📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

Đoạt Hồn Kỳ (Hết) 🔒

81 trả lời, 9.100 lượt xem — Trang 2 / 3
Hồi 031. Đệ Tứ Đoạt Hồn Kỳ Từ Đâu Đến?
[/align]



Cửu độc thư sinh Cơ Thiên Khuyết cũng chẳng nghĩ được ra, trong giang hồ từ đâu mà có một nhân vật như thế này? Hừ lên một tiếng bằng giọng mũi rằng:
- Những nơi mà có gót chân của Đoạt Hồn Kỳ này giẫm tới, đều được biến thành thâm la quỉ vực hết! Tây Đạo, Đông Tăng, Nam Bút, Bắc Kiếm đều là những nhân vật nổi danh Càn Khôn Ngũ Tuyệt và cùng với vô số cao thủ trong võ lâm, đều đã bị ta dùng một kế mọn, khiến cho tan xương nát thịt hết thảy tại Vạn Mai Cốc Thiên Hương Ấu này cả rồi! Ngươi dám lảng vảng nơi đây, bộ muốn tìm chết sao?
Người hình thù tựa như Vô thường ác quỉ ấy, thoạt nghe cũng ngẩn người, nhưng lập tức đưa mảnh Câu hồn lệnh bài khua một vòng, lên tiếng cười quái gở rằng:
- Tây Đạo, Đông Tăng, Nam Bút, Bắc Kiếm, những nhân vật lừng danh cái thế trong Càn Khôn Ngũ Tuyệt ấy, công lực của họ đâu phải hạng tầm thường gì? Làm sao có thể chết về những âm mưu độc kế của Đoạt Hồn Kỳ giả như ngươi?
Cửu độc thư sinh Cơ Thiên Khuyết ngạc nhiên hỏi rằng:
- Xin người bạn hãy báo thử tự hiệu (ngoại hiệu) và vịn vào cớ nào mà người bạn dám bảo tôi là thứ Đoạt Hồn Kỳ giả?
Người coi hình dáng như Quỉ vô thường ấy không trả lời thẳng câu hỏi của Cơ Thiên Khuyết, lạnh lùng rằng:
- Không những ta biết ngươi là thứ Đoạt Hồn Kỳ giả, mà còn biết rõ người là Cửu độc thư sinh Cơ Thiên Khuyết là khác!
Cửu độc thư sinh Cơ Thiên Khuyết, xưa nay vốn vẫn tự hào là người bí hiểm quỉ quyệt tuyệt luân, nhưng nay bỗng một người ăn mặc quái gở theo lối ma này, mở miệng đã nói trúng phóc tên hiệu của mình, hỏi làm sao không khiến cho Cơ Thiên Khuyết ngẩn người được? Người gầy cao mặc áo đen lại giơ mảnh Câu hồn lệnh bài khua lên một cái, đưa tay chỉ về hướng bắc cười rằng:
- Hà tất người phải kinh ngạc như thế! Đằng kia bộ không phải là vị Đoạt Hồn Kỳ thiệt mà thiên hạ đều mộ danh đó ư?
Cửu độc thư sinh Cơ Thiên Khuyết theo ngay phía tay chỉ của người áo đen nhìn đi, quả nhiên cách mười trượng về phía Bắc, trên một đỉnh phong nhỏ, đã xuất hiện một người mặt đeo mặt nạ da người, thân người mặc áo đen, tay cầm một cờ đoạn đỏ có vẽ sọ người và hai xương chéo, đang nhìn về phía mình đứng, và phát ra những tiếng cười nham hiểm lạnh lùng!
Cơ Thiên Khuyết tuy đã ở Cửu Hoa Sơn quật mồ để xem cốt, nhưng bởi cây cờ Đoạt Hồn Kỳ trứ danh có thêu chữ Vương hầu bạch cốt, hồng phấn cô lâu ở Thiên Hương Ấu ấy, không khỏi khiến cho Cơ Thiên Khuyết trống ngực đập mạnh về việc cây Phong ma đồng Đoạt Hồn Bảo Kỳ này được! Không hiểu Đoạt Hồn Kỳ thiệt còn ở trên thế gian này hay đã chết thực sự rồi?
Nay rõ ràng vị Đoạt Hồn Kỳ thiệt là Thiểm điện thần khất Gia Minh đã chết về độc kế của mình là tiếng nổ kinh hồn vừa rồi, vậy người đứng đối diện đằng kia, cũng mặt nạ da người, cũng áo dài đen, cũng tay cầm cờ Đoạt Hồn Kỳ, đúng mốt lối ăn mặc của Đoạt Hồn Kỳ, chẳng biết thứ thiệt hay thứ mạo bài, nhưng Cơ Thiên Khuyết cũng đã giật mình chột dạ không ít!
Vốn là người đa mưu túc trí sẵn, sau khi kinh ngạc, Cơ Thiên Khuyết lập tức lại có kế hiện ngay ra trong óc của mình, ngầm nghĩ ngay về Càn Khôn Ngũ Tuyệt là Nam Bút Tây Đạo Đông Tăng Bắc Kiếm, ai nấy công lực tuyệt thế! Tuy đã nghe tiếng nổ kinh hồn vừa rồi, nhưng chắc cũng còn có người chưa bị chôn thân trong biển lửa ấy cũng nên? Sao không nhử vị Đoạt Hồn Kỳ chưa rõ hư thực này vào Thiên Hương Ấu khiến cho họ ngỡ là mình, do đó tránh sao khỏi một trận ác chiến tưng bừng diễn ra trong lúc hỗn loạn này, còn về hậu quả trong Thiên Hương Ấu ra sao cũng chẳng cần biết vội, nhân ngay dịp này co giò tẩu trước cho yên thân?
Thế là Cơ Thiên Khuyết vội thực hiện ngay cơ mưu xếp đặt của mình, lập tức tụ ngầm chân khí vào ngọn cờ đoạn đỏ trên tay, thình lình quạt bùng ra phía trước, một luồng gió buốt lạnh lùng như bài sơn đảo hải cuồn cuộn thốc tới kẻ đứng bên cạnh là người áo đen tay cầm Lang nha khốc thương bảng và Câu hồn lệnh bài; ngọn kình phong vừa quạt ra, miệng đồng thời lên tiếng với Đoạt Hồn Kỳ chẳng hiểu hư thực trên đỉnh phong cách mười trượng ấy rằng:
- Hầu hết những võ lâm cao thủ, đều đã bỏ mạng vùi xác hết tại Thiên Hương Ấu Vạn Mai Cốc đây của ta rồi, ngươi đã dám mạo danh Đoạt Hồn Kỳ lại đây, vậy hãy theo ta vào trong xem thử cho biết!
Chưa dứt tiếng, thân hình đã vụt bổng lên, bề ngoài trông như vọt vào Vạn Mai Cốc, nhưng thực ra khi đến khúc rẽ, đã lẻn ngay thân vào con đường bí mật mà hồi nãy mình đã chuồn đến!
Vị áo đen gầy cao mà ăn mặc lối ăn mặc theo lối Vô thường quỉ tay cầm Lang nha khốc thương bảng, và Câu hồn lệnh bài, không thể nào ngờ rằng Cửu độc thư sinh Cơ Thiên Khuyết lừng lẫy với danh hiệu Đoạt Hồn Kỳ ác này, lại thình lình ra tay đối với mình như thế!
Trong tình trạng không phòng bị ấy, thân hình lập tức bị ngọn kình phong của lá cờ đoạn đỏ quạt thốc vào người, lập tức khí huyết toàn thân đều cảm thấy một áp lực ngộp thở, thân hình bị đưa khỏi mặt đất và lao về giữa một hang tối âm u của triền núi!
Người ăn mặc theo lối Đoạt Hồn Kỳ đang đứng trên đỉnh phong hướng Bắc, bỗng thấy Cửu độc thư sinh Cơ Thiên Khuyết dùng kỳ phong quạt thốc vào người như vô thường quỉ ấy, thế nào cũng bị thương nặng mất, hét lên một tiếng xé không gian, tay trái vung mạnh phát ra một lúc ba ngọn Bạch cốt đoạn tiễn (tên ngắn làm bằng xương người)!
Những mũi tên bạch cốt ấy được đánh ra thinh không, chứ không nhắm hẳn vào người, nhưng tốc độ bay của từng mũi tên lại khác nhau, khoảng cách của mỗi mũi ước chừng trượng rưỡi, mũi tên gần nhất lúc này cũng cách xa trên năm trượng rưỡi!
Người ăn mặc theo lối Đoạt Hồn Kỳ ấy, sau khi đánh ra ba ngọn Bạch cốt đoạn tiễn liền tung mình nhảy theo luôn ba mũi tên, hai chân vèo lướt lên trên ba mũi tên đang bay ấy để mượn sức nhún mình đến, trông nhẹ nhàng như một thanh đình điểm thủy (con chuồn chuồn chấm lướt trên mặt nước) vèo ngang hơn mười ba trượng, vượt qua hẳn tuyệt vách, lướt ngay xuống hang tối âm u của triền núi, đưa tay ra hứng ngay lấy người ăn mặc theo lối Vô thường quỉ, đỡ lên sườn vách!
Người ăn mặc theo lối Vô Thường Quỉ ấy vì bị ngộp thở, nên đã hôn mê bất tỉnh nhân sự, kẻ ăn mặc theo lối Đoạt Hồn Kỳ chỉ còn cách nắn bóp cho y, khi nghe y thở ra một tiếng dài xong, mới cúi đầu xuống nói bên tai y rằng:
- Bọn họ sẽ tới sau, vậy ngươi truyền dụ lệnh của ta tất cả mọi người hãy chờ đợi ta tại ngoài cửa cốc Vạn Mai, nếu không có lệnh gọi của ta, cấm tuyệt không ai được tự tiện đột nhập vào cốc!
Bởi Cửu độc thư sinh Cơ Thiên Khuyết đã nhoáng thân vào lại Vạn Mai Cốc, bóng dáng đã biến bay vào rồi, nên người ăn mặc lối Đoạt Hồn Kỳ sau khi cấp tốc căn dặn mấy lời, cũng tung mình như một làn khói đen vèo hẳn vào trong cốc?
Làn khói đen vừa vút vào trong cốc không bao xa, bỗng một bóng đen nhoáng nhanh như điện, từ trong phía Thiên Hương Ấu xuyên vèo thẳng ra!
Thật khéo hết chỗ nói! Một bên vụt tung mình nhoáng từ bên ngoài vào, một lại từ bên trong bay vèo ra, thân pháp đều hấp tấp nhanh bằng nhau, suýt thì cả hai đều chạm trán, nhưng vì ai nấy đểu có môn khinh công thượng thặng trong mình, cộng thêm nhãn lực (sức nhìn) tinh tuyệt, cả đôi bên, trong nháy mắt đã nhận ra kẻ đối phương và đang tung thân vào ngược chiều với mình, về lối phục sức cũng như lối thân pháp đều hoàn toàn y hệt như mình!
Người ăn mặc theo lối Đoạt Hồn Kỳ từ bên ngoài vào thân nhoáng vào trong cốc, bắt gặp Đoạt Hồn Kỳ từ trong cốc tung mình vèo ra, tưởng đâu là Cửu độc thư sinh Cơ Thiên Khuyết đã chạy ngược về, còn phần Đoạt Hồn Kỳ từ trong cốc tung mình ra ấy, cũng ngờ rằng Đoạt Hồn Kỳ đang tung mình nhoáng vào đây là Cửu độc thư sinh Cơ Thiên Khuyết! Thể là cả đôi bên đương sự, đồng hét lên một tiếng kinh người, rồi cùng một động tác và tốc độ như nhau, nghĩa là ai nấy chuyển cờ qua tay trái, tay phải cùng vung chưởng, hai ngọn cuồng phong cuồn cuộn tìm nhau đụng độ trên thinh không!
Thì ra người ăn mặc theo lối Đoạt Hồn Kỳ mà từ trong cốc tung mình ra ấy, lại là Thiểm điện thần khất Gia Minh vừa từ trong Thiên Hương Ấu vọt ra, trong lúc ấy thì Cửu độc thư sinh Cơ Thiên Khuyết chợt thấy Thiểm điện thần khất Gia Minh chưa chết, biết ngay nhóm Nam Bút Tây Đạo chưa bị hại, giật mình
thất kinh vội lẻn ngay vào một đường mật đạo, (đường ngầm bí mật), chăm chú theo dõi động tĩnh bên ngoài!
Thiểm Điện Thần Khất thình lình tung mình ra lúc này, là bởi vì sau khi Thượng Quan Linh lo tiễn đưa Chung Ly lão nhân và Càn Khôn Ngũ Tuyệt rời khỏi xong, rồi hai người đứng ngắm nhìn cảnh tiêu tàn của Thiên Hương Ấu trước mắt, trong lúc đang buồn man mát, bỗng thình lình nghe tiếng cười âm u rợn người từ bên ngoài cốc vang vào!
Thượng Quan Linh nghe rõ tiếng cười quái dị ấy, nhận ngay là tiếng cười của Cửu độc thư sinh Cơ Thiên Khuyết, vội lên tiếng nói với Thiểm điện thần khất Gia Minh rằng:
- Thưa Gia tiền bối, ngài thử nghe coi, hình như Cửu độc thư sinh Cơ Thiên Khuyết còn chưa đi xa thì phải? Rất có thể là sau khi y nghe tiếng nổ của đồng cầu tưởng đâu cánh bọn mình đã bị tan thành tro bụi hết cả rồi, nên hí hửng quay lại để xem sự thể ra sao chứ gì? Vậy ngài có thể từ Thiên Hương Ấu này nghênh thẳng ra ngoài cửa cốc để đón đường y, còn vãn bối sẽ lo ngược khỏi vách triền này bao hậu sau lưng! Theo thiển kiến của vãn bối, lòng dạ của Cơ Thiên Khuyết này tàn ác độc hiểm tuyệt luân, việc cảm hóa không thể nào thực hiện nổi trên người như y đâu nếu có thể nhân cơ ra tay trừ khử, cứ việc thẳng tay cho rồi?
Thiểm điện thần khất Gia Minh lắc đầu cười rằng:
- Ấy, Thượng Quan lão đệ nói như thế đâu được, cứ xem vụ Cửu Độc Thư Sinh giam cầm Chung Ly lão nhân gần hai mươi năm trời ở tuyệt cốc Cửu Hoa Sơn như vậy, thế mà người ta trước khi tặng cây Phong ma đồng đoạt hồn bảo kỳ, đã ân cần dặn đi dặn lại: Phải ráng làm sao độ hóa ba lần với Cơ Thiên Khuyết, nếu sau ba lần vẫn chưa chịu cải ác qui thiện, chừng đó hãy thi hành diệt trừ? Một đức tính nhân hậu tuyệt độ như thế, thật đáng quí hóa biết bao? Lão đệ đây mới bước chân tập tễnh vào giang hồ, nên noi gương ấy để làm kim chỉ nam hành sự, chớ nên thấy mà ngại việc, thường nói Quân tử cần đại lượng. Vậy chúng ta đối với tên Cửu độc thư sinh Cơ Thiên Khuyết, cứ việc tuân theo lời dặn của Chung Ly lão nhân, nghĩa là hành sự đúng theo lời khuyên của người ta có vẻ ổn thỏa hơn!
Thượng Quan Linh sau khi nghe Thiểm điện thần khất Gia Minh nói những lời lẽ chính nghĩa như thế, mặt đỏ gay lên, thẹn không biết nói năng gì, thình lình vọt bổng người quăng mình lên trên triền đồi vách đi luôn!
Thiểm điện thần khất Gia Minh nhìn theo bóng Thượng Quan Linh, nở nụ cười mỉm xong cũng tung mình nhắm thẳng cửa cốc Vạn Mai!
Thiểm điện thần khất Gia Minh vừa ra đến cửa cốc Vạn Mai, thì gặp luôn một nhân vật chưa rõ thân phận lai lịch ra sao, thân mặc áo dài đen, mặt đeo mặt nạ da người, tay cũng cầm cờ đoạn đỏ sọ người trắng, từ ngoài cốc tung mình nhoáng bay vào ngược chiều với mình !
Bộ mặt thật của hai Đoạt Hồn Kỳ thiệt và ác, vốn đã rõ ràng hết, và sau khi Đoạt Hồn Kỳ thiệt là Chung Ly lão nhân truyền cờ tặng hiệu cho mình xong, Thiểm điện thần khất Gia Minh nào đâu có ngờ lại còn có đệ tam Đoạt Hồn Kỳ xuất hiện lúc này? Đương nhiên cho người trước mặt phóng tới đây là Cửu độc thư sinh Cơ Thiên Khuyết! Thế là đôi bên chẳng cần hỏi phải quấy gì, cờ trao sang tay trái, cùng vung phách không chưởng lực ra đánh một lúc!
Còn người ăn mặc theo lối Đoạt Hồn Kỳ từ ngoài của cốc tung mình vào để đuổi theo Cửu độc thư sinh Cơ Thiên Khuyết, cũng tưởng lầm Thiểm điện thần khất Gia Minh là Cơ Thiên Khuyết đang mai phục cửa cốc hòng ngấm ngầm đối phó với mình đây! Bởi vậy cũng không do dự gì vung tay đánh luôn một phách không chường cùng một lúc với đối phương!
Hai luồng cuồng phong của chưởng lực gặp chạm nhau trên thinh không, cả đôi bên càng đâm ra tin tưởng thêm nhân vật đối diện mình đây là Cửu Độc Thư Sinh, bởi trong hai ngọn cuồng phong vung ra gấp rút đó , cùng ngầm chứa hơi buốt lạnh, mà cũng chính là lối đánh Thất Sát Hàn Linh âm công trong quyển kinh U Mịch Thập Tam Kinh của mình đã học!
Từ khi Thiểm điện thần khất Gia Minh tiếp nhận sự truyền cờ tặng hiệu của Tiêu diêu lão nhân Chung Ly Triết, trong lòng tuy đã lập nguyện để độ hết Cửu độc thư sinh Cơ Thiên Khuyết, nhưng bởi cũng rõ biết người này bản tính hung ác thành tật, cần phải khôn khéo dùng thiện kế mới hòng được việc, chứ không dễ dầu gì dùng lời nói thuyết phục y được! Sau khi nghĩ vậy xong, việc trước tiên ở trước mắt là mình hãy thử hết tài nghệ với y trước đã, chờ cho Thượng Quan Linh từ phía sau bọc hậu tới nơi, chừng ấy sẽ cùng với cậu nhỏ tinh ranh khôn tuyệt vời này tính kế lo đối phó sau?
Còn vị đệ tứ Đoạt Hồn Kỳ ấy, cũng nín thinh cướp đánh tưng bừng, chưởng nào chưởng ấy kinh hồn, thế nào thế nấy hoảng vía, có thể nói là một cuộc giao tranh ác liệt như cố trả thù để hạ được địch thủ mới nghe, thế là tất cả những ngọn tuyệt học được tung ra đánh như điên cuồng? Bạt mạng! Hiểm hóc!
Trong chớp mắt, những ngọn gió kinh người cuồn cuộn nổi lên khắp tứ hướng của cốc Vạn Mai, cát mịt mù, cây cỏ rạp hết một vùng, trên không những ánh cờ đoạn đỏ biến thành những hồng quang quấn quít lấy hai bóng đen lúc vọt lên khi nhào xuống, trong không khác gì như đôi quạ đen đùa rỡn trong mây đỏ!
Hai vị kỳ khách này trong võ lâm đều ăn mặc theo lối Đoạt Hồn Kỳ này, đang hăng say giao tranh quyết liệt tại cửa cốc! Thì kẻ nấp trong mật đạo là Đoạt Hồn Kỳ ác tức Cửu Độc Thư Sinh đang im lặng ngấm ngầm theo dõi cuộc chiến của hai vị Đoạt Hồn Kỳ bên ngoài. Sau khi tỉ mỉ nhận xét, kể cả mình, là ba người đã ăn mặc theo đúng lối Đoạt Hồn Kỳ, không những võ học có nhiều chỗ giống nhau, mà cả đến công lực cũng xấp xỉ tương đương là khác, ít nhất cũng phải đấu mấy ngày mấy đêm, khi đó may ra mới phân rẽ được thư hùng cao thấp!
Cơ Thiên Khuyết cũng đâu có biết rằng Đoạt Hồn Kỳ thiệt tức là hiện thân của Tiêu diêu lão nhân Chung Ly Triết mà mình đã mời đến làm vây cánh cho mình, nên khi vừa thấy đệ tứ Đoạt Hồn Kỳ xuất hiện, thoạt tiên là giật mình kinh hồn hoảng vía trước!
Nhưng sau khi thấy những lối võ công của đối phương, cũng chẳng hơn gì mình mấy, biết ngay không phải kẻ đã bị mình giam cầm suốt gần hai mươi năm trong hang tuyệt cốc ở núi Cửu Hoa Sơn mà đã bị thiên tai động đất đá đè chết, hơn nữa đã được mình quật mồ lên để khám nghiệm hẳn hoi! Đâu có lý nào Đoạt Hồn Kỳ thiệt lại có phép hoàn hồn sống lại sao?
Cơ Thiên Khuyết sau khi định thần, và bất đầu nghi ngờ ấy, nghiễm nhiên lại nảy ra một ý niệm độc ác khác ngay! Và cũng vì ý niệm này mà ngày sau gây nên không biết bao nhiêu chuyện rắc rối, chuyện đó sẽ thuật tiếp trong các hồi sau! Nay bút giả xin tiếp tục kể tiếp về tiểu hiệp Thượng Quan Linh.
Trong khi ý niệm độc ác của Cửu độc thư sinh Cơ Thiên Khuyết dần dần chín mùi trong đầu óc ấy, thì kẻ đi vòng trên triền núi để bao hậu về phía sau là tiểu hiệp Thượng Quan Linh, không hiểu giữa đường đã gặp chuyện rắc rối gì mà mãi đến lúc này vẫn chưa thấy đến?
Sở dĩ Chân Đoạt Hồn Kỳ là Tiêu diêu lão nhân Chung Ly Triết được liệt là nhân vật thứ nhất trong Càn Khôn Ngũ Tuyệt, hơn hẳn Tây Đạo, Đông Tăng, Nam Bút, Bắc Kiếm! Đó là hoàn toàn nhờ ở chỗ người ta có thể coi nhẹ được bốn chữ tranh danh háo thắng.
Nhưng cửa cốc Vạn Mai lúc này, Đoạt Hồn Kỳ ác chiến Đoạt Hồn Kỳ! Thất Sát Hàn Linh âm công kịch đấu với Thất Sát Hàn Linh âm công, cuộc giao tranh đã lên đến trên hai trăm hiệp; coi vậy thì đủ rõ cả hai vị kỳ khách trong võ lâm này, vẫn chưa thoát được những ý niệm về háo thắng hay tranh danh, cuộc long tranh hổ đấu càng mãnh liệt bao nhiêu, cơn lửa giận trong bụng phải bửa thủng đáy thuyền (đánh cho đến phút chót nhất) để phân rõ thắng bại hơn thua mới chịu!
Trong cảnh cờ phất qua cờ vụt lại, chưởng nghênh đòn chưởng chịu đòn ấy chớp nhoáng lại ba trăm hiệp? Nhưng cả đôi bên vẫn nằm trong cảnh chiêng trống tương đương!
Dần dà, cả đôi bên đều cảm thấy trong ngọn cờ phong và chưởng pháp, không thể nào thắng nổi đối phương! Cả đôi bên đều nghĩ ngay đến môn ám khí, thế là đệ tứ Đoạt Hồn Kỳ bắt đầu ra tay trước, ngọn cờ đỏ sọ trắng quạt thốc lên một đường nhanh, toàn thân đã nhoáng vào hẳn về phía sau năm trượng, quay thân vụt hẳn ống tay áo ra, ba đường ánh vàng vừa vụt bay nhanh thành ba đường chỉ thẳng vút, nhắm ngay ba huyệt trọng yếu của Thiểm điện thần khất Gia Minh là huyệt Khúc sai trên mí mắt, Trung trụ nơi trước ngực, và huyệt Khí hải dưới bụng nhỏ của đối phương đánh tới!
Thiểm điện thần khất Gia Minh, cười lên một tiếng lạnh lùng, cũng vung tay lên, sáu mũi Đoạt Mệnh kim châm óng ánh vàng từ trong ống tay áo rộng bay vụt ra, chia thành hai đợt trước sau đánh ra, ba cây trước chọi hẳn với ba vệt chỉ vàng của đệ tứ Đoạt Hồn Kỳ ở trên thinh không rớt hết xuống mặt đất, ba mũi sau bay nhanh thành hình chữ Phẩm, nhắm thẳng đến tả hữu của huyệt Kỳ môn, huyệt Linh hư trên đỉnh đánh tới!
Đệ tứ Đoạt Hồn Kỳ liền vung cờ quạt thốc lên một luồng kình phong, ba ngọn ánh vàng lập tức chuyển hẳn hướng bay vèo về phía dốc triền đồi, biến hẳn luôn trong bụi rậm, trong số đó có một mũi suýt đánh trúng kẻ Đoạt Hồn Kỳ ác là Cửu độc thư sinh Cơ Thiên Khuyết đang nấp rình xem lén cuộc chiến của hai bên. Đệ tứ Đoạt Hồn Kỳ thấy lối thủ pháp đánh Đoạt Mệnh kim châm của đối phương lại cũng giống mình nốt, bất giác trong lòng càng đâm bứt rứt khó chịu, vung tay áo phạt ra một lúc tám làn ánh sáng vàng óng ánh bay lên thinh không chia thành bát quái phương vị, nhưng khi đến lưng chừng thình lình các mũi kim châm lại xoay nghiêng hẳn từ trên xuống dưới, từ trái qua phải biến thành Điên Đảo Càn Khôn, âm dương hoán vị (thay đổi vị trí một cách hỗn độn), khiến kẻ nhìn hoa cả tinh thần mờ cả mắt, khó mà nhận biết cây kim châm nào thực hư. Và cây nào sẽ đánh vào những điểm trọng huyệt nào trên thân hình?
Thiểm điện thần khất Gia Minh ngấm ngầm khen thầm trong bụng: Thật là một ngọn bát quái kim châm ngầm chứa những biến ảo, âm dương điên đảo tuyệt diệu!
Nhưng trong lòng không khỏi sinh nghi, bởi Thiểm điện thần khất Gia Minh nhận ngay ra lối đánh này là một lối đánh hiếm thấy tuyệt thế, trong văn kinh U Mịch Thập Tam Kinh tờ thứ mười của mình có nhắc sơ đến lối thủ pháp này!
Thiểm điện thần khất Gia Minh, tuy không biết đánh lối Bát quái kim châm, nhưng lại biết cách phá giải lối đánh này, thế là Gia Minh chẳng cần để ý đến những mũi Đoạt Mệnh kim châm đang quay cuồng trên đầu mình với lối Càn Khôn Điên Đảo, âm dương hoán vị ly kỳ huyền ảo ấy, Gia Minh đành đứng uy nghi như núi thái sơn, thản nhiên từ từ vận công lực vào hết cánh tay bên phải, dồn ngầm công lực đến suốt các đầu ngón tay, giơ hẳn cây Phong ma đồng đoạt hồn bảo kỳ trên có thêu hai hàng chữ Hồng phấn cô lâu, Vương hầu bạch cốt, vọt hẳn lên thinh không, lượn mình múa hẳn một vòng tròn, vẽ hẳn một Thái cực đồ hình, thế là tám mũi Đoạt Mệnh kim châm đánh ra thế Bát quái âm dương điên đảo bị biến tích luôn trong lối vẽ Thái cực đồ hình hư vô huyền diệu này!
Sau khi phát ra lối đánh Bát quái kim châm, đệ tứ Đoạt Hồn Kỳ tưởng đâu lối thủ pháp mà mình đã tốn nhiều năm khổ luyện, tuyệt thế vô song, đối phương khó lòng mà tránh khỏi? Nhưng đến lúc thấy thần sắc và cử chỉ ung dung của đối phương, rõ ràng cả người lẫn cờ của đối thủ, nghiễm nhiên tạo thành một bức Tiên thân vô cực đồ, với lối tịnh để chế ngự lối động, và với không để chế ngự có, ngang nhiên khắc chế hẳn các lối biến hóa âm dương và Lưỡng nghi, tam tài, tứ tượng, ngũ hành của lối Điên Đảo Càn Khôn, biết ngay lối đánh Bát quái kim châm của mình lại vô công hiệu!
Quả nhiên dưới sức chuyển động của cây Phong ma đồng đoạt hồn bảo kỳ của Thiểm điện thần khất Gia Minh, tám mũi kim châm không khác nào như bùn chìm biển cả, vô tung vô tích, thực ra đều bị ngọn Tiên thiên vô cực thần công của Thiểm điện thần khất Gia Minh vận chuyển trên mũi cờ hút dính hết tám mũi Đoạt Mệnh kim châm của đệ tứ Đoạt Hồn Kỳ?
Sau khi Thiểm điện thần khất Gia Minh dùng ngọn Tiên thiên vô cực thần công, hút dính những mũi kim châm, lập tức ánh cờ đoạn đỏ lại nhẹ bay vụt ra, những mũi kim châm bị hút dính trên mũi cờ thình lình bay bung hết một lượt, thế là vật qui cố chủ (vật cũ trả lại chủ cũ), hóa thành tám đường chỉ vàng óng ánh, hướng hẳn về đệ tứ Đoạt Hồn Kỳ lao đi nhanh như điện chớp!
Đệ tứ Đoạt Hồn Kỳ vội đề khí ngầm chuyển vô hình chưởng khí đưa tay quạt thốc lên tám mũi chỉ vàng, thế là tám mũi kim châm bay tung tứ tán hết!
Sau đó lên giọng trầm hùng rằng:
- Hèn gì ngươi dám giả mạo danh hiệu Đoạt Hồn Kỳ để tác ác hành hại trên giang hồ như thế, thì ra quả cũng có ít chân tài thực học thật! Này Cơ Thiên Khuyết! Vậy ta cũng rất muốn dùng đến Đoạt Mệnh kim châm để quyết sống chết với ngươi. Trong ám khí khó khăn nhất là ngọn Mãn thiên hoa vũ xảo tương phùng (những hạt mưa hoa khéo đụng nhau)! Xem coi tài nghệ ai cao thấp cho biết?
Đôi bên giao tranh suốt từ lúc gặp mặt đến giờ, đây mới là câu nói đầu tiên, Thiểm điện thần khất Gia Minh nghe giọng nói đối phương có vẻ lạ tai, hơn nữa lại gọi mình là Cơ Thiên Khuyết, biết ngay cả đôi bên đã lầm nhau, trận đánh này chẳng oan uổng lắm sao?
Nhưng đã không kịp giải thích, bởi đệ tứ Đoạt Hồn Kỳ sau khi vừa dứt tiếng: Xem coi tài nghệ của ai cao thấp cho biết! đã lập tức vung một trận mưa hoa bằng Đoạt Mệnh kim châm của mình!
Lối đánh được mệnh danh Mãn địa thiên hoa vũ xảo tương phùng, nghĩa là đôi bên ai nấy dùng thủ pháp Mãn thiên hoa vũ (đầy trời mưa hoa), tung ra một số lượng ám khí khá nhiều để đối chọi với số ám khí của đối phương! Đệ tứ Đoạt Hồn Kỳ đã đề nghị một lối đánh khó khăn ấy, lẽ đương nhiên Thiểm điện thần khất Gia Minh đâu chịu kém thua? Cũng vội thò tay vào trong mình, vung ra một đám mưa hoa vàng óng ánh lên thinh không!
Lối đánh tuy khó, nhưng hình như không thể làm khó được với hai vị kỳ khách trong võ lâm này phải? Bởi trong trận trước tại Vạn Tính Công Phần, Thiểm điện thần khất Gia Minh cũng từng dùng đến mười ba ngọn Đoạt Mệnh kim châm để cùng đánh với Cửu độc thư sinh Cơ Thiên Khuyết! Kết quả là bị Đoạt Hồn Kỳ thiệt là Tiêu diêu lão nhân Chung Ly Triết ngầm dùng lá cờ nhỏ của một Đoạt Mệnh kim châm cuốn luôn đôi bên mỗi người một ngọn, còn lại mỗi bên mười hai cây vẫn đụng độ đúng với ám khí đối thủ rớt trên mặt đất bãi tha ma nơi Vạn Tính Công Phần!
Nhưng hôm nay không biết tại cớ gì? Thủ pháp đánh ám khí Đoạt Mệnh kim châm của hai vị kỳ khách trong võ lâm này lại bỗng dưng thất linh (đánh trật hết ráo)! Sau khi hai đám mưa vàng đụng độ nhau, đôi bên chỉ có chừng đâu 17, 18 mũi khéo léo chạm đụng với nhau, số còn lại không những đã trật hắn đường bay, mà còn nhằm ngay hai bên đối thủ là đệ tứ Đoạt Hồn Kỳ và Thiểm điện thần khất Gia Minh đánh tới nhanh như chớp!
Mỗi người trúng đâu nằm sáu mũi Đoạt Mệnh kim châm, lập tức cả đôi bên đương sự ngã lăn quay một lượt xuống mặt đất! Kẻ nấp nhìn trộm là Cửu độc thư sinh Cơ Thiên Khuyết, thấy vậy lòng mừng khấp khởi, vừa chực tung mình ra nhân cơ hạ độc thủ để tiêu trừ hai vị Đoạt Hồn Kỳ, thình lình bên tai nghe có tiếng chân người từ ngoài Vạn Mai Cốc hấp tấp lại gần, ước chừng đâu bốn năm người là ít bất giác kinh hồn hoảng vía, tưởng đâu đám Càn Khôn Ngũ Tuyệt Nam Bút Tây Đạo Đông Tăng Bắc Kiếm đã thoát chết đang đi lùng mình đây! Thế là cuộc hạ sát hai vị Đoạt Hồn Kỳ đang nằm mê man dưới mặt đất của Cửu độc thư sinh Cơ Thiên Khuyết đành bỏ dở! Áo dài đen nhoáng lên một vệt khói đen lủi ngay trong đường mật đó biến dạng luôn!
Cửu Độc Thư Sinh đằng này vừa biến dạng tuyệt tích, thì từ ngoài cửa cốc Vạn Mai, năm mạng chạy xăm xăm vào cốc, kẻ đi trước chính là tiểu hiệp Thượng Quan Linh, bốn người theo sau đều ăn mặc theo lối lạ lùng kỳ dị; một người tay trái cầm miếng Câu hồn lệnh bài, tay phải cầm chặt cây gậy Khốc thương lang nha bảng, áo dài đen, mũ nhọn hoắt, thân hình cực cao, hai mang tai lủng lẳng hai xâu giấy tiền (loại để cúng cho người chết). Một người đầu lớn thân lùn, mặt rỗ nhằng nhịt kinh dị; một người tay cầm Sinh tử thiết bút, toàn thân mặc một áo bào đỏ chói, râu xồm miệng rộng, mày rậm mắt lồi, lối ăn mặc như một phán quan; một người nữa mặt đây tướng mạo quỉ quyệt đôi mắt tinh anh, cả một vẻ tú sĩ nho sinh với chiếc áo bào xanh lục! sau khi bốn nhân vật kỳ hình dị trạng xuất hiện, quí vị độc giả chắc đã cô thể đoán ngay ra vị Đoạt Hồn Kỳ vừa bị trúng kim châm bất tỉnh cùng với số phận của Thiểm điện thần khất Gia Minh dưới mặt đất này là ai rồi? Chính là nhân vật chủ trì Cửu U Địa Khuyết dưới lòng đất Vạn Tính Công Phần, tức là U mịch thần quân Diêm Nguyên Cảnh!
Thì ra sau khi Độc cước truy phong Nhân tâm thần khất Phương Kỳ và tiểu hiệp Thượng Quan Linh rời khỏi địa khuyết đi xong, U mịch thần quân Diêm Nguyên Cảnh bởi nghe tin có Chân giả Đoạt Hồn Kỳ và Tân Cựu Càn Khôn Ngũ Tuyệt sẽ mở trận so tài náo nhiệt trong giang hồ võ lâm, trong lòng bỗng nhiên cũng nao nức, muốn sao mau mau luyện thành tuyệt nghệ, tái xuất trên dương gian, cùng thốc lãnh thuộc hạ của mình là Trọng tuyền tú tài Cam Hóa Quế, Hồng y hỏa phán Mục Lôi, Đại đầu quỉ vương Tiêu Khôi, Câu hồn sứ giả Phong Kiệt, cốt sao đi tìm cho ra vị ân nhân là Thiểm điện thần khất Gia Minh, để lo đền đáp ân cứu mạng xưa kia, xong sẽ đi lùng tên Cửu độc thư sinh Cơ Thiên Khuyết để trả mối hận đã dùng kim châm tẩm độc ám hại mình xưa kia!
U mịch thần quân Diêm Nguyên Cảnh sau khi động lòng về chuyện ân oán của mình, bèn cảm thấy sống trong địa khuyết như thế này, thật không có một giờ phút nào yên tịnh được, thế là hết ngày này qua đêm khác, cứ việc thốc lãnh Trọng tuyền tú tài Cam Hóa Quế bí mật đi lùng tìm kiếm khắp địa khuyết, hy vọng sau có thể tìm ra tờ văn kinh thứ 13 của bộ U Mịch Thập Tam Kinh để chóng luyện thành tuyệt nghệ !
Tìm kiếm mãi, rút cục cũng tìm ra được chút manh mối, thì ra ngay nơi chôn chất của người chủ cũ Cửu U Địa Khuyết là Tu La Tôn Giả ấy, đã có một bức thư để lại nói rõ trong mười ba tờ văn kinh của bộ U Mịch Thập Tam Kinh ấy, vốn ra chỉ còn từ chương một đến chương mười hai là chôn cất tại Cửu U Địa Khuyết, còn về tờ văn kinh thứ 13 kia, từ hai trăm năm về trước, đã bị Tu La Tôn Giả đem tặng cho một người bạn ngoại quốc!
Diêm Nguyên Cảnh xem đến đây, mới biết rằng trong bộ kỳ thư U Mịch Thập Tam Kinh, những tờ thứ 4, 6, 8, 10 bị Thiểm điện thần khất Gia Minh lấy đi, còn bốn tờ thứ 5, 7, 9, 11 thì bị Cửu Độc Thư Sinh cướp đoạt đi, riêng mình chỉ được bốn tờ thứ 1, 2, 3, 12, nay tờ 13 đã không có, cũng chẳng cần phải tìm kiếm làm gì cho mất công!
Nhưng đến khi xem tiếp lá thư để lại ấy, thì Tu La Tôn Giả ngoài sự để lại quyển kỳ thư vỏn vẹn 12 tờ văn kinh U Mịch Thập Tam Kinh ấy ra, còn để lại một thứ bàng môn lợi hại là Tu La Tam Bảo chôn cất phía dưới hài cốt của mình, có ghi rõ cách sử dụng về nó, người cũng có ít hàng căn dặn người nào được bảo vật ấy nếu không dùng vào việc chính đáng mà làm việc tà ám, sẽ lập tức rước ngay thảm họa tai ách ghê gớm vào thân ngay!
Xem xong thư, U mịch thần quân Diêm Nguyên Cảnh đổi hắn nét mặt tươi tỉnh hy vọng ngay, dù sao cũng là một sự an ủi lớn trong lúc này! Lập tức cùng với thủ hạ của mình, cung kính dời hẳn hài cốt của vị Tu La Tôn Giả đi một nơi, quả nhiên tìm được ngay Tu la bạch cốt thôi, Tu la cửu hàn sa, và Lãnh diễm tu la võng (lưới kỵ hỏa), ba báu vật này được mệnh danh là Tu La Tam Bảo.
Sau khi được Tu La Tam Bảo, Diêm Nguyên Cảnh lại bắt đầu thúc lãnh thủ hạ của mình, ráo riết khổ công ôn tập lại những tờ văn kinh U Mịch Thập Tam Kinh trong một thời gian là ba tháng, xong xuôi mới nghiễm nhiên phát lệnh rời khỏi Cửu U Địa Khuyết, nơi mà mình đã treo hai câu liễn: Nhược hướng võ lâm cầu tuyệt nghệ, thả lai địa phủ bái thẩn quân! (muốn học được những võ nghệ tuyệt luân trong võ lâm, hãy lại địa phủ bái kiến tìm thần quân) và cũng là nơi mình đã tự giam trên mười năm ở đây!
Trận giao tranh của hai Đoạt Hồn Kỳ ở Vạn Tính Công Phần, tức giữa Cửu độc thư sinh Cơ Thiên Khuyết và Thiểm điện thần khất Gia Minh, đều đã lọt vào đôi mắt nhìn trộm của Câu hồn sứ giả Phong Kiệt. Sau khi ba Đoạt Hồn Kỳ lo đuổi nhau túi bụi ấy, Phong Kiệt đã lượm nhặt hết hai mươi sáu cây Đoạt Mệnh kim châm, một nửa số hình tròn, còn nửa nọ hình lăng tam giác. Do đó U mịch thần quân Diêm Nguyên Cảnh đã nhận ngay được, kẻ sử dụng kim châm hình lăng tam giác tức là kẻ thù số một của mình là Cửu độc thư sinh Cơ Thiên Khuyết!
Nên sau khi Diêm Nguyên Cảnh tái hiện trên giang hồ, cũng nghiễm nhiên sắm sửa theo lối ăn mặc của Đoạt Hồn Kỳ, cùng với bốn thuộc hạ kéo nhau lại La Phù Sơn Vạn Mai Cốc để xem cuộc đại hội nguyên tiêu nhất là cuộc so tài cao thấp của Tân Cựu Càn Khôn Ngũ Tuyệt, đồng thời cũng để tìm gặp tên Cửu độc thư sinh Cơ Thiên Khuyết để báo thù luôn!
Nào ngờ khi đến cửa cốc Vạn Mai, đã xảy ra chuyện nhầm lẫn tầy trời, phần thì U mịch thần quân Diêm Nguyên Cảnh xưa nay chưa hề quen mặt Thiểm điện thần khất Gia Minh lần nào, dưới sự ác đấu kịch liệt như thế, đâu còn dịp nhận ra hình thù của những ngọn Đoạt Mệnh kim châm là hình lăng tam giác? hay hình tròn? Vô tình lại để cho kẻ đại thù của mình nấp lén nhìn trộm là Cửu độc thư sinh Cơ Thiên Khuyết chạy thoát luôn, còn mình lại cùng với ân nhân là Thiểm điện thần khất Gia Minh bị trọng thương nằm hôn mê bất tỉnh nhân sự trên hai vũng máu!
May nhờ Thượng Quan Linh đến đúng lúc; sau khi ở Thiên Hương Ấu nghe những lời giải thích chính đáng của Thiểm điện thần khất Gia Minh, thẹn quá nên tung mình đi lo bọc hậu sau lưng Cửu độc thư sinh Cơ Thiên Khuyết!
Nào ngờ khi lên đến đỉnh triền núi, bỗng thấy đằng xa có ba bóng người lao mình như sao băng về phía cửa cốc Vạn Mai, mắt Thượng Quan Linh vốn tinh, hơn nữa cách thức ăn mặc của mấy người này lạ lùng kỳ dị, khác hẳn với người thường, nên cậu đã tinh ý nhận ra ngay là những thủ hạ của U Mịch Thần Quân Trọng tuyền tú tài Cam Hóa Quế, Hồng y hỏa phán Mục Lôi, và Đại đầu quỉ vương Tiêu Khôi, mà cả ba người này mình đã quen họ tại Cửu U Địa Khuyết dưới Vạn Tính Công Phần kỳ trước.
Thấy rõ vậy, Thượng Quan Linh bèn vội tung mình quăng luôn xuống nghênh đón ba người, bên phía người Cam Hóa Quế lẽ đương nhiên cũng nhận ra ngay được vị từng làm thượng khách với U Mịch Thần Quân của mình tại Cửu U Địa Khuyết là Thượng Quan tiểu hiệp.
Cộng thêm kẻ đang đứng gác cửa cốc Vạn Mai là Câu hồn sứ giả Phong Kiệt, sau khi năm người làm lễ tương kiến xong, Thượng Quan Linh mới lên tiếng hỏi sao không thấy U Mịch Thần Quân đâu? Câu hồn sứ giả Phong Kiệt trả lời:
- Diêm thần quân cùng với tôi đã bắt gặp được Đoạt Hồn Kỳ ác là Cửu độc thư sinh Cơ Thiên Khuyết tại đây, nhưng Cửu Độc Thư Sinh không giao đấu mà bỏ đi, nên Diêm thần quân đã đuổi theo vào trong cốc, đồng thời ra lệnh cho tôi, nếu không có lệnh gọi, cấm tuyệt không được tự tiện vào cốc!
Thượng Quan Linh nghe nói quả nhiên Cửu độc thư sinh Cơ Thiên Khuyết hãy còn lảng vảng gần đây, bất giác hơi cau mày rằng:
- Về đạo xử sự, có lúc lâm biến cũng phải tòng quyền. Diêm thần quân tuy cấm chư huynh vào cốc, nhưng Cửu độc thư sinh Cơ Thiên Khuyết là con người hung mưu tuyệt đỉnh, đã ở đây nhiều, địa thế lại thuộc, y đã nhử Diêm thần quân vào cốc như thế, e không khỏi có gian gì đây chăng? Chẳng thà chúng mình cứ theo sau tiếp ứng cho chắc bụng có hay không?
Trọng tuyền tú tài Cam Hóa Quế sau khi cân nhắc về sự lợi hại, trong trường hợp quyền biến, bèn gật đầu tán thành ngay lời đề nghị của Thượng Quan Linh, cả năm người đều dùng thuật khinh công của mình tung mình vào Vạn Mai Cốc, những kẻ cầm đầu vẫn là Thượng Quan Linh!
Bắt đầu vào được một quãng đường, xa xa đã trông thấy hai vị Đoạt Hồn Kỳ đang cùng nhau đánh về môn ám khí với thủ pháp tuyệt diệu của ngọn Mãn thiên hoa vũ xảo tương phùng! cả một vùng mưa kim châm tua tủa óng ánh màu vàng!
Nhưng không một ai có thể ngờ rằng, trong hai vị kỳ nhân cái thế như thế, thủ pháp sử dụng ám khí lại bỗng dưng mất linh nghiệm đến thế được! Cả đôi bên đương sự, mỗi người bị năm sáu cây kim châm của đối thủ, khiến cho nằm lăn bất tỉnh trên vũng máu rỉ ra của mình!
Mọi người phía Thượng Quan Linh, ruột gan bồi hồi hấp tấp chạy tới, chỉ thấy hai người, mỗi người trúng sáu ngọn Đoạt Mệnh kim châm, hai ngọn trúng nơi mặt, bốn ngọn găm trước ngực, may mà không trúng nhằm hai mắt và các huyệt trọng yếu trên ngực!
Trên mình Trọng tuyền tú tài Cam Hóa Quế, có đem theo sẵn những thuốc khử độc là thánh dược Vạn diệu đơn sa nhưng trong lúc này, hai vị Đoạt Hồn Kỳ nằm bất tỉnh dưới đất, lối ăn mặc lại giống nhau, sợ cứu nhầm người, nên công việc đầu tiên là rút hết những ngọn Đoạt Mệnh kim châm trên thân người trước, rồi mới giở mặt nạ da người ra sau!
Cũng bởi cây binh khí Phong ma đồng Đoạt Hồn Kỳ của Thiểm điện thần khất Gia Minh đã thu cất vào mình, nên khiến cho Thượng Quan Linh cũng tưởng đâu trong hai Đoạt Hồn Kỳ nằm bất tỉnh nhân sự dưới đất đây một kẻ lẽ dĩ nhiên là U mịch thần quân diêm Nguyên Cảnh, còn người kia nhất định là Cửu độc thư sinh Cơ Thiên Khuyết không sai?
Khi gỡ mặt nạ da người ra, thì một trong hai Đoạt Hồn Kỳ bất tỉnh ấy lại là Thiểm điện thần khất Gia Minh, Thượng Quan Linh giật thót người ý lên một tiếng. Cũng trong tiếng ý kinh ngạc của Thượng Quan Linh vừa vang lên đó, Câu hồn sứ giả Phong Kiệt tưởng đâu vị Thiểm điện thần khất Gia Minh này là Cửu độc thư sinh Cơ Thiên Khuyết, chẳng nói ất giáp gì giơ ngay cây Khốc thương lang nha bảng quất ngay xuống Thiểm Điện Thần Khất!
Thượng Quan Linh cau ngay đôi mày, đẩy nhanh ra một chưởng, cây Khốc thương lang nha bảng bị bật văng khỏi tay bay tít gần trượng, rồi trầm giọng nói:
- Xưa kia ở Cửu U Địa Khuyết, U mịch thần quân Diêm Nguyên Cảnh từng nói với tôi rằng: Danh vọng mình có thể không màng đến, nhưng ân thù không thể nào không minh bạch được, và ngày nào tái xuất hiện trên thế gian, thế nào cũng tìm Thiểm điện thẩn khất Gia Minh để báo ân, và Cửu độc thư sinh Cơ Thiên Khuyết để trả oán! Nhưng nay Thượng Quan Linh xin hỏi quí vị một điều, thế quí vị đây có ai biết được hai nhân vật võ lâm mà một người là ân nhân, một người là thù địch mặt mũi ra sao không đã?
Trọng tuyền tú tài Cam Hóa Quế, nghe xong lời nói của Thượng Quan Linh, ngạc nhiên chỉ ngay Thiểm điện thần khất Gia Minh rằng:
- Theo lời Thượng Quan tiểu hiệp nói vậy, thì vị này đây không phải là Cửu độc thư sinh Cơ Thiên Khuyết sao...?
Thượng Quan Linh lạnh lùng cười rằng:
- Không những đây không phải là Cửu Độc Thư Sinh! Mà vị này chính là Đoạt Hồn Kỳ chính tông đương kim là khác, mà cũng là người đại ân nhân cứu mạng của Diêm thần quân tức Thiểm điện thần khất Gia Minh!
Cam Hóa Quế, Mục Lôi, Tiêu Khôi, Phong Kiệt, cả bốn người đều biết rằng Thượng Quan Linh không bao giờ nói đùa những chuyện như thế, bất giác mồ hôi lạnh toát đầy mình!
Bèn vội vàng lấy thuốc Vạn diệu đơn sa đổ vào miệng cho Thiểm điện thần khất Gia Minh, thứ linh dược này là thuốc quí của cựu chủ nhân Cửu U Địa Khuyết là Tu La Tôn Giả đã để lại từ hai trăm năm về trước, công hiệu rất linh nghiệm. Thời gian vào khoảng đốt được một phần ba cây nhang, U mịch thần quân Diêm Nguyên Cảnh và Thiểm điện thần khất Gia Minh, cả hai bắt đầu dần dần hồi tỉnh lại!
Bởi trên mặt Diêm Nguyên Cảnh vẫn còn đeo mặt nạ da người, bị thương lại không nặng, vết thương trên ngực được rịt thuốc Vạn diệu đơn sa, hết hẳn đau đớn mở mắt ra đã tung mình vùng dậy, tay chỉ ngay Thiểm Điện Thần Khất mắng rằng:
- Tên Cơ Thiên Khuyết khốn kiếp kia, không ngờ ngươi đã dám dùng thủ đoạn trong lối đánh Mãn thiên hoa vũ xảo tương phùng để thi hành độc kế của mình...
Diêm Nguyên Cảnh chưa nói xong, kẻ đứng bên cạnh là Trọng tuyền tú tài Cam Hóa Quế vội kéo giật áo Diêm thần quân của mình khẽ tiếng nói:
- Kính bẩm thần quân, vị này đây không phải là Cửu Độc Thư Sinh đâu, mà chính là người ngài đang tìm để đền ơn xưa kia là Thiểm Điện Thần Khất đấy!
Diêm Nguyên Cảnh giật nảy mình kinh ngạc? Vội vàng cung kính vái sát người xuống chào, mặt nóng bừng lên tiếng rằng:
- Diêm Nguyên Cảnh này đã thọ ơn sâu như trời cao bể rộng của Gia đại hiệp, không ngờ nay lại hồ đồ đến nông nỗi này, suýt nữa thì ân hận ngàn đời... Xin đại hiệp rộng tình thứ lỗi cho!
Lúc này Thiểm điện thần khất Gia Minh cũng đã được Thượng Quan Linh kể sơ sự thể, nên cũng vội khom người đỡ thân Diêm Nguyên Cảnh, tươi cười rằng:
- Tuy xưa kia trong Cửu U Địa Khuyết, Diêm thần quân từng có duyên nợ tao ngộ với Gia Minh này, nhưng lúc ấy Diêm thần quân bị trúng độc nằm mê man bất tỉnh, nên chưa quen mặt tôi! Huống hồ, hôm nay cả đôi bên đều đeo mặt nạ da người, như thế tránh sao khỏi một sự lầm lẫn tai hại! Nhưng hình như tôi cảm thấy trong khi chúng mình cùng ra tay đánh lối ám khí Mãn thiên hoa vũ xảo tương phùng ấy, thình lình dưới nách bị tê hẳn, không lý đã có kẻ thứ ba nào ra tay đánh lén tôi? Nếu không Đoạt Mệnh kim châm của tôi không đời nào lại mất linh nghiệm như thế được?
U mịch thần quân Diêm Nguyên Cảnh nghe xong lời nói của Thiểm điện thần khất Gia Minh, bỗng cũng sực tỉnh người, vì chính dưới nách mình cũng cảm thấy bị tê thình lình trong lúc vung Đoạt Mệnh kim châm, thế là cả hai vội cởi áo ra kiểm soát thử, quả nhiên dưới nách mỗi người bị một kim châm màu huyền nhỏ bằng tóc găm dính vào da, dài hơn tấc, thân kim châm bằng hình lăng tam giác.
Với những võ công thuộc hạng cừ giỏi tuyệt vời của Thiểm điện thần khất Gia Minh và U mịch thần quân Diêm Nguyên Cảnh như thế, tại sao bị người ta đánh lén mà không hề hay biết gì? Nhưng kẻ thình lình ra tay ngầm hạ độc thủ ấy là Cửu độc thư sinh Cơ Thiên Khuyết, quả thật là một người đã biết lợi dụng thời cơ, ngay trong lúc hai bên vung ra gần ba chục mũi Đoạt Mệnh kim châm để so tài về lối đánh Mãn thiên hoa vũ xảo tương phùng, y bèn ngấm ngầm búng mạnh ra hai ngọn kim châm đen nhỏ có tẩm độc, để khiến cho hai vị cái thế kỳ nhân này đều bị thiệt mạng hết về Đoạt Mệnh kim châm của đối phương, như vậy có kẻ nào muốn điều tra, cũng không thể nào nghi ngờ đến mình đã dùng thủ đoạn độc đáo như thế!
Nhưng may thay hai vị cái thế kỳ nhân trong võ lâm này, công lực đâu phải hạng xoàng xĩnh gì? Tuy đôi bên đều tưởng đối phương là Cửu độc thư sinh Cơ Thiên Khuyết, nên đã vô tình tạo nên một thời cơ quá khéo cho Cửu Độc Thư Sinh chính cống đang nấp gần đó đến nỗi dưới nách mỗi người bị trúng một kim châm tẩm độc để rồi tức khắc thần trí bị hôn mê bất tỉnh, nhưng cũng trong thời gian thoáng mắt ấy, đôi bên cũng kịp thời đề khí phong toa kín hẳn các huyết mạch trọng yếu trên toàn thân!
Bởi có sự biến cố thình lình xảy ra như thế, nên về sự chuẩn xác của những ngọn Đoạt Mệnh kim châm đã bay sai lạc đi một phần như chúng mình đã biết là mỗi người bị trúng sáu ngọn Đoạt Mệnh kim châm của đối phương, nhưng nhờ cả hai đều là kẻ tướng mạo kiết nhân, nên sự kiện xảy ra đã không phù hợp đúng như ý nghĩ thâm độc của Cửu độc thư sinh Cơ Thiên Khuyết! Những nơi bị thương lại không phải những huyệt trọng yếu trong mình!
Khi đám Thượng Quan Linh đến nơi, và được Trọng tuyền tú tài Cam Hóa Quế lấy thánh dược Vạn diệu linh sa ra cứu tỉnh hai người xong, rồi đôi bên đều kinh ngạc về thân phận lai lịch của nhau, nên đã không để ý gì đến chuyện dưới nách bị tê trong lúc phóng ám khí!
Giờ do Thiểm điện thần khất Gia Minh nhắc đến, hai người vội khám xét trên mình tức khắc phát giác ngay dưới nách mình bị trúng kim châm tẩm độc nhỏ dài gần tấc. U mịch thần quân Diêm Nguyên Cảnh đối với loại kim châm tẩm độc hình lăng tam giác này, nhận rõ hơn ai hết, bởi hình dạng của nó giống hệt loại xưa kia mà Cửu độc thư sinh Cơ Thiên Khuyết dùng để đánh lén mình trong Cửu U Địa Khuyết!
Sau khi rõ như vậy và làm lễ tương kiến đôi bên xong, bèn hỏi về các vụ Tân Cựu Càn Khôn Ngũ Tuyệt trong Thiên Hương Ấu đâu đấy, mới lên tiếng phẫn hận rằng:
- Tên Cơ Thiên Khuyết này, quả là một tên táng tận thiên lương, hắn vừa thi hành độc kế tính thủ tiêu hết các tay quần hùng trong Thiên Hương Ấu! Bây giờ lại giở độc mưu khiến tôi ngộ đả thương vị ân nhân tày trời Gia đại hiệp đây, suýt nữa Diêm Nguyên Cảnh này phải mang hận nghìn đời...
Thiểm điện thần khất Gia Minh tiếp lời tươi cười rằng:
- May mà đôi bên chúng mình chỉ bị thương xoàng về da thịt bên ngoài thôi! Còn chuyện hiểu nhầm nhau trong lúc cấp bách như thế, làm sao tránh cho khỏi! Xin Diêm thần quân đừng bận tâm đến chuyện ấy làm gì nữa? Còn việc Cửu Độc Thư Sinh kia, hành tung y bí mật khó lường đoán trước được, quỉ quyệt lại đa đoan, nếu không nhân dịp y chưa kịp trốn khỏi xa đây mà mở cuộc lùng soát tìm kiếm, e sau này phải mất biết bao nhiêu thì giờ đi tìm con người chim trời cá biển ấy ở đâu?
 
0
Hồi 032. Thâm La Dạ Thẩm
[/align]  
U mịch thần quân Diêm Nguyên Cảnh gật đầu lia lịa rằng:
- Sau khi Cửu độc thư sinh Cơ Thiên Khuyết trốn khỏi La Phù Sơn, nếu không đi Phúc Kiến Giang Tây, thì cũng đi Hồ Nam Quảng Tây hai đường này, nói tóm lại, y đã rời khỏi địa phận Quảng Đông, ắt khó mà tìm cho ra! Vậy Diêm Nguyên Cảnh nay muốn mời Gia đại hiệp cùng Thượng Quan tiểu hiệp đuổi ngay về hướng Tây Bắc còn phần tôi sẽ dắt theo Cam, Mục, Tiêu, Phong bốn vị, đuổi về hướng Đông Bắc, thế nào cũng nguyện bắt cho kỳ được vị ma đầu võ lâm ghê gớm này mới được!
Thiểm điện thần khất Gia Minh nghe xong, bèn mỉm cười nói với U mịch thần quân Diêm Nguyên Cảnh rằng:
- Việc truy tầm tên Cửu độc thư sinh Cơ Thiên Khuyết cứ chiếu theo phương hướng của Diêm thần quân nêu ra vậy, mạnh ai nấy lo cho tròn việc! Tục ngữ có câu: Có công mài sắt có ngày nên kim! Ở đời không có việc gì khó chỉ sợ những kẻ không có lòng mà thôi! Dù cho Cơ Thiên Khuyết có quỉ quyệt thiên biến ngàn hóa đến đâu đi nữa, thế nào y cũng có ngày lọt vào tay bọn mình để cúi đầu chịu tội! Nhưng Gia Minh có một điều xin khuyên với thần quân là: Oan gia không nên kết làm gì, nếu có thể dung thứ được cho đối phương thì nên tha, nếu sau này Cửu Độc Thư Sinh có thể bỏ được tính hung bạo tàn ác, xin mong Diêm thần quân hãy cố cho y một lối thoát để tự cải hối!
Nỗi hận xưa kia và mối thù ngày nay của Diêm Nguyên Cảnh đều đang rối beng trong lòng, Diêm Nguyên Cảnh không thể nào không nguôi cơn oán hờn của mình được? Nhưng khi nghe xong những lời nói của Thiểm điện thần khất Gia Minh, thoạt tiên cũng bắt đầu kinh ngạc, nhưng khi nghe đến Gia Minh nói đến mấy câu chót, và đồng thời thấy đưa tay lên rờ những vết thương bị Đoạt Mệnh kim châm đánh vừa rồi, đôi mắt tỏ hắn ra một thần sắc nhân đức ôn hậu, bất giác mặt đỏ cúi đầu tuân lời ngay.
Thiểm điện thần khất Gia Minh bèn nhìn sang Trọng tuyền tú tài Cam Hóa Quế mỉm cười, xong cùng với Thượng Quan Linh khởi hành đi về miền Tây Bắc luôn!
Diêm Nguyên Cảnh lập tức đứng nghiêm nghị ôm quyền thi lễ cáo biệt với vị Thiểm điện thần khất Gia Minh, chờ cho họ khuất bóng hẳn triền núi, lúc này mới sực nhớ đến, sao mình lại có thể hẹp lượng đến thế? Tại sao cứ muốn trả thù ích kỷ như thế, mà vô tình hờ hững hẳn với vị đại ân nhân của mình, đến nỗi quên tặng cho người ta vài viên thuốc Vạn diệu đơn sa.
Chuyện đời đều khó ngờ đến hết chỗ nói, nếu tại Vạn Mai Cốc mà Diêm Nguyên Cảnh tặng thêm ít thuốc Vạn diệu đơn sa, thì sau này đâu có chuyện thảm khốc xảy ra cho Nguyệt dạ hoang phần, tam hại nhị tuyệt, đại hiệp bị phân thây! Khiến cho ai nấy phải mủi lòng trong những hồi sau!
Những chuyện hồi hộp gay cấn không ngờ được ấy đều thuộc về hồi sau, bút giả xin tiếp tục kể về vị U Mịch Thần Quân, sau khi Diêm Nguyên Cảnh hối tiếc về cách cư xử của mình quá vụng trộm, bực mình quá giơ tay đập lên má bên trái của mình!
Nhưng cái tát ấy lại khéo nhằm trúng ngay vết thương do Đoạt Mệnh kim châm đã gây nên, cơn tức tam bành của U mịch thần quân Diêm Nguyên Cảnh lại lập tức bùng nổi dậy, quay đầu lại nhìn Trọng tuyền tú tài Cam Hóa Quế, Hồng y hỏa phán Mục Lôi, Đại đầu quỉ vương Tiêu Khôi, Câu hồn sứ giả Phong Kiệt, rồi cất tiếng rằng:
- Kẻ đại trượng phu đáng nhẽ phải trả ơn trước rồi mới nghĩ đến việc báo thù sau, nhưng Diêm Nguyên Cảnh ta đã bị mê muội tâm trí, trong lúc mãi lo nghĩ kế trả thù, quên bẵng hẳn vị đại ân nhân cứu mạng của ta trong mười năm trước! Thôi thì ta cũng chịu đành làm kẻ tiểu nhân trước, chờ lấy xong đầu của tên Cửu độc thư sinh Cơ Thiên Khuyết, rồi sẽ tìm cho ra Gia đại hiệp xin theo hầu để trả ơn muôn một!
Nói tới đây, đôi mắt sáng ngời hẳn lên, lớn tiếng gọi ngay rằng:
- Phong Kiệt, Mục Lôi, hai anh hãy lấy ngay Tu la bạch cốt thôi trong Tu La Tam Bảo của tôi, lập tức đi trước về phía Đông Bắc, nếu một khi được tung tích gì về Cửu Độc Thư Sinh lập tức dùng ngay đến thuật truyền âm Quỉ khốc truyền âm để báo tin cho nhau?
Câu hồn sứ giả Phong Kiệt và Hồng y hỏa phán Mục Lôi bèn cung thân kính cẩn tiếp nhận bộ xương khô mà được mệnh danh là Tu la bạch cốt thôi, cả hai thi lễ nhận xong, lập tức khom người lại. Soạt! Soạt, sau ba tiếng tung mình vọt đi ấy, cả hai đã vọt xa hẳn 12 trượng! Phong Mục hai người đang tính tung mình vọt lần thứ tư ấy, thì đàng sau U mịch thần quân Diêm Nguyên Cảnh đột nhiên gọi lên rằng:
- Phong Kiệt và Mục Lôi hãy mau về, có lẽ ta lại đoán sai việc rồi cũng nên?
Hai người ngạc nhiên quay ngay thân trở về, chỉ thấy U mịch thần quân Diêm Nguyên Cảnh nhíu chặt đôi mày, từ từ rằng:
- Bởi hồi nãy ta bàn đến chuyện đại trượng phu, bỗng chợt nghĩ đến đối với những hạng người nham hiểm xảo tiểu nhân, trá tiểu nhân như Cửu độc thư sinh Cơ Thiên Khuyết, đâu có thể suy đoán một cách dễ dàng vậy!
Trọng tuyền tú tài Cam Hóa Quế vốn là kẻ nhanh trí hơn người, nghe nói vậy đoán biết ngay dụng ý của Diêm Nguyên Cảnh, bèn mỉm cười rằng:
- Chắc có lẽ Thần quân cho rằng kẻ phàm thường sau khi gây nên mầm tai họa tầy trời ở Thiên Hương Ấu như thế, tất nhiên thế nào cũng cao chạy xa bay rồi, nhưng riêng Cửu độc thư sinh Cơ Thiên Khuyết là con người quỉ kế đầy mình, rất có thể đến giờ này đây hãy còn ẩn nấp đâu đây và chưa khỏi hẳn núi La Phù này?
U mịch thần quân Diêm Nguyên Cảnh sau khi cười ngất ngưởng một hồi, rồi như rất hài lòng vỗ nhẹ vào vai Cam Hóa Quế rằng:
- Cam Hóa Quế, anh quả không hổ danh là Trọng Tuyền Tú Tài, đoán thật không sai ý ta tí nào cả! Nhưng ta không những quả quyết đoán là Cửu độc thư sinh Cơ Thiên Khuyết còn chưa rời khỏi La Phù Sơn này, mà ta còn tiên đoán trước rằng thế nào đêm nay y cũng mò lại Vạn Mai Cốc cho mà coi, để xem kế Mượn đao giết người của mình đã thành tựu ra sao là khác?
Trọng tuyền tú tài Cam Hóa Quế ngước mày rằng:
- Thần quân đã biết chắc như thế, tội gì mình không lập ngay ra một kế Thâm la điện dạ thẩm Đoạt Hồn Kỳ? (tựa như vụ Bao Công dạ thẩm Quách Hòe) khiến cho tên Cửu độc thư sinh Cơ Thiên Khuyết mà từng nổi danh dưới vòng trời này phải khiếp đảm và kinh hồn lạc phách, tưởng đâu mình đã chết xuống âm phủ!
U mịch thần quân Diêm Nguyên Cảnh gật đầu mỉm cười chấp thuận ngay, mưu kế do Trọng tuyền tú tài Cam Hóa Quế đưa ra, mọi người bèn chia lo phần công hợp tác. Phần thì họ đã từng sống quen nếp sống dưới Cửu U Địa Khuyết (cũng khác gì âm phủ), về kỹ thuật hóa trang làm ma làm quỉ thì lại càng không chê, vì họ là nhà nghề trong lối hóa trang này. Rồi khi hoàng hôn vừa buông xuống, nơi Vạn Mai Cốc, ngay chỗ địa điểm của hai Đoạt Hồn Kỳ là U mịch thần quân Diêm Nguyên Cảnh và Thiểm điện thần khất Gia Minh bị Đoạt Mệnh kim châm nằm lăn ra bất tỉnh ấy, lúc này một ngôi mộ lớn tướng được đắp ngay tại chỗ, trước mộ là một bia mả mới khắc, chữ rằng: Đệ tam và đệ tứ Đoạt Hồn Kỳ chi mộ!
Trăng mười sáu thường tròn hơn đêm trăng rằm, vào lối canh hai, Vạn Mai Cốc đã chìm lặng trong cảnh tịch mịch như tờ!
Quả nhiên trúng hẳn với lời đoán của U mịch thần quân Diêm Nguyên Cảnh và Trọng tuyền tú tài Cam Hóa Quế, Cửu độc thư sinh Cơ Thiên Khuyết không những chưa rời khỏi La Phù Sơn, mà còn thân hành quay trở lại Vạn Mai Cốc, và lúc này đang nấp thân trên một triền vách núi, mắt chăm chăm ngó ngay xuống phía dưới hình như đang suy tư đến một vấn đề gì!
Bởi lúc này lòng dạ của Cơ Thiên Khuyết không khác nào như kinh cung chi điểu (chim bị bắn hụt), trong khi Diêm Nguyên Cảnh và Gia Minh cả đôi bên song song lăn nhào xuống mặt đất ấy, không khỏi tưởng lầm rằng Nam Bút Tây Đạo trong Càn Khôn Ngũ Tuyệt đã đến? Mới hoảng hồn vía bỏ chạy luôn.
Nếu Cơ Thiên Khuyết biết được là đám Thượng Quan Linh, thì chỉ việc hiện thân ra hạ độc thủ, hai vị cái thế kỳ nhân đây không chừng cũng phải báo danh xuống địa phủ mất, làm gì còn có thể hoàn hồn lại như thế, Nhưng sau khi Cơ Thiên Khuyết đi xong, nghĩ về thủ đoạn của mình quá độc ác, nhất là đã tính thủ tiêu hết các quần hùng trong võ lâm, mình đã phạm lỗi lầm lớn là gây công phẫn trong lòng mọi người, khiến cho cả một đám người đối địch với mình đây đang mở cuộc lùng soát từ Đông Nam và Tây Bắc để tìm mình, dù mình có núp trốn đâu, cũng khó mà không bị họ phát giác ra được. Chẳng thà cứ ẩn yên ngay đây không nhúc nhích gì, may ra đám quần hùng không ngờ được ấy, rồi mình sẽ tìm cách thoát thân sau!
Sau khi nghĩ như vậy, bèn lập tức tìm ngay một huyệt động bí mật ngồi tịnh tọa hành công, nhưng mãi đến khi trăng lên đỉnh đầu, trong lòng dạ không làm sao yên trí được với ba vấn đề, vấn đề thứ nhất là đệ tứ Đoạt Hồn Kỳ này là ai? Vấn đề thứ hai là sau khi hai người vung ám khí kim châm đánh thế Mãn thiên hoa vũ ấy, mình đã dùng ám khí đánh lén thình lình, giờ đây không biết sống chết ra sao? Vấn đề thứ ba, những tiếng chân chạy từ ngoài cửa cốc vào là những nhân vật gì?
Ba vấn đề đã đua nhau quay cuồng nhảy múa ẩn hiện trong đầu óc của Cửu độc thư sinh Cơ Thiên Khuyết, khiến y không có giờ phút nào yên tịnh được, nên vào khoảng hơn canh một y đã lẻn quay về Vạn Mai Cốc để xem sự thể ra sao cho biết!
Nhưng khi Cửu độc thư sinh Cơ Thiên Khuyết định thần quan sát, trong lòng kinh lạ không ít, bởi cách Vạn Mai Cốc không xa ấy, bỗng dưng có thêm một ngôi mộ lớn tướng, trước mộ lại những vật lễ tế và giấy vàng bạc đốt cho người chết. Nhưng vì ánh trăng còn chiếu phía sau bia mộ, dù cho nhãn lực của Cơ Thiên Khuyết có giỏi đến đâu đi nữa cũng không làm sao nhận rõ được trên bia đã đề những chữ gì?
Ngôi mộ này chôn ai kìa? Lại một vấn đề thứ tư được xen thêm vào bộ óc đang rối tơi bời của Cửu độc thư sinh Cơ Thiên Khuyết, đương nhiên y cũng nghĩ rằng rất có thể sau khi trúng ám khí đánh lén của mình, một là Thiểm điện thần khất Gia Minh, hai nữa là đệ tứ Đoạt Hồn Kỳ, nhưng Cơ Thiên Khuyết vốn là người quỉ quyệt đa nghi, cũng nghĩ ngay đến chuyện là rất có thể người ta đã cố ý dùng mưu kế gì đây! Đắp một ngôi mộ mới để nhử mình hiện thân ra và cuối cùng mắc vào cạm bẫy của họ !
Vì đa nghi nên Cơ Thiên Khuyết đã cố ngồi đợi từ canh hai đến suốt canh ba, nhưng trong Vạn Mai Cốc đây vẫn không một động tịnh gì thay đổi! Thỉnh thoảng tiếng gió đùa cây cỏ như ngầm mách với Cơ Thiên Khuyết rằng yên trí, chẳng có ai đâu!
Vừa qua canh ba một lúc, phần thì không thấy có dấu tích gì là có kẻ mai phục, phần sự nghi ngờ đã tiêu tan hẳn, lại nữa cũng tự mình cũng chịu không nổi việc sự kiện trước mắt như thế, bèn tung ngay mình xuống như một làn khói đen lướt xuống triền vách, lượn qua phía trước mộ bia, thế là mấy chữ Đệ tam và đệ tứ Đoạt Hồn Kỳ chi mộ bắt mắt Cơ Thiên Khuyết ngay!
Cửu độc thư sinh Cơ Thiên Khuyết tuy đã ngờ vực trúng, nhưng không ngờ lại cả hai mạng như thế? Nên sau khi coi rõ chữ khắc trên bia mộ, bất giác cũng ngẩn người ngạc nhiên, nhưng cúi đầu suy nghĩ một lúc rồi tự lẩm bẩm một mình:
- Cả hai đều đã trúng loại kim châm có tẩm độc của mình, vốn ra cũng đủ mất mạng rồi, lại còn cộng thêm một mớ Đoạt Mệnh kim châm trong lối đánh Mãn thiên hoa vũ bị mất hết linh nghiệm ấy làm cách gì mà hồn không qui địa phủ được? Dù cho những tiếng chân người về sau chạy vào đó là Tây đạo Thiên Si hay Nam Bút tú sĩ nghèo đi nữa, họ làm gì lại mang sẵn thuốc giải độc bên mình? Đã không chuẩn bị thì chỉ còn nước đứng bó tay chịu chết mà thôi?
Trong lúc tự lẩm bẩm đến chỗ đắc chí, vô tình Cơ Thiên Khuyết lại nổi lên những giọng cười lí nhí trứ danh của mình trong vai Đoạt Hồn Kỳ ác xưa nay!
Sau tiếng cười ấy, Cửu độc thư sinh Cơ Thiên Khuyết đủng đỉnh bước ra phía Vạn Mai Cốc, nhưng chưa đi được ba bước, bỗng quay phắt người lại, đưa mắt nhìn về ngôi mộ cao hơn ba thước ấy, lên tiếng nham hiểm rằng:
- Xưa kia trên núi Cửu Hoa, khi ta thấy ngôi mộ của Động Trung Lão Nhân, đã từng quật mồ lên khám cốt, nhưng không hiểu vì lý do nào? Trong Thiên Hương Ấu kia lại thình lình xuất hiện cây Phong ma đồng Đoạt Hồn Bảo Kỳ, khiến cho ta nơm nớp lo sợ, ăn ngủ mất ngon! Nảy trước mắt lại một ngôi mộ mới, tuy lần này ta đã thân hành đánh ám khí tẩm độc ra, và thấy luôn đám ánh vàng về kim châm trong thế Mãn thiên hoa vũ của hai người... rồi cả hai đều lăn đùng ra mặt đất, nhưng nếu ta không quật mồ, Cơ Thiên Khuyết này quả thật không yên dạ được?
Nói tới đây, Cửu độc thư sinh Cơ Thiên Khuyết bèn sửa soạn lại áo sống cho tề chỉnh, rồi vái dài xuống, miệng lẩm bẩm rằng:
- Ngoại trừ chân, giả, thiện, ác không nói, ba người chúng ta kể cũng duyên phận với nhau thật, vì chúng mình đều xuất hiện trên giang hồ với danh hiệu Đoạt Hồn Kỳ? Các ngươi đã là đệ tam và đệ tứ Đoạt Hồn Kỳ, thì lẽ đương nhiên ta là đệ nhị Đoạt Hồn Kỳ, hai người đã chết về kim châm độc của ta như thế, giờ đây chúng mình có thể tạm kết mối quỉ duyên một chút cho vui vẻ? Vậy ta xin tạm quật mồ lên để thăm và chiêm ngưỡng xem oai nghi của hai người là ai cho biết!
Dứt lời, chân nhẹ bước lùi về phía sau hai bước, ngầm tụ công lực, song chưởng cũng đánh bạt ra một lúc một ngọn cuồng phong buốt lạnh lùng bùng nổi lên, ầm một tiếng, cả một ngôi mộ to tướng trước mắt đã bạt hẳn sang một bên.
Sau khi nóc mộ bị tróc qua một một bên, quả nhiên đã thấy hai nắp ván của quan tài hiện ra, nắp hòm bên trái đề rõ: Đệ tam Đoạt Hồn Kỳ chi cữu, nắp hòm bên tay phải đề rõ: Đệ tứ Đoạt Hồn Kỳ chi cữu, chữ tích đôi bên giống nhau!
Cửu độc thư sinh Cơ Thiên Khuyết lúc này vẫn chưa chịu tin hẳn, hai tay lại phát thêm hai Phách không chưởng bửa ngay hai nắp quan tài hai bên, gỗ ván bay tứ tung khắp phía!
Trong hai áo quan, mỗi bên nằm một xác chết, áo dài vải đen cuốn sát thân, mặt nạ da người đậy trên mặt, đúng là kiểu lối ăn mặc của nhân vật lừng tiếng trong giang hồ võ lâm là vị Đoạt Hồn Kỳ!
Cơ Thiên Khuyết hơi cau mày suy nghĩ một lúc, bộ mặt thật của Thiểm điện thần khất Gia Minh vốn mình đã được thấy rõ tại Thiên Hương Ấu, chẳng thà mình thử coi trước kẻ đến nạp mạng là đệ tứ Đoạt Hồn Kỳ là nhân vật nào trên giang hồ này?
Lúc này Cơ Thiên Khuyết càng cẩn thận hơn bao giờ hết, tuy biết trong cỗ quan tài là người chết hẳn hoi, nhưng vẫn sợ có người nhân lúc mình đang mãi xem xác chết này ra tay đánh lén mình chăng, lập tức liếc mắt nhìn nhanh tứ phía một lượt, thấy không gì khả nghi, bèn dùng thân pháp hết sức nhanh nhẹn, chụp nhanh cỗ xác trong quan tài bên phải, rồi túng mình vọt xa hắn trên ba trượng!
Khi nhấc khỏi thi hài của đệ tứ Đoạt Hồn Kỳ ra xong, lắng tai nghe động tịnh bốn phía, thấy không gì khả nghi, lúc đó mới yên tâm đưa tay lên lột chiếc mặt nạ da người!
Khi tước mặt nạ ra, Cơ Thiên Khuyết bất giác muốn nôn mửa, thì ra khuôn mặt trong mặt nạ da người ấy, chỉ còn lại đâu phân nửa đầu, còn thì máu me be bét, óc tủy văng một đống, đâu còn nhận mặt mũi gì?
Cơ Thiên Khuyết xem xét kỹ thi hài một lượt, bất giác trong lòng giật mình thất kinh, thầm nghĩ mình tuy thấy trên mặt đệ tứ Đoạt Hồn Kỳ bị trúng Đoạt Mệnh kim châm, nhưng tại sao lại có thể bị mất hẳn phân nửa đầu đến nỗi thịt óc bét be như thế!
Đã có ý nghi, Cơ Thiên Khuyết lại quay ngay đầu lại nhìn về phía hai cỗ quan tài!
Lại một lần nữa khiến Cơ Thiên Khuyết thất kinh hoảng người, vì sau khi nhìn lại ấy, giữa hai khoảng quan tài ấy, không biết ai đã cắm một ngọn thiết bài từ bao giờ, trên có bốn chữ Câu hồn đoạt phách.
Cơ Thiên Khuyết đã đoán không sai, có kẻ nào đã khăm mình đây, sau khi yên trí, y bèn quăng phứt ngay cỗ xác chết trên tay đi, cười gằn lên một tiếng rợn người, thân nhoáng nhanh như một tia điện, vọt khỏi cây thiết bài, tính xem trong cỗ áo quan còn có thêm trò gì nữa cho biết?
Nào ngờ ngay trong nháy mắt ấy, cỗ thi hài trong áo quan đã biến đâu mất tiêu, Cửu Độc Thư Sinh bị chọc tức đến điên đầu óc, mắt lộ vẻ hung dữ nhìn thiết bài, chỉ thấy dưới hàng chữ Câu hồn đoạt phách còn có thêm một hàng chữ nhỏ bên dưới viết rằng:
Nay Thâm La Diêm Quân sẽ ngự tại Tử Ngọ Cốc trong Sơn Thẩn Miếu, cho bắt đòi Cửu độc thư sinh Cơ Thiên Khuyết để lại đối chất với Bát chỉ phi ma Tư Không Diêu bị chết oan tan xác tại Thiên Hương Ấu!
Lúc này Cơ Thiên Khuyết mới hiểu rằng, tiếng nổ kinh hồn ngày hôm qua, quả có người bị tử thương, nhưng lại không phải là đám Tây Đạo, Đông Tăng, Nam Bút, Bắc Kiếm? Mà lại là kẻ kết phe tử đảng với mình là Bát chỉ phi ma Tư Không Diêu!
Sự kiện xảy ra trước mắt đây, trong một ngôi mộ, có hai quan tài, một cỗ xác chết thật, còn một cỗ xác sống thì đã cắm cây thiết bài Câu hồn đoạt phách để gọi trận với mình. Sau khi nhận xét sự việc trước mắt, Cơ Thiên Khuyết biết ngay đây là những sự an bài cố ý của những kẻ giang hồ nào đây, nhưng vì vụ án Bát chỉ phi ma Tư Không Diêu thật quả đã do mình gây nên, mỗi lần nhắc lại không khỏi rùng mình kinh hoảng rợn da gà!
Nhưng dù sao Cơ Thiên Khuyết cũng là kẻ tuyệt thế ác nhân, thiên lương chỉ được phát hiện trong nháy mắt lại tắt ngay, sau khi y khôi phục lại điềm tĩnh của mình, tiếng cười trứ danh của mình lại nổi lên, phá hẳn bầu không khí im lặng của đêm trường, hai vạt áo bào vụt bổng lên, một luồng gió cuồn cuộn quạt bay ngay cây thiết bài Câu hồn đoạt phách xa hơn hai trượng, rồi quay thân nhoáng vèo ra khỏi ngoài cốc!
Cơ Thiên Khuyết từng sống quen địa thế của La Phù Sơn, biết Tử Ngọ Cốc chỉ cách Vạn Mai Cốc một ngọn núi mà thôi, mà ngôi Sơn Thần Miếu ở đấy lại nhỏ, là một ngôi miếu chỉ có ba gian điện!
Với thân pháp lanh lẹ của Cơ Thiên Khuyết như thế chả mấy chốc đã đến nơi cửa cốc Tử Ngọ mà chưa đầy canh tư.
Dưới ánh trăng trong như nước ấy, ngôi Sơn Thần Miếu chỉ còn cách bảy tám thước, một cặp vô thường ác quỉ đứng gác ngay tại cửa, kẻ đứng bên trái, áo đen mũ đen, trên tay lại giơ cao một thiết bài Câu hồn thiết lệnh, kẻ bên tay phải, mặc toàn trắng, lưỡi đỏ le dài ra đến vài tấc.
Cơ Thiên Khuyết đã bị lừa một vố, lẽ dĩ nhiên không còn dại gì nữa, lạnh lùng cười lên một tiếng, vung luôn hai tay đánh ra một phách không chưởng mãnh liệt!
Nhưng lúc kình phong của chường lực đánh nhằm hai vô thường quỉ đứng gác hai bên đó, chỉ nghe một tiếng bục nhẹ nhàng, lập tức hai vô thường quỉ một trắng một đen ấy nát tan thây bay tứ tán, thì ra đây chỉ là hai hình nhân làm bằng tre phết giấy bổn, nhưng kẻ chế tạo đã khéo tay, trông linh động như người thật!
Nhưng sau khi hai hình nhân bể tung ra ấy, đã có một làn khói màu vàng bốc tỏa ra trên không một chập thì tắt luôn, đồng thời trong Sơn Thần Miếu truyền ra một tiếng nói quái dị lạnh lùng rằng:
- Kính bẩm Diêm Quân, Cửu độc thư sinh Cơ Thiên Khuyết vốn là kẻ tính tình hung bạo thành tật, sắp chết đến nơi mà vẫn còn hung hăng, dám ngang nhiên đánh tung nát hai người nộm ngoài cửa miếu, nội tội phạm oai linh đó cũng bị kéo hồn xuống địa ngục rồi?
Lại một giọng không chút cảm tình tiếp lời rằng:
- Người này tội ác chồng chất như núi, vậy hãy cho tuyên gọi vào đây cái đã!
Cơ Thiên Khuyết cũng nực cười thầm trong bụng, không hiểu là nhân vật nào trong giang hồ mà lại đi đóng trò ma quỉ yêu quái như thế này? Thình lình trong Sơn Thần Miếu, ba tiếng thét của quỉ sứ vang lên, khiến cho Cửu độc thư sinh Cơ Thiên Khuyết cũng đâm bay hồn lạc phách, tâm thần bồi hồi khó chịu!
Nào Cơ Thiên Khuyết đâu có ngờ rằng U mịch thần quân Diêm Nguyên Cảnh, bởi biết đấu thủ thuộc loại khó đấu nên đã động dụng đến Tu la cửu hàn sa và Tu la bạch cốt thôi của vị Tu La Tôn Giả. Lẽ dĩ nhiên Cơ Thiên Khuyết đã thất kinh hồn vía, vội dùng đến nội gia định lực để trấn tĩnh tâm thần, không dám khi thường các nhân vật trong Sơn Thần Miếu nữa!
Ngay cửa miếu lúc này có một thân hình cao lớn, toàn thân mặc áo bào đỏ, trông như một phán quan, dùng cây bút lông chu sa, chỉ ngay sang Cơ Thiên Khuyết, giọng lạnh lùng rằng:
- Chuyện thiện ác ở đời thế nào cũng có ngày quả báo, chỉ khác không chóng thì chầy thế thôi! Cơ Thiên Khuyết, có thể nói là suốt đời ngươi đã làm nhiều việc ác, hai tay máu hôi tanh, vậy hãy mau mau vào miếu đây mà soi thử Nghiệp kính đài của Thâm La Diêm Quân để biết đường mà sám hối!
Dứt lời trên không lại nổi lên một một màu khói vàng lớn rộng, thân hình của Hồng y phán quan biến mất hẳn trong màu khói vàng ấy?
Cửu độc thư sinh Cơ Thiên Khuyết lúc này cũng tự cảnh giác, những kẻ giả dạng ma quỉ trong miếu này nhất định không phải là những tay giang hồ tầm thường gì đâu? Với thanh danh lừng lẫy của mình, lẽ đương nhiên không thể vì sợ người ta để rồi rút lui, nhưng đối phương hình như đã định sẵn mưu kế từ trước, mình cần phải thận trọng mới được, nghĩa là phải nhận rõ hết tình hình, rồi mới ra tay sau.
Sau khi quyết định như thế, Cơ Thiên Khuyết bèn ngầm tụ Thất Sát Hàn Linh âm công vào chường bên tay phải, đưa lên giữ bộ ngực, tay trái cầm luôn một nắm Đoạt Mệnh kim châm có tẩm độc, giấu hẳn trong tay áo rộng của mình, rồi ung dung bước thẳng vào trong Sơn Thần Miếu đầy hơi ma tử khí!
Vừa vào khỏi cửa miếu, Cửu Độc Thư Sinh đã cảm thấy toàn thân lành lạnh rùng mình!
Thì ra những bức tượng thần trong miếu đều đã dọn sạch bách đâu hết, trong mấy thềm vuông của thềm đại điện ấy, ở giữa kê ngay một hương án, sau hương án một người gầy xanh ngồi ngay giữa bàn, mắt sáng như dao, đầu đội mũ vua Diêm vương, thân mặc áo bào vương giả, bên phía tay trái đằng sau vương giả, là kẻ vừa rồi từng lên tiếng nói với mình tại ngoài cửa miếu là Hồng y phán quan, bên tay phải là một người ăn mặc theo lối Câu hồn ác quỉ, toàn thân đen ngòm.
Bên trái của bàn hương án, một vị tú sĩ mặc áo bào màu lục, tay bưng một mâm đồng có song long bám xung quanh đứng nghiêm chỉnh một bên.
Trên mặt mâm đồng ấy, được ghi rõ ràng ba chữ Nghiệp kính đài, hai bên có hai hàng câu đối nhỏ viết rằng:
Nhược trì lai thế, thả khán kim sinh! (nếu muốn biết về kiếp sau, hãy coi rõ kiếp này!)
Bên phải của hương án, nơi đà ngang, cũng phất phơ hai câu đối bằng giấy, chữ rằng:
Tác đa liễu khôi tâm sự, mạc lai kiến ngã,
Tích thiểu hứa công đức quả, hảo khứ vi nhân!
(nếu đã gây nhiều chuyện tội lỗi, đừng có lại gặp mặt ta, nếu đã tích được chút công đức gì, liệu cách mà đi làm người!)
Cửu độc thư sinh Cơ Thiên Khuyết vốn là người tai ác hung tợn đã thành tật, giết người như ngóe, vừa rồi bị ớn lạnh trong mình khi vào cửa miếu, cũng không phải là sợ gì mấy người ở Sơn Thần Miếu, chẳng qua đã bị Nghiệp kính đài và mấy câu đối khiến cho lòng y tự dưng đâm ra chột dạ!
Hồng y phán quan thấy Cơ Thiên Khuyết vừa vào đến cửa miếu, đã lập tức dừng chân đứng khựng lại, đưa mắt liếc nhìn tứ phía một lượt như thế, bên cung kính cúi mình nói với vị ăn mặc vương giả rằng:
- Kính bẩm Diêm quân, Cửu độc thư sinh Cơ Thiên Khuyết đã đến kia, vậy có nên để cho y soi thử trong Nghiệp kính đài để tự biết kiếp người hiện nay của y không?
Cơ Thiên Khuyết âm thầm đứng quan sát vị ăn mặc theo lối vương giả này, cảm thấy trong sự xa lạ này cũng hình như đã quen biết ở đâu? Nhưng không làm sao nhớ được mình đã gặp ở đâu? Nghe xong lời Hồng y phán quan nói xong, bèn đứng ỳ ra xem thử mấy người tính múa rối trò trống gì đây, rồi liệu kế định đoạt sau, nhất là để xem thử chiếc gương được mệnh danh là Nghiệp kính đài làm cách gì để điều tra về những tội ác của mình đã làm?
Người ăn mặc vương giả khẽ gật đầu, Hồng y phán quan đi lại phía người mặc áo bào lục đang ôm chiếc mâm đồng ấy lớn tiếng rằng:
- Xin Nghiệp kính đài mau mau hãy hiện rõ tất cả những tội ác của Cửu độc thư sinh Cơ Thiên Khuyết cho y được biết!
Chuyện lạ lùng bắt đầu xảy ra khi tiếng nói của Hồng y phán quan vừa dứt, thì ra chiếc mâm đồng ấy đã chuyển động, một làn ánh sáng rực chiếu thẳng về Cửu độc thư sinh Cơ Thiên Khuyết đang đứng nơi cửa miếu!
Kẻ tú sĩ mặc áo bào xanh chờ cho kính ngừng hẳn đâu đó, rồi quay đầu nhìn Hồng y phán quan lên tiếng lạnh lùng rằng:
- Cơ Thiên Khuyết xưa kia từng tác ác nhiều trên giang hồ với danh hiệu Cửu Độc Thư Sinh.
Tú sĩ mặc áo bào xanh đọc đến đâu, Hồng y phán quan lo ghi chép đến đó, còn Cơ Thiên Khuyết đứng cười thầm trong bụng, đối với những trò ma mãnh này thật chỉ có thể dọa nổi trẻ con, các quần hào trong thiên hạ, ai chẳng biết những chuyện xưa kia của Cửu Độc Thư Sinh?
Cây bút ghi chép của Hồng y phán quan vừa ngừng; mâm đồng lại bắt đầu chuyển động. Tú sĩ áo xanh nhìn xong một hồi lại lên tiếng báo cáo rằng:
- .. sau bị Tiêu Diêu Lão Nhân trên núi Côn Lôn là Chung Ly Triết độ hóa, nhưng tính ác Cơ Thiên Khuyết vẫn chưa chịu sửa đổi, ngang nhiên đã lừa Chung Ly Triết đến tuyệt cốc núi Cửu Hoa Sơn để giam cầm tại đó gần hai mươi năm trời đằng đẵng, tội phụ ơn bạc nghĩa đến thế! . . .
Mấy câu nói ấy đã khiến cho kẻ hung tàn độc ác Cửu độc thư sinh Cơ Thiên Khuyết phải toát mồ hôi lạnh rùng mình!
Bởi câu chuyện vong ân bội nghĩa ở núi Cửu Hoa Sơn với Tiêu Diêu Lão Nhân ấy, chỉ có trời biết, đất biết, và đôi bên đương sự biết, nhất là Chân Đoạt Hồn Kỳ là Tiêu diêu lão nhân Chung Ly Triết, ngoài mình biết ra, sao tú sĩ áo xanh này cũng biết kìa? Không lý chiếc mâm đồng kia có thể biết rõ những chuyện dã man bí mật xưa kia của mình thế sao? sau khi Cơ Thiên Khuyết ớn lạnh rùng mình về sự kiện trước mắt, đang bán tín bán nghi ấy, bỗng chiếc mâm đồng lại chuyển động. Tú sĩ áo xanh nhìn xong lại lên tiếng báo cáo rằng:
- Tội ác Cơ Thiên Khuyết đã chồng chất quá nhiều, sau khi rời khỏi Cửu Hoa Sơn, lại xuống Cửu U Địa Khuyết nơi Vạn Tính Công Phần, dùng kim thâm tẩm độc hình lăng tam giác, để ám hại vị Lãnh Nam hiệp đạo là Diêm Nguyên Cảnh, rồi tước đoạt bốn tờ văn kinh trong bộ kỳ thư U Mịch Thập Tam Kinh...
Tú sĩ áo xanh khi nói tới đây, càng khiến cho Cơ Thiên Khuyết đâm hoảng hồn thất kinh, bởi vì ngọn binh khí Phong ma đồng đoạt hồn bảo kỳ từng xuất hiện thình lình ngay tại Thiên Hương Ấu ấy, như vậy có thể chứng minh rằng Tiêu diêu lão nhân Chung Ly Triết rất có thể chưa chết cũng chưa biết chừng, nên tin tức đã lậu ra ngoài, nhưng vụ dưới Cửu U Địa Khuyết ở Vạn Tính Công Phần dù sao cũng không thể nào có người biết được về chuyện này được?
Cơ Thiên Khuyết không thể nào hiểu nổi sự huyền ảo trong này, bất giác trong lòng càng hồi hộp hoảng sợ, toàn thân gần như đã không còn cách gì trấn tĩnh nổi nữa!
Bây giờ Cơ Thiên Khuyết phát giác hiện tượng này, không phải là chuyện hoàn toàn thuộc về tâm linh cảm ứng gì, nên vội vàng ngầm vận công lực vô hình lên khắp toàn thân? Thì ra không biết từ bao giờ, đã bị một thứ âm hàn độc lực xâm nhập vào cơ thể!
Cơ Thiên Khuyết vốn là một người rất thâm trầm, nên khi phát hiện có chuyện lạ, vẫn vờ như không biết, nghiễm nhiên đứng yên nơi cửa điện, phảng phất như lặng nghe những tiếng báo cáo, kỳ thực thì đang dùng ngọn tuyệt đỉnh nội công, vận ngay Thuần dương chân khí, vận chuyển vào Cửu cung lôi phủ và Thập nhị trọng lâu, để bức ép hết các hơi độc lạnh trong người ra.
Mâm đồng lại chuyển động, tú sĩ áo xanh lại lên tiếng đọc rằng:
- Cơ Thiên Khuyết sau khi mưu hại Diêm Nguyên Cảnh rồi tước đoạt bốn tờ văn kinh U Mịch Thập Tam Kinh ẩn cư tại Thái Hành Sơn, rồi sau lại rời đi Hạ Lan Sơn luyện thành tuyệt nghệ, rồi mượn luôn danh nghĩa của Tiêu diêu lão nhân Chung Ly Triết là Đoạt Hồn Kỳ để ra khuấy phá tứ tung, việc đầu tiên là phá hủy ám hiệu ký danh của nhóm Càn Khôn Ngũ Tuyệt, rồi giết chết ba cha con Hạo thủ thần long Thường Tử Tuấn, tàn sát mười hai mạng võ lâm cao thủ ở Bạch Long Đôi, tận diệt 23 mạng tăng lữ
Người ngồi giữa hương án được gọi Diêm quân mà ăn mặc theo lối vương giả ấy, nghe báo cáo đến đây, tay áo phất một cái chiếc mâm đồng lập tức ngừng chuyển động luôn, rồi lạnh lùng lên tiếng hỏi rằng:
- Ngươi hãy tra xét xem thử bộ âm tào luật lệnh, Cửu độc thư sinh Cơ Thiên Khuyết đã từng phạm nhiều trọng tội như thế, phải dùng hình phạt gì để trừng trị?
Cơ Thiên Khuyết một mặt ngầm vận nội lực để ép hơi hàn độc trong người ra, một mặt lại cảm thấy người ăn mặc vương giả, không những thấy hơi quen quen ở đâu, mà đến giọng nói hình như mình cũng được nghe qua ở đâu vậy? Cơ Thiên Khuyết đành cố nặn trí nhớ của mình nghĩ xem những nhân vật nào trên giang hồ mình đã biết, xem có ai giống người này chăng?
Sau khi Hồng y phán quan ghi chép những câu báo cáo tội trạng về Cửu độc thư sinh Cơ Thiên Khuyết bằng lối xem Nghiệp kính đài, rồi lấy sổ bộ âm tào luật lệnh, giở ra coi xét, lên tiếng tuyên đọc rằng:
- Theo như tội trạng hung ác của Cơ Thiên Khuyết luận theo luật âm tào, có thể xử bằng Đao sơn hay Lăng trì, hoặc Vạc dầu sôi hay lên Cối xay thịt, xử xong một trong những thảm hình sẽ tống xuống địa ngục, không bao giờ cho lên đầu thai làm kiếp người nữa!
Cơ Thiên Khuyết nghe xong bất giác lại rùng mình ớn lạnh về những câu nói này, cũng trong sự ớn mình này bỗng sực nhớ ra người ngồi giữa hương án, hình như mình đã nhận ra được lai lịch của con người này một phần nào! Bên lạnh lùng lên tiếng rằng:
- Diêm Nguyên Cảnh, không ngờ ngươi đã không bị chết về những mũi kim châm tẩm độc của ta dưới Địa khuyết, bây giờ lại còn cả gan đến đây vờ ma vờ quỉ để dọa nạt ta? . . .
U mịch thần quân Diêm Nguyên Cảnh trợn ngược đôi mắt đầy vẻ hờn giận lạnh lùng rằng:
- Cơ Thiên Khuyết, kể mắt nhận xét của ngươi cũng khá lắm đấy! Nhưng tiếc thay mũi độc châm của ngươi đã không làm gì nổi ta, mà cả đến cây kim châm hồi hôm qua cũng chưa đến nỗi khiến Diêm Nguyên Cảnh này về chầu diêm phủ kia mà? Thôi được, nay vật cũ xin hoàn trả cố chủ, vậy xin ngươi hãy nhận trước cho xong, rồi chúng ta cùng kết liễu mối thù xưa kia!
Dứt lời vung vạt tay áo, hai làn ánh đen bay vèo lại phía mặt của Cơ Thiên Khuyết!
Cơ Thiên Khuyết cũng nhận ra đúng là thứ ám khí của mình, đưa tay ra chụp lấy, nhưng đột nhiên gã cảm thấy một sức buốt lạnh xâm nhập vào người mình, vội vung quăng vứt ngay, lên tiếng hét ngay rằng:
- Diêm Nguyên Cảnh, thì ra ngươi chính là kẻ giả dạng đệ tứ Đoạt Hồn Kỳ! Thế tại sao ngươi không chịu hành sự quang minh chính đại một chút? Mà lại đi vờ ma vờ quỉ như thế này?
U mịch thần quân Diêm Nguyên Cảnh nghe xong ngửng mặt lên trần cười ngất một hồi, rồi đưa mắt nhìn Cơ Thiên Khuyết rằng:
- Không ngờ trong miệng người hung ác như ngươi mà cũng biết nói đến bốn chữ Quang minh chính đại như thế đấy. Ngươi đã từng tặng cho ta hai lần về mũi độc kim châm, vậy nay ta cũng mời mi nếm thử một môn Tu la cửu hàn sa, một trong Tu La Tam Bảo của vị võ lâm quái kiệt trong thời hai mươi năm về trước, tức vị Tu La Tôn Giả!
 
0
Hồi 033. Huyết Lệnh Thần Đàn
[/align]



Cơ Thiên Khuyết nghe vậy, mới vỡ lẽ ra hai hình nộm trắng đen ngoài cửa miếu vừa rồi mình đã dùng phách không chưởng đánh tan ra, tỏa ra một đám khói vàng, chính thứ khói vàng này là một loại ám khí thất truyền từ lâu đời, tức là một loại ám khí khi đánh ra, kẻ bị không hề có thương tích, nhưng sự thật đã bị thương nặng! Hèn gì Cơ Thiên Khuyết vừa rồi đã cảm thấy toàn thân ớn lạnh rùng mình khó chịu!
Mặt nạ da người khẽ khích động, lạnh lùng nói với U mịch thần quân Diêm Nguyên Cảnh rằng:
- Tuy môn ám khí Tu la cửu hàn sa có thể nói là bá đạo trong giang hồ, nhưng Cơ Thiên Khuyết này nay công lực đã thành tựu như: ngũ khí triều nguyên, tam hoa tụ đỉnh, trong nội phủ ngũ tạng có thể nói là cứng như sắt đồng tùy ý! Vậy ám khí của ngươi đã làm gì được ta?
U mịch thần quân Diêm Nguyên Cảnh hừ lên một tiếng lạnh lùng rằng:
- Rất có thể hai hình nộm có chứa chất ám khí Tu la cửu hàn sa không thể nào làm cho một nhân vật như ngươi bị thương được! Nhưng trong hai mũi kim châm tẩm độc của ngươi ta trả vừa rồi, chính ta đã...
Cơ Thiên Khuyết nghe Diêm Nguyên Cảnh nói tuy chưa hết lời, nhưng chợt nghĩ vừa rồi mình đưa tay ra, tiếp nhận hai mũi ám khí của mình ấy, tay bỗng cảm thấy tê lạnh buôn buốt, biết ngay đối phương đã đem tẩm vào chất Tu la cửu hàn sa.
Quả nhiên sau khi vận ngầm công lực, thì phát hiện các điểm yếu huyệt, đều đã bị một thứ kỳ hàn tê buốt ngấm ngầm ở trong, dần dần trở nên tê hẳn.
Cơ Thiên Khuyết xưa nay là kẻ chuyên môn dùng mưu kế để ám hại người ta, chưa bao giờ bị người ta đánh bại như trường hợp này? Thế là cơn tức tam bành nổi lên đùng đùng, miệng hét lên một tiếng, những mũi Đoạt Mệnh kim châm có tẩm độc sẵn ấy vung ra như mưa rào nhắm ngay phía U mịch thần quân Diêm Nguyên Cảnh đánh tới tấp! Và cũng tung toàn thân vọt theo các mũi kim châm của mình!
Nhưng Diêm Nguyên Cảnh đã an bài sẵn tất cả mọi kế hoạch, nên sau tiếng hét của Cơ Thiên Khuyết, thì một tiếng hét kinh khủng khác cũng vang lên, tiếng hét này do Đại đầu quỉ vương Tiêu Khôi phát ra! sau tiếng hét của Cửu độc thư sinh Cơ Thiên Khuyết đã đem đến một trận mưa kim châm, thì tiếng hét của Đại đầu quỉ vương Tiêu Khôi cũng đem lại những hột mưa dầu sôi đầy cả một vùng trong điện!
Thì ra Đại đầu quỉ vương Tiêu Khôi, một mặt lo đốt lửa cho vạc đầu sôi, mặt khác lại chăm chú theo dõi từng cử động một của Cửu độc thư sinh Cơ Thiên Khuyết!
Sau tiếng hét và trận mưa kim châm của Cơ Thiên Khuyết đánh ra, thì ra y cũng vận hết nội gia chân lực, song chưởng nhắm ngay vạc dầu đang sôi sùng sục ấy đánh mạnh lên một phách không chưởng, thế là cả đám mưa dầu bay khắp về phía Cửu độc thư sinh Cơ Thiên Khuyết!
Cơ Thiên Khuyết có nằm mơ cũng không thể nào ngờ được rằng đối phương lại có những thủ đoạn như thế? Trong lúc hấp tấp, chỉ còn nước vung hai tay áo lên, vận kình phong quạt lia lịa, nhưng cả đám mưa dầu sôi ấy, đâu phải thứ ám khí bình thường gì, không những mũi Đoạt Mệnh kim châm của mình bị đụng đến, mất sự đích xác về hướng bay, mà từ trước ngực đến bả vai đều đã bị dầu sôi dính lên không ít!
Dù cho nội gia công lực giỏi đến mức như Kim chung trảo hay Thập tam thái bảo hoành luyện cũng không thể nào chịu nổi sức nóng kinh khủng của loạt dầu sôi này! Thế là một kẻ hung ác bạo tàn nổi danh như Cơ Thiên Khuyết đành phải hét lên một tiếng, vung tay dùng kình lực đánh bật cửa sổ, tung nhanh mình ra trên hơn trượng xa để chạy!
Cơ Thiên Khuyết vừa ra khỏi cửa miếu, cách xa hai trượng chỗ y đứng, đã có Diêm Nguyên Cảnh đứng đó từ hồi nào rồi, trên tay cầm một chiếc lưới óng ánh lạ kỳ !
Bên phía trái của Diêm Nguyên Cảnh, là tú sĩ áo xanh, trên tay không còn cầm Nghiệp kính đài mà là một bộ xương người khô héo kinh người, bên tay phải là Hồng y phán quan, một tay cầm một ống tròn vàng óng, và một tay mang bao tay bằng da nai, nhận không ra trong bàn tay đó đang nắm vật gì?
Phía sau một tiếng cười quái gở nổi lên, thì ra Đại đầu quỉ vương hai tay cầm hai gáo gỗ đầy tràn dầu sôi đứng phía U mịch thần quân Diêm Nguyên Cảnh, sẵn sàng để tạt!
Nhưng Cơ Thiên Khuyết là một kẻ tuyệt thế hung nhân đâu dễ dầu gì chịu bó tay trước tình thế bị vây khốn đốn như lúc này? Nên đôi mắt hung tợn đã chớp lanh tứ phía để tìm một hướng nào yếu nhất để đột vây có tệ lắm cũng phải khiến hai mạng của đối phương cùng chết chung với mình mới được!
Diêm Nguyên Cảnh cũng đoán rõ hết tâm ý của Cơ Thiên Khuyết, khẽ động đậy chiếc lưới kỳ lạ trên tay mình rồi lạnh lùng lên tiếng rằng:
- Này Cơ Thiên Khuyết, nếu ngươi muốn liều quyết sống mái một phen với ta, chẳng qua cũng đến tốn hơi uổng sức chết mà thôi? Chiếc lưới trên tay ta đây được mệnh danh là Lãnh diễm tu la võng, nếu chụp vào da thịt, sẽ bị tê cóng mà chết mất, cũng là một trong tam bảo của Tu La Tôn Giả để lại trên trần gian này!
Nhìn xong chiếc lưới trên tay của Diêm Nguyên Cảnh Cơ Thiên Khuyết biết ngay lời đối phương không ngoa chút nào! Trong lòng không khỏi lo lắng!
Trong lúc đó Diêm Nguyên Cảnh lại chỉ qua phía trái của Cơ Thiên Khuyết, tức bộ xương khô mà Trọng tuyền tú tài Cam Hóa Quế cầm, từ từ nói rằng:
- Và đây cũng là một trong Tam bảo, mệnh danh là Tu la bạch cốt thôi và hình như ngươi đã từng nếm mùi tại cửa miếu vừa rồi!
Dứt lời nói của U Mịch Thần Quân, Trọng Tuyền Tú Tài bèn giơ bộ xương khô lên, nhắm ngay phía sau của chiếc sọ người thổi khẽ một cái, lập tức một tiếng như ma tru nổi lên rợn người, Cơ Thiên Khuyết lại như kinh hoảng hồn vía bồi hồi trong tâm trí!
Diêm Nguyên Cảnh đưa tay xua Trọng Tuyền Tú Tài ra dấu đừng thổi nữa, rồi lại chỉ sang bên Hồng y hỏa phán nói với Cơ Thiên Khuyết rằng:
- Trong bao tay da nai kia tức là Tu la cửu hàn sa mà ngươi đã từng nếm mùi vị, còn ống tròn màu vàng kia, chắc ngươi cũng nhận được ra đó là môn ám khí lợi hại nhất trong giang hồ mà được mệnh danh là Kim quang liệt hỏa đồng, khi được sử dụng, trong vòng ba trượng vuông, sẽ đầy khắp hết những lửa lưu hoàng vã hơi độc!
Cơ Thiên Khuyết càng nghĩ càng đâm lo lắng, xưa nay vốn là kẻ túc trí đa mưu, nhưng giờ đây bao nhiêu trí khôn lanh của mình không biết đã biến đi đâu hết?
Nghĩ mãi mà vẫn chưa tìm được một giải pháp nào ổn thỏa để hòng thoát thân với kẻ kình địch đại thù trước mắt đây!
Diêm Nguyên Cảnh thì càng lúc càng vui tươi tiếp tục cười rằng:
- Còn hai gáo dầu sôi đằng sau lưng ngươi, không biết có đáng sợ không? Chắc khỏi cần ta giải thích làm gì! Nay Diêm Nguyên Cảnh này muốn thỉnh giáo với các hạ một điều, tức là tất cả những tội ác của các hạ vừa được tuyên đọc trong Sơn Thần Miếu ấy, có chuyện nào không đúng sự thực không? Trồng ân được quả, báo ứng tuần hoàn, vậy với cái xác xương thịt của các hạ để đền trả những món nợ ác do các hạ gây nên, ngươi có vui lòng chịu phục không?
Cơ Thiên Khuyết lúc này trước ngực bị phỏng, cánh tay bên phải nhức nhối khó chịu với cái hơi lạnh tê buốt, nhưng những vết thương này vẫn không sao cải được tính hung tợn thành tật của y, đôi mắt long lên sòng sọc rằng:
Diêm Nguyên Cảnh, ngươi đừng nên quá tự đắc ý vội như thế, tục ngữ có câu rằng: Rồng gặp nước cạn hết vẫy vùng, Hổ lạc bình nguyên cũng bị chó khi!
Chiếc đầu lâu của Cơ Thiên Khuyết này vẫn còn dính liền trên cổ đây, ngươi giỏi cứ việc ra tay mà hái để trả thù xưa kia! Ta cũng chẳng cần phủ nhận tội ác của ta làm gì; nhưng trong tình trạng này dù ta có bị tan xương nát thịt ta cũng không chịu phục!
Diêm Nguyên Cảnh cũng đoán trước thế nào Cơ Thiên Khuyết cũng có những câu nói này, bèn cười nhạt rằng:
- Ta cũng thừa biết ngươi không chịu phục. Tuy ngươi đã có mối thù lớn đối với ta, khiến ta phải ngậm ngùi suốt gần hai mươi năm trời, nhưng ta không đời nào đi giết một kẻ đã bị thương như ngươi trong lúc này!
Cơ Thiên Khuyết nghe đâm ngạc nhiên ngẩn người hỏi:
- Diêm Nguyên Cảnh, thế trong đêm nay ngươi đã cố công bày quỉ kế để dụ ta vào đây, bây giờ lại nỡ buông tay tha ta?
Diêm Nguyên Cảnh nghiễm nhiên rằng:
- Nếu cứ chiếu tội cướp đoạt bốn tờ U Mịch Thập Tam Kinh và dùng kim châm ám hại ta và những tội ác chồng chất bấy lâu, quả thật tội chết của ngươi không làm sao tha được! Nhưng vì đại ân nhân cứu ta xưa kia là Thiểm điện thần khất Gia Minh lại là một người nhân đức rộng lượng, đã từng căn dặn gắng sao độ hóa con người như ngươi, nên Diêm Nguyên Cảnh ta cũng nể tình tha cho ngươi một con đường sống dưới Tu La Tam Bảo trong tay ta đây!
Nhưng Cơ Thiên Khuyết nghe xong lời nói của Diêm Nguyên Cảnh, cất tiếng cười nham hiểm rằng:
- Thôi Diêm Nguyên Cảnh! Ta khuyên ngươi hãy cứ việc ra tay mà trừ khử ta trong lúc ta bị mắc thế kẹt cho rồi, như thế ngươi có thể toại nguyện trả được mối thù xưa kia! Nếu để ta thoát thân khỏi đây, ta thề sau này sẽ tước sống hết da những người có mặt trong đêm nay tại đây, đồng thời sẽ giết luôn Thiểm điện thần khất Gia Minh và luôn cả nhóm Càn Khôn Ngũ Tuyệt là khác!
Diêm Nguyên Cảnh lắc đầu khẽ thở dài, lạnh lùng rằng:
- Thật là giang sơn dễ cải, bản tính nan di! (núi sông dễ biến đổi, lòng người khó thay) Diêm Nguyên Cảnh đã tiếc cho tấm lòng nhân hậu của Gia đại hiệp đã đặt sai vào những người độc ác như rắn rết sài lang như thế!
Cửu độc thư sinh Cơ Thiên Khuyết rán cắn răng chịu các vết bỏng hành hạ, lên tiếng lạnh lùng rằng:
- Diêm Nguyên Cảnh không được dùng lời mỉa mai ta như thế? Nay Cơ Thiên Khuyết ta lỡ lọt vào trong vòng vây của ngươi, vậy còn chờ đợi gì mà...
Diêm Nguyên Cảnh không đợi Cơ Thiên Khuyết hết lời, nghiễm nhiên lên tiếng lạnh lùng rằng:
- Này CƠ Thiên Khuyết, ngươi đừng dùng mốt khích tướng như thế, tục ngữ có câu: Quân tử nhất ngôn, tứ mã nan truy, ta đã nói tha ngươi, nếu đêm nay ta còn đụng đến sợi lông chân nào của ngươi, kể như ta không phải nhân vật trong giang hồ!
Nói tới đây, quay sang Trọng tuyền tú tài Cam Hóa Quế, Hồng y hỏa phán Mục Lôi, Đại đầu quỉ vương Tiêu Khôi khẽ đưa tay lên ngoắt một cái, trầm giọng nói:
- Các ngươi hãy thu hết Tu la bạch cốt thôi và Tu la cửu hàn sa về một bên, thả cho Cửu Độc Thư Sinh tự do ra đi, cấm tuyệt không ai được ngăn cản?
Trọng tuyền tú tài Cam Hóa Quế hơi cau mày lại, giao Tu la bạch cốt thôi cho Diêm Nguyên Cảnh vừa thì thầm bên tai rằng:
- Kính bẩm Thần quân, như vậy chúng mình chả đang thả cọp về rừng đó ư?
Tuy nói rất nhỏ, nhưng Cơ Thiên Khuyết vẫn nghe rõ, bèn lớn tiếng cười ngất ngưởng rằng:
- Này Diêm Nguyên Cảnh, hắn nói đúng đấy, nếu chẳng may ngày sau ngươi bị lọt vào tay ta, Cơ Thiên Khuyết này tuyệt không thể có những khoan hồng đại lượng thư ngày hôm nay của ngươi đâu!
Diêm Nguyên Cảnh ra lệnh cho Cam Hóa Quế không được nói thêm gì nữa, rồi quay sang Cửu độc thư sinh Cơ Thiên Khuyết, cười nhạt rằng:
- Diêm Nguyên Cảnh vì tôn trọng lời ước nguyền của Thiểm điện thần khất Gia đại hiệp nên hôm nay đặc biệt chịu tha cọp dữ về rừng, nếu sau này rủi có bị sa cơ vào miệng cọp đi nữa, cũng đành cam tâm với số phận của mình? Vậy ngươi còn chần chờ gì mà không đi cho rồi, bộ còn muốn rước thêm nhục vào thân nữa sao?
Cơ Thiên Khuyết thấy đối phương quả đã chịu tha mình, bề ngoài tuy không hiện rõ nỗi vui mừng gì, nhưng trên thân cũng đã toát đầy mồ hôi lạnh, đưa mắt nhìn U mịch thần quân Diêm Nguyên Cảnh rồi mới nhích vai tung mình ra khỏi Tử Ngọ Cốc!
Từ chỗ đứng mà ra đến cửa cốc, chỉ ước độ đâu hơn năm trượng xa, nếu vào ngày thường, chỉ khẽ nhích mình cũng đã đến, nhưng nay Cơ Thiên Khuyết sau hai lần nhảy, vẫn còn cách đến sáu bảy thước xa, như thế đủ biết trong người Cửu độc thư sinh Cơ Thiên Khuyết đã bị thương như thế nào rồi?
Chân Cơ Thiên Khuyết vừa chạm đến cửa cốc, giọng nói của Diêm Nguyên Cảnh từ phía sau lại vọng tới rằng:
- Cửu Độc Thư Sinh hãy tạm dừng bước cái đã!
Cơ Thiên Khuyết tưởng đâu đối phương lại biến đổi ý nghĩ, trong lòng không khỏi giật mình, ngầm cầm sẵn một mớ Đoạt Mệnh kim châm có tẩm độc sẵn rồi mới ngừng bước quay đầu lại lạnh lùng rằng:
- Này Diêm Nguyên Cảnh, những nhân vật trong giang hồ chỉ có thể giết, chứ không có quyền làm nhục.. vậy ngươi muốn gì mà lôi thôi rắc rối mãi thế!
Diêm Nguyên Cảnh cười ngất ngưỡng rằng:
- Ngươi cứ việc yên tâm, Diêm Nguyên Cảnh tuyệt không đời nào đi nuốt lời đâu! Bởi vì ta thấy ngươi là con người phiêu bạt đây đó, muốn tìm ngươi cũng khó, vậy cuộc gặp mặt lần sau, ngươi hãy cho ta một địa chỉ rõ ràng cho khỏi tốn ngày giờ của đôi bên.
Suốt đêm nay Cửu độc thư sinh Cơ Thiên Khuyết đã gặp quá nhiều xui xẻo, trong lòng cũng muốn chóng có ngày trả mối thù đêm nay, nên khi nghe xong câu hỏi của U mịch thần quân Diêm Nguyên Cảnh bèn đáp rằng:
- Chừng nửa tháng sau, ta sẽ quyết đấu ngươi tại tuyệt đỉnh Võ Di ở Phúc Kiến! Nghĩa là trong hai chúng ta phải có một chết!
U mịch thần quân Diêm Nguyên Cảnh nhìn Cơ Thiên Khuyết cười rằng:
- Những vết thương bỏng và chất độc Tu la cửu hàn sa hiện đang hoành hành trên thể xác ngươi, nếu ở trường hợp người khác có thể nói là bất trị? Còn hạng nội gia chân lực cừ giỏi như ngươi e ít ra cũng phải mất trên mười ngày mới có thể khỏi hẳn? Nên cuộc hẹn nửa tháng chắc có lẽ hơi gấp rút đối với ngươi, hơn nữa đây lại là cuộc tranh hùng sinh tử, Diêm Nguyên Cảnh này không muốn tới khi đó ngươi lại mượn cớ này nọ. Thà để đúng chiều 16, vào khoảng hoàng hôn, chúng ta sẽ đụng độ tại đỉnh Võ Di Phúc Kiến!
Cơ Thiên Khuyết lúc này quả là bị vết thương đã hành hạ khó chịu trong mình vô kể, cũng muốn sớm được rút lui để đi lo thuốc men, nên hừ một tiếng bằng giọng mũi, tà áo đen nhẹ vụt một cái, thân hình đã ra khỏi Tử Ngọ Cốc!
Thì ra Cơ Thiên Khuyết hẹn cuộc đụng độ tại Võ Di Phúc Kiến lại ngầm chứa một thâm ý khác, bởi Cơ Thiên Khuyết từ ngày được biết Tiếu diện diêm bà Mạnh Tam Nương thình lình phế bỏ hẳn cơ nghiệp tại La Phù, cùng đem theo những đồ đảng đắc lực là Nhị Vân, Nhất Quỉ, Thập Đại Du Hồn, mười ba cao thủ, sau khi họ ẩn tích không thấy xuất hiện, trong lòng Cơ Thiên Khuyết bèn cảm thấy cử chỉ hành động của vị Hồng phấn ma đầu Mạnh Tam Nương rất khả nghi, bèn âm thầm dò la những đảng trong La Sát Môn. Quả nhiên là Mạnh Tam Nương đã nhận một bức thư của Ngọc tiêu lang quân Phan Ngọ truyền bằng chim thuỷ điểu nên mới bỏ hẳn cơ nghiệp tại La Phù, đem theo đồ đảng đi ẩn tích luôn! Còn phần Ngọc tiêu lang quân Phan Ngọ thì đem theo Mạnh Phù Vân (tức Thường Bích Vân) đi luôn núi Võ Di Phúc Kiến? Và chuyến đi này không thấy trở về!
Cơ Thiên Khuyết căn cứ theo những tính nết hành động và tiền ân hậu quả của Mạnh Tam Nương, sau khi phân tích tỉ mỉ, cho rằng nàng và Ngọc Tiêu Lang Quân rất có thể hai người đã gặp được sự kỳ dị gì đây? Không chừng còn ở trên núi Võ Di ấy ra công khổ luyện môn võ thần bí gì để sau này tranh hùng với các quần hùng trong thiên hạ cũng nên đây! Nay mình đơn thân độc mã, lại không bè cánh gì, nên mới nghĩ đến việc hẹn U mịch thần quân Diêm Nguyên Cảnh tại núi Võ Di Phúc Kiến, may ra có thể khéo gặp được Mạnh Tam Nương? Chưa chừng có thể trợ giúp mình một tay cũng nên?
Nhưng tục ngữ thường nói: có tính gì cũng không bằng trời tính! Mà cũng vì sự tính toán chu đáo của Cơ Thiên Khuyết mà gây ra không biết bao nhiêu chuyện gay cấn kinh thiên động địa sau này!
**
Lời nói của U Mịch Thần Quân quả không sai tí nào, sau khi Cơ Thiên Khuyết rời khỏi Tử Ngọ Cốc, vết thương ấy đã chữa mất gần mười hai ngày trời mới tạm kể lành bệnh!
Suốt dọc đường đến núi Võ Di Phúc Kiến, Cơ Thiên Khuyết chỉ sợ Diêm Nguyên Cảnh đuổi theo mình hạ độc thủ trong lúc bệnh mình chưa khỏi hẳn thì nguy, vừa đi vừa lo nơm nớp trong bụng, chẳng bao lâu đã tới địa giới Võ Di Phúc Kiến.
Càng nghĩ về đêm ở Sơn Thần Miếu dạo nọ càng sôi gan tức giận, óc luôn luôn suy nghĩ tìm một cách gì để trong cuộc hẹn ở Võ Di có thể khiến cho đối phương cũng chịu những chuyện cực hình như mình đã bị, rồi mới từ từ khiến cho họ chết dần chết mòn! Nhưng y nghĩ mãi vẫn không được một kế ổn thỏa gì, Cơ Thiên Khuyết bèn đi thẳng lên tuyệt đỉnh Võ Di Phúc Kiến xem coi hình thế núi non ở đây ra sao cho biết, may ra linh cảm tới mà nghĩ được kế gì hay chăng!
Vì Cơ Thiên Khuyết xưa nay đã quen về lối bắt chước hành sự của Đoạt Hồn Kỳ, nên vào khoảng canh hai mới lên đỉnh phong.
Địa thế trên đỉnh phong này không đến nỗi rộng cho lắm, chỉ ước lượng ba bốn trượng vuông tròn, nhưng rất nhiều những ngọn đá lởm chởm, nằm la liệt khắp nơi, tìm một chỗ bằng phẳng để giao tranh cũng khó lòng có!
Nay mình đã có mặt tại tột đỉnh núi Võ Di, chỉ còn 18 ngày nữa là đến ngày hẹn với Diêm Nguyên Cảnh, mình sẽ dùng cách gì để lo đối phó với kình địch ghê gớm này? Nhất là người ta lại có các tay bộ hạ chuyên đóng ma quỉ ấy cùng với Tu La Tam Bảo lợi hại trong tay!
Cơ Thiên Khuyết nổi danh với ngoại hiệu Cửu Độc Thư Sinh, nhưng giờ đây moi mãi trong óc cũng chẳng có một kế độc nào cả mới bực mình làm sao? Bất giác y ưỡn ngực ra hét lên một tiếng dài như để trút bớt nỗi bực tức của mình.
Không ngờ trong tiếng thả hơi ấy lại gây ra những chuyện lạ? Bởi phía dưới tuyệt phong cũng có những tiếng hú vang lên như đáp lại với tiếng hét của mình! Tiếng lại không khác gì tiếng quỉ khóc!
Cơ Thiên Khuyết đã từng bị Diêm Nguyên Cảnh dùng lối Thâm la dạ thẩm khiến nỗi cho mình bị một mẻ nhục nhã ê chề bị thương phỏng nặng, nay lại bỗng nghe tiếng quái gở này, không lẽ địch thủ quỉ xuất thần nhập này lại tới trước mình để mai phục sẵn đây sao?
Dưới tuyệt hang phía đen tối ấy, thoạt tiên vang lên những tiếng như ma khóc, mỗi lúc một nhiều thêm, càng lúc càng gần, thình lình như có một hồng quang từ dưới dần dần thăng bổng lên?
Khi còn cách miệng hang chừng lối hơn mười trượng, nhưng chịu khó vận chuyển nhãn lực, cũng có thể thấy rõ, đó là một hình thù huyết hồng lệnh tiễn, giữa huyết lệnh, lại một hàng chữ đỏ chói viết rằng: Cửu Độc Thư Sinh, hãy trả nợ cũ!
Cơ Thiên Khuyết bỗng giật mình, thất kinh hồn vía, thầm nghĩ chắc Diêm Nguyên Cảnh lại đến trước mình để bố trí rồi đây!
Chưa hết kinh ngạc, tiếng quỉ khóc đã nín bặt, huyết lệnh cũng biến mất, mọi cảnh vật lại đâu vào đấy!
Cơ Thiên Khuyết vận chuyển công lực lên khắp trăm huyệt, song chưởng tụ luôn ngọn Thất Sát Hàn Linh âm công, che đỡ trước ngực, vụt bổng người lên nhìn về phía hồng quang bên dưới!
Ánh hồng ấy ở ngay dưới đám đá lởm chởm tứ tung ấy tỏa ra, Cơ Thiên Khuyết thân hình khẽ nhoáng nhanh xuống, tính lướt thân vào trong những tảng đá ngổn ngang ấy, để xem người nào đã trêu chọc mình đây? Đột nhiên phát hiện những đống đá lởm chởm ấy hình như người ta đã cố ý bày sẵn, bề ngoài trông như la liệt ngổn ngang, nhưng kỳ thực ở trong hòa hợp Bát quái cửu cung, âm dương sinh khắc hẳn hoi!
Cơ Thiên Khuyết với lối âm dương sinh khắc này, vốn là kẻ nhà nghề, bèn cười gằn một tiếng dừng ngay chân lại nhận kỹ phương hướng, rồi từ hướng Tây Bắc, cửa sinh môn nhoáng thân vào thạch trận!
Đây là một lối thạch trận bắt chước của Gia Cát Võ hầu ngày xưa, nhưng những cửa tiến thoái của loại Bát quái thạch trận này, tuy không thể gây nổi khó dễ với Cửu độc thư sinh Cơ Thiên Khuyết, nhưng cũng chứa chất nhiều huyền ảo của nó trong đó! Bởi tất cả diện tích nơi đây chẳng qua chỉ vỏn vẹn có bốn năm trượng vuông tròn, thế mà với thân pháp lanh lẹ của Cửu độc thư sinh Cơ Thiên Khuyết, cũng mất một thời gian khá lâu mà vẫn chưa vào hẳn đến trung tâm của tiểu thạch trận!
Ngay lúc tà áo đen của Cửu độc thư sinh Cơ Thiên Khuyết đang nhoáng bên này vèo bên kia, khi tiến tới, lúc giật lùi, cứ mãi quanh quẩn trong thạch trận theo lối âm dương môn hộ, thì phía ngoài thạch trận, thình lình ở đâu xuất hiện mười bóng người mặc toàn màu đỏ tươi như máu, mặt trắng như vôi, gầy đét, tóc xõa dài, thì ra toàn là thiếu nữ, tay cầm những ngọn trường phiên ngọn cờ dài ở chóp cổ tua giống như loại cờ của Đoạt Hồn Kỳ, nghĩa là cũng đỏ tươi và vẽ sọ người giữa lá cờ, thình lình tất cả đều nhảy cùng một lượt lên trên các chỏm đá bên ngoài, mặt hướng hẳn vào trung tâm thạch trận, không một tiếng nói gì cũng như không thêm một động tác gì, hoàn toàn như những người gỗ đứng yên sừng sững!
Phần là những khinh công của mười vị thiếu nữ gầy đét này quá khéo, nhảy nhót không để lộ một tiếng động nào, hai nữa là bị sự cách trở của các cửa âm dương sinh khắc làm trở ngại, đến nỗi phía ngoài trận thình lình có mười người đến như thế, mà kẻ khét tiếng như Cửu Độc Thư Sinh ở bên trong không hề hay biết gì!
Cơ Thiên Khuyết sau ba lần tiến thối quanh quẩn, đã lọt đến trung tâm của thạch trận, nhưng chẳng hề thấy một bóng người nào, mà chỉ vỏn vẹn có một mỏm đá sừng sững ngay trước mặt, trên có bốn chữ to tướng được viết dọc xuống rằng: Đoạt Hồn Thần Đàn (giàn thần đoạt hồn), thì ra ánh hồng quang khi nãy mình thấy, chính là do bốn chữ to tướng này phản chiếu ra!
Một thế trận mình không mấy rõ đầu đuôi như thế này khiến cho Cửu Độc Thư Sinh tự cảm thấy hình như có một điều gì bất thường không hay cho mình?
Tâm trạng của Cửu độc thư sinh Cơ Thiên Khuyết lúc này, chẳng khác gì người bị rắn cắn một lần, thì mười lần thấy dây thừng cũng hoảng hốt thất kinh, những công lực đang ngầm tụ để phòng thân vẫn không dám chểnh mảng, nên ý đã đề khí hét lên rằng:
- Quân nào to gan lớn mật dám trêu đến Cơ mỗ ta? Có giỏi, xin cứ hiện thân ra!
Tuy Cơ Thiên Khuyết không thấy người, nhưng cũng lên tiếng hét hỏi, bởi khi y phi thân lên đỉnh phong, đưa mắt nhìn tứ bề ấy, chẳng thấy gì khả nghi?
Sau khi thấy huyết lệnh xuất hiện, nơi thạch trận trung ương này mới thấy màu ánh hồng tỏa lên, như vậy chứng minh rằng bốn chữ đỏ chói Đoạt hồn thẩn đàn đã được người ta dùng vải che từ trước, rồi khi huyết lệnh xuất hiện xong mới giở miếng vải đi!
Nếu suy đoán theo tình hình như vậy, chẳng hóa ra đã có người trốn trong thạch trận này sao? Nhưng Cơ Thiên Khuyết cũng không dám đột ngột vượt lên trên mỏm đá to có bốn chữ Đoạt hồn thần đàn ấy để xem xét; bởi nói về chân khí nội lực, khinh công mềm dẻo, hoặc binh đao ám khí v.v... Cơ Thiên Khuyết có thể đương đầu với bất cứ một nhân vật cao tay nào trong võ lâm đương kim, dẫu có giao tranh đến ba, bốn trăm hiệp, cũng chưa chắc gì bị thua, hơn nữa khi thấy cơ mưu có mòi không chắc ăn, cũng có thể ỷ vào thân pháp lanh lẹ rồi ung dung rút lui? Nhưng vì Cơ Thiên Khuyết ngan ngán lỡ trên đỉnh mỏm đá ấy, lại được bố trí sẵn một vạc dầu đun sôi như ở Sơn Thần Miếu kỳ trước thì nguy to!
Cơ Thiên Khuyết đâu ngờ phía sau mình lại có người trong lúc này?
Quả nhiên sau tiếng hét hỏi của Cơ Thiên Khuyết đã vô tình chuốc lại giọng cười khinh mạt, tiếng cười lạnh lùng không phải phát xuất tại trên mỏm đá trước mặt, mà lại phát ra từ phía sau lưng Cơ Thiên Khuyết!
Cơ Thiên Khuyết không ngờ rằng đằng sau mình lại có người như thế? Trong khi hoảng hồn, vội tung chường đánh ngược về phía sau, ngọn Thất Sát Hàn Linh âm công đã đánh tung bể toang một mảnh đá cách xa sáu bảy thước ở phía đằng sau, cả một đám cát bụi tung bay mịt mù như mưa rào!
Sau khi Thất Sát Hàn Linh âm công phát ra, Cơ Thiên Khuyết mới quay mình lại nhìn, lúc này thân y đứng giữa trung tâm, địa thế lại cao, nhìn thấy đâu chỉ một người? Trên những mũi đá cách xa ngoài hai trượng ấy, ngang nhiên có đúng mười cô thiếu nữ gầy đét tay cấm cờ dài đỏ có vẽ sọ người, mặt nhìn về phía mình lạnh lùng như băng tuyết!
Thì ra tiếng cười khinh mạt vừa rồi, là do một thiếu nữ bên trái nhất phát ra thì phải? Bởi khi Cơ Thiên Khuyết trong lúc quay thân lại thấy miệng thiếu nữ có hơi nhích động!
 
0
Hồi 034. Ân Thù Biến ảo
[/align]



Cơ Thiên Khuyết sau khi định thân, ngầm nghĩ trong bụng rằng: Từ ngày đại bại ở La Phù Sơn đến nay, tên Cửu Độc Thư Sinh của mình, hình như ở đâu cũng gặp sự xui xẻo? Quả thật không còn cách gì để xoay sở! Dù cho mắt tinh tai thính đến đâu đi nữa, hay về sức tu luyện nội công trong vòng mười trượng chu vi, dù là một cây kim rớt xuống đất, cũng có thể lập tức phát giác ngay, thế mà sao mười cô thiếu nữ thình lình xuất hiện trên các mỏm đá như thế, mà mình không hề hay biết tí gì?
Nhưng Cơ Thiên Khuyết vốn là kẻ có võ học tuyệt vời trong mình, càng nằm trong những tình trạng bất lợi như thế này, y càng bình tĩnh trầm lặng hơn, tay mặt rút luôn cây phong ma đồng giả từ trong mình ra, treo ngay lá cờ đoạn đỏ sọ người để chuẩn bị nghênh cự với những ám khí của địch, xong đưa tay chỉ về thiếu nữ mặc áo bào đỏ đứng phía trái nhất lớn tiếng rằng:
- Nữ oa kia hãy thông báo danh tính!...
Thiếu nữ cũng chẳng chờ cho Cơ Thiên Khuyết nói hết lời, lên tiếng trả lời với ba chữ rất gọn gàng:
- Mạnh Nhất Hồn!
Thế là cũng chẳng cần Cơ Thiên Khuyết phải lên tiếng hỏi thêm, cả đám thiếu nữ tóc dài gầy đét ấy đều nhao nhao lên tự động báo danh của mình, nhưng người nào cũng họ Mạnh và tên Hồn cả, chỉ khác chữ lót ở giữa là từ Nhị cho đến Thập mà thôi! tức là những đệ tử cao thủ của Tiếu diện diêm bà Mạnh Tam Nương trong số Thập Đại Du Hồn.
Khéo lạ nhất là người nào người ấy không một chút cảm tình gì, đôi môi trắng bệch khẽ nhếch lên, một tiếng bình thản như kẻ ngớ ngẩn phun ra ba tiếng:
Mạnh... X... Hồn...!
Cửu độc thư sinh Cơ Thiên Khuyết sau khi nghe bọn thiếu nữ gầy đét ấy báo danh xong, đưa mắt nhìn kỹ những bộ mặt như xác chết trôi ấy, bỗng như sực biết đến chuyện gì, lên tiếng ôn hòa tiếp tục hỏi rằng.
- Các ngươi phải chăng là môn đệ của Tiếu diện diêm bà Mạnh Tam Nương và được gọi chung là Thập Đại Đu Hồn đó không?
Mười thiếu nữ khi nghe Cửu Độc Thư Sinh nói đến Tiếu diện diêm bà Mạnh Tam Nương, lập tức nghiêm hẳn người lại như để tỏ lòng cung kính?
Cơ Thiên Khuyết thấy vậy, biết mình đã đoán không sai, trong lòng bắt đầu yên trí hẳn, lại lên tiếng nói với mười thiếu nữ rằng:
- Chuyến đi Võ Di của Cơ Thiên Khuyết này nguyên vì được tin Mạnh giáo chủ và Phan phó giáo chủ đang bế quan tại đây, nên nay đặc biệt xin lại yết kiến Mạnh giáo chủ ! Vậy phiền chư cô nương làm ơn thông báo hộ...
Chưa dứt lời, mười thiếu nữ cùng một động tác, nghĩa là tay phải cầm cờ đứng uy nghi, tay trái giơ đều hẳn một lượt chỉ ngay về phía sau lưng Cơ Thiên Khuyết.
Trong cái chỉ tay ấy, đã khiến cho toàn thân Cơ Thiên Khuyết giật nảy mình thất kinh, cây Đoạt Hồn Kỳ trên tay cũng hơi bị rung rinh, khi quay mình lại, bất giác càng hoảng người hơn, trống ngực đánh thình thịch!
Thì ra trên đỉnh mỏm đá lớn có ghi bốn chữ Đoạt hồn thần đàn ấy, một vị Bạch y thư sinh ngồi xếp bằng tròn ngay giữa lưng quay ngược về hướng mình.
Người này tuy chưa quay thân lại, nhưng Cửu độc thư sinh Cơ Thiên Khuyết đã đoán ngay ra đây là sư đệ của Tiếu diện diêm bà Mạnh Tam Nương, tức Ngọc tiêu lang quân Phan Ngọ!
Vừa rồi cuộc hiện thân của Thập Đại Du Hồn phía ngoài thạch trận, có thể nói là tại mình mãi lo quan sát để đi vào thạch trận bát quái nên không để ý đến những gì xảy ra chung quanh mình. Nhưng giờ trong vòng hơn thước xa này, mà Ngọc Tiêu Lang Quân hiện thân ra như thế mình vẫn không hề hay biết gì ráo? Nếu Ngọc Tiêu Lang Quân lại nhân lúc mình đang chuyện vãn với mười thiếu nữ áo đỏ kia mà ra tay đánh lén, mình còn gì là mạng nữa?
Cơ Thiên Khuyết đâu có biết trên mỏm đá lớn ấy, mặt đá bốc hẳn về phía sau, Ngọc Tiêu Lang Quân đã nấp sẵn trên ấy từ hồi nào rồi, bây giờ mới hiện thân ra! Nên Cửu Độc Thư Sinh cứ tưởng đâu rằng tai mắt mình bỗng nhiên kém hẳn đi, hay công lực của đối phương đã tiến triển kinh khủng?
Trong lòng tuy ngan ngán, nhưng bề ngoài vẫn ung dung ôm quyền cười hỏi rằng:
- Phan phó giáo chủ vẫn được mạnh giỏi đấy chứ!
Ngọc Tiêu Lang Quân quay thân lại, trên bộ mặt anh tuấn điểm thêm một sát khí lạnh lùng, với giọng ngạo mạn liếc nhìn Cơ Thiên Khuyết rằng:
- May nhờ không bị bỏ xác tại Kỳ Liên Sơn nơi Ngọc Trụ Phong, nhưng ta không ngờ ngươi lại chỉ là một Đoạt Hồn Kỳ giả cơ đấy!
Cơ Thiên Khuyết biết ngay chí của sư tỉ đệ Mạnh Tam Nương vẫn còn muốn vùng vẫy trong giang hồ sau này, tuy đã chịu bỏ hết cơ nghiệp La Phù Sơn như thế để đến Võ Di đây ẩn tu, nhưng vẫn để lại kẻ tâm phúc tại Thiên Hương Ấu ở Vạn Mai Cốc để luôn luôn có tin báo lại đây!
Trong tình trạng hai chị em sư tỉ đệ vẫn còn ham danh lợi này, đối với mình quả thật có lợi, nhưng mối thù Kỳ Liên Sơn dạo nọ hình như Ngọc Tiêu Lang Quân vẫn không chịu bỏ qua, không biết có dùng ba tấc lưỡi để giải thích cho xong không?
Cơ Thiên Khuyết vốn là người kiêu căng số một, không hề chịu cúi đầu chịu ai bao giờ, nhưng vì lúc này bị cô thế, cần phải tìm người để kết giao bè phái, nên không muốn gây thêm ác cảm làm gì, vờ như không nghe rõ lời nói của Phan Ngọ, cất tiếng cười ha hả rằng:
- Trên Ngọc Trụ Phong ở Kỳ Liên Sơn trước kia chỉ do sự hiểu lầm mà ra nông nỗi, cũng chỉ vì chúng ta chưa được quen biết nhau bao giờ, nhưng nay chúng mình đều đứng về một phe đồng minh với nhau, vậy Phan phó giáo chủ còn trách chấp gì những lỗi nhỏ nhặt xưa kia làm gì?
Ngọc tiêu lang quân Phan Ngọ liếc ngược cặp lông mày lạnh lùng lên tiếng rằng:
- Dù cho nói đúng theo ngươi đi nữa, nhưng kẻ đại trượng phu ở đời, cần nhất là phải ân oán phân minh, nên Phan Ngọ này muốn mau kết thúc vụ Ngọc Trụ Phong trên Kỳ Liên Sơn trước cái đã!
Cơ Thiên Khuyết thấy thần sắc quá ngạo mạn của Ngọc Tiêu Lang Quân như thế, trong lòng cũng sôi gan luôn, cười gằn hai tiếng xong nói:
- Phan phó giáo chủ nên biết rằng Cơ Thiên Khuyết này xưa nay chưa từng ngán sợ một nhân vật nào trong giang hồ nhé! Nhưng vì tôi với chỗ Mạnh giáo chủ là bạn quen, hơn nữa cũng có việc muốn thương lượng với Mạnh giáo chủ, vậy có thể để tôi sau khi gặp mặt lệnh sư tỉ xong, tôi sẽ vui lòng kết thúc vụ rắc rối với Phó giáo chủ?
Ngọc Tiêu Lang Quân mắt sáng ngời, nghiễm nhiên rằng:
- Nếu ngươi không thể nào qua khỏi cửa ải của Phan Ngọ đây, làm sao mà được gặp mặt Mạnh giáo chủ đang khổ công tu luyện thần công?
Cơ Thiên Khuyết đã bị Phan Ngọ dồn hẳn vào thế phải đánh, thế là mắt lộ hung quang, giọng nói cũng biến đổi ngay, lạnh lùng hừ lên một tiếng hỏi rằng:
- Vậy thì giáo chủ muốn sao đây?
Ngọc Tiêu Lang Quân gật đầu rằng:
- Với bộ tịch của ngươi hiện giờ đây, tuy nhiên là một Đoạt Hồn Kỳ giả hiệu, nhưng trông cũng còn có vẻ? Nếu đem so với thái độ vừa rồi trông chẳng khác gì anh chàng ngố ngáo...
Đằng này chưa dứt lời thì Cơ Thiên Khuyết đã lên tiếng gắt rằng:
- Xin Phan phó giáo chủ hãy tự tôn trọng một chút, nay Cơ Thiên Khuyết đã vào trong Bát quái thạch trận của ngươi, vậy cứ việc dùng hết các ngọn tuyệt kỹ ra mà chào hỏi nhau, hà tất miệng lưỡi như kẻ nữ lưu làm gì?
Ngọc Tiêu Lang Quân cũng nghiêm nghị rằng:
- Xưa kia, ta còn nhớ ngươi từng bắt ta đấu đúng trăm hiệp dưới ngọn cờ giả hiệu Đoạt Hồn Kỳ của ngươi, nhưng nay ta chỉ muốn ngươi hãy tiếp thử ba chưởng lực về La Sát âm công và nghe luôn một khúc về Thất tình tiêu thanh (bảy thường tình của con người ta là: Hỉ, Nộ, Ai, Lạc, ái, ố, Dục) mà được diễn tả bằng tiếng tiêu, và xem luôn một cuộc múa Thập hồn diệu vũ do môn đệ của ta biểu diễn!
Cơ Thiên Khuyết nghe xong biết ngay Ngọc tiêu lang quân Phan Ngọ sau khi đại bại ở Kinh Châu, đã quyết tâm khổ luyện lại môn La Sát âm công! Còn trong Tiêu thanh diệu hồn kia, chắc về oai lực của Thất tình tiêu thanh có lẽ cao hơn môn Thập hồn diệu vũ!
Người ta đã đề nghị ra như thế, chẳng lẽ mình lại chịu lép vế sao? Nhưng trong lòng lại phân vân, bất an, bởi nếu trận đấu này mình bị thua, cố nhiên là bị mất mặt với thiên hạ, mà thắng thì chỉ tổ kết thêm oán thù với Ngọc Tiêu Lang Quân, cũng như lửa đổ thêm dầu, rất có thể vì thế mà ảnh hưởng đến mối liên minh của mình với Tiếu diện diêm bà Mạnh Tam Nương để lo chống cự với nhóm Càn Khôn Ngũ Tuyệt, như vậy thì kế hoạch lớn của mình hỏng hết còn gì?
Trong cuộc so đo khó khăn ấy, Cơ Thiên Khuyết đâm ra đứng ngẩn người suy tư, khiến cho Ngọc Tiêu Lang Quân cười lên sằng sặc rằng:
- Kìa Cơ Thiên Khuyết? Những oai phong lẫm liệt của ngày trước nay biến đâu hết rồi? Tại sao không dám trả lời những câu đề nghị của ta? Phan Ngọ này tuyệt không ỷ tài ăn hiếp ngươi đâu, nếu quả ngươi sợ về La Sát âm công của ta? Ta sẽ miễn ngay ba chưởng lực này. Nếu ngươi sợ nghe tiếng sáo về Thất tình tiêu thanh ấy, và cũng không dám xem môn vũ của Thập hồn diệu vũ ấy, ta cũng sẵn sàng miễn hết cho! Chỉ cần sao ngươi chịu tự động trình hiện cây cờ đỏ của ngươi ra, ta lập tức xóa bỏ các mối hiềm thù trước kia ngay tức khắc!
Vì Cơ Thiên Khuyết mới bị những trận chua cay vừa qua, nên bây giờ mặc sức cho Ngọc Tiêu Lang Quân tha hồ mỉa mai đến đâu đi nữa? Y vẫn bình tĩnh coi như chưa nghe rõ, mà còn ngầm tụ hết chân lực lên toàn thân để sẵn sàng đợi địch!
Sau khi Ngọc Tiêu Lang Quân vừa hết lời, Cơ Thiên Khuyết bèn lạnh lùng rằng:
- Xin Phan giáo chủ đừng quá kiêu cuồng thế? Nếu trong ba chưởng La Sát âm công và tiêu khúc Thất tình tiêu thanh cùng với cuộc múa Thập hồn diệu vũ không thể nào khiến cho Cơ Thiên Khuyết này bị tan xương nát thịt, hoặc thần trí bị mê loạn, thì mong Phan phổ giáo chủ hãy để ta được gặp mặt Mạnh Tam Nương?
Ngọc tiêu lang quân Phan Ngọ ngửng mặt lên trời cười ha hả rằng:
- Chỉ cần sao ngươi có chịu nổi tất cả những điều kiện của ta đưa ra, chuyện vạn nan đến đâu cũng có cách thu xếp hẳn hoi! Vậy thôi đừng nhiều lời mất ngày giờ, đã lâu ngày không hân hạnh gặp nhau, vậy Phan Ngọ xin kính chào ngươi một chưởng thứ nhất đã?
Dứt lời, ngọn kình phong lành lạnh áp ngay trên đỉnh đầu của Cơ Thiên Khuyết!
Cơ Thiên Khuyết tuy biết về võ học của Ngọc Tiêu Lang Quân quả có tiến triển thật, nhưng kể từ ngày gặp ở Kỳ Liên Sơn đến nay chẳng qua cũng mới hơn một năm trời mà thôi, dù cho công lực có tiến triển đến đâu, cũng chưa đến nước khiến người kinh ngạc hẳn được!
Phần thì Cửu Độc Thư Sinh không muốn gây thêm thù oán trong lúc tình trạng mình đang bị bấp bênh như lúc này, nên khi vung cờ lên để nghênh tiếp chỉ dùng tám phần mười công lực đánh ra trong ngọn Thất Sát Hàn Linh âm công.
Nào ngờ sau trận đại bại Kỳ Liên Sơn, Ngọc Tiêu Lang Quân nếu không được Thượng Quan Linh ngầm trợ sức, thì đã bị thiệt mạng là khác? Sau khi mối thù thoáng lướt nhanh trong đầu óc Phan Ngọ, chàng đã quyết tâm ngày đêm cố công lo luyện tập về môn võ kỳ học La Sát âm công, nay tình cờ lại được quyển kỳ thư là Huyền Huyền chân kinh tại núi Võ Di, công lực càng tiến triển cực độ, thật là ngoài sức tưởng tượng của thiên hạ!
Sau khi chưởng lực và luồng kỳ phong đụng độ với nhau, Cửu Độc Thư Sinh lập tức bị giật lùi luôn một hơi ba bước về sau, mà Ngọc Tiêu Lang Quân thì vẫn nghiễm nhiên ngồi yên uy nghi bất động trên ngọn đá có ghi bốn chữ Đoạt hồn thần đàn, trông oai phong lẫm liệt lạ!
Miệng Cơ Thiên Khuyết ý khẽ lên một tiếng như ngạc nhiên, Ngọc Tiêu Lang Quân lại cười lên ha hả rồi ngạo mạn lên tiếng rằng:
- Kìa Cơ Thiên Khuyết, không ngờ chúng ta mới xa nhau có lối ba trăm ngày như thế, mà những oai phong của cây cờ Đoạt Hồn Kỳ giả của ngươi lại tệ như thế ư?
Tiếng ư vừa chấm dứt thì ngọn cuồng phong phách không chưởng thứ hai của Ngọc Tiêu Lang Quân lại được đánh ra, không những đã mạnh mà còn lạnh hơn là khác?
Cơ Thiên Khuyết sau khi thấy võ công của Ngọc Tiêu Lang Quân mạnh tiến kinh người như thế? Lẽ đương nhiên không dại gì liều mình vào bừa, cây cờ đoạn đỏ trên tay bèn vung lên với mười phần công lực!
Kỳ này thì đôi bên ngang hàng cân sức, khó phân hơn kém về ai, Cơ Thiên Khuyết cười rằng:
- Quả nhiên ngọn La Sát âm công của Phan phó giáo chủ đã tiến triển một cách thần tốc, khiến Cơ Thiên Khuyết này phục vô cùng? Hay chúng ta hòa với nhau tại đây cho rồi?
Phan Ngọ chẳng thèm trả lời gì với Cửu Độc Thư Sinh lừng danh trong võ lâm này, chỉ lo ngầm vận thần công, đẩy ngay song chưởng ra, dồn hết tất cả toàn lực của La Sát âm công, cuồn cuộn đẩy xuống với một thế bài sơn đảo hải?
Cơ Thiên Khuyết thấy đối phương cứ dồn ép mình như vậy, ngầm nghĩ rằng: Anh hùng không nhắc chuyện dũng mãnh đã qua, hảo hán không nhận những việc thiệt thòi trước mắt trông thấy!, giờ đây Phan Ngọ đã cố tình muốn báo thù rửa nhục vụ Kỳ Liên Sơn trước kia! Mình chỉ còn cách làm sao ứng phó cho chuyện này được vuông tròn xong đâu đấy, rồi hãy đến tìm Tiếu diện diêm bà Mạnh Tam Nương để giải thích sau, nếu không việc thiệt thòi trước đây chẳng quá lớn lao lắm sao? Nghĩ xong vậy bèn ngầm tụ hết luôn 12 phần công lực, dồn hết vào Thất Sát Hàn Linh âm công rồi chuyển hẳn sang ngọn cờ đoạn đỏ, quạt lên một đường mãnh liệt thốc hẳn lên trên!
Cả hai ngọn tà đạo kỳ công xuất chúng sau lần thứ ba đụng độ này, một bên thì mong rửa nhục xưa, một bên thì lo cố giữ thịnh danh của mình, đôi bên đều toàn lực đánh ra, sau một tiếng bùng vang lên, không những Cơ Thiên Khuyết tâm thần bồi hồi, lùi hẳn về phía đằng sau đến năm sáu thước, mà cả đến Phan Ngọ cũng cảm thấy lòng dạ cũng nóng bừng, không sao ngồi nổi trên mỏm đá và đã vèo thân nhoáng ngay xuống, cả một vùng đá vụn bay tứ tán khắp phía?
Ngọc Tiêu Lang Quân bây giờ mới biết rằng tuy võ học của mình đã tiến triển nhiều, nhưng so với Cửu Độc Thư Sinh đây, quả là danh bất hư truyền, trong mình cũng đầy tuyệt học như ai, với ba chưởng La Sát âm công đã không áp đảo đối phương!
Sau khi thân hình vèo xuống tới mặt đất, vội vận khí khắp toàn thân, xem trong nội phủ mình có bị tổn thương gì chăng? Rồi thu ngay những nét tự đắc trên khuôn mặt của mình, từ trong mình rút luôn cây sáo ngọc ra, cười nói với Cơ Thiên Khuyết:
- Cửu Độc Thư Sinh quả danh bất hư truyền, ba chưởng La Sát âm công của Phan Ngọ đã không làm gì nổi ngươi. Vậy ta xin mời ngươi lắng nghe một khúc Thất tình tiêu thanh và xem một cuộc múa Thập hồn diệu vũ xem sao?
Cơ Thiên Khuyết thấy Phan Ngọ ra ba cuộc tỉ thí như vậy nay cuộc thứ nhất kể như đã xong, chỉ còn lo đối phó hai kỳ sau nữa là rảnh nợ. Bèn thu ngay ngọn cờ Đoạt Hồn Kỳ của mình lại, ôm quyền nói với Ngọc Tiêu Lang Quân rằng:
- Xin Phan phó giáo chủ cứ việc tự tiện, tuy đây không phải nơi thế ngoại đào viên hay yến tử đăng tiến gì? Nhưng Cơ Thiên Khuyết vẫn cung nghe tiêu âm diệu vũ của Phan phó giáo chủ?
Ngọc tiêu lang quân Phan Ngọ thấy vị Cửu Độc Thư Sinh này giờ đây làm khiêm nhượng hòa nhã với mình như thế, cũng chỉ mỉm cười rồi đưa cây sáo lên miệng bắt đầu thổi ra những âm thanh réo rắt!
Tiếng sáo vừa nổi lên, lập tức mười mấy đám mây đỏ thình lình ùn ùn kéo tới nơi, thì ra thủ hạ của Tiếu diện diêm bà Mạnh Tam Nương là Thập Đại Du Hồn sau khi nghe tiếng sáo trổi khúc bèn cầm cờ vọt hết lại vây quanh người Ngọc Tiêu Lang Quân đứng cung kính chờ lệnh !
Ngọc Tiêu Lang Quân cất sáo xuống, nghiêm nghị nói:
- Đây là vị Cửu Độc Thư Sinh đã vang danh lừng lẫy trong thiên hạ, cũng là một nhân vật đầy tuyệt học trong đương kim võ lâm, nay may mắn lắm người ta mới tự động lại đây thăm núi Võ Di này, vậy các ngươi hãy mau cởi áo ra hiến cho khách một cuộc vũ để mua vui!
Mười thiếu nữ gầy đét tay cầm Dẫn hồn trường phiên, thân mặc áo bào đỏ ấy, sau khi cung nghe lệnh của Ngọc Tiêu Lang Quân, rồi bỗng một tiếng huýt sáo nổi lên, cây trường phiên khẽ phất, tất cả áo bào đỏ trên thân mười thiếu nữ đều bung tụt ra hết, và cùng như một động tác, ai nấy vận ngay nội gia công lực phóng ngay cây cờ trường phiên sâu hẳn xuống mặt đá ba tấc!
Thời tiết lúc này nhằm tháng giêng, không khí về đêm của núi Võ Di càng buốt lạnh, nhưng trên thân mười thiếu nữ mỗi người chỉ khoác có một Khinh sa mỏng (hàng the rất mỏng) trên thân!
Đoạn trên từng nói những cô thiếu nữ đây mặt mũi gầy đét kỳ dị? Nhưng trường hợp trước mắt đây lại khiến Cơ Thiên Khuyết kinh ngạc vô cùng! Thì ra trên mười khuôn mặt gầy đét ấy lại không cân xứng với những thân hình nở nang ấy chút nào cả.
Cơ Thiên Khuyết thấy Thập Đại Du Hồn bày ra một trận thế như vậy, trong lòng vừa tức cười vừa nghi ngại?
Tức cười là với mười thân hình quái dị như thế, không thể nào khiến mình bị mê hoặc được!
Còn chuyện nghi ngại là Phan Ngọ thừa biết mình đâu phải kẻ có thể dùng sắc đẹp quyến rũ nổi, như thế mà sao lại cố bày trò khỉ này? Hay là trong này có mưu kế thâm độc gì khác nữa chăng?
Trong lúc Cơ Thiên Khuyết đang suy nghĩ ấy, tiếng sáo Ngọc Tiêu Lang Quân đã bắt đầu trổi dậy, thế là Thập Đại Du Hồn cứ việc quay cuồng múa nhảy theo những tiếng sáo kỳ lạ, chập chờn khắp chung quanh Cửu Độc Thư Sinh.
Cơ Thiên Khuyết thấy đối phương như vậy, trong lòng càng đâm nghi ngại, vội ngầm tụ hết chân khí toàn thân, lo phòng bị mọi sự bất trắc có thể xảy ra!
Tiếng sáo Thất tình tiêu thanh của Phan Ngọ quả thật lợi hại vô cùng, khi tiếng sáo đi đến chỗ khiến người nghe phải mê mẩn tinh thần ấy, trong lúc đó thì Thập hồn diệu vũ sẽ tìm đúng nhược điểm hạ sát kẻ thù ngay tức khắc!
Còn phần mười thiếu nữ mặt gầy đét mà thân hình nảy nở tột độ đó, hai tay không những móng dài nhọn hoắt, mà còn luyện sẵn một chất kỳ độc về âm công, sức mạnh có thể xuyên đồng thủng đá, loại này chuyên để phá những môn võ Kim chung chảo, cùng Thập tam thái bảo hoành luyện, hễ thấy máu hiện là cấm khẩu ú ớ ngay!
Trong khi Thập Đại Du Hồn càng múa càng hấp dẫn càng nhanh, và những nguy cơ đang bao khắp xung quanh Cơ Thiên Khuyết ấy, đột nhiên một con chim thúy điểu lớn, mỏ ngậm bức thư thình lình bay đậu lên vai Ngọc tiêu lang quân Phan Ngọ.
Phan Ngọ khẽ rụt vai lại, tiếng sáo ngừng thổi hẳn, Thập Đại Du Hồn cũng biết ngay giáo chủ Mạnh Tam Nương cho thúy điểu đến truyền thư, thế là mọi người êm lặng đứng chờ lệnh của phó giáo chủ Phan Ngọ !
Phan Ngọ từ nơi mỏ chim lấy xuống hai bức thư, giở ngay bức thư gởi cho mình thấy chỉ vỏn vẹn có tám chữ:
Cộng đồ đại sự tạm thích tiền thù (Mưu đồ chuyện lớn, tạm gác những hiềm thù xưa kia).
Ngọc Tiêu Lang Quân tuy cũng là loại người hung bạo kiêu ngạo vô ngần, nhưng y đối với vị sư tỉ Tiếu Diện Diêm Bà này lại vô cùng kính sợ! Sau khi xem thư xong, giơ ngay cây sáo bằng ngọc lên ngoắc một cái Thập Đại Du Hồn lập tức rút luôn những ngọn cờ trường phiên của mình, ai nấy lại lo mặc áo bào đỏ vào người?
Xong Ngọc Tiêu Lang Quân dùng ngón tay búng phong thư của Tiếu Diện Diêm Bà gửi cho Cửu Độc Thư Sinh, phong thư bay thẳng như một lá sắt, vùn vụt bay đến Cửu Độc Thư Sinh. Cơ Thiên Khuyết liền đưa tay ra bắt và giở ra xem, thư viết rằng:
Nay vài hàng gởi Cửu Độc Thư Sinh, tất cả những tình hình xảy ra trong đại hội nguyên tiêu ở Thiên Hương Ấu, Mạnh Phi Yên này đều nhận được hết báo cáo tỉ mỉ! Tây Đạo, Đông Tăng, Nam Bút, Bắc Kiếm, Đoạt Hồn Kỳ trong nhóm Càn Khôn Ngũ Tuyệt, ai nấy đều có tuyệt nghệ trong mình không phải phường giá áo túi cơm như chúng mình nghĩ đâu, nhất là Chân Đoạt Hồn Kỳ là Tiêu diêu lão nhân Chung Ly Triết, tâm cơ tinh thông, võ công lại cực giỏi, khiến người ta không thể nào lường đoán nổi! Nếu Mạnh Phi Yên này chưa luyện thành thần công tuyệt kỹ, và còn chưa đủ sức thắng nổi Tiêu Diêu lão nhân Chung Ly Triết, quyết không đời nào chịu xuất hiện trên giang hồ, nhưng có nhiều lắm cũng chỉ trong ba năm trời nữa, chừng ấy ta sẽ cho thúy điểu truyền thư, thỉnh mời hết thảy các tay anh hùng trong thiên hạ, để dự cuộc đại hội La Phù sau này, và cùng so tài cao thấp luôn với nhóm Càn Khôn Ngũ Tuyệt. Mối thù của sư đệ ta và Cơ huynh, Mạnh Phi Vân đã giải quyết xong rồi. Nay Mạnh Phi Yên muốn phiền Cơ huynh, nhân túc nhàn rỗi bây giờ, hãy đi thỉnh mời vài vị kỳ nhân đã ẩn tích lâu năm trên non cao núi biếc, để gây thêm thanh thế lừng lẫy cho cánh mình rồi sẽ tái lập La Sát Giáo sau này!
Cơ Thiên Khuyết xem xong bất giác trong lòng thất kinh, thì ra vị Tiêu Diêu Lão Nhân mà chính mình kéo đến ấy lại là thứ chính cống! Hèn gì càng lúc càng ly kỳ bất phàm? Nhưng lão này thế nào chẳng coi mình là một kẻ đại tử thù, sao lão không nhân lúc mình chưa phát giác ấy mà hạ độc thủ để trả mối thù mười năm bị giam cầm nơi Cửu Hoa Sơn, mà lại nghêu ngao hát bài Tiêu Diêu bỏ đi như thế!
Càng bởi vì Cửu Độc Thư Sinh tích ác quá nhiều, tâm trí đã mê mờ hẳn, đâu hiểu nổi dụng ý khoan dung đại lượng của Chung Ly Triết. Trong lúc phân vân ấy miệng bỗng dưng lại nhìn ngay vào thân Ngọc tiêu lang quân Phan Ngọc, khẽ gọi Phan phó giáo chủ.
Vừa chực mở miệng nói lớn, thì Ngọc Tiêu Lang Quân không chờ cho Cơ Thiên khuyết mở miệng, lập tức lạnh lùng lên tiếng trước rằng:
- May là bức thư của sư tỉ ta đến kịp thời, không thì giờ này đây hồn ngươi đã biến thành quỉ sứ xuống diêm vương tại âm từ lâu rồi? Sao còn không chịu đi cho khuất mắt? Đứng đây lảng vảng làm gì nữa?
Nếu vào ngày thường xưa kia, nội giọng điệu ngông cuồng cũng đủ điên tiết lộn ruột khiến Cửu Độc Thư Sinh ra tay trừng trị rồi! Nhưng nay vì, một là mình đang bị sa cơ thất thế khốn đốn trong những ngày gần đây, hai là mình đang bị vây trong thạch trận, ba nữa muốn trông vào thế lực của chị em Mạnh Tam Nương để gây thanh thế riêng cho mình, nên Cơ Thiên Khuyết cố nhịn tức, cất tiếng cười lên ha hả rằng:
- Cơ Thiên Khuyết này đã từng thanh minh với phó giáo chủ từ trước, nghĩa là sự hiểu lầm trên Kỳ Liên Sơn dạo nọ xin Phan phó giáo chủ đừng nên để tâm làm gì. Nay Cơ Thiên Khuyết xin tạ tội với Phan phó giáo chủ tại đây vậy!
Dứt lời, Cơ Thiên Khuyết ôm tay lên vái dài với Ngọc tiêu lang quân Phan Ngọ!
Ngọc tiêu lang quân Phan Ngọ, dù sao cũng không phải là nham hiểm như Cửu Độc Thư Sinh, nay thấy người đã chịu xuống nước nhỏ với mình như vậy, trong lòng cũng không nỡ quá quắt thêm, cũng buông tiếng cười ha hả ôm quyền thi lễ lại rằng:
- Cơ huynh đã nói như thế, Phan Ngọ lẽ nào còn chấp trách làm gì nữa, như thế chẳng hóa ra mình hẹp lượng lắm sao? Vậy từ nay chúng mình không còn ai nhắc đến chuyện này nữa!
Cơ Thiên Khuyết vui vẻ hòa nhã cười nói với Ngọc Tiêu Lang Quân rằng:
- Cơ Thiên Khuyết nay được sự rộng lượng hải hà của Phan phó giáo chủ, nhưng vì hiện nay tôi còn bận hẹn với một kẻ địch tại Võ Di, đáng lẽ nên lập tức cáo từ rút lui, nhưng nay vì nhận được lệnh sư tỉ có chuyện ủy thác, nên cũng không ngần ngại gì muốn thỉnh giáo với Phan phó giáo chủ một điều.
Dứt lời, trao luôn bức thư của mình sang cho Ngọc tiêu lang quân Phan Ngọ. Sau khi xem xong, Phan Ngọ ồ lên một tiếng nhẹ, mỉm cười rằng:
- Phan Ngọ đã khéo được một quyển kỳ thư võ học trong ngọn núi Võ Di này, quyển kỳ thư đó mệnh danh là Huyền Huyền chân kinh, và hai vị bảo quí trong võ lâm, nhờ đó được biết ở trong Huyền Băng Lũng trên Bắc Thiên Sơn, có một vị kỳ nhân đang ẩn cư danh hiệu là Huyền Băng Tiên Tử, và Bách Bàn Sơn trên núi Tây Nộ Sơn, cũng có một vị ẩn cư là Vạn Tướng Tiên Sinh, cả hai người này tuổi đã trên trăm, võ học kỳ cao, bởi xưa kia từng bị thương tâm một vết thương lòng gì đó, nên đã cố đi tìm nơi hoang vắng để ẩn tung tuyệt tích trong giang hồ luôn! Cơ huynh chỉ cần làm cách nào gặp được một trong hai người cái thế kỳ nhân này, nói rõ cho họ biết hai vật kỳ bảo là Song tâm bích ngọc và Cửu kết kim hoàn, hiện đều nằm trong tay sư tỉ tôi, nếu họ bằng lòng hạ sơn xuống giúp sức để cộng diệt Càn Khôn Ngũ Tuyệt, để khiến cho La Sát Giáo lừng lẫy thanh danh từ đây, thì chừng ấy sư tỉ tôi sẽ lập tức tặng hai bảo vật này cho họ ngay! Bởi vì cả hai vật này đối với hai kỳ nhân Huyền Băng Tiên Tử và Vạn Tướng Tiên Sinh đều có một liên quan mật thiết bí mật, khi họ nghe được tin này, thế nào cũng chịu ra sức ngay. Thêm vào đó, nếu công lực của sư tỉ của tôi luyện thành công, đừng nói là đám Tây Đạo Nam Bút không đáng kể, mà còn cho cả vị Chân Đoạt Hồn Kỳ là Tiêu diêu lão nhân Chung Ly Triết đi nữa, cũng không có gì phải e ngại!
Cơ Thiên Khuyết im lặng đứng nghe, trong lòng đang tư lự nghĩ, Ngọc Tiêu Lang Quân thình lình chuyển sang câu chuyện khác hỏi rằng:
- Cơ huynh vừa rồi nói có một kẻ thù địch nào đó hẹn tại đây với huynh, vậy có thể thố lộ với Phan Ngọ này được không?
Cơ Thiên Khuyết nghe hỏi vậy, nhân đà nói với Phan Ngọ rằng:
- Sau cuộc đại hội Tân Cựu Càn Khôn Ngũ Tuyệt mở tại Vạn Mai Cốc La Phù Sơn xong, trong lúc Cơ Thiên Khuyết tôi vừa tính rút lui, thì bỗng có một người tự xưng là U mịch thần quân Diêm Nguyên Cảnh dắt theo bốn thủ hạ ăn mặc như ma quái, xông thẳng vào cốc, lên tiếng đòi tảo thanh tiêu diệt sạch hết dư đảng tà giáo La Sát, và đòi truy hồn Tiếu Diện Diêm Bà cùng đoạt mạng Ngọc Tiêu Lang Quân...
Ngọc Tiêu Lang Quân nghe nói như vậy, cau mày suy nghĩ một lúc rồi mới tiếp lời rằng:
- Tên hiệu người này hơi xa lạ, mà ngang nhiên dám ngông cuồng như thế? Chẳng biết hắn có ý muốn tảo thanh bổn giáo hay không? Nhưng ngoại hiệu của sư tỉ tôi đã gọi là Tiếu Diện Diêm Bà thì hắn không thể nào xưng danh trong bốn chữ U Mịch Thần Quân được!
Cửu Độc Thư Sinh thấy Ngọc Tiêu Lang Quân có vẻ chưa chịu tin những lời mình nói, vội hấp tấp nói rằng:
- Người này cũng ăn mặc đúng hệt như một Đoạt Hồn kỳ, nên cũng đã chỉ danh đòi đấu với tiểu đệ! Thế là một cuộc ác chiến đã xảy ra tại Vạn Mai Cốc, nhưng y sẵn thủ hạ trợ lực, đôi bên đánh hoài vẫn chưa phân thắng bại, sau mới hẹn lại vào ngày 16 tháng hai tại Võ Di tuyệt đỉnh quyết mở cuộc đấu thư hùng sống chết.
Ngọc Tiêu Lang Quân ồ lên một tiếng, Cơ Thiên Khuyết lại nghiễm nhiên lên tiếng tiếp:
- Nay lệnh sư tỉ bận bế quan luyện công, và đồng thời lại có việc nhờ Cơ Thiên Khuyết như thế, nhưng hãy để cho tiểu đệ giải quyết xong vụ tranh chấp với tên U mịch thần quân Diêm Nguyên Cảnh xong đã, rồi xin thân hành đi tìm kiếm hai vị tuyệt thế kỳ nhân là Huyền Băng Tiên Tử và Vạn Tướng Tiên Sinh xuất sơn để giúp sức cho quí La Sát Giáo cùng đấu thư hùng một phen với đám Càn Khôn Ngũ Tuyệt cho biết mặt!
Ngoại hiệu chưởng giáo La Sát Mạnh Tam Nương là Tiếu Diện Diêm Bà, vậy thì đã bị ngoại hiệu U Mịch Thần Quân của người ta át thế mất? Nên sau khi Phan Ngọ nói đến bốn chữ đó, lạnh lùng cười tiếp lời rằng:
- Cơ huynh nay đã nguyện bôn ba ngàn dặm về miền Tây cùng lo thù chung mưu đại sự như thế, Phan Ngọ này cũng chẳng cần phải khách sáo cảm tạ gì huynh! Nhưng nay tôi có một việc muốn xin với huynh là cuộc hẹn ngày 16 tháng hai này tại núi Võ Di, Cơ huynh cứ việc yên trí giao vụ tranh chấp U Mịch Thần Quân để Phan Ngọ này lo liệu hộ cho?
Cửu độc thư sinh Cơ Thiên Khuyết thấy Ngọc Tiêu Lang Quân đã bị mình khích động trúng tim đen, trong bụng vui mừng vô ngần, nhưng bề ngoài vẫn không hề để lộ vẻ hớn hở của mình, cũng chẳng lên tiếng ngay, cố ra vẻ trầm ngâm một hồi rồi mới nghiêm trang nói:
- Vốn ra Cơ Thiên Khuyết tôi cũng đâu có hay biết gì chuyện lệnh sư tỉ lại ẩn cư tại đây? Nên đã vô tình định ước hẹn với U mịch thần quân Diêm Nguyên Cảnh tại đây! Nay chúng mình đã coi nhau như người trong một nhà như thế, ai ra đối phó cuộc hội này cũng thế cả, nhưng trước khi chưa trừ khử được nhóm đại kình địch Càn Khôn Ngũ Tuyệt là Tây Đạo, Nam Bút, Đông Tăng, Bắc Kiếm và Tiêu Diêu Lão Nhân Đoạt Hồn Kỳ, chúng mình cũng nên tránh bớt việc oán thù, mong trong cuộc hẹn ngày 16 tháng hai tới đây, nếu Phan phó giáo chủ thấy có điểm nào tha được người ta thì cứ việc rộng lượng nới tay...
Ngọc Tiêu Lang Quân không đợi cho Cơ Thiên Khuyết hết lời bèn lên tiếng rằng:
- Vốn ra tôi cũng chẳng có oán thù gì với người ta cả, huống hồ trong lúc thần công của sư tỉ tôi chưa luyện thành, quả thật tôi cũng không muốn gây rối thêm chuyện gì! Đương nhiên tôi sẽ tuân theo lời khuyên của Cơ huynh hành sự, chỉ cần sao tên Diêm Nguyên Cảnh chịu tự động bỏ hẳn ngoại hiệu U Mịch Thần Quân, ta sẽ tha hắn khỏi chết trong chưởng lực La Sát âm công hoặc Thất tình tiêu thanh, hay Thập hồn diệu vũ!
Cơ Thiên Khuyết thừa biết U mịch thần quân Diêm Nguyên Cảnh thuộc loại người ương ngạnh kiêu ngạo, như thế thì kế Giá họa giang đông, trục lang cự hổ của mình chuyến này thế nào chả khiến họ mở một cuộc long tranh hổ đấu tưng bừng?
Sau khi hai người thương lượng xong đâu đấy, Ngọc Tiêu Lang Quân bèn dẫn luôn Thập Đại Du Hồn lên đỉnh phong để chờ đợi U mịch thần quân Diêm Nguyên Cảnh, còn Cửu Độc Thư Sinh lo bôn ba phong trần lên đường đi về miền Tây để tìm hai vị kỳ khách trong võ lâm là Huyền Băng Tiên Tử và Vạn Tướng Tiên Sinh!
Nhưng trong suốt cuộc hành trình này, Cơ Thiên Khuyết không những không giấu giếm về chuyện ẩn cư của Mạnh Tam Nương, mà còn tận lực nói hết rõ các dự tính bí mật của La Sát Môn giáo, nào hiện đang ẩn náu tại núi Võ Di để khổ luyện những công lực kỳ độc, và nay mai sắp sửa tái xuất trên giang hồ để mở một cuộc thi thố với các tay quần hùng trong thiên hạ để tranh chức minh chủ trong võ lâm.
Dụng ý của Cơ Thiên Khuyết là muốn bắn tin ẩn cư của Mạnh Tam Nương đến tai nhóm Tây Đạo Đông Tăng Nam Bút Bắc Kiếm và Đoạt Hồn Kỳ trong Càn Khôn Ngũ Tuyệt, khiến cho đám họ lần tới núi Võ Di nay quyết đấu với vị Hồng phấn ma đầu này, như thế có thể tiêu hao thực lực của đôi bên khá nhiều, còn mình chỉ cần tìm được hai vị Huyền Băng Tiên Tử và Vạn Tướng Tiên Sinh, sẽ nói láo là mình đã được Song tâm bích ngọc và Cửu kết kim hoàn, đang tính mang lại biếu họ, thì giữa đường bị Tiêu diêu lão nhân Chung Ly Triết và Tiếu diện diêm bà Mạnh Tam Nương hợp sức cướp mất! Như thế Huyền Băng Tiên Tử và Vạn Tướng Tiên Sinh thế nào cũng chịu xuất sơn để đối địch với Tiêu Diêu Lão Nhân và Tiếu Diện Diêm Bà ngay, khi ấy mình cứ việc đòn xóc thọc bên này thích bên kia, tiện dịp là mình ra tay trừ khử dần những tay đối thủ lợi hại, rồi vu oan giá họa sang cho người khác, khiến cho họ cứ việc trả thù báo oán, nghĩa là không một ngày nào được yên tĩnh! Cuối cùng thế nào mình chả mãn nguyện với chí nguyện làm bá chủ võ lâm trong thiên hạ!
Lộ trình của Cơ Thiên Khuyết thoạt tiên là đi Huyền Băng Lũng Bắc Thiên Sơn, sau mới đi Bách Bàn Lãnh Tây Nộ Sơn, vậy chuyến đi này liệu có thành công đúng như những ý niệm độc của Cửu Độc Thư Sinh không? Bút giả tạm ngưng ở đây để quay sang kể về cuộc hẹn hội kinh hồn lạc phách tại đỉnh phong Võ Di.
***
Vào giữa đêm 16 tháng hai, trăng thanh gió lặng, trên bầu trời không một đám mây, nơi thạch trận ngổn ngang của đỉnh núi Tam Ngưỡng Phong ấy, đã được những môn đồ của La Sát Giáo dọn sạch bằng hết, để lại một khoảng trống có trên năm sáu trượng vuông tròn, những nhân vật giang hồ đang đứng đối lập với nhau ấy cả thảy là 16 vị!
Ngọc Tiêu Lang Quân vẫn ăn mặc như một nho sinh toàn thân trắng xóa, đứng phía sau Phan Ngọ là mười thiếu nữ mặt gầy đét mà được xưng hiệu trong La Sát Giáo là Thập Đại Du Hồn!
Còn năm khác, đương nhiên là U mịch thần quân Diêm Nguyên Cảnh và bốn thủ hạ đem theo là Trọng tuyền tú tài Cam Hóa Quế, Hồng y hỏa phán Mục Lôi, Đại đầu quỉ vương Tiêu Khôi, Câu hồn sứ giả Phong Kiệt.
Diêm Nguyên Cảnh thấy Cửu Độc Thư Sinh đã lột hẳn mặt nạ giả, thay đổi lối ăn mặc như vậy bèn cũng cởi bỏ luôn lối Đoạt Hồn Kỳ của mình để phục sức theo lối vương giả U Mịch Thần Quân!
Diêm Nguyên Cảnh không thể nào ngờ rằng kẻ chờ mình trên đỉnh núi Tam Ngưỡng Phong này lại không phải là Cửu độc thư sinh Cơ Thiên Khuyết? Mà là một vị thư sinh xa lạ khác đem theo mười thiếu nữ liệt trận ra đón chờ mình!
Tuy U mịch thần quân Diêm Nguyên Cảnh từng sống trong địa khuyết gần hai mươi năm trời, lại nữa xưa kia cũng là một hiệp đạo khét tiếng ở Lĩnh Nam!
Sau khi thấy lối ăn mặc đẹp mắt của Ngọc tiêu lang quân Phan Ngọ, và Thập Đại Du Hồn như thế, biết ngay nhân vật trước mắt mình đây cũng không phải tay phàm tục gì? Bất giác cau mày lên tiếng hỏi rằng:
- Túc hạ đây là ai, và chờ ai trên đỉnh phong trong đêm khuya này?
Bởi Ngọc Tiêu Lang Quân đã nghe lời tiếm ngôn của Cửu độc thư sinh Cơ Thiên Khuyết, nên sau khi thấy mặt U Mịch Thần Quân và người ta lên tiếng hỏi mình trước vô lối như thế, hừ một tiếng nhẹ rồi lạnh lùng rằng:
- Câu hỏi này đáng lý ta phải hỏi ngươi mới đúng... thế ngươi dắt theo mấy người trông ma không ra ma người không ra người này đến nơi ẩn cư của ta đây để làm gì?
Diêm Nguyên Cảnh thấy đây là nơi ẩn cư của người ta, biết ngay đã hỏi lỡ lời với người ta, nên tránh không trực tiếp nói thẳng với đối phương, bèn quay về phía Trọng Tuyền Tú Tài rằng:
- Không ngờ nhân vật lừng danh như Cửu độc thư sinh Cơ Thiên Khuyết như thế mà cũng nuốt lời? Sợ không dám lại đây để phó hội!
Phan Ngọ cũng phục ngầm lối trả lời khéo của đối thủ, bèn lạnh lùng rằng:
- Cửu độc thư sinh Cơ Thiên Khuyết vốn là chỗ bạn thân của Phan Ngọ ta, bởi bận việc nên chưa có mặt lại đây, nên tôi đã hộ thay mặt bạn đến phó hội cũng thế?
Diêm Nguyên Cảnh nghe vậy, lùi ngay nửa bước về phía sau, đưa mắt nhìn khắp một lượt toàn thân của Phan Ngọ, trầm giọng rằng:
- À ra túc hạ đây là Ngọc Tiêu Lang Quân trong La Sát Giáo? Và cũng là Phan phó giáo chủ đấy?
Phan Ngọ gật gù, cười ngạo mạn lên tiếng rằng:
- Chắc ngươi đây là kẻ không biết trời cao đất rộng Diêm Nguyên Cảnh đây? Nghe nói các ngươi ỷ chút nghề mọn ma quái quỉ môn quỉ đạo gì đó mà dám ngang nhiên đòi đối địch với bản giáo La Sát! Mà còn dám xục xạo trong Vạn Mai Cốc?
Nghe vậy Diêm Nguyên Cảnh biết ngay Cửu Độc
Thư Sinh đã dùng kế di họa Đông Ngô, đảo lộn thị phi, nhưng cũng không ưa gì khẩu khí kiêu căng của Ngọc Tiêu Lang Quân, bèn nghiễm nhiên rằng:
- Vạn Mai Cốc đâu phải nơi cấm địa ở trần gian này! Vậy thì người nào lại không có quyền vào cốc? Lại nữa La Sát Giáo của các ngươi là một tà giáo, làm nhiều điều khuyết đức trái nhân tình, đồng thời các ngươi lại chịu rời bỏ cơ nghiệp để tránh cuộc chạm trán nảy lửa với nhóm Càn Khôn Ngũ Tuyệt trong cuộc đại hội Nguyên tiêu! Vậy thì đâu có lý do gì để cấm ta vào Vạn Mai Cốc?
Phan Ngọ cười ngất ngưởng một hồi rằng:
- La Sát Giáo bởi có việc riêng nên tạm cho giải tán môn đồ, nhưng trong năm sau, nhất định thế nào cũng về lại Vạn Mai Cốc gây dựng khuếch trương lại cơ nghiệp của La Sát Môn, thế sẽ tước đoạt những đầu lâu của Càn Khôn Ngũ Tuyệt để làm lễ tế đàn!
U Mịch Thần Quân nghe vậy bất giác cũng ngẩn người mỉm cười nhìn. Ngọc tiêu lang quân Phan Ngọ lại rằng:
- Ngươi đừng nên cười vậy, nếu trong ba năm trời mà nhóm Càn Khôn Ngũ Tuyệt còn sống, trong thời gian này, chưa chừng ngươi lại phải bỏ xác trên đỉnh phong này đây là khác!
Trong bốn người thủ hạ của Diêm Nguyên Cảnh, kẻ nóng tính nhất là Đại đầu quỉ vương Tiêu Khôi, khi y thấy Phan Ngọ ăn nói ngạo mạn như thế, đang tính hăm hở xấn tới, nhưng Diêm Nguyên Cảnh đã vụt ngay tay áo chận ngay lại, rồi nhìn Phan Ngọ rằng:
- Này Phan giáo chủ, Diêm Nguyên Cảnh này đâu có thù oán gì với ngươi đâu? Chẳng nhẽ tôn chỉ trong La Sát Giáo các người chỉ nhắm vào chuyện chết chóc thôi !
Phan Ngọ lạnh lùng:
- Hừ! La Sát Giáo đâu phải chỉ háo sát sinh như ngươi nghĩ! Nhưng không thể nào dung tha những kẻ dám mạo phạm đến oai danh của bổn giáo! Nếu ngươi muốn được thoát khỏi đỉnh phong trong đêm nay về để mà sống? ít nhất ngươi nên tự động xóa bỏ hẳn bốn chữ ngoại hiệu U Mịch Thần Quân của ngươi mới được!
Diêm Nguyên Cảnh nghe vậy thì ngạc nhiên vô cùng, bèn lên tiếng hỏi:
- Vậy ngoại hiệu U Mịch Thần Quân có gì mạo phạm đến La Sát Giáo sao?
Phan Ngọ bởi nhận thấy giữa hai ngoại hiệu U Mịch Thần Quân và Tiếu Diện Diêm Bà đã có sự xung đột khó nói, nên cau ngay mày hầm hầm rằng:
- Ta muốn ngươi bỏ thì ngươi cứ việc nghe lời cho ổn thỏa, hà tất hỏi lôi thôi làm gì? Còn không, hãy đem mạng nộp ngay dưới La Sát âm công hay Thất tình tiêu thanh, Thập hồn diệu vũ của ta đây!
U Mịch Thần Quân thấy Ngọc Tiêu Lang Quân không chịu bỏ qua bốn chữ ngoại hiệu của mình, cũng chẳng hiểu duyên cớ tại sao, sau khi trầm ngâm suy nghĩ một hồi, mới chợt hiểu, bất giác phì cười lên!
Tiếng cười này khiến cho Phan Ngọ đỏ bừng cả mặt, thế là mắt trợn tròn lên quát tiếng hỏi rằng:
- Ngươi cười gì vậy?
Dứt lời tay áo thụng thư sinh vụt ngược lên, trong ngọn chưởng vung lên ấy, một luồng kình phong của La Sát âm công đã bửa thẳng tới phía Diêm Nguyên Cảnh!
U Mịch Thần Quân từ lúc rõ thân phận của Phan Ngọ, càng đề cao cảnh giác của mình? Bởi xưa nay trong La Sát Giáo thu môn đệ rất nghiêm nghị, như vậy không đời nào có những tay tầm thường, hai nữa là võ học của Mạnh Tam Nương lại cực kỳ tinh giỏi, đến cả Càn Khôn Ngũ Tuyệt cũng còn e ngại sau này sẽ thành đại họa trong võ lâm! Bây giờ mình đột nhập vào sào huyệt của người ta như thế, đâu dám sơ ý chểnh mảng?
Nên sau khi Phan Ngọ phát ra luồng La Sát âm công, Diêm Nguyên Cảnh cũng vội lật chưởng bên phải ra, lẽ đương nhiên cũng tụ ngầm công lực, nhưng vì đôi bên còn chưa biết sức nhau như thế nào, nên Diêm Nguyên Cảnh cũng phải dùng chín phần công lực để nghênh địch!
 
