#3 —
13.01.2010 08:42
(đã sửa)
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2010-01-14 18:41:31Ct.Ly>
Đánh máy: Hân
IX.
Những người đã nói như thế không phải là những người nghĩ rộng.
Giám kín mình trong bốn bức tường, mà hàng chục người khỏe mạnh chỉ có chung nhau độc một cái cửa sổ để hít thở không khí của Trời cho,họ làm sao mà có đủ một cái trí khôn tốt lành để xét đoán những việc tày trời có quan hệ đến sự sống, chết của người ta được.
Không, không, Hải có chết đâu. Hải sống, với tất cả nghĩa của sự sống. Cứ nhắm mắt mà nói thì người ta cũng có thể biết là Hải chưa chết được.
Trái lại, và một chứng cớ:
Sáng nay, đến sở, Hải đã cho một người bạn ngồi gần mượn một cái tẩy chì. Chàng không cầm từng quản bút một đặt lên bàn, nhưng cầm một lúc cả ba quản bút. Cái nhựa chảy trong người chàng mạnh mẽ thay, chàng quay bên phải, chàng quay bên trái, chàng không làm gì cả, chàng nghĩ, chàng cười, chàng chống tay vào hai má.
Thì ra Hải có một mối băn khoăn trong lòng.
Nguyên do thế này:
Cái nhà mà Trâm ở, có ba gian. Gian dưới thì người đứng trương nhà ở với một bà vợ béo ghen như sư tử và có một đàn con trứng gà trứng vịt. Hải không lấy gì làm sợ cả.
Cái gác Trâm ở trông ra một cái vườn hoa, cái đó đã đành rồi.
Nhưng gian thứ ba… gian thứ ba. Một bọn học trò chung tiền thuê ở đó với nhau. Họ có cả thảy bốn người. Bốn người còn trẻ cả, trông xinh trai cả. Bốn người ấy là bốn người của Đời Mới và có những con mắt lẳng và chẳng có lấy một mống ái nam ái nữ. Bốn người ấy nhảy đầm, hát tiếng Tây và môi khi thấy gái đều lấm lét như thể mèo thấy mỡ.
Tuy vậy, những cái đó vẫn chưa quan hệ.
Cái quan hệ là bốn người ấy lại có mỗi người một cái miệng để cười.
Mặc chúng! Cái đó chưa quan hệ lắm.
Ai còn biết lúc vắng mình thì chúng nó còn làm với nhau những trò gì? Hải thấy thế không thể nào chịu được. Trâm đã dạy chàng lắm điều hay; cái da bụng của nàng rộng rãi lắm, một bàn tay che không đủ. Hải không ngủ gật, Hải cũng biết ghen. Chàng bèn khinh bỉ tất cả bọn bốn anh học trò mất dạy. Nhưng thế cũng chưa đủ. Buổi sáng hôm ấy, chống hai tay vào má để ngồi tính toán chuyện đời, chàng bèn nghĩ ra một kế và chàng sung sướng lắm. Ngay buổi chiều hôm ấy, chàng thắt cái ca-vát cẩn thận, đến tìm vợ chồng ông chủ nhà dưới mà nói rằng:
- Thưa ông bà…
Hai vợ chồng người chủ nhà mời Hải ngồi chờ ở ghế.
Không đợi cho họ mời chàng xơi nước, Hải nói tiếp luôn:
- Thưa ông bà, “nhà tôi” hãy còn trẻ người non dạ. Cái tính nó hay la cà, nhờ ông bà coi sóc giúp hộ tôi và khi nào nó có xuống duwois chơi thì ông cũng làm ơn lấy lời phải trái mà khuyên hộ.
Hải lấy làm thú lắm. Như thế, chàng không phải băn khoăng nữa. Bởi vì hai vợ chồng ông chủ nhà sẽ bảo riêng cho chàng biết về cái tình của Trâm đối với chàng, và “nói dại đổ đi” ngộ Trâm có đi chơi khuya, hay bậy bạ gì thì Hải biết, không tài nào giấu được.
Chàng Nghỉ thầm: “Ở đời, phải khôn thế mới sống được. Hàng ngày mình đọc bảo chẳng thấy chán vạn anh ngờ nghệch, không biết cách giữ vợ nên mất vợ như chơi chứ gì!”
Hải nghĩ như thế là nghĩ xa. Thực ra, chàng không thể nghi ngờ Trâm điều gì cả. Phải, phải, nếu Trâm có hay cười và trò chuyện với bốn người học trò ở cùng nhà, đó cũng chẳng qua là nàng vui tính mà thôi. Hải là bạn lòng của Trâm, một kẻ tóc chân răng của nàng, chàng cũng biết: Trâm không phải là một người bậy bạ. Cái tính đằm thắm của nàng, những sự chiều chuộng chàng ở trên giường, những cái thở dài, những con mắt… những con mắt, không thể làm cho ta nghi ngờ một tí gì. Chàng nghĩ như thế và chàng chắc lắm bởi vì chàng có chứng cớ. Chứng cớ ấy là: Hải chưa bắt được quả tang Trâm phụ tình ở trên giường của nàng hay trong một căn phòng cho thuê bao giờ.
Hai tháng đi qua. Những cây phượng vĩ ở trước cửa Trâm đã bắt đầu đâm nhiều lá xanh non và những cánh hoa đỏ như là máu ở tim đã nở và đã rụng ở trên những thảm cỏ xanh. Ve kêu óng ả: mùa hè đã đến từ lâu rồi. Hải cũng không thể bỏ mẹ ở nhà với các em mà đi, đi biền biệt như trước nữa.
Hải phải ở cạnh mẹ và có hôm cách một ngày mới lại đến Trâm một lần.
Một hôm, vừa đến cửa nhà Trâm ở, chàng vội vàng sắp trèo thang lên gác – vì đã bốn mươi giờ đồng hồ rồi, chàng chưa được gặp Trâm – thì bà chủ nhà gọi giật Hải lại và nói:
- Bà nhà vừa đi khỏi, có dặn tôi nói hộ với ông độ năm giờ mới về được, bởi vì bà nhà phải đi đốc-tờ xem mạch.
- Nhà tôi làm sao thế, thưa bà?
- Thế bà nhà không nói chuyện với ông sao? Nghe đâu bà mệt lắm nên đã hai tháng nay cứ độ vào khoảng từ hai giờ đến bốn năm giờ gì đó thì lại đi đốc-tờ…
Bà chủ nhà đã đứng tuổi và khôn ngoan lắm nên rất giữ gìn lời nói. Bà đã ngần ngừ biết bao lâu. Bà thừa rõ Hải là một gã mê gái lắm. Nhưng… nhưng… bà thương Hải bởi vì Hải hiền lành, Hải thật thà, Hải ít lời, bà muốn, - là lần đầu mà cũng là lần cuối – bảo một cách xa xôi cho Hải biết để mà chàng mở mắt ra.
