Tâm bình đẳng nơi tất cả trí giải của chúng sanh.  Tâm bình đẳng nơi tất cả hạnh không phân biệt.  Tâm bình đẳng nơi lực và vô uý của tất cả Phật.  Tâm bình đẳng nơi trí huệ của tất cả Như Lai.
Nếu chư Bồ Tát an trụ trong đây thời được tâm đại bình đẳng vô thượng của Như Lai.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát có mười pháp xuất sanh trí huệ:
Biết tất cả chúng sanh tri giải xuất sanh trí huệ.  Biết tất cả cõi Phật nhiều thứ sai biệt xuất sanh trí huệ.  Biết tất cả pháp một tánh, nhiều tánh, trụ rộng lớn xuất sanh trí huệ.  Biết tất cả nhiều loại thân xuất sanh trí huệ.  Biết tất cả thế gian điên đảo vọng tưởng đều vô sở trước xuất sanh trí huệ.  Biết tất cả pháp rốt ráo đều do một đạo xuất ly xuất sanh trí huệ.  biết Như Lai thần lực hay nhập tất cả pháp giới xuất sanh trí huệ.  Biết tam thế tất cả chúng sanh Phật chủng không dứt xuất sanh trí huệ.
Nếu chư Bồ Tát an trụ pháp này thời nơi tất cả pháp đều hiểu thấu tất cả.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát có mười pháp biến hóa:
Tất cả chúng sanh biến hóa.  Tất cả thân biến hóa.  Tất cả cõi biến hóa.  Tất cả cúng dường biến hóa.  Tất cả âm thanh biến hóa.  Tất cả hạnh nguyện biến hóa.  Tất cả giáo hóa điều phục chúng sanh biến hóa.  Tất cả thành chánh giác biến hóa.  Tất cả thuyết pháp biến hóa.  Tất cả gia trì biến hóa.
Nếu chư Bồ Tát an trụ pháp này thời được đầy đủ tất cả pháp biến hóa vô thượng.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát có mười pháp lực trì:
Phật lực trì.  Pháp lực trì.  Chúng sanh lực trì.  Nghiệp lực trì.  Hạnh lực trì.  Nguyện lực trì.  Cảnh giới lực trì.  Thời lực trì.  Thiện lực trì.  Trí lực trì.
Nếu chư Bồ Tát an trụ pháp này thời nơi tất cả pháp được lực trì tự tại vô thượng.

(Hán bộ quyển 54)

Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát có mười pháp đại hân ủy:
Chư Bồ Tát phát tâm như vầy:  Tột đời vị lai có bao nhiêu chư Phật xuất thế tôi đều sẽ được theo gần hầu hạ cho Phật hoan hỷ.  Suy nghĩ như vậy tâm rất hân ủy.  Lại nghĩ rằng:  Chư Phật đó xuất thế, tôi đều đem đồ cúng dường vô thượng mà cung kính dâng lên chư Phật.  Suy nghĩ như vậy tâm rất hân ủy.  Lại nghĩ rằng:  Tôi ở chỗ chư Phật, lúc cúng dường, chư Như Lai đó tất dạy chánh pháp cho tôi, tôi đều dùng thâm tâm cung kính nghe nhận, tu hành đúng theo lời Phật dạy, nơi bậc Bồ Tát tất được đã sanh, nay sanh, sẽ sanh.  Suy nghĩ như vậy tâm rất hân ủy.  Lại nghĩ rằng:  Tôi phải nơi bất khả thuyết bất khả thuyết kiếp thực hành Bồ Tát hạnh.  Thường cùng tất cả chư Phật Bồ Tát ở chung.  Suy nghĩ như vậy tâm rất hân ủy.  Lại nghĩ rằng:  Tôi thuở xưa chưa phát tâm vô thượng bồ đề có những bố úy:  sợ chẳng đủ nuôi sống, sợ tiếng xấu, sợ chết, sợ đọa ác thú, sợ oai ức của đại chúng.  Từ khi một phen phát tâm thời đều xa lìa chẳng còn kinh sợ.  Tất cả chúng ma và các ngoại đạo không phá hoại được.  Suy nghĩ như vậy tâm rất hân ủy.  Lại nghĩ rằng:  Tôi sẽ làm cho tất cả chúng sanh thành vô thượng bồ đề.  Thành bồ đề rồi, tôi sẽ ở nơi đức Phật đó tu hạnh Bồ Tát, trọn đời dùng lòng tin lớn sắm sửa những đồ cúng dường chư Phật để dâng cúng.  Sau  khi chư Phật nhập diệt, tôi đều dựng vô lượng tháp để cúng dường xá lợi và thọ trì thủ hộ pháp của Phật để lại.  Suy nghĩ như vậy tâm rất hân ủy.  Lại nghĩ rằng:  Mười phương có bao nhiêu thế giới, tôi phải đều dùng đồ vô thượng trang nghiêm để trang nghiêm, đều làm cho đầy đủ các thú kỳ diệu bình đẳng thanh tịnh.  Lại dùng những sức đại thần thông trụ trì chấn động quang minh chói sáng cùng khắp tất cả.  Suy nghĩ như vậy tâm rất hân ủy.  Lại nghĩ rằng:  Tôi phải dứt nghi hoặc cho tất cả chúng sanh, làm sạch tất cả dục lạc của tất cả chúng sanh, mở tâm ý cho tất cả chúng sanh, diệt phiền não cho tất cả chúng sanh, đóng cửa ác đạo cho tất cả chúng sanh, mở cửa thiện đạo cho tất cả chúng sanh, phá hắc ám cho tất cả chúng sanh, ban quang minh cho tất cả chúng sanh, khiến tất cả chúng sanh rời những nghiệp ma, khiến tất cả chúng sanh đến chỗ an ổn.  Suy nghĩ như vậy tâm rất hân ủy.  Lại nghĩ rằng:  Chư Phật Như Lai như hoa ưu đàm khó gặp được, trong vô lượng kiếp chẳng được thấy một lần, tôi phải ở đời vị lai muốn thấy Như Lai thời bèn được thấy.  Chư Phật Như Lai thường chẳng bỏ tôi, hằng ở chỗ tôi cho tôi được thấy, thuyết pháp cho tôi không dứt mất, đã nghe pháp rồi tâm ý tôi thanh tịnh, xa rời siểm khúc, chất trực không hư ngụy, trong mỗi niệm thường thấy chư Phật.  Suy nghĩ như vậy tâm rất hân ủy.  Đại Bồ Tát lại nghĩ rằng:  Tôi thuở vị lai sẽ được thành Phật, do thần lực của Phật nơi tất cả thế giới vì tất cả chúng sanh đều riêng thị hiện thành đẳng chánh giác, thanh tịnh vô úy đại sư tử hống, do bốn đại nguyện cùng khắp pháp giới, đánh đại pháp cổ, mưa đại pháp vũ, làm đại pháp thí.  Trong vô lượng kiếp thường diễn chánh pháp, đại bi nhiếp trì, thân ngữ ý ba nghiệp không nhàm mỏi.  Suy nghĩ như vậy tâm rất hân uỷ. 
Đây là mười pháp đại hân uỷ của đại Bồ Tát.  Nếu chư Bồ Tát an trụ pháp này thời được trí huệ đại hân ủy vô thượng thành đẳng chánh giác.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát có mười điều thâm nhập Phật pháp:
Nhập tất cả thế giới đời quá khứ.  Nhập tất cả thế giới đời vị lai.  Nhập tất cả thế giới đời hiện tại, thế giới hạnh, thế giới thuyết, thế giới thanh tịnh.  Nhập các thứ tánh của tất cả thế giới.  Nhập các thứ nghiệp báo của tất cả chúng sanh.  Nhập các thứ hạnh của tất cả Bồ Tát.  Biết quá khứ tất cả Phật thứ đệ.  Biết vị lai tất cả Phật thứ đệ.  Biết hiện tại thập phương hư không pháp giới tất cả Phật, quốc độ, chúng hội, thuyết pháp, điều phục.  Biết thế gian pháp, thanh văn pháp, độc giác pháp, Bồ Tát pháp, Như Lai pháp, dầu biết các pháp đều không phân biệt mà thuyết các pháp, vì đều nhập pháp giới mà không sở nhập, như chỗ thuyết pháp không hề thủ trước.
Nếu chư Bồ Tát an trụ nơi pháp này thời được nhập nơi tánh thậm thâm đại trí huệ vô thượng chánh đẳng chánh giác.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát có mười pháp y chỉ, Bồ Tát nương ở nơi đây mà thực hành hạnh Bồ Tát:
Y chỉ cúng dường tất cả chư Phật thực hành hạnh Bồ Tát.  Y chỉ điều phục tất cả chúng sanh thực hành hạnh Bồ Tát.  Y chỉ gần gũi tất cả thiện hữu thực hành hạnh Bồ Tát.  Y chỉ chứa nhóm tất cả thiện căn thực hành hạnh Bồ Tát.  Y chỉ nghiêm tịnh tất cả cõi Phật thực hành hạnh Bồ Tát.  Y chỉ chẳng bỏ tất cả chúng sanh thực hành hạnh Bồ Tát.  Y chỉ thâm nhập tất cả ba la mật thực hành hạnh Bồ Tát.  Y chỉ đầy đủ tất cả Bồ Tát nguyện thực hành hạnh Bồ Tát.  Y chỉ vô lượng bồ đề tâm thực hành hạnh Bồ Tát.  Y chỉ tất cả Phật bồ đề thực hành hạnh Bồ Tát. 
Bồ Tát nương nơi đây để thực hành hạnh Bồ Tát.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát có mùi pháp phát tâm vô úy:
Diệt tất cả nghiệp chướng ngại, phát tâm vô úy.  Sau khi Phật diệt độ, hộ trì chánh pháp, phát tâm vô uý.  Hàng phục tất cả ma, phát tâm vô úy.  Chẳng tiếc thân mạng, phát tâm vô úy.  Xô dẹp tất cả ngoại đạo tà luận, phát tâm vô úy.  Khiến tất cả chúng sanh hoan hỷ, phát tâm vô úy.  Khiến tất cả chúng hội đều hoan hỷ, phát tâm vô úy.  Điều phục tất cả thiên, long, bát bộ, phát tâm vô úy.  Rời bậc nhị thừa nhập pháp thậm thâm, phát tâm vô úy.  Trong bất khả thuyết bất khả thuyết kiếp thực hành hạnh Bồ Tát, tâm không mỏi nhàm, phát tâm vô úy.
Nếu chư Bồ Tát an trụ pháp  này thời được tâm vô sở úy đại trí vô thượng của Như Lai.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát phát mười tâm không nghi, nơi tất cả Phật pháp tâm không nghi lầm:
Đại Bồ Tát phát tâm như vầy:  Tôi sẽ dùng bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí huệ, từ, bi, hỉ, xả, nhiếp tất cả chúng sanh.  Lúc phát tâm này quyết định không nghi.  Lại nghĩ rằng:  Vị lai chư Phật xuất thế, tôi sẽ thừa sự cúng dường tất cả.  Lúc phát tâm này quyết định không nghi.  Lại nghĩ rằng: Tôi sẽ dùng các thứ lưới quang minh kỳ diệu cùng khắp trang nghiêm tất cả thế giới.  Lúc phát tâm này quyết định không nghi.  Lại nghĩ rằng:  Tôi sẽ tột kiếp vị lai tu hạnh Bồ Tát, vô số, vô lượng, vô biên, vô đẳng, bất khả sổ, bất khử xưng, bất khả tư, bất khả lượng, bất khả thuyết, bất khả thuyết bất khả thuyết, quá những toán số, rốt ráo pháp giới hư không giới tất cả chúng sanh, tôi sẽ dùng pháp giáo hóa điều phục vô thượng mà thành thục họ.  Lúc phát tâm này quyết định không nghi.  Lại nghĩ rằng:  Tôi sẽ tu Bồ Tát hạnh, viên mãn đại nguyện, đủ nhất thiết trí an trụ trong đó.  Lúc phát tâm này quyết định không nghi.  Lại nghĩ rằng:  Tôi sẽ khắp vi tất cả thế gian mà thực hành hạnh Bồ Tát, làm quang minh thanh tịnh của tất cả pháp chiếu sáng tất cả Phật pháp.  Lúc phát tâm này quyết định không nghi.  Lại nghĩ rằng:  Tôi sẽ biết tất cả pháp đều là Phật pháp, tuỳ tâm chúng sanh mà vì họ diễn thuyết đều khiến khai ngộ.  Lúc phát tâm này quyết định không nghi.  Lại nghĩ rằng:  Tôi sẽ ở nơi tất cả pháp được môn vô chướng ngại, vì biết tất cả chướng ngại vô sở đắc.  Tâm như vậy không có nghi hoặc, trụ tánh chân thật nhẫn đến thành vô thượng bồ đề.  Lúc phát tâm này quyết định không nghi.  Lại nghĩ rằng:  Tôi phải biết tất cả pháp đều là pháp xuất thế gian, xa lìa tất cả vọng tưởng điên đảo.  Dùng một trang nghiêm để tự trang nghiêm, mà không chỗ trang nghiêm.  Nơi đây tự tỏ biết không do người.  Lúc phát tâm này quyết định không nghi.  Đại Bồ Tát lại nghĩ rằng:  Tôi sẽ ở nơi tất cả pháp thành Tối Chánh Giác, vì lìa tất cả vọng tưởng điên đảo, vì được nhất niệm tương ưng trí, vì bất hả đắc hoặc một hoặc khác, vì rời tất cả số, vì rốt ráo vô vi, vì rời tất cả ngôn thuyết, vì trụ bất khả thuyết cảnh giới tế.  Lúc phát tâm này quyết định không nghi.
Nếu chư Bồ Tát an trụ pháp này thời nơi tất cả Phật pháp tâm không chỗ nghi.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát có mười pháp bất tư nghì:
Tất cả thiện căn bất tư nghì.  Tất cả thệ nguyện bất tư nghì.  Biết tất cả pháp như huyễn bất tư nghì. Phát tâm bồ đề tu hạnh Bồ Tát, thiện căn chẳng mất, không chỗ phân biệt bất tư nghì.  Dầu thâm nhập tất cả pháp cũng chẳng lấy diệt độ, vì tất cả nguyện chưa thành mãn, bất tư nghì.  Tu Bồ Tát đạo mà thị hiện giáng thần, nhập thai, đản sanh, xuất gia, khổ hạnh, đến đạo tràng, hàng phục chúng ma, thành tối chánh giác, chuyển pháp luân, nhập đại niết bàn, thần biến tự tại không thôi nghỉ, chẳng bỏ bi nguyện cứu hộ chúng sanh, bất tư nghì.  Dầu hay thị hiện thập lực thần biến tự tại của Như Lai mà chẳng bỏ tâm khắp pháp giới giáo hóa chúng sanh, bất tư nghì.  Biết tất cả pháp vô tướng là tướng, tướng là vô tướng, vô phân biệt là phân biệt, phân biệt là vô phân biệt, phi hữu là hữu, hữu là phi hữu, vô tác là tác, tác là vô tác, phi thuyết là thuyết, thuyết là phi thuyết, bất tư nghì.  Biết tâm cùng bồ đề đồng, biết bồ đề cùng tâm đồng.  Tâm và bồ đề cùng chúng sanh đồng.  Cũng chẳng sanh tâm điên đảo, tưởng điên đảo, kiến điên đảo, bất tư nghì.  Ở trong mỗi niệm nhập diệt tận định sạch hết tất cả hữu lậu, mà chẳng chứng thực tế, cũng chẳng hết thiện căn hữu lậu.  Dầu biết tất cả pháp vô lậu, mà biết lậu tận cũng biết lậu diệt.  Dầu biết Phật pháp tức thế gian pháp, thế gian pháp tức Phật pháp, mà chẳng ở trong Phật pháp phân biệt thế gian pháp, chẳng ở trong thế gian pháp phân biệt Phật pháp.  Tất cả pháp đều nhập pháp giới vì vô sở nhập.  Biết tất cả pháp đều không hai vì không biến đổi.  Đây là pháp bất tư nghì thứ mười của đại Bồ Tát.
Nếu chư Bồ Tát an trụ trong mười pháp bất tư nghì này thời được pháp bất tư nghì vô thượng của chư Phật.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát có mười xảo mật ngữ:
Xảo mật ngữ ở trong tất cả Phật kinh.  Xảo mật ngữ nơi tất cả chỗ thọ sanh.  Xảo mật ngữ nơi tất cả Bồ Tát thần thông biến hiện thành đẳng chánh giác.  Xảo mật ngữ nơi tất cả chúng sanh nghiệp báo.  Xảo mật ngữ nơi tất cả chúng sanh phát khởi nhiễm tịnh.  Xảo mật ngữ nơi môn tất cả pháp rốt ráo vô chướng ngại.  Xảo mật ngữ nơi tất cả hư không giới, mỗi nơi mỗi chỗ đều có thế giới hoặc thành hoặc hoại, trong đó không có chỗ trống.  Xảo mật ngữ nơi tất cả pháp giới tất cả mười phương nhẫn đến chỗ vi tế, đều có Như Lai thị hiện sơ sanh nhẫn đến thành Phật nhập đại niết bàn đầy khắp pháp giới, đều phân biệt thấy.  Xảo mật ngữ ở chỗ thấy tất cả chúng sanh bình đẳng niết bàn vì không biến đổi mà chẳng bỏ đại nguyện, vì tất cả trí nguyện chưa được viên mãn làm cho viên mãn.  Xảo mật ngữ ở chỗ dầu biết tất cả pháp tỏ ngộ chẳng do người khác mà chẳng rời bỏ các bậc thiện tri thức, đối với Như Lai càng thêm tôn kính, cùng thiện tri thức hòa hiệp không hai.  Nơi những thiện căn thời tu tập gieo trồng hồi hướng an trụ.  Đồng một sở tác, đồng một thể tánh, đồng một xuất ly, đồng một thành tựu.
Nếu chư Bồ Tát an trụ trong đây thời được vi mật ngữ thiện xảo vô thượng của Như Lai.
Đại Bồ Tát có mười trí xảo phân biệt:
Trí xảo phân biệt nhập tất cả cõi.  Trí xảo phân biệt nhập tất cả chỗ của các chúng sanh.  Trí xảo phân biệt nhập tất cả tâm hành của các chúng sanh.  Trí xảo phân biệt nhập căn tánh của tất cả chúng sanh.  Trí xảo phân biệt nhập nghiệp báo của tất cả chúng sanh.  Trí xảo phân biệt nhập tất cả hạnh thanh văn.  Trí xảo phân biệt nhập tất cả hạnh độc giác.  Trí xảo phân biệt nhập tất cả hạnh Bồ Tát.  Trí xảo phân biệt nhập tất cả pháp thế gian.  Trí xảo phân biệt nhập tất cả Phật pháp.
Nếu chư Bồ Tát an trụ trong đây thời được trí phân biệt các pháp thiện xảo vô thượng của tất cả chư Phật.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát có mười pháp nhập tam muội:
Nơi tất cả thế giới nhập tam muội.  Nơi thân tất cả chúng sanh nhập tam muội.  Nơi tất cả pháp nhập tam muội.  Thấy tất cả Phật nhập tam muội.  Trụ tất cả kiếp nhập tam muội.  Từ tam muội khởi hiện bất tư nghì thân nhập tam muội.  Nơi thân tất cả Phật nhập tam muội.  Giác ngộ tất cả chúng sanh bình đẳng nhập tam muội.  Trong một niệm nhập trí tam muội của tất cả Bồ Tát, nhập tam muội.  Trong một niệm dùng vô ngại trí thành tựu tất cả Bồ Tát hạnh nguyện chẳng thôi nghỉ, nhập tam muội.
Nếu chư Bồ Tát an trụ trong đây thời được pháp tam muội thiện xảo vô thượng của tất cả chư Phật.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát có mười pháp biến nhập:
Vào khắp chúng sanh.  Vào khắp quốc độ.  Vào khắp các loại hình tướng của thế gian.  Vào khắp hỏa tai.  Vào khắp thuỷ tai.  Vào khắp Phật.  Vào khắp trang nghiêm.  Vào khắp thân vô biên công đức của Như Lai.  Vào khắp tất cả sự thuyết pháp.  Vào khắp những sự cúng dường tất cả Như Lai.
Nếu chư Bồ Tát an trụ trong đây thời được pháp biến nhập đại trí vô thượng của Như Lai.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát có mười môn giải thoát:
Môn giải thoát một thân cùng khắp tất cả thế giới.  Môn giải thoát thị hiện vô lượng những loại sắc tướng nơi tất cả thế giới.  Môn giải thoát đem tất cả thế giới vào một cõi Phật.  Môn giải thoát khắp gia trì tất cả chúng sanh giới.  Môn giải thoát dùng thân trang nghiêm của tất cả Phật đầy khắp tất cả thế giới.  Môn giải thoát trong thân mình thấy tất cả thế giới.  Môn giải thoát trong một niệm qua tất cả thế giới.  Môn giải thoát thị hiện tất cả Như Lai xuất thế.  Môn giải thoát một thân đầy khắp tất cả pháp giới.  Môn giải thoát trong một niệm thị hiện tất cả Phật du hí thần thông.
Nếu chư Bồ Tát an trụ trong đây thời được môn giải thoát vô thượng của Như Lai.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát có mười pháp thần thông:
Phương tiện trí thông ghi nhớ túc mạng.  Phương tiện trí thông thiên nhĩ vô ngại.  Phương tiện trí thông biết tư nghì tâm hành của chúng sanh.  Phương tiện trí thông thiên nhãn quán sát vô ngại.  Phương tiện trí thông tuỳ theo tâm chúng sanh hiện bất tư nghì đại thần thông lực.  Phương tiện trí thông một thân hiện khắp vô lượng thế giới.  Phương tiện trí thông một niệm vào khắp bất khả thuyết bất khả thuyết thế giới.  Phương tiện trí thông xuất sanh vô lượng đồ trang nghiêm để trang nghiêm bất tư nghì thế giới.  Phương tiện trí thông thị hiện bất khả thuyết thân biến hóa.  Phương tiện trí thông tùy theo bất tư nghì tâm chúng sanh nơi bất khả thuyết thế giới thị hiện thành vô thượng chánh giác.
Nếu chư Bồ Tát an trụ trong đây thời được thần thông đại thiện xảo vô thượng của Như Lai, vì tất cả chúng sanh thị hiện nhiều sự việc khiến họ tu học.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát có mười thứ minh:
Trí minh thiện xảo biết nghiệp báo của tất cả chúng sanh.  Trí minh thiện xảo biết cảnh giới tịch diệt thanh tịnh không hý luận của tất cả chúng sanh.  Trí minh thiện xảo biết những cảnh sở duyên của tất cả chúng sanh chỉ là một tướng đều bất khả đắc, tất cả pháp đều như kim cang.  Trí minh thiện xảo hay dùng vô lượng âm thanh, vi diệu vang khắp thập phương thế giới.  Trí minh thiện xảo phá hoại khắp tất cả tâm nhiễm trước.  Trí minh thiện xảo hay dùng phương tiện thọ sanh hay chẳng thọ sanh.  Trí minh thiện xảo bỏ rời tất cả cảnh giới thọ tưởng.  Trí minh thiện xảo biết tất cả pháp chẳng tướng chẳng vô tướng, một tánh vô tánh vô phân biệt mà hay rõ biết các loại pháp, trong vô lượng kiếp phân biệt diễn thuyết, trụ nơi pháp giới, thành vô thượng chánh đẳng chánh giác.  Trí minh duyên khởi thiện xảo biết tất cả chúng sanh, sanh vốn không sanh vì tỏ thấu thọ sanh bất khả đắc.  Mà biết nhân, biết duyên, biết sự, biết cảnh giới, biết hạnh, biết sanh, biết diệt, biết ngôn thuyết, biết mê hoặc, biết lìa mê hoặc, biết điên đảo, biết lìa điên đảo, biết tạp nhiễm, biết thanh tịnh, biết sanh tử, biết niết bàn, biết khả đắc, biết bất khả đắc, biết chấp trước, biết không chấp trước, biết trụ, biết động, biết đi, biết về, biết khởi, biết chẳng khởi, biết hư mất, biết xuất ly, biết thành thục, biết các căn, biết điều phục, tùy theo sở nghi mà nhiều cách giáo hóa, chưa từng quên mất công hạnh Bồ Tát.  Vì Bồ Tát chỉ vì lợi ích chúng sanh nên phát tâm vô thượng bồ đề không bỏ sót việc làm vì chúng sanh.  Thế nên Bồ Tát thường giáo hóa chúng sanh thân không mỏi nhọc, chẳng trái tất cả chỗ làm của thế gian.  Trí minh thiện xảo nơi Phật vô trước chẳng sanh tâm nhiễm trước, nơi pháp vô trước chắng sanh tâm nhiễm trước, nơi cõi vô trước chẳng sanh tâm nhiễm trước, nơi chúng sanh vô trước chẳng sanh tâm nhiễm trước.  Chẳng thấy có chúng sanh mà thực hành giáo hóa điều phục thuyết pháp, nhưng cũng chẳng bỏ Bồ Tát đại nguyện, thấy Phật, nghe pháp, tùy thuận tu hành, y chỉ nơi những thiện căn của Như Lai cung kính cúng dường không thôi nghỉ.  Hay dùng thần lực chấn động thập phương vô lượng thế giới, vì tâm quảng đại khắp pháp giới.  Biết những cách thuyết pháp, biết số chúng sanh, biết chúng sanh sai biệt, biết khổ sanh, biết khổ diệt, biết tất cả hạnh đều như bóng tượng, thực hành hạnh Bồ Tát dứt hẳn tất cả căn bổn thọ sanh.  Chỉ vì cứu hộ tất cả chúng sanh nên thực hành hạnh Bồ Tát mà không chỗ làm, tùy thuận chủng tánh của tất cả chư Phật mà phát tâm quảng đại như tu di.  Biết tất cả hư vọng điên đảo vào môn nhất thiết chủng trí.  Trí huệ rộng lớn chẳng lay động được, sẽ thành chánh giác.  Ở biển sanh tử bình đẳng tế độ tất cả chúng sanh.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát có mười pháp giải thoát;
Phiền não giải thoát.  Tà kiến giải thoát.  Những chấp thủ giải thoát.  Uẩn, xứ, giới giải thoát.  Siêu nhị thừa giải thoát.  Vô sanh pháp nhẫn giải thoát.  Nơi tất cả thế gian, tất cả cõi, tất cả chúng sanh, tất cả pháp, lìa chấp  trước giải thoát.  Vô biên trụ giải thoát.  Phát khởi tất cả hạnh Bồ Tát nhập bậc Phật vô phân biệt giải thoát.  Ở trong một niệm đều có thể rõ biết tất cả tam thế giải thoát.
Nếu chư Bồ Tát an trụ pháp giải thoát này thời có thể ra làm Phật sự vô thượng, giáo hóa thành thục tất cả chúng sanh.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát có mười viên lâm:
Sanh tử là viên lâm của Bồ Tát, vì không nhàm bỏ.  Giáo hóa chúng sanh là viên lâm của Bồ Tát, vì không mỏi nhọc.  Trụ tất cả kiếp là viên lâm của Bồ Tát, vì nhiếp những hạnh lớn.  Thanh tịnh thế giới là viên lâm của Bồ Tát, vì là chỗ dừng ở của Bồ Tát.  Tất cả cung điện ma là viên lâm của Bồ Tát, vì hàng phục chúng ma.  Tư duy pháp đã được nghe là viên lâm của Bồ Tát, vì đúng như lý quán sát.  Sáu pháp ba la mật, bốn nhiếp pháp, ba mươi bảy pháp bồ đề phần là viên lâm của Bồ Tát, vì là cảnh giới tiếp nối đức Từ Phụ.  Thập lực, tứ vô úy, thập bát pháp bất cộng, nhẫn đến tất cả Phật pháp là viên lâm của Bồ Tát, vì chẳng niệm nhớ những pháp khác.  Thị hiện tất cả Bồ Tát oai lực tự tại thần thông là viên lâm của Bồ Tát, vì dùng đại thần lực chuyển chánh pháp luân điều phục chúng sanh không thôi nghỉ.  Một niệm ở tất cả xứ vì tất cả chúng sanh thị hiện thành chánh giác là viên lâm của Bồ Tát, vì pháp thân cùng khắp hư không tất cả thế giới.
Nếu chư Bồ Tát an trụ pháp này thời được hạnh đại an lạc lìa ưu não vô thượng của Như Lai.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát có mười thứ cung điện:
Bồ đề tâm là cung điện của Bồ Tát, vì hằng không quên mất.  Thập thiện nghiệp đạo phước đức trí huệ là cung điện của Bồ Tát, vì giáo hóa chúng sanh cõi dục.  Tứ phạm trụ thiền định là cung điện của Bồ Tát, vì giáo hóa chúng sanh cõi sắc.  Sanh Tịnh Cư thiên là cung điện của Bồ Tát, vì tất cả phiền não chẳng nhiễm.  Sanh vô sắc giới là cung điện của Bồ Tát, vì khiến tất cả chúng sanh lìa chỗ nạn.  Sanh thế giới tạp nhiễm là cung điện của Bồ Tát, vì khiến tất cả chúng sanh dứt phiền não.  Thị hiện ở nội cung thê tử quyến thuộc là cung điện của Bồ Tát, vì thành tựu chúng sanh đồng hạnh thuở xưa.  Thị hiện ở ngôi Luân Vương, Tứ Thiên Vương, Đế Thích, Phạm Vương là cung điện của Bồ Tát, vì điều phục chúng sanh tâm tự tại.  Trụ tất cả Bồ Tát hạnh du hí thần thông đều được tự tại là cung điện của Bồ Tát, vì giỏi du hí các thiền giải thoát tam muội trí huệ.  Tất cả chư Phật thọ ký nhất thiết trí quán đảnh tự tại vô thượng là cung điện của Bồ Tát, vì trụ thập lực trang nghiêm làm việc tự tại của pháp vương.
Nếu chư Bồ Tát an trụ trong đây thời được pháp quán đảnh nơi tất cả thế gian thần lực tự tại.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát có mười điều ưa thích:
Thích chánh niệm, vì tâm chẳng tán loạn.  Thích trí huệ, vì phân biệt các pháp.  Thích qua đến tất cả chỗ Phjaat, vì nghe pháp không nhàm.  Thích chư Phật, vì đầy khắp mười phương không biên tế.  Thích Bồ Tát tự tại, vì tất cả chúng sanh dùng vô lượng môn mà hiện thân.  Thích các môn tam muội, vì nơi một môn tam muội nhập tất cả môn tam muội.  Thích đà la ni, vì thọ trì pháp chẳng quên, dạy lại cho chúng sanh.  Thích vô ngại biện tài, vì nơi một đoạn một câu, phân biệt diễn thuyết trải qua bất khả thuyết kiếp không cùng tận.  Thích thành chánh giác, vì tất cả chúng sanh dùng vô lượng môn mà thị hiện thân thành chánh giác.  Thích chuyển pháp luân, vì dẹp trừ tất cả pháp dị đạo.
Nếu chư Bồ Tát an trụ pháp này thời được pháp lạc vô thượng của chư Phật Như Lai.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát có mười thứ trang nghiêm:
Lực trang nghiêm, vì chẳng thể hư hoại.  Vô úy trang nghiêm, vì hay dẹp phục.  Nghĩa trang nghiêm, vì nói bất khả thuyết không quên mất tám vạn bốn ngàn pháp tu.  Nguyện trang nghiêm, vì không thối chuyển nơi hoằng thệ của chư Bồ Tát đã phát.  Hạnh trang nghiêm, vì tu hạnh Phổ Hiền mà xuất ly.  Sát độ trang nghiêm, vì đem tất cả cõi làm một cõi.  Phổ âm trang nghiêm, vì mưa pháp vũ cùng khắp tất cả thế giới của chư Phật.  Lực trì trang nghiêm, vì trong tất cả kiếp thực hành vô số hạnh chẳng đoạn tuyệt.  Biến hóa trang nghiêm, vì nơi thân một chúng sanh thị hiện thân bằng số tất cả chúng sanh, khiến tất cả chúng sanh đều thấy biết cầu nhất thiêt trí không thối chuyển.
Nếu chư Bồ Tát an trụ pháp này thời được tất cả pháp trang nghiêm vô thượng của Như Lai.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát phát mười tâm bất động:
Tâm bất động: nơi tất cả sở hữu thảy đều xả được.  Tâm bất động:  tư duy quán sát tất cả Phật pháp.  Tâm bất động:  ghi nhớ cúng dường tất cả chư Phật.  Tâm bất động:  nơi tất cả chúng sanh thệ không não hại.  Tâm bất động:  khắp nhiếp chúng sanh chẳng lựa oán thân.  Tâm bất động:  cầu tất cả Phật pháp không thôi nghỉ.  Tâm bất động:  số kiếp bằng số chúng sanh thực hành hạnh Bồ Tát chẳng mỏi nhàm, cũng không thối chuyển.  Tâm bất động:  thành tựu hữu căn tín, vô trược tín, thanh tịnh tín, cực thanh tịnh tín, ly cấu tín, minh triệt tín, cung kính cúng dường tất cả chư Phật tín, bất thối chuyển tín, bất khả tận tín, vô năng hoại tín, đại hoan hỉ dũng mãnh tín.  Tâm bất động:  thành tựu đạo phương tiện xuất sanh nhất thiết trí.  Tâm bất động:  nghe tất cả Bồ Tát hạnh pháp thời tin thọ chẳng hủy báng. 
Nếu chư Bồ Tát an trụ pháp này thời được tâm bất động nhất thiết trí vô thượng.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát có mười pháp chẳng bỏ tâm thâm đại:
Chẳng bỏ tâm thâm đại thành tựu viên mãn tất cả Phật bồ đề.  Chẳng bỏ tâm thâm đại giáo hóa điều phục tất cả chúng sanh.  Chẳng bỏ tâm thâm đại chẳng dứt chủng tánh của Phật.  Chẳng bỏ tâm thâm đại gần gũi tất cả thiện tri thức.  Chẳng bỏ tâm thâm đại cúng dường tất cả chư Phật.  Chẳng bỏ tâm thâm đại chuyên cầu tất cả pháp công đức đại thừa.  Chẳng bỏ tâm thâm đại ở chỗ chư Phật tu phạm hạnh, hộ trì tịnh giới.  Chẳng bỏ tâm thâm đại thân cận tất cả Bồ Tát.  Chẳng bỏ tâm thâm đại cầu tất cả Phật pháp phương tiện hộ trì.  Chẳng bỏ tâm thâm đại thành mãn tất cả Bồ Tát hạnh nguyện, chứa nhóm tất cả Phập pháp.
Nếu chư Bồ Tát an trụ trong đó thời có thể chẳng bỏ tất cả Phật pháp.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát có mười trí huệ quán sát:
Trí huệ quán sát thiện xảo phân biệt diễn thuyết tất cả pháp.  Trí huệ quán sát biết rõ tam thế tất cả thiện căn.  Trí huệ quán sát biết rõ tất cả Bồ Tát hạnh biến hóa tự tại.  Trí huệ quán sát biết rõ nghĩa môn của tất cả pháp.  Trí huệ quán sát biết rõ oai lực của tất cả chư Phật.  Trí huệ quán sát biết rõ tất cả môn đà la ni.  Trí huệ quán sát nơi tất cả thế giới khắp nói chánh pháp.  Trí huệ quán sát nhập tất cả pháp giới.  Trí huệ quán sát biết tất cả thập phương bất tư nghì.  Trí huệ quán sát biết tất cả Phật pháp trí huệ quang minh vô ngại.
Nếu chư Bồ Tát an trụ trong đó thời được trí huệ quán sát vô thượng của Như Lai.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát có mười thuyết pháp:
Nói tất cả pháp đều từ duyên khởi.  Nói tất cả pháp thảy đều như huyễn.  Nói tất cả pháp không chống trái.  Nói tất cả pháp không biên tế.  Nói tất cả pháp không y chỉ.  Nói tất cả pháp dường như kim cang.  Nói tất cả pháp thảy đều như như.  Nói tất cả pháp thảy đều tịch tịnh.  Nói tất cả pháp thảy đều xuất ly.  Nói tất cả pháp đều trụ một nghĩa bổn tánh thành tựu.
Nếu chư Bồ Tát an trụ trong đây thời có thể thiện xảo nói tất cả pháp.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát có mười pháp thanh tịnh:
Thâm tâm thanh tịnh.  Đoạn nghi thanh tịnh.  Ly kiến thanh tịnh.  Cảnh giới thanh tịnh.  Cầu nhất thiết trí thanh tịnh.  Biện tài thanh tịnh.  Vô úy thanh tịnh.  Trụ tất cả Bồ Tát thanh tịnh.  Thọ tất cả Bồ Tát luật nghi thanh tịnh.  Đầy đủ thành tựu vô thượng bồ đề, ba mươi hai tướng trăm phước, pháp bạch tịnh, tất cả thiện căn thanh tịnh.
Nếu chư Bồ Tát an trụ trong đó thời được pháp thanh tịnh vô thượng của tất cả Như Lai.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát có mười ấn:
Đại Bồ Tát biết khổ khổ, hoại khổ, hành khổ, chuyên cầu Phật pháp chẳng sanh giải đãi, thực hành Bồ Tát hạnh không mỏi lười, chẳng kinh sợ, chẳng bỏ đại nguyện cầu nhất thiết trí kiên cố bất thối rốt ráo vô thượng bồ đề.  Đây là ấn thứ nhất. 
Đại Bồ Tát thấy có chúng sanh ngu si cuồng loạn hoặc dùng lời ác thô tệ để hủy nhục, hoặc dùng dao gậy ngói đá để làm tổn hại, trọn không vì việc này mà bỏ tâm Bồ Tát, chỉ nhẫn nhục nhu hòa chuyên tu Phật pháp, trụ đạo tối thắng, nhập ngôi ly sanh.  Đây là ấn thứ hai.
Đại Bồ Tát nghe Phật pháp thậm thâm tương ưng với nhất thiết trí, có thể dùng tự trí thâm tín nhẫn khả hiểu rõ xu nhập.  Đây là ấn thứ ba.
Đại Bồ Tát lại nghĩ rằng:  Tôi phát thâm tâm cầu nhất thiết trí, tôi sẽ thành Phật được vô thượng bồ đề.  Tất cả chúng sanh lưu chuyển năm loài chịu vô lượng khổ, tôi cũng làm cho họ phát tâm bồ đề thâm tín hoan hỷ, siêng tu tinh tấn kiên cố bất thối.  Đây là ấn thứ tư.
Đại Bồ Tát biết Như Lai trí vô biên nên chẳng dùng chừng ngằn đo lường.  Tất cả văn tự thế gian nói ra đều có chừng ngằn, đều chẳng biết được Như Lai trí huệ.  Đây là ấn thứ năm.
Đại Bồ Tát nơi vô thượng bồ đề được sự mong muốn tối thắng, sự mong muốn thậm thâm, sự mong muốn rộng, sự mong muốn lớn, nhiều sự mong muốn, sự mong muốn không gì hơn, sự mong muốn vô thượng, sự mong muốn kiên cố, sự mong muốn mà chúng ma ngoại đạo và quyến thuộc không phá hoại được, sự mong muốn cầu nhất thiết trí không thối chuyển.  Bồ Tát an trụ nơi những sự mong muốn này nơi vô thượng bồ đề rốt ráo bất thối.  Đây là ấn thứ sáu.
Đại Bồ Tát thực hành Bồ Tát hạnh chẳng kể thân mạng không gì trở hoại được, vì phát tâm xu hướng nhất thiết trí, vì nhất thiết trí tánh thường hiện tiền, vì được tất cả Phật trí quang minh, trọn chẳg bỏ rời Phật bồ đề, trọn chẳng bỏ rời thiện tri thức.  Đây là ấn thứ bảy.
Đại Bồ Tát nếu thấy thiện nam tử, thiện nữ nhân xu hướng đại thừa, thời làm cho họ tăng trưởng tâm cầu Phật pháp, khiến họ an trụ tất cả thiện căn, khiến họ nhiếp thủ tâm nhất thiết trí, khiến họ bất thối vô thượng bồ đề.  Đây là ấn thứ tám.
Đại Bồ Tát làm cho tất cả chúng sanh được tâm bình đẳng, khuy khiến siêng tu đạo nhất thiết trí, dùng tâm đại bi mà vì họ thuyết pháp, khiến họ trọn chẳng thối chuyển nơi vô thượng chánh đẳng chánh giác.  Đây là ấn thứ chín.
Đại Bồ Tát cùng tam thế chư Phật đồng một thiện căn, chẳng dứt chủng tánh của tất cả chư Phật, rốt ráo được đến nhất thiết chủng trí.  Đây là ấn thứ mười.
Bồ Tát dùng mười ấn này mau thành vô thượng chánh đẳng chánh giác, đầy đủ trí ấn nhất thiết pháp vô thượng của Như Lai.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát có mười trí quang chiếu:
Trí quang chiếu quyết định sẽ thành vô thượng chánh đẳng chánh giác.  Trí quang chiếu thấy tất cả Phật.  Trí quang chiếu thấy tất cả chúng sanh chết đây sanh kia.  Trí quang chiếu hiểu tất cả tu đa la pháp môn.  Trí quang chiếu y chỉ thiện tri thức phát tâm bồ đề tích tập thiện căn.  Trí quang chiếu thị hiện tất cả chư Phật.  Trí quang chiếu giáo hóa tất cả chúng sanh đều khiến an trụ Như Lai địa.  Trí quang chiếu diễn thuyết bất tư nghì quảng đại pháp môn.  Trí quang chiếu thiện xảo biết rõ tất cả chư Phật thần thông oai lực.  Trí quang chiếu đầy đủ tất cả các ba la mật. 
Nếu chư Bồ Tát an trụ pháp này thời được trí quang chiếu vô thượng của tất cả chư Phật.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát có mười vô đẳng trụ, tất cả chúng sanh, thanh văn, độc giác, đều không sánh bằng:
Đại Bồ Tát dầu quán thực tế mà không thủ chứng, vì tất cả nguyện chưa thành tựu viên mãn.  Đây là vô đẳng trụ thứ nhất.
Đại Bồ Tát gieo tất cả thiện căn đồng pháp giới, mà ở trong đó chẳng có một chút chấp lấy.  Đây là vô đẳng trụ thứ hai.
Đại Bồ Tát tu Bồ Tát hạnh biết đó như hóa, bởi tất cả pháp đều tịch diệt, mà chẳng nghi hoặc nơi Phật pháp.  Đây là vô đẳng trụ thứ ba.
Đại Bồ Tát dầu rời những vọng tưởng thế gian, nhưng hay tác ý trong bất khả thuyết kiếp thực hành hạnh Bồ Tát đầy đủ đại nguyện, trong khoảng giữa trọn chẳng sanh tâm mỏi nhàm.  Đây là vô đẳng trụ thứ tư.
Đại Bồ Tát nơi tất cả pháp không chấp trước, vì tất cả pháp bổn tánh tịch diệt.  Mà chẳng chứng niết bàn vì đạo nhất thiết trí chưa thành mãn.  Đây là vô đẳng trụ thứ năm.
Đại Bồ Tát biết tất cả kiếp đều là phi kiếp, mà chân thật nói tất cả kiếp số.  Đây là vô đẳng trụ thứ sáu.
Đại Bồ Tát biết tất cả pháp đều vô tác, mà chẳng bỏ thực hành đạo hạnh cầu tất cả Phật pháp.  Đây là vô đẳng trụ thứ bảy.
Đại Bồ Tát biết tam giới duy tâm, tam thế duy tâm, mà biết rõ tâm đó vô lượng vô biên.  Đây là vô đẳng trụ thứ tám.
Đại Bồ Tát vì một chúng sanh, trong bất khả thuyết kiếp thực hành hạnh Bồ Tát, muốn cho chúng sanh đó an trụ bậc nhất thiết trí.  Như vì một chúng sanh, vì tất cả chúng sanh cũng như vậy, mà chẳng nhàm mỏi.  Đây là vô đẳng trụ thứ chín.
Đại Bồ Tát dầu tu hành viên mãn mà chẳng chứng bồ đề.  Vì Bồ Tát nghĩ rằng tôi tu hành vốn là vì chúng sanh, thế nên tôi phải ở lâu nơi sanh tử phương tiện làm lợi ích cho họ đều an trụ Phật đạo vô thượng.  Đây là vô đẳng trụ thứ mười.
Nếu chư Bồ Tát an trụ trong đây thời được đại trí vô thượng, tất cả Phật pháp vô đẳng trụ.

(Hán bộ quyển thứ 55)

Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát phát mười tâm chẳng hạ liệt:
Đại Bồ Tát nghĩ rằng:  Tôi sẽ hàng phục tất cả thiên ma và quyến thuộc của chúng.  Lại nghĩ rằng:  Tôi sẽ phá tất cả ngoại đạo và tà pháp của họ.  Lại nghĩ rằng:  Tôi sẽ ở nơi tất cả chúng sanh dùng lời khéo lành để khai thị dạy bảo cho họ đều hoan hỷ.  Lại nghĩ rằng:  Tôi sẽ thành mãn tất cả hạnh ba la mật khắp pháp giới.  Lại nghĩ rằng:  Tôi sẽ tích tập tạng tất cả phước đức.  Lại nghĩ rằng:  Vô thượng bồ đề quảng đại khó thành, tôi sẽ tu hành đến viên mãn.  Lại nghĩ rằng: Tôi sẽ dùng sự giáo hóa vô thượng, sự điều phục vô thượng để giáo hóa điều phục tất cả chúng sanh.  Lại nghĩ rằng:  Tất cả thế giới nhiều thứ chẳng đồng, tôi sẽ dùng vô lượng thân thành đẳng chánh giác.  Lại nghĩ rằng:  Lúc tôi tu Bồ Tát hạnh, nếu có chúng sanh đến xin tôi những tay, chân, tai, mũi, máu, thịt, xương, tủy, vợ, con, voi, ngựa, nhẫn đến ngôi vua.  Tất cả như vậy thảy đều có thể bỏ, chẳng sanh một niệm tâm lo lắng ăn năn, chỉ vì lợi ích tất cả chúng sanh chẳng cầu quả báo, lấy đại bi làm đầu, đại từ cứu cánh.  Lại nghĩ rằng:  Tam thế có tất cả chư Phật, tất cả Phật pháp, tất cả chúng sanh, tất cả quốc độ, tất cả thế giới, tất cả tam thế, tất cả hư không giới, tất cả pháp giới, tất cả ngữ ngôn thi thiết giới, tất cả tịch diệt niết bàn giới, tất cả pháp như vậy, tôi phải dùng một niệm tương ưng huệ đều biết, đều thấy, đều chứng, đều tu, đều đoạn.  Nhưng ở trong đó vô phân biệt, lìa phân biệt, không các thứ sai biệt, không công đức, không cảnh giới, chẳng có chẳng không, chẳng một chẳng hai, do trí chẳng hai biết tất cả hai, do trí vô tướng biết tất cả tướng, do trí vô phân biệt biết tất cả phân biệt, do trí vô dị biết tất cả dị, do trí không sai biệt biết tất cả sai biệt, do trí không thế gian biết tất cả thế gian, do trí không thế biết tất cả thế, do trí không chúng sanh biết tất cả chúng sanh, do trí không chấp trước biết tất cả chấp trước, do trí vô trụ xứ biết tất cả trụ xứ, do trí không tạp nhiễm biết tất cả tạp nhiễm, do trí vô tận biết tất cả tận, do trí cứu cánh pháp giới biết tất cả thế giới thị hiện thân, do trí lìa ngôn âm thị hiện bất khả thuyết ngôn âm, do trí một tự tánh nhập nơi không tự tánh, do trí một cảnh giới hiện các thứ cảnh giới, biết tất cả pháp bất khả thuyết mà hiện đại tự tại ngôn thuyết, chứng bậc nhất thiết trí, vì giáo hóa điều phục tất cả chúng sanh nên ở nơi tất cả thế gian thị hiện đại thần thông biến hóa.
Đây là mười tâm không hạ liệt của đại Bồ Tát phát.  Nếu chư Bồ Tát an trụ tâm này thời được tất cả Phật pháp tối thượng không hạ liệt.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát nơi vô thượng bồ đề có mười tâm tăng thượng như núi:
Đại Bồ Tát thường tác ý siêng tu pháp nhất thiết trí.  Đây là tâm tăng thượng như núi thứ nhất.
Hằng quán sát tất cả pháp bổn tánh trống không vô sở đắc.  Đây là tâm tăng thượng như núi thứ hai.
Nguyện trong vô lượng kiếp thực hành hạnh Bồ Tát tu tất cả pháp bạch tịnh.  Do trụ nơi tất cả pháp bạch tịnh nên thấy biết Như Lai vô lượng trí huệ.  Đây là tâm tăng thượng như núi thứ ba.
Vì cầu tất cả Phật pháp nên tâm bình đẳng kính thờ chư thiện tri thức, không trông cầu gì khác, không tâm trộm pháp, chỉ sanh lòng tôn trọng vị tằng hữu, tất cả sở hữu thảy đều bỏ được.  Đây là tâm tăng thượng như núi thứ tư.
Nếu có chúng sanh mắng nhục, hủy báng, đánh đập, cắt chém, làm thân hình Bồ Tát khổ đau nhẫn đến chết.  Những sự trên đây Bồ Tát đều nhẫn chịu được, trọn không sanh lòng động loạn, lòng sân hại, cũng chẳng thối bỏ hoằng thệ đại bi, trái lại càng thêm tăng trưởng không thôi ngớt.  Vì Bồ Tát nơi tất cả pháp như thật xuất ly, thành tựu hạnh xả, vì chứng được tất cả Phật pháp, nhẫn nhục nhu hòa đã tự tại.  Đây là tâm tăng thượng như núi thứ năm.
Bồ Tát thành tựu đại công đức tăng thượng.  Những là thiên tăng thượng công đức, nhân tăng thượng công đức, sắc tăng thượng công đức, lực tăng thượng công đức, quyến thuộc tăng thượng công đức, dục tăng thượng công đức, vương vị tăng thượng công đức, tự tại tăng thượng công đức, phước đức tăng thượng công đức, trí huệ tăng thượng công đức.  Dầu thành tựu những công đức như vậy, nhưng chẳng sanh lòng nhiễm trước nơi những công đức đó.  Chẳng nhiễm trước mùi vị, chẳng nhiễm trước dục lạc, chẳng nhiễm trước của giàu, chẳng nhiễm trước quyến thuộc.  Chỉ rất mến thích nơi pháp, đi theo pháp, đứng theo pháp, xu hướng theo pháp, rốt ráo theo pháp.  Dùng pháp làm y chỉ, dùng pháp làm cứu hộ, dùng pháp làm quy y, dùng pháp làm nhà.  Gìn giữ pháp, mến ưa pháp, trông cầu pháp, suy gẫm pháp.  Dầu thọ đủ những pháp lạc mà thường xa lìa cảnh giới của chúng ma, vì từ quá khứ Bồ Tát phát tâm như vầy:  Tôi sẽ làm cho tất cả chúng sanh thảy đều xa lìa cảnh giới của chúng ma mà an trụ nơi cảnh giới Phật.  Đây là tâm tăng thượng như núi thứ sáu.
Đại Bồ Tát vì đã cầu vô thượng bồ đề, trong vô lượng vô số kiếp thực hành đạo Bồ Tát siêng năng tinh tấn, mà còn cho là tôi nay mới phát tâm vô thượng bồ đề thực hành hạnh Bồ Tát, cũng chẳng kinh sợ.  Dầu có thể khoảng một niệm liền thành vô thượng chánh giác, nhưng vì chúng sanh nên trong vô lượng kiếp thực hành Bồ Tát hạnh không thôi nghỉ.  Đây là tâm tăng thượng như núi thứ bảy.
Đại Bồ Tát biết tất cả chúng sanh tánh chẳng hòa chẳng lành, khó điều khó độ, chẳng biết ơn chẳng báo ân.  Thế nên Bồ Tát vì họ mà phát đại thệ nguyện, muốn cho họ đều được tâm ý tự tại, chỗ làm vô ngại, lìa bỏ ác niệm, chẳng sanh phiền não đối với người khác.  Đây là tâm tăng thượng như núi thứ tám.
Đại Bồ Tát lại nghĩ rằng:  Chẳng phải ai khác khiến tôi phát tâm bồ đề, cũng chẳng chờ người khác giúp tôi tu hành.  Tôi tự phát tâm tích tập Phật pháp, thề hẹn tự cố gắng tột kiếp vị lai thực hành đạo Bồ Tát thành vô thượng bồ đề.  Thế nên nay tôi tu hạnh Bồ Tát phải thanh tịnh tự tâm cũng thanh tịnh tha tâm, phải biết cảnh giới của mình cũng biết cảnh giới của người.  Tôi phải đều bình đẳng vói cảnh của tam thế chư Phật.  Đây là tâm tăng thượng như núi thứ chín.
Đại Bồ Tát quán sát như vầy:  Không có một pháp tu hạnh Bồ Tát, không có một pháp viên mãn hạnh Bồ Tát, không có một pháp giáo hóa điều phục tất cả chúng sanh, không có một pháp cung kính cúng dường tất cả chư Phật, không có một pháp ở nơi vô thượng bồ đề đã thành, hiện thành, sẽ thành, không có một pháp đã nói, hiện nói, sẽ nói.  Người nói và pháp đều bất khả đắc, nhưng cũng chẳng bỏ nguyện vô thượng bồ đề.  Vì Bồ Tát cầu tất cả pháp đều vô sở đắc, như vậy xuất sanh vô thượng bồ đề.  Thế nên nơi pháp dầu vô sở đắc mà siêng tu tập  pháp đối trị tăng thượng thiện nghiệp thanh tịnh, trí huệ viên mãn niệm niệm tăng trưởng tất cả đầy đủ.  Nơi đây lòng Bồ Tát chẳng kinh sợ.  Chẳng nghĩ rằng: Nếu tất cả pháp thảy đều tịch diệt thời tôi có nghĩa gì mà cầu đạo vô thượng bồ đề.  Đây là tâm tăng thượng bồ đề.  Đây là tâm tăng thượng như núi thứ mười.
Nếu chư Bồ Tát an trụ trong đây thời được tâm tăng thượng như sơn vương đại trí vô thượng của Như Lai.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát có mười trí như biển nhập vô thượng bồ đề:
Trí như biển nhập tất cả vô lượng chúng sanh giới.  Trí như biển nhập tất cả thế giới mà chẳng sanh tâm phân biệt.  Trí như biển biết tất cả hư không giới vô lượng vô ngại vào khắp lưới tất cả thế giới sai biệt của mười phương.  
Trí như biển khéo nhập pháp giới.  Những là nhập vô ngại, nhập chẳng đoạn, nhập chẳng thường, nhập vô lượng, nhập chẳng sanh, nhập chẳng diệt, nhập tất cả, vì đều biết rõ vậy. 
Trí như biển nơi quá khứ vị lai hiện tại chư Phật, Bồ Tát, pháp sư, thanh văn, độc giác và tất cả phàm phu chứa nhóm thiện căn, đã nhóm, sẽ nhóm, tam thế chư Phật đã thành, nay thành và sẽ thành vô thượng bồ đề, tam thế chư Phật thuyết pháp điều phục tất cả chúng sanh, đã nói, nay nói, sẽ nói.  Có bao nhiêu thiện căn, Bồ Tát đều rõ biết tất cả, thâm tín tùy hỉ, nguyện thích tu tập không nhàm đủ.  
Trí như biển trong mỗi niệm nhập quá khứ thế bất khả thuyết kiếp.  Ở trong một kiếp hoặc có trăm ức Phật xuất thế, hoặc có ngàn ức Phật xuất thế, hoặc trăm ngàn ức Phật xuất thế, hoặc có vô số, hoặc vô lượng, hoặc vô biên, hoặc vô đẳng, hoặc bất khả sổ, hoặc bất khả xưng, hoặc bất khả tư, hoặc bất khả lượng, hoặc bất khả thuyết, hoặc bất khả thuyết bất khả thuyết, siêu quá toán số chư Phật Thế Tôn xuất hiện ra đời.  Và đạo tràng, chúng hội thanh văn, Bồ Tát, thuyết pháp điều phục tất cả chúng sanh, thọ mạng dài vắn, pháp trụ lâu mau.  Tất cả như vậy thảy đều thấy rõ.  Như một kiếp, tất cả các kiếp cũng đều thấy rõ như vậy.  Những kiếp không Phật, có những chúng sanh gieo căn lành nơi vô thượng bồ đề cũng đều rõ biết.  Nếu có chúng sanh thiện căn đã thành thục nơi đời vị lai sẽ được thấy Phật cũng đều biết rõ.  Quán sát quá khứ thế bất khả thuyết bất khả thuyết kiếp như vậy tâm không nhàm đủ.
Trí như biển nhập vị lai thế quán sát tất cả kiếp vô lượng vô biên, biết kiếp nào có Phật, kiếp nào không Phật, kiếp nào có bao nhiêu Như Lai xuất thế.  Mỗi Như Lai danh hiệu gì, ở thế giới nào, thế giới tên gì, độ bao nhiêu chúng sanh, thọ mạng bao nhiêu thời gian.  Quán sát như vậy tột vị lai tế đều biết rõ tất cả chẳng cùng tận mà không nhàm đủ.
Trí như biển nhập hiện tại thế quán sát tư duy.  Trong mỗi niệm thấy khắp vô biên phẩm loại mười phương.  Nơi bất khả thuyết thế giới đều có chư Phật nơi vô thượng bồ đề đã thành, nay thành, sẽ thành, đi đến đạo tràng dưới cây bồ đề, ngồi trên cỏ kiết tường hàng phục ma quân, thành đẳng chánh giác.  Rời cây bồ đề vào thành ấp, lên cung trời chuyển đại pháp luân, thị hiện thần thông điều phục chúng sanh, nhẫn đến phó chúc vô thượng bồ đề, xả thọ mạng nhập niết bàn.  Đã nhập niết bàn kiết tập pháp tạng khiến còn ở lâu tại thế gian.  Trang nghiêm Phật pháp nhiều thứ cúng dường.  Cũng thấy thế giới kia, tất cả chúng sanh gặp Phật, nghe pháp, thọ trì cúng tụng ghi nhớ tư duy tăng trương huệ giải.  Quán sát cùng khắp mười phương, mà ở nơi Phật pháp không sai lầm.  Vì vậy Bồ Tát biết rõ chư Phật thảy đều như mộng, mà hay đến chỗ chư Phật cung kính cúng dường.  Bấy giờ Bồ Tát chẳng chấp tự thân, chẳng chấp nơi Phật, chẳng chấp thế giới, chẳng chấp chúng hội, chẳng chấp thuyết pháp, chẳng chấp kiếp số, nhưng vẫn thấy Phật, nghe pháp, giám sát thế giới vào các kiếp số không nhàm đủ.
Trí như biển nơi bất khả, bất khả thuyết kiếp, trong mỗi mỗi kiếp cúng dường cung kính bất khả thuyết bất khả kiếp vô lượng chư Phật, thị hiện tự thân mất đây sanh kia, đem tất cả đồ cúng hơn hẳn tam giới để cúng dường Phật, cúng dường Bồ Tát, thanh văn, tất cả đại chúng.  Sau khi mỗi đức Như Lai nhập niết bàn, Bồ Tát đều dùng đồ cúng vô thượng để cúng dường xá lợi và rộng làm sự bố thí để chúng sanh được đầy đủ.  Đại Bồ Tát dùng tâm bất tư nghì, tâm chẳng cầu báo, tâm rốt ráo, tâm nhiêu ích, trong bất khả thuyết bất khả thuyết kiếp vì vô thượng bồ đề mà cúng dường chư Phật, lợi ích chúng sanh, hộ trì chánh pháp khai thị diễn thuyết.
Trí như biển nay chỗ của tất cả Phật, chỗ của tất cả Bồ Tát, chỗ của tất cả pháp sư, nhất hướng chuyên cầu pháp của Bồ Tát đã thuyết, pháp của Bồ Tát đã học, pháp của Bồ Tát đã dạy, pháp của Bồ Tát tu hành, pháp của Bồ Tát thanh tịnh, pháp của  Bồ Tát thành thục, pháp của Bồ Tát điều phục, pháp bình đẳng của Bồ Tát, pháp xuất ly của Bồ Tát, pháp tổng trì của Bồ Tát.  Được pháp này rồi, Bồ Tát thọ trì đọc tụng phân biệt giải thuyết không nhàm đủ, trí vô lượng chúng sanh trong Phật pháp phát tâm tương ứng với nhất thiết trí nhập tướng chân thật.  Nơi vô thượng bồ đề được bất thối chuyển.  Như vậy trong bất khả thuyết bất khả thuyết kiếp không nhàm đủ.
Đây là mười trí như biển nhặt vô thượng bồ đề của đại Bồ Tát. Nếu chư Bồ Tát an trụ pháp này thì được biển đại trí huệ vô thượng của tất cả chư Phật.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát nơi vô thượng bồ đề có mười thứ như thiệt trụ:
Đại Bồ Tát đều có thể qua đến chỗ chư Phật nơi vô số thế giới, chiêm ngưỡng đảnh lễ hầu hạ cúng dường.  Đây là như thiệt trự thứ nhất.
Ở chỗ của bất tư nghì chư Phật lắng nghe chánh pháp thọ trì nghi nhớ không để quên mất, phân biệt tư duy giác huệ tăng trưởng.  Việc làm như vậy tràn đầy mười phương, đây là như thiệt trụ thứ hai.
Nơi cõi này mất, thị hiện xứ khác, mà với Phật pháp không mê hoặc.  Đây là như thiệt trụ thứ ba.
Biết từ một pháp xuất sanh tất cả pháp mà hay đều viên phân biệt diễn thuyết, bởi những nghĩa của tất cả pháp rốt ráo đều là một nghĩa.  Đây là như thiệt trụ thứ tư.
Biết nhàm lìa phiền não, biết ngăn dứt phiền não, biết phòng hộ phiền não, biết trừ đoạn phiền não, tu hạnh Bồ Tát chẳng chính thiệt tế, rốt ráo đến nơi thiệt tế bỉ ngạn, phương tiện thiện xảo học giỏi nơi sở học, làm cho hạnh nguyện thuở xưa đều được thành mãn, thân chẳng mỏi nhọc.  Đây là như thiệt trụ thứ năm.
Biết tất cả chúng sanh, những tâm phân biệt của họ đều không xứ sở mà cũng nói có những phương xứ, dầu không phân biệt không tạo tác, nhưng vì muốn điều phục tất cả chúng sanh nên có tu hành nên có sở tác.  Đây là như thiệt trụ thứ sáu.
Biết tất cả pháp đều đồng một tánh, nghĩa là vô tánh: không các thứ tánh, không vô lượng tánh, không khả toán sổ tánh, không khả xứng lượng tánh, không sắc, không tướng, hoặc một hoặc nhiều đều bất khả đắc, mà quyết định biết rõ đây là Phật pháp, đây là Bồ Tát pháp, đây là Độc Giác pháp, đây là Thanh Văn pháp, đây là phàm phu pháp, đây là thiện pháp, đây là bất thiện pháp, đây là thế gian pháp, đây là xuất thế gian pháp, đây là pháp lỗi lầm, đây là pháp không lỗi lầm, đây là pháp hữu lậu, đây là pháp vô lậu, nhẫn đến đây là pháp hữu vi, đây là pháp vô vi.  Đây là như thiệt trụ thứ bảy.
Đại Bồ Tát cầu Phật bất khả đắc, cầu Bồ Tát bất khả đắc, cầu pháp bất khả đắc, cầu chúng sanh bất khả đắc, mà cũng chẳng bỏ điều phục chúng sanh khiến ở nơi các pháp nguyện thành chánh giác.  Vì đại Bồ Tát khéo quan sát biết tất cả chúng sanh phân biệt, biết tất cả chúng sanh cảnh giới phương tiện hóa đạo khiến được niết bàn, vì muốn hoàn mãn nguyện giáo hóa chúng sanh nên mạnh mẽ tu hành Bồ Tát hạnh.  Đây là như thiệt trụ thứ tám.
Đại Bồ Tát biết thiện xảo thuyết pháp, thị hiện niết bàn.  Vì độ chúng sanh nên bao nhiêu phương tiện đã có, tất cả đều là tâm tưởng kiến lập, chẳng phải là điên đảo, cũng chẳng phải hư dối.  Vì Bồ Tát biết rõ các pháp tam thế bình đẳng như như bất động thiệt tế vô trụ.  Chẳng thấy có một chúng sanh đã thọ hóa độ, nay thọ hóa độ, sẽ thọ hóa độ.  Cũng tự biết rõ không chỗ tu hành.  Không có chút pháp gì hoặc sanh hoặc diệt mà có thể được.  Nhưng vẫn nương nơi tất cả pháp khiến sở nguyện chẳng luống không.  Đây là như thiệt trụ thứ chín.
Đại Bồ Tát nơi bất tư nghì vô lượng chư Phật ở chỗ mỗi đức Phật nghe bất khả thuyết bất khả thuyết pháp thọ ký danh hiệu đều khác, kiếp số chẳng đồng, từ nơi một kiếp nhẫn đến bất khả thuyết bất khả thuyết kiếp thường nghe như vậy.  Nghe rồi tu hành chẳng kinh, chẳng sợ, chẳng mê, chẳng hoặc, vì biết Phật trí bất tư nghì, vì đức Như Lai thọ ký không hai lời, vì tự thân hạnh nguyện sức thu, vì tùy nghi thọ hóa khiến thành vô thượng bồ đề thành mãn tất cả nguyện đồng pháp giới.  Đây là như thiệt trụ thứ mười.
Nếu chư Bồ Tát an trụ pháp này thời được đại trí huệ bửu vô thượng của chư Phật.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát phát mười thứ tâm thệ nguyện đại thừa như kim cang:
Đại Bồ Tát nghĩ rằng:  Tất cả các pháp chẳng có biên tế, chẳng cùng tận, tôi sẽ dùng trí tận tam thế đều giác liễu khắp cả không sót thừa.  Đây là tâm thệ nguyện đại thừa như kim cang thứ nhất.
Lại nghĩ rằng:  Ở chỗ một đầu lông có vô lượng vô biên chúng sanh, huống là tất cả pháp giới.  Tôi sẽ đều dùng vô thượng niết bàn mà diệc độ họ.  Đây là tâm thệ nguyện đại thừa như kim cang thứ hai.
Lại nghĩ rằng:  Mười phương thế giới vô lượng, vô biên không có ngằn mé, không thể cùng tận.  Tôi sẽ dùng Phật độ tối thượng trang nghiêm, để trang nghiêm tất cả thế giới như vậy, bao nhiêu sự trang nghiêm thảy đều chơn thiệt.  Đây là tâm thệ nguyện đại thừa như kim cang thứ ba.
Lại nghĩ rằng:  Tất cả chúng sanh vô lượng vô biên không có chừng ngằn, không thể cùng tận.  Tôi sẽ đem tất cả thiện căn hồi hướng cho họ.  Dùng trí quang vô thượng chiếu diệu nơi họ.  Đây là tâm thệ nguyện đại thừa như kim cang thứ tư.
Lại nghĩ rằng:  Tất cả chư Phật vô lượng vô biên không có chừng ngằn, không thể cùng tận.  Tôi sẽ dùng thiện căn đã gieo hồi hướng cúng dường đều khiến cùng khắp không chỗ kém thiếu, rồi sau tôi sẽ thành vô thượng bồ đề.  Đây là tâm thệ nguyện đại thừa như kim cang thứ năm.
Đại Bồ Tát thấy chư Phật, nghe Phật thuyết pháp, lòng rất hoan hỷ, chẳng chấp tự thân, Phật thân, hiểu thân Như Lai chẳng thiệt, chẳng hư, chẳng có chẳng không, chẳng tánh chẳng không tánh, chẳng sắc chẳng không sắc, chẳng tướng chẳng không tướng, chẳng sanh chẳng diệt, thiệt vô sở hữu, cũng chẳng hoại sở hữu.  Vì chẳng thể dùng tất cả tánh tướng để chấp lấy.  Đây là tâm thệ nguyện đại thừa như kim cang thứ sáu.
Đại Bồ Tát hoặc bị chúng sanh quở trách mắng nhiếc đánh đập, hoặc chặt tay chân hoặc thẻo tai mũi, hoặc móc mắt, hoặc cắt đầu.  Tất cả sự khổ nhục như vậy đều nhẫn thọ được.  Trọn không vì đây mà sanh lòng sân hại.  Trong bất khả thuyết bất khả thuyết kiếp tu hạnh Bồ Tát nhiếp thọ chúng sanh hằng không phế bỏ.  Vì đại Bồ Tát đã khéo quán sát tất cả các pháp không có hai tướng, tâm chẳng động loạn, có thể bỏ thân mình mà nhẫn sự khổ đó.  Đây là tâm thệ nguyện đại thừa như kim cang thứ bảy.
Lại nghĩ rằng:  Vị lai thế kiếp số vô lượng vô biên không có chừng ngằn chẳng thể cùng tận.  Tôi sẽ tột kiếp số đó ở một thế giới tu hạnh Bồ Tát giáo hóa chúng sanh.  Như một thế giới, tận pháp giới hư không giới tất cả thế giới cũng đều như vậy mà lòng không kinh sợ.  Vì đạo Bồ Tát lẽ phải như vậy, vì tất cả chúng sanh mà tu hành như vậy.  Đây là tâm thệ  nguyện đại thừa như kim cang thứ tám.
Lại nghĩ rằng:  Vô thượng bồ đề do tâm làm gốc.  Nếu tâm thanh tịnh thời có thể viên mãn tất cả thiện căn, nơi Phật bồ đề tất được tự tại, muốn thành vô thượng bồ đề tùy ý liền thành.  Nếu muốn dứt trừ tất cả thủ duyên trụ đạo nhứt hướng, tôi cũng có thể làm được.  Nhưng tôi chẳng dứt, vì muốn rốt ráo Phật bồ đề.  Tôi cũng chẳng liền chứng vô thượng bồ đề, vì để thành mãn bổn nguyện:  tận tất cả thế giới hành đạo Bồ Tát giáo hóa chúng sanh.  Đây là tâm thệ nguyện đại thừa như kim cang thứ chín.
Đại Bồ Tát biết Phật bất khả đắc, bồ đề bất khả đắc, Bồ Tát bất khả đắc, tất cả pháp bất khả đắc, chúng sanh bất khả đắc, tâm bất khả đắc, hạnh bất khả đắc, quá khứ bất khả đắc, vị lai bất khả đắc, hiện tại bất khả đắc, tất cả thế gian bất khả đắc, hữu vi vô vi bất khả đắc.  Bồ Tát như vậy trụ tịch tịnh, trụ thậm thâm, trụ tịch diệt, trụ vô tánh, trụ vô ngôn, trụ vô nhị, trụ vô đẳng, trụ tự tánh, trụ như lý, trụ giải thoát, trụ niết bàn, trụ thiệt tế, mà cũng chẳng bỏ tất cả đại nguyện, chẳng bỏ tâm nhất thiết trí, chẳng bỏ hạnh Bồ Tát, chẳng bỏ giáo hóa chúng sanh, chẳng bỏ các ba la mật, chẳng bỏ điều phục chúng sanh, chẳng bỏ thừa sự chư Phật, chẳng bỏ diễn thuyết các pháp, chẳng bỏ trang nghiêm thế giới.  Vì đại Bồ Tát phát đại nguyện, dầu thấu rõ tất cả pháp tướng mà tâm đại từ bi lại càng tăng trưởng, vô lượng công đức đều tu hành đủ, với các chúng sanh lòng không bỏ rời.  Vì tất cả pháp đều vô sở hữu, phàm phu ngu mê chẳng hay chẳng biết, tôi sẽ làm cho họ đều được khai ngộ, nơi các pháp tánh chiếu rõ phân minh.  Vì tất cả chư Phật an trụ tịch diệt mà dùng tâm đại bi nơi các thế gian thuyết pháp giáo hóa chưa từng thôi nghĩ.  Nay tôi sao lại rời bỏ đại bi!  Lại trước kai tôi phát tâm thệ nguyện quảng đại, phát tâm quyết định lợi ích tất cả chúng sanh, phát tâm chứa nhóm tất cả thiện căn, phát tâm an trụ thiện xảo hồi hướng, phát tâm xuất tâm trí huệ thậm thâm, phát tâm hàm thọ tất cả chúng sanh, phát tâm bình đẳng với tất cả chúng sanh, nói lời chơn thiệt, lời chẳng hư dối, nguyện ban cho tất cả chúng sanh đại pháp vô thượng, nguyện chẳng dứt chủng tánh tất cả chư Phật.  Nay tất cả chúng sanh chưa được giải thoát, chưa thành chánh giác, chưa đủ Phật pháp, đại nguyện tôi chưa viên mãn thế nào tôi lại muốn bỏ rời đại bi!  Đây là tâm thệ nguyện đại thừa kim cang thứ mười.
Nếu chư Bồ Tát an trụ pháp này thời được trí đại thần thông vô thượng kim cang tánh của Như Lai.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát có mười pháp đại phát khởi:
Đại Bồ Tát nghĩ rằng:  Tôi sẽ cúng dường cung kính tất cả chư Phật.  Đây là đại phát khởi thứ nhất.
Lại nghĩ rằng:  Tôi sẽ trưởng dưỡng tất cả thiện căn của Bồ Tát.  Đây là đại phát khởi thứ hai.
Lại nghĩ rằng:  Sau khi đức Như Lai nhập niết bàn, tôi sẽ trang nghiêm Phật pháp.  Dùng tất cả thứ hoa, tất cả tràng hoa, tất cả hương, tất cả hương thoa, tất cả hương bột, tất cả y, tất cả lọng, tất cả tràng, tất cả phan mà cúng dường tháp.  Thọ trì thủ hộ chánh pháp của Phật.  Đây là đại phát khởi thứ ba.
Lại nghĩ rằng:  Tôi sẽ giáo hóa điều phục tất cả chúng sanh khiến họ được vô thượng bồ đề.  Đây là đại phát khởi thứ tư.
Lại nghĩ rằng:  Tôi sẽ dùng Phật độ vô thượng trang nghiêm để trang nghiêm tất cả thế giới.  Đây là đại phát khởi thứ năm.
Lại nghĩ rằng:  Tôi sẽ phát tâm đại bi vì một chúng sanh nơi tất cả thế giới, mỗi mỗi đều tột kiếp thuở vị lai thật hành Bồ Tát hạnh.  Như vì một chúng sanh vì tất cả chúng sanh cũng như vậy, đều khiến họ được vô thượng bồ đề, nhẫn đến chẳng sanh một niệm mỏi lười.  Đây là đại phát khởi thứ sáu.
Lại nghĩ rằng:  Chư Như Lai đó vô lượng vô biên, tôi sẽ ở chỗ một đức Như Lai trải qua bất tư nghì kiếp cung kính cúng dường.  Như ở nơi một đức Như Lai, nơi tất cả đức Như Lai cũng đều như vậy.  Đây là đại phát khởi thứ bảy.
Lại nghĩ rằng:  Sau khi chư Như Lai đó diệt độ, mỗi đức Như Lai có bao nhiêu xá lợi, tôi sẽ đều xây bửu tháp cao rộng bằng bất khả thuyết thế giới.  Tạo tượng Phật cũng như vậy.  Trong bất tư nghì kiếp dùng tất cả bửu tràng, phan, lọng, hương, hoa, y phục để cúng dường.  Chẳng sanh một tâm niệm nhàm mỏi.  Vì cúng dường chư Phật, vì thành tựu Phật pháp, vì giáo hóa chúng sanh, vì  hộ trì chánh pháp khai thị diễn thuyết.  Đây là đại phát khởi thứ tám.
Lại nghĩ rằng:  Tôi sẽ dùng thiện căn này thành vô thượng bồ đề được nhập Phật địa.  Cùng với tất cả Như Lai thể tánh bình đẳng.  Đây là đại phát khởi thứ chín.
Lại nghĩ rằng:  Khi tôi đã thành chánh giác, nơi tất cả thế giới trong bất khả thuyết kiếp diễn thuyết chánh pháp, thị hiện bất tư nghì thần thông tự tại.  Thân, ngữ, ý, chẳng nhàm mỏi, chẳng rời chánh pháp.  Vì do Phật lực hộ trì, vì tất cả chúng sanh mà siêng thật hành đại nguyện, vì đại từ làm đầu, vì đại bi rốt ráo, vì đạt pháp vô tướng, vì trụ chơn thiệt ngữ, vì chứng tất cả pháp đều tịch diệt, vì biết tất cả chúng sanh đều bất khả đắc mà cũng chẳng trái những công hạnh đã làm, vì cùng tam thế Phật đồng một thể, vì cùng khắp pháp giới hư không giới, vì thông đạt chư pháp vô tướng, vì thành tựu bất sanh bất diệt, vì đầy đủ tất cả Phật pháp nên dùng sức đại nguyện điều phục chúng sanh làm đai Phật sự không có thôi nghĩ.  Đây là đại phát khởi thứ mười.
Nếu chư Bồ Tát an trụ pháp này thời rốt ráo Bồ Tát hạnh, đầy đủ đại trí vô thượng của Như Lai.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát có mười đại sự rốt ráo:
Đại sự rốt ráo cung kính cúng dường tất cả Như Lai.
Đại sự rốt ráo tuỳ nghĩ nhớ đến chúng sanh nào có thể cứu hộ.
Đại sự rốt ráo chuyên cầu tất cả Phật pháp.
Đại sự rốt ráo chứa nhóm tất cả thiện căn.
Đại sự rốt ráo tư duy tất cả Phật pháp.
Đại sự rốt ráo đầy đủ tất cả đại nguyện.
Đại sự rốt ráo thành tựu tất cả hạnh Bồ Tát.
Đại sự rốt ráo phụng sự tất cả thiện tri thức.
Đại sự rốt ráo qua đến tất cả thế giới chỗ của chư Phật.
Đại sự rốt ráo nghe và thọ trì chánh pháp của chư Phật.
Nếu chư Bồ Tát an trụ pháp này thời được sự rốt ráo đại trí huệ vô thượng bồ đề.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát có mười thứ bất hoại tín:
Bất hoại tín đối với tất cả chư Phật.
Bất hoại tín đối với tất cả Phật pháp.
Bất hoại tín đối với tất cả thánh tăng.
Bất hoại tín đối với tất cả Bồ Tát.
Bất hoại tín đối với tất cả thiện tri thức.
Bất hoại tín đối với tất cả chúng sanh.
Bất hoại tín đối với đại nguyện của tất cả Bồ Tát.
Bất hoại tín đối với tất cả Bồ Tát hạnh.
Bất hoại tín đối với sự cung kính cúng dường tất cả chư Phật.
Bất hoại tín đối với phương tiện thiện xảo giáo hóa điều phục tất cả chúng sanh của Bồ Tát.
Nếu chư Bồ Tát an trụ pháp này thời được bất hoại tín đại trí huệ vô thượng của chư Phật.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát có mười điều được thọ ký:
Trong có tri giải thậm thâm, được thọ ký.
Hai tùy thuận phát khởi những Bồ Tát thiện căn, được thọ ký.
Tu quảng đại hạnh, được thọ ký.
Hiện tiền, được thọ ký.
Chẳng hiện tiền, được thọ ký.
Nhơn tự tâm chứng bồ đề, được thọ ký.
Thành tựu nhẫn, được thọ ký.
Giáo hóa điều phục chúng sanh, được thọ ký.
Rốt ráo tất cả kiếp số, được thọ ký.
Tất cả Bồ Tát hạnh tự tại, được thọ ký.
Nếu chư Bồ Tát an trụ pháp này, thời ở chỗ chư Phật được thọ ký.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát có mười thứ thiện căn hồi hướng.  Bồ Tát do đây có thể dùng tất cả thiện căn thảy đều hồi hướng:
Do thiện căn tôi đồng thiện tri thức nguyện.  Thành tựu như đây chớ thành tựu khác.
Do thiện căn tôi đồng thiện tri thức hạnh.  Thành tựu như đây chớ thành tựu khác.
Do thiện căn tôi đồng thiện tri thức căn.  Thành tựu như đây chớ thành tựu khác.
Do thiện căn tôi đồng thiện tri thức bình đẳng.  Thành tựu như đây chớ thành tựu khác.
Do thiện căn tôi đồng thiện tri thức niệm.  Thành tựu như đây chớ thành tựu khác.
Do thiện căn tôi đồng thiện tri thức thanh tịnh.  Thành tựu như đây chớ thành tựu khác.
Do thiện căn tôi đồng thiện tri thức sở trụ.  Thành tựu như đây chớ thành tựu khác.
Do thiện căn tôi đồng thiện tri thức thành mãn.  Thành tựu như đây chớ thành tựu khác.
Do thiện căn tôi đồng thiện tri thức bất hoại.  Thành tựu như đây chớ thành tựu khác.
Nếu chư Bồ Tát an trụ pháp này thời được thiện căn hồi hướng vô thượng.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát có mười pháp được trí huệ:
Xả thí tự tại, được trí huệ.
Hiểu sâu tất cả Phật pháp, được trí huệ.
Nhập Như Lai trí, được trí huệ.
Hay đoạn nghi trong tất cả vấn đáp, được trí huệ.
Nhập nơi nghĩa của trí giả, được trí huệ.
Hay hiểu sâu ngôn âm thiện xảo trong tất cả Phật pháp của tất cả chư Phật, được trí huệ.
Hiểu sâu ở chỗ chư Phật gieo ít căn lành tất có thể đầy đủ tất cả pháp bạch tịnh, được trí vô lượng của Như Lai, được trí huệ.
Thành tựu Bồ Tát bất tư nghì trụ, được trí huệ.
Ở trong một niệm đều có thể qua đến bất khả thuyết cõi Phật, được trí huệ.
Giác ngộ chư Phật bồ đề, nhập tất cả pháp giới, văn trì tất cả pháp của Phật nói, vào sâu những ngôn âm trang nghiêm của tất cả Như Lai, được trí huệ.
Nếu chư Bồ Tát an trụ pháp này thời được hiện chứng trí vô thượng của tất cả chư Phật.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát có mười pháp phát tâm vô lượng vô biên quảng đại tâm:
Ở chỗ của tất cả chư Phật phát vô lượng vô biên quảng đại tâm.
Quán sát tất cả cõi, tất cả thế, tất cả pháp giới phát vô lượng vô biên quảng đại tâm.
Quán sát tất cả pháp đều như hư không phát vô lượng vô biên quảng đại tâm.
Quán sát hạnh quảng đại của Bồ Tát phát vô lượng vô biên quảng đại tâm.
Chánh niệm tam thế tất cả chư Phật phát vô lượng vô biên quảng đại tâm.
Quán sát những nghiệp báo bất tư nghì phát vô lượng vô biên quảng đại tâm.
Nghiêm tịnh tất cả cõi Phật phát vô lượng vô biên quảng đại tâm.
Vào khắp đại hội của tất cả chư Phật phát vô lượng vô biên quảng đại tâm.
Quán sát diệu âm của tất cả Như Lai phát vô lượng vô biên quảng đại tâm.
Nếu chư Bồ Tát an trụ mười tâm quảng đại này thời được biển trí huệ quảng đại vô lượng vô biên quảng đại tâm.
Nếu chư Bồ Tát an trụ mười tâm quảng đại này thời được biển trí huệ quảng đại vô lượng vô biên tất cả Phật pháp.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát có mười phục tạng:
Biết tất cả pháp là tạng khởi hạnh công đức.
Biết tất cả pháp là tạng chánh tư duy.
Biết tất cả pháp là tạng đà la ni chiếu sáng.
Biết tất cả pháp là tạng biện tài khai diễn.
Biết tất cả pháp là tạng bất khả thuyết thiện giác chơn thiệt.
Biết tất cả Phật là tự tại thần thông là tạng quán sát thị hiện.
Biết tất cả pháp là tạng thiện xảo xuất sanh bình đẳng.
Biết tất cả pháp là tạng thường thấy tất cả chư Phật.
Biết tất cả bất tư nghì kiếp là tạng biết rõ đều như huyễn trụ.
Biết tất cả chư Phật Bồ Tát là tạng phát sanh hoan hỷ tịnh tín.
Nếu chư Bồ Tát an trụ pháp này thời được pháp tạng trí huệ vô thượng của tất cả chư Phật.  Trọn có thể điều phục tất cả chúng sanh.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát có mười luật nghi:
Luật nghi chẳng hủy báng tất cả Phật pháp.
Luật nghi ở chỗ chư Phật tin mến tâm chẳng hoại được.
Luật nghi tôn trọng cung kính tất cả Bồ Tát.
Luật nghi trọn chẳng bỏ tâm mến thích tất cả thiện tri thức.
Luật nghi chẳng móng lòng ghi nhớ tất cả Thanh Văn, Độc Giác.
Luật nghi xa lìa tất cả sự thối chuyển Bồ Tát đạo.
Luật nghi chẳng khởi tất cả tâm tổn hại chúng sanh.
Luật nghi tu tất cả thiện căn đều khiến rốt ráo.
Luật nghi đều có thể hàng phục được tất cả ma.
Luật nghi đều làm cho đầy đủ tất cả ba la mật.
Nếu chư Bồ Tát an trụ pháp này thời được luật nghi đại trí vô thượng.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát có mười tự tại:
Mạng tự tại, vì trụ thọ mạng trong bất khả thuyết kiếp.
Tâm tự tại, vì trí huệ hay nhập vô số tam muội.
Đồ dùng tự tại, vì hay dùng vô lượng đồ trang nghiêm để trang nghiêm tất cả thế giới.
Nghiệp tự tại, vì tuỳ thời thọ báo.
Thọ sanh tự tại, vì thị hiện thọ sanh nơi tất cả thế giới.
Giải tự tại, vì thấy Phật đầy khắp tất cả thế giới.
Nguyện tự tại, vì trong các cõi tùy dục tùy thời mà thành chánh giác.
Thần lực tự tại, vì thị hiện tất cả đại thần thông.
Pháp tự tại, vì thị hiện vô biên pháp môn.
Trí tự tại, vì trong mỗi niệm thị hiện Như Lai thập lực vô úy thành chánh giác.
Nếu chư Bồ Tát an trụ pháp này thời được viên mãn tất cả các môn ba la mật, trí huệ thần lực, bồ đề tự tại của chư Phật.

