Những ngày không ánh sáng
Kim Tịch Hà Tịch hề, Tái Châu Trung Lưu.
Kim Nhật hà nhật hề, đắc dữ Quân vưng đồng chu
Mộng nữu bị ho hề, bất tí cấu sỉ
Tâm kỷ phiền nhi bất tuyệt hề, đắc tri vưng tử.
Sn hữu mộc hề, mộc hữu chi
Tâm duyệt quân hề, quân bất tri.
Trên Cô Tô đài, gái Việt ca bn tình ca của nước Việt.
Ngô vưng Phù Sai ngồi uống rượu, nhìn Tây Thi, nghe gái Việt ca, trông gái Việt múa, đó là những ngày u nhàn hưởng lạc. Những ngày yên tĩnh và êm đềm.
Tây Thi bệnh đi một dạo, dường như ốm hn một chút, cũng dường như càng đẹp hn lên. Hay ít ra, dưới mắt Ngô vưng, nàng càng mnh mai lại càng nhu hòa, kiều mỵ.
Vì thế, nhà vua bầu bạn bên nàng vui chi, mong cho nàng cởi mở, khuây khỏa để tăng sức khỏe. Đó là nguyên nhân Ngô vưng gác cuộc chinh Bắc. Vì cuộc chinh Bắc, Ngô vưng đã giết hại đại thần Ngũ Tử Tư. Nhưng Tây Thi bệnh lại dễ dàng ngăn trở Ngô vưng mở rộng biên cưng lên mặt Bắc.
Điều ấy làm cho Tây Thi khổ sở hết sức tuy trên đài Cô Tô rất bình yên, phẳng lặng. Duy có dưới đài Cô Tô thì từ thành thị đến thôn quê nước Ngô, toàn dân bi thưng, ta thán, thở dài... Đã ba tháng rồi, người dân nước Ngô mặt ủ mày châu vì họ đã mất đi vị tướng phụ tài ba Ngũ Tử Tư.
Bên núi bên sông, tại những ni cây to bóng c, ở những ni có thầy đồng bóng, người Ngô thường hát nhỏ bài ca từ Sở loan truyền:
- Thành ký dũng hề, hữu dĩ vô,
Chung cưỡng cường hề, bất kh lăng.
Thân ký tử hề, thần dĩ linh,
Hồn phách nghị hề, vi quỷ hùng.
Bài ca ấy vốn của người nước Sở khóc cho vận nước Sở, nay người Ngô dùng để truy điệu vị tướng phụ nước Ngô.
Biết bao cuộc tế lễ cử hành bên ven sông. Bởi vì thi thể Ngũ Tử Tư đã bị Ngô vưng vứt xuống sông.
Nguyên cái chết của Ngũ Tử Tư làm cho Ngô vưng hối hận. Nhưng lời trối của Ngũ Tử Tư lại làm cho nhà vua nổi giận. Trước khi chết, Ngũ Tử Tư dặn lại kẻ gia thần hãy móc mắt mình đặt ở cửa Đông thành Ngô để sẽ nhìn rõ quân Việt tràn vào. Câu nói ấy làm cho Ngô vưng sinh hận, truyền đem thây Ngũ Tử Tư vứt xuống sông.
Với nước Ngô, Ngũ Tử Tư trở thành bất tử. Chuyện về Người lúc chết đã phổ biến khắp nước. Truyền rằng lúc thị vệ mang Thuộc Lâu bửu kiếm đến tướng phủ, cũng vừa lúc đại phu Vưng Tôn Hùng đến. Đại phu cố ngăn Ngũ Tử Tư tự sát đồng thời cho biết sẽ thâu hết can đm đến gặp Ngô vưng xin lượng tình. Ngũ Tử Tư lắc đầu, biết chắc Ngô vưng sẽ không vì Vưng Tôn Hùng mà thay đổi quyết định.
Vưng Tôn Hùng lại khuyên Ngũ Tử Tư trốn đi, nhưng người vẫn lắc đầu nói:
- Làm kẻ vong thần thì ở đâu cho yên? Vưng Tôn Hùng nhắc nhở:
- Trước kia, tướng phụ cũng từng chạy khỏi Sở.
- Trước kia à?
Ngũ Tử Tư sờ đầu tóc bạc, bỗng nhiên c cười. Lặp lại mấy tiếng “Vong thần ở đâu cho yên”, Ngũ Tử Tư nhận kiếm, ngửa mặt than dài:
- Ta giúp cho phụ thân Phù Sai xưng bá. Ta lại giúp cho Phù Sai làm vua. Bấy giờ, Phù Sai muốn chia cho ta nửa nước Ngô để ta xưng vưng nhưng ta không cần... Ngày nay Phù Sai lại đem Thuộc Lâu bửu kiếm cho ta... ha ha.
Vưng Tôn Hùng run rẩy:
- Tướng phụ!
- Đừng lo cho ta, Vưng Tôn Hùng, hãy lo cho quốc gia! Hãy đề phòng người Việt, sẽ có một hôm quân Việt kéo đến... Ôi...!
Nói xong, Ngũ Tử Tư quay lại dặn gia thần: Sau khi ta chết, người khoét mắt ta treo ở cửa Đông thủ phủ nước Ngô để ta nhìn thấy quân Việt tràn vào...
Sau đó, Ngũ Tử Tư dùng Thuộc Lâu bửu kiếm tự vẫn.
Tại Hội Kê, Việt vưng Câu Tiễn mở tiệc khao lớn, mừng mặt trời nước Ngô đã rụng.
Mọi người đều dâng rượu cho Câu Tiễn khiến nhà vua say mèm, rút kiếm múa theo nhịp phách. Đến trước Phạm Lãi, Câu Tiễn bỗng dừng lại hỏi:
- Thiếu Bá có cm tưởng gì trước cái chết của Ngũ Tử Tư?
- Trời giúp nước Việt ta!
Việt vưng c cười, vứt kiếm, nâng ly để trước mặt Phạm Lãi uống một hi hết sạch. Kế đến, nhà vua lại vỗ vai Phạm Lãi nói:
- Sẽ có một hôm, chúng ta cùng đến Cô Tô, song không phi đến để giữ ngựa cho Phù Sai. Ha ha... Tại Cô Tô, Thiếu Bá còn một Tây Thi!
Phạm Lãi đáp cách vô tâm:
- Bẩm phi.
- Ha ha... nào, cạn ly!
Câu Tiễn lại loạng choạng bước đến trước mặt Văn Chủng.
Phạm Lãi không thấy vui gì. Cái chết của Ngũ Tử Tư đã làm cho chàng thứ cm giác nặng nề. Huống chi còn có Tây Thi... Thời gian không làm phôi phai tình cũ. Cuộc sống có nhiều biến ci vẫn không làm sao ngăn chàng hồi nhớ chuyện ngày xưa. Tây Thi dường như vĩnh viễn sống trong lòng chàng. Hình ảnh lúc kề cận bên Tây Thi đã trở thành ảo ảnh xuất hiện trước mắt chàng. Đến cả vợ chàng nằm bên giường, chàng cũng thấy là Tây Thi nữa!
Phạm Lãi thầm trách mỹ nhân kế của Văn Chủng. Vì mỹ nhân kế mà chàng phải chia tay với người đẹp Tây Thi. Hn nữa, chàng còn trách kế hoạch “Mười năm sinh sản, mười năm huấn luyện”. Kế hoạch ấy đã bắt chàng cưới vợ sinh con... trong khi Tây Thi vì chuyện quốc gia mà chấp nhận ly cách.
Phạm Lãi vốn muốn giữ thân phận trong sạch của một người con trai để chờ đợi ngày hội ngộ. Nhưng kế hoạch “tăng gia sinh sản” làm cho chàng không sao giữ được. Bao lần chàng nghĩ: “Tây Thi biết ta thành hôn ắt đau đớn lắm! Có thể nàng trách ta là kẻ phụ tình!”
Lệch lạc vấn đề, lệch lạc cảm tình làm cho lòng Phạm Lãi như biển chứa ưu sầu, từ bao lâu nay chàng cố gắng làm việc, dùng sự mệt mỏi để dẹp bỏ suy nghĩ. Chàng sợ rảnh rang, vì mỗi phút rảnh rang là một trào lòng tưởng nhớ.
Bây giờ, chàng nhìn ly rượu trống không mà nghĩ ngợi.
Văn Chủng lướt tới nói riêng với chàng:
- Thiếu Bá! Chúng ta vào trong bàn bạc, chứ quân vưng say rồi. Chúng ta cần phải quyết định một số việc. Như sáng mai, phải đưa người sang Cô Tô.
Vào phòng trong, Văn Chủng cười hỉ hả mời Phạm Lãi ngồi. Đoạn mở cửa hông cho Phùng Đồng bước ra chào Phạm Lãi.
Sự có mặt của Phùng Đồng làm cho Phạm Lãi giật nẩy, buột miệng hỏi:
- Phùng huynh sao lại chạy về đây?
Văn Chủng đáp thay:
- Tác dụng của Ngũ Tử Tư là ở chỗ đó. Lúc Ngũ Tử Tư còn sống, Phùng Đồng không dám ra khỏi Cô Tô thành.
- à à!... (Phạm Lãi vòng tay hướng về Phùng Đồng) Phùng huynh thật có bản lĩnh, ở phủ Bá Hi mấy năm mà chẳng ai nghi!
Phùng Đồng mỉm cười:
- Làm gia thần của Bá Hi là an toàn nhất. Vừa rồi, tôi bàn với Bá Hi chuyện sai sứ đi tuần tra biên cảnh, nhân đó vượt Tiền Đường về đây.
- Thế còn...?
Phạm Lãi muốn hỏi liền tình trạng của Tây Thi nhưng kịp bẻ lửng, trở đề:
- ... Còn nước Ngô có gì đặc biệt sau khi Ngũ Tử Tư chết?
- Tạm thời chưa có gì đặc biệt. Chỉ thấy các ni, các bộ môn đều có hiện tượng chán chường, mệt mỏi. Bá Hi nắm quyền chính trị làm hỏng bét!
Phạm Lãi trầm ngâm. Văn Chủng liếc qua bạn hỏi:
- Thiếu Bá! Sao anh không hỏi chuyện Tây Thi?
Phạm Lãi ngẩng nhìn Phùng Đồng, Phùng Đồng cũng nhìn lại chàng chăm chú, dường như muốn tìm trên mặt chàng đường nét của tình yêu.
Phạm Lãi hỏi giọng âu lo:
- Tây Thi có biết Phùng huynh trốn về Việt không?
- Không. Tôi không nói cho nàng biết tuy tôi vẫn thường liên lạc với nàng. Tây Thi rất mạnh, dường như rất nhớ Thiếu Bá.
Phùng Đồng cố giấu chuyện Tây Thi yêu Phù Sai.
Phạm Lãi lập lại cách kéo dài: “Nàng rất mạnh...” với ngập tràn chua xót.
- Tây Thi đã sống thích ứng với hoàn cảnh nên từ bao giờ cho đến bây giờ, Ngô vưng chẳng để tâm nghi ngờ nàng. Xem thế đủ biết nàng thành công ở Cô Tô đài.
Phạm Lãi khổ sở hỏi:
- Nghe đâu nàng bị bệnh mấy lần...
- Bệnh lúc trước, nhưng bây giờ nàng rất khỏe.
Phùng Đồng lại che giấu thêm một số việc mà sau khi thảo luận với Văn Chủng, cả hai đồng ý không nên nói cho Phạm Lãi nghe.
Phạm Lãi nói nhỏ như nói để chàng nghe.
- Mong cho nàng mạnh giỏi.
Văn Chủng chen nói:
- Bây giờ chúng ta đi vào vấn đề chính yếu. Theo tôi thì chúng ta nên hỏi mượn nước Ngô ba vạn thùng thóc.
- Mượn thóc? (Không hiểu ý Văn Chủng, Phạm Lãi nói luôn) Chúng ta có thiếu lưng thực đâu?
- Mượn không vì thiếu mà muốn làm cho người Ngô hiểu rằng chúng ta có tính ỷ lại. Hn nữa, còn làm cho Ngô vưng hiểu rằng chúng ta nghèo, nghèo thì không phát động chiến tranh. (Văn Chủng thư thả nói thêm) Theo lời Phùng Đồng thì sau cái chết của Ngũ Tử Tư, Phù Sai để ý đến nước Việt chúng ta nhiều hn. Vì trước khi chết, Ngũ Tử Tư tiên đoán chúng ta sẽ đánh Cô Tô.
- Thế à...?
- Mong được như vậy. (Văn Chủng bỗng bật cười) Đến lúc ấy, Thiếu Bá sẽ nhận Tây Thi về!
Phùng Đồng hỏi:
- Phạm đại phu có tin gì cần tôi mang sang Cô Tô?
- Không... có...
Phạm Lãi không muốn đưa tin tuy chàng có muôn lời vạn tiếng cần nói. Vì sự an toàn của Tây Thi, chàng không muốn thố lộ gì. Ngừng lại lúc lâu, Phạm Lãi hỏi:
- Bao giờ Phùng huynh trở lại Cô Tô?
- Vào tờ mờ sáng thì qua sông.
- Để tôi đưa Phùng huynh đến ven sông. (Văn Chủng nói thêm) Có gì, lên xe chúng ta sẽ bàn tiếp. Thiếu Bá, anh có thể đi chung không?
- Không được rồi. Sáng sớm, tôi phi duyệt binh.
Phạm Lãi không muốn nói nhiều với Phùng Đồng vì nói đến Cô Tô thì không thể tách rời Tây Thi. Và nhắc đến nàng thì chàng sốt ruột c hồ điên lên được.
Chẳng bao lâu, Phạm Lãi cưỡi ngựa đưa Văn Chủng và Phùng Đồng ra ngoài thành Hội Kê.
Trong đêm khuya, có một chiếc xe lao đi mất hút. Chỉ còn một mình Phạm Lãi đứng lặng, đưa mắt nhìn vào nguyên dã mịt mùng. Từ đó, chàng bỗng thấy ai mường tượng như Tây Thi, nàng độc hành trong đêm đen vô bờ...
***
Tin Ngũ Tử Tư chết đã truyền sang nước Sở.
Sở vưng đội mũ cao, đeo trường kiếm, hướng dẫn các đại phu, triều thần đến văn miếu cúng tế tổ tiên. Nhìn các hình tượng của tổ tiên, Sở vưng cất giọng oang oang:
- Tên sát sinh ấy chết rồi, từ đây nước Sở chúng ta không phi lo sợ nữa.
Dưới sự hướng dẫn của các thầy cúng rỗi, triều thần vừa ca vừa múa.
Vưng tộc nước Sở vĩnh viễn không quên chuyện năm nào Ngũ Tử Tư thống lĩnh binh Ngô sang công phá thủ đô nước Sở. Ngũ Tử Tư đuổi vua Sở chạy, quật thây đời vua Sở trước lên để tự tay cầm roi đánh ba trăm roi. Đó là mối đại sỉ nhục từ thuở s khai đến giờ chưa có.
Hàng quý tộc nước Sở cũng vĩnh viễn không quên chuyện Ngũ Tử Tư để quân Ngô chiếm đoạt hết vợ con họ sau khi tràn chiếm thủ phủ.
Sở vốn là nước đứng đầu các quốc gia phưng Nam, nhưng sau lần càn quét của Ngũ Tử Tư, nước Sở tan hoang. Vua Sở không thể không di đô cách xa Ngô hn. Dầu vậy, tôi chúa Sở vẫn nặng lòng lo một ngày nào đó, binh Ngô sẽ đến nữa. Hôm nay, họ khỏi lo rồi bởi vì mặt trời Ngô quốc đã lặn.
Tại thành Lâm Truy, con trai của Ngũ Tử Tư mặc vi gai, thắt dây cỏ, mang tin thân phụ bị bức tử đến báo với vua Tề.
Tề vưng cau mày, lập tức bãi triều, triệu tập riêng quần thần thân tín nghị sự. Vì Ngũ Tử Tư là người duy nhất phn đối việc Ngô phạt Tề. Ngũ Tử Tư chết đi, Ngô vưng sẽ triệt để thi hành chính sách Bắc tiến. Bấy giờ, nước Tề được coi như tiền đồn phía Bắc, sẽ gặp điều bất hạnh nên Tề vưng lo lắng mãi không thôi.
Nhưng họ Bao được giao chăm sóc việc học cho con của Ngũ Tử Tư lại hết sức mừng rỡ tâu:
- Ngũ Tử Tư chết rồi thì binh Ngô không thể hoành hành Trung Nguyên được. Trước kia, Phù Sai ngang dọc là bằng vào binh sĩ do Ngũ Tử Tư huấn luyện. Giờ Ngũ Tử Tư chết, binh Ngô sẽ mất tinh thần!
- Nhưng Phù Sai vẫn có thể tấn công chúng ta.
Họ Bao c quyết:
- Tạm thời Phù Sai chưa phát binh đâu. Bằng có đến cũng bị đánh bại ngoài thành Lâm Truy!
Tại Khúc Phụ, công khanh nước Lỗ cũng tho luận về cuộc thế diễn biến sau cái chết của Ngũ Tử Tư. Bao năm qua, nước Lỗ thần phục nước Ngô. Nay Ngũ Tử Tư chết khiến chúa tôi nước Lỗ cm thấy hoang mang, trống rỗng.
Vua Lỗ đau đớn nói:
- Nghiệp bá của nhà Ngô xem chừng phi đổi. Chúng ta lại phi tìm một chủ nhân khác!
Lý Tôn Thị lên tiếng khuyên ngăn:
- Muôn tâu, bây giờ chúng ta không nên vọng động. Bởi Ngũ Tử Tư tuy chết, nhưng binh sĩ do một tay Người huấn luyện hãy còn. Hn nữa, binh Ngô có kỷ luật sắt, nhất thời chưa tan rã đâu! Theo thần đoán thì trong vòng đôi ba năm, nước Ngô vẫn chưa suy sụp hẳn.
Trong niềm lo sợ ấy, Lỗ vưng phái người đi dò động tịnh của bốn nước: Ngô, Sở, Tấn, Tề.
Ngoài Hàn Cốc, cách Cô Tô thành không biết bao xa, nước Tần cũng được tin Ngũ Tử Tư chết. Người Tần trước đây cũng có việc đụng chạm với Ngũ Tử Tư. Nguyên lúc Ngũ Tử Tư công phá thành đô nước Sở, quân Tần giúp Sở mới đuổi được quân Ngô về. Lần ấy, binh Tần thắng nhưng người Tần biết rõ Ngũ Tử Tư là một nhân tài. Họ luôn luôn chú ý đến hành động của Ngũ Tử Tư nên cái chết của người rất được nước Tần xem trọng.
Ngũ Tử Tư là mặt trời của nước Ngô. Giờ đây, mặt trời đã lặn khuất rồi!
Cuộc bại binh lần đầu
Từ đài Cô Tô nhìn xuống giáo trường, quân
đội nhà Ngô vẫn cường tráng và có qui củ như trước.
Các cô gái Việt trên đài Cô Tô dĩ nhiên có phần thất vọng. Ai nấy tin rằng, cứ Ngũ Tử Tư chết đi thì binh Ngô sẽ tan rã. Nào ngờ, Ngũ Tử Tư chết đã hai năm mà binh lực nhà Ngô vẫn hùng mạnh như trước.
Di Quang thất vọng ê chề. Trong những đêm hôm vắng lặng, hoặc lúc Tây Thi ngủ trưa, Di Quang thường cùng chúng bạn tâm tình:
- Binh Hội Kê chưa phát động là họ đã láo khoét. Trước đây họ nói: “Ngày nay Ngũ Tử Tư chết, ngày mai binh Việt đến Cô Tô”.
Triền Ba biện gii:
- Có lẽ vì một biến chuyển quan trọng nào đó. Di Quang nhớ không, năm rồi quân vưng cho người sang Ngô hỏi mượn lưng thực. Lưng thực không đủ thì làm sao đánh giặc cho được?
- Vì thế mà Ngô vưng thêm phần quyết tâm tiến lên mặt Bắc. Sau cái chết của Ngũ Tử Tư, nhà vua định bỏ kế hoạch chinh phạt. Nhưng vì có người Hội Kê đến mượn lưng mà nhà vua phát binh đánh Tề.
Các cô cùng thở dài:
- Đợi đến mình già chắc?
- Mười hai hay mười ba năm rồi nhỉ?
Thời gian ở Ngô quá lâu làm cho các cô gái Việt gần như không còn nhớ rõ nữa. Mỗi lần họp mặt than thở, chẳng mấy chốc là các cô nói đến Tây Thi.
- Thật là một con người kỳ cục!
- Tây Thi đã đến mức nguy hiểm rồi đó!
- Không hiểu chị ấy có mưu đồ gì trong cái chết của Ngũ Tử Tư, chứ theo mình thấy thì chị ấy rất thưng tâm. Hình như không phi chị ấy chủ mưu giết Ngũ Tử Tư.
- Phùng đại phu nói Tây Thi là một nữ gián điệp tuyệt vời, nhưng tôi không tin.
- Có thể là Phùng đại phu nói mỉa đó!
- Không. Đại phu nói thật và tôi biết rõ ý người. Theo người, Tây Thi làm việc rất cẩn thận khiến ai cũng hiểu là chị ấy thật sự yêu Ngô vưng và được Ngô vưng yêu lại.
Các cô tha hồ bàn luận, không biết chắc đâu là đâu. Nỗi buồn phiền trong các cô ngày một gia tăng vì c năm rồi, Phùng Đồng không cho các cô một chỉ thị nào c.
Phần Ngô vưng thì đã khởi binh phạt Tề chưa thấy trở về. Một mình trên Cô Tô đài, cuộc sống của Tây Thi rất đỗi bình yên nếu trông vào dáng vẻ bên ngoài. Nhưng ở tận đáy lòng nàng, mối khổ sầu đã đóng thành khối.
Thời gian dằng dặc càng lúc càng làm cho nàng cm thấy cuộc đời rỗng tuếch. Sứ mạng nhận lãnh của quốc gia, thành thật nhìn nhận, nàng không có cố gắng thi hành. Về phưng diện tình yêu, nàng cũng đã phụ tình. Nàng thường mong muốn trọn vẹn đôi đàng nhưng đây là một mối mâu thuẫn không có cách nào thống nhất.
Sáng nay, trên bình đài, Tây Thi đang tập múa kiếm, bỗng có tin báo thái tử Hữu một mình bước lên đài.
Lâu lắm rồi, Tây Thi và thái tử Hữu rất ít khi qua lại. Dưới mắt người Ngô, thái tử Hữu thuộc phe Ngũ Tử Tư. Tử Tư không ưa Tây Thi thì thái tử cũng bất mãn nàng. Vì vậy, ngay lúc vua cha ở nhà, thái tử cũng rất ít khi bước lên đài Cô Tô vì không muốn gặp Tây Thi.
Thế nên, khi nghe thị vệ báo có thái tử đến, Tây Thi rất ngạc nhiên. Nàng vội trao kiếm cho thị nữ, đoạn vào trong thay đổi y phục. Nàng thầm nghĩ, thái tử đến ắt có tin từ mặt trận. Và nếu vì tin mặt trận thì tin ấy hẳn quan trọng phi thường.
Tây Thi vội vàng trở ra tiếp người khách hiếm. Thái tử nghiêm trang hành lễ với nàng:
- Tây Thi phu nhân!
- Kìa! Thái tử, có phi có tin từ mặt trận không?
- Phụ vưng sai tôi về vấn an phu nhân.
Nhìn thần sắc sợ hãi của Tây Thi, thái tử Hữu trở giọng nhẹ nhàng:
- Có lẽ phụ vưng còn mất thêm một thời gian nữa ở mặt trận...
Tây Thi mẫn cm, xanh mặt. Nàng có phần lo đo, khó khăn lắm mới nén được tiếng thở dài, hỏi giọng âu lo:
- Thái tử, có phi quân mình thất lợi...
- Bẩm phi, nhưng không lấy gì làm nghiêm trọng. (Thái tử vẫn giữ giọng hòa hoãn). Phụ vưng không báo thẳng cho phu nhân biết vì sợ phu nhân sốt ruột. Phụ vưng sai tôi về nói rõ tình thế: chúng ta chỉ thất bại nhỏ mà thôi.
Tây Thi cúi đầu, từ từ ngồi xuống.
- Thái tử! Tình trạng của đại vưng như thế nào? Đã năm hôm rồi, thiếp chưa nhận được tin tức.
- Phụ vưng rất bình yên.
Bấy giờ, Tây Thi mới mời thái tử ngồi.
Im lặng một lúc.
Đôi bên đều có bao lời muốn nói nhưng đều nhận thấy sự xa lạ giữa nhau nên chưa tiện nói ra. Vì vậy. Tây Thi truyền cho thị nữ dâng rượu.
- Tây Thi phu nhân!... Phụ vưng hối hận về việc giết Ngũ tướng công...
Tây Thi giật nẩy, nhìn thái tử, nghĩ rằng thái tử sẽ dùng điểm ấy vào đề trách nàng. Nàng hỏi lại:
- Tướng phụ chết đi, phi chăng đã nh hưởng đến lần tác chiến này?
- Bẩm phi. Binh Tề không sợ chúng ta, về mặt khí thế, chúng ta không lấn át họ. (Thái tử thở dài tiếp). Tây Thi phu nhân! Phụ vưng có viết ra đây niềm hối hận đã không nghe lời phu nhân để bo toàn tướng phụ.
Tây Thi buồn bã lắc đầu, ngăn thái tử:
- Thôi đi!...
- Phụ vưng còn nói, vì tướng phụ chết mà phu nhân bệnh một thời gian. Phụ vưng bo tôi thay người nhận lỗi với phu nhân...
- Thái tử! Thiếp không muốn nghe nhắc chuyện cũ.
- Bẩm phi. (Thái tử cao giọng). Trước đây, tôi cứ nghĩ rằng tướng phụ chết là vì phu nhân! Xin tha thứ cho ý nghĩ thấp kém của tôi.
Tây Thi có phần xốn xang:
- Thái tử, bỏ qua chuyện cũ đi! Trước kia, đại vưng luôn luôn đối tốt với tướng phụ...
Tiếng nói của Tây Thi nhỏ rứt.
Im lặng thêm một lúc, thái tử Hữu mới thận trọng nói:
- Tây Thi phu nhân! Tôi muốn trưng dụng binh Bình Vọng đưa đi tiếp viện. Tôi biết, phụ vưng không thắng trận này thì không chịu quay về.
Nghe nói đến “binh Bình Vọng”, Tây Thi không rét mà run. Lúc sống, Ngũ Tử Tư đã huấn luyện riêng số tân binh này để đề phòng nước Việt! Ngô vưng từng muốn điều động cánh quân này nhưng Ngũ Tử Tư từ chối. Giờ thái tử Hữu lại cũng muốn rút cánh quân này khiến Tây Thi khó xử vô cùng.
- Tây Thi phu nhân! Mong được phu nhân cho ý kiến.
- Thái tử! Từ trước đến nay, thiếp không hề tham gia chính sự. Hn nữa, thiếp là người Việt, đối với vấn đề này không nên nói gì. Nghe đâu tướng phụ lập đội quân ấy là để ngăn ngừa Việt vưng sinh tâm.
- Phu nhân! Tình hình trước mắt khá nghiêm trọng. Nếu phụ vưng bại binh ở Trung Nguyên thì nghiệp bá của chúng ta đứt rồi... Huống chi, xây xong nghiệp bá thì nước Việt sẽ vĩnh viễn phát run, không dám làm ngụy. Chớ nếu rủi ra phụ vưng thất bại ở Trung Nguyên thì Tấn, Tề, Sở có thể liên hiệp với Việt mà tấn công ta.
Thái Tử lo lắng nói tiếp:
- Tuy biết tân quân Bình Vọng không thể tùy tiện điều động nhưng với tình hình trước mắt, chúng ta không thể không dồn lực lượng vào Trung Nguyên.
- Thế thì xin tự thái tử quyết định lấy!
Tây Thi mỉm cười hiền hòa để che giấu nỗi băn khoăn trong nàng:
- Đối với quốc chính, thiếp không thể tỏ bày ý kiến.
- Phi rồi... (Thái tử Hữu trầm ngâm một thoáng đoạn tiếp). Tôi muốn nhờ thái tể Bá Hi dẫn đạo quân ấy lên mặt Bắc.
Đối với Bá Hi, Tây Thi luôn mất cm tình tuy Bá Hi có lợi cho nước Việt. Nhưng trước sau như một, nàng vẫn xem Bá Hi không được chút nào. Thế nên, nàng phn đối, song là phn đối thật khéo:
- Thiếp thường nghe đại vưng nói, Bá Hi sở trường về chính trị chớ không chuyên quân sự. Thái tử phái Bá Hi đi, biết đại vưng có phn cm gì không?
- Vậy để tôi phái Lâu Đông Trường Nhn Ngu dẫn quân đi. Tự tôi sẽ đến trấn giữ Bình Vọng.
Lâu Đông Trường Nhn Ngu là một dũng sĩ nổi danh của Ngô quốc. Năm xưa, tiếng tăm của người rất hiển hách trên chiến trường. Trong trận Hội Kê, Lâu Đông Trường Nhn Ngu góp công nhiều nhất nhưng gần đây, Người già c, bệnh hoạn, thối ngũ. Tây Thi rất biết Người, và cũng rất tin Người. Thế nên, lúc thái tử Hữu nhắc đến Lâu Đông Trường Nhn Ngu thì Tây Thi mỉm cười, im lặng một thoáng mới nói giọng khẩn khon:
- Thái tử! Thiếp có thể đi theo trong quân không?
- Tự nhiên có thể. Nhưng phụ vưng mong phu nhân ở lại Cô Tô hn!
- Thiếp sẽ tùy tình hình mà quyết định. Nếu có thể được, thiếp sẽ theo lên mặt Bắc với đại vưng. Bằng không, thiếp sẽ ở Ngô cung chờ nghênh đón đại vưng.
Cuộc bàn bạc đến đây là chấm dứt. Và lần thứ nhất, tân quân Bình Vọng bị điều động. Cũng lần thứ nhất Tây Thi đi theo quân đội chinh Bắc.
Lâu Đông Trường Nhn Ngu nay đã già rồi. Người đứng trên chiến xa kéo quân lên mặt Bắc, tuy cũng ưỡn ngực uy nghi song đầu người trắng xóa khiến ba quân có cm giác về chiều. Tây Thi vì thế mà buồn. Nàng thầm lo số tân binh này vì mất Ngũ Tử Tư mà mất tinh thần chiến đấu. Nàng cũng thầm lo vị lão tướng không đưng nổi trọng trách lúc quyết chiến.
Ngoài thành Cô Tô, thái tể Bá Hi suất lãnh cung viên đến đưa tiễn. Bấy giờ, thái tử Hữu đã cẩn thận sang Bình Vọng trấn nhiệm nên không dự cuộc tiễn đưa. Nhận xong tiệc rượu của Bá Hi, Lâu Đông Trường Nhn Ngu truyền lệnh bày đội ngũ cho Tây Thi và Bá Hi duyệt qua lần chót.
Bấy giờ, gia thần của Bá Hi là Phùng Đồng tự đến đánh xe cho Tây Thi.
Chiến xa đi từ hướng Tây vào trung ưng. Phùng Đồng đưa cao roi ngựa, bo các vệ sĩ xuống xe đem vật dụng đến cho Lâu Đông Trường Nhn Ngu. Trên xe bấy giờ chỉ còn lại Tây Thi và Phùng Đồng.
Phùng Đồng nói giọng reo vui:
- Tây Thi! Thời giờ của chúng ta càng lúc càng gần. Rồi đây, Ngô quốc nhất định sẽ chiến thắng ở Trung Nguyên. Sau khi họ thắng là đến chuyện của chúng ta.
Tây Thi liếc qua Phùng Đồng không nói gì. Phùng Đồng tiếp:
- Cô nưng đã vì Tổ quốc lập được đại công... Vấn đề điều động tân quân Bình Vọng đối với chúng ta thật hết sức quan trọng. Mong ở phưng Bắc, cô nưng cố gắng khuyến khích Ngô vưng tranh bá với Tấn. Ngô - Tấn chong nhau là lúc chúng ta vào Cô Tô!
Lòng Tây Thi quặn thắt. Chuyện điều động tân quân Bình Vọng đã ghi khắc trên vai nàng. Đối với nước Việt, nàng lập được đại công. Nhưng đối với Ngô quốc thì nàng không sao tránh khỏi làm bia cho ngàn năm mắng chửi. Ôi, mà nào nàng có chủ tâm làm nên chuyện ấy cho cam!
- Tây Thi! Quân vưng đã vì cô nưng mà hãnh diện, Phạm đại phu cũng phái người đến nhờ tôi vấn an cô nưng và báo rằng: Ngày giờ c hai gặp lại gần rồi!
Phùng Đồng nhìn thấy lính mỗi lúc mỗi đến gần, nói thêm:
- Nhưng, lúc cô nưng từ phưng Bắc về thì quân ta đã vào thành Cô Tô.
Tây Thi chưa kịp tr lời thì vệ sĩ bo vệ xe đã trở lại.
Phùng Đồng nói nhỏ lời bo Tây Thi thận trọng đoạn giục xe vào trung tâm. Bấy giờ, tiếng trống vang rền, quân Ngô xuất phát.
***
Tình trạng giao chiến với Tề thật là thm não!
Bao phen chinh chiến, đây là lần thứ nhất, Ngô vưng Phù Sai bứt rứt, đứng ngồi không yên. Không phi thua lớn nhưng sau ba lần tấn công, quân Ngô đều bị quân Tề anh dũng đánh lui c ba. Binh xa Ngô quốc tổn thất hn trăm, bên Tề cũng thiệt mất ngần ấy. Thế nên, tuy quân Ngô tấn công không thủng, quân Tề cũng không đủ lực lượng phn công. Trận chiến nhì nhằng, cứ thế kéo dài.
Ngô vưng mệt mỏi lắm rồi, ngài biết rằng trận chiến này phi thắng chứ không thể để bại. Nếu bại, hùng đồ tranh bá ở Trung Nguyên sẽ trở thành không. Và nước Ngô sẽ vì đó mà bị giáp công. Bao vây Ngô đầu tiên sẽ là Sở và Việt. Hai nước này chỉ vì quân Ngô quá mạnh mà ngần ngại, chưa hành động đó thôi. Nếu Ngô bại trận ở Tề thì họ sẽ không còn sợ gì nữa. Nước Ngô sẽ lâm vào nguy hiểm.
Thế nên, Ngô vưng chỉnh đốn đội ngũ, cố giữ nguyên tình trạng, mong lấy việc không lui binh uy hiếp cho người Tề đầu hàng.
Chỉ cần Tề đầu hàng, Ngô sẽ rút quân liền. Ngô vưng cho rằng Tề có thể đầu hàng. Vì trong quá khứ, đã bao phen Tề làm như vậy. Đầu hàng tượng trưng cũng được, cứ Tề lên tiếng đầu hàng thì Ngô rút quân, có gì là không hay đâu!
Ngô vưng chờ đợi, đồng thời lén phái người liên lạc với Trần Hằng đang chấp chính nước Tề để giục Trần Hằng cầu hòa.
Nhưng Trần Hằng không cầu hòa. Tuy không đủ sức phn công, Trần Hằng đã nhìn thấy Ngô vưng có ý định muốn rút lui. Thế nên, người cũng có cách tính toán riêng. Cứ quân Ngô mỏi mệt rút lui thì trong sách sử sẽ có tên Trần Hằng đẩy lui quân Ngô, hiển vinh biết mấy!
Vì những lẽ trên, đôi bên Ngô, Tề đều cố gắng cầm cự.
Quân Ngô đã được dày công huấn luyện, tuy sau ba lần tấn công không thắng, song dưới sự đôn đốc của nhà vua, tinh thần chiến đấu không sút. Duy có thời gian làm cho nhụt nhuệ khí đi. Thậm chí có binh sĩ hỏi nhau: “Chừng nào chúng ta có thể kéo về?”. Nhớ quê là một thứ tình cm bất lợi trong quân.
Mỗi đêm, Ngô vưng đều đích thân đi tuần tra. Có thể nói, chính sự nhọc nhằn của nhà vua làm cho binh sĩ còn tinh thần chiến đấu. Bất luận ngày đêm, Phù Sai đều có mặt gii quyết quân vụ. Mỗi ngày, nhà vua ngủ không quá ba giờ.
Đêm nay, nhà vua được tin có quân tiếp viện từ Giang Nam qua sông rồi theo đường thủy tiến lên mặt Bắc, vài ngày nữa là có thể tham chiến. Nhà vua không cho công khai tin ấy, định sẽ xuất kỳ bất ý tấn công một trận mà xoay trở cục diện.
Nhưng đồng thời nhà vua cũng có mối lo âu. Nếu lời tiên đoán của Ngũ Tử Tư trở thành sự thật, nếu Lâu Đông Trường Nhn Ngu điều động tân quân Bình Vọng đi rồi, quân Việt thừa thế kéo rốc qua thì tình thế không sao tưởng tượng! Hn nữa, nhà vua cũng có phần băn khoăn đối với Tây Thi. Nếu nàng nhìn thấy nhà vua bại trận thì thật không còn mặt mũi nào cho nhà vua hết!
Tây Thi, từ bao giờ vẫn xem nhà vua chồng nàng là anh hùng vĩ đại nhất. Nhà vua không muốn bị mất mặt trước người yêu. Ngô vưng thầm nghĩ: Nhất định Tây Thi đã nghe được tin ta thất lợi ở chiến trường! Nhất định nàng vì ta mà lo âu... Nàng là người đàn bà quan tâm đến ta nhất! Nhất định ngày đêm nàng gọi tên ta... Nhất định ta phi thắng trận để cho nàng thấy...
Bồi hồi trước trận tiền, bao nhiêu ý nghĩ đổ xô vào Ngô vưng. Tiếng trống điểm canh lại như thúc giục khiến tinh thần Ngô vưng căng thẳng ghê gớm! Nhà vua bỗng nắm chặt tay, lẩm bẩm:
- Ta không thể thất bại!
Từ thoáng đã có tiếng yếu ớt vọng về:
- Ta không thể thất bại!
Tiếng vọng làm cho Ngô vưng ngạc nhiên, chú mục nhìn quanh. Do đó, nhà vua bắt gặp một binh sĩ đi tới, khom mình nói:
- Đại vưng có thể về nghỉ.
Nhà vua như một dã lang gio tai nghe động tĩnh từ xa đến gần. Đột nhiên, nhà vua đưa cao tay mặt hỏi:
- Bây giờ, quân địch ngủ c phi không?
- Tâu vâng, đại vưng!
- Thế thì bây giờ chúng ta tấn công.
Ngô vưng nói như chỉ để nói với mình, đoạn khoa bước vào phòng đặt kế hoạch tấn công đêm. Ngài nghĩ: Bây giờ xua quân tấn công thì có thể bắt buộc Trần Hằng cầu hòa... Theo tưởng tượng thì dường như nhà vua mặc áo giáp, cầm mâu xông vào quân địch. Nhưng thời gian lặng lẽ trôi qua, kế hoạch tấn công ban đêm lần lần bị xóa bỏ. Không phi nhà vua không có hùng đồ mà là nhà vua bị mất niềm tin, sợ rằng rủi ra thất bại, cuộc diện bây giờ sẽ không giữ được. Nhà vua nằm trên giường thở dài.
Tiếng trống điểm canh lại vang lên lần nữa... Tiếng trống canh tư...
Gió đêm vi vu. Kế có tiếng sừng báo hiệu. Ngô vưng biết đó là còi hiệu đổi phiên canh. Chiến trường qua được một đêm yên tĩnh.
***
Viện binh Ngô quốc đã đến chiến trường.
Tây Thi nhìn thấy nhà vua sạm nét phong trần tại chiến trường. Thần sắc của nhà vua khiến nàng âm thầm kinh mang. Cách nhau năm tháng, Ngô vưng dường như già hn năm tuổi. Tóc râu không cắt, gió táp, nắng ăn khiến Ngô vưng vừa đen vừa cằn. Bề ngoài nhà vua vẫn còn giữ vẻ tráng kiện nhưng từ đôi mi không sao giấu được nét ưu sầu.
- Tây Thi, nàng đến thật đúng lúc. Trẫm sẽ thắng trận cho nàng xem.
Nhà vua vừa nói vừa cười nhưng cười không được tự nhiên lắm. Tây Thi cố giữ điềm tĩnh, tưi vui nhẹ nhàng như lúc ở Cô Tô đài:
- Thiếp đến là để đón Quân vưng ca khúc khi hoàn!
- Người Tề vì việc trẫm giết Ngũ Tử Tư mà có phần không sợ chúng ta. Họ cho rằng quân ta không có Ngũ Tử Tư thì không thể thắng. Có lý nào như vậy. (Ngô vưng thẳng thắn trình bày chiến cuộc). Họ liều mạng cầm cự chờ ta rút lui! Họ thật hồ đồ, quân vưng nước Ngô chưa bao giờ bại trận rút lui.
Ngô vưng hít một hi dài nói luôn:
- Tây Thi! Mấy lúc này, trẫm rất mệt...
- Tân quân Bình Vọng đến rồi, thiếp tin chắc chỉ đánh một trận là quân Tề tan rã.
- Tây Thi! (Nhà vua bỗng đầy vẻ sợ sệt, âu lo). Trẫm hỏi khanh...
Đợi một lúc, Tây Thi mới hỏi:
- Quân vưng muốn hỏi gì?
- Việt quốc có thể nhân lúc ta rời Cô Tô mà tấn công không?
- Phù Sai!
Tây Thi thấy thẹn, trầm ngâm một thoáng mới lấy lại thn nhiên đáp:
- Nếu quân Việt đánh đến Cô Tô, thiếp sẽ thắt cổ trước mặt quân vưng...
- Kìa, Tây Thi, trẫm không nghi ngờ lòng khanh. Trẫm chỉ muốn hỏi cho rõ tình hình... Quân Việt đánh vào Cô Tô có liên quan gì tới khanh đâu! Tuy là người Việt, khanh đã là quân phu nhân của nước Ngô! Trẫm hỏi khanh vì khanh và trẫm là một. Tây Thi, đừng quá nghi ngờ...
- Phù Sai! (Tây Thi tựa người vào nhà vua, thủ thỉ). Thiếp không có cách nào nói về vấn đề của nước Việt. Thái tử đóng quân ở Bình Vọng, thiếp tin rằng, tạm thời không có vấn đề gì. Nếu có, thái tử cũng có thể đối phó được.
Đó là cách nói như không nhưng Tây Thi đã phi cố gắng lắm mới nói được. Nàng cm thấy, cứ có vấn đề liên quan giữa Ngô và Việt thì nàng nói gì cũng không tiện c.
Ngô vưng đặt một tay lên vai nàng.
- Trẫm mong thay đổi được cuộc diện.
Ngô vưng từ từ quay lại, truyền cho thị vệ đi triệu Lâu Đông Trường Nhn Ngu. Sau đó, nhà vua bước ra luôn, có Tây Thi bên cạnh.
Chẳng bao lâu, Lâu Đông Trường Nhn Ngu đến. Tóc người trắng xóa, đầu cao hn người khác một đầu. Đội Hiền Lưng bày ra hai bên, Ngô vưng nhìn Trường Nhn Ngu với cm giác xúc động. Bởi tuy lão thối ngũ đã by năm rồi, mọi người vẫn nhớ chuyện ngày xưa của lão...
Ngày xưa, Ngũ Tử Tư đã bo lão:
“Ngưi rời khỏi chiến đoàn đi!”.
Trường Nhn Ngu hỏi lại “Tại sao?”, thì Ngũ Tử Tư đáp: “Ta không thể để cho một danh tướng chết giữa chiến trường...”.
Bây giờ, Trường Nhn Ngu có mặt tại sa trường, chứng tỏ cuộc thế đã đến mức nghiêm trọng lắm!
- Ngu! (Ngô vưng nhìn thấy đầu lão trắng xóa cũng có phần cm thán gọi nhỏ. Ngừng lại một lúc Ngô vưng mới hỏi). Khanh thấy tình hình thế nào?
Thái độ Trường Nhn Ngu rất nghiêm túc:
- Chúng ta có thể thắng trận!
- Khanh và tân quân Bình Vọng thật quen thuộc nhau không?
- Thần có thể chỉ huy như ý.
- Được rồi, vậy trẫm và khanh cùng xuất phát.
Ngô vưng nắm chặt đầu tay gọi:
- Vưng Tôn Hùng!
Vưng Tôn Hùng nai nịt gọn gàng, bước tới mấy bước, đứng nghiêm trước mặt Ngô vưng. Nhà vua phân công:
- Khanh phụ trách trung quân, dùng cờ hiệu của ta, thử tấn công địch trước có tính cách đánh nhứ. Đợi khi hai cánh khác khởi tấn công, khanh mới thật sự tấn công. (Ngô vưng quay bo Phó Nghi là người chỉ huy đội Hiền Lưng). Khanh chuẩn bị binh xa, phụ trách cánh mặt.
Ngô vưng đích thân chỉ huy hai trăm chiến xa và ba ngàn bộ binh từ bên mặt công thẳng vào đội ngũ kiên cố của quân Tề. Ngô vưng phái tám tên lực sĩ chia nhau ở lại trên bốn chiến xa kiên cố để bo vệ Tây Thi phía sau. Trước khi chia tay, nhà vua đặc biệt dìu Tây Thi lên xe, đồng thời gọi tên đánh xe đến dặn nhỏ:
- Nếu mặt trận phía trước bất lợi, ngưi phi đưa xe gấp rút trở về, đừng để Tây Thi phu nhân lâm cnh nguy hiểm! Lại nữa...
Ngô vưng muốn nói: “Nếu ta gặp điều bất trắc...”, song rồi Ngô vưng bỏ lửng, không nói. Dặn dò một tên đánh xe về chuyện hậu sự thật không tưng xứng với thân phận nhà vua.
Bốn chiến xa bo vệ Tây Thi ở khu trung tâm. Tây Thi đứng trên xe, vẫy tay chào vị vua nước Ngô lâm trận.
Binh xa rầm rộ kéo đi lốc bụi mịt mù.
Cờ hiệu vang vang, tiếng trống như sấm. Một chiếc xe chở thầy đồng bóng phất cờ dũng sĩ...
Từ cánh trái, Lâu Đông Trường Nhn Ngu hướng dẫn ba mưi loại xe xung phong đi trước, theo sau có hai trăm kỵ binh. Sau nữa, còn có một trăm hai mưi xe và một ngàn bộ binh. Tất c là phân nửa số quân Bình Vọng từ xa đến. Số tân binh còn lại thì dành để ngăn giữ mặt sau và tiếp ứng cho trung ưng.
Chiến trận bắt đầu, đầy khu nguyên dã toàn tiếng giết chóc.
Tây Thi đứng yên trên xe, chờ nghe báo cáo. Kỵ binh cứ mang lệnh truyền từ sa trường đi đi lại lại.
Tin đầu tiên Tây Thi nhận được đúng như dự liệu của Ngô vưng:
- Báo cáo với phu nhân, đại phu Vưng Tôn Hùng cho hay, Ngô vưng đã xông vào trận địch.
Tây Thi nghĩ thầm: Phù Sai còn can đm hn Trường Nhn Ngu! Đồng thời, nàng cũng thầm lo cho sự an toàn của Ngô vưng.
- Phu nhân! Trường Nhn Ngu đã tấn công rồi. Tân quân Bình Vọng của chúng ta thật dũng cm.
Tin ấy làm cho Tây Thi mỉm cười. Nhưng kế tiếp là những tin báo làm cho nàng rầu: binh Tề đã phn công. Họ gọi tên Ngũ Tử Tư để làm cho quân Ngô rối loạn.
Tây Thi lại nghĩ: Thế này thì quân Ngô sẽ mất tinh thần!
Kế tin báo, một cánh quân Tề từ trung lộ xuất hiện cắt đứt người ngựa cánh phi của Ngô vưng. Một giờ sau lại có tin báo:
- Phu nhân! Đại phu Vưng Tôn Hùng đã tấn công vào trung lộ tiếp ứng cho đại vưng.
Nghe thế, Tây Thi vẫn không có cách nào giữ được điềm tĩnh. Máu huyết trong nàng như mỗi lúc một chạy nhanh thêm khiến nàng nghe tim đau nhói... Nàng nhắm mắt, ngửa mặt van vái với trời xanh:
- Trời i! Xin đừng để thiếp trở bệnh ni này!
Xa hữu nhận ra sắc mặt của phu nhân nước Ngô mỗi lúc một xanh tái!
Chẳng bao lâu có thêm tin báo:
- Đội cm tử Bao Thị nước Tề đã xông vào đội ngũ trung ưng của quân Ngô.
Thế là chiến trận đã thành hỗn loạn. Quân Ngô tuy có chiếm ưu thế song hn chẳng bao nhiêu. Bất cứ một vài thay đổi nào cũng có thể làm mất đi ưu thế ấy.
Thời gian lặng lẽ trôi qua. Từ tuyến đầu có một số thưng binh được đưa về.
Nhìn máu me bê bết đường đi, tim Tây Thi lại quặn thắt...
Thứ đến, có một chiếc xe từ tiền phưng chạy bay về, trên xe có một tướng đứng tựa cột cờ, rõ ràng đã bị thưng. Tây Thi nhìn rõ xe của đội Hiền Lưng nên ra lệnh cho xe nàng lướt tới.
Người thọ thưng là chỉ huy trưởng Phó Nghi, bị thưng ở tay phi và vai phi. Lúc nhìn thấy Tây Thi, Phó Nghi cố gượng nói giọng reo vui:
- Tây Thi phu nhân! Chúng ta thắng rồi! Đại vưng thần dũng đã công phá trại địch.
Trận chiến ác liệt đã thâu được kết qu s bộ.
Tây Thi chờ đợi, nhìn thưng binh, xe hư lần lượt rút về. Trong giây phút ấy, nàng chợt nhận ra tim nàng trầm trầm như mặt trời lặn, tụt xuống, tụt xuống... Trước kia, nàng hy vọng Ngô vưng sẽ là chúa tể anh hùng trong thiên hạ. Nhưng sau khi tận mắt nhìn cnh chiến trường, hùng tâm của nàng lập tức vỡ vụn, tan đi.
Anh hùng là tắm máu đồng loại thế này!
Anh hùng là phi giết biết bao nhiêu người mới được công nhận! Và biết bao người chưa được xưng tụng anh hùng đã bị giết rồi!
Chẳng bao lâu sau, có một cánh quân trở về. Thắng trận đó nhưng trông họ không có hào tính chút nào! Họ cúi gầm, tỏ vẻ mệt mỏi không chịu được.
Ngày đã hết rồi, hoàng hôn đến.
Chiến địa sáng choang với không biết bao nhiêu ánh lửa. Tuy rất mệt mỏi, Tây Thi không muốn trở lại cung trướng mà còn chờ đợi Ngô vưng.
Tin tiền phưng dội về cho hay, toàn bộ binh Tề đã bại thối. Ngài vẫn bình yên. Đồng thời, Ngô vưng khuyên nàng hãy nghỉ ngi. Bấy giờ Tây Thi mới thở phào, vào trướng. Trong giây phút ấy, nguyện vọng duy nhất của nàng là: Từ rày về sau, đừng bao giờ có chiến tranh nữa!
Về đêm, hoạt động chiến trường vẫn chưa ngừng nghỉ. ở tiền phưng, Ngô vưng xuất lĩnh đại quân truy Nam rượt Bắc, mưu định tạo nên nhuệ khí cho tân quân Bình Vọng công phá thủ phủ Lâm Truy của Tề. Nhưng ở hậu phưng, chung quanh ni Tây Thi nghỉ có đến hàng trăm hàng ngàn tiếng rên đau...
Trăng sao trên trời, gió đêm phe phẩy.
Sáng ngày thứ hai chẳng bao lâu, Ngô vưng và Trường Nhn Ngu trở lại. Đại phu Vưng Tôn Hùng lãnh nhiệm vụ truy kích đại binh Tề.
Tuy thắng lợi đó nhưng sự thâu hoạch thật nghèo nàn! Hn nữa, lúc Ngô vưng truy kích bại quân thì bị hậu quân Tề ngăn cn, phi nhờ cánh quân của Trường Nhn Ngu đánh đuổi. Hn nữa, chủ lực hậu phòng của Tề không bị tổn thất. Theo Ngô vưng định thì có đến bốn trăm xe Tề vẫn còn nguyên! Vì thế, Ngô vưng rút đội chủ lực về, để Vưng Tôn Hùng với ba trăm xe và ba ngàn người lấy công làm thủ mà trông chừng Tề binh.
Sau một ngày đêm quyết chiến ác liệt, Ngô vưng cường tráng cũng tỏ ra thm não khôn cùng. Lúc Tây Thi cởi áo giáp cho Ngài, nàng nhận ra y phục toàn đẫm ướt.
- Quân vưng, để thiếp lau...
- Không đâu, tự trẫm lau lấy được.
Tuy mệt mỏi, nhà vua vẫn không muốn cho Tây Thi phục dịch mình. Ngài vỗ nhẹ cánh tay nàng, nhưng Tây Thi dịu dàng nói:
- Để thiếp vì quân vưng một lần.
Tây Thi dùng nước nóng tắm cho nhà vua, sau đó lại giúp ngài gội đầu, chi tóc.
Ngô vưng cm thấy toàn thân nhẹ nhàng, th thới. Ng mình trên nệm, nhà vua cao giọng nói:
- Tây Thi! Trận đánh thật quyết liệt, thiếu chút nữa chúng ta đại bại.
Tây Thi vừa xoa bóp cho nhà vua vừa đáp:
- Thiếp biết... Thiếp cũng nhìn thấy nữa.
- Xoa bóp thế này dễ chịu quá! Tây Thi, nếu nàng không mệt thì làm lại đôi lần.
Tây Thi mỉm cười:
- Thiếp không cm thấy mệt gì.
- Ơ... (Chập sau, Ngô vưng thở dài nói thêm) Quân Tề như điên ấy, cứ liều chết, chết bao nhiêu lại tiến lên bấy nhiêu!
- Thiếp nghe nói, quân vưng còn dũng cm hn c Trường Nhn Ngu.
- Lão ấy già rồi... nhưng đánh giặc rất giỏi. Có thể nói đây là trận lão đánh hay nhất. (Không vui vẻ gì, Ngô vưng lại thở dài) Trận này, chúng ta cũng bị tổn thất nặng nề. Hư ít nhất cũng trăm năm chục xe và vừa chết vừa bị thưng có đến trên hai ngàn rưỡi!
Tây Thi âm thầm giật nẩy song không để lộ ra.
- Trẫm nghĩ là quân Tề sẽ chạy thẳng về Lâm Truy, không ngờ họ bày thêm trận ở giữa đường. Tây Thi, trận ấy làm trẫm mệt ngất!
Tây Thi mỉm cười, chuyển đề:
- Còn bây giờ?
- Bây giờ rất dễ chịu!
Ngô vưng nhắm mắt, chẳng bao lâu ngủ vùi. Tây Thi cũng nằm xuống, ngủ bên cạnh.
Tề xin hòa rồi! Lúc Ngô vưng ngủ say, Trần Hằng phái người đến Vưng Tôn Hùng xin hòa. Nhưng lúc Ngô vưng thức giấc thì tin nhận được đầu tiên là tin Trường Nhn Ngu thổ huyết.
Ngày đêm lăn x vào cuộc chiến ác liệt đã làm mất hết nguyên khí tàn tạ của vị lão tướng nước Ngô. Chiến trận kết thúc, bao nhiêu tinh lực tập trung căng thẳng được x ra thì vị lão tướng ấy không còn giữ mình được nữa.
Đối với Ngô vưng, tin ấy như tin sét đánh! Ngài vội choàng áo đi vào doanh trại viếng thăm.
Hi thở trầm trầm, nhìn thấy nhà vua, Trường Nhn Ngu cố nhếch nụ cười thê thm nói:
- Đại vưng! Đáng kể là thần không chết tại chiến trường. Năm xưa, Tướng phụ bo: “Một vị tướng thành danh không thể để địch nhân đánh chết! Vì như thế sẽ làm mất uy phong của mình và tăng dũng khí cho địch!” May mà thần đã đứng vững trên chiến xa quay về!
- Ngu! (Ngô vưng cầm tay vị tướng già) Trẫm muốn cho thầy thuốc đưa khanh về Cô Tô, để khanh ở trên Cô Tô đài trị bệnh.
- Cm tạ hậu ý của đại vưng nhưng thần đã sức cùng lực kiệt. Theo thần nghĩ thì thần không thể sống đến ngày mai. (Ngừng lại một lúc, vị tướng già nghiêng đầu gọi). Bị Ly! Đem trường mâu của ta ra đây để hiến lại đại vưng.
Bị Ly là một thanh niên lùn thấp, vạm vỡ, tóc tai bù xù. Nhưng phía trước trán có dấu kéo cắt ngắn, chừa một ít tóc phủ trán. Đó là kiểu cắt tóc dành cho người bị hành phạt.
Ngô vưng lạ sao Trường Nhn Ngu lại dùng một người bị hình phạt ở bên mình, nên hỏi:
- Người ấy là ai?
- Bị Ly là một dũng sĩ, phạm tội lúc tướng phụ mất. Lúc thần từ Cô Tô đi thì thái tể đem giao Bị Ly cho thần làm một xa hữu.
- à, Bị Ly đã lập được công... (Ngô vưng liếc qua Bị Ly) Trẫm xá tội cho!
- Bị Ly đã lập được đại công... (Tiếng nói của vị tướng già nhỏ rứt) Hôm qua, Bị Ly đã dùng trường mâu vít lật ba xe Tề và đâm chết năm tên... Bị Ly là một dũng sĩ...
Bị Ly cầm mâu đứng yên, không một phn ứng.
Nhìn trường mâu của vị tướng già, Ngô vưng cm khái khôn cùng. Hi thở của vị tướng bạc đầu càng lúc càng yếu ớt.
Cm thấy sinh mạng của vị tướng già sắp chấm dứt, Ngô vưng ứa nước mắt nói:
- Ngu! Khanh cần trẫm làm điều gì cho khanh không?
- Tâu không. (Trường Nhn Ngu phều phào) Kể là thần đã thêm một lần thắng trận!
Nhắm mắt dưỡng thần một lúc, vị tướng già lại mở mắt nói:
- Đại vưng! Thần mong được chôn cất ở Cô Tô.
- Trẫm hứa với khanh.
Ngô vưng thưng cm nhận lời. Vị tướng già mỉm cười, vặn mình rồi chết.
- Ngu!
Ngô vưng gọi một tiếng lần cuối rồi cúi gầm đứng lặng. Mãi đến khi các vu sư vào, nhà vua mới chậm rãi bước ra.
Bị Ly bước theo Ngô vưng ra ngoài, hai tay dâng trường mâu. Ngô vưng nhận lấy, vung lên, nhìn chữ khắc trên cán mâu. Thì ra là binh khí do Ngũ Tử Tư chế tạo. Một hàng chữ ấy làm cho nhà vua bứt rứt trầm ngâm rồi buột miệng hỏi:
- Bị Ly, ngưi có chuyên dùng mâu không?
Bị Ly rống giọng ồ ồ đáp:
- Tâu Đại vưng, thần có thể dùng.
- Trẫm ban cho ngưi đó!
Bị Ly nhanh nhẹn đưa tay phi nhận mâu nhưng không nói cám n. Ngô vưng vừa đi vừa hỏi:
- Trước kia, ngưi phạm tội gì?
- Phạm tội... (Bị Ly nói thẳng) Thần đến ven sông tìm vớt thây tướng phụ và khiêu võ trong rừng cây nên bị thái tể trừng phạt.
- Ngưi là gia nô của Ngũ tướng?
- Thần là đồ tể ở Bình Vọng được tướng phụ thâu dụng dưới cờ vì có sức khỏe.
- Ngưi theo trẫm đến đội Hiền Lưng.
Bị Ly vẫn không nói cám n, chỉ đi cách khong với Ngô vưng.
Bấy giờ, Vưng Tôn Hùng mới cho người đến báo tin Tề xin cầu hòa. Ngô vưng muốn hỏi thêm Bị Ly đôi câu nhưng tin ấy làm cho nhà vua xúc động vội vã quay về nói lại với Tây Thi.
Nàng nhy dựng, ôm chầm cánh tay nhà vua, hứng khởi nói:
- Quân vưng, chúng ta có thể về rồi. Mong rằng từ đây vĩnh viễn không có chiến tranh.
Ngô vưng choàng ngang lưng nàng:
- Khanh muốn thế à?
- Vâng, thiếp muốn cùng quân vưng trở lại Cô Tô.
- Trẫm nghĩ, bây giờ thì có thể...
Ngô vưng kéo dài âm điệu, ngừng lại một lúc mới nói tiếp:
- Trước ngày hôm qua thì thật khó nói. Trẫm không dám loan tin Tấn đã phát binh, chuẩn bị đánh với ta. Nhưng sau trận chiến hôm qua, thì trẫm đoán chừng họ không dám nữa.
Tây Thi ôm mặt nhà vua, cười vang như trẻ th.
Vào hai tháng trước, Tấn đã động viên năm trăm chiến xa, chờ đợi thời c để phối hợp với Tề. Nhưng sợ uy dõng của quân Ngô nên Tấn không ra quân trước mà chỉ đồn trú ở biên cnh chờ thôi. Nếu Ngô thất bại thì Tấn sẽ thừa c tiến tới.
Ngày hôm sau, Ngô vưng tiếp kiến sứ thần Tề quốc tên Bao Bí chính thức sang cầu hòa, đồng thời định ngày hội minh uống máu ăn thề. Thời hạn mười ngày sau rất vừa ý Ngô vưng. Ngài muốn tranh thủ thời gian để chỉnh đốn đội ngũ hầu che giấu tổn thất trong trận đánh Tề.
Nhưng sau khi tiếp kiến sứ Tề quay về, Ngô vưng đã nhận được tin cấp báo của thái Tử Hữu khiến nhà vua giật nẩy.
Quân Việt đã tấn công rồi.
Nhìn thư cấp báo trong túi vi, đôi mày Ngô vưng nhăn tít. Nhưng chớp mắt sau, nhà vua lại nhếch mép cười, vẫy tay cho người đem tin theo vào trong hỏi:
- Ngưi biết nội dung thư báo của thái tử không?
- Tâu biết. Hạ thần là tiểu thần của thái tử. Thái tử còn dặn dò hạ thần phi trình rõ tình hình với đại vưng.
Ngô vưng gật đầu, ra lệnh cho thị vệ và các tiểu thần bên trong thối lui rồi mới hỏi:
- Binh Việt khởi sự tấn công thế nào? Tại sao quân ta lại bại?
- Muôn tâu, thoạt đầu tù nhân nước Việt trốn sang biên cnh nước ta có đến by tám chục người. Quân Việt theo bắt mà không báo cho bên ta biết. Bọn hạ thần đi tuần bắt gặp nên hai bên chong nhau. Quân Việt bị quân ta giết hết mười người, số còn lại chạy trốn.