Nghe nói thế, Hải nhắm mắt lại mà cười:
- Thưa bà, ấy, nhà tôi nó tốt thế đấy. Nó ốm lơ ốm lửng mà không chịu nói cho tôi biết chỉ là tại nó sợ tôi lo phiền.
Trước khi Hải đứng dậy xin phép để ra vè, bà chủ lại nói thêm:
- Thưa ông, thế cụ nhà ta, mấy hôm nay đã được mạnh chưa?
- Cảm ơn bà, cụ cháu đã khá, nhưng vẫn còn phải uống thuốc.
- Các cụ mỗi tuổi mỗi già. Nếu ông cho bà nhà ta được hầu hạ cụ, để cho ông đỡ vất vả một chút thì có phải là hơn không?
Hải nói:
- -Thưa bà, tôi cũng đương nghỉ thế. Nhưng để còn phải liệu.
Sự thật, việc ấy, Hải đã liệu từ lâu. Chàng đã biết bao lâu dò ý mẹ chàng, mẹ chàng lần nào cũng nói như lần nào: “Con là con trai đã lớn tuổi rồi. Con cũng nên nghĩ đến chuyện gia thất để cho mẹ còn được một chút cháu để bồng. Còn các em con đấy, mẹ nẫu cả ruột gan, con ạ. Con cái đã lớn rồi mà chưa đứa nào nên thân người…” Những câu nói ấy, những khi nào Hải một mình, chàng thường nhắc đi nhắc lại một cách buồn rầu. Biết bao nhiêu lần chàng đã định quả quyết về nói hế cả tình đầu với mẹ để xem mẹ thương phận nào thì được nhờ phận ấy. Không ngờ… thực không ngờ, ngồi mà nghĩ một mình thì dễ, mà vè nhà gặp mẹ thì khó hở môi ra, thành thử Hải cứ trù trừ mãi, chưa nói được. Sau cùng chàng cũng chẳng để ý đến việc nói với mẹ cho Trâm vè hầu hạ nữa. Bởi vì, chính Trâm, nàng cũng có vẻ không muốn về làm dâu bà cụ.
Trâm nói:
- Anh ơi! Chúng ta như thế này chẳng sung sướng rồi sao? Có gì anh alij cứ phải nói với mẹ cưới em mới được?
Trâm nói rất phải: cưới nhau nghĩa là gì? Cưới nhau là lấy nhau về để ở cạnh nhau. Mà Hải với Trâm, thì Hải đêm nào và ngày nào chẳng ở cạnh Trâm?
Vả lại, tự mình sinh ra những việc khó khăn để làm gì? Ai mà chẳng còn biết ở nước mình, vấn đề mẹ chồng nàng dâu là một vấn đề rất khó giải quyết? Hai dạng người đó ở thời nào cũng như nước với lửa, mặt trăng với mặt trời. Họ coi nhau như quân thù. Ở giữa hai người ấy, chỉ anh đàn ông là khổ: được lòng vợ thì mất lòng mẹ, mà được lòng mẹ, thì mất lòng vợ.
- Ôi thế thì khổ quá! Thế thì khổ quá!
Hải đã nghĩ như thế và Hải đã cho thế là chí lý.
Nhưng bây giờ, chàng thấy như thế mãi không được nữa. Không được nữa, bởi vì chàng ghen Trâm, sợ những lúc vắng mình, Trâm bậy bạ, cái đó đã đành rồi. Nhưng sự quyết định hôm nay có một cớ khác mà cớ ấy mới là cớ chính: ngàn rưỡi bạc của Hải đã gần hết, chỉ còn vài trăm thôi!
Chàng đã giật mình khi thấy túi tiền. Túi tiền một khi đã hết, chàng biết bói đâu ra để thuê nhà cho Trâm ở nữa, để cung phụng Trâm nữa và để sống với nhau như trước nữa?
Đã đành là Hải còn có lương mỗi tháng. Mỗi tháng, bây giờ, chàng đã được ba mươi bảy đồng lương thật, nhưng chàng còn em chứ! Chàng còn mẹ chứ! Chàng còn phải đưa cho nhà để đóng họ đã mua sồi những lúc chưa có việc làm ăn chứ!
Hết vài trăm bạc còn lại, Hải không còn biết trông vào đâu nữa. Cái việc nói với mẹ cho Trâm về hầu hạ ở nhà và đỡ đần công việc làm ăn buôn bán là một việc cần.
Chàng đi một mình ở chung quanh bờ hồ. Chàng nghĩ những câu nói đáng thương để làm lay chuyển lòng mẹ.
Tối hôm ấy, ăn cơm xong, trong lúc các em chàng bật đèn lên để ra ngồi trông hàng. Hải rót một chén nước và đưa một cái tăm cho mẹ.
Đoạn, chàng chắp tay, lại gần mẹ, ngập ngừng nói một câu như thế này:
- Thưa mẹ, con có một chuyện muốn thưa với mẹ.
Rồi quả quyết, can đảm, Hải không đợi mẹ hỏi, nói luôn về câu chuyện của chàng. Giọng chàng run lên, môi chàng mấp máy, tiếng nói của chàng nhỏ rồi sau to dần dần. Chàng có lúc tưởng rằng mẹ chàng sắp ngăn trở duyên chàng, chàng cần phải bênh vực hạnh phúc, chàng đã ba mươi mốt tuổi, chàng có quyền, chàng có tự do của chàng.
Bà cụ già nghe nói, im lặng. Mắt bà như ứa lệ, vì sung sướng cho con hay là lo sợ cho con gặp một người vợ không ra gì?
- Thưa mẹ, con là con của mẹ, con không dại gì đâu mà mẹ sợ. Sở dĩ con chậm lấy vợ, đó chỉ tại vì con muốn kén chọn cho thực kỹ mà thôi. Đời bây giờ, con đã biết, phân biệt vàng thau khó lắm. Những người đáng làm dâu của mẹ thì ít có, chứ những đồ ăn hại thì nhiều. Bộ cánh tân thời thì chẳng còn ai bằng, nhưng đến công việc thường thức ở trong nhà như thổi nồi cơm cho chín, quét cái cửa nhà cho sạch thì thực cũng chẳng lấy gì làm nhiều cho lắm.Ấy, con ngần ngừ mãi về chỗ đó. Bây giờ, con mới dám nói với mẹ là bởi con đã xem xét nó kỹ lắm rồi, con không thể nhầm lẫn được…
- Thế bố mẹ người ta làm gì, hở con?
Hải hơi ngần ngừ một lát:
- Bố mẹ nó chết cả rồi, nó ở với dì ghẻ nó ở nhà quê. Bà dì ghẻ ấy ác nghiệt, nó không chịu được nên bỏ nhà ra tỉnh đã lâu nay rồi. Nó ở thuê một cái gác nhỏ và ngày ngày vẫn khâu áo trẻ con và ca vát để bán cho những hàng tạp hóa.