(Hán bộ quyển thứ 56)

Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát có mười vô ngại dụng:
Chúng sanh vô ngại dụng.  Quốc độ vô ngại dụng.  Pháp vô ngại dụng.  Thân vô ngại dụng.  Nguyện vô ngại dụng.  Cảnh giới vô ngại dụng.  Trí vô ngại dụng.  Thần thông vô ngại dụng.  Thần lực vô ngại dụng.  Lực vô ngại dụng. 
Thế nào là chúng sanh vô ngại dụng của đại Bồ Tát?
Đại Bồ Tát có mười chúng sanh vô ngại dụng:
Biết tất cả chúng sanh không chúng sanh, vô ngại dụng.
Biết tất cả chúng sanh chỉ do tưởng chấp trì, vô ngại dụng.
Vì tất cả chúg sanh thuyết pháp chưa từng lỗi thời, vô ngại dụng.
Khắp hóa hiện tất cả chúng sanh giới, vô ngại dụng.
Để tất cả chúng sanh ở trong một lỗ lông mà không chật hẹp, vô ngại dụng.
Vì tất cả chúng sanh thị hiện tất cả thế giới phương khác cho họ đều được thấy, vô ngại dụng.
Vì tất cả chúng sanh thị hiện những thân trời: Đế Thích, Phạm Vương, Tứ Thiên Vương, vô ngại dụng.
Vì tất cả chúng sanh thị hiện Thanh Văn, Bích Chi Phật oai nghi tịch tịnh, vô ngại dụng.
Vì tất cả chúng sanh thị hiện Bồ Tát, vô ngại dụng.
Vì tất cả chúng sanh thi hiện chư Phật, sắc thân tướng hảo, nhất thiết trí lực, thành đẳng chánh giác, vô ngại dụng.
Đại Bồ Tát có mười quốc độ vô ngại dụng:
Tất cả cõi làm một cõi, vô ngại dụng.
Tất cả cõi vào một lỗ lông, vô ngại dụng.
Biết tất cả cõi vô tận, vô ngại dụng.
Một thân ngồi kiết già đầy khắp tất cả cõi, vô ngại dụng.
Trong một thân hiện tất cả cõi, vô ngại dụng.
Chấn động tất cả cõi chẳng khiến chúng sanh kinh sợ, vô ngại dụng.
Dùng đồ trang nghiêm tất cả cõi để trang nghiêm một cõi, vô ngại dụng.
Dùng đồ trang nghiêm một cõi để trang nghiêm tất cả cõi, vô ngại dụng.
Đem một Như Lai, một chúng hội khắp tất cả Phật độ thị hiện cho chúng sanh, vô ngại dụng.
Tất cả cõi nhỏ, cõi vừa, cõi lớn, cõi rộng, cõi sâu, cõi ngửa, cõi úp, cõi nghiêng, cõi ngay, khắp các phương vô lượng sai biệt.  Đem những cõi này khắp thị hiện cho tất cả chúng sanh, vô ngại dụng.
Đại Bồ Tát có mười pháp vô ngại dụng:
Biết tất cả pháp vào một pháp, một pháp vào tất cả pháp mà chẳng trái tâm giải của chúng sanh, vô ngại dụng.
Từ bát nhã ba la mật xuất sanh tất cả pháp, vì người khác giải nói đều làm cho khai ngộ, vô ngại dụng.
Biết tất cả pháp lìa văn tự mà khiến chúng sanh đều được ngộ nhập, vô ngại dụng.
Biết tất cả pháp nhập một tướng mà hay diễn thuyết vô lượng pháp tướng, vô ngại dụng.
Biết tất cả pháp lìa ngôn thuyết mà có thể vì người nói vô biên pháp môn, vô ngại dụng.
Nơi tất cả pháp khéo chuyển phổ môn tự luân, vô ngại dụng.
Đem tất cả pháp vào một pháp môn mà chẳng trái nhau, trong bất khả thuyết kiếp nói chẳng cùng tận, vô ngại dụng.
Đem tất cả pháp đều vào Phật pháp, khiến các chúng sanh đều được tỏ ngộ, vô ngại dụng.
Biết tất cả pháp không có biên tế, vô ngại dụng.
Biết tất cả pháp không ngằn mé chướng ngại, dường như lưới huyễn vô lượng sai biệt, trong vô lượng kiếp vì chúng sanh mà nói chẳng thể cùng tận, vô ngại dụng.
Đại Bồ Tát có mười thân vô ngại dụng:
Đem tất cả thân chúng sanh vào thân mình, vô ngại dụng.
Đem thân mình vào thân tất cả chúng sanh, vô ngại dụng.
Đem tất cả Phật thân vào một Phật thân, vô ngại dụng.
Đem một Phật thân vào tất cả Phật thân, vô ngại dụng.
Đem tất cả cõi vào thân mình, vô ngại dụng.
Đem một thân đầy khắp tất cả pháp tam thế thị hiện cho chúng sanh, vô ngại dụng.
Nơi một thân thị hiện vô biên thân nhập tam muội, vô ngại dụng.
Nơi một thân thị hiện thân đồng số chúng sanh thành chánh giác, vô ngại dụng.
Nơi thân tất cả chúng sanh hiện thân một chúng sanh, nơi thân một chúng sanh hiện thân tất cả chúng sanh, vô ngại dụng.
Nơi thân tất cả chúng sanh thị hiện pháp thân, nơi pháp thân thị hiện thân tất cả chúng sanh, vô ngại dụng.
Đại Bồ Tát có mười nguyện vô ngại dụng:
Đem nguyện của tất cả Bồ Tát làm nguyện của mình, vô ngại dụng.
Đem nguyện lực thành bồ đề của tất cả Phật, thị hiện tự mình thành chánh giác, vô ngại dụng.
Tùy chúng sanh được hoá độ, tự mình thành vô thượng chánh đẳng chánh giác, vô ngại dụng.
Nơi tất cả vô biên tế kiếp, đại nguyện chẳng dứt, vô ngại dụng.
Xa lìa thức thân, chẳng chấp trí thân, dùng nguyện tự tại hiện tất cả thân, vô ngại dụng.
Xả bỏ thân mình để thành mãn nguyện của người, vô ngại dụng.
Giáo hóa khắp tất cả chúng sanh mà chẳng bỏ đại nguyện, vô ngại dụng.
Ở tất cả kiếp thực hành Bồ Tát hạnh mà đại nguyện chẳng dứt, vô ngại dụng.
Ở một lỗ lông hiện thành chánh giác, do nguyện lực nên đầy khắp tất cả Phật độ.  Ở bất khả thuyết bất khả thuyết thế giới vì mỗi mỗi chúng sanh mà thị hiện như vậy, vô ngại dụng.
Nói một câu pháp khắp tất cả pháp, nổi mây lớn chánh pháp, chói điển quang giải thoát, nổ tiếng sấm thiệt pháp, rưới mưa vị cam lồ, dùng nguyện lực lớn thấm nhuần khắp tất cả chúng sanh giới, vô ngại dụng.
Đại Bồ Tát có mười cảnh giới vô ngại dụng:
Tại pháp giới cảnh giới mà chẳng bỏ chúng sanh cảnh giới, vô ngại dụng.
Tại Phật cảnh giới mà chẳng bỏ ma cảnh giới, vô ngại dụng.
Tại niết bàn cảnh giới mà chẳng bỏ sanh tử cảnh giới, vô ngại dụng.
Nhập nhất thiết trí cảnh giới mà chẳng dứt Bồ Tát chủng tánh cảnh giới, vô ngại dụng.
Trụ cảnh giới tịch tịnh mà chẳng bỏ cảnh giới tán loạn, vô ngại dụng.
Trụ cảnh giới như hư không, chẳng khứ, chẳng lai, không hý luận, không tướng trạng, không thể tánh, không ngôn thuyết mà chẳng bỏ cảnh giới hý luận của tất cả chúng sanh, vô ngại dụng.
Trụ cảnh giới những trí lực, giải thoát mà chẳng bỏ cảnh giới của tất cả nhưng phương sở, vô ngại dụng.
Nhập cảnh giới vô chúng sanh tế, mà chẳng bỏ giáo hóa tất cả chúng sanh, vô ngại dụng.
Trụ cảnh giới tịch tịnh thiền định giải thoát thần thông minh trí, mà ở tất cả thế giới thị hiện thọ sanh, vô ngại dụng.
Trụ cảnh giới Như Lai tất cả hạnh trang nghiêm thành chánh giác, mà hiện oai nghi tịch tịnh của tất cả Thanh Văn, Bích Chi Phật, vô ngại dụng.
Đại Bồ Tát có mười trí vô ngại dụng:
Vô tận biện tài, vô ngại dụng.
Tất cả tổng trì không quên mất, vô ngại dụng.
Hay quyết định biết, quyết định nói những căn tánh của tất cả chúng sanh, vô ngại dụng.
Ở trong một niệm dùng trí vô ngại biết tâm hành của tất cả chúng sanh, vô ngại dụng.
Biết bệnh dục lạc tuỳ miên tập khí phiền não của tất cả chúng sanh, tùy theo chỗ thích nghi mà cho thuốc, vô ngại dụng.
Khoảng một niệm hay vào được thập lực của Như Lai, vô ngại dụng.
Dùng trí vô ngại biết tất cả kiếp tam thế và chúng sanh trong đó, vô ngại dụng.
Ở trong mỗi niệm hiện thành chánh giác, thị hiện cho chúng sanh không đoạn tuyệt, vô ngại dụng.
Nơi một chúng sanh tưởng biết tất cả chúng sanh nghiệp, vô ngại dụng.
Nơi ngôn âm của một chúng sanh, hiểu lời nói của tất cả chúng sanh, vô ngại dụng.
Đại Bồ Tát có mười môn thần thông vô ngại dụng:
Nơi một thân thị hiện tất cả thế giới thân, vô ngại dụng.
Nơi chúng hội một đức Phật, thính thọ lời thuyết pháp trong chúng hội của tất cả chư Phật, vô ngại dụng.
Ở trong tâm niệm của một chúng sanh, thành tựu bất khả thuyết vô thượng bồ đề, khai ngộ tâm của tất cả chúng sanh, vô ngại dụng.
Dùng một âm thanh hiện ngôn âm sai biệt của tất cả thế giới, làm cho tất cả chúng sanh đều được hiểu rõ, vô ngại dụng.
Trong một niệm hiện hết tất cả kiếp quá khứ có bao nhiêu nghiệp quả nhiều thứ sai khác, làm cho các chúng sanh đều được thấy biết, vô ngại dụg.
Một vi trần xuất hiện cõi Phật quảng đại vô lượng trang nghiêm, vô ngại dụng.
Làm cho tất cả thế giới đầy đủ trang nghiêm, vô ngại dụng.
Phóng quang minh đại pháp, hiện tất cả chư Phật bồ đề, tất cả chúng sánh hạnh nguyện, vô ngại dụng.
Khéo thủ hộ tất cả thiên, long, bát bộ, Đế Thích, Phạm Vương, Tứ Thiên Vương, Thanh Văn, Độc Giác, Bồ Tát, bao nhiêu thập lực của Như Lai, thiện căn của Bồ Tát, vô ngại dụng.
Nếu chư Bồ Tát được thần thông vô ngại dụng này thời có thể vào khắp tất cả Phật pháp.
Đại Bồ Tát có mười thần lực vô ngại dụng:
Đem bất khả thuyết thế giới để vào một vi trần, vô ngại dụng.
Trong một vi trần hiện khắp pháp giới tất cả cõi Phật, vô ngại dụng.
Đem nước tất cả đại hải để vào một lỗ lông qua lại cùng khắp mười phương thế giới mà không làm xúc não chúng sanh, vô ngại dụng.
Đem bất khả thuyết thế giới nạp trong thân mình, thị hiện tất cả việc làm do sức thần thông, vô ngại dụng.
Dùng một sợi lông buộc bất khả sổ núi kim cang, núi thiết vi, cầm đi du hành tất cả thế giới, chẳng làm cho chúng sanh có lòng kinh sợ, vô ngại dụng.
Đem bất khả thuyết kiếp làm một kiếp, một kiếp làm bất khả thuyết kiếp, trong đó thị hiện sự thành hoại sai biệt, chẳng làm cho chúng sanh có lòng kinh sợ, vô ngại dụng.
Trong tất cả thế giới hiện thủy tai, hỏa tai, phong tai, những sự biến hoại mà chẳng não chúng sanh, vô ngại dụng.
Tất cả thế giới lúc tam tai hoại, đều có thể hộ trì đồ dùng của tất cả chúng sanh, chẳng để tổn hư thiếu thốn, vô ngại dụng.
Dùng một tay cầm bất tư nghì thế giới, ném ra ngoài bất khả thuyết thế giới, chẳng làm cho chúng sanh có tưởng kinh sợ, vô ngại dụng.
Nói tất cả cõi đồng với hư không, làm cho các chúng sanh đều được tỏ ngộ, vô ngại dụng.
Đại Bồ Tát có mười lực vô ngại dụng:
Chúng sanh lực vô ngại dụng, vì giáo hóa điều phục chẳng bỏ rời.
Sát lực vô ngại dụng, vì thị hiện bất khả thuyết trang nghiêm để trang nghiêm/
Pháp lực vô ngại dụng, vì làm cho tất cả thân vào một thân.
Kiếp lực vô ngại dụng, vì tu hành chẳng dứt.
Phật lực vô ngại dụng, vì giác ngộ thuỳ miên.
Hành lực vô ngại dụng, vì nhiếp thủ tất cả Bồ Tát hạnh.
Như Lai lực vô ngại dụng, vì độ thoát tất cả chúng sanh.
Vô sư lực vô ngại dụng, vì tự giác tất cả các pháp.
Nhứt thiết trí lực vô ngại dụng, vì dùng nhứt thiết trí thành chánh giác.
Đại bi lực vô ngại dụng, vì chẳng bỏ tất cả chúng sanh.
Trên đây là mười môn vô ngại dụng của chư đại Bồ Tát.  Nếu có Bồ Tát được mười môn vô ngại dụng này, thời nơi vô thượng chánh đẳng chánh giác, muốn thành hay chẳng muốn thành đều tùy ý vô ngại.  Dầu thành chánh giác nhưng vẫn chẳng dứt hạnh Bồ Tát.  Tại sao vậy?  Vì đại Bồ Tát phát thệ nguyện lớn nhập vô biên môn vô ngại dụng mà thiện xảo thị hiện.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát có mười môn du hý:
Đem thân chúng sanh làm thân quốc độ, mà cũng chẳng hoại thân chúng sanh, là môn du hý của Bồ Tát.
Đem thân quốc độ làm thân chúng sanh, mà cũng chẳng hoại thân quốc độ, là môn du hý của Bồ Tát.
Nơi Phật thân thị hiện thân Thanh Văn, thân Độc Giác, mà chẳng tổn giảm thân Phật, là môn du hý của Bồ Tát.
Nơi thân Thanh Văn, thân Độc Giác thị hiện Phật thân, mà chẳng tăng trưởng thân Thanh Văn, thân Độc Giác, là môn du hý của Bồ Tát.
Nơi thân Bồ Tát hạnh thị hiện thân thành chánh giác mà chẳng đoạn thân Bồ Tát hạnh, là môn du hý của Bồ Tát.
Nơi thân thành chánh giác thị hiện thân tu Bồ Tát hạnh, mà chẳng giảm thân thành chánh giác, là môn du hý của Bồ Tát.
Nơi cõi niết bàn thị hiện thân sanh tử, mà chẳng nhiễm trước sanh tử, là môn du hý của Bồ Tát.
Nơi cõi sanh tử thị hiện niết bàn, mà chẳng rốt ráo nhập nơi niết bàn, là môn du hý của Bồ Tát.
Nhập tam muội mà thị hiện tất cả nghiệp đi, đứng, ngồi, nằm, nhưng chẳng bỏ rời tam muội chánh thọ, là môn du hý của Bồ Tát.
Ở chỗ một đức Phật nghe pháp thọ trì, thân chẳng động mà dùng sức tam muội ở trong bất khả thuyết Phật hội đều hiện thân mà chẳng phân thân cũng chẳng khởi định, mà nghe pháp thọ trì tương tục chẳng dứt, niệm niệm như vậy nơi mỗi mỗi thân tam muội đều xuất sanh bất khả thuyết bất khả thuyết thân tam muội.  Thứ đệ như vậy, tất cả kiếp còn có thể cùng tận, mà thân tam muội của Bồ Tát chẳng thể cùng tận, là môn du hý của Bồ Tát.
Đây là mười môn du hý.  Nếu chư Bồ Tát an trụ pháp này, thời được đại trí du hý vô thượng của Như Lai.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát có mười cảnh giới:
Thị hiện môn vô biên pháp giới, làm cho chúng sanh được nhập, là cảnh giới của Bồ Tát.
Thị hiện tất cả thế giới vô lượng diệu trang nghiêm làm cho chúng sanh được nhập, là cảnh giới của Bồ Tát.
Hóa hiện ra tất cả chúng sanh giới, đều phương tiện khai ngộ, là cảnh giới của Bồ Tát.
Nơi thân Như Lai xuất hiện thân Bồ Tát, nơi thân Bồ Tát xuất hiện thân Như Lai, là cảnh giới của Bồ Tát.
Nơi hư không hiện thế giới, nơi thế giới hiện hư không, là cảnh giới của Bồ Tát.
Nơi sanh tử giới hiện niết bàn giới, nơi niết bàn giới hiện sanh tử giới, là cảnh giới của Bồ Tát.  Ở trong ngôn ngữ của một chúng sanh xuất sanh ngữ ngôn của tất cả Phật pháp, là cảnh giới của Bồ Tát.
Đem vô biên thân hiện làm một thân, một thân hiện làm tất cả thân sai biệt, là cảnh giới của Bồ Tát.
Đem một thân đầy khắp tất cả pháp giới, là cảnh giới của Bồ Tát.
Ở trong một niệm làm cho tất cả chúng sanh phát tâm bồ đề, đều hiện vô lượng thân thành đẳng chánh giác, là cảnh giới của Bồ Tát.
Nếu chư Bồ Tát an trụ trong pháp này thời được cảnh giới đại trí huệ vô thượng của Như Lai.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát có mười lực:
Thâm tâm lực, vì chẳng tạp tất cả thế tình.
Tăng thượng thâm tâm lực, vì chẳng bỏ tất cả Phật pháp.
Phương tiện lực, vì tất cả công hạnh đều rốt ráo.
Trí lực, vì biết tất cả tâm hành.
Nguyện lực, vì tất cả mong cầu đều làm cho viên mãn.
Hạnh lực, vì cùng tột thuở vị lai chẳng dứt.
Thừa lực, vì hay xuất sanh tất cả thừa mà chẳng bỏ đại thừa.
Thần biến lực, vì ở trong mỗi lỗ lông đều thị hiện tất cả thế giới thanh tịnh, tất cả Như Lai xuất thế.
Bồ đề lực, vì làm cho tất cả chúng sanh phát tâm thành Phật không đoạn tuyệt.
Chuyển pháp luân lực, vì nói một câu pháp đều xứng những tánh dục lạc của tất cả chúng sanh.
Nếu chư Bồ Tát an trụ pháp này thời được thập lực nhứt thiết trí vô thượng của chư Phật.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát có mười vô uý:
Đại Bồ Tát đều hay văn trì tất cả ngôn thuyết nghĩ rằng: giả sử có vô lượng vô biên chúng sanh từ mười phương đến đem trăm ngàn đại pháp để hỏi tôi.  Nơi tất cả câu hỏi của họ, tôi không thấy có chút gì khó đáp cả.  Vì không thấy khó nên tâm được vô úy, rốt ráo đến bỉ ngạn đại vô uý.  Tùy theo chỗ họ hỏi đều có thể giải đáp quyết đoán trừ sự nghi hoặc cho họ không hề khiếp sợ.  Đây là vô úy thứ nhứt của đại Bồ Tát.
Đại Bồ Tát được Như Lai quán đảnh vô ngại biện tài đến nơi bỉ ngạn rốt ráo tất cả v ăn tự ngôn âm khai thị bí mật.  Nghĩ rằng:  giả sử có vô lượng vô biên chúng sanh từ mười phương đến, đem vô lượng pháp hỏi tôi.  Nơi tất cả lời hỏi của họ, tôi không thấy có chút gì là khó đáp cả.  Vì không thấy khó nên tâm được vô úy, rốt ráo đến nơi bỉ ngạn đại vô uý.  Tuỳ chỗ hỏi của họ đều có thể giải đáp dứt nghi hoặc không kinh sợ.  Đây là môn vô úy thứ hai của đại Bồ Tát.
Đại Bồ Tát biết tất cả pháp là không, lìa ngã, lìa ngã sở, không tạo tác, không tác giả, không tri giả, không mạng giả, không dưỡng dục giả, không bổ đặc già la.  Rời uẩn, xứ, giới.  Thoát hẳn các kiến chấp.  Tâm như hư không.  Nghĩ rằng:  chẳng thấy chúng sanh có chút tướng tổn não được thân ngữ ý của tôi.  Tại sao vậy?  Vì đại Bồ Tát đã rời ngã và ngã sở, nên chẳng thấy các pháp có chút tánh tướng.  Vì chẳng thấy nên tâm được vô úy, rốt ráo đến bỉ ngạn đại vô uý, kiên cố dũng mãnh chẳng ai trở hoại được.  Đây là môn vô úy thứ ba của đại Bồ Tát.
Đại Bồ Tát được Phật lực gia hộ, Phật lực nhiếp trì, trụ tại oai nghi của Phật, việc làm chơn thiệt không biến đổi.  Nghĩ rằng:  tôi chẳng thấy có chút phần oai nghi làm cho chúng sanh móng lòng quở trách.  Vì chẳng thấy nên tâm được vô úy, ở trong đại chúng an ổn thuyết pháp.  Đây là môn vô uý thứ tư của đại Bồ Tát.
Đại Bồ Tát thân khẩu ý đều thanh tịnh, sạch trắng nhu hòa, xa lìa những điều ác.  Nghĩ rằng:  tôi chẳng thấy thân khẩu ý ba nghiệp có chút phần đáng quở trách.  Vì chẳng thấy nên tâm được vô úy, có thể làm cho chúng sanh an trụ nơi Phật pháp.  Đây là môn vô úy thứ năm của đại Bồ Tát.
Đại Bồ Tát thường được kim cang lực sĩ, thiên, long, dạ xoa, càn thát bà, a tu la, Đế Thích, Phạm Vương, Tứ Thiên Vương, v.v... theo hộ vệ.  Tất cả Như Lai luôn hộ niệm chẳng rời.  Đại Bồ Tát nghĩ rằng:  tôi chẳng thấy có chúng ma ngoại đạo kẻ tà kiến nào có thể đến làm chướng ngại hạnh Bồ Tát của tôi.  Vì chẳng thấy nên tâm được vô úy rốt ráo đến bỉ ngạn đại vô uý, phát tâm hoan hỷ thực hành hạnh Bồ Tát.   Đây là môn vô úy thứ sáu của đại Bồ Tát.
Đại Bồ Tát đã được thành tựu niệm căn đệ nhứt tâm không quên mất, được Phật hứa khả.  Nghĩ rằng:  đức Như Lai nói văn tự cú pháp thành đạo bồ đề.  Trong đó tôi chẳng thấy có chút phần quên mất.  Vì chẳng thấy nên tâm được vô úy, thọ trì tất cả chánh pháp của Như Lai, thực hành Bồ Tát hạnh.  Đây là môn vô úy thứ bảy của đại Bồ Tát.
Đại Bồ Tát trí huệ phương tiện đều đã thông đạt, Bồ Tát chư lực đều đã rốt ráo, thường xuyên giáo hóa tất cả chúng sanh.  Vì  bi mẫn chúng sanh nên luôn dùng nguyện tâm khắn chặt nơi Phật bồ đề.  Vì thành tựu chúng sanh nên ở nơi đời phiền não trược thị hiện thọ sanh, dòng họ tôn quý, quyến thuộc viên mãn, chỗ mong muốn tùy tâm được toại nguyện, hoan hỷ vui sướng.  Nghĩ rằng:  tôi dầu cùng quyến thuộc này tụ hội mà chẳng có một chút gì đáng tham luyến để bỏ phế việc tu hành thiền định, giải thoát và các môn tam muội, tổng trì, biện tài, đạo pháp Bồ Tát.  Tại sao vậy?  Vì đại Bồ Tát ở nơi tất cả pháp đã được tự tại đến bỉ ngạn, tu hạnh Bồ Tát thề chẳng đoạn tuyệt.   Chẳng thấy thế gian có một cảnh giới nào làm mê loạn được Bồ Tát đạo.  Vì chẳng thấy nên tâm được vô úy rốt ráo đến nơi bỉ ngạn đại vô uý.  Dùng đại nguyện lực nơi tất cả thế giới thị hiện thọ sanh.  Đây là môn vô úy thứ tám của đại Bồ Tát.
Đại Bồ Tát luôn chẳng quên mất tâm nhứt thiết trí, ngự nơi đại thừa, thực hành hạnh Bồ Tát.   Dùng thế lực của đại tâm nhứt thiết trí, thị hiện tất cả oai nghi tịch tịnh của Thanh Văn, Độc Giác.  Nghĩ rằng:  tôi chẳng tự thấy sẽ ở nơi nhị thừa mà lấy chút phần xuất ly.  Vì chẳng thấy nên tâm được vô úy đến nơi bỉ ngạn vô thượng đại vô úy.  Có thể khắp thị hiện đạo nhứt thiết thừa, rốt ráo đầy đủ bình đẳng đại thừa.  Đây là môn vô úy thứ chín của đại Bồ Tát.
Đại Bồ Tát thành tựu tất cả pháp bạch tịnh, đầy đủ thiện căn, viên mãn thần thông, rốt ráo an trụ nơi Phật bồ đề, đầy đủ tất cả hạnh Bồ Tát.  Ở chỗ chư Phật thọ ký nhứt thiết trí quán đảnh, mà thường khuyến hóa chúng sanh thực hành Bồ Tát đạo.  Nghĩ rằng:  tôi chẳng tự thấy có một chúng sanh đáng được thành thục, mà chẳng thể thị hiện Phật tự tại để thành thục.  Vì chẳng thấy nên tâm được vô úy, rốt ráo đến nơi bỉ ngạn đại vô úy, chẳng dứt Bồ Tát hạnh, chẳng bỏ Bồ Tát nguyện.  Tuỳ tất cả chúng sanh đáng được giáo hóa, hiện Phật cảnh giới để giáo hóa họ.  Đây là môn vô uý thứ mười của đại Bồ Tát.
Nếu chư Bồ Tát an trụ pháp này thời được đại vô úy vô thượng của chư Phật, nhưng cũng chẳng bỏ vô úy của Bồ Tát.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát có mười pháp bất cộng:
Đại Bồ Tát chẳng do người dạy, tự nhiên tu hành sáu pháp ba la mật, thường thích đại thí chẳng hề bỏn xẻn, luôn trì tịnh giới chẳng huỷ phạm, đầy đủ nhục tâm chẳng lay động, có đại tinh tấn chưa từng thối chuyển, khéo vào các thiền định trọn không tán loạn, khéo tu trí huệ trừ sạch ác kiến.  Đây là pháp bất cộng thứ nhất: chẳng do người dạy mà tùy thuận đạo ba la mật tu lục độ.
Đại Bồ Tát hay khắp nhiếp thọ tất cả chúng sanh, dùng của cải và chánh pháp để ban cho họ, chánh niệm hiện tiền, hòa nhan ái ngữ, trong lòng hoan hỷ, dạy nghĩa như thiệt, làm cho được tỏ ngộ Phật bồ đề, không hiềm ghét bình đẳng làm lợi ích cho tất cả.  Đây là pháp bất cộng thứ hai:  chẳng do người dạy, tuỳ thuận đạo tứ nhiếp pháp siêng nhiếp thọ tất cả chúng sanh.
Đại Bồ Tát thiện xảo hồi hướng:  chẳng cầu quả báo mà hồi hướng, cầu Phật bồ đề mà hồi hướng, chẳng tham chấp tất cả thiền định tam muội thế gian mà hồi hướng, vì lợi ích tất cả chúng sanh mà hồi hướng, vì chẳng dứt trí huệ của Như Lai mà hồi hướng.  Đây là pháp bất cộng thứ ba: chẳng do người dạy, vì các chúng sanh phát khởi thiện căn cầu Phật trí huệ.
Đại Bồ Tát đến bỉ ngạn rốt ráo thiện xảo phương tiện, lòng thường ngó lại tất cả chúng sanh, chẳng nhàm cảnh giới thế tục phàm ngu, chẳng thích đạo xuất ly của nhị thừa, chẳng ham sự an lạc của mình, chỉ siêng hóa độ khéo có thể nhập xuất thiền định giải thoát, nơi các tam muội đều được tự tại, qua lại chốn sanh tử như dạo trong vườn chưa từng tạm sanh lòng mỏi nhàm.  Hoặc ở ma cung, hoặc làm Thiên Đế, Phạm Vương, Thế Chủ.  Tất cả chỗ có chúng sanh, không nơi nào chẳng hiện thân trong đó.  Hoặc xuất gia trong chúng ngoại đạo mà luôn xa lìa tất cả tà kiến.  Tất cả văn từ chú thuật tự ấn toán số nhẫn đến ca vũ du hí của thế gian thảy đều thị hiện không một môn nào chẳng tinh xảo.  Hoặc có lúc thị hiện làm phụ nữ xinh đẹp, trí huệ tài năng đệ nhứt trong đời.  Nơi pháp thế gian và xuất thế đều hay hỏi hay thuyết, vấn đáp quyết nghi đều rốt ráo cả.  Tất cả sự thế gian và xuất thế cũng đều thông đạt đến bỉ ngạn.  Tất cả chúng sanh thường đến chiêm ngưỡng.  Dầu hiện oai nghi Thanh Văn, Bích Chi Phật mà chẳng mất tâm đại thừa.  Dầu trong mỗi niệm thị hiện thành chánh giác mà chẳng dứt Bồ Tát hạnh.  Đây là phát bất cộng thứ tư:  chẳng do người dạy, được phương tiện thiện xảo rốt ráo bỉ ngạn.
Đại Bồ Tát khéo biết đạo quyền thiệt song hành, trí huệ tự tại đến rốt ráo.  Những là an trụ nơi niết bàn mà thị hiện sanh tử.  Biết không chúng sanh mà siêng thực hành công hạnh giáo hóa.  Rốt ráo tịch diệt mà thị hiện khỏi phiền não.  An trụ một pháp thân trí huệ kiên mật, mà hiện khắp vô lượng thân chúng sanh.  Thường nhập thâm thiền định mà thị hiện thọ dục lạc.  Thường xa rời tam giới mà chẳng bỏ chúng sanh.  Thường thích pháp lạc mà hiện có thể nữ ca ngâm hát múa.  Dầu dùng những tướng hảo trang nghiêm thân mình mà thị hiện thọ thân bần tiện xấu xí.  Thường chứa nhóm những điều lành không có lỗi ác mà thị hiện sanh địa ngục, súc sanh, ngạ quỷ.  Dầu đã đến nơi Phật trí bỉ ngạn mà cũng chẳng bỏ trí thân Bồ Tát.  Đại Bồ Tát thành tựu vô lượng trí huệ như vậy.  Thanh Văn, Bích Chi Phật còn chẳng biết được, huống là tất cả hàng đồng môn chúng sanh.  Đây là pháp bất cộng thứ năm:  chẳng do người dạy, quyền thiệt song hành.
Đại Bồ Tát thân khẩu ý ba nghiệp tuỳ trí huệ hành thảy đều thanh tịnh.  Những là đầy đủ đại từ lìa hẳn tâm sát sanh, nhẫn đến đầy đủ chánh giải không có tà kiến.  Đây là pháp bất cộng thứ sáu:  chẳng do người dạy, thân khẩu ý ba nghiệp tùy trí huệ hành.
Đại Bồ Tát đầy đủ đại bi chẳng bỏ chúng sanh, thay tất cả chúng sanh mà chịu khổ.  Những là chịu khổ địa ngục, khổ usc sanh, khổ ngạ quỷ.  Vì lợi ích cho chúng sanh nên chẳng sanh mỏi nhọc, chỉ chuyên độ thoát tất cả chúng sanh, chưa từng nhiễm say cảnh giới ngũ dục.  Thường vì chúng sanh mà chuyên cần diệt trừ mọi sự khổ.  Đây là pháp bất cộng thứ bảy;  chẳng do người dạy, thường có lòng đại bi.
Đại Bồ Tát thường được chúng sanh thích thấy:  Phạm Vương, Đế Thích, Tứ Thiên Vương nhẫn đến tất cả chúng sanh thấy không biết chán.  Tại sao vậy?  Vì đại Bồ Tát từ đời lâu xa đến nay, hành nghiệp thanh tịnh không có lỗi lầm, vì thế nên chúng sanh thích thấy không nhàm.  Đây là pháp bất cộng thứ tám:  không do người dạy, tất cả chúng sanh thảy đều thích thấy.
Đại Bồ Tát nơi nhứt thiết trí đại thệ trang nghiêm chí nguyện kiên cố.  Dầu ở chỗ phàm phu, Thanh Văn, Độc Giác, hiểm nạn, trọn khơng thối thất tâm nhứt thiết trí diệu bửu sáng sạch.  Như có bửu châu tên là Tịnh trang nghiêm để trong bùn lầy vẫn không thay đổi màu sáng, có thể làm cho nước đục thảy đều đứng sạch.  Cũng vậy, đại Bồ Tát dầu ở chỗ phàm ngu tạp trược, trọn chẳng hư mất bửu tâm thanh tịnh cầu nhứt thiết trí, mà có thể làm cho những chúng sanh ác kia xa rời uế trược phiền não vọng kiến để được tâm bửu cầu nhứt thiết trí.  Đây là pháp bất cộng thứ chín:  chẳng do người dạy, tại những chỗ hiểm nạn chẳng mất trân bửu nhứt thiết trí.
Đại Bồ Tát thành tựu trí tự giác cảnh giới.  Không thầy tự ngộ rốt ráo tự tại đến bỉ ngạn.  Dùng lụa pháp ly cấu để đội trên đầu, mà chẳng bỏ sự thân cận thiện hữu, thường thích tôn trọng chư Như Lai.  Đây là pháp bất cộng thứ mười:  chẳng do người dạy, được pháp tối thượng chẳng rời thiện tri thức, chẳng bỏ tôn trọng Phật.
Trên đây là mười pháp bất cộng của Bồ Tát.  Nếu chư Bồ Tát an trụ nơi pháp này thời được pháp bất cộng quảng đại vô thượng của Như Lai.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát có mười nghiệp:
Tất cả thế giới nghiệp, vì đều có thể trang nghiêm thanh tịnh.
Tất cả chư Phật nghiệp, vì đều có thể cúng dường.
Tất cả Bồ Tát nghiệp, vì đồng gieo thiện căn.
Tất cả chúng sanh nghiệp, vì đều có thể giáo hóa.
Tất cả vị lai nghiệp, vì nhiếp thủ tột thuở vị lai.
Tất cả thần lực nghiệp, vì chẳng rời một thế giới đến khắp tất cả thế giới.
Tất cả quang minh nghiệp, vì phóng quang minh vô biên màu, trong mỗi quang minh có tòa liên hoa đều có Bồ Tát ngồi kiết già trên đó.  Dùng đây để hiển hiện.
Tất cả giống tam bửu chẳng đoạn nghiệp, vì sau khi đức Phật diệt độ thời thủ hộ trụ trì những Phật pháp.
Tất cả biến hóa nghiệp, vì ở tất cả thế giới thuyết pháp giáo hóa các chúng sanh.
Tất cả gia trì nghiệp, ở trong một niệm tuỳ tâm sở thích của các chúng sanh đều vì họ mà thị hiện làm cho tất cả nguyện vọng đều thành mãn.
Nếu chư Bồ Tát an trụ trong pháp này thời được nghiệp quảng đại vô thượng của Như Lai.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát có mười thân:
Bất lai thân, vì chẳng thọ sanh ở tất cả thế gian.
Bất khứ thân, vì nơi tất cả thế gian cầu chẳng được.
Bất thiệt thân, vì tất cả thế gian được như thiệt.
Bất hư thân, vì dùng lý như thiệt thị hiện thế gian.
Bất tận thân, vì tột thuở vị lai không đoạn tuyệt.
Kiên cố thân, vì tất cả chúng sanh ma chẳng phá hoại được.
Bất động thân, vì chúng ma ngoại đạo chẳng động được.
Cụ tướng thân, vì thị hiện tướng trăm phước thanh tịnh.
Vô tướng thân, vì pháp tướng rốt ráo đều vô tướng.
Phổ chí thân, vì đồng một thân với tam thế Phật.
Nếu chư Bồ Tát an trụ trong pháp này thời được thân vô thượng vô tận của Như Lai.
Đại Bồ Tát có mười thân nghiệp:
Thân nghiệp nơi một thân tràn đầy tất cả thế giới.
Thân nghiệp ở trước tất cả chúng sanh đều có thể thị hiện.
Thân nghiệp nơi tất cả loài đều có thể thọ sanh.
Thân nghiệp du hành tất cả thế giới.
Thân nghiệp qua đến tất cả chúng hội của chư Phật.
Thân nghiệp dùng một tay có thể che khắp tất cả thế giới.
Thân nghiệp có thể dùng một tay chà tất cả thế giới kim cang vi sơn nát như vi trần.
Thân nghiệp ở trong tự thân hiện tất cả cõi Phật thành hoại chỉ bày cho chúng sanh.
Thân nghiệp dùng một thân dung thọ tất cả chúng sanh giới.
Thân nghiệp ở trong thân hiện khắp tất cả cõi Phật thanh tịnh tất cả chúng sanh, rồi ở trong đó hiện thành đạo.
Nếu chư Bồ Tát an trụ pháp này thời được Phật nghiệp vô thượng của Như Lai.  Đều có thể giác ngộ tất cả chúng sanh.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát lại có mười thân:
Ba la mật, vì đều chánh tu hành.
Tứ nhiếp thân, vì chẳng bỏ tất cả chúng sanh.
Đại bi thân, vì thay tất cả chúng sanh chịu vô lượng khổ không mỏi nhàm.
Đại từ thân, vì cứu hộ tất cả chúng sanh.
Phước đức thân, vì lợi ích tất cả chúng sanh.
Trí huệ thân, vì đồng một tánh với tất cả Phật thân.
Pháp thân, vì lìa hẳn thọ sanh các loài.
Phương tiện thân, vì tất cả xứ hiện tiền.
Thần lực thân, vì thị hiện tất cả thần biến.
Bồ đề thân, vì tùy thích tùy thời thành chánh giác.
Nếu chư Bồ Tát an trụ trong pháp này thời được thân đại trí huệ vô thượng của Như Lai.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát có mười ngữ:
Như nhuyến ngữ, vì làm cho tất cả chúng sanh đều an ổn.
Cam lồ ngữ, vì làm cho tất cả chúng sanh đều thanh lương.
Bất cuống ngữ, vì bao nhiêu lời nói đều chơn thiệt.
Chơn thiệt ngữ, vì nhẫn đến trong chiêm bao cũng không vọng ngữ.
Quảng đại ngữ, vì tất cả Đế Thích, Phạm Vương, Tứ Thiên Vương, v.v.. đều tôn kính.
Thậm thâm ngữ, vì hiển thị pháp tánh.
Kiên cố ngữ, vì thuyết pháp vô tận.
Chánh trực ngữ, vì phát ngôn dễ hiểu.
Chủng chủng ngữ, vì tuỳ thời thị hiện.
Khai ngộ tất cả chúng sanh ngữ, vì tùy theo chỗ dục lạc của họ mà làm cho họ được hiểu rõ.
Nếu chư Bồ Tát an trụ trong pháp này thời được vi diệu ngữ vô thượng của Như Lai.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát có mười điều tịnh tu ngữ nghiệp:
Tịnh tu ngữ nghiệp, thích lắng nghe âm thanh của đức Như Lai.
Tịnh tu ngữ nghiệp, thích nghe nói công đức của Bồ Tát.
Tịnh tu ngữ nghiệp, chẳng nói những lời mà tất cả chúng sanh chẳng thích nghe.
Tịnh tu ngữ nghiệp, chơn thiệt xa lìa bốn lỗi lầm của lời nói.
Tịnh tu ngữ nghiệp, hoan hỷ hớn hở tán thán Như Lai.
Tịnh tu ngữ nghiệp, ở chỗ tháp Như Lai to tiếng khen ngợi công đức như thiệt của chư Phật.
Tịnh tu ngữ nghiệp, dùng tâm thâm tịnh ban bố chánh pháp cho chúng sanh.
Tịnh tu ngữ nghiệp, âm nhạc ca tụng tán thán đức Như Lai.
Tịnh tu ngữ nghiệp, ở chỗ chư Phật lắng nghe chánh pháp chẳng tiếc thân mạng.
Tịnh tu ngữ nghiệp, xả thân thừa sự tất cả Bồ Tát và các pháp sư để lãnh thọ diệu pháp.
Nếu đại Bồ Tát đem mười việc này để tịnh tu ngữ nghiệp thời được mười điều thủ hộ:
Được Thiên Vương cầm đầu cùng tất cả thiên chúng thủ hộ.
Được Thiên Vương cầm đầu cùng tất cả long chúng thủ hộ.
Được Dạ Xoa Vương cầm đầu cùng tất cả chúng dạ xoa thủ hộ.
Được Càn Thát Bà Vương cầm đầu cùng tất cả chúng càn thát bà thủ hộ.
Được A Tu La Vương cầm đầu, Ca Lâu La Vương cầm đầu, Khân Na La Vương cầm đầu, Ma Hầu La Già Vương cầm đầu, Phạm Vương cầm đầu.  Mỗi vương đều cùng chúng của mình để thủ hộ Bồ Tát này.
Được Như Lai Pháp Vương cầm đầu, tất cả pháp sư thảy đều thủ hộ.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát được sự thủ hộ này rồi thời có thể thành tựu mười đại sự:
Tất cả chúng sanh đều làm cho hoan hỷ.
Tất cả thế giới đều có thể qua đến.
Tất cả căn tánh đều có thể rõ biết.
Tất cả thắng giải đều làm cho thanh tịnh.
Tất cả phiền não đều làm cho đoạn trừ.
Tất cả tập khí đều làm cho xả ly.
Tất cả dục lạc đều làm cho sáng sạch.
Tất cả thâm tâm đều làm cho tăng trưởng.
Tất cả pháp giới đều làm cho cùng khắp.
Tất cả niết bàn khắp làm cho thấy rõ.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát có mười tâm:
Tâm như đại địa, vì có thể gìn có thể lớn những thiện căn của tất cả chúng sanh.
Tâm như đại hải, vì tất cả chư Phật vô lượng vô biên đại trí pháp thủy đều chảy vào.
Tâm như tu di sơn vương, vì đặt tất cả chúng sanh nơi chỗ thiện căn xuất thế gian vô lượng.
Tâm như ma ni bửu vương, vì lạc dục thanh tịnh không tạp nhiễm.
Tâm như kim cang, vì quyết định thâm nhập tất cả pháp.
Tâm như kim cang vi sơn, vì chư ma ngoại đạo chẳng có thể động.
Tâm như liên hoa, vì tất cả thế pháp chẳng nhiễm được.
Tâm như hoa ưu đàm bát, vì trong tất cả kiếp khó gặp gỡ.
Tâm như tịnh nhật, vì có thể phá trừ chướng tối tăm.
Tâm như hư không, vì chẳng lường được.
Nếu chư Bồ Tát an trụ trong đây thời được tâm đại thanh tịnh vô thượng của Như Lai.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát có mười thứ phát tâm:
Phát tâm tôi sẽ độ thoát tất cả chúng sanh.
Phát tâm tôi sẽ làm cho tất cả chúng sanh dứt trừ phiền não.
Phát tâm tôi sẽ làm cho tất cả chúng sanh tiêu diệt tập khí.
Phát tâm tôi sẽ dứt trừ tất cả tâm nghi hoặc.
Phát tâm tôi sẽ diệt trừ khổ não cho tất cả chúng sanh.
Phát tâm tôi sẽ trừ diệt tất cả ác đạo chư nạn.
Phát tâm tôi sẽ kính thuận tất cả Như Lai.
Phát tâm tôi sẽ khéo học tất cả sở học của Bồ Tát.
Phát tâm tôi sẽ ở chỗ mỗi đầu lông trong tất cả thế giới thị hiện tất cả Phật thành chánh giác.
Phát tâm tôi sẽ ở nơi tất cả thế giới đánh đại pháp cổ làm cho các chúng sanh tuỳ theo căn dục của họ đều được ngộ hiểu.
Nếu chư Bồ Tát an trụ trong đây thời được tâm đại phát khởi năng sự vô thượng của Như Lai.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát có mười tâm cùng khắp:
Tâm cùng khắp tất cả hư không, vì phát ý rộng lớn.
Tâm cùng khắp tất cả pháp giới, vì thâm nhập vô biên.
Tâm cùng khắp tất cả tam thế, vì một niệm đều biết rõ.
Tâm cùng khắp tất cả Phật xuất hiện, vì đều biết rõ nơi nhập thai, giáng sanh, xuất gia, thành đạo, chuyển pháp luân, nhập niết bàn.
Tâm cùng khắp tất cả chúng sanh, vì biết rõ căn dục tập khí.
Tâm cùng khắp tất cả trí huệ, vì tùy thuận biết rõ pháp giới.
Tâm cùng khắp tất cả vô biên, vì biết những huyễn vọng sai biệt.
Tâm cùng khắp tất cả vô sanh, vì các pháp tự tánh bất khả đắc.
Tâm cùng khắp tất cả vô ngại, vì chẳng trụ tự tâm tha tâm.
Tâm cùng khắp tất cả tự tại, vì một niệm khắp hiện thành Phật.
Nếu chư Bồ Tát an trụ trong đây thời được vô lượng Phật pháp vô thượng cùng khắp trang nghiêm.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát có mười căn:
Hoan hỷ căn, vì thấy tất cả Phật lòng tin chẳng hư hoại.
Hy vọng căn, vì những Phật pháp đã nghe đều tỏ ngộ tất cả.
Bất thối căn, vì tất cả tác sự đều rốt ráo.
An trụ căn, vì chẳng dứt tất cả Bồ Tát hạnh.
Vi tế căn, vì nhập lý vi diệu bát nhã ba la mật.
Bất hưu tức căn, vì rốt ráo sự việc tất cả chúng sanh.
Như kim cang căn, vì chứng biết tất cả những pháp tánh.
Kim cang quang diệm căn, vì chiếu khắp tất cả Phật cảnh giới.
Vô sai biệt căn, vì tất cả Như Lai đồng một thân.
Vô ngại tế căn, vì thâm nhập mười trí lực của Như Lai.
Nếu chư Bồ Tát an trụ trong đây thời được căn đại trí viên mãn vô thượng của Như Lai.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát có mười thâm tâm:
Thâm tâm chẳng nhiễm tất cả pháp thế gian.
Thâm tâm chẳng tạp tất cả đạo nhị thừa.
Thâm tâm thấu rõ tất cả Phật bồ đề.
Thâm tâm tuỳ thuận đạo nhất thiết chủng trí.
Thâm tâm chẳng bị tất cả chúng ma ngoại đạo làm động.
Thâm tâm tịnh tu trí viên mãn của tất cả Như Lai.
Thâm tâm thọ trì tất cả pháp đã được nghe.
Thâm tâm chẳng nhiễm trước tất cả chỗ thọ sanh.
Thâm tâm đầy đủ tất cả trí vi tế.
Thâm tâm tu tất cả Phật pháp.
Nếu chư Bồ Tát an trụ trong đây thời được thâm tâm thanh tịnh nhất thiết trí vô thượng.
Chư Phật tử! Đại Bồ Tát có mười thâm tâm tăng thượng:
Thâm tâm tăng thượng bất thối chuyển, vì chứa nhóm tất cả thiện căn.
Thâm tâm tăng thượng rời nghi hoặc, vì hiểu mật ngữ của tất cả Như Lai.
Thâm tâm tăng thượng chánh trì, vì đại nguyện đại hạnh lưu xuất.
Thâm tâm tăng thượng tối thắng, vì thâm nhập tất cả Phật pháp.
Thâm tâm tăng thượng làm chủ, vì tất cả Phật pháp đều tự tại.
Thâm tâm tăng thượng quảng đại, vì vào khắp tất cả pháp môn.
Thâm tâm tăng thượng thượng thủ, vì tất cả việc làm đều thành tựu.
Thâm tâm tăng thượng tự tại, vì tất cả tam muội thần thông biến hóa trang nghiêm.
Thâm tâm tăng thượng an trụ, vì nhiếp thọ bổn nguyện.
Thâm tâm tăng thượng không thôi nghỉ, vì thành thục tất cả chúng sanh.
Nếu chư Bồ Tát an trụ pháp này thời được thâm tâm tăng thượng thanh tịnh vô thượng của tất cả chư Phật.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát có mười điều siêng tu:
Siêng tu bố thí, vì đều xả thí tất cả mà không cầu báo đáp.
Siêng tu trì giới, vì đầu đà khổ hạnh thiểu dục tri túc không khi dối.
Siêng tu nhẫn nhục, vì rời quan niệm tự tha, nhẫn chịu tất cả điều khổ não trọn không sanh lòng sân hại.
Siêng tu tinh tất, vì thân ngữ ý ba nghiệp chưa từng tán loạn, tất cả việc làm chẳng thối chuyển mãi đến rốt ráo.
Siêng tu thiền định, vì giải thoát tam muội xuất hiện thần thông, rời lìa tất cả quyến thuộc dục lạc phiền não đấu tranh.
Siêng tu trí huệ, vì tu tập chứa nhóm tất cả công đức không mỏi nhàm.
Siêng tu đại từ, vì biết các chúng sanh không tự tánh.
Siêng tu đại bi, vì biết các pháp không, thay thế khắp tất cả chúng sanh thọ khổ không mỏi nhàm.
Siêng tu giác ngộ thập lực của Như Lai, vì rõ thấu vô ngại chỉ bày cho chúng sanh.
Siêng tu pháp luân bất thối, vì chuyển đến tâm của tất cả chúng sanh.
Nếu chư Bồ Tát an trụ trong pháp này thời được siêng tu đại trí huệ vô thượng của Như Lai.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát có mười thứ quyết định giải:
Quyết định giải tối thượng, vì gieo trồng tôn trọng thiện căn.
Quyết định giải trang nghiêm, vì xuất sanh những thứ trang nghiêm.
Quyết định giải quảng đại, vì tâm chưa từng hèn kém.
Quyết định giải tịch diệt, vì hay nhập pháp tánh thậm thâm.
Quyết định giải phổ biến, vì phát tâm không chỗ nào chẳng đến.
Quyết định giải kham nhiệm, vì hay thọ Phật lực gia trì.
Quyết định giải kiên cố, vì dẹp pháp tất cả nghiệp ma.
Quyết định giải minh đoán, vì biết rõ tất cả nghiệp báo.
Quyết định giải hiện tiền, vì tùy ý hay hiện thần thông.
Quyết định giải thiệu long, vì ở chỗ tất cả Phật được thọ ký.
Quyết định giải tự tại, vì tùy ý tùy thời thành Phật.
Nếu chư Bồ Tát an trụ trong pháp này thời được quyết định giải vô thượng của Như Lai.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát có mười quyết định giải biết tất cả thế giới:
Biết tất cả thế giới vào một thế giới.
Biết một thế giới vào tất cả thế giới.
Biết tất cả thế giới, một thân Như Lai, một tòa liên hoa thảy đều cùng khắp.
Biết tất cả thế giới đều như hư không.
Biết tất cả thế giới đủ Phật trang nghiêm.
Biết tất cả thế giới Bồ Tát đầy khắp.
Biết tất cả thế giới vào một lỗ lông.
Biết tất cả thế giới vào một thân chúng sanh.
Biết tất cả thế giới, một cây Phật bồ đề, một Phật đạo tràng thảy đều cùng khắp.
Biết tất cả thế giới, một âm thanh cùng khắp làm cho các chúng sanh đều riêng hiểu biết lòng sanh hoan hỷ.
Nếu chư Bồ Tát an trụ pháp này thời được quyết định giải Phật độ quảng đại vô thượng của Như Lai.
Chư Phật tử! Đại Bồ Tát có mười quyết định giải biết chúng sanh giới:
Biết tất cả chúng sanh giới bổn tánh không thiệt.
Biết tất cả chúng sanh giới đều vào thân một chúng sanh.
Biết tất cả chúng sanh giới đều vào thân Bồ Tát.
Biết tất cả chúng sanh giới đều vào Như Lai tạng.
Biết một thân chúng sanh vào khắp tất cả chúng sanh giới.
Biết tất cả chúng sanh giới đều kham làm pháp khí của chư Phật.
Biết tất cả chúng sanh giới tùy theo sở thích của họ mà vì họ hiện thân Đế Thích, Phạm Vương, Tứ Thiên Vương.
Biết tất cả chúng sanh giới tùy theo sở thích của họ mà hiện oai nghi tịch tịnh của Thanh Văn, Bích Chi Phật.
Biết tất cả chúng sanh giới vì họ mà hiện thân công đức trang nghiêm của Bồ Tát.
Biết tất cả chúng sanh giới vì họ mà hiện thân tướng hảo oai nghi tịch tịnh của Như Lai để khai ngộ họ.
Nếu chư Bồ Tát an trụ trong pháp này thời được quyết định giải đại oai lực vô thượng của Như Lai.

(Hán bộ quyển thứ 57)

Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát có mười thứ tập khí:
Tập khí của bồ đề tâm.
Tập khí của thiện căn.
Tập khí giáo hóa chúng sanh.
Tập khí thấy Phật.
Tập khí thọ sanh nơi thế giới thanh tịnh.
Tập khí của công hạnh.
Tập khí của thệ nguyện.
Tập khí của ba la mật.
Tập khí tư duy pháp bình đẳng.
Tập khí của những cảnh giới sai biệt.
Nếu chư Bồ Tát an trụ trong pháp này thời lìa hẳn tất cả tập khí phiền não, được trí đại trí tập khí phi tập khí của Như Lai.
Chư Phật tử! Đại Bồ Tát có mười điều thủ lấy, do đây nên không dứt hạnh Bồ Tát:
Thủ tất cả chúng sanh giới, vì rốt ráo giáo hóa.
Thủ tất cả thế giới, vì rốt ráo nghiêm tịnh.
Thủ Như Lai, vì tu hạnh Bồ Tát để cúng dường.
Thủ thiện căn, vì chứa nhóm tướng hảo công đức của chư Phật.
Thủ đại bi, vì diệt khổ cho tất cả chúng sanh.
Thủ đại từ, vì cho tất cả chúng sanh những trí lạc.
Thủ ba la mật, vì tích tập những trang nghiêm của Bồ Tát.
Thủ thiện xảo phương tiện, vì đều thị hiện ở tất cả chỗ.
Thủ bồ đề, vì được trí vô ngại.
Thủ tất cả pháp, vì ở tất cả chỗ đều dùng minh trí để hiện rõ.
Nếu chư Bồ Tát an trụ nơi mười điều thủ lấy này thời có thể chẳng dứt Bồ Tát hạnh, được pháp vô sở thủ vô thượng của tất cả Như Lai.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát có mười điều tu:
Tu các môn ba la mật.  Tu học.  Tu huệ.  Tu nghĩa.  Tu pháp.  Tu xuất ly.  Tu thị hiện.  Tu siêng thực hành chẳng lười.  Tu thành đẳng chánh giác.  Tu chuyển chánh pháp luân.
Nếu chư Bồ Tát an trụ trong đây thời được tu vô thượng tu tất cả pháp.
Đại Bồ Tát có mười điều thành tựu Phật pháp:
Chẳng rời thiện tri thức, thành tựu Phật pháp.
Thâm tín Phật ngữ thành tựu Phật pháp.
Chẳng hủy báng chánh pháp, thành tựu Phật pháp.
Dùng vô lượng vô tận thiện căn hồi hướng, thành tựu Phật pháp.
Tin hiểu cảnh giới của đức Như Lai vô biên tế, thành tựu Phật pháp.
Biết cảnh giới của tất cả thế giới, thành tựu Phật pháp.
Chẳng bỏ cảnh giới pháp giới, thành tựu Phật pháp.
Xa rời những cảnh giới ma, thành tựu Phật pháp.
Chánh niệm cảnh giới của tất cả Phật, thành tựu Phật pháp.
Thích cầu cảnh giới thập lực của Như Lai, thành tựu Phật pháp.
Nếu chư Bồ Tát an trụ trong pháp này thời được thành tựu đại trí huệ vô thượng của Như Lai.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát có mười điều thối thất Phật pháp cần phải xa lìa:
Khinh mạn thiện tri thức, thối thất Phật pháp.
Sợ khổ sanh tử, thối thất Phật pháp.
Nhàm tu hạnh Bồ Tát, thối thất Phật pháp.
Chẳng thích trụ thế gian, thối thất Phật pháp.
Say đắm tam muội, thối thất Phật pháp.
Chấp lấy thiện căn, thối thất Phật pháp.
Hủy báng chánh pháp, thối thất Phật pháp.
Đoạn Bồ Tát hạnh, thối thất Phật pháp.
Thích đạo nhị thừa, thối thất Phật pháp.
Hiềm hận chư Bồ Tát, thối thất Phật pháp.
Nếu chư Bồ Tát xa lìa pháp này, thời nhập đạo ly sanh của Bồ Tát.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát có mười đạo ly sanh:
Xuất sanh bát nhã ba la mật mà luôn quán sát tất cả chúng sanh.  Đây là đạo ly sanh thứ nhất.
Xa rời những kiến chấp mà độ thoát tất cả chúng sanh bị kiến chấp ràng buộc.  Đây là đạo ly sanh thứ hai.
Chẳng tưởng niệm tất cả tướng mà chẳng bỏ tất cả chúng sanh chấp tướng.  Đây là đạo ly sanh thứ ba.
Siêu quá tam giới mà thường ở tại tất cả thế giới.  Đây là đạo ly sanh thứ tư.
Rời hẳn phiền não mà ở chung với tất cả chúng sanh.  Đây là đạo ly sanh thứ năm.
Đắc pháp ly dục mà thường dùng đại bi thương xót tất cả chúng sanh nhiễm trước dục lạc.  Đây là đạo ly sanh thứ sáu.
Thường thích tịch tịnh mà luôn thị hiện tất cả quyến thuộc.  Đây là đạo ly sanh thứ bảy.
Rời sanh thế gian mà chết đây sanh kia khởi hạnh Bồ Tát.  Đây là đạo ly sanh thứ tám.
Chẳng nhiễm tất cả pháp thế gian mà chẳng dứt tất cả việc làm thế gian.  Đây là đạo ly sanh thứ chín.
Chư Phật bồ đề đã hiện ra trước mà chẳng bỏ tất cả hạnh nguyện của Bồ Tát.  Đây là đạo ly sanh thứ mười.
Đây là mười đạo ly sanh của Bồ Tát, xuất ly thế gian chẳng cùng chung với thế gian mà cũng chẳng tạp hạnh nhị thừa.  Nếu chư Bồ Tát an trụ pháp này thời được pháp quyết định của Bồ Tát.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát có mười pháp quyết định:
Quyết định sanh trong chủng tộc của đức Như Lai.
Quyết định an trụ trong cảng giới của chư Phật.
Quyết định biết rõ việc làm của chư Bồ Tát.
Quyết định an trụ trong các môn ba la mật.
Quyết dịnh được dự trong chúng hội của Như Lai.
Quyết định có thể hiển bày chủng tánh của Như Lai.
Quyết định an trụ trong trí lực của Như Lai.
Quyết định thâm nhập bồ đề của chư Phật.
Quyết định đồng một thân với tất cả chư Phật.
Quyết định đồng một chỗ ở với tất cả chư Phật.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát có mười đạo xuất sanh Phật pháp:
Tùy thuận thiện hữu là đạo xuất sanh Phật pháp, vì đồng gieo căn lành.
Thâm tâm tin hiểu là đạo xuất sanh Phật pháp, vì biết Phật tự tại.
Phát thệ nguyện lớn là đạo xuất sanh Phật pháp, vì tâm rộng rãi.
Nhẫn thọ thiện căn của mình là đạo xuất sanh Phật pháp, vì biết nghiệp chẳng mất.
Tất cả kiếp tu hành không nhàm đủ là đạo xuất sanh Phật pháp, vì tột thuở vị lai.
Vô số thế giới đều thị hiện là đạo xuất sanh Phật pháp, vì thành thục chúng sanh.
Chẳng dứt Bồ Tát hạnh là đạo xuất sanh Phật pháp, vì tăng trưởng đại bi.
Vô lượng tâm là đạo xuất sanh Phật pháp, vì một niệm khắp tất cả hư không giới.
Hạnh thù thắng là đạo xuất sanh Phật pháp, vì công hạnh đã tu không hư mất.
Như Lai chủng là đạo xuất sanh Phật pháp, vì làm cho tất cả chúng sanh thích phát tâm bồ đề dùng tất cả pháp lành giúp đỡ giữ gìn.
Nếu chư Bồ Tát an trụ trong pháp này thời được danh hiệu đại trượng phu:
Hiệu là bồ đề tát đỏa, vì bồ đề trí sanh ra.
Hiệu là ma ha tát đỏa, vì an trụ nơi đại thừa.
Hiệu là đệ nhứt tát đỏa, vì chứng pháp đệ nhứt.
Hiệu là thắng tát đỏa, vì giác ngộ pháp thù thắng.
Hiệu là tối thắng tát đỏa, vì trí huệ tối thắng.
Hiệu là thượng tát đỏa, vì phát khởi thượng tinh tấn.
Hiệu là vô thượng tát đoả, vì khai thị pháp vô thượng.
Hiệu là lực tát đoả, vì biết rộng thập lực.
Hiệu là vô đẳng tát đoả, vì thế gian không sánh được.
Hiệu là bất tư nghì tát đỏa, vì một niệm thành Phật.
Nếu chư Bồ Tát được danh hiệu này thời thành tựu Bồ Tát đạo.
Chư Phật tử! Đại Bồ Tát có mười đạo:
Nhất đạo là Bồ Tát đạo, vì chẳng bỏ bồ đề tâm độc nhất.
Nhị đạo là Bồ Tát đạo, vì xuất sanh trí huệ và phương tiện.
Tam đạo là Bồ Tát đạo, vì thực hành không, vô tướng, vô nguyện, chẳng nhiễm trước tam giới.
Tứ hạnh là Bồ Tát đạo, vì sám trừ tội chướng, tùy hỉ phước đức, cung kính tôn trọng khuyến thỉnh Như Lai, thiện xảo hồi hướng không thôi nghỉ.
Ngũ căn là Bồ Tát đạo, vì an trụ tịnh tín kiên cố bất động, khởi đại tinh tấn việc làm rốt ráo, một bề chánh niệm không phan duyên khác lạ, khéo biết tam muội nhập xuất phương tiện hay khéo phân biệt cảnh giới trí huệ.
Lục thông là Bồ Tát đạo, vì thiên nhãn thấy rõ những hình sắc của tất cả thế giới, biết các chúng sanh chết đây sanh kia.  Thiên nhĩ nghe rõ chư Phật thuyết pháp thọ trì ghi nhớ, rộng vì chúng sanh tuỳ căn cơ để khai diễn.  Tha tâm trí hay biết tâm người tự tại vô ngại.  Túc mạng thông nhớ biết rõ tất cả kiếp số quá khứ thêm lớn căn lành.  Thần túc thông tùy theo những chúng sanh đáng được quá độ, vì họ mà biến hiện nhiều thứ cho họ thích mến chánh pháp.  Lậu tận trí hiện chứng thiệt tế khởi Bồ Tát hạnh chẳng đoạn tuyệt.
Thất niệm là Bồ Tát đạo, vì niệm Phật, ở một lỗ lông thấy vô lượng Phật khai ngộ tất cả tâm chúng sanh.  Niệm pháp, chẳng rời chúng hội của một đức Như Lai, ở trong chúng hội của tất cả Như Lai thân thừa diệu pháp, tuỳ căn tánh dục lạc của các chúng sanh mà vì họ diễn thuyết cho họ được ngộ nhập.  Niệm tăng luôn nối tiếp thấy không thôi dứt, nơi tất cả thế gian thấy Bồ Tát.  Niệm xả, biết rõ tất cả Bồ Tát hạnh xả tăng trưởng, tâm bố thí rộng lớn.  Niệm giới chẳng bỏ tâm bồ đề, đem tất cả thiện căn hồi hướng chúng sanh.  Niệm thiên thường ghi nhớ Bồ Tát nhất sanh bổ xứ tại Đâu Suất thiên cung.  Niệm chúng sanh, trí huệ phương tiện giáo hóa điều phục đến khắp tất cả không gián đoạn.
Tùy thuận bồ đề bát thánh đạo là Bồ Tát đạo.  Thực hành đạo chánh kiến xa lìa tất cả tà kiến.  Khởi chánh tư duy bỏ vọng phân biệt tâm thường tuỳ thuận nhất thiết trí.  Thường thực hành chánh ngữ rời bốn lỗi của ngữ nghiệp tùy thuận thánh ngôn.  Hằng tu chánh nghiệp giáo hóa chúng sanh cho họ được điều phục.  An trụ chánh mạng, đầu đa tri túc oai nghi thẩm chánh, tuỳ thuận bồ đề thực hành tứ thánh chủng, tất cả lỗi lầm đều rời hẳn.  Khởi chánh tinh cần siêng tu tất cả khổ hạnh của Bồ Tát nhập thập lực của Phật không chướng ngại.  Tâm thường chánh niệm đều có thể ghi nhớ tất cả ngôn âm, trừ diệt tâm tán động của thế gian.  Tâm thường chánh định, khéo nhập môn Bồ Tát bất tư nghì giải thoát, ở trong một tam muội xuất sanh tất cả môn tam muội. 
Nhập cửu thứ đệ định là Bồ Tát đạo.  Rời dục nhiễm sân hại mà dùng tất cả ngữ nghiêp thuyết pháp vô ngại.  Diệt trừ giác quán mà dùng tất cả trí giác quán giáo hóa chúng sanh.  Xả ly hỷ ái mà thấy tất cả chư Phật lòng rất hoan hỷ.  Rời thế gian lạc mà tùy thuận Bồ Tát đạo xuất thế lạc từ đây bất động.  Nhập vô sắc định mà cũng chẳng bỏ thọ sanh nơi dục giới và sắc giới.  Dầu trụ trong diệt thọ tưởng định mà cũng chẳng dứt Bồ Tát hạnh.
Học Phật thập lực là Bồ Tát đạo.  Trí khéo biết thị xứ phi xứ.  Trí khéo biết nghiệp báo nhân quả quá khứ vị lai hiện tại của tất cả chúng sanh.  Trí khéo biết tất cả chúng sanh căn thượng trung hạ chẳng đồng mà tùy cơ nghi thuyết pháp.  Trí khéo biết tất cả chúng sanh có vô lượng tánh.  Trí khéo biết tất cả chúng sanh kiến giải hạ trung thượng sai biệt làm cho họ nhập vào pháp phương tiện.  Trí biết khắp tất cả thế gian, tất cả cõi, tất cả tam thế, tất cả kiếp, hiện khắp hình tướng oai nghi của Như Lai, mà cũng chẳng bỏ việc làm của Bồ Tát.  Trí khéo biết tất cả các thiền giải thoát và các tam muội, hoặc cấu, hoặc tịnh, thời cùng phi thời, phương tiện xuất sanh những Bồ Tát giải thoát môn.  Trí biết tất cả chúng sanh ở trong các loài chết đây sanh kia sai khác nhau.  Trí ở trong một niệm đều biết tam thế tất cả kiếp số.  Trí khéo biết tất cả chúng sanh lạc dục, phiền não hoặc tập đều diệt hết, mà chẳng bỏ rời hạnh Bồ Tát.
Nếu chư Bồ Tát an trụ nơi đây thời được đạo phương tiện thiện xảo vô thượng của tất cả Như Lai.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát có vô lượng đạo, vô lượng trợ đạo, vô lượng tu đạo, vô lượng trang nghiêm đạo.
Chư Phật tử! Đại Bồ Tát có mười vô lượng đạo:
Vì hư không vô lượng nên Bồ Tát đạo cũng vô lượng.
Vì pháp giới vô biên nên Bồ Tát đạo cũng vô lượng.
Vì chúng sanh giới vô tận nên Bồ Tát đạo cũng vô lượng.
Vì thế giới vô tế nên Bồ Tát đạo cũng vô lượng.
Vì kiếp số bất khả tận nên Bồ Tát đạo cũng vô lượng.
Vì pháp ngữ ngôn của tất cả chúng sanh vô lượng nên Bồ Tat đạo cũng vô lượng.
Vì Như Lai thân vô lượng nên Bồ Tát đạo cũng vô lượng.
Vì âm thanh vô lượng nên Bồ Tát đạo cũng vô lượng.
Vì Như Lai lực vô lượng nên Bồ Tát đạo cũng vô lượng.
Vì nhất thiết chủng trí vô lượng nên Bồ Tát đạo cũng vô lượng.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát có mười vô lượng trợ đạo:
Như hư không giới vô lượng, Bồ Tát tích tập trợ đạo cũng vô lượng.
Như pháp giới vô biên, Bồ Tát tích tập trợ đạo cũng vô biên.
Như chúng sanh giới vô tận, Bồ Tát tích tập trợ đạo cũng vô tận.
Như thế giới vô tế, Bồ Tát tích tập trợ đạo cũng vô tế.
Như kiếp số thuyết bất khả tận, Bồ Tát tích tập trợ đạo cũng là tất cả thế gian thuyết bất khả tận.
Như pháp ngữ ngôn của chúng sanh vô lượng, Bồ Tát tích tập đạo xuất sanh trí huệ biết pháp ngữ ngôn cũng vô lượng.
Như thân Như Lai vô lượng, Bồ Tát tích tập trợ đạo khắp tất cả chúng sanh, tất cả cõi, tất cả đời, tất cả kiếp cũng vô lượng.
Như âm thanh của Phật vô lượng, Bồ Tát phát một âm thanh cùng khắp pháp giới tất cả chúng sanh không ai chẳng nghe biết, trợ đạo đã tích tập cũng vô lượng.
Như Phật lực vô lượng, Bồ Tát thừa Như Lai lực tích tập trợ đạo cũng vô lượng.
Như nhất thiết chủng trí vô lượng, Bồ Tát tích tập trợ đạo cũng vô lượng như vậy.
Nếu chư Bồ Tát an trụ nơi pháp này thời được vô lượng trí huệ của Như Lai.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát có mười vô lượng đạo hạnh tu tập:
Bất lai bất khứ, là hạnh tu của Bồ Tát, vì ba nghiệp thân, ngữ, ý, không động tác.
Bất tăng bất giảm là hạnh của Bồ Tát, vì như bổn tánh.
Phi hữu phi vô là hạnh tu của Bồ Tát, vì không tự tánh.
Như huyễn như mộng, như ảnh, như hưởng, như tượng trong gương, như ánh nắng khi trời quá nóng, như mặt trăng trong nước, là hạnh tu của Bồ Tát, vì rời lìa tất cả các chấp trước.
Không, vô tướng, vô nguyện, vô tác là hạnh tu của Bồ Tát, vì thấy rõ ba cõi mà chứa phước đức chẳng thôi dứt.
Bất khả thuyết, ly ngôn thuyết là hạnh tu của Bồ Tát, vì xa rời pháp thi thiết an lập.
Bất hoại pháp giới là hạnh tu của Bồ Tát, vì trí huệ hiện biết tất cả pháp.
Bất hoại chơn như thiệt tế là hạnh tu của Bồ Tát, vì vào khắp chơn như thiệt tế hư không tế.
Trí huệ quảng đại là hạnh tu của Bồ Tát, vì bao nhiêu việc làm năng lực vô tận.
An trụ nơi thập lực tứ vô úy của Như Lai, nhất thiết chủng trí bình đẳng, là hạnh tu của Bồ Tát, vì hiện thấy tất cả pháp không nghi lầm.
Nếu chư Bồ Tát an trụ trong pháp này thời được hạnh tu thiện xảo vô thượng nhất thiết trí của Như Lai.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát có mười đạo trang nghiêm:
Đại Bồ Tát chẳng rời dục giới mà nhập sắc giới, vô sắc giới, thiền định giải thoát và các tam muội cũng chẳng nhân đây mà thọ sanh.  Đây là đạo trang nghiêm thứ nhất.
Trí huệ hiện tiền nhập Thanh Văn đạo, chẳng do đạo này mà chứng lấy quả xuất ly.  Đây là đạo trang nghiêm thứ hai.
Trí huệ hiện tiền nhập Bích Chi Phật đạo, mà phát khởi đại bi chẳng thôi dứt.  Đây là đạo trang nghiêm thứ ba.
Dầu có quyến thuộc nhân thiên vây quanh, trăm ngàn thể nữ ca múa hầu hạ, mà chưa từng tạm bỏ thiền định giải thoát và các tam muội.  Đây là đạo trang nghiêm thứ tư.
Cùng tất cả chúng sanh thọ những dục lạc, cùng nhau vui đùa mà vẫn chưa từng tạm trong một niệm rời bỏ Bồ Tát bình đẳng tam muội.  Đây là đạo trang nghiêm thứ năm.
Đã đến bỉ ngạn, tất cả thế gian, nơi các thế pháp đều không chấp trước mà cũng chẳng bỏ hạnh độ chúng sanh.  Đây là đạo trang nghiêm thứ sáu.
An trụ chánh đạo, chánh trí, chánh kiến mà hay thị hiện vào tất cả tà đạo, chẳng lấy làm thiệt, chẳng chấp làm tịnh, làm cho chúng sanh đó xa rời tà pháp.  Đây là đạo trang nghiêm thứ bảy.
Thường khéo hộ trì tịnh giới của Như Lai, ba nghiệp thân, khẩu, ý không lầm lỗi, vì muốn giáo hóa chúng sanh phạm giới nên thị hiện làm tất cả hạnh phàm ngu.  Dầu đã đầy đủ phước đức thanh tịnh trụ bậc Bồ Tát, mà thị hiện sanh nơi tất cả địa ngục, súc sanh, ngạ quỷ cùng những chỗ hiểm nạn bần cùng, làm cho những chúng sanh đó đều được giải thoát.  Nhưng thiệt ra Bồ Tát chẳng sanh vào những loài đó.  Đây là đạo trang nghiêm thứ tám.
Chẳng do người dạy mà được vô ngại biện, trí huệ quang minh có thể chiếu rõ khắp cả Phật pháp, được thần lực của tất cả Như Lai hộ trì đồng một pháp thân với tất cả chư Phật, thành tựu tất cả pháp kiên cố bí mật minh tịnh của bậc đại nhân, an trụ những thừa tất cả bình đẳng, cảnh giới chư Phật đều hiện ra trước đầy đủ tất cả thế trí quang minh, soi thấy tất cả chúng sanh giới, có thể vì chúng sanh mà làm tri pháp sư, thị hiện cầu chánh pháp không thôi dứt, dầu thiệt làm vô thượng sư cho chúng sanh mà thị hiện tôn kính hòa thượng a xà lê.  Tại sao vậy?  Vì đại Bồ Tát thiện xảo phương tiện trụ Bồ Tát đạo, tuỳ theo sở nghi đều vì chúng sanh mà thị hiện.   Đây là đạo trang nghiêm thứ chín.
Thiện căn đầy đủ, công hạnh rốt ráo, tất cả Như Lai cùng chung quán đảnh, đến bỉ ngạn tất cả pháp tự tại, lụa pháp vô ngại dùng đội trên đầu thân, hình đến khắp tất cả thế giới, hiện khắp thân vô ngại của Như Lai, nơi pháp tự tại rốt ráo tối thượng, chuyển pháp luân vô ngại thanh tịnh tất cả pháp tự tại của Bồ Tát đều đã thành tựu, mà vì chúng sanh nên thị hiện thọ sanh nơi tất cả quốc độ, đồng một cảnh giới với tất cả chư Phật trong ba đời.  Nhưng vẫn chẳng phế hạnh Bồ Tát, chẳng bỏ pháp Bồ Tát, chẳng lười nghiệp Bồ Tát, chẳng rời đạo Bồ Tát, chẳng lơi oai nghi Bồ Tát, chẳng dứt bậc Bồ Tát, chẳng thôi phương tiện thiện xảo Bồ Tát, chẳng tuyệt việc làm của Bồ Tát, chẳng nhàm sanh thành công dụng của Bồ Tát, chẳng dừng sức trụ trì của Bồ Tát.  Tại sao vậy?  Vì Bồ Tát muốn mau chứng vô thượng bồ đề, quán môn nhất thiết trí, tu hạnh Bồ Tát không thôi nghỉ.  Đây là đạo trang nghiêm thứ mười.
Nếu chư Bồ Tát an trụ pháp này thời được đạo đại trang nghiêm vô thượng của Như Lai, cũng chẳng bỏ Bồ Tát đạo.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát có mười chân:
Chân trì giới, vì đại nguyện thù thắng đều thành tựu viên mãn.
Chân tinh tấn, vì tích tập tất cả pháp bồ đề phần không thối chuyển.
Chân thần thông, vì tùy theo dục lạc của chúng sanh làm cho hoan hỷ.
Chân thần lực, vì chẳng rời một cõi Phật mà qua đến tất cả cõi Phật.
Chân thân tâm, vì nguyện cầu tất cả pháp thù thắng.
Chân kiên thệ, vì tất cả việc làm đều rốt ráo.
Chân tuỳ thuận, vì chẳng trái lời dạy của bậc tôn túc.
Chân lạc pháp, vì nghe và thọ trì tất cả pháp của chư Phật nói không mỏi lười.
Chân pháp vũ, vì đại chúng thuyết pháp không khiếp nhược.
Chân tu hành, vì tất cả điều ác đều xa lìa.
Nếu chư Bồ Tát an trụ pháp này thời được chân vô thượng tối thắng của đức Như Lai.  Nếu cất chân một bước đều có thể đến khắp tất cả thế giới.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát có mười tay:
Tay thâm tín, vì nơi lời nói của Phật đều tin sâu nhẫn thọ rốt ráo thọ trì.
Tay bố thí, có người đến cầu, tùy chỗ họ muốn đều làm cho được đầy đủ.
Tay hỏi thăm trước, vì giơ tay mặt nghinh tiếp nhau.
Tay cúng dường chư Phật, vì chứa nhóm những phước đức không mỏi nhàm.
Tay đa văn thiện xảo, vì đều dứt tất cả chúng sanh nghi.
Tay khiến siêu tam giới, vì trao cho chúng sanh vớt họ ra khỏi bùn ái dục.
Tay đặt nơi bỉ ngạn, vì cứu chúng sanh đắm trong bốn dòng nước cuộn.
Tay chẳng tiếc chánh pháp, vì có bao nhiêu diệu pháp đều đem khai thị.
Tay khéo dùng những luận nghi, vì dùng thuốc trí huệ trừ bệnh nơi thâm tâm.
Tay hằng chấp trì trí bửu, vì khai pháp quang minh phá tối phiền não.
Nếu chư Bồ Tát an trụ pháp này thời được tay vô thượng của Như Lai, che khắp tất cả thế giới mười phương.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát có mười bụng:
Bụng lìa dua vạy, vì tâm thanh tịnh.
Bụng lìa huyễn ngụy, vì tánh chất trực.
Bụng chẳng hư giả, vì không hiểm dối.
Bụng không khi đoạt, vì không tham đối với tất cả vật.
Bụng dứt phiền não, vì đầy đủ trí huệ.
Bụng thanh tịnh tâm, vì rời các điều ác.
Bụng quán sát uống ăn, vì nhớ pháp như thiệt.
Bụng quán sát vô tác, vì giác ngộ duyên khởi.
Bụng ngộ tất cả đạo xuất ly, vì khéo thành thục thâm tâm.
Bụng xa rời tất cả cấu nhơ biên kiến, vì làm cho tất cả chúng sanh nhập vào bụng Phật.
Nếu chư Bồ Tát an trụ pháp này thời được bụng rộng lớn vô thượng của Như Lai, đều có thể dung thọ tất cả chúng sanh.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát có mười tạng:
Chẳng dứt Phật chủng là Bồ Tát tạng, vì khai thị Phật pháp vô lượng oai đức.
Tăng trưởng pháp chủng là Bồ Tát tạng, vì xuất sanh trí huệ quang minh quảng đại.
Trụ trì tăng trưởng là Bồ Tát tạng, vì làm cho họ được nhập pháp luân bất thối.
Giác ngộ chánh định chúng sanh là Bồ Tát tạng, vì khéo theo thời nghi không sai một niệm.
Rốt ráo thành thục bất định chúng sanh là Bồ Tát tạng, vì làm cho nhơn tương tục không gián đoạn.
Vì tà định chúng sanh phát sanh lòng đại bi là Bồ Tát tạng, vì làm cho nhơn vị lai đều được thành tựu.
Viên mãn nhơn bất hoại nơi Phật thập lực là Bồ Tát tạng, vì đầy đủ vô đối thiện căn hàng phục ma quân.
Tối thắng vô úy đại sư tử hống là Bồ Tát tạng, vì làm cho tất cả chúng sanh đều hoan hỷ.
Được Phật mười tám pháp bất cộng là Bồ Tát tạng, vì trí huệ vào khắp tất cả xứ.
Biết rõ khắp tất cả chúng sanh, tất cả cõi, tất cả pháp, tất cả Phật là Bồ Tát tạng, vì ở trong một niệm đều thấy rõ.
Nếu chư Bồ Tát an trụ trong pháp này thời được thiện căn vô thượng, tạng đại trí huệ bất hoại của Như Lai.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát có mười tâm:
Tâm tinh cần, vì tất cả việc làm đều rốt ráo.
Tâm chẳng lười, vì chứa nhóm hạnh tướng hảo phước đức.
Tâm dũng kiện lớn, vì dẹp phá tất cả ma quân.
Tâm thực hành đúng lý, vì trừ diệt tất cả phiền não.
Tâm chẳng thối chuyển, vì nhẫn đến quả bồ đề trọn chẳng thôi dứt.
Tâm tánh thanh tịnh, vì biết tâm bất động vô trước.
Tâm biết chúng sanh, vì tùy theo chỗ hiểu biết và sở thích của họ mà làm cho được xuất ly.
Tâm đại phạm trụ khiến nhập Phật pháp, vì biết những chỗ hiểu biết và sở thích của chúng sanh, chẳng dùng thừa khác để cứu độ.
Tâm không, vô tướng, vô nguyện, vô tác, vì thấy tướng tam giới không chấp trước.
Tâm tướng chữ vạn, tạng thù thắng trang nghiêm kiên cố như kim cang, vì chúng ma đồng bằng số tất cả chúng sanh đến cũng chẳng động được một sợi lông của Bồ Tát.
Nếu Bồ Tát an trụ trong pháp này thời được tâm vô thượng đại trí quang minh tạng của Như Lai.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát có mười thứ mặc giáp:
Mặc giáp đại từ, vì cứu hộ tất cả chúng sanh.
Mặc giáp đại bi, vì kham chịu tất cả sự khổ.
Mặc giáp đại nguyện, vì tất cả việc làm đều rốt ráo.
Mặc giáp hồi hướng, vì kiến lập tất cả sự trang nghiêm của Phật.
Mặc giáp phước đức, vì lợi ích tất cả chúng sanh.
Mặc giáp ba la mật, vì độ thoát tất cả chúng sanh.
Mặc giáp trí huệ, vì dứt tối phiền não của tất cả chúng sanh.
Mặc giáp thiện xảo phương tiện, vì xuất sanh thiện căn phổ môn.
Mặc giáp nhứt thiết trí tâm kiên cố chẳng tán loạn, vì chẳng thích những thừa khác.
Mặc giáp nhứt tâm quyết định, vì nơi tất cả pháp lìa nghi hoặc.
Nếu chư Bồ Tát an trụ trong pháp này thời mặc mão giáp vô thượng của Như Lai, đều có thể xô dẹp tất cả quân ma.  Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát có mười thứ khí trượng:
Bố thí là khí trượng của Bồ Tát, vì dẹp phá tất cả xan lẫn.
Trì giới là khí trượng của Bồ Tát, vì vứt bỏ tất cả sự hủy phạm.
Bình đẳng là khí trượng của Bồ Tát, vì dứt trừ tất cả phân biệt.
Trí huệ là khí trượng của Bồ Tát, vì tiêu diệt tất cả phiền não.
Chánh mạng là khí trượng của Bồ Tát, vì xa rời tất cả tà mạng.
Thiện xảo phương tiện là khí trượng của Bồ Tát, vì thị hiện tất cả xứ.
Lược nói tham, sân, si tất cả phiền não là khí trượng của Bồ Tát, vì dùng môn phiền não để độ chúng sanh.
Sanh tử là khí trượng của Bồ Tát, vì chẳng dứt hạnh Bồ Tát luôn giáo hóa chúng sanh.
Nói pháp như thật là khí trượng của Bồ Tát, vì hay phá tất cả chấp trước.
Nhứt thiết trí là khí trượng của Bồ Tát, vì chẳng bỏ hạnh môn của Bồ Tát.
Nếu chư Bồ Tát an trụ pháp này thời có thể trừ diệt những phiền não kiết sử đã chứa nhóm từ lâu của tất cả chúng sanh.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát có mười đầu:
Đầu niết bàn, vì không ai thấy được đảnh.
Đầu tôn kính, vì tất cả nhân thiên đều kính lễ.
Đầu thắng giải quảng đại, vì tối thắng trong đại thiên thế giới.
Đầu đệ nhất thiện căn, vì tam giới chúng sanh đều cúng dường.
Đầu gánh đội chúng sanh, vì thành tựu tướng nhục kế trên đảnh.
Đầu chẳng khinh tiện người, vì ở tất cả chỗ thường là bậc tôn thắng.
Đầu bát nhã ba la mật, vì trưởng dưỡng tất cả pháp công đức.
Đầu tương ưng phương tiện trí, vì hiện khắp tất cả thân đồng loại.
Đầu giáo hóa tất cả chúng sanh, vì dùng tất cả chúng sanh làm đệ tử.
Đầu thủ hộ pháp nhãn của chư Phật, vì làm cho tam bảo chủng chẳng đoạn tuyệt.
Nếu chư Bồ Tát an trụ pháp này thời được đầu đại trí huệ vô thượng của Như Lai.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát có mười mắt:
Nhục nhãn, vì thấy tất cả hình sắc.
Thiên nhãn, vì thấy tâm niệm của tất cả chúng sanh.
Huệ nhãn, vì thấy những căn cảnh giới của tất cả chúng sanh.
Pháp nhãn, vì thấy tướng như thiệt của tất cả pháp.
Phật nhãn, vì thấy thập lực của Như Lai.
Trí nhãn, vì thấy biết các pháp.
Quang minh nhãn, vì thấy quang minh của đức Phật.
Xuất sanh tử nhãn, vì thấy niết bàn.
Vô ngại nhãn, vì chỗ thấy không chướng ngại.
Nhất thiết trí nhãn, vì thấy phổ môn pháp giới.
Nếu chư Bồ Tát an trụ pháp này thời được đại trí huệ nhãn vô thượng của Như Lai.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát có mười tai:
Nghe tiếng khen ngợi thời dứt trừ tâm tham ái.
Nghe tiếng hủy báng thời dứt trừ tâm hờn giận.
Nghe nói nhị thừa thời chẳng ham chẳng cầu.
Nghe đạo Bồ Tát thời vui mừng hớn hở.
Nghe địa ngục, súc sanh, ngạ quỷ, những chỗ khổ nạn thời phát tâm đại bi lập thệ nguyện rộng lớn.
Nghe sự thắng diệu của thiên nhân thời biết đó đều là những pháp vô thường.
Nghe tán thán công đức của chư Phật thời siêng tu tinh tấn cho mau được viên mãn.
Nghe nói các pháp lục độ tứ nhiếp thời phát tâm tu hành nguyện đến bỉ ngạn.
Nghe tất cả âm thanh trong thập phương thế giới, thời đều biết như vang, nhập bất khả thuyết diệu nghĩa thậm thâm.
Đại Bồ Tát từ sơ phát tâm nhẫn đến đạo tràng thường nghe chánh pháp chưa từng tạm nghỉ, mà hằng chẳng bỏ việc giáo hóa chúng sanh.
Nếu chư Bồ Tát thành tựu pháp này thời được đại trí huệ nhĩ vô thượng của đức Như Lai.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát có mười mũi:
Nghe những vật hôi, không cho đó là hôi.
Nghe những hơi thơm, không cho đó là thơm.
Thơm hôi đều nghe tâm Bồ Tát bình đẳng.
Chẳng thơm chẳng hôi thời an trụ nơi xả.
Nếu nghe y phục, ngọa cụ và thân thể của chúng sanh có hơi thơm hôi, thời biết được họ khởi lòng tham hay sân, si đẳng phần.
Nếu nghe hơi của cỏ, cây, hầm mỏ, v.v... thời biết rõ ràng như đối trước mắt.
Nếu nghe mùi của chúng sanh trên đến trời Hữu Đảnh, dưới đến địa ngục A Tỳ, thời đều biết hạnh nghiệp quá khứ của họ đã gây tạo.
Nếu nghe hơi bố thí, trì giới, đa văn, trí huệ của hàng Thanh Văn thời an trụ tâm nhất thiết trí chẳng cho tán động.
Nếu nghe hơi của tất cả Bồ Tát hạnh, thời dùng trí huệ bình đẳng nhập Phật địa.
Nghe hơi cảnh giới trí huệ của tất cả Phật, cũng chẳng phế bỏ những hạnh Bồ Tát.
Nếu chư Bồ Tát thành tựu pháp này thời được vô lượng vô biên thanh tịnh tỷ của Như Lai.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát có mười lưỡi:
Lưỡi khai thị diễn thuyết vô tận hạnh chúng sanh.
Lưỡi khai thị diễn thuyết vô tận pháp môn.
Lưỡi tán thán chư Phật vô tận công đức.
Lưỡi diễn xướng từ biện vô tận.
Lưỡi khai xiển đại thừa trợ đạo.
Lưỡi trùm khắp thập phương hư không.
Lưỡi chiếu khắp tất cả cõi Phật.
Lưỡi làm cho tất cả chúng sanh được tỏ ngộ.
Lưỡi đều làm cho tất cả chư Phật hoan hỷ.
Lưỡi hàng phục tất cả chúng ma ngoại đạo, diệt trừ tất cả sanh tử phiền não làm cho đến niết bàn.
Nếu chư Bồ Tát thành tựu pháp này thời được lưỡi vô thượng trùm khắp tất cả Phật độ của đức Như Lai.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát có mười thân:
Thân người, vì giáo hóa tất cả loài người.
Thân phi nhân, vì giáo hóa địa ngục, súc sanh, ngạ quỷ.
Thân trời, vì giáo hóa chúng sanh cõi dục, cõi sắc, cõi vô sắc.
Thân hữu học, vì thị hiện bậc hữu học.
Thân vô học, vì thị hiện bậc A La Hán.
Thân Duyên Giác, vì giáo hóa cho được vào bậc Bích Chi Phật.
Thân Bồ Tát, vì làm cho thành tựu đại thừa.
Thân Như Lai, vì trí thủy quán đảnh.
Ý sanh thân, vì thiện xảo xuất sanh.
Pháp thân vô lậu, vì dùng vô công dụng thị hiện thân tất cả chúng sanh.
Nếu chư Bồ Tát thành tựu pháp này thời được thân vô thượng của Như Lai.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát có mười ý:
Ý thượng thủ, vì phát khởi tất cả thiện căn.
Ý an trụ, vì tin sâu kiên cố bất động.
Ý thâm nhập, vì tùy thuận Phật pháp mà hiểu.
Ý rõ biết rõ trong, vì biết rõ tâm sở thích của chúng sanh.
Ý vô loạn, vì tất cả phiền não chẳng tạp.
Ý minh tịnh, vì khách trần chẳng nhiễm trước được.
Ý khéo quán sát chúng sanh, vì không có một niệm lỗi thời.
Ý khéo lựa chỗ làm, vì chưa từng có một chỗ sanh lỗi lầm.
Ý kính giữ gìn các căn, vì điều phục chẳng cho buông lung tán loạn.
Ý khéo nhập tam muội, vì thâm nhập Phật tam muội, không ngã, không ngã sở.
Nếu chư Bồ Tát an trụ pháp này thời được ý vô thượng của tất cả Phật.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát có mười hạnh:
Hạnh nghe chánh pháp, vì ưa thích chánh pháp.
Hạnh thuyết pháp, vì lợi ích chúng sanh.
Hạnh rời tham, sân, si, bố uý vì điều phục tự tâm.
Hạnh dục giới, vì giáo hóa chúng sanh cõi dục.
Hạnh chánh định sắc giới, vô sắc giới, vì làm cho họ mau xoay trở lại.
Hạnh xu hướng pháp nghĩa, vì mau được trí huệ.
Hạnh thọ sanh tất cả xứ, vì tự tại giáo hóa chúng sanh.
Hạnh tất cả cõi Phật, vì lễ bái cúng dường chư Phật.
Hạnh niết bàn, vì chẳng dứt sanh tử tiếp nối.
Hạnh thành tựu viên mãn tất cả Phật pháp, vì chẳng bỏ pháp hạnh của Bồ Tát.
Nếu chư Bồ Tát an trụ pháp này thời được hạnh vô lai vô khứ của đức Như Lai.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát có mười chỗ an trụ:
An trụ tâm bồ đề, vì chưa từng quên mất.
An trụ ba la mật, vì chẳng nhàm trợ đạo.
An trụ thuyết pháp, vì tăng trưởng trí huệ.
An trụ a lan nhã, vì chứng đại thiền định.
An trụ tuỳ thuận nhất thiết trí đầu đà tri túc tứ thánh chủng, vì thiểu dục thiểu sự.
An trụ thâm tín, vì gánh vác chánh pháp.
An trụ thân cận đức Như Lai, vì học Phật oai nghi.
An trụ xuất sanh thần thông, vì viên mãn đại trí.
An trụ đắc nhẫn, vì viên mãn thọ ký.
An trụ đạo tràng, vì đầy đủ thập lực, vô úy và tất cả Phật pháp.
Nếu chư Bồ Tát an trụ pháp này thời được an trụ nhất thiết trí vô thượng.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát có mười chỗ ngồi:
Chỗ ngồi Chuyển Luân Vương, vì phát khởi mười thiện đạo.
Chỗ ngồi Tứ Thiên Vương, vì tất cả thế gian tự tại an lập Phập pháp.
Chỗ ngồi Đế Thích, vì làm thắng chủ cho tất cả chúng sanh.
Chỗi ngồi Phạm Vương, vì ở người và mình tâm đều được tự tại.
Chỗ ngồi sư tử, vì hay thuyết pháp.
Chỗ ngồi chánh pháp, vì dùng sức tổng trì biện tài mà khai thị.
Chỗ ngồi kiên cố, vì thệ nguyện rốt ráo.
Chỗ ngồi đại từ, vì làm cho ác chúng sanh đều vui mừng.
Chỗ ngồi đại bi, vì nhẫn chịu tất cả khổ chẳng mỏi nhàm.
Chỗ ngồi kim cang, vì hàng phục ma quân và ngoại đạo.
Nếu chư Bồ Tát an trụ pháp này thời được chỗ ngồi chánh giác vô thượng của đức Như Lai.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát có mười chỗ nằm:
Chỗ nằm tịch tịnh, vì thân tâm yên lặng.
Chỗ nằm thiền định, vì tu hành đúng lý.
Chỗ nằm tam muội, vì thân tâm nhu nhuyến.
Chỗ nằm phạm thiên, vì chẳng não hại mình và người.
Chỗ nằm thiện nghiệp, vì chẳng bị khuynh động.
Chỗ nằm chánh đạo, vì thiện hữu khai giác.
Chỗ nằm diệu nguyện, vì thiện xảo hồi hướng.
Chỗ nằm tất cả việc đều xong, vì việc làm đều hoàn mãn.
Chỗ nằm bỏ những công dụng, vì tất cả đều quen thuộc.
Nếu chư Bồ Tát an trụ pháp này thời được chỗ nằm đại pháp vô thượng của Như Lai đều có thể khai ngộ tất cả chúng sanh.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát có mười chỗ sở trụ:
Dùng đại từ làm chỗ sở trụ, vì tâm bình đẳng với tất cả chúng sanh.
Dùng đại bi làm chỗ sở trụ, vì chẳng khinh người chưa học.
Dùng đại hỷ làm chỗ sở trụ, vì rời tất cả ưu não.
Dùng đại xả làm chỗ sở trụ, vì nơi hữu vi vô vi đều bình đẳng.
Dùng tất cả ba la mật làm chỗ sở trụ, vì bồ đề tâm làm đầu.
Dùng nhất thiết không để làm chỗ sở trụ, vì thiện xảo quan sát.
Dùng vô tướng làm chỗ sở trụ, vì chẳng ra khỏi chánh vị.
Dùng vô nguyện làm chỗ sở trụ, vì quán sát thọ sanh.
Dùng niệm huệ làm chỗ sở trụ, vì nhẫn pháp thành tựu viên mãn.
Dùng tất cả pháp bình đẳng làm chỗ sở trụ, vì được thọ ký.
Nếu chư Bồ Tát an trụ pháp này thời được chỗ sở trụ vô ngại vô thượng của Như Lai.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát có mười chỗ sở hành:
Dùng chánh niệm làm chỗ sở hành, vì đầy đủ niệm xứ.
Dùng những xu hướng làm chỗ sở hành, vì xu hướng pháp chánh giác.
Dùng trí huệ làm chỗ sở hành, vì được Phật hoan hỷ.
Dùng ba la mật làm chỗ sở hành, vì đầy đủ nhất thiết chủng trí.
Dùng tứ nhiếp làm chỗ sở hành, vì giáo hóa chúng sanh.
Dùng sanh tử làm chỗ sở hành, vì chứa nhóm thiện căn.
Dùng sự nói chuyện đùa tạp với chúng sanh làm chỗ sở hành, vì tùy nghi giáo hóa xa lìa hẳn.
Dùng thần thông làm chỗ sở hành, vì biết cảnh giới các căn của tất cả chúng sanh.
Dùng thiện xảo phương tiện làm chỗ sở hành, vì tương ưng bát nhã ba la mật.
Dùng đạo tràng làm chỗ sở hành, vì thành nhất thiết trí mà chẳng dứt hạnh Bồ Tát.
Nếu chư Bồ Tát an trụ pháp này thời được chỗ sở hành đại trí huệ vô thượng của đức Như Lai.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát có mười thứ quán sát:
Biết các nghiệp quán sát, vì vi tế đều thấy.
Biết các loài quán sát, vì chẳng chấp chúng sanh.
Biết các căn quán sát, vì rõ thấu các căn.
Biết các pháp quán sát, vì chẳng hoại pháp giới.
Thấy Phật pháp quán sát, vì siêng tu Phật nhãn.
Được trí huệ quán sát, vì thuyết pháp đúng lý.
Vô sanh nhẫn quán sát, vì quyết rõ Phật pháp.
Bất thối địa quán sát vì diệt phiền não vượt khỏi tam giới nhị thừa địa.
Quán đảnh địa quán sát, nơi tất cả Phật pháp được tự tại bất động.
Thiện giác trí tam muội quán sát, vì ra làm Phật sự khắp mười phương.
Nếu chư Bồ Tát an trụ pháp này thời được trí đại quán sát vô thượng của Như Lai.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát có mười môn phổ quán sát:
Phổ quán sát tất cả những kẻ đến cầu xin, vì dùng tâm không trái nghịch để làm thỏa mãn ý của họ.
Phổ quán sát tất cả những chúng sanh phạm giới, vì an trí họ trong giới thanh tịnh của đức Như Lai.
Phổ quán sát tất cả những chúng sanh có tâm tổn hại, vì an trí họ trong nhẫn lực của đức Như Lai.
Phổ quán sát tất cả những chúng sanh giải đãi, vì khuyên họ tinh cần chẳng bỏ gánh lấy gánh đại thừa.
Phổ quán sát tất cả chúng sanh loạn tâm, vì làm cho họ an trụ nhất thiết trí địa không tán động của đức Như Lai.
Phổ quán sát tất cả những chúng sanh ác huệ, vì làm cho họ trừ nghi hoặc phá kiến chấp hữu lậu.
Phổ quán sát tất cả những thiện hữu bình đẳng, vì thuận giáo mạng của thiện hữu mà an trụ trong Phật pháp.
Phổ quán sát tất cả pháp đã được nghe, vì mau được chứng thấy nghĩa tối thượng.
Phổ quán sát tất cả chúng sanh vô biên, vì thường chẳng bỏ rời sức đại bi.
Phổ quán sát tất cả Phật pháp, vì mau được thành tựu nhất thiết trí.
Nếu chư Bồ Tát an trụ pháp này thời được đại trí huệ phổ quán sát vô thượng của đức Như Lai.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát có mười điều phấn tấn:
Ngưu vương phấn tấn, vì che chói tất cả đại chúng thiên, long, bát bộ.
Tượng vương phấn tấn, vì tâm khéo điều nhu gánh vác  tất cả những chúng sanh.
Long vương phấn tấn, vì nổi mây dầy đại pháp, chiếu điển quang giải thoát, chấn sấm nghĩa như thật, rưới mưa cam lồ căn, lực, giác phần, thiền định, giải thoát, tam muội.
Đại kim sí điểu vương phấn tấn, vì cạn nước tham ái, phá vỏ ngu si, chụp bắt những ác độc long phiền não, khiến ra khỏi biển khổ lớn sanh tử.
Đại sư tử vương phấn tấn, vì an trụ đại trí vô úy, bình đẳng dùng làm khí trượng, xô dẹp chúng ma và ngoại đạo.
Dũng kiện phấn tấn, vì có thể ở trong chiến trận lớn sanh tử, xô diệt tất cả phiền não oan thù.
Đại trí phấn tấn, vì biết uẩn, xứ, giới và các duyên khởi tự tại khai thị tất cả pháp.
Đà la ni phấn tấn, dùng sức niệm huệ thọ trì chánh pháp chẳng quên, tùy theo căn của chúng sanh mà vì họ tuyên thuyết.
Biện tài phấn tấn, vì vô ngại mau chóng phân biệt tất cả, đều làm cho được lợi ích tâm hoan hỷ.
Như Lai phấn tấn, vì nhất thiết chủng trí những pháp trợ đạo đều thành tựu viên mãn, dùng một niệm tương ưng huệ, những chỗ đáng được tất cả đều được, những chỗ đáng ngộ tất cả đều ngộ, ngồi toà sư tử, hàng ma oán địch thành vô thượng chánh đẳng chánh giác.
Nếu chư Bồ Tát an trụ trong pháp này thời được nơi tất cả pháp phấn tấn tự tại vô thượng của chư Phật.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát có mười sư tử hống:
Đại Bồ Tát xướng rằng:
Tôi sẽ quyết định thành đẳng chánh giác.  Đây là đại bồ đề tâm đại sư tử hống.
Tôi sẽ làm cho tất cả chúng sanh, người chưa được độ thời được độ, người chưa giải thoát được giải thoát, người chưa an được an, người chưa niết bàn được chứng niết bàn.   Đây là đại bi sư tử hống.
Tôi sẽ làm cho chủng tánh của tam bảo Phật, Pháp, và Tăng không đoạn tuyện.  Đây là báo đáp ơn Như Lai đại sư tử hống.
Tôi sẽ nghiêm tịnh tất cả cõi Phật.  Đây là thệ nguyện rốt ráo kiên cố đại sư tử hống.
Tôi sẽ trừ diệt tất cả ác đạo và các nạn xứ.  Đây là tự trì tịnh giới đại sư tử hống.
Tôi sẽ đầy đủ thân, ngữ, ý tướng hảo trang nghiêm của chư Phật.  Đây là cầu phước không nhàm đại sư tử hống.
Tôi sẽ thành tựu viên mãn những trí huệ của tất cả chư Phật.  Đây là cầu trí không nhàm đại sư tử hống.
Tôi sẽ trừ diệt tất cả chúng ma và những nghiệp ma.  Đây là tu chánh hạnh dứt các phiền não đại sư tử hống.
Tôi sẽ rõ biết tất cả pháp không ngã, không chúng sanh, không thọ mạng, không bổ đặc già la, trống không, vô tướng, vô nguyện, sạch như hư không.  Đây là vô sanh pháp nhẫn đại sư tử hống.
Tôi hậu sanh Bồ Tát chấn động tất cả Phật độ đều làm cho trang nghiêm thanh tịnh.  Bấy giờ  tất cả Đế Thích, Phạm Vương, Tứ Thiên Vương đều đến tán thán khuyến thỉnh: "Ngưỡng mong Bồ Tát dùng pháp vô sanh mà thị hiện thọ sanh."  Bồ Tát liền dùng huệ nhãn vô ngại quán sát khắp thế gian tất cả chúng sanh không ai bằng ta.  Liền thị hiện đản sanh ở vương cung tự đi bảy bước đại sư tử hống: Ta là tối thắng đệ nhất ở thế gian.  Ta sẽ hết hẳn biên tế sanh tử.  Đây là như thuyết mà làm đại sư tử hống.
Nếu chư Bồ Tát an trụ pháp này thời được đại sư tử hống của Như Lai.