0
Hồi 035. Tu La Tam Bảo Và Diệu Vũ Tiêu Thanh
[/align]  
Một ngọn phách không kình khí và một luồng âm hàn phong sau khi tiếp hợp với nhau, đôi bên đồng cân ngang sức. Ngọc Tiêu Lang Quân không khỏi kinh ngạc về võ học của đối thủ không những không giống nhau, mà còn kinh ngạc hơn về lối chường phong của Diêm Nguyên Cảnh, thình lình ngừng ngay tay lại lạ lùng hỏi rằng:
- Ngươi với Cửu độc thư sinh Cơ Thiên Khuyết cùng đồng một môn phái với nhau sao?
Diêm Nguyên Cảnh lắc đầu cười rằng:
- Trong số sư huynh đệ của Diêm Nguyên Cảnh, tuyệt không có người nào tính lang sói như Cơ Thiên Khuyết vậy! Chẳng qua chúng tôi mỗi người được bốn chương về quyển kỳ thư võ lâm của Tu La Tôn Giả là U Mịch Thập Tam Kinh, nên về lối võ học có nhiều chỗ giống hệt như nhau.
Ngọc Tiêu Lang Quân từ từ lấy cây sáo ngọc trong mình ra cầm nhịp trên tay, rồi nhìn Diêm Nguyên Cảnh rằng:
- Cuộc hội đêm nay đây, một là Phan Ngọ ta thay bạn đến phó hội, hai nữa là muốn ngươi bỏ hẳn bốn chữ ngoại hiệu U Mịch Thần Quân, chúng ta đều là những nhân vật trong võ lâm, tốt nhất cứ hành sự theo như qui tắc của giang hồ, chẳng cần khách sáo gì cho nhiều lời vô ích, cũng chẳng cần bàn đến nhân nghĩa đạo đức gì cả! Phan Ngọ chỉ muốn dùng La Sát âm công và cây ngọc tiêu trong khúc nhạc Thất tình tiêu thanh cùng với môn vũ của môn đệ Thập hồn diệu vũ để thỉnh giáo với ngươi! Còn ngươi nếu có bản lãnh gì đem hết ra mà thi thố tận lực, kẻ thắng sẽ được quyền sai khiến hay ra lệnh cho đối phương phải phục tòng?
U Mịch Thần Quân cười ha hả rồi nhìn từ Phan Ngọ cho đến khắp Thập Đại Du Hồn một lượt gật đầu rằng:
- Diêm Nguyên Cảnh kính xin tuân mệnh! Vậy ta sẽ dùng ngọn binh khí từ lâu đã không dùng đến là cây Diêm la phán (cây bút phê tội của Diêm vương) để lĩnh giáo trước với những tuyệt thế ngọc tiêu của Phan giáo chủ trước!
Dứt lời từ trong người rút ra một cây bút không ra bút, đao không ra đao, dài trên hai thước hai, trông thật một binh khí kỳ lạ vô ngần?
Ngọc Tiêu Lang Quân thấy cây bình khí lạ lùng cũng không dám khinh địch, biết ngay đối thủ chắc giỏi về môn đánh huyệt hay điểm huyệt! Nên cây sáo ngọc được khẽ vụt về sau, đôi mắt song song U Mịch Thần Quân, bắt đầu cất bước đi về hướng trái?
Sau khi hai vị cái thế kỳ nhân đi xung quanh mấy vòng, thình lình cả hai thân hình hợp nhất vào nhau, thế là Ngọc Tiêu Lang Quân bắt đầu ra tay trước để tiên chế nhân? Chỉ thấy tà áo trắng phất phơ đẹp mắt lướt nhảy quấn quít sang Diêm Nguyên Cảnh?
U Mịch Thần Quân không những võ công tuyệt vời mưu kế cũng cừ giỏi, đâu để cho Ngọc Tiêu Lang Quân cướp quyền ưu tiên như thế! Trong lúc Phan Ngọ đưa tay ra đánh ấy Diêm Nguyên Cảnh cũng tụ hết thần công, vung tay ra một chưởng Lực đạo nguyên sương (sức ngoáy sương mù), cây Diêm la phán bên tay phải cũng đánh ra thế Tà chỉ tam tinh (xéo chỉ ba sao) hóa thành một đám ánh sáng lóe mắt điểm ngay về các đại huyệt Thần phong, U môn, Tử cách trước ngực của Ngọc Tiêu Lang Quân!
Phan Ngọ đã thừa biết rằng cây sáo ngọc của mình ra tay đánh, thế nào đối thủ cũng trả đòn cướp đánh ngay, nên không hề nao núng tinh thần, thu ngay thế công, nhượng bộ nhoáng vèo thân ra để tránh ngọn chưởng lực Lực đảo nguyên sương của đối phương và những ánh tua tủa của Diêm la phán tìm chỗ trống đột nhập, thế là cây sáo ngọc lại được vung đánh ra những thế rất đẹp mắt như con rắn bạc đang đùa vờn với U mịch thần quân Diêm Nguyên Cảnh!
Diêm Nguyên Cảnh thấy đối thủ cũng không phải tay vừa gì, nhất là những ngọn tuyệt kỹ về cây sáo ngọc được đánh ra trong lúc này, nên bất giác cũng dùng luôn một thế Mạnh thoát thiên la (cố vùng vẫy khỏi thiên la) vèo thân ra ra hơn sáu thước xa, miệng cười rằng:
- Phan phó giáo chủ quả là cao minh, ngoài võ học cao siêu ra còn giỏi cả về từ chương, thế này hình như là giống trong Cao hỗn thuần hậu trong Đường thi thì phải?
Ngọc tiêu lang quân Phan Ngọ thấy U mịch thần quân Diêm Nguyên Cảnh quả nhiên cũng biết những thế đánh tinh tuyệt của mình như vậy, trong lòng cũng phục lắm, nên gật đầu cười nói:
- Trong thế này của ta, nguyên được hóa từ trong Bình sa vạn mạc trong thơ xuất trại của Đỗ nhị bộ! Ngươi đã biết được như thế, vậy ta cũng vui lòng cho ngươi xem nốt hai thế tuyệt học là Tinh thùy bình dã khoát (sao nằm dưới khoảng mênh mông) Nguyệt dũng đại giang lưu (trăng chảy cuồn cuộn theo sông ngòi) xem coi oai lực của nó có hơn Cao hỗn thuần hậu không?
Vừa dứt lời, Ngọc Tiêu Lang Quân đã ngầm tụ công lực, vạt tay áo bên tay trái, từ trên quạt lên trên, một luồng kình phong bay vọt lên theo với một đám đá vụn nhằm hướng Diêm Nguyên Cảnh cuồn cuộn ập tới!
Rồi hét lên một tiếng tung bổng toàn thân lên cao năm trượng, hít hơi thu thế, quay ngược đầu xuống, cây ngọc tiêu trên tay vung tua tủa xuống, quá nhiên hóa thành trăm ngàn hành tinh tới tấp ập xuống!
U mịch thần quân Diễm Nguyên Cảnh nào để cho ánh tiêu loang loáng của Phan Ngọ vây bủa mình? Vội dùng ngay một thế thoát hiểm trong tuyệt học của U Mịch Thập Tam Kinh là Tán ảnh ly hồn (tan hình rời hồn) áo bào phùng phụt tiếng gió, dưới chân đổi bộ ra thế Đảo thái tam tinh (ngược bước theo hình ba sao) nhoáng qua cánh trái vèo sang bên phải, thực ra đây chỉ là những động tác hư không của nửa thân hình phía trên, còn nửa phía dưới thì vững như thái sơn, chân dụng lực nhanh nhẹ như tia điện nhoáng, nhún một cái lui hẳn hơn tám thước, tránh ngay ngọn La Sát âm công mà Phan Ngọ vẫn đắc ý xưa nay cùng sự phối hợp của hai thế Tinh thùy bình dã khoát, nguyệt dũng đại giang lưu của đối thủ!
Phan Ngọ khi thấy tà áo bay phần phật của Diêm Nguyên Cảnh như vậy, đoán ngay người ta chắc có biến đổi gì đây nên từ trên cao cố đề khí ngừng thần, không phạt thế đánh vội?
Nhưng khi thấy thân hình đối phương vừa nhoáng qua bên trái, Phan Ngọ đã đoán lầm, tưởng đâu địch thủ thế nào cũng thoát thân bên cánh phải, nên cười lên một tiếng ha hả, cây ngọc tiêu trên tay vung tua tủa kèm theo những kình phong từ trên bao trùm xuống cánh phải của địch thủ?
Nào hay khi ánh sáo tới tấp chụp xuống lại đều bị lọt vào bẫy không hết, thình lình thấy Diêm Nguyên Cảnh với cây binh khí Diêm la phán đánh sang với thế Họa long điểm tinh (vẽ rồng điểm mắt) nhắm ngay bả vai của Phan Ngọ điểm tới!
Ngọc tiêu lang quân Phan Ngọ thấy đối phương thoát thân nhanh nhẹ và trả đòn mau chóng như thế, trong bụng cũng ngầm cảm phục vô cùng, thầm nghĩ nếu mình không bị nhục về tay Cửu độc thư sinh Cơ Thiên Khuyết tại Kỳ Liên Sơn dạo nọ, để rồi cố trí khổ luyện thêm và gần đây lại được quyển kỳ thư võ lâm Huyền Huyền chân kinh, chắc có lẽ đêm nay bị bại về vị U Mịch Thần Quân này mất?
Trong lúc mãi suy nghĩ ấy, cây Diêm la phán đã thấy đến sát bả vai mình, Phan Ngọ vốn là kẻ nghệ cao bạo phổi né đầu nhoáng tránh sang bên phải, chưởng bên trái lật ngược lên thò ngay ba ngón tay, nhót về phía Diêm la phán của địch.
U Mịch Thần Quân thấy vậy, dở cười dở khóc, nhưng cây Diêm la phán đã lỡ trớn quá đà, thu lại không kịp!
Cả đôi bên trong cuộc sơ đụng này, đều đã nhìn nhận sự trí dũng kiêm toàn của đối thủ, quả thật cũng khó đấu lắm! Nên Ngọc tiêu lang quân Phan Ngọ trong lòng đã sinh nghi, cho rằng Diêm Nguyên Cảnh không chịu thu ngay thế về ấy, chắc có ẩn ý gì đây, nghĩ vậy nên liếc nhanh mắt lại cây Diêm la phán!
Không ngờ trong cái nhìn chớp nhoáng ấy, khiến cho Ngọc Tiêu Lang Quân ngẩn người cau mày!
Thì ra trong cây binh khí kỳ lạ ấy, thình lình trên mũi đã có thêm ba lưỡi móc nhọn từ hồi nào rồi!
Loại Diêm la phán có thể ngấm ngầm chứa đựng móc nhọn như thế, tất không phải loại binh khí thường gì, Phan Ngọ thấy thế nên lập tức vội thu ngay thế nhót của mình lại!
Nhưng Diêm Nguyên Cảnh nào có chịu để yên? Cây Diêm la phán đẩy thẳng tới rồi ngoáy ngược lên, dù cho Phan Ngọ có lanh tay đến đâu đi nữa? Ngón tay giữa cũng đã bị lưỡi móc cứa trúng một đường! Sâu thấy xương, máu chảy lênh láng, cau mày vì bị xót, may cũng còn nhanh tay, không mất một ngón tay là khác?
Không để lỡ cơ hội tốt, lập tức Diêm Nguyên Cảnh dùng luôn các thế Chỉ lộc vi mã (chỉ mai thành ngựa), Thọ dương điểm tráng, Hàn tín điểm binh, liên miên đánh ra ba thế, cả một vùng ánh sáng ảo ảnh, oai thế vô biên, khiến cho vị La sát phó giáo chủ, kẻ lừng danh như Ngọc Tiêu Lang Quân phải giở luôn ngọn Yến thanh thập bát thiểm phiên khinh công ra né tránh, thối lui cuống quít!
Cả hai quần thảo trên ba mươi mấy hiệp, thình lình U Mịch Thần Quân vọt bổng lên như một con hạc và Ngọc Tiêu Lang Quân cũng vèo thân ra cùng một lúc, Diêm Nguyên Cảnh đưa tay chỉ Phan Ngọ rằng:
- Phan phó giáo chủ, nếu chúng ta cứ đánh như thế này đến ba trăm hiệp cũng chưa chắc gì phân thắng bại được? Vậy Diêm Nguyên Cảnh bây giờ xin lĩnh giáo thử về những môn tuyệt học Thất tình tiêu thanh và Thập hồn diệu vũ để làm cuộc kết thúc cuộc gặp gỡ đêm nay vậy?
Ngọc Tiêu Lang Quân lạnh lùng cười rằng:
- Nếu vậy thì ngươi sẽ được chết sớm thêm một chút!
U mịch thần quân Diêm Nguyên Cảnh cười rằng:
- Ta cũng biết thứ tiêu thanh, diệu vũ của ngươi không phải thứ tầm thường gì, oai lực chắc phải kỳ mạnh! Nhưng Tu La Tam Bảo trên thân ta, tin chắc cũng không phải loại báu vật thường phàm. Vậy xin đừng ngại, cứ việc thẳng tay, ai bị thua, chừng ấy mới chịu tâm phục khẩu phục được!
Dứt lời, bèn từ trong mình lấy ra Tu la bạch cốt thôi, Lãnh diễm tu la võng, và ngấm ngầm chuẩn bị luôn Tu la cửu hàn sa.
Thế là Thập Đại Du Hồn bắt đầu tụt hết khăn đỏ trên thân, múa lên những vũ điệu kỳ lạ theo tiếng sáo của Ngọc Tiêu Lang Quân diễn tiến.
Đối với loại trận như thế này, không những Diêm Nguyên Cảnh coi không ra gì, mà cả đến Trọng tuyền tú tài Cam Hóa Quế cũng phải nực cười, nhưng họ đâu có ngờ rằng những da thịt nảy nở của Thập Đại Du Hồn đều chế bằng da người giả, trong đó lại chứa nhiều thuốc kỳ độc như phấn và nước?
Tuy nguy cơ đã bao trùm hết phía người của Diêm Nguyên Cảnh? Tính mạng có thể mất ngay trong nháy mắt! Nhưng Ngọc Tiêu Lang Quân cũng chưa từng nếm qua mùi vị của Tu La Tam Bảo ra sao? Đâu có thể biết được Tu la bạch cốt thôi, khi thổi lên có thể khiến tâm thần kẻ nghe vất vưởng, Tu la cửu hàn sa tung ra, có thể khiến cho người ta lạnh buốt thấu xương tủy, nhất là chiếc lưới Lãnh diễm tu la võng, có thể nói là bá đạo trong giang hồ, khi tung ra, chu vi có thể bao phủ trong hai trượng vuông tròn, nếu người nào bị chụp trúng vào trong đó, trong chớp mắt có thể chỉ còn lại bộ xương trắng!
Giữa lúc đôi bên chưa biết tính cách gì để mò trúng yếu điểm của nhau ấy, thì tiếng sáo Thất tình tiêu thanh của Ngọc Tiêu Lang Quân đã tấu đến chỗ Hỉ, Nộ, Ai, Bi, ái, ô, Dục và Thập Đại Du Hồn cũng nhịp nhàng theo hiệu lệnh, múa những vũ điệu quay cuồng, nhưng chỉ trong nháy mắt, các chất độc từ phấn cho đến thứ nước, bùng tỏa ra về khắp phía đám U mịch thần quân Diêm Nguyên Cảnh. Sự đột kích này hoàn toàn ngoài sức tưởng tượng của phía Diêm Nguyên Cảnh.
U mịch thần quân Diêm Nguyên Cảnh thấy đối phương bắt đầu hạ sát thủ như thế, liền phát luôn Tu La Tam Bảo rồi sau tiếng hú của Tu la bạch cốt thôi vang lên, trên Tam Ngưỡng Phong, lập tức một đám đông kỳ khách võ lâm đều bị các chất phấn độc nước độc cùng với Lãnh diễm hàn sa đánh trúng, thét lên những tiếng thê thảm rồi lăn đùng ra mặt đất!
Những tiếng thê thảm và những nhân vật ngã ra mặt đất ấy là những ai? Tính mạng của Ngọc Tiêu Lang Quân và U mịch thần quân Diêm Nguyên Cảnh ra sao? Bút giả xin tạm ngừng tại đây, để kể tiếp về Thiểm Điện Thần Khất và tiểu hiệp Thượng Quan Linh.
**
Sau khi Thiểm điện thần khất Gia Minh và Thượng Quan Linh ở Vạn Mai Cốc từ biệt U mịch thần quân Diêm Nguyên Cảnh ra đi, họ bèn chiếu theo lời hẹn ước nhắm về hướng Hồ Nam, Quảng Tây để truy tầm Cửu độc thư sinh Cơ Thiên Khuyết.
Nhưng Cơ Thiên Khuyết sau khi lừa đảo Ngọc tiêu lang quân Phan Ngọ tại Võ Di, bèn đi ngay Bắc Thiên Sơn và Tây Nộ Sơn để tìm kiếm Huyền Băng Tiên Tử và Vạn Tướng Tiên Sinh, vì thế Gia Minh và Thượng Quan Linh lùng khắp hai tỉnh Hồ Nam và Quảng Tây đều không thấy tung tích Cơ Thiên Khuyết đâu hết, mà cả cho đến U mịch thần quân Diêm Nguyên Cảnh cũng mất liên lạc luôn?
Thời gian cứ vậy thoăn thoắt trôi mau, chớp mắt đã hơn năm qua, Thiểm điện thần khất Gia Minh vẫn dắt theo Thượng Quan Linh đi lùng kiếm Cửu độc thư sinh Cơ Thiên Khuyết khắp nơi, họ ước sao độ hóa nổi con người hung bạo số một này theo đúng lời căn dặn của Tiêu diêu lão nhân Chung Ly Triết! Nhờ cuộc phiêu bạt nay đây mai đó, mà cây Phong ma đồng đoạt hồn bảo kỳ đã trừ không biết bao nhiêu kẻ tàn bạo trong mấy tỉnh Đông Nam! Còn tiểu hiệp Thượng Quan Linh cũng càng ngày càng lớn thêm, thân hình bắt đầu nảy nở cao lớn thành một thanh niên anh phong lẫm liệt!
Hôm ấy, Thượng Quan Linh theo Gia Minh đi du hiệp về miền Triết Đông, luôn tiện tạt ngang vào Thiên Đài Nhai Đãng Gian thăm luôn Nam bút Gia Cát Dật, nhưng cửa động đóng kín buồn tênh, vị Gia Cát tiên sinh không biết đã đi về đâu?
Thượng Quan Linh bèn cười nói với Gia Minh rằng:
- Nam bút Gia Cát Dật lão tiền bối thường ngâm câu thơ Danh bài Tây Đạo Đông tăng hậu, Gia tại Thiên Đài Nhai Đãng Gian! Tại sao cả hai lần đến đều không được gặp vị Nam Bút Gia lão tiền bối này kìa!
Thiểm điện thần khất Gia Minh cũng ngạc nhiên rằng:
- Theo đồn, những hạng cao nhân tuyệt thế như Càn Khôn Ngũ Tuyệt này, rất ít khi rời khỏi sơn cốc của mình đi đâu, huống hồ trong cuộc đại hội nguyên tiêu năm ngoái tại Thiên Hương Ấu ở Vạn Mai Cốc La Phù Sơn, từ Tây Đạo Đông Tăng Nam Bút Bắc Kiếm, và Tiêu diêu lão nhân Chung Ly Triết, họ chẳng đã tỏ ý không muốn can thiệp đến chuyện rắc rối trên giang hồ đấy sao? Gần đây trong võ lâm có chuyện gì xảy ra đâu? Tại sao chúng mình lại không gặp được Gia Cát đại hiệp ở đây?
Thượng Quan Linh cười rằng:
- Những bậc lão tiền bối này, họ đến như rồng bay, đi như báo ẩn, cử chỉ hành động của họ luôn luôn khiến người ta khó lường đoán nổi, không chừng Gia Cát lão tiền bối vẫn còn ở trên núi Côn Lôn với Chung Ly lão nhân cũng nên!... Nhắc đến vị kỳ nhân Chung Ly lão này, tiểu bối lại nhớ đến ngọn Vân phiêu điện thiểm thân pháp của lão đã truyền dạy quả thật tuyệt diệu vô cùng, ông ta đối với tiểu bối đây thật tốt quá! Không biết ngài có nhớ đến ông ta không? Riêng tiểu bối thì nhớ ông ta vô kể!
Thiểm điện thần khất Gia Minh cười rằng:
- Đừng nói là Chung Ly lão nhân đã tặng cờ và truyền hiệu, ân cao nghĩa hậu đối với tôi? Chỉ nội tính tình và tấm lòng rộng lượng khoan dung vô bờ bến ấy, cũng có thể khiến người ta ghi nhớ đời đời rồi?
Thượng Quan Linh nghe vậy mừng lắm cười rằng:
- Nếu ngài cũng mong nhớ vị Tiêu Diêu Lão Nhân ấy, thì mọi sự dễ dàng ngay tức khắc! Hơn nữa bây giờ mình đi đâu mà tìm cho ra vị hung thần Cửu độc thư sinh Cơ Thiên Khuyết ấy, chuyện này thật còn khó hơn xuống đáy biển mò kim? Mà những kẻ hung ác bại hoại ở miền Đông Nam hầu như đã bị chúng mình tận diệt sạch hết, nhân dịp này, tội gì mình không cất bước giang hồ lên miền Tây Bắc một chuyến để du hiệp miền Tây, một có thể luôn tiện đi thăm Chung Ly lão tại Côn Lôn, hai lại tiện đường về miền Nam Cương, cũng có thể gặp sư phụ của vãn bối và Thiên Si đạo trưởng vấn kế xem sao?
Thiểm điện thần khất Gia Minh cũng tự nhận thấy mình đã làm được nhiều việc thiện tại miền Đông Nam này, theo lý cũng có thể đem hết những sở học của mình lên miền Tây Bắc hành hiệp phò cứu lương dân để tăng thêm công đức? Huống hồ lại có dịp thăm viếng vị Chân Đoạt Hồn Kỳ là Chung Ly lão nhân, Tây đạo Thiên Si, cùng Nam cương ẩn hiệp Tạ Đông Dương, nên bằng lòng ngay sự đề nghị của Thượng Quan Linh!
Nhưng họ vừa ra khỏi tỉnh Triết Giang và bắt đầu vào biên giới An Huy, thì chuyện lạ đã xảy ra. Khi Thượng Quan Linh vừa đến một khu rừng nọ, chợt thấy trong rừng có một cây cờ đoạn đỏ cũng vẽ sọ người trắng và hai xương chéo bị xé toạc thành hai mảnh, mà trên lá cờ ấy cũng có những chữ thêu Hồng phấn vương hầu, giống hệt cây cờ Phong ma đồng Đoạt Hồn Kỳ như cây của Tiêu diêu lão nhân Chung Ly Triết đã tặng cho Thiểm điện thần khất Gia Minh dạo nọ ?
Thiểm điện thần khất Gia Minh thấy vậy nhíu cặp lông mày lại suy nghĩ, còn Thượng Quan Linh đưa tay rút luôn cây cờ bị xé lên cầm trên tay, bèn phát hiện thêm một tờ giấy trắng cuốn trên cán cờ, bèn giở ra xem, thấy đề rằng:
Với cây cờ này làm tiêu chuẩn, hãy đi về hướng Đông, Nam, Tay, Bắc, mỗi hướng hãy đi đúng chín chín tám mốt bộ!
Thượng Quan Linh xem xong, nhảy hẳn người lên nói:
- Không lẽ chuyện kỳ lạ giống vụ Bạch Long Đôi xưa kia đã từng xảy ra ở đây? Tôi không tin trong rừng này lại có một số nhân vật lừng danh trong võ lâm bị thiệt mạng như vụ Bạch Long Đôi trước kia?
Thiểm điện thần khất Gia Minh cười nhạt xong, lạnh lùng rằng:
- Từ ngày Tân Cựu Càn Khôn Ngũ Tuyệt mở cuộc hội nguyên tiêu tại Vạn Mai Cốc La Phù Sơn xong, cả một năm trời nay quả đã thanh nhàn vô sự, nay nghiễm nhiên lại có ông bạn nào trong giang hồ dám khiêu chiến với Đoạt Hồn Kỳ, quả thật chuyện vui đùa đã khiến đến đúng lúc với chúng mình đây. Vậy Thượng Quan hiền điệt hãy lo đề khí hộ thân, đừng để quân gian manh lúc mình chểnh mảng ra tay đánh úp thình lình! Hiền diệt hãy đi lùng phía Tây Bắc, còn phía Đông Nam hãy để tôi lo, chín chín tám mốt bộ ngoài đó có chuyện gì lạ xảy ra?
Thượng Quan Linh đương nhiên tính háo kỳ còn hăng hơn Thiểm điện thần khất Gia Minh, lại càng không ngán sợ chuyện, nghe nói vậy liền nhoáng thân đánh vèo một cái, lướt hẳn qua mấy cây cổ thụ, tung mình về hướng Tây, chẳng bao lâu, từ hướng Bắc quay về, thấy Gia Minh cũng từ hướng Đông qua về, bèn lên tiếng cười gọi lớn rằng:
- Kính thưa Gia lão tiền bối, tiểu tử có thể đoán biết ngài đã xem thấy một đôi Long hổ cương hoàn bị móp bẹp nằm ở mạn rừng phía Đông, còn ở phía Nam thì chắc ngài đã thấy một cây bút lớn bị bửa làm đôi!
Thiểm điện thần khất Gia Minh hơi kinh ngạc, đang tính hỏi Thượng Quan Linh làm sao lại đoán trúng được như thế? Thì Thượng Quan Linh đã đem những đồ vật nhặt được lại phía Tây Bắc vứt ngay xuống đất, thì ra là một cây Vân phất bị trụi nhẵn lông ngựa, và một cây Tam chỉ kiếm bị gãy!
Thượng Quan Linh chỉ cây kiếm gãy và cây phất trần trụi dưới đất, cười lên rằng:
- Thưa Gia lão tiền bối, đây không biết là tên vô liêm sỉ nào lại cả gan dám chơi trò trẻ con như thế này với chúng mình, không biết chúng có dụng ý gì trong này không biết?
Thiểm điện thần khất Gia Minh trên tay cầm ngọn kiếm gãy và cây cán phất trần ấy, mắt có vẻ đăm chiêu nghĩ ngợi, chứ không được vui vẻ tươi tỉnh như Thượng Quan Linh, rồi từ từ Gia Minh lên giọng trịnh trọng nghiêm trang rằng:
- Thượng Quan hiền điệt chớ nên coi thường sự kiện trước mắt này, theo tôi đoán thì sau cuộc trầm lặng trong giang hồ bấy lâu, có lẽ trong võ lâm lại có kỳ nhân nào xuất hiện và đang gọi trận với Càn Khôn Ngũ Tuyệt!
 
0
Hồi 036. Ngũ Tuyệt Nhân Bì
[/align]  
Thượng Quan Linh nghe vậy, cũng ngước mày hỏi rằng:
- Ngài đã nói vậy, thì vị kỳ nhân này là ai? Phải chăng là kẻ ẩn náu biệt tăm biệt tích là sư tỉ đệ Tiếu diện diêm bà Mạnh Tam Nương và Ngọc tiêu lang quân Phan Ngọ? Hoặc là tên độ không hóa, giết không xong, chạy thì nhanh, trốn lại khéo, tức là tên Cửu độc thư sinh Cơ Thiên Khuyết lại tái xuất giang hồ để gây rối loạn nữa đây chăng?
Thiểm điện thần khất Gia Minh trầm tư một lúc rồi cau mày rằng:
- Trong hai nhân vật này, đều rất có thể là họ lắm, hoặc là những nhân vật khác cũng chưa biết chừng? Nói tóm lại, bất luận họ thuộc loại nhân vật nào đi nữa, mà đã dám ngang nhiên khiêu chiến với cánh mình thế, chúng mình không thể nào không chuẩn bị phòng hờ sự mưu tính ngấm ngầm của chúng, nhất là trong cuộc hành trình đi miền Tây này, phải đặc biệt để ý tất cả mọi sự kiện khả nghi có thể đưa đến những mưu hại của đối phương!
Dứt lời hai người vẫn tiếp tục lên đường, nhưng khi đến giao giới của ba tỉnh An Huy, Hồ Bắc, Giang Tây, thì lại có kẻ lạ kiếm chuyện khiêu khích?
Địa điểm vẫn là nơi rừng rậm âm u, thời gian cũng thuộc về thói quen của những người giang hồ hành sự, nghĩa là vào khoảng canh hai!
Một khu rừng hiểm ác, cảnh sắc thê lương, tứ bề trập trùng những ngôi hoang trũng (những mồ mả lớn lộng lẫy) vô chủ, cộng thêm trăng mờ bị mây che, càng hiểu rõ cảnh âm u thảm đạm, khiến kẻ nhìn hơi khó chịu!
Thiểm điện thần khất Gia Minh nghiêng đầu nói với Thượng Quan Linh rằng:
- Này Thượng Quan hiền điệt, tôi đã lâu ngày không đi ngang đây rồi, vậy cậu xem thử coi những ngôi mộ hoang trùng trùng điệp điệp đây phải chăng chúng mình đã đến gần nơi Cửu U Địa Khuyết của vị U mịch thần quân Diêm Nguyên Cảnh đó không?
Thượng Quan Linh lắc đầu rằng:
- Dạ thưa Cửu U Địa Khuyết nằm dưới Vạn Tính Công Phần cơ ạ, cách đây còn khoảng bảy, tám chục dặm xa! Xưa kia Gia lão tiền bối chẳng đã từng cứu vị U Mịch Thần Quân tại đó? Sao ngài còn nhận không ra? Vạn Tính Công Phần nhiều mồ mả hơn đây, cảnh sắc cũng có phần âm u rùng rợn hơn đây nhiều!
Thiểm điện thần khất Gia Minh gật đầu cười, vừa chực lên tiếng, đột nhiên phía đằng sau một tiếng kỳ lạ nổi lên và một ngọn gió đánh tới!
Thượng Quan Linh vốn đã được Tiêu diêu lão nhân Chung Ly Triết truyền cho ngọn tuyệt kỹ Vân phiêu điện thiểm, còn Gia Minh lại tự có ngọn Thiểm Điện thân pháp trong người, đều là những ngọn khinh công thượng thặng có thể ngạo thị trong giang hồ đương kim, nên khi nghe có tiếng động lạ, chỉ thấy cả hai nhoáng vèo một cái chia hẳn hai bên tả hữu vọt ra xa trên bảy thước.
Nhưng sau khi chân hai người vừa chạm mặt đất, bất giác cả hai cùng bật cười với nhau, thì ra một con dạ điểu lớn bay ngang qua đầu hai người!
Thiểm điện thần khất Gia Minh vừa lên tiếng được bốn chữ Thượng Quan hiền điệt, thì đằng này Thượng Quan Linh đã vô cùng ngạc nhiên đưa tay chỉ về hướng trước, nơi cách xa chừng hai, ba trượng ấy nói với Gia Minh:
- Ngài xem kìa, hình như bộ xương khô đằng kia biết nhúc nhích thì phải!
Thiểm điện thần khất Gia Minh nhìn theo lối chỉ của Thượng Quan Linh, thì ra trên bãi cỏ hơi cao, bộ xương người đầy đủ chân tay nằm trên bãi cỏ! xương khô mà Thượng Quan Linh nói mới trông thấy động đậy, thật là một việc lạ lùng?
Trong lúc Thiểm điện thần khất Gia Minh chăm chú nhìn bộ xương khô ấy, quả nhiên thấy nhảy lên hai tấc, rồi lại rớt vào trong đám cỏ gần đấy!
Thượng Quan Linh chuyến này thấy càng rõ hơn, vừa nghiêng đầu ghé vào tai Gia Minh buột được tiếng:
- Gia tiền bối, đột nhiên coong một tiếng, cả cỗ xương khô ấy thình lình ưỡn thẳng lên vọt hẵn lên bảy thước cao, đứng ngay vào trong lùm cỏ!
Thoạt tiên cả hai người tưởng đâu là những nhân vật nào trên giang hồ cố ý làm trò ma quái như thế, để thi hành âm mưu thủ đoạn gì chăng? Nhưng khi thấy bộ xương khô đứng yên đâu đó, rõ ràng có nhiều khớp xương hãy còn dính những miếng thịt chưa rữa hết, máu me thịt nát tơi bời, khiến cho kẻ nhìn muốn lợm giọng nôn mửa, không ớn mà nổi da gà lạnh người!
Sau khi bộ xương khô ấy đứng sững một hồi, trái hẳn với ý nghĩ của Gia Minh là không nhảy tới để dọa nạt hay cào cấu, mà hai tay xụi lơ xuống, nhót từng bước một về phía sau rút lui, trông ghê rợn lạ lùng!
Gia Minh và Thượng Quan Linh thấy vậy đều sinh nghi, bởi nếu bộ xương khô này mà do nhân vật nào trên giang hồ giả dạng thì một là không xâm phạm đến mình, hai lại tuyệt đối không thể nào đến tuyệt độ thần diệu như thế, giống hệt như quỉ nhập tràng.
Ngay trong lúc Thiểm điện thần khất Gia Minh và tiểu hiệp Thượng Quan Linh chưa phân tích rõ được đó là người hay ma ấy? Thì bộ xương đó nhót xa hẳn trên bốn trượng, thình lình quay nhanh mình, lưng đưa về phía Gia Minh, bộc phát một tiếng cười quái dị ghê người!
Sau lưng ấy, ngang nhiên đã hiện mấy chữ có lân tinh (chất sáng về đêm), tuy cách trên bảy trượng xa, nhưng nhờ tứ bề đều tối mờ, nên những chữ viết bằng lân tinh ấy hiện rõ rằng:
Nhược kiến Càn Khôn Ngũ Tuyệt, thinh lai Vạn Tính Công Phần! (nếu muốn gặp nhóm Càn Khôn Ngũ Tuyệt, xin mời lại bãi tha ma tại Vạn họ nghĩa địa).
Sau chót thêm một hàng tám chữ nhỏ là: Cửu U Địa Khuyết chủ nhân kính bạch!
Sau khi tình trạng biến hiện như thế, hai người mới vỡ lẽ đây quả do nhân vật giang hồ nào đã bày trò. Chắc nhiệm vụ họ chỉ cốt báo tin, nên mới chưa xâm phạm đến cánh mình?
Nhưng thân pháp của người xương khô quả nhanh thật trong chớp mắt đã biến mất tăm dạng, khiến cho Gia Minh và Thượng Quan Linh không sao đuổi bắt kịp!
Thượng Quan Linh cau mày một lúc lại ngạc nhiên hỏi rằng:
- Thưa tiền bối, Cửu U Địa Khuyết chủ nhân, bộ không phải là U mịch thần quân Diêm Nguyên Cảnh đó ư? Vãn bối còn nhớ trong cung điện như quỉ phủ đầy rẫy những hơi ma tử khí ấy, toàn là một cung điện treo lủng lắng những đầu lâu xương người, và còn hai câu đối: Nhược hướng võ lâm cầu tuyệt nghệ, Thả lai địa khuyết bái thần quân!, đến cả những loại chén bát dĩa, đều được Trọng tuyền tú tài Cam Hóa Quế đi Giang Tây đặt làm thành những xương người đầu lâu rùng rợn, thật là một nơi hơi ma tử khí âm u, vậy các tiền bối trong Càn Khôn, họ đâu chịu lại đây để tụ họp? Còn nói về phần chúng mình đây, tuy mới cách xa với U mịch thần quân Diêm Nguyên Cảnh tại La Phù Sơn hơn năm nay, dù cho muốn gặp chúng mình đi nữa, tại sao không thân hành đích thân xuất hiện? Hoặc phái các tay thủ hạ đưa thư đến? Khi không lại đi giở trò huyền hoặc như vậy để làm gì? Ngài thử suy nghĩ kỹ xem, theo vãn bối thì thế nào cũng có chuyện bí ẩn gì trong này đây!
Thiểm điện thần khất Gia Minh suy nghĩ một chập mới gật đầu rằng:
- Thượng Quan hiền điệt nghĩ thế cũng phải! Diêm Nguyên Cảnh tuy ngoại hiệu U Mịch Thần Quân sống lâu năm tại Cửu U Địa Khuyết, tất cả những lề lối hành động, không tránh khỏi có tính chất ma quái kỳ dị? Nhưng đối với mình, không nên dùng đến trò này mới phải! Nay Vạn Tính Công Phần lại cách đây chừng bảy tám chục dặm đường, với sức tài nghệ trên người chúng mình đây, dù có gặp những mưu kế gian tà gì đi nữa? Mạo danh để lừa bẫy, cũng chẳng có gì đáng ngại, vậy chẳng thà mình cứ y theo lời hẹn tới, bái hội thử xem kẻ xưng Cửu U Địa Khuyết chủ nhân là ai? Nhưng chúng ta đừng nên quá ỷ vào tài mà cần phải thận trọng mới được!
Thượng Quan Linh mỉm cười gật đầu nhận lời ngay, thế là một già một trẻ lo cấp tốc rảo bước lên đường. Trong cước trình của nhân vật nổi danh trong giang hồ này, lẽ đương nhiên cũng chẳng mất bao nhiêu thời giờ, nhưng Gia Minh vì sợ trong đêm tối, dễ bị kẻ địch lợi dụng ra ta, nên cuộc hành trình bị chậm hẳn với công cuộc đề phòng, mãi khi trời sáng bạch, mới nhận thấy bãi tha ma của Vạn Tính Công Phần hiện rõ hoàn toàn trước mắt!
Thượng Quan Linh đoán ngay ra dụng ý của Gia Minh, bèn mỉm cười rằng:
- Thưa Gia tiền bối, trong cung điện dưới Cửu U Địa Khuyết ấy, luôn luôn có những ngọn đèn sọ người được thắp sáng trưng, suốt năm không hề có ánh nắng rọi vào! Chúng mình đã đến đây, thế mà Địa Khuyết chủ nhân chưa thấy ra tiếp đón, không lý lại muốn thử tài chúng mình xem có cách gì vào cung điện quỉ phủ đó sao?
Xưa kia, Thiểm điện thần khất Gia Minh từng giải cứu cho U mịch thần quân Diêm Nguyên Cảnh dưới Cửu U Địa Khuyết tại Vạn Tính Công Phần, đồng thời được luôn bốn tờ văn kinh trong bộ U Mịch Thập Tam Kinh, và chút ít Vạn diệu đơn sa, chuyện cách đây đã hơn hai mươi năm, những võ công tuyệt học trong Mịch Thập Tam Kinh ấy, tuy mình đã thuộc nhừ hết, còn Vạn diệu đơn sa thì đem cứu nhân độ thế, đối với ngôi Vạn Tính Công Phần từ đó trở đi đâm xa lạ hẳn!
Hơn nữa Diêm Nguyên Cảnh lại sửa chữa lại những lối ra vào của ngôi quỉ phủ này, nên càng khiến cho Thiểm điện thần khất Gia Minh nhận không ra lối vào bất giác cau mày hỏi Thượng Quan Linh rằng:
- Thượng Quan hiền điệt, tôi xem cảnh sắc đây đều đã mơ hồ xa lạ như một giấc mơ cũ từ thuở nào rồi? Thế năm kia hiền điệt cùng đi chung với Độc cước truy phong Nhân tâm thần khất Phương Kỳ tới Cửu U Địa Khuyết chắc lối vào quỉ phủ còn nhớ rõ chứ?
Thượng Quan Linh gật đầu cười, bỗng nhớ ngay đến lời nói xưa kia của U Mịch Thần Quân là từng tu sửa hết các cửa ngỏ, mỗi ngày thay đổi theo thời khắc, dù cho chủ cũ của ngôi Cửu U Địa Khuyết sống lại là Tu La Tôn Giả có đến đi nữa, cũng không sao tìm được lối vào địa khuyết dễ dàng được!
Thượng Quan Linh nghĩ đến đây, cũng bất giác cau mày nghĩ lại cảnh cùng đi với Độc Cước Truy Phong dạo nọ, và cách thức mở cửa bí mật của Phong Kiệt để đưa hai người vào địa khuyết bằng cách dùng phách không chưởng đánh ngay vào bức thạch tượng thứ hai trong đỉnh mả cao lớn!
Công lực Thượng Quan Linh giờ đây đâu còn yếu kém như xưa kia nữa, ào một tiếng phách không chưởng cuồng mạnh được tiểu hiệp đánh thẳng vào ngực bức thạch tượng thứ hai. Ình một tiếng đá vụn bay tứ tán, bức tượng muốn đổ hẳn luôn, nhưng sao quái lạ! Chẳng thấy cửa ngỏ nào mở cả?
Thượng Quan Linh vừa buông hơi thở dài, đột nhiên một tiếng người kỳ lạ, phảng phất như từ dưới gầm của Vạn Tính Công Phần đưa lên, tuy mơ hồ lí nhí, nhưng tai cũng nghe rõ ràng rằng:
- Thượng Quan Linh! Bộ ngươi quên hết những giấc thông lệ của Cửu U Địa Khuyết này rồi sao? Mỗi đêm chỉ có thể gặp khách vào khoảng từ canh ba đến canh năm, còn ngoài giờ ấy ra là dành riêng cho khách thập phương đì thăm mộ cúng điếu cơ mà?
Sau khi lắng tai nghe, Thượng Quan Linh nhận thấy tiếng nói kỳ dị này được truyền ra trong vòng chu vi mười trượng vuông, nhưng lại nhận không ra phương hướng nhất định của nó. Thượng Quan Linh cũng bèn lên tiếng truyền rằng:
- Vị nào đã lên tiếng, nay Thượng Quan Linh và Thiểm điện thần khất Gia Minh đã y hẹn đến viếng, sao không chịu hiện thân ra gặp mặt nhau?
Vừa dứt lời, tiếng nói kỳ lạ lại nổi lên rằng:
- Thượng Quan Linh, ngươi hà tất phải đề khí truyền thanh làm gì để đến nỗi hao hơi tổn sức như thế? Vì lối kiến trúc đặc biệt của Cửu U Địa Khuyết đây ngươi chỉ việc nói nhỏ tiếng đến đâu đi nữa, dưới này cũng có thể nghe rõ ràng từng chi tiết nhỏ được...
Thượng Quan Linh cảm thấy người này có vẻ khoác lác nên cố ý cắt ngang tiếng nói của đối phương, tiếp lời rằng:
- Người bạn nào hà tất phải ngông cuồng như thế, ta muốn biết danh tánh của các hạ, tại sao không chịu ra gặp mặt?
Trong tiếng nói không đề tụ đến chân khí để truyền tiếng ấy, quả nhiên đối phương đã nghe rõ, lại nghe tiếng quái lạ trả lời rằng:
- Ta đây là Cửu U Địa Khuyết chủ nhân, vậy vào canh ba đêm nay, trên bãi tha ma Vạn Tính Công Phần, ta sẽ dùng bạch cốt tiếp tân, thanh linh nghênh khách!
Dứt lời, không còn một tiếng động gì khác.
Thượng Quan Linh ngẩn người ngạc nhiên, vừa tính quay thân hỏi Thiểm điện thần khất Gia Minh đã nhẹ xua tay ra dấu, đột nhiên dùng ngay khinh công tuyệt thế của mình, chiếc áo dài đen đã vụt một tiếng, nhấp nhoáng hai lần, người đã vọt ra xa khỏi trên mười trượng!
Thượng Quan Linh lại càng ngẩn người thêm, chỉ còn nước cũng tung mình đuổi theo sau đuôi, hai người lại đi khoảng chừng hơn mười trượng nữa, Thiểm điện thần khất Gia Minh mới ngừng bước lại rằng:
- Cứ theo vừa rồi hiền điệt nói nhỏ như vậy đối phương đã nghe rõ như thế, chắc họ đã bố trí sẵn đâu vào đấy vậy tốt hơn hết chúng mình không nên đứng đó nói chuyện để họ biết trước hết những ý định dự tính của mình thì hỏng việc mất?
Thượng Quan Linh nghe vậy khâm phục Thiểm điện thần khất Gia Minh nghĩ chu đáo, nhưng cũng cau mày rằng:
- Vãn bối từng phân tách kỹ càng giọng nói vừa rồi, không thể nhận ra người ta đã phát tiếng từ phương hướng nào, mà đến cả âm điệu cũng lạ hẳn, dám nói có thể từ trước đến nay chưa bao giờ nghe đến bao giờ? Họ đã tự xưng U mịch thần quân Diêm Nguyên Cảnh, sau khi chia tay ở La Phù Sơn họ không về Cửu U Địa Khuyết nữa sao?
Thiểm điện thần khất Gia Minh cũng không biết giải đáp sao cho trúng, Thượng Quan Linh lại với một thần sắc nghi ngờ chính đáng nói:
- Nếu bảo rằng người ta đã nhân lúc U mịch thần quân Diêm Nguyên Cảnh vắng mặt, để bá chiếm ngôi Cửu U Địa Khuyết này, vậy thử hỏi, sao họ có thể thuộc làu các đường lối bí mật trong đó? Huống hồ đối phương hình như lại còn biết rõ hành tung lai lịch của chúng mình, giọng nói thì hoàn toàn xa lạ hẳn? Quả thật là một vấn đề nghĩ nát óc tìm không ra giải đáp... Thưa lão tiền bối, suốt trong một năm nay chúng mình đã hành đạo ở miền Đông Nam, e chừng trong canh ba đêm nay, không chừng lại bắt gặp Tiếu diện diêm bà Mạnh Tam Nương và Cửu độc thư sinh Cơ Thiên Khuyết tại đây cũng nên!
Thiểm Điện Thần Khất rằng:
- Thượng Quan hiền điệt cũng chẳng cần phải nói khích tôi làm gì! Tôi nào phải kẻ sợ chuyện đâu! Hơn nữa trong suốt gần năm nay chúng mình đã không gặp những địch thủ tương đối cho vừa lòng mình mấy, kể cũng kém vui thật, nay kẻ tự xưng Cửu U Địa Khuyết chủ nhân, tuy chưa thấy mặt, nhưng cứ theo những lối hành sự và bố trí như mình đã được biết, chưa chừng cũng thuộc loại một nhân vật giang hồ xuất sắc gì đây! Tôi đã được Tiêu diêu lão nhân Chung Ly Triết tặng hiệu truyền cờ, còn hiền điệt tuy nhỏ, nhưng danh cũng đã vang lừng trong giang hồ, cuộc hẹn trong canh ba đêm nay tại Cửu U Địa Khuyết thế nào cũng nguy hiểm, chúng mình càng không nên sơ ý chểnh mảng, nên xem coi người tự xưng là tân chủ Cửu U Địa Khuyết có những cách hành động gì đối xử với chúng mình và hội kiến Càn Khôn Ngũ Tuyệt ra sao?
Thượng Quan Linh cũng biết cuộc hội kiến đêm nay chắc kinh hiểm vô ngần, nên cũng không dám quá ỷ y! Đành nghe theo lời của Gia Minh, hai người đi tìm một nhánh cây vừa ý, ngả lưng để nhập định dưỡng sức!
Vào khoảng canh ba, khắp một vùng hoang vu của bãi tha ma Vạn Tính Công Phần, tiếng dế tiếng côn trùng kêu gáy inh ỏi, cảnh sắc thê lương lạnh lùng... Thình lình, chất ánh sáng lân tinh bắt đầu lóe lên như ma trơi, trong đám ánh sáng lân tinh ấy bỗng hiện rõ bốn chữ: Thỉnh nhập cửu khuyết (xin mời vào cửu khuyết) bốn chữ ấy cứ lập lòe ẩn hiện như đom đóm!
Trong lúc hai người đang lần mò tới, Thiểm Điện Thần Khất thấy vậy, mới đưa mắt nhìn sang Thượng Quan Linh, thình lình những chữ ấy quay lên như chong chóng, rồi chậm dần lại giữa hai chữ nhập và cửu của bốn chứ Thỉnh nhập cửu khuyết bắt đầu để lộ ra một cửa tròn ước hai thước, tối và sâu thăm thẳm!
Trong hàm ý này, chẳng cần đoán cũng biết người tự xưng Cửu U Địa Khuyết chủ nhân, đang mời Thiểm điện thần khất Gia Minh và Thượng Quan Linh vào hang động Cửu U Địa Khuyết đây!
Hai người lần mò đi vào, nhưng vừa vào khỏi cửa động, thình lình cửa hang đóng kín lại! Cả hai biết mình đã bị mắc bẫy! Thượng Quan Linh vừa lần đi vừa nói với Gia Minh rằng:
- Thưa lão tiền bối, tiểu bối cứ rờ trên vách này, hễ cách ba bước, lại có bốn năm cái lỗ nhỏ, không biết dùng để làm lỗ thông hơi hay có ngầm mai phục gì đây chăng?
Thiểm điện thần khất Gia Minh trả lời:
- Đường hầm này không nghiêng hẳn về phía dưới như thế, mà mình không cảm thấy ngộp thở, rất có thể đó là những lỗ dùng để thông hơi?
Nhưng Thiểm Điện Thần Khất đã đoán sai, trong đường hầm này, hễ cứ cách năm thước, lại có năm lỗ nhỏ xếp thành hình hoa mai, trong có ngầm chứa độc châm, độc phấn, độc kinh, độc trấp, và độc thích hiệu xưng là Ngũ độc phong sào (ổ ong năm độc), khi được phát động ra, không khác gì đàn ong vỡ tổ, bắn tứ tung khắp phía, phần thì đường hầm ngầm này lại chật hẹp, nên được mệnh danh là con đường Diêm vương lộ, mà cũng chính là con đường ra vào độc nhất của Cửu U Địa Khuyết này!
Trừ phi Cửu U Địa Khuyết chủ nhân có ý mời khách hay tiễn khách về, quả thật không ai có thể vào dễ dàng, càng khó mà thoát ra, bước nguy cơ, hiểm ác vô cùng?
Cũng chẳng biết được bao lâu nữa, trước mắt dần dần hiện ra một cung điện! Quỉ phủ!
Ngay nơi hai trụ của cửa điện và tấm hoành phiến ngang bên trên, Thượng Quan Linh còn nhớ rõ hai câu đối là: Nhược hướng võ lâm cầu tuyệt nghệ, thả lai địa khuyết bái thẩn quân! Và tấm hoành phiến với bốn chữ: Cửu U Địa Khuyết. Nhưng nay câu đối bị thay đổi hẳn mười bốn chữ lớn viết bằng máu người, trông rợn hẳn người! Câu đối thứ nhất được sửa lại rằng:
Cửu U Địa Khuyết qui tân chủ! (Địa khuyết nay thuộc về chủ mới).
Thượng Quan Linh xem xong nhìn Gia Minh mỉm cười quả thật Cửu U Địa Khuyết này không còn do U mịch thần quân Diêm Nguyên Cảnh làm chủ nữa!
Xem xong câu thứ nhất rồi mới quay sang xem câu thứ nhì, bảy chữ này càng tỏ rõ khẩu khí ngang tàng tột bực, nét chữ vừa mạnh vừa đậm màu máu tươi, viết rằng:
Ngũ Tuyệt thanh danh hóa dã yên (thanh danh của Càn Khôn Ngũ Tuyệt nay đã hóa thành mây khói).
Như vậy lẽ đương nhiên là ám chỉ nhóm Tây Đạo Đông Tăng, Nam Bút Bắc Kiếm và Đoạt Hồn Kỳ.
Thiểm điện thần khất Gia Minh sực nhớ đến mấy chữ lân tinh đêm trước được thấy trên lưng người giả dạng xương khô viết rằng:
Nhược kiến Càn Khôn Ngũ Tuyệt, thỉnh lai Vạn Tính Công Phần!
Nay khi không lại có câu Ngũ Tuyệt thanh danh hóa dã yên, không lý trong hơn năm trời không gặp Càn Khôn Ngũ Tuyệt, mấy vị tuyệt thế cao nhân này đã xảy ra chuyện gì rồi chăng?
Đằng Thiểm Điện Thần Khất thì liên miên suy nghĩ về nhân vật Càn Khôn, còn bên Thượng Quan Linh lại nhận rằng vị tân chủ nhân của Cửu U Địa Khuyết, quả là một nhân vật thâm trầm bí hiểm chưa từng thấy!
Đồng thời Thượng Quan Linh thấy đối phương vần cứ ẩn nấp trong bóng tối không chịu xuất đầu lộ diện, như thế bên mình hơi bị thất thế, bèn nghĩ một kế khích tướng với đối phương, mắt ngước nhìn luôn hai câu đối treo nơi hai cột trụ, bỗng phát tiếng cười lên rằng:
- Thưa lão tiền bối, trong hai câu đối này của đối phương rõ ràng là ăn cắp tại trong Hưng bát thủ Đỗ công bộ: Vương hầu đệ trạch giai tân chủ, Văn võ y quan di tích thời (Lầu các bực vương hầu đều thay chủ mới, những quan văn võ khác xưa kia), vậy chúng mình cũng có quyền thay mặt U Mịch Thần Quân sửa chữa mấy chữ trên hai câu đối ngông cuồng của vị Cửu U Địa Khuyết tân chủ nhân!
Nói dứt lời, bước tới trước, dùng chưởng lực xóa hẳn chữ Tân và ba chữ Hóa dã yên trong câu đối Cửu U Địa Khuyết qui tân chủ, Ngũ Tuyệt thanh danh hóa dã yên, xong truyền ngay chân lực vào đầu ngón tay, khảm ngay vào bức đối thành:
Cửu U Địa Khuyết qui nguyên chủ, Ngũ Tuyệt thanh danh thắng tích thời! (Cửu U Địa Khuyết thuộc về chủ cũ, thanh danh Ngũ Tuyệt vẫn hơn xưa).
Quả nhiên lối khích tướng của Thượng Quan Linh đã sinh hiệu lực, nhưng vị tự xưng tân chủ của ngôi cung điện Địa Khuyết vẫn chưa xuất diện. Bỗng một giọng nói không cảm tình vang lên oang oang từ tứ phía rằng:
- Này, Thượng Quan tiểu quỉ đã không biết trời cao đất rộng thì thôi, đừng có vội vàng hớn hở ngông cuồng điên khùng như thế vội. Sự tao kiếp của Diêm Nguyên Cảnh ở núi Võ Di đã chết lạnh xác từ lâu rồi, nay Cửu U Địa Khuyết vĩnh viễn thuộc về tân chủ! Còn về số phận Tây Đạo, Đông Tăng, Nam Bút, Bắc Kiếm và Tiêu diêu lão nhân Chung Ly Triết, hiện đều ở trong đại điện này hết, các người cứ việc đẩy cửa vào mà xem, thì biết ngay thanh danh của Càn Khôn Ngũ Tuyệt còn được như xưa kia không thì biết? Hay đã Hóa dã yên (thành mây khói) cả rồi? Nhưng ta truyền cho biết là phải cẩn thận hết sức, vì sự đến của các ngươi đây chính là do ta mời đến, trong khi ta chưa phát Truy hồn luật lệnh ra, tuy xung quanh cạnh mình các ngươi nguy cơ luôn luôn rình rập có thể xảy ra bất cứ giờ phút nào khi ta thích, nhưng các ngươi muốn ra khỏi nơi đây... hừ hừ... có chắp cánh cũng đừng hòng thoát! Vậy các ngươi hãy chuẩn bị để lại hai bộ da người trên thân các ngươi lại cho ta làm vật trang hoàng cho ngôi cung điện Địa Khuyết này, gọi là chút kỷ niệm mừng cho tân cơ nghiệp của ta!
Mấy lời nói của vị tân chủ nhân Cửu U Địa Khuyết về chuyện Diêm Nguyên Cảnh bị chết khiến cho Thiểm điện thần khất Gia Minh cau mày suy nghĩ, nhưng chuyện đã đến nông nỗi này, có muốn dừng chân cũng không xong. Phần sợ Thượng Quan Linh lại gây rối hỏng việc, bèn lên tiếng ngay:
- Người bạn cứ ẩn trốn như thế đâu phải hành vi của kẻ anh hùng hào kiệt? Vậy cái gọi Truy hồn luật lệnh xin người bạn cứ việc ban sớm ra cho rồi, chúng ta đây đã có gan vào được Cửu U Địa Khuyết lẽ nào lại không có năng lực ra khỏi ngôi Vạn Tính Công Phần này ư? Nếu không chịu ra mặt biểu diễn một vài ngọn tuyệt học trong võ lâm, mà lại muốn tước không hai bộ da của Gia Minh và tiểu hiệp Thượng Quan đây, chẳng hóa ra là nghĩ chuyện mơ hồ lắm sao?
Gia Minh miệng tuy nói vậy, nhưng lòng dạ lúc này cẩn thận vô cùng, không thấy đối phương trả lời, bèn bước đến cửa ngỏ, rút luôn cây Phong ma đồng Đoạt Hồn Kỳ nhắm ngay cửa điện quạt thốc một đường vào!
Cánh cửa trông như đóng chặt, nhưng sau ngọn gió của cây Đoạt Hồn Kỳ tạt tới thì cửa mở tung hẳn, bên trong không có gì mai phục!
Nào hay trong cửa điện bên trong ấy lại còn thêm một cửa nhỏ nữa, trên có 12 chữ viết bằng máu tươi rằng:
Phụng khuyên tri cơ chỉ bộ, nhập thủ tức trụy cửu u (khuyên ai hãy biết mà ngừng bước, vào đây cũng như đi xuống địa ngục).
Thiểm điện thần khất Gia Minh cười lạnh lùng, lại vung cây Đoạt Hồn Kỳ quạt mạnh một luồng gió thứ hai, két một tiếng cánh cửa nhỏ lập tức mở toang ra, nhưng kỳ này sau bức cửa đã có mai phục, thì ra một trăm linh tám ngọn phi đao túy độc dược được cắm thành một vòng trống khoảng hơn thước tròn, phía trên có nút bấm, chỉ cần khẽ đụng tới một cái, lập tức một trăm linh tám mũi dao sẽ bay vọt ra như cơn mưa rào ngay!
Thiểm điện thần khất Gia Minh biết ngay đối phương cố ý thị oai và khảo nghiệm về công lực mình đây bất giác mặt lạnh lùng mỉm một nụ cười nhạt, giơ thẳng luôn cây Phong ma đồng Đoạt Hồn Kỳ thẳng băng về phía trước, thình lình dùng ngay ngọn Túc cốt thần công (thuật co xương lại) vọt bay qua trong khoen phi đao ấy vào tuốt luôn Cửu U Địa Khuyết, tức trong đại điện.
Thượng Quan Linh cũng cất bước theo Gia Minh, cũng dùng Túc cốt thần công bay vèo qua luôn, sau khi hai người vào đến bên trong, đưa mắt nhìn xung quanh, bất giác thần sắc biến đổi hẳn, trong lòng hồi hộp nghi ngờ!
Thì ra trong ngôi cung điện lớn này, chẳng có bàn ghế gì, trên trần chỉ treo lủng lẳng hai ba chục ngọn đèn đầu lâu ghê rợn chiếu khắp ngôi điện!
Tuy giữa không bày biện gì, nhưng trên vách của hướng Tây, Đông, Nam, mỗi mặt đều đính găm lên một bộ da người, còn phía Bắc, tức phía sau của cánh cửa thứ hai mà đằng trước có đề chữ cảnh cáo không nên vào ấy, cũng lại có một bức da người đính găm lên trên, còn giữa thềm đại điện, một ngọn cờ lớn Đoạt Hồn Kỳ bằng đoạn đỏ có vẽ sọ người trắng, ủ rũ cắm ngay trung ương, phía sau ngọn cờ không biết còn vật gì?
Bốn bộ da người bị đính trên vách điện ấy, mỗi vách như thế đều có treo thêm những binh đao kỳ dị, hướng Đông là đôi vòng Long hổ cương hoàn, hướng Tây là cây Trường vĩ vân phất, hướng Nam là cây bút cán đen lông trắng lớn, còn hướng Bắc là thanh kiếm Tam chỉ có đính kèm ba hột minh châu!
Thượng Quan Linh đang cười ngầm trong bụng về lối trò chơi của đối phương sao lại có vẻ ngớ ngẩn thế, thì thình lình mũi ngửi phải một mùi thơm khó chịu, thần trí lập tức xây xẩm hẳn?
May nhờ Thiểm điện thần khất Gia Minh đã đề phòng từ trước là nhét thuốc vào mũi, nay thấy Thượng Quan Linh lảo đảo, vội nhét luôn hai viên thuốc đen vào mũi tiểu hiệp!
Thần trí Thượng Quan Linh lập tức tỉnh lại ngay với thuốc nhét mũi của Gia Minh, cậu ngầm chửi thầm: Cẩu tặc vô sỉ, vai khẽ rùng một cái, toàn thân đã vèo hẳn vào giữa đại điện đưa tay vén hẳn lá cờ đỏ ủ rũ dưới đất lên, miệng bất giác thốt lên một tiếng ý, toàn thân đứng ngẩn người ra!
Thiểm điện thần khất Gia Minh, thấy thần sắc Thượng Quan Linh biến sắc như vậy, cũng vội vàng nhún mình lại xem, thế là cũng chung một số phận với Thượng Quan Linh, nghĩa là cũng đờ hẳn người ra như bị trúng gió! Thì ra là cỗ thi hài của vị Tiêu diêu lão nhân Chung Ly Triết?
Nhưng vị kỳ nhân cơ trí tuyệt luân, võ công cái thế như thế, nay tại sao lại bị thiệt mạng mà ngồi trên một chiếc ghế như vậy?
Nhìn kỹ các phía Đông Nam, Tây Bắc của chiếc ghế gỗ ấy, mỗi hướng nằm, lăn trên mặt đất một người. Gia Minh và Thượng Quan Linh đều hoảng hốt thất kinh, vội tung mình đến rờ, may bốn người này chưa đến nói đứt hơi tuyệt khí, hình như bị trúng độc hôn mê thì phải. Trong lúc hai người loay hoay để lo cứu tỉnh mấy người nằm dưới đất, thì... bên hướng Tây trên treo lủng lẳng tám chiếc đầu người, năm chiếc là của Diêm Nguyên Cảnh và bốn người thủ hạ của U Mịch Thần Quân, một chiếc chính là đầu Phương Bách Xuyên, một nữa là ân sư của Thượng Quan Linh Tạ Đông Dương, còn một chiếc đầu nữa là đầu của Thường Bích Vân mà Thượng Quan Linh đã mến như một người chị. Thấy trên khóe miệng của Bích Vân, cắn chặt một sợi chỉ đỏ bằng tơ. Trong trường hợp vừa kinh vừa đau lòng ấy, Thượng Quan Linh lập tức tối tăm mặt mũi ngất xỉu luôn xuống đất, bất tỉnh nhân sự luôn! Thời gian cũng chẳng biết trôi qua được bao lâu, nhưng sau khi tỉnh lại, chỉ thấy đứng trước mặt mình là vị Nam bút Gia Cát Dật, nhìn kỹ lại thấy Thiểm điện thần khất Gia Minh đã nằm chết bên cạnh, đầu rơi khỏi cổ, kỳ lạ nhất là nơi cổ không thấy một giọt máu!
Gia Cát Dật thấy Thượng Quan Linh ngơ ngác như mất trí bèn lên tiếng rằng:
- À được rồi, cậu đã tỉnh lại đây?
Nói xong lập tức đưa tay nắm ngay tay Thượng Quan Linh, phi thẳng ra Cửu U Địa Khuyết, đẩy ngay mấy tảng đá lớn chèn ngay vào cửa mộ, chôn luôn hẳn các nhân vật từng lừng danh một thời trong võ lâm là: Diêm Nguyên Cảnh, Phương Bách Xuyên, Thường Bích Vân, Gia Minh, Chung Ly Triết v.v...
Thượng Quan Linh quỳ mọp xuống đất khóc rống lên, ngất xỉu đi mấy trận, Nam bút Gia Cát Dật vẫn không nói một lời gì thêm trong tình cảnh bi ai này.
Một lúc khá lâu, Thượng Quan Linh mới hỏi về sự thể xảy ra làm sao?
Gia Cát Dật nói:
- Bốn người chúng ta rơi vào cạm bẫy trúng hơi độc bất tỉnh nhân sự luôn, nhưng may Tây Đạo Đông Tăng Nam Bút Bắc Kiếm đều nằm la liệt dưới đất, cậu cũng bị ngất luôn, người ấy tưởng năm người chúng ta đều tắt thở hết, nên không cần hạ thêm độc thủ cuối cùng, nhưng riêng Thiểm điện thần khất Gia Minh lại bị thiệt mạng. Giờ đây Thiên Si, Phổ Côn, Túy Đầu Đà ba người đã yên ổn rời đi trước rồi!
Thượng Quan Linh vẫn mếu máo rằng:
- Thưa lão tiền bối, kẻ thù không biết là người nào?
Gia Cát Dật thở dài rằng:
- Bây giờ cậu cũng đừng nên nóng lòng hỏi làm gì vội để rối loạn thêm thần trí!
Thượng Quan Linh nghiến răng cắn lợi, hỏi rằng:
- Phải chăng là Cửu độc thư sinh Cơ Thiên Khuyết? Hay Tiếu diện diêm bà Mạnh Tam Nương? Hoặc là Ngọc tiêu lang quân Phan Ngọ?
Mỗi một câu hỏi của Thượng Quan Linh, Nam bút Gia Cát Dật đều lắc đầu phủ nhận, sau cùng mới nói rằng:
- Có thể nói là chúng, nhưng cũng có thể nói không phải là chúng.
Thượng Quan Linh ngạc nhiên, bụng nghĩ thầm:
- Với những thân pháp tuyệt thế như Chung Ly Triết và Diêm Nguyên Cảnh như thế tại sao lại có thể mất mạng một lượt với nhau như thế? Không lý kẻ thù ấy còn ghê gớm hơn mấy lần Cơ Thiên Khuyết hay Mạnh Tam Nương sao?
Gia Cát Dật rằng:
- Sư phụ cậu nay đã qui tiên về trời, chúng ta chỉ có thể mưu kế phục thù sau vậy, và kể từ nay trở đi, ta sẽ thu ngươi làm đệ tử luôn. Còn vụ thảm án rùng rợn trong ngôi địa khuyết, chớ bao giờ nhắc tới làm gì nữa, thời cơ chưa đến mà nếu tin nay bị lộ ra, mình sẽ mất uổng mạng lúc nào không biết. Vậy cậu có thể tuân theo lời ta không?
Thượng Quan Linh đành ngoan ngoãn vâng lệnh, rồi quỳ xuống làm lễ bái sư, miệng xưng hô với Nam Bút rằng:
- Kính thưa sư phụ, nay không biết Thiên Si đạo trưởng đã đi về đâu?
Gia Cát Dật rằng:
- Thời cơ chưa đến, mọi chuyện không thể nói nhiều trong lúc này. Phải nên biết rằng bản lĩnh của kẻ thù, còn giỏi hơn ta gấp mấy lần. Bây giờ mình chỉ còn cách tìm nơi ẩn dật. Việc báo thù không thể hấp tấp hành sự thiếu suy xét được. Và câu thơ Gia tại Thiên Đài Nhai Đãng Gian của ta, từ đây cũng không được nhắc tới nữa. Thầy trò chúng ta phải đưa nhau đi một nơi nào thật xa xăm hẻo lánh, nghĩa là càng xa càng hay. Nhưng ác nỗi giờ đây đi đâu?
Sau khi bóp trán suy nghĩ một lúc, lại rằng:
- Về hẳn Lạc Dương, miền Trung Nguyên ẩn náu tại đó chắc được việc hơn, dù cho tên ma đầu ấy lợi hại đến đâu đi nữa, cũng không thể nào ngờ rằng chúng mình lại có thể ẩn dật tại cố đô Lạc Dương.
Thế là một thầy trò, len lén đưa nhau bí mật về miền Trung Nguyên.
 
0
Hồi 037. Đoạt Hồn Kỳ Tái Hiện Trên Giang Hồ
[/align]

Phía nam Hoàng Hà của miền Trung nguyên, toàn một miền núi non nguy nga hùng vĩ, chùa chiền mọc khắp nơi?
Khí hậu tuy vào tiết mùa xuân, nhưng cảnh sắc không được đậm đà như miền Giang Nam, nhưng cũng không vì thế mà thiếu kém các hoa thơm cỏ lạ của địa phương, ong bướm dập dìu lo hái nhụy xuân.
Một ngôi trang viện được xây cất sừng sững trên ngọn núi hùng vĩ gần đường giao thông nhất, lúc này thỉnh thoảng truyền ra những tiếng hò hét và các tiếng binh đao chém gió vùn vụt, âm thanh rõ mồn một! Ngôi trang viện tuy không được lớn cho lắm, nhưng bề ngoài trông trang nhã vô cùng, nhất là bên ngoài trồng những cây thông và bách cao lớn, càng tăng thêm những nét thanh tịnh và trang nghiêm của ngôi trang viện không lớn không nhỏ này.
Phía trong trang viện, ngay bên trên chánh sảnh, một bức hoành khá lớn treo ngang chính giữa, trên những chữ lớn bằng đấu và được trạm trổ lồi lõm bốn chữ: Trúc Lâm tiểu xá, quả là một tên thanh nhã và khéo đặt chắc đây là nơi ẩn cư của một vị thế ngoại cao nhân nào đây! Nhưng ngay bên phía cửa dưới tấm hoành các Trúc Lâm tiểu xá ấy, ngay nơi sân của đình viện, có một thiếu niên toàn thân võ phục gọn gàng, với cây trường kiếm trong tay, thiếu niên đang tập trung hết tinh thần để luyện tập kiếm pháp. Chỉ thấy kiếm pháp của chàng càng lúc càng lanh, sau chót đã đi đến mức người kiếm hợp nhất, những làn kiếm quang trắng xóa bao quanh thân hình thiếu niên, không khác gì con bạch xà đang bay lượn đùa mồi của mình! Thiếu niên hình như luyện đến mức quá thích của mình, chàng buông tay thả luôn cây trường kiếm bay ra, một làn kiếm quang chói mắt vọt thẳng ra... phập một tiếng, ngọn trường kiếm cắm ngay vào thân cây to hai người ôm, đuôi kiếm rung rinh đẹp mắt lạ!
Thiếu niên mắt sáng như sao, mày hình lưỡi kiếm, tướng mạo anh tuấn bất phàm, tuổi ước 23, đang tuổi niên hoa cầm tú của cuộc đời, văn võ kiêm thông!
Sau khi luyện xong bài kiếm, trên khuôn mặt anh tuấn của thiếu niên hiện ra một màu ửng hồng, càng hiện rõ phong thái hấp dẫn bất phàm của chàng. Thiếu niên mĩm cười, rút kiếm rồi thuận tay uốn cong ngay ngọn trường kiếm như một ngọn tre non, xong thiếu niên lại thả ra bong một tiếng, cây kiếm lại thẳng băng với hình thế cũ của nó, thiếu niên bất giác buột miệng khen lên một tiếng:
- Quả là kiếm quí!
Bỗng nhiên thiếu niên để ý đến những chữ trên đuôi kiếm, chàng lẩm bẩm đọc: Lệ thủy tinh! .. Lệ thủy tinh! Thình lình, đôi má thiếu niên biến hẳn màu ửng hồng, đôi mắt chàng buồn hẳn xuống, hình như có một tâm tư quyến luyến gì đang gieo vào tâm hồn chàng, chỉ nghe thiếu niên khẽ tiếng ngân nga:
Xuân ơi? Xuân hỡi! Xuân chờ muốn ai?...
Thiếu niên chưa ngâm dứt, bỗng trên sảnh có một giọng ồ ồ quái dị bắt chước theo thiếu niên ngâm nga:
Rượu ơi! Rượu hởi! Rượu chờ muốn ta?...
- Thiếu niên nghe vậy, bất giác bật cười lên, và lớn tiếng nói vọng lên trên sảnh rằng:
- Thưa Túy Đầu Đà sư bá, sao ngài chóng thế.
Trên sảnh đường lững thững bước xuống một vị đầu đà một tay bình rượu, một tay đùi thịt chó quay, chưa tới gần nhưng mùi rượu đã nồng sặc lên mùi men.
Chỉ thấy đầu đà ngất ngưởng bước xuống sân sảnh, bình rượu bên tay trái đưa lên ngoạm luôn một miếng ngon lành, khi thấy thiếu niên ngao ngán nhìn mình, bất giác cất tiếng rằng:
- Này Thượng Quan Linh, sao cháu cứ kêu ta là Túy sư bá Túy sư bá hoài như vậy? Thiên hạ đều gọi ta Túy Đầu Đà, ai đâu lại đi kêu rắc rối như cháu vậy? Cứ việc gọi ta là Túy Đầu Đà cho yên chuyện, sư bá sư bốc gì cho thêm lôi thôi!
Thiếu niên được gọi Thượng Quan Linh bèn cười rằng:
- Thưa sư bá...
Túy Đầu Đà vừa giận vừa tức gắt ngay lên rằng:
- Ơ hay cái thằng này! Đã nói thế mà cũng còn to gan gọi ta là sư bá!
Thượng Quan Linh quýnh lên rằng:
- Không xưng hô với ngài thế thì gọi bằng cách gì?
Túy Đầu Đà thấy Thượng Quan Linh cuống lên, bèn vui vẻ nói:
- Này cháu Linh, cháu đã bị thằng tú tài nghèo ấy dạy trái hết phương pháp xử thế ở đời rồi, cần gì phải phép với tắc cho lắm chuyện, thiên hạ đều gọi thầy cháu là Nam Bút tiên sinh, theo ta nên gọi hắn là Loạn Bút tiên sinh mới đúng, suốt ngày chỉ nói chuyện phép với tắc! Đóng bộ mặt nghiêm trang đạo mạo của kẻ nho sĩ, khiến ai thấy cũng phát ghét!
Thượng Quan Linh nghe Đông Tăng nói như vậy bèn cười rằng:
- Chắc ngài lại say rồi đây, để cháu đưa ngài về Tùng Thọ Cư nghỉ nhá!
Đông tăng Túy Đầu Đà quả nhiên đã ngà ngà say, giao ngay bầu rượu và đùi thịt chó dở dang cho Thượng Quan Linh, chân cao chân thấp bước theo chàng thiếu niên về tuốt phía sau viện, vì ngôi nhà ấy nằm phía sau ngôi Trúc Lâm tiểu xá.
Tùng Thọ Cư cũng là một nơi u nhã thanh tịnh, ngoài trừ những vật dụng cần thiết trong một căn nhà ra, trong phòng toàn thấy những bầu rượu lớn bé nằm ngổn ngang khắp trong phòng, những món thịt khô treo lủng lẳng khắp vách. Trông nơi Tùng Thọ Cư không khác nào một quán rượu nho nhỏ!
Thượng Quan Linh tuy là học trò Nam bút Gia Cát Dật, nhưng đối với Tùng Thọ Cư này, không có ngày nào mà chàng tiểu hiệp không ghé chân vào, chỉ vì vị sư bá Túy Đầu Đà này quá thích mê sư điệt của mình, và càng len lén truyền dạy hết những võ nghệ tuyệt kỹ trong đời mình cho chàng, nhất là ngọn Điên Đảo Càn Khôn do chính mình sáng tạo ra, bao nhiêu những bí quyết đều dốc hết truyền dạy cẩn thận cho Thượng Quan Linh.
Túy Đầu Đà sau khi bước vào phòng, lại quay lại lấy bầu rượu và đùi thịt của mình lo nhậu tiếp.
Tu xong một hơi rượu, Túy Đầu Đà lại cười rằng:
- Này cháu, vừa rồi mình cháu đang luyện tập kiếm pháp hào hứng như thế sao bỗng dưng lại như muốn khóc vậy, hay là thầy cháu đã rầy la gì oan ức sao?
Thượng Quan Linh xưa nay biết rõ tính vị sư bá này của mình hơn ai hết, nhất là tính háo rượu, tuy nhiều lúc hào phóng đến tột độ, nhưng lại chưa bao giờ bị say khướt hẳn, nhất là những trường hợp ấy lại tỉnh táo vô cùng. Hơn nữa mến thương mình vô cùng, nay nghe sư bá hỏi vậy, trong lòng càng cảm thấy nao nao, cúi đầu không nói năng gì!
Túy Đầu Đà lại rằng:
- Phải thầy cháu đã mắng ức cháu không? Hãy mách cho sư bá hay! Thế nào sư bá cũng can thiệp cho, ngày mai đây ta sẽ mắng cho hắn biết mặt là đừng có hòng ức hiếp sư điệt ta hoài!... Cháu vui lòng chứ?...
Thượng Quan Linh rằng:
- Thưa sư bá! Sao ngài lại nói... sư phụ đâu có thể vô cớ mắng cháu! Chẳng qua cháu sau khi luyện xong bài kiếm pháp, bỗng nhiên sực nhớ vị ân sư trước kia và cả Chung Ly Triết, và chị Thường Bích Vân...
Túy Đầu Đà cũng ngẩn ngơ rầu rầu, nhưng lại gắt ngay rằng:
- Còn đứng ì ra đấy làm gì? Bộ cháu quên hết những bài học hàng ngày rồi hả? Hãy mau tập luyện ngay ngọn Điên Đảo Càn Khôn cho ta xem!
Thượng Quan Linh bèn vâng lời, và chàng ra nhanh ngay ngoài sân viện nhỏ của Tùng Thọ Cư luyện ngay ngọn võ công bí truyền của Đông tăng Túy Đầu Đà. Những chưởng phong của chàng vung ra, chẳng thấy có gì lạ lùng hay ghê gớm, chỉ thấy thân hình chàng hết nghiêng bên đông lại ngả sang hướng tây, hai chân loạng choạng không khác gì anh chàng say rượu gượng đi, hai tay khi vung ra lúc thu vào, trông lả lướt như bệnh mỏi vươn chân tay cho làn gân cốt, hết chụp bên trái lại bốc sang bên phải, người ngoài trông vào thật chẳng có tí gì gọi là căn bản của võ học cả!
Nhưng chỉ thấy sắc mặt Túy Đầu Đà có vẻ trịnh trọng quan sát cẩn thận từng cử chỉ nhỏ của sư điệt mình, thỉnh thoảng lại gật gù như vừa ý miệng lẩm bẩm rằng:
- Cháu luyện khá lắm! Khá lắm! Như thế mới không uổng công khó nhọc của sư bá truyền dạy, nhưng sau này cháu càng phải chăm luyện gắt thêm nữa, vì sư bá sắp phải xa cháu rồi!
Thượng Quan Linh nghe nói vậy, vội thu ngay thế lại hấp tấp hỏi:
- Thưa sư bá, ngài mới nói gì? Ngài sắp rời khỏi đây sao?
Đông tăng Túy Đầu Đà buồn buồn gật đầu, hình như chính Túy Đầu Đà cũng không muốn rời khỏi sư điệt của mình, lúc này thấy hòa thượng nghiêm nghị, khiến cho Thượng Quan Linh cảm thấy sự thể bất thường, chàng không thể nào chờ đợi, vội hỏi ngay:
- Thưa sư bá, thế ngài tính đi đâu? Liệu còn về đây không?
- Này Thượng Quan Linh, đêm nay ta phải rời khỏi đây, vì ta có chuyện cần giải quyết ở Lạc Thủy, lộ trình không xa, thời gian cũng không lâu, nhưng rất có thể tạm thời ta không thể về nhà, vậy cháu cần phải chịu khó chuyên tập luyện về môn Điên Đảo Càn Khôn!
- Cháu nguyện tuân lời dạy bảo của sư bá! Nhưng ngài nói trong thời gian ngắn không thể về nhà, vậy chừng nào ngài mới về đây?
Túy Đầu Đà trầm ngâm một chặp rằng:
- Ít thì một năm, nhiều thì mười năm, hai mươi năm, hay có thể suốt đời cũng không thể nào về được cũng nên.
Nghe lời nói của Đông tăng Túy hòa thượng như vậy Thượng Quan Linh càng cảm thấy sự việc nghiêm trọng thêm, thường ngày, chàng hay gần gũi với vị sư bá dễ tính này nhiều nhất, nay thình lình ra đi như thế và nghe ông ta còn có thể không bao giờ về đây, trong lòng Thượng Quan Linh bỗng dâng lên một nỗi buồn nao nan trong tâm hồn mình!
Nhìn vẻ mặt của sư bá, rõ ràng là ông ta đang có chuyện quan trọng trong mình, muốn hỏi rõ là vấn đề gì? Nhưng Túy Đầu Đà cứ. lắc đầu không chịu nói.
Trời đã đổ hoàng hôn, Túy Đầu Đà hối thúc chàng về Trúc Lâm tiểu xá, Thượng Quan Linh nghĩ bụng, sư bá đã giấu không cho biết, thì mình đi hỏi sư phụ cũng được. Nghĩ xong chàng cười mình sao lại đần thế! Chàng bèn hấp tấp về ngay tiểu xá.
Về đến nơi, chàng loay hoay đi một hơi hơn mười gian phòng, nhưng không hề thấy sư phụ Nam bút Gia Cát Dật đâu cả, chàng lớn tiếng gọi:
- Sư phụ!... Sư phụ!...
Nhưng, im lặng như tờ.
Nam bút Gia Cát Dật đã rời khỏi Trúc Lâm tiểu xá lâu rồi. Khi chàng về đến phòng mình thì phát giác một lá thư để trên bàn, trong thư viết vỏn vẹn có vài chữ:
Nay ta cùng với sư bá ngươi có chuyện đi Lạc Thủy một chuyến!
Đúng là thủ bút của thầy Gia Cát Dật.
Thượng Quan Linh vội quay nhanh mình chạy đến Tùng Thọ Cư, may Túy hòa thượng còn chưa khởi hành.
Túy Đầu Đà thấy Thượng Quan Linh bèn hỏi ngay:
- Bộ thầy cháu đã đi rồi hả?
Thượng Quan Linh ngạc nhiên gật đầu!
Túy Đầu Đà cuống cả chân tay lên rằng:
- Chết chửa?... Thằng thầy tú sĩ nghèo của cháu đi như thế, ta phải lập tức theo ngay hắn mới được, không thôi hắn lại kỳ kèo trách ta bê tha về rượu để hỏng việc!
Nói xong Túy Đầu Đà vội hấp tấp lo thu xếp, đeo ngay bầu hồ lô rượu bên mình, nhưng khi quay đầu thấy Thượng Quan Linh có vẻ lo lắng, hòa thượng bèn lên tiếng an ủi rằng:
- Cháu cứ việc yên trí, chuyện lớn tầy trời đến đâu có thằng tú sĩ nghèo của cháu và Túy quỉ ta đây đều yên ổn đâu vào đó hết, thế nào cũng đại sự hóa tiểu sự, tiểu sự hóa vô sự ngay. Còn chẳng may có hữu sự Túy quỉ ta gánh chịu một mình hết, thế nào cũng bảo đảm cho vị thầy tú sĩ nghèo của cháu về nhà bình an để cháu vui lòng!
Thượng Quan Linh bèn hỏi ngay rằng:
- Thưa sư bá, thật ra là có chuyện gì vậy? Nếu ngài không nói ra có lẽ cháu ở nhà lo đến chết mất!
Đông tăng Túy Đầu Đà thở dài rầu rầu:
- Chuyến đi này của ta và thầy cháu, có thể nói là vô cùng nguy hiểm, vì nghe đâu trên giang hồ lại bắt đầu xuất hiện tung tích Đoạt Hồn Kỳ!
Thượng Quan Linh nghe nói đến ba chữ Đoạt Hồn Kỳ, chàng hoảng ngẩn người luôn.
Thượng Quan Linh theo thầy là Nam bút Gia Cát Dật về miền Lạc Dương này cốt để ẩn cư học võ, được vài năm thì Đông tăng Túy Đầu Đà cũng đến, nhưng riêng về tin tức của Tây đạo Thiên Si và Bắc kiếm Phổ Côn không làm sao biết được hai người này ở đâu, vì tình nhớ bạn cố giao, Gia Cát Dật và Túy Đầu Đà đã mấy phen lặn lội đi tìm, nhưng đều bặt tăm tín.
Còn về Đoạt Hồn Kỳ vốn có cả thảy: chân, giả, thiện, ác bốn người, đều mặc áo bào đen và đeo mặt nạ da người, ai nấy cũng dùng Phong ma đồng kỳ làm ký hiệu; nhưng sau chiến dịch ở Cửu U Địa Khuyết xảy ra, ba: chân, giả, thiện Đoạt Hồn Kỳ là Chung Ly Triết, Diêm Nguyên Cảnh, Gia Minh, đều bị thiệt mạng tại Vạn Tính Công Phần; chỉ riêng Đoạt Hồn Kỳ ác là Cửu độc thư sinh Cơ Thiên Khuyết là người còn sống sót lại.
Thượng Quan Linh nghe nói Đoạt Hồn Kỳ tái xuất hiện trên giang hồ, vội hỏi ngay phải chăng là Cửu độc thư sinh Cơ Thiên Khuyết tái xuất hiện.
Túy Đầu Đà rằng:
- Xét ra thì hình như không phải! Nghe đâu hình thể của cây cờ đoạt Hồn Kỳ ấy nhỏ lắm, chắc chắn trong này có sự biến đổi bí mật gì đây! Chuyện này lớn lao và quan trọng vô cùng, nghe nói người giữ ngọn cờ này lại là một vị đạo sĩ có cây Trường vĩ phất không biết có phải Thiên Si đó không? Bởi ta với tu sĩ nghèo phải đi thăm thử một chuyến xem sao!
Nói xong, Túy Đầu Đà kiểm điểm lại những vật cần dùng bên người rồi căn dặn Thượng Quan Linh ở nhà nên cẩn thận trông coi trang viện, xong ra khỏi cửa Tùng Thọ Cư, chỉ nhoáng thân một cái đã biến dạng đi luôn. Thượng Quan Linh vội chạy đuổi theo ra, nhưng nào còn thấy sư bá đâu? Chàng thầm nghĩ: khinh công của Túy Đầu Đà tuyệt luân thật, chắc giờ đã xa ngoài mấy dặm rồi, như vậy mình làm sao theo kịp, chàng bèn khóa ngay cửa Tùng Thọ Cư lại, lững thững bước về Trúc Lâm tiểu xá. Khi gần tới Trúc Lâm tiểu xá, bỗng Thượng Quan Linh kinh ngạc phát giác một chuyện lạ, vì ngôi tịnh xá dưới chân núi, ngày thường tĩnh mịch yên lặng vô cùng, giờ đây Thượng Quan Linh đã phát giác có người mò đến Trúc Lâm tiểu xá mà trong lúc này thầy và sư bá đã vắng nhà hẳn!
Võ công của Thượng Quan Linh vốn đã cừ khôi, nhất là sau khi được Nam bút Gia Cát Dật cố công truyền dạy, phần lại được Đông tăng Túy Đầu Đà chỉ điểm từng ly từng tí, võ công quả đã tiến một trời một vực hơn xưa, tai mắt đã không phải loại tai mắt của hạng cao thủ thường, nhờ thính giác mà chàng đã phán đoán ngay có hai người mò vào trang viện cả thảy, và đang đi trong phòng của thầy mình là Nam bút Gia Cát Dật. Thượng Quan Linh rón rén bước tới cứa, tính lên tiếng quát hỏi. Bỗng chàng nghe có tiếng huýt sáo ngay bên cạnh mình, một bóng người dưới nách kẹp ngay một gói đồ, hấp tấp từ trong phòng vọt nhanh ra. Thượng Quan Linh quát lớn một tiếng hiện ngay bản thân ra ngăn chặn lại rằng:
- Kẻ đến là ai? Cớ sao chưa được sự đồng ý mà dám ngang nhiên vào phòng lấy đồ vật như thế!
Người đứng trước mặt trong bóng tối lạnh lùng cười mà không trả lời gì, Thượng Quan Linh nổi giận, tính bước lại xem rõ là nhân vật nào, bỗng cảm thấy phía sau có ngọn kình lực bắn nhanh tới lưng.
Chàng cảm thấy kình lực cổ vẻ hùng hậu, vì quá nhanh và không phòng hờ trước. Thượng Quan Linh đành bị trúng ngay một chưởng bay vọt lên!
Hai kẻ địch, một trước một sau và sẵn sàng phạt chường đón đánh đối thủ, thì toàn thân Thượng Quan Linh còn đang trên không, chàng đã phát ngay chưởng nhắm đánh kẻ vừa đánh lén mình. Tên nọ vội chuyển nhanh thân, dưới chân cũng vội đổi ngay phương vị; trong bóng tối chập chờn, Thượng Quan Linh cũng nhận ra người này đang đưa xéo hai tay lên bộ ngực, và thình lình hắn đẩy mạnh ra! Tiến ngay thẳng về phía chàng. Thượng Quan Linh không dám chểnh mảng, vội tăng thêm ngầm lực, bùng một tiếng, chưởng lực đôi bên gặp nhau, cả hai bên đều bị choáng váng sơ và ai nấy vội nhảy nhanh về sau. Sau khi đụng độ một chưởng, Thượng Quan Linh biết ngay địch thủ không yếu gì, trong lòng chàng bất giác kinh hãi phần nào. Ngay khi ấy, thì tên từ trong phòng vọt ra đứng trong bóng tối lên tiếng rằng:
- Kìa Ngụy Lục? Sao vậy? Bộ không thắng nổi thằng oách này hả?
Tên vừa đụng độ một chưởng với chàng là Ngụy Lục bèn lên tiếng:
- Thằng oách này được theo trong vòng có vài năm với hai lão quỉ sứ ấy, quả thật nó cũng đã học mót được chút đỉnh? Mà này, ngươi còn đứng chờ gì! Hãy mau vác đồ ấy về cho yên?
Tên phát tiếng cười lạnh lùng vừa rồi ấy, lúc này nghe vậy vội tung mình nhảy vọt lên; Thượng Quan Linh thấy dưới nách người này hình như đang kẹp cây đàn cổ Bát long ngân của thầy mình, cây đàn này vốn là vật báu vô giá, được Nam bút Gia Cát quí vô cùng, đâu có thể để họ lấy được! Nghĩ xong bèn tung vèo thân ra chận ngay hai người lại rằng:
- Hãy để nguyên đồ vật lại! Nếu không đừng hòng thoát khỏi đây!
Tên gọi Ngụy Lục bỗng cười lạnh lùng rằng:
- Này? Ranh kia! Bộ muốn giữ hai lão gia này sao?
Thượng Quan Linh nghiễm nhiên rằng:
- Trời vừa đổ tối hai người đã xâm phạm trang viện thì thôi, lại còn cả gan dám vào phòng gia sư để trộm đồ, ta đã phụng mạng thầy là trông giữ nhà cửa, đâu có thể nào để các ngươi lấy đồ một cách ngang ngược như thế được? Vậy hãy ngoan ngoãn để đồ lại và kể rõ căn nguyên ta nghe?
Ngụy Lục khinh khỉnh rằng:
- Thằng ranh con! Chẳng qua ta thấy bộ mặt non choẹt, nên không nỡ đang tay đoạt mạng ngươi, đã không biết phận mà còn ăn nói ngang ngược, liệu có thể ngăn cản hai lão gia này không?
Thượng Quan Linh giận quát rằng:
- Nếu muốn rời khỏi đây, hãy ráng mà thắng nổi tại hạ đây cái đã!
Hai người cười nhạt xong, thình lình một trước một sau ra tay công hãm ngay Thượng Quan Linh.
Chưởng phong ào ào mãnh liệt, kình lực cũng kinh người vô cùng! Hai người âm thầm không nói năng gì, dốc hết toàn lực ra công hãm Thượng Quan Linh.
Chàng bị hai ngọn kình đánh tới tấp liên miên, trong lòng cũng hơi hoảng, nhưng trong bóng tối chập chờn, thấy chàng vèo vèo phạt ra hai luồng kình phong chia đánh hai địch. Hai tên nọ dùng ngay tiếng lóng giang hồ, càng lúc càng ép sát vào gần thân Thượng Quan Linh để cố choảng liều.
Nhưng chỉ thấy Thượng Quan Linh quyền và chường đánh ra ào ào, thì ra chàng đã dùng đến ngọn quyền chường của Nam Bút đã truyền là ngọn Đinh Giáp Khai Sơn, toàn là những kình lực thuộc cương dương, khi sử dụng oai lực quả nhiên bất phàm. Sau hồi công đánh như vũ bão, phía hai người nọ cảm thấy lần lần đuối sức, đến lúc chống đỡ cũng cảm thấy lúng túng, và cảnh hiểm nghèo đã diễn ra xung quanh!
Trong số hai người lúng túng ấy, bấn người nhất có lẽ là tên đang ôm đàn Bát long ngân. Thế là hắn nhảy nhanh ra ngoài vòng chiến, bỏ ngay chiếc đàn cổ xuống đất, khẽ hừ một tiếng rồi lại vung bừa chưởng đánh thốc vào trận.
Tên Ngụy Lục thình lình nhanh tay, soạt một tiếng rút ngay cây trường kiếm bên mình ra, vì lúc này không dám coi thường Thượng Quan Linh, vung nhanh kiếm đâm tới, tên phía trước cũng đồng ra đòn đánh áp liều vào trong cảnh chập chờn nhoang nhoáng, ánh kiếm và chưởng phong dồn dập áp tới!
Thượng Quan Linh thấy binh đao đối phương đã lộ nhưng chàng không kịp rút binh khí, vẫn phải dùng chưởng Đinh Giáp Khai Sơn đánh bạt mạng, thình lình ào một tiếng đánh bật ngay tên địch trước mặt. Tên nọ bị trúng một chưởng, không làm sao đứng vững lập tức bị tạt vèo, ngay trên bốn bước. Ngay trong lúc đó luồng kiếm của Ngụy Lục đã đưa sát vào, chỉ thấy Thượng Quan Linh lúc này đang bị trống trải, không còn cách gì né tránh, Ngụy Lục mừng thầm trong bụng, nhưng chợt Thượng Quan Linh biến đổi thình lình, thoát khỏi ngay luồng kiếm của đối phương. Thấy địch thủ ngẩn người ngạc nhiên, Thượng Quan Linh thích ý trong bụng, nghĩ rằng tên này làm sao bì nổi võ công của sư bá mình là ngọn Điên Đảo Càn Khôn! Dù cho nguy đến mười mươi đi nữa, vẫn có thể né tránh ung dung như thường?
Nhưng hai tên địch nọ không vì vậy chịu thua, chỉ nghe tên Ngụy Lục rằng:
- Này Phổ Kiên! Tên này cao tay lắm! Theo tôi anh nên ra tay ngay cho rồi!
Thượng Quan Linh nghe vậy, giật mình thất kinh. Vì Phổ Kiên là con trai duy nhất của Bắc kiếm Phổ Côn, bởi Phổ Côn tự xưng Thiên Hạ Đệ Nhất Kiếm còn người con Phổ Kiên thì xưng Thiên Hạ Đệ Nhị Kiếm, tuy nhiên danh không phù hợp với thực tí nào, kiêu căng khí phách! Nhưng về kiếm pháp cũng quả có chút thực tài chân học. Thượng Quan Linh cũng từng gặp mặt qua vài lần, nhất là vụ Trường Sinh Đảo xưa kia, nay vì trong cơn tối tăm chập chờn, nên nhận không rõ diện mạo của đối thủ, nào ngờ y chính là con trai của Bắc Kiếm.
Thượng Quan Linh nghĩ thầm: Đông Tăng, Tây Đạo Nam Bút, Bắc Kiếm, Đoạt Hồn Kỳ, năm vị xưng Càn Khôn Ngũ Tuyệt này, xưa kia tuy có so tài tương tranh ngôi thứ nhưng sau này liên kết hẳn thành một nhóm, cộng đồng để đối phó với các cao thủ của tà phái trong võ lâm. Trong mấy năm trời gần đây, Thiên Si đạo trưởng và Bắc kiếm Phổ Côn không biết ẩn dạt vào phương nào, khiến nỗi Gia Cát Dật và Túy hòa thượng luôn luôn nhớ bạn cố tri, nay bỗng Phổ Kiên thình lình xuất hiện, vậy có thể hỏi ngay đến tung tích của Bắc kiếm Phổ Côn. Nghĩ vậy chàng bèn lên tiếng rằng:
- Phổ huynh? Tiểu đệ là Thượng Quan Linh đây!..
Phổ Kiên quát rằng:
- Thượng Quan Linh thì sao?
Thượng Quan Linh kinh ngạc thêm: không lý hắn biết rõ đây là nơi cư ngụ của ân sư Nam Bút mà vẫn ngang nhiên đến mưu đồ chuyện gì chăng?
Ngay trong lúc Thượng Quan Linh còn đang mãi suy nghĩ thì Phổ Kiên đã rút phắt kiếm và cùng nhau phối hợp với tên Ngụy Lục, sự phối hợp của hai người quả nhiên vừa khéo và nhanh!
Chớp mắt Thượng Quan Linh cảm ngay hai luồng kiếm đang phong tỏa hết hai mặt trước sau mình, chỉ nhoáng mắt đường kiếm đã kín mít!
Thượng Quan Linh biết ngay nếu mình hoang mang mất bình tĩnh trong lúc này, không mất mạng thì cũng bị thương, và không thể nào thoát khỏi hai luồng kiếm đang vây kín mít ấy, chàng vội thu hết tâm thần của mình, hai tay lia lịa phát chưởng, dưới chân đổi bộ như mây bay, chớp mắt chàng đã biến đổi thân hình, trông không khác nào như bẻ liễu tung hoa, từ trong hai luồng kiếm mạnh ác của Phổ Kiên và Ngụy Lục vọt bung người ra, rồi nhẹ nhàng lướt xuống một bên cạnh.
Tên Ngụy Lục thấy Thượng Quan Linh thoát khỏi nhẹ nhàng như thế, hắn khẽ hét một tiếng lại ào ngay vào vung kiếm đánh thốc? Thượng Quan Linh buông tiếng cười, chàng đẩy ngay ra một chưởng, nhưng thấy Phổ Kiên bỗng đã tiến sát gần, mũi kiếm đã tiến sát gần, mũi kiếm đang tỏa ra những tia ánh chớp nhoáng.
Soạt! Soạt! Soạt liên tiếp đánh ra ba ngọn vừa nhanh vừa lợi hại? Thượng Quan Linh bỗng trở nên lúng túng.
Ngụy Lục đứng cạnh khen tuyệt, thình lình Phổ Kiên lại biến nhanh thế đánh, chỉ thấy đường kiếm của Phổ Kiên càng lúc như sấm sét, cuồn cuộn vang ra những tiếng phong lôi thanh của nó!
Thượng Quan Linh vẫn đang tay không chống trả, chàng biết nếu mình cứ dùng tay sử dụng Đinh Giáp Khai Sơn tiếp đòn, thế nào cũng không bằng lối đánh nhanh của đối thủ, chàng bèn đổi sang ngọn Điên Đảo Càn Khôn của Đông Tăng đã truyền ra né tránh và lo tự vệ lấy thân.
Nhưng Phổ Kiên đâu chịu để yên, thình lình vọt bổng mình lên, cây trường kiếm vẽ lên một đường kiếm hoa, và lại từ trên nhắm ngay thiên linh cái của Thượng Quan Linh phạt nhanh xuống! Chỉ thấy kiếm quang tua tủa, trông như có mấy chục ngọn kiếm đang bửa xuống!
Kiếm pháp của con trai Bắc kiếm Phổ Côn quả cũng lợi hại thật!
Thượng Quan Linh thất kinh, chàng sực nhớ đến cây kiếm bên người mình, vọt tung mình nhảy vọt và soạt một tiếng, rút ngay cây cổ kiếm lâu đời Lệ thủy tinh kiếm!
Lúc đó thế kiếm của Phổ Kiên đang như cây quay tít tỏa xuống, Thượng Quan Linh không còn do dự, sau khi rút được trường kiếm của mình ra, vung ngược ngay lên chống đỡ! Nhưng chỉ nghe đến cách một tiếng dòn gọn, mũi kiếm của Phổ Kiên đã bị gãy làm hai, thế là luồng kiếm quang trên không bỗng biến mất hẳn!
Từ trên lưng chừng, Phổ Kiên vội vèo nhanh ra hơn trượng đứng xuống đất.
Thượng Quan Linh tay xách kiếm, trong lòng kinh mừng vô cùng, chàng ngẩn người ra tại trận!
Ngụy Lục vội chạy sang phía Phổ Kiên lên tiếng:
- Phổ Kiên? Sao có bị thương gì không?
Phổ Kiên trả lời với giọng ức thẹn rằng:
- Không sao? Nhưng thằng ranh này có cây bảo kiếm trong tay, nên đã phạt gãy binh khí của ta!... Thôi Ngụy Lục, chúng ta rời khỏi đây về ngay đi... còn chuyện kia để nói với Bát Bối Na Tra đến lấy vậy!
Ngụy Lục hậm hực rằng:
- Thôi thì làm phúc cho thằng ranh một chuyến vậy!
Nhưng hắn không dám lên thử với Thượng Quan Linh, trong cảnh chập chờn vừa tối vừa sáng ấy, Thượng Quan Linh chỉ nhìn thấy hai đôi mắt giận hờn của đối phương ngó mình một chập, rồi lập tức tung mình vọt đi trong bóng tối của đêm trường luôn.
Thượng Quan Linh thấy chúng đi cũng chẳng buồn đuổi theo, vội nhặt ngay gói dài thon dưới đất về ngay Trúc Lâm tiểu xá, cẩn thận xem xét cửa ngõ đâu vào đấy chàng vội ăn uống qua loa! Xong về ngay phòng thầy mình là Nam Bút để canh giữ, chàng mở ngay khăn gói thon dài ấy, quả nhiên là cây đàn quí Bát long ngân của thầy, may mà chưa bị Ngụy Lục trộm đi?
Thượng Quan Linh lúc này ngồi suy nghĩ: môn Đinh Giáp Khai Sơn của thầy và môn Điên Đảo Càn Khôn của sư bá truyền cho, đêm nay mình đã sử dụng hết ra, nhưng sau cùng vẫn nhờ công cây kiếm Lệ thủy tinh cứu mạng, nếu không làm gì dọa nổi tên Phổ Kiên ấy bỏ chạy! Nghe thầy từng nói: Bắc kiếm Phổ Côn từng sáng lập ra một bộ kiếm pháp được mệnh danh là Hoa cái kiếm pháp, xét ra thì chính Bắc kiếm Phổ Côn đã trực tiếp trong vụ này? Tại sao đêm hôm nay lại trộm cổ cầm Bát long ngân? May mà vật chưa bị mất và trong tiểu xá cũng chưa bị suy suyển gì, trong lòng cũng đỡ lo, dần dà Thượng Quan Linh cảm thấy mệt mỏi vì trong trận đấu vừa rồi đã khiến hao tâm thần không ít!
Chàng đang tính đi ngủ, bỗng chợt nhớ lời của Phổ Kiên nói với Ngụy Lục trong lúc vừa rồi là sẽ sai tên Bát Bối Na Tra nào để lấy chiếc đàn cổ này, vậy chắc chắn thế nào tên Bát Bối Na Tra ấy công lực phải cao cường hơn Phổ Kiên và Ngụy Lục. Thượng Quan Linh không dám lơ đãng, chàng cẩn thận dắt cây Lệ thủy tinh kiếm bên người, còn Bát long ngân để ngay trên bàn, mắt thao láo ngồi ngay đó canh chừng địch thủ lại?
Đêm cứ thế khuya dần, Thượng Quan Linh cảm thấy mình hơi buồn ngủ, bụng nghĩ sao mình không gảy thử cây đàn cổ này cho vui tai đỡ buồn ngủ!
Thường ngày chàng cũng thấy lối đánh đàn của thầy Nam bút Gia Cát Dật, giờ chàng cũng bắt chước theo phương pháp của sư phụ, rửa sạch tay thắp nhang xong ngồi tĩnh dưỡng tân thần một lúc, rồi mới từ từ bấm vào phím gảy đàn. Cây đàn Bát long ngân trông rất cổ và nhã, được chia làm tám huyền, trên mặt đàn khắc toàn chữ cổ xưa, không rõ là thuộc về thời đại nào.
Nam bút Gia Cát Dật cũng từng dạy Thượng Quan Linh đánh đàn, nhưng chỉ dạy lối đánh thông thường trong vài huyền cầm mà thôi; và cây đàn này luôn luôn được treo trong phòng của Nam bút Gia Cát Dật thường quí trọng cổ vật này lắm.
Thượng Quan Linh nhớ: khi nào thầy cao hứng vui vẻ trong mình, người trịnh trọng rửa tay thắp nhang xong mới chơi, và những âm thanh phát ra tuyệt diệu vô ngần, tiếng đàn có lúc như kim quan thiết mã sát phạt nhau trong trận mạc, có khi lại tựa như những tiếng u oán liên miên bất tuyệt, và những lúc ấy thường khiến cho Thượng Quan Linh trong lòng rạo rực bồi hồi vô cùng, thật quả là những tiếng đàn tuyệt diệu khiến kẻ nghe phải đê mê ngây ngất như lạc vào một thế giới âm thanh kỳ diệu ngoài trần gian!
Nhưng lúc này Thượng Quan Linh gảy đàn thì hình như chàng đã quên mất sự có mặt của mình trong lúc này, chàng đưa tâm hồn mình hòa chung các dây huyền của cây đàn cổ Bát long ngân, những âm điệu như cảnh cao sơn lưu thủy đã thánh thót như đưa tâm thần chàng thiếu niên vào một cảnh giới thần kỳ tuyệt độ
Thượng Quan Linh không ngờ mình cũng đàn ra những tiếng đàn thánh thót như thế, trong lòng mừng vô kể, những huyền trên đàn cổ, chàng động đến hết bảy dây, ngoài bảy dây đàn này ra, còn có một dây thứ tám nằm phía trên đàn, riêng sợi này thì vừa lớn vừa nặng. Bỗng chàng sực nhớ, cây đàn sở dĩ được mệnh danh là Bát long ngân, chắc có lẽ khác với các loại đàn thường là có thêm dây thứ tám này đây, xưa nay chính Thượng Quan Linh cũng chưa thấy thầy mình đàn đến chiếc dây thứ tám này này bao giờ, chàng lại nổi tính háo kỳ của mình, thuận tay kéo ngay sợi dây đàn thứ tám ấy.
Sau tiếng “Bung” vang lên, đồng thời một tiếng hét thất thanh từ ngay cửa sổ truyền ngay vào phòng Thượng Quan Linh, chàng thất kinh vội vàng đứng dậy, nhảy bung ra ngoài, thấy bên ngoài cửa sổ có một người nằm lăn ra mặt đất, và đang quằn quại, chàng vội chạy lại bồi cho một đá, tóm cổ đưa vào trong phòng.
Dưới ánh đèn, chàng nhìn rõ người này lối tam tuần, một bộ mặt ngựa gầy tóp, hai mắt đầy ánh xảo quyệt. Trong lúc Thượng Quan Linh bắt đem vào nhà, chàng đã điểm ngay vào huyệt tê buốt của người này, hắn muốn nhân cơ hội này giả bộ bị thương nặng, không hề nhúc nhích gì, nhưng nào Thượng Quan Linh nào phải tay vừa, chàng nhận ngay ra đôi mắt trân tráo có vẻ đang quan sát hành động của mình. Chàng nghĩ: không chừng người này là Bát Bối Na Tra đây, Thượng Quan Linh nhận thấy tên này võ công hình như còn tệ hơn Ngụy Lục là khác, chàng bèn đi kiếm ngay hai sợi dây bằng gân trói luôn người này vào ghế, xong mới giải huyệt cho hắn để xét hỏi nguyên do.
Nhưng tên này vẫn vờ như bị hôn mê, Thượng Quan Linh thấy vậy chỉ cười thầm trong bụng, và chàng cố ý dọa cho tên này một mẻ, bèn từ từ rút cây trường kiếm Lệ thủy tinh ra khỏi vỏ, thủng thỉnh lên tiếng nói rằng:
- Tên gian này nửa đêm mò đến trang viện, chẳng cần xét cũng biết là quân gian rồi, nay tay cứ việc xẻo bớt hai tai của y để nhẹ trừng tội đột nhập trang viện vô duyên cớ của y!
Nói xong chàng dí gần cây Lệ thủy kiếm sát đến tai người này, tên nọ tái mặt cuống lên van xin:
- Xin công tử tha mạng? Xin công tử tha chết?...
Thượng Quan Linh cười thầm trong bụng, nhưng cây cổ kiếm của chàng cũng vụt một tiếng xoẹt ngang tai của đối phương, chỉ thấy một mớ tóc vụn đã bay lên, tên nọ da gà nổi cùng mình!
Thượng Quan Linh thấy hắn run như gà cắt tiết càng bực mình, chàng thu ngay kiếm và lên tiếng quát:
- Ngươi là ai? Tới đây tính việc gì? Mau khai thật hết! Nếu có câu nào man trá, thiếu gia sẽ đưa hồn ngươi xuống âm phủ để khai thật với vua Diêm vương!
Nói xong Thượng Quan Linh lại dùng kiếm nhoáng vù một cái qua mặt tên nọ.
Tên này như biết lợi hại của Thượng Quan Linh, hắn lập tức run giọng trả lời:
- Tôi khai! Tôi khai! Xin công tử chớ ra tay giết tôi vội!
Rồi như cố trấn tĩnh cơn khủng hoảng trước mắt, hắn lấy giọng lại nhìn Thượng Quan Linh chăm chú khai rằng:
- Tiểu nhân Hoàng Phúc, thiên hạ gọi là Bát Bối Na Tra . . .
Thượng Quan Linh lại quát ngay:
- Hừ!... Bát Bối Na Tra, có phải người muốn lại lấy trộm chiếc đàn Bát long ngân này không? Còn Đông Tăng Nam Bút bây giờ ở đâu?
Tiểu hiệp sĩ Thượng Quan Linh điên tiết, dùng roi quất tóe đom đóm, hắn càng không nói, chàng dùng kiếm dọa, hắn cũng chẳng sợ, và còn bô bô rằng:
- Công tử có giết tôi cũng không ích gì, chẳng ai đưa công tử đến nơi hai vị ấy bị nạn được!
Thượng Quan Linh lại rằng:
- Bắc kiếm Phổ Côn hiện nay ở đâu?
Hoàng Phúc ngước mặt cười rằng:
- Bắc kiếm Phổ Côn, Tây đạo Thiên Si và cả đến nhân gian dị bảo là chiếc Tiểu Đoạt Hồn Kỳ, hiện nay đều xuất hiện tại Lạc Thủy hết với nhau một lượt, và chính Đông Tăng Nam Bút lo đến đó cũng là chuyện này!
Thượng Quan Linh thay đổi ngay thái độ tươi tỉnh rằng:
- Ngươi nói gì lạ lùng vậy?
Hoàng Phúc lại giở ngay bộ mặt tai họa tùy thiên liệu ra câm miệng như hến.
Thượng Quan Linh suy nghĩ liên miên trong lòng, không chừng tên Hoàng Phúc này nói trúng thật vì thường ngày chàng nghe Đông Tăng nói chuyện với thầy mình, mỗi lần chuyện trò đều như ẩn hiện không hòa với Bắc kiếm Phổ Côn, hình như sự chia tay của bốn người đã có một ẩn tình bí mật gì, con của Bắc kiếm Phổ Côn đã tính lại trộm cây đàn cổ Bát long ngân trong này chắc phải có nguyên nhân gì, chưa chừng Bắc kiếm Phổ Côn đã trở mặt với sư bá và sư phụ mình cũng nên? Và sự xuất hiện trong giang hồ kỳ này lại dùng đến chiếc cờ Tiểu Đoạt Hồn Kỳ làm mồi nhử để cài sẵn cạm bẫy tại Lạc Thủy để bắt hai người?
Thượng Quan Linh càng nghĩ càng cho có lý, chàng bảo bụng: nếu chuyện này có thật, mình đâu có thể im khoanh tay mà không cứu? Dù cho là châu chấu đá xe đi nữa, nhưng cũng phải đi ngay đến Lạc Thủy, rồi tùy cơ ứng cứu sư bá và sư phụ.
Thượng Quan Linh còn đang mải do dự bất quyết trong lòng, Bát Bối Na Tra đã nhận ngay ra và lên tiếng rằng:
- Tiểu nhân biết hiện họ đang ở nơi đâu tại Lạc Thủy. Nếu công tử cần, tiểu nhân xin làm người hướng đạo!
 
0
Hồi 038. Bát Long Ngân Bị Trộm
[/align]



Thượng Quan Linh lại băn khoăn suy nghĩ, không biết Bát bối na tra Hoàng Phúc này có nói láo với mình không, nhưng chợt nghĩ: nếu hắn muốn lừa mình, nguyên do chính chẳng qua là sợ chết, hơn nữa mình lại đang cố tình theo dõi từng thái độ nhỏ nhen của hắn, dù sao hắn cũng không dám đùa với tử thần như thế, nếu mình phát giác một chút nghi ngờ gì, cứ đoạt ngay mạng hắn là yên! Nhưng chàng lại nghĩ lệnh nghiêm của thầy dặn phải giữ trang viện cho cẩn thận, nay mình dám trái lời thầy sao?
Nhưng chàng lại lập tức tự tìm lời biện hộ cho mình, cứ xem tình trạng này, có đến tám chín phần mười là sư bá và sư phụ đã gặp nguy tại Lạc Thủy rồi, mình đâu có thể ngồi im không cứu, dù là võ công mình không tới đâu, mình cũng có thể âm thầm điều tra, rồi tìm cách cứu sau! Tâm trạng của Thượng Quan Linh lúc này mâu thuẫn vô cùng, chàng không sao quyết định được nên đi hay không! Nhưng rút cục, tuổi thiếu niên đã xúi chàng mở cuộc mạo hiểm?
Chàng hấp tấp thu thập những hành lý, khi liếc mắt nhìn thấy cây đàn Bát long ngân trên bàn, chàng vội thu cất vào hộp, nghĩ bụng nếu để lại trong nhà chắc không yên ổn, chẳng thà mang nó theo bên mình có lẽ chắc chắn hơn nhiều. Thế là chàng tiểu anh hùng một tay đàn một tay kiếm, uy hiếp Hoàng Phúc đưa đường chỉ lối đi Lạc Thủy.
Hai ngày sau, Thượng Quan Linh và Bát bối na tra Hoàng Phúc đã đến nơi Lạc Thủy. Suốt trên những quan lộ ở đây, xe ngựa đầy đường, dập dìu các giai nhân và vương tôn công tử, các đại thương gia, người ngồi kiệu, kẻ cưỡi ngựa, người đi xe, nhạc ngựa nhong nhong, kiệu nhún cút kít, thiên hạ cười nói huyên thiên, cả một cảnh phồn thịnh phố phường hiện ra trước mắt Thượng Quan Linh, chàng càng đâm mê mẩn thêm cảnh sắc phong thổ nhân tình của miền Trung Nguyên, lòng chàng thiếu niên rạo rực yêu đời, yêu cảnh thiên nhiên...
Gia Cát Dật không những võ học tinh tuyệt, mà còn đầy bụng chữ nghĩa, về văn học có thể nói là lướt trội hơn hết trong Càn Khôn Tứ Tuyệt, nhờ đó mà Thượng Quan Linh cũng tiêm nhiễm ít nhiều văn học căn bản. Đối với thi từ hàn mạc, cầm kỳ thư họa không gì là chàng không nghiên cứu tới, lúc này thấy cảnh sắc nên thơ của miền Lạc Thủy (con sông lớn ở tỉnh Hà Nam), Thượng Quan Linh bất giác sực nhớ xưa kia trong truyện Tam Quốc, có một câu chuyện tình rất hấp dẫn giữa Tào Tử Kiến và chị dâu Nhân Thị. Nhân Thị vốn tuyệt sắc giai nhân, kinh tài cái thế nhưng trớ trêu thay lại lấy phải anh chồng Tào Phi chẳng biết phong tình là gì, khiến xảy ra vụ bi kịch thúc tẩu tương luyến (em chồng và chị dâu yêu nhau): sau Nhân Thị nuốt cám mà chết nhưng dung mạo tuyệt sắc của nàng sống lại dưới ngòi bút linh động của Tào Tử Kiến, mà chính kẻ đa tình như Tào Thực đã miêu tả nàng Nhân Thị thành Lạc Thủy chi thần, biết đi mây về gió, áo tím phất phơ như nàng tiên lướt trên mặt sông Lạc Thủy.
Lạc Thủy chi thần chẳng qua là một câu chuyện tình được Tào Tử Kiến viết thành thần thoại hóa, nhưng cũng vì thế mà làm điên đảo các chàng đa tình của hậu thế, khiến cho những ai có dịp đến Lạc Thủy, ít nhiều gì không khỏi tưởng nhớ đến một trang nhân tuyệt sắc đa tài mạng bạc như vôi của Lạc Thủy chi thần.
Thượng Quan Linh nếu không bận chuyện gấp bên mình, quả thật chàng cũng muốn thuê ngay chiếc thuyền nhỏ, lướt thả trên ngọn sóng nên thơ của con sông Lạc Thủy, và sẽ trút hết tâm tình của mình vào phím đàn Bát long ngân, thử xem âm điệu mình gửi trong cổ cầm ấy có thể xao xuyến những loài thủy tộc (tôm cua tép) khiến cho ngư long trầm vũ không? Cũng ngay trong lúc tâm tình Thượng Quan Linh đang miên miết về cảnh sắc tình tứ của Lạc Thủy ấy, thì trong đêm đó chàng suýt gặp họa lớn vào mình.
Chàng Thượng Quan Linh lúc nào cũng cẩn thận đề phòng luôn luôn canh chừng tên Bát bối na tra Hoàng Phúc, chỉ sợ hắn nhân cơ hội đào tẩu mất, tối đến trước khi đi ngủ , chàng cẩn thận trói ghì Hoàng Phúc lại, sau đó mới yên tâm ngủ .
Sau khi hai người đến Lạc Thủy, Bát Bối Na Tra ra ý kiến là ngày mai sẽ đưa chàng đi tìm mấy vị Càn Khôn: Đông Tăng và Nam Bút, theo lời hắn nói thì nơi đó vắng vẻ lắm, đó là một ngôi miếu hoang trên miền thượng lưu của con sông, tên gọi Hắc Hổ Miếu.
Thượng Quan Linh muốn ngày mai có tinh thần để đối phó với mọi việc sẽ xảy đến, nên tối nay chàng ngủ sớm hơn thường lệ, lẽ đương nhiên là chàng đã cẩn thận trói kỹ Bát Bối Na Tra, mặc cho Hoàng Phúc có van xin đến khô cổ cũng bằng thừa.
Nhưng đến nửa đêm, trong cơn mơ màng giấc điệp cánh cửa sổ trong phòng bỗng không gió mà mở. Trước mắt nhoáng lên một ánh sáng, Thượng Quan Linh biết ngay có chuyện chẳng lành, tức tốc từ trên giường, đẩy ra hai chưởng và hai chân đá thốc nhanh ra, đồng thời lăn nhanh mình xuống đất. Nhưng nghe tiếng khẽ rên bên cạnh, đồng thời một bóng đen vọt nhanh luôn ra ngoài. Thượng Quan Linh định thần nhìn kỹ, trong phòng đã trống trơn, cây đàn cổ Bát long ngân và tên Bát Bối Na Tra đã biến tích, chàng vội rờ nhanh bên mình, may mà cây cổ kiếm hãy còn, vội tung mình ra đuổi theo. Nhưng chàng chỉ thấy tên
Hoàng Phúc đang ôm đàn chạy bạt mạng, khoảng cách có trên mười trượng, thấy hắn tung mình lên mái nhà lao đi vùn vụt, Thượng Quan Linh hấp tấp đuổi theo sau, chẳng mấy chốc đã đến bờ sông Lạc Thủy, nhưng chỉ thấy Hoàng Phúc ôm đàn chạy chí mạng về hướng thượng lưu của con sông, thân hình nhanh không khác gì như một sao băng. Cuộc rượt bắt mỗi lúc xa dần.
Thượng Quan Linh bây giờ mới tự trách mình quá lơ đãng và chính bây giờ chàng mới biết danh của Bát bối na tra Hoàng Phúc quả đã xứng với hiệu này lắm, chỉ nội về ngọn khinh công xuyên hộ (vượt mái nhà) đã thuộc vào hạng cao thủ hiếm thấy trong võ lâm rồi.
Chàng tự biết mình không sao đuổi kịp, chỉ còn nước lủi thủi quay về nhà nghĩ rồi liệu bề tính sau.
Lúc này Thượng Quan Linh mới nghĩ rằng: suốt dọc đường đến Lạc Thủy, không phải là Hoàng Phúc không muốn thoát thân, chẳng qua vì hắn còn chưa chiếm được cây đàn Bát long ngân đó thôi, nhưng may phước là mình còn kịp tỉnh nhanh, ánh sáng nhoáng lên trong lúc mình ngủ ấy, chắc sau khi đã lấy cây đàn hắn còn động lòng tham tính trộm luôn ngọn kiếm Lệ thủy tinh? Vừa rút ra, hào quang của bảo kiếm đã nhoà lên ánh sáng, mình kinh động thức giấc, và hắn thừa biết không phải địch thủ của mình, nên mới hấp tấp ôm cây đàn đào tẩu. Chàng lại nghĩ nếu hắn to gan ra tay hành thích mình, chẳng hóa ra mình bị chết một cách vô lý làm sao? Tuy Thượng Quan Linh đã thoát mạng, nhưng chàng vô cùng bực bội.
Sáng ngày hôm sau, Thượng Quan Linh nghĩ mãi không được một kế gì, đàn mất mà cả người dẫn đường cũng mất, mình thì lạ đường lạ lối, quả thật là tiến thoái lưỡng nan. Chàng băn khoăn mãi đến trưa, sau cùng quyết định là mạo hiểm, vì chàng từng nghe Hoàng Phúc nói đến Hắc Hổ Miếu, bèn kêu ngay chủ quán trọ hỏi thăm.
Chủ quán ngạc nhiên nhưng cũng ân cần rằng:
- Công tử hỏi ngôi miếu ấy làm gì vậy?... Ngôi miếu này nằm về phía tả ngạn của con sông Lạc Thủy này, đi ngược dòng lối trên mười dặm đường thì tới; xưa kia ngôi miếu này hương hỏa thịnh lắm, nhưng mấy năm gần đây đã trở nên ngôi miếu hoang phế, không người tu sửa đến, cũng vì thế mà hương hỏa tuyệt luân và nghiễm nhiên trở thành ngôi miếu hoang, nghe đâu thỉnh thoảng còn có ma quỉ xuất hiện là khác. Vậy không biết công tử hỏi nó để làm gì?...
Thượng Quan Linh trả lời qua loa không đâu vào đâu. Trong bụng chàng nghĩ thầm, nếu nói vậy quả đúng với lời của Bát Bối Na Tra phần nào, chàng quyết định đến chiều tối sẽ thám hiểm một chuyến xem sao!
Tối đến, Thượng Quan Linh bèn chuẩn bị những vật dụng dạ hành, âm thầm ngược dòng sông tiến bước, chàng đi ước được gần mười dặm, bỗng thấy một lùm cây rậm rạp phía trước và lộ hẳn ra một góc tường, chàng mạnh bạo tiến thẳng vào khu lùm cây, trong này quả là có một ngôi miếu, dưới ánh chập choạng của cảnh tối, chàng thấy cửa miếu đóng chặt, màng nhện chăng đầy các góc, chàng ngửng đầu nhìn lên tấm biển lớn, thấy đề bốn chữ Hắc Hổ thần miếu.
Sau khi thấy đúng là bốn chữ Hắc Hổ thần miếu, lòng dạ Thượng Quan Linh bắt đầu hồi hộp vô kể, chàng đưa tay rờ ngay vào chuôi kiếm Lệ thủy tinh của mình, sẵn sàng giao tranh thình lình, nhưng hai bên miếu đều im lặng như tờ, hình như không có người nào bên trong.
Quanh sâu thêm phía sau miếu, chàng phát hiện thêm một cửa bên hông, nhưng cánh cửa này đã đổ tung từ hồi nào, Thượng Quan Linh lẻn thân vào nhìn, thấy trong miếu không lớn lắm, chánh điện và biên điện đều hoang tàng, chứng tỏ lâu ngày thất tu, trên nóc ngói cũng nhiều nơi thủng thấy sao trên bầu trời, khắp miếu đâu cũng đầy màng nhện và bụi bặm, như thế làm gì có người ở đây!
Trong lòng Thượng Quan Linh lấy làm lạ, chàng không hiểu tại sao? Chàng bèn tìm ngay đến một chỗ kín đáo ngồi xuống nghỉ ngơi. Ánh sáng trong miếu dần dần tối mịt, màn đêm đã thực sự phủ xuống, Thượng Quan Linh đã cảm thấy bực mình nghĩ ngay rằng Bát Bối Na Tra đã cố lừa đảo mình, chàng tính đứng dậy ra về. Bỗng một tiếng choẹt vang lên, có người dạ hành đã đánh đá lửa nhoáng lên một ánh sáng. Thượng Quan Linh thất kinh, may là chàng đã nấp vào nơi kín đáo, chưa hề bị phát giác. Ngay trong lúc đá lửa nhoáng nhanh ấy, Thượng Quan Linh đã kịp phát giác trong ngôi miếu, nơi ngay trên điện chánh, có bảy tám người đã thình lình xuất hiện từ hồi nào không biết, sau khi đá lửa lóe lên ánh sáng rồi tắt ngay, chỉ nghe những tiếng động lào xào, hình như mấy người đó đang giải chiếu ngồi xuống đất thì phải.
Lúc này Thượng Quan Linh có muốn đi cũng không được nữa, chàng đành nhẹ thở ngồi nguyên ngay tại chỗ để chờ cơ hội hoặc biến cố xảy ra!
Một giọng nói của người già rằng:
- Đã chuẩn bị sẵn sàng cả rồi đấy chứ?
Tiếp theo có người trả lời:
- Tất cả đều sẵn sàng hết!
Sau hai tiếng hỏi và đáp này dứt, trong điện lại trở về cảnh im tịnh của nó, nhưng dư âm của tiếng nói hình như vẫn còn vương vất xung quanh điện, như thế đủ chứng tỏ nội công của hai người này cũng thuộc hạng cao cường? Khiến cho Thượng Quan Linh hơi ái ngại trong lòng. Bỗng chàng ngửi thấy một mùi thơm nhẹ nhàng, hình như mùi nhang. Tiếp theo “bung” một tiếng vang lên, rõ tiếng của cây đàn cổ đang nổi lên. Thượng Quan Linh trong lòng bất giác nổi giận đùng đùng, chính đây âm thanh của cây đàn Bát long ngân. Tiếng đàn có lẽ do người già vừa rồi gảy nên, tuy lão không phải Đông tăng Túy Đầu Đà và Nam bút Gia
Cát Dật, khiến người nghe cũng phải mê mẩn tinh thần, không sao tự chết được.
Thượng Quan Linh càng lúc càng say sưa trong điệu nhạc du dương uyển chuyển ấy, chàng quên hẳn những nguy cơ đang phủ phục trước mắt.
Nhưng chàng từ nhỏ đã liên miên gặp nhiều kỳ dị, sức định lực lẽ đương nhiên khác hẳn người thường, nên âm điệu của cây đàn vừa biến đổi, sực tỉnh ngay lập tức mồ hôi lạnh toát đầy mình, chàng vội thu ngay tâm thần của mình lại, chỉ sợ bị tiếng đàn lung lạc ý chí thì nguy.
Ngay trong lúc đó, trước điện bỗng nhoáng hẳn lên một làn bạch quang, Thượng Quan Linh mơ hồ nhận ngay ra đó là bóng dáng một thiếu nữ. Ánh sáng vừa hiện thì cũng vừa tắt luôn, Thượng Quan Linh tuy không nhận rõ cho lắm, nhưng chàng đã cảm thấy, thiếu nữ vừa đến đó là một cô gái tuyệt sắc. Thiếu nữ đi chập chờn, nàng đứng lại nơi ngay cửa điện, thân hình trông càng yểu điệu!
Tiếng đàn của Bát long ngân trong điện lúc này đột biến đổi.
Thượng Quan Linh cảm thấy toàn là những âm điệu sát phạt, như có thiên binh vạn mã đang hét hò vang trời, những cảnh chiến trận thiên hồn địa ám, cảnh tàn sát rùng rợn. Thượng Quan Linh giật nảy mình, chàng bỗng nhớ đến cây cổ cầm của sư tôn mình vốn là vật quái dị, mình có lần đã đem chuyện này hỏi sư bá Đông Tăng, nhưng Túy Đầu Đà nói là cây đàn này có thể dùng để giết người như chơi; xem ra sau những âm điệu sát phạt đang tấu đây, thế nào cũng có những tiếng kinh khủng lạ lùng tiếp theo đằng sau! Mà không chừng là sợi dây đàn thứ tám kia cũng nên, cũng vì sợi dây thứ tám này mà tên Bát Bối Na Tra đã bị mình bắt tại Trúc Lâm tiểu xá, vậy bây giờ mình không thể không đề phòng về những tiếng âm thanh huyền bí của nó!
Quả nhiên Thượng Quan Linh đã nghĩ đúng, sau những âm thanh sát phạt lên đến mức tuyệt độ của nó; chỉ còn nghe như trống chiêng inh cang, như thúc giục muôn binh xáp chiến, tâm thần Thượng Quan Linh bỗng như bị lung lạc. Chàng vội cố gắng bình tĩnh định thần. Bỗng một tiếng “bung” vang dội âm thanh nặng nhọc vô cùng, tâm thần chàng bồi hồi hẳn, đầu óc cảm thấy choáng váng, trong lòng xao xuyến lạ lùng. Nhưng chàng cũng còn nhận được tiếng đàn này đã do người điều khiển, nên chàng vội vận ngầm chân khí để trấn tĩnh lại tinh thần của mình.
Thượng Quan Linh thấy thiếu nữ nọ vẫn thản nhiên đứng uy nghi trước cửa điện, hình như nàng không hề bị ảnh hưởng gì của những tiếng đàn, chỉ thấy tà áo nàng phất phơ vì ngọn gió, trông chập chờn không khác gì một bóng tiên nữ.
Bỗng một tiếng tung vang lên, tiếng đàn im bặt hẳn!...
Thượng Quan Linh như vừa trút được gánh nặng trên vai, nhìn thiếu nữ hình như nàng cảm thấy gì, nàng vẫn đứng với một thế rất đẹp mắt tại cửa điện.
Thiếu nữ đứng yên một chập mới lên tiếng rằng:
- Kìa Tư Đồ tiền bối? Sao không đàn thêm cho vui tai?
Vị được thiếu nữ xưng là Tư Đồ tiền bối bèn lạnh lùng cười rằng:
- Tại hạ phụng chỉ của chủ nhân! Nên mới mời Liễu cô nương lại đây để nghe dạo thử một khúc nhạc, nhưng có lẽ tại hạ còn non kém, nên đã không làm vui tai cô nương? Nhưng cây đàn cổ này, quả là báu vật hiếm có tại trần gian, gia chủ tại hạ tính dùng nó để đổi chiếc Tiểu Đoạt Hồn Kỳ với lệnh tôn, nhưng không biết ý cô nương định đoạt sao cho biết?
Thiếu nữ được gọi là Liễu cô nương vẫn đứng nguyên chỗ cũ, nghe xong, cất tiếng cười khanh khách, giọng cười trong và êm tai lạ lùng! Nàng thiếu nữ cười mãi không thôi, hình như nàng vui mừng một chuyện gì vậy? Không sao nín nổi tiếng cười, khiến cho Thượng Quan Linh đang nấp trong bóng tối phải đê mê về tiếng cười hồn nhiên của thiếu nữ, chàng chỉ ước sao tiếng cười ấy đừng có ngừng để chàng cố thưởng thức giọng cười hấp dẫn ấy.
Nàng cười một cách vui vẻ hồn nhiên, toàn thân nàng cũng rung động nhẹ về tiếng cười của mình, trông không khác gì cành hoa đang rung rinh vì gió...
Giọng nói già nua trên điện lại nổi lên:
- Liễu cô nương, tại hạ đây còn phải về giao lệnh với gia chủ, vậy cô nương có chịu đổi hay không thì cho biết ý kiến ngay!
Tiếng cười ngưng hẳn, nhưng dư âm vẫn còn phảng phất, chỉ nghe thiếu nữ trả lời gọn lỏn:
- Không đổi!
Giọng già nua bỗng quát lên:
- Hãy bắt ngay nàng để làm con tin!
Dứt tiếng ánh kiếm nhoáng ngay lên, trên điện bỗng vèo nhanh xuống bốn năm bóng đen ập về phía thiếu nữ, vài tiếng vèo vèo của ám khí nổi lên đánh ngay sang thiếu nữ, trống ngực Thượng Quan Linh lúc này như muốn vỡ tung vì hồi hộp cuộc diện trước mắt, chàng nghĩ nhanh: có nên ra tay tương cứu thiếu nữ hay không?
Nhưng chỉ trong chớp mắt Thượng Quan Linh đã yên tâm ngay, vì cứ xem thân pháp của thiếu nữ cũng dư sức chống trả với người ta, chẳng cần mình phải ra tay cứu giúp làm gì!
Chỉ thấy hai ống tay áo của thiếu nữ phát múa liên miên, những ám khí nhắm vào người nàng đã biến tan đâu hết, không khác nào như bùn rớt xuống bể, vô tung vô tích.
Bốn người vây đánh nàng đã ra hết binh khí, trong nháy mắt, cảnh binh khí đã nhoang nhoáng hiện ngay trước điện. Nhưng thiếu nữ vẫn tay không nhảy tránh ung dung trong cuộc vây đánh của bốn bóng đen.
Trong cảnh mập mờ của ngôi điện, chỉ thấy tà áo trắng của thiếu nữ chập chờn tung lướt như bướm trắng đang tìm nhụy. Thượng Quan Linh nhận thấy nàng đã thắng thế hẳn, và càng về sau thiếu nữ càng công hơn là thủ!
Bốn bóng nọ la hét luôn miệng, thiếu nữ chỉ cười khanh khách, trong cảnh hỗn loạn, chỉ nghe tiếng binh khí va chạm nhau choang choảng, và những tiếng kinh rú thất thanh, thì ra vì thân hình của thiếu nữ quá mau, bốn người không làm sao gần đến nàng được và những binh khí đã va chạm vào khí giới đồng bạn của mình, có kẻ dùng sức quá mạnh, binh khí bị văng, nên tiếng thất thanh kinh hoảng vang lên, cùng với tiếng binh khí rớt xuống đất, và bốn bóng đen một bóng trắng nhảy chập chờn như ma trơi?
Kẻ núp trong bóng tối là Thượng Quan Linh, chuyến này vô tình chàng lại được dự kiến một trận đánh hào hứng như thế, với đôi mắt lanh lợi của chàng, dù trong bóng tối, Thượng Quan Linh vẫn nhận thấy thiếu nữ đang có ý đùa cợt với bốn người nọ, thân hình và bộ pháp của nàng nhanh nhẹ tuyệt luân.
Chàng cũng thầm nhủ, nếu mình đứng vào địa vị của nàng mà sử dụng ngọn Điên Đảo Càn Khôn, chắc trận đánh cũng đến mức tuyệt diệu như nàng là cùng, nghĩ vậy trong bụng cũng không khỏi ngứa nghề.
Thình lình trên điện tiếng người già quát hét:
- Hãy tránh hết ra cho ta!
Bốn bóng đen vây đánh thiếu nữ lập tức tuân lời lui nhanh hết về sau, trong lúc nảy, Thượng Quan Linh càng nghe rõ tiếng thở hổn hển của bốn người.
Tiếng người già bỗng rằng:
- Liễu cô nương quả là gia học uyên thâm, lão phu đêm nay quả mới biết rõ tài nghệ của cô nương tuyệt mức như thế!
Giọng thiếu nữ lanh lảnh:
- Quá lời khen! Quá lời khen!...
Người già ngừng ngay một lúc lại tiếp:
- Lão phu Tư Đồ Cống, nay vì phụng mạng của chủ nhân, nhưng tiếc thay Liễu cô nương lại không chịu cuộc trao đổi giữa Bát long cầm và Tiểu Đoạt Hồn Kỳ, như thế khiến cho lão phu Tư Đồ Cống không còn mặt mũi nào về phục mạng với chủ nhân, dám xin Liễu cô nương hãy vui lòng giúp cho lão phu một chuyến khó khăn này...
Thiếu nữ ối lên một tiếng nghịch ngợm, rằng:
- Thưa Tư Đồ tiền bối? Tôi đâu dám giúp ngài như thế, ngài không dám về phụng mạng, đó là chuyện riêng của ngài! Mắc mớ gì đến tôi đâu? Nếu ngài có muốn tự tử; xin ngài cứ việc tự tiện, tôi sẽ không ngăn cản làm gì!
Thượng Quan Linh nghe thiếu nữ trả lời chanh chua như thế, trong bụng cũng có một cảm giác vui vui.
Lão già Tư Đồ Cống tự chuốc bực vào mình, xem ra quả là gừng già không cay bằng gừng non thật! Liễu cô nương này quả là con bé tai ác điêu luyện đây!
Tư Đồ Cống bèn giận dữ la rằng:
- Miệng lưỡi Liễu cô nương đanh đá lắm! Vậy lão phu đêm nay xin thỉnh giáo vài ngọn tuyệt học của cô nương vậy!
Cô bé cũng chẳng vừa gì, lập tức cười ngay rằng:
- Hay lắm? Nếu ngài không sợ đất trơn dễ té nhào xin cứ việc ra tay đùa với nhau vài ngọn cho vui!
Tư Đồ Cống ung dung bước ngay xuống điện, Thượng Quan Linh biết sẽ có trận giao tranh ác liệt sắp diễn ra, chàng hồi hộp đưa tay rờ ngay vào chuôi kiếm chăm chú quan sát!
Chỉ thấy bóng người của Tư Đồ Cống cao lớn vạm vỡ bước tới trước mặt thiếu nữ, ôm quyền lên và nói:
- Xin mời Liễu cô nương ra tay!
Dứt lời một ngọn kình phong bùng nhanh ngay ra!
Thiếu nữ tinh quái đã chuẩn bị từ trước, thân hình cúi nhanh xuống vờ bộ như đáp lễ, như thực ra song chưởng của nàng đã ngầm tụ chân lực đẩy mạnh ra, Tư Đồ Cống nằm mộng cũng không thể nào ngờ rằng thiếu nữ lại có thể thình lình đánh thượng bàn của mình như thế, hai chân bủn rủn, thế là một khối thịt nặng nề lăn nhào ngay xuống mặt đất đến huỵch một tiếng!
Tiếng cười thiếu nữ lại vang lên khanh khách rằng:
- Ấy ấy? Chết! Chết... Sao lão tiền bối lại hành đại lễ như thế với tôi! Ngài muốn làm tổn thọ tiểu nữ đây sao?
Thượng Quan Linh nghe thiếu nữ nói vậy, chàng suýt bật tiếng cười, ngầm khen thiếu nữ biết nghịch lắm; ngay lúc đó, thấy Tư Đồ Cống hừ lên một tiếng, song chưởng dùng luôn thế Thái sơn áp đỉnh tính chụp ngay sang tóc của thiếu nữ.
Thiếu nữ đang lúc hứng thú thắng một đòn đầu, nay thấy đối phương thình lình đánh nhanh tới, nàng không né tránh kịp, bàn tay của Tư Đồ Cống đã chạm ngay vào búi tóc trên đỉnh của thiếu nữ, thế là bộ tóc huyền nhánh ấy xõa hẳn xuống ngang vai. Thượng Quan Linh thất kinh hồn vía, chàng tính nhảy bổ ra tay tương cứu.
Bỗng thiếu nữ hét lên một tiếng, tà áo trắng phất phơ gay nên những tiếng động dồn dập, lại thấy nàng tung mình nhảy khỏi ngay song chưởng của Tư Đồ Cống.
Thượng Quan Linh thấy vậy mới hú vía tỉnh người lại.
Tư Đồ Cống tiến bước lên, thiếu nữ thình lình đá luôn song cước ra, Tư Đồ Cống vụt tránh, nào ngờ thân pháp của thiếu nữ quá mau, nàng đã vèo nhảy lại trước mặt lão, thuận tay vuốt luôn vào mặt Tư Đồ Cống một cái! Chỉ nghe Tư Đồ Cống rống lên một tiếng như đau đớn, lùi luôn một lúc mấy bước...
Tay thiếu nữ phất phơ như đã dính vật gì, Thượng Quan Linh chăm chú nhìn kỹ lại, chàng bất giác bịt miệng cười thầm, bộ cằm của Tư Đồ Cống đã nhẵn thín, thì ra chính thiếu nữ đã bứt râu của lão.
Chỉ nghe thiếu nữ cười rằng:
- Loại râu cứng như râu heo thế này, đem về làm bàn chải giặt có lẽ tốt cơ đấy!
Tư Đồ Cống tức điên người rằng:
- Liễu cô nương, bây giờ tôi xin cáo biệt với cô, nếu có duyên gặp cô sau này, thế nào Tư Đồ Cống tôi cũng xin thỉnh giáo lại với cô nương!
Tiếng thiếu nữ rằng:
- Vâng vâng!... Vậy xin ngài nhớ bước cho cẩn thận, nhỡ trơn té nữa thì khốn?... à này nếu ngài về đến nhà mà chủ nhân của ngài nhận không ra tướng mạo, ngài cứ nói là trong lúc ngủ hoang ngoài rừng, gặp con nai không biết chuyện đời, thấy bộ râu tưởng đâu là cỏ non, nên nai ta đã ngoạm trụi hết...
Tư Đồ Cống đâu còn dám ho he gì, vội đưa tay ra dấu cho bốn người cùng nhau rút về luôn.
Thượng Quan Linh trong bóng tối cuống người lên, thầm nhủ: Cây Bát long ngân hiện đang ở ngay trước mắt, bây giờ mình không ra đoạt lại còn chờ đến bao giờ nữa? Nghĩ vậy chàng vọt mình ra, chàng thấy nhóm Tư Đồ Cống đi hết về phía hậu điện, vội hấp tấp đuổi theo, nào ngờ chỉ trong nháy mắt bóng dạng năm người ấy đã biến tích hẳn.
Thượng Quan Linh lấy làm lạ, vừa rồi họ xuất hiện một cách đột ngột tại trên điện nay lại thình lình biến ngay cả đám như thế, không lý ngôi Hắc Hổ Miếu này có gì quái lạ sao? Mình thử khám phá tung tích trong này xem. Khi chàng quay nhìn thiếu nữ áo trắng, nhưng cô gái này cũng biến đâu luôn? Thượng Quan
Linh cảm thấy mình không khác gì đang nằm mơ một cơn ác mộng, từ trong chí ngoài và từ ngang đến dọc của ngôi miếu, đâu đâu chàng cũng đã cẩn thận tìm hết một lượt nhưng không hề phát giác gì lạ lùng.
Nhưng lúc này gió lạnh sắp sáng thổi vù vù từng cơn, trời cũng sắp sáng rõ; đừng nói là nhóm năm người phía Tư Đồ Cống mất tích, mà cả đến thiếu nữ cũng bị chung số phận luôn.
Thượng Quan Linh tìm suốt đến sáng, nhưng chẳng hề thấy một bóng người nào, những dấu tích ngồi và giao đấu đêm qua thấy rõ ràng dưới mặt đất. Nhưng sao nhóm người ấy lại đi nhanh chóng như thế? Trong này bộ còn có nguyên do gì nữa sao? Thượng Quan Linh không hiểu nổi.
Trời đã sáng bạch, Thượng Quan Linh lững thững ra khỏi Hắc Hổ Miếu. Chàng đi trên bờ sông của Lạc Thủy, sáng ra khói bên các vùng lân cận đây cũng khá nhiều; Thượng Quan Linh đi một chặp cảm thấy khát nước, chàng bèn đến ngay bên bờ sông uống. Khi chàng uống đã khát xong, vừa ngửng đầu lên, chợt phát hiện cách mình không xa, dưới bóng nước hiện ra một khuôn mặt tuyệt đẹp như vẽ trong tranh, một vẻ đẹp mà xưa nay Thượng Quan Linh chưa hề được thấy bao giờ. Chàng chỉ thấy suối tóc vắt ngang vai, da mặt trắng mỏng và mịn, hai bàn tay ngọc đang đưa lên vuốt lại những tóc rối vì gió thổi, tỉnh lộ hẳn chiếc cổ trắng nõn!
Cử chỉ càng thanh nhã bao nhiêu lại càng tăng thêm vẻ đẹp bấy nhiêu, dù cho một đóa hoa nào đẹp tuyệt trần gian này đi nữa cũng không thể nào đem bì với khuôn mặt thiếu nữ đây... Thượng Quan Linh mơ hồ: Lạc Thủy chi thần đang trang điểm? Nhìn dung mạo tuyệt thế ấy làm sao lại lọt vào đôi mắt tục phàm của ta... chàng cảm thấy đê mê trong lòng mình, chàng cho rằng mình lại đường gặp cuộc tao ngộ ly kỳ đây? E chưa chừng bị lọt vào cảnh tiên nào đây cũng nên?
Mãi khi tia nhìn của Thượng Quan Linh từ trên suối tóc nhìn dần xuống toàn thân bận màu trắng ấy, chàng mới sực nhớ ra là đã quen ở đâu đây? Đúng rồi! Mình đã gặp trong tối hôm qua, và chính trong Hắc Hổ Miếu.
Nhưng trong đêm tối, chàng thấy về thân hình yểu điệu của nàng, và những phong độ ung dung trầm tĩnh của nàng, và nhất là giọng cười hồn nhiên hấp dẫn ấy đã khiến cho Thượng Quan Linh phải mê mẩn tâm thần, đồng thời cũng phục thầm về công lực cơ trí khôn lanh của nàng, chàng càng thích những lời đanh đá chanh chua của thiếu nữ. Nói tóm lại Thượng Quan
Linh phục thiếu nữ lắm!
Nhưng trong đêm qua, lúc chàng nấp trong bóng tối chàng cũng đã nảy ra một hy vọng viển vông, là làm sao có thể nhận rõ được khuôn mặt của thiếu nữ, phải chăng khuôn mặt cũng không thua gì thân hình, âm giọng, võ công, và cơ trí, nghĩa là hoàn toàn phối hợp hẳn với tính tình của nàng. Thượng Quan Linh từng sững sờ, chàng thừa biết trên thế gian không có một vật gì có thể thập toàn thập mỹ cả, từ võ công đến cơ trí của thiếu nữ đã hơn hẳn nhiều người, có thể nói là hiếm có trên thế gian, vậy thì dung mạo của nàng chắc phải bình thường lắm, nếu không e sẽ... e sẽ...
Thượng Quan Linh tin tưởng câu Thiên đố hồng nhan (trời ghen kẻ hồng nhan), cho rằng người có tài có sắc đầy mình như vậy, thế nào cũng yểu mạng. Bởi những loại người như thế, vốn không phải của trần gian phàm tục này, phải thuộc về tiên giới mới đáng, nhưng nếu vì lý do gì phải tới trần gian, chẳng bao lâu cũng phải phụng lệnh gọi về trời ngay...
Bây giờ Thượng Quan Linh đã thấy rõ Lư Sơn chân diện mục của nàng, chàng càng kinh ngạc bao nhiêu lại càng hoài tiếc bấy nhiêu cho người đẹp? Chàng càng không khỏi thán phục tất cả những thần kỳ của tạo hóa đã xếp đặt! Thượng Quan Linh chăm chú quan sát kỹ lưỡng thiếu nữ một lượt, quả nhiên chàng chưa tìm được một điểm cỏn con nào để chê? Thế là chàng quyết tin tưởng quan niệm thần thánh của mình, càng tin thuyết Thiên đố hồng nhan! Vì thiếu nữ quá hoàn toàn, nàng không phải là người của trần gian giới, mà đã là tiên thì một ngày gần đây sẽ về cảnh tiên mất!
Đến khi nàng về trời ấy... nàng sẽ đem theo tất cả bao nhiêu những sự luyến tiếc của người trần?... và nàng sẽ để lại bao nhiêu trái tim buồn thảm vì nhớ nàng?... Thượng Quan Linh nghĩ đến đây, bất giác buông tiếng thở dài não nề.
Cũng vì tiếng thở dài của chàng, khiến cho thiếu nữ từ từ đứng dậy. Thượng Quan Linh thình lình thấy khuôn mặt nàng hướng ngay về phía mình, đôi mắt đen láy đang nhìn ngay vào mặt mình, và một cảm giác bồi hồi đã xen nhanh vào lòng chàng? Thượng Quan Linh không dám ngước mắt nhìn thẳng, chàng vội cúi ngay đầu xuống.
Thiếu nữ khích... một tiếng cười bật lên hỏi rằng:
- Thế nào? Có tìm ra họ không? âm giọng có vẻ ôn hòa và dịu dàng lắm, không có vẻ gì trách móc chàng nhìn trộm từ nãy giờ.
Thượng Quan Linh đánh bạo ngửng ngay đầu lên, thấy nàng đã độn xong búi tóc ngay trên đỉnh đầu, trông càng đẹp mắt lạ! Thượng Quan Linh bất giác ngẩn người ngó sửng?
Thiếu nữ vẫn không giận, nàng cười rằng:
- Ơ hay chửa? Ngó gì mà thừ người ra thế? Tôi hỏi anh sao không chịu trả lời!
Thượng Quan Linh ngượng ngùng, vội vàng đáp ngay rằng:
- À tôi tìm không ra họ!
Nhưng chàng nghĩ chưa chừng thiếu nữ này biết nhóm Tư Đồ Cống này ở đâu cũng nên, chàng bèn hỏi:
- Cô nương có thể cho tôi biết là lão Tư Đồ Cống ở đâu không? Vì chiếc đàn cổ Bát long ngân ấy vốn là của gia sư, và tôi đã đánh mất tại giữa đường, nay thế nào cũng phải tìm về cho bằng được?
Thiếu nữ lắc đầu rằng:
- Lão Tư Đồ Cống đi về đâu thì tôi không biết, nhưng tôi đoán chắc thế nào lão cũng về báo lại với chủ lão! Mà chủ của lão vốn là một đại ma đầu lợi hại trong võ lâm ngày nay?
Thượng Quan Linh vội hỏi:
- Ai hả cô?
Thiếu nữ khẽ nhích đôi môi anh đào vừa tính nói, nhưng nghĩ sao nàng lại thôi ngay, và lảng sang giọng khác rằng:
- Tôi không tiện nói ra, bởi vì phụ thân tôi đã căn dặn cấm nói đến tên của vị ma đầu ghê gớm này...
Sau khi trầm ngâm một lúc, thiếu nữ bèn ngồi ngay xuống một phiến đá gần bờ sông, rồi đưa tay chỉ ngay một phiến đá cạnh đó nói:
- Kìa! Anh cũng ngồi xuống để cho khỏi mỏi chân!
Giọng nói của nàng như có một oai lực không thể chống lại được Thượng Quan Linh quả nhiên ngoan ngoãn ngồi ngay xuống.
Thiếu nữ bỗng hỏi:
- Tên anh là gì?
- Tôi gọi Thượng Quan Linh! Thế cô?
Thiếu nữ cười, hiện hẳn má lúm đồng tiền, trông càng duyên lạ, nàng nói:
- Tôi tên Liễu Mi!
Nói xong nàng dí tay xuống bãi cát hí hoáy viết!
Thượng Quan Linh ngồi cạnh nàng, hai bên cách nhau khoảng chừng một thước, nhưng vì sắc đẹp của Liễu Mi đã khiến cho Thượng Quan Linh không dám nhìn thẳng nàng, chàng cúi đầu bất an trong lòng, lúc này chàng chỉ cảm thấy thư thái lạ lùng! Chàng lâng lâng như sắp bay bổng! Thượng Quan Linh đã nằm trong trạng thái si! Chàng chỉ ước sao nàng ngồi đây lâu chừng nào hay chừng ấy, nếu nàng tính đi, mình sẽ nghĩ cách nói cho nàng ở lại, nhưng ác nỗi trong bụng Thượng Quan Linh cuống lên, chàng tìm không ra lời lẽ gì để chuẩn bị sẵn.
Liễu Mi bỗng nhiên rằng:
- Này Thượng Quan Linh, cái tên của anh không xứng với con người của anh tí nào cả?
Thượng Quan Linh không hiểu nàng muốn ám chỉ gì bèn hỏi:
- Tại sao?
Nàng khúc khích cười rồi nói:
- Đã gọi là Thượng Quan Linh, sao tôi chẳng thấy Linh chút nào cả? Cứ ngồi thừ như bụt ấy! Mà bụt không linh thì đâu biết nói chuyện?
Thượng Quan Linh cười giọng lúng túng rằng:
- Cô cô thật khéo nói đùa quá!...
Liễu Mi tươi cười vì đã khiến chàng mở miệng nói chuyện! Nàng ngó thẳng ngay vào mặt Thượng Quan Linh rằng:
- Thôi chúng ta không nói chuyện đùa nữa. Võ công của anh cũng khá lắm, phải chăng đã do thầy anh truyền dạy lại?
Thượng Quan Linh thật tình trả lời:
- Không riêng gì thầy mà còn có sư bá, chính ông ấy đã dạy tôi về ngọn Càn Khôn Điên Đảo!
Liễu Mi lại nói:
- Tối hôm qua, tôi vừa vào trong miếu đã phát giác anh ngồi ngay một xó tối om, thoạt tiên tôi còn tưởng đâu anh là người cùng phe với họ, sau mới biết mình tưởng lầm, bởi vì trong lúc tôi bị nguy hiểm, anh đã chực ra tay cứu tôi, nhưng đến lúc tôi đùa cợt với họ, anh đã cười thầm!
Thì ra tất cả những hành vi cử động của Thượng Quan Linh trong bóng tối đã không thoát khỏi đôi mắt của Liễu Mi, lúc này chàng càng đâm ra khâm phục Liễu Mi.
Liễu Mi lại cà kê dê ngỗng kể thêm rằng:
- Tôi biết cây đàn đó, nhưng khi Tư Đồ Cống mang ra để dọa nạt tôi lại không thu được kết quả gì, nhưng đã suýt gây tai hại cho anh!
Thượng Quan Linh đỏ ngay mặt, nhưng Liễu Mi đã tinh ranh nhận thấy ngay, nàng vội đánh trống lảng:
- Nhưng anh quả cũng tài thật! Trong lúc tôi đang khó chịu mà anh vẫn ung dung không hề gì cả?... Bát long ngân quả khác hẳn với các thứ đàn khác, nó có đến tám huyền, không hiểu anh có biết đến sợi huyền thứ tám đó gọi là gì không?
Thượng Quan Linh lại đỏ mặt, ngượng ngùng rằng:
- Ồ! Tôi không biết!
Liễu Mi, vui vẻ cười nói:
- Tôi biết, sợi huyền kỳ quái ấy gọi là tuyệt huyền, khi búng tới nó, sẽ khiến cho kẻ nghe bị chấn động tâm thần, và có công hiệu tuyệt hình diệt thể (âm điệu vô hình giết người)...
Thượng Quan Linh quả thật chưa nghe nói đến bao giờ. Chàng chỉ cảm phục cô bạn này hình như chuyện gì cũng thông thạo, lòng chàng càng đâm mến phục, bất giác lòng hiếu kỳ lại gợi lên trong lòng chàng, bèn cất tiếng hỏi ngay:
- Vậy còn chiếc Tiểu Đoạt Hồn Kỳ lại là một vật gì?
Liễu Mi nghe vậy bỗng biến sắc, im ngay không nói gì. Thượng Quan Linh cảm thấy mình lỡ lời đột ngột, chắc nàng không muốn nhắc đến chuyện này, và không thể nào trả lời cho mình nghe, cho nên nàng mới thình lình biến sắc như thế! Trong lòng chàng cảm thấy hối hận, đáng lẽ không nên phá mất bầu không khí đang vui này, nhưng chàng lại không biết nên cứu vãn cuộc diện ra sao cho phải, đang rối trong bụng nhìn nàng sửng sốt!
Khá lâu Liễu Mi cũng cảm thấy ngường ngượng, nàng bèn nhặt ngay cành cây khô bên cạnh, khẽ đánh vào mặt nước sông khẽ tiếng ngâm nga rằng:
- Hỏi rằng quân tử buồn chi đó?...
Bỗng nàng quay sang Thượng Quan Linh thân mật rằng:
- Này anh... Anh không phải đang nghĩ chuyện đi tìm Tư Đồ Cống sao?
Nói xong nàng thản nhiên ung dung rằng:
- Nào đi! Tôi sẽ cùng đi tìm họ, may ra chúng mình tìm thấy họ cũng chưa chừng?
Thượng Quan Linh mừng quýnh suýt nhảy cẫng lên; thế là hai người đưa nhau xuôi theo chiều dòng sông Lạc Thủy, thiên hạ hai bên bờ sông tấp nập, ai thấy Liễu Mi cũng phải tấm tắc trầm trồ về nhan sắc của nàng, nhất là chàng Thượng Quan Linh đi bên cạnh nàng, càng lúc càng thấy mình hãnh diện hơn ai.
Cứ thế hai người thong dong bước đi, thình lình Thượng Quan Linh hét lên một tiếng, co giò chạy thẳng về phía trước.
Thì ra cách thị trấn không xa, có một người lưng đeo hồ lô, Thượng Quan Linh nhận ngay đó chính là sư bá mình Đông tăng Túy Đầu Đà, đầu tóc xõa xuống vai, nhất là hai vạt tay áo láng bóng vì mỡ chùi mồm, không phải Đông tăng Túy Đầu Đà thì còn ai vào đó nữa?
Liễu Mi hấp tấp theo sau gọi:
- Kìa Anh Linh? Anh làm gì vậy?
Thượng Quan Linh thấy sắp sửa đuổi kịp, bỗng người ấy lại chen nhanh ngay vào đám đông, Thượng Quan Linh cuống lên la hét:
- Sư bá ! Túy Đầu Đà sư bá . . .
Khi Liễu Mi đuổi đến nơi, đưa ngay tay chỉ nói:
- Sư bá của anh đã đi hướng kia rồi!
Thượng Quan Linh nhìn kỹ, quả nhiên Túy Đầu Đà đang kéo lê đôi giày rách bước về phía rừng trúc.
Hai người vội đuổi theo, Túy Đầu Đà lủi nhanh vào trong vào trong đám trúc, chờ khi hai người đuổi vào trong, bỗng lại nhoáng vèo thân hình ra, cứ thế quay quẩn mấy lần, một già hai trẻ, y như chơi trò cút bắt?
Thượng Quan Linh bên lên tiếng rằng:
- Quái lạ! Không lẽ sư bá giận mình đây sao? Tại sao lại muốn lẩn tránh mình như thế?
Liễu Mi cười và thì thầm bên tai Thượng Quan Linh, thế là hai người rón rén chia đôi ra, tung mình nhảy vọt ra bên ngoài trúc lâm đứng chực. Nhưng trước khi nhảy ra, Liễu Mi đã đánh tiếng trong đám trúc lâm rằng:
- Anh Linh ơi! ông ấy ở đây này, tôi thấy rồi, mau mau lại đây anh!
Quả nhiên Túy Đầu Đà bị trúng kế, tưởng đâu hai người vẫn còn trong trúc lâm, lão bèn len lén vọt ra ngoài. Nhưng vừa ra ngoài, bị ngay Thượng Quan Linh đón ngay lại và cung thân thi lễ rằng:
- Kính thưa sư bá!
Túy Đầu Đà sắc mặt lạnh như tiền đồng không nói gì, nhưng Thượng Quan Linh vẫn cung kính đứng bên cạnh nhìn vị sư bá đang cởi bình hồ lô trên lưng xuống, và tu luôn mấy hơi rượu rồi từ trong túi móc ra mấy miếng thịt bò khô nhai ngấu nghiến.
Liễu Mi nhẹ nhàng bước lại rằng:
- Kính chào lão đầu đài Ngài vẫn giỏi chứ?
Túy Đầu Đà liếc nhìn Liễu Mi xong rằng:
- Ừ... cũng thường! Thế còn con đòi (đầy tớ gái) cũng mạnh giỏi chứ!
Liễu Mi tươi cười gật đầu nhìn lão vừa ăn vừa uống, rồi hỏi:
- Lão đầu đà tính ăn xong rồi mới đi với chúng tôi sao?
Túy Đầu Đà rằng:
- Đòi con đoán đúng đấy! Nếu không tiện thì cứ việc đi trước, còn không hãy chờ ta!
Thượng Quan Linh thầm nghĩ: tại sao hôm nay sư bá lại làm khó dễ với mình như thế, chắc là ông ta giận mình bỏ bê trang viện xuống núi đây chăng, nhưng dù sao liên lụy đến Liễu Mi, chàng thật không yên lòng chút nào!
Nhưng chỉ thấy Liễu Mi vẫn cười ranh mãnh rằng:
- Này lão bá, để tôi tìm bạn ăn giúp hộ lão bá cho mau nhé!
Nói xong nàng ngẩng đầu lên nhìn, bỗng thấy hai con ruồi bay ngang, Liễu Mi giơ ngay tay ra, chẳng biết nàng đã dùng loại ám khí gì không biết, chỉ thấy hai con ruồi rớt vào lòng bàn tay của nàng, đồng thời Liễu Mi quăng ngay hai con ruồi sang phía Túy Đầu Đà, lập tức ruồi ta bu ngay vào thịt khô và miệng hồ lô, phá phách tứ tung.
Thấy vậy Thượng Quan Linh chỉ ngại sư bá mình nổi khùng, nhưng nhận kỹ, chàng không thấy có nét gì giận dữ trên mặt Đông Tăng, trái lại sư bá đứng dậy vỗ bành bạch vào áo bào rằng:
- Thôi thì chúng mình đi vậy!
Ba người nhắm ngay về phía thị trấn đi. Sau khi dùng cơm nước tại thị trấn xong, lo đi nghỉ trước,
Thượng Quan Linh và Túy Đầu Đà về chung một phòng với nhau. Không chờ Thượng Quan Linh hỏi, Túy Đầu Đà đã hấp tấp hỏi ngay chàng:
- Này cháu Linh, cháu gặp con bé ấy ở đâu vậy?
Thượng Quan Linh cảm thấy sư bá hình như không thích gì Liễu Mi, trong lòng kinh ngạc, vội thuật rõ đầu đuôi một lượt, rồi hỏi thêm:
- Thưa sư bá! Thế nàng là ai vậy?
Túy Đầu Đà rằng:
- Rõ thằng khờ thật! Thế cháu còn chưa biết nó thật sao? Nó chính là con gái của bang chủ Thanh Thông Hội đó!...
Thượng Quan Linh xưa nay nào có biết Thanh Thông Hội là một tổ chức gì đâu, cũng chưa nghe ai nói đến bao giờ, nhưng chàng thấy thần sắc sư bá có vẻ nghiêm trọng hóa về việc này, phỏng đoán chắc Thanh Thông Hội cũng là một tổ chức có thế lực hùng mạnh trên giang hồ gì đây.
Túy Đầu Đà lẩm bẩm nói rằng:
- Nhưng không biết con bé này là con lớn hay là con nhỏ đấy cơ?
Túy Đầu Đà thấy Thượng Quan Linh có vẻ kinh ngạc, bèn nói tiếp:
- Bang chủ Thanh Thông Hội có hai người con gái sinh đôi, giống nhau như đúc, nhưng con bé lớn tính phải cái hay lẳng lơ dâm bôn, nổi tiếng trên giang hồ, còn con nhỏ nghe đồn cũng tinh quái ranh mãnh và nghịch ngợm, nhưng chưa hề nghe đồn đến tính xấu xa.
Thượng Quan Linh há hốc miệng ngẩn đờ người ra, Túy Đầu Đà cười nói rằng:
- Tội nghiệp cho cháu khù khờ của ta!... Chị em nàng không những giống nhau như hai giọt nước, cả đến lối ăn mặc cũng đúng theo một kiểu với nhau, đến cả bác là ma say như ta cũng khó lòng phân biệt được đứa nào là chị, đứa nào là em, vậy không biết cháu khờ của bác đã gặp con chị hay con em? Thôi!... đành xem duyên kiếp của cháu vậy, nếu chẳng may lại gặp phải con chị, hừ! Phải ráng tránh cho xa!
Thượng Quan Linh trống ngực đánh thình thịch, hơn nữa chàng cảm thấy Liễu Mi trong trắng, không có vẻ gì lả lơi dâm đãng cả, chàng vội nói ngay:
- Thưa sư bá? Nàng tên gọi là Liễu Mi, vậy không biết là chị hay là em?
Túy Đầu Đà rờ đầu gãi tai cả đổi, mới rằng:
- Ồ! Vấn đề đến cả bác cũng không được rõ nữa, con nhỏ ấy không biết là con chị hay con em, nhưng mà, xem nó tự động theo cháu đi như thế, thì hành động này có vẻ giống tác phong hành sự của đại tiểu thư nhà Liễu bang chủ của Thanh Thông Hội đấy?
Thượng Quan Linh thất kinh trong lòng, chàng thầm nghe ra bề ngoài nàng đoan trang như thế, thực ra bề trong lại là một hồng phấn dâm ma, chàng không khỏi tự cảnh tỉnh trong lòng mình, nhưng chàng cũng nghĩ ngược lại: suốt gần già nửa ngày đi chung với nàng đây, đâu hề thấy nàng có cử chỉ thất giáo gì đâu Tuy nàng nhiều lúc có vẻ ngây thơ hồn nhiên với mình, có quyền nghi ngờ nhưng không nên nghĩ oan cho nàng!
Túy Đầu Đà nghiêm sắc mặt trịnh trọng rằng:
- Mặc dầu nó là đứa nào? Nhưng không thể nào thích hợp với cháu được, cháu phải biết rằng gần đây bang Thanh Thông Hội đã có một chiếc cờ Tiểu Đoạt Hồn Kỳ, giờ đây họ đang chống đối thầy cháu và ta, vậy tốt hơn hết là cháu nên rời xa ngay nàng càng sớm càng hay!
Nói dứt lời bèn hối thúc ngay Thượng Quan Linh hãy nhân lúc nàng Liễu Mi còn ngủ say lên đường ngay, Thượng Quan Linh không dám cãi lệnh sư bá, nhưng chàng quả thật quyến luyến Liễu Mi vô cùng!
Hai người bèn đi trọ ngay một quán khác ngoài thị trấn. Thượng Quan Linh bèn hỏi đến chuyện thầy mình Nam bút Gia Cát Dật! Túy Đầu Đà bèn rằng:
- Thầy cháu đã có mặt tại nơi đây rồi, và tối nay chúng ta sẽ gặp nhau, giải quyết xong vụ rắc rối ở đây, thầy trò cháu có thể ra về ngay Ngao Sơn!
Thượng Quan Linh hỏi rằng:
- Thế sư bá không tính về Ngao Sơn sao?
Đông tăng Túy Đầu Đà bỗng buồn rầu thở dài rằng:
- Linh cháu! Cháu có biết đâu, vụ lôi thôi này hoàn toàn do Bắc kiếm Phổ Côn một tay gây ra hết, lão đã thúc lãnh toàn bộ hạ đến đây, và cho tên chó sói mạo danh Thiên Si đạo trưởng và cầm ngay chiếc cờ giả Tiểu Đoạt Hồn Kỳ đến Lạc Thủy. Sau khi tin truyền đồn đến Ngao Sơn, ta và thầy cháu vì nhớ Thiên Si, nên vội hấp tấp đến đây để thăm nhau một chuyến, nhưng nào ngờ Bắc Kiếm nhân lúc chúng ta rời khỏi Ngao Sơn, bèn lén cho người đến cướp đoạt chiếc đàn Bát long ngân. Bởi chí của Bắc Kiếm là cốt làm sao chiếm được cây Tiểu Đoạt Hồn Kỳ, chừng đó lão sẽ luyện được những võ công kỳ dị có thể xưng bá trong thiên hạ, và lão cũng thừa biết cây cờ này hiện nằm trong tay Liễu bang chủ của Thanh Thông Hội, mà vị bang chủ họ Liễu này lại thích chiếc đàn cổ Bát long ngân, nên Bắc Kiếm nhắm ngay tới điểm sở thích ấy muốn lấy cây đàn của Nam Bút để đổi chiếc cờ Tiểu Đoạt Hồn Kỳ...
Lúc này Thượng Quan Linh mới nghĩ đến những sự việc xảy ra trước sau, thì ra những lời nói của Bát Bối Na Tra đều toàn là bịa đặt ra cả, thầy và sư bá mình đâu có xảy ra chuyện gì đâu! Nhưng cũng tại lỗi mình không suy xét cẩn thận đến đỗi bị hắn lừa cho mất cây đàn. Nay tuy Đông tăng Túy Đầu Đà không trách mắng gì mình, nhưng Thượng Quan Linh cũng tự cảm thấy áy náy trong người, bất giác mặt đỏ gay lên.
Túy Đầu Đà thấy vậy bèn an ủi chàng rằng:
- Trong vụ này ta và thầy ngươi đều rõ hết cả nguyên do rồi, vậy cháu cũng không nên lấy làm buồn nữa, nhưng đáng trách là Bắc Kiếm hành động như thế quả không được quang minh chính đại gì, vì muốn tước đoạt chiếc đàn cổ của Gia Cát Dật mà đã ngang nhiên dùng đến thủ đoạn như thế! Quả thật khiến ta sờn lòng rợn gáy!... Nay Thanh Thông Hội người ta không bằng lòng trao đổi, Bắc kiếm Phổ Côn cụt hứng luôn, thế nào vụ này cũng còn nhiều pha hào hứng cho mà xem! Ta và thầy ngươi nhớ Thiên Si đạo trưởng lắm, đêm nay sau khi gặp Bắc kiếm Phổ Côn, thế nào cũng phải hỏi cho ra tin tức; và sau khi thầy trò cháu về Ngao Sơn, việc đi tìm kiếm Thiên Si Tây Đạo sẽ do ma say này đi đảm nhiệm một mình!
Và ngay đêm đó Túy Đầu Đà dẫn Thượng Quan Linh rời khỏi trấn, và lại đi ngược dòng Lạc Thủy, Thượng Quan Linh thấy đi về đường cũ như thế lấy làm lạ, chàng nghĩ thầm: không lý đêm nay Bắc kiếm Phổ Côn sẽ xuất hiện tại Hắc Hổ thần miếu sao? Quả nhiên chàng đã đoán trúng vì Túy Đầu Đà đã đưa Thượng Quan Linh vào luôn trong Hắc Hổ thần miếu, và cả hai tìm ngay một nơi kín đáo nấp sẵn để chờ đợi.
Chuyến này, Thượng Quan Linh đã tập trung hết tinh thần để khám phá những kỳ dị trong ngôi miếu hoang vu này, tại sao người ta có thể bỗng ẩn bỗng hiện trong điện như thế!
Chờ mãi đến nửa đêm, vẫn không thấy hiện tượng lạ gì xảy ra, Thượng Quan Linh cảm thấy trong người đã hơi mệt mỏi. Thình lình, trước cửa Hắc Hổ thần miếu, một bóng đen ẩn hiện bước vào, trong cảnh lu mờ chập chờn của đêm trường, Thượng Quan Linh thấy rõ một người ăn vận theo lối nho sinh đang nhanh nhẹn tiến vào trong điện, từ thân hình cho đến dáng đi, đều hao hao giống hệt sư phụ mình là Nam bút Gia Cát Dật.
Chỉ thấy nho sinh khẽ nghiêng mình vào phía thềm điện tối thui bên trong cất tiếng:
- Kính chào Phổ huynh, tiểu đệ Gia Cát Dật kính lại bái kiến huynh đây!
Thượng Quan Linh mừng rỡ, nhận ra tiếng nói ấy chính là của thầy mình! Bèn quay nhìn ngay về phía trên điện, bỗng chàng giật mình đến thót! Thì ra trong cảnh tối om của thềm điện ấy, nghiễm nhiên đã có người ngồi đó từ hồi nào không hay, đồng thời một giọng nói lạnh lùng rằng:
- Hừ! Nam Bút đó hả? Tới tìm ta có việc gì vậy?
Mấy năm qua, tiểu đệ không thấy Phổ huynh đâu nhớ quá nên đặc biệt lại thăm huynh một chuyến!
Trong điện tối om ấy vang lên một trận cười rền động hết cả mái ngói, dứt tiếng cười, Phổ Côn Bắc Kiếm mới lạnh lùng:
- Hừ! Gia Cát Dật, đừng có hòng lừa ta! Thâm ý của ngươi lại đây chẳng qua là muốn đòi lại chiếc đàn Bát long ngân! Có đúng thế không?
Bát long ngân đối với tiểu đệ chỉ là vật ngoài thân, Phổ huynh đã thích, xin cứ việc lấy, nhưng có điều: nay chiếc cờ Tiểu Đoạt hồn Kỳ đã lọt về trong tay của nhóm Thanh Thông Hội, vậy tiểu đệ không ngần ngại gì đến đây để mạn phép khuyên thế huynh, đừng nên tranh chấp với họ về vụ này làm gì nữa?...
- Hừ?... chớ có lôi thôi! Chiếc Tiểu Đoạt Hồn Kỳ đáng lý là vật sở hữu của ta! Chỉ tại lão đạo già chết toi Thiên Si ấy nên mới bị thất lạc chiếc Tiểu Đoạt Hồn Kỳ này, bây giờ đương nhiên ta có quyền đoạt nó về! Nếu lão già họ Liễu của Thanh Thông Hội không phục, ta cũng quyết tâm không để cho họ yên thân?
Gia Cát Dật rằng:
- Phổ huynh, hãy nghĩ đến Càn Khôn Ngũ Tuyệt chúng ta xưa kia so tài trên Kim Đỉnh núi Nga Mi và những lời giao ước với nhau, nhưng nay Đoạt Hồn Kỳ Chung Ly Triết huynh đã mất mạng một cách đột ngột như thế, trong nhóm Càn Khôn Ngũ Tuyệt đã bị khuyết hẳn đi một người. Huynh đáng lẽ phải đồng tâm hiệp lực với tụi này để phục thù cho Chung Ly Triết huynh mới phải. Nay lai lịch của cây Tiểu Đoạt Hồn Kỳ cổ quái như thế, không chừng nó còn có liên quan đến mối đại thù của chúng mình là khác! Vậy phổ huynh hà tất lại muốn chiếm làm của riêng như vậy có ích gì?
Tính tình của Bắc kiếm Phổ Côn xưa nay vẫn kỳ quặc, khi thiện lúc ác tùy theo hứng thú; thanh danh có thể nói là tệ nhất trong Ngũ Tuyệt, mấy năm không gặp nhau, tính tình càng thay đổi nhiều hơn xưa, và càng nói chuyện với Gia Cát Dật càng lâm vào cục diện bế tắc!
Đông tăng Túy Đầu Đà không nhịn được, vội vọt ngay mình ra, lớn tiếng hét rằng:
- Phổ huynh! Mong rằng huynh đừng có phụ tấm lòng tốt của hai chúng tôi!
Bắc kiếm Phổ Côn giận điên người lên đứng dậy hầm hầm rằng:
- Hừ con ma say Túy Đầu Đà! Dám ngang nhiên vô lễ với ta như thế?
Túy Đầu Đà đâu ngán gì, cũng lớn tiếng rằng:
- Tây Đạo Thiên Si nay đâu?
Bắc kiếm Phổ Côn giận dữ:
- Túy Đầu Đà? Nếu ngươi có bản lĩnh cứ việc mà đi tìm, còn muốn từ trong miệng ta mà hỏi ra manh mối, đừng có hòng dễ dàng gì...
Túy Đầu Đà giận rằng:
- Phổ Côn, nay ân nghĩa giữa ta và ngươi đã tuyệt vì ngươi bất nghĩa, chúng ta không thể nào đi chung một đường lối với nhau như thế này được. Nay ta chỉ yêu cầu ngươi cho biết tin về Thiên Si nay ở đâu, ta sẽ lo đi tìm lấy, và sau này ngươi hãy từ hẳn chúng ta ra, đường ai nấy lo, đèn ai nấy sáng!
Phổ Côn nghe xong bỗng giơ ngay tay lên, liên miên phát ra mấy chưởng. Một tiếng “Bùng” vang dội, một góc ngôi điện đổ sập ngay xuống.
Trong cảnh chập chờn chỉ thấy bụi đen bay mịt mù, Phổ Côn vẫn đứng nguyên chỗ rằng:
- Còn không xéo nhanh hết đi sao?
Nói dứt lời, Bắc Kiếm lại giơ cao chưởng lên, liên miên phạt ngay mấy chưởng, Thượng Quan Linh hoảng hồn, vội tung mình nhảy ra, ngay lúc đó, phía sau chàng nổi lên những tiếng sập đổ ẩm ầm, và trong nháy mắt toàn ngôi Hắc Hổ thần miếu sụp đổ hết xuống thành bình địa và trở thành đống gạch ngói vụn nát?
 