Hải lại nói dối mẹ. Chàng dành lòng về câu nói dối ấy lắm, nhưng mà người mẹ già kia, tuy thế, cũng thấy phân vân trong bụng.:
- Mẹ sợ cho con lắm… Ngươi hay thì tí mà kẻ dở thì nhiều…
- Hải tìm đủ lý lẻ để làm xiêu lòng mẹ. Chàng nói, cảm động và thiết tha đến nổi, chính bây giờ, chàng tưởng như Trâm ở bên cạnh, nghe những lời chàng nói và gật đầu khuyến khích. Đợi một chút nữa, Trâm ơi, mẹ trả lời một tiếng, chúng ta sẽ đường hoàng là một đôi vợ chồng. Trâm sẽ không phải chờ mong chồng ở căn gác hiu quạnh kia nữa, Trâm sẽ về cái nhà của chúng ta để ăn ở với nhau, và rồi Trâm sẽ là một người đàn bà được người ta kính nể như là mẹ bây giờ vậy.
Hải nói:
- Thưa mẹ, vậy mẹ định đoạt cho con thế nào?
- Những lời nói cảm động của đứa con mà bà cụ già sắp chết đó chắt chiu từ thuở bé không làm cho bà cụ dùng dằng được nữa. Bà cụ thương con và hy sinh suốt cả một đời rồi, bây giờ chẳng lẽ lại làm trở ngại một việc, mà lại là việc trăm năm của nó? Khó lắm, trời ạ!
Không để thư thả mà xem xét, ngộ nó lấy phải vợ dỡ thì khổ cả một đời nó, mà nếu mình kén chọn cho nó một đám theo ý mình thì đời bây giờ lại bảo là ép duyên.
- Hải ơi, con nói thế thì mẹ biết thế. Mẹ nuôi con cho khôn lớn nên người, mẹ thương con như trời bể, con cũng nên để cho mẹ được ngậm cười nơi chín suối, không vì chuyện con mà nhắm mắt không yên. Vậy thì việc trăm năm của con, con nên nghĩ rất kỹ càng. Đời mẹ thì chẳng còn bao lâu nữa, nhưng mà đời con thì còn dài, còn hy vọng. Đã lâu, con ạ, mẹ đã thấy con đối với mẹ có nhiều khác xưa. Con bỏ cả cửa nhà, con đi đêm đi hôm, con chẳng hỏi gì đến các em con cả. Trong thâm tâm mẹ, mẹ cũng muốn cho con không phải sống lang chạ như thế mãi… nhưng… nhưng…
Thôi, cái việc vợ chồng cũng là việc trời cả. Cứ đê xem sao đã. Chẳng biết vợ con ra thế nào? Tân thời hay cũ kỹ? Răng trắng hay răng đen? Nó rồi ra có làm cho sung sướng hay không, chẳng biết? Hôm nào con dắt nó về cho mẹ xem…
Hải thấy như được cởi mở tấm lòng, sau khi nghe những lời nói đắn đo và nhân đức của mẹ già. Sáng hôm sau, chàng đến sở, nhẹ nhàng như con sáo. Đi qua cái gác nhà Trâm ở, chàng thấy tất Trâm còn đương ngủ, mình chẳng nên làm phiền vội. Để đến trưa về, còn nhiều thì giờ, mình mới nói được hết cả đầu đuôi.Ba bốn giờ đồng hồ, mình hãm lại, đến lúc thuật lại thì lại càng thêm hứng thú”.
Cả buổi sáng hôm ấy, Hải ngồi không làm gì cả. Chỉ khi nào chủ đến, chàng mới giả cách cúi đầu tẩy, xóa, kẻ… còn thì chàng cứ ngồi thờ thẩn nhìn ra cửa sổ, và lần thứ nhất trong đời chàng, chàng thấy cái cửa sổ ấy bé quá mà không khí trong buồng giấy là thứ không khí nặng nề khó thở. Chàng chán cái sở chàng làm quá. Nhưng anh em nhìn lâu quá nhàm. Chàng chỉ có một bạn thân: Trâm. Chàng chỉ có một ý nghĩ: Hải ơi, chỉ dăm bữa nửa tháng, Trâm sẽ là vợ anh – một người vợ được tất cả mọi người công nhận, kể cả tào Đốc lý!
Chàng vừa nghĩ vừa đưa quân bút lên trên những trang giấy trắng. Chàng vẽ hình người đi lại, có hai chữ T.H. chằng vào nhau. Chàng ngoáy chữ ký cho đều để ngộ nay mai còn phải ký trên tờ giá thú. Chàng tính những người phải mời ăn và, không lấy gì làm nóng nảy quá, chàng đã tập thảo cái thiếp mời như sau này:
Thưa bác,
Thừa lệnh thân mẫu, định đến ngày… thì làm lễ thành hôn cho tôi với Mile Phạm Thị Trâm, vậy đến ngày… xin mời bác lại tệ xá ở… xơi chén rượu nhạt mừng cho chúng tôi thì chúng tôi lấy làm cảm tạ vô cùng.
Nay kính
TRẦN VĂN HẢI
Chàng viết phác tấm thiếp và không quên chữ “xin miễn tái thính” như thường lệ.
Mười một giờ rưỡi tan sở, chàng gặp ai cũng cười và bắt tay. Chàng nói với một hai câu rồi nhảy xe đi thẳng về chỗ Trâm trọ, vừa đi vừa nghĩ:
“Phải biết. Cả bọn chúng nó rồi sẽ phải ngạc nhiên. Cho mà chế! Cho mà riễu! Rồi xem anh nào anh nấy có phải nhận cái nhân duyên Trâm – Hải là một việc rất tự nhiên không – và cho mà thèm rõ dãi, những quân đểu ạ!”
Đến nhà Trâm ở, kém mười lăm đầy mười hai giờ. Ông chủ nhà cũng vừa mới đi làm về. Hai vợ chồng người này sắp ngồi lên ăn cơm với cái lũ “trứng gà trứng vịt” thì Hải đẩy cửa vào, giơ cao mũ lên mà chào thật to:
- Lạy ông bà ạ. Tôi có một tin nói để ông bà mừng cho: cụ tôi đã nhận lời cho nhà tôi được về hầu hạ! Tôi xin phép ông bà tôi lên gác.
Không đợi nghe những lời “mừng” của vợ chồng ông chủ nhà, Hải treo ba bực thang một để lên gác. Chàng nôn nóng muốn gặp nàng biết bao! Chàng nóng muốn gặp nàng biết bao!
Năm phút… Bảy phút… Bỗng người ta nghe thấy đánh “sầm” một tiếng. Vợ chồng ông chủ ở dưới nhà đưa mắt nhìn nhau. Sau người vợ lên tiếng hỏi:
- Ông Cả ơi! Ông đánh đổ tủ ở trên gác đấy à?
Không một tiếng thưa.
Ông chồng đoán già đoán hơn, hỏi tiếp theo:
- Ông Cả ơi! Trần nhà sụt đấy à?
Vẫn không một tiếng thưa.
- Ông Hải! Ông Hải!...
Thế là vợ chồng ông chủ bỏ cả cơm nước, chạy như bay lên gác.