(Hán bộ quyển thứ 58)
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát có mười pháp thanh tịnh thí:
Bình đẳng bố htis, vì chẳng lựa chúng sanh.
Tùy ý bố thí, vì thỏa mãn chỗ nguyện cầu.
Chẳng loạn bố thí, vì làm hco được lợi ích.
Tùy nghi bố thí, vì biết thượng trung hạ.
Chẳng trụ bố thí, vì chẳng cầu quả báo.
Mở rộng xả thí, vì tâm chẳng luyến tiếc.
Tất cả bố thí, vì rốt ráo thanh tịnh.
Hồi hướng bồ đề thí, vì xa rời hữu vi vô vi.
Giáo hóa chúng sanh bố thí, vì nhẫn đến đạo tràng chẳng bỏ.
Tam luân thanh tịnh bố thí, vì chánh niệm quán sát người thí, kẻ thọ, và vật thí như hư không.
Nếu chư Bồ Tát an trụ pháp này thời được bố thí quảng đại thanh tịnh vô thượng của Như Lai.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát có mười thanh tịnh giới:
Thân thanh tịnh giới, vì giữ gìn ba điều ác nơi thân.
Ngữ thanh tịnh giới, vì xa lìa bốn lỗi nơi lời nói.
Tâm thanh tịnh giới, vì xa lìa tham, sân, tà kiến.
Thanh tịnh giới chẳng phá tất cả học xứ, vì làm tôn chủ ở trong tất cả nhơn thiên.
Thanh tịnh giới thủ hộ tâm bồ đề, vì chẳng thích tiểu thừa.
Thanh tịnh giới giữ gìn điều chế của đức Như Lai, vì nhẫn đến tối vi tế cũng sanh lòng rất e sợ.
Thanh tịnh giới ẩn mật hộ trì, vì khéo cứu chúng sanh phạm giới.
Thanh tịnh giới chẳng làm tất cả điều ác, vì thệ tu tất cả pháp lành.
Thanh tịnh giới xa lìa tất cả kiến chấp hữu lâu, vì không chấp nơi giới.
Thanh tịnh giới thủ hộ tất cả chúng sanh, vì phát khởi đại bi.
Nếu chư Bồ Tát an trụ pháp này thời được thanh tịnh giới vô thượng không lỗi lầm của đức Như Lai.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát có mười thanh tịnh nhẫn:
Thanh tịnh nhẫn an thọ sự mắng nhục, vì thủ hộ các chúng sanh.
Thanh tịnh nhẫn an thọ dao gậy, vì khéo hộ trì mình và người.
Thanh tịnh nhẫn chẳng sanh giận hại, vì nơi tâm chẳng động.
Thanh tịnh nhẫn chẳng trách kẻ ti tiện, vì người trên hay rộng lượng.
Thanh tịnh nhẫn có ai về nương đều cứu độ, vì xả bỏ thân mạng mình.
Thanh tịnh nhẫn xa lìa ngã mạn, vì chẳng khinh kẻ chưa học.
Thanh tịnh nhẫn bị tàn hại hủy báng chẳng sân, vì quán sát như huyễn.
Thanh tịnh nhẫn bị hại không báo oán, vì chẳng thấy mình và người.
Thanh tịnh nhẫn chẳng theo phiền não, vì lìa những cảnh giới.
Thanh tịnh nhẫn tùy thuận chơn thiệt trí của Bồ Tát biết tất cả vô sanh, vì chẳng do người dạy mà được nhập cảnh nhất thiết trí.
Nếu chư Bồ Tát an trụ pháp này thời được pháp nhẫn vô thượng chẳng do tha ngộ của tất cả chư Phật.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát có mười pháp tinh tấn thanh tịnh:
Thân thanh tịnh tinh tấn, vì thừa sự cúng dường chư Phật, Bồ Tát và các sư trưởng, tôn trọng phước điền chẳng thối chuyển.
Ngữ thanh tịnh tinh tấn, vì pháp đã nghe rộng vì người mà diễn thuyết, tán thán công đức của chư Phật không mỏi mệt.
Ý thanh tịnh tinh tấn, vì khéo có thể nhập xuất từ, bi, hỷ, xả, thiền định, giải thoát và các tam muội không thôi nghỉ.
Tâm chánh trực thanh tịnh tinh tấn, vì không dối, không dua bợ, không vạy vò, khôn hư giả tất cả siêng tu không thối chuyển.
Tâm tăng thắng thanh tịnh tinh tấn, vì thường xu cầu thượng thượng trí huệ nguyện đủ tất cả pháp bạch tịnh.
Thanh tịnh tinh tấn chẳng luống bỏ vì nhiếp lấy bố thí, giới, nhẫn, đa văn và bất phóng dật nhẫn đến bồ đề không nghỉ giữa chừng.
Dẹp phục tất cả ma thanh tịnh tinh tấn, vì đều có thể trừ diệt tham dục, sân hận, ngu si, tà kiến, tất cả phiền não, những cái triền.
Thành tựu viên mãn trí huệ quang minh thanh tịnh tinh tấn, có làm việc hci đều khéo quán sát, đều khiến rốt ráo chẳng cho ăn năn về sau, được Phật bất cộng pháp.
Vô lai vô khứ thanh tịnh tinh tấn, vì được trí như thiệt nhập môn pháp giới, thân ngữ và tâm thảy đều bình đẳng, rõ tướng tức là phi tướng không chấp trước.
Thành tựu pháp quang thanh tịnh tinh tấn, vì vượt quá các địa được Phật quán đảnh, dùng thân vô lậu mà thị hiện mất, thọ, sanh, xuất gia, thành đạo, thuyết pháp, diệt độ, đầy đủ sự Phổ Hiền như vậy.
Nếu chư Bồ Tát an trụ pháp này, thời được đại thanh tịnh tinh tấn vô thượng của Như Lai.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát có mười thanh tịnh thiền:
Thanh tịnh thiền, thường thích xuất gia, vì rời bỏ tất cả sở hữu.
Thanh tịnh thiền, được chơn thiện hữu, vì chỉ dạy chánh đạo.
Thanh tịnh thiền, ở a lan nhã nhẫn chịu mưa gió, vì lìa ngã và ngã sở.
Thanh tịnh thiền, lìa chúng sah ồn náo, vì thường thích tịch tịnh.
Thanh tịnh thiền, tâm nghiệp điều nhu, vì thủ hộ các căn.
Thanh tịnh thiền, tâm trí tịch diệt, vì tất cả âm thanh những chướng thiền định chẳng thể làm loạn.
Thanh tịnh thiền, giác đạo phương tiện, vì quán sát tất cả đều hiện chứng.
Thanh tịnh thiền, rời tham đắm, vì chẳng bỏ cõi dục.
Thanh tịnh thiền, phát khởi thông minh, vì biết tất cả căn tánh chúng sanh.
Thanh tịnh thiền, tự tại du hý, vì nhập Phật tam muội biết vô ngã.
Nếu chư Bồ Tát an trụ trong đây thời được đại thanh tịnh thiền vô thượng của Như Lai.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát có mười thanh tịnh huệ:
Thanh tịnh huệ, biết tất cả nhơn, vì chẳng hoại quả báo.
Thanh tịnh huệ, biết tất cả duyên, vì chẳng trái hòa hiệp.
Thanh tịnh huệ, biết chẳng đoạn chẳng thường, vì rõ thấu duyên khởi đều như thiệt.
Thanh tịnh huệ, trừ tất cả kiến chấp, vì không thủ xả nơi tướng chúng sanh.
Thanh tịnh huệ, quán tâm hành của tất cả chúng sanh, vì biết rõ như huyễn.
Thanh tịnh huệ, biện tài quảng đại, vì phân biệt các pháp vấn đáp vô ngại.
Thanh tịnh huệ, tất cả ma, ngoại đạo, Thanh Văn, Duyên Giác, chẳng biết được, vì thâm nhập Như Lai trí.
Thanh tịnh huệ, thấy pháp thân vi diệu của Phật, thấy bổn tánh thanh tịnh của tất cả chúng sanh, thấy tất cả pháp đều tịch diệt, thấy tất cả cõi đồng như hư không, vì biết tất cả tướng đều vô ngại.
Thanh tịnh huệ, tất cả tổng trì, biện tài, phương tiện đều đến bỉ ngạn, vì làm cho được nhứt thiết trí tối thắng.
Thanh tịnh huệ, nhứt niệm tương ưng kim cang trí, rõ tất cả pháp bình đẳng, vì được nhứt thiết pháp tối tôn trí.
Nếu chư Bồ Tát an trụ trong đây, thời được đại trí huệ vô ngại của Như Lai.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát có mười thanh tịnh từ:
Thanh tịnh từ, tâm bình đẳng, vì nhiếp khắp chúng sanh không lựa chọn.
Thanh tịnh từ, lợi ích, vì tuỳ có chỗ làm đều làm cho hoan hỷ.
Thanh tịnh từ, nhiếp người đồng như mình, vì rốt ráo đều làm cho ra khỏi sanh tử.
Thanh tịnh từ, chẳng bỏ thế gian, vì tâm thường duyên niệm chứa nhóm thiện căn.
Thanh tịnh từ, có thể đến giải thoát, vì khiến khắp chúng sanh trừ diệt tất cả phiền não.
Thanh tịnh từ, xuất sanh bồ đề, vì khiến khắp chúng sanh phát tâm cầu nhứt thiết trí.
Thanh tịnh từ, thế gian vô ngại, vì phóng đại quang minh bình đẳng chiếu khắp.
Thanh tịnh từ, đầy khắp hư không, vì cứu hộ chúng sanh không xứ nào chẳng đến.
Thanh tịnh từ, pháp duyên, chúng pháp như như chơn thiệt.
Thanh tịnh từ, vô duyên vì nhập Bồ Tát ly sanh tánh.
Nếu chư Bồ Tát an trụ pháp này thời được thanh tịnh từ quảng đại vô thượng của Như Lai.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát có mười thanh tịnh bi:
Thanh tịnh bi, không bạn bè, vì riêng mình phát tâm đó.
Thanh tịnh bi, không mỏi nhàm, vì thay thế tất cả chúng sanh thọ khổ chẳng cho là nhọc.
Thanh tịnh bi, thọ sanh ở xứ nạn, vì cứu độ chúng sanh nạn.
Thanh tịnh bi, thọ sanh ở đường lành, vì thị hiện vô thường.
Thanh tịnh bi, vì tà định chúng sanh, vì nhiều kiếp chẳng bỏ hoằng thệ.
Thanh tịnh bi, chẳng nhiễm trước sự vui của mình, vì cho khắp chúng sanh sự sung sướng.
Thanh tịnh bi, chẳng cầu báu ân, vì tu tâm trong sạch.
Thanh tịnh bi, có thể trừ điên đảo vì nói pháp như thiệt.
Đại Bồ Tát biết tất cả pháp bổn tánh thanh tịnh không nhiễm trước không nhiệt não, vì do khắp trần phiền não nên thọ những điều khổ.  Biết như vậy rồi Bồ Tát ở nơi chúng sanh mà khởi đại bi gọi là bổn tánh thanh tịnh, vì họ mà diễn thuyết pháp vô cấu thanh tịnh, quang minh.
Đại Bồ Tát biết tất cả pháp như dấu chim bay giữ không gian, chúng sanh si lòa chẳng thể quán sát biết rõ các pháp, Bồ Tát phát khởi tâm đại bi tên là chơn thiệt trí, vì họ mà khai thị pháp niết bàn. 
Nếu chư Bồ Tát an trụ pháp này thời được thanh tịnh bi quảng đại vô thượng của Như Lai.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát có mười thanh tịnh hỷ:
Thanh tịnh hỷ, phát bồ đề tâm.
Thanh tịnh hỷ, đều xả bỏ sở hữu.
Thanh tịnh hỷ, chẳng ghét bỏ chúng sanh phá giới giáo hóa cho họ được thành tựu.
Thanh tịnh hỷ, có thể nhẫn thọ chúng sanh tạo ác mà thệ nguyện cứu độ họ.
Thanh tịnh hỷ, xả thân cầu pháp chẳng sanh lòng ăn năn.
Thanh tịnh hỷ, tự bỏ dục lạc thường thích pháp lạc.
Thanh tịnh hỷ, làm cho tất cả chúng sanh bỏ tư sanh lạc thường thích pháp lạc.
Thanh tịnh hỷ, thấy chư Phật thời cung kính cúng dường không nhàm đủ, an trụ nơi pháp giới bình đẳng.
Thanh tịnh hỷ, làm cho tất cả chúng sanh ưa thích thiền định giải thoát tam muội du hý nhập xuất.
Thanh tịnh hỷ, lòng ưa thích đầy đủ công hạnh thuận tất cả khổ hạnh của Bồ Tát đạo, chứng được định huệ tịch tịnh bất động của đức Mâu Ni.
Nếu chư Bồ Tát an trụ pháp này thời được thanh tịnh hỷ quảng đại vô thượng của Như Lai.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát có mười thanh tịnh xả:
Thanh tịnh xả, tất cả chúng sanh cung kính cúng dường, Bồ Tát chẳng sanh lòng ái trước.
Thanh tịnh xả, tất cả chúng sanh khinh mạn hủy nhục, Bồ tát chẳng sanh lòng giận hờn.
Thanh tịnh xả, thường đi trong thế gian chẳn bị tám pháp thế gian làm nhiễm.
Thanh tịnh xả, đối với pháp khí chúng sanh chờ thời mà hóa độ, với chúng sanh không pháp khí cũng chẳng hiềm ghét.
Thanh tịnh xả, chẳng cầu pháp học và vô học của nhị thừa.
Thanh tịnh xả, tâm thường xa lìa tất cả dục lạc thuận phiền não.
Thanh tịnh xả, chẳng khen hàng nhị thừa nhàm lìa sanh tử.
Thanh tịnh xả, xa lìa tất cả lời thế gian, lời phi niết bàn, lời phi ly dục, lời chẳng thuận lý, lời não loạn người khác, lời Thanh Văn, lời Duyên Giác, nhẫn đến những chướng Bồ Tát đạo đều xa lìa tất cả.
Thanh tịnh xả, hoặc có chúng sanh căn đã thành thục phát sanh niệm huệ mà chưa biết được pháp tối thượng, chờ thời tiết mới hóa độ.
Thanh tịnh xả, hoặc có chúng sanh đã được Bồ Tát giáo hóa từ thuở trước, đến Phật địa mới điều phục được, Bồ Tát cũng chờ thời tiết.
Thanh tịnh xả, đối với hai hạng chúng sanh trên Bồ Tát, không có quan niệm cao hạ thủ xả, xa lìa tất cả những phân biệt, hằng trụ chánh định, nhập pháp như thiệt, tâm được kham nhẫn.
Nếu chư Bồ Tát an trụ trong pháp này thời được thanh tịnh xả quảng đại vô thượng của Như Lai.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát có mười nghĩa:
Đa văn nghĩa, vì kiên cố tu hành.
Pháp nghĩa, vì khéo léo suy gẫm lựa chọn.
Không nghĩa, vì đệ nhứt nghĩa không.
Tịch tịnh nghĩa, rời những chúng sanh ồn náo.
Bất khả thuyết nghĩa, vì chẳng chấp tất cả ngữ ngon.
Như thiệt nghĩa, vì rõ thấu tam thế bình đẳng.
Pháp giới nghĩa, vì tất cả các pháp đồng một vị.
Chơn như nghĩa, vì tất cả Như Lai thuận nhập.
Thiệt tế nghĩa, vì biết rõ rốt ráo như thiệt.
Đại bát niết bàn nghĩa, vì diệt tất cả khổ mà tu những hạnh Bồ Tát.
Nếu chư Bồ Tát an tụ trong pháp này thời được nhứt thiết trí vô thượng nghĩa.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát có mười pháp:
Chơn thiệt pháp, vì như thuyết tu hành.
Ly thủ pháp, vì đều lìa năng thủ và sở thủ.
Vô tránh pháp, vì không có tất cả mê lầm gây gỗ.
Tịch diệt pháp, vì trừ diệt tất cả nhiệt não.
Ly dục pháp, vì tất cả tham dục đều dứt trừ.
Vô phân biệt pháp, vì dứt hẳn phan duyên phân biệt.
Vô sanh pháp, vì dường như hư không bất động.
Vô vi pháp, vì lìa những tướng sanh trụ diệt.
Bổn tánh pháp, vì tự tánh vô nhiễm thanh tịnh.
Xả bỏ tất cả Ô ba đề niết bàn pháp, vì hay sanh tất cả Bồ Tát hạnh tu tập chẳng dứt.
Nếu chư Bồ Tát an trụ pháp này thời được pháp quảng đại vô thượng của Như Lai.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát có mười công cụ trợ đạo phước đức:
Khuyên chúng sanh phát khởi tâm bồ đề là công cụ trợ đạo phước đức của Bồ Tát, vì chẳng dứt ngôi Tam Bảo.
Tuỳ thuận thập hồi hướng là công cụ trợ đạo phước đức của Bồ Tát, vì dứt tất cả pháp bất thiện, chứa nhóm tất cả thiện pháp.
Trí huệ dạy dỗ là công cụ trợ đạo phước đức của Bồ Tát, vì vượt hơn phước đức tam giới.
Tâm không mỏi mệt là công cụ trợ đạo phước đức của Bồ Tát, vì rốt ráo độ thoát tất cả chúng sanh.
Xả bỏ tất cả sở hữu trong thân ngoài thân là công cụ trợ đạo phước đức của Bồ Tát, vì mở cử đại thí không hạn cuộc.
Thượng, trung, hạ, ba phẩm thiện căn đều đem hồi hướng vô thượng bồ đề tâm không khinh trọng là công cụ trợ đạo phước đức của Bồ Tát, vì tương ứng với thiện xảo phương tiện.
Với chúng sanh tà định hạ liệt bất thiện đều sanh lòng đại bi chẳng khinh tiện là công cụ trợ đạo phước đức của Bồ Tát, vì thường phát khởi tâm hoằng thệ của bực đại nhơn.
Cung kính cúng dường tất cả Như Lai với tất cả Bồ Tát khởi Như Lai tưởng làm cho chúng sanh đều hoan hỷ, đây là công cụ trợ đạo phước đức của Bồ Tát, vì giữ bổn chí nguyện rất bền chắc.
Trong vô số kiếp, đại Bồ Tát tích tập thiện căn tự muốn được chứng vô thượng bồ đề như ở trong bàn tay, nhưng đầu đem xả thí cho tất cả chúng sanh lòng không ưu não cũng không hối hận, tâm Bồ Tát rộng lớn đồng hư không giới.  Đây là công cụ trợ đạo phước đức của Bồ Tát vì phát khởi trí huệ chứng đại pháp.
Nếu chư Bồ Tát an trụ trong đây thời đầy đủ phước đức quảng đại vô thượng của Như Lai.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát có mười công cụ trợ đạo trí huệ:
Gần gũi chơn thiện trí thức đa văn, cung kính, cúng dường, tôn trọng, lễ bái tùy thuận mọi việc chẳng trái lời dạy bảo.  Đây là công cụ trợ đạo trí huệ thứ nhứt, vì tất cả chánh trực không hư dối.
Lìa hẳn kiêu mạn thường có hạnh khiêm hạ cung kính, thân ngữ ý ba nghiệp không thô bạo, nhu hòa thiện thuận chẳng dối trá, chẳng vạy vò.  Đây là công cụ trợ đạo trí huệ thứ hai, vì thân Bồ Tát kham làm pháp khí.
Niệm huệ tùy giác chưa từng tán loạn, hổ thẹn, nhu hòa tâm an bất động, thường nhớ lục niệm, thường thật hành lục hòa kính, thường tùy thuận trụ sáu pháp kiên cố.  Đây là công cụ trí huệ thứ ba, vì làm phương tiện cho mười trí.
Thích pháp thích nghĩa, lấy pháp làm vui, thường thích lóng nghe chánh pháp không nhàm đủ, bỏ rời thế luận và thế ngôn thuyết, chuyên tâm nghe thọ lời xuất thế gian, xa lìa tiểu thừa, nhập đại thừa huệ.  Đây là công cụ trợ đạo trí huệ thứ tư, vì nhứt tâm ghi nhớ không tán động.
Tâm chuyên gánh vác sáu môn ba la mật, thật hành đã thành thục bốn pháp phạm trụ, đều khéo tu hành tùy thuận minh pháp, đều siêng thỉnh hỏi người trí thông mẫn, xa lìa ác thú quy hướng đường lành tâm thường mến thích chánh niệm quán sát, điều phục lòng mình, thủ hộ ý người.  Đây là công cụ trợ đạo trí huệ thứ năm, vì kiên cố tu hành chơn thiệt hạnh.
Thường thích xuất ly chẳng chấp ba cõi, hằng giác tự tâm không bao giờ có ác niệm, ba giác quán đã tuyệt, ba nghiệp đều lành quyết định biết rõ tự tánh của tâm.  Đây là công cụ trợ đạo trí huệ thứ sáu, vì có thể làm cho mình và người được tâm thanh tịnh.
Quán sát ngũ uẩn đều như huyễn sự, thập bát giới như độc xà, thập nhị xứ như hư không, tất cả pháp như huyễn, như diệm, như trăng trong nước, như mộng, như ảnh, như hưởng, như tượng, như vẽ giữa hư không, như vòng lửa quây, như màu mống rán, như ánh sáng mặt nhựt mặt nguyệt, vô tướng vô hình, phi thường phi đoạn, chẳng đến chẳng đi, cũng không sở trụ, quán sát như vậy biết tất cả pháp vô sanh vô diệt.  Đây là công cụ trợ đạo trí huệ thứ bảy, vì biết tất cả pháp tánh không tịch.
Đại Bồ Tát nghe tất cả pháp không ngã, không chúng sanh, không thọ giã, không bổ đặc già la, không tâm, không  cảnh, không tham sân si, không thân, không vật, không chủ, không đối đãi, không chấp trước, không hành động, như vậy, tất cả đều vô sở hữu, trọn về nơi tịch diệt.  Nghe rồi tin sâu chẳng nghi chẳng hủy báng.  Đây là công cụ trợ đạo trí huệ thứ tám, vì có thể thành tựu trí giải viên mãn.
Đại Bồ Tát khéo điều các căn như lý tu hành, hằng trụ chỉ quán tâm ý tịch tịnh, tất cả động niệm đều trọn chẳng phát khởi, vô ngã, vô nhơn, vô tác, vô hành, không chấp ngã tưởng, không chấp ngã nghiệp, không có tỳ vết, không có nứt rạn, cũng không đức nhẫn nơi đây, thân ngữ ý ba nghiệp không lai không khứ, không có tinh tấn cũng không có dũng mãnh.  Quán tất cả chúng sanh tất cả các pháp đều bình đẳng mà không sở trụ.  Chẳng phải thử ngạn, chẳng phải bỉ ngạn, thử bỉ tánh ly, không từ đâu đến, đi không đến đâu.  Thường dùng trí huệ tư duy như vậy.  Đây là công cụ trợ đạo trí huệ thứ chín, vì đến chỗ bỉ ngạn phân biệt tướng.
Đại Bồ Tát thấy pháp duyên khởi nên thấy pháp thanh tịnh, vì thấy pháp thanh tịnh nên thấy quốc độ thanh tịnh, vì thấy quốc độ thanh tịnh nên thấy hư không thanh tịnh, vì thấy hư không thanh tịnh nên thấy pháp giới thanh tịnh, vì thấy pháp giới thanh tịnh nên thấy trí huệ thanh tịnh.  Đây là công cụ trợ đạo trí huệ thứ mười của Bồ Tát, vì tu hành tích tập nhứt thiết trí.
Nếu chư Bồ Tát an trụ trong mười pháp này thời được trí huệ vi diệu thanh tịnh vô ngại nơi tất cả pháp của đức Như Lai.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát có mười minh túc:
Minh túc, khéo phân biệt các pháp.
Minh túc, chẳng chấp trước các pháp.
Minh túc, lìa điên đảo kiến.
Minh túc, trí huệ quang chiếu soi các căn.
Minh túc, khéo phát khởi chánh tinh tấn.
Minh túc, hay thâm nhập chơn đế trí.
Minh túc, diệt nghiệp phiền não thành tựu tận trí vô sanh trí.
Minh túc, thiên nhãn trí khéo quán sát.
Minh túc, túc trụ niệm biết thuở trước thanh tịnh.
Minh túc, lậu tận thần thông trí dứt những lậu của chúng sanh.
Nếu chư Bồ Tát an trụ pháp này thời được đại quang minh vô thượng nơi tất cả Phật pháp của Như Lai.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát có mười điều cầu pháp:
Trực tâm cầu pháp, vì không dua nịnh phỉnh phờ.
Tinh tấn cầu pháp, vì xa lìa lười biếng khinh mạn.
Nhứt hướng cầu pháp, vì chẳng tiếc thân mạng.
Vì trừ phiền não cho tất cả chúng sanh mà cầu pháp, vì chẳng vì danh lợi cung kính.
Vì lợi ích mình và người tất cả chúng sanh mà cầu pháp, vì chẳng riêng tự lợi.
Vì nhập trí huệ mà cầu pháp, vì chẳng thích văn tự.
Vì thoát khỏi sanh tử mà cầu pháp, vì chẳng tham thế lạc.
Vì độ chúng sanh mà cầu pháp, vì phát bồ đề tâm.
Vì dứt nghi cho tất cả chúng sanh mà cầu pháp, vì làm cho họ không do dự.
Vì đầy đủ Phật pháp mà cầu pháp, vì chẳng thích những thừa khác.
Nếu chư Bồ Tát an trụ pháp này thời được đại trí huệ tất cả Phật pháp chẳng do người khác dạy.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát có mười pháp minh liễu:
Tùy thuận thế tục sanh trưởng thiện căn, đây là đồng môn phàm phu minh liễu pháp.
Được bất hoại tín vô ngại, tỏ ngộ tự tánh của các pháp, đây là tùy tín hành nhơn minh liễu pháp.
Siêng tu tập chánh pháp, tuỳ thuận chánh pháp mà an trụ, đây là tuỳ pháp hành nhơn minh liễu pháp.
Xa lìa bát tà, hướng về bát chánh đạo, đây là đệ bát nhơn minh liễu pháp.
Trừ diệt những kiết sử, dứt lậu sanh tử thấy chơn thiệt đế, đây là tu đà hoàn nhơn chơn minh liễu pháp.
Quán sát ham muốn là hoạ hoạn biết không qua lại, đây là tư đà hàm nhơn minh liễu.
Chẳng luyến tam giới, cầu hết hữu lậu, đối với pháp thọ sanh, nhẫn đến chẳng sanh một niệm ái trước, đây là a na hàm nhơn minh liễu pháp.
Chứng lục thần thông, được bát giải thoát, cửu định, tứ biện tài thảy đều thành tựu, đây là A La Hán nhơn minh liễu pháp.
Tánh thích quán sát nhứt vị duyên khởi, tâm thường tịch tịnh, tri túc, ít việc, tỏ ngộ do mình được chẳng do người thành tựu các môn thần thông trí huệ, đây là bích chi Phật nhơn minh liễu pháp.
Trí huệ rộng lớn, các căn sáng lẹ, thường thích độ thoát tất cả chúng sanh, siêng tu phước trí các pháp trợ đạo, tất cả công đức thập lực tứ vô úy của Như Lai đều đầy đủ viên mãn, đây là Bồ Tát nhơn minh liễu pháp.
Nếu chư Bồ Tát an trụ pháp này thời được đại trí nhơn minh liễu pháp vô thượng của đức Như Lai.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát có mười pháp tu hành:
Cung kính tôn trọng chư thiện tri thức, là pháp tu hành của Bồ Tát.
Thường được chư thiên giác ngộ, là pháp tu hành của Bồ Tát.
Đối với chư Phật thường có lòng tàm quý, là pháp tu hành của Bồ Tát.
Thương xót chúng sanh chẳng bỏ sanh tử, là pháp tu hành của Bồ Tát.
Công việc tất làm đến rốt ráo tâm không biến động, là pháp tu hành của Bồ Tát.
Chuyên niệm theo dõi chúng Bồ Tát pháp tâm đại thừa tinh cần tu học, là pháp tu hành của Bồ Tát.
Xa lìa tà kiến siêng cầu chánh đạo, là pháp tu hành của Bồ Tát.
Dẹp pháp chúng ma và nghiệp phiền não, là pháp tu hành của Bồ Tát.
Biết các chúng sanh căn tánh thắng liệt mà vì họ thuyết pháp cho họ an trụ nơi Phật địa, là pháp tu hành của Bồ Tát.
Nếu chư Bồ Tát an trụ trong đây thời được pháp tu hành vô thượng của Như Lai.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát có mười thứ ma;
Ngũ uẩn ma, vì sanh các chấp thủ.
Phiền não ma, vì hằng tạp nhiễm.
Nghiệp ma, vì hay chướng ngại.
Tâm ma, vì khởi cao mạn.
Tử ma, vì bỏ chỗ sanh.
Thiên ma, vì tự kiêu căn phóng túng.
Thiện căn ma, vì hẳng chấp thủ.
Tam muội ma, vì từ lâu say đắm.
Thiện tri thức ma, vì phát khởi tâm chấp trước.
Bồ đề pháp trí ma, vì chẳng nguyện xả lìa.
Đại Bồ Tát phải dùng phương tiện mau cầu xa rời mười thứ ma này.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát có mười thứ ma nghiệp:
Quên mất bồ đề tâm tu các thiện căn, đây là ma nghiệp.
Ác tâm bố thí, sân tâm trì giới, bỏ người tánh ác, xa kẻ lười biếng, khinh mạn kẻ loạn ý, cơ hiềm người ác huệ, đây là ma nghiệp.
Nơi pháp thậm thâm tâm sanh xa lẫn, có người kham được hóa độ mà chẳng vì họ thuyết pháp.  Nếu được tài lợi cung kính cúng dường, dầu chẳng phải pháp khí mà cũng gượng vì họ thuyết pháp.  Đây là ma nghiệp.
Chẳng thích lắng nghe các môn ba la mật, giả sử nghe nói mà chẳng tu hành, dầu cũng tu hành mà phần nhiều lười biếng.  Vì lười biếng nên chí ý hèn kém chẳng cầu pháp đại bồ đề vô thượng.  Đây là ma nghiệp.
Xa thiện tri thức, gần ác tri thức, thích cầu nhị thừa, chẳng thích thọ sanh, chỉ chuộng niết bàn ly dục tịch tịnh.  Đây là ma nghiệp.
Ở chỗ Bồ Tát, khởi tâm sân hận ác nhãn nhìn ngó tìm cầu tội hở để nói kể lỗi lầm, ngăn dứt tài lợi cúng dường.  Đây là ma nghiệp.
Phỉ báng chánh pháp chẳng thích lắng nghe, giả sử được nghe liền sanh lòng che dối, thấy người thuyết pháp chẳng sanh lòng tôn trọng, cho lời mình nói là phải, lời của người là quấy.  Đây là ma nghiệp.
Thích học thế luận xảo thuật văn từ, khai xiển thâm pháp ẩn phú của nhị thừa, hoặc dùng diệu nghĩa truyền dạy cho người chẳng đáng dạy, xa rời bồ đề, trụ nơi tà đạo.  Đây là ma nghiệp.
Người đã được giải thoát đã được an ổn thời thường thích gần gũi mà cúng dường.  Người chưa giải thoát chưa an ổn thời chẳng chịu thân cận, cũng chẳng giáo hóa.  Đây là ma nghiệp.
Thêm lớn ngã mạn không cung kính.  Với các chúng sanh làm nhiều sự não hại, chẳng cầu chánh pháp trí huệ chơn thiệt.  Tâm ý tệ ác khó khai ngộ được.  Đây là ma nghiệp.
Chư Bồ Tát phải mau xa lìa mười ma nghiệp này mà siêng cầu Phật nghiệp.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát có mười điều bỏ rời ma nghiệp:
Gần thiện tri thức cung kính cúng dường.  Đây là bỏ rời ma nghiệp.
Chẳng tự cao tự đại, chẳng tự khen ngợi.  Đây là bỏ rời ma nghiệp.
Nơi thâm pháp của Phật tin hiểu chẳng chê.  Đây là bỏ rời a nghiệp.
Chưa từng quên mất tâm nhứt thiết trí.  Đây là bỏ rời ma nghiệp.
Siêng tu diệu hạnh hẳng chẳng phóng dật.  Đây là bỏ rời ma nghiệp.
Thường cầu tất cả pháp Bồ Tát tạng.  Đây là bỏ rời ma nghiệp.
Hằng diễn thuyết chánh pháp tâm không mỏi nhọc.  Đây là bỏ rời ma nghiệp.
Quy y tất cả chư Phật mười phương, phát khởi tưởng niệm được cứu hộ.  Đây là bỏ rời ma nghiệp.
Tin thọ ức niệm tất cả chư Phật thần lực gia trì.  Đây là bỏ rời  ma nghiệp.
Cùng tất cả Bồ Tát đồng gieo căn lành bình đẳng không hai.  Đây là bỏ rời ma nghiệp.
Nếu chư Bồ Tát an trụ mười pháp này thời có thể ra khỏi tất cả ma đạo.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát có mười môn kiến Phật:
Vô trước kiến, đối với Phật thành chánh giác an trụ thế gian.
Xuất sanh kiến, đối với nguyện Phật.
Thâm tín kiến, đối với nghiệp báo Phật.
Tùy thuận kiến, đối với trụ trì Phật.
Thâm nhập kiến, đối với niết bàn Phật.
Phổ chí kiến, đối với pháp giới Phật.
An trụ kiến, đối với tâm Phật.
Vô lượng vô y kiến, đối với tam muội Phật.
Minh liễu kiến, đối với bổn tánh Phật.
Phổ thọ kiến, đối với tùy lạc Phật.
Nếu chư Bồ Tát an trụ mười môn kiến Phật này thời thường được thấy đức Như Lai vô thượng.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát có mười Phật nghiệp:
Tuỳ thời tiết để khai đạo, là Phật nghiệp, vì làm cho tu hành chánh pháp.
Trong chiêm bao khiến thấy, là Phật nghiệp, vì giác ngộ thiện căn thuở xưa.
Vì người mà diễn thuyết kinh chưa được nghe, là Phật nghiệp, vì làm cho sanh trí dứt nghi.
Vì người ăn năn bị kiết sử triền phược mà nói pháp xuất ly, là Phật nghiệp, vì làm cho lìa tâm nghi.
Nếu có chúng sanh khởi tâm xa lẫn nhẫn đến khởi tâm ác huệ, tâm nhị thừa, tâm tổn hại, tâm nghi hoặc, tâm tán động, tâm kiêu mạn, Bồ Tát vì họ hiện thân tướng hảo trang nghiêm của Như Lai, là Phật nghiệp, vì sanh trưởng quá khứ thiện căn.
Lúc khó gặp chánh pháp, vì họ mà rộng thuyết pháp, làm cho họ nghe xong được trí đà la ni, trí thần thông, khắp có thể lợi ích vô lượng chúng sanh, là Phật nghiệp, vì thắng giải thanh tịnh.
Nếu có ma sự khởi lên, có thể dùng phương tiện hiện tiếng khắp hư không giới thuyết pháp chẳng tổn não người khác, dùng đây để đối trị làm cho họ được khai ngộ.  Chúng ma nghe xong, oai quang tắt mất.  Đây là Phật nghiệp, vì chí thích oai đức lớn thù thắng.
Tâm Bồ Tát không xen hở thường tự giữ gìn, chẳng cho chứng nhập chánh vị nhị thừa.  Nếu có chúng sanh căn tánh chưa thành thục thời trọn chẳng vì họ mà nói cảnh giới giải thoát.  Đây là Phật nghiệp vì bổn nguyện mà làm.
Sanh tử kiết lậu tất cả đều lìa, tu hạnh Bồ Tát nối tiép chẳng dứt, dùng tâm đại bi nhiếp thủ chúng sanh làm cho họ khởi hạnh rốt ráo giải thoát.  Đây là Phật nghiệp, vì chẳng dứt tu hành hạnh Bồ Tát.
Đại Bồ Tát thấu rõ tự thân cùng với chúng sanh bổn lai tịch diệt, chẳng kinh sợ, mà siêng tu phước trí không nhàm đủ.  Dẫu biết tất cả pháp không tạo ác mà cũng chẳng bỏ tự tướng của các pháp.  Dầu nơi các cảnh giới lìa hẳn tham dục, mà thường thích chiêm ngưỡng phụng thờ sắc thân của chư Phật.  Dầu biết ngộ nhập các pháp chẳng do nơi người, mà dùng nhiều phương tiện cầu nhứt thiết trí.  Dầu biết các quốc độ đều như hư không mà thường thích trang nghiêm tất cả cõi Phật.  Dầu hẳng quán sát vô nhơn vô ngã, mà giáo hóa chúng sanh không có mỏi nhàm.  Dầu nơi pháp giới bổn lai bất động, mà dùng thần thông trí lực hiện những biến hóa.  Dầu đã thành tựu nhứt thiết chủng trí, mà không ngớt tu hạnh Bồ Tát.  Dầu biết các pháp bất khả ngôn thuyết, mà chuyển tịnh pháp luân làm cho đại chúng hoan hỷ.  Dầu có thể thị hiện chư Phật thần lực, mà chẳng nhàm bỏ thân Bồ Tát.  Dầu hiện nhập đại niết bàn, mà thị hiện thọ sanh tất cả xứ.  Có thể thực hành pháp quyền thiệt song hành như vậy là Phật nghiệp.
Nếu chư Bồ Tát an trụ trong mười Phật nghiệp này, thời được nghiệp quảng đại vô thượng vô sư chẳng do người dạy.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát có mười mạn nghiệp:
Đối với sư, tăng, cha, mẹ, sa môn, bà la môn trụ nơi chánh đạo hoặc hướng chánh đạo, là những phước điền đáng tôn trọng, mà chẳng cung kính.  Đây là mạn nghiệp.
Hoặc có pháp sư được pháp tối thắng ngồi đại thừa, biết đạo xuất yếu đắc đà la ni, diễn thuyết pháp quảng đại trong khế kinh không thôi nghỉ.  Mà đối với bực ấy phát khởi tâm cao mạn và đối với pháp của bực ấy giảng nói chẳng có lòng cung kính.  Đây là mạn nghiệp.
Ở trong chúng hội nghe thuyết diệu pháp chẳng chịu khen là hay cho người khác tin thọ.  Đây là mạn nghiệp.
Ưa sanh lòng quá mạn, tự cao ngạo lấn người, chẳng thấy mình lỗi, chẳng biết mình dở.  Đây là mạn nghiệp.
Ưa sanh lfong quá quá mạn.  Thấy có pháp sư và người thuyết pháp, biết là pháp, là luật, là chơn thiệt, là lời Phật, mà vì ghét người nên cũng ghét pháp, tự mình hủy báng cũng bảo người hủy báng.  Đây là mạn nghiệp.
Tự cầu tòa cao, tự xưng pháp sư, ưng thọ người cung cấp, chẳng ưng chấp sự.  Thấy bực kỳ cựu người tu hành lâu, chẳng chịu đứng dậy tiếp rước, chẳng chịu hầu hạ.  Đây là mạn nghiệp.
Thấy người có đức thời nhíu mày chẳng vui, nói lời thô lỗ tìm tòi lỗi lầm của bực ấy.  Đây là mạn nghiệp.
Thấy có người thông minh biết chánh pháp, chẳng chịu gần gũi cung kính cúng dường, chẳng chịu hỏi han gì là thiện, gì là bất thiện, những gì nên làm, những gì chẳng nên làm, làm những công hạnh gì mà được mãi mãi lợi ích an lạc.  Là kẻ ngu si ngoan cố chìm trong ngã mạn, trọn không thấy được đạo xuất yếu.  Đây là mạn nghiệp.
Lại có chúng sanh tâm khinh mạn che đậy, chư Phật xuất thế chẳng có thể thân cận cung kính cúng dường, thiện căn mới chẳng sanh, thiện căn cũ tiêu mất, chẳng nên nói lại nói, chẳng nên cãi lại cãi.  Ở vị lai tất cả phải đọa hầm sâu hiểm nạn trong trăm ngàn kiếp còn chẳng gặp Phật huống là được nghe pháp.  Chỉ do từ trước đã từng phát bồ đề tâm nên trọn tự tỉnh ngộ.  Đây là mạn nghiệp.
Nếu chư Bồ Tát lìa mười mạn nghiệp này thời được mười trí nghiệp.
Đây là mười trí nghiệp:
Tin hiểu nghiệp báo chẳng hoại nhơn quả.  Đây là trí nghiệp.
Chẳng bỏ bồ đề tâm, thường niệm chư Phật.  Đây là trí nghiệp.
Gần thiện tri thức cung kính cúng dường hết lòng tôn trọng, trọn không chán không lười.  Đây là trí nghiệp.
Thích pháp thích nghĩa không nhàm đủ, xa lìa tà niệm, siêng tu chánh niệm.  Đây là trí nghiệp.
Đối với tất cả chúng sanh lìa ngã mạn.  Đối với chư Bồ Tát tưởng như Phật.  Mến trọng chánh pháp chẳng tiếc thân mình.  Tôn thờ Như Lai như hộ mạng mình.  Với người tu hành tưởng là Phật.  Đây là trí nghiệp.
Ba nghiệp thân, khẩu và ý không có sự bất thiện, ca ngợi bực hiền thánh, tuỳ thuận bồ đề.  Đây là trí nghiệp.
Chẳng hoại duyên khởi, lìa những tà kiến phá si ám được sáng suốt chiếu rõ tất cả pháp.  Đây là trí nghiệp.
Mười môn hồi hướng tùy thuận tu hành.  Nơi các môn ba la mật tưởng là từ mẫu.  Nơi thiện xảo phương tiện tưởng là từ phụ.  Dùng tâm thâm tịnh nhập nhà bồ đề.  Đây là trí nghiệp.
Thí, giới, đa văn, chỉ, quán, phước và huệ, tất cả pháp trợ đạo như vậy thường siêng chứa nhóm không nhàm mỏi.  Đây là trí nghiệp.
Nếu có một nghiệp được đức Phật khen ngợi có thể phá chúng ma trừ phiền não đấu tranh, có thể rời lìa tất cả chướng cái triền phược, có thể giáo hóa điều phục tất cả chúng sanh, có thể tuỳ thuận trí huệ nhiếp thủ chánh pháp, có thể nghiêm tịnh cõi Phật, có thể phát khởi thông minh thời đều chuyên cầu tu tập không thối thất lười biếng.  Đây là trí nghiệp.
Nếu chư Bồ Tát an trụ trong mười trí nghiệp này thời được tất cả thiện xảo phương tiện đại trí nghiệp vô thượng của đức Như Lai.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát có mười điều bị ma nhiếp trì:
Tâm lười biếng, bị ma nhiếp trì.
Trí nguyện hèn kém, bị ma nhiếp trì.
Nơi công hạnh chút ít cho là đủ, bị ma nhiếp trì.
Lãnh thọ một hạnh, từ chối những hạnh khác, bị ma nhiếp trì.
Chẳng phát đại nguyện, bị ma nhiếp trì.
Thích ở tịch diệt dứt trừ phiền não, bị ma nhiếp trì.
Dứt hẳn sanh tử, bị ma nhiếp trì.
Bỏ hạnh Bồ Tát, bị ma nhiếp trì.
Chẳng giáo hóa chúng sanh, bị ma nhiếp trì.
Nghi báng chánh pháp, bị ma nhiếp trì.
Nếu chư Bồ Tát rời bỏ được mười điều bị ma nhiếp trì này thời được mười điều được chư Phật nhiếp trì.
Đây là mười điều được Phật nhiếp trì:
Ban sơ có thể phát tâm bồ đề, được Phật  nhiếp trì.
Trong nhiều đời gìn giữ tâm bồ đề không để quên mất, được Phật nhiếp trì.
Rõ biết ma sự đều có thể xa lìa, được Phật nhiếp trì.
Nghe các môn ba la mật, tu hành đúng pháp, được Phật nhiếp trì.
Biết khổ sanh tử mà chẳng nhàm ghét, được Phật nhiếp trì.
Quán pháp thậm thâm được vô lượng quả, được Phật nhiếp trì.
Vì chúng sanh diễn thuyết pháp nhị thừa mà chẳng chứng lấy quả giải thoát của nhị thừa, được Phật nhiếp trì.
Thích quán pháp vô vi mà chẳng trụ trong đó, đối với hữu vi vô vi không tưởng là hai, được Phật nhiếp trì.
Đến chỗ vô sanh mà hiện thọ sanh, được Phật nhiếp trì.
Dầu chứng được nhứt thiết trí mà khởi hạnh Bồ Tát chẳng dứt giống bồ đề, được Phật nhiếp trì.
Nếu chư Bồ Tát an trụ trong mười điều này thì được sức nhiếp trì vô thượng của chư Phật.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát có mười điều được pháp nhiếp trì:
Biết tất cả hành pháp là vô thường, được pháp nhiếp trì.
Biết tất cả hành pháp là khổ, được pháp nhiếp trì.
Biết tất cả hành pháp là vô ngã, được pháp nhiếp trì.
Biết tất cả pháp tịch diệt niết bàn, được pháp nhiếp trì.
Biết tất cả pháp theo duyên mà phát khởi, không có duyên thời không khởi, được pháp nhiếp trì.
Biết vì do tư duy chẳng chánh nên sanh khởi vô minh.  Vì do có vô minh khởi nên nhẫn đến có lão tử phát khởi.  Vì tư duy chẳng chánh diệt nên vô minh diệt.  Vì vô minh diệt nên nhẫn đến lão tử diệt.  Được pháp nhiếp trì.
Biết ba môn giải thoát xuất sanh Thanh Văn thừa, chứng pháp vô tránh xuất sanh Độc Giác thừa, được pháp nhiếp trì.
Biết pháp lục ba la mật, pháp tứ nhiếp xuất sanh đại thừa, được pháp nhiếp trì.
Biết tất cả cõi, tất cả pháp, tất cả chúng sanh, tất cả thế là cảnh giới của Phật trí, được pháp nhiếp trì.
Biết dứt tất cả niệm, bỏ tất cả thủ, rời tiền tế hậu tế, tùy thuận niết bàn, được pháp nhiếp trì.
Nếu chư Bồ Tát an trụ trong mười điều được pháp nhiếp trì này thời được pháp nhiếp trì vô thượng của tất cả chư Phật.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát ở Đâu Suất thiên cung có mười công việc:
Vì chư thiên tử cõi Dục mà nói pháp nhàm lìa.  Bảo rằng tất cả tự tại đều là vô thường, tất cả khoái lạc đều sẽ suy mất, khuyên chư thiên tử phát tâm bồ đề.  Đây là công việc thứ nhứt.
Vì chư thiên cõi Sắc mà nói nhập xuất các thiền tam muội giải thoát.  Nếu ở trong đây mà sanh lòng ái trước thời nhơn nơi ái lại phát khởi thân kiến, tà kiến, vô minh, v.v...  Vì họ mà nói trí huệ như thiệt.  Nếu họ đối với những pháp sắc, phi sắc phát khởi tưởng điên đảo cho là thanh tịnh, thời vì họ mà nói bất tịnh đều là vô thường.  Khuyên họ phát tâm bồ đề.  Đây là công việc thứ hai.
Đại Bồ Tát ở Đâu Suất thiên cung nhập tam muội tên là quang minh trang nghiêm.  Thân phóng quang minh chiếu khắp đại thiên thế giới.  Tuỳ tâm chúng sanh mà dùng các thứ âm thanh để thuyết pháp.  Chúng sanh nghe pháp xong, tín tâm thanh tịnh, sau khi chết sanh về cung trời Đâu Suất.  Bồ Tát lại khuyên họ phát tâm bồ đề.  Đây là công việc thứ ba.
Đại Bồ Tát ở Đâu Suất thiên cung dùng vô ngại nhãn thấy khắp tất cả Bồ Tát trong cung trời Đâu Suất ở mười phương.  Chư Bồ Tát kia cũng đều thấy đây.  Đã thấy nhau, chư Bồ Tát cùng luận nói diệu pháp: những là gián thần, nhập thia, sơ sanh, xuất gia, qua đến đạo tràng, đủ đại trang nghiêm.  Và lại thị hiện những công hạnh đã làm từ xưa đến nay.  Do công hạnh đó mà thành đại trí này và tất cả công đức.  Chẳng rời bổn xứ mà có thể thị hiện những sự như vậy.  Đây là công việc thứ tư.
Đại Bồ Tát ở Đâu Suất thiên cung, chúng Bồ Tát ở tất cả cung trời Đâu Suất mười phương đều vân tập đến vây quanh cung kính.  Bấy giời, đại Bồ Tát muốn cho chư Bồ Tát đó đều được thỏa mãn tâm nguyện sanh lòng hoan hỷ, nên tùy theo chư Bồ Tát đáng ở bực nào, tùy theo sở hành, sở đoạn, sở tu, sở chứng mà diễn thuyết pháp môn.  Chư Bồ Tát đó nghe pháp xong đều rất hoan hỷ được chưa từng có đều trở về bổn độ.  Đây là công việc thứ năm.
Đại Bồ Tát ở Đâu Suất thiên cung, bấy giờ chúa cõi Dục, thiên ma Ba Tuần vì muốn phá hoại công nghiệp của Bồ Tát nên cùng quyến thuộc đến chỗ Bồ Tát.  Bồ Tát vì hàng phục ma quân nên trụ kim cang đạo nhiếp bát nhã ba la mật phương tiện thiện xảo trí huệ môn, dùng hai lời nói nhu nhuyến và thô bạo mà thuyết pháp cho họ, làm cho ma vương Ba Tuần không hại được.  Ma quân thấy oai lực tự tại của Bồ Tát nên đều phát tâm bồ đề vô thượng.  Đây là công việc thứ sáu.
Đại Bồ Tát ở Đâu Suất thiên cung biết chư thiên tử cõi Dục chẳng thích nghe pháp.  Bây giờ Bồ Tát phát tiếng to bảo họ rằng: ngày nay Bồ Tát ở trong thiên cung sẽ hiện sự hy hữu, nếu muốn được thấy thời phải mau đến.  Chư thiên tử nghe lời này xong đều vân tập đến cung Đâu Suất.  Bồ Tát vì họ mà hiện sự hy hữu.  Chư thiên tử được thấy  nghe đều rất hoan hỷ say sưa.  Trong âm nhạc lại có tiếng bảo rằng: này các ngài!  Tất cả hành pháp đều vô thường, đều là khổ.  Tất cả pháp đều vô ngã, là niết bàn tịch diệt.  Rồi lại bảo rằng:  các ngài đều phải tu hạnh Bồ Tát, đều phải viên mãn nhứt thiết chủng trí.  Chư thiên tử nghe xong, lo buồn than thở đều sanh lòng yểm ly, tất cả đều phát tâm vô thượng bồ đề.  Đây là công việc thứ bảy.
Đại Bồ Tát ở Đâu Suất thiên cung, chẳng rời bỏ bổn xứ mà đều có thể qua đến mười phương vô lượng tất cả chỗ chư Phật, thấy chư Như Lai thân cận lễ bái cung kính nghe pháp.  Bấy giời chư Phật muốn cho Bồ Tát được pháp tối thượng quán đảnh nên nói Bồ Tát địa tên là nhứt thiết thần thông, dùng một niệm tương ưng huệ đầy đủ tất cả công đức tối thắng nhập vị nhứt thiết chủng trí.  Đây là công việc thứ tám.
Đại Bồ Tát ở Đâu Suất thiên cung vì muốn cúng dường chư Phật Như Lai nên dùng đại thần lực hiện khởi những đồ cúng dường tên là thù thắng khả lạc, khắp tất cả thế giới trong pháp giới hư không giới để cúng dường chư Phật.  Trong các thế giới ấy, vô lượng chúng sanh thấy sự cúng dường này đều phát tâm vô thượng bồ đề.  Đây là công việc thứ chín.
Đại Bồ Tát ở Đâu Suất thiên cung xuất sanh vô lượng vô biên như huyễn như ảnh pháp môn cùng khắp mười phương tất cả thế giới, thị hiện những sắc, những tướng, những hình thể, những oai nghi, những sự nghiệp, những phương tiện, những ví dụ, những ngôn thuyết, tùy tâm chúng sanh đều làm cho họ hoan hỷ.  Đây là công việc thứ mười.
Nếu chư Bồ Tát thành tựu pháp này thời có thể sau này sanh xuống thế gian.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát ở Đâu Suất thiên cung lúc sắp giáng sanh hiện ra mười sự:
Đại Bồ Tát từ trời Đâu Suất giáng sanh, từ dưới chân phóng đại quang minh tên là an lạc trang nghiêm, chiếu khắp cõi đại thiên thế giới, tất cả ác đạo, những chúng sanh hoạn nạn được quang minh chạm nhầm mình thời đều khỏi khổ được an lạc.  Được an lạc rồi biết sắp có bực đại nhơn kỳ đặc xuất hiện thế gian.  Đây là sự thị hiện thứ nhứt.
Đại Bồ Tát ở trời Đâu Suất lúc giáng sanh, từ trong tướng bạch hào giữa chặng mày phóng đại quang minh tên là giác ngộ chiếu khắp đại thiên thế giới, soi đến thân của chư Bồ Tát đồng hành với mình từ đời trước, chư Bồ Tát đó được quang minh chiếu đến, biết đại Bồ Tát sắp giáng sanh, liền đem vô lượng đồ cúng dường đến chỗ đại Bồ Tát để cúng dường.  Đây là sự thị hiện thứ hai.
Đại Bồ Tát ở trời Đâu Suất lúc sắp giáng sanh, ở trong bàn tay hữu phóng đại quang minh tên là thanh tịnh cảnh giới đều có thể trang nghiêm thanh tịnh tất cả đại thiên thế giới.   Trong đây nếu có hàng Bích Chi Phật chứng được vô lậu, thấy biết quang minh này thời liền xả thọ mạng.  Nếu những vị không hay biết thời oai lực của quang minh dời họ đến trong những thế giới phương khác.  Tất cả những ma và các ngoại đạo, hàng chúng sanh có kiến chấp đều cũng dời đến thế giới phương khác, chỉ trừ những chúng sanh đáng được hóa độ do thần lực của Phật nhiếp trì.  Đây là sự thị hiện thứ ba.
Đại Bồ Tát ở trời Đâu Suất lúc sắp giáng sanh từ đầu gối phóng đại quang minh tên là thanh tịnh trang nghiêm chiếu khắp cung điện của chư thiên, dưới chiếu đến trời Hộ Thế Tứ Thiên Vương, trên chiếu suốt trời Tịnh Cư.  Chư thiên trong tất cả cõi trời đều biết đại Bồ Tát ở cung Đâu Suất sắp giáng sanh, tất cả đồng có lòng luyến mộ buồn than lo rầu, cùng nhau đem những tràng hoa, y phục, hương bột, hương thoa, phan lọng, kỹ nhạc đến chỗ Bồ Tát để cung kính cúng dường, theo Bồ Tát hạ sanh nhẫn đến nhập niết bàn.  Đây là sự thị hiện thứ tư.
Đại Bồ Tát ở trời Đâu Suất lúc sắp giáng sanh, trong tâm trạng kim cang trang nghiêm nơi tướng chữ vạn phóng đại quang minh tên là vô năng thắng tràng, chiếu khắp tất cả thế giới mười phương đến thân của tất cả kim cang lực sĩ.  Bấy giờ có trăm ức kim cang lực sĩ đều vân tập theo hầu hạ đại Bồ Tát từ lúc giáng sanh nhẫn đến lúc nhập niết bàn.  Đây là sự thị hiện thứ năm.
Đại Bồ Tát ở trời Đâu Suất lúc sắp giáng sanh, từ tất cả lỗ lông trên thân phóng đại quang minh tên là phân biệt chúng sanh, chiếu khắp đại thiên thế giới, chạm đến thân của tất cả Bồ Tát, lại chạm đến tất cả chư thiên và người đời.  Chư Bồ Tát đó đồng nghĩ rằng tôi phải ở lại đây để cúng dường đức Như Lai giáo hóa chúng sanh.  Đây là sự thị hiện thứ sáu.
Đại Bồ Tát ở trời Đâu Suất lúc sắp giáng sanh từ trong điện đại ma ni bửu tạng phóng đại quang minh tên là thiện trụ quán sát chiếu đến chỗ của Bồ Tát này sẽ sanh.  Quang minh này đã chiếu xong, những Bồ Tát khác đều theo dõi xuống Diêm Phù Đề, hoặc ở nơi nhà, hoặc ở tụ lạc, hoặc ở thành ấp mà hiện thọ sanh, vì muốn giáo hóa các chúng sanh.  Đây là sự thị hiện thứ bảy.
Đại Bồ Tát ở trời Đâu Suất lúc sắp giáng sanh từ cung điện cõi trời và trong những đồ trang nghiêm nơi đại lâu các phóng đại quang minh tên là nhứt thiết cung điện thanh tịnh trang nghiêm chiếu đến bụng của mẹ sẽ thác sanh.  Quang minh chiếu xong, làm cho Thánh Mẫu an ổn vui vẻ, thành tựu đầy đủ tất cả công đức.  Trong bụng Thánh Mẫu tự nhiên có lâu các quảng đại trang nghiêm với đại ma ni bửu, nơi đây là chỗ sẽ ở của thân đại Bồ Tát.  Đây là sự thị hiện thứ tám.
Đại Bồ Tát ở trời Đâu Suất lúc sắp giáng sanh, từ dưới hai chân phóng đại quang minh tên là thiện trụ.  Nếu chư thiên tử và các phạm thiên sắp lâm chung được quang minh chạm đến thân thời đều được trụ thọ mạng cúng dường đại Bồ Tát từ lúc mới hạ sanh nhẫn đến nhập niết bàn.  Đây là sự thị thiện thứ chín.
Đại Bồ Tát ở trời Đâu Suất lúc sắp giáng sanh từ trong tùy hình hảo phóng đại quang minh tên là nhựt nguyệt trang nghiêm, thị hiện những công nghiệp của Bồ Tát.  Bấy giờ người và trời hoặc thấy Bồ Tát ở cung Đâu Suất, hoặc thấy nhập thai, hoặc thấy sơ sanh, hoặc thấy xuất gia, hoặc thấy thành đạo hoặc thấy hàng ma, hoặc thấy chuyển pháp luân, hoặc thấy nhập niết bàn.  Đây là sự thị hiện thứ mười.
Đại Bồ Tát nơi thân, nơi tòa, nơi cung điện, trong lâu các phóng trăm muôn vô số đại quang minh như vậy đều hiển hiện những sự nghiệp của đại Bồ Tát.  Thị hiện sự nghiệp này rồi, vì đầy đủ tất cả công đức nên từ cung trời Đâu Suất sanh xuống nhơn gian.

(Hán bộ quyển thứ 59)

Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát thị hiện ở thai mẹ có mười sự:
Đại Bồ Tát vì muốn thành tựu những chúng sanh tâm nhỏ hiểu kém, chẳng muốn cho họ nghĩ rằng: nay đức Bồ Tát này tự nhiên hóa sanh trí huệ thiện căn đều tự được chẳng từ công phu tu tập.  Vì cớ đây, nên Bồ Tát thị hiện ở thai mẹ.  Đây là sự thứ nhứt.
Đại Bồ Tát vì thành thục phụ mẫu và các quyến thuộc, những chúng sanh đồng tu thiện căn từ đời trước nên thị hiện ở thai mẹ.  Tại sao vậy?  Vì những người này cần phải thấy Bồ Tát ở thai mẹ mới thành thục những thiện căn mà họ đã có.  Đây là sự thứ hai.
Đại Bồ Tát lúc vào thai mẹ, luôn chánh niệm chánh tri không mê lầm.  Đã ở thai mẹ, tâm Bồ Tát hằng chánh niệm cũng không lầm loạn.  Đây là sự thứ ba.
Đại Bồ Tát ở trong thai mẹ thường diễn thuyết pháp.  Chư đại Bồ Tát ở thập phương thế giới cùng Đế Thích, Phạm thiên, hộ thế tứ thiên vương đều đến tập hội, đều làm cho được vô thượng thần lực, vô biên trí huệ.  Lúc ở trong thai mẹ, đại Bồ Tát thành tựu biện tài công dụng thù thắng như vậy.  Đây là sự thứ tư.
Đại Bồ Tát ở trong thai mẹ nhóm họp đại hội, dùng sức bổn nguyện giáo hóa tất cả chúng Bồ Tát.  Đây là sự thứ năm.
Đại Bồ Tát thành Phật ở trong loài người thời phải đủ sự thọ sanh tối thắng.  Do cớ này nên thị hiện ở thai mẹ.  Đây là sự thứ sáu.
Đại Bồ Tát ở trong thai mẹ, chúng sanh trong đại thiên thế giới đều thấy Bồ Tát như thấy bóng mình hiện rõ trong gương.  Bấy giờ chư thiên, long, dạ xoa, càn thát bà, a tu la, ca lâu la, khẩn na la, ma hầu la già, nhơn, phi nhơn, v.v... những hàng có đại tâm, đều đến chỗ Bồ Tát đề cung kính cúng dường.  Đây là sự thứ bảy.
Đại Bồ Tát ở trong thai mẹ, tất cả tối hậu sanh Bồ Tát ở thai mẹ, trong mười phương đều đến cùng hội họp diễn thuyết pháp môn đại tập tên là quảng đại trí huệ tạng.  Đây là sự thứ tám.
Đại Bồ Tát ở trong lúc thai mẹ nhập ly cấu tạng tam muội.  Dùng sức tam muội ở trong thai mẹ hiện cung điện lớn trang nghiêm tốt đẹp.  Thiên cung Đâu Suất không sánh kịp.  Nhưng thân mẹ vẫn an ổn vô sự.  Đây là sự thứ chín.
Đại Bồ Tát lúc ở thai mẹ dùng oai lực sắm đồ cúng dường tên là khai đại phước đức ly cấu tạng khắp đến tất cả thế giới mười phương để cúng dường tất cả chư Phật Như Lai.  Chư Như Lai đó đều vì đại Bồ Tát mà diễn nói vô biên Bồ Tát ở pháp giới tạng.  Đây là sự thứ mười.
Nếu chư Bồ Tát rõ thấu mười sự thị hiện ở thai mẹ này, thời có thể thị hiện sự qua đến thậm thâm vi tế.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát có mười sự qua đến thậm thâm vi tế:
Ở trong thai mẹ, đại Bồ Tát thị hiện sơ phát tâm bồ đề nhẫn đến bực quán đảnh.
Ở trong thai mẹ thị hiện ở Đâu Suất thiên cung.
Ở trong thai mẹ thị hiện sơ sanh.
Ở trong thai mẹ thị hiện đồng tử.
Ở trong thai mẹ thị hiện ở vương cung.
Ở trong thai mẹ thị hiện xuất gia.
Ở trong thai mẹ thị hiện khổ hạnh đến ngồi đạo tràng thành bực đẳng chánh giác.
Ở trong thai mẹ thị hiện chuyển pháp luân.
Ở trong thai mẹ thị hiện nhập niết bàn.
Ở trong thai mẹ thị hiện đại vi tế: những là tất cả Bồ Tát hạnh, tất cả Như Lai tự tại thần lực vô lượng môn sai biệt.
Nếu chư Bồ Tát an trụ trong mười môn qua đến thậm thâm vi tế này thời được đại trí huệ thậm thâm vi tế vô thượng của đức Như Lai.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát có mười điều sanh:
Xa lìa ngu si, chánh niệm chánh tri mà sanh.
Phóng lưới đại quang minh chiếu khắp đại thiên thế giới mà sanh.
Trụ tối hậu hữu chẳng còn thọ thân sau mà sanh.
Bất sanh bất khởi mà sanh.
Biết tam giới như huyễn mà sanh.
Khắp hiện thân nơi thập phương thế giới mà sanh.
Chứng thân nhứt thiết chủng trí mà sanh.
Phóng tất cả Phật quang minh khắp giác ngộ tất cả chúng sanh mà sanh.
Nhập đại trí quán sát tam muội mà sanh.
Bồ Tát lúc sanh, chấn động tất cả cõi Phật, giải thoát tất cả chúng sanh, trừ diệt tất cả ác đạo che chói tất cả các ma, vô lượng Bồ Tát đều đến nhóm họp.
Đây là mười điều sanh của đại Bồ Tát, vì điều phục chúng sanh mà thị hiện như vậy.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát do mười sự mà thị hiện vi tiếu tâm tự thệ:
Đại Bồ Tát nghĩ rằng: tất cả thế gian chìm tại vũng bùn ái dục, trừ một tôi ra không ai có thể cố gắng cứu tế được.  Nghĩ biết như vậy rồi, Bồ Tát vui vẻ vi tiếu tâm tự thệ.
Lại nghĩ rằng:  tất cả thế gian bị phiền não làm mù, duy có tôi nay là người đầy đủ trí huệ.  Bồ Tát nghĩ biết như vậy vui vẻ vi tiếu tâm tự thệ.
Lại nghĩ rằng:  nay tôi do thân giả danh này sẽ được pháp thân vô thượng sanh mãn tam thế của đức Như Lai.  Nghĩ biết như vậy, Bồ Tát vui vẻ vi tiếu tâm tự thệ.
Bấy giờ Bồ Tát dùng mắt vô chướng ngại quan sát tất cả phạm thiên nhẫn đến tất cả đại tự tại thiên trong mười phương mà tự nghĩ rằng:  những chúng sanh này đều tự cho rằng mình có đại trí lực.  Bồ Tát nghĩ biết như vậy vui vẻ vi tiếu tâm tự thệ.
Bấy giờ Bồ Tát quán sát các chúng sanh từ lâu gieo trồng căn lành, nay đều thối mất.  Nghĩ biết như vậy, Bồ Tát vui vẻ vi tiếu tâm tự thệ.
Bồ Tát quán sát thấy thế gian chủng tử gieo trồng dầu ít mà được quả rất nhiều.  Nghĩ biết như vậy vui vẻ vi tiếu tâm tự thệ.
Bồ Tát quán sát thấy tất cả chúng sanh được Phật giáo hóa quyết định được lợi ích.  Nghĩ biết như vậy, Bồ Tát vui vẻ vi tiếu tâm tự thệ.
Bồ Tát quán sát thấy trong đời quá khứ chư Bồ Tát đồng hành nhiễm trước việc khác nên chẳng được công đức quảng đại của Phật pháp.  Nghĩ biết như vậy, Bồ Tát vui vẻ vi tiếu tâm tự thệ.
Bồ Tát quán sát thấy trong đời quá khứ, hàng nhơn thiên cùng mình tập hội này còn ở bực phàm phu, không xả ly được, cũng chẳng nhàm mỏi.  Nghĩ biết như vậy, Bồ Tát vui vẻ vi tiếu tâm tự thệ.
Bấy giờ Bồ Tát được quang minh của tất cả Như Lai chiếu đến càng thêm hân hoan, vui vẻ vi tiếu tâm tự thệ.
Đại Bồ Tát vì điều phục chúng sanh nên thị hiện như vậy.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát có mười sự mà thị hiện đi bảy bước:
Vì hiện Bồ Tát lực mà thị hiện đi bảy bước.
Vì hiện xả thí bảy thánh tài mà thị hiện đi bảy bước.
Vì cho địa thần thỏa nguyện nên thị hiện đi bảy bước.
Vì hiện tướng siêu tam giới nên thị hiện đi bảy bước.
Vì hiện bước đi tối thắng của Bồ Tát hơn hẳn bước đi của tượng vương, ngưu vương, sư tử vương mà thị hiện đi bảy bước.
Vì hiện tướng kim cang địa mà thị hiện đi bảy bước.
Vì hiện muốn ban cho chúng sanh sức dũng mãnh mà thị hiện đi bảy bước.
Vì hiện tu hành thất giác bửu mà thị hiện đi bảy bước.
Vì hiện pháp đã được chẳng do người khác dạy nên thị hiện đi bảy bước.
Vì hiện là tối thắng vô tỷ ở thế gian nên thị hiện đi bảy bước.
Đại Bồ Tát vì điều phục chúng sanh nên thị hiện đi bảy bước như vậy.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát do mười sự mà hiện ở thân đồng tử:
Vì hiện thông đạt tất cả văn tự, toán số, đồ thơ, ấn tỷ, những nghề nghiệp thế gian, mà thị hiện ở thân đồng tử.
Vì hiện thông đạt tất cả những nghề nghiệp vũ thuật binh trận thế gian, mà thị hiện ở thân đồng tử.
Vì hiện thông đạt tất cả những văn bút, đàm luận, cờ nhạc thế gian, mà thị hiện ở thân đồng tử.
Vì hiện xa lìa những lỗi lầm của ba nghiệp thân ngữ ý, mà thị hiện ở thân đồng tử.
Vì hiện môn nhập định trụ niết bàn khắp cùng mười phương vô lượng thế giới, mà thị hiện ở thân đồng tử.
Vì hiện sức mạnh siêu quá tất cả thiên, long, bát bộ, đế thích, phạm vương, hộ thế, nhơn, phi nhơn, v.v... mà thị hiện ở thân đồng tử.
Vì hiện sắc tướng oai quang của Bồ Tát siêu quá tất cả đế thích, phạm vương, hộ thế mà thị hiện ở thân đồng tử.
Vì làm cho những chúng sanh tham đắm nơi dục lạc mến thích pháp lạ, mà thị hiện ở thân đồng tử.
Vì tôn trọng chánh pháp siêng cúng dường Phật cùng khắp tất cả thế giới mười phương mà hiện ở thân đồng tử.
Vì hiện được đức Phật gia bị, được pháp quang minh mà thị hiện ở thân đồng tử.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát thị hiện ở thân đồng tử rồi, do mười sự mà thị hiện ở vương cung:
Vì làm cho những chúng sanh đồng tu hành từ đời trước được thiện căn thành thục mà thị hiện ở vương cung.  Vì hiển thị sức thiện căn của Bồ Tát, mà thị hiện ở vương cung.
Vì những người, trời tham đắm nơi đồ vui thích, nên hiển hiện đồ vui thích đại oai đức của Bồ Tát, mà thị hiện ở vương cung.
Vì thuận tâm chúng sanh đời ngũ trược mà thị hiện ở vương cung.
Vì hiện sức đại oai đức của Bồ Tát có thể ở thâm cung nhập tam muội, mà thị hiện ở vương cung.
Vì làm cho chúng sanh đồng nguyện ở đời trước thỏa mãn ý niệm, mà thị hiện ở vương cung.
Vì muốn dùng kỷ nhạc phát ra tiếng diệu pháp cúng dường tất cả chư Phật Như Lai, mà thị hiện ở vương cung.
Vì muốn ở tại trong cung trụ tam muội vi diệu, ban đầu từ thành Phật nhẫn đến niết bàn đều hiển bày mà thị hiện ở vương cung.
Vì tùy thuận thủ hộ Phật pháp mà thị hiện ở vương cung.
Tối hậu thân Bồ Tát thị hiện ở vương cung như vậy rồi, sau đó mới xuất gia.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát do mười sự mà thị hiện xuất gia:
Vì nhàm ở tại gia, mà thị hiện xuất gia.
Vì chúng sanh tham đắm tại gia, mà thị hiện xuất gia.
Vì tùy thuận tin mến đạo thánh nhơn, mà thị hiện xuất gia.
Vì tuyên dương tán thán công đức xuất gia, mà thị hiện xuất gia.
Vì hiển bày lìa hẳn kiến chấp nhị biên, mà thị hiện xuất gia.
Vì làm cho chúng sanh lìa dục lạc và ngã lạc, mà thị hiện xuất gia.
Vì trước hiện tướng xuất tam giới, mà thị hiện xuất gia.
Vì hiện tự tại chẳng hệ thuộc người khác, mà thị hiện xuất gia.
Vì hiển bày sẽ được thập lực vô uý của đức Như Lai, mà thị hiện xuất gia.
Vì tối hậu thân Bồ Tát pháp phải như vậy, mà thị hiện xuất gia.
Đại Bồ Tát dùng pháp xuất gia này mà điều phục chúng sanh.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát vì mười sự mà thị hiện khổ hạnh:
Vì thành tựu những chúng sanh có trình độ hiểu biết kém ít, mà thị hiện khổ hạnh.
Vì trừ tà kiến của chúng sanh, mà thị hiện khổ hạnh.
Vì những chúng sanh chẳng tin nghiệp báo làm cho họ thấy nghiệp báo, mà thị hiện khổ hạnh.
Vì tùy thuận pháp phải có của thế giới tạp nhiễm, mà thị hiện khổ hạnh.
Vì hiện có thể nhẫn chịu khổ nhọc để siêng tu đạo pháp, mà thị hiện khổ hạnh.
Vì làm cho chúng sanh thích cầu pháp, mà thị hiện khổ hạnh.
Vì những chúng sanh say đắm dục lạc ngã lạc, mà thị hiện khổ hạnh.
Vì hiển bày Bồ Tát khởi hạnh thù thắng, nhẫn đến đời tối hậu còn chẳng bỏ siêng năng tinh tấn mà thị hiện khổ hạnh.
Vì làm cho chúng sanh thích pháp tịch tịnh tăng trưởng thiện căn, mà thị hiện khổ hạnh.
Vì chư thiên và thế nhơn căn tánh chưa thành thục, chờ thời gian để được thành thục, mà thị hiện khổ hạnh.
Đại Bồ Tát dùng phương tiện khổ hạnh này để điều phục chúng sanh.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát đi đến bồ đề đạo tràng có mười sự:
Lúc đến đạo tràng, chiếu sáng tất cả thế giới mười phương.
Lúc đến đạo tràng, chấn động tất cả thế giới mười phương.
Lúc đến đạo tràng, hiện thân khắp tất cả thế giới mười phương.
Lúc đến đạo tràng, giác ngộ tất cả Bồ Tát và tất cả chúng sanh đồng hành ở đời trước.
Lúc đến đạo tràng, thị hiện tất cả sự trang nghiêm nơi đạo tràng.
Lúc đến đạo tràng, tùy tâm sở thích của các chúng sanh mà vì họ hiện những oai nghi nơi thân và tất cả sự trang nghiêm nơi cây bồ đề.
Lúc đến đạo tràng, thị hiện thấy tất cả Như Lai mười phương.
Lúc đến đạo tràng, cất chân hạ chân thường nhập tam muội, niệm niệm thành Phật không có vượt cách.
Lúc đến đạo tràng, tất cả thiên, long, dạ xoa, càn thát bà, a tu la, ca lâu la, khẩn na la, ma hầu la già, đế thích, phạm vương, hộ thế tứ thiên vương, đều sắm đựng những đồ cúng dường thượng diệu lên đại Bồ Tát mà chẳng biết nhau.
Lúc đến đạo tràng, dùng trí vô ngại quán sát khắp tất cả chư Phật Như Lai, nơi tất cả thế giới tu hạnh Bồ Tát mà thành đẳng chánh giác.
Đại Bồ Tát dùng mười sự đến đạo tràng này để giáo hóa chúng sanh.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát ngồi đạo tràng có mười sự:
Lúc ngồi đạo tràng, chấn động tất cả thế giới mười phương.
Lúc ngồi đạo tràng, bình đẳng chiếu sáng tất cả thế giới mười phương.
Lúc ngồi đạo tràng, trừ diệt tất cả khổ các ác đạo.
Lúc ngồi đạo tràng, làm cho tất cả thế giới kim cang hiệp thành.
Lúc ngồi đạo tràng, hiện khắp tất cả tòa sư tử của chư Phật Như Lai.
Lúc ngồi đạo tràng, tâm vô phân biệt như hư không.
Lúc ngồi đạo tràng, tuỳ theo sở nghi mà hiện oai nghi nơi thân.
Lúc ngồi đạo tràng, tuỳ thuận an trụ kim cang tam muội.
Lúc ngồi đạo tràng, thọ diệu xứ thanh tịnh của tất cả Như Lai thần lực gia trì.
Lúc ngồi đạo tràng, sức thiện căn của mình có thể gia bị tất cả chúng sanh.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát có mười sự kỳ đặc vị tằng hữu.  Những gì là mười?
Đại Bồ Tát lúc ngồi đạo tràng, tất cả đức Như Lai trong mười phương thế giới đều hiện ra trước đồng giơ tay khen ngợi rằng: lành thay!  Lành thay!  Đấng vô thượng đạo sư.  Đây là sự kỳ đặc vị tằng hữu thứ nhứt.
Đại Bồ Tát lúc ngồi đạo tràng, tất cả đức Như Lai thảy đều hộ niệm ban cho oai lực.  Đây là sự kỳ đặc vị tằng hữu thứ hai.
Đại Bồ Tát lúc ngồi đạo tràng, chúng Bồ Tát đồng hành đời trước đều đến vây quanh cung kính cúng dường những vật trang nghiêm.  Đây là sự kỳ đặc vị tằng hữu thứ ba.
Đại Bồ Tát lúc ngồi đạo tràng, những loài vô tình như cỏ cây rừng lùm trong tất cả thế giới đều cong thân thấp bóng nghiêng hướng về phía đạo tràng.  Đây là sự kỳ đặc vị tằng hữu thứ tư.
Đại Bồ Tát lúc ngồi đạo tràng, nhập tam muội tên quán sát pháp giới.  Sức tam muội này có thể làm cho Bồ Tát tất cả công hạnh đều được viên mãn.  Đây là sự kỳ đặc vị tằng hữu thứ năm.
Đại Bồ Tát lúc ngồi đạo tràng, được đà la ni tên là tối thượng ly cấu diệu quang hải tạng, có thể lãnh thọ đại vân pháp vũ của tất cả chư Phật Như Lai.  Đây là sự kỳ đặc vị tằng hữu thứ sáu.
Đại Bồ Tát lúc ngồi đạo tràng, dùng sức oai đức hiện đồ cúng thượng diệu đến khắp tất cả thế giới cúng dường chư Phật.  Đây là sự kỳ đặc vị tằng hữu thứ bảy.
Đại Bồ Tát lúc ngồi đạo tràng, an trụ trí tối thắng, đều hiện biết rõ những căn ý hành của tất cả chúng sanh.  Đây là sự kỳ đặc vị tằng hữu thứ tám.
Đại Bồ Tát lúc ngồi đạo tràng, nhập tam muội tên là thiện giác.  Sức tam muội này có thể làm cho thân Bồ Tát đầy khắp tất cả thế giới trong thập phương tam thế.  Đây là sự kỳ đặc vị tằng hữu thứ chín.
Đại Bồ Tát lúc ngồi đạo tràng, được ly cấu quang minh vô ngại đại trí làm cho thân nghiệp của mình vào khắp tam thế.  Đây là sự kỳ đặc vị tằng hữu thứ mười.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát lúc ngồi đạo tràng vì quán sát mười nghĩa mà thị hiện hàng ma:
Vì chúng sanh đời ngũ trược thích chiến đấu, muốn hiển bày sức oai đức của Bồ Tát, mà thị hiện hàng ma.
Vì trong hàng chư thiên thế nhơn có những kẻ hoài nghi, muốn dứt trừ lòng nghi ngờ cho họ, mà thị hiện hàng ma.
Vì giáo hóa điều phục các ma quân, mà thị hiện hàng ma.
Vì muốn cho hàng chư thiên, thế nhơn, những kẻ thích quân trận đều nhóm đến xem, để tâm họ được điều phục, nên thị hiện hàng ma.
Vì hiển bày oai lực của Bồ Tát trong đời không ai địch nổi, nên thị hiện hàng ma.
Vì muốn phát khởi sức dũng mãnh của tất cả chúng sanh, nên thị hiện hàng ma.
Vì thương xót chúng sanh đời mạt thế, nên thị hiện hàng ma.
Vì muốn hiển bày nhẫn đến chốn đạo tràng mà còn quân ma tới quấy nhiễu, từ đây về sau mới siêu cảnh giới ma, nên thị hiện hàng ma.
Vì hiển bày nghiệp dụng của phiền não kém yếu, đại từ thiện căn thế lực mạnh mẽ, nên thị hiện hàng ma.
Vì muốn tùy thuận pháp hành của thế giới trược ác, nên thị hiện hàng ma.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát có mười điều thành Như Lai lực:
Vì siêu quá tất cả những ma phiền não nghiệp, nên thành Như Lai lực.
Vì đầy đủ tất cả Bồ Tát hạnh, vì du hý tất cả Bồ Tát tam muội môn, nên thành Như Lai lực.
Vì đầy đủ tất cả Bồ Tát quảng đại thiền định, nên thành Như Lai lực.
Vì viên mãn tất cả pháp trợ đạo bạch tịnh, nên thành Như Lai lực.
Vì được tất cả pháp trí huệ quang minh khéo tư duy phân biệt, nên thành Như Lai lực.
Vì thân cùng khắp tất cả thế giới, nên thành Như Lai lực.
Vì ngôn âm phát ra đều đồng với tâm của tất cả chúng sanh, nên thành Như Lai lực.
Vì có thể dùng thần lực gia trì tất cả, nên thành Như Lai lực.
Vì ba nghiệp thân, ngữ, ý đồng với tất cả tam thế chư Phật, trong một niệm biết rõ những pháp trong tam thế, nên thành Như Lai lực.
Vì được thiện giác trí tam muội đủ Như Lai thập lực: những là thị xứ, phi xứ, trí lực nhẫn đến lậu tận trí lực, nên thành Như Lai lực.
Nếu chư Bồ Tát đủ mười Như Lai lực này thời gọi là Như Lai Chánh Đẳng Chánh Giác.
Chư Phật tử!  Đức Như Lai chánh đẳng chánh giác chuyển đại pháp luân có mười sự:
Một là thanh tịnh đầy đủ bốn trí vô úy.
Hai là xuất sanh bốn biện tài tuỳ thuận âm thanh.
Ba là khéo có thể khai xiển tướng của bốn chơn đế.
Bốn là tùy thuận chư Phật vô ngại giải thoát.
Năm là có thể làm cho chúng sanh phát tâm tin thanh tịnh.
Sáu là những lời nói ra đều không luống công, đều có thể nhổ trừ tên độc đau khổ cho tất cả chúng sanh.
Bảy là đại bi nguyện lực gia trì.
Tám là khi phát âm thanh đều khắp cùng tất cả thế giới mười phương.
Chín là trong số kiếp chẳng ngớt thuyết pháp.
Mười là tùy thuyết pháp nào cũng đều có thể phát khởi những pháp căn, lực, giác, đạo, thiền định giải thoát tam muội.
Chư Phật Như Lai lúc chuyển đại pháp luân có vô lượng sự như vậy.
Chư Phật tử!  Đức Như Lai chánh đẳng chánh giác lúc chuyển đại pháp luân, do mười sự nên ở trong tâm chúng sanh gieo pháp bạch tịch không hề luống công:
Vì quá khứ nguyện lực.
Vì đại bi nhiếp trì.
Vì chẳng bỏ chúng sanh.
Vì trí huệ tự tại tùy sở thích của họ mà thuyết pháp cho họ.
Vì tất đúng thời tiết chưa từng lỗi thời.
Vì tùy theo sở thích sở nghi không vọng thuyết.
Vì trí biết tam thế khéo biết rõ tất cả.
Vì thân Phật tối thắng không ai sánh kịp.
Vì ngôn từ tự tại không ai có thể lường được.
Vì trí tuệ tự tại tùy chỗ phát ngôn thảy đều được khai ngộ.
Chư Phật tử!  Đức Như Lai đẳng chánh giác đã thực hành Phật sự xong, vì quán sát mười nghĩa nên thị hiện nhập niết bàn:
Vì chỉ bày tất cả hành pháp thiệt là vô thường.
Vì chỉ bày tất cả pháp hữu vi chẳng phải là pháp an ổn.
Vì chỉ bày đại niết bàn là chỗ an ổn không tất cả sự bố úy.
Vì hàng thiên, nhơn tham đắm sắc thân, nên vì họ mà thị hiện sắc thân là pháp vô thường, khiến họ phát nguyện trụ pháp thân thanh tịnh.
Vì chỉ bày sức vô thường chẳng thể chuyển được.
Vì chỉ bày tất cả pháp hữu vi chẳng tự tại chẳng trụ theo tâm.
Vì chỉ bày tất cả ba cõi đều như huyễn hóa chẳng bền chắc.
Vì chỉ bày tánh niết bàn rốt ráo bền chắc chẳng thể hư hoại.
Vì chỉ bày tất cả pháp vô sanh vô khởi mà có tướng tụ họp và tán hoại.
Chư Phật tử!  Như Lai Thế Tôn thực hành Phật sự rồi, bổn nguyện đã mãn, chuyển pháp luân đã xong người đáng được hóa độ đều đã hóa độ xong, có chư Bồ Tát đáng thọ tôn hiệu sự thọ ký đã thành, theo pháp phải như vậy nhập nơi bất biến đại niết bàn.
Đây là đức Như Lai đẳng chánh giác vì quán sát mười nghĩa nên thị hiện nhập niết bàn.
Chư Phật tử!  Pháp môn này gọi là hạnh quảng đại thanh tịnh của Bồ Tát.  Vô lượng chư Phật đồng tuyên thuyết như vậy.  Có thể làm cho người trí tỏ thấu vô lượng nghĩa, đều rất hoan hỷ.  Làm cho tất cả Bồ Tát đại nguyện đại hạnh đều được tiếp nối.
Chư Phật tử!  Nếu có chúng sanh được nghe pháp này, nghe xong tin hiểu, hiểu rồi tu hành.  Người này quyết định mau được quả vô thượng chánh đẳng chánh giác.
Tại sao vậy?  Vì người này đúng như lời mà tu hành.
Chư Phật tử!  Nếu Bồ Tát chẳng thực hành đúng như lời, phải biết người này lìa hẳn Phật bồ đề.  Do cớ đây nên Bồ Tát phải thực hành đúng như lời.
Chư Phật tử!  Chỗ sở hành công đức nghĩa hoa quyết định của tất cả Bồ Tát đây vào khắp tất cả pháp, sanh khắp tất cả trí, siêu thế gian, lìa nhị thừa, chẳng đồng chung với tất cả chúng sanh, đều có thể soi rõ tất cả pháp môn, thêm lớn thiện căn xuất thế của chúng sanh, là pháp môn phẩm lìa thế gian, phải tôn trọng, phải tin thọ, phải phụng trì, phải tư duy, phải mong mến, phải tu hành.  Nếu được như vậy, nên biết người này mau được quả vô thượng chánh đẳng chánh giác."
Lúc Phổ Hiền Bồ Tát nói phẩm này, vì Phật thần lực, và vì pháp tất nhiên của pháp môn này nên vô lượng vô biên vô số thế giới đều đại chấn động đại quang chiếu khắp mười phương.
Bấy giờ, thập phương chư Phật đều hiện ra trước Phổ Hiền Bồ Tát mà đồng thanh khen rằng:
"Lành thay!  Lành thay!  Phật tử bèn có thể diễn thuyết pháp môn phẩm xuất thế gian vào khắp tất cả Phật pháp, nghĩa hoa quyết định, hành xứ công đức của tất cả đại Bồ Tát này.
Phật tử đã khéo học pháp này, khéo nói pháp này.
Phật tử dùng oai lực hộ trì pháp này.
Chư Phật chúng ta thảy đều tùy hỷ.
Như chư Phật chúng ta tuỳ hỷ cho Phật tử, tất cả chư Phật cũng đều tùy hỷ như vậy.
Phật tử!  chư Phật chúng ta đều cùng đồng tâm hộ trì kinh này, làm cho hiện tại vị lai các chúng Bồ Tát, những người chưa từng nghe đều sẽ được nghe."
Bấy giờ Phổ Hiền Bồ Tát thừa thần lực của Phật, quán sát tất cả đại chúng mười phương, khắp đến pháp giới, rồi nói kệ rằng:
Trong vô lượng kiếp tu khổ hạnh
Từ vô lượng Phật chánh pháp sanh.
Khiến vô lượng chúng trụ bồ đề
Hạnh vô đẳng kia nghe tôi nói.
Cúng vô lượng Phật mà xả chấp
Rộng độ quần sanh chẳng nghĩ tưởng
Cầu Phật công đức tâm vô y
Hạnh thắng diệu kia nay tôi nói.
Lìa ma ba cõi nghiệp ma
Đủ thánh công đức hạnh tối thắng
Diệt những mê lầm lòng tịch tịnh
Nay tôi nói đạo của kia làm.
Lìa hẳn thế gian những huyễn đối
Những thứ biến hóa dạy chúng sanh
Tâm sanh trụ diệt các sự
Nói sở năng kia cho chúng mừng.
Thấy các chúng sanh: sanh, già, chết
Phiền não lo khổ luôn bức ngặt
Muốn họ giải thoát dạy phát tâm
Hạnh công đức kia phải thính thọ.
Thí giới, nhẫn, tấn, thiền, trí huệ.
Phương tiện, từ, bi, hỷ, xả thảy
Trăm ngàn muôn kiếp thường tu hành
Các ngài nên nghe công đức đó.
Ngàn muôn ức kiếp cầu bồ đề
Bao nhiêu thân mạng đều không tiếc
Nguyện lợi quần sanh chẳng vì mình
Hạnh từ mẫn kia nay tôi nói.
Vô lượng ức kiếp nói công đức
Như biển một giọt còn chưa ít
Công đức vô tỉ chẳng thể dụ
Do Phật oai thần nay lược nói.
Tâm kia chẳng cao hạ
Cầu đạo không nhàm mỏi
Khiến khắp các chúng sanh
Ở lành thêm pháp sạch.
Trí huệ lợi ích khắp
Như cây, như sông suối
Cũng như nơi đại địa
Chỗ sở y tất cả.
Bồ Tát như liên hoa
Gốc lành, cọng an ổn,
Trí huệ là hương nhũy,
Giới phẩm là sạch thơm.
Phật phóng pháp quang minh
Cho hoa được xoè nở
Chẳng dính nước hữu vi
Ai thấy cũng hoan hỷ.
Bồ Tát cây diệu pháp
Sanh trên đất trực tâm
Giống: tin, gốc: từ bi
Trí huệ dùng làm thân,
Phương tiện làm cành nhánh
Ngũ độ làm tàn rậm
Lá định, bông thần thông
Nhứt thiết trí làm trái.
Cây to: tối thượng lực,
Che mát trùm tam giới.
Bồ Tát: sư tử vương
Pháp bạch tịnh làm thân
Tứ đế dùng làm thân
Chánh niệm dùng làm cổ
Mắt: từ, đầu: trí huệ.
Đảnh vấn lụa giải thoát.
Trong hang: thắng nghĩa không
Rống: pháp, bố chúng ma.
Bồ Tát là thượng chủ
Thấy khắp các quần sanh
Ở đồng hoang sanh tử
Xứ hiểm ác phiền não
Bị giặc ma bắt cầm
Mê mù mất chánh đạo.
Chỉ cho đường chánh trực
Khiến vào vô úy thành.
Bồ Tát thấy chúng sanh
Bịnh phiền não ba độc
Chịu các thứ khổ não.
Lâu dài bị đốt nấu
Vì họ, phát đại bi
Rộng nói môn đối trị
Có tám mươi bốn ngàn
Diệt trừ những khổ hoạn.
Bồ Tát làm pháp vương
Chánh đạo dạy chúng sanh
Bảo xa ác, tu thiện
Chuyên cầu Phật công đức,
Ở chỗ chư Như Lai
Quán đảnh chư Như Lai
Rộng ban những thánh tài
Bồ đề phần: trân bửu
Bồ Tát chuyển pháp luân
Như chư Phật đã chuyển
Giới: trục, định: gọng xe
Trí: trang nghiêm, gươm: huệ
Đã phá giặc phiền não
Cũng dẹp những ma oán,
Tất cả các ngoại đạo,
Vừa thấy liền tan rã.
Bồ Tát biển trí huệ
Sâu rộng không ngằn mé
Vị chánh pháp đầy tràn
Báu giác phần sung mãn,
Đại tâm không bờ mé,
Nhứt thiết trí: nước triều
Chúng sanh chẳng thể lường
Nói đó không hết được.
Bồ Tát núi tu di
Vượt hơn cả thế gian
Đảnh thần thông tam muội
Đại tâm an bất động.
Nếu có ai gần gũi
Đồng một màu trí huệ
Hơn hẳn các cảnh giới
Tất cả đều xem thấy.
Bồ Tát như kim cang
Chí cầu nhứt thiết trí
Tín tâm cùng khổ hạnh
Kiên cố chẳng động được.
Tâm ngài không e sợ
Lợi ích mọi quần sanh
Chúng ma và phiền não
Tất cả đều trừ diệt.
Bồ Tát đại từ bi
Ví như mây đầy kín
Tam minh phát điển quang
Thần túc chấn lôi âm,
Khắp dùng tứ biện tài
Mưa nước bát công đức
Ước nhuần tất cả chỗ
Khiến hết nóng phiền não.
Bồ Tát: thành chánh pháp
Bát nhã dùng làm vách
Tàm quý làm hào sâu
Trí huệ làm khí giới
Mở rộng cửa giải thoát
Chánh niệm hằng phòng thủ
Tứ đế: đường bằng thẳng
Lục thông: nhóm quân đội,
Lại dựng tràng đại pháp
Bao quanh khắp dưới thành
Những ma quân ba cõi
Tất cả không vào được.
Bồ Tát: kim điểu vương
Như ý làm chân cứng
Phương tiện: cánh mạnh khoẻ
Từ bi: cặp mắt sáng
Đầu cây: nhứt thiết trí
Xem biển cả: tam giới
Chụp bắt rồng: nhơn, thiên
Để trên bờ tịch diệt.
Bồ Tát: chánh pháp nhựt
Xuất hiện ở thế gian
Giới phẩm: vầng nhựt tròn
Thần túc: xoay đi mau
Chiếu sáng: trí huệ quang
Lớn cây thuốc: căn, lực
Diệt trừ tối phiền não
Tiêu cạn biển ái dục.
Bồ Tát: trí quang nguyệt
Pháp giới làm vầng trăng
Đi nơi tất cánh không
Thế gian đều xem thấy.
Trong tam giới thức tâm
Tuỳ thời có tăng giảm
Trong tinh tú nhị thừa
Tất cả không sánh kịp.
Bồ Tát: đại pháp vương
Công đức trang nghiêm thân
Tướng hảo đều đầy đủ
Người, trời đều chiêm ngưỡng
Phương tiện: mắt thanh tịnh
Trí huệ: chày kim cang
Nơi pháp được tự tại
Đem đạo dạy quần sanh
Bồ Tát: đại phạm vương
Tự tại siêu ba cõi
Nghiệp hoặc thảy đều dứt
Từ, xả đều đủ cả,
Xứ xứ thị hiện thân
Khai ngộ dùng pháp âm.
Ở trong ba cõi kia
Nhổ những gốc tà kiến
Bồ Tát: tự tại thiên
Siêu quá cõi sinh tử
Cảnh giới thường thanh tịnh
Trí huệ không thối chuyển.
Tuyệt những đạo hạ thừa
Thọ những pháp quán đảnh
Đủ công đức trí huệ
Tiếng tăm ai cũng nghe.
Bồ Tát: trí huệ tâm
Thanh tịnh như hư không
Không tánh, không sở y
Tất cả bất khả đắc
Có sức đại tự tại
Hay nên việc thế gian
Tự đủ hạnh thanh tịnh
Khiến chúng sanh cũng vậy.
Bồ Tát: đất phương tiện
Lợi ích các quần sanh,
Bồ Tát: nước từ bi
Rửa sạch những phiền não
Bồ Tát: lửa trí huệ
Đốt những củi hoặc tập.
Bồ Tát: gió không dừng
Du hành ba cõi trống.
Bồ Tát: những trân bửu
Hay giúp nạn nghèo cùng.
Bồ Tát: như kim cang
Hay djp điên đảo kiến.
Bồ Tát: như anh lạc
Trang nghiêm thân ba cõi.
Bồ Tát: như ma ni
Tăng trưởng tất cả hạnh
Bồ Tát: đức như hoa
Thường phát bồ đề phần.
Bồ Tát: nguyện như tràng
Hằng trùm đầu chúng sanh.
Bồ Tát: tịnh giới hương
Bền giữ không hủy phạm.
Bồ Tát: trí hương thoa
Huân khắp cả ba cõi.
Bồ Tát: lực như trướng
Hay ngăn bụi phiền não.
Bồ Tát: trí như tràng
Hay dẹp giặc ngã mạn.
Diệu hạnh làm gấm thêu
Trang nghiêm nơi trí huệ.
Tàm quý là y phục
Trùm khắp các quần sanh.
Bồ Tát: xe vô ngại
Ngồi đó ra ba cõi.
Bồ Tát: tượng đại lực
Tâm tánh khéo điều phục.
Bồ Tát: ngựa thần túc
Bay chạy vượt các cõi.
Bồ Tát: đồng thuyết pháp
Mưa khắp tâm chúng sanh.
Bồ Tát: hoa ưa đàm
Thế gian khó gặp gỡ
Bồ Tát: tướng khoẻ mạnh
Chúng ma đều hàng phục.
Bồ Tát: chuyển pháp luân
Như chư Phật đã chuyển.
Bồ Tát: đèn phá tối
Chúng sanh thấy chánh đạo.
Bồ Tát: sông công đức
Hằng thuận dòng chánh đạo.
Bồ Tát: cầu tinh tấn
Rộng độ các quần sanh
Đại trí cùng hoằng thệ
Đồng làm thuyền bền chắc
Tiếp dẫn các chúng sanh
Đặt ở bờ bồ đề.
Bồ Tát: vườn du hý
Chơn thiệt vui chúng sanh.
Bồ Tát: giải thoát hoa
Trang nghiêm cung điện trí.
Bồ Tát: như diệu dược
Diệt trừ bịnh phiền não.
Bồ Tát: như núi tuyết
Xuất sanh thuốc trí huệ.
Bồ Tát: đồng với Phật
Giác ngộ các quần sanh,
Tâm Phật đâu có khác
Chánh giác giác thế gian.
Như chỗ đến của Phật
Bồ Tát: đến như vậy.
Cũng như nhứt thiết trí
Dùng trí nhập phổ môn.
Bồ Tát: khéo khai đạo
Tất cả các quần sanh.
Bồ Tát: tự nhiên giác
Cảnh giới nhứt thiết trí.
Bồ Tát: vô lượng lực
Thế gian chẳng hoại được.
Bồ Tát: trí vô úy
Biết chúng sanh và pháp
Tất cả các thế gian
Sắc tướng đều sai khác.
Âm thanh và danh tự
Đều hay phân biệt biết.
Dầu rời nơi danh sắc
Mà hiện các thứ tướng
Tất cả các chúng sanh
Chẳng lường được đạo đó.
Những công đức như vậy
Bồ Tát đều thành tựu.
Biết tánh đều vô tánh
Hữu vô, không chấp trước.
Nhứt thiết trí như vậy
Vô tận vô sở y
Nay tôi sẽ diễn thuyết
Khiến chúng sanh hoan hỷ.
Dầu biết các pháp tướng
Như huyễn đều không tịch
Mà dùng tâm bi nguyện
Và Phật oai thần lực
Hiện thần thông biến hóa
Vô biên vô lượng sự.
Những công đức như vậy
Các ngài phải nghe thọ.
Một thân hay thị hiện
Vô lượng thân sai biệt,
Không tâm không cảnh giới
Khắp ứng tất cả chúng.
Trong một âm diễn đủ
Tất cả các ngôn âm
Ngôn ngữ của chúng sanh
Tùy loại đều nói được.
Lìa hẳn thân phiền não
Mà hiện thân tự tại
Biết pháp bất khả thuyết
Mà diễn thuyết các pháp.
Tâm ngài thường tịch diệt
Thanh tịnh như hư không
Trang nghiêm khắp các cõi
Thị hiện tất cả chúng,
Nơi thân không chấp trước
Mà hay thị hiện thân,
Trong tất cả thế gian,
Tùy nghi mà thọ sanh
Dầu sanh tất cả xứ
Cũng chẳng trụ thọ sanh.
Biết thân như hư không
Nhiều loại tùy tâm hiện,
Bồ Tát thân vô biên
Hiện khắp tất cả xứ,
Thường cung kính cúng dường
Tối thắng Lưỡng Túc Tôn.
Hương hoa những kỷ nhạc
Tràng phan và bảo cái
Hằng dùng tâm thanh tịnh
Cúng dường lên chư Phật.
Chẳng rời một Phật hội
Ở khắp chỗ chư Phật,
Tại trong đại chúng kia
Vấn nạn nghe thọ pháp,
Nghe pháp nhập tam muội
Mỗi mỗi vô lượng môn,
Khởi định cũng như vậy
Thị hiện không cùng tận.
Trí huệ xảo phương tiện
Rõ thế đều như huyễn
Mà hay hiện thế gian
Vô biên nhiều loại sắc
Cùng hiện tâm và lời
Vào trong lưới các tưởng
Mà hằng không chấp trước.
Hoặc hiện sơ phát tâm
Lợi ích nơi thế gina
Hoặc hiện lâu tu hành
Rộng lớn vô biên tế,
Thí, giới, nhẫn, tinh tấn
Thiền định và trí huệ
Tứ phạm, tứ nhiếp thảy
Tất cả pháp tối thắng.
Hoặc hiện hạnh thành mãn
Đắc nhẫn vô phân biệt.
Hoặc hiện còn một đời
Chư Phật quán đảnh cho,
Hoặc hiện tướng Thanh Văn,
Hoặc lại hiện Duyên Giác,
Xứ xứ nhập niết bàn
Chẳng bỏ hạnh bồ đề.
Hoặc hiện làm đế thích
Hoặc hiện làm phạm vương
Hoặc thiên nữ vây quanh
Hoặc lại ngồi yên lặng.
Hoặc hiện làm tỳ kheo
Tịch tịnh điều tâm mình.
Hoặc hiện Tự Tại Vương
Thống lý pháp thế gian.
Hoặc hiện gái xảo thuật,
Hoặc hiện tu hạnh lành,
Hoặc hiện thọ ngũ dục,
Hoặc hiện nhập thiền định,
Hoặc hiện sơ thỉ sanh
Hoặc trẻ, hoặc già chết
Nếu ai muốn nghĩ bàn
Tâm nghi phát cuồng loạn.
Hoặc hiện ở thiên cung
Hoặc hiện mới giáng thần
Hoặc nhập hoặc trụ thai
Thành Phật chuyển pháp luân.
Hoặc sanh hoặc niết bàn,
Hoặc hiện nhập học đường,
Hoặc tại trong thể nữ
Hoặc ly tục tu thiền,
Hoặc ngồi cây bồ đề
Tự nhiên thành chánh giác.
Hoặc hiện chueyern pháp luân
Hoặc hiện mới cầu đạo,
Hoặc hiện làm thân Phật
Ngồi yên vô lượng cõi,
Hoặc tu đạo bất thối
Tích tập hạnh bồ đề,
Thâm nhập vô số kiếp
Thảy đều đến bỉ ngạn.
Vô lượng kiếp một niệm
Một niệm vô lượng kiếp,
Tất cả kiếp phi kiếp
Vì thế, thị hiện kiếp.
Không lai, không tích tập.
Thành tựu những kiếp sự
Ở trong một vi trần
Thấy khắp tất cả Phật.
Thập phương tất cả xứ
Không xứ nào chẳng có
Quốc độ, pháp, chúng sanh
Thứ đệ thảy đều thấy.
Trải vô lượng kiếp số
Rốt ráo bất khả tận.
Bồ Tát biết chúng sanh
Rộng lớn không có biên
Một thân chúng sanh kia
Vô lượng nhơn duyên sanh.
Như biết một vô lượng
Tất cả đều cũng vậy.
Theo minh đã thông đạt
Dạy những người chưa học
Đều biết căn chúng sanh
Thượng trung ha chẳng đồng,
Cũng biết căn chuyển dời
Nên độ, chẳng nên độ.
Một căn tất cả căn
Triển chuyển sức nhơn duyên,
Vi tế đều sai khác,
Thứ đệ không lầm loạn.
Lại biết dục giải kia
Tất cả tập phiền não
Cũng biêt khứ, lai, kim
Bao nhiêu những tâm hạnh.
Thấu rõ tất cả hạnh
Không lai cũng không khứ,
Đã biết hạnh kia rồi
Vì nói pháp vô thượng.
Hạnh tạp nhiễm thanh tịnh
Tất cả đều biết rõ,
Một niệm được bồ đề
Thành tựu nhứt thiết trí.
Trụ Phật bất tư nghì
Rốt ráo tâm trí huệ
Một niệm đều biết được
Tất cả hạnh chúng sanh
Bồ Tát trí thần thông
Công lực đã tự tại
Có thể trong một niệm
Qua đến vô biên cõi.
Qua mau chóng như vậy
Tột đến vô số kiếp
Không xứ nào chẳng khắp
Chẳng động phần đầu lông.
Ví như nhà huyễn thuật
Hóa hiện những hình sắc
Tìm trong hình huyễn đó
Không sắc, không phi sắc.
Bồ Tát cũng như vậy
Dùng phương tiện trí huyễn
Mọi thứ đều thị hiện
Đầy khắp nơi thế gian.
Ví như tịnh nhựt nguyệt
Gương sáng tại hư không
Bóng hiện ở trong nước
Chẳng bị nước làm tạp.
Bồ Tát tịnh pháp luân
Phải biết cũng như vậy
Hiện trong tâm thế gian
Chẳng bị thế gian tạp.
Như người ngủ nằm mộng
Tạo tác nhiều công việc
Dầu trải ức ngàn năm
Nhưng một đêm chưa hết.
Bồ Tát trụ pháp tánh
Thị hiện tất cả sự
Vô lượng kiếp khả tận
Một niệm trí vô tận.
Ví như trong sơn cốc
Và cùng trong cung điện
Theo tiếng đều hưởng ứng
Mà thiệt vô phân biệt
Bồ Tát trụ pháp tánh
Hay dùng trí tự tại
Rộng phát âm tuỳ loại
Cũng vẫn vô phân biệt.
Như có thấy dương diệm
Tưởng đó cho là nước
Nên biết cũng như vậy
Bồ Tát khởi từ mẫn
Cứu cho họ xuất ly
Quán sắc như bọt nước,
Thọ như bóng trên nước
Tưởng như ángh nắng gắt
Những hành như cây chuối,
Tâm thức dường như huyễn
Thị hiện đủ mọi sự
Biết năm uẩn như vậy
Trí giả không chấp trước
Các xứ đều không tịch
Như cơ quan động chuyển,
Các giới tánh lìa hẳn
Vọng hiện ở thế gian
Bồ Tát trụ chơn thiệt
Tịch diệt đệ nhứt nghĩa
Rộng tuyên xướng các pháp
Mà tâm không sở y.
Không lai cũng không khứ
Cũng lại không có trụ,
Phiền não nghiệp khổ nhơn
Ba thứ hằng lưu chuyển.
Chẳng thiệt cũng chẳng hư
Như vậy vào trung đạo
Thuyết pháp không chấp trước,
Hay ở trong một niệm
Khắp hiện tâm tam thế
Dục, sắc, vô sắc giới
Tất cả mọi sự vật,
Tuỳ thuận ba luật nghi
Diễn thuyết ba giải thoát
Kiến lập đạo tam thừa
Thành tựu nhứt thiết trí,
Thấu rõ xứ phi xứ
Các nghiệp và các căn
Giới, giải, cũng thiền định
Tất cả đạo chi xứ.
Túc mạng niệm thiên nhãn
Diệt trừ tất cả hoặc
Biết thập lực của Phật
Mà chưa thành tựu được,
Thấu rõ các pháp không
Mà thường cầu diệu pháp
Chẳng cùng phiền não hiệp
Mà cũng chẳng tận lậu.
Rộng biết đạo xuất ly
Mà dùng độ chúng sanh
Nơi đây được vô úy
Chẳng bỏ tu các hạnh.
Không lầm không trái đạo
Cũng chẳng mất chánh niệm
Tinh tấn, dục, tam muội
Quán huệ không tổn giảm.
Tam tụ đều thanh tịnh
Tam thế đều không sáng
Đạt từ mẫn chúng sanh
Tất cả không chướng ngại.
Do nhập pháp môn này
Được thành hạnh như vậy
Nghĩa công đức trang nghiêm
Tôi giải nói phần ít,
Tột ở vô số kiếp
Nói kia hạnh vô tận,
Nay tôi nói ít phần
Như hạt bụi trên đất.
Nương ở Phật trí trụ
Phát tưởng là kỳ đặc
Tu hành hạnh tối thắng
Đầy đủ đại bi
Tinh cần tự an ổn
Giáo hóa các hàm thức,
An trụ trong tịnh giới
Đủ những hạnh thọ ký
Hay nhập Phật công đức
Hạnh chúng sanh và cõi
Kiếp thế đều cũng biết
Không có tướng mỏi nhàm.
Sai biệt trí tổng trì
Thông đạt nghĩa chơn thiệt
Tư duy nói vô tỷ
Tịch tịnh đẳng chánh giác
Phát tâm của Phổ Hiền
Sức từ bi nhơn duyên
Đến đạo ý thanh tịnh,
Tu hành ba la mật
Rốt ráo trí tùy giác
Sức chứng trí tự tại
Thành bồ đề vô thượng.
Thành tựu trí bình đẳng
Diễn thuyết pháp tối thắng
Hay trì đủ diệu biện
Đến được bực pháp vương.
Xa lìa nơi chấp trước
Diễn thuyết tâm bình đẳng
Xuất sanh ra trí huệ
Biến hóa được bồ đề.
Trụ trì tất cả kiếp
Trí giả rất hoan hỷ,
Thâm nhập và y chỉ
Không sợ không nghi hoặc
Rõ thấu bất tư nghì
Xảo mật khéo phân biệt
Khéo vào các tam muội
Thấy khắp cảnh giới trí.
Rốt ráo những giải thoát
Du hý thần thông, minh
Đều lìa hẳn triền phược
Viên lâm tha bồ đạo.
Bạch pháp làm cung điện
Chư hạnh đẳng ưa thích
Hiện vô lượng trang nghiêm
Tại thế tâm khéo quán sát
Diệu biện hay khai diễn
Thanh tịnh bồ đề ấn
Trí quang chiếu tất cả
Sở trụ không gì sánh
Tâm đó chẳng hạ liệt
Lập chí như núi to
Gieo đức đường biển thẳm.
Như bửu, an trụ pháp
Mặc giáp, tâm thệ nguyện
Phát khởi những đại sự
Rốt ráo không thể hoại.
Được thọ ký bồ đề
An trụ tâm quảng đại
Bí tạng vô cùng vô tận
Giác ngộ tất cả pháp
Thế trí đều tự tại
Diệu dụng không chướng ngại
Chúng sanh tất cả cõi
Và cùng các loại pháp.
Thân nguyện cùng cảnh giới
Trí huệ thần thông thảy
Thị hiện ở thế gian
Vô lượng trăm ngàn ức.
Du hý và cảnh giới
Tự tại không chướng ngại
Lực, vô uý, bất cộng,
Tất cả nghiệp trang nghiêm
Những thân và thân nghiệp
Ngữ và tu ngữ nghiệp
Vì để được thủ hộ
Thành xong mười sự việc.
Bồ Tát tâm sơ phát
Và cùng tâm châu biến
Các căn không tán động
Chứng được căn tối thắng
Thâm tâm, tăng thắng tâm
Xa lìa tâm phỉnh đối
Quyết định hiểu các pháp
Vào khắp ở thế gina,
Bỏ phiền não tập kia
Lấy đạo tối diệu thắng này
Khéo tu tối thắng này
Khéo tu cho viên mãn
Đến thành nhứt thiết trí
Tiến tu nhập chánh vị
Quyết định chứng tịch diệt
Xuất sanh Phật pháp đạo
Thành tựu hiệu công đức.
Đạo và vô lượng đạo
Nhẫn đến đạo tràng nghiêm
Thứ đệ khéo an trụ
Thảy đều không chấp trước.
Tay, chân và phúc tạng
Kim cang dùng làm tâm
Mặc áo giáp từ bi
Đầy đủ những khí giới.
Đầu: trí, mắt: minh đạt
Hạnh bồ đề làm tai
Giới thanh tịnh làm mũi
Diệt ám không chướng ngại.
Biện tài dùng làm lưỡi
Thân đến khắp mọi nơi
Trí tối thắng làm tâm
Đi đứng tu công hạnh.
Đạo tràng: tòa sư tử
Tịnh: nằm, chơn không: ở
Chỗ đi và quán sát
Vùng vẫy và gầm rống
Rời tham, hằng bố thí
Bỏ mạn, gìn tịnh giới
Chẳng sân, thường nhẫn nhục
Chẳng lười, hằng tinh tấn.
Thiền định được tự tại
Trí huệ không sở hành
Từ tế, bi không mỏi
Hỷ pháp, xả phiền não.
Ở trong các cảnh giới
Biết nghĩa cũng biết pháp
Phước đức đều thành mãn
Trí huệ như gươm bén
Chiếu khắp thích đa văn
Minh liễu xu hướng pháp
Biết ma và ma đạo
Thệ nguyện đều bỏ lìa.
Thấy Phật cùng Phật nghiệp
Phát tâm đều nhiếp lấy
Rời mạn, tu trí huệ
Chẳng bị ma nhiếp trì
Mà được Phật nhiếp trì
Cũng được pháp nhiếp trì.
Hiện ở cung Đâu Suất
Và hiện ẩn thiên cung
Thị hiện ở thai mẹ
Cũng hiện vi tế thú
Hiện sanh và vi tiếu
Cũng hiện đi bảy bước,
Hiện tu những kỷ thuật
Cũng hiện ở thâm cung
Xuất gia tu khổ hạnh
Qua đến nơi đạo tràng
Đoan tọa phóng quang minh
Giác ngộ các quần sanh
Hàng ma thành chánh giác
Chuyển pháp luân vô thượng
Thị hiện đều đã trọn
Hiện nhập đại niết bàn
Những hạnh Bồ Tát kia
Vô lượng kiếp tu tập
Quảng đại khôn ngằn mé
Nay tôi nói phần ít.
Dầu khiến vô lượng chúng
An trụ Phật công đức
Chúng sanh và trong pháp
Rốt ráo không chấp lấy,
Đầy đủ hạnh như vậy
Du hý những thần thông
Đầu lông để những cõi
Trải qua ức ngàn kiếp,
Tay cầm vô lượng cõi
Qua khắp thân không mỏi
Đem về để bổn xứ
Chúng sanh chẳng hay biết.
Bồ Tát dùng tất cả
Trang nghiêm nhiều quốc độ
Để ở một lỗ lông
Chơn thiệt đều cho thấy.
Lại dùng một lỗ lông
Nạp khắp tất cả biển
Biển lớn không tăng giảm
Chúng sanh chẳng nhiễu hại.
Vô lượng núi thiết vi
Tay bóp nát thành bụi
Một bụi nơi một cõi
Hết số vi trần này
Đem những cõi trần đây
Lại nghiền nát thành bụi
Bụi này biết được số
Khó lường trí Bồ Tát.
Ở trong một lỗ lông
Phóng vô lượng quang minh
Sáng nhựt nguyệt tinh tú
Sáng ma ni, sáng lửa
Nhẫn đến sáng chư thiên
Tất cả đều bị khuất.
Diệt những khổ ác đạo
Vì nói pháp vô thượng
Tất cả các thế gian
Nhiều thứ tiếng sai biệt
Bồ Tát một âm thanh
Hay diễn nói tất cả
Quyết định phân biệt nói
Tất cả những Phật pháp nói
Tất cả những  Phật pháp
Khiến khắp các quần sanh
Nghe đó rất hoan hỷ
Quá khứ tất cả kiếp
An trí nay, vị lai
Vị lai hiện tại kiếp
Xoay để kiếp quá khứ,
Thị hiện vô lượng cõi
Cháy tan và thành, trụ
Tất cả các thế gian
Đều tại một lỗ lông
Khứ, lai cùng hiện tại
Tất cả Phật mười phương
Đều ở tại trong thân
Phân minh mà hiển hiện
Biết sâu khá biến hóa
Khéo ưng tâm chúng sanh
Thị hiện các loại thần
Mà đều vô sở trước
Hoặc hiện ở sáu loài
Tất cả thân chúng sanh
Thân thích, phạm, hộ thế
Thân chư thiên, thân người,
Thân thanh văn, duyên giác,
Thân chư Phật Như Lai,
Hoặc hiện thân Bồ Tát
Tu hành nhứt thiết trí
Khéo nhập hạ, trung, thượng
Lưới tưởng của chúng sanh
Thị hiện thành bồ đề
Nhẫn đế những cõi Phật
Biết rõ những lưới tướng
Nơi tưởng được tự tại.
Hiện tu hạnh Bồ Tát
Tất cả sự phương tiện
Thị hiện như vậy thảy
Những thần biến quảng đại.
Những cảnh giới như vậy
Thế gina chẳng biết được
Dầu hiện mà không hiện
Rốt ráo càng tăng thượng.
Tùy thuận tâm chúng sanh
Khiến được đạo chơn thiệt.
Thân, ngữ và cùng tâm
Bình đẳng như hư không.
Tịnh giới lắm hương thoa
Các hạnh làm y phục
Gấm pháp trùm búi tóc
Ma ni: nhứt thiết trí,
Công đức đều cùng khắp
Quán đảnh lên vương vị,
Ba la mật làm xe,
Thần thông dùng làm tượng,
Thần túc đúng như ngựa,
Trí huệ làm minh châu,
Diệu hạnh làm thể nữ,
Tứ nhiếp: chủ tạng thần,
Phương tiện làm chủ binh,
Bồ Tát chuyển luân vương
Tam muội làm thành quách,
Không tịch làm cung điện,
Cung: niệm, tên: minh lợi,
Giăng cao lọng thần lực,
Lại dựng tràng trí huệ,
Nhẫn lực chẳng lay động
Thẳng phá quân ma vương
Tổng trì làm đất bằng,
Những hạnh làm nước sông,
Tịnh trí làm suối chảy,
Diệu huệ làm rừng cây,
Chơn không: ao đứng sạch,
Giác phần làm hoa sen,
Thần lực tự trang nghiêm
Tam muội thường đùa vui.
Tư duy làm thể nữ,
Cam lộ làm mỹ thực.
Giải thoát vị: nước uống,
Du hý nơi tam thừa,
Những hạnh Bồ Tát này
Vi diệu thêm tăng thượng
Vô lượng kiếp tu hành
Tâm ngài không nhàm đủ.
Cúng dường tất cả Phật
Nghiêm tịnh tất cả cõi
Khiến khắp tất cả chúng
An trụ nhứt thiết trí,
Tất cả cõi vi trần
Đều biết được số đó,
Tất cả hư không giới
Hột cát đo lường được,
Tất cả tâm chúng sanh
Niệm niệm đếm biết được,
Phật tử các công đức
Nói đó không hết được.
Muốn đủ công đức này
Và những pháp thượng diệu,
Muốn cho những chúng sanh
Lìa khổ thường an lạc,
Muốn cho thân, ngữ, ý
Đều đồng như chư Phật,
Phải phát kim cang nguyện
Học hạnh công đức này.

