📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Truyện Cần Đánh Máy

Tia Chiếu Khủng Khiếp Của Kỹ Sư Garin - Aleksey Tolstoy 🔒

65 trả lời, 7.789 lượt xem — Trang 1 / 3
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2010-05-31 20:04:27Ct.Ly>


Dịch từ nguyên bản tiếng Nga: GIBERBOLOID INZHENKRA GARINA (Гиперболоид инженера Гарина)

Izdatelstvo METALLURGIJA, Moskva, 1985

Đặng Ngọc Long dịch

NXB Đà Nẵng 1987

LỜI NÓI ĐẦU


Bạn đọc nước ta đã làm quen với nhà văn Xô viết Alếchxây Nhicôlaiêvich Tônxtôi qua hai bộ tiểu thuyết nổi tiếng nhất của ông: Con đường đau khổPie đệ nhất. Chúng ta còn được thưởng thức Con đường đau khổ qua một bộ phim màn ảnh thường và một bộ phim màn ảnh nhỏ.
"Con đường đau khổ" mà các trí thức Nga Têlêghin, Rốtsin, Đasa, Cachia đã trải qua để đến với Cách mạng cũng chính là con đường tác giả đã phải đi qua với bao trăn trở nhọc nhằn. Vốn xuất thân từ một gia đình quý tộc nhỏ có truyền thống văn học, A.N.Tônxtôi ngay từ những năm đầu thế kỷ 20 đã là một trong những nhà văn hiện thực phê phán xuất sắc. Khi chiến tranh thế giới lần thứ nhất bùng nổ, ông ra mặt trận làm phóng viên, nhưng do hạn chế về tư tưởng, ông không nhận thức được thực chất của cuộc chiến tranh đế quốc. Ông đã hân hoan chào mừng Cách mạng tháng Hai năm 1917, nhưng khi Cách mạng tháng Mười bùng nổ, ông lại hoang mang dao động. Bị đám văn nghệ sĩ suy đồi lôi kéo, năm 1918, ông đã cùng với gia đình "di tản" qua Pháp, sống cuộc đời lưu vong đầy day dứt và dằn vặt. Trong suốt thời gian này, A.N.Tônxtôi vẫn tiếp tục viết những tác phẩm thấm đượm nỗi nhớ Tổ quốc da diết. Tập đầu Hai chị em của tiểu thuyết bộ ba Con đường đau khổ, truyện Thời thơ ấu của Nhikita, tiểu thuyết Aêlita đã ra đời trong những năm lưu vong ấy.
Đầu năm 1923, A.N.Tônxtôi trở về Tổ quốc, tình nguyện đứng vào hàng ngũ những người trí thức cống hiến mọi sức lực của mình cho công cuộc xây dựng đất nước. Từ đấy bắt đầu một thời kỳ sáng tác mới rất phong phú của nhà văn với nhiều tác phẩm có giá trị, trong đó có hai tập Năm 1918 Buổi sáng ảm đạm đã được viết xong để hoàn thành bộ tiểu thuyết sử thi đồ sộ Con đường đau khổ.
Pie Đệ nhất, bộ tiểu thuyết lịch sử xuất sắc trong văn học Xô viết, cũng là kết quả lao động sáng tạo lâu dài của A.N.Tônxtôi từ năm 1929 đến khi ông qua đời.
Trong những năm chiến tranh chống phát xít Đức, xuất phát từ lòng yêu nước sâu sắc, thiết tha và niềm tin mạnh mẽ vào sức mạnh vô địch của quân và dân Xô Viết, nhà văn đã viết nhiều bài chính luận có giá trị và tiêu biểu nhất là tác phẩm kịch Ivan Lôi đế.
A.N.Tônxtôi không chỉ là một nhà văn lớn mà còn là một nhà hoạt động văn hóa xã hội xuất sắc. Ông đã được bầu làm đại biểu Xô viết tối cao Liên Xô và là viện sĩ Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô. Với tư cách là đại biểu của nền văn học Xô viết, ông tham dự nhiều hội nghị quốc tế ở nước ngoài để đấu tranh bảo vệ hòa bình thế giới. Ông đã được Tổ quốc tặng thưởng nhiều huân chương cao quý. Năm 1945, nhà văn qua đời ở Mátxcơva, thọ 62 tuổi.

*

A.N.Tônxtôi viết tiểu thuyết Tia chiếu khủng khiếp của kỹ sư Garin năm 1926-1927. Đến năm 1937, tác giả sửa lại tiểu thuyết này và thêm một số chương mới.

Tia chiếu khủng khiếp của kỹ sư Garin được đánh giá là tác phẩm mở đầu cho thể loại truyện khoa học viễn tưởng Xô viết. Rất lâu trước khi tia lade ra đời, A.N.Tônxtôi đã nói đến một loại tia chiếu vừa là một phương tiện khoa học, lại vừa là một thứ vũ khí giết người và tàn phá khủng khiếp. Nhưng phải thấy rằng, tia chiếu viễn tưởng này chỉ được dùng để làm nổi bật cái hiện thực gần gũi, nóng bỏng lúc bấy giờ. Đó là cuộc tiến công trắng trợn, bẩn thỉu của đế quốc Mỹ vào châu Âu và phần thế giới còn lại, với mưu đồ làm bá chủ thế giới. Đó là thảm họa phát xít độc tài đang đe dọa hòa bình, chuẩn bị lôi kéo thế giới vào một cuộc chiến tranh mới còn ghê gớm hơn chiến tranh thế giới lần thứ nhất. Đó là lực lượng cách mạng thế giới đang trỗi dậy mạnh mẽ với trụ cột là nước Nga Xô viết, Nhà nước công nông đầu tiên trên thế giới. Đó là vấn đề bảo vệ "chất xám" để "chất xám" có thể phục vụ cho Tổ quốc, cho hoà bình, chứ không phải trở thành công cụ nguy hiểm của bọn tư bản cuồng chiến...
Cái hiện thực gần gũi, nóng bỏng trên đây đã được tác giả thể hiện tài tình, sinh động, lôi cuốn trên từng trang Tia chiếu khủng khiếp của kỹ sư Garin. Và lý thú thay, cho đến tận nay, hiện thực ấy vẫn không hề mất đi tính "gần gũi, nóng bỏng". Chính vì vậy, nhân dịp kỷ niệm 70 năm Cách mạng Tháng Mười thắng lợi, đi đôi với việc tái bản bộ tiểu thuyết lịch sử Pie Đệ nhất, chúng tôi xin trân trọng giới thiệu với bạn đọc tiểu thuyết mang tính chất khoa học viễn tưởng nhưng rất hiện thực: Tia chiếu khủng khiếp của kỹ sư Garin.


NHÀ XUẤT BẢN ĐÀ NẴNG
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2010-02-23 22:26:18huytran>
Để cái này ở đây đã hơn 3 tháng không thấy ai hưởng ứng. Chắc là độc giả không cảm thấy nhu cầu. Thôi thì nhờ admin xóa topic này đi hộ. Xin cảm ơn admin.

Xin nói thêm là tôi không phải giận dỗi gì, chỉ sợ mất công sau này có 1-2 bạn muốn đánh máy, dẫn đến tình trạng làm mà không đủ nhân lực, để công việc dở dang. Nếu ít người quan tâm thì dẹp bỏ dự án là tốt hơn.
0

xin lỗi HuyTran nhen

3 tháng rồi mà Ct.Ly hỏng thấy đó chứ

Bận lubu ah HT ơi

Vậy cứ scan trước cho Ly vài chương đi, để nhờ các hiệp sĩ đánh giúp một tay, hay huytran làm cách như đem vào megaud cho người ta thâu vào máy cũng được

Chúc HuyTran luôn vui nhé

Truyện HT đem vào nhiều quá, chưa mang vào thư viện cố gáng đem vào sớm nhen, thông cảm nha HT, từ cuối năm Dương Lịch đến giờ bận bịu quá HT ơi
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2010-04-05 22:04:13Ct.Ly>
Truyện
Tia Chiếu Khủng Khiếp Của Kỹ Sư Garin - Aleksey Tolstoy


Nhờ các hiệp sĩ đánh máy giúp nhá

Ghi tên, xin nhớ để lại email để HuyTran hoặc Ct.ly gửi đến các bạn bản scan nhé

Thành thật cảm ơn các bạn thật nhiều


4 phần: Đã có người nhận


hathanh725 : trang 28 - 47 hoàn tất

pddk1987: từ trang 86 - 95 hoàn tất

Vo uyên :  từ trang 96 - đến 105. Hoàn tất

Hathanh = 106 - 125 hoàn tất

Hathanh 126 -trang 147 hoàn tất
 
Lam.  -148 đến 167 hoàn tất

 Piyeamigo :   168-187 hoàn tất

Lam . 188 - 205  hoàn tất

Thanh Vân  -206 đến 223 hoàn tất

Hathanh 224-243 hoàn tất

samhaivan  : 262-281 hoàn tất

Hatdau  282-295 hoàn tất

Nva _85 = 296 - 313 hoàn tất      

Piyenmingo = 314-335. hoàn tất

Hatdau : 336-355  hoàn tất

Cunhoi  356 -  375 hoàn tất














0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2010-03-13 18:40:38Ct.Ly>
[:)] Mình đã type xong phần 86-95.

Chú ta vừa nhanh nhẹn lại vừa thông minh, tuyệt lắm anh ạ. –Anh cúi người qua lan can, gọi to : - Ivan, lên đây !

Ngay tức khắc có tiếng chân chạy thoăn thoắt trên cầu thang rồi Ivan xuất hiên. Em đã cởi chiếc áo bông tã nát (vì lí do về sinh nên người ta đã đem đốt trong bếp) và mặc chiếc quần đùi kiểu vận động viên chèo thuyền, nhưng trên thân thể để trần của em vẫn là chiếc gilê bằng da, cũ kỹ quá thể, buộc dây chằng chịt.

-    Đấy, - Taraskin vừa nói vừa chỉ chú bé, - tôi đã hết sức khuyên chú ta cởi áo gilê ra, nhưng chú ta dứt khoát không chịu. Vậy chú hỏi cháu là cháu sẽ tắm như thế nào đây? Nếu hilê còn tốt thì chẳng nói làm gì, nhưng nó tã quá rồi.
-    Cháu không thể tắm được, - Ivan đáp.
-    Phải cho cháu vào buồng tắm thôi, trông cháu lem luốc quá đi mất.
-    Cháu không thể tắm được. Cháu chỉ có thể rửa ráy đến đây thôi,  - Ivan chỉ chiếc rốn nhỏ, ngập ngừng một lát rồi lùi dần ra phía cửa.
Taraskin vừa lấy móng tay khía vào bắp chân mà trên lớp da rám nắng còn hằn lại những vệt trắng, vừa bực bội kêu to :
-    Anh muốn làm gì nó thì làm, anh Senga ạ.
-    Cháu làm sao thế ? –Senga hỏi. Sợ nước à ?
Chú bé nhịn anh, không mỉm cười :
-    Không, cháu không sợ.
-    Vậy sao cháu lại sợ tắm ?
Chú bé cúi đầu xuống, bướng bỉnh bặm môi.
-    Cháu không dám cởi áo gilê, cháu sợ người ta nẫng mất phải không ? – Senga lại hỏi.
Chú bé nhún vai, cười khẩy.
- Thế này nhé, Ivan; cháu không muốn tắm thì thôi cũng được, đấy là việc của cháu, nhưng các chú không cho phép cháu mặc chiếc áo gilê kia đây. Cởi ra, lấy áo gilê của chú mà mặc.
Senga bắt đầu cởi khuy áo của mình. Ivan lùi lại. Hai đồng tử của chú đảo đi đảo lại đầy lo ngại. Một lần, chú ngước nhìn Taraskin với vẻ cầu khẩn và vẫn nghiêng người tiến về phía chiếc cửa ra vào bằng kính dẫn xuống câuf thang tối tăm bên trong nhà.
- Kìa, chúng ta có thảo thuận là chơi kiểu ấy đây ! – Senga đứng dậy, khóa cửa lại, fút chìa ra rồi ngồi ngay trước cúa. – Nào, cởi áo ra !
Chú bé nhìn quanh như một con thú nhỏ. Bây giờ chú đã đứng sát cửa, lưng quay về phía kính. Lông mày chú nhíu lại. Đột nhiên, chú quả quyết cởi chiếc áo rách tã rồi đưa cho Senga.
- Đây, chú đưa áo của chú cho cháu đi.
Nhưng Senga không nhìn chú bé nứa mà hết sức kinh ngạc nhìn qua  vai chú vào lớp kính cửa.
- Nào chú, - Ivan giận dữ nhắc lại, - sao chú lại cười ? Chú có còn bé bỏng gì đâu.
- Dớ dẩn ! – Senga phá lên cười.. – Cháu quay lưng lại đây. (chú bé đập gáy vào cửa kính như bị hích mạnh). Cháu quay lại đi, dù sao thì chú cũng đã thấy trên lưng cháu có chữ viết rồi.
Taraskin chồm dậy. Chú bé lao vút qua hàng hiên rồi nhanh nhẹn trườn qua lan can. Taraskin phải mau tay lắm mới kịp tóm được chú. Những chiếc răng sắc nhọn của chú cắm nhập vào tay anh.
- Tệ quá ! Không được cắn !
Taraskin siết chặt chú bé vào người. Anh xoa mái đầu cạo trọc xám nhờ của chú.
- Thằng bé đâm man rợ mất rồi. Run rẩy như chuột ấy. Cháu cứ yên tâm, các chú không làm gì cháu đâu.
Chú bé dịu đi trong vòng tay anh, chỉ có tim vẫn đập mạnh. Đột nhiên, chú thầm thì tận tai anh :
- Chú bảo chú ấy không nên đọc những chữ trên lưng cháu. Không ai được phép đọc đâu. Họ sẽ giết cháu mất.
- Các chú sẽ không đọc đâu, có thú vị gì đây mà đọc, - Taraskin vừa nhắc lại vừa cười đến chảy nước mắt.
Suốt trong thời gian đó, Senga đứng ở đầu hàng hiên bên kia, cắn móng tay, nheo mắt như một người đang tìm cách giải câu đó. Đột nhiên, anh lao đến gận và bất chấp sự kháng cự của Taraskin, quay lưng chú bé lại phía mình. Phía dưới sương bả vai, trên tấm lưng gầy buộc của chú bé có viết bằng bút mực những dòng chữ nhòe đi vì mồ hôi và đã mờ nhiều chỗ :
“... Gửi Gar... Kết qu... rất t... đẹp... độ sâu của lớp ôlivin áng chừng năm cây s..., đang t... tục tìm k...ếm, cần giúp đỡ... Đói... khẩn trươ... th.m dò... “
- Garin, Garin đấy ! – Senga kêu to.
Đúng lúc đó, chiếc motô của Ban điều tra binh sự lao ầm ầm vào sân câu lạc bộ và giọng của người công an từ dưới vọng lên :
-    Đồng chí Senga, đồng chí có điện khẩn…
Đó là bức điện của Garin đánh đi từ Pari.
27
Chiếc bút chì mạ vàng chạm vào cuốn sổ tay.
-    Ngài cho biết quí danh ?
-    Piancốp Pitkêvich.
-    Mục đích việc ngài đến thăm ?
-    Ông hãy truyền đạt với ngài Rôlinh rặng, - Garin nói. – tôii được giao trách nhiệm tiến hành thương lượng về bộ máy của kỹ sư Garin mà ngài Rôlinh đã biết.
Viên thư ký lập tức biến mất. Một phút sau, Garin bước qua chiếc cửa đóng bằng gỗ hồ đào và vào phòng làm việc của ông vua hóa học. Rôlinh đang viết. Không ngước mắt lên, y mời khách ngồi. Sau đó, vẫn không ngước mắt lên, y nói :
- những chuyện tiện nong vặt vãnh thì qua viên thư ký của tôi, - y đưa bàn tay yếu ớt cầm lấy chiếc bàn thấm và ép mạnh lên tờ giấy vừa viết, - nhưng tôi sẵn sàng nghe anh. Tôi dành cho anh hai phút. Có gì mới về kỹ sư Garin ?
Gác hai chân lên nhau và đặt đôi tay duỗi thẳng lên đầy gối, Garin nói :
- Kỹ sư Garin muốn biết là ngài có biết chính xác bộ máy của ông ta công dụng ra sao không ?
- Có, - Rôlinh đáp, - đối với mục đích công nghiệp thì theo chỗ tôi được biết, bộ máy ấy ít nhiều đáng chú ý. Tôi đã nói chuyện với vài người trong ban quản trị congxoốcxiom chúng tôi, họ đồng ý mua bằng sáng chế.
- Bộ máy ấy không dùng vào mục đích công nghiệp, - Garin sẵng giọng nói. – đó là bộ máy để phá hủy. Quả thật, nó có thể dùng cho công nghiệp mỏ và công nghiệp luyện kim được. Nhưng hiện nay kỹ sư Garin có những ý đồ khác.
- Ý đồ chính trị chăng ?
- Ồ... Chính trị ít làm kỹ sư Garin quan tâm lắm. Ông ta hy vọng thiết lập được một chế độ xã hội hợp khẩu vị của ông ta nhất.
- Thiết lập ở đâu ?
- đương nhiên là ở khắp nơi, trên tất cả năm châu.
- Ô hô ! – Rôlinh thốt lên.
- Kỹ sư Garin không phải cộng sản đâu, ông cứ yên tâm . Nhưng ông ta cũng không hoàn toàn cùng quan điểm với ngài. Tôi xin nhắc lại : ông ta có những ý đồ lớn lao. Bộ máy của kỹ sư Garin cho phép ông ta thực hiện được trí tưởng tượng  ngông cuồng nhất của ông ta. Bộ máy đã chế tạo xong, có thể đưa ra giới thiệu ngay ngày hôm nay.
- Hừm ! – Rôlinh nói.
- Kỹ sư Garin đã theo dõi hoạt động của ngài, ngài Rôlinh ạ, và ông ta thấy tầm cỡ của ngài không phải là xoàng, nhưng ngài thiếu một ý tưởng lớn. Nào là côngxoócxiom hóa học, nào là chiến tranh hóa học bằng không quân, nào là biến châu Âu thành thị trường của Mỹ. Tất cả những cái đó đều vụn vặt, không có một tư tưởng chủ đạo. Kỹ sư Garin đề nghị ngài cộng tác.
- Ông điên hay ông ta điên đây ? Rôlinh hỏi.
Garin cười vang, lấy ngón tay day mạnh bên cánh mũi.
- Ngài thấy đấy, chỉ nội cái việc ngài nghe tôi nói không phải hai phút mà là chín phút rưỡi cũng đã tốt lắm rồi.
- Tôi sẵn sàng đề nghị kỹ sư Garin nhận năm vạn phơrăng để đổi lấy bằng sáng chế của ông ta, - Rôlinh nói và lại bắt đầu viết.
-Đề nghị ấy phải hiểu như thế này : ngài định dùng vũ lực hoặc mưu mẹo để đoạt lấy bộ máy, còn kỹ sư Garin thì sẽ bị thanh toán như người ta đã thanh toán viên trợ thủ của ông ta trên đảo ..., có phải thể không ?
Rôlinh đặt ngay bút xuống, chỉ hai vệt ửng đỏ trên gò má của y là để lộ sự hồi hộp. Y cầm điếu xì gà hút dở trên chiếc gạt tàn, ngửa người vào ghế bành và nhìn Garin bằng đôi mắt mờ đục, không thể hiên gì hết.
- Cứ cho là tôi có ý định xử sự với kỹ sư Garin theo kiểu đó đi thì sao nào ?
- Thì tức là kỹ sư Garin chắc hẳn đã lầm.
- Lầm về chuyện gì ?
- Về việc đã tưởng rằng ngài là một tên vô lại có tầm cỡ lớn hơn kia. – Garin vừa nhấn từng tiếng vừa vui vẻ và táo tợn nhìn Rôlinh.

Rôlinh chỉ nhả ra những làn khói xanh và thận trọng đưa đi đưa lại điếu xì gà gần mũi.
- Chia sẻ lời lãi với Garin khi tôi có thể chiếm được cả một trăm phần trăm thì thật là ngu ngốc, - y nói, - Vậy thì để kết thúc câu chuyện, tôi đề nghị mười vạn phơrăng và không thêm mọt xu nào nữa.
- Ngài Rôlinh ạ, đúng là ngài cứ lầm lẫn hoài. Ngài chẳng việc gì phải liều hết. Hai điệp viên của ngài là Xêmiônốp và Tưclinxki đã dò ra nơi ở của Garin. Ngài chỉ cần báo cho cảnh sát thôi là ông ta sẽ bị bắt như một gián điệp Bônxêvich. Bộ máy và các bản vẽ cũng sẽ do hai điệp viên Xêmiônốp và Tưclinxki đánh cắp. Làm cách đó sẽ không tón quá năm nghìn phơrăng đâu. Còn Garin thì để ông ta không tìm cách khôk phục các bản vẽ trong tương lai, lúc nào cũng có thể gửi ông ta theo từng chặng một về Nga qua con đường Ba Lan, nơi ông ta sẽ bị thanh toán ở vùng biên giới. Thật vừa rẻ vừa đơn giản. Cần gì đến mười vạn phơrăng chứ ?
Rôlinh đứng dậy, liếc mắt nhìn Garin và bắt đầu đi đi lại lại, đôi giày bóng lộn ngập sâu vào lớp thảm lấp lánh ánh bạc. Đột nhiên, y rút tay khỏi túi và bật ngón tay đánh toách.
- Một trò chơi rẻ tiền, - y nói, - ông nói láo. Tôi đã suy nghĩ kỹ trước năm nước đi cho mọi thế cờ có thể có rồi. Chẳng có gì nguy hiểm hết. Ông chỉ là một gã bịp bợm rẻ tiền. Garin đã bị chiếu hết rồi (1). Ông ta biết như vậy nên cử ông đến mặc cả với tôi. Tôi sẽ không cho đến hai đông kẽm để đổi lấy bằng sáng chế của ông ta đâu. Garin đã bị lần ra dấu vết và bị tóm cổ rồi (Y thoáng nhìn đồng hồ rồi đút nhanh đồng hồ vào túi áo gilê). Xéo đi ngay !
Đúng lúc đó, Garin cũng đứng dậy và đứng cạnh bàn, đầu cúi xuống. Khi Rôlinh tống cổ y đi, y đưa tay vuốt tóc và nói bằng giọng não ruột như một kẻ bất ngờ bị sa bẫy :
- Được, ngài Rôlinh ạ, tôi đồng ý mọi điều kiện của ngài. Ngài vừa nói đến con số mười vạn.
- Không mọt xu nào hết ! – Rôlinh thét to. – Xéo đi, hoặc người ta sẽ tống cổ ông khỏi cửa !
Garin thò mấy ngón tay vào cổ áo, hai mắt y bắt đầu trợn ngược lên. Y lảo đảo. Rôlinh hét lớn :
- Đừng giở mánh khóe nữa ! Cút ngay!
Garin thở khò khè và ngã nghiêng người xuống bàn, Tay phải y đập vào mấy tờ giấy đầy chữ và hoói hả nắm chặt lấy. Rôlinh nhày bổ đến chuông điện. Viên thư ký tức khắc xuất hiện...
- Tống cổ thằng này ra !...
Viên thư ký ngồi ghé xuống như con báo, bộ ria tao nhã dựng đứng lên, những bắp thịt cứng như sắt cuồn cuộn nổi lên dưới lần áo véttông mỏng. Nhưng Garin đã bước ra xa khỏi bàn và vừa đi nghiêng người vừa cúi chào Rôlinh. Sau đó y chạy như bay xuống cầu thanh bằng đá hoa,  bước ra đại lộ Mandéc, nhảy lên chiếc xe thuê cao mui, cho biết địa chỉ, kéo cả hai ô cửa lên, hạ tấm rèm xanh xuống và bật cười cộc lốc, gay gắt.
Y rút trong túi véttông ra một mẩu giấy vò nát và vẩn thận vuốt thẳng ra trên đầy gối. Trên tờ giấy kêu sột soạt (xé từ cuốn sổ lớn), bằng nét chữ to Rôlinh phác họa những công việc cho ngày hôm nay. Có lẽ vào giây phút Garin bước vào phòng làm việc, bàn tay của ông vua hóa học đầy cảnh giác đã vô tình viết lên trên giấy để lộ những ý nghĩ thầm kín của mình. Một dòng chữ viết ba lần liền, lần này dưới lần kia : “Phố Gôbêlênốp số sáu mươi ba, kỹ sư Garin “. (Đấy là địa chỉ mới của Lơnoa mà Xêmiônốp vừa thông báo qua diện thoại...).
Tiếp đó là dòng chữ : “Đưa năm nghìn phơrăng cho Xêmiônốp...”.
-    May quá đi mất ! May quá đi mất ! – Garin vừa thầm thì vừa vuốt thẳng tờ giấy trên đầu gối.
Chừng mười phút sau, Garin nhảy xuống xe trên đại lộ Xanh Misen. Những ô cửa sổ bằng kính tấm trong tiệm cà phê “Pănglêông” đã nâng lên. Ở cuối tiệm cà phê, Lơnoa đang nồi bên bàn. Trông thấy Garin gã giơ tay lên và bật ngón tay đánh toách.
Garin vội ngồi xuống bên cạnh, lưng quay về phía ánh sáng, có cảm giác như y ngồi đối diện với tấm gương. Lơ noa cũng để bộ râu dê như vậy, cũng đội mũ mềm như vây, cũng thắt cà vạt kiểu con bướm như vậy, cũng mặc véttông kẻ sọc như vậy.
Anh hãy chúc mừng tôi đi – thành công rồi ! Thành công mỹ mãn là khác ! – Garin vui vẻ nói. – Rôlinh sẵn sàng làm mọi việc. Cá nhân ông ta chịu một mình mọi khoản chi phí sơ bộ. Khi nào bắt đầu sử dụng bộ máy thì năm mươi phần trăm thu nhập sẽ thuộc về ông ta, còn năm mươi phần trăm sẽ thuộc chúng ta .
-    Anh đã ký hợp đồng rồi hay sao ?
-    Hai ba ngày nữa sẽ ký. Việc đưa bộ máy ra giới thiệu sẽ phải hoãn lại. Rôlinh đặt điều kiện là sẽ chỉ ký hợp đồng sau khi tận mắt thấy bộ máy làm việc.
-    Ta đặt một chai sâm banh chứ ?
-    Hai, ba chai hoặc cả két cũng được.
-    Dù sao cũng thật đáng tiếc là cái con cá mập ấy sẽ ngốn của chúng ta đến một nửa thu nhập. -
Lơnoa vừa nói vừa gọi hầu bàn đến gần : - Một chai Irus, loại tinh chất nhất ấy.
-    Không có tiền đầy tư thì chúng ta chẳng làm thế nào mà triển khai được. Lơ noa này, nếu công việc ở Camsátca của tôi mà thành công thì mười Rôlinh, chúng ta cũng cóc cần.
-    Công việc gì ở Camsátca đấy?
Người hầu bàn đem rượu và ly lên, Garin châm thuốc hút, ngửa người trên chiếc ghế độn rơm, lắc lư, nheo mắt và bắt đầu kể :
-Anh nhớ nhà địa chất Manxép chứ ? Năm mười lăm, ông ta tìm thấy tôi ở Pêtorôgrát. Ông ta vửa từ Viễn Đông trở vể, rất sợ bị động viên nên đề nghị tôi giúp để khỏi phải ra mặt trận.
-Manxép làm việc trong công ty vàng của Anh ấy phải không ?
- Ông ta tiến hành thăm dò tại vúng sông Lêna, sông Anlan, rồi ở Côlưma. Ông ta kể những chuyện kỳ lạ. Họ thấy ngay dưới chân họ là những cục kim loại tự sinh nặng đến mười tám kilôgam…Chính khi ấy tôi đã nẩy sinh một ý tưởng, một ý tưởng bao quát của đời tôi…. Đấy là một việc rất táo bạo, thậm chí điên rồ nữa, nhưng tôi tin vào nó. Mà nếu tôi tin thì quỉ Xatăng của chẳng kìm nổi tôi. Anh bạn thân mến của tôi ạ, thứ duy nhất trên đời mà tôi khao khát mãnh liệt – đấy là quyền lực… Không phải quyên lực của vua chúa đâu – cái đó vun vặt, tầm thường, chán ngán lắm. Không, phải là quyền lực tuyệt đối kia… Rồi sẽ có lúc tôi kể tỉ mỉ cho anh nghe vể các kế hoạch của tôi. Để thống trị thì phải có vàng. Để thống trị như tôi muốn thì cần có một lượng vàng nhiều hơn toàn bộ số vàng của các ông vua kỹ nghể,dịch vụ và các ông vua khác cộng lại…
- Kế hoạch của anh táo bạo thật đấy, - Lơ noa nói và vui vẻ cười vang.
- Nhưng tôi đang đi đúng đường. Toàn thế giới sẽ nằm trong tay tôi như thế này này. – Garin nắm chặt bàn tay nhỏ bé lại. – Những cột mốc trên con đường của tôi là Manxép thiên tài, rồi Rôlinh, nói đúng hơn là hang tỷ đôla của ông ta, và thứ ba là chiếc máy phát tin của tôi…
- Vai trò của Manxép là thế nào ?
- Hồi đó, vào năm mười lăm, tôi đã huy động toàn bộ số tiền còm của tôi, và bằng táo tợn nhiều hơn bằng mua chuộc, đã giúp Manxép thoat khỏi chế độ quân dịch. Sau đó, tôi cử  ông ta cùng một đoàn thăm dò nhỏ đi tới Camsátca, vào những nơi khỉ ho cò gáy… Cho tới năm mười bảy, ông ta vẫn viết cho tôi, công việc của ông ta hết sức khó khăn, vất vả, điểu kiện sinh hoạt hết sức tồi tệ… Tự năm mười tám thì ông ta mất hút – chính anh cũng hiểu tại sao rồi. Mọi việc đều phụ thuộc vào kết quả thăm dò của ông ta.
- Ông ta làm gì ở đấy ?
- Ông ta chẳng tìm gì hết… Nhiệm vụ của ông ta chỉ là xác nhận những dự đoán lý thuyết của tôi. Vùng duyên hải Thái Bình Dương – thuộc châu Á cũng như thuộc châu Mỹ - là những vùng của một lục địa cổ đã chìm sâu xuống đáy biển. Một khối nặng khổng lồ như vậy nhất định phải ảnh hưởng đến việc phân bố những lớp đất đá dưới sâu hiện trong trạng thái nóng chảy… Những dãy núi lửa đang hoạt động ở Nam Mỹ, vùng núi Anđét và Coócđilie, những núi lửa ở Nhật Bản và cuối cùng là ở Camsátca xác nhận rằng những lớp nham thạch nóng chảy thuộc Vòng đai Ôlivin- vàng, thủy nhân, ôlivin và các chất khác - ở các vùng ven Thái bình Dương nằm gần mặt đất hơn nhiều so với các nơi khác trên trái đất (1)…Anh hiểu chứ?
- Toio không hiểu anh cần đến cái vòng đai Ôlivin ấy làm gì ?
- Để thống trị thế giới, anh bạn ạ… Nào, ta cạn chén đi. Chúc thành công…

29

Dôia mặc váy nhắn và áo lụa đen (loại áo các cô gái bán hàng tại các cửa hàng bách hóa thường mặc), đội chiếc nũ nhỏ giản dị, ả nhảy xuống xe buýt, chạy qua đường phố ồn ào rồi đi vào tiệm cà phê “Địa cầu”, một tiệm cà phê đồ sộ trông ra hai phố.
Ả tìm chiếc bàn chưa có người ngồi, châm thuốc hút, ra lệnh cho cậu bé hầu bàn đem đến một lít vang đỏ rồi ngồi trước ly rượu đã rót đầy chống tay vào hai má.
- Cô bé ạ, bắt đầu nghiện ngập thế là không tốt đâu, - một diễn viên già đi ngang qua, vừa nói vừa vỗ lưng ả.
Ả đã hút hết ba điếu thuốc. Rốt cuộc, người mà ả chờ đợi thong thả bước lại gần. Đây là một người đàn ông cau có, rắn chắc, trán hẹp, đôi mắt lạnh lùng. Bộ ria của gã hơi vểnh lên, cổ áo sặc sỡ ôm chặt lấy chiếc cổ bò mộng. Gã ăn mặc rất sang trọng, lịch sự. Gã ngồi xuống, chào hỏi Dôia vài câu ngắn gọn. Gã nhìn xung quanh – một vài người cụp mắt xuống. Đó là Gaxlông Mỏ Vịt, trước kia chuyên ăn trộm rồi sau gia nhập băng cướp Bônô khét tiếng. Trong chiến tranh, gã leo đến chức Hạ sĩ quan và sau khi giải  ngũ thì chuyển sang công việc bình lặng của một kẻ môi giới về những công việc bí mật và mờ ám.
Đối với Dôia, gã tỏ ra hết sức kính trọng. Khi gặp nhau trong các tiệm ăn ban đêm, gã kính cẩn mời ả nhảy và hôn tay ả - đó là người phụ nữ duy nhất ở Pari mà gã hôn tay. Dôia giữ quan hệ bạn bè với gã, và thỉnh thoảng gã lại thực hiện những nhiệm vụ thuộc loại tế nhị nhất mà ả giao phó.
Vừa uống rượu vừa nhíu mắt và khói thuốc, Gaxtông rầu rĩ nghe Dôia nói. Nói xong, ả bẻ ngón tay kêu răng rắc. Gã lên tiếng :
-    Nhưng việc này nguy hiểm lắm.
-    Gaxtông ạ, nếu anh làm được thì anh sẽ chẳng phải lo gì về tiền nong cho đến mãn đời.
-    Thưa bà, bây giờ tôi không vì tiền mà làm một việc gì hết, dù là việc mờ ám hay công khai cũng vậy ; thời thế đã khác rồi. Giờ đây, bọn kẻ cướp thích phục vụ trong ngành cảnh sát hơn, còn bọn trộm cắp chuyên nghiệp thì lại ưa ra bảo vệ làm chính trị. Nếu bà muốn thuê tôi thì tôi xin từ chối. Bhưng làm việc đó cho bà thì lại là chuyện khác. Vì bà, tôi có thể liều chịu mất đầu.
Dôia nhả khói thuốc từ khóe môi đỏ chót, ả dịu dàng mỉm cười và đặt bàn tay xinh đẹp lên tay áo Mỏ Vịt.
- Được, anh hãy làm việc đó vì tôi…
__________
(1)    Có giả thuyết cho rằng giữa vỏ trái đất và lõi cùng của trái đất có một lớp kim loại nóng chảy gọi là Vòng đai Ôlivin. (Chú thích của tác giả).

30

Xe của Rôlinh dừng lại ở Môngmác, trên một đường phố hẹp sáng rực ánh đèn tỏa ra từ mười ô cửa sổ của một hiệu ăn ban đêm.
Trong một căn phòng thấp, trần và tường lát gương, nóng nực, chật chội, mù mịt khói thuốc, giữa những dải giấy màu,bóng bay và côngphetti, là những đôi trai gái đang nhảy, người đung đưa, quấn vào nhau bằng những dải giấy sặc sỡ.
Tiếng dương cầm rền rĩ, tiếng vĩ cầm gào rú và ba gã da đen ướt đẫm mồ hôi ra sức đập vào mấy cái chậu, hét ầm ỹ như tiếng còi ô tô, kéo lê mấy tấm gỗ kêu ken két, gõ chuông inh ỏi, đập đĩa chan chát, nện thình thình vào chiếc trống Thổ Nhĩ Kỳ.
-    Dẹp ra, các bạn, nhường đường cho ông vua hóa học nào, - gã chủ hiệu rân hết sức gào thét, vất vả lắm mới tìm được chỗ sau chiếc bàn hẹp để mời Dôia và Rôlinh ngồi. Những bóng bay, côngphetti, dải giấy màu bay tới tấp về phía họ.
-    Có người chú ý đến em đấy. – Rôlinh nói.
Dôia đang lim dim mắt, uống sâm banh.
Ả từ từ quay đầu lại – một cặp mắt đàn ông đen sẫm như hai hòn than đang nhìn ả với vẻ đắc chí âu sầu. Hắn là ai nhỉ ? Không phải người Pháp, cũng không phải người Anh. Dường ngư ả đã nhìn thấy người này ở đâu rồi.
Người hầu lách qua đám người đang nhẩy đưa cho ả mảnh giấy. Ả ngạc nhiên ngả người vào lưng ghế, đưa mắt liếc nhìn Rôlinh đang hút xìgà và đọc :
“Bà Dôia, người đang dịu dàng nhìn bà là Garin đây… Hôn tay bà. Xêmiônốp”
Chắc hắn, ả tái nhợt mặt đi ghê gớm quá nên gần đấy một giọng của ai đó vọng đến qua tiếng ồn ào : “Kìa, bà kìa sắp ngất kìa”. Ả liền giơ chiếc ly đã uống hết và người hầu rót sâm banh vào.
Rôlinh hỏi :
-    Xêmionốp viết gì cho em thế ?
-    Em sẽ nói sau.
-    Hắn ta viết một điều gì đấy về cái gã đang táo tợn nhìn em phải không ? Hắn đến gặp anh hôm qua đấy. Anh đã tống cổ hắn đi.
-    Rôlinh chẳng lẽ anh không nhận ra hắn sao?. Anh nhớ lại xem, trên quảng trường Ngôi Sao...Garin đấy.
Rôlinh chỉ “phì” một tiếng. Rồi hút điếu xì gà ra : “A ha”. Đột nhiên, vẻ mặt y lại giống hệt như khi y chạy đi chạy lại trên tấm thảm lấp lánh ánh bạc mà ngẫm nghĩ trước năm nước đi cho mọi thế cờ có thể có. Y liền bật ngón tay đánh toách. Rồi y quay về phía Dôia, miệng méo xệch :
- Ta đi đi. Chúng ta cần trao đổi nghiêm chỉnh với nhau.
Ra đến cửa, Dôia quay lại. Qua khói thuốc mù mịt và những dải giấy màu rối rắm, ả lại nhìn thấy đôi mắt cháy bỏng của Garin. Rồi ả choáng váng vì không hiểu chuyện gì đã xảy ra : khuôn mặt Garin nhân đôi lên : một người nào đó đang ngồi trước mặt y, lưng quay vể đám người đang nhẩy, bỗng dịch lại gần y và cả hai nhìn Dôia. Hay đấy là ảo ảnh của các tấm gương?
Dôia thoáng nheo mắt , chạy theo tấm thảm đã mòn của tiệm rượu, suống dưới, vể phía xe. Rôlinh đang đợi ả. Đóng sập cửa xe lại, y chạm vào tay ả :
- Tôi chưa kể hết cho em nghe vể cuộc gặp gỡ với gã Pitkêvich giả này... Có một điều tôi vẫn chưa hiểu : Tại sao hắn lại phải bày cái trò loạn thần kinh ấy? Hắn không thể đoán được rằng tôi vẫn còn một chút thương hại... Toàn bộ cách cư xử của hắn đều đáng ngờ. Nhưng hắn đến gặp tôi để làm gì?... hắn ngã vật xuống bàn để làm gì mới được chứ?
- Rôlinh, anh chưa kể cho em chi tiết đó...
- Đúng, đúng thế... hắn làm đổ chiếc đồng hồ... lam nhàu nát giấy tờ của tôi...
- Sao? Đánh cắp ấy ư? – Rôlinh nín lặng một lát. – Không, không phải như vậy. Hắn bị mất thăng bằng và ngã đập tay vào bàn thấm...Ở đó có một vài mảnh giấy...
- Anh tin là không bị mất cái gì chứ ?
- Đấy là những ghi chép chẳng có ý nghĩa gì đâu. Chúng bị nhàu nát, sau đó tôi đã vứt vào sọt rác rồi.
- Em van anh, anh hãy nhớ lại mọi chi tiết như câu chuyện giữa anh và hắn đi...
Chiếc limudin dừng lại trên phố Xenna. Rôlinh và Dôia đi vào buồng ngủ. Dôia mau chóng cởi áo ngoài rồi nằm lên chiếc giường rộng; đắp gối, bốn chân hình chân chim ưng, diềm che bằng gấm – một trong những chiếc giường thật của hoàng đế Napôlêông Đệ nhất. Rôlinh chầm chậm cởi quần, áo mặc ngoài, đi đi lại lại trên thảm, và vừa để lại từng loại quần áo trên những chiếc ghế mạ vàng, vừa kể hết sức tỉ mỉ về cuộc viếng thăm hôm qua của Garin.
Dôia tì khuỷu tay, lắng nghe. Rôlinh bắt đầu kéo quần ra, nhảy lò cò một chân. Vào phút đó, y giống hệt một ông vua. Rồi y nằm xuống và bảo :
“Hết rồi đấy, tất cả những gì đã xảy ra là như vậy đấy”. Sau đó, y kéo chiếc chăn nhung lên tận mũi. Chiếc đèn đêm xanh nhạt hắt ánh sáng lên căn phòng ngủ lộng lẫy, lên những thứ quần áo vứt lung tung, lên những tượng thần ái tình bằng vàng trên các cột giường và lên chiếc mũi to tướng của Rôlinh đang rúc vào chăn. Đầu y lút vào gối, miệng hé mở, ông vua hóa học đã ngủ thiếp đi.
Chiếc mũi thở phì phì này làm Dôia đặc biệt khó chịu. Ả đặt tay lên mắt. Trước mắt ả, dai dẳng hiện lên khuôn mặt tái nhợt, liều lĩnh, tuấn tú và cương nghì của Garin. Ả lắc đầu để xua cái bóng ma đi. – không, nó vẫn nhìn ả chăm chú, qua những dải giấy đung đưa... “Chắc chắn là mất ngủ rồi”. - ả thầm nghĩ, và đột nhiên một ý nghĩ sắc nhọn dường như đâm xuyên qua ả suốt từ đầu đến chân : Gaxtông đang ở chỗ Garin...”.
Dôia trườn ra khỏi chăn, vội vã xỏ tất. Rôlinh ậm ừ trong cơn mê, nhưng chỉ quay nghiêng người đi.
Dôia chạy vào buồng ngủ để quần áo. Ả mặc áo mưa, thắt đai lưng thật chặt, rồi trở lại buồng ngủ để lấy ví tiền...
- Rôlinh. - ả khẽ gọi. – Rôlinh... chúng ta chết mất...
Nhưng y chỉ lại ậm ừ. Ả xuông gian ngoài và phải vất vả lắm mới mở được hai cánh cửa cao của lối ra. Phố Xenna không một bóng người. Trong khoảng sáng hẹp bên trên mái nhà, lơ lửng vầng trăng vàng nhợt. Dôia bỗng cảm thấy buồn bã. Ả nhìn lên vầng trăng tròn phía trên thành phố đang ngủ... “Trời, thật đáng sợ, thật ảm đạm biết bao...” Ả dùng cả hai tay ấn sâu chiếc mũ xuống rồi chạy về phía đường bờ sông.