Cái cảnh họ trông thấy dưới mắt là một cảnh bi hài kịch.
Hải, hãy còn nguyên cả mũ trên đầu, nằm thẳng cẳng như một cái xác chết trên sàn gác, cạnh giường của Trâm. Mắt chàng trợn lên như là để dọa nạt trời. Mồm chàng sùi bọt, tay chân thẳng dườn ra. Hải vừa bị ngã. Đầu chàng đập phải cái cạnh bàn, lọ hoa có những màu sắc đẹp hơn cả sơn ở chân tường đổ vỡ và bắn vung cả nước vào mũi và má Hải. Mấy cành hoa sen trắng cuối mùa tơi tả chung quanh đấy.
Nước đái quỷ! Gừng! Rượu! Nước giải! Cái khăn mặt bông rấp nước!
- Mau lên, mau lên, không có thì khốn cả bây giờ.
Hai vợ chồng ông chủ tha hồ mà sợ…
Đến khi khênh được Hải lên giường, một mảnh giấy nhỏ rơi ra và người ta thấy “xoẳn củ tỏi” câu này:
Monsir Hải,
Tôi ở với anh chán bỏ mẹ ra rồi: tôi lấy quần áo của tôi, tôi đi Sè- goong với anh Phúc ở gác ngoài đây.
TRÂM
XI
Mãi đến tận bốn giờ chiều, Hải mới tỉnh. Chàng mở mắt ra, thấy vợ chồng ông chủ ngồi gần đấy với một con sen. Chàng cỗ nhớ mãi tại làm sao có việc như thế được. Tại sao lại không phải là Trâm? Tại sao chàng lại thây mình mẩy nặng nề như thế này?
Hải nghĩ mãi, và sau mãi chàng cũng nhớ ra dần dần. Nước mắt chàng ràng rụa như chẳng bao giờ cạn được. Chàng nhắm mắt lại, chàng muốn nôn ra, chàng muốn nôn hết cả những sự sung sướng mà chàng đã hưởng với Trâm: cái con chó! Ai có ngờ nó lại đổi trắng thay đen đến thế!
Chàng kêu nước ầm lên. Cổ họng chàng như bỏng. Nằm như thế này thì nghĩ đến phát điên lên mất. Chàng phải dậy. Không cái gì có thể làm cho chàng quên được sự thống khổ này: chàng phải đi. Và chàng đi được thật. Không có ai ngăn được. Mặc kệ cho chàng chết.
Lúc ấy bắt đầu tháng tám. Một thứ không khí trong trẻo hơn, một thứ không khí âu sầu hơn chan chứa hơn ở cõi đời. Ở trên đường, lá cây đã bắt đầu vàng. Gió như là một đứa trẻ đùa với những lá cây ấy và thỉnh thoảng lại làm rơi vài lá. Những cái lá ấy đã vàng hầu hết. Mùa lá chết! Mùa lá chêt! Con chim nhỏ kêu chim chíp như lo sợ ngày đông sắp tới. Nó có vẻ chia buồn với anh. Anh nói với nó như thể nó là người vậy.
Hải thờ dài, nảo ruột: Một năm nay, ta trông thấy mày ba bận. Bận thứ nhất, vào một ngày xuân, ta đứng ở cửa sổ nhìn sang cái vườn hoa trước mặt. Bận thứ nhì là mùa hè, ta thấy mày trên cây phượng vĩ, hôm ta nàm bàn với Trâm về chuyện cố nên xin phép để đem Trâm về nhà hay không. Chim ơi, chim đã nói dối ta, và bây giờ là mùa thu, ta lại gặp người bạn cũ mùa xuân.
Hải đút tay vào túi áo, tiến lên.
Chàng tiến lên như thất vọng và chàng có rất nhiều ý kiến trong đầu. Trời tối dần dần, giò đã bắt đầu lạnh nhưng chàng cứ tiến, tiến lên như thất vọng.
Chàng tiến lên như thất vọng và, mỗi bước cũng như mỗi ý kiến, chàng thấy vang lên “bây giờ là mùa thu, ta lại gặp người bạn cũ của mùa xuân”.
Trâm ơi, Trâm là một hạng đàn bà cũng như chim trên cành vậy. Nàng có trẻ được mãi đâu. Trời sẽ hại nàng. Theo lời bạn hữu ta đã nói, nàng đã lừa nhiều đàn ông lắm, thế nào cũng có một bữa, một người đàn ông nào đó lại lừa nàng cho ta.
Hải thấy tất cả người chàng khóc. Chàng đi quanh mấy phố rồi lại trở về nhà Trâm ở: “Ngộ nó có quay lại tìm ta chăng!” Căn gác vẫn không một người nào cả. Hải tìm bà chủ, hỏi:
- Thưa bà, tôi nói thế này khi không phải. Tôi nhờ bà có mỗi một việc, thé làm sao bà lại chẳng báo trước cho tôi. Nếu tôi biết sớm một chút, có phải là tôi đã giết được nó rồi…
- Tôi nào có biết đấy vào đâu. Vả lại, ví dụ tôi có biết mà bảo ông chăng nữa thì ông cũng chẳng tin tôi nào.
Hải gật và nghĩ thầm: “Có lẽ! Có lẽ thật! Giả thử bà ây mà có bảo truocs thì ta không tin thực!”
Chàng thấy tim chàng muốn vỡ ra, chàng lại thẩn thờ ra phố và đi sang đứng ở cái vườn hoa trước cửa, đưa mắt nhìn cái cửa sổ căn gác của Trâm.
Gớm! Sao hoa lan tiêu hắc thế? Chàng không muốn đứng một phút nào ở chỗ đó nửa – cái chỗ mà mùa xuân vừa đây, chàng và nàng cùng đứng trên gác ngắm sang. Trâm bảo chàng ghì thật mạnh lấy nàng, và chàng, và nàng đều thấy từng đôi trai gái đi trong bóng tối hay ngồi trên ghế đá, tay chân họ quấn quýt lấy nhau như một người.
“Những cảnh ấy, một người cô độc trông thấy, tất phải thèm rỏ dãi”.
Thôi! Đứng mãi làm gì. Những kỷ niệm của chàng đều bị đầu độc bởi câu chàng đã nói – câu nói bây giờ như đầy sự mĩa mai. Chỉ trong một phút đồng hồ, những cái hôn nồng cháy, những sự uốn éo ru lòng cùng những thú vui trong đêm tối đều bay mất hết, không còn lại một chút gì.
Ôi! Cái gì cũng là ký vãng mất rồi, ở hiện tại, bây giờ, chỉ còn một cái thực là sự đau khổ. Hải thấy mình tàn úa, đời chàng đi chóng quá chừng. Chàng có một hồi thích sống. Và chỉ một loáng, bây giờ không còn có cái gì làm cho chàng tha thiết cuộc đời!