Tôi nhìn em, đôi mắt ở đậu,
Giữa cõi mê, tôi ở thật lâu,
Em cũng hiểu, cho nên cười nụ,
Chút mưu toan, khơi một bể sầu.
canary
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2010-02-05 08:21:29canary>
Kinh Hoa Nghiêm
Tập 7

Phẩm thập pháp giới
Thứ ba mươi chín (phần trên)



Bấy giờ, đức Thế Tôn ở nước Thất La Phiệt, trong trùng các Đại Trang Nghiêm, tại rừng Thệ Đa, vườn Cấp Cô Độc.
Câu hội với năm trăm đại Bồ Tát, Phổ Hiền Bồ Tát và Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát làm thượng thủ.  Tên của các ngài là:
Quang Diệm Tràng Bồ Tát, Tu Di Tràng Bồ Tát, Bửu Tràng Bồ Tát, Vô Ngại Tràng Bồ Tát, Hoa Tràng Bồ Tát, Ly Cấu Tràng Bồ Tát, Nhựt Tràng Bồ Tát, Diệu Tràng Bồ Tát, Ly Trần Tràng Bồ Tát, Phổ Quang Tràng Bồ Tát, Địa Oai Lực Bồ Tát, Bửu Oai Lực Bồ Tát, Kim Cang Trí Oai Lực Bồ Tát, Ly Trần Cấu Oai Lực Bồ Tát, Chánh Pháp Nhựt Oai Lực Bồ Tát, Phổ Kiết Tường Oai Lực Bồ Tát, Địa Tạng Bồ Tát, Hư Không Tạng Bồ Tát, Liên Hoa Tạng Bồ Tát, Tịnh Đức Tạng Bồ Tát, Pháp Ấn Bồ Tát, Quang Minh Tạng Bồ Tát, Tê Tạng Bồ Tát, Liên Hoa Đức Tạng Bồ Tát, Thiện Nhãn Bồ Tát, Tịnh Nhãn Bồ Tát, Ly Cấu Nhãn Bồ Tát, Vô Ngại Nhãn Bồ Tát, Phổ Hiền Nhãn Bồ Tát, Phổ Quán Nhãn Bồ Tát, Thanh Liên Hoa Nhãn Bồ Tát, Kim Cang Nhãn Bồ Tát, Bửu Nhãn Bồ Tát, Hư Không Nhãn Bồ Tát, Hỉ Nhãn Bồ Tát, Phổ Nhãn Bồ Tát, Thiên Quan Bồ Tát, Phổ Chiếu Pháp Giới Trí Huệ Quan Bồ Tát, Đạo Tràng Quan Bồ Tát, Phổ Chiếu Thập Phương Quan Bồ Tát, Nhứt Thiết Phật Tạng Quan Bồ Tát, Siêu Xuất Nhứt Thiết Thế Gian Quan Bồ Tát, Phổ Chiếu Quan Bồ Tát, Bất Khả Hoại Quan Bồ Tát, Trì Nhứt Thiết Như Lai Sư Tử Tòa Quan Bồ Tát, Phổ Chiếu Pháp Giới Hư Không Quan Bồ Tát, Phạm Vương Kế Bồ Tát, Long Vương Kế Bồ Tát, Nhứt Thiết Hóa Phật Quang Minh Kế Bồ Tát, Đạo Tràng Kế Bồ Tát, Nhứt Thiết Nguyện Hải Âm Bửu Vương Kế Bồ Tát, Nhứt Thiết Phật Quang Minh Ma Ni Kế Bồ Tát, Thị Hiện Nhứt Thiết Hư Không Bình Đẳng Tướng Ma Ni Vương Trang Nghiêm Kế Bồ Tát, Thị Hiện Nhứt Thiết Như Lai Thần Biến Ma Ni Vương Tràng Võng Thùy Phúc Kế Bồ Tát, Xuất Nhứt Thiết Phật Chuyển Pháp Luân Âm Kế Bồ Tát, Thuyết Tam Thế Nhứt Thiết Danh Tự Âm Kế Bồ Tát, Đại Quang Bồ Tát, Ly Cấu Quang Bồ Tát, Diệm Quang Bồ Tát, Pháp Quang Bồ Tát, Tịch Tịnh Quang Bồ Tát, Nhựt Quang Bồ Tát, Tự Tại Quang Bồ Tát, Thiên Quang Bồ Tát, Phước Đức Tràng Bồ Tát, Trí Huệ Tràng Bồ Tát, Thần Thông Bồ Tát, Quang Tràng Bồ Tát, Hoa Tràng Bồ Tát, Ma Ni Tràng Bồ Tát, Bồ Đề Tràng Bồ Tát, Phạm Tràng Bồ Tát, Phổ Quang Tràng Bồ Tát, Phạm Âm Bồ Tát, Hải Âm Bồ Tát, Đại Địa Âm Bồ Tát, Thế Chủ Âm Bồ Tát, Sơn Tướng Kích Âm Bồ Tát, Biến Nhứt Thiết Pháp Giới Âm Bồ Tát, Chấn Nhứt Thiết Pháp Hải Lôi Âm Bồ Tát, Hàng Ma Âm Bồ Tát, Đại Bi Phương Tiện Vân Lôi Âm Bồ Tát, Tức Nhứt Thiết Thế Gian Khổ An Ủy Âm Bồ Tát, Pháp Thượng Bồ Tát, Thắng Thượng Bồ Tát, Trí Thượng Bồ Tát, Phước Đức Tu Ti Thượng Bồ Tát, Công Đức San Hô Thượng Bồ Tát, Danh Xương Thượng Bồ Tát, Phổ Quang Thượng Bồ Tát, Trí Hải Thượng Bồ Tát, Phật Chủng Thượng Bồ Tát, Quang Thắng Bồ Tát, Đức Thắng Bồ Tát, Thượng Thắng Bồ Tát, Phổ Minh Thắng Bồ Tát, Pháp Thắng Bồ Tát, Nguyệt Thắng Bồ Tát, Hư Không Thắng Bồ Tát, Bửu Thắng Bồ Tát, Tràng Thắng Bồ Tát, Trí Thắng Bồ Tát, Ta La Tự Tại Vương Bồ Tát, Pháp Tự Tại Vương Bồ Tát, Tương Tự Vương Bồ Tát, Phạm Tự Tại Vương Bồ Tát, Sơn Tự Tại Vương Bồ Tát, Hùng Tự Tại Vương Bồ Tát, Tốc Tật Tự Tại Vương Bồ Tát, Tịch Tịnh Tự Tại Vương Bồ Tát, Bất Động Tự Tại Vương Bồ Tát, Thế Lực Tự Tại Vương Bồ Tát, Tối Thắng Tự Tại Vương Bồ Tát, Tịch Tịnh Âm Bồ Tát, Vô Ngại Âm Bồ Tát, Địa Chấn Âm Bồ Tát, Hải Chấn Âm Bồ Tát, Vân Âm Bồ Tát, Pháp Quang Âm Bồ Tát, Hư Không Âm Bồ Tát, Thuyết Nhứt Thiết Chúng Sanh Thiện Căn Âm Bồ Tát, Thị Nhứt Thiết Đại Nguyện Âm Bồ Tát, Đạo Tràng Âm Bồ Tát, Tu Di Quang Giác Bồ Tát, Hư Không Giác Bồ Tát, Ly Nhiễm Giác Bồ Tát, Vô Ngại Giác Bồ Tát, Thiện Giác Bồ Tát, Phổ Chiếu Tam Thế Giác Bồ Tát, Quảng Đại Giác Bồ Tát, Phổ Minh Giác Bồ Tát, Pháp Giới Quang Minh Giác Bồ Tát.
Năm trăm đại Bồ Tát như vậy câu hội.
Những Bồ Tát này thảy đều thành tựu hạnh nguyện Phổ Hiền cảnh giới vô ngại, vì cùng khắp tất cả cõi Phật.  Hiện thân vô lượng, vì thân cận tất cả Như Lai.  Tịnh nhãn vô ngại, vì thấy tất cả sự thần biến của chư Phật.  Xứ đến vô hạn vì hằng khắp đến chỗ của tất cả Như Lai thành chánh giác.  Quang minh vô tế, vì trí huệ quang chiếu khắp tất cả thiệt pháp hải.  Thuyết pháp vô tận, vì thanh tịnh biện tài vô biên tế kiếp không cùng tận.  Khắp hư không giới, vì trí huệ ra làm đều thanh tịnh.  Không chỗ y chỉ, vì tuỳ tâm chúng sanh hiện sắc thân.  Diệt trừ mê lòa, vì rõ chúng sanh giới không chúng sanh.  Trí khắp hư không, vì dùng lưới đại quang minh chiếu pháp giới.
Hàng Thanh Văn năm trăm vị câu hội.  Những vị này đều giác ngộ chơn đế, đều chứng thiệt tế, thâm nhập pháp tánh, thoát hẳn biển hữu lậu, nương Phật công đức, lìa sự trói buộc của kiết sử, trụ chỗ vô ngại.  Tâm các ngài tịch tịnh như hư không.  Ở chỗ chư Phật, dứt hẳn nghi lầm.  Nơi trí chư Phật, tin sâu xu nhập.
Vô lượng Thế Chủ câu hội.  Những thế chủ này đều đã từng cúng dường vô lượng chư Phật.  Thường hay lợi ích tất cả chúng sanh, làm bất thỉnh hữu.  Hằng siêng thủ hộ thệ nguyện chẳng bỏ chúng sanh.  Đã nhập thế gian thù thắng trí môn.  Từ Phật giáo sanh.  Hộ Phật chánh pháp.  Phát đại nguyện chẳng để dứt Phật chủng.  Sanh nhà Như Lai cầu nhứt thiết trí.
Bấy giờ, chư đại Bồ Tát, đại đức Thanh Văn, những chủ thế gian và quyến thuộc đều nghĩ rằng: cảnh giới của Như Lai, trí hạnh của Như Lai, gia trì của Như Lai, lực của Như Lai, vô úy của Như Lai, tam muội của Như Lai, sở trụ của Như Lai, tự tại của Như Lai, thân của Như Lai, trí của Như Lai, tất cả thế gian chư thiên cùng người đời không thôn đạt được, không xu nhập được, không tín giải được, không rõ biết được, không nhẫn thọ được, không quán sát được, không giảng trạch được, không khai thị được, không tuyên minh được.  Không ai có thể làm cho chúng sanh hiểu rõ.  Chỉ trừ sức gia bị của chư Phật, sức thần thông của Phật, sức oai đức của Phật, sức bổn nguyện của Phật, và sức thiện căn đời trước của họ, sức nhiếp thọ của thiện tri thức, sức tinh tín sâu, sức minh giải lớn, sức tâm thanh tịnh xu hướng bồ đề, sức nguyện rộng lớn cầu nhứt thiết trí.  Cúi xin đức Thế Tôn tuỳ thuận chúng tôi và những dục giải của các chúng sanh, những trí, những ngôn ngữ, những tự tại, những trụ đại, những căn thanh tịnh, những ý phương tiện, những tâm cảnh giới, những y chỉ công đức của Như Lai, những pháp đã được nghe thọ của chúng tôi và các chúng sanh mà hiển thị đức Như Lai: thuở xưa xu cầu tâm nhứt thiết trí, thuở xưa phát khởi đại nguyện Bồ Tát, thuở xưa tu tịnh, những môn ba la mật, thuở xưa đã nhập những bực Bồ Tát, thuở xưa viên mãn những hạnh Bồ Tát, thuở xưa thành tựu phương tiện, thuở xưa tu hành những đạo, thuở xưa chứng được pháp xuất ly, thuở xưa đã làm những sự thần thông, thuở xưa đã có bổn sự nhơn duyên, đến thành đẳng chánh giác, chuyển diệu pháp luân, tịnh Phật quốc độ, điều phục chúng sanh, mở thành pháp nhứt thiết trí, chỉ đường tất cả chúng sanh, thọ sự cúng dường của tất cả chúng sanh, vì tất cả chúng sanh mà nói công đức bố thí, vì tất cả chúng sanh mà hiện ảnh tượng của chư Phật.  Những pháp như vậy, xin đức Phật vì chúng tôi mà giải thuyết.
Bấy giờ, đức Thế Tôn biết tâm niệm của chư Bồ Tát, liền dùng đại bi làm thân, đại bi làm môn, đại bi làm đầu, dùng pháp đại bi mà làm phương tiện, đầy khắp hư không, nhập sư tử tần thân tam muội.
Khi đức Thế Tôn nhập tam muội này rồi, tất cả thế gian đều khắp nghiêm tịnh.
Liền đó, lâu các đại trang nghiêm bỗng nhiên rộng rải không có ngằn mé, kim cang làm đất, bửu vương che phía trên, vô lượng bửu hoa và những châu ma ni rải đầy khắp trong lầu, lưu ly làm cột, các thứ báu hiệp thành, trang nghiêm với đại quang ma ni, vàng diêm phù đàn, như ý bửu vương trùm khắp phía trên nghiêm sức.  Lầu cao thành dãy, đường gác kèm bên.  Kèo máy thừa nhau, cửa ngạch chói nhau.  Thềm, bực, hiên, bao lơn đều đầy đủ.  Tất cả đều trang nghiêm với diệu bửu.  Những bửu ấy đều là hình tượng nhơn thiên, kiên cố đẹp lạ đệ nhứt thế gian.  Lưới báu ma ni che khắp phía trên.  Bên cửa đều dựng tràng phan, đều phóng quang minh cùng khắp giới.  Ngoài đạo tràng, thềm cấp lan can nhiều vô lượng không thể kể nói, đều bằng ngọc ma ni.
Lúc đó, lại do thần lực của Phật, rừng Thệ Đa bỗng nhiên rộng rãi đồng với bất khả thuyết phật sát vi trần số quốc độ.  Tất cả diệu bửu xen lẫn trang nghiêm.  Bất khả thuyết bửu trải khắp mọi nơi.  Vô số bửu làm tường rào.  Cây đa la báu trang nghiêm bên đường.
Trong rừng lại có vô lượng hương hà, đầy những nước thơm sóng gợn xoay quanh.  Tất cả hoa bá theo dòng chuyển về phía hữu, tự nhiên diễn ra âm thanh Phật pháp.  Bất tư nghì bạch liên hoa báu búp nở thơm tho giăng bày trên mặt nước.  Những cây bông báu trồng hàng bên bờ sông.  Bất tư nghì những đài, nhà mát xếp hàng trên bờ sông, lưới báu ma ni che trùm.  Vô số báu phóng đại quang minh.  Đốt những diệu hương mùi thơm ngào ngạt.
Lại dựng vô lượng bửu tràng.  Những là: bửu hương tràng, bửu y tràng, bửu phan tràng, bửu thắng tràng, bửu hoa tràng, bửu anh lạc tràng, bửu man tràng, bửu linh tràng, ma ni bửu cái tràng, đại ma ni bửu tràng, quang minh biến chiếu ma ni bửu tràng, xuất nhứt thiết Như Lai danh hiệu âm thanh ma ni vương tràng, sư tử ma ni vương tràng, thuyết nhứt thiết Như Lai bổn sự hải ma ni vương tràng, hiện nhứt thiết pháp giới ảnh tượng ma ni vương tràng.  Những bửu tràng này bày hàng trang nghiêm cùng khắp mười phương.
Bấy giờ trong hư không trên rừng Thệ Đa có bất tư nghì thiên cung điện vân.  Vô số hương thọ vân, bất khả thuyết tu di sơn vân, bất khả thuyết kỹ nhạc vân phát ra tiếng hay diệu ca ngợi đức Như Lai, bất khả thuyết bửu liên hoa vân, bất khả thuyết bửu tòa vân trải thiên y Bồ Tát ngồi trên đó ca ngợi công đức của Phật, bất khả thuyết thiên vương hình tượng ma ni bửu vân, bất khả thuyết bạch chơn châu vân, bất khả thuyết xích châu lâu các trang nghiêm cụ vân, bất khả thuyết vũ kim cang kiên cố châu vân.  Những bửu vân này đều dừng ở hư không bao vòng cùng khắp để trang nghiêm.
Tại sao vậy?
Vì thiện căn của đức Như Lai bất tư nghì.  Vì bạch pháp của đức Như Lai bất tư nghì.  Vì oai lực của đức Như Lai bất tư nghì.  Vì đức Như Lai có thể dùng một thân tự tại biến hóa khắp tất cả thế giới bất tư nghì.  Vì đức Như Lai có thể dùng thần lực làm cho tất cả Phật và Phật quốc trang nghiêm đều nhập vào thân mình bất tư nghì.  Vì đức Như Lai có thể ở trong một vi trần hiện khắp ảnh tượng tất cả pháp giới bất tư nghì.  Vì đức Như Lai có thể ở trong một lỗ lông thị hiện quá khứ tất cả chư Phật bất tư nghì.  Vì đức Như Lai tùy phóng mỗi một quang minh đều có thể chiếu khắp tất cả thế giới bất tư nghì.  Vì đức Như Lai có thể ở trong một lỗ lông phát ra tất cả phật sát vi trần số biến hóa vân đầy khắp tất cả chư Phật quốc độ bất tư nghì.  Vì đức Như Lai có thể ở trong một lỗ lông hiện khắp tất cả thế giới mười phương: thành trụ hoại kiếp bất tư nghì.
Như ở tại rừng Thệ Đa vườn Cấp Cô Độ thấy Phật quốc thanh tịnh trang nghiêm, mười phương tất cả pháp giới hư không giới, tất cả thế giới cũng đều thấy như vậy.
Những là thấy thân đức Như Lai ở rừng Thệ Đa, chúng hội Bồ Tát thảy đều cùng khắp.  Thấy khắp nơi mưa những mây trang nghiêm.  Thấy khắp nơi mưa những mây bửu quang minh chiếu sáng.  Thấy khắp nơi mưa những mâ ma ni bửu.  Thấy khắp nơi mưa những mây lọng trang nghiêm che trùm cõi Phật.  Thấy khắp nơi mưa những mây thiên thân.  Thấy khắp nơi mưa những mây hoa thọ.  Thấy khắp nơi mưa những mây y thọ.  Thấy khắp nơi mưa những mây bửu man anh lạc nối tiếp chẳng dứt cùng khắp tất cả đại địa.  Thấy khắp nơi mưa những mây đồ trang nghiêm.  Thấy khắp nơi mưa những mây thơm hình chúng sanh.  Thấy khắp nơi mưa những mây lưới hoa báu vi diệu tiếp nối chẳng ngớt.  Thấy khắp nơi mưa những mây chư thiên nữ cầm tràng phan báu đi qua lại ở trong hư không.  Thấy khắp nơi mưa những mây bửu liên hoa, ở trong cánh hoa tự nhiên phát ra những tiếng nhạc.  Thấy khắp nơi mưa những mây tòa sư tử lưới báu anh lạc dùng trang nghiêm.
Lúc đó phương Đông qua khỏi bất khả thuyết phật sát vi trần số thế giới hải, có thế giới tên là Kim Đăng Vân Tràng.  Đức Phật nơi đó hiệu là Tỳ Lô Giá Na Thắng Đức Vương.
Trong chúng hội của đức Phật đó có Bồ Tát hiệu là Tỳ Lô Giá Na Nguyện Quang Minh, cùng bất khả thuyết phật sát vi trần số Bồ Tát câu hội đến chỗ đức Phật, đều dùng thần lực hiện những lùm mây: mây thiên hoa, mây thiên hương, mây thiên mạt hương, mây thiên man, mây thiên bửu, mây thiên trang nghiêm cụ, mây thiên bửu cái, mây thiên vi diệu y, mây thiên bửu tràng phan, mây những diệu bửu trang nghiêm đầy dẫy hư không.
Đến chỗ đức Phật rồi, chư Bồ Tát đảnh lễ chân Phật.  Liền ở nơi phương Đông hóa làm lâu các bửu trang nghiêm và tòa sư tử bửu liên hoa tạng chiếu khắp mười phương.  Lưới như ý bửu choàng trên thân.  Rồi cùng quyến thuộc ngồi kiết già trên đó.
Phương Nam qua khởi bất khả thuyết phật sát vi trần số thế giới hải, có thế giới tên là Kim Cang Tạng.  Đức Phật nơi đó hiệu là Phổ Quang Minh Vô Thắng Tạng Vương.
Trong chúng hội của đức Phật đó, có Bồ Tát hiệu là Bất Khả Hoại Tinh Tấn Vương, cùng bất khả thuyết phật sát vi trần số Bồ Tát câu hội đến chỗ đức Phật, đồng cầm những lưới bửu hương, những bửu anh lạc, những bửu hoa đới, những bửu man đới, những kim cang anh lạc, những lưới bửu ma ni, những bửu y đới, những bửu anh lạc đới, những thắng quang minh ma ni đới, những sư tửu ma ni bửu anh lạc.  Đều dùng thần lực làm cho những bửu vật trên đầy khắp tất cả thế giới.
Đến chỗ đức Phật rồi, chư Bồ Tát đảnh lễ chân Phật.  Liền ở nơi phương Nam hóa làm lâu các biến chiếu thế gian ma ni bửu trang nghiêm, và tòa sư tử phổ chiếu thập phương bửu liên hoa tạng.  Dùng những lưới bửu hoa choàng trên thân, cùng các quyến thuộc ngồi kiết già trên đó.
Phương Tây qua khởi bất khả thuyết phật sát vi trần số thế giới hải, có thế giới tên là Ma Ni Bửu Đăng Tu Di Sơn Tràng.  Đức Phật nơi đó hiệu là Pháp Giới Trí Đăng.
Trong chúng hội của đức Phật đó có Bồ Tát hiệu là Phổ Thắng Vô Lượng Oai Đức Vương, cùng thế giới hải vi trần số Bồ Tát câu hội đồng đến chỗ đức Phật.  Đều dùng thần lực hiện bất khả thuyết phật sát vi trần số những hương hoa thoa, hương thắp, mây tu di sơn, những mây tu di sơn hương thuỷ nhiều màu, những mây tu di sơn quang minh ma ni bửu vương, những mây tu di sơn quang diệm luân trang nghiêm tràng, những mây tu di sơn kim cang tạng ma ni vương trang nghiêm nhiều màu, những mây tu di sơn diêm phù đàn ma ni bửu tràng chiếu khắp tất cả thế giới, những mây tu di sơn ma ni bửu hiện tất cả pháp giới, những mây tu di sơn ma ni bửu vương hiện tất cả chư Phật tướng hảo, những mây tu di sơn ma ni bửu vương hiện bổn sự nhơn duyên của chư Phật nói tất cả công hạnh tu hành của chư Bồ Tát, những mây tu di sơn ma ni bửu vương hiện tất cả Phật ngồi bồ đề tràng.  Những mây này đầy khắp pháp giới.
Đến chỗ đức Phật rồi, chư Bồ Tát đảnh lễ chân đức Phật, liền ở phương Tây hóa lâu các nhứt thiết hương vương, lưới báu chơn châu giăng trùm trên đó, và hóa tòa sư tử bửu liên hoa tạng tràng bóng Thiên Đế, dùng lưới ma ni diệu sắc choàng nơi thân, trên đầu trang nghiêm với mão tâm vương bửu, cùng các quyến thuộc ngồi kiết già trên tòa đó.
Phương Bắc qua khởi bất khả thuyết phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên là Bửu Y Quang Minh Tràng.  Đức Phật nơi đó hiệu là Chiếu Hư Không Pháp Giới Đại Quang Minh.  Trong chúng hôi của đức Phật đó, có Bồ Tát hiệu là Vô Ngại Thắng Tạng Vương cùng thế giới hải vi trần số Bồ Tát câu hội đồng đến chỗ đức Phật đều dùng thần lực hiện những mây bửu y.  Những là mây bửu y quang minh màu vàng, những mây bửu y ướp hương, mây bửu y nhựt tràng ma ni vương, mây bửu y kim sắc xí nhiên ma ni, những mây bửu y quang diệm, những mây bửu y ma ni thượng diệu tượng tinh tú, những mây bửu y ma ni bạch ngọc quang, những mây bửu y ma ni thù thắng quang minh biến chiếu, những mây bửu y ma ni oai thế quang minh biến chiếu, những mây bửu y ma ni trang nghiêm hải.  Những mây bửu y này đầy khắp hư không.
Khi đến chỗ đức Phật, chư Bồ Tát đảnh lễ chân Phật, liền ở phương Bắc hóa làm lâu các ma ni bửu hải trang nghiêm, và tòa sư tử liên hoa tạng tỳ lưu ly bửu.  Dùng lưới ma ni vương sư tử oai đức choàng trên thân.  Dùng bửu vương thanh tịnh minh châu trang nghiêm trên đầu.  Cùng chư quyến thuộc ngồi kiết già trên tòa đó.
Phương Đông Bắc qua khởi bất khả thuyết phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên là Nhất Thiết Hoan Hỷ Thanh Tịnh Quang Minh Võng Đức Phật nơi đó hiệu là Vô Ngại Nhãn.
Trong chúng hội của đức Phật đó có Bồ Tát hiệu là Hóa Hiện Pháp Giới Nguyện Nguyệt Vương, cùng thế giới hải vi trần số Bồ Tát câu hội đồng đến chỗ đức Phật, đều dùng thần lực hiện mây lâu các báu, mây lâu các hương, mây lâu các hương đốt, mây lâu các hoa, mây lâu các chiên đàn, mây lâu các kim cang, mây lâu các ma ni, mây lâu các huỳnh kim, mây lâu các bửu y, mây lâu các liên hoa, che khắp thế giới mười phương.
Khi đã đến chỗ Phật, chư Bồ Tát đảnh lễ chân đức Phật, liền ở phương Đông Bắc hóa làm lâu các đại ma ni pháp giới môn, và tòa sư tử liên hoa tạng vô đẳng hương vương, dùng lưới ma ni hoa choàng trên thana, đội mão diệu bửu tạng ma ni vương, cùng chư quyến thuộc ngồi kiết già trên tòa đó.
Phương Đông Nam qua khởi bất khả thuyết phật sát vi trần số thế giới, có thế giới hiệu là Hương Vân Trang Nghiêm Tràng.  Đức Phật nơi đó hiệu là Long Tự Tại Vương.
Trong chúng hội của đức Phật đó có Bồ Tát hiệu là Pháp Huệ Quang Diệm Vương, cùng thế giới hải vi trần số Bồ Tát câu hội đồng đến chỗ đức Phật, đều dùng thần lực hiện mây kim sắc viên mãn quang minh, mây vô lượng bửu sắc viên mãn quang minh, mây Như Lai hảo tướng viên mãn quang minh, mây những bửu sắc viên mãn quang minh, mây liên hoa tạng viên mãn quang minh, mây bửu thọ chi viên mãn viên quang minh, mây Như Lai đảnh kế viên mãn quang minh, mây diêm phù đàn kim sắc viên mãn quang minh, mây nhứt sắc viên mãn quang minh, mây tinh nguyệt sắc viên mãn quang minh, đầy khắp hư không.
Đến chỗ đức Phật rồi, chư Bồ Tát đảnh lễ chân đức Phật, liền ở phương Đông Nam hóa làm lâu các tỳ lô giá na tối thượng bửu quang minh, và tòa sư tử kim cang ma ni liên hoa tạng, lưới bửu quang diệm ma vi vương choàng trên thân, cùng các quyến thuộc ngồi kiết già trên tòa đó.
Phương Tây Nam qua khởi bất khả thuyết phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên là Nhựt Quang Ma Ni Tạng.  Đức Phật nơi đó hiệu là Phổ Chiếu Chư Pháp Trí Nguyệt Vương.
Trong chúng hội của đức Phật đó có Bồ Tát hiệu là Tối Phá Nhứt Thiết Ma Quân Trí Tràng Vương, cùng thế giới hải vi trần số Bồ Tát câu hội, đồng đến chỗ đức Phật.  Ở trong tất cả lỗ lông hiện ra maya hoa diệm khắp hư không giới, mây hương diệm, mây bửu diệm, mây kim cang diệm, mây thiên hương diệm, mây điển quang diệm, mây tỳ lô giá na ma ni bửu diệm, mây nhứt thiết kim quang diệm, mây thắng tạng ma ni vương quang diệm, mây đồng tam thế Như Lai hải quang diệm, mỗi mỗi đều từ những lỗ lông hiện ra khắp hư không giới.
Khi đã đến chỗ đức Phật, chư Bồ Tát đảnh lễ chân đức Phật, liền ở phương Tây Nam hóa làm lưới phổ hiện thập phương pháp giới quang minh lâu các đại ma ni bửu, và tòa sư tử hương đăng diệm bửu liên hoa tạng, dùng lưới ly cấu tạng ma ni choàng trên thana, đội mão xuất nhứt thiết chúng sanh phát thu âm ma ni vương nghiêm sức, cùng các quyến thuộc ngồi kiết già trên tòa đó.
Phương Tây Bắc qua khởi bất khả thuyết phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên là Tỳ Lô Giá Na Nguyện Ma Ni Vương Tạng.  Đức Phật nơi đó hiệu là Phổ Quang Minh Tối Thắng Tu Di Vương. 
Trong chúng hội của đức Phật đó có Bồ Tát hiệu là Nguyện Trí Quang Minh Tràng, cùng thế giới hải vi trần số Bồ Tát câu hội đồng đến chỗ đức Phật.  Trong khoảng mỗi niệm, nơi tất cả tướng hảo, tất cả lỗ lông, tất cả thân phần đều hiện ra mây hình tượng tất cả tam thế Như Lai, mây hình tượng tất cả Bồ Tát, mây hình tượng chúng hội của tất cả Như Lai, mây hình tượng thân biến hóa của tất cả Như Lai, mây hình tượng thân bổn sanh của tất cả Như Lai, mây hình tượng tất cả Thanh Văn, Bích Chi Phật, mây hình tượng bồ đề tràng của tất cả Như Lai, mây hình tượng thần biến của tất cả Như Lai, mây hình tượng tất cả thế gian chủ, mây hình tượng tất cả quốc độ thanh tịnh, đầy khắp hư không.
Khi đã đến chỗ đức Phật, chư Bồ Tát đảnh lễ chân Phật, liền ở phương Tây Bắc hóa làm lâu các ma ni bửu trang nghiêm phổ chiếu thập phương và tòa sư tử bửu liên hoa tạng phổ chiếu thế gian.  Dùng lưới chơn châu vô năng thắng quang minh choàng trên thân, đội mão phổ quang minh ma ni bửu, cùng các quyến thuộc ngồi kiết già trên tòa đó.
Hạ phương qua khởi bất khả thuyết phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên là Nhứt Thiết Như Lai Viên Mãn Quang Phổ Chiếu.  Đức Phật nơi đó hiệu là Hư Không Vô Ngại Tướng Trí Tràng Vương.
Trong chúng hội của đức Phật đó có Bồ Tát hiệu là Phá Nhứt Thiết Chướng Dũng Mãnh Trí Vương, cùng thế giới hải vi trần số Bồ Tát câu hội đồng đến chỗ đức Phật.  Trong tất cả lỗ lông hiện ra mây âm thanh nói ngữ ngôn hải của tất cả chúng sanh, mây âm thanh nói tu hành phương tiện hải của tất cả tam thế Bồ Tát, mây âm thanh nói phát nguyện phương tiện hải của tất cả Bồ Tát, mây âm thanh nói tất cả Bồ Tát thành mãn thanh tịnh ba la mật phương tiện hải, mây âm thanh nói tất cả Bồ Tát viên mãn hạnh khắp tất cả cõi, mây âm thanh nói tất cả Bồ Tát thành tựu tự tại dụng, mây âm thanh nói tự tại dụng của tất cả Như Lai qua ngồi đạo tràng phá chúng ma quân thành đẳng chánh giác, mây âm thanh nói tất cả Như Lai chuyển pháp luân khế kinh: môn danh hiệu hải, mây âm thanh nói tất cả pháp phương tiện hải tùy cơ giáo hóa điều phục chúng sanh, mây âm thanh nói tất cả phương tiện hải tùy thời tùy thiện căn tùy nguyện lực khiến khắp chúng sanh chứng được trí huệ.
Khi đã đến chỗ đức Phật, chư Bồ Tát đảnh lễ chư Phật, liền ở hạ phương hóa làm lâu các chúng bửu trang nghiêm hiện hình tượng cung điện của tất cả Như Lai, và tòa sư tử bửu liên hoa tạng, đội mão phổ hiện đạo tràng ảnh ma ni bửu, cùng các quyến thuộc ngồi kiết già trên tòa đó.
Thượng phương qua khởi bất khả thuyết phật sát vi trần số thế giới hải, có thế giới tên là Thuyết Phật Chủng Tánh Vô Hữu Tận.  Đức Phật nơi đó hiệu là Phổ Trí Luân Quang Minh Âm.
Trong chúng hội của đức Phật đó có Bồ Tát hiệu là Pháp Giới Sai Biệt Nguyện, cùng thế giới hải vi trần số Bồ Tát câu hội đồng đến chỗ đức Phật Thích Ca Mâu Ni.  Nơi tất cả tướng hảo, tất cả lỗ lông, tất cả thân phần, tất cả chi tiết, tất cả đồ trang nghiêm, tất cả y phục hiện ra tất cả chư Phật quá khứ như đức Tỳ Lô Giá Na, v.v... tất cả chư Phật vị lai hoặc đã được thọ ký hay chưa được thọ ký, hiện tại mười phương tất cả quốc độ tất cả chư Phật và chúng hội.  Cũng hiện ra những bổn sự hải thực hành đàn ba la mật và tất cả người thọ bố thí thuở quá khứ.  Cũng hiện ra những bổn sự hải thực hành thi ba la mật thuở quá khứ.  Cũng hiện những bổn sự hải thuở quá khứ thực hành nhẫn nhục ba la mật cắt dứt chi thể tâm không động loạn.  Cũng hiện những bổn sự hải thuở quá khứ thực hành tinh tấn ba la mật dũng mãnh bất thối.  Cũng hiện những bổn sự hải thuở quá khứ cầu Như Lai thiền ba la mật hải mà được thành tựu.  Cũng hiện những bổn sự hải thuở quá khứ cầu chư Phật chuyển pháp luân mà được thành tựu pháp phát tâm dũng mãnh tất cả đều xả bỏ.  Cũng hiện những bổn sự hải thuở quá khứ thích thấy chư Phật, thích hành Bồ Tát đạo, thích giáo hóa chúng sanh.  Cũng hiện những bổn sự hải thuở quá khứ những Bồ Tát đại nguyện thanh tịnh trang nghiêm.  Cũng hiện những bổn sự hải thuở quá khứ chư Bồ Tát thanh lực ba la mật dũng mãnh thanh tịnh.  Cũng hiện những bổn sự hải thuở quá khứ tất cả Bồ Tát tu viên mãn trí ba la mật.  Tất cả những bổn sự hải như vậy thảy đều đầy khắp quảng đại pháp giới.
Khi đã đến chỗ đức Phật, chư Bồ Tát đảnh lễ chân đức Phật, liền ở thượng phương hóa làm lâu các kim cang tạng trang nghiêm, và tòa sư tử liên hoa tạng đế thanh kim cang vương, dùng lưới bửu quang minh ma ni vương choàng trên thân, dùng ma ni bửu  vương diễn thuyết tam thế Như Lai danh hiệu làm minh châu trên mão, cùng các quyến thuộc ngồi kiết già trên tòa đó.
Mười phương tất cả Bồ Tát và quyến thuộc đều từ trong hạnh nguyện của Phổ Hiền Bồ Tát mà sanh, dùng trí nhãn thanh tịnh thấy tam thế Phật, khắp nghe tu đa la hải của chư Phật chuyển pháp luân, đã được đến nơi tất cả Bồ Tát tự tại bỉ ngạn.  Trong mỗi niệm hiện đại thần biến.  Gần gũi tất cả chư Phật Như Lai.  Một thân đầy khắp tất cả chúng hội đạo tràng của tất cả Như Lai trong tất cả thế giới.  Trong mỗi vi trần, hiện khắp tất cả cảnh giới thế gian.  Giáo hóa thành tựu tất cả chúng sanh chưa từng lỗi thời.  Trong một lỗ lông phát ra âm thanh thuyết pháp của tất cả Như Lai.  Biết tất cả chúng sanh thảy đều như huyễn.  Biết tất cả đức Phật thảy đều như ảnh.  Biết tất cả loài thọ sanh thảy đều như mộng.  Biết tất cả nghiệp báo thảy đều như tượng trong gương.  Biết tất cả những gì có sanh khởi thảy đều như ánh nắng gắt.  Biết tất cả thế giới đều như biến hóa.  Thành tựu thập lực vô úy của đức Như Lai.  Dũng mãnh tự tại hay sư tử hống.  Vào sâu trong biển cả vô tận biện tài.  Được ngôn từ hải của tất cả chúng sanh.  Những pháp trí nơi hư không pháp giới, việc làm vô ngại.  Biết tất cả pháp không chướng ngại.  Tất cả Bồ Tát thần thông cảnh giới đều đã thanh tịnh.  Dũng mãnh tinh tấn xô dẹp ma quân.  Hằng dùng trí huệ thấu rõ tam thế.  Biết tất cả pháp dường như hư không, chẳng có nghịch trái cũng không chấp lấy.  Dầu siêng tinh tấn mà biết nhứt thiết trí trọn không chỗ đến.  Dầu quán cảnh giới mà biết tất cả những gì có đều là bất khả đắc.  Dùng trí phương tiện nhập tất cả pháp giới.  Dùng trí bình đẳng nhập tất cả quốc độ.  Dùng sức tự tại khiến tất cả thế giới xoay vần nhập nhau.  Xứ xứ thọ sanh trong tất cả thế giới.  Thấy những loại hình tướng của tất cả thế giới.  Nơi cảnh vi tế hiện cõi quảng đại.  Nơi cảnh quảng đại hiện cõi vi tế.  Nơi một chỗ đức Phật trong khoảng một niệm được tất cả đức Phật oai thần gia hộ.  Thấy khắp mười phương không bị mê lầm.  Trong khoảng sát na đều có thể qua đến.
Tất cả Bồ Tát có công đức trí huệ vô biên như vậy ngồi đầy trong rừng Thệ Đa.  Đây là nương thần lực của đức Như Lai.
Lúc đó chư thượng thủ đại Thanh Văn các trưởng lão: Xá Lợi Phất, Đại Mục Kiền Liên, Ma Ha Ca Diếp, Ly Bà Đa, Tu Bồ Đề, A Nâu Lâu Đà, Na Đà, Kiếp Tân Na, Ca Chiên Diên, Phú Lâu Na, v.v... chư đại Thanh Văn này ở tại rừng Thệ Đa mà đều chẳng thấy thần lực của Như Lai.  Chẳng thấy sự nghiêm hảo của Như Lai.  Chẳng thấy cảnh giới của Như Lai.  Chẳng tháy sự du hí của Như Lai.  Chẳng thấy sự thần biến của Như Lai.  Chẳng thấy sự tôn thắng của Như Lai.  Chẳng thấy sự diệu hạnh và oai đức của Như Lai.  Chẳng thấy sự trụ trì của Như Lai.  Chẳng thấy cõi thanh tịnh của Như Lai.  Lại cũg chẳng thấy cảnh giới Bồ Tát bất tư nghì, Bồ Tát đại hội, Bồ Tát phổ nhập, Bồ Tát phổ chí, Bồ Tát phổ nghệ, Bồ Tát thần biến, Bồ Tát du hí, Bồ Tát quyến thuộc, Bồ Tát phương sở, Bồ Tát trang nghiêm sư tử tòa, Bồ Tát cung điện, Bồ Tát trụ xứ, Bồ Tát nhập tam muội tự tại, Bồ Tát quán sát, Bồ Tát thành thục, Bồ Tát dũng kiện, Bồ Tát pháp thân thanh tịnh, Bồ Tát trí thân viên mãn, Bồ Tát nguyện thân thị hiện, Bồ Tát sắc thân thành tựu, Bồ Tát tướng hảo cụ túc thanh tịnh, Bồ Tát quang minh thường nhiều màu trang nghiêm, Bồ Tát phóng lưới đại quang minh, Bồ Tát khởi mây biến hóa, Bồ Tát thân khắp mười phương, Bồ Tát các hạnh viên mãn.  Những sự như vậy, tất cả Thanh Văn, đại A La Hán thảy đều không thấy.
Tại sao vậy?
Vì thiện căn chẳng đồng.  Vì vốn không tu tập thiện căn thấy Phật tự tại.  Vì vốn chẳng khen nói công đức thanh tịnh của tất cả chư Phật độ ở mười phương.  Vì vốn chẳng ca ngợi những thần biến của chư Phật Thế Tôn.  Vì vốn chẳng ở trong sanh tử phát tâm vô thượng bồ đề.  Vì vốn chẳng làm cho kẻ khác phát tâm bồ đề.  Vì vốn chẳng có thể làm cho chủng tánh Như Lai không đoạn tuyệt.  Vì vốn chẳng nhiếp thọ chúng sanh.  Vì vốn chẳng khuyên kẻ khác tu hạnh ba la mật của Bồ Tát.  Vì lúc ở trong sanh tử lưu chuyển, vốn chẳng khuyên bảo chúng sanh cầu đại trí nhãn tối thắng.  Vì vốn chẳng tu tập thiện căn phát sanh nhứt thiết trí.  Vì vốn chẳng thành tựu thiện căn xuất thế của Như Lai.  Vì vốn chẳng được trí thần thông nghiêm tịnh Phật độ.  Vì vốn chẳng được cảnh sở trí của Bồ Tát nhãn.  Vì vốn chẳng cầu những thiện căn siêu xuất thế gian bất cộng bồ đề.  Vì vốn chẳng phát Bồ Tát đại nguyện.  Vì sanh ra vốn chẳng từ sự gia bị của đức Như Lai.  Vì vốn chẳng biết tất cả pháp như huyễn, chư Bồ Tát như mộng.  Vì vốn chẳng được sự hoan hỷ quảng đại của chư đại Bồ Tát.  Những điều trên đây đều là cảnh giới trí nhãn Phổ Hiền Bồ Tát chẳng cùng chung với tất cả hàng nhị thừa.  Do cớ này, nên chư đại Thanh Văn không thấy được, chẳng biết được, chẳng nghe được, chẳng nhập được, chẳng chứng được, chẳng niệm được, chẳng quán sát được, chẳng tinh lường được, chẳng tư duy được, chẳng phân biệt được.  Thế nên dầu cũng ở trong rừng Thệ Đa mà chẳng thấy được những đại thần biến của Như Lai.
Lại vì chư đại Thanh Văn không có thiện căn như vậy, không có trí nhãn như vậy, không có tam muội như vậy, không có giải thoát như vậy, không có thần thông như vậy, không có oai đức như vậy, không có thế lực như vậy, không có tự tại như vậy, không có trụ xứ như vậy, không có cảnh giới như vậy, vì thế nên ở nơi đây không biết được không thấy được, không nhập được, không chứng được, không trụ được, không hiểu được, không quán sát được, không nhẫn thọ được, không xu hướng được, không noi theo được.
Lại cũng vì chẳng có thể vì người khác mà khai diễn giải thoát, tán thán thị hiện dắt dìu khuyến tấn, cho họ xu hướng, cho họ tu tập, cho họ an trụ, cho họ chứng nhập.
Tại sao vậy?
Vì chư đại đệ tử y theo Thanh Văn thừa mà xuất ly, thành tựu Thanh Văn đạo, đầy đủ Thanh Văn hạnh, an trụ Thanh Văn quả.  Nơi chơn đế vô hữu được quyết định trí, trụ luôn nơi thiệt tế rốt ráo tịch tịnh, lìa xa đại bi, bỏ các chúng sanh an trụ nơi việc của mình.  Nơi trí huệ kia chẳng chứa nhóm được, chẳng tu hành được, chẳng an trụ được, chẳng nguyện cầu được, chẳng thành tựu được, chẳng thanh tịnh được, chẳng xu nhập được, chẳng thông đạt được, chẳng thấy biết được, chẳng chứng đắc được.  Vì thế nên dầu ở trong rừng Thệ Đa mà chẳng thấy được thần biến quảng đại của đức Như Lai.
Chư Phật tử!  Như ở bờ sông Hằng, có trăm ngàn ức vô lượng ngạ quỷ lõa lồ đói khát, khắp mình lửa cháy.  Những quạ, kên kên, chó sói đua nhau rượt bắt.  Các ngạ quỷ này vì quá khát muốn tìm nước uống, nhưng dầu ở bên sông mà chẳng thấy nước.  Cũng có kẻ thấy sông nhưng lại thấy khô cạn.
Tại sao vậy?  Vì các ngạ quỷ này bị nghiệp chướng sâu nặng che mờ.
Cũng vậy, chư đại Thanh Văn dầu đến ở trong rừng Thệ Đa mà chẳng thấy thần lực quảng đại của đức Như Lai.  Vì bỏ nhứt thiết chủng trí, bị màn vô minh che lòa đôi mắt.  Vì chẳng từng gieo trồng những thiện căn nhứt thiết chủng trí.
Ví như có người ở giữa đại hội ngủ say chiêm bao thấy trên đảnh núi tu di, Thiên Đế ngự nơi thành Thiện Kiến, cung điện vườn cây các thứ nghiêm tốt.  Ngàn muôn ức thiên tử, thiên nữ.  Thiên hoa rải khắp mọi nơi.  Những y thọ sanh ra y phục đẹp.  Những hoa thọ đơm nở hoa đẹp.  Những âm nhạc thọ trổi thiên âm nhạc.  Những thiên thể nữ ca ngâm tiếng tốt.  Vô lượng chư thiên ở trong đó vui chơi.  Người nằm mộng này tự thấy mặc thiên y đi dạo khắp thiên cung.
Ở trong đại hội tất cả mọi người dầu đồng ở một chỗ mà chẳng thấy chẳng biết cảnh giới thiên cung như vậy.
Cũng vậy, tất cả Bồ Tát vì từ lâu chứa nhóm thiện căn, vì phát nguyện quảng đại cầu nhứt thiết chủng trí, vì học tập tất cả Phật công đức, vì tu hành đạo trang nghiêm của Bồ Tát, vì viên mãn pháp nhứt thiết chủng trí, vì đầy đủ những hạnh nguyện Phổ Hiền, vì xu nhập trí địa của tất cả Bồ Tát, vì du hí những tam muội sở trụ của tất cả Bồ Tát, vì đã có thể quán sát cảnh giới trí huệ của tất cả Bồ Tát không chướng ngại.  Do đây nên đều thấy thần biến tự tại bất tư nghì của Như Lai Thế Tôn.
Tất cả Thanh Văn đều chẳng thấy được, đều chẳng biết được, vì không có thanh tịnh nhãn của Bồ Tát.
Ví như núi tuyết đủ những dược thảo.  Lương y đến đó đều có thể phân biệt biết.  Còn những thợ săn, những người chăn súc vật thường ở trên đó mà chẳng thấy biết được thuốc.
Đây cũng như vậy, bởi chư Bồ Tát nhập trí cảnh giới đủ sức tự tại có thể thấy thần biến quảng đại của đức Như Lai.
Chư Thanh Văn đại đệ tử chỉ cầu tự lợi chẳng muốn lợi tha, chỉ cầu tự an chẳng muốn an tha, nên dầu ở trong rừng Thệ Đa mà chẳng thấy chẳng biết.
Ví như trong đất có mỏ thất bảo.  Nhà bác học trí huệ sáng suốt, có thể khéo phân biệt biết thấy những mỏ báu đó.  Người này có đại phước đức nên tùy ý lấy dùng tự tại: phụng dưỡng cha mẹ, cung cấp kẻ nghèo bịnh cơ hàn cô độc.
Những người không trí huệ không phước đức dầu cũng đến chỗ mỏ báo mà chẳng biết chẳng thấy chẳng được lợi ích.
Cũng vậy, chư đại Bồ Tát có trí nhãn thanh tịnh có thể nhập cảnh giới thậm thâm bất tư nghì, thấy được thần lực của Phật, nhập được các pháp môn, du hành được tam muội hải, hay cúng dường chư Phật, hay dùng chánh pháp khai ngộ chúng sanh, hay dùng tứ nhiếp pháp nhiếp thọ chúng sanh.
Chư đại Thanh Văn chẳng thấy được thần lực của chư Phật, cùng chẳng thấy được chúng Bồ Tát.
Ví như người mù đến chỗ châu bảo, hoặc đi, hoặc đứng, hoặc ngồi, hoặc nằm vẫn chẳng thấy được châu bảo.  Vì không thấy nên không lấy được, chẳng dùng được.
Đây cũng như vậy, chư đại đệ tử Thanh Văn dầu ở rừng Thệ Đa thân cận đức Thế Tôn mà chẳng thấy thần lực tự tại của đức Thế Tôn, cũng chẳng thấy được đại hội Bồ Tát, vì không có tịnh nhãn vô ngại của đại Bồ Tát, nên chẳng có thể thứ đệ ngộ nhập pháp giới thấy thần lực tự tại của đức Như Lai.
Ví như có người được thanh tịnh nhãn gọi là ly cấu quang minh, tất cả màu tối không làm chướng được.  Bấy giờ ở trong đêm tối có vô lượng ức người, hoặc đi, hoặc đứng, hoặc ngồi, hoặc nằm, hình tướng oai nghi.  Người này ở trong đại chúng đó đều thấy biết rõ ràng.  Còn đại chúng đó lại không thấy biết oai nghi tấn thối của người minh nhãn này.
Cũng vậy, đức Phật thành tựu trí nhãn thanh tịnh vô ngại thấy rõ tất cả thế gian.
Đức Phật thị hiện thần thông biến hóa, chúng đại Bồ Tát câu hội.  Hàng đại đệ tử Thanh Văn đều chẳng thấy được.
Ví như tỳ kheo ở giữa đại chúng nhập biến xứ định.  Những là địa biến xứ định, thủy biến xứ định, hỏa biến xứ định, phong biến xứ định, thanh biến xứ định, huỳnh biến xứ định, xích biến xứ định, bạch biến xứ định, thiên biến xứ định, chúng sanh thân biến xứ định, ngữ ngôn âm thanh biến xứ định, cảnh duyên biến xứ định.  Người nhập định này thấy những cảnh đó.  Những người khác không thấy được.  Chỉ trừ người trụ trong chánh định này.
Cũng vậy, đức Như Lai hiện Phật cảnh giới bất tư nghì, Bồ Tát thấy cả, Thanh Văn chẳng thấy.
Ví có người dùng thuốc ẩn thân tự thoa lên mắt, ở trong chúng hộ tới lui ngồi đứng, không ai thấy được.  Người này thời thấy tất cả những sự trong đại chúng.
Cũng vậy, đức Như Lai siêu quá thế gian, thấy khắp thế gian.  Chẳng phải hàng Thanh Văn thấy được.  Chỉ trừ chư đại Bồ Tát xu hướng cảnh giới nhứt thiết trí.
Như người khi đã sanh ra thời có hai thiên thần hằng theo kề.  Một thiên thần hiệu Đồng Sanh.  Một thiên thần hiệu Đồng Danh.  Thiên thần thường thấy người.  Người thời chẳng thấy được thiên thần.
Cũng vậy đức Như Lai ở trong đại hội Bồ Tát hiện đại thần thông, chư đại Thanh Văn đều chẳng thấy được.
Ví như tỳ kheo được tâm tự tại nhập diệt tận định, sáu căn chẳng hiện hành, chẳng hay chẳng biết tất cả ngữ ngôn.  Vì định lực chấp trì nên chẳng nhập diệt.
Cũng vậy, tất cả đại Thanh Văn dầu ở tại rừng Thệ Đa, đủ cả sáu căn mà đối với những sự tự tại của Như Lai cùng chúng hội Bồ Tát, chẳng biết chẳng thấy, chẳng hay chẳng nhập.
Tại sao vậy?
Vì cảnh giới của đức Như Lai thậm thâm quảng đại, khó thấy, khó biết, khó suy, khó lường.  Siêu xuất thế gian chẳng thể nghĩ bàn, chẳng gì làm hoại được.  Chẳng phải cảnh giới của hàng nhị thừa.  Vì thế nên Như Lai tự tại thần lực và chúng hội Bồ Tát cùng rừng Thệ Đa, cùng khắp tất cả thanh tịnh thế giới.  Những sự như vậy, chư đại Thanh Văn đều chẳng thấy biết, vì họ chẳng phải căn khí này.
Lúc đó, Tỳ Lô Giá Na Nguyện Quang Minh Bồ Tát, thừa Phật thần lực, quán sát mười phương rồi nói kệ rằng:
Các ngài nên quán sát
Phật đạo bất tư nghì
Nơi rừng Thệ Đa này
Thị hiện thần thông lực.
Oai thần lực của Phật
Biến hiện vô ương số
Tất cả các thế gian
Mê làm chẳng rõ được.
Pháp vương pháp thâm diệu
Vô lượng khó nghĩ bàn
Hiện ra những thần thông
Thế gian chẳng lường được.
Vì biết pháp vô tướng
Thế nên gọi là Phật.
Mà đủ tướng trang nghiêm
Xưng dương chẳng kể hết.
Nay ở trong rừng này
Thị hiện đại thần lực
Rất sâu vô biên lượng
Ngôn từ không biện được.
Ngài xem đại oai đức
Vô lượng chúng Bồ Tát
Mười phương những quốc độ
Mà đến thấy Thế Tôn.
Chỗ nguyện đều đầy đủ
Chỗ làm không chướng ngại
Tất cả các thế gian
Không ai suy lường được.
Tất cả chư Duyên Giác
Và đại Thanh Văn kia
Thảy đều chẳng biết được
Bồ Tát hạnh cảnh giới.
Bồ Tát đại trí huệ
Các địa đều rốt ráo
Dựng cao tràng dũng mãnh
Khó xô khó động được.
Những bực đại danh xưng
Vô lượng tam muội lực
Hiện ra những thần biến
Pháp giới đều sung mãn.
Bấy giờ, Bất Khả Hoại Tinh Tấn Vương Bồ Tát thừa Phật thần lực, quán sát mười phương rồi nói kệ rằng:
Ngài xem các Phật tử
Trí tuệ tạng công đức
Rốt ráo hạnh bồ đề
An ổn các thế gian.
Tâm ngài vốn minh đạt
Khéo nhập những tam muội
Trí huệ vô biên tế
Cảnh giới không lường được.
Nay rừng Thệ Đa này
Mọi sự đều nghiêm sức
Chúng Bồ Tát vân tập
Thân cận bên Như Lai
Ngài xem vô lượng chúng
Những bực vô sở trước
Mười phương đến chỗ này
Ngồi tòa bửu liên hoa.
Không đến cũng không ở
Không dựa không hí luận
Tâm ly cấu vô ngại
Rốt ráo nơi pháp giới
Kiến lập tràng trí huệ
Kiên cố chẳng động lay
Biết pháp không biến hóa
Mà hiện sự biến hoá
Mười phương vô lượng cõi
Tất cả chỗ chư Phật
Đồng thời đều qua đến
Mà cũng chẳng phân thân
Ngài xem Thích sư tử
Sức thần thông tự tại
Hay khiến chúng Bồ Tát
Tất cả đều đến họp
Tất cả những Phật pháp
Pháp giới đều bình đẳng
Ngôn thuyết nên chẳng đồng
Chúng này đều thông đạt.
Chư Phật thường an trụ
Pháp giới bình đẳng tế
Diễn nói pháp sai biệt
Ngôn từ vô cùng tận.
Bấy giờ, Phổ Thắng Vô Thượng Oai Đức Vương Bồ Tát thừa Phật thần lực, quán sát mười phương rồi nói kệ rằng:
Ngài xem vô thượng sĩ
Trí quảng đại viên mãn
Khéo đạt thời phi thời
Vì chúng diễn thuyết pháp.
Xô dẹp chúng ngoại đạo
Tất cả những dị luận
Khắp tùy tâm chúng sanh
Vì hiện thần thông lực
Chánh giác chẳng hữu lượng
Cũng lại chẳng vô lượng
Hoặc lượng, hoặc vô lượng
Mâu Ni đều siêu việt.
Như mặt nhựt trên không
Soi đến tất cả xứ
Phật trí cũng như vậy
Rõ thấu tam thế pháp.
Ví như chính đêm rằm
Vầng trăng không thiếu khuyết
Như Lai cũng như vậy
Bạch pháp đều viên mãn.
Như mặt nhựt trên không
Vận hành không tạm ngừng
Như Lai cũng như vậy
Thần biến thường tương tục.
Như mười phương quốc độ
Hư không chẳng chướng ngại
Thế đăng hiện biến hóa
Nơi thế cũng như vậy
Ví như đất thế gian
Chỗ nương của muôn loại
Chiếu thế đăng pháp luân
Làm chỗ nương cũng vậy
Ví như gió lốc mạnh
Thổi đi không chướng ngại
Phật pháp cũng như vậy
Mau khắp ở thế gian.
Ví như đại thuỷ luân
Thế giới nương trên đó
Trí huệ luân cũng vậy
Chỗ nương của chư Phật.
Bấy giờ, Vô Ngại Thắng Tạng Vương Bồ Tát thừa thần lực của Phật, quán sát mười phương rồi nói kệ rằng:
Ví như đại bửu sơn
Lợi ích các hàm thức
Phật sơn cũng như vậy
Lợi ích khắp thế gian.
Ví như, đại hải thủy
Đứng sạch không nhơ bợn
Thấy Phật cũng như vậy
Trừ được những khát ái
Ví như, tu di sơn
Ở ngay giữa đại hải
Thế gian đăng cũng vậy
Có từ nơi pháp hải.
Như biển đủ châu báu
Người cầu đều đầy đủ
Vô sư trí cũng vậy
Người thấy đều khai ngộ.
Như Lai trí thậm thâm
Vô lượng cũng vô số
Thế nên thần thông lực
Thị hiện khó nghĩ bàn
Ví như nhà huyễn giỏi
Thị hiện những sự vật
Phật trí cũng như vậy
Hiện những tự tại lực.
Ví như như ý bửu
Hay thỏa mãn ý muốn
Đấng tối thắng cũng vậy
Làm mãn nguyện thanh tịnh.
Ví như minh tịnh bửu
Chiếu khắp tất cả vật
Phật trí cũng như vậy
Chiếu khắp tâm quần sanh.
Ví như bát điện bửu
Soi khắp cả các phương
Vô ngại đăng cũng vậy
Chiếu khắp cả pháp giới.
Ví như thủy thanh châu
Hay làm trong nước đục
Thấy Phật cũng như vậy
Sáu căn đều thanh tịnh.
Bấy giờ, Hóa Hiện Pháp Giới Nguyện Nguyệt Vương Bồ Tát thừa Phật thần lực quán sát mười phương rồi nói kệ rằng:
Ví như đế thanh bửu
Hay làm xanh các màu
Người thấy Phật cũng vậy
Đều phát hạnh bồ đề.
Trong mỗi mỗi vi trần
Phật hiện thần thông lực
Khiến vô lượng vô biên
Bồ Tát đều thanh tịnh
Sức thậm thâm vi diệu
Vô biên chẳng thể biết
Cảnh giới của Bồ Tát
Thế gian chẳng lường được.
Đức Như Lai hiện thân
Tướng thanh tịnh trang nghiêm
Vào khắp những pháp giới
Thành tựu các  Bồ Tát
Nan tư Phật quốc độ
Trong đó thành chánh giác
Tất cả chư Bồ Tát
Thế chủ đều đầy dẫy.
Đấng Thích Ca vô thượng
Nơi pháp đều tự tại
Thị hiện thần thông lực
Vô biên chẳng lường được.
Bồ Tát những công hạnh
Vô lượng cùng vô tận.
Như Lai tự tại lực
Vì Bồ Tát mà hiện
Phật tử khéo tu học
Những pháp giới thậm thâm
Thành tựu trí vô ngại
Biết rõ tất cả pháp.
Thiện thệ oai thần lực
Vì chúng chuyển pháp luân
Thần biến khắp sung mãn
Khiến thế gian thanh tịnh.
Như Lai trí viên mãn
Cảnh giới cũng thanh tịnh
Ví như đại long vương
Giúp khắp các quần sanh.
Bấy giờ, Pháp Huệ Quang Diệm Vương Bồ Tát, thừa thần lực của đức Phật, quán sát khắp mười phương rồi nói kệ rằng:
Tam thế chư Như Lai
Thanh Văn đại đệ tử
Đều chẳng biết được Phật
Sự cất chân hạ chân.
Quá khứ, hiện, vị lai
Tất cả hàng Duyên Giác
Cũng chẳng biết Như Lai
Sự cất chân hạ chân.
Huống là các phàm phu
Kiết sử luôn buộc ràng
Vô minh che tâm thức
Mà biết được đạo sư
Chánh giác trí vô ngại
Siêu quá đường ngữ ngôn
Lượng kia chẳn lường được
Có ai thấy biết được.
Ví như minh nguyệt sáng
Không lường biên tế được
Phật thần thông cũng vậy
Chẳng thấy chung tận được.
Mỗi mỗi những phương tiện
Niệm niệm chỗ biến hóa
Đều trong vô lượng kiếp
Tư duy chẳng biết được
Suy gẫm nhứt thiết trí
Pháp chẳng thể nghĩ bàn
Mỗi mỗi môn phương tiện
Chẳng biết được biên tế.
Nếu ai ở pháp này
Mà phát nguyện rộng lớn
Ở nơi cảnh giới này
Thấy biết chẳng khó lắm.
Dũng mãnh siêng tu tập
Biển pháp lớn khó nghĩ
Tâm đó không chướng ngại
Vào môn phương tiện này.
Tâm ý đã điều phục
Chí nguyện cũng rộng rãi
Sẽ được đại bồ đề
Cảnh giới rất tối thắng.
Bấy giờ, Phá Nhứt Thiết Ma Quân Trí Tràng Vương Bồ Tát thừa thần lực của đức Phật, quán sát mười phương rồi nói kệ rằng:
Trí thân chẳng phải thân
Vô ngại khó nghĩ bàn,
Dầu có ai nghĩ bàn
Tất cả không đến được.
Từ bất tư nghì nghiệp
Khởi thân thanh tịnh này
Thù đặc diệu trang nghiêm
Chẳng chấp nơi ba cõi
Quang minh chiếu tất cả
Pháp giới đều thanh tịnh
Nghe Phật bồ đề môn
Xuất sanh những trí huệ.
Như mặt nhứt thế gian
Phóng ánh sáng trí huệ
Xa rời những trần cấu
Diệt trừ tất cả chướng.
Thanh tịnh khắp ba cõi
Tuyệt hẳn dòng sanh tử
Thành tựu đạo bồ đề
Xuất sanh vô thượng giác.
Thị hiện vô biên sắc
Sắc này không sở y
Sở hiện dầu vô lượng
Tất cả bất tư nghì.
Bồ đề khoảng một niệm
Hay giác ngộ các pháp
Sao lại muốn nghĩ lường
Như Lai trí biên tế.
Một niệm đều thấu rõ
Tất cả pháp tam thế
Nên nói Phật trí huệ
Vô tận cũng vô hoại.
Người trí phải như vậy
Chuyên gẫm Phật bồ đề
Gẫm này khó nghĩ bàn
Suy đó chẳng thể được
Bồ đề không thể nói
Siêu quá đường ngữ ngôn
Chư Phật từ đây sanh
Pháp này khó nghĩ bàn.
Bấy giờ, Nguyện Trí Quang Minh Tràng Vương Bồ Tát, thừa thần lực của đức Phật, quán sát mười phương rối nói kệ rằng:
Nếu khéo quán sát được
Bồ đề vô tận hải
Thời lìa được niệm si
Quyết định thọ trì pháp.
Nếu được tâm quyết định
Thời hay tu diệu hạnh
Thiền tịch tự tư lự
Dứt hẳn những nghi hoặc.
Tâm đó chẳng mỏi mệt
Lại cũng chẳng biến lười
Lần lượt tăng tấn tu
Rốt ráo những Phật pháp.
Tín trí đã thành tựu
Niệm niệm khiến tăng trưởng
Thường thích thường quán sát
Pháp vô đắc vô y.
Vô lượng ức ngàn kiếp
Tu những công đức hạnh
Tất cả đều hồi hóng
Đạo vô thượng của Phật.
Dầu ở nơi sanh tử
Mà tâm không nhiễm trước
An trụ trong Phật pháp
Thường thích Như Lai hạnh.
Những sự có thế gian
Những pháp uẩn, xứ giới
Tất cả đều bỏ lìa
Chuyển cầu Phật công đức.
Phàm phu bị mê lầm
Thường lưu chuyển thế gian
Bồ Tát tâm vô ngại
Cứu họ được giải thoát.
Bồ Tát hạnh khó nói
Thế gian chẳng suy được
Trừ khắp tất cả khổ
Khắp ban quần sanh vui.
Đã được bồ đề trí
Lại thương các chúng sanh
Quang minh chiếu thế gian
Độ thoát tất cả chúng.
Bấy giờ, Phá Nhứt Thiết Chướng Dũng Mãnh Trí Vương Bồ Tát, thừa Phật thần lực, quán sát mười phương rồi nói kệ rằng:
Vô lượng ức ngàn kiếp
Phật danh khó được nghe
Huống lại được thân cận
Dứt hẳn những nghi lầm
Như Lai thế gian đăng
Thông đạt tất cả pháp
Khắp sanh phước tam thế
Khiến chúng đều thanh tịnh.
Như Lai diệu sắc thân
Tất cả chúng kinh khen
Ức kiếp thường chiêm ngưỡng
Tâm họ không nhàm đủ.
Nếu có các Phật tử
Quán Phật diệu sắc thân
Tất bỏ luyến thế gian
Hướng về bồ đề đạo.
Như Lai diệu sắc thân
Hằng diễn quảng đại âm
Biện tài không chướng ngại
Khai Phật bồ đề môn.
Hiểu ngộ các chúng sanh
Vô lượng chẳng nghĩ bàn
Khiến vào môn trí huệ
Được thọ ký bồ đề.
Như Lai xuất thế gian
Làm phước điền thế gian
Dắt dẫn các hàm thức
Khiến họ tu phước hạnh.
Nếu có cúng dường Phật
Trừ hẳn sợ ác đạo
Diệt trừ tất cả khổ
Thành tựu thân trí huệ
Nếu thấy Lưỡng Túc Tôn
Hay phát tâm quảng đại
Người này hằng gặp Phật
Tăng trưởng sức trí huệ.
Nếu thấy Nhơn Trung Tôn
Quyết ý hướng bồ đề
Người này tự biết được
Tất sẽ thành chánh giác.
Bấy giờ, Pháp Giới Sai Biệt Nguyện Trí Thần Thông Vương Bồ Tát, thừa Phật thần lực, quán sát mười phương rồi nói kệ rằng:
Thích Ca Vô Thượng Tôn
Đủ tất cả công đức
Người thấy tâm thanh tịnh
Hồi hướng đại trí huệ
Như Lai đại từ bi
Xuất hiện ở thế gina
Khắp vì các quần sanh
Chuyển pháp luân vô thượng.
Như Lai vô số kiếp
Cầu khổ vì chúng sanh
Thế nào các thế gian
Báo được ơn đức Phật
Thà trong vô lượng kiếp
Thọ những khổ ác đạo
Trọn chẳng bỏ Như Lai
Mà cầu nơi xuất ly.
Thà thay các chúng sanh
Chịu đủ tất cả khổ
Trọn chẳng bỏ Như Lai
Mà cầu được an lạc.
Thà tại các ác thú
Hằng được nghe Phật danh
Chẳng muốn sanh thiện đạo
Tạm thời chẳng nghe Phật.
Thà sanh các địa ngục
Mỗi mỗi vô số kiếp
Trọn chẳng xa rời Phật
Mà cầu thoát ác thú
Cớ sao nguyện ở lâu
Tất cả các ác đạo?
Vì được thấy Như Lai
Trí huệ được tăng trưởng.
Nếu được thấy đức Phật
Diệt trừ tất cả khổ
Vào được cảnh đại trí
Của chư Phật Thế Tôn.
Nếu thấy được đức Phật
Bỏ rời tất cả chướng
Trưởng dưỡng phước vô tận
Thành tựu đạo bồ đề.
Như Lai dứt hẳn được
Tất cả chúng sanh nghi
Tuỳ tâm họ sở thích
Đều khiến khắp đầy đủ.
Bấy giờ, đức Phổ Hiền Bồ Tát quán sát khắp tất cả chúng hội Bồ Tát, dùng phương tiện đồng pháp giới, phương tiện đồng hư không giới, phương tiện đồng chúng sanh giới, đồng tam thế, đồng tất cả kiếp, đồng tất cả chúng sanh nghiệp, đồng tất cả chúng sanh dục, đồng tất cả chúng sanh giải, đồng tất cả chúng sanh căn, đồng lúc tất cả chúng sanh thành thục, phương tiện đồng tất cả pháp quang ảnh, vì chư Bồ Tát, dùng mười thứ pháp cú, khai pháp hiển thị, chiếu rõ diễn thuyết sư tử tần thân tam muội này.
Đây là mười diễn thuyết:
Diễn thuyết pháp cú có thể thị hiện đồng trong pháp giới tất cả phật sát vi trần, chư Phật thứ đệ xuất thế, các cõi thứ đệ thành hoại.
Diễn thuyết pháp cú có thể thị hiện đồng trong hư không giới tất cả cõi Phật, tận vị lai kiếp âm thanh tán thán công đức của Như Lai.
Diễn thuyết pháp cú có thể thị hiện đồng trong hư không giới tất cả cõi Phật, Như Lai xuất thế vô lượng vô biên thành chánh giác môn.
Diễn thuyết pháp cú có thể thị hiện đồng trong hư không giới tất cả cõi Phật, đức Như Lai ngồi đạo tràng giữa chúng hội Bồ Tát.
Diễn thuyết pháp cú nơi tất cả lỗ lông niệm niệm xuất hiện đồng tam thế thân hiện hóa của tất cả chư Phật đầy khắp pháp giới.
Diễn thuyết pháp cú có thể làm cho một thân đầy khắp mười phương sát hải bình đẳng hiển hiện.
Diễn thuyết pháp cú có thể làm cho trong tất cả những cảnh giới hiện khắp tam thế chư Phật thần biến.
Diễn thuyết pháp cú có thể làm cho trong tất cả phật sát vi trần hiện khắp tam thế tất cả phật sát vi trần số Phật, những thần trải qua vô lượng kiếp.
Diễn thuyết pháp cú có thể làm cho tất cả lỗ lông xuất sanh âm thanh đại nguyện hải của tất cả tam thế chư Phật, tận vị lai kiếp, khai phát hóa đạo tất cả Bồ Tát.
Diễn thuyết pháp cú có thể làm cho tòa sư tử của Phật lượng đồng pháp giới, chúng hội Bồ Tát, đạo tràng trang nghiêm, tận vị lai kiếp chuyển những pháp luân vi diệu.
Chư Phật tử!  Mười pháp cú này làm đầu, có bất khả thuyết phật sát vi trần số pháp cú đều là cảnh giới trí huệ của đức Như Lai.
Lúc đó, đức Phổ Hiền muốn tuyên lại nghĩa này, thừa Phật thần lực, quán sát đức Như Lai, quan sát chúng hội, quán sát cảnh giới khó nghĩ bàn của Phật, quán sát vô biên tam muội của chư Phật, quán sát những thế giới hải bất tư nghì, quán sát pháp trí như huyễn bất tư nghì, quán sát tam thế chư Phật bất tư nghì thảy đều bình đẳng, quán sát vô lượng vô biên tất cả những pháp ngôn từ, rồi nói kệ rằng:
Trong mỗi mỗi lỗ lông
Vi trần số sát hải
Đều có đức Phật ngồi
Đều đủ chúng Bồ Tát.
Trong mỗi mỗi lỗ lông
Vô lượng những sát hải
Phật ngự tòa bồ đề
Khắp pháp giới như vậy.
Trong mỗi mỗi lỗ lông
Tất cả sát trần Phật
Chúng Bồ Tát vây quanh
Phật nói hạnh Phổ Hiền.
Phật ngồi một cõi nước
Đầy khắp mười phương cõi
Vô lượng chúng Bồ Tát
Đều vân tập chỗ Phật.
Ức cõi vi trần số
Bồ Tát công đức hải
Đều từ trong hội khởi
Đày khắp mười phương cõi.
Đều trụ hạnh Phổ Hiền
Đều đi biển pháp giới
Hiện khắp tất cả cõi
Đồng nhập hội chư Phật.
Ngồi an tất cả cõi
Lắng nghe tất cả pháp
Trong mỗi mỗi quốc độ
Ức kiếp tu các hạnh.
Bồ Tát chỗ tu hành
Khắp rõ pháp đại hải hạnh
Vào nơi đại nguyện hải
Trụ cảnh giới của Phật.
Thấu rõ hạnh Phổ Hiền
Xuất sanh các Phật pháp
Đủ Phật công hải
Rộng hiện sự thần thông.
Thân vân khắp trần số
Đầy khắp tất cả cõi
Khắp mưa pháp cam lộ
Cho chúng trụ Phật đạo.
Bấy giờ, đức Thế Tôn vì muốn cho chư Bồ Tát an trụ trong Như Lai sư tử tần thân quảng đại tam muội, nên từ tướng bạch hào giữa chặng mày, phóng ra quang minh lớn gọi là phổ chiếu tam thế pháp giới môn, dùng bất khả thuyết phật sát vi trần số quang minh làm quyến thuộc, chiếu khắp chư Phật quốc độ trong tất cả thế giới hải ở mười phương.
Lúc đó tại rừng Thệ Đa, Bồ Tát đại chúng đều thấy tất cả cõi Phật khắp pháp giới hư không giới.  Trong mỗi mỗi vi trần đều tất cả phật sát vi trần số Phật độ những danh, những sắc, những thanh tịnh, những trụ xứ, những hình tướng.
Trong tất cả Phật độ như vậy đều có đại Bồ Tát ngồi đạo tràng trên tòa sư tử thành đẳng chánh giác.  Đại chúng Bồ Tát trước say vây quanh.  Các thế gian chủ thời cúng dường.
Hoặc thấy ở trong bất khả thuyết phật sát chúng hội phát ra âm thanh vi diệu đầy khắp pháp giới chuyển chánh pháp luân.
Hoặc thấy tại thiên cung điện, long cung điện, dạ xoa cung điện, trong những cung điện của càn thát bàn, a tu la, ca lâu la, khẩn na la, ma hầu la già, nhơn, phi nhơn, v.v...
Hoặc thấy tại nhơn gian: thôn ấp, tụ lạc, vương đô, đại xứ mà hiện những họ, những tên, những thân, những tướng, những quang minh.  Trụ những oai nghi, nhập những tam muội, hiện những biến.  Hoặc có lúc tự dùng những ngôn âm, hoặc làm cho những Bồ Tát ở trong những đại hội, dùng những ngôn từ thuyết những chánh pháp.
Trong hội này, đại chúng Bồ Tát thấy thậm thâm tam muội đại thần thông lực của chư Phật Như Lai như vậy.
Khắp pháp giới hư không giới, trong tất cả mười phương, nương nơi tâm tưởng của chúng sanh mà an trụ.  Bắt đầu từ tiền tế nhẫn đến hiện tại nay, tất cả quốc độ thân, tất cả chúng sanh thân, tất cả hư không đạo, trong đó, nơi chỗ bằng đầu lông, mỗi mỗi đều có vi trần số cõi, do những nghiệp mà có ra, thứ đệ an trụ.  Cũng đều có đạo tràng,  Bồ Tát chúng hội như vậy mà thấy thần lực của Phật, chẳng hoại tam thế, chẳng hoại thế gian, ở trong tâm của tất cả chúng sanh mà hiện hình tượng.  Tùy theo tâm sở thích của tất cả chúng sanh mà phát ra ngôn âm vi diệu vào khắp trong tát cả chúng hội, hiện khắp trước tất cả chúng sanh.  Sắc tướng có khác mà trí huệ không khác.  Tuỳ sở nghi mà khai thị Phật pháp, giáo hóa điều phục tất cả chúng sanh chưa lúc nào nghỉ.
Những ai thấy được thần lực này, thời đều do sự nhiếp thọ của thiện căn thuở quá khứ của đức Tỳ Lô Giá Na Như Lai.  Hoặc thuở xưa từng dùng pháp tứ nhiếp để nhiếp.  Hoặc là thấy nghe, nhớ nghĩ, thân cận mà được thành thục.  Hoặc là ngày trước dạy cho phát tâm vô thượng bồ đề.  Hoặc thuở xưa ở chỗ chư Phật đồng gieo căn lành.  Hoặc là quá khứ dùng nhứt thiết trí thiện xảo phương tiện giáo hóa thành thục.  Thế nên đều nhập nơi bất tư nghì thậm thâm tam muội đại thần lực khắp pháp giới hư không của Như Lai.  Hoặc nhập pháp thân hoặc sắc thân, hoặc nhập hạnh đã thành tựu thuở xưa.  Hoặc nhập viên mãn các môn ba la mật, hoặc nhập hạnh luân trang nghiêm thanh tịnh, hoặc nhập các bực Bồ Tát, hoặc nhập sức thành chánh giác.  Hoặc nhập tam muội vô sai biệt đại thần biến của đức Phật an trụ.  Hoặc nhập trí lực, trí  vô úy của Như Lai.  Hoặc nhập biển vô ngại biện tài của chư Phật.
Chư Bồ Tát đó dùng những giải, những đạo, những môn, những nhập, những lý thú, những tùy thuận, những trí huệ, những trợ đạo, những phương tiện, những tam muội mà nhập mười bất khả thuyết phật sat vi trần số Phật thần biến hải phương tiện môn như vậy.
Thế nào là những tam muội?
Những là: Phổ trang nghiêm pháp giới tam muội, phổ chiếu nhứt thiết tam thế vô ngại cảnh giới tam muội, pháp giới vô sai biệt trí quang minh tam muội, nhập Như Lai cảnh giới bất động chuyển tam muội, phổ chiếu vô biên hư không tam muội, nhập Như Lai lực tam muội, Phật vô úy dũng mãnh phấn tấn trang nghiêm tam muội, nhứt thiết pháp giới triền chyển tạng tam muội, như nguyệt phổ hiện nhứt thiết pháp giới dĩ vô ngại âm đại khai diễn tam muội, phổ thanh tịnh pháp quang minh tam muội, vô ngại tạng pháp vương tràng tam muội, nhứt nhứt cảnh giới trung tất kiến nhứt thiết chư Phật hải tam muội, ư nhứt thiết thế gian tất hiện thân tam muội, nhập Như Lai vô sai biệt thân cảnh giới tam muội, tùy nhứt thiết thế gian chuyển đại bi tạng tam muội, tri nhứt thiết pháp vô hữu tích tam muội, tri nhứt thiết pháp cứu cánh tịch diệt tam muội, tuy vô sở đắc nhi năng biến hóa phổ hiện thế gian tam muội, phổ nhập nhứt thiết sát tam muội trang nghiêm nhứt thiết phật sst thành chánh giác tam muội, quán nhứt thiết thế gian chủ sắc tướng sai biệt tam muội, quán nhứt thiết chúng sanh cảnh giới vô chướng ngại tam muội, năng xuất sanh nhứt thiết chúng sanh cảnh giới vô chướng ngại tam muội, năng xuất sanh nhứt thiết Như Lai mẫu tam muội, năng tu hành nhập nhứt thiết Phật hải công đức đạo tam muội, nhứt nhứt cảnh giới trung xuất hiện thần biến tận vị lai tế tam muội, nhập nhứt thiết Như Lai bổn sự hải tam muội, tận vị lai tế hộ trì nhứt thiết Như Lai chủng tánh tam muội, dĩ quyết định giải lực linh hiện tại thập phương nhứt thiết phật sát hải giai thanh tịnh tam muội, nhứt niệm trung phổ chiếu nhứt thiết Phật sở trụ tam muội, nhập nhứt thiết cảnh giới vô ngại tế tam muội, linh nhứt thiết thế giới vi nhứt phật sát tam muội, xuất nhứt thiết Phật biến hóa thân tam muội, dĩ kim cang vương trí tri nhứt thiết chư căn hải tam muội, tri nhứt thiết Như Lai đồng nhứt thân tam muội, tri nhứt thiết pháp giới sở an lập tất trụ tâm niệm tế tam muội, ư nhứt thiết pháp giới quảng đại quốc độ trung thị hiện niết bàn tam muội, linh trụ tối thượng xứ tam muội, ư nhứt thiết phật sát hiện chủng chủng chúng sanh sai biệt thân tam muội, phổ nhập nhứt thiết Phật trí huệ tam muội, tri nhứt thiết pháp tánh tướng tam muội, nhứt niệm phổ tri tam thế pháp tam muội, niệm niệm trung phổ hiện pháp giới thân tam muội, dĩ sư tử dũng mãnh trí tri nhứt thiết Như Lai xuất hưng thứ đệ tam muội, ư nhứt thiết pháp giới cảnh giới huệ nhãn viên mãn tam muội, dũng mãnh xu hướng thập lực tam muội, phóng nhứt thiết công đức viên mãn quang minh phổ chiếu thế gian tam muội, bất động tạng tam muội, thuyết nhứt pháp phổ nhập nhất thiết pháp tam muội, ư nhứt pháp dĩ nhứt thiết ngôn âm sai biệt huấn thích tam muội, diễn thuyết nhứt thiết Phật vô nhị pháp tam muội, tri tam thế vô ngại tế tam muội, tri nhứt thiết kiếp vô sai biệt tam muội, nhập thập lực vi tế phương tiện tam muội, ư nhứt thiết kiếp thành tựu nhứt thiết Bồ Tát hạnh bất đoạn tuyệt tam muội, thập phương phổ hiện thân tam muội, ư pháp giới tự tại thành chánh giác tam muội, sanh nhứt thiết an ổn thọ tam muội, xuất nhứt thiết trang nghiêm cụ trang nghiêm hư không giới tam muội, niệm niệm trung xuất đẳng chúng sanh số biến hóa thân vân tam muội, Như Lai tịnh không nguyệt quang minh tam muội, thường kiến nhứt thiết Như Lai trụ hư không tam muội, khai thị nhứt thiết Phật trang nghiêm tam muội, chiếu minh nhứt thiết pháp nghĩa đăng tam muội, chiếu thập lực cảnh giới tam muội, tam thế nhứt thiết Phật tràng tướng tam muội, nhứt thiết Phật nhứt mật tạng tam muội, niệm niẹm trung sở tác giai cứu cánh tam muội, vô tận phước đức tạng tam muội, kiến vô biên Phật cảnh giới tam muội, kiên trụ nhứt thiết pháp tam muội, kiến vô biên Phật cảnh giới tam muội, kiên trụ nhứt thiết pháp tam muội, hiện nhứt thiết Như Lai biến hóa tất linh tri kiến tam muội, niệm niệm trung Phật nhứt thường xuất hiện tam muội, nhứt nhựt trung tất tri tam thế sở hữu pháp tam muội, phổ âm diễn thuyết nhứt thiết pháp tánh tịch diệt tam muội, kiến nhứt thiết Phật tự tại lực tam muội, pháp giới khai phu liên hoa tam muội, quán chư pháp như hư không vô trụ xứ tam muội, thập phương hải phổ nhập nhứt phương tam muội, nhập nhứt thiết pháp giới vô nguyên để tam muội, dĩ tịch tịnh thân phóng nhứt thiết quang minh tam muội, nhứt niệm trung hiện nhất thiết thần thông đại nguyện tam muội, nhất thiết thời nhất thiết xứ thành chánh giác tam muội, dĩ nhất trang nghiêm nhập nhứt thiết pháp giới tam muội, phổ hiện nhứt thiết chư Phật thân tam mượi, tri nhứt thiết chúng sanh quảng đại thù thắng thần thông trí tam muội, nhứt niệm trung kỳ thân biến pháp giới tam muội, hiện nhứt thừa tịnh pháp giới tam muội, nhập phổ môn pháp giới thị hiện đại trang nghiêm tam muội, trụ trì nhứt thiết Phật pháp luân tam muội, dĩ nhứt thiết pháp môn trang nghiêm nhứt pháp môn tam muội, dĩ nhơn đà la võng nguyện hạnh nhiếp nhứt thiết chúng sanh giới tam muội, phân biệt nhứt thiết thế giới môn tam muội, thừa liên hoa tự tại du bộ tam muội, tri nhứt thiết chúng sanh chủng chủng sai biệt thần thông trí tam muội, linh kỳ thân hằng hiện nhứt thiết chúng sanh tiền tam muội, tri nhứt thiết chúng sanh sai biệt âm thanh ngôn từ hải tam muội, tri nhứt thiết chúng sanh sai biệt trí thần thông tam muội, đại bi bình đẳng tạng tam muội, nhứt thiết Phật nhập Như Lai tế tam muội, quán sát nhứt thiết Như Lai giải thoát xứ sư tử tần thân tam muội.
Bồ Tát dùng bất khả thuyết phật sát vi trần số tam muội như vậy mà nhập Tỳ Lô Giá Na Như Lai niệm niệm sung mãn nhất thiết pháp giới tam muội thần biến hải.
Chư Bồ Tát đó thảy đều đầy đủ đại trí thần thông minh lợi tự tại, trụ ở trí địa, dùng những trí quảng đại quán sát khắp tất cả từ những trí huệ chủng tánh mà sanh, nhứt thiết chủng trí thường hiện ở trước, được trí nhãn thanh tịnh rời si lòa, vì các chúng sanh làm điều ngự sư, trụ Phật bình đẳng, nơi tất cả pháp không có phân biệt, thấu rõ cảnh giới, biết các thế gian tánh đều tịch diệt không có chỗ y tựa.  Đến khắp cõi nước của tất cả chư Phật mà không chấp trước.  Đều có thể quan sát tất cả các pháp mà chẳng trụ.  Vào khắp tất cả diệu pháp cung điện mà không chỗ đến.  Giáo hóa đều tất cả thế gian khắp vì tất cả chúng sanh mà hiện nơi an ổn.  Trí huệ giải thoát là chỗ đi của các ngài.  Hằng dùng trí thân ở nơi ly tham, siêu việt biển hữu lậu mà hiển bày chơn thiệt tế.  Trí quang viên mãn thấy khắp các pháp.  Trụ nơi tam muội kiên cố bất động.  Với các chúng sanh hằng khởi đại bi.  Biết các pháp môn thảy đều như huyễn, tất cả chúng sanh thảy như mộng, tất cả Như Lai thảy đều như bóng, tất cả ngôn âm thảy đều như vang, tất cả pháp thảy đều như hóa, có thể khéo chứa nhóm hạnh nguyện thù thắng.  Trí huệ viên mãn thanh tịnh thiện xảo tâm rất tịch tịnh.  Khéo nhập tất cả cảnh giới tổng trì.  Đủ sức tam muội dũng mãnh không kiếp.  Được trí nhãn sáng suốt trụ pháp giới tế.  Đến chỗ vô sở đắc của tất cả pháp.  Tu tập trí huệ đại hải không bờ.  Đến trí ba la mật rốt ráo bỉ ngạn.  Được bát nhã ba la mật nhiếp trì.  Dùng thần thông ba la mật vào khắp thế gian.  Nương tam muội ba la mật được tâm tự tại.  Dùng trí chẳng điên đảo biết tất cả nghĩa.  Dùng trí xảo phân biệt khai thị pháp tạng.  Dùng trí hiển hiện biết rõ để giải thích văn từ.  Dùng nguyện lực lớn thuyết pháp vô tận.  Dùng vô sở uý để đại sư tử hống.  Thường thích quán sát pháp không chôc nương.  Dùng tịnh pháp nhãn quán sát khắp tất cả.  Dùng tịnh trí nguyệt chiếu thế gian thành hoại.  Dùng trí huệ quang chiếu chơn thiệt đế.  Phước đức trí huệ như núi kim cang, tất cả ví dụ không thể đến được.  Khéo quán sát các pháp huệ căn tăng trưởng.  Dũng mạnh tinh tấn xô dẹp chúng ma.  Vô lượng trí huệ oai quang xí thạnh.  Thân của các ngài siêu xuất tất cả thế gian.  Được trí huệ vô ngại đối tất cả pháp.  Khéo hay tỏ ngộ ngằn mé tận vô tận.  Trụ ở ngằn mé phổ biến nhập vào ngằn mé chơn thiệt.  Quán trí vô tướng thường hiện ra trước.  Thiện xảo thành tựu các hạnh Bồ Tát.  Dùng trí vô nhị biết các cảnh giới.  Thấy khắp tất cả những loài ở thế gian.  Trụ khắp tất cả quốc độ của chư Phật.  Trí đăng viên mãn, với tất cả pháp không chướng ngjai.  Phóng tịnh pháp quang chiếu mười phương cõi, là phước điền chơn thiệt của thế gian.  Hoặc thấy hoặc nghe sở nguyện đều viên mãn.  Phước đức cao lớn vượt hơn các thế gian.  Dũng mãnh vô úy dẹp các ngoại đạo.  Diễn thuyết pháp âm khắp tất cả cõi.  Thấy khắp chư Phật không có lòng nhàm đủ.  Nơi pháp thân của Phật đã được tự tại.  Tùy cơ nghi hóa độ mà vì họ hiện thân.  Một thân đầy khắp tất cả cõi Phật.  Đã được thần thông thanh tịnh tự tại.  Ngồi thuyền đại trí đến lui vô ngại.  Trí huệ viên mãn khắp cùng khắp giới, như mặt nhựt mọc lên chiếu khắp thế gian.  Tuỳ tâm của chúng sanh mà hiện sắc tượng.  Biết rõ căn tánh dục lạc của tất cả chúng sanh.  Nhập vào cảnh giới vô tránh của tất cả pháp.  Biết pháp tánh không sanh không khởi.  Có thể làm pháp lớn pháp nhỏ nhập vào nhau tự tại.  Quyết rõ lý thú thậm thâm của Phật địa.  Dùng vô tận cú nói nghĩa thậm thâm.  Ở trong một câu diễn thuyết tất cả biển tu đa la.  Được thân trí huệ đà la ni.  Phàm những pháp đã thọ trì thời vĩnh viễn không quên mất.  Một niệm có thể nhớ những sự việc trong vô lượng kiếp.  Trong một niệm biết rõ trí của tất cả tam thế chúng sanh.  Hằng dùng tất cả môn đà la ni diễn thuyết vô biên pháp hải của chư Phật.  Thường chuyển pháp luân thanh tịnh bất thối, làm cho các chúng sanh đều sanh trí huệ.  Được Phật cảnh giới trí huệ quang minh.  Nhập vào nơi thiện kiến thậm thâm tam muội.  Nhập vào ngằn mé vô chướng của tất cả pháp.  Với tất cả pháp được thắng trí tự tại.  Tất cả cảnh giới đều thanh tịnh trang nghiêm.  Vào khắp tất cả pháp giới mười phương.  Tuỳ xứ sở kia đều đến tất cả.  Trong mỗi mỗi vi trần hiện thành chánh giác.  Nơi tánh vô sắc hiện tất cả sắc.  Đem tất cả phương vào khắp một phương.