0
Hồi 39. Khắc Cốt Tương Tư
[/align]



Đông tăng Túy Đầu Đà, Nam bút Gia Cát Dật, Thượng Quan Linh, ba người từ trong bụi đen mịt mù ấy tung mình ra, đều oán trách Bắc kiếm Phổ Côn đã phụ thanh danh trong Càn Khôn Ngũ Tuyệt. Sư huynh đệ hai người bàn tính một hồi, sau cùng quyết định là: Đông tăng Túy hòa thượng lên miền bắc, cố thăm tin tức xem Tây đạo Thiên Si nay ở đâu, còn Nam bút Gia Cát Dật sẽ lưu ngay lại đây lo điều tra về chiếc cờ Tiểu Đoạt Hồn Kỳ cho rõ chân tướng của nó, còn riêng chàng Thượng Quan Linh vô sự cho về ngay Ngao Sơn lo giữ trang viện.
Qua ngày sau, Thượng Quan Linh lo rời khỏi ngay Lạc Thủy, lủi thủi một mình về Ngao Sơn. Chàng cứ cảm thấy u buồn trong lòng, tuy cưỡi trên lưng ngựa, nhưng con tuấn mã hình như cũng biết ý người cưỡi, nó cũng chậm chạp như không muốn đi?
Trong đầu óc Thượng Quan Linh lúc này, chỉ còn lại những hình bóng của nàng Liễu Mi... Chàng nghĩ liên miên, nhất là nghĩ đến hôm Túy Đầu Đà bắt mình rời lánh ngay nàng trong lúc nàng còn say trong cơn mộng, và mình đã ra đi không một lời cáo từ... nếu khi nàng tỉnh dậy, sẽ cảm thấy buồn bực ra sao? Chưa chừng nàng sẽ vì chuyện này mà giận mình luôn! Nếu quả nàng là nhị tiểu thư của Liễu bang chủ Thanh Thông Hội, thế nào trong thâm tâm nàng lại chẳng oán trách mình từ đây! Thượng Quan Linh cảm thấy lòng mình hối hận vô tả, càng nghĩ chàng càng muốn gặp ngay nàng để phân tỏ đôi lời, chàng muốn thổ lộ tất cả những nỗi buồn khổ đang dày vò tâm tư chàng...
Chàng Thượng Quan Linh đang nếm mùi tương tư rồi đây! Năm nay chàng 21 tuổi, đây là lần đầu tiên chàng nếm phải mùi vị đau khổ của chữ tình, thì ra chàng Thượng Quan Linh đã phải lòng người con gái Liễu Mi! Chàng không khác nào như kẻ mất hồn lạc phách, cưỡi trên lưng ngựa nhưng không hề giục cương một lần nào, cứ thế chàng thả đong đi trên đường cái quan mặc cho gió thổi và ánh nắng mặt trời chiếu, tất cả những cảnh sắc hai bên đường không thể nào gợi cho tâm tình trên vui lên được, chàng luôn luôn chăm ngó các cô qua lại trên đường cái quan, chàng chỉ sợ lỡ có Liễu Mi trong đám này mà mình không thấy thì thật là hoài công! Cảnh sông Lạc Thủy dần dần khuất về đàng sau lưng, và bao nhiêu hi vọng để gặp nàng trong đám người đi trên quan lộ càng lúc càng tiêu tan dần, Thượng Quan Linh bất giác xúc cảm và khẽ tiếng ngâm nga rằng:
- Gió mưa là bệnh của trời? Tương tư là bệnh của ta nhớ nàng. . .
Rồi chàng lại nghĩ: Không biết nàng có nhớ gì đến mình không? Hay nàng cũng vẩn vơ như ta đứng tựa cửa sổ trên lầu nhìn xuống quan đạo để thưởng thức cây cỏ hữu tình của mùa xuân, nhưng không biết có xao xuyến như mình nhớ nàng không?
Trong lúc chàng đang uể oải tinh thần thình lình mắt chàng sáng hẳn lên, thấy một đoàn người và ngựa tạt ngang qua người mình, Trong đó có một người lưng đeo đàn, trông không khác gì Bát long ngân. Thượng Quan Linh phấn khởi tinh thần, hấp tấp đuổi ngay phía sau. Phía trước cộng có bốn người, dù cho Thượng Quan Linh có ra roi đến đâu cũng không sao đuổi kịp được chỉ trong chớp mắt bốn người nọ đã vào hắn sơn cốc. Trong lúc vào cốc có một người quay đầu lại nhìn.
Thượng Quan Linh thúc ngựa đuổi nhanh tới cửa cốc, bỗng hai bên cốc “sẹc! sẹc!” bay ra những ám khí, ngựa bị trúng, hí lên một tiếng dữ dội chồm ngược hẳn lên suýt quật ngay Thượng Quan Linh xuống đất. Chàng vội nhảy nhanh người xuống đất đứng, đưa mắt nhìn nhanh hai bên tả hữu, thấy bốn người nọ đều đứng cả trước mặt.
Một trong bốn người liền nhào sát thân sang phía Thượng Quan Linh, bên phải dùng quyền cánh trái dùng chưởng tính một thụi một vỗ ấy nhắm hẳn sang ngực Thượng Quan Linh. Thượng Quan Linh vội đẩy ngay song chưởng ra, nhưng chàng cảm thấy áp lực trước ngực khá nặng, trong bụng thất kinh, không dám chậm trễ, vội đẩy ngay thế đây thành chưởng sử dụng ngay đến môn tuyệt kỹ của Nam bút Gia Cát Dật đã truyền cho mình là Đinh Giáp thần công, ào một tiếng, bửa ngay tới người nọ! Đòn này quả hữu hiệu, không những đánh bật hẳn thế đánh của đối phương, mà còn khiến cho người nọ lùi ngay mấy bước về sau. Người nọ vội vận ngay tấn để đứng vững lại, rồi miệng huýt lên một tiếng sáo, ba người còn lại vội rút ngay binh khí và áp cả lại một lượt.
Nhưng lần này Thượng Quan Linh chọn ngay tên cõng cây đàn Bát long ngân, chàng vội giở ngay Điên Đảo Càn Khôn bám sát ngay vào tên đeo đàn ấy, chàng tính sau khi đoạt được cây đàn rồi tìm kế đào tẩu sau. Bốn người này tuy đều thuộc vào đệ nhất lưu cao thủ, nhưng ai ấy đều bị ngọn tuyệt kỹ của Điên Đảo Càn Khôn khiến cho hoa mắt nhức đầu, hơi thở dồn dập. Thượng Quan Linh nắm chắc phần thắng, chàng ung dung lo thi hành mưu kế của mình, vừa đánh chàng vừa men dần đến bốn con ngựa của họ. Thình lình chàng chuyển nhanh thế đánh, ngọn chỉ điểm ngay vào sau lưng người đeo đàn, thế là binh đao trên tay rớt ngay xuống đất đến choang một tiếng.
Thượng Quan Linh không để lỡ cơ hội, soạt một tiếng rút ngay cây Lệ thủy tinh kiếm bên mình ra, vung luôn một đường bán nguyệt, binh khí của ba người nọ lập tức bị tiện gãy hết cùng một lượt, ba người thất kinh hoảng hồn nhảy tránh hẳn về sau. Ngay lúc đó, Thượng Quan Linh đưa tay ra túm ngay tên đeo đàn, nhảy phóc lên lưng ngựa của địch, giơ ngay ngọn kiếm Lệ thủy tinh khua lên một luồng cuồng phong, ba ngựa thấy ánh kiếm nhoáng lên trước mắt, chúng hí hốt hoảng lồng lên bung vó chạy tung luôn! Thượng Quan Linh thúc ngựa chạy luôn, ba người nọ mất ngựa, đuổi thì không kịp, đành giương mắt thô lố ra nhìn, tuy quýnh nhưng không biết làm sao hơn!
Thượng Quan Linh vừa thúc ngụa chạy như bay, vừa đưa tay lên đỡ cây đàn trên lưng tên nọ, xong chàng giải luôn huyệt và đẩy luôn hắn xuống đường, ung dung tung gió cuốn bụi đi luôn!
Thượng Quan Linh trong lòng hớn hở vô cùng, vì Bát long ngân chính do mình đánh mất, nay lại cũng do chính tay mình đoạt nó về, hãnh diện làm sao.
Chàng yên tâm về Ngao Sơn. Nhưng đi được một lúc, chàng bỗng phát hiện đường lối không đúng, loanh quanh mãi mà vẫn còn trong sơn cốc này, tìm không ra đường cái quan. Trong lòng lại cuống lên, Thượng Quan Linh bèn quay ngay đầu ngựa để trở lại cốc. Bỗng phía sau có tiếng quát lớn:
- Đứng lại!
Nghe âm thanh, biết ngay công lực người quát cũng hàng cao thủ, vì chính Thượng Quan Linh cũng cảm thấy tai mình inh lên vì tiếng quát ấy. Chàng không biết nhân vật nào mà lại có một trấn lực vang dội đến thế? Bèn ngoảnh đầu lại nhìn, chỉ thấy một vị thiếu niên, đang tung mình chạy như bay về hướng mình, thân pháp quả là nhanh. Biết không sao chạy thoát, chàng bèn quay phắt ngay đầu lại, chuẩn bị trong lúc đối phương không phòng hờ, mình tông đại hắn một cái rồi liệu sau. Nào hay chàng vừa quay đầu ngựa lại thiếu niên nọ đã hiện ngay trước mặt, chẳng chờ cho Thượng Quan Linh dùng ngựa tông tới, hắn đã ngang nhiên túm ngay cương ngựa, và dí mạnh một cái con ngựa quỳ khụy ngay hai chân trước xuống đất, Thượng Quan Linh thấy thiếu niên sức mạnh quá đỗi, chàng thất kinh nhảy nhanh khỏi yên ngựa đứng xuống đất, chỉ thấy thiếu niên oai phong lẫm lẫm hét hỏi rằng:
- Ngươi là ai? Sao dám to gan đến Thanh Thông Cốc phá rối như thế?
Thượng Quan Linh cũng chẳng chịu thua, chàng cũng quát lại:
- Mắc mớ gì đến ngươi không?
Thiếu niên bỗng cất tiếng cười ngất ngưởng, khiến kẻ nghe phải inh tai điếc óc, cười xong thiếu niên nói:
- Vùng này ai mà không biết đến Lôi hỏa tam lang Sở Canh ta! Ta giữ chức tuần tra tại Thanh Thông Cốc này, nếu nói là ta không có quyền can thiệp đến ngươi... thật là chuyện quá nực cười!
À... ra hắn là người của Thanh Thông bang hội đây nay mình vô tình đột nhập nhầm vào phạm vi thế lực của Thanh Thông bang hội như thế, quả là chuyện rắc rối đây, Thượng Quan Linh bên tính kế trong bụng để đào tẩu cho yên chuyện. Trong lúc đó, ba tên bị mất ngựa từ xa chạy tới phía Thượng Quan Linh, vừa chạy chúng vừa lên tiếng rằng:
- Thưa Sở hương chủ, chớ có để cho thằng nhãi ấy chạy thoát! Đại cô nương sai bọn tiểu nhân đem cây đàn này về giao cho trang chủ, nhưng vừa rồi đây đã bị tên này cướp mất.
Lôi hỏa tam lang Sở Canh bèn ra dấu tay cho ba người đứng lui ra một phía, xong ngắm nhìn kỹ Thượng Quan Linh một chặp mới rằng:
- Ta xem võ công của ngươi cũng không tệ gì? Vậy chúng ta hãy đấu thử vài chưởng với nhau cái đã!
Dứt lời, ào một chưởng đánh thẳng ra, Thượng Quan Linh nằm trong tình trạng này bắt buộc phải trả đòn, và chàng cũng muốn đánh chớp nhoáng để mau đi cho yên chuyện, bèn dùng ngay đến ngọn Đinh Giáp thần công tiến đánh mở đường ào ạt, khí thế như bài sơn đảo hải, phạt ngang chém dọc, bửa xéo, ầm ầm xông thẳng qua thiếu niên. Nào ngờ Lôi hỏa tam lang Sở Canh tuy chưa già dặn chuyện đời, nhưng trời cho sức mạnh vô biên, môn tuyệt chưởng của Thượng Quan Linh ấy lại đúng khẩu vị của y, thế là đôi bên quyền qua chường lại, diễn ra một cách vô cùng hào hứng:
- Tên Sở Canh vừa đánh vừa lên tiếng khen hay, hình như y cảm thấy chưa bao giờ đánh được một trận sướng tay như lúc này, chỉ nghe y luôn luôn lên tiếng:
- Hà! Hà! Đã quá! Đã quá!...
Thượng Quan Linh thấy tên Sở Canh này hình như công lực cũng không thua gì mình, bất giác tiểu anh hùng lại bốc máu háo thắng đùng đùng, quyết tâm phải ăn trận này mới chịu!
Cuộc giao tranh gay go đang diễn ra, chớp mắt đã trên ba mươi hiệp, và xung quanh đã vây đông những người của Thanh Thông Hội, Thượng Quan Linh bèn lên tiếng mắng rằng:
- Này Sở Khanh kia! (thực ra là Sở Canh nhưng Thượng Quan Linh muốn chọc cho y nổi khùng) ngươi ỷ đông người thắng ta đâu phải là bản sắc của kẻ anh hùng?
Lôi Hỏa Tam Lang quả là một hảo hán, y vội quát hét mọi người lui hết ngay. Thấy trời đã sẩm tối, y bèn sai người đi lấy cơm rượu ra khoản đãi Thượng Quan Linh, no nê xong y bèn ra lệnh đuổi hết các người Thanh Thông Hội về, rồi đứng ngay dậy giao đấu lại với Thượng Quan Linh. Hai bên đánh vùi nhau thêm đến mười tàn nhang, trời tối mịt hẳn, quần áo đôi bên đã thấy tả tơi, và cả hai đã cảm thấy bơ phờ.
Bỗng Sở Canh ngừng ngay tay lại nói:
- Đã quá! Đã quát Sở Canh ta chưa hề đánh trận nào sung sướng thích bằng trận đánh này! Khoái thật!
Thượng Quan Linh tuy không được thích trí bằng Sở Canh, nhưng cũng cảm thấy đánh đã tay lắm, nhất là Sở Canh lại có bản sắc anh hùng một chọi một như thế không hề ỷ trong thế lực phạm vi Thanh Thông Hội để đàn áp địch thủ, quả đúng là một hảo hán!
Thượng Quan Linh bất giác đâm ra có hảo cảm với thiếu niên Sở Canh này ngay.
Lúc này Sở Canh vẫn thở dồn dập cười nói:
- Này! Tiểu tử, tên ngươi gọi là nhỉ?
Thượng Quan Linh trả lời xong, Sở Canh lại cười rằng:
- Thôi, Thượng Quan Linh, đêm nay chúng ta hãy đợi đây đi! Sáng mai chúng mình sẽ đấu thêm nữa vậy! Chịu không?
- Cũng được!
Lôi hỏa tam lang Sở Canh bèn quay thân nằm lăn ra mặt đất chuẩn bị ngủ, và y lẩm bẩm rằng:
- Này Thượng Quan Linh, ngươi cứ việc yên trí, sáng mai chỉ có hai chúng mình đấu với nhau, và ta sẽ đánh cho ngươi phục mới nghe ! . . . . . . đánh đã tay thật! .
Chỉ trong chốc lát, Sở Canh đã ngáy khò khò ngủ say như chết!
Thượng Quan Linh nghĩ và cười thầm trong bụng, sao Thanh Thông Hội lại có một nhân vật quả cảm ngay thẳng như thế được, ngang nhiên lại dám ngủ chung với kẻ địch! Nhưng Thượng Quan Linh nghĩ mình không nên mất thì giờ ở đây làm gì, chẳng thà nhân ngay lúc y ngủ say này, mình về luôn Ngao Sơn cho xong việc! Nghĩ xong chàng bèn âm thầm thu xếp và mang luôn chiếc đàn Bát long ngân lẻn ra khỏi Thanh Thông Cốc.
Nhưng đường lối sơn cốc vô cùng phức tạp, loanh quanh mãi mà chàng vẫn chưa sao ra khỏi sơn cốc, trời đã dần dần sáng, trong lòng Thượng Quan Linh bất giác cuống lên.
Bỗng một tiếng Hí... vang lên, một con tuấn mã chạy ngay lại cạnh Thượng Quan Linh, yên cương đều sẵn hết, ngựa ta có vẻ quen với Thượng Quan Linh lắm, cứ loanh quanh bên cạnh chàng.
Thượng Quan Linh ngạc nhiên, nhưng quả thật chân chàng cũng đã mỏi, chàng cũng chẳng cần biết là điềm hung hay điềm lành, cứ nhảy bừa lên yên ngựa đã rồi tính sau. Sau khi tung mình vọt lên yên, bỗng Thượng Quan Linh hoảng người, vì con tuấn mã không chờ chàng sử dụng dây cương, nó ngang nhiên tung vó chạy như bay chàng tính tìm cách để kiềm chế nó lại nhưng bỗng thấy phía trước sáng bừng hẳn, thì ra con tuấn mã đã đưa chàng thoát khỏi sơn cốc mịt mờ trong làn sương buổi sáng.
Trước cảnh sáng tinh sương ấy, Thượng Quan Linh thấy ngoài cửa cốc có một thiếu nữ đứng uy nghi, áo trắng tinh hơn tuyết, tà áo phất phơ như tiên nữ trên mây. Trống ngực chàng đánh liên hồi, chàng cũng không biết mình đang sợ hay đang mừng nữa? Chỉ trông thấy nàng đang quay đầu lại và mỉm cười với mình, nàng không lên tiếng trách móc gì, nhưng từ trong đôi mắt của nàng, cũng đủ khiến cho Thượng Quan Linh ngượng ngùng khó chịu trong lòng rồi!
Liễu Mi cười rằng:
- Anh Linh, hãy để tôi đưa anh ra khỏi cốc vậy! Vì địa hình của Thanh Thông Cốc vô cùng phức tạp, không quen đường lối của nó quả là phiền bực lắm!
Bay lâu Thượng Quan Linh vẫn ao ước được gặp lại nàng, rồi sẽ nói những câu mình đã sắp đặt với người đẹp, và phải ăn nói sao cho hay và khéo... nhưng giờ đây gặp nàng, chàng bỗng dưng như người bị cấm khẩu, không thốt ra được câu nói gì, chàng ngầm cảm thấy lòng mình bị tràn ngập những nỗi vui mừng, khiến chàng bị bế tắc luôn những câu nói mà chàng cố công sắp đặt sẵn từ trước! Và Thượng Quan Linh chỉ còn nước đỏ gay mặt rằng:
- Xin đa tạ Liễu cô nương!
Liễu Mi đưa tay lên vuốt ngay bờm ngựa nói:
- Thôi! Cưng về đi, và hãy cho Tiểu Thiền hay là ta bận tiễn khách ra cốc!... Cưng ngoan và giỏi lắm, Tiểu Thiền sẽ thưởng đậu cho ăn, mau về đi!...
Con tuấn mã hình như biết nghe lời chủ nó, sau khi hí lên một tiếng dài như vui mừng rồi quay đầu chạy như bay vào cốc!
Ngựa chạy khuất dạng xong, Liễu Mi đi trước dẫn đường quanh co liên miên đường sơn cốc, nàng cười rằng:
- Anh xem! Đây chính là những kỳ bí của Thanh Thông Cốc, vào thì dễ mà ra thì khó, rõ ràng đây là cửa sơn cốc chứ gì, nhưng thực ra cửa sơn cốc còn xa lắm.
Thượng Quan Linh không biết trả lời sao, chỉ nói:
- Sơn cốc này quả thật là hùng vĩ nguy nga!
Liễu Mi rằng:
- Nhưng, từ hôm nay trở đi, ngôi sơn cốc này sẽ gặp tai ách liên miên rồi, vì Bắc kiếm Phổ Côn và bộ hạ của ông ta sẽ mở ngay một trận chiến quyết liệt với Thanh Thông Hội tại Thanh Thông Cốc này!
Nói xong nàng buông tiếng thở dài, bộ mặt tươi tỉnh như hoa ấy lúc này ủ rũ buồn, khiến ai nhìn cũng phải thương hại!
Thượng Quan Linh không biết nên an ủi nàng ra sao nhưng sẵn có vấn đề trong bụng: Là không biết nàng là cô chị hay cô em? Tuy muốn rõ ngay chuyện này, nhưng lại không biết nên mở miệng hỏi người ta bằng cách nào cho ổn?
Hai người lại đi thêm được một chập nữa, cuối cùng Thượng Quan Linh nghĩ ra một cách. Chàng nói:
- Nếu quả thật Bắc kiếm Phổ Côn thúc lãnh bộ hạ lại đây dự kiến như thế, cô vốn là trường nữ của trang chủ, thế nào rồi chẳng phải đụng độ giao tranh với nhóm Tư Đồ Cống?
Nhưng Liễu Mi vốn là cô gái thông minh tuyệt đỉnh, nghe xong rõ ngay ngụ ý của Thượng Quan Linh, mắt nàng chớp nhanh, cố ý giữ bộ mặt rầu rầu rằng:
- Chính thế! Tôi là con gái của trang chủ Thanh Thông Bang, tránh sao khỏi không giao tranh với nhóm người này?
Thượng Quan Linh thấy nàng không phủ nhận, quả nhiên là con gái lớn của Thanh Thông bang chủ, chàng bỗng dâng lên một nỗi niềm thất vọng, như tiếc thay cho số mạng của kẻ hồng nhan bạc mệnh...
Liễu Mi bật cười lên đến khích một tiếng, bỗng nàng nói:
- Nhưng câu nói của anh vừa rồi cũng chưa được đúng cho lắm!
Thượng Quan Linh phấn khởi hồi hộp hỏi gấp:
- Tôi nói sai chỗ nào hả cô?
Nàng chớp mắt ngó Thượng Quan Linh cười rằng:
- Tôi tuy là con gái của bang chủ Thanh Thông Hội, nhưng không phải là cô gái lớn!
Thượng Quan Linh mừng suýt kêu tướng lên, chỉ trong nháy mắt, chàng tự cảm thấy mình hạnh phúc vô cùng, người chàng lâng lâng như đang bỗng lên tiên cảnh.
Liễu Mi tung tăng đi cạnh chàng, không khác nào như chim non đang bay nhảy đùa với cảnh xuân, chàng tính đưa tay ra chụp ngay con chim vào lòng mình để vuốt ve; nàng chính là cô gái thứ của Liễu bang chủ, nàng trong trắng hồn nhiên như thế, tuy trên giang hồ nhiều người đồn nàng đanh đá nghịch ngợm, nhưng những chuyện ấy không thể tổn hại gì đến danh dự trong trắng của nàng cả! Thượng Quan Linh cảm thấy hiện đang sung sướng nhất trên đời!
Hai người vẫn tiếp tục đi, dần dần Liễu Mi thả chậm bước lại, và trước mắt hai người đã hiện ra một hồ nhỏ lối bảy trượng vuông, nước trong veo, hai bên bờ có những cành liễu rũ xuống như tiên nữ gội tóc, toàn màu xanh mướt. Liễu Mi đủng đỉnh bước ngay lại phiến đá bên bờ hồ ngồi xuống, Thượng Quan Linh lại đứng cạnh nàng. Nhưng thấy nàng sắc mặt kém vui thở dài, đưa tay chỉ sang đối ngạn nói:
- Anh ra khỏi nhóm liễu bên kia sẽ thấy đường quan đạo ngay, và đây chính là lối ra bên cánh phải của Thanh Thông Cốc!
Ngừng một lúc nàng lại khẽ tiếng rằng:
- Tôi chỉ có thể đưa anh tới đây,... mong anh tự thận trọng vậy! Nhưng không biết cuộc chia tay này, bao giờ chúng mình lại gặp nhau...
Thượng Quan Linh xao xuyến và hồi hộp trong lòng, chàng tính an ủi nàng và hẹn ngày tái ngộ. Khá lâu mới bạo phổi rụt rè rằng:
- Em... Liễu Mi... Em cú yên trí về đi? Chừng nào thầy anh về Ngao Sơn, thế nào anh cũng tìm cơ hội lại đây gặp em...
Liễu Mi ngẩng đầu nhìn chàng cười, nàng hình như cảm thấy xao xuyến về câu gọi: Em Liễu Mi của Thượng Quan Linh lắm! Ánh bình minh đã chiếu rực hẳn khuôn mặt tuyệt thế tư dung của Liễu Mi, vẻ đẹp thiêng liêng khiến Thượng Quan Linh không dám nhìn thẳng!
Liễu Mi bỗng đưa tay ra lấy cây đàn của Thượng Quan Linh! Nàng mở ngay nắp hộp mân mê cười hỏi chàng:
- Anh Linh, thế anh có biết đánh đàn này không?
- Anh từng theo thầy học mót được chút ít, chỉ tại anh đần độn quá nên chưa đi đến mức Đăng đường nhập thất! (mức tuyệt đỉnh).
Liễu Mi tự lẩm bẩm rằng:
- Nam bút Gia Cát Dật vốn là người thanh nhã phong lưu chắc thế nào cũng tinh thông về môn này lắm, nhưng không biết đem so sánh với cha em, thì ai hơn ai kém?
Nàng nói đến đây lại nở nụ cười hồn nhiên rồi tiếp:
- Hôm qua chị em đã đoạt cây đàn này trong tay Bắc Kiếm, chị ấy tính tặng cho cha làm quà nhưng nào ngờ lại bị anh cướp về mất, rõ thật là: vật hoàn nguyên chủ (của về chủ cũ)...
Thượng Quan Linh nghĩ: Thanh Thông bang chủ vốn là người tinh thông về nhạc khúc, Liễu Mi lại là cô gái thông minh tuyệt đỉnh chắc thế nào chả biết ít nhiều về âm luật? Nay trong cảnh chia tay sắp đến còn đợi gì không nghe nàng đánh thử một khúc nhạc để ghi nhớ cảnh tình hôm nay? Nghĩ xong Thượng Quan Linh bèn cố gạ nàng Liễu Mi đánh cho nghe một bản!
Liễu Mi rằng:
- Giờ này cảnh đây, cành liễu ủ rũ, lòng người man mác, khó tránh khỏi lòng bi ai, e không có những âm huyền vui tươi đâu!
Tuy nói thế, nhưng nàng cũng bắt đầu gảy ngay vào các dây huyền.
Nhưng chỉ nghe tiếng đàn lúc trầm lúc bổng, khi lên cao thì bi tráng khích liệt, lúc hạ xuống thì nức nở không thôi! Dần dần tiếng đàn chuyển sang ủy mị du dương không ngừng...
Liễu Mi bỗng cất tiếng ca:
Xuân thảo bích sắc, Xuân thủy lục ba,
Tống quân Nam phổ, Thương như chi hà?
(Tạm dịch nghĩa: Cỏ xanh biêng biếc, nước xuân đượm tình,
Tiễn chàng xuôi bên Nam, nỗi lòng đau như cắt)
Câu danh phú này vốn là của Giang Văn Thông, trước tình cảnh này Liễu Mi đã hát lên như thế, thật không còn chê được vào đâu! Khiến cho chàng Thượng Quan Linh như say như tỉnh, mơ mơ màng màng,... chàng cũng ứng tiếng cất giọng rằng:
Hữu biệt tất oán, hữu oán tất danh,
Ý đoạt thần hài, tâm chiết cốt kinh!
(Tạm dịch nghĩa: Hề chia ly thì có oán, mà đã oán thì đau khổ đủ điều ý nghĩa như đoạt hồn kinh hãi, cõi lòng tan nát từng mảnh)
Bỗng tiếng đàn ngưng bặt, Liễu Mi đứng ngay dậy, mặt u buồn khẽ nói:
- Anh Linh... em phải về đây!
Thượng Quan Linh cảm động trong lòng, chàng vội hấp tấp:
- Em hãy khoan đi đã! Anh có vật này tặng cho em!
Liễu Mi giương mắt ngó Thượng Quan Linh, không biết chàng sẽ tặng mình vật gì đấy, chỉ thấy chàng loay hoay lo cởi cây Lệ thủy tinh kiếm, hai tay đưa sang, đầy vẻ thành thật rằng:
- Này Liễu Mi em! Đây là cây kiếm báu của ngu huynh vậy em hãy giữ lấy để phòng thân lúc lâm trận gặp nguy! Như thế ngu huynh có xa em cũng an tâm được phần nào!
Liễu Mi rút ngay kiếm ra khỏi vỏ, ánh bạch quang nhoáng nhoáng, một luồng hơi lạnh tỏa ra, chuôi kiếm có khắc những Khoa đầu tự (chữ hình như con nòng nọc), nàng bất giác buột miệng rằng:
- Trời ơi!... thì ra là Lệ thủy tinh kiếm!
Thượng Quan Linh lại rằng:
- Mấy hôm trước tại Ngao Sơn, anh đã bị hai tay cao thủ vây đánh kịch liệt, may nhờ ngọn kiếm này chém đứt binh khí của chúng, nên chúng hoảng chạy luôn! Đây lòng thành của huynh đem tặng cho em, vậy em hãy giữ nó bên mình đi!
Liễu Mi rằng:
- Tuy em rất thích cây kiếm này, nhưng em không thể nhận thế được!
Thượng Quan Linh ngạc nhiên rằng:
- Sao thế!
Liễu Mi giải thích:
- Em có hai lý do không thể nào nhận kiếm tặng của anh: một là cây kiếm này sắc bén tuyệt luân, sau này anh ra đời đi giang hồ, thế nào cũng phải có một binh khí hợp tay để dùng; thứ hai ngọn kiếm Lệ thủy bạch kim này, thuộc về loại thép dương cương thích hợp cho phái nam đeo, mà kẻ đeo nó có tăng cường thêm công lực, còn phái nữ thuộc về âm thể, không tiện dùng nó, nếu không, chẳng những vô bổ ích, trái lại còn có hại là khác!
Nói xong Liễu Mi trả lại kiếm cho Thượng Quan Linh, chàng đành nạp vào vỏ rồi cột lại bên mình, bỗng Thượng Quan Linh nghĩ đến chuyện chiếc Tiểu Đoạt Hồn Kỳ bèn hỏi Liễu Mi rằng:
- Này, em thông hiểu rộng rãi chuyện này như thế, vậy chiếc Tiểu Đoạt Hồn Kỳ lại là vật quí báu như thế nào? Có thể kể cho ngu huynh biết chút đỉnh lai lịch của nó không?
Liễu Mi rằng:
- Trên giang hồ này ai ai cũng biết, nhóm Càn Khôn Ngũ Tuyệt là: Đông Tăng, Tây Đạo, Nam Bút, Bắc Kiếm, Đoạt Hồn Kỳ. Mà cây binh đao của Đoạt Hồn Kỳ lại là một Phong ma đồng làm cán cờ, trên ngọn cờ lại có vẽ sọ người trắng và hai xương tréo như thế? Nhưng tại sao lại có những hình vẽ như thế? Anh có biết lai lịch của nó không?
Thượng Quan Linh cảm thấy hứng thú, bèn đáp rằng:
- Ngu huynh đều quen hết bốn vị Chân, Giả, Thiện, ác Đoạt Hồn Kỳ, nhưng về lai lịch cây cờ tại sao lại như vậy thì quả nhiên ngu huynh không được biết?
Liễu Mi rằng:
- "Em nghe cha nói, cây cờ ấy chính ra được bắt chước theo một hình thể thần vật chế tạo ra. Thần vật hình thể của nó rất nhỏ, trông không khác nào chiếc thoa cài tóc của phái nữ, không thể nào đem làm binh đao được, cho nên người ta đã chế cho lớn ra. Còn về chiếc Tiểu Đoạt Hồn Kỳ sự quí báu của nó, mỗi người nói một cách khác nhau, không nhũng em không rõ chuyện, mà cả đến cha em cũng chẳng hiểu hơn được gì, em chỉ biết trên ngọn cờ nhỏ bé này có hai hàng chữ lối chữ triện, tuy chỉ có lối mười mấy chữ, nhưng nếu ai có thể thấu hiểu rõ những ý nghĩa của mấy chữ ấy võ công lập tức sẽ trở thành tuyệt đỉnh cái thế ngay...
Thanh Thông bang hội gần đây không nhân tài xuất sắc gì trên giang hồ; trong ba tháng trước đây, gia phụ vô tình được chiếc cờ nhỏ ấy với một giá rất rẻ, sau đó mới biết rằng vật này là một vật quí báu hiếm có đồng thời gia phụ cũng muốn thấu hiểu những lối chữ triện trên đó để am hiểu một võ công tuyệt đỉnh hầu gây thanh thế cho Thanh Thông bang. Nên đã cố giữ kín tin tức không cho tiết lộ bí mật này ra ngoài.
Nào hay Bắc kiếm Phổ Côn bỗng nhiên đem theo thủ hạ đến Lạc Thủy và đưa cho gia phụ, nói bướng rằng: Tiểu Đoạt Hồn Kỳ là vật sở hữu của lão, và đương nhiên đòi chiếc cờ ấy phải qui về cố chủ nó, và còn nói là Càn Khôn Ngũ Tuyệt vốn là một nhà với nhau, nay Đoạt Hồn Kỳ Chung Ly Triết đã chết, vậy chiếc Tiểu Đoạt Hồn Kỳ phải thuộc về Bấc Kiếm, nhưng nay đã lọt vào Thanh Thông Hội, và lão biết rằng gia phụ thích cây cổ cầm Bát long ngân, và Bắc Kiếm bằng lòng lấy cây Bát long ngân lại đổi. Nhưng gia phụ không chịu đổi; còn về chuyện Bát long ngân, đêm ấy em cũng đến Hắc Hổ thần miếu nghe xem đầu đuôi ra sao và sau khi đánh bại Tư Đồ Cống, em đã tính ra tay đoạt luôn, nhưng vì thấy anh khăm chăm ngó cây đàn, nên em lại không nỡ đoạt của anh, nhưng rốt cuộc cũng bị chị đoạt. Chuyến này Bắc Kiếm đã không được cờ lại mất thêm đàn, đúng là bắt gà không được toi nắm gạo, thế nào lão cũng tức điên người lên được, xem ra trận ác chiến tại Thanh Thông Cốc này không làm sao tránh khỏi!"
Thượng Quan Linh rằng:
- Lệnh tôn đã được cây cờ đó, chỉ cần sao khám phá ra những kỳ văn trên ấy, thế nào cũng luyện được những võ công cái thế trên trần gian, chừng đó sợ gì Bắc kiếm Phổ Côn không phục?
Liễu Mi lắc đầu rằng:
- Chưa hẳn thế, dù chỉ lưa thưa có vài chữ trên cờ ấy nhưng cha em vẫn chưa hiểu nổi dụng ý trong ấy nói những gì! Em đã tự nguyện đứng ra để giúp người, nhưng cha em nói cây cờ đó linh lắm, nhất là không lợi cho thân con gái, cấm em không được bàn đến chuyện này!... Nhưng gần đây trên giang hồ lại xuất hiện thêm báu vật rất đáng sợ, báu vật ấy chỉ là một tỉ thủ nho nhỏ nhưng giết người không bao giờ thấy máu, sắc bén tuyệt luân, được mệnh danh là Lãnh điện tỉ thủ cũng thuộc loại báu vật lâu đời, nhưng đã mất tích lâu năm, và mới tháng trước đây đã tái xuất hiện trên giang hồ. Việc này quả thật là một việc không may gì cho võ lâm, vì nó vừa xuất hiện ra đã gây kinh động khắp võ lâm, mấy năm trước tại Vạn Tính Công Phần, nơi Cửu U Địa Khuyết đã từng xảy ra vụ thảm án, khiến cho Chung Ly Triết, Diêm Nguyên Cảnh, Gia Minh, Tạ Đông Dương...
Thượng Quan Linh nghe tới đây giật thót mình vội lên tiếng hấp tấp:
- Này em Liễu Mi, em muốn nói là vụ thảm án bí mật ấy chỉ do chiếc Lãnh điện tỉ thủ ấy gây nên sao? Vậy thì chủ nhân của tỉ thủ kinh khủng ấy là ai? Nói mau cho anh biết!
Thượng Quan Linh vội nắm chặt ngay bả vai của Liễu Mi lắc lia lịa thần sắc thay đổi hẳn.
Liễu Mi ảm đạm rằng:
- Gia phụ cũng chỉ nghe trên giang hồ đồn đãi như thế, còn chủ nhân của chiếc Lãnh điện tỉ thủ là ai, đến hiện nay chưa ai biết. Chẳng qua khi Chung Ly Triết lão tiền bối sau khi thân thủ bị phân ly, nơi thủ cấp bị cắt đứt ấy không thấy có giọt máu nào, nên mọi người mới cho rằng bị chiếc tỉ thủ hại.
Thượng Quan Linh nghĩ đến ân sư và các vị lão tiền bối bị chết một cách thảm thê như thế, chàng bất giác buông tiếng khóc nhớ liên miên.
Liễu Mi khuyên mãi và rằng:
- Nghe nói trong số người thiệt mạng ở Cửu U Địa Khuyết, có cả một thiếu nữ trẻ trung nhan sắc thì phải!
Thượng Quan Linh lại ứa lệ rằng:
- Đúng thế, chị ấy là Thường Bích Vân, coi anh như em trai ruột vậy!
Liễu Mi lại nói:
- Gần đây nghe thiên hạ đồn rằng. Lãnh điện tỉ thủ lại đương tung hoành hại người, và nghe đâu tại Sài Gia Bảo, cách mười dặm phía Nam của thành Nhạc Dương, mà người bị nạn là một trong tam vị khất của Cùng Gia Bang, tức Độc cước truy phong Nhân tâm thần khất Phương Kỳ, và cũng thiệt mạng về chiếc Lãnh điện tỉ thủ kinh khủng ấy!
Thượng Quan Linh hét lớn lên rằng:
- Trời ơi! Phương Kỳ? ông ta vốn là bạn chí thân của ngu huynh, xưa kia ông ấy từng ra sống vào chết với anh, cùng là bạn hoạn nạn có nhau... Em Liễu Mi, chuyện này có thật không?...
- Em cũng mới được nghe tin đây, nhưng mong sao không phải là tin thật!
Thượng Quan Linh run giọng, biến sắc mặt rằng:
- Phương đại ca! Phương đại ca ôi!...
Liễu Mi an ủi chàng rằng:
- Anh Linh... anh đừng có vội quýnh người lên như thế, coi chừng tổn hại đến thân hình thì nguy, giờ đây anh có thể đi điều tra trước xem, chưa chừng không phải ông ta cũng nên!
Lòng dạ Thượng Quan Linh rối như tơ vò, chàng vội hấp tấp giao ngay cây đàn Bát long ngân cho Liễu Mi rằng:
- Em Liễu Mi, hãy thứ lỗi cho anh, vì tâm tình anh lúc này rối điên lên quá,... nay cây đàn này anh không thể đem theo bên người được, nhờ em trông coi hộ cho anh, anh cũng không kịp bẩm rõ sự thể với thầy anh nữa, vậy nếu tiện em hãy ráng nói hộ với thầy anh một tiếng!
Liễu Mi bèn nhận ngay lời và an ủi chàng rằng:
- Anh Linh, nếu quả Phương đại hiệp không có chuyện gì xảy ra, anh nên sớm về Ngao Sơn nhé, nếu chẳng may có hung tín, anh cũng chớ nên bi ai quá độ làm gì, cần nhất là anh phải về ngay Ngao Sơn thương lượng ngay với thầy anh để điều tra cho ra hung thủ! Còn nếu trong Thanh Thông bang hội không có chuyện gì rắc rối, thế nào tiểu muội cũng lại giúp sức anh!
Thượng Quan Linh lòng nóng như lửa đốt, sau khi ra khỏi cốc, hấp tấp lên đường đi ngay về hướng Nam.
Cuộc hành trình của chàng được tiến hành suốt ngày lẫn đêm không ngừng, qua Cao Sơn, xuôi Nam Dương... rồi đến Hán Thủy gần Phàn Thành.
Trời đã xế chiều, trên quan đạo người đi không nhiều lắm, nhưng chàng thấy phía trước có đám đông đang chen lấn nhau, Thượng Quan Linh giục ngựa tới nơi xem chỉ thấy bốn đại hán đang vây đánh một người kịch liệt!
Bốn người đều tay cầm binh đao, miệng luôn hò hét inh tai, nhưng thấy kẻ bị vây ở giữa lại tay không, đứng ngay chính giữa với một điệu bộ rất ư là lười, vì mỗi khi chờ cho binh đao của bốn người đánh tới nơi, mới chịu ra tay bằng cách quạt chưởng phong đánh bật binh đao của kẻ địch. Thượng Quan Linh vốn đang nóng ruột về chuyện của mình, khốn nỗi bây giờ đám đông đứng chật đường lối như thế này; không sao đi qua được, chàng đứng cau mày bực mình.
Chàng bèn lùi ngay ngựa lại sau một chút, sẵn sàng dây cương để tìm nơi trống trải nhảy vọt nhanh sang, không ngờ một trong bốn người đang vây đánh người nọ, hình như tên này đã đánh đến quẫn trí thì phải, khi thấy Thượng Quan Linh sửa soạn xen qua, hắn vung ngay đao chặn lối quát nhặng lên rằng:
- Muốn tìm đường xuống địa ngục hả?
Thượng Quan Linh sốt ruột, không muốn dây dưa nhiều chuyện trong lúc này, chàng sợ gây nên phiền phức không đâu, đành phải ghìm ngay cương ngựa đứng lại hét lên:
- Tránh ra!
Nào hay tên nọ đánh nhau đến lú ruột gan, cho rằng Thượng Quan Linh cũng là địch thủ, chẳng nói chẳng hỏi thêm trắng đen gì, vù một tiếng gió, khua đao chém thẳng ngay vào đầu ngựa của chàng!
Thượng Quan Linh dùng ngay roi ngựa hất mạnh ra và giật mạnh một cái, thình lình cuốn ngay lưỡi đao của tên nọ. Ý của chàng là muốn biểu diễn một ngọn như thế để cho tên nọ khiếp vía tránh lối cho mình đi cho được việc nào ngờ tên này sau khi đao bị cây roi của Thượng Quan Linh cuốn chặt rút không ra, bèn cuống lên la hoảng inh ỏi:
- Bớ anh em... mau mau lại đây! Thằng oắc này cao tay lắm!...
Thượng Quan Linh ngầm than khổ, nếu bị đám hỗn này vây chặt, làm sao mà thoát thân, chàng vội rút ngay roi và thúc ngựa xông bừa!
Bỗng một tiếng hét từ phía sau tới:
- Mãnh con! Bộ còn muốn thoát sao?
Trong nhóm ba tên vây đánh người lười kia, lúc này đã có hai người vọt tới phía Thượng Quan Linh, chia ngay ra một tả một hữu, khua đao phong tỏa ngay lối đi của chàng, bạch quang vừa nhoáng lên một cái, con ngựa hét vang một tiếng chồm đứng lên ngay, suýt quật luôn Thượng Quan Linh xuống, con ngựa chàng đã bị thương!
Thượng Quan Linh nhảy tụt nhanh xuống ngựa, trong lòng giận điên lên quát rằng:
- Ta là kẻ qua đường, nào có trêu ghẹo các ngươi, tại sao lại chận ngang đường không cho ta đi là nghĩa gì?
Một tên trong bọn lên tiếng rằng:
- Thằng mãnh con? Bộ còn muốn ương ngạnh sao? Không biết Phàn Thành Tứ Long bọn ta đang bận việc trên quan đạo này à? Đã không chịu đứng một chỗ mà xem, hấp tấp hung hăng đi xuống âm phủ sao?
Thượng Quan Linh thấy mấy người này ai nấy mắt xếch, mặt toàn những thớ thịt ngang, tướng mạo không phải là kẻ thiện gì, chàng cố nín cơn giận giải thích rằng:
- Tại hạ có chuyện gấp bên mình, xin quí vị thông cảm và nhường cho tại hạ đi ngay...
Tên đứng gần nhất cất tiếng cười nhạt rằng:
- Hừ! Có chuyện gì mà phải vội vã đến thế? Không lẽ mãnh con có bạn chí thân nào chết, lo đi đưa đám sao mà gấp vậy?
Câu nói này lại khéo đụng ngay vào tim đen của chàng, chính là một câu nói mà chàng không thích nghe tí nào, Thượng Quan Linh liếc nhìn con ngựa bị thương nặng nằm dưới đất, trong lòng đâm nổi nóng, chàng bèn quyết ý cho bọn này một bài học, nghĩ xong chàng thình lình quát lớn lên:
- Cút mau ngay ra!
Tiếng quát của Thượng Quan Linh lập tức thu hút ngay bốn người. Cả bọn binh đao lo trấn giữ lối đi, và ai nấy chăm chú hành động của chàng, khi chúng thấy Thượng Quan Linh có vẻ cuống quít, càng đâm ra đắc ý bèn bày ngay bộ mặt hách dịch cười ngạo nghễ rằng:
- Này mãnh con! Nếu biết điều thì quì ngay xuống cộc đầu và gọi Tứ đại gia mỗi người một tiếng ông nội, chúng ta sẽ lượng tình tha cho đi ngay!
Thượng Quan Linh không nhịn được nữa, bèn quát lên:
- Này Phàn thành Tứ Long, bọn ngươi ức hiếp người vừa vừa chứ, thôi thì cũng được, ta cũng sẵn lòng đùa với bọn ngươi vài đường vậy!
Nói xong chàng lập tức đứng ngay thế chuẩn bị nghênh địch!
Thế là một ám hiệu vang lên, cả bốn người cùng vung đao bửa nhanh vào Thượng Quan Linh một lượt, nhưng thân hình Thượng Quan Linh vẫn không biến đổi chờ khi binh đao của bốn người xáp tới gần, thình lình chàng hét lên một tiếng như sấm nổ, dùng đến bảy phần mười công lực, song chưởng đẩy mạnh ra với một thế Tống nguyệt thôi song (tiễn trăng qua cửa sổ) ép mạnh sang!
Trong nhóm Phàn Thành Tứ Long, hai tên đứng trước đã bị chưởng phong của Thượng Quan Linh áp mạnh tới, cả hai đứng không vững, loạng choạng như muốn té, hai tên phía sau thấy vậy vội chạy lên tiếp ứng!
Nội trong một chưởng đầu, Thượng Quan Linh đã biết ngay công lực của Tứ Long chẳng có gì, chàng cười nhạt một tiếng bụng nghĩ thầm: rõ thật là quân khoét vách còn hơn chúng, vậy mình nên mau cảnh cáo chúng rồi còn đi cho kịp chứ!
Thượng Quan Linh nghĩ xong bèn quyết định ngay, chàng bèn vung chưởng dùng ngay ngọn tuyệt học Đinh Giáp thần công, thế là trận cuồng phong như bài sơn đảo hải đánh tới tấp sang! Trông chàng lúc này không khác nào như mãnh hổ lọt vào đàn dê; song chưởng chàng tha hồ: phạt, bửa, quất, xỉa, vỗ, càng đánh càng mau! Phàn Thành Tứ Long nào phải đối thủ của Thượng Quan Linh cả đám cố sức chống trả la hét ầm ĩ, nhưng tuyệt không chịu lui bước.
Thượng Quan Linh liếc nhìn về người bị bốn người vây đánh lúc này chỉ thấy gã này ngồi ngay bên lề đường như thưởng thức cuộc giao tranh của năm người, thần sắc có vẻ thản nhiên lạ lùng. Khi Thượng Quan Linh quay đầu lại nhìn gã, gã bèn ngước mắt ngó ngơ đi chỗ khác!
Thượng Quan Linh giận thầm trong bụng: Đáng đời cho mình thật? Chuyến này Phàn Thành Tứ Long đều vây đánh hết cả sang mình, mà gã này lại thản nhiên ngồi một chỗ quan sát trận chiến ung dung như thế, hình như cuộc nội chiến này không dính dấp gì với gã cả, chỉ nội nhìn bộ dạng lười biếng của gã, trong lòng vừa tức giận cũng vừa buồn cười!
Phàn Thành Tứ Long liều đánh không chịu lui, khiến cho lòng dạ Thượng Quan Linh càng đâm sốt ruột thêm, chợt chàng nhảy phắt ngay về sau, soẹt một tiếng rút phắt ngay cây Lệ thủy tinh kiếm ra, một ánh bạch quang nhoáng nhanh cái, mọi người chỉ còn nghe cheng leng leng một tiếng vang, những binh đao của Phàn Thành Tứ Long đều bị tiện đứt thành hai hết, cả bốn người giật bắn người? Chẳng ai rủ ai, vội ôm đầu co giò chạy thật nhanh mất...
Thượng Quan Linh cũng chẳng thèm đuổi theo. Chàng vung kiếm khua vẽ một đường lên không rồi mới tra ngay kiếm vào vỏ, bỗng chàng nghe một tiếng nói truyền lại rằng:
- Kiếm quí thật! à Thượng Quan Linh quay đầu nhìn ngay anh chàng lười, lại thấy gã nhìn đi chỗ khác. Chàng lại khám xem con ngựa, thấy bị thương nặng quá, không thể nào cưỡi nữa đành hạ hết những hành lý đơn giản ra để cuốc bộ chứ biết làm sao hơn? Nhưng chàng không biết còn bao xa mới có thành quách thị trấn, trời đã bắt đầu tối, Thượng Quan Linh cũng cảm thấy mình mệt mỏi. Liếc mắt nhìn anh chàng lười nọ, thấy gã vẫn ngồi yên như cũ, chàng bỗng nghĩ thầm nếu không có chuyện của gã này, mình đâu có đến nông nỗi này, nghĩ thế Thượng Quan Linh đâm bực mình với gã lạ mặt này.
Nhưng trong năm năm trời học võ với Nam bút Gia Cát Dật tại Ngao Sơn, chàng luôn luôn được thầy nhắc nhở là phải khiêm tốn ôn hòa bất cứ với một việc gì nhất là sau này có xuất đầu lộ diện trên giang hồ, đối với người nào cũng phải có thái độ hòa dịu, không nên ngông cuồng hỗn xược.
Thượng Quan Linh ngước mặt lên nhìn trời, xong mang luôn khăn gói lên vai, nhìn gã nọ vẫn ngồi ì ra đấy chàng bèn cố niềm nở nói rằng:
- Này ông bạn! Chúng ta đi thôi!
Gã nọ ngáp xong vươn vai đứng lên với một điệu bộ lười biếng rồi đủng đỉnh bước lại phía trước mặt Thượng Quan Linh.
Thượng Quan Linh thấy vóc dáng người này khôi ngô vạm vỡ, tướng mạo đoan chính, tuổi ước trên hai mươi, tuy cử chỉ có hơi lười biếng, nhưng cũng ngầm chứa phong độ ung dung bên trong, chàng bất giác thất kinh và cũng đâm ra có lòng kính nể ngay!
Đi được một quãng đường khá xa, Thượng Quan Linh thấy bộ pháp người thiếu niên này không những khỏe mà còn vững, chỉ hơi tiếc là vẫn còn vẻ lười trong đó hình như thiếu niên này đối với vật gì cũng chán thì phải? Lạ nhất là suốt từ nãy đến giờ không hề mở miệng nói một câu gì!
Thượng Quan Linh bèn cà kê nói chuyện vôi thiếu niên:
- Tại hạ Thượng Quan Linh, dám hỏi huynh đài tôn tánh (họ)?
Thiếu niên chỉ trả lới cộc lốc một tiếng:
- Hầu!
Người đâu lạ đến thế thì thôi! Trả lời chỉ có độc nhất mỗi tiếng như thế, đến cả tiếng họ cũng không buồn nói thêm.
Thượng Quan Linh cũng trả đũa ngay lại:
- Đại danh?
Thiếu niên cũng vẫn đáp cộc lốc một tiếng:
- Hạo!
Thì ra gã là Hầu Hạo, sau khi hai bên biết họ tên nhau, cuộc diện trở về trầm mặc như cũ, hai người vẫn đi nhưng chẳng ai nói với ai. Đi được một chặp, Thượng Quan Linh chợt nhớ ra, mấy hôm trước ở Tùng Thọ Cư trên Ngao Sơn, sau khi Túy Đầu Đà uống quá chén, kéo Thượng Quan Linh vào lòng kể cho chàng biết rằng: gần đây trên giang hồ miền Bắc đã xuất hiện một thiếu niên hiệp sĩ nghe đâu là họ Hầu, công lực cao không thể nào lượng nổi, và tính tình chuyên thích phá phách những nhân vật hắc đạo trong võ lâm, hễ gặp được những tay hắc đạo, đều thẳng tay tàn sát không dung tha; nhưng chỉ có một tính kỳ lạ nhất là trầm mặc ít nói, tướng tá bề ngoài trông lười vô kể, và trên giang hồ, thanh danh của chàng hiệp sĩ này đã nổi như sóng cồn, cả hai phái Hắc Bạch Đạo trong võ lâm đều tặng cho chàng một biệt danh gọi là Lãn Hiệp (hiệp sĩ lười).
Nay xem tướng tá của Hầu Hạo đây, quả thật không khác gì với lời tả của sư bá Đông tăng Túy hòa thượng là bao, bộ người này chính là vị Lân Hiệp nổi danh như sóng cồn đấy sao?
Thượng Quan Linh nghĩ đến đây, trong lòng lại bất giác đâm ra quả cảm và lấy làm thú vị với nhân vật đang đi chung bên cạnh mình, chàng bên cất tiếng hỏi:
- Hầu huynh? Vậy huynh có phải là Lãn Hiệp đấy không.
Nhưng Hầu Hạo chỉ hừ một tiếng không nói gì, cũng chẳng biết chàng nhận hay lả chàng chối, Thượng Quan Linh bất giác bực mình, bụng nghĩ: người này quá kiêu ngạo lại vô lễ, chàng tức giận đếch thèm hỏi nữa!
Hai người vẫn đi liên miên suốt đường quan đạo trong cảnh đêm tối. Sau khi chàng Thượng Quan Linh tức giận, hai chân chàng bất giác đi nhanh vùn vụt, nhưng chàng Hầu Hạo hình như sợ Thượng Quan Linh bỏ rơi mình, cũng vội rảo bước theo sát bên người, Thượng Quan Linh nhanh thì chàng cũng nhanh, mà chậm thì Hầu Hạo cũng chậm lại, nghĩa là luôn luôn không trước không sau, đi ngang hàng đúng với Thượng Quan Linh
Khi trời gần sáng, thì trước mắt hai người đã hiện ngay ra một thành quách. Khi hai người vừa đến cổng thành, vì còn sớm nên cổng thành còn chưa mở, Thượng Quan Linh tung thân vèo ngay vào trong, thấy mấy tên lính canh cổng thành còn đang vùi đầu ngủ kỹ với nhau.
Chàng ngó quanh quất bỗng thấy tấm cáo thị dán vách, mới biết đây là Nhưỡng Dương, một thành quách của tỉnh Ngạc Bắc (tức tỉnh Hồ Nam nay)
Thượng Quan Linh rằng:
- Hầu huynh, chúng mình hãy nghỉ ngơi tại đây, chờ mua ngựa để đỡ chân, huynh tính sao?
Hầu Hạo chỉ gật đầu. Cuộc sinh hoạt của thành Nhưỡng Dương đã bắt đầu, sau khi vào quán ăn uống xong, Thượng Quan Linh bèn suy tính: nếu đi bằng đường thủy đến Nhạc Châu cũng được, nhưng chỉ ngại hơi chậm, thà cứ dùng ngựa đi bằng đường bộ lại còn mau. Lòng chàng nóng như thiêu, ăn xong bèn đi mua ngựa ngay. Và hai người kéo ngựa ra cổng thành phía Nam dong ruổi luôn một mạch!
Hầu Hạo thấy Thượng Quan Linh làm gì thì chàng ta làm theo, không lên tiếng hỏi han gì.
Thượng Quan Linh vừa lạ vừa bực mình, nhưng càng cố nhẫn nhịn rằng:
- Hầu huynh! Nay tiểu đệ bận việc riêng trong người, nên phải đi gấp về Nhạc Châu, và cuộc đi này sẽ liên tục suốt ngày lẫn đêm, chúng ta có lẽ đi chung không tiện? Hầu huynh nếu cũng bận việc, tiểu đệ thật không dám quấy quá, vậy xin chia tay với Hầu huynh đây vậy và hẹn gặp nhau sau, liệu Hầu huynh tính sao?
Thượng Quan Linh nhìn thẳng vào mật Hầu Hạo để chờ câu trả lời, nhưng chàng lười chỉ gật đầu thay cho câu nói.
Thượng Quan Linh ngầm tức mình xui xẻo mới gặp người bực mình như thế, chàng cũng chẳng thèm nói nhiều, vung ngay roi quất ngựa đi luôn!
Thượng Quan Linh đi được một lúc, trong lòng chàng lại nghĩ đến con người kỳ dị của Hầu Hạo, suốt cả một đêm gần gũi với người này, mà chỉ vỏn vẹn nghe được có năm tiếng: Kiếm quí thật và hai tiếng xưng họ và tên Hầu Hạo. Ngoài ra, nếu không phải gật đầu tức là lắc đầu, còn không nữa thì những tiếng hừ lạnh lùng bằng giọng mũi? Mình đã ra công đánh chạy đám Phàn Thành Tứ Long hộ y, lại mời cơm nước, mua ngựa cho y, thế mà đến hai tiếng cám ơn hắn cũng chẳng buồn nói? Nghĩ đến đây Thượng Quan Linh càng bực tức thêm, chàng vung roi quất bâng quơ về sau!
Nhưng Thượng Quan Linh đã thất kinh thốt lên hai tiếng Ai da!, vì chính người đang theo sau chàng không phải Hầu Hạo thì còn ai?
Ngọn roi của Thượng Quan Linh suýt quất ngay vào mặt Hầu Hạo, nhưng thấy chàng ta vẫn ung dung ngồi trên lưng ngựa, mắt cũng chẳng buồn chớp, chàng làm như biết thế nào Thượng Quan Linh cũng thu ngay thế về kịp vậy.
Thượng Quan Linh hỏi ngay rằng:
- Hầu huynh cũng xuôi về miền Nam sao? Hay huynh vẫn muốn cùng đi chung với tôi?
Hầu Hạo nhìn Thượng Quan Linh xong, rồi ngước đầu gật luôn hai cái, kể như đã trả lời hai câu hỏi của Thượng Quan Linh.
Thượng Quan Linh phải đi chung với chàng ta, đi được một lúc, Thượng Quan Linh muốn biết tại sao Hầu Hạo xảy ra chuyện ẩu đả với nhóm Tứ Long ở Phàn Thành, bèn hỏi rằng:
- Này Hầu huynh, vì chuyện gì mà huynh lại xảy ra chuyện lôi thôi với nhóm Tứ Long vậy?
Hầu Hạo lắc đầu, hình như đến chính chàng ta cũng không rõ vì sao.
Thượng Quan Linh lại nói tiếp:
- Chắc có lẽ thanh danh Lãn Hiệp của Hầu huynh vang lừng, nên mới có nhiều người mộ danh đến để cốt bái kiến cho biết!
Hầu Hạo gật đầu.
Thượng Quan Linh thấy chàng gật đầu mừng hẳn người, chàng ta quả là vị thiếu niên hiệp sĩ nổi danh Lãn Hiệp đây, mình vô tình lại kết được những người bạn như gã, trong cuộc hành trình này kể cũng không đến nỗi uổng công gì.
Thượng Quan Linh lại tươi cười hỏi rằng:
- Không biết Hầu huynh từ đâu đến? Và xuôi nam có chuyện gì không? Chắc có lẽ suốt dọc đường, đã gặp nhiều chuyện phiền phức rồi chứ gì?
Trên lưng ngựa, Lãn hiệp Hầu Hạo đưa luôn hai bàn tay lên, và chỉ cúp xuống có một ngón, chàng ngầm cho biết là đã gặp những vụ rắc rối cả thảy là chín lần, nhưng còn từ đâu mà đến và sẽ đi về đâu? Chàng tuyệt nhiên không cho biết!
Trừ phi là Thượng Quan Linh chưa từng nghe Hầu Hạo nói bao giờ, nếu không thấy chàng chỉ nói bằng dấu tay như thế e cũng cho người này là câm thật sự!
Thượng Quan Linh thấy Hầu Hạo không trả lời, chàng bỗng lại nhớ ngay đến Nhân tâm thần khất Phương Kỳ, trong lòng phiền muộn hết sức, bất giác khẽ tiếng thở dài.
Hầu Hạo hình như biết Thượng Quan Linh đầy lòng tâm sự buồn bã, chàng liếc mắt nhìn Thượng Quan Linh, trong cái nhìn như muốn hỏi han, nhưng Thượng Quan Linh nghĩ bụng: anh đã chẳng muốn chuyện trò, tội gì phải kể cho anh nghe, thế là chàng trầm mặc luôn.
Hai người dong ruổi suốt ngày lẫn đêm, trong cuộc hành trình ấy, Hầu Hạo vẫn làm biếng không nói một câu chuyện gì, mọi việc đều do Thượng Quan Linh lo liệu hết, và chàng ta cũng chẳng bao giờ có ý kiến khác.
Một hôm, hai người đến gần Kinh Môn thì gặp một con đường núi hẹp, người rất vắng, chiều tà đã chiếu khắp đồi núi, nền trời chỉ thấy chim quạ về tổ, cảnh sắc tiêu điều khiến người buồn lòng thêm!
Trong thời kỳ Thượng Quan Linh còn ở Ngao Sơn thường nghe thầy kể những đường núi chật hẹp, thường là những nơi ẩn dật của những nhân vật hắc đạo trong võ lâm, và thường hay đánh cướp những kẻ qua lại, nay mình phải đi qua con đường cổ đạo Kinh Môn này, trong lòng Thượng Quan Linh không khỏi nao nao, không phải chàng sợ, chàng chi ngại nếu xảy ra chuyện gì, cuộc hành trình của mình lại bị chậm trễ thêm, chàng ngồi trên lưng ngựa tự tính thầm trong bụng, ước sao mau mau đi đến nơi đến chốn.
Hai người đang đi trên đường cổ đạo Kinh Môn, không bao lâu bỗng có tiếng hưởng tiễn (tên có gắn còi báo động) rít lên trên không, Thượng Quan Linh giật mình thầm nhủ: Nguy! Chắc là đám cướp cạn đấy! Chàng vừa nghĩ đến đây thì quả nhiên phía trước có một đám người lô nhô chận ngang lối, binh đao nhoang nhoáng, Thượng Quan Linh bất giác bực mình, bèn lên tiếng nói với Hầu Hạo rằng:
- Chúng ta cứ việc xông bừa qua?
Hầu Hạo không nói, nhưng chàng lắc đầu?
Hai người tới gần, chỉ thấy đám người xếp thành hàng hình cánh chim, và có bốn người đứng giữa chận ngay lối đi. Trong số bốn người, một người già mặt đỏ bước ngay ra, ôm quyền thi lễ! Cất tiếng rằng:
- Tại hạ đây Kim long Tiền Hấp, còn ba vị này là Thiết phán quan Kim Đan, Cửu túc ngô công Chu Trắc và Tẩu di đà Đường Kiếm. Bốn anh em chúng tôi từng nghe danh của Lãn Hiệp và nghe nói hôm nay thế nào cũng tạt ngang đây, nên dám mạo muội đến đây chờ thỉnh giáo!
Nghe ra, Thượng Quan Linh mới biết là họ muốn kiếm chuyện với Hầu Hạo, quay nhìn Hầu Hạo, hình như chàng ta không nghe, vì vậy, ngồi yên trên ngựa không nói không rằng, Thượng Quan Linh lấy làm lạ, chỉ thấy bốn người nhóm Kim long Tiền Hấp ngó hết về mình, chàng không biết tính sao, ngồi yên trên lưng ngựa ôm quyền thi lễ rằng:
- Tại hạ Thượng Quan Linh, vốn là bạn cùng đường với Hầu huynh đây, nhưng nay tại hạ bận việc riêng trong người, quí vị có chuyện gì với Hầu huynh xin cứ việc dàn xếp với nhau, còn tại hạ...
Chàng muốn nói là không mắc mớ gì đến mình, nhưng lại cảm thấy khó nói quá.
Ngay trong lúc Thượng Quan Linh ngập ngừng ấy bên kia bỗng có người lạnh lùng lên tiếng rằng
- Rõ quân hèn nhát như chuột! Bộ sợ rồi đây hẳn?...
Thượng Quan Linh nghe rõ ràng, trong lòng vừa thẹn vừa giận. Bỗng Kim long Tiền Hấp lại rằng:
- Này tiểu tử họ Thượng Quan kia? Hãy nghe cho rõ đây, tư tưởng của ngươi ta đã rõ hết, nhưng bây giờ ngươi không thể nào bỏ đi ngay như thế được, vì ngươi đã ngang nhiên giao kết với Lãn Hiệp, đó là chuyện xui xẻo cho ngươi. Vậy chịu khó ngồi sang một bên để mở mắt xem bọn ta bắt tên họ Hầu này, rồi liệu bề cộc đầu với bọn ta, may ra bọn ta thấy tội nghiệp mà tha cho hai ngươi lên đường lại!
Thượng Quan Linh nghĩ bụng: rõ tai bay vạ gió đến thật. Khi không gặp Hầu Hạo này rước những phiền phức vào người, làm mất cả thì giờ của mình, như thế đã yên đâu, lại còn bị người ta sỉ vả chê cười như thế! Chàng quay nhìn Hầu Hạo, thấy chàng ta vẫn như kỳ trước, vẫn thái độ cách ngạn quan hỏa thiêu (đứng bờ sông này nhìn bờ sông bên kia cháy). Hình như việc này chính là việc của Thượng Quan Linh vậy?
Thượng Quan Linh bực mình nghĩ ngay: Đã thế mình mặc xác Hầu Hạo, mình xông bừa qua một mình đi cho yên việc.
Thượng Quan Linh bèn thét lớn tiếng:
- Hầu huynh! Tôi xin mạn phép đi trước đây!
Kim long Tiền Hấp cười nhạt rằng:
- Muốn đi sao? Đâu có chuyện dễ dàng như thế!
Dứt lời đưa tay trái lên ra dấu, Thượng Quan Linh chỉ thấy đám người đằng sau bốn người, cách năm bước tụm ba, cách mười bước tụm năm, đều là những người mang cung tên mai phục sẵn sàng, xem ra khó mà xông thẳng qua được.
Nhưng Thượng Quan Linh ra roi thúc ngựa, quát lên rằng:
- Lũ chuột! Hãy tránh nhanh ra cho thiếu gia!
Dứt lời Thượng Quan Linh vọt ngay ngựa sang phía Kim long Tiền Hấp.
Kim long Tiền Hấp quát lên một tiếng:
- Hãy chận ngay thằng khốn nạn này lại? Vương hiền đệ, Chu hiền đệ hãy theo ngu huynh lại đối phó với tên họ Hầu kia!
Mọi người được lệnh la hét om lên xông bừa lại vây! Các cung tên thủ cũng sẵn sàng nhả cung.
Thượng Quan Linh hét lên một tiếng, từ trên lưng ngựa vọt bổng ngay thân lên, nhằm ngay đám đông bay bủa ngay xuống.
Vù một tiếng gió! Cây thương đâm ngay tới phía trước mặt Thượng Quan Linh, thì ra chính là ngọn Hồng anh thương của Tẩu di đà Đường Kiến, chỉ thấy mũi Hồng anh thương loang loáng lên như bông hoa đỏ chói và to lớn. Thượng Quan Linh muốn nhặt về chút thể diện vừa rồi, chàng bèn dùng ngay đến ngọn Đinh Giáp Khai Sơn, nghiêng mình né ngay ngọn Hồng anh thương của đối phương, vung chường bửa ngay bả vai của địch. Chỉ kịp nghe tiếng gió ào một tiếng, Tẩu di đà Đường Kiến bị trúng ngay một đòn loạng choạng suýt té ngồi dưới đất.
Đường Kiến mắt lộ vẻ kinh ngạc, không ngờ thằng nhỏ quê mùa này lại có công lực mạnh mẽ đến thế?
Trong lúc đó Thượng Quan Linh nhanh như chớp, liên miên phạt thêm ba chưởng một lúc, khiến cho đám đông ồ ạt lại cứu bị bắn bung hết ra xa, tiếng kinh thét rú lên liên miên, khiến kẻ nghe rùng mình ớn lạnh. Đường Kiến lại phải miễn cưỡng dùng thương của mình đỡ thêm một chưởng, nhưng cảm thấy chưởng lực của địch nặng như núi, không sao chịu nổi, toàn thân lập tức bị lảo đảo, vội khẽ hừ một tiếng, thương pháp chuyển nhanh, khua nhoáng một đường, chớp mắt đã lòn ngay sang cạnh hông, mũi thương nhắm ngay nách của Thượng Quan Linh hất tới.
Thượng Quan Linh nhận thấy công lực người này hơn hẳn nhóm Phàn Thành Tứ Long chàng cảm thấy phấn khởi, ngoài chưởng pháp Đinh Giáp Khai Sơn ra, chàng dùng thêm ngọn Điên Đảo Càn Khôn mà Đông tăng Túy Đầu Đà đã truyền, cước bộ chàng chỉ thấy khẽ lướt một cái, đã ngang nhiên né tránh khỏi mũi thương nhà nghề của Tẩu di đà Đường Kiến, không nhanh không chậm, thật là khéo tuyệt!
Tẩu Di Đà có nằm mộng cũng không thể nào ngờ rằng Thượng Quan Linh lại có thể tránh nổi ngọn thương của mình như thế, sau khi mũi thương thích hụt, vội xoay ngang cán thương đánh áp sang, thân hình Thượng Quan Linh bỗng biến đâu mất! Tẩu Di Đà thất kinh hoảng hồn, chỉ nghe hậu não môn của mình có tiếng gió ập tới, vội ngồi thụp ngay xuống để tránh đòn, nhưng đã trễ hẳn, vì ngọn Đinh Giáp Khai Sơn của Thượng Quan Linh ra tay quá nhanh! Chỉ nghe tiếng bùng! Sau lưng của Tẩu Di Đà đã bị ngay một đòn. Đường Kiến chỉ thét lên một tiếng thê thảm, miệng trào máu tươi nằm sấp ngay dưới đất!
Thượng Quan Linh bỗng nghe có tiếng khen:
- Chưởng lực cũng cừ lắm!
Thượng Quan Linh không ngờ chưởng này mà khiến cho Lãn Hiệp phải thốt ra đến năm tiếng nói như thế? Chàng nhìn nhanh về phía kia, thấy Kim long Tiền Hấp, Thiết phán Vương Đan, Cửu túc ngô Chu Trắc, ba người đang kịch chiến với Hầu Hạo, binh đao của ba người chớp nhoáng lia lịa, đều chiếu cố hết vào những nơi trọng yếu trên mình của Lãn Hiệp! Nhưng quả thật là hiệp sĩ này lười không thể tả được, chỉ thấy chàng vẫn ung dung đứng yên một chỗ, chờ cho binh đao của mọi người gần đụng thân, mới đưa tay lên như đuổi ruồi, và quái lạ! Những binh đao của ba người kia, mỗi lần như thế đều dội ngược lại hết.
Thượng Quan Linh cũng thừa biết ba người nhóm Kim long Tiền Hấp không phải đối thủ của Hầu Hạo, nghĩ bụng mình cứ đi trước cho được việc. Chàng bèn lên tiếng nói lớn rằng:
- Hầu huynh! Tiểu đệ xin lỗi đi trước đây vậy!
Lãn hiệp Hầu Hạo chỉ ừ một tiếng bằng giọng mũi, tiếng ừ ấy truyền rõ ràng vào tai Thượng Quan Linh, nhưng âm giọng lại giống như kẻ ngái ngủ đến năm trăm năm còn chưa tỉnh dậy vậy!
0
Hồi 040. Dạ Thám Cửu Thiên Tự
[/align]



Thượng Quan Linh bỏ ngay ngựa lại, nhặt hết những đồ vặt vãnh gói chung vào một gói rồi quàng lên vai, sử dụng ngay đến ngạnh công (lối võ cứng rắn) Đinh Giáp Khai Sơn, chàng đi đến đâu vung chưởng bửa chém tới đó, tiếng chưởng ào ào, tiếng ngã huỳnh huỵch! Hễ kẻ nào ngăn lối đều bị quét sạch ráo, khiến cho đám đông hoảng hồn thất phách né tránh tứ tung nhường lối đi cho chàng, chỉ vài bước nhún nhảy,
Thượng Quan Linh đã tung mình ra mấy trượng, khi chàng quay nhìn lại phía Hầu Hạo, thấy chàng ta vẫn còn bị ba người công hãm. Thình lình Thượng Quan Linh cảm thấy có tên ngầm bắn tới, chàng vội rút ngay kiếm bên mình ra hộ thân, nhưng hai chân vẫn không ngưng tung bước, một hơi chàng chạy luôn có mấy dặm xa, những tiếng hò hét inh tai đã hết, trời cũng bắt đầu tối hẳn.
Thượng Quan Linh lại không có ngựa, trong người đã cảm thấy mệt mỏi, nhưng chàng vẫn cố gắng đi, vất vả lắm chàng mới tới Kinh Môn, thuê ngay một chiếc xe lừa với giá cao, rồi lại hấp tấp lên đường luôn. Cũng nhờ thế mà chàng ngủ suốt một ngày trong xe. Mãi đến tối, chàng cảm thấy đói bụng, chàng bèn căn dặn phu xe cho ngừng xe lại một quán, ăn uống xong rồi đi.
Quán nhỏ này hơi vắng vẻ , ngoài trừ Thượng Quan Linh, có thêm hai đại hán, mình đeo đao, đang ăn uống tại một góc quán, lưng hai người này hướng về phía Thượng Quan Linh, nên họ không chú ý đến chàng vào quán. Thượng Quan Linh hấp tấp gọi ngay vài món ăn, chàng tính no xong lại tiếp tục lên đường ngay, trong khi đó, bỗng chàng nghe hai người kia thì thào nói với nhau, Thượng Quan Linh chỉ nghe câu được câu mất rằng:
- Lãn Hiệp!... thằng chết toi hung... chuyến này kể như nó đã lãnh đủ rồi... đáng kiếp.
Thượng Quan Linh bất giác thất kinh, bụng thầm nghĩ: e không chừng sau khi mình bỏ đi, Lãn hiệp Hầu Hạo đã xảy ra bất trắc gì sao?
Chàng cố lắng tai nghe, chỉ nghe một người rằng:
- Tên Lãn Hiệp này từ Bắc xuôi Nam, nghe nói đâu hắn đã liên tiếp đánh bại hết cả thảy là chín chặng các nhân sĩ trong giang hồ, chính ngày hôm qua trên con đường đến Kinh Môn, đến cả Kim long Tiền Hấp cũng bại về tay hắn, còn Tẩu di đà Đường Kiến và Cửu túc ngô công Chu Trắc đều bị thương ráo hết, ấy thế mà không biết tại sao không qua khỏi chặng Đương Dương Cửu Thiên Tự mới là nguy chứ?
Giọng người khác rằng:
- Anh thì biết cái chó gì? Phải biết rằng Hải Không đại sư ở Cửu Thiên Tự, nếu nói về võ công, tuyệt không phải là đối thủ của Lãn Hiệp, chẳng qua Hải Không đại sư đã dùng kế như thế này...
Tiếng nói khẽ dần và nghe không rõ! Thượng Quan Linh bất giác cuống lên.
Chàng vội rời khỏi quán lên xe đi ngay, trên xe, chàng thầm nghĩ: Có lẽ Lãn hiệp Hầu Hạo đã bị Hải Không đại sư dùng mưu kế gì bắt tại Đương Dương Cửu Thiên Tự chăng? Lãn Hiệp không để ý nên bị mắc bẫy?
Thượng Quan Linh nghĩ: không biết tin này còn ai biết đến không? Và càng không biết vì ai đi theo chàng ta đâu? Nhưng vị hiệp sĩ lười trây xác ra này, từ Bắc xuống Nam, suốt dọc đường đều gây nên những kẻ thù, chỉ có ngoài mình ra chắc không có lấy người bạn nào nữa! Nếu bây giờ mình không ra tay cứu, chẳng hóa ra chàng ta bị hại về những tay bại loại của giang hồ sao?
Thượng Quan Linh lập tức cảm thấy vụ này mình không thể nào làm ngơ cho được, tuy hai bên suốt cuộc hành trình chỉ trao đổi vài câu lưa thưa với nhau, nhưng không thể vì thế mà nói chàng ta không phải là bạn của mình được? Huống hồ người ta là người nghĩa hiệp, mình đâu có thể khoanh tay làm ngơ cho đành.
Nghĩ vậy chàng bèn bảo phu xe cho quay đầu lại về Đương Dương. Đi đâu được hai ba tàn nhang, trong lòng Thượng Quan Linh lại bắt đầu mâu thuẫn, chàng nghĩ đến Nhạc Châu còn cách xa xăm, vụ án đồn về chiếc Lãnh điện tỉ thủ nếu quả thật lại nhằm ngay bạn chí thân của mình là Nhân tâm thần khất Phương Kỳ...
Nghĩ đến đây, lòng chàng càng đâm ra bồi hồi, e không chừng bị nạn thật cũng nên, vậy sao mình không đến Nhạc Châu cho nhanh? Chàng lại thò đầu ra bảo xe quay nhanh đầu xe lại đi về hướng Nam. Nhưng đi được một chập, Thượng Quan Linh lại nghĩ: Nếu Phương Kỳ bị nạn, mình có đến cũng chẳng cứu kịp, còn về Lãn Hiệp... Chàng nghĩ liên miên, mồ hôi ướt đầy mình, vội thò đầu ra, rối rít ra lệnh cho phu xe quay nhanh đầu lại về Đương Dương.
Phu xe tưởng đâu Thượng Quan Linh thần kinh bị rối loạn, chắc người này sắp sửa điên đến nơi rồi, miệng lẩm bẩm cằn nhằn, Thượng Quan Linh vội móc ngay mấy nén bạc đưa ra cho phu xe. Thấy có tiền, mắt phu xe sáng rực tươi tỉnh, ra roi quất mạnh cho xe chạy nhanh về hướng Đương Dương.
Lúc này trời tối mịt, Thượng Quan Linh sợ hành tung mình bị lộ, chàng đành xếp ngay chương trình là cho phu xe về, còn mình mò ngay lại cửa của Cửu Thiên Tự!
Chỉ thấy cửa ngoài chùa vô cùng tráng lệ, lúc này trời đã dần dần sáng, cửa chùa đóng kín, tư bề im phăng phắc. Chờ mãi... chợt nghe tiếng chuông chùa nổi lên, những tiếng ê a đọc kinh truyền ngay ra ngoài, chắc là các tăng lừ đang đọc kinh sáng đấy!
Thượng Quan Linh chẳng biết hư thực bên trong ra sao, lại càng không biết Lãn hiệp Hầu Hạo nay ở đâu chàng bèn tung thân vọt qua tường chùa vào trong. Chân vừa chạm mặt đất, bỗng nghe một tiếng ý nổi lên phía sau, quay đầu nhìn lại, thì ra một nhà sư phát hiện tung tích mình. Thượng Quan Linh tính chụp ngay người sư này hỏi han, bèn vung tay hất mạnh cục đất cứng mình đã chuẩn bị trước, cục đất cứng ấy nhắm thẳng ngay trước ngực nhà sư bắn nhanh lại!
Nhà sư nọ ưỡn ngực ra, cả một chuỗi hột niệm châu đụng ngay vào cục đất của Thượng Quan Linh ném tới, tung tóe ra những bụi cát nhỏ, chỉ thấy hòa thượng chắp tay lên rằng:
- Thí chủ là ai? Cớ sao lại muốn hại người xuất gia như thế?
Thượng Quan Linh không trả lời, chàng muốn bắt nhà sư, thình lình tiến sát thân vào, vồ mạnh ngay ra một chưởng! Nhà sư ngước hẳn mày lên, trong ống tay áo cà sa cũng vung luôn chưởng phong ra. Thình lình bùng một tiếng, kình lực tương giao, Thượng Quan Linh và nhà sư cùng cảm thấy trong mình chấn động, Thượng Quan Linh không dám chểnh mảng bộ pháp, vội dời ngay vị, chuyển nhanh ra phía sau nhà sư, đưa nhanh hai chỉ điểm ngay vào Khúc trì huyệt. Khi chàng thấy mình sắp đắc thủ, bỗng bên tai có tiếng nói giật lên rằng:
- Xin thí chủ hãy ngừng tay?
Giọng nói oang oang, khiến cho Thượng Quan Linh cũng phải giật mình về âm thanh ấy!
Chỉ thấy trên đại điện, một vị lão tăng đang từ từ bước xuống thềm, đằng sau có bốn chú tiểu bưng pháp khí theo sau. Lão hòa thượng này sắc mặt tươi cười, trông đầy vẻ hiền từ!
Trong khi Thượng Quan Linh ngẩn người đứng nhìn lão hòa thượng, thì nhà sư sắp bị chàng điểm trúng huyệt đã thoát nạn vọt nhanh ra vòng.
Lão hòa thượng lên tiếng:
- Thí chủ ở đâu tới?
Dứt tiếng đôi mắt lão hòa thượng sáng quắc ngó thẳng vào mặt Thượng Quan Linh, trông oai phong lẫm liệt lạ!
Thượng Quan Linh thấy hành tung mình đã bị lộ, cũng lên tiếng nói thẳng ngay rằng:
- Tại hạ Thượng Quan Linh tại Ngao Sơn, mục đích đến đây cốt để tham bái Chủ trì của Cửu Thiên Tự là Hải Không đại sư!
Lão hòa thượng cười rằng:
- Hải Không đại sư vốn là sư huynh của bần tăng, bần tăng đây là Pháp Không, giữ chức ty tri khách (chuyên việc tiếp khách) tại ngôi Cửu Thiên Tự đây; dám hỏi Thượng Quan thí chủ muốn gặp sư huynh bần tăng có chuyện gì?
Thượng Quan Linh ung dung rằng:
- Chỉ vì tệ hữu Lãn hiệp Hầu Hạo, nghe đâu anh ta đắc tội với quí tự, nên đã bị bắt giam giữ,... nhưng thiết tưởng quí tự là nơi cửa Phật thanh tịnh, chắc không đời nào làm những chuyện vi phạm Phật pháp như thế!
Ngừng một chập Thượng Quan Linh lại nói tiếp:
- Nay tại hạ đến đây, ý là muốn thay mặt tệ hữu giải thích sự hiểu lầm, nếu tệ hữu quả có chỗ nào quấy, kính xin quí tự chủ trì hãy độ lượng khoan dung cho, và mong quí tự trả ngay tự do cho tệ hữu! Nếu được vậy thì vạn hạnh vô cùng cho tại hạ!
Pháp Không đại sư kinh ngạc vô ngần rằng:
- Ấy ấy? Sao Thượng Quan thí chủ lại nói thế, Lãn hiệp Hầu Hạo thí chủ quả có mặt tại đây thật, nhưng tuy nhiên không phải là do bản tự bức hiếp gì, và càng không ai giam giữ Lãn hiệp cả, chàng đến đây hoàn toàn là do lòng tự nguyện cả.
Thượng Quan Linh nóng lòng sốt ruột, nghĩ đến chuyện mình không thể nào kéo dài mãi được, chàng muốn gặp mặt ngay Hầu Hạo! Chàng hằn học nay:
- Thế thì Hầu Hạo đâu? Xin mau mời ngay ra đây gặp tôi!
Pháp Không rằng:
- Thí chủ muốn gặp chàng không khó, xin hãy theo ngay bần tăng!
Nói xong quay mình dẫn đầu đi trước, Thượng Quan Linh chỉ sợ có biến cố thình lình, chàng đưa tay nắm sẵn chuôi kiếm Lệ thủy tinh của mình theo ngay sau Pháp Không!
Đi ngang vài khúc lan can và mấy ngôi điện nhỏ, thấy một hàng tăng lữ đến ngay đại điện, và đang bước lên bực thạch cấp, khói nhang trong điện nghi ngút, chuông mõ vang lên từng hồi, tiếng ê a tụng kinh vang khắp trong điện.
Dù cho Thượng Quan Linh có sát khí đầy mình, ý muốn động võ, nhưng lúc này nghe những tiếng kinh ê a hòa chung với nhang khói như thế, trong lòng cũng bất giác cảm thấy cảnh sắc đáng kính và nghiêm trang!
Pháp Không dẫn Thượng Quan Linh đứng ngay trước cửa đại điện một lúc rồi nói:
- Thượng Quan thí chủ đã thấy rõ nơi Phật môn thánh điện của bản tự rồi chứ? Nào đâu phải là nơi dung túng quân gian ác làm chuyện phạm pháp đâu!
Thượng Quan Linh liếc mắt nhìn kỹ vào bên trong điện, chàng bất giác thất kinh hồn vía, suýt nữa thốt ra tiếng, chỉ thấy hai bên hương án của điện tiền, các tăng lữ ngồi xếp chân thành một vòng tròn đang đọc kinh, ngồi giữa là chủ trì, trước mặt chủ trì có một người quì ngay ngắn, nhìn sau lưng trông quen mắt lắm! Hình như chính là Lãn hiệp Hầu Hạo thì phải.
Pháp Không đứng cạnh khẽ tiếng nói:
- Thượng toạ ấy chính là sư huynh của bần tăng, cũng là chủ trì của ngôi Cửu Thiên Tự, Hải Không đại sư. Kẻ quì trước mặt đó chính là Hầu Hạo thí chủ, vì thí chủ đã chán kiếp hồng trần vô duyên, nên nhất lòng qui y cửa Phật, nên chàng bằng lòng đến bản tự để mà thọ giới. Pháp sự trong ngày hôm nay đây, chính toàn tăng lữ trong tự đã tham gia đọc kinh cho Hầu thí chủ qui y tam bảo, để tiêu tai trừ nạn cho chàng, cầu sao lòng Phật từ bi phù trì cho chàng được an tâm qui chân cửa thiền!
Thượng Quan Linh nghe vậy kinh hãi không nói được gì nhìn về phía Hầu Hạo, thấy chàng không có gì lạ cả! Chẳng lẽ chàng tình nguyện như thế sao? Thượng Quan Linh hối hận mình đã đến đây?
Pháp Không đại sư lại khẽ lên tiếng rằng:
- Chờ cho pháp sự xong xuôi, bần tăng sẽ cố thu xếp cho thí chủ một cuộc gặp gỡ, chắc chàng ta cũng còn chút trần duyên chưa dứt, vậy thí chủ đã là bạn chí thân của chàng, hãy nên giúp chàng để kết liễu mọi việc còn dở dang; sau này chàng sẽ tuyên thệ trước Phật tổ để khổ tu, diện bích tham thiền, để tiêu trừ tất cả những tội lỗi dĩ vãng... và sau cuộc biệt ly này, chắc thí chủ không còn dễ dầu gì gặp được bạn xưa nữa!
Thượng Quan Linh nghe xong, trong lòng chàng cũng không biết là đang buồn hay đang tiếc, nhưng chàng cảm thấy trong cuộc lễ nghiêm trang, hình như có chuyện gì mờ ám bên trong? Thượng Quan Linh cho rằng: Lãn hiệp Hầu Hạo đang tuổi thanh niên yêu đời, đáng lẽ phải tung hoành dọc ngang trong giang hồ, hành hiệp trừ bạo, gây nên những sự nghiệp oanh liệt trong đời, nay bỗng dưng lại khoác lên áo cà sa như thế sau khi thọ giới xong sẽ suốt đời là người của cửa Phật rồi! Và tất cả những hào khí anh hùng, hành hiệp tế thế sẽ bị bó thúc từ đây! Bỗng Thượng Quan Linh nghe một tiếng chuông thanh vang lên, tiếng tụng kinh ngưng bặt hẳn, thượng tọa Hải Không đại sư từ từ đứng dậy, đưa tay ra từ từ lấy ngay ra chiếc mũ nhỏ trên đầu Hầu Hạo...
Thượng Quan Linh bèn trố mắt thất kinh, chỉ thấy đỉnh đầu của Hầu Hạo láng bóng lên, trên ba ngàn sợi tơ phiền não trên đầu đã biến không còn sợi nào! Hầu Hạo đã thí phát!...
Tất cả mọi thủ tục làm lễ qui y đã xong. Pháp hiệu của Hầu Hạo là Trí Minh. Hai tăng lữ kẹp ngay Lãn hiệp Hầu Hạo đứng ngay dậy, trông chàng lúc này không còn là vị hiệp sĩ lừng danh trên giang hồ nữa, chàng đã nghiễm nhiên trở thành một vị tăng lữ chính thống của Cửu Thiên Tự, pháp danh Trí Minh, và sẽ bắt đầu diện bích mười năm, tu hành khổ luyện để tiêu trừ phạm nghiệt!
Trí Minh hòa thượng bái tạ sư chủ trì Hải Không đại sư rồi làm lễ tương kiến với đồng môn, toàn tăng lữ trả lễ hô lên tiếng phạm ngữ chúc mừng!
Thế là Trí Minh hòa thượng được hai tăng lữ hộ tống rời khỏi điện, bỗng Trí Minh quay ngay đầu lại, đôi mắt sáng ngời nhìn khắp trong điện một lượt.
Khi nhãn tuyến của hai bên thình lình gặp nhau, Thượng Quan Linh cảm thấy ngay là chàng ta đã nhận ra mình, hơn nữa trong ánh mắt có gì khác lạ lắm!
Trong lòng bất giác thất kinh, chàng quyết tâm để ý khám phá vụ này cho ra manh mối.
Thượng Quan Linh bèn quay sang Hải Không hòa thượng rằng:
- Tại hạ muốn giáp mặt anh ta lần chót, vậy phiền đại sư vui lòng an bài cho!
Pháp Không lập tức bằng lòng ngay và dẫn chàng đến tịnh thất nghỉ ngơi, một chú sãi nhỏ bưng trà bánh chạy đến, Thượng Quan Linh tuy cảm thấy đói bụng nhưng không dám ăn, vì chàng đang hoài nghi về ngôi Cửu Thiên Tự này.
Đâu lối hai tàn nhang, một chú sãi vào báo là chủ trì Hải Không đại sư đến tịnh thất, Thượng Quan Linh bèn đứng dậy, thấy Hải Không đại sư đã thay đổi pháp y giờ mặc tăng bào, đầu đội côn mão (mũ nhà sư), đang đủng đỉnh bước vào với vẻ mặt tươi tỉnh.
Sau khi hỏi rõ lai lịch của Thượng Quan Linh, Hải Không mới cười rằng:
- Hóa ra là cao túc của Nam bút Gia Cát Dật! Hân hạnh! Hân hạnh! Đã đến tệ tự, cũng là có duyên với nhau cả!
Nói xong nhìn ngay về phía hai chú sãi. Hai chú sãi vội bưng ngay trà và bánh chay lại, thêm một bình trà màu lục trông đẹp lạ mắt!
Hải Không đại sư cười rằng:
- Chúng không biết rằng có quí khách viếng thăm, nên đã dùng những trà bánh xoàng xĩnh để tiếp thí chủ...
Vừa nói vừa thân hành rót trà cho Thượng Quan Linh. Một mùi thơm bát ngát thoảng ra.
Thượng Quan Linh sợ bị trúng kế, không dám uống.
Hải Không đại sư lại cười rằng:
- Trà này không phải là trà tầm thường đâu, đã dùng nước tuyết trên tuyệt đỉnh phía sau tự này, và dùng lá thông đun nước và siêu cổ sắc trà xong mới pha lên; lá trà này là vốn sản xuất bên Tây Vực, đêm nào cũng phải gói sẵn một gói nhỏ đem ướp chung với nhị hoa, nếu qua ngày hôm sau có khách quí mới đem ra đãi khách, thơm ngon hơn các loại trà hiện nay.
Thượng Quan Linh vẫn không dám uống, Hải Không hòa thượng rót ngay một chén tự nhấm nháp, Thượng Quan Linh thấy vậy mới yên lòng và chàng nhấm thử chút, quả là trà thơm và mát miệng lạ!
Hải Không đại sư nhìn chàng cười, Thượng Quan Linh tự cảm thấy ngượng vì lòng đa nghi của mình.
Nhưng ngay lúc đó, chàng cảm thấy trà thơm sau khi vào bụng, bỗng nơi Đan điền hình như có hơi nóng tỏa tá, và xông thẳng lên ngực, bỗng cảm thấy tâm thần phảng phất, ý niệm rối reng!
Thượng Quan Linh biết có chuyện lạ, vội bỏ ngay chén trà xuống khay, vội dùng ngay lối vận công khử độc của sư phụ Gia Cát Dật đã truyền dậy, cố định thần vận khí mong bài giải hết những kỳ độc trong mình ra.
Nào hay trà thơm này sau khi vào miệng chàng, lập tức phát sinh ngay công hiệu của nó, Thượng Quan Linh chỉ còn cảm thấy tư tưởng mình rối lung bung, không thể nào tự cường chế nổi!
Trước mặt chàng, Hải Không đại sư nói tiếp:
- Căn cơ của thí chủ bất phàm, hà tất phải quyến luyến trần tục hỗn đục như thế làm gì? Lão nạp xin khuyên thí chủ một câu: Khổ hải vô biên, hồi đầu thị ngạn (bể khổ vô biên, quay ngay đầu về là bến). Chẳng thà cứ bắt chước ngay Hầu thí chủ, qui y tam bảo, diện bích tham thiền ngay sau Cửu Thiên Tự để tiêu trừ hết nghiệp chướng, sau này công hành viên mãn, đắc đạo phi thăng, rời bỏ hẳn kiếp khổ luân hồi, chẳng hay lắm ru!?
Thượng Quan Linh lúc này vẫn còn tỉnh trí, nghe lời của Hải Không câu nào cũng có vẻ mỉa mai mình, bụng biết ngay mình đã mắc bẫy, miễn cưỡng đứng ngay dậy, chịu đau trong bụng ngầm tụ hết chân lực bửa ngang ra một chưởng.
Nhưng Hải Không đại sư vẫn ngồi uy nghi bất động, thì ra lão hòa thượng đã chuẩn bị sẵn và cũng biết ngay trong tình trạng này, công lực của đối phương đã giảm nhiều, nếu ra tay cũng chỉ lối được hai phần mười chân lực là cùng, nên Hải Không đại sư không thèm né tránh, vận ngầm chân khí lên toàn thân để chịu một chưởng của Thượng Quan Linh!
Nhưng chưởng phong của Thượng Quan Linh chỉ khiến cho tà áo bào của hòa thượng nổi lên những vết nhăn mà thôi!
Hải Không hòa thượng ha hả cười rằng:
- Hừ! Thí chủ không biết tự lượng sức mình chút nào, lão nạp vốn lòng hoài từ bi Phật độ chi chỉ, vậy trước sau gì lão nạp cũng giúp người thành đạt đắc quả!
Dứt lời vỗ tay ra lệnh, bốn tăng lữ nhảy nhanh ngay vào, Hải Không đại sư bèn ra lệnh rằng:
- Hãy đưa ngay vị Thượng Quan Linh thí chủ lại gặp mặt môn đồ ta là Trí Minh!
Thượng Quan Linh cảm thấy mình mơ mơ hồ hồ bị bốn người tăng lữ khiêng ngay đi, xuyên qua xuyên lại các hành lang trong Cửu Thiên Tự, và tai mình vẫn văng vẳng tiếng cười ròn tan của vị sư Hải Không hòa thượng.
Khá lâu! Bỗng Thượng Quan Linh cảm thấy trước mắt tối hẳn, đồng thời cảm thấy thân mình bị đưa qua đưa lại như lắc võng, tai nghe bốn tăng lữ đếm:
- Một! Hai!...
Và sau tiếng Ba thì chàng cảm thấy toàn thân mình bay luôn! Biết mình đang bị quăng, nhưng không biết họ quăng vào đâu?
Lâm nguy cầu sống vốn bản tính của loài người, huống hồ Thượng Quan Linh lại là con người võ, trong thế nguy nan này chàng tính chuyển ngược mình từ trên không trung để giữ thăng bằng lúc hạ xuống!
Nhưng khốn nỗi toàn thân chàng mềm ra như bún, không làm sao vận sức vào người, trong lòng bất giác gợi lên một nỗi niềm bi ai, hai mắt nhắm chặt chờ tử thần lại đón hồn đi!
Ngay trong lúc tình thế khẩn trương cực độ ấy, Thượng Quan Linh chỉ cảm thấy toàn thân của mình va chạm mạnh vào trên thân một người, tuy người nọ đã giơ cánh tay ra hứng sẵn nhưng hình như chính người này cũng yếu như sên, hứng đỡ Thượng Quan Linh không nổi, nên cả hai ngã chúi vào nhau, mũi Thượng Quan Linh ngửi thấy mùi rơm khô, hình như hai người đã lăn nhào trên đống rạ!
Bỗng một tiếng rầm vang lên, hình như tiếng đá chận cửa! Thượng Quan Linh lại nghe tiếng sột soạt bên cạnh mình, có người đang bò trên rơm rạ.
Trong cảnh tối thui, có tiếng người hỏi:
- Thượng Quan hiền đệ không bị thương gì chứ?
Đúng là giọng nói của Lãn hiệp Hầu Hạo, Thượng Quan Linh vừa bực mình vừa tức cười, vì hình như chàng ta chuyến này đã hết bệnh lười biếng rồi thì phải? Nếu không, làm sao lại nói được nhiều tiếng như thế?
Xem ra hai người đã bị nhốt chung với nhau một chỗ, toàn thân Thượng Quan Linh tuy đã yếu hẳn, nhưng chàng vẫn bàn tính kế hoạch đào tẩu. Cái lâu đều trở thành cái thói quen, dần dà trong cái tối om ấy Thượng Quan Linh đã nhận ra hai người bị nhốt trong một thạch thất, ngay cửa thạch thất có một hang nhỏ, chắc là nơi dùng đưa cơm nước vào.
Thượng Quan Linh tính thầm trong bụng: sức mình bây giờ bủn rủn như thế, chắc là uống chén trà thơm hồi nãy, cả Hầu Hạo vừa rối cũng không đỡ nổi mình, chắc chàng ta cũng đã mất công lực rồi, nhìn trong thạch thất kiên cố này, dù cho có hợp hết công lực của hai người trong lúc thường, cũng chưa phá nổi, huống hồ bây giờ cả hai người đều yếu như sên vậy thì làm sao nên trò trống gì!
Thượng Quan Linh lại nghĩ đến chuyện mình còn phải về Nhạc Châu thăm tin bạn thân là Phương Kỳ, nay thình lình bị sa cơ nằm đây không biết rồi đến bao giờ mới ra được nơi hắc ám này, chàng bất giác thở dài buồn bã.
Hầu Hạo thấy Thượng Quan Linh không trả lời, chàng bèn bước tới bá vai Thượng Quan Linh nhẹ tiếng hỏi:
- Thượng Quan hiền đệ ! Không giận ngu huynh chứ?
Thượng Quan Linh rằng:
- Hầu huynh? Nay chuyện đã đến bước cùng này, tôi có giận huynh cũng đâu có ích gì? Huống hồ chính tôi tự đem thân đến nạp cho miệng cọp! Đáng lý tôi không uống chén trà phải gió đó mới phải! Đáng kiếp! Đáng kiếp!
Hầu Hạo hấp tấp rằng:
- Không phải đâu! Thượng Quan hiền đệ đã nhầm rồi, chính họ không có ý gì muốn bắt hiền đệ, chẳng qua chính ngu huynh bảo họ làm thế cả!
Thượng Quan Linh thất kinh nhảy bổng lên giận dữ, nhưng ác nỗi thân mình chàng mềm như bún, không tung dậy được, vừa ưỡn lên lại ngồi phệt ngay xuống, sắc mặt hầm hầm rằng:
- Tại sao anh lại làm như thế? Anh không biết tôi đang có chuyện gấp bên người sao? Nhất là tôi phải đến nhanh Nhạc Châu sớm ngày nào hay ngày ấy, đâu có thể ngồi đây với anh như thế này?
Hầu Hạo giải thích rằng:
- Hiền đệ chớ vội cuống như thế, hãy nghe ngu huynh nói đây, hiền đệ không phải đang muốn đi truy tầm về vụ Lãnh điện tỉ thủ đó ư? Chiếc tỉ thủ kinh khủng này hiện ở đâu thì duy có mỗi mình ngu huynh biết?
Thượng Quan Linh ngạc nhiên:
- Anh biết thật sao? Mà tôi có nói với anh là đi truy tầm vụ chuyện Lãnh điện tỉ thủ này đâu? Sao anh lại biết rõ như thế?
Hầu Hạo rằng:
- Ngu huynh biết được chuyện này là do hiền đệ mà ra hết, chính bởi hiền đệ đã nói mớ trong lúc ngủ: nào là phải về gấp Nhạc Châu thăm Phương Kỳ, nào là chuyện về chiếc Lãnh điện tỉ thủ. Bởi thế nên ngu huynh mới có thể ức đoán rằng: vị Độc Cước Truy Phong Nhân Tâm Thần Khất hồi sinh tiền vốn là bạn thâm giao của hiền đệ!
Câu nói này suýt khiến cho Thượng Quan Linh chết giấc luôn. Ngàn dặm bôn ba, chàng chỉ ôm chút hy vọng mỏng manh theo như lời nói của Liễu Mi là Phương Kỳ không chết! Nào hay giờ đây hung tin ấy đã được xác thực ngay cửa miệng của Lãn hiệp Hầu Hạo.
Thượng Quan Linh đau đớn tuyệt độ, chàng ảo não rằng:
- Hầu huynh!... xin anh hãy nói rõ tất cả mọi chuyện mà anh biết đi!...
Hầu Hạo trầm giọng nói rằng:
- "Khi ngu huynh chia tay với gia sư, người từng sai ngu huynh về miền Nam để tìm gặp một vị tiền bối trong võ lâm, bởi đã rõ tin tức về chiếc Lãnh điện tỉ thủ xuất hiện trên giang hồ. Loại hung khí bất tường này, nếu lọt vào tay người ác, hậu quả tai hại quả không thể nào lường nổi được. Và gia sư có ý thu nó về và đem cất đi. Nhưng vì người bận việc nên không thể nào xuống miền Nam, nên mới sai ngu huynh đi tìm vị tiền bối võ lâm ấy, nhờ vị tiền bối này thay mặt gia sư để hoàn thành tâm nguyện của người!
Nào hay ngu huynh còn chưa qua khỏi miền Hoàng hà, thì lại nghe tin sự tái xuất hiện của Lãnh điện tỉ thủ, và đã gây nên vụ hung án ở miền Nam, người bị giết lại là một trong Tam Dị Khất của Cùng Gia Bang là Phương Kỳ, ngu huynh hối hận mình đã lên đường hơi trễ, nên không ngăn cản được hung án, trong lòng rối lên nên đã hấp tấp nhắm ngay Nhạc Châu khởi trình! Bởi vậy hiền đệ mới ngạc nhiên là tại sao ngu huynh cứ theo đuổi hoài thế? Nào hay ngu huynh cũng cùng một mục đích là đi Nhạc Châu điều tra rõ chân tướng của vụ án?"
Thượng Quan Linh nghe đến đây đau đớn quá đỗi chàng bơ phờ người ra!
Lãn hiệp Hầu Hạo lại tiếp rằng:
"Bởi thân hình ngu huynh khôi ngô vạm vỡ, suốt dọc đường, không khỏi gây nên những chuyện khiêu khích của các anh hùng hảo hán trong giang hồ, phần thì ngu huynh trừu non đâu biết ngán cọp, huống hồ bấy lâu học nghề chưa có dịp thi thố tài năng của mình ra sao, nhất là ngu huynh có ý thu thập thêm kinh nghiệm trường đời, thế là sau trận thí võ đại thắng tên Hắc Tháp Thần tại Hùng Huyện ở Hà Trung không ngờ tên tuổi do đó lan truyền hẳn trên giang hồ.
Cũng tại ngu huynh tính buồn rầu ít nói, mỗi lần ra tay với thiên hạ, phần đông đều bị nằm trong trạng thái ép buộc mới đánh, nhưng lần nào ngu huynh cũng chỉ cố ý trừng giới nhẹ họ mà thôi, không bao giờ có ác ý muốn giết họ, bởi vậy cái tên Hiệp sĩ lười biếng Lãn hiệp Hầu Hạo mới nổi danh như sóng cồn, từ đó, suốt từ Bắc chí Nam, đâu đâu cũng gặp nhân sĩ giang hồ khiêu khích thí võ, khiến cho ngu huynh bực mình hết sức!
Vào cuối tháng hai năm nay, ngu huynh gặp một nhóm người giang hồ gần phụ cận Nam Cung, nghe họ nói về chuyện Lãnh điện tỉ thủ tái xuất hiện đã giết ngay một trong Tam Dị Khất của Cùng Gia Bang là Độc cước truy phong nhân tâm thần khất Phương Kỳ, địa điểm tại Sài Gia Bảo cách mười dặm phía Nam thành của Nhạc Châu, và tử thi của Phương Kỳ không có chút máu nào, và đúng với tình hình ngu huynh đã thấy trong bức họa đồ. Nhưng trong cuộc hành trình suốt từ Bắc xuống Nam để tìm kiếm vị Độc chỉ Thôi Bác tiền bối, mục đích chính cũng chỉ truy tầm ngọn Lãnh điện tỉ thủ, nào ngờ ngu huynh đi chậm mất một bước, nên ngọn tỉ thủ đã lại gây nên hung án tại Nhạc Châu!"
Nói đến đây, chỉ thấy Thượng Quan Linh cúi đầu khóc nức nở, Lãn hiệp đành thở dài một tiếng rồi khuyên nhủ rằng:
- Hiền đệ cũng đừng nên thương tâm như thế làm gì, ngu huynh cũng có chuyện buồn như hiền đệ: nào thân thế không rõ, cha ngu huynh bị giết, mẹ bị bức chết, em gái bị bắt. Những chuyện này đều do ngọn Lãnh điện tỉ thủ gây nên hết, vậy tình trạng đau đớn này của ngu huynh đâu có khác gì hiền đệ đâu, chúng ta cần nên khuyến khích nhau để tìm cho ra kẻ thù để báo phục! Hà tất phải bi thương như thế cho khổ thân? Nào phải chi có ích gì thì cũng cam?...
Thế là một cuộc bàn tính nghiên cứu của hai vị tiểu anh hùng được tiến hành trong thạch thất, họ cho rằng Thiên Si đạo trưởng chắc là bị Bắc kiếm Phổ Côn gọi đi, lại nữa gần đây Bắc kiếm Phổ Côn đã xuất hiện tại Lạc Thủy, và sẽ tranh đoạt chiếc Tiểu Đoạt Hồn Kỳ với Thanh Thông Hội, nhưng khốn nỗi không biết hiện Thiên Si Tây Đạo này ở đâu?
Hầu Hạo an ủi Thượng Quan Linh luôn. Thoáng mắt, hai người đã bị nhốt trong thạch thất của Cửu Thiên Tự có hơn tháng trời. Thượng Quan Linh càng ngày trong lòng càng rối như tơ vò, tuy sức độc của chén trà Bách hoa hương ấy đã giải hết, nhưng cây kiếm quí Lệ thủy tinh đã mất, đành ngồi bó gối trong thạch thất rầu rĩ. Ngồi chán hai người lại bàn tán đến chuyện sau này khi trốn ra khỏi thạch thất: nào làm sao về Nhạc Châu điều tra rõ chân tướng vụ án, rồi tìm cho ra vị Độc chỉ Thôi Bác, để tìm hiểu rõ thân thế của Lãn hiệp Hầu Hạo, nào là truy tìm cho ra chiếc hung khí Lãnh điện tỉ thủ, trả sạch ngay mối huyết thù của hai nhà, sau đó Hầu Hạo còn phải lo đi tìm cô em gái của mình; và tin của Túy Đầu Đà, lên miền Bắc để tìm Thiên Si đạo trưởng, cũng là tin mà Thượng Quan Linh và Hầu Hạo nóng lòng muốn biết rõ, và sau này cũng phải lên miền Bắc để tìm tung tích của hai vị cao nhân này.
Trong thạch thất, đôi bên đã cải xưng hô với nhau bằng sư huynh và sư đệ, lúc này cả hai có vẻ tương đắc hết nghịch ý nhau, chỉ còn mỗi việc là chưa biết rõ về vị chủ trì ngôi Cửu Thiên Tự Hải Không đại sư này là nhân vật gì trong võ lâm? Thạch thất tuy tối tăm, nhưng về ăn uống thì được cung cấp chu đáo, và cả đến vấn đề vệ sinh cũng có người hầu sạch sẽ, trong hơn tháng nay, vô tình ngôi Cửu Thiên Tự đã nuôi cả hai người béo mạnh hẳn ra. Công lực của Thượng Quan Linh đã khôi phục như xưa, nhưng chàng lấy làm lạ, không biết những hòa thượng trong Cửu Thiên Tự này tính làm trò trống gì với hai người không biết? Vào một hôm, đang lúc Thượng Quan Linh ngủ say, bỗng bị Hầu Hạo lay tỉnh dậy.
Hễ mỗi khi họ đưa cơm nước tới, bên ngoài thế nào cũng có người thăm nhìn lén lút! Một hôm, Thượng Quan Linh đang cơn nồng giấc, bỗng Hầu Hạo lay tỉnh ngay chàng dậy! Chỉ thấy Hầu Hạo đưa ngay cánh tay lên, lập tức một bắp thịt to tướng nổi ngay lên trên cánh tay của chàng, trông không khác nào lực sĩ đang biểu diễn về thớ thịt khỏe đẹp, trông oai phong lạ! Hầu Hạo thấy Thượng Quan Linh ngơ ngác không hiểu gì, chàng bèn cười nói:
- Này sư đệ, chúng ta có thể ra khỏi đây rồi!
Thần lực của ngu huynh đã khôi phục lại, sư đệ không thấy sao? Tóc của ngu huynh đã mọc dài đấy!
Nói xong Hầu Hạo vận khí dồn hẳn lên cánh tay, một chưởng phạt ngay lên vách tường!
Thượng Quan Linh chỉ nghe ào... một tiếng, vách tường đá bị gọt đi mất một mảnh khá khá!
Hầu Hạo lại cười rằng:
- Sư đệ chưởng này ngu huynh mới dùng có bốn phần mười công lực, nếu huynh mà dùng đủ hết công lực lo gì thạch thất này còn có thể giam hãm chúng ta thế này!
Thượng Quan Linh mừng rỡ, hai người ngồi bàn tính sáng mai trong lúc họ đưa thức ăn sáng lại, sẽ nhân cơ đánh thẳng bật ra ngoài, và lập tức phải hạ độc thủ, và tìm ngay cây Lệ thủy tinh kiếm rồi rời khỏi ngay Cửu Thiên Tự. Bàn tính kỹ xong, sư huynh đệ hai người ôm nhau ngủ vùi.
Sáng hôm sau, nghe có tiếng chân người từ xa đi gần lại thạch thất, sư huynh đệ hai người vội vọt dậy ngay, và phục ngay nơi lỗ cửa nhỏ chờ đợi.
Tiếng bước càng lúc càng gần, và hai người nhận ngay ra đây là Hải Không hòa thượng, thật lạ, thật lạ! Xưa nay Hải Không hòa thượng đâu có đến đây bao giờ, sao hôm nay lại đột nhiên giá lâm như thế? Nhưng mặc! Hầu Hạo vội ghé vào tai Thượng Quan Linh rằng:
- Này sư đệ, khi cửa nhỏ kia mở, ngu huynh sẽ dùng ngay thần lực ra để đẩy phiến thạch môn này, vậy sư đệ phải nhanh chân vọt ngay ra bắt cổ ngay Hải Không đại sư rồi nói chuyện với lão!
Hầu Hạo lại căn dặn thêm:
- Nếu có gì nguy cấp, ngu huynh phụ trách đoạn hậu cho, và sư đệ chớ có lo ngại gì về ngu huynh, nếu sau khi thắng thế cứ việc mạnh ai nấy lo tẩu thoát trước, và hãy đến Nhạc Châu chờ đợi nhau!
Thượng Quan Linh nhận lời, và chàng chuẩn bị ứng biến.
Lỗ cửa nhỏ nơi thạch môn vừa hé mở, Hầu Hạo nhoáng ngay tay phải ra, nhanh như chớp chụp ngay vách miệng cửa lỗ, hai tay có chỗ mượn sức, Hầu Hạo dùng hai tay đẩy mạnh, toàn thân nghiêng rạp hẳn về phía trước, tấn bộ đứng vững chắc, chân lực chuyền khắp lên đôi cánh tay, chỉ nghe tiếng Lãn hiệp Hầu Hạo hét lớn một tiếng:
- Hây ha ! . . .
Nửa cánh cửa đá ấy đã từ từ chuyển động rầm rầm!...
Thượng Quan Linh mừng quýnh lên, bên ngoài có tiếng quát cung tên thủ mau bắn! Thượng Quan Linh rối cuống lên nghĩ bụng: Một cánh tay của Hầu Hạo đang mắc vịn bên ngoài cửa lỗ, như vậy chẳng hóa ra là mục tiêu tốt cho họ bắn sao! Đang tính nhắc tỉnh Hầu Hạo mau rút tay vào, thì bỗng nghe tiếng quát của Hải Không đại sư bên ngoài rằng:
- Cấm bắn tên vội! Hủy đại sư và Phá đại sư sắp đến rồi, chúng ta chỉ việc cố thủ ngay cửa động đây, đừng cho chúng thoát!
Thượng Quan Linh nghe vậy trong lòng đỡ lo, thình lình chàng lại nghe Hầu Hạo hét một tiếng lớn. Song chưởng vận hết toàn lực đẩy ra, phiến đá của cửa thạch thất ít nhất cũng có trên ngàn cân, thế mà ngang nhiên chuyển động ầm ầm, rung rinh cả tảng, trông nguy hiểm trước mắt?...
Bên ngoài, tiếng kinh hoảng thất thanh rú lên liên hồi, tiếng quát hét, tiếng rút binh khí, tiếng chạy hấp tấp của tăng lữ, âm thanh hỗn loạn tưng bừng...
Hầu Hạo vội nói với Thượng Quan Linh rằng:
- Chuẩn bị!
Quả là trời phú thần lực cho Lãn hiệp Hầu Hạo, chỉ nghe một tiếng hét dữ dội vang lên:
- Hây hô!...
Sau tiếng hét lần thứ ba này vang lên, một tiếng ầm long trời lở đất vang lên? Thế là cả một cánh cửa thạch thất nặng nề kinh khủng ấy đã bật toang ngay dưới mặt đất.
Bên ngoài tiếng kinh hãi càng tăng lên hơn trước. Thượng Quan Linh lúc này không khác gì hổ dữ sổ lồng, vọt tung ngay ra và nhắm ngay về phía Hải Không đại sư áp tới.
Vì cuộc biến xảy ra quá nhanh chóng, nên Hải Không đại sư đang vung kiếm chỉ huy mọi người vây cửa thạch thất cho kín thì chàng Thượng Quan Linh đã vọt nhanh tới trước mặt mình, lão hòa thượng vội hấp tấp khua ngay kiếm lên để tự lo thân mình trước!
Thượng Quan Linh đã vạch sẵn những thế đánh từ trong thạch thất, bây giờ ra đến ngoài chàng bèn quạt ngang chưởng bửa mạnh ngay thế Đinh Giáp Khai Sơn, hai tăng lữ chặn đường bị bay bổng ra xa! Trong lúc đó ngọn kiếm trên tay Hải Không đã kề gần bên mặt chàng, chân Thượng Quan Linh vội biến ngay sang cương vị Điên Đảo Càn Khôn, vèo nhanh ra phía sau Hải Không hòa thượng, chưởng bên phải thốc ngược lại, trong sự kinh ngạc tột độ của hòa thượng, chàng nhẹ nhàng điểm ngay vào ma huyệt (huyệt tê buốt) của hòa thượng, leng cheng một tiếng vang lên, cây trường kiếm của Hải Không đại sư rớt văng ra nền gạch?
Nhanh như chớp, Thượng Quan Linh nhặt ngay cây kiếm dưới đất, ánh quang nhoáng lên, chàng nhận ra chuôi kiếm có những cổ tự, trong lòng bất giác ngầm thốt: may quá!, thật là châu hoàn hợp phố, cây Lệ thủy tinh kiếm nay lại về với mình, mà lại quá thuận lợi như thế!
Thượng Quan Linh thấy các tông lữ kéo tới càng lúc càng đông, chàng vội kề ngay kiếm vào cổ Hải Không đại sư quát lớn rằng:
- Muốn giữ toàn mạng hãy mau ra lệnh cho họ ngưng tay ngay!
Hải Không hòa thượng lúc này thấy kiếm báu kề cổ lạnh toát, biết ngay bảo kiếm không phải vật phàm thường, chỉ cần hơi lay động một cái, đầu mình sẽ rời khỏi cổ ngay, đành lên tiếng hạ lệnh chư tăng ngừng ngay trận đấu.
Chư tăng đành phải tuân lệnh, lúc này thấy toàn thân Hầu Hạo bụi cát lấm đầy mình, thân ở trần, đủng đỉnh từ trong thạch thất bước ra, oai phong hùng dũng tuyệt độ. Chư tăng làm như thấy hung thần giáng thế, ai nấy chen nhau thối lui về sau. Hầu Hạo thuận tay tước luôn một tăng bào khoác ngay vào người mình, Thượng Quan Linh cũng vội đưa tay cướp ngay vỏ kiếm Lệ thủy của mình từ trên thân Hải Không.
Lãn hiệp Hầu Hạo sau khi ra khỏi thạch thất, hình như chàng ta lại trở về với trạng thái biếng nhác của mình, lại nghe giọng uể oải nói với Thượng Quan Linh rằng:
- Sư đệ chúng mình đi thôi?
Thượng Quan Linh chỉ sợ chư tăng gây rối, nên chàng vẫn uy hiếp Hải Không hòa thượng, chờ cho Hầu Hạo dắt đến hai con tuấn mã ra, chuẩn bị xong xuôi rồi ép luôn Hải Không hòa thượng ra khỏi cửa Cửu Thiên Tự. Thượng Quan Linh chờ cho Hầu Hạo lên ngựa xong, chàng mới vận sức hất tung ngược luôn Hải Không hòa thượng! Đám tăng lữ vội vàng vây nhanh lại thành một bức tường, và ai nấy đưa tay ra để hứng đỡ vị chủ trì của mình đang từ trên thinh không rớt xuống! Trong tự cung tên bắn ra như mưa rào. Nhưng Thượng Quan Linh và Hầu Hạo đã ra roi tung vó ngựa vọt như bay!
Trên lưng ngựa, Hầu Hạo nói với Thượng Quan Linh rằng:
- Sư đệ ạ! Chúng ta chuyến này đừng nên giết lão hòa thượng Hải Không ấy vội, bởi trong thời gian chúng mình bị giam cầm, lão đã cố tình tận tụy đối đãi với chúng mình, trong vấn đề này thế nào cũng có nguyên do, vậy hãy để lão sống đó, sau này chúng mình còn hỏi đến lão nhiều việc bí mật khác!
Thượng Quan Linh gật đầu đồng ý!
Sư huynh đệ hai người bèn tất tả đi về hướng Nhạc Châu, lộ trình không phải chỉ một ngày mà tới nơi, nhưng may là hai người kỳ này không gặp thêm chuyện lôi thôi gì trong cuộc hành trình này; vào đầu tuần tháng năm; hai người đã đến Bạc Giang của khu Động Đình Hồ. Khi cảnh hoàng hôn vừa tàn thì thành Nhạc Châu đã hiện ra trước mắt; sau khi hai người vượt khỏi ngôi lầu nổi danh Nhạc Dương Lâu tại phía thành Tây, nhanh nhẹ tiến ngay về hướng Nam mười dặm Sài Gia Bảo. Khi tới nơi trời đã tối mịt, hai người thương lượng, chờ đêm khuya hãy khởi sự thám thính cho tiện.
Thượng Quan Linh hồi hộp bao nhiêu thì trái lại Hầu Hạo lại bình tĩnh bấy nhiêu, cả hai nghỉ chân tại khu rừng Bạc Giang, tạm ăn lương khô cho đỡ đói, Hầu Hạo luôn phải tìm cách an ủi Thượng Quan Linh để chàng đừng quá bi ai trong lúc này. Khuya đến, hai người lén lút mò vào Sài Gia Bảo!
Tới cửa thì thấy đóng kín mít, bên trong im lặng như tờ, không một chút ánh sáng nào! Hai người một trước một sau, tung mình nhảy vọt qua bờ tường vào trong. Hầu Hạo thấy ngôi nhà Sài Gia này phạm vi cũng khá lớn, nhẹ tiếng nói Thượng Quan Linh rằng:
- Này sư đệ, chúng ta chia nhau bao bọc soát thử xem nghe?
Thượng Quan Linh gật đầu ưng thuận. Hầu Hạo tung mình vọt nhẹ ngay lên. Thượng Quan Linh quay ngay mình lại, gần ngay một lầu. Bỗng chàng thấy trên lầu có ánh đèn từ cửa sổ rọi ra ngoài. Thượng Quan Linh bèn nhẹ vọt bổng lên, đưa tay khẽ đẫy cửa phòng, bên trong một người đang ngồi đoan trang trong phòng, nhìn kỹ ra, chính là ông bạn chí thân Nhân tâm thần khất Phương Kỳ chứ còn ai! Thượng Quan Linh mừng hớn hở, vội hấp tấp bước ngay vào thi lễ rằng:
- Trời ơi!... Phương tiên sinh!... Những tin đồn đãi về lão đại ca khiến cho tôi suýt ngất mấy lần!... thì ra toàn là tin bịa đặt của thiên hạ cả...
Phương Kỳ nắm chặt tay Thượng Quan Linh cười ha hả... hình như quá vui mừng mà lão hành khất không biết nên nói gì trước! Thượng Quan Linh bị Phương Kỳ nắm chặt tay, chợt chàng như cảm thấy trong cái nắm tay này có gì là lạ... chàng cảm thấy sức nắm chắc và chặt vô cùng, chàng giật mình! Nhìn kỹ thì nơi nắm không phải là bàn chưởng mà là những nơi huyết mạch của cườm tay. Thượng Quan Linh nổi lòng nghi ngay, chàng bất giác nhìn ngay xuống hai bàn tay của Phương Kỳ. Chàng suýt rú thất thanh! Thì ra là đôi bàn tay đen như mực và gân nổi từng đường một đang nắm chặt tay của mình! Bàn tay này đâu phải là tay của Nhân tâm thần khất Phương Kỳ?
Thượng Quan Linh vốn có thể vùng ngay tay ra nhảy nhanh về sau tránh. Nhưng đột nhiên chàng cảm thấy tay mình bị siết chặt như còng khóa, đau nhói thấu tim, tai nghe những tiếng cười dài quái gở...
Thượng Quan Linh vung ngay tay trái lên đẩy mạnh vào lồng ngực bên phải của đối phương! Nhưng người nọ như đã tăng mạnh kình lực vào tay phải của Thượng Quan Linh, chàng không dám công đánh địch trong tình trạng này, vội lo tự cứu lấy mình trước, chàng bèn bung chưởng bên phải thành trảo, tính vùng thoát tay nắm của địch thủ. Nhưng chàng lại nghe tiếng cười quái dị của đối phương, Thượng Quan Linh bất giác chú ý nhìn kỹ vào mặt đối phương, chỉ thấy trong đôi mắt sâu hõm ấy, có những tia nhìn sáng ngời, khiến kẻ nhìn không ớn mà lạnh!
Lúc này chỉ nghe người mạo danh Phương Kỳ lên tiếng rằng:
- Lão đệ đã vào đấy sao? Hay lắm? Tôi đã chờ đây có hơn hai tháng trời rồi! Cuộc hành trình có lẽ vất vả lắm hả? Vậy hãy nghỉ ngơi cho khỏe đã!
Thượng Quan Linh biết mình bị trúng kế, giọng nói người này tuy chậm nhưng lại trầm hùng vô cùng, hình như kẻ nghe không thể nào kháng cự nổi, huyết mạch bị bấm, công lực bị hạn chế, trong cơn vui mừng và tức giận tột độ ấy, Thượng Quan Linh cảm thấy tứ chi bủn rủn, tinh thần mệt mỏi, trong óc chỉ muốn nhắm mắt ngủ say ngay một giấc cho đã. Tuy trong lòng chàng còn chút tỉnh trí, biết không thể nào để người ta thao túng mình như thế, nhưng ác nỗi khắp mình mệt lả không còn chút sức nào, âm thanh của đối phương lại trầm hùng êm tai như vậy, hình như có một sức thôi miên mạnh vô cùng! Thượng Quan Linh tuy cố gắng vùng vẫy nhưng tiếng nói đối phương lại rằng:
- Bây giờ cậu đã mệt mỏi lắm rồi! Vậy hãy yên trí mà nghỉ ngơi đi.
Thượng Quan Linh bị ngay âm giọng này thu hút, bất giác lại ngước mắt nhìn vào mắt của đối phương, chuyến này chàng không làm sao chống cự nổi nữa, chàng cảm thấy mình buồn ngủ quá đỗi, hai mắt dần dần nhắm ngay lại.
Trong ánh đèn chập chờn trong phòng, người nọ bồng hẳn Thượng Quan Linh lên và âm thầm bước xuống lầu!
***
Nói về Lãn hiệp Hầu Hạo, sau khi chia tay với Thượng Quan Linh, chàng lần hết nơi này đến nơi khác, thấy nhà cửa tuy nhiều nhưng đều không người! Biết ngay trong Sài Gia Bảo này không còn ai, mình cũng chẳng cần mất thì giờ ở đây làm gì, bụng nghĩ nên rủ ngay Thượng Quan Linh ra về rồi đến ngày mai ban ngày lại xem sao!
Hầu Hạo nhớ vừa rồi Thượng Quan Linh đã đi về hướng lầu có ánh đèn kia, chàng bèn tung nhanh mình lại chỉ thấy ánh đèn lập lòe như muốn tắt, chàng vội lẻn nhanh đến dưới lầu chờ đợi. Vừa vặn trong lúc đó có tiếng chân người từ trên cầu thang bước xuống. Chàng vội núp ngay vào bóng tối, thấy bóng đen đang từ trên cầu thang bước xuống và lững thững bước lại. Hầu Hạo mắt tinh, tuy trong bóng tối, chàng cũng nhận rõ người đang đi có đôi bàn tay đen thui, khi người này đi tạt ngang qua mặt, Hầu Hạo mắt nhận ngay ra người bị bồng ấy chính là sư đệ Thượng Quan Linh. Tâm tính Hầu Hạo nặng trĩu hẳn, không để chậm trễ, chàng nhẹ nhàng nhón theo phía sau. Thình lình vung chỉ điểm nhanh tới phía sau gáy của người đang đi.
Bỗng phía sau lưng Hầu Hạo nổi lên một tiếng “hờ!”. Thình lình sau gáy mình cảm thấy hơi lạnh áp tới, chàng hoảng người lên, lập tức thu ngay thế lại, và đổi ngay lối điểm thành lối đẩy, đồng thời quay nhanh thân đánh ngược ra một chương, dưới chân biến đổi nhanh phương vị, nhảy vèo nghiêng sang một bên. Định thần nhìn kỹ kẻ đánh lén mình, trong bóng tối, chỉ thấy người này không khác gì như một bóng ma: tóc rối bung và xõa bừa trên vai, một bộ mặt hình chữ nhật trắng xóa, hai mắt nham hiểm và độc ác ngó sang mặt Hầu Hạo, khiến chàng Lãn Hiệp không ớn nhưng cũng bồn chồn trong bụng.
Người như bóng ma này hai tay không, thân mặc chiếc áo dài đen dài chấm đầu gối. Hai vạt tay áo bên trong dài gần chấm đất, đôi bàn tay như xương khô lòi hẳn ra ngoài ống tay, hai chân đi đất, đứng uy nghi bất động, thần sắc trông kỳ dị vô cùng.
Hầu Hạo từ khi rời khỏi Tam Đường Thôn đến nay, đi khắp giang hồ từ Bắc chí Nam tới nay, nào đã từng gặp loại người: ba phần hồn người bảy phần vía quỉ như thế bao giờ đâu? Nhìn qua phía kia, Thượng Quan Linh đang bị người nọ bồng đi xa dần, chàng quýnh lên, vội vung bước đuổi ngay theo. Nhưng kẻ quái nhân như bóng ma này nhảy tung một cái, đã chặn ngay lối lại. Hầu Hạo nghĩ bụng: đây tuyệt không phải hồn ma vất vưởng, rõ ràng là cùng một đảng với lão già kia đây! Nghĩ vậy chàng bạo hẳn người lên, song chưởng vận ngay lực đẩy mạnh ra đến bịch một tiếng đánh trúng người nọ; nhưng thấy như bóng nọ vẫn đứng yên không nhúc nhích, sau khi trúng một chường, chỉ thấy tà áo đen nhăn hẳn lên một lớp.
Lãn hiệp Hầu Hạo thất kinh hoảng người, bụng nghĩ: thần lực của mình phát ra cũng đến sáu phần công lực, dầu cho có cứng bằng núi đá chăng nữa, cũng không thể nào chịu nổi trong ngọn chưởng này, không chừng người này không phải là người thật cũng nên? Mà đã là u hồn thì đâu có ngán gì những loại chưởng phong hay ánh kiếm! Nhưng chàng vẫn thấy quái nhân đứng uy nghi với thế dĩ tịnh đãi động (đứng im chờ biến động), Hầu Hạo không phục!
Thân hình nghiêng và bung vọt lên không, xòe hết hai chưởng từ phía trên áp xuống, và bao nhiêu thần lực chàng đem dồn hết vào hai chưởng này... Ngọn chưởng pháp chí mạng vốn là ngọn tinh hoa chường pháp do chính Thiên Si đạo trường độc sáng, kình phong thẳng như Thái Sơn áp đỉnh, lợi hại vô ngần! Nhưng quái nhân nọ hình như cũng biết ngọn chưởng lợi hại, chỉ thấy quái nhân khua nhanh lên một chưởng, Hầu Hạo cố ý thử sức với đối phương, thình lình hoành chưởng áp ngay xuống áp lực này, nào phải chỉ có ngàn cân đâu? Quái nhân lập tức vội vèo ngay ra tránh né ! Hầu Hạo trong lòng bỗng cảm thấy nhẹ nhàng hẳn, bụng chàng nghĩ: ra quái nhân là người thực thọ, hắn vẫn phải tránh đòn! Hờ! Hờ! Nhưng thân pháp nhanh nhẹ và không gây nên một tiếng động nào ấy quả không khác gì bóng ma đang lảng vảng!
Lãn hiệp sau khi chân chạm mặt đất, chàng lại hét lên một tiếng bung thân vọt ngay tới và dùng chỉ lực điểm nhanh sang Tòa tâm huyệt của quái nhân?
Nhưng quái nhân không thấy ra tay chống trả, nhoáng một cái thân hình đã vèo tránh sang một bên, Hầu Hạo đã đoán trước đối thủ sẽ dùng ngọn tránh như thế, tay phải chàng thình lình giở ngược lên, đổi ngay lối điểm sang lối bấu, cái bấu nhanh như cắt này đã bấu ngay sang một đai dài giữa ngay bụng đối phương? Tốc độ của cái bấu còn nhanh hơn chớp, không sao phòng bị nổi, cả đến quái nhân áo đen cũng không thể ngờ được, hắn đã phải phát ra một tiếng ý như kinh ngạc về lối đánh của Hầu Hạo! Lúc này Hầu Hạo càng tăng thêm hùng khí trong lòng, vận thêm kình lực vào ngũ chỉ để bấu mạnh thêm!...
Thình lình là chàng cảm thấy dưới chưởng mình trống rỗng vào hư không? Thế là ngọn bấu lợi hại có chín phần nắm chắc trong tay ấy bỗng trợt hẳn. Thân pháp người này quả nhanh như gió thật, nào có khác gì với hồn ma đâu! Trong cơn nguy cấp như thế mà đối thủ vẫn ung dung tránh khỏi. Tuy phục trong lòng, nhưng Hầu Hạo cũng quát tiếng:
- Quân hèn nhát! Nếu có giỏi hãy tiếp thử một chưởng với ta coi, né tránh lẩn quẩn như thế đâu phải bản sắc của kẻ anh hùng!
Người nọ không lên tiếng, vẫn uy nghi đứng yên trước mặt chàng ngó đăm đăm sang Hầu Hạo.
Hầu Hạo quát tháo:
- Quân ác quỉ! Sao? Có dám đối chưởng với ta không?
Người đối diện đột nhiên lên tiếng:
- Hừ! Nhãi con! Bộ tưởng ta sợ ngươi hẳn?...
Âm giọng lạnh lùng rùng rợn, chẳng khác nào như tiếng ma ai oán trong đêm trường, khiến người nhát vía phải da gà cùng mình!
 