Trời mùa thu, càng về khuya càng lạnh. Chàng kéo cổ áo lên, chàng gò hai vai xuống và thọc thật mạnh hai tay vào túi áo. Bờ hồ quạnh hiu. Những cành cây như cái móc, móc cổ người lên. Nước đen lắm và sâu thẩm.
Hải dừng bước, nghĩ thầm: “Đời đã bạc bẽo như thế thì ta còn sống làm gì? Bước chân lên bãi cỏ, đưa cái đầu ra đằng trước một chút, can đảm lên, Hải ơi, thế là hết, không phải phiền não đau khổ nữa”. Chàng nghĩ như thế nhưng mà không làm gì cả.
Một ngọn gió lạnh thổi hắt vào mặt chàng. Chàng cúi đầu xuống, lên hè, đi về nhà. Chàng đi qua chỗ Trâm ở một lần nữa. Lòng chàng trống rỗng như một bãi tha ma. Nước mắt chàng ứa ra, chàng nhìn mờ mờ thấy, như trong một giấc mộng, những cái lá thu nhẹ nhàng bay lượn trước khi rơi xuống đất.
Than ôi! Những cái lá này khi hãy còn là mùa xuân, khi hãy còn đang xanh… Những cái lá ấy rậm rạp và kết thành một cái riềm mất mẻ, che gần kín cả cửa sổ gác Trâm, trước đây, mỗi khi Hải đi làm, thì lại thấp thoáng thấy Trâm ở phía sau, vẫy tay và cười…
XII
Hôm sau, Hải xin ông chủ nghỉ. Chàng nằm vạ nằm vặt trên giường. Ánh sáng của mùa thu c hiếu vào tận chỗ chàng nằm và lấp lánh trên đỉnh màn. Hải thấy nặng nề, ê ẩm. Cái ánh sáng, tiêu biểu cho sự sống rộn rịp, làm chàng nhìn không chán mắt. Chàng ngửi thấy mùi thuốc ở chung quanh. Chàng lợm giọng. Và đứng dậy mở hết cả cửa sổ ra. Đi qua chiếc giường lớn treo ở tường, chàng thấy mặt mũi chàng hốc hác và da chàng xanh xao: chàng ốm. Bóng chàng rồi mờ đi dần dần. Trong gương, chàng thấy lần lượt hiện ra tất cả cảnh dĩ vãng. Toàn là sung sướng, Chàng tiếc những cảnh đã qua và có cảm giác về mình sẽ hối hận mãi mãi, vì đã bỏ qua những ngày vui vẻ có mẹ già, có em bé, có bạn hiền mà không biết hưởng, cắm đầu theo đuổi một thú vui, bây giờ, chỉ còn để lại một khối nặng cho linh hồn.
Những tiếng động nhẹ nhàng và xa xôi ở ngoài đường vọng lên cái gác chàng nằm. Chàng đoán ngoài phố bây giờ tấp nập sáng sủa và có muôn màu rực rỡ.
Từ hôm đứng ở cửa sổ căn gác Trâm, để ngắm cái vườn hoa trước mặt với những cây phượng vĩ, với những cặp tình nhân, với khoảng trời xanh thẳm, Hải mới biết rằng mọi vật chung quanh mình đều có một màu riêng, tươi nhạt thay đổi từng lúc, nhưng đại khái màu nào cũng đẹp. Không khí chảy khắp trong vũ trụ, đôi khi lại trán cho những màu ấy một vẻ thần bí phù du, những khi ta khỏe mạnh, sung sướng không tài nào thấy được, chỉ khi nào ta ốm đau chẳng hạn, nằm một mình, nhớ đến và lấy trí khôn lý hội được mà thôi.
Hải định giơ tay lên lấy cái mảnh ánh sáng bấy giờ chạy đi chạy lên trên chiếu chàng nằm. Chàng không giơ tay được nữa. Đầu chàng nặng, mắt chàng hoa lên, chàng vừa thiếp đi một lát thì cái cửa ra vào bổng kẹt lên ở trên bậu. Hải mơ mơ màng màng tháy một bà cụ già tóc trắng như bông, lưng gập làm đôi, đẩy cửa bước vào, khó nhọc. Đôi mắt già của bà cụ nhăn nheo, cái miệng cay đời ngấn reo hai vạch như là đang mếu. Đó là mẹ chàng thật! Người mẹ bưng một bát thuốc vào cho con.
Rất khẽ, bà cụ già sắp chết mà hãy còn phải lo sợ cho con, khẽ tiến lại phía giường Hãi, vén màn lên, lấy tay để vào trán chàng, Hải nằm im cho sự êm dịu ở tay mẹ tan vào trong người chàng. Chàng cứ giả làm như ngủ, một lát sau mới lim dim mở đôi mắt nặng nhọc ra nhìn mẹ và nói rằng:
- Mẹ mới vào?
- Phải, con ạ. Mẹ vào con đang ngủ. Mẹ làm mất giấc ngủ của con. Hôm nay con xem trong người ra thế nào?
- Con đã đỡ rồi, mẹ ạ. Con chỉ còn sốt về đêm thôi.
- Sáng nay, mẹ lại đến kể bệnh con cho cụ lang rồi. Cụ thay đơn khác, mẹ đi cân thuốc và xắc lấy nước thứ nhất cho con đây.
Thảm hại thay bà cụ! Thảm hại thay tuổi già!
Hải gắt lên với mẹ:
- Mẹ cứ hay lôi thôi. Con đã thưa với mẹ cho trẻ con nó đi cân thuốc và xắc lấy cũng được, tội gì mẹ cứ phải nhọc thân? Mẹ vừa ốm dậy, hãy còn yếu, mẹ cứ lọm khọm vì con như thế, rồi lại có ngày to bệnh đấy!
Bà cụ không trả lời. Sự im lặng làm đau lòng Hải thêm. Chàng biết mẹ chàng thương chàng lắm hy sinh cho chàng nhiều: Ôi! Bà cụ già nào có phải lọm khọm để mà k hông có ích gì đâu: Bà cân thuốc lấy, bà xắc thuốc lấy, không dám giao cho người khác chỉ tại giao cho người khác thì bà thắc mắc không thể yên tâm được.
Hải nhắm mắt lại, có cảm giác là cuống họng có một vị đắng cay – đắng cay hơn thứ thuốc đen nghịt, buồn nôn mà chàng vẫn phải uống mấy hôm nay.
Than ôi! Lòng mẹ thật như biển như trời, mà chàng – chàng là phận làm con – thì từ khi ra đời đã bị bao nhiêu lầm lỗi? Mẹ chàng thì tìm con để thương xót, để an ủi, để săn sóc, nâng niu, mà, chàng, thì đã từ bao giờ đến nay đã dối mẹ, đã trốn tránh cái tình yêu bao la đó để đi tìm một huyền mộng, nó đã bay đi mất như thể con chim trời? Chàng thấy lòng mẹ thật vô biên, mà lòng chàng thì bây giờ chỉ còn lại toàn là hối hận. Chàng hối hận nhất về chỗ mẹ chàng vẫn tin chàng, vẫn không biết chuyện nghìn rưỡi bạc gửi nhà băng của chàng. Hải nói dối như thế đã lâu rồi. Càng giữ cái tội lỗi ấy ở lâu trong mình bao nhiêu, chàng lại càng thấy mẹ già mình đáng thương hại bấy nhiêu.