- Đó chỉ là việc tầm thường ở biên giới, sao có thể gây nên can qua được?
- Muôn tâu, tuần binh Việt chạy về thì sang ngày hôm sau có chiến xa và đại đội binh mã tràn tới. Quân tuần của ta bị đánh tan rã. Thái tử nhận được tin ấy liền cho người đi chất vấn, một mặt hạ lệnh chuẩn bị đối phó ở Dư Hàng. Nhưng quân Việt thừa c công thẳng vào Dư Hàng, Hiệp Thạch, tiến gần Đồng Hưng... Theo tin bắt được thì quân Việt do Gia Kê Dĩnh thống lĩnh.
- à...
Ngô vưng sậm mặt xem kỹ tờ mật báo của thái tử Hữu, chặp sau lại hỏi:
- Lúc ngưi đi đây, Thái tử đã phát binh chưa?
- Thưa chưa.
- Thái tử nhát gan rồi!
Ngô vưng cho báo sứ ra ngoài nghỉ, đoạn gọi Cáo Tư vào bo:
- Ngưi gọi Bị Ly đi giết báo sứ từ Cô Tô đến. Nhớ dặn Bị Ly không cho báo sứ nói một câu nào, cũng đừng để báo sứ nói lọt phong thanh gì.
Mục đích Ngô vưng làm thế là để giấu nhẹm tin quân Việt tấn công. Bị Ly hoàn thành nhiệm vụ rất dễ dàng song vẫn để cho Cáo Tư phục lệnh.
Ngô vưng trở vào phòng riêng, buồn bã nói với Tây Thi:
- Quân Việt đã xâm phạm biên giới chúng ta!
Từ tận đáy lòng Tây Thi đã có sự run lên vì câu nói này. Ngô vưng bắt gặp mặt nàng trắng như tờ giấy thì rất lấy làm hối hận. Ngài yêu nàng, thưng hại nàng, không muốn cho nàng bị kinh mạng. Thế nên, nhà vua lập tức nở nụ cười, hỏi giọng như nói chi:
- Khanh đoán thử xem tin ấy là thật hay gi?
Biết rõ là thật, Tây Thi vẫn lấp lửng đáp:
- Chưa bao giờ quân vưng dối gạt thiếp.
- Nhưng vừa rồi là trẫm nói chi đó. Ha ha... (Ngô vưng cười cởi mở nói thêm) Câu Tiễn muốn đưa binh trợ giúp trẫm đánh Tề nên có hiểu lầm ở biên cnh.
Cách gii thích nghe xuôi khiến Tây Thi nửa tin nửa ngờ song không hỏi thêm.
- Trẫm muốn làm khanh giật mình chi... (Ngô vưng c cười, ôm choàng nàng một lúc đoạn đặt xuống) Trẫm còn có việc...
Ngô vưng vừa nói vừa đi vào phòng làm việc riêng, dùng dao bén khắc chữ lên phiến trúc tr lời thư thái tử Hữu: Nếu Câu Tiễn đích thân cầm binh thì thái tử hãy giữ chặt Bình Vọng. Bằng chỉ có Gia Kê Dĩnh thì thái tử nên lập tức cho đội chủ lực tấn công ngay.
Viết xong, tự tay Ngô vưng cho vào bao da, phong lại, cho người đem đi. Nhưng càng lúc nhà vua càng bối rối, càng nôn nóng. Mười ngày sau có cuộc ước hẹn với Tề nên Ngô vưng không thể kéo quân về liền. Huống chi đoàn quân viễn chinh chưa được nghỉ ngi, không thể tác chiến nữa. Vì thế, nhà vua lại rầu rĩ.
Ba ngày sau lại có tin: Đồng cỏ phía Tây Hiệp Thạch đã bị quân Việt chiếm cứ. Nhưng thái tử Hữu tỏ ra bình tĩnh hn cho rằng tự mình có thể gii quyết vấn đề này, mong vua cha không phi nặng lòng lo.
Dầu vậy, Ngô vưng cũng chẳng yên tâm. Ngài lại viết thư cho Bá Hi, ra lệnh trợ giúp thái tử. Trong thư, Ngài chỉ trích Bá Hi, buộc phi gii thích nguồn cội lý do Việt binh xâm phạm. Bởi vì Bá Hi từng bo đm Câu Tiễn không sinh lòng phn trắc.
Tuy không biết rõ tình hình Việt lấn Ngô, nhưng từ thần sắc của Ngô vưng, Tây Thi đoán biết đôi phần. Nàng biết, việc Việt lấn Ngô không phi gi, đúng như năm xưa Ngũ Tử Tư đã cnh cáo. Song nàng không dám hỏi Ngô vưng về vấn đề này.
Vận số Ngô vưng hình như rất tốt. Hôm nhà vua cùng Trần Hằng hội minh kết hòa thì tin từ quốc nội đưa sang rất lạc quan: thái tử Hữu đã chỉ huy quân Bình Vọng đánh ở Đồng Hưng, đánh tan một cánh quân Việt.
Tin ấy làm cho Ngô vưng yên tâm phần nào. Sang ngày thứ hai của cuộc hội minh, Ngô vưng còn tổ chức hội yến, mời vua tôi Tề đến xem quân thế Ngô. Sang ngày thứ ba, Ngô vưng mới suất lãnh ba trăm xe đi trước, để Vưng Tôn Hùng ở lại đoạn hậu.
Tình hình đã hòa dịu nhưng Ngô vưng vẫn còn phiền muộn...
Trên đường về nước, nhà vua luôn giữ trầm mặc, đồng thời rất hận Câu Tiễn theo quan điểm của mình. Nhà vua nghĩ, nếu không có Câu Tiễn tấn công phía sau thì quân Ngô đã lấn Tề, lấn Lỗ, bắt buộc Tấn phi hội minh(1). Và nếu được thế thì nước Ngô ở phưng Nam đã trở thành bá chủ Trung Nguyên.
Lúc đại quân qua Trường Giang thì những tin tức liên quan đến việc Việt xâm phạm quân Ngô không còn giấu giếm được nữa. Tây Thi cũng biết rõ c, liền sai tiểu thần Cáo Tư vời Ngô vưng đến trách:
- Tại sao quân vưng lại đi giấu thiếp?
- Tây Thi! Trẫm sợ khanh biết rồi buồn. Hn nữa, tình hình cũng không lấy gì làm nghiêm trọng.
Mắt ửng đỏ, nước mắt Tây Thi chy ra không có cách nào ngăn được:
- Quân vưng!... Thiếp đối với quân vưng có chỗ khiếm khuyết... Thiếp ái ngại mình là người Việt... Cũng rất ái ngại quốc gia Việt không cùng Ngô chung sống hòa bình...
- Rồi chuyện sẽ qua mau. Câu Tiễn muốn thăm dò lực lượng phòng vệ hậu phưng của ta nhưng trẫm tin rằng Câu Tiễn sẽ biết khó mà rút lui.
Ngô vưng và Tây Thi kéo quân về đến Ngô cung ở Cú Khúc.
Bá Hi dâng biểu chưng đến, báo rằng quân Việt đã rút lui. Việt vưng Câu Tiễn lại còn gửi thư tạ tội. Sau đó, cũng có tin báo của thái tử Hữu: Quân Việt
(1) Hội minh là họp lại để cam kết giữ thế hòa nhau; có cắt máu, hòa máu, uống máu thề nguyền không gây chiến.
bị đánh bại, Gia Kê Dĩnh rút khỏi Dư Hàng, đại phu nước Việt là Văn Chủng đã sai sứ đến Bình Vọng nhận lấy trách nhiệm. Sau bn báo cáo, thái tử Hữu còn kèm lời nhận xét Việt binh: Kh năng chiến đấu không quá như lời đồn. Duy có quân sĩ dũng cm, hành động c trí và bắn tên rất chính xác.
Do đó, Ngô vưng đã trút được tất c nỗi niềm tâm sự. Nhà vua truyền lệnh cho đại quân nghỉ dưỡng ở Cú Khúc năm ngày, đồng thời mở tiệc khao quân, ăn mừng thắng lợi.
Đêm nay, tại Ngô cung, Ngô vưng cùng ba quân tướng sĩ uống đến say khướt. Tiểu thần Cáo Tư cùng hai tên nội thị đỡ dìu Ngô vưng lên thềm vào cung, có Tây Thi đứng ở hành lang nghênh đón.
Bấy giờ dũng sĩ Bị Ly đang giữ nội cung bỗng rời cưng vị, nâng cao trường mâu đâm thẳng vào hậu tâm Ngô vưng.
Tây Thi đứng bên trên, nhìn thấy liền phát tiếng hô hoán.
Nghe biết có chuyện lạ, Cáo Tư nghiêng mình nhìn thấy thế liền hô: “Thích khách!” Bấy giờ, trường mâu lao tới, Cáo Tư chỉ còn có cách dùng thân che chở cho Ngô vưng.
Bị Ly sức mạnh vô cùng, đâm qua thân Cáo Tư còn chạm vào làm thưng tổn đến Ngô vưng khiến cho c hai đồng thời cùng ngã. Ngô vưng đang say khướt song không chút do dự rút kiếm chặt đứt trường mâu. Bị Ly vứt mâu, rút lưỡi trủy thủ nhy xổ tới.
Tây Thi không kể gì thân mình, sà lại ngăn cn. Nhưng Bị Ly đã dùng tay trái đẩy nàng ngã vật ra vừa lúc Ngô vưng đứng lên được, thốc trường kiếm đâm tới. Hai tên nội thị vừa hô thích khách, vừa áp vào cứu nhà vua.
Máu chy dầm dề nhưng tinh lực Ngô vưng thật kinh người. Ngài lách tránh được Bị Ly, nhy xổ tới bên Tây Thi dùng thân mình ngăn che cho nàng khỏi thưng tổn rồi mới vung kiếm tấn công.
Bị Ly đã quyết tâm liều mạng, dùng tay trái đón hứng mũi kiếm, vung lưỡi trủy thủ trong tay mặt đâm vào yết hầu của Ngô vưng.
Nhà vua chưa bao giờ gặp phi một người có lối chống tr như vậy. Kiếm của nhà vua đã chặt đứt hai ngón tay Bị Ly, đồng thời ngài lại bị lưỡi trủy thủ của Bị Ly đâm chĩa vào ngực. Nhà vua chỉ còn có cách vung tay trái ngăn chặn, nên b vai bị trúng thưng liền.
Thị vệ xông đến, nhưng Ngô vưng đã khống chế được thích khách trước khi thị vệ xuất thủ. Vừa lúc ngã xuống, nhà vua đã dùng kiếm chặt chân Bị Ly khiến thích khách không sao đứng lên được.
Hai ngọn trường mâu của thị vệ chĩa kềm thích khách. Ngô vưng nén đau gượng đứng lên, nhổ lưỡi trủy thủ ở b vai ra, dùng tay đè miệng vết thưng, nhìn Bị Ly đang co rúm, trầm giọng hỏi:
- Ai sai khiến ngưi? Tề hay Việt?
Trên mặt Bị Ly lại hiện nét đau đớn nhưng chỉ thoáng sau thì gã lại cười đáp:
- Phù Sai, ngưi quên Ngũ Tử Tư...? Ha ha... Ngưi quên Ngũ Tử Tư!
Thì ra Bị Ly vì Ngũ Tử Tư mà rắp tâm báo thù.
Biết nhà vua đã bị trọng thưng, sợ máu ra nhiều có hại, Tây Thi chen lấn ra trước, khuyên Ngô vưng vào nghỉ, để thẩm vấn sau.
Gượng vào được nội thất, Ngô vưng ngã quỵ tựa trường kỷ. Sau lưng nhà vua đã bị trường mâu rạch một đường dài hai tấc, vai trúng lưỡi trủy thủ khá sâu, máu ra ướt đẫm y phục.
Lang y và nội thị lo rịt vết thưng, bốc thuốc, Tây Thi ngưng khóc, đứng bên nhìn Ngô vưng. Trọn chuyện vừa rồi làm nàng hết vía!
Được băng bó xong, Ngô vưng vẫy tay mặt gọi:
- Tây Thi!
Nàng run rẩy, sụp quỳ, ôm chầm cánh tay nhà vua, nức nở vì kinh hoàng tột độ. Ngô vưng gượng cười:
- Không việc gì đâu, ngày mai trẫm sẽ lành ngay.
- Quân vưng! Quân vưng!...
Tây Thi nghẹn ngào, toàn thân run rẩy. Ngô vưng đưa tay vuốt sẽ tóc nàng:
- Không việc gì đâu, Tây Thi!
Vưng Tôn Hùng được tin, vào vấn an. Nhà vua nén đau phán bo:
- Trẫm chỉ bị thưng ngoài da... Khanh truyền cho mọi người biết ngày mai vẫn duyệt binh như thường.
Phù Sai là một anh hùng. Sẽ là bá chủ Trung Nguyên. Ngài không muốn để cho thần dân nhìn thấy Ngài bị thích khách đâm trọng thưng.
Đêm ấy, giáp sĩ như rừng giữ chặt bốn bên Ngô cung bo vệ nhà vua. Qua cn say, bị đâm chy máu, chẳng bao lâu nhà vua ngủ vùi. Nhưng Tây Thi thì không ngủ được. Nàng ngồi bên Ngô vưng, để Thuộc Lâu bửu kiếm bên chân với ý rằng: Nếu có thích khách tới nữa thì nàng sẽ chống tr. Nàng muốn được như Cáo Tư, dùng thân che chở vua Ngô.
Trong khi ngủ, thỉnh thong Ngô vưng cất tiếng rên khẽ... Anh hùng hay thường dân, lúc c thể mang thưng tích đều có cách phn ứng như nhau. Nhưng tiếng rên của nhà vua lại làm cho Tây Thi khổ sở vô vàn. Những ý tưởng về anh hùng trong nàng lại một lần nữa bị dao động, bị tiêu diệt... Chỉ vì một tên thích khách mà một vị anh hùng đã ra nông nỗi! Nàng nhớ lúc Ngô vưng một tay bịt miệng vết thưng, trầm giọng hỏi:
- Ai sai khiến ngưi? Tề hay Việt?
Tề hay Việt đều có thể cho thích khách đến! Tây Thi thoắt lạnh lòng, mở to mắt, kêu thét...
Ngô vưng choàng tỉnh. Trong m hồ, nhà vua nghĩ rằng Tây Thi thân yêu của ngài bị ác mộng. Ngài đưa tay sờ soạng tìm nàng, đồng thời bo:
- Tây Thi, nàng đừng sợ, trẫm không việc gì đâu!
Bên ngoài có tiếng bước chân của võ sĩ tỏ ra họ đang có mặt.
Từ chỗ kinh hoàng, Tây Thi dần lấy lại bình tĩnh. Nàng ôm kiếm, ng mình xuống, rúc người tựa ngực Ngô vưng sám hối... Sám hối vì những quan niệm quốc gia và ái tình mà nàng không có cách nào tìm được lối thoát trong bao nhiêu mâu thuẫn: Thù hận của quốc gia và tình yêu của con người dằn vặt nàng, dày vò, xung đột mãi không thôi...
áng mây mù
Hội Kê thành cần lao, thịnh vượng như hoa
viên vào một ngày xuân, cỏ hoa tưi tốt dưới gió xuân đưa, mưa xuân rây rắc. Nhưng đây là hoa cừu cỏ hận.
Câu Tiễn, một vị vua từng chịu nhục đã gieo rắc khắp nước mối hận thù của chính mình. Ngày, tháng, năm chồng chất, hận thù cũng theo đó chồng chất. Hôm nay, mỗi người dân Việt đều có khái niệm lấy việc phục thù rửa hận làm ý nghĩa tồn tại trong cuộc sống. ý sống của họ là phi diệt Ngô.
Ai là người trai Việt hôm nay cũng đều cầm đao thưng chiến đấu. Ai là chiến sĩ cũng đều được Việt vưng kính trọng.
Gần như lấy việc phục thù làm cn ru ngủ, Việt vưng đã xem nỗi phẫn hận là thần minh. Một hôm, Việt vưng hướng dẫn lính đi tuần, bắt gặp trên đất sình một con ốc đang giận dữ, giưng vòi, chuẩn bị chiến đấu. Việt vưng ra lệnh cho toàn đội tránh ra, không làm kinh động con ốc. Nhà vua còn nói với mọi người có mặt:
- Bất luận là người, thú, hay côn trùng, nếu biết chiến đấu đều có giá trị đáng kính trọng. Không phi trẫm xem trọng một con ốc mà là trẫm kính trọng ý chí phấn đấu!
Đối với thần dân Việt quốc, lời ấy là một khi thị quan trọng. Nghĩa là không lười, không mệt mỏi gìn giữ phấn chí, đốt lửa căm thù.
Nhưng Gia Kê Dĩnh nhân lúc Ngô vưng đi đánh trận xa mà xâm nhập nước Ngô thì người ở Hội Kê không my may hay biết.
Gia Kê Dĩnh đã rút quân về rồi, lưu đội ngũ ở bên kia sông Tiền Đường, chỉ kéo một tiểu đội sang sông về Hội Kê.
Câu Tiễn, Văn Chủng, Tiết Dung v.v... kéo tới Vũ Xã (1) chờ đợi Gia Kê Dĩnh. Vị tướng quân dừng ngựa ngoài miếu thờ, đứng yên một lúc mới bước vào hành lễ với Quân vưng. Đoạn móc trong người ra một tấm vi có đường nét ngang dọc và viết chữ chi chít, dâng hai tay cho Văn Chủng.
Lúc mới gặp nhau, tất c đều lặng thinh.
Văn Chủng tri tấm vi ra trên bàn lễ, nói nhỏ:
(1) Vũ Xã là ni thờ phượng nhà vua Vũ đời Hạ, cũng gọi là Hạ Vũ, nhà vua có công trị thủy rất lớn trong việc cứu dân kiến quốc. (Chú thích của dịch gi)
- Đây là đồ hình tỉ mỉ ghi sự bố trí của quân Ngô ở Bình Vọng.
Việt vưng cũng nói nhỏ:
- Đợi Thiếu Bá về sẽ xem lại.
Vì vậy, Văn Chủng quay hỏi Gia Kê Dĩnh:
- Tại sao Phạm đại phu không về cùng lượt với tướng quân?
Hiểu được dụng ý của Văn Chủng, Gia Kê Dĩnh đáp:
- Phạm đại phu đưa sứ gi vào Ngô, có lẽ sắp đến rồi.
Câu Tiễn hạ giọng thật thấp:
- Người Ngô không biết có Phạm đại phu ở trong quân sao?
- Tâu phi. Ngay trong đội ngũ của hạ thần cũng chỉ có hn mười người biết Phạm đại phu có mặt. (Gia Kê Dĩnh nhếch cười) Phạm đại phu ci trang thành một vu sư rất giống. Đại phu biết c đọc thần chú.
Mọi người trở lại trầm mặc.
Khong một khắc sau, Phạm Lãi đội mũ cao hăm hở bước vào. Trông thấy chàng, Câu Tiễn mới cười được tưi tắn, tự nhiên nói:
- Thiếu Bá! Nghe nói Thiếu Bá ci trang làm vu sư sao bây giờ mặc lễ phục đại phu?
- Thưa, thần đã thay đổi đồ trên sông. Sau khi đưa sứ gi vào Ngô, tự nhiên cần phi mặc lễ phục. (Phạm Lãi cười hỉ h tiếp) Đại vưng! Lần này chúng ta thâu hoạch thật lớn. Những bẫy rập bố trí quanh Bình Vọng thần đều biết. (Phạm Lãi quay bo kẻ hầu cận) Nào, dâng rượu mừng cho Đại vưng chúng ta.
Đó là ly rượu mừng. Đợi Việt vưng uống cạn, Phạm Lãi mới lần lượt báo cáo:
- Tại Bình Vọng, qu Ngũ Tử Tư đã bố trí như thiên la địa võng. Trên một tuyến dài by mưi dặm, Ngũ Tử Tư đã kiến lập trên ba trăm bo lũy, thần đều có ghi trong họa đồ. Vừa rồi, chúng ta bại trận lần thứ nhất song đều là trá bại về mọi phưng diện.
Việt vưng vội hỏi:
- Thái tử Hữu của Ngô là người như thế nào?
- Một tín đồ của Ngũ Tử Tư song không phi là đối thủ của hạ thần. Sau này tấn công, thần sẽ giết chết thái tử Hữu tại Bình Vọng.
- Thiếu Bá định bao giờ chúng ta mới có thể cất binh?
- Thưa, thần không thể đưa ra lời dự đoán. Bằng vào ý chí chiến đấu của quân Ngô, tạm thời chúng ta không nên hành động.
Câu Tiễn rất đỗi ngạc nhiên:
- Tử Tư chết rồi quân Ngô còn đánh được à?
- Vâng. Tại Ngô, không một ai quên Ngũ Tử Tư! (Phạm Lãi nghiêm giọng tiếp) Nhưng thời gian thì không còn bao lâu. Thần nhận được tin, Phù Sai công Tề lại thắng nữa, do đó, Người sẽ bị các nước phưng Bắc hấp dẫn nên không dừng lại được. Về phần chúng ta sẽ có c hội phát binh tấn công sau lưng họ.
Cuộc họp để quyết định tưng lai quốc gia ở Vũ Xã kéo dài hai giờ mới gii tán. Câu Tiễn đích thân đưa Phạm Lãi về nhà. Trên đường về, nhà vua nói:
- Thiếu Bá! Lúc Thiếu Bá rời Hội Kê, ở nhà có chuyện bất hạnh xy ra... Phu nhân của Thiếu Bá đã qua đời!
Tin thật đột ngột. Phạm Lãi giật nẩy, hn nữa, không tin là thật, lúc chàng rời Hội Kê, sức khỏe của vợ chàng rất bình thường.
- Quân phu nhân đã vì nàng mà lo liệu chu toàn hậu sự. Trẫm chọn Sn Dưng của Hội Kê làm ni an táng... (Giọng Câu Tiễn thật thấp) Trẫm cũng có đưa đi...
- Đại vưng!
Phạm Lãi gọi hai tiếng rồi thôi. Một thứ tình cm phức tạp đã làm cho chàng không nói thêm được.
- Cuộc đời, ôi, thật vô thường! (Câu Tiễn bỗng như trở thành nhà th) Nàng trẻ hn chúng ta... Nàng, ôi, Thiếu Bá, may là nàng chứ nếu đổi là trẫm hay Thiếu Bá thì chuyện thù hận của chúng ta vứt hẳn rồi!
Lời ấy làm cho Thiếu Bá chấn động.
- Thiếu Bá! Nếu trẫm chết trước, hy vọng Thiếu Bá tiếp tục sự nghiệp phục thù, tiêu diệt Phù Sai! Nếu Phù Sai chết trước chúng ta, trẫm sẽ quật mồ hắn lên như Ngũ Tử Tư, dùng roi đập vào thi thể.
- Đại vưng, thần tin tưởng tự mình có thể tấn công tiêu diệt Ngô quốc!
Giọng Phạm Lãi nặng về, lòng Phạm Lãi răn rúm.
Trong giây phút này, chàng bỗng nhận ra vị vua nước Việt không có chút nhân tình nào. Cừu hận, nhà vua chỉ biết cừu hận! Và toàn thể nhân dân nước Việt chỉ là công cụ cho nhà vua phục thù rửa hận mà thôi.
Xe về đến cửa, Câu Tiễn cầm tay Phạm Lãi nói:
- Thiếu Bá nghỉ ngi đêm nay, ngày mai chúng ta bàn tiếp.
Từ trong nhà, hai con Phạm Lãi mặc đồ tang ra đón cha.
Nhìn con, Phạm Lãi chợt thấy buồn man mác, mênh mông.
Chàng cưới vợ chỉ vì thi hành quốc sách tăng gia dân số. Ngoài ra, thực không có ý nghĩa gì nên chàng chưa bao giờ yêu vợ thật sự. Nhưng c hai vợ chồng đã sống chung bao năm, nàng đã là vợ của chàng... Mười tám năm qua, các cô gái Việt gần như không được hưởng một hạnh phúc nào. Vì mối hận thù của nhà vua, họ làm việc quần quật ngày đêm như đàn ông. Họ có nhiệm vụ sinh con nuôi cái, tề gia, tăng gia sn xuất.
Trong dòng tư tưởng đó, Phạm Lãi chạnh lòng nghĩ đến thời gian. Từ ngày chàng theo vua đi làm nô lệ ở Cô Tô về đến nay là đã mười tám năm. Chàng lại nghĩ đến Tây Thi: Nàng bị chọn đưa đi sau ba năm chàng quay về nước Việt. Tính ra thì nàng rời Hội Kê đã mười lăm năm. Mười lăm năm, khong thời gian dằng dặc ấy đã cho chàng biết bao thê thiết... Con chàng đã mười hai tuổi. Mười lăm năm, việc đời thay đổi c rồi!
Phạm Lãi tự hỏi:
- Mười lăm năm... Tây Thi còn nhớ đến ta không?
Rồi chàng tự tr lời:
- Không đâu! Có là năm mưi năm, nàng cũng không thể quên đâu! Tình yêu của ta và nàng...
Ký ức quay lại, bao nhiêu hình nh ngày xưa như vạn cổ trường xuân. Trong ký ức, mười lăm năm biệt ly như mới là ngày hôm qua. Mỗi lời nói của nàng, mỗi thư thái của nàng đều rõ ràng như nghe lại, thấy lại được.
Nhưng rồi, Phạm Lãi không có nhiều ngày giờ để ôn nhớ. Sáng ngày hôm sau, chàng lại bận rộn dị thường, bận rộn đến không có thì giờ nói chuyện với hai con.
Chàng bận rộn bố trí trận chiến sau cùng với Ngô quốc mà chàng bắt buộc phi thắng. Hn nữa, chàng tin là chàng có thể thắng.
ở Việt có biết bao nhiêu người nghĩ như chàng, tin như chàng. Nhưng sau trận đánh Bình Vọng, Nam Lâm Xứ Tử lại không tin Việt thắng. Sự phòng vệ và chiến khí của quân Ngô khiến cho con người thần bí ấy đâm lo, đem nói ý mình với Việt vưng và c Văn Chủng.
Văn Chủng rất bình tĩnh, sau khi nghe hết, bỗng trở nghiêm hỏi:
- Nam huynh đã đem tài bộ truyền dạy hết chưa?
Nam Lâm Xứ Tử liền miệng vâng dạ, đồng thời gii thích:
- Chuyện này không liên quan gì đến kỹ thuật của tôi. Mà là vì bên họ...
- Tôi biết, tôi lo trong hàng ngũ chúng ta... Mà không, ý tôi là học trò của Nam huynh đã không học được bn lĩnh của Nam huynh.
- Họ học được hết. Trong hn mười năm qua, trong số học trò của tôi có đến bốn người chẳng kém tôi.
Nam Lâm Xứ Tử cm khái nói thêm:
- Ôi, tôi cũng già rồi!
- Ha ha... (Văn Chủng bỗng bật cười nói tiếp) Chúng ta uống một ly rượu, chúng ta sắp già c rồi!
Sau đó Nam Lâm Xứ Tử thần bí và là nhà huấn luyện quân sự nổi danh đã uống rượu say như chết tại nhà Văn Chủng. Mọi người cho thế là thường nhưng Phạm Lãi được tin lại thấy không thường. Chàng vội vã đến hỏi, được Văn Chủng đáp cách lạnh nhạt:
- Tôi phục rượu Nam Lâm Xứ Tử. Sứ mạng của hắn đã xong rồi.
Phạm Lãi phn đối, hỏi lại:
- Sứ mạng xong là phi giết sao?
- Thiếu Bá, huynh cũng xúc động nữa à?...
Văn Chủng cười nhạt, lấy bình rượu đưa Phạm Lãi xem. Chàng nhìn nhãn hiệu vưng thất, cm thấy ngạc nhiên:
- Rượu của quân vưng cho h?
- Phi. Sau trận Bình Vọng, Xứ Tử gặp tôi, gặp c quân vưng, tỏ ra mất tin tưởng vào tưng lai của chúng ta. Trong quân ngũ, loại tư tưởng ấy truyền nhiễm sẽ hết sức nguy hiểm. Quân vưng đã nói với tôi: “Chúng ta không cần người bi quan, chúng ta không cần người mất tin tưởng” Thế là, quân vưng bo tôi đầu độc Nam Lâm.
- Thế à? - Thế thì quá ác độc! Nam Lâm thiếu tin tưởng thì cứ tr về quê có hn không? Mười mấy năm rồi, Nam Lâm đã tận tụy phục vụ quốc gia đó.
- Được rồi, chúng ta đừng bàn đến chuyện đó nữa.
Văn Chủng trở giọng, trở đề:
- Thiếu Bá! Thử hỏi anh có lễ vật gì cần đưa sang Ngô không?
- Không! Không!
Cái chết của Nam Lâm Xứ Tử làm cho Phạm Lãi bấn loạn, đáp thế. Nhưng Văn Chủng lại nhếch cười bí mật:
- Không à? Theo tôi nghĩ, nếu anh muốn thông tin tức với Tây Thi thì bây giờ có thể được rồi...
- Bây giờ? (Hai tiếng Tây Thi đã hấp dẫn Phạm Lãi hỏi thêm) Tại sao?
- Chúng ta sẽ đưa một số lớn cống vật sang Ngô để tạ tội với Ngô vưng. Trong đó có một phần dành tặng Tây Thi. Phùng Đồng đã báo cho biết, địa vị của Tây Thi ở Cô Tô đài rất vững, tặng phẩm cho nàng là danh chánh ngôn thuận. Thế nên, tôi muốn hỏi anh có định gởi phụ thêm vật gì không?
- Tôi... Tôi có gì để đưa sang Ngô?
- Chúng ta sẽ đưa sang Ngô hai trăm cặp da thú, một ngàn thạch thóc, một ngàn bao lúa giống, hai trăm ngựa, hai trăm bò, một ngàn dê, có c hai ngàn hũ “Hội Kê tửu”.
Nói đến rượu, Văn Chủng mỉm cười:
- Rượu chúng ta chế tạo có thể được Phù Sai thích. Ngoài hai ngàn hũ rượu ấy, còn có thêm hai trăm hũ đặc biệt tặng riêng Phù Sai nữa. Hn nữa, chúng ta sẽ ngỏ ý ngầm cho Phù Sai biết nên dùng rượu của chúng ta trong các hội minh với chư hầu Trung Nguyên.
- Thế thì, phần nào tặng cho Tây Thi?
- Lông chim, t lụa và giày vớ.
Trầm ngâm một lúc Phạm Lãi mới nói:
- Tôi không có gì để tặng cho nàng c.
***
Tại Cô Tô, vết thưng Ngô vưng dần lành nhưng tâm tính nhà vua không còn như trước, Tây Thi nhận ra, sau chuyện công Tề hào tình van tưng của Ngô vưng dần dần mòn mỏi, tiêu trầm. Râu tóc nhà vua điểm bạc, trán khắc sâu mấy rãnh tháng năm.
Điểm làm cho Tây Thi lo nghĩ là Ngô vưng vẫn không chịu nằm im dưỡng thưng. Sau khi từ Cú Khúc về, vào còi hiệu báo sáng mỗi ngày, Ngô vưng liền trở dậy cắp kiếm đi vào giáo trường. Xem ra thì quang cnh bây giờ có phần giống với hồi Ngũ Tử Tư năm xưa.
Đúng vậy, Ngô vưng Phù Sai đã học theo Ngũ Tử Tư.
Thời gian càng làm cho Ngô vưng ngày thêm hối hận. Một phút xung đột năm nào, nhà vua đã truyền giao Thuộc Lâu bửu kiếm cho Ngũ Tử Tư tạo nên bi kịch. Ngày nay, để đền bù lầm lỗi của mình, Ngô vưng làm theo các việc Ngũ Tử Tư làm.
Thi thể của tên thích khách đã bị bằm nát vứt vào một khu ác hiểm ở Cú Khúc. Hn nữa, còn có vu sư (các thầy đồng, bóng) trù ếm. Nhưng sau khi Ngô vưng về Cô Tô chẳng bao lâu thì ngài lại sai người lượm mót thây Bị Ly đem chôn bên phần mộ của Lâu Đông Trường Nhn Ngu. Tuy bị Bị Ly hành thích thọ thưng rất nguy song Ngô vưng nhìn nhận lỗi giết lầm Ngũ Tử Tư nên tự thấy không nên ngược đãi Bị Ly đã chết.
Đó là tâm lý mâu thuẫn trong lòng một vị anh hùng, người ngoài không sao hiểu được.
Sáng nay, Tây Thi thức dậy chẳng bao lâu, ngồi đọc tin hàng ngày ở đại snh trên hai thanh trúc đầy dẫy những tin liên quan đến nước Việt. Đó là cống phẩm của Việt đưa sang Ngô, do Bá Hi đề nạp.
Tây Thi hỏi thầm:
- Lại âm mưu gì nữa đây?
Nàng biết rõ, về phía người Việt tuyệt đối không thể không có âm mưu trong việc tiến cống. Hôm nay, nàng muốn bình yên, muốn sống cầu an. Được tạm thời yên ổn, không phi nghe không phi biết gì, nàng cm thấy rất dễ chịu! Nhưng cống phẩm của nước Việt lại làm cho mất ngày giờ thư thái của nàng.
Bấy giờ, Di Quang chợt xuất hiện hỏi Tây Thi xem gì, nàng tng lờ đáp:
- Không có gì, Thái tể báo cáo nước Việt đưa sang một số cống vật gồm ngựa, bò, dê...
Sau lần đánh nhứ rồi rút lui của quân Việt, tinh thần Di Quang xuống rất thấp. Nhưng quan niệm của nàng khác hẳn Tây Thi. Nàng xuống tinh thần vì quân Việt không đánh thẳng vào Cô Tô. Thế nên, nghe Tây Thi đáp, Di Quang chỉ nhếch cười.
Chợt có tin báo: Đại vưng về. Tây Thi chậm rãi bước khỏi đại snh, nghênh đón Ngô vưng ở dưng đài.
Trán lấm tấm mồ hôi, mắt ra chiều mệt mỏi, lúc nhìn thấy Tây Thi, Ngô vưng đứng lại, với cầm tay Tây Thi, thở phào nói nhỏ:
- Tây Thi! Không hiểu sao hôm nay trẫm mệt quá, dường như gân cốt rã rời!
Dùng khăn riêng lau mồ hôi trán cho Ngô vưng, Tây Thi nhìn nhà vua âu yếm hỏi:
- Có phi vì hôm qua quân vưng ngủ chẳng ngon giấc không?
- Có thể. (Ngô vưng kéo tay nàng cùng đi vào nói thêm) Liên tiếp đến giáo trường cũng có phần nh hưởng. Sinh lực của trẫm không còn được như xưa nữa.
- Không phi đâu! Thiếp nghĩ là tại quân vưng không nghỉ dưỡng đầy đủ. Nhiều người nói, sau khi bị thưng phi nghỉ dưỡng một thời gian dài!
Ngô vưng ậm ờ, bước vào đại snh liếc qua miếng trúc báo trên bàn rồi đi luôn vào trong. Nhà vua ngồi nghỉ ở phòng ngoài phòng ngủ, lúc Tây Thi cúi xuống cởi giúp hia thì tự nhà vua mở kiếm...
- Tây Thi! (Nhìn kiếm lúc lâu, nhà vua bỗng nói) Khanh giữ kiếm này thay trẫm, trẫm không muốn đeo nữa.
Kiếm ấy là Thuộc Lâu bửu kiếm, là hung khí giết chết Ngũ Tử Tư.
Tây Thi rất đỗi ngạc nhiên, nhìn sững Phù Sai rồi từ từ nhận kiếm.
- Tây Thi, nàng vừa nói gì? Trẫm vẫn đầy đủ sinh lực phi không?
- Dạ.
Ngô vưng vẫn thở dài:
- Chỉ một lần trẫm không nghe khanh mà gây ra lầm lẫn lớn.
- Quân vưng! Chuyện gì thế?
- Chuyện giết Ngũ Tử Tư!
Tây Thi ôm chầm chân nhà vua:
- Chuyện đã qua rồi, nhắc lại làm gì?
- Chuyện đã qua rồi... (Ngô vưng buồn bã lắc đầu) nhưng nh hưởng của nó chưa qua, cũng có thể vĩnh viễn không qua. Tây Thi! (Tiếng nói Ngô vưng thật nhỏ) Hôm nay, đứng trên chiến xa, trẫm bỗng nháy mắt lia lịa, lúc nhắm mắt lại thì thấy Ngũ Tử Tư.
- Đại vưng!...
- Trẫm hối hận lúc bấy giờ đã không nghe lời khanh mới để xy ra tình trạng hôm nay.
Ngô vưng cúi gầm, im lặng một lúc mới xoa vai Tây Thi nói nhỏ:
- Tây Thi, nhưng trẫm tin rằng sẽ bổ cứu được.
- Đại vưng! Đại vưng!
Tây Thi nức nở, nhưng chỉ thoáng sau nàng ngăn lại được, nói giọng thn nhiên:
- Tình hình chúng ta rất tốt. Tuy lúc đánh Tề, chúng ta có tổn thất nhưng rồi cuộc chiến thắng lợi rất kh quan. Tấn đã phát binh vẫn không dám chong với chúng ta, chứng tỏ uy vọng của Đại vưng đã lan truyền rất xa.
Đúng vậy, sau khi chinh Tề, uy vọng của Ngô vưng như vào trưa trong ngày chói chang, sáng lòa. Song đó là chỉ đối với các nước chứ với bn thân thì Ngô vưng âm thầm tự biết: quốc lực đã bị tổn thưng khá nặng... Không phi chỉ có việc hao binh tổn tướng mà là chiến khí xuống đến mức thật thấp. Ngô vưng còn nhận ra, sau cái chết của Ngũ Tử Tư, trong quân dần có hiện tượng biếng nhác. Thế nên, sau khi hồi sư, Ngô vưng đích thân đôn đốc, mong cứu vãn không khí về chiều ấy.
Ngô vưng nói:
- Trẫm không biết lúc toàn thịnh, tình trạng của Tề Hằng công và Tấn Văn công như thế nào?
- Quân vưng đã qua mặt họ! Sự thành tựu của họ không thể bì kịp với quân vưng. Những điều chúng ta thấy ghi trong lịch sử có lẽ do người đời sau phụ họa tuyên truyền thêm. Phù Sai! Thiếp cho rằng, bây giờ không ai dám xâm phạm chúng ta. Chúng ta có thể tự thủ. Còn về phần nước Việt...
Ngô vưng nối lời:
- Câu Tiễn hận trẫm, cũng sợ trẫm! Trẫm biết, lần xâm phạm biên cnh trước là Câu Tiễn muốn thử thăm dò thực lực của Ngô lúc trẫm không có mặt. Giờ biết trẫm về rồi, Câu Tiễn lại sợ dâng cống phẩm tạ tội.
- Quân vưng, thiếp vừa nhìn thấy báo cáo của Thái tể bên ngoài.
- Thế là cống phẩm đến rồi!
Không xem trọng lễ vật, Ngô vưng thư th nói thêm:
- Sáng nay, trẫm và Vưng Tôn Hùng có bàn, với tình thế này thì xem chừng tạm thời người Việt không dám vọng động. Về phần chúng ta, chỉ cần hai năm nghỉ ngi, bồi dưỡng thì sẽ lấy lại mức độ
cường thịnh như trước lúc chinh Tề.
- Hai năm? (Tây Thi cười yêu kiều). Không có lâu dữ vậy đâu!
- Phi.
Ngô vưng ôm chầm nàng, chợt thấy cm hứng nói:
- Chúng ta đã bỏ ri Quán Oa cung, để rồi chúng ta sẽ sang đó ở ít hôm.
- Hay lắm! Nhưng tốt nhất là đợi hai năm sau.
- Hai năm sau?... (Ngô vưng nhếch cười trầm ấm, liền đó lại cm thấy áy náy, nói thêm bằng giọng cm khái). Tây Thi! Trẫm đã làm cho khanh lo nghĩ.
- Quân vưng cũng khiến thiếp sung sướng!
Tây Thi đỡ tay nhà vua:
- Bao năm qua, chúng ta sống trong sung sướng đó! Bây giờ chúng ta vẫn còn sung sướng... Tuy có đôi điều không như ý, song rồi tất c sẽ qua mau.
- Sẽ qua rất mau!
Ngô vưng lim dim mắt, dưỡng thần. Trong giây phút ấy, với dáng vẻ đó cho thấy dường như tráng chí của nhà vua đã tiêu mất hết. Khá lâu sau nhà vua mới nói thêm:
- ... Được như bây giờ, Tây Thi, chỉ có hai ta, không có bất cứ chuyện gì quấy rầy thì hay biết bao nhiêu!
Sống trong cuộc sống không bị quấy rầy vốn là khát vọng lâu rồi của Tây Thi. Năm năm trước, nàng mong cho Ngô vưng trở thành một đại anh hùng hn hẳn Tề Hằng, Tấn Văn. Không như bây giờ, có lẽ do tuổi tác chồng lên, người suy nhược đi, hoặc khó khăn mài giũa khiến nàng chỉ mong được sống bình yên. Nàng mong cnh gió lặng sóng yên để sống nốt chuỗi ngày còn lại. Vì thế, nàng ôm chầm Ngô vưng thật ấm áp, thật chí tình, không một chút dục vọng. Ngô vưng mệt mỏi, ngủ vùi trong vòng tay nàng.
Chẳng bao lâu, Di Quang nhón chân đi vào nói nhỏ:
- Thái tể lên đài tấn kiến Đại vưng.
Tây Thi xua tay rồi chỉ lại nhà vua. Nàng không đành gọi thức nhà vua lúc này.
Do đó, Thái tể Bá Hi chậm rãi bước xuống đài, có gia thần Phùng Đồng chờ chực hỏi:
- Thái tể, Đại vưng bo sao?
- Đại vưng ngủ rồi, ta không gặp được. (Bá Hi rút vai).
Phùng Đồng cũng rút vai, nhếch mép cười.
Bá Hi dường có ý trách:
- Đại vưng đối với Tây Thi rất tốt, nàng cũng rất đẹp. Nhưng lạ sao trong bao nhiêu gái Việt chỉ được có mỗi một Tây Thi. (Bá Hi lắc đầu). Tám cô kỳ này cũng đều không được.
- Kỳ này cũng có mấy cô được lắm chứ! Trong số đó có một cô tên Gia Dĩ, nghi thái phi phàm, thần nghĩ là không nhượng gì Tây Thi.
- Không bằng được đâu! (Bá Hi tỏ ý tiếc rẻ). Gia Dĩ thế nào? Ta không có lưu tâm nhìn kỹ...
- Gia thần nhận thấy nghi thái của nàng cao vời.
Bá Hi bỗng cười:
- Vậy thì ta giữ tám cô ấy lại. Mà không, ta sẽ tuyển hai cô cho ngưi! Trong số gái Việt đưa sang lần trước, ta cũng tuyển cho ngưi hai cô phi không?
- Bẩm phi, chỉ có hai cô thuộc phần gia thần.
- Ha ha... Người thấy thiếu à?
- Thưa, đủ rồi. Gia thần đối xử với họ rất tử tế, không bắt họ làm việc.
- Phi lý nhất là cái lão Vưng Tôn Hùng. Lần trước ta đưa cho lão năm cô, lão không dùng, lại cho các cô đi dệt vi, bắt làm từ sáng đến tối, thật tội nghiệp!
Phùng Đồng nói:
- Mười năm rồi, gái đẹp nước Việt đưa sang không phi ít.
- Nhưng ba năm gần đây không có đưa, lần này mới được tám cô. Tổng cộng tất c, kể luôn Tây Thi thì khong một trăm.
Với gái Việt, Bá Hi nhớ rất rõ. Lão vừa cười vừa nói thêm:
- Đáng tiếc là không có gái Sở. Mấy năm rồi, ta không được gần gái Sở.
- Thái tể thấy thú gái Sở?
- Ta vốn là người Sở đấy! Sinh trưởng ở Sở nhưng ta không có một thước một tấc đất dung thân. Nhưng cứ nhắc đến gái Sở thì ta cm thấy thú vị thật khó nói.
Câu nói ấy khiến Phùng Đồng sậm mặt nghĩ ngợi. Bởi vì Phùng Đồng cũng là người Sở, bị câu nói ấy làm cho liên tưởng đến người và cnh ở khu vực Đông Nam. Kể từ Ngũ Tử Tư, Văn Chủng, Phạm Lãi, Bá Hi, thêm c Phùng Đồng nữa đều là người Sở!
Người Sở đã chia đi vào hai nước Ngô, Việt và tổ tiên của vua hai nước này cũng là hậu duệ của các tông chi ở Sở. Phùng Đồng chợt nghĩ rằng nếu ba nước liên hiệp lại thì có thể thay thế ngôi bá chủ của Châu bá Vưng. Tự nhiên, việc liên hiệp này tuyệt đối không thể được.
Về đến Thái tể phủ Bá Hi nhắc Phùng Đồng giới thiệu Gia Dĩ. Gia Dĩ lập tức có mặt.
Gia Dĩ rất thanh tú, có thể so sánh mặt này với Tây Thi. Ngoài ra đều kém. Hn nữa, lúc Bá Hi nắm tay nàng thì nhận thấy liền tay nàng rất thô. Vì vậy, Bá Hi quay nói với Phùng Đồng:
- Ngưi thích nàng thì ta cho đó!
Phùng Đồng đắc ý nở cười:
- Đa tạ thái tể!
- Nhưng, kể từ ngày mai ngưi mới bắt đầu. Còn đêm nay... phần ta! (Bá Hi cười to). Ngoài ra, ngưi được tuyển thêm một cô cho phần ngưi đêm nay.
Các cô này thuộc một phưng diện khác của gái Việt đưa vào Ngô. Sau nhóm Tây Thi, Trịnh Đán, thỉnh thong, trong số cống phẩm, Việt vưng có gửi kèm đôi cô. Nhưng tính chất của các cô này khác hẳn nhóm Tây Thi. Họ không đm nhận một nhiệm vụ gì, v lại, họ cũng không phi thuộc hàng gái đẹp nhất nước Việt. Các cô lần lượt đến Cô Tô đài nhưng Ngô vưng không nhìn thấy cô nào.
Cho dầu Ngô vưng không màng, cứ đôi ba năm, Văn Chủng lại gửi các cô đi, dụng ý làm cho bớt sự chú ý đối với các cô có nhiệm vụ gián điệp.
Thời gian dần trôi. Sau lần chinh Tề, nhà vua nước Ngô có mặt thường xuyên ở giáo trường nhưng quần thần nước Ngô thì lại l lỏng việc triều chính. Bá Hi lại là người hưởng thụ số một. Cũng có thể Bá Hi tìm hưởng thụ nhan sắc để nguôi ngoai nỗi buồn nhớ quê.
Thái tử Hữu đóng ở Bình Vọng, cẩn mật đề phòng, Vưng Tôn Lạc trú quân ở phía Bắc Trường Giang, mở đường thông thưng hai bên bờ làm thành mũi tên chĩa bắn vào Trung Nguyên. Mãnh sĩ Ngu Thúc đã đầu nhập dưới cờ Vưng Tôn Lạc. Riêng ở Cô Tô thì Vưng Tôn Hùng trở thành người phụ trách vấn đề quân sự cho Ngô vưng.
Cuộc hội ở Hoàng Trì
-V
ưng vãng đồ... kiết.
- Tam tam... Lý hổ vĩ, bất diệt nhân... hưởng.
Bói quẻ mu rùa và quẻ cỏ thị đều ra điềm lành. “Vưng vãng đồ, kết” tức đã chỉ rõ ràng chuyến đi của nhà vua đại kiết. Riêng quẻ cỏ thị thì tuy có nguy hiểm lúc đầu song rốt cuộc cũng lành. Từ hai loại quẻ, thần minh đã chỉ rõ việc người cầu hỏi gặp hung sẽ hóa kiết, gặp nạn sẽ thành bình yên.
Trên đây là kết qu bói toán do Tây Thi mời thầy ở Cú Khúc đến Ngô cung xủ quẻ. Với Tây Thi, bói ra đại, kiết là điều đáng mừng nhất. Chứ từ Cô Tô đến Cú Khúc, nàng cứ hồi hộp mãi. Tây Thi muốn hỏi việc ni quỷ thần song Ngô vưng phn đối, có muốn không đi cũng không được, cần gì phi bói toán nữa?
Tây Thi có cách nghĩ khác. Nàng cho rằng cần biết vận mạng để dầu hung dầu kiết, bn thân mình có sự chuẩn bị vẫn hn. Nhưng rồi nàng không muốn tỏ ra nghịch ý quân vưng nên phi đợi lúc Phù Sai kéo đại quân qua sông, nàng mới rước thầy đến bói.
Kéo quân lên mặt Bắc kỳ này không phi do Ngô vưng chủ động và hài lòng. Mà chỉ là một chuyện bất đắc dĩ. Để duy trì địa vị một minh chủ, để xác nhận trách nhiệm của một minh chủ, Ngô vưng chỉ còn có cách phi phát binh - kéo một cánh quân đông đo chưa từng có - vượt qua Trường Giang, thị uy với chư hầu Trung Nguyên trong cuộc hội minh gii quyết chiến tranh giữa các nước.
Địa điểm cuộc hội là Hoàng Trì (thuộc huyện phụ cận tỉnh Hà Nam bây giờ). Địa điểm thật phức tạp, nằm trên đất Trịnh song biên giới thì giáp với Tề, Tấn, c Lỗ và một phần bắc Tống.
Hoàng Trì, có thể nói là trái tim của Trung Nguyên nằm ở giữa mấy quốc gia quan trọng, lại rất gần với Đồng Bưu, Hổ Lao của Châu Vưng. Chọn địa điểm này để cử hành lễ kết minh tự nhiên là có dụng ý: Nước nào làm chủ cuộc uống máu ăn thề sẽ là minh chủ, sẽ trở thành lãnh tụ các nước chư hầu Trung Nguyên. Châu Vưng cũng dự định cử Đn Bình Công thuộc hàng tông thất đại thần đến giám sát cuộc hội. Phần nghi thức long trọng thì do nhị bá Tề Hằng và Tấn Văn phụ trách. Ngô vưng Phù Sai vì được mời mà đến. Tề, Lỗ, Trịnh đều xem Phù Sai như minh chủ, tha thiết mong người đm nhận trọng trách sắp đặt và gii nạn cho Trung Nguyên.
Nguyên nhân có cuộc họp này là vì có sự lục đục giữa năm nước Tề, Vệ, Trịnh, Tấn, Tống. Bởi sau cuộc chiến thua Ngô, tạm thời Tề thần phục Ngô. Điều ấy làm cho nước bạn Tấn không vui, dồn quân ở biên giới chuẩn bị xâm phạm Tề. Về một phưng diện khác, Vệ, Trịnh lại xy ra xung đột. Vệ được Tấn khuyến khích, xâm phạm biên giới Trịnh. Nói về thực lực thì Trịnh đủ sức tiêu diệt Vệ, nhưng sau có Tấn nên Trịnh không dám vọng động. Vì vậy, Trịnh phi liên hiệp với Tề để đối phó với Vệ.
Tình hình bên phía Nam hết sức khẩn trưng. Gián điệp Tấn du thuyết cho Tống xuất binh đánh Lỗ do Ngô bo vệ. Tề liền giữ thái độ sẽ theo nước nào mạnh. Riêng Sở, từ suy nhược đang dần dần quật cường trở lại. Nhận được tin tình báo từ Việt nói Ngô không đáng sợ, một mặt, Sở lén giúp Tống, mặt khác lại xúi giục Trần phn Ngô. Hãy còn nước Tào xua quân khuấy rối lân bang thuộc Ngô nữa.
Xem thế đủ biết cuộc diện Trung Nguyên như đống lửa, lúc nào cũng có thể bùng cháy; muốn dập tắt mầm mống này thì chỉ có Tấn và Ngô liên hiệp lại, đề ra việc cam kết giữa các nước với nhau. Bằng không, không có cách nào tránh khỏi can qua rối nùi.
Từ Cô Tô của Ngô đến Hoàng Trì, đường xa diệu vợi. Nhưng từ thủ phủ của Tấn đến Hoàng Trì rất gần. Lẽ đưng nhiên, Ngô vưng biết rõ, mang đại quân vào can thiệp chuyện quan qua giữa các chư hầu Trung Nguyên là một việc đòi hỏi nhiều cố gắng. Nhưng Ngô vưng cũng biết không thể đặt mình ra ngoài. Vạn nhất Trung Nguyên xy ra chiến tranh, nước Ngô không tham gia không được, thà rằng bây giờ dùng cuộc hội minh để gii quyết tranh chấp, tranh ngôi bá chủ luôn.
Phù Sai rất thận trọng. Trên đường diệu vợi, nhà vua bố trí đội ngũ và hệ thống tiếp ứng của mình làm ba trạm. Trạm đầu ở Cú Khúc, trạm thứ nhì ở Hàn Giang, thuộc vùng giáp giới Ngô - Lỗ. Trạm thứ ba đặt ở phía Tây Ngi Lâm thuộc địa khu biên giới nước Trịnh.
Cuộc hội ở Hoàng Trì trù liệu vào đầu xuân. Nhưng Cô Tô, Ngô vưng đã xuất phát vào đầu hạ năm trước bởi vì nhà vua có nhiều việc phi sắp đặt. Tại quốc nội, cần phi giữ một cánh quân phòng ngừa Việt. ở hai bên bờ Trường Giang cũng phi có quân phòng thủ. Bởi nếu xy ra chiến tranh thì Sở có thể dốc hết toàn lực cắt đứt tuyến liên lạc của binh Ngô. Quan trọng hn hết là cuộc họp ở Hoàng Trì không phi cuộc họp của áo mão, cân đai. Mà là cuộc họp binh, chỉ một lời nói không thuận sẽ có đánh nhau. Vì vậy, Ngô vưng phi tuyển by trăm chiến xa tiến lên mặt Bắc cộng thêm với số quân do Vưng Tôn Lạc thống lĩnh ở phía Bắc Trường Giang gồm ba trăm chiến xa, một ngàn kỵ binh, bốn trăm bộ binh.
Con số c ngàn chiến xa làm kinh hãi mọi người. Năm xưa, các đại quan Tấn, Tề, Tần, Sở đưa ra năm trăm chiến xa đã kể là ghê gớm lắm rồi. Năm xưa, lúc Tấn Văn Công xưng bá Trung Nguyên đã dùng một ngàn binh xa làm hậu thuẫn đủ khiến chư hầu bở vía. Nhưng với lực lượng to lớn như vậy, Ngô vưng vẫn không lạc quan. Từ xuân đến hạ, Tây Thi luôn thấy nhà vua u uất. Nàng không hiểu vì sao, chỉ thấy là cờ xí quân Ngô mới mẻ, rợp trời. Nhưng rồi, niềm u uất của Ngô vưng cm nhiễm sang nàng. Cho nên, sau khi nhà vua cất quân qua sông thì nàng đi bói.
Tại Cú Khúc, quẻ đại kiết được loan đi nhanh chóng. Vì thế, quân phòng thủ rất phấn khởi kháo nhau:
- Đại vưng chúng ta sẽ thành bá vưng Trung Nguyên!
- Người phưng Nam sẽ khống chế người phưng Bắc!
Lời đồn dội lại Ngô cung, lọt vào tai Di Quang khiến nàng thấy lòng tan nát.
Triền Ba cũng có thứ cm giác ấy. Uy danh Ngô quốc ngày một lên cao thì hy vọng phục thù của Tổ quốc họ ngày một xuống thấp, nhạt nhòa.
Lúc quân Ngô ca vang ở Cú Khúc thì Triền Ba trong Ngô cung không tiếc lời nguyền rủa. Di Quang cũng hậm hực nói:
- Chớp mắt đã hai mưi năm rồi, Đại vưng chúng ta vẫn còn ở Hội Kê. Chúa tôi nước Việt đã quên rồi cái nhục Hội Kê!
- Nào chỉ có họ! (Triền Ba cười nhạt). Tây Thi của chúng ta cũng quên rồi mối nhục Hội Kê! Chị xem Tây Thi đã lo lắng cho Phù Sai biết bao nhiêu!
- Bây giờ tôi không trách Tây Thi, một người con gái được một người trai chí thành yêu thưng... Thời gian dằng dặc, trước sau gì Phù Sai cũng đối với Tây Thi y như một thì làm sao Tây Thi nhẫn tâm cho được? Đổi là Triền Ba hay tôi rồi cũng thế thôi!
Triền Ba lên giọng:
- Nhưng chúng ta đều vì quốc gia!
- Tây Thi cũng không quên quốc gia! (Di Quang hạ giọng tiếp). Phùng Đồng đã nói một câu rất đúng: Nếu Tây Thi thật sự quên Tổ quốc thì đã tố cáo âm mưu gián điệp. Nhưng Tây Thi không tiết lộ một điểm nào, chứng tỏ chị ấy đã trung thành với quốc gia, mặc dầu chị ấy không có lý tưởng hành động như chúng ta.
Triền Ba vẫn cười nhạt. Vì thù hận quốc gia kéo dài quá lâu và cuộc sống độc thân thui thủi đã khiến Triền Ba trở thành khô khan hết sức.
Ngoài ra, còn bốn cô gái Việt khác theo đến Ngô cung cũng sống trong chuỗi ngày buồn thm. Mỗi ngày Tây Thi đều nhìn thấy gưng mặt đưa ma của họ. Nàng biết họ ngầm bất mãn nàng nhưng nàng không có cách nào gii thích được. Nàng chỉ cố tránh nói chuyện với họ mà thôi.
Ngày hè oi bức, Tây Thi đàn, xem sách giết ngày giờ.
Cứ cách một ngày, Ngô vưng viết một phong thư gửi lại Ngô cung, tối đa phần đều do Tích Lặc, vị đại phu có nhiệm vụ bo vệ Cú Khúc đích thân chuyển cho Tây Thi.
Tích Lặc giữ chức cao nhất trong đội Hiền Lưng, thời trẻ đã từng dùng tay không giết hổ, báo. Tích Lặc được phụ thân Phù Sai thâu dụng, cho chỉ huy một tiểu đội dũng sĩ. Năm Ngũ Tử Tư chết, Tích Lặc mới được lên chức đại phu. Trong đội Hiền Lưng chỉ có một vị đại phu là nhân vật quan trọng, song Ngô vưng lưu Tích Lặc lại ở Cú Khúc, vừa để bo vệ hậu phưng, vừa để bo vệ Tây Thi.
Hôm nay, lúc Tây Thi nhận được tin Ngô vưng từ Hàn Giang đưa về xong thì cũng nhận được liền một tin quan trọng của thái tử Hữu và Bá Hi từ Cô Tô chuyển đến.
Việt và Sở chạm binh rồi.
Tin ấy làm cho Tây Thi ngạc nhiên. Nàng biết, phía Tây nước Việt giáp ranh với Sở nhưng từ phía Tây ấy đến Hội Kê xa lắm. Hn nữa, vùng ấy hoang lưng, người Sở không thể có hứng thú gì. Nói cách khác, phía Nam nước Sở cũng là khu sình lầy, lạnh lẽo, hoang vu, người Việt cũng không thể nào ham chiếm lấy. ấy thế mà có chuyện động binh khiến Tây Thi không dám tin là thật.
Các tin từ Cô Tô đến đều do Tích Lặc lần lượt chuyển đến cho Ngô vưng. Nhưng trên đường vào Trung Nguyên, Ngô vưng đã nhận được tin ấy. Trong thư gửi cho Tây Thi, Ngô vưng có nhắc đến chuyện ấy, cho đó là một tin đáng mừng. Đồng thời Ngô vưng cũng cho biết ngài nhận được tin đó theo báo cáo của Tào, Tề.
Thế thì Tây Thi không thể không tin được, nhưng nàng vẫn không ngừng tự hỏi: “Tại sao?”.
Năm ngày sau lại có tin báo của Bá Hi, nêu đích danh Phạm Lãi thống lĩnh binh Việt kéo xuống phía Tây chận đánh quân Sở.
Ngày xưa, cứ nghe tin về Phạm Lãi là Tây Thi chấn động, không như bây giờ, nàng rất thn nhiên. Lúc Di Quang hỏi lại, Tây Thi đáp cách lạnh nhạt.
- Có thể Phạm đại phu sẽ làm như Ngũ Tử Tư, đánh đến kinh đô nước Sở.
Di Quang đau khổ hỏi:
- Tại sao Phạm đại phu không đánh Cô Tô chứ? Lẽ thì người phi nhân c hội này mà đánh Cô Tô?
Tây Thi nhếch cười, không đáp.
***
Chúa hùng ở Giang Nam, tân bá ở Trung Nguyên, Ngô vưng Phù Sai đã đến Hoàng Trì.
Tại Hoàng Trì, trước khi Ngô vưng đã đến có mặt chín vì vua của chín nước Tấn, Trịnh, Vệ, Tề, Lỗ, Tống, Trần, Tào và Trâu. Trong khu vực Hoàng Trì; lều căng san sát đầy dẫy các khu, đài hội minh đã hoàn thành từ lâu. Đn Bình Công do Châu Vưng phái đến giám sát cuộc hội minh đã xây nhà ở giữa Minh đàn.
Chín vì vua đều nhẫn nại chờ Ngô vưng từ xa tới. Đồng thời, tin tức về Ngô không ngừng đưa lại. Vua Tống nói với Tấn vưng:
- Dẫn binh phó hội, lúc đi ngang biên giới nước Tống, Ngô vưng đã đoạt mất của Tống một số lớn bò, dê và trên mười xe lưng thực.
Vua nước Tào cũng cho biết: Lúc đi ngang biên giới, Ngô vưng đã hủy diệt của Tào năm mưi chiến xa và thiêu rụi một dãy thành trại. Riêng vua nước Lỗ, một mặt theo hùa với Tấn, mặt khác lại âm thầm thông báo tin tức cho Ngô vưng ở biên giới Lỗ.
Ngoài ra dũng sĩ của Trịnh và Vệ đã chong nhau một trận tại Hoàng Trì, đôi bên đều bị chết trên mười người, may có binh xa của Tề xông đến dàn gii. Phần vua nước Tấn lại làm áp lực với Tề, muốn Tề theo Tấn.
Trên đây là tình hình Hoàng Trì trước khi Ngô vưng đến.
Ngô vưng sắp đến thì Vưng Tôn Lạc đã mang một trăm binh xa và một ngàn kỵ binh chọn chỗ lập xong dinh trại. Chẳng bao lâu, Ngô vưng hướng dẫn ba trăm binh xa dẫn đến Hoàng Trì.
Ngày thứ nhất, tông thất của Châu vưng là Đn Bình công thết tiệc khon đãi mười nhà vua. Về mặt danh nghĩa thì đây là tiệc đãi của Ngô vưng. Nhưng trong thực tế thì chính Đn Bình công yêu cầu Tấn, Ngô cho vưng triều một chút thể diện. Sang ngày thứ hai và ba thì mười vua luân phiên thết tiệc xã giao với nhau. Sau ngày thứ tư, đại phu các nước trao đổi ý kiến. Cứ thế, cuộc hội binh kéo dài mười ngày.