0
Hồi 041. Hàng Ngũ Ma Trên Vô Ảnh Phong
[/align]

Hầu Hạo vội vận bộ đứng vững tấn, vận khí sung túc lên song chưởng, từ từ đẩy ra. Thấy đối phương vẫn không hề né tránh, trong bụng chàng mừng thầm, và chàng thình lình hét lớn một tiếng đẩy bật ngay kình lực của mình ào ào sang địch thủ.
Người đối diện chỉ lạnh lùng cười nhạt, từ từ giở ngay hai vạt tay áo rách rưới lên, chờ cho ngọn kình phong của Hầu Hạo vừa đến gần, mới thình lình phất ngay ra hai vạt áo, một ngọn kình phong ào ạt bung ra. Hầu Hạo cảm thấy không xong ngay! Chàng cảm thấy song chưởng của mình thình lình sức mạnh biến tan như bị chìm vào đáy biển, kình phong tự dưng biến thành vô tăm vô tích. Trong lòng thất kinh hoảng hồn, biết ngay về công lực của quái nhân tuyệt cao! Hầu Hạo vội thu lực lượng của mình về, người đối diện cũng ngay hai vạt tay áo của mình xuống, lạnh lùng cười nhạt!
Hầu Hạo buông tiếng hỏi:
- Ngươi là ai?
Người nọ không đáp!
Hầu Hạo bực mình mắng ngay rằng:
- Xem ngươi ba phần hồn người, bảy phần vía ma như thế! Chắc cũng không phải nhân vật tử tế gì!...
Quả nhiên câu mắng này đã khiến đối phương lên tiếng. Chỉ nghe giọng người đối phương nói như ma khóc oan hồn rằng:
- Nhà ngươi nói đúng lắm, ta chính là ma đây, một con ma mà chết đã lâu năm rồi...
Xung quanh quái nhân quả như ẩn hiện những tử khí rùng rợn, không có vẻ gì một cảnh sống động của dân gian cả, trầm mặc, âm u, rờn rợn, người nào nhát gan đứng trước cảnh cũng cảm thấy tóc gáy dựng ngược!...
Hầu Hạo bỗng nhớ đến lời ân sư mình từng nói: Mấy năm gần đây, trên giang hồ đã xuất hiện một lúc năm nhân vật kỳ quái!
Trên khu núi Cửu Lãnh, trong dãy núi vạn sơn trùng điệp ấy, có một ngọn nguy phong sừng sững, tên ngọn phong này gọi Vô Ảnh, trên nguy phong này lại có một ngôi cung điện đặt tên là Phi Các ma cung, và trong này có một vị ma đầu, trên giang hồ người ta đặt cho một biệt hiệu là Độc Ma. Dưới ghế Độc Ma có bốn đại đệ tử chia thành các tên: Tàn, Hãm, Hủy, Phá (Tàn nhẫn, Hãm hại, Hủy diệt, Phá hoại). Nghe đồn thầy trò năm người này võ công tinh tuyệt, tính tình quỉ dị khó lường, kiêm thêm mỗi người có một hình hài cổ quái khác hẳn người thường, ba phần hồn người bảy phần vía ma. Vậy xem ra người trước mặt mình đây có lẽ là môn hạ của Độc Ma cũng nên? Nghĩ vậy Hầu Hạo bèn lên tiếng hỏi ngay rằng:
- Phải chăng nhà ngươi từ Vô Ảnh Phong đến đây?
Người trước mặt giở giọng cười quái gở rằng:
- Hà hà!... Oắt con bộ sợ rồi sao? Đã là người thì chẳng ai lại không sợ ma! Và chính ta là ma trên Vô Ảnh Phong xuống đây? Ngươi sợ ma sao?...
Vừa nói vừa tiến sát lại, Hầu Hạo chỉ thấy trên bộ mặt không hột máu ấy trắng bệch, khi nói chuyện bộ răng chìa hẳn ra ngoài, miệng lưỡi líu tíu liên miên?
Hầu Hạo cũng bất giác giật lùi về sau, bỗng chàng chợt tỉnh nói thầm: Đừng để mắc mưu người này! Nghĩ xong, chàng lớn tiếng:
- Ta không tin! Và ta cũng không sợ!
Dứt lời! ào một chưởng! Hầu Hạo đã dùng đến tám phần công lực bửa mạnh sang đỉnh não địch thủ, nếu trúng quả nhiên người này không còn mạng.
Nhưng chỉ nghe tiếng nhẹ vù ngang tai, thân hình người nọ nhoáng cái, đã biến đâu mất không thấy! Một tiếng cười thê lương văng vẳng bên tai, Hầu Hạo liếc nhanh tứ phía, nhưng nào thấy bóng gì đâu, rõ thật là gặp ma!
Chàng tìm mãi không thấy đành ra phía trước thôn, chàng đang tính cởi dây buộc ngựa trong lùm cây để đi lo tìm ngay Độc chỉ Thôi Bác cầu cứu. Bỗng trong rừng cây lại truyền ra những tiếng cười lạnh lùng thê lương. Hầu Hạo nghĩ thầm chuyến này nếu mình theo bén gót chúng, thế nào cũng dễ biết về tin tức của Thượng Quan Linh sư đệ, và ất giáp gì cũng phải cứu chàng ra ngay rồi liệu sau, còn không, ít nhất cũng biết nơi đâu để bẩm lại với Độc chỉ Thôi Bác cũng giản tiện cho người ta.
Nghĩ xong chàng bèn lên tiếng lớn rằng:
- Lũ chuột nhắt mau mau ra đây nạp mạng cho thái gia!
Trong lùm cây hưởng ứng ngay, tên mặt trắng tóc xõa vừa rồi hiện ngay ra, còn một người nữa khiến cho kẻ nhìn phải giật bắn người lên, chỉ thấy người này thân hình cao đặc biệt, bộ mặt đen nham nhở, tóc bù và dài chấm tai tai, nhìn kỹ thì trên khuôn mặt, chỉ thấy thịt và máu be bét, ngoài đôi mắt có thần ra, không ai có thể thấy mũi miệng của người này nằm vị trí nào!
Nhất là trong đêm tối như thế này, đến Hầu Hạo cũng phải giật mình kinh hãi, Hầu Hạo biết ngay sắp có một cuộc kịch chiến xảy ra, tính chàng vốn cương mạnh, quyết không chịu thua, chàng quyết ôm theo một tâm lý: Ninh vi ngọc toái, bất vi ngõa toàn! (thà là ngọc quí bị tan tành, chứ không giữ miếng ngói nguyên vẹn), Hầu Hạo đã quyết liều thân, nên chàng tính xóa hẳn một tên trước mắt rồi sẽ tính sau với tên còn lại, song chưởng vụt nhanh ngay ra, một ngọn kình lực dũng mãnh bắn sang địch, chỉ nháy mắt, chưởng phong ào ào, cả một khoảng rừng lào sào dữ dội không khác gì một cuồng phong trước khi có trận mưa bão! Người mặt trắng cũng vẽ nhanh ra một chưởng lực thành hình bán nguyệt trên thinh không, thời gian của kình lực vừa khéo đúng rập với nhau, lập tức ngọn kình lực của Hầu Hạo bị đối phương dẫn dắt hẳn lên thinh không và tan biến vào không gian luôn!
Sau khi phá chưởng phong của Hầu Hạo, người mặt trắng nhanh như cắt tiến ngay thân sang, ngầm vận kình lực, đứng mạnh tấn đẩy mạnh sang, Hầu Hạo lập tức cảm thấy hai tả hữu và trước ngực mình, lúc này áp lực tăng mạnh hẳn, trước ngực cảm thấy khó chịu vô ngần! Hầu Hạo vội thích ngay hai khuỷu tay sang hai bên tả hữu, song chưởng từ giữa đưa nghiêng thẳng ra, với một thế ba đòn đánh ra như thế, chàng tính phân tán ngay ba thế công hãm của đối thủ, nhưng người mặt trắng quả là tay cừ! Miệng khẽ huýt lên một tiếng, tăng ngay kình lực, tập trung hết vào hướng trung phong thúc mạnh sang! Khiến cho Hầu Hạo không còn thì giờ suy nghĩ dùng cách nào phá, chàng chỉ có nước nhảy vèo thân ra sau.
Hầu Hạo liếc nhìn cạnh lùm cây, tên cao lớn mặt mũi mơ hồ kia đang đứng quan sát chiến trận đôi bên, chàng nghĩ bụng: đêm nay gặp hai kình địch như thế này, đến một mạng mình đã khó xoay xở, tên nọ còn chưa ra tay, e chừng công lực hắn cũng không phải tay vừa gì, nếu mình không tìm cơ hội tạm lánh chúng, chắc khó mà tránh khỏi chuyện bất trắc xảy ra!
Nghĩ xong, chàng bèn ngầm vận kình lực xuống chân; thình lình đá bung ra một đám bụi cát dưới mặt đất sang! Nhân ngay lúc người mặt trắng nghiêng mình né tránh, Hầu Hạo tung mình quay thân chạy luôn! Vừa chạy được lối sáu bảy bước, bỗng trước mặt chàng là là rớt nhanh xuống một vật chận ngay giữa lối nhìn kỹ ra, Hầu Hạo kinh hồn hoảng vía, thì ra chính là quái nhân mà mũi miệng không phân biệt đấy? Chỉ thấy hắn cất tiếng cười hừ hừ!... hợ! hợ!... như một người ngọng, những miếng thịt lở loét trên mặt rung động theo tiếng cười, hàm răng như va chạm vào nhau, chỉ thấy giữa mặt một lỗ to và sâu hoắm, lơ mơ thấy được những xương trắng hếu bên trong, trông không khác gì một chiếc đầu lâu còn chưa rữa hết thịt vậy! Khiến cho Lãn hiệp Hầu Hạo quên mất cả tính lười biếng của mình luôn, càng nhìn lâu càng ghê tởm hoảng sợ! Vội quay thân lại, nhưng tên quỉ mặt trắng đã đứng sẵn đằng sau nhe răng cười! Hầu Hạo tính xông nghiêng hắn ra phía trái, nhưng bóng ma mặt trắng vung ngay bàn tay gầy đét ra, một luồng ngầm lực đã chận ngay lối, không thể xông bừa ra được.
Hầu Hạo nổi khùng, chàng vận hết thần lực trong toàn thân ra, cúi đầu húc thẳng vọt sang phía bóng ma mặt trắng! Nào hay hai tên quái nhân nọ như bóng theo sát hình, Hầu Hạo hai chân vừa chạm đất, chúng lại chia ngay thành đôi bên tả hữu chèn ngay tới, chàng biết đêm nay khó lòng thoát khỏi, chỉ còn nước liều đại!
Nghĩ xong bèn vận ngay kình lực song chưởng, nhắm ngay tên mặc áo đen mặt trắng ấy bửa mạnh ra một luồng phách không chưởng lực. Tiếng gió rít lên một tiếng ào dữ dội, chàng liên tiếp mở nhanh luôn ba thế công chớp nhoáng ngọn nào ngọn nấy đều là tuyệt học của Thiên Si Tây Đạo hết.
Người bóng ma mặt trắng tuy đang miễn cưỡng tiếp đón, nhưng thân hình cũng suýt bị mấy vố chấn động, chỉ thấy hai ống tay rách ấy, bung ra những công lực liên miên, Hầu Hạo biết ngay, hắn đã không còn đứng yên nghênh địch như mấy lần trước nữa, hắn đã phải đứng vào thế chủ động để giao tranh, chàng bèn chuyên tâm nhất trí lo đối địch! Sau sáu bảy hiệp, thế đòn của người này càng lúc càng nhanh, lúc hư lúc thực, quỉ quyệt tuyệt luân, dần dà Hầu Hạo từ thế chủ động đổi sang thế bị động, mất hẳn ưu thế, thét rồi chỉ còn nước đỡ đòn!
Tên lở loét mặt đứng ngoài coi trận hình như sốt ruột, chỉ nghe hắn hét một tiếng như ngựa hắt hơi rằng:
- Hão hứ! Hãy hể hôi húp ho, hau hạ hoách hó ho hen, hời hấp háng hồi, hung ha hòn hải hề hứ!
(Lão tứ! hãy để tôi giúp cho, mau hạ quách nó cho yên, trời sắp sáng rồi, chúng ta còn phải về chứ!)
Lãn hiệp nghe tên lở loét mặt nói toàn những tiếng bằng giọng “Hờ” không, chàng lấy làm lạ?
Quái! Hắn nói tiếng gì đây? Sao mà chỉ nghe toàn những tiếng: Háng hồi, hung ha, hải hề như thế? Nhưng chàng nhanh trí kịp hiểu ngay: à... ra tên này bị lở loét mũi, nên chi phát âm không được chính xác như người thường... nên hắn mới ngọng khó nghe đến thế! Hầu Hạo chưa kịp tìm hiểu những câu nói ngọng là ý nghĩa gì, thì tên lở loét mặt ấy bung mình vọt nhanh đến, và khi toàn thân hắn còn ở trên không đã phát ngay một chưởng, trông không khác nào một móng trảo gia nanh vuốt chụp đầu xuống Hầu Hạo khiến cho Hầu Hạo không còn sức đâu để đỡ đòn, trong lúc đó, tên bóng ma mặt trắng ấy cười lên ha hả, nhanh như cắt chĩa luôn hai chỉ điểm nhanh sang sườn chàng.
Hầu Hạo nằm trong tình trạng lo đằng đầu thì mất đằng đuôi, cửa đòn bị trống tuếch, chàng thấy thế là mất hết danh dự, nổi ngay cơn uất anh hùng, cử ngay chưởng lên nhắm ngay thiên linh cái của mình bửa xuống để tự tử. Chợt nhiên chàng cảm thấy áp lực trên đỉnh đầu biến tan đâu mất, tay chĩa chỉ của bóng ma áo trắng cũng bị ngừng ngay thình lình, bên tai chỉ nghe có tiếng rằng:
- Đinh gia lão Tam lão Tứ! Hãy mau ngừng tay lại ngay!
Dứt tiếng nói, chỉ thấy trên không trung vèo nhanh xuống một người, chận ngay lối Hầu Hạo, chỉ thấy người này mặc bộ nho phục phất phơ, dưới ánh trăng sao mờ, càng hiện rõ phong thái dật sĩ nho sinh, trông ung dung cộng thêm vẻ nghiêm trang khả kính, khiến kẻ nhìn không sợ nhưng lại nể.
Lúc này thấy hai quái nhân có vẻ kiêng nể và ngán vị dật sĩ này thì phải, chỉ thấy hai quái nhân đứng sát vai nhau, mắt lăm le nhìn nhìn sang phía dật sĩ vừa đến, có lẽ vì tên lở loét, mất mũi không tiện lên tiếng vì giọng nói ngọng của mình, nên hắn thích nhẹ khuỷu tay sang tên đồng bọn được gọi là Lão Tứ, tên bóng ma mặt trắng này lên giọng hống hách rằng:
- Này Gia Cát Dật! Có mắc mớ gì đến người không mà xía vào vụ này?
Thì ra người có phong độ nho sinh dật sĩ ấy lại là Nam bút Gia Cát Dật trong Càn Khôn Ngũ Tuyệt. Hầu Hạo thoát chết trong tay tử thần, lúc này tinh thần phấn khởi ngay lại.
Gia Cát Dật nói với tên quái nhân mặt trắng rằng:
- Này Đinh lão Tứ! Ta hỏi ngươi về cái chết của Nhân tâm thần khất Phương Kỳ, phải chăng là một kiệt tác phẩm do bốn anh em nhà ngươi gây ra? Và ngọn Lãnh điện tỉ thủ ấy hiện ở đâu?
Tên quái nhân được gọi là Đinh lão Tứ ấy nghiễm nhiên lắc đầu trả lời rằng:
- Này Gia Cát Dật! Liệu mồm mà ăn nói, chuyện ấy đâu có liên can gì đến bọn này!
Gia Cát Dật lạnh lùng cười rằng:
- Hừ! Lũ ngươi núp trong Sài Gia Bảo bắt cóc ái đồ Thượng Quan Linh của ta như thế mà còn nói là vô can hả?
Đinh lão Tứ vội biện ngay lý lẽ rằng:
- Đúng thế, tôi với lão Nhị hợp sức ra tay bắt Thượng Quan Linh, giờ đây lại cùng đến với lão Tam, nhưng chúng tôi đều nhận lệnh bên trên cả, còn sự thật đã có chuyện gì xảy ra, lão Nhị lão Tam và tôi đều không hay biết gì!
Gia Cát Dật hơi băn khoăn một lúc, rồi lại hỏi ngay:
- Thế lũ ngươi được lệnh của sư tôn đến đây hành sự sao?
Hai quái nhân gật đầu. Nhưng tên lở loét mặt nọ quên rằng mình nói không sõi, hắn lại lên tiếng ngọng nghịu rằng:
Hình hư hư hôn húng hôi hận hời hỷ hác hủa hột hời hạn, hên hới hai húng hôi hi hành hông hiệc hày! Hày, Ha Hát Hạt Hơi hỏi huyện hày hàm hì hậy?
(Hình như sư tôn chúng tôi nhận lời ủy thác của một người bạn, nên mới sai chúng tôi thi hành công việc này. Này! Gia Cát Dật! Ngươi hỏi chuyện này làm gì vậy?)
Tuy tên lão tam này nói ngọng nhưng Gia Cát Dật cũng hiểu ngay là hắn nói gì, Nam Bút bèn nói ngay rằng:
- Bọn ngươi đâu có biết, Thượng Quan Linh ấy vốn là người nối nghiệp duy nhất của ta, nay bỗng dưng lại gặp kỳ họa vào thân như thế, ta có thể nào ngồi khoanh tay không ngó đến?
Hai quái nhân ngạc nhiên nhìn nhau, và cả hai chuẩn bị sẵn sàng ra tay. Hầu Hạo cũng hồi hộp, chàng cũng chuẩn bị cùng hợp sức với Gia Cát Dật để ra tay đối phó cuộc biến.
Gia Cát Dật ngập ngừng một chặp rằng:
- Này Đinh gia lão Tam và lão Tứ, bọn ngươi đã vì phụng mạng của sư phụ thì ta cũng chẳng trách gì bọn ngươi, hơn nữa nay sư phụ các ngươi đã ngang nhiên nhúng tay vào vụ này, ta không biết hắn đã nhận lời ủy thác của ai. Vậy món nợ máu của ái đồ ta, sẽ hoàn toàn chính ta đến kết liễu, nếu sư phụ của các ngươi còn niệm tình đạo nghĩa trên giang hồ, phải lập tức phóng thích ngay tiện đồ của ta ra ngay, và nhớ nhắn lời với kẻ hành hung. Nếu sư phụ các ngươi có ý dung túng cho hung thủ, hừ! Khi ấy Gia Cát Dật này cũng không nể nang gì đâu, thế nào cũng đến để tính món nợ này!
Hai quái nhân lại nhìn nhau, nhưng Đinh lão Tứ đã hầm hầm rằng:
- Hừ? Khẩu khí lớn vừa vừa chứ!
Gia Cát Dật bỗng rằng:
- Vậy ta phiền hai ngươi về báo ngay với lệnh sư: nói rằng Gia Cát Dật ta sẽ lên Vô Ảnh Phong để bái kiến!
Nói xong khẽ đưa tay hất một cái như ra dấu cho hai người ra về .
Hai anh em Đinh gia lão Tam và lão Tứ, vội tung mình vọt luôn, trong chớp mắt, tung tích hai người đã biến dạng luôn.
Hầu Hạo lúc này vội bước lại tham bái và xưng tên họ cùng sư môn, Gia Cát Dật nghe xong vội đỡ ngay dậy rằng:
- Vốn ta với Bắc kiếm Phổ Côn đang ở chung với nhau, nhưng Phổ huynh vì cây cờ Tiểu Đoạt Hồn Kỳ nên tính gây can qua với Thanh Thông bang hội tại Lạc Thủy, sau khi giàn trận tại Thanh Thông Cốc, lực lượng đôi bên ngang sức với nhau, với thế nửa cân tám lạng, nếu xảy ra cuộc tương tranh, thế nào cả hai cũng bị thiệt hại nặng, sau ta phải cố công khuyên can, đôi bên mới tạm nguôi giận. Nhờ vậy mà con gái thứ hai của nhà họ Liễu mới cho ta biết chuyện của Thượng Quan Linh, ta cấp tốc khởi trình ngay, nhưng ai ngờ cũng bị trễ mất một bước!
Hầu Hạo bèn thỉnh xin những ý kiến hành sự sau này, Gia Cát Dật rằng:
- Nay Thượng Quan Linh đã bị chúng đưa lên trên ngọn Vô Ảnh Phong, và tên Độc Ma lại nhận lời ủy thác của một người khác, như thế rất có thể chúng sẽ giao Thượng Quan Linh cho người nọ trong ngày gần đây, bây giờ chúng ta chỉ còn nước tiến hành cuộc cứu người nhanh chừng nào hay chừng ấy?
Nói dứt lời, hai người lên lưng ngựa, hướng ngay về Tương Thủy Độ Đầu khởi trình luôn.
Qua ngày hôm sau, suốt dọc đường, Gia Cát Dật có vẻ buồn rầu lắm, còn phần Hầu Hạo thì nghĩ về võ công của hai tên quái nhân Đinh lão Tam và Tứ, thỉnh thoảng chàng bèn thỉnh giáo về tình hình nhóm thầy trò của Độc Ma trên Vô Ảnh Phong. Gia Cát Dật bèn rằng:
- "Ngọn Vô Ảnh Phong nằm trong khu núi Cửu Lãnh giao giới với Tương Chương, trong ngọn phong này lại có nhiều ngọn phong khác bao xung quanh, phần đông lại cao ngất trời, ít thấy mặt trời lắm.
Tương truyền trong ngôi Vô Ảnh Phong, có hang động thiên nhiên, nhưng suốt đời âm u phủ kín khắp vùng, không làm sao có thể thấy bóng núi, nên mới được gọi là vô ảnh Phong, mà trong Vô Ảnh Phong ấy, võ công của tên Độc Ma lại tự lập thành một phái riêng biệt, xưa kia không ai biết có người này bao giờ.
Mãi đến gần mấy tháng đây, hắn mới xuất hiện trên giang hồ, về mặt võ công của người này ra sao, quả thật ít có người biết được, chỉ nghe đồn hắn thần bí khôn lường, tính tình quái dị, ưa thích thái bổ, lại chuyên cướp bắt các trinh nữ làm vật cúng tế, sau khi giày vò xong, phần đông đều tắt thở, và bị mổ bụng lấy ngay tim gan nuốt sống, hung dữ tuyệt luân. Những hành vi tàn bạo ác nghiệt của hắn đã truyền khắp trong giang hồ, những nhân vật hiệp nghĩa trong võ lâm không ai là không ghét cay đắng hắn! Cũng có nhiều người hưng sư đi hỏi tội hắn, nhưng phần đông đều ra đi mà không bao giờ thấy trở về.
Nghe truyền rằng: ngay cửa cốc vào Vô Ảnh Phong, xương người chất dài đến mấy dặm; còn tên Độc Ma, nghe đồn người này mắc bịnh lở lói, tứ chi của hắn không được hoàn toàn, ngũ quan cũng bị tàn phế, bởi vì hắn quá xấu xí, nên mới thù hận những người trên thế gian, thề nguyền không cho người thế gian thấy bộ mặt thật kinh gớm của hắn, vô phúc cho kẻ nào được thấy mặt thật của hắn, người xấu số bị bắt và đem xử tử ngay! Còn nghe đồn hắn luyện được môn võ công quỉ dị vô cùng, mệnh danh là Đại Ma thần công, khi phát ra, có thể khiến cho thần trí địch thủ bị hôn mê và nói năng lảm nhảm ngay; còn bốn tên đệ tử của hắn, toàn là những tên mắc bệnh hủi (cùi) lở lói kinh người.
Đại đồ đệ là Đinh Tàn, tên này chỉ có một tay và một chân. Nhị đồ đệ Đinh Hãm, tên này râu tóc nhẵn nhụi, nhưng hắn lại tinh giỏi về thuật dịch dung (thay đổi tướng mạo cũng như khoa sửa sắc đẹp ngày nay vậy). Tam đồ đệ Đinh Hủy, ngũ quan lở loét, thân hình cao lớn hiếm có, và chính là tên nói ngọng mà chúng mình đã thấy. Còn tên đồ đệ thứ tư là Đinh Phá nước da trắng dễ sợ, và kiêm bệnh ghẻ lác trên người và cũng chính trong đêm qua chúng ta đã thấy.
Sự ẩn cư của năm thầy trò chúng trên Vô Ảnh Phong, đều bởi lý do xấu xí và tàn tật trên mình gây nên, và cũng vì thế mà lòng tự ti mặc cảm xui khiến chúng đâm thù oán với người đời, cả năm thầy trò đều luyện những võ công kỳ dị bí hiểm, tuy chúng đã gây nên nhiều tội ác tầy trời nhưng vì âm độc võ công của chúng lợi hại, nên đã nhiều người hiệp nghĩa trong giang hồ hy sinh trên Vô Ảnh Phong không phải là ít, và gần đây không còn ai dám lại đối địch với chúng nữa.
Ta với Túy Đầu Đà và thầy ngươi là Thiên Si đạo trưởng, ba người đã tính bàn rủ Bắc kiếm Phổ Côn, thân hành lên Vô Ảnh Phong một chuyến để hỏi tội chúng. Nhưng mấy năm rày đều mải lo điều tra về vụ hung án đã khiến cho: Chung Ly Triết, Tạ Đông Dương, Phương Bách Xuyên, Gia Minh, Thường Bích vân bị thiệt mạng tại Cửu U Địa Khuyết ấy, cho nên cuộc dự định lên Vô Ảnh Phong vẫn chưa thi hành được.
Nay lại thêm Nhân tâm thần khất phương Kỳ bị hại về ngọn Lãnh điện tỉ thủ như thế, vậy chuyến này thế nào cũng phải lên Vô Ảnh Phong một chuyến, không những chỉ cứu Thượng Quan Linh, mà đồng thời còn có thể nhờ đó mà dò la tin tức hung thủ trọng án tại Cửu U Địa Khuyết xưa kia? Nhưng ta nghĩ đến Càn Khôn Ngũ Tuyệt xưa kia lừng danh khét tiếng trong thiên hạ, nhưng nay Đoạt Hồn Kỳ Chung Ly Triết đã mất, Bắc kiếm Phổ Côn tính tình lại thay đổi, chỉ còn chừa lại có ba người, thanh thế quả là đã yếu hẳn nhiều lắm!"
Gia Cát Dật nói xong những chuyện này, chỉ khẽ nhích miệng mỉm cười , sắc mặt càng có vẻ nặng trĩu vì buồn rầu, Hầu Hạo biết chuyến đi này của hai người không lấy gì làm chắc cho lắm, trong lòng cũng không khỏi ngại ngùng lo âu...
Vị trí Vô Ảnh Phong nằm giao ngay với con sông Tương trong dãy núi trùng trùng điệp điệp của Cửa Lãnh, khởi hành từ Nhạc Châu thì cũng không xa lắm, Gia Cát Dật và Lãn hiệp Hầu Hạo vẫn tiếp theo lộ trình đã định. Dọc đường hai người ước lượng, hai tên Đinh Hủy và Đinh Phá khinh công siêu việt, chắc giờ này đã về đến trên núi phục mạng với Độc Ma rồi cũng nên, vậy mình đi theo sau lên như thế này, thầy trò Độc Ma thế nào chả chuẩn bị, vậy thì chuyện cứu Thượng Quan Linh không phải dễ dầu gì mà được ngay. Hầu Hạo tính đề nghị đi Mặc Phụ Sơn tìm vị lão tiền bối Đoạn trường nhân Độc chỉ Thôi Bác trước, nhờ người này giúp sức may ra có hy vọng thêm, nhưng Gia Cát Dật danh liệt trong Càn Khôn Ngũ Tuyệt, tiếng tăm lẫy lừng trong giang hồ võ lâm, nếu bây giờ phải đi nhờ vả sức người ta, quả thật là khó nói ra miệng quá nên Hầu Hạo không dám mạo muội hé môi nói ý kiến này.
Hơn nữa, chàng lại nghĩ đến Thượng Quan Linh nay đã chim lồng cá chậu, mạng nguy trong một sớm một chiều, càng không thể nào kéo dông dài thì giờ được cho nên Hầu Hạo nóng lòng sốt ruột không kém gì Nam bút Gia Cát Dật, hai người vẫn tất tả trên đường lộ trình đi Vô Ảnh Phong.
Một hôm, hai người đã đến khu núi Cửu Lãnh, đường sơn đạo bắt đầu chật hẹp dần, ngựa khó đi, hai người dành phải bỏ ngựa cuốc bộ vào núi, nhưng càng đi càng cảm thấy địa thế đây càng cao, dần dà chỉ thấy như mình lướt trong mây, xung quanh bốn bề trùng điệp những ngọn phong cao ngất trời, hầu hết đường sơn đạo đều không bóng người. Gia Cát Dật và Hầu Hạo chỉ sợ có mai phục, suốt dọc đường đều cẩn thận quan sát, đi được một quãng nữa, bỗng nghe đằng xa như cô tiếng thiên quân vạn mã reo vang hò hét giết nhau, khiến cho hai người giật nảy mình!
Khi hai người định thần nghe kỹ, thì đâu phải là người ngựa hí reo, mà chính là tiếng thác nước ầm ầm.
Cảnh sắc càng hiu quạnh, thỉnh thoảng những tiếng thú rừng hú kêu rợn người. Vô Ảnh Phong không biết nằm tại đâu? Chỉ thấy toàn những ngọn phong liên miên hết ngọn này dính sang ngọn khác, khắp cảnh âm u lạnh lùng, hai người phóng tầm nhìn của mình, không thấy một bóng người, trong lòng bất giác cảm thấy bàng hoàng. Cả hai vẫn tất tả rảo bước, địa thế càng cao và đã cảm thấy khó đi, tiếng thác ầm ầm càng lúc càng lớn, trên mặt hai người đã cảm thấy hơi ươn ướt vì hơi thác nước, cả hai như có cảm tưởng mình đang đi trong sương mù dày đặc, dần dà trên mặt họ đọng thành những giọt nước tinh anh. Gia Cát Dật khẽ thở một tiếng ngước đầu ngó lên, nhưng đã không thấy mặt trời đâu, những quang tuyến xung quang đã lu mờ hẳn, chợt hiểu rằng cái tên Vô Ảnh Phong là do các ngọn phong cao chọc trời ấy đã che mất ánh nắng mặt trời chiếu vào, phần do hơi thác nước lớn gây nên những cảnh sương nặng hột, và cứ vất vưởng liên miên trong cốc đến không bao giờ tan được, nên mới được gọi là Vô Ảnh Phong.
Nhưng sự thật ngọn Vô Ảnh Phong chính thức là ngọn nào? Đến bây giờ vẫn không thể nào xác định được hai người đành đứng trong sơn cốc âm u, đưa mắt nhìn quanh quất, ngoài những tiếng reo ầm ầm của thác nước và những hạt sương nặng hột bám vào mặt cảm thấy lành lạnh ra, không còn gì khác. Bỗng dưới chân Hầu Hạo va đến cách một tiếng, cúi đầu nhìn xuống, chàng bất giác kinh ngạc, vội gọi Gia Cát Dật lại xem, chỉ thấy dưới chân chàng có một bộ xương người trắng mốc nằm sấp với thế hình chữ đại (tay chân giang ra hết), nhìn kỹ thì xương tay bên phải hình như đang cố chỉ một việc gì? Nhìn theo hướng chỉ, cách ba bốn bước, lại một bộ xương người khác. Hai người chợt hiểu nguyên do, ra đây là lối vào Vô Ảnh Phong, và suốt từ đó đến phong, xa có mấy dặm đường, toàn do những bộ xương khô chỉ lối. Thì ra những kẻ vô hạnh chết đây, đều là những kẻ lương dân bị thầy trò Độc Ma tàn sát suốt trong bấy lâu, và những người hiệp sĩ chánh phái trong giang hồ đã đến hỏi tội Độc Ma!
Chúng đã tàn nhẫn dùng những tử thi ấy làm bảng chỉ lối vào Vô Ảnh Phong, cố ý khoe khoang những sự lợi hại của chúng, ngang nhiên tàn nhẫn tung hoành, cốt gây sự khiếp sợ trong thiên hạ!
Suốt dọc đường tiến sâu vào, không biết cơ man nào là xương người, thôi thì nằm đủ kiểu cách: sấp, ngửa, nghiêng, vẹo, dọc, ngang... lung tung! Nhưng những bộ xương nhỏ nhắn thì chiếm đa số, chắc đó là những hài cốt của các thiếu nữ đã bị thầy trò Độc Ma hái hết nhụy trinh rồi sát hại quăng xác nơi đây để làm bảng chỉ lộ và trang hoàng thêm cho con dường vào Vô Ảnh Cốc!
Gia Cát Dật và Hầu Hạo thấy cảnh thê lương vậy trong lòng càng đâm bi phẫn uất giận về sự tàn bạo của thầy trò Độc Ma. Hai người đi được hơn một dặm thì thấy thác nước nguy nga hiện ra trước mắt cả một bức vải thủy tinh thiên nhiên từ trên cao chót vót tủa dài xuống, tạo nên những hột thủy châu to bằng nắm tay dội hẳn lên gần trượng cao, rồi lại rớt tan tành trôi đi trong tiếng ầm ầm kinh thiên động địa của nó, khí thế hùng dũng kinh người! Hai người cảm thấy áo bị nước thác bắn ướt khá nhiều, vội né ra và men theo lối chỉ của các bộ xương khô, đi bọc theo thác nước. Khi xuyên hẳn vào một thạch bích trông không khác gì một tấm bình phong thiên nhiên ấy, tiếng chảy của thác nước bị cách tuyệt hẳn, những tiếng dội ầm ầm của ngọn thác vĩ đại không còn nữa, nơi đây im tịnh đến nỗi có thể nghe rõ tiếng thở của bản thân mình, nhưng có điều là ánh sáng nơi đây quá tối. Ước tính thời gian, lúc này cũng sắp tối, trăng chưa thấy lên, nhìn xuống dưới chân, những bảng chỉ lộ bằng xương người đã hết, chứng tỏ hai người đã đứng trước Vô Ảnh Phong.
Vì không khí tối om, Gia Cát Dật và Hầu Hạo không dám lỗ mãng khởi hành vội, đành nhẫn tâm chờ đợi trăng lên rồi tính, cả hai đành ngồi xuống xếp chân bàn tròn để tịnh dưỡng lại sức mệt mỏi của mình.
Chẳng mấy chốc, Hầu Hạo cảm thấy có ánh quang chiếu ngay mắt mình sáng chói, chàng vội mở mắt, một cảnh kỳ lạ hiện rõ trước mắt. Trên không trung, một khuôn trăng lưỡi liềm tỏa ra những ánh sáng chiếu khắp xung quanh, bốn bề im tịnh như tờ, cảnh sắc trông nên thơ lạ kỳ, hoa dị thảo khắp nơi, xa xa mờ mờ ngọn phong, hình như ẩn hiện có nhà cửa, nhìn thét một lúc, không khác nào như lầu các treo lơ lửng trên không, cảnh tuyệt tác trông đẹp và hữu tình hơn tranh vẽ, thật không khác gì trong tiên cảnh!
Hầu Hạo khẽ ý lên một tiếng, nhìn sang Gia Cát Dật bên cạnh, thấy vị sư thúc này vẫn nhắm mắt vận công, chàng không lên tiếng gọi, nhưng vì tính tuổi trẻ của mình, chàng đã bị cảnh đẹp nên thơ thu hút, chàng nhẹ đứng dậy, âm thầm thưởng thức những cảnh sắc hồn nhiên trước mắt mình một cách say sưa.
Xưa kia chàng tưởng đâu nơi cư ngụ của Độc Ma và bốn tên đệ tử: Tàn, Hãm, Hủy, Phá họ Đinh ấy phải là một nơi âm u rợn người, và có thể là một địa ngục trần gian! Nào ngờ hôm nay thân hành đến ngọn phong này cảnh sắc lại đẹp một cách tuyệt vời như thế, dù cho cảnh tiên cũng chỉ đến mức này là cùng. Thoang thoảng những mùi thơm của kỳ hoa dị thảo theo làn gió nhẹ lướt qua khứu giác của chàng, chàng ngẩn ngơ tận hưởng cảnh sắc xung quanh mình. Hầu Hạo bắt đầu rảo bước, chàng muốn khám phá ngôi đình đài lầu các lơ lửng đằng giữa ngọn phong kia. Chàng đi không bao xa, ánh trăng càng tỏ rõ thêm, không những thấy rõ ngôi Cung khuyết trên lưng chừng núi, mà còn ẩn hiện thấy có ánh sáng lấp lóe và bóng người chập chờn.
Hầu Hạo sực kinh tỉnh, e không chừng thầy trò Độc Ma đang lo đặt cạm bẫy chăng? Chàng chực lên tiếng gọi Gia Cát Dật, nhưng chàng lại nghĩ thầm: kẻ địch đâu chưa thấy xuất hiện, mình cuống lên thế làm gì vội như thế chẳng hóa ra mình nhát gan quá sao! Biết đâu chẳng vì vậy mà sư thúc không ưa mình? Nhưng vì tuổi trẻ đầy máu anh hùng, bỗng chàng bạo gan hẳn, chẳng chần chừ gì, lững thững bước đi một mình. Dưới ánh trăng chàng thấy một con suối, cạnh suối lại có một ngôi nhà tranh nho nhỏ, đã có nhà, thế nào lại chẳng có người, Hầu Hạo phủ phục ngay vào bóng tối, chăm chú quan sát. Nhưng chàng chỉ nghe tiếng suối róc rách chảy, chàng cảm thấy mình có vẻ khát và tính lại uống nước suối. Thình lình trong ngôi nhà tranh nhỏ cạnh bờ suối ấy, bỗng có hai thiếu nữ một trước một sau chạy ra, và cả hai đưa nhau lại ngồi ngay bờ suối. Thân hình hai thiếu nữ xấp xỉ bằng nhau, hình như là chị em, quần áo gọn ghẽ, một mặc áo xanh, một mặc áo đỏ, Hầu Hạo tuy không thể thấy rõ hai khuôn mặt đó ra sao, nhưng cứ xem theo phía sau lưng của hai người, có lẽ chưa có cô nào quá hai mươi xuân xanh.
Có lẽ là hai thiếu nữ của thầy trò Độc Ma đã bắt cóc lại đây?
Nghe đồn thầy trò Độc Ma lại thích thái bổ, vậy hai thiếu nữ này chắc là nạn nhân của họ cũng chưa chừng, trong thâm tâm của Hầu Hạo bỗng nổi lên tình trắc ẩn thương hại, nhưng chàng chợt nghĩ, tại sao lại không người canh gác, để cho họ ra đến bến suối này?
Mà xem thần sắc và cử chỉ của hai người, thì không giống với kẻ bị giam cầm chút nào, không lẽ họ cam tâm tình nguyện chịu cho quân tà ác dày vò tấm thân đào liễu như thế sao? Hay đầu óc họ mê mẩn mất trí, vui thú với những hoan lạc trước mắt, không biết đến những hành động tàn nhẫn vô nhân đạo của thầy trò Độc Ma?... Nghĩ tới đây, Hầu Hạo bật nỗi lòng nghĩa hiệp thương người, chàng buột miệng thở dài một tiếng!
Thiếu nữ áo đỏ bỗng nhảy phắt ngay dậy kinh ngạc rằng:
- Chị ơi! Có người!
Thiếu nữ áo xanh cũng vọt hẳn người lên hơn một trượng rồi từ từ hạ mình xuống.
Dưới ánh trăng, thêm một ánh quang lạ lùng nhoáng nhanh, trong tay thiếu nữ áo xanh đã có một thanh kiếm sáng xanh! Dưới ánh trăng, chỉ thấy bốn mắt của hai thiếu nữ như hạnh nhân, mày ngài, mũi thon, môi hình trái đào, quả là đẹp tuyệt! Hầu Hạo lấy làm lạ, cũng chẳng hiểu hai thiếu nữ là địch hay là bạn? Lúc này chỉ thấy hai nàng đang chia thành hai đường để lùng soát, dần dần đã gần lại phía Hầu Hạo... Nhưng thiếu nữ áo xanh hình như đã phát giác, chỉ thấy nàng đưa ngang kiếm ra quát rằng:
- Ác tặc! Hãy bước mau ra đây chịu chết!
Hầu Hạo thấy thế vọt lên không của nàng, biết ngay khinh công đến mức cừ lắm, tuy không phải cùng phe với Độc Ma, nhưng cớ sao lại ở đây? Chàng phân vân, chỉ ngại hiểu lầm nhau rồi gây ra chuyện xô xát thì không hay! Thôi mình cứ giả tảng lờ xem coi họ làm gì!
Thiếu nữ áo xanh chờ đợi một chặp, không thấy động tĩnh, lẩm bẩm rằng:
- Này em! Có lẽ em đã nhầm chăng?...
Thiếu nữ áo đỏ rằng:
- Rõ ràng là có tiếng thở dài mà... nhất định là bọn dâm ma trên Vô Ảnh Phong chứ không sai, mình tìm chúng, chúng trốn mặt không chịu gặp; nay nhân lúc mình chểnh mảng, tính lại đánh lén!...
Thiếu nữ áo xanh lộ vẻ giận dữ rằng:
- Chắc là bọn chúng đã nấp kín, đã thế để ta dùng kiếm phạt bằng hết những bụi khả nghi, lo gì quân gian không lòi ngay mặt chuột ra!
Tai Hầu Hạo nghe đến “Xoẹt” một tiếng, chàng liếc mắt nhìn ra; thấy hai thiếu nữ sử dụng hai ngọn kiếm như bay, ánh kiếm lướt tới đâu thì bụi cây rạp tới đó, chỉ trong nháy mắt, hai luồng ánh kiếm đã gần kề sát đến chàng, Hầu Hạo không cách nào nấp tránh, đành than thầm một tiếng xúi quẩy, rồi mặt dày mặt dạn hiện thân ra lên tiếng:
- Xin nhị vị cô nương hãy khoan...
Câu nói chưa hết, đã bị thiếu nữ áo đỏ trông thấy trước, nàng thét lên một tiếng phi thân vọt đến, ngọn kiếm trên tay đâm thẳng phía ngực Hầu Hạo, chàng dang hai tay không đành phải vèo nhanh về sau, hơi lúng túng mới tránh khỏi thế đâm của thiếu nữ, đương tính cất tiếng phân trần rõ chuyện nhưng thiếu nữ áo đỏ lúc này không khác gì bóng với hình, xoay cung vị đổi nhanh thế tiến sát vào.
Hầu Hạo thấy vậy khẽ hừ một tiếng vung luôn chưởng ra đòn, nhưng thiếu nữ áo đỏ vẫn mặc; nàng vẫn nhoáng thân tiến sát vào, tả thì chưởng hữu thì kiếm, ào ào đánh sang nhanh chớp như vũ bão cuồng phong, Hầu Hạo biết rằng nàng không phải phe đảng của Độc Ma, đâu nỡ ra tay khiến nàng bị thương, chàng chỉ giữ thế thủ, tuyệt đối không trả đòn lại, thoáng cái, đã trên bảy tám hiệp rồi.
Thiếu nữ áo xanh đứng bên cạnh quát:
- Ác tặc! Ngươi còn muốn ngoan cố chống cự sao?
Quát xong vung luôn kiếm áp vào trận đánh bừa luôn, Hầu Hạo cảm thấy áp lực trước mặt lúc này gia tăng, thầm nghĩ công lực hai thiếu nữ này không vừa gì nhưng đáng trách cái là lại không cho mình phân giải rõ ràng, hung hăng đánh bừa như thế biết làm sao? Vì chàng đã phải tập trung hết thần trí để đối phó nên không còn cơ hội lên tiếng phân bua. Chàng sực nhớ ra sư thúc mình là Gia Cát Dật, bèn chu miệng lại huýt lên một tiếng sáo báo động cho Nam Bút.
Thiếu nữ áo xanh quả tinh trí, biết ngay Hầu Hạo kêu cứu, nàng bèn tung thân vọt nhanh toàn thân lên, thanh kiếm giơ nghiêng thành bốn mươi lăm độ, từ trên không chúi ngay đầu phạt xuống! Oai lực của thế đánh này quả là tuyệt luân, Hầu Hạo lo được đàng này mất đàng kia, thấy rõ khó thoát, chỉ còn nước cố vung chưởng lên đỡ đỉnh đầu, nhưng thiếu nữ áo đỏ đã len lén tới, trong lúc khứu giác của Hầu Hạo vừa ngửi được một mùi thơm hoa lan của nàng bay tới thì ngọn kiếm của nàng đã đâm thẳng đến ngực mình, thấy không còn thế nào tránh thoát, Hầu Hạo đành nhắm mắt chờ chết?...
Bỗng cheng một tiếng vang lên, ngọn kiếm của thiếu nữ áo đỏ đâm tới ngực mình ấy, bỗng bị bật nghiêng hẳn ra, hình như đã bị một vật gì đó đánh hất ra có vẻ mạnh lắm, khiến cho toàn thân thiếu nữ khẽ nhoáng lên lùi về phía sau hai bước... Ngay trên không; một người lướt nhanh xuống nhẹ nhàng như con chim hạc màu xanh. Hầu Hạo cố vung ra một chưởng đẩy lùi thiếu nữ áo xanh, toàn thân chàng cảm thấy mệt phờ người, biết ngay sư thúc Nam bút Gia Cát Dật đã kịp tới cứu mình, chàng bèn ngồi phệt ngay tại trận nhắm mắt tĩnh tọa để điều khí. Tai chàng nghe Gia Cát Dật ý lên một tiếng, tiếp theo nghe “choeng” lên một tiếng, sau tiếng binh khí va chạm nhau, cả hai thiếu nữ đều kinh ngạc hô lên.
Nghe tiếng Gia Cát Dật rằng:
- Ồ! Ra Hồng cô và Thanh cô đó sao? Hai vị tại sao lại đến đây làm gì vậy?
Hầu Hạo lúc này mới yên tâm, thì ra Nam Bút quen biết hai thiếu nữ này! Chàng mở mắt ra nhìn, chỉ thấy hai Thanh y thiếu nữ cười tươi như hoa, khác hẳn với bộ mặt hung hăng vừa nãy, nghe nàng nói rằng:
- Hóa ra là Gia Cát Dật, vậy còn vị này là ai?
Gia Cát Dật bèn đứng ra dẫn kiến, thì ra hai vị thiếu nữ này cũng là nhân vật trứ danh trên giang hồ là Châu Thị Tam Điệp (ba com bướm nhà họ Châu), thứ vị của hai nàng là Cô Ba và Cô Tư, Thanh điệp Châu Sách và Hồng điệp Châu Chu. Sau khi vấn kiến xong, Châu Thị Song Điệp bèn thi lễ xin lỗi trong cuộc hiểu lầm vừa rồi, may mà chưa gây nên hậu quả tai hại gì! Hầu Hạo cảm thấy buồn thầm trong lòng, chàng ngước mắt lên, bỗng thấy chị em Châu Thị dồn hết tia nhìn vào mặt mình, chàng cảm thấy má mình nóng bỏng lên, không biết nói gì cho phải.
Gia Cát Dật bèn hỏi chị em Châu Thị tại sao đến đây Thanh Điệp bèn mời ngay Gia Cát Dật và Hầu Hạo ngồi xuống cạnh bờ suối, xong mới kể hết đầu đuôi vụ kết thù của Châu Thị Tam Điệp với thầy trò Độc Ma trên Vô Ảnh Phong.
Thì ra Châu Thị Tam Điệp, cả thảy ba chị em, chị cả Châu Ni, ưa mặc đồ trắng, nên trên giang hồ người ta thường gọi là Bạch Điệp. Cô thứ Châu Sách thích mặc thanh y, nên người ta gọi là Thanh Điệp, còn cô út Châu Chu ham chuộng màu đỏ, nổi danh trên giang hồ với biệt hiệu là Hồng Điệp. Tam Điệp tuy tuổi còn non trẻ, nhưng đều là ba cô con gái của Giang nam ngọc điệp Châu Phụng, gia học uyên thâm, khinh công kiếm thuật đều được sự chân truyền của mẹ là Ngọc Điệp. Võ công của Ngọc điệp Châu Phụng đều đã đến mức tuyệt đỉnh, năm 30 tuổi nàng liên tiếp đi giang hồ khắp thiên hạ, phần thì dung mạo tuyệt sắc, võ công cừ khôi, chẳng bao lâu thanh danh vang lừng trong thiên hạ. Nào hay trong năm nay Tam Điệp đi tham lễ Nam Nhạc (núi Hoành Sơn tại Hồ Nam), bỗng gặp họa vào mình.
Hôm đó, trên Hoành Sơn, những thiện nam tín nữ đi lễ đông đảo, Châu Thị Tam Điệp ỷ trong người có tuyệt nghệ, nên không cần kiêng kỵ gì, ăn diện thật hấp dẫn, tuổi trẻ, người lại đẹp, suốt dọc đường lên núi, cười nói cởi mở, khiến cho bao nhiêu chàng trai phải ngây ngất lạc hồn!
Tam Điệp khi lên đến nơi, thấy nơi thạch cấp trước mặt, thiên hạ hễ ai đi qua đó đều phải bịt mũi đi cho nhanh, cả ba chị em bất giác háo kỳ, đi gần lại xem là chuyện gì, tới nơi, chỉ thấy một người hành khất bẩn thỉu, nằm ngang ngay thạch cấp, mặt mũi lở lói bấy bá, tứ chi tàn khuyết, đầy mình máu mủ hôi tanh, thúi không chịu nổi, bên cạnh người hành khất lại có một cái giỏ nhỏ bằng tre, chính là để xin của bố thí của khách hành hương. Nhưng khốn nỗi khách thập phương đâu ai lại gần với mùi thúi kinh người ấy, nếu có người động lòng từ tâm, họ cũng chỉ đứng xa thẩy tiền vào giỏ cho hành khất mà thôi. Thanh Điệp và Hồng Điệp vội hối chị cả đi ngay, vì trông hành khất kinh tởm quá! Nhưng bỗng Châu Ni nói với hai chị em mình rằng:
- Này hai chị em, những dị nhân trên giang hồ thường hay hóa trang thành những hành khất tàn phế, một là họ đùa cợt với nhân tình thái thế, hai nữa là họ tìm kẻ chân tài, nên kẻ phàm tục không thể làm sao biết được, chỉ có những người có tuệ nhãn, mới có thể phát giác, và nhờ thế mà theo học được ích lợi cho bản thân mình, thế nào cũng có những cuộc gặp gỡ may mắn kỳ dị là khác!
Hồng điệp Châu Chu là em út, nghe chị nói xong bèn chế ngay:
- Với những người máu mủ hôi thối như thế, không lẽ chị có thể thân mật với người ta được sao?
Bạch Điệp nghiêm sắc mặt rằng:
- Có gì mà không được?
Nói xong Bạch Điệp bèn bước ngay lại ngay người ăn mày, cung thân lễ phép rằng:
- Tiền bối cảm thấy trong mình chỗ nào không ổn, và nếu có gì cần đến tiểu nữ giúp xin ngài cứ việc nói!
Khách hành hương thấy một cô gái đẹp như thế mà lại đi làm quen với tên ăn mày kinh tởm ấy, ai nấy xôn xao cả lên, và chẳng ai nhủ ai họ đều vây quanh lại xem.
Thanh Điệp thấy vậy càng rối cuống lên khuyên chị nên đi ngay, Nhưng Bạch Điệp không chịu, nàng vẫn chú thân chờ đợi người ăn mày lên tiếng.
Khá lâu, người ăn mày mới ngẩng đầu lên, và một bộ mặt vừa xấu xa vừa rùng rợn hiện rõ ngay trước mặt mọi người, nhưng đôi mắt của hành khất sáng ngời? Mọi người xung quanh kinh rú lên, có kẻ đã vội giật lùi không dám nhìn thêm vì trông quá kinh hãi, nhưng vẫn có kẻ tuy không sợ nhưng lại tiếc, không muốn bỏ đi ngay, lòng háo kỳ thúc họ đứng lại xem.
Trong ánh mắt của hành khất, nào đâu thấy có vẻ gì là bệnh hoạn đâu.
Thanh Điệp và Hồng Điệp đều kinh dị trong lòng. Thình lình hai chị em có cảm giác lạ lùng trong bụng, cảm thấy ánh mắt của người hành khất này có sức hút mạnh lắm, tuy là xấu xí kinh người như thế nhưng lại có sức hút của nam tính, Châu Sách và Châu Chu bất giác đỏ bừng mặt, vội cúi ngay đầu xuống.
Nhưng bỗng hành khất cất tiếng cười:
- Nữ Bồ Tát quả là tuệ căn đầy đủ! Hữu duyên! Hữu duyên ! .. .
Hồng Điệp nhanh trí, vội ra tay kéo chị cả và chị hai lôi đi... Nhưng Bạch Điệp như kẻ bị mất hồn, đôi mắt vẫn ngó chăm chăm về người hành khất nọ, thân tuy bị em lôi kéo nhưng đầu vẫn quay nhìn lại. Chỉ nghe tiếng người ăn mày phía đằng sau cười nói rằng:
- Nữ Bồ Tát quả là có duyên với tôi lắm, vậy xin hẹn tái ngộ sau vậy!
Khách thập phương nghe nói cười ồ cả lên, cho rằng người ăn mày khéo đa tình vu vơ, đời nào tiên nữ lại sa vào cái thây thúi ình lên như hành khất thế!
Hồng Điệp kéo chị đi, chỉ thấy trong đôi mắt của Bạch Điệp như dại hẳn, thần sắc kỳ dị hẳn, Thanh Điệp Hồng Điệp vừa sợ vừa lo, biết ngay tên ăn mày nọ đã tác quái, hấp tấp dìu chị ngồi yên một nơi, chị em bàn tán một lúc rồi xách ngay kiếm để cho tên ăn mày một trận hả dạ. Nhưng khi đến thạch cấp, đâu còn thấy bóng tên ăn mày đâu? Hỏi khách đi đường cũng chẳng ai biết đâu mà chỉ? Hai người lại đành đưa chị xuống núi tìm ngay một quán trọ nghỉ ngơi, nhưng Bạch Điệp vẫn như si như ngốc, khiến cho Thanh Điệp Hồng Điệp quýnh lên, dở khóc dở cười, chẳng biết nên tính sao? Và ngay canh khuya đêm đó, bỗng một tiếng gió khiến cho Thanh Điệp Hồng Điệp thức giấc, trên giường ngủ của chị cả, Bạch Điệp đã biến đâu mất.
Chuyện xảy ra quá bất ngờ, khiến cho Nhị Điệp gần như thất hồn lạc phách, cả hai vội đuổi nhanh ra, nhưng trong đêm tối, chẳng thấy một bóng gì cả! Chị em ảo não cuống cuồng, tính quay về Giang Nam cho mẹ là Ngọc điệp Châu Phụng hay tin đến giải cứu!
Nhưng giữa đường lại thăm ra được chút manh mối là: Trong khu núi Cửu Lãnh, có ngọn Vô ảnh Kỳ Phong, và trong ngọn Kỳ Phong này có năm thầy trò của Độc Ma cư ngụ, tính tình thầy trò đều thích hái trinh, thường hay cướp bắt những thiếu nữ lương gia, đem về Vô Ảnh Phong hành lạc, chừng chán đem ra giết, và moi tim gan ra ăn. Còn có người đồn rằng thầy trò Độc Ma đều có một bản lĩnh ghê gớm là Nhiếp Hồn đại pháp (phép hớp hồn, như thuật thôi miên ngày nay) chỉ cần nhìn ngay vào mắt của chúng, thế nào tâm thần cũng bị họ thao túng ngay, sau khi bị, nạn nhân hoặc như si như ngốc, nói lảm nhảm không ngớt, và tha hồ cho chúng đem về Vô Ảnh Phong một cách thuận tiện!
Được tin này, chị em Nhị Điệp không kịp về Giang Nam để cho mẹ hay tin nữa, cả hai cho rằng thủ phạm bắt Bạch Điệp chính là đệ tử của Độc Ma chứ không ai hơn. Thế là cả chị em hấp tấp lên đường tìm thẳng ngay đến Vô Ảnh Phong để liều mạng với thầy trò Độc Ma mong cứu chị về.
Nhưng đã suốt trong hai ngày trời, thế mà không làm sao đến được ngọn phong Vô Ảnh mới lạ, mắt thấy ngọn phong nằm sừng sững đấy, nhưng đi thét cũng về lại bờ suối này, vì mệt khướt người, chị em hai người đành nghỉ lại đây để tính kế sau. Nào ngờ lại khéo gặp Nam bút Gia Cát Dật và Hầu Hạo, sau khi giải thích sự hiểu lầm, hai nàng mừng vui trong lòng, vì biết rằng Nam bút Gia Cát Dật cũng đến đây để trả thù, mà Gia Cát Dật lại là nhân vật khét tiếng của nhóm Càn Khôn Ngũ Tuyệt, kiêm toàn văn thông võ giỏi, Thanh, Hồng Nhị Điệp đều hỏi kế Nam Bút, liệu nên tính sao?
Gia Cát Dật đứng ngay dậy quan sát một lượt địa hình địa thế ngọn Vô Ảnh Phong, thấy quả nhiên gần ngay trước mắt, thế mà chị em Nhị Điệp lại nói đi suốt hai ngày mà vẫn về chỗ cũ này. Gia Cát Dật nghĩ thầm, hay là loại bát trận đồ mê tung? Nhưng nếu là có tác dụng mê tung của Bát trận đồ, thế nào cũng phải có những loại sơn thạch cây cối để yểm mắt thiên hạ chứ, như trước Vô Ảnh Phong đây, chỉ toàn những cỏ hoa tươi lạ và chẳng thấy những cây cối quái thạch gì! Dù là Gia Cát Dật có học rộng đi đến đâu nữa, cũng không làm sao khám phá sự huyền bí của nó ra sao? Chỉ còn nước thử bước và nhớ kỹ các dấu xem sao! Nghĩ xong Gia Cát Dật bèn lững thững rảo bước một mình, để thăm thử xem sao!
Đây nói về Hầu Hạo và Nhị Điệp ngồi bên bờ suối đôi bên dần dà cảm thấy hết ngượng, và cũng nhờ đó mà chuyện trò của đôi bên tăng thêm lên.
Bỗng Hồng điệp Châu Chu khẽ tiếng cảnh cáo hai người rằng:
- Thưa chị và Hầu công tử, hình như có tiếng gì?
Cả hai vội im lặng lắng tai, quả nhiên có tiếng âm nhạc văng vẳng gần đâu đây. Nghe âm điệu ấy, hình như chính do nơi đình đài lâu các giữa lưng chừng núi kia vọng lại, tiếng nhạc càng lúc càng thánh thót êm tai lạ. Khiến người chẳng mấy chốc tâm thần cảm thấy đê mê ngay. Bỗng cảnh lạ lùng hiện ngay ra trước mắt ba người, nơi lưng chừng của ngọn phong ấy, bỗng nhoáng sáng rực lên một cái, ẩn hiện có một đám người li ti đang đi như một hàng kiến, dần xuống núi và hướng về ba người tiến tới.
Thanh điệp Châu Sách kinh ngạc rằng:
- Nguy to mất! Gia Cát Dật đi còn chưa về, mà đám giặc dâm bôn này đã kéo đến...
Hầu Hạo dù sao cũng là khí khái nam nhi, chàng bèn đứng dậy ưỡn ngay ngực nói rằng:
- Xin nhị vị cô nương chớ hoảng, chúng lại như thế càng hay, chúng mình chẳng đang muốn gặp bọn họ đây sao? Ất giáp gì hãy cho chúng một trận đã, rồi sẽ truy đuổi theo vào tận sào huyệt của chúng!
Câu nói hào hùng của Hầu Hạo quả nhiên có hiệu lực tác động tinh thần, hai nữ hiệp sĩ rút phắt kiếm lăm le sẵn trong tay, và cùng với Hầu Hạo nấp ngay vào trong bóng tối chờ đợi? Chỉ thấy một đoàn người càng lúc càng gần, thì ra toàn là những nam nữ, tay cầm những nhạc khí hỗn tạp, vừa đánh trống chiêng vừa thổi kèn, thân hình múa may ẻo lả tiến tới, ba người này hồi hộp đến mức tột độ.
Hầu Hạo tuy giỏi, nhưng cũng ái ngại về quỉ kế âm hiểm của đối phương, chàng biết rằng họ sẽ không bao giờ giàn trận chiến một cách chính đại quang minh, nhưng Hầu Hạo cũng không làm sao đoán nổi đối phương sẽ dùng đến phương pháp tà ma gì, trong lòng không khỏi nao nao, bụng chỉ mong sao Nam bút Gia Cát Dật chóng về trong lúc tình trạng cấp bách này.
Đoàn người từ từ bước dần tới, tám nam tám nữ, ai nấy đều nhạc khí kỳ quặc, đám nữ toàn một loạt áo mỏng che thân, đám nam một loạt khăn bịt mặt, thân mặc áo dài đen, thần sắc trông rùng rợn, chia thành hai đội, và tiến bước theo nhịp nhạc.
Khi còn cách có ba bốn trượng, bỗng mười sáu người này bèn ngừng ngay chân không tiến bước! Tám nam lập tức tản mác ra thành một vòng tròn lớn, rồi ngồi thụp ngay xuống, tay bắt đầu tấu nhạc, tám nữ lướt nhanh ngay vào giữa nhảy múa tuyệt diệu, dưới ánh trăng, thấy đám nữ này người nào cũng trẻ đẹp, trên thân chỉ có tám lụa mỏng che thân, âm nhạc mỗi lúc một mau, vũ điệu càng lúc càng điên cuồng... và những thân thể nửa kín nửa hở kia ấy tung tăng rung động...
Lãn hiệp Hầu Hạo bị cảnh khích động xâm chiếm tâm thần, chàng không sao chịu nổi, chàng thở mạnh một tiếng tính vùng chạy ra. Bỗng có một bàn tay mềm mại túm nhanh ngay chàng lại, bàn tay này có vẻ run dữ! Hầu Hạo bất giác đưa tay ra nắm chặt thì ra là bàn tay của Thanh điệp Châu Sách, chỉ nghe nàng khẽ tiếng hồi hộp rằng:
- Lạ quá .' .. . Hầu huynh có thấy rõ người đứng giữa trong tám người nữ đó không? Trời ơi!... Chính là chị Bạch Điệp của chúng tôi...
Giọng nàng run lên và bàn tay đang bị Hầu Hạo nắm ấy toát mồ hôi.
Hầu Hạo nhìn kỹ, trông Bạch Điệp quả cũng hao hao giống Thanh Điệp, lúc này chỉ thấy thân hình nàng yểu điệu uyển chuyển dịu dàng theo tiếng nhạc gợi xuân...
Thình lình, không biết từ lúc nào tất cả những mảnh vải che thân của đôi bên nam nữ đã rớt hết xuống, và một cảnh nhảy múa điên loạn đã diễn ra tưng bừng...
Tai mắt Hầu Hạo cảm thấy nóng bừng về điệu vũ.
Chị em Nhị Điệp cũng không sao tránh khỏi cảnh gợi xuân tình ấy, và cả hai đều ngã hết vào lòng Lãn hiệp Hầu Hạo chờ đợi mưa xuân...
Hầu Hạo lúc này hồi hộp cực độ, lồng ngực chàng muốn nổ tung ra, không biết nên xử trí ra sao...
Đang lúc tình trạng lửa nóng trà sôi ấy, bỗng có một tiếng “bưng” vang dội lên, những âm nhạc tà dâm và kỳ cảnh trước mắt đều biến tan đâu hết!
Lãn hiệp Hầu Hạo quả xứng đáng là danh gia cao đệ tử sau tiếng bưng thình lình ấy, chàng lập tức thu ngay được lòng dục của mình. Chàng hú vía thầm nhủ: May mình quá!, chàng thấy chị em Nhị Điệp còn nhắm mắt nằm trong lòng mình, vội vàng cài ngay mấy nút của hai nàng mà không biết tay ai đã mở trong lúc nãy, xong xuôi chàng nhẹ tay đặt hai nàng nằm xuống đất rồi hấp tấp đứng ngay dậy!
Nhưng Hầu Hạo cảm thấy đầu bị choáng váng, loạng choạng lùi hẳn về sau, suýt đứng không vững!
Trước mắt bỗng có một bóng người từ trên không vèo mình lướt xuống với bộ áo nho sinh tuấn nhã, tay cầm đàn, thì ra chính là Nam bút Gia Cát Dật, chỉ thấy Nam Bút đưa nhanh tay ra đỡ Hầu Hạo, nhìn xuống thấy hai thiếu nữ nằm dưới đất, đã thấy cả hai tỉnh dần lại. Hầu Hạo mặt đỏ tai nóng, Gia Cát Dật đứng cạnh nói nhỏ với chàng:
- Này Hầu Hạo, may là chuyện tày trời chưa xảy ra, thôi chuyện vừa rồi chớ nhắc đến làm gì nữa!
Hầu Hạo gật đầu.
Lúc này Gia Cát Dật mới lên tiếng nói:
- Trước kia, ta cứ tưởng Vô Ảnh Phong của Độc Ma có gì quái dị, nhất định chúng phải bố trí theo loại trận pháp mê tung như Bát trận đồ, nào hay đêm này chính ta thân hành thử một chuyến thì lại không phải. Tên Độc Ma này quả là một tay lợi hại, ta vẫn chưa nghĩ được cách gì để khám phá, ta đi quanh quẩn rồi vẫn về lại đây!
Hầu Hạo hấp tấp hỏi rằng:
- Thưa sư thúc, vậy ngài đã nghĩ vỡ lẽ những bí mật của những cảnh mặt tiền của ngọn Vô Ảnh Phong này chưa?
Gia Cát Dật gật gù rằng:
- Sau ta về đến nơi đây, thấy các bộ hạ của Độc Ma đang quyến rũ các ngươi! Nên ta vội dùng ngay cây đàn Bát long ngân ra phát động dây huyền thứ tám, khiến chúng kinh hãi chạy hết, và khi ta thấy chúng rút lui mới chợt hiểu những sự huyền bí của mặt tiền ngọn phong này!
Chị em Nhị Diệp hấp tấp hỏi:
- Thưa Gia Cát tiền bối, thế lối đi lên ngôi đình các lâu đài trên lưng chừng của ngọn phong thì làm sao mà đi?
Gia Cát Dật rằng:
- Các ngươi từng nghe nói đến Hải thị thận lâu (thận khí: do những luồng hơi mơ màng tỏa hiện ra những lâu đài nhân vật, nên tục gọi là: Hải thị thận lâu) bao giờ chưa?
Hồng Điệp trả lời nhanh:
- Dạ biết! Đó là một hiện tượng ảo ảnh có thể đột hiện đột biến thường thấy trên mặt bể hay bãi sa mạc lớn, người ta có trông thấy các đình đài lầu các nguy nga ngay trước mắt, nhưng không làm sao dấn chân bước đến được, vì đó chỉ là một ảo cảnh!
Gia Cát Dật thở dài rằng:
- Đúng thế đấy! Xưa kia con gái của vua Viêm cũng bị huyễn hoặc tại tiên sơn trên mặt bể, nàng tưởng đâu là cung điện của phụ vương bèn dùng ngay chiếc thuyền buồm lướt sóng ra bể, nhưng cảnh cung điện của thận lâu cứ mơ màng hiện trong huy hoàng, chỉ có thể nhìn mà không sao đến đích nổi, cuối cùng là nàng bị đắm thuyền chết trong bão táp. Sau cô công chúa này hiển linh, hóa thành con chim, chuyên tha đá để lấp biển, tinh khôn và chăm vô cùng, loại chim ấy ngày nay tức là loài tinh vệ điểu?
Thanh Điệp và Hầu Hạo cũng hỏi chung một lúc:
- Nếu vậy cư thất trên Vô Ảnh Phong kia không lẽ cũng là ảnh ảo của Hải thị thận lâu sao?
Gia Cát Dật nhẹ lắc đầu:
- Theo ta đoán, tuy nó không phải cảnh huyền ảo nhưng cũng hơi na ná với Hải thị thận lâu, vì thế chúng mình lui tới hoài mà vẫn không đến gần nó được!
- Nếu thế, thầy trò của Độc Ma họ ở đâu, chính vừa rồi đây, chúng tôi đã thấy rõ ràng có người từ trên đó xuống đây cơ mà ! ...
 
0
Hồi 042. Nhiếp Hồn Đại Pháp, Diệu Sắc Ma Thủ [/align]

Gia Cát Dật rằng:
- Theo ta đoán thì Vô Ảnh Phong thế nào cũng có thật, và những lâu đài đình các cheo leo giữa lưng chừng phong kia cũng có thật, nhưng quyết không phải lả loại ảo ảnh đang hiện trước mắt chúng mình, và chính ngôi Vô Ảnh Phong nằm kín đáo vào một nơi nào khác, và chúng ta ở đây không thể nào thấy chân diện mục của nó được!
Hầu Hạo và chị em Châu Thị bất giác nhìn ngó quanh quất, nhưng cảnh nào vẫn hoàn cảnh nấy, không nhận ra được ngọn phong nào khả nghi.
Gia Cát Dật trầm tư một hồi rồi nói:
- Nhưng sơn cốc nơi trước mặt tiền của Vô Ảnh Phong quả là kỳ dị, theo ta đoán xét, ngọn Vô Ảnh Phong và đình các lâu đài thật ấy nhất định phải nằm một nơi kín khuất, và nơi đó cách đây không xa, còn vị trí của nó nếu không phải thật cao thì là thật thấp, và vì nhờ sức phản chiếu của hơi nước trong ngọn thác lớn, nên chi mới có những ảo ảnh xuất hiện trước mắt chúng ta như thế, nhưng chắc chắn là ngôi Vô Ảnh Phong thực thụ sẽ chẳng khác cảnh mình thấy đây là mấy!
Ba người như nghe chuyện thần thoại, nửa hiểu nửa không. Hồng điệp Châu Chu rằng:
- Nhưng chúng tôi thấy rõ ràng có người từ trên ấy xuống đây nhảy múa nhạc điệu inh ỏi kia mà? Vậy phải giải thích bằng cách nào?
Gia Cát Dật rằng:
- Chính những cảnh này cũng không thật, chẳng qua đó là những ảo ảnh hết, chúng đã lợi dụng sức phản chiếu của hơi nước, rồi truyền đến những cảnh múa mưa xuân để hòng làm mê hoặc các người, chờ cho chừng nào các ngươi lọt vào cạm bẫy và hôn mê, chúng mới hiện thân ra bắt luôn!
Hầu Hạo rằng:
- Ồ! Ra toàn là ảo ảnh hết sao?
Gia Cát Dật rằng:
- Theo ta đoán thì thế! Nếu trong lúc đó các ngươi mà nhảy ra giao tranh với chúng, thì tốn sức hao hơi vô ích?
Mọi người im lặng không nói, Gia Cát Dật lại tiếp tục rằng:
- Vừa rồi ta phát động tàn huyền, chúng thấy vậy lủi nhanh ngay, và thấy những cảnh ấy biến tan ngay cùng với tiếng nhạc, ta nghĩ: dù cho bản lãnh của Độc Ma cao cường đến đâu đi nữa, cũng không thể nào có những thân pháp nhanh chóng đến thế được, nếu bảo đó là yêu pháp, thì hình như quá hoang đường, cho nên ta đoán ngay đó là một thủ pháp mê chướng của Độc Ma mà thôi. Vậy tất cả những bộ hạ của Độc Ma, chúng đã biểu diễn cảnh khiêu gợi ấy tại một nơi khác và thình lình khi chúng nghe phải tiếng tàn huyền của Bát long ngân, lập tức ẩn đi ngay, và ảo ảnh trước mắt đây có lẽ đương nhiên không còn nữa!
Bốn người băn khoăn một hồi, bỗng Thanh Điệp tỏ vẻ thất vọng lên tiếng rằng:
- Thưa Gia Cát tiền bối, Vô Ảnh Phong quái dị như thế này, bọn Độc Ma lại lợi hại như thế, xem ra đến tìm sào huyệt của chúng cũng còn khó khăn, huống hồ là bảo cứu người, dù cho có gặp được chúng e cũng chưa chắc thắng nổi chúng... trời ơi! Chị tôi bị bọn chúng bắt, như thế...
Thanh Điệp vì lòng nhớ thương chị nên khóc thảm thiết tiếng nói nghẹn ngào. Hồng Điệp cũng không tránh khỏi xúc động và thất vọng. Phần Lãn hiệp Hầu Hạo nghĩ đến Thượng Quan Linh nay thân nằm trong hang huyệt, xem ra chuyện lành thì ít mà chuyện hung thì nhiều, trong lòng cũng cảm thấy thất vọng buồn bực, lúc này lại thấy hai nàng thổn thức, trong lòng chàng càng đâm ra mến thương, bất giác quay hỏi Gia Cát Dật rằng:
- Thưa sư thúc, bộ chúng mình không còn biện pháp nào nữa sao?
Gia Cát Dật tỏ vẻ nghiêm nghị từ từ rằng:
- Biện pháp thì có sẵn đây, nhưng ba người không thể ở đây lâu được, phải cấp tốc rời khỏi đây ngay!
Ba người cả kinh! Hồng Điệp vội nói:
- Dạ không! Hai vãn bối còn phải lo cứu chị, còn nếu có chết cũng nguyện chết ba chị em chung với nhau!
Gia Cát Dật nghiêm sắc mặt rằng:
- Ba người thử nghĩ, liệu có thể chống nổi lại môn Nhiếp Hồn đại pháp của Độc Ma không đã?
Ba người nghĩ đến cảnh vừa rồi, trống ngực lại đập thình thịch mặt đỏ tai nóng, cúi gầm ngay mặt xuống, không dám nói thêm gì.
Gia Cát Dật lại dùng giọng nói ôn hoà rằng:
- "Ta biết thứ thủ pháp này của chúng, được mệnh danh là: Diệu sắc ma âm, và chính thầy trò Độc Ma dùng phương pháp này để hại người, và đã không biết bao nhiêu anh hùng hiệp sĩ bị mắc bẫy chúng, thử nhìn những đốt xương người suốt dọc đường vào đây thì đủ biết; các ngươi phải biết rằng tuổi trẻ hay háo kỳ, không sao tránh khỏi những cám dỗ của cảnh ngoại giới đưa đến, vậy làm sao có thể chống với Diệu sắc ma âm của thầy trò Độc Ma, vậy không phải là tự đem mạng sống nạp dâng cho chúng sao?
Ý của ta, nay Bạch cô nương lọt vào tay của chúng, tính mạng của Thượng Quan Linh đang nguy, đã đến đây không thể không ra liều với chúng một phen, và ta tự biết công lực của ta không đến nỗi nào bị Diệu sắc ma âm của chúng hãm hại được, hơn nữa, ta cũng khám phá sơ được những huyệt ảo của Vô Ảnh Phong này ít nhiều. Ta đã quyết tâm vào sào huyệt của chúng để thám thính một chuyến xem thực hư ra sao đã rồi tùy cơ giải cứu Bạch cô nương và Thượng Quan Linh.
Vậy ba người hãy lập tức rời nhanh khỏi đây, để tránh một mối lo lắng trong lòng ta, và có thể chờ ta ngoài khu núi Cửu Lãnh. Nếu trong ba hôm ta không ra được, tức là ta đã bị hạ độc thủ, vậy chừng đó Thanh cô, Hồng cô hãy về ngay Giang Nam cho lệnh đường (mẹ) hay tin, còn Hầu Hạo nên về ngay miền Bắc, tìm ngay thầy ngươi và Túc Đầu Đà, và tập trung thêm những tay nghĩa hiệp trong giang hồ, đến mở ngay trận càn quét sạch ngôi ma huyệt tàn ác này!"
Hầu Hạo không nhẫn tâm để mình sư thúc mạo hiểm, vội cuống lên:
- Thưa sư thúc, tôi đi như thế thật không yên tâm chút nào! Vậy xin sư thúc hãy để tôi theo hầu bên cạnh, ráng chung sức thử xem sao?
Gia Cát Dật an ủi chàng rằng:
- Đừng lo ngại cho ta, ta biết liệu lấy thân, mau ra khỏi đây với hai cô nương luôn đi!
Ba người đành lủi thủi ra khỏi cốc với lòng bán tín bán nghi.
Gia Cát Dật chờ cho ba người đi xong mới yên trí vững lòng; trời như đã gần muốn sáng, ánh trăng mất dần, trong cốc bắt đầu trở nên tối? Nhân lúc cảnh ảo ảnh còn mơ mơ hồ hồ ẩn hiện trước mắt, Gia Cát Dật tiến hành ngay công việc khám phá cửa mình. Gia Cát Dật quay thân nhìn ngay về phía sau, thấy một loạt sáu ngọn phong nhọn hoắt, nhìn kỹ thì khác hẳn với ngọn Vô Ảnh Phong, trên phong không thấy đình đài lầu các gì, mà chỉ toàn là hơi mây mịt mù, cây cối rậm rạp.
Gia Cát Dật sợ không nhìn được rõ, bèn tung thân cao lên mấy trượng để nhìn cho kỹ, quả nhiên sáu ngọn phong này khác hẳn với ngọn Vô Ảnh Phong.
Trong bụng nghĩ thầm: mình đã đoán vị trí của ngôi Vô Ảnh Phong nếu không nằm trên vị trí cao thì chắc là nằm tại vị trí thấp, nhưng trong sáu ngọn đây không phải, không lẽ vị trí của ngôi cổ phong ấy nằm một địa thế thấp sao? Lại nghe Hầu Hạo nói là họ đã thấy cảnh ảo ảnh phi các trên lưng chừng ngôi Vô Ảnh Phong, có đèn đóm sáng long lanh và bóng người tấp nập; nếu vậy thì ngôi Phi Các ma cung ấy thế nào cũng có đèn thật.
Vừa nghĩ Gia Cát Dật vừa tiến bước đến sáu ngọn phong sừng sững ấy, nhưng chuyến này không phải là ảo ảnh như lần trước, trong bụng Gia Cát Dật ngầm phục kỳ công của tạo hóa, hiện tượng thiên nhiên lại có thể trở thành ảo ảnh như thế! Ánh sáng càng lúc càng tối, đi được một lúc, quay đầu nhìn về phía sau, cảnh ảo ảnh của ngôi nhà Vô Ảnh Phong đã biến theo luôn với ánh trăng. Gia Cát Dật đành tìm kiếm trong sáu ngôi phong trước mặt mình, khi đến chân của ngọn phong thứ ba và thứ tư, bỗng thấy một hang cốc sâu thẳm thẳm, hơi sương mù mịt, tình hình bên dưới không làm sao thấy rõ. Gia Cát Dật hoài nghi ngay là Vô Ảnh Phong nằm dưới này cũng nên, nhưng không biết đáy cốc trong này có những gì? Nhưng chắc phải sâu và hiểm trở lắm! Tuy Gia Cát Dật khinh công siêu việt, nhưng cũng không dám mạo hiểm, đứng chờ cả một lúc, bỗng phía dưới nhoáng lên một làn ánh sáng.
Gia Cát Dật nghĩ thầm trong bụng: mình vô dụng thật, quả nhiên đây là Vô Ảnh Phong nằm dưới này! Không còn do dự gì nữa, vội buộc ngay cây Bát long ngân vào người cẩn thận, rồi tính lần bước xuống, nhưng ác nỗi hơi sương mù mịt, không sao thấy lối xuống Gia Cát Dật đành phải dùng cả tay lẫn chân để men theo vách phong xuống, nhưng vách núi rêu cỏ trơn vô cùng, khó lòng giữ cho thân hình được thăng bằng trong thế đi! Gia Cát Dật than khổ thầm trong bụng! Phải chi có Thiên Si Tây Đạo ở đây thì hay biết mấy; võ công của nhóm Càn Khôn Ngũ Tuyệt, mỗi người có một sở trường riêng. Gia Cát Dật chuyên về chường lực và lối đánh đàn, nhưng ngọn Đinh Tháp thần công và tiếng đàn có thể khiến người ta tự tàn hình thể của Bát long ngân, không thể nào đem thi thố trên bức vách núi trơn như bôi mỡ này được. Chỉ có khinh công của Thiên Si đạo trưởng là siêu phàm nhập thánh có Tây Đạo đây, chuyện này thật không còn thành vấn đề
Gia Cát Dật vẫn cố lết xuống dần, hình như đã được bốn năm trượng, Nam Bút bắt đầu cảm thấy mồ hôi ướt lưng, hơi thở đã lớn hẳn, quả thật đã đến lúc mệt đuối. Nhưng dù sao Gia Cát Dật vẫn cố bám lết dần từng trượng một xuống...
Thình lình, có tiếng soạt? Soạt!! Gia Cát Dật liếc mắt nhìn nhanh, thình lình cám thấy trong mình lạnh hẳn, thầm nhủ: Thôi, chuyến này hết đời rồi! Thì ra một đôi rắn lục độc to đột nhiên hiện ra, cách đỉnh đầu không xa lắm, chúng đang lăm le thè lưỡi vụt trườn nhanh xuống! Gia Cát Dật cố rút ra một cánh tay phải búng nhanh một ngọn chỉ lực ra, con rắn xanh bên tay phải lập tức rớt nhào ngay xuống hang sâu! Nhưng còn bên trái đã tiến sát đến gần cạnh, Gia Cát Dật đành phải ngầm vận ngay chân khí, thổi nhanh một làn hơi sang, chỉ thấy lưỡi rắn ngừng ngay cử động! Gia Cát Dật đưa ngay chưởng bên tay phải quất ngược sang!
Nhanh như chớp, Gia Cát Dật thuận ngay chưởng bên phải bửa mạnh sang, con rắn bị đứt ngang thành hai khúc, rớt luôn xuống dưới. Ngay trong lúc Gia Cát Dật dùng sức thình lình ấy, tay trái và hai chân bị sụt trượt, toàn thân khẽ xao động, suýt tuột tay rớt luôn xuống hang thẳm, Gia Cát Dật vội dùng tay phải bấu chắc lại vách tường, chân tay đã mỏi nhừ, vội vận tâm thần định trí để trấn tĩnh lại tinh thần... rồi Gia Cát Dật lại cố sức trườn dần xuống từng trượng một.
Thời gian có đến hơn ba chục trượng, bỗng cảm thấy hai chân chạm đúng đất, toàn thân đã có chỗ chịu thăng bằng, Gia Cát Dật cảm thấy trong mình cũng như tinh thần cũng đã bớt căng thẳng hẳn, nhưng sợ địch thình lình đánh lén, vội lẫn ngay vào một nơi kín đáo định thần quan sát tình hình, Gia Cát Dật bất giác kinh ngạc với cảnh sắc trước mắt, chỉ thấy ở đằng không xa, quả nhiên có một ngọn phong đẹp mắt hiện ra, tuy bốn phía tối om, nhưng cũng đủ thấy rõ ngọn phong ấy từ bên tít chân núi nhô lên, đây mới chính là bản thân của ngôi Vô Ảnh Phong thực thụ, giữa lưng chừng ngọn phong có đình đài lâu các, ánh sáng mung lung, trông cảnh tuyệt nên thơ, còn nghe văng vẳng những tiếng nhạc êm dịu, không khác gì một tiên cảnh trong trần gian. Những mùi thơm phảng 'phất trước mũi, nhìn kỹ, cỏ cây hoa lá tươi tốt.
Gia Cát Dật lấy làm lạ, một nơi sâu thăm thẳm thế này, ánh mặt trời không có, thế mà những hoa lá ngang nhiên sinh tồn được, chuyện lạ thật. Vừa nghĩ vừa đi, bỗng cảm thấy dưới chân đã dẫm trúng những bậc thạch cấp, chỉ thấy những thạch cấp toàn màu trắng và đều đặn, cúi đầu nhìn kỹ, thì ra được xây bằng những viên Đại lý thạch (một loại đá gần như cẩm thạch, được sản xuất tại huyện Đại Lý bên tỉnh Vân Nam Trung Hoa). Gia Cát Dật bèn gỡ ngay cây đàn cổ cầm sẵn trên tay và tiếp tục leo trên thạch cấp.
Gần hết bực thạch cấp thì thấy mình đã ngang lưng núi, trước mặt bỗng hiện ra một bạch ngọc bình phong, trên vách của bức bình phong bằng đá cẩm thạch lớn tướng này, bên trên được khoét hơn bốn ổ chữ sâu lõm xuống, nhìn kỹ ra là bốn chữ “Phi Các tiên cung”. Trong lòng bực giận, Gia Cát Dật bèn đưa ngay tay phải ra vận ngay chân lực, đưa tay lên xóa hẳn ngay vào chữ Tiên. Nháy mắt chữ Tiên trên bình phong cẩm thạch đã biến hình, Gia Cát Dật lại dùng ngay Kim Cương chỉ lực vận chỉ viết ngay một chữ Ma vào nơi bị xóa đó! Gia Cát Dật vốn sở trường nhất về nội công trong nhóm Càn Khôn Ngũ Tuyệt, thế là ngọn chỉ vạch tới đâu, nét chữ như rồng bay phượng múa đến đó, và kiểu chữ không khác ba chữ kia?
Gia Cát Dật vừa viết xong, bỗng bên tai có tiếng nói truyền tới rằng:
- Quí khách xa đến, lại được đề cải cung danh (sửa tên cung các) quả thật hân hạnh! Hân hạnh! Dám mời ngài vài bước ngọc để vào trong cung dùng trà đã!
Giọng nói trầm hùng, chấn động tâm thần, chứng tỏ công lực người này cũng vào mức tuyệt đỉnh đây, Gia Cát Dật chỉ mỉm cười, ngang nhiên cất bước tiến thẳng. Bức bạch ngọc bình phong thình lình tự động mở ra một ngách cửa, Gia Cát Dật bước ngay vào, bỗng cảm thấy bên trong sáng choang, những cảnh tà yêu kỳ dị hiện rõ hết trước mắt. Chỉ thấy cung điện nguy nga và huy hoàng, trước điện là một sân thềm rộng rãi, có trên hai chục nam nữ đứng chỉnh tề, nam thì mặc nho phục tuấn nhã, nữ thì mặc theo lối cung nữ, khi họ thấy Gia Cát Dật vào, ai nấy cung thân đứng hầu.
Trong ngôi điện, hình như trên trần được khảm một viên châu báu lớn, ánh sáng tinh từ trên tỏa khắp xuống ngôi cung điện nguy nga. Nhìn kỹ khoảng đất trống trước điện đây, chu vi rộng độ trên mười trượng, và thềm này được khảm bằng lưu ly (gần như thủy tinh ngày nay) hèn gì có thể trong suốt như thế, nội cảnh huy hoàng khéo léo khiến người ta phải kinh ngạc.
Gia Cát Dật tuy thấy cảnh nguy nga của ngôi Ma Cung hào nhoáng như thế, trong bụng tuy kinh ngạc, nhưng không hề để lộ ra ngoài mặt, bèn khẽ nghiêng mình đáp lễ rồi nói:
- Thiên sơn Gia Cát Dật nay hân hạnh được đến tham bái Tiên Cung, được quí vị trọng đãi như thế này, thật trong lòng cảm kích vô ngần!
Trên hai mươi nam nữ lập tức chia đứng thành hai hàng, chỉ thấy tà áo của họ phất phơ tung tăng trong cuộc di chuyển vị trí đứng, bỗng nghe một tiếng cười ngất truyền ra, tiếng cười này lớn kinh khủng, dù cho Gia Cát Dật công lực cao thâm, nhưng cũng bị tiếng cười này lôi cuốn hẳn tâm thần. Tiếng cười dứt, từ trong điện truyền ra một tiếng nói trầm hùng rằng:
- Lâu nay từng nghe danh lừng lẫy của Gia Cát Dật trong nhóm Càn Khôn Ngũ Tuyệt, nhưng vẫn thầm trách là vô duyên gặp gỡ, nay được tương hội tại đây thật là sung sướng trong đời!
Hai hàng nam nữ vội đứng nghiêm chỉnh cung thân, cửa đại điện được mở, dưới ánh đèn sáng choang ấy thoạt tiên thấy bốn thiếu nữ tuyệt sắc, tay xách cung đăng (đèn lồng của cung điện) lướt thướt bước ra, phía sau là tám cô con gái đẩy một chiếc xe luân (loại kiệu có bánh xe), mui xe là một bức màn cao, châu ngọc óng ánh long lanh, trên dầm sàng trong xa, một người ngồi chễm chệ, chỉ thấy người này mặc áo cẩm bào, một khăn thêu che mặt toàn thân hình có vẻ lớn cao. Gia Cát Dật nghĩ bụng: Chắc người này là chủ ma cung Vô Ảnh Phong Độc Ma đây; trong bụng lo đề phòng cẩn thận, nhưng bề ngoài vẫn tỏ vẻ ung dung điềm tĩnh, đứng uy nghi ngay nơi thềm lưu ly.
Bụng nghĩ: Nghe đồn ngũ quan trên bộ mặt của Độc Ma bị tàn khuyết kinh khủng! Một người bị mắc bịnh cùi (hủi) trầm trọng, nay thấy lối ăn mặc kỳ quái đây, quả thật lời đồn không sai, vì y không thể cho người ta thấy chân diện mục của mình, lại càng không thể rời khỏi sàng xuống thi lễ. Nhưng Gia Cát Dật cảm thấy hai luồng nhãn tuyến của Độc Ma sáng và sắc bén vô cùng, chỉ thấy đôi mắt sáng quắc ấy chiếu thẳng vào mặt mình! Biết ngay tia nhìn này có tác dụng nhiếp hồn, nhưng nay mình từ xa xôi lặn lội đến, mục đích cũng chỉ muốn khiến cho hắn khuất phục, và giao ngay ái đồ của mình Thượng Quan Linh và Bạch điệp Châu Ni, như thế mình đâu có thể tỏ vẻ rụt rè trước mặt hắn được?
Nghĩ thầm xong, bèn vận ngầm ngay chân lực, từ từ ngửng đầu lên và nhìn thẳng ngay vào mặt đối phương. Nhưng chỉ thấy trong cái nhìn ấy, có một sức hấp dẫn vô biên, Gia Cát Dật chỉ cảm thấy người trước mật mình có vẻ trang nghiêm hùng vĩ lạ lùng, trong lòng bất giác nổi lên một niềm kính phục! Nhưng thình lình Gia Cát Dật cảm thấy nguy, biết ngay đây là loại Nhiếp Hồn thủ pháp của Độc Ma, vội thu ngay tâm của mình lại và cố chuyên trí nghĩ rằng người trước mặt mình đây là một tên đại ma đầu dâm ác, lập tức xóa ngay hẳn lòng kính nể của mình đối với đối phương, tức khắc khôi phục ngay tinh thần bất khuất của mình, đôi mắt sáng ngời nhìn sang Độc Ma. Công lực của Gia Cát Dật quả bất phàm, chỉ trong nháy mắt, đã thu ngay ý trí của mình lại!
Độc Ma phá lên tiếng cười khanh khách, thu ngay tia nhìn tinh quái của mình lại, đồng thời lên tiếng cho hai bên tả hữu:
- Mau lo chỗ cho Gia Cát Dật tiên sinh ngồi!
Tả hữu bèn đem nhanh ra một cẩm đôn (một loại ghế bằng đá quí, hình tựa như chiếc trống cơm). Gia Cát Dật hiên ngang khiêm tốn rồi ngồi ngay vào cẩm đôn, khiến cho Độc Ma cũng phải tấm tắc gật gù.
Nhưng chỉ nghe Độc Ma lên tiếng rằng:
- Gia Cát Dật quả danh bất hư truyền, đáng mặt là một nhân vật hữu hạng trong giang hồ. Bản nhân vốn chấp chưởng tiện cung, lo kinh doanh nơi thế ngoại đào nguyên này để cố tránh tất cả những phiền não bực bội của trần thế, tiên sinh vốn là kẻ cao tịnh, tội gì lại phải nhúng chân trong tục thể của trần đời như thế. Nếu có thể lại đây cùng với bản nhân thưởng thức phong nguyệt, cùng nhau tham cứu tiên đạo, trước là có thể tránh hết bệnh tật, sau nữa là có ngày được phi thăng đăng đạo, như vậy tiên sinh nghĩ sao?
Gia Cát Dật ung dung cự tuyệt, Ma Cung chủ nhân lại lên tiếng thanh minh rằng:
- Nơi Phi Các tiên cung Vô Ảnh Phong này của bản nhân, bấy lâu không biết có bao nhiêu người đã tự mạng là hiệp nghĩa anh hùng đến viếng thăm, nhưng phần đông đều thấy tiên cung tráng lệ, cuộc sống vui tươi hơn hẳn những cảnh sống phàm tục trong trần đời, phần nhờ bản nhân thực lòng kết nạp, và ai nấy cũng muốn sống luôn tại tiên cung này, và tình nguyện trở thành một bộ hạ trung thành của Phi Các tiên cung đây. Nhưng cũng không khỏi có số người ngu muội ương ngạnh, hoặc là chê bản nhân không được xứng đáng, nên không bằng lòng để bản nhân thu nạp, và họ đã bằng lòng hiến sinh mạng và tặng xương khô để làm những bảng chỉ lộ cho tiên cung đây...
Ngừng một chặp, chủ nhân Ma Cung lại tiếp tục:
- Mục đích của tiên sinh đến đây, bản nhân đã rõ ý. Tên Thượng Quan Linh quả là trời phú cốt cách bất phàm, tướng mạo lại tuấn tú khôi ngô, nghe nói là ái đồ của tiên sinh, nội điểm tuyển đồ đệ này cũng đủ biết giá trị trí tuệ của tiên sinh rồi... Thằng nhỏ này quả là một võ lâm kỳ tài sau này, bản nhân đây tính giữ nó sống luôn trong tiên cung đây, và cho làm chức thân bàng thị vệ (vệ sĩ đứng hầu cạnh), nhưng tiếc cái, bản nhân đây đã nhận lời của một nhóm người bạn ủy thác, nên đành cho tiểu đồ đi Nhạc Châu áp giải nó về đây để khỏi thất hứa với bạn nên không tiện giữ nó lại, và chỉ trong vài ngày nữa sẽ đưa hắn ra khỏi tiên cung và giao cho người bạn của bản nhân định đoạt?
Mối tình thầy trò của tiên sinh, quả nhiên không thể nào tránh khỏi cảnh mủi lòng, nhưng theo ý bản nhân, tôn chỉ của nhà Phật là tứ đại giai không, tiên sinh vốn người đầy rẫy trí tuệ, thế nào chả hiểu những ý thâm sâu ấy, nếu nghĩ được vậy, chuyện trong mấy trăm năm, chẳng qua cũng chỉ là làn khói thoảng qua mắt mà thôi, chẳng có gì đáng luyến tiếc ở đời cả, huống hồ chút tình thầy trò mỏng manh thì ăn nhằm vào đâu!
Gia Cát Dật nghe xong cũng hơi yên tâm là Thượng Quan Linh chưa hề bị gì, bỗng chủ nhân Ma Cung lại cười ha hả rằng:
- Còn về nàng Bạch Điệp Chu Ni, cô gái này quả là có duyên phận với tiên cung của bản nhân đây, nên đã được tiểu đồ Đinh Hãm đưa nàng tới, và hiện đang sống sung sướng vô ngần trong tiên cung, chính thầy trò bản nhân cũng không bao giờ ngược đãi tới nàng, đôi bên đã coi như cùng thâm cứu cảnh tu luyện hợp thể nam nữ, để hòa hợp tiên đạo. Tiên sinh chớ nên tưởng lầm là nàng đang đau khổ mà hòng tới cứu nàng về nhé, dầu cho bây giờ tiên sinh có gọi nàng về, nàng còn không chịu là khác!
Dứt lời Độc Ma lại cất tiếng cười ha hả...
Gia Cát Dật bỗng cát tiếng cười rằng:
- Vậy xin hỏi ngọn Lãnh điện tỉ thủ đã từng tàn sát nhóm Chung Ly Triết tại Cửu U Địa Khuyết và sau này lại nhờ đến quí tiên cung bày kế nhử bắt tiểu đồ ấy là ai?
Độc Ma lạnh lùng rằng:
- Xin lỗi tiên sinh, về chuyện này tôi phải giữ kín đáo cho bạn, nên tiếc không thể nào cho tiên sinh biết được!
Gia Cát Dật khẽ ừ một tiếng liền đứng phắt ngay dậy. Độc Ma vẫn ngồi uy nghi trên sàng, khẽ đưa tay tiếp đãi với Gia Cát Dật rằng:
- Xin tiên sinh chớ có vội nóng tính, hãy chờ dùng chút tiệc mọn đã?
Dứt lời ra lệnh cho tả hữu; một tiếng tuân lệnh oai nghiêm vang lên. Lập tức có người bưng ngay rượu thịt ra, kẻ lo rót rượu cung kính, nhưng màu rượu đỏ tươi đẹp mắt lạ, chỉ thấy Độc Ma ngồi trên sàng đưa tay mời rằng:
- Xin mời tiên sinh dùng!
Gia Cát Dật thầm nghĩ trong bụng: không biết y tính làm trò gì đây? Nếu mình không ăn uống, chẳng hóa ra mình nhát gan sao? Thế nào họ chả chê cười!
Nếu muốn giữ toàn danh dự của mình, đành phải liều một chuyến mới được. Nghĩ xong bèn lập tức ngầm vận chân khí, phong tỏa hết các huyết mạch huyệt đạo trọng yếu trong mình, và nếu phát giác có gì kỳ lạ, có thể ỷ ngay vào công lực của mình để ép hết những chất độc ra ngoại thể ngay! Quyết định xong cầm ngay chén rượu uống, nhưng cảm thấy rượu có vẻ thơm ngon lạ lùng, rõ ràng là đâu có độc gì, Gia Cát Dật bèn đũa ngay gắp thịt ăn, nhưng thấy các món ăn đều ngon miệng cả, ăn xong đứng dậy cảm tạ ngay, tả hữu vội vàng dọn ngay mâm đi. Độc Ma bèn cười ha hả rằng:
- Không biết tiên sinh dùng xong tiệc rượu mọn này cảm thấy ra sao?
Gia Cát Dật đáp!
- Ngon tuyệt! Ngon tuyệt! Chỉ có thể tìm được tại tiên cung đây, trần thế thật hiếm có bữa ăn ngon vậy?
Chủ nhân Ma Cung lại đưa tay hướng về phía Gia Cát Dật vui vẻ hỏi rằng:
- Quí khách đã khen ngon, vậy tiên sinh có thể kể ra là thứ rượu gì, và thịt gì không?
Câu hỏi này đã khiến cho Gia Cát Dật mắc bí, làm sao biết được rượu gì và thịt gì, bất giác lúng túng không biết nên nói sao!
Trên sàng, Độc Ma cười đắc trí rằng:
- Này Gia Cát Dật, tiên sinh đã bị mắc bẫy của bản chủ nhân đây rồi, nếu những rượu thịt này mà ta kể ra trước cho ngươi nghe, thế nào ngươi cũng không chịu ăn uống... Nói thật cho ngươi biết, loại thịt mà ngươi đã ăn đó chính là thứ thịt nhũ phong (vú) được cắt sống trên mình thiếu nữ, rồi được chế biến đặc biệt, nên mới được thơm ngon lạ miệng vậy, và thứ rượu này được lấy máu tươi của thiếu nữ ngâm thành, cho nên màu mới tươi đỏ và thơm lạ lùng. Và quả ngươi đã khen tặng đúng, ngoài Vô Ảnh tiên cung ta ra, trên thế gian này không còn đâu có loại rượu thịt đặc biệt này nữa, và đời người cũng ít ai có dịp để thưởng thức những món ăn như thế!
Gia Cát Dật nghe xong thất kinh đứng bật người lên, tia mắt giận dữ nhìn sang Độc Ma!
Nhưng Độc Ma thản nhiên cười nói:
- Đừng vội tức giận như thế, hãy chịu khó nghe ta giải thích đã, trong ngôi tiên cung này của ta, thu nạp không biết bao nhiêu là trinh nữ mỹ miều, và những đệ tử của bản cung cũng hằng hà sa số, đôi bên nam nữ đã hòa hợp để tìm tất cả cái vui thần tiên của âm dương...
Gia Cát Dật bỗng quát lên:
- Câm miệng! Ngươi ăn thịt uống máu người như thế mà nói là thú vui sao, dâm ác tàn nhẫn đến thế thật súc sinh còn phải thua xa...
Tiếng chửi mắng ấy khiến cho những đệ tử Ma Cung đứng hai bên kinh ngạc vô ngần, soạt! Soạt! Soạt! những tiếng tuốt kiếm vang lên! ánh sáng lấp lóe nhoang nhoáng. Các đệ tử chỉ còn chờ lệnh ra tay công đánh, tình hình đã khẩn trương đến cực độ. Gia Cát Dật cũng vội chuẩn bị. Ai nấy đều ngước mắt nhìn về phía Độc Ma như chờ đợi sự phán quyết, nhưng sau khi Độc Ma nghe Gia Cát Dật lên tiếng quát mắng như thế, chẳng coi vào đâu. Chỉ thấy y hơi ngạc nhiên, nhưng thình lình thu hẳn ngay thái độ lại, giơ tay phất nhẹ lên, chỉ thấy các đệ tử lại rắp một tiếng đều đặn tra hết kiếm vào vỏ.
Chủ nhân Ma Cung cười rằng:
- Gia Cát Dật hãy nghe ta giải thích, vốn ta sáng lập ra Hợp hoan tu đạo đại pháp, dụng ý là mượn âm dương của đôi bên bồi bổ cho hợp lý, để cốt trừ cho căn bệnh tiêu tan, sớm được phi thăng tiên đạo. Nhưng trong đám nam đệ tử của ta, đều do ta tuyển chọn, về tư chất phải cừ khôi, nhưng còn bên nữ thì được thu nạp khắp bốn phương trời, nên có phần lẫn lộn xấu tốt bên trong, nhưng nếu có cô nào tư chất không được khá, sau khi bị hái nhụy, không những không được tu hợp luyện công với các đệ tử trong cung, và càng không thể nào thích nghi với cuộc sống tại phi các này, chỉ còn mỗi cách là sớm giải quyết họ, và sau khi lấy máu tươi ngâm rượu, và sử dụng triệt để cỗ xác đó! Thật là nhất cử mà tam tứ tiện!... Ha! Ha! Ha!...
Gia Cát Dật không ngờ rằng tên Độc Ma này lại có thể nói ra những câu vô nhân đạo như thế, trong người giận điên lên, chỉ chực nhảy bung tới đâm ngay cho y vài nhát mới hả lòng tức!
Độc Ma vẫn thản nhiên cười rằng:
- Nay không ngờ kẻ tự xưng là hiệp nghĩa lừng danh như Gia Cát Dật mà cũng ngang nhiên ăn thịt đồng loại và uống máu người như thế, chuyện này mà truyền lan ra trên giang hồ, thật không biết sẽ thích thú đến đâu... Khi ấy dù cho Gia Cát Dật có muốn mạo xưng chính nhân quân tử, chắc gì đứa trẻ ba tuổi tin cho không? Ha! Ha! Ha!...
Thế là các đệ tử của Độc Ma cũng góp tiếng cười chế nhạo...
Gia Cát Dật bỗng quát lên một tiếng rằng:
- Hờ! Độc Ma! Nhà ngươi chớ có coi thường Gia Cát Dật này, hãy mở mắt nhìn kỹ đây xem!
Dứt lời Gia Cát Dật há miệng nhả ngay mấy miếng thịt người xuống mặt đất, thịt vẫn nguyên phong bất động, tiếp theo phun luôn những rượu máu tràn lan xuống thềm lưu ly, trông lênh láng đỏ chói!
Gia Cát Dật rít lên một tiếng như long ngân, xong mới trầm giọng rằng:
- Lũ ngươi đã mở mắt thấy rõ chưa? Ta vốn là người hiệp nghĩa chính thống? Lũ ngươi dùng quỉ kế tính hại thanh danh ta, thật là trò trẻ quá! Nên biết rằng những trò quỉ quyệt ấy chỉ có thể hại nổi những bậc giang hồ hậu bối mà thôi, còn đối với Gia Cát Dật như ta đây! Hừ! Bọn người đừng có hòng mơ ngủ như thế?
Nội lực khí công của Gia Cát Dật như thế, quả khiến cho mọi người trong Ma Cung thất sắc không ít, thậm chí đến cả Độc Ma ngồi trên sàn cũng hơi gật gù.
Sau một hồi trầm mặc, chủ nhân Ma Cung bỗng nhiên cười rằng:
- Quả xứng danh Gia Cát Dật? Nội lực khí công quả đã đến mức tuyệt đỉnh nhưng không biết còn phần định lực ra sao, không biết ngươi có dám thử sức sơ về Diệu sắc tiên âm của bản cung không? Ha! Ha! Ha!...
Gia Cát Dật nghiễm nhiên trả lời rằng:
- Có gì mà ta không dám!
Độc Ma đưa tay phủi một cái, xa luân lập tức thối lui hết, chớp mắt nơi thềm rộng lớn lưu ly của tiền điện chẳng còn người nào, Gia Cát Dật biết ngay Diệu sắc tiên âm sắp sửa bắt đầu và cuộc nghiệm định lực này không phải trò chơi, vội vàng ngồi ngay xuống xếp chân bàn tròn lại, cây đàn cổ Bát long ngân để ngay trên đùi, mắt nhắm định thần, và ngầm vận chân lực chờ biến.
Và tiếng nhạc đã thu hút ngay âm thần của Gia Cát Dật, tiếng nhạc này không hề có ý gợi dâm trong ấy chỉ nghe uyển chuyển du dương như nhạc tiên giới...
Gia Cát Dật tưởng thế nào Độc Ma cũng dùng những âm điệu khiêu gợi để kích thích tâm thần mình, nhưng nào hay, toàn là những tiếng âm thanh và ca hát chan chứa những điệu bi ai để hấp dẫn mình như thế, bất giác Gia Cát Dật bèn mở mắt ra nhìn xem tiếng hát do đâu phát ra. Chỉ thấy một thiếu nữ, mặt trắng như tuyết, tóc rũ ngang vai, đứng ngay trước thềm lưu ly, thân mặc chiếc áo dài đen dài. Khuôn mặt trắng và áo dài đen, đúng là một màu buồn thảm của tang tóc tử vong, tiếng ca réo rắt bi ai lạ lùng, khiến cho Gia Cát Dật muốn ứa lệ để cảm thông nỗi lòng tri âm của mình; ngay trong tình trạng sắp ứa lệ, bỗng nghĩ ngay đến Bát long ngân của mình, bèn nghĩ mình hãy đàn ngay một bài để đáp lại thiếu nữ! Trong lúc tâm tình vất vưởng bất định ấy, tay men vào dây huyền để phát âm, thình lình bưng một tiếng, tàn huyền khiến cho Gia Cát Dật như tỉnh cơn mộng, vội vàng ngưng ngay giọt lệ sắp ứa xuống của mình.
Chỉ thấy người thiếu nữ ấy đã thét lên một tiếng thê thảm, ngã lăn ra mặt thềm lưu ly. Thoát chết trong cửa tử, chuyển bại hóa thắng trong chớp mắt, hoàn toàn đều nhờ hết vào tiếng đàn vô tình này, và cũng may sao là lại rờ trúng đường dây thứ tám của Bát long ngân khéo đến thế, và nhờ thế mà hãm kịp tâm thần của mình lại. Nhưng thiếu nữ nọ vì đã gởi hết tâm thần vào trong câu hát, thình lình bị tiếng tàn huyền của Bát long ngân khiến cho rối loạn tinh thần, lập tức các đường khí huyết bị bế tắc thình lình, thét lên một tiếng nằm bất tỉnh trên thềm lưu ly, xem ra không chết thì cũng bị thương nặng, trong lòng Gia Cát Dật cũng cảm thấy ân hận vô cùng. Trong lòng đang băn khoăn, bỗng mọi người trong Ma Cung lại hiện dần ra hết, xa luân của Độc Ma cũng hiện ra, và nghe hắn lên tiếng khen rằng:
- Định lực của tiên sinh quả là kiên quyết thật, thật là một tư chất thượng thặng, công lực cũng đã đến mức tuyệt đỉnh, bản nhân xin có lời thán phục! Thán phục!
Gia Cát Dật khiêm tốn nói:
- Quá lời! Quá lời! Tại hạ chỉ muốn xin quí cung hãy tha cho tiểu đồ và Bạch cô nương ra để tại họ đưa họ về, nếu được vậy tại hạ thật đội ơn vô cùng!
Ma Cung chủ nhân tự lẩm bẩm một mình:
- Gia Cát Dật quả đáng là một nhân vật lừng lẫy tiên sinh càng bất khuất bao nhiêu, bản cung đây lại càng mến thích bấy nhiêu, và chính bản cung rất thích những loại nhân vật như vậy!
Tiếng nói tuy không lớn, nhưng câu nào cũng truyền hết vào tai Gia Cát Dật một cách hết sức rõ.
Nhưng Gia Cát Dật không tiến nạp ý của Độc Ma.
Độc Ma lại nói:
- Còn Châu cô nương quả là nàng cam tâm tình nguyện thích ở lại đây, tại sao tiên sinh không chịu tin lời tôi?
Gia Cát Dật nghiễm nhiên rằng:
- Xin cho nàng ra gặp tại hạ?
Độc Ma chủ nhân đưa tay lên vỗ hai tiếng, chỉ trong thoáng mắt, đệ tử trong cung đưa ngay một thiếu nữ ra, Gia Cát Dật nhận ngay ra đây là người chị cả trong Châu Thị Tam Điệp, Bạch điệp Châu Ni. Nhưng chỉ thấy Bạch Điệp đôi mắt lẳng lơ, xuân tình chan hòa trên khuôn mặt đẹp, hiển hiện tất cả những nét khiêu gợi... nào đâu còn có vẻ gì của một thục nữ danh môn đài các trâm anh nữa! Trông nàng lúc này đúng là một nàng tiên lẳng không hơn không kém!
Gia Cát Dật bèn lên tiếng hỏi ngay Bạch Điệp rằng:
- Châu Ni! Cô còn nhận ra tôi không?
Bạch Điệp ngó sững Gia Cát Dật một hồi rồi lắc đầu. Một trận cười của các đệ tử Ma Cung vang lên như ngầm chế nhạo Gia Cát Dật.
Gia Cát Dật vẫn không nản lòng, tiếp tục nói:
- Vừa rồi được nghe Diệu sắc tiên âm của quí cung, âm điệu quả là bất phàm, tại hạ tuy bất tài, nhưng cũng dám xin tấu thử một khúc nhạc phàm để bái tạ thịnh tình vừa rồi! Không biết cung chủ bằng lòng nhận cho không?
Ma Cung chủ nhân cười rằng:
- Rõ thật là Phao chuyên dẫn ngọc (ném gạch để thử ngọc)! Vậy chắc cây cổ cầm của tiên sinh không phải vật phàm, nay lại được tiên sinh thân hành có nhã ý cho nghe một khúc, thật là vạn hạnh cho bản nhân và các đệ tử trong tiên cung này quá!
Ma Cung chủ nhân vội ra lệnh cho Châu Ni lui ngay, nhưng Gia Cát Dật bỗng lớn tiếng hét lên rằng:
- Dám xin Cung chủ hãy để trưởng nữ của nhà họ Châu nghe tấu khúc của tại hạ?
Ma Cung chủ nhân kinh hãi, nhưng không muốn tỏ ra mình sợ sệt, đành để cho Châu Ni đứng nguyên chỗ cũ! Ngay lúc đó, mọi người trong Ma Cung đều cảm thấy một bầu không khí hồi hộp tuyệt độ, không biết rằng Gia Cát Dật sẽ đàn thứ nhạc điệu ghê gớm gì đây không biết!
Gia Cát Dật lẩm bẩm khấn vái trong bụng xong, từ từ đặt mấy ngón tay lên đàn và bắt đầu gảy.
Mọi người chỉ nghe một điệu nhạc rất mau, trong điệu nhạc này như gợi nên tất cả những tình thắm thiết của tuổi trẻ thơ ấu... mọi người vẫn lắng tai, và chẳng ai lo đề phòng. Gia Cát Dật vừa đàn vừa ngó chăm chăm về phía Châu Ni, tiếng đàn lại như đang kể lể tất cả những dĩ vãng của đời Bạch Điệp, nhắc hết đến những người thân đang trông đợi nàng về đoàn tụ.
Tiếng đàn vẫn tiếp tục... Bạch Điệp hình như đã tỉnh lại thần trí của mình và càng như đang sắp sửa quyết định dứt khoát một cái gì!
Độc Ma và Gia Cát Dật đều cảm thấy sắp có biến xảy ra trong chớp mắt, không khí lúc này càng trở nên khẩn trương, thình lình, Bạch Điệp vung chưởng lên đánh như điên cuồng sang phía Ma Cung chủ nhân, chỉ thấy song chưởng của nàng đang hung hăng cố đánh sang đỉnh đầu của Độc Ma. Những đệ tử Ma Cung đứng hai bên đều hét kinh rú lên, nhưng thân hình Độc Ma vẫn không chuyển động, chỉ khẽ đưa tay lên hất. Bạch Điệp chỉ hự lên một tiếng, không khác nào chiếc diều bị đứt dây, toàn thân lảo đảo bay vèo ngay ra.
Gia Cát Dật cuống lên, vội búng mạnh ngay vào sợi dây huyền thứ tám đến bưng một tiếng lớn, Độc Ma trên sàng cười lên những tiếng lạnh lùng, thân hình vẫn uy nghi bất động. Nhưng các đệ tử hai bên đều đã không sao chịu nổi tiếng đàn thình lình ấy, ai nấy vội bịt ngay tai ngồi phịch ngay xuống đất.
Gia Cát Dật vọt bổng ngay lên như một con hạc lớn, lướt sang phía Bạch Điệp, chỉ thấy nàng nhắm chặt mắt, sắc mặt trắng nhợt, miệng ứa máu tươi, thì ra nàng biết đã tuyệt vọng nên cắn lưỡi để tự tử.
Gia Cát Dật hầm hầm nổi giận, tính quyết ra tay!
Độc Ma khẽ phất ống tay áo, đệ tử hai bên đồng thanh hét lên một tiếng, kiếm rút ngay khỏi vỏ, ánh kiếm nhoang nhoáng lóe lên! Gia Cát Dật bị vây ngay chính giữa.
Ma Cung chủ nhân Độc Ma lại lên tiếng rằng:
- Khách xa đến đây cũng vất vả lắm, vậy hãy yên tâm chơi quanh quẩn trong thế giới lưu ly này vậy, thử xem tài cán thông minh của tiên sinh, có thể khám phá ra nổi những huyền bí của ngôi Vô Ảnh Phong, và đồng thời tài cán có thể thoát khỏi thế giới lưu ly này không, và bản cung chủ nhân hẹn cho tiên sinh trong năm ngày. Nếu quá trong năm ngày mà tiên sinh không ra khỏi đây, bản chủ nhân mong rằng tiên sinh nên nghĩ kỹ lại, tốt nhất là nên gia nhập vào Phi Các tiên cung này với chúng tôi, để cùng hưởng hoan lạc thần tiên với nhau cho vui! Còn không, tùy ý tiên sinh phải tự tuyệt lấy! ... Ha! Ha ! Ha ! ...
Trong tiếng cười vang động cả cung điện ấy, chỉ trong chớp nháy, từ Ma Cung chủ nhân đến các đệ tử đều rút biến đi hết, cả xác của Bạch Điệp cũng bị chúng mang theo luôn. Gia Cát Dật bỗng thấy ngách cửa nơi bình phong mình vào hồi nãy đã tự động bị đóng, bất giác trong lòng thất kinh.
Trong khi ấy lại nghe tiếng cười của Ma Cung chủ nhân vang lên rằng:
- Này Gia Cát Dật! Ta khuyên tiên sinh hãy chịu khó nằm trong thế giới lưu ly mà suy nghĩ cho kỹ? Nếu khi nào tiên sinh cảm thấy buồn tẻ, ta sẽ cho người đến giải buồn cho tiên sinh!
Dứt lời nói của Độc Ma, chỉ còn nghe tiếng cửa cung đóng rầm xuống, Gia Cát Dật tự nhủ thầm rằng: "Chuyến này muốn thoát khỏi nơi cung điện này, quả thật không phải là chuyện dễ dàng gì, mình thử quan sát xung quanh đây xem sao". Nhưng không ngờ đi loanh quanh cả hồi vẫn không sao tìm ra manh mối gì, hễ mỗi lần gần hết những lưu ly dưới đất, thì lại gặp bức tường cản trở, đưa tay lên rờ, chỉ cảm thấy lạnh ngắt. Thì ra mặt tiền của ngôi Vô Ảnh Phong này lại là một Phi Các tiên cung bằng lưu ly (loại thủy tinh), không những dưới mặt đất, mà hầu hết các ngõ cửa cung và cả tấm bình phong lớn mình vào vừa rồi cũng toàn chế bằng lưu ly cả, nhìn ra ngoài thì cảnh sắc vẫn tươi trong, không thấy hiện tượng gì che mắt mình, nhưng sự thật mình đã bị cầm tù hẳn hoi.
Nhưng khi nghĩ đến lời nói của Độc Ma, hẹn cho mình năm ngày, vậy cái thế giới lưu ly này chắc cũng được kiến tạo khéo léo theo phương pháp của Vô Ảnh Phong đây?
Gia Cát Dật lại thầm nghĩ: xem ra cuộc thoát thân không những gây go khó khăn, mà còn phải tốn nhiều suy nghĩ của bộ óc là khác! Lại nghĩ đến lời nói của Độc Ma trước khi đi, y nói là sẽ kiếm người tới làm bạn với mình, không lẽ hắn đang cho người đi truy bắt Hầu Hạo và chị em Châu thị? Và hiện giờ họ còn đang chờ đợi mình tại ngôi núi Cửu Lãnh, nếu chẳng may lại gặp các đệ tử của Ma Cung đây, thật hậu quả không thế nào tưởng tượng thêm, càng nghĩ lòng dạ càng cuống lên như kiến bị phỏng, đứng ngồi không yên?
***
Xin tạm gác chuyện của Gia Cát Dật bị giam trong thế giới lưu ly lại. Bút giả xin quay ngòi bút thuật về chuyện của Hầu Hạo.
Hầu Hạo cùng với chị em Châu Thị Nhị Điệp, ba người lần theo những bảng chỉ lộ bằng xương người ra khỏi cốc Vô Ảnh Phong và đến ngay chân núi Cửu Lãnh để chờ đợi Gia Cát Dật. Chị em Châu Thị lúc này đi chung với vị thiếu niên anh tuấn khôi ngô này, trong lòng hai nàng không khỏi nao nao có một cảm xúc lạ lùng trong tâm thần, nhất là trong vụ chuyện xảy ra tối qua tại trong cốc, dù sao ba người cũng đã có những cử chỉ thân mật, mà trong lúc ấy người trai này đã không vượt cương vị lễ giáo của mình, thật là hiếm có, phần lại là đệ tử của danh môn, từ võ công đến nhân phẩm, đều không thể chê ở điểm nào. Sự đi chung của hai chị em với chàng, trước còn cảm thấy e lệ bất an, đến sau dần dần trở nên tự nhiên, cả ba có nói có cười, hai chị em thấy chàng không những biết giữ lễ và luôn luôn ôn hòa, và càng kín đáo về những chuyện xảy ra đêm qua, không hề nhắc đến bao giờ, chị em hai người càng lúc càng cảm thấy chàng trai khôi ngô này đáng mến lạ!...
Bỗng Hồng Điệp lên tiếng rằng:
- Thiên hạ gọi Hầu huynh là Lãn Hiệp. Nhưng theo tôi, có phần không được đúng. Vì bây giờ nhận xét ra, Hầu huynh không những không có chút tác phong nào "làm biếng”, mà trái lại có vẻ chăm hơn thiên hạ là khác.
Lãn hiệp Hầu Hạo quả thật cũng mến thích đôi chị em nhí nhảnh này lắm, nghe Hồng Điệp nói vậy bèn cười rằng:
- Cô nương nói đúng lắm! Sau ngày tôi từ giã gia sư đi suốt từ Bắc chí Nam, tâm tình quả thật buồn vô kể, lủi thủi có mỗi mình mà suốt cuộc hành trình chỉ toàn gặp những người bất lương, nếu không rủ tôi vào phe kết đảng với chúng, thì cũng là ra tay giao tranh xem ai cao thấp. Kinh lịch trên trần đời tôi chưa có, và cứ thế tôi bị mắc bẫy của thiên hạ hoài, nên bụng nghĩ: Ngôn đa tất thất (nhiều mồm lắm chuyện) thà cứ câm như hến cho được chuyện, và mỗi lần phải ra tay, đều nằm trong tình trạng bất đắc dĩ cả, lần nào cũng chỉ muốn hất khỏi họ mà thôi. Nhưng cũng vì những hành động chậm chạp như làm biếng ấy, thiên hạ không rõ căn nguyên, nên mới tặng cho một hỗn danh là Lãn Hiệp.
Hồng Điệp tinh quái cười hỏi vặn rằng:
- Nhưng sao bây giờ Hầu huynh lại trở nên người thao thao bất tuyệt như thế! Không biết cái gì thúc đẩy huynh biến đổi tính nết trước kia nhỉ?...
Hầu Hạo bất giác mặt đỏ bừng lúng túng rằng:
- À... À...
- Ơ hay? à gì mà à mãi thế?
Hầu Hạo chợt sực nhớ ra, và vội nói:
- À, vì sau khi tôi gặp được Thượng Quan Linh sư đệ và tôi biết rằng tôi đã gặp được một người đầy lòng hiệp nghĩa trong mình, và cũng là người tốt mà lần đầu tiên tôi gặp trong đời. Sau khi tôi bị hãm thân trong Cửu Thiên Tự, tuy sư đệ bận việc trong mình, nhưng hắn cũng đã ráng về cứu tôi, mà trong lúc đó hắn vẫn chưa rõ tôi là sư huynh của hắn, vì đó trong lòng tôi lúc ấy bị xúc động mạnh, và từ đó tôi không cảm thấy mình cô đơn buồn tẻ nữa, và cũng cảm thấy rằng trên đời còn nhiều người tốt lắm. Nhờ thế mà miệng lưỡi đần độn của tôi mỗi ngày một hoạt động thêm lên, và bất cứ làm việc gì cũng cảm thấy thích thú vô cùng!
Hồng Điệp ỷ tuổi mình còn nhỏ hỏi bừa ngay Hầu Hạo rằng:
- Nhưng bây giờ người sư đệ Thượng Quan Linh của huynh không có đây, vậy huynh gần chị em chúng tôi như thế có còn cảm thấy cô tịch buồn rầu nữa không?
Thanh điệp Châu Sách dù sao cũng lớn tuổi hơn, nghe em mình hỏi đột ngột người ta như vậy vội gắt ngay:
- Kìa em!... sao em lại hỏi kỳ cục thế!...
Hồng Điệp thẹn đỏ mặt lên không nói gì.
 
0
Chương 043. Thay Mận Đổi Đào
[/align]  
Lãn Hiệp nghe hai chị em nói năng nhí nhảnh như vậy trong lòng chàng cảm thấy thích thú lạ lùng, chàng cũng không biết nên nói gì!...
Thanh Điệp bỗng lên tiếng phá hẳn bầu không khí ngượng ngùng rằng:
- Riêng theo ý tôi, từ nay Hầu huynh nên cải ngoại hiệu Lãn Hiệp ấy đi cho rồi, tuổi trẻ thiếu gì những chuyện phải làm, sao lại có thể suốt ngày đến tối dửng dưng với chuyện đời như thế được, khi không còn chụp thêm chữ biếng nhác vào người như thế! Nghe thật khó xuôi tai quá!
Hầu Hạo vội rằng:
- Cô nương nói chí lý lắm! Chí lý lắm!...
Một bầu không khí vui vẻ trùm hết tâm thần của ba người tuổi trẻ. Bất giác cả ba cùng nhìn nhau, trong cái nhìn ấy như nói quá nhiều, bỗng chị em Nhị Điệp e lệ cúi gầm đầu xuống đỏ mặt, còn Hầu Hạo ngước mặt ngó trời bâng quơ, tuy chàng không nói gì, nhưng trong đáy lòng đã cảm thấy sung sướng tuyệt độ, chàng muốn cất tiếng hát lên để tỏ nỗi lòng vui sướng trong tâm hồn của mình...
Ra đến ngoài khu núi Cửu Lãnh, ba người bàn tán, Gia Cát Dật đã hẹn ba ngày, xem ra ba người phải nán lại cửa núi hơi cao, khí hậu cũng lạnh hơn, nếu nằm lộ thiên thì không tiện, chàng bèn đánh dấu kỹ cửa núi, để đi tìm động huyệt. Chàng quanh co mãi mới tìm được một động huyệt, bên trong rộng rãi, cửa hang lại nhỏ, Hầu Hạo mừng rỡ, thầm nghĩ: Hai nàng có thể ngủ tại bên trong, mình nằm phía ngoài, như thế vừa có thể tránh được tiếng tăm hiềm nghi về trai gái, mình lại vừa có thể lo bảo vệ cho hai nàng, thật là một nơi nghỉ ngơi lý tưởng quá!
Chàng quay về và đưa ngay chị em Nhị Điệp lại, hai nàng cũng lo bắt tay vào sửa soạn chỗ nằm, hai chị em tạm quên các mối sầu, người lo hái lá, kẻ lo bẻ cành hát ca nhí nhảnh, chả mấy chốc đã tạm lo chỗ nằm. Hầu Hạo cảm thấy lương khô không còn mấy, bèn nói với hai nàng là phải đi săn gì về ăn, hai nàng đồng ý để chàng đi, nhưng không quên căn dặn là chàng phải về mau!
Hầu Hạo độc thân vào hẳn trong vùng núi non của Cửu Lãnh, các thú rừng cọp beo ở đây quả không phải là ít, nhưng Hầu Hạo nghĩ bụng: thịt của những con mãnh thú, chắc chị em nàng ăn không quen, nếu săn được một con chồn chắc hay hơn. Chàng bèn cầm trong tay một cục đất khô, âm thầm lần từng bước một đi tìm mồi, từ gò đá cho đến khe suối, chỗ nào chàng cũng men tới hết. Khi đến một khu rừng nhỏ, bỗng tai chàng nghe có tiếng ca của thiếu nữ, âm giọng nghe hay lạ! Thầm nghĩ: Chắc có lẽ chị em Nhị Điệp đã theo đuôi mình đây, nhưng không biết tiếng hát của cô chị Thanh Điệp hay của cô em Hồng Điệp?
Nhưng chàng vội quả quyết ngay là cô em Hồng Điệp cô bé này mới có mười bảy tuổi, nhưng tính trẻ ngây thơ còn chưa dứt, chắc là nàng ta chứ không ai nữa? Ngay lúc này, chàng Hầu Hạo cũng nảy ra một ý nghĩ tinh nghịch: mình trốn đại vào trong rừng rồi hùa thình lình ra dọa nàng chơi cho vui! Nghĩ xong chàng nổi ngay tính hồn nhiên nghịch ngợm của trẻ lớn đầu, vội tung mình nhảy luôn lên một ngọn cây sầm uất.
Tiếng ca từ xa lại gần, càng lúc càng nghe rõ, chỉ nghe ý nghĩa của tiếng ca rằng:
- Núi xa sông dài... Em cất bước từ quan san... trải muôn ngàn cực khổ... Ôi! Anh của em ơi! Nay anh ở đâu? Em không quản ngàn trùng cũng chỉ vì anh... em tìm anh để bộc tỏ nỗi lòng... nỗi lòng đoạn trường... Nhưng than ơi! Mở mắt ra, chỉ thấy toàn cảnh non nước vô tình, vì chúng biết nơi anh ở, nhưng chúng trơ trơ không muốn mách bảo em!... Em đã tương tư, buồn rầu, bi thương và hễ nhớ đến anh là đời em lại cảm thấy thê lương...
Tiếng ca ai oán, liên miên bất tuyệt, khiến cho kẻ nghe phải bồi ngùi thương xót cho người trong cuộc, Hầu Hạo xao xuyến trong lòng, chàng lấy làm lạ, Hồng Điệp hát bài tình ca này? Nàng mới chừng ấy tuổi, bộ nàng đã có người ý trung nhân rồi sao? Hay nàng hát vì mình đây?
Nhưng tiếng ca mỗi lúc mỗi gần dần, âm thanh càng réo rắt lạ lùng! Và xen thêm vào đó, có cả tiếng sột soạt của tiếng váy áo nữa, cũng chứng minh đây là một thiếu nữ.
Trong lòng Hầu Hạo càng đâm ra nghi hoặc, chàng vẫn chờ trên cành cây. Tiếng bước chân đã gần hắn, chỉ thấy một thiếu nữ lướt thướt bước vào rừng. Ồ! Nàng mặc toàn màu trắng vậy? Xem tướng đi thì không phải Hồng điệp Châu Chu. Hầu Hạo buông mình thình lình nhảy xuống chận ngay lối đi!...
Nhưng cả hai bên đều thất kinh về sự kiện xảy ra trước mặt mình, ai nấy vội tung nhanh mình vèo hẳn ra sau. . .
Quả nhiên không phải là Châu muội thật! Chỉ thấy thiếu nữ vừa trẻ đẹp một cách lạ lùng, thật là dung nhan tuyệt thế, toàn thân trắng tinh như tuyết, chẳng khác nào như tiên nữ đi lạc xuống trần gian, nhưng trên khuôn mặt ấy, Hầu Hạo nhận thấy đượm thêm nét u buồn trong lòng!
Bạch y thiếu nữ ngó sững Hầu Hạo, nhưng nàng không tỏ vẻ gì là sợ hãi cả.
Hầu Hạo bỗng chợt nghĩ ra, thôi đúng rồi, ngó người thiếu nữ dung nhan tuyệt thế này, hơi giông giống với chị em Nhị Điệp, lại ăn mặc toàn màu trắng như thế này, chắc có lẽ là Bạch Điệp của ba chị em họ Châu đây chăng? Đêm qua trong Vô ảnh Cốc, Thanh Điệp có nói rằng chị nàng có xuất hiện trong cuộc vũ xuân tình, hình như là người này thì phải? Chắc nàng đã được sư thúc Gia Cát Dật cứu? Và tới đây để gặp hai em gái? Và cố dùng tiếng hát để cho chóng gặp nhau?
Nghĩ xong Hầu Hạo cất tiếng hỏi ngay:
- Phải chăng cô nương là Bạch điệp Châu Ni đấy không? Thế còn Gia Cát Dật và sư đệ tôi Thượng Quan Linh nay ở đâu?
Ánh mắt bạch y thiếu nữ lộ vẻ ngạc nhiên hỏi rằng:
- Anh là ai? Xưng hô thế nào với Gia Cát Dật và Thượng Quan Linh?
Hầu Hạo rằng:
- Tôi tên Hầu Hạo, sư phụ tôi là một trong Càn Khôn Ngũ Tuyệt tức Tây Đạo Thiên Si đạo trưởng! Bộ sư thúc Gia Cát Dật và sư đệ Thượng Quan Linh của tôi còn chưa nói với cô việc này sao? Và sư thúc đã dặn chúng tôi ở đây chờ ngài trong ba hôm, nhưng nào đâu có ngờ lại cứu được cô một cách mau chóng thế!
Lúc này, bạch y thiếu nữ càng tỏ ra vẻ hòa nhã và vui mừng, Hầu Hạo cũng tưởng đâu thiếu nữ là Bạch Điệp, bụng nghĩ rằng nàng bị thầy trò Độc Ma làm Ô nhục, trong lòng buồn bực vô cùng, chàng càng cố tránh những chuyện có liên can đến Phi Các ma cung cho nàng đỡ ngượng. Vì càng thế càng đâm ra thương hại người thiếu nữ trước mặt, bèn nói rằng:
- Thôi, hãy để tôi dắt cô lại với Châu Sách và Châu Chu để chị em gặp nhau cho rồi! Họ đều ở cả hang động trước núi kia đây...
Bạch y thiếu nữ không nói năng gì! Lo theo sau Hầu Hạo đi, bỗng nàng lên tiếng hỏi:
- Thế anh có biết đường lối của Vô ảnh Phong không?
Hầu Hạo quay quay đầu lại, thấy nàng lúc này càng đẹp lạ lùng, hơn hẳn chị em Nhị Điệp nhiều, bụng nghĩ hèn gì chủ nhân của Ma Cung bắt nàng, thì ra trong Tam Điệp họ Châu, người chị cả đẹp hơn hết.
Nhưng thình lình thấy nàng nhìn mình với một vẻ vô cùng lo lắng, chàng chợt hiểu ngay là mình đã thất nghi lễ với người đẹp, bèn lúng túng trả lời ngay:
- À Tôi biết! Tôi biết!... từ Cửu Lãnh cửa núi đi vào, men theo các bảng chỉ lộ bằng xương người, và có thể đến ngay thác nước lớn, và ở đó có thể phát hiện ngay Vô ảnh Phong...
Bạch y thiếu nữ cảm thấy lạ lùng, ngạc nhiên rằng:
- Ồ! Dễ dàng như thế sao? Nếu vậy cám ơn anh nhiều lắm.
Nói xong tính bỏ ngay đi!
Hầu Hạo cuống lên rằng:
- Không phải? Không phải dễ dàng thế đâu, ngôi Vô ảnh Phong phía sau thác nước phải chờ có mặt trăng ra mới thấy rõ được, hơn nữa nó không phải là cảnh thật mà chỉ là một ảo ảnh của ngôi Vô ảnh Phong mà thôi, và chính sư thúc tôi đã nói là đã khám phá ra sự huyền ảo của nó là chính hơi của thác nước và ánh sáng mặt trăng có thể phản chiếu cảnh đó, và chính ngôi Vô ảnh Phong thật thì nằm một nơi kín đáo khác!
Bạch y thiếu nữ bỗng đứng tần ngần, vẻ kinh mừng trong ánh mắt biến tan hẳn, nàng lại trở về với trạng thái u sầu như cũ. Hầu Hạo trong lòng ngạc nhiên, bụng nghĩ: sư thúc Gia Cát Dật đã cứu cô ra như thế, không lý cô lại không biết đường lối vào Vô ảnh phong sao? Mà đã thoát ra được đây lại còn muốn vào làm gì? Không lẽ bắt chước con thiêu thân tự dẫn xác vào lửa sao?
Hầu Hạo còn đang kỳ lạ, bỗng bạch y thiếu nữ ở phía sau lên tiếng hỏi rằng:
- Nếu thế ngài Gia Cát Dật đã tìm ra được ngôi kỳ phong vô ảnh ấy chưa?
Hầu Hạo rằng:
- Tôi cũng không biết rằng ngài đã tìm ra được chưa, chỉ nghe ông ta căn dặn chúng tôi là hãy chờ tại cửa núi Cửu Lãnh, thời gian hẹn là trong ba ngày! Và ông ta căn dặn xong bèn lập tức vào Vô ảnh Phong để cứu cô và Thượng Quan Linh sư đệ!
Chợt chàng nghĩ: Ủa? Sao lại có thể như thế kia? Nàng rõ ràng đã được Gia Cát Dật cứu ra, thế mà còn hỏi Gia Cát Dật có tìm ra Vô ảnh Phong là nghĩa gì? Rõ thật buồn cười?
Chàng lại hỏi ngay một câu:
- Vậy cô chưa gặp Gia Cát Dật sao? Thế Gia Cát Dật và Thượng Quan Linh sư đệ tôi hiện ở đâu kia?
Bạch y thiếu nữ chỉ cười, không trả lời ngay, trái lại còn hỏi:
- Thế Gia Cát Dật tiền bối tại sao lại bảo mọi người ra ngoài cửa núi thế! Thêm người thêm sức bộ không hay hơn sao?
Hầu Hạo rằng:
- Bởi vì... bởi vì những đám nam nữ trên kỳ phong xuống ấy, quả thật...
Chàng bỗng sực nhớ chuyện này đâu có thể nói trắng trợn ra. Lập tức nín thinh ngay, mặt đỏ như gấc.
Bụng nghĩ cô này mặt dày thật, chính đêm qua cô chẳng múa may quay cuồng lõa lồ đấy sao! Ta không tin cô lại thất hồn lạc vía quên hết chuyện khiêu gợi của cô trong cảnh đêm vừa qua, thế mà bây giờ cứ vờ vẫn như một trinh nữ thần thánh, hỏi đến nơi đến chốn như thế! Nghĩ vậy Hầu Hạo bực mình, không thèm trả lời, bạch y thiếu nữ cũng chẳng muốn hỏi rầy rà thêm, cả hai người, một trước một sau, chỉ trong chốc lát đã đến ngay cửa hang động của chị em Nhị Điệp!
Hầu Hạo đưa tay chỉ ngay về trước rằng:
- Lệnh muội Châu Sách và Châu Chu đều trong hang động kia?
Bạch y thiếu nữ mỉm cười gật đầu. Hầu Hạo lớn tiếng gọi:
- Nhị Điệp họ Châu!... Chị của hai cô đã về đây?
Chị em Nhị Điệp từ trong động chạy hùa nhanh ra, xa xa thấy một thiếu nữ cùng đi chung với Hầu Hạo, thấy vậy Châu Sách và Châu Chu mừng quýnh lên, không khác nào được của báu từ trên trời rớt xuống trước mặt hai nàng; chỉ thấy hai nàng vừa chạy lại vừa gọi rối lên:
- Chị ơi!... Chị ơi?...
Thì ra bạch y thiếu nữ và Hầu Hạo đang đứng trên đỉnh đồi khá cao, chị em Nhị Điệp mừng quýnh cả lên, hấp tấp trèo mau lên. Hồng Điệp thì mếu máo vừa mừng, chạy thật lanh ôm choàng lấy bạch y thiếu nữ.
Bạch y thiếu nữ cũng đưa tay ra ôm ngay Hồng Điệp vào lòng, Thanh Điệp lúc này nhìn kỹ bạch y thiếu nữ, thất kinh lùi ngay một bước hét lên rằng:
- Em Chu mau buông tay ra! Người này không phải chị Bạch Điệp!
Câu nói vừa thoát ra, Hầu Hạo cho đến Châu Chu đều thất kinh, Hồng Điệp lập tức buông ngay tay, lui nhanh ngay về phía Thanh Điệp.
Châu Chu giận tái mặt, liếc nhanh Hầu Hạo, rồi quay sang quát hỏi bạch y thiếu nữ rằng:
- Ngươi là ai? Tại sao lại mạo nhận chị cả của tôi để đùa cợt chúng tôi như thế?
Bạch y thiếu nữ chỉ khẽ mỉm cười, rồi nói với giọng quấy nghịch:
- Ối chao ôi! Rõ thật chó sủa Lã Động Tân, không biết lòng kẻ tốt! Chính ta cũng đang lấy làm lạ, là tại sao có người lại nói ta đang có hai cô em gái chờ đợi ta đằng này, nhưng rồi ta cho rằng: nay mình đang lang thang, nhận đỡ hai cô em nuôi cũng chẳng hại gì, nhưng nào hay khi tới nơi người ta lại trợn mắt ngó mình quát tháo như thế! Ta đã không chấp hai chị em ngươi giả mạo làm em ta thì chớ, lại còn dám trách ngược ta giả mạo làm chị sao? Chuyện như thế này thật là ngược đời ra làm sao?
Hai chị em Nhị Điệp không ngờ nàng áo trắng này miệng lưỡi lại đanh đá đến thế, giận ngẩn người ra, Hồng Điệp đưa tay nắm ngay bảo kiếm, nhưng bạch y thiếu nữ vẫn uy nghi không ngán, ngang nhiên mỉm cười đứng nhìn hai chị em.
Hầu Hạo cuống lên, vội bước ngay lại rằng:
- Dám hỏi cô nương là ai vậy? Xin cho chúng tôi được biết rõ để tránh sự hiểu lầm không đâu?...
Bạch y thiếu nữ mỉm cười rằng:
- Ta từ bến sông Lạc Thủy và từ Thanh Thông Cốc đến đây, nhưng Gia Cát Dật tiền bối đã đi trước ta một ngày!
Hầu Hạo bỗng buột miệng kêu rằng:
- Ồ! Không lẽ cô nương là lệnh viện (tiếng xưng hô kính trọng đối với cô gái của bạn) của bang chủ Thanh Thông Hội Liễu lão gia đó sao?
Bạch y thiếu nữ khẽ gật đầu, Châu Sách và Châu Chu đều nhảy vọt ra sau, soạt một tiếng rút ngay kiếm ra, Châu Sách quát rằng:
- Rõ là dâm phụ mặt dày thật? Ngươi theo đuổi đến đây có mục đích gì?
Thì ra Hầu Hạo khi bị nhất chung với Thượng Quan Linh tại Cừu Thiên Tự trong một tháng trời, chàng đã biết sư đệ mình phải lòng cô thứ nữ của Thanh Thông Hội Liễu Mi, và còn biết rõ là sau khi giải quyết xong vụ rắc rối của Bắc kiếm Phổ Côn thế nào nàng ta cũng xuôi về miền Nam để giúp cho sư đệ!
Nên Hầu Hạo lúc này đã hiểu rõ câu chuyện một cách tổng quát, nay mới nghe Bạch y thiếu nữ mới nói có một nửa chuyện, chàng đã đoán ngay ra vị thiếu nữ áo trắng đang đứng đây nhất định là Liễu Mi.
Nhưng vì con gái lớn của Thanh Thông bang chủ, xưa nay dã gây nhiều tiếng tăm không đẹp trên giang hồ, chị em Châu thị sau khi nghe nói nàng là con gái của Thanh Thông Hội, ngỡ đâu là cô gái đầu của Liễu bang chủ đã đến, từng nghe danh nàng dâm ác hiểm độc tội lỗi đầy mình, và đến đây lúc này chắc là không có chuyện gì hay ho cả, nên rút ngay kiếm ra để sẵn sàng ra tay giao chiến với nàng tiên dâm!
Hầu Hạo thấy tình thế quá căng thẳng, chàng bèn chen đứng ngay vào giữa đôi bên, lên tiếng:
- Chớ có xung đột vội, đây là Nhị cô nương của Liễu gia tên là Liễu Mi, xin hai cô chớ vội hiểu lầm và đa nghi!
Quí vị cũng hiểu cho rằng: Nhất nhân thành Phật, kê khuyển giai tiên (Một người thành Phật, gà chó đều thành tiên), danh dự của nhà họ Liễu đều do cô gái lớn phá sản hết, khiến đến nỗi người trong như cô em là Liễu Mi, cũng bị mất hết lòng tin của mọi người.
Hồng Điệp lanh miệng lạnh lùng rằng:
- Hừ! Chẳng qua cũng cùng một loài hồ ly tinh cả! Sĩ diện thứ hạng...
Chưa nói dứt tiếng ấy, Hồng Điệp bỗng cảm thấy bụp một tiếng, miệng mình như cổ vật gì bay vọt vào, nàng vội hấp tấp nhỏ phì ngay ra, thì ra một cục đất mềm!
Liễu Mi nhìn Hồng Điệp cười rằng:
- Con đòi con! Từ rày chừa nói bậy nhé!
Châu Chu nào đâu chịu phục, nàng quát lớn:
- Rõ đồ thối thân mất nết? Ngươi mới chính là con đòi con, con sâu dâm? Theo trai mà theo đuổi đến đây rõ đồ không biết xấu hổ!
Tâm địa đàn bà, trời sinh vốn chật hẹp, nhất là đối với người họ yêu, họ chỉ muốn bá chiếm thuộc về mình hết, quyết không chịu chia bùi xẻ ngọt với đàn bà nào khác! Nay, Châu Thị Song Điệp tưởng đâu nàng Liễu Mi cũng cùng một tác phong lẳng lơ như cô chị của nàng, phải lòng Hầu Hạo, lòng ghen vô danh nổi ngấm ngầm, ngước mày trợn mắt và sắp đi đến chỗ võ lực giải quyết tranh chấp. Hầu Hạo đành cuống lên khuyên can và cố nhắc tỉnh hai chị em rằng:
- Hồng cô nương chớ có nói nhảm thế, Liễu cô nương lại đây là để tìm sư đệ của tôi Thượng Quan Linh, vì cô ấy với sư đệ tôi là...
Bỗng chàng cảm thấy ngược miệng, vì dù sao sự yêu thầm của hai đương sự về danh phận còn chưa quyết định rõ ràng, làm sao nói cho ổn thỏa đây!
Chàng chỉ đỏ mặt tía tai không biết nói sao cho đẹp.
Thấy vậy, Thanh điệp Châu Sách kéo mạnh ngay tay cô em Hồng Điệp, lườm về phía Hầu Hạo rồi nói:
- Thôi em, chúng mình đi! Mặc họ, để họ tự do!
Dứt lời hai chị em đi ngay về phía hang động.
Hầu Hạo càng đâm khó xử, phần chàng biết sư đệ của mình rất yêu nàng Liễu Mi, nay người ta đơn thân đến đây, như thế cũng đủ chứng tỏ mối chân tình của nàng đối với Thượng Quan Linh sư đệ rồi, mình là sư huynh đâu có thể làm ngơ mà không chăm sóc người ta, nhưng ngờ đâu Châu Thị Song Điệp lại cố tình không chịu hiểu lòng mình! Khiến cho mình tiến thối lưỡng nan.
Nhưng chàng vốn là người nhiệt tâm thành thật, bụng nghĩ không nên lạnh nhạt với Liễu Mi, Hầu Hạo bèn rằng:
- Xin mời Liễu cô nương hãy lại đằng kia nghỉ ngơi! Rồi chúng mình sẽ bàn tính sau?
Nói xong bèn dẫn ngay Liễu Mi đi lại phía hang động.
Chị em Châu thị vừa đốt lên một đống lửa, thấy Liễu Mi bước đến, cả hai nhảy đứng lên tuốt ngay kiếm và tính ra tay!
Liễu Mi khích một tiếng cười, bật toàn thân thình lình xuyên nhanh qua chị em Châu Thị, cười nói rằng:
- Nào! Nào! Nào... hãy thử đùa chơi ngọn Song điệp bộc hỏa (đôi bướm chụp lửa) cho vui!
Châu Thị Song Điệp bị nàng dẫn một thế bất ngờ đó quả nhiên thu thế không kịp, chị em hai người đành phải tung mình nhảy vọt luôn qua đống lửa. Nhưng Châu Thị Song Điệp không làm sao rờ trúng được áo Liễu Mi, càng đâm tức giận, thế là đôi kiếm chị em nàng vung lên những tiếng vù vù áp đánh ngay sang Liễu Mi, tình thế trông kinh hiểm vô ngần. Liễu Mi vẫn tay không, Hầu Hạo thấy vậy cuống lên kêu:
- Sách muội và Chu muội hãy mau ngừng tay lại! Có chuyện gì hãy thủng thỉnh nói với nhau?
Hồng điệp Châu Chu hầm hầm mỉa mai rằng:
- Sao? Chị em chúng tôi trừng trị tính hỗn láo của nàng, anh cảm thấy buốt ruột xót tim hả?
Hầu Hạo vội nói:
- Đâu phải thế! Đâu phải thế!
Nói xong chàng cuống quít xoa tay như kiến phải lửa. Đang tính chạy ra để ngăn cản đôi bên, nhưng chợt thấy thân hình Liễu Mi nhoáng lên lên cái, tà áo bay phần phật, thấy nàng đã ngang nhiên thoát thân khỏi hai làn kiếm ác liệt của chị em Châu Thị. Trong lúc đó chị em Song Điệp thu thế không kịp, choang một tiếng, hai kiếm chạm vào nhau!
Liễu Mi đứng một bên cười rằng:
- Quả là một thế Song điệp đối tu (đôi bướm đo râu) tuyệt diệu! Tiếng vang ngân nghe cũng thích tai lạ!
Hầu Hạo đứng một bên nghĩ thầm: Thượng Quan sư đệ thường hay khen cô bé này thông minh hoạt bát, tinh ranh đanh đá, võ công siêu tuyệt, và nhất là tính tình hay khôi hài, miệng lưỡi không bao giờ thua ai, nay xem ra quả thật là đúng! Chỉ thấy Liễu Mi dẫn trước, Song Điệp theo sau, mắt thấy hai chị em sắp đuổi kịp, bỗng Liễu Mi thình lình chuyển mình lại nhẹ nhàng vèo qua thân hai chị em, rồi ung dung cười rằng:
- Đây là ngọn Hồng điệp thoát xác nhé!
Vừa dứt tiếng thì chiếc áo choàng đỏ của Châu Chu bị tuột rớt ngay xuống đất. Châu Chu vừa thẹn, vừa ức, vừa kinh!
Liễu Mi lại cười nhởn nhơ rằng:
- Hồng điệp thoát xác như thế mà bên trong vẫn còn đỏ chói thế này? Vậy để ta bóc thêm một lần vỏ của bướm đỏ nữa xem sao? Chắc lần này phải trắng bóc ra mới đúng!
Dứt tiếng nàng tung tăng lướt gần đến cạnh Châu Chu. Kỳ này Châu Chu hoảng người hẳn, nếu quả thật bị Liễu Mi lột áo trước mặt mọi người như thế, thì quả có nước chết về mắc cỡ mất! Nàng cuống lên gọi:
- Chị ơi!...
Kêu xong nhảy tọt ngay sang phía Thanh Điệp!
Thanh Điệp vội vung kiểm lên yểm hộ cho em mình. Liễu Mi nhìn Thanh Điệp cười rằng:
- Nghe đồn rằng độc tu (râu độc chiếc, chỉ ngọn kiếm) của Thanh Điệp cũng cừ lắm, vậy để bản cô nương rờ thử chút xem có nhạy không?
Thanh điệp Châu Sách chăm chăm chờ đợi, không biết Liễu Mi lại tính giở trò tai ác gì? Nhưng chỉ thấy nàng ta cúi xuống lượm ngay mấy viên đá, cung tay bắn ngay vào ngọn kiếm của Thanh Điệp.
Thanh Diệp vội đưa ngay kiếm lên phạt, choang một tiếng, đá chạm ngay lưới kiếm, nhưng lối ném của Liễu Mi là lối liên hoàn, bên này vừa phát khởi viên thứ nhất, bên kia viên thứ hai đã bay tới, và chạm ngay vào cây trường kiếm, và khiến cho ngọn kiếm phải nghiêng ngay một phía, Liễu Mi cất tiếng cười rằng:
Quả nhiên độc tu của Thanh Điệp cũng khá lắm! Vậy để ta nhổ thử đem về làm bấc đèn thắp cho vui!
Nói xong phi thân vọt bổng lên, trong tà áo trắng phất phới, một cánh tay ngọc đưa ngay ra tính đoạt ngay cây kiếm trên tay Thanh Điệp!
Châu Sách biết ngay mình không phải tay đối thủ của người ta, hấp tấp lùi nhanh vài bước về sau, Hầu Hạo vội vàng nhảy vọt đến, đưa tay ra lắc lia lịa khuyên rằng:
- Xin Liễu cô nương chớ nên ép quá...
Hầu Hạo vốn là người có thần lực, trong sự xua tay lia lịa của chàng, đã có những kình phong ào ào kinh người, Liễu Mi đành thu ngay thế và hạ nhanh mình xuống, rồi nói kháy rằng:
- Rõ thật là gà mái sợ bị nhổ lông, nên gọi gà trống đứng ra bảo hộ, thôi cũng được! Cánh gà trống cũng khá cứng cáp, nể tình gà trống biết thương gà mái, bản cô nương tạm tha cho một lần!
Nói xong đứng ngay lại, chỉ thấy gió thổi tà áo phất phơ, trông Liễu Mi lúc này đoan trang lạ, không giận mà cũng không vui. Hầu Hạo bèn cố dàn xếp mời ngay cả ba nàng ngồi quanh đống lửa, nhưng chị em Song Điệp vẫn giận Liễu Mi, không buồn nói chuyện với nàng.
Chỉ có Hầu Hạo lúc này lên tiếng rằng:
- Liễu cô nương tới đây, chắc là muốn vào Vô ảnh Phong để thám thính về tin của sư đệ Thượng Quan Linh chăng!
Liễu Mi vừa rồi giận hai chị em Châu thị ăn nói hàm hồ, nên mới cố tình chọc cho bõ ghét, nhưng thấy cả hai chị em đều bị mình khiến cho khiếp vía và nay ngồi dựa vào nhau mặt buồn rầu không muốn nói năng gì trong lòng Liễu Mi lúc này cũng thấy tội nghiệp hai nàng, hơn nữa tuổi tác hai nàng này cũng suýt soát với mình, do đó nàng lại đâm ra mến thương hai người, hối hận mình vừa rồi đùa quá trớn, khẽ than thầm một tiếng trong bụng. Khi nghe đến Hầu Hạo hỏi, nàng bất giác bị xao xuyến về tâm sự của mình, mặt rầu rầu rằng:
- Sau khi anh Linh đi xong, vụ rắc rối của Thanh Thông Hội với Bắc kiếm Phổ Côn đang đi đến chỗ căng thẳng nhất... thình lình được Gia Cát Dật tiền bối đến điều giải khuyên can, và cuộc tranh chấp được dàn xếp tạm yên, nhưng cũng mất hơn một tháng trời mới xong. Sau khi chấm dứt sự lộn xộn, tôi vì nhớ đến anh Linh, nên sau khi Gia Cát Dật tiền bối đi được một ngày, tôi cũng theo đuôi đi luôn, suốt dọc đường tôi nhờ những tin tức linh động và chính xác nhất của anh em Thanh Thông Hội nên tôi đã theo hút ngay đến Nhạc Châu nhưng tìm không ra anh Linh. Sau được tin Gia Cát Dật tiền bối cùng với anh Linh đã đi về đây và tôi cũng biết ngay đây là sào huyệt của thầy trò Độc Ma, nên đã vội vàng đuổi theo đến, và cũng thừa biết ngọn Vô ảnh Phong khó tìm ra lắm, đang lúc băn khoăn thất vọng thì tình cờ lại gặp được anh đây...
Hầu Hạo cũng kể hết một lượt về chuyện của mình, rồi thêm rằng:
- Sư thúc tôi đã dặn là ở đây chờ ngài trong vòng ba ngày, vậy xin Liễu cô nương hãy ở đây với chúng tôi, nếu sau ba ngày mà không thấy sư thúc tôi ra, chừng đó cả bốn người chúng mình mở ngay cuộc mạo hiểm vào phong luôn, ý Liễu cô nương tính xem có tiện không?
Liễu Mi vẫn rầu rầu rằng:
- Tiện thì tiện rồi đó, nhưng chỉ lo anh Linh hiện nay đang nằm trong tay bọn ác ma như thế, chỉ sợ tính mạng anh khó thoát, như vậy bảo tôi làm sao yên tâm ngồi chờ cho được? Nếu biết được chính xác ngọn Vô ảnh Phong ở đâu, dù có phải liều mạng đi nữa, tôi cũng không tiếc, vì được chết chung một chỗ với anh Linh tôi cũng đủ mãn nguyện lắm rồi...
Hầu Hạo nghe vậy cảm động vô cùng, bụng nghĩ nàng này quả thật đã say mê sư đệ của mình, tuy chàng không biết tính mạng sư đệ mình lúc này ra sao? Nhưng thấy Thượng Quan Linh có một người yêu chung tình như thế này cũng cảm thấy vui mừng hộ cho sư đệ. Nghĩ xong chàng cố khuyên Liễu Mi chớ có mạo hiểm vội, phải tin tưởng ở Gia Cát Dật, ở đây chờ đúng ba ngày xem sao rồi liệu!
Lúc này đã xế chiều, Hầu Hạo lại tiếp tục cuộc đi săn của mình, chẳng bao lâu, đem về một con heo rừng non, thấy ba nàng vẫn ngồi quanh bếp lửa, tuy chẳng ai nói với ai một lời, nhưng may không xảy cuộc xung đột!
Bốn người ăn xong bừa thịt nướng, trời đã tối hẳn từ lâu ai nấy lo sửa soạn chỗ nghỉ ngơi. Hầu Hạo đề nghị: Liễu Mi ngủ chung với chị em Châu thị, còn mình ngủ bên ngoài động lo trách nhiệm canh gác. Liễu Mi không có ý kiến gì, nhưng riêng chị em Châu Thị thấy Hầu Hạo chỗ nào cũng có vẻ ân cần với Liễu Mi, bất giác trong lòng lại có vẻ không vui. Chỉ nghe Châu Sách nói với Châu Chu rằng:
- Này em! Nếu có một cô gái nào mà tình nhân của cô ta bị quân hung ác bắt đi, theo ý em thì cô gái đó phải làm cách gì cho hợp lý?
Hồng Điệp biết ngay ý của chị mình, lên tiếng rằng:
- Em biết rằng cô gái đó thế nào cũng mạo hiểm vào thăm hổ huyệt của quân hung ác, dù cho có mất mạng cũng liều một chuyến để cùng chết chung với tình lang cho toại tình ý yêu của nhau!
Thanh Điệp lập tức rằng:
- Em nhầm to rồi? Theo chị nói, cô gái đó ư!... Nàng sợ chết nên không dám đi, mà không chừng lại còn chiếu tướng chàng nào của người ta là khác, như vậy mới xứng với câu tì bà di chủ (đàn tì bà đổi chủ).
Chị em hai người kẻ nói người hòa, cố tình mỉa mai Liễu Mi, Liễu Mi nào phải không hay, nàng giận đứng phắt người lên, tính sắp sửa ra tay.
Chuyến này cả đến Hầu Hạo cũng cảm thấy Nhị Điệp lỗi chàng bèn lên tiếng gắt rằng:
- Song Điệp muội không nên nói tầm phào như thế!
Hồng điệp Châu Chu cảm thấy như bị oan ức tột độ nước mắt dòng dòng nói với Thanh Điệp rằng:
- Chị ơi! Chúng mình đi cho rồi!... Ở đây người ta khi rẻ mình thế làm sao mà chịu cho được, chị em chúng mình lo tìm chỗ khác vậy!
Nói xong chị em dắt tay nhau đi ngay!
Hầu Hạo thấy vậy quýnh người lên, chỉ sợ hai nàng đi trong rừng đêm có chuyện gì bất trắc xảy ra thì nguy to! Lòng chàng vốn đã yêu hai thiếu nữ này, và không lúc nào không nghĩ đến sự an nguy của hai người, miệng lưỡi của chàng lại không thuộc loại nhanh, trong tình trạng này, Hầu Hạo chỉ còn nước xoa tay gãi đầu quýnh rối người lên, không biết nên dàn xếp sao cho phải?
Liễu Mi thình lình quay vụt người đi nhanh, khiến cho Châu Thị Song Điệp đứng khựng ngay lại, và cả hai lại ngồi yên xuống không nói gì, Hầu Hạo cuống lên đuổi theo, nhưng thân hình nàng quá mau!
Trong chớp mắt tung tích nàng đã không thấy đâu, Hầu Hạo cất cao giọng gọi:
- Liễu cô nương! Liễu cô nương!...
Nhưng chỉ nghe toàn tiếng gió vi vu, không một tiếng hồi âm nào. Bụng nghĩ thầm: Liễu Mi là người yêu của sư đệ, vì tình sư đệ Thượng Quan Linh, dù sao mình cũng phải phụ trách vấn đề hộ vệ cho nàng, kỳ này xảy ra chuyện bất hòa giữa ba nàng, Liễu Mi bực mình bỏ đi như thế, nếu xảy ra sơ suất điều gì, biết làm sao? Chàng đi tìm mãi... nhưng vẫn không hề thấy nàng đâu, trong lòng buồn bực, bất giác lại lo đến chị em Châu Thị, đánh lủi thủi quay về.
Về đến hang động, thấy hai nàng đã ngủ say trong hang động, Hầu Hạo sợ hai người bị lạnh, chàng liền cởi ngay áo ngoài của mình ra đắp cho hai người, xong mới ra ngoài nằm cạnh bếp lửa, trong lòng lo nghĩ đến Liễu Mi, không biết nàng đã tìm được chỗ nào chưa? Và chàng nghĩ: sáng sớm mai phải tìm nàng gấp. Thao thức mãi rồi chàng cũng mung lung ngủ thiếp luôn lúc nào không hay!
Nửa đêm, bỗng bị ngọn gió mạnh lùa tỉnh giấc, chàng lại sực nhớ chị em Châu Thị, không biết có bị gió lạnh lùa vào trong động không? Chàng bèn dậy đi thăm chừng. Nhưng trong bóng tối chập chờn, trong động chỉ còn thấy có chiếc áo của mình, còn chị em Châu Thị không biết đã biến đâu mất!... Hầu Hạo thất kinh hồn vía, chàng cảm thấy trời đất quay cuồng!
Chàng cố bình tĩnh lòng xúc động của mình, nhặt ngay áo khoác mặc ngay vào người, hấp tấp lo tìm kiếm, chàng chạy ra ngoài đốt ngay một cành thông đầy dầu, đem theo để chiếu sáng, thấy trong động thình lình có một tảng đá được đẩy ra từ hồi nào không hay, phía sau tảng đá là một đường hầm tối om.
Hầu Hạo không do dự, rõ ràng là có người đẩy tảng đá này để bắt chị em Châu Thị đem đi, chàng bất kể nguy hiểm, vọt ngay mình vào trong hấp tấp đuổi theo. Đường hầm khá dài, lại rộng rãi, chàng ước mình đã đi được hơn một tàn nhang, bỗng cảm thấy đường hầm hình như đã sắp hết, nhưng Hầu Hạo vẫn không biết mình đã đứng trước đâu đây? Chàng vội ngầm vận công lực sẵn sàng!...
Chui tọt ngay qua. cửa hang, nhưng không ngờ bên phía này là một khu rừng. Chẳng thấy bóng dáng Châu Thị đâu hết, cảnh u tịch, ánh trăng từ các ngọn cây cao cố len lỏi xuống!
Hầu Hạo cuống lên gào:
- Song Điệp nhị muội! Các em ở đâu? vừa gọi được hai tiếng, bỗng có tiếng cười quái gở nổi lên phía sau chàng.
Hầu Hạo chợt quay ngay thân lại. Dưới ánh trăng ảm đạm, chàng nhìn ra có hai bóng người, một người tóc dài mặt trắng, một người mặt mũi lở loét, Hầu Hạo nhận ngay ra hai người này mình đã gặp trong đêm tại Sài Gia Bảo ở Nhạc Châu, tức là đệ tam cao đồ Đinh Hủy và đệ tứ cao đồ Đinh Phá dưới trướng của Độc Ma trên Vô ảnh Phong.
Tên Đinh Hủy lạnh lùng lên tiếng:
- Thằng nhãi con? Sao nhắng lên như thế? Dù cho ngươi có muốn lấy hai nàng về làm vợ đi nữa, cũng phải để cho anh em bọn ta hái nhụy trước đã: Nếu không, chẳng hóa ra ngươi đã dám ngang nhiên, phạm thượng sao?
(Xin quí vị độc giả ngầm hiểu cho. Đinh Hủy, tức đệ tam cao đồ của Độc Ma, là người nói ngọng hạng nặng bằng âm Hờ, nhưng vì tránh thì giờ của quí vị, bút giả xin vào nhanh ngay những câu nói cho rõ nghĩa.)
Nói xong thay vì những tiếng cười Hà Hà, nhưng đằng này vì phát âm khác thường, nên Đinh Hủy chỉ cười với những tiếng Hò! Hò! Hò! . . .
Bộ mặt lở lói của Đinh lão Tam lúc này càng đâm ra vẻ rùng rợn!
Hầu Hạo cuống lên về tình cảnh an nguy của hai nàng, chàng bất kể thế châu chấu đá voi của mình, quyết liều thân, và chàng lập tức vận ngay mười phần công lực, lớn tiếng quát rằng:
- Khôn hồn thì thả ngay chị em Châu cô nương ra!
Dứt lời bửa ngay một chưởng như vũ bão sang Đinh Phá. Nhưng Đinh Lão Tứ đã nhoáng một cái tránh ngay, Hầu Hạo không kịp thâu thế lại, chưởng phong đã ào thẳng ra và phạt trúng một thân cây lớn, chỉ nghe một tiếng dữ dội, thân cây lớn bằng hai người ôm ấy gãy đổ rạp hết về một bên, cây gãy, lá bay, bụi mịt mù cả đám! Đinh Phá suýt nữa thì bị cây đè trúng, hắn thất kinh hoảng hồn!...
Lão Tam Đinh Hủy lại Hò! Hò!... với giọng trứ danh của mình rằng:
- Lão Tứ! Thằng nhãi này quả cũng có mấy cân lực đấy! Anh em ta đang buồn tay, vậy ta vờn thử với hắn vài ngọn cho vui! (xin quí vị hiểu cho giọng nói ngọng).
Tam hung và Tứ hung của Vô ảnh Phong hình như cảm thấy khoái trá về thần lực dũng mạnh của Hầu Hạo, thế là một cuộc thương lượng giữa ba người được bàn cãi để tỉ thí với nhau! Thế là ba người lo đi tìm một mớ dây mây rừng về, chấp thành một dây lớn tường, để thử sức kéo co với nhau, một người nắm một đầu, nếu Hầu Hạo thắng luôn cả hai bàn, thì có quyền đem luôn chị em Châu Thị rời ngay phạm vi của Cửu Lãnh này, nếu Hầu Hào chỉ thắng một và bại một, chàng chỉ có quyền lựa đem theo một trong hai nàng mà thôi, còn bị thua cả hai trận, lẽ dĩ nhiên không còn gì để nói, và hai nàng sẽ do Nhị Hung họ Đinh đem lên Vô ảnh Phong!
Hầu Hạo đối với thần lực của mình cũng vừng lòng tin lắm, bèn nhận ngay lối đấu do anh em Nhị Hung đề ra, và cuộc tỉ thí bắt đầu.
Trận thứ nhất, bên Nhị Hung ra quân ngay với Đinh Phá, thế là mỗi người nắm ngay một đầu dây, ai nấy chuyển bộ đứng tấn cho thật vững, và do lão tam Đinh Hủy làm trọng tài, và với giọng ngọng trứ danh, hắn cố lớn tiếng phát lệnh:
- Hột...? Hai!... ấy ấy hão hứ hớ ăn hang!
(Một! Hai... ấy ấy lão Tứ chớ ăn gian!)
Nói xong, Đinh Hủy bắt đầu phát lại lệnh trọng tài của mình:
- Hột...! Hai... Ha!
Lần này như sợ Đinh Phá ăn gian, nên Đinh Hủy đã cố tiếng hét Ha (ba) một cách thật là mau!
Thế là một cuộc giằng co bằng nội lực được diễn ra một cách hào hứng vô kể!
***
Đây xin nhắc lại nàng Liễu Mi phải tìm một thân cây để nghỉ ngơi, bỗng đến đêm khuya, nàng nghe có tiếng người đi nơi phía dưới. Bụng nghĩ: Không lẽ Hầu Hạo đi tìm mình mà chàng mò đến đây sao? Nhưng nàng lắng tai nghe, bước chân cả thảy là hai người, biết ngay không phải là Hầu Hạo. Nàng cố phóng nhãn lực của mình nhìn kỹ, dưới ánh trăng lu mờ, thấy hai bóng người bồng hai thiếu nữ đang tiến vào khu rừng. Liễu Mi giật nảy mình, chỉ thấy hai bóng người này không khác gì bóng ma, một người tóc xõa mặt trắng hếu, một người thân hình cao lớn, mặt mũi loe loét máu mủ kinh người, và trên tay hai người là hai thiếu nữ áo xanh và áo đỏ, hai thiếu nữ như đã hôn mê hẳn.
Liễu Mi chợt hiểu ngay là hai bóng người tựa ma quái này nhất định là nhân vật trong tứ đệ tử của Độc Ma trên Vô ảnh Phong, còn hai thiếu nữ mà họ đang ôm đó, chẳng cần đoán cũng biết ngay là chị em Song Điệp Châu Thị. Nàng nghĩ bụng: Hai nàng nằm trong động kia mà? Sao lại có thể bị bắt như thế? Không lẽ Hầu Hạo đã bị độc thủ rồi sao?
Nghĩ tới đây nàng hối hận, đáng lẽ mình không nên giận họ bỏ đi như thế, nhất là Hầu Hạo lại là chàng trai nghĩa khí như thế, trong lòng Liễu Mi quả phục chàng trai này lắm! Nàng càng không muốn người này bị chết! Nàng lại nghĩ: không biết có nên ra tay cứu Song Điệp Châu Nhị này không? Liễu Mi tuy là người ân oán phân minh, đối với sự hỗn láo của hai chị em họ Châu, nàng không để tâm cho lắm, phần nàng lại có tính phò nạn cứu nguy cho kẻ khác, nhất là sau khi biết võ công của Song Điệp không bằng mình, lập tức mất ngay ý thù địch với chị em họ Châu và đâm ra có lòng mến thích và thông cảm tình cảnh của hai chị em.
Phần chị em họ Châu cũng là danh môn hiệp nữ, nay chị cả lại bị quân hung ác hãm hại, vậy còn hai người này đâu có thể để cho lũ ma làm nhục nữa? Trong lòng Liễu Mi suy nghĩ và quyết định ra tay cứu. Nhưng nàng còn do dự. Vô ảnh Phong là nơi mình muốn tìm đến ngay tức khắc, nếu mình không làm kinh động đến hai tên ma họ Đinh này, mình có thể theo bén ngay sau lưng chúng để mà vào Vô ảnh Phong, nhưng nàng lại phân vân, nghe đồn rằng: Tứ hung họ Đinh của Độc Ma, võ công tên nào cũng quỉ dị vô cùng, nay thình lình có hai tên xuất hiện như thế, e sợ mình khó lòng thắng chúng chăng?
Bỗng trong rừng có tiếng gọi của Hầu Hạo vang lên: Song Điệp nhị muội!... các em ở đâu!
Nghe tiếng của Hầu Hạo, Liễu Mi nhẹ nhõm hẳn người, nàng thấy Nhị Hung họ Đinh vội vàng lo giấu ngay chị em Song Điệp vào một hang đá gần ngay đó, rồi mới hiện thân ra để gặp Hầu Hạo!
Liễu Mi bèn nhẹ nhàng lẻn ngay vào trong hang, đưa tay khẽ sờ, thì ra Nhị Điệp đã bị điểm Thụy huyệt (huyệt ngủ), nàng vội giải huyệt ngay cho hai người và xoa bóp cho hai nàng một lúc. Chị em Châu Thị tỉnh dậy, cả hai ngạc nhiên ngẩn người, vừa kinh vừa giận, tính lên tiếng quát hỏi, nhưng Liễu Mi mỉm cười ngăn lại và cho hai nàng biết ngay những tình hình mới biến chuyển đây. Chị em Châu Thị mới hay mình vừa gặp nạn, may được Liễu Mi ra tay cứu, nghĩ ngay đến những cử chỉ vô lễ của mình, thế mà nay người ta dùng đức để trả oán với chị em mình như thế, hai nàng càng nghĩ càng thẹn lòng. Nhưng Liễu Mi cố lờ hết, và cho chị em nàng hay là Hầu Hạo đang giao tranh với Nhị Hung tại khu rừng ngoài kia!
Song Điệp nghe nói, rối loạn lòng, tính chạy ra để trợ chiến cho ý trung nhân. Liễu Mi hấp tấp ngăn ngay lại, ba người lắng tai, chợt nghe tiếng ầm đổ của cây to và thần lực Hầu Hạo đã gây hứng thú cho Nhị Hung, và một cuộc đấu sức được Nhị Hung đưa ra với điều kiện mà quí vị độc giả đã biết là dùng chị em Nhị Điệp làm giải tranh tài!
Liễu Mi khuyên Song Điệp hãy ráng chờ kết quả xem sao rồi tính sau. Hai nàng cũng biết lối tỉ thí này không có gì đáng ngại cho lắm, trong lòng cũng tạm vững bụng cho sự an nguy của chàng, ai nấy chăm chú chờ đợi kết quả .
Trận thứ nhất, thoạt đầu, đôi bên đều đồng cân ngang sức, nhiều lúc Hầu Hạo đã tính bỏ cuộc, nhưng chàng nghĩ đến người đẹp họ Châu, bao nhiêu sức dồn mạnh lên đôi cánh tay, cố duy trì tình thế! Nhờ sự cương trì chịu đựng đó, dần dần Hầu Hạo thắng thế.
Đinh Phá quả nhiên chỉ hung hăng lúc đầu, nhưng thời gian kéo dài, bộ tấn của hắn đã không vững, thình lình bị Hầu Hạo kéo bật ngay sang ranh giới đã qui định trước.
Lão Tam Đinh Hủy thấy vậy cũng tỏ ngay công bằng nói rằng:
- Hay lắm! Thằng nhãi thắng bàn đầu? Vậy hãy chuẩn bị tỉ thí trận thứ nhì này với ta!
Giọng nói ngọng nghịu của y khiến cho Hầu Hạo nghe câu được câu mất, nhưng đại khái cũng hiểu là sắp so tài lực đây.
Hai người nắm hai đầu dây, đứng bộ cẩn thận, lần này lão Tứ Đinh Phá đứng ra làm trọng tài. Sau tiếng phát lệnh nhanh như ăn cướp của y, khiến cho mọi người nghe, cũng như kẻ dự cuộc đôi bên, đều giật nảy mình!
Lúc này chỉ nghe những hơi thở phì phào của cả đôi bên...
Nhị Điệp Châu Thị thấy Hầu Hạo đã thắng trận đầu hai chị em đều cảm thấy sinh mạng của mình được bảo đảm một phần nào, lúc này hai nàng vội khấn vái thầm trong bụng, nguyện sao thần linh phù trợ thần lực cho chàng thắng thêm trận này nữa, được như thế, tí nữa cũng khỏi cần phải giao tranh ác liệt với những người ma quái ấy, và nhất là trong cảnh giao tranh binh hùng trận dữ ấy, tránh sao khỏi không có sơ suất về phía địch hay về phía mình?...
Thình lình, Hầu Hạo đã như đuối hẳn sức, tấn đứng hết vững, toàn thân bị Đinh Hủy kéo loạng choạng qua ranh giới! Giọng cười khó nghe của Đinh Hủy đã vang lên.
Châu Thị Song Điệp uất ức trong bụng, ngầm mắng thầm Nhị Hung: Rõ không biết xấu! dùng lối luân phiên để thắng Hầu huynh, như thế đâu có anh hùng gì?
Thình lình nghe tiếng ngọng líu của Đinh Hủy hét lớn rằng:
- Ha hả hắng! (ta đã thắng!)
Chị em Châu Thị thất vọng và căng thẳng tột độ!
Đinh Hủy vẫn giọng trứ danh của mình hỏi:
- Nhãi con! Thế bây giờ ngươi muốn dẫn đứa nào đi đây?
Hầu Hạo đành buồn bã rằng:
- Xin để cô em lại!
Liễu Mi trong hang nghe rõ Hầu Hạo nói vậy, bèn hấp tấp lo cởi ngay quần áo và nói nhanh ngay với Thanh điệp Châu Sách rằng:
- Hãy mau cởi quần áo của cô ra để đổi cho tôi!
Thanh điệp Châu Sách không hiểu gì?
Liễu Mi hấp tấp giải thích:
- Tôi đã quyết tâm để vào ngọn Vô ảnh Phong của Độc Ma, vậy ngoại trừ kế: Thay mận đổi đào này ra, thật không cách gì khác hơn nữa!
Vừa nói nàng vừa cố cưỡng bách cởi ngay quần áo của Thanh điệp Châu Sách và nói tiếp:
- Tôi sẽ đóng vai của cô, còn lệnh muội thế nào tí nữa chúng cũng để lại theo như lời đã hứa, và như thế hai chị em cô có thể đưa ra về chung với Hầu Hạo!
Thanh Điệp và Hồng Điệp đều vô cùng xúc động với lời lẽ của Liễu Mi, Thanh Điệp ấp úng rằng:
Như thế!... như thế đâu có được... chúng tôi đâu an tâm để Liễu cô nương đi mạo hiểm như thế, nếu Hầu huynh biết chuyện này... chàng càng không chịu đâu?
Liễu Mi cười rằng:
- Thôi em ngoan của chị! Em ráng cho Hầu Hạo biết rằng đây là lòng tình nguyện của chị chứ! Và phải căn dặn kỹ với chàng ta là đừng có đoạt chị về trong tay của Nhị Hung, cứ để yên cho chúng đem chị vào Vô ảnh Phong... Nay xét tình hình, trong Vô ảnh Phong có người ra bắt người ngang nhiên như thế, chắc Gia Cát Dật tiền bối đã gặp chuyện bất trắc rồi, vậy nên nói với Hầu Hạo là đừng có ở lại đây làm gì nữa, hãy rời ngay khỏi đây để tránh nguy hiểm!
Ngay lúc này, tiếng chân bên ngoài đã gần hẳn vào hang, Liễu Mi vội đẩy ngay Thanh Điệp vào một nơi tối om rồi nhanh tay kéo ngay Hồng Điệp nằm úp ngay dưới đất như vẻ bất tỉnh.
Hầu Hạo và Nhị Hung họ Đinh bước ngay vào hang, thấy hai nàng bị điểm huyệt nằm bất tỉnh. Hầu Hạo trong lòng nghĩ thầm: Nếu Nhị Hung chịu giữ lời hứa, Thanh Điệp sẽ bị chúng đưa ngay vào Vô ảnh Phong, thật không khác nào dê thả miệng cọp! May thì ít mà rủi thì nhiều. Sở dĩ chàng giữ lại Hồng Điệp, không phải là chàng không yêu Thanh Điệp, chẳng qua là một tác dụng hạ ý thức mà thôi, trong trường hợp nguy nan, chỉ còn lo bảo vệ người yếu nhất trước đã, vì dù sao Hồng Điệp tuổi trẻ, tính tình chưa được chín chắn, Thanh Điệp có vẻ thận trọng hơn. Và trong cảnh quẫn bách này, chỉ còn tạm quyết định miễn cường như thế.
Càng nghĩ, Hầu Hạo càng giận mình sơ ý để bị thua Đinh Hủy, nhưng nghĩ về thực lực của Nhị Hung, mình quả thực không phải là đối thủ của chúng, vậy mình phải làm cách nào để khiến cho Nhị Hung này thất kinh bỏ chạy mà cứu chị em nàng thoát hiểm!
Nhưng chàng nghĩ đủ cách mà vẫn không dám ra tay, chàng đành buông giọng thống thiết thảm thương rằng:
- Sách muội ơi! Không phải anh cố tình nhẫn tâm bỏ rơi em trong tình trạng kịch nguy này đâu! Chỉ tại sức người có hạn, nhưng vì em Chu tuổi còn non dại, anh đành phải cứu trước, vậy trong cơn mộng em có nghe rõ lời anh nói thì nên tự bảo trọng lấy thân... Chờ sau khi anh đưa em Chu về nơi an toàn xong, chừng ấy thế nào anh cũng liều mạng đến cứu em về!...
Từ nàng Thanh Điệp đang nấp trong bóng tối, cho chí Châu Chu và Liễu Mi đang nằm nghiêng ngả dưới đất, ba nàng đều nghe lời than vãn của Hầu Hạo, trong bụng họ hoảng quýnh lên! Chỉ sợ bị lộ chuyện!...
Bỗng Hầu Hạo lại quì phịch ngay xuống đất, lệ anh hùng tuôn rơi như những hạt châu bị đứt chỉ, rỏ từng giọt xuống gò má của Liễu Mi thổn thức rằng:
- Sách muội ơi!... xin em hãy thông cảm cho nỗi lòng đau khổ của ngu huynh đây!...
Trong lòng Liễu Mi cuống rối thêm, nghĩ thầm:
- Chàng trai này đa tình đến thế thì thôi, nhưng sao ngớ ngẩn đến thế không biết? Tại sao không chịu nhìn cho kỹ một chút, thiếu nữ thanh y nằm đây đâu phải là Sách muội của chàng?... Liễu Mi vì phải vờ như hôn mê, mắt nàng đâu có thể mở. Nàng không biết rằng trong động này hơi tối, nhất là tâm tình của Hầu Hạo bị xúc động mạnh trong cảnh bi ai này, và chàng không dám ngó kỹ dung nhan của Thanh điệp Châu Sách để rồi đau lòng thêm...
Nhị Hung đứng mãi sốt ruột, và Đinh Hủy nói với Đinh Phá rằng:
- Này Lão Tứ, coi thằng nhãi này có vẻ luyến thương con nhỏ này, trông tình cảnh nó cũng thương hại thật? Hay là chúng mình giúp luôn bằng cách đem hắn vào luôn Vô ảnh Phong chung sống cho vui vậy?
Hầu Hạo nghe xong, trong lòng không những không ngạc nhiên kinh hãi, trái lại chàng còn cho là chết chung một chỗ cũng là hạnh phúc của mình, chỉ có Liễu Mi rối quýnh trong lòng, thầm rủa anh chàng si tình thế nào cũng làm hỏng chuyện mất!
Nhưng may thay Đinh Phá chuyến này lại tỏ ra đây là kẻ không thất hứa, chỉ nghe hắn nói:
- Này lão Tam, chúng mình đã giao hẹn với hắn rồi, vậy không nên thất ước. Cứ đem quách con bé lớn đi cho ổn chuyện!
Nói xong Đinh Phá bồng luôn Thanh y thiếu nữ, Hầu Hạo vội chạy theo cướp lại, nhưng bị Đinh Hủy vung chưởng đẩy ngã luôn dưới đất! Đến khi chàng loạng choạng đuổi theo ra ngoài cửa hang, trời đã bình minh, trong khu rừng im tịnh như tờ, nào đâu còn thấy hình dạng của Song Hung họ Đinh? Chàng cuống lên tính vọt bước đuổi theo, bỗng phía sau có tiếng gọi:
- Anh Hầu!
Quay đầu nhìn lại, chỉ thấy hai nàng thiếu nữ song song trước mặt mình, người áo trắng và người áo đỏ chuyến này chàng nhìn kỹ, người mặc áo trắng không phải là Liễu Mi mà lại chính là Thanh điệp Châu Sách. Chàng ngẩn người, sao lạ lùng quá vậy?
Chàng không tin mắt mình! Chàng đưa tay véo thử vào đùi nhưng đâu phải cơn ảo mộng đâu, chàng vội cuống quít hỏi:
- Em là Sách muội thật đấy sao?
Thanh Điệp gật đầu, Hồng Điệp đứng bên cạnh trả lời ngay:
- Đúng là chị của em đó!
Hầu Hạo hỏi gấp:
- Thế người bị anh em họ Đinh bắt đem đi ấy là ai?
Thanh Điệp nước mắt chảy dòng dòng, Hầu Hạo càng đâm nghi.
Hầu Hạo giục hỏi thêm:
- Nàng là ai? Nói mau...
Hồng Điệp ấp úng run giọng rằng:
- Chị ấy chính là chị Liễu Mi, vì chị ấy muốn đi cứu anh Thượng Quan Linh, nhưng không thể nào biết đường vào Vô ảnh Phong, nên mới nghĩ ra kế Thay mận đổi đào này...
Hầu Hạo nghe xong càng rối lên rằng:
- Làm thế đâu có được! Trời ơi rõ khổ thật! Bây giờ tôi biết làm sao đây?
Thanh Điệp nức nở khóc rằng:
- Chính ra em và Chu muội cũng không bằng lòng như thế, nhưng chị ấy nói là tình nguyện, trừ phương pháp này ra, không còn cách nào để lọt được vào Vô ảnh Phong, và chị ấy còn nói rằng, nay trong Vô ảnh Phong ngang nhiên có người ra bắt người như thế xem ra Gia Cát Dật tiền bối đã xảy ra chuyện bất trắc rồi, và dặn chúng mình phải rời khỏi ngay đây lập tức! Không thì nguy hết!
Hầu Hạo nghĩ cũng vô phương, nhất là Đinh Hủy và Đinh Phá kinh công nhanh tuyệt đỉnh, mình không thể nào đuổi kịp được, mà dù cho có đuổi kịp cũng không làm sao chống nổi hai tên quỉ dữ đó! Nghĩ liên miên một hồi, chàng cũng cho là lời của Liễu Mi có lý, bèn dẫn ngay hai nàng về lại hang động đêm qua. Khi đến cửa núi Cửu Lãnh, thấy dấu vết mình để lại vẫn còn và hôm nay là ngày thứ hai rồi, nhưng vẫn chưa thấy Gia Cát Dật sư thúc đâu cả, xem ra điềm lành thì ít mà điềm hung thì nhiều cũng nên!
Lại chờ hết một ngày, nhưng vẫn bặt tin của sư thúc, Hầu Hạo bèn bàn tính với chị em Châu Thị: nay ngày hẹn ba ngày đã qua tình hình đã nghiêm trọng, nếu mình liều vào phong chẳng khác nào tự nạp mình vào ngõ chết, chẳng thà đi ngay Mặc Phụ Sơn tìm ngay vị tiền bối Đoạn trường nhân Thôi Bác, nhờ ngài cứu nguy vậy? Chị em Châu Thị tán thành ngay, thế là ba người lo rời ngay khỏi khu núi Cửu Lãnh Sơn, nhẩm ngay hướng Mặc Phụ Sơn tiến phát.
Mặc Phụ Sơn tiếp giới với sông Tương, từ Cửu Lãnh đi cũng không xa lắm, nhưng toàn là đường rừng, gập ghềnh khó đi vô kể, đáng lẽ ba người có thể đi bằng thuyền, nhưng Hầu Hạo chê đường thủy quá chậm, chủ trương đi ngựa. Suốt dọc đường, vì y phục của Nhị Điệp quá bắt mắt, ngươi lại đẹp, khiến cho thiên hạ phải trầm trồ không ngớt, Hầu Hạo cẩn thận hơn, bèn nói với hai nàng nên cải trang thành trai cho thiên hạ bớt để ý hành tung của mình. Chị em Châu Thị đã bị một vố hoảng thần tại núi Cửu Lãnh, và cũng biết trong thiên hạ không thiếu gì cao nhân kỳ sĩ, hai nàng lúc này không khác nào Kinh cung chi điểu (chim khôn thấy cung là hoảng sợ ngay) hai nàng thu ngay những tính kiêu căng bất phục xưa kia, phần hai nàng đã phải lòng chàng Hầu Hạo, nên nhất nhất đều nghe lời ý trung nhân của mình, lập tức cải dạng thành nam nhi. Trông cũng đường đường đấng anh hào lắm, nhưng tội cái quá đẹp trai, nếu không lên tiếng nói gì, may ra cũng che nổi mắt thiên hạ phần nào?
Một hôm ba người tới giáp giới địa phận sông Tương, núi non trùng trùng điệp điệp, đường mỗi lúc một dốc thêm, dần dần đến ngựa cũng khó đi, ba người đành xuống dắt ngựa theo. Tuy cuộc hành trình này đã khiến ba người ướt sũng mồ hôi, nhưng không hề có tiếng than mỏi mệt; Hầu Hạo bỗng nói với hai nàng rằng:
- Này hai em! Chúng ta hãy tạm nghỉ một chút, và thử xem tiếng dội ở đây ra sao?
Hai nàng tươi cười bằng lòng ngay, Hồng điệp Châu Chu bên cất tiếng thử trước ngay gọi lớn:
- H...ầu...u... H... u... y... n... h... là... Lãn... Hiệp... Hầu Hạo...
Thế là những tiếng dư âm thi nhau vang lại nghe rõ ràng và hấp dẫn lạ! Ba người nhìn nhau cười thích trí! Thình lình sơn cốc bên kia dội lại một âm thanh kỳ lạ :
- Trí Minh Tăng!... Trí Minh Tăng!...
Chị em Châu Thị lấy làm lạ, quay đầu nhìn, chỉ thấy sắc mặt Hầu Hạo bỗng tái hẳn?
Hồng điệp Châu Chu nhanh miệng hỏi ngay:
- Kìa anh! Tiếng gì lạ lùng vậy?
Hầu Hạo không trả lời, hấp tấp giục rằng:
- Đi nhanh lên! Đi nhanh lên!...
Hai nàng thấy sắc mặt của chàng tái vậy, kinh ngạc không dám hỏi thêm, vội vàng nghe lời đi nhanh.
Thanh Điệp còn nhớ chàng đã kể chuyện về vụ Cửu Thiên Tự với mình về cái tên Trí Minh, và chính do chủ trì Hải Không đại sư đã đặt cho pháp danh này, nhưng Hầu Hạo nói, không hiểu tại sao Cửu Thiên Tự lại bắt chàng và ép thí phát như thế, nhưng thế nào cũng có nguyên do bên trong, sau nhờ tóc mọc, thần lực mới khôi phục lại, nhưng vì hấp tấp ra đi về việc của sư đệ Thượng Quan Linh, nên chưa kịp tìm hiểu lý do trong này.
Thanh Điệp cũng thuộc loại người giàu kinh nghiệm, nghe âm thanh ấy có sức trầm hùng lạ lùng, biết ngay nội công khí lực người này đã đến mức độ tuyệt đỉnh, hèn gì Hầu Hạo nghe xong biết mình không thể nào địch nổi, biến sắc và giục mọi người đi nhanh! Nhưng riêng Hồng Điệp thì chỉ chực ra tay thử một chuyến xem sao, luôn miệng gọi bô bô, Thanh Điệp phải ra ý cho em mình chớ quấy rộn trong lúc nguy cấp này.
Ba người đi nhanh thoăn thoắt,... trong sơn cốc, tiếng quái dị lại nổi lên:
- Trí Minh ơi! Trí Minh!... Hãy về đây! Về đây mau Trí Minh...
Tiếng gọi không khác nào như đang hú hồn ma, nghe rợn tóc gáy. Ba người cảm thấy bàng hoàng trong lòng. Hồng Điệp đã sợ tái mặt, biết ngay sự thể đã nghiêm trọng. Thấy sắc mặt chị và Hầu Hạo đã tái mét, tỏ vẻ bối rối, nàng càng không biết nên tính sao cho phải? Nhưng ba người vẫn rảo nhanh bước. Hầu Hạo vừa đi vừa nghĩ. bỗng chàng trầm giọng nói với Châu Sách rằng:
- Này em, nếu tí nữa có kẻ nào đuổi kịp đến ép anh phải đấu với chúng, em và em Chu hãy chịu khó trốn ngay, nếu thấy anh không thắng được, chớ có dại dột mà ra tay, nhớ nghe tiếng ho khan của anh làm hiệu, và hai em phải cấp tốc rời khỏi đây ngay!...
Chị em nghe vậy cuống rối lên , Châu Sách rằng:
- Không thể làm thế được... anh! Chúng em đâu nỡ để anh bị nạn thế!
Hầu Hạo cương quyết rằng:
- Hải Không và Pháp Không, hai tăng này trong Cửu Thiên Tự, võ công không đáng ngại, nhưng kỳ này tiếng của người đang theo dõi chúng ta đây, công lực không thể nào khinh thường được, e hôm nay anh khó mà thoát nổi. Nhưng theo anh nghĩ: Cửu Thiên Tự muốn bắt anh như vậy, thế nào cũng có nguyên nhân gì? Kỳ trước không bị chết, kỳ này chắc cũng không đến nỗi gì? Tuy hai em có lòng muốn giúp anh, nhưng xem ra chúng mình đều bị bắt hết, chẳng thà hai em hãy tùy cơ ứng biến mà trốn thoát càng nhanh càng hay, và đây cách Mặc Phụ Sơn không xa, hai em có thể tìm ngay Độc chỉ Thôi Bác tiền bối, bẩm lại tất cả những sự việc đã xảy ra với ngài, và xin ngài ra tay cứu trợ gấp!
Nói xong từ trong mình lấy ra một bức họa đồ, và bức họa này là bức chân dung của Độc chỉ Thôi Bác, giao cho hai chị em Châu Thị. Ba người vẫn hấp tấp đi thêm một quãng, Hầu Hạo đã mấy lần hối thúc hai chị em đi trước cho được việc, nhưng hai nàng nhất định không chịu, vẫn lẽo đẽo theo sát chàng, chỉ mong sao mau ra khỏi đoạn đường kinh hiểm này!
Khi đến đoạn đường chập hẹp, bỗng nghe trên đầu có tiếng quái lạ. Lúc này ba người đứng ngay ở một đoạn đường: bên mặt thì hang sâu thăm thẳm, bên trái vách đá cheo leo, khi ngửng đầu nhìn lên, ba người đều bay hồn thất phách! Chỉ thấy những tảng đá hòn nào hòn nấy lớn bằng bánh xe bò, đang ào ào từ trên rớt xuống!
Hầu Hạo hấp tấp lên tiếng:
- Mau mau nhảy tránh ngay!
Dứt tiếng cả ba vội bỏ ngay ngựa lại, tung mình vọt nhanh như ba mũi tên lại phía trước hơn trượng!
Chân ba người vừa chạm mặt đất, những tiếng ầm ầm đằng sau vang dội lên, ba ngựa bị chết nát bấy thịt, và năm sáu tảng đá ấy đã thi nhau lăn hết xuống hố sâu bên tay phải. Ba người vừa tỉnh thần lại, trên vách núi lại đột nhiên có tiếng cười quái gở nổi lên.
Đồng thời, sơn cốc trước mặt có tiếng hô gọi, càng lúc càng văng vẳng gần. Ba người càng tăng thêm lòng kinh hãi của mình, càng giận những quân địch này sao mà đáng ghét thế, cứ chơi trò mai phục để gây sự khủng hoảng trong tinh thần họ, quả là một mánh lới tàn nhẫn tuyệt độ!
Hầu Hạo chịu không nổi, lớn tiếng quát:
- Có giỏi xin cứ hiện thân ra đấu tài cao thấp với nhau, nấp trong hang hốc như thế đâu phải tác phong của kẻ anh hùng?
Trên vách bỗng có hồi âm:
- Trí Minh! Chúng ta sẽ đợi ngươi tại khoảng trống rỗng phía trước đằng kia!
Dứt lời, tiếng cười ha hả vang lên. Lòng dạ ba người lúc này càng hồi hộp hoang mang. Lại đi thêm được một quãng, phía trước bỗng thấy quang đãng, ra đến cửa cốc, thấy cả một khu đất trống khá rộng, và trong giữa khoảng trống này, số người đứng chờ để giao tranh có trên mười người, và ai nấy đều có ngựa dắt theo cạnh. Đám người đều ăn mặc theo lối tăng lữ, đầu đội tăng mão Côn Lư, trong số ấy có một người mặc áo màu đỏ, trông càng bắt mắt. Hầu Hạo nhanh mắt, chàng đã nhận ra đám tăng lữ này thuộc cổ tự của Cửu Thiên, Hải Không và Pháp Không đều có mặt trong này, và trông bộ tịch có vẻ cung kính với nhà sư mặc áo cà sa đỏ lắm, có lẽ người mặc áo đỏ là tay cao thủ dị dân mà Cửu Thiên Tự đã thỉnh mời đến?
Lúc này đường đi đã bị chắn ngang lối, Hầu Hạo thầm nghĩ: đám tăng lừ đã đuổi theo mình đến đây, chắc họ thế nào chả chuẩn bị cẩn thận từ trước, nếu bây giờ mình muốn thoát nạn, đâu phải là chuyện dễ dàng gì? Xem ra một cuộc kịch chiến khó mà tránh khỏi! Chàng quay thân ngó về sau, thấy Châu Thị đang tỏ vẻ vô cùng lo lắng cho mình. Hầu Hạo bèn căn dặn hai nàng chớ nên tiến thêm làm gì, nếu chàng có bị bắt, chớ có hiện thân ra mà cứu làm gì, phải cấp tốc lo đến Mặc Phụ Sơn cầu cứu ngay với vị tiền bối Đoạn trường nhân Độc chỉ Thôi Bác, nghĩa là phải lo cứu gấp Thượng Quan Linh, Liễu Mi, Gia Cát Dật trên Vô ảnh Phong, còn phần mình, hãy thong thả cũng chẳng sao, vì tin chắc rằng họ chưa đến nỗi giết mình mau chóng trong thời gian này!
Thình lình mọi tăng lữ đồng thanh hét lên một tiếng, ngồi xếp chân bàn tròn dưới đất, với giọng đều răm rắp hô Phật hiệu, âm thanh hùng vỉ vang cả một vùng!
 