31
Ngôi nhà ba tầng cũ kỹ sỗ sáu mươi ba phố Gôbêlênốp có một bức tường hướng ra bãi đất trông. Từ mặt này, chỉ có những ô cửa sổ trên gác xép tầng ba. Một bức tường khác, chạy liền một mạch, tiếp giáp với công viên. Phía mặt trước nhà trông ra phố ở tầng một ngang với mặt đất , là một tiệm cà phê dành cho dân đánh xe và lái xe. Chiếm cả tầng hai là một khách sạn tồi tàn . Ở tầng ba, tầng sát nóc, là những căn phòng dành cho những người ở thuê lâu dài. Lên đó, phải đi qua cổng và một đường hầm dài.
Đã một giờ đêm. Trên phố Gôbêlênốp, không một ô cửa sổ nào còn sáng đèn. Tiệm cà phê đã đóng cửa, tất cả ghế ngồi đều đặt lên các bàn. Dôia dừng lại cạnh cổng, nhìn một phút lên số nhà sáu mươi ba. Ả cảm thấy ớn lạnh sau lưng. Ả quyết định giật chuông. Dây kêu sột soạt, cổng hé mở. Ả luồn vào khe cửa tối om. Từ xa vọng lại tiếng lão gác công càu nhàu : “Đêm phải ngủ chứ, trở về phải đúng giờ chứ”. Nhưng lão không hỏi ai vào.


📎 86105
0
Mình đã type xong phần 86-95.


Cảm ơn pddk nhiều, vậy phần từ 106, nhờ pddk đánh cho đến hết bản scan mà Ct.Ly đã gửi nhé

Cảm ơn pddk nhiều
0
Đã nhận được mail của Ly nhưng hình như Ly gửi lộn rùi, phần mình nhận được là phần 86-95 mà ! Hix, Ct.Ly xem lại coi sao ha...
0

Ok, vậy thì chờ HuyTran gủi tiếp nữa, nhờ pddk đánh giúp nhé

Cảm ơn nhiều
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2010-03-14 17:35:05hathanh725>
Chào các bạn!
Hôm trước bạn huytran cũng mở một topic về cuốn này bên thuvien-ebook.com và mình cũng có nhận đánh máy 20 trang (28 - 47), mình đã làm xong rồi. Xin đăng lên đây luôn nhé.

*************
(trang 28 - trang 47)
8
Tại đường phố gần nhà bưu điện trung tâm, người công an trực ban chạy đến gặp Senga mặt đỏ bừng, mồm lắp bắp:
- Đồng chí Senga hắn trốn mất rồi.
- Tại sao anh lại để hắn chạy thoát?
- Ôtô đã đợi hắn sẵn, đồng chí Senga ạ.
- Thế môtô của anh đâu?
- Nó nằm kềnh ở kia kìa, - người công an vừa nói vừa chỉ chiếc môtô nằm cách cổng nhà bưu điện khoảng một trăm bước, - hắn nhảy vọt đến rồi dùng dao rạch thủng lốp. Tôi huýt còi. Hắn chui tọt vào ôtô rồi cho xe chạy thẳng.
- Anh có nhận ra số xe không?
- Không.
- Tôi sẽ đề nghị kỷ luật anh.
- Biển số bị cố ý lấy bùn xoa kín thì làm sao mà nhận được số xe?
- Được. Anh cứ về Ban điều tra hình sự đi, hai mươi phút nữa tôi sẽ có mặt ở đấy.
Senga đuổi kịp người đàn ông râu dê. Họ lặng lẽ đi một lát rồi rẽ sang đại lộ Công Đoàn.
- Anh giống kẻ bị giết đến mức lạ lùng, - Senga nói.
- Tôi đã nhiều lần phải nghe câu nói ấy, tên tôi là Plancốp Pítkêvích, người đàn ông râu dê sởi lởi trả lời. - Trong số báo ra chiều qua, tôi có đọc về vụ giết Garin. Thật khủng khiếp. Tôi biết rõ anh ta. Đấy là một cán bộ thạo việc, một nhà hóa học tuyệt vời. Tôi vẫn thường đến phòng thí nghiệm của anh ta ở Crextốpxki. Anh ta chuẩn bị một phát minh lớn trong lĩnh vực hóa học quân sự. Anh có biết gì về một loại nến gọi là nến khói hay không?
Senga liếc nhìn Pítkêvích, anh không trả lời mà hỏi:
- Anh nghĩ sao, việc giết Garin có liên quan gì đến quyền lợi của Ba Lan hay không?
- Theo tôi thì không. Nguyên nhân vụ giết này sâu xa hơn nhiều. Những tin tức về công trình của Garin đã đến tay báo chí Mỹ. Ba Lan chỉ có thể là trạm trung gian thôi.
Ra đến đại lộ, Senga đề nghị ngồi một lát. Đường phố vắng vẻ. Anh lấy trong cặp ra những mảnh cắt trong các tờ báo Nga và nước ngoài rồi trải lên đầu gối.
- Anh vừa nói là Garin làm việc trong lĩnh vực hóa học và những tin tức về anh ta đã lọt qua báo chí nước ngoài. Trong những mảnh báo đấy có đôi điều trùng hợp với ý kiến của anh và có đôi điều tôi chưa hiểu rõ lắm. Anh hãy đọc đi.
“... Ở Mỹ, người ta quan tâm đến một tin từ Lêningrát nói về các công trình của một nhà sáng chế Nga. Người ta phỏng đoán rằng bộ máy của nhà sáng chế này có sức phá hủy ghê gớm nhất, hơn mọi bộ máy đã được biết từ trước đến nay”.
Đọc xong, Pítkêvích mỉm cười, nói:
- Lạ thật, là tôi lại không biết... Tôi không nghe đến chuyện đó. Không, đó không phải là nói về Garin đâu.
Senga đưa ra mảnh báo cắt thứ hai:
“... Do những cuộc thao diễn lớn sắp tới của Hạm đội Mỹ ở Thái Bình Dương, Bộ Quốc phòng bị chất vấn là có hay biết gì không về bộ máy có sức phá hoại khủng khiếp ở Nga Xô”.
Pítkêvích nhún vai: “Nhảm nhí!”, rổi lấy mảnh cắt thứ ba trong tay Senga:
“... Ông vua hóa học kiêm tỷ phú Rôlinh đã lên đường sang châu Âu. Chuyến đi của ông gắn liền với một tổ chức liên hiệp xí nghiệp chuyên chế những sản phẩm của hắc ín và muối ăn. Rôlinh đã trả lời phỏng vấn ở Pari và tỏ ý tin chắc rằng tổ hợp hóa học khủng khiếp của ông sẽ đem lại an toàn cho các nước Cựu thế giới hiện đang bị các lực lượng Cách mạng làm rung chuyển. Đặc biệt, Rôlinh tỏ ra hằn học khi nói đến Nga Xô, nơi mà theo lời đồn đại, đang tiến hành những công trình nghiên cứu bí ẩn, nhằm truyền nhiệt năng đi xa”.
Pítkêvích chăm chú đọc. Ngẫm nghĩ. Rồi cau mày nói:
- Phải. Rất có thể vụ giết hại Garin có liên quan gì đó đến bài báo này.
- Anh là vận động viên phải không? - Senga đột nhiên hỏi rồi nắm tay Pítkêvích và ngửa bàn tay lên. - Tôi mê thể thao lắm.
- Đồng chí Senga, anh muốn xem tôi có chai tay không vì chèo thuyền chứ gì... Anh thấy đấy, chỉ có hai chỗ phồng rộp thôi. Điều đó chứng tỏ tôi chèo thuyền rất kém và hai ngày trước đây quả thật là tôi có chèo thuyền gần tiếng rưỡi liền để chở Garin đến đảo Crextốpxki... Anh hài lòng với những tin tức ấy chứ?
Senga buông tay Pítkêvích và cười vang:
- Anh cừ lắm, anh Pítkêvích ạ, giá mà được làm việc thật sự với anh thì hẳn là thú vị đấy.
- Tôi không bao giờ chối từ cuộc chiến đấu thật sự cả.
- Anh Pítkêvích này, trước đây anh có biết gã Ba Lan bốn ngón ấy không?
- Anh muốn biết là tại sao tôi lại sửng sốt khi trông thấy bàn tay bốn ngón của gã chứ gì? Anh có óc quan sát thật đấy, anh Senga ạ. Đúng, tôi quả có sửng sốt... hơn nữa, tôi hoảng sợ là đằng khác.
- Tại sao?
- Điều đó tôi sẽ không nói cho anh biết đâu.
Senga cắn môi, nhìn dọc theo đại lộ vắng vẻ.
Pítkêvích nói tiếp:
- Không chỉ tay gã bị thương tật đâu, trên người gã còn có một vết sẹo khủng khiếp chạy dài suốt nửa ngực kia. Đó là các vết thương do Garin gây ra vào năm 1919. Tên gã là Xtaxi Tưclinxki...
- Sao kia? - Senga hỏi, - Anh chàng Garin quá cố ấy đã làm gã bị thương tật bằng cái cách mà anh ta đã dùng để cắt đứt những tấm gỗ dày bảy phân hay sao?
Pítkêvích quay phắt đầu về phía Senga và họ nhìn một lát vào mắt nhau: một người thì thản nhiên và kín đáo, người kia thì vui vẻ và cởi mở.
- Dù sao anh vẫn định bắt tôi, phải không anh Senga?
- Không... Bắt anh thì lúc nào mà chẳng kịp.
- Anh nói đúng. Tôi biết nhiều chuyện. Nhưng dĩ nhiên, anh không thể dùng bất kỳ biện pháp cưỡng bức nào để buộc tôi phải tiết lộ những điều tôi không muốn nói. Chính anh cũng biết đấy, tôi không tham dự vào tội ác. Anh có muốn chơi bài ngửa không? Điều kiện giao đấu là sau mỗi một đòn đánh hay, chúng ta lại gặp nhau và chuyện trò thành thật với nhau. Sẽ như một ván cờ vậy. Tiện đây xin nói thêm là trong khi chúng ta trò chuyện với nhau, anh đã đứng trước mối nguy hiểm chết người đấy, tôi không đùa đâu, xin đoán chắc với anh như vậy. Nếu như Tưclinxki ngồi ở chỗ anh bây giờ thì tôi sẽ nhìn quanh - xung quanh thật vắng vẻ - và tôi sẽ ung dung đi đến quảng trường Xênátxki, còn  gã thì người ta sẽ tìm thấy trên chiếc ghế này lúc đã hồn lìa khỏi xác rồi, với những vết gớm ghiếc trên thân thể. Nhưng tôi xin nhắc lại là tôi sẽ không áp dụng những thủ đoạn ấy với anh đâu. Anh muốn chơi bài ngửa với tôi chứ?
- Đồng ý, - Senga nói, hai mắt sáng long lanh. - Tôi tiến công trước, được không?
- Dĩ nhiên rồi. Nếu anh bắt tôi ở nhà bưu điện thì chắc chắn tôi sẽ không đề nghị như vậy đâu. Còn về phần gã Ba Lan bốn ngón thì tôi hứa sẽ giúp anh tìm ra gã. Dù tôi có gặp gã ở đâu đi chăng nữa, tôi sẽ thông báo cho anh qua điện thoại hay điện tín.
- Được. Còn bây giờ, Pítkêvích ạ, anh hãy cho tôi xem cái vật mà anh vừa đem ra dọa nạt đi.
Pítkêvích lắc đầu, nhếch mép cười: “Xin theo ý anh, chơi bài ngửa mà lại”, và thận trọng rút trong túi ra một hộp nhỏ nhẵn nhụi. Trong hộp có một ống kim loại dày bằng một ngón tay.
- Có thế thôi, chỉ cần ấn một đầu là mảnh thủy tinh nhỏ bên trong sẽ kêu tách một tiếng.

9
Đến gần Ban Điều tra hình sự, Senga bỗng đứng sững lại như vấp phải cột điện: “Chà! - Anh thốt lên, - chà - và anh giận dữ giậm mạnh chân: - chà, hắn láu cá thật, chà, hắn đóng kịch mới giỏi chứ!”.
Senga quả thật bị lừa một vố đau. Anh đứng ngay cạnh tên giết người (bây giờ thì không còn nghi ngờ gì nữa), vậy mà đã không bắt y. Anh vừa trò chuyện với một kẻ chắc chắn biết mọi đầu mối của vụ giết người, vậy mà y khéo léo không nói điều gì thực chất cả. Cái gã Pítkêvích này phải nắm được một điều bí mật gì đó?.. Senga đột nhiên hiểu ra - đấy là một bí mật có ý nghĩa quốc gia, quốc tế nữa... Anh đã nắm được đuôi Pítkêvích, vậy mà “cái thằng khốn kiếp ấy đã tuồn khỏi tay, lẩn thoát mất!”.
Senga chạy lên phòng làm việc của mình ở tầng ba. Trên bàn có một gói bọc giấy báo. Ngồi trong hốc tường sâu bên của sổ là một người đàn ông to béo, dáng điệu hiền lành, đi đôi ủng đen bóng. Áp chiếc mũ cát-két vào bụng, ông ta cúi chào Senga.
- Tôi là Babisép, - ông ta nói, phả hơi thở sặc sụa mùi rượu, - quản lý ngôi nhà số hai mươi bốn, phố Puscaxkaia thuộc Công ty nhà ở.
- Bác đã đem đến cái gói kia đấy à?
- Vâng. Tôi tìm được trong căn hộ số mười ba đấy... Căn hộ này không nằm trong tòa nhà chính đâu, mà trong dãy nhà phụ. Người ở trong căn hộ ấy đã biệt tăm hai ngày rồi. Hôm nay, chúng tôi đã mời cảnh sát đến, phá cửa ra và lập biên bản theo đúng pháp luật, - người quản lý nhà lấy tay che miệng, hai má ông ta đỏ bừng lên, đôi mắt ươn ướt hơi lồi ra, mùi rượu ngang tràn ngập căn phòng. - Tôi tìm được thêm cái gói này trong bếp lò.
- Tên người thuê nhà đã bặt tăm là gì?
- Xavêliép Ivan Alếchxêvích.
Senga mở cái gói ra. Bên trong có một tấm ảnh Pítkêvích, một chiếc lược, một chiếc kéo, một lọ nhỏ đựng thứ chất nước màu sẫm, thuốc nhuộm tóc.
- Xavêliép làm nghề gì?
- Ông ta làm việc bên khoa học. Khi ống dẫn chỗ chúng tôi bị vỡ, ban quản lý nhà có đến nhờ ông ta... Ông ta bảo: “Tôi sẽ rất sung sướng được giúp đỡ các đồng chí, nhưng tôi là nhà hóa học kia”.
- Ông ta có thường vắng nhà ban đêm không?
- Vắng nhà vào ban đêm ấy ư? Không, tôi không nhận thấy. - Viên quản lý nhà lại che miệng. - Cứ mờ sáng là ông ta ra đi, cái đó thì đúng. Nhưng ban đêm mà vắng nhà thì tôi không nhận thấy, cũng không thấy ông ta say rượu bao giờ.
- Những người quen có đến thăm ông ta không?
- Tôi không thấy.
Senga gọi điện thoại hỏi phòng cảnh sát khu vực Pêtôgrátxcaia. Hóa ra ở dãy phụ ngôi nhà số hai mươi bốn phố Puscaxcaia quả có một người tên là Xavêliép, ba mươi sáu tuổi, kỹ sư hóa. Xavêliép dọn đến phố Puscaxcaia vào tháng hai với chứng minh thư do sở cảnh sát Tambốp cấp.
Senga đánh điện hỏi Tambốp và cùng người quản lý nhà đi xe đến Phôntanca, nơi xác kẻ bị giết ở đảo Crextôpxki đang nằm trong hòm lạnh tại Ban điều tra hình sự. Người quản lý nhà nhận ngay ra đấy chính là Xavêliép.

10
Cũng vào thời gian đó, người đàn ông tự xưng tên là Piancốp Pítkêvích đáp xe ngựa che mui kín đến một bãi đất hoang ở khu vực Pêtơrôgrátxcaia. Sau khi trả tiền, y đi trên hè phố dọc theo bãi hoang. Y mở cửa hàng giậu gỗ, bước qua sân, rồi theo cầu thang hẹp phía cổng hậu leo lên tầng năm. Y dùng hai chìa khóa để mở cửa, treo măngtô và mũ lên chiếc đinh duy nhất ở gian ngoài trống trải, sau đó y bước vào căn phòng mà bốn ô cửa sổ đều trát phấn đến nửa chừng, ngồi xuống chiếc đivăng rách nát và lấy hai tay ôm mặt.
Chỉ nơi đây, trong căn phòng biệt lập này (chất đầy các giá sách và các máy móc vật lý), rốt cuộc y mới có thể đắm mình trong nỗi lo sợ khủng khiếp, gần như tuyệt vọng, đã làm y rụng rời suốt từ ngày hôm qua.
Hai bàn tay ôm lấy mặt của y run rẩy. Y hiểu rằng mối nguy hiểm chết người chưa qua đi. Y đang bị bao vây. Chỉ có vài khả năng nhỏ nhoi là có lợi cho y: trong một trăm thì có chín mươi chín chống lại y. “Mình thật khinh suất quá, chà, thật khinh suất quá đi mất!”.
Y phải cố gắng lắm mới chế ngự được nỗi lo sợ. Thọc nắm tay vào chiếc gối bẩn thỉu, y nằm ngửa ra và nhắm mắt lại.
Những ý nghĩ nặng trĩu nỗi căng thẳng ghê gớm nay được thư giãn. Một vài phút nằm bất động khiến y lại tươi tỉnh. Y vùng dậy, rót rượu mađe vào cốc rồi uống một hơi cạn. Khi làn sóng nóng bỏng dâng lên khắp cơ thể, y bắt đầu đi đi lại lại trong phòng, thong thả tìm kiếm có phương pháp những khả năng thoát thân ít ỏi.
Y thận trọng uốn cong lớp giấy bồi cũ còn sót lại ở chân tường, rút ra từ đấy những bản vẽ và cuộn lại thành ống. Y lấy mấy cuốn sách trên giá, xếp chung với các bản vẽ và các bộ phận của các thiết bị vật lý vào va li. Y vừa luôn luôn lắng nghe động tĩnh, vừa xách va li xuống một hầm chứa củi tối tăm rồi giấu nó vào dưới đống rác. Sau đó y lại lên phòng mình, rút trong bàn viết ra một khẩu súng lục, xem xét cẩn thận và đút vào túi sau.
Đã năm giờ kém mười lăm. Y lại nằm xuống, hút hết điếu thuốc này đến điếu thuốc khác và ném đầu thuốc vào góc nhà. “Nhất định chúng không thể tìm ra được!” - y vừa nói như thét lên, vừa tung hai chân xuống sàn và lại rảo bước đi đi lại lại trong phòng.
Lúc xẩm tối, y xỏ ủng, khoác chiếc măng tô bằng vải thô rồi ra khỏi nhà.

11
Vào nửa đêm, tại đồn công an số mười sáu, người công an trực ban được gọi đến máy điện thoại. Anh nghe thấy một giọng nói vội vã:
- Cử ngay một đội công an đặc biệt đến ngôi nhà nghỉ trên đảo Crextốpxki, nơi hôm kia xảy ra vụ giết người...
Giọng nói ngừng bặt. Người công an trực ban rủa một hồi vào ống nói. Anh gọi trạm kiểm tra, hóa ra người gọi điện là từ Trường huấn luyện chèo thuyền. Anh gọi đến trường. Ở đây máy điện thoại kêu tút tút một lúc lâu, và cuối cùng, một giọng ngái ngủ cất lên:
- Anh cần gì?
- Có người gọi điện từ chỗ ông phải không?
- Đúng đấy, - tiếng trả lời vang lên tiếp sau tiếng ngáp.
- Ai gọi đấy?... Ông có trông thấy người đó không?
- Không. Điện thoại chỗ chúng tôi bị hỏng. Người đó bảo là gọi điện theo lệnh của đồng chí Senga.
Nửa giờ sau, bốn chiến sĩ công an nhảy xuống xe cạnh ngôi nhà nghỉ đóng kín trên đảo Crextốpxki. Sau hàng bạch dương, ánh hoàng hôn chưa tắt hẳn mờ mờ đỏ. Giữa cảnh yên tĩnh văng vẳng tiếng rên rỉ yếu ớt. Một người mặc áo lông nằm sấp, cạnh bậc thềm đen sẫm. Khi lật ngửa lên thì hóa ra là người canh gác. Nằm bên cạnh là một nắm bông thấm đẫm Clôrôphoóc.
Cửa mở toang - khóa bị giật đứt. Khi các chiến sĩ công an xộc vào trong nhà thì từ dưới hầm, một giọng nhèn ngẹn của một người nào đó thét to:
- Các đồng chí, lật cửa sập trong nhà bếp lên...
Nào bàn, nào hòm, nào những bao nặng chất thành đống cạnh tường trong bếp. Họ dỡ hết đi rồi lật nắp cửa sập.
Từ dưới hầm, Senga nhảy vọt lên, khắp người anh đầy mạng nhện và bụi bặm, mắt long lên dữ dội.
- Lại đây mau! - anh thét to và biến mất sau cửa ra vào. - Ánh sáng đâu, nhanh lên!
Trong phòng (có kê chiếc giường sắt), dưới ánh sáng những ngọn đèn bí mật, họ nhìn thấy trên sàn có hai khẩu súng lục đã bắn hết đạn, một chiếc mũ cát két nhung màu nâu và những bãi nôn mửa gớm ghiếc, tởm lợm.
- Thận trọng đấy! - Senga thét, - Đừng thở, hãy ra khỏi đây ngay, nguy hiểm chết người đấy.
Vừa lùi lại vừa đẩy các chiến sĩ công an về phía cửa, Senga kinh hoàng và ghê tởm nhìn ống kim loại bằng ngón tay nằm lăn lóc trên sàn nhà.

12
Như tất cả các nhà doanh nghiệp tầm cỡ khác, ông vua hóa học Rôlinh tiếp khách đến bàn bạc công việc tại văn phòng của mình, một căn phòng được thuê để làm việc đó, nơi mà viên thư ký của y chọn lọc khách đến thăm, xác định mức độ quan trọng của họ, đoán đọc những ý nghĩ của họ và hết sức lịch thiệp trả lời mọi câu hỏi của họ. Có nhân viên tốc ký thì biến những tư tưởng của Rôlinh thành những từ ngữ cực kỳ cô đọng, những tư tưởng đó (nếu lấy giá trị trng bình kiểu số học của chúng trong một năm và nhân với giá trị tương đương bằng tiền) có giá trị gần đúng như sau: cứ mỗi mảnh tư tưởng của của ông vua hóa học vô cơ trôi qua trong một giây thì ngang bằng năm vạn đô la. Những chiếc móng tay thanh tú của bốn cô gái đánh máy chữ “unđécvít”. Cậu bé sai vặt ngay sau khi được gọi, lập tức xuất hiện trước mặt Rôlinh như hiện thân cho ý chí của y.
Văn phòng Rôlinh nằm trên đại lộ Manđéc là một căn phòng ảm đạm và khắc khổ. Tường bọc loại vải lụa nặng nề màu sẫm, trên sàn trải thảm dày màu nâu sẫm và bàn ghế cũng bọc loại da màu sẫm. Trên những chiếc bàn sẫm màu phủ kính là những tập sách quảng cáo, những cuốn sách tra cứu đóng bìa nâu và những sơ đồ các nhà máy hóa chất. Một vài viên đạn hơi độc đã han gỉ, năm ba khẩu súng phóng bom từ các bãi chiến trường chở về được dùng làm vật trang trí đặt trên lò sưởi.
Trong phòng làm việc, đằng sau dãy cửa cao bằng gỗ hồ đào màu sẫm, giữa những biểu đồ, những bản đồ và những bức ảnh là chỗ ngồi của ông vua hóa học Rôlinh. Những người khách đã được chọn lọc nhẹ nhàng bước trên thảm vào phòng đợi, ngồi xuống những chiếc ghế bọc da và hồi hộp nhìn vào cánh cửa bằng gỗ hồ đào. Ở đấy, sau cánh cửa, ngay cả bầu không khí trong phòng làm việc của vua hóa học cũng cực kỳ quý giá, bởi vì nó thấm đượm những tư tưởng giá năm vạn đô la trong một giây.
Liệu người nào có thể bình tâm được nếu giữa không khí yên tĩnh tôn nghiêm trong phòng đợi, nắm đấm cửa bằng đồng được đúc thành hình nắm tay giữ quả cầu, bỗng đột nhiên lay động và xuất hiện một con người nhỏ bé, mặc áo vét tông màu xám sẫm, có bộ râu nổi tiếng thế giới che kín hai má, vẻ mặt khó đăm đăm đầy đau khổ, trông gần như một siêu nhân, khuôn mặt vàng bủng, bệnh hoạn, gợi nhớ đến nhãn hiệu sản phẩm mà toàn thế giới đều biết tiếng: một vòng tròn màu vàng với bốn sọc đen... Ông vua hóa học vừa hé mở cửa, vừa chằm chằm nhìn người khách và nói bằng giọng Mỹ đặc sệt: “Mời vào”.

13
Viên thư ký (cực kỳ lịch thiệp) cặp chiếc bút chì mạ vàng giữa hai ngón tay và hỏi:
- Xin lỗi, ông cho biết quý danh.
- Tôi là tướng Xúpbôtin, người Nga... lưu vong.
Khách bực tức nhún vai và dùng chiếc khăn tay vò nhầu lau bộ ria màu xám.
Viên thư ký mỉm cười nhã nhặn, dường như câu chuyện đề cập đến những sự việc vô cùng dễ chịu, ngoáy bút chì trên cuốn sổ tay rồi hỏi với một vẻ hết sức thận trọng:
- Ông Xúpbôtin, xin mời ông cho biết mục đích cuộc trao đổi mà ông dự tính với ngài Rôlinh.
- Một mục đích rất đặc biệt, rất quan trọng...
- Có lẽ, tôi sẽ phải trình bày tóm tắt nó để thông báo cho ngài Rôlinh đấy.
- Mục đích của tôi có thể là rất đơn giản, một kế hoạch... Cả hai bên cùng có lợi.
- Kế hoạch của ông đề cập đến cuộc chiến đấu bằng vũ khí hóa học chống lại bọn Bôsêvích, tôi hiểu thế có đúng không? - viên thư ký hỏi.
- Đúng thế đấy... Tôi có ý định đề nghị kế hoạch đó với ngài Rôlinh.
- Tôi sợ rằng, - viên thư ký ngắt lời khách với vẻ lịch thiệp duyên dáng và khuôn mặt đáng mến của anh ta thậm chí còn biểu lộ nỗi đau khổ nữa, - tôi sợ rằng ngài Rôlinh đã phải bận tâm quá nhiều đến những kế hoạch như vậy rồi. Từ tuần trước, chỉ riêng về phía người Nga, chúng tôi đã nhận được một trăm hai mươi bốn đề nghị về cuộc chiến tranh hóa học chống lại bọn Bônsêvích. Trong cặp của chúng tôi hiện có một kế hoạch tuyệt vời nhằm dùng lực lượng không quân hóa học tiến công đồng thời vào Kháccốp, Mátxcơva và Pêtơrôgrát[1]. Tác giả bản kế hoạch đã triển khai lực lượng một cách hết sức thông minh tại các căn cứ bàn đạp trên các nước đệm - một kế hoạch lý thú, rất lý thú. Thậm chí tác giả còn đưa ra một dự toán chính xác nữa: sáu nghìn tám trăm năm mươi tấn hơi mù tạt để tiêu diệt toàn bộ dân chúng trong các thành phố đó.
Mặt đỏ bừng vì máu trào lên dữ dội, tướng Xúpbôtin ngắt lời:
- Vậy tại sao các ông không thực hiện ngay đi? Kế hoạch của tôi không thua kém gì, nhưng kế hoạch ấy cũng đã tuyệt diệu lắm rồi! Phải hành động mới được! Phải chuyển từ lời nói đến việc làm chứ... Vì lẽ gì các ông trì hoãn?
- Tướng quân thân mến ạ, chúng tôi trì hoãn bởi vì ngài Rôlinh chưa nhìn thấy giá trị tương đương với những chi phí của mình.
- Giá trị tương đương loại gì vậy?
- Đối với ngài Rôlinh thì việc dùng máy bay ném xuống sáu nghìn tám trăm năm mươi tấn mù tạt chẳng có gì khó khăn, nhưng việc đó đòi hỏi một vài phí tổn. Chiến tranh là phải tốn tiền, có đúng thế không? Trong những kế hoạch đang được đệ trình ngài Rôlinh, chỉ thấy phải chi phí thôi. Nhưng giá trị tương đương, tức là nguồn thu nhập do cuộc phá hoại chế độ Bônsêvích đem lại, thì thật đáng tiếc là không được nêu lên.
- Thật rõ như ban ngày vậy... những nguồn thu nhập... những nguồn thu nhập khổng lồ cho bất kỳ kẻ nào trả lại được cho nước Nga những người cầm quyền hợp pháp và một chế độ bình thường, hợp pháp - kẻ đó sẽ được hưởng hàng núi vàng chứ không ít đâu! - tướng Xúpbôtin quắc mắt nhìn chằm chằm vào viên thư ký - À ra thế, tức là phải nêu lên giá trị tương đương phải không?
- Đúng thế, phải chứng minh bằng các con số mới được: bên trái là các khoản chi, bên phải là các khoản thu, sau đó tính hiệu số và hiệu số đó phải lớn thì ngài Rôlinh mới quan tâm.
- À ra thế! - Tướng Xúpbôtin thở phì phì kéo sụp chiếc mũ phủ đầy bụi xuống rồi quả quyết bước ra về phía cửa.

14
Tướng Xúpbôtin chưa kịp ra khỏi thì ở cổng đã vang lên giọng phản đối của chú bé sai vặt, rồi một giọng khác tỏ ý mong muốn chú bị ma quỷ cuỗm đi cho xong đời, và trước mặt viên thư ký bỗng xuất hiện Xêmiônốp, áo măng tô không cài khuy, tay cầm mũ và can, góc miệng ngậm điếu xì gà đã nhai nát.
- Chào anh bạn, - gã vội vã nói với viên thư ký và quẳng can cùng mũ lên bàn, - hãy cho tôi gặp ngài Rôlinh ngay lập tức.
Chiếc bút chì mạ vàng của viên thư ký buông thõng trong không khí.
- Nhưng ngài Rôlinh hôm nay rất bận.
- Ồ, chuyện vớ vẩn, anh bạn ạ... Một người vừa từ Vácsava đến đang chờ trong xe của tôi. Anh hãy nói với ngài Rôlinh là chúng tôi đến về vụ Garin.
Viên thư ký vụt dướn lông mày lên và biến mất sau cánh cửa bằng gỗ hồ đào. Một phút sau, anh ta ló đầu ra. “Ông Xêmiônốp, mời ông vào!”. - Anh ta dịu dàng nói khẽ và tự tay vặn nắm đấm cửa đúc hình bàn tay giữ quả địa cầu.
Xêmiônốp đứng trước mặt ông vua hóa học. Gã không tỏ vẻ gì hồi hộp đặc biệt, trước hết là vì tính gã vốn liều lĩnh và thứ hai vào lúc này, ông vua hóa học cần đến gã hơn là gã cần ông ta. Cặp mắt xanh lè của Rôlinh nhìn như xoáy vào gã, nhưng gã không hề bối rối, ngồi xuống phía bên kia bàn, đối diện với Rôlinh. Rôlinh lên tiếng:
- Thế nào?
- Công việc xong rồi.
- Các bản vẽ đâu?
- Ngài Rôlinh ạ, trong chuyện này có xảy ra đôi chút nhầm lẫn...
- Tôi hỏi là các bản vẽ đâu? Tôi không thấy những bản vẽ ấy? - Rôlinh giận dữ nói và đập nhẹ bàn tay xuống mặt bàn.
- Xin ngài hãy nghe đã, ngài Rôlinh ạ. Chúng ta quy định với nhau là tôi sẽ đem về cho ngài chẳng những các bản vẽ mà chính cả bộ máy nữa... Tôi đã làm một khối lượng công việc khổng lồ... Tôi đã mộ người... Đã phái họ đến Pêtơrôgrát. Họ đã lọt vào phòng thí nghiệm của Garin. Họ đã thấy bộ máy hoạt động... Nhưng rồi có quỷ mới biết chuyện gì đã xảy ra... Thứ nhất, hóa ra có những hai Garin.
- Tôi đã dự đoán như vậy ngay từ đầu kia! - Rôlinh kinh tởm nói.
- Chúng tôi đã loại một trong hai tên ấy.
- Anh đã giết hắn ư?
- Nếu ngài muốn thì đại loại như vậy. Dù sao chăng nữa thì hắn cũng chết rồi. Ngài không cần lo lắng về chuyện ấy: việc thanh toán diễn ra ở Pêtơrôgrát, bản thân hắn là công dân Nga Xô - chẳng có gì đáng bận tâm... Nhưng sau đó xuất hiện một kẻ hệt như hắn... Và chúng tôi đã hết sức nỗ lực...
- Tóm lại, - Rôlinh ngắt lời, - kẻ giống hệt Garin hoặc chính Garin còn sống; và tuy tôi đã bỏ ra biết bao nhiêu tiền, nhưng anh vẫn không đem về được cho tôi cả các bản vẽ lẫn các bộ máy.
- Tưclinxki đang ngồi trong xe tôi. Y đã tham gia việc này. Nếu ngài muốn thì tôi sẽ gọi anh ta lên, anh ta sẽ kể tường tận cho ngài nghe.
- Tôi không muốn gặp một gã Tưclinxki nào hết, tôi cần các bản vẽ và các bộ máy kia. - Tôi ngạc nhiên thấy anh táo tợn như vậy - dám đến đây với hai bàn tay trắng...
Mặc dù những lời lẽ này hết sức lạnh lùng, mặc dù sau khi nói xong Rôlinh quắc mắt nhìn Xêmiônốp, tin chắc rằng gã lưu vong người Nga này sẽ bị thiêu ra tro và biến mất không còn lại dấu vết gì, nhưng Xêmiônốp vẫn thản nhiên đút điếu xì gà đã nhai nát vào miệng và liến thoắng nói:
- Ngài không muốn gặp Tưclinxki thì cũng chẳng cần gặp làm gì - cũng chẳng thú vị gì lắm đâu. Nhưng có chuyện thế này: tôi cần tiền, ngài Rôlinh ạ, tôi cần khoảng hai vạn phơrăng. Ngài sẽ cấp séc hay trao tiền mặt?
Mặc dù rất giàu kinh nghiệm và am hiểu người đời, nhưng đây là lần đầu tiên Rôlinh gặp một kẻ xấc xược đến thế. Trên chiếc mũi to bự của Rôlinh thậm chí toát ra một chất gì tựa như mồ hôi, và y phải tự kiềm chế lắm mới không ném lọ mực vào bộ mặt đầy tàn nhang của Xêmiônốp... (lại còn mất bao nhiêu giây phút quý giá vào câu chuyện vớ vẩn này nữa chứ!). Sau khi tự chủ lại, y với tay về phía chiếc chuông.
Xêmiônốp vừa theo dõi bàn tay Rôlinh vừa nói:
- Ngài Rôlinh thân mến ạ, vấn đề là ở chỗ kỹ sư Garin hiện đang có mặt ở Pari.

15
Rôlinh chồm dậy, hai lỗ mũi mở rộng, đường gân giữa hai hàng lông mày hằn lên. Y chạy ra cửa khóa chặt lại rồi bước đến gần Xêmiônốp, một tay nắm lấy lưng ghế bành, tay kia bíu chặt mép bàn và cúi xuống mặt Xêmiônốp:
- Anh nói láo.







[1] Tên cũ của Lêningrát - N.D.

[/align][/align]
0
Đánh máy : Vo Uyên

-       Chú ta vừa nhanh nhẹn lại vừa thong minh, tuyệt lắm anh ạ. – Anh cúi người qua lan can, gọi to: - Ivan, lên đây!
Ngay  tức khắc có tiếng chân chạy thoăn thoắt trên cầu thang rồi Ivan xuất hiện. Em đã cởi chiếc áo bong tã nát (vì lý do vệ sinh nên người ta đã đem đốt trong bếp) và mặc chiếc quần đùi kiểu vận động viên chèo thuyền, nhưng trên than thể để trần của em vẫn là chiếc gilê bằng da, cũ kỹ quá thể, buộc dây chằng chịt.
-       Đấy, - Taraskin vừa nói vừa chỉ chú bé, - tôi đã hết sức khuyên chú ta cởi áo gilê ra, nhưng chú ta dứt khoát không chịu. Vậy chú hỏi cháu là cháu sẽ tắm như thế nào đây? Nếu gilê còn tốt thì chẳng nói làm gì? Nhưng nó tã quá rồi.
-       Cháu không thể tắm được, - Ivan đáp.
-       Phải cho cháu vào buồng tắm thôi, trông cháu lem luốc quá đi mất.
-       Cháu không thể tắm được. Cháu chỉ có thể rửa ráy đến đây thôi, - Ivan chỉ chiếc rốn nhỏ, ngập ngừng một lát rồi lùi dần ra phía cửa.
-       Taraskin vừa lấy móng tay khía vào bắp chân mà trên lớp da rám nắng còn hằn lại những vệt trắng, vừa bực bội kêu to:
-       Anh muốn làm gì nó thì làm, anh Senga ạ.
-       Cháu làm sao thế? – Senga hỏi. Sợ nước à?
Chú bé nhìn anh, không mỉm cười:
-       Không, cháu không sợ.
-       Vậy sao cháu lại sợ tắm?
Chú bé cúi đầu xuống, bướng bỉnh bặm môi.
-       Cháu không dám cởi áo gilê, cháu sợ người ta nẫng mất phải không? – Senga lại hỏi.
Chú bé nhún vai, cười khẩy,
-       Thế này nhé, Ivan; cháu không muốn tắm thì thôi cũng được, đấy là việc của cháu, nhưng các chú không cho phép cháu mặc chiếc áo gilê kia đâu. Cởi ra, lấy áo gilê của chú mà mặc.
Senga bắt đầu cởi khuy áo của mình. Ivan lùi lại. Hai đồng tử của chú đảo đi đảo lại đầy lo ngại. Một lần, chú ngước nhìn Taraskin với vẻ cầu khẩn và vẫn nghiêng người tiến về phía chiếc cửa ra vào bằng kính dẫn xuống cầu thang tối tăm bên trong nhà.
-       Kìa, chúng ta có thỏa thuận là chơi kiểu ấy đâu! – Senga đứng dây, khóa cửa lại, rút chìa ra rồi ngồi ngay trước cửa. – Nào, cởi áo ra!
Chú bé nhìn quanh như một con thú nhỏ. Bây giờ chú đã đứng sát cửa, lưng quay về phía kính. Lông mày chú nhíu lại. Đột nhiên, chú quả quyết cởi chiếc áo rách tã rồi đưa cho Senga.
-       Đây, chú đưa áo của chú cho cháu đi.
Nhưng Senga không nhìn chú bé nữa mà hết sức kinh ngạc nhìn qua vai chú vào lớp kính cửa.
-       Nào  ….. , Ivan giận dữ nhắc lại, - sao chú lại cười? Chú có còn bé bỏng gì đâu.
-       Dớ dẫn! – Senga phá lên cười. – Cháu quay lưng lại đây. (Chú bé đập gáy vào cửa kính như bị hích mạnh). Cháu quay lại đi, dù sao thì chú cũng đã thấy trên lưng cháu có chữ viết rồi.
Taraskin chồm dậy. Chú bé lao vút qua hang hiên rồi nhanh nhẹn trườn qua lan can. Taraskin phải mau tay lắm mới kịp tóm được chú. Những chiếc răng sắc nhọn của chú cắm  ngập vào tay anh.
-       Tệ quá! Không được cắn!
Tarakin siết chặt chú bé vào người. Anh xoa mái đầu cạo trọc xám nhờ của chú.
-       Thằng bé đâm man rợ mất rồi. Run rẩy như chuột ấy. Cháu cứ yên tâm, các chú không làm gì cháu đâu.
Chú bé dịu đi trong vòng tay anh, chỉ có tim vẫn đập mạnh. Đột nhiên, chú thầm thì tận tai anh:
-       Chú bảo chú ấy không nên đọc những  chữ trên lưng cháu. Không ai được phép đọc đâu. Họ sẽ giết nhau mất.
-       Các chú sẽ không đọc đâu, có thú vị gì đâu mà đọc, - Taraskin vừa nhắc lại vừa cười đến chảy nước mắt.
Suốt trong thời gian đó, Senga đứng ở đầu hang hiên bên kia, cắn móng tay, nheo mắt như một người đang tìm cách giải câu đố. Đột nhiên, anh lao đến gần và bất chấp sự kháng cự của Taraskin, quay lưng chú bé lại phía mình. Phía dưới xương bả vai, trên tấm lưng gầy guộc của chú bé có viết bằng bút mực những dòng chữ nhòa đi vì mồ hôi và đã mờ nhiều chỗ:
“ … Gửi Giư… Kết qua… rất t.. đẹp… độ sâu của lớp ôlivin áng chừng năm cây s…, đang t… tục tìm k…ếm. cần giúp đỡ… Đói… khẩn trươ… tham dò…”
-       Garin, Garin đấy! – Senga kêu to.
Đúng lúc đó, chiếc mô tô của Ban điều tra hình sự lao ầm ầm vào sân câu lạc bộ và giọng của người công an từ dưới vọng lên:
-       Đồng chí Senga, đồng chí có điện khẩn…
Đó là bức điện của Garin đánh đi từ Pari.
 