Sở vưng có phái một vị đại phu đến xin lỗi mười nước về việc Sở có chuyện giao tranh với Việt nên Sở vưng không thể tham gia cuộc hội. Đồng thời, đại phu của Sở còn xin được Tấn vưng viện trợ.
Đêm ấy, sau khi viết thư cho Tây Thi xong, Ngô vưng cùng Vưng Tôn Lạc nghiên cứu các vấn đề của cuộc hội minh, Vưng Tôn Lạc nói:
- Đại vưng! Xem xét kỹ bất cứ góc cạnh nào cũng thấy Tấn hầu muốn đoạt trước ngôi vị Minh chủ. (Vưng Tôn Lạc hậm hực). Tấn Hầu mang đến năm trăm xe...
- Trẫm biết. (Ngô vưng cười nhạt). Trẫm còn được tin Tấn hầu dành sẵn ba trăm xe ở biên giới để chuẩn bị. Ngoài ra hãy còn năm ngàn bộ binh đóng ở Xuân Lăng thuộc hướng Tây Bắc cách Hoàng Trì sáu mưi dặm.
- Đại vưng, chúng ta mang theo có bốn trăm xe, hình như quá ít. Mấy hôm nay, một số nước nhỏ cứ theo nịnh Tấn, đến c Lỗ vưng cũng sợ...
- Trẫm biết.
Ngô vưng nghiến răng gằn giọng:
- Trẫm đã nói trước đây là cuộc hội của binh xa, ai có lực lượng mạnh, người ấy sẽ là thủ lĩnh!
- Đại vưng! Binh xa chúng ta không cần lưu lại dọc đường.
- Bây giờ thì có thể, chứ lúc trước ta lưu quân là có ý nghĩa khác. Lúc trước, trẫm sợ Sở và Việt đánh chận đường hậu của ta. Giờ họ đánh nhau thì ta khỏi lo.
- Thế thì chúng ta nên điều động đội ngũ đóng ở Hàn Giang đến đây.
Ngô vưng lấy một miếng trúc ra xem rồi nói:
- Có thể. Ngày mai, số quân ở phía Tây Ngi Lâm có thể đến kịp Hoàng Trì. Đội đó có một trăm năm chục xe. Trẫm cũng nghĩ, điều động binh Hàn Giang không bằng điều động đội Hiền Lưng ở Cú Khúc để cùng Tấn so sánh thực lực một phen.
- Đại vưng! Chuyện Sở - Việt giao binh thật ngoài ý liệu. Trong thư của anh hạ thần đưa lại nói là hoàn toàn không có lý do.
- Không có lý do thật, nhưng chiến tranh không nhất thiết phi có lý do đâu! (Ngô vưng lại cười nhạt). Trẫm nghĩ là Việt vưng muốn thử dò binh lực của mình, nhưng không dám chạm đến chúng ta mới xoay sang Sở.
Vưng Tôn Lạc có vẻ khó xử nói:
- Mong được như thế.
- Có phi ngày mai tho luận trình tự vấn đề của cuộc hội minh không?
- Thưa, tạm thời đã gác nghị trình rồi. Ngày mai tho luận trước hết là chuyện rắc rối giữa Trịnh - Vệ, kế tiếp là vấn đề của Tống...
Vưng Tôn Lạc lắc đầu:
- Theo thần thấy, cuộc họp sẽ kéo dài ngày giờ.
- Có thể là do quỷ kế của Tấn hầu. (Ngô vưng dang tay vưn vai). Họ cho rằng chúng ta từ xa đến, tất nhiên không thể ở lâu. Ha ha... Nhưng Tấn hầu lầm rồi, trẫm sẽ làm cho hắn biết!
Đối với cuộc họp ở Hoàng Trì, thoạt đầu Ngô vưng không lạc quan. Nhưng sau khi được tin Sở - Việt chong nhau, Phạm Lãi đích thân phát binh từ Hội Kê thì hùng tâm của Ngô vưng bấy lâu trầm lắng bây giờ lại bộc khởi. Nhà vua phái người đi luôn ngày đêm về điều động gấp đội ngũ ở Hàn Giang và Cú Khúc mau đến Hoàng Trì. Cánh quân của Tích Lặc cũng bị điều động, nhường chỗ trống ấy cho binh của thái tử Hữu từ Cô Tô đến điền khuyết.
Trong âm thầm, Ngô vưng đã tập trung một ngàn hai trăm chiến xa quanh khu vực Hoàng Trì.
***
Tại Hội Kê, từ sáng sớm, binh sĩ trang bị đầy đủ lưng thực kéo đi hướng Tây. Nhưng chiều đến thì họ đổi hướng, một số lên thuyền đi sông Tiền Đường đi ngược về Đông, số khác vượt sông Tiền Đường sẽ lén đi sang hướng Nam.
Biên giới nước Sở rất yên lành. Tin Sở - Việt giao tranh chỉ là tin do hai nước cùng lượt tung ra nhằm gạt Ngô vưng trên đường đi sâu vào Trung Nguyên.
Đại tướng quân Gia Kê Dĩnh của nước Việt thống lĩnh binh sĩ kéo đến Dư Hàng trước nhất. Liền đó, Đại phu Tiết Dung cũng đưa một cánh quân qua sông Tiền Đường, hợp với thủy quân, đi theo một con đường mới âm thầm tiến lần về hướng Đông-Bắc.
Hai ngày sau hai cuộc phát binh ấy, Câu Tiễn chuyển giao nội chính nước Việt cho thái tử. Văn Chủng trao quyền trông coi tài chính và kho lưng cho Duy Giáp.
Sang ngày thứ ba, Câu Tiễn cùng một số đại phu cùng đến ven sông Tiền Đường, được nhóm Văn Chủng và Phạm Lãi chờ đón.
Câu Tiễn rất bình tĩnh, thư th nhy từ chiến xa xuống, đứng bên thành xe chờ vợ xuống xe. Nhưng Việt quân phu nhân không được như chồng. Từ trên xe xuống, mặt bà đỏ như gấc.
Câu Tiễn đón vợ, bo nhỏ:
- Phu nhân, chúng ta lại đến Cô Tô.
Giọng Quân phu nhân run run:
- Vâng. Quân vưng, còn Thiếu Bá đâu?
Phạm Lãi bước ra thi lễ:
- Thưa, thần ở đây.
- Kìa, Thiếu Bá! Khanh nhớ rõ chuyện năm xưa chứ? Ba ta cùng đến Cô Tô giữ ngựa cho Phù Sai, vào ngày tuyết lớn, ngón tay chúng ta rét cóng...
- Thưa, thần nhớ, quân phu nhân!
Câu Tiễn trầm giọng nói:
- Giờ khắc bồi thường cho chúng ta đã đến rồi. Suốt hai mưi năm, trẫm không có một ngày quên... Tử Hội! Thiếu Bá! Giờ phục hận đã điểm. Lấy được nước Ngô, chúng ta sẽ chia ba, hai khanh mỗi người một phần, trẫm cũng một phần. Ôi, nếu không có hai khanh trẫm không có được ngày này.
Câu Tiễn nhìn về Hội Kê sn, buông tiếng thở dài.
Văn Chủng và Phạm Lãi đứng nghiêm, mỗi người đều lấy vẻ khiêm tốn hồi đáp.
Câu Tiễn ngửa mặt nói tiếp:
- Tổ tiên, hồn thiêng sông núi của nước Việt... Xin hãy giúp cho Câu Tiễn này trong ngày báo hận rửa thù.
Câu Tiễn vừa nói vừa lột mão, sụp quỳ xuống.
Phạm Lãi cũng lột mão. Hai mưi năm gian khổ đã làm cho tóc người điểm bạc hoa râm.
Vị quan lo về tế tự dâng rượu đến. Câu Tiễn rưới rượu ra đất, đoạn rút đon kiếm bên mình ra, lẩm bẩm:
- Câu Tiễn xin thề trừ diệt nước Ngô, báo thù rửa hận!
Còi hiệu nổi lên, hai trăm võ sĩ trùm đầu bằng da thú, tay cầm trường mâu lần lượt đi qua trước mặt Việt vưng. Họ là vệ đội của Việt vưng Câu Tiễn.
Trên sông Tiền Đường có bè cây để nằm dọc dài năm mưi trượng. Trên bè đã sắp đầy chiến xa... Đây là một cuộc qua sông qui mô và lớn nhất trong lịch sử nước Việt. Nhưng việc dùng bè chở chiến xa là kế hoạch của Phạm Lãi.
Chiếc bè thứ nhất lướt đi rồi, kế tiếp là chiếc thứ hai. Vợ chồng Câu Tiễn, Phạm Lãi và Văn Chủng xuống bè thứ ba vượt sông Tiền Đường.
Bè đến giữa dòng, Việt vưng vẫn hướng về Hội Kê sn mập mờ, khấn vái:
- Lạy trời hộ độ chúng con!
Ba chiếc bè cây chở gần ba trăm chiến xa. Nhưng ở bờ sông bên kia đã có sẵn tám mưi xe nữa.
Phạm Lãi lên bờ, lập tức đốc thúc chiến xa đi trước. Thế là, đại quân của nước Việt đã chia làm năm đội xuất phát.
Xe Phạm Lãi đi hn một giờ thì bắt gặp nhóm thủy quân đi trước. Chàng truyền cho họ chờ ở Ô Thọ trấn đi lệnh. Đợi đội thuyền lục tục kéo đến, Phạm Lãi mới lên một chiếc thuyền nhỏ có phần hi lạ.
Trưởng tử của Phạm Lãi mình mặc áo giáp, đứng ở đầu thuyền kêu lên:
- Đại nhân!
Phạm Lãi nghiêm mặt hỏi:
- Có đem theo đủ các vật không?
- Thưa, con đã làm đúng lời thân phụ dặn dò.
Phạm Lãi gật đầu, bước vào khoang thuyền, xem lại từng gói một. Tất c đựng đầy hạt giống lúa mạch và rau ci. ở về một góc thuyền còn chất mấy mưi bao bông vi.
Phạm Lãi bước ra sau thuyền, ni chất đầy nông cụ bằng cây có, bằng sắt có. Phạm Lãi kiểm điểm một lượt, tỏ ra rất hài lòng. Đoạn từ phía sau ấy bước lên tầng nhì. Thì ra thuyền này có hai tầng, được đóng khéo che giấu để chia làm hai phần. Phần trên trần thiết đầy đủ cho một gia đình ở. Phạm Lãi xem xét tỉ mỉ rồi từ lầu ấy đi ra phía sau.
Con thứ của Phạm Lãi đang giữ tay lái, gọi chào:
- Đại nhân!
- Giỏi! (Phạm Lãi mỉm cười hài lòng). Lúc đến Ô Thọ trấn, con phi đậu thuyền này sau hàng thứ ba.
- Dạ vâng, Đại nhân!... (Thanh niên tên Phạm An đo mắt nghi ngờ hỏi). Bây giờ, con có thể hỏi không?
- Không cần... (Phạm Lãi nghiêm trang tiếp). Cũng không nên hỏi: Chỉ biết là chúng ta dốc lực báo thù, nếu không thành công thì vĩnh viễn sẽ không có ngày trở lại.
Phạm An ngập ngừng, dường như có biết bao điều muốn hỏi phụ thân. Nhưng khi tiếp mắt với cha thì Phạm An lại không dám hỏi gì c.
- Kể từ bây giờ, các con không được phép rời thuyền.
Dặn dò lần sau cùng, Phạm Lãi rời thuyền nhỏ lại dùng thuyền khác lên bờ. Đoạn lên chiến xa giục tới.
Sau ngày thứ tư, hai cánh quân của Gia Kê Dĩnh và Tiết Dung đã chuyển đội hình sang thế công, bao vây đội thủ quân có nhiệm vụ gìn giữ biên giới nước Ngô. Tất c bị bắt trọn gói. Liền đó, Phạm Lãi hướng dẫn bốn ngàn bộ binh tiến nhanh về trước.
Hai ngày sau, đại quân Việt từ Dư Hàng xuất phát vào Tú Thủy, đánh tan rã quân Ngô trấn giữ Tú Thủy.
Mãi đến bấy giờ, thái tử nước Ngô mới được tin, vội vã đến Bình Vọng dàn trận. Đồng thời phái một cánh quân chận đánh quân Việt xâm nhập, thái tử Hữu cũng cho người cấp báo đến Hoàng Trì.
Đại quân do chính Câu Tiễn thống lĩnh đã đến rồi.
Quân của Tiết Dung xông trận trước, đôi bên không phân biệt hn thua. Sau đó, Phạm Lãi chỉ huy một cuộc đánh đêm, làm cho đội tiền phưng của thái tử Hữu bị đánh gục. Câu Tiễn dẫn đại quân đến thẳng Bình Vọng.
Tại Hoàng Trì, sự nghiệp của Ngô vưng đã đến hồi cao tuyệt, đồng thời cũng gặp phi một khiêu chiến nghiêm trọng.
Hội nghị thao binh thâu đoạt kết qu, vấn đề của các nước lần lượt được gii quyết. Sau cùng chỉ còn vấn đề nghi thức... Việc hòa máu thề nguyền cũng đã được trù liệu xong. Đa số các quốc gia dự hội đồng ý nhường Ngô vưng tháp huyết trước, cũng có nghĩa công nhận Ngô vưng là Minh chủ. Kế đó là Tề Hằng công và Tấn Văn công.
Nhưng vào giờ chót, vua Tống lại nói với Tấn quân: Theo ý của Đn Bình công, quan sát viên do Châu Vưng phái đến bo là không thể để cho người phưng Nam làm chủ cuộc tháp huyết(1) Trung Nguyên là trung tâm văn hóa, có lịch sử huy hoàng, Tấn quân lại là hậu duệ của Bá vưng, Tấn lại là quốc gia mạnh nhất Trung Nguyên, phi giữ thể diện cho Trung Nguyên. Vì thế, Tấn quân yêu cầu thẳng với Đn Bình công để cho mình cắt máu trước.
Đn Bình công ngạc nhiên nói thẳng:
- Tôi nào có ý đó. Ngô vưng từ ngàn dặm kéo binh xa đến đây, e rằng chỉ vì giành làm chủ cuộc tháp thuyết. Tấn quân muốn làm minh chủ, e rằng Ngô vưng không thuận!
- Đn Bình công! Họ là hạng người man di, chúng ta có thể để họ làm lãnh tụ được sao. Không! Tôi hoàn toàn không đồng ý! Hn nữa, tin rằng các nước
(1) Cũng có cách đọc trại là “sáp huyết”, nghĩa là cắt máu hòa nhau.
Tề, Tống cũng không thật sự muốn cho Phù Sai làm minh chủ.
Đn Bình công sậm mặt:
- Thế này thì phiền lắm! Phù Sai có thể nhân đây phát động chiến tranh.
- Có chiến tranh chúng ta cũng không sợ. Phù Sai từ xa đến, tôi đã sớm bày binh chờ hắn. Nếu hắn muốn động võ, tôi cũng không ngại chong nhau.
Tấn quân vốn sợ Ngô nhưng vì vấn đề thể diện mà bỗng nhiên nói cứng. Đn Bình công lắc đầu:
- Thế này là làm mất hết ý nghĩa hội minh.
- Chư hầu Trung Nguyên có phi rưới máu ngàn dặm cũng không thể để cho Ngô vưng lãnh đạo. Thoạt đầu, tôi vì muốn yên đâu đó nên đã nhượng bộ bao phen. Nhưng giờ thì không. Xin Đn Bình công đi nói cho Phù Sai biết, Tấn quốc có truyền thống minh chủ nhất định không để cho ai tháp huyết trước.
Đn Bình công không làm sao hn được là nhận nhiệm vụ này đi hỏi lại Ngô vưng.
Gần như lúc ấy, Vưng Tôn Lạc nhận được thư cấp báo, đi thẳng vào doanh phòng của nhà vua. Tin báo Việt đã nhập Ngô khiến Ngô vưng nghiến răng:
- Câu Tiễn không phi là người nên mới nhân lúc vắng mặt ta mà giở trò.
- Đại vưng! Theo thần thấy, tình hình bây giờ khá nghiêm trọng.
- Ơ... Nhưng trẫm không thể về liền. Vưng Tôn Lạc, sáng sớm mai, khanh ra lệnh cho Tích Lặc dẫn quân về Cô Tô trước. (Nhìn bn tin cấp báo, Ngô vưng trầm ngâm một thoáng, nói tiếp). Chúng ta không có cách nào kết thúc cuộc hội trong vòng ba ngày.
Bấy giờ, có tin báo Đn Bình Công đến. Vị đại diện nhà Châu uyển chuyển trình bày ý kiến của vua Tấn, mong được Ngô vưng thông cm, tôn trọng truyền thống của Trung Nguyên.
Ngô vưng cười nhạt:
- Làm minh chủ cũng có truyền thống nữa sao? Nếu nói đến truyền thống thì ngôi minh chủ sẽ xoay sang Tề.
- Quân vưng! Mấy năm gần đây, hội minh chư hầu đều do Tấn vưng làm chủ...
Ngô vưng lại cười nhạt, không tr lời liền nên Đn Bình Công nói tiếp:
- Thật ra minh chủ là một hư danh, quan trọng là xử sự hòa bình với các nước.
Ngô vưng nói giọng uy hiếp:
- Tấn hầu giữ ngôi minh chủ, e sẽ khó làm cho các nước hòa bình.
- Quân vưng! Mong ngài thử nghĩ xem. Bây giờ cũng không nên xem đây là quyết định tối hậu. Trông chừng Tống, Tề cũng có xu hướng...
Đn Bình Công bỏ lửng song Ngô vưng cũng hiểu ra dụng ý. Nhà vua phừng giận, muốn đập ngay một quyền cho gục vị đại diện nhà Châu. Nhưng chợt nghĩ đến quân Việt xâm lăng, Ngô vưng nén giận, hừ giọng khinh miệt.
Vưng Tôn Lạc nhìn thấy tình thế như cung giưng kiếm tuốt liền chen nói:
- Đại vưng! Việc ấy để thủng thẳng bàn lại.
- Cũng được.
Ngô vưng bo Vưng Tôn Lạc thay mình tiễn khách. Ra khỏi doanh phòng, Vưng Tôn Lạc mới thư th nói:
- Công gia! Do mối quan hệ giữa nước tôi và Trung Nguyên, có lẽ Đại vưng chúng tôi không làm trái ý chư hầu Trung Nguyên lắm đâu!
Đn Bình Công vòng tay cám n trước, chào về. Lúc trở lại doanh phòng, Vưng Tôn Lạc nghe Ngô vưng thét:
- Có lý nào như vậy? Bọn họ những ngờ ta chịu bỏ ngôi minh chủ à? Trong chư hầu Trung Nguyên có ai bằng được ta không? Có lý nào như vậy?
- Đại vưng!... Chuyện này đến thật đột ngột vừa khi chúng ta nhận tin cấp báo của Cô Tô...
- Trẫm thấy, không nên tiết lộ tin tức quốc nội, Bọn họ không thể vì chuyện Câu Tiễn xuất binh mà thừa gió bẻ măng. Hn nữa, trẫm không tin Tề dám phn đối trẫm, giành làm minh chủ. Tống thì có thể nhưng Tống thì có lực lượng gì?
- Đại vưng! Còn về việc hồi sư của Tích Lặc về gấp Cô Tô.
Trời vào hoàng hôn lại có tin cấp báo. Bn tin nói rõ có Phạm Lãi trong quân, có thể có c Việt vưng Câu Tiễn. Đồng thời bn tin cũng báo quân phòng vệ của Ngô ở Tú Thủy đã gặp điều bất hạnh.
Ngô vưng phiền não vô cùng, đi đi lại lại. Ngài biết một khi có Phạm Lãi xuất hiện thì tình hình nghiêm trọng lắm rồi. Nếu có c Việt vưng thì đây là trận chiến một sống một chết.
Hùng tâm của Ngô vưng lại một phen xuống thấp. Ngài hối hận về việc đã đến Hoàng Trì. Việc của các quốc gia Trung Nguyên có cần ngài sốt sắng thế này đâu! Minh chủ, đúng như Đn Bình Công đã nói, chỉ là một hư vinh!
Vì vậy, Ngô vưng lại cho đòi Vưng Tôn Lạc đến nói:
- Trẫm thấy, trẫm phi đi đêm về Cô Tô, không màng đến cuộc hội ở Hoàng Trì nữa!
- Đại vưng! (Tôn Lạc kinh hãi kêu lên). Không được đâu, Đại vưng làm thế, nhất định các chư hầu sẽ biết rõ nội tình của chúng ta. Tấn có thể thừa c đuổi theo đánh chúng ta thì tình hình sẽ tệ hại đến mức không tưởng tượng được.
Ngô vưng trầm ngâm, biết rõ thế cỡi cọp của mình ở Hoàng Trì. Ngài sốt ruột bo:
- Vưng Tôn Lạc, chúng ta dần dà ở đây không được!
- Muôn tâu, chúng ta nên cho quân rút từ từ. Trước hết, nên nghĩ cách cho quân trấn ở Hàn Giang về Cô Tô trước, rồi đưa quân ở Ngi Lâm về trấn ở Hàn Giang...
Bấy giờ lại có tin báo làm cho Ngô vưng xanh mặt. Thư này đứng tên Tây Thi từ Ngô cung ở Cú Khúc gởi đến. Nàng chuyển đạt báo cáo của Thái tử Hữu về việc quân Việt xâm phạm bờ cõi chứ tự nàng không có ý kiến.
Thư như thế tuy không có nội dung gì mới mẻ song đã làm cho Ngô vưng thêm thưng tâm, u uất. Ngài lẩm bẩm:
- Ta lại để cho nàng lo lắng nữa!
Vưng Tôn Lạc bỗng chen nói:
- Đại vưng! Chúng ta có cách buộc Tấn!
- Sao?
- Ngày mai, ngày mai chúng ta dàn quân ở Hoàng Trì với tư thế tác chiến thử xem người Tấn làm sao? Họ không phục, chúng ta sẽ tấn công liền.
- Không được đâu, Vưng Tôn Lạc! Làm sao ta có thể chong với các chư hầu Trung Nguyên được? Lưỡng đầu thọ địch, chúng ta sẽ bị thua!
Vưng Tôn Lạc khẳng định:
- Chúng ta bày một ngàn xe, người Tấn dám đánh sao? Nếu Tấn dám đánh thì lúc ta chinh Tề, Tấn đã chong với ta rồi.
Ngô vưng trầm ngâm. Ngài nhận thấy cách ấy thật nguy hiểm song ngoài cách ấy thật không có con đường nào khác.
Ngài cắn răng đáp:
- Được, khanh phát lệnh trong đêm nay, tập trung binh xa.
Sáng ngày hôm sau chẳng bao lâu, trên bình nguyên Hoàng Trì đầy dẫy binh xa Ngô với mâu với kiếm, ngập tràn không khí chết chóc. Nhưng vua Ngô thì cáo bệnh, không xuất hiện.
Tráng sĩ của đội Hiền Lưng cỡi chiến xa, giục ngựa, đột nhiên xuất hiện phía sau doanh trại Tấn rồi vượt qua Tấn bày khai trận địa, hoàn toàn không xem người Tấn vào đâu. Làm thế là một cách khiêu chiến nghiêm trọng!
Quân Tấn được lệnh không đối phó. Thực tế thì họ sợ lắm. Từ chỗ cao nhìn xuống thì trên bình nguyên Hoàng Trì, quân Ngô quá đông! Hn nữa, ở về phía Đông-Nam, bụi lốc mịt mù đủ biết quân Ngô từ phía sau kéo đến Hoàng Trì, không nghi ngờ gì nữa. Vì vậy, các chư hầu trong cuộc hội minh đều thất sắc.
Trước lúc hoàng hôn, Đn Bình Công đến trại Ngô xin yết kiến. Nhưng Ngô vưng từ chối, không tiếp. Đêm ấy, quân Ngô không ngừng điều động... Vưng Tôn Lạc áp dụng kế nghi binh của Ngũ Tử Tư, dùng một trăm chiến xa không ngừng di chuyển. ở mặt sau, Vưng Tôn Lạc lại dùng ba mưi ngựa quét cho cát bụi lốc mịt mù bằng cành cây buộc ở đuôi ngựa. Hn nữa, Lạc còn cho binh sĩ ở phía sau hướng Đông-Nam đốt lửa sáng trời. Làm như thế thì từ Minh đàn Hoàng Trì nhìn thấy hậu phưng Ngô trùng trùng lớp lớp...
Đêm ấy, các vua Tấn, Tống, Vệ họp bàn cách đối phó. Vua Tống sợ nhất, thoạt đầu muốn đẩy cho Tấn đối phó với Ngô song bây giờ không dám mở miệng.
Vệ vưng nói:
- Binh xa của Ngô nhiều quá, đi gì mà đi không ngớt. Họ đi như nước, không ngừng thao thao tràn ngập Hoàng Trì!
Tấn quân lạnh lòng, nhìn lửa sáng lòa ở chốn mù khi, bo nhỏ:
- ở phía sau, quân Ngô e có đến một hai vạn...
Vệ vưng cau mày:
- Có thể Phù Sai đã đưa đến Hoàng Trì hai ngàn binh xa.
Tấn quân phát run, vừa lúc đó có khanh sĩ (một chức vụ tưng đưng với Đại phu) là Triệu Thị hối h đến báo:
- Người ở bên Tân tùng Bách đến báo cáo, có một cánh quân Ngô không rõ quân số từ Ngi Lâm kéo lên mặt Bắc, dường như muốn đi Thiết ấp.
- Thiết ấp? Thiết ấp là hậu phưng của chúng ta!
Tấn quân thng thốt kêu lên. Tấn muốn làm lãnh tụ Trung Nguyên song dưới sự uy hiếp của quân Ngô, Tấn co rút rồi. Sáng sớm ngày thứ sáu, Tấn, Tống đều tự động ngỏ ý mời Ngô vưng làm chủ cuộc tháp huyết, tức là làm Minh chủ chư hầu Trung Nguyên.
Nhưng sáng hôm ấy, lại có tin báo của Cô Tô: Rằng quân Việt đã kéo thẳng đến tấn công Bình Vọng.
- Chúng ta có thể kịp thời lui về! (Ngô vưng sậm mặt nói với Vưng Tôn Lạc) Mong cho Thái tử có thể giữ được Bình Vọng một thời gian.
Đoạt ngôi Minh chủ rồi song Ngô vưng không lạc quan chút nào. Vào trưa, Ngài cho đội Hiền Lưng bo vệ Minh đàn nhưng riêng Ngài thì rút trong quân, không ngừng dùng dao bén khắc chữ lên phiến trúc.
Ngài khắc thư cho Thái tử, cũng khắc thư cho Bá Hi và Vưng Tôn Hùng. Sau rốt, Ngài khắc thư cho Tây Thi ở Ngô cung, bo với nàng rằng: Chư hầu Trung Nguyên đã khiếp phục rồi, Ngài đã trở thành Minh chủ! Ngài còn khắc, quân Ngô sẽ lục tục kéo về, tin chắc sẽ kịp nghênh chiến với Câu Tiễn.
Chẳng bao lâu, Tích Lặc bước vào bẩm báo: Quân hậu bị đóng ở Ngi Lâm đã triệt thoái. Bây giờ có ba trăm xe đang tức tốc về nước.
Ngô vưng vỗ vai Tích Lặc:
- ở đây không có thay đổi gì đâu, khanh mau về đi! Phi cẩn thận lúc đi đường, nhất là lúc đi ngang biên giới Sở.
Chư hầu Trung Nguyên run sợ hoàn thành thủ tục sau cùng của cuộc hội minh trong lúc quân Ngô không ngừng rút lui. Qua hai hôm khẩn trưng, cuộc hội ngộ ở Hoàng Trì được tuyên bố kết thúc thành công.
Ngô vưng mặc đồ rỡ ràng bước lên Minh đàn, thích lấy máu trước tiên, trở thành Minh chủ các chư hầu Trung Nguyên. Kế đến là các vua Tấn, Tề, Lỗ, Trịnh, Vệ, Tống...
Sau cùng, Đn Bình Công thay mặt cho Châu vưng có lời hiếu dụ. Đoạn dùng thịt cúng tế ban cho Ngô vưng...
Quân Ngô ở bốn bên Minh đàn dậy tiếng hoan hô. Cung hạ vị anh hùng của họ, họ rập tâu:
- Ngô vưng vô địch! Ngô vưng muôn năm!
Vua các nước đều ngại ngùng, thầm nghĩ: Làm một vị Minh chủ không nên thiếu lễ độ như vậy!
Sau khi hoàn thành thủ tục, Ngô vưng vòng tay chào cám n mọi người, đoạn bước xuống Minh đàn. Vưng Tôn Lạc thay mặt nhà vua tuyên bố:
- Kính mời tất c dự yến.
Ngay khi tiệc tùng, một số lớn quân Ngô đã rút lui.
Tuy nhìn thấy quân Ngô không ngừng điều động song các chư hầu không dám suy đoán. Bởi vì, trong năm hôm, quân Ngô đã hành động một cách xuất quỷ nhập thần khiến họ hong quá, mất hết thông minh cần có.
Kết thúc cuộc hội minh, vào nửa đêm, Ngô vưng sẽ lén cho chiến xa rời khỏi Hoàng Trì.
Đại quân rút lui, không sao tránh khỏi hỗn độn. Huống chi, Ngô vưng hạ lệnh cho toàn quân đi ngày đi đêm khiến binh sĩ bắt đầu hồ nghi. Họ thắc mắc: Đại vưng đã làm Minh chủ chư hầu, tại sao lại vội vã rút lui?
Đồng thời, các chư hầu Trung Nguyên cũng hoài nghi tự hỏi: Tại sao?
Lúc đại quân về tới Ngi Lâm, Ngô vưng nhận được tin báo tưng đối gây yên tâm: Quân Việt tấn công Bình Vọng đã bị đẩy lui. Hiện giờ, quân hai bên đang chạm mặt nhau ở Huề Lý.
Ngô vưng thở phào:
- Chúng ta có thể về kịp để bo vệ Cô Tô!
Bấy giờ là mùa thu. Lúc đại quân Ngô đi qua biên giới Lỗ thì gặp mưa thu.
Nước mưa làm chậm bước quân đi, hn nữa, còn khiến cho đại quân lâm cnh khó khăn hết sức. Đường đất sình lầy làm cho người ngã, xe lật.
Lúc đi ngang Tống, Ngô vưng muốn trừng phạt Tống không thần phục. Hn nữa, để đề cao sĩ khí, Ngô vưng hạ lệnh tấn công, đốt cháy một dãy nhà Tống.
Đại quân về đến Hàn Giang có Tích Lặc đã chuẩn bị sẵn đội thuyền chờ Ngô vưng. Nhưng đoàn quân của vị Minh chủ Trung Nguyên đã bị mưa thu làm cho rét mướt không sao chịu nổi. Họ kéo lê chân sình đất lên thuyền, mệt nằm phờ phạc như người chết.
Hn nữa, còn có sự không may ở phía sau. Lúc Ngô vưng lên thuyền độ quân qua sông thì Sở phát binh đánh lén hậu đội. Tướng quân Ngô là Tư Đường bị trúng tên chết. Tư Đường chỉ huy một trăm xe và một ngàn năm trăm bộ binh đã bị chết mất quá nửa.
Đối với toàn quân, sự thiệt thòi ấy không đáng kể. Nhưng theo báo cáo của các bại binh thì toàn quân rung động.
Ngô vưng giận lắm, muốn kéo rốc đại quân đánh Sở. Song đó chỉ là ý niệm chứ thực tế nhà vua không làm được. Bởi vì Ngô quốc đang lâm nguy và binh Ngô đã bị mưa thu đánh bại.
Mưa cứ liên miên không dứt. Nước sông dâng cao, đẩy thuyền đi rất nhanh.
Những lời đồn bây giờ mỗi lúc một nhiều. Đồn rằng, quân Việt đã tấn công vào Ngô quốc... Đồn rằng Sở vưng đích thân thống lãnh binh mã báo thù. C hai vị vua ấy đều có thâm thù với Ngô.
Ngô vưng phẫn nộ thét:
- Ta sẽ nghiền nát họ! Ta có thể nghiền nát họ... Nhưng mong trời đừng mưa!
Dường như Trời cũng chiều người, mưa tạnh rồi. Đã nhìn thấy bên kia bờ Trường Giang và lại có tin: Quân Ngô-Việt vẫn còn dàn nhau ở Huề Lý.
Câu Tiễn cũng có mặt trong quân ấy, Văn Chủng cũng có mặt.
Cuộc diện chưa ngặt nghèo nhưng Ngô vưng rất lấy làm lo. Bởi quân Việt mang trọn ý khuynh quốc mà tới thì đây là trận quyết chiến một sống một chết. Tuy no giận, Ngô vưng vẫn thấy lo sợ... Và đây là lần thứ nhất nhà vua cm thấy lo sợ trước khi giáp trận.
Đại quân Ngô đã qua Trường Giang, đại quân đã từng uy hiếp chư hầu Trung Nguyên nhưng sau khi vượt được Trường Giang thì lại tỏ ra vô cùng chán nn. Đến c Ngô vưng cũng sợ khi nhìn họ. Để chỉnh đốn lại trước khi tác chiến, đại quân đến phía Nam Trường Giang thì Ngô vưng truyền lệnh cho nghỉ ngi ba ngày ở Cú Khúc.
Cnh vật Cú Khúc vẫn như xưa. Tây Thi hướng dẫn quần nữ Ngô cung đến đầu biên giới đón rước Ngô vưng.
Kể từ quân Việt mở cuộc xâm lăng, Tây Thi chìm trong bấn loạn. Nàng sợ thay đổi. Bất cứ hình thức hay kết qu thay đổi nào cũng đều bất lợi không sao tưởng tượng được. Nàng còn được tin đặc biệt. Câu Tiễn xua quân đi lần này là quyết rửa sạch mối huyết hi thâm thù hai mưi năm. Trong những ngày học tập ở quê nhà, Tây Thi từng nghe Câu Tiễn thề rằng: “Đến ngày xá tang thì ta với ngưi cùng chết!”. Tây Thi tưởng tượng, lần này là một cuộc chiến tranh diệt tuyệt.
Tây Thi là người đã bị đặt nằm giữa cuộc thm khốc đó. Nàng sợ sự tiêu diệt, bởi vì bất cứ bên nào gục xuống cũng làm cho nàng đau khổ. Một bên là Tổ quốc, một bên là chồng, nàng không có cách nào phân biệt được nặng nhẹ giữa đôi bên.
Lúc được tin Ngô vưng làm Minh chủ Trung Nguyên, Tây Thi phấn khởi. Nàng thầm nghĩ: Kết qu này sẽ làm cho Việt vưng ngán sợ mà lui binh. Chỉ cần Câu Tiễn lui binh, nàng tự tin mình sẽ đủ sức ngăn Ngô vưng cất binh đánh Việt.
Nhưng tin tức từ tiền phưng gửi về cho biết, dường như Việt vưng không xem sự thành công vĩ đại của Ngô vưng vào đâu. Điều ấy khiến Tây Thi
bàng hoàng đâm lo và bấn loạn.
Tin Ngô vưng gấp rút trở về làm cho Tây Thi yên tâm phần nào. Nhưng khi nàng đến biên giới đón tiếp vị bá chủ Trung Nguyên thì từ trong thâm tâm nàng đã có sự run sợ: Ngô vưng tiều tụy quá rồi! Sạm nét phong trần, trông mặt nhà vua khô khốc, không có chút phấn khởi nào, cũng không có nét anh hào nào. Thần sắc của nhà vua mà như thần sắc của một tên quân từ đội ngũ trở về, lại là thứ đội ngũ bại trận, t ti, lam lũ...
Lúc nhìn thấy Tây Thi, Ngô vưng mỉm cười, ào lại ôm chầm nàng. Sau đó Ngài hỏi bằng giọng nặng nề:
- Tây Thi! Nàng biết việc ở Hoàng Trì...
- Tâu biết. (Nàng cố gắng tỏ ra chính mình thật sung sướng) Đại vưng, chư hầu Trung Nguyên đều quy thuận với Đại vưng!
- Ơ, chuyến này trẫm thành Minh chủ Trung Nguyên!
Nhà vua cố tỏ vẻ vui mừng, nhưng từ đôi mắt lờ đờ mệt mỏi, Tây Thi không nhận ra một chút hào khí nào. Nàng muốn khích lệ nhà vua song khi nghĩ đến quân Việt, bn thân nàng cũng mất tinh thần nốt!
Dường như hiểu điều Tây Thi muốn nói, Ngô vưng nắm nhẹ tay nàng bo nhỏ:
- Chúng ta về Ngô cung hẵng nói. Bây giờ trẫm
còn mấy việc cần làm.
Vừa nói, Ngô vưng vừa kéo Tây Thi lên gò nổi, tuyên bố cho toàn quân được nghỉ ba ngày. Binh sĩ đang mệt mỏi rập tiếng hoan hô, gọi to “Đại vưng!” Nhà vua cười khổ nói với Tây Thi:
- Ba quân mệt mỏi quá, trẫm muốn cho họ nghỉ x hi.
- Tại Hoàng Trì, không có tác chiến chứ?
- Không. Nhưng trên đường về, chúng ta bị mưa thu đánh bại. Thật là bất hạnh, suốt đường mưa...
- ở đây không mưa... Chỉ có hôm trước, có mưa một lần...
Tây Thi ngẩng nhìn trời, bắt gặp vòm trời xuống thấp. Phưng Bắc đã mưa, ở đây hôm trước có mưa, thế là mùa mưa đã bắt đầu. Nghĩ ra thế, nàng o não.
Về đến Ngô cung, Tây Thi ra lệnh ca hát ăn mừng thắng lợi Hoàng Trì. Tuy là một “hư vinh thắng lợi”, nhưng về hình thức, không thể không tổ chức ăn mừng để quân dân Ngô biết sự thành công vĩ đại của nhà vua họ.
Được nghỉ ngi, binh sĩ cũng ăn mừng thắng lợi.
Nhưng tin tức từ cuộc giao tranh Ngô Việt cứ loan truyền "trong những ngày thắng lợi” ấy. Cú Khúc nhận được nhiều tin tức, chẳng bao lâu, quân sĩ đều hiểu rõ tình hình Việt tấn công Ngô. Họ biết thêm địa danh Huề Lý, có nghĩa quân Việt đã xâm nhập Ngô rồi và chiếm cứ một vùng khá rộng lớn.
Mọi người đang ca vang, ăn uống, nhưng cũng đang nm nớp âu lo... Sau ba ngày nghỉ ngi sẽ là một trường quyết chiến.
Trong quân, nhiều người lần lần nhắc lại di ngôn của Ngũ Tử Tư. Theo dự đoán của vị lão thần nhà Ngô thì quân Việt sẽ tấn công Cô Tô... san bằng Cô Tô thành bình địa.
Rồi người ta tự hỏi:
- Bây giờ đã đến lúc chưa?
Tại Ngô cung, Ngô vưng tiếp kiến vài vị tướng quân đoạn tắm rửa, thay đồ ngủ rộng và mềm rồi kéo Tây Thi đến Sùng đài. Gọi Sùng đài vì đài rất cao, hình thức kiến trúc có phần giống Cô Tô đài. Nhưng vì diện tích Ngô cung nhỏ nên Sùng đài cũng nhỏ theo cho cân đối.
Sùng đài được kiến tạo bằng nhóm thợ Lỗ đã kiến tạo Quán Oa cung tuy không vĩ đại nhưng rất tinh xo. Sùng đài có hai tầng. Bốn bên tầng đều có cửa sổ, từ cửa phía Nam nhìn xuống có thể thấy toàn khu chợ Cú Khúc. Nhìn từ cửa phía Bắc và Tây thì thấy một dãy ngô đồng. ở mặt Đông có rừng trúc và hồ, nhìn xa hn nữa có thể nhìn thấy chợ búa. Đến Ngô cung, thời gian Tây Thi và Ngô vưng ở Sùng đài nhiều nhất.
Bấy giờ, Tây Thi đặt Ngô vưng nằm xuống rồi ngồi kề bên xoa bóp cho nhà vua. Ngô vưng lim dim mắt nói:
- Cho trẫm một ly!
Nốc cạn ly rượu từ tay Tây Thi, Ngô vưng nắm luôn tay nàng hỏi:
- Khanh mệt?
Sự dịu dàng của nhà vua làm cho Tây Thi cúi gầm, úp mặt trên vai ngài.
- Tây Thi! Thật không ngờ...
Tuy Ngô vưng không nói hết câu nhưng việc không ngờ đây tự nhiên là việc không ngờ quân Việt xâm nhập. Bởi từ gặp mặt, c hai chưa nói đến chuyện giao tranh giữa Ngô Việt. Thế nên, bây giờ Tây Thi nói:
- Quân vưng, Câu Tiễn đã hướng dẫn khá đông binh...
- Phi. Trai tráng toàn nước Việt đều xung vào quân đội. (Ngô vưng thở dài thườn thượt) Câu Tiễn muốn đấu cùng trẫm một trận sống chết.
- Quân vưng! (Tây Thi lo ra mặt) Thái tử ở Bình Vọng có thể ngăn được đám binh của Câu Tiễn không?
Tây Thi hỏi thật nhỏ, vừa hỏi vừa lựa lời. Nàng không dùng hai tiếng “đánh bại”, bởi với thân phận của nàng, hai tiếng ấy đáng thẹn khi dùng. Hn nữa, theo nàng thấy, Thái tử Hữu mà đánh bại quân Việt là một hy vọng quá xa vời.
Ngô vưng còn thiếu tin tưởng hn nàng:
- Ngăn được... có thể ngăn được vài ngày... Duy có một việc trẫm sai lầm là tân quân Bình Vọng...
- Quân vưng không lầm đâu!
Tây Thi chận lời nhà vua, không muốn để nhắc đến vấn đề đau khổ “Tân quân Bình Vọng”. Vì số quân này, Ngô vưng đã giết Ngũ Tử Tư. Rồi cũng vì Ngô vưng đích thân điều động số quân này, đến Hoàng Trì mà mặt trận Bình Vọng ngày nay suy yếu. Để tránh tất c, Tây Thi nói:
- Cuộc họp mặt ở Hoàng Trì quan trọng hn tất c!
- Trẫm cũng nghĩ vậy. (Ngô vưng nghiến răng) Hận là hận Câu Tiễn không có lưng tâm! Ôi, cho thêm trẫm một ly...
Ngô vưng lại nốc cạn ly thứ hai, Tây Thi tiếp tục xoa bóp cho nhà vua, khá lâu sau mới hỏi:
- Quân vưng, thiếp có thể hỏi được không?
Nàng nhìn rót vào Ngô vưng, chập sau hỏi:
- Bình Vọng khẩn trưng, tại sao Quân vưng lại cho quân nghỉ ở đây?
- Cánh quân này không nghỉ thì cũng không thể tác chiến. Ngô vưng uống ly thứ ba. Vào lúc huy hoàng nhất lại là lúc Ngô vưng gặp cnh gian nan nguy hiểm nhất, không ai có thể tưởng tượng được. Ngô vưng đoạt ngôi Minh chủ chư hầu Trung Nguyên để bị quân Việt chiếm mất một phần lãnh thổ.
Nhưng lúc Ngô vưng o não thế này lại là lúc Tây Thi nhận thấy nàng đã yêu sâu xa nhà vua. Tình yêu có lúc là sự an ủi, vỗ về, có lúc là của kẻ mạnh dành cho người yếu, có lúc như mẹ đối với con...
Tây Thi như thế đó, với sự xúc động không sao gii thích, nàng gục xuống ôm chân nhà vua. Ngô vưng hiểu được, nhắm mắt nghĩ thầm: Cứ được gần nàng thì trong bất cứ gian khổ nào cũng có được hạnh phúc...
Ngô vưng ngủ trong vòng tay người đẹp. Tây Thi nghe tiếng ngáy của nhà vua, không muốn làm kinh động ngài nên cắn răng chịu mỏi tay, chịu tê chân giữ tròn tư thế.
Lâu lắm, lâu lắm mới có tiếng Ngô vưng lẩm bẩm:
- Tây Thi! Chỉ cần chúng ta ở bên nhau...
Ngô vưng vẫn nhắm mắt, vẫn ngủ say và lời nói kia là lời trong mộng, gây xúc động mãnh liệt hn c lúc nhà vua thề nguyền gắn bó khi tỉnh. Tây Thi vì lời trong mộng mà ứa nước mắt.
Ngô vưng trở mình, thoát khỏi vòng tay của nàng.
Tây Thi vẫn ngồi tr đó, trầm tư.
Đêm trầm trầm, tiếng người bên ngoài im bặt.
Gió thu lay nhẹ cành trúc xào xạc ngô đồng, tiếng cành lá lắt lay, tiếng lá ri, tiếng lá ri song nghe chừng trĩu nặng.
Gió thu cũng không ngừng ngắt tỉa lá ngô đồng gây nên thanh âm xào xạc làm cho Tây Thi cm thấy xốn xang, bấn loạn. Nàng đứng lên bước ra ngoài, ni Di Quang và bốn thị nữ nghiêm trang đứng chờ.
Nàng nói:
- Không có chuyện gì. (Tây Thi chỉ tay) Vào thu gọn đồ đạc bên trong đem ra.
Bo xong, Tây Thi bước đến bên cửa sổ. Chợt có tiếng động nhỏ phía sau cây ngô đồng dường như tiếng sáo, cũng dường như tiếng gió lùa cành trúc khiến Tây Thi rùng mình.
Tây Thi lắng nghe rõ hn, thì ra là tiếng người:
- Đoạn trúc, tục trúc, phi thổ, trục nhục...
Đó là bài ca bắn tên của nước Việt, nay lời ca lại vang lên tại Ngô cung, tại Cú Khúc. Nghe đi nghe lại hai lần, Tây Thi mới nghe rõ. Nàng biến sắc, đưa mắt nhìn chầm chập vào các thị nữ, hỏi giọng run run:
- Ai?
Trên Sùng đài vắng ngắt như tờ. Không có tiếng người hồi đáp vì các thị nữ bấy giờ cũng bị lời ca Việt thu hút.
- ...Đoạn trúc, tục trúc, phi thổ, trục nhục...
(Chặt trúc, nối trúc, liệng đất, đuổi thịt).
Lời ca chưa dứt, Tây Thi càng sậm mặt hỏi lại:
- Ai?
Di Quang cũng có phần bối rối hồi đáp:
- Không hiểu là ai.
- Di Quang... tìm Bốc thần đến đây!
Tây Thi ưỡn thẳng người, nhưng cùng lúc ấy nàng nhớ đến Ngô vưng bên phòng trống nên vội chạy vào.
Ngô vưng ngủ vùi.
Trên mặt nhà vua đầy những đường nhăn năm tháng. Tây Thi chợt nhớ đến tình cnh lúc nàng mới đến cung Ngô. Bấy giờ, Ngô vưng là một thanh niên cường tráng... Con người miệt mài bao tháng năm, con người ấy già rồi.
Di Quang đến gần màn gọi nhỏ:
- Tây Thi!
Ngỡ kẻ bề tôi đã tới, Tây Thi lại bước ra. Không ngờ bắt gặp Triền Ba mặc áo choàng đi mưa đứng ở đầu bên trái. Tây Thi bất mãn hỏi:
- Không đi gọi người à?
- Không, Triền Ba có việc muốn nói...
Di Quang đáp nhỏ. Tây Thi đi sang bên trái, nhìn chầm chập vào Triền Ba. Triền Ba nói liền:
- Tây Thi, Đại phu Phùng Đồng đã đến.
Tây Thi phát giận:
- Phùng Đồng đứng ca bên dưới à?
- Không phi Người đâu! Phùng đại phu đã đến từ khuya đêm qua, gặp phi hôm nay đại vưng về nên mãi đến chiều nay mới liên lạc với tôi được.
Tây Thi cắn răng, không muốn nghe nói về Phùng Đồng. Nhưng nàng không dám không nghe.
Triền Ba nhếch cười, hạ giọng tiếp:
- Tây Thi! Phùng đại phu sợ Phù Sai về kịp Cô Tô. Người bo với tôi, quân binh chúng ta có thể đánh phá Cô Tô thành trước khi Phù Sai về đến. Không ngờ Phù Sai về nhanh quá.
- Có phi Phùng Đồng muốn tôi ngăn Phù Sai trở về?
- Không, Người chẳng nói gì đến điểm ấy, tự nhiên Người biết không ai có thể ngăn được Phù Sai (Triền Ba lại nhếch cười) Nhưng Phùng đại phu lại mong chúng ta dốc toàn lực trong cố gắng sau cùng.
Tây Thi xanh mặt. Nàng không muốn hỏi thêm, bởi nàng tự biết nàng không thể làm gì hn.
- Tây Thi! Ngày mai Phùng đại phu sẽ yết kiến đại vưng người phụng mạng Bá Hi đến Cú Khúc đón tiếp đại vưng đó.
Tây Thi cúi gầm, trầm ngâm lúc lâu mới hỏi:
- Phùng đại phu có nói gì về quân sự không?
- Không. Đại phu cũng chẳng nói gì đến chuyện đánh chác.
Tây Thi lách mình, giấu vẻ buồn phiền. Triền Ba nói luôn:
- Tây Thi, tinh thần đại vưng dường như kém lắm. Nhìn thấy quân binh vừa về, đại phu nhận xét họ không thể giao đấu.
Câu nói ấy như mũi tên cắm phập vào tim Tây Thi. Nàng nhận thấy tim nàng nhói đau và theo thói quen, nàng ôm ngực, đi vào trong.
Bên ngoài đã dứt tiếng ca. Tây Thi không lên cn đau tim nữa nhưng nàng không có cách nào trở lại bình tĩnh. Ngày mai, ôi ngày mai đáng buồn làm cho nàng day dứt mãi không thôi.
Tiếng trống canh trong quân nổi lên lần thứ nhất.
Từ cây ngô đồng bỗng có tiếng lắc rắc. Tây Thi lại bước đến bên cửa sổ nhìn ra, giọt mưa lạnh ph vào mặt nàng.
Mưa len lén bủa xuống Giang Nam rồi! Mưa thu, thứ mưa đáng nguyền rủa đã đánh ngã quân Ngô ở Giang Bắc, giờ lại đuổi theo quân ấy xuống Giang Nam!
Sáng sớm ngày sau, Cú Khúc chìm trong gió thm mưa sầu. Trời xuống rất thấp, tinh thần Ngô vưng càng xuống thấp... Đúng lúc ấy bỗng có tin cấp báo từ Cô Tô đài đưa đến. Người đưa tin ướt đẫm mưa thu, không có áo choàng, không giữ lễ tôn kính nhà vua, mà cầm miếng bài đồng đi thẳng vào cung, Ngô vưng nhận được tin báo liền ra lệnh cho sứ gi bước lên Sùng đài.
Sứ gi ấy do Vưng Tôn Hùng phái đến để báo một tin vô cùng ác liệt: Thái tử Hữu bại trận ở Huề Lý, tình trạng sống chết không rõ.
Ngô vưng sửng sốt, nhìn sững Vưng Tôn Lạc đứng kề bên, không nói được lời nào.
Vưng Tôn Lạc cố tình giữ bình tĩnh hỏi sứ gi:
- Tình hình chiến trận như thế nào, ngưi có biết không?
- Thái tử đã giao tranh với quân Việt ba lần ở Huề Lý, đều không bị bại. Về sau Phạm Lãi mang đến một cánh quân và thay quyền chỉ huy của Gia Kê Dĩnh thì... (Báo sứ thở dài) Đầu tiên, Phạm Lãi cho lùa một số tù nhân ra mặt trận bày thành hàng chữ nhất. Liền đó số tù nhân ấy tự sát hết. Quân ta thấy thế không hiểu vì sao, lại cho rằng Việt vưng biết tội nên muốn nhân đây cầu hòa. Không ngờ Phạm Lãi bày mưu ở mặt chính để cho hai cánh quân hai bên dùng xe xung phong bao vây thái tử.
Ngô vưng tròn xoe mắt:
- A!... Về sau thế nào?
- Sau đó, chúng ta mới biết cánh quân của Gia Kê Dĩnh chuyển sang tấn công Bình Vọng. Lại thêm có quân Cố Lăng của Việt vưng dùng đường thủy vượt qua Huề Lý, quân của thái tử bị đánh tách ra làm nhiều nhóm và bị bao vây. Theo người trốn thoát được về nói thì...
Ngô vưng lại kêu lên tiếng “A!” lần thứ hai. Theo tin báo ấy thì thái tử dữ nhiều lành ít.
Vưng Tôn Lạc trịnh trọng đề nghị:
- Đại vưng! Chúng ta nên gấp rút phát binh đi cứu.
Ngô vưng nín lặng lúc lâu rồi truyền lệnh cho báo sứ nghỉ ở phòng bên phi. Ngài nhìn đăm đăm vào chỗ báo sứ đã đứng, ở đó nước đọng vũng! Mưa thu liên miên, nước ướt thế này là một sự thật nói rằng không thể hỏa tốc phát binh đi cứu được.
- Đại vưng! Sau trận Huề Lý là tới Cô Tô thành đó!
- Vưng Tôn Lạc! (Hai tay Ngô vưng vịn chặt ghế nhỏ) Trước hết phi truyền toàn quân tinh nhuệ phái đi một cánh chứ xe không đi được. Không có xe thì cho binh sĩ cỡi ngựa! Phi nhớ, liệu thấy tình hình không ổn thì muôn vạn lần cố tránh giao tranh. Cứ lui về phòng thủ Cô Tô cũng không có gì trở ngại. Quân Việt từ xa đến, lợi ở thế tốc chiến. Chúng ta có thành để thủ thì phi cố thủ, đợi họ mệt mỏi, hết lưng, chúng ta sẽ tấn công. Vưng Tôn Lạc, khanh mang báo sứ đi theo luôn.
Dường như sấm gầm, sét chớp thoáng chốc qua đi, Ngô cung trở lại vẻ lặng lờ. Ngô vưng đứng lặng phòng ngoài, Tây Thi đứng lặng ở phòng trong.
Mưa thu sụt sùi nhỏ giọt trên mái hiên chy xuống, chy mãi.
Còi hiệu vang vang, trống giục ầm ầm, binh xa điều động.
Lúc đồ ăn trưa đưa đến Sùng đài, Tây Thi từ trong bước ra.
- Tây Thi!
Tiếng gọi của nhà vua đang đứng lặng làm cho Tây Thi giật mình. Nhà vua cúi gầm nói tiếp:
- Tây Thi! Trẫm muốn đi xem...
- Ăn xong rồi hẵng đi có được không?
Ngô vưng giở nắp thố, tùy tiện gắp đại một đũa thịt cho vào miệng, uống thêm một ly rượu. Rượu thịt hình như giúp cho nhà vua dần bình tĩnh. Ngập ngừng một thoáng, Ngô vưng đặt hai tay lên vai Tây Thi:
- Tây Thi! Trẫm có thể đủ sức đối phó với các khó khăn.
- Đại vưng! Tại sao Vưng Tôn Lạc không xuất binh đi cứu?
- Báo cáo không rõ lắm. (Ngô vưng dường chẳng mấy quan tâm) Trẫm tin là Vưng Tôn Hùng không thể ngồi nhìn! (Ngô vưng bỗng vung tay) Hận là Bá Hi sáng nay còn cho gia thần đến gặp trẫm bo là cuộc diện hòa hoãn!
Sau bữa ăn, Ngô vưng mang giáp rời Ngô cung đi xem đội ngũ do Vưng Tôn Lạc tập trung. Vưng Tôn Lạc tuyển ngay trong đội quân mình hai trăm chiến xa, năm trăm kỵ binh và hai ngàn năm trăm bộ binh, chia làm ba cánh xuất phát. Kỵ binh đi trước, binh xa ở giữa và bộ binh đoạn hậu.
Vưng Tôn Lạc trịnh trọng nói:
- Thần hy vọng trong vòng ba hôm có thể đến Cô Tô.
Bấy giờ, có tướng quân Tích Lặc tới, Vưng Tôn Lạc liền chuyển giao binh vụ ở Cú Khúc cho Tích Lặc. Tích Lặc cũng báo cho Ngô vưng biết đám quân đi trước đã vượt qua Vô Tích, có lẽ giờ này đã đến Cô Tô. (Cánh quân này đã được Ngô vưng cho về lúc Ngài còn ở Hoàng Trì).
Ngô vưng yên tâm phần nào, ra lệnh cho Tích Lặc điều chỉnh lại quân Cú Khúc, để người già c, yếu đuối ở lại, số tinh tráng thì phi sẵn sàng để bất cứ lúc nào cũng có thể xuất phát.
Mưa rất lớn, đoàn quân của Vưng Tôn Lạc lên đường giữa cn mưa lũ.
Quá trưa chẳng bao lâu, lại có tin từ Giang Bắc gởi về: Binh Sở đã phát động rồi.
Tình thế hết sức rõ ràng: Sở và Việt liên kết thành kẻ hô người ứng! Nhưng Ngô vưng không xem binh Sở là trọng. Ngài biết quân Sở không có sức qua sông tấn công. Chỉ cần Ngài đối phó được với quân Việt thì lực lượng dư ra cũng đủ đối phó với binh Sở. Hn nữa, chiếu theo ý kiến của người đưa tin báo cáo, Ngô vưng hạ lệnh cho quân đội ở bờ Giang Bắc cố tránh giao tranh với Sở. Đồng thời Ngài ra lệnh cho đội ngũ ở Hàn Giang lui dần về Giang Nam, tập trung tại Cú Khúc chờ lệnh.
Ngô vưng lại đi khắp ni xem xét. Quân sĩ tập trung ở Cú Khúc quá nhiều, ướt loi ngoi trong mưa. Đa số mệt mỏi không chịu được. ở về ngoại ô phía Bắc lại có hn trăm xe hư hỏng chất đống ngùn ngụt.
Thăm qua từng trại binh, thăm hỏi từng đn vị, Ngô vưng trở lại Ngô cung thì trời sắp hoàng hôn.
Lại có báo sứ đến nữa, mang theo tin báo tồi tệ: Thái tử Hữu hạ lạc về đâu không rõ. Quân Việt từ Huề Lý kéo đến công hãm Bình Vọng, Vưng Tôn Hùng xuất binh đến giữ Ngô Giang.
Ngô vưng bứt tóc:
- Thái tử chết rồi!
Nhà vua o não ngồi xuống, chẳng bao lâu lại truyền đòi Tích Lặc vào nhận lệnh: Sáng sớm mai hồi sư. Ngô vưng không sao giữ được hạn phép cho quân nghỉ ba ngày.
Đợi nhà vua lấy lại bình tĩnh một chút, Tây Thi mới xuất hiện cởi áo đi mưa cho nhà vua. Nhưng ngoài hai tiếng gọi: “Đại vưng!”, nàng không nói thêm gì c.
Ngô vưng lại nói:
- Tây Thi! Không việc gì phi lo!
Bữa ăn đêm thật buồn. C hai ngồi đối diện nhau, Ngô vưng không ngừng uống rượu. Tây Thi cũng uống. Tâm tình c hai như giọt mưa thu giữa trời không ngừng ri xuống, xuống thấp mãi.
Còi hiệu vang lên trong mưa rồi chìm vào tịch mịch. Sau đó, trong tiếng mưa ri chợt có tiếng ca run run như tiếng Tây Thi đã nghe được đêm qua. Duy có nội dung lời ca thì khác.
Trong tiếng mưa ri có tiếng ca rằng:
- Ngô Cung thu, Ngô vưng sầu!... Ngô Cung thu, Ngô vưng sầu, Ngô vưng sầu... Ngô vưng sầu...
Ngô vưng lắng nghe, lắng nghe... chợt đẩy ly ra giận thét:
- Bắt lấy nó! Ai...? Hãy bắt lấy nó! Giết!
- Phù Sai! - Tây Thi ôm chầm nhà vua.
Tiểu thần phụng vưng mạng, vội vã xuống lầu. Thị vệ Ngô cung cũng được huy động tìm bắt người ca.
Ngô vưng thét rống:
- Bắt lấy nó! Giết!
- Phù Sai, đừng màng đến chuyện ấy. Nghe tiếng hát thì hình như là tiếng con nít ca tầm ruồng!
Ngô vưng ngồi xuống, giận nốc nguyên ly rượu.
Chẳng bao lâu, Tiểu thần vào báo cáo đã bắt được bốn đứa con nít ca hát. Ngô vưng nghiến răng hạ lệnh:
- Giết hết!
- Quân vưng, xin tha cho chúng! (Không đợi nhà vua đồng ý, Tây Thi quay bo Tiểu thần) Đem chúng đi đi cho thật xa!
Nói xong, Tây Thi nâng ly kề môi Ngô vưng:
- Quân vưng! Chúng ta không nên để bị nh hưởng của người khác. Thiếp kính quân vưng một ly, chúc ngài sẽ đuổi quân Việt ra khỏi bờ cõi.
Ngô vưng lặng thinh, sau đó nhận uống một ly rượu đắng. Trong đời Ngô vưng, đây là ly rượu đắng đầu tiên.
Trận đánh Cô Tô
Gió lạnh căm căm từ thành thị, gió lạnh căm
căm quét qua chiến trường. Lá cây l t ri đầy, tr cành khẳng khiu run run trong gió.
Vũ trụ dường như bị một sức ép khủng khiếp làm cho thấp xuống, tri màu xám đục trùm phủ đất dày. Một bầy quạ đen từ khung trời xám bay qua phát tiếng kêu vội vã không có dư âm. Tiếng kêu cụt ngủn, khô khốc ấy làm cho người nghe cm thấy khó chịu.
Vách thành Cô Tô một màu đen nhạt, bao quanh một khu đất và một con sông. Sừng sững, uy nghi, chịu đựng từ thu tới đông, bất chấp c gió đông, dường như nói với người ngoài tường rằng: “Ta không thể sập đâu!”.
Vào ngày đông m đạm, trời xuống tuyết. Tuyết bay trắng xóa, tuyết ngập bình nguyên, tuyết ngập Khưu Lăng. Mặt đất trắng xóa, sạch sẽ và lặng im, nhưng lại là chiến trường!
Đại quân Việt đóng trại san sát ngoài Cô Tô thành, run lên trong gió lạnh. Nhưng họ vẫn chịu đựng, vẫn chờ đợi. Trong gian khổ, họ cố vùng dậy, dùng sức nóng tự nhiên của c thể để chống lạnh, dùng ý chí để chống sự mệt mỏi của c thể. Nghĩa là họ tập trung bao nhiêu tàn lực cho hy vọng sau cùng.
Phạm đại phu đã từng nói với họ: “Chiến tranh không chỉ là dốc sức xông xáo, sát thưng đối phưng. Mà còn là cùng địch nhân đấu tranh về mặt tinh thần, chỉ cần mình đứng vững thì sau cùng sẽ thắng!”.
Quân Việt nghe lời Phạm đại phu, họ dốc sức giữ vững tinh thần.
Việt vưng cũng từng nói với quân Việt:
- Chúng ta phi đứng vững đến lúc sau cùng. Chúng ta muốn thấy Phù Sai ngã xuống!