“Oi ta biết, ta biết hết. Bây giờ mẹ ta biết sự thực thì người sẽ khố lắm đây, nhưng ta vẫn phải nói, để cho đến khi nhắm mắt, mẹ ta không phải đau xót vì đã sinh ra một đứa con nó lừa mình. Mà ta chắc rằng, dù sao đi nữa, mẹ ta cũng lặng im chịu đau khổ một mình, không trách mắng mà cũng không giận dữ”.
Hải nghĩ đến mẹ và thương mẹ vô cùng. Chàng sợ tử thần sẽ đem chàng đi mất để cho mẹ chàng trơ trọi lúc mặt trời bóng xế.
Chàng nhắm mắt lại, đập vào trán và kêu lên rằng:
- Mẹ ơi, con thấy một cái mùi gì rất lạ ở trong buồng này. Hay là mùi chết?
- Người mẹ già nghe thấy con nói gỡ tái mặt lại và run lên. Lòng thương con rào rạt, bà cụ ứa nước mắt ra, khóc như khóc chồng lúc chết.
- Con đứng nói dại. Bệnh con có gì đâu. Con cứ chịu khó uống thuốc, chỉ dăm bữa thì con khỏi. Cụ lang bảo thế.
Cụ lang bảo thế? Cụ lang bảo thế? Hải cười gằn một tiếng và thấy rằng đó chỉ là một ảo ảnh: Hải sẽ không bao giờ khỏi được bệnh, nếu chàng không kể hết cả chuyện phụ mẹ và dối mẹ cho mẹ nghe. Chàng thấy một cái cần cấp bách phải thú tội và không những thú tội với mẹ, với em, nhưng thú tội với tất cả mọi người…
Mẹ Hải nghe Hải nói mà tưởng thấy lòng mình tan nát.
Nghìn rưỡi bạc! Nghìn rưỡi bạc! Thì ra Hải không gửi nhà băng nào cả. Hải đã đem tiêu với cô gái phù du. Mà cái nhân duyên của Hải cũng chỉ là một chuyện không bao giờ có nữa.
Ôi! Bà cụ khóc bao nhiên là nước mắt. Bà cụ thương con suốt một đời gặp bước chẳng may, không trách con một điều gì cả, chỉ tự trách mình sinh ra nó mà không gây cho nó được một mối hạnh phúc như những con nhà khác.
- Nhưng mà nghĩ lại, con ơi, con cũng đừng nên trách trời gần trời xa nữa. Mẹ đã già, mẹ đã trông nhiều rồi: ở đời, trăm việc chẳng cũng quy vào hai chữ số mệnh. Số mệnh đã định đoạt cả, số mệnh cai quản cả… Mẹ nói thế, có lẽ con không chịu, nhưng rồi một ngày kia con sẽ pải chịu những lời của mẹ. Đời người khổ lắm, nước mắt chúng sinh…
“Nhưng mà thôi, con ơi, con nên thương mẹ. Con cố cơm ăn thuốc uống đi, khỏi được là quý chứ tiền bạc cũng không làm gì đâu. Có, thì cũng đến ngày hai bữa, mà không có thì cũng đến ngày hai bữa…”
Hải nghe mẹ nói, mà như thấy con dao cắt lòng. Chàng nhắm mắt lại. Mẹ chàng tưởng con ngủ, đi ra. Chàng trùm chăn kín từ đầu đến chân và ngáp, và thở dài, và càng thấy là mình sắp chết.
Chàng cắn môi lại để cho khỏi kêu to:
- Ngáp đi, thở dài đi, chết đi! Khốn nạn cho mấy thằng Hải… khốn nạn cho mày thằng Hải…
Tai chàng inh lên. Một tiếng vo ve bất tuyệt kêu lên trong đầu chàng. Chàng tưởng như đớ là một tiếng vang. Đó là một tiếng vang thật.
Tiếng vang ấy thế này:
-… Khốn nạn cho mày, thằng Hải! Khốn nạn cho mày, thằng Hải!
ĐOẠN KẾT
Một buổi chiều mùa nực, giữa cái nóng kêu tanh tách ở ngoài vườn, một ông già hom hem như sắp chết.
Có người, một hôm phải nói rằng:
- Giời này, thì đến vơi cũng không sống được.
Hải ốm nằm li bì đến hai tháng ở trên giường. Mẹ chàng lo sợ chỉ còn có nửa người. Bè bạn chàng đến thăm và đã định chung tiền mua đồ phúng và vòng hoa. Cái đời nó như là người nhà rồi, dù thế nào mình cũng phải chịu. Ấy thế mà cũng chưa chắc. Đời còn nhiều rắc rối. Một buổi chiều mùa nực, giữa cái nóng kêu tanh tách ở ngoài vườn, có một ông già hom hem như sắp chết. Cửa trong sở mở ra. Bao nhiêu bạn bè đều kêu lên:
- Bác Hải!
Đó là Hải thực.
Bạn bè nói rằng:
- Gớm! Làm cho cả bọn anh em giật mình…
Chính Hải, Hải là người giật mình thứ nhất, khi lại bước chân vào sở, mà trước kia, Hải làm. Cái sở ấy, bây giờ, vẫn nguyên như thế, không thay đổi một tí gì. Chỗ này là cái lò sười. Chỗ kia là cái tường. Ở giữa cái tường và cái lò sưởi, người ta đặt một người vào đấy. Người ấy ngồi cạnh một người khác. Người khác ngồi ở gần một người thứ… ba, bốn, năm, sáu… chín, mười, mười một… mười bảy, mười tám… Mười tám người. Đủ cả. Ông Kỹ cổ, gầy gò ốm yếu, ít lâu nay không thấy mặt, Hải đã có lần tưởng ông đã chết rồi. Không ngờ vẫn thế. Ông cụ ấy không già đi tí nào. Cả những người ở chung quanh cũng thế. Một cái gương treo ở tường chiếu cái hình của chàng lên. Thì ra, trong tất cả những người ấy, chỉ có chàng là thay đổi. Ở người chàng, người ta thấy mùi không khí, mùi đất và mùi không gian. Còn các người khác thì hình như đời bở quên ở một cái xó Hà Thành đó, nên thời gian cũng chẳng làm việc khốc hại của nó làm gì. Người ta vẫn đi, người ta vẫn làm việc, người ta vẫn sống. Mà người ta sống thực. Sống một cách êm đềm, nhùn nhặn, không có ai để ý tới làm gì. Sống một cách bình dị, làm việc cả năm chí tối, không có một người nào thương hại, để cứ cuối mỗi tháng lại lây được dăm chục bạc lương về nuôi mẹ già, vợ dại và từng đàn con nheo nhóc…
Hải thấy quý trọng những người lạ ấy. Chàng chạy lại bắt tay từng người một, rung động, thiết tha, hai con mắt rưng rưng như muốn trào lệ.