27
Chiếc bút mạ chì mạ vàng chạm vào cuốn sổ tay.
-       Ngài cho biết quí danh?
-       Piancốp Pitkêvich.
-       Mục đích việc ngài đến thăm?
-       Ông hãy truyền đạt với ngài Rôlinh rằng, -Garin nói, - tôi được giao trách nhiệm tiến hành thương lượng về bộ máy của kỹ sư Garin mà ngài Rôlinh đã biết.
Viên thư ký lập tức biến mất. Một phút sau, Garin bước qua chiếc cửa đóng bằng gỗ hồ đào và vào phòng làm việc của ông vua hóa học, Rôlinh đang viết. Không ngước mặt lên, y mời khách ngồi. Sau đó, vẫn không ngước mắt lên, y nói:
-       Những chuyện tiền nong vặt vãnh thì qua viên thư ký của tôi, - y đưa bàn tay ya61u ớt cầm lấy chiếc bàn thấm và ép mạnh lên tờ giấy vừa viết, - Nhưng tôi sẵn sang nghe anh. Tôi dành cho anh hai phút. Có gì mới về kỹ sư Garin?
Gác hai chân lên nhau và đặt đôi tay duỗi thẳng lên đầu gối, Garin nói:
-       Kỹ sư Garin muốn biết là ngài có biết chính xác bộ máy của ông ta công dụng ra sao không?
-       Có, - Rôlinh đáp, - đối với mục đích công nghiệp thì theo chỗ tôi được biết, bộ máy ấy ít nhiều đáng chú ý. Tôi đã nói chuyện với vài người trong ban quản trị côngxoócxiom chúng tôi, họ đồng ý mua bằng sang chế.
-       Bộ máy ấy không dung vào mục đích công nghiệp,- Garin sẵng giọng nói, - đó là bộ máy để phá hủy. Quả thật, nó có thể dung cho công nghiệp mỏ và công nghiệp luyện kim được. Nhưng hiện nay kỹ sư Garin có những ý đồ khác.
-       Ý đồ chính trị chăng?
-       Ồ… Chính trị ít làm kỹ sư Garin quan tâm lắm. Ông ta hy vọng thiết lập được một chế độ xã hội hợp khẩu vị của ông ta nhất.
-       Thiết lập ở đâu?
-       Đương nhiên là ở khắp nơi, trên tất cả năm châu.
-       Ô hô! – Rôlinh thốt lên.
-       Kỹ sư Garin không phải cộng sản đâu, ông cứ yên tâm. Nhưng ông ta không hoàn toàn cùng quan điểm với ngài. Tôi xin nhắc lại: ông ta có những ý đồ lớn lao. Bộ máy của kỹ sư Garin cho phép ông ta thực hiện được trí tưởng tượng ngông cuồng nhất của ông ta. Bộ máy đã chế tạo xong, có thể đưa ra giới thiệu ngay ngày hôm nay.
-       Hừm! – Rôlinh nói.
-       Kỹ sư Garin đã theo dõi hoạt động của ngài, ngài Rôlinh ạ, và ông ta thấy tầm cỡ của ngài không phải là xoàng, nhưng ngài thiếu một ý tưởng lớn. Nào là côngxoócxoim hóa học, nào là chiến tranh hóa học bằng không quân, nào là biến châu Âu thành thị trường của Mỹ. Tất cả những cái đó đều vụn vặt, không có một tư tưởng chủ đạo. kỹ sư Garin đề nghị ngài cộng tác.
-       Ông điên hay ông ta điên đấy? Rôlinh hỏi.
Garin cười vang, lấy ngón tay day mạnh bên cánh mũi.
-       Ngài thấy đấy, chỉ nội cái việc ngài nghe tôi nói không phải hai phút mà là chin phút rưỡi cũng đã tốt lắm rồi.
-       Tôi sẵn sàng đề nghị kỹ sư Garin nhận năm vạn phơrăng để đổi lấy bằng sang chế của ông ta, - Rôlinh nói và lại bắt đầu viết.
-       Đề nghị ấy phải hiểu như thế này: ngài định dung vũ lực hoặc mưu mẹo để đoạt lấy bộ máy, còn kỹ sư Garin thì sẽ bị thanh toán như người ta đã thanh toán viên trợ thủ của ông ta trên đảo …………. , có phải thế không?
Rô linh đặt ngay bút xuống, chỉ hai vệt ửng đỏ trân gò má của y là để lộ sự hồi hộp. Y cầm điếu xì gà hút dỡ trên chiếc gạt tàn, ngửa người vào ghế bành và nhìn Garin bằng đôi mặt mờ đục, không thể hiện gì hết.
-       Cứ cho là tôi có ý định xử sự với kỹ sư Garin theo kiểu đó đi thì sao nào?
-       Thì tức là kỹ sư Garin chắc hẳn đã lầm.
-       Lầm về chuyện gì?
-       Về việc đã tưởng rằng ngài là một tên vô lại có tầm cỡ lớn hơn kia, - Garin vừa nhấn từng tiếng vừa vui vẻ và táo tợn nhìn Rôlinh :
Rôlinh chỉ nhả ra những tàu khói xanh và thận trọng đưa đi đưa lại điếu xì gà gần mũi.
-       Chia sẻ lời lãi với Garin khi tôi có thế chiếm được cả một trăm phần trăm thì thật ngu ngốc, - y nói, - Vậy thì để kết thúc câu chuyện, tôi đề nghị mười vạn phơrăng và không thêm một xu nào nữa.
-       Ngài Rôlinh ạ, đúng là ngài cứ lầm lẫn hoài. Ngài chẳng việc gì phải liều hết. Hai điệp viên của ngài là Xêmiônốp và Tưclinxki đã dò ra nơi ở của Garin. Ngài chỉ cần báo cho cảnh sát thôi là ông ta sẽ bị bắt như một gián điệp Bônxêvich. Bộ máy và các bản vẽ cũng sẽ do hai điệp viên Xêmiônốp và Tưclinxki đánh cắp. Làm cách đó sẽ không tốn quá năm nghìn phơrăng đâu. Còn Garin thì để ông ta không tìm cách khôi phục các bản vẽ trong tương lai, lúc nào cũng có thể gửi ông ta theo từng chặng một về Nga qua con đường Ba Lan, nơi ông ta sẽ bị thanh toán ở vùng biên giới. Thật vừa rẻ vừa đơn giản. Cần gì đến mười vạn phơrăng kia chứ?
 
 
 
 
Trang 96
Lơnoa  vừa nói vừa gọi hầu bàn đến gần: - Một chai Irun, loại tinh chất nhất ấy.
-       Không có tiền đầu tư thì chúng ta chẳng làm thế nào mà triển khai được. Lơnoa này, nếu công việc ở Camsátca của tôi mà thành công thì mười Rôlinh, chúng ta cũng cóc cần.
-       Công việc gì ở Camsátca đấy?
Người hầu bàn đem rượu và ly lên, Garin châm thuốc hút, ngửa người trên chiếc ghế độn rơm, lắc lư, nheo mắt và bắt đầu kể:
-       Anh nhớ nhà địa chất Manxép chứ? Năm mười lăm, ông ta tìm thấy tôi ở Pêtơrôgrát. Ông ta vừa từ Viễn Đông trở về, rất sợ bị động viên nên đề nghị tôi giúp để khỏi phải ra mặt trận.
-       Manxép làm việc trong công ty vàng của Anh ấy phải không?
-       Ông ta tiến hành thăm dò tại vùng song Lêna, sôm Anđan, rồi ở Côlưma. Ông ta kể những chuyện kỳ lạ. Họ thấy ngay dưới chân họ những cục kim loại tự sinh nặng đến mười tám kilôgam…Chính khi ấy tôi đã nẩy sinh một ý tưởng, một ý tưởng bao quát đời tôi… Đấy là một việc rất táo bạo, thậm chí điên rồ nữa, nhưng ot6i tin vào nó. Mà nếu tôi tin thì quỉ Xatăng cũng chẳng kìm nổi tôi. Anh bạn thân mến của tôi ạ, thứ duy nhất trên đời mà tôi khao khát mãnh liệt – đấy là quyền lực… Không phải quyền lực của vua chúa đâu – cái đó vụn vặt, tầm thường, chán ngán lắm. Không, phải là quyền lực tuyệt đối kia… Rồi sẽ có lúc tôi kể tỉ mỉ cho anh nghe về cá kế hoạch của tôi. Để thống trị thì phải có vàng. Để thống trị như tôi muốn thì cần có một lương vàng nhiều hơn toàn bộ số vàng của các ông vua kỹ nghệ, dịch vụ và các ông vua khác cộng lại…
-       Kế hoạch của anh táo bạo thật đấy, - Lơnoa nói và vui vẻ cười vang.
-       Nhưng tôi đang đi đúng đường. Toàn thế giới sẽ nằm trong tay tôi như thế này này, - Garin nắm chặt bàn tay nhỏ bé lại. – Những cột mốc trên con đường của tôi là Manxép thiên tài, rồi Rôlinh, nói đúng hơn là hang tỷ đôla của ông ta, và thứ ba là chiếc máy phát tia của tôi…
-       Vai trò của Manxếp là thế nào?
-       Hồi đó, vào nă mười lăm, tôi đã huy động toàn bộ số tiền còm của, và bằng táo tợn nhiều hơn mua chuộc, đã giúp Manxép thoát khỏi chế độ quân dịch. Sau đó, tôi cử ông ta cùng một đoàn thăm dò nhỏ đi tới Camsátca, vào những nơi khỉ ho cò gáy… Cho tới năm mười bảy, ông ta vẫn viết cho tôi, công việc của ông ta hết sức tồi tệ…Từ năm mười tám thì ông ta mất hút – chính anh cũng hiểu tại sao rồi… Mọi việc đều phụ thuộc vào kết quả thăm dò của ông ta.
-       Ông ta tìm gì ở đây?
-       Ông ta chẳng tìm gì hết… Nhiệm vụ của ông ta chỉ là xác nhận những dự đoán lý thuyết của tôi. Vùng duyên hải Thái Bình Dương – thuộc châu Á cũng như thuộc châu Mỹ - là những vùng của một lục địa cổ đã chìm sâu xuống đáy biển. Một khối nặng khổng lồ như vậy nhất định phải ảnh hưởng đến việc phan bố những lớp đất đá dưới sâu hiện trong trạng thái  nóng chảy… Những dãy núi lửa đang hoạt động ở Nam Mỹ, vùng núi Anđét  và Coócđilie, những núi lửa ở Nhật Bản và cuối cùng là ở Camsátca xác nhận rằng những lớp nham thạch nóng chảy thuộc Vòng đai O6livin – vàng, thủy ngân, o6livin và các chất khác - ở các vùng ven Thái Bình Dương nằm gần mặt đất hơn nhiều so với các nơi khác trên trái đất(1)… Anh hiểu chứ?
-       Tôi không hiểu anh cần đến cái vòng đai  Ôlivin ấy làm gì?
-       Đề thống trị thế giới, anh bạn ạ… Nào, ta cạn chén đi. CHúc thành công…
 
 
29
            Dôia mắc váy ngắn và áo lụa đen ( loại áo các cô gái bán hang tại các cửa hang bách hóa thường mặc), đội chiếc mũ nhỏ giản dị, ả nhảy xuống xe huýt, chạy qua đường phố ồn ào rồi đi vào tiệm cà phê “Địa cầu”, một tiệm cà phê đồ sộ trông ra hai phố.
Ả tìm chiếc bàn chưa có người ngồi, châm thuốc hút, ra lệnh cho cậu bé hầu bàn đem đến một lít vang đỏ rồi ngồi trước ly rượu đã rót đầy, chống tay vào hai má.
 
(1)  Có giả thuyết cho rằng giữa vỏ trái đất và lõi cùng của trái đất có một lớp kim loại nóng chảy gọi là Vòng đai Ôlivin (chú thích của tác giả).
-       Cô bé ạ, bắt đầu nghiệp ngập thế không tốt đâu, - một diễn viên già đi ngang qua, vừa nói vừa vỗ lưng ả.
Ả đã hút hết ba điếu thuốc. Rốt cuộc, người mà ả chờ đợi thong thả bước lại gần. Đây là một người đàn ông cau có, rắn chắc, trán hẹp, đôi mắt lạnh lung. Bộ ria của gã hơi vểnh lên, cổ áo sặc sỡ ôm chặt lấy chiếc cổ bò mộng. Gã ăn mặc rất sang trọng, lịch sự. Gã ngồi xuống, chào  hỏi Doia vài câu ngắn gọn. Gã nhìn xung quanh – một vài người cụp mắt xuống. Đó là Gaxtông Mỏ Vịt, trước kia chuyên ăn trộm rồi sau gia nhập băng cướp của Bônô khét tiếng. Trong chiến tranh, gã leo đến chức Hạ sĩ quan và sau khi giải ngũ thì chuyển sang công việc bình lặng của một kẻ môi giới về những công vi65c bí mật và mờ ám.
            Đối với Dôia, gã tỏ ra hết sức kính trọng. Khi gặp nhau trong các tiệm ăn ban đêm, gã kính cẩn mời ả nhảy và hôn tay ả - đó là người phụ nữ duy nhất ở Pari mà gã hôn tay. Dôia giữ quan hệ bạn bè với gã, và thình thoảng gã lại thực hiện những nhiệm vụ thuộc loại tế nhị nhất mà ả giao phó.
Vừa uống rượu vừa nhíu mắt và khói thuốc, Gaxtông rầu rĩ nghe Dôia nói. Nói xong, ả bẻ ngón tay kêu răng rắc. Gã lên tiếng:
-       Những việc này nguy hiểm lắm.
-       Gaxtông ạ, nếu anh làm được thì anh sẽ chẳng phải lo gì về tiềng nong cho đến mãn đời.
-       Thưa bà, bây giờ tôi không vì tiền mà làm một việc gì hết, dù là việc mờ ám hay công khai cũng vậy: thời thế đã khác rồi. Giờ đây, bọn kẻ cướp thích phục vụ trong ngành cảnh sát hơn, còn bọn trộm cắp chuyên nghiệp thì ưa ra báo về chính trị. Nếu bà muốn thuê tôi thì tôi xin từ chối. Nhưng làm việc đó cho bà thì lại là chuyện khác. Vì bà, tôi có thể liều chịu mất đầu.
-       Dôia nhả khói thuốc từ khóe môi đỏ chót, ả dịu dàng mỉm cưới và đặt bàn tay xinh đẹp lên tay áo Mỏ Vịt.
-       Được, anh hãy làm việc đó vì tôi…
 
 
30
            Xe của Rôlinh dừng lại ở Môngmác, trên một đường phố hẹp sang rực ánh đèn tỏa ra từ mười ô cửa sổ của một hiệu ăn ban đêm.
            Trong một căn phòng thấp, trần và tường lát gương, nóng nực, chật chội, mù mịt khói thuốc, giữa những dải giấy màu, bong bay và côngphétti, là những đôi trai gái đang nhảy, người đung đưa, quấn vào nhau bằng những dải giấy sặc sỡ.
Tiếng dương cầm rền rĩ, tiếng vĩ cầm gào rú, và ba gã da đen ướt đẫm mồ hôi ra sức đập vào mấy cái chậu, hét ầm ũ như tiếng còn ô tô, kéo lê mấy tấm gỗ kêu ken két, gõ chuông inh ỏi, đập đĩa chan chát, nện thình thình vào chiếc trống Thổ Nhĩ Kỳ.
-       Dẹp ra, các bạn, nhường đường cho ông vua hóa học nào, - gã chủ hiệu rán hết sức gào thét, vất vả lắm mới tìm được chỗ sau chiếc bàn hẹp để mời Dôia và Rôlinh ngồi. Nhưng bóng bay, sôngphétti, dải giấy màu bay tới tấp về phía họ.
-       Có người chú ý đến em đấy, - Rôlinh nói.
Dôia đang lim dim mắt, uống sâm banh.
Ả từ từ quay đầu lại- một cặp mắt đàn ông đen sẫm như hai hòn than đang nhìn ả với vẻ đắc chí âu sầu. Hắn là ai nhỉ? Không phải người Pháp, cũng không phải người Anh. Dường như ả đã nhìn thấy người này ở đâu rồi.
            Người hầu lách qua đám ngươi đang nhẩy, đưa cho ả mảnh giấy. Ả ngạc nhiên, ngả người vào lưng ghế, đưa mắt liếc nhìn Rôlinh đang hút xìgà và đọc:
            “Bà Dôia, người dịu dàng nhìn bà là Garin đấy… Hôn tay bà. Xêmiônnốp ”.
            Chắc hẳn, ả tái nhợt mải đi ghê gờm quá nên đâu đấy một giọng của ai đó vọng đến qua tiếng ……….. : “Kìa, bà kia sắp ngất kìa.”. Ả tiền giơ chiếc ly đã uống hết và người hầu rót sâm banh vào.
            Rôlinh hỏi:
-       Xêmiônốp viết gì cho em thế?
-       Em sẽ nói sau.
-       Hắn ta viết một điều gì đấy về cái gã đang táo tợn nhìn em phải không? Hắn đến gặp anh hôm qua đấy. Anh đã tống cổ hắn đi.
-       Rôlinh chẳng lẽ anh không nhận ra hắn sao? …Anh nhớ lại xem, trên quảng trường Ngôi Sao… Garin đấy.
Rôlinh chỉ “phì” một tiếng. Rồi rút điếu xìgà ra : “A ha”. Đột nhiên, vẻ mặt y lại giống hệt như khi chạy đi chạy ại trên tấm thảm lấp lánh ánh bạc mà ngẫm nghĩ trước năm nước đi cho mọi thế cờ có thể có. Y liền bật ngón tay đánh toách. Rồi y quay về phía Dôia, miệng mé xệch :
-       Ta đi đi. Chúng ta cần trao đổi nghiêm chỉnh với nhau.
Ra đến cửa, Dôia quay lại. Qua khói thuốc mù mịt và những dải màu rối rắm, ả lại nhìn thấy đôi mắt cháy bỏng của Garin. Rồi ả chóang váng vì không hiêu chuyện gì đã xảy ra : khuôn mặt Garin nhân đôi lên : một người nào đó đang ngồi trước mặt y, lưng quay về đám người đang nhẩy, bỗng dịch lại gần y và cả hai nhìn Dôia. Hay đấy là ảo ảnh của các tấm gương?
      Dôia thoáng nheo mắt, chạy theo tấm thảm đã mòn của tiệm rượu, xuống dưới, về phía xe. Rôlinh đang đợi ả. Đóng sập cửa xe lại, y chạm vào tay ả :
-       Tôi chưa kể hết cho em nghe về cuộc gặp gỡ với gã Pitkêvich giả này… Có một điều tôi vẫn chưa hiểu : tại sao hắn lại phải bày cái trò loạn thần kinh ấy? Hắn không thể đoán được rằng tôi vẫn còn một chút thương hại… Toàn bộ cách cư xử hắn đều đáng ngờ. Nhưng hắn đến gặp tôi để làm gì ?... Hắn ngã vật xuống bàn để làm gì mới được chứ?
-       Rô linh chưa kể cho em chi tiết đó…
-       Đúng, đúng thế… Hắn làm đổ chiếc đồng hồ…làm nhàu nát giấy tờ của tôi…
-       Hắn định đánh cắp giấy tờ của anh à?
-       Sao? Đánh cắp ấy ư ? – Rôlinh nín lặng một lát. – Không, không phải như vậy. Hắn bị mất thăng bằng và ngã đập tay vào bàn thăm… Ở đó có một mảnh giấy…
-       Anh tin là không bị mất cái gì chứ?
-       Đấy là những ghe chép chẳng có ý nghĩa gì đâu. Chúng bị nhàu nát, sau đ1o tôi đã vứt vào sọt rác rồi.
-       Em van anh, hãy nhớ lại mọi chi tiết của câu chuyện giữa anh và hắn đi…
Chiếc limudin dừng lại trên phố Xenna. Rôlinh và Dôia đi vào buồng ngủ. Dôia mau chóng cởi áo ngoài rồi nằm lên chiếc giường rộng : đắp nổi, bốn chân hình chân chim ưng, diềm che bằng gấm – một trong những chiếc giường thật của hoàng đế Napôlêông Đệ Nhất. Rôlinh chầm chậm cởi quần áo mặc ngoài, đi đi lại lại trên thảm, và vừa để lại từng loại quần áo trên những chiếc ghế mạ vàng, trên những chiếc bàn nhỏ, trên giàn lò sưởi, vừa kể hết sức tỉ mỉ về cuộc viếng thăm hôm qua của Garin.
            Dôia tì khuỷu tay, lắng nghe, Rôlinh bắt đầu kéo quần ra, nhẩy lò cò một chân. Vào phút đó, y giống hệt một ông vua. Rồi y nằm xuống và bảo :
“ Hết rồi đấy, tất cả những gì đã xảy ra là như vậy đấy”. Sau đó, y kéo chiếc khăn nhưng lên đến tận mũi. Chiếc đèn đêm xanh nhạt hắt ánh sang lên căn phòng ngủ  lộng lẫy, lên những thứ quần áo vứt lung tung, lên những tượng thần ái tình bằng vàng trên các cột giường và lên chiếc mũi to tướng của Rôlinh đang rúc vào chăn. Đầu y lút vào gối, miệng hé mở, ông vua hóa học đã ngủ thiếp đi.
            Chiếc mũi thở phì phì này làm Dôia đặc biệt khó chịu. Ả đặt tay lên mắt. Trước mắt ả, dai dẳng hiện lên khuôn mặt tái nhợt, liều lĩnh, tuấn tú và cương nghị của Garin. Ả lắc đầu để xua cái bong ma đi, - không, nó vẫn nhìn ả chăm chú, qua những dải giấy đung đưa… “ Chắc chắc là mất ngủ rồi”, - ả thầm nghĩ, và đột nhiên một ý nghĩ sắc nhọn dương như đâm xuyên qua ả suốt từ đầu đến chân : Gaxtông đang ở chỗ Garin…”.
            Dôia trườn ra khỏi chăn, vội vả xỏ tất. Rôlinh ậm ừ trong cơn mê, thắt đai lưng thật chặt, rồi trở lại buồng ngủ để lấy ví tiền…
-       Rôlinh, - ả khẽ gọi, - Rôlinh… Chúng ta chết mất…
Nhưng y chỉ ậm ừ. Ả xuống gian ngoài và phải vất vả lắm mới mở được hai cánh cửa cao của lối ra. Phố Xenna không một bóng người. Trong khoảng sang hẹp bên trên mái nhà. Lơ lửng vầng trăng vàng nhợt. Dôia bỗng cảm thấy buồn bã. Ả nhìn lên vầng trăng tròn phía trên thành phố đang ngủ… “Trời, thật đáng sợ, thật ảm đạm biết bao… ” Ả dùng cả hai tay ấn sâu chiếc mũ xuống rồi chạy về phía đường bờ song.
31
Ngôi nhà ba tầng cũ kỹ số sáu mươi ba phố Gôbêlênốp có một bức tường hướng ra bãi đất trống. Từ mặt này, chỉ có những ô cửa sổ trên gác xép tần ba. Một bức tường khác, chạy liền một mạch, tiếp giáp với công viên. Phía mặt trước nhà trông ra phố, ở tầng một, ngang với mặt đất, là một tiệm cà phê dành cho dân đánh xe và lái xe. Chiếm cả tầng hai là một khách sạn tối tân. Ở tầng ba, tầng sát nóc, là những căn phòng dành cho những người ở thuê lâu dài. Lên đó, phải đi qua cổng và một đường hầm dài.
      Đã một giờ đêm. Trên phố Gôbêlênốp, không một ô cửa sổ nào còn sang đèn. Tiệm cà phê đã đóng cửa, tất cả ghế ngồi đều đặt lên các bàn. Dôia dừng lại cạnh cổng, nhìn một phút lên số nhà sáu mươi ba. Ả cảm thấy ớn lạnh sau lưng. Ả quyết định giật chuông. Dây kêu sột soạt, cổng hé mở. Ả luồn vào khe cửa tối om. Từ xa vọng lại tiếng lão gác cổng càu nhàu : “Đêm phải ngủ chứ, trở về phải đúng giờ chứ”. Nhưng lão không hỏi ai vào.




HuyTran: Nhờ HuyTran xem lại, vì có nhiều chữ Uyên khg đọc đuợc





0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2010-03-20 11:27:23hathanh725>
Chào các bạn!
Bạn huytran vừa gửi cho tôi 6 gói từ trang 106 - trang 223, tôi sẽ đánh máy 2 gói: từ trang 106 - trang 147, còn lại 4 gói bạn nào làm nhé:
- ttck09-148-167 link download: http://www.4shared.com/file/245204021/abfacd83/ttck09-148-167.html
- ttck10-168-187 link download: http://www.4shared.com/file/245205711/3d24efa0/ttck10-168-187.html
- tckk11-188-205 link download: http://www.4shared.com/file/245204747/118cd9b5/tckk11-188-205.html
- tckk12-206-223 link download: http://www.4shared.com/file/245205482/77a9bb0a/tckk12-206-223.html

Ảnh tôi đã sử lý cho dễ đọc hơn rồi, tiện thể chia sẻ với các bạn một cách để đánh máy cho dễ dàng hơn: mở ảnh bằng phần mềm Mỉcosoft Office Picture Manager và Word rồi chỉnh các cửa sổ như sau là cả hai cửa sổ sẽ đồng thời hiện lên trên màn hình.
Còn trong sách mà có chú thích thì nên dùng chức năng tạo chú thích của word thì sẽ chuyên nghiệp hơn. Cách tạo chú thích thì rất đơn giản là để con trỏ vào sau chữ cần giải thích rồi bấm đồng thời tổ hợp phím Ctrl+Alt+F là sẽ hiện ra dưới chân trang soạn thảo chỗ để gõ chú thích.


0
Mình cũng vừa được bạn Ly gửi bài cho, tạm thời mình sẽ nhận đánh trước từ trang 148 - 167 tiếp sau bạn Thanh.

Our love...
We had, has gone and won't return.
Until now, I am still silently -waiting...
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2010-03-20 14:03:25Ct.Ly>
Thanh Vân đã nhận -206 đến 223

Lam. đã nhận 148 - 167

Cảm ơn Lam và Thanh Vân nhiều nhé

PiYeamigo đã nhận 168-187

vậy chỉ còn    - tckk11-188-205
0
Đây là vài điều tôi xin dặn chung các bạn đang và sẽ tham gia đánh máy:

1/ Sách này giấy đã cũ vàng, mực in loè nhoè. Cứ theo mắt tôi nhìn thì bản scan vẫn còn đọc được rõ, nhưng nếu các bạn thấy chỗ nào không rõ, xin cứ để trống cho tôi điền vào khi hiệu đính lại, đừng cố đọc hại mắt.

2/ Kinh nghiệm cho biết đôi khi có trường hợp này: nếu các bạn dùng thumbnail, có thể sẽ thấy 1 vài trang nhìn giống như bị che khuất mất 1 phần. Đó là lỗi thumbnail, các bạn mở preview ra coi sẽ thấy hình scan thật ra là đầy đủ.

Chuyện nhận dạng thì trừ khi có kỹ thuật nào tôi chưa nghe đến, còn dùng vndocr là hoàn toàn bất khả. Sách không những đã cũ, mà còn do 1 nxb tỉnh lẻ in ấn, cả màu giấy lẫn mực in đều rất xấu.

Xin cảm ơn sự hưởng ứng của các bạn.
0
- Ông phát điên rồi, - mặt Dôia đỏ bừng lên, trông trẻ hẳn ra, - ông hãy trốn đi!...

Garin chỉ hất bộ râu lên.

- Tám người, thật là chuyện vặt, chuyện vặt, - Y nhấc bộ máy và hướng nòng về phía cửa ra vào. Rồi y vỗ vào túi mình. Khuôn mặt y bỗng hốc hác đi.

- Diêm, - y thì thào, - không có diêm…

Có lẽ y cố tình nói câu đó để thử thách Dôia. Mà cũng có lẽ trong túi y quả không có diêm thật. – việc đó quyết định đời y vào lúc này. Y nhìn Dôia như một con vật đợi chết. Ả thẩn thờ như trong cơn mê, lấy chiếc túi trên ghế bành và rút ra bao diêm. Ả chậm chạp, khó nhọc đưa cho y. Y cầm bao diêm và cảm thấy bàn tay nhỏ nhắn lạnh giá của ả.



Bên dưới, vọng đến tiếng cọt kẹt thận trọng của nhiều bước chân đang leo lên theo cầu thang xoắn ốc.



41




Một vài người dừng lại bên ngoài cửa. Nghe rõ hơi thở của họ. Garin hỏi to bằng tiếng Pháp:

- Ai đấy?

- Có điện tín, - một giọng thô bạo đáp, - mở cửa ra!...

Dôia im lặng nắm hai vai Garin, lắc đầu. Y kéo ả vào góc phòng, bắt ngồi xuống thảm. Rồi y lập tức quay đến chỗ đặt bộ máy và nói to:

- Cứ nhét bức điện vào dưới khe cửa ấy.

- Nếu đã bảo là phải mở cửa thì mở ra, -vẫn cái giọng lúc nãy, gằm lên.



Một giọng khác thận trọng hỏi:

- Có một phụ nữ trong ấy không?

- Có.

- Hãy trao bà ta cho chúng tôi, chúng tôi sẽ để anh được yên.

- Ta xin báo trước, - Garin dữ tợn nói, - nếu các anh không cút khỏi đây ngay thì một phút nữa các anh sẽ mất mạng hết đấy.

- Ô la la !... Ô hô hô !... Hứ hứ !... – nhiều giọng nói gào lên, hi lên, cánh cửa bị thúc mạnh, nắm đấm cửa bằng sứ bị xoay tròn, mấy mảnh vừa rơi xuống từ khung cửa. Dôia không rời mắt khỏi khuôn mặt Garin. Y tái nhợt đi, cử động của y nhanh nhẹn và tự tin. Ngồi xồm xuống, y vặn chiếc vít đo vi lượng trong máy. Y rút vài que diêm đặt lên bàn cạnh chiếc hộp. Y cầm lấy khẩu sung lục và vươn thẳng người lên, chờ đợi. Cửa ra vào kêu răng rắc. Đột nhiên, một cú nện mạnh làm kính cửa sổ vỡ tan, rơi xuống, tấm màn che rung rinh. Garin lập tức bắn một phát về phía cửa sổ. Y ngồi thụp xuống, bật diêm, đưa vào máy rồi đóng sập nắp hình cầu lại.



Sau phát sung của y, không khí yên tĩnh chỉ kéo dài chừng một giây. Ngay lập tức, cả cửa số lẫn cửa ra vào đều bị tiến công cùng một lúc. Cửa ra vào bị một vật nặng gì đó thúc mạnh, vụn gỗ bay lả tả. Rèm cửa sổ xoắn lại và rơi xuống cùng gờ tường.

- Gaxtông! – Doia rú lên.



Mỏ Vịt mồm ngậm đạo, đang leo qua dãy chắn xong sắt ở cửa sổ. Cửa ra vào vẫn còn đứng vững. Garin mặt trắng bệch, vặn chiếc vít đo vi lượng, tay trái run rẩy cầm khẩu súng lục. Trong máy, ngọn lửa phần phật, kêu xèo xèo. Vòng ánh sáng nhỏ trên tường (đối diện với nòng súng) thu lần lại, giấy bồi tường bốc khói. Gaxtông liếc nhìn khẩu súng lục, di chuyển dọc theo tường, cả người thu lại, chuẩn bị chồm lên. Gã cầm dao trong tay, lưới dao quay về phía mình, theo kiểu Tây Ban Nha. Những khuôn mặt đầy râu ria cũng nhô vào qua những khe vỡ của cửa ra vào. Vòm ánh sáng nhỏ đã trở thành một chấm sáng chói mắt. – Garin ôm bộ máy bằng cả hai tay và chĩa nòng về phía Mỏ Vịt...



Dôia thấy Gaxtông bỗng há miệng ra không phải để kêu mà cũng không phải để hớp lấy không khí. Một dải khói chạy ngang qua ngực gã, hai tay gã định giơ lên nhưng buông ngay xuống, gã lăn kềnh xuống thảm. Đầu gã cùng hai vai đứt khỏi phần thân dưới như một khúc bánh mì.



Garin quay bộ máy về phía cửa ra vào. Tìm đường đi, &lt; sợi tia &gt; cắt đứt các đường dây điện, bóng đèn trên trần tắt phụt. Tia sáng lóa mắt, mảnh va thẳng như chiếc kim, từ nòng bộ máy chiếu ra, chạm vào phần trên cửa – những mãnh gỗ rơi lả tả. Nó trường xuống thấp hơn. Một tiếng gào rú ngắn vang lên như khi con mèo bị đè bẹp. Trong bóng tối, một người nào đó nghiêng đi rồi nhẹ nhàng đổ sụp xuống sàn. Tia sáng nhảy nhót ở độ cao chừng sáu mươi phân. Mùi thịt cháy bốc lên nồng nộc. Đột nhiên, mọi vật lặng như tờ, chỉ nghe thấy tiếng lửa reo khe khẽ trong máy.



Garin hung hẳng ho rồi nói bằng một giọng gượng gạo, khan khan:

- Thế là xong.



Bên ngoài ô cửa sổ vỡ tung, một ngọn gió nhẹ lướt đến hàng cây đoạn vô hình, chúng xào xạc như ngái ngủ. Từ trong bóng tối ở phía dưới, nơi mấy chiếc xe lặng lẽ đỗ, có tiếng người hét vang lên bằng tiếng Nga:

- Garin, anh còn sống chứ? – Garin xuất hiện ở cửa sổ. – Anh hãy thận trọng, tôi là Senga đây. Anh nhớ giao ước của chúng ta chứ? Tôi đang giữ chiếc xe của Rôlinh. Phải chạy trốn ngay. Hãy cứu lấy bộ máy. Tôi đợi anh...



42




Buổi tối, như lệ thường vào những ngày chủ nhật, giáo sư Râykhe chơi cờ tại nhà mình, trên dây bao lơn nhỏ không có mái che ở tầng bốn. Ông chơi với Henrich Vônphơ, người học trò yêu của ông. Họ vừa hút thuốc vừa chăm chú theo dõi ván cờ. Ánh hoàng hôn đã tắt từ lâu ở cuối dãy phố dài. Bầu không khí đen sẫm thật ngột ngạt. Cành dây trường xuyên không hề động đậy, quảng trường trải nhựa đường nằm im ắng, vắng vẻ.



Giáo sư khó nhọc tìm nước đi. Ông giơ bàn tay rắn rỏi với móng tay vàng vàng lên, nhưng không động đến quân cờ. Ông rút điếu xì gà hút dở khỏi miệng.

- Đúng, phải suy nghĩ đã.

- Giáo sư cứ nghĩ đi, Henrich nói.



Khuôn mặt đẹp của anh với vầng trán rộng, chiếc chằm hằn nét và cái mũi ngắn, thẳng, toát ra vẻ bình lặng của một bộ máy hùng mạnh. Giáo sư sôi nổi hơn (ông thuộc thế hệ cũ) – bộ râu ánh màu thép của ông rối bù, trên vầng trán nhăn nheo của ông hiện lên những vệt đỏ.



Chiếc đèn cao dưới chụp đèn rộng, sặc sợ, soi sáng khuôn mặt họ. Vài con bướm đêm còi cọc, xanh xanh, bay nhộn nhạo quanh đèn, đậu lên tấm khăn bàn mới là, giương râu lên, chăm chú nhìn bằng đôi mắt nhỏ như hai chấm, và chắc chắn không hiểu được rằng chúng đang có vinh dự chứng kiến hai ông thần giải trí bằng trò chơi của những kẻ trần tục. Đồng hồ trong phòng điểm mười giờ.



Cụ bà Râykhe, mẹ của giáo sư, một cụ già gọn gàng, sạch sẽ, ngồi bất động. Cụ không còn đọc sách hay đan áo được nữa dưới ánh sáng nhân tạo. Xa xa, nơi những ô cửa sổ của một tòa nhà cao sáng rực trong đêm đen, có thể thấy những khoảng không rộng lớn của thành phố Béclin xây bằng đá. Nếu như không có con trai ngồi bên bàn cờ vua, nếu không có ánh sáng êm ả của chiếc chụp đèn, nếu không có lũ bướm đêm xanh xanh trên tấm khăn trải bàn thì nỗi khủng khiếp đã lắng sâu từ lâu trong tâm hồn cụ chắc hẳn đã trào lên như đã từng trào lên nhiều lần trong những năm qua, và làm khô héo đi khuôn mặt nhợt nhạt của cụ. Đấy là nỗi kinh hoàng trước hàng triệu kẻ đang tràn đến thành phố này. Tên chúng không phải là Phơrít, Giôhan, Henrich, Ốttô, và chúng đông vô kể. Đứa nào cũng hệt như nhau – râu ria lởm chởm, đeo yếm giấy phủ bụi sắt và chì, - cứ tối tối là chúng lại kéo ra nườm nượp các phố xá. Chúng ham muốn nhiều thứ, hàm bạch ra.



Cụ nhớ lại thời kỳ hạnh phúc, khi chồng chưa cưới của cụ là Ốttô Râykhe từ Xêđăng (1) trở về trong đội quân chiến thắng hoàng để Pháp. Ốttô khắp người thấm đẫm mùi lính, râu ria xồm xòam, giọng nói oang oang. Cô gái Râykhe ra đón người yêu ở ngoại thành phố. Cô mặc chiếc áo dài màu xanh, thắt nơ, cài hoa. Nước Đức đang bay đến các chiến thắng, bay đến hạnh phúc cùng Ốttô vui tươi với niềm kiêu hãnh và hy vọng. Chẳng mấy chốc cả thế giới đã bị chinh phục…



Cuộc đời cụ đã qua rồi… Cuộc chiến tranh thứ hai cũng đã đến và cũng đã qua đi rồi. Họ phải chật vật lắm mới rút được chân khỏi bãi bùn lầy, nơi hàng triệu xác người đang thối rửa. Và rồi, lũ người kia nườm nượp kéo đến. Cứ nhìn vào mắt bất cứ tên nào dưới chiếc mũ cat két mà xem. Đấy không phải là cặp mắt Đức. Ánh mắt chúng gan lì, buồn bã, khó hiểu, xa lạ. Cụ Râykhe cảm thấy kinh hoàng.



Ngoài bàng hiên xuất hiện Khơlưnốp. Anh diện bộ comlê màu xám sạch sẽ thường mặc trong ngày chủ nhật.



Khơlưnốp nghiêng mình chào cụ Râykhe, chúc cụ một buổi tối tốt lành, rồi ngồi xuống cạnh giáo sư. Giáo sư hiền hậu nhíu mày và giễu cợt nháy mắt về phía bàn cờ. Trên bàn có những tạp chí và nhiều báo nước ngoài. Cũng như bất kỳ người tri thức nào ở Đức, giáo sư chẳng lấy gì làm giàu có. Ông chỉ có thể tỏ lòng hiếu khách bằng ánh mắt dịu mật của chiếc đàn trên tấm khảm trải bàn mới là, bằng điếu xì gà giá hai hào và cuộc chuyện trò có lẽ còn giá trị hơn bữa ăn sang trọng có rượu sâm banh.



Vào những ngày làm việc, suốt từ bảy giờ sáng đến bảy giờ tối, giáo sư thường lặng lẽ, bận bịu và nghiêm nghị. Nhưng vào ngày chủ nhật, ông &lt; sẵn lòng cùng bè bạn đi đến vương quốc của trí tưởng tượng&gt;. Ông thích nói &lt; từ đầu này đến đầu kia điều xì gà &gt;.

- Đứng, phải nghĩ kỹ đã, - ông lại nói và nhả khói mù mịt.

- Giáo sư cứ nghĩ đi, - Henrich khô khan và lịch thiệp trả lời.



Khơlưnốp mở rộng tờ báo Không khoan nhượng xuất bản ở Pari và trên trang nhất, dưới đầu đề &lt; Tội ác bí hiểm ở Vinlơ Đavrê &gt;, anh nhìn thấy bức ảnh chụp bảy người bị cắt nhỏ ra. &lt; Đúng là cắt nhỏ ra thật &gt; -anh thầm nghĩ. Nhưng những gì anh đọc thấy đã buộc anh phải ngẫm nghĩ:



“… Có thể phỏng đoán rằng kẻ gây ra tội ác này đã dùng một vũ khí nào đấy mà cho tới nay vẫn chưa ai biết, hoặc là một sợi kim loại nóng đỏ, hơặc là một tia nhiệt có cường độ cực lớn. Chúng tôi đã xác định được quốc tịch và hình dáng bề ngoài của hung thủ: Chắc chắn là một người Nga (tiếp theo là đoạn mô tả hình dáng bên ngoài theo lời của bà chủ nhà trọ). Vào đêm đó, ngoài y ra còn có một phụ nữ trong phòng y. Nhưng diễn biến về sau thì hoàn toàn bí ẩn. Có lẽ, bức màn bí mật sẽ được vén lên chút ít nhờ biến cố đẫm máu khác phát hiện thấy trong khu rừng Phôngtenơblô. Tại đấy, cách đường cái chừng ba chục mét, đã tìm ra một người lạ mặt nằm bất tỉnh. Trên thân thẻ người này có bốn vết thương do hỏa khí gây nên. Giấy tờ và tất cả những gì có thể giúp cho việc xác định người này đều bị đánh cắp hết. Chắc chắn là nạn nhân đã bị quăng từ ô tô xuống. Cho tới nay vẫn chưa làm nạn nhân hồi tỉnh được…”


43




- Chiếu! – giáo sư thốt lên, vung quân mã vừa ăn được – Chiếu và chiếu hết! Henrich, anh đã bị đánh bại, đã bị chiếm đóng, đã phải quì gối rồi. Anh sẽ phải trả chiến phí trong sáu mươi sáu năm. Luật của chính sách đế quốc chủ nghĩa cao cả là như vậy đó.

- Phục thù chứ, thưa giáo sư? –Henrich hỏi.

- Ồ không, chúng tôi sẽ tận hưởng mọi ưu thế của kẻ chiến thắng đã.



Giáo sư vỗ vào đầu gối Khơlưnốp:

- Anh đọc được tin gì trong báo thế, anh thiếu niên Bônsêvich không bao giờ chịu dung hòa của tôi? Bảy người Pháp bị cắt nhỏ chứ gì? Biết làm thế nào được – những kẻ chiến thắng bao giờ cũng thích làm những chuyện thái quá. Lịch sử luôn luôn có khuynh hướng tiến tới sự cân bằng. Bi quan –đấy là thứ mà những kẻ chiến thắng thường lôi về nhà mình cùng những của cải cướp bóc được… Chúng bắt đầu ăn quá nhiều chất mỡ. Dạ dày chúng không kham nổi mỡ và làm máu bị đầu độc bằng những chất độc ghê tởm. Chúng cắt nhỏ người ra, chúng treo cổ lên bằng dây đeo quần, chúng nhảy từ trên cầu xuống. Chúng mất dần tình yêu cuộc sống. Lạc quan – đấy là thứ còn lại ở kẻ chiến bại thay cho những của cải bị cướp đoạt. Tính chất tuyệt vời của ý chí con người là tin rằng mọi thứ đều sẽ tốt đẹp hơn trong cái thế giới tốt đẹp nhất trong các thế giới này. Phải nhổ tận rễ sự bi quan mới được. Tôi có đọc Lênin của anh, anh bạn thân mến ạ… Đấy là một người lạc quan vĩ đại. Tôi kính trọng Lênin của anh.

- Hôm nay giáo sư quả phấn chấn đấy, - Henrich rầu rĩ nói.

- Anh có biết tại sao không? – Giáo sư ngả người trong chiếc ghế bang đan, cằm ông đầy những nếp nhăn, mắt ông nhìn vui vẻ, trẻ trung dưới hằng lông mày. – Tôi đã thực hiện được một phát minh hết sức lý thú… Tôi đã nhận được vài bản tin, đã đối chiếu một vài số liệu và bất ngờ đi đến kết luận kỳ lạ… Nếu như chính phủ Đức không phải là một kẻ phiêu lưu, nếu như tôi tin rằng phát minh của tôi không rơi vào tay bọn bịp bợm và kẻ cướp thì có lẽ tôi sẽ công bố phát minh ấy… Nhưng không, cứ yên lặng là hơn…

- Tôi hy vọng là với chúng tôi thì giáo sư có thể chia sẻ ý kiến được, - Henrich nói.



Giáo sư ranh mãnh nháy mắt với anh:

- Chẳng hạn như anh, anh sẽ nói gì nếu như tôi giao cho chính phủ Đức lương thiện… Anh nghe thấy tôi nhấn mạnh chữ “lương thiện” chứ, tôi đặt vào đấy một ý nghĩa đặc biệt… - nếu như tôi giao cho họ một trữ lượng vàng vô tận?

- Vàng ấy từ đâu, thưa giáo sư? – Henrich hỏi.

- Tất nhiên là từ đất rồi…

- Đất ở đâu ạ?

- Cái đó không quan trọng. Một điểm bất kỳ nào trên trái đất… Mặc dù vàng sẽ làm cho anh, tôi, tất cả người Đức đều đâm giàu có… Nhưng rất có thể chúng ta sẽ trở nên nghèo hơn nữa… Chỉ có một người thôi, - ông quay mái đầu bạc như bờm sư tử về phía Khơlưnốp, - một người đồng bào của anh đã đề nghị sử dụng số vàng đó một cách thật sự… Anh hiểu chứ?



Khơlưnốp mỉm cười, gật đầu.

- Thưa giáo sứ, tôi đã quen nghe giáo sư một cách nghiêm chỉnh rồi, - Henrich nói.