Đại phu Văn Chủng cũng động viên họ:
- Chỉ cần chúng ta kiên trì, con cháu chúng ta sẽ sống đời hạnh phúc không có chiến tranh, không có máu đổ nữa. Chúng ta vì sự an khưng của thế hệ mai sau mà chiến đấu!
Việt quốc Quân phu nhân cũng nói:
- Mối thù vong quốc của chúng ta phi được rửa sạch. Quân Ngô đã dẫm chân lên Hội Kê của chúng ta, bây giờ chúng ta phi đạp nát Cô Tô.
Vì vậy mà quân Việt kiên trì chịu đựng mùa đông, chịu đựng c đói khát. Bao giờ đánh sập Cô Tô, không một ai dám nói trước. Nhưng quân Việt tin rằng sẽ có một ngày...
- Sẽ có một hôm, chúng ta xô ngã Cô Tô thành, bước lên Cô Tô đài! (Đứng giữa tuyết dày, Câu Tiễn nói với các cấp quân binh) Tuyết sẽ tan, gió lạnh sẽ ngừng và mặt trời sẽ mọc. Lúc mặt trời mọc là lúc chúng ta công phá thành Cô Tô!
Chiến sĩ dậy tiếng hoan hô.
Câu Tiễn đi từ doanh trại này đến doanh trại khác, đôi chân trong hia da chẳng bao lâu cứng ngắt. Mũi Người bị lạnh đã phát đỏ, đến c ngón tay cũng co duỗi thật khó khăn. Và đôi môi không còn nghe chỉ huy nữa. Nhưng Câu Tiễn vẫn cố gắng... Lúc trở lại đại doanh, Câu Tiễn rét cóng c hồ không nhích động được.
Quân phu nhân vội vã bưng thùng nước nóng ra cho chồng ngâm chân. Lại đem bồn nước nóng cho chồng ngâm tay. Sức nóng từ tay chân chuyển lan đến toàn thân, Câu Tiễn mới thở dài nói:
- Chịu đựng thật hết nổi... Trẫm lo đông lạnh vẫn còn dài!
Quân phu nhân c kinh. Câu Tiễn nói thêm:
- Phù Sai như ma ấy, vẫn còn chưa ngã xuống!
- Đại vưng! (Quân phu nhân tiếp giọng cưng quyết) Chúng ta sẽ làm cho Phù Sai ngã xuống.
- Ôi! Trời lạnh thế này đến trẫm cũng c hồ chịu không thấu.
- Câu Tiễn! (Quân phu nhân nghiêm mặt) Chàng còn nhớ chúng ta chịu đựng mùa đông ở Cô Tô không? Chúng ta giữ ngựa cho Ngô vưng...
Câu Tiễn rùng mình, cúi gầm. Phu nhân tiếp:
- Bấy giờ, chàng lạnh đến không sờ được nắm tóc!
Câu Tiễn thê thm ngước nhìn hai tai phu nhân đã đóng ngấn tuyết.
ở mặt trận, Quân phu nhân chịu đựng gian khổ như một binh sĩ. Ngoài việc phục dịch quân vưng, quân phu nhân còn lãnh nhiệm vụ vận ti. Ba hôm trước, bà đốc thúc quân sĩ vận lưng và chở áo bông từ Tiền Đường ra mặt trận. Trên đường đi, hai vành tai bà ửng đỏ, rét cóng.
Nhìn hai vành tai vợ, Việt vưng cm thấy khổ sở không nói được.
Vào bữa ăn chiều, Việt vưng uống nửa lóng trúc rượu. (Rượu đựng trong lóng trúc). Mỗi đêm, mỗi chiến sĩ có nhiệm vụ canh gác đều được chia cho ngần ấy rượu để chống lạnh đêm đông.
Bữa cm tối không vĩ vèo lắm đủ giúp Việt vưng lấy lại ấm áp. Ngài nằm duỗi thẳng tay chân trong hầm gần bên bếp lửa, xem sổ, (viết trên tranh trúc) ghi lại công việc hằng ngày... Cố Lăng có hai vạn năm ngàn thạch mễ đã vận chuyển sang Tiền Đường hết.
Việt vưng giật mình nói thầm: Đây là số lưng tồn trữ cuối cùng của Cố Lăng sao?
- Phi. (Quân phu nhân nói) Chúng ta phi lập tức vận lưng từ kho Hội Kê ra mặt trận.
- A... (Việt vưng vứt thanh trúc vào lò lửa) ở đây, chúng ta còn bao nhiêu lưng?
- Kể c số lưng thiếp đưa đến hôm kia thì có thể đủ ăn từ hăm tám ngày đến một tháng. Lưng thực Cố Lăng có thể chuyển đến trong vòng nửa tháng tới. Hai vạn năm ngàn thạch mễ không đủ dùng trong một tháng mà kể từ xuất binh đến nay đã nửa năm rồi. Còn phi đánh thêm bao lâu nữa? Câu Tiễn rùng mình trước câu hỏi ấy.
Nhưng Quân phu nhân nói giọng lạc quan:
- Tại Hội Kê, kho lưng thực của ta có đến trên mười vạn thạch mễ. Quân vưng, kho lưng trong thành Cô Tô cũng phong phú lắm!
- Mong chúng ta có thể ăn kịp gạo Ngô. Bây giờ, phu nhân đưa giùm ta roi da.
Chẳng bao lâu, Câu Tiễn giục ngựa đến chiến trường đang đóng tuyết, ngẩng nhìn đèn trên mặt thành Cô Tô. ánh đèn rọi xuống mặt tuyết trắng xóa đẹp làm sao!
Xem qua một lúc, Việt vưng bước vào doanh phòng của Phạm Lãi. Phạm Lãi không ở trong trại, nhà vua lại thúc ngựa đến doanh phòng của Văn Chủng. Văn Chủng cũng không có mặt. Quân báo:
- Khi bẩm Đại vưng, Phạm đại phu và Văn đại phu đều ở trong dinh của tướng quân Gia Kê Dĩnh.
Việt vưng lại bước đi trên bốn trăm bước.
Phạm Lãi, Văn Chủng, Tiết Dung và Gia Kê Dĩnh đang ở dưới hầm tho luận về hình thế hiểm trở. Việt vưng không cho quân vào báo, tự tay vén tấm màn làm bằng da dày, bước xuống hầm nói giọng ôn hòa:
- Hôm nay lạnh ghê gớm!
Tiết Dung nói cách tức bực:
- Trời lạnh khiến Phù Sai co rút như rùa!
Vào đông, Ngô vưng cẩn mật phòng thủ Cô Tô thành, hoàn toàn không màng đến nhu cầu đánh dã chiến của đại quân Việt. Vì vậy, chiến tranh coi như tạm xếp dưới chân thành, rõ ràng Ngô vưng muốn nhờ khí lạnh đuổi dùm quân Việt.
Việt vưng nói nhỏ:
- Trong thành Cô Tô có tin gì mới không?
Văn Chủng đáp:
- Không có tin gì đặc biệt. Thái tể Bá Hi đã bị Phù Sai qun thúc nên Phùng Đồng ở kề bên cũng không còn chút tác dụng nào hết.
- Ôi, lẽ ra vào lúc khẩn trưng này phi có tác dụng của Tây Thi.
Hai tiếng “Tây Thi” Việt vưng vừa nói ra khiến Phạm Lãi như thấy sáng trước mặt, bẩm:
- Theo nhiều lần báo cáo của Phùng Đồng thì Tây Thi đã cố gắng hết sức rồi.
- Kìa, Thiếu Bá không quên được nàng! (Câu Tiễn nhếch mép cười) Không hiểu nàng như thế nào rồi?
Không ai tr lời câu hỏi ấy. Câu Tiễn dường như cũng không muốn chờ nghe tr lời, chuyển sang đề khác:
- Thiếu Bá, chúng ta có thể đào địa đạo không?
- Khó lắm! Hn nữa, cũng không thực tế. Lực lượng từ địa đạo ngoi lên không đủ để đánh sập Cô Tô.
Chúa tôi im lặng.
Lửa trong lò phát tiếng nổ lách tách, đêm đông dài ra dường như trời không sáng.
Câu Tiễn bỗng ưỡn thẳng người:
- Tử Hội! Thiếu Bá! Trẫm thấy chúng ta nên kéo về, đầu thu năm sau sẽ kéo tới...
ý ấy bất ngờ như số mạng. Trước đó, người Việt dưới chân thành Cô Tô không một ai dám nghĩ, tuy ai cũng cm thấy không ở lại được.
- Đại vưng! (Văn Chủng phát ngôn trước nhất) Chúng ta chờ được hai mưi năm mới có c hội này đến được chân thành Cô Tô! Bây giờ rút về, biết sang năm có đến được đây không?
Phạm Lãi nghiêm trang tiếp lời:
- Đại vưng! Chúng ta không thể rút lui, một khi rút lui sẽ làm mất hết nhuệ khí. Sang năm, e rằng chúng ta sẽ không đến được dễ dàng như hôm nay. Bây giờ chỉ có một con đường là phi công phá Cô Tô thành cho được.
- Quân sĩ của ta có thể làm chuyện ấy không? Hôm nay có trên ba trăm quân đau vì giá lạnh, phi theo thuyền vận lưng quay về.
- Bất luận làm được hay không cũng đều phi làm. (Phạm Lãi nhấn mạnh) Đó là yêu cầu của cuộc chiến! Câu Tiễn vụt đứng lên, vòng tay trước Phạm Lãi:
- Phi, đó là yêu cầu của chiến tranh. Yêu cầu đó đòi hỏi hoặc chết dưới chân Cô Tô, hoặc sống vào Cô Tô thành. Thiếu Bá, khanh sẽ là vua Cô Tô sau này.
- Thành Cô Tô là của Đại vưng!
Phạm Lãi bình tĩnh vô cùng, chậm rãi tiếp:
- Thiếu Bá này vĩnh viễn chỉ là nô bộc của đại vưng mà thôi!
Trong thành Cô Tô, Ngô vưng đang ở trên lầu tựa vách mà ngủ. Trước mặt nhà vua chẳng bao xa có một lò lửa, than trong lò đỏ rực.
Ngô vưng rút chân trái lên, duỗi chân mặt ra, tay trái kê gác đầu, tay mặt cầm kiếm. Bốn dũng sĩ thuộc đội Hiền Lưng đứng gác ngoài cửa, người như hình cây, không nhích động.
Ngô vưng cất tiếng ngáy đều. Mỗi lần có tiếng trống sang canh, bốn vệ sĩ đều lách đầu nhìn vào nhà vua.
Rõ ràng Ngô vưng đã mệt mỏi quá sức chịu đựng. Có ít nhất hai mưi ngày rồi, nhà vua không cạo râu, râu dưới cằm đâm ra tua tủa. Trên trán ngài bao nhiêu âu lo đã đan thành những vệt nhăn ngày một sâu thêm theo tháng năm chồng chất. Tên vệ sĩ hầu cận theo sát Ngài có cm tưởng mặt quân vưng già đi hn trước rất nhiều.
Trên lầu thành, tiếng còi sừng đã báo hiệu một lần để binh sĩ đổi phiên gác đêm. Đèn lồng được châm thêm dầu một lần, sáng hn. Hoa tuyết bay bay dưới ánh đèn.
Ngô vưng bị tiếng còi sừng làm cho thức giấc, nhướng mắt hỏi:
- Trời còn tuyết không? à... được rồi, không có chuyện gì...
Nhà vua lẩm bẩm xong, trở mình ngủ nữa. Vệ sĩ của Ngài lên tiếng đề nghị:
- Xin đại vưng lên giường.
Nhưng Ngô vưng không nghe. Giá có nghe, Ngài cũng không đi. Bởi vì nhà vua chịu trách nhiệm trông coi phiên gác ba đêm này.
Bên trong thành đã có tiếng gà gáy, lần này rồi lần nữa.
Đại phu Vưng Tôn Hùng nện gót lên lầu, đứng nhìn bình dã phía ngoài thành. Tuyết đã ngừng ri, nhưng ngoài thành là một dãy trắng xóa mênh mông, trông không thấy gì c.
Tên vệ sĩ trực bước đến báo cáo:
- Đại vưng còn đang ngủ say!
- Ơ... Đừng làm kinh động Đại vưng. (Vưng Tôn Hùng hạ thấp giọng) Ngưi đi tìm vị chỉ huy trực ngày đến đây, ta có lệnh.
Các phiên trực ngày trên thành do các sĩ quan cao cấp trong đội Hiền Lưng thay phiên nhau nhận lãnh. Vưng Tôn Hùng đứng trên thềm lầu đợi vị quan trực đến, ra lệnh thứ nhất:
- Ngưi phái mười hai dũng sĩ sẽ lén ra thành dò xét tình hình vận lưng của quân Việt.
Kế tiếp là lệnh thứ hai:
- Ngưi phái đội xích hầu ra thành quan sát doanh trại quân Việt.
Đó là những công tác thông thường trong cuộc chiến. Phát lệnh xong, Vưng Tôn Hùng lên ngựa đi tuần thành.
Đa phần tuyết đóng trên thành đã được quét đùa đi. Các tay cung tiễn giữ thành đứng nguyên vị trí, đội thứ nón che gió đặc chế thật thấp, che khuất c lông mày của họ. Vưng Tôn Hùng lẳng lặng quan sát, không thấy có sự biểu lộ nào.
Tiếng trống báo sáng trong quân đã nổi lên, quân sĩ mệt nhoài cố gượng dậy, dường như tiếng trống ấy giúp được họ phục hồi nguyên khí.
Ngô vưng cũng thức theo tiếng trống, vưn vai, lấy mũ đội lên đoạn nhận khăn nóng và nước nóng do thị vệ dâng tới để lau mặt và súc miệng. Liền đó, theo thói quen, nhà vua đưa tay nhận báo cáo thứ nhất do thị vệ đưa. Báo cáo thứ nhất là của Tây Thi, từ Cô Tô đài gửi đến. (Cô Tô đài thuộc về cung điện của Ngô vưng, nằm trong Cô Tô thành nhưng Ngô vưng hiện đang ở vòng đài). Ngô vưng chậm rãi bước ra khỏi lầu thành, vừa đi vừa nhy. Cũng như Vưng Tôn Hùng, nhà vua đưa mắt nhìn ra ngoài thành, hỏi:
- Vưng Tôn Hùng có đi tuần thành không?
- Thưa có. Nhưng không có việc gì đặc biệt.
Thị vệ lại đem đến sữa dê và thịt khô. Ngô vưng đứng ăn trong gió buốt lạnh, vừa ăn vừa hỏi qua công việc phòng thủ.
Vị quan trực kính cẩn thưa:
- Đại vưng có thể nghỉ ngi...
- ờ, trẫm chợp mắt được một lúc, bây giờ không buồn ngủ nữa.
Ngô vưng dang tay cho dãn gân cốt, nói thêm:
- Câu Tiễn không dám phát động tấn công, đã by hôm rồi hắn không động tĩnh.
- Đại vưng! Tính đến hôm qua thì đã được by ngày họ không công thành. Trước đó, họ công thành liên tiếp mười ngày không quyết liệt lắm! Nhưng thưa đại vưng, đêm rồi, đội tuần tiễu của Việt kéo đến cách thành ba dặm.
Ngô vưng mở to đôi mắt đầy gân máu đỏ nhìn xa lúc lâu, đoạn quay nói với viên quan trực:
- Trẫm đi ngủ, đầu ngọ thì gọi trẫm dậy. Nhưng nếu có gì đặc biệt thì cứ gọi.
Ngô vưng nói xong bước chậm rãi xuống thành. Nhà vua đi rất chậm, mắt không nhìn thềm đá mà là nhìn về ni cao vút phía Tây Nam. Ni ấy là Cô Tô đài. Từ bờ thành nhìn sang, Cô Tô đài như người khổng lồ sừng sững.
- Có lẽ Tây Thi thức giấc rồi!...
Ngô vưng lẩm bẩm, đầu dần dần cúi xuống, rời mắt khỏi Cô Tô đài. Nhớ đến mấy mưi ngày rồi không gặp Tây Thi, theo tưởng tượng của nhà vua, ắt Tây Thi đang nức nở!
Trên Cô Tô đài, Tây Thi chưa rời giường, mỗi đêm nàng ngủ rất trễ.
Hai mưi ngày trước, Câu Tiễn phát động một trận công thành mãnh liệt, dự định phá vỡ cửa Đông thành Cô Tô. Trước tình thế nguy ngập, Ngô vưng đích thân lên thành đốc chiến. Kể từ hôm ấy, Ngô vưng ở luôn trong quân, gii quyết các việc chính trị cũng ở đó. Nhưng mỗi hôm, Ngô vưng đều gửi tin tức phòng vệ đến đài Cô Tô cho Tây Thi xem..
Trong các tin tức, lúc nào cũng có tên Phạm Lãi. Đối với Tây Thi, việc ấy hết sức khó chịu. Bây giờ nàng rủa thầm c Việt vưng lẫn Phạm Lãi.
Nửa tháng trước, Ngô vưng sai Bá Hi ra thành xin cầu hòa với Việt, tình nguyện cắt mười hai huyện phía Đông-Nam của Ngô cho Việt. Cũng tình nguyện dâng lễ cống mỗi năm mười vạn thạch, thực tế đó là một cách thần phục. Nhưng Việt vưng từ chối không một chút nghĩ ngợi. Hn nữa, Câu Tiễn còn tỏ ra ác độc: Không kết thúc mạng sống của Ngô vưng không được.
Lúc ấy, Ngô vưng hết sức thưng cm nói với Tây Thi:
- Người Việt quá ác tâm! Chúng ta với họ có thù hận gì chứ? Tổ phụ trẫm bị người Việt giết, phụ thân của trẫm cũng bị người Việt giết rồi, nghĩa là trong bốn đời nhà trẫm thì đã hết ba đời chết trong tay người Việt! Bây giờ họ lại muốn giết thêm trẫm nữa... (Giọng điệu nhà vua thật nặng nề, đầy rẫy u uất và phẫn nộ). Năm xưa trẫm tha Câu Tiễn, không ngờ có ngày nay. Ôi, sự nhân từ của trẫm đổi lại thành ác báo, phi chăng đó là ý trời? Phi chăng trời che chở Việt?
Mấy câu ấy như dao rạch nát tim Tây Thi. Nàng khổ sở hết sức và chợt nhận ra mình đã lung lay lập trường. Trước khi nàng cm thấy mình hành động có ý nghĩa phục hận cho quốc gia, có lý do để hành động. Nhưng bây giờ, theo Phù Sai nói thì bốn đời nhà Ngô đều chết trong tay người Việt, thì Việt vưng làm sao có thể nêu cao khẩu hiệu phục thù cho được?
Kể từ Bá Hi bị mất địa vị thì Phùng Đồng cũng vắng mặt luôn. Liên lạc giữa Tổ quốc và Tây Thi hoàn toàn bị cắt đứt. Nàng biết, yêu cầu của quốc gia đối với nàng đã dứt hẳn rồi. Đại quân kéo đến bên thành thì một nữ gián điệp không còn có chỗ dùng. Tây Thi trở thành một người cô độc trên Cô Tô đài, bị bắt ép giữa hai gọng kềm. Sáng sớm hay hoàng hôn, vào trưa hay xế bóng, nàng đứng nhìn chiến trường bên ngoài thành mà tâm tưởng, ngổn ngang trăm mối bồi hồi. Có đêm nàng ngước nhìn sao lấp lánh trên trời mà nguyện cầu. Cầu cho Tổ quốc và chồng nàng lưỡng toàn. Cầu cho Việt - Ngô đều tồn tại...
Nguyện cầu là thế, Tây Thi vẫn biết không thể được. Nhưng ngoài lời cầu nguyện ấy, nàng biết phi làm gì?
Buổi sáng sau đêm tuyết ri, trời rất lạnh. Gió bấc vi vu thổi thốc Cô Tô đài. Vừa thức giấc, Tây Thi hỏi liền câu đầu tiên:
- Khuya rồi, không có đánh nhau chứ?
Thị nữ giữ gìn nội cung nhanh nhẩu đáp:
- Bẩm không. Chiến trường im lặng đến không nghe tiếng chó sủa.
- à... lại qua được một đêm.
Tây Thi chực nhổm người khiến thị nữ hỏi:
- Phu nhân muốn dậy?
- Không, để ta nằm thêm chút nữa. Trong phòng rất ấm, thật thì không cần cho nhiều than vào lò sưởi.
- Bẩm, đại vưng đã có lời căn dặn. Với lại, trên Cô Tô đài còn nhiều than lắm!
Bấy giờ, Triền Ba bên ngoài nghe được tiếng nói liền cầm một cuộn vi đi vào dâng. Trên vi có nét mực đen... Tây Thi vẫn nằm trên giường, mở vi liếc qua mấy hàng rồi đọc nhỏ:
- Quân Việt thiếu lưng, số bị chết lạnh trong nửa tháng nay đến hàng ngàn. ..
Đọc đến đây, Tây Thi thở dài nói nhỏ:
- Vậy là có thêm một ngàn bà mẹ mất con...
Triền Ba liếc xéo Tây Thi:
- Cũng có hàng ngàn đàn bà mất chồng! (Triền Ba trầm giọng). Tây Thi, nghe nói trong thành Cô Tô cũng không ít người chết lạnh.
- Ôi, chiến tranh này còn muốn kéo dài đến bao giờ?
Tây Thi ngồi dậy.
- Quân phu nhân của tôi, xin hãy mặc thêm áo da! Lúc đi, quân vưng có dặn, nếu để Tây Thi phu nhân bị lạnh thì quân vưng sẽ giết hết số người có mặt trên Cô Tô đài. (Triền Ba cố nén cười). Nhưng Triền Ba này không muốn chết. Mà muốn nhìn thấy...
Triền Ba bỏ lửng, chỉ tay về phía Nam, rõ ràng có ý nói: “Muốn nhìn quân Việt nhập thành”.
Một thị nữ khác bước vào thưa:
- Phu nhân! Lộc Xuất đến rồi.
Lộc Xuất là tên hầu cận mới bên mình Ngô vưng, từng tham gia trận chiến phòng thủ thành Cô Tô, vít ngã hai xe quân Việt nên được Ngô vưng tuyển theo bên mình làm cận vệ. Lúc Ngô vưng xuất trận thì Lộc Xuất đánh xe.
Tây Thi nói:
- Bo Lộc Xuất chờ ở ngoài, ta ra bây giờ.
Lộc Xuất đem dâng một thố thịt thỏ cho Tây Thi. Trong chiến trận, tìm được món ăn này thật quý.
Tây Thi hỏi:
- Đại vưng mạnh chứ? Tại sao đại vưng không dùng đi?
- Thưa, thỏ rừng khó kiếm lắm, đại vưng dặn hạ thần giục ngựa đi nhanh... Có lẽ thịt còn chưa nguội! (Lộc Xuất sung sướng ra mặt nói thêm) tinh thần đại vưng rất sung mãn.
- Còn chiến trận thế nào?
- Thỏ đi lung tung để bị bắt làm thịt thế này thì tự nhiên là chiến trường yên lắm!
Ngừng lại một thoáng, Lộc Xuất tiếp:
- Xem chừng, một hai hôm nữa đại vưng có thể trở lại Cô Tô đài.
- A... Còn Tích Lặc ra sao? C Vưng Tôn Hùng nữa?
Tây Thi hỏi thăm hai viên đại tướng bên mình Ngô vưng. Trận đánh Cô Tô làm cho Ngô tổn thất các tướng Vưng Tôn Lạc, Tôn Thần, Kiết Lý. Tướng già trong quân bây giờ chỉ còn Vưng Tôn Hùng và Tích Lặc mới thăng lên. Ngoài ra, trong vòng tháng nay, Ngô vưng chọn cho thăng thêm ba tướng nữa.
Lộc Xuất đáp liền:
- Tất c đều mạnh. Tình trạng của chúng ta so ra dễ chịu hn bên Việt. Đại phu Vưng Tôn Hùng nói, giữ thành được đến mùa xuân thì Câu Tiễn sẽ như chó ấy, chạy cụp đuôi.
Tây Thi vừa nghe nói vừa ăn thịt thỏ. Chập sau nàng lại nói:
- Ngưi đi hỏi quân vưng xem ta muốn đến ven thành thăm ngài có được không? (Thốt thành lời rồi, Tây Thi vội xua tay). Mà thôi, đừng hỏi chuyện ấy, ta không đi!
- Phu nhân!
Lộc Xuất đã nghe Tây Thi nói ra mấy lần như thế. Nàng muốn đến thăm Ngô vưng, song sợ làm quấy nhiễu ngài nên cứ nói ra rồi tự động rút ý kiến. Lần này, Lộc Xuất tiến thêm một mức thưa:
- Thật ra phu nhân có lên thành cũng chẳng làm phiền một ai.
- Thôi thôi, ta làm biếng!... Tây Thi mỉm cười.
Lộc Xuất đi rồi, Tây Thi ngồi lại trang điểm đoạn bước ra nhìn khắp ni trong thành. Trên đường, chiến xa đi đi lại lại. ở giáo trường có một đội bộ binh đang thao luyện gồm những trai tráng mới động viên. Tuyết đã ngập khu chợ không có an ninh chút nào...
Tây Thi lại đưa mắt nhìn về Thái Hồ đã bị mất hết dấu vết vì tuyết. Sau cùng, nàng nhìn ra ngoài thành... Thành Cô Tô bị quân Việt bao vây ba mặt. Nhưng ở ba mặt ấy đều rất yên tĩnh. Quân Việt vây thành lâu rồi song Tây Thi chưa bắt gặp lần nào sự hoạt động của Việt binh.
Lúc Tây Thi đứng nhìn, Di Quang xoa tay bước đến sau lưng:
- Trời lạnh quá!
- ờ... (Tây Thi không cm thấy lạnh, bần thần nhìn ra mặt tuyết ngoài thành). Chúng ta chưa từng thấy quân nước Việt.
- Mấy hôm trước, quân Việt công thành ban đêm. Đáng tiếc, đêm ấy chúng ta đều ngủ rất ngon!
- Lâu quá rồi, gần như mình quên mất quân Việt thế nào?
Di Quang trầm tư một thoáng nói:
- Quân Việt thế nào à?... Chắc cũng hùng tráng hn trước. Tôi tin rằng, trong vòng vài hôm nữa, chúng ta sẽ nhìn thấy. Tây Thi!...
Di Quang xoay nhìn bốn bên rồi hạ giọng thật thấp:
- Mình nhận ra chị có ý tưởng kỳ lạ trong đầu... Chị không muốn thấy quân Việt phá thành Cô Tô phi không?
Tây Thi không thừa nhận cũng không phủ nhận. Khá lâu sau, nàng mới thở dài, quay gót bước vào phòng có lửa ấm. Di Quang bước theo nàng chờ nghe tr lời.
Tây Thi thư th ngồi xuống, đưa tay kéo mền trên giường, tư thái hưỡn đãi. Tay nàng chạm nhằm Thuộc Lâu bửu kiếm liền nâng lên, rút ra. Nàng nhìn đăm đăm ánh kiếm sáng lạnh, trầm giọng:
- Kiếm này đã giết Ngũ Tử Tư! (Nàng vừa nói vừa cung tay búng vào sóng kiếm). Nếu Ngô vưng gặp điều bất trắc, Tây Thi sẽ dùng kiếm này kết thúc
đời mình.
Di Quang kinh hãi kêu lên:
- Tây Thi! Chị nói thế là sao?
- Thôi đừng bàn đến chuyện ấy nữa.
Trong chớp mắt Tây Thi đã ngăn được trào lòng, bình tĩnh nhếch cười, tra kiếm vào vỏ, đặt kiếm trên ghế:
- Mình đừng nói đến chuyện ấy. Di Quang ra xem dùm tôi coi có bánh sữa không? Bỗng nhiên tôi muốn ăn cái gì đó.
Bánh sữa là loại bánh do Tây Thi sáng chế lúc ở Ngô cung, dùng một phần nước pha trong sữa chưng cho sệt lại. Thêm trong bánh chút muối, có thể để bánh ăn khá lâu. C năm gần đây, Tây Thi rất thích ăn bánh sữa. Nhưng bây giờ không phi nàng thèm ăn mà là muốn mượn cớ để đuổi khéo Di Quang. Bởi nàng không muốn bị kéo vào cuộc tranh luận.
Bây giờ, Tây Thi chỉ muốn yên ổn, cho dầu là sự yên ổn tạm thời cũng được.
Trên Cô Tô đài, một ngày như thế trôi qua. Trên Cô Tô đài, Tây Thi chán chường, mệt mỏi như một bà già trong cuộc đời nhuộm màu u ám...
***
Một ngày đóng tuyết, ánh thái dưng rọi trên mặt tuyết trắng.
Từ xưa đến nay, những ngày tuyết đóng đều không thích hợp cho chuyện giao tranh. Vì vậy, ngoài thành Cô Tô rất yên tĩnh. Vì vậy, Vưng Tôn Hùng hạ lệnh cho toàn thể binh sĩ được phép nghỉ ngi trừ số phòng thủ.
Vì vậy, Ngô vưng cũng từ thành lui về Cô Tô đài.
Nhà vua bước lên Cô Tô đài lúc mặt trời lặn. Gió lạnh như cắt, số tuyết ri dày đã đóng thành băng cứng. Nước trên mái hiên chy xuống trở thành cột băng loang loáng trong sắc chiều buồn.
Ngô vưng đem theo mười hai xe đến dưới chân Cô Tô đài, tự mình gỡ lấy cây mâu treo ở thành xe làm gậy chống. Ngài bước lên Cô Tô đài như một lão già đi chống gậy.
Nhà vua đã ở trên thành phòng vệ c tháng rồi. Tuy suốt thời gian đó không có trận đánh chính thức nào, nhà vua vẫn không dám để có một giờ s xuất. By hôm trước, Vưng Tôn Hùng đến khuyên nhà vua về Cô Tô đài nghỉ nhưng ngài cự tuyệt. Ngài chỉ gửi thỏ rừng về cho Tây Thi. Nay là ngày tuyết đóng băng, đoán chừng ít nhất cũng có được hai ngày yên tĩnh, ngài mới quay về Cô Tô đài trước lúc mặt trời lặn.
Theo bo vệ Ngô vưng có mười hai xe và tám mưi danh kỵ trong khi Cô Tô thành rất cần được bo vệ khiến nhà vua thưng cm hết sức. Nhưng nhà vua biết rõ, ngài cần phi được bo vệ.
Mãi đến khi nhà vua đến dưới đài, Tây Thi mới hay. Nàng vội vã mặc áo choàng chạy ra nghênh đón, song khi nhìn thấy nhà vua thì lòng nàng phát lạnh. Một tháng cách xa, nhà vua như đổi khác hết: râu ria xồm xoàm, tóc bạc trắng thêm. Vào đông, mặt trời đâu đủ nóng nhưng trông Ngô vưng đen đúa, gầy còm, già nua.
Vì thế, Tây Thi c kinh, dừng chân ở thềm đá bên trên.
- Tây Thi!
Nhìn thấy nàng, Ngô vưng nở nụ cười hiền hòa, dường như c tháng nhục nhằn chỉ trong thoáng chốc này là tiêu tan hết c. Giao trường mâu cho tên hầu cận Lộc Xuất, Ngô vưng gấp rút bước lên nắm lấy hai tay nàng:
- Tây Thi! Mọi việc đều rất tốt... Ơ, bao tay đâu sao nàng không mang? Trời lạnh thế này, coi chừng bị cm đó!
- Đại vưng!
Tây Thi nghe nhói đau chua xót, nước mắt trào ra ưn ướt. Một người từ gió tuyết chiến trường lại chỉ nghĩ đến cái lạnh của riêng nàng thì thật là chí ái chí tình!
- Tây Thi, mau vào thôi! Thật thì nàng cũng không cần phi ra đón trẫm. Tây Thi, c tháng rồi nàng thế nào? C tháng rồi chúng ta không gặp nhau...
- Thiếp khỏe lắm! (Tây Thi cố ngăn nước mắt). Thiếp luôn nhớ đến quân vưng, cm thấy dường như có quân vưng bên cạnh. Duy có điều ban đêm thì hi sợ!
- Coi, trẫm đã ra lệnh cho thị nữ kề cận bên nàng mà!
- Họ khác với quân vưng...
Tây Thi nhếch cười thê lưng, chuyển đề:
- Quân vưng! Tình hình chiến trường ra sao?
- Vẫn không có gì thay đổi. Nhưng so với lúc trước khi trẫm từ Hoàng Trì kéo về thì bây giờ tưng đối vững chắc hn nhiều.
Ngô vưng dìu Tây Thi bước vào đại đường, gỡ mũ rồi gỡ kiếm để xuống, thở phào nói thêm:
- Binh sĩ ta tuy cực khổ song quân Việt càng tệ hại hn.
- Nói thế thì họ có thể nhân c hội này mà rút lui không?
- Theo trẫm đoán, lúc trở xuân ấm, quân Việt không rút lui không được. Vì lưng thực của họ không nhiều đâu!...
Ngô vưng liếc qua Tây Thi, bỗng bỏ lửng, lắc đầu ái ngại:
- Khanh hi ốm!
- Thật à? Sao thiếp không cm thấy...
Tây Thi ng tới gần nhà vua nhưng Ngô vưng ngăn nàng:
- Ơ... đừng, mình trẫm d lắm! Để trẫm tắm rửa, thay đồ cho xong đã.
- Quân vưng! Quân vưng cho rằng thiếp chê quân vưng d sao?
Nhà vua hiền từ vỗ vai nàng như cha đối với con:
- Không đâu! Hãy nghe lời trẫm, trẫm cũng cần ngâm chút nước nóng.
- Thế thì thiếp chờ...
Tây Thi nói rất thành thật. Nhưng nhà vua bỗng nói:
- Mà không... (Ngô vưng hôn má nàng và nhận ra râu ria xồm xoàm đã làm đau nàng nên đưa tay sờ râu rồi cười nói luôn). Để chút nữa, trẫm nhờ khanh cạo dùm râu!
Tây Thi truyền cho thị nữ bỏ thêm than vào lò sưởi trong tường, kéo mền gối đến gần h cho ấm. Liền đó, nàng lại bo thị nữ chuẩn bị bữa ăn tối trong khi Ngô vưng bước vào phòng tắm khong mười lăm phút. Do quá mệt mỏi, lại bị nước nóng làm cho xuất mồ hôi, mặt mày nhà vua thật khó trông.
- Mệt quá... Tây Thi!
Ngô vưng ngồi phịch xuống ghế, nhờ Tây Thi mặc đồ ngủ cho ngài. Ngài uốn mình, nhắm mắt... Tây Thi dịu dàng nâng ly rượu đặt trên môi ngài nói:
- Quân vưng uống một hớp cho ấm.
Uống xong một hợp, Ngô vưng đẩy ly ra nói nhỏ:
- Khanh cạo dùm râu cho trẫm, trẫm đang muốn hôn khanh!
- Quân vưng!
Tây Thi nở cười hạnh phúc, để ly xuống, ôm choàng cổ nhà vua hôn đậm đà. Nhà vua choàng ngang lưng nàng, nhìn dán vào nàng:
- Bao nhiêu mệt mỏi mất hết rồi. Tây Thi, vừa rồi, trên đường về đây trẫm nhớ lại chúng ta đã sống chung mười by năm. Tính từ ngày Câu Tiễn đầu hàng đến nay thì đã hai mưi năm rồi.
Mười by năm vội vã qua mau. Mười by năm sau, c hai vẫn hôn nhau một cách mặn nồng!
Con số mười by năm với bao nhiêu biến thiên làm cho Tây Thi nghĩ ngợi đến xuất thần.
Ngô vưng nâng mặt nàng, nói thêm:
- Mười by năm rồi, khanh vẫn như xưa.
- Vì quân vưng, thiếp không chịu già đâu!
- à!... (Câu nói ấy như mồi ngon giúp Ngô vưng uống một cái ực cạn ly). Tây Thi, lúc mới đến, tánh tình khanh thật oái oăm.
- Sau này, thiếp sửa đổi dần... do quân vưng dạy dỗ.
Ngô vưng uống cạn ly thứ hai:
- Tánh tình các cô bé nhiều thay đổi lắm!
Hai tiếng “cô bé” làm cho Tây Thi cm thấy xốn xang. Không phi vì sự bất đồng của tuổi tác ngày nay mà là vì suốt mười by năm rồi, nàng không sinh con với nhà vua. Nàng nghĩ, giá nàng có con thì giờ này con nàng đã cao bằng nàng.
- Tây Thi, nàng đang nghĩ gì?
Tây Thi thẳng thắn đáp:
- Thiếp muốn có một đứa con.
- Đợi xong giặc, chúng ta sẽ kiếm một đứa! Giờ khanh cạo râu dùm ta. Trước khanh, trẫm muốn “đẹp trai” hn một chút.
- Dưới mắt thiếp, quân vưng luôn anh tuấn như trong mắt quân vưng thiếp vĩnh viễn đẹp.
Tây Thi vuốt râu nhà vua khiến c hai cùng cười.
Trong sự bàng hoàng của bá tánh trong thành, trong ngày lạnh tuyết đóng thành băng, Phù Sai và Tây Thi rất cởi mở, đẩy đưa, nếm tri sự ấm áp của tình yêu.
C hai đối ẩm, thì thầm... không một lời liên quan đến chiến tranh. Ngô vưng bàn định trùng tu Quán Oa cung, định khi quân Việt rút, c hai sẽ sang đó ở.
Tây Thi nói:
- Thiếp thích ở Cô Tô đài. ở đây nhìn được Thái Hồ chứ ở Quán Oa cung thì không nhìn thấy.
- Khanh thích Thái Hồ như thế?
- Cô Tô đài như quân vưng thì Thái Hồ càng giống quân vưng hn, hùng tráng và ôn nhu... (Tây Thi cười, rót rượu cho nhà vua). Quân vưng, mùa hạ năm sau, chúng ta rong chi Thái Hồ.
Đêm xuống dần. Tuyết đang đóng băng, giọt nước chy lan từ mái hiên xuống buông tiếng tí tách dường như tấu nhạc. Khá lâu rồi, Cô Tô đài không có nhạc.
Văng vẳng từ xa, tiếng hiệu sừng truyền đến. Còi hiệu khiến Ngô vưng nghĩ đến chiến tranh. Ngài vưn vai, nhy mũi liên tiếp mấy cái:
- Ô, chiến tranh không ngưng hẳn à?
- Quân vưng ngủ đi!
- Không đâu, trẫm muốn cùng khanh chuyện vãn.
- Sau ngày mai vẫn là ngày mai, chúng ta còn biết bao nhiêu ngày mai trước mặt.
Tây Thi hôn Ngô vưng như hôn một đứa bé. Ngô vưng nhắm mắt dưỡng thần, chẳng mấy chốc ngủ vùi.
Tây Thi ôm cho nhà vua ngủ. Nhưng lúc nhà vua cất tiếng ngáy đều thì nàng nhích ra, đi gom hết y giáp và vũ khí cần dùng lại một chỗ trong tư thế chuẩn bị. Theo ý nghĩ của nàng quân Việt có thể nhân đêm đóng băng mà khởi tấn công. Tây Thi biết rõ, bất cứ qui luật thông thường nào cũng không thể gò bó Câu Tiễn và Phạm Lãi. Họ là những người rắp tâm tr thù và người mang thù sẽ không nề hà hoàn cnh và giờ khắc.
Ngô vưng ngủ rất say, bao nhiêu mệt mỏi biến mất bên cạnh người yêu. Nhưng chẳng bao lâu, ngài lại rên khẽ trong mộng.
Tây Thi đích thân đi xem lại lò sưởi, truyền cho thị nữ phi giữ một độ ấm nhất định. Sau đó, nàng đội mũ lông, choàng bao tay da nai, bước ra khỏi phòng.
Di Quang và Triền Ba đứng giữ bên ngoài, mặt lạnh xanh tái dưới ánh đèn. Tây Thi liếc thấy c hai, hỏi nhỏ:
- Chỉ có hai người ở đây à?
- Tôi đã cho tất c sang phòng bên kia chờ. (Di Quang chỉ tay nói thêm). Tây Thi, tôi hiểu rõ lòng chị.
Không hiểu câu nói bất ngờ ấy, Tây Thi hoang mang nhìn c hai. Triền Ba tiếp:
- Ngô vưng và chị thật đẹp đôi, Ngô vưng đối với chị thật đẹp. Mười by năm qua, Ngô vưng đối với chị vẫn như ngày đầu.
Nói thế là xác nhận c hai đã nghe được lời thì thầm giữa Ngô vưng và Tây Thi. Di Quang hít một hi dài nói:
- Mình biết chị tình nguyện muốn vì Ngô vưng mà chết. Bất cứ người con gái nào đứng trong hoàn cnh của chị cũng đều như thế c. Tây Thi, có chết chị cũng hạnh phúc lắm.
Tây Thi mỉm cười, nàng đã sớm nhận ra hạnh phúc của nàng. Nhưng đó là thứ hạnh phúc nàng không có cách từ chối mà ngày nay ai nấy đều biết.
Di Quang lại nói:
- Tây Thi, người xưa nói, có được một tri kỷ là đủ sống, việc chết sống không có gì đáng ngại. Và chị đã có rồi...
Triền Ba thưng cm thở dài:
- Mười by năm qua, chị em tôi đều không có. Tổ quốc, ôi Tổ quốc có ghi tên chị em mình không?
- Cần gì phi được ghi tên? (Di Quang nhìn đắm đuối ánh đèn). Chị em mình chỉ biết hết lòng vì Tổ quốc. Nói cách khác, có được ghi tên trong sử sách thì đối với chị em mình có ích lợi gì đâu! Mười by năm đã làm cho chị em mình già c hết rồi, nào ai có thể bồi thường được thời xuân thắm ấy!
Thời xuân, dường như các cô chưa từng nghĩ qua trong quá khứ. Nhưng một khi nghĩ đến thì tất c lại thê thiết vô cùng. Trong tổng số mỹ nhân từ Việt sang Ngô đợt đầu, chỉ có một mình Tây Thi hưởng được năm tháng xuân xanh. Ngoài nàng, Trịnh Đán tự vẫn chết từ lâu, Gia Tề nổi danh ca múa làm trưởng đoàn ca vũ Việt sang Ngô thì bệnh mất một năm, chỉ còn có da bọc xưng. Bệnh lành từ lâu, Gia Tề vẫn còn nằm liệt trên giường dưỡng sức... do Tây Thi truyền đưa sang ở Quán Oa cung. Riêng Trịnh Nguyệt là một vũ công mềm mại như người không xưng, tay đàn Gia Thi và Bàng Nhi nhịp phách giỏi đều là người thiên cổ. Hãy còn vài cô bỏ trốn hoặc ở Ngô hoặc về Việt nghe đâu đã lấy chồng vào mấy năm trước. Mười by năm qua, cuộc tang thưng nhân sự trên Cô Tô đài là như thế đó.
Tổ quốc Việt đã phục hưng trong gian nan khốn khổ thì tuổi xuân của các cô gái Việt đã mất mát hết rồi. Di Quang lớn hn Tây Thi một tuổi nhưng vì không được nếm tri hưng vị ái tình mà già cỗi, khô cằn như mnh đất không mưa. So với Tây Thi tưi mát, Di Quang và Triền Ba cm thấy cuộc đời mình thật bất hạnh, thê thm!
Đối với các bạn cùng vượt Tiền Đường, Tây Thi cũng có phần áy náy. Tuổi xuân của nàng huy hoàng trong khi thời xuân của các bạn mất hút khiến nàng o não thở dài:
- Mười by năm rồi!
- Tây Thi! (Di Quang cố nén lòng buồn, hỏi) Chị ra đây làm gì?
- Mình ra xem bên ngoài... Nghĩ là đêm nay không thể bình yên (Tây Thi hạ thấp giọng) Mong cho Ngô vưng được ngủ ngon một đêm.
Vì vậy, Di Quang và Triền Ba cùng đi với Tây Thi ra ngoài nhìn xuống nguyên dã hun hút trong đêm. Gió lạnh sắt se, nguyên dã đóng băng bốc hi buốt lạnh.
Chuông đồng treo ở góc đài Cô Tô cũng bị đóng băng nên tuy bị gió lắc mạnh, chuông vẫn không phát ra được một âm thanh nào.
Tây Thi nhìn khắp bốn bên phẳng lặng như tờ, lẩm bẩm:
- Mong được một đêm bình yên.
Di Quang đáp lời:
- Mong được một đêm bình yên... vì chị.
Tây Thi hiểu ý bạn, mỉm cười cám n. Vì đó là tình bạn cao hn ý thức quốc gia.
C ba cùng quay vào ngủ trong phòng ấm. Cô Tô đài rất ấm và cũng rất bình yên. Nhưng trên chiến trường thì trong đêm gió thốc lạnh lùng không có bình yên.
Theo binh thư, vào lúc tuyết ri, băng đóng, không thể đánh nhau được. Nhưng với chí phục thù cùng nghị lực và hi vọng, Việt vưng yêu cầu Phạm Lãi phát động dạ tập. Bởi vì vào lúc rét mướt như thế này, nhất định quân Ngô sẽ l là việc canh phòng.
Ngoài thành có ít nhất là hai tấc băng dầy, không dụng cụ nào có thể giúp bò từ băng lên mặt thành. Lăn đá để phá vỡ cửa thành chăng? Trên mặt băng, công tác ấy rất ít hi vọng. Huống chi, cho dầu s xuất thế nào, binh Ngô cũng không thể s xuất tại cửa thành. Bằng áp dụng hỏa công, vứt lửa tấn công thì cũng không thể được trong ngày băng tuyết.
Nhưng Phạm Lãi vẫn tuân vưng mạng, tuyển ba ngàn quân tấn công Cô Tô thành.
Đêm nay, người phụ trách giữ thành là Tích Lặc vốn không xem vào đâu việc quân Việt kéo đến gần. Mãi đến khi xe xung phong của Việt chở cây to đến giộng cửa thành, Tích Lặc mới ra lệnh cho lăn đá và bắn tên xuống. Trên thành Cô Tô, không có hiệu còi sừng nào thổi báo động.
Quân Việt không làm sao hn được, đến c tiếng hô cũng không có khí lực. Phạm Lãi đứng quan sát hn một giờ rồi ra lệnh cho quân sĩ thiếu điều bị đóng thành băng rút lui.
Chẳng bao lâu, Việt vưng đích thân kéo một toán quân khác đến tấn công. Bấy giờ gần sáng, quân Việt đứng trên băng tuyết ngoài thành la hét một lúc rồi cũng rút lui. Nhưng lúc quay về thì Câu Tiễn lại nói giọng phấn khởi với ba quân tướng sĩ:
- Chúng ta làm kinh động bọn họ c đêm, trẫm tin rằng đêm nay Ngô Phù Sai mất ngủ và phát rét.
Từ bao giờ, lời của Câu Tiễn cũng được thần dân tín nhiệm. Tín nhiệm đến quân binh đang khổ sở, rét run cũng tạm thời quên cái lạnh của mình đi. Trở về dinh trại, họ vừa run lập cập vừa ca.
Phần Câu Tiễn có thể gạt người nhưng không thể gạt mình. Nhà vua mong mỏi tự mình sáng tạo nên kỳ tích, thâu đoạt chiến thắng một cách nghịch thường. Như bao anh hùng Câu Tiễn dự định thâu đoạt kỳ tích để phân biệt anh hùng và người thường. Nhưng cuối cùng, Câu Tiễn cũng như bao anh hùng khác đều cm thấy mình chẳng khác với thường nhân là mấy.
Một đêm tấn công không thành công làm cho Câu Tiễn u uất. Trước khi đi ngủ, Câu Tiễn trịnh trọng nói với Phạm Lãi:
- Đành là chúng ta phi chờ đợi. Mong sẽ có được mười ngày trời quang.
Sáng sớm hôm nhau, mặt trời mùa đông nhợt nhạt chiếu trên băng tuyết, tuyết tan đi. Bấy giờ, Vưng Tôn Hùng đến thay thế Tích Lặc và trên Cô Tô đài Ngô vưng đã thức.
Đêm rồi có lẽ là đêm ngủ ngon nhất trong đời của nhà vua nước Ngô, ngủ như một đứa trẻ th trong vòng tay mẹ. Sau khi thức giấc, tinh thần nhà vua sung mãn, Ngài dang tay, sung sướng gọi Tây Thi.
Tây Thi thức đã từ lâu nhưng nàng còn co rút trong mền. Ngô vưng nhìn thấy tóc mây của nàng tri xõa trên gối, Ngài lắc nhẹ nhàng:
- Tây Thi... Nàng chưa thức h?
- Thiếp thức lâu rồi. (Tây Thi thò tay đưa ra một tấm vi) Đây là báo cáo thiếp xem xong mới ngủ lại.
Báo cáo của quan giữ thành nói về khí trời, băng tuyết... Ngô vưng xem qua một lượt rồi vứt sang bên, đoạn lăn qua ôm choàng Tây Thi:
- Có khanh kề bên, trẫm ngủ ngon quá.
- Mong rằng từ rày về sau, đêm nào cũng thế. (Tây Thi trở mình, gối đầu lên cánh tay nhà vua! Quân vưng hãy nằm thế này nửa giờ rồi hãy dậy... Có làm cn trở công việc của ngài không?
- ồ, không đâu.
Nhà vua đáp một cách sung sướng nhưng thật ra nhà vua có việc. Hôm qua ngài đã dặn Lộc Xuất sáng sớm nay tới để cùng Ngài đi soát xét tráng binh. Nhưng ngài không đành nghịch ý Tây Thi và lại cm thấy có chậm trễ một vài giờ cũng không thành vấn đề.
***
Mùa đông qua rồi. Trời xuân lướt đến, cỏ cây ở Cô Tô thành hiện lên sức sống.
Cuộc chiến lại bộc phát. Tích Lặc đưa quân ra thành phn công, nhưng trận đánh không phân thắng bại. Tích Lặc đã hủy diệt của Việt trên bốn mưi xe, nhưng bên Ngô cũng bị tổn thất chừng đó. Điều đó không quan trọng, quan trọng là ở chỗ trận thế bị bẻ gãy nhưng quân Việt không có ý rút lui.
Quân giữ thành dần dần o não. Họ từng nghĩ rằng cứ mùa xuân thì địch quân sẽ rút, nay xuân đến rồi mà địch lại cường tráng hn mùa đông. Lại còn điều bất hạnh này: Lúc mùa xuân đến, trong thành Cô Tô không ngừng có chuyện quỷ lộng. Nghe nói thì có đến mấy ngàn người nghe được tiếng quỷ khóc đêm.
Tiếng quỷ khóc đến người trên Cô Tô đài cũng nghe được. Tiếng khóc rất dài và rất thê thm so với tiếng người...
Do lời thị nữ đồn đại mà Di Quang và Triền Ba biết có tiếng quỷ khóc nên nói với Tây Thi. Thoạt đầu Tây Thi không xem chuyện ấy vào đâu. Nhưng vài hôm sau, lời đồn đại quá nhiều khiến nàng run lên mọc ốc.
Người ta đồn rằng, tiếng quỷ khóc trong thành Cô Tô là do Ngũ Tử Tư tạo ra. Lời đồn có tính cách hoang đường nhưng càng lúc càng nhiều.
Đồn rằng, Ngũ Tử Tư trung thành với Ngô, một lòng vì nước mà bị vua giết. Ngày nay, vận số nước Ngô đến đúng như lời tiên đoán của Ngũ Tử Tư nên anh linh của người lại vì vận nước suy vi mà khóc. Tiếng khóc của người nhằm cnh cáo thần dân Ngô quốc, Quốc gia sắp mất rồi.
Đồn rằng, bao nhiêu chiến sĩ anh hùng từng theo Ngũ Tử Tư chinh chiến đó đây, vì nước mà chết, bây giờ cũng lên tiếng khóc. Vì vậy, khắp thành Cô Tô đâu đâu cũng nghe tiếng quỷ khóc.
Lời đồn khiến Tây Thi chấn động, không kịp nghĩ ngợi xem hư hay thật. Nàng cho vời vu sư đến làm lễ cầu siêu.
Vu sư vâng lệnh đi khắp ni lập đàn cầu siêu. Nhưng lời đồn về tiếng quỷ khóc do các vu sư nói ra lại càng thêm ghê rợn khiến cho nhân dân trong thành bị vây càng thêm sợ sệt. Họ sợ quân Việt, sợ tiếng quỷ khóc, sợ quỷ càng nhiều hn. Bởi vì họ nghe được tiếng quỷ khóc gào nhưng không làm sao thấy được quỷ.
Quân trong các trại cũng nghe được tiếng quỷ khóc rồi.
Một buổi chiều, từ thành trở lại Cô Tô đài gặp Tây Thi, Ngô vưng cũng nói về tiếng quỷ khóc. Tây Thi biết trước song cố giấu để bây giờ tự nhà vua nghe được, nói ra:
- Người ta đồn là Ngũ Tử Tư.
Tây Thi lạnh lòng nhưng gượng đáp:
- Lời đồn vô căn cứ...
- Đêm qua, chính trẫm nghe được tiếng quỷ khóc.
Tây Thi thoắt nhìn bốn bên. Nàng sợ quỷ đang đến gần nhà vua.
Ngô vưng ôm giữ nàng, giọng có phần thê thm:
- Quân ta đã bị tiếng quỷ khóc gào đánh bại. Ôi, Ngũ Tử Tư... sau khi chết rồi, tướng phụ vẫn khống chế quân dân.
- Đại vưng. (Tây Thi ứa nước mắt, run môi kêu lên. Rồi nước mắt chy theo nỗi kinh hoàng, nàng nghẹn ngào tiếp) Đại vưng. Chuyện ấy không thật đâu...
Ngô vưng cũng không biết thật gi, chỉ biết chính nhà vua có nghe.
Tây Thi bàng hoàng hỏi:
- Quân vưng. Lòng quân dao động lắm phi không?
- Phần nào tiếng quỷ khóc có làm cho chúng sợ.
Bấy giờ Di Quang bình tĩnh đi đến cởi hia cho nhà vua. Tây Thi chợt nhớ ra, kể từ ngày có lời đồn về tiếng quỷ khóc, trước sau như một Di Quang không nhận có nghe. Hn nữa, Di Quang cũng không bày tỏ ý gì về chuyện quỷ khóc. Tây Thi biết Di Quang cũng sợ quỷ như nàng nên không ngại nói thẳng:
- Quân vưng. Tiếng quỷ khóc có thể do người Việt giở trò để tác động tinh thần quân sĩ chúng ta không?
- Ơ... (Ngô vưng chớp mắt) Quân Việt còn ở ngoài thành đó.
Ngô vưng không nghĩ đến chuyện gián điệp. Phần Tây Thi, chỉ nói được đến đó mà thôi. Bởi chính nàng đã là gián điệp của Việt và người bạn gián điệp Di Quang đang ngồi kề bên. Lúc Tây Thi nói, Di Quang có liếc mắt nhưng Tây Thi không mấy để ý.
Ngô vưng trầm mặc. Kể từ Cô Tô thành bị vây, đây là lần thứ nhất nhà vua trầm mặc lâu như vậy. Cũng lần thứ nhất trong suốt mười by năm, Tây Thi cm thấy gần gũi nhà vua hn. Sự trầm mặc của nhà vua làm cho nàng se lòng, tay chân có phần quýnh quáng.
Bỗng nhiên Ngô vưng bật dậy, truyền đòi Vưng Tôn Hùng lên đài:
Tây Thi hong quá, run run hỏi:
- Quân vưng. Thế nào...?
- Ơ, không có gì... Trẫm muốn quyết chiến, muốn cùng Câu Tiễn quyết chiến (Ngô vưng rít răng) Trẫm muốn điều động cánh quân ở Cú Khúc về đây, tập trung đánh trận sau cùng.
Xa xa có tiếng sấm gầm. Chẳng bao lâu, có những lằn chớp sáng, tiếp theo là tiếng sấm sét rồi mưa rào đầu xuân sầm sập trút xuống.
Ngô vưng nhìn trời, mặc áo giáp, ra lệnh cho Di Quang tròng hia lại cho nhà vua. Tây Thi chấn động hỏi:
- Đại vưng. Ngài còn muốn đi?
- Phi. Trẫm cần lên mặt thành, thông thường, lúc sấm sét mưa giăng là lúc nguy hiểm nhất.
Trở về Cô Tô đài chưa đầy một giờ, Ngô vưng lại đi.
Tây Thi nhìn tiễn đưa nhà vua trong làn chớp nháng sáng. Di Quang còn ở bên nàng. Lúc thấy Ngô vưng bước khuất xuống tầng thứ nhất, Di Quang cất giọng hậm hực trách Tây Thi:
- Chị che giấu bớt một chút thông minh không được sao? Tiếng quỷ khóc là do Phùng Đồng vâng lệnh của Phạm đại phu làm ra theo kế hoạch sau cùng đấy.
- Sao? (Vừa cất tiếng kinh mang, Tây Thi vừa tất t chạy ra kêu) Phù Sai.
- Tây Thi. Nàng đừng chạy lung tung.
Tây Thi xông đại vào mưa, ngã ập vào Ngô vưng khiến nhà vua bối rối:
- Sao thế? Nàng làm sao thế?
Nước mưa dây ướt hai thân. Tuy c hai đều có mặc áo che mưa, song khi chạy vội áo bị nghiêng lệch, nước mưa rớt ướt vai, mặt Tây Thi. Nhưng nàng không chú ý đến điều ấy, nàng chỉ ôm chầm nhà vua, khóc sướt mướt chua xót não nề.
- Nàng sao thế này?... Tây Thi?
- Đại vưng.
Tây Thi khóc gọi rồi sụp quỳ trên thềm đá đọng nước, hai tay ôm chặt chân nhà vua. Hình nh ấy bi thưng, nước mắt Tây Thi chẳng nhường những giọt mưa xuân sầm sập.
Có tiếng sấm gầm thật lớn, dường như muốn trấn át tiếng khóc của nàng.
Ngô vưng quýnh quáng không biết làm sao. Trên tầng thượng có hai cô gái Việt - Di Quang và Triền Ba - cũng bị hình nh ấy và tiếng khóc kia làm chạnh lòng, toàn thân tê dại.
Trong mưa tuôn sấm sét, Ngô vưng kinh hoàng gọi:
- Tây Thi.
- Tây Thi. - Di Quang và Triền Ba cũng nghẹn giọng kêu lên.
Trong lòng Tây Thi đang có sự dằn vặt khổ đau. Nàng muốn đem tất c mọi việc nói ra để rửa sạch tội nghiệt của nàng. Nàng cũng muốn lấy cái chết để đền tội.
Trong giây phút này, nàng cm thấy chỉ có nói ra tất c mới có thể cứu vãn Ngô quốc. Nàng cũng cm thấy chỉ có cái chết của nàng mới đáp tạ được sự chí tình của Ngô vưng... Mười by năm vẫn một mực chí tình.
Nhưng mười by năm che giấu đã thành thói quen, không dễ gì tiết lộ trong phút chốc. Nàng vừa nghĩ ngợi vừa khóc. Từ linh hồn nàng có sự soát xét lại nhục thể hoặc nhục thể này làm tan biến linh hồn. Tây Thi muốn tự nghiền nát nàng. Rồi sau đó sẽ gom góp lại xem còn được những gì. Khổ nỗi, linh hồn và nhục thể của nàng đã không bị nghiền nát thì rồi cũng không thể tập trung.
Vì vậy, nhà vua cứ gọi hỏi mà nàng không thể tr lời.
Một lằn điện chớp vạch sáng bầu trời, tiếp theo là tiếng nổ long trời. Tây Thi nghe thấy được c, nhưng nhục thể nàng đã nghe được tiếng nói của linh hồn: Tây Thi! Ngưi vì ái tình mà bội phn quyền lợi Quốc gia?... Ngưi hy sinh Tổ quốc để đáp ân riêng chăng?...
Ngô vưng cúi đỡ nàng, run rẩy gọi:
- Tây Thi!
Lại có sét chớp sấm gầm... Trong làn điện bất chợt lóe sáng, Tây Thi cm thấy người nàng như bay bổng, huyết qun dường như vỡ vụn. Nàng ngẩng đầu lên, mặt tràn nước mắt nước mưa.
- Đại vưng! (Tây Thi dùng toàn lực kêu lên) Hãy giết thiếp đi! Giết thiếp đi!
Chuyện quá đột ngột, đột ngột đến Ngô vưng bấn loạn.
- Đại vưng! Hãy giết thiếp... một người con gái Việt!
Tây Thi vừa gào vừa khóc, toàn thân run bần bật trong mưa to.
- Tây... Thi!...
- Đại vưng! Quân Việt tấn công Cô Tô thành mà thiếp... thiếp là gái Việt đã chịu n nuôi dưỡng của Đại vưng những mười by năm... Đại vưng! Đại vưng!...
Tây Thi nghẹn lời, áo che mưa của nàng hoàn toàn tuột xuống. Tóc bị nước mưa làm cho ướt rối, Tây Thi vẫn tận lực gào:
- Giết thiếp đi!
- Tây Thi!
Ngô vưng chợt nghĩ đến tiếng quỷ khóc, đoán chừng Tây Thi bị quỷ hớp hồn làm cho mê loạn. Ngài cũng run run toàn thân, tìm cách lay tỉnh Tây Thi.
- Giết thiếp đi!
Tinh thần dường như vỡ tan, nói được tiếng nói thật lớn sau cùng, Tây Thi ngất lịm. Ngô vưng bồng xốc nàng, vừa khóc vừa gọi, vừa tất t trở vào Cô Tô đài.
Bấy giờ bỗng có Lộc Xuất sấn tới báo cáo:
- Đại phu Vưng Tôn Hùng không thể đến được. Vì bên ngoài thành, quân Việt khởi tấn công!
Nhà vua dường như không nghe. Ví bằng có nghe Ngô vưng cũng không màng đến. Trước mắt nhà vua, không có chuyện nào quan trọng bằng chuyện Tây Thi ngất lịm.
Ngô vưng bước lên đài, gọi ầm mọi người tiếp cứu.
Phần Tây Thi, sau khi ngẫu nhiên xúc động đến ngất xỉu, được Ngô vưng bồng vào phòng chẳng bao lâu thì nàng tỉnh lại. Nhưng thần trí của nàng hãy còn m màng, nàng ngước nhìn, cm thấy đầu đau dữ dội.
May lúc nàng ngước lên, Ngô vưng nhìn thấy bật gọi:
- Tây Thi!
Tây Thi không tr lời song mặt nàng có chút chuyển động của hình thái nhếch cười khổ. Ngô vưng đặt nàng lên giường, hối thúc đốt lửa và hong khô quần áo cho nàng.
Tây Thi nghe hết các lời nhà vua song nàng không chen nói. Bởi vì muốn chết cũng phi có đủ sức chết c!
- Tây Thi! Khanh làm trẫm sợ quá! (Ngô vưng dán mặt sát vào nàng, ứa nước mắt) Khanh đừng lo, thong th rồi tình trạng của chúng ta sẽ tốt đẹp.