0
Hồi 044. Dưới Bóng Vô ảnh Phong
[/align]  
Hầu Hạo bèn chỉnh tề lại áo sống, ung dung bước ra, nhưng khi quay đầu nhìn lại, thấy Châu Thị Nhị Điệp nước mắt dòng dòng, sắc mặt vô cùng thất vọng. Chàng cảm thấy mủi lòng, đúng là anh hùng khó dứt giai nhân lệ! Không biết chuyến ra đi này mình có thể thắng nổi không, nhưng kẻ địch họ đã có chuẩn bị từ trước, xem ra thực lực của họ không phải là nhỏ gì, nếu chẳng may trong chuyến này lại bị họ bắt về, không biết đến bao giờ mình mới được gặp lại hai nàng này, chàng băn khoăn khó dứt! Chị em Châu Thị lại càng đau khổ hơn, cả hai giơ tay ra tính kéo ngay vị tráng sĩ hào hùng này lại...
Thình lình bên ngoài có tiếng quát và đồng thời những tiếng như tụng kinh rằng:
- Khổ hải vô biên, hồi đầu thị ngạn, sắc tức thị không, không tức thị sắc... phiền não tình nghiệt... Trí Minh tăng còn chờ gì mà không quay đầu về với cõi chân tu cho rồi ? . . .
Hai nàng vẫn khóc sướt mướt, Hầu Hạo cũng nghẹn giọng rằng:
- Thôi hai em thận trọng lấy thân?
Nói xong hiên ngang trước thẳng một mạch ra ngoài luôn.
Chàng bước ra, Hải Không và Pháp Không đại sư bèn truyền ngay hiệu lệnh, các tăng lữ rầm rầm đứng ngay dậy, thiền trượng giới đao nổi lên những tiếng rổn rảng!
Khi Hầu Hạo còn cách họ hai trượng, bèn nghiễm nhiên đứng lại, thần sắc oai nghiêm lẫm liệt, chỉ nghe chàng quát rằng:
- Hải Không và Pháp Không! Các ngài muốn gì đây?
Hải Không chắp tay hỏi rằng:
- Nhà ngươi thí phát tại Cửu Thiên Tự, vậy ta tức là bậc sư tôn của ngươi, nay sao dám ngang nhiên gọi danh ta ra như thế! Có biết như vậy là tội bất kính đó không!
Hầu Hạo giận rằng:
- Chớ có nói xàm! Đường đường đấng anh hùng như Hầu Hạo ta đây có lẽ nào đi làm đồ đệ cho những kẻ sói đầu như ngươi. Chẳng qua là bọn ngươi dùng quỉ kế, không chịu giữ phép thanh qui của cửa Phật, thật là tội ác khó dung tha!
Hải Không tức muốn bốc khói trong người, cứng luôn lưỡi không biết nói sao. Pháp Không thấy thế bên lên tiếng rằng:
- Ấy Trí Minh! Nhà ngươi nói thế đâu có đúng, cửa thiền chúng ta xưa nay vẫn có tiếng là giới luật nghiêm minh, nay ngươi đã bội phản Pháp môn, lại còn ngang nhiên dám mắng tôn trưởng, những hành vi khi sư, diệt tổ như thế, dù cho ngã Phật từ bi hỉ xả, nhưng giới luật trong qui điều không nào tha thứ cho ngươi được, có mau quì ngay xuống không! Và mau tạ tội với chủ trì là sư huynh ta ngay, để lão nạp còn lo đưa ngươi về Cửu Thiên Tự, tiếp tục cuộc diện bích khổ tu, nội trong ba năm, bảo đảm ngươi thế nào cũng có thành quả, chừng ấy ngươi sẽ không còn luyến tiếc cảnh phàm trần nữa...
Pháp Không còn chưa nói hết lời, Hầu Hạo đã lớn tiếng quát ngay:
- Im ngay!
Mắt chàng sáng lên, oai phong lẫm liệt nói tiếp:
- Này Hải Không và Pháp Không! Cớ sao hai ngươi lại cứ cố ép ta làm sư sãi như thế là nghĩa gì?
Pháp Không đại sư rằng:
- Kìa Trí Minh sư điệt! Cháu lại nói sai rồi, nào chúng ta đâu có ép cháu? Chẳng qua thấy cháu được trời phú duyên tu, nên mới có ý độ hóa hộ cháu, mong cháu chóng chứng đại quả của Phật pháp... ấy thế mà cháu lại thốt những lời ác ý trách nhầm lão nạp này?...
Hầu Hạo ha hả cười lớn tiếng rằng:
- Hừ! Hảo ý của lũ ngươi? Chớ có dùng lời khôn khéo như thế để lừa nổi ta, nay Hầu Hạo ta chưa rõ thân thế bản thân, thân thù chưa báo, tuân theo lời dạy dỗ của sư môn, nghe theo lời khuyên bảo của bằng hữu, phải bước chân vào giang hồ, điều tra cho rõ lai lịch thân thế của mình, trả xong các thù oán. Xong xuôi những chuyện ấy ta phải bận chuyện hành hiệp tế thế, cốt gây nên một sự nghiệp oanh liệt cho hậu thế! Như thế ta đâu có thể bỏ lơ trách nhiệm của mình để thí phát thành nhà tu hành cho được! Thôi! Xin các ngươi đừng có phí sức vô ích!
Xích Diệm đại sư bước ra, chẳng thèm nói tiếng nào đã xuất chưởng đánh ngay. Đặc biệt lão chỉ công không thủ, không hề tránh đòn đối thủ. Hầu Hạo thấy vậy đâm nghi, chàng chợt nghĩ: Không lý người này lại luyện được môn võ ngoại công gì có thể tự khóa huyết mạch theo ý muốn sao? Nhưng chàng lại nghĩ đến sức mạnh ngàn cân của mình, mạnh có thể khai sơn phá thạch, dù cho đối thủ ngoại công cừ giỏi đi nữa, cũng khó lòng chịu đựng nổi ngọn đòn chí mạng này của mình? Ngọn chỉ nhanh như chớp xỉa thẳng ngay tới, thình lình chỉ nghe một tiếng bục nhẹ nhàng, chiếc áo cà sa đỏ rực của Xích Diệm bị thủng rách hẳn, đồng thời thớ thịt trên người của đại sư cũng bị lõm hẳn xuống, nhưng quái lạ!
Ngọn thần lực trong lối chỉ pháp này của Hầu Hạo đã như đổ bùn xuống bể, biến tan vô tích! Hầu Hạo cả kinh, chàng còn chưa kịp nhảy nhanh về sau để tránh, ngọn kiếm của Xích Diệm đại sư đã kề sát ngay đỉnh đầu, chàng chỉ cảm thấy một luồng hơi lạnh thoáng nhanh trên đầu, cả một mớ tóc dài bị rụng ráo hết, Hầu Hạo cảm thấy luôn tứ chi mình bị bủn rủn hẳn, thế là bịch một tiếng, hai gối của chàng quì xụp ngay tại trận.
Hồng Điệp rú lên một tiếng thất thanh, tính tung người vọt ra cứu chàng, nhưng một bàn tay mềm mại đã kịp níu ngay lại, đồng thời có tiếng của Châu Sách tăng:
- Em, chớ nên nóng nảy như thế!
Thế là hai chị em đành chứng kiến cảnh đau lòng là nhìn theo đám tăng lữ bắt trói Hầu Hạo mang đi!
Nhà sư áo đỏ đi trước, các tăng lo tuyên Phật hiệu, Hầu Hạo được vắt ngang trên lưng ngựa, thân chàng lúc này mềm mại như sợi bún. Hình như sức thần lực của chàng đã mất hẳn! Đám tăng lữ dần dần biến hẳn trong cảnh rừng trùng trùng điệp điệp. Hồng Điệp ôm choàng ngay vào lòng chị khóc nức nở... Châu Sách vốn vai bậc chị, tuy nàng cũng đau khổ không kém gì em, nhưng nàng muốn tỏ ra mình là chị, đã thế đâu có thể khóc sướt mướt như em được? Nàng đành cố bình tĩnh với tất cả nỗi lòng khổ sở của mình để an ủi em mình rằng:
- Thôi em! Nín đi... chúng mình phải đi mau và làm theo đúng lời của anh ấy dặn: đi tìm gặp gấp vị Độc chỉ Thôi Bác lão tiền bối ngay?
Hồng Điệp chùi ngay nước mắt, ngơ ngác nhìn, nhưng đám tăng lữ đã biến tung tích từ lâu. Chị em hai người sải bước đến nơi giao đấu vừa rồi của Hầu Hạo, cả mớ tóc dài của Hầu Hạo vẫn còn ngổn ngang dưới đất.
Thanh Điệp cúi nhìn xuống nhặt hết mớ tóc của chàng. Vì nàng thừa hiểu rằng chính những ngọn tóc này là căn nguyên thần lực của Hầu Hạo, nhưng vị tăng áo đỏ tai ác đã cắt hết nguồn sức thần lực của chàng, nên mới khiến cho Hầu Hạo bị bắt một cách dễ dàng như thế. Và gần xung quanh nơi Thanh Điệp lượm nhặt tóc vụn của Hầu Hạo, nàng đã phát hiện ba chữ gạch dưới đất là Cửu Thiên Tự, nhưng nét chữ chưa xong hẳn, và trông còn yếu ớt vô cùng, hiển nhiên Hầu Hạo đã viết trong lúc bị gục xuống vì mất thần lực, chắc chàng cố ý muốn cho chị em hay nơi mình bị giữ, nhưng vì thần lực bị mất, chân tay bủn rủn, chàng không thể nào đề thêm chữ gì tiếp sau ba chữ Cửu Thiên Tự. Thấy cảnh vậy tâm tình của chị em Châu Thị càng xúc động đau khổ thêm.
Chợt Thanh Điệp sực nhớ đến những trọng trách còn chờ mình đi lo, nàng cố khuyên em tỉnh trí và tìm ngay lối đi thẳng về Mặc Phụ Sơn lo cầu cứu.
Cuộc hành trình được khởi hành suốt ngày đêm, chỉ nội trưa ngày hôm sau, hai chị em đã vào đến khu núi Mặc Phụ. Nhưng sau khi vào địa phận của Mặc Phụ Sơn, chỉ thấy núi non liên miên, không một bóng người qua lại, Thanh Điệp bèn lấy ngay bức họa đồ của Hầu Hạo ra xem, nhưng trên không hề có một chữ nào, lại càng không biết vị kỳ nhân cái thế này ẩn cư tại ngọn phong nào đây? Thanh Điệp không có biện pháp gì hơn, nàng đành nghĩ ra một cách tìm đần độn là: hai chị em cứ việc từ ngọn phong bên phải sang bên trái mà đi. Mãi khi trời đổ hoàng hôn, hai người mới đi được có bốn ngọn phong, chỉ toàn rừng già um tùm, ngoài thú dữ ra tuyệt nhiên không một bóng người qua lại!
Hồng Điệp đã cảm thấy mệt lả người, nàng bèn thốt tiếng với chị rằng:
- Chị ơi! Em vừa đói vừa khát, chân lại càng mỏi!...
Thanh Điệp đang tính bắt đầu cuộc leo ngọn phong thứ năm, nay nghe em lên tiếng nói vậy, nàng bất giác thở dài, đôi mắt thương cảm nhìn em, chỉ thấy Hồng Điệp mặt mũi bơ phờ, hơi thở dồn, chân uể oải bước theo sau.
Thanh Điệp thấy thương em quá, bèn ngừng ngay lại rằng:
- Em mệt lắm hả? Vậy chúng mình hãy nghỉ lại đây một chút!
Hai chị em bèn tìm ngay đến một khe suối, uống đã khát xong, Thanh Điệp tính vào rừng săn đỡ thú rừng nhỏ để giải quyết vấn đề đói bụng. Vì từ khi ngựa bị những tảng đá lớn đè trong hang núi, lương khô và nước uống đều bị mất sạch, suốt cuộc hành trình chỉ uống nước suối và ăn quả rừng, quả thật đã xót dạ chịu không nổi. Thanh Điệp biết sức mình lúc này đã yếu nhiều, không thể nào đương đầu với những loại thú dữ, miễn sao có được thỏ hay chồn cũng được lắm rồi. Tay cầm đá để làm ám khí, và rón rén bước vào rừng, hai chị em loanh quanh một hồi, chợt có tiếng soạt vang lên, một con nai hoa mai chạy vọt ngay ra.
Châu Sách mừng quýnh lên vung tay đánh ngay những ám khí bằng đá ra! Bịch! Bịch! Bịch!... bụng con nai bị trúng ám khí bằng đá của Thanh Điệp, nó kêu lên một tiếng nằm lăn trên mặt đất bất động luôn.
Nàng vội vàng bước lại, đang phân vân vì con nai này hơi lớn, làm sao ăn hết, hay chặt bốn chiếc đùi? Mà bốn chiếc đùi này cũng ăn đủ rồi, nghĩ xong rút ngay kiếm ra, tính chặt đùi nai. Bỗng trước mắt tối sầm ngay lại, không biết con quái vật gì từ trên bổ ngay xuống, “choeng” một tiếng đụng mạnh vào cây kiếm, kình lực mạnh vô cùng, khiến cây kiếm của Thanh Điệp bị văng luôn khỏi tay. Vốn là con nhà võ, hễ có động là phải biến, trong lúc lâm nguy, chỉ thấy nàng nhảy vọt nhanh ra phía sau. Khi định thần lại, nàng thấy rõ là một con chim ưng lớn tướng, trông vẻ thần dũng vô ngần, và thấy chim ưng ung dung đậu ngay trên xác con nai, trông hình tượng của chim ưng trong lúc này không khác gì một cái gò đất đồ sộ, đôi mắt nó long lanh sáng quắc, cổ hơi nghiêng về phía Thanh Điệp!
Thanh Điệp bực tức trong lòng: loài biển mao (lông đẹp) súc sinh mà cũng dám ngang nhiên đến bắt nạt ta, xem tướng mạo nó, rõ ràng là muốn tranh mồi với mình đây. Nai chính do tay mình hạ, thế mà con biển mao súc sinh này lại muốn đến ăn không, đáng giận thật! Thanh Điệp vội nhặt ngay cây kiếm dưới đất lên tính ra tay giết luôn con chim ưng lớn này cho hả giận, nhưng thình lình nàng lại khớp người, vì xưa nay nàng chưa hề thấy loại chim ưng to lớn như thế này, vừa rồi kiếm mình bị văng chắc chắn chính là do con chim này mổ? Như thế đủ biết sức mạnh nó không thể lường nổi, mình không thể khinh thường nó! Chim ưng vẫn nhìn chăm chăm sang phía nàng, Châu Sách bực mình mắng ngay chim ưng rằng:
- Biển mao súc sinh kia, sao ngang ngược như thế, nai do ta đánh ngã, tại sao mi lại ngang nhiên muốn chia phần như vậy?
Chim ưng sẽ nghiêng như nghe Thanh Điệp quát mắng, nó hình như cũng biết nghe tiếng người, chỉ thấy nó lắc đầu lia lịa, và kêu lên mấy tiếng “goa, goa” như để trả lời là con nai này phải thuộc quyền sở hữu của nó mới đúng?
Thanh Điệp lại tính lên tiếng mắng chim ưng, bỗng nàng chợt nghĩ, trong lúc con nai chạy ra đây, hình như đã bị thương từ trước thì phải, nếu không, mình làm sao dễ dầu đánh trúng hắn như thế, không chừng con chim ưng này nó có phần cũng nên!
Nghĩ vậy nàng bèn lẩm bẩm rằng:
- Chắc là con chim này đã mổ trước vào mình con nai nên con nai mới bị thương chạy ra?...
Câu nói tuy không lớn, nhưng chim ưng rất thính tai, nó đã nghe rõ, và còn gật đầu tỏ ý của mình, và lại “goa goa” kêu lên mấy tiếng, trong tiếng kêu này nó tỏ ra vô cùng vui mừng, hình như nó tán thành câu nói của Thanh Điệp lắm.
Thanh Điệp càng bực tức rằng:
- Tuy là mi có công mổ trước con nai, nhưng nếu ta không đánh ngã nó, chắc gì mi có thịt ăn, vậy công của ta lớn, ta đòi bốn chiếc đùi, phần còn lại thuộc mi đem đi!
Chim ưng lắc đầu lia lịa!
Châu Sách giận rằng:
- Sao, bộ mi muốn đòi đùi nai hả? Và ta lấy những phần kia?
Chim ưng gật đầu!
Thanh Điệp vừa tức giận vừa buồn cười, không biết con quái vật này ở đâu mà lại biết nghe tiếng người như thế! Nàng vung luôn kiếm quát:
- Hãy cút mau ra? Nếu còn lôi thôi coi chừng ta chặt bay đầu và ăn luôn thịt mi cho biết tay!
Nhưng con chim ưng hình như không chịu phục, hắn “goa” một tiếng lớn, vọt bay ngay lại phía Châu Sách, Châu Sách vội tung kiếm lên nghênh chiến với chim, nhưng không biết chim ưng đã đánh bằng lối nào, chớp mắt, hắn đã mổ trúng ngay cây kiếm, và tiếp theo là choeng một tiếng vang lên, kiếm của Thanh Điệp lại bị rớt xuống đất. Chim ưng sau khi thắng thế, hắn lại tung mình bay đậu trên thân nai, đứng ung dung nhìn ngó Thanh Điệp...
Xa xa tiếng gọi của Hồng Điệp vang lên:
Chị ơi!... chị ở đâu?...
Châu Sách không chịu cam tâm, lên tiếng ngay rằng:
- Em Chu ơi! Chị ở đây! Em mau lại đây! Mau mau...
Chim ưng cũng ngước cổ lên những tiếng “goa, goa” kỳ lạ của nó, hình như nó cũng đang kêu gọi tiếp cứu vậy.
Ngay trong lúc Châu Chu xách kiếm chạy tới, bên ngoài rừng, ào một tiếng, lại một con chim ưng to lớn bay tới đậu ngay cạnh con chim kia, nhưng so ra con này nhỏ hơn con trước, nhưng cũng thần dũng oai hùng lắm. Hồng Điệp thấy đôi ưng to lớn, không những nàng không ngán không sợ, mà trái lại còn cảm thấy hứng thú vô cùng. Nàng cười nói với chị rằng:
- Chị đang giành ăn với đôi chim ưng lớn này sao?
Châu Sách nói với em mình:
- Chính thế? Con nai kia do chị đánh ngã! Thế mà con chim ưng này lại muốn chia thịt ngang xương như thế, chúng hỗn hết chỗ nói!
Nghe chị nói vậy, Châu Chu càng phấn khởi vui mừng reo lên rằng:
- Ồ ! Thế thì tuyệt quá ! Xưa nay em chưa từng đánh nhau với chim ưng bao giờ, thôi, chị em chúng mình ra tay thử xem sao!
Nói dứt lời, Hồng Điệp lập tức cầm kiếm xỉa ngay vào con nhỏ vừa bay tới, nhưng con chim nhỏ xòe ngay cánh hất ngay cây kiếm của Hồng Điệp ra. Châu Chu thất kinh rằng:
- Chị ơi! Chim này sao sức mạnh dữ hơn sức trâu kìa?
Châu Sách rằng:
- Phải cẩn thận, vậy chị em chúng ta cùng tiến!
Thế là một cuộc hỗn chiến giữa hai người và chim diễn ra, dù cho chị em Châu Thị tung hoành đến đâu cũng không làm sao chạm đến một sợi lông nào của con chim ưng nhỏ nọ, chim ưng không những tinh khôn mà còn có phần thông hiểu võ nghệ là khác.
Trong lúc con nhỏ đang quây quần với hai chị em họ Châu thì con chim lớn đứng ung dung mổ bớt từng miếng thịt nai ăn ngon lành.
Dần dần trời đã tối hẳn, thế rồi con chim ưng lớn ăn no xong bay vọt ra để giao chiến với hai nàng, để cho con chim nhỏ kia vào ăn thịt.
Châu Chu thấy vậy rằng:
- Trời, chim kia khôn thế, chúng biết thay phiên nhau để ăn uống, còn cánh mình thì đói muốn chết được!
Thanh Điệp càng lúc càng cảm thấy tình trạng nghiêm trọng. Nàng nhận ngay ra đôi chim này không những to lớn, mà sức mạnh cũng ghê gớm, chúng biết cả phương pháp giao tranh với địch thủ, xem ra hình như chúng đã được chủ nhân huấn luyện kỹ lưỡng, đương nhiên công lực của đôi chim này có vẻ hơn chị em mình nhiều, nhưng hình như chúng còn chưa muốn hạ độc trảo (móng vuốt) với tụi mình. Nếu đôi chim này quả thật có người nuôi dạy tử tế, thì chủ nhân của nó chắc chắn phải là bậc cái thế kỳ nhân lắm, và không biết chủ nhân của đôi chim này tại đây là nhân vật nào đây? Nhưng khi nhìn kỹ, thấy bốn chiếc đùi nai vẫn còn nguyên vẹn, hình như chúng muốn dành lại cho chủ nhân của chúng vậy. Quả nhiên Thanh Điệp đoán trúng.
Thình lình, từ xa truyền lại một tiếng hú dài như long ngân, đôi chim ưng lớn lập tức ngừng ngay cuộc tấn công, chỉ thấy hai chim một bay lên một nhào xuống, trong hai lần như vậy, rồi bỗng nhiên chúng phát động thế công nhanh như chớp, bay chụp lại phía hai nàng, Châu Thị Nhị Điệp không kịp phòng hờ, cả hai đều bị chim ưng dùng mỏ ngoạm trúng ngay lưng áo, xách bổng hẳn lên không. Cũng chẳng biết là bao lâu nữa, chị em Châu Thị không dám mở mắt ngó xuống, chỉ nghe gió vù vù bên tai, hình như càng lúc càng cao và càng nhanh. Từ từ, cảm thấy tốc độ bay của chim ưng như chậm lại, thấy chim ưng đang hạ là là xuống một ngọn núi, dưới ánh trăng sao lu mờ, hai nàng chỉ cảm thấy gió núi lành lạnh, sức buốt càng lúc càng tăng, cả hai chị em Châu Thị đều bị lạnh co rúm người lại.
Mũi phảng phất ngửi thấy một mùi thơm của hoa lạ. Cả hai không biết đây là đâu mà sao khí hậu lại lạ lùng đến thế, vừa lạnh vừa thơm? Nhưng cả hai chị em lúc này chỉ cảm thấy lạnh và đói, sau khi chim ưng buông hai người xuống đất, chúng ngửng cổ kêu lên những tiếng “goa, goa” kỳ lạ. Thanh Điệp lo ôm chặt Hồng Điệp, nhưng cả hai chị em vẫn run lên cầm cập. Thình lình, trong cảnh đêm tối, có một tiếng động nhẹ nhàng truyền đến. Đó là một tiếng thanh thở của người ta, chị em hai người lúc này bỗng nổi hẳn một hy vọng, ngửng đầu nhìn quanh, nhưng thấy toàn cảnh hoa lá rung rinh vì gió thổi, nào thấy bóng người đâu!
Hồng Điệp cảm thấy giọng nói với chị:
- Chị ơi ! Em lạnh quá ! Không chịu nổi rồi ! . . .
Thanh Điệp tuy cũng lạnh không kém gì em, nhưng nàng vẫn cố ôm chặt em trong cơn tuyệt vọng này và an ủi rằng:
- Em ráng lên em! Chịu khó cố gắng!...
Ngay lúc đó, hai chim ưng như nhận được lệnh của chủ nhân chúng, chúng ì ạch bước lại dùng mỏ ngậm ngay vào áo của Châu Thị lôi đi như để gặp chủ nhân của chúng vậy. Hai nàng tuy giận hai con chim tai quái này, không muốn bước theo chúng, nhưng ác nỗi sức chúng mạnh quá chừng, phần sợ chúng làm rách áo nữa. Không cách gì hơn, Thanh Điệp bèn nói với Hồng Điệp rằng:
- Thôi em, đừng nên chống cự với hai con chim tai quái này, cứ thử theo chúng dẫn mình đi tới đâu cho biết!
Thế là hai nàng đành mặc cho đôi chim ưng kéo đi, chẳng mấy chốc, hai nàng cảm thấy như vào một gian nhà, gió lạnh bớt hẳn. Hồng Điệp vui mừng rằng:
- Này chị, hình như chúng mình đang đi vào một gian nhà đây thì phải! Xem ra hai con chim tai ác này chúng cũng biết dẫn đường đấy nhé!
Trong cảnh tối om, hình như cũng thấy trong gian nhà này có đầy đủ các tiện nghi, Hồng Điệp mệt mỏi quá, nàng thấy có giường chẳng cần suy nghĩ gì, trèo phắt ngay lên nằm nghỉ, nhưng vừa chực buông mình nằm xuống, bỗng nàng lại “Ai da!” một tiếng nhảy vụt ngay xuống giường. Thanh Điệp vội hỏi chuyện gì?
Nhưng chỉ thấy Hồng Điệp hai hàm răng cắn cồm cộp vào nhau vì lạnh, chỉ nghe nàng ấp úng rằng:
- Trời ơi... cái giường gì mà lạ kỳ quá!...
Thanh Điệp đưa tay sờ vào giường, hình như chiếc giường nầy chế bằng đá thì phải! Vì không những vừa lạnh buốt và lại còn cứng là khác.
Trong lúc này hai con chim ưng vẫn còn loanh quanh trong nhà, một con đến sát cạnh nàng Thanh Điệp, Châu Chu thấy vậy vốn đã bực mình vì chim, nàng bèn vung chưởng ra đánh đến ào một tiếng, chim ưng kêu lên một tiếng, giương ngay cánh đồ sộ của mình quắp ngay Châu Chu vào trong nách cánh. Thanh Điệp sợ em mình bị nạn bất trắc, vội chạy quàng sang xem sao, nhưng đã không thấy Châu Chu đâu, bèn gọi quýnh lên:
- Em ơi! Em ở đâu?...
Tiếng trả lời của Châu Chu từ trong cánh chim ưng truyền ra rằng:
- Em trong này. Chị ơi, trong cánh con chim này quả nhiên ấm áp thật, thú quá! Em muốn ngủ luôn trong này một giấc, em mệt quá rồi, chị có chui vào đây với em không?
Thanh Điệp nghe em nói vậy, vừa giận vừa tức cười nhưng rồi nàng cũng chui luôn vào nách chim ưng quả nhiên hơi nó ấm áp vô cùng! Lúc này chim ưng cũng khụy chân ngồi bẹp xuống, thế là hai chị em đành tìm tạm một giấc ngủ dưới nách của chim ưng ấm áp.
Một cơn gió lạnh đánh thức giấc ngủ cho hai chị em, hai nàng banh mắt ra đã là sáng ngày hôm sau, con chim ưng lớn không biết đã bỏ đi từ hồi nào, hai chị em nằm co quắp lấy nhau tại dưới đất.
Sức lạnh đã khiến hai người tỉnh luôn. Hồng Điệp sau khi thức hẳn, nàng giương mắt ngó xung quanh nhà, thấy tất cả những dụng cụ trong nhà tinh xảo vô cùng, mọi vật dụng hình như đều được chế tạo bằng đá hết, tay rờ tới đâu đều cảm thấy mát lạnh và cứng cát, trong nhà im lặng, không thấy bóng người lạ! Khi Hồng Điệp vào đến một gian phòng bên trong, bỗng nàng reo mừng lên:
- Chị ơi! Mau vào mà xem này! Mau lên!
Thanh Điệp chạy vào, khi nhìn thấy cảnh cũng sững sờ luôn, thì trên mắt bàn của trong phòng này, la liệt những thức thịt rượu hơi nóng còn nghi ngút, trên hai ghế, lại để sẵn hai bộ áo lông thú. Hình như sự kiện này đã có người ta sắp xếp từ trước vậy. Chị em Châu Thị lúc này vừa lạnh vừa đói, họ chẳng kể hậu quả ra sao, mặc ngay áo da lông thú vào người trước.
Nhưng quái lạ! áo sao vừa vặn đúng theo khổ của hai nàng, và sức ấm cũng đến mức tuyệt diệu, cả hai chị em đã cảm thấy bớt lạnh. Nhưng hai nàng lại cảm thấy bụng đang đói như cào, chẳng hề nể nang gì ngồi ngay vào bàn ăn uống một cách tự nhiên, trong lúc ăn uống hai chị em đều bàn tán đến đôi chim ưng, vì những thịt họ đang ăn đây chính là thịt nai, mà loài chim làm sao mà biết nấu nướng? Nhất định phải có người, mà người đó không ai khác hơn là chủ nhân của đôi chim ưng. Nhưng cả hai chị em đều lấy làm lạ là tại sao chủ nhân không chịu ra mặt mà lại tiếp đãi âm thầm như thế này? Thanh Điệp nghĩ vậy bèn cất giọng lớn tiếng:
- Nay hai tiểu nữ kính bái lãnh áo ngự hàn và thức ăn của vị tiền bối cao nhân đang ẩn tiên tung, hai tiểu nữ kính tạ muôn ngàn, vậy kính xin tiền bối hiện tiên nhân cho hai tiện nữ được bái tạ!
Nhưng tứ bề đều im như tờ. Hai nàng trong lòng đâm nghi, bèn lững thững bước ra ngoài một ngọn phong cao lớn. Mây che gần chân núi, sức lạnh ở đây kinh khủng, và trên ngọn phong này mọc rất nhiều những loại hoa bất danh, nhưng càng lạ hơn nữa là những đóa hoa này lại vô cùng thơm! Thật là một cảnh sắc nên thơ hùng tráng tuyệt vời! Khiến cho tâm hồn hai thiếu nữ không khỏi lâng lâng trong bụng.
Tuy tiết mùa này mới vào đầu tháng sáu, ấy thế mà địa thế khí hậu trên ngọn phong này lại lạnh buốt lạ lùng như vậy, chắc trên đỉnh phong đây phải có tuyết mãi lạnh thế được? Và nhất là ngọn này phải cao lắm! Quả nhiên hai nàng đã đoán đúng, nơi đây chính là một ngọn núi có tuyết phủ. Hai chị em lang thang quanh quẩn mãi nhưng chỉ toàn thấy mây mờ che phủ gần khắp chân núi, không thể nhận đâu vào đâu. Tâm tư không khỏi trạnh nhớ đến lời căn dặn của Hầu Hạo, thể nào cũng tìm gặp Độc chỉ Thôi Bác để nhờ cứu nạn, nay cứ loanh quanh mãi tại đây thế này, chưa chừng tìm đường xuống cũng khó khăn là khác. Càng nghĩ, hai nàng càng rối trong lòng. Thanh Điệp bỗng lại nghĩ: hay là phải nhờ vả đến hai chim ưng nọ đưa mình xuống núi?
Trong lòng càng băn khoăn rối loạn, chị em đành dắt nhau quay trở về gian nhà mà chim ưng đã đưa mình tới, nhưng bên trong vừa nhoáng nhanh một bóng, cả hai hấp tấp chạy vào xem, chỉ thấy hai con khỉ lông trắng mướt, trông dễ thương lắm! Nhưng càng lạ lùng hơn nữa là chúng đang bưng những món ăn nghi ngút hơi nóng bày ra bàn, thấy hai nàng bước vào chúng hoảng lên và kêu những tiếng chí chóe rối rít, và hai con khỉ trắng cong đuôi chạy luôn. Hai chị em lập tức đuổi theo ngay phía sau, nhưng khi ra đến phía nhà sau, đôi khỉ trắng đã mất dạng hẳn!
Hai chị em đành thất vọng quay mình vào và ngồi ăn uống. Cơm nước xong, hai chị em bàn tán là phải tìm cho được chủ nhân ở đây mới được, vì người mới có thể sai khiến đôi chim ưng và đôi khỉ trắng đến mức tuyệt đỉnh như thế, thế nào cũng có cách giúp cho chị em mình xuống núi, chưa chừng họ còn biết nơi cư ngụ của Độc chỉ Thôi Bác ở đâu là khác!
Thế là hai chị em nghi ngay rằng phía sau mà hai con khỉ trắng vừa chạy trốn vừa rồi đó, chắc chắn là nơi cư ngụ của chủ nhân, và hai chị em ăn no nê xong bèn đi ngay về ngôi nhà phía sau tìm kiếm.
Hai chị em đến phía sau, lại phải một mẻ ngạc nhiên không ít, thì ra ở đây lại là một cảnh giới thần tiên khác. Đâu đâu cũng hoa thơm cỏ lạ, mùi thơm phảng phất dịu lòng, có suối trong vắt, chim muông tíu tít hót, cả hai chị em đều lấy làm lạ, một nơi lạnh buốt như ngọn phong đây, không hiểu tại sao lại có những thảo mộc và chim chóc sinh tồn được như thế? Lại càng không thể hiểu nổi những động thực vật đây tên tuổi của chúng gọi là gì? Chị em Châu Thị cảm thấy thơ thới trong lòng. . . cả hai chị em đưa mắt nhìn khắp cảnh vật xung quanh! Bỗng Hồng Điệp ý lên một tiếng rồi đưa tay chỉ nhanh về một phía rằng:
- Kìa, chị thử nhìn xem đằng kia!
Thanh Điệp nhìn theo tay em mình, chỉ thấy mọc toàn hoa màu đỏ, và có một ghế đá tròn nhẵn, trên đó có mấy hoa đỏ. Thanh Điệp bỗng sực nhớ lời dặn của Hầu Hạo và tình hình trong bức họa đồ, nhưng nàng lấy làm lạ là trên ghế đó không ghi rõ có người ngồi, cả hai thiếu nữ bỗng vui sướng reo lên, sau khi thấy rõ cảnh trạng trước mắt:
- Độc chỉ Thôi Bác! Thôi lão tiền bối!
Cả hai vội chạy nhanh ngay lại nơi ghế đá, chỉ thấy một làn ánh trắng nhoáng nhanh lên một cái, trên ghế đá đã có một người ngồi ngay trên đó! Người này từ trên trời giáng xuống? Chỉ trong nhoáng mắt, đã nghiễm nhiên hiện ngay trước mặt hai thiếu nữ, và không gây nên một tiếng động gì, nếu quả nhiên đây là người, thì thân pháp người này quả thật đã đến mức quá sức tưởng tượng nổi.
Nhưng chỉ thấy người đàn ông này, tuổi ước ngoài ba mươi toàn thân mặc màu trắng toát, phất phơ như tiên, sắc mặt trắng như giấy, da mặt gầy đét lại, thần sắc u buồn lạ lùng, trông chẳng khác gì một người đang mắc bệnh nặng lâu năm!
Cả đôi chim ưng cũng không biết bay đến từ bao giờ và đậu chầu ngay hai bên người áo trắng bệnh hoạn này, chỉ thấy chúng ngồi phệt xuống rỉa lông cánh, trông chúng ngoan đáo để; người áo trắng như kẻ bệnh hoạn đang ngồi trên ghế đá, đưa tay từ từ cầm lấy đóa hoa đỏ đưa lên miệng nhai và nuốt, và chính những động tác này, giống hệt như kiểu vẽ trên họa đồ. Tâm thần chị em Châu Thị bồi hồi vì quá phấn khởi cả hai nàng vội hấp tấp quì thụp ngay xuống. Và tiếng Châu Sách rằng:
- Hai tiện nữ là Châu Sách và Châu Chu xin kính bái Thôi lão tiền bối, nay kính xin tiền bối hãy mau mau ra tay cứu nạn giùm cho Hầu Hạo công tử và Thượng Quan Linh công tử và cả Liễu Mi cô nương tại Vô ảnh Phong ! . . .
Sắc mặt Đoạn trường nhân Độc chỉ Thôi Bác lạnh lùng và buồn như mặt nước hồ thu, hình như không nghe gì đến câu nói của Thanh Điệp, Châu Sách lại càng cuống lên rằng:
- Kính thưa tiền bối, Hầu Hạo công tử nay bị nhóm tăng lữ trên Cửu Thiên Tự bắt đi, còn Thượng Quan Linh công tử và Liễu Mi cô nương cùng Gia Cát Dật tiến bối đều bị giam hãm trên Vô ảnh Phong tại Cửu Lãng Sơn, và chỉnh nơi đó là sào huyệt trọng yếu của thầy trò Độc Ma, họ đang...
Nói tới đây nàng ngửng mặt ngó Độc chỉ Thôi Bác mặt vẫn lạnh như tiến, nàng càng cố phủ phục sát xuống năn nỉ thêm:
- Kính thưa tiền bối! Họ đều đang bị nguy cấp đến tính mạng một sớm một chiều, xin tiến bối đại hiệp hãy nghĩ đến tình hiệp nghĩa đồng đạo, ra tay cứu nạn giùm cho!
Độc chỉ Thôi Bác như muốn lên tiếng nói chuyện, nhưng chưa thốt ra câu nói nào đã ho lên khù khụ, hai nàng quì mọp dưới trông thấy rõ ràng, chỉ thấy Độc Chỉ Thôi Bác càng ho nặng, bộ ngực dẹp lép phập phồng như khó thở vô cùng!
Thanh Điệp vẫn cố nhẫn tâm chờ đợi, nhưng Hồng Điệp đã tỏ ra nản chí, bụng nghĩ sao anh Hầu Hạo lại bảo chị em mình nên tìm đến một bệnh nhân ho kinh khủng như thế này để giúp sức? Đến chính như bản thân của người này chưa chắc đã lo xong được, huống hồ là lo cứu cho người khác, nay nếu phải trông cậy vào người này để để đi cứu Hầu Hạo, Thượng Quan Linh và Liễu Mi, chẳng hóa ra là một trò cười quá đáng cho thiên hạ sao? Nhất là khi nghĩ đến những đám đệ tử lợi hại của Vô ảnh Phong: Đinh Hủy, Đinh Phá và vị hòa thượng áo cà sa đỏ đã bắt anh Hầu Hạo?... Như vậy mà muốn mời một người bệnh hoạn ho hen như người trước mắt mình đây đâu phải địch thủ của chúng.
Thấy người áo trắng ho như muốn tắt thở luôn, sắc mặt trắng còn hơn vôi. Khó khăn lắm mới nuốt được một đóa hoa lạ màu đỏ, và cái ho khù khụ cũng bắt đầu ngưng dần hẳn. Vì khoảng cách của hai bên khá gần, nên người áo trắng khi nhai đóa hoa ấy để nuốt ấy, chị em nàng đã ngửi thấy một mùi thơm ngọt ngào của đóa hoa đưa tới. Biết ngay loại hoa kỳ lạ này chắc là tiên phẩm của nhân gian đây, quả là một thứ linh đơn tuyệt diệu, sau khi những cơn ho dữ đội, Độc chỉ Thôi Bác mới từ từ lên tiếng rằng:
- Khi không hai ranh con lại đây làm phiền ta, khiến ta ho khổ sở như thế!
Nói tới đây Độc chỉ Thôi Bác lại nổi cơn ho...
Hồng Điệp thấy đã có vẻ gai mắt chịu không nổi, nhưng nhờ Thanh Điệp dù sao cũng là vai chị, nàng khôn ngoan hơn, hấp tấp đứng dậy lại đấm lưng cho Độc chỉ Thôi Bác như để ngăn chặn cơn ho kinh khủng.
Khá lâu Độc chỉ Thôi Bác mới bỗng hỏi rằng:
- Đứa nào to gan mà dám cho hai ngươi biết là ta cư ngụ tại đây?
Châu Sách vội từ trong mình lấy ngay ra bức họa đồ mà Hầu Hạo đã giao cho mình, rồi nàng cung kính đưa sang cho Độc chỉ Thôi Bác coi. Sau khi thấy bức họa, Độc chỉ Thôi Bác mắt sáng ngời lên, lên tiếng lè nhè rằng:
- Thì ra là nó ! Là nó . . .
Bỗng Độc chỉ Thôi Bác quay ngay sang phía Châu Sách hỏi:
- Thế người mà bị nhóm hòa thượng Cửu Thiên Tự bắt đi ấy, phải tên là Hầu Hạo không?
Châu Sách vội vàng trả lời:
- Dạ thưa tiền bối, đúng là tên Hầu Hạo ạ, và chính là ái đồ của nhóm Thiên Sơn Tứ Hữu là Thiên Si đạo trưởng, trong chuyến hành trình từ Bắc xuôi Nam này, Hầu Hạo đã bị bắt tại Cửu Thiên Tự, sau được Thượng Quan Linh công tử cứu, và cả hai đến Nhạc Châu để tìm manh mối một vụ hung án!
Độc chỉ Thôi Bác bỗng hỏi:
- Hung án gì vậy?
Châu Sách trả lời:
- Đó là một ngọn tỉ thủ mà được mệnh danh là Lãnh điện tỉ thủ, kỳ này đã xuất hiện trên giang hồ, và trong đêm trăng tròn vừa qua, đã gây nên vụ án Truy phong nhân tâm thần khất Phương Kỳ bị giết tại Thượng Quan Trang ở Nhạc Châu!
Đoạn trường nhân Độc chỉ Thôi Bác ồ lên một tiếng, hình như bị xúc động mạnh, vì thấy thân hình của Thôi Bác bị khích động, Châu Sách lại sợ cơn ho của Thôi Bác lại nổi lên, nàng không dám hé miệng nói thêm. Nhưng Thôi Bác đã lên tiếng ngay:
- Cứ nói tiếp đi! Về sau chuyện ra sao?
Châu Sách ngần ngại một lúc mới nói rằng:
- Về sau Thượng Quan Linh công tử và Hầu Hạo công tử đều bị kẻ địch mai phục, cuối cùng là Thượng Quan Linh đã bị đồ đệ của Độc Ma trên Vô ảnh Phong bắt đi, rồi thầy của Thượng Quan Linh là Gia Cát Dật đến nơi và cùng với Hầu Hạo theo đuổi ngay lên Cửu Lãnh Sơn, và cũng ở trên đây gặp luôn hai chị em vãn bối.
Độc chỉ Thôi Bác bỗng lại hỏi:
- Hai ngươi là phận gái, tại sao lại lên Vô ảnh Phong làm gì?
Châu Sách mặt đỏ rằng:
- Dạ không phải vãn bối muốn lên đó làm gì, chẳng qua là người chị cả bị người trên Vô ảnh Sơn bắt đi, nên vãn bối đành theo dõi lên, nhưng khổ cái tìm không ra đường lối của Vô ảnh Phong.
Độc chỉ Thôi Bác gật gù, Châu Sách vẫn tiếp tục nói:
- Về sau, Gia Cát Dật tiền bối khám phá ra sự huyền bí của ngọn Vô ảnh Phong, và ông ta chuẩn bị đơn thân đột nhập vào trong thám thính, đồng thời căn dặn Hầu Hạo và hai chị em vãn bối hãy chờ ngoài cửa núi Cửu Lãnh, nhưng rồi ngay nửa đêm hôm đó hai vãn bối bị bắt! May nhờ có chị Liễu Mi tương cứu.
Độc chỉ Thôi Bác hỏi ngay:
- Liễu Mi là ai?
- Dạ nàng là thứ nữ của bang chủ họ Liễu trong bang Thanh Thông Hội, và rất có cảm tình với Thượng Quan Linh công tử, và chính nàng đến Vô ảnh Phong cũng chỉ vì muốn cứu Thượng Quan Linh!
Nói tới đây, nàng bèn thuật hết câu chuyện mà Liễu Mi dùng kế mận đổi đào ra sao một lượt cho vị kỳ nhân Độc chỉ Thôi Bác nghe, và thuật luôn giữa đường Hầu Hạo bị nhóm hòa thượng của Cửu Thiên Tự bắt ra sao một lượt!
Thôi Bác lên tiếng hỏi:
- Nếu thế, tình thế của hai nơi này đều nguy cấp cả nhưng trong nơi ấy, phải có một nơi nguy nhiều hơn, vậy thế hai người muốn cứu ai trước bây giờ?
Chị em Châu Thị nghe hỏi vậy cũng đâm ra khó xử tuy trong lòng hai nàng là muốn cứu ngay chàng Hầu Hạo của mình trước tiên nhưng trên thực tế, tính mạng của Thượng Quan Linh và chị cả mình là Châu Ni đang bị nguy kịch, huống hồ là Hầu Hạo đã dặn đi dặn lại là phải mời Thôi tiền bối đến cứu ngay nhóm người trên Vô ảnh Phong trước tiên. Châu Sách không dám tự chuyên về lòng ích kỷ của mình, nàng bèn thành thật rằng:
- Dạ thưa tiền bối, Hầu đại ca đã căn dặn là xin tiền bối hãy cứu gấp giùm cho Thượng Quan Linh công tử và người chị cả của hai vãn bối là Bạch điệp Châu Ni cùng với Gia Cát Dật và Liễu Mi, nay hai người này đã đột nhập hẳn vào trong Vô ảnh Phong, chắc chắn là tính mạng họ cũng nguy nan không kém gì?
Độc chỉ Thôi Bác gật gù, hình như rất vừa lòng với lối cư xử tình thế của Hầu Hạo, chứng tỏ rõ con người của chàng Lãn hiệp Hầu Hạo không phải là loại ích kỷ, chỉ nghe từ cửa miệng Thôi Bác thốt ra những tiếng nho nhỏ:
- Hầu Hạo! Hầu Hạo!...
Chị em họ Châu không biết vị kỳ nhân họ Thôi này tính sao, mắt thấy lại sắp hết buổi hoàng hôn, lòng tuy cuống lên mà không dám hé miệng hối hỏi.
Lúc này Thôi Bác hình như chẳng có chuyện gì phải bận lòng, chỉ thấy vị kỳ nhân này quay sang nói lẩm bẩm với hai chim ưng ở tả hữu một hồi, chỉ thấy hai chim ưng vỗ cánh bay vọt đi luôn. Thanh điệp Châu Sách thấy vậy tưởng đâu vị kỳ nhân họ Thôi này đang khảo xét về lòng thành tâm của mình, nàng cung kính quì yên không dám nhúc nhích, nhưng Thôi Bác lúc này lại trở về thái độ lạnh lùng, lo nhai những đóa hoa đỏ kỳ lạ, không hề ngó nhìn hai chị em Song Điệp đang quì trước mặt. Hồng Điệp có vẻ chịu không nổi lối cư xử tàn nhẫn của vị kỳ nhân, nàng khẽ kéo gấu áo chị và nhẹ tiếng rằng:
- Chị ơi, đầu gối em đau quá!
Thanh Điệp giận điên lên, bèn khẽ tiếng gắt cô em rằng:
- Hãy ráng quì yên! Chớ có nhúc nhích mà khổ thân bây giờ!
Thấy chị gắt mình như vậy, Hồng Điệp càng đâm tức người kỳ nhân trước mắt mình, nàng ngước mắt ngó lên thấy người này như đang lim dim muốn ngủ.
Đang lúc Hồng Điệp tính mở miệng mắng sự tàn nhẫn của Thôi Bác, nhưng ngay trong lúc đó, thân hình của hai chị em hình như có một sức mạnh gì đang dỡ hẳn hai người đứng dậy, rồi lại từ từ dồn hai chị em ngồi ngay xuống dưới thảm cỏ êm ái ngay đó.
Thanh Điệp xưa nay nào đã được thấy lối công lực ghê gớm như thế bao giờ! Nay hiển nhiên được chứng kiến tận mắt, khiến cho nàng kinh ngạc đến nỗi không còn nói ra tiếng nào. Tiếng Thôi Bác ôn tồn rằng:
- Hai người cứ việc tạm nghỉ gian nhà ngoài kia, hai nơi Vô ảnh Phong và Cửu Thiên Tự, ta đã sai Đại Hắc và Nhị Hắc (đôi chim ưng) để cứu họ rồi, vậy cứ việc yên tâm đừng lo ngại.
Chị em Châu Thị nghe nói vừa kinh ngạc vừa mừng, nhưng cả hai lập tức lại nổi lòng nghi ngờ ngay, tuy hai con chim ưng dũng mãnh vô ngần, nhưng nếu nói là có thể chấn ác bọn âm ma và ác tăng của Vô ảnh Phong và Cửu Thiên Tự, chưa chắc đã đúng như lời nói. Tuy Thanh Điệp nghĩ như thế, nhưng cũng không dám nói ra, nàng đành theo sau vị kỳ nhân ra ngoài.
Độc chỉ Thôi Bác hình như đoán rõ tâm tình hai nàng, bèn từ từ lên tiếng rằng:
- Hai ngươi đừng có khinh rẻ hai chim ưng của ta, thanh danh của Đại Hắc và Nhị Hắc trên giang hồ này, chúng cũng không thua gì bậc sư của một môn phái nào đâu! Nếu thời gian còn kịp, ta tin chắc với danh phận của ta, chúng còn không dám làm càn, nhất là khi chúng lại nhận ra Đại Hắc và Nhị Hắc của ta muốn sao, thế nào cũng không dám cãi ý!
Hai nàng nghe Thôi Bác nói hiên ngang như thế, trong lòng cũng tạm vững tâm, thế là hai chị em theo ngay Thôi Bác về phòng tinh xá đằng trước, trong lúc đi, những bộ bước của Thôi Bác có vẻ như gió thổi vậy, trông thật là yếu ớt lạ lùng, trông chẳng khác nào một người bệnh nặng mới khỏi dậy, tập đi bách bộ. Hồng Điệp càng thấy càng cho không thuận mắt tí nào và càng như thế nàng lại càng nghi rằng người ho hen chẳng qua chỉ được chút hão danh mà thôi. Nhưng, bỗng nàng nhận ra, trên ngọn phong lạnh buốt xương như thế này, mà vị Độc chỉ Thôi Bác vẫn chỉ mặc chiếc áo mỏng tanh như thế, nhất là lại đang mắc bệnh ho hen như vậy! Nhưng hình như Thôi Bác không cảm thấy vẻ lạnh mới lạ! Và nàng càng lạ là chính vừa rồi đây, người kỳ ma bệnh này hình như không vẻ gì là mệt nhọc cả. Xem ra vị kỳ nhân Đoạn trường Độc chỉ Thôi Bác này đã từng là đệ nhất cao thủ trong thiên hạ từ lâu rồi cũng nên!
Thanh Điệp lo dìu vị kỳ nhân đi, Độc chỉ Thôi Bác cũng không tỏ vẻ cự tuyệt, sau khi ba người đến tinh xá, đã có sẵn một đám khỉ lo hầu hạ và dọn cơm nước cho ba người, nhưng Độc chỉ Thôi Bác giục hai nàng ăn cơm, còn riêng phần mình thì ăn toàn những hoa màu đỏ. Suốt trong đêm nay, hai nàng không sao chợp mắt, vì họ trông chờ tin tức của đôi chim ưng đem về...
Lại hết một đêm trường, hai nàng trông ngóng tin tức về Vô ảnh Phong và Cửu Thiên Tự, nhưng nghĩ chắc ở đây cách xa hai nơi đó lắm, nên đôi chim ưng vẫn chưa về kịp? Hai nàng vội lại vào thăm vị Thôi Bác, nhưng chỉ thấy vị kỳ nhân khẽ gật đầu đáp lễ, trên bộ mặt trắng toát ấy, không có một nụ cười nào.
Hai nàng đứng đó hoài cũng cảm thấy vô hiệu, chị em bèn rủ nhau đi tìm suối tắm. Khi đến bờ suối, thấy bóng mình chiếu dưới mặt nước, bất giác cũng tức cười về chiếc áo lông kỳ lạ mình đang mặc trên người.
Đàn khỉ lúc này cũng như quen với hai nàng, chúng tíu tít theo quanh như để hướng dẫn hai nàng du ngoạn cảnh sắc nên thơ tại đây, đi loanh quanh hết chỗ này chỗ khác. Bỗng hai nàng đến một nơi tinh xá khác thấy đề trên biển là Lãnh Hương Các, thì ra đây chính là nơi ở chính thức của Độc chỉ Thôi Bác, nơi đây vừa lạnh lại vừa thơm, quả thật đúng với danh hiệu Lãnh Hương của nó! Bỗng có tiếng chim ưng kêu vang, hai nàng vội hấp tấp chạy ngay ra, chỉ thấy con chim ưng được gọi là Đại Hắc đã phục ngay cạnh Độc chỉ Thôi Bác. Ngoài ra không thấy ai, hai nàng rối cuống lên tính lên tiếng hỏi thăm, Độc chỉ Thôi Bác đã từ từ lên tiếng rằng:
- Nhị Hắc đi Cửu Thiên Tự còn chưa về, còn vì đường bay Vô ảnh Phong không xa, nên Đại Hắc đã về trước, và ta báo tin buồn cho hai ngươi là Bạch điệp Châu Ni đã chết, còn phần Gia Cát Dật, Thượng Quan Linh và Liễu Mi đã rời khỏi Vô ảnh Phong rồi!
***
Đây bút giả xin quay về thuật nàng Liễu Mi sau khi bị Đinh Phá quắp dưới nách đem vào Vô ảnh Phong. Thực ra nàng đâu có bị điểm huyệt gì, nhưng vì mạo là Thanh Điệp, nên bắt buộc nàng phải vờ hôn mê bất tỉnh nhân sự, và đồng thời nàng cũng ngấm ngầm quan sát những đường lối đi ngang. Nhưng nàng cảm thấy mặt mình như bị mưa phùn, tai nghe tiếng nước chảy ầm ầm, trong bụng biết ngay đây là thác nước lớn của Vô ảnh Phong đây, đồng thời nàng cũng nghe thấy tiếng chân của Đinh Hủy và Đinh Phá đang xéo lên những đống xương người dưới đất tạo nên những âm thanh chát tai vô cùng. Khinh công của hai tên ma quái họ Đinh này quả cũng siêu việt, Liễu Mi cảm thấy tiếng gió vù vù bên tai, trong bụng cũng không khỏi thầm phục công lực của chúng. Khi qua khỏi ngọn thác, tiếng ầm ầm dứt hẳn, ánh sáng cũng mờ dần hẳn, lúc này nàng mới mở lén mắt quan sát kỹ những đường lối.
Bỗng nàng nghe tiếng suối róc rách, mũi ngửi mùi thơm dìu dịu, Liễu Mi nhận ngay ra là nơi Hầu Hạo đã nói: Chính nơi đây chàng ta đã gặp chị em Châu Thị và Gia Cát Dật, và ở đây hễ khi thấy ánh trăng thế nào cũng được thấy ảo cảnh đẹp tuyệt của Vô ảnh Phong, nhưng không làm sao có thể biết đích xác ngọn Vô ảnh Phong thật nằm đâu cả? Nàng càng không hiểu nho sĩ phong lưu như Gia Cát Dật, một trong những nhân vật lừng danh trong Ngũ Tuyệt của Càn Khôn liệu có thể khám phá ra không!
Ngay trong lúc Liễu Mi đang suy nghĩ, thì Đinh Hủy, Đinh Phá đã mệt sức, chúng bèn thả ngay Liễu Mi xuống đất, ngồi ngay bờ suối nghỉ ngơi.
Liễu Mi lúc này không khác gì kẻ phải chịu cực hình, nào nàng đâu có bị điểm huyệt đâu? Nhưng bây giờ nàng phải cố đóng thành một kẻ bị điểm huyệt, nghĩa là không dám cựa quậy, dù là có kiến bò ngang tai nàng, càng không dám thở mạnh, thật là một hình phạt tự mình rước lấy vào thân. Nàng thầm rủa hai tên ma quái chết toi ấy, đương đi tự nhiên lại ngừng chân nghỉ ngơi để khiến cho mình chịu cực hình như thế này, vàng nghĩ nàng càng tức. Nhưng nàng vẫn cố cắn răng chịu đựng, vì mục đích quan trọng của nàng là làm sao biết rõ các lối đi Vô ảnh Phong một cách đích xác thực sự, nghĩ vậy nàng bèn cố gắng chịu đựng sự cực hình mà chính thâm tâm nàng bắt nàng phải chịu. Nàng bây giờ mới thấm thía chữ Yêu lả như thế đấy!
Lúc này Đinh Hủy và Đinh Phá lại tỏ vẻ thảnh thơi vô cùng, hai tên này giở ngay lương khô và nước uống ra, vừa đánh chén vừa trò chuyện.
Nghe tiếng Đinh Phá nói rằng:
- Này lão Tam, cậu có cảm thấy gần đây hình như sư tôn của chúng mình đang có chuyện gì bực mình thì phải?
Đinh Hủy đang mãi lo ăn uống, nhe xong hắn vu vơ nói giọng ngọng trứ danh của mình rằng:
- Ờ! Thế lão Tứ có biết chuyện gì không?
Đinh Phá thản nhiên rằng:
- Thì chuyện cũng chỉ vì con bé Hạ Quyên, nên thầy và lão Đại đã sinh ra bất hòa với nhau!
Đinh Hủy không trả lời, sau một lúc trầm mặc, Đinh Phá lại nói:
- Này lão Tam, ta xem vụ này e không khéo lại gây nên một tai họa lớn lao cho Vô ảnh phong, chưa chừng vì con bé Hạ Quyên này mà tiêu tan hết ngôi Vô ảnh Phong cũng nên đấy nhé!
Liễu Mi nằm im thin thít để nghe ngóng hai tên ma sống nói chuyện với nhau, trong lòng nàng không khỏi ngạc nhiên: không biết nàng Hạ Quyên này là một nhân vật như thế nào, mà lại có thể khiến cho những tên dâm tà trứ danh trên Cửu Lãnh Sơn phải điên đảo về tay nàng như thế!
Bỗng tiếng ngọng của Đinh Hủy từ từ rằng:
- Này lão Tứ, tớ cũng rõ ngay ý của đằng ấy, chẳng qua đằng ấy muốn nói là giữa thầy, lão Đại, và con Hạ Quyên ba người này đã vô tình tạo ra một cuộc diện tình yêu ba chiều chứ gì? Lẽ dĩ nhiên là thầy và lão Đại đang ngấm ngầm tranh chấp nhau để chiếm lòng người đẹp, nhưng cái con bé này quả cũng ma lanh tinh khôn đáo để, nó đã khéo léo tạo nên một cảnh mâu thuẫn giữa thầy và lão Đại, như thế là nó đã giữ được cái thân nó một cách tuyệt diệu! Thử nghĩ, trong Phi Các tiên cung của Vô ảnh Phong thiếu gì gái đẹp mà đứa nào chả phải ngoan ngoãn chiều chuộng cho các đệ tử trong Tiên Cung để tìm hoan hỉ chi thiền? Ấy thế mà có con ranh con họ Hạ này, ỷ thế có lão Đại đứng sau đỡ đầu cho nó, và mãi đến nay mà thân nó vẫn còn chưa bị phá tới!
Đinh Phá tiếp lời rằng:
- Nghe đồn đâu chính cũng vì vụ này mà lão Đại đã công nhiên bất hòa với thầy là khác, và chính lão Đại đã ngăn cản thầy thu dụng con bé này, nhưng tôn sư đã hạ lệnh mà lão Đại không chịu làm theo lời thầy, thử hỏi như thế không phải là tội hành bội nghịch lệnh thầy sao?
Lão Tam Đinh Hủy thở dài rằng:
- Theo tớ đoán, con nhỏ họ Hạ này quả nhiên cũng có vài ngọn thật, tuy nó không biết võ nghệ là gì, nhưng vì nó xuất thân trong danh gia khuê các, lại là vị thiên kim tiểu thư, thông thạo thư lễ, người lại thông minh cơ trí, nhờ thế mà nó đã nắm ngay được tâm hồn của đại sư huynh. Trước kia, những đứa con gái bị bắt về Phi Các tiên cung, hễ thấy những bộ mặt kinh tởm của chúng mình, không chết giấc, thì cũng run như gà bị cắt tiết, sợ đến nỗi hồn bất phụ thể, dù có chết cũng không chịu ưng thuận vui vầy với chúng ta, và cánh bọn mình phải tìm đủ hết mọi cách để khiến chúng vào cạm bẫy! Duy chỉ có mỗi con bé họ Hạ này là đặc biệt hơn tất cả, nó đối với Đại sư huynh không những đã biết cư xử ôn tồn, không vì Đại sư huynh là một người tàn tật mà nó khinh khi hay sợ hãi!...
Lão Tam Đinh Hủy rằng:
- Quả thật vậy, những cử chỉ và cách đối xử của con bé họ Hạ, thật khiến ai trông thấy cũng cảm thấy nóng bừng người lên được, nhưng nó không phải đã nhờ chất thuốc hay ma lực gì để quyến rũ, mà chính là do nơi lòng thành thật trong tâm hồn nó phát ra, một sự việc tình nguyện như thế, thử hỏi sao không khiến cho đại sư huynh phải lòng nàng như một nữ thiên thần? Chắc có lẽ đại huynh đã coi nàng như hồng phấn tri kỷ, nên nhất nhất mọi việc đều chiều đúng theo ý nàng! . . .
Lão Tứ Đinh Phá rằng:
- Ấy chính thế! Không những đại sư huynh nể nang nó, mà đến cả sư tôn của chúng mình cũng khen nó vừa xinh đẹp vừa khôn ngoan, luôn luôn ca ngợi nó, còn tôn trọng nó là khác, hình như đâu còn muốn thu làm nhập thất đệ tử là khác!
Đinh Hủy bỗng phát ra những tiếng cười ngọng Hò! Hò! Hò... của mình, rồi nói:
- Sư huynh đệ bốn đứa mình, đều là những kẻ tàn tật bệnh hoạn xấu hơn quỉ sứ này, nếu thiên kim tiểu thư của nhà họ Hạ lại chung vai sát cánh bốn thằng quỉ sống như chúng mình, khác nào như một bức tranh bồ tát sống chung với ác quỉ . Hò ! Hò ! Hò !
Liễu Mi đang say sưa theo dõi câu chuyện của hai tên ma sống, bỗng nàng bị giật mình vì tiếng soạt nổi lên thình lình! Thì ra là Đinh Phá nồi khùng, hắn vung một chưởng đánh lên thinh không, tiếng gió xé hẳn những làn mưa phùn do hơi nước gây nên.
Đinh Phá hầm hầm rằng:
- Nếu quả thật con nhỏ ấy tham gia vào nhóm chúng mình, thế nào tớ cũng kiến nghị với sư tôn rằng: chúng ta đều là những người kỳ quái rùng rợn nhất trần gian, nếu có một sư muội đẹp như tiên thế gia nhập cũng được, nhưng bắt buộc nàng ta cũng phải què quặt tàn tật như cánh bọn mình mới chịu, và nhất là ngũ quái cũng phải hủy thành kẻ xấu xí, và để biểu dương lòng thành hợp tác giữa tình sư huynh muội, trước nhất nàng phải chịu làm lễ Hoan hỉ chi duyên với bốn anh em chúng mình!...
Đinh Phá nói tới đây đắc trí híp mắt cười, thì Đinh Hủy lạnh lùng rằng:
- Đừng có vội khoái trí như thế, theo tớ nghĩ, sư tôn tuy có ý muốn thu nạp đệ tử, nhưng còn phải nghi rằng con bé này chưa chắc nó đã chịu cho, và tớ càng tin chắc là thế nào nó cũng không chịu ô hợp với chúng mình đâu, nhưng trước mặt thầy, nó không dám ngang nhiên ra mặt phản đối, nhưng nó sẽ dùng biện pháp thủ thỉ cạnh tai đại sư huynh mà thôi! Và gần đây chúng ta chả thấy đại sư huynh thường hay vắng tiếp xúc tất cả mọi việc làm là gì? Và cả đến những đại hội cứ ba ngày lại mở cuộc liên hoan đại sư huynh cũng không thấy tham gia nữa!...
Đinh Phá đồng ý rằng:
- Đúng! Đúng! Lão Đại gần đây thay đổi nhiều tính nết rồi, tất cả những lề lối cũ trong Tiên Cung và những ý kiến của thầy luôn luôn đại sư huynh như có ý phản đối, nhất là vụ chuyện Bạch Điệp mới đây, chính lão Nhị đem nó về, thế mà lão đại lại ngang nhiên ra mặt phản đối, nối là nào danh môn khuê các, không nên đắc tội với người ta, nhất là mẹ của người ta là Giang Nam nữ hiệp Ngọc điệp Châu Phụng, nào chớ nên gây lên những công phẫn của các anh hùng hiệp nghĩa, đồng thời còn chủ trương thả ngay nàng Bạch Điệp ra! Cậu thử nghĩ về sau lão Nhị đối phó bằng cách nào không?
Nói tới đây, Đinh Phá lại cười híp mắt rằng:
- Lão Nhị vốn ma lanh quỉ quyệt, đời nào y chịu buông tay dễ dàng như thế, nhưng lão Nhị lại không dám ra tay trở mặt hẳn với lão Đại, rút cục lão Đại cũng chịu thua mưu kế của lão Nhị! Đầu đuôi thế này: Lão Nhị sau khi nghe vậy, bèn vờ kinh ngạc rằng: Chết chửa! Nếu không nhờ đại ca nhắc tỉnh, tiểu đệ không biết nàng là con gái của Ngọc điệp Châu Phụng cớ đấy! Nhưng cô gái này cũng kỳ lạ lắm cơ, nàng lại thích tiểu đệ xấu xí như thế này mới lạ chứ. Sư huynh, nên thu xếp việc này ra sao cho hợp lý? Đại sư huynh nghe nói vậy bực mình bỏ đi luôn, thế là lão Nhị thắng thế đứng cười ha hả, và chính tớ đã ở cạnh khi chuyện đó xảy ra, lúc ấy cũng cảm thấy khoái trá lắm!
Liễu Mi nghe vậy trong lòng buồn cho số phận của nàng Bạch Điệp.
Bỗng lại nghe tiếng Đinh Hủy rằng:
- Về sau lão Nhị cho tớ hay, con nhỏ họ Châu này cũng không phải là tay vừa gì, nhưng về sau lão Nhị đã phải dùng đến phép Nhiếp Hồn Công để ngự chế tinh thần nàng; sư tôn lúc đầu cũng đặt nhiều hy vọng là nàng có thể trở thành một nữ đệ tử trung thành của Phi Các tiên cung của Vô ảnh Sơn, nhưng sau này vì nàng tính tình quá cương liệt, lão Nhị không dám giải trừ phép Nhiếp Hồn Công nhưng không ngờ sau bị tiếng đàn của Gia Cát Dật giải trừ hẳn Nhiếp Hồn Công, nên nàng ta đã cắn lưỡi tự tử mất! Đáng tiếc! Đáng tiếc!...
Liễu Mi nghe đến đây, trong lòng thương cảm vô cùng, không ngờ Bạch Điệp đã hồn qui tiên cảnh mau chóng như thế! Nàng bàng hoàng về cảnh đời... Nhưng nàng nghĩ Bạch Điệp chết như vậy cũng là cái hay, vậy cũng tránh được danh giá cho con của một danh môn hiệp nữ, khỏi bị thiên hạ chê cười. Nhưng khi Liễu Mi nghĩ đến Gia Cát Dật, bất giác lại liên tưởng ngay đến Thượng Quan Linh, nhưng từ cửa miệng của Đinh Phá, lại không nghe được một tin tức gì về Thượng Quan Linh, nàng lo cho số phận người yêu của mình, trong lòng rối như tơ vò.
Liễu Mi lấy làm lạ, sao mãi đến bây giờ hai tên ma sống vẫn còn không chịu đi là nghĩa gì, không biết chúng còn chờ đợi ai đây?
Liễu Mi bỗng nghe có tiếng người đứng lên và bước tới, nàng nhẹ hé mắt ra nhìn, thấy Đinh Phá đang ngồi xoay mặt về phía bờ suối, còn tên Đinh Hủy cao lớn thì đứng ngay cạnh và mặt nhìn ngay sang phía nằm của Liễu Mi. Tuy ánh trăng lúc này chưa có, tứ bề tối om, nhưng đôi mắt của Đinh Hủy quả là lợi hại, sau khi ngắm nhìn một chặp. Hắn bất giác ngạc nhiên nói với Đinh Phá rằng:
- Này lão Tứ! Con bé này trông cũng đẹp tuyệt trần?
Giọng Đinh Phá như bực bội rằng:
- Người ta biết rồi!
Đinh Hủy lẩm bẩm với giọng ngọng trứ danh của mình khen lấy khen để:
- Ồ! Tiên thật! Đẹp thật! Ồ người đẹp chớ có sợ!...
Liễu Mi đã chuẩn bị sẵn sàng hết, hễ Đinh Hủy đụng tới người nàng, lập tức nàng sẽ ra tay điểm ngay vào trọng huyệt của Đinh lão Tam ngay, còn cánh tay phải của nàng đã sẵn sàng ám khí để thình lình đánh sang phía Đinh Phá đang ngồi cạnh bên bờ suối.
Không khí đã căng thẳng tột độ đối với nàng, bàn tay của Đinh Hủy từ từ hạ dần xuống thân của Liễu Mi, Liễu Mi cũng đang chuẩn bị thình lình ra tay . . .
Thình lình phía sau của Đinh Hủy có tiếng người nổi lên rằng:
- Kìa Lão Tam! Cậu tính làm gì đấy?
Đinh gia Đệ Tam Hung bỗng giật mình ngừng ngay động tác của mình lại!
 
0
Hồi 045. Phi Các Ma Cung
[/align]



Liễu Mi lấy làm lạ, nàng bèn nhìn lên ngay về phía suối mà vừa rồi có người phát ra tiếng nói ấy, chỉ thấy một quái nhân xuất hiện. Trông người này, nếu bảo y là người, chẳng lẽ nói y là cây thịt có lẽ đúng hơn với hình thể của y, vì thân xác quái nhân này to lớn vô cùng, nhưng cả một cánh tay bên trái đã không còn, nhưng thường những kẻ què tay như thế phần đông còn để lại ống tay phất phơ cho dễ coi, đằng này cánh tay áo cũng cụt luôn, khiến cho người nhìn nhận ngay ra là y đã cụt sát đến ngang vai, trông kinh kỳ lạ! Nhưng càng lạ hơn nữa là người bị cụt luôn cả một cẳng bên trái, và lẽ dĩ nhiên bộ đồ của y đương mặc đây đã được may thành một kiểu đặc biệt.
Với bộ đồ đặc biệt chỉ có một ống tay áo và một ống quần ấy ra, trông quả là lạ mắt, nhất là thế đứng Kim kê độc lập (gà vàng đứng một cẳng) gần bên bờ suối tuy là thiếu hẳn một chân, nhưng vẫn có thể nhận thấy thân hình vạm vỡ của y, toàn thân đen láng nhánh, khác hẳn với tác phong bẩn thỉu của Đinh Hủy và Đinh Phá, nghĩa là trông người què tay và què chân này có vẻ sạch hơn nhiều!
Đôi mắt bén sắc của Liễu Mi đã nhận ngay ra người này tuy bị què hẳn nửa thân người như thế, nhưng ngũ quan trên mặt vẫn còn nguyên vẹn trông vừa chỉnh tề vừa nghiêm trang, khác hẳn với hai bộ mặt kinh khủng của Đinh Hủy và Đinh Phá!
Có lẽ người này chính là đại đồ đệ của Độc Ma trong Vô ảnh Phong đây! Chắc là Đinh Tàn? Liễu Mi sau khi nhìn kỹ thân thể kỳ hình quái trạng như vậy, trong bụng cũng không đến nỗi kinh hãi cho lắm, bụng nghĩ thầm: hèn gì nghe nói Hạ Quyên nào đó không đến nỗi ác cảm với người này, nay xem ra thì có lý lắm. Và chỉ nội một tiếng hỏi như thế mà khiến cho Đinh Hủy phải giật mình chùn ngay tay về, như thế đủ biết hai sư đệ của y sợ y là dường nào!
Sau khi Đinh Hủy ngừng tay đứng khựng ngay tại chỗ, hắn không biết nên nói sao cho gọn nghĩa, còn phần Đinh Phá ngồi bên bờ suối, vội hấp tấp đứng ngay dậy, cung kính thi lễ rằng:
- Kính chào Đại sư huynh! Sư huynh đi đâu mà một mình ra đây thế này? Sao không đi chung với Hạ cô nương cho vui?
Đinh Tàn khẽ hừ một tiếng bằng giọng mũi, chỉ thấy thân y khẽ nhoáng một cái, đã lướt ngay đến trước mặt Liễu Mi. Nàng Liễu Mi cũng không nhìn rõ Đinh Tàn có độc mỗi chân mà y đi bằng cách nào chóng thế? Thấy y nhanh như chớp vậy, trong lòng không khỏi kinh hãi. Chỉ thấy y cúi khom người xuống nhìn mình, nàng vội nhắm ngay mắt lại như kẻ bị hôn mê.
Đinh Tàn xem một hồi xong bèn lên tiếng hỏi rằng:
- Này Lão Tam, người con gái này là ai vậy? Sao lại có mặt tại đây?
Đinh Huy vội trả lời ngay rằng:
- Cô này là em gái của Châu Ni Bạch Điệp, hình như gọi là Thanh Điệp thì phải, và lão Nhị khi thấy Bạch Điệp bị chết trong lòng vô cùng buồn phiền đã sai đệ và lão Tứ ra bắt người này về!
Đinh Tàn lại hừ một tiếng nặng nhọc bằng giọng mũi rồi nói:
- Hừ! Lão Nhị quá lắm? Mới hại chết cô chị người ta, nay lại còn muốn hại đến cô em nữa, trong Tiên Cung biết bao nhiêu là mỹ nữ mà còn chưa vừa lòng sao? Lại còn đi phá phách đến những con gái của danh môn nữ hiệp Ngọc điệp Châu Phụng...
Nói xong đưa tay ra để giải huyệt cho Liễu Mi.
Đinh Phá thấy vậy bỗng lạnh lùng lên tiếng nói:
- Thưa đại sư huynh! Bộ sư huynh tính tha con nhỏ này sao? Tiểu đệ với lão Tam đây vốn được người ta nhờ vả! Nếu sư huynh tha như thế, bảo hai tiểu đệ làm sao ăn nói với Nhị sư huynh?
Nhưng tay Đinh Tàn đã rờ ngay vào những huyệt của Liễu Mi khẽ nắn bóp. Tuy Liễu Mi không hề bị điểm huyệt, nhưng lối giải huyệt của Đinh Tàn đây cũng khiến cho nàng tạm cảm thấy khoan thai trong người. Mặc cho lão Tam và lão Tứ năn nỉ ỉ ôi, Đinh Tàn vẫn mặc, giơ ngay cánh tay phải độc nhất của mình quắp lấy thân Liễu Mi và đưa bàn tay rờ thử ngay gần mũi của Liễu Mi, lúc này nàng cố thở mạnh dài một tiếng như vừa bị giải huyệt, đồng thời thân hình khẽ cựa quậy.
Đinh Tàn lạnh lùng nói rằng:
- Thôi chúng ta về! Ta sẽ có cách giải thích với Nhị đệ sau!
Đinh Hủy và Đinh Phá thấy vậy đành chịu, Đinh Phá bèn vờ lên tiếng cho qua chuyện rằng:
- Nếu đã được đại sư huynh ra mặt can thiệp như thế, tiểu đệ còn đâu dám trái lời nữa, vậy xin sư huynh cứ thong thả mà về, bọn tiểu đệ xin đi trước vậy!
Đinh Tàn cũng thừa biết dụng ý của hai người là muốn về mách ngay cho thầy và lão Nhị hay, nhưng Đinh Tàn ngang nhiên không sợ, chỉ cười nhạt nói rằng:
- Tam đệ, Tứ đệ cứ việc tự tiện về trước, nếu có gặp được Nhị đệ hãy nói hộ với sư huynh một tiếng là tí nữa sư huynh sẽ lại ngay!
Đinh Hủy và Đinh Phá bèn tung mình vọt đi luôn trong đêm tối, chớp mắt đã biến dạng luôn!
Đinh Tàn sợ quắp Liễu Mi như thế sẽ khiến cho nàng khó chịu chăng? Y bèn vác hẳn lên vai, trong lúc này Liễu Mi vẫn vờ như kẻ chưa tỉnh hẳn, Đinh Tàn khẽ tiếng kêu.
- Châu cô nương?...
Nhưng thấy Liễu Mi không trả lời, y bất giác thở dài một tiếng. Từ nãy giờ, Liễu Mi chưa rõ Đinh lão đại này đi bằng cách nào, hai chân thì đi được đã đành, nhưng nếu một chân chỉ có nước nhảy cà nhót, nhưng Đinh Tàn vác thân hình Liễu Mi lên vai, thì nàng phát giác người kỳ nhân độc cước này không hề nhảy cà nhót như nàng tưởng, bước đi của y lướt đi lạ lùng vô cùng. Trong lòng nàng càng lấy làm lạ, không biết con người này đi bằng cách gì mà tuyệt diệu đến thế? Chỉ có một chân mà cũng đi được như người có hai chân! Nhưng nàng không kịp suy nghĩ về sự kiện này, vì nàng cần phải nhận ngay đường lối vào Vô ảnh Phong, chỉ thấy trong chớp nhoáng Đinh Tàn đã đến một nơi giữa hai ngọn phong, nơi đây sâu thăm thẳm và tối om, Đinh Tàn vẫn ung dung vác mình trên vai nhằm ngay dốc thẳm ấy lướt xuống, Liễu Mi thấy vậy càng thất kinh trong lòng, mắt thấy một thâm cốc sâu thăm thẳm như thế, hơi sương mờ mịt, không thể nào nhận ra những cảnh vật xung quanh. Nhưng Liễu Mi vốn là gái nhanh trí suy nghĩ, chỉ trong chốc lát nàng đã nhận ra nơi hang sâu thăm thẳm này có những bực vịn tay vô cùng kín đáo để cho người ta làm phương tiện lên xuống, nếu không để ý tuyệt không đời nào phát giác ra được. Nàng chăm chú để ý tất cả những vị trí kín đáo này, nhưng Liễu Mi lấy làm lạ là không biết tại sao Gia Cát Dật gặp may sao mà biết được nơi vào Vô ảnh Phong như thế này? Nhưng nào nàng có biết đâu chính Gia Cát Dật đã phải chật vật vất vả với vách tường vô cùng nguy hiểm của người ta!
Tuy vác trên vai một người như Liễu Mi, nhưng Đinh Tàn vẫn ung dung nhanh nhẹ như một người không bận vướng gì, chẳng mấy chốc, Liễu Mi cảm thấy Đinh Tàn đã tới hẳn mặt đất. Liễu Mi lại cố chăm chú nhớ kỹ các lối đi trọng yếu, nàng thấy ngay một ngọn phong nhô hẳn lên, và nhấp nhoáng thấy ngay cung điện Ma Cung trước mắt. Nàng không ngờ ngôi Vô ảnh Phong lại ở một nơi bí hiểm như thế này, may mà mình không mở cuộc thám thính liều mạng, nếu không đời nào mình phát giác được một nơi kín đáo như đây! Đinh Tàn vẫn vác nàng Liễu Mi trên vai, và nhún nhẹ một cái, toàn thân đã lên dần ngọn phong, bắt đầu bước vào thế giới lưu ly. Ánh sáng ở đây sáng rực hẳn, không khác gì ban ngày, Liễu Mi thấy ngay bức bình phong bằng ngọc thạch, trên có khoét bốn chữ Phi Các ma cung, đặc biệt là chữ ma lại thấp hẳn xuống, Liễu Mi đã đoán ngay ra là chính Gia Cát Dật đã chữa lại chữ này, trong lòng bất giác cũng mỉm cười lối nghịch thanh nhã thâm ý của Gia Cát Dật.
Bỗng mắt Liễu Mi thấy rõ ràng, ngay trước cửa ngôi cung điện của Phi Các ma cung, có một vị nho sĩ đang ôm cây cổ cầm ngồi xếp chân bàn tròn, mắt không hề ngó quanh co, người này không phải Gia Cát Dật thì còn ai vô đây nữa? Nàng suýt kêu thành tiếng, trong bụng nghĩ thầm: Sao ông ta lại ngồi đó làm gì kia? Trong lòng thấy làm lạ vô cùng! Nhưng lạ hơn nữa là Đinh Tàn là hình như không thấy cảnh trước mắt, và đã đi quẹo sang một bên cách xa lối bốn thước.
Chợt Gia Cát Dật thấy có người đi ngang, vội ngửng đầu lên, đôi mắt sáng ngời lên, đưa ngay tay ra tính gẩy cây đàn Bát long ngân. Liễu Mi biết ngay tiếng đàn của Bát long ngân lợi hại như thế nào rồi, nhất là đã lãnh giáo trong đêm ở Hắc Hổ Miếu, nhưng kỳ đó do tay Tư Đồ Cống phát gẩy, nhưng nay chính là chủ cây đàn phát âm, Liễu Mi cũng không biết mình có thể chịu nổi tiếng đàn này không, nàng vội vận ngầm chân khí để phòng bị. Nhưng ngay lúc đó, Gia Cát Dật bỗng thu ngay tia nhìn sáng long lanh của mình lại, tay cũng ngừng ngay động tác gảy đàn và hình như đã thở dài!
Liễu Mi thầm nghĩ: Thôi phải rồi? Chắc ông ta thấy mình mặc bộ đồ thanh y như thế này tường đâu mình là Thanh điệp Châu Sách, nên không dám phát dây huyền ra, vì sợ lại gây nên cái chết nữa chăng, nhưng tại sao ông ta không chạy đến cứu mình? Không lý ông ta tự biết địch không nổi với đại đệ tử Đinh Tàn của Độc Ma sao? Nghi vấn ấy cứ rối rắm liên miên trong óc Liễu Mi hoài, nàng không sao tìm ra một câu trả lời cho chính đáng! Nàng chỉ đoán phỏng chừng, Gia Cát Dật có lẽ đang bị giam giữ, hay là tệ hơn nữa là đã bị thương nặng.
Đinh Tàn vác nàng trên vai đi quanh co khúc khuỷu những hành lang trong cung điện, chỉ thấy cảnh châu báu sáng rực, cảnh sắc huy hoàng lộng lẫy, có thể còn xa hoa hơn với cung điện của hoàng cung trần gian là khác, đến Liễu Mi là kẻ thấy nhiều hiểu rộng mà cũng phải cảm thấy lạ lùng! Ngôi Phi Các ma cung này thật là một kỳ công về kiến trúc, có thể nói là thợ nhà trời mới làm nổi một cung điện tráng lệ nguy nga như thế, khiến kẻ nào nhìn thấy cũng phải mê mẩn tâm thần về lối thần tình khéo tuyệt của nó.
Suốt dọc đường, không thiếu gì các nam nữ đệ tử, khi chúng thấy Đinh Tàn đi ngang, ai nấy cúi mình cung kính thi lễ, Liễu Mi khẽ hé mắt nhìn lén, nàng bất giác cảm thấy đỏ bừng mặt vì thẹn, vì những nam nữ đệ tử đây ăn mặc vô cùng hở hang, gần như đã lõa thể hẳn, những bước đi đứng của họ vô cùng lẳng lơ, nghĩa là bao hàm tất cả những tác động khiêu gợi tột độ và nhất là các cô gái, họ không biết mắc cỡ thẹn thùng là gì, ai nấy lẳng lơ tiến tới chào hỏi lả lơi rằng:
- Kính chào Đại điện hạ! Ngài đi đâu mà hấp tấp vội thế?
Mặc cho những âm thanh lẳng lơ tha hồ réo lên, Đinh Tàn vẫn vác Liễu Mi ung dung đi, thế là đám con gái đua nhau bàn tán huyên thuyên, có tiếng rằng:
- Trời ơi! Thảo nào!... Không biết Đại điện hạ lại bắt đâu được cô bé xinh tuyệt đến thế? Hèn gì ngài ta không thèm ngó ngàng đến cánh bọn mình!
Liễu Mi nghe vậy vừa thẹn vừa tức, càng cho mình bị xui xẻo, nàng không dám mở mắt để chứng kiến những cảnh cười cợt vô cùng nóng mắt của đám người trong Ma Cung này.
Đi thêm được một chặp nữa, Đinh Tàn bỗng ngừng ngay bước lại, Liễu Mi hé mắt ra nhìn, nhưng cảnh đây khác hẳn cảnh vừa rồi, đám tì nữ hầu hạ ở đây đều ăn mặc chỉnh tề theo lối cung điện nhà vua.
Chỉ nghe tiếng Đinh Tàn hỏi rằng:
- Hạ Quyên có trong đó không?
Bên trong rèm có tiếng trả lời rằng:
- Đại gia đấy ư? Xin mời vào!
Bức rèm được vén lên, Đinh Tàn vác luôn Liễu Mi vào trong phòng, khẽ đặt nàng nằm lên trên giường.
Liễu Mi vẫn phải cố vờ như chưa tỉnh, trong đôi mắt lim dim của Liễu Mi, nàng chỉ thấy một cô gái đẹp ăn mặc theo lối cung trang cất tiếng hỏi rằng:
- Nàng này sao vậy?
Đinh Tàn trả lời:
- Cô bé này là Châu Sách, tức em của Bạch điệp Châu Ni, lão Nhị đã hại chết chị người ta còn chưa vừa lòng, mà nay còn sai lão Tam lão Tứ ra bắt luôn cô em. Nhưng nào hay tên lão Tam và Lão Tứ lại nổi lòng dâm tà, chúng tính phi lễ làm nhục đến cô bé này rồi, nhưng may gặp tôi tới kịp lúc, nên nàng mới thoát nạn.
Liễu Mi nghĩ thầm: Chắc người con gái này là Hạ Quyên đây. Chỉ nghe cô này nói rằng:
- Chắc đã bị hai sư đệ quí hóa của đại gia điểm huyệt rồi! Sao ngài không giải huyệt hộ cho nàng đi!
Đinh Tàn cười nói rằng:
- Cô nhỏ này cũng kỳ lạ lắm, trong lúc tôi giải huyệt cho nàng, tôi phát giác ngay nàng không hề bị ai điểm huyệt, chẳng qua nàng chỉ giả vờ như kẻ hôn mê bất tỉnh mà thôi, và suốt dọc đường còn để ý quan sát tất cả những cảnh vật trong Phi Các ma cung này, xem ra nàng tinh khôn ranh mãnh lắm, nhưng không hiểu tại sao nàng lại chịu ngoan ngoãn để tôi vác vào trong cung điện một cách im lặng như thế mà không hề ra tay hạ thủ tôi!
Liễu Mi nghe Đinh Tàn nói vậy trống ngực đập thình thình thất kinh, thì ra Đinh Tàn đã biết rõ tất cả những hành động vớ vẩn của mình!
Bỗng nàng lại nghe Hạ Quyên nói rằng:
- Thưa đại gia, chắc cô bé này hết hồn vì thấy hai sư đệ của ngài cũng nên! Dù cho cô bé có tỉnh lại cũng phải vờ bất tỉnh còn hơn là lại bị hoảng hồn thêm!
Đinh Tàn buông tiếng cười ha hả một hồi rồi nói:
- Thôi tôi giao cô bé này cho cô vậy! Và cô nên khuyên y là đừng sợ hãi gì hết, vài hôm nữa tôi sẽ tìm cách đưa về Giang Nam sau... Bây giờ tôi còn phải lo đi giải thích với Nhị sư đệ về vụ này!
Nói xong Đinh Tàn bỏ đi ngay.
Đinh Tàn đi xong, Hạ Quyên bèn đóng ngay cửa lại rồi bước đến gần giường, quả nhiên thấy Liễu Mi thức thật, đôi mắt nàng đang mở thao láo. Hạ Quyên nhận thấy mình có vẻ lớn tuổi nhiều hơn, bèn cười nói rằng:
- Kìa em! Em đã tỉnh hẳn rồi đấy chứ? Trong người có thấy chỗ nào khó chịu không?
Liễu Mi lắc đầu, Hạ Quyên bước sát lại ngồi ngay xuống cạnh thành giường, đưa ngay bàn tay mềm mại trắng nõn ra vuốt ve làn tóc của Liễu Mi cười an ủi rằng:
- Này em Châu Sách, em chớ lo lắng trong lòng làm gì, chỗ của chị đây an toàn lắm, không có ai dám lại đây ức hiếp đâu mà sợ, em cứ yên tâm!... Chắc em nhớ nhà lắm hả?... Để chị sẽ tìm cách đưa em về tận nhà mẫu thân của em! Em vui lòng chứ?
Liễu Mi chỉ cảm thấy nàng Hạ Quyên này quả là một người đáng thân lắm, nhất là người ta lại xưng chị với mình, nếu đem so với người chị ruột của mình, quả thật là nàng Hạ Quyên này còn hơn gấp trăm lần là khác người chị Liễu Văn của mình đời nào thương mình như thế, huống hồ thanh danh lại không đẹp đẽ gì càng không may cho mình là lại đẻ sinh đôi với người chị tai ác như thế, mặt mũi giống nhau như đúc, khiến cho thiên hạ cũng đâm nghi đến những hạnh kiểm thanh bạch của mình bị mang tiếng! Nếu chị của mình lại có tất cả những đức tính tốt của Hạ Quyên đây phải hay biết chừng nào! Nghĩ đến đây, Liễu Mi bất giác tủi phận, nước mắt chảy dòng dòng trên hai gò má mịn màng của nàng. Hạ Quyên thấy vậy lại cuống quít khuyên nhủ một hồi...
Sau khi trầm mặc một hồi khá lâu, Liễu Mi bỗng hỏi Hạ Quyên rằng:
- Không biết chị có biết chàng thiếu niên mới bị bắt mấy hôm trước đây hiện ở đâu không? Tên chàng thiếu niên gọi là Thượng Quan Linh!
Nàng Liễu Mi đã cố nhịn, nhưng rốt cuộc nàng đã lên tiếng hỏi đến một vấn đề chính yếu của lòng mình, nhưng sau khi thoát khỏi cửa miệng, nàng lại hồi hộp vô ngần, vì nàng chỉ sợ mình phải nghe đến những tin tuyệt vọng thì chết mất! Trống ngực nàng đập dữ, mồ hôi trên trán toát ra, tinh thần nàng lúc này căng thẳng tột độ để chờ câu trả lời.
Hạ Quyên rằng:
- Có có một người như thế, hình như họ bắt từ Nhạc Châu về thì phải! Nhưng chàng... chàng...
Nói tới đây, bỗng nàng phát giác Liễu Mi như bị ngất xỉu, vội cuống lên gọi:
- Kìa em!...Sao thế! Trong mình khó chịu sao?...
Liễu Mi uể oải thở dài rằng:
- Em không sao... Thưa chị... có phải... chàng... đã chết rồi?
- Nào chàng ta đã chết đâu! Hãy còn bị nhốt trong ma huyệt này thì phải!
Liễu Mi nghe vậy như tên vừa bắn khỏi cung, toàn thân cảm thấy khoan khoái nhẹ nhõm hẳn, nàng thở dài như lấy lại sự bình tĩnh của mình. Hạ Quyên đâu phải người ngốc gì mà không biết chuyện tâm lý của cô em trước mắt đây, đoán ngay chắc là anh chàng Thượng Quan Linh nào đó có lẽ là ý trung nhân của cô em mình đấy? Nhưng Hạ Quyên không đả động đến vội! Nàng chỉ thấy Liễu Mi lúc này có vẻ hăng hái yêu đời lắm, nói năng hoạt bát, chỉ nghe nàng tươi tỉnh hỏi rằng:
- Thưa chị, thế anh ấy không bị thương gì chứ?
Hạ Quyên lúc này mới vờ vịt ấm ớ rằng:
- Anh ấy? . . . Anh ấy là ai? . . . Chị chả hiểu gì hết! . . .
Liễu Mi mặt đỏ lên ấp úng làm nũng rằng:
- Ô chị... em không biết... chị chế giễu em ư!...
Hạ Quyên tươi cười vui vẻ nói:
- Chưa hề gì đâu, vẫn còn nguyên vẹn! Chuyến này em chị vừa ý câu trả lời của chị chứ?
Nói tới đây, thấy sắc mặt Liễu Mi tỏ vẻ vô cùng hân hoan, bất giác cũng mừng cho cô em của mình.
Nhưng Hạ Quyên bỗng lại mất ngay nét vui khẽ tiếng nói rằng:
- Thượng Quan công tử đã bị bắt tới đây lâu rồi, nghe đâu cuộc bắt chàng ta lại Ma Cung này, hoàn toàn là do lời ủy thác của người bạn thân của Độc Ma, và chính ngày kia đây, kẻ thù chính cống của Thượng Quan Linh sẽ thân hành đến Ma Cung đây để trọng tạ thầy trò của Độc Ma trong công việc đắc lực này... và còn... và còn...
Liều Mi nghe vậy hỏi ngay:
- Và còn tính đem theo chàng Thượng Quan Linh đi phải không chị?
Hạ Quyên lắc đầu nói rằng:
- Không phải thế! Theo lời đại gia (Đinh Tàn) nói, người đó có một bức thư gửi đến cho Độc Ma, yêu cầu bên này hãy chuẩn bị sẵn sàng, đến lúc đó, sẽ dùng ngay mạng sống của Thượng Quan Linh để làm một mục tiêu tỉ thí phóng ám khí dao găm!...
Liễu Mi nghe nói vậy, không những không tỏ vẻ sợ hãi gì, trái lại mắt nàng cứ đảo chớp lia lịa, Hạ Quyên bất giác kỳ lạ, trong bụng nghĩ thầm: Không lý con bé này còn có kế gì để cứu người yêu của nó sao?
Bỗng Liễu Mi lên tiếng rằng:
- Này chị, thế còn Gia Cát tiền bối sao lại cứ ngồi ỳ ra trước cửa điện như thế? Sao ông ta không chịu đánh thẳng vào đây kìa?
Hạ Quyên than thở rằng:
- Nào em đâu có biết, Gia Cát Dật đâu phải là không muốn vào đây! Chẳng qua là không vào được đấy thôi, chính ông ta đã bị giam ngay vào thế giới lưu ly hằng ngày phải chịu đựng những sự dày vò của tiếng nhạc Diệu Sắc Tiên âm, và chính Độc Ma đã mở cuộc đánh cá với Gia Cát Dật là năm ngày, làm sao khám phá ra được những sự kỳ ảo trong thế giới lưu ly này để mà thoát thân, hôm nay đã được hai ngày rồi, và bây giờ cũng sắp tối đến nơi! Tuy rằng Gia Cát Dật đã hiểu nổi sự huyền ảo của Vô ảnh Phong, nhưng đối với Thế giới lưu ly, không phải dễ dàng gì mà khám phá nổi sự bí mật của nó ?
Tối đến ánh trăng đã lên, tất cả những ánh sáng của châu báu trong Phi Các ma cung đều đâm lu hẳn, tuy là ngọn phong này nằm trong hang tuyệt cốc, nhưng ánh trăng vẫn chiếu rõ tất cả mọi cảnh.
Liễu Mi đã thay đổi y phục, nàng ăn mặc theo lối tì nữ để hầu hạ cho nàng Hạ Quyên, và Hạ Quyên có cả thảy bốn nàng hầu, đều ăn mặc theo lối cung trang, nhưng đặc biệt khác hẳn với các tì nữ khác, dù cho các nam đệ tử trong cung có thèm nhỏ nước miếng đi nữa, cũng không dám đụng đến họ, nhất là lại biết những người này thuộc về sự quản trị của Đại điện hạ Đinh Tàn! Nên tha hồ cho Liễu Mi tự do muốn đi đâu trong cung thì đi. Trước tiên, nàng tìm ngay đến nơi giam cầm Thượng Quan Linh, thấy chàng bị nhốt trong một gian phòng, tay bị còng, chân bị cùm, bên ngoài lại có các đệ tử trong cung canh chừng cẩn mật.
Đương nhiên Liễu Mi không dám mạo muội để lộ hành động của mình, vì nàng cũng khó lòng mà mong thoát được ngôi Ma Cung huyền ảo này, Nàng vốn là người thông minh cơ trí, nên những việc càng nguy hiểm, nàng lại đâm ra điềm tĩnh lạ lùng, chuyện này có thể nói là một sự kiện nguy hiểm lớn lao mà từ trước đến nay nàng mới đụng độ lần đầu tiên, nhưng nàng cảm thấy mình phấn khởi vô cùng, nàng đã cố vận dụng hết cả bộ óc tinh vi của mình để tìm một kế hoạch và một thời cơ tiện nhất để cứu người yêu thoát nạn.
Nàng từ khe cửa nhìn vào, thấy Thượng Quan Linh vẫn mạnh khỏe như thường, nhưng riêng về mặt tinh thần có vẻ u sầu lắm, ngoài ra không thấy gì lạ hơn? Nàng yên tâm, thế là nàng lại đi đến thế giới lưu ly để nghiên cứu, khối lưu ly trong vắt này thật là khéo tuyệt, nhìn bề ngoài như không có một vật gì cản trở, ấy thế mà Gia Cát Dật lại nhốt giữ bên trong, tứ phía đều chắc chắn như tường đồng vách sắt vậy, Liễu Mi cũng đã từng hỏi Hạ Quyên nhưng nàng ta cũng không hiểu được bí mật của khối thế giới lưu ly này.
Bây giờ là đêm thứ hai Gia Cát Dật bị nhốt trong thế giới lưu ly, nhưng người trong Ma Cung củng còn có vẻ ưu đãi ông ta, cung cấp đầy đủ những thức ăn thức uống từ một lỗ hổng chu vi có năm tấc vuông, với lỗ đặc biệt để đưa thức ăn thức uống này, đương nhiên là quá nhỏ dù cho Gia Cát Dật có biết về môn Túc cốt pháp (thuật co xương cho nhỏ mình lại) củng không thể nào từ lỗ nhỏ này thoát thân ra được.
Liễu Mi đứng ngoài nhìn vào, thấy Gia Cát Dật cũng đang suy nghĩ để tìm lối thoát thân. Liễu Mi đã nghĩ đến cách đi hỏi từng người trong cung về những bí mật của thế giới lưu ly này, nàng càng tin rằng phải có cách đóng mở của khối lưu ly khổng lồ này? Nàng cố chăm chú tỉ mỉ tìm manh mối bí mật, nhưng vẫn tuyệt nhiên không hề thấy gì lạ. Khi trăng chiếu rõ ngay đỉnh đầu, các đệ tử nam nữ trong cung lại bắt đầu ca múa. Hễ mỗi lần có những cảnh tà niệm ấy hiện ra, Gia Cát Dật lại phải dùng ngay đến cây đàn cổ Bát long ngân của mình để gảy lên những điệu nhạc thê lương ai oán để chống lại với ý dâm của đối phương. Và đối phương đã không sao mê hoặc nổi con người đạo tâm cứng rắn như sắt này.
Suốt trong đêm nay, Liễu Mi đã rõ hết các đường lối ra vào trong Ma Cung; vốn thông minh sẵn, nàng chả cần phải vẽ lại họa đồ, tất cả những ngõ ngách trong Ma Cung đều đã in sâu trong óc nàng, và nàng đang tính toán đến những đường lối khi mình tẩu thoát! Nhưng chỉ riêng có một chuyện về thế giới lưu ly là nàng không sao khám phá ra được sự huyền ảo của nó, càng tìm không ra giải pháp gì; còn phần Thượng Quan Linh, nàng đã vạch sẵn một kế hoạch nguy tột độ chuẩn bị khi thời cơ đến đúng sẽ đưa ra áp dụng sau !
Hạ Quyên nay đã nghiễm nhiên thành một kẻ đồng mưu với Liễu Mi, nhưng nàng là người không am hiểu tí gì về võ công, lại nhát gan, tuy biết Liễu Mi quá mạo hiểm, nhưng ngoại trừ cách này ra, quả thật không còn cách gì khác để thoát thân, thế là nàng cũng âm thầm chuẩn bị cho phần mình. Suốt đêm đó, Liễu Mi và Hạ Quyên đều thủ thỉ trên gối về chuyện bí mật của thế giới lưu ly nọ, nghĩ tới nghĩ lui, hai người vẫn không sao tìm được câu trả lời nào dứt khoát.
Hạ Quyên đã nói là nếu trường hợp vạn bất đắc dĩ, chỉ còn cách là nàng sẽ thân hành hỏi ngay Đinh Tàn, nhưng Đinh Tàn tuy là con người trung trực , nhưng gã vẫn trung thành tuyệt đối Vô ảnh Phong, vậy thì sự thăm dò này chẳng gây nên sự nghi cho Đinh Tàn sao? Phải làm sao cho khéo lắm mới được?
Nhưng Liễu Mi vội ngăn cản ngay cuộc dò hỏi của Hạ Quyên vì như thế có khác nào: Lạy ông tôi ở bụi này! Suốt đêm, nàng thao thức không sao chợp mắt.
Sáng hôm sau, và cũng chính là ngày thứ hai nàng đã đến Ma Cung và cũng là ngày thứ ba mà Gia Cát Dật bị giam giữ trong thế giới lưu ly. Hôm nay, thấy các nam nữ đệ tử đi tấp nập trong cung, trông thấy ai cũng vội vàng như có chuyện gì vậy. Sau khi hỏi rõ ra, khiến cho Liễu Mi suýt chết giấc, thì ra trong Ma Cung đang sửa soạn tiếp một vị khách quí từ phương xa đến, đêm nay thế nào cũng mở một cuộc đại yến tiệc để khoản đãi khách, đồng thời Tam điện hạ, và Tứ điện hạ ra đi để rước khách, mọi việc linh tinh trong Ma Cung hiện đều do Nhị điện hạ chỉ huy sửa soạn. Nếu vậy chắc là kẻ tư thù của Thượng Quan Linh đã đến đây, vậy thì những tin tức của nàng Hạ Quyên đâu có chính xác gì?
Sao lại có thể tức khắc, đêm nay Thượng Quan Linh thế nào cũng mất mạng? Nàng Liễu Mi âm thầm khấn vái, và nàng cũng bắt đầu tiến hành ngay công tác chuẩn bị. Nhưng còn chuyện về thế giới lưu ly đến bây giờ vẫn chưa khám phá nổi sự bí mật của nó, trong lòng nàng không khỏi bối rối lo lắng. Nàng lại đến ngay thế giới lưu ly ấy để quan sát thêm, chỉ thấy Gia Cát Dật đang đi lững thững bên trong, chứng tỏ ông ta cũng biết mình đã bị giam trong ấy ba ngày rồi và đã đúng với thời gian hẹn với Hầu Hạo, thế mà nay vẫn chưa thể thoát khỏi cái lồng lưu ly này!
Liễu Mi nghĩ bụng: mình quyết tâm đi thêm một vòng quanh ngôi lồng lưu ly này, nếu không phát hiện sự huyền ảo gì thêm, và nếu thời cơ quá cấp bách, chỉ còn nước đành bỏ ngay kế hoạch cứu thoát Gia Cát Dật, đồng thời nàng nghĩ thầm trong bụng: Gia Cát Dật tiền bối, xin ngài chớ có trách gì tôi, thực ra tôi cũng đã cố gắng hết sức, và nay, tình trạng quá cấp bách, tôi chỉ còn cách cứu người đồ đệ của ngài trước, nếu không nội trong đêm nay thế nào ái đồ của ngài cũng bị hại!
Nhưng khi Liễu Mi vừa quành đến mức bình phong ngọc thạch, nàng thấy có gì là lạ hiện ra trước mắt mình, vội bước thêm một bước tới. Liễu Mi cẩn thận đứng yên một chập, chợt nàng nghĩ ngay ra sự huyền ảo của bức bình phong bằng ngọc thạch, và chính nơi đây có thể khiến cho người bị giam bên trong có thể thoát thân bằng lối này? Thế là nàng vội hấp tấp viết ngay mấy chữ, để lén ngay vào bát cơm mà đám đệ tử trong Ma Cung sẽ đưa vào cho Gia Cát Dật. Nàng cố ý chơi loanh quanh để chờ kết quả, nhưng mâm đã chuyển vào trong, không hề thấy Gia Cát Dật đụng tới, trong lúc này, bên ngoài cung điện đã có những tiếng ồn ào náo nhiệt, chắc là quí khách đã đến! Liễu Mi thấy Gia Cát Dật chưa chịu ăn uống gì nàng đành thất vọng, thời cơ lúc này trở nên eo hẹp dần, nàng chẳng cần suy nghĩ gì thêm, vội chạy hấp tấp vào cung luôn.
Bỗng Liễu Mi thấy hai đệ tử trong Ma Cung, tay cầm binh khí và đang tiến về phía phòng giam Thượng Quan Linh. Liễu Mi vội đóng ra vẻ mặt tươi cười thướt tha bước đến gợi chuyện cười nói rằng:
- Chao ôi! Hai vị đại ca đi đâu mà trông có vẻ oai nghiêm thế?
Hai tên đệ tử thấy một thiếu nữ ăn mặc theo lối cung trang đẹp đẽ như thế, trong khi nói chuyện lại liếc mắt tống tình như vậy, thật là diễm phúc trên trời rớt xuống, cả hai cảm thấy khoái điên người lên được?
Một trong hai tên đệ tử lên tiếng rằng:
- À, bọn anh phụng mạng của Nhị điện hạ, dùng vải để cuốn phạm nhân, rồi sẽ đưa thẳng ngay lên đại điện!
Liễu Mi giật mình, nhưng nàng vẫn tươi cười nhẹ nhàng nói:
- Này nhị vị đại ca, chúng mình hãy qua bên kia nói chuyện này chút cho vui!
Dứt lời nàng đưa mắt tống tình lẳng lơ đến mức tột độ cốt khiến cho hai tên quỉ dâm mắc câu của mình.
Quả nhiên hai tên đệ tử này không làm sao chịu nổi cảnh quyến rũ của nàng Liễu Mi, thế là chúng bắt đầu ấm ớ... nhưng Liễu Mi đâu dại gì để chúng đụng vào thân mình, nàng khẽ gắt và lùi nhanh lại về phía vườn hoa tối om.
Hai tên quỉ đói hấp tấp đuổi theo sau, chỉ nghe một tên nói:
- Này lão Hách, công việc của Nhị điện hạ giao phó cho chúng mình còn làm xong, phần con bé này là người hầu của Hạ Quyên cô nương, nếu chẳng may bị điện hạ biết liệu chúng mình có giữ nổi hồn không? Thôi, chớ có làm dại...
Tên mà được gọi là Hách lên tiếng mắng rằng:
- Ngốc ơi là ngốc! Nếu trâu không khát nước, đố anh vật nổi nó xuống để uống nước, huống hồ đằng này người ta tình nguyện với chúng mình, dù cho điện hạ có biết cũng không đời nào đi trách chúng mình!
Thế là tên bị mắng là ngốc bèn theo ngay tên Hách lủi ngay vào trong vườn hoa tối để theo sát sau lưng nàng Liễu Mi, thình lình Liễu Mi quay nhanh thân lại, cung chỉ nhanh như chớp điểm ngay tên ngốc, tên này không hự được một tiếng nào đã lăn ngay ra mặt đất. Và cả tên Hách chưa kịp kêu thành tiếng thì đã bị người ta điểm ngay vào huyệt câm, lúc này hồn vía hắn đã muốn bay khỏi xác, chỉ cảm thấy một lưỡi kiếm lành lạnh đang kề ngay cổ! Và tiếng quát rằng:
- Muốn sống phải nghe theo lời ta!
Tên Hách gật đầu cuống lên.
Liễu Mi bèn lấy ngay quần áo của tên Ngốc nọ mặc vào mình, đội ngay mũ lên đầu, ép ngay tên Hách vào phòng giam của Thượng Quan Linh, nàng cố cất giọng thô bạo như tiếng đàn ông rằng:
- Nay phụng mạng của Nhị điện hạ, đem ngay phạm nhân lên điện để chờ lệnh mới, bây giờ các ngươi được tạm giải tán khỏi canh gác nơi đây!
Mấy tên đệ tử lo canh gác lập tức bỏ ngay công việc canh gác mệt nhọc của mình đi ngay, Liễu Mi vội ép ngay tên Hách vào trong phòng giam. Thượng Quan Linh nghe tiếng và ngửng đầu lên nhìn, Liễu Mi vội vàng tụt ngay mũ xuống, lộ ngay bộ mặt thật của mình
Thượng Quan Linh thấy rõ ràng mừng quýnh lên rằng:
- Trời!... em Liễu Mi của anh thật đó sao?... Hay là anh đang nằm mộng đấy?
***
Ánh trăng chiếu sáng khắp ngôi Phi Các ma cung của Vô ảnh Phong, càng hiện rõ tất cả những nét trang nghiêm huy hoàng của cung điện Ma Cung này.
Lúc này tân khách của Ma Cung cũng đã đến nơi, thầy trò Độc Ma thân hành ra ngoài nghênh tiếp, Ma Cung chủ nhân Độc Ma đang ngồi thảnh thơi trên sàng kiệu bằng nhung xanh hồ thủy, còn Đinh Tàn, Đinh Hủy, Đinh Phá, chia đứng hai bên sàng của Độc Ma, chỉ có riêng lão Nhị Đinh Hãm là đang lo việc chỉ huy mọi việc trong Ma Cung. Thầy trò Độc Ma lo nghênh tiếp tân khách tại cửa cốc Vô ảnh, chẳng bao lâu, tiếng nhạc tấu vang inh ỏi, tân quí khách đã đến, sau khi nắm tay chào mừng nhau, đôi bên khách và chủ đủng đỉnh bước theo tiếng nhạc tấu vào phong. Phía mặt tiền của Ma Cung, nơi mà bức bình phong bằng ngọc thạch ấy, chữ Ma vẫn nằm nguyên như cũ, chính Độc Ma cũng chẳng cho người sửa lại làm gì.
Trong đám tân khách đến, có cả thảy là ba người, và ba người này đều bịt mặt hết, trong ba nhân vật này lại có một bà lão, tay cầm cây quài trượng (gậy khúc khuỷu) và lão bà này là chủ trong nhóm ba người, còn hai người kia là hai kẻ đại hán cường tráng theo hầu hạ, ba người đều mặc toàn đồ đen! Họ chỉ để lộ cặp mắt trở lên.
Độc Ma vì thân hình tàn phế, không tiện đi đứng, nên chỉ thấy lão bà đi ngang sát với sàng kiệu của chủ nhân đến bức bình phong ngọc thạch nọ. Bỗng vị khách này tỏ vẻ ngạc nhiên nhìn Độc Ma rồi lại nhìn ngay chữ Ma trên bức bình phong, lão bà cất tiếng hỏi rằng:
- Phi Các tiên cung được đổi tên hồi nào vậy?
Nếu quả mắt bà già tôi chưa hoa hẳn, thì hình như chữ thứ ba mới viết lại gần đây? Nhưng không biết thủ bút của vị cao nhân nào trên giang hồ? Giáo chủ có thể cho biết là vị cao nhân nào đấy không?
Độc Ma lớn tiếng cười ha hả rằng:
- Chẳng dám giấu gì ngài, ba ngày trước đây, bản cung đã có một người khách quí lại chơi, và đã chê tên Cung điện đây không được nhã, nên mới tự ý sửa chữa như vậy!
Lão bà nghe xong hừ lên những tiếng lạnh lùng nghiêm trang, rồi hỏi:
- Hừ! Không biết là loại cao nhân ẩn sĩ đâu mà - dám ngang nhiên đến đây hôn phá thế!
Ma Cung chủ nhân chỉ ngay Gia Cát Dật đang bị giam trong thế giới lưu ly cười nói rằng:
- Xin ngài hãy tạm bớt cơn lôi đình, vị khách kia tuy là thô lỗ vô lễ, nhưng quả thật là một nhân tài có thể đào tạo được lắm! Bản chủ nhân đây đã có ý để y trong năm ngày thời gian để suy nghĩ cho chín chắn tư tưởng, rồi mới bắt y gia nhập vào Phi Các tiên cung, để giữ một chức hộ pháp. Với những thân thủ bất phàm của y, nếu y chịu thành tâm qui y giáo phái của bản nhân, thế nào cũng trở thành một trung thần tuyệt hảo!
Lão bà lúc này đã hơi có vẻ hòa nhã rằng:
- Giáo chủ cấu hiền tài như thế, quả thật khiến bà già này khâm phục lắm!
Độc Ma cười ha hả rằng:
- Ngài quá khen! Quá khen! Nay chỉ vì chưa mãn hạn năm ngày, nên cửa chánh của ngôi thế giới lưu ly này không thể nào mở trong lúc này, vậy xin ngài cảm phiền cho phải đi bằng lối bên hông vậy, như thế quả thật là bất kính đối với ngài... Mong ngài lượng tình thứ lỗi cho!
Lão bà vội rằng:
- Có sao đâu! Xin đừng quá khách sáo!
Thế là cả đám người lững thững theo sau sàng kiệu của Ma Cung chủ nhân đi quanh co vào cung điện bên trong.
 
0
Hồi 046. Thoát Khỏi Trùng Vây
[/align]

Lối đi quả là chật hẹp. Chính mắt bà lão cũng nhận thấy thế, trong lòng không khỏi đâm ra nghi ngờ, nhưng biết chủ nhân thế nào cũng có cách, nên cũng không vội tỏ vẻ kinh ngạc, âm thầm xem biến chuyển ra sao? Chỉ thấy sàng kiệu của Ma Cung chủ nhân khi gần giáp cận với thế giới lưu ly bỗng dưng nhẹ nhàng lướt qua khỏi mới lạ lùng! Bà lão bịt mặt bất giác thất kinh trong lòng, như bà ta vẫn không lộ nét kinh ngạc gì!
Thình lình trước mắt nhoáng lên một ánh bạch quang, một người mặc áo trắng xóa từ trong thế giới lưu ly lướt nhanh như bay ra với thế rất đẹp mắt, tay ôm đàn cổ, ung dung đứng ngay trước lối đi của mọi người.
- Ối!. Nhân phạm đào tẩu!...
Tiếng kinh hãi của đám đệ tử Ma Cung hô ầm ĩ lên.
Hai đệ tử Đinh Hủy và Đinh Phá đứng cạnh bên Độc Ma chực tung mình nhảy xổ ra, nhưng bị ngay Độc Ma ngăn lại, lúc này chỉ thấy thần sắc Gia Cát Dật oai nghiêm bất phàm, và đồng thời cất tiếng rằng:
- Giáo chủ nay có quí khách đến thăm, sao giáo chủ không giới thiệu cho tại hạ làm quen với?
Ma Cung chủ nhân cười ha hả rằng:
- Quả nhiên nhà ngươi tài trí xuất chúng thông minh tuyệt vời, đã ngang nhiên thông hiểu những Vô ảnh Phong này của ta! Nhất là đối với thế giới lưu ly! Quả thật là một kỳ tài hiếm thấy trong trần gian, bản chủ nhân đây, nói thật là thích ngươi lắm.
Nói tới đây ngừng một chập xong mới quay sang bà lão bịt mặt rằng:
- Thưa ngài, đây là một trong những nhân vật Càn Khôn Ngũ Tuyệt lừng danh là Nam bút Gia Cát Dật!
Lão bà bịt mặt có vẻ ngạo mạn lạnh lùng rằng:
- Nội thấy cây cổ cầm trên tay y, ta cũng đã đoán ra lai lịch y một phần nào rồi!
Dứt tiếng vẫn đứng uy nghi bên cạnh sàng kiệu!
Ma Cung chủ nhân cười nói với Gia Cát Dật rằng:
- Còn vị tôn khách đây là...
Lão bà bịt mặt bỗng lên tiếng cắt ngang câu nói của Ma Cung chủ nhân rằng:
- Bà già ta cũng sắp đến ngày gần đất xa trời rồi, chút ít tiện danh đê phận đừng nên nhắc ra làm gì nữa!... Càn Khôn Ngũ Tuyệt danh chấn động khắp giang hồ, nay gặp nhau đây, thật là hân hạnh biết mấy! Và lão bà đây đang tính xin thỉnh giáo một vài ngọn tuyệt học... nếu nhận thấy không có chuyện gì cản trở, phiền cùng vào luôn Tiên Cung chuyện vãn cho vui?
Gia Cát Dật thấy đối phương lại ngang nhiên khiêu khích với mình như thế, bèn cười rằng:
- Như thế thì còn gì sung sướng cho bằng!
Nói xong theo ngay đám người đi quành về phía hông của thế giới lưu ly, rồi vào Tiên Các Ma Cung.
Môn đệ đứng hàng thứ nhì trong Tứ hung của Độc Ma là Đinh Hãm đang đứng ngay cửa điện nghênh đón, và đồng thời bẩm rõ với Ma Cung chủ nhân: yến tiệc đã sẵn sàng, xin mời quí khách sửa soạn để nhập tiệc
Trong đại sảnh của Ma Cung đã bắt đầu vào tiệc, trên một bàn hình móng ngựa lớn, tân chủ cộng cả thảy hai mươi chỗ ngồi, lẽ đương nhiên ngoài những nhân vật chủ yếu ra, còn toàn là nhóm đệ tử can thủ của Ma Cung cũng được dự trong tiệc này, ai nấy ăn mặc chỉnh tề , và hầu hết những bộ mặt kinh tởm như Đinh Hủy đều được dùng miếng lụa đen che hết lại, cử chỉ của mọi người trong bàn tiệc lúc này tỏ ra vô cùng hòa nhã và lễ phép.
Mọi người ngồi vào bàn tiệc xong xuôi, chẳng bao lâu rượu thịt đưa ra chia đồng đều khắp hết mặt bàn; tiếng nhạc du dương bắt đầu nổi lên, mười mấy tên Ma Cung vũ nữ từ từ hiện ra múa những vũ điệu lẳng lơ trước mặt mọi người, mọi người bất giác ngừng ăn uống để thưởng thức cảnh nhảy múa...
Gia Cát Dật không thèm ngó ngàng đến những vũ điệu ru hồn ấy, chỉ thấy Gia Cát Dật từ trong mình lấy ra một giải như bằng đoạn đỏ ra cầm chặt trong tay.
Lão bà ngồi cạnh thấy vậy bèn hỏi ngay rằng:
- Không biết trong tay Gia Cát Dật tiên sinh đang cầm vật gì đó vậy? Tiên sinh có thể cho mượn xem chút được không?
Gia Cát Dật cười như rồng ngân rằng:
- Cái này ư! Chẳng qua chỉ là một giải dây đỏ trên tỉ thủ mà xưa kia tôi đã được nó trong Cửu U Địa Khuyết của Vạn Tính Công Phần, và chính người bạn thân nhất của tôi là Tiêu diêu lão nhân Chung Ly Triết, đồng thời cũng là một trong Ngũ Tuyệt tức đệ nhất Đoạt Hồn Kỳ đã bị chết về giải dây đỏ đã thắt trên ngọn Lãnh điện tỉ thủ. Cùng chết chung với ông ta, còn có các vị: đại hiệp Tạ Đông Dương, Phương Bách Xuyên, U mịch thần quân Diêm Nguyên Cảnh và bốn người bộ thuộc, một trong Tam Dị Khất là Thiểm Điện Thần Khất. Và cũng chính trong miệng của chiếc đầu thiếu nữ Thường Bích Vân đã cắn chặt mớ dây đỏ này! Nay Gia Cát Dật ta tuy bất tài, nhưng với chút manh mối do mớ dây đỏ đây để lại, ta nguyền cố tìm cho ra hung thủ tru diệt, để trả thù mối huyết thù cho những bạn tốt của ta...
Lão bà nghe nói vậy, rụt ngay tay của mình về tỏ vẻ không vui. Trong nháy mắt, thấy một đám đệ tử của Ma Cung khiêng ra một tám ván, trên ván ấy lại trói chặt một người, và người bị trói trên ván ấy lại bị cuốn vải trắng kín mít từ đầu chí chân không hở một chút thịt nào ra, lúc này tấm ván trói sẵn người ấy được dựng hẳn lên trông lại càng rõ ràng và rùng rợn hơn!
Bỗng lại có người bước ngay tới phía bà, dâng ngay một cây bảo kiếm, bà lão bịt mặt liếc nhìn ngay Độc Ma, thấy chủ nhân Ma Cung khẽ gật đầu. Bỗng Độc Ma thình lình đứng ngay lên nói rằng:
- Đêm nay có quí khách giáng lâm, nên bản cung điện đã chuẩn bị sẵn một tiết mục mới lạ để cho quí khách mua vui... - Nói tới đây bèn đưa tay chỉ ngay người bị trói trên tấm ván rằng: - Đó là người sống thực sự quí vị thấy bộ ngực thở thoi thóp thế kia thì biết, nay người này được dùng làm một cái bia để cho quí quan khách tập phóng ám khí chơi. Nay bản chủ nhân và các đệ tử trong Tiên cung đây quả thật là hân hạnh vô cùng, vì chúng tôi sẽ được mục kích một cảnh so tài hiếm có của quí quan khách trong lối phóng ám khí vậy xin quí vị cứ việc thẳng tay diễn hết những tuyệt học của mình cho mọi người thưởng thức...
Dứt tiếng, các đệ tử trong Ma Cung đã sẵn sàng dâng cho bốn vị khách mỗi người mười ngọn phi đao, chỉ thấy hai tên đại hán ngồi cạnh lão bà ấy, sau khi nhận đao với tiếng vỗ tay cổ võ vang lên ầm ầm, cả hai đứng ngay dậy ôm quyền thi lễ rằng:
- Chúng tôi xin múa lấy vậy! - Tiếng vừa dứt thì phi đao cũng bay vụt hết ra một lượt!
Sau khi nghe những Phập! Phập! Phập!... liên tiếp mọi người dồn hết tia nhìn lên tấm ván trói người ấy chỉ thấy hai mươi ngọn phi đao găm sát xung quanh người bị trói, khéo nhất là sát ngay cạnh người, không có ngọn đao nào gây thương tích cho người bị trói, lập tức những tiếng hoan hô vang dội khắp trong đại điện.
Bà lão bịt mặt lúc này bèn đứng dậy lạnh lùng rằng:
- Càn Khôn Ngũ Tuyệt danh vang khắp trong giang hồ! Vậy dám xin tiên sinh biểu lộ cho coi vài ngọn tuyệt kỹ để thiên hạ chiêm ngưỡng! Chiêm ngưỡng!
Gia Cát Dật mỉm cười đứng ngay dậy, thấy tất cả các nam nữ bu nhau lại xem mình biểu diễn.
Nhưng trong đám nam nữ đệ tử của Ma Cung ấy, Gia Cát Dật bắt gặp một đôi mắt sáng quắc hẳn, và Gia Cát Dật nhận ngay ra một đôi mắt tinh ranh của Liễu Mi, lúc này thấy nàng khẽ gật đầu với mình. Nam bút Gia Cát Dật bỗng như chợt nhớ ra, thân hình của bà lão bịt mặt này hình như quen lắm, trông giống
Tiếu diện diêm bà Mạnh Tam Nương, nhưng dù cho
Mạnh Tam Nương có già đi nữa, cũng đâu có đến nỗi gần như lẩm cẩm như thế, mà giọng nói lại không giống. Trong cảnh mơ mơ hồ hồ ấy, Gia Cát Dật lại như cảm thấy vị chủ nhân của Ma Cung chính là Cửu độc thư sinh Cơ Thiên Khuyết, nhưng luận về thân hình, cử chỉ, võ công, ngôn ngữ, thì lại không có một điểm nào tương tự với Đoạt Hồn Kỳ ác cả? Chỉ có những tác phong hành động của người này trông hơi từa tựa với Cửu Độc Thư Sinh mà thôi?
Lão bà bịt mặt bỗng lạnh lùng cười rằng:
- Này Gia Cát Dật tiên sinh, không biết ngài có thể chỉ phóng một đao mà trúng ngay tim của kẻ làm bia kia không?
Gia Cát Dật nghiễm nhiên rằng:
- Nếu quí ngài muốn chóng kết thúc trò chơi dã man này, để tránh sự dày vò tinh thần cho kẻ khốn nạn kia, tại hạ tuy bất tài nhưng cũng xin tình nguyện múa dùi qua mắt thợ!
Nói xong Gia Cát Dật bèn cất tiếng ngân vang lên rằng: Danh bài Tây Đạo Đông Tăng hậu, Gia tại Thiên Đài Nhai Đãng Gian! Tiếng chưa dứt, ngọn phi đao đã trúng ngay tim của kẻ bị trói trên ván từ hồi nào, người bị trói không thét lên được một tiếng nào, vì khắp toàn thân bị cuốn chặt bằng vải, nhưng ai nấy đều thấy đầu của nạn nhân ngay lập tức gục xuống một bên, máu trên ngực đã chảy chứng tỏ nạn nhân đã tắt thở.
Những tiếng hoan hô vang lừng khắp trong điện, còn phần lão bà bịt mặt cũng cười lên khanh khách như đắc trí lắm, tiếp đó cầm ngay cây kiếm bên cạnh lên tiếng dõng dạc rằng:
- Giáo chủ đã tận hết tâm lực để giúp cho bà già này giải quyết một vụ chuyện quan trọng, bà già này thật vô cùng cảm kích... Nhưng nghe nói cây kiếm mà tên tiểu tử ấy mang bên mình, hình như không phải là một cây kiếm phàm thường gì đâu nhé , vậy bà già này cũng mượn cớ Tá hoa hiến Phật (mượn cớ dâng hoa tạ
Phật), hôm nay xin chuyển tặng ngay cây kiếm quí ấy cho đệ nhị cao đồ của giáo chủ vậy, vì chính y là người đắc lực nhất trong công việc này của bà già ta!
Đinh Hãm lúc này đưa tay ra nhận trường kiếm, và cung thân cúi mình bái tạ, Gia Cát Dật đứng cạnh thấy cây kiếm nhận ngay ra là cây Lệ thủy tinh kiếm của ái đồ Thượng Quan Linh mình, trong lòng lập tức sinh ngay ý đoạt kiếm, nhưng Gia Cát Dật chưa biết nên đoạt bằng cách nào cho ổn! Nhưng khi nhìn kỹ cây kiếm, thấy lạ, Gia Cát Dật ý biết ngay, vội đưa mắt nhìn Liễu Mi trong đám người, nhưng con bé ranh quái này đã biến đâu mất!
Đinh Hãm sau khi đeo kiếm vào mình, Độc Ma bỗng lên tiếng rằng:
- Đinh Hãm con, ta nghe nói thứ kiếm này vốn sản xuất tại miền Tây Vực, là một vật báu đời cổ, chém sắt như chém bùn, sắc không thể nào tả được, vậy con nên thử sơ xem, đồng thời cũng để cho các đệ tử trong cung thưởng thức đến loại kiếm quí khó thấy trong trần gian này!
Đinh Hãm vâng ngay lời thầy mình bèn bước ngay lại một khu vực lan can bằng song sắt, rút ngay kiếm ra. Nhưng khi kiếm rút ra khỏi vỏ, tất cả mọi người có trong đại điện, kể luôn cả bản thân của Đinh Hãm, chính hắn cũng sinh nghi trong lòng, nhìn cây kiếm này, không nhoáng được một hào quang gì, hình như không phải là cây bảo kiếm, và càng không nhận thấy có gì đặc biệt. Đinh Hãm giật mình, nhưng thấy bao nhiêu đôi mắt chờ đợi dồn hết về phía mình, hắn không do dự thêm, vung ngay kiếm bủa thẳng ngay vào lan can bằng sắt. Nhưng mọi người chỉ nghe đến "cách" một tiếng, ai nấy nhìn kỹ, thì ra vật bị gãy không phải là lan can, mà chính cây kiếm đã bị gãy đôi? Tất cả mọi người cũng đồng thanh “ồ!” lên một tiếng ngạc nhiên!
Đinh Hãm quăng luôn chuôi kiếm xuống đất, tung mình vọt nhanh ngay lại phía người bị trói trên ván mà đã chết ấy, đưa ngay tay ra, “soạc” một tiếng xé ngay tấm vải bịt trên đầu, rồi túm ngay tóc giở lên nhìn kỹ, thì ra đây là cả một bộ mặt râu ria tua tủa, chính là bộ hạ trong Ma Cung mà Đinh Hãm đã sai đi áp giải phạm nhân đến đây, nào đâu phải là bộ mặt anh tuấn của Thượng Quan Linh! Trong nháy mắt này, trong điện bỗng trở nên căng thẳng tuyệt độ, lão bà bịt mặt lớn tiếng ngạc nhiên rằng:
- Kìa! Giáo chủ! Chuyện gì mà lạ lùng thế này?
Đinh Hãm chợt tỉnh giấc ngay, thế nào cũng đã có người ẩn nhập vào Ma Cung này đã dùng ngay đến thủ đoạn Thâu thiên hoán nhật (ăn cắp trời để đổi thành ban đêm), hắn vội quay lại nhìn, nhưng bóng Gia Cát Dật cũng biến đâu mất, Đinh Hãm vận ngay hơi nơi Đan điền lớn tiếng quát rằng:
- Có quân gian! Tam đệ, Tứ đệ mau đem người phong tỏa ngay các đường lối trọng yếu trong cung, còn Đại ca và tôi sẽ lập tức mở ngay cuộc lùng soát!
Trong đại sảnh cung điện lập tức nhốn nháo ồn ào thế là những tiếng báo động trống chiêng và tù và nổi lên inh ỏi, các đệ tử Ma Cung vốn đã được huấn luyện cẩn thận, khi nghe báo động, ai nấy lo bổn phận của mình. Thế là các đường lối trong Ma Cung lập tức được canh phòng và phong tỏa gắt gao. Đinh Hủy và
Đinh Phá lo đem theo người tăng cường các nơi trọng yếu còn Đinh Tàn, Đinh Hãm lo tức tốc mở cuộc truy cản quân gian.
Lão bà bịt mặt đưa mắt nhìn ngay hai tên đại hán của mình ra lệnh rằng:
- Hai ngươi cũng không nên ngồi thanh nhàn tại đây nữa? Hãy giúp sức cho họ bắt ngay thằng tiểu ác về ngay đây cho ta!
Hai đại hán vừa tính tung mình vọt đi, Ma Cung chủ nhân bỗng đưa tay ngăn lại rằng:
- Xin hai vị quí khách cứ việc ngồi yên cho, vì hễ khi có lệnh phong tỏa ngôi Phi Các tiên cung này, trừ phi có người trong cung này làm nội tuyến và bán rẻ bí mật cho địch, còn không, dù cho địch thủ là nhân vật ghê gớm đến đâu đi nữa, cũng đừng có trông mong gì ra khỏi ngọn Vô ảnh Phong này? Đối với Gia Cát Dật và chàng thanh niên trẻ Thượng Quan Linh ấy, nay đã có bốn đại đồ đệ của tôi ra tay lùng soát, kể ra đã hơi quá sức trong cuộc bắt địch qui án rồi! Vậy xin quí khách cứ an lòng cho, bản chủ nhân thật không dám phiền đến nhị vị?
Trong lúc này, bầu không khí trong đại sảnh không còn náo nhiệt như vừa rồi, nhưng các nam nữ đệ tử vẫn còn đứng nguyên cả, vì chúng chưa được lệnh lui của chủ nhân, nên vẫn chờ chực trong đại sảnh, Ma Cung chủ nhân ra lệnh cho tiếp tục vào tiệc và cuộc ca múa? Hình như Độc Ma không để ý gì về vụ đột biến vừa rồi trong Ma Cung của mình là nghiêm trọng cả!
***
Đây thuật về trong nội điện phía sau của Ma Cung, Liễu Mi đang lo dìu đỡ Hạ Quyên hấp tấp nhắm ngay về lối sau đào tẩu.
Thì ra Liễu Mi sau hơn một ngày quan sát các đường lối trong hậu điện, nàng đã ngầm nhớ tất cả các đường lối đi ăn thông ra ngoài, và trong hậu điện lại có một con đường ăn thẳng ra ngoài và vắng vẻ vô cùng. Sau khi nàng dùng lối xách bao đổi gói để cứu Thượng Quan Linh xong, lập tức đưa ngay chàng lại ngay con đường vắng này, và dặn chàng hãy ngồi đây chờ đợi.
Thượng Quan Linh lúc này cũng ăn mặc theo lối nam đệ tử trong Ma Cung, tay cầm thương, chàng nghiễm nhiên đứng gác ngang lối đi này, chiếc mũ vàng chàng đè sát che ngay trán mình, nếu không chú ý chẳng ai có thể phát giác ra chàng được! Còn phần
Liễu Mi, nàng quyết tâm vào trong thám thính xem những người khách quí của Ma Cung là những nhân vật nào trong giang hồ, xem coi ai là hung thủ giết hết mười mạng thân của Thượng Quan Linh.
Liễu Mi hấp tấp căn dặn Thượng Quan Linh vài câu xong nàng lại hấp tấp quanh nhanh ra tiền điện, nhưng thấy vị quí khách là một bà lão bịt mặt, không làm sao nhận rõ bộ mặt thật, trong bàn tiệc, chỉ thấy Độc Ma có vẻ lễ phép cung kính với lão bà này lắm!
Liễu Mi chờ đợi và chờ đợi... nàng hy vọng biết được tên họ của bà già này nhưng chờ mãi vẫn không có cơ hội gì. Sau thấy Gia Cát Dật cầm phi đao nhưng lại do dự, nàng bèn đưa mắt ra dấu, ngầm nhủ ông ta cứ việc thẳng tay mà phóng!
Không ngờ sau khi Gia Cát Dật giết tên đệ tử vô danh của Độc Ma, lão bà bịt mặt bỗng lại chuyển tặng kiếm cho Đinh Hãm, và Đinh Hãm lại bị thầy bắt thử kiếm!
Liễu Mi thấy nguy, thế nào cũng lộ chuyện mất, nàng bèn nhanh chân lẻn ngay. Và chạy như bay vào hậu điện, dắt ngay Hạ Quyên đào tẩu, nhưng trong lúc này, tất cả trong Ma Cung đều đang báo động, Hạ Quyên đâu phải là người biết võ. Chân tay nàng cuống lên, gót sen nàng chỉ bước được có vài bước rồi lại bủn rủn chân tay, không làm sao đi nổi chứ đừng nói là chạy! Liễu Mi cuống lên, nàng bèn đưa ngay tay ra ôm ngang eo ếch của Hạ Quyên chạy luôn.
Nàng chạy một mạch đến con đường vắng phía sau hậu điện, kẻ mạo đệ tử canh gác là Thượng Quan Linh vội xách thương lại đón và hấp tấp hỏi rằng:
- Em Liễu Mi! Thế còn sư phụ của anh có đến đây không?
- Chắc ông ta đã nhân lúc hỗn loạn ngoài ấy, nên đã rút nhẹ đi rồi, nhưng ông ta không hề đi chung với em, không biết đã đi về hướng nào? Nhưng công lực của ông ta tinh tuyệt như thế, chắc không xảy ra chuyện gì đáng ngại đâu, chúng ta cứ việc lo đi trước cho rồi, nếu để chậm, chắc không kịp thoát quá!...
Nhưng Thượng Quan Linh lo cho ân sư Gia Cát Dật, chàng chỉ sợ thầy mình không tìm thấy lối ra này, và chàng quyết định đứng lại chờ để cùng đi với Gia Cát Dật?
Lòng Liễu Mi cuống lên như kiến phải lửa, thình lình, cả ba người nghe tiêng chân người từ xa dồn dập tới gần, Liễu Mi vội căn dặn ngay Thượng Quan Linh, rồi nàng kéo nhanh Hạ Quyên trốn ngay vào một nơi tối. Chỉ thấy một đám người từ xa đi nhanh tới, Thượng Quan Linh cố điềm tĩnh tinh thần của mình, đứng uy nghi gác ngay cửa đường ăn thông ra ngoài.
Chỉ nghe tiếng nói của lão tứ Đinh Phá rằng:
- Con đường này tuy vắng vẻ, nhưng không phải là không quan trọng, một người gác đây không đủ, vậy thằng Hùng và thằng Bảo, hai đứa bay hãy ở đây phụ lực với thằng kia mà gác cẩn thận, nếu có chuyện gì, lập tức thổi ngay tù và báo hiệu, triệt để không tha bất cứ mạng nào từ trong cung đi ra!
Hai đệ tử nọ tuân mạng răm rắp! Đinh Phá sau khi cắt xong công việc canh gác, hắn lập tức dắt ngay mọi người rời khỏi ngay, hai tên nọ lững thững tiến gần Thượng Quan Linh, Liễu Mi trong bóng tối khẽ giật gấu áo của Thượng Quan Linh, ngầm ý như bảo chàng hãy ra tay thủ tiêu ngay! Thượng Quan Linh vẫn đứng im, hai tên kia đến gần, một trong hai đứa lên tiếng hỏi:
- Này! Cậu tên gì mà sao trông lạ mắt quá?...
Thượng Quan Linh không trả lời.
Hai tên Hùng và Bảo, chắc cũng có chút chức tước nhỏ gì trong đám đệ tử Ma Cung, nên không biết mặt Thượng Quan Linh, chỉ tưởng đâu là một đệ tử tầm thường mà thôi, nay thấy hắn nghiễm nhiên không buồn trả lời, cả hai bất giác nổi bực? Lại nhảy lùi ra sau.
Thượng Quan Linh cố lải nhải nói rằng:
- Thưa,... hai đàn anh... đàn em vừa mới lượm được cây kiếm này, vậy xin mời hai đàn anh xem hộ xem nó thuộc vào loại kiếm báu không?...
Cả hai tên bước lại, một tên giở ngay giọng hách dịch rằng:
- Chao ôi! Thằng này ăn gan rồng hay sao mà bạo đến thế? Lượm được bảo kiếm mà không chịu báo cáo ngay lên thượng cấp, bộ tính nuốt trôi một mình hả? To gan thật, thôi có khôn hồn thì hãy giao ngay cây kiếm này cho Bảo lão gia đây, ta sẽ đứng ra gánh vác trách nhiệm này cho! Ta còn bảo đảm cho ngươi không bị trừng phạt gì là khác!...
Thượng Quan Linh lúc này giơ ngang thanh kiếm để nhử hai người lại xem, nhưng tên Hùng nhanh mắt, hắn nhận ngay ra chữ hiện trên chuôi kiếm, hắn thất thanh rú lên rằng:
- Chao ôi! Thì ra cây Lệ thủy tinh kiếm!
Vừa dứt tiếng, thì cây kiếm trên tay Thượng Quan Linh vụt nhanh và khiến cho tên Hùng đứt ngay cổ họng ngã bịch ngay xuống đất chết tươi. Trong lúc khẩn trương tột độ này, Liễu Mi cũng vung mạnh tay ra điểm ngay vào trọng huyệt ngang hông của tên Bảo. Nhưng nào ngờ trong trăm sự cẩn thận cũng không tránh khỏi một sự sơ suất cỏn con, tên Bảo thấy tình hình biến đổi nhanh chóng và nguy cơ như thế, hắn bèn cầm ngay chiếc tù và treo lủng lẳng nơi cổ đưa lên miệng thổi.
Liễu Mi đã chậm mất một bước, khi ngón tay nàng vừa điểm tới, thì tiếng tù và đã kêu lên đến Tu... một tiếng, và tiếng báo hiệu ấy đã bị truyền ngay ra!
Liễu Mi cuống lên hối giục:
- Chúng ta đi mau cho rồi!...
Ba người hấp tấp nhắm ngay đường mòn ra.
Nhưng thấy con đường này hình như khá dài, đi ước chừng đâu hơn mười trượng, đằng sau có tiếng hò hét inh ỏi đuổi tới... Liễu Mi đành ôm ngay Hạ Quyên đi trước, Thượng Quan Linh lo đoạn hậu, hai người cố gắng? Lại đi thêm được vài trượng bỗng thấy phía trước có gì lạ! Thình lình hiện ra một vật đen ngòm chặn lối đi. Nhìn kỹ ra là một tấm sắt chắn ngang đường! Mọi người chỉ còn nỗi than thở trong bụng.
Phía sau thì đệ tử của Ma Cung đã đuổi sát lại, Liễu Mi buông ngay Hạ Quyên xuống đất, rút ngay binh khí ra đứng ngang hàng với Thượng Quan Linh để liều cự địch. Dần dà đã thấy đám người đuổi tới, ước lối trên hai mươi mạng, kẻ dẫn đầu là một thân hình cao lớn, mặt mũi loe lóe kinh tởm, thì ra chính lão Tam Đinh Hủy!
Đinh Hủy phát ra những tiếng cười Hò! Hò!... của mình, đồng thời ra dấu cho mọi người tiến lên công hãm, nhưng hai làn kiếm quang loang loáng của Thượng Quan Linh và Liễu Mi, đám đệ tử của Ma Cung đâu phải là đối thủ, chỉ nghe những kinh hét rú lên, tiếp theo chúng rút nhanh như ngọn nước thủy triều vậy Đinh Hủy thấy vậy bung vọt ngay người lên nhắm ngay đỉnh đầu Thượng Quan Linh đánh bừa tới. Ngọn Lệ thủy tinh kiếm của Thường Quan Linh bỗng vẽ nhanh ngay một đường cong hình nguyệt nghênh địch, tên Đinh Hủy hình như cũng biết lợi hại của ngọn kiếm, không dám mang khối thịt to lớn của mình ra để hứng chịu, đành hấp tấp dùng ngay đến ngọn Thiên cân trụy (vận cho thân hình nặng như ngàn cân) thả ngay nhanh mình xuống mặt đất đến bịch một tiếng dữ dội!
Trong lúc xảy ra kịch chiến đó, đám đệ tử đã nhận ra có mặt Hạ Quyên, biết ngay cô gái này yếu nhất trong bọn ba người, thế là có mấy tên đã bổ nhanh tới, khiến cho Liễu Mi phải vung kiếm áp chế bọn chúng để bảo hộ cho nàng Hạ Quyên. Đinh Hủy thấy Thượng Quan Linh không phải tay vừa gì, hắn cố dùng các thế đánh khốc liệt ra tay, bỗng ào một tiếng vang lên, thì ra Đinh Hủy đã phát chưởng phong hất ngay ngọn kiếm của Thượng Quan Linh, tiếp theo đường chưởng, hắn bèn vung bộ tiến nhanh ngay vào trung môn của Thượng Quan Linh. Thấy đối thủ đánh hăng và liều mạng như vậy, Thượng Quan Linh vội dùng ngay đến Điên Đảo Càn Khôn, chỉ thấy chàng khẽ nhoáng cái đã lướt khỏi đòn địch! Đinh Hủy bị hụt đòn, hắn càng hậm hực ức trong lòng, vung ngay chưởng đánh một hơi ba đòn liên tiếp, kình lực dũng mãnh vô cùng. Thượng Quan Linh vốn đã không muốn luyến chiến (thích đánh) trong lúc này, phần lại thấy Liễu Mi bị đông người vây đánh quá hăng, chàng đành thối lui nhanh về sau, cơn nguy hiện ngay khắp trước mắt! Liễu Mi thấy vậy, bèn lên tiếng nói nhanh với Thượng Quan Linh rằng:
- Anh Linh hãy cẩn thận, phía em không sao đâu! Anh cứ việc yên trí mà đối phó với chúng!
Những câu nói đầy vẻ thân thiết này lọt vào tai Thượng Quan Linh, chàng bỗng phấn khởi ngay tinh thần, ào một tiếng, chàng cũng bửa ngay một chưởng và dùng ngay đến Đinh Giáp Khai Sơn. Chỉ nghe bùng một tiếng, sau khi đụng độ một chưởng với Đinh Hủy, thấy thân hình hắn lảo đảo, biết ngay công lực địch cũng cao nhưng không thể nào hơn mình, chàng càng yên trí, ngọn cổ kiếm bên tay trái chàng múa lên những tiếng vù vù như rồng đùa với rắn, trong chớp mắt, chàng đã kéo ngay cuộc chiến thành thế kéo cưa! Chưa ai chịu thua ai!
Nhưng công lực của Đinh Hủy đâu vừa vặn gì, những chưởng phong dồn dập tung bửa ra, lồng lộn cuống qua khắp xung quanh Thượng Quan Linh, chàng chỉ cảm thấy khắp xung quanh mình, có một sức áp lực nặng nhọc vô cùng, dù cố tả xung hữu đột ra sao cũng không xong. Trong chốc lát bỗng lại có vài bóng đen vọt tới, Đinh Hủy lên tiếng ra lệnh rằng:
- Hãy qua dẹp yên ngay hai con bé kia trước đi! Thằng này để ta đối phó !
Vì tiếng ngọng, nên hắn vừa nói vừa phải ra dấu chỉ!
Thế là mấy bóng đen lúa nhào hết sang phía Liễu Mi, khiến cho nàng cảm thấy áp lực bị tăng hẳn, vì những tay đang giao chiến đây đều là cừ khá cả, một mình nàng phải chọi với trên mười tay cao thủ vây đánh như thế, phần còn phải lo vấn đề an nguy cho Hạ Quyên, dần dà nàng thấy đuối sức hẳn!...
Thượng Quan Linh nghe phía Liễu Mi hét vang luôn miệng, trong bụng không yên lòng lắm, chàng bèn lớn tiếng hỏi sang:
- Em Liễu Mi! Liệu có xong không?
Giọng Liễu Mi vẫn đượm vẻ nghịch ngợm rằng:
- Em vẫn còn chống đỡ được tụi ngốc nghếch này, chà... nếu phải chi em có một cây kiếm lúc này...
Thượng Quan Linh nghe vậy bèn lên tiếng ngay:
- Kiếm, đây em!
Dứt tiếng chàng tung ngay ngọn Lệ thủy tinh kiếm bay sang Liễu Mi, nàng vội tung mình nhảy vọt lên chụp ngay ngọn kiếm trên tay, sau khi hạ chân xuống đất, hét lên một tiếng lanh lảnh, vung kiếm chém ác liệt, chỉ còn nghe tiếng binh khí rớt leng cheng, thỉnh thoảng có cả tiếng hét thê thảm của đám đệ tử Ma Cung vang lên!
Thượng Quan Linh đã yên lòng đỡ lo, chàng lập tức lại mở ngay ngọn Đinh Giáp Khai Sơn, những thế đánh tới tấp như bài sơn đảo hải ồ ạt đánh bừa sang!
Một cảnh hỗn chiến của cả hai bên được diễn ra tưng bừng! Ai cũng muốn phần thắng ngả về bên mình nhưng không bên nào đạt được ước vọng vừa ý trong thời gian đang còn đánh này!
Thời gian bị kéo dài ra, và số người vây đánh Liễu Mi, lúc này lại ngang nhiên có người thổi tù và để kêu cứu viện thêm. Thượng Quan Linh nghĩ bụng, nay mới có mỗi mình Đinh Hủy mình còn cảm thấy khó khăn đến thế, tí nữa số người tăng đông thêm, làm sao mà chống cự cho nổi? Xem ra trận này đến phút chót mình cũng đến bị bắt lại quá, không chừng còn có thể máu loang tại Ma Cung này là khác? Trong lòng nổi ngay cơn thất vọng, chân tay chàng lập tức bị ảnh hưởng chậm chạp! Đinh Hủy thấy thế đâu chịu bỏ qua cơ hội ngàn năm một thủa ấy. Hắn tiến sát ngay vào vung chưởng bửa đánh mãnh liệt!
Thượng Quan Linh lúc này nằm trong tình trạng không khác nào trứng sắp bị đá đè, chàng vội thu ngay tâm thần của mình lại, vận nhanh toàn lực ngay vào chưởng, vung lên đỡ đòn của địch thủ!
Nhưng không ngờ Đinh Hủy chuyến này sử dụng đến xảo kình (khéo), hắn khẽ vạt nghiêng chưởng, lập tức giải tỏa ngay ngọn kình lực lớn lao của Thượng Quan Linh tiêu tan đâu hết. Thình lình, song chưởng của Đinh Hủy từ bên dưới giở ngược nhanh như điện chớp, bồng ngay thân Thượng Quan Linh lên, lúc này chàng Thượng Quan Linh chỉ cảm thấy toàn mình đang bị một sức mạnh đỡ bổng hẳn lên không, toàn thân như đang bay đi!... rầm một tiếng vang lên, Thượng Quan Linh bị ngã lăn ra mặt đất, Đinh Hủy bước nhanh lại vung chưởng bửa mạnh xuống để dồn Thượng quan Linh vào ngõ chết...
Liễu Mi thấy cảnh nguy kinh khủng ấy chỉ còn rú lên một tiếng thất thanh...
Bỗng ngay lúc thập tử nhất sinh đó từ trên không vèo nhanh xuống một bóng người, hai ống tay áo vung mạnh ra một lượt, khiến cho Đinh Hủy bật ngược về sau luôn. Thượng Quan Linh bò ngay dậy mừng reo lên:
- Kính thưa sư phụ!
Gia Cát Dật vội lên tiếng ngay:
- Linh con! Mau củng với Liễu cô nương dùng ngay thanh kiếm Lệ thủy tinh phá tấm cửa sắt ấy mà đào tẩu ngay, mọi việc ở đây để thầy lo hết cho!
Thượng Quan Linh lúc này phấn chấn ngay tinh thần của mình, chàng vội vàng chạy sang phía Liễu Mi, song chưởng vung ngay ra ngọn Đinh Giáp Khai sơn khiến cho đám đệ tử vây đánh Liễu Mi phải tự lo mà né tránh, nhân cảnh hỗn loạn và hai người không để ý đấy, chúng lén bắt luôn nàng Hạ Quyên.
Thượng Quan Linh và Liễu Mi lo vung kiếm bửa mạnh vào tấm cửa sắt. Quả nhiên cây Lệ thủy tinh kiếm sắc bén vô cùng, trong chớp mắt đã thủng ngay một cái lỗ nhỏ, nhưng muốn khoét cái lỗ lớn có thể chui qua được cũng không phải là chuyện dễ dàng gì, thế là hai người luân phiên nhau phá!
Gia Cát Dật mặt ngoảnh về phía trước, lưng hướng về Thượng Quan Linh và Liễu Mi, trên lưng đeo cây đàn Bát long ngân, chỉ thấy ông ta ung dung đứng hiên ngang, thật đúng là một kẻ nho sĩ thanh nhã hơn là kẻ võ sĩ, tinh thần trông không có vẻ khẩn trương!
Đinh Hủy thấy thế không phục, ra ngay hiệu lệnh cho đám đệ tử trong Ma Cung ào lên, đám người sau khi hô hét cùng ập nhanh ngay lại!
Chỉ thấy hai ống tay áo của Gia Cát Dật phình chưởng vung ra, hai ngọn cuồng phong dũng mãnh tỏa ngay ra, cả đám đệ tứ của Ma Cung ngã lăn lóc dưới mặt đất. Đinh Hủy hầm hầm lên tiếng:
- Gia Cát Dật! Để ta xem coi nhà ngươi có thể chống cự được bao lâu!...
Gia Cát Dật chỉ mỉm cười, rồi lên tiếng nói sang phía Thượng Quan Linh:
- Linh con! Các con đừng có lo gì đến ta, hãy mau mau về ngay Hà Nam trước, ta sẽ ở lại đây và có cách thoát thân sau, vậy cứ yên trí mà đi!...
Chưa dứt lời, bỗng lại có tiếng người reo vang từ xa, hiển nhiên đệ tử trong Ma Cung lại tăng đến.
Gia Cát Dật vội chuẩn bị. Đinh Hủy lại hạ lệnh công hãm và chính hắn nhảy vọt lên phía trước tiên, khua tay phạt ngay một chưởng, Gia Cát Dật vung luôn song chưởng một lúc, một chưởng lo tiếp ngay chưởng của Đinh Hủy, một tiếng bùng vang lên, toàn thân
Đinh Hủy như diều bị đứt dây, lảo đảo từ trên không xuống đất! Còn một chưởng khiến cho cả đám đệ tử Ma Cung thi nhau bật lùi ra sau như làn sóng thủy triều rút đi. Nên nhớ rằng trong Càn Khôn Ngũ Tuyệt Gia Cát Dật giỏi về công lực nhất, nên song chưởng vung ra cự địch, vẫn cả thắng toàn đám đệ tử của Ma Cung để lo bảo hộ cho ái đồ Thượng Quan Linh phá cửa sắt để rút đi. Đám người của Ma Cung đến cứu viện đã tới, tình thế càng trở nên nguy cấp, bỗng Thượng Quan Linh đằng sau reo mừng lên:
- Thưa thầy chúng con phá được rồi! Chúng con xin đi đây!
Liễu Mi phát hiện Hạ Quyên bị mất tích, nàng kinh hoảng:
- Trời ơi! Chị Hạ Quyên đâu rồi!
Ngay lúc đó phía sau Đinh Hủy, Đinh Hãm và Đinh Phá hiện ngay thân ra, Đinh Phá lên tiếng:
- Lão Nhị và Lão Tam, chúng ta cùng đánh ùa lên, trước nhất là dẹp tên Gia Cát Dật này đã, sau là không cho hai đứa trẻ kia thoát!
Dứt lời cả ba tiến lên.
Gia Cát Dật vội lên tiếng hối giục:
- Linh con! Hãy cùng với Liễu cô nương đi mau! Đừng có lo gì cho ta tại đây?
Chỉ thấy thần oai của Gia Cát Dật lẫm liệt vô cùng trong lúc này, hai đầu gối hơi cong, đứng vững như một núi thái sơn, song chưởng đẩy hẳn ra chận ngay thế tiến của đám đệ tử Ma Cung.
Dẫu cho cả ba anh em họ Đinh tam hung ào bừa lên một lúc, nhưng không làm sao qua khỏi bức màn chưởng phong của Gia Cát Dật được?
Thượng Quan Linh và Liễu Mi trong lúc đó chui ngay qua cửa sắt, tiếng Thượng Quan Linh vang lên:
- Thưa thầy chúng con đi đây! Kính xin thầy hãy tự bảo trọng!...
Liễu Mi kéo ngay Thượng Quan Linh, phi thân tung mình nhằm thẳng lối ra!
Anh em họ Đinh lúc này không biết hạ đài bằng cách nào, nay thấy Thượng Quan Linh và Liễu Mi được sự che chở của Gia Cát Dật mà ung dung tẩu thoát như thế, Đinh Hãm cuống lên, lên tiếng ngay rằng:
- Lão Tam lão Tứ, chúng ta hãy chia nhanh thành ba mặt áp đảo, xem tên này còn hống hách được bao lâu cho biết?
Anh em họ Đinh liền chia nhanh thành ba mặt: tả hữu, và mặt tiền công đánh sôi nổi, sáu bàn tay chưởng không khác nào như sáu tấm sắt cực nặng bửa, phạt, chém, đâm tới tấp sang Gia Cát Dật. Gia Cát Dật cố sức cầm cự. Thình lình cây Bát long ngân trên lưng Gia Cát Dật kêu lên bưng một tiếng thật mạnh, âm thanh kỳ dị và thình lình bất ngờ, thế là tâm thần của đám đệ tử Ma Cung bị chấn động, ai nấy lo bịt tai ngay không dám nghe tiếng kỳ dị đó!
Thì ra Đinh Phá đánh thốc ra một chường, nhưng ngọn chưởng không trúng đích mà lại lướt ngang qua cây cổ đàn Bát long ngân và cũng vô tình chạm ngay phải sợi tuyệt huyền thứ tám, nên mới ngân lên một tiếng chấn động tâm thần như thế, khiến ba anh em tam hung họ Đinh thất kinh hồn vía. Gia Cát Dật vốn ra đã không sao cầm cự lâu được một lúc với ba tên cao thủ thượng nặng này, nay nhờ dịp may này nên tạm lấy lại sức của mình, thầm nghĩ: cước trình của ái đồ và Liễu Mi cũng không đến nỗi tệ gì, chắc giờ này cũng đi được khá xa rồi, nhất là lại có con bé Liễu Mi tinh ranh tuyệt đỉnh ấy, dù cho đám đệ tử Ma Cung có cố gắng thế nào đi nữa cũng không sao đuổi kịp, và sứ mạng yểm hộ của mình đến đây kể như đã xong, giờ này không lo thoát thân còn chờ đến bao giờ? Nhưng Gia Cát Dật lại không rút lui bằng con đường của Thượng Quan Linh và Liễu Mi, ông ta lại tung mình vọt qua đầu đám tử Ma Cung chạy ngược chiều vào tiền điện của Ma Cung!
Đinh Hãm vội hạ ngay lệnh:
- Lão Tam hãy theo tôi lo truy cản hai đứa kia, lão Tứ hãy theo sát ngay tên Gia Cát Dật vào trong và đồng thời báo ngay cho đại sư huynh, cố gắng làm sao hiệp lực để tróc nã cho bằng được Gia Cát Dật!
Gia Cát Dật cũng thừa biết trong đại sảnh có Độc Ma và bà lão bịt mặt tại đó, không dại gì đâm đầu vào đó chọc tức họ trong lúc này, nghĩ vậy bèn quanh thân quẹo sang một góc vườn khác, nhắm thẳng những nơi cây cối um tùm lủi thân vào. Thình lình đằng trước sáng trưng, một đám người chọn ngay lối trước, giữa có một sàng kiệu, trên kiệu ngồi ngất ngưỡng một người, và không ai khác hơn là Ma Cung chủ nhân Độc Ma!
Gia Cát Dật thất kinh, vội thu ngay thế tiến của mình lại, Độc Ma điên cuồng cười ha hả rằng:
- Kể ra ngươi quả thật là cừ khá lắm, nhưng hơi tiếc là ngươi lại quá coi rẻ Phi Các tiên cung này của ta... nếu đêm nay người không thành tâm hàng phục ta, vậy ngươi thử nghĩ bộ mặt của ta sẽ cất giấu đâu cho khỏi thẹn với bạn bè?
Trong chiếc khăn che mặt của Độc Ma, chỉ thấy vỏn vẹn hai ánh mắt sáng quắc lạnh lùng đảo liếc trên khuôn mặt của Gia Cát Dật, thình lình hét lên một tiếng, toàn thân vụt bổng hẳn lên không và phát ngay ra một chường! Khí thế không khác nào như thái sơn áp đỉnh, nhắm ngay đỉnh đầu Gia Cát Dật bửa tới. Bên này, từ khi đứng lại, Gia Cát Dật đã có chuẩn bị thấy đối phương ra đòn, cũng vội vung luôn song chưởng, dùng hết mười phần công lực liều tiếp đòn đánh của địch!
Công lực của Độc Ma quả đã đến mức độ kinh thế hãi tục, chỉ thấy toàn thân Độc Ma lơ lửng trên không mà không hề có triệu chứng hạ mình xuống đất! Sức song chưởng của Gia Cát Dật phía dưới đất, bỗng như trở thành một thế chịu nặng nề là phải đỡ nguyên thân hình của địch thủ, chỉ chớp mắt, để cảm thấy áp lực vô cùng nặng nhọc, khí huyết trong mình đã bắt đầu rạo rực, có vẻ khó chống cự.
Độc Ma cất tiếng cười rằng:
- Này Gia Cát Dật, ngươi nên biết là ta còn chưa dùng đến Đại độc thần công và Nhiếp hồn công đấy nhé, nay mới thử sơ về chưởng lực ngạnh công (võ công cứng cát) như thế mà người đã chịu không nổi, chắc ngươi cũng đã biết sự lợi hại rồi chứ? Vậy ta thiết tưởng ngươi không nên ngoan cố chống đối làm gì cho mệt sức?
Lúc này Gia Cát Dật đâu còn dám hé miệng trả lời vì chỉ sợ chân lực thoát ra thì đến mất mạng về tên Độc Ma ghê gớm này mất! Ngay trong lúc kịch nguy ấy, bỗng phía đằng sau có người đưa tay đỡ luôn hông, Gia Cát Dật thất kinh, thầm nhủ: Thế là hết!...
Gia Cát Dật không biết là tay cao thủ nào trong Ma Cung đến ra tay thình lình trong lúc mình đang nguy này, trong lúc đang phải lo liều chết để chống đỡ chưởng lực của Độc Ma, Gia Cát Dật không thể nào dám phân thân cự địch thình lình trong lúc này. Đang tính rút thu thế đánh của mình về nhắm mắt chịu chết, bỗng kỳ tích hiện ngay ra, chỉ cảm đôi cánh tay đang đỡ ngang hông mình ấy, từ từ có một luồng trầm lực đang chuyển dần vào người mình và đưa lên hẳn hai cánh tay, giúp thêm sức cho mình chống cự với khí thế thái sơn áp đỉnh của Độc Ma. Gia Cát Dật mừng thầm trong bụng, hy vọng lại chợt nổi lên ngay trong đầu óc của Gia Cát Dật, và trong lúc này, nhưng trầm lực của người giúp ngầm mình vẫn liên miên truyền vào dần dà khiến cho Gia Cát Dật chuyển nguy sang an, và có thể đổi ngay thế khách sang thế chủ, nghĩa là Gia Cát Dật đã phản lại thành thế chủ động! Thân hình như bị treo trên không của Độc Ma, lúc này đã thấy hơi lảo đảo không vững nữa, bởi vì Độc Ma không thể nào chịu nổi một lúc hai sức cao thủ tuyệt thế dồn ép như thế, hiện tượng lúng túng đã xuất hiện. Thình lình Độc Ma quay nhanh một vòng trên không, hai tay bung ra, vọt bổng lên như con quạ ăn đêm! Và từ trên không phát chưởng nhắm đánh thẳng Gia Cát Dật.
Ngay trong lúc Độc Ma bung người vụt bay lên ấy, Gia Cát Dật bỗng cảm thấy hai bàn tay bí mật truyền lực cho mình cũng biến luôn, trong lúc còn ngơ ngác không hiểu đầu đuôi vụ này ra sao, thì ngọn chưởng phong quỉ quyệt của Độc Ma đã đánh tới, Gia Cát Dật không kịp né tránh: bả vai bị chưởng phong đối phương từ trên quét trúng, lập tức cảm thấy tóe đom đóm mắt, chân đứng bị lảo đảo, nhưng cũng vội quay nhanh đầu nhìn về phía sau, nhưng nào đâu có thấy người ngầm trợ giúp mình dâu, chỉ thấy cảnh vắng tanh, không có gì lạ!
Gia Cát Dật lập tức tung mình chạy luôn, trên sàng kiệu, tiếng cười ha hả của chủ nhân Ma Cung Độc Ma vang lên rợn người, đồng thời ra lệnh rằng:
- Đinh Phá. Con hãy theo bắt hắn về, hắn đã trúng chường của ta rồi, bị thương cũng khá nặng lắm, quyết không thể nào chạy xa được!
Gia Cát Dật cố liều xác chạy để thoát thân, chỉ cảm thấy trên bờ vai nóng rát và đau nhức vô cùng, lồng ngực như bị tức thở, mắt mờ, chân bước loạng choạng, tình cảnh vô cùng nguy cấp Nhưng Gia Cát Dật vẫn ráng sức loạng choạng chạy vào một ngõ tối, phía sau Đinh Phá đã theo gần sát tới. Và chính trong tình trạng nửa mê nửa tỉnh mà Gia Cát Dật đã thả bước vào trong ngách tối này. Thình lình bên tai có tiếng khẽ rằng:
- Hãy mau theo tôi!
Gia Cát Dật chỉ cảm thấy một cánh tay vô cùng mạnh dìu đỡ ngay mình kéo ngay vào một ngách cửa nhỏ. Sau khi cánh cửa nhỏ được đóng lún lại, Gia Cát Dật cảm thấy mình hôn mê và bất tỉnh nhân sự luôn.
Cũng không biết thời gian trải qua bao lâu nữa, bỗng Gia Cát Dật cảm thấy tai mình như có tiếng đàn uyển chuyển, nghe êm tai lạ, dần dần tỉnh ngay lại.
Gia Cát Dật chỉ thấy mình đang nằm trên một giường êm ái vô cùng, trước mặt mình có một thiếu nữ tuyệt sắc giai nhân, tay đang bấm vào phím đàn gảy từng tiếng nhạc một, cây đàn này chính là cây Bát long ngân của mình, bên cạnh nàng là một đỉnh lư đang đốt trầm, khói thơm nghi ngút, càng hiện ra cảnh đoan trang đẹp thoát tục của nàng. Nhưng gian phòng này có vẻ bí ẩn lắm, tất cả những vật trang trí đều giản tiện và ngăn nắp, tiếng đàn vẫn thánh thót vang lên; trông thiếu nữ chỉ độ ngoài hai mươi tuổi, thanh nhã như tiên, khiến cho Gia Cát Dật cảm thấy như mình đang sống trong cảnh mộng, nhưng cũng nhớ là mình bị thương nặng trên bả vai, nhưng hình như đã được băng bó cẩn thận, vết thương cũng không cảm thấy đau, không biết đã được băng bó bằng loại thuốc gì? Trong lòng vô cùng ngạc nhiên. Gia Cát Dật bèn vờ ho lên một tiếng nhẹ để lấy cớ hỏi chuyện.
Thiếu nữ ngừng ngay tay lại, đôi mắt long lanh nhìn ngay vào mặt Gia Cát Dật. Chỉ thấy thiếu nữ có vẻ lớn tuổi hơn Liễu Mi và cả hai chị em Tam Điệp họ Châu, đẹp nhưng không lẳng, thanh nhưng không nhạt, thật là một trang tuyệt sắc giai nhân.
Chỉ nghe tiếng thiếu nữ lanh lảnh êm dịu hỏi:
- Tiểu nữ đây là Hạ Quyên, nay kính bái kiến Gia Cát Dật tiền bối!
- À, ra là nàng Hạ Quyên mà Liễu Mi tính cứu đây, nhưng không hiểu tại sao lại cùng ở đây thế này?
Hạ Quyên cũng nhận ngay ra sự kinh ngạc trong đôi mắt của Gia Cát Dật, mỉm cười rằng:
- Nơi đây kín đáo lắm, vậy xin tiên sinh cứ yên trí, chờ khi vết thương khỏi hẳn, chừng đó Đại điện hạ sẽ tìm cách đưa tiểu nữ và tiên sinh rời khỏi Ma Cung đây!
Gia Cát Dật càng kinh ngạc, lẩm bẩm rằng:
- Đại điện hạ! Có phải là Đinh Tàn đó không?
Hạ Quyên gật đầu, và trả lời:
- Dạ chính phải!
- Vậy lúc tôi giao đấu chưởng lực với Độc Ma, nhưng có người đã ngấm ngầm trợ giúp tôi ấy và sau cùng cứu tôi vào đây, phải chăng cũng là vị Đinh Tàn này?
- Dạ chính hoàn toàn do Đại điện hạ, tuy người này sống trong ma huyệt này, nhưng tâm địa lại rất hiền lương, luôn luôn tìm cách trợ giúp những người hiệp nghĩa để chuộc lại những lỗi lầm xưa kia của mình...
***
Tiết mùa tháng sáu là một tiết mùa vẫn còn oi bức nóng mệt. Trên quan lộ của Tương Nhạc (con đường thông thương của hai tỉnh Hà Nam và Hồ Bắc) đang có hai tuấn mã chạy như bay, cuốn hẳn lên một đám hồng trần mịt mù. Trên lưng hai ngựa là một nam một nữ, quần áo chỉnh và đẹp, nam trông thần sắc hiên ngang anh tuấn, nữ trông thật là quốc sắc thiên hương, dung nhan tuyệt thế, tuy đang mải miết phóng ngựa như bay, nhưng thần thái người trông vẫn bất phàm, khiến cho khách trên quan lộ không ngớt phải chăm chú nhìn sừng sờ một đôi uyên ương đúng là thiên tạo!
Hai người đang phóng ngựa ấy chính là Thượng Quan Linh và Liễu Mì, từ hôm chạy thoát Ma Cung trong Vô ảnh Phong, phần nhờ sự khôn ngoan lanh lẹ của Liễu Mi, nên đã tránh được cuộc truy cản của Đinh Hãm và Đinh Hủy, đồng thời tìm được lối ra khỏi phong. Sau khi đi ra đến cửa núi Cửu Lãnh, phát hiện những dấu tích của Hầu Hạo để lại cho Gia Cát Dật, biết ngay Hầu Hạo đã cùng với Châu Thị Song Điệp đi Mặc Phụ Sơn để tìm vị tiền bối Độc chỉ Thôi Bác. Theo ý Thượng Quan Linh, chàng muốn ở lại đây để chờ thầy ra cùng đi luôn, còn không nên đi ngay đến Mặc Phụ Sơn để gặp đám Hầu Hạo.
Nhưng Liễu Mi khuyên ngay, nàng cho rằng thế lực của Ma Cung lớn lao, nếu lão bà bịt mặt biết Thượng Quan Linh chưa rời khỏi phạm vi này, họ đâu chịu để yên cho, thế nào chả xuất động, mà mình hiện đang bị cô thế, phần Hầu Hạo đang lo cầu viện Độc chỉ Thôi Bác không biết kết quả ra sao, suy đi tính lại thì không thể nào nấn ná ở đây được, phải nghe theo lời của Gia Cát Dật rời gấp ngay đây, cứ về ngay miền Bắc rồi liệu bề tính sau.
Đương nhiên là Thượng Quan Linh không nỡ cự tuyệt ý kiến của Liễu Mi, nhất là người ta đã vất vả ngàn dặm bôn ba để liều thân vào sinh ra tử để cứu mình thoát hiểm, chỉ nội những cảm tình này cũng đủ khiến cho Thượng Quan Linh phải ghi lòng khắc cốt rồi, vì thế chàng càng cảm thấy Liễu Mi tử tế với mình bao nhiêu lại càng không dám chống đối và nghịch ý với người yêu. Nhưng trong suốt cuộc hành trình trên dọc đường, trong lòng Thượng Quan Linh cũng hơi buồn buồn trong bụng, chàng hồi tưởng lại hơn ba tháng trời cách biệt Ngao Sơn, tuy trong ba tháng trời ngắn ngủi này, suốt từ Bắc xuống Nam, đã gặp nhiều chuyện kinh hiểm, mà ngay đến bây giờ, tuy đã biết kẻ giết hại bạn mình là bà lão bịt mặt bí mật ấy, nhưng khổ nỗi đến tên họ của kẻ thù và mặt dọc ngang cũng chưa được rõ, trần gian mênh mông vạn trạng như thế, sau này biết tìm đâu cho ra kẻ thù để thanh toán món huyết thù cho các bạn hữu và cố ân sư! Nay thầy Gia Cát Dật lại bị vây hãm trong Ma Cung như thế, nào phần Hầu Hạo không biết đi Mặc Phụ Sơn kết quả ra sao?
Thượng Quan Linh càng nghĩ đến những chuyện này càng đâm không vui trong lòng.
Liễu Mi cũng biết ngay tâm sự rối rắm của người yêu, nhưng dù sao nàng cũng mừng là đã cứu nguy được cho ý trung nhân của mình. Còn việc trả thù, trước sau gì rồi cũng sẽ đến, cũng chẳng cần phải hấp tấp trong lúc này, còn đối với Gia Cát Dật, nàng thừa biết vị kỳ nhân này công lực cao cường, tin chắc là không đáng ngại? Nhưng Liễu Mi chỉ lo cho Hạ Quyên, Hầu Hạo, Thanh điệp Châu Sách và Hồng điệp Châu Chu, không biết số phận bốn người này hiện ra sao? Thấy Thượng Quan Linh buồn rầu nàng bèn tìm cách gợi chuyện rằng:
- Này anh Linh! Anh có biết sự huyền ảo của thế giới lưu ly trong Ma Cung Vô ảnh Phong không?
Quả nhiên Thượng Quan Linh cảm thấy hứng thú ngay về vấn đề này, chàng cười nói:
- Ồ! Anh nghe nói thế giới lưu ly ấy bí mật huyền ảo lắm, vậy không biết em đã làm cách nào khám phá ra bí mật của nó và truyền tin cho thầy anh thoát thân ra vậy?
Liễu Mi cười rằng:
- Nói ra cũng giản dị lắm, ngay hôm chót nhất mà em lại thế giới lưu ly ấy, em chỉ phát giác bốn vách xung quanh của nó toàn bằng những lưu ly dày kinh khủng, không thấy có một ngách kẽ hở hang nào, trong bụng bất giác đâm ra thất vọng, và em quyết định đi thêm một vòng chót nữa, nếu không phát hiện thêm được gì? Em chỉ còn nước chịu thua bỏ cuộc!
Nhưng lúc em đến bức bình phong bằng ngọc thạch ấy, bỗng phát giác diện tích của ngọn phong chiếm đất đai khá rộng, mà diện tích của ngọn phong lại không được nhiều gì, phần thì trong thế giới lưu ly đang giam nhốt người bên trong, không thể nào mở cánh cửa để vào cung điện, mà bắt buộc những người vào Ma Cung phải đi quành hai bên hông của bức bình phong ngọc thạch, mà chính hai nơi đây lại vô cùng chật hẹp, như thế chẳng bất tiện sao? Trong lòng sinh nghi, em bèn bước ngay lại nơi tiếp giáp với khối lưu ly, em bước ngay một bước thật lớn thử xem sao, nào ngờ nơi đó thấy chật hẹp như thế mà khi em cất bước vào, lạ là mình đã nhẹ nhàng bước ngay qua, em vẫn chưa tin hẳn, suy nghĩ một hồi, mới phát hiện ngay nơi góc quẹo ấy, chính là nơi huyền ảo của thế giới lưu ly. Hễ mỗi khi có người bước vào ngõ quẹo ấy, bức tường lưu ly lập tức tự động thụt ngay vào trong hơn một thước, mặc dù có đông người hay xe kiệu gì đi ngang qua, đều không gặp một trở ngại gì, chỉ vì khối lưu ly này không có màu sắc đặc biệt trong veo như nước, nếu không để ý quan sát kỹ, tuyệt nhiên không thể nào phát giác sự kỳ ảo huyền diệu của nó. Và chính cũng không ngờ sự tự động thụt lui của bức vách dày lưu ly ấy, tự nó sẽ lộ hẳn ra một khe thông suốt chỉ vừa cho một người qua lại. Độc Ma quả nói không ngoa tí nào, người bị nhốt bên trong chỉ cần làm sao nắm trúng đích xác thời cơ, nghĩa là hễ khi có người tạt ngang qua khúc quẹo, vèo nhanh mình lách ngay ra là thoát khỏi thế giới lưu ly, nhưng nếu nhiều người vừa qua khỏi mà không biết mà lách ra, khối lưu ly lại đóng khít ngay lại như cũ. Thì ra bí mật của nó chỉ đơn giản có thế, thật không thể nào ngờ được, hèn gì Gia Cát Dật tiên sinh chỉ chăm chú vào những nơi tương đối nằm ngay trước mắt, và suốt hai hôm suy nghĩ không ra lẽ? Sau khi em khám phá rõ bí mật này, thì thầy trò Độc Ma đang lo nghênh khách, và em biết thế nào họ cũng đi ngang đây bèn sẵn cơ hội ngàn năm một thủa này viết nhanh vài chữ thông báo cho Gia Cát Dật tiên sinh biết.
Cả hai chuyện trò, và đều lo nhớ Gia Cát Dật, không biết ông ta có thuận lợi để thoát khỏi nơi Phi Các ma cung kỳ ảo trên Vô ảnh Phong không? Liễu Mi càng lo số phận của Hạ Quyên, không biết sau khi nàng bị bắt lại, sẽ bị xử những hình phạt khắt khe gì?
 