- Tôi sẽ cố nghiêm chỉnh. Ở thành phố Mátxcơva bên họ, mùa đông giá lạnh đến ba mươi độ âm, nước té từ tầng ba khi rời đến hè phố thì đã thành những hạt băng rồi. Trái đấy bay trong khoảng không giữa các hành tinh đã được mười, mười lăm tỷ năm. Trong khoảng thời gian dài như vậy, nó dứt khoát phải nguội đi, có đúng thế không? Tôi khẳng định là trái đất đã nguội đi từ lâu lắm rồi, bằng cách bức xạ nó đã trao toàn bộ nhiệt của mình cho khoảng không giữa các hành tinh rồi. Chắc các anh sẽ hỏi: thể còn núi lửa, dung nham nóng chảy, những suối nóng phun thì sao? Giữa vỏ trái đất rắn, được mặt trời sưởi ấm yếu ớt, và toàn bộ khối bên trong trái đấy có một vòng đại kim loại nóng chạy được gọi là vàng đai olivin. Nó xuất hiện do sự phân rã nguyên tử liên tục của khối chết trong lòng trái đấy. Khối chất này là một quả cầu có nhiệt độ bằng khoảng không giữa các hành tinh, tức là hai trăm bảy mươi ba độ âm. Sản phẩm của sự phân rã này – vòng đai olivine chính là lớp da olivine, thủy ngân và vàng nằm trong trạng thái lỏng. Theo nhiều tài liệu thì lớp này ở không suâ lắm, chỉ cách mặt đất từ một nghìn năm trăm đến ba nghìn mét. Có thể khoan một lỗ ở trung tâm Béclin, và vàng hóa lỏng sẽ tự phun lên như dầu hỏa từ lòng vòng đai ôvilin…

- Rất lôgich, rất hấp dẫn, nhưng khó mà tin rồi, - Henrich im lặng một lát rồi nói. – Với những công cụ hiện nay mà khoan sâu tới mức như vậy thì thật không thể làm nổi…



44




Khơlưnốp đặt tay lên trang báo mở rộng của Không khoan nhượng.



- Thưa giáo sư, bức ảnh này làm tôi nhớ lại một câu chuyện trên máy bay, khi tôi bay đến Béclin… Nhiệm vụ thâm nhập đến những nguyên tố đang phân hủy của lòng trái đấy không đến nỗi huyễn hoặc như vậy đâu.

- Cái đó có liên quan gì đến những người Pháp bị cắt nhỏ này? – giáo sư hỏi và lại hít một hơi xì gà.

- Vụ giết người ở Vinlơ Đavrê thực hiện bằng tia nhiệt.



Nghe thấy câu ấy, Henrich xích lại gần bàn, khuôn mặt lạnh lùng của anh lộ vẻ cảnh giác.

- Chả, lại những tia này! – giáo sư nhăn mặt như nếm phải của chua. – Một chuyện nhảm nhí, bịp bợm, một tin vịt do bộ chiến tranh Anh tung ra.

- Bộ máy ấy do một người Nga chế tạo ra, tôi có biết người này, - Khơlưnốp trả lời. – Đó là một nhà sáng chế tài năng và một tên tôi phạm cỡ lớn.



Khơlưnốp kể lại tất cả những gì anh biết về Garin: về những công việc của y tại trường đại học Bách khoa, về những tội ác của y trên đảo Cre-xlốpxki, về những vật lạ lùng tìm thấy trong tầng hầm ngôi nhà nghỉ ngoại ô, về bức điện kêu gọi Senga đến Pari, về cuộc săn đuổi bộ máy của Garin mà hiện nay chắc chắn đang diễn ra ráo riết.

- Bằng chứng đây, - Khơlưnốp chỉ bức ảnh. – Đây là tác phẩm của Garin.



Henrich cau có xem kỹ bức ảnh. Giáo sư bối rối nói:

- Anh cho rằng có thể dùng các tia nhiệt để khoan trái đất ư? Tuy rằng… ở nhiệt độ ba nghìn độ thì cả đất sét lẫn đá granit đều sẽ hóa lỏng hết. Rất đáng chú ý, rất đáng chú ý đấy… Liệu có thể đánh điện đến nơi nào đó cho Garin được không?... Hừm! Nếu kết hợp việc khoan với sự làm mát nhân tạo và lắp những máy xúc chạy bằng điện để múc đất đá lên thì có thể khoan sâu được… Anh bạn thân mến, anh làm tôi hết sức quan tâm đấy…



Trái với thường lệ, giáo sư đi đi lại lại ngoài hiên cho tới hai giờ đêm. Ông hút thuốc liên miên và phát triển nhiều kế hoạch, kế hoạch sau kỳ lạ hơn kế hoạch trước.



Thường thường, khi ra khỏi nhà giáo sư, Henrich chia tay với Khơlưnốp trên quảng trường. Nhưng lần này anh đi tiếp cùng Khơlưnốp, tay gõ gõ chiếc can, khuôn mặt cau lại, cúi xuống.



- Theo anh thì kỹ sư Garin đã trốn mất cùng bộ máy sau câu chuyện ở Vinlơ Đavrê phải không? – Henrich hỏi.

- Đúng thế.

- Còn người lạ mặt máu me bê bết nằm bất tỉnh ở rừng Phôngtenơblô không thể là Garin chứ?

- Anh muốn nói rằng Sanga đã chiếm đoạt được bộ máy?...

- Chính thế…

- Tôi cũng đã nghĩ đến khả năng ấy… Đúng, nếu được như vậy thì tốt quá…

- Để xem xem đã, - Henrich ngẩng đầu lên, nói với vẻ giễu cợt.



Khơlưnốp đưa mắt nhìn nhanh anh ta: cả hai dừng lại. Từ xa, ngọn đèn đường chiếu sáng khuôn mặt Henrich. Họ cười nhếch mép độc ác, cặp mắt lạnh lùng, cái cằm bướng bỉnh. Khơlưnốp nói:

- Dù sao thì tất cả những chuyện đó mới là phỏng đoán thôi, chúng ta tranh cãi bây giờ chẳng để làm gì cả.

- Tôi hiểu, tôi hiểu.

- Anh Henrich ạ, tôi không định lắt lẻo với anh, nhưng tôi không khẳng định rằng bộ máy ấy còn ở trong tay Liên Xô. Chỉ riêng mong muốn ấy thôi đã làm anh thành kẻ thù của tôi rồi. Xin nói thật, anh Henrich thân mến ạ, anh hiểu rất mơ hồ về những gì có lợi hay có hại cho tổ quốc anh.

- Anh cố xúc phạm tôi chắc?

- Vớ vẩn! Tuy rằng đúng như thế đấy, - Khơlưnốp nói. – Sau khi hai nước chúng ta đã giết hại của nhau chừng bảy triệu người (2), chẳng lẽ lại còn có thể mếch lòng vì những lời lẽ nữa hay sao?... Anh là người Đức từ đầu đến chân, là bộ binh bọc thép, là kẻ sản xuất máy móc, theo tôi thì dây thần kinh của anh cũng có thành phần khác chúng tôi. Anh nghe đây, anh Henrich ạ, nếu bộ máy của Garin rơi vào tay những kẻ như anh thì không biết anh sẽ làm những chuyện bậy bạ gì?...

- Nước Đức sẽ không bao giờ cam chịu nhục nhã nữa.



Họ đã đến gần ngôi nhà có căn phòng Khơlưnốp thuê ở tầng một. Hai bên lặng lẽ chia tay nhau. Khơlưnốp đi vào cổng. Henrich đứng yên, chậm rãi nhai điếu xì gà đã tắt. Đột nhiên, cửa sổ ở tầng một mở toang và Khơlưnớp xúc động thò đầu ra:

- A, anh vẫn còn ở đấy ư?... May quá. Henrich ạ, tôi vừa nhận được bức điện từ Pari, của Senga… Anh nghe nhé: “Hung thủ đã trốn thoát. Tôi bị thương, còn lâu mới dậy được. Mối nguy hiểm ghê ghớm, chưa từng có, đang đe dọa thế giới. Cần anh đến ngay”

- Tôi sẽ đi với anh, - Henrich nói.



46






Trên tấm rèm trắng lay động, những bóng lá cây chạy đi chạy lại. Bên ngoài rèm, vang lên không dứt tiếng nước róc rách. Đấy là tiếng nước phun ra khắp phía từ những đường ống di chuyền được đặt trên bãi cỏ xanh của vườn cây trong bệnh viện và tiếng nhỏ giọt xuống từ đám lá cây ngô đồng ngay trước cửa sổ.



Sanga thiu thỉu ngủ trong căn phòng cao, quét vôi trắng, được ánh sáng chiếu qua tấm rèm.



Từ xa vọng lại tiếng ồn ào của Pari. Còn gần đều là tiếng lá cây xào xạc, tiếng chim hót và tiếng nước róc rách đơn điệu.



Thỉnh thoảng, ngay bên cạnh lại vang lên tiếng ê la gầm gừ hoặc tiếng bước chân trong hành lang. Sanga lập tức mở mắt ra nhìn chằm chằm đầy lo lắng về phía cửa. Anh không thể nhúc nhích nổi. Cả hai tay anh bị bó chặt thạch cao, ngực và đầu quắn dây băng. Để tự vệ, anh chỉ còn đôi mắt. Và những âm thanh êm dịu từ ngoài vườn vọng vào lại ru anh trong giấc ngủ.



Người nữ y tá thuộc dòng tu Cácmêlita mặc toàn đồ trắng đánh thức anh dậy, đôi tay đầy đặn của cô thận trọng đưa tách nước trà bằng sứ lên môi anh. Khi cô ta bước ra, còn vương lại mùi tinh dầu lavanda. (3)



Lại một ngày trôi qua chập chờn giữa giấc ngủ và nỗi lo lắng. Đấy là ngày thứ bảy sau khi người ta tìm thấy Senga nằm bất tỉnh và máu me bê bết trong khu rừng Phôngtenơblô. Anh đã hai lần bị viên dự thẩm lấy lời khai. Anh đã khai như sau:

- Lúc mười hai giờ đêm, tôi bị hai người tiến công. Tôi chống trả bằng gậy và bằng nắm đấm. Tôi bị bắn bốn phát đạn và không nhớ gì nữa.

- Anh có nhìn rõ mặt những kẻ tiến công anh không?

- Chúng bịt mặt che kín nửa khuôn mặt phía dưới.

- Anh cũng tự vệ bằng gậy chứ?

- Đó chỉ là cành khô tôi nhặt được trong rừng.

- Anh đi vào rừng Phôngtenơblô muộn như vậy để làm gì?

- Tôi đi dạo ngắm nhìn lâu đài, lúc trở về theo đường rừng thì bị lạc.

- Anh giải thích thế nào việc tìm thấy những vết xe còn mới gần chỗ anh bị mưu sát.

- Thế có nghĩa là hung thủ đã đi xe đến chỗ ấy.

- Để cướp bóc anh? Hay để giết anh?

- Theo tôi thì chúng không định cướp bóc tôi mà cũng chẳng định giết tôi. Không một ai ở Pari biết tôi hết. Tôi không làm việc trong sứ quán. Tôi chẳng thực hiện một sứ mệnh chính trị nào cả. Tôi đem theo rất ít tiền.

- Có lẽ người mà hung thủ chờ đợi không phải là anh chăng? Có lẽ khi chúng đứng đợi cạnh cây sồi kép trên quãng rừng thưa, một tên hút thuốc, còn tên kia thì đánh rơi cái khuy cài măng soi có đính viên ngọc quí chăng?



Chắc hẳn, đó là những thanh niên thượng lưu bị vét nhẵn túi trong trường đua hoặc trong song bạc. Họ tìm cơ hội cứu vãn tình thế. Ở Phôngtenơblô rất có thể gặp những người trong túi chặt căng những tờ nghìn phơrăng.



Trong cuộc lấy lời khai thứ hai, khi viên dự thẩm đưa ra bản sao bức điện gửi đến Béclin cho Khơlưnốp (do cô y tá thuộc dòng tu Cácnêlita chuyển cho ông ta), Senga trả lời:

- Đó là mật mã. Nó có liên quan đến việc truy lùng một tên tội phạm nguy hiểm đã trồn khỏi nước Nga.

- Anh có thể nói rõ hơn với tôi được không?

- Không. Đấy không phải là bí mật của tôi.



Senga trả lời các câu hỏi một cách chính xác, rành mạch, anh nhìn thẳng vào mắt viên dự thẩm với vẻ thành thật và thậm chí còn có vẻ hơi đần nữa. Viên dự thẩm chỉ còn cách tin vào sự chân thành của anh.



Những mối nguy hiểm vẫn chưa qua. Mối nguy hiểm tiềm tang trong những cột báo đầy ắp các chi tiết về “biến cố khủng khiếp trong khu rừng Phôngtenơblô”, mối nguy hiểm lần quất bên kia cửa, bên kia tấm rèm trắng bị gió thổi rung rinh, và trong cái tách trà bằng sứ được đôi tay đầy đặn của cô y tá dòng tu Cácmêlita đưa đến tận môi Sanga.



Chỉ có một lối thoát: làm sao cởi bỏ được thạch cao và bông băng càng sớm càng tốt. Và Senga liền nằm im, bất động, trong trạng thái nửa mơ nửa tỉnh.



47




- Trong lúc nửa mơ nửa tỉnh, anh nhớ lại câu chuyện đã xãy ra với anh.



Đèn pha tắt. Xe chạy chậm lại… Garin thò đầu ra khỏi xe và thì thào:

- Senga, quanh đi. Sắp đến quãng rừng thưa rồi. Ở đấy…



Chiếc xe nặng nề lắc lư trên con đường nhỏ trong rừng, len lỏi giữa các hàng cây, rẻ ngoặt rồi đổ lại.



Quãng rừng thưa uốn lượn dưới ánh sao. Những khối đá nhấp nhô lờ mờ dưới bóng cây.



Xe tắt máy. Mùi cỏ bốc lên hăng hắc. Con suối mơ màng róc rách chãy, bên trên là màn sương mù như một tấm vải mờ trôi lượn lờ vào sâu trong quãng rừng thưa.



Garin nhảy xuống lớp cỏ ẩm ướt và đưa tay ra. Dôia, mũ chụp sâu vào đầu, bước ra khỏi xe, ngước nhìn các ngôi sao rồi nhún vai.

- Nào, xuống xe đi, - Garin sẵng giọng nói.



Khi ấy, Rôlinh nhô đầu ra trước, bước xuống. Dưới bóng chiếc mũ, hàm răng vàng của y sáng lóe lên.



Nước róc rách giữa các tảng đá. Rôlinh rút tay ra khỏi túi (tay y rò ràng đã nắm chặt lại từ lâu) và khàn khàn lên tiếng:

- Nếu ở đâu sắp sửa thi hành án tử hình thì tôi phản kháng. Tôi phản kháng nhân danh pháp luật. Nhận danh lòng nhân đạo… Tôi phản kháng với tư cách một người Mỹ… một tín đồ Thiên Chúa giáo… Tôi đề nghị bất kỳ một món tiền chuộc nào…



Dôia đứng quay lưng về phía y. Garin ghê tõm nói:

- Nếu định giết ông thì tôi đã có thể làm ngay lúc nãy rồi…

- Ông đồng ý nhận tiền chuộc chứ? – Rôlinh hỏi nhanh.

- Không.

- Hay ông đòi tôi phải tham gia vào… - hai má Rôlinh giật giật, - … vào những công việc lạ lùng của ông?

- Đúng vậy. Ông phải vào chứ… Trên đại lộ Manđéc… Tôi đã nói với ông rồi…









---------

(1) Xêđăng là một thành phố trên sông Mơđơ, ở miền Đông – Bắc nước Pháp… Gần thành phố này, vào những ngày 1 và 2-9-1870 đã diễn ra trận giao chiến giữa quân đôi Pháp và quân đội Đức bao vây xung quanh. Đội quan Pháp đầu hàng theo lệnh của Napôlêông 111 có mặt trong đội quân này. Thất bại Xêđăng đã dẫn đến việc sụp đỗ nền Đế chính thứ hai và việc tuyên bố thành lập nền cộng hòa ở Pháp. (Chú thích của nguyên bản).



(2) Đây là trong đại chiến thế giới lần thứ nhất, (1914 - 1918) Đức và Nga tham chiến ở hai phe đối địch nhau. Kết quả cuộc chiến tranh là người Đức bại trận, phải đầu hàng một cách nhục nhã – N.D



(3) Một loại cây ở vùng Địa Trung Hải, thuộc họ hoa môi, từ xưa người ta đã trồng để lấy tinh dầu – N.D
Our love...
We had, has gone and won't return.
Until now, I am still silently -waiting...
0
Tiện thể mình sẽ nhận luôn phần còn lại. ( 188 - 205 ).

Bài này mình đánh xong từ hôm qua luôn rồi, nên về yêu cầu của bạn Huy, lần sau mình sẽ chú ý hơn.

^^"
Our love...
We had, has gone and won't return.
Until now, I am still silently -waiting...
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2010-03-22 02:07:22jessieanh>
vậy là xong hết rồi hen
0
Ơ, sao lại bị gõ trùng thế này: phần bạn pddk gõ (Post số #5)  và phần bạn Vouyen gõ (Post số #10) là cùng một nội dung, hơi bị lãng phí nhân lực đấy. :D
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2010-03-30 17:14:18Ct.Ly>
Đánh máy: cunhoi

(Từ trang 356 đến trang 375 )
 
giời. Giờ đây, dù nói gì thì nói, vốn vàn của nước Mỹ bị đánh giá rẻ đi đúng hai trăm năm mươi lần. Dù vất vả, dù bị những tổn thất ghê gớm hay đổ mất nhiều máu chăng nữa - những việc đó vẫn có thể chịu đựng được. Nhưng nhà cái gã điên rồ khốn khiếp Garin lại nảy ra ý định bán vàng với giá hai đô la một cân thì sao? Các vị thượng nghị sĩ và dân biểu cao niên đi đi lại lại ngoài hành lang với cặp mắt trắng nhợt vì kinh hoàng. Các ông vua công nghiệp và tài chính Mỹ hoang mang khiếp đảm.
“Đúng là một thảm hoạ của thế giới, một thảm hoạ còn tồi tệ hơn việc va phải sao chổi”.
“Cái gã kỹ sư Garin này là ai nhỉ? - người ta hỏi - Thực ra thì y cần cái gì nhỉ? Làm khánh kiệt đất nước này chăng? Ngu xuẩn? Khó hiểu… Y muốn đạt được mục đích gì? Muốn trở thành nhà độc tài chắc? Xin cứ việc, nếu y là người giàu có nhất thế giới. Suy đến cùng thì chúng ta cũng đã chán ngấy cái chế độ dân chủ này rồi… Đâu đâu trong nước cũng xảy ra tình trạng hỗn loạn, cướp bóc, lộn xộn, cứ để một tên độc tài có bàn tay sắt điều hành đất nước còn tốt hơn.”
Khi biết tin là đích thân Garin sẽ đến dự phiên họp, dân chúng kéo đến hội nghị đông đến nỗi nhiều người đành đu trên hàng cột và các ô cửa sổ. Đoàn chủ tịch xuất hiện, ngồi vào ghế, nhưng im lặng, chờ đợi. Cuối cùng, chủ toạ hội nghị bắt đầu nói, nhưng mọi người trong phòng đều quay về phía cửa ra vào màu trắng có nạm vàng. Cửa mở toang. Một người đàn ông bước vào. Y nhỏ nhắn, mặt tái nhợt khác thường, bộ râu dê đen sì, cặp mắt màu sẫm thâm quầng, mặc chiếc vetttong bình thường màu xám, đeo cà vạt kiểu con bướm màu đỏ, đi đôi giày nâu, đế cao, bàn tay trái cầm đôi găng mới.
Y đứng lại, hít một hơi thật sâu. Y thoáng gật đầu rồi nhanh nhẹn bước lên diễn đàn. Y vươn thẳng người. Râu y vểnh lên. Y gạt bình nước về phía mép bàn, (Trong phòng chỉ nghe thấy tiếng nước sóng sánh, - yên tĩnh như vậy đó)
Bằng một giọng cao, âm sắt rất chướng tai, y lên tiếng:
- Thưa quý vị… Tôi là Garin… Tôi đã đem vàng đến cho thế giới.
Cả phòng rung chuyển trong tiếng hoan hô. Mọi người nhất tề đứng dậy và đông thanh hét lớn.
- Ngài Garin muôn năm!... Nhà độc tài muôn năm.
Bên ngoài, một đám đông hàng triệu người vừa giậm chân theo nhịp vừa hò hét:
- Vàng!... Vàng!... Vàng!....
 
                                                           114
 
Chiếc “Aridôma” vừa trở lại đảo Vàng. Gianxen báo cáo với Dôia về tình hình hội nghị Oasinhton. Dôia vẫn nằm trên giường, giữa một đống gối viền đăng ten. Phòng ngủ mờ mờ tối sực nức mùi hoa từ ngoài vườn tràn vào. Một cô gái đang sửa móng bàn tay phải của ả. Ả cầm trong tay trái một chiếc gương nhỏ và vừa nói chuyện vừa bực bội ngắm nghía mình trong gương.
- Nhưng ông Gianxen ạ, Garin phát điên rồi,… ả bảo Gianxen, - sao lại làm vàng mất giá nhỉ?... Anh ấy muốn trở thành nhà độc tài của lũ khố rách áo ôm chắc?
Gianxen liếc nhìn vẻ lộng lẫy của căn phòng ngủ vừa trẩn thiết xong rồi đáp:
-         Thưa bà, khi tạm biệt tôi, ông Garin bảo tôi nói với bà là bà chớ lo lắng. Ông ấy không đi chệch một bước nào so với kế hoạch đã dự định. Nhờ đánh đổ được vàng, ông ấy đã chiến thắng. Tuần sau, thượng nghị viện sẽ suy tôn ông ấy là nhà độc tài. Khi đó ông ấy sẽ nâng giá vàng lên.
-         Bằng cách nào, tôi không hiểu đấy.
-         Ông ấy sẽ ban bố đạo luật cấm nhập vàng và bán vàng. Sau một tháng, vàng sẽ tăng đến giá cũ. Số vàng bán ra không nhiều lắm đâu. Những lời đồn đại nhiều hơn.
-         Thế giếng mỏ?
-         Giếng mỏ sẽ bị phá huỷ.
Dôia cau mày, châm thuốc hút.
-         Tôi chẳng hiểu gì hết.
-         Số lượng vàng phải được hạn chế, nếu không nó sẽ mất hết giá trị. Dĩ nhiên, trước khi phá huỷ giếng mỏ, sẽ phải khai thác một số lượng vàng như thế nào để ông Garin có được trong tay hơn một nửa số vàng trên thế giới.
-         Tuyệt lắm… nhưng họ sẽ bỏ bao nhiêu tiền cho triều đình của ta, cho những kế hoạch huyễn hoặc của ta. Ta cần nhiều, cần nhiều lắm đấy.
-         Ông Garin đề nghị bà lập bản quyết toán đi. Rồi bà sẽ được cấp bao nhiêu tuỳ ý…
Rồi Gianxen nói bằng một giọng van vỉ:
-         Thưa bà Lamôlơ, suốt cả tháng qua tôi không được gặp bà. Lúc này bà vẫn còn được thoải mái. Ta hãy ra biển đi. Chiếc “Aridôma” đã sửa sang lại rồi. Tôi muốn được cùng bà đứng trên cầu chỉ huy, dưới các vì sao.
-         Tôi không biết, Gianxen ạ, tôi không biết, - Dôia đáp – Đôi khi tôi bắt đầu cảm thấy rằng người ta chỉ hạnh phú khi săn đuổi hạnh phúc. Và khi hồi tưởng lại nữa… Nhưng đó là vào những giây phút mệt mỏi… Rồi sẽ đến lúc tôi trở về với ông, ông Gianxen ạ… Tôi biết là ông sẽ nhẫn nại chờ tôi… nhưng nếu tôi không trở về thì niềm mơ ước và nỗi nhớ tôi chẳng lẽ lại không phải là hạnh phúc ư?... Gianxen, ông Gianxen yêu quí, tôi biết làm gì bây giờ?... Tôi phải bay vào chốn tưởng tượng huy hoàng của tôi cho tới khi tim tôi ngừng đâp…
 
115
 
Tại ngôi nhà nhỏ màu trắng trên bờ một vùng biển hẻo lánh của đảo Vàng, suốt đêm diễn ra những cuộc tranh luận sôi nổi. Senga đọc lời hiệu triệu do anh vừa vội vã soạn thảo:
“Hỡi nhân dân lao động toàn thế giới! Các bạn đều đã biết quy mô và hậu quả của cơn kinh hoàng đang bao trùm nước Mỹ sau khi những con tầu chất đầy vàng của Garin cập bến San Phranxico.
Chủ nghĩa tư bản bắt đầu lung lay, vàng bị mất giá tất cả các loại tiền đều rối loạn, bọn tư bản chẳng có gì để trả công cho những kẻ làm thuê cho chúng: cảnh sát, các đội quân càn quét, bọn khiêu khích… Bóng dáng của cuộc cách mạng vô sản đã hiện lên rõ rệt.
Nhưng kỹ sư Garin, kẻ đã nện một đòn choáng váng vào chủ nghĩa tư bản, không hề muốn rằng hậu quả những hành động phiêu lưu của y lại là cách mạng.
Garin đang đi tới nắm chính quyền. Trên đường đi của y, y đang bẻ gãy sự kháng cự của bọn tư bản là những kẻ hiểu chưa thật rõ rằng Garin là thứ vũ khí mới trong cuộc đấu tranh với cách mạng vô sản…
Chẳng mấy nữa, Garin sẽ thoả thuận được với bọn trùm tư bản.
Chúng sẽ suy tôn y là nhà độc tài và lãnh tụ. Y sẽ giữ cho y một số vàng trên thế giới rồi sẽ ra lệnh lấp giếng mỏ trên đảo Vàng để hạn chế số lượng vàng.
Y sẽ cùng bọn trùm tư bản bóc lột toàn thể nhân loại và biến mọi người thành nô lệ.
Hỡi anh chị em lao động trên toàn thế giới! Giờ chiến đấu quyết định đã đếm. Uỷ ban cách mạng của đảo Vàng tuyên bố như vậy. Uỷ ban tuyên bố rằng đảo Vàng cùng giếng mỏ và tất cả các bộ máy phát địa đều chuyển vào tay những người khởi nghĩa khắp thế giới. Từ nay, những nguồn vàng vô tận sẽ nằm trong tay nhân dân lao động.
Garin cùng bè lũ của y sẽ chống cự điên cuồng. Chúng ta chuyển sang tiến công càng nhanh thì thắng lợi càng bảo đảm”.
Không phải mọi uỷ viên Uỷ ban cách mạng đều tán thành lời hiệu triệu này. Một số người do dự, chưa hoàn toàn tin tưởng. Nhưng Senga nói với họ:
-         Cách mạng là chiến lược cao nhất. Mà chiến lược là khoa học để chiến thắng. Chiến thắng chỉ thuộc vào những ai táo bạo; những ai nắm được chủ động. Thắng lợi của chúng ta là chắc chắn vì toàn thể nhân dân lao động khắp thế giới đều muốn chiến thắng, và chúng ta là đội tiên phong của họ. Những người Bônsêvich nói như vậy. Mà những người Bônsêvich thì không biết đến thất bại.
Nghe thấy những lời lẽ ấy, một anh thanh niên cao lớn, mắt xanh, từ nãy đến giờ vẫn im lặng, nay rút chiếc tẩu ra khỏi miệng.
-         Đủ rồi, - anh nói bằng một giọng trầm đặc. – Bàn cãi mãi thế là đủ rồi! Bắt tay vào việc đi, các bạn!...
 
116
 
Người hầu phòng tóc bạc, cao lớn, mặc chế phục nhẹ nhàng bước vào phòng, đặt tách nước sôcôla và đĩa bích quy lên chiếc bàn kê ở đầu giường rồi khẽ khàng vén rèm cửa sổ. Garin mở mắt ra:
-         Đưa thuốc lá đây.
Y không thể bỏ được cái thói quen đặc Nga là hút thuốc lúc đói này, mặc dù y biết rằng giới thượng lưu Mỹ đang theo dõi từng bước đi, từng cử động, từng lời nói của y và sẽ thấy việc hút thuốc lúc đói này là dấu hiệu không được đẹp đẽ lắm.
Trong những bài tiểu phẩm hàng ngày, toàn bộ báo chí Mỹ đều hoàn toàn biện minh cho quá khứ của Piốt Garin. Nếu trước đây y có uống rượu thì đó là do sự bắt buộc, còn trong thực tế thì y là kẻ thù của rượu; tất cả các báo đều khẳng định rằng công việc yêu thích của y và bà Lumôlơ trong lúc nghỉ ngơi là đọc một số chương ưa thích trong Thánh Kinh; một vài hành động tàn ác của y (biến cố ở Vinlơ Đavrê, vụ phá huỷ các nhà máy hoá chất, việc đánh chìm đội tàu chiến Mỹ) được giải thích hoặc là một sự ngẫu nhiên tai hại, hoặc là do sử dụng bất cẩn bộ máy phát tia, nhưng dù sao thì con người vĩ đại ấy vẫn thành thật và ân hận sâu sắc về những hành động đó, vẫn sẵn sàng bước vào giáo đường để rửa sạch những tội lỗi ngẫu nhiên phạm phải (giữa nhà thờ Tin  lành và nhà thờ Cơ Đốc đã bùng lên cuộc xung đột nhằm tranh thủ Piốt Garin), và cuối cùng, y được tâng bốc là từ nhỏ đã ham mê ít nhất là mười môn thể thao.
Sau khi hút một điếu thuốc to bự. Garin liếc nhìn ly nước sôcôla. Nếu như vào trước kia, khi y bị coi là tên khốn kiếp và ăn cướp, thì y đã đòi nước sôđa và rượu cônhắc rồi, nhưng nhà độc tài của nửa thế giới không thể được phép uống cônhắc từ sáng sớm!
Y nhăn mặt tợp một ngụm nước sôcôla. Người hầu phòng vẫn đứng ở cửa với vẻ buồn bã trang trọng, nay khẽ hỏi:
- Ngài có cho phép thư ký riêng vào gặp không ạ?
Garin uể oải ngồi dậy, khoác bộ pigiama lụa. - Được.
Viên thư ký riêng bước vào, cúi chào nhà độc tài ba lần - ở cửa, ở giữa đường và khi đến cạnh giường. Y chúc nhà độc tài một buổi sáng tốt lành rồi hơi liếc nhìn chiếc ghế.
-         Ông ngồi xuống đi, - Garin ngáp mạnh đến nỗi răng kêu lách cách rồi nói.
Viên thư ký riêng ngồi xuống. Y được coi là con người thanh nhã nhất Tân Thế Giới và theo Garin thì y được bọn trùm tài chính cử đến để dò xét.
-         Có gì mới khống? – Garin hỏi. – Giá vàng thế nào?
-         Đang lên ạ.
-         Lên chậm lắm phải không?
Viên thư ký rầu rĩ dướn mày:
-         Vâng, chậm lắm.
-         Bọn khốn nạn!
Garin xỏ chân vào đôi ủng bằng gấm và đi đi lại lại trên lớp thảm trắng.
- Bọn khốn kiếp, bọn ngu xuẩn! – y nhắc lại, - Việc giá vàng lên chậm chứng tỏ mọi người chưa tin vào tôi. Chưa tin vào tôi! Ông hiểu chứ? Tôi sẽ ban sắc lệnh cấm bán tự do các thỏi vàng, kẻ nào vi phạm sẽ bị tử hình. Ông ghi đi: “Từ hôm nay thượng viện quyết định…”
Sau khi xong việc đó, y hút điếu thuốc thứ hai và vứt đầu mẩu thuốc lá vào tách sôcôla uống dở. Rồi y hỏi:
-         Còn gì mới nữa không? Không phát hiện được vụ mưu sát nào nhằm vào tôi hay sao?
-         Tối qua và lúc bây giờ sáng hôm nay cảnh sát đã khám phá ra hai vụ mưu sát ngài.
-         Tốt lắm. Cho công bố ngay trên báo. Chúng là ai vậy? Tôi hy vọng là chính dân chúng đã thanh toán những tên khốn kiếp ấy rồi chứ?
-         Tối qua, trong công viên trước cửa lâu đài, đã phát hiện thấy một gã thanh niên có vẻ như công nhân và trong túi tìm thấy hai cái êcu sắt, mỗi cái nặng năm trăm gam. Thật đáng tiếc lúc đó đã muộn, công viên rất vắng vẻ, và chỉ môt vài người qua lại được biết là có kẻ định mưu sát nhà độc tài mà họ tôn thờ nên họ dadx nện cho tên khốn kiếp một trận. Hắn đã bị bắt.
-         Những người qua lại đó là dân chúng hay nhân viên mật vụ?
Mí mắt viên thư ký động đậy, y hơi nhếch miệng cười - nụ cười độc nhất vô nhị trong khắp Bắc Mỹ:
-         Thưa ngài, dĩ nhiên đấy là dân chúng rồi, đấy là những thương gia trung thực, hết lòng với ngài.
-         Tìm biết ngay họ tên những thương gia ấy, - Garin ra lệnh, - và công bố trên báo lời biết ơn nồng nhiệt của tôi. Kẻ mưu sát phải bị xét xử thật nghiêm khắc theo pháp luật. Sau khi kết án, tôi sẽ khoan hồng cho hắn.
-         Vụ mưu sát thứ hai cũng xảy ra trong công viên, - viên thư ký nói tiếp, - cảnh sát phát hiện thấy một phụ nữ nhìn qua cửa sổ vào phòng ngủ của ngai. Trong người mụ ta tìm thấy một khẩu súng lục nhỏ.
-         Còn trẻ chứ?
-         Mụ ta năm mươi ba tuổi.
-         Thế dân chúng phản ứng ra sao?
-         Dân chúng chỉ giật mũ mụ ta, bẻ gẫy ô vò giẫm nát túi xách. Sở dĩ họ phản ứng tương đối yếu ớt như vậy là vì lúc đó trời quá sớm, mụ ta trông thật thảm hại và ngã ngất ngay lập tức khi nhìn thấy đám đông dân chúng bừng bừng nổi giận.
-         Cấp hộ chiếu cho con quạ già ấy và tống cổ ra khỏi nước Mỹ. Chuyện này không nên đăng trên báo. Còn gì nữa?
Lúc chín giờ kém năm, Garin tắm hương sen ròi phó thác cho một người thợ cạo lừng danh và bốn nữ phụ tá của ông ta – hai cô gái tóc vàng và hai cô gái lai - sửa sang đầu tóc, râu ria, móng chân, móng tay cho y. Y phải kiên nhẫn lắm mới chịu nổi đến cuối thủ tục này, một thủ tục mà sáng nào y cũng phải theo và được báo chí nói đến như là “một khắc mưu khi tắm” của y. Chẳng làm thế nào được.
Sau đó,y sang phòng thay quần áo. Tại đây, hai gia nhân và viên hầu phòng giàu kinh nghiệm đã chờ sẵn y cùng bít tất, sơ mi, giày và nhiều thứ khác. Hôm nay, y chọn bộn comlê nâu có chấm sáng. Báo chí viết rằng một trong những tài năng kỳ diệu nhất của nhà độc tài là nghệ thuật chọn cà vạt. Garin vừa rủa thầm vừa chọn chiếc cà vạt sặc sỡ như lông công.
Khi sang phòng ăn - một căn phòng bài trí theo phong cách trung thế kỷ, - Garin thầm nghĩ:
“Không thể chịu nổi lâu thế này được. Thật quỉ quái, chúng không còn cho ta được tự do gì nữa.”
Trong lúc ăn sáng (lại vẫn không có một giọt rượu nào), nhà độc tài phải xem các thư từ gửi đến khoảng ba trăm lá thư đã chờ sẵn Garin. Vừa nhai những món ăn dành cho vận động viên và những kẻ đức hạnh, y lấy hú hoạ những tấm phong bì kêu sột soạt. Y dùng nĩa bẩn mở phong bì ra và thoáng đưa mắt đọc qua:
“Trái tim em đập mạnh, bàn tay em run rẩy khi viết những dòng chữ này… Ngài sẽ nghĩ gì về em? Trời ơi! Em yêu ngài. Em yêu ngài ngay từ giây phút được nhìn thấy chân dung ngài trên báo. Em trẻ trung. Gia đình em là gia đình danh giá”.
Các bức thư thường kèm thêm ảnh. Những tấm ảnh (trong một tháng số lượng ảnh đã lên tới vài nghìn chiếc) các cô gái miệng to, tóc dày, cặp mắt thơ ngây và cái mũi ngốc nghếch ấy khiến Garin cảm thấy chán ngán đến phát khiếp.
Y đã đi qua một con đường nhanh đến chóng mặt từ đảo Crextôpxki tới Oasingtơn, từ căn phòng lạnh lẽo trong căn nhà hẻo lánh ở khu vực Pêtơroograixenia đến chiếc ghế chủ tọa mạ vàng ở thượng viện Hoa Kỳ, nơi mà hai mươi phút nữa y sẽ phải đến. Y đã làm cả thế giới phải kinh hoàng, đã chiếm hữu một kho vàng vô tận trong lòng đất, đã giành được quyền lực tầm cỡ thế giới, - y đã làm mọi việc ấy để rồi sa vào bẫy của một cuộc sống tầm thường tẻ nhạt nhất.
- Thật tởm!
Y vứt khăn ăn đi, gõ tay liên tục vào bàn. Không thể nghĩ ra được gì hết. Chẳng có gì để vươn đến nữa. Y đã leo tới đỉnh cao nhất. Đã trở thành nhà độc tài Chẳng lẽ lại đòi tước hiệu hoàng đế ư? Y sẽ càng khốn khổ thêm. Cuốn gói ư? Nhưng đi đâu? Và để làm gì? Đến với Dôia ư? Chà, Dôia! Giữa ả và y đã dứt đoạn một cái gì đó chủ yếu nhất, xuất hiện vào một đêm ẩm ướt, ấm áp, tại một nhà trọ ở Vinlơ Đavrê. Khi ấy, giữa tiếng lá xào xạc ngoài cửa sổ, đã nảy sinh ý tưởng ngông cuồng và toàn bộ chuyến phiêu lưu của Garin. Khi ấy, y tràn ngập niềm hân hoan tiến công. Khi ấy, thật dễ dàng nói rằng: “Anh sẽ ném thế giới xuống chân em”. Và nay, y đã chiến thắng. Thế giới đã nằm dưới chân y. Vậy mà y, vị chúa tể của thế giới, lại phải ăn món cháo nhạt thếch, phải vừa ngáp dài vừa nhìn những khuôn mặt ngốc nghếch trên các tấm ảnh.
Y quay lại hai người hầu đang kính cẩn đứng cạnh cửa. Cả hai lập tức bước tới, một người cúi chào với vẻ dò hỏi, người kia lên tiếng.
- Xe của  ngài đã sẵn sàng.
*
Nhà độc tài bước ngạo nghễ vào thượng viện. Y ngồi xuống chiếc ghế bành mạ vàng, nói sang sảng mấy câu qui định sẵn để khai mạc phiên họp. Lông mày y dướn lên, khuôn mặt lộ vẻ cương nghị. Hàng chục bộ máy chụp ảnh và quay phim chĩa vào y giây phút này.
Hôm nay, thượng viện vinh dự được trao cho nhà độc tài tước hiệu: huân tước xứ Uên (Anh), tử tước xứ Napplơ (Ý), bá tước xứ Sacloron (Bỉ), nam tước xứ Muynhaoden (Đức) và đồng hoàng đế Đôi Nga. Còn Hợp chủng quốc Hoa Kỳ - thật đáng tiếc, đấy là nước dân chủ nên không có tước hiệu – thì trao cho nhà độc tài danh hiệu “Bidơman ôphogốt” có nghĩa là “Người được thượng đế ân sủng.”
Garin cảm ơn. Y sẽ rất sung sướng nếu được nhổ toẹt vào những gã đầu hói béo phị đang ngồi trước mặt y. Nhưng y hiểu rằng y sẽ không nhổ toẹt mà sẽ đứng dậy cảm ơn.
Từ thượng viện, y đi thẳng đến chỗ dự tiệc.
Ngoài phố, xe của nhà độc tài được dân chúng reo hò chào đón. Nhưng nếu nhìn kỹ thì đấy chỉ là những đám cảnh sát và viên chức cải trang. Chà, nếu Garin không sinh ra ở nước Nga, nếu y không trải qua cách mạng thì chắc hẳn chuyến diễu phố giữa những tiếng tung hô nay sẽ làm y hết sức thích thú. Nhưng y đã từng trải rồi. Y giận dữ: “Trò rẻ tiền, rẻ tiền, câm họng đi, chẳng có gì đáng sung sướng hết!”. Y xuống xe cạnh cổng toà thị chính và hàng chục bàn tay phụ nữ (con gái các ông vua dầu mỏ, đường sắt, đồ hộp,...) tung hoa lên người y.
Lúc bước lên thang, y gửi những chiếc hôn gió hết sang phải lại sang trái. Trong phòng, âm nhạc nổi len chào mừng con người được thượng đế ân sủng. Y ngồi xuống, tất cả ngồi xuống theo. Bàn ăn trải khăn trắng tinh, kê thành hình chữ “п”(1) sặc sỡ hoa và lấp lánh pha lê. Cạnh mỗi bộ đồ ăn là mười một con dao bằng bạc và mười một chiếc đĩa to, nhỏ khác nhau (không kể thìa, và các thứ khác). Phải cẩn thận để không lầm lẫn khi dùng các loại dao và dĩa.
Garin giận dữ nghiến răng kèn kẹt: quí tộc gì cái bọn này! Trong số hai trăm người ngồi quanh bàn ăn thì ba phần tư chuyên buôn bán cá mòi ngoài phố! Nhưng mọi cặp mắt đều hướng vào nhà độc tài và y buộc mình phải cư xử thật mẫu mực.
Sau bữa tiệc, y đi ngay về nhà.
Tại tiền sảnh lâu đài, y quẳng can và mũ xuống sàn khiến đám người hầu kinh hoàng nhảy bổ đến nhặt lên, rồi y đút sâu hai tay vào túi quần, giận dữ vểnh râu, bước theo lớp thảm lộng lẫy. Viên thư ký riêng đã chờ sẵn trong phòng làm việc của y.
-         Vào bảy giờ tối, tại câu lạc bộ “Paxiphich” sẽ tổ chức buổi chiêu đãi có hoà nhạc giao hưởng để chào mừng ngài.
-         Được, - Garin đáp. – Còn gì nữa không?
-         Còn vào mười một giờ hôm nay sẽ có vũ hội tại căn phòng trắng của khách sạn “Indiana” để chào mừng.
-         Gọi điện đến cả hai nơi đó bảo là ta bị ốm vì ăn quá nhiều cua tại toà thị chính.
-         Nhưng tôi e rằng việc giả ốm sẽ còn gây nhiều phiền nhiễu hơn nữa: cả thành phố sẽ lập tức đến vấn an ngài. Ngoài ra, lại còn các tay săn tin cho báo chí. Họ sẽ tìm mọi cách vào đây bằng được, dù có phải chui qua đường ống bằng đá chăng nữa.
-         Ông nói có lý. Ta sẽ đi vậy, - Garin bấm chuông. - Chuẩn bị buồng tắm, quần áo buổi tối, mũ miện và huân chương cho ta.
Garin ngồi vào bàn (bên trái là máy thu tiếng, bên phải là điện thoại, trước mặt là micro). Y lấy một mảnh giấy trắng, chấm bút vào mực và đột nhiên trầm ngâm suy nghĩ.
“Dôia, - y bắt đầu viết bằng tiếng Nga, nên chữ to và rắn rỏi, - chỉ có em là người duy nhất hiểu được ta đang đóng vai một thằng ngốc như thế nào.”
Lúc tám giờ kém mười lăm, Garin vội vã bước lại gần bàn. Y mặc lễ phục, đeo huân chương, đeo sao và một dải băng ngoài áo gilê.
Những tín hiệu dồn dập của chiếc máy thu bao giờ cũng bắt sẵn làn sóng điện của đảo Vàng. Y đeo ống nghe. Giọng Dôia rõ ràng nhưng mất hết sức sống, như từ một hành tinh khác vọng đế, nhắc đi nhắc lại bằng tiếng Nga:
-         Garin, chúng ta nguy mất… Garin, chúng ta nguy mất… Khởi nghĩa ở đảo Vàng. Bộ máy phát tia chính đã bị chiếm… Gianxen đang ở chỗ em. Nếu may mắn thì em và Gianxen sẽ chạy trốn trên chiếc “Aridôna”.
Giọng nói đứt quãng. Garin đứng bên bàn, để nguyên ống nghe. Viên thư ký riêng cầm sẵn mũ và can của Garin, đứng chờ cạnh cửa. Và chiế máy thu lại đã bắt đầu phát tín hiệu. Nhưng một giọng khác, một giọng đàn ông, mạnh mẽ, cất tiếng nói bằng tiếng Anh:
“Hỡi nhân dân lao động toàn thế giới! Các bạn đều đã biết quy mô và hậu quả của cơn kinh hoàng đang bao trùm nước Mỹ.”
Sau khi nghe hết lời kêu gọi của Senga, Garin gỡ ống nghe. Y thong thả, nhếch mép cười, châm thuốc hút. Rồi y rút trong ngăn kéo ra một tập giấy bạc một trăm đô la cùng một bộ máy mạ kền hình khẩu súng lục nòng to: đây là bộ máy phát tia bỏ túi, phát minh mới nhất của y. Y cau mày ra hiệu gọi viên thư ký riêng lại gần.
-         Ra lệnh chuẩn bị ngay một chiếc xe đường trường.
Lần đầu tiên trong suốt thời gian ấy, viên thư ký trố mắt, đôi mắt màu nâu, nhìn chòng chọc vào Garin:
-         Nhưng thưa ngài…
-         Im! Truyền đạt ngay lập tức cho tư lệnh thành phố, thống đốc thành phố và giới chức chính quyền là từ bảy giờ sẽ ban hành lệnh giới nghiêm. Phương sách duy nhất để dập tắt rối loạn trong thành phố là thẳng tay bắn hàng loạt.
Viên thư ký biến mất sau cửa.
Garin bước lại gần chiếc gương ba mặt. Y đeo huân chương và đeo sao, tái nhợt như hình nhân bằng sáp. Y soi mình hồi lâu trong gương, đột nhiên một mắt y cứ tự nháy nháy đầy giễu cợt. “Chuồn thôi, Garin, chuồn cho thật mau thôi”, - y thầm tự nhủ.
 