Có tiếng sấm gầm rền rền thật to. Cô Tô đài dường bị sấm lay động.
Ngô vưng vẫn kề tựa má nàng, chí thành nói:
- Nàng bình tĩnh một chút! Nước Ngô là của trẫm và khanh, hai người chúng ta là một!
Nước mưa đã thấm ướt toàn thân Tây Thi. Lúc Ngô vưng giúp cởi áo trong cho nàng, nàng gượng nói:
- Bo thị nữ vào đây!
- Trẫm là chồng, để trẫm phục dịch khanh một lần.
Tây Thi không nói gì thêm. Thật ra, đầu đau nhức quá, nàng không làm sao tập trung được tinh thần để nói.
Ngô vưng cởi hết áo quần, giầy vớ cho nàng, đoạn dùng vi lau khô khắp mình nàng. Đây là lần thứ nhất sau trong mười by năm chung sống, nàng hoàn toàn không phn ứng, hoàn toàn phi bày trước mặt nhà vua.
Giờ khắc này hết sức khẩn trưng, không một ai có thể thèm muốn. Nhưng toàn thân ngọc ngà đã khiến nhà vua nhìn lâu, mỗi ánh mắt đưa là một lời khen nức nở. Ngô vưng cho rằng lúc trang trọng này Tây Thi mới đúng là một bức tranh nghệ thuật. Ngài yêu nàng sâu xa quá, nàng là tinh thần của ngài.
Nhà vua dùng vi lót bông trùm nàng, tự tay rót nước trái cây để đút từng muỗng cho nàng.
Trời vẫn sấm chớp, vẫn mưa giăng, Tây Thi bình phục rồi. Nhưng lòng nàng như giọt mưa ri, nặng nề rớt xuống rớt xuống. Chẳng bao lâu, nàng nói nhỏ:
- Quân vưng lên thành đi!
- Không, trẫm ở giữ khanh, sánh với thành Cô Tô, khanh vẫn quan trọng hn.
Mặt xanh xao phớt gợn nét cười, Tây Thi nói:
- Vậy quân vưng cũng nên đi thay y phục! Thiếp không thể thay dùm...
Lúc Ngô vưng thay đồ, Lộc Xuất lại đến báo cáo: Quân Việt dốc toàn lực công thành ngay khi mưa lớn. Ngô vưng “ờ!” một tiếng, song không hỏi thêm. Chẳng bao lâu, quân phòng vệ lại đến báo cáo: Tướng quân Tích Lặc đã dẫn quân ra đối địch.
Tây Thi mềm nhũn nói:
- Quân vưng nên sang bên ấy! ở thiếp không có chuyện gì hết, còn ở bên thành là chiến tranh!
- Ơ... (Ngô vưng do dự một thoáng rồi gật đầu) Khanh nằm đây đừng động, chờ trẫm đi một lúc rồi trở lại.
- Thiếp vâng lời quân vưng.
Ngô vưng lại mặc áo giáp, từ từ bước ra khỏi tẩm cung. Tây Thi nhìn theo phía sau nhà vua, tự nhiên ứa nước mắt.
Nhà vua nước Ngô bước xuống Cô Tô đài với bước chân dường như nặng lắm. Lòng nhà vua cũng thế, lòng Ngài như từ trên cao rớt xuống... Tây Thi bỗng có thái độ thất thường như thế khiến nhà vua trĩu lòng, cm thấy không còn nắm vững được gì.
Thế nên, lúc bước xuống Cô Tô đài, nhà vua bỗng sờ đốc kiếm, quay nhìn đài cao sừng sững trong sấm chớp mưa giăng, Ngài hít một hi dài.
Một làn chớp nháng sáng lòa một góc mái góc Cô Tô.
Trong tư tưởng hoang mang, trong ý nghĩ thng thốt, nhà vua lẩm bẩm:
- Phi chăng những ngày tốt đẹp của Cô Tô đài đã qua rồi?
- Năm nào, lúc Cô Tô đài toàn thịnh thì Việt vưng Câu Tiễn giữ ngựa dưới đài...
- Trước đây chẳng bao lâu, trong cuộc hội minh các chư hầu ở Hoàng Trì, Ngô vưng của Cô Tô đài đã trở thành bá chủ thiên hạ... Phi chăng sự nghiệp bá vưng cũng chỉ như làn chớp kia, lóe sáng rồi thôi?
- Phi chăng bốn đời nhà Ngô đều chết trong tay người Việt?
Bao nhiêu ý nghĩ xông đùa vào óc nhà vua rồi lần lượt biến mất. Ngài nhìn Cô Tô đài hùng vĩ, chợt cm thấy ngày tàn, đường cùng...
Nhà vua chợt nhớ đến lời Tây Thi: “Đại vưng hùng vĩ như Cô Tô đài!...” Cô Tô đài hùng vĩ có thể ngã đổ chăng?
- Đại vưng! - Lộc Xuất đứng nghiêm trong mưa bỗng cất tiếng gọi. Lẽ tự nhiên là tên cận vệ ấy nôn nóng, muốn hối thúc Ngô vưng lên xe.
Ngô vưng quay lại, liếc qua cây mâu trong tay Lộc Xuất, thứ binh khí mà quân Ngô chuyên dùng, thứ binh khí đã được Tôn Võ và Ngũ Tử Tư ci tiến. Chiến sĩ nhà Ngô đã từng dùng loại trường mâu ấy tung hoành thiên hạ. Ngô vưng thầm nghĩ: “Bây giờ họ phi dùng trường mâu để bo vệ Cô Tô thành!”.
Lộc Xuất trịnh trọng nói:
- Kính mời đại vưng lên xe... Ngoài thành đang đánh dã chiến!
Ngô vưng nhy lên xe, đứng thẳng, dường như muốn mượn thế đứng thẳng để tỏ ra ngài còn mạnh. Đoạn quay nhìn Cô Tô đài lần nữa. Lúc xe chuyển bánh, nhà vua mới hỏi:
- Ai đem quân ra thành giao chiến?
- Tâu, tướng quân Tích Lặc, tướng quân Thổ Tang...
Ngô vưng không nói gì thêm. Chiến xa lăn bánh trong mưa, đỉnh nóc Cô Tô đài dần dần nhạt nhòa. Ngô vưng chậm rãi đưa tay mặt áp ngực, khấn:
- Lạy trời phù hộ cho Tây Thi bình an! Tội nghiệp, nàng đã xem việc phn loạn của Câu Tiễn là tội lỗi của chính mình!
***
Ngoài thành Cô Tô, quân Ngô đã lập hai dinh trại tựa lưng vào vách thành. Trong hai dinh có một ngàn bộ binh. Kể từ ngày vào đông, quân Việt không mở cuộc tấn công tại hai dinh lập theo thế ỷ giác đó. Mấy lần quân Việt công thành đều cố tránh hai ni ấy. Nhưng vào lúc mưa to, Gia Kê Dĩnh lại đem quân tấn công. Ngoài ra có hai cánh quân của Tiết Dung và Phàn Lũy đốc lực công thành. Thế nên, Tích Lặc tức giận, kéo quân ra đánh vùi với quân Việt trong mưa. Vưng Tôn Hùng liền phái tướng quân Thổ Tang đem binh áp trận.
Cuộc chiến đang hồi quyết liệt. Lúc Ngô vưng lên thành thì Tích Lặc đã đánh lui binh của Gia Kê Dĩnh. Nhưng Câu Tiễn lại đích thân xua quân cm tử đến đẩy lùi Tích Lặc. May có quân của Thổ Tang đến kịp, hỗn chiến với Việt binh.
Xem qua quân số thì Việt lấn thế hn khiến Ngô vưng nghiến răng nói:
- Vưng Tôn Hùng, trẫm muốn kéo quân xông ra!
- Đại vưng! Xin ở trên thành giám thị, để hạ thần kéo quân tác chiến. Chúng ta hãy đề phòng cánh quân của Phạm Lãi hãy còn chưa xuất hiện, cánh quân ấy mới là bộ phận chủ lực.
Vưng Tôn Hùng không muốn cho nhà vua mạo hiểm giữa mưa to gió lớn, e có điều thất thố. Nhưng Ngô vưng hậm hực:
- Trẫm đi, trẫm muỗn cùng Câu Tiễn thử sức một phen! Trẫm muốn đánh Câu Tiễn từ trên xe ngã xuống! (Nhà vua quay lại bo Lộc Xuất) Truyền lệnh tập trung đội Hiền Lưng!
Vưng Tôn Hùng ái ngại, biết mình không thể ngăn trở quân vưng. Đồng thời người cũng mong cho quân vưng có thể đánh tan đội quân của Câu Tiễn. Phù Sai từ bao giờ đã là một người thiện chiến, dũng cm. Tri bao phen chiến trận, nhà vua luôn luôn chiến thắng vẻ vang!
Thật vậy, Ngô vưng hãy còn hùng phong lẫm liệt. Lúc ngài thống lĩnh đội Hiền Lưng và quân giữ thành ra thành, ngài nhận trường mâu, thét lên một tiếng vang dài dường chuyển đất long trời. Từ đó, quân Ngô dốc sinh lực tiến tới.
Quân Việt tức khắc lui lại song không phi lui vì thất bại. Đợi khi Ngô vưng xua quân đuổi theo, Gia Kê Dĩnh liền trở lại chống tr, Câu Tiễn cũng quay lại phn công.
Hai cánh quân giáp chiến trên vùng đất sũng nước có hn một giờ rồi mạnh ai nấy rút về vị trí cố thủ. Bộ hạ của Tích Lặc bị thưng vong hn ngàn trong khi quân Việt phi xác tại trận hn trăm. Ngoài ra, phó tướng Việt Phàn Lũy đã bị Ngô vưng dùng trường mâu đâm chết. Lộc Xuất kéo luôn thây tướng địch vào thành để triển lãm. Trận đánh ấy không phân thắng bại tuy Ngô vưng có phần ưu thế. Song quân Ngô không thể chiến đấu đến lúc phân thắng bại vì trận mưa lớn quá, nước ngập sâu trận địa khong hai thước, quân sĩ bị ngập trong sình nước, không sao hoạt động được.
Vua hai nước đều bực bội chuyện rút lui trước khi phân thắng bại. Bởi vì c hai đều hận ngập lòng.
Ngô vưng muốn tự mình đâm chết kẻ vong ân bội nghĩa Câu Tiễn. Việt vưng cũng muốn tự mình chặt chết kẻ thù Phù Sai để rửa mối nhục Hội Kê, rửa c ba năm làm nô lệ giữ ngựa cho nhà Ngô. Rửa luôn mối nhục của toàn thể thần dân nước Việt đã bị quân Ngô lăng nhục. Năm xưa, quân Ngô đóng ở Hội Kê giám thị như là ngồi trên đầu trên cổ dân Việt, mối nhục ấy, mối thù ấy không rửa sạch không được.
Nhưng nước ngập sâu quá, tạm thời tách đôi hai kẻ thù.
Ngô vưng vào thành hạ lệnh dùng trường mâu đâm xuyên ngực Phàn Lũy treo thây trên mặt thành. Câu Tiễn trở về dinh, họp liền cận thần và tướng lãnh.
Câu Tiễn trút bỏ mũ sắt, tóc xòa ra, dĩ nhiên là ướt hết c. Nước mưa chy rỉ xuống từng giọt, từng giọt. Quân phu nhân đem khăn khô đến lau cho chồng nhưng Việt vưng xua tay ngăn lại, đoạn trịnh trọng tuyên bố:
- Hôm nay, trẫm nhìn thấy xe của Phù Sai tại chiến trường. Nếu không vì nước ngập quá sâu, trẫm đã theo kịp Phù Sai, kẻ thù của chúng ta. (Câu Tiễn nghiến răng nói thêm) Người Việt chúng ta từng bị Phù Sai bắt làm nô lệ, cái ăn, cái mặc của chúng ta đều bị cướp giật. Hn nữa, đến c con gái chúng ta cũng phi đem cống hiến, hai mưi năm rồi, chúng ta đều nhớ!
Căm thù được nung nấu bao năm giờ như bốc cháy mọi người có mặt, Việt vưng nói thêm:
- Trẫm phi bằm nát Phù Sai, trẫm phi dẫm nát Cô Tô. Đêm nay hay sáng mai, chúng ta phi phá cho được Cô Tô thành.
Bấy giờ, Phạm Lãi mang vi dầu vừa đến, tự nhiên đưa tay có ý bo Việt vưng ra lệnh tấn công.
- Thiếu Bá đến đây! - Việt vưng nhường chỗ để Phạm Lãi đứng giữa trực tiếp truyền lệnh.
Phạm Lãi không ngần ngại đứng thay thế chỗ nhà vua, quay lại nói với Văn Chủng:
- Văn đại phu, tôi cần phái ba ngàn quân công thành.
- Chiến trường ngập nước rất sâu.
- Thì lội nước vào tấn công. Đêm nay, chúng ta phi tiến đánh không ngừng (Phạm Lãi cưng quyết nói thêm) Văn đại phu, ba ngàn quân ấy do đại phu thống lĩnh.
Văn Chủng vội vàng nói “Tuân lệnh”. Phạm Lãi tiếp:
- Văn đại phu phi giữ chiến trường cho được ba giờ, tôi sẽ cho người đến thế. Nếu quân Ngô xuất thành, đại phu cho quân lui lại năm dặm (Phạm Lãi quay sang Tiết Dung) Bây giờ Tiết tướng quân cho quân mình nghỉ, ba giờ sau thì kéo đến thế cho Văn đại phu.
C hai phụng mạng đi rồi, Phạm Lãi hướng về Gia Kê Dĩnh:
- Tướng quân theo tôi!
Việt vưng cẩn thận hỏi lại:
- Thiếu Bá đã chuẩn bị bên ấy ra sao?
- Bước đầu chuẩn bị kể như xong, nhưng kế hoạch dự định của chúng ta phi trễ lại vài giờ vì mực nước cao ngoài mức chúng ta dự liệu. (Phạm Lãi hi run giọng) Thần mong vào lúc hừng sáng thì có thể...
- Ô...! Lòng bàn tay Câu Tiễn xuất mồ hôi.
Phạm Lãi cố ngăn xúc động, nói thêm:
- Bây giờ, xin đại vưng dẫn binh sang chỗ đất cao. Lúc thần phá thành thì cuộc chiến trong thành là do Đại vưng làm chủ.
- Câu Tiễn tuân mạng!
Việt vưng đáp giọng cung kính như bao binh sĩ dưới quyền chỉ huy của Phạm Lãi. Quân phu nhân bỗng bước tới gọi:
- Phạm Thiếu Bá!... (Quân phu nhân sụp quỳ trước Phạm Lãi) Mối thù, mối nhục của nước Việt toàn nhờ một tay Thiếu Bá rửa giùm!
Phạm Lãi liếc qua Việt vưng, đoạn cúi đỡ quân phu nhân đứng lên:
- Kế hoạch sau cùng của Phùng Đồng đã có tác dụng, tạo lời đồn đại rất thành công. Quân phu nhân! Xin phu nhân theo đại vưng lên chỗ gò cao thâu nhận thưng binh.
Phát lệnh xong, Phạm Lãi vội vã ra đi, đi về một ni bí mật. Gia Kê Dĩnh cũng theo ra nói với bốn ngàn binh sĩ đã nai nịt gọn gàng.
Trời vẫn tiếp tục đổ mưa, sét chớp sáng lòa, sấm gầm ầm ĩ.
Trên Cô Tô đài, đồng hồ đựng cát tính giờ chỉ còn lại phân nửa, có nghĩa là nửa đêm.
Tây Thi đang ngủ say... Từ hoàng hôn nàng đã ngủ rồi, tuy thỉnh thong có bị ác mộng, song nàng chưa một lần tỉnh hẳn. Phần các cô gái Việt trên Cô Tô đài thì tinh thần ai nấy hết sức căng thẳng trong chờ đợi. Họ đứng tựa nhau nhìn ra nguyên dã ngoài thành có đám đông người di động.
Triền Ba nói:
- Đến rồi... rốt cuộc rồi quân ta cũng đến!
Các cô cứ nhìn, cứ nhìn, không dám làm kinh động Tây Thi. Sau khi rời Cô Tô đài, Ngô vưng đã lần lượt phái đến ba nhóm trông chừng Tây Thi. Ngài cũng ra lệnh cho tất c thị nữ phi bo vệ Tây Thi.
Đúng chánh tý, Tây Thi lại thấy ác mộng, choàng dậy. Di Quang bước tới đỡ nàng, gọi:
- Tây Thi!
Tây Thi mở to mắt nhìn bốn bên, hỏi lại:
- Đại vưng đâu?
- Đại vưng ở trên thành (Di Quang không nói thật) Bên ngoài rất yên tĩnh.
- Yên tĩnh? Yên tĩnh...
Tây Thi lẩm bẩm rồi lại ngã xuống ngủ nữa. Di Quang quay nói nhỏ với Triền Ba:
- Ban chiều, mình thật sợ chị Tây Thi phát điên.
Trầm ngâm lúc lâu, Triền Ba mới đáp:
- Tây Thi hạnh phúc hn chúng ta, lại được xem quan trọng hn mọi người chúng ta.
- Mong cho quá khứ mau qua.
Di Quang đáp xong, bo hai thị nữ khác nấu cháo cho Tây Thi, riêng nàng đến bên cửa sổ nhìn ra. Triền Ba bước theo hỏi nhỏ:
- Bây giờ làm sao rồi?
- Không có một lằn chớp, trời tối quá, không nhìn thấy gì c.
Triền Ba nói giọng đầy tự tin:
- Trận chiến không thể ngưng ngang như thế được.
Qua làn chớp sáng, các cô gái Việt lại nhìn thấy phía ngoài thành, có quân sĩ kéo đi trong mưa...
Vào giờ dần, Tây Thi thức ăn cháo. Bấy giờ, Di Quang và Triền Ba đã ngủ ngồi tựa bờ tường Cô Tô đài. Tây Thi không muốn làm kinh động c hai, ăn cháo xong nàng lại lên giường dỗ giấc.
***
Trước lúc hừng sáng, sau cn mưa dứt chẳng bao lâu, một tiếng nổ long trời làm thức giấc hết mọi người trong Cô Tô thành đang say ngủ. Tiếng nổ dường như làm rung rinh c Cô Tô đài hùng vĩ khiến Tây Thi bật dậy, kinh sợ hỏi:
- Gì thế?
Không một ai có thể tr lời nàng. Các cô đều lấm lét run run. Nhưng ở mỗi cô đều tỏ vẻ “không có chuyện gì” nên Tây Thi nằm lại.
Nhưng rồi nàng nghe tiếp tiếng rầm rập huyên náo như sóng trào nước lũ, như vạn mã bôn đằng. Nàng lại bật dậy và lần này thì nàng chạy thẳng đến bên cửa sổ.
Trước lúc hừng sáng, bầu trời vẫn còn mờ mờ khiến nàng không sao trông thấy cnh tượng bên ngoài thành. Nhưng tiếng ồn ào không dứt nên Tây Thi vừa choàng áo, vừa truyền cho thị nữ đi đòi quan thị vệ lên Cô Tô đài.
Trên Cô Tô đài chưa có tin báo cáo, dưới Cô Tô đài hãy còn yên tĩnh, song bằng trực giác, Tây Thi cm thấy tiếng huyên náo kia là triệu chứng bất thường. Vì vậy, nàng bước ra bình đài. Di Quang, Triền Ba và bốn thị nữ lật đật bước theo khuyên nàng trở vào.
Nhìn thần sắc của sáu cô bấy giờ hết sức khẩn trưng, Tây Thi lấy làm lạ hỏi:
- Các người làm gì thế?
Triền Ba cố trấn tĩnh nói:
- Chị nên vào nghỉ đi!
Đúng lúc ấy lại có một tiếng nổ như sn băng vọng lại.
Tây Thi run rẩy, từ tiềm thức nàng đã có sự run sợ, nàng thất thanh kêu lên:
- Cô Tô thành sập rồi!
Đúng lúc ấy, quân thị vệ dưới Cô Tô đài rung chuông báo động. Đó là tiếng chuông báo động đầu tiên trong lịch sử Cô Tô.
Kế có tin báo quân Việt thừa lúc nước sông dâng cao, dùng bè cây phá hủy thư môn, bao nhiêu doanh trại của quân Ngô ngoài thành chìm trong nước lũ. Quân trong các dinh tự nhiên bị nước cuốn trôi.
Qua thoáng sững sờ, Tây Thi chạy xốc vào phòng, gỡ Thuộc Lâu bửu kiếm, đoạn mang hia vội vã chạy ra. Di Quang và Triền Ba lật đật chạy theo ngăn cn, song đều bị Tây Thi giận dữ xô ra, đồng thời nàng gọi quan thị vệ chuẩn bị xe.
Di Quang cố nắm áo Tây Thi kêu to:
- Tây Thi! Chị định đi đâu?
- Tôi muốn đến bên đại vưng, đừng ngăn cn.
Tây Thi dốc toàn lực vùng ra, chạy xuống. Nhưng Triền Ba nhy theo chận lại:
- Tây Thi!
- Mấy chị muốn gì? (Tây Thi nổi giận) Tôi đi... phi để cho tôi đi.
Di Quang nghiêm giọng hỏi:
- Chị đi, có thể giúp gì cho chiến trận?
Câu hỏi ấy làm cho Tây Thi dừng bước. Thành thật mà nói, nàng không biết nàng đi để làm gì. Chứ theo thói thường, nàng đi chỉ làm phiền toái thêm cho nhà vua. Nhưng cũng thành thật mà nói lúc nâng kiếm chạy ra, nàng thoáng có ý: “Cùng chết một chỗ với quân vưng!”. Song khi nghe Di Quang hỏi thì nàng thấy hoang mang. Cuộc diện chưa rõ thế nào, lẽ ra nàng không nên xúc động như vậy.
Bấy giờ, có một báo sứ từ xa chạy bay đến. Tây Thi đứng lặng trên bình đài chờ người ấy tới. Người ấy đã bị hồng thủy và bè cây phá thành đẩy giạt vào, được Ngô vưng đặc biệt phái đến bo Tây Thi cứ bình tĩnh ở trên Cô Tô đài, chờ nhà vua đích thân trở lại.
Tây Thi hỏi:
- Lúc người vào thành, người thấy gì?
- Bẩm, quân Việt dùng hn trăm bè cây lớn, mượn sức nước dâng cao, đẩy mạnh, tông sập bờ thành. Ngoài thành nước ngập lênh láng, quân ta chết rất nhiều.
- Đại vưng ra sao?
- Đại vưng và đại phu Vưng Tôn Hùng lui vào giữ phía bên trong. Tướng quân Tích Lặc đang chiến đấu với quân Việt. (Báo sứ thở hổn hển tiếp) Đại vưng nói nước sông lên nhanh sẽ thối mau, xin quân phu nhân yên tâm.
Khong một giờ sau chợt có lời đồn đại: Anh hồn của Ngũ Tử Tư chỉ huy quân Việt mượn sức nước để phá thành. Lời đồn loan nhanh khắp Cô Tô đài.
Tây Thi o não, siết chặt cán kiếm Thuộc Lâu, lo đo bước vào phòng.
Bấy giờ, vách thành bên trong cũng bị bè cây phá vỡ. Tướng quân Tích Lặc của nhà Ngô đã chết ngoài thành. Ngô vưng và Vưng Tôn Hùng gom quân lại một chỗ, bị nước trào và quân Việt bủa vây nên phi vừa đánh vừa rút lui sang hướng Tây Bắc. Địa thế bên ấy hi cao, đỡ bị nạn hồng thủy uy hiếp.
Vưng Tôn Hùng đề nghị đột xuất phía Tây để rút về hướng Bắc, bỏ Cô Tô thành mà về giữ Tích Sn rồi sẽ tính chuyện phn công.
Nhưng Ngô vưng bỗng thét to:
- Trẫm không thể bỏ Cô Tô thành. Không! Trẫm phi chiến đấu tại đây chứ không thể giao kinh thành nhà Ngô cho Câu Tiễn. Nó... nó vốn là thần nô của trẫm!
- Đại vưng! Thành Cô Tô đã bị phá vỡ, quân ta chết chìm trong nước bốn năm phần, Đánh bây giờ thì chúng ta không có một c hội chắc chắn nào. Song sau khi về Tích Sn chúng ta gom quân phía Bắc thì có thể phn công lấy thành chiếm đất lại.
Ngô vưng trợn mắt, nghiến răng, trông phát sợ. Nhưng nhà vua không nói ra một tiếng nào mà chỉ có đôi môi nhấp nháy, mũi phùng ra.
Vưng Tôn Hùng trầm giọng nói thêm:
- Đại vưng! Vì tưng lai, bây giờ chúng ta phi nhẫn nhịn. Gom quân phía Bắc của chúng ta thì cũng gần ba ngàn, sau khi nghỉ ngi, chúng ta có đủ lực lượng phn công.
Ngô vưng hoang mang nhìn khắp bốn bên, đoạn đau khổ gật đầu. Vưng Tôn Hùng liền vẫy đại kỳ, truyền lệnh cho tàn quân kéo về hướng Tây Bắc.
Sau khi phá vỡ tường thành Cô Tô, quân Việt như nước vỡ bờ, mặc sức tung hoành. Bè cây của Phạm Lãi hủy diệt khá nhiều nhà dân. Số quân Việt trên bè cứ gặp chỗ nước cạn thì nhy xuống, chạy ào tới với ý định chận đường rút lui của Ngô vưng.
Quân Ngô giữ thành đã bị đánh tách thành by tám nhóm. Sau cái chết của Tích Lặc, tàn quân do Ngu Cân thống lĩnh, rút vào giữ khu trung tâm. Nhưng số quân dưới quyền Ngu Cân không còn tới ba ngàn, cộng với số quân của Ngô vưng và Vưng Tôn Hùng vẫn không đến năm ngàn. Tất c cùng rút về hướng Tây Bắc, vừa chạy vừa khổ chiến, số tổn thất hàng giờ lên đáng sợ.
Tướng quân Thổ Tang cố tìm cách gom quân tn lạc để bổ sung, nhưng quân Việt kéo tới tấn công càng lúc càng đông.
Lúc chúa tôi nhà Ngô xông phá trùng vây phía Tây thì trời gần trưa. Cuộc đột phá ấy làm lớp chết lớp bị thưng thêm c ngàn quân nữa.
Vưng Tôn Hùng giục ngựa chạy đến bên Ngô vưng nói:
- Đại vưng! Chúng ta mau nhắm thẳng hướng Tích Sn thối gấp! Đến Tây thự thì có thể gom góp quân sĩ tn lạc độ khong ba bốn ngàn.
- ờ!...
Ngô vưng quay nhìn Cô Tô thành, đó đây lửa khói xông lên. Nhà vua bỗng quay nhìn về Cô Tô đài hùng vĩ, nguy nga... Bóng hình Tây Thi chợt hiện lên trong đầu óc Ngài.
Thời gian kịch chiến c hồ làm cho nhà vua quên mất Tây Thi trên Cô Tô đài. Cô Tô đài bị hủy diệt có thể kiến tạo lại. Nhưng Tây Thi lại là một phần của cuộc đời nhà vua! Mất nàng, cuộc sống nhà vua không còn ý nghĩa gì. Một thoáng nhớ ra cũng là một thoáng quyết định, Ngô vưng nghiêm trang, c quyết phát lệnh:
- Tấn công, tiến về Cô Tô đài!
- Đại vưng!
Vưng Tôn Hùng c kinh kêu lên. Phi tri bao gian nan mới phá được trùng vây, bây giờ lính ít quan thưa, người ngựa mệt nhoài mà phi tấn công để tiến về Cô Tô đài thì đâu là chuyện dễ!
Ngô vưng không để cho Vưng Tôn Hùng kịp nói:
- Tấn công ngay, tiến về Cô Tô đài!
Trong cn nguy hiểm như ngàn cân treo sợi tóc, Vưng Tôn Hùng không tuân lệnh được, cất cao giọng nói:
- Đại vưng! Chúng ta chỉ còn mấy ngàn, không thể mở cuộc tấn công.
- Phi tấn công với bất cứ giá nào, trẫm cũng phi lên Cô Tô đài. Nếu có phi kết thúc đời mình như vua Trụ trên Lộc Đài, trẫm cũng chịu! (Ngô vưng không một chút nghĩ ngợi nói tiếp) Bây giờ chúng ta tấn công!
Lời phn đối của Vưng Tôn Hùng hoàn toàn không được nhà vua xem vào đâu. Vì Tây Thi, bất cứ gian nan nguy hiểm nào, nhà vua vẫn sẵn sàng hứng chịu.
Ngô vưng hướng dẫn quân của Thổ Tang xoay làm tiền đội trước để Vưng Tôn Hùng đoạn hậu, từ góc Tây Bắc kéo thẳng vào. Hành động ấy hoàn toàn ngoài ý quân Việt. Sau c giờ tấn công, Ngô vưng đã đánh tan hn ngàn quân Việt, lọt vào thành trở lại. Nhưng khi quân Việt phát giác Ngô vưng còn ở đó thì kéo rốc đến bao vây.
Tiết Dung đến trước nhất, truyền lệnh cho ba quân ngăn đường tiến của Ngô vưng. Không ngờ Ngô vưng trên đường đánh chẻ thẳng vào lại cứu được một cánh quân Ngô bị vây. Hợp hai cánh quân chiến đấu hn nửa giờ, Ngô vưng tiến bước được, còn cách Cô Tô mỗi lúc một gần. Có thể nhìn thấy người trên Cô Tô đài rồi, Ngô vưng nhìn thấy trên bình đài có khong mười mấy người.
Ngô vưng mừng rỡ kêu lên:
- Cô Tô đài ở trong tầm tay chúng ta! Chắc chắn rồi, chúng ta xung phong!
Lộc Xuất huy động trường mâu, hai mưi chiến xa vọt tới.
Tiết Dung xuất hiện, kêu đích danh Ngô vưng khiêu chiến, Ngô vưng huy động trường mâu xốc ra thét lên một tiếng vang trời, đâm ngã danh tướng nước Việt rớt từ trên xe xuống.
Mắt thấy cánh quân ấy vừa tan rã, Ngô vưng chưa kịp mừng thì một cánh quân khác lại kéo tới. Cánh này do Phạm Lãi thống lĩnh, không trực tiếp giao chiến mà chuyện đầu tiên là lăn cây to đến chận đường. Đoạn dùng tên bắn vào quân Ngô khiến Ngô vưng đã đến gần đài Cô Tô rồi vẫn phi trở lui.
Tiến tới khó khăn biết bao nhiêu, song khi rút ra thì nhanh như chớp!
Ngô vưng quá giận, hối hận năm xưa đã không giết Phạm Lãi. Năm xưa, Ngũ Tử Tư đã khuyên nhà vua, hoặc phi giết Phạm Lãi, hoặc giữ mà dùng. Năm xưa, Ngô vưng chẳng nghe lời khuyên đó để bây giờ bị chính Phạm Lãi đánh lui.
Nỗi bất hạnh của Ngô vưng nào phi chỉ bấy nhiêu. Quân đoạn hậu của Vưng Tôn Hùng đã bị quân Việt tập kích. Vưng Tôn Hùng phi khổ chiến trong góc chật hẹp, c giờ sau mới hợp được với đoàn quân của Ngô vưng.
Bấy giờ, chúa tôi nhà Ngô lại bị đẩy bật ra ngoài thành về phía Bắc! Mình đẫm mồ hôi nhưng Ngô vưng vẫn gào thét:
- Đánh về hướng Cô Tô đài! Đánh về hướng Cô Tô đài!
Bây giờ, Vưng Tôn Hùng không dám có lời đề nghị nào. Bởi vì con đường rút lui về Tích Sn đã bị chận nghẹt, muôn ngàn lần không thể rút lui được. Hn nữa, buổi chiều mùa xuân sắp đến rồi.
Tiểu thần Lộc Xuất đánh xe cho Ngô vưng lên tiếng:
- Tâu đại vưng, chúng ta nên đến bên núi nhỏ tạm nghỉ, chờ đêm sẽ tấn công vào thành.
Ni Lộc Xuất đề nghị là một gò đất cao, núi đất, Ngô vưng đã chiến đấu từ tờ mờ sáng đến chiều kiệt lực rồi. Huống chi quân đội của Phạm Lãi không ngừng tiến tới, ngoài việc rút sang tòa núi ấy thật không còn đường thứ hai.
Chinh chiến lâu năm, Vưng Tôn Hùng bỗng sinh nghi... Lẽ nào quân Việt không chiếm vùng cao ráo ấy mà lại để cho mình? Chuyện ấy không hợp lý chút nào. Song đã hết đường rút lui, Vưng Tôn Hùng bất dĩ phi đồng ý rút về núi nhỏ ấy là vùng cao ráo nhất.
Bại binh Ngô lo đo đến ni, kiểm điểm lại thì còn hn hai ngàn. Ngô vưng nhìn về Cô Tô đài nguy nga, có thể thấy nhưng không sao đến được.
Mặt trời lặn khuất về Tây, Cô Tô đài nhạt nhòa trong ánh nắng rớt. Thời tiết dường đùa cợt Ngô vưng, một đêm mưa to, một buổi sáng u ám để từ
quá trưa trở đi thì trời lại trong lành. Mặt trời như được lau rửa để bây giờ huy hoàng lạ!
Mặt trời trầm khuất, ánh nắng chiều tàn in bóng
Ngô vưng ng dài trên đất ốm như thân trúc. Cô Tô đài có thể nhìn thấy nhưng nhà vua tiến đánh không đến được Cô Tô!
Bấy giờ, bỗng có hn trăm bại binh Ngô chạy đến núi đất tạm đóng quân. Trưởng cánh quân ấy bị trúng tên ở tay trái, sấn đến trước Vưng Tôn Hùng bẩm:
- Đại phu! Bốn bên đây đều có quân Việt!
Ngô vưng đứng cách Vưng Tôn Hùng hn trượng, nghe được câu nói ấy. Song nhà vua không biểu lộ gì, đôi mắt cứ dõi nhìn về ánh chiều tàn ri rớt trên mái ngói Cô Tô đài.
Vưng Tôn Hùng trịnh trọng tâu:
- Đại vưng! Chúng ta phi lập tức công phá trùng vây!
Ngô vưng vẫn không nói gì.
Lâu lắm, lâu lắm... ánh nắng rớt đã rút về tận phưng trời nào, Ngô vưng mới như từ mộng choàng tỉnh, lẩm bẩm:
- Tây Thi còn ở trên Cô Tô đài đấy!
Câu nói rất nhỏ song Vưng Tôn Hùng nghe được và hiểu ra. Nhà vua nhìn Cô Tô đài không phi vì luyến tiếc đài Cô Tô, mà vì một người khiến Vưng Tôn Hùng thưng cm. Nếu không vì Tây Thì thì giờ này chúa tôi nhà Ngô đã ra khỏi trùng vây, rời bỏ Cô Tô thành song với mnh dư đồ vẫn còn có thể dựng lại sự nghiệp. Nhưng, ngày tàn rồi, c hội qua rồi, mãi đến giờ này Ngô vưng vẫn lưu luyến ni đây! Ngày tàn rồi, đường cùng rồi, nếu còn ở thêm một phút giây nào tất nhiên sẽ lãnh kết cuộc bi thm.
Bỗng nhiên, Vưng Tôn Hùng nhớ đến lời trăn trối của Ngũ Tử Tư. Vị lão thành ấy từng chỉ trích việc thâu nhận gái Việt, cho gái Việt sẽ là cái họa làm cho mất nước. Chưa bao giờ Vưng Tôn Hùng nghĩ thế, song giờ này lão hiểu ra nguyên do hai tiếng “họa thủy”. Không phi ở tự Tây Thi có sự xúi giục nào, mà do ở chính Ngô vưng vì Tây Thi đến mất sáng suốt.
Sắc đêm dần xuống. Sắc đêm trùm phủ Cô Tô đài.
Ngô vưng bỗng quay lại hỏi Lộc Xuất:
- Từ đây còn cách Cô Tô đài bao xa?
- Muôn tâu, khong by... hay tám dặm!
Trong sắc hoàng hôn buồn, Ngô vưng phát tiếng thở dài. Nhà vua đã từng đi mấy ngàn dặm để đến Trung Nguyên xưng bá mà bây giờ không sao đi nổi by tám dặm đường!
Gió đêm vi vu, vi vu...
Bỗng nhiên có tiếng còi sừng vang lên như bốc tận mây. Tiếng còi chưa dứt, một cánh quân Việt xông đến tấn công vùng núi đất.
Vưng Tôn Hùng vung mâu, hú một tiếng dài quát:
- Ta đi!
Cùng lúc ấy, tám chín dũng sĩ đội Hiền Lưng và Lộc Xuất cũng tỏ ra sẵn sàng. Lộc Xuất quỳ trước Vưng Tôn Hùng, trịnh trọng xin ra nghinh địch.
Liếc qua Lộc Xuất và toán dũng sĩ muốn theo, Vưng Tôn Hùng rốt cuộc phi gật đầu. Do đó, có hn trăm dũng sĩ đội Hiền Lưng hướng dẫn hai trăm quân xông vào quân Việt.
Vưng Tôn Hùng biết rõ đây là trận đánh liều mạng. Lão hoành mâu đứng lặng, chờ đợi kết qu cuộc chiến tàn khốc này.
Liền đó, hai bên t hữu lại có quân Việt xuất hiện. Họ dùng tên bắn vào quân Ngô. Kế đến, phía sau cũng có tiếng còi sừng. Câu Tiễn cùng Phạm Lãi, Văn Chủng xuất hiện với vô số ánh đuốc.
Vưng Tôn Hùng liếc qua nhà vua. Tay Ngô vưng run run đè lên đốc kiếm, không phi sợ mà là giận. Cùng lúc ấy, cánh quân của Lộc Xuất đã bị tiêu diệt như cá lớn nuốt cá bé, như đá chìm đại dưng.
Về phía Cô Tô đài, từ sau giờ ngọ, cuộc chiến thật ác liệt. Quân hai bên tử thưng có trên ngàn nhưng quân Việt cứ đạp nhầu trên máu không ngừng tiến lên. Quân Ngô giữ thành cũng quyết liệt chẳng kém, còn tấc đất nào giữ tấc đất ấy, năm trăm chiến sĩ thuộc đội Hiền Lưng trấn giữ bên ngoài Cô Tô đài đều chiến đấu đến chết c. Toán quân trung ưng lui vào giáo trường và miếu mạo, đại diện dưới Cô Tô đài dùng tên bắn ngăn đà tiến của đối phưng. Quân Việt liên tiếp xung phong song không có cách nào đến gần Cô Tô đài được.
Lúc mặt trời sắp lặn, Bá Hi xuất hiện với tám mưi xe đi an nhiên qua hàng rào quân Việt đến dưới Cô Tô đài.
Gia thần của Bá Hi là Phùng Đồng ngang nhiên nhy từ trên xe xuống ra lệnh cho quân phòng vệ ngưng chiến. Cháu của Ngô vưng là tướng quân Tín có nhiệm vụ trấn giữ Cô Tô đài bước tới hỏi nguyên do. Phùng Đồng hất mặt đáp:
- Đại vưng bị vây, ra lệnh cho Thái tể cầu hòa với Việt. Ngu Cân đã chết trong trận địa rồi.
Tín tướng quân hoài nghi, nhìn vào xe Bá Hi, đáp:
- Nhưng ta có nhiệm vụ phòng vệ ở đây!
Tên đánh xe của Bá Hi từ bên phi nhy xuống, bất ngờ dùng trường mâu đâm chết Tín; đoạn vẫy tay cho hai ngàn tráng sĩ giám thị chặt chẽ bốn vị quan giữ đài. Bá Hi đứng trên xe tuyên bố:
- Vưng lệnh là Ngô - Việt ging hòa, ba quân tướng sĩ phi tập trung vào giáo trường chờ đại vưng.
Quân Ngô tuy có nghi ngờ và bất an, song sau một lúc do dự rồi cũng nghe lời Bá Hi. Tên đánh xe đâm chết tướng quân Tín vứt trường mâu, rút kiếm đeo lưng ra vẫy lên cho khong hai trăm binh sĩ từ phía sau đoàn xe của Bá Hi chạy tới. Tuy họ mặc đồ quân Ngô đó, song rõ ràng họ không phi là người Ngô.
Phùng Đồng quay nói với Bá Hi:
- Thái tể thu dọn bên dưới, để tôi lên đài gii quyết.
Phùng Đồng áp gii hai tên võ sĩ lên đài sau khi số quân vừa mới tước khí giới và trói xong họ.
Bấy giờ, Tây Thi được các cô gái Việt bo vệ kiểm soát rất chặt chẽ. Từ sáng đến tối, nàng không có một giây phút nào được ở riêng một mình. Bởi các cô gái Việt đã được lệnh đặc biệt phi trông chừng nàng.
Lúc Phùng Đồng xuất hiện, Tây Thi vụt nhy nhổm. Cùng lúc ấy, một võ sĩ sấn tới trước hành lễ với nàng. Võ sĩ ấy là người vừa giết Tín, là Tử Thường, gia thần của Phạm Lãi. Lúc Tây Thi ở Hội Kê, c hai có gặp nhau song mười by năm phân ly làm cho nàng không sao nhận ra.
Hành lễ xong, Tử Thường cao giọng nói:
- Tây Thi đại cô! Gia thần là Tử Thường, phụng mạng Phạm đại phu đến bo vệ đại cô!
Phạm Lãi đến Cô Tô đài thì tự nhiên là Cô Tô đài đã mất! Ngô vưng cũng bị hủy diệt rồi! Trong giây phút ấy, Tây Thi chợt cm thấy trống hoang, mất hút, tự đáy lòng nàng có một luồng ớn lạnh chạy rần toàn c thể.
Di Quang ra hiệu, có hai thị nữ sấn đến đỡ kịp Tây Thi. Phùng Đồng nói thêm:
- Tây Thi! Thiên đạo tuần hoàn, rốt cuộc rồi chúng ta cũng đến được Cô Tô. Tây Thi cô nưng đã vì nước lập được công...
Tây Thi run rẩy hỏi:
- Ngô vưng đâu?
- Ngô vưng... (Phùng Đồng nhếch cười). Phù Sai bị vây, chẳng bao lâu nữa ắt cũng xong!
Gần như bao nhiêu máu huyết chạy dồn lên đầu óc, Tây Thi hổn hển, song nàng cố gắng giữ bình tĩnh. Bây giờ, tuy là gái Việt, nàng không có niềm hãnh diện của kẻ chiến thắng. Trái lại, nàng còn thầm nghĩ: “Một thắng lợi đáng nhục!”... “Ta muốn được chết chung với Ngô vưng. Ngô vưng thất bại, cũng có nghĩa là ta thất bại!”.
Tây Thi không nói lộ cho ai biết ý nghĩ của mình, cũng không muốn để ai thấy sự yếu mềm của nàng, sự yếu mềm của kẻ thất bại.
Phùng Đồng nhìn quanh cách trần thiết trong phòng, vui vẻ nói:
- Tây Thi! Tôi còn cần đi quan sát các ni. Hì hì... bây giờ tôi không cần phi che giấu thân phận nữa. Ơ, thái tể Bá Hi của Ngô quốc đã đầu hàng rồi.
- Tôi biết trước người ấy sẽ đầu hàng. Năm xưa Ngũ Tử Tư từng chỉ trích Bá Hi tư thông với ngoại quốc.
- Ha ha... Ngũ Tử Tư... (Phùng Đồng ngửa mặt cười dài). Chúng ta đánh bại quân Ngô cũng là nhờ Ngũ Tử Tư đó! Tôi làm ra tiếng quỷ khóc, rồi bè cây mượn sức nước phá vỡ tường thành Cô Tô cũng do tôi bo: “Ngũ Tử Tư dâng nước, trợ giúp quân Việt công thành”. Ha ha...
Tây Thi nghiến răng, liếc xéo Phùng Đồng. Thắng lợi bằng phưng cách không quang minh chính đại là một thắng lợi nhục nhã!
Phùng Đồng ngang nhiên bước xuống Cô Tô đài, Tử Thường vội nói với Tây Thi:
- Đại cô! Phạm đại phu sẽ đến đây. Quanh Cô Tô đài hiện giờ toàn do quân trực thuộc của Phạm đại phu trấn giữ.
Nghĩ đến Phạm Lãi, Tây Thi lại thấy ớn lạnh.
- Phạm đại phu mong đại cô yên tâm, mọi việc đều rất mỹ mãn.
Tây Thi không chịu đựng được nữa, run run nói:
- Ta cần phi nghỉ một chút... Cứ có tin gì về Ngô vưng thì báo cho ta biết.
- Dạ vâng, gia thần sẽ cho người đi thám thính. Hiện giờ, đại vưng chúng ta, Phạm đại phu và Văn đại phu đều có mặt bao vây Ngô vưng ở gò đất cao.
Tây Thi không dám nhìn theo tay chỉ của Tử Thường, nhưng từ tuyệt vọng nàng lóe thấy có tia hi vọng. Bởi Ngô vưng có nói với nàng, một mai Cô Tô không giữ được thì nhà vua sẽ lui về Tích Sn, tạm dùng Cú Khúc làm kinh đô để chờ dịp phn công. Nàng biết cánh quân Ngô giữ ở mặt Bắc đã từng theo Ngô vưng đi Trung Nguyên thì ắt khá tinh nhuệ. Nàng không hiểu rõ tình hình bên ngoài nên nghĩ rằng Ngô vưng có đủ kh năng đột phá trùng vây.
- Ta nghỉ một lúc.
Gượng nói được bấy nhiêu với Tử Thường, Tây Thi đi liền vào phòng. Bấy giờ, nàng chợt nghe tim nhói đau. Đó là bệnh cũ song lâu rồi không tái phát, đợi đến lúc này mới tái phát khiến nàng đưa hai tay ôm ngực.
Di Quang bước theo Tây Thi, nói giọng vừa phấn khởi pha lẫn thưng cm thê lưng:
- Tây Thi, rốt cuộc rồi chúng ta cũng có một ngày quang đãng.
Tây Thi từ từ ngồi xuống, tựa lưng vào gối với hàng trăm ý nghĩ đổ xô vào. Ví bằng Ngô vưng có thoát được vòng vây thì chính nàng cũng lọt vào tay quân Việt rồi. Quân Việt thắng lợi, quyết không để cho nàng đến với Ngô vưng nữa. Thế thì cuộc đời nàng còn ý nghĩa gì để sống?
Tây Thi nhắm mắt, âm thầm khấn với trời cao:
- Lạy trời phù hộ cho Ngô vưng thoát hiểm!
Chợt có hai cô gái Việt chạy vào báo:
- Lửa nổi lên rồi, Quán Oa cung bị hỏa thiêu!
Bên mình Tây Thi có Di Quang và ba cô gái Việt khác đồng quay mình chạy đến bên cửa sổ nhìn ra. Riêng Tây Thi ngồi lại, chụp Thuộc Lâu bửu kiếm, tay sờ vào đốc kiếm. Nàng muốn lợi dụng kẽ hở thời gian ấy để kết thúc đời mình chứ từ sáng đến giờ nàng bị kiểm soát chặt quá!
Nhưng kẽ hở thời gian ấy Tây Thi cũng không lợi dụng được. Kiếm vừa ra khỏi vỏ thì Di Quang đã chận vai Tây Thi. Triền Ba cũng đồng thời từ bên ngoài sấn vào.
Không muốn vạch trần ý định của Tây Thi, Di Quang nói giọng thn nhiên như không:
- Tây Thi, chị ra xem lửa bên ngoài kìa...
- ờ! - Tây Thi nhìn ánh kiếm, cm thấy lạnh xưng sống.
Triền Ba hiểu ý Di Quang nên nói thêm:
- Quân ta đốt Quán Oa cung!
Thật ra trong ngày nay lửa đã cháy nhiều ni. Chiến tranh và lửa vốn là hai vật đi đôi, không sao tách rời được.
Tây Thi bỗng ôm kiếm ngã ra giường, bật khóc. Đó là bi ai, đó là tuyệt vọng và cũng là trống không!
Mười by năm thù hận và ái tình đã mọc rễ chằng chịt phức tạp. Vào giờ này, ở tại ni này, tất c lại trở thành như mộng như sưng, như trống như không, như o tưởng. Với Tây Thi bây giờ, tất c hình như không thật, kể c đời nàng nữa. Trong nức nở và nghĩ ngợi, nàng cm thấy khung trời của nàng đã chết.
Nàng không nghĩ đến Phạm Lãi, tuy nàng từng yêu chàng sâu xa, tuy chàng là người yêu đầu tiên. Bây giờ, nàng chỉ nghĩ đến những gì nàng có đang bị tiêu diệt một cách đau thưng. Bây giờ, nàng chy nước mắt, khóc cho tình yêu nàng đã thụ hưởng và không mong đền tr.
Tử Thường bỗng vào báo:
- Ngô vưng xin đại vưng ta cho cầu hòa nhưng đại vưng ta cự tuyệt! Bây giờ, thủ hạ của Ngô vưng không còn đến năm trăm và trong thành Cô Tô còn đôi ba nhóm nhỏ ngoan cố chống cự. Nhiều nhất là khong hn giờ nữa, tất c sẽ hoàn toàn bị tiêu diệt.
Hoàn toàn tiêu diệt... không cho cầu hòa... mấy tiếng ấy như dao đâm lút cán vào ngực Tây Thi. Nghe Tử Thường hí hửng nói thế, Tây Thi thấy đầu nhức quá, hai tay nắm lại càng lúc càng chặt. Cuối cùng nàng không sao ngăn được bật kêu: “Phù Sai!”. Tiếng gọi tuyệt vọng sau cùng!
Hn ngàn ngọn đuốc chận đứng một vùng u ám.
Sau năm lần xông phá trùng vây thất bại, thủ hạ dưới tay Ngô vưng còn không đến hai trăm. Hết phân nửa lại bị thưng đủ cách trong khi số quân Việt bao vây gò này có đến c vạn.
Ngô vưng hoàn toàn mất hẳn kh năng đột phá trùng vây, tuyệt đối không sao đến được Cô Tô đài. Hn nữa, vai trái Ngô vưng cũng bị sây sát chút ít.
Đại phu Vưng Tôn Hùng mất c mũ mão, th tóc bạc xòa đứng bên cạnh Ngô vưng.
- Vưng Tôn Hùng, bọn họ không có lý do không cho ta đầu hàng! (Ngô vưng chống trường mâu khổ sở nói thêm). Năm xưa, ta từng cho họ hàng...
Vưng Tôn Hùng không nói gì. Lão biết rõ Câu Tiễn đến đây với hai mưi năm chất chồng thù hận thì chỉ có cái chết của mình hay đối phưng, chiến tranh mới chấm dứt.
Ngô vưng hổn hển:
- Vưng Tôn Hùng! Khanh đi nói lại lần nữa xem. Trẫm hàng, trẫm vứt bỏ tất c... Nếu Câu Tiễn không cho trẫm ở trên lục địa thì trẫm sẽ vĩnh viễn sống dưới thuyền. Khanh đi đi, nói đi! Trẫm chỉ cần được sống với Tây Thi, không màng gì tất c!
Như người máy, Vưng Tôn Hùng cầm đuốc bước tới từng bước. Cách đó khong năm mưi bước có tám tên quân Việt cưỡi ngựa chạy đến đón Vưng Tôn Hùng. Ngựa rẽ làm đôi, Vưng Tôn Hùng đi bộ giữa mỗi bên bốn ngựa. Bước thêm năm mưi bước nữa, Vưng Tôn Hùng được Phạm Lãi sấn ra nghênh đón, vòng tay cung kính nói:
- Vưng Tôn đại phu lại đến!
- Tôi phụng vưng mạng đến xin với Việt vưng cho hàng... Ngô quốc chúng tôi đầu hàng! Mong Việt vưng nghĩ tình ngày xưa, bo toàn cho đại vưng chúng tôi và vợ con ngài.
Câu Tiễn bỗng xuất hiện bên cạnh Phạm Lãi cưng quyết tr lời:
- Trẫm đã nói rồi, không nhận cho hàng!
Vưng Tôn Hùng quắc mắt nhìn thẳng Câu Tiễn:
- Đại vưng!
Câu Tiễn chận lời:
- Cần phi Phù Sai đích thân đến nói.
- Đại vưng, Phạm đại phu!... Thế có nghĩa là cho phép vua tôi hàng?
- Cho phép à? Ha ha... (Câu Tiễn bật cười khanh khách một cách tàn nhẫn). Vưng Tôn đại phu, chúng ta đối địch, trẫm hoan nghênh đại phu.
- Cm tạ ho ý của đại vưng. (Vưng Tôn Hùng ngang nhiên sờ đốc kiếm). Xin đại vưng khoan dung đối với vua nước tôi. Phần tôi là tướng giặc, tôi chỉ có chết theo vua tôi. (Vưng Tôn Hùng lùi lại một bước). Tôi về mời đại vưng tôi đến yết kiến đại vưng!
Câu Tiễn khoát tay ngăn:
- Khoan đã! Trẫm không cho phép Phù Sai đầu hàng. Nhưng đại phu hãy về nói với Phù Sai, trẫm muốn gặp người.
Vưng Tôn Hùng nặng nề bỏ đi. Việt vưng ra lệnh tập trung mấy mưi ngọn đuốc đến chỗ nhà vua, có Văn Chủng và Phạm Lãi chia đứng hai bên.
Tuy đứng yên đó, song Phạm Lãi nghĩ đến chuyện khác... Nghĩ đến người yêu đã mười by năm rồi không gặp.
Câu Tiễn nói:
- Thiếu Bá! Trẫm muốn biến nước Ngô thành huyện của nước Việt, trẫm muốn chiếm nước Ngô thay Ngô vưng. Ơ mà này, Thiếu Bá phi làm vua nước Ngô.
- Đại vưng! Thần muốn khi xong trận rồi sẽ lui về nghỉ.
- Không. Chúng ta đã từng chung chia hoạn nạn, bây giờ phi cộng hưởng vinh hoa phú quý. Tại sao Thiếu Bá muốn quy ẩn? Trẫm không đồng ý cho Thiếu Bá rút lui.
- Đại vưng! Thù hận chúng ta đã tr, mong đại vưng cho phép thần tự do.
Lúc chúa tôi Việt nói chuyện, Ngô vưng chỉ đi một xe đến. Thấy người, Câu Tiễn c cười:
- Ha ha ha... Phù Sai, lâu rồi không gặp, ngài rồi cũng có ngày này chứ!
Ngô vưng rất giận nhưng cố gắng đè nén, giữ bình tĩnh đáp:
- Nghe nói ngài nghĩ đến tình xưa cho phép tôi đầu hàng... Từ rày về sau, tôi sẽ là một thường dân dưới mái nhà của ngài.
- Ha ha... Ngài là bá chủ của Trung Nguyên chứ! Ha ha... Năm xưa, ngài bắt ta làm nô lệ giữ ngựa cho ngài, lại còn sai quan binh sang nước Việt bắt c toàn dân Việt làm thân trâu ngựa. Phù Sai, ngài có nghĩ đến ngày này chăng?
- Không ngờ.
Ngô vưng thn nhiên tiếp:
- Giá biết thì năm xưa ta đã giết ngài! (Ngừng một lúc, Ngô vưng mới nói). Năm xưa, tuy ta bắt ngài giữ ngựa, song rồi cũng tha cho về và còn giúp cho phục quốc.
- Hay! Ngài còn nhớ rõ, đó là sai lầm của ngài!
- Nhưng ta không hối hận.
Trầm ngâm một lúc, Câu Tiễn lại nói:
- Ngài không muốn đánh nữa thì được, ta tha thứ cho một mình. Ngài sống, sống một mình bên bờ Đông Hi của ta. (Câu Tiễn bật cười ngạo mạn). Bên bờ Đông Hi của ta, ha ha ha... ở đó không phi là vùng đất xấu, ta sẽ tuyển cho ngài năm trăm nô lệ... Để ngài làm vua năm trăm người ấy. Ha ha ha... Phù Sai, (Câu Tiễn trở giọng thật cay độc) việc đến nước này, ngài còn muốn sống sao?
Ngô vưng nghĩ ngợi về điều kiện đầu hàng, muôn vạn lần không thể không nghĩ ngợi.
- Phù Sai! Ngài về suy nghĩ đi! Ngài cần bao nhiêu quân? Ha ha... Nếu muốn đánh thì không việc gì ngài phi sợ. Bởi dầu sao thì ta cũng tha mạng cho mỗi mình ngài!
Câu Tiễn cợt đùa tàn ác với vua Ngô đang không lối thoát. Ngô vưng không tr lời, dùng trường mâu gõ vào thành xe. Dũng sĩ đội Hiền Lưng nặng nề dắt ngựa tới, bo vệ nhà vua quay về. Họ gồm bốn mưi người, trợn mày nhăn mặt, thỉnh thong tỏ ý muốn liều mạng với đối phưng.
Khi hai nhà vua cách nhau khong bốn mưi bước, Ngô vưng vừa lên xe, Phạm Lãi liền nói nhỏ với Câu Tiễn:
- Quân vưng, Bắn!...
- Không. (Câu Tiễn nghiến răng). Ta căm hận Phù Sai, phi làm cho hắn bị chết trong ê chề nhục nhã, chết một mũi tên thì dễ dàng cho hắn quá!
Phạm Lãi ngạc nhiên:
- Vậy là Đại vưng nhận cho Phù Sai đầu hàng?
- Đó là một cách làm cho hắn chết tốt nhất... - Câu Tiễn nhe răng, cười hiểm độc như lang sói.
Bây giờ Phạm Lãi mới biết Câu Tiễn thù Ngô sâu xa hn mình tưởng tượng. Thù đủ hận thù, thù vô tiền khoáng hậu trong lịch sử.
Chiến xa của Ngô vưng mất hút trong vùng u ám, Câu Tiễn chỉ về một địa khu, cuồng ngạo nói:
- Thiếu Bá! Chỉ cần trẫm phát một lệnh, quân trẫm sẽ đạp bằng vùng ấy.
- Vâng, chúng ta có thể nghiền nát Phù Sai như bột bánh.
- Thiếu Bá đoán xem Ngô vưng còn được bao nhiêu quân?
Phạm Lãi thận trọng đáp:
- Có lẽ không hn một ngàn.
- Trẫm thấy ắt không tới năm trăm! (Câu Tiễn cười gằn). Nếu còn một ngàn, Phù Sai không chịu đầu hàng đâu. Hắn mang xác đến chịu nhục thì chắc chắn hoàn toàn không còn kh năng giao chiến.
Ngừng lại một chập, Câu Tiễn bỗng ra lệnh tàn nhẫn:
- Thiếu Bá! Tử Hội! Trẫm muốn làm nhục Phù Sai thêm nữa. Chúng ta chia làm ba mặt, mỗi người kêu nói chuyện với hắn. Hai khanh cố nghĩ câu nào cay cú nhất!
Câu Tiễn giục xe đi về hướng Nam, không muốn cho kẻ thù chết một cách dễ dàng, Phạm Lãi nghĩ ngợi một lúc, cười khổ nói với Văn Chủng:
- Quân vưng quá ác độc, chúng ta biết nói gì với Phù Sai?
Phần Ngô vưng, sau khi bị Câu Tiễn làm nhục đã trở về vùng đất cao với hai mắt rỉ máu. Nhà vua bực tức nói với Vưng Tôn Hùng:
- Câu Tiễn là người lòng lang dạ sói!
- Đại vưng! (Một dũng sĩ trong đội Hiền Lưng bỗng sấn lên tâu) Chúng ta hãy thử xông phá trùng vây lần nữa. Chịu nhục cầu sống sao bằng được đánh đến chết.
Tinh lực của nhà vua đã hết rồi. Tuy biết không còn có ng đầu hàng, Ngô vưng càng biết rõ hn địch tình, muốn xông phá trùng vây phi có ý chí và lực lượng. Song tất c đã hết khiến nhà vua lắc đầu.
Vưng Tôn Hùng bỗng lên tiếng:
- Đại vưng! Để thần đi gặp Phạm Lãi. Lúc ở Cô Tô, Phạm Lãi đã nhận sự tiếp đãi của chúng ta. Đại vưng viết cho Phạm Lãi một phong thư, mong người th lỏng cho chúng ta một đường để xông ra... chỉ cần Phạm Lãi nới tay một chút thì chúng ta có thể ra được tuy chúng ta người ít.
Ngô vưng đứng lặng một lúc rồi rút dao nhỏ khắc trên thanh trúc mấy câu:
“Ta nghe: Săn được thỏ thì chó bị giết, phá xong nước địch thì mưu thần chết, đại phu sao không chừa cho Ngô ta một đường làm đất dung thân...”.
Vua Ngô viết chưa xong, chợt nghe có tiếng hú dài từ phưng Nam vọng tới. Ngô vưng định thần, lắng tai nghe Câu Tiễn kêu nói:
- Phù Sai! Ngài còn nhớ chuyện hai mưi năm trước ta quỳ dưới chân ngài không? Nhớ không? Ha ha... Nhớ không?
Ngô vưng nghiến răng, thê thm cúi gầm nói nhỏ:
- Vưng Tôn Hùng! Không cần đưa thư nữa. Hận đã thâm... Ôi, tất c chỉ vì sai lầm của ta mà thành c. Năm xưa, ta đã chẳng giết chết Câu Tiễn.
Vưng Tôn Hùng còn muốn chụp lấy c hội sau cùng, đưa tay cầm thanh trúc xông thẳng ra. Ngô vưng biết là vô ích song cũng không còn hi sức đâu ngăn cn Vưng Tôn Hùng.
- Phù Sai! (Việt vưng lại kêu nói) Tổ phụ ngài đã chết trong tay người Việt! Bây giờ ngài, ha ha... Bửu kiếm của ngài không bén đối với người Việt ta rồi. Ha ha... ha ha ha... Phù Sai, ngài đã quên thù cha ông để tha ta, giờ ta cũng tha cho ngài cái chết!
Bao nhiêu hy vọng của Ngô vưng chết trong mấy câu nói ấy. Thế nên, nhà vua run run gọi tên Lộc Xuất.
Một vị quan đáp:
- Muôn tâu, Lộc Xuất đã chết trong trận!
Nhà vua như từ mộng choàng tỉnh. Lộc Xuất đã chết trong trận chẳng bao lâu, chao ôi! Nhà vua quay nhìn vị quan vừa nói, nhận ra là Chuyên Nghị, con của dũng sĩ Chuyên Chư.
- Chuyên Nghị, khanh cuốn cờ ta lại!
- Tâu vâng!
Chuyên Nghị tuân lệnh song không hiểu vì sao. Ngô vưng long lanh nước mắt phán bo:
- Ngưi hãy bịt mắt ta lại. Ta không còn mặt mũi nào dám thấy Ngũ Tử Tư ni chốn cửu tuyền.
Nước mắt nhà vua lăn dài, rớt xuống từng giọt, từng giọt. Nhà vua bỗng vứt mão, rút lấy kiếm của một binh sĩ đứng trên xe.
Chuyên Nghị run rẩy kêu lên:
- Đại vưng! Đại vưng! Xin chờ Vưng Tôn đại phu!