0
Hồi 047. Lão Bà Bịt Mặt
[/align]



Khí hậu nóng bức, Liễu Mi thay ngay xiêm y thật mỏng cho mát, tà áo nàng phất phơ trên xe ngựa, đôi song mã của hai người vẫn tung vó lướt trên đường cái quan, sức gió cản đã khiến cho chiếc áo mỏng bó sát thân hình của nàng... Thượng Quan Linh thấy nàng ăn mặc như thế thì làm gì chả gợi nên những cặp mắt háo kỳ của thiên hạ nhưng vì chính chàng cũng nhận thấy Liễu Mi lúc này quá đẹp, nên chàng cũng không muốn nàng phải thay áo khác! Nhất là nàng lại cố ý diện cho mình?
Liễu Mi từ khi có Thượng Quan Linh đi cạnh bên mình, nàng càng đâm ra sửa soạn thêm, nàng vốn đã đẹp nay lại càng tăng thêm khiến cho những khách lộ hành không ngớt trầm trồ khen ngợi, Thượng Quan Linh thì khỏi nói, tâm hồn chàng lâng lâng vì thấy thiên hạ đều muốn được đứng vào địa vị của mình!
Nhưng cũng chính vì lối ăn mặc bắt mắt của Liễu Mi mà đã gây nên chuyện lôi thôi. Hôm đó hai người đến một thị trấn nhỏ, mặt mũi đầy vẻ phong trần, bước vào một quán trọ nhỏ để nghỉ ngơi ăn uống. Liễu Mi sau khi thay quần áo rửa mặt mũi xong bước ra ngoài cùng với Thượng Quan Linh để dùng cơm. Nhưng khi nàng xuất hiện trong quán ăn, tất cả những khách ăn nhậu trong quán đều đổ dồn những cặp mắt thêm muốn nảy lửa lại phía người Liễu Mi, những tiếng trầm trồ thì thào nối tiếp, tiếp đó một giọng nói thô bạo vang lên:
- Mẹ kiếp! Con bé đâu đến mà hấp dẫn thế không biết? Ta càng trông lại càng muốn cắn cho một miếng mới hả dạ mát lòng!... Tuyệt! Tuyệt thật!...
Bỗng một giọng khác lạnh lùng rằng:
- Nếu đại ca đã thích con bé này, tí nữa đây bọn em sẽ bắt ngay lại giao cho đại ca tức khắc!
Tên có giọng thô bạo nghe nói vậy như gãi trúng chỗ ngứa của y, chỉ thấy hắn cười ha hả vô cùng khoái chí!
Thượng Quan Linh nghe đã xung gan, tính can thiệp ngay! Nhưng Liễu Mi chẳng thèm để ý gì, nàng đưa tay ra ấn ngay lấy tay Thượng Quan Linh, khẽ tiếng rằng:
- Anh!... Hơi đâu chúng mình đi tức với những quân hỗn độn ấy làm gì cho mệt!
Thượng Quan Linh bên này vừa đứng lên tính trả tiền cho chủ quán, bàn bên kia bỗng có tiếng rằng:
- Ê! Tiểu tử! Hãy khoan đi đã! - Dứt lời một người ngang nhiên xô ghế bước ra!...
Liếc qua phía bên, thấy có năm đại hán ngồi chung bàn, tên nào cũng vạm vỡ và y phục gọn ghẽ, sắc mặt ai nấy hầm hầm, một người đứng dậy bước sang, tiếng trầm nặng lạ lùng, bốn tên còn lại ngồi giương mắt như để xem Thượng Quan Linh đối phó ra làm sao!
Trong quán biết sắp có chuyện chẳng lành xảy ra, những khách nhát gan đã bỏ về ngay, hình như họ đều biết năm tên đại hán này không phải những tay lương thiện đến trêu vào làm gì, thiên hạ tính đào tẩu trước là thượng sách hơn cả.
Thượng Quan Linh vẫn ngồi uy nghi bất động, chỉ thấy người này râu ria tua tủa, tướng mạo hung dữ bước đến trước bàn, đưa tay ra thẩy ngay một nén vàng xuống mặt bàn cạch một tiếng, nén vàng ấy bị lún sâu như khảm vào mặt bàn. Xong mới cất tiếng lạnh lùng rằng:
- Này tiểu tử! Chừng đó đủ chưa?
Thượng Quan Linh cố nhịn hỏi:
- Tôi không hiểu tôn ý muốn nói gì?
Tên nọ chỉ ngay vào Liễu Mi, nở ngay một nụ cười dâm ô rằng:
- Ta mua nàng với giá đó, bộ ngươi còn chê ít sao?
Thượng Quan Linh đã muốn điên người lên vừa tính ra tay, nhưng Liễu Mi đã tươi cười hỏi tên nọ rằng:
- Không hiểu đại gia đây quí đại danh là gì? Nên xưng hô như thế nào mới đúng?
Chỉ nội nghe tiếng thỏ thẻ của Liễu Mi, hồn vía tên nọ cũng bay bổng lên chín từng mây xanh rồi, đôi mắt híp lại vì khoái trá, người đẹp lại biết điều hỏi đến danh tánh của mình như thế, càng làm ra vẻ ta đây nói rằng:
- Hà Hà Hà... cưng dễ thương thật!... Năm anh em ta, trên giang hồ được xưng là Ngạc Đông Ngũ Lang, vị ngồi chính giữa kia là Đại gia Sói vĩ lang Đổng Liên, còn vị kia là Tam gia Xích bối lang Tiền Khoan, vị kia là Bạch khứu lang Trình Lâm, và kia là Ngũ gia Phún hỏa lang Do Can...
Liễu Mi lại cười hỏi:
- Thế còn ngài là ai?
Tên này đưa tay rờ ngay bộ râu rễ tre của mình rằng:
- Trong số Ngạc Đông Ngũ Lang, ta đứng bậc thứ nhì, trên giang hồ thiên hạ xưng ta là Nhị gia Cầu nhiệm lang Hùng Tinh.
Liễu Mi khích một tiếng bật cười rằng:
- Cầu nhiệm lang? Có nghĩa là con chó sói râu ria xồm xoàng. Tên này không hay gì, theo tôi ngài nên thay đổi tên khác cho hay hay một chút.
Cầu nhiệm lang vội rằng:
- Ờ ờ cô bé nói phải lắm! Thế cô nói nên thay bằng biệt hiệu gì cho hay ho nào?
Liễu Mi vờ ngước đầu như suy nghĩ, nàng cố trầm ngâm một chập rồi trịnh trọng rằng:
- Theo tôi, nên đổi lại thành tên Si Thỉ Lang thì hay tuyệt!
Nhưng sự phản ứng của Cầu nhiệm lang Hùng Tinh quá chậm chạp, miệng hắn vẫn lẩm bầm đọc đi đọc lại:
- Si Thỉ Lang?... Si Thỉ Lang (nghĩa là: sói ăn phân người).
Thình lình hắn chợt hiểu nghĩa, thì ra con ranh này đã dám trêu đùa mình! Chỉ thấy hắn sa sầm nét mặt xuống quát:
- Tiên sư con ranh con! Dám trêu chọc đến đại gia nhà mày hả? Hôm nay không cho mày một trận nên thân, e mày cũng không biết sự lợi hại của Ngạc Đông Ngũ Lang đây!
Dứt tiếng, Hùng Tinh giơ ngay tay xòe ngay ra năm ngón để thộp ngay ngực Liễu Mi, hắn tưởng đâu một con bé yếu như liễu đào này, thấy mình thịnh nộ dọa như vậy, thế nào cũng quì ngay xuống van lạy rối rít và mình nhận ngay cơ hội này để đàn áp thằng nhỏ kia, và bắt ngay con bé giao ngay cho đại ca Sói Lang, được như vậy thật hách biết mấy! Vì mình sẽ tỏ cho mọi người thấy tác phong anh hùng của mình? Nào ngờ hắn vừa ra tay, nàng Liễu Mi trước mắt đã vội đứng lên nhăn nhó :
- Ối chao ôi!...
Tên Cầu Nhiệm Lang chỉ cảm thấy dưới chân mình như có vật gì hất mạnh một cái, bịch một tiếng, té úp ngay trên mặt đất.
Cầu nhiệm lang Hùng Tinh nằm mộng cũng không ngờ rằng con bé trước mắt mình lại xảo trá đến thế, hắn ngơ ngác nghe nàng vỗ tay tươi cười rằng:
- Nhị đại gia quả là nhân vật chịu chơi thật, mới thay đổi biệt hiệu mà đã công nhiên biểu diện ngay ngọn Si Thỉ (chó ăn phân) tuyệt mắt như thế! - Dứt lời nàng cất tiếng cười khanh khách, tiếng cười rất hồn nhiên và hấp dẫn...
Tên Cầu nhiệm lang Hùng Tinh hầm hầm lồm cồm ngồi dậy, hắn giơ ngay song chưởng để chụp Liễu Mi!
Vừa cười, Liễu Mi vừa nhoáng nhanh thân mình né tránh, động tác của nàng trông đẹp mắt lạ, vừa lả lướt vừa yểu điệu!
Tiếng Liễu Mi thét lên rằng:
- Kìa! Si Thỉ Lang, các móng cẳng của nhà ngươi ngứa làm sao? Thôi được... tội nghiệp!... để bản cô nương trị chữa cho vậy!
Dứt tiếng nàng khẽ chuyền nhanh mình, hai gót sen thình lình bung lên một lúc, ngọn đá khéo hết chỗ nói, trúng ngay hẳn vào song chưởng của hùng Tinh, hắn rống lên như beo bị đè trói, hấp tấp rụt tay về, lùi ngay về phía sau bốn năm bước?
Bên góc bàn kia, Ngạc Đông Tứ Lang thấy đã gặp phải đối thủ, vội hấp tấp nhào hết ra nghênh chiến!
Thượng Quan Linh vỗ ngay trên mặt bàn đến chát một tiếng, nén vàng bị khảm xuống mặt bàn vừa rồi tung bật ngay lên, Thượng Quan Linh chụp nhanh ngay nén vàng cầm trong tay để làm ám khí phóng ra khi cần.
Cầu Nhiệm Lang đã được hai đồng bạn dìu đỡ, còn hai tên nọ đang bước gần tới phía Thượng Quan Linh và Liễu Mi, thình lình chúng thấy tay của Thượng Quan Linh vung lên, vội ngừng ngay bước đứng lại. Hai tên này chính là Đại gia Sói vĩ lang Đổng Liên và Tam gia Xích bối lang Tiền Khoan, sau khi đứng yên lại, tên Sói vĩ lang Đổng Liên nheo mắt ngó Thượng Quan Linh lạnh lùng rằng:
- Quân chó hoang ở đâu mà dám cả gan đến đây phạm oai của Ngạc Đông Ngũ Lang chúng ta, nếu biết điều hãy để ngay con ranh này lại cho ta và cút nhanh cho khỏi ngứa mắt! May ra đại gia ta còn lượng tình tha cho mạng sống, nhược bằng không... Hờ! Hờ...
Chưa nói hết câu, Sói vĩ lang Đổng Liên đã bước ngang lên một bước, đôi bên chỉ còn cách nhau có hơn ba bước, cuộc chiến chỉ cần hơi nhích là bộc phát kịch liệt ngay.
Liễu Mi đứng cạnh vẫn tươi cười nói:
- Này anh! Xem bộ răng của vị đại gia này mọc như thang cấp vậy, trông xí quá? Anh làm ơn thay hộ ông ta mấy chiếc răng vàng cho mỹ quan chút đi?!
Chỉ nghe đến cách một tiếng, nén vàng trong tay Thượng Quan Linh lập tức bị bẻ ra một miếng nhỏ, rồi chàng lên tiếng rằng:
- Được! Anh sẽ làm vừa lòng em vậy!
Dứt lời chàng vung nhanh tay bắn ngay hai miếng vàng vụn sang địch thủ.
Sói vĩ lang thất kinh hồn vía, phần thì đứng quá gần, chỉ thấy lão vội vùng thế Tà tháp liễu (trồng nghiêng cây liễu) tránh ngay mảnh vàng vụn thứ nhất, nhưng không sao tránh thoát miếng vàng thứ hai, hắn chưa kịp nhận rõ thủ pháp của đối phương, thì trong miệng mình đã nghe đến cụp một tiếng hai răng cửa rớt xuống đất, máu chảy và đau điếng người, nhất là nướu răng trên đau không thể tả, thì ra miếng vàng nhỏ mà Thượng Quan Linh bắn ra kình lực đã khảm hết ngay nướu răng Đổng Liên; lúc này chỉ thấy hắn há hốc miệng vì đau và cấn, ánh vàng lóng lánh, chẳng khác gì người bịt răng vàng, Liễu Mi thấy vậy liền cất tiếng cười khanh khách, khen lấy khen để ý trung nhân của mình rằng:
- Thủ pháp của anh tuyệt trần quá! Thôi chúng mình đi !
Nhưng Ngạc Đông Ngũ Lang đâu chịu để hai người thoát thân đi như thế, chúng chận ngay lối cửa ra, lăm le chực xông bừa vào hỗn chiến để trả thù.
Thượng Quan Linh thấy vậy nghiễm nhiên cười rằng:
- Nếu các ngươi không phục, hãy theo ta ra ngoài kia cho rộng rãi!
Liễu Mi cười xong lên tiếng nhí nhảnh hát ghẹo rằng:
- Năm con sói ngốc! Vừa ngu vừa dóc! Răng rụng lốc cốc Mau lạy cốc cốc! Tha cho tội ngốc!
Cứ thế Liễu Mi lải nhải hát đi hát lại! Khiến cho Ngạc Đông Ngũ Lang tức muốn bốc khói lên đầu, chúng thét lên một tiếng cùng ập xô lại!
Liễu Mi như một làn khói phi thân ra lối cửa sổ, Thượng Quan Linh ào một tiếng phát ra một chưởng, khiến cho Xích Bối Lang và Phún Hỏa Lang vội vàng tránh hẳn sang, chàng Thượng Quan Linh ung dung bước ra khỏi cửa quán leo lên lưng ngựa!
Ngạc Đông Ngũ Lang đuổi ra đến nơi, ngựa Thượng Quan Linh đã chạy bung luôn, Sói Vĩ Lang ra lệnh:
- Đuổi theo gấp!
Cả năm mống lật đật tìm ngay ngựa phóng như bay theo sau. Khi sắp sửa đuổi kịp, đằng trước thình lình Thượng Quan Linh và Liễu Mi ngừng ngay cương ngựa nhảy xuống đất đứng chờ, Sói Vĩ Lang nhìn kỹ, thì ra bên cánh trái của quan lộ, có một khoảng đất trống rộng có trên mười trượng vuông, chắc đối phương đã chọn nơi đây để giao đấu với nhau, ai nấy lo xuống ngay ngựa, rút phắt binh đao bên người ra ùa ngay sang phía hai người!
Thượng Quan Linh uy nghi đứng chờ, Liễu Mi đứng cạnh cất tiếng cười xong nói:
- Này anh! Năm con chó sói này anh đánh hay em đây?
Thượng Quan Linh có ý chọc tức Ngũ Lang, bèn cười rằng:
- Nào chúng có phải là loài sói đâu, theo anh thì chúng làm chó hoang cũng còn chưa xứng! Nếu em ra tay, e sợ làm bẩn tay ngọc của em, vậy nên để anh ra tay trị chúng một mẻ!
Liễu Mi cười rằng:
- Cũng được! Nhưng tuyệt đối anh phải nghe theo lệnh của em cơ! Em nói đánh đầu chó, anh không được đánh đuôi chó!...
- Ừ anh sẽ nghe theo lời em!
Nói xong mở ngay thế với hai tay không đứng chuẩn bị nghênh chiến với Ngạc Đông Ngũ Lang.
Lúc này Ngạc Đông Ngũ Lang đã tức tối tăm mặt mày, chẳng nhận ra đâu là tả là hữu nữa, chỉ nghe Sói Vĩ Lang quát rằng:
- Tiểu tử kia? Mau rút kiếm ra đi. Và trong năm anh em chúng ta đây tùy ý muốn chọn ai thì chọn!
Thượng Quan Linh vẫn buông lời nghịch ngợm rằng:
- Rút kiếm? Xưa nay ta chưa hề nghe ai nói đánh chó mà phải dùng đến kiếm như thế, và thường chỉ đấm đá vài ngọn là chúng cúp ngay đuôi chạy luôn, và thường là những loại chó cắn người lại hay ùa đàn lắm, vậy các ngươi chẳng cần phải khách sáo làm gì, cứ việc xúm nhau lên hết một lượt để tránh khỏi mất thì giờ của ta!
Ngũ Lang nghe nói thế càng tức đến muốn vỡ lồng ngực, tiếng Xích Bối Lang oang oang lên rằng:
- Thằng ranh con này hỗn xược quá! Anh em mình cứ cho ngay nó một trận cho rồi!
Nói xong vung ngay cây đao nhắm đầu Thượng Quan Linh bửa mạnh tới, bốn người kia thấy đã ra tay bèn vung binh khí vây ngay Thượng Quan Linh vào giữa.
Binh khí của Ngạc Đông Ngũ Lang toàn là đơn đao giống hệt nhau, chỉ thấy những ánh đao loang loáng, năm ngọn đao tung hoành tua tủa và đều nhắm vào các nơi hiểm chí mạng của Thượng Quan Linh đánh tới, Thượng Quan Linh giở ngay môn Điên Đảo Càn Khôn ra quay quần với chúng, chỉ thấy một bóng người như chàng say rượu, bước đi xiên vẹo xuyên lướt thật nhanh trong làn mưa đao của Ngũ lang, đao pháp của Ngạc Đông Ngũ Lang tuy tinh thông tuyệt vời, nhưng không thể làm sao chạm đến gấu áo của địch!
Liễu Mi lúc này đứng nơi một địa thế cao, nhìn rõ trận chiến đang diễn ra trước mắt, bỗng nàng lên tiếng:
- Anh ơi! Hãy nghe theo lệnh của em nhé! Vậy anh hãy diễn ngay một ngọn ác cẩu chuyển khuyên (chó dữ chạy vòng) cho em xem!
Thượng Quan Linh thình lình nhảy vọt ra vòng chiến, bọn Ngũ Lang lại lật đật chạy theo Thượng Quan Linh, khinh công của họ đâu bì nổi với chàng, chỉ thấy chúng xếp thành hàng dọc lo rượt theo sau Thượng Quan Linh như cái đuôi bị đứt khúc, Thượng Quan Linh cố ý dắt chúng chạy thành một vòng tròn, Liễu Mi trên cao thấy vậy cười rằng:
- Hay quá! Hay quá! Năm con chó hoang đều biết làm trò cả!
Bọn Ngũ Lang thấy bị chê cười vậy, bèn ngừng hết lại, binh đao trên tay cùng đưa hết ra công hãm ngay Thượng Quan Linh.
Liễu Mi lại lên tiếng rằng:
- Anh Linh ơi! Hãy dùng thử một ngọn Cẩu sang cốt đầu (chó giành xương) đi cho vui!
Thượng Quan Linh đứng trong vòng vây liền giở ngay môn Điên Đảo Càn Khôn, chỉ thấy chàng nhẹ nhàng lướt nhanh ra, cả năm mạng thấy chàng ra tay nhanh như chớp, không tên nào kịp thu thế, nháy mắt, cả năm cây đao va chạm vào nhau vang lên những tiếng inh tai, vì sức mạnh và đao nặng, tên nào cũng cảm thấy tay buốt bởi chưởng trong cuộc va chạm này.
Liễu Mi lại rằng:
- Anh ơi! Ngọn tới này anh dùng thử ngọn ác cẩu thí tu (chó dữ bị cạo râu) nhé. Và tìm ngay tên nào nhiều râu nhất mà ra tay!
Tên râu xồm Cầu Nhiệm Lang nghe nói thất kinh hoảng hồn, hắn vội chùn ngay bước tiến của mình lại.
Thượng Quan Linh như bóng đeo sát với hình, cười rằng:
- Ấy kìa! Chạy đâu vội thế, cẩu tu ngổn ngang như thế cũng nên nhổ bớt đi cho gọn sạch chứ, vậy hãy ngoan ngoãn ngoảnh đầu sang đây!
Cầu nhiệm lang Hùng Tinh tức muốn nổ con mắt, hắn thình lình quay nhanh người lại, bửa mạnh ngay sang một nhát dao ác liệt, nào hay Thượng Quan Linh đã tới sát hắn từ hồi nào, chẳng những đã vung chưởng phong tỏa ngay thế đánh của hắn, đồng thời đã giơ tay rờ ngay mặt hắn một cái! Cái rờ ấy khiến cho Cầu nhiệm lang Hùng Tinh cảm thấy như bị con dao cạo cùn quét ngang qua vậy, vừa đau vừa rát, bụng hoảng hồn đưa tay lên rờ má, thấy đã bật máu tươi, thế là cả một bộ râu xồm xoàm đã không còn sợi nào dính lại trên mặt! Ngạc Đông Tứ Lang vội chạy xô lại giải cứu.
Thượng Quan Linh khẽ hừ một tiếng, bung mình nghênh ngay sang phía bốn người!
Liễu Mi thích trí lại cười rằng:
- Anh Linh ơi! Bây giờ anh phải diễn cho thật nhanh tay, anh để ý nhét Ngọn thứ nhất là Thống khảo cầu thoại (khênh đùi chó cho đau), anh hãy lựa tên nào cẳng dài mà hạ thủ!
Cả đám Ngũ Lang giật thót mình, vì chúng không biết cẳng ai dài nhất trong đám! Chớp mắt Thượng Quan Linh đã phát mở ngay đến môn Đinh Giáp thần công và bửa phạt ngay một chưởng về phía đùi dài nhất của Xích bối lang Tiền Khoan, chỉ nghe tiếng Tiền Khoan hét lên một tiếng đau đớn quì khụm ngay dưới đất không dậy nổi.
Liễu Mi trên cao cười ngất và nàng giơ năm ngón tay ra, rồi cụp hẳn một ngón xuống nói:
- Thế là một con sói dữ dài cẳng tạm nghỉ ngơi cái đã! Còn ngọn tới này anh Linh nên dùng ngọn Xảo xuyên lang khứu (xích ngay mũi chó)? Anh nên tìm tên Bạch Khứu Lang mà hạ thủ... ấy chết em quên mất! Để em tìm cho anh một sợi dây mới được chứ!
Nói xong nàng lấy ngay ra một sợi chỉ tơ đỏ trong đai áo, dùng kình lực ném sang cho chàng, Thượng Quan Linh tung vọt mình lên chụp ngay sợi chỉ đỏ đang lơ lửng trên không! Thấy vậy, Tứ Lang cùng chen hết lại khua đao lên chém phạt túi bụi tính không cho Thượng Quan Linh hạ mình xuống, Liễu Mi thấy vậy cười nói với Thượng Quan Linh rằng:
- Trời ơi! Anh Linh! Phía dưới còn có quả núi bằng lưởi đao cơ đấy!
Thượng Quan Linh quanh ngay nửa vòng vèo hạ thân xuống thế là bốn ngọn đao tức tối đâm thắng ngược lên? Nào Thượng Quan Linh đâu phải tay vừa gì, chẳng qua thế đó chàng chỉ nhử địch mà thôi, ngay trong lúc ấy, toàn thân chàng lại vọt bổng nhanh trở lên, và đã nhẹ nhàng như một làn khói vèo ngay phía sau lưng bốn người.
Bạch Khứu Lang giật mình cuống lên, tính tung mình né tránh, chợt cảm thấy cánh tay tê hắn, thì ra đã bị Thượng Quan Linh túm chặt, tiếp đó thấy người ta đã đưa tay lên vuốt ngay vào mũi mình, động tác nhanh không thể nào tả kịp. Lúc này khứu giác của Bạch khứu lang chỉ cảm thấy có một mùi thơm dìu dịu.
Sói vĩ lang Đổng Liên tức điên lên quát rằng:
- Thằng ranh con khi người quá quắt!
Thì ra tên Bạch khứu lang Trình Lâm sau khi bị điểm huyệt nằm lăn dưới đất mà nơi mũi lại có sợi chỉ đỏ xuyên ngang từ hồi nào rồi, trông thật vừa bắt mắt lại vừa khôi hài.
Tiếng Liễu Mi lại rằng:
- Còn tên Sói Vĩ Lang này tội nặng nhất, cũng nên để lại chút kỷ niệm gì cho hắn! Vậy Anh Linh biến cho hắn thành Đoạn Nhĩ Lang (con sói mất tai)
Nghe nói vậy, tên Sói Vĩ Lang cũng chột dạ, vì chính hắn đã chứng kiến những cảnh xảy ra trước mắt, hễ Liễu Mi ra lệnh gì, thì Thượng Quan Linh thi hành đúng theo lệnh không hề sai chút nào, lúc này hắn hoảng vía, ngọn đao khua lên múa may quay cuồng như thằng điên để cố lo giữ mình và cũng liều xác đánh thí vào địch thủ. Thượng Quan Linh chỉ cười lên những tiếng lạnh lùng, chợt chàng chui luồn nhanh ngay vào trong đao ảnh của đối phương, Sói vĩ lang bỗng cảm thấy tai bên trái của mình lạnh ngắt, biết ngay đã gặp nguy, hoảng hồn giở ngay thế vô lại là Lân lư đả cổn (con lừa nằm dưới đất cọ lưng gãi ngứa) để đánh tháo thân.
Phún Hỏa Lang Do Can đang đứng phía sau Thượng Quan Linh, thấy đại ca mình đang gặp nguy, vội vung đao chém bừa lại, Thượng Quan Linh quành ngược ngay tay ra sau phạt luôn một phách không chưởng, lưỡi đao của Phún Hỏa Lang bị bật tung lên không, Thượng Quan Linh khẽ tặng thêm một chưởng lối nửa phần công lực lên lưng tên này, tuy ngọn đòn rất nhẹ, nhưng tên Phún Hỏa Lang đã không sao chịu đựng nổi, ngay lúc đó hắn bị vãi rắm (hơi tiêu hóa trong người) vãi đái ngồi khụy ngay xuống tại trận.
Liễu Mi cất tiếng cười vang vỗ tay rằng:
- Thế mà cũng đòi xưng là Phún Hỏa Lang! không biết xấu hổ! Theo ta nên đổi lại là Phún Phí Lang (chó sói chuyên đánh rắm) có lẽ còn đúng với bản tính của ngươi? - Dứt lời nàng quay sang nói với Thượng Quan Linh rằng: - Thôi, anh Linh! Chúng mình đi cho rồi!
Lúc này chỉ thấy anh em Ngạc Đông Ngũ Lang vô cùng ảo não, trông chẳng khác nào đàn sói bệnh hoạn. Lão đại Sói vĩ lang Đổng Liên bị xẻo mất tai trái, lão nhị Cầu nhiệm lang Hùng Tinh bị mất cả hàm râu, lão tam Xích bối lang Tiền Khoan bị gãy đùi, lão tứ Bạch khứu lang Trình Lâm bị chỉ đỏ xuyên mũi, lão ngũ Phún Hỏa Lang bị nội thương trong mình, toàn bọn, đứa rên đứa buồn, trông đến thảm hại! Liễu Mi không chút lòng tội nghiệp, nàng nhặt ngay một cành cây lên, đánh đuổi hết năm con ngựa của bọn Ngũ Lang, xong lên tiếng nghiêm nghị quát năm người:
- Còn không cút cho nhanh! Bộ còn nằm đây ăn vạ sao!
Ngạc Đông Ngũ Lang thấy hai người không giết, đã may phúc lắm rồi, đâu còn dám lên tiếng hung hăng như lúc đầu, thế là tên khỏe dìu đỡ tên yếu lo tập tễnh chuồn ngay!
Thượng Quan Linh thấy toàn bọn đã đi xa, trong lòng cảm thấy cuộc trừng trị đám cường đồ này cũng đã diễn ra vô cùng thuận tiện cho mình, chàng cảm thấy lòng dạ khoan thai thơ thới, mặt tươi tỉnh hẳn.
Liễu Mi cũng biết ngay sau trận giao tranh vừa rồi, quả đã tiêu bớt sự buồn bực trong lòng chàng không ít, nàng cũng mừng thầm trong bụng, bèn lướt ngay ngựa lại cười nói:
- Anh! Chúng mình cũng nên lên đường cho rồi!
Thượng Quan Linh ngước mắt nhìn Liễu Mi, chỉ thấy nàng lúc này hồn nhiên và dịu dàng vô cùng, trong lòng chợt hiểu ngay: Nàng đã cố ý sắp xếp đặt trò đùa với Ngạc Đông Ngũ Lang để mình giải trí cho vui và tạm quên hết những nỗi phiền muộn trong lòng... Ồ nàng không những đẹp mà lại còn dịu hiền và khéo léo biết chiều ý người như thế, đối với mình chỗ nào cũng có vẻ săn sóc tận tụy đến nơi đến chốn... Chàng bỗng quên tất cả mọi việc trên đời, chàng đã buông tâm hồn vào một cảnh giới tình mộng... Thấy Thượng Quan Linh đứng đờ người nhìn mình như kẻ bị trúng gió, Liễu Mi bất giác phì cười dùng ngay cành cây nhỏ trên tay để đánh yêu vào thân Thượng Quan Linh:
- Kìa anh... Bộ nhận không ra em là ai sao mà nhìn mãi thế?! Thôi, mau lên ngựa đi cho rồi!
Nghe nàng trách khéo, Thượng Quan Linh ngượng chín trong lòng vội lật đật lên ngựa, thế là hai tuấn mã thả vó tung lướt về hướng Bắc.
Hôm đó, tới gần Kinh Môn, Thượng Quan Linh chợt nghĩ đến chuyện mình bị nhốt một tháng ở Cửu Thiên Tự, và mãi đến nay mình còn chưa hiểu tại sao Hải Không và Pháp Không đại sư lại dùng loại trà Bách hoa hương trà cho sư huynh mình Hầu Hạo uống rồi bắt luôn, và cắt hết tóc của chàng, xong đem nhốt tại thạch động phía sau của Cửu Thiên Tự. Nghĩ vậy Thượng Quan Linh bèn kể ngay câu chuyện này với Liễu Mi, nàng nghe xong bèn đề nghị ngay: luôn tiện tạt ngang qua, tội gì không mở một cuộc thám thính xem hư thực bên trong Cửu Thiên Tự ra sao?
Hùng tâm háo động của Thượng Quan Linh lại nổi lên bừng bừng, thế là hai người cố ý chờ cho hoàng hôn phủ xuống lén đến khu vực Cửu Thiên Tự, giấu ngựa xong xuôi, hai người một trước một sau vượt khỏi tường của Tự Viện. Sau khi vào đến trong, thấy ngay ngôi Cửu Thiên Tự u tịnh vô cùng, không có một tiếng lạ nào. Thượng Quan Linh và Liễu Mi lẻn nhanh tới đại điện, trong điện thấy tối om, đèn lưu ly trước tượng Phật cũng không thấy sáng, hai người cảm thấy kỳ lạ.
Bỗng Liễu Mi cảm thấy dưới chân mình đang đụng phải vật gì, thì ra những pháp khí lư, đỉnh, chuông, mõ v.v... bừa bãi khắp sàn điện, Thượng Quan Linh cũng cảm thấy mặt mình đang dính màng nhện, nhìn trên bàn thờ, chẳng có một lễ phẩm gì bày trên, thỉnh thoảng chỉ nghe tiếng gió vi vu thổi lại. Liễu Mi khẽ tiếng nói:
- Này anh Linh? Hình như đám nhà sư này đã đi hết rồi, ngôi Cửu Thiên Tự này đã biến thành ngôi chùa hoang vu cũng nên!
Thượng Quan Linh kinh ngạc, vội cùng với Liễu Mi lo tìm bốn phía, quả nhiên trong chùa không còn một người nào. Sau khi xem xét kỹ lường một hồi, Liễu Mi đoán ngay người trong chùa này bỏ đi trong thời gian gần đây, và cuộc bỏ đi hình như vô cùng hấp tấp là khác, vì căn cứ theo những đồ vật nằm ngổn ngang dưới khắp thềm điện đủ rõ! Thượng Quan Linh lo ngại trong ngôi chùa này còn gì mai phục chăng? Chàng cẩn thận rút kiếm cầm trong tay, rồi cùng Liễu Mi đi về phía sau thạch bích, và cũng chính là nơi thạch động xưa kia mình bị nhốt chung với Hầu Hạo. Đến nơi, Thượng Quan Linh vần thấy tấm cửa lớn bằng đá chặn cửa động sau khi bị thần lực của Hầu Hạo đánh bung ra ấy, đến nay vẫn chưa được sửa sang, trong thạch động cảnh vật vẫn y nguyên xưa kia, nhưng vì thời gian cách lâu, nên trong này hơi nặng mùi mốc. Chàng lúc này không khỏi liên tưởng đến vị sư huynh Hầu Hạo của mình, lòng buồn rầu nao nao....
Bỗng nghe tiếng Liễu Mi bên ngoài gọi:
- Anh Linh ơi? Mau lại xem cái này! Chuyện gì mà lạ lùng quá!
Thượng Quan Linh cầm kiếm vội tung mình ra!
Nghe theo tiếng nàng tìm đến, thấy Liễu Mi đứng ngay giữa sân đình, nàng đang ngước cổ nhìn lên. Trong cảnh tối chập chờn, chàng thấy một nhánh cây to lớn, nghiễm nhiên một con chim ưng to lớn đậu nghênh ngang trên cành cây, đôi mắt long lanh nhìn hai người không chớp tí nào, thể xác con chim ưng này to hơn cả một mặt bàn tròn lớn, trông thần thái nó oai dũng vô ngần, quả là con chim ưng khác phàm tục, đôi móng nó bấu chặt thân cây, Liễu Mi dùng kiếm khua ngay trước mặt nó, nhưng lạ thay, chẳng thấy nó chớp mắt hay nhúc nhích gì, vẫn nghiễm nhiên bất động, Thượng Quan Linh tính vung phách không ra đánh, Liễu Mi chợt ngăn cản ngay chàng rằng:
- Anh Linh! Đừng đánh nó làm gì! Nó đã chết rồi!
Thượng Quan Linh tỏ vẻ không tin, chàng tung mình đánh bạo đưa tay rờ vào thân nó, quả nhiên thân nó đã cứng đờ hình như đã chết từ lâu, nhưng vì đôi trảo của nó bấu sâu vào thân cây, nên mới không bị ngã xuống, hai mắt mở thao láo như còn sống. Hai người không biết con chim ưng này từ đâu lại, và không biết tại sao lại bị chết tại Cửu Thiên Tự này như thế? Xem toàn thân nó, lông lá vẫn nguyên vẹn, nào đâu có vẻ gì bị thương đâu! Cả hai lấy làm lạ mà không sao khám phá ra cái chết bí mật của chim ưng.
Cảnh đêm lúc này càng nặng nhọc thêm, Thượng Quan Linh vốn thích con chim này thần sắc oai hùng, nên chàng có ý tính hạ con chim xuống để chôn cất tử tế, nhưng Liễu Mi nói rằng con chim này thế nào cũng có chủ nuôi, và chắc có lẽ trước khi chết nó đã cố bày ra một thế như vậy để chờ đợi chủ nhân lại phát hiện cái chết của nó để mà trả thù, và nàng Liễu Mi khuyên chàng nên để nguyên con chim ưng đậu trên ấy, đừng nên làm mất dấu tích bí mật của nó.
Thế là hai người lại đon đả lên đường suốt cuộc hành trình, Thượng Quan Linh và Liễu Mi đều luôn luôn nghĩ đoán về con chim bí mật này. Một hôm hai người đến một thành lớn Nam Chương của phía Bắc tỉnh Ngạc (Hồ Bắc), phố xá nơi đây buôn bán tấp nập, Liễu Mi tính đi mua một chút đồ lặt vặt, nàng rủ Thượng Quan Linh nhưng vì chàng mệt và buồn ngủ, nên dặn Liễu Mi nên đi mau mau về. Nhưng sau khi Thượng Quan Linh sửa soạn đặt mình lên giường ngủ, gian phòng khách sạn quá êm tịch, vô tình gợi nên những tâm tư của chàng, nào chưa trả thù được cho cá người thân, nào chuyện thầy và sư huynh không biết nay ra làm sao, tất cả những vấn đề ấy cứ quay cuồng trong óc chàng, khiến chàng không sao chợp mắt được, nhưng lại nghĩ đến Liễu Mi trước khi ra phố, dặn chàng nên ngủ say, chàng nhẹ thở dài và thiu thiu thiếp giấc.
Thình lình chát một tiếng, hình như có người đụng mạnh vào cửa sổ phòng mình, đồng thời một bóng đen nhoáng nhanh song cửa, Thượng Quan Linh hấp tấp mặc nhanh áo xuống giường, rút ngay cây Lệ thủy tinh kiếm, ào một tiếng vung chưởng đánh bật ngay cánh cửa sổ. Nhưng bên ngoài trăng sao lu mờ nào có thấy bóng người nào đâu? Bụng nghĩ chắc có lẽ nàng Liễu Mi lại đùa chơi với mình, chắc nàng đã ra phố và tính vào dọa mình cho vui, nghĩ vậy chàng bèn lên tiếng rằng:
- Em Liễu Mi! Em...
Không tiếng trả lời nào.
Chàng tính quay thân vào ngủ, bỗng có tiếng lạnh lùng cười lên và một âm thanh rờn rợn ngoài cửa sổ rằng:
- Ranh con! Mau ra đây! Đêm nay kỳ hạn mày xuống Diêm phủ rồi, còn tính vào ngủ làm gì nữa, chờ xuống chầu xong vua Diêm Vương rồi sẽ yên trí mà ngủ !
Quả nhiên có người thật! Thượng Quan Linh vội vung nhanh ra một chưởng để dọn đường trước, và nhanh như cắt chàng tung bay ra khung cửa sổ. Chỉ thấy ngay giữa đình sân, đang có hai bóng đen đứng ngay đó, sau khi thấy chàng tung mình ra, thình lình cả hai bóng đen lại vọt nhanh lên mái nhà, và tung mình lướt đi như bay trong màn đêm.
Thượng Quan Linh đâu chịu buông tha, chàng hấp tấp lo đuổi theo sau, trong màn đêm lu mờ, hai người này đều mặc áo đen và bịt mặt, nhưng xem thân hình và động tác thì khỏe mạnh vô ngần, khinh công cũng cừ khôi tuy đang nhảy vọt trên mái ngói, mà không khác nào đang chạy phây phẩy dưới đất bằng vậy, càng khéo là không hề gây nên tiếng động nhỏ nào! Thân pháp hai người quả là tuyệt! Thỉnh thoảng hai người còn quay đầu nhìn lại như sợ Thượng Quan Linh không đuổi theo mình vậy. Ngay trong lúc đuổi địch này, Thượng Quan Linh chợt hiểu kịp ngay lời Liễu Mi từng nôi, trên Phi Các ma cung, hai bên lão bà bịt mặt đều có hai tên tráng hán cũng ăn mặc như lối hai người này, không lý chính là người thù mà mình đang tính gặp đây chăng? Không ngờ bọn chúng lại tự dẫn xác đến nộp cho mình? Chàng nghĩ ngay đến thù lớn của mình sắp được trả một cách xứng đáng, máu nóng trong mình nóng ran lên cực độ! Nghĩ xong chàng càng tăng thêm tốc độ, ước gì mau theo kịp điểm ngay huyệt chúng rồi hỏi cho vỡ lẽ, trong ba bóng hai trước một sau ấy, chẳng mấy chốc đã đuổi nhau ra đến ngoại thành, và đến một nơi hoang dã, Thượng Quan Linh phía sau lớn tiếng rằng:
- Này hai người bạn đằng trước, nếu muốn so tài phân cao thấp với nhau, không còn đâu bì hơn khoảng trống này nữa, hà tất còn phải đi đâu xa thêm cho mệt?
Hai người nghe vậy quay đầu lại, một trong hai tên lạnh lùng rằng:
- Có giỏi cứ việc theo đi, vì đằng kia có người đang muốn ngươi đem mạng lại nạp gấp?
Miệng nói nhưng chân không hề ngừng bước, vẫn rảo nhanh như bay đi vùn vụt. Thượng Quan Linh đoán không sai. Đằng kia có người, chắc chắn là lão bà bí mật bịt mặt đang chờ đợi mình, đêm nay gặp kẻ thù, thế nào cũng rõ hết mọi sự bí mật ngay, nghĩ vậy chàng càng phấn khởi tinh thần cố dốc hết ngọn khinh công của mình đuổi nà theo hai bóng đen nọ.
Khi vượt qua một ngọn suối con, đến nơi một bãi trống hoang vắng, dưới ánh trăng sao lu mờ, thấy tứ bề đều ảm đạm thê lương không bóng người nào, lại đi thêm một chập, thình lình hai bóng đen trước ngừng bước, thấy vậy Thượng Quan Linh vội thu ngay thế đứng lại. Chỉ thấy phía trước có một người, không biết đã hiện ra từ hồi nào, chỉ thấy người này toàn thân áo đen, mặt cũng được che ngang một khăn đen, tóc trắng xóa, tay cầm cây quái trượng kỳ hình quái trạng, ngọn gió đêm trường thổi bay tà áo màu đen, nhìn kỹ thì quả đúng như lời thuật của Liễu Mi đã thấy trong Ma Cung.
Thượng Quan Linh nhận xét tất cả những ngôn ngữ và hành động của những nhân vật trong Ma Cung, chàng cho rằng lão bà bịt mặt đang đứng trước mình đây, chính người đã gây ra vụ huyết án thảm thương ở Cửu U Địa Khuyết khiến nỗi ân sư Tạ Đông Dương Ngân tu kiếm khách Phương Bách Xuyên, Thiểm điện thần khất Gia Minh, nghĩa tỉ Thường Bích Vân, U mịch thần quân Diêm Nguyên Cảnh, Tiêu diêu lão nhân Chung Ly Triết và cả vụ gần đây là Nhân tâm thần khất Phương Kỳ đều bị thiệt mạng một cách bí mật và rùng rợn vậy! Vì nghe nói lão bà bịt mặt đá có cây Lãnh điện tỉ thủ giết người không thấy máu tích, thần kỳ tuyệt luân, nên chi những nhân vật lừng lẫy mà võ công đã đến mức nhập thần xuất thánh như Chung Ly Triết, Gia Minh, Diêm Nguyên Cảnh, đều bị thiệt mạng hết về tay lão bà này, nhưng lạ cái là trong Phi Các ma cung sao không thấy cây Lãnh điện tỉ thủ của lão bà này ra tay? Không lý bà ta đã đánh mất cây tỉ thủ ghê gớm ấy rồi ư? Hay là cây tỉ thủ này đã mượn của ai? Và sau giết người xong lại phải qui hoàn cho nguyên chủ?... chàng nghĩ không vỡ lẽ!
Trong lúc chàng phân vân, chỉ thấy hai đại hán đứng hầu hai bên lão bà kỳ dị, lão bà bịt mặt vẫn đứng uy nghi bất động, nhưng trong tia mắt sáng ngời ấy đã nhìn chăm chăm vào Thượng Quan Linh, ánh quang ấy trông sắc bén vô cùng. Thượng Quan Linh thình lình cất tiếng rằng:
- Phải chăng bà là người đã giết chết ân sư tôi và các bạn hữu thân của tôi đấy không?
Một chuỗi cười khanh khách quái gở nổi lên, tiếp theo mới lạnh lùng rằng:
- Đúng vậy nhỏ ạ! Ta đây chính là kẻ đại thù của ngươi đang tìm kiếm đây, vậy đêm nay ta sẽ cố gắng khiến cho ngươi được toại nguyện theo ý muốn, để ngươi cùng xuống âm phủ thăm các bạn bè thân của ngươi cho thỏa lòng mong nhớ bấy lâu?
Thượng Quan Linh nghe đối phương không hề chối cãi, trong lòng uất ức hét lên một tiếng:
- Hay lắm! Đã thế Thượng Quan Linh đêm nay đành liều sống chết một phen với bà, nhưng mong bà hãy báo ngay danh hiệu ra cái đã!
Bà lão vẫn lạnh lùng rằng:
- Nhỏ ơi! Ta nói danh hiệu ra cũng bằng thừa! Vì ngươi sắp mất mạng đến nơi rồi, vậy có biết cũng đâu có ích gì!
Thượng Quan Linh lùi nhanh ngay hai bước, nổi giận trong lòng rằng:
- Hừ! Thượng Quan Linh ta nay đứng ra trả thù cho các quí hữu, thế nào cũng bắt bà phải nạp mạng!
Dứt lời sửa nhanh bộ, chuẩn bị sẵn sàng ra tay.
Lão bà giơ ngay cây quái trượng cười quái gở rằng:
- Tội nghiệp cho thằng nhỏ quá! Thôi để lão đưa hồn ngươi về âm phủ mà đoàn tụ với các bạn hữu của ngươi! Nói xong tính vung cây quái trượng đánh ngay xuống, nhưng hai tên hắc y đại hán đã hấp tấp vọt nhanh ra rằng:
- Thưa ngài! Giết gà đâu phải dùng búa đập bò, thằng nhãi này để cho hai đứa tôi lo liệu đủ lắm rồi! Cần gì ngài phải thân hành ra tay cho nhọc lòng!
Lão bà lùi ngay một bước và căn dặn thêm:
- Cũng được! Vậy hai ngươi lên thử với nó xem sao! Nhưng chớ có để hắn thoát thân lần này nữa đấy!
Hai tên tuân lệnh, rồi soạt một tiếng, một trong hai tên lên tiếng:
- Tiểu tử? Hãy mau qua đây nạp mạng cho rồi!
Choang một tiếng Thượng Quan Linh chém vụt ngay cây kiếm của mình ra, chàng đã dùng ngay trọng thủ pháp của Gia Cát Dật đã truyền đánh thốc sang.
Chàng nóng lòng trả thù, cây cổ kiếm được dốc hết toàn lực đánh ra, sức trầm nặng như núi, oai thế thật quả kinh lòng người, hai đại hán thấy chân hơi loạng choạng, chợt nhanh bộ né tránh, Thượng Quan Linh như bóng theo sát hình, chàng mở ngay thế tiến như hành vân lưu thủy, bước nhanh vài bước, soạt một tiếng, lại một đòn ác liệt chém bừa ra. Thình lình chàng chỉ thấy bạch quang nhoáng lên một làn, tiếp theo có tiếng chém gió bửa nhào tới, võ công của hai tên đại hán bịt mặt này quả cũng không vừa vặn gì, một người chống đỡ đòn, một người tiến thân sát vào, thân pháp quả là nhanh tuyệt vời.
Thượng Quan Linh hừ một tiếng âm thầm, chàng vội rút ngay thế kiếm của mình về phong tỏa. Chỉ thấy cây Lệ thủy tinh kiếm sắp chạm vào binh đao của đối phương. Tên đại hán nọ hình như cũng biết lợi hại của cây kiếm quí chợt nhảy tung mình lên tránh, đường kiếm vụt nhanh qua khỏi phía dưới chân hắn. Thượng Quan Linh tuy phát giác địch thủ lợi hại, nhưng chàng ỷ thanh kiếm trên tay của mình không phải loại tầm thường gì, binh đao đối phương tuyệt không dám chạm liều với ngọn kiếm mình, chàng bỗng bạo gan hẳn, hét lên một tiếng vung kiếm xông bừa sang tên khác. Tên này thấy thế tiến như vũ bão đến, vội hoảng vía vung kiếm lên đỡ, cheng một tiếng, ánh quang nhoáng lên, cây trường kiếm của người nọ lập tức bị gãy rớt xuống đất, hắn kinh hãi vội cúi nhanh đầu chui nhanh ngang nách Thượng Quan Linh, tiếp theo song chưởng vung bừa lên để tự bảo vệ lấy thân mình! Tên nọ thấy đồng bạn lâm nguy, vội từ trên bụng cởi nhanh ra một ngọn nhuyễn tiên (roi mềm dẻo), chỉ thấy khẽ khẽ hất, cây roi đã thẳng băng, và đã mở ngay thế quất để cứu tính mạng của đồng bạn.
Ngọn roi này hình như không sợ gì cây kiếm của Thượng Quan Linh, trái lại ngọn roi đã như một con trăn lồng lộn áp đảo cây kiếm của Thượng Quan Linh, chớp mắt, một roi một kiếm gây nên những tiếng xé gió ào, thật là một trận chiến vô cùng dữ dội! Thượng Quan Linh thấy roi pháp của địch thủ không những nghiêm mật mà lại còn có những thế đánh kỳ ảo tuyệt vời không dám chểnh mảng, sau hồi giao tranh dũng mãnh, tiếng xé gió của ngọn roi rít lên vùn vụt, khiến cho Thượng Quan Linh không thể nào nhận được một sơ hở nào để ra tay chiếm phần thắng, thế là chả mấy chốc tên đại hán bịt mặt này đã ngang nhiên chuyển thế bại vừa rồi thành thế nửa cân tám lạng!
Thượng Quan Linh đưa ra hết tất cả những ngọn kiếm pháp mà Gia Cát Dật đã truyền, phần đông toàn trọng về mặt ngạnh (đánh theo lối cứng rắn), và ngọn kiếm của chàng vẫn không ngớt tung hoành tấn công tới tấp! Nhưng tên đại hán trước mắt, roi pháp của hắn quả thần diệu vô cùng, không những ngọn kiếm của chàng không thể nào đụng tới, mà chàng còn e ngại sợ loại binh khí nhuyễn, nếu bị người ta cuốn trúng kiếm thì nguy ngay. Chính vì kiêng kỵ như vậy, nên chàng cũng không dám giở hết các thế đánh liều với địch thủ, thế là cuộc chiến chỉ đành biến thành thế kéo cưa!
Trong lúc cuộc chiến diễn ra trong bừng khốc liệt đó, tên đại hán bị gãy kiếm đứng ngoài vòng chiến theo dõi, tuy thấy hắn đứng ngoài quan sát, nhưng trong tay hắn hình như đã có sẵn ám khí và đang chực sẵn cơ để tung ra. Thượng Quan Linh không thể nào không phân tán tinh thần của mình để theo dõi cử động của tên đứng ngoài vòng chiến, bởi vậy chàng càng lúc càng cảm thấy khó khăn cho mình, chỉ thấy ánh kiếm nhoang nhoáng, roi ảnh vù vù, vòng chiến càng lúc càng mở rộng thêm, chừng đâu hơn một tàn nhang, tên đại hán hét lên một tiếng vung mạnh roi cuộn tới phía dưới chàng, Thượng Quan Linh đành phải tung mình lên né tránh, đồng thời chúi ngay mũi kiếm xuống hất gạt.
Tên nọ lại hét thêm một tiếng khác, ngọn roi không khác nào như con giao long cuồn cuộn cuốn tới thân kiếm của Thượng Quan Linh, chàng giật mình, không dám va chạm thẳng với đối phương, thình lình thu nhanh thế hạ mình xuống đất, tên nọ thấy vậy bung vọt ngay người sang, ngọn roi vung lên như một con quái giao vụt nhanh sang đỉnh đầu Thượng Quan Linh. Thượng Quan Linh chợt nghĩ ra, phía địch đông ba người như thế, đánh lâu không lợi gì cho mình, tình thế càng trở nên nguy nan là khác, mình tốc chiến tốc thắng mới cứu vãn tình thế được, loại mau tên trước mắt này đã rồi tính! Nhưng chàng nghĩ ngay: nếu sau khi cây kiếm bị ngọn roi của đối thủ cuốn, thế nào cả đôi bên phải so đến nội lực, mà không biết phần thắng sẽ về phần ai? Nếu địch bại, ta có thể thành công trong kế hoạch dự định, nhưng nếu phần bại lại về mình? Ngoại trừ chịu cho chúng bắt ra, chỉ còn lối tự tử vì một khi không thể nào thắng tên đại hán trước mắt này, lẽ đương nhiên là đừng hòng thắng nổi lão bà bịt mặt bí mật kia!
Chàng vừa nghĩ đến đây thì ngọn roi đã bửa gần tới Thượng Quan Linh không thì giờ đâu để suy nghĩ thêm, chàng quyết định dùng ngay chữ liều, chẳng thèm né tránh, đưa ngang kiếm gạt. Chịch một tiếng, ngọn roi đã cuốn sát ngay vào thân kiếm. Quả là ngọn roi lợi hại, tuy cuốn vào lưởi kiếm sắc bén mà không hề hấn gì. Thượng Quan Linh hét vang lên một tiếng, cầm ngay chuôi kiếm giật mạnh vào lòng, tên nọ loạng choạng bị kéo bật ra hai bước, nhưng hắn lập tức đứng tấn vững ngay lại, hai tay cố giằng co ngọn roi của mình! Thế là hai bên bắt đầu vào cuộc thi nội công, Thượng Quan Linh đâu dám chểnh mảng! Hai tay giữ chặt chuôi kiếm.
Thế giằng co khựng hẳn lại, dần đà đôi bên thấy bất động hẳn, nhưng Thượng Quan Linh đã nhận ngay ra kẻ đối diện mình, mồ hôi toát đầy trên trán, rõ ràng đối phương cũng đang cố gắng nhưng thầm tính công lực của đối phương quả hơn mình, thế là chàng tăng thêm tinh thần, nhất là khi lại nghĩ đến mối thâm thù của mình, đã quyết định hết vào trận đánh trong đêm nay, chàng bèn dồn hết thực lực trong toàn thân, hét lên một tiếng lớn, kéo giật ngay ngọn kiếm Lệ thủy tinh về? Quả nhiên tên nọ chịu hết nổi, bị bật hẳn tấn đứng, toàn thân bung luôn về phía lòng Thượng Quan Linh! Cây cổ kiếm của chàng hất mạnh lên một cái, bao nhiêu chân lực của chàng được chuyển ra hết ngọn kiếm, chỉ thấy ngọn roi đang cuốn cây kiếm thình lình bị đứt từng khúc và rớt tua tủa xuống mặt đất?
Ngay trong tình trạng tóe lửa chớp ấy, Thượng Quan Linh vung chỉ tính điểm đối thủ, chợt một làn sáng bạc bay thẳng lại mặt, chàng vội vung kiếm lên gạt, ba viên ám khí rớt hết xuống đất, đồng thời tên đại hán đứng ngoài vòng chiến từ nãy đến giờ nhảy bổ ngay vào như một con thú điên! Bắt buộc Thượng Quan Linh phải trả đòn, thế là tên bị đứt roi vội chạy nhanh ra ngồi phệt ngay xuống đất lo vận công điều trị nội thương. Tên đại hán xông vào dùng chưởng đánh. Thượng Quan Linh tránh ngay đòn đầu, và nghĩ ngay hắn không có binh khí trong tay, mình có thắng hắn cũng chẳng anh hùng gì, chàng nạp ngay kiếm vào vỏ. Tên kia lại bửa ngang ra một chưởng, Thượng Quan Linh bèn vận năm phần công lực đối chưởng với hắn, nào ngờ tên nọ đã bị bắn lùi hắn về sau mấy bước!
Công lực tên này còn thua xa tên sử dụng roi vừa rồi, thế là trong ba người, chàng đã thắng hai, Thượng Quan Linh mừng thầm trong bụng, xem ra mình chỉ cố gắng trầm tĩnh đối phó, e không chừng có thể thắng luôn bà lão bịt mặt bí mật này cũng nên, và mối đại huyết thù của mình sẽ thanh toán xong ngay.
Thình lình trong lúc này chàng lại nghĩ ngay đến nàng Liễu Mi, nếu giờ này có nàng đây, chỉ nội những mưu trí lanh lẹ và võ công tuyệt vời của nàng, cuộc phục thù này thế nào cũng nắm chắc phần thắng trong tay! Nhưng tiếc thay nàng còn chưa biết mình đang gặp kình địch tại đây, may ra nàng về đến khách sạn thấy vắng bóng mình mà đi tìm chăng? Nhưng một nơi hoang vắng thế này làm sao mà tìm cho ra? Xem ra đêm nay mình phải ráng sức mà tự giải quyết trận chiến kinh khủng này. Chàng nghĩ xong bèn ung dung cùng chưởng phong đánh ra những thế trong Đinh Giáp Khai Sơn tiến đánh như vũ bão, khiến cho tên đại hán lúng túng chân tay, chỉ còn nước né đỡ, không làm sao trả đòn lại được. Nhưng ngay khi đó, một giọng nói lạnh lùng rằng:
- Tránh ra một bên! Để ta lo!
Thì ra chính lão bà bịt mặt đã thân hành ra tay, tên đại hán trước mặt vội tránh ngay sang một bên, Thượng Quan Linh vội chấn tỉnh ngay tinh thần của mình, trong bụng khấn vái thầm rằng: Phương huynh ơi! Nếu linh hồn của huynh có linh thiêng hãy ráng phù hộ cho tiểu đệ để trả thù cho! Chàng khấn xong, liếc mắt nhìn sang, thấy trên lão bà đã có cây quái trượng, bụng nghĩ mình cũng chẳng cần phải khách sáo vội vung mình nhảy nhanh về sau hai bước, soạt một tiếng, rút phắt ngay cây Lệ thủy tinh kiếm! Chàng đưa mắt nhìn, thấy bà lão cầm trượng vẫn đứng uy nghi, hình như chẳng coi mình vào đâu!
Lão bà bịt mặt ngó xong Thượng Quan Linh rồi lên tiếng nói:
- Hãy ra tay trước đi!
Thượng Quan Linh bèn ngầm vận hết chân lực trong người, xong lên tiếng:
- Vãn bối thất lễ! - Dứt lời ngọn kiếm Lệ thủy nhắm ngay tim lão bà bịt mặt đâm nhanh tới!
Chỉ thấy cây trượng của lão bà đưa lên một cái, một tiếng gió trầm lặng xé không gian vang lên, hình như cây quái trượng của bà già này nặng lắm thì phải, nên mới có thể gây nên tiếng gió dữ dội như thế. Xem cây trượng chẳng thép chẳng sắt ấy, không biết đã chế tạo bằng chất loại gì, thế mà khi gạt được một vòng trên không, Thượng Quan Linh đã cảm thấy một sức mạnh kinh người phát ra từ cây trượng, khiến cho ngọn kiếm của chàng phải bật sang luôn bên!
Chợt cây trượng lúc này được bà lão cử bổng lên, và ép thẳng xuống đỉnh đầu mình. Thượng Quan Linh chỉ cảm thấy đang có một sức nặng ngàn cân đè xuống, nguy cơ lập tức biện ngay trước mắt, chàng lập tức nghĩ ngay: trận này mình không thể nào dùng sức chọi cứng với địch; chàng bèn tức tốc thay ngay bộ pháp từng thuộc làu của mình là môn Điên Đảo Càn Khôn ra cự địch, thế là chàng lanh lẹ lướt tránh khỏi đòn nguy hiểm của đối phương!
Sau khi tránh khỏi, Thượng Quan Linh tưởng đâu cây trượng của lão bà bịt mặt ấy thế nào cũng bửa mạnh xuống mặt đất sẽ gây tiếng vang kinh khủng. Nhưng lạ quá, thấy cây trượng đang bửa xuống với một thế dữ dội, thế mà lão bà nọ đã kịp thu ngay thế đánh hụt của mình lại dễ như chơi, chỉ nghe khẽ bật ra một tiếng ý như vô cùng ngạc nhiên về thân pháp của Thượng Quan Linh. Thượng Quan Linh lúc này vô cùng thất vọng và nản lòng vì công lực nhập thành xuất thánh của lão bà bí mật như thế, mình đâu phải đối thủ của người ta? Trận phục thù đêm nay quyết không còn mong gì nữa! Hy vọng của chàng đã sụp đổ, chàng đâm nghi cả vong linh của Nhân tâm thần khất Phương Kỳ, có lẽ ông bạn thân mình chết không nhằm giờ linh thiêng, nên đã không nhận được những lời khấn vái của mình! Chợt chàng nảy ra một ý nghĩ, thôi mình liều đánh sao cho cả hai bên cùng chết luôn! Quyết định xong cách đánh thí quân này, Thượng Quan Linh bèn vung luôn kiếm, liên tiếp mở ngay ba ngọn đòn đánh tới tấp, dưới chân cũng đổi nhanh ngay phương vị, tiến thẳng bửa vào địch thủ.
Công lực của Điên Đảo Càn Khôn quả nhiên lợi hại thật, chỉ thấy ánh kiếm trắng xóa lên loang loáng đánh cướp nhanh như chớp!
Nhưng thân hình lão bà nhoáng lên như một làn gió, nhanh không thể nào tả, và nhờ thân pháp quá nhanh ấy, đã ngang nhiên tránh khí thế đánh ác liệt của Thượng Quan Linh, trong giây phút này, Thượng Quan Linh mới nhận rõ ra động tác giao tranh của lão bà không chậm chạp như chàng tưởng tượng, trái lại đã hoàn toàn biểu lộ hết những nét oai hùng của bậc tay tổ kỳ nhân trong giang hồ- Chàng rút nhanh thế đánh hụt về, đồng thời soạt một tiếng chém ngang ra, tiếng gió của cây kiếm và của cây trượng đã tạo nên một cơn bão nhỏ trong vòng chiến, chớp mắt, bên phát ra ba đòn, bên cũng giải luôn ba đòn, đều khéo và kinh người cả! Nhưng Thượng Quan Linh đã cảm thấy những thế kỳ dị của lão bà quả thật trầm nặng vô cùng, thời gian kéo dài ra, chàng càng thấy rõ sức đuối của mình, trong lòng đã nổi lên những ý nghĩ khớp sợ!
Ngay trong lúc ấy tiếng lão bà hét vang lên một tiếng, giơ ngay cây quái trượng đỡ ngay cây kiếm của Thượng Quan Linh và thò ngay chưởng bên trái ra, nhắm ngay trước ngực chàng quạt mạnh tới! Thượng Quan Linh không kịp né tránh, thình lình cảm thấy ngực như bị đá lớn đập nhằm phải, khí huyết trong người rạo rực, không làm sao chịu đựng nổi nữa, toàn thân bị loạng choạng lùi về sau mấy bước. Lão bà cất tiếng cười lạnh lùng, nhưng không thấy tiến bước lên để hạ thêm độc thủ chỉ nghe lão bà ra lệnh cộc lốc:
- Đi về!
Hai tên đại hán bịt mặt vội cùng bước lại phía lão bà, thế là ba người tung mình vọt nhanh đi luôn, chỉ trong chớp mắt tung tích ba người đã biến hẳn!
Thượng Quan Linh vội ngồi ngay xuống để tịnh tâm vận công bị thương trong mình.
Chừng gần một tàn nhang, Thượng Quan Linh cảm thấy đã đỡ, chỉ thỉnh thoảng cảm thấy có một luồng hơi lạnh từ dưới bụng đưa lên ngực, hơi khó chịu trong mình. Chàng đứng ngay dậy đi đi lại lại vài bước, thấy cũng chẳng có gì lạ trong mình, trong lòng bất giác đâm ra băn khoăn. Lão bà bịt mặt bí mật này vốn có thù oán với mình, ấy thế mà sau khi thắng thế như vậy sao không thẳng tay hạ sát thủ trừ tuyệt hậu hoạn! Thế lại còn bỏ ra đi như thế! Tuy trong ngọn chưởng này mình không bị thương nặng gì, nhưng tại sao thỉnh thoảng dưới bụng lại nổi một cơn lạnh lên ngực? Không lý trong ngọn chưởng này còn có gì kỳ quái bí mật sao? . .
Trời đã sáng, kẻ thù cũng không biết đi về phương hướng nào, phí sức suốt cả đêm, kết quả là thù chưa báo đã đành, thậm chí đến cả tên họ và mặt kẻ thù ra sao cũng chưa hề biết mảy may gì, lòng Thượng Quan Linh lúc này quả thật buồn bã vô cùng. Hễ nghĩ đến lão bà bịt mặt này, không biết ở nơi đâu? Sào huyệt nằm nơi nào? Vừa rồi không may bị bà ta đánh trúng một chưởng, nay người ta đã đi mất, thiên địa mênh mông như thế này, biết đâu tìm cho ra, chàng càng nghĩ càng buồn, bèn nghĩ thà hãy về khách sạn trước đã, rồi thương lượng với Liễu Mi, nàng vốn người thông minh nhanh trí, thế nào cũng kế hay; nhưng chàng lại sực nghĩ, suốt đêm mình bận kịch chiến chưa về khách sạn, không hiểu nàng đã lo cuống ra sao!
Chàng nghĩ ước gì mọc ngay cánh để bay về gấp bên cạnh người yêu!
Nhưng lúc này Thượng Quan Linh cảm thấy mệt nhừ người, lại buồn ngủ, lâu lâu bị lạnh nơi bụng cứ dội lên ngực, càng khiến chàng buồn ngủ thêm, chàng cố gắng lướt nhanh về hướng thành.
Lúc này đã vào buổi sáng, những người trên quan đạo cũng dần dần thấy đông hẳn, ánh mặt trời đã chiếu cả con đường cái quan, tuy mới sáng tinh, nhưng vì tiết mùa tháng bảy, mặt trời lên nhanh lắm, chỉ trong giây lát, khí hậu đã thấy nóng bực. Tuy trong ngực chàng Thượng Quan Linh lâu lâu có hơi lành lạnh nhưng bên ngoài thân chàng lại cảm thấy nóng bức vô cùng, chàng bèn cởi phắt ngay áo ngoài ra cầm trên tay, bụng nghĩ thầm chắc mình đã bị mắc bệnh nóng lạnh rồi đây cũng nên, vậy phải về ngay khách sạn cho mau để liệu.
Trong lúc hấp tấp, trên đường cái quan bỗng có một người gọi giật ngay lại rằng:
- Này người bạn trẻ ! Xin hãy tạm ngừng bước lại cái đã!
Thượng Quan Linh thấy người ta gọi mình, ngạc nhiên đứng ngay lại, nhìn người này, thấy ăn mặc theo lối nho sĩ tướng mạo thanh nhã, tuổi lối ngoài bốn mươi; sắc mặt có vẻ thật thà hiền từ, nhưng trong đôi mắt lộ hẳn vẻ ngạc nhiên!
Chỉ thấy người nho sĩ ôm quyền thi lễ rằng:
- Dám phiền huynh đài có thể ngừng lại cho tại hạ đây được hầu vài câu chuyện không?
Thượng Quan Linh ngơ ngác chẳng hiểu mô tê gì, nhưng cũng theo ngay sau người nọ đến một nơi vắng vẻ người nọ hỏi rằng:
- Không biết huynh đài tôn danh tính? Tiên hương hà xứ?
Thượng Quan Linh cứ y thực khai rõ. Người nọ lại hỏi đến nguyên sư môn, Thượng Quan Linh thấy người này không phải kẻ bất lương, bèn nói rõ ngay danh hiệu của tôn sư ra.
Người nọ tỏ vẻ kinh ngạc rằng:
- Thì ra là cao túc của Gia Cát Dật tiên sinh, tại hạ đây là Hoa Diệp Tử, vì hơi thông biết về chút ít y thuật trên giang hồ, nên thiên hạ xưng cho một biệt danh là Hoạt Thương Công...
Thượng Quan Linh cũng từng nghe thấy kể đến vị Hoạt thương công Hoa Diệp Tử, người này tinh thông về y đạo bản tính nhiệt tâm hay cứu bệnh người, trên giang hồ, chuyên dùng thuật y đạo của mình cứu chữa bệnh thiên hạ, những người trong bạch đạo võ lâm, không ai là không khen tặng, đúng là một phước thiện hành hiệp nổi tiếng trong giang hồ, không ngờ hôm nay mình lại hân hạnh được gặp người ta nơi đây, Thượng Quan Linh vội dùng ngay lễ nghi của kẻ hậu bối ra khấu kiến. Hoa Diệp Tử trả lễ lại xong, bất giác buột miệng thở dài rằng:
- Hiền điệt! Nghe cậu nói là cao túc của Càn Khôn Ngũ Tuyệt, vậy tại hạ đây xin mạo muội gọi cậu là hiền điệt vậy, vừa rồi nghe hiền điệt nói là quê tại Nhạc Châu, cách đây không gần đâu, hiền... hiền điệt nên bỏ hết mọi chuyện riêng bên mình ra, mau về nhà gấp đi!
Thượng Quan Linh ngạc nhiên hỏi rằng:
- Thưa tiền bối, ngài muốn dạy bảo gì cháu ạ!
Hoa Diệp Tử nghiễm nhiên hỏi rằng:
- Vốn ra tại hạ không muốn nói trắng ra làm gì, nhưng hiền điệt đã truy hỏi, tại hạ cũng không nỡ nào giấu giếm, nay cháu đã bị nội thương khá nặng, mà mạng sống có thể giữ nổi trong bảy ngày nữa mà thôi, vậy cháu . . . cháu mau về nhà ngay đi cho kịp!. . .
Thượng Quan Linh nghe như sét đánh ngang tai, đớ khẩu không còn biết nên nói gì.
Hoa Diệp Tử chỉ ngay lên ngực chàng báo chàng thử nhìn, chỉ thấy nơi vú bên trái, một chưởng hình thâm tím in ngay trên đó. Thượng Quan Linh chợt hiểu ngay, thì ra mình đã bị nội thương nặng về chưởng lực của lão bà bịt mặt ấy, sau bảy ngày không còn thuốc gì chữa nổi, hèn gì sau khi thắng thế như vậy bà ta đã không thèm hạ thêm độc thủ và đem theo đồng môn của mình đi luôn, thì ra người ta đã nắm chắc tính mạng của địch trong tay!
Thượng Quan Linh bất giác nổi lên những niềm thất vọng chua chát, chàng bất giác tuôn lệ anh hùng khí đoản (anh hùng chết yểu).
Hoa Diệp Tử chậm rãi rằng:
- Tại hạ biết thứ chưởng lực này, vốn là một thứ ngoại công âm độc vô cùng, được mệnh danh là Phủ Chưởng Hàn (chưởng ép lạnh), và môn này khó tập luyện vô cùng nghĩa là phải leo lên tuyệt đỉnh của ngọn cao phong và trầm phục dưới hang sâu cả vạn trượng, mượn những khí âm hàn dưới hang sâu để luyện nạp vào chưởng tâm khi phát ra, trông nhẹ nhàng như không có gì nhưng kẻ bị trúng chưởng, dấu tích lập tức hiện ngay lên, đồng thời trong cơ thể cảm thấy thỉnh thoảng hơi lạnh nổi lên từng chập một, và chờ đến sau bảy ngày, chất hàn độc công thẳng vào tim, có thuốc tiên đi nữa cũng không thể nào cứu nổi!
Nghe nói vậy, Thượng Quan Linh nghĩ đến mình còn biết bao nhiêu chuyện dây dưa bên người, vậy đâu có thể chết im lìm, không trống không kèn như thế này! Chàng bèn lên tiếng rằng:
- Kính thưa lão tiền bối? Ngài vốn nổi danh là Hoạt Thương Công, một người hiệp y lừng tiếng như thế, không biết ngài có cách nào cứu mạng cháu một phen này không?
 
0
Hồi 048. Lời Thác Khi Lâm Nguy
[/align]

Hoa Diệp Tử nghiễm nhiên rằng:
- Loại chưởng lực hiểm độc như thế này, bởi vì khi luyện khó khăn lắm, nên trên giang hồ ít có ai dùng đến, đến cách phá giải chất độc của nó, trong thiên hạ tuy lớn vậy, những lương y tuy nhiều vô kể, nhưng lại không có một người nào có thể khử độc để cứu mạng cho cháu được!
Nói tới đây, từ trong người, Hoa Diệp Tử lấy ra một lọ thuốc nhỏ, dốc ra vài viên linh đơn, đưa cho Thượng Quan Linh uống xong nói:
- Hiền điệt ạ! Ta vô cùng ân hận lời thỉnh cầu của cháu! Không phải là ta không muốn giúp cháu, nhưng quả thật... quả thật ta không có cách gì... trừ phi...
Thượng Quan Linh hấp tấp hỏi:
- Thưa tiền bối, trừ phi gì cơ ạ!
- Trừ phi có linh thảo tiên dược, mà công hiệu có sức khởi tử hoàn sinh, nhưng trên phương diện y học chỉ được truyền nói mà thôi, suốt già nửa đời hành y của tôi, chân đã dẫm không biết bao nhiêu danh sơn đại suối nhưng chưa hề gặp được đến nửa cây kỳ thảo linh dược... quả thật những vật hiếm hoi chỉ có thể có duyên với kẻ phúc mà thôi, tuyệt không thể nào cố ý đi tìm mà gặp được... thuốc vừa rồi mà cháu uống đó, là thứ thuốc cơ bản, thuốc này chỉ có thể giữ nổi cho cháu trong bảy ngày khỏi bị cơn bệnh hành hạ mà thôi, nhưng sau bảy ngày... hà?... Thôi? Hiền điệt nên nghe theo lời tôi, hãy mau mau về ngay nhà đi!
Thượng Quan Linh nghe nói xong, tinh thần bần thần, chàng như một xác chết không hồn, đứng ngẩn người ra, không biết nên tính sao! Phải chi giờ này còn mụ lão bà ở đây, mình liều chết thí luôn thân tàn ma dại cho xong, dù cho mình địch không nổi mà chết, tương đối cũng còn hơn tình trạng mang bệnh hoạn này. Nhưng mụ già ác thật, tàn nhẫn quá đỗi, không giết mình mà bỏ đi ngang nhiên như thế, khiến cho mình phải sống trong tình trạng ngoắt ngoải bảy ngày trời để đi đến cõi âm u bên kia! Chàng nghĩ đến tôn sư sư bá, sư thúc, Hầu Hạo, Liễu Mi, những bộ mặt quen thuộc ấy đã thi nhau hiện trên đầu óc chàng, nhưng nào họ có biết cho mình đang đến ngày tàn mạt kiếp, dù cho tinh thành năng thông (loại như thần giao cách cảm), nhưng xa xôi thế làm sao có thể đến kịp để gặp mặt nhau mà khóc nỗi tình: sinh ly tử biệt?
Thượng Quan Linh cảm thấy đã tuyệt vọng và bi ai, chàng đâm ra chán nản tất cả các cảnh sống của thế gian. Bất giác thở dài một tiếng!
Hoạt thương công Hoa Diệp Tử động lòng trắc ẩn hỏi:
- Hiền điệt? Thế cháu còn có chuyện gì chưa xong cần nhắc lại không?
Thượng Quan Linh rầu rầu rằng:
- Cháu chỉ ân hận là chết về ngọn chưởng hàn độc của người ta, thế mà vẫn không biết danh tánh của người này là gì?
Hoa Diệp Tử rằng:
- Chính ra mụ ta là ai? Vì những nhân vật hơi lợi hại trên giang hồ này tôi đều quen biết cả, nhưng trong số ấy, không ai biết về ngọn độc công Phủ Chưởng Hàn này, vậy cháu thử tả sơ diện mạo thần sắc của mụ ta, để ta thử nghĩ thử xem!
Thượng Quan Linh bực giận nói:
- Rõ khổ quá! Đến cả bộ mặt thật của mụ ta ra sao cháu cũng chưa được rõ, vậy làm sao mà tả ra được!
Tiếp đó chàng nói về những binh khí, võ công, thần thái và tiếng nói của mụ già bịt mặt cho Hoa Diệp Tử nghe qua một lượt.
Hoạt Thương Công chăm chú nghe xong suy nghĩ một hồi, nói:
- Đúng thế! Quả có một người đàn bà già bịt mặt như thế thật, nhưng hành tung của mụ ta vô cùng bí mật, nay đây mai đó, thuộc về các nhân vật thần long kiến thủ bất kiến vĩ (rồng thần chỉ thấy đầu mà không thấy đuôi) nên trên giang hồ tuy biết có một nhân vật kỳ dị như mụ ta, nhưng chẳng ai biết rõ lai lịch của mụ, lẽ đương nhiên càng không ai biết đến tên họ và thuộc thành phần môn phái nào trong võ lâm! Chỉ biết có một mụ già bịt mặt, thân mặc toàn màu đen, đến đồ đảng cũng ăn mặc như vậy, ra tay độc ác, hành sự lại quỉ quyệt khôn ngoan. Giờ đây, trong làng bạch đạo, những nhân vật hiệp nghĩa gần như đã không có, các bực lão tiền bối phần đông đều qui ẩn bất vấn đến thế sự nhóm Càn Khôn Ngũ Tuyệt thì tứ tán vân du hết, còn Tiêu diêu lão nhân Chung Ly Triết thì bị ám sát, do đó mà những năm gần đây các tên ma đầu trong võ lâm bắt đầu ra tay lộng hành, như thầy trò Độc Ma trên Vô ảnh Phong và mụ già bịt mặt áo đen, ác cái trúng toàn những kẻ có võ công tàn ác hiểm độc không thể nào lường nổi. Những người hơi yếu võ công trong làng Bạch đạo, ai nấy đã nơm nớp lo sợ tự nguy, đâu còn ai dám ra mặt đi can thiệp chuyện lộng hành của đám ma đầu... nhưng... nghe đồn rằng mụ già bí mật hình như từ miền Bắc Mông Cổ đến, và nghe đâu mụ già đấy có liên quan đến một bang hội mới nổi lên đây.
Thượng Quan Linh ngạc nhiên rằng:
- Thưa tiền bối, thế bang hội là gì?
- Nói ra cháu đừng tức vội! Bang hội bí mật này, đến nay vẫn còn chưa có danh hiệu gì cả, nhưng có một chuyện mà khắp trên giang hồ đều biết, ấy là vật kỳ bảo trong võ lâm là ngọn Lãnh điện tỉ thủ hiện nay đã lọt về trong tay đám người này, nên bây giờ thiên hạ tạm đặt cho chúng cái tên bang hội là Lãnh Tỉ Bang!
Thượng Quan Linh hầm hầm rằng:
- Hừ! Thế tôn chỉ của Lãnh Tỉ Bang là gì? Chẳng qua chúng chỉ trông cậy vào cây tỉ thủ giết người không thấy máu ấy, để rồi tha hồ mà hoành hành các vụ thảm án bí mật trong thiên hạ, tàn sát những kẻ lương thiện?... tiền bối nghĩ sao về hành động của chúng?
Hoa Diệp Tử lắc đầu rằng:
- Cũng chưa hẳn là thế! Theo tôi được biết, chúng còn một mưu đồ khác, hiện giờ Lãnh Tỉ Bang tuy đang bí mật khuếch trương lớn thêm thanh thế, nhưng thanh thế phát triển vô cùng nhanh chóng, và bang qui (luật lệ trong bang đặt ra) hà khắc độc đáo vô kể! Nhất là bí mật không được tiết lộ ra ngoài, cũng vì vậy mà trên giang hồ ít biết về tình hình tường tận của Lãnh Tỉ Bang này, và chỉ mơ hồ biết rằng chúng đang ráo riết bố trí để chuẩn bị một âm mưu lớn lao gì đây!
Nghe cả đổi mà Thượng Quan Linh vẫn chưa biết lai lịch đích xác của kẻ thù, trái lại chỉ tăng thêm những vẻ thần bí rùng rợn cho mụ già bịt mặt bí mật nọ, trong lòng càng đâm ra thất vọng rằng:
- Thôi! Cháu xin kính tạ hảo ý của tiền bối! Sau này cháu... - Chàng tính nói là sau này sẽ đền ơn, nhưng nghĩ đến cảnh bảy ngày sau mình đã phải mất mạng, thì còn lấy gì trả ơn tương ngộ hôm nay? Chàng đành thở dài não nề ! Sắc mặt chàng lúc này thảm đạm vô cùng.
Hoạt Thương Công thấy vậy cũng mủi lòng thương, một thanh niên hiên ngang anh tuấn như thế mà mình đành bó tay để chàng chết, không biết sau này mình sẽ ân hận ra sao? Nghĩ xong nhẹ lên tiếng hỏi:
- Này hiền điệt, nay Gia Cát Dật tiên sinh hiện ở đâu? Để tôi liệu đi báo tin với ông ta một tiếng!
Thượng Quan Linh tính gật đầu trả lời, nhưng sực nghĩ đến thầy mình còn bị hãm thân trên Vô ảnh Phong, sống chết chưa biết ra sao, giờ đây đâu nỡ lại để cho vị thần y Hoa Diệp Tử đi mạo hiểm như thế, thôi vậy! Thượng Quan Linh bèn lắc đầu rằng:
- Đa tạ lão tiền bối... thôi vậy!
Hoa Diệp Tử lo lắng nhìn chàng một chập và căn dặn rằng:
- Nếu thế! Hiền điệt hãy ráng tự bảo trọng vậy, giờ chúng ta chia tay, nếu còn nặng nợ duyên trần, thế nào cũng có ngày gặp nhau sau này!
Nói xong lấy ra chai thuốc đưa hết cho chàng.
Nhưng bỗng Hoa Diệp Tử cảm thấy câu nói của mình hơi vô lý, vì sau khi chia tay này, làm gì mình còn dịp gặp được người thanh niên này nữa! Khi nhìn Thượng Quan Linh, chỉ thấy chàng ta mặt đầy vẻ buồn rầu, hình như chàng ta không hề chú ý đến câu nói vừa rồi của mình.
Chỉ nghe Thượng Quan Linh rằng:
- Cháu xin đa tạ lão tiền bối! Chúng mình sẽ... hà! Thôi đành chia tay vậy!...
Dứt lời chàng quay thân đi nhanh, vừa đi chàng vừa mặc nhanh ngay áo vào người, đương nhiên chàng không muốn làm kinh động thêm người qua lại bằng vết thương lạ lùng trên ngực mình.
Chẳng mấy chốc thành quách đã hiện ngay tầm nhìn của chàng, nghĩ đến nàng Liễu Mi, mình sắp được gặp trong tí nữa đây, nhưng còn thầy và sư bá, sư huynh Hầu Hạo đều không có mặt tại đây. Trong cuộc sống chỉ còn ngắn ngủi có bảy ngày chót ấy, mà mình vẫn còn một người thân bên cạnh và nhất là sẽ chết gục trên tay người yêu, kể ra cũng sung sướng không ân hận gì rồi? Chàng nghĩ liên miên đến người yêu, chàng sẽ cùng Liễu Mi tận hưởng hết những cảnh thiên nhiên hùng vĩ của tạo hóa, chàng đưa nàng đi chơi những nơi thơ mộng của thiên nhiên, và sau bảy ngày trôi qua, chàng sẽ gục vào lòng để rồi không còn bao giờ tỉnh dậy... một cái chết vô cùng thơ mộng, không những chỉ để lại tiếc thương cho Liễu Mi, mà cũng để lại bao nhiêu nhớ tiếc cho người quen, nào lớp tiền bối, lớp đồng bối, lớp chánh đạo, lớp ma đạo, ai mà chẳng nghĩ đến tên Thượng Quan Linh, người nối nghiệp của Càn Khôn Ngũ Tuyệt. Mới xuất đạo có mấy tháng trời, đã gây nên những thanh danh lừng lẫy, và những võ công cơ trí, tính dũng cảm và chính trực của chàng, tuyệt không thể nào quên lãng được trong tâm hồn mọi người! Thế nào trong những đêm thanh gió vắng, họ sẽ ngầm nhớ đến: trong võ lâm đã sớm chìm mất một vì sao sáng!
Đương nhiên! Tất cả những nỗi nhớ nhung ấy sẽ nhắc nhở đời người mãi mãi... và tất cả những hoài niệm đau khổ sẽ dồn hết vào tâm hồn của Liễu Mi!
Thượng Quan Linh càng tin tưởng rằng: nàng nhất định sẽ trả thù cho mình, với tài trí và võ công của nàng, việc phục thù quả không gì khó khăn lắm.
Nhưng sau khi trả thù xong, thế nào nàng cũng cảm thấy cuộc đời hư vô buồn tẻ của mình, người chết đâu có thể phục sinh, người yêu của nàng đã đi vào cõi âm u. Những cái còn lại với nàng chỉ là: hư vô, cô tịch, buồn tẻ , hoài niệm, dầu cho kiếp hồng nhan phai dần vì thời gian, nhưng tìm đâu ra kẻ tri âm nữa? Nàng sẽ đau khổ mãn kiếp của mình! Trời ơi! Tàn nhẫn quá!
Nhưng chàng lại sực nhớ câu cổ ngữ: hồng nhan đa bạc mệnh! Nhất là khi mới gặp nàng lần đầu tiên, chàng đã có cảm giác là nàng bị chết yểu, có lẽ sau khi mình chết, nàng cũng chung tình liều theo mình về cõi âm u chăng, nghĩ tới đây, chàng không dám tưởng tượng thêm nữa...
Trong thoáng cái, chàng quyết định buông bỏ tất cả mọi tâm tư rối loạn của mình, chỉ riêng về phần Liễu Mi, chàng không sao yên tâm. Chàng càng không muốn Liễu Mi phải bi thương thất vọng, vì Thượng Quan Linh đã yêu Liễu Mi hơn là tự yêu bản thân của mình, lòng dạ chàng lúc này đau khổ còn hơn dao cắt!
Nhưng, biết làm sao đây? Chàng đã đứng trước cổng thành! Chàng ngẩn người: Không! Ta không thể nào vào thành, càng không thể nào gặp Liễu Mi, không thể nào cho nàng biết gì, lẻn vào một khu rừng hoang vắng nào đó, âm thầm sống cho hết bảy ngày cuối cùng của đời mình, và sẽ thầm lặng chết trong cô tịch của cảnh rừng rú thiên nhiên!
Trừ phi là nàng Liễu Mi gặp vị thần y Hoạt Thương Công, còn không nàng không thể nào biết rõ sự thật được, nàng sẽ cuống lên đi tìm mình, nhưng có lẽ như thế còn hay hơn là đau khổ trong tuyệt vọng nhiều. Và có lẽ thời gian sẽ xóa nhòa hình ảnh của mình trong tâm tư nàng. Nhưng cầu mong sao nàng sống bình an hạnh phúc vậy! Thượng Quan Linh thầm khấn vái, tuy chàng không biết linh thông, kỳ khấn vái vong hồn phù hộ chuyến trước, nhưng khi mọi hy vọng đều sụp đổ, chàng chỉ còn tạm tìm niềm an ủi tâm hồn bằng cách ký thác vào bậc thần linh...
Thế là chàng quyết định dứt khoát quay nhanh thân lại, rời ngay khỏi thành, nhắm ngay hướng hoang vu của núi rừng tiến bước. Chàng đi vô mục đích, gặp suối thì lội gặp đèo thì leo, chẳng biết mình đã đi được bao lâu nữa, nhưng tốc độ của Thượng Quan Linh đã chậm dần lại. Chàng cảm thấy ngoài sự toàn thân có vẻ mệt mỏi ra, không thấy có gì lạ hơn, hơi lạnh trong mình cũng không thấy phục phát gì, chàng nghĩ có lẽ do thuốc của Hoa Diệp Tử đã cho mình. Bỗng chàng nghĩ: Mình đi đâu giờ đây? Trúc Lâm tiểu xá nơi Ngọc Sơn, vốn là nơi cư ngụ của thầy, có thể nói là quê thứ hai của mình, nhưng giờ đây tôn sư đâu có nhà, hơn nữa lộ trình lại xa, trong bảy ngày, có lẽ mình sẽ chết tại dọc đường quá! Nghĩ đi nghĩ lại vẫn không sao quyết định dứt khoát là đi đâu!
Bụng nghĩ: tìm đại khu rừng nào vắng vẻ ngồi đó chờ bệnh phát ra chết cho yên, tội gì đi đâu cho mệt trí thế là chàng nhắm ngay một ngọn núi cao nhất trong vùng tiến bước. Đi thêm một chập, trời đã vào giờ ngọ, địa thế càng lúc càng vắng vẻ hoang vu, Thượng Quan Linh cảm thấy trong lòng mình thơ thới dễ chịu, chính chàng đang thích tìm sự yên tĩnh trong tâm hồn, tốt nhất là đừng có ai trong lúc này, để cho mình được chết một cách âm thầm lặng lẽ, không ai có thể phát giác. Nhưng ngay trong lúc chàng đang cảm thấy khoan thai ấy, bỗng từ phía xa có tiếng binh khí loảng choảng vào nhau, xen luôn cả tiếng rú bi thương trong đó. Trong cảnh hoang vắng này, những tiếng ấy càng đưa đến rõ ràng. Thượng Quan Linh nghe xong bất giác cau mày. Nếu là ngày thường, chàng đã chạy đi xem là chuyện gì xảy ra, nhưng kỳ này, chàng ngồi ngay ở thảm cỏ xanh, chẳng buồn nhúc nhích.
Chợt lại có tiếng vang lên:
- Ái! Anh ơi? Anh... - tiếp theo là tiếng binh khí va chạm và tiếng quát hét inh lên!
Thượng Quan Linh bỗng giật mình, tiếng nói ấy nghe quen tai lắm, chính người yêu của mình là Liễu Mi cũng từng có lần gọi mình như thế: Anh ơi! Anh!... Thượng Quan Linh bỗng buột miệng tự lẩm bẩm: ...Em! Liễu Mi Em... Chàng đau khổ như muốn ngất đi luôn!
Nhưng những tiếng kinh hú vẫn từ nơi hoang vắng truyền lại, Thượng Quan Linh cảm thấy trước mắt mình đang hiện ra cảnh: Liễu Mi xõa tóc tung vai, máu lệ đầy mặt!
Thượng Quan Linh nhảy tung người lên, tung mình về hướng phát ra tiếng kịch chiến ấy.
Khi đến nơi, chỉ thấy bốn tên đại hán đang vây một cỗ xe lừa, cạnh xe lừa, một thiếu nữ đang hoảng sợ đứng nép sát vào thành xe, còn một thiếu niên đang lo vung đôi song kiếm cố chống cự bốn tên đại hán để bảo vệ cho thiếu nữ. Võ công của bốn tên đại hán không vừa gì, chúng luôn luôn cướp đánh các đòn hiểm ác, thiếu niên đã thấy đuối sức hẳn, máu đã đầy mình, hình như đã bị thương, nhưng vẫn cố gắng liều thân cự địch.
Thượng Quan Linh hét vang lên một tiếng, không khác nào như thình lình sấm nổ thinh không, tiếp theo toàn thân chàng tung vọt lại, mở ngay ngọn Đinh Giáp thần công tiếng chưởng ào ào như bài sơn đảo hải, bốn tên đại hán nọ không phòng hờ, vội cuống quít lo nghênh địch, nhưng còn chưa nhận rõ những thế đánh của Thượng Quan Linh ra sao, thì nháy mắt, một tên đã bị chưởng lực của Thượng Quan Linh bửa trúng đầu, tên nọ chỉ thét lên được một tiếng kinh hồn ngã lăn ra chết! Ba tên còn lại hoảng hốt nhảy nhanh cả ra phía sau, một trong ba tên lên tiếng:
- Ê Mẹ kiếp ! . . . Ngươi là ai mà hung hăng vậy!
Thượng Quan Linh đã mất thái độ thường ngày của mình, chàng giở hết những tuyệt học của mình, Đinh Giáp thần công phối hợp ngay với Điên Đảo Càn Khôn tiến đánh túi bụi vào ba đại hán, chưởng nào chưởng nấy nên thân. Toàn là lối đánh bạt mạng!
Lúc này ý nghĩ sống chết đối với Thượng Quan Linh đã thành vô nghĩa! Chưởng phong của chàng như mưa to bão táp, khiến cho ba đại hán không sao chống đỡ nổi, cuống quít rút lui liên hồi.
Trong ba người lại có tiếng hỏi, lúc này Thượng Quan Linh mới hỏi ngược lại rằng:
- Bọn ngươi muốn cướp người thiếu nữ này sao?
Một tên đáp:
- Đúng thế!
Thượng Quan Linh tức điên người, quát lớn rằng:
- Vậy thì tội các ngươi đáng chết! - Dứt lời lại vung chưởng tiến đánh tới tấp.
Ba đại hán cố lên tiếng kêu ngừng tay, và hấp tấp hỏi tên họ, Thượng Quan Linh bực mình rằng:
- Tên ta gọi là Tổ Tông! Một loại tổ tông chuyên đánh những kẻ tàn ác như lũ ngươi!
Bị chàng đánh hoảng vía bay hồn, ba tên nọ vội tíu tít rằng:
- Vâng thì chúng tôi chịu nhận ngài là tổ tông vậy! Xin ngài hãy ngừng ngay tay, chúng tôi mới dễ nói chuyện với ngài!
Thượng Quan Linh tạm ngừng lại, nhưng một trong ba tên đã cả gan lẻn nhanh về phía sau đánh lén chàng, bị thiếu nữ trông thấy và rú hoảng lên! Trong cơn nguy cấp, Thượng Quan Linh tự phát ra cách phản ứng của mình bằng lối chuyển nhanh bộ Điên Đảo Càn Khôn vèo nhanh ra phía sau tên nọ, giơ ngay tay một chưởng phạt xuống, tên nọ chết không kịp kêu một tiếng nào. Hai tên còn lại thấy nguy cơ vội ôm đầu đào tẩu nhưng Thượng Quan Linh đang giết hăng tiết, đâu để chúng chạy, toàn thân chàng như bóng đeo sát hình, nhoáng một cái đã đuổi kịp. Hai người biết không thoát, đành liều chết quay mình lại đối phó.
Vốn đã không phải địch thủ của Thượng Quan Linh, phần trong lòng đã khớp hẳn, chân tay cuống cuồng đánh bừa ra, thình lình ánh quang nhoáng lên, Thượng Quan Linh đã rút cây kiếm Lệ thủy, hai tên chưa kịp nhận rõ hình thể cây kiếm ra sao, binh đao trên tay hai người đã bị tiện gãy rớt hết xuống mặt đất.
Chỉ nghe làn kiếm trắng của Thượng Quan Linh vèo lên một tiếng rồi bịch một tiếng tiếp theo. Hai thân hình cùng ngã một lượt, nhưng một tên đã bị bay đấu và tên nọ thủng ngực. Thế là bốn tên đã bị tru diệt. Thượng Quan Linh cảm thấy vô cùng khoan khoái trong lòng, chàng đưa tay búng kiếm hú lên một tiếng để thay không khí trong lồng ngực của mình, dư âm vang hẳn ra xa, ngọn kiếm óng ánh do ánh sáng mặt trời phản chiếu, Thượng Quan Linh bất giác lại như luyến tiếc tự than rằng:
- Bảo kiếm ơi bảo kiếm! Sau bảy ngày tới đây, không biết mi sẽ trôi lạc về đâu? - Chàng nghẹn ngào, hai hàng lệ anh hùng tuôn rơi. Cắm ngay kiếm vào vỏ, chàng vung bước đi nhanh.
Bỗng phía sau có tiếng hấp tấp rằng:
- Ân công! Xin ân công hãy khoan đi! Anh tôi... trời ! . . . nguy quá ! . . .
Thượng Quan Linh biết mình không thể bỏ đi như vậy được đành quay lại sau xe, chỉ thấy thiếu niên sử dụng song kiếm vừa rồi nằm trên mặt đất, và người em gái của y đang ngồi nửa thân trên của thiếu niên, chỉ thấy ngực thiếu niên máu chảy xối xả, vết thương như thế, nhìn cũng đủ biết vô phương cứu. Thượng Quan Linh bỗng cau mày lại!
Thiếu niên thấy Thượng Quan Linh bước lại, trên khuôn mặt trắng bạch như vôi của y hiện lên một vẻ cười, hai mắt lờ đờ ngó thẳng lên mặt Thượng Quan Linh, sau khi tiếp xúc cái nhìn ấy, Thượng Quan Linh ngồi thụp ngay xuống xem xét vết thương của thiếu niên, Thiếu niên cố gượng rằng:
- Đa tạ... anh... anh tên họ...
Thượng Quan Linh lập tức trả lời:
- Đừng nên khách sáo thế, tôi tên Thượng Quan Linh.
Thiếu niên vẫn cố gượng gạo rằng:
- Tôi... không... xong rồi... xin... anh hãy... liệu lo hộ... cho... đứa em gái của... tôi nhé...!?
Thượng Quan Linh xúc động vô củng, nhưng người này đâu có biết mình cũng chỉ có bảy ngày sống trần gian này thôi! Những trọng thác của kẻ lâm nguy, đối với những người hiệp nghĩa trong võ lâm, điều quan trọng nhất là chữ nghĩa, mà đã nhận lời thế nào cũng phải hoàn thành lời hứa của mình! Và cũng chính vì sự kiện thận trọng ấy mới có thể khiến cho người chết an tâm nhắm mắt! Trừ khi không phải là con người hiệp nghĩa, còn không bất luận là ai, cũng không nào làm ngơ được sự kiện trước mắt, nhất là càng không nhẫn tâm để người chết phải mang theo nỗi oán hận trong lòng như thế! Nhưng ác thay! Sao y lại chọn ngay mình mà ủy thác công việc trọng đại như vậy! Một người mà chỉ vỏn vẹn có bảy ngày sống! Bảy ngày? Thử hỏi làm nên trò trống gì nữa! Lòng Thượng Quan Linh cảm thấy băn khoăn do dự nghĩ phải trả lời sao? Trong lúc đó thiếu niên kia giương mắt chờ đợi, đặt hết hy vọng vào một câu trả lời... nhưng hình như thiếu niên cũng nhận thấy đối phương đang phân vân khó xử thế là trong ánh mắt thiếu niên lại tăng thêm một lớp tiêu cực u buồn... Thượng Quan Linh chợt tỉnh giác, trên giang hồ mã thượng coi trọng về khí phách anh hùng, tuyệt không đời nào phải cầu lụy người ta đến thế, vậy thiếu niên này sao cứ nằng nặc năn nỉ mình vậy? Dù chỉ là vì cô em ruột, nhưng cũng khiến cho người ta kỳ lạ kinh ngạc!
Chỉ nghe tiếng thiếu nữ khóc sướt mướt:
- Anh ơn... anh...!
Tiếng khóc của nàng như muốn ngăn chặn tất cả những chuyện bi thảm sắp xảy ra.
Nhưng thiếu niên trọng thương vẫn chăm chăm nhìn Thượng Quan Linh, tuy chàng đã gần đứt hơi, nhưng đôi mắt vẫn cố chờ đợi lời hứa đáng giá ngàn vàng, tất cả những thần sắc lúc này của thiếu niên, đã biểu lộ y đang cố chống lại tử thần để chờ đợi.
Thượng Quan Linh mủi lòng, thôi thì để cho y chết cho an tâm vậy. Và chàng gật đầu ra dấu nhận lời trọng thác của thiếu niên.
Thiếu niên mỉm cười như đáp ơn, đôi mắt chàng từ từ nhắm hẳn lại, đầu gục hẳn và tắt hơi thở luôn, trên khuôn mặt trắng tái ấy, vẫn còn giữ nguyên nụ cười như biết ơn, y đã tin lời và chết đi! Nhưng thiếu niên nào biết thật tình bên trong? Thượng Quan Linh càng buồn bã trong lòng, vì mình đâu có thể thực hiện mối kỳ vọng của người ta.
Lúc này chỉ thấy thiếu nữ ôm xác thiếu niên khóc như điên, Thượng Quan Linh cảm thấy hơi lạnh từ Đan điền dội dần lên ngực, vết thương độc chí mạng của mình lại bốc phát đây!
Thượng Quan Linh thở dài, lại sắp hết một ngày và còn lại có sáu hôm nữa! Chàng sực tỉnh đã đến lúc phải lên đường! Vội dốc nhanh vài viên linh đơn nuốt nhanh, xong chàng khuyên thiếu nữ chớ quá bi ai, và hãy lên xe ngồi nghỉ để mình lo mai táng thi thể của thiếu niên.
Thiếu nữ lên xe ngồi nhìn vị ân công đang lo mai táng thi thể anh mình, trông chàng ta có vẻ khó nhọc lắm, chân tay động tác uể oải. Thiếu nữ bất giác lấy làm lạ, vị ân công đây không phải lại một đại hiệp đó sao? Vừa rồi chàng ta chẳng như một con rồng sống đấy sao? Chỉ trong nháy mắt đã giết ngay bốn tên cường bạo, những hào khí oai hách giờ đây biến đâu hết!
Chừng hơn một tàn nhang, Thượng Quan Linh mới đi gần lại xe lừa với vẻ vô cùng mệt nhọc uể oải hỏi:
- Cô nương, cô tính đi về đâu?...
Chỉ thấy thiếu nữ tròn xoe đôi mắt với đầy lệ bên trong nhìn mình lúc lâu rồi mới gượng gạo rằng:
- Tôi cũng không biết nên về đâu!
Thượng Quan Linh càng cảm thấy khó khăn, bụng nghĩ: sao số mình khổ đến thế, chỉ còn bảy ngày sống thừa mà cũng không được yên thân thoải mái cho, gặp những chuyện rắc rối không đâu này!... Nhưng chàng lại sực nghĩ: chắc có lẽ thiếu nữ là người vô gia cư! Nhưng khéo thay lại gặp một người không biết nên đi đâu như mình, rõ thật là chuyện nực cười.
Trời đã đổ màn đêm. Trên cỗ xe lừa, Thượng Quan Linh hớ một tiếng, giơ roi đánh lừa, hai bánh xe từ từ chuyển lăn trên đường quan lộ, mặc dầu xe đã lăn bánh, nhưng phía sau vẫn chưa nghe có tiếng gì lạ vang lên, không biết thiếu nữ đang làm gì sau xe, Thượng Quan Linh quay đầu về nhìn, thấy nàng đang nằm co quắp bên trong, đôi mắt long lanh chăm chăm nhìn mình. Thượng Quan Linh tìm không ra câu nói gì để an ủi nỗi buồn của nàng, bèn lên tiếng hỏi:
- Không biết cô nương tên họ là gì, có thể cho tôi biết hay không?
Câu hỏi này đã khiến thiếu nữ mở miệng đáp:
- Tôi họ Đông Phương, đơn danh mỗi chữ Đình! Còn anh tôi gọi Đông Phương Kiệt, chúng tôi từ miền Bắc tới, suốt lộ trình có khá nhiều người đến gây sự, họ cũng gây gổ với anh tôi, mà đều muốn bắt tôi đi, nhưng anh tôi nào đâu có chịu như thế, và mỗi lần giao tranh đều bị nằm trong tình trạng cô thế, chính hôm qua anh tôi đã bị chúng đánh thổ huyết, nhưng vẫn còn cố gắng duy trì chạy đến đây, nhưng không ngờ vẫn bị chúng đuổi kịp đến, và anh ấy đã... đã... - Nói tới đây nàng Đông Phương Đình khóc sướt mướt thê thảm...
Thượng Quan Linh lại hỏi:
- Vậy phải chăng huynh muội cô nương đã gây thù oán gì với người ta, hoặc giả bên người có đem theo châu báu quí giá gì chăng?
- Dạ không! Chuyến xuôi Nam cả hai anh em chúng tôi cũng không mang theo bao nhiêu tiền gì cho cam! Lại nữa anh tôi xưa nay không hề gây thù oán với ai bao giờ, mỗi lần ra tay, đều bị người ta dồn ép.
Thượng Quan Linh cảm thấy lạ lùng, lẩm bẩm rằng:
- Quái lạ! Vậy thì chuyện gì?
Đông Phương Đình rằng:
- Chẳng qua chỉ vì tôi, họ muốn cướp tôi! Anh tôi không chịu, và cứ thế xảy ra các cuộc giao tranh tương tự.
Thượng Quan Linh vẫn không hiểu, những nhân vật giang hồ này, lẽo đẽo theo một chiếc xe lừa này để đánh cướp một cô gái như Đông Phương Đình? Họ làm gì với cô gái này?
Đông Phương Đình lại rằng:
- Tình hình này không khác gì xưa kia tôi còn ở miền Bắc luôn luôn có những nhân vật giang hồ đến tìm thân phụ tôi, để bắt tôi đi, đôi khi cả thân phụ tôi và anh tôi phải cùng chung sức đối phó với họ mới thắng nổi, cũng lắm khi phải rời ngay nơi cư ngụ đi nơi khác lẩn tránh, nhưng đám người đó quả nhiên lợi hại vô cùng, mặc cho chúng tôi ẩn tích trốn nơi nào, họ đều tìm ra cả.
Thượng Quan Linh càng ngạc nhiên hỏi:
- Thế lệnh tôn là ai?
- Dạ Đông Phương Tướng!
Thấy chàng Thượng Quan Linh lắc đầu như chưa hề nghe nói đến tên này bao giờ, nàng thất vọng rằng:
- Thân phụ tôi võ công cũng cừ giỏi lắm, nhiều người không thắng nổi ông ta, chúng tôi thật cũng không ngại gì cho lắm! Nhưng từ khi ông ta hấp hối mất, dặn ngay anh tôi phải tức tốc đưa ngay tôi về Nam để tìm một người!
Thượng Quan Linh hỏi ngay:
- Tìm ai?
- Người ấy tên gọi là Độc chỉ Thôi Bác...
Thượng Quan Linh kinh ngạc giật nảy mình ồ lên một tiếng.
Nhưng chỉ thấy sắc mặt Đông Phương Đình tỏ vẻ thất vọng nói:
Nhưng anh tôi không biết ông này ở đâu! Nên hai anh em đã đi tìm lung tung khắp nơi...
Thượng Quan Linh trong bụng đâm nghi ngờ, vội ghìm ngay cương lại, quay đầu ra phía sau rằng:
- Đình cô nương, xin mời cô ra đây để tôi nhìn rõ xem diện mạo của cô nương!
Đông Phương Đình tuân lời bước ra, Thượng Quan Linh đánh ngay đá lửa lên coi, chàng thấy rõ khuôn mặt thiếu nữ hơi có vẻ thẹn, nhưng nàng vẫn ung dung hồn nhiên nhìn Thượng Quan Linh. Thần sắc trong tia nhìn của nàng ấy, Thượng Quan Linh đã chợt nhớ ra, thôi đúng rồi bộ mặt này chính giống với người mà chàng đã biết! Chàng bèn buột miệng hỏi rằng:
- Này Đình cô nương, cô có nhớ những chuyện hồi còn bé không?
Đông Phương Đình buồn rầu rằng:
- Dạ không nhớ, nhất là những chuyện trước khi lên tám tuổi, tôi đã quên sạch hết!
Thượng Quan Linh lại rằng:
- Mười năm về trước, phải chăng cô đã gặp một đám người hung ác ép cô uống một chén thuốc độc, từ đó cô đã quên hết những chuyện cũ?
Đông Phương Đình kinh ngạc rằng:
- ồ! Anh!... Không ân công làm sao biết được chuyện này?
Thượng Quan Linh lại rằng:
- Trong đám người đó, kẻ chủ chốt là một đàn ông và một đàn bà, người đàn ông trên mặt có một vết sẹo đao chém, ngoài ra họ còn bắt một đứa trai lớn hơn cô bốn năm tuổi.
Đông Phương Đình nghe nói vậy, nàng rùng mình thốt lên:
- Đúng rồi! Tôi còn mơ hồ nhớ được chút đỉnh, nhưng không biết đầu đuôi ra sao? Vậy xin ân công mau kể cho tôi được biết...
Thượng Quan Linh đâm tần ngần luôn, chàng đã biết đích xác, nàng Đông Phương Đình này chính là người em gái của Hầu Hạo, đã mất tích trong mười năm qua, nhưng còn một điểm chưa rõ lẽ là cha con Đông Phương Tướng là ai? Chàng bắt đầu suy nghĩ, phải khiến cho anh em ruột thịt của sư huynh đoàn tụ, hiện nay, mình là kẻ duy nhất đã biết về bí mật này, đương nhiên không thể nào thoái thác trách nhiệm, nhưng ác nỗi giờ đây không biết sư huynh Hầu Hạo ở phương trời nào, càng bi thảm hơn nữa là mình chỉ còn có hơn sáu ngày sinh mạng trên cõi đời này! Chàng lại trở về với chán nản đen tối, mặc cho Đông Phương Đình ở sau xe hỏi rối rít, Thượng Quan Linh vẫn âm thầm ra roi quất lừa cho chạy trong đêm vắng không hề nói thêm một câu nào.
Sắc trời sáng dần, ánh mặt trời cũng đã lên, Đông Phương Đình từ trong xe thò đầu ra, sắc đẹp của nàng khiến cho kẻ đi đường phải đứng lại ngắm nhìn.
Ngay trong lúc này, bỗng một tuấn mã lướt vèo qua xe của hai người, trên lưng tuấn mã, chỉ thấy thiếu nữ tuyệt sắc ngồi trên với toàn thân áo tang màu trắng xóa, trong vẻ áo màu tang, trông thiếu nữ càng đẹp lộng lẫy, nhưng đôi mắt của thiếu nữ đã nhìn nhanh ngay Thượng Quan Linh và Đông Phương Đình.
Thấy màu áo tang của thiếu nữ, tâm thần Thượng Quan Linh càng đâm nặng trĩu hẳn, chàng nặng nhọc vung roi đánh lừa, mắt nhìn cúp xuống, hình như hoàn toàn không chú ý đến thiếu nữ.
Nhưng Đông Phương Đỉnh thì trái lại đã nhìn kỹ người thiếu nữ đẹp kia, nàng nhận ra đôi mắt thiếu nữ khi lướt qua mình, như ngầm chứa một hoài nghi và u oán gì? Đông Phương Đình bất giác giật mình, sao nàng lại nhìn mình có vẻ hằn học thế? Không lý nàng quen biết vị ân công Thượng Quan Linh? Và trong cái nhìn ấy nàng đã hiểu lầm. Vì đàn bà dễ đoán tâm lý nhau lắm! Trong tia nhìn ấy đã có những thương cảm của sự ghen tương? Đông Phương Đình cảm thấy mình bị uất ức, chính nàng đã có tình ý gì với vị ân công này đâu? Nàng đã tính gọi ngay người thiếu nữ mặc áo tang kia để phân tỏ rõ ràng. Nhưng con tuấn mã của thiếu nữ mặc đồ tang ấy quay quanh đầu lại, nhanh như bay vọt sát ngay gần nơi thò đầu của Đông Phương Đình. Đông phương Đình rú lên tiếng kinh hãi thụt nhanh ngay đầu vào trong xe! Chớp mắt, thiếu nữ áo trắng ấy đã biến luôn với đám bụi cuồn cuộn đằng sau xe lừa. Nào Đông Phương Đình đâu có biết rằng, người thiếu nữ mặc đồ tang trắng cưỡi trên tuấn mã hiện còn đau khổ hơn mình nhiều. Không phải anh Linh đó sao? Tại sao anh ta lén bỏ mình đi chung xe với người thiếu nữ lạ mặt này? Sao anh ta có vẻ tiều tụy vậy, như đang mắc bệnh nặng trong người vậy? Lạ thật! Không biết họ đang đi đâu?
Hai ngay trôi qua, Thượng Quan Linh chỉ còn có năm hôm nữa. Chàng vẫn cho xe chạy vô mục đích, Đông Phương Đình nằm yên trí trong xe, chẳng ai nói với ai một lời nào cả, nhưng nàng như tín nhiệm vị ân công của mình lắm, giao hết tính mạng của mình cho chàng, không cần lo đến hậu quả. Nhưng riêng tâm thần Thượng Quan Linh lúc này đang bị trận chiến ngũ vị là: chua, cay, đắng, chát, mặn dày vò tâm hồn, đầu óc chàng lúc này không còn biết xử sự gì hết.
Trong lúc này, chàng ước sao xảy ra một trận chiến kịch liệt để mình giải tỏa những nỗi buồn trong tâm thần của mình, nghĩ vậy chàng bèn hỏi ngay Đông Phương Đình rằng:
- Liệu bọn họ còn có ai đuổi theo nữa không?
Đông Phương Đình biết ý của chàng, nàng ngại ngùng nói:
- Theo tôi xem thì rất có thể có, vì hình như họ muốn cướp cho bằng được tôi mới chịu!
Thượng Quan Linh vui mừng rằng:
- Hay lắm! Mong sao cho chúng mau đuổi theo đến! - Nói xong chàng đưa ngay tay vỗ vào chuôi kiếm, tinh thần phấn chấn vô cùng, chàng giơ roi lên quất lừa.
Đông Phương Đình cau mày, vị ân công này hình như có bệnh thần kinh thất thường vậy! Không lẽ chàng ta đã bị xúc động mạnh về chuyện gì? Nhưng nàng không đoán ra chuyện gì! Đông Phương Đình chỉ cảm thấy chàng trai anh tuấn hiên ngang này, chứa đựng nhiều nỗi thương cảm và rất nhiều nét thần bí, nàng không làm sao khám phá sự bí mật về vị ân công này, một điều duy nhất mà nàng biết: tên chàng ân công của mình là Thượng Quan Linh! Nàng muốn tìm cách an ủi ân công của mình, nhưng không biết an ủi người ta bằng cách nào, thỉnh thoảng nàng cố gợi chuyện hỏi vu vơ với Thượng Quan Linh, chàng cũng trả lời ấm ớ cho qua chuyện, nhưng âm thanh ôn tồn của Đông Phương Đình cũng đã khiến chàng tạm lắng dịu được nỗi lòng rối loạn! Dần dà Thượng Quan Linh đã trở nên bình tĩnh tâm thần của mình, chàng đang tính không biết nên đưa Đông Phương Đình này đi đâu? Những ngày sống của mình chẳng còn bao nhiêu nữa, chàng không biết nên tính sao cho phải. Chàng vẫn cho xe chạy liên miên về hướng Tây, chẳng bao lâu thành Bảo Khang tỉnh Ngạc Tây (phía tây tỉnh Hồ Bắc) đã hiện ra trong tầm nhìn, trông cỗ xe của hai người đang chạy trên quan lộ, khiến cho người ta có cảm tưởng rằng: họ đang có mục đích đi về đây, nhưng sự thật đâu phải thế, Thượng Quan Linh càng không dám nghĩ đến, thế là cỗ xe của họ lại lướt khỏi Bảo Khang Thành, liên miên đi suốt hai ngày đêm nữa và đã sắp đến địa giới của Phòng Sơn, Thượng Quan Linh ngầm tính trong bụng: Tính mạng của mình chỉ còn lại có ba ngày nữa là hết!
Cỗ xe lừa đã dần dần chậm chạp lại, Thượng Quan Linh đã nản lòng chán chường, chàng không còn hùng tâm để giơ roi đánh lừa để thúc mau tốc độ, sự thực con lừa cũng khốn khổ liên miên mấy ngày nay, đồng thời hơi lạnh trong mình càng lúc càng tăng thêm lên ngực, nhưng cơn bệnh hành, chàng cố gắng chịu đựng, chỉ sợ bị Đông Phương Đình biết thì nàng đâm lo.
Kiếp sống bảy ngày! Thật là một kiếp sống khủng hoảng tinh thần tột độ, nếu nói là ngắn chưa chắc đã đúng, còn bảo là dài, cũng chưa hẳn là sai! Nhưng kể bị sống trong tình trạng này, quả thật đã khủng hoảng tinh thần đến mức tuyệt độ của đỉnh tàn nhẫn!
Trưa ngày hôm sau, cỗ xe lừa của họ mới đến gần địa phận của Thanh Phong Trấn của huyện Phòng Sơn, Thượng Quan Linh bỗng cảm thấy đằng trước mặt hơi lạ. Chỉ thấy trên quan lộ đằng xa, một đám tăng lữ đông đảo đang chực sẵn, người nào cũng cường tráng và tay đều có binh khí.
Đông Phương Đình thất kinh rú lên, tâm trạng nàng lúc này không khác gì chim bị bắn hụt! Sắc mặt tái mét! Thượng Quan Linh giơ roi thúc lừa. Mắt nhìn đám tăng lữ, à ra chàng quen biết cả, thì ra trong đám này có Hải Pháp và Không Pháp đại sư của Cửu Thiên Tự, đám hòa thượng cao lớn, mình mặc áo cà sa đỏ chói, thần sắc oai nghiêm lẫm liệt.
Thượng Quan Linh ngừng xe lại, Hải Không đại sư nhìn xong mỉm cười rằng:
- Hà! Hà!... Ra Thượng Quan Linh thí chủ, thật là hữu duyên tái ngộ! Hân hạnh! Hân hạnh!
Pháp Không đại sư thì chỉ hừ hự lên những tiếng lạnh lùng.
Thượng Quan Linh từ từ đứng hẳn người trên xe cười rằng:
- Ta tưởng là ai! Hóa ra là lũ cướp trọc trên Cửu Thiên Tự, lũ ngươi ngang nhiên chận người giữa ban ngày như thế này, bộ tiền hương hỏa trong chùa Cửu Thiên Tự đã hết rồi sao? Nên tính đòi tiền mãi lộ?
Thượng Quan Linh chửi khéo một cách không hề nể nang, khiến cho tên Hồng y tăng vạm vỡ nọ phải sa sầm ngay nét mặt xuống, khẽ hừ một tiếng, giơ ngay cây thiền trượng ra rung mạnh một cái, chuỗi nhạc bằng đồng trên cây thiền trượng vang lên những tiếng leng keng... Hải Không đại sư vội xua nhanh tay và tươi cười nói ôn hòa với Thượng Quan Linh rằng:
- Thượng Quan thí chủ, Cửu Thiên Tự chúng tôi vốn không có thù oán gì với thí chủ, vậy xin thí chủ chớ nên nhúng tay vào chuyện này làm gì, càng mong thí chủ giao ngay cô gái trên xe cho chúng tôi đem đi, chúng tôi sẽ biết ơn thí chủ. Nếu quả Thượng Quan thí chủ chịu chấp thuận, bần tăng sẽ có chút lễ vật nhỏ mọn xin tặng làm quà... - Nói xong chỉ ngay sang một tăng đang đứng cạnh và trên tay đang bưng bao phục cao lồi hẳn lên, bên trong nhất định là loại vàng bạc!
Thượng Quan Linh giận sôi gan lên, vung tay lên, một ngọn phách không chưởng đánh bạt ngay sang khăn gói của tên tăng nọ, cả một bao phục bị kình lực đánh rớt ngay xuống đất! Xong chàng quát rằng:
- Hải Không! Trong chuyến trước nhà ngươi đã dùng mưu kế bắt anh nàng tại Cửu Thiên Tự, nay còn muốn bắt luôn em gái người ta, với những kẻ bại hoại cửa phật như lũ ngươi, thật thiên đạo khó dung tha lũ ngươi!
Thượng Quan Linh trong lúc tức giận nói toạc ngay sự quan hệ của anh em Hầu Hạo, khiến cho nàng Đông Phương Đình trong xe vô cùng ngạc nhiên, nhưng nàng vẫn chưa hiểu đầu đuôi câu chuyện ra sao! Mà đám hòa thượng của Cửu Thiên Tự nghe nói vậy, ai nấy đều thất sắc kinh hãi.
Hải Không lớn tiếng rằng:
- Đồ oách con! Mày đã biết chuyện thì đừng có oán bọn tao, vậy hôm nay bản tăng siêu độ cho mày vậy! Dứt lời rút phắt cây kiếm bên mình tính ra tay!
Pháp Không phất ngay cây phất trần của mình rằng:
- Sư huynh, ở đây không tiện ra tay, chúng ta hãy ép nó sang bên cánh rừng kia! Nay chuyện đã đến nông nỗi này, cho nó có cánh bay cũng không thoát được! Nói xong đưa tay chỉ ngay về một cánh rừng!
Nơi đó quả nhiên vắng tanh, Thượng Quan Linh nghiễm nhiên nhận lời ngay. Chàng đánh xe đi trước, mọi tăng lữ theo sau.
Thượng Quan Linh nhìn thấy Đông Phương Đình nằm ép vào một xó trong xe, chàng thấy tội nghiệp, bèn khẽ tiếng rằng:
- Cô nương cứ việc ngồi yên trong xe, tôi sẽ đuổi hết lũ khốn này! Đừng nên lo lắng làm gì!
Đông Phương Đình nước mắt rưng rưng rằng:
- Thượng Quan công tử... Xin công tử ráng thận trọng! Nếu thấy không xong, xin công tử cứ việc ra đi cho yên, vì trước sau gì mục đích của họ đều nhắm vào tôi, công tử chớ nên vì tôi mà... - Nàng nghẹn ngào không thành tiếng!
Bên ngoài các tăng lữ đã hối thúc tưng bừng, Thượng Quan Linh vội an ủi rồi nhảy xuống xe. Chỉ thấy đám tăng lữ đã quay thành một vòng tròn, giữa vòng tròn có Hải Không, Pháp Không và Hồng Y tăng đứng. Thượng Quan Linh hét lên một tiếng dữ dằn tung mình nhảy phắt qua đầu đám tăng lữ vào trong vòng tròn, hai chân hạ xuống không một tiếng động nào. Chàng thực hiện ngọn khinh công tuyệt diệu này với một thế vô cùng đẹp mắt, đám tăng lữ thất kinh trong lòng.
Thấy sắc mặt mọi người kinh ngạc, hào khí của Thượng Quan Linh càng bỗng tăng lên: oang một tiếng ngân do thép kiếm vang lên, ngọn kiếm Lệ thủy tinh đã cầm gọn trên tay chàng, nhoáng lên một làn bạch quang, chàng mới cất tiếng quát:
- Trong đám cướp trọc này, quân nào khởi sự lên trước đây!
Hải Không, Pháp Không, cả hai cùng bước ngay ra, Thượng Quan Linh mở ngay cửa đón địch!
Chỉ nghe Pháp Không đại sư quát tiếng:
- Đánh!
Thế là ngọn phất trần vù vù lên tiến sát vào Thượng Quan Linh, còn cây trường kiếm của Hải Không đại sư chớp mắt đã công ngay bên cánh trái của chàng!
Thượng Quan Linh chẳng cần chần chờ, chàng vung luôn ngọn kiếm của mình, chỉ thấy những con rắn trắng bay vọt tứ tung, Hải Không biết sức bén của cây Lệ thủy tinh, binh khí của mình không dám va chạm phải, hấp tấp thu ngay thế! Ngọn phất trần của Pháp Không đã quất ngay đến đỉnh đầu của Thượng Quan Linh, nhưng chỉ thấy chàng xoay nhoáng mình một cái toàn thân đã từ trong vòng phất trần bay vèo ra ngoài. Thân pháp khinh công trong ngọn Điên Đảo Càn Khôn quả là bất phàm! Sau khi Thượng Quan Linh nhẹ nhàng tránh khỏi ngọn phất trần của đối thủ, bộ pháp dưới chân lướt đi như mây, chỉ thấy bóng đi quanh khắp hai vị hòa thượng, các ngọn kiếm được chém ngang ra tua tủa, khí thế vừa mạnh vừa nhanh, thì ra chính là ngọn kiếm pháp lợi hại trong Đinh Giáp thần công mà Gia Cát Dật truyền dạy cho chàng!
Chẳng mấy chốc, trận chiến chỉ còn thấy những làn kiếm trắng tung một vùng rộng lớn, bao trùm hết thân hình của hai đại sư, ai nấy chỉ còn nghe được những âm thanh vo vo như đàn ong rời tổ! Chính ngọn kiếm đang múa tít của Thượng Quan Linh đã gây ra những âm thanh ấy.
Hải Không và Pháp Không đều e ngại cây kiếm quí của chàng, trong lòng càng đâm ra khớp hoảng, thế đánh càng trở nên lúng túng, thét rồi hai người chỉ còn nước trốn đòn, không sao hợp sức với nhau được, tính tìm cách gạt bay ngọn kiếm của địch, nhưng lại sợ lối đánh chớp nhoáng về môn Đinh Giáp thần công của người ta, chần chờ rụt rè mà không dám tiến liều vào, phần thì bộ pháp vô cùng quỉ quyệt của Điên Đảo Càn Khôn khiến cho hai người không biết đâu là hư đâu là thực dần dà đã tỏ ra đuối thế hẳn.
Thượng Quan Linh vội đánh liên miên thêm bảy tám đòn ác liệt, hai người chỉ còn nước né lùi, Thượng Quan Linh định thần tìm ngay cửa hở, nhân ngay lúc Pháp Không quay vèo thân, ngọn phất trần bắt buộc bị ngắn đi, Thượng Quan Linh nắm ngay thời cơ, ngọn kiếm đưa nhanh ra! Mắt thấy ngọn kiếm ấy đã đúng tầm mức của nó, Pháp Không không thể nào chống đỡ nổi, nhưng thình lình ngay trong lúc này, cơn bệnh lạnh của chàng bỗng dưng dội hẳn lên đau nhói! Bắt buộc tốc độ bị chậm mất, thế là Pháp Không hòa thượng đã lượm lại hồn mình dưới làn kiếm của Thượng Quan Linh, trán toát mồ hôi lạnh vèo thân nhảy bung ra ngoài vòng chiến!
Hải Không trông thấy Pháp Không lâm nguy, biết mình cứu không kịp, hồn bay phách lạc, tính rút nhanh thế ra tự lo giữ mạng mình cho rồi, nhưng chợt thấy Pháp Không từ trong làn kiếm Lệ thủy tinh vèo thân chui ra, không hiểu tại sao Thượng Quan Linh không hạ sát thủ? Trong lòng cảm thấy lạ lùng vô cùng.
Sau khi hai người hoàn hồn, lại chung sức nhảy bổ vào công hãm, lúc này Thượng Quan Linh cũng bớt đau, chàng lại mở thế đánh như lối trước, dần dà lại lấn át hẳn hai người!
Hình như tên Hồng y hòa thượng ngứa mắt chịu không nổi, chỉ nghe Hồng y hòa thượng lớn tiếng:
- Nhị vị sư đệ hãy lui xuống! Để ta lại đấu thử với tên này xem!
Hai người thu thế nhảy nhanh ngay ra vòng chiến, mồ hôi nhuễ nhại, hơi thở hổn hển không ngớt.
Hồng y tăng thấy Thượng Quan Linh không có một vẻ gì mệt nhọc, mà chỉ thấy sắc mặt chàng có vẻ trắng bệch hẳn, bèn cười nói rằng:
- Bần tăng đây pháp hiệu gọi Xích Diễm đại sư, lâu năm đã không về Trung Nguyên, không ngờ rằng trong giang hồ đã xuất hiện nhiều anh tài như thế! Kiếm pháp và khinh công của các hạ quả là được truyền tự danh gia. Bất phàm! Bất phàm! Nay bần đạo có duyên được tương ngộ, xin thỉnh giáo một vài tuyệt học cho biết nhân tài trong hậu bối!
Nói dứt lời, Xích Diễm đại sư cố ý khiến cho cây thiền trượng tụt ngay xuống chấm mặt đất, khiến cho một khoảng đất bị chấn động rung rinh, hiển nhiên cây thiền trượng trầm nặng lắm, loại binh khí nặng nề như thế thì không ngại gì bảo kiếm. Nhưng đối với Thượng Quan Linh trong lúc này thật không đi đến đâu vì chàng đang cả thắng hai nhà sư, hào khí vẫn còn bùng trong lòng chàng, nên nghiễm nhiên rằng:
- Có lẽ Xích Diễm đại sư ngài khá hơn hai tên trọc vừa rồi! Vậy chúng mình cũng nên đùa thử vài ngọn cho biết!
Xích Diễm đại sư vô cùng ngạo mạn rằng:
- Thượng Quan thí chủ, bần tăng chỉ dùng cây thiền trượng này giao chiến với thí chủ, tuyệt không thêm một người giúp sức, nếu bần tăng bị bại dưới kiếm của thí chủ, cô gái này sẽ do Thượng Quan thí chủ đem theo, bần tăng xin hứa danh dự bảo đảm, không ai dám cãi lệnh, nhưng nếu Thượng Quan thí chủ thua...
Thượng Quan Linh vội trả lời ngay:
- Nếu ta sơ suất bị' thua, chỉ có thể tự oán trách mình học nghệ chưa tới nơi tới chốn, và ta sẽ tự tử ngay, khỏi phiền đến các ngài bận tâm!
Xích Diễm đại sư mỉm cười rằng:
- Thượng Quan thí chủ quá nặng lời! Nếu bần tăng hân hạnh được thắng, xin thí chủ nể tình cho bần tăng đem cô gái trong xe đi là đủ lắm rồi!
Thượng Quan Linh không còn chịu được nữa, chàng hét lên một tiếng, toàn thân khẽ chuyển động, làn bạch quang đã vùn vụt ra, Xích Diễm đại sư vung chân đổi bộ né tránh ngọn đầu, cây thiền trượng trên tay lập tức múa tua tủa lên phong tỏa khắp các lỗ hở của toàn thân, thanh kiếm của Thượng Quan Linh lúc này không khác gì một giải lụa trắng đang tìm kẽ hở để xuyên vào, đôi bên trượng qua kiếm lại, bên nào cũng đang nhắm tìm sơ hở của địch để ra tay, nhưng đôi bên đều giữ kín!
Thình lình tiếng nhạc trên cây thiền trượng của Xích Diễm vang lên, Thượng Quan Linh cũng hiểu ngay dụng ý của đối thủ, chàng nghiêng ngay ngọn Lệ thủy tinh kiếm của mình và dùng ngay một thế tinh diệu Cẩm lân đảng ba (vẩy cá búng nước), thình lình vụt trở ngược lên, chỉ thấy làn bạch quang nhoáng nhanh gần sát ngay khuôn mặt của Xích Diễm đại sư, khiến cho Hồng y hòa thượng vội hấp tấp nhảy nhanh sang ngang hai bước, thu thế lo giữ mình. Thượng Quan Linh lạnh lùng cười liên tiếp, thình lình chàng lại đổi ngay sang thế kiếm Đinh Giáp Khai Sơn, toàn là những thế bửa chém thục mạng, khí thế như sấm nổ, chân bước huỳnh huỵch, tiếng gió vù vù!
Xích Diễm đại sư tâm thần không rối loạn, chỉ nghe nhà sư hét lên một tiếng, giơ nghiêng ngay thân cây thiền trượng ra tính va chạm vào ngọn kiếm của đối thủ, thế đánh này không những vừa đỡ được binh khí đối thủ chém tới mà chiếc đầu mũi nguyệt nha của cây thiền trượng cũng có thể đồng thời thích ngay vào ngực đối phương, tuy đánh ra một đòn mà thực có hai tác dụng khác nhau, quả là lối đánh quỉ quyệt tuyệt luân. Cây Lệ thủy tinh kiếm nhoáng lên một ánh sáng, gây lên một tiếng gió, vèo một tiếng, Thượng Quan Linh đã dùng đến ngọn khinh công thượng thặng, nhoáng mắt chàng đã vụt luôn khỏi đỉnh đầu đối phương, thán hình Xích Diễm đại sư chưa quay lại, nhưng cây thiền trượng đã nhanh như chớp vụt ngược lại phía sau, Thượng Quan Linh không kịp né tránh, đành phải ra tay chống đòn.
Kiếm trượng tương giao, choang một tiếng vang lên! Xích Diễm đại sư đã dùng hết công lực trên toàn thân, ngầm vận nội công dồn hết vào cây thiền trượng, đè mạnh ngay cây kiếm của Thượng Quan Linh xuống hơn một tấc, chứng tỏ nội công của Hồng y tăng đã trội hẳn hơn chàng. Thượng Quan Linh cảm thấy không xong, đành phải dùng đến thế hiểm tự quyết, bỗng Xích Diễm đại sư phát giác có gì lạ trên cây thiền trượng của mình, vội tung mình nhảy ngay ra, nhìn kỹ cây thiền trượng, nơi mình đè lưỡi kiếm ấy, đã bị khuyết mẻ mất ba phần bề sâu, cây kiếm quả là kiếm báu và lợi hại!
Thượng Quan Linh sau khi so nội lực với địch thủ phát giác nội công kẻ địch hơn mình, trong lòng bất giác giật mình, và cũng ngay trong lúc ấy, chất hàn độc trong người lại tái phát, một luồng hơi lạnh từ Đan điền dội dần lên ngực, chàng lập tức cảm thấy đau nhói khó chịu. Nhưng đang lúc kình địch trước mắt, chàng đâu dám chểnh mảng, hấp tấp ngầm vận chân khí, miễn cưỡng chống với con bệnh.
Sắc mặt Xích Diễm lạnh như băng tuyết, dộng ngay cây thiền trượng đến ình một tiếng xuống đất, lên tiếng quát rằng:
- Thượng Quan thí chủ đã ỷ cây bảo kiếm, không thể kể là anh hùng được, vậy thí chủ có dám tỉ thí chưởng lực với bần đạo không?
 