117
 
Những biến cố trên đảo Vàng bắt đầu từ tối hai mươi ba tháng sáu. Biển động suốt ngày. Những đám mây dông bão kéo đến từ mạng Tây Nam. Bầu trời như nứt nẻ vì những làn chớp lửa ngoằn ngoèo. Tại cảng, đối diện với lâu đài, chiếc “Aridôna” đơn độc ngả nghiêng trên các đợt sóng.
Số dân trên đảo giảm đi rõ rệt trong thời gian gần đây. Công việc ở giếng mỏ tạm thời đình lại. Trong số sáu nghìn công nhân, chỉ còn lại ngót năm trăm.
Bọn cảnh sát chẳng có việc gì làm trên mảnh đất nhỏ bé này. Chúng bắt đầu đâm rượu chè và buồn nhớ những thành phố lớn, những tiệm ăn xa hoa. Chúng xin nghỉ phép, đe doạ sẽ nổi loạn. Nhưng Garin nghiêm khắc ra lệnh: không có nghỉ phép, không có chuyện thôi việc gì hết. Các doanh trại cảnh sát là mục tiêu thường xuyên nhằm vào của bộ máy phát tia chính.
Trong các doanh trại diễn ra cảnh chơi bời dữ dội. Người ta sát phạt nhau không phải để lấy vàng (vàng chất đống gần đấy đã khiến ai nấy phát ngán đến tận cổ) mà là để lấy vũ khí, những tẩu thuốc đã lâu đời hoặc chai rượu cônhắc lâu năm. Đến tối thì cả doanh trại thường say bí tỉ. Viên tướng Xuphôtin phải vất vả lắm mới duy trì được một thứ kỷ luật hết sức lỏng lẻo.
Không một biện pháp nào còn tác dụng. Nhưng chưa bao giờ tình trạng say sưa rượu chè lại ghê gớm như vào ngày dông bão hai mươi ba tháng sáu. Tướng Xuphôtin quát tháo khẳn cả giọng, nhưng rồi cũng thây kệ tất và chính y cũng say bí tỉ nốt.
Trinh sát của Uỷ ban Cách mạng (chú bé Ivan) thông báo về tình hình tồi tệ của kẻ địch trong các doanh trại. Vào lúc bảy giờ tối, Senga cùng năm người thợ mỏ lực lưỡng đến trạm gác và gây chuyện cãi lộn với hai tên lính gác đang ngà ngà say đứng cạnh giá súng. Hai tên này mất cảnh giác, lại bị tiến công bất ngờ nên lập tức bị tước vũ khí và bị trói gô lại. Senga chiếm được một trăm khẩu súng. Số súng ấy lập tức được phân phát cho anh em công nhân đang nấp sau các bụi cây và bò tới gần từ cột đèn này đến cột đèn khác.
Một trăm nghĩa quân xông vào các trại linh. Bắt đầu cảnh rối loạn cực kỳ hỗn độn, bọn cảnh sát kháng cự bằng chai, bằng ghế đảu rồi tạm thời lùi bước, tổ chức lại đội ngũ và bắn trả. Trên các cầu thang, trong các hành lang và trong các buồng ngủ đều diễn ra những trận đánh nhau. Hai bên đánh giáp lá cà. Từ các ô cửa sổ vỡ nát vọng ra những tiếng gào thét man rợ. Bên tiến công tuy ít người (một người phải chọi với năm), nhưng họ đã đánh bọn cảnh sát nhu nhược bằng các dây xích, bằng các nắm đấm nổi đầy chai. Lực lượng tiếp viện chạy đến. Bọn cảnh sát bắt đầu nhảy qua cửa sổ ra ngoài. Một vài chỗ bùng lên các đám cháy, doanh trại ngập trong khói lửa.
 
118
 
Gianxen chạy qua những căn phòng trống trải, tối tăm của lâu đài. Thỉnh thoảng y hối hả gọi Dôia rồi lắng nghe trong tâm trạng lo lắng đầy kinh hoàng.
Y chạy xuống dưới, nơi vọng lên tiếng súng và tiếng la hét. Y ngó đầu nhìn vào bên trong khu vườn. Vắng vẻ, không một bóng người. Ở phía đối diện, dưới chiếc cổng vòn quấn dây leo, có nhiều người đang phá cổng. Bà Lamôlơ chạy trốn rồi ư? Hay bị giết chết rồi?
Y mở hú hoạ một cánh cửa nào đấy rồi bước vào. Đấy là phòng làm việc của Garin. Trên thảm lăn lóc một chiếc khăn tay vo tròn lại.Gianxen nhặt lên, cảm thấy thơm mùi nước hoa của bà Lamôlơ. Y chợt nhó rằng từ phòng làm việc này có một đường ngầm dẫn đến thang máy của bộ máy phát tia chính nên chắc hẳn quanh đây phải có một cửa bí mật. Dĩ nhiên là khi những phát súng đầu tiên vừa vang lên thì bà Lamôtơ phải lao lên tháp rồi, - làm sao lại không đoán ra ngay như thế nhỉ?
Y nhìn quanh, tìm cánh cửa bí mật. Nhưng bống vang lên tiếng kính vỡ, tiếng chân người và bên kia tường có tiếng lao xao gọi nhau. Những kẻ nổi loạn đã xộc vào lâu đài. Vậy thì bà Lamôlơ đã chậm chân hay sao? Y nhẩy tới cửa và khoá lại, rút súng lục ra. Hình như cả lâu đầi đều ngập chìm trong tiếng chân người và những la hét.
- Gianxen!
Đứng trước mặt y là Dôia. Đôi môi nhợt nhạt của ả mấp máy, nhưng y không nghe thấy gì hết. Y thở hổn hển nhìn ả.
-         Chúng ta chết mất, Gianxen, chúng ta chết mất! - ả nhắc lại.
Ả mặc chiếc áo dài đen. Đôi tay hẹp nắm chắc lại của ả áp vào ngực. Mắt nhớn nhắc, ả nói:
- Thang máy của bộ máy phát tia chính không hoạt động, buồng thang máy ở trên đỉnh. Trên tháp có một người nào đó. Chúng đã từ bên ngoài leo lên theo các thanh xà. Tôi tin rằng đấy là thằng bé Ivan.
Ả bẻ ngón tay răng rắc, nhìn ra cửa. Lông mày ả nhíu lại. Ngoài cửa, hàng chục bước chân chạy rầm rập. Rồi vang lên tiếng la hét, tiếng súng nổ gấp. Dôia lanh lẹn ngồi vào bàn, mở cầu dao phát tín hiệu.
- Garin, chúng ta nguy mất. Garin, chúng ta nguy mất, - ả khom người nói vào micro.
Một phút sau, cửa ra vào rung chuyển dưới những tiếng đấm tay và đạp chân.
-         Mở cửa ra! Mở ngay ra! - nhiều giọng nói quát to.
Dôia nắm lấy tay Gianxen kéo đến tường và ấn châu vào một vòng hoa văn trang trí ngay sát sàn nhà. Một tấm panen lặng lẽ mở ra. Dôia và Gianxen bước qua lỗ cửa bí mất đó xuống đường ngầm. Tâm panen lại trở về vị trí cũ.
*
 
Ngoài bến, chiếc canô được neo lại bằng xích. Gianxen đút nòng súng lục vào vòng, cố bẻ gẫy khoá. Phía trên, trên hàng hiên, cửa mở toang và một toán người vũ trang xuất hiện. Gianxen vứt súng lục đi, nắm lấy đoạn gốc xích. Bắp thịt
0
Đánh máy: nva_85

296-313

Con đê ở khu vực gần chỗ trú thân đã được khôi phục. Trạm thủy điện bắt đâu hoạt động. Lêvi ngày nào cũng nhận được những câu hỏi nôn nóng từ đảo Vàng: trụ đón khí cầu máy đã xong chưa?
Những làn sóng điện từ bay bổng vào không gian để lao nhanh vào các máy thu, truyền đi giọng khàn khàn giận dữ của Garin: “Nếu một tuần nữa mà bãi đón không xong thì tôi sẽ phái khí cầu máy đi và ra lệnh bắn chết anh, anh nghe thấy chứ, Vônsin?”.
Tại trạm trú đóng cạnh chân núi lửa, công việc diễn ra hối hả, tất bật: nào phát quang diện tích rộng, nào đốn những cây thông to làm trụ chống, nào dựng một chiếc tháp cao hai mươi năm met, nóc nhọn dần, trên ba chân chống chôn sâu vào đất.
Ai cũng làm việc cật lực, nhưng người hối hả và xúc động nhất là Manxép. Ông ta đã ăn thỏa thích suốt thời gian qua, người khỏe hơn một chút, nhưng hình như đầu óc hơi lần thẩn. Có những ngày ông ta dường như quên bẵng hết, thờ ơ với mọi thứ và hai tay ôm mái tóc rối bù, ngồi lặng lẽ trên tầm ván nằm. Hoặc ông ta bảo Ivan:
- Cháu có muốn bác chỉ cho cháu thấy những thứ mà chưa bao giờ có một ai nhìn thấy không?
Và thế là hai người bắt đầu leo lên miệng núi lửa.
Dàn trụ chống đã xây xong, bên trên, giữa những tảng đá lớn là một bụi cây cong queo, cao hơn nữa chỉ thấy những khối đá đen phủ rêu mốc và đôi chỗ phủ cả tuyết nữa.
Rìa miệng núi lửa cao lên thành những mép răng cưa dốc đứng, trông tựa những bức tường đổ nát của một khán đài xiếc khổng lồ. Nhưng Manxép thông thạo từng khe hẻm ở nơi đây. Ông ta vừa thở hổn hển vừa lần theo đường chữ chi từng bậc này đến bậc khác, luôn luôn phải ngồi nghỉ. Chỉ có một lần thôi, vào một ngày êm ả rực nắng, họ leo lên được đến tận rìa núi lửa.
- Ở kia, - Manxép nói và đưa những ngón tay co quắp chỉ một khối hình nón đang tạo khói, - ở kia là vực thẳm dẫn xuống lòng đất, nơi con người không thể nhìn thấy được … Bác đã ném những cục thuốc nổ pirôxilin xuống đấy, và khi nghe thấy tiếng nổ ở dưới đấy thì bác bấm đồng hồ giây, tính toán độ sâu theo tốc độ cua âm thanh. Bác đã nghiên cứu những khí thoát ra và phát hiện thấy trong quang phổ của khí đó có những vạch ăngtimon, thủy ngân, vàng và nhiều kim loại khác. Cháu hiểu chứ, Ivan?
- Vâng, bác cứ nói tiếp đi…
- Làn ánh sáng kia là bắt nguồn từ độ sâu bảy nghìn mét đấy. Tại đó, vàng và thủy ngân sôi sùng sục và bốc hơi, cháu cũng hiểu chứ?
- Vâng.
Bãi đón khí cầu máy đã xây dựng xong. Đảo Vàng báo tin rằng khí cầu máy đã cất cánh, mặc dù phong vũ biểu chỉ thời tiết rất xấu.
Suốt trong những ngày cuối cùng này, Lêvi thường mời Manxép đến để chuyện trò về những phát minh kỳ diệu của ông ta. Y ngồi trên tấm ván nằm, hơi xa các công nhân, rút chai rượu ra và pha vào trà cho Manxép. Y cố nói khẽ, dịu dàng, âu yếm. Nhưng Manxép hình như đã phát điên…
- Ông Lêvi ạ, ông đừng tìm cách đánh lừa tôi nữa. Các tài liệu, giấy tờ của tôi, các công thức của tôi, các bản thiết kế khoan sáu của tôi cũng như các tập nhật ký của tôi đều đã cho vào hộp sắt, hàn kín lại và đem giấu ở một nơi chắc chắn..Tôi sẽ bay đi, còn những thứ đó sẽ ở lại đây, không một ai, kể cả Garin, sẽ nhận được những tài liệu ấy. Dù có tra tấn tôi chăng nữa, tôi cũng không đưa ra đâu…
- Bác cứ yên tâm, bác Manxép ạ, bác làm việc cùng những người tử tế cả.
- Tôi không ngu ngốc lắm đâu. Garin cần những công thức của tôi… Tôi cần cuộc sống của tôi. Tôi muốn ngày nào cũng được tắm nước thơm, được hút thuốc lá đắt tiền, được uống bia ngon… Tôi sẽ lắp răng giả và sẽ nhai kẹo sôcôla… Tôi cũng muốn vinh quang chứ?... Quỷ tha ma bắt tất cả các ông cùng với Garin đi…
- Bác Manxép, đến đảo Vàng, bác sẽ được sống cuộc sống như đế vương vậy…
- Thôi đi ông… Tôi biết Garin lắm… Garin căm ghét tôi bởi vì con người anh ta hoàn toàn do tôi nhào nặn nên… Nếu không có tôi, anh ta sẽ chỉ là một thằng bịp bợm hạng bét… Cái ông sẽ chở đi bằng khí cầu máy sẽ là bộ óc thiên tài của tôi chứ không phải những cuốn vở ghi chép các công thức của tôi.
Chú bé Ivan dỏng tai nghe những đoạn đứt quãng của các câu chuyện này. Vào đêm hoàn thành việc xây dựng bãi đón khí cầu máy, em bò đến bên Manxép đang mở mắt nằm yên và thì thầm tận tai ông ta:
- Bác Manxép ạ, thây kệ bọn chúng. Ta nên đi Lêningrát là hơn… Cháu và chú Taraskin sẽ chăm nom bác chu đáo… sẽ lắp răng giả cho bác… sẽ tìm cho bác một nơi ở tử tế. Bác việc gì phải bám lấy bọn tư sản cơ chứ…
- Không được đâu, Ivan a, bác là người bỏ đi rồi, những ước muốn của bác quá mãnh liệt, - Manxép đáp, ánh mắt vẫn nhìn trần nhà. – Trí tưởng tượng điên rồ của bác đã sôi sùng sục suốt bảy năm rồi dưới cái mái nhà khôn khiếp này, bác không muốn đợi thêm một ngày nào nữa…
Ivan đã hiểu từ lâu về thực chất của “đoàn thăm dò Pháp” này, do đó chú chăm chú lắng nghe, quan sát và rút ra kết luận riêng của chú.
Giờ đây, chú theo dõi từng cử chỉ của Manxép và vào đêm cuối này, chú không ngủ, mỗi khi mắt chú bắt đâu díp lại là chú lại chọc lông chim vào lỗ mũi hoặc véo cho mình một cái thật đau.
Lúc rạng sáng, Lêvi giận dữ choàng áo khoác quấn khăn kín cổ rồi đi đến trạm phát sóng trong hầm ngay bên cạnh, Ivan không rời mắt khỏi Manxép, Lêvi vừa bước ra thì Manxép lập tức nhìn quanh xem mọi người có ngủ không, rồi ông ta thận trọng bước xuống đất, lần vào góc tối, ông ta quay lại, bỏ thêm củi vào lò. Khi lửa cháy bùng lên, ông ta lại đi vào góc nhà.
Ivan đã đoán ra được chỗ ông ta nhìn… Em vứt đi chiếc lông chim vẫn dùng để chọc vào lỗ mũi cho tỉnh, nằm nghiêng người, chùm chăn kín đầu và lập tức ngủ thiếp đi.
Cơn bão tuyết vẫn không ngớt. Suốt hai ngày đêm nay, chiếc khí cầu máy đồ sộ treo lơ lửng trên khoảng rừng trống, tựa mũi vào hàng trụ của bến đón. Phi hành đoàn phải vất vả lắm dọn sạch tuyết bám vào thành.
Viên đoàn trưởng phi hành đoàn khom người, gọi to với Lêvi đừng ở dưới:
- Ông Lêvi, ông làm cái trò gì thế? Phải bay đi thôi… Mọi người kiệt sức rồi.
Lêvi rít răng đáp:
- Tôi vừa nói chuyện với đảo một lần nữa. Đảo ra lệnh phải chở thằng nhãi đi bằng bất cứ giá nào…
- Trụ chống không chịu nổi nữa đâu …
Lêvi chỉ nhún vai. Dĩ nhiên, vấn đề đâu phải ở Ivan. Đêm qua, chú mất tích… Khi biết tin ấy, Lêvi phủi tay:
- Không quan trọng.
Nhưng câu chuyện hóa ra nghiêm trọng hơn nhiều.
Manxép là người đầu tiên leo vào khoang khí cầu máy. Một phút sau, lo lắng một việc gì đó, ông ta leo theo chiếc cầu thang nhòm xuống đất và tập tễnh đi vào nhà. Ngay lập tức, từ trong nhà vang ra tiếng gào thét tuyệt vọng của ông ta. Ông ta điên cuồng vung hai tay lên:
- Chiếc hộp sắt của tôi đâu rồi? Ai đã lấy mất những tài liệu của tôi?... Mày, mày ăn cắp của tao phải không, thằng khồn khiếp?
Manxép nắm lấy cổ áo Lêvi lắc mạnh làm chiếc mũ của y bay vèo đi…
Thế là đã rõ: những công thức vô giá , mục đích của chiếc khí cầu máy được phái đến đây, đã bị thằng nhãi trời đánh thánh vật kia cuỗm đi mất, Manxép lồng lộn:
- Những tài liệu của tôi! Những công thức của tôi! Tôi làm sao viết lại được nữa!... Tôi biết đưa cho Garin cái gì đây? Tôi dã quên hết rồi!
Lêvi lập tức ra lệnh đuổi bắt chú bé. Mọi người càu nhàu. Nhưng vẫn có mấy người đồng ý, Manxép dẫn họ đi. Lêvi ở lại, cắn cắn móng tay. Một lúc lâu sau, hai người trong số những người đi đuổi bắt trở lại.
Tuyết rơi ghê quá, không thể nào bước nổi.
- Các anh giấu Manxép đâu? – Lêvi thét to.
- Ai biết được… Lão ta trốn rồi.
- Đi tìm Manxép ngay. Tìm thắng bé ngay… Ai bắt được sẽ được thưởng một vạn đồng tiền vàng.
Mây đen che kín bầu trời. Đêm đến, gió mạnh dần. Viên đoàn trưởng phi hành đoàn lại dọa sẽ bay đi.
Cuối cùng, từ phía đám người đi đuổi bắt chú bé, một người cao lớn xuất hiện, áo ngoài phủ đầy tuyết, hai tay ẵm Ivan. Lêvi chạy bổ đến, tháo găng tay ra, luồn tay vào ngực áo chú bé. Ivan dường như đang ngủ, hai bàn tay cứng đờ của em áp chặt hộp sắt nhỏ vào ngực.
- Còn sống, còn sống, chỉ bị cóng một chút thôi, - người cao lớn nói. – Ta đưa nó lên chứ? – Và không đợi trả lời, ông ta ẵm Ivan vào khoang khí cầu máy.
- Thế nào? – viên đoàn trưởng phi hành đoàn hỏi vọng xuống. – Ta bay chứ?
Lêvi lưỡng lự ngước nhìn lên:
- Các anh sẵn sàng bay chưa?
- Xong hết rồi. – viên đoàn trưởng trả lời.
Lêvi lại ngoái nhìn một lần nữa về phía Manxép ra đi lúc nãy. Mây đen dầy đặc, tuyết bay lả tả. Dù sao thì các công thức cũng nằm trên khí cầu máy rồi.
- Ta bay thôi. – y vừa nói vừa trèo lên thang.
Động cơ nổ ầm ầm. Cánh quạt bắt đầu quay.
Đúng lúc đó, Manxép chạy vùng ra từ trong màn báo tuyết. Gió thổi dựng mái tóc ông ta lên. Hai tay giang ra của ông ta cố bám lấy khí cầu máy.
- Gượm đã!... Gượm đã! – Ông ta khàn khàn hét lên. Khi chiếc thang nhôm đã rời khỏi mặt đất chừng một mét, ông ta bám được bậc cuối cùng. Một vài người nắm lấy áo ông ta kéo lại. Ông ta đạp họ ra. Chiếc khí cầu máy chao đảo. Động cơ nổ inh tai. Cánh quạt giận dữ gầm rít. Chiếc khí cầu máy bay lên cao, vào những đám tuyết cuồn cuộn.
Manxép bíu vào bậc thang cuối. Ông ta bị kéo bổng lên. Ở dười đất có thể nhìn thấy hai chân dạng ra của ông ta và vạt chiếc áo bay phần phật.
Ông ta bay được bao xa và bay đến độ cao nào thì ngã xuống – điều đó thì những người đứng ở dưới không thể nhìn thấy được.

92

Khom người qua ô cửa sổ chiếc khoang khí cầu máy bằng nhôm, Dôia nhìn qua ống nhòm. Chiếc khí cầu máy bay chầm chậm, vẽ thành một vòng tròn trên bầu trời xanh thẳm. Phía dưới, cánh một nghìn mét, là đại dương trong xanh trải rộng mênh mông. Ở giữa là hòn đảo có hình dạng không cân đối mà từ trên cao, trông tựa như Châu Phi thu nhỏ lại.
Những chiếc tàu chở hàng thả neo ven bờ, Dôia đếm được hai mươi bồn chiếc – chúng tựa như đàn bọ hung đang ngủ trên mặt nước.
Hòn đảo bị cắt ngang dọc bởi những con đường mảnh như sợi chỉ - chúng tụ lại ở phần núi đá mạn Đông – Bắc đảo, nơi lấp lánh những mái nhà bằng kính. Đó là tòa lâu đài đang xây dở với ba hàng hiên chạy về phía sóng nước của một vịnh cát nhỏ.
Ở mạn Nam đảo thấp thoáng những công trình, những nhà cửa, những cần cẩu, những đường ray, những toa tầu nhỏ chạy đi chạy lại. Hàng chục động cơ gió quay tít. Khói bốc lên ngùn ngụt từ ống khói các nhà máy điện và các trạm bơm nước.
Giữa những công trình đó là miệng giếng mỏ hình tròn hiện lên đen đen. Tại đây, công việc chia làm sáu ca, diễn ra suốt ngày đêm: Garin đang đục thủng lớp bọc đá của vỏ trái đất. Sự táo tợn của y gần như là sự điên rồ. Dôia nhìn đám mây hơi nước trên giếng mỏ, chiếc ống nhòm rung rung trong bàn tay rám nắng của ả.
Mới nửa năm trước, hòn đảo còn là một bãi trống không, chỉ có cỏ gai và đá. Các con tầu đã đổ lên đảo hàng nghìn tấn phân hóa học, người ta đã đào các giếng phun và chở đến rất nhiều cây cối.
Từ trên cao, Dôia ngắm nhìn mảnh đất cô độc giữa đại dương, nay lấp lánh, rực rỡ, giữa những lớp bọt sóng trắng phau. Ả ngắm nhìn hòn đảo như một phụ nữ cầm trong tay một thứ đồ quý báu

93

Có bảy kỳ quan trên thế giới. Nhưng ký ức nhân dân chỉ truyền lại cho chúng ta có ba kỳ quan: đền thờ nữ thần Điana ở Êphétxơ, khu vườn treo ở Babilon và pho tượng khổng lồ bằng đồng ở Rôđôxơ. Về những kỳ quan khác thì kỷ niệm đã bị chìm xuống đáy Đại Tây Dương.
Kỳ quan thứ tám, như Dôia ngày nào cũng nhắc đi nhắc lại phải là chiếc giếng mỏ trên đảo Vàng. Trong bữa ăn tại tòa lâu đài vừa xây dựng xong, với những cửa sổ lớn mở rộng đón gió đại dương, ả đã nâng ly nói:
- Chúc mừng kỳ quan của chúng ta, chúc mừng thiên tài và đầu óc táo bạo!
Tất cả đám người tinh hoa của hòn đảo đều đứng dậy chúc mừng Dôia và Garin. Ai cũng bị nhiễm không khí khẩn trương của công việc và của những ý đồ gần như huyền hoặc. Mặc cho bọn người ở các đại lục cứ việc làm om xòm lên về việc vi phạm pháp luật. Chẳng việc gì phải để ý đến chúng. Ở đây, giếng mỏ ngày đêm ầm ĩ, các gầu xúc ngày đêm hoạt động ầm ầm, ăn sâu mãi vào lòng đất, tiến sâu mãi về phía những trữ lượng vàng vô tận. Những mỏ sa khoáng ở Xibia, những khe xói ở Caliphonia, những bãi tuyết mênh mông ở Clôđaica – tất cả đều là trò trẻ. Vàng ở đây ngay dưới chân, tại bất kỳ chỗ nào, miễn là xuyên qua được các lớp đá hoa cương và vòng đai Ôlivin sôi sùng sục.

94

Mép phía trên của giếng mỏ được bọc một lớp vỏ thép. Những ống xilanh liền khối làm bằng thép khô nóng chảy được hạ dần xuống giếng theo mức sâu của nó. Chúng xuống đến chỗ nhiệt độ trong giếng mỏ tăng lên tới ba trăm độ. Tình huống đó xảy ra bất ngờ, đột ngột, tại độ sâu năm cây số.
Một kíp nhân công bị chết và hai bộ máy phát tia bị thiêu hủy ở đáy giếng mỏ.
Garin bực bội. việc hạ các ống xilanh và hàn chúng với nhau làm chậm trễ công việc. Giờ đây, khi thành giếng bị nung nóng, nó được làm mát bằng không khí nén và khi nguội đi thì bản thân thành giếng cũng tạo thành một lớp bọc vững chắc.
Đường kính giếng mỏ không lớn lắm – chỉ độ hai mươi mét. Bên trong giếng là một hệ thống phức tạp gồm những đáy thông thơi, những thiết bị chống, những mạng dây dẫn, những bệ để bộ phận vận chuyển và những bệ đặt các máy chế không khí lỏng và các bộ máy phát tia.
Tất cả các thiết bị, máy móc ấy đều chạy bằng điện. Ở hai bên thành giếng mỏ có đục nhiều hang làm kho chứa máy móc và làm chỗ nghỉ ngơi cho công nhân. Để giảm bớt gánh nặng cho giếng mỏ chính, Garin ra lệnh đào một giếng mỏ thứ hai, song song với giếng mỏ chính và có đường kính sáu mét – nó nối liền các hang với nhau bằng những thang máy chay với tốc độ cực nhanh.
Phần quan trọng nhất của công việc là khoan giếng. Việc khoan giếng được thực hiện bằng tác động đồng bộ của các tia do các bộ máy phát tia phát ra, của việc làm nguội bằng không khí nén và của việc múc đất đá lên bằng máy nâng. Mười hai bộ máy phát tia có cấu tạo đặc biệt liên tục xuyên thủng và làm nóng chảy các lớp đất đá, những đất này lập tức được dòng không khí lỏng làm mát đi, tan vụn ra và tràn vào những gầu xúc của các máy nâng.

95

Tòa lâu đài ở phần Đông – Bắc đảo Vàng được xây dựng theo những kế hoạch đầy hoang tưởng của Dôia.
Đó là một công trình đồ sộ bằng thủy tinh, thép, đá màu huyết dụ và đá hoa, gồm năm trăm phòng to phòng nhỏ. Phần mặt trước với hai dẫy cầu thang xây bằng đá hoa nhô hẳn ra biển. Sóng biển vỗ vào các hàng bậc và trụ chống quanh hai cầu thang, nơi thay cho những pho tượng và những chiếc độc bình thông thường là bốn ngọn tháp bằng đồng, có chấn song bao kín, nặng bốn khối trụ mạ vàng, mà bên trong đặt những bộ máy phát tia đã nạp điện sẵn đe dọa những cửa ngõ từ phía đại dương tiến vào.
Hai chiếc cổng bằng đồng dẫn vào trong hòn đảo. Đó vừa là ngôi nhà vừa là pháo đài. Bên cạnh, trên núi đá, sừng sững một ngọn tháp có chấn song, cao trăm rưỡi mét, được nối bằng lối ngầm với phòng ngủ của Garin. Trên mặt bằng cao ở đỉnh tháp có bố trí những bộ máy phát tia cực mạnh. Một thang máy bọc thép chạy từ mặt đất đến đỉnh tháp chỉ trong vài giây. Tất cả mọi người, ngay cả Dôia, đều bị cấm ngặt không được đến gần chân tháp. Đó là pháp lệnh đầu tiên của đảo Vàng.
Bên cánh trái tòa lâu đài là dãy phòng của Dôia, còn bên cánh phải là dãy phòng của Garin và Rôlinh. Không một ai được sống ở đây nữa. Tòa lâu đài dành cho những lúc mà một kẻ người trần mắt thịt nào đó được hưởng vinh dự lớn lao là được mời đến dảo Vàng để chiêm ngưỡng khuôn mặt đẹp lộng lẫy của nữ chúa tể thế giới.
Dôia đã chuẩn bị để đóng vai trò này. Công việc ngập đầu ả. Ả soạn thảo một bộ luật về nghi thức: lúc dậy buổi sáng, những cuộc đi dạo, những buổi chiêu đãi lớn nhỏ, những bữa ăn, những hội hóa trang, những cuộc vui chơi giải trí. Tính cách diễn viên của ả được bộc lộ rộng rãi. Ả thích nhắc đi nhắc lại rằng ả sinh ra là để biểu diễn trên sân khấu cáo quy mô toàn thế giới.
Ngoài hai điều luật có tính chất nội bộ ở lâu đài này ả còn cùng Garin soạn thảo “Bộ luật thế kỷ Hoàng Kim” – bộ luật của nhân loại tương lai. Nhưng đó mới chỉ là những đề án chung và những tư tưởng chính mà về sau còn phải được các nhà luật học hoàn chỉnh.
Garin bận tối mắt. Y thường trở về thẳng từ giếng mỏ, mệt rã rời, bẩn thỉu, người sặc mùi đất và mùi dầu máy. Y vội vã ăn uống rồi ngả người trên chiếc đi văng nhung, hối hả hút thuốc, nhả khói mù mịt (y được phép không phải tuân theo nghi thức, những thói quen của y là thiêng liêng và không ai được bắt chước).
Để tham khảo ý kiến về một vài vấn đề, người ta mời thêm Rôlinh. Y sống trong một dãy phòng lộng lẫy nhưng chưa xây xong hẳn. Y chỉ ra ngoài vào bữa ăn. Ý chí và niềm kiêu hãnh của y đã bị bẻ gãy. Y gầy xọp đi trong nửa năm qua. Y sợ Garin, y tránh mặt đối mặt với Dôia. Không ai biết y làm gì trong những ngày dài đằng đẵng ấy, mà cũng chẳng ai quan tâm đến chuyện đó. Người ta đồn là y bắt đầu ham mê sưa tập các tẩu thuốc.
Ý chí y bị bẻ gẫy không phải vì y bị mất trăm triệu đô la, không phải vì y bị giam giữ trên đảo Vàng và thậm chí không phải vì sự phản bội của Dôia. Hai mươi lăm năm trước đây, y đã từng bán xi đánh giày trên hè phố. Y biết cách chiến đấu và ưa thích chiến đấu. Y đã dồn biết bao nỗ lực, tài năng và ý chí để vàng chảy như suối vào két sắt của công ty “ Anilin Rôlinh”.
Vậy mà đột nhiên cái thứ vàng ấy, cái thước đo sức mạnh và hạnh phúc ấy, lại sẽ được múc lên như đất sét, như đất bùn, và múc lên bao nhiêu …… Và thế là Rôlinh cảm thấy hẫng chân, cảm thấy mình không còn là chúa tể của thiên nhiên. Chỉ còn một cách là đi sưu tập tẩu thuốc thôi.
Nhưng theo lời yêu cầu của Garin, y vẫn ra lệnh hàng ngày qua đài phát sóng cho ban giám đốc công ty “Anilin Rôlinh”. Những câu trả lời của họ rất mơ hồ. Ngày càng rõ ràng rằng ban giám đốc của y không tin vào việc y tự nguyện sống biệt lập trên đảo Vàng. Họ hỏi y:
“Cần phải làm gì để đưa ngài trở lại lục địa?”
Y trả lời:
“Đợt điều trị chứng rối loạn tinh thần đang đem lại kết quả tốt đẹp”.
Theo lệnh y, các ngân hàng xuất thêm năm triệu bảng Anh nữa. Nhưng hai tuần sau, khi y lại ra lệnh xuất một số tiền như vậy, thì mấy nhân viên của Garin bị bắt lúc xuất trình tờ séc của Rôlinh. Đó là tín hiệu đầu tiên báo hiệu cuộc tiến công của lục địa vào đảo Vàng. Một hàm đội gồm tám tuần dương hạm tuần tiếu trên Thái Bình Dương, gần hai mươi hai độ vĩ Bắc mà một trăm ba mươi độ kinh Tây, đang sẵn sàng chờ mệnh lệnh chiến đấu.

96

Sáu ngàn công nhân viên chức của đảo Vàng được tuyển mộ từ khắp các lục địa. Viên phụ tá số một của Garin là kỹ sư Sécmắc được phong chức tổng trấn và chịu trách nhiệm phân bố sức lao động theo thành phần dân tộc tại mười lăm khu vực có hàng rào dây thép gai ngăn cách với nhau.
Đề biện minh cho các đường ranh giới bằng dây thép gai này trước mặt mọi người, Sécmắc tổ chức một đội khiêu khích gồm mười lăm tên. Chúng có nhiệm vụ thổi bùng lên sự thù hằn giữa các công nhân thuộc các dân tộc khác nhau: vào ngày thường chúng khiêu khích có chứng mực, nhưng vào các ngày hội hè thì chúng gây những vụ khiêu khích đến mức ẩu đả nhau.
Cảnh sát trên đào toàn là bọn cựu sĩ quan bạch vệ. Chúng có nhiệm vụ duy trì trật tự, không cho phép các công nhân thuộc các dân tộc khác nhau giết hại lẫn nhau.
Công nhân được trả lương cao hơn nhiều so với tiến lương trên lục địa. Một số gửi tiền về nước theo chuyến tầu sắp đến, một số khác giữ lại. Chẳng có chỗ nào mà chi tiêu, bởi vì vào những ngày hội, tại một khu hẻo lánh trên bờ biền phía Đông – Nam, mới mở các quán rượu và nơi vui chơi.
Các công nhân biết rõ chiếc giếng mỏ khổng lồ kia đi sâu mãi vào lòng đất để làm gì. Garin tuyên bố với mọi người là khi thanh toán mọi khoản, y sẽ cho phép mỗi người được quyền mang theo bao nhiêu vàng cũng được, miễn là mang theo nổi. Và trên đảo không có người nào lại không xúc động khi nhìn những băng chuyền thép chuyển đất đá từ lòng đất ra ngoài biển, lại không say sưa với đám khói vàng nhạt lơ lửng trên miệng giếng mỏ.

97

- Thưa các ngài, đã đến giờ nghiêm trọng nhất trong công việc của chúng ta. Tôi đã dự kiến và đã chuẩn bị xong xuôi, nhưng dĩ nhiên không vì thế mà nguy hiểm giảm bớt. Chúng ta đã bị phong tỏa. Tôi vừa nhận được tin là hai chiếc tàu của chúng ta, hai chiếc tầu chất đầy sắt định dùng để củng cố giếng mỏ cùng với đồ hộp và thịt cừu ướp lạnh đã bị một tuần dương hạm Mỹ bắt giữ và tịch thu. Điều đó nghĩa là chiến tranh đã bắt đầu. Bất cứ giờ phút nào cũng có thể nhận được lời tuyên chiến chính thức. Một trong những mục tiêu cần nhất của tôi là chiến tranh. Nhưng nó đã nổ ra sớm hơn dự tính của tôi. Những kẻ trong lục địa quá nôn nóng. Tôi thấy trước kế hoạch của họ: họ sợ chúng ta, họ sẽ cố làm cho chúng ta bị chết đói. Tôi xin thông báo là lương thực phẩm trên đảo đủ cho hai tuần lễ, không kể súc vật. Trong mười bốn hôm sắp tới, chúng ta sẽ phải chọc thủng vòng vây và đem đồ hộp về đây. Nhiệm vụ thật khó khăn, nhưng có thể thực hiện được. Ngoài ra, những nhân viên của tôi đem séc của Rôlinh đi lấy tiền đều đã bị bắt. Ngân quỹ chúng ta trống rỗng. Ba trăm năm mươi triệu đô la đã tiêu hết và nếu chúng ta trả bằng séc thì công nhân sẽ nổi loạn và ngăn chặn bộ máy phát tia. Chắc hẳn trong vòng bảy ngày chúng ta phải kiếm được tiền.
Phiên họp diễn ra vào lúc sẩm tối trong căn phòng làm việc chưa xây xong hẳn của Garin. Những người tham dự là Sécmắc, kỹ sư Sêpho, Dôia, Senga và Rôlinh. Như thường thấyy vào những giây phút nguy hiểm và căng thẳng tâm trí, Garin vừa nói vừa mỉm cười giễu cợi, người lắc lư trên đế giày, hai tay đút túi. Dôia chủ tọa, tay cầm chiếc búa nhỏ. Sécmắc vóc người nhỏ bé, tính tình nóng nảy, mắt đỏ mọng, y hằng giọng rồi nói:
- Điều luật thứ hai của đảo Vàng viết rằng không một ai được âm mưu tìm hiểu bí mật của cấu tạo bộ máy phát tia. Bất kỳ người nào, dù chỉ chạm vào lớp vỏ bộ máy ấy, đều sẽ bị tử hình.
- Đúng thế, - Garin xác nhận, - pháp luật là như vậy.
- Để hoàn thành tốt đẹp những công việc ông vừa nêu ra thì ít nhất cũng phải có ba bộ máy phát tia đồng thời hoạt động: một chiếc để lấy tiền, một chiếc để chọc thủng vòng phong tỏa và một chiếc đẻ bảo vệ đảo… Ông sẽ phải có hai người phụ tá được quyền vi phạm điều luật trên.
Mọi người im lặng. Đám đàn ông nhìn theo làn khói xì gà. Rôlinh mải mê hít tẩu thuốc. Dôia quay đầu về phía Garin. Y nói:
- Được. (Y làm một động tác buông thả). Hay công bố đi: điều luật thứ hai sẽ không áp dụng cho hai người trên đảo: bà Lamôlơ và …
Y vui vẻ cúi người qua bàn và vỗ vai Senga:
- Ông Senga sẽ là người thứ hai được tôi cho biết bí mật của bộ máy phát tia…
- Anh nhầm rồi, anh bạn a, - Senga vừa trả lời vừa hất tay Garin khỏi vai. – Tôi từ chối.
0
Đánh máy:Piyenmingo = 314-335.