Chư Bồ Tát này đủ vô biên tạng phước đức trí huệ như vậy.  Thường được chư Phật khen ngợi.  Bao nhiêu ngôn từ nói công đức của các ngài cũng không hết được.  Tất cả chư Bồ Tát này đều ở trong Thệ Đa.  Sâu vào biển công đức lớn của Như Lai.  Đều thấy quang minh chiếu sáng của đức Phật.
Lúc đó, chư Bồ Tát được bất tư nghì chánh pháp quang minh, lòng rất hoan hỷ.
Đều ở trên thân mình, cùng lâu các và những đồ trang nghiêm với tòa sư tử đương ngồi, trong tất cả vật khắp rừng Thệ Đa, hóa hiện các thứ mây đại trang nghiêm, đầy khắp tất cả thập phương pháp giới.
Ở trong mỗi niệm phóng ra mây đại quang minh đầy khắp mười phương, đều có thể khai ngộ tất cả chúng sanh.  Hiện ra mây ma ni bửu linh đầy khắp mười phương, phát âm thanh vi diệu ca tụng khen ngợi tất cả công đức của tam thế chư Phật.  Hiện ra tất cả mây âm nhạc đầy khắp mười phương.  Trong âm nhạc diễn nói những nghiệp quả báo của tất cả chúng sanh.  Hiện ra mây những nguyện hạnh sắc tướng của tất cả Bồ Tát đầy khắp mười phương, diễn nói đại nguyện của chư Bồ Tát.  Hiện ra mây tự tại biến hóa của tất cả Như Lai, đầy khắp mười phương, diễn nói ngôn ngữ âm thanh của tất cả Bồ Tát, đầy khắp mười phương, nói chư Như Lai thứ đệ xuất thế nơi tất cả quốc độ.  Hiện ra mây đạo tràng của tam thế Như Lai đầy khắp mười phương, hiển bày công đức trang nghiêm của tất cả Như Lai thành đẳng chánh giác.  Hiện ra mây tất cả long vương đầy khắp mười phương, mưa tất cả thứ hương thơm.  Hiện ra mây thân của tất cả thế chủ đầy khắp mười phương, diễn thuyết hạnh của Phổ Hiền Bồ Tát.  Hiện ra mây Phật độ thanh tịnh tất cả bửu trang nghiêm đầy khắp mười phương, hiển bày tất cả Như Lai chuyển chánh pháp luân.
Chư Bồ Tát này vì được bất tư nghì pháp quang minh, nên theo pháp phải hiện ra bất khả thuyết phật sát vi trần số mây đại thần biến trang nghiêm như vậy.
Lúc đó, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát thừa thần lực của đức Phật, muốn tuyên lại những sự thần biến trong rừng Thệ Đa, quán sát mười phương rồi nói kệ rằng:
Các ngài nên xem rừng Thệ Đa
Phật oai thần nên rộng vô biên
Tất cả trang nghiêm đều hiện bày
Thập phương thế giới đều đầy khắp.
Tất cả cõi nước ở mười phương
Vô biên phẩm loại đại trang nghiêm
Ở trong những bửu tòa các cảnh
Hiển hiện rõ ràng những sắc tượng.
Lỗ lông của Phật tử hiện ra
Những may trang nghiêm báu đẹp sáng
Và phát tiếng vi diệu Như Lai
Khắp cùng mười phương tất cả cõi.
Trong cây bông báu hiện diệu thân
Thân ấy sắc tướng đồng phạm vương
Từ thiền định dậy mà bước đi
Oai nghi đến lui hằng tịch tịnh.
Trong mỗi lỗ lông của Như Lai
Thường hiện nan tư thân biến hóa
Đều như Phổ Hiền đại Bồ Tát
Những tướng đại nhơn để nghiêm hảo
Cõi không gian trên rừng Thệ Đa
Những đồ trang nghiêm phát tiếng diệu
Nói khắp tam thế chư Bồ Tát
Thành tựu tất cả biển công đức.
Những cây báu trong rừng Thệ Đa
Cũng phát vô lượng âm thanh diệu
Diễn nói tất cả các quần sanh
Những loại nghiệp hải đều sai khác.
Bao nhiêu cảnh giới ở trong rừng
Đều hiện tam thế Phật Như Lai
Mỗi Phật đều hiện đại thần thông
Mười phương sát hải vi trần số.
Bao nhiêu những quốc độ mười phương
Tất cả sát hải vi trần số
Đều nhập trong lỗ lông Như Lai
Thứ đệ trang nghiêm đều hiện thấy.
Bao nhiêu trang nghiêm đều hiện Phật
Bằng số chúng sanh khắp thế gian
Mỗi mỗi đều phóng đại quang minh
Thảy đều tùy nghi độ muôn loại.
Những hoa thơm sáng và tạng báu
Tất cả những mây đẹp trang nghiêm
Đều rộng lớn lượng đồng hư không
Đầy khắp mười phương các quốc độ.
Mười phương tam thế tất cả Phật
Bao nhiêu trang nghiêm diệu đạo tràng
Ở trong cảnh giới viên lâm này
Mỗi mỗi sắc tượng đều hiện rõ.
Tất cả Phổ Hiền, các Phật tử
Trăm ngàn kiếp hải cõi trang nghiêm
Số vô lượng bằng số chúng sanh
Tất cả hiện đủ trong rừng này.
Bấy giờ, chư Bồ Tát này được tam muội quang minh của Phật chiếu đến nên liền được nhập tam muội ấy.  Mỗi Bồ Tát đều được bất khả thuyết phật sát vi trần số môn đại bi, lợi ích an lạc tất cả chúng sanh.  Ở trên thân của chư Bồ Tát, mỗi lỗ lông đều phóng ra bất khả thuyết vi trần số quang minh.
Trong mỗi quang minh đều hóa hiện bất khả thuyết phật sát vi trần số Bồ Tát, thân tướng như các Thế Chủ, hiện khắp trước tất cả chúng sanh, bao vòng khắp cùng mười phương pháp giới, dùng những phương tiện để giáo hóa điều phục.
Hoặc hiện ra môn vô thường của bất khả thuyết phật sát vi trần số chư thiên cung điện.  Hoặc hiện ra môn thọ sanh của bất khả thuyết phật sát vi trần số tất cả chúng sanh.  Hoặc hiện ra môn tu hành của bất khả thuyết phật sát vi trần số tất cả Bồ Tát.  Hoặc hiện ra bất khả thuyết phật sát vi trần số môn mộng cảnh.  Hoặc hiện ra bất khả thuyết phật sát vi trần số môn đại nguyện của Bồ Tát.  Hoặc hiện ra bất khả thuyết phật sát vi trần số môn chấn động thế giới.  Hoặc hiện ra bất khả thuyết phật sát vi trần số môn phân biệt thế giới.  Hoặc hiện ra bất khả thuyết phật sát vi trần số môn hiện sanh thế giới.  Hoặc hiện ra bất khả thuyết phật sát vi trần số môn đàn ba la mật.  Hoặc hiện ra bất khả thuyết phật sát vi trần số môn thi ba la mật của tất cả Như Lai tu những công đức, những khổ hạnh.  Hoặc hiện ra bất khả thuyết phật sát vi trần số môn sằn đề ba la mật cắt đứt chi thể.  Hoặc hiện ra bất khả thuyết phật sát vi trần số tỳ lê gia ba la mật siêng tu.  Hoặc hiện ra bất khả thuyết phật sát vi trần số môn thiền định giải thoát của tất cả Bồ Tát tu những tam muội.  Hoặc hiện ra bất khả thuyết phật sát vi trần số môn trí quang minh viên mãn Phật đạo.  Hoặc hiện ra bất khả thuyết phật sát vi trần số môn xả bỏ vô số thân mạng để cầu một văn một câu Phật pháp.  Hoặc hiện ra bất khả thuyết phật sát vi trần số môn gần gũi tất cả Phật, han hỏi tất cả pháp không có lòng nhàm mỏi.  Hoặc hiện ra bất khả thuyết phật sát vi trần số môn tuỳ theo thời tiết dục lạc của tất cả chúng sanh, đến chỗ của họ để phương tiện thành thục làm cho họ trụ nơi nhứt thiết trí hải quang minh.  Hoặc hiện ra bất khả thuyết phật sát vi trần số môn hàng phục chúng ma, chế ngự các ngoại đạo, hiển bày sức phước trí của Bồ Tát.  Hoặc hiện ra bất khả thuyết phật sát vi trần số môn minh trí biết tất cả công xảo.  Hoặc hiện ra bất khả thuyết phật sát vi trần số môn minh trí biết tất cả chúng sanh sai biệt.  Hoặc hiện ra bất khả thuyết phật sát vi trần số môn minh trí biết tất cả pháp sai biệt.  Hoặc hiện ra bất khả thuyết phật sát vi trần số môn minh trí biết tâm sở thích sai biệt của tất cả chúng sanh.  Hoặc hiện ra bất khả thuyết phật sát vi trần số môn minh trí biết căn hành phiền não tập khí của tất cả chúng sanh.  Hoặc hiện ra bất khả thuyết phật sát vi trần số môn minh trí biết những nghiệp của tất cả chúng sanh.  Hoặc hiện ra bất khả thuyết phật sát vi trần số môn khai ngộ tất cả chúng sanh.  Dùng bất khả thuyết phật sát vi trần số môn phương tiện như vậy, đến chỗ ở của tất cả chúng sanh mà thành thục thọ.
Như là: hoặc đến thiên cung, hoặc đến long cung, hoặc đến cung của dạ xoa, càn thát bà, a tu la, ca lâu la, khẩn na la, ma hầu la già.  Hoặc đến cung của phạm vương, hoặc đến cung của nhơn vương.  Hoặc đến cung của diêm la vương.  Hoặc đến chỗ ở của súc sanh, ngạ quỷ, địa ngục.  Dùng đại bi bình đẳng, đại nguyện bình đẳng, trí huệ bình đẳng, phương tiện bình đẳng để nhiếp thọ các chúng sanh.
Hoặc có người thấy xong mà điều phục.  Hoặc có người nghe xong mà điều phục.  Hoặc có người ghi nhớ mà điều phục.  Hoặc có người nghe âm thanh mà điều phục.  Hoặc có người nghe danh hiệu mà điều phục.  Hoặc thấy viên quang mà điều phục.  Hoặc thấy quang võng mà điều phục.
Tùy tâm sở thích của các chúng sanh đều đến chỗ ở của họ mà làm cho họ được lợi ích.
Chư Phật tử!  Nơi rừng Thệ Đa, chư Bồ Tát vì muốn thành thục các chúng sanh nên hoặc có lúc hiện ở trong những cung điện nghiêm sức.
Hoặc có lúc thị hiện ở lâu các bửu tòa sư tử của mình, chúng hội đạo tràng cùng khắp mười phương đều làm cho được thấy.  Những vẫn chẳng rời khỏi rừng Thệ Đa, chỗ của đức Như Lai đây.
Chư Phật tử!  Những Bồ Tát này, hoặc có lúc thị hiện vô lượng hóa thân.
Hoặc hiện thân mình riêng một không bạn.  Như là hiện thân sa môn.  Hoặc hiện thân bà la môn.  Hoặc hiện thân khổ hạnh.  Hoặc hiện thân mập mạnh.  Hoặc hiện thân y vương.  Hoặc hiện thân thương chủ.  Hoặc hiện thân tịnh mạng.  Hoặc hiện thân kỹ nhạc.  Hoặc hiện thân phụng sự chư thiên.  Hoặc hiện thân công xảo kỹ thuật.
Qua đến tất cả xóm làng, thành ấp, đô thị chỗ của chúng sanh ở, Bồ Tát này tùy sở nghi dùng mọi thứ thân, mọi oai nghi, mọi âm thanh, mọi  ngôn luận, những chỗ ở, mà thực hành hạnh Bồ tát trong tất cả thế gian dường như màng lưới của thiên đế.
Hoặc nói công xảo sự nghiệp thế gian.  Hoặc nói tất cả trí huệ chiếu thế gian như đèn sáng.  Hoặc nói tất cả chúng sanh do nghiệp lực trang nghiêm.  Hoặc nói cõi nước mười phương kiến lập những thừa vị.  Hoặc nói đèn trí huệ chiếu cảnh giới của tất cả pháp, giáo hóa thành thục tất cả chúng sanh.  Nhưng vẫn cũng chẳng rời khỏi rừng Thệ Đa của đức Như Lai đây.
Bấy giờ, ngài Văn Thù Sư Lợi đồng tử, từ Thiện Trụ lâu các đi ra cùng vô lượng Bồ Tát đồng hạnh và các thần kim cang thường theo thị vệ, các thân chúng thần khắp vì chúng sanh mà cúng dường chư Phật, các túc hành thần từ lâu phát kiên thệ nguyện thường tùy tùng, các chủ địa thần thích nghe diệu pháp, các thủ thủy thần thường tu đại bi, các chủ hỏa thần trí quang chiếu sáng.  Các chủ phong thần ma ni làm mão, các chủ phương thần minh luyện tất  cả nghi thức mười phương, các chủ dạ thần chuyên cần diệt trừ vô minh hắc ám, các chủ trú thần xiển minh Phật nhựt nhứt tâm không lười, các chủ không thần trang nghiêm pháp giới tất cả hư không, các chủ hải thần độ khắp chúng sanh vượt khỏi biển hữu lậu, các chủ sơn thần thường siêng chứa nhóm thiện căn trợ đạo cao như núi xu hướng nhứt thiết trí, các chủ thành thần thường siêng gìn giữ thành bồ đề tâm của tất cả chúng sanh, các đại long vương thường siêng gìn giữ pháp thành vô thượng nhứt thiết chủng trí, các dạ xoa vương thường siêng hộ trì tất cả chúng sanh, các càn thát bà vương thường làm cho chúng sanh thêm hoan hỷ, các cưu bàn trà vương thường siêng trừ diệt những loài ngạ quỷ, các ca lâu la vương hằng thuận cứu tế tất cả chúng sanh ra khỏi biển hữu lậu, các a tu la vương nguyện được thành tựu những thân Như Lai cao hơn thế gian, các ma hầu la già vương thấy Phật hoan hỷ cúi mình cung kính, các đại thiên vương hằng nhàm sanh tử thường thích thấy Phật, các đại phạm vương tôn trọng chư Phật tán thán cúng dường.
Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát cùng những chúng Bồ Tát công đức trang nghiêm như vậy ra khỏi chỗ mình ở, đồng đến chỗ đức Phật, hữu nhiễu đức Thế Tôn đến vô lượng vòng.  Dâng các món cúng dường lên đức Phật.  Cúng dường xong, từ tạ Phật rồi đi qua phương Nam đến trong nhơn gian.
Lúc đó tôn giả Xá Lợi Phất thừa thần lực của Phật, thấy Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát cùng chúng hội Bồ Tát trang nghiêm ra khỏi rừng Thệ Đa qua phương Nam du hành nhơn gian, liền nghĩ rằng:
Tôi nay nên theo ngài Văn Thù Sư Lợi qua phương Nam.
Nghĩ xong, tôn giả Xá Lợi Phất cùng sáu ngàn tỳ kheo đồng rời chỗ mình ở đến chỗ đức Phật đảnh lễ chân Phật rồi bạch ý muốn, đức Phật hứa khả.  Các ngài hữu nhiễu đức Phật ba vòng từ tạ đi đến chỗ ngài Văn Thù Sư Lợi.
Sáu ngàn tỳ kheo này vốn cùng ở chung với tôn giả Xá Lợi Phất, xuất gia chưa lâu, những là Hải Giác tỳ kheo, Thiện Sanh tỳ kheo, Phước Quang tỳ kheo, Đại Đồng Tử tỳ kheo, Điển Sanh tỳ kheo, Tịnh Hạnh tỳ kheo, Thiên Đức tỳ kheo, Quân Huệ tỳ kheo, Phạm Thắng tỳ kheo, Tịch Huệ tỳ kheo, sáu ngàn tỳ kheo như vậy.
Những tỳ kheo này đã  từng cúng dường vô lượng chư Phật, trồng sâu căn lành, sức hiểu biết rộng lớn, tín nhãn sáng suốt, tâm lượng rộng rãi, quán Phật cảnh giới, rõ pháp bổn tánh, lợi ích chúng sanh, thường cần cầu công đức của chư Phật.
Những tỳ kheo này đều do ngài Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát thuyết pháp giáo hóa mà được thành tựu.
Trong lúc đang đi nơi đường, tôn giả Xá Lợi Phất quan sát chư tỳ kheo rồi bảo Giác Hải rằng:
Giác Hải nên quán sát thân thanh tịnh tướng tốt trang nghiêm của Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, tất cả hàng nhơn thiên chẳng nghĩ bàn được.
Giác Hải nên quán sát quang võng trang nghiêm của Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát diệt trừ vô lượng khổ não cho chúng sanh.
Giác Hải nên quán sát chúng hội đông đầy của Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, đại chúng đó đều là bực Bồ Tát do thiện căn thuở xưa nhiếp thọ.
Giác Hải nên quán sát con đường của Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát đang đi, hai bên cách tám bộ đèu bằng thẳng trang nghiêm.
Giác Hải nên quán sát chỗ đứng của Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát khắp vòng mười phương thường có đạo tràng luôn xoay theo.
Giác Hải nên quán sát con đường của Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát đang  đi đủ cả vô lượng phước đức trang nghiêm, hai bên đường có những kho trân bửu ngầm dưới đất tự nhiên trồi lên.
Giác Hải nên quán sát Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát từng cúng dường chư Phật, do thiện căn đó làm cho trong tất cả hàng cây đều hiện ra tạng báu trang nghiêm.
Giác Hải nên quán sát các thế gian chủ rưới mây cúng cụ, đảnh lễ cung kính dâng cúng Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát.
Giác Hải nên quán sát tất cả chư Phật Như Lai mười phương, lúc sắp thuyết pháp, đều phóng ánh sáng lông trắng giữa chặng mày chiếu đến thân Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, nhập vào nơi đảnh của ngài.
Bấy giờ tôn giả Xá Lợi Phất vì chư tỳ kheo mà tán thán khai thị diễn thuyết ngài Văn Thù Sư Lợi đồng tử có vô lượng công đức trang nghiêm như vậy.
Chư tỳ kheo nghe xong, tâm ý thanh tịnh, tin hiểu vững chắc, vui mừng khôn xiết, toàn thân rúng nhảy không tự kiềm được.  Thân thể nhu nhuyến, sáu căn vui đẹp, tất cả lo khổ đều trừ, cấu chướng đều hết.  Thường được thấy chư Phật thâm cầu chánh pháp đủ căn tánh Bồ Tát, được oai lực Bồ Tát, đại bi đại nguyện đều tự xuất sanh, nhập vào cảnh giới thậm thâm của các môn ba la mật.   Thập phương chư Phật thường hiện ở trước.  Rất mến thích nhứt thiết trí.  Chư tỳ kheo bạch tôn giả Xá Lợi Phất rằng:
Mong đại sư dẫn chúng tôi đến chỗ của ngài Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát.
Xá Lợi Phất liền cùng chư tỳ kheo đồng đến chỗ Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát mà bạch rằng:
Thưa ngài, chư tỳ kheo này xin được kính ra mắt ngài.
Lúc đó, Văn Thù Sư Lợi đồng tử có vô lượng tự tại Bồ Tát và đại chúng vây quanh, như tượng vương xoay mình lại nhìn tỳ kheo.
Chư tỳ kheo liền đảnh lễ chân Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát rồi chắp tay cung kính mà bạch rằng:
Nay chúng tôi kính ra mắt, cung kính lễ bái và những thiện căn của chúng tôi có, ngưỡng mong ngài Văn Thù Sư Lợi, hòa thượng Xá Lợi Phất, Thế Tôn Thích Ca Mâu Ni Phật, đều chứng biết cho.
Như ngài Văn Thù Sư Lợi có sắc thân thế này, âm thanh thế này, tướng hảo thế này, tự tại thế này, nguyện cho tôi cũng đều có đủ như vậy.
Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát bảo các tỳ kheo rằng:
Chư tỳ kheo!  Nếu thiện nam tử hay thiện nữ nhơn thành tựu mười hạnh xu hướng pháp đại thừa thời có thể mau nhập Như Lai địa, huống là Bồ Tát địa.
Đây là mười hạnh:
Chứa nhóm tất cả thiện căn lòng không mỏi nhàm.
Thấy tất cả Phật kính thờ cúng dường lòng không mỏi nhàm.
Cầu tất cả Phật pháp lòng không mỏi nhàm.
Thực hành tất cả hạnh ba la mật lòng không mỏi nhàm.
Thành tựu tất cả Bồ Tát tam muội lòng không mỏi nhàm.
Thứ đệ nhập tất cả tam thế lòng không mỏi nhàm.
Nghiêm tịnh khắp mười phương cõi Phật lòng không mỏi nhàm.
Giáo hóa điều phục tất cả chúng sanh lòng không mỏi nhàm.
Ở trong tất cả cõi tất cả kiếp thành tựu hạnh Bồ Tát lòng không mỏi nhàm.
Vì thành tựu một chúng sanh mà tu hành tất cả phật sát vi trần số ba la mật, thành tựu Như Lai thập lực.  Thứ đệ như vậy, vì thành thục tất cả chúng sanh giới mà thành tựu Như Lai tất cả trí lực lòng không mỏi nhàm.
Chư tỳ kheo!  Nếu thiện nam tử hay thiện nữ nhơn thành tựu lòng thâm tính phát mười hạnh lòng không mỏi nhàm này thời có thể trưởng dưỡng tất cả thiện căn, rời bỏ tất cả những loài sanh tử vượt khỏi tất cả chủng tánh thế gian, chẳng sa vào hàng Thanh Văn, Bích Chi Phật.  Sanh vào nhà chư Phật Như Lai.  Đủ tất cả Bồ Tát nguyện.  Học tập tất cả Như Lai công đức.  Tu hành tất cả hạnh Bồ Tát.   Được Như Lai trí lực xô dẹp chúng ma và các ngoại đạo, cũng có thể trừ diệt tất cả phiền não, nhập Bồ Tát địa, gần Như Lai địa.
Lúc đó, chư tỳ kheo nghe pháp này rồi thời được tam muội tên là vô ngại nhãn, thấy tất cả cảnh giới Phật.  Do được tam muội này nên đều thấy chư Phật Như Lai trong vô lượng vô biên tất cả thế giới ở mười phương và những đạo tràng chúng hội.  Cũng đều thấy tất cả loài chúng sanh trong thế giới mười  phương.  Cũng đều thấy những sai biệt của tất cả thế giới mười phương.  Cũng đều thấy những vi trần của tất cả thế giới đó.  Cũng đều tháy những cung điện của chúng sanh ở trong tất cả thế giới đó, dùng các báu mà làm trang nghiêm.  Và cũng nghe những ngôn âm của chư Phật Như Lai diễn thuyết các pháp, văn từ giải thích của chư Phật, nghe rồi thời đều hiểu rõ.  Cũng có thể quán sát trong thế giới đó, những căn dục của tất cả chúng sanh.  Cũng có thể ghi nhớ trong những thế giới đó, trước sau mười đời của tất cả chúng sanh.  Cũng có thể ghi nhớ những sự trong mười kiếp quá khứ, mười kiếp vị lai của các thế giới đó.  Cũng có thể ghi nhớ chư Như Lai đó mười lần bổn sanh sự, mười lần thành chánh giác, mười lần chuyển pháp luân, mười thứ thần thông, mười thứ thuyết pháp, mười thứ giáo giới, mười thứ biện tài.
Chư tỳ kheo này lại liền thành tựu mười ngàn bồ đề tâm, mười ngàn tam muội, mười ngàn ba la mật, tất cả đều thanh tịnh.
Lại được đại trí huệ viên mãn quang minh.  Được Bồ Tát mười thần thông nhu nhuyến vi diệu.  Trụ Bồ Tát tâm kiên cố bất động.
Lúc đó Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát khuyên các tỳ kheo trụ hạnh Phổ Hiền.  Trụ hạnh Phổ Hiền rồi nhập biển đại nguyện.  Nhập biển đại nguyện, rồi thành tựu biển đại nguyện.  Vì thành tựu biển đại nguyện nên tâm được thanh tịnh.  Vì tâm thanh tịnh nên thân được thanh tịnh.  Vì thân thanh tịnh nên thân nhẹ nhàng nhanh lẹ.  Vì thân thanh tịnh nhen nhàng nhậm lẹ nên được đại thần thông không còn thối chuyển.  Vì được thần thông này nên chẳng rời dưới chân của ngài Văn Thù Sư Lợi, đều hiện thân mình khắp tất cả chỗ của chư Phật mười phương, thành tựu đầy đủ tất cả Phật pháp.
Lúc ngài Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát khuyến dạy sáu ngàn tỳ kheo phát bồ đề tâm rồi, lần lượt đi về phía Nam, trải qua nhơn gian đến phía đông Phước Thành, ở trong rừng Trang Nghiêm Tràng Ta La, chỗ đại tháp miếu mà chư Phật thuở xưa từng ngự giáo hóa chúng sanh, nơi đây cũng là chỗ mà ngày xưa đức Thích Ca Mâ Ni Thế Tôn lúc tu Bồ Tát hạnh hay xả vô lượng sự khó xả.  Do đây nên rừng này có tiếng đến vô lượng cõi Phật.  Rừng này thường được sự thủ hộ cúng dường của chư thiên, long, dạ xoa, càn thát bà, a tu la, ca lâu la, khẩn na la, ma hầu la già, nhơn cùng phi nhơn.
Lúc ngài Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát và các quyến thuộc đến rừng Trang Nghiêm Tràng Ta La rồi, liền ở tại đó nói khế kinh Phổ Chiếu Pháp Giới cùng với trăm vạn ức na do tha khế kinh.
Khi nói kinh, trong đại hải có vô lượng trăm ngàn ức chư long đến nghe kinh.  Nghe xong chư long đều chán thân loài rồng nên đều phát tâm cầu Phật đạo.  Đều xả thân rồng sanh trong loài người hoặc cõi trời.  Một muôn chư long được chẳng thối chuyển nơi vô thượng chánh đẳng chánh giác.
Lại có vô lượng vô số chúng sanh ở trong tam thừa đều được điều phục.
Lúc đó người Phước Thành hay tin ngài Văn Thù Sư Lợi đồng tử ở đại tháp miếu trong rừng Trang Nghiêm Tràng Ta La, vô lượng người ra khỏi thành đi đến rừng.
Có ưu bà tắc tên là Đại Trí cùng quyến thuộc năm trăm ưu bà tắc, như là: Tu Đạt Đa, Bà Tu Đạt Đa, Phước Đức Quang, Hữu Danh Xưng, Thi Danh Xưng, Nguyệt Đức, Thiện Huệ, Đại Huệ, Hiền Hộ, Hiền Thắng, v.v... đồng đến đảnh lễ chân ngài Văn Thù Sư Lợi đồng tử, hữu nhiễu ba vòng, rồi lui ra ngồi qua một phía.
Lại có năm trăm ưu bà di, như là: Đại Huệ, Thiện Quang, Diệu Thân, Khả Lang Thân, Hiền Hạnh, Hiền Đức, Hiền Quang, Tràng Quang, Đức Quang, Thiện Mục, v.v... đồng đến đảnh lễ chân ngài Văn Thù Sư Lợi đồng tử, hữu nhiễu ba vòng rồi lui ra ngồi qua một phía.
Lại có năm trăm đồng tử, như là: Thiện Tài, Thiện Hạnh, Thiện Giới, Thiện Oai Nghi, Thiện Dũng Mãnh, Thiện Tư, Thiện Huệ, Thiện Giác, Thiện Nhãn, Thiện Tý, Thiện Quang, v.v... đồng đến đảnh lễ chân ngài Văn Thù Sư Lợi đồng tử, hữu nhiễu va vòng rồi lui ra ngồi qua một phía.
Lại có năm trăm đồng nữ, như là: Thiện Hiền, Đại Trí Cư Sĩ Nữ, Hiền Xưng Mỹ Nhan, Kiên Huệ, Hiền Đức, Hữu Đức, Phạm Thọ, Đức Quang, Thiện Quang, v.v... đồng đến đảnh lễ chân ngài Văn Thù Sư Lợi đồng tử, nhiễu ba vòng rồi ngồi qua một phía.
Ngài Văn Thù Sư Lợi đồng tử biết người Phước Thành đều đã đến đông đủ, tùy tâm sở thích của họ mà hiện thân tự tại áng sáng rực rỡ chói lấp đại chúng.  Ngài dùng đại từ tự tại làm cho họ thanh lương.  Dùng đại bi tự tại khởi tâm thuyết pháp.  Dùng trí huệ tự tại biết tâm sở thích của họ.  Dùng biện tài quảng đại sắp vì họ mà thuyết pháp.
Lúc đó, ngài lại quán sát Thiện Tài đồng tử do cớ gì mà có tên như vậy.  Ngài biết đồng tử này lúc mới nhập thai, trong nhà đó tự nhiên hiện ra lầu các thất bửu.  Dưới lâu các đó có bảy phục tạng.  Trên phục tạng, đất tự nứt ra mọc lên nanh thất bửu: vàng, bạc, lưu ly, pha lê, chơn chân, xa cừ, mã não.
Sau mười tháng, Thiện Tài đản sanh thân hình tay chân đoan chánh đầy đủ.  Lúc đó bảy phục tạng từ đất trồi lên ánh sáng chói rực.  Mỗi tạng báu ngang dọc cao thấp đều vuông vức bảy thước tay.
Trong nhà đó lại tự nhiên có năm trăm món đồ bằng thất bửu, mọi vật đều đựng đầy trong đó.  Những là:  trong chậu kim cang đựng tất cả thứ hương thơm.  Trong chậu hương đựng các thứ y phục.  Trong bát mỹ ngọc đựng các thứ thực phẩm thượng diệu.  Trong bát ma ni đựng đầy những thứ trân bửu đẹp lạ.  Bình vàng đựng bạc.  Bình bạc đựng vàng.  Trong bình vàng bạc đựng đầy ngọc lưu ly và ma ni.  Trong bình pha lê đựng đầy xa cừ.  Trong bình xa cừ đựng đầy pha lê.  Trong bình mã não đựng đầy chơn châu.  Trong bình chơn châu đựng đầy mã não.  Bình hỏa ma ni đựng đầy thuỷ ma ni.  Bình thủy ma ni đựng đầy hỏa ma ni.  Năm trăm đồ đựng châu bửu như vậy tự nhiên xuất hiện.
Nơi đó lại mưa các châu bửu và những tài vật làm cho tất cả kho đụn trong nhà đó đều đầy ngập.
Do cớ trên đây nên cha mẹ thân thuộc và trưởng sư đều kêu đứa trẻ ấy là Thiện Tài.
Ngài Văn Thù Sư Lợi đồng tử lại biết Thiện Tài đã từng cúng dường quá khứ chư Phật, gieo sâu căn lành, tin hiểu rộng lớn, thường thích gần gũi các thiện tri thức.  Thân ngữ ý đều không lỗi lầm, tu Bồ Tát đạo cầu nhứt thiết trí thành Phật pháp khí.  Tâm đồng tử này thanh tịnh như hư không, hồi hướng bồ đề không chướng ngại.
Ngài Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát quán sát Thiện Tài như vậy rồi, liền an ủi chỉ dạy tất cả Phật pháp.
Những là nói pháp tích tập của tất cả Phật, pháp tương tục của tất cả Phật, pháp thứ đệ của tất cả Phật, pháp chúng hội thanh tịnh của tất cả Phật, pháp pháp luân hóa đạo của tất cả Phật, phát sắc thân tướng hảo của tất cả Phật, pháp pháp thân thành tựu của tất cả Phật, pháp ngôn từ biện tài của tất cả Phật, pháp quang minh chiếu diệu của tất cả Phật, pháp bình đẳng vô nhị của tất cả Phật.
Ngài Văn Thù Sư Lợi đồng tử vì Thiện Tài đồng tử và đại chúng mà nói những pháp như vậy rồi, lại ân cần khuyên dạy cho họ tăng trưởng đạo lực, cho họ hoan hỷ phát tâm vô thượng chánh đẳng chánh giác.  Lại làm cho họ tự ghi nhớ thiện căn thuở quá khứ.
Ngài lại vì tất cả đại chúng mà tùy nghi thuyết pháp.  Sau đó ngài rời rừng mà đi.
Thiện Tài đồng tử được nghe pháp nơi ngài Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, được nghe những công đức của chư Phật như vậy, liền nhứt tâm cần cầu vô thượng bồ đề, đi theo ngài Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát mà nói kệ rằng:
Ba cõi làm thành quách
Kiêu mạn làm tường vách
Các loài làm cửa nẻo
Nước ái làm hào ao
Tối ngu si đậy che
Lửa tham sân cháy rực
Ma vương làm quân chủ
Trẻ khờ ở trong đó.
Tham ái làm dây trói
Dua dối làm cương yên
Nghi hoặc che đôi mắt
Thẳng vào những đường tà.
Vì đầy tham ganh kiêu
Vào nơi ba đường ác
Hoặc đoạ trong các loài
Khổ sanh già bịnh chết.
Mặt nhựt trí thanh tịnh
Vầng tròn đầy đại bi
Hay cạn biển phiền não
Xin ban diệu quán sát.
Mặt nguyệt trí thanh tịnh
Vầng trong sạch đại từ
Ban an vui tất cả
Xin thương soi xét tôi.
Vua tất cả pháp giới
Pháp bửu làm tiên đạo
Du không chẳng chướng ngại
Xin thương dạy bảo tôi.
Đại thương chủ phước trí
Dũng mãnh cầu bồ đề
Lợi khắp các quần sanh
Xin thương thủ hộ tôi.
Thân mặc giáp nhẫn nhục
Tay cầm gươm trí huệ
Tự tại hàng quân ma
Xin thương cứu vớt tôi.
Ở đảnh pháp tu di
Định nữ thường hầu hạ
Diệt hoặc a tu la
Đế thích xin xem tôi.
Nhà ba cõi phàm ngu
Hoặc nghiệp khổ luân chuyển
Ngài đã điều phục cả
Như đèn sáng soi đường
Bỏ rời những ác thú
Thanh tịnh những đường lành
Bực vượt hẳn thế gian
Dạy tôi môn giải thoát.
Thế gina chấp điên đảo
Thường thích tưởng ngã tịnh
Trí nhãn đều rời được
Dạy tôi môn giải thoát.
Khéo biết đường tà chánh
Biết rõ tâm không khiếp
Đấng quyết rành tất cả
Dạy tôi đường bồ đề.
Trụ bực Phật chánh kiến
Lớn cây Phật công đức
Rưới bông Phật diệu pháp
Dạy tôi đường bồ đề.
Khứ, lai, hiện tại Phật
Xứ xứ đến cùng khắp
Như mặt nhựt mọc lên
Vì tôi dạy đạo đó.
Khéo biết tất cả nghiệp
Thấu rõ hạnh các thừa
Người trí huệ quyết định
Dạy tôi phát đại thừa.
Bánh nguyện, gọng đại bi
Tín trục, vành kiên nhẫn
Báu công đức trang nghiêm
Cho tôi ngồi xe này.
Rương tổng trì quảng đại
Lọng từ mẫn trang nghiêm
Linh biện tài reo vang
Khiến tôi ngồi xe này.
Phạm hạnh làm nệm êm
Tam muội làm thể nữ
Trống pháp rền tiếg mầu
Cho tôi ngồi xe này.
Tứ nhiếp tạng vô tận
Báu công đức trang nghiêm
Tàm quý làm yên cương
Ban cho tôi xe này.
Thường rong xe bố thí
Hằng xoa hương tịnh giới
Bò nhẫn nhục trang nghiêm
Cho tôi ngồi xe này.
Thùng thiền định tam muội
Ách trí huệ phương tiện
Điều phục chẳng thối chuyển
Cho tôi ngồi xe này.
Xe đại nguyện thanh tịnh
Sức tổng trì kiên cố
Trí huệ được thành tựu
Cho tôi ngồi xe này.
Phổ hạnh làm đi khắp
Bi tâm thong thả đi
Đến đâu đều không khiếp
Cho tôi ngồi xe này.
Kiên cố như kim cang
Thiện xảo như huyễn hóa
Tất cả không chướng ngại
Cho tôi ngồi xe này.
Quảng đại rất thanh tịnh
Khắp ban chúng sanh vui
Đồng hư không pháp giới
Cho tôi ngồi xe này.
Sạch những vòng nghiệp hoặc
Dứt nhữg khổ lưu chuyển
Dẹp ma và ngoại đạo
Cho tôi ngồi xe này.
Trí huệ khắp mười phương
Trang nghiêm khắp pháp giới
Thỏa nguyện của chúng sanh
Cho tôi ngồi xe này.
Thanh tịnh như hư không
Ái, kiến đều trừ diệt
Lợi ích tất cả chúng
Cho tôi ngồi xe này.
Nguyện lực đi mau chóng
Định tâm an ổn trụ
Chở khắp các hàm thức
Cho tôi ngồi xe này.
Như đại địa chẳng động
Như nước lợi ích cả
Chở chúng sanh như vậy
Cho tôi ngồi xe này.
Vầng từ nhiếp viên mãn
Sáng tổng trì thanh tịnh
Mặt nhựt huệ như vậy
Xin dạy cho tôi thấy.
Đã vào ngôi pháp vương
Đã đội mão trí vương
Đã vấn lụa diệu pháp
Xin thương chiếu cố tôi.
Lúc đó ngài Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, như tượng vương, xoay nhìn Thiện Tài đồng tử mà bảo rằng:
Lành thay!  Lành thay!  Này thiện nam tử!  Ngươi đã phát tâm vô thượng bồ đề, lại muốn thân cận các bực thiện tri thức để hỏi Bồ Tát hạnh, tu Bồ Tát đạo.
Này thiện nam tử!  Thân cận cúng đường các bực thiện tri thức là nhơn duyên trước nhứt để được đầy đủ nhứt thiết trí.  Vì thế nên công việc này ngươi chớ có mỏi nhàm.
Thiện Tài đồng tử bạch rằng:
Cúi xin đức thánh vì tôi mà dạy Bồ Tát phải học Bồ Tát hạnh thế nào?  Phải tu Bồ Tát hạnh thế nào?  Phải đến Bồ Tát hạnh thế nào?  Phải thực hành Bồ Tát hạnh thế nào?  Phải tịnh Bồ Tát hạnh thế nào/  Phải nhập Bồ Tát hạnh thế nào?  Phải thành tựu Bồ Tát hạnh thế nào?  Phải tùy thuận Bồ Tát hạnh thế nào?  Phải ghi nhớ Bồ Tát hạnh thế nào?  Phải thêm rộng Bồ Tát hạnh thế nào?  Phải làm thế nào cho Phổ Hiền hạnh mau được viên mãn.
Lúc đó ngài Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát vì Thiện Tài đồng tử mà nói kệ rằng:
Lành thay tạng công đức
Có thể đến gặp ta
Phát khởi tâm đại bi
Siêng cầu vô thượng giác.
Đã phát nguyện rộng lớn
Diệt trừ khổ chúng sanh
Vì khắp các chúng sanh
Tu hành Bồ Tát hạnh.
Nếu có các Bồ Tát
Chẳng nhàm khổ sanh tử
Thời đủ đạo Phổ Hiền
Tất cả không hoại được.
Phước quang, phước oai lực
Phước xứ, phước tịnh hải
Ngươi vì khắp chúng sanh
Nguyện tu Phổ Hiền hạnh.
Ngươi thấy vô biên tế
Mười phương tất cả Phật
Khắp nghe Phật thuyết pháp
Thọ trì chẳng quên mất.
Ngươi ở mười phương cõi
Thấy khắp vô lượng Phật
Thành tựu những nguyện hải
Đầy đủ Bồ Tát hạnh
Nếu nhập phương tiện hải
An trụ Phật bồ đề
Hay theo đạo sư học
Sẽ thành nhứt thiết trí.
Khắp tất cả quốc độ
Số kiếp như vi trần
Ngươi tu hạnh Phổ Hiền
Thành tựu bồ đề đạo.
Ở vô lượng cõi nước
Trong vô biên kiếp hải
Ngươi tu hạnh Phổ Hiền
Thành mãn những đại nguyện.
Vô lượng chúng sanh đây
Nghe ngươi nguyện đều mừng
Đều phát tâm bồ đề
Nguyện học hạnh Phổ Hiền.
Nói kệ xong, ngài Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát bảo Thiện Tài đồng tử rằng:
Lành thay!  Lành thay!  Này thiện nam tử!  Ngươi đã phát tâm vô thượng bồ đề, cầu hạnh Bồ Tát.
Này thiện nam tử!  Nếu có chúng sanh phát tâm vô thượng bồ đề, đây là việc rất khó.  Đã có thể phát bồ đề tâm rồi lại cầu Bồ Tát hạnh, việc này càng khó gấp bội.
Này thiện nam tử!  Nếu muốn thành tựu nhứt thiết chủng trí thời phải quyết định cầu chân thiện tri thức.
Này thiện nam tử!  Cầu thiện tri thức chớ có mỏi lười.  Thấy thiện tri thức chớ có nhàm đủ.  Thiện tri thức có dạy bảo điều chi phải đều tuy thuận.  Nơi thiện xảo phương tiện của thiện tri thức chớ thấy lỗi lầm.
Phương Nam này có một nước tên là Thắng Lạc.  Trong nước Thắng Lạc có tòa núi tên là Diệu Phong.  Trên núi đó có một tỳ kheo tên là Đức Vân.  Ngươi nên đến hỏi tỳ kheo Đức Vân:  Bồ Tát phải học Bồ Tát hạnh thế nào?  Phải tu Bồ Tát hạnh thế nào?  Nhẫn đến phải như thế nào để được mau viên mãn hạnh Phổ Hiền?  Tỳ kheo Đức Vân sẽ chỉ bảo cho ngươi.
Thiện Tài đồng tử nghe xong hớn hở vui mừng, đảnh lễ Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, hữu nhiễu vô số vòng, ân cầu chiêm ngưỡng, rơi lệ từ tạ mà đi qua hướng Nam, đến nước Thắng Lạc, lên núi Diệu Phong.  Ở trên núi đó xem ngó tìm khắp bốn phía, lòng khao khát muốn được gặp tỳ kheo Đức Vân.  Bảy ngày sau mới được thấy tỳ kheo Đức Vân ở trên ngọn núi khác đi kinh hành chậm rãi.
Thấy xong, Thiện Tài đồng tử liền đến đảnh lễ chân tỳ kheo Đức Vân, hữu nhiễu ba vòng cung kính đứng trước Đức Vân mà bạch rằng:
Bạch đức thánh!  Tôi đã phát tâm vô thượng bồ đề, mà chưa biết Bồ Tát pháp học Bồ Tát hạnh thế nào?  Phải tu Bồ Tát hạnh thế nào?  Nhẫn đến phải thế nào để được mau viên mãn hạnh Phổ Hiền?  Tôi nghe đức thánh khéo có thể dạy bảo, mong đức thánh thương xót dạy cho tôi thế nào Bồ Tát được thành vô thượng chánh đẳng chánh giác.
Đức Vân tỳ kheo bảo Thiện Tài đồng tử rằng:
Lành thay!  Lành thay!  Này thiện nam tử!  Ngươi đã phát tâm vô thượng bồ đề, lại có thể hỏi hạh của Bồ Tát.  Việc như vậy là sự khó trong những sự khó.  Những là cầu Bồ Tát hạnh, cầu Bồ Tát cảnh giới, cầu đạo xuất ly của Bồ Tát, cầu đạo thanh tịnh của Bồ Tát, cầu tâm thanh tịnh quảng đại của Bồ Tát, cầu Bồ Tát thành tựu thần thông, cầu Bồ Tát thị hiện môn giải thoát, cầu Bồ Tát thị hiện việc làm tại thế gian, cầu Bồ Tát tuỳ thuận tâm của chúng sanh, cầu  môn sanh tử niết bàn của Bồ Tát, cầu Bồ Tát quán sát hữu vi vô vi tâm không chấp trước.
Này thiện nam tử!  Ta được sức thắng giải tự tại quyết định, tín nhãn thanh tịnh, trí quang chói sáng, thấy khắp các cảnh giới khỏi tất cả chướng ngại, quán sát khéo léo, phổ nhãn sáng suốt, đủ hạnh thanh tịnh.  Qua đến tất cả cõi nước mười phương cung kính cúng dường tất cả chư Phật.  Thường nhớ tất cả chư Phật Như Lai.  Tổng trì tất cả chánh pháp của chư Phật.  Thường thấy tất cả chư Phật mười phương.
Những là thấy phương Đông một đức Phật, hai đức Phật, mười đức Phật, trăm đức Phật, ngàn đức Phật, ức đức Phật, trăm ức đức Phật, na do tha ức đức Phật, trăm na do tha ức đức Phật, ngàn na do tha ức đức Phật, trăm ngàn na do tha ức đức Phật, nhẫn đến thấy vô số, vô lượng, vô biên vô đẳng, bất khả thuyết bất khả thuyết đức Phật.  Nhẫn đến thấy chư Phật bằng số vi trần trong Diêm Phù Đề, bằng số vi trần trong bốn châu thiên hạ, bằng số vi trần trong tiểu thiên thế giới, bằng số vi trần trong thị thiên thế giới, bằng số vi trần trong đại thiên thế giới, bằng số phật sát vi trần nhẫn đến thấy chư Phật bằng số bất khả thuyết bất khả thuyết phật sát vi trần.
Như phương Đông, chín phương kia cũng đều thấy như vậy.
Chư Phật trong mỗi phương, những sắc tướng, những hình mạo, những thần thông, những du hí, những chúng hội trang nghiêm đạo tràng, những quang minh chiếu sáng vô biên, những quốc độ, những thọ mạng.  Tùy những tâm sở nghi của chúng sanh mà chư Phật thị hiện những môn thành đẳng chánh giác, làm sư tử hống trong đại chúng.
Này thiện nam tử!  Ta chỉ được pháp môn "ức niệm nhứt thiết chư Phật cảnh giới trí huệ quang minh phổ kiến" này thôi.  Đâu biết hết được vô biên trí huệ thanh tịnh hạnh môn của đại Bồ Tát.  Những là: trí quang phổ chiếu niệm Phật môn, vì thường thấy tất cả chư Phật quốc độ những cung điện đều trang nghiêm thanh tịnh.  Môn làm cho tất cả chúng sanh niệm Phật, vì tùy sở nghi của tâm chúng sanh đều làm cho họ được thấy Phật, tâm họ được thanh tịnh.  Môn làm cho an trụ nơi lực niệm Phật, vì làm cho họ nhập vào thập lực của Như Lai.  Môn làm cho an trụ nơi pháp niệm Phật, vì thấy vô lượng Phật được nghe pháp.  Môn niệm Phật chói sáng các phương, vì đều thấy trong tất cả thế giới chư Phật bình đẳng không sai biệt.  Môn niệm Phật vào chỗ bất khả kiến, vì đều thấy trong tất cả cảnh vi tế những sự thần thông tự tại của chư Phật.  Môn niệm Phật an trụ trong các kiếp, vì trong tất cả kiếp thường thấy những việc làm không tạm bỏ của chư Phật.  Môn niệm Phật an trụ trong tất cả thời gian, vì trong tất cả thời gian thường thấy đức Như Lai gần gủi đồng ở chẳng rời bỏ.  Môn niệm Phật an trụ tất cả cõi, vì tất cả quốc độ đều thấy thân Phật vượt hơn tất cả không gì sánh bằng.  Môn niệm Phật an trụ tất cả đời, vì tùy tâm sở thích thấy khắp tam thế chư Phật.  Môn niệm Phật an trụ tất cả cảnh, vì ở khắp trong tất cả cảnh giới thấy chư Như Lai thứ đệ xuất hiện.  Môn niệm Phật an trụ tịch diệt, vì trong một niệm thấy tất cả cõi, tất cả chư Phật thị hiện niết bàn.  Môn niệm Phật an trụ viễn ly, vì trong một niệm thấy tất cả Phật từ nơi chỗ ở mà ra đi.  Môn niệm Phật an trụ quảng đại, vì tâm thường quán sát mỗi thân Phật đầy khắp tất cả pháp giới.  Môn niệm Phật an trụ vi tế, vì trong một chân lông có bất khả thuyết Như Lai xuất hiện, đều đến chỗ Phật mà kính thờ.  Môn niệm Phật an trụ trang nghiêm, vì trong một niệm thấy tất cả cõi đều có chư Phật thành đẳng chánh giác hiện thần biến.  Môn niệm Phật an trụ năng sự, vì thấy tất cả Phật xuất hiện thế gian, phóng trí huệ quang chuyển diệu pháp luân.  Môn niệm Phật trụ tâm tự tại, vì biết tùy theo sở thích của tự tâm, tất cả chư Phật hiện hình tượng, vì biết tùy theo sở thích của tự tâm, vì biết tùy nghiệp tích tập của chúng sanh mà hiện hình tượng làm cho họ được giác ngộ.  Môn niệm Phật an trụ thần biến, vì thấy liên hoa quảng đại của Phật ngự nở xoè khắp pháp giới.  Môn niệm Phật an trụ hư không vì quán sát những thân Như Lai trang nghiêm pháp giới hư không giới.  Như vậy ta làm sao biết được nói được những công đức hạnh của đại Bồ Tát.
Này thiện nam tử!  Phương Nam có một nước tên là Hải Môn, nơi đó có tỳ kheo tên là Hải Vân.  Ngươi đến hỏi Hải Vân rằng Bồ Tát thế nào học Bồ Tát hạnh, tu Bồ Tát đạo?  Hải Vân tỳ kheo có thể phân biệt nói nhơn duyên phát khởi thiện căn quảng đại.
Này thiện nam tử!  Hải Vân tỳ kheo sẽ làm cho ngươi nhập ngôi trợ đạo quảng đại, sẽ làm cho người sanh sức thiện căn quảng đại, sẽ vì ngươi mà nói nhơn duyên phát tâm bồ đề, sẽ làm cho người sanh quang minh đại thừa quảng đại, sẽ làm cho ngươi tu ba la mật quảng đại, sẽ làm cho ngươ nhập những hạnh hải quảng đại, sẽ làm cho ngươi viên mãn thệ nguyện quảng đại, sẽ làm cho ngươi tịnh môn trang nghiêm quảng đại, sẽ làm cho ngươi sanh sức từ bi quảng đại.
Lúc đó Thiện Tài đồng tử đảnh lễ chân Đức Vân tỳ kheo, hữu nhiễu quán sát, từ tạ mà đi.
Thiện Tài đồng tử nhứt tâm suy gẫm lời dạy của thiện tri thức.  Chánh niệm quán sát huệ quang minh môn, Bồ Tát giải thoát môn, Bồ Tát tam muội môn, Bồ Tát đại hải môn, chư Phật hiện tiền môn, chư Phật phương sở môn, chư Phật quỹ tắc môn, chư Phật đẳng hư không giới môn, chư Phật xuất hiện thứ đệ môn, chư Phật sở nhập phương tiện môn.
Thiện Tài đồng tử đi lần qua phương Nam đến nước Hải Môn, đến chỗ Hải Vân tỳ kheo, đảnh lễ chân Hải Vân, hữu nhiễu xong, chắp tay bạch rằng:
Bạch đức thánh!  Tôi đã phát tâm vô thượng bồ đề, muốn nhập tất cả trí hải vô thượng mà chưa biết Bồ Tát thế nào có thể bỏ nhà thế tục sanh vào nhà Như Lai?  Thế nào có thể qua khỏi biển sanh tử vào được biển Phật trí?  Thế nào lìa được hàng phàm phu vào được hàng Như Lai?  Thế nào dứt được dòng sanh tử vào được dòng Bồ Tát hạnh?  Thế nào phá được xe sanh tử thành xe Bồ Tát nguyện?  Thế nào diệt được cảnh giới ma hiển được cảnh giới Phật?  Thế nào cạn được biển ái dục thêm lớn biển đại bi?  Thế nào đóng được cửa các nạn ác đạo mở được cửa đại niết bàn?  Thế nào ra khỏi thành tam giới vào được thành nhứt thiết trí?  Thế nào vất bỏ được tất cả ngoạn hảo để đem lợi ích tất cả chúng sanh?
Hải Vân tỳ kheo bảo Thiện Tài đồng tử rằng:
Thiện nam tử!  Ngươi đã phát tâm vô thượng bồ đề rồi ư?
Thiện Tài thưa:
Vâng, tôi đã phát tâm vô thượng bồ đề.
Hải Vân tỳ kheo nói:
Thiện nam tử!  Nếu các chúng sanh chẳng gieo lành thời chẳng có thể phát tâm vô thượng bồ đề.  Cần phải được phổ môn thiện căn quang minh, đủ chơn thiệt đạo tam muội trí quang, xuất sanh những phước hải quảng đại, tăng trương pháp bạch tịnh không có lười nghỉ, thờ thiện tri thức chẳng mỏi nhàm, chẳng kể thân mạng, không thể cất chứa, tâm bình đẳng như mặt đất không có niệm cao hạ, tánh thường từ mẫn với tất cả chúng sanh, nơi các loài sanh tử chuyên niệm chẳng bỏ, hằng thích quán sát cảnh giới Như Lai.  Có như vậy mới phát được tâm vô thượng bồ đề.
Phát bồ đề tâm là phát tâm đại bi, vì cứu khắp tất cả chúng sanh.  Là phát tâm đại từ, vì khắp giúp tất cả thế gian.  Là phát tâm an lạc, vì làm cho tất cả chúng sanh diệt tất cả khổ.  Phát tâm lợi ích, vì làm cho tất cả chúng sanh lìa ác pháp.  Phát tâm ai mẫn, vì có ai kinh sợ thời đều giữ gìn.  Phát tâm vô ngại, vì rời bỏ tất cả chướng ngại.  Phát tâm quảng đại, vì tất cả pháp giới đều đầy khắp.  Phát tâm vô biên, vì khắp cõi hư không đều qua đến.  Phát tâm rộng rãi, vì đều thấy tất cả Như Lai.  Phát tâm thanh tịnh, vì trí không trái với pháp tam thế.  Phát tâm trí huệ, vì vào khắp biển nhứt thiết trí huệ.
Này thiện nam tử!  Ta ở nước Hải Môn này đã mười hai năm, thường dùng đại hải làm cảnh giới.
Những là suy gẫm đại hải quảng đại vô lượng.  Suy gẫm đại hải rất sâu khó lường.  Suy gẫm đại hải lần lần sâu rộng.  Suy gẫm đại hải vô lượng châu báu kỳ diệu trang nghiêm.  Suy gẫm đại hải chứa vô lượng nước.  Suy gẫm đại hải màu nước chẳng đồng không thể nghĩ bàn.  Suy gẫm đại hải là chỗ ở vô lượng chúng sanh.  Suy gẫm đại hải dung thọ những chúng sanh thân to lớn.  Suy gẫm đại hải nạp thọ được nước của trận mưa lớn.  Suy gẫm đại hải không tăng không giảm.
Này thiện nam tử!  Lúc suy gẫm như vậy, ta lại nghĩ rằng:  trong thế gian còn có gì rộng lớn hơn đại hải này chăng?  Còn có gì vô lượng hơn đại hải này chăng?  Còn có gì rất sâu hơn đại hải này chăng?  Còn có gì báu lạ hơn đại hải này chăng?
Này thiện nam tử!  Lúc ta suy gẫm như vậy, bỗng có đại liên hoa xuất hiện.
Liên hoa này cọng bằng vô năng thắng nhơn đà la ni bửu, cánh bằng phệ lưu ly bửu, lá bằng vàng diêm phù đàn, đài bằng trầm thủy, tua bằng mã não, nở thơm lan khắp trùm che cả đại hải.
Trăm vạn a tu la vương cầm lấy cọng hoa.
Trăm vạn châu ma ni kết lưới trang nghiêm giăng che trên hoa.
Trăm vạn long vương mưa nước thơm.
Trăm vạn ca lâu la vương ngậm những chuỗi ngọc và dải lụa báu rủ thòng bốn phía.
Trăm vạn la sát vương từ tâm quán sát.
Trăm vạn dạ xoa vương cung kính đảnh lễ.
Trăm vạn càn thát bà vương nhiều thứ âm nhạc tán thán cúng dường.
Trăm vạn thiên vương mưa những thiên hoa, thiên man, thiên hương, thiên thiêu hương, thiên đồ hương, thiên mạt hương, thiên y phục, thiên tràng, thiên phan, thiên cái.
Trăm vạn phạm vương đảnh lễ và cung kính.
Trăm vạn tịnh cư thiên chắp tay làm lễ.
Trăm vạn chuyển luân vương cúng dường thất bửu trang nghiêm.
Trăm vạn hải thần đồng xuất hiện cung kính đảnh lễ.
Trăm vạn vị quang ma ni bửu quang minh chiếu khắp.
Trăm vạn tịnh phước ma ni bửu dùng để trang nghiêm.
Trăm vạn phổ quang ma ni bửu làm tạng thanh tịnh.
Trăm vạn thù thắng ma ni bửu áng sáng rực rỡ.
Trăm vạn diệu tạng ma ni bửu quang chiếu vô biên.
Trăm vạn diêm phù đàn ma ni bửu thứ đệ bày hàng.
Trăm vạn kim cang sư tử ma ni bửu chẳng thể phá hoại thanh tịnh trang nghiêm.
Trăm vạn nhựt tạng ma ni bửu quảng đại thanh tịnh.
Trăm vạn khả lạc ma ni bửu đủ mọi màu.
Trăm vạn như ý ma ni bửu trang nghiêm vô tận, quang minh chiếu rực.
Liên hoa lớn này có ra là do thiện căn xuất thế của Như Lai.  Tất cả Bồ Tát đều sanh lòng tin mến.  Thập phương thế giới đều hiện tiền.  Từ như huyễn pháp mà sanh, như mộng pháp mà sanh, thanh tịnh nghiệp mà sanh.  Trang nghiêm bằng pháp môn vô tránh.  Nhập ấn vô vi.  Trụ môn vô ngại.  Sung mãn tất cả quốc độ mười phương.  Tùy thuận cảnh giới thậm thâm của chư Phật.
Trong vô số trong ngàn kiếp ca ngợi công đức đó cũng không hết được.
Lúc đó ta thấy trên liên hoa lớn ấy có một đức Như Lai ngồi kiết già.  Thân Phật từ đây cao đến trời Hữu Đảnh.
Tòa bửu liên hoa bất tư nghì.  Đạo tràng chúng hội bất tư nghì.  Những tướng hảo thành tựu bất tư nghì.  Tuỳ hảo viên mãn bất tư nghì.  Thần thông biến hóa bất tư nghì.  Sắc tướng thanh tịnh bất tư nghì.  Vô kiến đảnh tướng bất tư nghì.  Tướng lưỡi rộng dài bất tư nghì.  Ngôn thuyết thiện xảo bất tư nghì.  Âm thanh viên mãn bất tư nghì.  Lực vô biên tế bất tư nghì.  Thanh tịnh vô úy bất tư nghì.  Biện tài quảng đại bất tư nghì.
Ta lại nghĩ nhớ đức Phật đó thuở xưa tu hành bất tư nghì.  Tự tại thành đạo bất tư nghì.  Diệu âm diễn pháp bất tư nghì.  Phổ môn thị hiện các thứ trang nghiêm bất tư nghì.  Tùy hai bên thấy Phật đều sai khác bất tư nghì.  Tất cả sự lợi ích đều làm cho viên mãn bất tư nghì.
Lúc đó, đức Như Lai ấy liền đưa tay hữu rờ đảnh đầu của ta, vì ta mà diễn nói phổ nhãn pháp môn, khai thị cảnh giới tất cả Như Lai, hiển pháp tất cả hạnh Bồ Tát, xiển minh tất cả diệu pháp của chư Phật, tất cả pháp luân đều nhập trong đó.  Có thể thanh tịnh tất cả Phật độ.  Có thể dẹp tất cả dị đạo tà luận.  Có thể diệt tất cả quân ma.  Có thể làm cho chúng sanh đều sanh hoan hỷ.  Có thể soi tất cả tâm hành của các chúng sanh.  Có thể biết những căn cơ của tất cả chúng sanh, tuỳ tâm chúng sanh đều làm cho được khai ngộ.
Ở nơi đức Như Lai ấy, ta được nghe pháp môn này, thọ trì đọc tụng ghi nhớ quán sát.
Giả sử có người dùng nước mực nhiều như nước đại hải, cây viết chất đống lớn như núi tu di, biên chép pháp môn phổ nhãn này, một môn trong một phẩm, một pháp trong một môn, một nghĩa trong một pháp, một câu trong một nghĩa cũng viết chẳng được ít phần huống là có thể viết hết.
Này thiện nam tử!  Ở nơi đức Phật ấy, ta thọ trì pháp môn phổ nhãn như vậy trọn một ngàn hai trăm năm.  Trong mỗi ngày, ta dùng văn trì đà la ni quang minh lãnh thọ vô số phẩm.  Dùng tịch tịnh môn đà la ni quang minh xu nhập vô số phẩm.  Dùng vô biên triền đà la ni quang minh vào khắp vô số phẩm.  Dùng tùy tha quán sát đà la ni quang minh phân biệt vô số phẩm.  Dùng oai lực đà la ni quang minh nhiếp khắp vô số phẩm.  Dùng liên hoa trang nghiêm đà la ni quang minh dẫn phát vô số phẩm.  Dùng thanh tịnh ngôn âm đà la ni quang minh khai diễn vô số phẩm.  Dùng hư không tạng đà la ni quang minh hiển thị vô số phẩm.  Dùng quang tụ đà la ni quang minh thêm rộng vô số phẩm.  Dùng hải tạng đà la ni quang minh luận biện phân tích vô số phẩm.
Nếu có chúng sanh từ mười phương đến, hoặc thiên, hoặc thiên vương, hoặc long, hoặc long vương, hoặc dạ xoa, hoặc dạ xoa vương, hoặc càn thát bà, hoặc càn thát bà vương, hoặc a tu la, hoặc a tu la uvong, hoặc ca lâu la, hoặc ca lâu la vương, hoặc khẩn na la, hoặc khẩn na la vương, hoặc ma hầu la già, hoặc ma hầu la già vương.  Tất cả đại chúng như vậy đều đến chỗ ta.  Ta đều vì họ mà khai thị giải thích xưng dương tán thán.  Đều làm cho họ mến thích xu nhập an trụ quang minh phổ nhãn pháp môn này.
Này thiện nam tử!  Ta chỉ biết phổ nhãn pháp môn này.
Như chư đại Bồ Tát thâm nhập tất cả Bồ Tát hạnh hải, vì tuỳ duyên nguyện lực mà tu hành.  Nhập đại nguyện hải vì ở thế gian trong vô lượng kiếp số.  Nhập tất cả chúng sanh hải, vì tùy tâm sở thích của họ để rộng lợi ích.  Nhập nhứt thiết chúng sanh tâm hải, vì xuất sanh thập phương vô ngại trí quang.  Nhập nhứt thiết chúng sanh căn hải, vì đáng tuỳ cơ nghi giáo hóa đều làm cho điều phục.  Nhập tất cả sát hải, vì thành mãn bổn nguyện nghiêm tịnh Phật độ.  Nhập tất cả Phật hải, vì nguyện thường cúng dường chư Như Lai.  Nhập tất cả pháp hải, vì có thể dùng trí huệ đều ngộ nhập.  Nhập tất cả công đức hải, vì mỗi mỗi tu hành cho được đầy đủ.  Nhập tất cả chúng sanh ngôn từ hải, vì ở tất cả cõi chuyển chánh pháp luân.
Như thế thời ta làm sao biết được nói được công đức hạnh đó.
Này thiện nam tử!  Từ đây qua phương Nam sáu mươi do tuần, bên đường Lăng Già, có một tụ lạc tên là Hải Ngạn.  Ở đó có tỳ kheo tên là Thiện Trụ.  Ngươi nên đến đó hỏi: Bồ Tát phải thế nào tịnh Bồ Tát hạnh?
Thiện Tài đồng tử đảnh lễ chân Hải Vân tỳ kheo, hữu nhiễu chiêm ngưỡng từ tạ mà đi.
Lúc đó, Thiện Tài đồng tử chuyên niệm lời dạy của thiện tri thức, chuyên niệm phổ nhãn pháp môn, chuyên niệm Phật thần lực, chuyên trì pháp cú vân, chuyên nhập pháp hải môn, chuyên gẫm pháp sai biệt, thâm nhập pháp xoay chuyển, vào khắp pháp hư không, trừ sạch pháp ế chướng, quán sát pháp bửu xứ.
Thiện Tài đồng tử vừa tư duy suy gẫm đi lần qua phương Nam, đến bên đường Lăng Già, nơi tụ lạc Hải Ngạn, xem xét mười phương tìm cầu Thiện Trụ tỳ kheo.  Thấy Thiện Trụ tỳ kheo đi kinh hành qua lại ở trên hư không.
Có vô số chư thiên cung kính vây quang rưới những thiên hao, trổi thiên kỹ nhạc, tràng phan gấm lụa thảy đều nhiều vô số đầy khắp hư không để cúng dường.
Chư đại long vương ở giữa hư không nổi bất tư nghì mây trầm thủy hương, chấn sấm, xẹt chớp, dùng để cúng dường.
Khẩn na la vương trổi những tiếng nhạc, đúng pháp ca ngợi, dùng đây để cúng dường.
Ma hầu la già vương dùng bất tư nghì y phục rất vi tế trải giăng trần thiết, lòng rất hoan hỷ, để cúng dường.
A tu la vương nổi bất tư nghì mây ma ni bửu, vô lượng quang minh các thứ trang nghiêm đồng khắp hư không dùng để cúng dường.
Ca lâu la vương hiện hình đổng tử, có vô lượng thể nữ vây quanh, rốt ráo thành tựu tâm không sát hại, ở giữa hư không chắp tay cúng dường.
Bất tư nghì số các la sát vương, vô lượng la sát vây quanh, thân hình cao lớn đáng kinh sợ, thấy Thiện Trụ tỳ kheo từ tam tự tại, liền chắp tay khom mình chiêm ngưỡng cúng dường.
Bất tư nghì số các dạ xoa vương, mỗi vị đều có chúng của mình vây quanh, bao vòng bốn phía cung kính thủ hộ.
Bất tư nghì số các phạm thiên vương, ở giữa hư không, cúi mình chắp tay dùng pháp nhân gian tán dương ca ngợi.
Bất tư nghì số các tịnh cư thiên, với cung điện ở giữa hư không, chắp tay cung kính phát hoằng thệ nguyện.
Thiện Tài đồng tử thấy những sự trên đây, lòng hoan hỷ chắp tay kính lễ Thiện Trụ tỳ kheo rồi bạch rằng:
Bạch đức thánh!  Tôi đã phát tâm vô thượng bồ đề mà chưa biết Bồ Tát thế nào tu hành Phật pháp?  Thế nào tích tập Phật pháp?  Thế nào đầy đủ Phật pháp?  Thế nào huân tập Phật pháp?  Thế nào tăng trưởng Phật pháp?  Thế nào tổng nhiếp Phật pháp?  Thế nào cứu cánh Phật pháp?  Thế nào tịnh trí Phật?  Thế nào thâm tịnh Phật pháp?  Thế nào thông đạt Phật pháp?
Tôi nghe đức thánh hay khéo dạy bảo.  Ngưỡng mong xót thương vì tôi mà tuyên nói Bồ Tát thế nào chẳng bỏ thấy Phật, thường ở chỗ Phật siêng năng tu tập?  Bồ Tát thế nào chẳng bỏ Phật pháp đều dùng trí huệ mà được minh chứng?  Bồ Tát thế nào chẳng bỏ đại nguyện có thể lợi ích khắp tất cả chúng sanh?  Bồ Tát thế nào chẳng bỏ chúng sanh trụ tất cả kiếp không lòng mỏi nhàm?  Bồ Tát thế nào chẳng bỏ Phật độ có thể nghiêm tịnh tất cả thế giới?  Bồ Tát thế nào chẳng bỏ Phật lực đều có thể thấy biết Như Lai tự tại?  Bồ Tát thế nào chẳng bỏ hữu vi mà cũng chẳng trụ hữu vi, ở trong tất cả loài hữu lậu, dường như biến hóa, thị hiện thọ sanh tử tu Bồ Tát hạnh?  Bồ Tát thế nào chẳng bỏ nghe pháp đều có thể lãnh thọ chánh giáo của chư Phật?  Bồ Tát thế nào chẳng bỏ trí quang vào khắp chỗ sở hành của tam thế trí?
Thiện Trụ tỳ kheo bảo Thiện Tài rằng:
Lành thay!  Lành thay!  Này thiện nam tử!  Ngươi đã phát tâm vô thượng bồ đề, nay lại phát tâm cầu hỏi Phật pháp, cầu hỏi pháp nhứt thiết trí, tự nhiên trí.
Này thiện nam tử!  Ta đã thành tựu môn giải thoát vô ngai.  Hoặc đi, hoặc đứng, hoặc đến, hoặc lui, tùy thuận tư duy tu tập quán sát, liền được trí huệ quang minh tên là cứu cánh vô ngại.
Vì được trí huệ quang minh này nên biết tâm hành của tất cả chúng sanh không chướng không ngại.  Biết sự chết và sanh của tất cả chúng sanh.  Biết đời trước của tất cả chúng sanh.  Biết những sự trong kiếp vị lai của tất cả chúng sanh.  Biết những sự trong đời hiện tại của tất cả chúng sanh.  Biết ngôn ngữ âm thanh nhiều loại sai biệt của tất cả chúng sanh.  Quyết những nghi vấn của tất cả chúng sanh.  Biết căn tánh của tất cả chúng sanh.  Tùy theo lúc tất cả chúng sanh nên được giáo hoá đều có thể qua đến nơi họ ở.  Biết tất cả sát na, la bà mâu hô lật đa, giờ khắc ngày đêm.  Biết thứ đệ lưu chuyển trong biển tam thế.  Tất cả những sự thấy biết như vậy đều không chướng không ngại.  Cũng có thể đem thân mình qua đến tất cả cõi Phật mười phương không chướng ngại.  Tại sao vậy?  Vì được sức thần thông vô trụ vô tác.
Này thiện nam tử!  Vì ta được sức thần thông này nên ở giữa hư không, hoặc đi, hoặc đứng, hoặc ngồi, hoặc nằm, hoặc ẩn, hoặc hiển, hoặc hiện một thân, hoặc hiện nhiều thân, đi xuyên qua tường vách như đi nơi trống không.  Ở trên hư không ngồi kiết già qua lại tự tại như chim bay.  Vào trong đất như xuống nước, đi trên nước như trên đất, khắp thân trên dưới đều phát lửa ngọn như đống lửa lớn.  Hoặc có lúc chấn động tất cả đại địa.  Hoặc có lúc lấy ta rờ rẫm mặt nhựt nguyệt.  Hoặc hiện thân mình cao đến phạm cung.  Hoặc hiện mây hương đốt.  Hoặc hiện mây bửu diệm.  Hoặc hiện mây biến hóa.  Hoặc hiện mây quang võng.  Thảy đều rộng lớn đầy khắp hư không mười phương.
Hoặc trong một niệm qua phương Đông một thế giới, hai thế giới, trăm thế giới, ngàn thế giới, trăm ngàn thế giới, nhẫn đến qua vô lượng thế giới, bất khả thuyết bất khả thuyết thế giới.  Hoặc qua Diêm Phù Đề vi trần số thế giới.  Hoặc qua bất khả thuyết bất khả thuyết phật sát vi trần số thế giới.  Ta ở trước chư Phật Thế Tôn trong tất cả quốc độ đó mà nghe thuyết pháp.
Ở chỗ mỗi đức Phật, hiện vô lượng phật sát vi trần số thân sia khác.  Mỗi mỗi thân rưới vô lượng phật sát vi trần số mây đồ cúng dường.  Những là mây tất cả hoa, mây tất cả hương, mây tất cả tràng hoa, mây tất cả hương bột, mây tất cả hương thoa, mây tất cả lọng, mây tất cả y phục, mây tất cả tràng, mây tất cả phan, mây tất cả trướng.  Đem tất cả thân vân cúng dường lên chư Phật.
Mỗi đức Như Lai có bao nhiêu lời dạy bảo ta đều thọ trì cả.  Mỗi quốc độ có bao nhiêu sự trang nghiêm, ta đều nhớ rõ cả.  Tất cả chín phương kia cũng đều như phương Đông.
Bao nhiêu chúng sanh trong tất cả thế giới như vậy, nếu được thấy thân của ta, thời đều quyết định được vô thượng chánh đẳng chánh giác.
Tất cả chúng sanh trong những thế giới đó, ta đều thấy rõ tuỳ theo sự lớn nhỏ thắng liệt khổ vui của họ mà thị hiện đồng thân hình với họ để giáo hóa cho họ được thành tựu.
Nếu có chúng sanh nào thân cận ta, thời ta làm cho họ an trụ nơi pháp môn như đây.
Này thiện nam tử!  Ta chỉ biết pháp môn vô ngại giải thoát mau chóng cúng dường khắp chư Phật thành tựu khắp chúng sanh này.
Như chư Bồ Tát trì giới đại bi, giới ba la mật, giới đại thừa, giới tương ưng với Bồ Tát đạo, giới vô chướng ngại, giới chẳng thối đọa, giới chẳng bỏ tâm bồ đề, giới thường dùng Phật pháp làm cảnh sở duyên, giới thường để ý nơi nhứt thiết trí, giới như hư không, giới không y tựa tất cả thế gian, giới không mất, giới không tổn, giới không thuyết, giới không tạp, giới không trược, giới không hối, giới thanh tịnh, giới ly trần, giới ly cấu.
Những công đức như vậy, ta đâu có thể biết và nói được hết.
Này thiện nam tử!  Từ đây qua phương Nam có một nước tên là Đạt Lý Tỹ Trà, có thành tên là Tự Tại, trong đó có một người tên là Di Già.  Ngươi nên đến đó hỏi Bồ Tát thế nào học Bồ Tát hạnh, trụ Bồ Tát đạo?
Thiện Tài đồng tử đảnh lễ chân Thiện Trụ tỳ kheo, hữu nhiễu chiêm ngưỡng lui ra đi về phương Nam.
Lúc đó Thiện Tài đồng tử nhất tâm chánh niệm pháp môn pháp quang minh tin sâu xu nhập.  Chuyên niệm Phật chẳng dứt ngôi tam bảo.  Khen tánh ly dục.  Nhớ thiện tri thức.  Chiếu khắp tam thế.  Nhớ những đại nguyện khắp cứu chúng sanh.  Chẳng chấp hữu vi.  Rốt ráo tư duy tự tánh của các pháp.  Đều có thể nghiêm tịnh tất cả thế giới.  Nơi chúng hội đạo tràng của tất cả chư Phật, lòng không chấp trước.
Thiện Tài đồng tử đi lần qua phương Nam đến thành Tự Tại tìm Di Già, thấy người này đang ngồi trên pháp tòa sư tử nơi chợ giảng thuyết pháp môn luân tự trang nghiêm.  Có mười ngàn người vây quanh nghe pháp.
Thiện Tài đồng tử đảnh lễ chân Di Già, hữu nhiễu vô lượng vòng, chắp tay cung kính bạch rằng:
Bạch đức thánh!  Tôi đã phát tâm vô thượng bồ đề, mà tôi chưa biết Bồ Tát thế nào học Bồ Tát hạnh, tu Bồ Tát đạo?  Thế nào lưu chuyển trong các loài mà chẳng quên mất tâm bồ đề?  Thế nào được ý bình đẳng kiên cố bất động?  Thế nào được tâm thanh tịnh không gì trở ngại được?  Thế nào phát sanh sức đại bi hằng không mỏi nhọc?  Thế nào nhập đà la ni khắp được thanh tịnh?  Thế nào phát sanh trí huệ quảng đại quang minh nơi tất cả pháp lìa những ám chướng?  Thế nào đủ sức vô ngại giải biệ tài quyết rõ tất cả nghĩa tạng thậm thâm?  Thế nào được sức chánh niệm ghi nhớ thọ trì tất cả pháp luân sai biệt?  Thế nào được sức tịnh đạo, nơi tất cả loài khắp diễn thuyết các pháp?  Thế nào được sức trí tuệ nơi tất cả pháp đều có thể quyết định phân biệt nghĩa đó?
Di Già bảo Thiện Tài rằng:
Ngươi đã phát tâm vô thượng bồ đề rồi ư?
Vâng, tôi đã phát tâm vô thượng bồ đề.
Di Già liền vội vàng rời tòa sư tử mọp lạy Thiện Tài.  Rồi lại rải bông kim ngân, bửu châu vô giá, cùng với bột mịn chiên đàn, vô lượng thứ y trùm trên mình Thiện Tài.
Di Già lại rải vô lượng những thứ hương hoa, các thứ phẩm vật để cúng dường.  Sau đó mới đứng dậy khen rằng:
Lành thay!  Lành thay!  Thiện nam tử có thể phát tâm vô thượng bồ đề.
Này thiện nam tử!  Nếu có ai phát được tâm vô thượng bồ đề thời là chẳng dứt mất tất cả Phật chủng.  Thời là nghiêm tịnh tất cả Phật độ.  Thời là thành thục tất cả chúng sanh.  Thời là thấu rõ tất cả pháp tánh.  Thời là tỏ ngộ tất cả nghiệp chủng.  Thời là viên mãn tất cả các hạnh.  Thời là chẳng dứt tất cả đại nguyện.  Thời là thiệt hiểu chủng tánh ly tham.  Thời có thể thấy rõ tam thế sai biệt.  Thời làm cho tín giải trọn được kiên cố.  Thời được tất cả Như Lai nhiếp trì.  Thời được tất cả chư Phật ức niệm.  Thời bình đẳng với tất cả Bồ Tát.  Thời được tất cả hiền thành khen mừng.  Thời được tất cả phạm vương kính lễ.  Thời được tấtd cả thiên vương cúng dường.  Thời được tất cả dạ xoa thủ hộ.  Thời được tất cả la sát hầu hạ.  Thời được tất cả long vương nghinh tiếp.  Thời được tất cả khẩn na la vương ca ngâm khen ngợi.  Thời được tất cả các thế chủ khen ngợi mừng vui.  Thời làm cho tất cả chúng sanh giới đều được an ổn.
Những là làm cho họ bỏ ác thú.  Làm cho họ ra khỏi chỗ nạn.  Làm cho họ dứt tất cả cội gốc nghèo cùng.  Làm cho họ sanh tất cả trời người vui sướng.  Làm cho họ thân cận thiện tri thức.  Làm cho họ được nghe và thọ trì pháp quảng đại.  Làm cho họ sanh tâm bồ đề.  Làm cho họ tịnh tâm bồ đề.  Làm cho họ rõ Bồ Tát đạo.  Làm cho họ nhập Bồ Tát trí.  Làm cho họ trụ Bồ Tát địa.
Này thiện nam tử!  Phải biết chỗ làm của Bồ Tát rất khó, khó ra, khó gặp.  Người được thấy Bồ Tát lại còn khó có hơn.
Vì Bồ Tát là chỗ tất cả chúng nương nhờ mà được sanh trưởng thành tựu.  Là chỗ cứu tế của tất cả chúng sanh, vì Bồ Tát cứu họ khỏi khổ nạn.  Là chỗ y tựa của tất cả chúng sanh, vì thủ hộ thế gian.  Là người cứu hộ tất cả chúng sanh, vì làm cho họ khỏi sự kinh sợ.
Bồ Tát như phong luân, vì gìn giữ các thế gian chẳng cho đọa lạc ác đạo.  Bồ Tát như đại địa vì tăng trưởng thiện căn cho chúng sanh.  Bồ Tát như đại hải, vì phước đức sung mãn vô tận.  Bồ Tát như mặt trời, vì trí huệ quang minh chiếu khắp nơi.  Bồ Tát như núi tu di, vì thiện căn cao xuất.  Bồ Tát như minh nguyệt, vì trí quang xuất hiện.  Bồ Tát như mãnh tướng, vì xô dẹp ma quân.  Bồ Tát như quân chủ, vì được tự tại trong thành trì Phật pháp.  Bồ Tát như ngọn lửa mạnh, vì cháy sạch tâm ngã ái của chúng sanh.  Bồ Tát như mây lớn, vì mưa vô lượng diệu pháp.  Bồ Tát như mưa phải thời, vì làm thêm lớn mầm tất cả tín căn.  Bồ tát như thuyền sư, vì chỉ dẫn bờ mé pháp hải.  Bồ Tát như cầu đò, vì làm cho chúng sanh qua khỏi biển sanh tử. 
Di Già tán thán Thiện Tài như vậy, làm cho chư Bồ Tát hoan hỷ rồi, từ trên mặt phóng ra những ánh sáng chiếu khắp đại thiên thế giới.
Chúng sanh trong cõi đại thiên gặp ánh sáng này, từ long thần nhẫn đến phạm thiên đều đến chỗ Di Già.
Di Già đại sĩ liền dùng phương tiện vì họ mà khai thị giải thích pháp môn luân tự phẩm trang nghiêm.
Đại chúng nghe pháp xong, đều được chẳng thối chuyển nơi vô thượng bồ đề.
Lúc bấy giờ Di Già trở lại lên bổn tòa bảo Thiện Tài rằng:
Thiện nam tử!  Ta đã được diệu âm đà la ni.  Có thể phân biệt biết ngữ ngôn của tất cả chúng sanh, chư thiên, long, bát bộ, trong cõi đại thiên.  Cũng như cõi đại thiên này, vô số thế giới nhẫn đến bất khả thuyết bất khả thuyết thế giới khắp mười phương đều biết rõ ngữ ngôn cả.
Này thiện nam tử!  Ta chỉ biết pháp môn Bồ Tát diệu âm đà la ni quang minh này.
Như chư đại Bồ Tát có thể vào khắp biển những tu tưởng của tất cả chúng sanh, biển những sự thi thiết, biển những danh hiệu, biển những ngữ ngôn của tất cả chúng sanh.
Có thể vào khắp diễn thuyết biển bất cả pháp cú thâm mật.  Diễn thuyết biển tất cả pháp cú cứu cánh.  Diễn thuyết biển pháp cú trong tất cả sở duyên có tất cả tam thế sở duyên.  Diễn thuyết biển thượng pháp cú.  Diễn thuyết biển thượng thượng pháp cú.  Diễn thuyết biển pháp cú sai biệt.  Diễn thuyết biển pháp cú tất cả sai biệt.
Có thể vào khắp tất cả thế gian chú thuật hải.  Tất cả âm thanh trang nghiêm luân.  Tất cả sai biệt tự luân tế.
Những công đức như vậy, nay ta làm sao biết hết được, nói hết được.
Này thiện nam tử!  Từ đây qua phương Nam có một tụ lạc tên là Trụ Lâm.  Nơi đó có một trưởng giả tên là Giải Thoát.
Ngươi đến đó hỏi Bồ Tát thế nào tu Bồ Tát hạnh?  Bồ Tát thế nào thành Bồ Tát hạnh?  Bồ Tát thế nào tích tập Bồ Tát hạnh?  Bồ Tát thế nào tư duy Bồ Tát hạnh?
Bấy giờ Thiện Tài đồng tử nhờ thiện tri thức nên đối với pháp nhứt thiết trí rất tôn trọng.  Trồng sâu gốc tịnh tín.  Thêm nhiều lợi ích.
Thiện Tài đảnh lễ chân Di Già, rơi lệ buồn khóc nhiễu vô lượng vòng, luyến mộ chiêm ngưỡng từ tạ mà đi.
Thiện Tài đồng tử tư duy pháp môn Bồ Tát vô ngại giải đà la ni quang minh trang nghiêm.  Thâm nhập pháp môn Bồ Tát ngữ ngôn hải.  Nghĩ nhớ pháp môn vi tế phương tiện Bồ Tát biết tất cả chúng sanh.  Quán sát pháp môn Bồ Tát thanh tịnh tâm.  Thành tựu pháp môn Bồ Tát thiện căn quang minh.  Tịnh trị pháp môn Bồ Tát giáo hóa chúng sanh.  Minh lợi trí môn Bồ Tát nhiếp chúng sanh.  Kiên cố pháp môn Bồ Tát quảng đại chí nguyện.  Nhiệm trì pháp môn Bồ Tát thù thắng chí nguyện. Tịnh trị pháp môn Bồ Tát tín giải.  Tư duy pháp môn Bồ Tát vô lượng thiện tâm.  Thệ nguyện kiên cố, tâm không mỏi nhàm.  Dùng những mão giáp để tự trang nghiêm.  Thâm tâm tinh tấn chẳng thối chuyển.  Đủ đức tin bất hoại.  Tâm kiên cố như kim cang và như na la diên không gì phá hoại được. Giữ gìn tất cả lời dạy của thiện tri thức.  Nơi các cảnh giới được trí bất hoại.  Phổ môn thanh tịnh việc làm vô ngại.  trí quang viên mãn chiếu khắp tất cả.  Đầy đủ tổng trì quang minh của các địa.  Biết rõ pháp giới nhiều sai biệt, không y không trụ, bình đẳng không hai, tự tánh thanh tịnh, mà khắp trang nghiêm.  Nơi các công hạnh đều được rốt ráo.  Trí huệ thanh tịnh rời lìa chấp trước.  Biết pháp sai biệt mười phương trí không chướng ngại.  Qua khắp xứ sai biệt ở mười phương thân không mỏi lười.  Biết rõ những nghiệp sai biệt ở mười phương.  Đều hiện thấy Phật sai biệt ở mười phương.  Để thâm nhập thời gian sai biệt ở mười phương.  Diệu pháp thanh tịnh sung mãn nơi tâm.  Phổ trí tam muội chiếu rõ nơi tâm.  Tâm hằng vào khắp cảnh giới bình đẳng.  Được trí huệ của Như Lai chiếu đến.  Dòng nhứt thiết trí tương tục chẳng dứt.  Hoặc thân hoặc tâm đều chẳng rời Phật pháp.
Tất cả chư Phật thần lực gia hộ.  Tất cả Như Lai quang minh chiếu đến.
Thành tựu đại nguyện.  Nguyện thân cùng khắp tất cả sát võng, tất cả pháp giới vào khắp thân mình.
Thiện Tài đồng tử đi lần qua phương Nam, trải qua mười hai năm, đến thành Trụ Lâm tìm Giải Thoát trưởng giả.
Lúc đã gặp được, Thiện Tài đảnh lễ chân trưởng giả chắp tay cung kính thưa rằng:
Bạch đức thánh!  Nay tôi được hội ngộ bực thiện tri thức.  Tôi đã được lợi ích rộng lớn.
Tại sao vậy?
Vì với các bực thiện tri thức, khó được thấy, khó được nghe, khó được xuất hiện, khó được phụng sự, khó được gần gũi, khó được tiếp rước, khó được gặp gỡ, khó được ở chung, khó làm cho vui đẹp, khó được theo dõi.  Mà nay tôi được gặp gỡ, nên tôi được lợi lành rộng lớn.