0
Hồi 049. Lòng Dạ Rắn Như Vàng
[/align]

Thượng Quan Linh thừa biết nếu đấu bằng chưởng lực khó lòng mà hơn nổi đối phương, huống hồ trong lúc này Phủ Chưởng Hàn lại bắt tái phát trong mình. Nhưng chàng đâu chịu lép vế, bụng nghĩ: chẳng thà đấu bừa với địch để mau kết liễu cuộc đời cho rồi, vì dẫu cho mình có may mắn mà thắng thì cũng chỉ sống được có hai ngày nữa là cùng, nay nhân cơ hội này, tội gì mình không biểu lộ bản sắc anh hùng của mình. Quyết định xong chàng thản nhiên trả lời:
- Có gì đâu mà không dám?
Xích Diệm đại sư khen ngay:
- Anh hùng lắm! - Dứt tiếng tay không bước hiên ngang sang. Thượng Quan Linh tra kiếm vào vỏ, miễn cưỡng cố nín cơn đau trong mình, sẵn sàng chờ địch. Chàng thừa biết nếu chưởng pháp của mình dùng lối Đinh Giáp thần công phạt ra, oai lực sẽ tuyệt luân vô cùng, nhưng nội công của Xích Diệm đại sư đã hơn hẳn mình, nếu thẳng tay đẩy bừa, chỉ tăng mau sự bại vong của mình mà thôi, chẳng thà cứ dùng thử ngọn khinh công Điên Đảo Càn Khôn quay quần với đối phương, rồi liệu tìm sơ hở bửa cho địch và chưởng xem sao!
Chàng liếc nhanh nền trời, đã thấy ánh tà dương, lại sắp hết một ngày, mai đây và ngày kia nữa, sự sống mình chỉ còn có hai ngày ngắn ngủi, Thượng Quan Linh cảm thấy tâm tư mình trống rỗng. Chợt chàng nghĩ thầm: mau kết liễu cuộc đời cũng là cái hay! Nhân ngay thế tiến của Xích Diệm đại sư đến gần, chàng đưa ngay song chưởng đẩy ra. Xích Diệm đại sư chỉ cười nhạt, đưa ngay chưởng ra một hấp một dẫn, giải ngay thế của đối thủ. Thượng Quan Linh bèn trở ngay đòn đánh thực sự với lối Đinh Giáp Khai Sơn, thần công đưa ra, song chưởng giơ cao, hét lên một tiếng dữ dội, dùng luôn mười phần mười công lực, nhắm ngay giữa bụng và ngực của Xích Diệm đại sư bửa mạnh tới.
Vốn là kẻ kinh nghiệm phong phú, Xích Diệm đại sư cũng đã nhận ngay lối đánh của địch, chỉ thấy nhà sư không hề biến đổi thân hình, thình lình cũng cử chưởng phạt ngược lên, ngầm dùng chân lực hứng đỡ: bùng một tiếng lớn vang dội, toàn thân Thượng Quan Linh bị vứt tung lên, lảo đảo không khác nào chiếc diều bị đứt dây, bay luôn về phía sau, phần Xích Diệm đại sư cũng giật lùi ngay năm sáu bước mới đứng vững bộ của mình. Các tăng lữ hồi hộp chờ đợi kết quả... chỉ cần Thượng Quan Linh ngã lăn ra mặt đất, không bị chết thì cũng bị trọng thương, thế nào cũng không tránh khỏi, và trận này kể như bên mình thắng! Lúc này chỉ thấy toàn thân Thượng Quan Linh bị ngọn chưởng phong quăng tung khỏi đỉnh đầu đám tăng lữ, bay tung ra xa mấy trượng, nhưng lưng chừng không trung, đã thấy chàng cố giữ thân hình lấy đà nhẹ nhàng lướt ngay xuống đứng uy nghi bên khóm cây của cánh rừng! Các tăng lữ cùng một động tác há hốc mồm ồ lên một tiếng kinh hãi!
Thực ra Thượng Quan Linh lúc này đau đớn vô cùng rồi, sau khi đối một chưởng dữ dội với đối phương, vết độc thương trong người lại bắt đầu nhoi lên, tuy chàng đã cố gắng giữ vững toàn thân cho khỏi bị nằm lăn xuống, nhưng tim chàng đã đập mạnh hơi thở tăng mạnh hẳn, cơn lạnh và đau nhói lại tái phát, đã đến lúc dầu cạn đèn nhấp nhóa rồi!...
Bỗng tiếng Xích Diệm đại sư lớn tiếng rằng:
- Tuyệt lắm! - Dứt lời ung dung bước tới, vung luôn bàn cự linh chưởng của mình đánh thẳng xuống!
Thượng Quan Linh đang bị cơn bệnh hành hạ trong mình, sắc mặt chàng trắng toát, thân lảo đảo muốn ngã! Xích Diệm đại sư thấy vậy không biết duyên cớ tại sao, nhưng có một điều không thể chối cãi là nội ngoại công của Thượng Quan Linh đều cừ giỏi cả, trong lòng y bất giác nổi ngay ý nghĩ kỵ tài, phải nhân ngay cơ hội để giết luôn tên hậu sinh khả úy này mới được. Một tiếng hét vang lên, song chưởng của Hồng y tăng ầm ầm áp ngay xuống!
Thượng Quan Linh đành liều luôn, lực cạn sức càn, chàng đành nhắm mắt chờ tử thần dẫn hồn về cõi u minh ! . . .
Bỗng trên đỉnh đầu ào ào một tiếng vang dội, một thân cây lớn tướng đổ rầm ngay xuống, thế là cả một tàng cây vừa vặn chụp hết cả hai thân hình Xích Diệm và Thượng Quan Linh. Chớp mắt, trong cảnh chập choạng của cảnh trời tắt nắng chiều tà, một làn bạch quang trắng nhoáng lên rồi vụt biến luôn trong cánh rừng!
Dưới tàng cây vừa đổ, không thấy có một động tĩnh gì, các tăng lữ hãi hùng chờ đợi!
Chờ khá lâu, Pháp Không đại sư bèn nói với Hải Không đại sư rằng:
- Này sư huynh, e không chừng Xích Diệm sư huynh và thằng nhãi họ Thượng Quan cùng tận số cả với nhau rồi cũng nên!
Hải Không đại sư gật gù rằng:
- Như thế cũng hay! Vậy chúng ta mau đánh xe đi cho yên?
Mọi tăng lữ vội hấp tấp sửa soạn lại kéo chiếc xe lừa, trong xe tiếng kêu rú kinh hãi của Đông Phương Đình vang lên! Ngay lúc xe sắp chuyển bánh ấy, bỗng đằng sau có tiếng quát lớn:
- Đứng yên ngay hết!
Các tăng lừ ngạc nhiên quay đầu lại, chỉ thấy chàng Thượng Quan Linh đầy mình bụi bặm thần sắc hiên ngang lẫm liệt đứng ngay đằng sau. Hải Không và Pháp Không thấy Thượng Quan Linh không có hiện tượng gì là bị thương trong mình, trong lòng bất giác đâm ra khớp sợ, vội bước lại hè nhau giở ngay thân cây ra xem, thì ra Xích Diệm sư huynh quả nhiên đã tắt thở, nhìn kỹ thì không phải bị cây đập chết, mà chính bị người ta dùng trọng thủ pháp điểm chết.
Thượng Quan Linh thấy hai người cùng đang ngơ ngác tìm hiểu sự thật, chàng bèn nhân cơn khủng hoảng của hai người quát lớn lên rằng:
- Xích Diệm đại sư nay đã chết! Bộ lũ ngươi tính bội ước sao? Nếu quả vậy hãy thưởng thức thêm ngọn bảo kiếm của ta! - Dứt lời đưa tay soạt một tiếng rút luôn thanh kiếm! Một ánh bạch quang lập tức nhoáng lên trước mắt mọi tăng lữ.
Hai đại sư Hải Không, Pháp Không đưa mắt ngó quanh nhau, biết mình không phải địch thủ của Thượng Quan Linh, Hải Không đại sư chỉ còn nước chấp chưởng lại rằng: võ công của Thượng Quan thí chủ quả tinh tuyệt bọn bần tăng đây khâm phục, sau này còn duyên gặp nhau, xin tái lĩnh giáo sau!
Thế là cả đám tăng lữ lo khiêng ngay thi thể của Xích Diệm đại sư rời ngay luôn trong màn đêm tối dần. Đông Phương Đình lúc này từ trong xe chạy xuống, nàng chỉ thấy sau một trận giao tranh kinh hãi, nay chỉ để lại những tàn tích bừa bãi của trận địa, thân cây đổ xuống và chiếc thiền trượng của Xích Diệm đại sư văn còn đó, Thượng Quan Linh thì đứng như pho tượng thần! Sắc mặt chàng trắng bệch.
Thì ra Thượng Quan Linh đang mải suy nghĩ đến một vấn đề: Xích Diệm đại sư không biết đã chết về tay ai? Chàng nhớ ngay lúc cây to đổ thình lình xuống ấy chính lúc cơn bệnh đang hành chàng đau đến cực độ và tuy không phải thân cây lớn đè trúng mình, nhưng tàng cây cũng đã quất ngã mình ngay trong lúc đang bị đau nhói vì cơn lạnh!
Đến khi tỉnh, nghe đám tăng lữ hối hả kéo cỗ xe lừa và tiếng kinh thét của Đông Phương Đình, chàng mới vội hiện thân ra, và cố gắng tỏ ra một vẻ oai hách hùng dũng để át dọa tinh thần của hai đại sư. Quả nhiên hai đại sư đã bị mắc mưu và lủi thủi rút đi nhanh !
Sự thực chàng đâu hề điểm vào huyệt tử của Xích Diệm đại sư đâu! Không lẽ một trong những nhánh cây của thân cây to tướng ấy lại khéo đến nỗi điểm trúng trọng huyệt của tên Hồng y tăng Xích Diệm sao? Nói ra thật không thể nào tin được! Cái chết của Xích Diệm đại sư vô tình đã khiến cho Hải Không và Pháp Không ghi một món huyết thù trên người mình, vì họ đã cho là chính mình giết chết Xích Diệm sư huynh của họ! Khi không lại rước thêm một mối thù hồ đồ nào vào mình! Chắc chắn là đã có vị cao nhân nào ngấm ngầm tương cứu mình đây? Nếu không, một thân cây to lớn hai người ôm như thế, sao có thể tự dưng đổ xuống một cách ngẫu nhiên như vậy? Rất tiếc là mình bị đè trong tàng cây, nên không phát giác được vị cao nhân nào đã cứu mạng mình!
Người ấy là ai? Thượng Quan Linh ngẩn ngơ suy nghĩ, tại sao sau khi cứu mình, lại không chịu hiện thân ra tương kiến với nhau! Thật khổ! Họ đâu có biết cho mình chỉ sống thêm được trong hai ngày nữa là mãn kiếp trần gian! Thực ra có cứu hay không cũng thế mà thôi, tuy người đã có lòng tốt ra tay cứu mình, nhưng mình đâu có tránh khỏi đại hạn của bảy ngày đâu! Cảnh sắc tứ bề âm u, tâm thần chàng hầu như cũng vắng tanh như cảnh rừng tịch mịch trước mắt!
Đông Phương Đình sực nhớ đến người anh mình là Đông Phương Kiệt, mấy ngày trước đây cũng chết trong một cảnh hoàng hôn chập choạng như lúc này, tình cảnh bi đát ấy vẫn còn in rõ trong bộ óc của nàng.
Nay thấy Thượng Quan Linh đứng trân không nhúc nhích, vội lật đật chạy tới gọi:
- Thượng Quan công tử?... Công tử đã bị thương hay sao?
Thượng Quan Linh không trả lời, nàng liếc mắt ngó quanh tứ bề , cảnh âm u thê lương khiến cho nàng đâm hoảng, nước mắt đầm đìa, đưa ngay tay lay mình Thượng Quan Linh rằng:
- Kìa công tử!... công tử! Công tử có sao không?...
Chàng kinh tỉnh, quay đầu lại nhìn, thấy Đông Phương Đình khóc ướt hẳn một khuôn mặt như đóa hoa bị mưa. Chàng sực nhớ đến lời Đông Phương Kiệt trước cơn hấp hối... chỉ còn có hai ngày! Tiếng thở dài não nề.
Đành dìu Đông Phương Đình lên xe và tiếp tục đi về hướng Tây. Cơn độc thương lại tác quái trong người, chàng đã chán nản đến mức tuyệt độ, chỉ muốn đi tìm một nơi nào đó thật u nhã êm tịnh để âm thầm chết cho xong! Chàng không còn thiết nghĩ đến bất cứ chuyện gì trên trần nữa! Chẳng mấy chốc họ đã đến huyện Phòng Sơn, vào một quán nhỏ nghỉ ngơi, bỗng nghe trong quán thiên hạ đang lao nhao tán gẫu!
Một người lên tiếng rằng:
- Tạo hóa khéo xếp đặt thật! Nhất là hồ Đại Ngũ Trì mới quái dị làm sao đâu? Cả năm cái hồ nước thiên tạo ấy đều nằm hết trên tuyệt đỉnh của Phòng Sơn, mà trên ngọn núi ấy quanh năm phủ tuyết, vắng hẳn chân người. Nghe đồn rằng nước trong Đại Ngũ Trì quái lạ lắm, có gì nhẹ bằng lông ngỗng, ấy thế mà bỏ xuống hồ nước của Đại Ngũ Trì cũng bị chìm ngay tức khắc! Nghĩa là không có một vật gì có thể nổi bềnh bồng trên mặt nước của Đại Ngũ Trì ấy được!
Tiếng một người khác nói đùa ngay rằng:
- Này Trương đại ca, nếu sau này anh có chết sợ ai quật mả, thì trên Đại Ngũ Trì ấy quả là một nghĩa địa kiên cố lý tưởng lắm!
Thượng Quan Linh nghe xong , vờ như người vô ý , hỏi ngay lối đi Phòng Sơn, thì ra chỉ cách thị trấn đây có mười dặm đường. Trong lòng Thượng Quan Linh bèn ngấm ngầm quyết định ngay dự tính của mình, chàng chọn ngay Đại Ngũ Trì trên tuyệt lãnh của Phòng Sơn làm nơi mai táng hài cốt muôn đời của mình, nước ở đó có thể khiến cho tất cả mọi vật đều chìm, mình nhảy xuống đó để làm nơi an nghỉ cuối cùng càng hay! Chẳng còn ai biết ở đâu?
Trên xe lừa, chàng vung roi khởi trình, quá giờ ngọ, cỗ xe lừa đã đến dưới chân núi Phòng Sơn, chỉ thấy ngọn cao phong sừng sững nguy nga, mũi phong chọc thủng các đám mây lơ lửng lưng chừng, những ngọn ánh nước phản chiếu óng ánh, chắc có lẽ đã do Đại Ngũ Trì gây nên.
Đông Phương Đình thấy xe ngừng lại một chân núi cao chót vót hiểm trở đây, trong lòng nàng đâm ra băn khoăn, không biết Thượng Quan Linh đưa mình đến đây làm gì?
Đứng trước cảnh thiên nhiên hùng vĩ, lòng Thượng Quan Linh đâm ra băn khoăn, chàng đang suy nghĩ là làm cách nào giải thích vấn đề cho Đông Phương Đình, nhưng một người yếu đuối như nàng đây, nếu biết được cái tin không may của mình chắc thế nào cũng bị ngất xỉu mất! Hay là cho nàng biết rõ anh ruột nàng là Hầu Hạo hãy còn sống trên thế gian này, để nàng nuôi một hy vọng lớn lao đi tìm người anh? Nhưng không biết sư huynh giờ đây ở đâu? Mênh mông bụi trần như thế, biết đâu mà tìm? Và càng biết nhờ ai đây để hộ tống em gái của sư huynh mình trên dặm trường giang hồ? Chàng nghĩ và... nghĩ! Nhưng không sao mở miệng.
Nàng Đông phương Đình hình như cũng đã phát giác thần tình lạ lùng của chàng, hình như chàng ta có gì muốn nói nhưng không tiện mở miệng mà thôi.
Nàng đành cất tiếng hỏi:
- Thượng Quan công tử! Chắc công tử có chuyện gì cần nói với tôi sao?
Thượng Quan Linh đành dứt khoát ngay, và chàng cho hay tất cả những mối quan hệ của mình với Hầu Hạo, nhất là trong lúc sư huynh đệ hai người bị nhốt trong Cửu Thiên Tự, Hầu Hạo đã kể hết thân thế cho Thượng Quan Linh biết, và mọi sự chứng minh rõ là Đông Phương Đình chính là em gái ruột của Hầu Hạo.
Nghe vậy nàng Đông Phương Đình mừng quýnh lên, vội hỏi ngay anh ruột mình hiện ở đâu? Thượng Quan Linh lắc đầu không rõ, tiếp đó chàng cho nàng hay sơ về tình hình hai người sau khi đến Nhạc Châu và bị chia tay ngay đó!
Đông Phương Đình lộ ngay vẻ tươi tỉnh rằng:
- Thưa Thượng Quan công tử! Chắc anh tôi đã đến tìm vị Độc chỉ Thôi Bác rồi, nay đã biết vị tiền bối ấy ẩn cư trên Mặc Phụ Sơn, cuộc tìm kiếm cũng dễ dàng lắm, và tin chắc vị tiền bối kỳ nhân Độc chỉ Thôi Bác ấy thế nào cũng biết thân thế lai lịch của hai anh em chúng tôi cũng nên!
Thượng Quan Linh cũng thừa biết người thiếu nữ sẽ lấy làm lạ là tại sao mình đã là sư đệ của anh nàng, lại biết lối đi Mặc Phụ Sơn, sao không chịu mau mau đưa nàng đi tìm người anh ruột Hầu Hạo. Trong lòng Thượng Quan Linh vô cùng băn khoăn không biết nên nói sao với nàng. Từ từ chàng ngửng đầu lên, bắt gặp đôi mắt vô cùng quyến rũ của Đông Phương Đình đang chăm chăm ngó vào mặt mình, Thượng Quan Linh lại càng cảm thấy ân hận, chàng ấp úng rằng:
- Đình cô nương!... tuy tôi biết rõ tất cả mọi việc này, nhưng... nhưng tôi không... không có cách gì để giúp cho anh em cô đoàn tụ!
Đông Phương Đình bỗng biến sắc mặt kinh hãi hấp tấp hỏi ngay:
- Thưa công tử!... Công tử... nói sao?
Thượng Quan Linh vô cùng buồn rầu rằng:
- Trước cảnh hấp hối của lệnh huynh là Đông Phương Kiệt, tôi muốn khiến cho chàng ta an tâm khi nhắm mắt lìa trần, nên đành hứa liều cho được việc trong lúc ấy, nhưng cũng ngay khi đó tôi biết là lời hứa của tôi không thể nào thực hiện nguyện vọng được!
Đông Phương Đình truy hỏi ngay:
- Sao thế?
Thượng Quan Linh hít hơi mạnh cố trấn tĩnh lòng xúc động rằng:
- Bởi vì... bởi vì thân tôi đang mắc bệnh độc thương nan y, cuộc sống của đời tôi cũng sắp chấm hết đến nơi!
Nàng Đông Phương Đình cảm thấy đầu óc mình long lên như bị sét đánh ngang tay... Nàng trợn tròn mắt đứng ngẩn người ra...
Tiếng Thượng Quan Linh lại rằng:
- Và vết độc thương chỉ có thể cho tôi sống nổi trong bảy ngày mà thôi...
Đông Phương Đình vội hấp tấp rằng:
- Công tử chớ lo, chúng ta hãy vào ngay trong thành tìm lương y chữa chạy...
Thượng Quan Linh bơ phờ lắc đầu rằng:
- Loại độc thương này, đến như hiệp y trứ danh trên giang hồ là Hoạt thương công Hoa Diệp Tử cũng dành phải thúc thủ vô phương cứu, vì nó là một thứ chưởng lực cực kỳ hiểm độc được mệnh danh là Phủ Chưởng Hàn. Hôm nay tôi chọn nơi vắng vẻ của Đại Ngũ Trì trên ngọn Phòng Sơn tuyệt lãnh làm nơi yên nghỉ cuối cùng của đời tôi, bởi ngày mai đây cũng ngày thứ bảy rồi, một ngày chót nhất của tôi trong trần gian!...
Giọng chàng vẫn hiền hòa nói:
- Đình cô nương! Tôi vô cùng ân hận nhưng mong cô thông cảm và tha thứ lỗi cho, tôi quả thật không muốn chết trong khách sạn hay giữa dọc đường, nên chỉ còn nước tuyển chọn một nơi yên tĩnh thanh vắng như đây để gửi nắm xương tàn... Tôi đã không thể nào hoàn thành lời trọng thác của Đông Phương huynh, tôi quả thật đau buồn lắm, và tôi cũng sẽ ôm thêm mối hận này xuống tuyền đài... Nếu quả thật người chết mà còn có linh thiêng, thế nào linh hồn tôi cũng sẽ tiếp tục bảo vệ cô tìm cho ra Hầu sư huynh mới thôi! Bây giờ tôi không mong gì hơn là cô nương hãy hiểu cho nỗi lòng khổ tâm của tôi... Càng mong cô hãy tự bảo trọng lấy thân, đừng nên nản, tin chắc thế nào cô cũng gặp được Hầu sư huynh... - Nói tới đây, Thượng Quan Linh nghĩ đến bước đường của nàng còn lắm gian nan, chàng nghẹn ngào ngưng tiếng luôn.
Nghe xong, nàng Đông Phương Đình bỗng nhiên kiên quyết rằng:
- Thưa Thượng Quan công tử, số kiếp tôi bạc bẽo như thế, có sống trên đời cũng chẳng vui thú gì, lắm gian nan chờ đợi, để hành vò thể xác lẫn tinh thần mình như vậy, chẳng thà chết đi cho rảnh nợ đời, vậy xin công tử hãy cho tôi theo luôn ngọn tuyệt lãnh Phòng Sơn tìm sự giải thoát vô biên luôn!
Thượng Quan Linh không ngờ nàng lại nói như vậy cuống lên rằng:
- Chết! Chết!... cô nương không thể nào quyên sinh dễ dàng như thế?
Trời đã nhá nhem tối, ngước đầu nhìn ngọn phong, cũng mất thêm một quãng thời gian mới lên đến nơi đỉnh, chàng không chần chờ gì thêm nữa, cố nén lòng thốt ra câu từ biệt:
- Xin cô tự bảo trọng! - Dứt tiếng chàng tung mình chạy như bay lên núi.
Đông Phương Đình tuy đã nhanh tay ra níu, nhưng nào đâu có kịp! Nàng cũng chạy theo phía sau chàng luôn! .
Nhưng đường lối lên núi gập ghềnh khó đi, có lúc phải bám vào những dây leo của rừng, nàng Đông Phương Đình vốn lại là người không biết võ công, thân liễu lại yếu như sên, làm sao mà có thể theo đuổi kịp được Thượng Quan Linh, thoạt tiên còn trông thấy bóng hình của chàng phía trước, nhưng chỉ trông thấy chớp mắt thân hình của Thượng Quan Linh đã thoăn thoắt biến mất trong bóng tối. Đông Phương Đình cất tiếng gọi lớn, nhưng không tiếng trả lời, trái lại tiếng gọi ấy đã kinh động các mãnh thú trong rừng, tiếng gầm của các mãnh thú đã ứng tiếng vang lên, trong cảnh thanh vắng quả rùng rợn lòng người.
Đông Phương Đình bỗng quay đầu nhìn xuống, thấy đã khá cao, tuy thế núi hiểm nghèo tuyệt độ, nhưng tinh thần cố gắng không sờn của nàng đã khiến nàng leo được hơn già nửa đường, nàng ngửng đầu lên, ánh phản chiếu của Đại Ngũ Trì đã ẩn hiện trước mắt.
Bất chất tất cả các tiếng gầm rùng rợn của thú rừng, nàng vẫn cố gắng leo, vì nàng đã ôm một tinh thần sẽ chết trên núi này.
Nàng Đông Phương Đình vốn là một cô gái thâm khuê yếu đuối đâu chịu nổi cảnh cực và nguy hiểm này bao giờ, chỉ thấy nàng lúc này áo rách nhiều nơi, đầu tóc rối bung, tay chân đều bị gai rừng cào sứt, cũng có chỗ đã ứa máu. Nhưng nàng hình như không phát giác đến những chuyện ấy, vẫn tiếp tục leo, nàng đã quyết định liều lĩnh; nếu chừng nào quá mỏi không thể nào chịu được nữa, nàng sẽ buông tay cho toàn thân rớt xuống vực sâu chấm dứt cuộc sống thừa của mình vậy!
Đã liều nàng không còn sợ gì hết, chẳng mấy chốc, nàng lại leo cao thêm được khá xa, bỗng trước mắt nàng hiện ra một khu rừng, tuy nàng biết trong đó thế nào cũng có nhiều mãnh thú, nhưng mặc, nàng vẫn cúi đầu lủi bừa vào rừng, nhưng chớp mắt nàng phát giác một đôi mắt kinh khủng đang theo dõi hành động của mình, đến khi nàng định thần nhìn kỹ, thì ra đôi mắt ấy chính lại là của một con độc hổ. Đúng là hổ vì nàng đã từng biết qua hình dáng của nó qua các bức tranh vẽ trong khuê phòng của mình xưa kia, nàng không ngờ hiện giờ mình lại được mục đích tường tận như thế, sự oai hùng của con mãnh hổ đã khiến nàng mỏi rời cả hai chân, đầu nàng cảm thấy choáng váng, toàn thân nàng bủn rủn, đứng nguyên tại chỗ.
Nàng không hiểu tại sao con hổ lại không nhảy vồ ngay mình; trong chuyện kể, nó còn chờ đợi gì kia? Nàng thử bước tới một bước, một tiếng gầm vang lên dữ dội! Và hổ ta vọt mình nhảy vồ sang. Đông Phương Đình chỉ còn lơ mơ nhận ra những khoanh trắng vàng trên thân con mãnh hổ, nhưng chỉ trong nhoáng mắt mà thôi, nàng lập tức nhắm chặt mắt lại chờ chết! Trong óc nàng lúc này không còn nghĩ qua tí gì về trần gian, nàng yên trí mình sắp được giải thoát...
Bỗng nàng cảm thấy bên cánh trái của mình vang lên ầm dữ dội, hình như có vật gì nặng nhọc rớt xuống vậy, nàng ngửi thấy mùi bụi, tiếng gió tạt ngang người mình. Nàng bất giác khẽ hé mắt nhìn lén. Ơ! Quái lạ! Con mãnh hổ to bằng con bò này sao tự dưng nằm chết lăn quay nơi đây thế này! Nó chết thật rồi sao? Nhưng nàng tức khắc tìm được câu trả lời ngay, vì trán của con mãnh hổ bị một vật nhỏ sáng nhoáng găm ngay trên ấy, máu chảy lênh láng cả vũng!
Ngay trong lúc nàng còn kinh ngạc sự kiện xảy ra trước mắt ấy, thình lình toàn thân người bị quắp bay bổng lên, chớp mắt đã hạ thân một nơi trống trải ngoài khu rừng.
Đông Phương Đình chỉ thấy một thiếu nữ tuyệt đẹp đứng trước mắt mình, toàn thân một màu trắng xóa, tà áo thỉnh thoảng bị gió thổi phất phơ trông không khác nào một tiên nữ. Đông Phương Đình nhận ra ngay, chính là thiếu nữ mặc áo tang mà mình đã gặp hôm trước mà suýt bị con tuấn mã của nàng tông phải.
Sắc mặt thiếu nữ như đầy vẻ u oán cất tiếng hỏi rằng:
- Thượng Quan Linh đâu rồi?
Đúng mà! Nàng này là tình nhân của Thượng Quan Linh công tử, nên mới có vẻ lo lắng như thế, Đông Phương Đình nghĩ xong bèn vội vàng nói:
- Anh ấy đã lên trên tuyệt đỉnh để nhảy xuống hồ Đại Ngũ Trì tự tử, cô...
Không chờ cho nàng Đông Phương Đình nói hết câu thiếu nữ đã biến sắc mặt, đưa tay quắp ngay nàng Đông Phương Đình tung mình lướt ngay lên đỉnh phong, chỉ thấy nàng thoăn thoắt khác hẳn lối bò lết cực nhọc của mình nhiều quá! Chẳng mấy chốc, ngang nhiên đã lên đến trên tuyệt lãnh của Phòng Sơn, quả nhiên trên này có năm hồ mà gọi là Đại Ngũ Trì, cả năm đều xếp thành một hình vuông, mỗi diện tích của mặt hồ có trên mười trượng vuông, mặt hồ lăn tăn và phát hào quang.
Cảnh sắc hoang vu và... hoang vu... không thấy một vật gì của Thượng Quan Linh để lại! Chỉ thấy thiếu nữ đưa tay ôm mặt gào khóc và lớn tiếng gọi:
- Anh Linh! Anh Linh ơi! . . . Anh ơi ! . . . Sao nỡ bỏ em Liễu Mi của anh vậy?
Nàng càng gào khóc, không một tiếng âm vang nào cả!
Đông Phương Đình mặt nhòa lệ nói:
- Thượng Quan công tử bị trúng độc thương, và ngày mai là hạn sống sót chót của công tử, may được tỉ tỉ giúp tôi lên trên tuyệt lãnh này, nhưng trần gian này không còn gì để tôi luyến tiếc yêu đời, xin chào tỉ tỉ! - Nói xong nàng lao mình xuống hồ!
Nhưng thiếu nữ tự xưng là Liễu Mi nhanh hơn Đông Phương Đình, chỉ thấy nàng đưa ngay cánh tay ngọc của mình cản lại, nàng Đông Phương cảm thấy như một lan can sắt chặn ngang thân của mình vậy, khiến nàng không sao lao mình qua được!
Thiếu nữ áo trắng thảm đạm rằng:
- Sao cô lại có ý quyên sinh vậy?
Đông Phương Đình bèn vắn tắt kể lể tên họ và sự quen biết với Thượng Quan Linh, đồng thời cho biết tuy còn người anh ruột, nhưng chân trời góc biển rộng bao la như thế, biết đâu mà tìm. Nay thân gái bơ vơ, dặm trường lại đầy hiểm nguy, xem ra tìm ngay cái chết phủi sạch nỗi khổ cho yên phận!
Thiếu nữ áo trắng rằng:
- Đình cô nương! Xin cô đừng thương tâm như thế làm gì, Thượng Quan Linh công tử vốn là... bạn tốt với tôi, tôi họ Liễu tên Mi, vậy anh ấy không nói lại gì với cô sao?
Nàng Đông Phương Đình thấy Liễu Mi đã thay đổi hẳn thái độ với mình! Quả nhiên mình đã đoán trúng, Liễu Mi chính là người yêu của Thượng Quan Linh, nàng bèn lắc đầu rằng:
- Mấy ngày nay, Thượng Quan công tử trầm mặc ít nói năng lắm, và công tử không hề nói gì đến cô cả!
Nhưng thấy nét mặt Liễu Mi buồn thảm thêm, nàng vội giải thích hộ Thượng Quan Linh rằng:
- Chắc Thượng Quan Linh công tử biết về độc thương của mình vô phương cứu, nên anh ấy muốn tìm một cái chết âm thầm, và không muốn cho cô hay vì ngại cô đau khổ cũng nên!
Liễu Mi cũng nghĩ đến điểm này, và nàng đã thông cảm ngay nỗi lòng của người yêu, nàng cảm thấy bi thương đau khổ.
Chỉ trong chớp mắt, tất cả những nét anh phong của nàng đã biến hết, nàng ngồi phờ người ra bên cạnh hồ, trong đầu óc nàng lúc này hiện ra tất cả những cảnh nhớ nhung: chàng anh tuấn, dũng cảm, lịch thiệp, thành thật và tính tình chính trực, đúng là mẫu người tri kỷ lý tưởng nhất của mình... những nét nghi biểu, võ công, ăn nói và sự nhiệt tâm của chàng đã ghi sâu vào trong đáy lòng của Liễu Mi. Ngoài Thượng Quan Linh ra, nàng không còn có biết những chàng trai nào dưới trần gian này nữa, bây giờ nàng cũng tự biết là nàng đã yêu và đã quá yêu chàng Thượng Quan Linh rồi...
Rồi thình lình tai họa xảy đến, chỉ nội trong một đêm, Thượng Quan Linh đã bị địch thủ hạ độc, đến khi Liễu Mi tìm ra được tung tích chàng và ngấm ngầm theo dõi thì lại phát giác chàng đang cùng đi xe với một thiếu nữ xinh đẹp khác, cơn ghen nàng nổi lên ngấm ngầm, cố ý không lộ diện, để theo dõi xem sự thể phát xảy ra sao? Khi Thượng Quan Linh kịch đấu với Xích Diệm đại sư, Liễu Mi đã nấp lên trên cây và ngầm ra tay trợ giúp chàng lúc lâm nguy, và nàng cũng rút đi ngay trong lúc đó.
Đến sau, nàng phát giác họ đi về phía chân núi Phòng Sơn, không biết họ đến một nơi hoang vắng đó làm gì? Hấp tấp lại theo lén. Kết quả đã chậm mất một bước, cỗ xe trống nằm ngang lề đường, hai người không biết đã biến vào đâu? Và tình cờ nàng kịp cứu Đông Phương Đình trong nanh vuốt của mãnh hổ, và biết nguy cơ đang hiện trên tuyệt lãnh, vội vàng lên cứu, nhưng rút cuộc vẫn bị chậm, và trong năm hồ nước quái dị này, không hiểu chàng Thượng Quan Linh đã nhảy vào hồ nào?!
Liễu Mi lúc này chỉ cảm thấy bao nhiêu hy vọng và mộng đẹp trong tâm hồn đã biến tan... nàng thất vọng, bi ai và trở thành người trì độn ngớ ngẩn...
Trong lúc này, nàng Đông Phương Đình quên bẵng ngay ý nghĩ tìm đến cái chết để tự giải thoát cho mình, nàng đứng ngạc nhiên nhìn Liễu Mi, chỉ cảm thấy vị tỉ tỉ này thật là tuyệt sắc giai nhân, võ công không những tinh tuyệt, mà lại còn đa tình đa cảm, nếu để nàng ta quẫn trí tự tử vì tình chẳng uổng lắm sao?
Đông Phương Đình nhè nhẹ đưa tay nắm vạt áo của Liễu Mi để như phòng hờ mọi biến cố bất ngờ có thể xảy ra...
Liễu Mi bỗng cất tiếng ngâm rằng:
- Đản giáo tâm tựa kim điền kiến. Thiên thượng nhân gian hội tương kiến!
Hai câu này vốn là danh cú trong Trường Hận Ca của Bạch Lạc Thiên, tả sự yêu nhau của một đôi tình nhân bất di bất dịch, dù có sự tử biệt cũng không bị cách trở bao lâu, thế nào cũng có ngày hội ngộ, không trần gian thì cũng trên thiên đình!
Trên đời quí nhất là sự yêu đương trung thành, nếu đã thực sự yêu nhau, vấn đề sinh ly tử biệt không thành vấn đề! Ra nàng Liễu Mi đã thấu triệt hai câu thơ trên, Đông Phương Đình cũng mừng thầm hộ cho nàng.
Nhưng từ nay cuộc đời của nàng sẽ đi về đâu?... Nàng cũng không trả lời được.
Liễu Mi bỗng từ từ đứng dậy và nói với Đông Phương Đình rằng:
- Đình cô nương, chúng ta đi thôi! Lời nói của anh Linh không bao giờ bị thất tín được, những chuyện gì của anh ấy chưa hoàn thành, tôi phải thay thế anh ấy để tiếp tục trọng trách, tôi phải giúp cô đoàn tụ với anh ruột của cô, như thế mới hoàn thành lời tín nghĩa của anh Linh, khiến anh ấy có thể an tâm nhắm mắt dưới chín suối... Và tôi càng phải tìm cho ra kẻ thù của anh ấy để giết tế vong hồn của anh Linh!
Đông Phương Đình ngại ngùng nói:
- Nhưng, trời đã tối như thế này!... Thưa chị, chúng mình làm cách nào mà xuống núi đây?
Liễu Mi ngửng đầu nhìn bầu trời, quả nhiên tối om, tiếng gió và mãnh thú thỉnh thoảng vang lên, tăng thêm cảnh thê lương và âm u khắp xung quanh, Liễu Mi lại khôi phục ngay lại hiên ngang của mình, nàng đưa mắt nhìn xuống núi, nghiễm nhiên rằng:
- Không có gì khó đối với tôi! - Nhưng nàng nhìn thấy Đông Phương Đình đang như e ngại, bèn ôn tồn nói tiếp: - Đình muội muội! Em chớ có sợ! Tỉ tỉ sẽ lo bảo hộ cho em được an toàn.
Đông Phương Đình cảm thấy Liễu Mi bỗng thay đổi thái độ gọi mình bằng muội muội như thế, trong lòng cảm thấy sung sướng vô ngần, bất giác thốt lên rằng:
- Chị Liễu Mi, chị thật tử tế với em quá!... - Nàng sung sướng không còn nói gì thêm được nữa!
Liễu Mi mỉm cười nói:
- Bây giờ em hãy nhắm mắt lại nhé, chị sẽ đưa em xuống núi!
Đông Phương Đình y theo lời nhắm mắt lại, nàng cảm thấy Liễu Mi đang ôm bổng mình và hình như đang tung mình phi thân xuống núi, hai bên chỉ nghe thấy tiếng gió vù vù .
Đêm đó hai nàng đành ngủ lại trong cỗ xe lừa, sau khi đốt lên một đống lửa và săn vài con thú rừng nướng chín tạm chống cơn đói.
Nhưng tâm thần Liễu Mi rối như tơ vò, tuy biết Thượng Quan Linh bị trúng Phủ Chưởng Hàn độc công, nhưng lại không biết chàng gặp nhân vật nào trong võ lâm? Còn Hầu Hạo nay ở đâu cũng chẳng rõ? Suốt đêm nàng thao thức trằn trọc.
Nhưng nàng đã tìm ra nhiệm vụ ngay trước mắt: một là phải tìm cho ra nhân vật đã dùng Phủ Chưởng Hàn độc công để trả thù cho Thượng Quan Linh, nàng cũng biết rằng những loại âm độc chưởng như thế, trên giang hồ này không có mấy tay luyện được, chỉ cần âm thầm điều tra, thế nào cũng tìm ra kẻ thù! Thứ hai: đưa nàng Đông Phương Đình đi gặp Hầu Hạo, tuy không biết Hầu Hạo ở phương nào, nhưng thế nào anh cũng đến tìm chị em Châu Thị tại Mặc Phụ Sơn, nơi cư ngụ của Đoạn trường nhân Độc chỉ Thôi Bác, mình có thể đưa nàng Đông Phương Đình đến đó thử thời vận, dù cho không gặp được cũng còn biết sơ tin tức của Hầu Hạo. Thứ ba: trong thời gian Thượng Quan Linh còn sống, việc chàng để tâm nhất là làm sao trả thù cho các bạn thân và sư phụ, mà lão bà bịt mặt mà mình nhận thấy hình như là thủ phạm trong vụ này, tuy mình không biết danh tánh và lai lịch của người này, nhưng cẩn thận điều tra thế nào cũng rõ đầu đuôi của nó! Ba việc này tuy là những việc hết sức khó khăn nhưng nàng Liễu Mi sẽ cố sức tìm cách để giải quyết từng vụ, vì nàng đã quyết tâm nhất định như thế, còn về chuyện sau khi giải quyết xong những việc này, đời nàng đi đâu về đâu, chính nàng cũng chưa biết được tâm trạng của mình! Cũng có lẽ nàng sẽ tìm về cõi u minh để gặp người yêu duy nhất của mình! Và cũng có thể nàng sẽ thí phát thành ni cô để sống một đời thanh tâm nơi cửa Phật, nghĩa rằng nàng muốn rằng mình càng giải thoát được tâm hồn u buồn càng sớm chừng nào hay chừng nấy. Nhưng trước mắt hiện nay, còn ba nhiệm vụ đang chờ đợi nàng hoàn thành, và nàng đã quyết định đến Mặc Phụ Sơn để tìm Độc chỉ Thôi Bác.
Bàn tán kỹ với Đông Phương Đình, sáng hôm sau hai người nhắm hướng Nam khởi trình. Để tránh tai mắt thiên hạ dòm ngó Liễu Mi đã cải dạng thành trai để làm huynh muội với Đông Phương Đình, đôi huynh muội giả dạng này cứ thế dong ruổi suốt trong lộ trình về hướng Nam. Thời tiết đã vào trung tuần tháng bảy, khí hậu cũng trở nên mát dịu.
Một hôm, hai người đến gần thị trấn Chung Tường, Liễu Mi cho xe ngừng lại, dặn Đông Phương Đình hãy chờ trong xe, còn mình sẽ vào thị trấn mua ít vật dụng cần thiết.
Nhưng đến khi nàng quay về bất giác trong lòng kinh khủng! Nhìn thấy một đám tăng lữ, tay cầm thiền trượng và giới đao, đang vây quanh chiếc xe lừa và có mấy tên đang lo lôi kéo Đông Phương Đình từ trên xe xuống và đang chực bắt nàng đi, nhưng nàng Đông Phương Đình đang cố chống lại bằng cách túm, ghì, lết sát dưới đất để có kéo dài thời gian chờ cho Liễu Mi về kịp giải cứu.
Liễu Mi cố ho khan một tiếng lớn, ung dung cử bước lại gần đám tăng lữ, mặt tươi cười rằng:
- Chư vị đây đều là người xuất gia, mà đã là người xuất gia thì phải thanh tâm hỏa dục chứ? Tại sao ngang nhiên níu kéo vị cô nương này giữa đường giữa lối như thế, chắc chư vị cần quyên tiền cúng hương hỏa sao?... Dù có muốn kết chút thiện duyên bố thí của người ta, cũng đâu có trò cướp ép ngang như vậy? Lạ thật! Lạ thật! - Vừa nói, nàng vừa quăng những vật dụng trên tay mình vào cỗ xe lừa bằng cách quăng ngang qua đầu đám hòa thượng.
Đám tăng lữ ngạc nhiên, thấy một người ăn mặc nho sinh thanh nhã và đẹp trai như thế, nhất là thân hình lại nhỏ bé yếu ớt, đâu thèm để ý cho lắm, có tiếng đã quát lớn:
- Lải nhải muốn can thiệp vào những chuyện chính đáng của bọn ta hả? Khôn hồn thì cút mau ra! Không lại tự rước họa vào thân bây giờ!
Liễu Mi đưa tay gạt nhẹ, hai ác tăng khụy mạnh gối quỳ thụp ngay xuống đất đến cụp!
Liễu Mi vờ cuống lên rằng:
- Ấy chết chửa! Nhị vị đại sư sao lại hành đại lễ với tiểu sinh như thế? Bộ muốn cho tiểu sinh phải tổn thọ đấy sao? Thôi vậy, chắc nhị vị đại sư đã lâu không được chút thiện duyên nên đói quá tay chân bủn rủn chăng? Vậy sẵn tiểu sinh còn hai đồng tiền đây, mong nhị vị hãy nhận đỡ lại đằng kia mua chút bánh tạm dùng cái đã! - Nói xong nàng quả nhiên lấy ra hai đồng tiền, đưa ra cho hai tên ác tăng.
Hai ác tăng đâu có thể chịu nổi nỗi làm nhục đó, hét lên một tiếng đứng dậy, chia nhanh ra tả hữu đưa tay chụp sang phía Liễu Mi.
Liễu Mi xòe ngay đôi bàn tay có đồng tiền trên bàn tay chưởng cười nói rằng:
- Ấy ấy! Chớ có giành giựt như thế, phần ai người ấy lấy chứ?
Tiếng nói vừa dứt thì hai tiếng Pắc! Pắc! nổi lên rõ ràng, thì ra hai ác tăng, mỗi người bị một cái tát nên thân trên má. Liễu Mi cười khúc khích nói:
- Có duyên lúm đồng tiền như thế mà cũng đi tu! Hoài của!... Hoài của!...
Hai ác tăng bị tát tóe đom đóm, vừa đau vừa thẹn lại càng nổi điên, cả hai đang tính nhảy xổ lại trả thù, nhưng thình lình có tiếng tuyên Phật hiệu xong cất lớn tiếng rằng:
- Kính xin nữ bồ tát hãy khoan động thủ! Hai ngươi hãy lui ra mau!
 
0
Hồi 050. Tiếng Đàn Thúc Chí
[/align]

Trong đám tăng lữ, thấy một vị tăng già bước ra, tay cầm phất trần, chấp chưởng đưa lên ngực rằng:
Nữ bồ tát võ công siêu tuyệt, dám hỏi quí tánh đại danh, xuất thân danh sư nào, và có quan hệ thế nào với thiếu nữ trong xe này?
Liễu Mi không ngờ vị tăng già này lại biết mình giả trai, trong bụng thất kinh, nhưng nàng cũng hỏi ngược lại ngay:
- Dám hỏi hòa thượng từ đâu đến? Cớ sao lại chận đường huynh muội chúng tôi như thế?
Vị tăng già mắt lộ vẻ kinh ngạc và ý lên một tiếng bụng nghĩ thầm: Lại anh con bé nữa? Sao nó lắm anh thế không biết!? Nhưng cũng vẫn chấp chưởng rằng:
- Bần tăng đây là Pháp Không trên Cửu Thiên Tự, và là bạn quen với bào huynh của thiếu nữ đây, và chính chàng ta đã nhờ bần tăng lại đây đón cô em này về để tương hội với nhau!
Ra người này là Pháp Không đại sư trên Cửu Thiên Tự, nàng từng nghe Thượng Quan. Linh nói là họ đã từng dùng Bách hoa hương trà để ép Hầu Hạo xuống tóc làm tăng lữ, về sau nàng lại gặp cùng với Hải Không đón cướp nàng Đông Phương Đình trong khu rừng mà Xích Diệm đã chết, nay không ngờ lại gặp họ nơi đây.
Liễu Mi nghĩ bụng: Lão hòa thượng nói là đưa Đông Phương Đình đi gặp bào huynh, không lý người ấy lại là Hầu Hạo sao? Không biết lại âm mưu mờ ám gì đây?
Nghĩ xong Liễu Mi ngang nhiên tươi tỉnh rằng:
- Vậy đại sư biết bào huynh của nàng là ai không mà nói vậy?
Pháp Không đại sư rằng:
- Bần tăng rõ chuyện này lắm! Sự thật nàng thiếu nữ đây đâu phải họ Đông Phương, chính bào huynh của nàng họ Hầu tên Hạo kia mà!
Đông Phương Đình ngạc nhiên vội hỏi:
- Thế anh tôi hiện ở đâu?
Pháp Không lắc đầu rằng:
- Xin thông cảm cho bần tăng không thể trả lời câu hỏi này, nhưng nữ thí chủ có thể theo bần đạo đến đó, thế nào cũng sẽ gặp được lệnh huynh ngay!
Liễu Mi đảo nhanh mắt, đã đoán được phần nào trong này, rất có thể Hầu Hạo lại bị họ bắt cũng nên, tình cờ mình lại khéo gặp như thế, vậy thế nào cũng hỏi cho ra manh mối mới được. Nàng bèn quát mắng rằng:
- Này Pháp Không! Nhà ngươi giấu Hầu Hạo ở đâu? Mau nói thật ngay!
Pháp Không thấy đối phương vô lễ, sa sầm nét mặt rằng:
- Hầu thí chủ đã xuất gia đầu cửa Phật tại chùa Cửu Thiên Tự của chúng tôi, và được huynh tôi Hải Không đặt cho một pháp danh là Trí Minh, nhưng tiếc thay Trí Minh đạo tâm còn chưa kiên trì, nên đã trốn đi và được Xích Diệm sư huynh tái thí phát đưa về thiền tự...
Liễu Mi nghe đến đây nàng đoán ngay chắc có lẽ Hầu Hạo cùng đi với chị em Song Điệp họ Châu lên Mặc Phụ Sơn cầu cứu Độc chỉ Thôi Bác nên đã bị nhóm tăng lữ này bắt đây!
Bèn hấp tấp hỏi tiếp ngay:
- Vậy các người chỉ bắt mỗi Hầu Hạo?
Pháp Không đại sư rằng:
- Đúng vậy, Trí Minh sư điệt cùng đi với hai vị nữ thí chủ, nhưng Cửu Thiên Tự chỉ cần mỗi mình Trí Minh sư điệt mà thôi, nên không kinh động đến hai vị nữ thí chủ đó!
Đông Phương Đình bỗng lên tiếng:
- Vậy thế anh tôi hiện nay còn ở đằng Cửu Thiên Tự chứ?
Liễu Mi sực nhớ trong chuyến về Kinh Sơn với Thượng Quan Linh kỳ trước, đã tạt ngang và ghé vào Cửu Thiên Tự, nhưng chùa đã vắng tanh không người, và cả hai người đã phát giác con chim ưng to lớn chết và bấu chặt móng chân trên cành cây trong sân chùa, rõ ràng trong chùa đã lo áp giải Hầu Hạo đi một nơi khác. Nay Đông Phương Đình chợt nhiên hỏi đến, Pháp Không lắc đầu rằng:
- Khổ nỗi Trí Minh sư điệt vẫn còn ma chướng ám ảnh tâm hồn, giữa đường chúng tôi đưa Trí Minh về Cửu Thiên Tự, Trí Minh lại trốn thoát.
Đông Phương Đình lo lắng cho bào huynh, hỏi cuống lên rằng:
- Thế sau các ngài có tìm ra anh tôi được nữa không?
Pháp Không đáp rằng:
- Sau chúng tôi tìm lại y, và chính y đã nhờ chúng tôi lại đây rước nữ thí chủ!
Lời nói của Pháp Không, hình như hoàn toàn thành thật lắm, Đông Phương Đình đưa mắt nhìn Liễu Mi như trưng cầu ý kiến có nên theo người hòa thượng này hay không!
Liễu Mi bỗng nhiên lại hỏi rằng:
- Này Pháp Không, ta thừa biết sự xuất gia của Hầu Hạo hoàn toàn do các ngươi đã cố tình bắt ép người ta như vậy làm gì?
Pháp Không không vui, cây phất trần trên tay phất lên đến vù một cái rằng:
- Nữ thí chủ có gì mà lấy làm lạ! Chẳng qua tư chất của huynh muội họ quả bất phàm, đúng là mẫu người nên độ hóa để vào cửa Phật, việc làm này chẳng qua là một việc thành tâm hành thiện của chúng tôi, vậy đâu có thể bảo là chúng tôi cố bắt ép đâu?
Liễu Mi cười nhạt rằng:
- Hừ! Các ngươi đã phái người ta theo đuổi, cho người ra tay giết chết Song kiếm thư sinh Đông Phương Kiệt để tính bắt cô gái này, may mà có người kịp thời giải cứu, rồi ngươi và Hải Không cùng Xích Diệm đại sư truy đuổi theo nữa, kết quả lại không đánh nổi người ta, và Xích Diệm cũng bị hồn qui âm phủ, những hành vi cướp bóc của lũ ngươi như thế, trước mặt ta còn muốn chối cãi nữa sao?
Pháp Không đại sư nghe thấy vậy thất kinh biến sắc vụt nhanh cây phất trần, nhảy lui ngay hai bước quát rằng:
- Ngươi là ai? Nói mau!
Liễu Mi liếc nhanh mắt, chủ ý đã định ngay, chỉ nghe nàng nói:
- Nhà ngươi bây giờ cũng chưa cần phải biết danh lánh của ta vội, và ta bây giờ bằng lòng đưa nàng thiếu nữ đây cùng đi gặp người bào huynh của cô ta. Vậy chúng ta lên đường cho rồi!
Pháp Không sa sầm nét mặt xuống rằng:
- Ngươi không thể nào cùng đi như thế!
Liễu Mi cười rằng:
- Sao? Không muốn cho ta cùng đi?... Nhưng ta cứ thích như thế thì sao? Liệu có cần phải giở trò tỉ thí với nhau không?
Pháp Không nghe nói vậy, liếc mắt nhìn nhanh về phía mình, thấy có cả thảy là tám tăng lữ, bụng nghĩ: một nữ lưu như nàng, có hung dữ cũng chẳng đi đến thế giới nào, bèn gật đầu rằng:
- Hay lắm! Vậy chúng ta nên lựa một nơi nào đó thích hợp!
Liễu Mi đã tính sẵn trong lòng, phải khiến cho Pháp Không đại sư này phục mình mới mong biết chuyện Hầu Hạo ở đâu mới được!
Cả đoàn người âm thầm tìm ngay đến một nơi hoang vắng. Chỉ thấy Liễu Mi tay không nói rằng:
- Sao, đại hòa thượng, một mình nhà ngươi hay toàn đám một lượt?
Pháp Không đại sư bị nàng chọc tức bèn lên tiếng:
- Một mình bần tăng xin hầu nữ thí chủ vài ngọn đủ rồi!
Liễu Mi rằng:
- Tôi xin nói rõ, nếu tôi bị thua lẽ đương nhiên không nói làm gì, các người cứ việc đem theo thiếu nữ này đi, tôi tuyệt nhiên không can dự vào việc này. Nhưng nếu hòa thượng lỡ bị thất thủ, phải lập tức cho tôi biết tin Hầu Hạo hiện ở đâu?
Pháp Không bỗng biến sắc mặt:
- Không! Không! Tôi không nhận lời giao hẹn này của nữ thí chủ như thế! Nếu chẳng may tôi bị bại về tay nữ thí chủ, tôi sẽ lập tức tự vẫn ngay, và nữ thí chủ cũng đừng mong khai thác nơi tôi một tin tức gì về Trí Minh sư điệt (tức Hầu Hạo).
Liễu Mi giận trong lòng lắm! Soạt một tiếng, nàng rút ngay kiếm bên mình ra, từ từ đưa tới. Pháp Không đại sư nghiêng ngay ngọn phất trần, thình lình Liễu Mi vào đòn nhanh như rắn vọt, một làn bạch quang chớp nhanh sang hòa thượng!
Pháp Không cũng vội vung nhanh ngọn phất trần, vù một tiếng quất dính ngay ngọn kiếm của đối phương. Liễu Mi cảm thấy thanh kiếm hơi bị rung rinh, nhưng chỉ trong nháy mắt lại vững thế ngay, nàng ngầm chân lực vào tay kiếm, thình lình bật ngay phất trần của đối phương. Chỉ thấy Pháp Không hòa thượng kinh ngạc ý lên một tiếng, rồi tức khắc, né tránh ngay sang một phía.
Liễu Mi nhận ngay đối phương không phải là tay đối thủ của mình, nàng không do dự gì, dùng ngay thế Tạc mộc tầm hỏa (bửa gỗ tìm lửa), đường kiếm vừa nhẹ vừa nhanh, không khác gì một cầu vồng trắng xóa đang tiến nhanh sang thân của Pháp Không đại sư.
Pháp Không đại sư vội vàng thích ngay ngọn phất trần của mình lên để lo giữ thân, nhưng kiếm quang của Liễu Mi đã nhoáng lên chỉ nghe đến tinh một tiếng, ngọn phất trần của Pháp Không đã bị ngọn kiếm nàng hất bay tít lên không!
Pháp Không hòa thượng lúc này hai bàn tay không, vừa tính nhảy nhanh ra khỏi vòng chiến, bỗng mũi kiếm lành lạnh của Liễu Mi đã dí ngay vào trước ngực hòa thượng! Liễu Mi đã dùng lực thích nhẹ một cái chiếc áo cà sa đã rách và ứa máu tươi ra.
Đám tăng lữ hét lên một tiếng, thiền trượng, giới đao bổ vây tua tủa về hướng Liễu Mi.
Nhưng tất cả những tác động này của họ, đã được Liễu Mi dự đoán từ trước, chỉ thấy thân hình nàng nhoáng lên một cái, đã nghiễm nhiên đứng ngay phía sau Pháp Không, và ngọn trường kiếm vẫn được dí sát sau lưng hòa thượng, tiếng nàng lanh lảnh quát:
- Tên nào dám nhúc nhích! Ta lập tức xóa ngay mạng Pháp Không đây rồi đến lượt các ngươi sau!
Tiếng quát này quả nhiên sinh ra hiệu lực, các tăng lữ bị bắt bí đành ngừng tay đứng trân ngó Liễu Mi.
Không biết nàng Liễu Mi đã làm gì vị hòa thượng, nhưng chỉ thấy Pháp Không đại sư chúi hẳn người tới trước và tiếng nàng Liễu Mi rằng:
- Này Pháp Không? Ta sẽ không giết ngươi, nhưng với điều kiện là phải cho ta biết ngay Hầu Hạo ở đâu?
Nhưng Pháp Không đại sư không thèm trả lời, mà lại buông lời chửi mắng thậm tệ, nhưng trong chớp mắt, toàn thân vị hòa thượng cảm thấy bị bủn rủn hẳn.
Pháp Không biết mình không chịu nói thế nào cũng bị hành hạ khổ sở, bèn cắn đứt lưỡi tự tử luôn.
Thế là cảnh hỗn loạn của đám tăng lữ nổi lên như ong vỡ tổ cũng có mấy tên khôn khéo nhảy phắt lên xe cướp nàng Đông Phương Đình, tính bắt chẹt lại Liễu Mi. nhưng Liễu Mi đã hét lên một tiếng bung vọt lên xe, làn kiếm múa tỏa ra một đường hoa đẹp mắt. Tội nghiệp cho đám tăng lữ trên xe, nào họ đâu phải là đối thủ của nàng, tiếng rú hét thảm thương vang lên, cả đám bị thương té hết xuống xe. Những tên tăng lữ khác thấy vậy biết ngay không phải địch thủ, hấp tấp quay thân bỏ chạy!
Liễu Mi quát vang lên một tiếng:
- Đứng hết lại!
Nhưng nào có tên nào dám đứng lại? Thình lình trước mặt đám tăng lữ cảm thấy một thiếu nữ tay giơ kiếm đang cản ngang đường, nhìn kỹ ra là Liễu Mi, không biết nàng đã dùng thân pháp gì mà nhanh kinh khủng đến thế?
Cả đám tăng lữ vội quì thụp xuống lạy như tế sao để van xin tha mạng. Liễu Mi giơ kiếm quát hỏi về tin tức của Hầu Hạo! Đám tăng lừ đều nhao nhao trả lời là không biết về chuyện này họ chỉ thuật lại sau khi Xích Diệm đại sư chết. Hải Không và Pháp Không đã chia đôi số người tiếp tục mở cuộc bắt lén, nhưng không ngờ Pháp Không được gặp tại đây. Còn về chuyện Hầu Hạo, ngoại trừ Pháp Không ra, thật không còn ai hay biết, nhưng nay Pháp Không đã chết!
Liễu Mi quan sát thái độ và sắc mặt họ, biết không tên nào dám nói láo, bèn ra lệnh cho cả đám lo nhặt xác Pháp Không và những tên bị thương rời ngay đi! sau cuộc kịch chiến, tuy đã thắng, nhưng vẫn không chút tin tức gì về số phận của Hầu Hạo, trong lòng Liễu Mi bất giác buồn rầu, nhưng nàng lại cùng với Đông Phương Đình tiếp tục lên đường tiến về hướng Nam. Trong cuộc lộ trình, nàng Liễu Mi nghĩ đến vụ Hầu Hạo bị đám tăng lữ của chùa Cửu Thiên Tự bắt đi tại miền giao giới của Tương Ngạc, như vậy chàng ta còn chưa đến Mặc Phụ Sơn. Còn hai chị em nàng Châu Thị không biết ra sao? Vậy thế nào mình cũng phải đến Mặc Phụ Sơn một chuyến mới được. Nghĩ vậy nàng bèn bàn tính với nàng Đông Phương Đình, không thay đổi lộ trình.
Dòng dã suốt mấy ngày đường, xe họ đã đến biên giới Tương Ngạc .
Hôm ấy, trên con đường quan lộ thảnh thơi, bỗng thấy hai kỵ mã xuất hiện phía ngược chiều, một nam một nữ, nam ăn mặc theo lối nho sĩ tuấn mã, nữ độ ngoài đôi mươi, tư dung tuyệt thế. Chính hai người này không xa lạ gì, người đàn ông chính là một trong những nhân vật Càn Khôn Ngũ Tuyệt là Nam bút Gia Cát Dật, còn thiếu nữ chính là nàng Hạ Quyên mà mình đã quen trong Phi Các ma cung trên Vô ảnh Phong! Liễu Mi mừng như bắt được châu báu trên trời rơi xuống, lớn tiếng gọi:
- Chị Hạ Quyên ơi! . . . - âm thanh chứa đựng những âm điệu tủi mừng.
Hạ Quyên và Gia Cát Dật kinh ngạc chăm chú nhìn, một chập Hạ Quyên tinh mắt hơn, nhận ra thư sinh đẹp trai trước mặt đây chính là Liễu Mi cải trang, nàng mừng reo lên rằng:
- Kìa em Liễu Mi! Trời... chị nhớ em muốn chết...
Liễu Mi chạy sang ôm chầm ngay vào lòng Hạ Quyên buông tiếng khóc òa lên!
Gia Cát Dật ngạc nhiên, vén ngay màn xe lừa ra xem, thì ra một thiếu nữ tuyệt sắc, mặt cũng đầm đìa lệ.
Bao nhiêu những nỗi đau khổ ứ đọng trong lòng Liễu Mi, giờ nàng mới có cơ hội tuôn trút ra một lúc, thôi thì trận khóc của nàng lúc này không khác nàng Mạnh Khuông nữ khóc sập Trường Thành. Đông Phương Đình trong xe bị tiếng khóc của Liễu Mi gây xúc cảm, nàng cũng chẳng biết hai người lạ này là ai, cũng buông tiếng khóc lớn. May trên quãng đường này vắng người qua lại, Gia Cát Dật đứng xoa tay băn khoăn, trong lòng nghi ngay có chuyện gì chẳng lành đây vì con bé Liễu Mi này xưa nay tinh khôn và háo thắng lắm, chuyến này nàng khóc thảm thiết như vậy, thế nào cũng có lý do. Nhất là lại vắng mặt Thượng Quan Linh ở đây. Gia Cát Dật càng nghi và cuống rối trong bụng, bèn hấp tấp hỏi ngay rằng:
- Liễu cô nương! Thế còn Thượng Quan Linh đâu?
Không ngờ câu hỏi ấy càng khiến cho Liễu Mi thương cảm buông tiếng khóc lớn thêm.
Hạ Quyên cố vuốt ve an ủi rằng:
- Nín đi em Liễu Mi! Có gì uất ức cứ nói rõ chị hay, chóng ngoan, nín đi em, em bị uất ức gì nào, nói đi chị sẽ can thiệp cho...
Nàng Hạ Quyên quên mình đến sức trói gà còn không chặt, mà Liễu Mi lại là một con gái của nhân vật lừng danh trong giang hồ là Thanh Thông Hội, nếu có ai ức hiếp được nàng, đâu phải là Hạ Quyên có sức đứng ra can thiệp. Nhưng vì nàng mến thích Liễu Mi, coi như người em gái của mình, nàng cố dỗ rằng:
- Liễu Mi em! Đừng khóc nữa, có chuyện gì cứ nói chị nghe đi!
Nhưng tiếng khóc của hai cô gái vẫn liên miên không dứt. Hạ Quyên bèn nói với Gia Cát Dật rằng:
- Tiên sinh thử khuyên cô bé trong xe và hỏi xem đầu đuôi sự thể ra sao? Nói xong nàng ôm chặt ngay thân hình Liễu Mi vào lòng rằng: Em chị cứ việc khóc đi! Khóc cho đã cơn rồi nói cho chị hay nhé!...
Gia Cát Dật qua khuyên Đông Phương Đình, và nàng cũng nức nở kể rõ mọi chuyện đã xảy ra.
Sau khi nghe biết ái đồ Thượng Quan Linh bị trúng thủ chưởng hàn độc thương, chỉ sống được trong bảy ngày, và ái đồ đã tìm lên Đại Ngũ Trì để gieo mình quyên sinh. Hèn gì con bé Liễu Mi khóc thảm thương đến thế! Tin này không khác gì như một tiếng sét dữ dội đánh ngang tai, Gia Cát Dật lúc này như si như ngốc, đứng thững thờ và ủ rũ như gà bị ướt lông!
Tâm trạng bốn người trong lúc này, duy có nàng Hạ Quyên còn bình tĩnh, hôm cùng trốn chạy với Liễu Mi tại trong cung điện Phi Các tiên cung, nàng từng thấy mặt ái đồ của Gia Cát Dật là Thượng Quan Linh, lúc ấy chỉ biết chàng là một thiếu niên hiên ngang anh tuấn, võ công tinh tuyệt, nàng cũng mừng thay cho Liễu Mi đã tìm được một ý trung nhân lý tưởng như thế, không ngờ nay tin hung dữ truyền đến, vị thiếu niên anh hùng ấy đã rời khỏi trần thế, từ nay âm dương cách trở! Thảo nào không bảo Liễu Mi khóc thống thiết như thế cho được!
Liễu Mi đã khóc khan tiếng, Đông Phương Đình đã cố khuyên giữ sức khỏe để còn tìm cơ hội lo báo thù.
Gia Cát Dật buồn bã từ từ ngồi ngay xuống đất, cởi ngay cây đàn Bát long ngân trên vai xuống đưa tay gẩy. Trong nháy mắt, những tiếng thảm đạm ai oán đã vang lên, trong cảnh mùa thu của tháng bảy, âm thanh buồn tẻ ấy lại càng thê lương vô ngần!
Liễu Mi, Đông Phương Đình, Hạ Quyên, cả ba nàng lúc này bị âm thanh của Bát long ngân thu hút, họ chăm chú lắng nghe và tiếng khóc ngừng hẳn.
Nhưng trong tiếng đàn của Gia Cát Dật, họ nghe thấy những điệu bi thương nhớ tiếc của tình thầy trò, những âm thanh luyến tiếc liên miên bất tuyệt...
Thình lình tiếng đàn biến chuyển sang thế khí phách hiên ngang, oai phong hùng dũng, như thúc giục lòng người nên triệt để vững lòng tin để tiến tới đích! Liễu Mi lập tức thông cảm ý đàn, nàng quyết ý đi tìm kẻ thù để thanh toán, có như thế mới là bản năng của người anh hùng, khóc là biểu lộ sự tuyệt vọng, mà chẳng giải quyết được việc gì!
Dứt tiếng đàn, Gia Cát Dật đứng dậy sang nắm ngay tay Liễu Mi khẩn khoản rằng:
- Liễu cô nương, cô đừng buồn rầu như thế làm gì nữa! Mối thù của Linh đồ, không thể nào không trả, chúng ta bây giờ nên thu xếp lên đường ngay, dù cho chân trời góc biển nào, cũng tìm cho ra người có độc công Phủ Chưởng Hàn để phanh thây kẻ thù mới hả dạ được!
Bốn người tính toán, nên sắp xếp công việc trước mắt ra sao.
Gia Cát Dật bèn rằng:
- Tôi với Hạ cô nương vừa từ Vô ảnh Phong trốn thoát ra, nhưng nghe đâu rằng gần đây những nhân vật trong giang hồ rầm rộ kéo nhau về tập trung ở miền Nhữ Nam, nghe đâu là họ đang tìm một nhân vật rất trọng yếu, và cũng nghe tin phong thanh rằng cây Tiểu Đoạt Hồn Kỳ mà lệnh tôn đã quản giữ ấy, lại khiến cho đám nhân vật trong giang hồ để mắt dòm ngó và có ý tước đoạt! Tôi e rằng đại sư huynh của tôi thế nào cũng mở cuộc xuôi về miền Hà Nam, một nơi mà đang chuẩn bị tề tựu các lộ anh hùng bốn phương như thế, thế nào chả có những chuyện náo nhiệt tưng bừng, chúng mình đến thử đó xem có gặp được chút ít may mắn gì không, tin chắc rằng vị lão bà bịt mặt bí mật, và cả đến kẻ đã dùng độc công giết hại Linh đồ. thế nào chả mò đến đấy mua vui? Chuyến đi của chúng mình đến đó, cũng chưa biết chừng bắt gặp họ tại đó cũng nên! Còn về tin tức của sư điệt Hầu Hạo theo ý tôi nay nhiều nhân vật giang hồ tập trung tại miền Nhữ Nam, như thế chúng mình có thể dò tin tức của sư điệt Hầu Hạo tiện lợi hơn!
Ba nàng đều đồng ý tán thành ý kiến của Gia Cát Dật, chiếc xe lừa được quay ngược lại tiến thẳng về hướng Bắc.
Hạ Quyên và Đông Phương Đình cùng ngồi trong xe, Liễu Mi vẫn giả trai, và thay phiên nhau với Gia Cát Dật để cầm cương xe. Trên quãng lộ trình, những lúc nhàn rảnh, nàng bèn hỏi đến chuyện của chị Hạ Quyên làm cách nào mà trốn thoát khỏi Vô ảnh Phong.
Lẽ đương nhiên Liễu Mi đã hỏi chuyện này trong xe, mà lúc Gia Cát Dật lo cầm cương bên ngoài. Hạ Quyên bị Liễu Mi hỏi, đôi má bất giác ửng hồng như hai cánh hoa đào tươi! Nhưng nàng cũng kể cho Liễu Mi biết về câu chuyện đã xảy ra.
Thì ra trong lúc Gia Cát Dật lo giao đấu với Độc Ma, may ngờ đại đệ tử của Ma Cung là Đinh Tàn ngầm trợ một chưởng, tuy đã thắng, nhưng cũng không tránh khỏi bị thương, cho đến khi cố gượng để thoát thân thì lại được Đinh Tàn ngầm trợ lực đưa vào một nơi bí mật để trị thương, và chính do Hạ Quyên phụ trách công việc săn sóc. Dần dà thương thế của Gia Cát Dật khỏi hẳn, và cũng từ đó, bầu không khí trong Phi Các ma cung rối ren tưng bừng?
Vì Đinh Hãm đã biết Hạ Quyên có ý trốn, bèn tâu ngay cho sư tôn là chủ nhân Ma Cung hay, và chủ trương trừng phạt nghiêm khắc, tính đoạt hẳn Hạ Quyên trong tay sư huynh để hiến cho Độc Ma, và chỉ trong ba ngày, sẽ đem ngay nàng Hạ Quyên ra làm lễ trinh nữ tế thần, sau khi mổ bụng moi gan và hoàn tất các cuộc đại lễ tế Ma thần, xác nàng sẽ được quăng ra ngoài hang để làm bảng chỉ lộ bằng xương người. Độc Ma bèn giao toàn quyền cho Đinh Hãm chỉ huy vụ này, thế là Đinh Hãm lại ngay đại sư huynh để lấy người, nhưng Đinh Tàn không chịu giao.
Công lực của Đinh Tàn, có thể nói là đứng số một số hai trong Ma Cung, không thua kém gì Độc Ma, lẽ đương nhiên là hơn hẳn ba người sư đệ quá nhiều, vì thế Đinh Hãm không dám giở hỗn, nhưng hắn cũng nhận ra là Gia Cát Dật sau khi bị thương, khó mà thoát khỏi Phi Các ma cung. Nhưng sao mãi mà vẫn chưa hề phát giác địch thủ? Thế nào cũng đã có người ngầm dung túng, mà người đáng nghi hơn hết là Đại sư huynh, nhưng không lý Đại sư huynh lại dám cả gan đi phạm một tội lớn lao là khi sư phản bang? Bèn đem chuyện này tâu lại với thầy ngay, và Độc Ma cũng đâm nghi ngờ, và lập tức hạ lệnh cho khám xét hết trong Ma Cung.
Đinh Tàn sau khi biết rõ tin này, bèn lập tức cho Gia Cát Dật hay, nhưng các lối thoát đã bị phong tỏa hết, Độc Ma đã thân hành đốc thúc ba đồ đệ cao thủ của mình: Đinh Hãm, Đinh Hủy, Đinh Phá cùng nhau mở cuộc lùng soát, xem ra tính mạng Gia Cát Dật khó lòng mà tránh thoát. Đinh Tàn tuy đã có lòng mến yêu Hạ Quyên, nhưng về thực lực thì bị cô thế hoàn toàn, không biết tính bằng cách nào để cứu nguy tình trạng!
Trong khi đó thì cuộc đại lùng soát các nơi bí mật trong Ma Cung đang tiến hành gắt gao. Hết đường tính, Đinh Tàn đã nghĩ ngay đến nước liều là: cùng chung số phận với hai người, nếu tình thế bí quá đành mở đường huyết lộ liều chết đánh giải vòng vây luôn.
Nhưng Gia Cát Dật đã cố khuyên Đinh Tàn chớ nên tính quẩn như thế vội, đang lúc bàn tính chưa dứt khoát ấy thì đại đội nhân mã của Độc Ma đã kéo tới rầm rộ, Gia Cát Dật vội đẩy ngay Đinh Tàn vào trong phòng thạch thất, chuẩn bị đơn thân ứng chiến. Ba tên cao túc của độc Ma là Đinh Hãm, Đinh Hủy, Đinh Phá đã mở trận chiến vây ngay Gia Cát Dật. Đang cơn nguy cấp kịch độ ấy, bỗng một con chim ưng to lớn là là bay nhanh xuống, trông thần dạng nó vô cùng dũng mãnh, cuộc chiến thay đổi hẳn lại, thành chim và người, lạ cái là chim ưng chỉ lo đánh với Tam hung họ Đinh mà thôi. Tam hung hình như cảm thấy khó cự nổi với chim ưng! Ma Cung chủ nhân từ trên sàng kiệu hình như đã nhận được ra lai lịch của chim ưng lớn này, vội vàng ra lệnh cho ba đồ đệ lui nhanh ngay, thế là đám đệ tử trong Ma Cung vội vàng rút lui sạch hết.
Lúc này chim ưng bay là ngay xuống trước mặt Gia Cát Dật và ngồi phịch ngay xuống, Gia Cát Dật tinh ý biết ngay, vội vàng kéo ngay Hạ Quyên và mạo hiểm leo ngay lên lưng chim ưng. Chim ưng lập tức tung mình bay bổng, đưa hai người rời ngay khỏi nơi ma huyệt.
Chim ưng như nghe được tiếng người, vì nó biết lắc đầu và gật đầu để trả lời những câu hỏi của Gia Cát Dật. Dần dà hai người biết loại chim thần này là do một vị kỳ nhân cái thế nào phái đến để cứu ái đồ mình là Thượng Quan Linh và Liễu Mi, bèn cho biết họ đã thoát nạn từ lâu. Chim nghe xong liền xà nhanh xuống mặt đất và dùng cánh hất hai người xuống, rồi nó kêu lên một tiếng lớn cất cánh bay bung lên mây nhắm về hướng Tây Nam bay đi.
Địa điểm của hai người đứng chính là cửa núi Cửu Lãnh Sơn và Gia Cát Dật cũng nhận ra những ám hiệu để lại của Hầu Hạo cho biết chàng đã cùng chị em châu Thị đi Mặc Phụ Sơn để cầu cứu, vậy thì con thần ưng này chắc là của vị cao nhân Độc chỉ Thôi Bác đây, chỉ nội xem con thần ưng oai phong giỏi võ như thế thì đủ biết công lực của chủ nhân nó chắc còn giỏi đến bực nào!
Gia Cát Dật lại nhớ đến ái đồ của mình, vội vàng cùng Hạ Quyên từ Tương Dương khởi trình vào tỉnh Ngạc (từ Hồ Nam đi Hồ Bắc), nhưng dọc đường, Hạ Quyên lại bị cơn bệnh cảm, nên thời gian bị chậm mất mấy ngày.
Trong tất cả những cử chỉ và ý tứ của Hạ Quyên và Gia Cát Dật, đã không làm sao tránh khỏi đôi mắt tinh ranh của nàng Liễu Mi, vì nàng đã nhận thấy những cái bất bình thường của hai người, Liễu Mi không khỏi mừng thầm cho số phận của Hạ Quyên là đã có nơi ký thác tâm hồn, nhưng nàng càng nhận rõ về điểm này bao nhiêu, thì nàng càng cảm thấy số phận mình bạc bẽo bấy nhiêu. Nhưng nàng Hạ Quyên đã tự cho mình có bổn phận của một người chị, cố an ủi hai tâm hồn của hai thiếu nữ, cỗ xe lừa vẫn chở bốn người nhắm về hướng Bắc để tiến tới Nhữ Nam.
Khi trời đã vào đầu mùa tháng tám, khí hậu mát và có vẻ lạnh, Liễu Mi vẫn ăn mặc theo lối nam nhi, Hạ Quyên và Đông Phương Đình vẫn nằm trong xe lừa, và chiếc xe của họ đã lăn bánh vào địa giới của Nhữ Nam.
Hôm đó, chiếc xe của họ vẫn còn thong dong trên quan lộ. Bỗng mọi người nghe đằng xa có tiếng binh khí va chạm như có cuộc giao tranh, khi Liễu Mi định thần nhìn kỹ, thấy đôi bên giao tranh tại một khoảng đất vắng vẻ, mỗi bên có đến mươi người, và hai người đang giao tranh đều là hai thiếu niên, họ đều dùng kiếm hết, Liễu Mi tinh mắt, nàng nhận ra một người là con trai của Bắc kiếm Phổ Côn tức Phổ Kiên, còn người kia là Hương phủ Phích lịch nhị lang Sở Canh, là một Hương chủ trong Thanh Thông Bang hội của cha mình: Sở Canh vẫn đánh theo tật cũ, bửa chém bừa bãi, vì thế dễ nhận ra ngay là chàng, lúc này chỉ thấy Phổ Kiên bị Sở Canh đánh cho rối loạn chân tay, nguy cơ hiện khắp xung quanh, hình như phía của con trai Bắc Kiếm đã không còn cao thủ nào hơn Phổ Kiên, nên chẳng có mống nào dám lên trợ sức. Phổ Kiên đành cắn chặt răng cố chống đỡ.
Nam bút Gia Cát Dật chỉ ngại Phổ Kiên nhận ra mình và chàng ta kêu mình ra trợ giúp, vì dù sao cũng là con của Bắc Kiếm, mình không giúp thì coi sao cho được, mà ra tay thì Gia Cát Dật không muốn tí nào, Gia Cát Dật hối thúc ngay Liễu Mi mau tránh đi cho yên. Liễu Mi bỗng nghĩ ngầm trong bụng: Sở Canh và Phổ Kiên đã có mặt tại đây, xem ra nhân mã của đôi bên Thanh Thông Bang và Bắc kiếm Phổ Côn cũng đã kéo nhau lại hết, thế nào chả có phụ thân mình trong này, không biết đôi bên ngoài sự tranh giành chiếc Tiểu Đoạt Hồn Kỳ ra còn âm mưu gì khác nữa không biết?
Gia Cát Dật không muốn để lộ tung tích mình trong lúc này, bèn lén đưa nhau vào thành, tìm ngay một khách sạn vắng vẻ, thu xếp cho Hạ Quyên và Đông Phương Đình xong xuôi, cùng với Liễu Mi nghỉ khỏe lấy sức rồi sẽ mở cuộc thám thính sau.
Cây Bát long ngân của Gia Cát Dật đã cất đi và hóa trang thành ông già, còn phần Liễu Mi cải trang thành một thư sinh, hai người cùng ra ngoài để dò la tin tức.
Nay tuy đã biết các tay anh hào trong giang hồ đều tề tựu hết tại Nhữ Nam, thế nào cũng có lý do gì, nhưng không biết ngoại trừ Thanh Thông Bang và Bắc kiếm Phổ Côn đã đến ra, còn những danh phái và nhân vật nào không biết?
Thành quách tại Nhữ Nam đây quả là lớn, hai người thả bước đi thong dong khắp nơi trong thành, một già một trẻ, trông không khác gì hai cha con, đến xế chiều thấy đói, hai người đưa nhau vào một cao lâu tìm một vị trí thoải mái để ăn uống, sau khi căn dặn xong, tiểu nhị vội đi lo ngay cho khách.
Trong ngôi cao lâu này quả thật là rộng rãi, những khách ăn uống ở đây áo quần chỉnh tề cử chỉ lễ độ, ngay cửa sổ ngó xuống, là một con sông lớn, trông khí khái và hùng vĩ khiến cho khách cảm thấy khoan thai vô ngần!
Bỗng có một khách dựa ngay thành cửa sổ, khẽ tiếng vịnh rằng:
- Sông sâu nước chảy về đâu?
Liễu Mi sau khi nghe âm thanh của người này, biết ngay là một người giỏi về nội công, bất giác đưa mắt chăm chăm nhìn sang, chỉ thấy người này ăn mặc theo lối văn nhân, tuổi ước ngũ tuần, da mặt ngăm đen, để bộ râu đen trước ngực, trông oai phong lẫm liệt.
Người nọ quay đầu, phát giác tia nhìn của Liễu Mi, bỗng mắt người văn nhân này sáng ngời hẳn lên.
Liễu Mi chột dạ, vội cúi nhanh đầu xuống, nhưng nàng vẫn nghe tiếng thở dài của người này. Tuy không biết nhân vật này là ai, nhưng cũng biết không phải tay tầm thường gì. Liễu Mi tính hỏi Gia Cát Dật, nhưng thấy ông ta cũng đang chăm chú nhìn sắc mặt u buồn, lắc đầu như ra ý cho Liễu Mi là đừng lên tiếng.
Tiểu nhị trong lúc này đã bưng cơm rượu ra, Liễu Mỉ tuy đang ăn uống, nhưng vẫn ngấm ngầm chú ý khách lạ nọ, chỉ thấy người ấy về bàn ngồi một mình, trên đầu chít khăn vuông, trên khăn vuông có đính một miếng ngọc, miếng ngọc sáng ngời hẳn, có thể trị giá đến vạn lạng vàng, thần sắc buồn buồn ngồi uống một mình. chẳng bao lâu, bỗng có hai thanh niên ăn vận theo lối tú sĩ, bước lên lầu và đến sát bàn ăn người khách chít khăn vuông khẽ tiếng bẩm nói gì không rõ.
Chỉ thấy người ấy lập tức đứng dậy, hai thanh niên nọ vội lo chia ra hai bên như lo hộ tống văn nhân chít khăn vuông xuống lầu, một người trong đó lấy ra lạng bạc thẩy ngay xuống bàn. Kiểu thẩy bạc hơi nặng tay, nên chỉ thấy nén bạc bị lõm ngay xuống mặt bàn. Sự biểu diễn thủ pháp này, ngoài sự chứng tỏ rộng rãi của mình, càng lộ ra những nét thô bạo hào phóng của kẻ giang hồ võ thượng, nhưng vô tình họ đã đánh rớt tất cả những vẻ hóa trang văn nhân nho sĩ của họ rồi!
Trong lúc các khách hàng trên cao lâu còn đang kinh ngạc với những cử chỉ thô bạo ấy, đằng này Gia Cát Dật nhẹ thích Liễu Mi đứng dậy ra phía cửa sổ ngó xuống, chỉ thấy dưới đường phố có một chiếc kiệu bịt bùng, trang hoàng vô cùng lộng lẫy, người văn nhân ấy sau khi bước lên kiệu, có sáu kỵ mã chia ra phía trước và phía sau, ai nấy y phục lộng lẫy chỉnh tề và toàn là thanh niên trai tráng lo áp theo kiệu.
Gia Cát Dật mỉm cười nói với Liễu Mi rằng:
- Tìm ra tên chủ chốt rồi! Chúng ta mau đuổi theo!
Hai người vội hấp tấp xuống lầu đuổi theo, chỉ thấy sáu kỵ mã và chiếc kiệu ấy thong dong chậm chạp, hai người theo dõi cũng không cảm thấy mệt gì.
Liễu Mi bèn lên tiếng hỏi rằng:
- Sư thúc! Những người này là ai vậy?
Thì ra Liễu Mi sống chung bấy lâu, đã quen miệng xưng hô với Gia Cát Dật bằng sư thúc.
Gia Cát Dật cười rằng:
- Bọn này chính là Điểm Thương Phái tại tỉnh Vân Nam, người ngồi trên kiệu ấy chính là vị tân nhiệm chưởng môn, tên là Hận thư sinh Hoàng Kha, còn sáu tên trai tráng kia chắc là loại đồ tôn đồ tử của y (vai con cháu)!
Liễu Mi ồ lên một tiếng, bây giờ nàng mới nhớ ra lão phụ mình từng nói, trong đương kim giang hồ ngày nay, quả có một nhân vật ăn mặc theo lối thư sinh và da mặt ngăm đen, võ công lại vô cùng quỉ dị, nhất là thiện dụng về ngọn binh khí song phi chảo (đôi móng có dây xích), và đặc biệt của loại binh khí này có thể dùng làm ám khí được. Nhưng tính tình u buồn và ít có nụ cười trên khuôn mặt, nên trên giang hồ đã tặng cho một biệt hiệu Hận Thư Sinh!
Không ngờ Điểm Thương Phái xa tít tại Vân Nam mà cũng đến Nhữ Nam; vậy thế nào cũng có chuyện ly kỳ sẽ xảy ra tại Nhữ Nam này. Gia Cát Dật và Liễu Mi vẫn lo theo dõi nhóm người đi trước, chẳng bao lâu ra khỏi cửa Bắc Nhữ Nam, bắt đầu vào một con đường vắng vẻ, và trời cũng bắt đầu tối dần, trong lòng hai ngươi lấy làm lạ.
Khi đến gần chân một ngọn núi, xa xa thấy đám đông đứng chờ, lửa đuốc sáng trưng, khi thấy nhóm người của Hận thư sinh Hoàng Kha đến nơi, đám người đứng chờ khua cao đuốc như để hoan nghênh. Gia Cát Dật bèn kéo Liễu Mi tung mình lên thân cây truyền hết cành này sang cành khác, đến sát chân núi nọ từ trên cây nhìn lén xuống.
Chỉ thấy một cảnh trạng náo nhiệt tưng bừng, có cả thảy trên hai chục người, nhưng chia thành ba nhóm, một là Bắc kiếm Phổ Côn và con trai Phổ Kiên cùng với mấy tay thủ hạ, cả nhóm sáu người, nhóm thứ hai là Thanh Thông Hội, cộng cả thảy bảy người, phụ thân của Liễu Mi và Phích lịch nhị lang Sở Canh đều có mặt trong này, còn một nhóm chót và số người đông hơn hết là trên mười người, toàn ăn vận theo lối nhà sư tăng, nhưng trên đầu lại búi tóc, trông phi tăng nhân mà cũng phi đạo sĩ, tay không cầm thiền trượng thì cũng phất trần. Liễu Mi nhìn kỹ, thấy có cả Hải Không hòa thượng của Cửu Thiên Tự trong số này.
Nhưng Hải Không đại sư xem ra không phải là người cầm đầu trong nhóm người này, mà người cầm đầu đây lại là một quái nhân kỳ dị, thân mặc áo nhà tăng, đầu để búi tó, trông tăng chẳng tăng đạo chẳng đạo, Liễu Mi nhận ra người này tên gọi Vân Cư Sĩ, tên thật không ai biết đến, danh tiếng cũng lừng lẫy trong giang hồ, tính tình khi chánh khi tà, nhưng bị thiên hạ phỉ báng nhiều hơn là tôn trọng.
Ba nhóm người này hình như đã chờ đợi tại đây khá lâu, khi thấy người chưởng môn của phái Điểm Thương đến, ba người cầm đầu của ba phái kia, mỗi người một thái độ khác nhau hoàn toàn, chỉ thấy Vân Cư Sĩ và Liễu bang chủ bước lên nghênh đón, còn Bắc kiếm Phổ Côn thì lạnh lùng hừ lên một tiếng bằng giọng mũi quay thân nhìn vu vơ chỗ khác. Trong ánh đuốc sáng trưng, chỉ thấy người chưởng môn phái Điểm Thương là Hận thư sinh Hoàng Kha đang tỏ vẻ không bằng lòng, vì dù sao mình cũng là một người chưởng môn phái hữu danh Điểm Thương, thế mà nay người ta đám ngang nhiên lạnh lùng với một thái độ với mình, rõ là cố tình làm mất mặt mình, nghĩ như thế bèn lạnh lùng rằng:
- Hừ! Nhóm người đứng bên kia là đệ tử của môn phái nào vậy! Thân hình cao lớn như thế, nên phái làm kẻ giữ cán cờ có lẽ tuyệt!
Bắc kiếm Phổ Côn đâu chịu nổi câu nói mỉa mai như thế, thình lình quay phắt ngay thân lại rằng:
- Này Hoàng Kha, nhà ngươi sủa bậy cái gì thế?
Hoàng Kha vờ thất kinh lên rằng:
- Trời ơi! Thì ra là Bắc kiếm phổ Côn trong Càn Khôn Ngũ Tuyệt đó sao! Xin lỗi! Xin lỗi! Vì trong đêm tối không nhận được rõ... nhưng nghe xưa nay Bắc kiếm Phổ Côn thường hay thu mình ở nơi thanh cao, ít lui tới với thiên hạ, nhưng không biết hôm nay có gì thúc giục ngài đến đây không biết?
Bắc kiếm Phổ Côn không nói gì, chỉ hừ một tiếng bằng giọng mũi, giơ tay phất lên một cái, một luồng sức mạnh nhắm ngay mặt của Hận thư sinh Hoàng Kha đánh tới.
Hoàng Kha đâu chịu thua, hai tay cũng phất ngay nội công của mình ra để chống trả. Chỉ nghe một tiếng bùng vang lên, cát bụi bay mịt mù, sau khi hai bên so nhau một chưởng, hiển hiện rõ Bắc kiếm Phổ Côn hơn hẳn một bực.
Thấy toàn thân Hận Thư Sinh loạng choạng hẳn, nhưng vốn cũng là một người chưởng môn của phái Điểm Thương, nên đã ráng thu hết toàn lực để đứng cho vững bộ khỏi bị ngã, dù cho vậy, nhưng cũng dư biết phần hơn kém của nhau rồi. Hận thư sinh Hoàng Kha cả giận, vội tung ngay vạt áo lên rút ngay ra một đôi binh khí sáng nhoáng!
Sau khi binh khí vừa hiện ra, mọi người nhận ngay ra là ngọn binh khí độc đáo nhất của Điểm Thương là Tam lăng truy phong trảo. Chỉ thấy tay Hận Thư Sinh đang cầm một trảo và dây xích, đang nghiêng tay tính phát ra.
Bắc kiếm Phổ Côn lạnh lùng rằng:
- À ra đây là đôi quỉ trảo của họ Hoàng nhà ngươi đó hả! Lão phu đang tính thỉnh giáo xem tuyệt kỹ của nó ở đâu?
Dứt lời đôi bên đã lăm le sẵn sàng ứng chiến, Thanh Thông Hội Liễu bang chủ và Vân Cư Sĩ vội nhảy vọt ra, đứng ngay giữa đôi bên, hấp tấp lên tiếng rằng:
- Xin nhị vị chớ nên nổi nóng vậy vô ích, phải nhớ rằng tí nữa đây còn có những nhân vật vô cùng lợi hại nữa đến kia mà, đến chừng đó, phải hoàn toàn trông hết vào sự đồng tâm nhất trí của chúng mình, bây giờ chớ nên làm mất hòa khí của nhau như vậy!
Liễu Mi nghe nói thất kinh trong lòng, cha mình với Bắc kiếm Phổ Côn vốn là kẻ thù địch về vụ Tiểu Đoạt Hồn Kỳ kia mà, sao đêm nay họ lại chịu hợp tác chung lưng với nhau như thế, thật là một chuyện lạ lùng khó tưởng tượng?
Lại nghe tiếng Vân Cư Sĩ rằng:
- Liễu lão gia và Bắc kiếm Phổ Côn nay đã hòa thuận hẳn rồi, vậy chúng tôi mong rằng Hận Thư Sinh chớ có nổi nóng mà để hỏng việc bây giờ, xin cất binh khí ngay đi cho!
Hận Thư Sinh tuy vẫn còn hậm hực, nhưng cũng cất luôn Tam lăng truy phong trảo, Bắc Kiếm thấy vậy cũng thôi, không lên tiếng nói thêm gì. Liễu bang chủ và Vân Cư Sĩ sau khi đứng ra giải hòa cho đôi bên, thế là một cuộc tranh chấp sắp bùng được dập tắt ngay, bốn đám người chia thành bốn nhóm khác nhau nghỉ ngơi gần ngay tại đó.
Bốn thủ lãnh ngồi ngay vòng trong, và đệ tử phái nào đứng ngay sau phái nấy, nghĩa là đứng sau người thủ lĩnh của mình, có người ngồi, cũng có kẻ đứng. Lúc này Hận thư sinh Hoàng Kha bỗng lên tiếng rằng:
- Tiểu sinh đến chậm mất một chút, nên không biết người mà quí vị muốn tìm ấy, đã được tin tức gì chưa?
Vân Cư Sĩ hình như là người đã đứng ra triệu tập cuộc hội này, nghe hỏi vậy bèn lên tiếng rằng:
- Chẳng giấu gì Hoàng huynh, người này bây giờ đã được chúng tôi điều tra ra manh mối, và chính nó đã ở gần nơi phụ cận này!
Hoàng Kha hững hờ rằng:
- Ồ! Thì hay quá! Dám hỏi người này hiện ở đâu?
Vân Cư Sĩ đưa mắt nhìn Liễu bang chủ và Bắc kiếm Phổ Côn rằng:
- Chuyện này... - Nói tới đây ngừng bặt luôn.
Bắc kiếm Phổ Côn từ từ lạnh lùng rằng:
- Xin quí vị chớ nói lăng nhăng làm gì cho mất ngày giờ, nay chúng mình đã đến đông đủ, nên thương lượng với nhau là nếu sau khi tìm gặp được người này, chúng ta nên đối xử ra sao?
Liễu bang chủ lên tiếng:
- Theo ngu ý của tại hạ, nếu sau khi tìm được người này, chúng ta nên giấu lén hắn vào một nơi nào cho thật kín đáo, cho người canh giữ cẩn thận, chừng ra loan tin ra, lo gì mà chánh chủ nhân của nó không ra mặt!
Vân Cư Sĩ phụ họa rằng:
- Ý kiến của Liêu bang chủ quả hay. Chúng ta dùng lối bắt người làm con tin này, dù cho đối phương bản lĩnh có cao cường đến đâu đi nữa, họ cũng đành bó tay với mưu chước của chúng mình!
Bắc kiếm Phổ Côn và Hận Thư Sinh cũng tỏ ý tán thành, tiếp theo là thảo luận đến sau khi tìm ra người, ai sẽ lãnh trách nhiệm cai quản và nên cho cầm giam tại đâu?
Bốn người ai nấy phát biểu ý kiến của mình, nhưng họ đều đồng ý là không nên di chuyển đi đâu xa xôi, tốt nhất là gần nơi phụ cận này thì hơn, và cần nhất là phải cho thêm đông người canh gác, dù với giá nào cũng phải giữ cho được con tin này để làm vật đánh đổi. Hận thư sinh Hoàng Kha nghĩ là Điểm Thương cách đây quá xa, việc bảo vệ thế nào cũng không liên quan đến mình, nên hắn đã quay sang ủng hộ cho Liễu bang chủ của Thanh Thông Hội.
Một tiếng ho khan lên rằng:
- Tôi xem trong bốn phái chúng ta đây, phái Điểm Thương ở quá xa nên không tiện, còn Vân Cư Sĩ và Bắc kiếm Phổ Côn lại không có một nơi cố định, vậy chỉ còn Thanh Thông Cốc của Liễu bang chủ là ổn thỏa hơn hết, người đông thế lại lớn, lại gần với địa điểm này...
Bang chủ Thanh Thông Liễu Khải cười ha hả rằng:
- Lời nói Hoàng huynh quả không sai, nhất là địa hình phức tạp trong Thanh Thông Cốc, kẻ nào tầm thường lọt vào trong ắt khó lòng mà thoát ra cho nổi, hơn nữa toàn bang chúng tôi đều ở nơi đây, chắc quyết không có chuyện gì quái lạ xảy ra đâu!
Nhưng Bắc kiếm Phổ Côn lên tiếng cãi ngay:
- Ai nói là ta không có chỗ giữ người lý tưởng, ta có ngôi miếu tại Lạc Thủy, phía dưới có xây cất đường ngầm và vô cùng kiên cố!
Liễu Mi nghe đến đây, sực nhớ vụ ở Hắc Hổ Miếu, thì ra ngôi miếu này có đường ngầm và cả mật thất hèn gì những người trong điện có thể biến đi hiện ra tự nhiên như vậy!
Hận Thư Sinh như vẫn còn chưa hả giận, lên tiếng phản đối ngay:
- Theo tôi, Thanh Thông Cốc vẫn là nơi an toàn hơn hết, huống hồ Liễu bang chủ người ta lại còn giữ cả Tiểu Đoạt Hồn Kỳ, dù cho người ấy có to gan đến đâu đi nữa, cũng chưa chắc đã dám ngang nhiên đến mạo phạm!
Bắc kiếm Phổ Côn khẽ hừ bằng giọng mũi, mỉa mai lại ngay:
- Có Tiểu Đoạt Hồn Kỳ thì làm chó gì ai, nếu không biết và đọc thông được những văn tự trên cây cờ nhỏ ấy, có khác gì với một chiếc thoa cài đầu thông thường đâu nào, e nếu không cẩn thận, chưa chừng bị người ta đoạt luôn cây cờ, chừng đó mới chưng hửng mà ngó nhau ? . . .
Liễu Khải bỗng nhảy đổng lên hét rằng:
- Này Bắc kiếm Phổ Côn! Ông khi người vừa vừa chứ! . . .
Bắc kiếm Phổ Côn lạnh lùng rằng:
- Sao? Kỳ trước sư đệ tôi đứng ra ngăn cản phá đám, nên cuộc chiến của hai thằng già chúng mình chưa được mở màn, vậy nếu có thích hôm nay thanh toán với nhau ở đây cho tiện?
Liễu Khải quát rằng:
- Muốn thế thì cứ việc ra tay, bộ tưởng lão phu sợ sao?
Đôi bên đã đi đến nước gay cấn tuyệt độ, Phổ Kiên và Sở Canh đứng ngay hết dậy để chuẩn bị kịch đấu cho phe mình, tình trạng căng thẳng xâm chiếm hết lòng người trong lúc này!
 
0
Hồi 051. Kiếm Rút Cung Giương
[/align]

Hận thư sinh Hoàng Kha vì ghét thái độ của Bắc Kiếm, nên đứng khoanh tay làm ngơ, trong bụng chỉ mong sao cho đôi bên choảng nhau cho hả dạ, còn hai người đang nấp là Gia Cát Dật và Liễu Mi hồi hộp vô kể, chỉ riêng mỗi mình Vân cư sĩ là cực nhọc hơn ai hết, hết chào bên này lại quay sang vái bên kia, tích cực khuyên giải, nhưng Bắc kiếm Phổ Côn và Liễu Khải vẫn nhiếc mắng nhau không nguôi, cả đôi bên đều tức đến nỗi mặt đỏ tai tía!
Hận Thư Sinh lúc này đứng cạnh lạnh lùng cười rằng:
- Này Vân Cư Sĩ lão huynh! Tội tình gì ngài phải mệt lòng khuyên can thế làm gì, Liễu lão gia người ta dù sao cũng là ông chủ của một bang phái lừng danh, đâu có thể nào để cho người khác khinh khi như thế được, vậy xin lão huynh cứ việc để yên cho lão gia người ta cho những kẻ hỗn láo một bài học cho đích đáng... Hơn nữa, tôi nhận thấy quá đông người cũng đâm rầy rà chuyện, nếu rút bớt thêm người đi, may ra lại còn dễ làm việc là khác!
Trong câu nói này chẳng qua chỉ muốn khuyên ngăn Vân Cư Sĩ hãy tọa sơn quan hổ đấu (ngồi trên đồi xem hai cọp tương tranh), diệt bớt được tên Bắc kiếm Phổ Côn đi cũng hay! Và tình hình như vậy thế nào cũng có lợi, nên Hận Thư Sinh muốn càng ít người tham gia vào vụ này càng hay, chỉ riêng Gia Cát Dật và Liễu Mi không hiểu họ ngấm ngầm tiến hành chuyện gì không biết!
Trong lúc này Gia Cát Dật và Liễu Mi chỉ biết là bốn phái này đang hợp mưu kế bắt một người, rồi dùng người này để nhử thêm một người khác nữa, hình như võ công của người bị nhử ấy cao cường lắm thì phải, không sao họ phải tính giấu kỹ lưỡng con tin để bắt chẹt đối phương phải phục tùng theo ý của họ. Nhưng không biết nhân vật sắp bị bắt đây là ai? Và cả người sẽ bị nhử ra mặt ấy là ai? Và nhất là mục đích chủ yếu của họ tính làm gì? Gia Cát Dật và Liễu Mi đành chịu, họ không đoán ra được một chi tiết mảy may nào cả, và trong suốt câu chuyện của họ không thấy đề cập đến những bí ẩn bên trong của vấn đề.
Chỉ thấy Vân Cư Sĩ xoa tay rối rít ra lệnh cho các tăng lữ do Hải Không dẫn đầu, giơ hết thiền trượng và phất trần chen ngay vào giữa đứng, để tránh cho hai phái khỏi xung đột.
Bắc kiếm Phổ Côn lạnh lùng:
- Vân Cư Sĩ! Ngươi có ý gì vậy? phải chăng muốn ép chúng tôi giao tranh với các người đây?
Vân Cư Sĩ vội lắc tay rằng:
- Xin Bắc kiếm Phổ Côn hãy nghe tôi nói, bốn phái chúng ta hợp tác với nhau, tuyệt không thể nào bớt đi được một phái nào, vì sắp sửa có đại kình địch đến ngay bây giờ đây. Nay chúng mình nổi loạn như thế này, chẳng là một cơ hội cho chúng nhân dịp ra tay trừ bớt lực lượng của cánh mình đó sao! Và một khi chúng mình bị yếu thế, quyết không phải là đối thủ của họ nữa!
Thấy lời nói nghiêm trọng như thế, cả đôi bên bất giác kinh ngạc, Hận thư sinh Hoàng Kha bất giác hỏi rằng:
- Thế Cư sĩ lão huynh vừa nói nhân vật kình địch ghê gớm nào sắp đến, kẻ đó là ai vậy?
Vân Cư Sĩ rằng:
- Nói ra thế nào các ngài cũng biết ngay sức lợi hại của người đó! Chúng tức là người trong Ma Cung trên Vô ảnh phong của Cửu Lãnh Sơn, và cả vị vương của Lãnh điện tỉ thủ!
Câu nói này vừa thoát ra, quả nhiên thu được hiệu quả ngay. Trong Phi Các ma cung trên Vô ảnh Phong, bốn tên cao đồ đệ của Độc Ma, và tăng thêm vị vương của Lãnh điện tỉ thủ, và một lão bà bịt mặt không biết tên, không ngờ những thanh danh này đã khiến cho kẻ kiêu ngạo như Bắc Kiếm và Bang chủ của Thanh Thông Hội kinh ngạc bất an. Thế là đôi bên xìu ngay hào khí, ai nấy ngồi ngay xuống vị trí của mình, không nói không rằng gì với nhau.
Vân Cư Sĩ lại lên tiếng:
- Ba ngài nên biết cho rằng: tại sao tôi phải mời ba ngài đến đây? Các ngài thử nghĩ, tôi biết rõ tung tích của người này ở đâu hẳn hoi, tại sao một mình tôi không ra tay, mà phải đi mời đến ba vị cùng ra tay chung sức như thế? Chẳng qua chỉ vì khi tôi lên đường đi Nhữ Nam, thì trên Vô ảnh Phong đã được tin tức, và họ không biết tung tích người kia ở đâu, nhưng lại biết người này liên quan đến việc trọng đại, chỉ có tôi là người tạm biết chút manh mối, và cũng biết chuyến đi Nhữ Nam này của tôi là vì chuyện này, và ngay sau đó Độc Ma phái người thông báo cho tôi biết, nói là sau khi tìm ra được người thiếu niên này, lập tức đưa ngay về Cửu Lãnh Sơn Vô ảnh Phong ngay, và Độc Ma sẽ có trọng tạ sau, còn nếu không, năm thầy trò của Phi Các tiên cung và kẻ nổi danh gần đây trong giang hồ là Lãnh Tỉ bang chủ, họ sẽ cấu kết với nhau để đối địch với tôi! Tôi nhận biết sức của mình không sao chống nổi họ, nên mới nghĩ đến mời ba phái các ngài để hợp tác! Vậy mong rằng chúng ta nên đoàn kết chung sức với nhau, tìm cho ra thiếu niên nọ, đồng thời còn phải lo sự phá rối của Độc Ma. Theo tôi nghĩ, sự săn tin của Độc Ma vô cùng bén nhọn, chưa biết chừng bây giờ y đã đến đây rồi cũng nên...
Sau câu nói này, khiến cho các người trong ba phái cảm thấy nơm nớp lo sợ, ai nấy đưa mắt ngó quanh quất!
Gia Cát Dật và Liễu Mi không dám động mạnh, nên may mắn không bị họ phát giác. Mọi người chỉ cảm thấy tứ bề u tịch, gió rờn rợn từng hồi, ánh đuốc chập chờn chiếu vào các thân cây càng tạo hẳn cảnh rùng rợn khắp xung quanh.
Liễu Khải quả không hổ danh là một phái tôn sư, chỉ thấy lão đột nhiên cười lên hào phóng rằng:
- Rõ thật Vân Cư Sĩ đa nghi quá, đâu có người nào đâu? Nếu quả họ đến, với sức lực của bốn phái chúng ta hợp nhau lại, lo gì không đánh cho chúng một trận tan tành không còn manh giáp dính thân?
Mọi người nghe xong lập tức khôi phục ngay lại tinh thần của mình, Hận thư sinh Hoàng Kha rằng:
- Chuyện này phải trách Vân Cư Sĩ hành sự không được cẩn mật, làm sao lại để đến nỗi tin tức lọt ra cho Độc Ma biết như thế?
Vân Cư Sĩ rằng:
- Chính thế! Vụ này quả thật do Cửu Thiên Tự chúng tôi đã làm lẫn lộn, trong lúc thiếu niên ấy từ miền Bắc xuôi Nam, chẳng bao lâu chúng tôi đã điều tra ra thân phận của hắn, bèn dùng kế lừa hắn vào tròng, đem nhốt tại Cửu Thiên Tự, và thông báo ngay cho Ma Cung trên Vô ảnh Phong, Độc Ma phái ngay Đinh Hãm và Đinh Phá đến, và một hôm, tôi không có mặt trong tự, thiếu niên ấy đã cùng một thiếu niên khác trốn đi khỏi Cửu Thiên Tự.
Liễu Mi cảm thấy câu chuyện này hình như đang ám chỉ đến việc Hầu Hạo.
Bỗng Bắc kiếm Phổ Côn lạnh lùng lên tiếng rằng:
- À ra ngài sợ địch không nổi đối phương, nên sau khi bắt được tên thiếu niên ấy đã lập tức báo ngay cho Độc Ma hay, như thế chứng tỏ ngươi đã hợp tác chặt chẽ với họ? Hèn gì người ta có quyền sai khiến ngươi phải giao con tin cho người ta! Hà! hà! Nhưng sao bây giờ ngươi lại bội phản người ta và quay lại hợp tác với chúng ta?
Vân Cư Sĩ ung dung giải thích rằng:
- Từ khi thiếu niên trốn thoát, phía Vô ảnh phong quả nhiên không bằng lòng, bắt Cửu Thiên Tự chúng tôi phải tìm nhanh cho ra, sau Xích Diệm đại sư đến cùng Pháp Không, Hải Không đuổi theo đến địa giới Tương Chương, thấy ngay thiếu niên cùng đi chung với hai thiếu nữ, hình như là đi Mặc Phụ Sơn, nếu hắn đến được Mặc Phụ Sơn thì khó lòng mà bắt được, nên đã ra tay bắt ngay giữa đường đem về, nhưng giữa dọc đường hắn lại tẩu thoát mất, và không biết tung tích hắn ở đâu, mà con chim ưng của Mặc Phụ Sơn bay đến cửu Thiên Tự tìm không ra thiếu niên nọ, nó đập phá tan tành chịu không nổi, may nhờ tôi đến kịp lúc, và lừa cho nó uống Bách hoa hương trà, nhờ vậy mới độc chết được nó. Tôi cũng thừa biết chim này bị chết , thế nào Mặc Phụ Sơn cũng không chịu cam lòng, và các tăng lữ ngay đêm đó lo rời Cửu Thiên Tự, và chia nhau ra các ngả đi tìm thiếu nữ. Sau tôi gặp lại người của Vô ảnh Phong là Đinh Hủy, Đinh Phá, và tả diện mạo của thiếu niên cho chúng tôi biết, mới hay xích Diệm đại sư bắt thiếu niên đó, thì ra tên thiếu niên nọ đã từng lên Cửu Lãnh Sơn và Vô ảnh Phong, nhưng vì anh em Đinh Hủy và Đinh Phá không biết nên mới để thiếu niên thoát. Sau thì tôi nói rô chuyện này, Đinh Hủy Và Đinh Phá vì cả tức lẫn thẹn, tính giết ngay tôi cho hả dạ, sau chúng lại hạ lệnh tho tôi đem tội chuộc công, phải mau mau tìm cho thiếu niên ấy rồi đưa ngay lên Vô ảnh Phong. Nên sau khi tôi biết rõ hành tung của thiếu niên, nghĩ hợp tác với chúng không ích lợi gì, nên mới quay sang hợp tác với quí vị...
Quả nhiên lời giải thích khiến cho mọi người cũng cảm thấy hơi hài lòng, và cả hai người đang nghe lén là Gia Cát Dật và Liễu Mi bắt đầu thất kinh trong bụng, rõ ràng người thiếu niên mà họ đang nói ấy chính là Hầu Hạo, và cũng chính là người mà hai người đang mong tìm gặp, nhưng không biết Vân Cư Sĩ nói là biết tung tích của thiếu niên, nhưng không nghe nói là ở đâu, chỉ nghe nói là gần đâu đây! Mọi người trầm lặng một lúc, bỗng Hận thư sinh Hoàng Kha rằng:
- Vậy Vân Cư Sĩ lão huynh còn gì thắc mắc và khó khăn nữa? Không thì chúng ta nên ra tay sớm cho rồi, nghĩa là chúng mình nên đem ngay thiếu niên ấy rời ngay đi, miễn cho cảnh đêm dài thường gặp mộng ác!
Liễu Khải rằng:
- Theo lao phu cũng nên mau mau ra tay cho rồi, không thì những tên hôi hám trên Vô ảnh Phong xuống quấy phiền, hoặc chúng phỗng mất tay trên thì hỏng chuyện hết.
Bắc kiếm Phổ Côn cũng tán thành rằng:
- Chúng ta cứ hành động ngay cho chắc chắn đi! Bắt ngay thằng nhỏ đi và do Vân Cư Sĩ dẫn đường!
Vân Cư Sĩ rằng:
- Khoan! Khoan! Xin quí vị hãy nghe lời giải thích khó khăn của tôi, chuyện này còn nhiều lôi thôi khó khăn lắm!
Ba người cùng ngạc nhiên ngó Vân Cư Sĩ, Bắc kiếm Phổ Côn lạnh lùng lên tiếng ngay:
- Sao? Bộ lại muốn múa rối trò gì chăng?
Vân Cư Sĩ rằng:
- Thằng nhỏ đó nghe đâu thần lực của nó dũng mãnh vô cùng, vì nghe trong Tứ hung của Vô ảnh Phong là Tam hung Đinh Hủy, trời sinh thần lực, nhưng thằng nhỏ này cũng không kém gì Đinh Hủy. Còn một chuyện lạ nữa là trong những ngọn tóc của hắn, chính lại là nguồn gốc của thần lực, nếu cạo hết tóc của nó, tất cả công lực của nó đều bị mất hết. Nên kỳ Xích Diệm đại sư bắt nó, trong lúc vô tình gọt mất tóc hắn nên mới bắt được, nhưng thằng nhỏ này cũng lắm cơ mưu, tuy hắn đã mất công lực, nhưng dọc đường hắn vẫn tìm đủ mọi cơ hội và rút cục lại tẩu thoát. Mãi đến bây giờ, theo tôi đoán, hắn đang trốn loanh quanh đâu trong núi này, và hình như hắn đang đột nhập chung vào với bọn khổ lực (cu li làm công), vì ngọn núi này vốn là một mỏ đồng lớn, công nhân trên mỏ gồm có đến năm sáu trăm người, và những công nhân này suốt ngày đêm đều làm trong mỏ, tóc tai tên nào cũng cụt ngắn, quần áo lem luốc. Tất cả gần như na ná giống nhau, nếu muốn tìm được thằng nhỏ ấy trong đám người khổ lực năm sáu trăm người này, đâu phải là chuyện dễ dàng gì?
Mọi người nghe nói, quả nhiên công việc khó khăn, bỗng Bắc kiếm Phổ Côn thốt ra một tiếng giết! Nhưng lập tức nghĩ ngay là thiếu niên cần phải bắt sống, mà giết hết đám khổ lực trong mỏ cũng không phải cách và chẳng bổ ích gì!
Mọi người bóp óc suy nghĩ, chưởng môn của phái Điểm Thương là Hận thư sinh Hoàng Kha, lại hiện ngay nét mặt buồn rầu đặc sắc của mình, luôn luôn thở dài!
Vân Cư Sĩ lại thêm lời rằng:
- Bây giờ chúng ta chỉ có mỗi một cách là giữ ngay lối ra vào của cửa mỏ, vì mỏ đồng này chỉ có mỗi một cửa ra vào duy nhất này mà thôi, có được thế, người của Độc Ma mới khỏi lọt vào trong, nhưng cũng phải phái ngay người tìm kế gì, vào trong bắt ngay thiếu niên ra! Như thế mới là thượng sách!
Thanh Thông bang chủ Liễu Khải khẽ vuốt râu lắc đầu tỏ ra không có ý nghĩa gì. Bắc kiếm Phổ Côn ngước đầu nhìn trời suy nghĩ, Hận Thư Sinh thở dài liên miên. Còn vị nấp trên cây là Gia Cát Dật và Liễu Mi đang nghĩ làm cách gì để tránh mắt mấy người này để vào trong mỏ tìm Hầu Hạo, hai người đều đoán được rằng, Hầu Hạo nay đã trốn trong mỏ, chắc thế nào cũng chờ đợi cơ hội đến để đào tẩu, đồng thời cho tóc mình mọc dài để khôi phục thần lực. Nếu hai người vào được trong mỏ, Hầu Hạo thế nào cũng ra tiếp kiến ngay, trái lại người khác vào, thế nào Hầu Hạo cũng lẻn vào trong đám đông khiến không ai phân biệt được đâu là thật với giả.
Thời gian đã quá nửa đêm, nhưng bốn thủ lãnh của bốn phái vẫn chưa nghĩ ra được một mưu kế gì, đám thủ hạ lo ngồi ngủ gật dưới đất!
Liễu Mi lúc này nhẹ tiếng nói nhỏ với Gia Cát Dật rằng:
- Thưa sư thúc, tiểu nữ phải xuống dưới đây, vậy phiền ngài ngấm ngầm lo trợ giúp cho tiểu nữ.
Gia Cát Dật chưa kịp ngăn cản hành động của nàng, Liễu Mi đã bay vèo xuống nhẹ như một tàu lá, gót sen chạm mặt đất không một tiếng động. Mọi người trước cửa núi thất kinh! Tưởng đâu người của Vô ảnh Phong đã đến, hồn bay phách lạc, tuốt ngay khí giới ra, và hấp tấp vây quanh lại! Đến khi biết rõ kẻ đến chỉ có mỗi một người, khi đó mọi người mới yên tâm, thấy kẻ đến không có kiệu sàng cũng không có quái trượng, rõ ràng đâu phải là Độc Ma hay lão bà bịt mặt bí mật! Ai nấy lại trở về trạng thái bình tĩnh của mình!
Bắc kiếm Phổ Côn lên tiếng rằng:
- Kiên con! Lại xem coi là ai?
Phổ Kiên tuân lời cha, vù một tiếng tung mình ra, rút ngay cây kiếm, nhoáng lên một đường ánh quang! Lên tiếng quát hỏi rằng:
- Kẻ đến là ai?
Phổ Kiên chưa dám lỗ mãng vội, chỉ thấy hắn đứng cách Liễu Mi có gần trượng, và đưa mắt nhìn đối phương!
Liễu Mi đã có kế trong bụng, nàng đưa tay lên giở ngay chiếc khăn vuông trên đầu xuống, đồng thời bật tiếng cười lên, một mái tóc óng mượt xõa ngay vai.
Nàng bước lên vài bước, ánh đuốc chiếu rõ khuôn mặt của họ, lúc này chàng Phổ Kiên gần như không tin nổi đôi mắt của mình đây lại là vị thiên kim tiểu thư tuyệt sắc gái giả trai như thế! Khi nhìn kỹ xong, cây kiếm từ từ buông ngay xuống đất, đổi giọng ôn hòa rằng:
- Dám hỏi cô nương... cô là ai vậy? Và đến đây có việc gì?
Liễu Mi lanh lảnh rằng:
- Tôi đến tìm phụ thân tôi!
Phổ Kiên lại hỏi:
- Lệnh tôn của cô nương là ai?
Liễu Mi bực mình:
- Mắc mớ gì đến nhà ngươi?
Phổ Kiên nghĩ bụng, rõ vô lý thật, con gái nhà ai đêm hôm lại đây đi tìm cha, hỏi còn không chịu nói, rõ kỳ dị thật. Chàng tính lên tiếng chất vấn thêm, nhưng thấy thiếu nữ bỗng lại bước gần lên vài bước, sắc mặt tuyệt đẹp của thiếu nữ khiến cho Phổ Kiên không dám nhìn thẳng vào nhãn tuyến của nàng.
Nhưng phổ Kiên cũng rạo rực trong tâm hồn không ít, nghĩ thầm trong bụng dưới vòm trời này sao có người đẹp đến thế kìa. Nhưng tiếc cái hơi đanh đá một tí, nhưng chàng chợt lạnh người khi nghĩ rằng không biết nàng là loài yêu tinh gì tu luyện lâu năm thành đạo, biết hóa thành gái đẹp đến chọc ghẹo người đây chăng? Nhưng chàng lơ là không lý, và lập tức sinh ngay hảo cảm với người đẹp, lúc này chàng chỉ chăm chăm nhìn đối phương, cây kiếm trên tay không làm sao nhấc lên nổi, thậm chí cả đến lớn tiếng quát hỏi cũng không nỡ. Lúc đó bốn thủ lãnh của bốn nhóm thấy con trai của Bắc Kiếm chưa về báo lệnh, ai nấy giương cổ ra nhìn.
Liễu Mi bỗng nhiên lớn tiếng gọi rằng:
- Cha ơi! Cha!... Cha ơi!...
Bên kia Liễu Khải, chủ bang Thanh Thông Hội nghe tiếng quen tai vội lên tiếng rằng:
- Liễu Mi! con cưng của cha đó ư? Sao con tới đây làm gì vậy? - Vừa nói vừa hấp tấp bước lại.
Liễu Mi thấy cha già bước lại, càng chạy lại ôm chầm vào người cha, liến thoắng nói rối rít rằng:
- Thưa cha, con vừa tính về nhà, nhưng khi tạt ngang đây, nghe có tiếng người lao nhao, mà trong này có tiếng nói của cha, nên con mới tìm đến - Nói tới đây nàng trở ngay giọng nũng nịu rằng: - Cha!... Cha đến đây làm gì vậy, sao không ở nhà với má con mà đến nơi rừng rú hoang vu này làm gì? . . .
Phổ Kiên đứng ngoài, chuyện này mới lạ lùng làm sao con gái đêm khuya chạy ra đây thế này, gặp cha mà lại còn hung hăng trách cha như thế, xem cô bé này vừa đẹp lại vừa làm nũng một cách đáng yêu thật! Trên giang hồ ai cũng nghe nói hai chị em sinh đôi của nhà họ Liễu cô chị lẳng lơ dâm tà, cô em đứng đắn chanh chua, nhưng chắc cô này là cô em đanh đá nổi tiếng trên giang hồ đây. Rõ đúng là nghe danh không bằng thấy mặt!
Phổ Kiên lúc này đã điên đảo vì sắc đẹp của Liễu Mi, chàng chỉ cảm thấy cô bé này không một chỗ nào là không đáng yêu, và chỗ nào cũng đáng thích cả...
Phải biết rằng bang chủ của Thanh Thông Hội vốn không có con trai, bình sinh nuông chiều hai cô con gái như hai viên ngọc quí trên tay, dù cho cô lớn tiếng xấu vang khắp trên giang hồ, chỉ dám nói thầm nói lén xấu sau lưng lão, đâu có ai dám nói trước mặt Liễu bang chủ là con gái lớn của lão tà dâm đâu! Lão mà nghe được lại không đuổi đến chân trời góc biển để giết cho bằng được mới thôi ấy à? Vì được cha nuông chiều quá, cô gái lớn càng được thể phóng túng tính tà dâm của mình!
Lúc này Liễu Khải thấy con gái út mình, không khác nào như đi trong đêm tối vừa bắt được hột dạ minh châu, lão ôm lấy con gái vào lòng cười ha hả, đối với những lời trách của con gái Liễu bang chủ chẳng để tâm làm gì, trái lại nghe càng khoái tai lắm!
Liễu Khải bảo:
- Thôi con gái hãy qua đây nghỉ ngơi với cha, trời lạnh coi chừng bị cảm đấy! - Nói xong bèn cởi luôn áo bào bên ngoài choàng lên thân Liễu Mi rồi đưa nàng đến cửa núi.
Thanh Thông bang chủ bèn giới thiệu con gái mình cho mọi người biết, và Liễu bang chủ không quên nhấn mạnh vào điểm: Đây là tiểu nữ thứ!, hình như lão cũng ngầm biết là hạnh kiểm của đứa con gái lớn mình không được đẹp cho lắm, nên sợ thiên hạ coi rẻ con gái út Liễu Mi của mình!
Đại danh của Liễu Mi đã vang khắp trên chốn giang hồ, nay được thấy sắc đẹp của nàng, dưới ánh đuốc như thế, một vẻ đẹp nghiêm trang, khiến ai ngó cũng phải mến thích ngay, và tất cả những người có mặt tại đây không ai lại không mến thích nàng!
Thuộc hạ của Bắc Kiếm là Tư Đồ Cống, từng nếm qua lợi hại của nàng Liễu Mi, uất hận vẫn còn trong lòng, nhưng trường hợp đây không tiện làm ngơ, đành cúi mình làm lễ ra mắt. Liễu Mi thấy vậy bật cười rằng:
- Ha ha! Vị sơn vương mất râu hôm nay cũng có mặt tại đây cơ à?
Khiến cho mặt Tư Đồ Cống đỏ bừng lên vì thẹn.
Thuộc hạ của Vân Cư Sĩ là Hải Không đại sư, Liễu Mi vốn không lạ gì người này, nhưng vì trong lúc nàng ra tay giết Xích Diệm đại sư quá nhanh nên khiến Hải Không đại sư không làm sao nhận ra. Lúc này Hải Không nhận không ra nàng, giờ đây bước ra làm lễ tương kiến, Liễu Mi trong bụng cười thầm: Nếu nhà ngươi biết được tin sư đệ của ngươi bị chết về tay ta, lại không ra tay đánh liều mạng với ta trong lúc này ấy à!
Chưởng môn của Điểm Thương Phái là Hận thư sinh Hoàng Kha, quả là người tinh đời, chợt nhìn đã nhận ngay Liễu Mi chính là người thư sinh đẹp trai mà hồi trưa đã gặp tại quán ăn cao lâu, chỉ nghe y lúc này cười nói rằng:
- Ồ! Liễu cô nương! Chính ban ngày chúng mình đã từng gặp nhau rồi? Vậy thế còn ông già đi chung với cô đâu rồi?
Liễu Mi thất kinh, nàng vội nói vu vơ cho qua chuyện, vì sẵn thông minh, nàng đối đáp trôi chảy đâu vào đấy lắm. Không hề để lại một nghi ngờ vu vơ gì cả.
Tính tình Bắc Kiếm tuy là người cổ quái khó lường, nhưng sau khi thấy Liễu Mi, cũng thích con bé tinh ranh này lắm. Tư Đồ Cống ghé tai nói nhỏ vụ phá đám ở Hắc Thần Miếu chính là con bé Liễu Mi đây, nhưng Bắc kiếm Phổ Côn chẳng để ý làm gì, bỏ hết những nét mặt lạnh lùng, miệng cười vui vẻ chăm nhìn Liễu Mi.
Dần dà, trời bắt đầu sáng tỏ, sức lạnh càng tăng dần, mọi người nổi lửa ngay cửa núi để sưởi ấm, Liễu Mi nằm co ro cạnh cha già sưởi ấm một chập, bỗng nàng lên tiếng rằng:
- Thưa cha, con muốn đi chơi xung quanh nơi đây một chút!
Thanh Thông bang chủ Liễu Khải e ngại lúc này đám người của Độc Ma đến, nếu con gái mình có chuyện gì bất trắc, đâu phải là chuyện chơi, nghĩ vậy vội ngăn cản rằng:
- Con ngoan của cha chớ có đi đâu lúc này! Hãy ngồi đây với cha, mai đây cha sẽ đưa con về nhà ngay!
Liễu Mi nằng nặc không chịu, đưa mắt nhìn mọi người như muốn nhờ họ xin phép cho mình!
Bắc kiếm Phổ Côn không biết tại sao lại đâm ra tội nghiệp cho Liễu Mi, cười rằng:
- Liễu cô nương có muốn chơi gần đây cũng không sao, nhưng chớ nên đi xa làm gì, Kiên con, con hãy lo bảo vệ Liễu cô nương đi chơi chút!
Chính lòng Phổ Kiên cũng chỉ chờ có câu nói này, nay nghe cha mình cho lệnh vậy, chàng mừng quýnh suýt nhảy cỡn lên, vội hấp tấp rằng:
- Thưa cha và Liễu bang chủ cứ yên tâm, con biết lo tròn phận sự!
Chàng nghĩ chuyến này cùng đi với người đẹp như thế mình càng phải tỏ lòng ân cần với nàng mới được! Phần thì Liễu Khải không nỡ làm phẫn ý Bắc Kiếm, nên cười rằng:
Thôi cũng được, con gái cưng của cha cứ đi chơi cho thảnh thơi, nhưng nhớ là chớ đi đâu xa, để ta cho thêm Sở Canh đi chung nữa cho yên dạ cha.
Phần Sở Canh thì không có ý nghĩ như Phổ Kiên, y vốn là người thô kệch nhưng rất trung trực, đầu óc chỉ nghĩ đến những quân địch trên Vô ảnh Phong đến thì nên ứng phó ra làm sao cho chắc ăn để bảo vệ thiếu bang chủ của mình cho được an toàn!
Phổ Kiên lẽ dĩ nhiên là trăm phần trăm không thích Sở Canh đi chung như thế, nhưng ác nỗi không có lý do gì để từ khước. Thế là Liễu Mi đi trước, hai chàng theo sau, dần dà họ đi hết con đường hẹp của khu núi, chẳng mấy chốc họ đã tiến gần đến khu mỏ đồng.
Liễu Mi cau mày, bước thêm vài bước, đưa tay ngoắc Sở Canh rằng:
- Sở đại ca. Anh qua đây, tôi có chuyện riêng muốn nói vôi anh!
Sở Canh lật đật chạy tới, Phổ Kiên đâm nghi trong lòng nhưng không tiện đến gần.
Liễu Mi ghé sát vào tai Sở Canh rằng:
- Này Sở đại ca, tên Phổ Kiên này mất dạy lắm!
Tôi muốn anh giết nó hộ tôi, xong rồi lôi xác nó vào trong đường hầm mỏ đồng nhé ! Tôi sẽ chờ anh trong đó!
Sở Canh xưa nay không một việc gì là không chiều theo ý của vị thiếu bang chủ nhan sắc tuyệt vời này, huống hồ nay chàng ta lại ghét sẵn Phổ Kiên trong lòng, nghe xong liền gật đầu lia lịa. Phổ Kiên trong bụng áy náy, nhất là khi nghe nàng gọi Sở đại ca! một cách vô cùng thân mật như thế, càng không vui chút nào. Mắt nhìn hai người thì thầm với nhau, không hiểu họ đang nói chuyện gì, cơn ghen vu vơ nổi lên ngấm ngầm trong bụng.
Bỗng thấy phích lịch nhị lang Sở Canh đứng sang một bên, Liễu Mi lại giơ tay ra ngoắc gọi:
- Này phổ đại ca! Mời anh lại đây, tôi có chuyện muốn bàn riêng với anh!
Tiếng phổ đại ca! thân mật như thế khiến cho Phổ Kiên mừng quýnh lên, chàng u mê chạy nhanh ngay lại, và cơn ghen ngấm ngầm đã tiêu tan như mây khói!
Liễu Mi bỗng khẽ tiếng rằng:
- Đứng sát lại đây cho người ta nói nhỏ nào!
Phổ Kiên y theo lời đứng sát lại người đẹp! Trống ngực chàng đã gần như muốn bể vì sự hồi hộp sung sướng!
Liễu Mi khẽ tiếng rằng:
- Anh có chịu giúp tôi một việc không?
Phổ Kiên vừa gật đầu vừa nói:
- Đừng nói một việc, dẫu là mười việc hay trăm việc tôi cũng sẵn sàng nghe theo lời cô nương, và tôi càng tin chắc là sẽ làm vừa lòng cô nương là khác!
Liễu Mi thấy phổ Kiên nói hiên ngang dũng mãnh như vậy, bèn đưa ngón tay ngọc của mình lên miệng khẽ suỵt như bảo chàng hãy nhẹ tiếng chút, và nàng ghé sát vào tai Phổ Kiên rằng:
- Sở Canh là người tôi ghét nhất, ở trong Thanh Thông Hội, hắn ta vẫn thường theo đuổi tôi hoài, với bộ mặt ngu đần ấy trông đã phát ghét ngay rồi.
Phổ Kiên bất giác mắng thành tiếng rằng:
- Quân ngu đần như thế mà cũng tính chiếm tim người ngọc? Hừ! Để nó cho tôi xử...
Liễu Mi lại rằng:
- Chính thế! Vừa rồi hắn nói với tôi là trông thấy chúng mình có vẻ thân mật với nhau, hắn trông gai mắt quá, nên có ý muốn rủ anh quyết đấu một phen cho bõ ghét cơ đấy?
Phổ Kiên lập tức nắm chặt ngay tay lại hầm hầm rằng:
- Thằng chết toi! Nó dám ngông cuồng thế sao?
Liễu Mi bật cười rằng:
- Theo tôi xem, thế nào nó cũng không thắng nổi anh đâu, trông tướng anh hùng, hiên ngang của anh, chỉ cần anh ra tay, tin chắc phần thắng sẽ thuộc về anh ngay!
Thực ra thì công lực của Phổ Kiên còn thua Sở Canh nhưng trước mặt người đẹp, đâu có lý do gì tỏ ra mình hèn yếu, trong bụng tuy không nắm chắc phần thắng, nhưng cũng đành tỏ ra mình là kẻ anh hùng trượng phu, nghe xong gật đầu lia lịa!
Liễu Mi cố hạ giọng cho thật thấp rồi thêm rằng:
- Em sẽ chờ anh nơi cửa mỏ trong kia, vậy anh cứ yên trí mà thắng hắn, nhớ là đừng nên kinh động đến cha em hay bất cứ ai bên ngoài, tốt nhất là kết liễu hắn càng sớm càng hay, và nhớ kéo xác hắn vào trong gặp em nhé! Anh đừng có ngại, chuyện này có em lo liệu với cha em, sẽ ổn thỏa hết!
Phổ Kiên ngẩn người, Liễu Mi bật cười, rồi nàng giơ tay vẫy với Sở Canh như chào tạm biệt, bỗng nàng tung mình vèo nhanh vào trong hầm mỏ đồng.
Phổ Kiên lúc này mê mẩn tinh thần, chàng không nghĩ đến ý nghĩ khác của Liễu Mi, chàng chỉ cho rằng nàng quả đang thích và mến mình, nên mới có ý bảo mình ra tay giết chết tình địch, rồi vào trong hầm mỏ gặp nàng. Chàng cũng thừa biết rằng tí nữa đây cha mình sẽ họp tất cả ba phái lại để tuyển người vào mỏ tìm người thiếu niên tóc ngắn, nếu mình muốn được việc, cần phải ra tay cho thật nhanh mới khỏi bị trở ngại! Chàng lại nghĩ đến một người đẹp quốc sắc thiên hương như thế, nhất là họ lại có tình ý với mình, còn gì mà phải do dự nữa, tuy công lực của Sở Canh lợi hại, nhưng mình có thể dùng những mánh khoé nhẹ nhàng thắng hắn cơ mà! Cuộc đấu này thế nào mình cũng hy vọng lắm! Chàng nghĩ đến sau khi mình thắng trận, sẽ được những phần thưởng quá xứng đáng.... Phổ Kiên lúc này đâm phấn khởi tinh thần, khi chàng ngửng mặt lên nhìn, Phích lịch nhị lang Sở Canh đã ngang nhiên đứng trước mặt mình.
Sở Canh lên tiếng hỏi rằng:
- Này Phổ Kiên! Hai chúng mình thử quần với nhau một trận xem ai hơn ai cho biết.
- Thằng ngốc! Chờ gì không ra tay cho rồi! Nhưng nhớ là khẽ tiếng chứ, vả phải đánh cho thật mau, cần nhất là đừng cho ngoài kia nghe tiếng ấu đả trong nảy, và nếu ngươi bị chết chớ có oán trách ta!
Sở Canh gật đầu lia lịa! Chính những câu nói này lại hợp ý với hắn, hắn không ngờ tên Phổ Kiên lại biết điều và chu đáo đến thế.
Trời lúc này đã sáng bạch hẳn, Phổ Kiên nhảy lùi một bước, soạt một tiếng, rút phắt ngay ngọn kiếm của mình ra, chẳng cần nói ất giáp gì nhắm ngay tim đối phương đâm nhanh tới, thế đánh vừa nhanh vừa ác và chàng đã phá qui lệ giang hồ trong lúc giao tranh, không lên tiếng cho đối phương biết trước.
Sở Canh kinh hãi hừ một tiếng, né tránh không kịp càng không thể nào rút kiếm ra nghênh địch, đành phải dùng chưởng ra nghênh tiếp, ào một tiếng chưởng phong đánh ra, nhưng ác nỗi vì quá gần, không đúng tầm sức của chưởng, ngọn kiếm của Phổ Kiên đã sát đến, chỉ nhoáng lên một ánh bạch quang, trong năm ngón tay của Sở Canh, ngón trỏ và ngón giữa đã rụng xuống mặt đất, máu chảy lênh láng.
Sở Canh cắn răng chịu đau, không hề kêu lên một tiếng nào, và ngay trong lúc đó, Phích Lịch Nhị Lang đã rút được kiếm ra và hét lên một tiếng, vung kiếm bửa mạnh tới, Phổ Kiên đâu chịu nổi thần lực này, chàng chỉ cảm thấy hổ khẩu tê liệt hẳn, kiếm suýt bị văng tung khỏi tay, Phổ Kiên vội nhảy lùi, lạnh lùng cười để lấy oai!
Sở Canh nắm chặt tay trái, tay phải cầm kiếm đánh ra các thế ác liệt: chém, bửa, phạt, đâm, nghĩa là hắn dốc hết toàn lực ra đánh túi bụi, thế đánh chẳng khác nào như tức nước vỡ bờ. Miệng luôn luôn lẩm bẩm chửi rủa:
- Mẹ kiếp thằng gian! Chuyến này bố sẽ phanh thây mày ra thành hai mảnh mới hả dạ, nếu không ta quyết không phải người!...
Lúc này chỉ thấy mắt Sở Canh trợn ngược lên, tay trái máu me lênh láng, thế kiếm nhoang nhoáng như những tia chớp của cơn giông tố, tiếng gió vùn vụt, oai thế tuyệt luân, khiến cho Phổ Kiên kinh hãi trong lòng không ít, chàng không ngờ rằng sau khi Sở Canh bị thương như thế mà vẫn còn sức hung hăng như vậy. Vội thu ngay những ý nghĩ khinh địch của mình lại lo đối phó, nhưng vẫn không sao chịu nổi những đòn đánh như bài sơn đảo hải của đối thủ, chàng phải rời bước thối lui hoài!
Thình lình Phổ Kiên tung mình vọt bổng lên không, lưng chừng chàng vung đường kiếm biến thành như một cây dù trắng xóa, đánh thắng xuống đầu Sở Canh. Đây chính là ngọn tuyệt kỹ trong Càn Khôn Ngũ Tuyệt mà Bắc kiếm Phổ Côn đã xưng là Thiên Hạ Đệ Nhất Kiếm và được mệnh danh là Hoa cái kiếm, quỉ dị vô ngần, oai lực không thể nào tưởng nổi. Công lực của Phổ Kiên chỉ bằng hai ba phần mười của cha là Bắc Kiếm, nhưng chàng sử dụng đến thế đánh này cũng không phải là thường phàm gì. Sở Canh chỉ có một tay sử dụng kiếm, may nhờ có thần lực trong người, ngay lúc đó vội đổi ngay tấn đứng vững chắc hơn, dồn hết nội lực của mình lên cánh tay, chuyển vận thanh kiếm như bay và dùng ngay đến thế Tuyết hoa bàn đỉnh (tuyết bám đỉnh đầu) để tự bảo vệ lấy thân mình. Từ trên không, Phổ Kiên liên tiếp phạt ra ba đòn, ánh kiếm tua tủa, nhưng Sở Canh đã giữ kín mít, nên không việc gì. Công lực của Phổ Kiên chẳng qua chỉ có thế, phần thì lơ lửng trên không đã lâu, nội lực không thể nào kéo dài thêm được, đành phái vèo thân xuống đất. Sở Canh cảm thấy sức uy hiếp trên đầu đã không còn, tinh thần phấn khởi ngay, quên cả vết thương hai ngón tay bị cụt của mình, chàng nổi thùng lên, thế nào cũng phải bửa chết Phổ Kiên mới chịu! Chỉ nghe hắn hự lên một tiếng âm thầm, lại mở ra những đường chém bửa túi bụi để truy sát địch thủ.
Phổ Kiên càng lúc càng hoảng người, lập tức thấy yếu thế hẳn! Phổ Kiên đành ỷ hết vào thân pháp lanh lẹ của mình để đối phó, chàng cố liều tiến sát vào thân Sở Canh, thình lình giơ chỉ ra, để tính điểm vào Kỳ môn huyệt của Sở Canh.
Nhưng phổ Kiên đã tính lầm nước cờ, Phích lịch nhị lang Sở Canh là người tuy thô kệch ngốc nghếch, nhưng trong lúc giao đấu với thiên hạ, tâm tư của hắn lại vô cùng lanh lẹ, động tác cũng mau vô cùng, mới thấy đối phương nhích thân mình, Sở Canh đã nhận ngay ra. Sở Canh vung ngay kiếm đỡ ngay thượng bàn, tay trái giơ ngay lại phía sau Phổ Kiên, chàng tính hét lên một tiếng lấy oai, nhưng bỗng sực nhớ đến nhị cô nương đã dặn là chớ làm ồn để kinh động mọi người, nên Sở Canh chỉ khẽ hừ lên một tiếng, và tay trái sẵn thần lực của Sở Canh, đã nhoáng lên một cái quắp chặt ngay Phổ Kiên. Chàng Phổ Kiên chỉ cảm thấy toàn thân của mình như bị con trăn khổng lồ siết chặt, lồng phổi lập tức cảm thấy ngộp thở, và cây kiếm của Sở Canh đã từ trên ngực của Phổ Kiên rút ra! Máu tươi bắn vọt ra thành vòi!
Phổ Kiên chỉ cảm thấy mắt mình tối sầm hết lại! Trong lúc hấp hối chết, phổ Kiên vẫn không giữ lời tín dụng của mình, hắn cố há miệng cắn và gào la. Sở Canh sợ gây nên tiếng kinh động mọi người biết thì rầy rà, hắn lật đật đưa ngay nắm tay hộ pháp của mình bịt ngay miệng Phổ Kiên lại, nhưng phổ Kiên đã cố dồn hết tàn lực của mình cắn mạnh vào nắm tay của Sở Canh trước khi nhắn mắt lìa trần, lẽ đương nhiên cái đau này gấp trăm lần cái đau bị đứt hai ngón tay vừa rồi. Nhưng Sở Canh quả không hổ là anh hùng gan dạ, cố cắn răng chịu đựng, và thình lình giơ luôn quả đấm của mình, nhắm ngay đầu Phổ Kiên thoi mạnh xuống, thế là đời Phổ Kiên bị kết liễu một cách rất ngớ ngẩn. Sở Canh quăng ngay cái thây ma xuống đất, nhìn lại bàn tay trái của mình máu me bê bết và đau nhức khó chịu, nhưng vẫn không hề lên tiếng than van chút gì!
Nhìn kỹ thân mình, máu của Phổ Kiên đã loang cùng người, thậm chí cả trên mặt cũng có. Và Sở Canh đã tuân theo lời của nàng Liễu Mi dặn, kéo ngay thây ma của Phổ Kiên lôi sềnh sệch vào lối hầm mỏ, đến nơi chàng không thấy Liễu Mi đâu, chắc là nàng đã vào trong mỏ, và nàng đã dặn mình chờ nàng tại đây!
Sở Canh ngoài trừ nghe lệnh của Thanh Thông Bang, Liễu bang chủ ra, người thứ hai có thể để cho hắn phục lệnh chỉ có riêng mình Liễu Mi mà thôi, vì Sở Canh đem so sánh hai chị em nhà họ Liễu, cô chị tà dâm đáng ghét bao nhiêu thì cô em đoan trang đứng đắn dễ thương bấy nhiêu, đối với nàng Liễu Mi, Sở Canh chiều ý nàng triệt để, chưa bao giờ cưỡng lại ý nàng! Hoàn toàn vì mến thích tính tình của nhị cô nương mà ra! Sở Canh bèn giấu ngay cỗ thây ma của Phổ Kiên vào một xó tối, nhìn những máu me dính trên người mình, thế nào tí nữa nhị cô nương thấy cũng trách mắng. Nghĩ lui nghĩ tới, Sở Canh quả nhiên nghĩ ra được một cách là lộn trái quần áo lại mặc, quả nhiên dấu máu bớt đi nhiều! Vậy là Sở Canh yên trí ngồi canh tại cửa đường hầm vào mỏ.
Nhắc về nàng Liễu Mi vào trong hầm mỏ, càng đi vào càng thấy rộng, và trong mỏ dùng toàn những trụ gỗ lớn để chống đỡ, đi được một chập, nàng phát giác trên tường có treo những những ngọn đèn lồng, nhờ ánh sáng đó, Liễu Mi phát giác một nơi tập trung dụng cụ khai mỏ, nhưng số năm sáu trăm người khai mỏ mà theo như lời kể của Vân Cư Sĩ thì chẳng thấy có mống nào cả, nàng cảm thấy rối loạn trong lòng mình. Nghĩ thời gian kéo dài, thế nào bốn phái bên ngoài sẽ tuyển người vào hầm mỏ để bắt người, nếu không nhân cơ hội tìm ngay Hầu Hạo trong lúc này, bỏ lỡ dịp may, hậu quả khó mà lường được sự tai hại của nó! Nàng càng căng thẳng trong tâm trí lại càng sáng suốt bình tĩnh, rời ngay hầm mỏ, tìm sang phía khác. Chắc thế nào đám người khổ lực ấy nghỉ ngơi một nơi nào. Nàng đổi ngay hướng khác, bỗng nàng nghe có tiếng ngáy, trong bụng mừng rỡ, nàng lần theo tiếng ngáy mò đến, tiếng ngáy càng lúc càng rõ, thình lình nàng thấy có một cửa lớn, dưới ánh đèn le lói của những ngọn đèn lồng, nàng thấy một cảnh địa ngục của trần gian hiện ngay trước mắt mình, chỉ thấy đây là một thạch thất lớn lao. Bốn vách đều treo đèn lồng dưới ánh sáng yếu ớt Liễu Mi thấy hai hàng người nằm chỉnh tề đôi bên trên mặt đất, tiếng ngáy vang khắp trong đại thạch thất này. Năm sáu trăm mạng người chen nhau chung một ngôi thạch thất thế này, vô tình đã gây nên một mùi không khí khó chịu của hơi người, nhất là trên thân các người này lại lem luốc bẩn thỉu, quần áo rách tươm, chắc là sau khi làm việc mệt nhọc, họ đã vùi đầu ngủ ngay, nên các mùi hôi thối trong mình đã tiết ra một mùi hỗn hợp kinh khủng... nàng Liễu Mi đã suýt bị oẹ nôn mấy lần...
Nhưng rút cuộc nàng cũng cố gắng bước vào để rồi nhìn từng khuôn mặt một hầu tìm ra Hầu Hạo, nàng cố gắng đè nén nỗi lòng kinh tởm của mình đối với cảnh địa ngục trần gian trước mắt này, nàng nghĩ đến chuyện Mục Liêu cứu mẹ trải qua biết bao nhiêu gian khổ dưới địa ngục, nay mình nửa chừng bỏ cuộc, chẳng phí hết bao nhiêu công trình sao? Thế là nàng cố dồn hết nghị lực của mình để duy trì, và chẳng mấy lúc nàng đã thấy tội nghiệp cho những người khổ lực tại mỏ đồng đây, một lòng trắc ẩn nổi lên trong lòng nàng nữ hiệp, dần dần nàng quên hẳn cảnh rùng rợn và mùi hôi khó chịu!
Chỉ thấy tà áo nàng phất phơ nhảy lướt trong đám người ngủ say này, nàng chăm chú nhìn kỹ từng bộ mặt một, trong lòng cố nhớ những nét mặt độc đáo của Hầu Hạo!
Thình lình, một tên khổ lực giật mình như bị lạnh. Liễu Mi bất giác động lòng thương, nghĩ đến những người này đều có bố mẹ hẳn hoi, tại sao lại bất công đến thế, khiến cho họ phải sống trong quằn quại đau khổ vậy?
Nàng cởi ngay chiếc áo bào của mình xuống đắp cho tên khổ lực nằm co ro ấy! Nào ngờ tên này thình lình mở mắt ngó thấy Liễu Mi.
Liễu Mi phát giác người tuổi độ 15, 16, mũi tẹt miệng rộng mặt mày lem luốc, hèn gì hắn co ro tựa như con tôm càng lớn, thì ra tuổi hắn còn nhỏ. Thấy vậy Liễu Mi càng đâm thương hại, nàng mỉm cười như để an ủi hắn, nào ngờ cậu bé này suốt ngày chỉ chung sống với những người thô bạo, nay thình lình tỉnh giấc trong cơn mộng, bỗng lại thấy một thiếu nữ nhan sắc đẹp như thế hắn đã tường mình thấy ma, phát hoảng hồn kêu rú lên!
Liễu Mi thất kinh người, nàng cảm thấy phía sau và khắp xung quanh đã có người lao nhao đứng hết dậy, và mấy trăm đôi mắt ấy bị đánh thức bằng tiếng kêu hoảng của thằng nhỏ đã chăm chú dồn hết vào toàn thân của Liễu Mi!
Liễu Mi cảm thấy nguy cơ đã phủ khắp xung quanh mình! Nàng đã nhận ra những đôi mắt thèm khát của tình dục trong đám người khổ lực bị giam hãm lâu ngày, nếu một khi phát ra, thật không thể nào tưởng nổi cảnh hãi hùng của nó! Liễu Mi vốn thông minh, nàng đã phát giác ngay điều đó, tuy võ công nàng tuyệt đỉnh, nhưng đối với năm sáu trăm đàn ông khát tình như lang sói này, nàng không khỏi nơm nớp trong lòng, nàng không dám ngoảnh đầu nhìn lại phía sau, từ từ di chuyển ra phía cửa thất!
Nhưng trong lúc đó nàng vẫn không quên sứ mạng của mình, vừa đi vừa đưa mắt quan sát trong đám người để tìm xem có Hầu Hạo trong này không?
Nhưng nàng cảm thấy tuyệt vọng, nàng nghĩ ngay đến nguy cơ trước mắt, nếu đám người này liều chết ập tới thì nguy, mình dùng ngay khinh công đào tẩu cho yên!
Nàng khẽ thở dài vì thất vọng, và đang sửa soạn tung nhanh mình ra.
Bỗng có tiếng người nổi lên rằng:
- Hãy bắt ngay con bé con lại! Nó sắp trốn đấy!...
Liễu Mi thất kinh, nàng vội hấp tấp vọt ngay lên trên, thế là đám người khắp xung quanh thi nhau chạy tới mấy trăm bàn tay tính bấu nắm thân nàng. Liễu Mi hoảng hồn, từ trên không chuyển nhanh người, chuẩn bị hạ thân xuống, nhưng thấy lô nhô toàn những đầu người đang ùa hết cả về mình, trong lòng trống ngực đánh thình thịch, nếu bây giờ mình hạ thân xuống, chắc chắn là sẽ bị họ xé xác thành muôn mảnh mất! Nghĩ vậy nàng lại vận khí cố vọt thêm lên, phía dưới đã có người nhảy lên, giơ tay lên, soạt một tiếng, tà áo trắng của nàng đã bị xé mất một mảnh, suýt nữa thì người cũng bị kéo xuống, may lúc lâm nguy, nàng vẫn cố trấn tĩnh tinh thần, đề khí vọt lên thêm, và nàng đã ôm chặt trụ gỗ lớn, và cố leo cao lên trên, chuyển nguy thành thế an, liếc nhìn phía dưới, nàng gần như muốn ngất xỉu luôn! Chỉ thấy đám người lô nhô như điên cuồng nhảy múa tưng bừng bên dưới, những kẻ yếu đuối bị chen ngã nằm dưới đất kêu la oai oái thật là một cảnh kinh hãi rùng rợn như lạc vào một thế giới toàn người điên tột độ!
Đám người điên chẳng mấy chốc đã tiến gần đến cột trụ, và những tên mạnh sức đã chen bung ngay lại, và chúng đã leo khắp nơi vai, nơi cổ của đám người lô nhô đến gần trụ, cuộc leo cột đã bắt đầu, nhưng nhờ cây trụ chỉ có thể dung nạp nổi một người nên Liễu Mi nằm trên thuận thế tiện lợi đối địch hơn, và những tên nào kề gần, nàng đều dùng chân đạp mạnh rớt xuống từ người một, nhưng hết tên này ngã, tên khác lại leo lên!
Đám người hầu như đã mất lý trí, chúng nhao nhao nói nhảm nhí khó nghe!
Liễu Mi càng lúc càng cảm thấy tình trạng nguy cấp! Bỗng một tiếng từ ngoài cửa vọng vào:
- Liễu cô nương! Mau! Mau trốn ngay!
Liễu Mi liếc mắt nhìn ngay ra phía cửa, thấy cửa mở lớn, một người ăn mặc theo lối khổ lực, nhìn kỹ thì chính là Hầu Hạo mà mình đang ra công tìm kiếm tử nãy giờ.
Sau khi Hầu Hạo lên tiếng gọi, lập tức bị nhóm người phát giác, chớp mắt đã có mười mấy tên nhào tới như ong vỡ tổ, đè ngay chàng xuống đất, và trận đòn đấm đá như mưa tới tấp xuống thân chàng. Hình như Hầu Hạo mất hết công lực trong mình, nên chàng không hề ra tay chống chọi lại được.
Bỗng một tiếng thét vang lên, Liễu Mi như con chim bay ụp xuống, song chưởng vung bừa ra, những tên xúm gần Hầu Hạo thình lình bị đánh mạnh, chúng chạy toán loạn như đàn chuột.
Liễu Mi vội đỡ ngay Hầu Hạo dậy, nhoáng một cái toàn thân đã vèo nhanh ra cửa ngõ. Phía sau có tiếng người đuổi quát:
- Chớ để cho con bé nảy thoát thân! Mau giữ ngay nó lại!
Liễu Mi nổi giận, ngầm vận ngay nội lực, tay trái lo quắp Hầu Hạo, tay phải vung ra một chưởng, năm sáu mạng tiến gần nhất bị đánh thốc hết ra phía sau!
Năm sáu tên vừa ngã xuống mặt đất, nhưng tên khác đã leo ngay lên thân xác đồng bạn tiến lên, la hét như điên đuổi tới.
Ngay trong lúc đó Liễu Mi đã quắp Hầu Hạo nhảy ra đến ngoài cánh cửa!
Ra khỏi cửa, nàng vội đóng ngay cửa sập lại, may cửa này vô cùng kiên cố, bên ngoài lại có then cài bằng sắt hình như đã đặc biệt chế ra để sử dụng với đám người điên này!
Bên trong, đám người cố sức đẩy cửa. Bên ngoài nàng Liễu Mi cố sức khép và khó nhọc lắm nàng mới hạ được then sắt xuống.
Sau khi nàng hạ được then sắt xuống, trong lòng hết lo, nàng thở dài khoan thai, nhưng tai nàng không khỏi nghe những tiếng chửi rủa ầm ầm bên trong, và thỉnh thoảng ngửi thấy những mùi hôi hám bên trong đưa ra!
Sau khi chấn tỉnh lại phong độ hồi hộp vừa rồi của mình, Liễu Mi mỉm cười nhìn Hầu Hạo, thấy chàng đang kinh ngạc ngó mình, Liễu Mi cười rằng:
- Chúng mình đi thôi!
Hầu Hạo miễn cưỡng bước đi, chàng gượng cười rằng:
- Đa tạ Liễu cô nương đã cứu tôi! Nhưng cô làm sao đến được đây vậy? Thế còn Thượng Quan Linh sư đệ đâu?
Liễu Mi nghe hỏi như dao cắt trong lòng, nàng lập tức cúi đầu nức nở xúc cảm! Hầu Hạo thất kinh vội hỏi:
- Kìa Liễu cô nương! Sao thế? Trong mình cô khó chịu sao?
Liễu Mi miễn cưỡng ngửng đầu lên rằng:
- Không có gì đâu! Thôi chúng ta đi vậy! Nếu bọn họ vô đây thì hỏng chuyện mất!
Hầu hạo vốn trốn thân trong hầm mỏ này nên không biết tin tức gì bên ngoài, nghe nàng nói họ, không biết là chỉ đám người nào? Lại càng không biết sư đệ Thượng Quan Linh ra sao? Hầu Hạo nghi hoặc trong lòng, nhưng thấy thần sắc khẩn trương của nàng Liễu Mi lại không tiện hỏi nhiều.
Hai người vội vàng rời ngay khỏi hầm mỏ, khi ra đến cửa hầm, Hầu Hạo thấy có một gã thiếu niên lực lưỡng, tay cầm kiếm đứng gác bên ngoài như đang chờ đợi ai.
Vừa thấy mặt nàng Liễu Mi, hắn mừng lên rằng:
- Kìa nhị cô nương đã ra đấy sao? Ý! Người này là ai kia?
Liễu Mi vắn tắt trả lời:
- Là bạn thân của ta, anh không cần phải hỏi nhiều, và chúng ta đều có trách nhiệm bảo vệ anh ấy!
Quả nhiên Phích lịch nhị lang Sở Canh không hỏi lôi thôi thêm gì nữa, nhưng gã đưa mắt nhìn về nơi cỗ xác của Phổ Kiên. Liễu Mi bèn bảo Hầu Hạo đi thay ngay quần áo của Phổ Kiên mặc vào!
Lúc này Liễu Mi thấy tay Sở Canh vẫn nhỏ từng giọt máu, tuy hắn đã xé vải cuốn tạm lại. Liễu Mi xé ngay một mảng vải rằng:
- Qua đây tôi băng bó lại cho nào!
Sở Canh ngoan ngoãn để cho nàng băng bó, lúc này Sở Canh mới thấy rõ áo sống trên người Liễu Mi bị rách tứ tung, và chiếc áo choàng của Liễu bang chủ đã khoác trên người nàng không biết đã biến đâu mất, thấy nhiều chỗ đã hở da trắng nõn ra!
Tuy thấy thân thể của nàng, Sở Canh vẫn không hề gợi một ý tà niệm gì, bất giác lên tiếng hỏi rằng:
- Nhị cô nương! Cô đánh nhau với người ta đấy à?
Liễu Mi gật đầu.
- Sao cô không gọi tôi?
Sở Canh khi nói câu này làm như mình chắc thắng lắm, còn có ý trách Liễu Mi không kêu gọi mình, để đến nỗi áo đẹp bị rách nát! Thấy nàng không nói gì, Sở Canh lại báo với nàng rằng:
- Vừa rồi có ba người đến cửa hầm đây dòm ngó, và toàn là người trong nhóm hòa thượng kỳ quái ngoài kia cả! Họ chưa hề phát giác ra tôi! Chúng nhìn lơ láo một chập rồi bỏ đi ngay!
 