– Lý do?
– Tôi không việc gì phải giải thích. Anh cứ nghĩ rồi sẽ đoán ra được.
– Tôi trao cho anh nhiệm vụ tiêu diệt hạm đội Mỹ.
– Chịu, tôi không thể làm được?
– Tại sao chứ?
– Tại sao ấy ư?... Bởi vì đường trơn lắm !...
– Cẩn thận đấy, Senga…
– Tôi đang cẩn thận đây.
Bộ râu của Garin vểnh lên, hàm răng trắng bóng. Y cố kìm mình, hỏi khẽ:
– Anh đã mưu tính chuyện gì phải không?
–  Đường lối của tôi là đường lối công khai. Tôi không giấu giếm điều gì hết.
Cuộc trao đổi ngắn ngủi này được tiến hành bằng tiếng Nga. Ngoài Dôia, không một ai hiểu nổi.
Senga lại bắt đầu vẽ những hình ngoằn ngoèo trên giấy. Garin nói:
– Như vậy, tôi chỉ định một người làm phụ tá trong việc điều khiển các máy phóng tia. Nếu bà đồng ý hì ngày mai bà sẽ ra khơi…
- Tôi sẽ phải làm gì ngoài biển? – Dôia hỏi.
– Đánh cướp tất cả các con tàu xuất hiện trên tuyến đường xuyên Thái Bình Dương. Một tuần nữa chúng ta phải trả tiền cho công nhân rồi.
98
Vào lúc hai mươi hai giờ, trên chiếc tuần dương hạm chỉ huy thuộc hạm đội Bắc Mỹ, người ta nhận thấy một vật thể lạ bên trên chòm sao Chữ Thập Nam.
Những tia đèn chiếu xanh xanh như đuôi sao chổi, rạch ngang bầu trời đầy sao, lồng lộn và tụ vào vật thể lạ. Nó sáng bừng lên. Hàng trăm kính viễn vọng quan sát thấy một chiếc khí cầu máy cùng những vòng cánh quay trong suốt và hai chữ cái P và G hiện rõ trên thành khí cầu máy.
Những đèn tín hiệu nhấp nháy trên các con tàu. Từ tuần dương hạm chỉ huy, bốn thuỷ phi cơ cất cánh và gầm rú bay lên cao. Cả phi đội tăng tốc, bay theo đội hình hàng một.
Tiếng máy bay mỗi lúc một nhỏ dần. Đột nhiên, chiếc khí cầu máy mà bốn máy bay lao tới bỗng biến mất. Nhiều kính viễn vọng được lau chùi kỹ bằng khăn tay. Nhưng chiếc khí cầu máy đã mất tích trong bầu trời đêm, dù các ngọn đèn chiếu đã ra sức sục sạo.
Nhưng rồi lại yếu ớt vọng đến tiếng súng máy: họ đã tìm ra được. Tiếng súng đứt quãng, một chấm sáng rực chao đảo, rơi xiên xuống. Những người nhìn qua kính viễn vọng ồ lên ngạc nhiên: đây là một chiếc thuỷ phi cơ đâm đầu xuống biển. Chuyện gì xảy ra vậy?
Rồi các khẩu súng máy lại nhả đạn liên tục trên bầu trời, rồi tiếng súng lại tắt ngấm và ba chiếc thuỷ phi cơ lần lượt lộn nhào xuống qua các tia đèn chiếu rồi đâm sầm xuống biển. Các ánh đèn tín hiệu lại nhảy nhót trên tàu chỉ huy. Những ánh lửa nhấp nháy tàn sát chân trời: có chuyện gì xảy ra vậy?
Sau đó, mọi người nhìn thấy ngay trên đầu là một đám mây đen rách nát bay ngược chiều gió, cắt ngang đội hình hàng một của đoàn tàu. Đó là chiếc khí cầu máy đang bay thấp xuống, bị một màn khói phủ kín. Tàu chỉ huy phát đi tín hiệu: “Hãy cẩn thận, hơi độc! Hãy cẩn thận, hơi độc!” Pháo cao xạ gầm lên. Và ngay lập tức, những quả bom hơi độc rơi tới tấp xuống boong tàu, cầu chỉ huy và tháp bọc thép, rồi nổ tung.
Người thiệt mạng đầu tiên là đô đốc chỉ huy đoàn tàu. Một thanh niên tuấn tú hai mươi tám tuổi, vì kiêu hãnh nên không chịu đeo mặt nạ, ôm lấy cổ và ngã lộn nhào, khuôn mặt phồng lên, xanh tím. Trong một vài giây, tất cả những ai có mặt trên boong tàu đều bị chết ngạt – mặt nạ phòng hơi độc tỏ ra ít hiệu quả. Tàu chỉ huy đã bị tấn công bằng một thứ hơi độc lạ.
Quyền chỉ huy được trao cho viên phó đô đốc. Đoàn tuần dương hạm nhất tề sử dụng hoả lực cao xạ. Ba loạt đạn làm rung chuyển đêm tối. Ba ánh chớp loé từ các khẩu đội phát ra làm nhuộm đỏ đại dương. Ba đàn quỉ thép kêu vun vút, bay thẳng lên nhưng chẳng biết nhắm vào đâu, nổ tung rồi chiếu sáng rực bầu trời đầy sao.
Tiếp theo mấy loạt cao xạ là sáu chiếc thuỷ phi cơ cất cánh, toàn bộ các phi hành đoàn đều đeo mặt nạ phòng hơi độc. Rõ ràng là bốn thuỷ phi cơ đầu tiên đã bị tiêu diệt khi bay vào bức màn khói độc của khí cầu máy. Bây giờ vấn đề là danh dự của hạm đội Mỹ. Cả đoàn tàu đều tắt hết đèn. Chỉ còn các ngôi sao trên trời. Trong đêm tối nghe rõ tiếng sóng vỗ vào mạn tàu và tiếng phi cơ gầm rú trên cao.
Cuối cùng, từ phía làn sương mù lấp lánh bạc của dải Ngân Hà đã thấy vọng đến tiếng súng nổ liên hồi. Rồi dường như ở đó có tiếng mở nút chai. Đó là khởi đầu cuộc tiến công bằng lựu đạn. Trên đỉnh đầu, một đám mây đang cuồn cuộn bốc lên bỗng rực sáng một thứ ánh sáng mầu nâu sẫm, từ trong đám mây ấy một vệt tựa như điếu xì gà bằng kim loại nhảy bật ra, chúc nghiêng chiếc mũi tù. Dọc theo sườn phía trên của nó là những lưỡi lửa nhảy nhót. Nó lao xiên xuống dưới để lại đằng sau một chiếc đuôi lấp lánh, và sau khi bốc cháy rừng rực, biến mất ở chân trời.
Nửa giờ sau, một thuỷ phi cơ báo cáo là đã hạ thấp cạnh chiếc khí cầu máy đang cháy và dùng súng máy bắn chết tất cả những người bên trong và bên cạnh khí cầu máy.
Đội tàu chiến Mỹ đã phải trả giá đắt cho chiến thắng: bốn máy bay cùng toàn bộ phi hành đoàn bị tiêu diệt. Hơi độc làm chết hai mươi tám sĩ quan, kể cả đô đốc chỉ huy và một trăm ba mươi hai thuỷ thủ. Điều nhục nhã nhất là những chiếc tuần dương hạm tuyệt vời với hoả lực pháo súng hậu lại bị rơi vào tình trạng của lũ chim cụt cánh: kẻ địch thả sức tiến công chúng từ trên không bằng hơi độc (không hiểu là loại hơi độc gì). Nhất định phải phục thù, phải cho biết sức mạnh thật sự của pháo binh hạm tàu.
Theo tinh thần đó, viên phó đô đốc ngay đêm ấy gửi về Oasinhtơn bản báo cáo về những diễn biến của trận hải chiến. Ông ta thiết ta yêu cầu cho phép ném bom đảo Khốn Khiếp.
Sau một ngày đêm, họ nhận được trả lời của bộ trước quốc phòng: tiến đến ngay hòn đảo đã nói trên và san bằng nó cùng với sóng biển.
99
Các ngài nghĩ sao đây? – Garin vừa hỏi với vẻ thách thức vừa đặt ống nghe máy thu vô tuyến lên bàn viết. (Phiên họp diễn ra vẫn với thành phần cũ, trừ Dôia). – Các ngài thấy thế nào?... Tôi có thể chúc mừng được. Chúng ta không còn bị phong toả nữa. Hạm đội Mỹ đã được lệnh ném bom đảo Vàng.
Người Rôlinh run lên, y đứng dậy khỏi ghế bành, chiếc tẩu rời khỏi miệng y, cặp môi ám ngoét cong lên, dường như y muốn nói một điều gì đó nhưng không thốt ra nổi.
– Ông bạn già làm sao thế? – Garin hỏi. – Ông bạn quá xúc động vì hạm đội thân yêu sắp đến gần chứ gì? Ông bạn nóng lòng muốn treo cổ tôi lên cổ buồm chứ gì? Hay ông bạn sợ bị ném bom? Tất nhiên, đối với ông bạn thì thật ngu ngốc nếu bị tan xác vì đạo pháo Mỹ. Hay lương tâm ông bạn đã bắt đầu ngọ ngoạy đấy?... Dù thế nào chăng nữa thì chúng tôi cũng sẽ chiến đấu bằng tiền bạc của ông bạn.
Garin cười vang một tiếng, quay mặt đi. Rôlinh không nói một câu gì hết, buông mình xuống ghế, che bộ mặt xám ngoét bằng đôi tay run rẩy.
– Không, thưa các ngài… Không liều mạng thì chỉ có thể kiếm được theo kiểu cò con thôi. Hiện nay, chúng ta đang thực hiện một chuyến liều mạng lớn. Khí cầu máy thám thính của chúng ta đã thực hiện xuất sắc nhiệm vụ. Tôi đề nghị tất cả đứng dậy mặc niệm mười hai người đã hy sinh, trong số đó có ông Vôsin, chỉ huy trưởng khí cầu máy. Khí cầu máy đã kịp báo tin tỉ mỉ về thành phần đội tàu chiến Mỹ. Có tám tuần dương hạm loại tối tân, được trang bị bằng bốn tháp bọc theo, trong mỗi tháp có ba khẩu pháo. Sau trận chiến đấu, họ còn lại ít nhất là mươi hai thuỷ phi cơ. Ngoài ra là các khinh hạm, khu trục hạm và tàu ngầm. Nếu tính mỗi quả đạn pháo là bảy lăm triệu kilôgam hoạt năng thì một loạt đạn của toàn bộ đoàn tàu sẽ tính tròn bằng một tỷ kilôgam hoạt năng.
– Càng hay, càng hay, – Rôlinh thầm thì.
– Đừng có lầu bầu nữa, ông bạn già ạ, thật xấu hổ… Thưa các ngài, tôi quên bẵng mất một việc, chúng ta phải cảm ơn ngài Rôlinh đã có nhã ý trao cho chúng ta một sáng chế mới nhất và tạm thời còn trong vòng bí mật: đó là một thứ hơi độc tên là “Chữ thập đen”. Nhờ loại hơi độc ấy, chúng ta đã dìm xuống biển bốn thuỷ phi cơ và loại ra khỏi vòng chiến chiếc tuần dương hạm chỉ huy.
– Không, ông Garin ạ, tôi đâu có nhã ý trao cho ông “Chữ thập đen?! – Rôlinh khàn khàn kêu lên, – ông đã giơ súng đe doạ tôi, buộc tôi phải ra lệnh gửi những bình hơi “Chữ thập đen” đến đảo này đấy chứ!
Y thở hổn hển và lảo đảo bước ra. Garin bắt đầu trình bày chi tiết kế hoạch bảo vệ đảo. Ba hôm nữa chắc hẳn đoàn tàu Mỹ sẽ tiến công.
100
Chiếc “Aridôna” đã giương lá cờ cướp biển.
Điều đó hoàn toàn không có nghĩa là trên du thuyền phất phới lá cờ lãng mạn màu đen với hình sọ người và hai khúc xương bắt chéo của bọn cướp biển. Thật ra, trên chiếc “Aridôna”, chẳng có lá cờ nào được giương lên hết. Hai ngọn tháp có chấn song mà bên trong có để bộ pmáy phát tia đã khiến hình dạng nó khác hẳn mọi tàu thuyền trên trái đất. Chỉ huy du thuyền là Gianxen, cấp dưới trực tiếp của Dôia.
Dãy phòng lộng lẫy của Dôia – phòng ngủ, phòng tắm, phòng trang điểm, phòng khách – đều khoá kín. Dôia dọn lên buồng chỉ huy cùng với Gianxen. Mọi đồ đạc xa hoa trước đây – mái che lụa xanh, thảm, gối, ghế bành – đều được dọn đi.
Độ thuỷ thủ tuyển mộ hồi ở Mácxây được vũ trang đầy đủ, được cho biết rõ mục đích của chuyến ra khơi và phần thưởng khi chiếm được mỗi chiếc tàu.
101
– Báo cáo thuyền trưởng, gió sắp lên tới cấp bảy.
– Hạ buồm xuống.
– Xin tuân lệnh.
– Thay phiên gác từng giờ một.
– Xin tuân lệnh.
– Nếu thấy có ánh đèn, lập tức đánh thức tôi dậy.
Gianxen nhíu mày, nhìn đại dương mênh mông đen sẫm. Trăng chưa mọc. Sao mờ mờ. Trong suốt năm ngày đêm qua cho tàu chạy về hướng Đông – Bắc, y luôn luôn cảm thấy khắp người rạo rực một niềm hân hoan phấn chấn. Cũng phải thôi, ông cha y đã từng sống bằng nghề cướp biển kia mà. Y gật đầu với viên thuyền phó rồi bước vào buồng riêng. Căn buồng thuyền trưởng thấp, đầy đủ tiện nghi, được trần thiết bằng da và gỗ sơn bóng – nơi ở khắc khổ của người thuỷ thủ, nay tràn ngập sự hiện diện của người phụ nữ trẻ.
Trước hết là mùi nước hoa… Nữ thủ lãnh của bọn cướp biển xức nước hoa ghê gớm đến nỗi có lẽ người chết cũng phải hắt hơi. Còn trên lưng ghé thì ả vứt bừa bãi chiếc váy may bằng nỉ và chiếc áo săngđay vàng óng.
Dôia đang ngủ trên chiếc giường của Gianxen. (Suốt năm ngày qua, Gianxen cứ mặc nguyên quần áo mà ngả lưng trên chiếc đi văng nhỏ bọc da). Ả nằm nghiêng, miệng hé mở, mặt nám xạm vì gió biển! Cánh tay trần vắt sau gáy. Má đỏ hồng vì ngủ. Thật đúng là một nữ hải tặc!
Thử thách nặng nề đối với Gianxen là việc Dôia quyết định một cách táo bạo là đến ở phòng thuyền trưởng cùng với y. Xét trên quan điểm chiến đấu thì như vậy là đúng. Họ đang lao mình vào cuộc cướp bóc, rất có thể là lao vào cái chết nữa. Nếu cả hai bị bắt thì dứt khoát cả hai đều sẽ bị treo cổ lên cột buồm bên nhau.
Đứng trước căn buồng sặc mùi nước hoa, Gianxen vừa tuyệt vọng vừa hân hoan ngắm nhìn khuôn mặt yêu dấu, ngắm nhìn mối tình của y.
Chắc hẳn, nguyên nhân của mọi chuyện đó là những tên hải tặc, những tên cướp biển tổ tiên của Gianxen – những kẻ lênh đênh trên mặt biển, cách xa mảnh đất quê hương, trên những con thuyền có đuôi và mũi vồng lên tựa mào gà, có những tấm mộc dựng lên hai bên mạn và cánh buồn thẳng băng trên cột buồm bằng gỗ tần bi. Đứng bên chiếc cột buồm như vậy, tổ tiên của Gianxen đã cất tiếng hát về những làn sóng xanh biếc và những đám mây dông bão, về cô gái có mái tóc màu hạt dẻ đang đứng đợi ở bến bờ xa xôi và đăm đăm nhìn ra xa, – năm tháng qua đi, nhưng cặp mắt cô gái ấy vẫn như biển xanh, vẫn như những đám mây giông bão. Chính cái thời xa xưa đó đã khiến gã Gianxen tội nghiệp tội nghiệp trở nên mơ mộng.
Y sợ ả thức dậy. Y nhẹ nhàng bước đến đi văng, rồi nằm xuống, nhắm mắt lại. Sóng bên ngoài ầm ì. Đại dương ầm ì như hát bài ca xưa cũ về cô gái xinh đẹp. Gianxen gối đầu lên hai tay, chìm ngập trong giấc ngủ và niềm hạnh phúc.
102
– Thuyền trưởng! (Có tiếng gõ cửa). Thuyền trưởng!
– Ông Gianxen! – Giọng lo lắng của Dôia xuyên vào óc Gianxen.
Y chồm dậy, vùng ra khỏi giấc mộng vui với cặp mắt đỏ ngầu. Dôia vội vã mặc áo.
– Báo động, – ả nói, – vậy mà ông lại ngủ…
Lại có tiếng gõ cửa, tiếp đó là giọng viên thuyền phó:
- Thưa thuyền trưởng, có ánh đèn phía bên trái.
Gianxen mở toang cửa. Làn gió ẩm ướt xộc vào phổi y. Y húng hắn ho, bước lên cần chỉ huy. Đêm tối như mực. Xa xa ở bên trái có hai ánh lửa chập chờn trên sóng.
- Báo động! Tất cả lên boong! Hạ buồm xuống!
Vang lên những tiếng còi, những khẩu lệnh, Gianxen hạ lệnh:
– Rẽ sang trái! Tăng hết tốc lực thẳng tiến! Tắt đèn!
Chiếc “Aridôna” giờ đây chỉ chạy bằng động cơ, nó ngoặt gấp. Từ bên phải, ngọn sóng quay cuồng và trào lên boong. Đèn đã tắt hết. Giữa cảnh tối đen mịt mù, chiếc du thuyền rung rung, tăng tốc đến mức tối đa.
Những ánh đèn nhận thấy lúc nãy bây giờ mau chóng hiện to lên từ dưới chân trời. Một lát sau, mờ mờ hiện lên một chiếc tàu buồm lớn có hai ống khói đang nhả khói.
Dôia bước lên cầu chỉ huy. Ả đã đội lên đầu chiếc mũ len đan và quàng lên cổ chiếc khăn lông bay phần phật trước gió. Gianxen đưa ống nhòm cho ả. Ả đưa ống nhòm lên mắt, nhưng vì thuyền lắc lư mạnh nên ả phải đặt tay cầm ống nhòm lên vai y. Y nghe thấy tiếng tim đập thình thịch dưới lớp áo săngđay.
– Tiến công đi! – Ả nói và rắn rỏi nhìn sát vào mắt y.
Cách khoảng năm trăm mét thì chiếc “Aridôna” bị chiếc tàu buôn kia nhận thấy: trên tàu, người ta vẫy đèn rồi còi báo động trầm trầm rú lên. Chiếc “Aridôna” không bật đèn, không trả lời tín hiệu, cứ lao thẳng về phía chiếc tàu buồm rực sáng. Nó chạy chậm lại, bắt đầu quay mũi để tránh đụng vào nhau…
Một tuần sau, phóng viên tờ Niu Yoóc Giêrân miêu tả lại sự kiện chưa từng có này như sau:
“… Lúc năm giờ kém mười lăm thì còi báo động ré lên đánh thức chúng tôi. Hành khách tràn lên boong.  Đang ở trong phòng sáng ánh đèn nên chúng tôi cảm thấy bên ngoài tối nhưu mực. Chúng tôi nghe thấy hiệu lệnh báo động trên cầy chỉ huy và đưa ống nhòm dõi tìm trong đêm đen… Không một ai hiểu rõ chuyện gì đã xảy ra. Chiếc tàu của chúng tôi chạy chậm lại. Đột nhiên, chúng tôi nhìn thấy có một chiếc tàu lạ lùng lao thẳng về phía chúng tôi. Nó hẹp và dài, có ba cột buồm cao, hình dạng giống như loại tàu buồm lớn chạy nhanh, trên mũi tàu và đuôi tàu sừng sững hai ngọn tháp kỳ dị có chấn song… Chúng tôi lập tức cảm thấy kinh hoàng. Cách chúng tôi một trăm mét, chiếc tàu bí ẩn kia dừng lại và từ đây một giọng dữ dội nói qua loa phóng thanh bằng tiếng Anh:
 “Hãm máy! Tắt đèn đi!”
Thuyền trưởng chúng tôi đáp:
“Trước khi thực hiện mệnh lệnh, chúng tôi cần biết ai ra lệnh đã”.
Chiếc tàu kia đáp lại:
“Người ra lệnh là bà chúa đảo Vàng”.
Chúng tôi sửng sốt. Một chuyện đùa cợt chăng? Một hành động láo xược mới của Pie Hary chăng?
Thuyền trưởng chúng tôi lên tiếng:
“Tôi xin cấp cho bà chúa đảo một căn buồng bỏ không và bữa ăn sáng, nếu như bà ta đói”.
Đó là những lời trích ra từ điệu phốcxtơrốt “Chàng Hary tội nghiệp”. Mọi người trên boong cười ồ lên. Và ngay lập tức, trên chiếc tháp ở đuôi con tàu bí ẩn kia xuất hiện một tia sáng. Nó mảnh như kim đan, sáng loá mắt, từ ngọn tháp chiếu ra, không hề nhoà rộng thêm. Vào giây phút đó, không một ai nghĩ rằng trước mắt chúng tôi là thứ vũ khí khủng khiếp nhất mà con người có thể chế ra được. Chúng tôi vẫn hết sức vui vẻ.
Tia sáng vẽ thành một hình thòng lọng trong không khí rồi chiếu vào phần mũi con tàu của chúng tôi một tiếng xèo xèo ghê sợ, bùng lên ngọn lửa xanh nhất của chất thép bị cắt đứt. Người thuỷ thủ đứng ở tầng lái trên thét lên kinh hoàng. Phần mũi trên mặt nước của con tàu chúng tôi đổ sụp xuống biển. Tia sáng dâng lên, run rẩy trên cao, rồi lại hạ xuống, lướt song song trên đầu chúng tôi. Đỉnh cả hai cột buồm đổ ập xuống boong tàu. Hành khách kinh hoàng chạy về phía cầu thang tàu. Thuyền trưởng bị mảnh vỡ làm bị thương.
Đoạn còn lại thế nào thì mọi người đều biết. Bọn cướp biển vũ trang đầy đủ, chèo xuống đến, trèo lên boong và đòi nộp tiền. Chúng lấy đi mười triệu đô la.
Khi chiếc xuồng chở những thứ đã cướp được về đến chiếc tàu kẻ cướp thì đèn trên boong con tàu ấy rực sáng. Chúng tôi nhìn thấy một phụ nữ cao, mảnh khảnh, đội mũi len đan, từ tháp bước xuống rồi nhanh nhẹn lên cầu của hay, úp máy tăng âm vào miệng. Mụ ngửa đầu lên, hét to với chúng tôi:
“Các người có thể đi tiếp.”
Chiếc tàu cướp biển vòng lại và vụt biến mất ở chân trời.
103
Những biến cố xảy ra trong những ngày gần đây – việc chiếc khí cầu máy “P.G” iến công đội tàu chiến Mỹ và việc hạm đội Mỹ đã được lệnh oanh tạc đảo VÀng – đã làm náo động toàn bộ cư dân trên đảo.
Đơn xin thanh toán  tới tấp gởi đến văn phòng. Tiền tiết kiệm rút ra hết khỏi quỹ. Công nhân hội họp sau hàng rào dây thép gai, không thèm để ý đến bọn cảnh sát đang đi đi lại lại với vẻ mặt cau có và nghiêm nghị. Xóm công nhân giống như tổ ong bị quấy rối. Kèn trống nổi lên ầm ĩ, nhưng vô ích. Mười lăm tên khiêu khích cố gắng hết sức biến sự bất bình của công nhân thành các vụ ẩu đả về dân tọc, nhưng cũng chẳng ăn thua. Trong những ngày này, chẳng ai muốn quại nhau chỉ vì mình sống sau một hàng rào dậy thép gai khác.
Kỹ sư Sécmắc cho dán thông báo khắp đảo, vừa đe doạ, vừa mua chuộc. Nhưng vào buổi sáng hôm trước ngày hạm đội Mỹ trù liệu sẽ tiến công, các công nhân làm ở giếng mỏ tuyên bố rằng họ sẽ cho hãm các  bộ máy phóng tia và các máy chế không khí lỏng nếu đến trưa hôm đó vẫn không được trả lương (đó là ngày lĩnh lương), vẫn không gửi cho chính phủ Mỹ một bản tuyên bố tỏ ý hoà bình và tỏ thiện ý ngừng mọi hoạt động quân sự.
Trước tình hình ấy, Sécmắc nóng nảy đe dạo sẽ thẳng tay bắn giết. Bọn cảnh sát bắt đầu tập trung cạnh giếng mỏ. Thấy thế, một trăm công nhân liền lao xuống giếng mỏ rồi gọi điện thoại về văn phòng:
“Chúng tôi không còn lối thoát nào khác ngoài cái chết. Đến bốn giờ, chúng tôi sẽ nổ tung lên cùng hòn đảo”.
Dù sao thì đó cũng là một sự trì hoãn bốn tiếng đồng hồ. Sécmắc lập tức đuổi bọn cảnh sát khỏi khu vực giếng mỏ và phóng mô tô về lâu đài. Y bắt gặp Garin và Senga đang trò chuyện. Cả hai đều đang đỏ mặt, tía tai và đầu tóc rối bù. Thấy Sécmắc, Garin nhảy chổm dậy như điên:
– Anh học ai cách quản lý ngu ngốc thế?
Nhưng…
– Im đi… Anh đã bị cách chức. Hãy về phòng thí nghiệm hoặc bước đi đâu thì bước… Đồ con lừa!
Garin mở toang cửa và đầy Sécmắc ra. Rồi y quay lại bàn, nơi Senga đang ngồi hút thuốc lá.
– Senga ạ, đã đến lúc tôi tiên liệu trước rồi đây. Chỉ mình anh là có thể làm dịu tình hình và cứu vãn công việc. Những biến cố bắt đầu xảy ra trên đảo còn nguy hiểm hơn mười hạm đội Mỹ.
– Đúng thế, – Senga đáp, – lẽ ra phải hiểu thế từ lâu rồi.
– Đừng có lên giọng bảo ban tôi… Tôi bổ nhiệm anh làm tổng trấn đảo với những quyền hành đặc biệt… Anh cứ thử từ chối xem, – Garin vội vã hét lên, lao đến bàn và rút súng lục ra, – Tóm lại: nếu anh từ chối thì tôi sẽ bắn ngay… Anh có đồng ý hay không?
– Không, – Senga vừa đáp vừa liếc nhìn khẩu súng.
Garin nổ súng. Senga đưa bàn tay đang cầm điếu thuốc lên thái dương:
– Đồ khốn!..
– À, tức là anh đồng ý chứ?
– Hãy đặt súng xuống đã.
– Được. (Garin quăng súng vào ngăn kéo)
– Anh cần gì nào? Anh muốn công nhân không làm nổ tung giếng mỏ chứ gì? Được thôi, nhưng với một vài điều kiện…
– Tôi xin đồng ý trước.
– Tôi vẫn phải là nhân vật độc lập trên đảo như trước đây. Tôi không phải làm công nhân hoặc làm thuê cho anh. Đó là một. Tất cả các hàng rào dây thép gai phải huỷ bỏ ngay hôm nay. Đó là hai…
– Đồng ý.
–Bọn khiêu khích của anh…
– Tôi không có một tên khiêu khích nào hết, – Garin nói nhanh.
– Anh nói dối.
– Được, tôi nói dối đấy. Vậy xử lý bọn chúng thế nào? Dìm chúng chết chăng?
– Ngay đêm nay.
– Được. Anh hãy coi là chúng không còn nữa. (Garin ghi nhanh bằng bút chì vào sổ tay).
– Điểm cuối cùng, – Senga nói tiếp, – anh tuyệt đối không được can thiệp vào quan hệ của tôi với công nhân.
– Chà! (Senga cau mày, bắt đầu rời khỏi bàn. Garin nắm lấy tay anh). Đồng ý. Dù sao cũng sẽ có lúc tôi bẻ gãy xương sườn anh. Gì nữa?
Senga nheo mắt, hút thuốc, do đó làn khói làm không nhìn thấy rõ khuôn mặt dầu dãi và tinh quái của anh với bộ ria ngắn nhạt màu và chiếc mũi hơi hếch lên. Đúng lúc đó, chuông điện thoại reo vang. Garin cầm lấy ống nghe.
– Tôi đây. Gì kia? Có điện gọi à?
Y quăng máy điện hoại đi và đeo tai nghe vào. Vừa nghe, y vừa cắn móng tay. Y toét mồm cười.
– Anh có thể trấn an công nhân được. Ngày mai chúng tôi sẽ trả lương. Bà Dôia đã lấy được mười triệu đô la. Tôi sẽ phái ngay một khí cầu máy đi lấy tiền. Chiếc “Aridôna” chỉ cách đây có bốn trăm hải lý về mạn Tây – Bắc.
Nếu thế thì càng tốt, – Senga nói. Anh đút hai tay vào túi, bước ra ngoài.
104
Sau khi treo mình trên dây đai để chân không chạm vào sàn và nheo mắt lại, thoáng nín thở, Senga lao vụt xuống dưới trong chiếc thang máy bằng thép.
Đến độ sáu tám cây số, anh nhìn chiếc kim đỏ của đèn hiệu, bật bộ biến trở và dừng thang máy lại. Đây là hang số ba mươi bảy.
Cũng như mọi hang ngách khác của giếng mỏ chính, hang số ba mươi bảy là một khối vuông sắt tán bằng đinh rivê. Ở bên ngoài, không khí lỏng liên tục bốc hơi để làm nguội lớp thành giếng dày bằng đá bị đốt nóng tới năm trăm độ. Bên trong khối sắt này là giường cá nhân, ghế dài và mấy thùng nước. Sau phiên làm việc bốn tiếng đồng hồ công nhân thường mệt lử đến mức không muốn cử động nữa, họ được đặt lên giường cá nhân trước khi đưa lên mặt đất. quạt máy và những ống thông gió chạy vù vù. Ngọn đèn trần chiếu sáng những khuôn mặt ũ rũ, ốm yếu, hốc hác của hai mươi lăm người. Bảy mươi lăm người khác đang ở ba hang ngách phía trên, được liên lạc với nhau bằng đường dây điện thoại.
Senga bước ra khỏi thang máy. Vài người quay về phía anh nhưng không chào hỏi mà vẫn im lặng. Rõ ràng họ quyết tâm làm nổ tung giếng mỏ.
– Tôi cần người phiên dịch. Tôi sẽ nói bằng tiếng Nga, – Senga vừa nói vừa ngồi vào bàn, lấy khuỷu tay đẩy sang bên những hộp mứt, hộp muối và những ly rượu uống dở.
Một người Do Thái gầy gò, gù gù, râu ria lởm chởm, bước lại gần bàn.
– Tôi sẽ làm phiên dịch cho anh.
Senga bắt đầu nói:
– Garin và toàn bộ công việc của y chính là một thứ quan điểm đế quốc cực đoan nhất. Giai cấp tư sản còn chưa hiểu được y, vả lại chính y cũng không vội vã làm chúng hiểu được y. Y bị coi là một tên cướp. Nhưng rốt cuộc chúng sẽ hiểu rằng chủ nghĩ đế quốc đang dựa vào hệ thống quan niệm của y… Các đồng chí ạ, chúng ta phải lường trước giờ phút nguy hiểm nhất, khi Garin bắt tay với bọn tư sản. Lúc đó thì các đồng chí sẽ gay go đấy. Vậy mà trong cái lồng sắt này, các đồng chỉ lại đã quyết định sẽ hy sinh để Garin phải thoả hiệp với chính phủ Mỹ. Thật lạ lùng, các đồng chí ạ. Garin mà thắng thì thật tệ hại, bọn tư bản mà thắng thì tình hình cũng tệ hại. Bọn chúng mà cấu kết được với nhau thì tình hình còn tệ hại hơn nữa. Các đồng chí chưa biết được giá trị của mình, sức mạnh là trong tay các đồng chí. Một tháng nữa, khi những chiếc gầu kia liên lục múa vàng trên mặt đất thì điều đó sẽ không có lợi cho Garin đâu, mà có lợi cho các đồng chí, cho sự nghiệp mà chúng ta phải hoàn thành trên trái đất. Nếu các đồng chí tin tôi, mà phải tin hoàn toàn, tin triệt để kia, thì tôi sẽ nhận trách nhiệm hướng dẫn các đồng chí… Các đồng chí phải nhất trí tán thành mới được… Còn nếu các đồng chí không tin tôi thì…
Senga ngừng lại, nhìn khắp lượt những khuôn mặt cau có của anh em công nhân đang nhìn anh không chớp mắt, anh gãi mạnh vào gáy…
– Nếu các đồng chí không tin thì tôi sẽ không nói nữa.
Một thanh niên vai rộng, cởi trần, khắp người đầy mồ hóng, bước lại gần bàn, nhìn thẳng vào Senga bằng cặp mắt xanh biếc rồi quay về phía các bạn mình:
– Tôi tin.
– Chúng tôi tin, – Những người khác lên tiếng. sau đó những công nhân ở các hang khác cũng nói qua máy điện thoại: “Chúng tôi tin, chúng tôi tin”.
– Nếu các đồng chí tin thì tốt quá rồi, – Senga nói, – Bây giờ tôi sẽ nêu từng điểm một: tối nay, các hàng rào ngăn cách những nhóm công nhân thuộc các dân tộc khác nhau sẽ bị loại bỏ. Ngày mai, các đồng chí sẽ có lương. Mười lăm tên khiêu khích sẽ bị thanh toán, – đó là điều kiện đầu tiên mà tôi đặt ra. Bây giờ, nhiệm vụj của các đồng chí là đào tới chỗ có vàng càng nhanh càng tốt. Các đồng chí hiểu chứ?
105
Ban đêm, ở mạn Đông – Bắc xuất hiện ánh đèn chiếu mò mẫm. Ở cảng, còi báo động rú lên đầy lo ngại. Lúc bừng sáng, khi biển vẫn còn nằm trong bóng tối, xuất hiện những dấu hiệu đầu tiên của đoàn tàu chiến đang đến gần: vài chiếc máy bay lấp lánh trong ánh rạng đông màu hồng, lượn cao tít bên trên đảo.
Đội bảo vệ đảo nổ súng vào mấy chiếc máy bay đó, nhưng chỉ một lát sau đã ngừng bắn. Dân cư trên đảo túm tụm lại thành từng nhóm. Cột khói tiếp tục bốc lên trên giếng mỏ. Tàu vẫn bốc dỡ hàng, – cần cẩu ở bờ biển vẫn cẩu lên bờ những hòm nặng buộc dây cẩn thận.
Đại dương phẳng lặng trong màn sương mù. Trên trời, chong chóng quay tít. Mặt trời hiện lên như một quả cầu mờ đục. Và khi ấy mọi người nhìnt hấy những cột khói ở chân trời. Chúng kéo thành một đám mây đen dài dày đặc về hướng Đông – Nam. Đó là cái chết đang tiến đến gần.
Trên đảo im ắng, dường như cả những con chim đem đến từ lục địa cũng ngừng hót. Tại một nơi trên đảo, một tốp người chạy úa ra những con thuyền ở bến cảng, và những con thuyền chật ních vội vã bơi ra ngoài biển. Nhưng thuyền thì ít, hòn đảo thì phơi mình ra, chẳng có chỗ nào ẩn trốn. Dân cư trên đảo đứng sững, lặng lẽ. Một vài người nằm úp mặt xuống đất.
Trong lâu đài không thấy động tĩnh gì hết. Những cánh cửa bằng đồng khoá chặt. Đội bảo vệ đội mũ cao rộng vành, mặc áo bluđông trắng thêu chỉ vàng, vai khoác súng, đi lại dọc theo những bức tường nghiêng màu hồng nhạt. Bên cạnh, chiếc tháp đặt bộ máy phát tia đồ sộ đứng sừng sững, trong suốt như phalê. Màn sương mù bốc lên cao che kín đỉnh tháp. Nhưng ít người hy vọng vào sự bảo vệ này, đám khói đen ở chân trời quá hiện thực và đầy đe doạ.
Nhiều người sợ hãi quay mặt về phía giếng mỏ. Tại đấy, tiếng còi tầm rú lên báo hiệu đến phiên kíp thứ ba. Thật khéo tìm được lúc làm việc. Cái chất vàng kia thật đáng nguyền rủa. Sau đó, đồng hồ trên nóc lâu đài điểm tám tiếng. Đúng lúc đó tiếng ầm ầm nặng nề, to như sấm, vang lên khắp mặt biển. Loạt đạn đầu tiên của đoàn tàu chiến Mỹ. Những giây phút chờ đợi dường như kéo căng trong không trung, trong tiếng gầm rú của loạt đạn pháo đang tới tấp bay đến.
106
Khi loạt đạn đầu tiên của đoàn tàu chiến Mỹ vang lên, Rôlinh đang đứng trên gác sân, bên trên cái cầu thang chạy lần xuống nước. Y rút tẩu thuốc khỏi miệng và lắng nghe tiếng rú rít của loạt đạn: ít nhất là chín mươi quả đạn pháo chứa đầy thuốc nổ và hơi ngạt đang lao thẳng về phía đảo, đang lao thẳng vào óc Rôlinh. Chúng gầm rà một cách đắc thắng. Tim y hình như không chịu nổi những âm thanh đó. Y lùi về phía cửa ra vào trong bức tường đá. (Y đã chuẩn bị từ lâu một chỗ trú ẩn cho y ở hầm nhà nếu hòn đảo bị pháo kích). Loạt đạn pháo nổ tung ngoài biển, làm bắn toé lên những cột nước. Chúng không bay được tới đích.
Khi ấy, Rôlinh liền ngước nhìn đỉnh ngọn tháp. Garin đã có mặt ở đó từ tối qua. Chiếc vòm tròn trên tháp đang quay – có thể thấy rõ như vậy căn cứ theo các khe chạy dọc, Rôlinh đeo kính không gọng lên, chăm chú nhìn. Chiếc vòm quay rất nhanh – hết sang phải lại sang trái. Khi chiếc vòm quay sang bên phải, có thể thấy rõ nòng bộ máy phát tia sáng lấp lánh chạy lên chạy xuống.
Điều khủng khiếp nhất là vẻ gấp gáp của Garin trong lúc điều khiển bộ máy. Và không khí im ắng nữa. Không có một âm thanh nào trên đảo.
Nhưng rồi, từ ngoài biển đã vọng đến một tiếng trầm đục, lan rộng, dường như tiếng bong bóng nổ vỡ trên trời. Rôlinh sửa lại chiếc kính không gọng trên mũi ướt đẫm, nhìn về phía đoàn tàu chiến Mỹ. Tại đây, ba đám khói dày đặc màu vàng nhạc bốc lên như ba chiếc nấm khổng lồ. Phía bên trái ba đám khói ấy là mấy cột khói cuồn cuộn bốc lên, phồng to ra, đỏ rực rồi biến thành chiếc nấm thứ tư. Ngay tiếp đó vọng đến tiếng ầm ầm thứ tư to như tiếng sấm.
Chiếc kính không gọng rơi khỏi mũi Rôlinh nhưng y vẫn dũng cảm đứng nhìn những nấm khói dựng lên ở chân trời, nhìn toàn bộ tám tuần dương hạm Mỹ bị nổ tung.

0
Gói TCKK14-244-261 đã được giao cho bạn samhaivan đánh máy. Khi nào nhận được tôi sẽ soát lại rồi gửi bạn huytran và đăng lên đây.
 
Bây giờ tôi hơi bận vì vừa mờ một dự án lớn bên thuvien-ebook (http://thuvien-ebook.com/forums/showthread.php?p=172366#post172366), nên sẽ không soát lỗi tiếp được giúp bạn huytran.
0
Đánh máy : Lam. ( 188 – 205 )

có vài chỗ mình không nhìn rõ được, để trống đó, nhờ bạn Huy Trần xem lại dùm mình nha.

 


 
 
 ------
Đó là buổi liên lạc mới nhất của y qua làn sóng điện mà Rôlinh đã bắt được. Hôm nay, Dôia đợi Garin trả lời cho câu hỏi của ả là phải đợi y trên du thuyền đích xác là vào ngày nào. Ả bước lên boong và tì khuỷn tay vào lan can, những làn hơi của dải đất chưa nhìn thấy bốc lên mờ mờ và cột khói xám xám như bất động bên trên ngọn núi lửa Vêduyvơ.
 
Trên cầu chỉ huy, thuyền trưởng Gianxen buông bàn tay cầm chiếc ống nhòm xuống, và Dôia cảm thấy ông ta đang mê mẩn nhìn ả. Làm sao ông ta không nhìn ả cho được khi tất cả những cảnh trời nước tuyệt đẹp kia được tạo ra chỉ để bà Lamôlơ đứng bên lan can, trên vực thẳm xanh thẳm, ngắm nghía chúng.
-          Ông lại gần đây, ông Gianxen.
 
Gianxen sải bước trên boong thuyền nóng hầm hập, nhẹ nhàng tiến lại gần.
-          Ông Gianxen, ông không nghĩ rằng tôi là kẻ điên rồ chứ?
-          Tôi không nghĩ thế, bà Lamôlơ ạ, và tôi sẽ không nghĩ như vậy, dù bà có ra lệnh gì cho tôi chăng nữa.
-          Cảm ơn ông, tôi phong ông làm đội trưởng đội vệ binh danh dự của nữ thần Dôin.
 
 
Gianxen hấp háy hàng mi nhạt màu, đưa tay lên mũ chào. Rồi bỏ tay xuống, lại hấp háy hàng mi lần nữa. Dôia bật cười, và đôi môi của Gianxen cũng nở một nụ cười.
-          Ông Gianxen, hiện nay có khả năng thực hiện những mong muốn ngông cuồng nhất… Có khả năng thực hiện tất cả những gì mà một người phụ nữ có thể nghĩ ra vào một trưa nóng nực như thế này… Nhưng sẽ phải chiến đấu đấy…
-          Xin tuân lệnh, - Gianxen trả lời ngắn gọn.
-          Tốc độ của chiếc “Aridôna” là bao nhiêu?
-          Gần bốn mươi hải lý một giờ.
-          Những loại tàu nào có thể đuổi kịp nó ở ngoài khơi?
-          Rất ít tàu có thể đuổi kịp được…
-          Có lẽ chúng ta sẽ phải chịu một cuộc đuổi bắt lâu đấy.
-          Bà ra lệnh dự trữ thật đầy đủ nhiên liệu lỏng?
-          Đúng thế. Và cả nước ngọt, đồ hộp, rượu sâm banh nữa. Ông Gianxen ạ, chúng ta sẽ làm một công việc rất nguy hiểm.
-          Xin tuân lệnh.
-          Nhưng Gianxen ạ, tôi tin vào thắng lợi.
 
Đồng hồ điểm mười hai giờ rưỡi… Dôia bước vào buồng vô tuyến điện báo, ngồi xuống bên máy. Ả chạm tay vào cần máy thu. Từ đâu đó vang lên vài nhịp phốcxtơrốt.
 
Ả nhíu mày nhìn đồng hồ. Garin vẫn im lặng. Ả lại đẩy cần máy, cố giữ cho các ngón tay khỏi run rẩy.
… Một giọng xa lạ, chậm rãi, nói bằng tiếng Nga vào tận tại.
“… Nếu bà yêu quí cuộc sống… hãy lên bờ ở Naplơ vào thứ sáu… hãy đợi tin tức ở khách sạn “Xplendiđơ” cho tới trưa thứ bảy”.
Đấy là đoạn cuối của một câu gì đó được phát đi trên làn sóng bốn trăm hai mươi mốt mét, loại làn sóng mà Garin thường xuyên sử dụng suốt thời gian đó.
 
54
 
 
Trong căn phòng Senga nằm, suốt ba đêm liền, người ta quên đóng cửa chớp. Lần nào anh cũng nhắc cô y tá thuộc dòng tu Cácmêlita về việc đó. Anh chăm chú theo dõi để chiếc chốt nối hai cánh cửa chớp phải cài chặt lại.
 
        Trong ba tuần qua, anh đã bình phục nhiều. Anh đã có thể trở dậy và tới ngồi bên cửa sổ, gần những cành ngô đồng rậm rạp hơn, gần lũ sáo đen hơn, gần đám bụi nước lấp lánh như cầu vồng giữa bãi cỏ hơn.
 
        Từ đây, anh nhìn thấy toàn bộ khu vườn nhỏ bé của bệnh viện có dãy tường đá bao quanh. Vào thế kỷ mười tám, nơi này thuộc một tu viện đã bị cách mạng phá hủy. Các tu sĩ không ưa những con mắt tò mò. Tường cao, và trên thành tường lởm nhởm những mảnh thủy tinh sáng lấp lánh.
       
       Chỉ có thể trèo qua bức tường này bằng cách dùng thang. Những phố nhỏ giáp với bệnh viện thì tĩnh mịch và vắng vẻ, nhưng đèn đường lại quá sáng, vả lại rất hay nghe thấy tiếng chân cảnh sát vang lên bên kia tường, giữa không khí tĩnh mịch, do đó vấn đề dùng thang bị loại bỏ.
 