Bạch đức thánh!  Tôi đã trước phát tâm vô thượng bồ đề, vì muốn thờ tất cả chư Phật, vì muốn gặp tất cả chư Phật, vì muốn thấy tất cả chư Phật, vì muốn nhìn tất cả chư Phật, vì muốn biết tất cả chư Phật, vì muốn chứng tất cả chư Phật bình đẳng, vì muốn phát tất cả chư Phật đại nguyện, vì muốn thành mãn tất cả Phật đại nguyện, vì muốn đầy đủ tất cả chư Phật trí quang, vì muốn thành những hạnh của tất cả chư Phật, vì muốn được thần thông của tất cả chư Phật, vì muốn đầy đủ trí lực của tất cả chư Phật, vì muốn được vô úy của tất cả chư Phật, vì muốn nghe pháp của tất cả chư Phật, vì muốn thọ pháp của tất cả chư Phật, vì muốn hiểu phap của tất cả chư Phật, vì muốn hộ pháp của tất cả chư Phật, vì muốn đồng một thể với tất cả chúng Bồ Tát, vì muốn đồng thiện căn với tất cả Bồ Tát, vì muốn viên mãn ba la mật của tất cả Bồ Tát, vì muốn thành tựu hạnh tu hành của tất cả Bồ Tát, vì muốn xuất sanh thanh tịnh nguyện của tất cả Bồ Tát, vì muốn được tạng oai thần của tất cả chư Phật, Bồ Tát, vì muốn được pháp tạng vô tận trí huệ đại quang minh của tất cả Bồ Tát, vì muốn được tạng tam muội quảng đại của tất cả Bồ Tát, vì muốn thành tựu tạng vô lượng vô số thần thông của tất cả Bồ Tát, vì muốn dùng tạng đại bi giáo hóa điều phục của tất cả chúng sanh đều làm cho họ rốt ráo đến biên tế, vì muốn hiển hiện tạng thần biến, vì ở trong tất cả tạng tự tại đều dùng tự tâm được tự tại, vì muốn nhập trong thanh tịnh tạng nên dùng tất cả tướng mà trang nghiêm.
Bạch đức thánh!  Nay tôi đem tâm như vậy, ý như vậy, thích như vậy, muốn như vậy, trông mong như vậy, tư duy như vậy, tôn trọng như vậy, phương tiện như vậy, cứu cánh như vậy, khiêm hạ như vậy, mà đến chỗ đức thánh.
Tôi nghe đức thánh có thể khéo dạy bảo chúng Bồ Tát, có thể dùng phương tiện xiển minh chỗ sở đắc, chỉ cho đường xá, ban cho cầu đò, trao cho pháp môn, khiến trừ chướng mê đảo, nhổ mũi tên do dự, cắt lưới nghi hoặc, soi tâm rừng rậm, rửa tâm nhơ đục, khiến tâm trắng sạch, khiến tâm thanh tịnh, chánh tâm dua vậy, tuyệt tâm sanh tử, ngăn tâm bất thiện, mở tâm chấp trước.
Nơi chỗ chấp trước làm cho tâm giải thoát, ở chỗ nhiễm ái làm cho tâm động chuyển.  Khiến họ mau nhập cảnh nhứt thiết trí.  Khiến họ mau đến thành vô thượng pháp.  Khiến họ trụ đại bi.  Khiến họ trụ đại từ.  Khiến họ nhập Bồ Tát hạnh.  Khiến họ tu môn tam muội.  Khiến họ nhập chứng vị.  Khiến họ quán pháp tánh.  Khiến họ tăng trưởng lực.  Khiến họ tu tập hạnh.  Tâm họ bình đẳng khắp ở tất cả.
Cúi xin đức thánh vì tôi tuyên nói Bồ Tát thế nào học Bồ Tát hạnh, tu Bồ Tát đạo.  Theo chỗ tu tập mau được thanh tịnh, mau được minh liễu.
Lúc đó, Giải Thoát trưởng giả do sức thiện căn quá khứ, sức oai thần của Phật, do niệm lực của Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, mà nhập Bồ Tát tam muội môn tên là "vô biên triền đà la ni nhiếp khắp tất cả cõi Phật."
Nhập tam muội này rồi được thân thanh tịnh.  Ở trong thân mình hiển hiện mười phương, mỗi phương đều mười phật sát vi trần số Phật và quốc độ, chúng hội đạo tràng, các thứ quang minh, các sự trang nghiêm.  Cũng hiện những thần thông biến hóa, tất cả đại nguyện, những pháp trợ đạo tu hành thuở xưa của chư Phật và những hạnh xuất ly thanh tịnh trang nghiêm.  Cũng thấy chư Phật thành đẳng chánh giác chuyển diệu pháp luân giáo hóa chúng sanh.  Tất cả những sự như vậy thảy đều hiển hiện trong phân thân không chướng ngại.  Các thứ hình tướng, nhiều loại thứ đệ an trụ như cũ chẳng tạp loạn nhau.
Những là: các thứ quốc độ, các thứ chúng hội, các thứ đạo tràng, các thứ nghiêm sức.
Trong đó chư Phật hiện những thần lực, lập những thừa đạo, bày những nguyện môn.
Hoặc nơi một thế giới, ở cung Đâu Suất mà làm Phật sự.  Hoặc nơi một thế giới, ẩn cung Đâu Suất mà làm Phật sự.
Như vậy, hoặc lại trụ thai, hoặc đản sanh, hoặc ở trong cung, hoặc xuất gia, hoặc đến đạo tràng, hoặc phá ma quân, hoặc chư thiên long cung kính vây quang, hoặc các thế chủ khuyến thỉnh thuyết pháp, hoặc chuyển pháp luân, hoặc nhập niết bàn, hoặc chia xá lợi, hoặc xây tháp miếu.
Chư Phật Như Lai đó ở các chúng hội, các thế gian, các loài, các chủng tộc, các dục lạc, các nghiệp hành, các ngữ ngôn, các căn tánh, các phiền não, tùy miên, tập khí, trong các chúng sanh.
Hoặc ở vi tế đạo tràng, hoặc ở quảng đại đạo tràng, hoặc ở đạo tràng lượng một do tuần, hoặc ở đạo tràng lượng mười do tuần, hoặc ở đạo tràng lượng bất khả thuyết bất khả thuyết phật sát cực vi trần số do tuần.
Dùng các thứ thần thông, các thứ ngôn từ, các thứ âm thanh, các thứ pháp môn, các thứ tổng trì môn, các thứ biện tài môn.   Dùng các thứ thánh đế, các thứ vô úy đại sư tử hống mà diễn thuyết những thiện căn, những ức niệm của các chúng sanh.  Thọ ký cho Bồ Tát, nói những Phật pháp.
Chư Phật Như Lai có bao nhiêu ngôn thuyết, Thiện Tài đồng tử đều nghe thọ được cả.  Cũng thấy bất tư nghì tam muội  thần biến của chư Phật và chư Bồ Tát.
Lúc bấy giờ, Giải Thoát trưởng giả xuất tam muội, bảo Thiện Tài rằng:
Thiện nam tử!  Ta đã nhập xuất môn vô ngại trang nghiêm giải thoát của Như Lai.
Thiện nam tử!  Lúc ta nhập xuất môn giải thoát này, liên thấy thế giới Diêm Phù Đàn Kim Quang Minh ở phương Đông, đức Long Tự Tại Vương Như Lai đẳng chánh giác, chúng hội đạo tràng vây quanh.  Tỳ Lô Giá Na Tạng Bồ Tát làm thượng thủ.
Lại thấy thế giới Tốc Tật Lực ở phương Nam, Phổ Hương Như Lai đẳng chánh giác và đạo tràng chúng hội vây quanh.  Tâm Vương Bồ Tát làm thượng thủ.
Lại thấy thế giới Hương Quang ở phương Tây, Tu Di Đăng Vương Như Lai đẳng chánh giác, đạo tràng chúng hội vây quanh.  Vô Ngại Tâm Bồ Tát làm thượng thủ.
Lại thấy thế giới Ca Sa Tràng ở phương Băc, Bất Khả Hoại Kim Cang Như Lai đẳng chánh giác, đạo tràng chúng hội vây quanh.  Kim Cang Dũng Mãnh Bồ Tát làm thượng thủ.
Lại thấy phương Đông Bắc, thế giới Nhứt Thiết Thượng Diệu Bửu, đức Vô Sở Đắc Cảnh Giới Nhãn Như Lai đẳng chánh giác, đạo tràng chúng hội vây quanh.  Vô Sở Đắc Thiện Biến Hóa Bồ Tát làm thượng thủ.
Lại thấy phương Đông Nam, thế giới Hương Diệm Quang Âm, đức Hương Đăng Như Lai đẳng chánh giác, đạo tràng chúng hội vây quanh, Kim Cang Diệm Huệ Bồ Tát làm thượng thủ.
Lại thấy phương Tây Nam, thế giới Trí Huệ Nhựt Phổ Quang Minh, đức Pháp Giới Luân Tràng Như Lai đẳng chánh giác, đạo tràng chúng hội vây quanh.  Hiện Nhứt Thiết Biến Hóa Tràng Bồ Tát làm thượng thủ.
Lại thấy phương Tây Bắc, thế giới Phổ Thanh Tịnh, đức Nhứt Thiết Phật Bửu Cao Thắng Tràng Như Lai đẳng chánh giác, đạo tràng chúng hội vây quanh.  Pháp Tràng Vương Bồ Tát làm thượng thủ.
Lại thấy thượng phương, thế giới Phật Thứ Đệ Xuất Hiện Vô Tận, đức Vô Biên Trí Huệ Quang Viên Mãn Tràng Như Lai đẳng chánh giác, đạo tràng chúng hội vây quanh.  Pháp Giới Môn Tràng Vương Bồ Tát làm thượng thủ.
Lại thấy hạ phương, thế giới Phật Quang Minh, đức Vô Ngại Trí Tràng Như Lai đẳng chánh giác, đạo tràng chúng hội vây quanh.  Nhứt Thiết Thế Gian Sát Tràng Vương Bồ Tát làm thượng thủ.
Thiện nam tử!  Ta thấy mười phương như vậy.  Mỗi phương đều mười phật sát vi trần số Như Lai.   Chư Như Lai chẳng đến đây, ta cũng chẳng qua đó.
Nếu ta muốn thấy thế giới An Lạc, đức A Di Đà Như Lai, thời tùy ý liền thấy.
Nếu ta muốn thấy Chiên Đàn thế giói, Kim Cang Quang Minh Như Lai; Diệu Hương thế giới, Bửu Quang Minh Như Lai; Liên Hoa thế giới, Bửu Liên Hoa Quang Minh Như Lai; Diệu Kim thế giới, Tịch Tịnh Quang Như Lai; Diệu Hỷ thế giới, Bất Động Như Lai; Thiện Trụ thế giới, Sư Tử Như Lai; Cảnh Quang Minh thế giới, Nguyệt Giác Như Lai; Bửu Sư Tử Trang Nghiêm thế giới, Tỳ Lô Giá Na Như Lai; tất cả chư Như Lai như vậy đều tuỳ ý liền thấy.  Nhưng chư Như Lai chẳng đến đây, ta cũng không qua đó.
Biết tất cả chư Phật cùng tâm của ta đều như mộng.  Biết tất cả chư Phật như ảnh tượng, còn tâm mình như nước.  Biết tất cả sắc tướng của chư Phật và tâm mình đều như huyễn.  Biết tất cả Phật và tâm mình thảy đều như vang.
Ta biết như vậy, ức niệm như vậy.  Chư Phật được thấy đều do tự tâm.
Thiện nam tử!  Phải biết Bồ Tát tu những Phật pháp, tịnh những Phật độ, tích tập diệu hạnh, điều phục chúng sanh, phát đại thệ nguyẹn, nhập nhứt thiết trí, tự tại du hí bất tư nghì môn giả thoát, được Phật bồ đề, hiện đại thần thông, qua khắp tất cả mười phương pháp giới, dùng vi tế trí nhập khắp các kiếp, tất cả như vậy đều do tự tâm.
Thiện nam tử!  Do đây nên phải dùng thiện pháp phò trợ tự tâm.  Phải dùng pháp thuỷ thấm nhuần tự tâm.  Phải ở cảnh giới trị sạch tự tâm.  Phải dùng tinh tấn kiên cố tự tâm.  Phải dùng nhẫn nhục san bằng tự tâm.  Phải dùng trí chứng rửa sạch tự tâm.  Phải dùng trí huệ minh tự tâm.  Phải dùng Phật tự tại khai phát tự tâm.  Phải dùng Phật bình đẳng quảng đại tự tâm.  Phải dùng Phật thập lực chiếu xét tự tâm.
Thiện nam tử!  Ta chỉ nhập xuất được môn giải thoát "Như Lai vô ngại trang nghiêm" này.
Còn như chư đại Bồ Tát được vô ngại trí, trụ vô ngại hạnh, được tam muội "thường thấy tất cả Phật", được tam muội "chẳng trụ niết bàn tế", rõ thấy tam muội "phổ môn cảnh giới".  Với những pháp tam thế thảy đều bình đẳng.  Hay khéo phân thân khắp tất cả cõi.  An trụ nơi cảnh giới bình đẳng của chư Phật.  Cảnh giới mười phương đều hiện tiền.  Trí huệ quán sát đều thấy biết rõ ràng tất cả.  Ở trong thân mình đều hiện tất cả thế giới thành hoại, những đối với thân mình và các thế giới không có tưởng nghĩ là hai.
Những diệu hạnh như vậy, làm sao ta biết hết được, nói hết được.
Này thiện nam tử!  Từ đây qua phương Nam đến bờ Diêm Phù Đề, có một nước tên là Ma Lợi Già La.  Nước đó có tỳ kheo tên là Hải Tràng.
Ngươi đến đó hỏi: Bồ Tát thế nào học Bồ Tát hạnh, tu Bồ Tát đạo?
Lúc đó, Thiện Tài đồng tử đảnh lễ chân Giải Thoát trưởng giả, hữu nhiễu quán sát xưng dương ca ngợi, tư duy chiêm ngưỡng, buồn khóc rơi lệ, nhứt tâm ghi nhớ y tựa thiện tri thức, thờ thiện tri thức, kính thiện tri thức, do thiện tri thức được thấy nhứt thiết trí.  Với thiện tri thức chẳng có lòng chống trái, không dua dối.  Với thiện tri thức tâm thường tùy thuận.  Nơi thiện tri thức tưởng là từ mẫu, vì bỏ rời tất cả pháp vô ích.  Nơi thiện tri thức tưởng là từ phụ, vì xuất sanh tất cả pháp lành.  Tư duy rồi, từ tạ mà đi.
Thiện Tài đồng tử nhứt tâm chánh niệm lời dạy của Giải Thoát trưởng giả, quán sát lời dạy của trưởng giả.   Ghi nhớ môn bất tư nghì Bồ Tát giải thoát của trưởng giả.  Tư duy bất tư nghì Bồ Tát trí quang minh của trưởng giả.  Thâm nhập bất tư nghì pháp giới môn của trưởng giả.  Xu hướng bất tư nghì Bồ Tát phổ nhập môn của trưởng giả.  Thấy rõ bất tư nghì Như Lai thần biến của trưởng giả.  Hiểu rõ bất tư nghì phổ nhập Phật độ của trưởng giả.  Phân biệt bất tư nghì Phật lực trang nghiêm của trưởng giả.  Suy gẫm bất tư nghì Bồ Tát tam muội giải thoát cảnh giới phần vị của trưởng giả.  Rõ thấu bất tư nghì thế giới sai biệt cứu cánh vô ngại của trưởng giả.  Tu hành bất tư nghì Bồ Tát kiên cố thâm tâm của trưởng giả.  Phát khởi bất tư nghì Bồ Tát đại nguyện nghiệp của trưởng giả.
Thiện Tài đồng tử đi lần qua phương Nam đến bờ Diêm Phù Đề, nước Ma Lợi, tìm Hải Tràng tỳ kheo.  Bèn thấy Hải Tràng tỳ kheo ngồi kiết già ở bên chỗ đi kinh hành, đang nhập tam muội, bặt hơi thở, lìa tư giác, thân tâm bất động.
Từ dưới chân của tỳ kheo ấy hiện ra vô số muôn ngàn ức trưởng giả, cư sĩ, bà la môn.  Đại chúng này đều dùng nhiều đồ trang nghiêm để nghiêm sức thân mình.  Tất cả đều đội bửu quan, đeo minh châu, qua khắp tất cả thế giới mười phương mưa tất cả châu bửu, tất cả chuỗi ngọc, tất cả y phục, tất cả đồ uống ăn thượng vị đúng pháp, tất cả hoa, tất cả tràng hoa, tất cả hương, tất cả hương thoa, tất cả đồ tự sanh theo sở thích.  Ở tất cả chỗ cứu nhiếp những chúng sanh nghèo cùng, an ủi những chúng sanh khổ não, đều làm cho hoan hỷ.  Tâm ý thanh tịnh, thành tựu đạo vô thượng bồ đề.
Từ hai gối của Hải Tràng tỳ kheo xuất hiện trăm ngàn ức sát đế lợi, bà la môn.  Đại chúng này đều thông huệ, nhiều sắc tướng, nhiều hình mạo, nhiều y phục thượng diệu trang nghiêm, cùng khắp tất cả thế giới mười phương, dùng ái ngữ và đồng sự nhiếp các chúng sanh.
Những là làm cho người nghèo được đầy đủ, người bệnh được lành, người nguy được an, người kinh sợ được y tựa, người ưu sầu được sung sướng.  Lại dùng phương tiện để khuyến dụ họ, làm cho họ đều bỏ ác làm lành.
Từ khoảng eo lưng của Hải Tràng tỳ kheo xuất hiện vô lượng vô số tiên nhân: hoăc mặc y phục bằng cỏ, bằng vỏ cây.  Đều cầm bình rửa, oai nghi tịch tịnh, du hành thế giới mình phương.  Ở trên hư không, dùng diệu âm ca ngợi Như Lai.   Diễn thuyết các pháp: hoặc diễn thuyết đạo thanh tịnh phạm hạnh, làm cho họ tu tập điều phục các căn tánh.  Hoặc nói các pháp đều không tự tánh, cho họ quán sat phát sanh trí huệ.  Hoặc nói pháp tắc ngôn luận thế gian.  Hoặc lại khai thị nhứt thiết trí phương tiện xuất yếu, làm cho họ theo thứ đệ đều tu tập hạnh nghiệp của riêng mình.
Từ hai bên hông của Hải Tràng tỳ kheo xuất hiện bất tư nghì long, bất tư nghì long nữ, thị hiện bất tư nghì thần biến của chư long.  Những là mưa những mây hương thơm, mây hoa, mây tràng hoa, mây bửu cái, mây bửu phan, mây diệu bửu trang nghiêm, mây như ý bửu, mây bửu anh lạc, mây bửu tọa, mây bửu cung điện, mây bửu liên hoa, mây bửu quan, mây thiên thân, mây thể nữ, tất cả đều bất tư nghì khắp hư không để trang nghiêm.  Sung mãn chư Phật đạo tràng tất cả thế giới mười phương để cúng dường, làm cho các chúng sanh đều hoan hỷ.
Từ tướng chữ vạn trước ngực xuất hiện vô số trăm ngàn ức a tu la vương, thảy đều thị hiện bất tư nghì huyễn lực tự tại, làm chấn động cả trăm thế giới.  Tất cả nước biển tự  nhiên sôi trào.  Tất cả sơn vương tự nhiên xung kích.  Chư thiên cung điện đều lay động.  Quang minh của chư ma đều bị che khuất.  Chúng ma quân đều bị xô dẹp.  Khiến khắp chúng sanh bỏ tâm kiêu mạn, trừ tâm sân hại, phá nui phiền não, dứt các pháp ác, thêm lớn pháp vô tránh, hằng hòa lành nhau.  Lại dùng huyễn lực khai ngộ chúng sanh, làm cho họ diệt tội ác, sợ sanh tử, khỏi các loài, lìa nhiễm trước.  Khiến họ an trụ tâm vô thượng bồ đề, khiến họ tu tất cả hạnh Bồ Tát, khiến mạnh các môn ba la mật, khiến nhập tất cả bực Bồ Tát, khiến quán sát tất cả pháp môn vi diệu, khiến biết tất cả phương tiện của chư Phật.  Những việc làm trên đây cùng khắp pháp giới.
Từ trên lưng của Hải Tràng tỳ kheo, vì người đáng dùng nhị thừa để độ, xuất hiện vô số trăm ngàn ức Thanh Văn và Độc Giác.  Vì người chấp ngã mà nói pháp vô ngã.  Vì người chấp thường mà nói tất cả thành pháp đều vô thường.  Vì người tham mà nói bất tịnh quán.  Vì người sân mà nói từ tâm quán.  Vì người si mà nói duyên khởi quán.  Vì người đẳng phần phiền não mà nói cảnh giới pháp cùng trí huệ tương ưng.  Vì người mến thích cảnh giới mà nói pháp vô sở hữu.  Vì người mến thích chỗ tịch tịnh mà nói pháp phát thệ nguyện lớn khắp lợi ích tất cả chúng sanh.  Những việc làm như vậy cùng khắp pháp giới.
Từ hai vai của Hải Tràng tỳ kheo xuất hiện vô số trăm ngàn ức dạ xoa vương, la sát vương: những hình mạo, những sắc tướng, hoặc cao hoặc thấp đều đáng kinh sợ.  Vô lượng quyến thuộc vây quanh.  Chư vương này thủ hộ tất cả chúng sanh làm lành và các hiền thánh chúng hội Bồ Tát, người hướng chánh trụ và người chánh trụ.  Hoặc hiện làm thần chấp kim cang thủ hộ chư Phật và chỗ chư Phật ngự.  Hoặc khắp thủ hộ thế gian: làm cho người hãi sợ được an ổn.  Người tật bệnh được lành.  Người khổ não được hết khổ.  Người có lỗi lầm thời ăn năn.  Người bị tai nạn thời khỏi nạn.  Lợi ích tất cả chúng sanh như vậy đều làm cho họ bỏ sanh tử luân mà chuyển chánh pháp luân.
Từ nơi bụng của Hải Tràng tỳ kheo xuất hiện trăm ngàn ức khẩn na la vương, đều có vô số khẩn na la nữ trước sau vây quanh.  Lại xuất hiện vô số càn thát bà vương, đều có vô số càn thát bà nữ trước sau vây quanh.  Đều trổi vô số trăm ngàn thiên nhạc ca ngâm tán thán những pháp bửu tánh.  Ca ngâm tán thán chư Phật bửu.  Ca ngâm tán thán phát bồ đề tâm.  Ca ngâm tán thán tu Bồ Tát hạnh.  Ca ngâm tán thán môn thành đẳng chánh giác của tất cả chư Phật.  Ca ngâm tán thán môn chuyển pháp luân của tất cả chư Phật.  Ca ngâm tán thán môn hiện thần biến của tất cả chư Phật.  Khai thị diễn thuyết môn nhập niết bàn của tất cả chư Phật.  Khai thị diễn thuyết môn thủ hộ giáo pháp của tất cả chư Phật.  Khai thị diễn thuyết môn làm cho tất cả chúng sanh đều hoan hỷ.  Khai thị diễn thuyết môn nghiêm tịnh tất cả Phật độ.  Khai thị diễn thuyết môn hiển bài tất cả pháp vi diệu.  Khai thị diễn thuyết môn bỏ lìa tất cả chướng ngại.  Khai thị diễn thuyết môn phát sanh tất cả thiện căn.  Tất cả như vậy đều cùng khắp thế giới mười phương.
Từ trên mặt của Hải Tràng tỳ kheo xuất hiện vô số trăm ngàn ức chuyển luân thánh vương, thất bửu đầy đủ, bốn đội binh vây quanh, phóng ánh sáng đại xả, mưa vô lượng bửu làm cho người nghèo thiếu đều được no đủ và làm cho họ bỏ hẳn sự trộm cắp.  Thể nữ xinh đẹp vô số trăm ngàn đều đem xả thí không tiếc, làm cho họ bỏ hẳn sự tà dâm; làm cho họ sanh lòng từ chẳng giết hại; làm cho họ rốt ráo thường nói lời chân thật, chẳng dối phỉnh, chẳng luận đàm vô ích; làm cho họ nói lời hòa giải vui thuận chẳng làm sự ly gián; làm cho họ nói lời diệu dàng không có thô ác; làm cho họ thường diễn thuyết những nghĩa thậm thâm nhất định minh liễu, chẳng nói lời vô nghĩa trau chuốt.  Vì họ mà nói thiểu dục cho họ trừ tham ái lòng không nhơ bợn.  Vì họ mà nói đại bi cho họ trừ sân hận tâm ý được thanh tịnh.  Vì họ mà nói thật nghĩa khiến họ quán sát tất cả pháp thâm nhập nhơn duyên, khéo rõ đế lý, nhổ gai tà kiến, phá núi nghi hoặc, trừ diệt tất cả chướng ngại.  Những việc làm như vậy đều đầy khắp pháp giới.
Từ hai mắt của Hải Tràng tỳ kheo xuất hiện vô số trăm ngàn ức nhật luân chiếu khắp tất cả những đại địa ngục và những ác thú, đều làm cho họ khỏi khổ.  Lại chiếu chặng giữa tất cả thế giới để trừ tăm tối.  Lại chiếu chúng sanh mười phương đều làm cho họ bỏ lìa ngu si ế chướng.  Nơi quốc độ cấu trược phóng thanh tịnh quang.  Cõi nước bạch ngân phóng ánh sáng màu huỳnh kim.  Nơi cõi nước huỳnh kim phóng ánh sáng màu bạch ngân.  Nơi cõi nước lưu ly phóng ánh sáng màu pha lê.  Cõi nước pha lê phóng ánh sáng màu lưu ly.  Cõi nước xa cừ phóng ánh sáng màu mã não.  Cõi nước mã não phóng ánh sáng màu xa cừ.  Cõi nước đế thanh phóng ánh sáng màu nhật tạng ma ni vương.  Cõi nước nhật tạng ma ni vương phóng áng sáng màu đế thanh.  Cõi nước xích chơn châu phóng ánh sáng nguyệt quang võng tạng ma ni vương.  Cõi nước nguyệt quang võng tạng ma ni vương phóng ánh sáng màu xích chơn châu.  Cõi nước một thứ bửu làm thành phóng ánh sáng màu nhiều thứ báu.  Cõi nước nhiều thứ báu làm thành phóng ánh sáng màu một thứ báu.  Những ánh sáng này chiếu đến tâm rừng rậm của chúng sanh, làm xong vô lượng sự nghiệp của chúng sanh, nghiêm sức tất cả cảnh giới thế gian, làm cho các chúng sanh tâm được mát mẻ rất hoan hỷ.  Những sự như vậy sung mãn pháp giới.
Từ trong tướng bạch hào giữa chặng mày của Hải Tràng tỳ kheo xuất hiện vô số trăm ngàn ức đế thích đều tự tại nơi cảnh giới, trên đảnh có ma ni bửu châu chiếu sáng tất cả các thiên cung điện.  Chấn động tất cả tu di sơn vương, giác ngộ tất cả chư thiên chúng, khen sức phước đức, nói sức trí huệ, sức sanh báo vui, sức trì chí, sức tịnh niệm, sức bền tâm bồ đề đã phát, khen thích thấy Phật khiến trừ ham muốn thế gian, khen thích nghe pháp khiến nhàm cảnh thế gian, khen thích quán trí khiến tuyệt thế nhiễm, ngăn chiến trận của a tu la, dứt phiền não đấu tranh, diệt tâm sợ chết, phát nguyện hàng ma, hưng lập chánh pháp, thành xong tất cả sự nghiệp của chúng sanh.  Những việc làm như vậy cùng khắp pháp giới.
Từ trên trán của Hải Tràng tỳ kheo xuất hiện trăm ngàn ức phạm thiên sắc tướng đoan nghiêm thế gian không sánh kịp oai nghi tịch tịnh, lời nói hay diệu, khuyên Phật thuyết pháp, khen Phật công đức làm cho các Bồ Tát đều hoan hỷ, có thể làm xong vô lượng sự nghiệp cho chúng sanh, cùng khắp tất cả thế giới mười phương.
Từ trên đầu của Hải Tràng tỳ kheo xuất hiện vô lượng phật sát vi trần số chư Bồ Tát đều dùng tướng hảo trang nghiêm nơi thân, phóng vô biên quang nói các công hạnh.  Những là tán thán bố thí khiến bỏ xan tham được các diệu bửu trang nghiêm thế giới, xưng dương công đức trì giới khiến các chúng sanh dứt hẳn những điều ác mà an trụ nơi giới đại từ bi của Bồ Tát.  Nói tất cả pháp hữuvi thảy đều như mộng, nói những dục lạc không có tư vị khiến các chúng sanh rời sự ràng buộc của phiền não.  Nói sức nhẫn nhục khiến các pháp tâm được tự tại.  Khen thân kim sắc khiến các chúng sanh lìa nhơ sân hận, khởi hạnh đối trị tuyệt đường súc sanh.  Khen hạnh tinh tấn khiến họ xa lìa thế gian phóng dật, đều siêng tu vô lượng diệu pháp.  Lại tán thán thiền ba la mật khiến tất cả tâm được tự tại.  Lại diễn thuyết bát nhã ba la mật khai thị chánh kiến, khiến các chúng sanh thích trí tự tại trừ những kiến chấp.  Lại diễn thuyết những việc làm tuỳ thuận thế gian, khiến các chúng sanh dầu lìa sanh tử mà ở nơi các loài tự tại thọ sanh.  Lại hiện thần thông biến hóa nói thọ mạng tự tại, khiến các chúng sanh phát đại thệ nguyện.  Lại diễn thuyết thành tựu sức tổng trì, xuất sanh sức đại nguyện, sức tịnh trị tam muộ, sức tự tại thọ sanh.  Lại diễn thuyết các thứ trí: như là trí biết khắp Như Lai thập lực, trí biết khắp chư Phật tự tại, những sự như vậy cùng khắp pháp giới.
Từ trên đảnh của Hải Tràng tỳ kheo xuất hiện vô số trăm ngàn ức thân Như Lai.  Thân đó không ai bằng, đủ các tướng hảo thanh tịnh trang nghiêm, oai quang rực rỡ như tòa núi vàng vô lượng qunag minh chiếu khắp mười phương, phắp diệu âm thanh sung mãn pháp giới, thị hiện vô lượng sức thần thông.  Vì tất cả thế gian mà mưa pháp vũ: vì chư Bồ Tát ngồi bồ đề đạo tràng và mưa pháp vũ bình đẳng biết khắp.  Vì chư Bồ Tát ở ngôi quán đảnh mà mưa pháp vũ nhập phổ môn.  Vì chư Bồ Tát pháp vương tử vị mà mưa pháp vũ phổ trang nghiêm.  Vì chư Bồ Tát đồng tử vị mà mưa pháp vũ kiên cố sơn.  Vì chư Bồ Tát bất thối vị mà mưa pháp vũ hải tạng.  Vì chư Bồ Tsat thành tựu chánh tâm vị mà mưa pháp vũ phổ cảnh giới.  Vì chư Bồ Tát phương tiện cụ túc vị mà mưa pháp vũ tự tánh môn.  Vì chư Bồ Tát sanh quý vị mà mưa pháp vũ tùy thuận thế gian.  Vì chư Bồ Tát tu hành vị mà mưa pháp vũ khắp bi mẫn.  Vì chư Bồ Tát tân học mà mưa pháp vũ tích tập tạng.  Vì chư Bồ Tát sơ phát tâm mà mưa pháp vũ nhiếp chúng sanh.  Vì chư Bồ Tát tín giải mà mưa pháp vũ vô tận cảnh giới khắp hiện tiền.  Vì sắc giới các chúng sanh mà mưa pháp vũ phổ môn.  Vì chư phạm thiên mà mưa pháp vũ sanh lực.  Vì chư ma chúng mà mưa pháp vũ tâm tràng.  Vì chư thiên hóa lạc mà mưa pháp vũ tịnh niệm.  Vì chư thiên đâu suất mà mưa pháp vũ sanh ý.  Vì chư thiên dạ ma mà mưa pháp vũ hoan hỷ.  Vì chư thiên đao lợi mà mưa pháp vũ màu trang nghiêm cõi hư không.  Vì chư dạ xoa vương mà mưa pháp vũ hoan hỷ.  Vì chư càn thát bà vương mà mưa pháp vũ kim cang luân.  Vì chư a tu la vương mà mưa pháp vũ đại cảnh giới.  Vũ chư ca lâu la vương mà mưa pháp vũ vô biên quang minh.  Vì chư khẩn na la vương mà mưa pháp vũ tất cả thế gian trí thù thắng.  Vì chư nhơn vương mà mua pháp vũ không say đắm.  Vì chư long vương mà mưa pháp vũ hoan hỷ tràng.  Vì chư ma hầu la già vương mà mưa pháp vũ bất hưu túc.  Vì các chúng sanh địa ngục mà mưa pháp vũ chánh niệm trang nghiêm.  Vì các súc sanh mà mưa pháp vũ trí huệ tạng.  Vì các chúng sanh cõi diêm la vương mà mưa pháp vũ vô uý.  Vì các chúng sanh ở xứ ách nạn mà mưa pháp vũ phổ an ủy.  Đều làm cho tất cả chúng sanh được vào chúng hội hiền thánh.  Những sự như vậy sung mãn pháp giới.
Lại nơi tất cả lỗ lông trên thân của Hải Tràng tỳ kheo, mỗi mỗi đều phóng ra vô số phật sát vi trần số quang minh võng.  Mỗi mỗi quang minh võng đủ vô số sắc tướng, vô số trang nghiêm, vô số cảnh giới, vô số sự nghiệp, sung mãn tất cả thế giới mười phương.
Lúc đó Thiện Tài đồng tử nhất tâm quán sát Hải Tràng tỳ kheo lòng rất khát ngưỡng.  Ghi nhớ tam muội giải thoát của tỳ kheo.  Tuy duy bất tư nghì Bồ Tát tam muội của tỳ kheo.  Tư duy bất tư nghì phương tiện lợi ích chúng sanh của tỳ kheo.  Tư duy bất tư nghì vô tác dụng phổ trang nghiêm môn của tỳ kheo.  Tư duy trí thanh tịnh trang nghiêm pháp giới của tỳ kheo.  Tư duy trí thọ Phật gia trì của tỳ kheo.  Tư duy sức tự tại xuất sanh Bồ Tát của tỳ kheo.  Tư duy sức đại nguyện kiên cố Bồ Tát của tỳ kheo.  Tư duy sức thêm rộng Bồ Tát hạnh của tỳ kheo Hải Tràng.
Thiện Tài đồng tử đứng tư duy quán sát như vậy qua một ngày đêm, nhẫn đến bảy ngày đêm, nửa tháng, một tháng, đến sáu tháng, lại qua sáu ngày ngữa Hải Tràng tỳ kheo mới xuất tam muội.
Thiện Tài đồng tử khen rằng: bạch đức thánh!  Hy hữu kỳ đặc, tam muội như thế rất là sâu xa, tam muội như vậy rất là quảng đại, tam muội như vậy cảnh giới vô lượng, tam muội như vậy thần lực khó nghĩ, tam muội như vậy quang minh không gì bằng, tam muội như vậy trang nghiêm vô số, tam muội như vậy oai lực khó chế ngự, tam muội như vậy cảnh giới bình đẳng, tam muội như vậy chiếu khắp mười phương, tam muội như vậy lợi ích vô hạn, vì có thể trừ diệt vô lượng khổ cho tất cả chúng sanh.  Như là làm cho tất cả chúng sanh lìa khổ do tham, khỏi khổ địa ngục, súc sanh, đóng cửa ách nạn, mở đường nhơn thiên, làm cho nhơn thiên hoan hỷ.  Làm cho họ thích thiền cảnh giới.  Có thể làm cho tăng trưởng sự vui hữu vi.  Có thể vì họ mà hiển bày sự vui giải thoát.  Có thể vì họ dẫn phát tâm bồ đề.  Có thể khiến tăng trưởng hạnh phước trí.  Có thể khiến tăng trưởng tâm đại bi.  Có thể làm cho sanh khởi sức đại nguyện.  Có thể làm cho minh liễu đạo Bồ Tát.  Có thể làm cho trang nghiêm trí cứu cánh.  Có thể làm cho xu nhập cảnh đại thừa.  Có thể làm cho chiếu liễu hạnh Phổ Hiền.  Có thể làm cho chứng được trí quang minh của các bậc Bồ Tát.  Có thể làm cho thành tựu các hạnh nguyện của tất cả Bồ Tát.  Có thể làm cho an trụ trong cảnh giới nhứt thiết chủng trí.
Bạch đức thánh!  Tam muội này tên là gì?
Hải Tràng tỳ kheo nói:
Này thiện nam tử!  Tam muội đây tên là "Phổ nhãn xả đắc".  Lại tên là "bát nhã ba la mật cảnh giới thanh tịnh quang minh".  Lại gọi là "phổ trang nghiêm thanh tịnh môn."
Này thiện nam tử!  Ta do tu tập bát nhã ba la mật nên được tam muội phổ trang nghiêm thanh tịnh này và trăm vạn vô số tam muội.
Thiện Tài đồng tử thưa:
Bạch đức thánh!  Cảnh giới rốt ráo của tam muội này chỉ như vậy thôi ư?
Hải Tràng tỳ kheo nói:
Này thiện nam tử!  Lúc nhập tam muội này, thời rõ biết tất cả thế giới không chướng ngại.  Qua đến tất cả thế giới không chướng ngại.  Vượt qua tất cả thế giới không chướng ngại.  Trang nghiêm tất cả thế giới không chướng ngại.  Tu trị tất cả thế giới không chướng ngại.  Nghiêm tịnh tất cả thế giới không chướng ngại.   Thấy tất cả Phật không chướng ngại.  Quán tất cả chư Phật oai đức quảng đại không chướng ngại.  Biết tất cả chư Phật thần lực tự tại không chướng ngại.  Chứng tất cả chư Phật quảng đại lực không chướng ngại.  Nhập tất cả chư Phật những công đức hải không chướng ngại.  Thọ tất cả chư Phật vô lượng diệu pháp không chướng ngại.  Nhập trong tất cả Phật pháp tu tập diệu hạnh không chướng ngại.  Chứng trí tất cả chư Phật chuyển pháp luân bình đẳng không chướng ngại.  Nhập tất cả chư Phật chúng hội đạo tràng không chướng ngại.  Quán Phật pháp mười phương không chướng ngại.  Đại bi nhiếp thọ chúng sanh mười phương không chướng ngại.  Thường khởi đại từ sung mãn mười phương không chướng ngại.  Thấy thập phương chư Phật lòng không nhàm đủ, không chướng ngại.  Nhập tất cả chúng sanh hải không chướng ngại.  Biết căn tánh hải của tất cả chúng sanh không chướng ngại.  Biết những căn sai biệt trí của tất cả chúng sanh không chướng ngại.
Này thiện nam tử!  Ta chỉ biết một bát nhã ba la mật tam muội quang minh này.  Còn như chư Bồ Tát nhập trí huệ hải, tịnh pháp giới cảnh, đạt tất cả thú, khắp vô lượng cõi, tổng trì tự tại, tam muội thanh tịnh, thần thông quảng đại, biện tài vô tận, khéo nói các địa, làm chỗ nương cho chúng sanh, ta làm sao biết được những diệu hạnh đó, biện được công đức đó, rõ được chỗ làm đó, tỏ được cảnh giới đó, tột được nguyện lực đó, nhập được yếu môn đó, đạt được sở chứng đó, nói được đạo phần đó, trụ được tam muội đó, thấy được tâm cảnh đó, chứng được bao nhiêu trí huệ bình đẳng đó.
Này thiện nam tử!  Từ đây qua phương Nam có một xứ tên là Hải Triều.  Xứ đó có khu viên lâm tên là Phổ Trang Nghiêm.  Trong viên lâm đó có ưu bà di tên là Hưu Xã.  Ngươi đến đó hỏi ưu bà di:  Bồ Tát thế nào học Bồ Tát hạnh?  Thế nào tu Bồ Tát đạo?
Bấy giờ Thiện Tài đồng tử ở chỗ Hải Tràng tỳ kheo được thân kiên cố, được của diệu pháp, nhập thâm cảnh giới, trí huệ sáng suốt, tam muội chiếu sáng, trụ thanh tịnh giải, thấy pháp thậm thâm, tâm an trụ trong các môn thanh tịnh, trí huệ quang minh sung mãn mười phương.
Thiện Tài đồng tử rất vui mừng hớn hở vô lượng.  Năm vóc gieo xuống đất đảnh lễ chân Hải Tràng tỳ kheo, hữu nhiễu vô lượng vòng, cung kính chiêm ngưỡng tư duy quán sát ngậm ngùi luyến mộ.  Nhớ danh hiệu của Hải Tràng tỳ kheo.  Tưởng dung nhan cử chỉ của Hải Tràng tỳ kheo.  Ghi âm thanh của Hải Tràng tỳ kheo.  Suy gẫm tam muội của Hải Tràng tỳ kheo và đại nguyện cùng cảnh giới.  Thọ lấy trí huệ quang minh thanh tịnh của Hải Tràng tỳ kheo, sau đó từ tại mà đi.
Khi ấy Thiện Tài đồng tử  nhờ sức thiện tri thức, y lời dạy của thiện tri thức, nhớ lời nói của thiện tri thức, thâm tâm mến thích thiện tri thức.  Tự nghĩ rằng: nhơn thiện tri thức làm cho tôi được thấy Phật.  Nhơn thiện tri thức làm cho tôi được nghe pháp.  Thiện tri thức là thầy học của tôi, vì chỉ dạy tôi những Phật pháp.  Thiện tri thức là nhãn mục của tôi, vì làm cho tôi thấy Phật như hư không.  Thiện tri thức là chiếc đò của tôi, vì làm cho tôi được vào ao hoa sen của chư Phật Như Lai.
Vừa suy gẫm vừa đi lần qua phương Nam đến xứ Hải Triều, thấy vườn Phổ Trang Nghiêm, tường rào bằng các thứ bửu bao bọc.  Tất cả cây báu hàng liệt trang nghiêm.  Tất cả cây bửu hoa rải những diệu hoa trải trên mặt đất.  Tất cả cây bửu hương mùi thơm ngòa ngạt xông khắp mười phương.  Tất cả cây tràng hoa báu mưa tràng hoa báu lớn rủ xuống khắp nơi.  Tất cả cây ma ni bửu vương mưa báu đại ma ni rải đầy khắp nơi.  Tất cả cây bửu y mưa y phục nhiềumafu tuỳ sở nghi giăng trải quanh vườn.  Tất cả cây âm nhạc gió động thành tiếng êm dịu hơn thiên nhạc.  Tất cả cây đồ trang nghiêm mưa những vật trân ngoạn kỳ dịu trần thiết nghiêm sức khắp nơi.  Mặt đất trong vườn thanh tịnh không có cao thấp.  Trong vườn có trăm vạn điện đường xây bằng đại ma ni bửu.  Có trăm vạn lâu các, vàng diêm phù đàn che trùm phía trên.  Trăm vạn cung điện, tỳ lô giá na ma ni bửu xen lẫn trang nghiêm.  Một vạn ao tắm các báu hiệp thành.  Lan thuẫn bảy báu bao bọc giáp vòng, thềm đường bảy báu phân bố bốn phía.  Nước tám công đức đứng lặng đầy ao, hơi thơm như thiên chiên đàn.  Cát vàng trải đáy ao.  Bửu châu thủy thanh xen lẫn khắp nơi.  Nhiều loại chim đẹp du ngoạn trong đó hót tiếng hòa nhã.  Cây bửu đa la hàng liệt bao vòng, bửu võng giăng trùm, thòng những linh vàng, gió nhẹ rung thường vang tiếng dịu.  Giăng màn đại bửu.  Dựng vô số ma ni bửu tràng quang minh chiếu khắp trăm ngàn do tuần.  Trong đó lại có trăm vạn ao, bùn hắc chiên đàn ngưng đọng đáy ao.  Tất cả diệu bửu làm hoa sen nở trên mặt nước.  Hoa đại ma ni màu sáng chiếu rực rỡ.  Trong ao lại có cung điện rộng lớn tên là Trang Nghiêm Tràng Hải Tạng, diệu bửu làm nên, tỳ lưu ly bửu làm cột, diêm phù đàn kim che trên, quang tạng ma ni dùng trang nghiêm, vô số bửu vương ánh sáng rực rỡ.  Lầu nhiều từng giáp với gác nhiều thứ trang sức a lô na hương vương, giác ngộ hương vương, đều phát ra diệu hương xông khắp nơi.
Trong cung điện đó lại có vô lượng tòa bửu liên hoa trần thiết giáp vòng.  Như là tòa bửu liên hoa ma ni chiếu sáng mười phương.  Tòa tỳ lô giá na ma ni bửu liên hoa.  Tòa ma ni bửu liên hoa chiếu sáng thế gian.  Tòa diệu tạng ma ni bửu liên hoa.  Tòa sư tử tạng ma ni bửu liêu hoa.  Tòa ly cấu tạng ma ni bửu liên hoa.  Tòa phổ môn ma ni bửu liên hoa.  Tòa quang nghiêm ma ni bửu liên hoa.  Tòa an trụ đại hải tạng thanh tịnh ma ni vương bửu liên hoa.  Tòa kim cang sư tử ma ni bửu liên hoa.
Trong vườn lại có trăm vạn thứ màn.  Như là mà y phục, màn tràng hoa, màn hương, màn hoa, màn cành, màn ma ni, màn chơn kim, màn đồ trang nghiêm, màn âm nhạc, mà tượng vương thần biến, màn mã vương thần biến, màn ma ni bửu của thiên đế đeo.
Lại có trăm vạn mành lưới đại bửu giăng che phía trên.  Như là lưới bửu linh, lưới bửu cái, lưới bửu thân, lưới hải tạng chơn châu, lưới cám lưu ly ma ni bửu, lưới sư tử ma ni, lưới nguyệt quang ma ni, lưới thơm nhiều hình tượng, lưới bửu quang, lưới bửu anh lạc.
Lại có trăm vạn đại quang minh chiếu sáng.  Như Lai quang minh diệm quang ma ni bửu.  Quang minh nhựt ma ni bửu.  Quang minh nguyệt tràng ma ni bửu.  Quang minh hương diệm ma ni bửu.  Quang minh thắng tạng ma ni bửu.  Quang minh liên hoa tạng ma ni bửu.  Quang minh diệm tràng ma ni bửu.  Quang minh đại đăng ma ni bửu.  Quang minh ma ni bửu chiếu khắp mười phương.  Quang minh hương quang ma ni bửu.
Thường mưa trăm vạn đồ trang nghiêm, trăm vạn hương hắc chiên đàn vang ra âm thanh vi diệu, trăm vạn hoa mạn đà la hơn hoa cõi trời, trăm vạn chuỗi ngọc hơn chuỗi cõi trời để trang nghiêm, trăm vạn tràng hoa báu đẹp hơn cõi trời thòng xuống khắp nơi, trăm vạn y phục nhiều màu hơn cõi trời, trăm vạn ma ni bửu nhiều màu ánh sáng chiếu khắp nơi, trăm vạn thiên tử vui mừng chiêm ngưỡng đầu mặt đảnh lễ, trăm vạn thiên nữ ở giữa hư không bay xuống, trăm vạn Bồ Tát cung kính thân cận thường thích nghe pháp.
Lúc ấy, Hưu Xả ưu bà di ngồi tòa chơn kim, đội mão hải tạng chơn châu võng, đeo bửu xuyến chơn kim hơn cõi trời, rủ tóc xanh biếc, đại ma ni bửu trang nghiêm trên đầu, sư tử khẩu ma ni bửu làm bông tai, như ý ma ni bửu vương làm chuỗi ngọc, bửu võng trùm trên thân.  Trăm ngàn ức na do tha chúng sanh cúi mừng cung kính.
Phương Đông có vô lượng chúng đến chỗ ưu bà di.  Như là phạm thiên, phạm chúng thiên, đại phạm thiên, phạm phụ thiên, tự tại thiên, nhẫn đến tất cả hạng người và phi nhơn.  Chín phương kia cũng như vậy.
Có ai thấy ưu bà di này thời tất cả bệnh khổ đều trừ diệt, lìa phiền não hết kiến chấp, xô núi chướng ngại, nhập nơi cảnh giới vô ngại thanh tịnh, thêm lớn tất cả những thiện căn, trưởng dưỡng các căn, vào tất cả môn trí huệ, vào tất cả mông tổng trì, tất cả môn tam muội, tất ả môn đại nguyện, tất cả môn diệu hạnh, tất cả môn công đức đều được hiện tiền.  Tâm họ rộng lớn đầy đủ thần thông, thân không chướng ngại đến khắp mọi xứ.
Thiện Tài đồng tử vào vườn Phổ Trang Nghiêm, xem xét khắp nơi, thấy Hưu Xả ưu bà di ngồi diệu tòa, liền đến đảnh lễ chân ưu bà di rồi hữu nhiều vô số vòng, thưa rằng:
Bạch đức thánh!  Tôi đã phát tâm vô thượng bồ đề, mà chưa biết Bồ Tát thế nào học Bồ Tát hạnh, thế nào tu Bồ Tát đạo?  Tôi nghe đức thánh khéo có thể dạy bảo, xin vì tôi mà giảng giải.
Ưu bài di nói:
Này thiện nam tử!  Ta chỉ được một môn giải thoát của Bồ Tát.  Nếu có ai thấy nghe nhớ nghĩ đến ta, cùng ta ở chung, cung cấp cho ta thời không luống công. 
Này thiện nam tử!  Nếu có chúng sanh chẳng gieo căn lành, chẳng được thiện hữu nhiếp thọ, chẳng được chư Phật hộ niệm, kẻ đó chẳng thấy được ta.
Này thiện nam tử!  Có chúng sanh nào được thấy ta thời đều được chẳng thối chuyển vô thượng bồ đề.
Này thiện nam tử!  Chư Phật phương Đông thường đến đây, ngự trên bửu tòa vì ta mà thuyết pháp.  Chư Phật chín phương kia cũng vậy.
Này thiện nam tử!  Ta thường chẳng rời thấy Phật, nghe pháp, cùng chư Bồ Tát ở chung.
Này thiện nam tử!  Nơi vườn này có tám muôn bốn ngàn ức na do tha đại chúng cùng ta đồng hành, đến bất thối chuyển nơi vô thượng bồ đề.  Những chúng sanh khác ở trong vườn này cũng đều nhập bậc bất thối chuyển.
Thiện Tài thưa:
Bạch đức thánh!  Ngài phát tâm vô thượng bồ đề được bao lâu?
Ưu bà di nói:
Này thiện nam tử!  Ta nhớ quá khứ ở chỗ đức Nhiên Đăng Phật, ta tu hành phạm hạnh, cung kính cướng dường nghe pháp thọ trì.
Trước đó ở chỗ đức Ly Cấu Phật, ta xuất gia học đạo thọ trì chánh pháp.
Trước đó ở chỗ đức Diệu Tràng Phật.  Trước nữa ở chỗ Thắng Tu Di Phật.  Trước nữa ở chỗ đức Liên Hoa Đức Tạng Phật.  Trước nữa ở chỗ đức Tỳ Lô Giá Na Phật.  Trước nữa chỗ đức Phổ Nhãn Phật.  Trước nữa ở chỗ đức Phạm Thọ Phật.  Trước nữa ở chỗ đức Kim Cang Tê Phật.  Trước nữa ở chỗ đức Bà Lâu Na Thiên Phật.
Này thiện nam tử!  Ta nhớ thuở quá khứ vô lượng kiếp, trong vô lượng đời, thứ đệ như vậy ở chỗ ba mươi sáu hằng hà sa đức Phật, ta đều thờ kính cúng dường nghe pháp thọ trì tịnh tu phạm hạnh.  Quá đây về trước thời Phật trí mới biết được, chẳng phải trí của ta có thể lường đến.
Này thiện nam tử!  Bồ Tát mới phát tâm không có hạn lượng, vì sung mãn tất cả pháp giới.  Bồ Tát đại bi môn không hạn lượng, vì vào khắp tất cả thế gian.  Bồ Tát đại nguyện môn không hạn lượng, vì rốt ráo mười phương pháp giới.  Bồ Tát đại từ môn không hạn lượng, vì che khắp tất cả chúng sanh.  Bồ Tát tu hành không hạn lượng, vì tu tập trong tất cả cõi tất cả kiếp.  Bồ Tát tam muội lực không hạn lượng, vì làm cho Bồ Tát đạo chẳng thối chuyển.  Bồ Tát tổng trì lực không hạn lượng, vì có thể nhiếp trì tất cả thế gian.  Bồ Tát trí quang lực không hạn lượng, vì có thể chứng nhập khắp tam thế.  Bồ Tát thần thông lực không hạn lượng, vì hiện khắp tất cả cõi.  Bồ Tát biện tài lực không hạn lượng, vì một âm thanh mà tất cả đều hiểu.  Bồ Tát thanh tịnh thân không hạn lượng, vì đều khắp tất cả cõi Phật.
Thiện Tài thưa:
Bạch đức thánh!  Bao lâu nữa ngài sẽ chứng vô thượng bồ đề?
Hưu Xả ưu bà di nói:
Này thiện nam tử!  Bồ Tát chẳng vì giáo hóa điều phục một chúng sanh mà phát bồ đề tâm.  Chẳng vì giáo hóa điều phục trăm chúng sanh, ngàn chúng sanh, cho đến chẳng vì giáo hóa điều phục bất khả thuyết bất khả thuyết chúng sanh mà phát bồ đề tâm.  Chẳng vì giáo hóa chúng sanh trong một thế giới nhẫn đến bất khả thuyết bất khả thuyết thế giới mà phát bồ đề tâm.  Chẳng vì giáo hóa Diêm Phù Đề vi trần số chúng sah, đại thiên thế giới vi trần số chúng sanh, nhẫn đến chẳng vì giáo hóa bất khả thuyết bất khả thuyết thế giới vi trần số thế giới chúng sanh mà phát bồ đề tâm.  Chẳng vì cúng dường một đức Như Lai, nhẫn đến bất khả thuyết bất khả thuyết đức Như Lai mà phát bồ đề tâm.  Chẳng vì cúng dường chư Như Lai thứ đệ xuất thế trong một thế giới nhẫn đến trong bất khả thuyết bất khả thuyết thế giới mà phát bồ đề tâm.  Chẳng vì cúng dường chư Như Lai thứ đệ xuất thế trong đại thiên thế giới vi trần số thế giới, nhẫn đến trong bất khả thuyết bất khả thuyết trần số thế giới mà phát bồ đề tâm.  Chẳng vì nghiêm tịnh một số thế giới nhẫn đến bất khả thuyết bất khả thuyết thế giới mà phát bồ đề tâm.  Chẳng vì nghiêm tịnh một đại thiên thế giới vi trần số thế giới nhẫn đến bất khả thuyết bất khả thuyết thế giới vi trần số thế giới mà phát bồ đề tâm.  Chẳng vì trụ trí giáo pháp của một đức Như Lai nhẫn đến của bất khả thuyết bất khả thuyết đức Như Lai mà phát bồ đề tâm.  Chẳng vì trụ  trì giáo pháp của một thế giới Như Lai nhẫn đến bất khả thuyết bất khả thuyết thế giới Như Lai mà phát bồ đề tâm.  Chẳng vì trụ trì giáo pháp của một Diêm Phù Đề vi trần số thế giới Như Lai nhẫn đến bất khả thuyết bất khả thuyết phật sát vi trần số thế giới Như Lai mà phát bồ đề tâm.
Như vậy lược nói, chẳng vì mãn thệ nguyện của một Như Lai, chẳng vì đến một Phật độ, chẳng vì nhập một Phật chúng hội, chẳng vì trì một Phật pháp nhãn, chẳng vì chuyển một Phật pháp luân, chẳng vì biết những kiếp thứ đệ trong một thế giới, chẳng vì biết một chúng sanh tâm hải, chẳng vì biết một chúng sanh căn hải, chẳng vì biết một chúng sanh nghiệp hải, chẳng vì biết một chúng sanh hạnh hải, chẳng vì biết một chúng sanh phiền não hải, chẳng vì biết một chúng sanh phiền não tập hải, nhẫn đến chẳng vì biết bất khả thuyết bất khả thuyết phật sát vi trần số chúng sanh phiề não tập hải mà phát bồ đề tâm.
Mà chính vì muốn giáo hóa điều phục tất cả chúng sanh không để sót thừa nên phát bồ đề tâm.  Vì muốn cúng đường tất cả chư Phật không để sót nên phát bồ đề tâm.  Vì muốn nghiêm tịnh tất cả Phật độ không để sót nên phát bồ đề tâm.  Vì muốn hộ trì chánh pháp của tất cả chư Phật không để sót nên phát bồ đề tâm.  Vì muốn thành mãn đại nguyện của tất cả Như Lai không để sót mà phát bồ đề tâm.  Vì muốn đến tất cả Phật độ không để sót mà phát bồ đề tâm.  Vì muốn nhập tất cả Phật chúng hội không để sót mà phát bồ đề tâm.  Vì muốn biết những kiếp thứ đệ trong tất cả kiếp không để sót mà phát bồ đề tâm.  Vì muốn biết tất cả chúng sanh tâm hải không sót nên phát bồ đề tâm.  Vì muốn biết tất cả chúng sanh căn hải không sót nên phát bồ đề tâm.  Vì muốn biết tất cả chúng sanh nghiệp hải không sót nên phát bồ đề tâm.  Vì muốn biết tất cả chúng sanh hạnh hải không sót nên phát bồ đề tâm.  Vì muốn diệt tất cả chúng sanh phiền não hải không sót nên phát bồ đề tâm.  Vì muốn trừ tất cả chúng sanh phiền não tập hải không sót nên phát bồ đề tâm.
Này thiện nam tử!  Tóm lược mà nói, Bồ Tát dùng vô lượng trăm ngàn vô số phương tiện hạnh như vậy mà phát bồ đề tâm.
Này thiện nam tử!  Bồ Tát hạnh vào khắp tất cả pháp, vì đều chứng được.  Vào khắp tất cả cõi, vì đều nghiêm tịnh. 
Vì thế nên thiện nam tử!  Khi nghiêm tịnh hết tất cả thế giới thời nguyện của tôi mới hết.  Khi dứt hết phiền não tập khí của tất cả chúng sanh thời nguyện của tôi mới mãn.
Thiện Tài thưa:
Bạch đức thánh!  Môn giải thoát này tên là gì?
Hưu Xả ưa bà di nói:
Này thiện nam tử!  Môn giải thoát này tên là "Ly ưu an ổn tràng".
Ta chỉ biết một môn giải thoát này.  Như chư đại Bồ Tát, tâm như biển cả có thể đều dung thọ tất cả Phật pháp.  Như núi tu di, chí ý kiên cố chẳng bị lay động.  Như vị thuốc thiện kiến, hay trừ những bệnh nặng phiền não của các chúng sanh.  Như mặt nhựt sáng sạch, hay phá chúng sanh vô minh ám chướng.  Dường như đại địa, hay làm chỗ y tựa cho tất cả chúng sanh.  Như gió tốt, hay làm lợi ích cho tất cả chúng sanh.  Như đèn sáng, hay vì chúng sanh mà sanh trí huệ quang.  Như đại vân, hay vì chúng sanh mà mưa đại pháp tịch diệt.  Như minh nguyệt hay vì chúng sanh mà phóng phước đức quang.  Như thiên đế, đều hay thủ hộ tất cả chúng sanh.
Như thế thời ta làm sao biết được hết, nói được hết những công đức đó.
Này thiện nam tử!  Phương Nam xứ Hải Triều đây có một nước tên là Na La Tố.  Trong đó có tiên nhơn tên là Tỳ Mục Cù Sa.  Ngươi đến đó hỏi Bồ Tát thế nào học Bồ Tát hạnh, tu Bồ Tát đạo?
Lúc đó Thiện Tài đồng tử đảnh lễ chân Hưu Xả ưu bà di, hữu nhiễu vô số vòng, ân cần chiêm ngưỡng, buồn khóc rơi lệ.  Tự nghĩ rằng được bồ đề khó, gần thiện tri thức khó, gặp thiện tri thức khó, được gặp đồng hành thiện tri thức khó, đúng lý quán sát khó, y giáo tu hành khó, Bồ Tát căn khó, tịnh Bồ Tát căn khó, gặp gỡ xuất sanh thiện tâm phương tiện khó, gặp gỡ thêm lớn nhứt thiết trí pháp quang minh khó.  Nghĩ xong, Thiện Tài từ tạ ưu bà di mà đi.
Bấy giờ Thiện Tài đồng tử tùy thuận tư duy chánh giáo của Bồ Tát.  Tùy thuận tư duy tịnh hạnh của Bồ Tát.  Sanh tâm tăng trưởng phước lực của Bồ Tát.  Sanh tâm thấy rõ tất cả chư Phật.  Sanh tâm xuất sanh tất cả chư Phật.  Sanh tâm tăng trưởng tất cả đại nguyện.  Sanh tâm thấy khắp các pháp mười phương.  Sanh tâm chiếu rõ thiệt tánh của các pháp.  Sanh tâm phá tan khắp tất cả chướng ngại.  Sanh tâm quán sát pháp giới không tối.  Sanh tâm thanh tịnh ý bửu trang nghiêm.  Sanh tâm xô dẹp tất cả chúng ma.
Thiện Tài đồng tử lần lần du hành đến nước Na La Tố tìm tiên hơn Tỳ Mục Cù Sa, thấy một khu vườn lớn, vô số cây trang nghiêm.  Như là những cây lá rậm rợp che mát, những cây nở hoa sặc sỡ, những cây đơm trái chín tiếp nối.  Lại có những cây báu mưa trái ma ni, những cây chiên đàn lớn bày hàng khắp nơi, những cây trầm thuỷ thường thoảng hương thơm, những cây duyệt ý hương thơm tho trang nghiêm, những cây ba tra la bao bọc bốn phía, những cây ni câu luật cao vút, những cây diêm phù đàn thường mưa trái ngọt, những bông sen xanh, bông sen đỏ trang nghiêm ao hồ.
Thiện Tài đồng tử thấy tiên nhơn Tỳ Mục Cù Sa trải cỏ ngồi dưới cây chiên đàn, đồ chúng mười ngàn người.  Có người mặc da ni, mặc cỏ cây, có người bện cỏ làm y phục, vấn tóc, để râu trước sau vây quanh.
Thiện Tài đến mọp lạy thưa tiên nhơn rằng:
Nay tôi được gặp chơn thiện tri thức.  Thiện tri thức là cửa xu hướng nhứt thiết trí, vì làm cho tôi được vào đạo chân thật.  Thiện tri thức là cỗ xe xu hướng nhứt thiết trí, vì làm cho tôi được đến Như Lai địa.  Thiện tri thức là thuyền xu hướng nhứt thiết trí, vì làm cho tôi được chến châu trí bửu.  Thiện tri thức là đuốc xu hướng nhứt thiết trí, vì khiến tôi được sanh ánh sáng thập lực.  Thiện tri thức là đường xu hướng nhứt thiết trí, vì làm cho tôi được vào thành niết bàn.  Thiện tri thức là đèn xu hướng nhứt thiết trí, vì làm cho tôi thấy được đường yên lành hay hiểm trở.  Thiện tri thức là cầu xu hướng nhứt thiết trí, vì làm cho tôi qua khỏi chỗ hiểm ác.  Thiện tri thức là lọng xu hướng nhứt thiết trí, vì làm cho tôi được sanh lòng đại từ mát mẻ.  Thiện tri thức là con mắt xu hướng nhứt thiết trí, vì làm cho tôi được thấy môn pháp tánh.  Thiện tri thức là nước triều xu hướng nhứt thiết trí, vì làm cho tôi đầy đủ nước đại bi.
Nói xong, Thiện Tài đứng dậy hữu nhiễu vô lượng vòng đứng chắp tay thưa rằng:
Bạch đức thánh!  Tôi đã phát tâm vô thượng bồ đề, mà chưa biết Bồ Tát thế nào học Bồ Tát hạnh, thế nào tu Bồ Tát đạo.  Tôi nghe đức thánh khéo dạy dỗ.  Xin chỉ dạy cho tôi.
Tỳ Mục Cù Sa đoái nhìn đồ chúng mà nói:
Này đại chúng!  Đồng tử này đã phát tâm vô thượng bồ đề, khắp ban sự vô úy cho tất cả chúng sanh, khắp ban sự lợi ích cho tất cả chúng sanh, thường quán sát trí hải của tất cả chư Phật.  Đồng tử này muốn uống tất cả pháp vũ cam lồ, muống lường tất cả pháp hải rộng lớn, muốn cho chúng sanh an trụ trong trí hải, muốn khắp phát khởi mây bi rộng lớn, muốn  khắp mưa pháp vũ rộng lớn, muốn dùng trí nguyệt chiếu khắp thế gian, muốn diệt thế gian phiền não độc nhiệt, muốn làm lớn tất cả thiện căn cho chúng sanh.
Tiên chúng nghe lời trên đây rồi đều đem những hương hoa đẹp tốt rải trên thân Thiện Tài, làm lễ cung kính mà nói rằng:
Đồng tử này tất sẽ cứu hộ tất cả chúng sanh, tất cả trừ diệt khổ địa ngục, tất sẽ dứt hản loài súc sanh, tất cả chuyển bỏ cõi diêm la vương, tất cả đóng bít cửa chướng nạn, tất cả làm khô cạn biển ái dục, tất lảm cho chúng sanh diệt hẳn khổ uẩn, tất cả pháp hẳn vô minh hắc ám, tất cả dứt hẳn dây trói tham ái, tất sẽ dùng dãy núi phước đức bao bọc thế gian, tất sẽ đem đại bửu trí huệ hiển thị thế gian, tất sẽ xuất hiện trí nhựt thanh tịnh, tất sẽ khai thị pháp tạng thiện căn, tất làm cho thế gian biết rõ là hiểm khó hay là dễ dàng.
Tỳ Mục Cù Sa bảo quần tiên rằng:
Nếu có người hay phát tâm vô thượng bồ đề, tất sẽ được thành đạo nhứt thiết trí.  Đồng tử này đã phát tâm vô thượng bồ đề tất sẽ tịnh bực tất cả công đức của chư Phật.
Tỳ Mục Cù Sa bảo Thiện Tài:
Này thiện nam tử1  Ta được môn Bồ Tát vô thắng tràng giải thoát.
Thiện Tài thưa:
Bạch đức thánh!  Cảnh giới của vô thắng tràng giải thoát như thế nào?
Lúc đó Tỳ Mục Cù Sa tiên nhơn liền giơ tay hữu xoa đầu Thiện Tài, cầm tay Thiện Tài.
Thiện Tài liền thấy mình đến trong mười phật sát vi trần thế giới mười phương, chỗ của mười phật sát vi trần số thế giới chư Phật.  Thấy chư Phật và chúng hội cùng Phật độ trang nghiêm thanh tịnh.  Lại nghe chư Phật tùy sở thích của các chúng sanh mà thuyết pháp, mỗi câu mỗi căn đều thông đạt cả, đều riêg thọ trì không tạp loạn.  Cũng biết đức Phật đó dùng những trí giải tịnh trị các nguyện.  Cũng biết chư Phật đó dùng thanh tịnh nguyện thành tựu các lực.  Cũng thấy chư Phật đó tùy chúng sanh tâm mà hiện sắc tướng.  Cũng thấy chư Phật đó, lưới đại quang minh nhiều màu sắc thanh tịnh viên mãn.  Cũng biết chư Phật đó, trí huệ vô ngại sức đại quang minh.
Thiện Tài lại tự thấy mình ở chỗ chư Phật qua một ngày đêm, hoặc bảy ngày đêm, nửa tháng, một tháng, một năm, mười năm, trăm năm, ngàn năm, hoặc trải qua ức năm, hoặc a du đa ức năm, hoặc na do tha ức năm, hoặc trải qua nửa kiếp, hoặc một kiếp, trăm kiếp, ngàn kiếp, hoặc trăm ngàn kiếp, nhẫn đến bất khả thuyết bất khả thuyết phật sát vi trần số kiếp.
Nhờ Bồ Tát vô thắng tràng giải thoát trí quang minh chiếu đến, nên Thiện Tài đồng tử được tỳ lô giá na tạng tam muội quang minh.  Nhờ vô tận trí giải thoát tam muội quang minh chiếu đến nên Thiện Tài được phổ nhiếp chư phương đà la ni quang minh.  Nhờ kim cang luân đà la ni môn quang minh chiếu đến, nên Thiện Tài được cực thanh tịnh trí huệ tâm tam muội quang minh.  Nhờ phổ môn trang nghiêm tạng bát nhã ba la mật quang minh chiếu đến, nên Thiện Tài được Phật hư không tạng luân tam muội quang minh.  Nhờ nhứt thiết Phật pháp luân tam muội quang minh chiếu đến, nên Thiện Tài được tam thế vô tận trí tam muội quang minh.
Bấy giờ tiên nhơn Tỳ Mục Cù Sa buông tay Thiện Tài đồng tử.  Thiện Tài liền tự thấy mình ở tại chỗ cũ.
Tiên nhơn bảo Thiện Tài:
Này thiện nam tử!  Ngươi có ghi nhớ chăng?
Thiện Tài thưa:
Bạch vâng!  Đây là do sức của đức thánh thiện tri thức vậy.
Tiên nhơn nói:
Này thiện nam tử!  Ta chỉ biết môn Bồ Tát vô thắng tràng giải thoát này.  Như chư đại Bồ Tát thành tựu tất cả tam muội thù thắng, được tự tại trong tất cả thời gian.  Trong khoảng một niệm xuất sanh chư Phật vô lượng trí huệ.  Dùng đèn Phật trí làm trang nghiêm để chiếu khắp thế gian.  Trong một niệm vào khắp cảnh giới tam thế.  Phân thân qua khắp cõi nước mười phương.  Trí thân vào khắp tất cả pháp giới.  Tuỳ theo tâm chúng sanh mà hiện ra trước họ, xem xét căn hành của họ để làm lợi ích, phóng tịnh quang minh rất đáng mến thích.
Như thế, ta làm sao biết được tất cả, nói được tất cả công đức hạnh đó, thù thắng nguyện đó, trang nghiêm độ đó, trí cảnh giới đó, tam muội cảnh giới đó, thần thôn biến hóa đó, giải thoát du hí đó, thân tướng sai biệt đó, âm thanh thanh tịnh đó, trí huệ quang minh đó.
Này thiện nam tử!  Phương Nam này có một tụ lạc tên là Y Sa Na, có bà la môn tên là Thắng  Nhiệt.  Ngươi đến đó hỏi Bồ Tát thế nào học Bồ Tát hạnh, tu Bồ Tát đạo?
Thiện Tài đồng tử vui mừng hớn hở, đảnh lễ tiên nhơn Tỳ Mục Cù Sa, hữu nhiễu vô số vòng, ân cần chiêm ngưỡng từ tạ mà đi qua phương Nam.
Bấy giờ, Thiện Tài đồng tử nhờ Bồ Tát vô thắng tràng giải thoát chiếu đến nên được trụ chư Phật bất tư nghì thần lực, được chứng Bồ Tát bất tư nghì giải thoát thần thông trí , được Bồ Tát bất tư nghì tam muội trí quang minh, được tất cả thời gian huân tu tam muội trí quang minh, được biết rõ tất cả cảnh giới đều nương tưởng mà an trụ tam muội trí quang minh, được tất cả thế gian thù thắng trí quang minh.  Đều hiện thân mình ở tất cả chỗ.  Dùng trí cứu cánh nói pháp bình đẳng không hai không phân biệt.  Dùng trí sáng sạch chiếu khắp cảnh giới.  Phàm những pháp được nghe đều có thể nhẫn thọ tin hiểu thanh tịnh.  Nơi pháp tự tánh quyết định rõ ràng.  Tâm luôn chẳng bỏ Bồ Tát diệu hạnh.  Cầu nhứt thiết trí trọn không thối chuyển.  Chứng được thập lực trí huệ quang minh.  Siêng cầu diệu pháp thường chẳng nhàm đủ.  Dùng chánh tu hành nhập Phật cảnh giới.  Xuất sanh Bồ Tát vô lượng trang nghiêm, vô biên đại nguyện đều đã thanh tịnh.  Dùng trí vô cùng tận mà biết vô biên thế giới võng.  Dùng tâm không khiếp nhược mà độ vô lượng chúng sanh hải.  Rõ vô biên công hạnh cảnh giới của Bồ Tát.  Thấy vô biên thế giới những thứ sai biệt, những thứ trang nghiêm.   Nhập vô biên thế giới những cảnh vi tế.  Biết vô biên thế giới những danh hiệu, những ngôn ngữ.  Biết vô biên chúng sanh các trí giải, các công hạnh, các hạnh thành thục, những tưởng sai biệt.
Thiện Tài nghĩ tưởng thiện tri thức đồng thời đi lần đến tụ lạc Y Sa Na, thấy Thắng Nhiệt bà la môn tu những khổ hạnh cầu nhứt thiết trí: bốn phía đốt lửa ngọn cao như núi lớn, ở giữa có núi đao cao nhọn vô cực.  Thắng Nhiệt leo lên núi đao nhảy vào đống lửa.
Lúc đó Thiện Tài đến đảnh lễ chân Thắng Nhiệt mà thưa rằng:
Bạch đức thánh!  Tôi đã phát tâm vô thượng bồ đề mà chưa biết Bồ Tát thế nào học Bồ Tát hạnh, thế nào tu Bồ Tát đạo?  Tôi nghe đức thánh khéo dạy bảo, xin giảng giải cho tôi.
Thắng Nhiệt nói:
Này thiện nam tử!  Nay ngươi có thể leo lên núi đao này, nhảy vào đống lửa này, thời những Bồ Tát hạnh sẽ được thanh tịnh.
Lúc đó Thiện Tài nghĩ rằng được thân người là khó, lìa các nạn là khó, được không nạn là khó, được tịnh pháp là khó, được gặp Phật là khó, đủ các căn là khó, nghe Phật pháp là khó, gặp người lành là khó, gặp chơn thiện tri thức là khó, thọ chánh giáo đúng lý là khó, được chánh mạng là khó, tuỳ pháp hành là khó.  Đây phải chăng là ma, bị ma sai sử chăng?  Phải chăng là đồ đảng hiểm ác của ma trá hiện tướng Bồ Tát thiện tri thức mà muốn làm chướng nạn cho thiện căn của tôi, muốn làm nạn thọ mạng để chướng sự tu hành đạo nhứt thiết trí của tôi.  Muốn kéo tôi vào trong các ác đạo.  Muốn chướng pháp môn của tôi, chướng Phật pháp của tôi chăng?
Lúc Thiện Tài suy nghĩ như vậy, mười ngàn phạm thiên ở trên hư không bảo rằng:
Này thiện nam tử!  Chớ nghĩ như vậy, chớ tưởng như vậy.  Đức thánh đây đã được kim cang diện tam muội quang minh, phát đại tinh tấn độ các chúng sanh tâm không thối chuyển, muốn cạn tất cả biển tham ái, muốn triệt tất cả lưới tà kiến, muốn thiêu tất cả củi phiền não, muốn soi tất cả rừng mê lầm, muốn dứt tất cả điều lo sợ về vấn đề già chết, muốn hoại tất cả chướng tam thế, muốn phóng tất cả pháp quang minh.
Này thiện nam tử!  Phạm thiên chúng tôi phần nhiều chấp tà kiến, đều tự cho mình là bậc tự tại, là đấng làm ra tất cả, là tối thắng trong thế gian.  Khi thấy bà la môn này dùng năm thứ lửa đốt thân, lòng chúg tôi không còn mến luyến cung điện của mình, chẳng còn tham đắm các thiền định, cùng nhau đến chỗ bà la môn này.
Bấy giờ bà la môn này dùng sức thần thông hiển thị sự khổ hạnh lớn vì chúng tôi mà thuyết pháp, có thể làm cho chúng tôi diệt tất cả sự chấp, trừ tất cả kiêu mạn, an tụ đại từ, thực hành đại bi, phát khởi tâm quảng đại, phát bồ đề tâm, thường thấy chư Phật, hằng nghe diệu pháp, ở tất cả chỗ tâm không chướng ngại.
Lại có mười ngàn chư ma ở trên hư không đem thiên ma ni bửu rải trên mình bà la môn mà bảo Thiện Tài đồng tử rằng:
Này thiện nam tử!  Lúc bà la môn này dùng năm thứ lửa đốt thân, ánh sáng của lửa chiếu khuất chúng tôi, cung điện và những đồ trang nghiêm của chúng tôi đều như đống mực đen, làm cho chúng tôi không còn mến luyến.
Chúng tôi cùng quyến thuộc đến chỗ bà la môn.  Đức thánh này nói pháp cho chúng tôi, làm cho chúng tôi và vô lượng thiên tử cùng vô lượng thiên nữ đều chẳng thối chuyển nói vô thượng bồ đề.
Lại có mười ngàn Tự Tại Thiên Vương ở trên hư không rải thiên hoa, nói rằng:
Này thiện nam tử!  Lúc bà la môn này dùng năm thứ lửa đốt thân, ánh sáng của lửa này chiếu khuất chúng tôi, bao nhiêu cung điện và đồ trang nghiêm đều tối như đống mực, làm cho chúng tôi không còn mến luyến, bèn cùng quyến thuộc đến chỗ bà la môn.  Đức thánh này vì chúng tôi mà thuyết pháp, làm cho chúng tôi được tự tại nơi tâm, được tự tại trong phiền não, được tự tại trong thọ sanh, được tự tại nơi nghiệp chướng, được tự tại nơi các tam muội, được tự tại nơi những đồ trang nghiêm, được tự tại nơi thọ mạng, nhẫn đến được tự tại nơi tất cả Phật pháp.
Lại có mười ngàn Hóa Lạc Thiên Vương ở trong hư không trổi thiên nhạc cung kính cúng dường, nói rằng:
Này thiện nam tử!  Lúc bà la môn này dùng năm thứ lửa đốt thân, ánh sáng của lửa này chiếu đến cung điện, đồ trang nghiêm và thể nữ của chúng tôi.  Làm cho chúng tôi chẳng thọ dục lạc, chẳng cầu dục lạc, thân tâm nhu nhuyến.  Chúng tôi liền cùng quyến thuộc đến chỗ của bà la môn này.  Đức thánh này vì chúng tôi mà thuyết pháp, làm cho thân tâm chúng tôi thanh tịnh, tâm được sáng sạch, tâm được thuần tiện, tâm nhu nhuyến, tâm hoan hỷ, nhẫn đến làm cho chúng tôi được thân thanh tịnh, thập lực thanh tịnh, sanh vô lượng thân cho đến được Phật thân, Phật ngữ, Phật thanh, Phật tâm thành tựu đầy đủ nhứt thiết chủng trí.
Lại có mười ngàn Đâu Suất Thiên Vương, thiên tử, thiên nữ và quyến thuộc ở trên hư không rưới những diệu hương cung kính đảnh lễ, nói rằng:
Này thiện nam tử!  Lúc bà la môn này dùng năm thứ lửa đốt thân làm cho chư thiên chúng tôi và quyến thuộc không còn mến luyến cung điện của mình, đồng đến chỗ này nghe đức thánh đây thuyết pháp.  Có thể làm cho chúng tôi chẳng tham cảnh giới thiểu dục tri túc tâm sanh hoan hỷ, tâm được sung mãn phát sanh thiện căn, phát bồ đề tâm nhẫn đến viên mãn tất cả Phật pháp.
Lại có mười ngàn Đao Lợi chư thiên và quyến thuộc thiên tử, thiên nữ ở trên hư không rải hoa thiên mạn đà la cung kính cúng dường, nói rằng:
Này thiện nam tử!  Lúc bà la môn này dùng năm thứ lửa đốt thân, làm cho chư thiên chúng tôi chẳng mến luyến thiên âm nhạc, đồng đến chỗ này.  Đức thánh đây vì chúng tôi mà nói những pháp vô thường hư tan, làm cho chúng tôi bở rời những dục lạc, dứt trừ kiêu mạng phóng dật, thích vô thượng bồ đề.
Lại này thiện nam tử!  Lúc chúng tôi thấy đức thánh đây, thời đảnh núi tu di chấn động sáu cách, chúng tôi kinh sợ, đồng phát tâm bồ đề kiên cố chẳng động lay.
Lại có mười ngàn long vương, như là Y Na Bạt La long vương, Nan Đà long vương, Ưu Ba Nan Đà long vương, v.v... ở trên hư không mưa hắc chiên đàn vô lượng, long nữ tấu thiên âm nhạc, rải thiên diệu hoa và thiên hương thủy cung kính cúng dường.  Nói rằng:
Này thiện nam tử!  Lúc bà la môn này dùng năm thứ lửa đốt thân, ánh sáng của lửa này chiếu khắp tất cả long cung, làm cho long chúng khỏi sợ cát nóng, khỏi sợ kim sí điểu, trừ sân hận, thân mát mẻ, tâm không nhơ, nghe pháp liền tin hiểu, nhàm ghét loài rồng, chí thành sám hối nghiệp chướng, nhẫn đến phát tâm vô thượng bồ đề, an trụ nơi nhứt thiết trí.
Lại có mười ngàn dạ xoa vương ở trên hư không cung kính cúng dường bà la môn này và Thiện Tài đồng tử mà nói rằng:
Này thiện nam tử!  Lúc bà la môn này dùng năm thứ lửa đốt thân, chúng tôi cùng quyến thuộc đều phát tâm từ mẫn đối với chúng sanh.  Tất cả la sát, cưu bàn trà, v.v.. cũng sanh lòng từ mẫn.  Vì có tâm từ mẫn nên không não hại chúng sanh, đồng đến chỗ chúng tôi.  Chúng tôi và đại chúng ấy không luyến mến cung điện của mình, đồng nhau đến chỗ này.  Đức thánh đây liền theo sở nghi mà thuyết pháp làm cho chúng tôi thâm tâm đều được an lạc.  Lại làm cho vô lượng dạ xoa, la sát, cưu bàn trà, v.v... phát tâm vô thượng bồ đề.
Lại có mười ngàn càn thát bà vương ở trên hư không mà nói rằng:
Này thiện nam tử!  Lúc bà la môn đây dùng năm thứ lửa đốt thân, ánh sáng của lửa này chiếu cung điện của chúng tôi, làm cho chúng tôi thọ bất tư nghì vô lượng khoái lạc.  Vì thế chúng tôi đến chỗ này.  Đức thánh đây vì chúng tôi mà thuyết pháp làm cho chúng tôi được chẳng thối chuyển vô thượng chánh đẳng chánh giác.
Lại có mười ngàn a tu la vương ra khỏi đại hải ở giữa hư không duỗi đầu gối hữu chắp tay làm lễ mà nói rằng:
Này thiện nam tử!  Lúc bà la môn này dùng năm thứ lửa đốt thân thời cung điện của chúng tôi và đại hải, đại địa đều chấn động, làm cho chúng tôi bỏ kiêu mạn phóng dật.  Do đó chúng tôi đến chỗ này nghe pháp, rời bỏ siểm cuống, an trụ nhẫn địa kiên cố bất động, viên mãn thập lực.
Lại có mười ngàn ca lâu la vương, Dũng Lực Trì vương làm thượng thủ.  Đồng hóa làm thân ngoại đạo đồng tử ở trên không xướng rằng:
Này thiện nam tử!  Lúc bà la môn này dùng năm thứ lửa đốt thân, ánh sáng của lửa chiếu cung điện chúng tôi, tất cả đều chấn động, thảy đều kinh sợ.  Do đó chúng tôi đồng đến chỗ này.  Đức thánh đây tuỳ nghi mà thuyết pháp cho chúng tôi, khiến chúng tôi tu tập đại từ, khen ngợi đại bi, qua khỏi biển sanh tử, ở trong sình lầy ái dục mà cứu vớt chúng sanh, khen bồ đề tâm, khởi trí phương tiện, tùy sở nghi điều phục chúng sanh.
Lại có mười ngàn khẩn na la vương ở trong hư không xướng rằng:
Này thiện nam tử!  Lúc bà la môn này dùng năm thứ lửa đốt thân, thời cung điện của chúng tôi ở, cùng những cây đa la, cây âm nhạc, cây diệu bửu, những lưới bửu linh, những giây lụa báu và những nhạc khí tự nhiên vang ra tiếng Phật, tiếng pháp và tiếng bất thối chuyển Bồ Tát tăng, tiếng nguyện cầu vô thượng bồ đề, nói rằng: phương đó, nước đó có Bồ Tát đó phát bồ đề tâm.  Phương đó, nước đó có Bồ Tát tu hành khổ hạnh, khó xả mà xả được, nhẫn đến thanh tịnh hạnh nhứt thiết trí.  Phương đó, nước đó có Bồ Tát đó qua đạo tràng.  Nhẫn đến phương đó nước đó có đức Như Lai đó làm Phật sự xong liền nhập niết bàn.
Này thiện nam tử!  Giả sử có người đem tất cả cỏ cây ở Diêm Phù Đề nghiền nát thành vi trần, có thể đếm biết được số vi trần này.  Còn trong cung điện của chúng tôi, những cây đa la nhẫn đến nhạc khí nói Bồ Tát danh, Như Lai danh phát đại nguyện chỗ tu hành, v.v... không ai biết được ngằn mé.
Này thiện nam tử!  Vì chúng tôi được nghe tiếng Phật, tiếng pháp, tiếng Bồ Tát tăng nên rất hoan hỷ, cùng nhau đến chỗ này.  Đức thánh này liền vì chúng tôi mà thuyết pháp.  Làm cho chúng tôi và vô lượng chúng sanh được bất thối chuyển nơi vô thượng chánh đẳng chánh giác.
Lại có vô lượng chư thiên dục giới ở trên hư không dùng đồ cúng vi diệu cung kính cúng dường, xướng rằng:
Này thiện nam tử!  Lúc bà la môn này dùng năm thứ lửa đốt thân, ánh sáng của lửa này chiếu sáng tất cả địa ngục a tỳ.  Những kẻ chịu khổ đều làm cho thôi dứt.  Chúng tôi thấy ánh sáng lửa này liền sanh lòng tịnh tín.  Do lòng tin nên thân địa ngục chết được sanh lên cõi trời.  Nhớ ơn, nên chúng tôi đến đây cung kính chiêm ngưỡng đức thánh này lòng không nhàm đủ.  Đức thánh đây vì chúng tôi mà thuyết pháp, làm cho vô lượng chúng sanh phát bồ đề tâm.
Lúc đó Thiện Tài đồng tử nghe pháp như vậy lòng rất hoan hỷ, xem bà la môn Thắng Nhiệt là bậc chơn thiện tri thức, cúi đầu kính lễ, xướng rằng:
Tôi sanh lòng bất thiện đối với đức thánh thiện tri thức, ngưỡng mong đức thánh cho tôi sám hối.
Thắng Nhiệt bà la môn vì Thiện Tài mà nói kệ rằng:
Nếu có chư Bồ Tát
Thuận theo thiện tri thức
Tất cả không nghi sợ
An trụ tâm chẳng động
Nên biết người như vậy
Tất được lợi quảng đại
Ngồi dưới cây bồ đề
Thành bậc vô thượng giác.
Bấy giờ Thiện Tài đồng tử liền leo lên núi đao tự nhảy vào đống lửa.  Khi rơi xuống giữa chừng, Thiện Tài liền chứng được Bồ Tát thiện trụ tam muội.  Vừa chạm ngọn lửa, Thiện Tài lại chứng được Bồ Tát tịch tịnh lạc thần thông tam muội.
Thiện Tài thưa:
Bạch đức thánh!  Núi đao và đống lửa này, thân tôi vừa chạm đến thời được an ổn khoái lạc.
Thắng Nhiệt bà la môn nói:
Này thiện nam tử!  Ta chỉ được môn Bồ Tát vô tận luân giải thoát.  Còn như ngọn lửa đại công đức của chư đại Bồ Tát có thể đốt cháy kiến hoặc của tất cả chúng sanh không để thừa, tất được bất thối chuyển, tâm vô cùng tận, tâm không giải đãi, tâm không khiếp nhược, phát tâm kiên cố như kim cang tạng, tâm chóng tu các công hạnh không trì hưỡn, nguyện như phong luân trì khắp tất cả đại thệ tinh tán đều không thối chuyển, ta thế nào biết hết được, nói hết được công đức hạnh đó.
Này thiện nam tử!  Phương Nam đây có một thành tên là Sư Tử Phấn Tấn, trong thành ấy có một đồng nữ tên là Từ Hạnh.  Ngươi đến đó hỏi Bồ Tát thế nào học Bồ Tát hạnh, tu Bồ Tát đạo?
Lúc đó Thiện Tài đồng tử đảnh lễ chân Thắng Nhiệt bà la môn, hữu nhiễu vô lượng vòng từ tạ mà đi.