- Các bác vẫn như thường chứ?
- Như thường… như thường…
Câu trả lời như điệp khúc của một bài ca chán nản. Hải thấy vang lên ở bên tai, ngân ra và kéo dài mãi mãi. Cái thời kỳ yên phận của Hải bây giờ đã xa quá rồi.
Chàng nhớ lại cái hồi, lòng hãy còn lâng lâng, ngày đi làm chín tiếng đồng hồ, trưa về nghĩ một chút, tối về ăn cơm và đọc kiếm hiệp tiểu thuyết, yêu mẹ, yêu bạn và yêu em.
- Ôi! Nếu hồi ấy ta cứ cặm cụi làm một cái vốn để dành, cưới vợ, thì có lẽ ta cũng đã như những anh này rồi. Những cuộc đời tăm tối nhưng đáng cảm động biết bao, đáng kính trọng biết bao, đáng thương xót biết bao!
Hải thấy như đánh mất một cái gì. Chàng ngồi xuống ghế. Nảy là những quản bút, này là cái tẩy, này là những hồ sơ, giấy má.
Chàng nói:
- Các bác! Bây giờ công việc ở trong sở có bận lắm không?
- Có điều bận hơn trước một chút. Nhưng đại khái cũng phải xong.
- Chứ lại gì? Không xong cũng không được.
- Bác nói thế là nói thế nào?
- Tôi nói thế là nói rằng đi làm lày tiền thì ta phải làm hết công việc của người ta giao phó. Ta làm sáng, ta làm chiều, ta hít không khí của gian phòng chật hẹp, ta không biết rằng ở quanh ta người ta sống, mà không những sống ban ngày, lại sống cả ban đêm. Ôi! ở ngoài… ở ngoài… các bác ạ, người ta sống đầy đủ lắm.
Người bạn ngày trước, ngày trước đây, trong một buổi nói chuyện đe dọa lôi mũi Hải, ngồi từ lúc nảy không nói gì, bấy giờ mới cười gằn một tiếng mà rằng:
- Bác Hải, Bác nói phải. Bác biết thế hơn cả chúng tôi. Bởi vì bác đầy đủ. Nhưng thưa bác, chúng tôi không phải bất cứ một người nào cũng có một bà cô, không phải bất cứ một người nào cũng được chia gia tài.
Bác chớ chế chúng tôi. Trước khi có ngàn rưỡi bạc, tôi tưởng bác cũng làm ăn kham khổ như chúng tôi bây giờ. Ai chẳng muốn hưởng cuộc đời, nhưng có tiền thì người ta mới có thể hưởng cuộc đời theo ý muốn của người ta được.
- Chưa chắc.
Lòng Hải như thắt lại. Người chàng thù nhất khi xưa, không hiểu sao bây giờ lại hóa ra người chàng mến nhất. Chàng muốn ôm lấy cố anh ta mà khóc những chuyện não nùng ở cõi đời, chàng thấy một tấm lòng thương bạn tha thiết, chàng muốn quên hết cả những chuyện trước và tha thứ cho anh ta để anh ta thương lại mà tha thứ và xót xa cho chàng.
Đêm hôm ấy, nằm trên giường, để hai tay gối dưới đầu mà dán mắt trên trần nhà suy nghĩ, chán rồi, Hải ngồi dậy, vặn to cai đèn dầu, hì hục viết bức thư này cho người anh em “lôi mũi”.
“Thưa bác,
Buổi chiều hôm nay, lúc tôi lại thăm các bác ở sở,bác đã nói một câu có ý nghĩa làm cho tôi rất bằng lòn. Chắc các bác không để ý. Bác bảo tôi rằng: “Người ta có tiền thì mới hưởng được cuộc đời theo ý muốn của người ta”. Lúc ấy, bác có biết không? Tôi đã trả lời rằng: “Chưa chắc”.
Tôi về càng nghĩ thì thấy câu nói kia càng đúng.
Tiền không thể gây hạnh phúc cho người đời. Tôi đã có tiền chẳng phải nhiều nhặn gì cho cam, nhưng mà tôi đã có tiền. Tôi đã ăn, tôi đã chơi, tôi đã cười. Tôi biết tiền nhiều đến đâu rồi cũng phải hết, nhưng mà có một tâm hồn yên ổn thì hạnh phúc, mà người ta gặt được, không có bao giờ cùng. Những sự sung sướng vật chất đi qua rồi, người ta chỉ còn lại một quả tim đầy hồi hận và đầy tiếc nhớ. Một buổi trưa kia, tôi nằm tiếc nhớ lại hồi chúng ta còn bình thản ngày ngày làm việc với nhau. Tôi nghĩ: “Thú nhỉ! Hay là ta đến chơi với anh em một buổi”.
Và tôi đã đến chơi với anh em một buổi thực. Tôi vui vẻ, tôi nói, tôi không biết tôi nói gì. Bác bảo rằng: “ Anh đừng chế chúng tôi”. Không, không, bác ơi. Tôi không dám chế nhạo ai cả. Tôi, bây giờ tôi chỉ cần có người chế nhạo tôi. Nói thực bác nghe, cái đời tôi đương sống, chán không sao tả được. Cái đời trước ở trong sở của tôi – mà là của các bác bây giờ - nói cho đúng, tôi lúc nào cũng vẫn quý, nhưng nếu nso không có bốn bức tường thì tôi càng quý hơn lắm lắm. Tâm hồn ta, dạo ấy, thực là yên tĩnh. Nếu cuộc đời cứ như thế kéo dài ra cho đến chết thì tôi tưởng suốt đời ta không có một tội lỗi, không có một việc gì cắn rứt lương tâm.
Những việc tội lỗi ở đời, tôi tưởng, một phần lớn, đều là do những bữa ăn ngon quá, hay trong túi chúng ta thừa tiền quá. Trâm của tôi đi mất rồi. Cái tội lỗi của nàng lại do ở thiếu tiền mà ra. Tiền thừa quá cũng chết, mà tiền thiếu quá cũng khổ. Cuộc đời chỉ là một trò thử thách mà thôi, những sự cám dỗ nhiều lắm chẳng có ai tránh nổi. Trời sẽ xá tội cho những người biết rõ những tội lỗi của mình làm ra.
Tiền của tôi hết rồi. Hôm qua, về, tôi đã toan đi tự tử ngay. Nhưng túi tôi còn đồng bạc cuối cùng. Tôi đã ăn hết đồng bạc ấy, tôi no quá, tôi nằm và nghĩ đến cuộc đời thử thách tôi. Thưa bác, tôi xin nói để bác rõ, tôi thua rồi, tôi mệt ròi, tôi không còn sức nữa; tôi phải chét.