        Dĩ nhiên, nếu không có những mảnh kính vỡ gần trên bờ tường thì một người lanh lẹn có thể  không cần thang vẫn leo qua được. Sáng nào Senga cũng từ sau cửa số quan sát toàn bộ bức tường cho đến từng viên đá nhỏ. Mối nguy hiểm chỉ đe dọa từ phía này mà thôi. Kẻ được Rôlinh phái đến chắc gì đã dám mạo hiểm xuất hiện từ bên trong bệnh viện. Nhưng anh không một chút nghi ngờ về việc kẻ âm mưu hãm hại anh trước sau cũng xuất hiện.
 
        Giờ đây, anh đang chờ bác sĩ đến khám để xin ra viện. Anh biết trước như vậy. Bác sĩ thường đến mỗi tuần năm lần. Lần này hóa ra là ông bị ốm. Senga được báo cho biết là nếu bác sĩ trưởng chưa khám lại thì anh không thể được phép ra viện. Anh chẳng buồn phản kháng nữa. Anh thông báo cho sứ quán Liên Xô biết để họ mang thức ăn đến cho anh. Súp bệnh viện thì anh đổ vào bồn rửa, còn bánh mì bệnh viện thì anh vứt cho lũ sáo.
 
        Anh biết rằng Rôlinh nhất định sẽ thủ tiêu nhân chứng duy nhất. Giờ đây, anh gần như không ngủ vì quá lo lắng, kích động. Cô y tá thường xuyên đem báo đến cho anh – suốt ngày anh sử dụng chiếc kéo và nghiên cứu các mảnh báo cắt ấy. Anh đã cấm Khơlưnốp không được đến bệnh viện. (Henrich đang ở Đức, trên bờ sông Runh, nơi anh ta thu thập tin tức về cuộc đấu của Rôlinh với công ty anilin của Đức).
 
        Buổi sáng, như thường lệ, sau khi lại gần cửa sổ, Senga nhìn bao quát khắp khu vườn rồi lập tức lẩn ra sau rèm. Anh thậm chí còn cảm thấy vui vẻ nữa. Thế là rốt cuộc, thời cơ đã đến rồi! Trong vườn, ở mạn Bắc, chiếc thang của người làm vườn thấp thoáng sau cây đọan, dựa vào tường, đầu thang nhô cao chừng ba chục phân bên trên những mảnh thủy tinh.
 
        Senga nói:
-          Thật khéo quá!
 
Chỉ còn phải chờ đợi thôi. Mọi việc đã dự tính hết. Tay phải anh tuy đã không phải băng bó nữa, nhưng vẫn còn yếu. Tay trái vẫn bị nẹp và bó thạch cao, vẫn bị quấn băng chặt vào ngực. Bên tay bị bó thạch cao phải nặng ít nhất là dăm sáu cân. Đấy là thứ vũ khí duy nhất mà anh có thể dùng để tự vệ.
 
Đến đêm thứ tư, cô y tá lại quên đóng cửa chớp. Lần này, Senga không phản kháng và từ chín giờ anh giả vờ ngủ. Anh nghe thấy tiếng cửa chớp đóng mạnh ở cả hai tầng. Cửa sổ buồng anh lại vẫn để mở toang. Khi đèn tắt, anh nhảy xuống giường và dùng răng cùng bàn tay yếu ớt cởi bỏ băng giữ tay phải.
 
Anh dừng lại, nín thở lắng nghe. Cuối cùng, cánh tay đã đong đưa tự do. Anh có thể gập lại đến tận khuỷu. Anh nhìn ra khu vườn sáng ánh đèn ngoài phố - chiếc thang vẫn dựng ở chỗ cũ, sau cây đoạn. Anh cuộn tròn chăn, nhét xuống dưới vải trải giường: trong bóng tối lờ mờ, ngỡ như vẫn có người nằm trên giường.
 
Bên ngoài yên tĩnh, chỉ nghe thấy tiếng nước nhỏ giọt. Ánh hồng tim tím run rẩy trong những đám mây đen trên bầu trời Pari. Không nghe thấy tiếng ờn ào từ các đại lộ vọng đến đây. Cành ngô đồng đen sẫm lơ lửng bất động.
 
Đâu đó có tiếng ô tô xình xịch. Senga dỏng tai nghe – hình như anh nghe thấy tiếng tim đập thình thịch trong lồng ngực con chim đang ngủ trên cành ngô đồng. Chắc hẳn nhiều thời gian đã trôi qua. Trong vườn bắt đầu vang lên tiếng kẽo kẹt và xào xạc, hệt như có người chà sát gỗ vào vôi.
 
Senga bước sát vào tường sau bức rèm. Anh thả bàn tay bó thạch cao xuống. “Ai? Không phải. Ai nhỉ? – anh thầm nghĩ, - Chẳng lẽ lại là chính Rôlinh chăng?”
 
Lá cây bắt đầu sột soạt, lũ sáo nháo nhác. Senga nhìn khoảng sân gỗ sáng mờ mờ bên cửa sổ, hẳn nhất định phải xuất hiện bóng người.
 
“Hắn sẽ không hậu đậu, - anh thầm nghĩ – phải đốt một thứ gì đã chứ phấtgen (1) chẳng hạn…” Trên khoảng sân gỗ, bỗng một đầu người đội chiếc mũ chụp sâu xuống bắt đầu nhô lên. Senga đưa rộng tay ra để cú đánh được mạnh hơn. Bỗng người nhô lên đến vai rồi giơ lên những ngón tay doãng ra…
-          Senga, đồng chí Senga, - bóng đó thầm thì bằng tiếng Nga. – Tôi đây, đừng sợ…
 
Senga chờ đợi mọi chuyện, trừ những lời lẽ này, trừ cái giọng nói này. Anh bất giác bật kêu lên một tiếng, để lộ mình. Người kia liền lập tức nhảy qua cửa sổ và đưa cả hai tay ra để tự vệ. Đó là Garin.
-          Tôi nghĩ là anh đang để phòng bị tiến công, - y vội vã nói, - đêm nay người ta nhất định sẽ giết anh. Đối với tôi, điều đó không có lợi. Tôi quyết định mạo hiểm để cứu anh bằng được. Ta đi đi, tôi có xe đây.
 
Senga rời khỏi bức tường.
 
Garin vui vẻ nhe răng cười khi thấy cánh tay bó thạch cao vẫn còn giơ lên để chuẩn bị đánh.
-          Senga ạ, thế có Chúa là tôi không có lỗi gì hết. Anh còn nhớ giao ước của chúng ta ở Lêningrat chứ? Tôi xử sự trung thực. Câu chuyện khó chịu trong rừng Phôngtenơblô hoàn toàn là do gã Rôlinh khốn kiếp gây ra cho anh. Anh có thể tin tôi được. Ta đi đi, từng giây bây giờ đều là quí giá…
-          Cứ cho là anh sẽ đưa tôi đi, nhưng sao đó thì sao?
-          Tôi sẽ che giấu anh… Chỉ một thời gian ngắn thôi, anh đừng sợ. Cho tới khi tội nhân được một nửa của Rôlinh… (2). Anh vẫn đọc báo đấy chứ? Rôlinh bị xúi quẩy luôn, nhưng y không thể xử sự một cách trung thực được. Anh cần bao nhiều, anh Senga? Anh cứ nói thoải mái đi. Mười triệu, hai chục triệu hay năm chục triệu? Tôi sẽ đưa giấy biên nhận cho anh…
 
Garin nói khẽ, vội vã như trong cơn mê sảng, - măt y giật giật:
-          Đừng làm bộ ngốc nghếch nữa, Senga ạ. Anh là người giữ nguyên tắc chứ gì?... Tôi đề nghĩ anh cùng làm việc chống Rôlinh… Nào, ta đi đi…
 
Senga bướng bỉnh lắc đầu:
-          Tôi không muốn, tôi sẽ không đi đâu.
-          Nhất định anh sẽ bị giết chết.
-          Để xem xem đã.
-          Đám hộ lý, đám gác cổng và ban quản trị - tất cả đều đã bị Rôlinh mua chuộc rồi. Anh sẽ bị kẹp cổ… Tôi biết… Anh sẽ không sống qua nổi đêm nay đâu… Anh sẽ báo trước cho sứ quán của anh tất chứ gì? Được được… Đại sứ của anh sẽ lại bắt phải giải thích. Chính phủ Pháp cùng lắm thì chỉ tội là hết… Nhưng anh không vì thế mà dễ dàng hơn đâu. Rôlinh cần loại bỏ nhân chứng… Y sẽ không thể để anh bước qua ngưỡng cửa của sứ quán Liên Xô…
-          Tôi đã nói là tôi không đi kia mà… Tôi không muốn…
 
Garin lấy lại hơi thở. Y nhìn ra ngoài cửa sổ:
-          Được, nếu thế thì tôi đành cưỡng bức anh phải đi vậy. – Y lùi lại một bước, đút tay vào túi áo măng tô.
-          Cưỡng bức tôi nghĩa là thế nào?
-          Là thế này đây…
 
Garin rút phắt trong túi ra chiếc mặt nạ phòng hơi ngạt và vội vã áp lên miệng. Senga không kịp kêu lên – một dòng chất lỏng nhờn nhờn phun mạnh vào mặt anh. Chỉ thoáng thấy bàn tay Garin bóp bóp bầu cao su… Senga sặc sụa trong hơi thuốc mê ngọt ngào, thơm ngát…
 
55
 
-          Có tin tức gì không?
-          Có. Chào anh Henrich.
-          Tôi từ nhà ga đến thẳng đây. Đói lả đi như vào năm mười tám ấy.
-          Nhưng trông anh vui vẻ lắm, Henrich ạ. Biết được nhiều chuyện phải không?
-          Cũng biết được chút ít… Ta sẽ nói chuyện ở đây chứ?
-          Được, chỉ có điều là nhanh nhanh lên.
 
Henrich ngồi xuống cạnh Khơlưnốp trên chiếc ghế dài bằng hoa đặt bên chân tượng đàu Hăngri IV (3) cưỡi ngựa, quay lưng về phía những ngọn tháp màu đen của Côngxécgiơri (4). Bên dưới, nơi đảo Xitê nhô mũi nhọn hoắt ra, có một cây lệ liễu nghiêng mình xuống mặt nước. Ngày xưa, đây là nơi những hiệp sĩ thuộc dòng tu Tamplie (5) đã quằn quại trên ngọn lửa. Xa xa, bên kia hàng chục chiếc cầu soi mình xuống dòng nước, mặt trời đang lặn trong ánh mờ mờ vàng rực. Ngồi trên các hàng bậc ven sông và trên sà lan bằng sắt chở cát là những tay câu cá người Pháp, những kẻ bị phá sản vi lạm phát, vì Rôlinh và vì chiến tranh thế giới.
 
        Ở tả ngạn, trên bờ ngắn bằng đá hoa, mãi xa cho tới tận trụ sở Bộ Ngoại giao, những người bán sách cũ đang buồn bã ngồi dưới ánh nắng ban chiều, bên những cuốn sách chẳng ai cần đến nữa trong thành phố này.
 
        Tại đây, Pari cũ đang tàn tạ dần. Cạnh những quán sách cũ ven bờ sông, cạnh những lồng chim và những người câu cá buồn bã, vẫn còn thấy những người đứng tuổi đang dạo bước. Mắt họ đờ đẫn, ria họ che kín miệng, họ mặc quần áo rộng thùng thình và đội mũ rơm cũ kỹ… Khi xưa, đây là thành phố của họ… Ở nơi kia, trong tòa nhà Côngxécgiơri kia, Đăngtông đã từng gào thét như con hổ bị lôi đến lò sát sinh. Còn ở kia, ở bên phải, đằng sau những mái nhà lợp graphít của điện Luvrơ, nơi những khu vườn của điện Tuylơri chìm trong màn sương mù, đã từng xãy ra những biến cố nóng bỏng, khi tiếng đạn của đội quan tướng Galiphê (6) rủ rít dọc theo phố Rivôli. Trời, nước Pháp hồi đó chói lọi vàng son biết bao! Mỗi viên đá ở đây – nếu chúng biết nghe – đều sẽ kể về quá khứ vĩ đại. Vậy mà bây giờ - chính quỉ sứ cũng không thể hiểu nổi – kẻ làm chủ thành phố này lại là con quái vật Rôlinh từ bên kia đại dương đến, và những người tư sản lương thiện chỉ còn cách ngồi ủ rũ mà quăng cần câu… Ô hô hô!
 
        Sau khi chêm tẩu thuốc nặng, Henrich nói:
-          Tình hình như thế này. Công ty aniline của Đức là công ty duy nhất không thỏa hiệp chút gì với bọn Mỹ. Công ty đã được nhà nước trợ cấp hai mười tám triệu mác. Giờ đây, mọi nỗ lực của Rôlinh đều hướng vào việc bẽ gãy công ty này.
-          Y bán phá giá chăng?
-          Vào ngày hai mươi tám tháng này, y sẽ bán một số lượng khổng lồ các cổ phiếu trong lĩnh vực anilin.
-          Đó là những tin tức rất quan trọng đấy, anh Henrich ạ.
-          Đúng thế, chúng tôi đã lần được dấu vết. Rõ ràng Rôlinh tin rằng y thắng cuộc, mặc dù giá cổ phiếu không hạ một xu nào… mà hôm nay đã là hai mươi rồi… Anh có hiểu thứ duy nhất mà y trông cậy vào là gì không?
-          Có lẽ chúng đã chuẩn bị xong xuôi hết chăng?
-          Tôi nghĩ rằng bộ máy của Garin đã được bố trí rồi.
-          Những nhà máy của Công ty aniline nằm ở đâu?
-          Nằm bên sông Ranh, gần N. Nếu Rôlinh đánh gục được công ty này thì y sẽ làm chủ toàn bộ nền công nghiệp châu Âu. Chúng ta không được để xãy ra tai họa ấy. Nghĩa vụ chúng ta là cứu thoát ngành anilin của Đức. (Khơlưnốp nhún vai, nhưng yên lặng). Tôi hiểu: cái gì tất yếu thì nhất định sẽ xãy ra. Tôi với anh không thể ngăn chặn được sức ép của Mỹ. Nhưng ai mà biết được, lịch sử đôi khi gây ra những chuyện khó hiểu, bất ngờ.
-          Giống như các cuộc cách mạng chứ gì?
-          Cứ cho là như vậy đi.
 
Khơlưnốp đưa mắt nhìn Henrich, vẻ hơi ngạc nhiên. Mắt anh ta tròn, vàng, độc địa.
-          Anh Henrich ạ, giai cấp tư sản sẽ không cứu châu Âu đâu.
-          Tôi biết.
-          Thế ư?
-          Trong chuyến đi vừa rồi, tôi đã quan sát kỹ… Bọn tư sản – Pháp, Anh, Đức, Ý – đang bàn dựng thế giới cũ một cách tội lỗi, mù quáng, trắng trợn. Nền văn hóa đã kết thúc bằng cảnh bán đấu giá… Như vậy đó!
 
Henrich đỏ bừng mặt lên:
-          Tôi đã tới gặp các nhà cầm quyền, đã nói bóng gió đến mối nguy hiểm, đã yêu cầu họ giúp đỡ trong việc truy lùng Garin… Tôi đã nói với họ những lời lẽ khủng khiếp… Họ cười vào mũi tôi. Thật đáng giận! Tôi không phải loại người chịu lùi bước.
-          Vậy anh đã biết được gì ở vùng sông Ranh?
-          Tôi đã biết được một vài tin tức… Công ty aniline đã nhận được những đơn đặt hàng quân sự lớn của chính phủ Đức. Quá trình sản xuất trong các nhà máy của công ty này hiện đang ở giai đoạn nguy hiểm nhất. Họ đang sử dụng tới gần năm trăm tấn tétơrit.
 
Khơlưnốp đứng phắt dậy. Chiếc can mà anh dựa vào cong hẳn đi. Anh lại ngồi xuống.
-          Trên báo chí đã loáng thoáng xuất hiện những bài báo về sự cần thiết phải di tản các khu công nhân càng xa càng tốt khỏi những nhà máy đáng sợ này. Trong công ty aniline có đến hơn năm vạn người làm việc. Tờ báo đăng tin đó đã bị phạt tiền… Bàn tay của Rơlinh…
-          Henrich này, chúng ta không thể để mất một ngày nào nữa.
-          Tôi đã đặt vé chuyến tàu mười một giờ hôm nay rồi.
-          Chúng ta sẽ đi N.?
-          Tôi nghĩ rằng chỉ đến đấy mới có thể lần ra dấu vết Garin?
-          Bây giờ thì anh  hãy xem xem những gì tôi đã làm được nhé, - Khơlưnốp lấy trong túi ra một tập mảnh báo cắt. – Cách đây ba hôm, tôi ở chỗ Senga. Anh ấy đã cho tôi biết những suy nghĩ của anh ấy. Theo anh ấy, Rôlinh và Garin nhất định phải liên lạc với nhau…
-          Dĩ nhiên rồi. Liên lạc hằng ngày ấy chứ?
-          Bằng bưu điện? Hay bằng điện báo? Anh nghĩ sao, Henrich?
-          Không đời nào. Không thể có một chút dấu vết gì bằng chữ viết hết.
-          Vậy thì bằng vô tuyến điện?
-          Để khắp châu Âu nghe thấy ư?... Không…
-          Hay là qua một nhân vật thứ ba?
-          Cũng không phải… - Henrich nói. – Tôi hiểu, anh chàng Senga của anh là một tay cừ lắm. Anh cho tôi xem các mảnh báo cắt nào…
 
Anh tự xếp tất cả lên trên đầu gối rồi chăm chú đọc những đoạn gạch đỏ:
“Hãy tập trung chú ý vào chất aniline”, ”Tôi đang bắt tay vào việc”, “Đã tìm được địa điểm”.
“Đã tìm được địa điểm” – Henrich thầm thì nhắc lại, - đây là tờ báo xuất bản ở E… một thị trấn gần N… “Tôi rất lo lắng, hãy định ngày đi”. – “Hãy đếm đến ba mươi lăm, kể từ ngày ký thỏa thuận”. Đúng, chỉ có thể là chúng thôi. Đêm ký thỏa thuận ở Phôngtanơblô là hai mươi ba tháng trước. Thêm ba mươi lăm nữa sẽ là ngày hai mươi tám – đúng thời hạn báo cáo cổ phiếu trong lĩnh vực anilin…
 
-          Anh đọc tiếp đi, đọc tiếp đi, Henrich… “Ông đã thi hành những biện pháp gì?” Đó là Garin hỏi từ K. Hôm sau, trên tờ báo ở Pari đăng câu trả lời của Rôlinh: Du thuyền đã sẵn sàng. Hai ngày nữa sẽ cập bến. Sẽ báo tin qua làn sóng điện”. Còn đây, bốn ngày trước, Rôlinh hỏi: “Sẽ nhìn thấy ánh sáng chứ?” Garin trả lời: “Xung quanh rất trống trải. Khoảng cách năm cây số”.
-          Nói cách khác, bộ máy được bố trí trên núi: phát tia từ khoảng cách năm cây số thì chỉ có thể từ một nơi cao mà thôi. Anh Khơlưnốp ạ, chúng ta còn ít thời gian lắm. Nếu lấy tâm là các nhà máy mà quay một bán kính năm cây số thì chúng ta sẽ phải lục lọi một vùng có chu vi ít nhất là ba mươi lăm cây số. Còn có tin tức gì  nữa không?
-          Không. Tôi đang định gọi điện cho Senga. Nhất định anh ấy phải có những mảnh cắt trong báo hôm qua và hôm nay.
 
Henrich đứng dậy. Trông thấy rõ những bắp thịt của anh ta phồng lên dưới lớp quần áo. Khơlưnốp đề nghị gọi điện cho Senga từ tiệm cà phê gần nhất ở bờ sông bên phải. Henrich đi qua cầu nhanh vùn vụt,  khiến một ông già nhỏ bé, cổ ngăng, đội chiếc mũ đầy bụi, mặc chiếc véttông lem luốc và có lẽ thấm đẫm những giọt nước mắt cô độc vì than khóc những kẻ bị chiến tranh cướp đi, phải lắc đầu và đưa mắt nhìn theo mấy người ngoại quốc đang chạy:
-          Chà, các vị khách nước ngoài này… Khi tiền rủng rỉnh trong túi thì tha hồ chạy và xô đẩy cứ như đang ở nhà mình ấy… Thật man rợ!
 
Tại tiệm cà phê, Henrich đứng uống nước xô đa cạnh quầy háng bằng kẽm. Qua lớp kính buồng điện thoại, anh ta nhìn thấy lưng Khơlưnốp. Khơlưnớp đang nói chuyện. Anh nhún vai, tì cả người vào máy, rồi anh vươn thẳng dậy, bước ra khỏi buồng: mặt anh bình thản nhưng trắng bệch như mặt nạ.
-          Bệnh viện trả lời là đêm qua Senga đã biến mất. Họ đã thi hành mọi biện pháp tìm kiếm… Theo tôi thì anh ấy đã bị giết chết.
 
56
 
Củi khô kêu lách tách trong chiếc lò sưởi đã ẩm khói suốt hai thế kỷ, rồi những chiếc móc lớn họp gỉ để treo xúc xích và giăm bông, và hai bên là hai tượng thần bằng đá. Trên một bức tượng là chiếc mũ màu sáng của Garin, trên bức tượng kia là chiếc mũ sĩ quan loang lố dầu mỡ. Có bốn người ngồi quanh chiếc bàn chỉ được ánh lửa lò sưởi chiếu sang. Trước mặt họ là một chai to và những chiếc ly đầy rượu.
 
        Hai người đàn ông ăn mặc theo kiểu thành phố - một người cằm bạch, rắn chắc, tóc lởm chởm cột ngắn, người kia mặt dài, vẻ độc ác. Người thứ ba là tướng Xubôlin, chủ trang trại, nơi đang diễn ra cuộc họp trong nhà bếp, thi mặc chiếc sơmi         may bằng vải thô, hai tay áo xắn lên… Làn da          trên đầu ông ta giật giật, khuôn mặt béo phị với bộ ria vênh lên đỏ bừng vì rượu.
 
        Người thứ tư là Garin. Y mặc bộ quần áo du lịch, và vừa uể oải đưa ngón tay xoay quanh mép ly vừa nói:
-          Mọi chuyện như vậy là rất tốt đẹp… Nhưng tôi khẩn thiết đề nghị là tuy người tù của tôi là một tên Bônsêvich thật, nhưng anh ta phải được đối xử tử tế, Phải được cho ăn một ngày ba lần, có rượu, có rau, có hoa quả… Một tuần nữa tôi sẽ đến đón anh ta ở chỗ các ngài… Biên giới Bỉ phải không?...
-          Chỉ cần đi ô tô bốn lăm phút thôi, - người có bộ mặt dài vội vã nhô người ra phía trước và nói.
-          Mọi việc sẽ hoàn toàn bí mật… Thưa tướng quân và các sĩ quan (Garin nhếch mép cười), tôi hiểu rằng các ngài là những nhà quí tộc, những người trung thành vô hạn với kỷ niệm về đức hoàng đế đã chịu bao đau khổ, nên giờ đây các ngài hành động chỉ vì những động cơ cao quí, hoàn toàn có tính chất lý tưởng… Nếu không thì tôi đã chẳng dám nhờ cậy các ngài giúp đỡ…
-          Tất cả chúng ta ở đây đều cùng hội cùng thuyền, việc gì ông phải nói như vậy? – viên tướng khàn khàn đáp, lớp da trên đầu lại giật giật.
-          Tôi xin nhắc lại, điều kiện là như thế này: tôi trả cho các ngài một nghìn phơrăng một ngày cho việc chăm nom người tù của tôi… Các ngài đồng ý chứ?
 
Viên tướng đưa cặp mắt đỏ mọng nhìn về phía các đồng sự của mình. Gã cằm bạnh nhe hàm răng trắng ra, còn gã mặt dài cụp mắt xuống.
-          Ồ, hóa ra là thế, - Garin nói. – Tôi có lỗi, thưa các ngài. Tiền đặt trước đây!
 
Y rút trong túi để súng lục ra một tập giấy bạc một nghìn phôrăng và quẳng vào chỗ rượu lênh lánh trên bàn.
- Xin các ngài nhận cho.
 
Viên tướng e hèm, đẩy tập giấy bạc về phía mình, xem kỹ, chùi vào bụng rồi bắt đầu đếm, hai lỗ mũi đầy lông thở khụt khịt. Hai gã sĩ quan cũng nhích lại gần, mắt long lanh.
Garin đứng dậy, nói:
-          Cho dẫn người bị bắt vào.
 
57
 
Mắt Senga bị bịt kín, vai khoác áo măngtô da. Anh cảm thấy hơi ấm từ lò sưởi tỏa ra, hai cánh mũi anh phập phồng. Garin đẩy chiếc ghế đẩu lại gần. Senga lập tức ngồi xuống, buông bên tay bó thạch cao lên đầu gối.
 
Tướng Xubôlin và hai viên sĩ quan hăm hăm nhìn anh như chỉ cần có người ra hiệu hoặc nháy mắt một cái là Senga sẽ đi tiêu… Nhưng Garin không ra hiệu gì hết. Y vỗ vào đầu gối Senga rồi vui vẻ nói:
 
 
 
 
 
---
(1)     Một loại hơi độc – ND.
(2)     Tức … Doin – ND.
(3)     Hăngri IV (1589 – 1610): vua Pháp trong những năm…
(4)      
(5)      
(6)     Galiphê (1830 – 1909): một trong những tên đao phủ chính đã đàn áp Công xã Pari năm 1871. (Chú thích của nguyên bản).

 
0
Vậy giờ là nhận đc bản của mình rồi nha, chắc trước đó mail lỗi hay gì đó chứ mình gửi lâu rồi. :D
Our love...
We had, has gone and won't return.
Until now, I am still silently -waiting...
0
tckk14 244-261
 
Dôia lấy đầu dù hù dọa mấy con thằn lằn xanh đang mơ màng ngủ trên ngưỡng cửa của những ngôi nhà đá bỏ không từ hai nghìn năm trước.
- Buồn quá, ta trở về thôi, - ả nói, - Tôi không thích những gì đã qua, tôi không thích những kỷ niệm.
Họ ăn trưa tại tiệm ăn trên bờ biển. Đang ăn, thỉnh thoảng Dôia lại đứng dạy, đặt cánh tay để trần lên vai Gianxen và nhảy với vẻ mặt thờ ơ, mi mắt khép hờ. Ai cũng háo hức nhìn ả. Các lần nhảy như vậy làm ăn uống ngon miệng hơn.
Khi họ ra khỏi tiệm ăn, Gianxen hỏi:
- Đêm nay bà ra lệnh cho tôi ngủ ở đâu - trên du thuyền hay trong khách sạn?
Dôia đưa mắt nhìn nhanh ông ta và lập tức quay đầu đi, không trả lời. Khi vào cổng khách sạn, ả dựa người vào cánh tay cứng như đá của Gianxen. Người gác cổng vừa đưa chìa khóa vừa nhăn bộ mặt đen sạm cạo nhẵn và nhếch mép cười giễu cợt. Dôia đột nhiên cảnh giác:
- Có tin tức gì phải không?
- Ồ, thưa bà, không có gì đâu.
Ả bảo Gianxen:
- Ông hãy đến phòng hút thuốc mà hút thuốc đi. Nếu ông không ngán chuyện vãn với tôi thì tôi sẽ gọi điện cho ông…
Ả nhẹ nhàng bước trên tấm vải đỏ của cầu thang. Gianxen dừng lại phía dưới. Đến chỗ rẽ, ả quay đầu lại, mỉm cười. Gianxen đi vào phòng hút thuốc, ngồi gần máy điện thoại, châm thuốc hút như ả ra lệnh và ngửa người ra, chờ hồi chuông gọi. Ông ta thả hồn theo mộng…
Nhưng không thấy tiếng chuông điện thoại reo, Gianxen nhắm mắt lại để khỏi phải nhìn cái điện thoại khốn khiếp kia…Chà, thật ra, làm sao ta có thể đâm mê mẩn như trẻ con được…Một người nào đó dừng lại sau lưng ghế bành của Gianxen. Ông ta mở mắt ra chồm dậy. Người đứng trước mặt là Rôlinh. Viên thuyền trưởng cảm thấy máu bốc lên mặt.
- Thuyền trưởng Gianxen, - Rôlinh nói với giọng nghe ghê cả tai, - cảm ơn ông đã chăm sóc bà Lamôlơ, nhưng hôm nay bà ấy không cần đến sự chăm sóc của ông nữa. Đề nghị ông trở về với trách nhiệm của mình.
- Xin tuân lệnh, - Gianxen mấp máy môi đáp.
Rôlinh đã thay đổi nhiều trong tháng qua- mặt y đen sạm lại, mắt trũng xuống, bộ râu hung sẫm lan lởm chởm trên hai má. Y mặc Véttông sẫm, hai túi ngực cộm lên, đựng đầy tiền và sổ séc… “ Tay trái nện vào thái dương, tay phải đâm xiên vào gò má - thế là mày sẽ đi tong…”… hai  nắm tay cứng như thép của Gianxen run lên vì tức giận. Nếu như lúc này Dôia ở đây và đưa mắt nhìn Gianxen thì Rôlinh sẽ biến thành một đống thịt.
- Một giờ nữa tôi sé có mặt trên du thuyền ‘ Aridôna” , - Rôlinh cau mày, hách dịch nói.
Gianxen lấy chiếc mũ trên bàn , đội sụp xuống và bước ra. Ông ta đi ngang qua phố, đến sát mặt nước và gọi to:
- Xuồng.
Rồi ông ta nhảy bổ lên chiếc xuống con từ du thuyền ‘ Aridôna” lao tới, ngồi sát vào tay lái:
- Chèo đi, đồ chó đẻ.
Sau đó, ông ta theo thang chạy lên du thuyền, quát người thuyền phó: “ Sao để du thuyền bẩn thế?” rổi vào phòng riêng, khóa cửa lại, cứ để nguyên quần áo và nằm vật xuống giường, miệng làu bàu lảm nhảm.
Đúng một giờ sau vang lên tiếng thét hỏi của của người thủy thủ đứng gác và một giong yếu ớt từ dưới nước trả lời lại. Thang du thuyền kêu ken két. Người thuyền phó vui vẻ ra lệnh:
- Tất cả tập hợp trên boong!
Ông chủ đã đến. Chỉ có thể cứu vớt phần tự ái còn sót lại bằng cách đón Rôlinh như không có chuyện gì xảy ra hết lúc trên bờ. Gianxen đàng hoàng và bình thản bước lên cầu chỉ huy.. Rôlinh đi về phía ông ta, nhận báo cáo về tình trạng hoàn hảo của du thuyền rồi bắt tay. Phần nghi lễ kết thúc. Rôlinh châm thuốc hút - trông y nhỏ bé, chẳng có vẻ gì là người của biển cả và bộ complê màu sẫm ấm áp của y dương như xúc phạm đến vẻ thanh nhã của du thuyền ‘ Aridôna” và bầu trời bên trên thành phố Naplơ.
Đã nữa đêm. Giữa cột buồm và trụ buồm, những chùm sao lấp lánh. Những  đốm sáng của thành phố và các con tàu  phản chiếu trong làn nước đen sẫm của vịnh biển. Tiếng còi của một con tàu kéo nhỏ rú lên rồi lặng đi. Những cột khói chập chờn ánh lửa dầu chao đảo ở phía xa.
Rôlinh hình như mải mê hút thuốc - y liên tục hút và thở ra những làn khói nhỏ về phái thuyền trưởng. Gianxen buông thõng hai tay,  trịnh trọng đứng trước mặt y.
- Bà Lamôlơ muốn ở lại trên bờ, -  Rôlinh lên tiếng rồi đưa bàn tay trái lên miệng, mút làn da nơi mu bàn tay, - tôi sẽ ở lại du thuyền cho đến sáng, có lẽ suốt cả ngày mai nữa. Để việc tôi lưu lại đấy không bị giải thích một cách sai lệch (mút xong y giơ bàn tay về phía ánh sánh tỏa ra từ cửa phòng mở toang)… đúng thế đấy, để khỏi bị giải thích sai lệch…(Gianxen nhìn bàn tay y, trên bàn tay ấy thấy rõ các vết móng tay), tôi xin làm thỏa mãn trí tò mò của ông : tôi đợi một người đến du thuyền này. Nhưng người này lại không ngờ tôi có mặt ở đây. Ông ta nhất định sẽ đến trong khoảng một vài giờ nữa. Khi ông ta đến, ông hãy báo cho tôi biết ngay lập tức. Chúc ông ngủ ngon.
Đầu Gianxen nóng bừng. Ông ta có sức hiểu một chuyện gì đó. Bà Lamôlơ ở lại trên bờ. Để làm gì? Đỏng đảnh chăng? Hay bà ta chờ mình? Không phải. Thế còn những vết cào xước còn mới trên tay ông chủ…Chuyện gì đã xảy ra? …Nhỡ bà ta đang nằm trong bao tải dưới đáy vịnh thì sao ? Bọn tỷ phú đâu có ngại gì những chuyện ấy.
Trong bữa ăn tối ở buồng sĩ quan, Gianxen gọi một ly uýtxki, không pha xôđa để làm minh mẫn đầu óc. Người thuyền phó kể lại một tin giật gân trên báo - vụ nổ khủng khiếp trong khu nhà máy aniline ở Đức, thành phố gần đấy bị phá hủy và hơn hai nghìn người bị chết.
Người thuyền phó nói:
- Ông chủ của chúng ta cực kỳ may mắn. Việc tiêu hủy các nhà máy anilin sẽ làm ông ấy phất to đến nỗi có thể mua được toàn bộ nước Đức cùng vương triều và bọn xã hội dân chủ ở đấy. Ta hãy nâng ly mừng ông chủ.
Gianxen đem tờ báo về buồng mình. Ông ta chăm chú đọc bài báo miêu tả vụ nổ và những giả thuyết khác nhau về nguyên nhân gây ra vụ nổ, giả thuyết này nhảm nhí hơn giả thuyết khác. Tên của Rôlinh xuất hiện khắp nơi trong các cột báo. Mục thời trang nhận xét rằng từ mùa sắp tới trở đi, mốt thịnh hành sẽ là bộ râu che kín hai má và chiếc mũ chụp cao thay cho loại mũ mềm. Trên trang nhất tờ Ếchxenxiô đăng tấm ảnh du thuyền “ Aridôna” và mái đầu kiều diễm của bà Lamôlơ. Nhìn tấm ảnh này, Gianxen cảm thấy mất bình tĩnh. Nỗi lo lắng mỗi lúc một tăng.
Lúc hai giờ đêm, ông ta bước ra khỏi phòng, nhìn thấy Rôlinh ngồi trong ghế bành ở boong  thượng. Gianxen lại trở vào. Ông ta cởi bỏ áo ngoài, mặc bộ complê nhẹ may bằng vải len quí, đội mũ,đi giày và buộc chặt ví tiền vào túi cao su. Đồng hồ điểm ba giờ. Rôlinh vẫn ngồi trong ghế bành. Lúc bốn giờ, Rôlinh vẫn tiếp tục ngồi yên, nhưng bóng y rụt đầu vào hai vai như mất hết sức sống - y đã ngủ. Một phút sau, Gianxen nhẹ nhàng lần theo xích neo thuyền xuống nước và bơi về phía bờ.
 
73
 
 
- Bà Dôia, bà đừng có lồng lộn lên, vô ích thôi. Dây điện thoại và dây chuông đều bị cắt đứt rồi.
Dôia lại nghồi ghé xuống thành giường. Một nụ cười méo xệch đầy giận dữ giật giật trên môi ả. Tưclinxki ngồi ngả người trong chiếc ghế bành ở giữa phòng, xoắn xoắn bộ ria và chăm chí nhìn đôi ủng thấp bóng loáng của mình. Y vẫn không dám hút thuốc - Dôia cấm ngặt việc đó, còn Rôlinh thì đã nghiêm khắc ra lệnh là phải tỏ ra lịch sự với bà Dôia.
Đã gần năm giờ sáng. Mọi cố gắng của Dôia nhằm thoát ra, nhằm đánh lừa Tưclinxki đều vô hiệu.
- Dù sao chăng nữa, - Dôia nói, - tôi sẽ bằng một cách nào đó báo được cho cảnh sát biết.
- Đám gia nhân trong khách sạn đã bị mua chuộc, đã được cho một số tiền lớn rồi.
- Khi ngoài phố bắt đầu có đông người, tôi sẽ đập vỡ cửa sổ và hét to lên.
- Cái đó cũng đã được dự kiến trước. Thậm chí, chúng tôi dã thuê cả bác sĩ để xác  nhận những cơn rối loạn tâm thần của bà. Sẽ không một ai giúp bà và tin lời bà đâu. Bà hãy ngồi yên thì hơn
Dôia bẻ ngón tay răng rắc và nói bằng tiếng Nga:
- Đồ khốn khiếp. Đồ hèn hạ. Đồ liếm gót người khác.
Tưnclinxki bắt đầu nổi giận, bộ ria của y vểnh lên. Nhưng y không được phép đôi co với Dôia. Y càu nhàu:
- Tôi không hơi đâu mà cãi nhau với phụ nữ. Tôi thương hại bà đấy, bà Dôia ạ. Nhưng chúng ta sẽ phải ngồi đối diện nhau một ngày hoặc hai ngày cũng nên. Bà nên đi nằm cho bình tĩnh lại đi. Chúc bà ngủ ngon.
Y hết sức ngạc nhiên thấy lần này thì Dôia nghe lời y. Ả cởi giày, nằm xuống, ngả người xuống gối và nhắm mắt lại.
Qua hàng vai, ả nhìn thấy bộ mặt béo phị, giận dữ của Tưclinxki đang chăm chú theo dõi ả. Ả ngáp một cái, hai cái rồi đặt tay xuống dưới má.
- Mệt quá rồi, mặc kệ, muốn ra sao thì ra,- ả khẽ tự nhủ rồi lại ngáp.
Tưclinxki thu xếp để ngồi thoải mái hơn trong ghế bành. Dôia thở đều đều. Một lát sau, Tưclinxki bắt đầu giụi mắt. Y đứng dậy, đi đi lại lại, tựa người vào khung cửa. Rõ ràngy quyết định thức đứng.
Tưclinxki thật ngu ngốc. Dôia đã khai thác được ở y tất cả những gì cần thiết và giờ đây ả đợi y ngủ thiếp đi. Không thể đứng mãi ở cử được, y xem xét lại ổ khóa rồi trở về ghế bành.
Một lúc sau, chiếc hàm núc ních của y sệ xuống, Dôia liền trượt khỏi giường. Ả nhanh nhẹn rút chìa khóa trong túi áo ghilê của y và chộp lấy đôi giầy. Ả tra chìa khóa vào ổ - ổ khóa bỗng kêu ken két.
Tưclinxki thét lên như trong cơn ác mộng “ Ai? Cái gì?” rồi chồm dậy. Dôia mở toang cửa. Nhưng y đã tóm được vai ả, xô ả ngã vật xuống. Rồi y lấy chân đẩy ả vào giữa phòng vừa cố sức đóng cửa lại. Nhưng, một cái gì đó đã cản trở y. Dôia nhìn thấy cổ y bừng đỏ lên.
- Ai đấy? - y vừa khàn khàn hỏi vừa áp tai vào cửa.
Nhưng hai bàn chân y tiếp tục trượt trên sàn gỗ - cửa từ từ mở ra. Y vội vã rút khẩu súng lục ở túi sao và bỗng bị hất tung vào giữa phòng.
Ở ngưỡng cửa xuất hiện thuyền trưởng Gianxen. Thân hình rắn chắc của Gianxen bó chặt trong bộ quần áo ướt dẫm. Gianxen thoáng nhìn Tưclinxki rồi lao vội về phía trước như bị ngã. Đòn đánh định đánh cho Rôlinh thì nay giáng xuống gã Ba Lan: tay trái vươn thẳng ra nện một cú trời giáng vào sống mũi và đồng thời tay phải vung rộng cho một cú móc hàm. Tưclinxki lặng lẽ đổ nhào xuống thảm. Mặt y dập nát, bê bết máu.
Động tác thứ ba của Gianxen là quay về phái bà Lamôlơ. Tất cả các bắp thịt của Gianxen đều giật giật.
- Bà Lamôlơ, xin bà ra lệnh.
- Ông Gianxen, đưa tôi về du thuyền ngay.
- Xin tuân lệnh.
Như hôm qua ở tiệm ăn, ả quàng tay quanh cổ Gianxen và kề sát mặt vào mặt viên thuyền trưởng.
- Ông Gianxen, cuộc chiến chỉ mới bắt đầu thôi. Phần nguy hiểm nhất là ở phía trước.
- Xin tuân lệnh.
 
74
 
- Xà ích, đánh xe mau lên, phóng hết tốc lực đi…Tôi nghe đây, thưa bà Lamôlơ…Vậy là…trong khi tôi chờ ở phòng hút thuốc…
- Khi ấy, tôi lên phòng riêng. Tôi bỏ mũ và cởi áo ngoài ra. Tôi không để ý là chiếc tủ vẫn dùng để bịt cánh cửa thông sang phòng bên đã bị đẩy sang một bên. Tôi chưa kịp bước đến giường thì cửa đã mở ra và Rôlinh xuất hiện. Nhưng tôi biết rằng hôm qua Rôlinh còn ở Pari. Tôi cũng biết rằng y sợ đi máy bay đến chết khiếp. Nếu y có mặt ở đây thì tức là đó là vấn đề sống chết đối với y...Bây giờ tôi mới hiểu những toan tính của y…Còn lúc ấy tôi giận dữ ghê gớm. Y đã dám chăng bẫy và dụ tôi vào…Tôi chửi mắng y thậm tệ..Y bịt tai lại và bước ra.
- Y bước xuống phòng hút thuốc và bắt tôi trở về du thuyền…- Gianxen nói.
- Vấn đề là ở đấy đấy…Tôi ngốc nghếch thật!... Lại còn nào nhảy nhót, nào rượu chè, nào những chuyện vớ vẩn nữa chứ..Phải, anh bạn thân mến ạ, khi ta muốn chiến đấu thì phải gác những chuyện vớ vẩn lại..Khoảng hai ba phút sau y quay lại, tôi bảo: ta hãy giãi bày với nhau đã…Y liền nói với tôi bằng một giọng láo xược mà y không bao giờ dám dùng đến: “ Tôi chẳng có gì phải giãi bày hết, bà sẽ ngồi lại trong căn phòng này cho tới khi tôi cho phép bà ra ngoài…”. Toi liền cho y mấy cái tát…
- Bà dũng cảm thật đấy, - Gianxen khâm phục nói.
- Anh bạn thân mến ạ, đấy là hành động ngu ngốc thứ hai của tôi. Nhưng y hèn nhát!..Y cam chịu đến bốn cái tát…Miệng y run rẩy…Y chỉ dám tìm cách giữ tay tôi, nhưng y đã phải trả giá đắt….Và rốt cuộc, tôi đã phạm một hành động ngu ngốc thứ ba: tôi òa khóc…
- Chà, đồ khốn khiếp, đồ khốn khiếp!...
- Để tôi kể nốt đã, Gianxen…Rôlinh không chịu được khi nhìn thấy nước mắt…Y thà chịu bốn mươi cái tát còn hơn…, y liền gọi gã Ba Lan đến - gã đã chờ sẵn sau cánh cửa. Chúng đã thỏa thuận với nhau rồi…Gã Ba Lan ngồi trên ghế bành. Rôlinh bảo tôi: “ Trong trường hợp cực chẳng đã, tôi đã ra lệnh cho y được phép bắn”. Rồi y bỏ đi. Tôi khai thác gã Ba Lan. Một giờ sau, tôi đã được biết tỉ mỉ kế hoạch phản trắc của Rôlinh. Gianxen thân mến ạ, đây là vấn đề hạnh phúc của tôi. Nếu ông không giúp tôi thì mọi chuyện sẽ hỏng hết. Ông hãy giục xà ích đánh xe mau lên đi….
Chiếc xe ngựa phóng vùn vụt trên con đường ven biển mà vào lúc rạng sáng này hết sức vẳng vẻ, rồi dừng lại cạnh bậc đá hoa cương, nơi một vài chiếc thuyền khẽ kêu cọt kẹt trên làn nước đen sẫm.
Ít phút sau, Gianxen đỡ bà Lamôlơ nhẹ nhàng bước trên du thuyền “ Aridôna” theo chiếc thang dây từ mũi du thuyền thả xuống.
 