Tôi nhìn em, đôi mắt ở đậu,
Giữa cõi mê, tôi ở thật lâu,
Em cũng hiểu, cho nên cười nụ,
Chút mưu toan, khơi một bể sầu.
canary
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2010-02-09 23:33:13canary>
Kinh Hoa Nghiêm
Tập 7

Phẩm thập pháp giới
Thứ ba mươi chín (phần trên tiếp theo)


Thiện Tài đối với thiện tri thức sanh lòng rất tôn trọng.  Sanh trí hiểu quảng đại thanh tịnh.  Thường nhớ đại thừa chuyên cầu Phật trí.  Nguyện thấy chư Phật, quán pháp cảnh giới.  Trí vô ngại thường hiện tiền.  Quyết định biết rõ thiệt tế của các pháp, thường trụ tế, tất cả tam thế những sát na tế, như hư không tế, vô nhị tế, tất cả pháp vô phân biệt tế, tất cả nghĩa vô chướng ngại tế, tất cả kiếp vô thất hoại tế, tất cả Như Lai vô tế chi tế.  Với tất cả Phật tâm vô phân biệt.  Phá những lưới tưởng.  Lìa những chấp trước.  Chẳng lấy chúng hội đạo tràng của chư Phật, cũng chẳng lấy cõi nước thanh tịnh của chư Phật.  Biết các chúng sanh đều không có ngã.  Biết tất cả tiếng thảy đều như vang.  Biết tất cả sắc thảy đều như bóng.
Thiện Tài đi lần về phương Nam đến thành Sư Tử Phấn Tấn tìm Từ Hạnh đồng nữ.  Nghe nói đồng nữ là con gái của vua Sư Tử Tràng, năm trăm đồng nữ hầu hạ, ở điện Tỳ Lô Giá Na Tạng, ngồi trên tòa Long Thắng Chiên Đàn Tú Kim Tiền Võng Thiên Y mà thuyết diệu pháp.
Thiện Tài đến cửa vương cung, thấy vô lượng đại chúng đi vào cung, bèn hỏi:
Các ngài hôm nay vào vương cung có việc gì thế?
Đại chúng đáp:
Chúng tôi muốn đến nghe Từ Hạnh đồng nữ thuyết diệu pháp.
Nghe xong, Thiện Tài cũng đi vào vương cung, thấy điện Tỳ Lô Giá Na Tạng, đất bằng pha lê, cột bằng lưu ly, vách bằng kim cang, tường rào bằng vàng diêm phù đàn, trăm ngàn ánh sáng làm cửa nẻo, trang nghiêm với vô số báu ma ni.  Gương bửu tạng ma ni trang nghiêm giáp vòng.  Dùng ma ni bửu tối thượng ở thế gian để trang sức.  Vô số lưới báu giăng che phía trên.  Trăm ngàn linh vàng vang tiếng vi diệu.
Từ Hạnh đồng nữ da màu huỳnh kim, mắt tím biếc, tóc xanh biếc, dùng phạm âm thanh để thuyết pháp.
Thiện Tài đồng tử thấy xong, đảnh lễ chân Từ Hạnh đồng nữ hữu nhiễu vô số vòng, chắp tay cung kính thưa rằng:
Bạch đức thánh!  Tôi đã phát tâm vô thượng bồ đề mà chưa biết Bồ Tát thế nào học Bồ Tát hạnh, tu Bồ Tát đạo?  Tôi nghe đức thánh khéo dạy bảo, xin vì tôi mà giảng giải.
Đồng nữ bảo Thiện Tài rằng:
Này thiện nam tử!  Ngươi nên quán sát cung điện trang nghiêm của ta đây.
Thiện Tài vâng lời đảnh lễ, quán sát khắp cung điện.  Thấy trong mỗi vách, mỗi cột, mỗi gương, mỗi tướng, mỗi hình, mỗi ma ni bửu, mỗi đồ trang nghiêm, mỗi linh, mỗi cây báu, mỗi hình tượng báu, mỗi bửu anh lạc đều hiện pháp giới tất cả Như Lai từ sơ phát tâm tu hạnh Bồ Tát thành mãn đại nguyện, đầy đủ công đức, thành đẳng chánh giác, chuyển diệu pháp luân, nhẫn đến thị hiện nhập niết bàn.  Tất cả ảnh tượng như vậy đều hiện rõ cả.  Như trong nước thanh tịnh đứng lặng, thấy khắp hư không nhựt nguyệt tinh tú.  Đây là do sức thiện căn trong đời quá khứ của Từ Hạnh đồng nữ.
Thiện Tài ghi nhớ những tướng chư Phật đã được thấy, đứng chắp tay chiêm ngưỡng đồng nữ.
Đồng nữ bảo Thiện Tài rằng:
Này thiện nam tử!  Đây là môn bát nhã ba la mật phổ trang nghiêm.  Ta ở chỗ ba mươi sáu hằng hà sa chư Phật cầu được pháp này.  Chư Phật Như Lai đều dùng môn khác nhau làm cho ta nhập môn bát nhã ba la mật phổ trang nghiêm này.  Pháp của một đức Phật diễn nói, chư Phật khác chẳng nói lập lại.
Thiện Tài thưa:
Bạch đức thánh!  Cảnh giới của môn bát nhã ba la mật phổ trang nghiêm này như thế nào?
Từ Hạnh nói:
Này thiện nam tử!  Ta nhập môn bát nhã ba la mật phổ trang nghiêm này, tuỳ thuận xu hướng tư duy quán sát ghi nhớ phân biệt liền được phổ môn đà la ni, trăm vạn vô số môn đà la ni đều hiện tiền.  Như là: môn Phật sát đà la ni, môn Phật đà la ni, môn pháp đà la ni, môn chúng sanh đà la ni, môn quá khứ đà la ni, môn vị lai đà la ni, môn hiện tại đà la ni, môn thường trụ tế đà la ni, môn phước đức đà la ni, môn phước đức trợ đạo cụ đà la ni, môn trí huệ đà la ni, môn trí huệ trợ đạo cụ đà la ni, môn chư nguyện đà la ni, môn phân biệt chư nguyện đà la ni, môn tập chư hạnh đà la ni, môn thanh tịnh hạnh đà la ni, môn viên mãn hạnh đà la ni, môn nghiệp đà la ni, môn nghiệp bất thất hoại đà la ni, môn nghiệp lưu chú đà la ni, môn nghiệp sở tác đà la ni, môn xả ly ác nghiệp đà la ni, môn tu tập chánh nghiệp đà la ni, môn tùy thuận tam muội đà la ni, môn quán sát tam muội đà la ni, môn tam muội cảnh giới đà la ni, môn tùng tam muội khởi đà la ni, môn thần thông đà la ni, môn tâm hải đà la ni, môn chủng chủng tâm đà la ni, môn trực tâm đà la ni, môn chiếu tâm trù lâm đà la ni, môn điều tâm thanh tịnh đà la ni, môn đà la ni biết chúng sanh từ đâu sanh, môn đà la ni biết chúng sanh phiền não hiện hành, môn đà la ni biết chúng sanh tập khí, môn đà la ni biết phiền não phương tiện, môn đà la ni biết chúng sanh giải, môn đà la ni biết chúng sanh hạnh, môn đà la ni biết chúng sanh hạnh chẳng đồng, môn đà la ni biết chúng sanh tánh, môn đà la ni biết chúng sanh dục, môn đà la ni biết chúng sanh tưởng, môn đà la ni thấy khắp mười phương, môn thuyết pháp đà la ni, môn đại bi đà la ni, môn đại từ đà la ni, môn tịch tịnh đà la ni, môn ngôn ngữ đạo đà la ni, môn phương tiện phi phương tiện đà la ni, môn tùy thuận đà la ni, môn sai biệt đà la ni, môn phổ nhập đà la ni, môn vô ngại tế đà la ni, môn phổ biến đà la ni, môn phổ nhập đà la ni, môn vô ngại tế đà la ni, môn phổ biến đà la ni, môn Phật pháp đà la ni, môn Bồ Tát pháp đà la ni, môn Thanh Văn pháp đà la ni, môn Độc Giác đà la ni, môn thế gian pháp đà la ni, môn thế giới thành đà la ni, môn thế giới hoại đà la ni, môn thế giới trụ đà la ni, môn tịnh giới đà la ni, môn cấu thế giới đà la ni, môn đà la  ni nơi cấu thế giới hiện tịnh, môn đà la ni nơi tịnh thế giới hiện tịnh, môn thuần cấu thế giới đà la ni, môn thần tịnh thế giới đà la ni, môn bất bình thản thế giới đà la ni, môn bình thản thế giới đà la ni, môn phúc thế giới đà la ni, môn nhơn đà la võng thế giới đà la ni, môn thế giới chuyển đà la ni, môn đà la ni biết nương nơi tưởng mà an trụ, môn đà la ni tế vào thô, môn đà la ni thô vào tế, môn thấy chư Phật đà la ni, môn phân biệt thân Phật đà la ni, môn Phật quang minh trang nghiêm võng đà la ni, môn Phật viên mãn âm đà la ni, môn Phật pháp luân đà la ni, môn thành tựu Phật pháp luân đà la ni, môn sai biệt Phật pháp luân đà la ni, môn vô sai biệt Phật pháp luân đà la ni, môn giải thích Phật luân đà la ni, môn chuyển Phật pháp luân đà la ni, môn năng tác Phật sự đà la ni, môn phân biệt Phật chúng hội đà la ni, môn nhập Phật chúng hội hải đà la ni, môn phổ chiếu Phật lực đà la ni, môn chư Phật tam muội đà la ni, môn chư Phật tam muội tự tại dụng đà la ni, môn chư Phật sở trụ đà la ni, môn chư Phật sở trì đà la ni, môn chư Phật biến hóa đà la ni, môn chư Phật tri chúng sanh tâm hành đà la ni, môn chư Phật thần thông biến hiện đà la ni, môn đà la ni ở Đâu Suất thiên cung nhẫn đến nhập niết bàn, môn đà la ni lợi ích vô lượng chúng sanh, môn đà la ni nhập pháp thậm thâm, môn đà la ni nhập pháp vi diệu, môn bồ đề tâm đà la ni, môn khởi bồ đề tâm đà la ni, mông trợ bồ đề tâm đà la ni, môn chư nguyện đà la ni, môn chư hạnh đà la ni, môn thần thông đà la ni, môn xuất ly đà la ni, môn tổng trì thanh tịnh đà la ni, môn trí luân thanh tịnh đà la ni, môn trí huệ thanh tịnh đà la ni, môn bồ đề vô lượng đà la ni, môn tự tâm thanh tịnh đà la ni.
Này thiện nam tử!  Ta chỉ biết môn bát nhã ba la mật phổ trang nghiêm.  Còn như chư đại Bồ Tát tâm lượng quảng đại khắp cõi hư không nhập vào pháp giới phước đức thành mãn, an trụ pháp xuất thế, xa hạnh thế gian, trí nhãn thanh tịnh xem khắp pháp giới.  Huệ tâm quảng đại như hư không.  Thảy đều thấy rõ tất cả cảnh giới.  Được bực vô ngại tạng đại quang minh.  Khéo hay phân biệt tất cả pháp nghĩa.  Làm công hạnh thế gian mà chẳng nhiễm thế pháp.  Hay lợi ích thế gian chẳng bị thế gian làm hoại.  Khắp làm y chỉ cho tất cả thế gian.  Biết khắp tâm hành của tất cả thế gian, tuỳ sở nghi mà vì họ thuyết pháp.  Trong tất cả thời gian hằng được tự tại.  Như thế thời ta làm sao biết được nói được hết công đức hạnh đó.
Này thiện nam tử!  Phương Nam đây có một nước tên là Tam Nhãn.  Xứ đó có tỳ kheo tên là Thiện Kiến.  Ngươi đến đó hỏi Bồ Tát thế nào học Bồ Tát hạnh, tu Bồ Tát đạo?
Thiện Tài đồng tử đảnh lễ chân của Từ Hạnh đồng nữ, hữu nhiễu vô số vòng, luyến mộ chiêm ngưỡng từ tạ mà đi.
Bấy giờ, Thiện Tài suy gẫm hạnh của Bồ Tát an trụ rất sâu, pháp của Bồ tát chứng rất sâu, chỗ của Bồ Tát nhập rất sâu, suy gẫm chúng sanh vi tế trí rất sâu, thế gian nương nơi tưởng mà trụ rất sâu, hạnh của chúng sanh làm rất sâu, tâm lưu chú của chúng sanh rất sâu, chúng sanh như quang ảnh rất sâu, chúng sanh danh hiệu rất sâu, chúng sanh ngôn thuyết rất sâu.  Suy gẫm trang nghiêm pháp giới rất sâu, gieo trồng nghiệp hạnh rất sâu, nghiệp trang sức thế gian rất sâu.
Thiện Tài đi lần qua phương Nam đến nước Tam Nhãn tìm tỳ kheo Thiện Kiến.  Thấy tỳ kheo ấy đi kinh hành trong rừng, tuổi trẻ dung mạo xinh đẹp, tóc xanh biếc xoáy về phía hữu không rối, đảnh đầu có nhục kế, dau màu huỳnh kim, cổ có ba ngấn, trán rộng bằng thẳng, mắt dài rộng như thanh liên hoa, môi miệng đỏ sạch như trài tần bà, ngực có chữ vạn, bảy chỗ bằng đầy, cánh táy thon dài, ngón có màng lưới, trong bàn tay bàn chân có kim cang luân, thân đẹp lạ như trời tịnh cư, trên dưới ngay thẳng như cây ni câu đà, những đại nhơn tướng và tuỳ hình hảo đều viên mãn cả, nghiêm sức như núi tuyết, mắt nhìn chẳng nháy, viên quang một tầm, trí huệ rộng rãi như đại hải, nơi các cảnh giới tâm không bị động, hoặc trầm hoặc cử, hoặc trí hoặc phi trí, tất cả động chuyển hí luân đều trừ hết.  Được cảnh giới bình đẳng của Phật.  Lòng đại bi giáo hóa chúng sanh không tạm bỏ.  Vì muốn lợi lạc tất cả chúng sanh.  Vì muốn khai thị pháp nhãn Như Lai.  Vì noi theo đường của Như Lai đi, chẳng chậm chẳng mau, đi kinh hành kỹ chắc.
Vô lượng thiên, long, bát bộ, cùng nhơn, phi nhơn vây quanh sau trước.
Chủ phương thần theo phương hồi chuyển dẫn đường ở trước.
Túc Hành thần cầm bửu liên hoa đỡ chân tỳ kheo.  Vô Tận Quang thần phóng quang phá tối.  Diêm Phù Tràng Lâm thần rải những hoa đẹp.  Bất Động Tạng Địa thần hiện những bửu tạng.  Phổ Quang Minh Hư Không thần trang nghiêm hư không.  Thành Tựu Đức Hải Thần mưa ma ni bửu vô cấu tạng.  Tu Di Sơn thần đầu đảnh lễ cúi mình hiệp chưởng.  Vô Ngại Lực Phong thần rải hoa đẹp thơm.  Xuân Hòa Chủ Dạ thần trang nghiêm nơi thân cả mình mọp xuống đất.  Thường Giác Chủ thần cầm tràng ma ni chiếu khắp các phương, ở giữa hư không phóng đại quang minh. 
Thiện Tài đồng tử đến chỗ Thiện Kiến tỳ kheo đảnh lễ chắp tay cúi mình thưa rằng:
Bạch đức thánh!  Tôi đã phát tâm vô thượng bồ đề, cầu Bồ Tát hạnh.  Tôi nghe đức thánh hay khéo khai thị những đạo Bồ Tát.  Xin vì tôi mà dạy thế nào học Bồ Tát hạnh, thế nào tu Bồ Tát đạo?
Thiện Kiến tỳ kheo nói:
Này thiện nam tử!  Ta tuổi còn trẻ, xuất gia lại chưa được lâu.
Trong đời này, ta tịnh tu phạm hạnh ở chỗ ba mươi sáu hằng hà sa đức Phật.  Hoặc có chỗ đức Phật, ta tu một ngày một đêm.  Hoặc có đức Phật, ta tu bảy ngày bảy đêm.  Hoặc có chỗ đức Phật, ta tu nửa tháng hoặc một tháng, một năm, trăm năm, muôn năm, ức năm, na do tha năm, nhẫn đến hoặc có chỗ đức Phật ta tu phạm hạnh bất khả thuyết bất khả thuyết năm.  Hoặc một tiểu kiếp, hoặc nửa đại kiếp, hoặc một đại kiếp, trăm đại kiếp nhẫn đến bất khả thuyết bất khả thuyết đại kiếp nghe diệu pháp và thọ hành giáo pháp của chư Phật, trang nghiêm thệ nguyện, nhập chỗ sở chứng, tịnh tu công hạnh, đầy đủ sáu môn ba la mật hải.
Cũng thấy chư Phật đó thành đạo thuyết pháp, mỗi mỗi sai biệt không tạp loạn, trụ trì di giáo đến diệt tận.  Cũng biết chư Phật đó trước kia phát nguyện, dùng nguyện lực tam muội nghiêm tịnh tất cả Phật độ.  Dùng sức tam muội nhập tất cả hạnh mà tịnh tu tất cả Bồ Tát hạnh.  Dùng sức Phổ Hiền thừa xuất ly mà thanh tịnh tất cả Phật ba la mật.
Lại này thiện nam tử!  Lúc ta kinh hành, trong một niệm, tất cả mười phương, đều hiện tiền, vì trí huệ thanh tịnh vậy.  Trong một niệm, tất cả thế giới đều hiện tiền vì đi qua bất khả thuyết bất khả thuyết thế giới vậy.  Trong một niệm, bất khả thuyết bất khả thuyết Phật độ thảy đều nghiêm tịnh, vì thành tựu sức đại nguyện vậy.  Trong một niệm, bất khả thuyết bất khả thuyết chúng sanh sai biệt hạnh thảy đều hiện tiền, vì đầy đủ mười trí lực vậy.  Trong một niệm, bất khả thuyết bất khả thuyết thân Phật thanh tịnh đều hiện tiền, vì thành tựu Phổ Hiền hạnh nguyện lực vậy.  Trong một niệm cung kính cúng dường bất khả thuyết bất khả thuyết phật sát  vi trần số Như Lai, vì thành tựu tâm nhu nhuyến nguyện lực cúng dường Như Lai vậy.  Trong một niệm lãnh thọ bất khả thuyết bất khả thuyết NHư Lai pháp, vì được chứng vô số pháp sai biệt trụ trì pháp luân đà la ni lực vậy.  Trong một niệm, bất khả thuyết bất khả thuyết Bồ Tát hạnh hải thảy đều hiện tiền, vì được nguyện lực hay tịnh tu tất cả hạnh như nhơn đà la võng.  Trong một niệm, bất khả thuyết bất khả thuyết những tam muội hải thảy đều hiện tiền, vì được nguyện lực nơi một môn tam muội nhập tất cả môn tam muội đều khiến thanh tịnh.  Trong một niệm, bất khả thuyết bất khả thuyết chư căn hải đều hiện tiền, vì được nguyện lực rõ biết chư căn tế, ở trong một căn thấy tất cả căn vậy.  Trong một niệm, bất khả thuyết bất khả thuyết phật sát vi trần số thời gian thảy đều hiện tiền, vì được nguyện lực trong tất cả thời gian chuyển pháp luân, chúng sanh giới tận nhưng pháp luân vô tận vậy.  Trong một niệm, bất khả thuyết bất khả thuyết tất cả tam thế hải thảy đều hiện tiền, vì được nguyện lực trí quang minh biết rõ tất cả phần vị tam thế, trong tất cả thế giới vậy.
Này thiện nam tử!  Ta chỉ biết môn giải thoát Bồ Tát tùy thuận đăng này.  Còn như chư đại Bồ Tát như kim cang đăng ở nhà Như Lai chơn chánh thọ sanh, thành tựu đầy đủ mạng căn bất tử, thường thắp  trí đăng không tắt mất.
Thân của các ngài kiên cố không bị chướng hoại, hiện thân sắc tướng như huyễn, như pháp duyên khởi vô lượng sai biệt, tùy tâm chúng sanh mỗi mỗi thị hiện hình mạo sắc tướng, trong đời không gì sánh bằng, tên độc, hỏa tai không hại được.  Như núi kim cang không ai phá hư được.  Hàng phục tất cả chúng ma ngoại đạo.  Thân các ngài đẹp tốt như núi chơn kim.  Ở trong nhơn thiên rất là thù đặc.  Tiếng tốt rộng lớn không ai chẳng nghe biết.  Xem các thế gian đều đối trước mắt.  Diễn pháp tạng sâu như biển vô tận.  Phóng đại quang minh chiếu khắp mười phương.
Nếu có ai thấy chư đại Bồ Tát này thời phá tất cả núi lớn chướng ngại, thời nhổ tất cả gốc bất thiện, thời khiến gieo trồng gốc lành quảng đại.
Những bậc như vậy rất khó thấy được rất khó xuất hiện thế gian.  Ta làm sao biết được, nói được công đức hạnh đó.
Này thiện nam tử!  Phương Nam đây có một nước tên là Danh Văn.  Trong bãi sông của xứ đó có một đồng tử tên là Tự Tại Chủ.  Ngươi đến đó hỏi:  Bồ Tát thế nào học Bồ Tát hạnh, tu Bồ Tát đạo?
Bấy giờ Thiện Tài đồng tử vì muốn rốt ráo hạnh Bồ Tát dũng mãnh thanh tịnh.  Muốn được Bồ Tát đại lực quang minh.  Muốn tu những hạnh công đức vô thắng vô tận của Bồ Tát.  Muốn viên mãn đại nguyện kiên cố của Bồ Tát.  Muốn thành thâm tâm quảng đại của Bồ Tát.  Muốn trì vô lượng thắng hạnh của Bồ Tát.  Với Bồ Tát phát tâm không nhàm đủ.  Nguyện nhập tất cả công đức của Bồ Tát.  Muốn thường nhiếp ngự tất cả chúng sanh.  Muốn vượt khỏi rừng rậm hoang vu sanh tử.  Với các thiện tri thức thường thích thấy nghe, thờ phụng cúng dường không nhàm đủ.  Thiện Tài đảnh lễ nơi chân Thiện Kiến tỳ kheo, hữu nhiễu vô lượng vòng, ân cần chiêm ngưỡng, từ tạ mà đi.
Thiện Tài đồng tử thọ giáo nơi Thiện Kiến tỳ kheo, nhớ nghĩ thọ trì suy gẫm tu tập biết rõ quyết định, được ngộ nhập pháp môn đó.
Chúng thiên, long, dạ xoa, càn thát bà vây quanh trước sau đi theo Thiện Tài đồng tử.
Đến nước Danh Văn, Thiện Tài tìm Tự Tại Chủ đồng tử.  Thấy đồng tử này ở trên bãi sông cùng mười ngàn đồng tử gom cát để chơi.
Thiện Tài đến đảnh lễ chân Tự Tại Chủ đồng tử, hữu nhiễu vô lượng vòng, cung kính chắp tay thưa rằng:
Bạch đức thánh!  Tôi đã phát tâm vô thượng bồ đề, mà chưa biết Bồ Tát thế nào học Bồ Tát hạnh, thế nào tu Bồ Tát đạo?  Xin đức thánh giảng nói cho.
Tự Tại Chủ đồng tử nói:
Này thiện nam tử!  Thuở xưa, ta ở chỗ Văn Thù Sư Lợi đồng tử học những pháp thơ số toán ấn v.v... liền được ngộ nhập nhất thiết công xảo thần thông trí pháp môn.
Ta nhơn pháp môn này nên được biết những pháp thơ số toán ấn giới xứ ở thế gian, cũng có thể chữa lành tất cả những bịnh phong điên ốm gầy quỷ mị dựa, v.v.. cũng có thể tạo lập thành ấp, tụ lạc, vườn rừng, đền đài, cung điện, nhà cửa, cũng khéo điều luyện những tiên dược, cũng khéo kinh doanh tất cả sự nghiệp ruộng nương buôn bán, lấy bỏ tiến thối đều đúng sở nghì.  Ta lại khéo phân biệt biết thân tướng chúng sanh, làm lành dữ, sẽ sanh cõi lành, sẽ sanh cõi ác.  Người này đáng được đạo thanh văn thừa, người này đáng được đạo duyên giác thừa, người này đáng nhập nhứt thiết trí địa.  Những sự như vậy thảy đều biết được và cũng làm cho chúng sanh học tập những pháp này tăng trưởng quyết định rốt ráo thanh tịnh.
Này thiện nam tử!  Ta cũng biết Bồ Tát toán pháp.  Như là một trăm lạc xoa làm một câu chi.  Câu chi lần câu chi làm một a giu đa.  A giu đa lần a giu đa làm na do tha.  Na do tha lần na do thần làm một tần bà la.  Tần bà la lần tần bà la làm một căng yết la.  Nói rộng đến ưu bát la lần ưu bát la làm một ba đầu ma.  Ba đầu ma lầ ba đầu ma làm một tăng kỳ.  Tăng kỳ lần tăng kỳ làm một thú.  Thú lần thú làm một dụ.  Dụ lần dụ làm một vô số.  Vô số lần vô số làm một vô số chuyển.  Vô số chuyển lần vô số chuyển làm một vô lượng.  Vô lượng lần vô lượng làm một vô lượng chuyển.  Vô lượng chuyển lần vô lượng chuyển làm một vô biên.  Vô biên lần vô biên làm một vô biên chuyển.  Vô biên chuyển lần vô biên chuyển làm một vô đẳng.  Vô đẳng lần vô đẳng làm một vô đẳng chuyển.  Vô đẳng chuyển lần vô đẳng chuyển làm một bất khả sổ.  Bất khả sổ lần bất khả sổ làm một bất khả sổ chuyển.  Bất khả sổ chuyển lần bất khả sổ chuyển làm một bất khả xưng.  Bất khả xưng lần bất khả xưng làm một bất khả xưng chuyển.  Bất khả xưng chuyển lần bất khả xưng chuyển làm một bất khả tư.  Bất khả tư lần bất khả tư làm một bất khả tư chuyển.  Bất khả tư chuyển lần bất khả tư chuyển làm một bất khả lượng.   Bất khả lượng lần bất khả lượng làm một bất khả lượng chuyển.  Bất khả lượng chuyển lần bất khả lượng chuyển làm một bất khả thuyết.  Bất khả thuyết lần bất khả thuyết làm một bất khả thuyết chuyển.  Bất khả thuyết chuyển lần bất khả thuyết chuyển làm một bất khả thuyết bất khả thuyết.  Bất khả thuyết bất khả thuyết lần bất khả thuyết bất khả thuyết làm một bất khả thuyết bất khả thuyết chuyển.
Này thiện nam tử!  Ta dùng Bồ Tát toán pháp này để toán đống cát rộng lớn vô lượng do tuần, đều biết trong đó có bao nhiêu hột cát.  Cũng có thể toán biết phương Đông có tất cả bao nhiêu thế giới sai khai thứ đệ an trụ.  Chín phương cũng như vậy.
Ta cũng có thể toán biết mười phương có tất cả bao nhiêu thế giới rộng hẹp lớn nhỏ và danh hiệu, trong đó bao nhiêu tên của tất cả kiếp, tên của tất cả Phật, tên của tất cả chúng sanh, tên của tất cả nghiệp, tên của tất cả Bồ Tát, tên của tất cả đế lý, ta đều biết rõ.
Này thiện nam tử!  Ta chỉ biết một pháp môn nhứt thiết công xảo đại thần thông trí quang minh này.
Như chư đại Bồ Tát có thể biết tất cả số chúng sanh, biết tất ca số phẩm loại của các pháp, biết số sai biệt của tất cả pháp, biết số tất cả tam thế, biết danh số tất cả chúng sanh, biết danh số tất cả pháp, biết  số tất cả Như Lai, biết danh số tất cả chư Phật, biết số tất cả Bồ Tát, biết danh số tất cả Bồ Tát.
Như vậy ta làm sao biết được nói được công đức đó, làm sao hiển thị được công hạnh và cảnh giới đó, làm sao khen được thắng lực đó, biện được lạc dục đó, tuyên được trợ đạo đó, bày được đại nguyện đó, khen được diệu hạnh đó, xiển dương được các ba la mật đó, diễn nói được thanh tịnh đó, nhẫn đến làm sao phát được trí huệ quang minh thù thắng đó.
Này thiện nam tử!  Phương Nam đây có một thành lớn tên là Hải Trụ.  Trong thành ấy có một ưu bà di tên là Cụ Túc.  Ngươi đến đó hỏi Bồ Tát thế nào học Bồ Tát hạnh, tu Bồ Tát đạo?
Thiện Tài đồng tử nghe lời trên đây, cả mình rởn ốc hoan hỷ vô lượng được tâm tin mến hi hữu, thành tựu tâm rộng lớn lợi ích chúng sanh, đều có thể thấy rõ tất cả chư Phật thứ đệ xuất thế, đều có thể thông đạt pháp luân trí huệ thậm thâm thanh tịnh.  Nơi tất cả các loài đều tùy loại hiện thân.  Rõ biết cảnh giới tam thế bình đẳng.  Xuất sanh vô tận công đức hải.  Phóng đại trí huệ tự tại quang minh.  Mở khóa cửa thành ba cõi.
Thiện Tài đảnh lễ chân Tự Tại Chủ đồng tử, hữu nhiễu vô lượng vòng, ân cần chiêm ngưỡng từ tạ mà đi.
Bấy giờ Thiện Tài quán sát tư duy lời dạy của thiện tri thức, dường như biển lớn nhận nước mưa to không nhàm đủ.  Tự nghĩ rằng lời dạy của thiện tri thức như xuân nhựt, sanh trưởng tất cả gốc mầm pháp lành.  Lời dạy của thiện tri thức như mãn nguyệt, phàm chỗ chiếu đến đều làm cho mát mẻ.  Lời dạy của thiện tri thức như núi tuyết mùa hạ, hay làm cho muông thú khỏi nóng khát.  Lời dạy của thiện tri thức như mặt nhựt chiếu ao nước thơm, làm nở tất cả những hoa sen thiện tâm.  Lời dạy của thiện tri thức như châu đại bửu, những pháp bửu sung mãn nơi tâm.  Lời dạy của thiện tri thức như cây diêm phù, chứa nhóm tất cả hoa quả phước trí.  Lời dạy của thiện tri thức như đại long vương, du hí tự tại trên hư không.  Lời dạy của thiện tri thức như núi tu di, đao lợi thiên vô lượng thiện pháp ở trong đó.  Lời dạy của thiện tri thức dường như đế thích chúng hội vây quanh, không ai chói che được, hay phục ngoại đạo và chúng ma quân.
Thiện Tài đi lần đến thành Hải Trụ tìm đến nhà ưu bà di Cụ Túc.  Nhà này rất rộng, nhiều thứ trang nghiêm, tường rào bao bọc toàn bằng những chất báu.  Bốn phía đều có cửa bửu trang nghiêm.
Thiện Tài vào nhà, thấy Cụ Túc ưu bà di ngồi trên tòa báu, tuổi lớn xinh đẹp đoan trang đáng kính, mặc y phục trắng, rũ tóc, không đeo chuỗi ngọc.  Thân tướng của ưu bà di này oai đức quang minh, trừ Phật và đại Bồ Tát, không ai bằng được.
Trong nhà để mười ức tòa ngồi, hơn cả nhơn thiên.   Đây đều là do nghiệp lực Bồ Tát hiện thành.  Trong nhà không có y phục, đồ uống ăn và không có tất cả đồ tư sanh khác.  Chỉ trước mặt ưu bà di này để một cái bát nhỏ.
Lại có một vạn đồng nữ xinh đẹp như thiên nữ vây quanh, những diệu bửu trang sức nơi thân, lời nói diệu dàng người nghe đều vui đẹp.  Các đồng nữ này thường thân cận hai bên ưu bà di tư duy quán sát, cúi đầu khom mình ứng chực sai khiến.  Các đồng nữ này, nơi thân phát ra mùi thơm lan khắp nơi.  Nếu có chúng sanh nào gặp được mùi thơm này thời đều được bất thối chuyển không lòng giận hại, không lòng oán thù, không lòng tham ganh, không lòng dua dối, không lòng hiểm độc, không lòng yêu ghét, không lòng giận hơn, không lòng hạ liệt, không lòng cao mạn, sanh lòng bình đẳng, khởi tâm đại từ, phát tâm lợi ích, trụ tâm luật nghi, rời tâm tham cầu.  Người thấy thân các đồng nữ này thời đều lìa tham nhiễm.  Người nghe tiếng các đồng nữ này thời đều vui mừng hớn hở.
Thiện Tài đảnh lễ ưu bà di, cung kính hữu nhiễu, chắp tay bạch rằng:
Bạch đức thánh!  Tôi đã phát tâm vô thượng bồ đề mà chưa biết Bồ Tát thế nào học Bồ Tát hạnh, thế nào tu Bồ Tát đạo?  Tôi nghe đức thánh khéo dạy bảo, xin giảng nói cho.
Cụ Túc ưu bà di nói:
Này thiện nam tử!  Ta được môn giải thoát Bồ Tát vô tận công đức tạng.
Có thể ở trong một cái bát nhỏ này, tuỳ theo sở thích của tất cả chúng sanh, mà xuất hiện các thứ đồ uống ăn ngon lành, làm cho họ đều được no đủ cả.
Giả sử có trăm chúng sanh, ngàn chúng sanh nhẫn đến bất khả thuyết bất khả thuyết chúng sanh, giả sử có diêm phù đề vi trần số chúng sanh tứ thiên hạ vi trần số chúng sanh, tiểu thiên thế giới, trung thiên thế giới, đại thiên thế giới, nhẫn đến bất khả thuyết bất khả thuyết phật sát vi trần số chúng sanh, giả sử tất cả chúng sanh cùng khắp mười phương thế giới, cũng đều tùy sở thích làm cho họ được no đủ cả.  Mà trong bát nhỏ này, đồ dùng không cùng tận, không giảm ít.
Như đồ uống ăn đây, các thứ thượng vị, các thứ giường hoa, các thứ y phục, các thứ chiếu nệm, các thứ xe cộ, các thứ hoa, các thứ tràng hoa, các thứ hương, các thứ hương thoa, các thứ hương đốt, các thứ hương bột, các thứ trân bửu, các thứ anh lạc, các thứ tràng, các thứ phan, các thứ lọng, các thứ đồ tư sanh thượng diệu, tùy ý tất cả chúng sanh thích đều làm cho được đầy đủ cả.
Lại này thiện nam tử!  Giả sử phương Đông trong một thế giới, hàng thanh văn, độc giác ăn đồ ăn của ta rồi thời đều chứng quả thanh văn, quả bích chi Phật trụ tối hậu thân.  Như một thế giới, trăm thế giới, ức thế giới nhẫn đến bất khả thuyết bát khả thuyết phật sát vi trần số thế giới, trong đó tất cả hàng thanh văn và độc giác ăn thực phẩm của ta rồi, thời đều chứng quả thanh văn và bích chi Phật, trụ tối hậu thân.
Như phương Đông, chín phương kia cũng đều như vậy.
Lại này thiện nam tử!  Phương Đông một thế giới nhẫn đến bất khả thuyết bất khả thuyết phật sát cực vi trần số thế giới, trong đó tất cả bực nhất sanh bổ xứ Bồ Tát ăn thực phẩm của ta rồi, thời đều ngồi cội bồ đề hàng phục ma quân thành đẳng chánh giác.
Như phương Đông, chín phương kia cũng đều như vậy.
Này thiện nam tử!  Ngươi thấy mười ngàn đồng nữ đây chăng?  Đây là những bậc thượng thủ, tất cả quyến thuộc có đến trăm vạn a tăng kỳ đồng nữ, đều cùng ta đồng hạnh, đồng nguyện, đồng thiện căn, đồng một đạo xuất ly, đồng thanh tịnh giải, đồng thanh tịnh niệm, đồng thanh tịnh thú, đồng vô lượng giác, đồng được thiện căn, đồng tâm quảng đại, đồng cảnh sở hành, đồng lý, đồng nghĩa, đồng minh liễu pháp, đồng tịnh sắc tướng, đồng vô lượng lực, đồng tối tinh tấn, đồng chánh pháp âm, đồng tuỳ loại âm, đồng thanh tịnh đệ nhất tâm, đồng tán dương vô lượng công đức thanh tịnh, đồng nghiệp thanh tịnh, đồng báo thanh tịnh, đồng đại từ cứu hộ khắp tất cả, đồng đại bi khắp thành thục chúng sanh, đồng thân nghiệp thanh tịnh tùy duyên tập khởi làm cho người thấy vui mừng, đồng khẩu nghiệp thanh tịnh tuỳ theo ngữ ngôn thế gian mà tuyên bố pháp hóa, đồng qua đạo tràng chúng hội của tất cả chư Phật, đồng đến tất cả Phật độ cúng dường chư Phật, đồng có thể hiện thấy tất cả pháp môn, đồng trụ Bồ Tát thanh tịnh hạnh địa.
Này thiện nam tử!  Mười ngàn đồng nữ này có thể ở nơi cái bát nhỏ đây lấy thượng vị ẩm thực trong khoảng một sát na, đến khắp mười phương cúng dường tất cả tối hậu thân Bồ Tát, thanh văn, độc giác.  Nhẫn đến bố thí các loài ngạ quỷ đều khiến no đủ.
Mười ngàn đồng nữ này đem cái bát của ta đây có thể ở trong cõi trời đầy đủ thực phẩm cõi trời, nhẫn đến ở nhơn gian đầy đủ thực phẩm loài người.
Này thiện nam tử!  Chờ giây lát ngươi sẽ tự thấy:
Cụ Tú ưu bà di nói xong, có vô lượng chúng sanh từ bốn cửa vào nhà.  Đại chúng này đều do bổn nguyện của ưu bà di mời đến.  Khi đại chúng đã đến xong, ưu bà di trải tòa cho ngồi, tuỳ theo chỗ cần dùng của họ mà cấp thí đồ uống ăn đều khiến no đủ cả.
Cụ Túc ưu bà di bảo Thiện Tài:
Này thiện nam tử!  Ta chỉ biết môn giải thoát vô tận phước đức tạng này.
Như chư đại Bồ Tát, tất cả công đức dường như đại hải rất sâu vô tận, dường như hư không rộng lớn vô tế, dường như châu như ý thỏa mãn nguyện vọng của chúng sanh, như tụ lạc lớn cầu chi cũng được, như núi tu di nhóm đủ các báu, như áo tạng thường đựng pháp tài, như đèn sáng phá những tối tăm, như lọng cao che mát quần sanh.
Như thế ta làm sao biết được nói được công đức hạnh đó.
Này thiện nam tử!  Phương Nam đây có một thành tên là Đại Hưng.  Trong thành có một cư sĩ tên là Minh Trí.  Ngươi đến đó hỏi Bồ Tát thế nào học Bồ Tát hạnh, tu Bồ Tát đạo?
Thiện Tài đồng tử đảnh lễ chân Cụ Túc ưu bà di, hữu nhiễu vô lượng vòng, chiêm ngưỡng không nhàm, từ tạ mà đi.
Bấy giờ Thiện Tài đã được vô tận trang nghiêm phước đức tạng giải thoát môn, suy gẫm phước đức đại hải đó, quán sát phước đức hư không đó, đến phước đức tụ đó, lên núi phước đức đó, nhiếp tạng phước đức đó, thấy kho phước đức đó, vào cửa phước đức đó, đi đường phước đó, tu giống phước đức đó.
Thiện Tài đi lần đến thành Đại Hưng tìm cư sĩ Minh Trí.  Với thiện tri thức lòng rất khát ngưỡng.  Đem thiện tri thức huân tập tâm mình.  Nơi thiện tri thức chí muốn kiên cố.  Phương tiện tìm thấy thiệntri thức lòng chẳng thối chuyển.  Nguyện được phụng thờ chư thiện tri thức tâm không mỏi lười.  Vì biết do y chỉ thiện tri thức mà được thành mãn các pháp lành.  Vì biết do y chỉ thiện tri thức nên có thể sanh những phước đức.  Vì biết do y chỉ thiện tri thức nên có thể thêm lớn công hạnh.  Vì biết do y chỉ thiện tri thức nên chẳng do người khác dạy mà tự mình có thể thờ kính tất cả thiện hữu.
Lúc Thiện Tài tư duy như vậy, được thêm lớn thiện căn, thanh tịnh thâm tâm, thêm căn tánh, lợi đức bổn, thêm đại nguyện, rộng đại bi, gần nhứt thiết trí, đủ đạo Phổ Hiền, chiếu sáng tát cả chánh pháp của chư Phật.  Thêm lớn thập lực quang minh của chư Phật.
Thiện Tài thấy cư sĩ Minh Trí tại ngã tư đường chợ, trên đài thất bửu, ngồi tòa vô số bửu trang nghiêm.
Tòa đó diệu hảo bằng thanh tịnh ma ni.  Chân tòa bằng kim cang đế thanh.  Dây báu giao xen.  Nghiêm sức với năm trăm diệu bửu.  Trải bửu y cõi trời.  Dựng tràng phan cõi trời.  Giăng lưới đại bửu.  Thiết trướng đại bửu.  Vàng diêm phù đàn làm lọng.  Tỳ lưu ly bửu làm cán, bảo người cầm che.  Lông cánh nga vương thanh tịnh sạch đẹp dùng làm quạt.  Xông những diệu hương.  Mưa những thiên hoa.  Hai bên năm trăm tiếng nhạc thường hòa tấu.  Tiếng nhạc hay hơn nhạc cõi trời.  Chúng sanh nghe tiếng nhạc này đều vui đẹp.
Quyến thuộc có mười ngàn người vây quanh sau trước, hình sắc đoan nghiêm, người vui được thấy, nghiêm sức với đồ trang nghiêm cõi trời.  Ở trong nhơn thiên tối thắng vô tỉ.  Tất cả đều đã thành tựu chí nguyện Bồ Tát.  Đều cùng với cư sĩ Minh Trí đồng thiện căn thuở xưa.  Tất cả đều đứng hầu tuân lời sai khiến.
Thiện Tài đồng tử đảnh lễ chân cư sĩ, hữu nhiễu vô lượng vòng, chắp tay cung kính thưa rằng:
Bạch đức thánh!  Tôi vì lợi ích tất cả chúng sanh.  Vì làm cho tất cả chúng sanh khỏi những nạn khổ.  Vì làm cho tất cả chúng sanh được rốt ráo an vui.  Vì làm cho tất cả chúng sanh ra khỏi biển sanh tử.  Vì làm cho tất cả chúng sanh ở châu pháp bửu.  Vì làm cho tất cả chúng sanh khô cạn sông ái dục.  Vì làm cho tất cả chúng sanh khởi đại từ bi.  Vì làm cho tất cả chúng sanh bỏ ái dục.  Vì làm cho tất cả chúng sanh khát ngưỡng Phật trí.  Vì làm cho tất cả chúng sanh ra khỏi đồng hoang sanh tử.  Vì làm cho tất cả chúng sanh ra khỏi thành tam giới.  Vì làm cho tất cả chúng sanh nhập thành nhứt thiết trí.  Nên tôi đã phát tâm vô thượng bồ đề, mà chưa biết Bồ Tát thế nào học Bồ Tát hạnh, tu Bồ Tát đạo, để có thể làm chỗ y chỉ cho tất cả chúng sanh.
Cư sĩ Minh Trí bảo rằng:
Lành thay!  Lành thay!  Này thiện nam tử!  Ngươi có thể phát được tâm vô thượng bồ đề.
Này thiện nam tử!  Rất khó có người phát được tâm vô thượng bồ đề.  Nếu có thể phát tâm ấy, thời người đó có thể cầu Bồ Tát hạnh, gặp gỡ thiện tri thức hằng chẳng nhàm đủ.  Gần gũi thiện tri thức hằng không mỏi nhọc.  Cúng dường thiện tri thức hằng không biếng lười.  Cấp thị thiện tri thức chẳng có lòng ưu sầu.  Tìm cầu thiện tri thức trọn chẳng thối chuyển.  Mến nhớ thiện tri thức trọn chẳng buông bỏ.  Phụng thờ thiện tri thức không tạm thôi nghỉ.  Chiêm ngưỡng thiện tri thức không lúc nào ngừng ngớt.  Thực hành lời dạy của thiện tri thức chưa từng lười biếng.  Bẩm thọ tâm của thiện tri thức không có sai lầm.
Này thiện nam tử!  Ngươi xem đại chúng của ta đây.  Ta đã khiến họ phát tâm vô thượng bồ đề, sanh nhà Như Lai, thêm lớn pháp lành, an trụ vô lượng ba la mật, học Phật thập lực, rời giống thế gian mà trụ giống Như Lai, bỏ sanh tử luân mà chuyển chánh pháp luân, diệt tam ác thú mà trụ chánh pháp thú, đều có thể cứu hộ tất cả chúng sanh như chư Bồ Tát.
Này thiện nam tử!  Ta được môn giải thoát tùy ý xuất sanh phước đức tạng.  Phàm chỗ cần dùng đều thỏa mãn cả.
Như là y phục, anh lạc, voi ngựa, xe cộ, hoa hương, tràng phan, bửu cái, ẩm thực, thuốc thang, nhà phòng, giường ghế, đèn đuốc, nô tỳ, trâu, dê và những người hầu hạ, tất cả đều đầy đủ mỗi khi cần đến, nhẫn đến vì nói diệu pháp chơ thiệt.
Này thiện nam tử!  Chờ trong giây lát ngươi sẽ tự thấy.
Cư sĩ nói xong, có vô lượng chúng sanh từ các phương, các thế giới, các quốc độ, các thành ấp, hình loại khác nhau, chỗ mến thích chẳng đồng, số đông vô biên đều do Bồ Tát nguyện lực thuở xưa, đều vân tập đến, đều riêng có chỗ mong muốn mà cầu xin.
Bấy giờ cư sĩ Minh Trí biết đại chúng đã đông đủ, nhiếp niệm giây lát, ngước mặt ngó lên hư không.  Liền đó, theo chỗ cần dùng của đại chúng mọi đồ cần dùng đều từ trên không rơi xuống, làm cho tất cả đại chúng đều được đầy đủ theo ý muốn.
Sau đó cư sĩ lại vì họ mà thuyết pháp, vì những người được món ăn ngon no đủ mà nói những hạnh chứa phước đức, hạnh lìa nghèo cùng, hạnh biết các pháp, hạnh thành tựu món ăn pháp hỉ thiền duyệt, hạnh tu tập đầy đủ các tướng hảo, hạnh tăng trưởng hảo, hạnh tăng trưởng thành tựu khó khuất phục, hạnh có thể khéo rõ thấy món ăn vô thượng, hạnh thành tựu vô tận đại oai đức lực hàng phục ma oán.
Cư sĩ vì những kẻ được thức uống ngon no đủ mà thuyết pháp, làm cho họ bỏ lìa sự mến chấp sanh tử để nhập Phật pháp vị.  Cư sĩ vì những người được vị vô thượng mà thuyết pháp, làm cho họ đều được tướng thượng hảo của chư Phật Như Lai.   Cư sĩ vì những kẻ được xe cộ đầy đủ mà thuyết phát, làm cho họ đều được ngồi xe đại thừa.  Cư sĩ vì những người được y phục thỏa mãn mà thuyết pháp, làm cho họ được y phục tâm quý thanh tịnh.  Nhẫn đến được diệu sắc thanh tịnh của Như Lai.  Cư sĩ đều chăm sóc hoàn bị tất cả đại chúng.  Mọi người nghe pháp xong đều trở về bổn xứ.
Cư sĩ Minh Trí vì Thiện Tài đồng tử mà hiển bày cảnh giới Bồ Tát bất tư nghì giải thoát, rồi bảo rằng:
Này thiện nam tử!  Ta chỉ biết môn giải thoát tuỳ ý xuất sanh phước đức tạng này.
Như chư đại Bồ Tát thành tựu bửu thủ trùm khắp tất cả quốc độ mười phương, dùng sức tự tại mưa khắp tất cả đồ tư sanh.  Như là mưa các thứ báu nhiều màu, anh lạc nhiều màu, mão báu nhiều màu, y phục nhiều màu, âm nhạc nhiều màu, hoa nhiều màu, hương nhiều màu, hương bột nhiều màu, hương đốt nhiều màu, lọng báu nhiều màu, tràng phan nhiều màu.  Mưa các thứ như vậy đầy khắp tất cả chỗ ở của chúng sanh và chúng hội đạo tràng của Như Lai.  Hoặc để thành thục tất cả chúng sanh, hoặc để cúng dường tất cả chư Phật.
Như vậy ta làm sao biết được nói được những công đức tự tại thần lực đó.
Này thiện nam tử!  Phương Nam đây có một thành lớn tên là Sư Tử Cung.  Nơi đó có một trưởng giả tên là Pháp Bửu Kế.  Ngươi nên đến đó hỏi Bồ Tát thế nào học Bồ Tát hạnh, tu Bồ Tát đạo?
Thiện Tài đồng tử vui mừng hớn hở, cung kính tôn trọng giữ lễ đệ tử đối với cư sĩ.  Tự nghĩ rằng:
Do cư sĩ này hộ niệm cho tôi, khiến tôi được thấy đạo nhứt thiết trí, chẳng dứt sự mến nhớ được thấy thiện tri thức, chẳng hoại tâm tôn trọng thiện tri thức, thường hay tùy thuận lời dạy của thiện tri thức, quyết định tin sâu lời nói của thiện tri thức, hằng phát thâm tâm thờ thiện tri thức.
Thiện Tài đảnh lễ nơi chân cư sĩ Minh Trí, hữu nhiễu vô lượng vòng, ân cần chiêm ngưỡng từ tạ mà đi.
Thiện Tài đồng tử ở chỗ Minh Trí cư sĩ được nghe môn giải thoát này rồi, thời du hành biển phước đức đó, sửa sang ruộng phước đức đó, ngưỡng vọng núi phước đức đó, xu hướng bến phước đức đó, khai phát tạng phước đức đó, quán sát pháp phước đức đó, thanh tịnh xe phước đức đó, ham muốn đống phước đức đó, phát sanh sức phước đức đó, thêm thế lực phước đức đó.
Thiện Tài đi lần đến thành Sư Tử tìm trưởng giải Bửu Kế, thấy trưởng giả này ở trong chợ.  Thiện Tài vội đến đảnh lễ nơi chân trưởng giả, hữu nhiễu vô số vòng, chắp tay cung kính thưa rằng:
Bạch đức thánh!  Tôi đã phát tâm vô thượng bồ đề mà chưa biết Bồ Tát thế nào học Bồ Tát hạnh, tu Bồ Tát đạo?
Lành thay đức thánh!  Xin vì tôi mà giảng nói các Bồ Tát đạo.  Để tôi thừa đạo này mà đến nhứt thiết trí.
Lúc đó trưởng giả cầm tay Thiện Tài, dắt đến chỗ ông ở, chỉ nhà của ông mà bảo Thiện Tài xem.
Thiện Tài thấy nhà của trưởng giả thanh tịnh quang minh làm bằng chơn kim, vách bằng bạch ngân, điện bằng pha lê, lưu ly bửu màu biếc dùng làm lầu gác, trụ bằng xa cừ diệu bửu, khắp nơi trang nghiêm với trăm ngàn diệu bửu, sư tử tòa bằng xích châu ma ni.  Màn ma ni và lưới chơn châu giăng phía trên.  Ao bằng mã não bửu đầy nước thơm.  Vô lượng cây báu bày hàng khắp nơi.
Nhà đó rộng rãi mười từng, tám cửa.  Khi đã vào nhà, Thiện Tài theo thứ đệ mà quán sát.
Thấy từng dưới hết, thí những đồ uống ăn.  Thấy từng thứ hai thí những bửu y.  Thấy từng thứ ba thí tất cả đồ báu trang nghiêm.  Thấy từng thứ tư thí những thế nữ và tất cả trân bửu thượng diệu.  Thấy từng thứ năm có chư Bồ Tát nhẫn đến ngũ địa Bồ Tát vân tập, diễn nói các pháp lợi ích chúng sanh, thành tựu tất cả đà la ni môn, các tam muội ấn, các tam muội hạnh, trí huệ quang minh.  Thấy từng thứ sáu có chư Bồ Tát đều đã thành tựu trí huệ thậm thâm, minh liễu thông đạt nơi pháp tánh thành tựu môn tổng trì tam muội quảng đại không chướng ngại, chỗ làm vô ngại chẳng trụ hai pháp.  Ở trong bất khả thuyết diệu trang nghiêm đạo tràng mà cùng tập hội phân biệt hiển thị môn bát nhã ba la mật.
Những là môn bát nhã ba la mật tịch tịnh tạng.  Môn bát nhã ba la mật khéo phân biệt trí của các chúng sanh.  Môn bát nhã ba la mật chẳng thể động chuyển.  Môn bát nhã ba la mật ly dục quang minh.  Môn bát nhã ba la mật chẳng thể hàng phục.  Môn bát nhã ba la mật chiếu chúng sanh luân.  Môn hải tạng bát nhã ba la mật.  Môn bát nhã ba la mật phổ nhã xả đắc.  Môn bát nhã ba la mật nhập vô tận tạng.  Môn bát nhã ba la mật nhập tất cả phương tiện hải.  Môn bát nhã ba la mật nhập tất cả thế gian hải.  Môn bát nhã ba la mật vô ngại biện tài.  Môn bát nhã ba la mật tùy thuận chúng sanh.  Môn bát nhã ba la mật vô ngại quang minh.  Môn bát nhã ba la mật thường quán túc duyên mà bủa mây pháp.  Diễn thuyết trăm vạn vô số môn bát nhã ba la mật như vậy.
Thấy từng nhà thứ bảy có chư Bồ Tát được như hưởng nhẫn, dùng phương tiện trí phân biệt quán sát mà được xuất ly, đều có thể nghe và thọ trì chánh pháp của chư Phật.  Thấy từng thứ tám có vô lượng Bồ Tát cùng hội họp trong đó, đều được thần thông không còn thối đọa.  Có thể dùng một âm thanh khắp mười phương cõi.  Thân của các ngài hiện khắp tất cả đạo tràng, cùng khắp pháp giới.  Vào khắp Phật cảnh, thấy khắp thân Phật.  Ở trong tất cả Phật chúng hội mà làm thượng thủ, diễn thuyết các pháp.  Thấy từng lầu thứ chín có chư Bồ Tát nhất sanh bổ xứ tập hội trong đó.  Thấy từng lầu thứ mười, chư Phật Như Lai ngự đầy trong đó.
Từ sơ phát tâm tu Bồ Tát hạnh siêu xuất sanh tử, thành mãn đại nguyện và thần thông lực, tịnh Phật độ và đạo tràng chúng hội, chuyển chánh pháp luân điều phục chúng sanh.  Đều làm cho được thấy rõ tất cả như vậy.
Thiện Tài thấy sự như vậy rồi, bạch rằng:
Bạch đức thánh!  Do duyên gì mà thành chúng hội thanh tịnh này?  Gieo căn lành gì mà được báu như vậy?
Trưởng giả nói:
Này thiện nam tử!  Ta nhớ thuở quá khứ, quá phật sát vi trần số kiếp, có thế giới tên là Viên Mãn Trang Nghiêm.  Phật hiệu là Vô Biên Quang Minh Pháp Giới Phổ Trang Nghiêm Vương Như Lai, đầy đủ mười hiệu.  Đức Phật đó vào thành, ta tấy nhạc và đốt một nén hương cúng dường.  Ta đem công đức ấy hồi hướng ba chỗ: xa lìa tất cả nghèo cùng khốn khổ.  Thường thấy chư Phật và thiện tri thức.  Hằng nghe chánh pháp.  Do nhơn duyên đó mà được báu này.
Này thiện nam tử!  Ta chỉ biết môn giải thoát Bồ Tát vô lượng phước đức bửu tạng này.
Như chư đại Bồ Tát được bất tư nghì công đức bửu tạng, nhập vô phân biệt Như Lai thân hải, thọ vô phân biệt vô thượng pháp vân, tu vô phân biệt công đức đạo cụ, khởi vô phan biệt Phổ Hiền hạnh võng, nhập vô phân biệt tam muội cảnh giới, đồng vô phân biệt Bồ Tát thiện căn, trụ vô phân biệt sở trụ của Như Lai, chứng vô phân biệt tam thế bình đẳng, trụ vô phân biệt phổ nhãn cảnh giới, trụ tất cả kiếp không có mỏi nhàm.
Ta làm sao biết được nói được công đức hạnh đó.
Này thiện nam tử!  Phương Nam đây có một nước tên là Đằng Căn.  Nước đó có thành tên là Phổ Môn.  Trong thành có một trưởng giả tên là Phổ Nhãn.  Ngươi đến đó hỏi:  Bồ Tát thế nào học Bồ Tát hạnh, tu Bồ Tát đạo?
Thiện Tài đồng tử đảnh lễ nơi châu của trưởng giả Pháp Bửu Kế, hữu nhiễu vô lượng vòng, ân cần chiêm ngưỡng từ tạ mà đi.
Lúc đó Thiện Tài được nghe môn giải thóa Bồ Tát vô lượng phước đức bửu tạng nơi Bửu Kế trưởng giả rồi, được thâm nhập vô lượng tri kiến của chư Phật, an trụ vô lượng thắng hạnh của Bồ Tát, thấy rõ vô lượng phương tiện của Bồ Tát, mong cầu vô lượng pháp môn của Bồ Tát, thanh tịnh vô lượng tín giải của Bồ Tát, minh lợi vô lượng căn của Bồ Tát, thành tựu vô lượng dục lạc của Bồ Tát, thông đạt vô lượng hạnh môn của Bồ Tát, tăng trưởng vô lượng nguyện lực của Bồ Tát, kiến lập tràng vô năng thắng của Bồ Tát, khởi trí Bồ Tát, chiếu pháp Bồ Tát.
Thiện Tài đi lần đến nước Đằng Căn, tìm hỏi thành Phổ Môn.  Dầu trải qua nhiều gian lao những chẳng nệ nhọc, chỉ nhớ lời dạy của thiện tri thức, nguyện thường được thân cận để phụng thờ cúng dường, sách tấn chư căn lìa những phóng dật.
Sau đó Thiện Tài đến thành Phổ Môn, thấy trăm ngàn tụ lạc bao vây chung quanh.  Tường thành cao nghiêm, đường xá rộng bằng.
Thiện Tài vào thành tìm gặp Phổ Nhãn trưởng giả, liền đảnh lễ nơi chân trưởng giả, hữu nhiễu vô lượng vòng, chắp tay cung kính thưa rằng:
Bạch đức thánh!  Tôi đã phát tâm vô thượng bồ đề, mà chưa biết Bồ Tát thế nào học Bồ Tát hạnh, tu Bồ Tát đạo? 
Trưởng giả nói:
Này thiện nam tử!  Lành thay!  Lành thay!  Ngươi đã có thể phát tâm vô thượng bồ đề.
Này thiện nam tử!  Ta biết tất cả bệnh của các chúng sanh.  Những bệnh phong đàm, nóng, cổ độc, quỷ mị dựa, nhẫn đến bị nước bị lửa thương hại, ta đều có thể dùng phương tiện chữa lành cả.
Này thiện nam tử!  Mười phương chúng sanh, những kẻ có bệnh đến ta, ta đều chữa trị cho họ được lành mạnh.  Lại lấy nước thơm tắm rửa thân thể họ.  Lại ban cho họ những hương hoa, anh lạc, y phục đẹp, những đồ trang sức, đồ ăn thức uống và những vàng bạc, tất cả đều đầy đủ không ai thiếu thốn.  Rồi sau mới vì họ mà tùy cơ nghi thuyết pháp.
Vì người tham dục nhiều, dạy họ quán bất tịnh.  Vì người sân hận nhiều, dạy họ quán từ bi.  Vì người ngu si nhiều, dạy họ phân biệt các pháp tướng.  Vì người đẳng phần phiền não, dạy họ pháp môn thù thắng.  Vì muốn cho họ phát bồ đề tâm, nên xưng dương công đức của tất cả chư Phật.  Vì muốn cho họ khởi lòng đại bi, nên hiển thị sanh tử vô lượng khổ não.  Vì muốn cho họ tăng  trưởng công đức nên tán thán tu tập vô lượng phước trí.  Vì muốn cho họ phát đại nguyện nên xưng tán công hạnh điều phục chúng sanh.  Vì muốn cho họ tu Phổ Hiền hạnh, nên nói Bồ Tát ở tất cả cõi trong tất cả kiếp tu những công hạnh.  Vì muốn cho họ đủ tướng hảo của Phật, nên tán dương đàn ba la mật.  Vì muốn cho họ được tịnh thân của Phật, có thể đến khắp tất cả xứ, nên tán dương thi ba la mật.  Vì muốn cho họ được thân thanh tịnh bất tư nghì của Phật, nên tán dương nhẫn ba la mật.  Vì muốn cho họ được thân vô năng thắng của Phật, nên tán dương tinh tấn ba la mật.  Vì muốn cho họ được thân thanh tịnh vô đẳng, nên tán dương thiền ba la mật.  Vì muốn cho họ hiển hiện Như Lai thanh tịnh pháp thân, nên tán dương bát nhã ba la mật.  Vì muốn cho họ hiện Phật thanh tịnh sắc thân, nên tán dương phương tiện ba la mật.  Vì muốn cho họ hiện thân thanh tịnh quá tất cả Phật độ, nên tán dương lực ba la mật.  Vì muốn cho họ hiện thanh tịnh thân tùy tâm chúng sanh làm cho họ hoan hỷ, nên tán dương trí ba la mật.  Vì muốn cho họ thân rốt ráo thanh tịnh vi diệu nên tán dương lìa hẳn tất cả pháp bất thiện.  Bố thí như vậy rồi, đều bảo họ trở về.
Này thiện nam tử!  Ta lại khéo biết phương pháp hòa hiệp tất cả thứ hương.  Những là vô đẳng hương, tân đầu ba la hương, vô thắng hương, giác ngộ hương, a lô na bạt để hương, kiên hắc chiên đàn hương, ô lạc ca chiên đàn hương, trầm thủy hương, bất động chư căn hương.
Này thiện nam tử!  Ta cầm hương này để cúng dường, thấy khắp chư Phật thỏa mãn bổn nguyện.  Những là nguyện cứu hộ tất cả chúng sanh.  Nguyện nghiêm tịnh tất cả cõi Phật.  Nguyện cúng dường tất cả Như Lai.
Này thiện nam tử!  Lúc đốt thứ hương này, trong mỗi mỗi hương phát ra vô lượng hương, khắp đến mười phương tất cả pháp giới tất cả chư Phật chúng hội đạo tràng, hoặc làm hương cung, hoặc làm hương điện, hương lan can, hương tường rào, hương hào thành, hương cửa nẻo, hương lầu gác, hương bán nguyệt, hương lọng, hương tràng, hương phan, hương trướng, hương màn lưới, hương hình tượng, hương đồ trang nghiêm, hương quang minh, hương vân vũ, xứ xứ sung mãn để làm trang nghiêm.
Này thiện nam tử!  Ta chỉ biết pháp môn làm cho tất cả chúng sanh thấy chư Phật hoan hỷ.
Nay chư đại Bồ Tát, như đại dược vương, hoặc thấy, hoặc nghe, hoặc ghi nhớ, hoặc đồng ở, hoặc đi theo, hoặc xưng danh hiệu đều được lợi ích không luống uổng.
Nếu có chúng sanh tạm được gặp gỡ chư đại Bồ Tát tất làm cho tiêu diệt tất cả phiền não, vào Phật pháp, lìa khổ uẩn, dứt hẳn sự kinh sợ về sanh tử, đến chỗ nhứt thiết trí, vô sở úy, xô dẹp tất cả núi lớn sanh tử, an trụ nơi chỗ vui bình đẳng tịch diệt.
Ta thế nào biết được nói được hạnh công đức đó?
Này thiện nam tử!  Phương Nam đây có một thành lớn tên là Đa La Tràng, có một vua tên là Vô Yểm Túc.  Ngươi đến đó hỏi Bồ Tát thế nào học Bồ Tát hạnh, thế nào tu Bồ Tát đạo?
Thiện Tài đồng tử đảnh lễ nơi chân trưởng giả Phổ Nhãn, hữu nhiễu vô lượng vòng, ân cần chiêm ngưỡng, từ tạ mà đi.
Lúc đó Thiện Tài đồng tử ức niệm tư duy lời dạy của thiện tri thức.  Nghĩ rằng thiện tri thức có thể nhiếp thọ tôi, có thể thủ hộ tôi làm cho tôi không thối chuyển nơi vô thượng chánh đẳng chánh giác.  Tư duy như vậy sanh tâm hoan hỷ, tâm tịnh tín, tâm quảng đại, tâm thơ thới, tâm hớn hở, tâm mừng rỡ, tâm thắng diệu, tâm tịch tịnh, tâm trang nghiêm, tâm vô trước, tâm vô ngại, tâm bình đẳng, tâm tự tại, tâm trụ pháp, tâm chẳng bỏ thập lực.
Thiện Tài đi lần đến thành Đa La Tràng hỏi thăm chỗ ở của vua Vô Yểm Túc.
Mọi người bảo rằng nhà vua hiện ở chánh điện, ngồi tòa sư tử, tuyên bố pháp hóa điều ngự chúng sanh.  Kẻ đáng trị tội thì trị, kẻ đáng phạt thời phạt, kẻ đáng nhiếp thời nhiếp.  Phạt tội ác của họ, giải quyết sự tranh tụng của họ.  Thương người cô cùng yếu đuối.  Đều làm cho nhơn dân dứt hẳn sự giết hại, trộm cướp, tà dâm.  Cũng làm cho họ bỏ sự nói dối, nói thô ác, nói ly gián, nói thêu dệt.  Lại làm cho họ xa lìa tham lam, sân hận, tà kiến.
Thiện Tài theo chỗ chỉ dẫn của mọi người mà đến chánh điện.  Thấy nhà vua ngựa tòa na la diên kim cang.  Tòa này chân bằng vô số thứ báu, vô lượng hình tượng để trang nghiêm, dây vàng làm lưới giăng phía trên.
Nhà vua đầu đội bửu quan như ý ma ni.  Vàng diêm phù đàn làm hình bán nguyệt để trang nghiêm nơi trán.  Đế thanh ma ni làm vòng tai hai bên đối nhau thòng xuống.  Ma ni vô giá làm chuỗi đeo nơi cổ.  Ma ni đẹp cõi trời làm ấn xuyến mang nơi cánh tay.
Vàng diêm phù đàn làm lọng.  Các báu xen lẫn nhau dùng làm vành cọng.  Cán bằng đại lưu ly bử.  Quang vị ma ni dùng làm núm.  Các báu làm linh hằng vang tiếng diệu.  Phóng đại quang minh chiếu khắp mười phương.
Lọng báu trên đây che cho nhà vua.
Vô Yểm Túc vương có thế lực lớn có thể thể làm khuất phục chúng khác, không ai địch lại.  Lấy lụa ly cấu vấn trên đảnh.  Mười ngàn đại thầ cùng xử lý quốc sự.
Trước mặt nhà vua, hai bên có mười vạn lính mạnh, hình ác, y phục xấu, tay cầm binh khí, xăn tay trợn mắt.  Ai ngó thấy cũng phải kinh sợ.
Những chúng sanh phạm pháp: hoặc trộm vật của người, hoặc hại mạng người, hoặc xâm vợ người, hoặc sanh tà kiến, hoặc khởi sân hận, hoặc tham lam tật đố, thân bị ngũ phược dắt đến chỗ vua, tùy theo chỗ họ phạm mà trị tội.
Hoặc chặt tay chân, hoặc cắt tai mũi, hoặc khoét đôi mắt, hoặc chém đầu, hoặc lột da, hoặc phân thây, hoặc đem nấu, hoặc đem đốt, hoặc dắt lên núi cao xô té xuống.  Vô lượng sự hành hinh độc ác như vậy.
Tiếng phạm nhơn kêu khóc dường như trong địa ngục chúng hiệp.
Thấy thế, Thiện Tài nghĩ rằng:
Tôi vì lợi ích chúng sanh mà cầu Bồ Tát hạnh, tu Bồ Tát đạo.  Nay nhà vua vô Yểm Túc này diệt pháp lành tạo đại tội, bức não chúng sanh nhẫn đến giết chết, không sợ bị đoạ ác đạo sau này.  Sao tôi lại muốn ở nhà vua này mà cầu chánh pháp, phát tâm đại bi cứu hộ chúng sanh.
Lúc Thiện Tài nghĩ như vậy, trên hư không có trời bảo rằng:
Này thiện nam tử!  Ngươi phải ghi nhớ lời dạy của Phổ Nhãn trưởng giả.
Thiện Tài ngửa mặt nói:
Tôi luôn ghi nhớ không hề tạm quên.
Trời bảo:
Thiện nam tử chớm nhàm lìa lời của thiện tri thức.  Thiện tri thức có thể dắt dẫn ngươi đến chỗ an ổn không hiểm nạn.
Này thiện nam tử!  Bồ Tát thiện xảo phương tiện trí chẳng thể nghĩ bàn, nhiếp thọ chúng sanh trí chẳng thể nghĩ bàn, hộ niệm chúng sanh chẳng thể nghĩ bàn, thành tựu chúng sanh trí chẳng thể nghĩ bàn, thủ hộ chúng sanh trí chẳng thể nghĩ bàn, độ thoát chúng sanh trí chẳng thể nghĩ bàn, điều phục chúng sanh trí chẳng thể nghĩ bàn.
Thiện Tài nghe xong liền đến đảnh lễ nơi chân vua Vô Yểm Túc, tâu rằng:
Bạch đại thánh!  Tôi đã phát tâm vô thượng bồ đề mà chưa biết Bồ Tát thế nào học Bồ Tát hạnh, thế nào tu Bồ Tát đạo?  Tôi nghe đức thánh khéo dạy bảo, xin vì tôi mà giảng nói.
Vua Vô Yểm Túc xử lý quốc sự xong, cầm tay Thiện Tài dắt vào nội cung, bảo cùng ngồi, nói rằng:
Này thiện nam tử!  Ngươi quán sát cung điện của ta ở đây.
Tuân lời nhà vua, Thiện Tài quán sát khắp cung.  Thấy cung điện này rộng lớn vô tỉ đều làm bằng diệu bửu.  Tường rào bao quanh bằng thất bửu, trăm ngàn thứ báu xây các lầu các, tất cả sự trang nghiêm đều diệu hảo.  Màn lưới bất tư nghì ma ni giăng che phía trên.
Mười ức thị nữ đoan trang xinh đẹp khả ái.  Phàm chỗ làm đều xảo diệu, lúc dậy lúc nằm đều thừa thuận ý nhà vua.
Vu Vô Yểm Túc bảo Thiện Tài:
Này thiện nam tử!  Nếu ta thiệt gây ác nghiệp thời sao lại được quả báo tốt đẹp này, sắc thân như đây, quyến thuộc như vậy, giàu sang như vậy, tự tại như vậy?
Này thiện nam tử!  Ta được Bồ Tát như huyễn giải thoát.
Này thiện nam tử!  Nước của ta, dân chúng nhiều người làm việc trộm cướp giết hại nhẫn đến tà kiến.  Dùng phương tiện khác không thể làm cho họ bỏ ác nghiệp.
Này thiện nam tử!  Ta vì điều phục chúng sanh đó mà hóa hiện những người ác tạo tội nghiệp bị hành hình khốn khổ.  Làm cho những dân chúng làm ác nghe thấy mà kinh sợ chừa ác làm lành phát tâm bồ đề.
Này thiện nam tử!  Ta dùng phương tiện thiện xảo như vậy làm cho dân chúng bỏ mười ác nghiệp mà an trụ nơi mười hạnh lành, rốt ráo khoái lại, rốt ráo an ổn, rốt ráo trụ ở bực nhứt thiết trí.
Này thiện nam tử!  Thân, ngữ, ý của ta chưa từng não hại đến một chúng sanh.
Như tâm ý của ta, thà ở vị lai chịu vô gián khổ, chớ trọn không móng một niệm làm khổ cho một con muỗi con kiến, huống lại làm khổ người.  Vì người là phước điền có thể sanh tất cả những pháp lành.
Này thiện nam tử!  Ta chỉ được môn như huyễn giải thoát này.
Như chư đại Bồ Tát được vô sanh nhẫn biết những loài hữu lậu đều như huyễn.  Những hạnh Bồ Tát như hóa.  Tất cả thế gian đều nư bóng.  Tất cả pháp đều như mộng.  Nhập chân như tướng vô ngại pháp môn.  Tu hành đế võng tất cả công hạnh.  Dùng trí vô ngại đi trong các cảnh giới.  Nhập khắp tất cả bình đẳng tam muội.  Nơi đà la ni đã tự tại.  Mà ta làm sao nói được biết được công đức hạnh đó.
Này thiện nam tử!  Phương Nam đây có thành tên là Diệu Quang.  Nhà vua tên là Đại Quang.  Ngươi qua đó hỏi Bồ Tát thế nào học Bồ Tát hạnh, tu Bồ Tát đạo?
Thiện Tài đồng tử đảnh lễ chân vua Vô Yểm Túc, hữu nhiễu vô số vòng, từ tạ mà đi.
Bấy giờ Thiện Tài nhứt tâm chánh niệm pháp môn như huyễn trí của nhà vua.  Tư duy như huyễn giải thoát của nhà vua.  Quán sát pháp tánh như huyễn của nhà vua.  Phát như huyễn nguyện.  Tịnh như huyễn pháp.  Khắp ở tất cả tam thế như huyễn mà khởi những biến hóa như huyễn.
Tư duy như vậy, Thiện Tài đi lần qua phương Nam, hoặc đến thành ấp tụ lạc, hoặc đi qua đồng hoang hang hố hiểm nạn, vẫn không mỏi lười, chưa từng ngơi nghỉ.  Sau đó mới đến thành Diệu Quang, hỏi người vua Đại Quang ở tại đâu.
Người đáp chính là thành Diệu Quang, là chỗ ngự của vua Đại Quang.
Thiện Tài đồng tử hoan hỷ vô lượng nghĩ rằng thiện tri thức của tôi ở trong thành này.  Nay tôi chắc sẽ được thân cận, được nghe công hạnh của chư Bồ Tát, được nghe môn xuất yếu của chư Bồ Tát, được nghe pháp của chư Bồ Tát đã chứng được, nghe công đức bất tư nghì của chư Bồ Tát, được nghe bất tư nghì tự tại của chư Bồ Tát, được nghe bình đẳng bất tư nghì của chư Bồ Tát, được nghe dũng mãnh bất tư nghì của chư Bồ Tát, được nghe cảnh giới quảng đại thanh tịnh bất tư nghì của chư Bồ Tát.
Thiện Tài nghĩ như vậy rồi nhập Diệu Quang thành. Thấy thành này xây bằng thất bửu: kim, ngân, lưu ly, pha lê, chân châu, xa cừ, mã não.  Hào sâu bằng thất bửu bảy lớp bao quanh, nước bát công đức đầy trong đó, đáy trải cát chân kim, hoa sen bốn màu xanh, vàng, đỏ, trắng nở đầy mặt nước.  Cây đa la báu bảy lớp thẳng hàng.  Bảy thứ kim cang làm tường rào bao quanh.
Những là tường bằng sư tử quang minh kim cang.  Tường rào bằng vô năng siêu thắng kim cang.  Tường rào bằng bất khả trở hoại kim cang.  Tường rào bằng bất khả hủy khuyết kim cang.  Tường rào bằng kiên cố vô ngại kim cang.  Tường rào bằng thắng diệu võng tạng kim cang.  Tường rào bằng ly trần thanh tịnh kim cang.  Tất cả đều dùng vô số ma ni diệu bửu xen lẫn trang nghiêm.  Các thứ báy xây thành tháp gác.
Thành đó ngang rộng mười do tuần, có tám cửa đều dùng bảy báu nghiêm sức khắp nơi.  Đất bằng tỳ lưu ly bửu, nhiều thứ trang nghiêm rất đáng mến thích.
Trong thành có mười ức đường xá.  Mỗi hai bên đường đều có vô lượng nhân dân ở.  Có vô số lầu gác bằng vàng diêm phù đàn, lưới tỳ lưu ly ma ni che phía trên.  Vô số lầu gác bằng bạc ngân, lưới xích chơn châu ma ni giăng phía trên.  Vô số lầu gác bằng tỳ lưu ly, lưới diệu tạng ma ni giăng phía trên.  Vô số lầu gác bằng pha lê, lưới vô cấu tạng ma ni vương giăng phía trên.  Vô số lầu gác bằng quang chiếu thế gian ma ni bửu, lưới nhựt tạng ma ni vương giăng phía trên.  Vô số lầu gác bằng đế thanh ma ni bửu, lưới diệu quang ma ni vương giăng phía trên.  Vô số lầu gác bằng chúng sanh hải ma ni vương, lưới diệm quang ma ni vương giăng phía trên.  Vô số lầu gác bằng kim cang bửu, lưới vô năng thắng tràng ma ni vương giăng phía trên.  Vô số lầu gác bằng hắc chiên đàn, lưới thiên mạn đà la hoa giăng phía trên.  Vô số lầu gác bằng vô đẳng hương vương, lưới nhiều thứ hoa giăng phía trên.
Thành Diệu Quang còn có vô số lưới ma ni, vô số lưới bửu linh, vô số lưới thiên hương, vô số lưới thiên hoa, vô số lưới bửu hình tượng, vô số lưới bửu y trướng, vô số bửu cái trướng, vô số bửu lâu các trướng, vô số bửu hoa man trướng giăng che.
Khắp nơi kiến lập bửu cái tràng phan.
Trong thành Diệu Quang có một lâu các tên là Chánh Pháp Tạng, trang nghiêm với vô số bửu vật chói sáng rực rỡ không gì sánh bằng, nhìn xem không chán.
Vua Đại Quang thường ở trong lầu này.
Thiện Tài đồng tử đối với những vật trân bửu đẹp và các nam nữ đến lục trần cảnh giới này đều không mến luyến.   Chỉ nhất tâm chánh niệm tư duy pháp cứu cánh.  Nhứt tâm thích muốn được thấy thiện tri thức.
Thiện Tài đi lần vào thành thấy Đại Quang Vương ở giữa ngã tư đường cách lầu chánh pháp tạng không xa ngồi trên tòa sư tử quảng đại trang nghiêm như ý ma ni bửu liên hoa tạng.  Chân tòa này bằng lưu ly bửu màu biếc, lụa vàng làm màn, các báu làm lưới, thiên y thượng diệu làm nệm.
Thân nhà vua có hai mươi tám tướng tốt, đủ tám mươi tuỳ hảo.  Xem như tòa núi chơm kim, màu sắc và ánh vàng rực rỡ.  Như mặt nhựt trên không oai quang chói mắt.  Như mặt trăng tròn làm mát mẻ người ngó thấy.  Như phạm thiên vương ở giữa phạm chúng.  Như đại hải công đức pháp bửu không cùng tận.  Như núi tuyết nghiêm sức với rừng cây tướng hảo.  Như mây lớn hay chấn pháp lôi cảnh tỉnh mọi loài.  Như hư không hiển hiện những tinh tướng pháp môn.  Như núi tu di bốn màu hiện khắp trong tâm hải của chúng sanh.  Như bửu đảo đầy những trí bửu.
Trước tòa của vua ngự có từng khối vàng, bạc, lưu ly, ma ni, chơn châu, san hô, hổ phách, kha bối, bích ngọc, y phục, anh lạc, và những đồ ăn thức uống.
Lại thấy vô lượng trăm ngàn muốn ức xe báu thượng diệu, trăm ngàn muốn ức những kỹ nhạc cõi trời.  Trăm ngàn muôn ức những hương thơm cõi trời.  Trăm ngàn muôn ức thuốc men và đô tư sanh.   Vô lượng bò sữa, món sừng màu chơn kim.  Vô lượng ngàn ức nữ nhơn đoan chánh, chiên đàn thượng diệu thoa trên thân, trang sức với thiên y anh lạc, đều giỏi rành sáu mươi bốn nghề hiểu rõ thế tình lễ phép, tuỳ theo tâm của chúng sanh mà cung cấp bố thí.
Bốn bên ngã tư đường đều để đầy những đồ tư sanh.
Có hai mươi ức Bồ Tát đem những vật này thí cho các chúng sanh.  Vì muốn nhiếp khắp chúng sanh.  Vì muốn chúng sanh hoan hỷ.  Vì muốn chúng sanh hớn hở.  Vì muốn cho chúng sanh tâm thanh tịnh.  Vì muốn cho chúng sanh được thanh lượng.  Vì diệt trừ phiền não cho chúng sanh.  Vì làm cho chúng sanh biết tất cả nghĩa lý.  Vì làm cho chúng sanh nhập đạo nhứt thiết trí.  Vì làm cho chúng sanh bỏ tâm ác thù.  Vì làm cho chúng sanh lìa sự ác nơi thân ngữ.  Vì làm cho chúng sanh dứt các tà kiến.  Vì làm cho chúng sanh tịnh các nghiệp đạo.
Thiện Tài đảnh lễ nơi chân Đại Quang vương, hữu nhiễu vô lượng vòng chắp tay đứng tâu rằng:
Bạch đức thánh!  Tôi đã phát tâm vô thượng bồ đề mà chưa biết Bồ Tát thế nào học Bồ Tát hạnh, tu Bồ Tát đạo?  Tôi nghe đức thánh hay khéo chỉ bảo, xin dạy cho.
Vua nói:
Này thiện nam tử!  Ta tịnh tu Bồ Tát đại từ tràng hạnh.  Ta đầy đủ Bồ Tát đại từ tràng hạnh.
Này thiện nam tử!  Ta ở chỗ vô lượng trăm ngàn muôn ức nhẫn đến bất khả thuyết bất khả thuyết đức Phật hỏi han pháp này, tư duy quán sát tu tập trang nghiêm.
Này thiện nam tử!  Ta dùng pháp này làm vua, dùng pháp này dạy bảo, dùng pháp này nhiếp thọ, dùng pháp này mà ở thế gian, dùng pháp này dẫn đạo chúng sanh, dùng pháp này khiến chúng sanh tu hành, dùng pháp này khiến chúng sanh xu nhập, dùng pháp này cho chúng sanh phương tiện, dùng pháp này khiến chúng sanh huân tập, dùng pháp này khiến chúng sanh khởi hạnh, dùng pháp này khiến chúng sanh an trụ tư duy tự tánh của các pháp.  Dùng pháp này khiến chúng sanh an trụ từ tâm, lấy từ làm chủ, đầy đủ từ lực.  Như vậy, khiến họ an trụ tâm lợi ích, tâm an lạc, tâm ai mẫn, tâm nhiếp thọ, tâm thủ hộ chúng sanh không rời bỏ, tâm cứu chúng sanh khổ không thôi nghỉ.
Ta dùng pháp này làm cho chúng sanh rốt ráo khoái lạc, hằng tự vui thích, thân không khổ, tâm mát mẻ dứt ái nhiễm sanh tử, mến chánh pháp vui, rửa nhơ phiền não, phá chướng ác nghiệp, tuyệt dòng sanh tử, vào biển chơn pháp, dứt những loài hữu lậu, cầu nhứt thiết trí, tịnh những biển tâm, phát sanh đức tin bất hoại.
Này thiện nam tử!  Ta đã an trụ nơi hạnh đại từ tràng này, có thể dùng chánh pháp giáo hóa thế gian.
Này thiện nam tử!  Trong quốc độ của ta, tất cả chúng sanh, đối với ta, không có sự kinh sợ.
Này thiện nam tử!  Nếu có chúng sanh nghèo cùng khốn thiếu đến ta để cầu xin, ta mở cửa kho, cho họ tha hồ mà lấy.  Ta bảo họ rằng:
Chớ làm điều ác, chớ hại chúng sanh, chớ sanh tà kiến, chớ có chấp trước.  Các người có thiếu thốn thứ gì, cứ đến ta hoặc các ngã tư đường, có đủ tất cả vật dụng, tùy ý mà lấy khỏi phải nghi ngại.
Này thiện nam tử!  Thành Diệu Quang này tất cả chúng sanh đều là Bồ Tát phát tâm đại thừa, tuỳ ý muốn nên chỗ thấy chẳng đồng.  Hoặc có kẻ thấy thành này nhỏ hẹp.  Có kẻ thấy thành này rộng lớn.  Có kẻ thấy là đất cát.  Có kẻ thấy là các báu trang nghiêm.  Có kẻ thấy đắp đất làm tường rào.  Có kẻ thấy tường bao quanh toàn bằng chất báu.  Hoặc có kẻ thấy mặt đất đầy những ngói đá cao thấp.  Có kẻ thấy là đại ma ni bửu xen lẫn trang nghiêm bằng phẳng.  Có kẻ thấy nhà cửa bằng gỗ đất.  Có kẻ thấy là điện đường lầu gác thềm bực cửa nẻo đều bằng diệu bửu.
Này thiện nam tử!  Nếu có chúng sanh, tâm họ thanh tịnh từng gieo trồng căn lành, cúng dường chư Phật, phát tâm xu hướng đạo nhứt thiết trí, lấy nhứt thiết trí làm chỗ cứu cánh và được ta thuở xưa, lúc tu Bồ Tát hạnh từng nhiếp thọ, thời những chúng sanh này thấy thành đây bằng diệu bửu trang nghiêm.  Ngoài ra, những kẻ khác lại thấy là thô xấu.
Này thiện nam tử!  Trong quốc độ đây lúc đời ngũ trược, tất cả chúng sanh phần nhiều thích làm ác.  Ta vì thương họ, muốn cứu độ họ mà nhập môn tam muội đại từ tùy thuận thế gian.
Lúc ta nhập tam muội này những chúng sanh làm ác kia, có những tâm bố úy, tâm não hại, tâm oán thù, tâm tránh luận, đều tiêu diệt tất cả.
Tại sao vậy?
Vì khi nhập tam muội đại từ tùy thuận thế gian thời công năng của tam muội này tất nhiên là như vậy.
Này thiện nam tử!  Chờ giây lát ngươi sẽ tự thấy.
Bấy giờ Đại Quang Vương liền nhập tam muội này.  Cả thành Diệu Quang, trong ngoài đều chấn động sáu cách.  Những bửu địa, bửu tường, bửu đường, bửu điện, bửu đài quán, bửu lâu các, thềm bực, cửa nẻo, tất cả đều phát ra tiếng diệu âm, đều hướng về phía vua Đại Quang.
Trong thành Diệu Quang tất cả cư dân đồng thời vui mừng hớn hở, đều hướng về phía nhà vua mà gieo mình đảnh lễ.
Tất cả nhơn chúng trong thôn dinh thành ấp đều đến ra mắt vua, đều hoan hỷ kính lễ.
Gần chỗ vua ở, những loài điểu thú đều yêu mến săn sóc nhau, đều có lòng mến kính nhà vua.
Tất cả núi đồi và cây cỏ đều xoay hướng về phía nhà vua.  Tất cả ao, suối, sông, biển thảy đều tràn nước chảy đến phía trước chỗ vua ngự. 
Có mười ngàn long vương nổi mây lớn thơm, nhoáng chớp nổ sấm mưa nhỏ pháy pháy.  Có mười ngàn thiên vương, như là đạo lợi thiên vương, dạ ma thiên vương, Đâu Suất thiên vương, Thiện Biến Hóa thiên vương, Tha Hóa Tự Tại thiên vương, v.v... ở trên hư không tấu nhạc.  Vô số thiên nữ ca ngâm khen ngợi, mưa vô số mây thơm, vô số mây hoa, vô số mây tràng hoa, vô số mây bửu y, vô số mây bửu cái, vô số mây bửu tràng, vô số mây bửu phan, để trang nghiêm cúng dường nhà vua.
Đại tượng vương Y La Bà Noa dùng sức tự tại ở trên hư không rải vô số bửu liên hoa, thòng vô số bửu anh lạc, vô số bửu đới, vô số bửu man, vô số bửu trang nghiêm cụ, vô số bửu hoa, vô số bửu hương, các thứ kỳ diệu để nghiêm sức, vô số thế nữ ca ngâm khen ngợi.
Trong Diêm Phù Đề lại có vô lượng trăm ngàn vạn ức la sát vương, dạ xoa vương, cưu bàn trà vương, tỳ xá xà vương, hoặc ở đại hải, hoặc ở lục địa, uống huyết ăn thịt tàn hại chúng sanh, tất cả đều sanh từ tâm, nguyện làm lợi ích, biết rõ đời sau nên chẳng tạo điều ác, cung kính chắp tay đảnh lễ Đại Quang Vương.
Như Diêm Phù Đề, ba thiên hạ khác, nhẫn đến đại thiên thế giới, trong mười phương bá thiên vạn ức na do tha thế giới có bao nhiêu chúng sanh độc ác đều cũng phát từ tâm như vậy.
Bấy giờ Đại Quang Vương xuất định bảo Thiện Tài rằng:
Này thiện nam tử!  Ta chỉ biết môn tam muội Bồ Tát đại từ tùy thuận thế gian. 
Như chư đại Bồ Tát làm lọng cao, vì từ tâm che khắp các chúng sanh.  Chuyên tu hành, vì những hạnh hạ trung thượng đều bình đẳng thực hành.  Làm đại địa, vì có thể dùng từ tâm nhiệm trì tất cả những chúng sanh.  Làm mặt trăng tròn, vì phước đức quang minh ở trong thế gian bình đẳng hiển hiện.  Làm mặt nhựt sáng, vì dùng trí quang minh chiếu diệu tất cả cảnh sở tri.  Làm đèn sáng, vì có thể phá những hắc ám trong tâm của tất cả chúng sanh.  Làm thủy thanh châu, có thể lóng trong những chất đục siểm cuống trong tâm của tất cả chúng sanh.  Làm như ý bửu, vì có thể thỏa mãn tâm sở nguyện của tất cả chúng sanh.  Làm đại phong, vì mau làm cho chúng sanh tu tập tam muội nhập đại thành nhứt thiết trí.
Ta làm sao biết được hạnh đó, nói được đức đó, làm sao cân lượng được núi lớn phước đức đó, làm sao chiêm ngưỡng được ngôi sao sáng công đức đó, làm sao quán sát được phong luân đại nguyện đó, làm sao xu nhập được pháp môn thậm thâm đó, làm sao hiển thị được đại hải trang nghiêm đó, làm sao xiển minh được hạnh môn Phổ Hiền đó.  Làm sao khai thị được hang tam muội, làm sao tán thán được mây đại bi đó.
Này thiện nam tử!  Phương Nam đây có một vương đô tên là An Trụ, có ưu bà di tên là Bất Động.  Ngươi đến đó hỏi Bồ Tát thế nào học Bồ Tát hạnh, thế nào tu Bồ Tát đạo?
Thiện Tài đồng tử đảnh lễ nơi chân Đại Quang Vương, hữu nhiễu vô lượng vòng, ân cần chiêm ngưỡng từ tạ mà đi.
Lúc đó Thiện Tài đồng tử ra khỏi thành Diệu Quang đi theo đường lớn về phía Nam, chánh niệm tư duy ý nghĩa của vua Đại Quang đã dạy, nhớ môn Bồ Tát đại từ tràng hạnh, tư duy môn Bồ Tát tùy thuận thế gian tam muội quang minh.  Tăng trưởng sức phước đức tự tại nguyện bất tư nghì đó.  Kiên cố trí bất tư nghì thành tựu chúng sanh đó.  Quán sát đại oai đức bất tư nghì cộng thọ dụng đó.  Ghi nhớ tướng bất tư nghì sai biệt đó, suy gẫm quyến thuộc thanh tịnh bất tư nghì đó.  Suy xét công hạnh bất tư nghì đó sanh tâm hoan hỷ, tâm tịnh tín, tâm mãnh lợi, tâm hân duyệt, tâm dũng phước, tâm khánh hạnh, tâm vô trược uế, tâm thanh tịnh, tâm kiên cố, tâm quảng đại, tâm vô tận.
Thiện Tài tư duy như vậy buồn khóc rơi lệ, nghĩ thiện tri thức thiệt là hi hữu, là chỗ xuất sanh tất cả công đức, xuất sanh tất cả Bồ Tát hạnh, xuất sanh tất cả Bồ Tát tịnh niệm, xuất sanh tất cả đà la ni luân, xuất sanh tất cả tam muội quang minh, xuất sanh tất cả chư Phật tri kiến, mưa khắp tất cả chư Phật pháp vũ, hiển thị tất cả Bồ Tát nguyện môn, xuất sanh nan tư trí huệ quang minh, tăng trưởng gốc mầm tất cả Bồ Tát.
Thiện Tài lại nghĩ rằng:
Thiện tri thức có thể cứu hộ khắp tất cả ác đạo, có thể diễn thuyết khắp các pháp bình đẳng, có thể hiển thị khắp những đường bằng đường hiểm, có thể khai xiển khắp áo nghĩa đại thừa, có thể khắp khuyên phát những hạnh Phổ Hiền, có thể khắp dẫn đến thành nhứt thiết trí, có thể làm cho vào khắp pháp giới đại hải, có thể làm cho thấy khắp tam thế pháp hải, có thể khắp trao cho chúng thánh đạo tràng, có thể khắp tăng trưởng tất cả bạch pháp.
Lúc Thiện Tài bi ai tư niệm như vậy, đức Như Lai khiến thiên vương hiện trên hư không bảo rằng:
Này thiện nam tử!  Có ai tu hành đúng lời dạy của thiện tri thức, chư Phật Thế Tôn thảy đều hoan hỷ.  Có ai tùy thuận theo lời của thiện tri thức thời được gần bậc nhứt thiết trí.  Có ai đối với lời của thiện tri thức không nghi hoặc thời thường gặp gỡ tất cả thiện hữu.  Có ai phát tâm nguyện thường chẳng rời thiện tri thức thời được đầy đủ tất cả nghĩa lợi.
Này thiện nam tử!  Ngươi nên đến vương đô An Trụ sẽ được gặp Bất Động ưu bà di đại thiện tri thức.
Thiện Tài từ tam muội trí quang minh dậy, đi lần đến thành An Trụ tìm hỏi Bất Động ưu bà di.
Đại chúng bảo rằng Bất Động ưu bà di là đồng nữ ở nhà với cha mẹ, mẹ cùng với quyến thuộc vô lượng nhơn chúng diễn nói diệu pháp.
Thiện Tài nghe nói lòng rất hoan hỷ như được gặp cha mẹ, liền đến nhà Bất Động ưu bà di.
Vào trong nhà thấy ánh sáng màu chơn kim chiếu khắp nơi, người gặp ánh sáng này thời thân tâm mát mẻ.
Ánh sáng chiếu đến thân, Thiện Tài liền chứng được năm trăm môn tam muội.  Như là môn tam muội rõ tất cả tướng hy hữu, môn tam muội nhập tịch tịnh, môn tam muội xa lìa tất cả thế gian, môn tam muội phổ nhã xả đắc, môn tam muội Như Lai tạng, v.v...
Do được năm trăm môn tam muội nên thân tâm nhu nhuyến như thai bảy ngày.
Lại nghe mùi hương, cõi trời cõi người không có được.
Thiện Tài đến chỗ ưu bà di cung kính chắp tay nhất tâm quán sát, thấy hình sắc của ưu bà di đoan trang xinh đẹp.  Tất cả nữ nhơn trong mười phương thế giới không ai sánh kịp huống là có người hơn.  Chỉ trừ đức Như Lai và chư quán đảnh Bồ Tát.  Miệng ưu bà di phát ra diệu hương.
Cung điện rất trang nghiêm và quyến thuộc của ưu bà di này không đâu sánh bằng.
Tất cả chúng sanh không ai sanh tâm nhiễm trước đối với ưu bà di này.
Nếu ai được tạm thời thấy ưu bà di này thời tất cả phiền não thảy đều tự tiêu diệt, ivs như trăm ngày đại phạm thiên vương, quyết định chẳng sanh phiền não cõi dục.
Thập phương chúng sanh nhìn xem ưu bà di này đều không nhàm chán.  Chỉ trừ bậc đầy đủ đại trí huệ.
Lúc đó Thiện Tài đồng tử cung kính chắp tay chánh niệm quán sát, thấy thân hình bất động ưu bà di tự tại bất tư nghì, sắc tướng dung nhan thế gian không sánh kịp, quang minh chiếu suốt không vật gì ngăn được, vì khắp chúng sanh mà làm lợi ích.  Lỗ lông nơi thân ưu bà di thường phát ra diệu hương.  Quyến thuộc vô biên, cung điện đệ nhất, công đức vô lượng không ngằn mé.
Thiện Tài vui mừng hớn hở nói kệ tán thán:
Giữ gìn giới thanh tịnh
Tu hành nhẫn rộng lớn
Tinh tấn chẳng thối chuyển
Quang minh chiếu thế gian.
Nói kệ xong, Thiện Tài thưa:
Bạch đức thánh!  Tôi đã phát tâm vô thượng bồ đề mà chưa biết Bồ Tát thế nào học Bồ Tát hạnh, thế nào tu Bồ Tát đạo?  Tôi nghe đức thánh khéo chỉ bảo, xin dạy cho.
Bất Động ưu bà di dùng lời nhu nhuyến duyệt ý của Bồ Tát an ủi Thiện Tài rằng:
Lành thay!  Lành thay!  Thiện nam tử đã phát tâm vô thượng bồ đề.
Này thiện nam tử!  Ta được môn giải thoát Bồ Tát nan tồi phục trí huệ tạng.  Ta được Bồ Tát kiên cố thọ trì hạnh giải thoát môn.  Ta được Bồ Tát nhứt thiết pháp bình đẳng địa tổng trì môn.  Ta được Bồ Tát chiếu minh nhứt thiết pháp biện tài môn.  Ta được Bồ Tát cầu nhứt thiết pháp vô bì yểm tam muội môn.
Thiện Tài thưa:
Bạch đức thánh!  Cảnh giới của Bồ Tát nan tồi phục trí huệ tạng giải thoát môn nhẫn đến cảnh giới của Bồ Tát cầu nhứt thiết pháp vô bì yểm tam muội môn như thế nào?
Bất Động đồng nữ nói:
Này thiện nam tử!  Chỗ này khó biết.
Thiện Tài thưa:
Mong đức thánh thừa Phật thần lực giảng giải cho.  Tôi sẽ nhơn thiện tri thức mà tin được, thọ được, biết được, rõ được, có thể xu nhập, quán sát, tu tập, tuỳ thuận, rời các phân biệt rốt ráo bình đẳng.
Bất Động nói:
Này thiện nam tử!  Quá khứ có một kiếp tên là Ly Cấu, Phật hiệu Tu Tý.  Thuở đó có quốc vương tên là Điển Thọ chỉ sanh một gái, chính là tiền thân của ta.  Một đêm khuya kia, lúc dẹp âm nhạc, vương phụ, vương mẫu, vương huynh, vương đệ và năm trăm đồng nữ đều đã ngũ.
Công nương ở trên lầu ngước xem tinh tú, ở trong hư không thấy đức Tu Tý Như Lai như tòa bửu sơn hai bên có vô lượng vô biên thiên, long, bát bộ và chúng Bồ Tát hầu hạ.  Thân Phật phóng đại quang minh chiếu khắp mười phương không chướng ngại.  Toàn thân Phật, các lỗ lông đều phát diệu hương.
Công nương nghe diệu hương của Phật thân thể nhu nhuyến, long hoan hỷ, bèn xuống lầu đứng trên đất, chắp mười ngón tay đảnh lễ đức Phật.  Công nương lại quán sát vô kiến đảnh tướng của đức Phật, thấy thân Phật phía tả phía hữu không biết được ngằn mé.  Tư duy các tướng tuỳ hảo của Phật không nhàm chán.  Tự nghĩ thầm:
Đức Phật Thế Tôn đây thực hành công hạnh gì mà được thân tướng tốt đẹp viên mãn quang minh đầy đủ, quyến thuộc thành tựu, cung điện trang nghiêm tốt đẹp, phước đức trí huệ thảy đều thanh tịnh, tổng trì tam muội chẳng thể nghĩ bàn, thần thông tự tại, biện tài vô ngại.
Đức Phật biết tâm niệm của công nương nên bảo rằng:  ngươi nên phát tâm bất khả hoại, diệt các phiền não.  Nên phát tâm vô năng thắng, phá các chấp trước.  Nên phát tâm không thối khiếp, nhập các pháp môn.  Nên phát tâm nhẫn nại, cứu chúng sanh ác.  Nên phát tâm không mê hoặc, thọ sanh khắp các loài.  Nên phát tâm không nhàm đủ, cầu thấy chư Phạt không thôi ngớt.  Nên phát tâm không biết đủ, lãnh thọ tất cả pháp vũ của Như Lai.  Nên phát tâm chánh tư duy, sanh khắp tất cả Phật pháp quang minh.  Nên phát tâm đại trụ trì, chuyển khắp tất cả chư Phật pháp luân.  Nên phát tâm rộng lưu thông, tùy sở thích của chúng sanh mà ban cho pháp bửu.
Công nương nghe Phật dạy những pháp như vậy liền phát tâm cầu nhứt thiết trí, cầu Phật thập lực, cầu Phật biện tài, cầu Phật quang minh, cầu Phật sắc thân, cầu Phật tướng hảo, cầu Phật chúng hội, cầu Phật quốc độ, cầu Phật oai nghi, cầu Phật thọ mạng.
Tâm của công nương như kim cang, tất cả phiền não nhẫn đến nhị thừa đều không pháp hoại được.