Khúc sông nào tôi chết, tôi đã định rồi. Sáng mai, ăn quà sáng xong, tôi sẽ vào lạy mẹ rồi cam chịu tội bất hiếu với mẹ mà đi ra cái chỗ tôi đã định. Tôi biết anh em sẽ thương tôi và sẽ đi đưa đám ma tôi. Tôi nhờ bác gửi những lời, trước khi tôi chết, tôi cám ơn và chúc tất cả anh em trong sở.
TRẦN VĂN HẢI
bái
Lúc Hải viết thư xong thì đồng hồ đánh ba giờ. Đêm đầy thăm thẳm, ngọn gió đầu tiên của mùa đông rít lên ở khe cửa. Trời buồn như một đám tang.
Hải thấy lạnh tâm hồn. Chàng kéo cái chăn chiên lên cổ, định cổ ngủ một giấc để lấy can đảm, sáng mai làm việc.
Tiếng chó sủa ở xa xa, những cây tre kẽo kẹt trong vườn như những người chết nói thầm với nhau những chuyện tâm sự nghìn thu.
Hải không tài nào ngủ được.
Hải không tài nào ngủ được, bởi vì Hải thương mẹ, thương mình và thương em. Than ôi, cõi đời bao nhiêu là hạnh phúc, mai chàng đã phải bỏ nó rồi, chàng thấy lòng thắt lại và tiếc nhiều điều quá.
Hải không tài nào ngủ được. Chàng nói:
- Thế thì ít ra mình cũng phải làm một cái gì chứ ai lại cứ nàm đợi chết như thế này? Chàng nhớ lại những cái nhà… Chàng nhớ lại cả những tiếng kêu, tiếng cười, tiếng khóc… Và chàng lại nhớ mẹ, nhớ lại em, nhớ lại bạn, nhớ lại Trâm.
Vụt một cái, ý tưởng được nhìn cái Hà Thành có bao nhiêu những người, những vật thân yêu đso một bận cuối cùng, ý tưởng đó đến với chàng; nhưng sau, chàng n ghĩ rằng bấy giờ đã ba rưỡi sáng, mọi người đang ngủ, nên lại nằm xuống mở mắt ra nhìn trừng trừng vào ngọn đèn dầu để ở bạn, bên cạnh đấy có bức thư báo chết.
- Chết! Chết!
Chàng quả quyết tâm lắm. Chàng nghĩ đến tất cả các thứ chết và nhớ lại các người xưa trước khi đi tìm cái chết thì hay làm gì. Có người đi đánh bạc, có người vào một hang đồ cổ, có người đi uống rượu, có người xem sách.
Lúc ấy, Hải mới thấy rằng chàng cũng còn một đống sách trên đầu giường. Những sách này, chàng đã bỏ lâu lắm không đọc, từ khi kiếm được việc làm. Bây giờ, cầm một quyển lên tay, chàng thấy như lâu ngày mới được gặp bạn cũ, một đêm mưa gió hai người nằm trong một gian nhà kín kể lễ với nhau tâm sự.
Tâm sự nào cũng thiết tha cả: bạn lâu ngày mới gặp, còn chuyện gì là chuyển chẳng hay… Nhưng Hải chú ý vào một chuyện ngắn này của một nữ sĩ Thụy Điển viết, bà Selma Lagerloff. Đã đành là Hải không biết chữ Thụy Điển. Chàng đọc bài dịch và chuyện ấy đại khái như sau này:
“Ngày xưa, ở sở Dobbirchson có một người làm công nhật. Y vất vả cả ngày. Tối đến mới được nghỉ. Mà được nghỉ về thì là để t hấy ở nhà một mụ vợ nhọc mệt và một lũ con nheo nhóc.
“Một hôm, anh ta đến nghe một ông giáo sĩ giảng đạo trong một túp lều tranh. Ông ấy nói về tội lỗi và địa ngục. Người làm công sở Dobbrichsen không cảm động một tí nào. Anh ta không hối hận mà cũng chẳng muốn được lên thiên đường.
- Cả đơi đã phải làm ở sở Dobbrichsen mà lúc chết lại còn phải xuống địa ngục, thực chẳng còn cái gì thú vị được sinh ra trên đời…
Tất cả mọi người, cả đàn bà con gái, đều nhắc lại câu nói chán đời của anh ta. Bởi vì đó là sự thực, không thể thực hơn được nửa. Lâu dần, câu nói ấy thành châm ngôn.
Bà Selma Lagerloff mới nghĩ rằng: cái anh làm công nhật nọ không thể có một số phận thảm hại như thế được. Chẳng lẽ nào mà anh ta lại không có một hy vọng gì?... Nếu quả thật anh ta không thể hối lỗi được, thì chẳng lẽ anh ta lại không có cách nào để rửa tội cho linh hồn đi sao? Với một người chết đuối… cứu một người trong một đám cháy nhà, giúp đỡ một người nghèo đói… há lại chẳng được ru?
Ác hại! Những việc đó chỉ là những việc tốt mà thôi. Muốn sạch tội, những việc ấy không đủ. Cái hình ảnh người làm công nọ, vì va yaj, ám mãi bà Selma Lagerloff. Bà nghĩ chẳng biết anh chàng này có được tha thứ các tội lỗi hay là phải sa địa ngục?
“Địa ngục tưởng là chỉ cho những kẻ giết người mà thôi”.
Bỗng một đêm…
Đếm ấy là đêm ba mươi tết. Bà Selma Lagerloff nằm mê thấy anh chàng làm công sở Dobbrichsen. Bà theo anh ta đi lên Trời.
Trời xem tên tuổi anh chàng và ôn tồn gọi anh ta lại gần.
Bà Selma Lagerloff kêu lên:
- Thế thì có lẽ nhầm…
Trời hỏi:
- Sao vậy?
- Lạy Trời! Con thực không biết có phải quả là anh chàng nay được tha thứ hết cả lỗi lầm ở trần gian mà được lên Thiên đường thực không?
- Thực thế, con ạ. Anh ta được tha thứ. Anh ta không còn tội lỗi gì cả. Bởi vì anh ta đã làm việc, đã đau đớn, đã khổ cực, không được lúc nào nghĩ ngơi, từ thưở nhỏ cho đến già.
Cửa Thiên đường mở rộng ra. Anh công nhật ở Dobbrichsen bước vào.
Bà Selma Lagerloff tỉnh dậy và nhắc lại câu này: “Cửa Thiên đường mở rộng cho những kẻ nào đau đớn và khổ cực…”
Hại đọc truyện đó hai lần.
Một thứ ánh sáng nặng nề và mờ ám của mùa đông chiếu vào chỗ chàng nằm.
Gà gáy sáng.
Hải tắt đèn và nhắm mắt.
Buổi chiều hôm ấy, chàng cấm cái thư viết cho bạn, lấy một que diêm đốt.
Ngọn lửa bùng lên, tờ giấy đầy chữ kia chỉ còn là một cái tàn than mỏng và khô, các góc quăn lại rồi vở ra từng miếng bay là là trước khi rơi xuống đất.
★
★
★
★
★
0