75
 
Hơi lạnh buổi sớm làm Rôlinh thức dậy. Boong thuyền ẩm ướt. Những đốm sáng trên các cột buồm đã nhợt nhạt đi. Vịnh biển và thành phố vẫn còn mờ mờ tối, nhưng khói trên ngọnv Vêduyvơ đã đượm hồng.
Rôlinh nhìn khắp lượt những ngọn đèn bảo vệ, nhũng hình bóng tàu thuyền. Y bước lại gần người gác, đứng một lát bên cạnh, khụt khịt mũi. Rồi y bước lên cầu chỉ huy. Ngay lập tức Gianxen bước ra, tươi tỉnh, sạch sẽ, quần áo là phẳng, và chúc Rôlinh một buổi sáng tốt lành. Rôlinh khụt khịt mũi - đôi chút lịch sự hơn so với lúc đứng cạnh người gác.
Sau đó, y yên lặng hồi lâu, tay xoay xoay chiếc khuy áo vét tong. Đó là một thói quen xấu mà trước đây Dôia đã bắt y phải bỏ. Nhưng bây giờ y chẳng cần nữa. Rất có thể trong mùa sắp tới, mốt thịnh hành ở Pari sẽ là động tác xoay xoay khuy áo này. Đám thợ may nhất định sẽ nghĩ ra loại khuy đặc biệt để xoay xoay như vậy.
Y hỏi nhát gừng:
- Những người chết đuối có nổi lên không?
- Nếu không bị buộc vật nặng thì sẽ nổi lên, - Gianxen bình thản đáp.
- Tôi muốn hỏi là ở ngoài biển, nếu có ai chết đuối thì tức là chết đuối hẳn chứ?
- Có nhiều lý do làm chết đuối: hoặc là khinh suất, hoặc là bị sóng cuốn đi, hoặc là do một chuyện ngẫu nhiên gì đó. Các nhà chức trách thường không can thiệp vào…
Rôlinh nhún vai.
- Đấy là tất cả những gì tôi muốn biết về những kẻ chết đuối. Tôi về phòng riêng đây. Tôi nhắc lại là nếu có ai đi thuyền đến thì không được cho biết là tôi có mặt trên du thuyền. Ông hãy tiếp họ rồi báo cáo với tôi.
Y bước đi. Gianxen trở lại phòng, nơi Dôia đang ngủ trên giường thuyền trưởng, đằng sau những tấm rèm xanh hạ xuống.
 
76
 
Vào lúc chín giờ, một chiếc thuyền bơi lại gần chiếc “ Aridôna”. Một gã rách rưới, vui vẻ, ngồi bên tay lái. Gã nâng mái chèo lên, hỏi to:
- Alô!... Du thuyền “ Aridôna” phải không?
- Cứ cho là phải đi, - người thủy thủ Đan Mạch cúi gập người qua thành du thuyền, trả lời.
- Trên du thuyền của anh có người nào tên là Rôlinh không?
- Cứ cho là có đi.
Gã rách rưới mỉm cười để lộ hàm răng tuyệt đẹp.
- Bắt lấy này.
Gã khéo léo ném lên thuyền một bức thư, người thủy thủ bắt lấy, gã tặc lưỡi:
- Cho tớ điếu thuốc nào.
Trong khi người thủy thủ còn đang ngẫm nghĩ xem nên ném cho gã rách rưới cái gì thì gã đã bơi thuyền đi và vừa nhún nhảy trong thuyền vừa uốn éo vì niềm vui sống mãnh liệt vào buổi sáng nắng ấm như vậy, gã lớn tiếng cất giọng hát.
Người thủy thủ đem bức thư đến cho thuyền trưởng. (Mệnh lệnh là như vậy). Gianxen vén rèm lên, cúi xuống Dôia đang ngủ. Ả mở mắt, mơ màng hỏi:
- Anh ta ở đây à?
Gianxen đưa bức thư cho ả. Dôia đọc.
“ Tôi bị thương nặng. Hãy thương tôi. Tôi đã vật lộn dữ dội vì lợi ích của ngài, nhưng đã xảy ra một điều không thể xảy ra được: bà Dôia đã ra thoát. Tôi quì xuống chân ngài….”
Dôia không đọc hết, xé tan bức thư.
- Bây giờ chúng ta có thể bình tĩnh chờ đợi ông ấy. (Ả ngước nhìn Gianxen, đưa tay cho Gianxen). Gianxen, ông phải hiểu rằng hoặc là tôi chết, hoặc là tôi sẽ thống trị cả thế giới. (Môi Gianxen mím lại, Dôia thích cử chỉ này). Ông sẽ là công cụ phục vụ cho ý chí của tôi. Giờ này, ông hãy quên đi việc tôi là phụ nữ. Tôi chỉ là một kẻ mơ tưởng mãnh liệt, là một kẻ ưa phiêu lưu mạo hiểm - ông hiểu chứ? Tôi muốn tất cả đều là của tôi. (Ả khoát tay vẽ một vòng tròn). Con người duy nhất có thể làm tôi được như vậy nhất định đã sắp đến chiếc “Aridôna” này rồi đợi người ấy, cả Rôlinh cũng vậy….
Gianxen giơ ngón tay lên, đưa mắt nhìn quanh. Dôia hạ rèm xuống. Gianxen bước ra, lên cầu chỉ huy. Rôlinh đang đứng ở đấy, bám tay vào lan can. Miệng y mím chặt, mặt y méo xệch đi vì giận dữ. Y chằm chằm nhìn vào khoảng vịnh phía xa vẫn còn mờ mờ khói.
- Hắn kia kìa, - Rôlinh vừa khó nhọc nói vừa giơ tay ra, ngón tay y lơ lửng như chiếc móc trên mặt biển xanh thẳm, - trên chiếc thuyền kia kìa
Và Rôlinh vội vã đến mức làm đám thủy thủ phải hoảng sợ, y khệnh khạng như con cua  chạy theo cầu thang khỏi cầu chỉ huy rồi biến mất trong phòng riêng. Y gọi điện thoại cho Gianxen để nhắc lại mệnh lệnh cũ : bắt người đàn ông chèo thuyền sáu mái chèo lên du thuyền “ Aridôna”.
 
77
 
Từ trước đến nay, chưa bao giờ Rôlinh lại dứt đứt khuy áo vét tong. Vậy mà giờ đây y đã vặn đứt tất cả ba  chiếc khuy. Y đứng giữa căn phòng lộng lẫy, trái kín thảm Ba Tư, trang hoàng toàn đồ gỗ quí, và nhìn đồng hồ treo tường.
Sau khi dứt đứt khuy áo, y bắt đầu cắn cắn móng tay. Y trở lại trạng thái man rợ nguyên thủy với một tốc độ khủng khiếp. Y nghe thấy tiếng thét hỏi của người thủy thủ đứng gác và câu trả lời từ dưới thuyền của Garin. Hai tay y ướt đẫm mồ hôi khi nghe thấy giọng nói ấy.
Chiếc thuyền nặng nề va vào mạn thuyền “ Aridôna”. Có tiếng hò hét đồng thanh của đám thủy thủ. Thang du thuyền kêu ken két, các bước chân thình thịch, “ Giữ lấy, bắt lấy..Cẩn thận đấy..Xong rồi…Đưa đi đâu?”. Đấy là các thủy thủ khiêng những chiêc hòm đựng bộ máy phát tia khủng khiếp. Sau đó, tất cả im ắng đi.
Garin đã sa bẫy! Rốt cuộc, thế là xong. Rôlinh dùng những ngón tay lạnh lẽo, ẩm ướt cầm lấy mũi và phát ra những âm thanh rin rít, khùng khục. Những người biết y khẳng định rằng y không bao giờ cười. Nói láo! Y thích cười, nhưng cười vào lúc không có ai chứng kiến, cười một mình, sau một thành công nào đó, và cười theo kiểu cười ngất như thế.
Rồi y gọi điện thoại cho Gianxen:
- Đã bắt được lên thuyền rồi chứ?
- Vâng.
- Dẫn hắn xuống buồng tầng dưới và khóa cửa lại. Phải cố làm cho kín đáo.
- Xin tuân lệnh! - Gianxen hoạt bát trả lời. Có vẻ như quá hoạt bát nữa, Rôlinh không thích như vậy.
- A lô, ông Gianxen phải không?
- Vâng.
- Một giờ nữa, du thuyền phải ở ngoài khơi.
- Xin tuân lệnh.
Trên du thuyền, các thủy thủ bắt đầu chạy tới chạy lui. Xích neo kéo lên kêu loảng xoảng. Động cơ bắt đầu làm việc. Bên ngoài cửa mạn, các dòng nước xanh nhạt chuyển động. Bờ bắt đầu lui dần. Gió ẩm ướt thổi vào các phòng. Và cảm giác sung sướng được di chuyển khắp thân hình cân đối của chiếc “ Aridôna”.
Dĩ nhiên, Rôlinh hiểu rằng y đang hành động hết sức ngu ngốc. Nhưng không còn Rôlinh trước kia nữa - một con bạc lạnh lùng, một con trâu không gì lay chuyển nổi, một kẻ thường xuyên tham dự những buổi giảng đạo ngày chủ nhật. Giờ đây, y hành động thế này hay thế khác không phải bởi vì việc đó có lợi, mà là bởi vì nỗi đau khổ của những đêm không ngủ, mối căm thù với Garin và nỗi ghen tuông tưởng chừng như đã che mờ đầu óc y. Y chỉ sôi sục một nguyện vọng thôi - đó là tiêu diệt Garin và cướp lại Dôia.
Thậm chí, ngay cả thành công không thể tin được - việc tiêu hủy các nhà máy của Công ty aniline - cũng trôi qua như trong giấc mộng. Y cũng chẳng hề quan tâm đến việc các thị trường chứng khoán thế giới đã đem lại cho y bao nhiêu trăm triệu đô la vào cái ngày hai mươi chín ấy.
Vào hôm đó, y đợi Garin ở Pari như đã ước định nhưng Garin không đến. Rôlinh đã tiên liệu như vậy và ngày ba mươi y đáp máy bay lao tới Naplơ.
Giờ đây, Dôia đã bị gạt ra khỏi cuộc chơi. Giữa y và Garin không có ai đứng giữa nữa. Việc thanh toán đã được nghiền ngẫm đến từng chi tiết, Rôlinh châm thuốc hút. Y cố ý trùng trình. Y bước ra hành lang, mở cửa xuống khoang dưới, nơi để mấy chiếc hòm đựng bộ máy phát tia. Hai người thủy thủ đang ngồi bên trên mấy chiếc hòm ấy đứng phắt dậy. Y ra lệnh cho họ trở về buồng thủy thủ.
Sau đó, y đóng sập cửa khoang dưới rồi ung dung đi về phía cửa đối diện, bước vào buồng bênh cạnh. Nắm lấy tay nắm cửa, y nhận thấy tàn trên điếu thuốc gãy làm đôi. Y thỏa mãn mỉm cười, mọi ý nghĩ của y đều rõ ràng, đã từ lâu y không cảm thấy một sự thỏa mãn như vậy.
Y mở toang cửa. Trong buồng, dưới chiếc chụp pha lê của ngọn đèn trên trần, có ba người đang  ngồi nhìn y bước vào: đó là Dôia, Garin và Senga. Rôlinh liền bước lùi lại hành lang. Y thấy nghẹn thở, óc y dường như thoáng đảo lộn lên. Mũi y toát mồ hôi. Và thật quái lạ, y mỉm cười một cách thảm hại và ngốc nghếch.
- Chào ông Rôlinh, - Garin vừa nói vừa đứng dậy, - tôi đây, ông bạn ạ.
 
78
 
Điều khủng khiếp nhất đã xảy ra - Rôlinh rơi vào tình thế lố bịch.
Có thể làm gì bây giờ được? Nghiến răng trèo trẹo, làm ôm sòm lên hay bắn chăng? - càng tồi tệ hơn nữa, càng ngu ngốc hơn nữa…Thuyền trưởng Gianxen đã phản bội y, cái đó rõ rồi. Đoàn thủy thủ không đáng tin cậy…Du thuyền đang ở ngoài khơi. Rôlinh phải dùng nỗ lực của ý chí (y thậm chí cảm thấy một cái gì đó trong người kêu ken két) để làm tắt nụ cười thảm hại trên mặt.
- Kìa! - y giơ tay lên và lắc lắc ra ý chào hỏi, - Kìa, ông Garin…Ông muốn đi hóng mát chắc? Tôi rất mừng…Chúng ta sẽ vui thú cùng nhau…
Dôia nói xẵng:
- Ông đóng kịch tồi lắm, Rôlinh ạ. Ông hãy thôi cái trò mua vui cho công chúng đi. Mời ông vào đây và ngồi xuống. Toàn những người quen biết, toàn những kẻ thù không đội trời chung mà. Chính ông có lỗi về việc chuẩn bị cho ông một nhóm bạn bè vui vẻ thế này để đi dạo trên Địa Trung Hải đấy.
Rôlinh đưa đôi mắt trắng dã nhìn ả:
- Bà Lamôlơ ạ, trong những việc lớn thì không có sự thù hằn cá nhân hoặc tình bạn cá nhân.
Và y ngồi xuống như ngồi xuống ngai vua giữa Dôia và Garin. Rồi y đặt hai tay lên bàn. Một phút im lặng kéo dài. Y nói:
- Được, tôi đã thua cuộc. Tôi phải trả bao nhiêu đây?
Garin mỉm cười đáp lại, mắt long lanh, hình như y sẵn sàng phá lên cười hết sức hiền hậu.
0
Vậy là chỉ còn mỗi phần cuối cùng, coi như cuốn này đã hoàn thành.
0


Vậy nhờ HuyTran xem lại, phần còn thiếu là phần nào

Có gì gửi bản scan sang, Ct.Ly tiếp tay với các hiệp sĩ khác cho xong cuốn này, tưởng là xong rồi chứ


0
Trích đoạn: huytran

Vậy là chỉ còn mỗi phần cuối cùng, coi như cuốn này đã hoàn thành.


"Phần cuối cùng" tức là phần ở sau cùng sách đó Ly.
0
Đánh máy: cocan11

Chương Kết



y nổi cuồn cuộn, cổ phồng lên, móc vài trên cổ áo đứt phựt. Đột nhiên, động cơ đãmở được kêu rộn rã. Đám người trên hàng hiên chạy theo bậc thang xuống dưới và vừa tung vũ khí vừa hét to: “Dừng lại ! Dừng lại !”.
            Bằng một nổ lực cuối cùng, Gianxen giật tung sợi xích, đẩy chiếc ca nô ra xa và bò theo thành ca nô đến chỗ lái.
            Sau khi ngoặc một vòng gấp, chiếc ca nô  lao vụt đi. Nhiều phát sung bắn đuổi theo.
-         Thang đâu? Đồ quỉ sứ! – Gianxen quát to trên chiếc ca nô đang bập bềnh bên dưới thành du thuyền “Aridôna”. – Thuyền phó đâu? Ngủ chắc ? Ta sẽ treo cổ!
-         Tôi đây, thưa thuyền trưởng !
-         Chặt đứt dây cáp ! Mở máy động cơ ! Tắt đèn đi !
-         Xin tuân lệnh !
Dôia là người đầu tiên bước lên chiếc “Aridôna”. Khom người qua thành tàu, ả thấy Gianxen cố đứng dậy rồi lại ngã xuống, mặt nhăn lại vì đau đớn.
-         Gianxen, ông làm sao thế?
-         Tôi bị thương.
      Bốn thủy thủ nhày xuống canô, dìu Gianxen lên. Y ngã ngất đi và được đưa vào buồng.
Chiếc “Aridôna” rẽ sóng, phóng hết tốc lực rời khỏi đảo vàng. Viên thuyền phó đảm nhận nhiệm vụ chỉ huy. Dôia đứng trên cầu chỉ huy, cạnh viên thuyền phó, tay bíu chặt vào lan can. Nước chảy từ mặt ả xuống, chiếc áo bó chặt lấy người ả. Ả nhìn ánh hồng mỗi lúc một rực rỡ (các doanh trại bốc cháy) và những làn khói đen cuồn cuộn bốc lên che kín hòn đảo. Nhưng rồi, hình như ả nhận thấy một chuyện gì đó, ả nắm lấy tay áo viên thuyền phó.
-         Quay về mạn Tây – Nam.
-         Có đá ngầm, thưa bà.
-         Im đi, không phải việc của ông ! … Luôn luôn cho thuyền chạy ở mạn trái đảo.
Ả chạy lên chiếc tháp nhỏ có đặt bộ máy phát tia.
Trên đảo, mãi tít bên trên đám khói lửa, lấp lánh một ngôi sao chói lọi – đấy là bộ máy phát tia chính đang săn lùng chiếc “Aridôna”.
Dôia quyết định chiến đấu, dù sao cũng không tài nào thoát khỏi tia sang có khả năng khống chế nhiều hải lý đang phát ra từ ngọn tháp kia. Tia sang lúc đầu lồng lộn trên các ngôi sao rồi chúc xuống đường chân trời, chỉ trong vài giây đã vẽ nên một vòng tròn chu vi bốn cây số. Nhưng giờ đây, nó kiên nhẫn sục sạo khu vực phía Tây đại dương, lướt trên các ngọn sóng, để lại dấu vết là những cột hơi nước nghi ngút.
Chiếc “Aridôna” chạy hết tốc lực dọc theo đảo Vàng. Nhưng một lần, khi nó cưỡi lên một ngọn sóng thì trên đảo đã nhận thấy nó. Tia sáng trắng chói lóa nhảy nhót quanh nó, lượn ngoằn ngoèo từ trên xuống dưới, xích lại gần, lúc thì đằng sau, lúc thì đằng trước.
Dôia cảm thấy ngôi sao chói lọi kia như chiếu thẳng vào mặt ả, và à cố hướng nòng bộ máy phát tia vào ngôi sao trên ngọn tháp đằng xa. Động cơ chiếc “Aridôna” gầm rít dữ dội, đuôi thuyền lộ ra, mũi chiếc thuyền bắt đầu chúc xuống, trườn theo lưng sông. Đúng lúc đó, tia sang kia bắt được mục tiêu, nó rung rẩy như ướm thử rồi không do dự, chiếu thẳng vào thân chiếc du thuyền. Dôia nhắm mắt lại. Chắc hẳn, tất cả những ai có mặt trên boong và chứng kiến cuộc chiến đấu sống mái này, đều thấy tim mình như ngừng đập.
Khi Dôia mở mắt ra, trước mặt ả là một bức tường nước, là vực thẩm mà chiếc “Aridôna” trượt xuống. “Vẫn chưa chết”, - ả thầm nghĩ. Ả rời tay khỏi bộ máy phát tia và kiệt sức buông thõng tay xuống.
Khi chiếc “Aridôna” lại cưỡi lên một đợt sóng, ả mới hiểu là tại sao ả thoát chết. Những đám khói lớn, dày đặc, bao phủ cả hòn đảo và ngọn tháp – chắc là các bể chứa dầu bị nổ tung. Sau màn khói như vậy, chiếc “Aridôna” có thể bình tĩnh trốn thoát.
Chiếc du thuyền tiến về hướng Tây – Bắc. Gió đã yếu đi, nhưng biển vẫn chưa yên hẳn. Mỗi ngày, chiếc “Aridôna” phát đi nhiều lần những tín hiệu qui ước để tìm cách bắt lien lạc với Garin, và hang chục vạn đàu phát thanh trên khắp thế giới nghe thấy giọng nói của Dôia :“Phải làm gì, phải đi đâu bây giờ? Du thuyền đang ở tọa độ này… chờ mệnh lệnh”.
Những con tàu xuyên đại dương khi bắt được tín hiệu ấy liền vội vã tránh xa địa điểm khủng khiếp, nơi lại xuất hiện chiếc “Aridôna” – “mối đe dọa của biển cả”.
119
Những đám dầu hỏa chat ngùn ngụt bốc lên, phủ kín dảo Vàng. Sau cơn dông bão là những giờ phút tĩnh mịch, và làn khói đen tỏa lên bầu trời trong trẻo, hắt xuống mặt biển một bong đen khổng lồ rộng vài cây số.
Hòn đảo dường như hoang tàn, chỉ ở phía mỏ là những gầu xúc của các máy nâng vẫn không ngừng kêu ken két như thường lệ.
Sau đó, giữa không khí yên tĩnh bỗng vang lên tiếng nhạc : một điệu hành khúc chậm, trang trọng. Qua màn khói, có thể nhìn thấy khoảng hai trăm người :  họ ngẩng đầu bước, nét mặt nghiêm nghị và quả quyết. Phía trước, bốn người khiêng một vật gì đó phủ lá cờ đỏ. Họ trèo lên núi đá, nơi sừng sững ngọn tháp có đặt bộ máy phát tia chính, và khi đến chân núi thì từ phía trên hạ xuống một bọc dài.
Đây là thi hài chú Ivan. Em hy sinh hôm qua, trong lúc chiến đấu với chiếc “Aridôna”. Sauk hi khéo léo trèo lên đỉnh tháp, em mở bộ máy phóng tia chính và sục sạo tìm chiếc “Aridôna” giữa những đợt song lớn.
Sau một hồi tìm kiếm, em bắt được mục tiêu. Em chiếu tia sáng hết đằng trước lại đằng sau chiếc “Aridôna” để điều chỉnh cho chính xác. Đột nhiên, tia sáng từ chiếc “Aridôna” biến thành ngôi sao chói lóa và lấp lánh, đâm vào mắt em. Bị tia sáng xuyên qua người, em ngã vào bộ máy phát tia chính…
-         Ivan yêu quí, em đã hy sinh anh dũng, và em hãy yên giấc nhé, - Senga nói. Anh quỳ xuống trước thi hài chú bé, lật mép là cờ ra và hôn vào trán em.
Kèn đồng nổi lên và hai trăm người cất tiếng hát bài “Quốc tế ca”.
Ít lâu sau, một chiếc máy bay bay vụt ra khỏi các cột khói. Nó tăng tốc rồi quay về phía Tây…
120
-         Thưa ngài, tất cả mệnh lệnh của ngài đã được thực hiện…
Garin khóa trái cửa ra vào, bước lại gần tủ sách và đưa tay sang bên phải tủ.
Viên thư ký nhếch mép cười.
-         Nút ấn cửa bí mật ở bên trái kia, thưa ngài…
Garin thoáng nhìn viên thư ký với vẻ lạ lung và ấn nút. Chiếc tủ sách lặng lẽ dịch sang bên, để lộ một lối đi hẹp dẫn đến khu phòng bí mật của lâu đài.
-         Xin mời ông, - Garin vừa nói vừa ra hiệu cho viên thư ký đi trước. Mặt viên thư ký tái nhợt đi. Với vẻ lịch thiệp lạnh như băng, Garin giơ khẩu sung lục lên, chĩa vào trán viên thư ký. – Thưa ông thư ký, phục tùng là khôn ngoan hơn…
 
121
Cửa phòng thuyền trưởng mở toang. Gianxen nằm trên giường.
Mong muốn của Gianxen đạ được thực hiện – y lại ở giữa đại dương, lại một mình với bà Lamolơ. Y biết rằng y sắp chết. Suốt mấy ngày nay y vật lộn với cuộc sống – một viên đạn xuyên qua bụng y – và nay, cuối cùng y đã dịu đi. Y nhìn những ngôi sao qua chiếc cửa mở.
Bỗng một bóng đen che mờ các ngôi sao và Dôia bước vào. Ả cúi xuống hỏi thăm sức khỏe của Gianxen. Y nhấp nháy mí mắt đáp lại, và Dôia hiểu rằng y muốn nói : “Anh rất hạnh phúc, em đang ở bên anh”. Khi ngực y giần giật mấy lần để hít không khí, ả ngồi cạnh giường y và ngồi im,  không nhúc nhích. Chắc hẳn những ý nghĩ buồn bã đang ám ảnh đầu óc ả.
-         Anh bạn thân mến, anh bạn duy nhất của tôi, - ả khẽ nói với vẻ tuyệt vọng âm thầm, - anh là người duy nhất trên đời này yêu qúi tôi. Anh sẽ chết mất… Ôi, lạnh quá…
Gianxen không trả lời, chỉ có mí mắt động đậy, dường như muốn xác định rằng y đang cảm thấy lạnh dần… Ả nhìn thấy mũi y nhọn lại và miệng y hé ra thành một nụ cười yếu ớt. Khuôn mặt y mới đấy thôi còn hồng hào đầy sức sống thì nay đã tựa như bằng sáp. Ả chờ đợi them nhiều phút nữa rồi chạm môi vào tay y. Nhưng y vẫn chưa chết. Y chầm chậm hé mở mắt, mấp máy môi. Dôia cảm thấy như y nói : “ Tốt quá…”.
Sau đó, mặt y biến đổi hẳn. Ả quay đi và thận trọng kéo rèm cửa.
122
Viên thư ký – con người thanh nhã nhất nước Mỹ - nằm sấp mặt, những ngón tay cứng đờ bám vào thảm : hắn chết ngay tức khắc, không kịp kêu một tiếng. Garin vừa cắn cắn đôi môi run rẩy vừa từ từ đút vào túi khẩu súng lục phát tia. Rồi y bước đến cánh cửa thép thấp lè tè. Y quay trên chiếc đĩa đồng một tập hợp con số mà chỉ riên y biết – cửa lập tức mở toang. Y vào trong căn phòng kín mít, không có cửa sổ, xây bằng bê tong cốt sắt.
Đấy là một loại tủ sắt riêng của nhà độc tài. Nhưng ở đấy không có vàng, cũng không có giấy tờ gì hết mà có một thứ quí giá hơn nhiều đối với Garia : một kẻ thứ ba giống hệt y, được y đem theo từ Châu Âu, lúc đầu bí mật giấu ở đảo Vàng rồi ở đây, trong căn phòng bí mật này của lâu đài. Kẻ thứ ba giống hệt y này là nam tước Coócphơ một dân lưu vong người Nga đã bán mình để lấy một món tiền lớn.
-         Vậy là rốt cuộc ông đã đến, - nam tước Coócphơ thốt lên và lười nhác quay về phía Garia. – Quỉ tha ma bắt ông đi, ông biến đâu vậy?... Ông còn định giam hãm tôi trong cái nhà mồ này bao lâu nữa? Thà tôi chết đói ở Pari còn hơn…
Garin không đáp, y giật dải băng và quẳng đi bộ lễ phục vùng với mớ huân chương, huy chương.
-         Ông cởi quần áo ra.
-         Để làm gì ? – nam tước Coócphơ tò mò hỏi.
-         Đưa quần áo của ông cho tôi.
-         Có chuyện gì thế ?
-         Đưa cả hộ chiếu và mọi giấy tờ nữa… Bộ đồ cạo râu của ông đâu ?
Garin ngồi vào chiếc bàn trang điểm. Y không sát xà phòng vào mặt, nhanh chóng cạo râu ria, mặt nhăn lại vì đau đớn.
-         Trong phòng bên cạnh có một người đang nằm. Ông phải nhớ rằng đó là viên thư ký riêng của ông. Nếu hắn bị bắt, ông có thể bảo rằng ông đã phái hắn đi làm một nhiệm vụ bí mật… Ông hiểu chứ ?
-         Có chuyện gì đấy ông ? – nam tước Coócphơ vừa hỏi to vừa bắt lấy chiếc quần Garin quăng đến.
-         Từ đây tôi sẽ theo lối bí mật vào công viên, đến chỗ chiếc xe của tôi. Ông sẽ giấu viên thư ký vào lò sưởi và sang phòng làm việc của tôi. Sau đó ông lập tức gọi điện cho Rôlinh. Tôi hy vọng là ông nhớ rõ toàn bộ cơ chế nền độc tài của tôi chứ ? Đầu tiên là tôi, rồi đến phó thứ nhất của tôi – giám đốc cảnh sát bí mật, rồi đến viên phó thứ hai của tôi – trưởng ban tuyên truyền, rồi đến viên phó thứ ba của tôi – trưởng ban khiêu khích. Rồi đến hội đồng bí mật ba trăm người, đứng đầu là Rôlinh… Ông cởi quần mau lên chứ !... Ông hãy gọi điện cho Rôlinh bảo rằng ông, tức là Piốt Garin, sẽ đứng đầu quân đội cảnh sát. Ông sẽ phải chiến đấu dữ dội đấy, ông bạn than mến ạ… Còn tôi thì chuồn đây.
123
Khi Garin ngồi một mình trên chiếc xe bịt kín và phóng như bay qua những đường phố trung tâm thì y hiểu ngay rằng y đã bỏ chạy kịp thời. Tại các khu công nhân và các vùng ngoại ô, hang chục vạn người đổ ra đương… Đây đó đã tung bay những lá cờ cách mạng. Trên các phố xá vội vã dựng lên những chiến lũy bằng ô tô bị lật nhào, bằng đồ đạc ném qua cửa sổ, bằng cột đèn, bằng cánh cửa, bằng chấn song…
Con mắt giàu kinh nghiệm của Garin nhận thấy công nhân được vũ trang đầy đủ… Trên các xe tải lướt qua các đám đông, chất đầy lựu đạn, và các loại sung… Rõ rang đây là bàn tay của Senga.
Giá như trước đây mấy tiếng đồng hồ, hẳn Garin đã cương quyết ra lệnh tung quân đội đán áp những người khởi nghĩa. Nhưng lúc này y chỉ bực dọc đạp mạnh chân ga. Chiếc xe lao vùn vụt giữa những tiếng hô và những lời nguyền rủa : “Đả đảo tên độc tài ! Đả đảo hội đồng ba trăm người !”
Máy phát tia nằm trong tay Senga. Mọi người đều biết rõ điều đó, những người khởi nghĩa đã tuyên bố ầm lên như vậy. Senga đang lãnh đạo cuộc cách mạng như một người chỉ huy dàn nhạc đang điều khiển bản hợp xướng anh hùng.
Loa phóng thanh đặt khắp mọi nơi theo lệnh của Garin trước đây, trong thời kỳ bán vàng nay chống lại chính y, đang loan báo cho toàn thế giới biết về cuộc tổng khởi nghĩa.
Ngược với mọi sự chờ đợi của Garin, nam tước Coócphơ, kẻ giống hệt Garin, bắt đầu hành động một cách kiên quyết và thậm chí, còn có kết quả nữa. Những đội quân tinh nhuệ của y tiến công các chiến lũy. Kỵ binh xéo chết nhiều người trên các ngã tư. Nhưng toán quân đặc biệt bẻ gãy các khóa cửa, xông vào nhà các công nhân, thẳng tay bắn giết.
Nhưng những người khởi nghĩa bền bỉ chiến đấu. Tại các thành phố khác, tại các trung tâm công nghiệp lớn, họ kiên quyết chuyển sang tiến công. Đến trưa thì cả nước đã vùng dậy khởi nghĩa…
Garin cho xe chạy hết tốc lực, lao băng băng qua các thị trấn, đè chết lợn, gà, chó… Thỉnh thoàng y chỉ dừng lại vài phút để lấy xăng, đổ nước lạnh vào bộ chế hóa khí… Y chạy suốt đêm.
Vào năm giờ sáng hôm sau, xe y bị nã sung…
Vào bảy giờ sáng, khi lướt qua một thị trấn nào đó, y nhìn thấy những lá cờ cách mạng và nhưng đám người đang cất tiếng hát…
Y chạy trốn suốt hôm sau về phía Tây, về phía bờ biển Thái Bình Dương. Lúc tảng sáng, khi tiếp xăng, y nghe thấy giọng nói quen thuộc của Senga phát ra từ loa phóng thanh.
-         Thắng lợi, thắng lợi rồi… Thưa các đồng chí, trong tay tôi là thứ vũ khí ghê gớm của cách mạng – bộ máy phát tia khủng khiếp…
Garin nghiến răng, không nghe hết, cho xe lao đi tiếp. Lúc mười giờ sáng, y thấy tấm biểu ngữ đầu tiên ở vệ đường vời những dòng chữ in đậm :
“… Các đồng chí… Tên độc tài đã bị bắt sống. Nhưng đó chỉ là kẻ giống hệt Garin… Garin đã trốn mất. Y đang chạy sang phía tây… Các đồng chí, hãy cảnh giác, hãy bắt giữ chiếc xe của tên độc tài… (Ghi rõ đặc điểm). Garin không được phép thoát khỏi tòa án cách mạng…”.
Đến giữa trưa, Garin phát hiện thấy một chiếc mô tô đang đuổi theo. Y không nghe thấy tiếng sung, nhưng cách đầu y mười phân, kính xe bị một viên đạn bắn thủng. Y cảm thấy lạnh gáy. Y dận hết ga, phóng ra sau một quả đồim ngoắt về phía những ngọn núi rậm rạm cây cối. Một giờ sau, xe y lao vào khe núi. Động cơ bắt đầu trục trặc và im bặt. Garin nhảy ra, vặn tay lái, đẩy xe lăng xuống vực, rồi vất vả lê bước, leo theo triền dốc dựng đứng về phía rừng thông.
Từ trên cao y nhìn thấy ba chiếc mô tô phóng vùn vụt trên đường cái. Chiếc cuối cùng dừng lại. Một người cởi trần, đeo súng, nhảy khỏi mô tô và cúi người bên vực thẳm, nơi chiếc xe vỡ tan của tên độc tài đang lăn xuống. Đến ngày thứ tư, y đã cuốc bộ đến một xóm hẻo lành ven biển, gần Lốt Angơlét. Tại đây, chiếc khí cầu riêng của y đã chờ sẵn.
 
124
Bình minh bừng dậy trên bầu trời không một gợn mây. Làn hơi nước hồng hồng tỏa lan khắp mặt biển. Garin cúi người qua cửa sổ khí cầu máy nhìn qua ống nhòm và vất vả lắm mới thấy mấy tia chính và giếng nhỏ. Y tự tin, kiên quyết và vui vẻ - tâm trạng sảng khoái đã trở lại với y.
Sáng hôm sau, viên thuyền phó chịu trách nhiệm chỉ huy con tàu sau khi Gianxen chết, lo lắng chỉ những đám mây khí quyển. Chúng nhanh chóng kéo đến từ phía Tây, phủ kín bầu trời tại một độ cao chừng mười cây số. Cơn dông và có lẽ là cơn bão biển lớn tiến lại gần.
Đang miên man suy nghĩ, tính toán, Garin đuổi viên thuyền trưởng đi.
-         Bảo biển thì đã sao, chuyện vặt. Tăng tốc độ lên…
Từ cầu chỉ huy, viên thuyền trưởng rầu rĩ nhìn bầu trời đang phủ đầy mây đen. Y ra lệnh bịt kín. Các cửa mạn, neo chặt xuồng và tất cả những gì có thể bị cuốn đi.
Đại dương tối sầm lại. Gió ào đến từng cơn, gầm rít, báo trước cho các thủy thủ về tai họa sắp đến. Biển nổi sóng dữ dội.
Rồi từ mạn Đông, một đám mây đen lớn, nặng nề, lan dần tới. Những cơn gió trở nên hung dữ hơn, sóng tràn qua boong du thuyền. Sóng nổi lên cao ngất.
Viên thuyền trưởng bào Dôia và Garin:
-         Ông bà xuống dưới đi. Mười lăm phút nữa chúng ta sẽ ở trung tâm cơn bảo. Các động cơ không cứu nổi chúng ta đâu.
Cơn bão ập xuống chiếc “Aridôna” với tất cả sự ghê gớm của cơn bão cấp mười một. Chiếc du thuyền bị vùi lấp giữa các cột song, nghiêng hẳn đi, đáy lộ ra đến tận sống đuôi, không thể điều khiển được nữa, bị cuốn băng băng theo những vòng của một hình xoắn ốc càng thu hẹp về phía trung tâm cơn bão hay “mắt bão” như các thủy thủ thường gọi.
Những đám mây đen chạm đến boong du thuyền. Trời tối đen như mực. thành du thuyền kêu răng rắc. Mọi người phải bám vào bất kỳ thứ gì vớ được để khỏi bị tan xương.
Chiếc “Aridôna” bị hất tung lên đỉnh các ngọn sóng, lật nghiêng rồi ném xuống vực thẳm. Đột nhiên mặt trời chói lòa hiện ra, trời im gió một thoáng lát, và những đợt sóng trong xanh, lấp lánh như bằng thủy tinh lỏng, cao bằng tòa nhà mười tầng, dập vào nhau, phát ra những tiếng ầm inh tai nhức óc, dường như thần Hải Vương đang giận dữ vỗ tay…
Đó chính là “mắt bão”, nơi nguy hiểm nhất của cơn bão. Trên boong chiếc “Aridôna”, mọi thứ đều bị cuốn sạch : mấy chiếc xuồng, cả hai ngọn tháp có đặt bộ máy phát tia, các ống khói và cầu chỉ huy cùng với viên thuyền trưởng…
Động cơ bị cháy hỏng, tay lái bị gãy.
-         Em không thể chịu nổi nữa, - Dôia rên rỉ.
-         Rồi sẽ kết thúc chứ… Chà, thật ma quỉ! – Garin khan khan trả lời.
-         Cả hai bị tơi tả, bị đau đớn vì va đập lien tục vào tường, vào bàn ghế, giường tủ. Trán Garin nứt toác. Dôia nằm trên sàn, bíu chặt vào chân chiếc giường bắt chặt bằng vít. Lăn đi lăn lại trên sàn cùng với người là vali, các cuốn sách đổ ra từ trong tủ, gối đệm, cam, bát đĩa vỡ…
-         Garin, em không thể chịu nổi nữa, quăng em xuống biển đi.
Một cú giật khủng khiếp hất Dôia ra khỏi giường, lăn tròn đi. Garin ngã lộn nhào qua người ả, đập vào cửa.
Vang lên tiếng răng rắc dữ dội. Nước đổ ào ào xuống. Tiếng người la thét. Căn phòng vỡ làm đôi. Một đợt sóng mạnh cuống Garin và Dôia đi, ném xuống vực nước ngầu bọt…
Khi Garin mở mắt ra, cách mũi y mười phân là một con tôm nhỏ ẩn dật, náu một nửa mình trong chiếc vỏ sò óng ánh, đang giương mắt nhìn và ngạc nhiên vẫy vẫy râu. Garin cố gắng lắm mới hiểu : “Vậy là ta sống sót…”. Nhưng y hồi lâu vẫn chưa gượng dậy nổi. Y nằm nghiêng trên cát. Tay phải y bị thương. Nhăn mặt vì đau đớn, y cố co chân lại, ngồi dậy.
Cách không xa là một cây cọ đứng cong tấm thân mảnh dẻ, làn gió mát thổi xào xạc vẫy lá… Garin đứng lên, lảo đảo bước đi. Khắp xung quanh, dù y có nhìn đâu chăng nữa.\, vẫn chỉ thấy những làn sóng rực rỡ ánh nắng lan đãng, ào ào đạp vào dải bờ thấp… Đó là tất cả những gì còn sót lại của chiếc “Aridôna” bị vỡ tan cùng đoàn thủy thủ khi va vào những tảng đá ngầm của đảo san hô.
Garin khập khiễng đi sâu vào đảo, nơi những chỗ cao hơn phủ đầy các bụi cây thấp và cỏ xanh rờn. Dôia nằm ngửa ở đó, dang hai tay ra. Garin ngồi xuống bên cạnh, không dám đụng vào người ả để khỏi cảm thấy hơi lạnh của cái chết. Nhưng Dôia vẫn sống, mí mắt ả giật giật, đôi môi khô khốc mấp máp.
Trên hòn đảo san hô này có một hồ nước mưa, tuy hơi mằn mặn nhưng vẫn uống được. Trên các bãi bồi là sò, hến, thủy tức, tôm nhỏ, tóm lại là tất cả những gì mà khi xưa đã dung làm thức ăn cho người nguyên thủy, lá cọ có thể dung làm quần áo và vật che nắng ban trưa.
Hai kẻ trần truồng bị ném lên mảnh đất trơ trụi vẫn có thể sống lay lắt qua ngày… Và chúng bắt đầu sống trên hòn đảo heo hút giữa Thái Bình Dương này. Thậm chí, cũng không hề có hy vọng là một con tàu nào đó chạy qua, nhận thấy chúng và đưa lên tàu n ữa.
Garin chuyên bắt sò hến và dung áo bắt cá trong hồ nước ngọt, Dôia tìm thấy trong một chiếc hòm bị ném lên bờ từ chiếc “Aridôna” có năm mươi bảy cuốn sách in lòe loẹt các bản xẽ hệ thống lâu đài và những khu nhà giải trí trên đảo Vàng. Ở đó cũng có những bản đạo luật và bản qui định nghi thức trong cung của bà Lamôlơ, nữ chúa tể thế giới…
Suốt ngày này sang ngày khác, dưới bóng lều dựng bằng lá cọ, Dôia lật giở từng trang cuốn sách này, cuốn sách do trí tưởng tượng mãnh liệt của ả thêu dệt nên. Còn lại muốn mươi chín bản đóng bìa cứng bằng da dê và mạ vàng thì Garin dung làm vách chắn gió.
Garin và Dôia không trò chuyện gì với nhau hết. Chuyện trò để làm gì? Và về cái gì ? Chúng đã suốt đời cô độc và nay rốt cuộc, đã nhận được sự cô độc hoàn toàn.
Chúng lẫn lộn ngày tháng rồi không đếm ngày tháng nữa. Mỗi khi bão tố tràn qua đảo thì chiếc hồ nhỏ lại tràn đầy nước mưa mới. Có nhiều tháng ròng rã trời nắng chang chang như thiêu đốt, bầu trời không một gợn mây. Vào những lúc ấy, chúng phải uống thứ nước hôi thối…
Chắc hẳn là Garin và Dôia vẫn bắt thủy túc và sò hến trên hòn đảo này. Sauk hi đã no nê, Dôia lại ngồi giở cuốn sách có in những bản vẽ tuyệt đẹp các lâu đài, nơi pho tượng đá hoa cương tuyệt trần tạc hình ả nổi cao lên giữa các hàng cột đá và các bồn hoa, còn Garin thì chúi đầu vào cát, lấy chiếc áo vét tong cũ nát đắp lên người, khe khẽ ngáy, có lẽ cũng đang mơ thấy những chuyến phiêu lưu kỳ thú.
 
ĐẶNG NGỌC LONG dịch.

0
Có bạn nào rảnh xin đánh hộ 3 trang 93, 94, 95. Đây là link:

http://www.megaupload.com/?d=KKZMKA5G
0
«« « 1 2 3 » »»