- Không ích lợi gì đâu! Chuyên Nghị, hãy dũng cm như cha ngưi. Dùng cờ bịt mắt ta, nhanh lên! Ta không muốn nghe thêm tiếng nói của Câu Tiễn.
Chuyên Nghị run tay dùng lá cờ quấn ngang mắt nhà vua mấy vòng. Nhưng Ngô vưng bỗng nói:
- Khoan đã! Để ta nhìn thêm Cô Tô đài một chút!
Trong giờ phút sau cùng, Ngô vưng vẫn nhớ đến Tây Thi. Đưa mắt về hướng Cô Tô đài, nhà vua thê thm nói thêm:
- Tây Thi! Trẫm bất lực không bo vệ được ái khanh... Khanh là người Việt, mong sẽ được Câu Tiễn tha tội cho nàng. Tây Thi! Tây Thi!...
Lại có tiếng Câu Tiễn oang oang. Ngô vưng thở dài thúc hối:
- Chuyên Nghị, nhanh lên!
Chuyên Nghị run toàn thân, bịt xong mắt nhà vua thì liền đó, ngài vung kiếm lên, tự đâm vào yết hầu. Toàn thân vạm vỡ của nhà vua gục xuống bên chiến xa.
Vưng Tôn Hùng quay về, thấy thế liền sụp quỳ trước thi thể quân vưng, đoạn rút kiếm tự vẫn.
Chuyện Nghị cũng quỳ xuống, rút kiếm tự vẫn theo.
Từng dũng sĩ trong đội Hiền Lưng đều tự vẫn theo. Đó là tấn tuồng cuối cùng của vua nhà Ngô song chưa phi màn chót của Cô Tô thành.
Hoàng Thiên hỗ trợ, vua ta hưởng chức.
Lưng thần hiệp mưu, vua ta có đức.
Tông miếu tu bổ, quỷ thần phò dực.
Vua không quên thần, thần ra công sức.
Trời xanh mênh mông, không thể che được.
Mấy thăng rượu ngon, phước hưởng vô cực.
Trên đây là lời ca của quan quân nước Việt tại đại điện nhà Ngô để chúc tụng nhà vua nước Việt.
Thi thể của vua Ngô bị phi bày trước thềm đại điện. Việt vưng Câu Tiễn ngồi thay thế vua Ngô, nhận lời chúc tụng của quan quân. Bên trái Việt vưng có Văn Chủng, bên phi có Phạm Lãi.
Bấy giờ là nửa đêm. Thi thể của Ngô vưng bày ở thềm kia nhưng chiến trận trong thành Cô Tô hãy còn chưa dứt hẳn. Phạm Lãi chọn giờ lành vào buổi sáng sớm để tuyên bố Việt thôn tính Ngô, xóa bn đồ Ngô. Vì thế, Câu Tiễn ở lại cung điện nước Ngô đợi chờ buổi sáng vĩ đại ấy.
Thuyền lướt Ngũ Hồ
Bấy giờ là gần giờ Ngọ, tướng quân Tiết Dung
kéo rốc xe về, báo cáo đã dẹp xong các ổ kháng cự mặt đông thành. Nhạc lại trỗi lên hòa theo các lời ca chúc tụng để Câu Tiễn cùng Tiết Dung đối ẩm.
Phùng Đồng lại tới, sau khi hành lễ với nhà vua liền hướng dẫn Thái tể Bá Hi của nước Ngô vào yết kiến. Câu Tiễn bỏ mặc cho Bá Hi quỳ đó, sau khi nâng ly đối ẩm với Phùng Đồng mới quay sang Văn Chủng nói cách lạnh nhạt:
- Văn đại phu, Thái tể của nhà Ngô thì phi đi yết kiến Ngô vưng mới đúng. Khanh truyền lệnh cho đem Thái tể đến gặp Ngô vưng!
Bá Hi ngạc nhiên ấp úng:
- Đại vưng! Thần đã quy thuận trước rồi. Thần mong Đại vưng...
Không đợi nghe nói hết, Câu Tiễn vẫy tay cho võ sĩ lôi Bá Hi ra xử tử. Đoạn nói:
- Một người không trung thành với quân vưng thì không thể cho sống được.
Cùng lúc ấy, đại tướng Gia Kê Dĩnh bước vào, không uống rượu mừng liền mà đi thẳng đến bên Việt vưng tâu:
- Đại vưng! Đại phu nước Ngô là vưng tử Cô Tào chỉ huy quân đồn trú từ Tích Sn kéo đến. Người có ba trăm chiến xa, hiện đang tấn công Tề nữ môn.
Việt vưng ờ một tiếng, chưa kịp nói gì thêm, Phạm Lãi đã đứng lên với thần sắc trịnh trọng thưa:
- Tâu đại vưng, quân của vưng tử Cô Tào là quân tinh nhuệ của nước Ngô. Xin cho thần cùng tướng quân Gia Kê Dĩnh cùng đi thanh toán.
Việt vưng tỏ vẻ khinh thường:
- Vua của họ chết rồi, ba trăm xe làm được chuyện gì? Họ có thể phn công lấy lại Cô Tô sao?
- Đại vưng! ở Cô Tô, chúng ta chưa đứng vững đâu! Hn nữa, thần mong sẽ gii quyết xong cánh quân ấy trước khi trời sáng. Mong lúc giờ lành đến, toàn diện cuộc chiến tranh này phi kết thúc.
Phạm Lãi nói rất lọt tai, Việt vưng mỉm cười, gật đầu và căn dặn Phạm Lãi, khi xong việc phi lập tức trở về.
Phạm Lãi đội mũ trận, cùng Gia Kê Dĩnh song song bước ra khỏi đại điện, Gia Kê Dĩnh cm thấy lạ về hành động của Phạm Lãi nên vừa ra đến bên ngoài thì hỏi ngay:
- Phạm đại phu, tôi chưa báo cáo hết với đại vưng.
- Tôi biết Cô Tào không đánh chác gì được đâu. Nhưng tôi khuếch đại chuyện để cho tướng công lập thêm một công nữa đó! (Phạm Lãi vỗ vai Gia Kê Dĩnh) Tướng quân đi trước, tôi sẽ theo sau. Tướng quân gắng đánh đuổi Cô Tào cho thật nhanh.
- Tôi muốn hỏi ý đại phu cách làm cho Cô Tào đầu hàng.
- Không cần cứ tiêu diệt bọn họ. Chỉ cần tướng quân đứng trên xe nói lớn tin Ngô vưng đã chết, bọn họ khỏi đánh cũng loạn. Thôi tướng quân đi đi!
Gia Kê Dĩnh đi rồi, Phạm Lãi mới thở phào nhẹ nhõm. Gia thần Tử Thường đã đứng chờ sẵn bên cạnh. Phạm Lãi nói:
- C hồ ta không thể thoát thân được. Mà này, Tử Thường, tình hình ra sao?
- Bẩm tất c đều đúng như lời đại nhân dặn dò, gia thần đã đem tin Ngô vưng chết nói cho đại cô biết.
- Được rồi... Người mau chuẩn bị một xe và thông tri cho đng thuyền biết, sẵn sàng chờ ta sử dụng.
Dặn xong, Phạm Lãi hối h chạy lên Cô Tô đài.
Trên thềm đá Cô Tô, vẫn do cánh quân trực thuộc của Phạm Lãi canh giữ. Thủ hạ nhìn thấy chủ tướng liền nâng mâu chào. Phạm Lãi vẫy tay chào lại:
- Các anh em chúng ta thành công rồi! Chúng ta mười năm tan hợp, mười năm dạy dỗ lẫn nhau, đã rửa xong thù!
Hai võ sĩ đứng ở bình đài cũng khom mình chào chủ tướng, bẩm:
- Các cô gái Việt đều an toàn chờ đại phu đến.
- ờ... (Ngừng lại một lúc, Phạm Lãi rút ở lưng ra một thẻ bài bằng đồng vuông vức trao cho võ sĩ đứng bên trái, dặn) Ngưi thay ta truyền lệnh cấm tất c binh sĩ dâm ngược với dân chúng nước Ngô.
Phạm Lãi tiếp tục đi tới, đến tầng chót của Cô Tô đài. Lại có một võ sĩ trưởng bước ra nghênh đón, báo cáo:
- Tây Thi bình an!
- Tây Thi! - Phạm Lãi cất tiếng gọi to, tiếng gọi oang oang lớn nhất sau mười by năm xa cách.
- Tây Thi! - Phạm Lãi lại gọi. Mười by năm xa cách để chớp mắt đây sẽ gặp lại làm cho Phạm Lãi mừng quá, nôn nóng quá, cm khái khôn cùng. Phạm Lãi cứ vừa chạy vừa gọi: “Tây Thi! Tây Thi!”.
Tây Thi nằm nghiêng trên giường, ôm chặt Thuộc Lâu bửu kiếm.
Sau khi được tin Ngô vưng chết, nàng cứ nằm như thế, hai tay ôm kiếm, mặt úp vào mền, không kêu gào, cũng không khóc. Cái chết của Ngô vưng làm cho thần trí nàng phiêu diêu, c hồ nàng thoát khỏi thế gian này. Gần như mọi việc ở thế gian này không còn liên quan tới nàng nữa.
Tiếng gọi thứ nhất của Phạm Lãi làm cho toàn thể các cô gái Việt trong phòng kinh động. Tiếng gọi thứ hai của Phạm Lãi làm cho các cô nàng reo mừng:
- Phạm đại phu! Phạm đại phu!
Riêng Tây Thi thì toàn thân run lên đáng sợ. Nàng cố dùng hết ý chí để tự trấn tĩnh, ngón tay bấu chặt thân kiếm, dường như sức mạnh toàn thân tập trung ra đầu ngón tay.
- Tây Thi!
Có tiếng một nam nhân phấn khởi gọi tên nàng, tiếng bước chân đến gần, tiếng hia da rồi có tiếng vén màn.
- Tây Thi (Di Quang lắc lắc bạn, nói thêm) Phạm đại phu đến kìa!
Di Quang dùng sức trở nghiêng mình Tây Thi cho xây mặt ra ngoài. Đúng lúc ấy Phạm Lãi bước vào phòng. Đôi mắt của đôi tình nhân mười by năm ly biệt giờ nhìn nhau trân trối. Một cm giác chạy luồn nhanh như điện, Phạm Lãi giang tay, bước tới vừa lúc ở Tây Thi cũng có thứ cm giác đó làm cho nàng ngất đi.
- Tây Thi! Tây Thi!... - Phạm Lãi xốc tới, ôm chầm nàng, lay nàng, gọi ầm lên bo đem nước đem rượu.
Cn xúc động mạnh bất ngờ làm cho Tây Thi ngất xỉu song chẳng bao lâu sau thì nàng mở mắt. Như o như mộng, như thật như gi, Tây Thi có cm giác như nàng từ cõi chết trở về. Nàng đưa mắt lướt qua một số vật trước mắt, lướt qua gưng mặt người tình xưa... Rồi tránh đi... Nàng chợt thấy thẹn, xong rồi xoay mắt lại... nhìn dán vào Phạm Lãi. Cuộc hội ngộ sau mười by năm là đây! Bao nhiêu chuyện ngày xưa đã chôn vùi, ký ức cũng nhạt nhòa, giờ trỗi dậy.
Đắm chìm vào đâu đâu, Tây Thi lại nhắm mắt. Mắt nàng nhắm nhưng nước mắt chua cay cứ từng giọt từng giọt chy trào ra khóe mắt.
- Tây Thi!...
Gần như không nghe được tiếng gọi, Tây Thi đắm chìm trong dòng tư lưng của nàng. Nàng đã nhìn thấy Phạm Lãi rồi, biết Ngô vưng bại trận chết rồi, biết nước Việt đã phục hưng và Việt vưng sẽ thống trị nước Ngô.
Người Việt đã tr xong mối hờn bị bắt làm nô lệ. Người Việt đã rửa xong mối đại sỉ đại nhục là một sự nghiệp vĩ đại chấn động cổ kim. Nàng, người nhận lãnh trách nhiệm lớn lao và gian khổ vô tiền khoáng hậu đứng về phưng diện lý luận lẽ phi dính dáng thật nhiều với thắng lợi của quốc gia. Nhưng tự đáy lòng nàng, nàng không thấy được chia xẻ quang vinh mà chỉ thấy riêng mang tủi nhục. Nước Việt phục hưng, có khía cạnh lỗi lạc đặc biệt, nhưng điều ấy không một chút liên hệ với nàng. Vinh quang ấy không thuộc về nàng trong khi nước Ngô bị diệt thì tội tình nàng quá lớn!
Tây Thi tự hỏi: Ta chỉ là người có tội không chăng?
Phạm Lãi rót nước đem lại, trầm ấm nói:
- Tây Thi! Nàng không nên xúc động nhiều. Hạn kỳ chờ gặp bao năm của chúng ta đã đến rồi.
Tây Thi không nói gì. Cổ nàng nghẹn cứng, chỉ phát được một tiếng thở dài não nuột, song cách phn ứng đó cũng khiến cho Phạm Lãi cm thấy được an ủi nhiều lắm. Chàng lột mũ trận, kéo mí màn lau khô mồ hôi trán, đoạn vỗ nhẹ vai Tây Thi:
- Tây Thi, trận chiến không làm nàng sợ chứ?
Di Quang đưa ra dấu, ý bo đừng nói đến chiến trận nhưng Phạm Lãi không thấy. Riêng Tây Thi vẫn nhắm mắt.
- Tây Thi! Nàng nhìn ta đi, mười by năm rồi chúng ta chưa gặp.
Vừa nói, Phạm Lãi vừa kéo tay người yêu, hôn ở mu bàn tay. Tây Thi nhận thấy, cái hôn ấy hoàn toàn khác hẳn bao nhiêu nụ hôn của Ngô vưng suốt mười by năm. Nụ hôn này đã làm rung động tận đáy lòng nàng, bắt nàng mở mắt nhìn đăm đăm người yêu năm cũ. Nhưng rồi, nàng lách mắt tránh, nhận thấy nàng nhìn Phạm Lãi bao nhiêu là bất trung bấy nhiêu đối với cái chết của Ngô vưng. Nàng thở dài:
- Thiếu Bá! Bằng vào c sở tình cm cũ, thiếp yêu cầu chàng... để cho thiếp chết!
- Kìa (Phạm Lãi giật nẩy, choàng c hai tay ôm b vai nàng) Tây Thi! Mười by năm rồi chúng mình mới gặp lại, sao nàng nói thế?
Tây Thi nhắm mắt, không nhìn, cũng không tr lời. Phạm Lãi kéo lật thân nàng lại nhìn thẳng vào mặt nàng.
Mười by năm xa cách, Tây Thi đã mất đi sự th ngây tưi mát của thời thiếu nữ lúc ở Hội Kê. Mười by năm trước nàng như một đóa hoa mới nở, ngậm sưng sớm long lanh. Không như bây giờ, nàng như người ở giữa năm, mất rồi mùa xuân. Tuy nàng vẫn đẹp đó, song là nét đẹp trưởng thành, chín muồi, đang lúc nàng nức nở, đang lúc nàng cm thấy thất bại và có tội, nàng vẫn biểu lộ nét đẹp chín chắn.
Gưng mặt Tây Thi vẫn không có gì thay đổi so với trước, đường nét rực rỡ. Da mặt nàng được giữ gìn hết sức cẩn thận, vẫn mn mởn, mịn màng.
Nhìn nàng bây giờ, Phạm Lãi nhớ lại Tây Thi ngày xưa: Tây Thi với đôi mắt long lanh, sáng rực, trong suốt... Chàng lại yêu cầu nàng mở mắt, lần này rồi lần khác.
Tây Thi vẫn nhắm mắt, ứa nước mắt.
Điều đó làm cho Phạm Lãi khổ sở quá, thưng cm quá!
- Tây Thi! Mười by năm rồi không gặp, giờ gặp lại đây mà một ánh mắt nàng cũng không muốn nhìn ta sao?
Lẽ tự nhiên Tây Thi thấy nàng không nên làm thế. Mười by năm trước, c hai là đôi nhân tình chí thành chí ái. Tri bao biến thiên, bằng vào tình cm cũ mà mãi đến giờ nàng vẫn chí thành nên Tây Thi mở mắt, vì ngày xưa ấy mà mở mắt.
Nàng nhìn thấy rõ chàng rồi: Tóc người năm cũ bây giờ đã bạc hoa râm. Trên trán chàng, trên má chàng đâu đâu cũng có in vết hằn bụi bám nắng chang. Điều đó chứng tỏ chàng đã miệt mài lao khổ suốt mười by năm.
Tây Thi u buồn gọi nhỏ:
- Thiếu Bá!
- Tây Thi!
Phạm Lãi sung sướng kêu lên, có thể vì cuộc trùng phùng, cũng có thể vì chàng đã nhìn rõ mắt nàng rồi.
Trong giây phút ấy, lòng như tấu nhạc tưng bừng, Phạm Lãi nói như reo:
- Tây Thi! Ta không đến nỗi uổng công, rốt cuộc rồi chúng ta vẫn trùng phùng... Bé con của ta... , mà không, ngày xưa nàng cũng không đồng ý cho ta gọi bé con...
Phạm Lãi bỏ lửng, ôm chầm người yêu cũ. Về phần Tây Thi, nàng không nhận thấy có cm giác gì đặc biệt nên tự cho rằng tình yêu của nàng đã chết theo Ngô vưng.
Phạm Lãi vẫn phát ngôn với tư cách người yêu:
- Tây Thi! Nàng không nói gì với ta sao?
- Thiếu Bá! (Nàng nhìn mái tóc hoa râm của người yêu cũ) Thiếp muốn được chết.
- Kìa, đừng nói đến tiếng ấy. Một cô gái Việt lại muốn tuẫn tiết theo Ngô vưng là một chuyện không thông đâu!
- Sống và chết không cần có lý do gii thích thông hay chẳng thông. Thiếu Bá! Thiếp từng tri quá nhiều, thiếp... già rồi, nên muốn chết!
Dưới mắt Phạm Lãi. Tây Thi vẫn rực rỡ, vẫn mỹ lệ nên tiếng “già rồi” của nàng khiến chàng bắt buồn cười, cười thành tiếng. Ngược lại, Tây Thi thấy giờ phút này nghiêm trọng mà Phạm Lãi cười được tức là xem thường nàng. Nàng bất mãn, liếc xéo.
Dưới mắt Phạm Lãi, cách liếc xéo kia đầy dẫy những phong tình ngày xưa. Từ đó, chàng nhận thấy quá khứ hãy còn, quá khứ bất biến... Trong quá khứ, c hai đã thề non hẹn biển và cuộc hẹn thề tự nhiên cũng bất biến. Thế nên, Phạm Lãi rùn vai. Và nhân lúc chuyển mình, chàng nhận ra giáp đeo ngực có phần gây khó chịu nên đặt Tây Thi xuống, cởi áo giáp ngực, chân và b vai, cởi luôn c chiến bào. Nhận thấy chiến bào có dính máu d, Phạm Lãi nhìn sững lại mình, nói với nhóm Di Quang:
- Ta muốn thay đồ, ở đây có không? áo của Ngô vưng...
Tây Thi phn ứng liền:
- Hôm nay, Thiếu Bá là người chiến thắng, còn những gì của Phù Sai có đều...
- Tây Thi! Nàng làm sao thế?
- Thiếp không làm sao c, sinh mạng của thiếp đã cùng rồi. Thiếp đã sống trên Cô Tô đài mười by năm, giờ muốn được chết trên Cô Tô đài.
Bấy giờ Di Quang đem đến bộ trường bào bằng t bông. Nhìn thần sắc Tây Thi hết sức nghiêm trọng, Phạm Lãi khoát tay từ chối, đoạn nắm chặt tay Tây Thi, kể lể:
- Tây Thi, mười by năm rồi, ta luôn tưởng nhớ nàng. Ngày đêm làm việc, lúc mệt mỏi không chịu được, cứ nghĩ đến nàng thì ta lại phấn chấn tinh thần. Ta nhớ lời hẹn thề trước lúc phân ly, nhớ lắm từng lời từng chữ lúc ở Hội Kê, lúc ven sông Tiền Đường...
Tây Thi rùng mình nhớ lại.
- Tây Thi! Tất c những hình nh đó ghi khắc trong đầu óc ta, trong trái tim ta như chỉ là chuyện hôm qua.
Nàng còn nhớ không, lúc trong phòng làm việc của quân phu nhân, nàng có hỏi: “Đại ca! Từ rày về sau, chúng ta có còn gặp lại nhau không?”. Ta tr lời: “Lúc nước Ngô bị tiêu diệt, chúng ta sẽ gặp lại. Bấy giờ, chúng ta sẽ chung đôi!” Ta còn nhấn mạnh: “Nước Ngô sẽ có ngày bị diệt, bị diệt trong tay chúng ta!” Tây Thi, ngày đó là của chúng ta, ngày đó là đây.
Phạm Lãi nói miên man:
- Tây Thi, lúc đưa nàng lên thuyền, ta có bo: “Lúc thành Cô Tô bị phá là lúc chúng ta gặp lại!”. Nàng còn nhớ không, lúc ấy, ta gọi nàng liên tiếp bằng mấy tiếng “bé con”. Nhưng nàng không đồng ý bị xem là bé bỏng. Tây Thi, việc ngày hôm nay đã được chúng ta dự đoán vào mười by năm trước. Và nàng đã tr lời khẳng định: “Thiếu Bá, thiếp chờ chàng!”. Tây Thi, nàng còn nhớ không?... Nàng còn nhớ không?
Sự thật là thế, Tây Thi có nhớ. Và khi mới đến cung Ngô, Tây Thi qu có lòng chờ đợi Phạm Lãi. Nhưng bây giờ là mười by năm sau với biết bao cuộc biến thiên. Hn nữa, Phạm Lãi càng nhắc chuyện ngày xưa càng làm cho Tây Thi thưng cm. Ôi, thời gian đã làm thay đổi con người, sự đời, c tình yêu. Đáng sợ quá thời gian! Thời gian đẩy trôi tất c, đẩy đi quyến luyến năm nào.
Tây Thi thở dài:
- Thiếu Bá, đừng nhắc chuyện ngày xưa. Đối với thiếp, nó không có ý nghĩa gì. Một người có tưng lai mới có quá khứ, chứ với thiếp thì không còn có tưng lai.
- Tây Thi! Tưng lai là chúng ta chung sống bên nhau, ta đã vì nàng an bài xong tất c. (Phạm Lãi rất mực chí thành) Mười by năm rồi, ta vừa làm việc vừa lo sắp đặt. Tây Thi, tưng lai của chúng ta sẽ hết sức bình yên, tuyệt đối không có sóng gió ba đào.
Tây Thi nhìn người yêu cũ đăm đăm, không có cách nào hiểu được niềm tin của chàng. An bài cho tưng lai của hai người không biết sẽ đi về đâu trong suốt mười by năm thì qu là chuyện lạ lùng đến hoang đường!
- Tây Thi, hãy nhận lời ta, cười với ta! Đừng vì kết cuộc bi thm của nước Ngô mà sầu khổ. Mọi chuyện xy ra đều được chúng ta dự liệu, mười by năm trước chúng ta đã đoán biết ngày này. (Phạm Lãi ôm choàng nàng) Tây Thi, chúng ta đã hẹn nhau ngày này.
Tây Thi không cự tuyệt, song cũng không phn ứng. Nàng nhận ra nỗi đau khổ vì yêu của Phạm Lãi đã để lộ trong vòng tay ôm siết run run.
Tình cũ, chuyện xưa tuy đã phôi phai song có bôi xóa được hết đâu! Tây Thi gượng ngồi dậy:
- Thiếu Bá! Người ta đối với thiếp quá tốt, quá tốt đối với một nữ gián điệp... Ôi, Thiếu Bá, trong mấy năm đầu, thiếp ngày ngày chờ đợi đoàn quân Việt tới. Chờ đến mỏi mòn theo hi vọng mỏi mòn... Thiếu Bá, ngay lúc ấy thiếp muốn chết quá! Nghĩ đến việc không thể chung sống với chàng, thiếp không chịu nổi, nên phó mặc, buông lung đối với Phù Sai. Thiếp cho rằng không có người thứ hai nào có thể chịu đựng nổi sự thay đổi tính tình kỳ quặc của thiếp. Nhưng rồi, sự chịu đựng của nhà vua lần hồi làm cho thiếp thấy mình mang tội nghiệt. Thiếp ăn năn... Thiếu Bá, người ta tốt với thiếp!
Tây Thi ứa nước mắt, dùng hai tiếng “người ta” để tránh nói đến hai tiếng “Ngô vưng”. Nhận ly rượu Phạm Lãi đưa cho, Tây Thi nốc cạn, đoạn tiếp:
- Rồi sau đó, thiếp yêu người ta với mâu thuẫn nặng nề. Trách nhiệm đối với quốc gia và tình cm của một con người xung đột nhau trong thiếp. Thiếu Bá, thiếp thấy ái ngại về nhiệm vụ mình mang chẳng vinh quang.
- Chỉ cần có lợi cho quốc gia thì hành động nào cũng vinh quang c.
- Không, đó là lý... (Tây Thi ngừng lại một thoáng mới trầm giọng nói) Thiếu Bá! Thiếp cám n chàng, nhưng mọi việc giữa chúng ta đã qua rồi. Thiếp nghĩ rằng chàng không nên moi tìm dĩ vãng.
- Qua rồi à? Không đâu, cuộc sống của chúng ta chưa bắt đầu đó! Tây Thi, ta muốn cùng nàng sống chung trong cuộc sống mới.
- Chàng đừng nghĩ thế, thiếp sẽ làm tổn hại chàng. Thiếp không còn là Tây Thi của ngày xưa... Thiếp đã là một người đàn bà dày dạn...
Phạm Lãi c quyết:
- Bất luận thế nào, kể từ bây giờ chúng ta cũng sẽ chung sống. Tây Thi, ta đã an bài tất c rồi.
Tây Thi lắc đầu. Nàng chấp nhận kể lể nỗi niềm với người yêu cũ song không muốn kéo lại tình xưa. Thế nên nàng nghiêm trang nói:
- Thiếu Bá! Về mặt tình cm, thiếp đã dày dạn quá mà về mặt thực tế thì thiếp có thể làm thiệt hại cho chàng. Thiếu Bá, chàng đã làm cho Việt diệt Ngô, lập được kỳ công. Nếu thiếp sống chung với chàng, đối với chàng là một bất lợi.
Bất lợi? (Phạm Lãi bỗng cười) Nàng cho rằng ta còn có thể bị bất lợi sao? Không đâu, vĩnh viễn không đâu. Một ngày trước đây, ta vì nước Việt nhưng kể
từ giờ này, ta vứt tất c. Tây Thi! Việt vưng muốn giao nước Ngô cho ta trị vì, song ta từ chối. Ta không màng gì c ngoài việc sắp đặt cho ta và nàng một con
đường... Chúng ta sẽ rời xa mọi người, đến một ni không ai biết để sống bình yên trong những ngày còn lại.
Tây Thi gần như không tin là thật. Phạm Lãi dám vứt đi tất c để cùng nàng đi ẩn cư sao? Nàng ngạc nhiên, há hốc.
- Tây Thi! Chúng ta đến một ni xa sống đến bạc đầu. Tây Thi, ta đã sắp đặt sẵn sàng, chỉ cần rời khỏi Cô Tô đài thì chúng ta như cá trong nước, như chim trên trời, tự do vẫy vùng không một ai làm phiền chúng ta được. Chúng ta cũng không có trách nhiệm gì đối với ai c.
- Thiếu Bá!...
Đúng lúc ấy Tử Thường đứng ngoài màn bẩm vọng vào:
- Bẩm đại phu, tất c đã chuẩn bị xong... Quân vưng và quân phu nhân đã đến đại điện. Cuộc chiến ngoài Tề nữ môn chúng ta đã chiếm thượng phong, quân của vưng tử Cô Tào bị phá vỡ, thoái lui rồi.
Phạm Lãi bình tĩnh cho Tử Thường bước vào ra mắt Tây Thi, đoạn nói:
- Ngưi trở lại đại điện dò la tin tức. Ơ, mà thôi, không cần nhà ngưi phi đi, ngưi phái vài tên tin cậy cũng được. Riêng ngưi ở lại đây chờ lệnh.
Tử Thường khom mình chào, lui ra. Tây Thi hoang mang nhìn người yêu cũ. Hiện cnh bắt nàng đâm nghi ngờ.
Phạm Lãi êm nắm tay nàng:
- Tây Thi, nên nghe theo sự áp đặt của ta. Thời gian của chúng mình không nhiều đâu!
Tây Thi toan mở miệng nhưng Phạm Lãi khoát tay ngăn lại. Phạm Lãi vẫy tay gọi mấy cô gái Việt, nghiêm trang nói với họ:
- Hôm nay, quốc gia chúng ta đã tẩy xong thù rửa xong hận, đó là công lao của mọi người mà đóng góp của các nàng lại lớn hn tất. Quân vưng lúc nào cũng nhớ đến các nàng. Sau này trở lại Hội Kê, các nàng sẽ được tưởng thưởng xứng đáng. Bây giờ ta muốn nhờ các nàng vì ta và Tây Thi mà làm một việc, có được chăng?
Di Quang thay mặt các chị em rước đáp:
- Đại phu cứ dạy, lẽ tự nhiên chị em tôi tình nguyện.
- Nhờ các nàng dọn hết đồ đạc của Tây Thi cho vào bao lớn, rưng lớn, càng nhanh càng tốt... Ta muốn cùng Tây Thi đi trước. Sau đó, các nàng cùng gom góp đồ đạc của mình, Tử Thường sẽ đến đưa các nàng rời khỏi Cô Tô đài.
- Thiếu Bá! (Tây Thi sốt ruột nói) Đừng kể có thiếp, thiếp không thể rời Cô Tô đài.
- Bé con, ta với nàng sẽ đi chung rời Cô Tô đài, rời nước Ngô, rời nước Việt, đến một ni hoàn toàn xa lạ để xây dựng một đời mới. Chúng ta sẽ không bị một quấy nhiễu nào, chúng ta sẽ bình yên vui sống bù lại những ngày đã mất... Ta đã nói rồi!
Tây Thi cắn môi, nghe toàn thân rợn lạnh. Tình xưa nghĩa cũ đồng thời tràn ngập tâm linh nàng, xung đột mãnh liệt. Một mặt, nàng nhớ đến Ngô vưng đã xử đẹp với nàng mười by năm. Mặt khác nàng nhớ rõ mồn một tình cnh lúc ở Hội Kê hẹn biển thề non cùng Phạm Lãi. Nàng nghĩ:
- Ta phi làm sao đây? Theo Ngô vưng xuống suối vàng hay cùng Phạm Lãi bỏ đi xa? Nếu chết, ta tr được n mưa móc của Ngô vưng thì lại trở thành người phụ rẫy tình yêu cũ. Bằng theo Phạm Thiếu Bá thì kể như vĩnh viễn mang tội nghiệt đối với Ngô ân sủng.
Tây Thi nghĩ ngợi, hỏi thầm, sau cùng nhìn rót vào Thuộc Lâu bửu kiếm bên gối. Không biết đã bao lần nàng định dùng bửu kiếm gii quyết đời nàng nhưng nàng chưa thực hiện được. Bây giờ, nàng lại nghĩ... Rồi với thái độ thn nhiên như không việc gì xy ra, nàng nhích mình về phía bửu kiếm hy vọng Phạm Lãi không chú ý đến nàng. Không ngờ lúc tay nàng vừa chạm vào thân kiếm thì Phạm Lãi đưa tay đỡ kiếm trước, đồng thời nhanh nhẹn rút kiếm ra. Kiếm quang loang loáng, Phạm Lãi thn nhiên nói luôn:
- Thuộc Lâu là danh kiếm trong thiên hạ, nên để lại cho Câu Tiễn về sau ắt có chỗ dùng.
Thêm một lần thất bại, Tây Thi o não vô cùng.
Bấy giờ, Di Quang cùng bốn cô gái Việt khiêng ra hai rưng lớn. Bọn Triền Ba cũng vác để bên ngoài phòng mấy bao to, Phạm Lãi nghiêm giọng nói luôn:
- Chỉ lấy đồ riêng của Tây Thi, chứ đừng động đến đồ đạc của Ngô vưng.
Tây Thi chấn động, bật khóc.
Phạm Lãi hoang mang kêu lên:
- Tây Thi, nàng thật yêu người sao?
- Phi. (Tây Thi nói qua tiếng nấc). Thiếp yêu người ta, nhất là bây giờ người ta chết rồi. Người ta đối với thiếp quá tốt, nhưng thiếp lại làm cho người ta chết!
- Tây Thi! Nếu Ngô vưng còn sống, ta chẳng cưỡng ép nàng. Nhưng nay người đã chết rồi...
Có tiếng chuông từ đại điện nhà Ngô vang lên. Kế thấy gia thần Tử Thường hối h bước vào nói:
- Bẩm chủ nhân, đến giờ rồi!
- Ta biết. Ngưi cho người dọn các đồ này đi trước, ta sẽ theo sau. Về tưng lai của ngưi thì ta sẽ gửi gấm cho Văn đại phu. Các cô gái này cũng do ngưi đưa đến gặp Văn đại phu.
Phạm Lãi vừa nói vừa khắc chữ trên thanh trúc:
- Ngô vưng nói: “Cắn chết thỏ, chó bị làm thịt, phá xong nước địch thì mưu thần chết...”. Con người Việt vưng cổ dài như chim, chịu nhục, ganh công, có thể chung chia hoạn nạn nhưng không thể cộng hưởng giàu sang. Ngày nay Tử Hội không đi, ngày sau ắt khó tránh họa.
Nhờ Tây Thi phụ đề thanh trúc cho mình khắc xong, Phạm Lãi dùng luôn khăn xanh của nàng bao thanh trúc lại trao cho Tử Thường nói:
- Đợi khi ta rời khỏi Cô Tô đài khong nửa giờ, ngưi đem vật này trao cho Văn đại phu. (Phạm Lãi quay sang Tây Thi nói luôn). Chúng ta đi!
- Thiếp không hiểu...
Tây Thi chỉ tay vào thanh trúc, cau mày hỏi thêm:
- Thiếu Bá cùng Văn đại phu đã dốc toàn lực làm khuynh đo nước Ngô, giờ lập được đại công sao lại bỏ đi?
- Nàng nhớ chuyện Ngũ Tử Tư không? Việc xong là phi đi, không đi thì sẽ như Ngũ Tử Tư vậy. Chúng ta phi hiểu rõ lẽ bo mạng này: công thành thân thối.
- Thế còn Văn đại phu?
- Tây Thi, chúng ta không màng đến chuyện người khác. Bây giờ chúng ta lo chuyện của chúng ta, chúng ta đi!
Không đợi Tây Thi hồi đáp, Phạm Lãi vụt bồng xốc nàng khiến nàng kêu lên:
- Thiếu Bá, thiếp còn có điều muốn nói.
- Không có ngày giờ đâu! Rời Cô Tô đài rồi hẵng hay.
Bồng Tây Thi bước ra, Phạm Lãi còn quay nói với nhóm Di Quang lời từ giã. Di Quang bước theo gọi:
- Tây Thi!...
- Tây Thi!... - Triền Ba cũng bước theo gọi.
Tây Thi vùng vẫy trong tay Phạm Lãi, nhưng chàng là một dũng sĩ, lẽ tự nhiên Tây Thi không vùng thoát được. Hn nữa, đang lúc hoang mang tột độ, nàng không còn chút sức lực nào.
Phạm Lãi nói lớn với các cô gái Việt:
- Chúc các nàng may mắn!
Tây Thi trách:
- Thiếu Bá! Theo lẽ chàng không nên làm như vậy!
- Ta chỉ làm một lần.
Phạm Lãi bước vội xuống thềm đá Cô Tô đài. Bọn thị vệ đứng thành hai hàng dài rạp mình chào Phạm đại phu. Họ lạ sao Phạm đại phu của họ lại ôm trong tay một người con gái.
Tiếng chuông từ đại điện nhà Ngô lại vang lên lần nữa.
Dưới Cô Tô đài có mười mấy xe nằm giăng giăng. Phạm Lãi bước lên một chiến xa, đặt Tây Thi nằm xuống song vẫn để một tay giữ kềm nàng, tay phi giật giây cưng ngựa, tự mình đánh xe lướt tới.
Tây Thi bối rối quá, không ngừng kêu thét:
- Thiếu Bá! Thiếu Bá!...
Nhưng Phạm Lãi liên tiếp phát tiếng hú dài, ngăn chận tiếng kêu của nàng vẳng ra. Chiến xa vùn vụt lao tới.
***
Sưng sớm trắng xóa dần dần bị bứt phá rời khỏi Cô Tô thành. Từ phưng Đông, mặt trời ban sáng dần dần nhô lên thay chỗ sưng sớm. Buổi sáng mùa xuân đã đến rồi, buổi sáng với ngàn vạn tia sáng túa ra, buổi sáng vĩ đại và âm thầm trùm phủ nhân gian.
Một chiếc thuyền lớn ba buồm từ từ căng lên trong sưng sớm.
Nước sông cuồn cuộn, gió bọc buồm no, thuyền lướt về phưng Bắc. Phạm Lãi và Tây Thi đứng ở tầng nhì đại thuyền.
Bây giờ, Tây Thi đã bình tĩnh lại, đứng tựa vào người yêu đã mười by năm xa cách biền biệt, hồi nhớ chuyện cũ, bắt mộng ngày xưa.
Thành quách Cô Tô dần hiện rõ trong sưng sớm. Phạm Lãi chỉ tay vào khu trung tâm thành, nói:
- Tây Thi! Nàng trông, cao chọc trời mây chỉ có Cô Tô đài.
Tây Thi cm thấy lạnh, nhy mũi, tựa vào người yêu cũ sát hn. Nàng nhớ lại lời nàng từng nói: “Cô Tô đài như Ngô vưng...”. Thế mà nay vật đổi, người chết... Nàng lại thở dài.
- Bé con! Từ sông nhìn lên, Cô Tô thành cũng đẹp đấy.
Tây Thi không tr lời, th dòng suy tư theo thành quách Cô Tô. Nàng đã ở trong thành này những mười by năm, nghĩa là đã tiêu pha trọn tuổi thanh xuân của nàng. Trong thành này, nàng đã nhìn thấy một sự nghiệp lẫy lừng, nhìn thấy vị chủ thành vang danh thiên hạ và cũng nhìn thấy vị chủ thành bị tiêu diệt. Quan trọng hn c là trong thành này nàng hưởng được tình yêu sâu xa, chân thành và trong trắng. Bây giờ mất hết, thành quách xa mờ...
- Bé con, có lẽ giờ này Câu Tiễn đã biết chúng ta đi rồi.
Tây Thi liếc nhìn Phạm Lãi, vẫn không tr lời.
- Bé con, Câu Tiễn chắc thỏa mãn lắm... Duy có một điều không vui là ta mang nàng đi không lời từ biệt. (Phạm Lãi thúc thúc Tây Thi). Bé con, đáng tiếc là ta không kịp đưa nàng đến gặp Văn Chủng.
Tây Thi như bừng tỉnh, chớp chớp mắt.
- Chắc nàng không ngờ ta dụng cách này để bắt cóc nàng đi!
- Bé con hoài! (Tây Thi trề môi bất mãn). Chàng gọi bé con bao nhiêu lần rồi? Bộ không biết là thiếp không thích nghe gọi thế sao?
- Vậy chứ nàng cũng không biết ta không thích nàng ở bên ta mà đi nghĩ đến người khác sao?
Tây Thi mỉm cười, nụ cười đầu tiên dành cho người yêu cũ.
- Một người không thể ngăn một người đừng nghĩ tới một người. (Tây Thi thở dài). ở bên chàng, thiếp có thể không nghĩ đến “người ta” bao lâu nữa? Lúc không còn nhìn thấy thành quách Cô Tô, thiếp sẽ chôn vùi suy tư chăng?
- Nói thế nghĩa là chẳng bao lâu nàng sẽ quên?
- Không, thiếp không thể quên... (Giọng Tây Thi đang rất nặng nề bỗng trở nhẹ). Nhưng còn chàng, chàng mưu trí khôn lường, có thể làm cho thiếp thôi nhớ...
Phạm Lãi c cười, lắc mạnh người yêu vừa cởi mở:
- Trên thế gian này chỉ có mình nàng hiểu được ta. Bé con...
- Nữa!
- Từ rày về sau, ta sẽ nhớ. Tây Thi, nửa giờ nữa, chúng ta sẽ đến cửa vào Thái Hồ.
Tây Thi nhìn khắp mặt sông:
- Văn đại phu không phái người đuổi theo sao?
- Tin rằng không.
Gió sông thổi mạnh, thuyền lướt đi nhanh hn. Thái Hồ mênh mông đã nhìn thấy trước mặt.
- Bấy giờ, mặt trời đỏ rực phưng Đông.
Bấy giờ, từ thành Cô Tô có một làn khói đen ngùn ngụt bốc lên, Tây Thi nhìn thấy trước, chỉ cho Phạm Lãi. Chàng quan sát một lúc rồi nói:
- Có thể là Cô Tô đài. Câu Tiễn rất hận Cô Tô đài nên phóng hỏa.
- Cần gì phi thế? Từ bao giờ, Cô Tô đài có làm hại Việt đâu! (Tây Thi thở dài, nói thêm). Tại sao lại phi nhỏ mọn như vậy?
- Lòng người rất khó gii thích, huống chi mầm cừu hận đã bám rễ sinh sôi.
Im lặng một lúc, Phạm Lãi cũng thở dài:
- Tất c đã kết thúc rồi. Hận cũ tiêu tan thì thù mới sẽ lần lượt tới... Việt vưng ngày nay rồi sẽ đi theo vết xe của Ngô vưng. Văn Chủng hôm nay không bỏ đi rồi sẽ như Ngũ Tử Tư vậy.
Tây Thi lạnh mình, không tin lịch sử là sự tuần hoàn miên viễn. Nàng đưa mắt nhìn khói bốc lên từ Cô Tô đài và lấm lét nhìn mặt người tình.
Mặt trời dần lên cao, khói đen trùm phủ thủ đô nước Ngô, kết thúc lịch sử nước Ngô. Kể từ nay, một trang lịch sử lật qua để cho Câu Tiễn viết tiếp.
Thuyền đến cửa Thái Hồ, khói sóng chờn vờn. Mặt trời chiếu trên Thái Hồ dát vàng lấp loáng. Thái Hồ hào hùng lắm, vĩ đại lắm, luôn luôn chuyển động không ngừng.
Phạm Lãi bỗng bật cười:
- Ân cừu, Ngô quốc, Việt quốc, Sở quốc, với ta có liên quan gì chứ? Tây Thi, từ rày về sau chúng ta không màng gì đến các chuyện ấy. Sóng nước Thái Hồ rửa sạch ân cừu, rửa sạch tất c để cho kể từ bây giờ chúng ta không dính dấp gì với nhân gian. Tây Thi, để ta giới thiệu cho người nhà ta ra mắt nàng.
Phạm Lãi kéo Tây Thi vào khoang thuyền, giới thiệu hai con.
Con lớn Phạm Lãi tên Bình, mười lăm tuổi, con thứ tên An, mười một tuổi. C hai lớn lên trong gian khổ, người hi gầy song chắc nịch. Tây Thi nhìn Phạm Bình mười lăm tuổi đăm đăm rồi quay sang Phạm Lãi nói nhỏ:
- Có phần giống chàng năm lên mười by.
- Mười by năm trước, ta... (Phạm Lãi bỗng cm thán). Mười by năm qua, ta già mau quá!
- Già? Thiếp không nhận thấy chàng già.
- Hôm nay ta phn lão hoàn đồng!
Phạm Lãi lại đưa Tây Thi đi xem các ni trong thuyền. Thuyền do cháu của Tử Thường là A Mang cường tráng cai qun. Trên thuyền có chín trai, mười gái, cộng thêm A Mang là hai chục người. Tất c đều còn trẻ, Phạm Lãi dự định cho họ kết làm vợ chồng với nhau. Chàng nói:
- Chúng ta đến một ni không có khói lửa nhân gian, mười cặp vợ chồng này vẫn có thể sinh con đẻ cháu không ngừng.
Phạm Lãi cũng đưa Tây Thi đi xem các đồ vật trên thuyền: hạt giống, nông cụ, thổ mộc, công cụ, lưng thực, muối ăn, có c một đống rưng tráp.
Tây Thi rất đỗi ngạc nhiên hỏi:
- Chàng đã chuẩn bị từ trước?
- Phi, lúc rời Hội Kê thì ta chuẩn bị đâu vào đó.
- Nghĩa là chàng chắc chắn chiến thắng?
Tây Thi không có cách nào hiểu được niềm tin của Phạm Lãi. Chàng gii thích:
- Ngô quốc có phần mạnh hn chúng ta, song lúc phát binh ta đã quyết thắng. Không thắng thì thà chết trong thành Cô Tô. Để có ngày nay, ta đã chuẩn bị bao năm... Mười by năm rồi, vì muốn được nàng nên ta phi cố gắng.
- Thiếp đáng thế à?
Tây Thi nhoẻn cười, nụ cười yêu kiều như mười by năm trước.
***
Rời bỏ tất c, Phạm Lãi và Tây Thi cắt đứt mọi liên hệ với thế giới bên ngoài. Trên mặt Thái Hồ bát ngát, thuyền họ nay chỗ này mai chỗ kia, bao nhiêu ân cừu trong lòng họ như được sưng khói và bóng nước Thái Hồ rửa sạch. Họ vô tư vô lự ca hát trên thuyền, câu cá bên mạn thuyền, phó mặc thời gian trôi theo sóng nước.
Có một hôm, thuyền họ dừng lại ở bến Vô Tích, đem cá đổi muối và thức ăn. Đó là việc của bốn tháng sau khi Cô Tô thành thất thủ.
A Mang lên bờ rồi trở xuống báo cáo với chủ nhân:
- Việt vưng treo gii thưởng nhiều vàng cho ai tìm được Phạm đại phu... Việc thứ hai là Việt vưng cùng nhóm Văn đại phu hướng dẫn tám trăm xe kéo lên mặt Bắc Trung Nguyên, hội minh với Tề, Lỗ.
- Còn gì nữa không?
- Bẩm còn, Việt vưng chia nước Ngô thành quận, huyện, cắt một phần đất cho Sở.
Tây Thi chen nói:
- Thiếu Bá! Chàng hỏi nhiều như thế để làm gì? Các việc ấy không liên quan gì đến chúng ta. Chúng ta rày đây mai đó, không nhà không cửa thì mọi việc trên đất liền chúng ta không nên biết tới.
- Nhưng Thái Hồ quá nhỏ, cũng quá gần, e có một hôm, chúng ta phi dời đi... Lúc Việt vưng từ Trung Nguyên về, chúng ta sẽ không dễ dàng an cư ở Thái Hồ.
- Không ai biết trước được ngày mai, chuyện của ngày mai hãy để ngày mai nói!
Si Di Tử Bì
Rất ít người chú ý việc Phạm Lãi đưa Tây Thi
th thuyền trên Ngũ Hồ sống trong cuộc sống thế nào? Ân cừu Ngô - Việt chấm dứt, người ta không còn quan tâm đến hai nhân vật ấy nữa. Nhưng lịch sử ghi về họ rất phong phú. Trong lịch sử Trung Quốc, nửa đời sau của một người đẹp lừng danh kim cổ được nói tới rất nhiều, được thế giới coi trọng. Chuyện về họ như sau:
ở bên biển nước Tề có một cửa khẩu, núi non vây quanh, là ni hoang vu, chưa từng có khói nhân gian, sau đó trở thành thôn ấp, có đất cày, có chợ cá, có ruộng muối.
Khu vực đó có trên năm trăm nóc nhà mà chủ nhân là Si Di Tử Bì đã đến đây dày công khai phá từ sáu năm trước.
Si Di Tử Bì là một nhân vật truyền kỳ. Người ngoài nhìn thấy người nhà Tử Bì nói tiếng “ngoại quốc” (1) đồng thời nhận ra mối quan hệ trong gia đình họ hết sức kỳ lạ.
Họ làm việc quần quật hn bất cứ tên nô lệ nào. Tinh lực của họ hn người và hình như trí tuệ cũng siêu phàm nữa. Không ai bắt gặp họ chán nn hay mệt mỏi. Họ thường cười, nụ cười trong sáng, vô tư lự. Nụ cười của họ có tác dụng lây vui và khuyến khích người khác.
Si Di Tử Bì lại có một bà vợ tuyệt đẹp, cao nhã. C hai vợ chồng có chỗ khác nhau này: Bà vợ thường điểm trang tuyệt vời như sắp đi dự hội và tuyệt nhiên không tham gia một công tác lao động nào. Nhưng người nhà của Si Di Tử Bì lại hết sức kính trọng vị trung niên mỹ phụ ấy.
Vào những buổi sáng bình thn, người ta bắt gặp vị trung niên mỹ phụ ấy cưỡi ngựa sánh vai với chồng chạy trên đường cái. Người ta nhận thấy kỹ thuật cưỡi ngựa của đôi vợ chồng ấy rất cao.
Người ta còn bắt gặp những hiện tượng không
Không như Trung Quốc bây giờ có ngôn ngữ thống nhất, nước Tàu xưa có đến hàng trăm cách nói khác nhau. Người trong một nước nhỏ vẫn chưa chắc nói cho nhau hiểu, huống chi là khi đi sang nước khác. Vì thế, Phạm Lãi là người nước Sở, sang ở Việt, đến khi sang Tề mới bị coi là người ngoại quốc, nói tiếng ngoại quốc. - Chú thích của dịch gi.
tưng xứng: Ví như Si Di Tử Bì trông rất mạnh khỏe song đầu tóc bạc ph. Người ta cũng không biết Si Di Tử Bì từ đâu tới, tới được bao lâu. Họ chỉ biết là vào mấy năm gần đây, tên tuổi của Si Di Tử Bì rất lớn. ở hi cng này thường có khách quý từ Lâm Truy đến thăm viếng Si Di Tử Bì.
Người ta nghe không hiểu được những gì Si Di Tử Bì bàn chuyện cùng khách. Nào là ba nhà cường thịnh tại Tấn, nào là Lỗ công khai thần phục Việt, Việt không thể vào Trung Nguyên lần nữa...
Hàng năm Si Di Tử Bì ra đi mấy lần. Nhất là ba năm gần đây Si Di Tử Bì ra đi rất đều với vợ và một gia đồng. Họ cưỡi ngựa, đa phần là đi Lâm Truy. Lúc đi, Si Di Tử Bì lại đeo trường kiếm.
Si Di Tử Bì là ai, không một ai biết được. Hàng quý tộc Lâm Truy ngỡ Tử Bì là một công hầu vong quốc nào đó, hay một công tử giàu sang chạy trốn gia cừu đổi họ thay tên. Nhưng rồi cũng không ai dám xác định điều gì, bởi Si Di Tử Bì quá rành nước Tề, chứng tỏ không phi người nước lạ.
Si Di Tử Bì tận lực làm việc song xem tiền bạc rất nhẹ. Người thường đem của ci giúp kẻ bần hàn. Nghe nói quan viên cao cấp thành Lâm Truy cũng thường tiếp được một cách bí mật quà tặng của Tử Bì. Vì vậy, gần như mọi người trong triều đều hết lời ca tụng. Thật ra sự hiểu biết của Si Di Tử Bì thật hiếm có ở Lâm Truy.
Bấy giờ là mùa thu, khí hậu ở Tề khác hẳn Ngô, Việt. Trung thu ở Tề, cỏ cây vàng úa, nhưng vòm trời rất cao, tạo nên mỹ cnh yên lành, trong vắt.
Vào hoàng hôn, vợ chồng Si Di Tử Bì đến Lâm Truy, được đón tiếp ở tân quán hoa lệ. Đó là ni Tề dùng tiếp đãi sứ thần các nước hoặc khách thật quý.
C hai vừa đến thì có tướng quốc nước Tề là Trần Hằng viếng liền... Trần Hằng là nhân vật quyền thế ở Tề, đã phế Tề vưng lập tân quân, một mình độc chiếm quyền bính.
Sáng ngày hôm sau có hai vị đại phu đến đưa Si Di Tử Bì sang Tướng phủ thăm tr lễ Trần Hằng quá trưa mới về, khiến bà vợ ở nhà mỏi lòng trông đợi.
Si Di Tử Bì đã uống rượu, mặt bừng đỏ, lúc nhìn thấy vợ liền vòng tay có ý xin lỗi, nói:
- Chắc nàng lo lắm!
- Không. Xa phu trở về có nói chàng được Trần tướng quốc giữ lại ăn trưa. (Bà vợ cười yêu kiều). Nên thiếp ăn trưa một mình.
- Ô, nụ cười của nàng rất đẹp.
- Nữa... (Bà vợ rút người bên ông chồng vừa sấn tới). Từ xưa đến nay không có ai cứ mỗi ngày mỗi khen vợ mình.
- Tình ta khác hẳn người đời. Tây Thi, chúng ta vào trong, ta có nhiều điều muốn nói với nàng.
C hai là vong thần Phạm Lãi và Tây Thi của Cô Tô đài.
Sau khi Cô Tô đài thành bị phá, c hai th thuyền trên mặt Thái Hồ, sống vô gia cư gần một năm. Kế bị Việt vưng phái người đi khắp ni tìm kiếm, c hai mới cưỡi thuyền lớn ba buồm từ Thái Hồ du nhập Trường Giang, từ Trường Giang lướt ra biển c, đi dọc theo biển đến nước Tề. Từ đó Phạm Lãi đổi tên là Si Di Tử Bì.
Phạm Lãi không cần nổi danh nhưng tên mới Si Di Tử Bì vẫn vang dội nước Tề. Mọi người không biết Phạm Lãi là ai, song mọi người đều biết tài năng của Si Di. Người nước Tề đem Si Di Tử Bì so sánh với Khổng Khâu (tức Khổng Tử), song Khổng Khâu đã chết mà Si Di Tử Bì còn sống.
Si Di Tử Bì kéo vợ vào phòng trong, nửa như đắc ý, nửa cười khổ nói:
- Tây Thi! Tướng quốc nước Tề rất phục ta, muốn lưu ta lại làm quan.
- ờ...
- Thay tên đổi họ, rốt cuộc rồi vẫn chạy không thoát được.
- Tự nhiên là tại chàng có tài nổi bật. (Tây Thi mỉm cười). Và có lẽ cũng tại chàng thích làm cho nổi bật, phi không?
- Nàng lại nói móc ta rồi.
Si Di Tử Bì cười khổ, nói thêm: - Xuất thân của ta bắt ta không thể nào lãng quên chuyện theo dõi tình hình các nước. Ta bắt buộc phi tiếp xúc với vài người, không ngờ việc đến thế này!
Tây Thi cố ý nói đùa:
- Thiếp cho là tại chàng không thể sống đời đạm bạc.
- Ta phn đối nàng nói thế. Trên mặt Thái Hồ, chính nàng mới không thích sống yên phận.
- Nhưng thiếp cũng đâu có mong cho chàng đến Tề giao tiếp với các bậc công hầu để lòi chân tướng ẩn sĩ ra.
Tây Thi cười đùa:
- Có lần thiếp thấy chàng bàn chính trị với một vị đại phu nước Tề đầy hứng thú, chứng tỏ chàng rất hứng thú trong việc làm chính trị.
- Thôi thôi... May mà họ không biết rõ thân phận của ta nên chẳng sao. V lại ta cũng không dứt khoát nhận lời mời của Trần Hằng. Nếu nàng không đồng ý thì ta sẽ không nhận lãnh gì c.
- Thiếp đâu có phn đối. (Tây Thi nhếch môi cười). Thiếp biết tinh lực của chàng hn người nên nào có ngăn cấm chàng làm việc gì đâu!
Si Si Tử Bì nâng siết tay vợ:
- Tinh lực hn người...
Bấy giờ lại có một vị đại phu đến viếng. Si Di Tử Bì bước ra tiếp rước, khong nửa giờ sau mới quay vào với vẻ mặt dàu dàu. Tây Thi lo ngại thầm, rước hỏi:
- Thiếu Bá! Có chuyện gì rồi?
- Văn Chủng đã chết!
Si Di Tử Bì đóng chặt cửa phòng, nặng nề ngồi xuống nói tiếp:
- Ta dự đoán Việt vưng không thể dung tha Tử Hội. Nhưng Tử Hội lại không thể ra đi.
- Việt vưng giết Văn đại phu à?
- Phi. Việt vưng lại dùng Thuộc Lâu bửu kiếm trao cho Văn Chủng.
- Thuộc Lâu bửu kiếm?
Tây Thi nghe tim đập mạnh. Vĩnh viễn nàng không thể quên thanh kiếm ấy, thanh kiếm mà năm xưa Ngô vưng đã gửi cho Ngũ Tử Tư. Thuộc Lâu bửu kiếm đã tắm máu Ngũ Tử Tư để sau đó nước Ngô dần dần suy yếu, đi đến diệt vong. Riêng với nàng, sau khi Ngô vưng chết, nàng cũng muốn dùng thanh kiếm ấy để tự sát. Tây Thi còn nhớ, sau cùng Phạm Lãi để kiếm lại Cô Tô đài, lẽ đưng nhiên Việt vưng chiếm giữ.
Ngũ Tử Tư là trụ cột nước Ngô, mất Ngũ Tử Tư, nước Ngô bị diệt. Ngày nay Văn Chủng lại là trụ cột của nước Việt, mất Văn Chủng, nước Việt rồi cũng sẽ như Ngô. Vì thế, Tây Thi đau khổ kêu lên:
- Tại sao?
- Không tại sao c, Văn Chủng bị giết như Ngũ Tử Tư vậy.
- Việt vưng phi biết, mất Ngũ Tử Tư nước Ngô sụp đổ...
- Nhưng Việt vưng lại cho rằng vưng nghiệp của mình vĩnh viễn không thay.
Si Di Tử Bì hạ giọng nói thêm:
- Hn nữa, Việt vưng còn có quan niệm phân biệt quốc gia. Văn Chủng và ta đều là người Sở, dưới mắt Việt vưng thì Văn Chủng không thể mãi mãi trung thành với Việt. Lúc Việt nguy, vua Việt cần người Sở, nhưng khi bình yên rồi thì trở lại hoài nghi. Ôi, Việt vưng không biết Văn Chủng và ta đã trở thành người Việt!
Đối với chính sự phức tạp, Tây Thi không làm sao hiểu được rõ ràng. Đứng về phưng diện cm tình, nàng xem Văn Chủng và Phạm Lãi đều là người Việt, trung thành với Việt như Ngũ Tử Tư đã trung thành với Ngô vậy.
Tây Thi bỗng nghĩ đến nguyên nhân đưa họ từ Sở sang Việt mà nàng chưa biết, cũng chưa từng nghe ai nói nên hỏi:
- Thiếu Bá! Tại sao chàng và Văn Chủng không ở Sở phục vụ? Năm xưa, Ngũ Tử Tư bị bắt buộc mới phi đầu Ngô chứ như các người...
- Chư huynh đều vì nước Sở đó.
- Thiếp chưa hiểu... nước Việt đâu phi là bn quốc của chàng.
- Nhưng là quốc gia của nàng.
Si Di Tử Bì đầu bạc chợt hôn nhẹ má vợ khiến Tây Thi giãy nẩy:
- Thiếu Bá, thiếp nói chuyện đàng hoàng mà!
- Nhưng trước nàng, ta không có cách nào đàng hoàng cho được.
Si Di Tử Bì rút lui, gii thích:
- Thật ra thì thế này: Sở thường bị Ngô quấy nhiễu, Ngũ Tử Tư lại mượn quân Ngô kéo sang Sở tr tư thù khiến quốc gia ta không đối phó nổi. Vì thế, Sở vưng mới phái chư huynh vào Việt, giúp đỡ Việt vưng thành lập một quốc gia minh hữu với Sở để phụ kiềm chế Ngô. Chư huynh vào Việt ban đầu chỉ là để thi hành một chiến lược!
- Thế thì sau khi thành công dẹp Ngô, tại sao chàng và Văn Chủng không trở về cố quốc?
- Chư huynh đã biến thành người Việt hết rồi, thời gian đã làm biến đổi tất c... Chư huynh có về Sở thì cũng bị người Sở xem là người Việt thôi.
- à, thiếp hiểu... Vì thế nên Văn đại phu mới không rời Việt.
Si Di Tử Bì nói giọng trầm trầm:
- Nếu không vì nàng, ta cũng không rời Việt. Nếu còn ở Việt, giờ này e ta cũng như Văn Chủng!
- Đối với chàng, Việt vưng không xử thế đâu!
- Mà thôi, Tây Thi! Chúng ta đã chạy thoát vòng hệ lụy ấy thì cần gì nói nữa. Nào, để ta trông nàng... coi giống... (Phạm Lãi đưa cao hai tay nâng mặt người yêu) Tây Thi, trông nàng dường đẹp hn hôm qua.
- Quỉ nà! Chàng cho thiếp hãy còn mười tám chắc?
Tuy nói thế, Tây Thi vẫn tựa sát người vào Phạm Lãi. Gái nào cũng thích được trai khen, Tây Thi không ngoại lệ. Nàng vui mừng tuy nàng vẫn biết không thể như thế được.
C hai ôm nhau như tình nhân lén lút thì thầm. Phạm Lãi bỗng kề sát tai Tây Thi bo nhỏ:
- Ta quên nói với nàng một việc: Đêm nay, c ta và nàng sẽ cùng đi đến tướng phủ dự yến.
- Ô, nói như thế là chàng đã nhận chức rồi? Vậy mà vừa rồi chàng bo là không nhận.
- Trần Hằng ngỏ ý mời ta làm Thượng khanh. Ta chưa suy nghĩ, chưa tuân mạng thì kể là chưa nhận.
Si Di Tử Bì cà râu trên mặt vợ, cười khúc khích:
- Nhưng ta nhận đưa nàng đến dự yến để cho Trần Hằng thấy ta có một bà vợ xuất sắc vốn là bo vật của ta.
- Đó là Tây Thi của hai mưi năm trước kìa...
- Ta cm thấy nàng bây giờ đẹp hn hai mưi năm trước. Bây giờ, nàng là của ta chứ hai mưi năm trước thì không phi. (Si Di Tử Bì bỗng nâng cằm vợ) Tây Thi! Nàng ở với Phù Sai bao lâu không con, nhưng ở với ta được một đứa.
Tây Thi đẩy gạt tay chồng:
- Thiếp không muốn nghe nhắc chuyện cũ.
- Được rồi... Nàng cũng không cần tỏ vẻ giận dữ.
- Với người như chàng thì nên dữ hn một chút.
Si Di Tử Bì chu miệng đùa:
- Đừng có khinh ta... Khinh khi một ông chồng già là đáng tội!
- Thiếp ghét nghe chàng tự xưng già. (Tây Thi bỗng đưa mười ngón tay thon đan tóc chồng) Có lúc thiếp sẽ cạo sạch ba cái tóc bạc.