Này thiện nam tử!  Từ đời làm công nương phát tâm như vậy đến nay, trải qua diêm phù đề vi trần số kiếp, ta còn chẳng móng một tâm niệm ái dục, huống là làm sự ấy.  Trong những kiếp ấy, đối với quyến thuộc chẳng khởi một niệm sân hận, huống là với chúng sanh khác.  Trong những kiếp ấy, đối với tự thân không có một niệm ngã kiến, huống là có niệm ngã sở đối với đồ vật.  Từ những kiếp ấy, lúc chết lúc sanh và lúc ở trong bào thai chưa từng mê  muội sanh trưởng chúng sanh và tâm vô ký, huống là những lúc khác.  Trong những kiếp đó, tùy thấy một đức Phật nào, chưa từng quên mất, huống là Bồ Tát thập nhã ngó thấy.  Trong những kiếp ấy, thọ trì tất cả Như Lai chánh pháp, chưa từng quên sót một chữ một câu, nhẫn đến tất cả ngôn từ của thế tục còn chẳng quên mất, huống là lời từ kim khẩu của đức Như Lai.  Trong những kiếp ấy, thọ trì tất cả Như Lai pháp hải, không một câu một chữ nào mà chẳng tư duy quán sát nhẫn đến tất cả pháp thế tục cũng như vậy.  Trong những kiếp ấy, thọ trì tất cả pháp hải như vậy chưa từng ở trong một pháp mà chẳng được tam muội, nhẫn đến những kỹ thuật thế gian, mỗi mỗi pháp cũng đều như vậy.  Trong những kiếp ấy, trụ trì tất cả Như Lai pháp luân, tùy pháp đã trụ trì chưa từng bỏ một chữ một câu, nhẫn đến chưa sanh thế trí, chỉ trừ khi vì muốn điều phục chúng sanh.  Trong những kiếp ấy, thấy chư Phật hải chưa từng ở chỗ một đức Phật nào mà chẳng thành tựu đại nguyện thanh tịnh, nhẫn đến ở chỗ Hóa Phật cũng như vậy.  Trong những kiếp ấy, thấy chư Bồ Tát tu hành diệu hạnh không có một hạnh nào mà chẳng thành tựu.  Trong những kiếp ấy, có bao nhiêu chúng sanh, không có một chúng sanh nào mà ta chẳng khuyên phát tâm vô thượng bồ đề, chưa từng khuyên ai phát tâm thanh văn, bích chi Phật.  Trong những kiếp ấy, nơi tất cả Phật pháp, nhẫn đến chẳng nghi hoặc có một câu một chữ.  Cũng chẳng có tưởng sai khác, chẳng có tưởng phân biệt, chẳng có các thứ tưởng chẳng có tưởng chấp trước, chẳng có tưởng thắng liệt, chẳng có tưởng yêu ghét.
Này thiện nam tử!  Từ ấy đến nay, ta thường thấy chư Phật, thường thấy Bồ Tát, thường thấy chơn thiện tri thức, thường nghe chư Phật nguyện, thường nghe Bồ Tát hạnh, thường nghe Bồ Tát ba la mật môn, thường nghe Bồ Tát địa trí quang minh môn, thường nghe Bồ Tát vô tận tạng môn, thường nghe nhập vô biên thế giới võng môn, thường nghe xuất sanh vô biên chúng sanh giới nhơn môn.  Thường dùng trí huệ quang minh thanh tịnh diệt trừ tất cả chúng sanh phiền não.  Thường dùng trí huệ sanh trưởng tất cả chúng sanh thiện căn.  Thường tùy chúng sanh sở thích mà hiện thân.  Thường dùng ngôn âm thượng diệu thanh tịnh khai ngộ pháp giới tất cả chúng sanh.
Này thiện nam tử!  Ta được Bồ Tát cầu nhứt thiết pháp vô yểm túc trang nghiêm môn.  Ta được nhứt thiết pháp tổng trì môn hiện bất tư nghì tự tại thần biến.  Ngươi muốn thấy chăng?
Thiện Tài thưa:
Vâng!  Bạch đức thánh!  Tôi muốn được thấy.
Lúc đó Bất Động ưu bà di ngồi trên tòa long tạng sư tử, nhập cầu nhứt thiết pháp vô yểm túc trang nghiêm tam muội môn, bất không luân trang nghiêm tam muội môn, thập lực trí luân hiện tiền tam muội môn, Phật chủng vô tận tạng tam muội môn, nhập một vạn tam muội môn như vậy.
Lúc ưu bà di nhập tam muội môn này, mười phương đều có bất khả thuyết phật sát vi trần số thế giới chấn động sáu cách, đều bằng lưu ly đều thanh tịnh.
Trong mỗi mỗi thế giới có trăm ức ức tứ thiên hạ, trăm ức Như Lai, hoặc trụ Đâu Suất thiên, nhẫn đến nhập niết bàn, mỗi mỗi Như Lai phóng quang minh võng chiếu khắp pháp giới, đạo tràng chúng hội thanh tịnh vây quanh chuyển diệu pháp luân khai ngộ chúng sanh.
Bất Động ưu bà di xuất tam muội, hỏi Thiện Tài:
Ngươi có thấy chăng?
Thiện Tài thưa:
Vâng!  Tôi đã thấy.
Bất Động ưu bà di nói:
Ta chỉ được "cầu nhứt thiết pháp vô yểm túc tam muội quang minh" này, vì tất cả chúng sanh mà nói vi diệu pháp đều làm cho hoan hỷ.
Như chư đại Bồ Tát du hành hư không vô ngại như kim sí điểu, có thể vào tất cả chúng sanh đại hải, thấy có ai thiện căn đã thành thục, liền bắt lấy để trên bờ bồ đề.
Lại như thương gia vào đại bửu đảo lượm lấy Như Lai thập lực trí bửu.  Lại như nhà chài lưới cầm lưới chánh pháp vào biển sanh tử ở trong nước ái lược bắt chúng sanh.  Như a tu la vương có thể khắp khuấy động khắp tam hữu đại thành những biển phiền não.  Lại như mặt nhựt xuất hiện hư không chiếu nước ái dơ làm cho khô cạn.  Lại như mặt trăng tròn xuất hiện hư không làm cho người đáng hóa độ, tâm hoa được khai nở.  Lại như đại địa đều bình đẳng với tất cả, tất cả chúng sanh nương ở nơi đó được tăng trưởng gốc mầm tất cả pháp lành.  Lại như đại phong thổi vô ngại, có thể nhổ trốc tất cả cây lớn kiến chấp.  Như chuyển luân vương du hành thế gian, dùng tứ nhiếp pháp nhiếp các chúng sanh. 
Ta thế nào biết được nói được công đức hạnh ấy.
Này thiện nam tử!  Phương Nam đây có một đại thành tên là Vô Lượng Đô Tát La.  Trong thành đó có một xuất gia ngoại đạo tên là Biến Hành.  Ngươi đến đó hỏi Bồ Tát thế nào học Bồ Tát hạnh, thế nào tu Bồ Tát đạo?
Thiện Tài đồng tử đảnh lễ nơi chân Bất Động ưu bà di, hữu nhiễu vô lượng vòng, ân cần chiêm ngưỡng, từ tạ mà đi.
Thiện Tài đồng tử được nghe pháp nơi Bất Động ưu bà di rồi, chuyên tâm nghĩ nhớ lời dạy thảy đều tin thọ tư duy quán sát, đi lần đến thành Đô Tát La.  Lúc vào thành mặt trời đã lặn, Thiện Tài đi khắp phố phường, khắp các ngã đường tìm Biến Hành.
Thành đông có núi tên là Thiện Đức.  Giữa đêm Thiện Tài thấy đỉnh núi ấy, có cây đồi gộp đều sáng chói như mặt trời mới mọc.
Thiện Tài mừng rỡ nghĩ rằng:
Tôi chắc được gặp thiện tri thức nơi núi ấy.
Thiện Tài liền ra khỏi thành lên núi ấy, thấy Biến Hành ngoại đạo, đi kinh hành chậm rải nơi khoảng đất bằng trên núi.  Dung sắc viên mãn, oai quang chiếu sáng hơn cả đại phạm thiên vương.  Có mười ngàn trời phạm chúng vây quanh.
Thiện Tài đến đảnh lễ nơi chân Biến Hành, hữu nhiễu vô lượng vòng, chắp tay cung kính thưa:
Bạch đức thánh!  Tôi đã phát tâm vô thượng bồ đề, mà chưa biết Bồ Tát thế nào học Bồ Tát hạnh, thế nào tu Bồ Tát đạo?  Tôi nghe đức thánh khéo dạy bảo, xin vì tôi mà giảng nói:
Biến Hành nói:
Lành thay!  Lành thay!  Này thiện nam tử!  Ta đã an trụ chí nhứt thiết xứ Bồ Tát hạnh, đã thành tựu phổ quán thế gian tam muội môn, đã thành tựu vô y vô tác thần thông lực, đã thành tựu phổ môn bát nhã ba la mật.
Này thiện nam tử!  Ta ở khắp nơi trong thế gian, những hình mạo, những hạnh giải, những  chết sống, tất cả các loài: loài trời, loài rồng, loài dạ xoa, loài càn thát bà, loài a tu la, loài ca lâu la, loài khẩn na la, loài ma hầu la già, địa ngục, súc sanh, diêm la vương, loài phi nhơn, loài người.
Tất cả các loài hoặc trụ kiến chấp, hoặc tin nhị thừa, hoặc có kẻ tin ưa đạo đại thừa.  Trong tất cả chúng sanh như vậy, ta dùng những phương tiện, những trí môn mà làm lợi ích cho họ.
Như là hoặc vì họ mà diễn nói tất cả kỹ nghệ thế gian cho họ được đầy đủ trí đà la ni tất cả xảo thuật.  Hoặc vì họ mà diễn thuyết nói tứ nhiếp phương tiện cho họ đầy đủ đạo nhứt thiết trí.  Hoặc vì họ mà diễn nói các môn ba la mật, cho họ hồi hướng về nhứt thiết trí.  Hoặc vì họ mà tán dương tâm đại bồ đề, cho họ chẳng mất tâm vô thượng đạo.  Hoặc vì họ mà tán dương những hạnh Bồ Tát, cho họ được hoàn mãn nguyện tịnh Phật độ, cứu chúng sanh.  Hoặc vì họ mà diễn nói hể tạo nghiệp ác thời bị những khổ báo địa ngục v.v... cho họ nhàm lìa những ác nghiệp.  Hoặc vì họ mà diễn nói cúng dường chư Phật trồng các căn lành, quyết định được quả nhứt thiết trí, cho họ phát sanh tâm hoan hỷ.  Hoặc vì họ mà diễn nói những công đức của Như Lai đẳng chánh giác, cho họ thích thân Phật, cầu nhứt thiết trí.  Hoặc vì họ mà diễn nói oai đức của chư Phật cho họ ưa thích thân bất hoại của Phật.  Hoặc vì họ mà diễn nói thân tự tại của Phật, cho họ cầu thân đại oai đức của Như Lai.
Lại này thiện nam tử!  Trong thành Đô Tát La này khắp mọi nơi, tất cả tộc loại, trong nhơn chúng hoặc nam hoặc nữ, ta đều dùng phương tiện thị hiện đồng thân hình như họ, để tùy cơ nghi mà thuyết pháp độ họ.
Chúng nhơn ấy đều chẳng biết ta là ai, từ đâu đến, chỉ là cho người nghe như thiệt tu hành.
Này thiện nam tử!  Như sự làm lợi ích chúng sanh trong thành này, khắp cõi diêm phù đề, những thành ấp tụ lạc chỗ có người ở, ta cũng đều làm lợi  ích cho mọi người như vậy.
Này thiện nam tử!  Trong diêm phù đề có chín mươi sáu chúng đều sanh kiến chấp khác nhau.  Ở trong những chúng đó, ta phương tiện điều phục cho họ bỏ lìa những kiến chấp.
Như ở diêm phù đề, ba thiên hạ kia cũng vậy.
Như tứ thiên hạ, khắp đại thiên thế giới cũng vậy.
Đến mười phương vô lượng thế giới các chúng sanh hải, ta đều ở trong đó tuỳ tâm sở thích của các chúng sanh, dùng những phương tiện, những pháp môn mà hiện những sắc thân dùng các thứ ngôn âm mà vì họ thuyết pháp cho họ được lợi ích.
Này thiện nam tử!  Ta chỉ biết "chí nhứt thiết xứ Bồ Tát hạnh" này.
Như chư đại Bồ Tát, thân cùng đồng với số chúng sanh, được cùng chúng sanh không thân sai khác, dùng thân biến hóa, vào khắp các loài, nơi tất cả xứ đều hiện thọ sanh, hiện ở khắp chỗ chúng sanh thanh tịnh quang minh soi sáng thế gian, dùng vô ngại nguyện trụ tất cả kiếp, được những hạnh vô đẳng như đế võng, thường siêng lợi ích tất cả chúng sanh, hằng ở chung với họ mà không chấp trước, khắp tam thế thảy đều bình đẳng, dùng trí vô ngã soi khắp mọi nơi, dùng đại bi tạng quán sát tất cả.
Ta thế nào biết được nói được công đức hạnh đó.
Này thiện nam tử!  Phương Nam đây có một nước tên là Quảng Đại, nơi đó có trưởng giả buôn hương tên là Ưu Bát La Hoa.  Ngươi đến đó hỏi Bồ Tát thế nào học Bồ Tát hạnh, tu Bồ Tát đạo?
Thiện Tài đồng tử đảnh lễ nơi chân Biến Hành, hữu nhiễu vô lượng vòng, ân cần chiêm ngưỡng từ tạ mà đi.
Nhờ thiện tri thức dạy bảo, Thiện Tài chẳng đoái thân mạng, chẳng ham của báu, chẳng thích nhơn chúng, chẳng mê ngũ dục, chẳng luyến quyến thuộc, chẳng trọng ngôi vua.
Chỉ nguyện cứu độ tất cả chúng sanh, chỉ nguyện nghiêm tịnh tất cả Phật độ, chỉ nguyện cúng dường tất cả chư Phật, chỉ nguyện chứng biết thực tánh của các pháp, chỉ biết nguyện tu tập biển công đức lớn của tất cả Bồ Tát, chỉ nguyện tu hành tất cả công đức trọn không thối chuyển, chỉ nguyện hằng ở trong tất cả kiếp dùng đại nguyện lực tu Bồ Tát hạnh, chỉ nguyện vào khắp tất cả chư Phật chúng hội đạo tràng, chỉ nguyện nhập môn tam muội mà hiện khắp tất cả môn tam muội tự tại thần lực, chỉ nguyện ở trong một lỗ lông của Phật, thấy tất cả Phật tâm không nhàm đủ, chỉ nguyện được tất cả pháp trí huệ quang minh, có thể thọ trì pháp tạng của chư Phật.
Thiện Tài chuyên cầu công đức của tất cả chư Phật và Bồ Tát như vậy, đi lần qua thành Quảng Đại, đến chỗ trưởng giả Ưu Bát La Hoa, đảnh lễ chân trưởng giả, hữu nhiễu vô lượng vòng, chắp tay cung kính thưa rằng:
Bạch đức thánh!  Tôi đã phát tâm vô thượng bồ đề muốn cầu trí huệ bình đẳng của tất cả Phật.  Muốn đủ vô lượng đại nguyện của tất cả Phật.  Muốn tịnh sắc thân tối thượng của tất cả Phật.  Muốn thấy pháp thân thanh tịnh của tất cả Phật.  Muốn biết trí thân quảng đại của tất cả Phật.  Muốn tịnh trị những hạnh của tất cả Bồ Tát.  Muốn chiếu sáng tam muội của tất cả Bồ Tát.  Muốn an trụ tổng trì của tất cả Bồ Tát.  Muốn diệt trừ tất cả chướng ngại.  Muốn du hành tất cả thế giới mười phương.  Mà tôi chưa biết thế nào học Bồ Tát hạnh, thế nào tu Bồ Tát đạo, để có thể xuất sanh nhứt thiết chủng trí.
Trưởng giả nói:
Lành thay!  Lành thay!  Thiện nam tử có thể phát tâm vô thượng bồ đề.
Này thiện nam tử!  Ta khéo biết rõ tất cả những thứ hương, cũng biết phương pháp điều hiệp tất cả thứ hương.  Như là tất cả thứ hương, tất cả hương đốt, tất cả hương thoa, tất cả hương bột.
Ta cũng biết chỗ xuất sanh tất cả thứ hương như vậy.  Ta lại khéo biết thiên hương, long hương, dạ xoa hương, càn thát bà hương, a tu la hương, ca lâu la hương, khẩn na la hương, ma hầu la già hương, nhơn hương, phi nhơn hương.
Ta lại khéo biết các thứ hương trị bịnh.  Như là hương dứt ác, hương sanh hoan hỷ, hương thêm phiền não, hương diệt phiề não, hương làm cho ở nơi pháp hữu vi sanh ưa mến, hương làm cho sanh lòng nhàm lìa pháp hữu vi, hương bỏ những kiêu mạn phóng dật, hương phát tâm niệm Phật, hương chứng hiểu pháp môn, hương thánh thọ dụng, hương tất cả Bồ Tát sai biệt, hương tất cả địa vị Bồ Tát.  Các thứ hương như vậy, hình tướng sanh khởi, xuất hiện thành tựu cảnh giới phương tiện thanh tịnh an ổn, oai đức nghiệp dụng và cùng căn bổn, ta đều biết rõ cả.
Này thiện nam tử!  Ở nhơn gian có thứ hương tên là Tượng Tạng, nhơn rồng đấu nhau mà sanh.  Nếu đốt một hoàn, liền nổi mây hương che trùm vương đô, trong bảy ngày mưa thơm pháp pháy.  Nếu đeo trên thân thời thân thành màu chơn kim.  Nếu giắt trong y phục, cung điện, lầu gác, cũng đều mà chơn kim.  Nếu gió thổi vào trong cung điện, chúng sanh ngửi được, thời trọn bảy ngày đêm hoan hỷ thơ thới, khoái lạc, không bịnh chẳng xâm hại nhau, lìa các ưu khổ, chẳng kinh chẳng sợ, chẳng loạn chẳng giận, thương mến nhau, chí ý thanh tịnh.  Ta biết như vậy rồi bèn vì họ mà thuyết pháp, cho họ quyết định phát tâm vô thượng bồ đề.
Này thiện nam tử!  Núi Ma La Gia xuất sanh chiên đàn hương tên là Ngưu Đầu.  Nếu dùng hương này thoa trên thân, thời dầu vào hầm lửa cũng chẳng bị cháy.
Này thiện nam tử!  Trong biển có hương tê là Vô Năng Thắng, nếu đem thoa trống và và các loa ốc, lúc phát tiêng lên lời tất cả quân địch đều tự thối tán.
Này thiện nam tử!  Ở bên ao A Nậu Đạt xuất sanh trầm thủy hương tê là Liên Hoa Tạng.  Nếu đốt chừng bằng hạt mè, thời hơi hương lan khắp Diêm Phù Đề, chúng sanh ngửi hương này thời lìa tất tội, giới phẩm thanh tịnh.
Này thiện nam tử!  Núi tuyết có hương tên là A Lô Na, nếu có chúng sanh ngửi hương này thời tâm họ quyết định lìa những nhiễm trước, ta vì họ mà thuyết pháp, tất cả đều được ly cấu tam muội.
Này thiện nam tử!  Trong cõi la sát có thứ hương tên là Hải Tạng.  Hương này chỉ có Chuyển Luân Vương được dùng.  Nếu đốt một viên hương này để xông, thời vương và bốn bộ binh đều bay đi trên không.
Này thiện nam tử!  Trong trời Thiện Pháp có thứ hương tên lfa Tịnh Trang Nghiêm, nếu đốt lên một viên, liền khiến khắp chư thiên đều niệm Phật.
Này thiện nam tử!  Trời dạ ma có thứ hương tên là Tịnh Tạng, nếu đố lên một viên, thời tất cả trời dạ ma đều vân tập đến chỗ dạ ma thiên vương để nghe pháp.
Này thiện nam tử!  Trong trời Đâu Suất có thứ hương tên là Tiên Đà Bà, nếu đốt lên một viên trước chỗ ngồi của đức nhứt sanh bổ xứ Bồ Tát, thời nổi mây hương lớn khắp pháp giới, khắp mưa tất cả những đồ cúng dường, để cúng đường tất cả chư Phật, Bồ Tát.
Này thiện nam tử!  Cõi trời Thiện Biến Hóa có thứ hương tên là Đoạt Ý, nếu đốt lên một viên thời trong bảy ngày khắp mưa tất cả những đồ trang nghiêm.
Này thiện nam tử!  Ta chỉ biết phương pháp điều hòa các thứ hương đây.
Như chư đại Bồ Tát xa lìa tất cả tập khí của các pháp, chẳng nhiễm thế dục, dứt hẳn nơm rọ của chúng ma phiền não, thoát khỏi cõi hữu lậu, dùng hương trí huệ để tự trang nghiêm.  Nơi các thế gian đều không nhiễm trước.  Thành tựu đầy đủ giới vô trước, thanh tịnh trí vô trước, đi trong cảnh vô trước, ở tất cả xứ đều không chấp trước.  Tâm của các ngài bình đẳng, không chấp trước, không y tựa.
Ta thế nào biết được diệu hạnh đó, nói được công đức đó, hiểu được giới môn thanh tịnh của các ngài, thị được công hạnh không sai lầm của các ngài làm, biện được thân khẩu ý lìa nhiễm của các ngài.
Này thiện nam tử!  Phương Nam đây có một thành lớn tên là Lâu Các, trong thành có một người lái thuyền tên là Bà Thi La.  Ngươi đến đó hỏi Bồ Tát thế nào học Bồ Tát hạnh, tu Bồ Tát đạo?
Thiện Tài đồng tử đảnh lễ nơi chân trưởng giả Ưu Bát La Hoa hữu nhiễu vô lượng vòng, ân cần chiêm ngưỡng tự tạ mà đi.
Bấy giờ Thiện Tài đi về phía thành Lâu Các, quán sát đường sá.  Như là xem đường cao thấp, xem đường bằng hiểm, đường sạch dơ, đường cong ngay.  Tự nghĩ rằng: tôi phải thân cận thiện tri thức đó.  Thiện tri thức là nhơn thành tựu tu hành những đạo Bồ Tát, là nhơn thành tựu tu hành đạo ba la mật, là nhơn thành tựu tu hành đạo nhiếp chúng sanh, là nhơn thành tựu tu hành đạo vào khắp pháp giới vô ngại, là nhơn thành tựu tu hành đạo khiến tất cả chúng sanh trừ ác huệ, là nhơn thành tựu tu hành đạo khiến các chúng sanh lìa kiêu mạn, là nhơn thành tựu tu hành đạo khiến các chúng sanh diệt trừ phiền não, là nhơn thành tựu tu hành đạo khiến tất cả chúng sanh bỏ những kiến chấp, là nhơn thành tựu tu hành đạo khiến tất cả chúng sanh đến thành nhứt thiết trí.
Tại sao vậy?
Vì ở chỗ thiện tri thức được tất cả thiện pháp.  Vì nương sức thiện tri thức được đạo nhứt thiết trí.  Thiện tri thức rất là khó thấy khó gặp. 
Thiện Tài đồng tử suy nghĩ như vậy, đi lần đến thành Lâu Các, thấy Bà Thi La đương đứng trên bờ biển ở ngoài cửa thành.  Trăm ngàn thương gia và vô lượng nhơn chúng vây quanh ông.
Bà Thi La vì họ mà nói đại hải pháp phương tiện khai thị Phật công đức hải.
Thiện Tài đến lễ chân Bà Thi La hữu nhiễu vô lượng vòng, chắp tay cung kính thưa rằng:
Bạch đức thánh!  Tôi đã phát tâm vô thượng bồ đề mà chưa biết Bồ Tát thế nào học Bồ Tát hạnh, tu Bồ Tát đạo?  Tôi nghe đức thánh khéo dạy bảo.  Xin vì tôi mà nói.
Bà Thi La nói:
Lành thay!  Lành thay!  Thiện nam tử đã có thể phát tâm vô thượng bồ đề nay lại có thể hỏi nhơn duyên sanh đại trí, nhơn duyên dứt trừ tất cảnh khổ sanh tử, nhơn duyên đến châu đại bửu nhứt thiết trí.  Nhơn duyên thành tựu đại thừa bất hoại.  Nhơn duyên xa lìa sự bố úy sanh tử an trụ những vòng tam muội tịch tịnh của hàng nhị thừa.  Nhơn duyên ngồi xe đại nguyện đi khắp mọi nơi thực hành Bồ Tát hạnh vô ngại thanh tịnh.  Nhơn duyên dùng Bồ Tát hạnh trang nghiêm nhứt thiết trí thanh tịnh.  Nhơn duyên quán sát khắp tất cả các pháp mười phương đều vô ngại thanh tịnh.  Nhơn duyên mau có thể xu nhập biển nhứt thiết trí thanh tịnh.
Này thiện nam tử!  Ta ở trong đường trên bờ biển ngoài cửa thành Lâu Các này mà tịnh tu hạnh Bồ Tát đại bi tràng.
Này thiện nam tử!  Ta xe thấy chúng sanh nghèo cùng ở Diêm Phù Đề này mà tu các khổ hạnh để lợi ích họ.  Làm cho họ được thỏa mãn theo sở nguyện của họ.  Trước đem thế lợi cho họ được đầy đủ rồi ban cho họ chánh pháp, cho họ hoan hỷ, cho họ tu phước hạnh, cho họ đạo sanh trí, cho họ thêm sức thiện căn, cho họ phát bồ đề tâm, cho họ tịnh bồ đề nguyện, cho họ vững chắc sức đại bi, cho họ tu đạo diệt sanh tử, cho họ chẳng nhàm hạnh sanh tử, cho họ nhiếp tất cả chúng sanh hải, cho họ tu tất cả công đức hải, cho họ chiếu rõ tất cả pháp hải, cho họ thấy tất cả Phật hải, cho họ vào nhứt thiết chủng trí hải.
Này thiện nam tử!  Ta ở nơi đây suy gẫm như vậy, nghĩ tưởng như là, lợi ích như vậy, cho tất cả chúng sanh.
Này thiện nam tử!  Ta biết trong biển, tất cả đảo châu báu, tất cả chỗ có châu báu, tất cả loại châu báu, tất cả thứ châu báu.  Ta biết trao dồi tất cả châu báu, xoi xỏ tất cả châu báu, sản xuất tất cả châu báu, làm tất cả châu báu.  Ta biết tất cả bửu khí, tất cả bửu dụng, tất cả bửu cảnh giới, tất cả bửu quang minh.   Ta biết tất cả chỗ cung điện của rồng, tất cả chỗ cung điện của dạ xoa, tất cả chỗ cung điện của bộ đa.  Ta đều khéo xa tránh những chỗ đó để khỏi những tai nạn.  Ta cũng biết rõ chỗ nước xoáy, chỗ cạn sâu sóng mòi xa gần, màu nước tốt xấu.  Ta cũng biết rõ nhựt, nguyệt, tinh tú vận hành độ số, ngày đêm sớm chiều, thời tiết dài ngắn.  Ta cũng biết rõ trên thuyền, sắt, gỗ, cứng chắc, mềm yếu, máy móc rít trơn, nước lớn nhỏ, gió thịch thuận.  Tất cả những sự tướng an nguy như vậy, ta đều biết rõ cả, nên đi thời đi, nên đậu thời đậu.
Này thiện nam tử!  Ta dùng trí huệ đã thành tựu đó để thường lợi ích tất cả chúng sanh.
Này thiện nam tử!  Ta dùng thuyề tốt chở các thương gia đi đường yên ổn, lại thuyết pháp cho họ hoan hỷ.  Ta đưa họ đến chỗ châu báu, cho họ đầy đủ châu báu.  Rồi ta đưa họ về bổn xứ.
Này thiện nam tử!  Ta đem thuyền lớn qua lại như vậy, chưa có lần nào bị tổn thất.  Nếu có ai thấy thân ta, nghe ta thuyết pháp, thời họ trọn chẳng còn sợ biển sanh tử, mà được vào biển nhứt thiết trí, có thể tiêu diệt những biển ái dục, có thể dùng trí quang chiếu sáng biển tam thế, có thể làm hết biển khổ của tất cả chúng sanh, có thể làm sạch tâm hải của tất cả chúng sanh, có thể nghiêm tịnh tất cả sát hải, có thể qua đến khắp biển lớn mười phương, có thể biết khắp căn hải của tất cả chúng sanh, rõ biết khắp hạnh hải của tất cả chúng sanh, có thể thuận khắp tâm hải của tất cả chúng sanh.
Này thiện nam tử!  Ta chỉ được đại bi tràng hạnh này.  Nếu có ai thấy ta, nghe đến ta, cùng ta đồng ở, nhớ tưởng đến ta, thời đều chẳng phí uổng.
Như chư đại Bồ Tát khéo du hành trong biển lớn sanh tử, chẳng nhiễm tất cả những biện phiền não, có thể bỏ tất cả những biển vọng kiến, có thể quán sát những biển pháp tánh, có thể dùng tứ nhiếp để nhiếp biển chúng sanh, đã khéo an trụ biển nhứt thiết trí, có thể diệt trừ biển chấp trước của tất cả chúng sanh, có thể bình đẳng trụ nơi biển tất cả thời gian, có thể dùng thần thông độ biển chúng sanh, có thể theo thời nghi điều phục biển chúng sanh.
Ta thế nào biết được nói được công đức hạnh đó.
Này thiện nam tử!  Phương Nam đây có thành tên là Khả Lạc.  Trong thành ấy có trưởng giả tên là Vô Thượng Thắng.  Ngươi đến đó hỏi Bồ Tát thế nào học Bồ Tát hạnh, thế nào tu Bồ Tát đạo?
Thiện Tài đồng tử đảnh lễ nơi chân Bà Thi La, hữu nhiễu vô lượng vòng, buồn khóc rơi lệ, ân cần chiêm ngưỡng, tâm thiết tha cầu thiện tri thức, từ tạ mà đi.
Lúc đó Thiện Tài phát tâm đại từ cùng khắp, tâm đại bi nhuần thấm tiếp nối không dứt, phước đức trí huệ hai thứ trang nghiêm.  Bỏ rời tất cả phiền não trần cấu, chứng pháp bình đẳng, tâm không cao hạ, nhổ gai bất thiện, diệt tất cả chướng, kiên cố tinh tấn dùng làm hào tường, thậm thâm tam muội làm vườn tược.  Dùng mặt nhựt trí huệ phá tối vô minh.  Dùng gió phương tiện nở hoa trí huệ.  Dùng vô ngại nguyện sung mãn pháp giới.  Tám thường hiện nhập thành nhứt  thiết trí.  Như vậy mà cầu đạo Bồ Tát.
Thiện Tài đi lần đến thành Khả Lạc, thấy trưởng giả Vô Thượng Thắng ở nơi thành đông, trong rừng vô ưu đại trang nghiêm tràng, có vô lượng thương gia và năm ngàn cư sĩ vây quanh.  Trưởng giả quản lý phán đoán những sự vụ nhơn gian.  Rồi trưởng giả lại nhơn đó vì đại chúng mà thuyết pháp.  Làm cho họ khỏi hẳn tất cả ngã mạn, rời ngã và ngã sở, bỏ chỗ tích tụ, diệt tham xan tật đố, tâm được thanh tịnh không trược uế, được sức tịnh tín, thường thích thấy Phật, thọ trì Phật, pháp sanh Bồ Tát lực, khởi Bồ Tát hạnh, nhập Bồ Tát tam muội, được Bồ Tát trí huệ, trụ Bồ Tát chánh niệm, thêm Bồ Tát chí nguyện.
Thiện Tài thấy trưởng giả Vô Thượng Thắng đã vì đại chúng thuyết pháp xong, liền đến đảnh lễ chân trưởng giả giây lâu mới đứng dậy thưa rằng:
Bạch đức thánh!  Tôi là Thiện Tài.  Tôi là Thiện Tài.  Tôi chuyên tìm cầu hạnh Bồ Tát. 
Bạch đức thánh!  Bồ Tát thế nào học Bồ Tát hạnh?  Bồ Tát thế nào tu Bồ Tát đạo?  Lúc tu học thường có thể hóa độ tất cả chúng sanh, thường có thể hiện thấy tất cả chư Phật, thường được nghe tất cả Phật pháp, thường có thể trụ trì tất cả Phật pháp, thường có thể xu nhập tất cả pháp môn, vào tất cả cõi học Bồ Tát hạnh, trụ tất cả kiếp tu Bồ Tát đạo, có thể biết thần lực của tất cả Như Lai, có thể được tất cả Như Lai hộ niệm, có thể được tất cả Như Lai trí huệ.
Trưởng giả Vô Thượng Thắng nói:
Lành thay!  Lành thay!  Thiện nam tử đã có thể phát tâm vô thượng bồ đề.
Này thiện nam tử!  Ta thành tựu "chí nhứt thiết xứ Bồ Tát hạnh môn", sức thần thông vô y vô tác.
Này thiện nam tử!  Ta ở tại đại thiên thế giới này, trong tất cả chúng sanh nơi dục giới.  Những là tất cả Đao Lợi thiên, tất cả Tu Dạ Ma thiên, tất cả Đâu Suất thiên, tất cả Thiện Biến Hóa thiên, tất cả Tha Hóa Tự Tại thiên, tất cả Ma thiên và tất cả chỗ ở của chư thiên, long, dạ xoa, la sát, cưu bàn trà, càn thát bà, a tu la, ca lâu la, khẩn na la, mà hầu la già, nhơn và phi nhơn.  Ta ở trong tất cả nơi đó mà vì tất cả chúng sanh thuyết pháp, làm cho họ bỏ phi pháp dứt tranh luận, trừ chiến đấu, thôi giận tranh, phá oan kiết, mở trói buộc, khỏi lao ngục, thoát bố úy, không sát sanh nhẫn đến không tà kiến.  Đều làm cho họ cấm chỉ tất cả ác nghiệp những sự chẳng nên làm, khiến họ thuận làm tất cả pháp lành, khiến họ học tất cả kỹ nghệ, làm lợi ích ở thế gian.  Vì họ mà phân biệt các thứ luận cho họ hoan hỷ, cho họ lần lần thành thục.  Tuỳ thuận ngoại đạo, vì họ mà giảng thắng trí, cho họ dứt kiến chấp, cho họ nhập Phật pháp.  Nhẫn đến tất cả phạm thiên cõi sắc, ta cũng vì họ mà nói pháp siêu thắng.
Như ở đại thiên thế giới này, trong mười bất khả thuyết trăm ngàn ức na do tha phật sát vi trần số thế giới, ta cũng vì tất cả chúng sanh mà giảng nói Phật pháp, Bồ Tát pháp, Thanh Văn pháp, Độc Giác pháp.  Ta giảng nói địa ngục, chúng sanh địa ngục, nghiệp đạo hướng địa ngục.  Ta giảng nói súc sanh, súc sanh sai biệt, sanh thọ khổ, nghiệp đạo hướng súc sanh.  Ta giảng nói Diêm La Vương thế gian, khổ của Diêm La Vương thế gian, nghiệp đạo hướng Diêm La Vương thế gian.  Ta giảng nói nhơn gian, khổ vui của nhơn gian, nghiệp đạo hướng nhơn gian.  Ta giảng nói thiên thế gian, vui của thiên thế gian, nghiệp đạo hướng thiên thế gian.
Ta thuyết pháp là vì muốn khai hiển công đức của Bồ Tát vì làm cho chúng sanh bỏ lìa khổ hoạn sanh tử, vì làm cho họ biết thấy những diệu công đức của nhứt thiết trí, vì muốn cho họ biết trong các loài mê hoặc thọ khổ, vì cho họ thấy biết pháp không chướng ngại, vì muốn hiển thị sở nhơn sanh khởi thế gian, vì muốn hiển thị thế gian tịch diệt là vui, vì làm cho chúng sanh bỏ những chấp tưởng, vì làm cho họ chứng pháp vô y của Phật, vì làm cho họ diệt hẳn các phiền não, vì làm cho họ có thể chuyển Phật pháp luân.
Này thiện nam tử!  Ta chỉ biết pháp môn chí nhứt thiết xứ tu Bồ Tát hạnh thanh tịnh, sức thần thông vô y vô tác.
Như chư đại Bồ Tát đầy đủ tất cả thần thông tự tại, đều có thể đến khắp tất cả cõi Phật, được bậc phổ nhãn, đều nghe tất cả âm thanh ngôn thuyết, trí huệ tự tại vào khắp các pháp, không trái không sai, dũng kiện không ai bằng, dùng tướng lưỡi rộng dài nói bình đẳng, thân các ngài diệu hảo cùng chư Như Lai rốt ráo không hai không khác, trí thân quảng đại vào khắp tam thế cảnh giới không ngằn mé đồng với hư không.
Ta thế nào biết được nói được công đức hạnh đó.
Này thiện nam tử!  Phương Nam đây có một quốc độ tên là Thâu Na.  Nước đó có thành tên là Ca Lăng Ca Lâm.  Trong thành có tỳ khèo ni tên là Sư Tử Tần Thân.  Ngươi đến đó hỏi Bồ Tát thế nào học Bồ Tát hạnh, tu Bồ Tát đạo?
Thiện Tài đồng tử đảnh lễ chân trưởng giả Vô Năng Thắng, hữu nhiễu vô lượng vòng, ân cần chiêm ngưỡng từ tạ mà đi.
Thiện Tài đi lần đến thành Ca Lăng Ca Lâm tìm tỳ kheo ni Sư Tử Tần Thân.
Người trong thành bảo rằng tỳ kheo ni ấy hiện ở trong vườn Nhựt Quang của Thắng Quang Vương Hỷ Cúng, đương thuyết pháp lợi ích vô lượng chúng sanh.
Thiện Tài liền đến vườn Nhựt Quang.  Thấy trong vườn có một đại thọ tên Mãn Nguyệt, tàng cây như lâu các, phóng ánh sáng chiếu một do tuần.  Thấy một diệp thọ tên Phổ Phúc, hình như cây lọng, phóng ánh sáng màu tỳ lưu ly xanh biếc.  Thấy mộ hoa thọ tên Hoa Tạng cao lớn hình như núi tuyết, tuôn những hoa đẹp không cùng tận.
Như cây ba lợi chất đa la nơi cùng trời Đao Lợi.  Lại thấy một cam lộ quả thọ, hình như toà núi vàng thường phóng quang minh, sai trĩu những trái cam lộ.  Lại thấy một ma ni bửu thọ tên Tỳ Lô Giá Na Tạng, hình đẹp không gì bằng, tâm vương ma ni bửu ở trên chót cây, vô số ma ni bửu trang nghiêm khắp cây.  Lại thấy y thọ tên Thanh Tịnh những y phục nhiều màu thòng rủ nghiêm sức.  Lại có âm nhạc thọ tên Hoan Hỷ, vang tiếng âm nhạc hơn cả nhạc trời.  Lại có hương thọ tên Phổ Trang Nghiêm, hằng phát mùi thơm huân khắp mười phương không chướng ngại.
Trong vườn lại có suối chảy, ao mát, tất cả đều bằng thất bửu trang nghiêm, bùn hắc chiên đàn chứa đọng trong đó, các chơn kim trải mặt đáy, toàn nước bát công đức.  Hoa sen bốn màu xanh, vàng, đỏ, trắng phô trên mặt nước.
Trong vườn có vô lượng bửu thọ bày hàng khắp nơi.  Mỗi gốc cây có một tòa sư tử, trang nghiêm với các thứ diệu bửu, dùng thiên y để trải, ướp bằng diệu hương, thòng những lụa báu, giăng những bửu trướng, vàng diêm phù đàn che phía trên, lạc báu chạm reo vang tiếng vi diệu.
Hoặc có gốc cây thiết tòa liên hoa tạng sư tử.  Có gốc cây thiết tòa hương vương ma ni tạng sư tử.  Có gốc cây thiết tòa long trang nghiêm ma ni vương tạng.  Có gốc cây thiết tòa bửu sư tử tụ ma ni vương tạng.  Có gốc cây thiết tòa tỳ lô giá na ma ni vương tạng sư tử.  Có gốc cây thiết tòa thập phương tỳ lô giá na ma ni vương tạng sư tử.  Mỗi sư tử tòa đều có mười vạn tòa báu vây quanh, đều đủ vô lượng thứ trang nghiêm.
Trong vườn Nhựt Quang này, đầy những châu báu như bửu đảo ngoài đại hải.  Dùng y ca lân đà trải mặt đất, y này rất êm diệu mềm mát.  Đạp lên thời lún bàn chân, dở chân thời hoàn lại.
Có  vô lượng thứ chim vang tiếng hòa nhã.   Rừng cây bửu chiên đàn rất trang nghiêm, thường tuôn diệu hoa vô tận, như vườn tạp hoa của Thiên Đế Thích.  Hương vương vô tỷ thơm ngát khắp nơi, như Thiện Pháp Đường của Thiên Đế.  Những cây âm nhạc, cây bửu đa la, những lưới linh báu, vang tiếg vi diệu,  như tiếng ca ngâm của Thiện Khẩu thiên nữ ở cung trời Tự Tại.  Những cây như ý thòng rũ các thứ y đẹp trang nghiêm rộng lớn như đại hải, có vô lượng màu sắc.  Trăm ngàn lâu các trang nghiêm bằng châu báu, như thành Thiện Kiến ở Đao Lợi thiên cung.  Lọng báu giăng rộng như đảnh núi tu di.  Quang minh chiếu sáng như cung trời phạm vương.
Thiện Tài thấy vườn Nhựt Quang có vô số lượng công đức, vô lượng trang nghiêm.  Đâu là do công hạnh của Bồ Tát cảm thành, căn lành xuất thế phát khởi, cúng dường chư Phật sanh ra, tất cả thế gian không đâu sánh bằng.
Đây là do tỳ kheo ni Sư Tử Tần Thân thấu rõ pháp như huyễn, chứa nhóm phước đức lành thanh tịnh quảng đại mà thành tựu cảnh vườn trang nghiêm này.
Thiên, long, bát bộ, vô lượng chúng sanh trong đại thiên thế giới đều vào vườn này vẫn không chật hẹp.  Tại sao vậy?  Vì do oai thần bất tư nghì của tỳ kheo ni Sư Tử Tần Thân này khiến nên như vậy.
Thiện Tài thấy tỳ kheo ni này ngồi khắp trên tất cả tòa đại sư tử dưới những cội cây.  Thân tướng đoan nghiêm, oai nghi tịch tịnh.  Các căn điều thuận như đại tượng vương.  Tâm không cấu trược như thanh tịnh địa.  Khắp giúp ích chỗ cầu của mọi người như bửu châu như ý.  Không nhiễm thế gian như hoa sen.  Tâm vô úy như sư tử vương.  Hộ trì tịnh giới vững vàng như núi tu di.  Có thể làm cho người thấy lòng được thanh tịnh như diệu hương vương.  Có thể trừ phiền não của chúng sanh như hương diệu chiên đàn trong núi tuyết.  Chúng sanh được thấy thời tiết khổ như Thiện Kiến Dược Vương.  Người thấy chẳng luống uổng như Bà Lâu Na thiên.  Có thể sanh trưởng tất cả mầm thiện căn như ruộng phì nhiêu.
Tại mỗi tòa đại sư tử chúng hội không đồng nhau.  Lời thuyết pháp cũng đều sai khác.  Hoặc thấy chỗ thời chúng hội là Tịnh Cư thiên, thượng thủ là Đại Tự Tại Thiên Vương.  Tỳ kheo ni này vì họ mà nói pháp môn vô tận giải thoát.  Chỗ thời chúng hội là phạm thiên, Ái Lạc Phạm Vương làm thượng thủ.  Tỳ kheo ni này vì họ mà nói pháp môn tên là phổ môn sai biệt thanh tịnh ngôn âm luân.  Chỗ thời chúng hội là Tha Hóa Tự Tại thiên tử thiên nữ, Tự Tại Thiên Vương làm thượng thủ.  Tỳ kheo ni này vì họ mà nói pháp môn tên là Bồ Tát thanh tịnh tâm.  Chỗi thời chúng hội là Thiện Biến Hóa thiên tử thiên nữ, Thiện Hóa Thiên Vương làm thượng thủ.  Tỳ kheo ni này vì họ mà nói pháp môn tên là nhứt thiết pháp thiện trang nghiêm.  Chỗ thời chúng hội là Đâu Suất thiên tử thiên nữ, Đâu Suất Thiên Vương làm thượng thủ.  Tỳ kheo ni này vì họ mà thuyết pháp môn tên là vô biên trang nghiêm.  Chỗ thời chúng hội là Đao Lợi thiên tử thiên nữ, Thích Đề Hoàn Nhơn làm thượng thủ.  Tỳ kheo ni này vì họ mà nói pháp môn ten là yểm ly môn.  Chỗ thời chúng hội là chư long tử long tử, Bá Quang Minh long vương, Nan Đà long vương, Ưu Ba Nan Đà long vương, Ma Na Tư long vương, Y La Bạt Nan Đà long vương, A Na Bà Đạt Đa long vương, v.v... Ta Già long vương làm thượng  thủ.  Tỳ kheo ni này vì họ mà nói pháp môn tên là Phật thần thông cảnh giới quang minh trang nghiêm.  Chỗ thời chúng hội là thần dạ xoa, Tỳ Sa Môn thiên vương làm thượng thủ.  Tỳ kheo ni này vì họ mà nói pháp môn tên là cứu hộ chúng sanh tạng.  Chỗ thời chúng hội là thần càn thát bà, Trì Quốc thiên vương làm thượng thủ.  Tỳ kheo ni này vì họ mà nói pháp môn tên là vô tận hỷ.  Chỗ thời chúng hội là a tu la, La Hầu A Tu La vương làm thượng thủ.  Tỳ kheo ni này vì họ mà nói pháp môn tên là tốt tật trang nghiêm pháp giới trí môn.  Chỗ thời chúng hội là ca lâu la, Thiệp Trì Ca Lâu La vương làm thượng thủ.  Tỳ kheo ni này vì họ mà nói pháp môn tên là bố động chư hữu hải.  Chỗ thời chúng hội là khẩn na la, Đại Thọ khẩn na la vương làm thượng thủ.  Tỳ kheo ni này vì họ mà nói pháp môn tên là Phật hạnh quang minh.  Chỗ thời chúng hội là ma hầu la già, Am La Lâm ma hầu la già vương làm thượng thủ.  Tỳ kheo ni này vì họ mà nói pháp môn tên là sanh Phật hoan hỷ tâm.  Chỗ thời chúng hội là vô lượng nam tử nữ nhơn.  Tỳ kheo ni này vì họ mà nói pháp môn tên là thù thắng hạnh.  Chỗ thời chúng hội là la sát, Thường Đoạt Tinh Khí Đại Thọ la sát vương làm thượng thủ.  Tỳ kheo ni này vì họ mà nói pháp môn tên là phát sanh bi mẫn tâm.  Chỗ thời chúng hội là chúng sanh tin ưa thanh văn thừa.  Tỳ kheo ni này vì họ mà nói pháp môn tê là thắng trí quang minh.  Chỗ thời chúng hội là chúng sanh tin ưa duyên giác thừa.  Tỳ kheo ni này vì họ mà nói pháp môn tên là Phật công đức quảng đại quang minh.  Chỗ thời chúng hội là những chúng sanh tin ưa đại thừa.  Tỳ kheo ni này vì họ mà nói pháp môn tên là phổ môn tam muội trí quang minh môn.  Chỗ thời chúng hội là sơ phát tâm Bồ Tát.  Tỳ kheo ni này vì họ mà nói pháp môn tên là nhứt thiết Phật nguyện tụ.  Chỗ thời chúng hội là đệ nhị địa Bồ Tát.  Tỳ kheo ni này vì họ mà nói pháp môn tên là ly cấu luân.  Chỗ thời chúng hội là đệ tam địa Bồ Tát.  Tỳ kheo ni này vì họ mà nói pháp môn tên là tịch tịnh trang nghiêm.  Chỗ thời chúng hội là đệ tứ địa Bồ Tát.  Tỳ kheo ni này vì họ mà nói pháp môn tên là sanh nhứt thiết trí cảnh giới.  Chỗ thời chúng hội là đệ ngũ địa Bồ Tát.  Tỳ kheo ni này vì họ mà nói pháp môn tên là diệu hoa tạng.  Chỗ thời chúng hội là đệ lục địa Bồ Tát.  Tỳ kheo ni này vì họ mà nói pháp môn tên là Tỳ Lô Giá Na tạng.  Chỗ thời chúng hội là đệ thất địa Bồ Tát.  Tỳ kheo ni này vì họ mà nói pháp môn tên là phổ trang nghiêm địa.  Chỗ thời chúng hội là đệ bát địa Bồ Tát.  Tỳ kheo ni này vì họ mà nói pháp môn tên là biến pháp giới cảnh giới thân.  Chỗ thời chúng hội là đệ cửu địa Bồ Tát.  Tỳ kheo ni này vì họ mà nói pháp môn tên là vô sở đắc lực trang nghiêm.   Chỗ thời chúng hội là đệ thập địa Bồ Tát.  Tỳ kheo ni này vì họ mà nói pháp môn tên là vô ngại luân.  Chỗ thời chúng hội là chấp kim cang thần.  Tỳ kheo ni này vì họ mà nói pháp môn tên là kim cang trí na la diên trang nghiêm.
Thiện Tài thấy khắp nơi, các loài, các chúng sanh đã thành thục, đã điều phục, kham làm pháp thí đều vào trong vườn này quây quần ngồi quanh dưới bửu tọa.  Sư Tử Tần Thân tỳ kheo ni tùy theo trí giải thắng liệt sai khác của họ mà vì họ thuyết pháp cho họ chẳng thối chuyển nơi vô thượng bồ đề.
Tại sao vậy? 
Vì tỳ kheo ni này nhập phổ nhãn xả, chứng được môn bát nhã ba la mật, môn bát nhã ba la mật diễn nói tất cả Phật pháp, môn bát nhã ba la mật pháp giới sai biệt, môn bát nhã ba la mật tán hoại tất cả chướng ngại, môn bát nhã ba la mật sanh thiện tâm cho tất cả chúng sanh, môn bát nhã ba la mật thù thắng trang nghiêm, môn bát nhã ba la mật vô ngại chân thật tạng, môn bát nhã ba la mật pháp giới viên mãn, môn bát nhã ba la mật tâm tạng, môn bát nhã ba la mật khắp xuất sanh tạng.  Trong mười môn này, đầu tiên là bát nhã ba la mật môn.
Tỳ kheo ni này nhập số số trăm ngàn môn bát nhã ba la mật như vậy.  Tất cả Bồ Tát và chúng sanh trong vườn Nhựt Quang đều là do Sư Tử Tần Thân tỳ kheo ni khuyên phát tâm thọ trì chánh pháp tư duy tu tập, đều được bất thối chuyển nơi đạo vô thượng chánh giác.
Thiện Tài đồng tử thấy khu vườn như vậy, bửu tòa như vậy, kinh hành như vậy, chúng hội như vậy, thần lực như vậy, biện tài như vậy.  Lại nghe bất tư nghì pháp môn, pháp vân quảng đại nhuần thấm tâm mình, bèn nghĩ rằng tôi sẽ cung kính hữu nhiễu tỳ kheo ni này vô lượng trăm ngàn vòng.
Lúc đó Sư Tử Tần Thân tỳ kheo ni phóng đại quang minh chiếu khắp vu vườn Nhựt Quang và chúng hội.
Thiện Tài liền tháy thân mình cùng tất cả bửu thọ trong vườn đều đồng thời hữu nhiễu tỳ kheo ni này cả vô lượng trăm ngàn muôn vòng. 
Hữu nhiễu xong, Thiện Tài chắp tay thưa rằng:
Bạch đức thánh!  Tôi đã phát tâm vô thượng bồ đề mà chưa biết Bồ Tát thế nào học Bồ Tát hạnh, thế nào tu Bồ Tát đạo?  Tôi nghe đức thánh khéo dạy bảo, xin chỉ dạy cho.
Tỳ kheo ni nói:
Này thiện nam tử!  Ta được môn giải thoát tên là thành tựu nhứt thiết trí.
Thiện Tài thưa:
Bạch đức thánh!  Cớ sao gọi là thành tựu nhứt thiết trí.
Tỳ kheo ní nói:
Này thiện nam tử!  Quang minh của trí này, trong một niệm chiếu khắp tất cả tam thế Phật pháp.
Thiện Tài thưa:
Bạch đức thánh!  Quang minh của trí này, cảnh giới thế nào?
Tỳ kheo ni nói:
Này thiện nam tử!  Ta nhập môn trí quang minh này được xuất sanh nhứt thiết pháp tam muội vương.  Do tam muội này nên được ý sanh thân qua đến mười phương tất cả thế giới, chỗ của nhất sanh bổ xứ Bồ Tát nơi cung Đâu Suất.
Trước mỗi Bồ Tát, ta hiện bất khả thuyết phật sát vi trần số thân.  Mỗi thân dâng bất khả thuyết phật sát vi trần số đồ cúng dường.  Như là hiện thân thiên vương nhẫn đến thân nhơn vương, cầm hoa vân, hương vân, y phục, anh lạc, bửu phan, bửu cái, bửu võng, bửu trướng, bửu tạng, bửu đăng, dâng lên cúng dường.
Như ở chỗ Bồ Tát nơi Đâu Suất thiên cung, nơi Bồ Tát trụ thai, xuất thai, tại gia, xuất gia, đến đạo tràng, thành chánh giác, chuyển pháp luân, nhập niết bàn.  Trong khoảng thời gian đó, hoặc ở thiên cung, hoặc ở long cung, nhẫn đến ở nhơn cung, nơi mỗi mỗi đức Như Lai, ta đều cúng dường như vậy.
Nếu có chúng sanh nào biết ta cúng dường chư Phật như vậy, thời đều được chẳng thối chuyển nơi vô thượng bồ đề.  Nếu chúng sanh nào đến chỗ của ta, thời ta vì họ mà giảng nói bát nhã ba la mật.
Này thiện nam tử!  Ta thấy tất cả chúng sanh, vì trí nhãn thấy rõ nên ta chẳng phân biệt chúng sanh tướng.  Nghe tất cả ngữ ngôn, vì tâm không chấp trước nên ta chẳng phân biệt ngữ ngôn tướng.  Thấy tất cả Như Lai, vì thấu rõ pháp thân nên ta chẳng phân biệt Như Lai tướng.  Trụ trì tất cả pháp luân, vì ngộ pháp tự tánh nên ta chẳng phân biệt pháp luân tướng.  Một niệm biết khắp tất cả pháp, vì biết pháp như huyễn nên ta chẳng phân biệt pháp tướng.
Này thiện nam tử!  Ta chỉ biết môn giải thoát thành tựu nhứt thiết này.
Như chư đại Bồ Tát tâm vô phân biệt biết khắp các pháp, một thân ngồi yên mà đầy khắp cả pháp giới.  Ở trong tự thân hiện tất cả cõi.  Khoảng một niệm đến khắp tất cả chỗ Phật.  Ở trong tự thân hiện khắp tất cả thần lực của chư Phật.  Dùng một sợi lông đỡ khắp bất khả thuyết thế giới lên.  Trong một lỗ lông nơi tự thân hiện bất khả thuyết thế giới thành hoại.  Trong khoảng một niệm cùng với bất khả thuyết chúng sanh đồng ở.  Trong khoảng một niệm nhập bất khả thuyết bất khả thuyết kiếp.
Ta thế nào biết được nói được công đức hạnh đó.
Này thiện nam tử!  Phương Nam đây có một nước tên là Hiểm Nạn.  Nước đó có thành tên là Bửu Trang Nghiêm.  Trong thành ấy có một nữ nhơn tên là Bà Tu Mật Đa.  Ngươi đến đó hỏi Bồ Tát thế nào học Bồ Tát hạnh, thế nào tu Bồ Tát đạo?
Thiện Tài đồng tử đảnh lễ chân Sư Tử Tần Thân tỳ kheo ni hữu nhiễu vô số vòng, ân cần chiêm ngưỡng từ tạ mà đi.
Thiện Tài được đại trí quang minh soi mở tâm, tư duy quán sát thấy tánh của các pháp.  Được môn đà la ni rõ biết tất cả ngôn âm.  Được môn đà la ni thọ trì tất cả pháp luân.  Được sức đại bi làm chỗ quy y cho tất cả chúng sanh.  Được môn quang minh quán sát nghĩa lý của tất cả pháp.  Được thanh tịnh nguyện sung mãn pháp giới.  Được trí quang minh chiếu khắp mười phương tất cả pháp.  Được sức tự tại khắp trang nghiêm tất cả thế giới.  Được viên mãn nguyện khắp phát khởi tất cả Bồ Tát hạnh.
Thiện Tài đi lần đến nước Hiểm Nạn, thành Bửu Trang Nghiêm tìm Bà Tu Mật Đa nữ.
Trong thành, những người chẳng biết công đức trí huệ của cô gái ấy nên nghĩ rằng:
Đồng tử này thân căn tịch tịnh, trí huệ sáng suốt chẳng mê chẳng loạn, nhìn kỹ một tầm không lười mỏi, không chấp trước, mắt ngó chẳng nháy, tâm không táng động sâu rộng như đại hải.  Người như vậy chẳng nên ở nơi cô gái Bà Ta Mật Đa mà có tâm tham ái, có tâm điên đảo, sanh tưởng là sạch, sanh tưởng ái dục.  Chẳng nên bị nữ sắc cám dỗ.  Đồng tử này chẳng làm hạnh ma, chẳng nhập ma cảnh, chẳng chìm nước bùn ái dục, chẳng bị ma trói, chỗ chẳng nên làm đã có thể chẳng làm.  Sao lại có ý gì mà tìm cô gái này.
Có người đã biết công đức trí huệ của cô gái này bèn bảo Thiện Tài rằng:
Lành thay!  Lành thay!  Nay thiện nam tử có thể tìm Bà Tu Mật Đa nữ.  Thế là đã được lợi lành rộng lớn.  Thiện nam tử nên quyết định cầu quả vì Phật, quyết định vì chúng sanh mà làm chỗ y tựa, quyết định muốn nhổ mũi tên độc tham ái cho tất cả chúng sanh, quyết định muốn phá những ý tưởng sạch sẽ đối với nữ sắc của tất cả chúng sanh.
Này thiện nam tử!  Bà Tu Mật Đa nữ hiện ở nhà của cô tại chợ Bắc trong thành này.
Thiện Tài vui mừng hớn hở đến cổng nhà Bà Tu Mật Đa nữ.
Thấy nhà này rộng rãi nghiêm lệ, tường báu, cây báu, hào báu, mỗi mỗi bao quanh mười lớp.  Trong hào báu đầy đủ nước thơm, cát vàng trải đáy, những bửu hoa, bông sen bốn màu xanh, vàng, đỏ, trắng đua nở trên mặt nước.
Cung điện lâu các đều tráng lệ.  Cửa nẻo thành hàng nối nhau.  Đều treo lạc, treo lưới, đều treo phan, treo tràng.  Vô lượng trân kỳ dùng để nghiêm sức.  Đất bằng lưu ly xen lẫn những châu báu.  Xông trầm thủy, thoa chiên đàn.  Trong những linh báu, gió rung trỗi nhạc.  Rải những thiên hoa trải khắp mặt đất.  Những sự trang nghiêm tráng lệ không thể tả hết.  Những kho tàng trân bửu đến số trăm ngàn.  Mười khu vườn lớn rất mực trang nghiêm.
Thiện Tài thấy Bà Tu Mật Đa nữ nhan mạo đoan nghiêm, sắc tướng viên mãn.  Da màu chân kim.  Tóc và mắt màu xanh biếc, chẳng dài ngắn, chẳng thô tế, tất cả hàng nhơn thiên cõi dục không ai sánh bằng.  Tiếng nói thanh tốt hơn trời phạm thế.  Tất cả ngôn âm sai biệt của tất cả chúng sanh đều biết đều hiểu.  Thấu rõ chữ nghĩa khéo luận đàm.  Được trí như huyễn nhập môn phương tiện.
Trên thân của nữ nhơn này trang sức bằng những chuỗi ngọc báu và những đồ trang nghiêm.  Đầu đội mão như ý bửu châu.  Lại có vô lượng quyến thuộc vây quanh, đều đồng thiện căn, đều đồng hạnh nguyện, phước đức vô tận.
Bà Tu Mật Đa nữ, từ trên thân phóng quang minh quảng đại chiếu khắp cả nhà, tất cả cung điện.  Người được ánh sáng này chiếu đến thời thân được mát mẻ.
Thiện Tài đến đảnh lễ chân Bà Tu Mật Đa nữ, chắp tay cung kính thưa rằng:
Bạch đức thánh!  Tôi đã phát tâm vô thượng bồ đề mà chưa biết thế nào học Bồ Tát hạnh, thế nào tu Bồ Tát đạo?  Tôi nghe đức thánh khéo dạy bảo, xin chỉ dạy cho.
Bà Tu Mật Đa nữ nói:
Này thiện nam tử!  Ta được Bồ Tát giải thoát môn tên là ly tham dục tế, tùy chỗ sở thích của chúng sanh mà hiện thân.
Nếu chư thiên thấy ta, thời ta là thiên nữ xinh đẹp sáng chói.  Như vậy nhẫn đến nhơn hay phi nhơn thấy ta, thời ta là nhơn nữ hay phi nhơn nữ.  Nếu có người vì lòng dục mà đến tìm ta, gặp ta thuyết pháp, họ nghe pháp rồi thời hết tham dục được Bồ Tát vô trước cảnh giới tam muội.  Nếu có chúng sanh tạm thấy ta thời lìa tham dục mà được Bồ Tát hoan hỷ tam muội.  Nếu có chúng sanh tạm cùng ta nói chuyện, thời lìa tham dục mà được Bồ Tát vô ngại âm thanh tam muội.  Nếu có chúng sanh tạm cầm tay ta thời lìa tham dục mà được Bồ Tát tam muội đến khắp tất cả cõi Phật.  Nếu có chúng sanh tạm lên trên chỗ ngồi của ta, thời lìa tham dục mà được Bồ Tát giải thoát quang minh tam muội.  Nếu có chúng sanh tạm nhìn ta, thời lìa tham dục mà được Bồ Tát tịch tịnh trang nghiêm tam muội.  Nếu có chúng sanh thấy ta, thời lìa tham dục mà được Bồ Tát tồi phục ngoại đạo tam muội.  Nếu có chúng sanh thấy mắt nháy, thời lìa tham dục mà được Bồ Tát Phật cảnh giới quang minh tam muội.  Nếu có chúng sanh ôm ta, thời lìa tham dục mà được Bồ Tát tam muội nhiếp tất cả chúng sanh hằng chẳng bỏ lìa.  Nếu chúng sanh nút môi ta, thời lìa tham dục mà được Bồ Tát tam muội tăng trưởng phước đức tạng cho tất cả chúng sanh.  Phàm có chúng sanh nào thân cận ta, tất cả đều lìa tham dục mà được nhập Bồ Tát nhứt thiết trí hiện tiền giải thoát vô ngại.
Thiện Tài thưa:
Đức thánh gieo căn lành gì, tu phước nghiệp gì mà được thành tựu tự tại như vậy?
Bà Tu Mật Đa nữ nói:
Này thiện nam tử!  Ta nhớ thuở quá khứ có đức Phật hiệu Cao Hạnh.  Đô thành chủ của vua nước ấy tên là Sa Môn.
Đức Cao Hạnh Như Lai vào thành Sa Môn, chân Phật đạp lên ngạch cổng thành.  Liền đó cảnh thành đều chấn động, bỗng trở nên rộng rãi, trang nghiêm với những châu báu, vô lượng quang minh chiếu ruốt lẫn nhau.  Những bửu hoa rải khắp mặt đất.  Chư thiên âm nhạc đồng thời hòa tấu, tất cả chư thiên sung mãn hư không. 
Thuở ấy ta là vợ trưởng giả tên là Thiện Huệ, thấy thần lực của Phật, tâm liền giác ngộ.  Ta cùng trưởng giả đến chỗ Phật, dâng lên Phật một bửu tiền.
Văn Thù Sư Lợi đồng tử đương làm thị giả của đức Phật Cao Hạnh, vì ta mà thuyết pháp, khiến ta phát tâm vô thượng bồ đề.
Này thiện nam tử!  Ta chỉ biết môn giải thoát Bồ Tát ly tham tế này.
Như chư đại Bồ Tát thành tựu vô biên trí xảo phương tiện, công đức quảng đại, cảnh giới vô tỷ. 
Ta thế nào biết được nói được công đức hạnh đó. 
Này thiện nam tử!  Phương Nam đây có thành Thiện Độ.  Trong thành ấy có cư sĩ Tỳ Sắc Chi La.  Ông ấy thường cúng dường tháp của đức Chiên Đàn Tòa Như Lai.  Ngươi đến đó hỏi Bồ Tát thế nào học Bồ Tát hạnh, thế nào tu Bồ Tát đạo?
Thiện Tài đồng tử đảnh lễ chân Bà Tu Mật Đa nữ, hữu nhiễu vô lượng vòng, ân cần chiêm ngưỡng từ tạ mà đi.
Bấy giờ Thiện Tài đi lần về phương Nam, đến thành Thiện Độ, vào nhà cư sĩ Tỳ Sắc Chi La, đảnh lễ chân cư sĩ, chắp tay thưa rằng:
Bạch đức thánh!  Tôi đã phát tâm vô thượng bồ đề, mà chưa biết Bồ Tát thế nào học Bồ Tát hạnh, thế nào tu Bồ Tát đạo?
Tôi nghe đức thánh khéo dạy bảo, xin chỉ dạy cho.
Cư sĩ nói:
Này thiện nam tử!  Ta được môn Bồ Tát giải thoát tên là bất bát niết bàn tế.
Này thiện nam tử!  Ta chẳng nghĩ rằng: đức Như Lai đó đã nhập niết bàn, đức Như Lai đó hiện nhập niết bàn, đức Như Lai đó sẽ nhập niết bàn.
Ta biết mười phương tất cả thế giới chư Phật Như Lai rốt ráo không có đức Phật nào nhập niết bàn, chỉ trừ ra khi vì điều phục chúng sanh mà thị hiện thôi.
Này thiện nam tử!  Lúc ta mở cửa tháp của đức Chiên Đàn Tòa Như Lai, ta liền được tam muội tên là Phật chủng vô tận.
Này thiện nam tử!  Trong mỗi niệm ta nhập  tam muội này, trong mỗi niệm ta biết được vô lượng sự thù thắng.
Thiện Tài thưa:
Bạch đức thánh!  Tam muội đó, cảnh giới thế nào?
Cư sĩ nói:
Này thiện nam tử!  Ta nhập tam muội này, theo thứ đệ, thấy tất cả chư Phật ở thế giới này.  Như là thấy đức Ca Diếp Phật, Câu Na Hàm Mâu Ni Phật, Câu Lưu Tôn Phật, Thi Khí Phật, Tỳ Bà Thi Phật, Đề Xá Phật, Phất Sa Phật, Vô Thượng Thắng Phật, Vô Thượng Liên Hoa Phật.
Trong khoảng một niệm, được thấy trăm đức Phật, ngàn đức Phật, thấy trăm ngàn đức Phật, thấy ức Phật ngàn ức Phật, thấy trăm ngàn ức Phật, thấy a giu đa ức Phật, thấy na do tha ức Phật.  Nhẫn đến thấy bất khả thuyết bất khả thuyết thế giới vi trần số Phật.
Cũng thấy chư Phật đó lúc mới phát tâm gieo những căn lành, được thắng thần thông, thành tựu đại nguyện, tu hành diệu hạnh, đủ ba la mật, nhập Bồ Tát địa, được thanh tịnh nhẫn, xô dẹp quân ma thành đẳng chánh giác, quốc độ thanh tịnh, chúng hội đạo tràng, phóng đại quang minh, chuyển diệu pháp luân, thần thông biến hiện nhiều thứ sai biệt.  Ta đều có thể thọ trì, có thể ghi nhớ, có thể quán sát phân biệt hiển thị tất cả.  Thuở vị lai đức Di Lặc Phật, v.v.. tất cả chư Phật cũng như vậy.  Hiện tại đức Tỳ Lô Giá Na Phật, v.v... tất cả chư Phật cũng như vậy.  Như tại thế giới này, mười phương tất cả thế giới tất cả tam thế chư Phật, thanh văn, duyên giác, Bồ Tát cũng đều như vậy.
Này thiện nam tử!  Ta chỉ được môn Bồ Tát giải thoát bất bát niết bàn tế này.
Như chư đại Bồ Tát dùng nhứt niệm trí biết khắp tam thế, một niệm vào khắp tất cả tam muội.  Như Lai trí nhựt hằng chiếu tâm các ngài.  Nơi tất cả pháp không có phân biệt.  Biết tất cả Phật thảy đều bình đẳng.  Như Lai cùng ta và tất cả chúng sanh bình đẳng không sai khác.  Biết tất cả pháp tự tánh thanh tịnh, không tư lự, không động chuyển, mà có thể vào khắp tất cả thế gian, lìa những phân biệt, trụ Phật pháp ấn, đều có thể khai ngộ tất cả chúng sanh.
Ta thế nào biết được nói được công đức hạnh đó.
Này thiện nam tử!  Phương Nam đây có tòa núi tên là Bổ Đát Lạc Ca.  Núi ấy có Bồ Tát tên là Quán Tự Tại.  Ngươi đến đó hỏi Bồ Tát thế nào học Bồ Tát hạnh, thế nào tu Bồ Tát đạo?
Cư sĩ liền nói kệ rằng:
Trên biển có núi tên Thánh Hiền
Châu báu làm thành rất thanh tịnh
Hoa quả rừng cây đều sung mãn
Suối chảy ao mát đều đầy đủ.
Dũng mãnh trượng phu Quán Tự Tại
Vì độ chúng sanh ở núi này
Ngươi nên đến hỏi các công đức
Bồ Tát sẽ dạy đại phương tiện.
Thiện Tài đồng tử đảnh lễ chân cư sĩ Tỳ Sắc Chi La, hữu nhiễu vô lượng vòng, ân cần chiêm ngưỡng từ tạ mà đi.
Lúc đó, Thiện Tài đồng tử nhất tâm tư duy lời dạy của cư sĩ.  Nhập tạng Bồ Tát giải thoát ấy.  Được xuất Bồ Tát tùy niệm ấy.  Thọ trì thứ lớp danh hiệu của chư Phật ấy.  Quán sát diệu pháp của chư Phật ấy nói.  Biết chư Phật ấy đầy đủ trang nghiêm.  Thấy chư Phật ấy thành đẳng chánh giác.  Rõ bất tư nghì nghiệp của chư Phật ấy.
Thiện Tài đi lần đến núi Phổ Đà tìm Bồ Tát Quán Tự Tại.
Trong gành đá phía Tây, suối chảy lóng lánh, rừng cây rậm rợp, cỏ thơm mềm nhuyễn trải mặt đất.
Đức Quán Tự Tại Bồ Tát ngồi kiết già trên tảng đá kim cang bửu.  Xung quanh có vô lượng Bồ Tát cũng ngồi trên bửu thạch.
Bồ Tát Quán Tự Tại vì chúng Bồ Tát mà tuyên nói pháp đại từ bi, khiến nhiếp thọ tất cả chúng sanh.
Thiện Tài xem thấy vui mừng hớn hở, chắp tay nhìn kỹ, mắt không nháy, tự nghĩ rằng:
Thiện tri thức là Như Lai.  Thiện tri thức là mây tất cả pháp.  Thiện tri thức là tạng công đức.  Thiện tri thức rất khó gặp.  Thiện tri thức là nhơn duyên sanh thập lực.  Thiện tri thức là đuốc trí vô tận.  Thiện tri thức là mầm gốc phước đức.  Thiện tri thức là cửa nhứt thiết trí.  Thiện tri thức là trí hải đạo sư.  Thiện tri thức là công cụ trợ đạo đến nhứt thiết trí.
Nghĩ xong, Thiện Tài đến chỗ Quán Tự Tại Bồ Tát.
Bồ Tát thấy Thiện Tài liền nói:
Lành thay thiện nam tử!  Ngươi phát tâm đại thừa nhiếp khắp chúng sanh.  Ngươi khởi tâm chánh trực chuyên cầu Phật pháp.  Ngươi có đại bi thâm trọng cứu hộ tất cả.  Phổ Hiền diệu hạnh nối tiếp hiện tiền.  Đại nguyện thâm tâm viên mãn thanh tịnh.  Siêng cầu Phật pháp có thể lãnh thọ tất cả.  Chứa nhóm thiện căn hằng không nhàm đủ.  Ngươi thuận thiện tri thức chẳng trái lời dạy.  Từ biển lớn công đức trí huệ của Văn Thù Sư Lợi mà sanh.  Tâm ngươi thành thục được thế lực của Phật.  Đã được tam muội quang minh quảng đại.  Chuyên tâm mong cầu diệu pháp thậm thâm.  Thường thấy chư Phật tâm rất hoan hỷ.  Trí huệ thanh tịnh như hư không.  Đã tự sáng tỏa lại vì người mà diễn nói.  An trụ trí huệ quang minh của Như Lai.
Lúc đó  Thiện Tài đồng tử đảnh lễ chân Quán Tự Tại Bồ Tát, hữu nhiễu vô số vòng, chắp tay cung kính thưa rằng:
Bạch đức thánh!  Tôi đã phát tâm vô thượng bồ đề, mà chưa biết Bồ Tát thế nào học Bồ Tát hạnh, thế nào tu Bồ Tát đạo?  Tôi nghe đức thánh khéo dạy bảo, xin chỉ dạy cho.
Bồ Tát nói:
Lành thay!  Lành thay!  Này thiện nam tử!  Ngươi đã có thể phát tâm vô thượng bồ đề.
Này thiện nam tử!  Ta đã thành tựu Bồ Tát đại bi hạnh giải thoát môn.
Này thiện nam tử!  Ta dùng môn Bồ Tát đại bi hạnh này bình đẳng giáo hóa tất cả chúng sanh tiếp nối chẳng dứt.
Này thiện nam tử!  Ta trụ nơi môn đại bi hạnh này thường ở chỗ tất cả chư Phật, hiện khắp trước tất cả chúng sanh.  Hoặc dùng bố thí, hoặc dùng ái ngữ, lợi hành, đồng sự để nhiếp thủ chúng sanh.  Hoặc hiện sắc thân nhiếp thủ chúng sanh.  Hoặc hiện những sắc bất tư nghì quang minh thanh tịnh để nhiếp thủ chúng sanh.  Hoặc dùng âm thanh, hoặc dùng oai nghi, hoặc vì họ thuyết pháp, hoặc hiện thần biến, làm cho tâm họ tỏ ngộ mà được thành thục.  Hoặc vì họ mà hiện thân đồng loại cùg họ ở chung mà thành thục họ.
Này thiện nam tử!  Ta tu hành môn đại bi hạnh này, nguyện thường cứu hộ tất cả chúng sanh, nguyện tất cả chúng sanh khỏi sợ con đường hiểm, khỏi sợ nhiệt não, khỏi sợ mê hoặc, khỏi sợ trói buộc, khỏi sợ sát hại, khỏi sợ nghèo cùng, khỏi sợ chẳng sống, khỏi sợ tiếng xấu, khỏi sợ sự chết, khỏi sợ đại chúng, khỏi sợ ác thú, khỏi sợ tối tâm, khỏi sợ dời đổi, khỏi sợ ái biệt ly, khỏi sợ oán thù gặp, khỏi sợ thân bức bách, khỏi sợ tâm bức bách, khỏi sợ lo buồn.
Ta lại phát nguyện: nguyện tất cả chúng sanh hoặc nhớ đến ta, hoặc xưng tên ta, hoặc thấy thân ta, thời đều được khỏi tất cả sự bố úy.
Này thiện nam tử!  Ta dùng phương tiện này làm cho chúng sanh khỏi sự bố úy, lại dạy họ phát tâm vô thượng bồ đề  trọn chẳng thối chuyển.
Này thiện nam tử!  Ta chỉ được môn Bồ Tát đại bi hạnh này.
Như chư đại Bồ Tát đã thanh tịnh tất cả nguyện Phổ Hièn, đã an trụ tất cả hạnh Phổ Hiền, thường thực hành tất cả thiện pháp, thường nhập tất cả tam muội, thường trụ tất cả vô biên kiếp, thường biết tất cả tam thế pháp, thường đến tất cả vô biên cõi, thường dứt tất cả chúng sanh ác, thường lớn tất cả chúng sanh thiện, thường tuyệt dòng sanh tử của chúng sanh.
Ta thế nào biết được nói được công đức hạnh đó.
Bấy giờ phương Đông có Bồ Tát tên là Chánh Thu từ hư không đến thế giới Ta Bà trên đảnh núi Luân Vi Sơn, Bồ Tát này lấy chân ấn đất.  Ta Bà thế giới chấn động sáu cách, biến thành thất bửu trang nghiêm.
Chánh Thu Bồ Tát phóng ánh sáng nơi thân che chói tất cả mặt nhựt mặt nguyệt.  Tất cả quang minh của thiên, long, bát bộ, đế thích, phạm vương hộ thế đều như đống mực đen.
Quang minh của Bồ Tát chiếu khắp tất cả địa ngục, súc sanh, ngạ quỷ, diêm la vương, làm cho chúng sanh nơi ác đạo hết khổ, chẳng khởi phiền não, đều rời lo buồn.
Lại khắp tất cả Phật độ mưa tất cả hoa, hương anh lạc, y phục, tràng phan, bửu cái, những đồ trang nghiêm để cúng dường chư Phật.  Lại tuỳ sở thích của các chúng sanh mà hiện thân khắp trong tất cả cung điện, ai thấy cũng đều hoan hỷ.
Sau đó Chánh Thu Bồ Tát mới đến chỗ của Quán Tự Tại Bồ Tát.
Quán Tự Tại Bồ Tát bảo Thiện Tài rằng:
Ngươi thấy Chánh Thu Bồ Tát đến pháp hội chăng?  Ngươi nên đến hỏi Bồ Tát thế nào học Bồ Tát hạnh, thế nào tu Bồ Tát đạo?
Thiện Tài đồng tử tuân lời liền đến đảnh lễ chân Chánh Thu Bồ Tát, chắp tay cung kính thưa rằng:
Bạch đức thánh!  Tôi đá phát tâm vô thượng bồ đề mà chưa biết Bồ Tát thế nào học Bồ Tát hạnh, thế nào tu Bồ Tát đạo?  Tôi nghe đức thánh khéo dạy bảo xin chỉ dạy cho.
Chánh Thu Bồ Tát nói:
Này thiện nam tử!  Ta được Bồ Tát giải thoát môn tên là phổ môn tốt tật hành.
Thiện Tài thưa:
Bạch đức thánh!  Nơi đức Phật nào được phát môn này?  Cõi của đức thánh cách đây bao xa?  Từ đó đến đây bao lâu?
Chánh Thu Bồ Tát nói:
Này thiện nam tử!  Việc này khó biết.  Tất cả thế gian không thể rõ được.  Chỉ trừ chư Bồ Tát dũng mãnh tinh tấn không thối không khiếp, đã được tất cả thiện hữu nhiếp thọ, chư Phật hộ niệm, thiện căn đầy đủ, chí nguyện thanh tịnh được căn Bồ Tát có mắt trí huệ, có thể nghe, có thể thọ trì, có thể hiểu, có thể nói.
Thiện Tài thưa:
Bạch đức thánh!  Tôi thừa thần lực của Phật, của thiện tri thức, có thể tin, có thể thọ.  Xin Bồ Tát nói cho.
Bồ Tát nói:
Này thiện nam tử!  Ta từ Đông phương Diệu Tạng thế giới, chỗ đức Khổ Thắng Sanh Phật mà đến cõi này.  Ta được pháp môn này ở tại đức Phật ấy.  Từ cõi ấy đến đây trải qua bất khả thuyết bất khả thuyết phật sát vi trần số kiếp.  Trong khoảng mỗi niệm cất bất khả thuyết bất khả thuyết phật sát vi trần số bước.  Mỗi bước qua khỏi bất khả thuyết bất khả thuyết phật sát vi trần số cõi Phật.  Mỗi cõi Phật, ta đều vào khắp, đến chỗ Phật ngự để cúng dường.  Những đồ cúng này đều do tâm vô thượng làm thành, pháp vô tác ấn nên, chư Như Lai hứa khả, chư Bồ Tát khen ngợi.
Này thiện nam tử!  Ta lại thấy khắp tất cả chúng sanh trong những thế giới ấy, đều biết tâm của họ, đều biết căn của họ, theo chỗ hiểu của họ mà hiện thân thuyết pháp.  Hoặc phóng qunag minh, hoặc ban cho của báu, dùng nhiều phương tiện giáo hóa điều phục không thôi nghỉ.  Như ở phương Đông, chín phương kia cũng như vậy.
Này thiện nam tử!  Ta chỉ được môn giải thoát Bồ Tát phổ tốc tật hành này, có thể mau chóng đến tất cả xứ.
Như chư đại Bồ Tát khắp mười phương không chỗ nào chẳng đến.  Trí huệ cảnh giới đồng nhau không khác.  Khéo bủa thân mình khắp pháp giới.  Đến tất cả đạo tràng, vào tất cả cõi, biết tất cả pháp, đến tất cả thế, bình đẳng diễn thuyết tất ả pháp môn.  Đồng thời chiếu diệu tất cả chúng sanh.  Đối với chư Phật chẳng sanh phân biệt.  Với tất cả chỗ không bị chướng ngại.
Ta thế nào biết được nói được công đức hạnh đó.
Này thiện nam tử!  Phương Nam đây có thành tên là Đọa La Bát Để.  Trong thành có vị thần tên là Đại Thiện.  Ngươi đến đó hỏi Bồ Tát thế nào học Bồ Tát hạnh, thế nào tu Bồ Tát đạo?
Thiện Tài đồng tử đảnh lễ chân Chánh Thu Bồ Tát, hữu nhiễu vô số vòng, ân cần chiêm ngưỡng từ tạ mà đi.
Bấy giờ Thiện Tài nhập Bồ Tát quảng đại hạnh, cầu Bồ Tát trí huệ cảnh, thấy Bồ Tát thần thông sự, niệm Bồ Tát thắng công đức, sanh Bồ Tát đại hoan hỷ, khởi Bồ Tát kiên tinh tấn, nhập Bồ Tát bất tư nghì tự tại giải thoát, hành Bồ Tát công đức, quán Bồ Tát tam muội, trụ Bồ Tát tổng trì, nhập Bồ Tát đại nguyện, được Bồ Tát biện tài, thành Bồ Tát lực.
Thiện Tài đi lần đến thành Đoạ La Bát Để tìm đến đảnh lễ chân thần Đại Thiên, chắp tay cung kính thưa rằng:
Bạch đức thánh!  Tôi đã phát tâm vô thượng bồ đề, mà chưa biết Bồ Tát thế nào học Bồ Tát hạnh, thế nào tu Bồ Tát đạo?  Tôi nghe đức thánh khéo dạy bảo.  Xin chỉ dạy cho.
Lúc đó, Đại Thiên đưa bốn tay hứng lấy nước tứ đại hải rửa mặt mình, cầm bông vàng rải trên mình Thiện Tài mà bảo rằng:
Này thiện nam tử!  Tất cả Bồ Tát khó được thấy, khó được nghe, ít hiện ra thế gian, là đệ nhất trong các chúng sanh, là bạch liên hoa trong loài người.  Là chỗ nương về của chúng sanh, là chỗ cứu hộ của chúng sanh.  Là chỗ an ổn của các thế gian.  Là đại quang minh của các thế gian.  Chỉ đường chánh an ổn cho kẻ mê lầm.  Là đại đạo sư dẫn các chúng sanh nhập Phập pháp môn.  Là đại pháp tướng giỏi thủ hộ thành nhứt thiết trí.
Bồ Tát như vậy rất khó gặp gỡ được.  Chỉ có người thân, khẩu, ý ba nghiệp không lỗi mới thấy được hình tượng của chư Bồ Tát và nghe biện tài của các ngài thuyết pháp, tất cả thời gian thường hiện ra trước.
Này thiện nam tử!  Ta đã thành tựu Bồ Tát giải thoát tên là vân võng.
Thiện Tài thưa:
Bạch đức thánh!  Cảnh giới của vân võng giải thoát thế nào?
Lúc đó Đại Thiên ở trước Thiện Tài, thị hiện đống vàng, đống bạc, đống lưu ly, đống pha lê, đống xa cừ, đống mã não, đống hỏa diệm bửu, đống ly cấu tạng bửu, đống đại quang minh bửu, đống phổ hiền thập phương bửu, đống bửu quan, đống bửu ấn, đống bửu anh lạc, đống bửu đương, đống bửu xuyến, đống bửu tỏa, đống bửu châu võng, đống ma ni bửu, đống trang nghiêm cụ, đống như ý ma ni.  Tất cả đều lớn như núi to.
Đại Thiên lại thị hiện tất cả hoa, tất cả tràng hoa, tất cả hương, tất cả hương đốt, tất cả hương thoa, tất cả y phục, tất cả tràng phan, tất cả âm nhạc, tất cả đồ vui ngũ dục.  Mỗi mỗi đều chứa cao như núi.  Lại hiện vô số trăm ngàn vạn ức chúng đồng nữ.
Đại Thiên bảo Thiện Tài rằng:
Này thiện nam tử!  Nên đem những vật này cúng dường đức Như Lai, tu các phước đức và thí cho chúng sanh để nhiếp thủ họ, cho họ tu học đàn ba la mật, có thể xả được thứ khó xả.
Này thiện nam tử!  Như ta vì ngươi mà thị hiện những vật này, dạy ngươi làm việc bố thí, ta vì chúng sanh khác cũng như vậy.  Đều khiến dùng thiện căn này để huân tập, cung kính cúng dường tam bửu và thiện tri thức, thêm lớn pháp lành, phát tâm vô thượng bồ đề.
Này thiện nam tử!  Nếu có chúng sanh tham chấp ngũ dục tự phóng dật, thời ta vì họ mà thị hiện cảnh giới bất tịnh.  Nếu có chúng sanh sân hận kiêu mạn nhiều cạnh tranh, thời ta vì họ mà thị hiện thân hình rất đáng sợ như la sát uống huyết ăn thịt, v.v... cho họ xem thấy mà kinh hãi, tâm ý điều nhu rời bỏ thù oán.  Nếu có chúng sanh hôn trầm lười biếng, thời ta vì họ mà thị hiện những nạn vua, giặc, nước, lửa và các bệnh tật, cho họ kinh sợ biết khổ lo để họ tự cố gắng.
Ta dùng những phương tiện như vậy, khiến chúng sanh bỏ những hạnh bất thiện mà tu pháp lành, trừ tất cả chướng ba la mật để đầy đủ ba la mật.  Khiến họ vượt khỏi tất cả đường hiểm chướng ngại mà đến chỗ vô ngại.
Này thiện nam tử!  Ta chỉ biết môn giải thoát vân võng này.
Như chư đại Bồ Tát dường như đế thích đã có thể dẹp trừ tất cả quân a tu la phiền não.  Dường như đại thuỷ có thể khắp tiêu diệt lửa phiền não của tất cả chúng sanh.   Dường như lửa mạnh có thể khô cạn nước ái dục của tất cả chúng sanh.  Dường như đại phong có thể thổi ngã tràng kiến thủ của tất cả chúng sanh.  Dường như kim cang có thể phá vỡ núi ngã kiến của tất cả chúng sanh.
Ta thế nào biết được nói được công đức hạnh đó.
Này thiện nam tử!  Ở nước Ma Kiệt Đề, trong bồ đề tràng có Chủ Địa Hằng tên là An Trụ.  Ngươi đến đó hỏi Bồ Tát thế nào học Bồ Tát hạnh, thế nào tu Bồ Tát đạo?
Thiện Tài đồng tử đảnh lễ chân thần Đại Thiên, hữu nhiễu vô số vòng, từ tạ mà đi.
Thiện Tài qua nước Ma Kiệt Đề, nơi bồ đề tràng, chỗ của địa thần An Trụ cùng ở với trăm vạn địa thần.
Chư thần bảo nhau:
Đồng tử đến kia chính là Phật tạng.  Tất sẽ vì khắp tất cả chúng sanh mà làm chỗ sở y.  Tất đã khắp phá vỡ lốt vỏ vô minh của tất cả chúng sanh.  Người này đã sanh trong dòng pháp vương.  Sẽ dùng lụa pháp vô ngại ly cấu để vấn đầu.  Sẽ mở kho trí huệ trân bửu lớn.  Sẽ xô dẹp tất cả tà luận dị đạo.
Lúc đó An Trụ và trăm vạn địa thần phóng quang minh lớn chiếu khắp cõi đại thiên.  Làm khắp đại địa đồng thời chấn đống.   Nơi nơi trang nghiêm với những bửu vật chói sáng lẫn nhau.  Tất cả lá cây đồng thời sanh lớn, tất cả bông đồng thời đua nở, tất cả trái đồng thời chín, tất cả dòng nước chảy rót lẫn nhau, tất cả ao đầm đều đầy nước.
Trời mưa nước thơm rửa khắp mặt đất, gió thổi rải hoa khắp nơi.  Vô số âm nhạc đồng thời trỗi.  Đồ trang nghiêm đều vang tiếg diệu.
Những ngư vương, tượng vương, sư tử vương, v.v... đều vui mừng nhảy nhót rống gầm, như núi to chạm nhau vang tiếng lớn. 
Trăm nàn tạng báu tự nhiên hiện lên.
An Trụ địa thần bảo Thiện Tài:
Lành thay đồng tử!  Tại chỗ này ngươi đã từng gieo thiện căn.  Ta vì ngươi mà hiện.  Ngươi muốn thấy chăng?
Thiện Tài liền đảnh lễ chân địa thần, hữu nhiễu vô số vòng, chắp tay cung kính thưa rằng:
Bạch đức thánh!  Tôi muốn được thấy.
Địa thần lấy chân ấn đất, trăm ngàn ức vô số bửu tạng tự nhiên trồi lên.  Rồi bảo rằng:
Này thiện nam tử!  Những bửu tàng này theo ngươi luôn.  Đây là quả báo do thiện căn thuở xưa của ngươi.  Đây là phước lực của ngươi nhiếp thọ.  Ngươi nên tùy ý tự tại thọ dụng.
Này thiện nam tử!  Ta được Bồ Tát giải thoát tên là bất khả hoại trí huệ tạng, ta thường dùng pháp này để thành tựu chúng sanh.
Này thiện nam tử!  Ta nhớ từ Phật Nhiên Đăng đến nay, ta thường theo Bồ Tát cung kính thủ hộ, quán sát Bồ Tát chỗ có những tâm hành, cảnh giới trí huệ, tất cả thệ nguyện, những hạnh thanh tịnh, tất cả tam muội, thần thông  quảng đại, thần lực tự tại, những pháp bất hoại, qua khắp tất cả Phật độ, được khắp tất cả Như Lai thọ ký, chuyển pháp luân của tất cả chư Phật, diễn rộng tất cả môn tu đa la, đại pháp quang minh soi sáng khắp nơi, giáo hóa điều phục tất cả chúng sanh, thị hiện thần biến của tất cả chư Phật.
Tất cả những công đức như trên của Bồ Tát ta đều có thể lãnh thọ, đều có thể ghi nhớ.
Này thiện nam tử!  Thuở xưa quá tu di sơn vi trần số kiếp, có một kiếp tên Trang Nghiêm, thế giới tên Nguyệt Tràng, Phật hiệu Diệu Nhãn, chính ở chỗ đức Phật Diệu Nhãn mà ta được pháp môn này.
Này thiện nam tử!  Ta ở nơi pháp môn này, hoặc nhập, hoặc xuất, tu tập tăng trưởng thường thấy chư Phật chưa từng bỏ rời.
Từ lúc mới được nhẫn đến Hiền kiếp này, khoảng thời gian đó ta gặp bất khả thuyết bất khả thuyết phật sát vi trần số Như Lai đẳng chánh giác.  Ta đều phụng thờ cung kính cúng dường.  Ta cũng thấy chư Phật ngồi tòa bồ đề hiện đại thần lực.  Cũng thấy những công đức thiện căn của chư Phật.
Này thiện nam tử!  Ta chỉ biết pháp môn bất khả hoại trí huệ tạng này.
Như chư đại Bồ Tát thường theo chư Phật, có thể thọ trì tất cả lời dạy của chư Phật, vào trí huệ thậm thâm của chư Phật, mỗi niệm đầy khắp tất cả pháp giới, đồng thân Như Lai, sanh tâm chư Phật, đủ pháp chư Phật, làm những Phật sự.
Ta thế nào biết được nói được công đức hạnh đó.
Này thiện nam tử!  Trong thành Ca Tỳ La có chủ dạ thần tên là Bà San Bà Diễn Để.  Ngươi đến đó hỏi Bồ Tát thế nào học Bồ Tát hạnh, thế nào tu Bồ Tát đạo?
Thiện Tài đồng tử đảnh lễ chân địa thần hữu nhiễu vô số vòng, ân cần chiêm ngưỡng từ tạ mà đi.
Bấy giờ Thiện Tài nhất tâm tư duy lờii dạy của An Trụ địa thần, ghi nhớ môn Bồ Tát bất khả trở hoại trí tạng giải thoát, tu tam muội đó, học quy tắc đó, quán sát thần thông du hý đó, nhập vi diệu đó, được trí huệ đó, đạt bình đẳng đó, biết vô biên đó lường thậm thâm đó.
Đi lần đến thành Ca Tỳ La vào cửa Đông, Thiện Tài đứng chờ chẳng bao lâu kế trời tối.
Thiện Tài tâm niệm tuỳ thuận lời dạy của chư Bồ Tát, khát ngưỡng muốn được thấy chủ dạ thần.  Nơi thiện tri thức tưởng như Phật.
Thiện Tài lại nghĩ rằng:  nhờ thiện tri thức mà được phổ biến nhãn, thấy rõ cảnh giới mười phương.  Nhờ thiện tri thức mà được quảng đại giải thoát thấu rõ tất cả cảnh sở duyên.  Nhờ thiện tri thức mà được tam muội nhãn quán sát tất cả pháp môn.  Nhờ thiện tri thức mà được trí huệ nhãn soi sáng mười phương sát hải.
Lúc suy nghĩ như vậy, Thiện Tài thấy trên hư không, dạ thần ngồi trên tòa hương liên hoa tạng sư tử trong bửu lâu các.  Thân màu chơn kim, mắt và tóc xanh biếc, hình mạo đoan nghiêm, những chuỗi ngọc báu dùng trang sức.  Thân mặc y phục đỏ, đầu đội mão phạm thiên.  Tất cả tinh tú hiện rõ trên thân.
Mỗi lỗ lông trên thân của dạ thần đều hiện hóa độ vô lượng vô số chúng sanh ở ác đạo, cho họ thoát khỏi thân hình hiễm nạn.  Những chúng sanh này, hoặc sanh nhơn gian, hoặc sanh lên trời, hoặc xu hướng nhị thừa bồ đề, hoặc tu hành đạo nhứt thiết trí.
Lại trong mỗi lỗ lông thị hiện những phương tiện giáo hóa:  hoặc hiện thân, hoặc thuyết pháp, hoặc thị hiện đạo thanh văn thừa, độc giác thừa, Bồ Tát hạnh, Bồ Tát dũng mãnh, Bồ Tát tam muội, Bồ Tát tự tại, Bồ Tát trụ xứ, Bồ Tát quán sát, Bồ Tát sư tử tần thân, Bồ Tát giải thoát du hí.
Thị hiện những phương tiện thành thục chúng sanh như vậy.
Thiện Tài thấy và nghe những sự trên đây, lòng rất vui mừng.  Đảnh lễ nơi chân dạ thần, hữu nhiễu vô số vòng, chắp tay cung kính thưa rằng:
Bạch đức thánh!  Tôi đã phát tâm vô thượng bồ đề.  Lòng tôi trông mong nương thiện tri thức để được công đức pháp tạng của Như Lai.  Xin dạy cho tôi đạo nhứt thiết trí, tôi đi trong đó đến bực thập lực.
Dạ thần bảo Thiện Tài rằng:
Lành thay!  Lành thay!  Này thiện nam tử!  Ngươi có thể thâm tâm kính thiện tri thức, thích nghe lời dạy và tu hành theo.  Do du hành nên quyết định sẽ được vô thượng bồ đề.
Này thiện nam tử!  Ta được môn giải thoát Bồ Tát pháp quang minh phá tất cả chúng sanh si ám.
Này thiện nam tử!  Ta ở nơi ác huệ chúng sanh khởi tâm đại  từ, nơi chúng sanh bất thiện khởi tâm đại bi, nơi chúng sanh làm lành khởi tâm đại hỷ, nơi chúng sanh đủ hai hạnh thiện ác khởi tâm bất nhị, nơi chúng sanh tạp nhiễm ta khởi tâm làm cho họ thanh tịnh, nơi chúng sanh tà đạo ta khởi tâm làm cho họ sanh chánh hạnh, nơi chúng sanh hiểu biết kém ta khởi tâm làm cho họ được trí sáng suốt, nơi chúng sanh mến sanh tử ta khởi tâm làm cho họ bỏ luân chuyển, nơi chúng sanh an trụ nhị thừa ta khởi tâm làm cho họ tu nhứt thiết trí.
Này thiện nam tử!  Vì ta được môn giải thoát này nên thường tương ứng với những tâm như vậy.
Này thiện nam tử!  Đêm tối yên lặng, lúc quỷ thần, trộm cướp, các ác chúng sanh du hành, lúc mây kín sương dầy gió to mưa lớn nhựt nguyệt tinh tú đều tối tăm, thấy có các chúng sanh hoặc vào biển, hoặc đi trong lục địa, nơi núi rừng hoang vu, những chỗ hiểm nạn, hoặc gặp trộm cướp, hoặc thiếu lương thực, hoặc lạc đường kinh hải lo buồn không thể thoát được.  Ta liền dùng nhiều phương tiện để cứu giúp họ.
Vì chúng sanh bị nạn nơi biển mà hiện làm lái thuyền, làm ngư vương, mã vương, quy vương, tượng vương, a tu la vương, hải thần, vì họ mà ngăn mưa gió, dứt sóng mòi, dắt đường chỉ bờ cho họ thoát nạn.  Nguyện đem thiện căn này ban cho tất cả chúng sanh đều được khỏi khổ.
Vì chúng sanh đi trong lục địa, đêm tối bị nạn mà hiện mặt nhựt, mặt nguyệt, tinh tú, ráng ban mai, chớp đêm tối, cho họ thấy ánh sáng, nhẫn đến hiện làm nhơn chúng nhà cửa, cho họ được khỏi nạn khủng bố.  Nguyện đem thiện căn này ban cho tất cả chúng sanh thoát khỏi màn tối phiền não.  Những chúng sanh tiếc thân mạng, chuộng danh tiếng, ham của báu, trọng quyền tước, đắm nam nữ, luyến thê thiếp, mà chưa toại theo sở cầu phải lo sợ, thời ta đều cứu giúp cho họ khỏi khổ.
Vì người đi trên núi hiểm mà bị nạn, thời ta làm thiện thần hiện hình thân cận, hoặc hiện làm chim đẹp kêu hót cho họ được vui, hoặc hiện làm linh dược soi sáng cho họ thấy cây trái, chỉ cho họ suối ngọt, chỉ cho họ đường xá bằng phẳng để họ thoát ách nạn.
Vì người bị nạn nơi đồng hoang rừng rậm mà hiện ra chỉ đường cho họ.  Nguyện tất cả chúng sanh đốn rừng rậm kiến chấp, chặt lưới tham ái thoát đồng sanh tử, diệt tối phiền não, vào đường bằng phẳng, thắng nhứt thiết trí, đến chỗ vô úy rốt ráo an lạc.
Này thiện nam tử!  Nếu có chúng sanh ham tụ lục, mến nhà cửa mà thường ở chỗ tối tăm bị khổ, thời ta vì họ mà thuyết pháp cho họ nhàm lìa để được đầy đủ pháp lành, an trụ chánh pháp.  Nguyện tất cả chúng sanh đều chẳng tham muốn tụ lạc dục trần, mau được thoát khỏi cảnh giới sanh tử, rốt ráo an trụ nơi thành nhứt thiết trí.
Này thiện nam tử!  Nếu có chúng sanh đi đêm tối quên mất phương hướng, lạc đường lo sợ.  Ta dùng phương tiện soi sáng cho họ.  Nếu là người muốn ra khỏi, thời ta chỉ cửa nẻo, người muốn đi thì ta chỉ đường sá, người muốn qua sông thời ta chỉ cầu đò, người muốn đi sông biển thời ta cho thuyền bè, người thích xem phương hướng thời ta chỉ cho họ chỗ an nguy hiểm dễ, người muốn nghỉ ngơi thì ta chỉ cho họ thành ấp cội cây.
Ta nghĩ rằng: như ở tại đây ta trừ đêm tối làm cho những thế sự đều được thứ tự hiển bày.  Nguyện ta dùng ánh sáng trí huệ soi rõ khắp những chỗ tối tăm vô minh, đêm dài sanh tử.
Những chúng sanh không có trí nhãn bị che đậy bởi tâm tưởng kiến chấp điên đảo: vô thường tưởng là thường, vô lạc tưởng là lạc, vô ngã tưởng là ngã, bất tịnh tưởng là tịnh, chấp chặt những ngã, nhơn, chúng sanh, uẩn, xứ, giới, mê lầm nhơn quả, chẳng biết thiện ác, sát hại chúng sanh nhẫn đến tà kiến, chẳng hiếu với cha mẹ, chẳng kính sa môn, bà la môn, chẳng biết người ác người lành, ham ác sự, trụ pháp tà, hủy báng Như Lai, phá hoại chánh pháp, sỉ nhục thương hại chư Bồ Tát, khinh đạo đại thừa, dứt tâm bồ đề, hại người ơn, oán kẻ thù, khinh rẻ hiền thánh, gần gũi bạn ác, trộm vật của chùa tháp, làm tội ngũ nghịch, chẳng bao lâu sẽ bị đoạ ba ác đạo.  Nguyện tôi mau dùng ánh sáng đại trí phá màn tối vô minh của những chúng sanh đó, khiến họ mau phát tâm vô thượng bồ đề.
Họ đã phát tâm, tôi liền chỉ hạnh Phổ Hiền, mở đường thập lực, chỉ cảnh giới Như Lai pháp vương, cũng hiển thị thành trì nhứt thiết trí của chư Phật.  Chư Phật thực hành, chư Phật tự tại, chư Phật thành tựu, chư Phật tổng trì, tất cả chư Phật chung đồng một thân, tất cả chư Phật bình đẳng một chỗ, đều làm cho họ được an trụ.
Này thiện nam tử!  Tất cả chúng sanh hoặc bị bệnh y buộc ràng, hoặc bị già xâm lấn, hoặc khổ vì nghèo cùng, hoặc gặp hoạn nạn, hoặc phạm pháp vua bị gia hình, ta đều cứu giúp cho họ được an ổn.
Ta lại nghĩ rằng:  nguyện dùng chánh pháp nhiếp khắp chúng sanh cho họ giải thoát tất cả phiền não, sanh già bệnh chết, ưu bi khổ hoạn.  Thường được gần thiện tri thức, thực hành pháp thí, siêng tu hạnh lành, mau được pháp thân thanh tịnh của Như Lai, an trụ nơi rốt ráo không biến đổi.
Này thiện nam tử!  Tất cả chúng sanh vào rừng kiến chấp, trụ nơi đạo tà, nơi các cảnh giới khởi tà phân biệt, thân khẩu ý thường làm sự bất thiện, vọng làm những sự khổ hạnh.  Nơi chẳng phải chánh giác tưởng là chánh giác.  Nơi chánh giác tưởng là chẳng phải chánh giác.  Bị ác tri thức nhiếp thọ.  Do họ khởi ác kiến sắp đoạ ác đạo, ta dùng nhiều môn phương tiện cứu hộ họ, cho họ an trụ nơi chánh kiến sanh trong nhơn thiên.
Lại tự nghĩ  rằng:  như ta cứu những chúng sanh sắp đoạ ác đạo, nguyện ta cứu tất cả chúng sanh, đều làm cho họ giải thoát tất cả khổ, an trụ nơi ba la mật thánh đạo xuất thế.  Nguyện ta được chẳng thối chuyển nơi nhứt thiết trí, đủ nguyện Phổ Hiền, gần nhứt thiết trí, chẳng rời bỏ hạnh Bồ Tát, thường siêng giáo hóa tất cả chúng sanh.
Bấy giờ Bà San Bà Diễn Để chủ dạ thần muốn tuyên lại nghĩa giải thoát này, thừa thần lực của Phật, quán sát mười phương, vì Thiện Tài đồng tử mà nói kệ rằng:
Môn giải thoát của ta
Sanh tịnh pháp quang minh
Phá được tối ngu si
Chờ thời mà diễn thuyết.
Ta từ vô biên kiếp
Siêng tu đại từ tâm
Che chở khắp thế gian
Phật tử nên tu học.
Biển đại bi tịch tịnh
Xuất sanh tam thế Phật
Hay diệt khổ chúng sanh
Ngươi nên nhập môn này.
Hay sanh thế gian vui
Cũng sanh vui xuất thế
Khiến lòng ta hoan hỷ
Ngươi nên nhập môn này.
0
«« « 1 2 » »»