C hai bật cười. Cùng sống bên nhau, cuộc sống của c hai rất thoi mái, nhẹ nhàng. Có phi buồn phiền thì cũng chỉ buồn phiền đến mức đó.
***
Làm Thượng khanh Tề quốc, Si Di Tử Bì trở thành nhân vật đặc biệt ở thành Lâm Truy. Người giúp cho Trần Hằng ci tiến ngành đánh cá, nghề làm muối, thâu hoạch hai lần nhiều hn trước. Người cũng hướng dẫn cho nông dân cày sâu, làm cho đất phì nhiêu, đồng thời ci tiến quân đội dường như mới lại hoàn toàn. Người còn đem c “Ngư lê trận”, một trận pháp trứ danh dạy cho quân Tề nữa.
Mọi người đều lấy làm lạ về tài năng đa diện của Si Di Tử Bì. Họ nghĩ, bằng vào tài hoa ấy thì đi đến nước nào, Si Di Tử Bì cũng được trọng dụng và ủy thác triều chính. Vì vậy, người ta lại hoài nghi thân thế của Si Di.
Người ta biết Si Di Tử Bì nói được làu làu phưng ngôn của ít nhất là ba quốc gia: Tề, Sở, Ngô. Ngoài ra, Tử Bì lại còn nói được một số thổ ngữ nước Lỗ - ngôn ngữ của Tề - Lỗ có phần giống nhau - Lại nữa, Tử Bì còn am hiểu âm nhạc nước Tần. Lẽ tự nhiên, Tử Bì phi nói được tuyệt vời tiếng Việt song Người chưa nói ra trong mưu định che giấu thân thế. Si Di Tử Bì đưa mọi người đoán mình là người Sở, người Ngô, người Tề...
Người ta bắt đầu điều tra Si Di Tử Bì, bắt đầu kiểm điểm hàng ngũ công hầu nước Tề, nước Ngô, nước Sở. Thậm chí người ta còn kiểm điểm lại tên các đại phu nước Sở, song cũng không tìm ra ai lỗi lạc như Si Di.
Có lúc, người ta đem tên Phạm Lãi của nước Việt ra so với Si Di. Nhưng khi nói ra với Trần Hằng thì Trần Hằng c cười:
- Chư vị suy đoán quá nhiều rồi! Phạm Lãi của Việt sao lại đi nhận chức Thượng khanh của Tề được? Sau khi phá Ngô, Việt vưng Câu Tiễn từng ngỏ ý muốn cắt đất Ngô giao cho Phạm Lãi làm vua cai trị. Thế mà Phạm Lãi còn từ chối, lén bỏ trốn đi. Câu Tiễn phái người tìm kiếm khắp các ni cũng không ra. Làm vua nước Ngô, Phạm Lãi còn không màng thì tội gì lại đi nhận chức Thượng khanh nước Tề?
Gi thiết Si Di Tử Bì là Phạm Lãi bị gạt bỏ.
Nhưng gi thiết ấy lại lọt vào tai Si Di Tử Bì khiến người bất an. Một buổi chiều cùng vợ đối ẩm, Si Di Tử Bì ý nhị và cm khái thuật lại chuyện người Lâm Truy đoán mò thân thế mình. Đoạn c cười:
- Hôm kia, tướng quốc Trần Hằng bàn về Phạm Lãi, thấy buồn cười!
Tây Thi trề môi hỏi:
- Trần Hằng không mắng Phạm Lãi chứ?
- Tự nhiên là không, Phạm Lãi đã được mọi người sùng kính!
- Chà, mèo khen mèo dài đuôi!
Si Di Tử Bì rùn vai, nắm lấy tay vợ:
- Nàng xem thường ta? Nàng cho rằng chồng nàng không đáng cho người khác tôn kính?
- Thiếp cm thấy... Phạm Lãi phi chờ Tây Thi mới được người ta sùng kính. Nếu mãi đến giờ Phạm Lãi vẫn ở bên Việt, biết có được sùng kính chăng?
- Tự nhiên! Nhưng tài học và sự uyên bác bn thân cũng có quan hệ.
Si Di Tử Bì thẳng thắn nói thêm:
- Ví dụ, sau khi thay tên đổi họ, ta vẫn vang danh trùm nước Tề, không một nhọc công nào vẫn được cử giữ chức thượng khanh.
- Cũng là nhờ thiếp... có thiếp bên cạnh... (Tây Thi cười yêu kiều) Thiếu Bá, chàng qu là một thiên tài đó.
- Ơ... ờ... ờ...
Si Di Tử Bì xoa má vợ đã ngã tựa vào mình:
- Người Việt thích nói tiếng đệm ở cuối câu!
- Người Sở cũng thế thôi. (Tây Thi vuốt lại tóc bạc của chồng) Chàng không nên cười thiếp mới phi chứ?
- Tây Thi!
Si Di Tử Bì hớp một ngụm rượu, “mớm” lại từng chút cho Tây Thi, dùng động tác ấy thay lời đáp phi hay không. Tuy đã trọng tuổi, vợ chồng Si Di Tử Bì vẫn say sưa và đầy nhiệt tình lúc ở bên nhau.
Uống rượu qua miệng chồng, Tây Thi hỏi giọng nhẹ nhàng:
- Chàng vừa nói người Lâm Truy bàn luận về chàng, sao không nghĩ cách đối phó?
- Ta nghĩ, mình không thể ở Tề được nữa!
Nói về một vấn đề hết sức nghiêm trọng, thần sắc của Si Di Tử Bì vẫn nhẹ nhàng như rất thn nhiên. Cứ có Tây Thi bên mình, nằm trong lòng thì không có việc gì làm cho Si Di Tử Bì nôn nóng c. Nhưng Tây Thi sốt ruột:
- Không thể ở Tề à? Tại sao? Chúng ta phi làm cách nào?
- Tại vì Si Di Tử Bì quá nổi danh. Một người muốn an cư thì không nên để cho nổi danh. Thế nên, để được sống mãi với nàng như thế này, chúng ta chỉ còn cách phi rời Tổ quốc. Chuyện gin dị quá, chúng ta không có liên hệ gì với Tề thì lúc nào cũng có thể bỏ đi được.
- Đi? Chúng ta đã tạo được gia nghiệp lớn lao thế này lại bỏ đi sao?
Si Di Tử Bì đáp không một chút ái ngại:
- Có đáng gì đâu! Gia nghiệp thì lúc nào ta cũng tạo dựng được.
Đầu tuy bạc trắng, Si Di Tử Bì vẫn còn hào tình vạn trượng.
Tây Thi cúi gầm. Nàng quen hưởng lạc, thiếu hẳn niềm tin trong việc bỏ ri c nghiệp cũ để kiến tạo cái mới nên dàu dàu:
- Thiếu Bá! Thiếp không có hùng tâm như chàng, thiếp cho rằng việc này không gin dị.
- Phi, song cũng chẳng có gì khó khăn.
- Thiếu Bá! Đến địa phưng khác chàng cũng lại nổi danh nữa. Tên Phạm Lãi sáng chói quá, chàng thay đổi thành Si Di Tử Bì rồi vẫn nổi như thường. Thế là cứ phi bỏ đi, phi kiến tạo lại, ở đâu vài ba năm rồi cũng nổi danh. Chàng vẫn là chàng, không vì việc thay tên đổi họ mà che giấu được kh năng.
Tây Thi nhỏ nhẹ khuyên:
- Thiếp cho rằng chàng từ chức Thượng khanh quay về hi cng thì có thể an cư lạc nghiệp được.
- Nếu ta từ quan mà vẫn sống ở Tề thì sẽ bị Trần Hằng giết chết. Trần Hằng sợ người nước khác dùng ta. Tây Thi! (Si Di Tử Bì vẫn cười ngọt ngào) Chính trị là vô tình vô nghĩa như vậy.
- Phi. Nhưng chàng là người có tình có nghĩa nhất, không thể làm chuyện vô tình vô nghĩa như vậy.
Tây Thi đưa tay xoa nhẹ má chồng lúc lâu mới tiếp:
- Nói thế nghĩa là không đi không được rồi!
- Nếu nàng không phn đối thì theo ta, không đi không được.
- Chàng biết thiếp không phn đối bất cứ quyết định nào của chàng.
Tây Thi mang tình lai láng trong ánh mắt liếc chồng đang cười. Bỗng nhiên, nàng ra sức đẩy chồng, ngồi bật dậy:
- Thiếu Bá! Thôi thiếp biết c rồi, chàng chuẩn bị xong đâu đó rồi, phi không? Nói thật đi!
Si Di Tử Bì rút vai, nhăn mặt làm xấu. Tây Thi bị trêu đến tức cười, giá tay:
- Nói đi! Thiếp không đồng ý để chàng xem thiếp như con nít vậy!
- Phi đó, bẩm phu nhân... Ta đã chuẩn bị hn hai tháng rồi.
- Tại sao không nói cho thiếp biết trước?
- Nàng biết chồng nàng là nhà chính trị mà! Một chính trị gia phi bo mật với c vợ con.
Tây Thi bỗng cm khái, thở dài:
- Ôi, chàng đã kinh lịch quá nhiều mà mãi đến hôm nay vẫn còn không sao quên được chính trị.
Si Di Tử Bì ngưng cười, nâng tay vợ, trở nghiêm nói:
- Tây Thi, lần này là lần sau cùng. Hôm nào rời Tề, ta sẽ không màng đến chuyện chính trị nữa. Ta là người sinh nhai bằng nghề làm chính trị, nhưng kể từ hôm nay, ta tuyên bố kết thúc.
- Năm xưa, lúc đưa thiếp vào Thái Hồ, chàng cũng nói như vậy.
- Đúng. Nếu được ở mãi trên hồ, tự nhiên ta không chen vào chính trị. Hồi ấy, ta không làm trái lời. Bây giờ, ta nói lại lần nữa, từ rày về sau, dầu có ở trên lục địa ta cũng không màng đến chính trị.
Tây Thi lắc đầu cười đùa:
- Thiếp không hứng thú nghe chàng thề thốt mãi.
- Thế thì chuyện gì mới làm cho nàng hứng thú? Kế hoạch tưng lai của ta chăng?
Tây Thi gật đầu, Si Di Tử Bì hưỡn đãi nói thêm:
- Ta nghiên cứu đại thế trong thiên hạ (1) biết rằng chẳng bao lâu nữa sẽ có cuộc biến động mới. Nhưng chúng ta cũng không cần phi sợ biến động, vì biến động là một cách nâng chức tiến bộ của xã hội. Sau này, người làm chính trị sẽ nhiều, họ chọn con đường chính trị để vinh thân phì da. Nhưng ngoài chính trị, ta đã phát hiện được con đường khác mà nhiều người trước đây không biết.
Ngừng lại một chút, Si Di Tử Bì trịnh trọng tiếp:
- Đó là con đường thưng mãi. Thế giới chúng ta mỗi ngày mỗi thêm đông đúc, cuộc sống sẽ càng lúc càng phức tạp hn. Dân chúng rồi sẽ cần nhà thưng mãi hn nhà làm chính trị. Ta sẽ dốc hết tinh lực lo công việc này, đem cá, muối nước Tề sang Tần bán, rồi chở bông vi từ Tần, Tấn đến Trung Nguyên. Thực
phẩm của Ngô, Sở dư d khá nhiều trong khi ở ba nước Tống, Trần, Trịnh lại thiếu hụt. Hn nữa, t
(1) Vào thời Đông Châu, phưng tiện giao thông hạn hẹp, chữ “thiên hạ” dùng đây chỉ có nghĩa là toàn thể nước Tàu bị phân chia chứ không phi thế giới gồm năm châu như ngày nay. - Chú thích của dịch gi.
lụa của Sở, Hán có thể chở đến Tề, Lỗ và Lạc Dưng đổi lấy đồ đồng, đồ thau. Ô, tính ra thì có biết bao việc phi làm, ta nói c đêm cũng không hết việc. (Si Di Tử Bì hít một hi dài) Tây Thi! Ta đã chọn được một ni thích hợp.
- Thiếp biết rồi, mấy hôm trước chàng cho An ra cửa thành, chắc chắn là để thay chàng bố trí công việc.
- Đúng vậy. (Si Di Tử Bì nhếch mép cười) Ta chọn Đào ấp vốn là đất lành phát tích vua Nghiêu, giờ trở thành một nước nhỏ không có xung đột, ở về phía Nam nước Tề. ở địa phưng ấy rất tiện lợi trong việc giao thông, An đến đó để thay ta mua trước một ngàn mẫu đất. Lúc chúng ta đến, có lẽ vùng ấy sẽ tốt hn ni này.
Nhận thấy chồng đã chuẩn bị đầy đủ hết, Tây Thi hỏi:
- Thế bao giờ chúng ta đi?
- Có thể đi liền trong đêm nay, nhưng tốt nhất là để đêm mai. Vì ta đã hứa cho Tử Hòa một cái đỉnh, ta đặt làm trưa mai mới có.
Tử Hòa là đứa con chính thức giữa Tây Thi và Phạm Lãi.
Tây Thi đâm ra bàng hoàng:
- Thế thì nhanh quá, gấp quá! Đồ đạc chúng ta ở hi cng hoàn toàn bỏ hết sao?
- Nửa tháng trước, ta đã cho Bình đến gii quyết công việc đó, lúc nào mình cũng có thể ra đi.
Tây Thi bối rối ngay khi Si Di Tử Bì bình thn nói luôn:
- Tây Thi, đêm mai chúng ta lên đường nhé!
Tây Thi sững sờ, khá lâu sau mới dàu dàu nói:
- Thế thì đêm nay là đêm cuối cùng của chúng ta ở tại Lâm Truy.
Sáng ngày hôm sau, Si Di Tử Bì vẫn vào triều như thường. Không một ai nhận ra có điều khác lạ. Nếu có thì là việc Si Di Tử Bì đem đồ vật tặng vài bằng hữu, ít lắm có đến ba vị đại phu và hai vị thượng khanh nhận được quà biếu.
Đêm ấy, sau mười hai giờ, Si Di Tử Bì đánh xe nhẹ cùng vợ ra cửa phía Đông thành Lâm Truy. Cửa thành đã đóng nhưng Si Di Tử Bì có đủ giấy tờ chứng minh, bo quân canh mở cửa cho mình đến xem qua binh tình ở bờ biển dưới trăng.
Xe ra khỏi thành, có hai gia nô cưỡi ngựa mở đường chạy thẳng trên đường cái. Đi được ngoài mười dặm thì có sáu xe lớn chờ sẵn vợ chồng Tây Thi. Xe nào cũng chở đồ ăm ắp, xe nào cũng dùng bốn ngựa khỏe mạnh kéo xe.
Tại hi cng, mọi việc đã chuẩn bị sẵn sàng. A Mang tự động đốc thúc mọi người đem hết đồ đạc lên thuyền. Sáu xe từ Lâm Truy tới cũng cho xuống thuyền chở luôn.
Tây Thi thắc mắc hỏi:
- Thiếu Bá! Chàng bỏ rất nhiều đồ quý trọng, tại sao lại đem theo mấy chiếc xe ngựa này?
- Trong tưng lai, khong năm năm nữa, ta có thể có ba trăm xe kéo đi thành dọc dài. Vì vậy, xe và ngựa này là vật cần thiết nhất.
Nói xong, Si Di Tử Bì kéo Tây Thi lên thuyền, kiểm điểm lại đồ đạc.
Dưới trăng mờ, bên ven biển, có ba chiếc thuyền lớn. Trong khoang lớn chiếc thuyền thứ nhất chở khong trên năm mưi ngựa. ở lòng thuyền chất đầy ắp sắt miếng, sắt khúc, gỗ cứng, những nguyên liệu cần thiết cho việc đóng thuyền. Trên mui thuyền ngổn ngang dụng cụ làm mộc.
Thuyền thứ hai chở mười chiếc xe ngựa, vài con bò sữa, bò giống và những dụng cụ làm ruộng.
Thuyền thứ ba là thuyền đã chở vợ chồng Si Di Tử Bì bềnh bồng trên mặt Thái Hồ, chất đầy vi sồ, đồ dệt, của riêng tây.
Si Di Tử Bì nói:
- Tại hi cng này, ta để lại gần năm mưi bò, nhiều đồ vật. Tại Lâm Truy, ta cũng lưu lại chẳng ít đồ đạc, có lẽ Trần Hằng thỏa mãn rồi.
Tây Thi buột miệng khen:
- Thiếu Bá! Chàng thật là thần xuất quỷ một!
- Bây giờ chúng ta khai thuyền. (Hạ lệnh xong, Si Di Tử Bì tuyên bố chung) Các người nên nhớ, từ rày về sau, danh hiệu của ta là Đào Châu công.
Tây Thi mỉm cười:
- Lại đổi tên mới nữa... Tưng lai rồi cũng sẽ như Si Di Tử Bì!
- Không đâu, Si Di Tử Bì đã chết, cũng như Phạm Lãi đã chết. (Đào Châu công thn nhiên nói luôn) Kể từ nay, Đào Châu công sẽ sống an phận thủ thường với Tây Thi!
Ba thuyền trưng buồm một lượt, dàn thành hình chữ phẩm lướt ra biển c. (Hình chữ phẩm là một chiếc đi trước, hai chiếc còn lại đi song song theo sát phía sau - chú thích của dịch gi).
Đào Châu công hỏi:
- Tây Thi, lần này khác hẳn lần rời Cô Tô chứ?
- Khác à? (Tây Thi nhìn về hi cng dưới trăng). Không khác nhau là mấy, vì cùng có dự mưu chạy chết!
- Nhưng khác ở chỗ lúc rời Cô Tô, trong lòng nàng còn có Phù Sai, chứ lần này thì chỉ có một mình ta!
Tây Thi nghiêm mặt:
- Không cho phép nhắc đến tên người ấy. Vĩnh viễn không được phép nhắc.
- Được rồi, ta không nói nữa đâu.
Tây Thi cười yêu kiều. Đào Châu công tức Phạm Lãi đã đoán đúng... Trong lòng Tây Thi không còn có tên Ngô vưng... Phù Sai...
***
Trong thành Lâm Truy, Trần Hằng vào triều không gặp Si Di Tử Bì. Nhưng khi về nhà thì được qun gia trao cho một hộp làm bằng gỗ cứng. Mở hộp ra xem, Trần Hằng thấy mô hình nhà cửa, điền viên làm bằng kim khí. Dưới đáy hộp có một tờ giấy viết bốn chữ: “Phạm Lãi kính tặng”.
- Ô! (Trần Hằng nhy dựng, hạ lệnh) Các ngưi mau đến nhà Si Di Tử Bì xem thử rồi lập tức trở về báo cho ta biết.
Vợ chồng Si Di Tử Bì không còn ở đó nữa...
- Thì ra là Phạm Lãi!... - Sau khi nhận được báo cáo, Trần Hằng thở dài thườn thượt, không phái người đuổi theo.
Trần Hằng biết rõ, đối với Phạm Lãi có đuổi theo cũng không kịp. Việt vưng đã dùng toàn lực khuynh đo c nước để đuổi theo Phạm Lãi biết bao năm vẫn không đuổi được nữa là... Chỉ có mỗi một việc làm được, đó là thái sử nước Tề phụng mạng ghi chuyện Si Di Tử Bì vào lịch sử.
Đào Châu Công
Lúc Ngô vưng truyền ban Thuộc Lâu bửu
kiếm cho Ngũ Tử Tư, gia thần của lão đề nghị lão bỏ trốn. Trong lịch sử, Ngũ Tử Tư còn có tên là “Kẻ vong mạng”, vì lúc nhỏ đã từng chạy trốn lưới bao của Sở. Nhưng lúc nhận kiếm, Ngũ Tử Tư lại nói:
- Vong thần an thích?
ý của Ngũ Tử Tư là kẻ vong thần thoát được lần thứ nhất chứ không còn đường trốn lần thứ hai. Riêng Phạm Lãi thì đi được luôn, lần này rồi lần khác, lần khác nữa, mỗi lần ra đi một thêm huy hoàng. Đất Sở đã sinh được một Ngũ Tử Tư vĩ đại thì đất Sở cũng sinh được một Phạm Thiếu Bá còn vĩ đại hn.
***
Bấy giờ, bước chân lịch sử đã bước vào thời đại Chiến quốc.
Thời đại Xuân Thu ấy, Tấn thay Tề xưng bá ở Trung Nguyên rồi bị các quan quân địa phưng dấy lên, chia thành ba nước độc lập: Ngụy, Triệu, Hàn. Tuy họ còn mang hiệu Tấn song thực tế thì họ tự chủ từ đời Châu Trinh Định vưng năm thứ mười sáu.
Bấy giờ, ngoài vua nhà Châu, trong thiên hạ gồm có Sở, Việt, Triệu, Tề, Tấn, Ngụy, Hàn, tám nước lớn. Sống lẫn lộn chen giữa các nước lớn ấy gồm có Tống, Lỗ, Trịnh, Vệ, Lữ, Trâu, Kỷ, Thái, Đàm, Nhiệm, Thắng, Tiết. Tự nhiên, hãy còn một số các nước bán độc lập, ví như Đào ấp, trước vốn thuộc Tống, sau vì cuộc chiến của Tống, Tề mà tách ra thành một khu vực trung lập bán độc lập. Đào ấp nằm trái độn để làm gim bớt căng thẳng giữa hai nước lớn.
Bấy giờ, ở Trung Nguyên ngoài một khu vực như nói trên, hãy còn nhiều thứ bộ lạc và quốc gia nhỏ bé như Hung Nô, Đông Hồ, Lâu Phiên, Lâm Hồ, ấp, Thục, Trung Sn, Đại Hiệp v.v...
Thiên hạ cứ phân chia, cứ loạn lạc, song trong sự loạn lạc ấy bỗng có một hiện tượng hết sức đặc biệt xuất hiện. Cứ dùng son viết hai chữ “Đào Châu” trên xe thì muốn đi qua nước nào cũng lọt.
Đào Châu là gì? ở đâu? Có phi là một địa danh không? Điều ấy rất ít người biết và họ cũng chẳng mấy quan tâm. Họ chỉ để ý đến các xe ngựa có mang hai chữ “Đào Châu”, bởi vì các xe ấy mang lại từng địa phưng những vật mà địa phưng ấy cần có.
Từng đoàn xe chở t lụa từ Giang Nam xa xôi đến tận Hàm Dưng của nước Tần trên mặt Tây Bắc để đổi lấy vi cây, vi xấp. Rồi lại tri đường ngàn dặm vận sang Yến Kinh bên Đông Bắc. Đoạn từ Yến Kinh chở về thuốc men, tiền đồng...
Muối ở bờ biển nước Tề được cho vào bao chở vượt quan sn, cũng đến Hàm Dưng. Dân chúng nước Tần cần muối nhất. Hàng quí tộc cho muối là bửu vật, mới có muối biển mà ăn trong khi người bình dân c đời chưa hề có dịp biết được mùi vị muối.
Trên kinh rạch, sông ngòi hay biển c cũng có thuyền đi lại mang cờ hiệu “Đào Châu”.
Tại Hàm Dưng, nhà Tần bỗng đón tiếp một vị khách ngoài ý. Vị khách ấy là nhà buôn đi du lịch, là chủ nhân hàng hàng lớp lớp xe thuyền mang hai chữ “Đào Châu”. Vị khách ấy là Đào Châu Công được vua Tần triệu kiến.
Đào Châu Công ung dung xuất hiện tại triều nhà Tần với vợ là một chuyện bất bình thường. Bởi từ xưa tới nay không có một người đàn bà nào được theo chồng vào triều kiến bao giờ. Nhưng việc này là do có lời yêu cầu đặc biệt của Đào Châu Công. Ngài tỏ rõ ý nếu không cho vợ cùng vào thì Ngài sẽ không đến gặp vua Tần.
Kết cuộc vua Tần phi chấp thuận lời yêu cầu oái oăm ấy. Gần như ai ai trong hàng quí tộc đất Hàm Dưng cũng đều hết sức quí trọng Đào Châu Công. Bởi vì Đào Châu Công đã đưa đến những gì họ cần dùng. Họ sợ lỡ khi s xuất đắc tội, Đào Châu Công sẽ ngưng hàng tiếp tế cho họ. Họ sợ Đào Châu Công hn bất cứ vị vua nào của ngoại quốc. Thất lễ với vua nước ngoài thì có thể đưa đến chiến tranh, song họ không sợ chiến tranh mà lại sợ không có đồ dùng!
Vợ chồng Đào Châu Công ngồi yên ni ghế, chờ được mời vào chầu. Họ có thì thầm với nhau nhưng không một ai nghe được.
Chẳng bao lâu, có một vị ngự sử đại phu bước ra cung kính nói:
- Đào Châu Công! Quân vưng mời vào gặp.
Đào Châu Công từ từ đứng lên bo nhỏ:
- Tây Thi, chúng ta vào thôi!
- Thiếp vào chẳng ý nghĩa gì, để thiếp ở đây chờ chàng.
Tây Thi không đứng lên. Sắc diện của nàng tuy già song giọng nói và tính tình không già. ở bên chồng, thỉnh thong nàng lại như một thiếu phụ đầy nhu tình, tưi mát.
Đào Châu Công nói giọng khẩn khon:
- Ta đã nói rồi, mình cùng vào. Tây Thi, đứng dậy đi thôi!
Liếc qua vị ngự sử nước Tần, Tây Thi rồi cũng đứng lên.
Điện đường báo danh Đào Châu Công. Vua Tần dùng quốc lễ tiếp vị nhà buôn ấy. Quan viên trong triều đưa mắt hiếu kỳ nhìn khách. Họ từng gặp qua vưng hậu, đại tướng, song vẫn cm thấy hết sức mới mẻ và lạ lùng khi nhìn thấy vợ chồng Đào Châu Công.
Vua Tần khách sáo hỏi đôi câu, nhưng chẳng bao lâu sau, nhà vua nhận ra kỹ thuật nói chuyện xuất chúng và sự hiểu biết uyên bác của nhà buôn. Vì vậy, nhà vua cho bày yến tiệc đãi Đào Châu Công.
Đào Châu Công vẫn yêu cầu cho mang vợ theo lại là chuyện chưa từng có trong đại yến ở Hàm Dưng. Để tiếp đãi vợ người nhà buôn, vua Tần lại phi đặc biệt mời thêm một ít nữ khách.
Biết có tiệc này, Đào Châu Công chuẩn bị khá nhiều lễ vật, mỗi người dự tiệc đều được tặng quà, toàn là những thứ trong thành Hàm Dưng không có.
Trong tiệc, Tây Thi không thể ngồi kế bên chồng. Nàng được Tần quốc phu nhân tiếp đãi, c hai bàn qua tình hình các nước. Sau khi làm thưng mãi, Tây Thi theo chồng đi qua rất nhiều nước, biết hn phân nửa các thành thị lớn toàn Trung Quốc. Nàng khéo léo nói về phưng thức đi đứng của gái Hàm Đan, kỹ thuật múa của gái Lâm Truy, các ca khúc của Trịnh, Vệ và lễ nhạc của các triều đình. Nói chung, nàng hiểu biết rất phong phú, cách nói chuyện rất tao nhã làm cho Tần quốc phu nhân rất đỗi ngạc nhiên. Bởi một người đàn bà thường thì không thể có mức hiểu biết rộng rãi và sâu xa như vậy.
ở tiệc bên trái, Đào Châu Công đa tài, bác học, cũng làm cho toàn tiệc chú ý. Đào Châu Công đầy tự tin tr lời hoặc bàn luận vấn đề của các nước. Thiên văn, địa lý, binh học, nội chính, không một mặt nào là ngài không biết. Ngài chỉ tránh bàn về nhân sự và nội chính của các nước.
Vua Tần mê quá, mời Đào Châu Công giữ chức Thiếu phủ khanh. (Thiếu phủ khanh là nắm hết núi non, rừng biển, sông ngòi, có thể nói như bộ trưởng Kinh tế ngày nay, quan trọng hn hết trong chín chức khanh).
Đào Châu công hòa hoãn nói:
- Quân vưng! Tho dân không thể nhận chức, nhận ra e sẽ làm không xong việc. Mấy năm trước, tho dân đã gặp một vị thần tiên ở bờ biển nước Tề. Tiên bo rằng tho dân chỉ có thể đi buôn chứ không thể làm quan. Lúc ấy, tho dân định ra làm quan ở nước Tề, song nghe bo thế nên nhất quyết đi buôn.
- Thần tiên? (Vua Tần c mừng hỏi thêm) Trẫm nghe nói ở bờ biển và ao đầm thường có thần tiên, chuyện ấy thật sao?
- Bẩm phi, tho dân đã gặp qua ở bờ biển nước Tề.
Hoang đường quá, Đào Châu Công có gặp thần tiên bao giờ đâu! Song người có biết lời đồn đại về chuyện thần tiên ở bờ biển nước Tề. Đồn rằng thần tiên bất tử! Đồn rằng thần tiên có thể giúp cho con người hạnh phúc!
Thuở Đào Châu Công còn thiếu thời, thuyết nói về thần tiên chưa có. Lúc ấy, con người chỉ biết trên trời có Thượng đế, con người chết rồi thành quỷ. Nhưng khong ba bốn mưi năm nay, bỗng có truyền thuyết về thần tiên loan đi các nước, ai cũng mong được biến thành tiên hoặc được gặp tiên... Vì thế, lời nói gặp tiên của Đào Châu Công rất dễ làm cho vua Tần tin. Song không vì vậy mà làm cho nhà vua đánh mất quyết tâm mời Đào Châu Công làm quan nước Tần. Nhà vua muốn lưu Đào Châu Công ở lại nước Tần để nhờ mối liên hệ ấy mà nhà vua có thể gặp tiên. Làm vua một nước tuy có quyền lực tối cao, nhưng so với sự trường sinh bất diệt của thần tiên thì hãy còn cách xa nhau lắm!
Nếu được lên tiên, nhà vua nào cũng sẽ sẵn sàng bỏ ri nghiệp đế.
Không khí yến tiệc thay đổi. Mọi người đang tập trung bàn qua vấn đề của các nước vì lẽ Đào Châu Công đã chu du nhiều nước, giờ lại tập trung nói về chuyện thần tiên. Bên bàn đàn bà cũng ngưng mọi chuyện để lắng nghe Đào Châu Công nói đến thần tiên!
Đào Châu Công nói thao thao về chuyện thần tiên có đến nửa giờ. Nếu không vì việc tan tiệc thì Người hãy còn nói nữa. Vua Tần rất lấy làm tiếc, mọi người ăn uống nhanh quá nên tiệc phi tan sớm.
Cuối cùng, Đào Châu Công cất giọng nghiêm trang nói với vua Tần:
- Thần tiên có thể gặp nhưng không thể cầu. Tho dân lữ hành đến đại quốc, nhận được sự tiếp đãi nồng hậu của quân vưng, không biết lấy chi báo đáp ngoài việc chí thành mong cho Tần quốc phú cường, làm bá thiên hạ.
Tiệc tan, Đào Châu Công có hi ngà say loạng choạng bước lên xe. Tây Thi nhăn mặt, cố hết sức ngăn cười. Đợi xe đi được khá xa, nàng mới cất tiếng cười lớn, cười ngã tựa vào chồng. Đào Châu Công đỡ nhẹ nàng hỏi:
- Có việc gì đáng để nàng cười to?
- Thiếu Bá! Chàng... (Tây Thi ôm bụng, thở dồn dập) Thiệt hết nói cho chàng, chàng tệ quá, báo hại thiếp...
Biết vợ muốn nói gì, Đào Châu Công khoát tay ngăn lại. Bởi vì nói chuyện trên xe có thể bị xa phu nghe lén. Hn nữa, cười lớn trên xe cũng không thích hợp.
Tây Thi tựa sát vào chồng hn, nói thêm:
- Ôi, thiếp chịu đựng khổ quá! Thiếu Bá, chàng xoa giùm bụng thiếp!
Vợ chồng Tây Thi có sự thân mật gần như lạ thường. Về đến tân quán, Tây Thi kéo chồng vào phòng, lại cười lớn:
- Thiếu Bá! Lẽ ra chàng không nên nói chuyện hoang đường trước mặt nhà vua. Chàng gặp thần tiên bao giờ?
- Phi, ta chưa gặp thần tiên nhưng thần tiên đã gặp ta là chuyện thật một trăm phần trăm. Có lần...
- Thôi đi! (Tây Thi vã tay chồng vừa đưa lên) Lại bịa chuyện nữa, thiếp không nghe đâu, thiếp không có ngày giờ rnh đâu mà nghe.
Đào Châu Công có vẻ hãnh diện:
- Chuyện ta kể có rất nhiều người muốn nghe đấy!
- Thiếu Bá, tại sao chàng lại bịa chuyện thế này chứ?
- Có một số việc nàng không biết được. Vua Tần muốn giữ ta ở lại làm quan ở Hàm Dưng, ta từ chối, mượn chuyện thần tiên để từ chối. Ta khổ tâm bịa chuyện là vì nàng, ta không muốn ra làm quan.
- Nói thế thì tự chàng đã có ý muốn ra làm quan rồi?
Tây Thi uốn mình, tư thế như một thiếu phụ, so với tuổi tác của nàng thì không phi cách. Nhưng Đào Châu Công quen nhìn, lấy làm thích, vì thế mà cười.
Gặp Đào Châu Công một lần, vua Tần lại cho người đến mời nữa. Nhà vua tình nguyện đem chức “đại lưng tạo” ban cho Đào Châu Công.
Đại lưng tạo là chức tước riêng của triều đình nhà Tần, ngang với chức tướng quốc ở các ni khác. Từ Phạm Lãi đến Si Di Tử Bì rồi Đào Châu Công, Phạm Lãi luôn luôn thành công đủ mọi mặt song chưa chính thức nhận được ngôi vị tướng quốc. Lời mời của vua Tần khiến Đào Châu Công động lòng, song người không dám nói cho Tây Thi biết.
Sự động lòng chỉ ở thời gian ngắn. Cuối cùng, Đào Châu Công vẫn từ tạ ho ý của nhà vua, lên xe rời khỏi Hàm Dưng. Nhưng trước khi đi, Đào Châu Công vẫn hiển lộ tài hoa về mặt chính trị, quân sự. Người bày cho nhà Tần một chiến lược tác chiến mới, dùng kỵ binh hỗn hợp với bộ binh để thay thế truyền thống đánh bằng xe. Ngoài ra, Đào Châu Công còn hiến mô hình một kiểu xe dùng đến sáu ngựa kéo.
Hai điều ấy là yếu tố quan trọng giúp cho Tần xưng bá Trung Nguyên sau này.
Hai điều ấy, Đào Châu Công không nói cho vợ biết. Từ bao giờ, người không che giấu việc mình làm với vợ, cho rằng không có điều gì không thể nói được với Tây Thi. Nhưng riêng chuyện này, người lại giữ bí mật, chôn sâu vào tâm khm. Đối với các vấn đề quân sự, chính trị, Đào Châu Công quyết định kế hoạch một mình, cứ rnh ra là dùng than đá nguệch ngoạc... Có lúc người vẽ trận đồ, có lúc người viết thành chữ đề ra phưng lược trị quốc.
Thuộc làu những điều mình viết, vẽ, Đào Châu Công lại đem vi đốt đi. Bề ngoài thấy đó là sự tiêu khiển của Đào Châu Công, nhưng trong lòng người ẩn chứa một nguyện vọng. Nếu có một hôm nào đó ta xuất hiện thì sẽ không ngỡ ngàng với bất cứ phưng diện nào. Ta phi không ngừng tiến bộ, không ngừng phát minh.
Đào Châu Công già rồi, rất già! Nhưng tinh lực của người vẫn còn tráng kiện. Có việc nhiều đám đông thanh niên không làm được mà người vẫn làm được. Người có thể cử động, có thể đi xa, có thể vịn thành xe nhy lên chiến xa, có thể lên ngựa không cần ai cầm giúp cưng c. Hn nữa, trước mặt Tây Thi, người như một tình nhân trẻ trung.
Tình chồng vợ của Đào Châu Công khá đặc biệt. Họ thân mật làm sao, dường như lửa yêu đưng giữa họ cháy mãi không hết. Lắm lúc họ thân mật tự nhiên trước qung đại quần chúng khiến những người nhìn thấy thầm nghĩ: Kỳ cục làm sao! Già vậy mà y như bọn trẻ!
Nhưng vì Đào Châu Công danh trùm thiên hạ nên nghĩ là nghĩ vậy chớ chẳng một ai dám nói thẳng ra.
Trên xe từ Hàm Dưng đi Quan Đông, vợ chồng Đào Châu Công ngã tựa vào nhau như đôi tình nhân chạy trốn. Đôi khi Tây Thi còn hát một bn xưa thật xưa cho chồng nghe. Năm tháng tuy có làm cho da nàng mất phần tưi mát mịn màng, vầng trán và góc mắt nàng đầy rẫy đường nhăn nhưng giọng điệu của nàng thì vẫn cứ như ngày nào, thanh tao, lnh lót. Đào Châu công lắng nghe, cm thấy êm đềm như quá khứ.
Lúc c hai đến Hàn Đang, vừa được vua Triệu từ nước Tấn tách ra lập quốc tiếp đãi thì được tin cấp báo từ Đào ấp khiến c hai phi tức tốc về nhà.
Nguyên con thứ của Phạm Lãi gây chuyện ở nước Sở, trong lần tranh chấp ấy lỡ tay giết chết một vị công hầu Sở quốc. Nếu giết một thường dân thì bằng vào tài sn và thế lực của dòng họ Đào Châu ở ngoại quốc sẽ rất dễ gii quyết. Nhưng vì là giết một công hầu nên mạng phi thường mạng mới sinh phiền. Qun gia của Đào Châu Công định ém nhẹm chuyện ấy đi, nhưng Phạm Bình lại cho người đi báo với cha, yêu cầu nghĩ cách gii quyết.
Vì con, vợ chồng Đào Châu Công kết thúc chuyến lữ hành, trở về Đào ấp. Vợ của Phạm An quỳ trước mặt Đào Châu Công thỉnh cầu cha chồng nghĩ cách cứu chồng.
Đào Châu Công rất cm thưng, song thần sắc vẫn hết sức tiêu dao, bo con dâu:
- Giết người phi thường mạng, không có cách nào hết. Ta về đây không phi để cứu Phạm An mà là để lo hậu sự cho nó. Tang sự của con ta phi ra vẻ...
- Đại nhân! Cổ nhân nói: “Con của nhà giàu không chết ở chợ”. Người của nhà ta bị xử hình giữa chợ là một điều sỉ nhục!
- Con của nhà giàu không dự vào các cuộc tư đấu, cố nhân cũng có lời dạy rõ ràng như vậy. An nó phạm tội thì không có cách nào có thể cứu được. Bình và An đều là con do ta sinh ra, dưỡng nuôi cho đến lớn, lòng ta đối với con hn hẳn các ngưi tưởng tượng. Nhưng chuyện này không sao lo liệu được.
ở trong nhà, Đào Châu công có thói quen thành tính, không bao giờ cự tuyệt lời yêu cầu của con cái. Điều Người cự tuyệt thì vĩnh viễn không yêu cầu được.
Phạm Bình tuyệt vọng. Vợ con Phạm An vẫn quỳ không đứng lên.
Bấy giờ, Tây Thi bước vào, sau khi hỏi qua chi tiết mọi việc xy ra, nàng liền chỉ ngay Tử Hòa bo:
- Con đi ra! (Tây Thi quay bo Phạm Bình) Con cũng đi ra!
Đợi hai con đi rồi, Tây Thi mới bo lũ cháu đang quỳ lui ra, chỉ chừa con dâu cùng nàng đối diện với Đào Châu công. Nàng nghiêm giọng nói:
- Thiếu Bá! Nếu thiếp là vợ thằng An thì khi nhận tin bất hạnh của chồng ắt không sống được. Hn nữa, thiếp đã hỏi kỹ, biết rằng lần đụng chạm ấy, An nó chỉ có nửa phần lỗi, vì đối phưng rút kiếm trước.
- ồ!
Đào Châu Công nghiêm nghị nhìn vợ, đoạn thở dài. Chưa bao giờ người từ chối yêu cầu nào của Tây Thi, song bây giờ Đào Châu Công do dự. Nhưng từ ánh mắt khẩn khon của Tây Thi, Đào Châu Công gật đầu bo:
- Triệu tập mọi người đến đây!
Toàn gia Đào Châu Công tập trung ở snh đường. Con của Phạm Bình và Phạm An cộng chung được ba trai, hai gái. Vợ của Tử Hòa (Tử Hòa là con chung giữa Phạm Lãi và Tây Thi) mới sinh được một trai chưa đầy một tuổi. Mọi người nín thở chờ nghe một tuyên bố quan trọng:
- Ta muốn Tử Hòa vào Sở cứu An. Việc này không nắm chắc kết qu mười phần mà chỉ là cách tận nhân lực. Từ rày về sau, ta cấm hết con cháu không được tư đấu (giao đấu cá nhân). Chúng ta là người buôn bán, ta không cho phép các con cháu được cầm gưm. Trừ phi lúc ở nhà, không một ai được sờ vào võ khí.
Lệnh cho gia tộc được khắc lên bng cây, treo trước nhà.
Nhưng lệnh sai Tử Hòa vào Sở cứu anh khiến cho trưởng tử Phạm Bình phẫn nộ, cưng quyết phn đối. Phạm Bình nói với Tây Thi:
- Con là con lớn, trong nhà có chuyện quan trọng thế này thì không thể không do con đm nhiệm. Đây là một điều sỉ nhục, làm mất truyền thống trưởng tử trong gia đình, làm mất c địa vị trưởng tử.
Phạm Bình yêu cầu Tây Thi nói giúp lời cho mình. Nếu không được cha cho phép sang Sở, Phạm Bình thà chết.
Việc ấy làm cho Đào Châu Công vô cùng khó xử. Sau khi nghe Tây Thi trình bày, Đào Châu Công trầm ngâm lúc lâu không nói gì.
Tây Thi thôi thúc:
- Tại sao chàng không cho Phạm Bình đi? Chuyện này không có gì phi nghĩ ngợi, Phạm Bình tự nguyện xin đi thì chẳng còn gì tốt hn. Lẽ đưng nhiên chàng biết Phạm Bình là người cố chấp, nếu không được đi cũng dám chết lắm! Việc chết sống của Phạm An chưa sao đoán chắc, có thêm Phạm Bình đi với Tử Hòa thì đâu đến nỗi gì.
- Nàng không biết đâu! (Đào Châu Công thở dài nặng nề, nói thêm) Đành là chẳng biết làm sao hn, thôi để cho Bình nó đi vậy!
Đào Châu Công dặn Bình vào Sở tìm một người tên Trang tiên sinh để dâng một ngàn lượng vàng ròng làm lễ. Đoạn ở kinh đô nước Sở chờ An ra khỏi ngục là lập tức ra thành, trở về Đào ấp liền. Đào Châu Công dặn đi dặn lại, bo phi y theo kế hoạch mà làm, một chút s thất sẽ làm hỏng việc.
Phạm Bình đội sao, đi suốt đêm sang Sở cứu em. Sau khi đưa con đi rồi, Đào Châu Công quay bo với mọi người:
- Hy vọng cứu được An rất ít. Các ngưi chuẩn bị hậu sự cho An đi!
Quay vào phòng riêng, Tây Thi nóng ny hỏi chồng:
- Thiếu Bá! Tại sao chàng lại đi tuyên bố như vậy?
Đào Châu Công khổ sở đáp:
- Phạm An phi chết. Ta muốn sai Tử Hòa sang Sở là vì nguyên nhân ấy.
- Thiếp còn chưa hiểu được...
- Vì Bình nó sinh trưởng trong hoàn cnh khốn cùng nên coi rất trọng tiền bạc. Tử Hòa lại lớn lên trong hoàn cnh giàu sang phú quí nên xem tiền bạc như cỏ rác. Với Bình, việc không đáng tốn một ngàn lượng vàng ròng, không phi không đáng tốn trước khi việc thành mà là không đáng tốn sau khi thành việc. Bởi theo dự liệu của ta thì Trang tiên sinh sẽ nghĩ cách nói cho vua Sở đại xá, nhân thể th con chúng ta mà không để lộ liễu gì. Nhưng rồi, Phạm Bình sẽ nghĩ rằng đại xá tù nhân là chủ ý của Sở vưng, Trang tiên sinh không có công lao nên Bình sẽ đến đòi vàng lại. Thế nên, người khác nhờ cuộc đại xá mà sống, riêng Phạm An sẽ vì đại xá mà chết!
Đào Châu Công nhếch mép cười đau khổ nói thêm:
- Mong là dự đoán của ta không đúng vậy.
- Thế sao chàng không nói cho Bình nó biết trước?
- Tây Thi! Mạng sống của một người không thể vì đôi câu dặn dò mà thay đổi được. Hn nữa, đây chỉ là dự đoán của ta thôi. Tình hình thật sự thế nào ta không dám chắc vì chồng nàng không phi là thần tiên.
- Thiếu Bá, hay là chính chàng sang Sở...
- Không ích lợi gì hết. Người ta hiểu ta giàu có, cho rằng ta ỷ thế khinh người, dùng tiền lo lót, nhất định là không được.
Tây Thi thở dài:
- Ôi, chàng liệu việc như thần, nhưng mong sao lần này chàng đoán sai để cho Bình và An được bình yên trở về.
Khổ nỗi, Đào Châu Công liệu việc như thần, không my may sai lệch. Chẳng bao lâu, Phạm Bình đưa thây em về Đào ấp đúng như những gì Đào Châu Công đã nói với Tây Thi.
Chết một đứa con, mặt ngoài không thấy ở Đào Châu Công có sự bi thưng. Nhưng nỗi thưng xót ấy đã đập mạnh vào lòng già, Đào Châu Công đóng cửa biệt thự suốt nửa năm đằng đẵng.
Trong nửa năm ấy, tình trạng sức khỏe của Đào Châu Công có sự thay đổi lớn. Không còn mạnh khỏe như trước, Đào Châu Công bắt đầu uể oi, bắt đầu cm thưng quá khứ tuy Người vẫn một mực thưng mến Tây Thi, muốn ở bên nàng hằng giờ, không một chút vắng nàng.
Giao mùa từ Hạ sang Thu năm ấy, Đào Châu Công bị cm mạo một lần hết sức nặng, mãi đến qua đông mới lành. Lần cm ấy làm cho khí qun của Đào Châu Công bị thưng vĩnh viễn, không lành. Cứ có sự thay đổi khí hậu thì Đào Châu Công thở rất khó khăn, khò khè, bị nghẹt.
- Ta thật sự già rồi!
Đào Châu Công nói với Tây Thi câu ấy. Thỉnh thong người có nói mình già, song lần này thêm hai chữ “thật sự”, ý rằng không phi nói đùa nữa.
Để tiêu khiển cho một lão già, Tây Thi bày cuộc lữ hành. Lần này vợ chồng Đào Châu Công chọn đường Trường Giang th thuyền vào Ba Thục. Đường ấy ít người Trung Nguyên đi lại, đường xa diệu viễn. Về phưng diện chính trị, một phần Ba Thục thuộc Tần, một phần thuộc Sở. Nhưng c Tần lẫn Sở đều không màng đến khu vực hoang vu ấy.
Năm năm trước, thuyền hàng của Đào Châu Công có đến Ba Thục, Đào Châu công có ghi trong sổ sách nên Ba Thục không phi là vùng đất lạ. Hn nữa, người tỏ ra thích địa phưng này nên nói:
- Ta muốn chôn cuộc đời già ở đây.
Tây Thi phn kháng:
- Không cho phép chàng tính vậy. Chàng cứ hay lén tính toán vậy hoài!
- Không đâu! Không có việc làm nào ta giấu nàng c.
- Hôm trước, chàng vẽ họa đồ chi? Khi chàng vứt đi, thiếp lượm xem lén, đoán chừng chàng muốn kiến lập thành quách ở Ba Thục để dọn về đó ở.
Đào Châu Công bỗng cười lớn:
- Ha ha... Việc ấy chứng minh không những ta già, chính nàng cũng già rồi.
- Việc ấy có liên quan gì đến cái già?
- Tây Thi! Họa đồ ấy vẽ hình thế của thành Hội Kê đó! Xưa kia, thủ đô của nước Việt dời từ Gia Lãm đến Hội Kê, kiến trúc theo họa đồ ấy. Họa đồ thành Hội Kê mà nàng cũng đoán không ra nữa là...
- Ô, Hội Kê sao?
- Hiện giờ cháu thứ của Câu Tiễn xưng vưng ở nước Việt. Tên nó là Châu Cú, lúc ta rời Việt, nó mới sinh, Tây Thi, chúng ta rời Việt có gần bốn mưi năm rồi.
***
Vào tháng hai mùa xuân sau Châu Kho vưng năm thứ tám, nhằm năm bốn trăm ba mưi ba trước dưng lịch, có một đoàn người đi trên bốn xe do mười sáu ngựa kéo xuất hiện ngoài thành Cô Tô. Họ không mua bán, dừng lại ở mút ngoại ô thành.
Chủ nhân đoàn xe là Đào Châu Công và Tây Thi. Họ rời Cô Tô đã bốn mưi năm. Họ đi như thế không một ai có thể nhận ra họ.
Phạm Lãi và Tây Thi có cùng một nguyện vọng: Trước khi chấm dứt đời mình, c hai muốn đi du lịch Ngô Việt một lần cuối.
Nhưng Cô Tô thành khiến họ không còn nhận ra nữa. Đại thành phồn thịnh biết bao nhiêu vào bốn mưi năm trước, giờ là cỏ mọc hoang tàn, không khói bốc lên. Vào mùa xuân mà ở đây nhuốm vẻ hoang lưng, tiêu điều quá!
Trưng cờ hiệu Đào Châu ở phía Bắc thành chẳng bao lâu, dân buôn bán quanh vùng lần lượt kéo đến thăm hỏi. Họ nhận được tin từ dịch trạm, đại thưng gia Đào Châu Công danh trùm thiên hạ đã đến đây.
Qun gia A Mang đầu bạc trắng xóa không ngừng gii thích với người đến thăm: Chuyến đi này, Đào Châu Công không có mang theo món hàng hóa nào. Nhưng các tay thưng buôn không chịu tn ra, họ không tin lời Mang nói.
Bên trong màn, Đào Châu Công nhẫn nại ngồi chờ bà vợ già trang điểm. Già c như thế, lẽ ra không nên sửa soạn làm gì. Nhưng suốt bốn mưi năm ở bên Phạm Lãi, ngày nào Tây Thi cũng mất một giờ trang điểm thành thói quen. Quen đến nỗi có già xuống lỗ cũng trang điểm.
A Mang thở hào hển bước đến nói:
- Bẩm chủ, gia nô không gii quyết được rồi. Bọn họ cứ cho rằng chúng ta có hàng bán nên không chịu gii tán cho.
Phạm Lãi thân mật mỉm cười:
- Chuyện nhỏ như vậy mà người không gii quyết được sao?
- Bẩm chủ nhân, gia nô thà lãnh chuyện lớn...
- Chuyện lớn đã có ta... Bây giờ, ngưi mau đi bo với họ, sau trưa mai ta phân phối hàng. Ngưi đi phát thẻ mua bán cho họ không phi là gii quyết sao?
- Dạ nhưng, chúng ta không có mang hàng theo.
- Ngưi đi dọ lại xem, đoán chừng có một số hàng của chúng ta đang chở đi, trưa mai có thể đến Cô Tô. V lại, ở đây tiêu thụ không nhiều, chuyện dễ gii quyết lắm!
- Dạ nhưng lỡ hàng của chúng ta không đến kịp thì sao?
- Ngưi tệ thì thôi! Nói cho ngưi biết, ta vẫn có cách gii quyết. Giờ, ngưi thay ta chuẩn bị một cỗ xe nhỏ, vợ chồng ta muốn vào thành nếu... phu nhân ta trang điểm xong trước lúc hoàng hôn.
- Thiếu Bá!
Tây Thi vứt lược cài. Phạm Lãi vội ngăn lại khiến nàng phụng phịu như con gái:
- Chàng lại thúc hối thiếp! Thiếp xong rồi nè, không cần chàng phi đợi đến hoàng hôn.
Thời gian không còn sớm. Lúc Phạm Lãi lên xe nhỏ vào thành, mặt trời đã ng về Tây. Vợ chồng Phạm Lãi rất vui, truyền vén rèm xe lên để nhìn cnh sắc Cô Tô đài vào chiều. Nhìn đường vào thành, Tây Thi chắc lưỡi trách trước:
- Trước kia, đường vào Cô Tô thành bằng phẳng có đâu tồi tệ như bây giờ.
Trước kia và bây giờ nào chỉ khác nhau có bấy nhiêu. Tây Thi nhìn đăm đăm phân nửa số nhà san sát trước đây bốn mưi năm giờ đã nghiêng đổ.
Xe đi lần về hướng Quán Oa cung nổi danh ngày xưa.
Quán Oa cung do Ngô vưng kiến tạo cho Tây Thi vào năm mưi năm trước, giờ tiêu điều trong cnh ngói bể gạch vụn hoang tàn khiến Tây Thi dàu dàu:
- Thiếu Bá, chúng ta xuống xe xem!
Phạm Lãi khó nhọc bò lần xuống xe trước rồi phụ đỡ Tây Thi xuống theo. C hai đã già đến mức không sao cử động dễ dàng, nhưng lên xe hay xuống xe, Phạm Lãi vẫn cố gắng, không để cho gia nô đỡ dìu. Phạm Lãi dùng ý chí và năng lực chống lại sự suy nhược.
Ni Quán Oa cung hoang phế, có hai lão già ăn mặc lam lũ đang bưi móc, lục lạo. Lúc thấy vợ chồng Phạm Lãi đến gần, một trong hai lão ngưng làm việc, đưa mắt lạ lùng nhìn hai vị khách ăn mặc thật rỡ ràng.
- Các người tìm kiếm gì đó? - Phạm Lãi dùng tiếng Ngô đ đớ hỏi. Thời gian xa cách quá lâu, Phạm Lãi quá già, nói tiếng Ngô cứng ngắc khiến người nghe nhận ra liền là người nước ngoài.
Một trong hai lão già kia đáp:
- Chúng tôi lục lạo ở đây có thể tìm được đồ quý.
Tây Thi ngạc nhiên hỏi.
- ở đây có chôn đồ quý sao?
- Tại sao không? Ngày xưa, chỗ này là Quán Oa cung! Nhị vị từ nước ngoài đến, tự nhiên không biết đó thôi. Trước kia, đại vưng nước tôi kiến lập cung này cho Tây Thi ở, nghe nói có để trong cung rất nhiều đồ quý.
Phạm Lãi và Tây Thi đưa mắt cho nhau. Tây Thi lại hỏi:
- Tây Thi à? Người có đẹp không? Các người có thấy nàng lần nào chưa?
- Năm hai mưi tuổi, tôi nhìn được một lần. Tây Thi đẹp lắm, chưa bao giờ có người con gái nào đẹp đến mức đó! Đáng tiếc...
- Tiếc gì?
- Nghe nói bà vua nước Việt đã giết Tây Thi rồi.
Vợ chồng Phạm Lãi lại đưa mắt nhìn nhau. Bốn mưi năm qua, họ còn nghe được tin sau cùng thật mới mẻ này. Phạm Lãi không sao ngăn được mỉm cười bo:
- Không có đâu. Bà vua nước Việt không có lý do giết chết Tây Thi.
- Gì mà không lý do? Tôi biết chuyện ấy rất rõ mà! Bà vua nước Việt cho Tây Thi là họa thủy làm mất nước nên mới đem giết. (Lão già kia nghiêm giọng thở dài, đoạn tiếp) Sau khi chinh phục Ngô vưng, Việt vưng vẫn như Ngô vưng chúng tôi, kéo lên Trung Nguyên ở mặt bắc đại hội chư hầu. Xong việc, Việt vưng trở về Hội Kê, hai năm sau lại đến Cô Tô, bắt dân thành Cô Tô đi đánh giặc cho Việt. Hồi ấy, tôi bị trưng dụng. Nhưng... (Lão già bỗng cười lớn) Chúng tôi đã làm cho vua Việt thua trận. Ha ha... Việt vưng không hiểu chúng tôi không muốn đánh giặc mà lại đi trách một vong thần tên là Phạm Lãi gì đó...
Phạm Lãi đưa mắt cho Tây Thi khiến nàng không sao ngăn được tò mò hỏi:
- Người nói Phạm Lãi gì gì đó làm sao?
- Cái ông ấy giỏi ghê gớm lắm, đã giúp Việt vưng đánh gục Cô Tô rồi chuồn êm. Việt vưng tình nguyện chia nửa nước nhưng Phạm Lãi không nhận. Bởi thế, Việt vưng bại trận thì cho là tại thiếu Phạm Lãi.
Phạm Lãi đắc ý mỉm cười, chỉ tay vào đống gạch ngói:
- Lão huynh đệ, người trông, ở đây có gì quý giá chăng?
Câu ấy hấp dẫn hai lão già, họ không nói chuyện khào với khách lạ nữa.
Phạm Lãi dìu Tây Thi đi sang một góc hoang tàn khác. Đối với những nghị luận lưu truyền, Tây Thi có phần o não nói nhỏ:
- Trong mắt mọi người thiếp là họa thủy, chàng là anh hùng!
- Anh hùng! (Phạm Lãi vuốt râu) Họ nói Tây Thi là mỹ nhân, nàng quên rồi sao?
Lẽ tự nhiên Tây Thi không quên, nhưng giờ phút này nàng vẫn buồn, nghĩ sâu về lẽ huyền bí của cuộc đời:
-Mỹ nhân đã chết từ lâu... Người ta nói thiếp bị giết là đúng. Mỹ nhân sao có thể để cho người đời nhìn ra là một bà già được? Anh hùng mới bất tử chứ mỹ nhân chỉ là họa thủy!
- Tây Thi! Nàng lại lôi thôi nữa! (Phạm Lãi cười cởi mở) Hay là cuộc đời chúng ta còn thiếu gì?
- Thiếp không có ý đó.
Tây Thi cúi xuống lượm một miếng ngói bể, một đầu miếng ngói hãy còn in dấu màu xanh. Tây Thi nhìn kỹ rồi dùng lai áo trắng tinh khiết chà làn bụi bám ngói hoang đoạn trao cho Phạm Lãi:
- Chàng cất giùm thiếp để làm kỷ niệm... Ngói này của Quán Oa cung, ngày xưa “người ta” tạo cho thiếp ở.
Phạm Lãi nhận ngói, làm ra vẻ thưng cm:
- Ta đã kiến tạo cho nàng chỉ một căn nhà!
- Chàng không thỏa mãn à? Thiếp đã dâng hiến cho chàng trọn vẹn bốn mưi năm rồi. (Tây Thi liếc chàng, nhắc lại) Thiếp đã hiến dâng tất c...
Phạm Lãi cười:
- Nhưng nàng vẫn còn muốn giữ vật kỷ niệm của quá khứ.
- Thiếu Bá! Chàng không có lý do nói thế. Thiếp lượm một miếng ngói bể, mà chàng cũng ghen sao?
Tây Thi đẩy Phạm Lãi khiến Người cười hì hì kêu lớn:
- Ơ, ta già c rồi, đẩy mạnh quá, rủi khi ta ngã thì bò dậy không được đó.
Ông chồng già lại dìu bà vợ già rời Quán Oa cung hoang phế. Dưới ánh sáng tàn chiều, xe nhỏ đi qua hướng Nam thành. Lúc nắng tắt hẳn, vợ chồng Phạm Lãi đến được Cô Tô đài ngày cũ.
Tây Thi đã chuẩn bị tinh thần không để quá xúc động trước Cô Tô đài chỉ còn là một đống gạch ngổn ngang. Nàng nói:
- Chúng ta đến xem Cô Tô đài bị thiêu rụi, thiếp nhớ lại ngày xưa thiếp cho rằng vĩnh viễn mình không thể tới được đây. Nhưng rồi chúng ta vẫn tới. Thiếu Bá, việc đời thật không sao tưởng tượng được. Ngày nào Cô Tô đài hùng vĩ cho mọi người ngưỡng vọng, thế mà giờ đây...
Bây giờ, Cô Tô đài chỉ còn là gạch đá làm tàn tích trên một khong đất thật rộng và cỏ mọc tràn lan thật rậm. Tây Thi còn thấy trong cỏ trùm đá lởm chởm có bóng chồn chạy thoáng qua.
Dĩ vãng như khói mây! Tây Thi bỗng nhớ đến thềm đá Cô Tô đài, ni Ngô vưng đã truyền trao Thuộc Lâu bửu kiếm cho Ngũ Tử Tư, điểm then chốt làm nước Ngô nghiêng ngửa. Tây Thi cũng nhớ lại tình cnh Ngô vưng bước xuống Cô Tô đài lần cuối.
Nàng hỏi nhỏ:
- Không hiểu nhóm Di Quang đã ra sao rồi?
- Ai biết? Nhưng chắc tất c đều về trời! (Phạm Lãi thanh thoát nói thêm) Không phi chúng ta đã sống quá lâu sao?
- Phi, chúng ta đã sống quá lâu... Thoạt đầu thiếp những ngỡ Cô Tô đài sẽ đứng lâu nhất, không ngờ chúng ta còn đây mà nó sập rồi!
Vợ chồng Phạm Lãi bồi hồi với tâm tình hoài cổ, nhớ theo đá gạch ngổn ngang. Mặt trời lặn hẳn về Tây, cnh vật nhuộm hoàng hôn tím. Chim bay về tổ, vẳng đưa đôi tiếng khóc chiều.
Phu xe từ trên thành nhy xuống, cung kính thưa:
- Bẩm chủ nhân, trời đã tối rồi! Nghe nói ở đây có dã thú.
Phạm Lãi dường như tỉnh mộng, vỗ nhẹ vai Tây Thi:
- Thôi mình về... Không nên ở đây làm mồi cho dã thú.
Hoàng hôn úp chụp tàn tích của Cô Tô đài hoang phế. Tây Thi khổ sở hết sức rồi cũng đành nói lời âm thầm giã biệt Cô Tô.
Phạm Lãi hỏi:
- Tây Thi, sao nàng không lượm một miếng gạch ở đây đem về?
- Không. Quán Oa cung mới là của thiếp, trong quá khứ, có một dạo đúng y như vậy. Nhưng Cô Tô đài thì không phi. Thiếp đối với người ta đã có sự hối lỗi từ lâu, thì cần gì giữ vật kỷ niệm. (Tây Thi long lanh nước mắt) Thiếu Bá, chúng ta đi thôi! Bây giờ thiếp nghĩ, lẽ ra chúng ta không nên đến Cô Tô đài.
Đôi vợ chồng già chậm chạp lên xe. Phu xe đốt xong đèn lồng treo hai bên thành xe tuy ánh sáng hoàng hôn vẫn còn soi thấy đường đi.
Xe lăn bánh, Phạm Lãi bỗng chỉ tay sang bên, bo:
- Đánh xe sang bên ấy, cứ việc cho xe đi, bao giờ ta bo ngừng hãy ngừng.
Tây Thi không hiểu chồng muốn gì. Nhưng thấy xe lăn bánh vào vùng hoang vu, nàng biết chồng muốn tìm lại giáo trường của nhà Ngô vào bốn mưi năm trước. Ni ấy là ni huấn luyện quân Ngô uy trấn Trung Nguyên song rồi cũng bị tiêu diệt.
Xe đi một lúc, Phạm Lãi mãi dò tìm ni muốn tìm nhưng Người thất vọng, thở dài:
- Ta muốn tìm một ni song không tìm được.
- Chỗ nào? (Tây Thi mỉm cười) Có thể thiếp tìm được cho chàng?
- Chuồng ngựa. Trước kia, có đến sáu mưi năm rồi, ta và vợ chồng Câu Tiễn giữ ngựa cho Phù Sai ở chuồng ngựa ấy.
Tây Thi cố tìm nhưng cũng như chồng, nàng không sao tìm thấy. Bởi vì Cô Tô đài nguy nga đã đổ nát, mà phi có Cô Tô đài làm mục tiêu mới nhận ra phưng hướng các vùng.
Tây Thi bỗng đứng lên trong lòng xe, vẫy tay với vùng hoang vu:
- Nhớ lâu quá rồi vẫn không sao nhớ được nữa. Thôi chào, giã biệt, vĩnh biệt!...
Sáng ngày hôm sau, vợ chồng Phạm Lãi cho xe đi một vòng khắp Cô Tô thành, sau đó, đoàn xe đi về hướng Nam.
***
Hội Kê thành bừng bừng hưng vượng năm nào, tri sáu mưi năm qua đã nhuốm vẻ cằn cỗi. Dân số có đông hn song không có vẻ phồn thịnh, sánh với thủ đô Hàm Dưng của nước Tần sinh khí đằng đằng thì thủ phủ của nước Việt có phần uể oi về chiều.
Người ta nói: Sinh lực của một quốc gia và một con người có chỗ tưng đồng, có mức độ nhất định. Sinh lực của nước Việt đã tiêu tận hai mưi năm, cũng như là một người sau khi tận dụng hết sinh lực thì rất dễ dàng sinh ra suy nhược. Đời Việt vưng Câu Tiễn, vì thù hận mà tập trung quốc lực dùng hết và đã thành công trong việc rửa thù. Nhưng đến đời con và cháu lên nối ngôi cha ông thì nước Việt vẫn còn chịu nh hưởng nặng nề của việc kiệt lực tuy mỗi người dân Việt hãy còn nhớ đến một đoạn vinh quang trong lịch sử.
Thỉnh thong người ta nhắc đến chuyện Câu Tiễn phá Ngô, Câu Tiễn nằm gai nếm mật... Về mặt tinh thần, người dân sống trong lịch sử vinh quang nhưng về mặt vật chất, người dân đã bị bần cùng hóa!
Người Hội Kê đi đi lại lại trên các ng phố phường. Trước cung Việt vưng bây giờ có một tượng đồng do từ đời Câu Tiễn đúc nên. Tượng đồng tạc hình công thần của nước Việt là Phạm Lãi.
Trong tim cũng như ngoài miệng người Hội Kê, Phạm Lãi vĩnh viễn bất tử. Nhưng rất ít người đến xem tượng đồng ấy, có lẽ do người ta đã quá quen thuộc rồi.
Phạm Lãi và Tây Thi đi qua đi lại ngang tượng đồng ấy có đến mười mấy lần. Nhưng không một ai nhận ra c hai, cũng không ai màng chú ý đến c hai.
C hai đến Hội Kê mười hôm, lần này không đi xe mang cờ hiệu “Đào Châu” nên không làm cho ai chú ý. Duy có Phạm Lãi cố ý tung tin mập mờ cho người Hội Kê đồn đại với nhau: “Đào Châu muốn đến Hội Kê”.
ở Hội Kê, Tây Thi và Phạm Lãi được sống bình yên. Mỗi ngày c hai đi dạo đó đây, đôi khi thuê xe bò ra vùng ngoại ô chi. ở Hội Kê có rất nhiều ni đáng cho c hai lưu luyến. Như Hội Kê sn là ni tình đầu c hai nẩy nở...
Qua mười hôm, vợ chồng Phạm Lãi di chuyển đến Gia Lãm, cố đô của nước Việt và cũng là ni chôn rau cắt rốn của Tây Thi.
Sông nước vẫn như xưa, các thiếu nữ vẫn như sáu mưi năm trước, giặt lụa bên sông. Lúc nhìn thấy thuyền ô bồng, các cô dừng tay giặt lụa, ngắm nhìn.
Lúc thuyền ô bồng đến khúc sông quanh, gần như người người trên thuyền đều nhất tề kêu lên:
- ở đây rồi, trông kìa, chỗ tng đá đó!
Phạm Lãi và Tây Thi bước ra khoang thuyền, nhìn vào ven sông. Ni ấy có mấy thiếu nữ giặt lụa và một phiến đá trắng.
Tây Thi dùng đúng giọng người Gia Lãm hỏi:
- Tng đá ấy là gì?
Môt cô gái tr lời có vẻ trách móc:
- Coi, đó là tng đá giặt lụa của Tây Thi ngày trước, bà là người Gia Lãm sao lại không biết chuyện này?
- à!... - Tây Thi ngạc nhiên liếc qua chồng.
Phạm Lãi thư th bình thêm một câu:
- Vị mỹ nhân này bất tử!
- Mỹ nhân nào bất tử? (Một cô chen nói) Gia Lãm chúng tôi là đất sn sinh mỹ nhân. Phi kể Gia Lãm mới bất tử!
- Vậy thì tất c đều bất tử phi không?
Phạm Lãi vừa cười vừa hỏi, vừa thúc thúc Tây Thi. Nàng mỉm cười, lòng vui thanh thoát thành nụ cười. Rồi tự nhiên, nàng đưa tay vuốt tóc. Mãi đến khi thuyền vượt qua tng đá giặt lụa, mãi đến khi đoàn thuyền trở về im lặng, Tây Thi mới nói nhỏ bên tai chồng:
- Thiếp đã nói trước, thiếp sẽ như chàng, cùng bất tử!
- ờ ờ, ta đành nhận vậy.
Phạm Lãi châm chọc, cách châm chọc rất kh ái:
- Tượng đồng của ta không ai màng ngó tới, nhưng tng đá nàng đứng giặt lụa ngày xưa lại được tất c các thuyền ngắm nhìn.
- Chàng ganh với thiếp à? (Tây Thi cười) Thật thì thiếp cũng không nhớ ra chỗ mình đứng giặt lụa nữa. Không biết có phi chỗ tng đá ấy không?
ở trên thuyền, Tây Thi vui mừng sung sướng, nhưng lên bờ, nàng lần lần mất vui. Cnh vật ni quê hưng th ấu của nàng đã thay đổi hết rồi. Cố hưng bây giờ hoàn toàn xa lạ, không một ai nhận ra nàng. Tây Thi chợt cm thấy rằng, một người sống quá lâu thì buồn lắm!
Điều làm cho Tây Thi càng mất vui là: Gái Gia Lãm rất thích cau mày mà nàng không hiểu tại sao. Có lần nàng nhờ Phạm Lãi đi hỏi và được một cô thích cau mày nói:
- Trước kia, Tây Thi như vậy!
Tây Thi hoang mang, hỏi lại chồng và tự hỏi:
- Ngày xưa, ta như vậy thật chăng?
Không chỉ bấy nhiêu, gái Gia Lãm còn có thói quen ấp hai tay trước ngực, gọi là nâng tim. Bởi vì ngày xưa Tây Thi cũng hay làm như vậy.
Tây Thi cười khổ:
- Điểm bất tử của thiếp là nâng tim!
- Còn nhiều điểm khác nữa chứ! (Phạm Lãi cười) Nàng thấy không, người ta còn khắc tên nàng trên bia đá, nào là đường Tây Thi, nhà Tây Thi, có c suối Tây Thi...
- Thôi đi...!
Tây Thi đưa hai tay lắc lắc:
- Chúng ta không thể ở đây rồi, ở đây thiếp đon mệnh mất! C ngày cứ thấy cau mày, nâng tim... Không biết đẹp cái chỗ nào?
- Cái đẹp của quá khứ, có lẽ con cháu chúng ta mới thấy đẹp. (Phạm Lãi nhìn mây bay, hỏi luôn) Tây Thi! Bây giờ chúng ta đi đâu?
- Chàng còn muốn đi nữa à?
Tây Thi lắc đầu:
- Thiếp muốn về nhà bồng bế cháu chắt.
- Ta nghĩ, chúng ta nên dời nhà vào Ba Thục. Xem đại thế thiên hạ thì Ba Thục là ni yên ổn.
Tuy c thể suy nhược, Phạm Lãi vẫn giữ vẹn hùng tâm. Nhưng Tây Thi có vẻ cưng quyết:
- Thiếu Bá! Chưa bao giờ thiếp phn đối chàng, song lần này thiếp nhất định phn đối. Hãy để chuyện ngày sau cho những người sau chúng ta làm. Thiên hạ có biết bao vấn đề, một mình ta không sao làm xuể được.
Vì vậy, vợ chồng Phạm Lãi trở về nhà.
Lúc rời Hội Kê, Phạm Lãi để lại mũ trận, nhờ người đem tặng Việt vưng. Trên chóp mũ có khắc tên Phạm Lãi. Kể từ đó, vợ chồng Đào Châu Công không đi lại các nước nữa.
Mũ trận của Phạm Lãi luôn được giữ kỹ ở thái miếu nước Việt.
Mãi đến một ngàn bốn trăm năm sau, vua Ngô Việt là Tiến Lựu khai quật Hội Kê sn, bắt gặp mũ ấy liền đem dâng cho hoàng đế nhà Đại Tống.
Hết
Đào Châu Công
Lúc Ngô vưng truyền ban Thuộc Lâu bửu
kiếm cho Ngũ Tử Tư, gia thần của lão đề nghị lão bỏ trốn. Trong lịch sử, Ngũ Tử Tư còn có tên là “Kẻ vong mạng”, vì lúc nhỏ đã từng chạy trốn lưới bao của Sở. Nhưng lúc nhận kiếm, Ngũ Tử Tư lại nói:
- Vong thần an thích?
ý của Ngũ Tử Tư là kẻ vong thần thoát được lần thứ nhất chứ không còn đường trốn lần thứ hai. Riêng Phạm Lãi thì đi được luôn, lần này rồi lần khác, lần khác nữa, mỗi lần ra đi một thêm huy hoàng. Đất Sở đã sinh được một Ngũ Tử Tư vĩ đại thì đất Sở cũng sinh được một Phạm Thiếu Bá còn vĩ đại hn.
***
Bấy giờ, bước chân lịch sử đã bước vào thời đại Chiến quốc.
Thời đại Xuân Thu ấy, Tấn thay Tề xưng bá ở Trung Nguyên rồi bị các quan quân địa phưng dấy lên, chia thành ba nước độc lập: Ngụy, Triệu, Hàn. Tuy họ còn mang hiệu Tấn song thực tế thì họ tự chủ từ đời Châu Trinh Định vưng năm thứ mười sáu.
Bấy giờ, ngoài vua nhà Châu, trong thiên hạ gồm có Sở, Việt, Triệu, Tề, Tấn, Ngụy, Hàn, tám nước lớn. Sống lẫn lộn chen giữa các nước lớn ấy gồm có Tống, Lỗ, Trịnh, Vệ, Lữ, Trâu, Kỷ, Thái, Đàm, Nhiệm, Thắng, Tiết. Tự nhiên, hãy còn một số các nước bán độc lập, ví như Đào ấp, trước vốn thuộc Tống, sau vì cuộc chiến của Tống, Tề mà tách ra thành một khu vực trung lập bán độc lập. Đào ấp nằm trái độn để làm gim bớt căng thẳng giữa hai nước lớn.
Bấy giờ, ở Trung Nguyên ngoài một khu vực như nói trên, hãy còn nhiều thứ bộ lạc và quốc gia nhỏ bé như Hung Nô, Đông Hồ, Lâu Phiên, Lâm Hồ, ấp, Thục, Trung Sn, Đại Hiệp v.v...
Thiên hạ cứ phân chia, cứ loạn lạc, song trong sự loạn lạc ấy bỗng có một hiện tượng hết sức đặc biệt xuất hiện. Cứ dùng son viết hai chữ “Đào Châu” trên xe thì muốn đi qua nước nào cũng lọt.
Đào Châu là gì? ở đâu? Có phải là một địa danh không? Điều ấy rất ít người biết và họ cũng chẳng mấy quan tâm. Họ chỉ để ý đến các xe ngựa có mang hai chữ “Đào Châu”, bởi vì các xe ấy mang lại từng địa phưng những vật mà địa phưng ấy cần có.
Từng đoàn xe chở t lụa từ Giang Nam xa xôi đến tận Hàm Dưng của nước Tần trên mặt Tây Bắc để đổi lấy vải cây, vải xấp. Rồi lại trải đường ngàn dặm vận sang Yến Kinh bên Đông Bắc. Đoạn từ Yến Kinh chở về thuốc men, tiền đồng...
Muối ở bờ biển nước Tề được cho vào bao chở vượt quan sn, cũng đến Hàm Dưng. Dân chúng nước Tần cần muối nhất. Hàng quí tộc cho muối là bửu vật, mới có muối biển mà ăn trong khi người bình dân cả đời chưa hề có dịp biết được mùi vị muối.
Trên kinh rạch, sông ngòi hay biển cả cũng có thuyền đi lại mang cờ hiệu “Đào Châu”.
Tại Hàm Dưng, nhà Tần bỗng đón tiếp một vị khách ngoài ý. Vị khách ấy là nhà buôn đi du lịch, là chủ nhân hàng hàng lớp lớp xe thuyền mang hai chữ “Đào Châu”. Vị khách ấy là Đào Châu Công được vua Tần triệu kiến.
Đào Châu Công ung dung xuất hiện tại triều nhà Tần với vợ là một chuyện bất bình thường. Bởi từ xưa tới nay không có một người đàn bà nào được theo chồng vào triều kiến bao giờ. Nhưng việc này là do có lời yêu cầu đặc biệt của Đào Châu Công. Ngài tỏ rõ ý nếu không cho vợ cùng vào thì Ngài sẽ không đến gặp vua Tần.
Kết cuộc vua Tần phải chấp thuận lời yêu cầu oái oăm ấy. Gần như ai ai trong hàng quí tộc đất Hàm Dưng cũng đều hết sức quí trọng Đào Châu Công. Bởi vì Đào Châu Công đã đưa đến những gì họ cần dùng. Họ sợ lỡ khi s xuất đắc tội, Đào Châu Công sẽ ngưng hàng tiếp tế cho họ. Họ sợ Đào Châu Công hn bất cứ vị vua nào của ngoại quốc. Thất lễ với vua nước ngoài thì có thể đưa đến chiến tranh, song họ không sợ chiến tranh mà lại sợ không có đồ dùng!
Vợ chồng Đào Châu Công ngồi yên ni ghế, chờ được mời vào chầu. Họ có thì thầm với nhau nhưng không một ai nghe được.
Chẳng bao lâu, có một vị ngự sử đại phu bước ra cung kính nói:
- Đào Châu Công! Quân vưng mời vào gặp.
Đào Châu Công từ từ đứng lên bo nhỏ:
- Tây Thi, chúng ta vào thôi!
- Thiếp vào chẳng ý nghĩa gì, để thiếp ở đây chờ chàng.
Tây Thi không đứng lên. Sắc diện của nàng tuy già song giọng nói và tính tình không già. ở bên chồng, thỉnh thong nàng lại như một thiếu phụ đầy nhu tình, tưi mát.
Đào Châu Công nói giọng khẩn khon:
- Ta đã nói rồi, mình cùng vào. Tây Thi, đứng dậy đi thôi!
Liếc qua vị ngự sử nước Tần, Tây Thi rồi cũng đứng lên.
Điện đường báo danh Đào Châu Công. Vua Tần dùng quốc lễ tiếp vị nhà buôn ấy. Quan viên trong triều đưa mắt hiếu kỳ nhìn khách. Họ từng gặp qua vưng hậu, đại tướng, song vẫn cảm thấy hết sức mới mẻ và lạ lùng khi nhìn thấy vợ chồng Đào Châu Công.
Vua Tần khách sáo hỏi đôi câu, nhưng chẳng bao lâu sau, nhà vua nhận ra kỹ thuật nói chuyện xuất chúng và sự hiểu biết uyên bác của nhà buôn. Vì vậy, nhà vua cho bày yến tiệc đãi Đào Châu Công.
Đào Châu Công vẫn yêu cầu cho mang vợ theo lại là chuyện chưa từng có trong đại yến ở Hàm Dưng. Để tiếp đãi vợ người nhà buôn, vua Tần lại phi đặc biệt mời thêm một ít nữ khách.
Biết có tiệc này, Đào Châu Công chuẩn bị khá nhiều lễ vật, mỗi người dự tiệc đều được tặng quà, toàn là những thứ trong thành Hàm Dưng không có.
Trong tiệc, Tây Thi không thể ngồi kế bên chồng. Nàng được Tần quốc phu nhân tiếp đãi, c hai bàn qua tình hình các nước. Sau khi làm thưng mãi, Tây Thi theo chồng đi qua rất nhiều nước, biết hn phân nửa các thành thị lớn toàn Trung Quốc. Nàng khéo léo nói về phưng thức đi đứng của gái Hàm Đan, kỹ thuật múa của gái Lâm Truy, các ca khúc của Trịnh, Vệ và lễ nhạc của các triều đình. Nói chung, nàng hiểu biết rất phong phú, cách nói chuyện rất tao nhã làm cho Tần quốc phu nhân rất đỗi ngạc nhiên. Bởi một người đàn bà thường thì không thể có mức hiểu biết rộng rãi và sâu xa như vậy.
ở tiệc bên trái, Đào Châu Công đa tài, bác học, cũng làm cho toàn tiệc chú ý. Đào Châu Công đầy tự tin tr lời hoặc bàn luận vấn đề của các nước. Thiên văn, địa lý, binh học, nội chính, không một mặt nào là ngài không biết. Ngài chỉ tránh bàn về nhân sự và nội chính của các nước.
Vua Tần mê quá, mời Đào Châu Công giữ chức Thiếu phủ khanh. (Thiếu phủ khanh là nắm hết núi non, rừng biển, sông ngòi, có thể nói như bộ trưởng Kinh tế ngày nay, quan trọng hn hết trong chín chức khanh).
Đào Châu công hòa hoãn nói:
- Quân vưng! Tho dân không thể nhận chức, nhận ra e sẽ làm không xong việc. Mấy năm trước, tho dân đã gặp một vị thần tiên ở bờ biển nước Tề. Tiên bo rằng tho dân chỉ có thể đi buôn chứ không thể làm quan. Lúc ấy, tho dân định ra làm quan ở nước Tề, song nghe bo thế nên nhất quyết đi buôn.
- Thần tiên? (Vua Tần c mừng hỏi thêm) Trẫm nghe nói ở bờ biển và ao đầm thường có thần tiên, chuyện ấy thật sao?
- Bẩm phi, tho dân đã gặp qua ở bờ biển nước Tề.
Hoang đường quá, Đào Châu Công có gặp thần tiên bao giờ đâu! Song người có biết lời đồn đại về chuyện thần tiên ở bờ biển nước Tề. Đồn rằng thần tiên bất tử! Đồn rằng thần tiên có thể giúp cho con người hạnh phúc!
Thuở Đào Châu Công còn thiếu thời, thuyết nói về thần tiên chưa có. Lúc ấy, con người chỉ biết trên trời có Thượng đế, con người chết rồi thành quỷ. Nhưng khong ba bốn mưi năm nay, bỗng có truyền thuyết về thần tiên loan đi các nước, ai cũng mong được biến thành tiên hoặc được gặp tiên... Vì thế, lời nói gặp tiên của Đào Châu Công rất dễ làm cho vua Tần tin. Song không vì vậy mà làm cho nhà vua đánh mất quyết tâm mời Đào Châu Công làm quan nước Tần. Nhà vua muốn lưu Đào Châu Công ở lại nước Tần để nhờ mối liên hệ ấy mà nhà vua có thể gặp tiên. Làm vua một nước tuy có quyền lực tối cao, nhưng so với sự trường sinh bất diệt của thần tiên thì hãy còn cách xa nhau lắm!
Nếu được lên tiên, nhà vua nào cũng sẽ sẵn sàng bỏ ri nghiệp đế.
Không khí yến tiệc thay đổi. Mọi người đang tập trung bàn qua vấn đề của các nước vì lẽ Đào Châu Công đã chu du nhiều nước, giờ lại tập trung nói về chuyện thần tiên. Bên bàn đàn bà cũng ngưng mọi chuyện để lắng nghe Đào Châu Công nói đến thần tiên!
Đào Châu Công nói thao thao về chuyện thần tiên có đến nửa giờ. Nếu không vì việc tan tiệc thì Người hãy còn nói nữa. Vua Tần rất lấy làm tiếc, mọi người ăn uống nhanh quá nên tiệc phi tan sớm.
Cuối cùng, Đào Châu Công cất giọng nghiêm trang nói với vua Tần:
- Thần tiên có thể gặp nhưng không thể cầu. Tho dân lữ hành đến đại quốc, nhận được sự tiếp đãi nồng hậu của quân vưng, không biết lấy chi báo đáp ngoài việc chí thành mong cho Tần quốc phú cường, làm bá thiên hạ.
Tiệc tan, Đào Châu Công có hi ngà say loạng choạng bước lên xe. Tây Thi nhăn mặt, cố hết sức ngăn cười. Đợi xe đi được khá xa, nàng mới cất tiếng cười lớn, cười ngã tựa vào chồng. Đào Châu Công đỡ nhẹ nàng hỏi:
- Có việc gì đáng để nàng cười to?
- Thiếu Bá! Chàng... (Tây Thi ôm bụng, thở dồn dập) Thiệt hết nói cho chàng, chàng tệ quá, báo hại thiếp...
Biết vợ muốn nói gì, Đào Châu Công khoát tay ngăn lại. Bởi vì nói chuyện trên xe có thể bị xa phu nghe lén. Hn nữa, cười lớn trên xe cũng không thích hợp.
Tây Thi tựa sát vào chồng hn, nói thêm:
- Ôi, thiếp chịu đựng khổ quá! Thiếu Bá, chàng xoa giùm bụng thiếp!
Vợ chồng Tây Thi có sự thân mật gần như lạ thường. Về đến tân quán, Tây Thi kéo chồng vào phòng, lại cười lớn:
- Thiếu Bá! Lẽ ra chàng không nên nói chuyện hoang đường trước mặt nhà vua. Chàng gặp thần tiên bao giờ?
- Phi, ta chưa gặp thần tiên nhưng thần tiên đã gặp ta là chuyện thật một trăm phần trăm. Có lần...
- Thôi đi! (Tây Thi vã tay chồng vừa đưa lên) Lại bịa chuyện nữa, thiếp không nghe đâu, thiếp không có ngày giờ rnh đâu mà nghe.
Đào Châu Công có vẻ hãnh diện:
- Chuyện ta kể có rất nhiều người muốn nghe đấy!
- Thiếu Bá, tại sao chàng lại bịa chuyện thế này chứ?
- Có một số việc nàng không biết được. Vua Tần muốn giữ ta ở lại làm quan ở Hàm Dưng, ta từ chối, mượn chuyện thần tiên để từ chối. Ta khổ tâm bịa chuyện là vì nàng, ta không muốn ra làm quan.
- Nói thế thì tự chàng đã có ý muốn ra làm quan rồi?
Tây Thi uốn mình, tư thế như một thiếu phụ, so với tuổi tác của nàng thì không phi cách. Nhưng Đào Châu Công quen nhìn, lấy làm thích, vì thế mà cười.
Gặp Đào Châu Công một lần, vua Tần lại cho người đến mời nữa. Nhà vua tình nguyện đem chức “đại lưng tạo” ban cho Đào Châu Công.
Đại lưng tạo là chức tước riêng của triều đình nhà Tần, ngang với chức tướng quốc ở các ni khác. Từ Phạm Lãi đến Si Di Tử Bì rồi Đào Châu Công, Phạm Lãi luôn luôn thành công đủ mọi mặt song chưa chính thức nhận được ngôi vị tướng quốc. Lời mời của vua Tần khiến Đào Châu Công động lòng, song người không dám nói cho Tây Thi biết.
Sự động lòng chỉ ở thời gian ngắn. Cuối cùng, Đào Châu Công vẫn từ tạ ho ý của nhà vua, lên xe rời khỏi Hàm Dưng. Nhưng trước khi đi, Đào Châu Công vẫn hiển lộ tài hoa về mặt chính trị, quân sự. Người bày cho nhà Tần một chiến lược tác chiến mới, dùng kỵ binh hỗn hợp với bộ binh để thay thế truyền thống đánh bằng xe. Ngoài ra, Đào Châu Công còn hiến mô hình một kiểu xe dùng đến sáu ngựa kéo.
Hai điều ấy là yếu tố quan trọng giúp cho Tần xưng bá Trung Nguyên sau này.
Hai điều ấy, Đào Châu Công không nói cho vợ biết. Từ bao giờ, người không che giấu việc mình làm với vợ, cho rằng không có điều gì không thể nói được với Tây Thi. Nhưng riêng chuyện này, người lại giữ bí mật, chôn sâu vào tâm khm. Đối với các vấn đề quân sự, chính trị, Đào Châu Công quyết định kế hoạch một mình, cứ rnh ra là dùng than đá nguệch ngoạc... Có lúc người vẽ trận đồ, có lúc người viết thành chữ đề ra phưng lược trị quốc.
Thuộc làu những điều mình viết, vẽ, Đào Châu Công lại đem vi đốt đi. Bề ngoài thấy đó là sự tiêu khiển của Đào Châu Công, nhưng trong lòng người ẩn chứa một nguyện vọng. Nếu có một hôm nào đó ta xuất hiện thì sẽ không ngỡ ngàng với bất cứ phưng diện nào. Ta phi không ngừng tiến bộ, không ngừng phát minh.
Đào Châu Công già rồi, rất già! Nhưng tinh lực của người vẫn còn tráng kiện. Có việc nhiều đám đông thanh niên không làm được mà người vẫn làm được. Người có thể cử động, có thể đi xa, có thể vịn thành xe nhy lên chiến xa, có thể lên ngựa không cần ai cầm giúp cưng c. Hn nữa, trước mặt Tây Thi, người như một tình nhân trẻ trung.
Tình chồng vợ của Đào Châu Công khá đặc biệt. Họ thân mật làm sao, dường như lửa yêu đưng giữa họ cháy mãi không hết. Lắm lúc họ thân mật tự nhiên trước qung đại quần chúng khiến những người nhìn thấy thầm nghĩ: Kỳ cục làm sao! Già vậy mà y như bọn trẻ!
Nhưng vì Đào Châu Công danh trùm thiên hạ nên nghĩ là nghĩ vậy chớ chẳng một ai dám nói thẳng ra.
Trên xe từ Hàm Dưng đi Quan Đông, vợ chồng Đào Châu Công ngã tựa vào nhau như đôi tình nhân chạy trốn. Đôi khi Tây Thi còn hát một bn xưa thật xưa cho chồng nghe. Năm tháng tuy có làm cho da nàng mất phần tưi mát mịn màng, vầng trán và góc mắt nàng đầy rẫy đường nhăn nhưng giọng điệu của nàng thì vẫn cứ như ngày nào, thanh tao, lnh lót. Đào Châu công lắng nghe, cm thấy êm đềm như quá khứ.
Lúc c hai đến Hàn Đang, vừa được vua Triệu từ nước Tấn tách ra lập quốc tiếp đãi thì được tin cấp báo từ Đào ấp khiến c hai phi tức tốc về nhà.
Nguyên con thứ của Phạm Lãi gây chuyện ở nước Sở, trong lần tranh chấp ấy lỡ tay giết chết một vị công hầu Sở quốc. Nếu giết một thường dân thì bằng vào tài sn và thế lực của dòng họ Đào Châu ở ngoại quốc sẽ rất dễ gii quyết. Nhưng vì là giết một công hầu nên mạng phi thường mạng mới sinh phiền. Qun gia của Đào Châu Công định ém nhẹm chuyện ấy đi, nhưng Phạm Bình lại cho người đi báo với cha, yêu cầu nghĩ cách gii quyết.
Vì con, vợ chồng Đào Châu Công kết thúc chuyến lữ hành, trở về Đào ấp. Vợ của Phạm An quỳ trước mặt Đào Châu Công thỉnh cầu cha chồng nghĩ cách cứu chồng.
Đào Châu Công rất cm thưng, song thần sắc vẫn hết sức tiêu dao, bo con dâu:
- Giết người phi thường mạng, không có cách nào hết. Ta về đây không phi để cứu Phạm An mà là để lo hậu sự cho nó. Tang sự của con ta phi ra vẻ...
- Đại nhân! Cổ nhân nói: “Con của nhà giàu không chết ở chợ”. Người của nhà ta bị xử hình giữa chợ là một điều sỉ nhục!
- Con của nhà giàu không dự vào các cuộc tư đấu, cố nhân cũng có lời dạy rõ ràng như vậy. An nó phạm tội thì không có cách nào có thể cứu được. Bình và An đều là con do ta sinh ra, dưỡng nuôi cho đến lớn, lòng ta đối với con hn hẳn các ngưi tưởng tượng. Nhưng chuyện này không sao lo liệu được.
ở trong nhà, Đào Châu công có thói quen thành tính, không bao giờ cự tuyệt lời yêu cầu của con cái. Điều Người cự tuyệt thì vĩnh viễn không yêu cầu được.
Phạm Bình tuyệt vọng. Vợ con Phạm An vẫn quỳ không đứng lên.
Bấy giờ, Tây Thi bước vào, sau khi hỏi qua chi tiết mọi việc xy ra, nàng liền chỉ ngay Tử Hòa bo:
- Con đi ra! (Tây Thi quay bo Phạm Bình) Con cũng đi ra!
Đợi hai con đi rồi, Tây Thi mới bo lũ cháu đang quỳ lui ra, chỉ chừa con dâu cùng nàng đối diện với Đào Châu công. Nàng nghiêm giọng nói:
- Thiếu Bá! Nếu thiếp là vợ thằng An thì khi nhận tin bất hạnh của chồng ắt không sống được. Hn nữa, thiếp đã hỏi kỹ, biết rằng lần đụng chạm ấy, An nó chỉ có nửa phần lỗi, vì đối phưng rút kiếm trước.
- ồ!
Đào Châu Công nghiêm nghị nhìn vợ, đoạn thở dài. Chưa bao giờ người từ chối yêu cầu nào của Tây Thi, song bây giờ Đào Châu Công do dự. Nhưng từ ánh mắt khẩn khon của Tây Thi, Đào Châu Công gật đầu bo:
- Triệu tập mọi người đến đây!
Toàn gia Đào Châu Công tập trung ở snh đường. Con của Phạm Bình và Phạm An cộng chung được ba trai, hai gái. Vợ của Tử Hòa (Tử Hòa là con chung giữa Phạm Lãi và Tây Thi) mới sinh được một trai chưa đầy một tuổi. Mọi người nín thở chờ nghe một tuyên bố quan trọng:
- Ta muốn Tử Hòa vào Sở cứu An. Việc này không nắm chắc kết qu mười phần mà chỉ là cách tận nhân lực. Từ rày về sau, ta cấm hết con cháu không được tư đấu (giao đấu cá nhân). Chúng ta là người buôn bán, ta không cho phép các con cháu được cầm gưm. Trừ phi lúc ở nhà, không một ai được sờ vào võ khí.
Lệnh cho gia tộc được khắc lên bng cây, treo trước nhà.
Nhưng lệnh sai Tử Hòa vào Sở cứu anh khiến cho trưởng tử Phạm Bình phẫn nộ, cưng quyết phn đối. Phạm Bình nói với Tây Thi:
- Con là con lớn, trong nhà có chuyện quan trọng thế này thì không thể không do con đm nhiệm. Đây là một điều sỉ nhục, làm mất truyền thống trưởng tử trong gia đình, làm mất c địa vị trưởng tử.
Phạm Bình yêu cầu Tây Thi nói giúp lời cho mình. Nếu không được cha cho phép sang Sở, Phạm Bình thà chết.
Việc ấy làm cho Đào Châu Công vô cùng khó xử. Sau khi nghe Tây Thi trình bày, Đào Châu Công trầm ngâm lúc lâu không nói gì.
Tây Thi thôi thúc:
- Tại sao chàng không cho Phạm Bình đi? Chuyện này không có gì phi nghĩ ngợi, Phạm Bình tự nguyện xin đi thì chẳng còn gì tốt hn. Lẽ đưng nhiên chàng biết Phạm Bình là người cố chấp, nếu không được đi cũng dám chết lắm! Việc chết sống của Phạm An chưa sao đoán chắc, có thêm Phạm Bình đi với Tử Hòa thì đâu đến nỗi gì.
- Nàng không biết đâu! (Đào Châu Công thở dài nặng nề, nói thêm) Đành là chẳng biết làm sao hn, thôi để cho Bình nó đi vậy!
Đào Châu Công dặn Bình vào Sở tìm một người tên Trang tiên sinh để dâng một ngàn lượng vàng ròng làm lễ. Đoạn ở kinh đô nước Sở chờ An ra khỏi ngục là lập tức ra thành, trở về Đào ấp liền. Đào Châu Công dặn đi dặn lại, bo phi y theo kế hoạch mà làm, một chút s thất sẽ làm hỏng việc.
Phạm Bình đội sao, đi suốt đêm sang Sở cứu em. Sau khi đưa con đi rồi, Đào Châu Công quay bo với mọi người:
- Hy vọng cứu được An rất ít. Các ngưi chuẩn bị hậu sự cho An đi!
Quay vào phòng riêng, Tây Thi nóng ny hỏi chồng:
- Thiếu Bá! Tại sao chàng lại đi tuyên bố như vậy?
Đào Châu Công khổ sở đáp:
- Phạm An phi chết. Ta muốn sai Tử Hòa sang Sở là vì nguyên nhân ấy.
- Thiếp còn chưa hiểu được...
- Vì Bình nó sinh trưởng trong hoàn cnh khốn cùng nên coi rất trọng tiền bạc. Tử Hòa lại lớn lên trong hoàn cnh giàu sang phú quí nên xem tiền bạc như cỏ rác. Với Bình, việc không đáng tốn một ngàn lượng vàng ròng, không phi không đáng tốn trước khi việc thành mà là không đáng tốn sau khi thành việc. Bởi theo dự liệu của ta thì Trang tiên sinh sẽ nghĩ cách nói cho vua Sở đại xá, nhân thể th con chúng ta mà không để lộ liễu gì. Nhưng rồi, Phạm Bình sẽ nghĩ rằng đại xá tù nhân là chủ ý của Sở vưng, Trang tiên sinh không có công lao nên Bình sẽ đến đòi vàng lại. Thế nên, người khác nhờ cuộc đại xá mà sống, riêng Phạm An sẽ vì đại xá mà chết!
Đào Châu Công nhếch mép cười đau khổ nói thêm:
- Mong là dự đoán của ta không đúng vậy.
- Thế sao chàng không nói cho Bình nó biết trước?
- Tây Thi! Mạng sống của một người không thể vì đôi câu dặn dò mà thay đổi được. Hn nữa, đây chỉ là dự đoán của ta thôi. Tình hình thật sự thế nào ta không dám chắc vì chồng nàng không phi là thần tiên.
- Thiếu Bá, hay là chính chàng sang Sở...
- Không ích lợi gì hết. Người ta hiểu ta giàu có, cho rằng ta ỷ thế khinh người, dùng tiền lo lót, nhất định là không được.
Tây Thi thở dài:
- Ôi, chàng liệu việc như thần, nhưng mong sao lần này chàng đoán sai để cho Bình và An được bình yên trở về.
Khổ nỗi, Đào Châu Công liệu việc như thần, không my may sai lệch. Chẳng bao lâu, Phạm Bình đưa thây em về Đào ấp đúng như những gì Đào Châu Công đã nói với Tây Thi.
Chết một đứa con, mặt ngoài không thấy ở Đào Châu Công có sự bi thưng. Nhưng nỗi thưng xót ấy đã đập mạnh vào lòng già, Đào Châu Công đóng cửa biệt thự suốt nửa năm đằng đẵng.
Trong nửa năm ấy, tình trạng sức khỏe của Đào Châu Công có sự thay đổi lớn. Không còn mạnh khỏe như trước, Đào Châu Công bắt đầu uể oi, bắt đầu cm thưng quá khứ tuy Người vẫn một mực thưng mến Tây Thi, muốn ở bên nàng hằng giờ, không một chút vắng nàng.
Giao mùa từ Hạ sang Thu năm ấy, Đào Châu Công bị cm mạo một lần hết sức nặng, mãi đến qua đông mới lành. Lần cm ấy làm cho khí qun của Đào Châu Công bị thưng vĩnh viễn, không lành. Cứ có sự thay đổi khí hậu thì Đào Châu Công thở rất khó khăn, khò khè, bị nghẹt.
- Ta thật sự già rồi!
Đào Châu Công nói với Tây Thi câu ấy. Thỉnh thong người có nói mình già, song lần này thêm hai chữ “thật sự”, ý rằng không phi nói đùa nữa.
Để tiêu khiển cho một lão già, Tây Thi bày cuộc lữ hành. Lần này vợ chồng Đào Châu Công chọn đường Trường Giang th thuyền vào Ba Thục. Đường ấy ít người Trung Nguyên đi lại, đường xa diệu viễn. Về phưng diện chính trị, một phần Ba Thục thuộc Tần, một phần thuộc Sở. Nhưng c Tần lẫn Sở đều không màng đến khu vực hoang vu ấy.
Năm năm trước, thuyền hàng của Đào Châu Công có đến Ba Thục, Đào Châu công có ghi trong sổ sách nên Ba Thục không phi là vùng đất lạ. Hn nữa, người tỏ ra thích địa phưng này nên nói:
- Ta muốn chôn cuộc đời già ở đây.
Tây Thi phn kháng:
- Không cho phép chàng tính vậy. Chàng cứ hay lén tính toán vậy hoài!
- Không đâu! Không có việc làm nào ta giấu nàng c.
- Hôm trước, chàng vẽ họa đồ chi? Khi chàng vứt đi, thiếp lượm xem lén, đoán chừng chàng muốn kiến lập thành quách ở Ba Thục để dọn về đó ở.
Đào Châu Công bỗng cười lớn:
- Ha ha... Việc ấy chứng minh không những ta già, chính nàng cũng già rồi.
- Việc ấy có liên quan gì đến cái già?
- Tây Thi! Họa đồ ấy vẽ hình thế của thành Hội Kê đó! Xưa kia, thủ đô của nước Việt dời từ Gia Lãm đến Hội Kê, kiến trúc theo họa đồ ấy. Họa đồ thành Hội Kê mà nàng cũng đoán không ra nữa là...
- Ô, Hội Kê sao?
- Hiện giờ cháu thứ của Câu Tiễn xưng vưng ở nước Việt. Tên nó là Châu Cú, lúc ta rời Việt, nó mới sinh, Tây Thi, chúng ta rời Việt có gần bốn mưi năm rồi.
***
Vào tháng hai mùa xuân sau Châu Kho vưng năm thứ tám, nhằm năm bốn trăm ba mưi ba trước dưng lịch, có một đoàn người đi trên bốn xe do mười sáu ngựa kéo xuất hiện ngoài thành Cô Tô. Họ không mua bán, dừng lại ở mút ngoại ô thành.
Chủ nhân đoàn xe là Đào Châu Công và Tây Thi. Họ rời Cô Tô đã bốn mưi năm. Họ đi như thế không một ai có thể nhận ra họ.
Phạm Lãi và Tây Thi có cùng một nguyện vọng: Trước khi chấm dứt đời mình, c hai muốn đi du lịch Ngô Việt một lần cuối.
Nhưng Cô Tô thành khiến họ không còn nhận ra nữa. Đại thành phồn thịnh biết bao nhiêu vào bốn mưi năm trước, giờ là cỏ mọc hoang tàn, không khói bốc lên. Vào mùa xuân mà ở đây nhuốm vẻ hoang lưng, tiêu điều quá!
Trưng cờ hiệu Đào Châu ở phía Bắc thành chẳng bao lâu, dân buôn bán quanh vùng lần lượt kéo đến thăm hỏi. Họ nhận được tin từ dịch trạm, đại thưng gia Đào Châu Công danh trùm thiên hạ đã đến đây.
Qun gia A Mang đầu bạc trắng xóa không ngừng gii thích với người đến thăm: Chuyến đi này, Đào Châu Công không có mang theo món hàng hóa nào. Nhưng các tay thưng buôn không chịu tn ra, họ không tin lời Mang nói.
Bên trong màn, Đào Châu Công nhẫn nại ngồi chờ bà vợ già trang điểm. Già c như thế, lẽ ra không nên sửa soạn làm gì. Nhưng suốt bốn mưi năm ở bên Phạm Lãi, ngày nào Tây Thi cũng mất một giờ trang điểm thành thói quen. Quen đến nỗi có già xuống lỗ cũng trang điểm.
A Mang thở hào hển bước đến nói:
- Bẩm chủ, gia nô không gii quyết được rồi. Bọn họ cứ cho rằng chúng ta có hàng bán nên không chịu gii tán cho.
Phạm Lãi thân mật mỉm cười:
- Chuyện nhỏ như vậy mà người không gii quyết được sao?
- Bẩm chủ nhân, gia nô thà lãnh chuyện lớn...
- Chuyện lớn đã có ta... Bây giờ, ngưi mau đi bo với họ, sau trưa mai ta phân phối hàng. Ngưi đi phát thẻ mua bán cho họ không phi là gii quyết sao?
- Dạ nhưng, chúng ta không có mang hàng theo.
- Ngưi đi dọ lại xem, đoán chừng có một số hàng của chúng ta đang chở đi, trưa mai có thể đến Cô Tô. V lại, ở đây tiêu thụ không nhiều, chuyện dễ gii quyết lắm!
- Dạ nhưng lỡ hàng của chúng ta không đến kịp thì sao?
- Ngưi tệ thì thôi! Nói cho ngưi biết, ta vẫn có cách gii quyết. Giờ, ngưi thay ta chuẩn bị một cỗ xe nhỏ, vợ chồng ta muốn vào thành nếu... phu nhân ta trang điểm xong trước lúc hoàng hôn.
- Thiếu Bá!
Tây Thi vứt lược cài. Phạm Lãi vội ngăn lại khiến nàng phụng phịu như con gái:
- Chàng lại thúc hối thiếp! Thiếp xong rồi nè, không cần chàng phi đợi đến hoàng hôn.
Thời gian không còn sớm. Lúc Phạm Lãi lên xe nhỏ vào thành, mặt trời đã ng về Tây. Vợ chồng Phạm Lãi rất vui, truyền vén rèm xe lên để nhìn cnh sắc Cô Tô đài vào chiều. Nhìn đường vào thành, Tây Thi chắc lưỡi trách trước:
- Trước kia, đường vào Cô Tô thành bằng phẳng có đâu tồi tệ như bây giờ.
Trước kia và bây giờ nào chỉ khác nhau có bấy nhiêu. Tây Thi nhìn đăm đăm phân nửa số nhà san sát trước đây bốn mưi năm giờ đã nghiêng đổ.
Xe đi lần về hướng Quán Oa cung nổi danh ngày xưa.
Quán Oa cung do Ngô vưng kiến tạo cho Tây Thi vào năm mưi năm trước, giờ tiêu điều trong cnh ngói bể gạch vụn hoang tàn khiến Tây Thi dàu dàu:
- Thiếu Bá, chúng ta xuống xe xem!
Phạm Lãi khó nhọc bò lần xuống xe trước rồi phụ đỡ Tây Thi xuống theo. C hai đã già đến mức không sao cử động dễ dàng, nhưng lên xe hay xuống xe, Phạm Lãi vẫn cố gắng, không để cho gia nô đỡ dìu. Phạm Lãi dùng ý chí và năng lực chống lại sự suy nhược.
Ni Quán Oa cung hoang phế, có hai lão già ăn mặc lam lũ đang bưi móc, lục lạo. Lúc thấy vợ chồng Phạm Lãi đến gần, một trong hai lão ngưng làm việc, đưa mắt lạ lùng nhìn hai vị khách ăn mặc thật rỡ ràng.
- Các người tìm kiếm gì đó? - Phạm Lãi dùng tiếng Ngô đ đớ hỏi. Thời gian xa cách quá lâu, Phạm Lãi quá già, nói tiếng Ngô cứng ngắc khiến người nghe nhận ra liền là người nước ngoài.
Một trong hai lão già kia đáp:
- Chúng tôi lục lạo ở đây có thể tìm được đồ quý.
Tây Thi ngạc nhiên hỏi.
- ở đây có chôn đồ quý sao?
- Tại sao không? Ngày xưa, chỗ này là Quán Oa cung! Nhị vị từ nước ngoài đến, tự nhiên không biết đó thôi. Trước kia, đại vưng nước tôi kiến lập cung này cho Tây Thi ở, nghe nói có để trong cung rất nhiều đồ quý.
Phạm Lãi và Tây Thi đưa mắt cho nhau. Tây Thi lại hỏi:
- Tây Thi à? Người có đẹp không? Các người có thấy nàng lần nào chưa?
- Năm hai mưi tuổi, tôi nhìn được một lần. Tây Thi đẹp lắm, chưa bao giờ có người con gái nào đẹp đến mức đó! Đáng tiếc...
- Tiếc gì?
- Nghe nói bà vua nước Việt đã giết Tây Thi rồi.
Vợ chồng Phạm Lãi lại đưa mắt nhìn nhau. Bốn mưi năm qua, họ còn nghe được tin sau cùng thật mới mẻ này. Phạm Lãi không sao ngăn được mỉm cười bo:
- Không có đâu. Bà vua nước Việt không có lý do giết chết Tây Thi.
- Gì mà không lý do? Tôi biết chuyện ấy rất rõ mà! Bà vua nước Việt cho Tây Thi là họa thủy làm mất nước nên mới đem giết. (Lão già kia nghiêm giọng thở dài, đoạn tiếp) Sau khi chinh phục Ngô vưng, Việt vưng vẫn như Ngô vưng chúng tôi, kéo lên Trung Nguyên ở mặt bắc đại hội chư hầu. Xong việc, Việt vưng trở về Hội Kê, hai năm sau lại đến Cô Tô, bắt dân thành Cô Tô đi đánh giặc cho Việt. Hồi ấy, tôi bị trưng dụng. Nhưng... (Lão già bỗng cười lớn) Chúng tôi đã làm cho vua Việt thua trận. Ha ha... Việt vưng không hiểu chúng tôi không muốn đánh giặc mà lại đi trách một vong thần tên là Phạm Lãi gì đó...
Phạm Lãi đưa mắt cho Tây Thi khiến nàng không sao ngăn được tò mò hỏi:
- Người nói Phạm Lãi gì gì đó làm sao?
- Cái ông ấy giỏi ghê gớm lắm, đã giúp Việt vưng đánh gục Cô Tô rồi chuồn êm. Việt vưng tình nguyện chia nửa nước nhưng Phạm Lãi không nhận. Bởi thế, Việt vưng bại trận thì cho là tại thiếu Phạm Lãi.
Phạm Lãi đắc ý mỉm cười, chỉ tay vào đống gạch ngói:
- Lão huynh đệ, người trông, ở đây có gì quý giá chăng?
Câu ấy hấp dẫn hai lão già, họ không nói chuyện khào với khách lạ nữa.
Phạm Lãi dìu Tây Thi đi sang một góc hoang tàn khác. Đối với những nghị luận lưu truyền, Tây Thi có phần o não nói nhỏ:
- Trong mắt mọi người thiếp là họa thủy, chàng là anh hùng!
- Anh hùng! (Phạm Lãi vuốt râu) Họ nói Tây Thi là mỹ nhân, nàng quên rồi sao?
Lẽ tự nhiên Tây Thi không quên, nhưng giờ phút này nàng vẫn buồn, nghĩ sâu về lẽ huyền bí của cuộc đời:
-Mỹ nhân đã chết từ lâu... Người ta nói thiếp bị giết là đúng. Mỹ nhân sao có thể để cho người đời nhìn ra là một bà già được? Anh hùng mới bất tử chứ mỹ nhân chỉ là họa thủy!
- Tây Thi! Nàng lại lôi thôi nữa! (Phạm Lãi cười cởi mở) Hay là cuộc đời chúng ta còn thiếu gì?
- Thiếp không có ý đó.
Tây Thi cúi xuống lượm một miếng ngói bể, một đầu miếng ngói hãy còn in dấu màu xanh. Tây Thi nhìn kỹ rồi dùng lai áo trắng tinh khiết chà làn bụi bám ngói hoang đoạn trao cho Phạm Lãi:
- Chàng cất giùm thiếp để làm kỷ niệm... Ngói này của Quán Oa cung, ngày xưa “người ta” tạo cho thiếp ở.
Phạm Lãi nhận ngói, làm ra vẻ thưng cm:
- Ta đã kiến tạo cho nàng chỉ một căn nhà!
- Chàng không thỏa mãn à? Thiếp đã dâng hiến cho chàng trọn vẹn bốn mưi năm rồi. (Tây Thi liếc chàng, nhắc lại) Thiếp đã hiến dâng tất c...
Phạm Lãi cười:
- Nhưng nàng vẫn còn muốn giữ vật kỷ niệm của quá khứ.
- Thiếu Bá! Chàng không có lý do nói thế. Thiếp lượm một miếng ngói bể, mà chàng cũng ghen sao?
Tây Thi đẩy Phạm Lãi khiến Người cười hì hì kêu lớn:
- Ơ, ta già c rồi, đẩy mạnh quá, rủi khi ta ngã thì bò dậy không được đó.
Ông chồng già lại dìu bà vợ già rời Quán Oa cung hoang phế. Dưới ánh sáng tàn chiều, xe nhỏ đi qua hướng Nam thành. Lúc nắng tắt hẳn, vợ chồng Phạm Lãi đến được Cô Tô đài ngày cũ.
Tây Thi đã chuẩn bị tinh thần không để quá xúc động trước Cô Tô đài chỉ còn là một đống gạch ngổn ngang. Nàng nói:
- Chúng ta đến xem Cô Tô đài bị thiêu rụi, thiếp nhớ lại ngày xưa thiếp cho rằng vĩnh viễn mình không thể tới được đây. Nhưng rồi chúng ta vẫn tới. Thiếu Bá, việc đời thật không sao tưởng tượng được. Ngày nào Cô Tô đài hùng vĩ cho mọi người ngưỡng vọng, thế mà giờ đây...
Bây giờ, Cô Tô đài chỉ còn là gạch đá làm tàn tích trên một khong đất thật rộng và cỏ mọc tràn lan thật rậm. Tây Thi còn thấy trong cỏ trùm đá lởm chởm có bóng chồn chạy thoáng qua.
Dĩ vãng như khói mây! Tây Thi bỗng nhớ đến thềm đá Cô Tô đài, ni Ngô vưng đã truyền trao Thuộc Lâu bửu kiếm cho Ngũ Tử Tư, điểm then chốt làm nước Ngô nghiêng ngửa. Tây Thi cũng nhớ lại tình cnh Ngô vưng bước xuống Cô Tô đài lần cuối.
Nàng hỏi nhỏ:
- Không hiểu nhóm Di Quang đã ra sao rồi?
- Ai biết? Nhưng chắc tất c đều về trời! (Phạm Lãi thanh thoát nói thêm) Không phi chúng ta đã sống quá lâu sao?
- Phi, chúng ta đã sống quá lâu... Thoạt đầu thiếp những ngỡ Cô Tô đài sẽ đứng lâu nhất, không ngờ chúng ta còn đây mà nó sập rồi!
Vợ chồng Phạm Lãi bồi hồi với tâm tình hoài cổ, nhớ theo đá gạch ngổn ngang. Mặt trời lặn hẳn về Tây, cnh vật nhuộm hoàng hôn tím. Chim bay về tổ, vẳng đưa đôi tiếng khóc chiều.
Phu xe từ trên thành nhy xuống, cung kính thưa:
- Bẩm chủ nhân, trời đã tối rồi! Nghe nói ở đây có dã thú.
Phạm Lãi dường như tỉnh mộng, vỗ nhẹ vai Tây Thi:
- Thôi mình về... Không nên ở đây làm mồi cho dã thú.
Hoàng hôn úp chụp tàn tích của Cô Tô đài hoang phế. Tây Thi khổ sở hết sức rồi cũng đành nói lời âm thầm giã biệt Cô Tô.
Phạm Lãi hỏi:
- Tây Thi, sao nàng không lượm một miếng gạch ở đây đem về?
- Không. Quán Oa cung mới là của thiếp, trong quá khứ, có một dạo đúng y như vậy. Nhưng Cô Tô đài thì không phi. Thiếp đối với người ta đã có sự hối lỗi từ lâu, thì cần gì giữ vật kỷ niệm. (Tây Thi long lanh nước mắt) Thiếu Bá, chúng ta đi thôi! Bây giờ thiếp nghĩ, lẽ ra chúng ta không nên đến Cô Tô đài.
Đôi vợ chồng già chậm chạp lên xe. Phu xe đốt xong đèn lồng treo hai bên thành xe tuy ánh sáng hoàng hôn vẫn còn soi thấy đường đi.
Xe lăn bánh, Phạm Lãi bỗng chỉ tay sang bên, bo:
- Đánh xe sang bên ấy, cứ việc cho xe đi, bao giờ ta bo ngừng hãy ngừng.
Tây Thi không hiểu chồng muốn gì. Nhưng thấy xe lăn bánh vào vùng hoang vu, nàng biết chồng muốn tìm lại giáo trường của nhà Ngô vào bốn mưi năm trước. Ni ấy là ni huấn luyện quân Ngô uy trấn Trung Nguyên song rồi cũng bị tiêu diệt.
Xe đi một lúc, Phạm Lãi mãi dò tìm ni muốn tìm nhưng Người thất vọng, thở dài:
- Ta muốn tìm một ni song không tìm được.
- Chỗ nào? (Tây Thi mỉm cười) Có thể thiếp tìm được cho chàng?
- Chuồng ngựa. Trước kia, có đến sáu mưi năm rồi, ta và vợ chồng Câu Tiễn giữ ngựa cho Phù Sai ở chuồng ngựa ấy.
Tây Thi cố tìm nhưng cũng như chồng, nàng không sao tìm thấy. Bởi vì Cô Tô đài nguy nga đã đổ nát, mà phi có Cô Tô đài làm mục tiêu mới nhận ra phưng hướng các vùng.
Tây Thi bỗng đứng lên trong lòng xe, vẫy tay với vùng hoang vu:
- Nhớ lâu quá rồi vẫn không sao nhớ được nữa. Thôi chào, giã biệt, vĩnh biệt!...
Sáng ngày hôm sau, vợ chồng Phạm Lãi cho xe đi một vòng khắp Cô Tô thành, sau đó, đoàn xe đi về hướng Nam.
***
Hội Kê thành bừng bừng hưng vượng năm nào, tri sáu mưi năm qua đã nhuốm vẻ cằn cỗi. Dân số có đông hn song không có vẻ phồn thịnh, sánh với thủ đô Hàm Dưng của nước Tần sinh khí đằng đằng thì thủ phủ của nước Việt có phần uể oi về chiều.
Người ta nói: Sinh lực của một quốc gia và một con người có chỗ tưng đồng, có mức độ nhất định. Sinh lực của nước Việt đã tiêu tận hai mưi năm, cũng như là một người sau khi tận dụng hết sinh lực thì rất dễ dàng sinh ra suy nhược. Đời Việt vưng Câu Tiễn, vì thù hận mà tập trung quốc lực dùng hết và đã thành công trong việc rửa thù. Nhưng đến đời con và cháu lên nối ngôi cha ông thì nước Việt vẫn còn chịu nh hưởng nặng nề của việc kiệt lực tuy mỗi người dân Việt hãy còn nhớ đến một đoạn vinh quang trong lịch sử.
Thỉnh thong người ta nhắc đến chuyện Câu Tiễn phá Ngô, Câu Tiễn nằm gai nếm mật... Về mặt tinh thần, người dân sống trong lịch sử vinh quang nhưng về mặt vật chất, người dân đã bị bần cùng hóa!
Người Hội Kê đi đi lại lại trên các ng phố phường. Trước cung Việt vưng bây giờ có một tượng đồng do từ đời Câu Tiễn đúc nên. Tượng đồng tạc hình công thần của nước Việt là Phạm Lãi.
Trong tim cũng như ngoài miệng người Hội Kê, Phạm Lãi vĩnh viễn bất tử. Nhưng rất ít người đến xem tượng đồng ấy, có lẽ do người ta đã quá quen thuộc rồi.
Phạm Lãi và Tây Thi đi qua đi lại ngang tượng đồng ấy có đến mười mấy lần. Nhưng không một ai nhận ra c hai, cũng không ai màng chú ý đến c hai.
C hai đến Hội Kê mười hôm, lần này không đi xe mang cờ hiệu “Đào Châu” nên không làm cho ai chú ý. Duy có Phạm Lãi cố ý tung tin mập mờ cho người Hội Kê đồn đại với nhau: “Đào Châu muốn đến Hội Kê”.
ở Hội Kê, Tây Thi và Phạm Lãi được sống bình yên. Mỗi ngày c hai đi dạo đó đây, đôi khi thuê xe bò ra vùng ngoại ô chi. ở Hội Kê có rất nhiều ni đáng cho c hai lưu luyến. Như Hội Kê sn là ni tình đầu c hai nẩy nở...
Qua mười hôm, vợ chồng Phạm Lãi di chuyển đến Gia Lãm, cố đô của nước Việt và cũng là ni chôn rau cắt rốn của Tây Thi.
Sông nước vẫn như xưa, các thiếu nữ vẫn như sáu mưi năm trước, giặt lụa bên sông. Lúc nhìn thấy thuyền ô bồng, các cô dừng tay giặt lụa, ngắm nhìn.
Lúc thuyền ô bồng đến khúc sông quanh, gần như người người trên thuyền đều nhất tề kêu lên:
- ở đây rồi, trông kìa, chỗ tng đá đó!
Phạm Lãi và Tây Thi bước ra khoang thuyền, nhìn vào ven sông. Ni ấy có mấy thiếu nữ giặt lụa và một phiến đá trắng.
Tây Thi dùng đúng giọng người Gia Lãm hỏi:
- Tng đá ấy là gì?
Môt cô gái tr lời có vẻ trách móc:
- Coi, đó là tng đá giặt lụa của Tây Thi ngày trước, bà là người Gia Lãm sao lại không biết chuyện này?
- à!... - Tây Thi ngạc nhiên liếc qua chồng.
Phạm Lãi thư th bình thêm một câu:
- Vị mỹ nhân này bất tử!
- Mỹ nhân nào bất tử? (Một cô chen nói) Gia Lãm chúng tôi là đất sn sinh mỹ nhân. Phi kể Gia Lãm mới bất tử!
- Vậy thì tất c đều bất tử phi không?
Phạm Lãi vừa cười vừa hỏi, vừa thúc thúc Tây Thi. Nàng mỉm cười, lòng vui thanh thoát thành nụ cười. Rồi tự nhiên, nàng đưa tay vuốt tóc. Mãi đến khi thuyền vượt qua tng đá giặt lụa, mãi đến khi đoàn thuyền trở về im lặng, Tây Thi mới nói nhỏ bên tai chồng:
- Thiếp đã nói trước, thiếp sẽ như chàng, cùng bất tử!
- ờ ờ, ta đành nhận vậy.
Phạm Lãi châm chọc, cách châm chọc rất kh ái:
- Tượng đồng của ta không ai màng ngó tới, nhưng tng đá nàng đứng giặt lụa ngày xưa lại được tất c các thuyền ngắm nhìn.
- Chàng ganh với thiếp à? (Tây Thi cười) Thật thì thiếp cũng không nhớ ra chỗ mình đứng giặt lụa nữa. Không biết có phi chỗ tng đá ấy không?
ở trên thuyền, Tây Thi vui mừng sung sướng, nhưng lên bờ, nàng lần lần mất vui. Cnh vật ni quê hưng th ấu của nàng đã thay đổi hết rồi. Cố hưng bây giờ hoàn toàn xa lạ, không một ai nhận ra nàng. Tây Thi chợt cm thấy rằng, một người sống quá lâu thì buồn lắm!
Điều làm cho Tây Thi càng mất vui là: Gái Gia Lãm rất thích cau mày mà nàng không hiểu tại sao. Có lần nàng nhờ Phạm Lãi đi hỏi và được một cô thích cau mày nói:
- Trước kia, Tây Thi như vậy!
Tây Thi hoang mang, hỏi lại chồng và tự hỏi:
- Ngày xưa, ta như vậy thật chăng?
Không chỉ bấy nhiêu, gái Gia Lãm còn có thói quen ấp hai tay trước ngực, gọi là nâng tim. Bởi vì ngày xưa Tây Thi cũng hay làm như vậy.
Tây Thi cười khổ:
- Điểm bất tử của thiếp là nâng tim!
- Còn nhiều điểm khác nữa chứ! (Phạm Lãi cười) Nàng thấy không, người ta còn khắc tên nàng trên bia đá, nào là đường Tây Thi, nhà Tây Thi, có c suối Tây Thi...
- Thôi đi...!
Tây Thi đưa hai tay lắc lắc:
- Chúng ta không thể ở đây rồi, ở đây thiếp đon mệnh mất! C ngày cứ thấy cau mày, nâng tim... Không biết đẹp cái chỗ nào?
- Cái đẹp của quá khứ, có lẽ con cháu chúng ta mới thấy đẹp. (Phạm Lãi nhìn mây bay, hỏi luôn) Tây Thi! Bây giờ chúng ta đi đâu?
- Chàng còn muốn đi nữa à?
Tây Thi lắc đầu:
- Thiếp muốn về nhà bồng bế cháu chắt.
- Ta nghĩ, chúng ta nên dời nhà vào Ba Thục. Xem đại thế thiên hạ thì Ba Thục là nơi yên ổn.
Tuy cơ thể suy nhược, Phạm Lãi vẫn giữ vẹn hùng tâm. Nhưng Tây Thi có vẻ cương quyết:
- Thiếu Bá! Chưa bao giờ thiếp phn đối chàng, song lần này thiếp nhất định phn đối. Hãy để chuyện ngày sau cho những người sau chúng ta làm. Thiên hạ có biết bao vấn đề, một mình ta không sao làm xuể được.
Vì vậy, vợ chồng Phạm Lãi trở về nhà.
Lúc rời Hội Kê, Phạm Lãi để lại mũ trận, nhờ người đem tặng Việt vương. Trên chóp mũ có khắc tên Phạm Lãi. Kể từ đó, vợ chồng Đào Châu Công không đi lại các nước nữa.
Mũ trận của Phạm Lãi luôn được giữ kỹ ở thái miếu nước Việt.
Mãi đến một ngàn bốn trăm năm sau, vua Ngô Việt là Tiến Lựu khai quật Hội Kê sơn, bắt gặp mũ ấy liền đem dâng cho hoàng đế nhà Đại Tống.
Hết