0
Hồi 052. Tiếng Cười Nhiếp Hồn Người
[/align]

Liễu Mi lập tức nghĩ ngay rằng: họ đã bắt đầu cuộc thám thính, chỉ nội trong chốc lát, sau khi nhận được sự báo cáo của ba tên hòa thượng, thế nào họ cũng rầm rộ kéo vào đây. Lúc này Hầu Hạo đã thay xong quần áo của Phổ Kiên, Liễu Mi bước ngay lại dìu thân chàng, và nàng rỉ tai Hầu Hạo khẽ nói nhỏ:
- Anh hãy cúi sát đầu xuống, và phải vờ như kẻ bị thương, và nhớ là đừng nên mở miệng nói chuyện, chúng ta ráng để đánh tháo ra trong lúc này!
Ba người hấp tấp ra, Sở Canh đi trước, Liễu Mi lo dìu Hầu Hạo theo sau, bỗng nàng lên tiếng nói với Sở Canh rằng:
- Sở đại ca ơi? Nay người bạn của tôi giả làm vai Phổ Kiên! Anh biết ý tôi chứ?
Nào hay tên Sở Canh chuyến này lại giở quẻ, chỉ nghe hắn ấp úng rằng:
- Nhị cô nương!... như thế... như thế không phải cô đang xúi tôi nói láo đấy sao? Cô cũng biết tính Sở Canh tôi xưa nay đâu có biết nói láo bao giờ đâu?
Liễu Mi cuống lên, vì nàng biết sắp sửa chạm trán với bốn phái nhân mã ngoài cửa núi, nếu chuyện bị lộ tẩy, mọi việc đều tiêu tan, xưa nay tên Sở Canh vẫn chịu nghe lời mình răm rắp, bảo đâu nghe đấy, không biết hôm nay sao hắn lại động chứng đến thế!
Con gái của Thanh Thông Hội đâu phải thứ hiền gì, ý nghĩ giết đã nổi lên trong đầu óc nàng. Nàng từ nhỏ sống trong Thanh Thông Hội, tuy đây không phải là một bang hội tà ác gì, nhưng đối với sự giết người, quả là một chuyện rất bình thường, nhất là nàng được mục đích luôn luôn!
Cũng như nàng để Sở Canh giết Phổ Kiên, hay ngược lại Phổ Kiên giết Sở Canh, chính nàng cũng không biết ai thắng và ai bại, miễn sao bên nào chết cũng thế, và nàng chỉ cần bộ đồ trên thân thể của kẻ bị giết là đủ rồi. Đương nhiên nàng cũng muốn người phe cánh của mình thắng, nhưng ý niệm ấy lướt nhanh qua óc nàng rất nhẹ nhàng. Và ngay trong lúc này, Sở Canh vẫn không phòng hờ đến sau lưng mình đang ẩn hiện nguy cơ, và không ngờ rằng Nhị cô nương đã có ý giết ngầm mình để trừ hậu họa. Nhưng Hầu Hạo đã như cố tình loạng choạng để cho Liễu Mi phải dìu đỡ mình, nhưng tự trong lòng nàng cũng cảm thấy mình không nên hành động tàn nhẫn thế, chỉ nghe nàng thở dài. Ngay lúc đó đằng trước có tiếng chân người đến, Liễu Mi đành rắn đầu, vội khẽ gật Hầu Hạo cúi đầu xuống, và vẫn bình tĩnh dìu chàng đi tới!
Bỗng Sở Canh quay nhanh lại người rằng:
- Nhị cô nương, tôi biết người này là ai rồi? Chính hắn là người mà mọi người đang muốn tìm đây!
Liễu Mi nghe nói thất kinh, giơ ngay chưởng bên phải ra, tính bửa mạnh ra phía Sở Canh... phích lịch nhị lang Sở Canh vẫn tỉnh bơ rằng:
- Nếu họ không hỏi đến tôi, lẽ đương nhiên là tôi không đời nào nói ra, và tôi cho rằng đã là bạn của Nhị cô nương, thế nào cũng là người tử tế cả, tôi biết...
Liễu Mi thở dài rút ngay thế đánh của mình về.
Sở Canh lại rằng:
- Nhưng từ khi biết khôn đến nay, tôi không bao giờ nói láo, nếu có người lại hỏi tôi, có lẽ tôi sẽ làm thinh luôn, nhưng nếu lão bang chủ hỏi đến, tôi không nỡ nào nói dối với bang chủ được... tôi... tôi chỉ còn nước khai thật hết, nếu Nhị cô nương muốn giết tôi, tôi cũng không thể nào nói láo với Liễu bang chủ được!
Đối với loại người quá trung thực này, Liễu Mi cũng đành chịu thua, nàng chỉ nhẹ tiếng nói rằng:
- Thôi cũng được! Nhưng bây giờ anh phải nín thinh ngay!
Trước mặt, một đám tăng lữ tiến tới, có đến trên mười người, người dẫn đầu chính là Vân Cư Sĩ và Hải Không đại sư. Chắc chắn là ba nhóm kia lo chấn giữ ngoài cửa núi, còn nhóm của Vân Cư Sĩ lo vào tìm bắt người. Liễu Mi không chờ họ lên tiếng hỏi trước, nàng bèn lên tiếng ngay rằng:
- Thưa Vân Cư Sĩ thúc thúc, đường bên có khó đi thật? Lại lắm rắn rết, phần thì tối om không thấy, thúc thúc xem, chính Phổ Kiên huynh đã bị ngã thương như thế này, và tay của Sở đại ca cũng bị loài rắn gì không biết cắn đứt mất hai ngón tay! Trông kinh quá!
Quả nhiên Vân Cư Sĩ bị nàng lừa, bèn lên tiếng rằng:
- Vậy mau ra cửa núi đi! Ở đó có sẵn thuốc men để chữa vết độc mau!
Sở Canh thấy Liễu Mi nói dối lừa người ta như vậy trong lòng bất an, rõ rằng mình bị kiếm chém mất hai ngón tay mà nàng lại nói là mình bị rắn đớp mất hai ngón, nhưng không dám lên tiếng cải chính trong lúc này. Chỉ nghe Liễu Mi rằng:
- Dạ thưa thúc thúc, phải chăng các ngài đi vào trong mỏ đó không?
Vân Cư Sĩ đang cùng với đám hòa thượng tiến bước vào hầm mỏ, nghe Liễu Mi hỏi bèn quay ngay đầu lại rằng:
- Đúng thế! Liễu cô nương có muốn vào trong chơi cho biết không?
Liễu Mi cười rằng:
- Dạ không! Tôi còn phải đi tìm thân phụ tôi, xin chào thúc thúc!
Đám người đi xa, thế là nàng Liễu Mi tạm thoát được một trận đầu, nghĩ đến tình thế giấy không thể nào đem gói được lửa, nhất lả khi nghĩ đến cỗ tử thi của Phổ Kiên và then cài cửa của đám khổ lực trong hầm mỏ, không chóng thì chầy, thế nào cũng bị lộ tẩy, nhưng khổ cái đây chỉ có mỗi một con đường độc đạo có thể đi, phía cửa núi lại có nhóm thủ hạ của cả phái canh giữ, nếu muốn trốn khỏi dưới làn mắt của họ đâu phải là dễ. Liễu Mi vừa bước đi vừa lo nghĩ kế để gỡ rối, khi ra đến nơi, lập tức có người phát giác ngay. Thanh Thông bang chủ Liễu Khải, Bắc kiếm Phổ Côn vội hấp tấp kinh ngạc đứng dậy. Liễu Khải vội bước lại, Bắc kiếm Phổ Côn đưa tay ngoắt ngay Tư Đồ Cống hấp tấp bước lại thăm hỏi.
Liễu Khải lên tiếng hỏi rối rít:
- Con cha sao thế! Xảy ra chuyện gì vậy?
Liễu Mi tươi cười rằng:
- Dạ không có chuyện gì, anh Phổ Kiên bị té nặng, nghỉ ngơi chút chắc khỏe ngay, nhưng tay của Sở đại ca đã bị rắn cắn đứt ngón tay, trông kinh lắm! Cha cho con xin chút thuốc con băng bó cho anh ấy ngay!
Nói xong nàng dìu ngay Hầu Hạo tới một phiến đá gần ngay đó ngồi xuống nghỉ ngơi, tên Tư Đồ Cống thấy vậy hấp tấp quay về cạnh Bắc kiếm Phổ Côn.
Liễu Mi lo săn sóc cho hai người, hình như nàng không muốn cho ai nhúng tay vào trong việc này, trong đám người có mặt tại đây, nhất là những chàng trẻ, đều cho rằng Phổ Kiên khéo tu kiếp trước lắm nên nay mới hân hạnh được người săn sóc tận tụy như thế, ai nấy đều cho rằng chàng tốt phúc quá! Còn phần Bắc kiếm Phổ Côn, thấy Liễu Mi lại quí mến con mình như vậy, trong lòng sung sướng vô ngần, nhất là thấy nàng lấy áo đắp lên mặt cho con mình, Thanh Thông bang chủ vội lấy ra một áo khoác đưa cho con gái mặc cho ấm!
Tuy may mắn tránh khỏi tai mắt mọi người trong lúc này, nhưng sau này liệu tính làm sao? Nếu muốn trốn thoát trước mắt mọi người đây, đâu phải là chuyện chuyện dễ dầu gì.
Nàng liếc nhìn về phía cây mà Nam bút Gia Cát Dật đang trốn, nhưng khoảng cách quá xa nhìn không rõ! Tuy nàng là kẻ thông minh tuyệt vời xưa nay, nhưng lúc này cũng nghĩ không ra được mưu kế gì hay hơn. Bụng nghĩ lúc này không thể nào kéo dài thời gian thêm được, bất luận sao cũng phải thoát thân ngay đây mới được, nghĩ lui nghĩ tới, vẫn chưa có kế hoạch gì!
Trớ trêu thay ngay lúc này Bắc kiếm Phổ Côn lại lững thững bước lại để thăm bệnh tình của con mình.
Chỉ Bắc Kiếm lên tiếng gọi:
- Kiên con?...
Không thấy trả lời, vội cúi xuống nói:
- Phổ đại ca ơi! Lệnh tôn đang gọi anh kìa!
Hầu Hạo cố sửa giọng ừ một tiếng cho qua chuyện. Nhưng Bắc kiếm Phổ Côn đã tự lẩm bẩm rằng:
- Trời ơi hình như nó bị ngã nặng lắm sao mà khản cả tiếng như vậy?
Nói xong bước lại tính giở ngay chiếc áo ra xem con mình bị thương như thế nào. Liễu Mi quýnh lên, chợt nàng nghĩ ra được một kế, vội rằng:
- Thưa sư bá! Anh Phổ Kiên bị sướt nơi má, đã thoa thuốc, mà loại thuốc này phải kỵ gió!
Câu xưng hô Thưa sư bá! quả đã sinh hiệu lực vô cùng, Bắc kiếm Phổ Côn vốn đã thích sẵn nàng Liễu Mi, nay thấy nàng xưng hô thân mật với mình như vậy càng thích trí cười ha hả rằng:
- Làm phiền cháu quá! Sau này thằng Kiên nó khỏi hẳn,... hà hà... những bọn trẻ các cháu nên tìm nhiều cơ hội để gần gũi nhau thêm... Ha ha! Ha...
Câu nói của Phổ Côn còn ngầm chứa một ý nghĩ khác làm sao mà nàng Liễu Mi nhận không ra, trong lòng bất giác rủa thầm: Lão già nằm mơ hão huyền mà thôi, ngài đâu có hay là đứa con cưng của ngài đã chầu diêm vương rồi, đáng cười thật! Tuy nghĩ vậy, nhưng nàng không dám ngang nhiên buông lời xúc phạm đến vị già tuổi trong nhóm Càn Khôn Ngũ Tuyệt này, bề mặt nàng vẫn vờ e thẹn, khiến cho Bắc kiếm Phổ Côn càng tỏ vẻ hài lòng mát ruột, chỉ thấy Bắc kiếm Phổ Côn cười ha hả quay thân bỏ đi về vị trí của lão. Thanh Thông bang chủ lại không vừa ý với lối cư xử của con gái mình với Bắc Kiếm như thế, nay thấy Sở Canh đứng ngẩn bên cạnh như kẻ mất hồn, bèn lên tiếng hỏi ngay rằng:
- Sở Canh! Vết thương của nhà ngươi cảm thấy sao?
Sở Canh thất kinh giật mình bèn rằng:
- Tiểu điệt cảm thấy đỡ nhiều lắm rồi!
Liễu Khải vẫn quan tâm hỏi:
- Nếu là bị rắn độc cắn cần phải băng bó bằng thứ thuốc khác đấy?
Phích Lịch Nhị Lang xưa nay chưa bao giờ nói dối với vị bang chủ của mình, nay nghe hỏi, trong lòng không khỏi hồi hộp lúng túng, không biết nên nói sao?
Liễu Mi chỉ sợ đổ bể chuyện ra, nàng bèn lên tiếng rằng:
- Thưa cha! Con ấy không phải loại rắn có độc, và chính tay con đã giết được con rắn ấy!
Nhưng Thanh Thông bang chủ vẫn không yên tâm hỏi rằng:
- Con chớ nên coi thường, vì trong đêm tối đây làm sao có thể nhận rõ đích xác được. Này Sở Canh, thế ngươi có thấy nơi bị cắn tê ngứa không?
Sở Canh thành thật nói:
- Dạ không! Chỉ cảm thấy tê nhức từng chút một!
Thanh Thông bang chủ lấy làm lạ hỏi rằng:
- Tê nhức từng chút, từng chút như thế, đó là lối đau nhức của vết thương đao kiếm? Quái lạ!?
Bị nói trúng tim đen Sở Canh chỉ cảm thấy mặt mình nóng bỏng lên, Liễu Khải vốn là kẻ bang chủ, đôi mắt tinh đời chẳng phải tầm thường gì, lão anh hùng nghi ngay có chuyện gì mờ ám, bèn lên tiếng hỏi ngay:
- Sở Canh! Nhà ngươi đã giao tranh với ai? Mau nói thật ngay ra!
Sở Canh lục thần vô chủ, chàng quýnh lên ngó Liễu Mi, rồi đưa tay khẽ chỉ vào thân Hầu Hạo đang nằm dưới đất, lúng ta lúng túng, sắp sửa khai toạc hết.
Liễu Mi đứng cạnh trả lời hộ rằng:
- Dạ thưa cha, Sở đại ca và Phổ đại ca vì câu chuyện hiểu lầm nên gây cuộc giao tranh, và Phổ đại ca không cẩn thận nên đã lỡ tay đưa kiếm dụng phải tay của Sở đại ca...
Câu nói này vừa thoát ra khỏi cửa miệng Liễu Mi, ai nấy đều cho ngay rằng đôi bên vì đã ghen nhau nên đã ra tay quyết đấu với nhau, nhưng không ngờ đôi bên đều bị thương cả, nhóm người già thì chẳng nói năng gì, nhưng đám người trẻ thì thào bàn tán cười nói huyên náo, Sở Canh càng đỏ mặt, nhưng lại không tiện phân bua.
Thanh Thông bang chủ tuy là người chiều chuộng con gái nổi tiếng, nhưng lúc này cũng không bằng lòng cho lắm, nhận xét bên ngoài, vết thương của Sở Canh có phần nặng hơn Phổ Kiên là khác, mà Liễu Mi thì chỉ lo chăm sóc cho Phổ Kiên, tuy Thanh Thông bang chủ không muốn can dự đến chuyện riêng của con, nhưng vì từng có xích mích ít nhiều với Bắc kiếm Phổ Côn, lẽ đương nhiên là không muốn con gái mình tỏ ra thân mật với con trai của người ta! Bụng lão anh hùng nghĩ: Con gái út mình xưa nay đoan trang đứng đắn lắm, không giống con chị nó chút nào cả, sao hôm nay lại giở chứng giờ quẻ kỳ lạ thế này? Khiến cho hai thằng con trai đấu với nhau vì ghen tuông! Trước mặt hai phái hữu danh của Phổ Côn Bắc Kiếm và phái Điểm Thương, lão anh hùng cảm thấy hơi bị ngượng mặt!
Lúc này lại thấy Liễu Mi cứ xoắn xít bên cạnh Phổ Kiên, bất giác trong lòng đâm bực mình, nói ngay rằng:
- Liễu Mi! Con hãy qua đây!
Liễu Mi đành lủi thủi bước sang đứng bên cạnh cha mình. Bắc kiếm Phổ Côn bước tới một bước lạnh lùng rằng:
- Này lão già họ Liễu kia, ông muốn nhiều chuyện sao? Nếu thằng con tôi có mệnh hệ nào, thế nào ta cũng bắt thằng họ Sở kia đền mạng cho mà xem! - Dứt lời tính bước lại khám xem người con của mình bị thương ra sao!
Liễu Mi hú vía hoảng hồn, vội phi thân lại ngăn cản rằng:
- Kẻ bị thương không thể nào thấy gió được!
Bắc kiếm Phổ Côn càng đâm nghi con mình bị thương nặng, lạnh lùng rằng:
- Xin tiểu cô nương hãy tránh xa, tôi muốn xem nó bị thương những chỗ nào cho biết!
Dứt lời, ống tay áo khẽ phất gạt Liễu Mi, rồi cúi xuống, ngay lúc này, Liễu Mi đưa mắt nhìn cho Sở Canh chuẩn bị ứng biến. Đang lúc nguy cơ đằng này tính bộc phát, bỗng đằng xa có tiếng vọng lại rằng:
- Thôi hỏng hết chuyện hết! Thằng nhãi con ấy đã trốn thoát mất rồi!
Mọi người kinh ngạc nhao nhao lên, Bắc kiếm Phổ Côn ngừng ngay tay đứng dậy.
Chỉ thấy Vân Cư Sĩ dẫn theo một đám tăng lữ, chạy như bay về, đến trước mặt mọi người thở hổn hển rằng:
- Hỏng chuyện! Hỏng chuyện? Thằng nhãi ấy đã bị một đứa con gái cứu thoát! Đồng thời Phổ Kiên đã bị người ta giết chết? Cả đến đám người khổ lực trong mỏ đồng cũng chết khá nhiều, chúng khai rằng: tướng dạng của thiếu nữ ấy là... - Nói tới đây giơ ngay chiếc áo choàng lên, rõ ràng là vật tùy thân của Liễu bang chủ. Hải Không đại sư có bổ túc nhấn mạnh thêm rằng:
- Và người con gái không ai khác hơn là chính Liễu cô nương, chính chiếc áo choàng này nàng đã để lại trong hầm mỏ.
Liễu bang chủ bỗng lên tiếng quát:
- Chớ có nói điên!
Bắc Kiếm Phổ Kiên thình lình quay nhanh lại, nhưng Liễu Mi và người xưng là Phổ Kiên dưới đất đã biến mất. Bắc Kiếm vội phóng tia mắt nhìn thấy hai người chạy chưa bao xa, Phổ Côn bèn lập tức ra lệnh đuổi theo! Ai nấy cắm đầu cắm cổ lo rượt theo, dần dà họ bao vây hết nhóm Thanh Thông Hội vào giữa.
Hầu Hạo công lực chưa khôi phục được, Liễu Mi phải quắp chàng, nên động tác bị cấn cáng không linh hoạt, nay thấy thiên hạ đã gần bắt kịp, Thanh Thông bang chủ Liễu Khải phía sau lên tiếng gọi rằng:
- Liễu Mi con! Hãy ngừng ngay lại, cha sẽ không làm khó dễ con đâu, có điều gì chúng mình thương lượng để giải quyết cho yên ổn!
Bắc kiếm Phổ Côn mắng ngay rằng:
- Lão quỉ già! Con ta đã chết? Vậy thằng khốn kiếp họ Sở phải đền mạng, nếu thằng nhãi này cũng trốn thoát, ba phái bọn ta sẽ hợp nhau lại chống đối và đoạt luôn mạng của lão quỉ già ngay!
Nhóm thủ hạ của Thanh Thông Hội lo yểm hộ lão bang chủ của phe mình, và trong cả ba phái người, đã có nhiều người tay cầm sẵn ám khí lăm le chực phóng ra. Liễu Khải, Sở Canh và các thủ hạ Thanh Thông Hội vội lớn tiếng kêu gọi ngừng tay phóng ám khí, chỉ sợ họ đánh thương nàng Liễu Mi.
Mắt thấy sắp sửa đuổi kịp hai người, bỗng từ trên cây vù một tiếng, thấy một bóng người nhẹ nhàng lướt xuống, toàn thân áo nho sĩ thần sắc trông an nhàn vô cùng. Liễu Khải và Phổ Côn đều ngừng ngay bước tiến của mình và thốt tiếng:
- Nam Bút!...
Lúc này Gia Cát Dật đã khôi phục bộ mặt thật của mình. Lúc này chỉ thấy Gia Cát Dật đưa tay ra chận ngay mọi người và cho Liễu Mi và Hầu Hạo đứng ngay phía sau lưng mình.
Nam bút Gia Cát Dật rất bình tĩnh khoan thai ôm tay thi lễ rằng.
- Liễu bang chủ, Phổ huynh, Hoàng huynh, Cư sĩ huynh đều có mặt tại đây, hân hạnh! Hân hạnh!
Nam bút Gia Cát Dật vốn là một nhân vật lừng danh trong giang hồ, nên Liễu Khải, Hoàng Kha, Vân Cư Sĩ hấp tấp ôm quyền trả lễ. Duy chỉ có Phổ Côn lạnh lùng và ngạo mạn rằng:
- Gia Cát Dật, bộ ngươi muốn che chở thằng tiểu tử đó sao?
Nam Bút trả lời rằng:
- Không đám!
Bắc Kiếm quát lớn:
- Tránh ra! - Dứt tiếng đưa tay chụp ngay Hầu Hạo phía sau Gia Cát Dật!
Nam bút Gia Cát Dật ra tay gạt ngay, Phổ Côn rụt nhanh tay của mình về, không dám đối chọi thẳng, vì chính Bắc Kiếm cũng e ngại lỡ bị yếu thế thì còn gì thanh danh trong Càn Khôn Ngũ Tuyệt nữa.
Nam bút Gia Cát Dật hỏi rằng:
- Dám hỏi Phổ huynh, huynh muốn bắt tên thiếu niên này để làm gì?
Phổ Côn tức gần như muốn bốc khói trong người, ngày thường, Gia Cát Dật đối với mình vẫn kính nể, không ngờ hôm nay y lại tỏ vẻ cưỡng ý mình như thế, sắc mặt Bắc Kiếm từ đỏ chuyển sang tái, không biết nên nói sao cho hả cơn giận!
Vân Cư Sĩ đứng cạnh thấy vậy bèn trả lời thay:
- Thiếu niên này có quan hệ với Độc chỉ Thôi Bác, chúng tôi bắt nó, thế nào Độc chỉ Thôi Bác cũng phải đánh đổi với chúng tôi bất cứ bằng giá nào!
Nam bút Gia Cát Dật lạnh lùng rằng:
- Vậy các vị muốn người ta lấy gì để đánh đổi, tuy là vị Độc chỉ Thôi Bác là người mà võ công đứng thứ nhất trong thiên hạ, nhưng người ta đâu có của cải gì đâu?
Vân Cư Sĩ chưa kịp trả lời, người chưởng môn của phái Điểm Thương Hận thư sinh Hoàng Kha thở dài rằng:
- Gia Cát Dật ngài đâu có biết gì, trong mười tám thứ báu vật là Chân châu lũ kim sam và cả hàng muôn ngàn lạng cương (tiền vàng đời xưa), hiện đều nằm trong tay vị Đoạn trường nhân Độc chỉ Thôi Bác hết, như thế mà không gọi là giàu thì thế nào mới bảo là giàu?
Câu nói này đã khai rõ hết những âm mưu của bốn phái, mà đến cả Nam bút Gia Cát Dật cũng ngờ rằng thứ Chân châu lũ kim sam là một bảo vật trong cung cấm của tiền trào, nghe đồn rằng Chân châu lũ kim sam có thể tránh được thủy hỏa, kỵ độc và phòng binh đao, có công hiệu kỳ dị như thế, vốn là vật báu trào cống của ngoại bang, được liệt vào của báu tàng giữ trong đại nội, truyền thuyết rằng: đời Lý Phùng tiến đánh vào Kinh đô, trong cảnh hỗn loạn cướp bóc ấy mười tám thức báu vật trong cung điện bị thất lạc, trong số đó có Chân châu lũ kim sam. Không ngờ thứ báu vật vô giá ấy ngày nay lại lọt vào tay một người được coi như Thiên hạ đệ nhất cao thủ là vị Đoạn trường nhân Độc chỉ Thôi Bác, nhưng không hiểu Hầu Hạo có quan hệ gì với vị cái thế kỳ nhân Độc chỉ Thôi Bác mà bốn nhóm người này dám quả quyết là người ta sẽ không tiếc một giá nào để đổi cho bằng được Hầu Hạo.
Nam bút Gia Cát Dật vốn là người thanh tịnh, không hề nổi lòng tham lam, nay thấy bốn phái cùng nhau hợp sức như thế để mưu đồ cuộc trao đổi bất nhân như thế, thì ra họ đều muốn làm giàu. Trong lòng Gia Cát Dật bất giác nổi lên một ý nghĩ khinh khi đối với hành vi ỷ thế khi người của họ càng đâm ngứa mắt trái tai, trong bụng Nam Bút đã quyết nhúng tay vào vụ này!
Bắc kiếm Phổ Côn thừa biết tính tình cương trực của Nam bút Gia Cát Dật, đã là việc nghĩa thì không bao giờ Nam Bút, sợ chết mà không dám ra tay can thiệp, lúc này thấy Nam Bút sau khi nghe lời phân giải của Vân Cư Sĩ, sắc mặt đã hầm hầm lên những nét oai nghiêm chính trực, Phổ Côn biết ngay tính ương ngạnh ngay thẳng của Nam Bút sắp bộc phát.
Biết chắc thế nào Nam Bút cũng can thiệp, Phổ Côn vốn là người nham hiểm và đa trá, ngay lúc ấy tử từ giơ vạt áo bào lên tính nhân cơ hội không đề phòng của Nam Bút, lập tức thình lình thủ tiêu luôn Gia Cát Dật dưới ngọn chưởng của mình.
Nhưng Nam bút Gia Cát Dật đâu phải loại nhân vật tầm thường gì, người đã nhận ngay ra âm mưu đen tối của Phổ Côn, lạnh lùng cười nói:
- Phổ huynh! Không biết Phổ huynh đang có ý nghĩ gì như thế! Mong hãy thận trọng hành vi của mình!
Bắc kiếm Phổ Côn không ngờ bị người ta nhận rõ âm mưu của mình, đành buông lơi vạt áo bào của mình xuống, đứng buồn bã không nói gì.
Nam bút Gia Cát Dật bèn nhìn sang phía Liễu Khải và Hoàng Kha khuyên rằng:
- Thưa Liễu lão gia và Hoàng huynh, nhị vị dù sao cũng là người chưởng môn của một phái, tiếng tăm lừng lẫy trong giang hồ, vậy tại sao lại đi lụy vào chữ lợi làm gì cho khổ thân xác, hơn nữa đó là một việc may mắn thì ít, nguy hiểm lại nhiều, phải biết rằng nhân vật như Độc chỉ Thôi Bác, đâu phải là người dễ dàng đụng chạm tới người ta, nếu chẳng may chuyện gặp trắc trở, lúc đó danh dự lừng lẫy của nhị vị chẳng thành vấn đề lắm sao? Mong nhị vị nên nghĩ cho cẩn thận trước khi hành sự... sự thật, Liễu Khải và Hoàng Kha đều không muốn bị lôi cuốn vào vũng nước đục này, nhưng vì nghe lời mê hoặc của Vân Cư Sĩ, trong số lợi to tát ấy, nên mới động lòng tham và liều thử một chuyến, giờ đây nghe lời khuyên của Nam bút Gia Cát Dật, trong lòng cũng đâm ra do dự cúi đầu suy nghĩ.
Chỉ riêng có Vân Cư Sĩ là không chịu cam tâm, lớn tiếng rằng:
- Này Gia Cát Dật? Tôi mong rằng ông chớ nên xía vào chuyện người ta như thế? Phải biết rằng chúng tôi không thể nào không hành động như thế được. Vì nay thầy trò Độc Ma và lão bà bịt mặt bí mật ấy đã được tin hết cả rồi, thế nào họ cũng cướp đoạt thằng nhỏ họ Hầu này, vậy dù cho chúng tôi có nể mặt Gia Cát Dật tiên sinh đi nữa, nhưng tin chắc rằng tiên sinh cũng tuyệt không thể nào đưa được hắn ra khỏi sơn cốc này, vì đám người Độc Ma cũng sắp sửa đến đây rồi...
Câu nói như nhắc tỉnh mọi người, Thanh Thông bang chủ ôm quyền lên rằng:
- Xin Gia Cát hiền đệ thông cảm cho! Lão phu nay đã nằm trong tình thế tên nằm trong cung không thể nào bắn! - Dứt lời lớn tiếng gọi: - Liễu Mi con, mau dìu ngay Hầu công tử lại phía trước, cha hứa là sẽ không làm khó Hầu công tử đâu, mau!
Liễu Mi nào đâu có chịu, nàng vẫn đứng sau lưng Nam bút Gia Cát Dật lên tiếng rằng:
- Thưa cha! Cha nên về đi, đừng nên chung vai sát cánh với nhóm người bất lương này! Hầu công tử vốn là đồ đệ của Thiên Si đạo trưởng, con nhất định phải bảo vệ cho người ta...
Sau khi nghe câu nói này, mọi người và Bắc kiếm Phổ Côn đều thất kinh, Bắc Kiếm lên tiếng hỏi:
- Rõ là đồ nghiệt chướng! Thế thầy của ngươi bây giờ ở đâu?
Hầu Hạo không trả lời, Bắc kiếm Phổ Côn chỉ sợ hai người nhân có Nam bút Gia Cát Dật yểm hộ rồi trốn thoát bèn ra lệnh hô lên:
- Tất cả hãy tiến lên bắt lấy chúng lại...
Thế là đám người đứng sau Bắc Kiếm và đám tùy tùng của Hoàng Kha ùa hết ra, cả đám hòa thượng Cửu Thiên Tự cũng ập lại...
Nam bút Gia Cát Dật quát lớn:
- Ai dám tiến lên coi!
Không ngờ tiếng quát ấy đã gây nên một hiệu quả mọi người ngừng ngay lại, Bắc kiếm Phổ Côn không còn nhịn được nữa, phất ngay ống tay áo ra, một ngọn kình phong đánh sang Gia Cát Dật, đồng thời lên tiếng rằng:
- Các người cứ việc lên! Ở đây đã có ta!
Liễu Khải, Hoàng Kha, Vân Cư Sĩ, nãy giờ họ chỉ chờ có câu này, và sẵn có Bắc Kiếm lo đối phó với Nam bút Gia Cát Dật, ba đám nhân mã hợp cùng với nhóm người của Tư Đồ Cống mở ngay cuộc bao vây để bắt cho được Hầu Hạo.
Gia Cát Dật thật không thể nào ngờ Bắc Kiếm có thể trở mặt tuyệt tình như thế, trong lòng lạnh lùng hẳn, vận ngay nội lực phát ra, chỉ thấy hai người đang giơ chưởng đối với nhau, không phân thắng bại.
Liễu Mi nhảy đứng ngay trước mặt Hầu Hạo, rút ngay kiếm ra, nàng đã không ngần ngại gì mở cuộc huyết chiến?
Liễu bang chủ run giọng rằng:
- Liễu Mi con! Mau tránh ra, đừng có dại yểm hộ cho hắn thế con ngoan! Hãy nghe lời cha! Con gái ngoan của cha! Tránh đi con!
Liễu Mi chưa kịp trả lời cha, bỗng từ đằng xa truyền đến một tiếng thét thê thảm kinh người, mọi người ngơ ngác kinh hồn!
Vân Cư Sĩ lên tiếng ngay:
- Thôi nguy! Bọn Độc Ma đã đến, tiếng thét thê thảm ấy chính là người canh gác của Cửu Thiên Tự đã phát ra, chắc chúng đã giết...
Danh tiếng oai lừng của thầy trò Độc Ma trên Vô ảnh Phong quả nhiên gây được hoang mang tinh thần cho mọi người, trong chớp mắt, tất cả bốn phái đều ngừng hết các động tác tính giao tranh, và ai nấy thấy tự hoang mang rối loạn trong mình. Thanh Thông bang chủ vốn là người tôn chủ của một danh phái có khác, lâm nguy không hề nao núng tinh thần, chỉ thấy lão anh hùng vẫn nghiễm nhiên phát lệnh:
- Tất cả hãy vây nhanh thành một vòng tròn để chuẩn bị ứng chiến?
Thế là từ Bắc Kiếm, Phổ Côn, Hoàng Kha, Vân Cư Sĩ và tất cả các thủ hạ của bốn môn phái đều hưởng ứng ngay lệnh của Liễu bang chủ, ai nấy binh khí trên tay, vây kín mít ngay Liễu Mi và Hầu Hạo vào giữa.
Đương nhiên cuộc tranh chấp của họ với Gia Cát Dật đành phải tạm ngưng ngay lại, vì họ cần phải chung sức hợp lực để đối phó với một đại kình địch ghê gớm sắp hiện ra!
Bắc kiếm Phổ Côn, Nam bút Gia Cát Dật, Liễu Khải, Hoàng Kha, Vân Cư Sĩ, năm người thuộc hạng đệ nhất lưu danh trong giang hồ, bây giờ đều lo cẩn thận phòng vệ cho Hầu Hạo, chăm chú động tĩnh khắp bốn phía. Nhưng xung quanh vẫn im tịnh như tờ, ai nấy hồi hộp như muốn đứt hơi thở vì tình hình quá khẩn trương, và họ đều biết rằng đây là trạng thái tột đỉnh giáo đầu của một cuộc kịch chiến sắp bắt đầu, ai mà không biết sự lợi hại của thầy trò Độc Ma, huống hồ lại còn thêm cả nhân vật mới nổi danh trong giang hồ mà khiến ai nghe đến cũng phải kinh hồn bay vía là lão bà bịt mặt bí mật?
Trong khi mọi người chăm chú chờ đợi, thì Liễu Mi lại cảm thấy khoan thai dễ chịu hơn ai hết, nàng lên tiếng với Hầu Hạo rằng:
- Này Hầu đại ca! Anh quả là người có phúc may mắn lắm nhé! Anh xem! Bao nhiêu là bảo tiêu đang lo bảo hộ anh, trông oai phong thật! Làm vua cũng chưa chắc đã có những cận vệ đắc lực như thế. Số anh sướng thật!
Nói xong nàng thích trí cười khanh khách, Bắc kiếm Phổ Côn vội hét rằng:
- Liễu cô nương có im ngay đi không?
Liễu Khải sợ con mình chạm lòng tự ái vì câu nói Bắc Kiếm vội rằng:
- Con gái ngoan của cha chớ lên tiếng nữa! Kẻ địch sắp đến nơi rồi!
Khu rừng phía cửa núi, vẫn im lặng như tờ...
Thình lình, đằng xa có tiếng cười quái dị nổi lên, mọi người giật mình và lo chuẩn bị ứng phó! Nhưng âm thanh của tiếng cười rất quái lạ, khi bổng khi trầm, lúc nhanh lúc chậm, tiếng cười vang dội khắp vùng, nhiếp hẳn hồn người nghe. Bắc kiếm Phổ Côn biết ngay lợi hại, liếc nhìn mọi người, thấy đã có nhiều người chịu không nổi tiếng cười, Bắc Kiếm vội hạ ngay lệnh:
- Hãy bịt tai lại và phủ phục xuống hết mặt đất?
Lập tức có trên mười người phủ phục xuống mặt đất ngoại trừ năm nhân vật khét tiếng ra, và môn hạ của Bắc Kiếm, Tư Đồ Cống, Ngụy Lục, Sở Canh của Thanh Thông Hội và ba vị hương chủ, Hải Không của Cửu Thiên Tự, hai người của phái Điểm Thương cùng với Liễu Mi có thể đương đầu chịu nổi tiếng cười nhiếp hồn người ấy ra, phần đông đều phải bịt chặt tai không dám nghe.
Rõ ràng tiếng cười ấy không xa lắm, bên này nhiều người chịu không nổi phải bịt tai nằm rạp xuống, người phát ra tiếng cười hình như cũng biết rõ lắm! Vì trong tiếng cười đã tỏ ra đắc ý vô cùng, càng lúc tiếng cười càng có một mãnh lực thu hút tâm thần ghê gớm, kẻ nghe chỉ cảm thấy tâm thần vất vưởng bồi hồi. Thời gian kéo dài, Ngụy Lục và một người của phái Điểm Thương lại bịt tai nằm ngay xuống!
Thình lình tiếng cười dứt hẳn, nhưng dư âm của nó vẫn còn vang vẳng dội liên miên trong rừng. Mọi người lúc này mới kinh dị tinh thần, biết ngay đám người của Độc Ma sắp hiện thân, ai nấy nơm nớp chuẩn bị.
Bỗng bụt! Bụt! hai tiếng vang lên, tiếp theo là hai vật tròn to hơn trái bưởi bay nhanh lại, Bắc kiếm Phổ Côn vụt mạnh ống tay áo lên quạt văng xa một trái, còn Vân Cư Sĩ đưa tay lên nhận ngay một trái, nhìn kỹ thất thanh rú lên một tiếng kinh hãi. Thì ra đó là hai chiếc thủ cấp kinh khủng tột độ. Mọi người còn đang kinh ngại chăm chú nhìn hai thủ cấp, thì Thanh Thông bang chủ bỗng lên tiếng rằng:
- Hãy coi chừng!
Mọi người quay đầu lại nhìn, thấy cách xa hơn một trượng, hiện ra một đám sáu người... giữa là một liễn xa (loại xe kéo của cung điện), trên xe một nam và một nữ, nam khăn đen bịt ngang mặt, áo cẩm bào huy hoàng, chính là chủ nhân của Ma Cung, còn nữ tay cầm quái trượng, chẳng cần nói rõ cũng biết đó là lão bà bịt mặt bí mật. Bên cạnh liễn xa, bốn người đứng ngay thẳng, hai người bên cánh trái mặt mũi như quỉ sống, chính là Tam Hung Đinh Hủy và Tứ Hung Đinh Phá, hai người bên cánh phải, áo đen và đều bịt mặt, thân hình vạm vỡ, oai nghiêm lẫm lẫm.
Ngồi trên liễn xa, Độc Ma đưa mắt nhìn khắp mọi người cười rằng:
- Chà chà! Hôm nay không biết ngọn gió gì đã thổi thế! Khiến nỗi Bắc kiếm Phổ Côn trong Càn Khôn Ngũ Tuyệt. Thanh Thông bang chủ Liễu lão gia, Điểm Thương chưởng môn Hoàng huynh, đều đã bị ngọn gió thần thổi lại tụ hợp tại đây hết! Cả Nam bút Gia Cát Dật cũng có mặt tại đây! Hay lắm! Hay lắm! Cả cư sĩ lão huynh kia nữa! Những hạng người xuất gia đầu Phật như các người, sao không chịu ở yên trong chùa ăn chay niệm kinh Phật, đến đây làm gì vậy?
Vừa nói Độc Ma vừa ôm quyền thi lễ trên liễn xa, Phổ Côn cùng với mọi người đành ôm quyền lên trả lễ, chỉ riêng lão bà bịt mặt là không nhúc nhích gì cả, luôn luôn nổi lên những tiếng hậm hực lạnh lùng, hình như coi đám người trước mắt này không vào đâu cả!
Đinh Phá nhanh mắt, hắn đã nhận được ngay Liễu Mi và Hầu Hạo, và len lén lại báo cho Độc Ma hay. Lập tức đôi mắt của Ma Cung chủ nhân sáng ngời hẳn lên chiếu vào khắp mặt mọi người đứng trước!
Ma Cung chủ nhân lên tiếng hỏi rằng:
- Dám hỏi chư vị! Một cặp Kim đồng Ngọc nữ trong vòng của quí vị ấy là ai vậy?
Mọi người bị tiếng oai hách của Độc Ma hớp vía, không ai biết nên đối đáp ra sao, riêng Thanh Thông bang chủ Liễu Khải lòng thương con, vội kéo ngay Liễu Mi vào lòng mình trả lời rằng:
- Nó là tiểu nữ của ta?
Độc Ma cười ha hả rằng:
- À ra là lệnh viện (gái danh giá) của Liễu bang chủ cơ đấy, hay lắm, hay lắm! Lệnh viện đã từng đến Phi Các tiên cung của ta làm khách thăm viếng một độ trong khi đó chúng ta đã tiếp đãi chểnh mảng, xin thứ lỗi hải hà cho!
Ma Cung chủ nhân càng khách sáo bao nhiêu, Thanh Thông bang chủ càng hoảng hồn bấy nhiêu, bụng nghĩ: con nhỏ đanh đá chanh chua này sao lại có thể lẩn vào Phi Các tiên cung của người ta kìa!
Tiếng Ma Cung chủ nhân tiếp tục rằng:
- Lệnh viện quả là người thông minh hiếm thấy, ngang nhiên có thể tìm cách lẩn vào trong Phi Các tiên cung, đã thế mà còn dùng thủ đoạn dùng mận thay đào đánh tháo một kẻ trọng phạm trong tiên cung đi mất, tuổi trẻ măng như thế mà thủ đoạn không kém ai, khiến cho bản chủ nhân vô cùng kính phục!
Độc Ma vốn là người nổi tiếng tàn nhẫn ác tâm trong giang hồ, nay trống ngực của Thanh Thông bang chủ không khỏi hồi hộp lo ngại vì Liễu Mi đã gây nên một tai họa tày trời này, ngang nhiên dám trêu cả đến vị đại ma đầu khét tiếng này, quả thật nó đã xem trời bằng vung.
Độc Ma trầm giọng rằng:
- Nói ngay ra, đã là chỗ lệnh viện của Liễu bang chủ, chút chuyện đột nhập vào Tiên cung, bản chủ nhân cũng chẳng muốn truy cứu làm gì, nhưng lệnh viện đã cứu mất tên thiếu niên Thượng Quan, mà thiếu niên ấy chính là nhân vật quan trọng của Lão Lão đây, bây giờ tuyệt nhiên không thể nào để thiếu niên ấy thoát được, vậy mong Liễu cô nương mau nói rõ hiện giờ thiếu niên họ Thượng Quan ấy đâu, để bản chủ nhân đây cũng dễ ăn nói với vị Lão Lão đây cho dứt khoát trách nhiệm!
Mọi người kinh ngạc liếc nhìn sang hết phía Liễu Mi, nhưng chỉ thấy nàng lúc này đưa hai tay lên úp vào mặt khóc hu hu. Trong đám người ở đây, chỉ riêng có Nam bút Gia Cát Dật là biết rõ nội tình bên trong, câu hỏi của Độc Ma vô tình đã làm nàng xúc động, nên nàng đã cất tiếng khóc thảm thương. Nhưng Liễu Khải và Phổ Côn và mọi người khác đều đâm ra ngẩn người, không hiểu đầu đuôi câu chuyện ra sao, Liễu bang chủ ôm ngay con gái cưng của mình vào lòng an ủi rằng:
- Cưng của cha, nín đi con, mọi việc sẽ có cha đứng ra lo cho. Nín! Nín cha thương!...
Liễu Mi càng khóc thảm thương, mọi người ai nấy cảm động bất giác họ lại dồn hết tia nhìn trách oán của mình vào trên người Độc Ma, như ngầm trách Độc Ma không nên truy hỏi chuyện vu vơ gì để đến nổi khiến cô bé khóc thảm thương như thế!
Nhưng Độc Ma vẫn lạnh lùng như tiền đồng, chỉ có vị lão bà bí mật ngồi cạnh bỗng lên tiếng nói rằng:
- Thôi giáo chủ, chuyện ấy tôi đã lo thu xếp ổn thỏa rồi đừng nhắc đến làm gì nữa?
Độc Ma vui vẻ rằng:
- Ha! Ha!... Lão Lão thật là người rộng lượng khoan rung, nói vậy Liễu cô nương không còn chuyện gì rắc rối nữa! và ta cũng nể mặt lão phụ của cô nương, tội đột nhập trong tiên cung của ta cũng không truy cứu làm gì nữa - Nói tới đây, thình lình Độc Ma cất cao tiếng ràng: - Vân Cư Sĩ, còn thiếu niên kia phải chăng là chính do ngươi tìm kiếm ra?
Vân Cư Sĩ lúng túng không biết nói sao, trông chẳng khác nào chuột thấy oai mèo, không dám nhận cũng như không muốn chối!
Riêng Kỳ Liên Sơn Phổ Côn có vẻ hách dịch hơn, thấy Độc Ma hiên ngang oai nghi thế, bèn nghiễm nhiên rằng:
- Đúng thế! Vị thiếu niên này chính là người mà ngươi đang muốn tìm kiếm đây, nhưng tiếc thay nó lại là môn đệ của Tây đao Thiên Si đạo trưởng, như vậy tức là sư điệt của ta, nay dưới sự bảo hộ của ta, ngươi muốn tính chuyện gì?
Thần sắc hiên ngang hùng dũng này lập tức có ảnh hưởng ngay tâm lý của mọi người, về phía Độc Ma không khỏi ngạc nhiên thái độ thình lình của Bắc Kiếm như thế, còn những thủ hạ của bốn phái đang đương đầu với Độc Ma bỗng cảm thấy mạnh bạo hẳn trong bụng. Bầu không khí lúc này vô cùng im lặng, hai bên đã gờm sẵn nhau, cuộc kịch chiến chỉ còn chờ cơ là bộc phát ngay lập tức!
Trên liễn xa, Độc Ma dịu giọng rằng:
- Hừ! Chuyện này mới lạ lùng chứ! Thì ra thằng nhãi này lại là môn đồ của Thiên Si đạo trưởng, chẳng cần phải nói là Nam Bút, Bắc Kiếm đứng ra đỡ đầu cho y, lẽ đương nhiên là hắn không còn coi Phi Các tiên cung của chúng tôi vào đâu nữa!
Thấy sắc mặt của Phổ Côn và Bắc Kiếm vẫn kiên quyết hình như họ không ngần ngại gì để sẵn sàng dự một trận chiến, Độc Ma mỉm cười lại rằng:
- Nhưng còn Liễu lão gia, Hoàng chưởng môn, bộ các ngài cũng muốn nhúng tay vào vũng nước bùn này sao?
Liễu Khải và Hoàng Kha, đều là bực tôn chủ của một phái lừng danh, vì danh dự vì thể diện, đâu có thể chứng tỏ mình hèn nhát trước thế lực, nghe xong cả hai ưỡn ngực ra, khí sắc hiên ngang rằng:
- Người này không thể nào giao ngay cho ngươi được!
Độc Ma lạnh lùng cười quay sang phía Vân Cư Sĩ rằng:
- Nói vậy, chắc cả đến Cư sĩ huynh cũng muốn trở mặt với ta luôn hả?
Vân Cư Sĩ đã được trợ giúp của ba phái, cũng đâm ra bạo phổi lớn gan, hiên ngang rằng:
- Giáo chủ không thể nào đem gã thiếu niên này đi được!
Độc Ma lên tiếng khen rằng:
- Khá lắm! Kể cũng có chí khí và can đảm đấy! - Dứt tiếng quay sang lão bà bịt mặt bên cạnh rằng: - Thưa ngài, đối với những quân không biết trời cao đất rộng là gì này, phải thẳng tay trừng trị họ mới được.
Lão bà bịt mặt lạnh lùng rằng:
- Giáo chủ cứ yên tâm, với sức sáng đom đóm của họ như thế làm sao có thể bì được với ánh huy hoàng của trăng sao nổi? Nếu quân nào không phục, cứ việc nếm thử cây quái trượng của ta đây cho biết lợi hại!
Liễu Mi ghét nhất là lão bà bịt mặt này, nàng cho rằng chính người này là hung thủ đã hại chết Thượng Quan Linh bèn nói nhỏ với Thanh Thông bang chủ rằng:
- Thưa cha! Mụ già này tai quái nhất!
Liễu Khải gật gù rằng:
- À! Mụ này ức hiếp con của cha đó sao? Được rồi , tí nữa cha sẽ trả thù hộ cho con!
Độc Ma đột nhiên hét lớn tiếng rằng:
- Chư vị đây đã không chịu, thôi cũng được, chúng ta giải quyết với nhau bằng võ công vậy, và chúng ta lấy ngay thiếu niên họ Hầu ra làm giải thưởng cho cuộc đấu, bên nào thắng thì có quyền đem theo thiếu niên họ Hầu đi!
Bắc kiếm Phổ Côn bỗng hét lên:
- Độc Ma! Vậy chúng ta giao đấu bằng cách nào?
Độc Ma cười rằng:
- Phổ Côn! Nhà ngươi muốn đánh ùa cả đám cũng được, nghĩa là cả trên hai mươi người bên ngươi cùng ra tay một lúc, và bên ta đây sáu người cũng đều đứng ra sẵn sàng tiếp chiến, nếu ngươi còn nghĩ đến thể diện giang hồ, bằng lòng phái ra từng trận một, thế thì cứ mỗi trận một bên đó tuyển ra hai người, và bên ta chỉ một người cũng đủ nghênh địch rồi, và trước sau sẽ đấu với nhau ba trận để phân thắng bại. Nhà ngươi nghĩ sao?
Phía bên Bắc kiếm Phổ Côn đương nhiên không tiện cự tuyệt với điều kiện như thế, ngay lúc đó bèn thương nghị trong trận thứ nhất, phái ngay hạng tiểu bối là Thanh môn thần Lưu Khôi của phái Điểm Thương và Ngụy Lục của Bắc Kiếm. Tin chắc như thế đối phương Độc Ma và Lão bà không thể nào ra tay giao đấu với hạng tiểu bối như thế, nếu họ phái Đinh Hủy hay Đinh Phá, hoặc một trong hai tên mặc áo đen bịt mặt, thì bên mình với hai chống một, dù cho không thể thắng địch, nhưng cũng không đến nỗi bại ngay.
Công việc điều binh khiển tướng lúc này do Bắc kiếm Phổ Côn làm chủ, Nam bút Gia Cát Dật tuy không biết công lực của hai đại hán áo đen bịt mặt ra sao, nhưng công lực của Đinh Hủy và Đinh Phá thì biết rõ lắm, lượng sức của hai người Lưu Khôi và Ngụy Lục, tuyệt nhiên không phải là đối thủ của địch, nhưng thấy Bắc Kiếm đã chỉ định cho hai người đánh trận đầu và cả hai đã lững thững bước ra, không tiện lên tiếng can ngăn, trong bụng lo rối lên.
Bên này Lưu Khôi và Ngụy Lục song song bước ra, binh khí họ đã cầm sẵn trên tay, Ngụy Lục dùng kiếm, Lưu Khôi dùng ngọn binh khí độc đáo của phái Điểm Thương là ngọn Tam lăng truy phong trảo, binh khí vung lên, ánh sáng nhoáng lóe trong oai phong lẫm liệt vô cùng.
Nhưng đối với Độc Ma chẳng coi vào đâu. Chỉ nghe Độc Ma lên tiếng hỏi rằng:
- Đinh Hủy và Đinh phá! Hai đứa con đứa nào ra trước nào?
Đinh Hủy lên tiếng chực tung ra ứng chiến. Bỗng bên cánh phải của liễn xa, một tên hắc y đại hán nhảy nhanh ra và nghe hắn nói:
- Giết gà đâu phải dùng dao mổ bò , xin Hủy đại sư hãy nghĩ cho khỏe, để tại hạ cho chúng về chầu diêm vương!
Hắc y đại hán vừa nhảy vào trận đấu, chẳng cần nói ất giáp gì, giơ ngay binh khí lên, Lưu Khôi cùng Ngụy Lục thất kinh hoảng hồn, hình như hắc y đại hán vác luôn cây binh khí của lão bà bịt mặt ra thì phải, chỉ kịp thấy cây gậy đen thui thủi, đón ngược chiều gió, nghe đến ào một tiếng!
Lưu Khôi cướp đánh trước để giữ ưu thế về phần mình, ngọn Tam lăng truy phong trảo phạt ra một lúc cả trái lẫn phải, một nhắm ngay mắt địch, một nhắm dưới vú, thế đánh ra nhanh như nhoáng điện, khiến người không ớn mà lạnh!
Nhưng hắc y đại hán không hề nao núng, thân hình nhẹ đảo cây quái trượng đã vung lên, cheng một tiếng, đúng trúng ngay vào ngọn tam lăng trảo bên phía trên, lập tức hình sắt tam giác bị tung tan tành, sắt vụn văng tứ tán!
Đồng thời tay trái của hắc y đại hán đưa ngay ra trước ngực để bốc hái luôn Tam lăng trảo của Lưu Khôi! Lưu Khôi lúc này hồn bay phách lạc, từ ngày xuất đạo đến nay, quả chưa bao giờ được thấy lối đánh kinh người như thế này, vội thu ngay thế và hấp tấp né tránh. May lúc này môn hạ của Phổ Côn là Ngụy Lục múa tung kiếm lên chống đỡ cho một chập. Lưu Khôi còn lại mỗi một Tam lăng truy phong trảo nhưng cũng ráng vung lên tiến vào trận chiến, lúc này chỉ thấy cây trượng quái gở của Hắc y đại hán múa tít lên như một ngọn độc long tung sóng, thần kỳ tuyệt luân vô tả, kình lực ào ào, khí thế như nổi sóng phong ba. Tam lăng trảo của Lưu Khôi vừa bay ra khỏi tay và nhắm ngay trong ánh trượng đánh tới, nhưng lại nghe một tiếng cheng nổi lên, Lưu Khôi chỉ còn cảm thấy tay mình bổng nhẹ dần, trong lòng giật thót mình, vội nhanh tay rút về, quả nhiên chỉ còn lại sợi xích dài trên tay mà thôi, Tam lăng truy phong trảo đã bị đối phương quất bay từ hồi nào rồi!
Tam lăng truy phong của phái Điểm Thương vốn được chế tạo bằng thứ thép cứng, không ngờ chuyến này lại gặp phải khắc tinh như thế, nhất là cây trượng của hắc y đại hán vừa nặng vừa chắc, nhãn lực của đối thủ lại bén nhọn đích xác, trong cơn rối tung của cuộc chiến mà vẫn ngang nhiên nhận thấy Tam lăng phi trảo bay tới, rồi vung trượng lên dùng nội lực mà đánh bể luôn Tam lăng trảo, công lực như thế quả là hiếm thấy trên đời.
Lưu Khôi mất cả hai ngọn Phi trảo tam lăng nơi hai đầu dây xích, lúc này hai tay trống trơn, trông không khỏi khớp oai của đối thủ, đứng ngẩn trước trận chiến! Trong lúc đó môn hạ của Bắc Kiếm mấy phen tính đi vào thế hiểm và đã chực ra tay dùng đến ngọn chân truyền tuyệt kỹ của Bắc Kiếm là ngọn Hoa Cái kiếm pháp công đánh địch thủ để tự cứu thân, nhưng cây trượng đen của Hắc y đại hán múa lên như một ngọn núi nhỏ, phong tỏa hết các lối của Ngụy Lục, khiến cho Ngụy Lục không còn thì giờ đâu để tung mình lên hầu sử dụng đến thế Hoa Cái kiếm pháp!
 
0
Hồi 053. Ba Trận Tỉ Thí
[/align]

Ngụy Lục đang cố sức chống cự, bỗng hắn phát giác hình như Lưu Khôi đã biến đâu mất. Hắn giật mình! Biết mình đang nằm trong tình trạng có thể khổ chiến, ba mươi sáu chước, tẩu vi thượng chước đã hiện ngay trong đầu óc của hắn. Nhưng khí thế của hắc y đại hán lúc này chẳng khác nào như một bức tường đồng vách sắt, khiến cho tên Ngụy Lục không làm sao thoát khỏi. Như vậy trong lòng hắn càng đâm ra khủng hoảng! Hắc y đại hán thình lình tiến nhanh vào một bước, lớn tiếng quát:
- Trúng!
Phổ Côn kinh hoàng trong lòng, nhưng vì qui lệ của giang hồ, Bắc Kiếm không muốn để cho thiên hạ chê cười, nên mắt thấy Ngụy Lục không thể nào tránh khỏi đòn này, chỉ nghe một tiếng hét thê thảm, Ngụy Lục ngã lăn ra mặt đất chết tươi ngay! Hắc y đại hán cười lên một tiếng rùng rợn, rồi lại giơ ngay cây trượng đen ngòm lên, hình như đại hán lại tìm được mục đích nào khác vậy! Hóa ra từ lúc Lưu Khôi bị mất binh khí, như thấy Ngụy Lục đơn thân chiến đấu như thế bèn đứng ngẩn người ra nhìn trận chiến, quên hẳn bản thân của mình lo chuồn!
Hận thư sinh Hoàng Kha không thể nào chịu nổi bèn hét lớn lên:
- Lưu Khôi mau chạy qua đây!
Lưu Khôi tỉnh hồn thất kinh, mắt thấy đại hán áo đen đã vung trượng quét ngang đến, đành tung mình nhảy tránh và chạy như bay. Nhưng đại hán bịt mặt khinh công cũng tuyệt vời, chỉ nội hai ba bước đã bắt kịp ngay sau của Lưu Khôi.
Tư Đồ Cống vội lên tiếng nhắc:
- Lưu huynh hãy cẩn thận phía sau!
Lưu Khôi lúc này hai tay trống rỗng, trong cơn nguy cấp, và tìm sống trong cái chết, hai tay hắn chỉ còn nước vung bừa ra sau, lẽ đương nhiên hắn đã dùng toàn lực đánh ra ngọn chưởng ấy!
Hắc y đại hán cười lanh lảnh, tay trái cầm trượng, chưởng bên phải phạt ngay ra một ngọn, thình lình nghe “páp” một tiếng vang lên, Lưu Khôi rú lên một tiếng kinh hồn! Mọi người đành nhắm mắt không nỡ nhìn cảnh thảm trạng trước mắt! Lưu Khôi sau khi trúng chưởng của địch, toàn nội phủ đã bể nát hết, cố gắng bước được hai bước rồi hộc mấu ngã lăn xuống mặt đất chết!
Hắc y đại hán sau khi đã thắng hai người của đối phương, ung dung bước hiên ngang về cạnh bên liễn xa của Độc Ma. Bên này Hận thư sinh Hoàng Kha bỗng lên tiếng gọi trận:
- Vị hảo hán khoan đi, tại hạ đây Hoàng Kha của Điểm Thương Phái xin được hầu giáo vài đường tuyệt kỹ! - Dứt tiếng, toàn thân vụt bổng lên như một con hạc nhẹ nhàng đậu ngay trong vòng trận.
Độc Ma ngồi trên liễn xa, lạnh lùng cười rằng:
- Kìa Hoàng chưởng môn, thiếu niên này là đồ đệ của ngươi đó sao? Đáng tiếc! Đáng tiếc! Nhưng tại hắn học nghệ chưa đến nơi đến chốn, nếu hắn được sự chân truyền của Hoàng lão huynh, đâu mà đến nỗi vài ba hiệp đã bại về tay đệ tử Lão Lão đây nhanh như thế!
Câu nói mát bóng gió này khiến cho Hoàng Kha điên tiết thêm, chỉ nghe Hoàng Kha quát lên rằng:
- Độc Ma, lối khẩu chiến như thế đâu phải bản sắc của kẻ anh hùng? Nếu có giỏi xin mời ngay xuống đây xem nhà ngươi có quả thật bóp nát đôi phi trảo của ta không! - Nói xong vung luôn Tam lăng phi trảo ánh sáng nhấp nhóe lóa mắt!
Độc Ma cười như điên rằng:
- Hừ! Nhà ngươi tưởng rằng hai ngọn quỉ trảo ấy mà lợi hại lắm sao, trong con mắt của ta, chẳng qua chỉ là hai viên đất của trẻ nhỏ chơi mà thôi! Nếu bản chủ nhân ra tay, chỉ e nhà ngươi khó lòng giữ nổi hư danh của một tông phái, và chỉ cần tam đồ đệ Đinh Hủy của ta xuất trận, cũng dư sức thắng nhà ngươi rồi!
Hận Thư Sinh tức muốn vỡ lồng ngực, hét lên rằng:
- Thôi thôi thôi!... Chuyến này ta liều luôn mạng sống này, có thua cũng không chịu thua hơi tức này! Lại đây lại đây! Hoàng Kha ta tuyệt nhiên không cần ai giúp sức, vậy bên ngươi bất luận người nào ra đùa với ta cũng được!
Gia Cát Dật vừa bước ra được nửa, nghe Hoàng Kha nói cương quyết như thế, phần biết Hoàng Kha dù sao cũng bậc tôn sư của một phái, vì danh dự và thể diện, nếu mạo muội ra tay trợ sức, càng khiến cho người khó hạ đài, nên đành ngừng ngay bước lại.
Bên kia Độc Ma chẳng thấy khẩn trương chút nào cả, vẫn ung dung đủng đỉnh nói:
- Này Hoàng Kha, ta có lời giao hẹn trước, không thể nào nuốt lời được, vậy ngươi hãy tỉ thí thử với Tam đồ đệ của ta là Đinh Hủy xem đã, nếu ngươi thắng, chúng ta sẽ đấu sau cũng chưa muộn gì!... Nhưng các ngươi muốn tỉ thí bằng cách nào? Vì tiện đồ của ta vốn trời sinh da bì nó rắn như trâu, e cho đôi Tam lăng phi trảo của ngươi không làm gì nổi nó đâu... thật là một chuyện khó cho các ngươi, nhưng thôi, Đinh Hủy con, vậy con hãy ra tỉ thí nội công với Hoàng tiền bối cho vui!
Đinh Hủy nhảy tung ngay ra đấu trường, hắn tỏ vẻ khách sáo và lễ độ lắm! Chỉ nghe giọng ngọng trứ danh của hắn rằng:
- Nay phụng sư mạng ra cùng Hoàng tiền bối tỉ thí nội lực, may nhờ Hoàng tiền bối không chê bai chỉ giáo. Hân hạnh cho vãn bối Đinh Hủy này lắm lắm!
Tuy lời nói của Đinh Hủy nghe khá trôi tai, nhưng với bộ mặt kinh tởm hãi hùng ấy quả thật ít ai dám lãnh giáo lắm, mặt mũi be bét máu mủ, tiếng nói chứa toàn âm hờ, trông chẳng khác nào chiếc đầu lâu bị rữa thịt, thoạt nhìn ai cũng phải nổi da gà!
Hận Thư Sinh lúc này đứng cách xa lối vài thước, nên trông càng rõ ràng hơn ai, đến bậc chưởng môn như Hoàng Kha, lúc này nhìn rõ Đinh Hủy cũng không khỏi nổi da gà trong mình, chính xưa nay Hoàng Kha cũng chưa hề thấy rõ bộ mặt thật của thầy trò Độc Ma ra sao, mà chỉ nghe đồn sơ đến hung danh của họ mà thôi, may được thấy Đinh Hủy, quả là kinh khủng thật, bụng nghĩ: sao dưới trần gian này lại có hạng người xấu xí rùng rợn như thế này!
Đinh Hủy thấy đối phương đứng ngẩn người nhìn mình, bèn bước thêm một bước. Hoàng Kha thấp hơn Đinh Hủy, khi hai người đứng gần lại, lại càng rõ ràng hơn nữa, Hận Thư Sinh bất giác tự giật lùi về sau một bước.
Đinh Hủy cười lên những giọng Hò hò rằng:
- Thưa Hoàng tiền bối, xin ngài làm ơn cho mượn chiếc Tam lăng phi trảo dùng chút đã, tôi và ngài mỗi người nắm một đầu, ai nấy vận dụng nội lực của mình để kéo, ai chịu không nổi kể như thua trận, ngài tính sao?
Đương nhiên Hoàng Kha không tiện phản đối, bụng nghĩ mình đã có công rèn luyện trong mấy chục năm và khí công nội lực, bộ lại không thắng nổi thằng quỉ sống này hay sao, đoán tuổi tác của Đinh Hủy, chỉ ước lối gần ba mươi là cùng, vậy dầu cho hắn có luyện võ từ năm lên mười tuổi đi nữa, thử hỏi làm sao có thể bì với công lực khổ luyện trong gần bốn mươi năm trời của mình. Nghĩ vậy, thế nào mình cũng thắng trong vố này, tâm thần phấn khởi hẳn, lấy ngay Tam lăng phi trảo giao ngay cho Đinh Hủy cầm!
Đinh Hủy cầm ngay đôi phi trảo rồi đem nối liền hai đuôi dây xích lại thành một, trong chớp mắt đã thành một sợi dây xích mà hai đầu đều có Tam lăng phi trảo, mọi người thấy vậy ngẩn người ngạc nhiên. Sau khi Đinh Hủy nối liền hai đuôi của dây xích lại, mọi người càng lấy làm lạ, thứ Tam lăng phi trảo này vốn sắc bén vô cùng, không lý Đinh Hủy lại có thể cầm được trong tay hắn sao?
Không lẽ tên quỉ sống này lại hồ đồ làm nhầm công việc nối dây xích? Cả đến Hận thư sinh Hoàng Kha cũng cảm thấy lạ lùng, chẳng hiểu Đinh Hủy tính làm trò ma tịt gì đây? Chỉ thấy Đinh Hủy giao ngay một đầu Tam lăng phi trảo cho Hoàng Kha, còn phần hắn cũng nắm ngay vào lưỡi bén sắc của Phi trảo! Mọi người cho rằng Đinh Hủy đã điên, vì có ai mà lại đi cầm nắm một thứ binh khí vô cùng bén nhọn trong tay mình như thế? Họ tin chắc rằng chỉ trong chớp mắt, Đinh Hủy thế nào cũng bị đứt tay ứa máu ngay!
Nhưng sự xảy ra ngoài sức tưởng tượng của mọi người, Đinh Hủy hình như có ma thuật vậy, chỉ thấy tay hắn nắm chặt vào lưỡi kiếm sắc bén của Tam lăng phi trảo mà không hề hấn gì, cho cả đến Hoàng Kha cũng phải ngẩn người kinh ngạc, Đinh Hủy cười và lên tiếng:
- Kìa Hoàng tiền bối! Xin tiền bối ra tay cho rồi!
Hận thư sinh Hoàng Kha giật mình kinh ngạc, vội vận khí vào ngay chưởng giơ tay nắm ngay Tam lăng phi trảo. Dù khí công Hoàng Kha đã đến mức tinh thông, nhưng trong tay nắm lưỡi Tam lăng phi trảo vẫn cảm thấy khó chịu vô ngần. Trong bụng nghĩ thầm: Chuyến này không khéo nguy to mất, chưa mở cuộc so đấu mà mình đã lộ bại tướng thì còn ra thể thống gì, vậy phải dùng lối đánh chớp nhoáng mới được hãy dùng nội lực chiếm phần thắng đã rồi tính sau!
Hai người lúc này đã chuẩn bị sẵn vị trí của mình, tay mỗi bên cầm một lưỡi của Tam lăng phi trảo, hai lưng đấu dựa vào nhau, chỉ chờ tiếng hiệu lệnh của Độc Ma phát ra, cả hai sẽ chạy tung sang hai hướng khác nhau.
Lệnh của Độc Ma đã phát, chỉ thấy hai người bung chạy về hai hướng ngược chiều, mãi đến khi cả hai cảm thấy bị dây xích giật ngược lại mới chịu ngừng bước và ai nấy lo vận ngay nội lực của mình, đồng thời chuyển nhanh bộ tấn của mình, khoản cách của hai người lúc này được cách xa chừng hơn hai trượng. Nhưng thấy Hận thư sinh Hoàng Kha thình lình hét lên một tiếng lớn, sợi dây xích dồn ngay về phía Hoàng Kha lối năm tấc! Điểm Thương Phái, Thanh Thông Bang, và nhóm Cửu Thiên Tự cùng nhóm Bắc Kiếm đều reo lên hoan hô!
Lúc này Liễu Mi đang đứng dựa người vào mình cha già chậm rãi nói:
- Theo con xem, chuyến này Hoàng thúc thúc thế nào cũng thắng trận này.
Nhưng Hầu Hạo đứng cạnh bỗng nhiên lên tiếng rằng:
- Không đâu! Trận này có lẽ Đinh Hủy thắng mất!
Liễu Mi lấy làm lạ hỏi:
- Hầu đại ca vin vào đâu mà nói thế?
Tiếng nói của Hầu Hạo trầm trầm rằng:
- Bởi tôi biết hắn trời sinh thần lực, sức không thua kém gì tôi, vì trong kỳ tỷ thí trước với hắn tại Cửu Lãnh Sơn, kết quả vì đấu một lúc với hai người, nên tôi đành phải bại về tay hắn.
Quả nhiên câu nói này đã nhắc nhở cho Liễu Mi nhớ lại cả giao đấu tại Cửu Lãnh Sơn với hai anh em Đinh Phá và Đinh Hủy dạo nọ. Như thế đủ chứng tỏ Đinh Hủy đã từng cả thắng, thần lực của Đinh Hủy đâu phải là tay tầm thường gì, xem ra Hoàng Kha chuyến này bị trúng mưu gian của Độc Ma, thế nào cũng thua về tay Đinh Hủy mất.
Nhìn lại trong đấu trường, quả nhiên Đinh Hủy đang thắng thế dần dần, Hận thư sinh Hoàng Kha bị lép thế hẳn, mắt thấy không thể nào gỡ nổi cuộc diện. Thình lình trên liễn xa Độc Ma cất tiếng hét lên, sợi dây xích bị Đinh Hủy kéo qua hơn một nửa, cuộc thắng bại đã phân rõ, Độc Ma lớn tiếng rằng:
- Thôi Đinh Hủy! Con đã cả thắng Hoàng lão tiền bối rồi, con không mau mau cám ơn người ta đã cố tình nhường mình sao!
Nghe nói kháy vậy, Đinh Hủy hiểu ngay ý, lập tức lên tiếng ngọng rằng:
- Đa tạ lão tiền bối đã nhân nhượng! Nhân nhượng!
Hận Thư Sinh càng lộn tiết lên đầu, bỗng lão tối tăm mặt mũi vì cơn tức và lăn ngay ra mặt đất!
Nhóm thủ hạ của phái Điểm Thương vội chạy ùa ra khiêng ngay thân sư phụ mình về chỗ, và nhặt luôn binh khí Tam lăng truy phong trảo! Mọi người lo cứu tỉnh Hoàng Kha, khi nhìn đến ngọn Phi trảo, thấy lưỡi trảo mà Đinh Hủy nắm vừa rồi đã biến thành một hình tròn xoe, nghĩa là ngọn phi trảo đã biến thể từ hình tam giác thành hình tròn, đám thủ hạ ai nấy le lưỡi lắc đầu về thần lực lợi hại của Đinh Hủy.
Hận Thư Sinh sau khi tỉnh lại, hổ thẹn muốn tự tử cho yên danh dự, nhưng các thủ hạ cố tâm một lòng khuyên nhủ, cả Gia Cát Dật và Liễu Khải đứng cạnh cũng cảm thấy buồn thầm cho Hoàng Kha. Đám đệ tử của Điểm Thương Phái tự lượng sức và võ nghệ không đi tới đâu không thể nào dám đứng ra trả thù cho tôn sư bèn thảm thiết nói với Gia Cát Dật và Liễu Khải rằng:
- Danh dự của gia sư và tệ phái, chúng tôi tự lượng không thể nào chuộc lại được, duy chỉ dám xin nhị vị hãy vì chút giao tình của gia sư mà đứng ra làm chủ hộ cho!
Gia Cát Dật gật đầu ưng thuận ngay. Lúc này phía Độc Ma liên tiếp thắng hai trận, bên này Vân Cư Sĩ buồn rầu ảo não, Bắc kiếm Phổ Côn ngước mặt nhìn trời không nói gì!
Độc Ma ngập ngừng như mãn ý, rồi nói:
- Phổ Côn! Trong ba trận đấu, các ngươi đã bại hết hai rồi, bộ còn chưa chịu phục sao? Muốn tiếp tục đấu trận thứ ba nữa hả?
Bắc kiếm Phổ Côn chưa lên tiếng, Liễu Khải bước ra với bộ râu trắng phất phơ của mình, lên tiếng rằng:
- Lão phu Liễu Khải, không ngần ngại mạo muội ra tiếp trận thứ ba này, vậy xin cử vị cao nhân nào xuống chỉ giáo cho?
Lão bà bịt mặt cạnh bên Độc Ma lúc này đứng phắt ngay dậy với giọng trầm khàn khó nghe rằng:
- Bà lão ta xin xuống hầu thử vài ngọn tuyệt học của Thanh Thông bang chủ vậy?
Liễu bang chủ lạnh lùng rằng:
- Vậy thì còn gì tuyệt cho bằng! Chính con gái ta đang muốn tìm bà !
Lão bà bịt mặt cười khanh khách rằng:
- Lão già kia! Nếu ngươi thắng ta, đương nhiên nhà ngươi có thể đem thằng nhãi kia đi, và Tiên Cung giáo chủ hãy nể tôi mà tạm tha cho chúng một phen, nhưng nếu nhà ngươi thua. Hà! Hà! Ngoài trừ thằng nhãi kia phải để lại ra, mà đến con bé ranh của nhà ngươi cũng để lại cho ta!
Thanh Thông bang chủ vốn là người trên sáu mươi tuổi, về giang hồ kinh nghiệm có trên bốn mươi năm, tính tình hàm dưỡng khác hẳn với thiên hạ, tuy bị những lời nói hống hách của bà lão bịt mặt nói như vậy Liễu Khải vẫn không hề bị khích động, chỉ thấy vị bang chủ này vẫn lạnh lùng cười.
Lão bà bịt mặt cầm ngay trượng đi ra, thế cầm trượng của lão quỉ dị vô cùng, chẳng khác nào bà ta đang cầm chiếc rìu lớn vậy, dưới chân uyển chuyển như lưu thủy bước theo xung quanh Liễu Khải.
Liễu Khải thình lình bước vọt tới một bước, tà áo vùn vụt thành tiếng, khiến cho lão bà phải giật thót mình, thân hình nhẹ nhoáng, lập tức thối lui bộ về sau. Liễu Khải bất giác cười ha hả, biết ngay đối phương khớp về danh tiếng bang chủ Thanh Thông của mình. Bốn mươi năm danh tiếng trong giang hồ, nhưng vì chưa biết rõ tung tích lai lịch của lão bà này, Liễu Khải cũng không dám mạo muội vội.
Khi lão bà bịt mặt thấy đối thủ chẳng qua chỉ cốt biểu dương thanh thế, liền sấn ngay vào ba bước, vung nhẹ trượng đứng giàn hẳn thế và cuốn người tiến vào, Liễu Khải giơ ngay tay phải đẩy ngay ra, ào một tiếng gió phát ra, ngọn kình phong chạm mạnh ngay cây trượng của đối thủ, chỉ thấy ngọn trượng của lão bà nặng nề như thế mà bị bật hẳn ra. Ngọn đòn tay không này của Liễu Khải quả là lợi hại, vị bang chủ của Thanh Thông Hội dám ngang nhiên dùng hai tay không đối chọi với một vị nữ ma đầu lừng danh gần đây như thế, với công lực này quả thật khiến cho người ta kính phục vô cùng.
Liễu Mi đứng vỗ tay cười hí hửng rằng:
- Thưa cha! Cha bồi thêm một chưởng nữa cho bà quỉ già ấy chết đi cho đỡ gai mắt!
Lão bà bịt mặt đã hầm hầm nổi giận, bèn vận ngay chân lực dồn hết lên cây trượng của mình, đáng lẽ đẩy ngang cây trượng ra, nhưng lúc này thình lình lại giơ cao lên khỏi đỉnh vụt mạnh xuống, oai lực dũng mãnh vô ngần, trong ngọn đòn này lão bà đã dùng hết nội gia chân lực, Liễu Khải vội vung chường lên đỡ, chỉ nghe bùng một tiếng lớn vang lên, cả đôi bên đều bị giật lùi về sau mấy bước.
Liễu Khải sau khi đụng độ xong ngọn đòn này, bộ râu trắng bất giác phất phơ, tà áo bay phần phật, lão đã nhận ngay chân lực của đối thủ quả không phải phàm tục gì. Phải biết rằng lão già bịt mặt đây là người đã từng khổ luyện tuyệt nghệ trên mấy chục năm trời, thế đánh vô cùng ác liệt và quỉ dị, từ ngày xuất hiện trong giang hồ, vì tính tình tàn nhẫn, ra tay hiểm ác, nên lập tức danh truyền khắp nơi xa gần trong thiên hạ, lại được các đảng bí mật bầu làm thủ lãnh! Lúc này chỉ thấy ngọn đòn này nhanh và mạnh vô lường, vội giơ hai chưởng rẽ ngay sang tả hữu đôi bên, ngọn này của Liễu Khải hoàn toàn ỷ hết vào công lực hùng hậu trong bốn mươi năm trời của mình để giải thế đánh quái dị của đổi phương! Tuy thế, nhưng trong bụng Liễu Khải cũng thầm nhủ: Mụ già này quả lợi hại thật, mình chưa hề thấy qua thế đánh này bao giờ, mà cũng không biết được phái nào truyền ra? Gay go lắm mới giải nổi thế đánh này của địch, nếu mụ ta còn ngọn gì quái dị thêm nữa, chắc mình hơi khó xử trí đây!
Thanh Thông bang chủ quả không hổ là một người già kinh nghiệm, thấy mình chịu đòn không bằng mình mở ngay thế công còn thắng thế nhiều, bèn lập tức đổi ngay chưởng phong, trong mỗi thế đánh, đều ngầm chứa nhu lực, hoặc sát hoặc nhử địch, tránh nặng chịu nhẹ, tìm đích nơi hở để tiến đánh thình lình. Nhưng ánh trượng của lão bà bịt mặt tua tủa không khác gì một bức tường kiên cố, ngầm chứa sức hút, và đã thu hút dần Thanh Thông bang chủ vào trong ánh trượng của mình, khiến lão anh hùng không sao thoát thân được? Nhưng dù sao Thanh Thông bang chủ cũng là tôn sư của một phái tăm tiếng trên giang hồ, đâu phải tay tầm thường gì, chẳng qua Liễu Khải đang ngấm ngầm vừa đánh vừa quan sát, tuy phát hiện công lực của lão bà này oai dũng vô biên, nhưng đâu phải đã hết mức tuyệt đỉnh nhập thần xuất thánh đâu. Chẳng qua Liễu Khải đang nghĩ là nên ra tay bằng cách nào cho thắng ngay!
Chợt cơ hội đến, Liễu Khải quạt thốc ra một chưởng, hư hư thực thực, mắt thấy thế chưởng mãnh liệt, chỉ thấy khí thế của lão bà bắt đầu yếu hẳn, thậm chí bị lôi cuốn hẳn vào trong chưởng phong của đối thủ, chỉ nghe tiếng lão bà ý lên một tiếng, trong cảnh nguy cấp tột độ ấy ánh quái trượng đen ngòm và thu về lo giữ bản thân mình, vèo nhanh ra. Liễu Khải cũng bàng hoàng, mình đã giở hết bản lĩnh bình sinh của mình ra, nhưng vẫn không sao thắng được lão bà bịt mặt này. Thình lình lão bà lại tiến nhanh thân vào, nhưng vòng trượng chuyến này được thu nhỏ hẹp, oai lực đột nhiên tăng mạnh lên hẳn!
Tất cả danh dự mấy mươi năm của vị bang chủ Thanh Thông Hội đâu phải là chuyện chơi, lão anh hùng đâu dám chểnh mảng, vội dốc hết toàn lực và tinh thần lo đối phó với vị nữ ma đầu mới nổi tiếng gần đây, lão chỉ mong sao cố đè bẹp cho được kình địch trước mắt đây để giữ toàn thể diện cho Thanh Thông Bang!
Đã trên ba tàn nhang trôi qua, Liễu bang chủ vẫn bị vây hãm - trong ánh trượng mịt mù của lão bà bịt mặt, dần dà thấy đã lộ hẳn yếu điểm. Chỉ thấy các đòn trượng của mụ ta quỉ quyệt vô ngần, nội lực lại mạnh, khiến cho mình không làm sao phản lại cuộc diện cho thăng bằng, dần dà chỉ còn nước chống đỡ để giữ thế, bụng nghĩ phải rút binh khí, nhưng đành bó tay, vì đối thủ không cho hở hơi rảnh tay để thực hiện, đồng thời Liễu Khải cũng nghĩ đến là cây quái trượng đen thui này đã có thể quết bể Tam lăng phi trảo của phái Điểm Thương, tức nhiên loại binh khí này được chế bằng thứ thép rắn đặc biệt, vậy thì thứ binh khí bằng sắt phàm thường của mình làm sao chống nổi. Nghĩ tới nghĩ lui, chẳng có cách gì, nhưng lại không chịu nhận thua, nên vẫn ráng cầm cự để duy trì tình thế cuộc chiến!
Nhưng lão bà bịt mặt ấy càng đánh càng hăng say, khắp mọi người đứng xung quanh, thấy cảnh hỗn chiến của hai tay cao thủ thượng thặng càng lúc càng đi sâu vào quyết liệt ai nấy đều hồi hộp kinh hồn hoảng vía!
Liễu Mi lo cho sự an nguy của lão phụ, có lẽ nàng là người hồi hộp nhất trong số người hồi hộp, và nàng nghĩ cách làm sao cho lão phụ mình thắng trong trận này!
Lúc này thấy Liễu Khải mặt đã đọng mồ hôi! Còn phía lão bà vì có khăn che kín mặt, nên không biết thần sắc của mụ ta ra sao? Nhưng cứ xem xét thế đánh và bộ pháp dưới chân của lão bà, hình như chưa thấy có vẻ gì rối loạn!
Thanh Thông bang chủ lúc này quả thật muốn thu ngay thế nhảy vọt ra ngoài nói vài câu khách sáo giang hồ để hạ màn cho cuộc chiến cam go, nhưng trong lòng lão anh hùng thừa biết rằng: hành động như thế thì tất cả thanh danh và tên tuổi của mình sẽ bị chôn vùi từ đây, không những thế mà đến con gái cưng của mình cũng phải chịu số phận cho người ta bắt đi! Thường có câu: nhân tử lưu danh, báo tử lưu bì (người chết để tiếng, beo chết để da), cho nên trên giang hồ, thiên hạ thường hy sinh vì hai chữ danh dự, dù có thua cũng không cau mày trước cái chết! Càng nghĩ Liễu Khải càng cố duy trì cuộc diện trước mặt, nhưng chỉ thấy Liễu bang chủ mỗi lúc mỗi yếu thế dần.
Liễu Mi cố suy nghĩ để tìm phương pháp giải cứu cho cha già, nhưng suốt từ nãy giờ, nàng không tìm được sơ hở nào của địch để ra tay giải cứu, và nàng càng thừa biết rằng: nếu không mau mau tìm cách gỡ rối, thời gian khi kéo dài, cha già kiệt sức, không bị thiệt mạng thì cũng bị trọng thương, và như thế thì cha già thế nào cũng tự sát để bảo tồn danh dự! Càng nghĩ đến đây càng Liễu Mi càng đâm lo cuống lên!
Chợt nhiên! Nàng nghĩ ngay đến cây Tiểu Đoạt Hồn Kỳ, vốn là một trọng báu, thế nào cha mình cũng mang theo bên cạnh người, nay đã nguy cấp kịch liệt như thế, sao không lấy ra thử xem sao? Tuy không biết cha già mình có biết hiệu lực của chiếc cờ nhỏ ấy không, nhưng có đem ra thử cũng còn hơn là chịu bó tay chờ chết! Nghĩ vậy Liễu Mi thình lình lớn tiếng gọi với cha già rằng:
- Cha ơi! Sao cha không lấy Tiểu Đoạt Hồn Kỳ ra đánh mụ ta!
Tiếng Tiểu Đoạt Hồn Kỳ vừa. thoát ra từ cửa miệng Liễu Mi, cả hai phe đều thất kinh hồn vía, và ai nấy đều mong ước thấy báu vật này xem oai lực của nó sự thật đi đến mức độ nào, đương nhiên mọi người đều không khỏi nơm nớp trong lòng, giương mắt chăm chú sự xuất hiện của báu vật trong võ lâm!
Chỉ thấy Thanh Thông bang chủ thình lình nhảy tung ra phía sau, thò tay vào trong mình.
Dẫu cho lão bà bịt mặt hung hăng đến đâu, lúc này cũng không khỏi thối lui liên miên, vì danh tiếng của Tiểu Đoạt Hồn Kỳ trên giang hồ không ai không biết, nhất là lại được truyền rằng oai lực của nó không thể nào lường nổi, và dù cho lão bà bịt mặt cao cường đến đâu đi nữa, và đã là người, ai chẳng ngán chết! Lẽ nào mụ ta lại chẳng chột dạ trong lòng.
Nhưng chỉ thấy Liễu bang chủ từ trong mình rút ra một vật như cây trâm vậy, một đầu trông giống hình cờ, trông không ra vàng mà cũng chẳng ra thép, hình thế dị hợm! Mọi người thấy vậy thất vọng, thì ra báu vật nổi tiếng trong giang hồ, như cây Tiểu Đoạt Hồn Kỳ đây chẳng qua không khác chiếc trâm là mấy!
Lúc này nhìn vào Liễu bang chủ của bang Thanh Thông, hình như ông ta cũng đang ngẩn người không biết nên sử dụng chiếc Tiểu Đoạt Hồn Kỳ ấy bằng cách nào mới đúng!
Lão bà bịt mặt sau khi tỉnh thần lại, và nhìn thấy chiếc Tiểu Đoạt Hồn Kỳ không có hình thể gì đặc sắc mụ ta bèn bước lên hai bước cười khanh khách rằng:
- Sao lão già? Đó chính là dị bảo trong võ lâm là cây Tiểu Đoạt Hồn Kỳ đó sao? E không đúng chăng? Hay là phái Thanh Thông của lão già đã bị người ta lừa dối rồi cũng nên, nhưng chúng ta đâu phải người ngốc, của dỡm như thế mà cũng muốn đem ra lòe thế nhân, nhưng làm sao có thể dọa nổi lão bà ta?
Thấy Liễu bang chủ vẫn đứng ngơ ngác như kẻ trúng gió vậy, lão bà càng đâm bạo gan thêm, thình lình giơ nhanh trượng vọt thanh mình tiến vào quất ngang ngay một đòn khốc liệt qua.
Thanh Thông bang chủ đành phải ra tay chống đỡ đòn địch, lão anh hùng vội giơ ngay cây Tiểu Đoạt Hồn Kỳ khua lên nghênh địch, bỗng chỉ nghe tiếng cheng một tiếng, cây quái trượng đen ngòm của lão bà bịt mặt lập tức bị gãy đôi thành hai!
Cuộc chiến thay đổi hẳn, chỉ thấy phía lão bà nguy như trứng chọi với đá, mụ ta liền giở ngay đòn ăn gian ra là dùng nửa cây trượng gãy trên tay làm ám khí tung vọt hẳn sang địch thủ, Thanh Thông bang chủ lại vội đưa thanh Tiểu Đoạt Hồn Kỳ ra đỡ, lại một tiếng đụng vang lên, nửa khúc quài trượng đen ngòm ấy lại bị gãy làm đôi. Lão bà bịt mặt bèn nhân cơ hội nhảy tung ngay về phía sau.
Thanh Thông bang chủ từ trong tay tử thần thoát nạn, và lần đầu tiên lão anh hùng dùng đến Tiểu Đoạt Hồn Kỳ, không ngờ oai lực của nó đã lợi hại như thế, chính cả Liễu Khải cũng chưa bao giờ ngờ được như thế nay tuy đã thắng trong trận này, nhưng quả thật không khác nào như vừa nằm trong một cơn chiêm bao lạ lùng!
Lão bà bịt mặt thoát chết, sau khi tỉnh hồn lại, hai tên đệ tử đại hán áo đen vội đến gần dìu ngay sư phụ mình lên liễn xa. Trong chớp mắt, cả đôi bên đều im lặng tịch mịch. Phía bên Độc Ma, hoàn toàn đã bị chiếc Tiểu Đoạt Hồn Kỳ trấn át ngay khí thế hung hăng, chẳng ai dám lên tiếng gì, còn bên này Bắc kiếm Phổ Côn, Hận thư sinh Hoàng Kha, Vân Cư Si, ánh mắt của ba người đều long lanh, ai nấy ngầm có một âm mưu riêng trong lòng!
Liễu Mi vốn là kẻ thông minh tuyệt đỉnh, nàng đoán biết ngay, sau khi họ phát giác oai lực ghê gớm của Tiểu Đoạt Hồn Kỳ như thế, ai nấy không khỏi sinh lòng tham lam tính cướp đoạt làm của riêng mình.
Nàng vội lên tiếng nhắc khéo cha già:
- Thưa cha! Chúng mình đi về thôi? - Nói xong đưa tay kéo ngay Hầu Hạo đứng cạnh tính nhảy vọt ra.
Nhưng Bắc Kiếm vung ngay ống tay áo ngăn ngay lại trầm giọng rằng:
- Chớ nên vội thế!
Thanh Thông bang chủ nghe tiếng con gái, đang tính quay thân về, nhưng chiếc liễn xa của Độc Ma đã đẩy gần tới, trên xe, Ma Cung chủ nhân cười rằng:
- Kìa Liễu bang chủ! Ngài tính đi hấp tấp như thế sao?
Liễu Khải giận rằng:
- Độc Ma! Không lý nhà ngươi tính bội ước sao?
Độc Ma rằng:
- Lão lão đã có lời hứa danh dự từ trước, lẽ nào Phi Các tiên cung lại không nể tình, vậy chuyện này tạm gác sang bên đã. Nay ta muốn nói sang chuyện khác: về chiếc Tiểu Đoạt Hồn Kỳ, ta đã nghe danh nó từ lâu nay hân hạnh có duyên được thấy như thế, quả là vật thần diệu bất phàm, nay xem ra những sự thần kỳ của chiếc cờ ấy, đương nhiên không phải chỉ có sức lợi hại thế đâu... Nay xem Thanh Thông bang chủ tuổi đã xế chiều, nếu không biết sử dụng được những kỳ diệu của ngọn cờ ấy, chẳng hóa ra là của báu bị nằm trong bùn lầy sao? Đáng tiếc! Đáng tiếc! Cho nên, muốn tránh cho những kẻ gian trong giang hồ chết về nó, ta đây đã nghĩ được ra một thiện kế đối phó!
Tâm địa của Độc Ma Tư Mã Chiêu, ai mà chẳng rõ âm mưu đen tối của hắn, Liễu Khải làm sao lại nhận không ra, bèn giận rằng:
- Độc Ma! Phải nhà ngươi muốn chiếm chiếc cờ này không?
Khi hỏi câu này, Liễu Khải tưởng đâu vì thể diện và thanh danh, Độc Ma không khi nào dám nhìn nhận dã tâm của mình, ngờ đâu Độc Ma ngồi trên liễn xa lại gật đầu lia lịa và tán thành rằng:
- Liễu bang chủ quả là người tài đoán, thử nghĩ thất phu vô tội, hoài bích kỳ tội! (mình không tội nhưng của báu lại rước tội), của báu như thế mà cứ nằm trong mình bang chủ, e khó lòng tránh khỏi nguy hiểm trong người, lẽ đương nhiên những nhân vật trong giang hồ nghe tin thế nào họ chả kéo nhau để nghĩ cách tước đoạt làm báu vật sở hữu của mình, đến chừng đó, theo ý ta nghĩ, bang chủ không những không sử dụng được chiếc cờ và thông hiểu ngụ ý của chiếc cờ, như thế không có ích gì giúp cho quí bang hưng khởi, mà trái lại còn có thể đưa Thanh Thông Bang hội đi đến chỗ diệt vong là khác! Cho nên, theo ý tôi, chẳng thà Liễu bang chủ tặng cho tôi chiếc cờ này làm kỷ niệm ngày gặp gỡ hôm nay cho đẹp lòng nhau, ta bảo đảm với danh nghĩa của Phi Các tiên cung trên Vô ảnh Phong, tuyệt nhiên các tay cao thủ trong giang hồ không dám to gan bén mảng lên dòm ngó chiếc báu vật Tiểu Đoạt Hồn Kỳ đâu!
Câu nói của Độc Ma vừa dứt, mọi người bên phe Bắc kiếm Phổ Côn nhao lên một lúc, hình như họ không phục giọng nói quá kiêu cuồng của Độc Ma, cả đến lão bà bịt mặt cũng hình như không vừa lòng với câu nói ấy, nhưng vì mụ ta che mặt với khăn đen, nên không nhận rõ mà thôi!
Lúc này Bắc Kiếm chợt lên tiếng quát rằng:
- Đừng có mửa thối ra nữa! - Dứt lời tung mình nhảy ra đứng ngay phía sau bang chủ họ Liễu để bảo vệ rồi mới lên tiếng mắng rằng:
- Này Độc Ma! Trước mặt từng này người ra, bộ nhà ngươi không giữ lời hứa sao? - Đưa tay chỉ ngay Liễu bang chủ nói tiếp: - Liễu bang chủ đã thắng trận này, vậy chúng ta đi thôi!
Mọi người nhao lên tính bước đi, nhưng tiếng cười quái gở trên chiếc liễn xa đột nhiên vang lên, sáu người bên liễn xa, chỉ thoáng cái đã đến ngay trước mặt mọi người và chận ngay lối đi!
Ma Cung chủ nhân lạnh lùng lên tiếng rằng:
- Này Phổ Côn, nhà ngươi cũng chớ có hòng vờ vịt ai còn lạ gì dã tâm của nhà ngươi cũng nằm trong chiếc Tiểu Đoạt Hồn Kỳ của người ta, nếu Liễu bang chủ mà theo nhà ngươi cũng chưa biết chừng, và lúc ấy chiếc cờ báu lại chả lọt ngay vào tay nhà ngươi à!
Bắc kiếm Phổ Côn vốn là người nóng tính như lửa, đâu có thể nhịn nổi những câu khiêu khích như thế, nổi ngay cơn tam bành rằng:
- Độc Ma! Con người ngũ quan bất toàn, tứ chi tàn phế như nhà ngươi, người chẳng ra hồn người, quỉ không ra vía quỉ, choàng nhau bằng miệng lưỡi như thế, đâu có thể kể là hảo hán được, có giỏi hãy xuống khỏi xe và tới đây giao tranh với ta cho biết hơn kém!
Độc Ma ha hả cười rằng:
- Đừng có nói là một Bắc Kiếm như ngươi, dù cho cả Đông Tăng, Tây Đạo, Nam Bút các người cùng lại đây khiêu chiến với ta đi nữa... đối phó với những hạng như các ngươi, nói thật cho ngươi biết là chuyện như thò tay vào túi lấy đồ vậy!
Bắc Kiếm tự biết miệng mình nói không lại tên Độc Ma này, tức quát lên rằng:
- Chớ nhiều lời, mau mau ra tay cho rồi. - Keng một tiếng, ánh kiếm nhoáng lên thành một hình cung bán nguyệt, từ động tác đến kình lực đều phối hợp một cách khéo léo vô ngần!
Bắc kiếm Phổ Côn quả là hạng danh thân pháp có khác, chỉ nội một ngọn xuất thế để đứng tấn ấy cũng khiến cho tên Độc Ma trên liễn xa phải buột miệng khen lên một tiếng: Tuyệt?
Cũng ngay trong tiếng khen: Tuyệt! đó, thình lình toàn thân Độc Ma từ trên liễn xa bay vèo xuống, trông không khác nào như chim đại bàng đang xòe cánh lướt xuống, nghiễm nhiên đứng ngay trên mặt đất trước bao nhiêu cặp mắt kinh ngạc của những người tại trận, cách chỗ đứng Phổ Côn chẳng quá bốn năm thước.
Xưa nay nghe đồn Ma Cung chủ nhân vốn là người tứ chi tàn phế, ngũ quan bất toàn, vì thế sự đi lại không tiện lợi, nên suốt ngày phải ngồi trên xe, nay không ngờ hắn lại có thể nghiễm nhiên đứng uy nghi trên mặt đất, và trông có vẻ linh động lạ lùng. Nhưng hai chân bị hai thân áo bào dài che kín, nên không ai thấy rõ chân tướng bên trong ra sao.
Trong tấm khăn bịt mặt màu đen, tiếng cười rờn rợn của Độc Ma rằng:
- Kìa! Chắc chư vị đây chưa có ai được biết rõ chân diện mục của ta chứ! Vậy càng hay! Nay cơ hội hiếm có, vậy xin các ngài hãy xem cho kỹ?
Sẹc một tiếng, kéo ngay chiếc khăn che mặt ra, ai nấy nhìn kỹ, bất giác kinh ngạc ngẩn người, không thốt ra được tiếng nào!
Trong trí tưởng tượng của mọi người, họ đều tưởng đâu mặt mũi của Độc Ma thế nào cũng phải giống như bốn tên đại đồ đệ của hắn, nghĩa là ngũ quan trên khuôn mặt đều bị tàn khuyết kinh khủng mới phải, và có như thế mới cần đến chiếc khăn đen để che ngang mặt mình để không cho thiên hạ biết chân diện mục của mình!
Nhưng nào hay những lời truyền đồn hoàn toàn khác hẳn sự thật trước mắt đây, khuôn mặt của Độc Ma đây, nào có thấy vẻ gì kinh khủng đâu, da mặt nõn nà, ngũ quan đầy đủ, trông chẳng khác nào Tử Đô tái sinh, Phan An giáng thế, thì ra là một khuôn mặt vô cùng hấp dẫn của vị thư sinh điển hình! Mọi người ngơ ngác lấy làm lạ, không ngờ rằng Độc Ma lại là người điển trai đến thế! Và chính cũng vì khuôn mặt này mà không biết đã hại bao nhiêu là trinh nữ? Và các nàng tha hồ để cho hắn dày vò, đến chết vẫn không hề oán trách một tiếng gì. Nhưng trong con mắt sắc bén của Bắc Kiếm đã có nhiều điểm nghi ngờ ngay? Nếu bảo là trắng, thì hình như đã trắng quá mức, bảo là đẹp, hình như đã đẹp lạ lùng lắm! Bắc Kiếm nghĩ ngay, có lẽ Độc Ma đã chế ra được thứ mặt nạ da người đặc biệt? Nghĩ vậy bèn lên tiếng rằng:
- Đúng là một trò bịp bợm tài tình đấy!
Trên khuôn mặt anh tuấn của Độc Ma bỗng nổi lên một giọng cười gằn, khiến cho người nghe càng cảm thấy hắn trẻ trung và hấp dẫn, Bắc kiếm Phổ Côn lại đâm ra hoài nghi, nếu là mặt nạ, thì những nét thần sắc trên mặt phải cứng đơ chứ, sao khuôn mặt này lại có thể linh động tự nhiên được như thế! Lạ! Lạ!...
Ma Cung chủ nhân cười rằng:
- Quả nhiên Bắc kiếm Phổ Côn giỏi lắm! Trò này của ta không thể nào giấu nhà ngươi được. Hà! Hà! Nhưng mà câu chuyện lại phải nói ngược lại, nếu các ngươi muốn thấy bộ mặt của ta phải có một thông lệ: hễ kẻ nào thấy được bộ mặt của ta, bất luận người ấy là nhân vật nào, đều phải chịu đựng số phận hành quyết của ta, đương nhiên chư vị không ai dại gì đi tìm cái chết như thế! Ha! Ha! Ha!
Thật quả là đúng sát với sự thật, vì ngũ quan này của chủ nhân Ma Cung chỉ nghe thiên hạ đồn là bị tàn khuyết kinh tởm, nhưng trên thực tế chưa hề có người nào biết rõ bộ mật thần bí của hắn, và nhiều khi hắn giết thình lình những cô thiếu nữ trong Ma Cung, chỉ vì vô tình chúng đã được mục kích bộ mặt thật của hắn, và cũng vì tất cả những chuyện thần bí trên ngôi điện Ma Cung của hắn đã tạo nên những tiếng tăm ly kỳ oai nghiêm của đời hắn!
Độc Ma cười ha hả rằng:
- Chắc các người cũng còn tính háo kỳ là muốn biết thêm đôi chân tàn tật của ta nữa thì phải, ta cũng biết trên giang hồ truyền đồn về con người của ta tứ chi tàn khuyết, nên suốt ngày phải ngồi trên xe kiệu, không thể nào tự do cử động! Hờ hờ! Thôi, nay sẵn dịp, ta cũng sẵn lòng cho người biết luôn vậy!
Nói xong, kéo ngay vạt áo bào lên, để lộ hẳn ống chân nhóe hào quang óng ánh của mình, trông chẳng khác nào như đôi chân được bịt bạc vậy, chắc đã được chế bằng thứ kim thuộc. Độc Ma thò ngay chân bên phải ra, co duỗi tự nhiên như ý, linh hoạt vô ngần, mọi người đều biết đây cặp chân giả, nhưng hai chân hắn đều bị cụt, thế khi mang hai ống chân giả này lại nghiễm nhiên có thể linh động như người thường vậy, ai nấy không khỏi ngẩn người ngạc nhiên về sự kỳ diệu của nó !
Ma Cung chủ nhân vẫn cười rằng:
Hôm nay mọi người đã thấy rõ sự thật đôi chân của ta đây là đôi chân giả, thật ra là từ đầu gối trở xuống là giả, nhưng không vì thế mà kém đâu nhé! Chính nó lại còn hơn hẳn cặp giò thật của các ngươi là khác. Chắc các ngươi đã từng nghe tiếng về một loại kim thuộc được sản xuất tại miền Bắc Tân Cương, nằm ở những thung lũng của các hồ lớn, nếu đem dùng làm binh khí và dụng cụ, bền tốt không thể nào tả được vì đặc tính của nó có chất mềm dẻo, có thể tha hồ co giãn tùy ý, nhưng rất khó khăn mà tìm được loại kim thuộc quí báu này, dù chỉ bằng đầu đốt ngón tay, ấy thế mà ta đây bất tài, chính hai ống chân của ta đều được chế bằng chất hàn kim quí báu của miền bắc Tân Cương ấy cả, chẳng những đao kiếm chém trúng không sao, mà đến cả chuyện tung vọt cũng vô cùng nhanh nhẹ như thường, chẳng những không tí gì trở ngại mà trái lại còn tiện lợi vô cùng. Bây giờ nói đến chiếc mặt nạ da người này được tước hẳn trên mặt một thiếu nữ còn trinh, mà phải mười tám tuổi, nhưng chưa lấy gì làm lạ, cái lạ của nó là ở chỗ thuốc ngâm chiếc da mặt ấy, thứ thuốc này sản xuất tại hải ngoại, tên gọi là La sát quả, dùng nó ngâm chung với da mặt người ấy, nó có kỳ hiệu là có thể giữ nguyên sắc thái cho da khỏi biến màu, giống hệt như người sống vậy, cho nên khi các người thấy bộ mặt khá đẹp của ta được tươi như thế, hoàn toàn là do công hiệu của La sát quả mà ra. Vậy các người thử nghĩ, những thứ của báu này, đừng nói là các người không có, mà cả nghe có lẽ cũng chưa ai được nghe nói đến bao giờ là khác, nhưng đối với ta, đó chỉ là một chuyện rất tầm thường mà thôi, như thế, nếu các người muốn đối chọi với ta, khác nào trứng đem quăng mạnh vào đá, không biết tự lượng sức mình? Ha? Ha! Ha!... và ta vốn có một sở thích kỳ lạ là chuyên thích sưu tầm những vật kỳ lạ trong thiên hạ, những thứ nào kém cỏi, có lẽ ta không màng đến lắm, nhưng những thứ đã được coi như báu vật quí tuyệt nhiên ta không đời nào để yên cho. Nay chiếc Tiểu Đoạt Hồn Kỳ của Thanh Thông Bang hội, từ khi thấy hình dáng nó ta đã thích rồi, và hình như ta có duyên phận với nó lắm! Vậy mong các ngươi hãy nhân dịp này nhân nhượng cho ta, và đừng nên tranh chấp với ta là hơn, nếu trở mặt với nhau chư vị bị thiệt thòi, khi đó không thể nào trách là ta không nói trước...!
Những lời nói ngông cuồng của Độc Ma, khiến cho mọi người nổi cơn tức đùng đùng, Bắc Kiếm không thể nào dằn lòng nổi, lớn tiếng quát ngay rằng:
- Độc Ma! Hãy khoác lác vừa vừa chứ, hãy đỡ kiếm ta đây!
Dứt tiếng kiếm đâm xiên ngay ra. Thân hình Độc Ma không thấy động, vì hắn biết ngay tay trước mặt mình Phổ Côn đây là danh gia về kiếm thuật, trong ngọn đòn này, thế nào khi nửa chừng cũng thình lình thay đổi thế đánh. Quả nhiên Độc Ma đã đoán đúng, mũi kiếm mới đưa ra lưng chừng đã thình lình biến đổi ngay thế, từ trên chúi nhanh xuống phía dưới, trông như một làn khói vèo nhanh ngay lại mặt của Độc Ma. Thế đánh vừa nhanh vừa ác, ánh kiếm nhoáng lên một cái mắt thấy chiếc mặt nạ da người của Ma Cung thế nào cũng bị thích rách trong thế kiếm khó thoát của Bắc Kiếm!
Độc Ma chợt cười lên một tiếng lạnh lùng, thân hình tựa bóng ma, chẳng thấy hắn né tránh, mà trái lại còn ngang nhiên đâm đầu thẳng vào. làn kiếm quang của Phổ Côn và ngang nhiên lướt hắn ra phía sau lưng của Bắc Kiếm. Nhưng Bắc Kiếm đâu phải tay xoàng gì, sau khi hụt đòn, lập tức vèo nhanh thân, nên ngọn điểm rất khéo của Độc Ma đã lọt vào hư không!
Độc Ma cất tiếng cười ha hả rằng:
- Công lực của Phổ Côn khá lắm! Khá lắm! Trong đương kim, kể cũng có thể liệt vào đệ nhị lưu trong võ lâm đấy! Hờ! Hờ! . . .
Phải biết rằng Phổ Côn vốn là một trong số Càn Khôn Ngũ Tuyệt cũng tiếng tăm lẫy lừng bao nhiêu năm trên giang hồ, và đều được thiên hạ công nhận là đệ nhất lưu cao thủ trong võ lâm, nay do miệng của Độc Ma lại bị người ta ngang nhiên giáng hẳn một bực là đệ nhị lưu như thế, bảo làm sao Bắc Kiếm cam tâm chịu cho được? Nhưng chuyến này bao nhiêu ngạo mạn của Bắc Kiếm đã tiêu tan hết, nghe nói không dám liều mạng tiến vào nữa, chỉ thở tức bằng hai lỗ mũi của mình. Nguyên do này, chỉ riêng có Bắc Kiếm tự biết, ngay trong khi Bắc Kiếm bị hụt đòn, Độc Ma đã ngang nhiên chui ngay vào làn kiếm của mình như một bóng ma, rồi nhanh như chớp đã hiện ngay phía sau lưng mình, và giơ chỉ điểm nhanh vào lưng của Phổ Côn. Chính nơi điểm ấy là Phượng vĩ huyệt là chủ huyệt sau lưng của Bắc Kiếm, kình lực của chỉ lực đã điểm ra, và huyệt đạo cũng đang bị chế ngự, Phổ Côn biết vô hy vọng thoát, đành nhắm mắt chờ chết!
Nhưng thình lình, sau lưng cảm thấy nhẹ hẳn, Phổ Côn đành nhảy vọt ra ngoài. Động tác tuy chỉ xảy ra trong nháy mắt, và cũng đã che được mắt mọi người, nhưng trong lòng Phổ Côn, không thể nào không nhận thua cho được, ngọn điểm ấy Độc Ma đã cố ý thi ân cho mình mà thôi. Nên bị Độc Ma giáng xuống là hạng đệ nhị cao thủ mà Bắc Kiếm không dám lên tiếng gì, càng không dám ra tay để đấu với người ta nữa. Bắc kiếm Phổ Côn đứng ngẩn người ra. Độc Ma bèn nở ngay một nụ cười thâm ý, lập tức chuyển sang hướng Thanh Thông bang chủ Liễu Khải.
Liễu Khải thất kinh, đang tính sửa soạn cuộc đấu. Nhưng Độc Ma quả là nhân vật lợi hại, trong lúc Liễu Khải vừa chuyển mình ấy, đã bị Độc Ma nắm trúng ngay cánh tay trái, và bấm ngay vào mạch, không sao nhúc nhích được! Thế ra tay Độc Ma quá nhanh, thậm chí chưa ai thấy rõ thân pháp của người ta ra sao mà Thanh Thông bang chủ đã lọt ngay vào tay của địch!
Sở Canh, Liễu Mi, Gia Cát Dật, Hoàng Kha, cho chí cả Vân Cư Sĩ, ai nấy đều thình lình thất kinh cả, chẳng ai rủ ai, nhưng lòng họ nghĩ ngay là cứu người, thân người nào cũng như sẵn sàng tung mình ra. Bộ mặt hấp dẫn của Độc Ma vô cùng bắt mắt, nhưng tiếc cái là tiếng cười lạnh lùng của đàn ông trầm trầm rằng:
- Mong các người chớ cổ động đậy mà dại!
Cha con tình nặng, Liễu Mi vội giơ ngay tay ra ngăn ngay cuộc xông vào của mọi người rằng:
- Xin quí vị hãy khoan!
Mọi người ngẩn người ngạc nhiên! Độc Ma lại cười lạnh lùng:
- Kìa Liễu bang chủ, còn đợi gì mà không giao ngay của nợ ấy ra cho ta?
Thanh Thông bang chủ Liễu Khải ung dung rằng:
- Độc Ma! Ngươi dùng quỉ kế như thế, Liễu Khải ta không đời nào chịu phục, còn ngươi muốn ta giao chiếc Tiểu Đoạt Hồn Kỳ. Xin lỗi! Ta không thể nào chấp nhận lời thỉnh cầu của ngươi!
Ma Cung chủ nhân ha hả cười rằng:
- Khá lắm! Quả nhiên không hổ danh là bang chủ của Thanh Thông Bang! Nhưng không cho nhà ngươi nếm chút mùi vị, chắc nhà ngươi không biết sáng mắt!
Dứt lời, Độc Ma tăng thêm sức bóp, Liễu Khải cố chịu đau để duy trì cho toàn thân khỏi ngả, chỉ thấy trán lão anh hùng toát đầy mồ hôi, trông biết đang chịu cực hình đau khổ, tiếng Ma Cung chủ nhân lại rằng:
- Có đưa ra không?
Liễu Khải cố chịu đau thốt ra một tiếng:
- Không!
Độc Ma lạnh lùng rằng:
- Đã thế ta cho biết tay?
Mọi người thất kinh hoảng hồn, Gia Cát Dật, Liễu Mi, Sở Canh, cả ba cùng một lúc nhảy vọt hết ra!
Độc Ma cười ha hả buông ngay Liễu Khải, lập tức vung ngay song chưởng, ba người, chân chưa kịp đứng vững thế, bị dồn hết ra phía sau. Trong khi đó thì Thanh Thông bang chủ đã hôn mê nằm co quắp dưới đất.
Gia Cát Dật, Liễu Mi, Sở Canh ba người lại xông lần thứ hai, nhưng thủ pháp của Độc Ma nhanh không thể tưởng nổi, chỉ trong nháy mắt, hắn đã lấy được chiếc Tiểu Đoạt Hồn Kỳ trong ngực của Liễu Khải. Cây cờ báu nằm trên tay, Độc Ma buông những tiếng cười đắc trí. quái gở thân hình nhoáng nhanh, lùi ngay về sau Liễu Mi, Sở Canh lo đỡ ngay Liễu Khải dậy!
Chỉ thấy Độc Ma hớn hở nhìn cây cờ trên tay thích trí cười khanh khách một lúc rồi rằng:
- Đúng là của báu thật! Nghe nói ai thấu hiểu được ý nghĩa của mười tám chữ trên đây, tức khắc võ công người ấy sẽ trở nên cử thế vô song ngay, võ công của ta tuy đã lên đến mức tuyệt đỉnh, nhưng vẫn chưa thấy toại lòng lắm, chuyến này mình có cơ hội nghiên cứu thêm cho đỡ buồn rồi? Ha! Ha! Ha...
Thình lình ào một tiếng từ trên không trung bay vèo xuống một vật đen ngòm, và chiếc Tiểu Đoạt Hồn Kỳ trên tay Độc Ma vụt bay luôn! Khiến cho Độc Ma cũng bất giác thốt tiếng ối lên một tiếng thất kinh!
Thì ra cây cờ Tiểu Đoạt Hồn Kỳ lúc này nằm ngay trong mỏ một con chim ưng cực kỳ lớn, chỉ thấy chim ưng mỏ ngậm cờ bay vụt lên cao!
Độc Ma nào chịu! Vung ngay chưởng bên phải ra phạt lên một ngọn chưởng nhắm ngay chim đi tới. Nhưng cũng chỉ thấy chim ưng cũng thình lình giơ hai cẳng ra đạp mạnh xuống, hình như nó đang trả đòn! Quả đúng thế, chim ưng không hề bị xao động về ngọn chưởng lực của Độc Ma!
Ma Cung chủ nhân chuyến này mất mặt quá, bất giác quát rằng:
- Khá lắm!
Dứt lời, vung luôn song chưởng lên quạt mạnh lên! Trong ngọn đòn này, Độc Ma cũng tính đến tốc độ của chim bay, nên đã dùng hết toàn lực trong người đánh ra. Một ngọn cuồng phong đánh ra tựa như phi sa tẩu thạch, khói tỏa mịt mờ, khí thế như muôn nghiêng trời nghiêng đất! Dũng mãnh vô tả!
Nhưng chuyện kỳ quái cứ tiếp tục diễn ra, sau khi Độc Ma dốc toàn lực đánh ra chưởng ấy, bỗng một tiếng Pác! vang lên.
Mọi người cảm thấy Độc Ma bị trúng một sức rất mạnh ở đâu đánh tới vậy, vì thấy toàn thân Độc Ma bị bật bổng khỏi mặt đất. May nhờ công lực của hắn cừ giỏi, trên lưng chừng hắn đã giữ nổi thăng bằng để nhẹ nhàng hạ xuống mặt đất lại, nhưng khi hai chân chạm mặt đất, thân hắn không khỏi lảo đảo như muốn té.
Mọi người ngơ ngác làm lạ, bỗng nghe đằng xa có tiếng chim ưng kêu vang, khi mọi người chăm chú nhìn, ai nấy hồn bay phách lạc! Chỉ thấy sau làn bụi mập mờ không xa, hiện ra một người dong dỏng cao, sắc mặt trắng bệch, toàn thân bận theo lối nho sinh, hai tay trống không, đang uy nghi ung dung bước lại, và con chim ưng cũng đang lững thững bước theo sau.
Cũng chẳng biết tiếng ai kinh hoảng đến nỗi thốt ra thành tiếng rằng:
- Trời! Độc chỉ Thôi Bác!
Cũng vì câu nói ấy mà khiến cho Phổ Côn, Thanh Thông Bang, Cửu Thiên Tự, Điểm Thương Phái, bốn nhóm người này như vừa sực tỉnh cơn mộng, mọi người lo chia và vây quanh ngay Hầu Hạo vào giữa!
Rõ đúng là danh của người bóng của cây, người được xưng là đệ nhất cao thủ trong thiên hạ Độc chỉ Thôi Bác này vừa xuất hiện, mặc dù tất cả mọi người, đông đảo như thế, nhưng ai nấy đều đánh trống ngực thình thịch, chính vì oai thế lẫm liệt của Độc chỉ Thôi Bác mà nhiếp tinh thần của mọi người!
Độc Ma quả là một người thông minh tuyệt đỉnh, hắn biết rõ trong chưởng lực vừa rồi đã khiến mình lảo đảo ấy chính là do Độc chỉ Thôi Bác phát ra, biết mình không thể nào chống cự lại với nhân vật lẫy lừng này, lập tức len lén bước nhanh ngay về liễn xa của mình, và chuẩn bị đứng xem cuộc đấu của đôi bên.
Lúc này chỉ thấy Độc chỉ Thôi Bác thủng thẳng bước đến. Bỗng trong đám đông, tiếng của nàng Liễu Mi vang lên rằng:
- Kính thưa Độc Chỉ thúc thúc, Hầu Hạo đại ca ở đây ạ!
Bắc kiếm Phổ Côn vội giơ ngay tay bịt miệng Liễu Mi lại, tay còn chưa đụng tới nàng Liễu Mi, bên kia tiếng của Độc chỉ Thôi Bác lạnh lùng rằng:
- Phổ Côn! Hãy buông ngay tay xuống!
Bắc kiếm Phổ Côn giật mình thất kinh, tay tự động buông ngay xuống!
Độc chỉ Thôi Bác dẫn theo con chim ưng lớn của mình đủng đỉnh đến một đám đá cao, không biết vị cái thế kỳ nhân này đã cố ý hay vô tình, nhưng Độc chỉ Thôi Bác đã ngăn đôi ngay hai bên hữu sự. Lúc này chỉ thấy vị Độc chỉ Thôi Bác ngồi trên một phiến đá lớn.
Từ từ đưa mắt nhìn khắp mọi người một lượt, ai nấy đều cảm thấy cái nhìn ấy không khác nào vừa bị lưỡi dao sắc bén cạo qua mặt vậy! Bắc kiếm Phổ Côn hình như không phục, và chuẩn bị hợp tất cả toàn lực của nhóm bốn người lại, mở ngay trận đánh thình lình và chớp nhoáng với con người ngạo mạn này!
Nhưng Độc chỉ Thôi Bác hình như đã thấy rõ được những tư tưởng trong bộ óc của Phổ Côn vậy, chỉ nghe Độc chỉ Thôi Bác giọng vô cùng lạnh lùng:
- Kìa Phổ Côn! Sao nhà ngươi không chịu yên phận chút nào! Bộ còn thích gây rối nữa sao?
 
0
Hồi 054. Quần Ma Tán Đởm Kinh Hồn [/align]

Bắc kiếm Phổ Côn ức lên rằng:
- Độc chỉ Thôi Bác! Ngươi khi người...
Tiếng quá còn chưa buột khỏi miệng, bỗng cảm thấy có một vật gì bay tọt ngay vào mồm, thế đến rất mạnh, không những khiến cho Phổ Côn bị rụng mấy chiếc răng, mà toàn thân phải loạng choạng lùi về sau vài bước, may nhờ Tư Đồ Cống phía sau đỡ lại mới đứng vững bộ lại, máu miệng ứa ra, Phổ Côn nhổ phì vật trong miệng, chỉ là nắm lá của cánh hoa đã viên tròn lại.
Sự kinh hồn táng phách này còn hơn hẳn vụ giao tranh với Độc Ma vừa rồi, tuy vẫn vờ bình tĩnh, nhưng không ho he thêm gì nữa. Phía Độc Ma thấy tình thế có vẻ không thuận lợi cho mình, càng biết Độc chỉ Thôi Bác này danh bất hư truyền, mới xuất hiện mà đã ngang nhiên hiếm hẳn ưu thế, Độc Ma len lén tính lo chuồn nhẹ cho yên thân. Nhưng Độc chỉ Thôi Bác đã lên tiếng:
- Sáu tên nam nữ bên kia hãy khoan đi đã. Ta có chuyện còn thanh toán với các người!
Bên phía Độc Ma đành đứng im hết lại, Độc chỉ Thôi Bác lạnh lùng liếc nhìn ngay vào mặt Đinh Hủy và Đinh Phá, hai tên Tam hung và Tứ hung trong Phi Các ma cung này bất giác rùng mình ớn lạnh. Chỉ nghe tiếng Độc chỉ Thôi Bác cất tiếng rằng:
- Độc chỉ Thôi Bác ta ít khi xuất hiện trên giang hồ, nhưng chưa nay vẫn ân oán phân minh rõ ràng, tuy ta không thích nhúng tay vào các chuyện phiền phức, nhưng một khi ta đã nhúng tay vào can dự, bất luận là một chuyện gì luôn luôn ta đều làm cho có thủy có chung làm triệt để đến cùng mới thôi. - Ngừng một chập Độc chỉ Thôi Bác như hoài cảm chuyện gì xa xăm vậy, chỉ nghe vị kỳ nhân nói: - Ta còn nhớ mười năm về trước, khi mà ta bắt đầu ẩn cư, trong giang hồ yên tịnh, quân tà ác biến tích, các đạo khấu lục lâm cũng biết an thân thủ phận, và trên giang hồ đã xuất hiện nhiều kẻ hiệp sĩ chánh nhân, và lực lượng của họ đã dư sức để đối phó và đàn áp lũ quân hại người đấy vì thế ta yên tâm ẩn cư trong thâm sơn cùng cốc! . . . Nhưng trong mười mấy năm gần đây, những biến đổi trong giang hồ đã xảy ra ngoài sức tưởng tượng của ta, những cảnh tre già măng mọc các người có lòng hiệp nghĩa thi nhau tạ thế, khiến nỗi một đám bại loại nhân dịp gây cơn sóng gió phong ba, những tổ chức tà ác đua nhau xuất hiện giang hồ... Nay ngước mắt nhìn giang hồ, đã bị bọn vô loại gây nên biết bao sóng gió hôi tanh, kinh thiên động địa, các người đã sẵn những võ công quỉ dị trên mình, không biết đem ra hành hiệp tế thế, trái lại đã đi ngược lại đường lối chính nghĩa, kết đảng nhóm bè gây những chuyện thị phi hiểm ác thâm độc, tàn sát những dị kỷ, rõ thật không biết công lý và chánh nghĩa là đâu nữa, ngang nhiên chà đạp sinh linh, thật uổng sinh làm người, so với cầm thú còn không bằng... - Độc chỉ Thôi Bác nói đến đây vì quá xúc động, bất giác nổi cơn ho kinh khủng! Thấy vậy, cả phía Độc Ma lẫn đến Phổ Côn, Hoàng Kha, Vân Cư Sĩ đều nao nao tính ra tay thình lình!
Nhưng chỉ thấy Độc chỉ Thôi Bác nuốt ngay một đóa hoa màu đỏ, cơn ho lập tức ngừng ngay, mắt lại liếc nhìn mọi người một lượt, toàn đám lại khiếp vía không ai đám tỏ ý lỗ mãng về hành động của mình.
Thôi Bác lại tiếp tục lên tiếng:
- Hôm nay ta lại đây, chẳng qua là muốn công bình dứt khoát với các người một việc thứ nhất: là vụ con gái Ngọc điệp Châu Phụng là Thanh điệp Châu Sách và Hồng điệp Châu Chu, cả hai chị em đã lại tìm ta khóc lóc là chỉ chứng Bạch điệp Châu Ni đã bị thầy trò Độc Ma trên Vô ảnh phong bắt đi, ngoài ra còn có cả Nam bút Gia Cát Dật trong - Càn Khôn Ngũ Tuyệt và một vị thiếu niên Thượng Quan Linh cùng nhị cô nương của Thanh Thông Hội cũng bị giam hãm trong Vô ảnh Phong, và xin ta lập tức ra tay cứu nguy. Ngay lúc đó ta đã phái Đại Hắc (tên chim ưng) đi cứu, nhưng sau khi Đại Hắc về, mới hay là Thượng Quan Linh và Liễu cô nương thoát nạn, và Gia Cát Dật cùng với một thiếu nữ khác được Đại Hắc cứu ra khỏi Ma Cung, nhưng còn phần Châu Ni thì đã bị hy sinh...
Độc chỉ Thôi Bác bỗng im bặt, không khí nặng nhọc bao phủ mọi người. Thình lình, Thôi Bác lên tiếng hỏi:
- Độc Ma! Vụ này do ai gây nên.
Độc Ma không chịu lép thế, hiên ngang nhìn nhận rằng:
- Quả đúng là có chuyện như thế,- con bé Châu Ni do tiểu đồ Đinh Hãm bắt về, nhưng về sau nó tự tỉnh giác và cắn lưỡi chết. Chuyện như thế, trong Phi Các tiên cung thường xảy ra như cơm bữa, nếu nhà ngươi tính nhúng tay vào vũng nước đục này, xin cứ việc cho biết cao kiến. Độc Ma ta không hề rụt rè đâu!
Độc chỉ Thôi Bác nổi giận đùng đùng rằng:
- Hừ? Ngươi còn tính già mồm hả? Ta hẹn cho nhà ngươi hai tháng trời, bắt ngay tên nhị đồ đệ của ngươi phải tự quyết tự tử để tạ tội của nó, còn không ta quyết không dung tha nó . . . .
Độc Ma lên tiếng:
- Chà! Khẩu khí hống hách quá! Nhưng ta không thèm nghe! Nếu ngươi có giỏi thì cứ lên thử phi Các tiên cung của ta! Chừng ấy sẽ biết ai lợi hại ngay!
Dứt lời, vung tay ra lệnh cho cho liễn xa đi nhanh, Độc chỉ Thôi Bác cả giận, miệng hét lên một tiếng sáo rít tai, con chim ưng bay thẳng đuổi theo.
Trên liễn xa cũng như dưới liễn xa, sáu người của Độc Ma vội ra sức chống đỡ, nhưng thấy con chim thần hung hăng mổ tứ tung, dữ dằn không thể tưởng, chỉ trong nháy mắt Đinh Phá và một hắc y đại hán bị chim ưng mổ trúng, tuy vết thương không nguy hiểm, nhưng cũng khiến cho người đau kêu ai ái lên!
Độc chỉ Thôi Bác lại huýt ngay một tiếng sáo, chim thần lập tức bay ngay về, Thôi Bác lên tiếng:
- Độc Ma! Ta mong nhà ngươi hãy sửa đổi hết bản tính lại, cố gắng mà trở nên một người hữu dụng trên giang hồ, nếu không có ngày hối hận không kịp đâu nhé!
Nhóm Độc Ma đâu còn ai dám lên tiếng nữa, ai nấy hấp tấp lo rời đi cho thật nhanh để khỏi rước thêm tai họa vào người!
Bên này! Cả bốn phái được chứng kiến một cảnh hãi hùng như thế, ai nấy quên cả việc đào tẩu của mình, và đương nhiên không ai còn dại gì để ra tay?
Độc chỉ Thôi Bác lên tiếng rằng:
- Gia Cát Dật và Liễu cô nương, tôi xin nhị vị cùng ra đây với Hầu Hạo công tử!
Hầu Hạo tuy ăn mặc quần áo của Phổ Kiên, tóc ngắn, thần sắc bơ phờ lúc này được Nam Bút và Liễu Mi lo hộ tống chàng đi ra khỏi đám đông. Bắc kiếm Phổ Côn thấy Nam bút Gia Cát Dật giờ lại dám công nhiên chống đối với phe mình, trong lòng không vui, lạnh lùng hừ lên một tiếng ống tay áo giơ ngay ra tính ngăn cản ngay lại. Nhưng Độc chỉ Thôi Bác đã tinh mắt nhận ngay ra và lên tiếng rằng:
- Bắc kiếm Phổ Côn! Mong rằng ngươi biết điều cho chút.
Câu nói ấy khiến cho Bắc kiếm Phổ Côn vô cùng sượng sùng, ống tay áo lúc này như bị cứng đơ lại chẳng lên mà cũng chẳng hạ xuống, không biết nên tính sao mới phải.
Thanh Thông bang chủ Liễu Khải không dám ngăn trở, còn Điểm Thương chưởng môn Hoàng Kha lại khiếp oai của Đoạn Trường Nhân, cũng không dám tỏ ý phản đối gì. Chỉ riêng phía Vân Cư Sĩ và Hải Không đại sư cùng với đám tăng lử của Cửu Thiên tự thì rối quýnh lên trong bụng, thấy tất cả bao nhiêu công phu khó nhọc và kế hoạch bấy nay đành bị phá sản. Sau khi thấy ba người ra khỏi vòng ngoài, Vân Cư Sĩ lạnh lùng cười lên mấy tiếng.
Thế là nhóm Cửu Thiên Tự ra tay trước, thiền trượng phất trần, kiếm đao binh khí tuốt hết ra và chạy lại vây kín lại. Còn Bắc kiếm Phổ Côn và Điểm Thương Phái cũng lo ngấm ngầm bổ vây ngay bên vòng ngoài, sẵn sàng ứng chiến. Còn Gia Cát Dật, Liễu Mi cẩn thận lo hộ vệ Hầu Hạo, chuẩn bị ứng phó mọi biến cố có thể xảy ra.
Bỗng từ trên lưng chừng không trung tiếng chim ưng kêu trận chiến bổ nhào ngay xuống đám Cửu Thiên hòa thượng! Khí thế của nó vô cùng hung mãnh, hai cánh của nó quạt mạnh ra như làn sóng dữ dội, cả một cảnh rối loạn hiện ngay ra trong đám tăng lữ của Cửu Thiên Tự, Vân Cư Sĩ và Hải Không pháp sư thấy tình trạng quá nguy, vội cấp tốc định thần lo nghênh địch!
Vân Cư Sĩ chém mạnh ngay ra một kiếm, nhưng chim ưng đã ngang nhiên dùng mỏ của nó hất bật ngay thanh kiếm của Vân Cư Sĩ, chỉ thấy Cư sĩ bị loạng choạng đứng không vững, chớp mắt đã bị chim ưng dùng trảo bấu chặt ngang hông bay vọt thẳng lên!
Hải Không đại sư kinh hãi bay hồn, đang tính đào tẩu bỗng cảm thấy sau gáy một luồng gió lạnh ập tới chim ưng đã bay đến, Hải Không chưa kịp quay đầu lại cự địch, con chim tai ác dùng trảo quắp bay bổng lên không! Mọi người kinh hãi nhìn hai trảo của con chim thần đang quắp hai mạng người lơ lửng trên không, thế mà chim ưng vẫn chẳng hề tỏ ra mệt nhọc gì cả và càng lạ hơn nữa là tha hồ cho Vân Cư Sĩ và Hải Không dùng phất trần hay dùng kiếm chém đánh tưng bừng vào đùi của chim ưng, nhưng hắn vẫn điềm nhiên như không hề có chuyện gì xảy ra, trông cặp cẳng của nó như bằng chất sắt thép vậy. Và chim ưng cứ quắp chặt hai người bay lượn thành vòng tròn trên đỉnh đầu mọi người?
Tiếng gào thét của Vân Cư Sĩ và Hải Không đại sư và tha hồ họ đánh chém túi bụi vào chim ưng, nhưng lạ thay là chim thần không hề tỏ vẻ kinh sợ gì, khiến cho toàn đám người đứng bên dưới không khỏi hồi hộp kinh sợ trong lòng, con chim ưng to lớn này lại có bản lãnh phi thường đến thế! Ai nấy biến sắc hãi hùng! Không biết nên tính sao cho phải!
Trong khi đó mọi người chỉ nghe tiếng của Độc chỉ Thôi Bác rằng:
- Cùng các vị, con ưng này của ta tên gọi Đại Hắc, nó vốn còn có một bạn, nhưng nhỏ con hơn nó, tên gọi Nhị Hắc, chúng đã luôn luôn hầu cạnh bên người ta, Và chúng thân mật như hai anh em ruột vậy!
Ngừng một chập, Đoạn Trường Nhân lại cất cao giọng rằng: - Nhưng nay Nhị Hắc đã chết, loại chim ưng này vốn là một giống chim dị chủng ở hải ngoại, đao kiếm, thủy hỏa, cơ hàn đói lạnh, đều không thể nào làm gì chúng nổi, và tuổi thọ của chúng thường ít nhất là ba trăm năm trở lên, nếu không có chuyện mưu hại, tuyệt nhiên không làm sao có thể chết được?
Nhưng đáng giận thay cho đám tăng lữ của Cửu Thiên Tự, khi con Nhị Hắc của ta phụng mạng đến để đón Hầu Hạo, mà chính với đám tăng lữ cũng thừa biết là có hợp hết toàn lực để đối phó với con chim thần của ta cũng không sao cưỡng nổi nó, biết không phải địch thủ của nó, nên đã hèn dùng đến quỉ kế, chúng biết nhược điểm của con Nhị Hắc là thích trà rượu thơm ngon nên đã dùng trà thơm dụ dỗ đến nỗi khiến nó bị trúng độc mà chết. Nhưng con Nhị Hắc của ta vốn là giống Long tựu (loài chim rồng kên kên), theo cạnh ta lâu năm, nói thật ra võ công của nó, có thể ngạo thị (nhìn đời hách dịch) đương kim giang hồ? Vì sau khi nó bị trúng độc, vẫn còn có thể phát oai dọa chạy hết đám tăng lữ của Cửu Thiên Tự, bỏ chạy ngay trong đêm đó, đồng thời Nhị Hắc sợ ta không biết rõ nguyên do vụ này để trả thù cho nó, nên nó đành buông ngay cuộc truy cản địch thủ nên đã tìm một thân cây lớn trong Cửu Thiên Tự đậu lại để cho ta biết! Vậy các người thử nghĩ, một con linh điểu chính trực và trung thành với ta trong bao nhiêu năm trời như thế, nay phải chi bị người ta đánh chết đàng hoàng bằng lối giao tranh, ấy là tại nó không có bản lĩnh, nhưng khổ nỗi nó lại không chết oai hùng được thế, trái lại bị chết cạm bẫy mưu mô của quân gian hiểm. Như thế bảo ta không đau đớn tiếc cho cái chết của nó sao được?
Nay có con Đại Hắc đứng ra trả thù cho bạn nó thật, nhưng trong lòng ta cảm thấy buồn khổ vô cùng, ta đã truy niệm con Nhị Hắc theo ta lâu năm, tình nghĩa không khác nào như cha con, nay nó đã chết, dù cho giết hết bọn tăng trong Cửu Thiên Tự, vẫn không thể nào khiến cho con Nhị Hắc của ta sống lại được, mối hận này quả là một vết thương trầm nặng trong lòng ta...
Càng nói, Độc chỉ Thôi Bác càng thấy bi ai xúc động tâm hồn mình, âm thanh mỗi lúc một cao hẳn.
Mọi người càng hồi hộp kinh hãi! Thình lình vị cái thế kỳ nhân cất tiếng hét lên, không hẳn tiếng khóc, mà cũng chẳng ra tiếng cười, nhưng âm thanh đượm vẻ vô cùng bi ai, Liễu Mi và Gia Cát Dật cùng Hầu Hạo, ba người này như thông cảm nỗi lòng của vị cái thế kỳ nhân này lắm.
Thấy vậy mọi người càng hoảng sợ. Liễu Mi thầm nghĩ Thôi Bác hiệu xưng Độc Chỉ, Đoạn Trường Nhân, có lẽ xưa kia ông ta đã từng có một dĩ vãng quá đau buồn lâm ly, nên đã khiến vị đại anh hùng hiệp sĩ sinh ra một cơn bệnh bất trị, để đến nổi chỉ ỷ trông vào những hoa tiên miễn cưỡng duy trì mạng sống của mình.
Nhất là cuộc sống vô cùng buồn tẻ trên Mặc Phụ Sơn, quanh năm ngày tháng chỉ trông vào hai con linh điểu làm bạn, và chính loại chim này, chỉ có hạng cái thế kỳ nhân như Thôi Bác mới đủ tư cách nuôi nấng chúng nó. Nghĩ đến đây, Liễu Mi nhắm mắt tưởng tượng cảnh sống thanh nhàn của một người, với hai chim biết bao đẹp đẽ? Nay bỗng bị người ta dùng quỉ kế ám hại mất một con linh điểu như thế, bảo sao người ta không đau khổ cho được?
Ngước nhìn lên trên, càng khiến mọi người kinh hãi. Chỉ thấy con Đại Hắc hình như thông hiểu tiếng hét kỳ lạ của chủ nhân nó vậy, nó biết rằng chủ nhân nó đang truy điệu đồng bạn của nó đã chết, cũng kêu lên những tiếng ai oán như hòa nhịp theo với nỗi lòng buồn thảm của chủ nhân.
Nhưng dần dà thấy con linh điểu càng bay quanh càng nhanh, Vân Cư Sĩ và Hải Không đại sư bị nó quắp chặt dưới móng trào như diều hâu bắt gà con, thoạt đầu còn có thể kêu cứu inh ỏi, nhưng với đà bay quá nhanh ấy, chớp mắt tứ chi của hai người đã bị rũ hẳn xuống, không tiếng rên vang và cũng chẳng thấy cử động gì nữa?
Nhưng có một điều lạ là trên tay hai người vẫn nắm chặt binh khí, Hải Không chỉ tay cầm phất trần, Vân Cư Sĩ tay cầm kiếm. Ai nấy thấy vậy kinh hồn táng đởm, ngẩn người ngơ ngác, đưa mắt nhìn quanh nhau, không biết tính sao cho phải!
Bỗng nhiên, cũng chẳng biết là họ đã ngấm ngầm từ lúc nào, một tiếng hét vang lên, đám tăng lữ ầm ầm dùng ngay ám khí chia đánh nhanh ra thành hai mục tiêu chính: một về Độc chỉ Thôi Bác, một về phía linh điểu trên không trung!
Bên này Phổ Côn, Thanh Thông Bang, phái Điểm Thương và cả Liễu Mi, Hầu Hạo, Gia Cát Dật, ai nấy giật mình thất kinh, Gia Cát Dật và Liễu Mi tính ra tay ngăn cản mọi người, nhưng đã không kịp.
Ai nấy chỉ còn thấy những ám khí loang loáng bay nhanh như sao băng qua phía Độc chỉ Thôi Bác, nhưng khi những ánh sáng loang loáng ấy còn cách thân hình của Thôi Bác, đều thình lình bị biến vô tăm vô tích hết.
Riêng có phần Liễu Mi mắt tinh hơn ai hết, nàng kịp nhận thấy ống tay áo của Đoạn Trường Nhân khẽ động đậy, và tất cả những ám khí của tăng lữ Cửu Thiên Tự, như đã gặp sức nam châm thu hút ngay hết vào ống tay của ông ta. Ngay trong khi đó, bỗng hai tiếng hét rùng rợn vang hẳn lên đỉnh đầu mọi người.
Mọi người đưa mắt nhìn lên, ai nấy cũng bất giác phải nhắm mắt lại không dám nhìn cảnh tượng đang xảy ra! Họ chỉ thấy linh điểu khổng lồ ấy, chẳng thèm né tránh gì đến những ám khí đánh lên, mà trái lại nó đã co ngay hai trảo lên, dùng ngay hai người quắp trong móng ấy làm cái thuẫn để đỡ những ám khí của các tăng lữ đã phát ra.
Đám tăng Cửu Thiên Tự có nằm mơ cũng không ngờ rằng con linh điểu lại biết dùng lối đánh ấy để chống cự hiển hách như thế. Chỉ thấy ánh quang nhấp nhoáng, chớp mắt găm hết vào thân hai người, và gây nên hai tiếng thét rùng rợn của người đi vào cõi chết.
Trên thinh không, máu tươi đã nhỏ thành giọt xuống, dù cho hai người chưa chết ngay, nhưng cũng trọng thương khó cứu sống nổi.
Thình lình hai trảo của linh điểu cùng buông ngay ra, thân hình của Hải Không và Vân Cư Sĩ rớt ngay từ trên không xuống! Sau hai tiếng bịch bịch đám tăng lữ của Cửu Thiên Tự ào ào chạy nhanh ngay lại để xem thủ lãnh mình ra sao, nhưng chỉ thấy toàn thân hai người máu me lênh láng, những vết thương lại toàn nằm trong chỗ chí mạng cả, trông không cách gì cứu sống nữa!
Các tăng lừ kinh hãi tột độ. Vội đứng hết cả lên nhìn về phía Độc chỉ Thôi Bác, thấy con linh điểu Đại Hắc không biết đứng cạnh chủ nó từ bao giờ rồi. Hiện giờ trong đầu óc của đám tăng lữ, chỉ còn chứa vỏn vẹn một chữ: Chạy, nhưng khốn nỗi ai nấy đã bay hồn bạt vía, hai cẳng đã chùn hẳn, thì làm sao nhấc nổi để chạy! Và cũng trong đám tăng lữ ấy, có người vẫn còn thính mũi ngửi ra mùi khai khai, chứng tỏ đã có người quá sợ đến vãi nước tiểu...
Lúc này chỉ thấy Độc chỉ Thôi Bác từ từ giơ ống tay áo lên. Liễu Mi biết ngay, trong ống tay áo ấy toàn là những ám khí của đám tăng lữ đã phát ra lúc nãy để đánh lén vị kỳ nhân cái thế này, giờ đây chắc vị Đoạn Trường Nhân dùng lối vật hoàn cố chủ để trả đòn đây, nhưng khá lâu, vẫn không thấy Độc chỉ Thôi Bác ra tay phát ám khí.
Bỗng nhiên, ống tay áo của Thôi Bác buông hẳn ngay xuống thở một tiếng dài rằng:
- Hãy đi ngay! Và từ nay nên bỏ hết các tính tàn ác để ráng tu sao cho xứng danh đệ tử của cửa nhà Phật. Còn ai muốn hoàn tục, cũng phải ráng an phận thủ tánh làm người lương thiện chớ có gây sóng gió tai quái trên giang hồ mà hối không kịp. Phải biết rằng các người có trốn chân trời góc biển nào cũng không thoát khỏi con linh điểu Đại Hắc của ta? Vậy liệu hồn đó mà giữ xác!
Đám tăng như gặp Hoàng ân đại xá tội, vội hấp tấp thu nhặt tử thi Vân Cư Sĩ và Hải Không đại sư lo nhanh chân nhanh cẳng đi luôn một mạch không dám ngoảnh cổ nhìn lại sau!
Bắc kiếm Phổ Côn cùng với bộ hạ cũng chẳng từ rút đi luôn. Độc chỉ Thôi Bác chỉ nhìn họ thở dài, rồi đưa tay ấp vào ngực mình ngồi ngay xuống một phiến đá, con linh điểu lo đứng cạnh rỉa lông cánh của mình.
Hận Thư Sinh của phái Điểm Thương thấy tình trạng vậy, khẽ tiếng nói với Thanh Thông bang chủ Liễu Khải rằng:
- Liễu huynh! Tiểu đệ xin đi trước vậy? Xem ra chuyến này chúng mình đều bị lừa về tên Vân Cư Sĩ, thật ra không nên đến Nhữ Nam làm gì mới phải! Ân hận quá chừng ! . . .
Thế là Hận Thư Sinh lại hiện ra bộ mặt buồn thiu như kẻ đưa ma, chậm chạp leo lên chiếc kiệu lộng lẫy của mình do các đệ tử của mình khiêng ra về.
Nhưng Hận Thư Sinh trước khi đi đã cáo biệt với hết thảy mọi người. Độc chỉ Thôi Bác cũng khách sáo mỉm cười nhẹ đưa tay chào!
Chỉ còn lại Thanh Thông bang chỗ Liễu Khải, cũng chẳng phải ông ta không muốn ra về ngay trong tình trạng này, nhưng chỉ vì chiếc Tiểu Đoạt Hồn Kỳ còn nằm nguyên trên tay của Độc chỉ Thôi Bác. Nhưng Liễu Khải khiếp oai của đối phương, không biết nên hành động ra sao mới phải, lẽ đương nhiên, theo ý thì Độc chỉ Thôi Bác không đời nào lại đi đoạt vật báu của mình như thế, nhưng Liễu Khải không biết nên dùng lời nói gì để đòi về cho khỏi mất lòng người ta?
Lão bang chủ đành lên tiếng khẽ gọi con gái mình:
- Liễu Mi con!
Liễu Mi vốn là cô gái tinh ranh tuyệt luân, làm gì mà nàng lại không đoán nổi tâm trạng của cha già, ngay lúc ấy nàng tươi cười lên tiếng trả lời cha già rằng:
- Thưa cha! Làm gì mà cha phải quýnh lên vội thế! Cây cờ vẫn còn nằm trong tay của Thôi Bác thúc thúc con tin rằng thúc thúc thế nào cũng hoàn lại cho cha mà!...
Liễu Mi quả là lanh trí tinh ranh thật, Nam bút Gia Cát Dật bất giác phải khen thầm: Hèn gì trong giang hồ đồn nói cô bé này thông minh tuyệt đỉnh không ai bằng.
Câu nói của Liễu Mi quả nhiên đã sinh ra hiệu lực Độc chỉ Thôi Bác từ từ trong mình lấy ra cây Tiểu Đoạt Hồn Kỳ, mỉm cười nhìn vào những chữ ghi trên cây cờ sau khi nhìn xong bỗng thu ngay nét cười của mình lại, thần sắc có vẻ vô cùng trịnh trọng!
Thấy vậy Thanh Thông bang chủ trống ngực đánh thình thịch biết ngay Độc chỉ Thôi Bác đang nghiên cứu mười tám chữ quái dị trên cây cờ... Liễu Khải lo và sợ vị kỳ nhân cái thế này nếu là biết được những ý nghĩa trên cây Tiểu Đoạt Hồn Kỳ thì võ công của người ta lại càng tiến thêm lên tuyệt đỉnh của tuyệt đỉnh mất!
Nhưng lão anh hùng bất giác từ cười thầm trong bụng, thầm nghĩ: đừng nói đến bản thân của Thôi Bác làm gì, chỉ nội con linh điểu Đại Hắc của người ta, võ công đã hơn hẳn mình rồi, huống hồ là chủ nhân của nó là Đoạn trường nhân Độc chỉ Thôi Bác, nay người ta đã là đương kim vô địch trong võ lâm ngày nay, đệ nhất tuyệt thủ trong thiên hạ, hà tất cần phải nghiên cứu gì vu vơ những chữ oái oăm trong cây cờ nhỏ đó làm gì? Nhưng bản tính của con nhà võ, đều biết rằng thiên ngoại hữu thiên (ngoài trời vẫn còn có trời) mà nhất là võ công càng không biên giới, cũng có lẽ Thôi Bác cũng không thoát khỏi định luật ấy, nhất lại không muốn người khác tham thấu những ý nghĩa trong văn tự ấy, để hòng củng cố địa vị độc bá đệ nhất kỳ nhân trong thiên hạ, không chừng vì ý nghĩa đó mà người ta dám ngang nhiên cướp đoạt luôn chiếc cờ báu của mình cũng nên!
Không nói là sắc mặt của Liễu Khải biến đổi bất thường, với ý nghĩ của mình, mà cả Liễu Mi và Gia Cát Dật cũng chăm chăm ngó theo hành động của Độc chỉ Thôi Bác!
Tuy trong lòng của Liễu Mi rất kính nể vị Thôi Bác này nhưng trong thâm tâm của cô nàng đã nghĩ: dù Độc chỉ Thôi Bác tốt đến mức nào đi nữa, cũng không thể nào đem so sánh với cha già của mình được!
Đương nhiên là Liễu Mi ngả về phía cha mình hơn, nàng mong chiếc cờ báu ấy vẫn thuộc về trong tay cha già mình. Đồng thời, cũng trong thâm tâm của nàng, ẩn hiện có một hình bóng, và địa vị của hình bóng cũng quan trọng không kém gì địa vị của cha già, thậm chí có thể hơn là khác, người ấy là ai? Dạ xin thưa ngay chính là chàng công tử Thượng Quan Linh của nàng ta, nếu chiếc cờ này mà Thượng Quan Linh được, và lại do chính chàng thông hiểu được những chữ nghĩa trên này trở thành đệ nhất cao thủ trong thiên hạ, như thế phải thích biết chừng nào! Vì dù sao chàng còn trẻ nhiều hơn cha già, và càng có thể hoàn thành những sự nghiệp vĩ đại của kiếp đời giang hồ hiệp sĩ...
Nhưng Liễu Mi đã chợt tỉnh ngay với những ý nghĩ quá mơ mộng của mình, người yêu đã quyên sinh tại Đại Ngũ Trì trên đỉnh Phòng Sơn, từ nay âm dương hai cõi xa nhau, những ý nghĩ của mình chẳng qua chỉ là ảo tưởng, và là thứ ảo tưởng không bao giờ thành hình được! Bất giác nước mắt nàng tuôn ra đầm đìa.
Thanh Thông bang chủ là người thứ nhất phát hiện con gái mình khóc, vội lên tiếng:
- Kìa con gái ngoan của cha! - Nói xong ôm choàng ngay lấy con gái vào lòng, lão bang chủ tưởng đâu con gái mình khóc vì chuyện chuyến cờ, nào hay đâu trong lòng cô con gái quí lại còn chuyện đau khổ thầm kín hơn nhiều. Được ôm trong lòng cha già Liễu Mi lại càng khóc thành tiếng!
Độc chỉ Thôi Bác bất giác cũng tỏ ra thái độ hiền hòa từ từ hỏi:
- Chuyện gì mà Liễu cô nương thương tâm như thế. Phải chăng vì cái này?
Nói xong cầm ngay chiếc cờ nhỏ, từ từ bước sang và giao ngay chiếc Tiểu Đoạt Hồn Kỳ ấy cho Thanh Thông bang chủ Liễu Khải.
Cử chỉ ấy, khiến cho mọi người kinh ngạc không ít và chính Gia Cát Dật và Hầu Hạo cũng tưởng đâu rằng Độc chỉ Thôi Bác sẽ chiếm làm của riêng, nay biết mình đã hiểu lầm. Độc chỉ Thôi Bác quả không hổ là người ngồi ghế thứ nhất trong vũ lâm, nhất là phong độ không tham lam, không ỷ tài ức hiếp, khiến thiên hạ khâm phục vô cùng. Giờ có đến Liễu Mi cũng phải ngừng tiếng khóc, nàng tròn xoe đôi mắt đứng nhìn sửng vị kỳ nhân cái thế trước mắt.
Thôi Bác mỉm cười hỏi rằng:
- Thế không biết Liễu lão bang chủ đã thông hiểu nổi những kỳ văn trên cờ này chưa không biết?
Liễu Khải nghiễm nhiên trả lời rằng:
- Lão phu quá ngu muội, nên còn chưa am hiểu tí gì về những văn tự trên đồ là nghĩa gì, còn mong đại hiệp vui lòng chỉ giáo nhiều cho.
Độc chỉ Thôi Bác khẽ ngước đôi mày rằng:
- Theo tôi vừa rồi quan sát, trong mười tám chữ trên cây cờ ấy, rõ ràng có liên quan với những lời truyền tụng của thiên hạ trong giang hồ!
Mọi người nghe Thôi Bác sắp sửa thuật nói về lai lịch chiếc cờ Đoạt Hồn Kỳ nhỏ này, ai nấy chăm chú để lo theo dõi câu chuyện.
Tiếng Thôi Bác rằng:
- Đời tôi rất thích nghiên cứu về loại cổ tự văn kiện, nên khi thấy những văn tự cổ lỗ trên cờ, trong bụng nổi hứng ngay nên không ngần ngại gì để nghiên cứu xem. Nhưng .sau khi tôi xem kỹ, phát giác tuy trong mười tám chữ này hơi giống loại chữ triện nhưng nó lại không ra lối chữ triện hẳn. Cũng không phải chữ giáp cốt (loại chữ khắc trên xương và mai rùa), mà cũng chẳng phải lối chữ chung đỉnh (lối chữ chạm trên chuông và đỉnh lư đồng). Nhưng ngượng quá! Tôi không làm sao biết nổi nó thuộc loại chữ gì, lẽ đương nhiên càng không hiểu ý nghĩa của nó.
Câu nói này của Độc chỉ Thôi Bác khiến cho mọi người thất vọng hẳn, Thanh Thông bang chủ vội hỏi:
- Nếu vậy, Thôi đại hiệp cỏ thể nhận được mười tám chữ này là thuộc thứ văn tự thông dụng của quốc gia nào không?
Độc chỉ Thôi Bác rằng:
- Theo tôi đoán mười tám chữ ấy, rất có thể là loại cổ văn của nước Thân Độc đời xưa, và nước Thân Độc ấy chính là tên nước đời xưa của Thiên Trúc ngày nay, lại có tên là Hiền Đậu, theo sự ghi chép trong địa chí, nước ấy nằm về phía Nam của Trung Thổ, và phía Bắc của Hắc Thủy, giống người ở đây da ngăm đen. Những tăng lữ của cổ quốc Thân Độc được gọi là Bà La Môn, địa vị tuyệt cao được. người kính trọng, những kinh của họ tụng niệm, hoàn toàn giống hệt với những văn tự ghi trên cây cờ của Tiểu Đoạt Hồn Kỳ vậy!
Mọi người kinh ngạc không ít, nàng Liễu Mi cũng khá uyên bác về học vấn, nghe vậy bèn hỏi ngay:
- Thưa Thôi thúc thúc, nếu vậy có thể là lối Phạn văn (lối chữ Ấn Độ xưa) không chừng?
Độc chỉ Thôi Bác thấy mặt nàng Liễu Mi còn chưa ráo nước mắt, bèn cười nói rằng:
- Cũng có thể nói nó là lối Phạn văn, nhưng không phải là lối Phạn văn thông dụng ngày nay đâu, mà lại là một thứ Phạn văn cổ xưa, trong đương kim ngày nay chỉ trừ những đệ tử của Bà La Môn bên Thiên Trúc, may ra có thể biết lối chữ này, ngoài ra thật khó mà tìm được người am hiểu về lối cổ tự xưa trong đời này?
Nghe đến đây, Liễu Mi bất giác vui mừng đưa ngay cờ Tiểu Đoạt Hồn Kỳ lên chăm chú nhìn những chữ như giun rắn trên lá cờ. Thôi Bác thấy Liễu Mi vẫn còn u buồn, bèn cất tiếng hỏi rằng:
- Sao! Liễu cô nương hết buồn rồi chứ!
Nào ngờ câu hỏi này chạm đến nỗi lòng bi thảm của nàng, càng khiến nàng buông tiếng khóc sướt mướt không nguôi, khiến cho ai nấy ngạc nhiên lạ lùng.
Thôi Bác hình như đã tỏ vẻ mến thích Liễu Mi, bèn hỏi ngay Liễu Khải rằng:
- Không biết lệnh ái có chuyện gì mà bi ai đến thế!?
Nhưng Thanh Thông lão bang chủ cũng chẳng biết sao con gái mình lại khóc thảm thương như thế, càng không biết trả lời sao cho câu hỏi của người ta.
Bèn quay ngay sang phía con rằng:
- Này con gái cưng của cha, con có chuyện gì uất ức sao? Mau nói đi! Thôi đại hiệp đang hỏi con đấy, chóng ngoan!...
Độc chỉ Thôi Bác cũng hòa nhã rằng:
- Liễu cô nương, nếu cô có chuyện gì khó khăn, cứ nói rõ tôi nghe, thế nào tôi cũng tìm cách giúp cô!
Liễu Mi càng khóc thổn thức và nấc lên nói rằng:
- Người ấy... người ấy đã chết rồi...
Thanh Thông bang chủ ngơ ngác rằng:
- Ai! Con muốn nói ai đã chết?...
Liễu Mi không trả lời chỉ khóc nức nở.
Tiếng khóc Liễu Mi làm cho mọi người phải mủi lòng, ai nấy cố khuyên hỏi, Nam bút Gia Cát Dật cố trấn tĩnh tinh thần buồn rầu rằng:
- Kẻ chết chính là Thượng Quan Linh. Nó vốn là đồ đệ của tại hạ! Và cũng là bạn thân của Liễu cô nương...
Câu nói của Gia Cát Dật vừa thoát ra, Độc chỉ Thôi Bác và Thanh Thông bang chủ chưa cảm thấy có phản ứng gì, nhưng riêng Hầu Hạo, thình lình nhảy tung người lên, đưa tay ra nắm chặt ngay Nam bút Gia Cát Dật hấp tấp hỏi rằng:
- Thưa sư thúc! Ngài nói sao? Sư... sư đệ của con đã chết rồi. Có thật thế không?...
Gia Cát Dật biết cảm tình Hầu Hạo và Thượng Quan Linh rất khắn khít với nhau, còn thân hơn tình anh em ruột là khác, không ngờ câu nói này làm xúc động cho Hầu Hạo đến thế. Đến đây thầy trò của Gia Cát Dật không khỏi gợi lên những nỗi niềm nhớ thương, khiến cho Nam Bút nghẹn ngào không nói nên lời chỉ khẽ gật đầu trả lời câu hỏi của Hầu Hạo.
Hầu Hạo công lực chưa khôi phục, nay nghe hung tin của sư đệ mình như vậy, sự đau buồn uất hẳn lên, chàng lập tức chết giấc tại chỗ.
Mọi người lo cuống lên cứu tỉnh Hầu Hạo, Liễu Mi thấy Hầu Hạo tình nghĩa sâu nặng như thế, càng xúc động khóc sướt mướt thêm không nguôi, Hầu Hạo từ từ tỉnh lại, Độc chỉ Thôi Bác khẽ lẩm bẩm rằng:
- Thôi đúng rồi! Chị em Châu Thị từng nói với ta về thiếu niên ấy, nhưng hắn chẳng đã cùng trốn thoát với Liễu cô nương tại Phi Các ma cung là gì?
Nam Bút lúc này nghe Thôi Bác lẩm bẩm một mình như vậy bèn cố cưỡng chế nỗi lòng bi ai của mình để thuật hết mọi tình hình của Liễu Mi và Thượng Quan Linh sau khi trốn khỏi Vô ảnh Phong, và cũng ngay đêm thoát nạn này, hai người bị chia tay. Thượng Quan Linh gặp phải kình địch và bị trúng Phủ Chưởng Hàn độc công, thương tích không thể nào cứu, và chính không muốn Liễu Mi phải thương tâm, nên đã lén đi tìm cái chết trong hoang vắng! Không ngờ giữa đường lại gặp bào muội của Hầu Hạo là Đông Phương Đình, lại nhận lời trọng thác của Song kiếm thư sinh Đông Phương Kiệt, nên phải tiếp tục hộ tống nàng Đông Phương Đình bôn ba trên dặm trường.
Độc chỉ Thôi Bác chăm chú nghe theo lời thuật của Gia Cát Dật, thần sắc càng lúc càng đăm chiêu, còn Hầu Hạo lại càng ngớ ngẩn giương tròn mắt ngó Nam Bút và nghe câu chuyện vẫn tiếp diễn ly kỳ.
Nam bút Gia Cát Dật tiếp tục kể: nào về sau Liễu Mi bí mật theo dõi hành tung của Thượng Quan Linh, và mấy lần ra tay trợ cứu ngấm ngầm trong cơn kịch nguy. Nhưng kết quả là bảy ngày sống thừa của Thượng Quan Linh đã hết, và chàng đã tỏ hết mọi sự thật cho Đông Phương Đình biết, đơn thân độc mã leo ngay lên Đại Ngũ Trì trên Phòng Sơn để tìm nơi chết thanh tao, đến chừng Liễu Mi hay tin lại cứu thì đã muộn...
Nam Bút vừa thuật hết chuyện, Hầu Hạo và Thôi Bác hình như hai người cùng phát tiếng lên hỏi cùng một lượt là: hiện nay nàng Đông Phương Đình ở đâu? Nam Bút lại thuật sơ về chuyện mình bắt gặp họ và cho biết nay Đông Phương Đình và Hạ Quyên cùng trọ tại một khách sạn trong thành Nhữ Châu.
Hầu Hạo tuy mừng là sắp sửa được thấy em gái ruột mình, nhưng khi nghĩ đến lời thuật của Gia Cát Dật, sư đệ Thượng Quan Linh, trong bảy ngày sống thừa ấy hết lòng bảo hộ cho em mình, mang vết thương nặng trên người mà vẫn tử chiến với địch, trong lòng càng cảm thương cho Thượng Quan Linh. Hầu Hạo lúc này chỉ biết gầm mặt xuống khóc như mưa về sư đệ của mình.
Độc chỉ Thôi Bác cũng đâm ra bàng hoàng, suy nghĩ một chập, mới lẩm bẩm rằng:
- Không biết rõ rằng thiếu niên này đã chết chưa?
Nam bút Gia Cát Dật và Thanh Thông bang chủ đều nghĩ thầm trong bụng rằng: vị Thôi Bác này quả là người kỳ lạ thật, đã gieo mình xuống một hồ nước mà đến lông ngỗng còn phải chìm như Đại Ngũ Trì trên Phòng Sơn, đâu lý còn toàn mạng cho được! Rõ lẩm cẩm.
Thôi Bác bỗng rằng:
- Thôi! Liễu cô nương và Hầu Hạo hãy tạm ngưng cơn bi ai lại đã, nước hồ của Đại Ngũ Trì tuy không thể nổi được lông ngỗng, nhưng không thể nào làm gì nổi đến Đại Hắc của ta, để ta phái ngay nó tới đó xem tình hình ra sao, nếu quả số mạng là người kiết nhân thiên tướng thế nào Thượng Quan công tử cũng không hề gì, và Đại Hắc thế nào cũng cứu ra được, còn nếu chẳng may...
Nói tới đây, Đoạn Trường Nhân đưa mắt nhìn mọi người, thấy cả đến Thanh Thông bang chủ Liễu Khải cũng rầu rĩ ngậm ngùi, Thôi Bác cũng động lòng, bèn rằng:
- Thật ra thì thiếu niên này tôi chưa hề được thấy mặt, nhưng đã là môn đệ của Gia Cát Dật, và bạn tốt của Liễu cô nương và Hầu Hạo, và cứ suy theo lời thuật lại của mọi người như thế, tình đời lận đận như thế, kể ra cũng đáng thương thật, nhất là tính tình lại chính hiệp nghĩa, quả là những mẫu người lý tưởng của chúng ta, chính đến ta đây cũng cảm thấy mến tiếc lắm... Nếu quả thật may mắn y còn sống trên trần gian này, và Đại Hắc đem được y về Mặc Phụ Sơn của ta, dẫu cho là độc thương đến mức nào đi nữa, ta cũng có thể chữa khỏi cho y. Theo ý ta nghĩ thì người hiền gặp lành, may ra còn nhiều hy vọng cứu, vậy chớ nên bi thương làm gì trong lúc này!
Dứt lời Độc chỉ Thôi Bác lẩm bẩm những tiếng lạ lùng với chim ưng một hồi, thình lình con chim ưng Đại Hắc tung mình bay vọt lên và biến dạng ngay trong đám mây.
Chim ưng bay khuất dạng xong, Độc chỉ Thôi Bác mới quay lại nói rằng:
- Giờ xin phiền Nam bút Gia Cát Dật dẫn lối để cho huynh muội Hầu Hạo tương phùng đoàn tụ với nhau.
Thế là cả đoàn người rời ngay khỏi núi mỏ đồng. Gia Cát Dật đi trước dẫn đường, Độc chỉ Thôi Bác lấy ra hai đóa hoa đỏ nuốt xong ung dung đi cùng với Liễu Khải, đôi bên trò chuyện có vẻ tương đắc hợp ý với nhau lắm!
Chẳng bao lâu, mọi người về đến thành, Gia Cát Dật đưa mọi người về ngay khách sạn. Hai nàng Đông Phương Đình và Hạ Quyên thấy Liễu Mi và Độc chỉ Thôi Bác về một cách yên ổn như thế, vui mừng quá đỗi. Nhất là Đông Phương Đình sau khi được Gia Cát Dật dẫn kiến cho biết anh ruột mình Hầu Hạo, thấy Hầu Hạo ăn mặc lôi thôi và đầu tóc bờm sờm như thế, chẳng kể sạch dơ gì, chạy qua ôm choàng anh mình vào lòng.
Hầu Hạo cũng còn mang máng nhớ được khuôn mặt của em gái mình, giờ đây được tương phùng, thật không khác nào như trong mộng, mừng tủi giao hòa, bất giác sung sướng chảy nước mắt!
Mọi người đều mừng vui cho anh em hai người trùng phùng gặp nhau. Giờ này đã vào giờ ngọ, Liễu Khải thấy danh nghĩa của vị bang chủ Thanh Thông Hội, ra lệnh cho các thủ hạ còn hợp sức với chủ quán lo dọn ngay cơm rượu để đãi khách. Sau khi chuẩn bị xong xuôi đâu đấy cả, thủ hạ Thanh Thông Hội bèn mở mọi người vào nhập tiệc. Độc chỉ Thôi Bác, Thanh Thông bang chủ Liễu Khải, Gia Cát Dật, Hầu Hạo, Liễu Mi, Hạ Quyên, Đông Phương Đình, Phích lịch nhị lang Sở Canh, và mấy vị hương chủ của Thanh Thông Hội cùng ngồi một bàn.
Trong cuộc tiệc ai nấy lo kính rượu mời Độc chỉ Thôi Bác và vị cái thế kỳ nhân cũng đáp lễ mời lại mọi người, nhưng khi mời đến lượt hai anh em Hầu Hạo, Thôi Bác đã tỏ ra cử chỉ miễn cường, khiến cho hai anh em hoảng lên, tưởng đâu mình đã có gì thất lễ với vị tiền bối kỳ nhân. Vì cả hai anh em Hầu Hạo đã từng bị uống nhầm thuốc độc xưa kia, khiến nỗi những chuyện thiếu thời đều quên hết, chẳng rõ thân thế của mình ra sao, tinh thần luôn bị dầy vò, bèn nhân ngay dịp này hỏi han với Độc chỉ Thôi Bác cho rõ lai lịch thân thế của hai anh em.
Không ngờ hai anh em vừa đưa vấn đề ra hỏi, nét mặt Thôi Bác bỗng ảm đạm ngay, và cho biết rằng: trong đương kim ngày nay, những người biết được thân thế của hai anh em, duy chỉ có bốn nhân vật hiệp nghĩa trong giang hồ biết mà thôi, một vị là liệt danh trong nhóm Càn Khôn Ngũ Tuyệt là Tây đạo Thiên Si, cũng tức là thầy của Hầu Hạo, còn hai người nữa là cha con họ Đông Phương, tức là nghĩa phụ nuôi nấng cô em, họ cũng biết rõ thân thế của hai anh em, và vị chót nữa là Độc chỉ Thôi Bác.
Và cả trong bốn người đều phụ trách cùng một sứ mạng như nhau, nghĩa là phải tìm hết cách để bảo vệ hai anh em này, và trong số bốn người ấy, trách nhiệm của Độc chỉ Thôi Bác là trọng đại hơn hết, nhưng vì trong những năm gần đây buồn rầu về tâm tình, nên ẩn cư tại Mặc Phụ Sơn. Tuy biết rõ hai anh em đã có nơi dung thân, nhưng lại không chịu tìm kiếm ngay, và phía bên cha con họ Đông Phương bị lộ tung tích, và bị dồn dập vì các uy hiếp đưa đến, kết quả là Đông Phương Tường bị chết, và Đông Phương Kiệt lo sứ mạng bao vệ em gái về miền Nam, nhưng kết quả cũng lại bị hy sinh tại dọc đường. Và sự hy sinh này chính là do lỗi sơ ý của Thôi Bác mà nên nông nỗi, cho nên trong lòng Độc chỉ Thôi Bác cảm thấy hối hận vô cùng!
Về lai lịch thân thế của hai anh em, theo lời Thôi Bác, thì hai anh em này có liên can mật thiết đến một bí mật rất lớn, và chính Thiên Si đạo trưởng cũng không tiết lộ chuyện này, và cả cha con Đông Phương Tường khi nhắm mắt cũng chưa nói rõ ra, và nay cả đến Thôi Bác cũng cảm thấy thời cơ chưa tiện lợi, tạm thời không tiết lộ ra là thượng sách hơn hết!
Nhưng Đông Phương Đình đã đề nghị ra một lời thỉnh cầu: tuy vẫn chưa biết rõ về nguồn gốc lai lịch thân thế của mình, nhưng ít nhất họ thật thụ của hai anh em cũng nên cho biết, chứ ai lại mang tiếng anh em ruột mà anh thì Hầu Hạo em lại Đông Phương Đình nghe sao cho ổn!
Thôi Bác sau khi trầm ngâm suy nghĩ một chập, vẫn cho rằng đừng biết rõ trong lúc này vội, cứ tạm dùng theo tên cũ cái đã. Thôi Bác cũng cho hay là hiện chị em Châu Thị Nhị Điệp vẫn còn ở trên Mặc Phụ sơn, và bây giờ tạm đưa Hầu Hạo và Đông Phương Đình về núi đã, chờ cho Đại Hắc về báo tin xem sao rồi định liệu. Đồng thời an ủi Liễu Mi cứ yên trí cùng với cha già về Lạc Thủy đã rồi chờ tin tức sau, và đương nhiên Thôi Bác sẽ sai Đại Hắc báo tin nhanh cho. Còn phần Gia Cát Dật phải lo đưa nàng Hạ Quyên về ngay quê nhà của nàng, thế là sau buổi tiệc vui vẻ, ai nấy lo chia tay tạm biệt nhau, Liễu Mi buồn hơn ai hết, nàng lủi thủi theo cha già lên đường về Lạc Thủy.
***
Đây xin quay về câu chuyện của tuyệt đỉnh trên Đại Ngũ Trì của tỉnh Ngạc Tây (phía Tây của tỉnh Hồ Bắc)!
Sau khi Thượng Quan Linh gieo mình nhảy xuống hồ nước của Đại Ngũ Trì, chàng cũng thấy toàn thân mình cứ chìm dần xuống mãi... nước lạnh buốt xương, khó chịu vô cùng, chàng nghĩ làm sao mình có thể mau mau chết đuối thì hay biết chừng nào, không thì vết thương Phủ Chưởng Hàn tái phát thì mình làm sao chịu nổi sự đau đớn của nó! Chàng vẫn cảm thấy mình đang bị chìm xuống nhưng quái lạ, hình như Đại Ngũ Trì này không đáy hay sao?
Và cũng chính do sức buốt lạnh ấy đã kích thích trí giác của chàng, nên Thượng Quan Linh càng kinh ngạc lạ lùng, sao từ nãy giờ mà mình vẫn còn chưa bị chết đuối kìa? Chuyện gì quái lạ thế nhỉ?...
Nhưng lập tức Thượng Quan Linh tìm ngay ra nguyên nhân - đó là vì chất nước ở đây quá lạ lùng, nhẹ hơn cả một chất dầu thường, và trơn mướt lạ lùng, rõ ràng là toàn thân mình đều nằm trong lòng nước, nhưng lạ cái là chất nước này lại không chui vào tai mắt mũi để khiến cho mình bị ngộp thở hay sặc mà chết đuối, trái lại vẫn thở hít được như trên bờ mới lạ! Đi tìm cái chết mà cũng khó khăn thật! Trong lòng Thượng Quan Linh vô cùng kinh lạ với sự kiện trước mắt mình.
Chẳng biết là được bao lâu nữa, chàng biết mình đã chìm hẳn tới đáy trì, Thượng Quan Linh nhìn kỹ đáy trì nhẵn trong như được lót bằng ngọc thạch vậy, trông cũng na ná như lối kiến trúc trên Phi Các ma cung trong Vô ảnh Phong vậy, trơn tru sạch sẽ, không cặn bẩn gì.
Thượng Quan Linh bèn lững thững đi ngơ ngơ dưới đáy trì nhẵn nhụi như mặt cẩm thạch ấy, trong bụng cũng không khỏi tức cười, sao ông trời lại khéo sinh ra cái quái trì lạ lùng này, người tự tử lại ngang nhiên không bị chết đuối, thôi thì mặc kệ, không chết đuối cũng chẳng sao, có lẽ tại mình không có số chết về nghiệp nước chăng? Định mạng đã ghi mạng mình phải chết về Phủ Chưởng Hàn! Đành chịu vậy, trước sau gì mà chẳng chết! Và hãy can đảm chờ cái chết quằn quại đưa đến vậy!
Nghĩ vậy, Thượng Quan Linh bỗng lại cảm thấy tâm hồn mình thư thái dễ chịu lạ lùng, chàng nghĩ mình được chết vào một nơi thủy cung tiên như thế này còn gì sung sướng hơn, và chẳng ai tìm ra được xác mình, như thế hay biết mấy! Thật là một cỗ quan tài lý tưởng nhất trần gian!
Nhưng hơi tiếc cái sức lạnh buốt khó chịu, và chàng nhẩm tính thời gian, cơn độc phát ra để đưa hồn mình vào thế giới khác cũng còn một đoạn thời gian tương đối nữa, lúc này thân đứng dưới đáy trì, vừa lạnh, trong mình thật khó chịu vô cùng. Thượng Quan Linh đành lần theo ven đáy trì bước đi khơi khơi, đi được một quãng, bỗng phát hiện một cái cửa lớn ngay tại vách trì. Hai tấm cửa lại như bằng ngọc thạch. Giữa hai cánh cửa lại có hai khoen tròn bằng vàng chói lên, trông vô cùng thích mắt.
Thượng Quan Linh thầm nghĩ, sao lại lắm cảnh lạ lùng thế này? Nhưng thây kệ ! Mình cứ đẩy bừa thử cửa bằng ngọc thạch này vào trong xem có gì lạ. Chàng đưa tay đẩy, cửa mở ngay, chàng vừa bước vào, cánh cửa lập tức tự động đóng ngay lại như cũ! Thượng Quan Linh cảm thấy trong mình hơi ấm áp: nhưng lạ hơn nữa là ở nơi đây lại không có lấy một giọt nước nào, xung quanh người không khí có vẻ khô ráo trong sạch.
Một mùi thơm thoang thoảng đã đưa ngay vào khứu giác chàng Thượng Quan Linh. Chàng càng đâm ra háo kỳ, bước men theo mùi thơm đi tới...
Dần dà chàng nhận ra trong đây là một ngôi thạch thất lớn, chỉ cách nhau có mỗi một cánh cửa, ấy thế mà bên này lại không có lấy một giọt nước, ngoài sự có không khí ra lại còn có cả ánh sáng nữa, sau khi Thượng Quan Linh tỉ mỉ quan sát, phát giác trong những bức vách ở đây đều có chất lân tinh, óng ánh phát ra sức sáng như thế. Nhưng thấy ngôi thạch thất dài thành hình chữ nhật này thông suốt ra mãi tít đằng xa, trên vách ngoài những hình người được chạm trổ tinh vi ra, không còn thấy vật gì khác nữa, dưới nền toàn là đá màu trắng phát sáng hẳn, trơn nhẵn vô số kể, nhìn kỹ thì toàn bằng đá cẩm thạch thượng thặng cả.
 
0
Hồi 055. Tuyết Tan Hoa Nở
[/align]
[/align]

Thượng Quan Linh lúc này không khác gì như kẻ nằm mơ, thầm nghĩ: một nơi hoang vắng của Đại Ngũ Trì đây, sau lại có một đáy hồ tuyệt thế này? Xem ra không phải một cảnh thiên nhiên mà chính ra là một cảnh nhân tạo rõ ràng, quả thật không thể nào tưởng tượng nổi. Sức lạnh trong người bớt đi, nhưng cơn đói tăng lên kinh khủng. Những tiếng sôi bụng ục ục nổi lên từng hồi, bụng nghĩ: làm sao trước khi chết mình cũng phải ăn no chứ, ai lại dại gì làm ma đói! Nhưng trong thạch thất này lấy đâu ra thức ăn? Thượng Quan Linh đành đưa chân bước đi lang thang và chàng cố để ý từng nơi khả nghi của thạch thất. Đi được một chập, bỗng thấy phía trước hiện ra một vật đen ngòm, đứng xa nhìn, trông phảng phất như một con thú dữ lớn, hình thù quái đản, Thượng Quan Linh bất giác đứng khựng lại. Chàng cố nhìn kỹ quả là một con thú dị hợm mà xưa nay chàng chưa thấy qua bao giờ. Trông nó cao lại vừa lớn, bề cao của thạch thất có gần hai trượng, thế mà lưng con quái vật lại kề giáp với đỉnh thạch thất, đầu nó cúi sát xuống, nhìn tổng quát con quái vật trông không khác gì con Tích dịch (loại kỳ đà chàng hiu) khổng lồ, toàn thân nó có đến ba bốn trượng, châu thân vi vẩy láng bóng, phía sau cả chiếc đuôi dài lòng thòng, và bốn chiếc chân ngắn cứng cát bám sát trên mặt đất, trông chẳng khác nào như bốn cột trụ nhà đang dựng bốn góc cân đối vậy!
Nhìn kỹ bộ mặt của con quái vật Tích dịch khổng lồ nó có một chiếc đầu khá đồ sộ, một đôi mắt xanh lè to bằng miệng bát lấp lánh ánh sáng, miệng hơi hé mở và để lộ hẳn những hàm răng nanh kinh khủng ra!
Dẫu cho chàng Thượng Quan Linh có to gan bạo phổi đến đâu, trong tình cánh này chàng cũng không khỏi nơm nớp lo trong bụng, chỉ thấy mõm con vật nhô hẳn ra, Thượng Quan Linh tính quay mình chạy cho xong, nhưng bỗng chàng phì cười ngầm, rõ lẩm cẩm, đã định tìm chết mà lại còn sợ chết sao? Nếu tí nữa phải chết quằn quại về vết thương độc hành hạ đau khổ, chẳng thà mình gửi ngay thân vào con quái vật này là yên ổn hơn? Thế là chàng bạo gan đứng lại và bước ngay phía trước mặt con quái thú dị hợm! Chàng không đám mở mắt, bụng nghĩ chuyến này thế nào cũng toi mạng, và sẵn sàng chịu đựng sự ngấu nghiến kinh khủng trong hàm răng cưa của con quái vật khổng lồ. Nào hay chàng nhắm mắt đứng đợi cả đỗi, vẫn không thấy con Tích dịch khổng lồ sơi mình, và cũng chẳng nghe nó động đậy gì. Thượng Quan Linh lấy làm lạ, chàng hé mắt, con vật khống lồ vẫn uy nghi, đôi mắt long lanh màu lục quang, nhưng chẳng thấy nó gầm hét hay nhảy vọt qua, mà chỉ trơ trơ đôi mắt đứng nhìn Thượng Quan Linh, không hề nhúc nhích hay động đậy.
Thượng Quan Linh tự hỏi: không lý con vật khổng lồ này đã chết rồi hay sao? Chàng cố ý bước sát thêm một bước, con vật vẫn bất động: Thượng Quan Linh lại tiến thêm một bước, thân đã sắp kề sát đến mõm con vật nhô hắn ra ấy, nhưng con quái vật khổng lồ này vẫn trơ trơ ra đó. Lúc này chàng mới xác thực là con vật khổng lồ này đã chết từ lâu, chàng bực mình rủa:
- Đồ chết toi! Mi mà cũng cả gan lừa ghẹo ta hả?
Dứt tiếng chàng vung chưởng đánh thẳng vào chiếc mõm dài của con vật vô tri ấy, nghe rầm một tiếng, chẳng khác nào như đánh phải sắt đá vậy, khiến cho tay Thượng Quan Linh tê buốt đau nhói, may là chàng chỉ mới dùng hai ba phần công lực nếu không lại chẳng bị tét hổ khẩu và ứa máu tay mới là chuyện lạ đời!
Thượng Quan Linh càng tức mình, rút phắt ngay cây Lệ thủy tinh kiếm bên mình chém phạt tưng bừng vào con quái vật khổng lồ, nhưng chẳng ăn nhằm gì với bộ giáp vô cùng cứng rắn của nó, dù cho chàng Thượng Quan Linh đã vận hết chân lực vào cây kiếm vô cùng sắc bén của mình, rút cục vẫn không làm gì nổi con quái vật, nó vẫn trơ trơ với thân mình đồ sộ đứng ỳ ra đó! Tuy đường kiếm chém tóe đom đóm lửa, và tiếng kiếm vang lên những tiếng coong coong kinh người! Thượng Quan Linh càng kinh hãi, chỉ sợ cây kiếm quí bị tổn hại, vội vàng ngừng tay xem lại ngọn kiếm, nghĩ rằng đáng lẽ mình không nên đem theo cây kiếm quí bên mình để xuống dưới đáy Đại Ngũ Trì này, đáng lý ra phải đem tặng cho Liễu Mi hay là sư huynh Hầu Hạo mới đúng, như vậy kiếm được gặp minh chủ và nó sẽ tiếp tục lập công nghiệp cho chủ nhân mới của nó. Nay xem ra, cây kiếm này không còn bao giờ xuất hiện trên thế gian nữa, nó sẽ nằm dưới đáy trì này muôn đời, sau khi mình chết đi, và bao nhiêu năm sau đó, khi mà thi hài ta chẳng còn một di tích gì để lại nhưng cây kiếm này vẫn trơ trơ phơi gan với tuế nguyệt. Nhưng nào đâu có ai có thể phát giác về bí mật dưới đáy của Đại Ngũ Trì này cơ chứ? Càng nghĩ đến cây bảo kiếm từ nay bị trầm luân, Thượng Quan Linh càng buồn rầu, chàng nạp ngay kiếm vào vỏ, trong lòng bơ vơ vất vưởng!
Chàng thả bước bâng quơ vào dưới bụng con vật khổng lồ, chàng cảm thấy bốn chân to bằng trụ đình ấy đang chịu hết toàn thân xác của con vật một cách hiên ngang, và chàng cảm thấy mình không khác nào đang đứng trong mái đình làng vậy. Thượng Quan Linh tính nhẩm, sắp tới giờ độc thương Phủ Chưởng Hàn của mình bộc phát rồi đây, mình gửi nắm xương khô dưới bụng con Tích dịch này cũng được lắm. Thế là chàng ngồi sát vào hai mông đùi sau của con quái vật khổng lồ chờ đợi cái chết của mình sắp đến. Nhưng chỉ trong nháy mắt, bỗng có một mùi thơm nhẹ nhàng bay thoảng qua mũi chàng, Thượng Quan Linh hé mắt ra nhìn, cách mình không xa, thấy trên mặt đất mọc sẵn một cây nhỏ bằng đốt ngón tay, và trên ngọn cây ấy lại nở đóa hoa nhỏ trắng như tuyết.
Mùi thơm chính do đóa hoa trắng ấy tỏa ra, Thượng Quan Linh lấy làm lạ, suốt từ lúc trầm mình xuống đây đến giờ, biết bao nhiêu sự kiện ly kỳ đã khiến cho đầu óc chàng mất hẳn với ý thức tại của nó. Trạng thái của chàng đâm ra mơ hồ. Chàng đứng dậy và bước ngay đến ngắt đóa hoa đưa lên mũi ngửi mạnh, nhưng khi có hơi người gần đến, đóa hoa lập tức ủ rũ ngay và héo hẳn, nhưng nó đã biến ra một mùi thơm dịu lạ lùng. Thượng Quan. Linh vội tận hưởng hết những mùi thơm do đóa hoa tiết ra. Bỗng chàng cảm thấy trong mình khoan khoái vô cùng, cả một sự thư thái trong người, thuận tay chàng bứt luôn cây của nó bỏ ngay vào miệng nhai ngấu nghiến và nuốt ngay vào bụng mình, mùi thơm sặc đầy miệng, chàng nhận thấy trong người mình lúc này hây hây lạ, tứ chi bách cốt trong mình, không một chỗ nào mà không cảm thấy khoan khoái, chàng bèn ngồi xuống nghỉ ngơi, nhưng chẳng bao lâu, chợt nhiên chàng cảm thấy kinh lạ, sau khi ăn đóa hoa trắng và cả cuống hoa của nó, trong bụng không còn cảm thấy đói và lạnh nữa.
Chàng sung sướng mỉm cười, và cho rằng ông trời quả nhiên đã không bạc đãi mình, trước khi tuyệt mạng sống lại còn may mắn gặp những sự ly kỳ thế này, không những đã tìm ra một nơi chết lý tưởng như đây mà cả đến nguyện vọng không muốn làm ma đói cũng đã thành đạt! Chàng không còn ân hận gì nữa! Tính nhẩm, hạn bảy ngày cũng sắp đến rồi, giờ đây mình vừa ấm lại vừa no, có thể yên tâm chờ đợi tử thần lại rước đi, chàng ung dung bước vào dưới bụng con quái vật tĩnh tọa, nhắm mắt vận công, trong óc ngầm khấn vái và cầu nguyện, xin cho độc thương trong mình phát ra, làm sao cho chàng được chết ngay tức khắc thì hay, chớ để phải chết trong quằn quại đau đớn thì khổ thân lắm! Khấn xong, Thượng Quan Linh hồi hộp ngồi đợi thời gian đưa đến. Và cũng trong lúc này, chàng mới hiểu rõ chữ chết. Thì ra cái chết cũng không phải dễ dàng gì, nhất là người sống phải chờ đợi cái chết, quả là một sự hành hạ tinh thần đến cực độ. Cũng không biết chờ đợi được bao lâu rồi, Thượng Quan Linh dần dần cảm thấy mệt mỏi, và chàng chợp mắt gửi hồn mình vào làng mộng.
Giấc ngủ của chàng tuy say sưa, nhưng chàng vẫn không quên đây là những giờ giấc cuối cùng nhất của đời chàng, và chàng ao ước giấc mộng sẽ không bao giờ còn tỉnh lại với mình, nghĩa là chàng vẫn muốn chết trong một không khí bất tri bất giác thì tuyệt dời! Thế là chàng yên tâm thả hồn trong giấc mộng, chàng thường nghĩ là giấc điệp này không bao giờ mình còn có cơ hội tỉnh lại nữa... Nhưng oái oăm thay chàng vẫn phải tỉnh lại. Sau khi tỉnh, chàng đâm ra hoài nghi mình không còn sống trong trần gian thì phải? Hình như mình đang sống trong một thế giới khác!...
Chàng dùng tất cả những phương pháp của đời người thường thí nghiệm: hết cắn môi lại cắn đốt ngón tay, nhưng vẫn cảm thấy đau như thường, và còn thấy có máu là khác, chứng tỏ mình hãy còn sống nhăn trên trần gian, thật không thể nào tưởng tượng được, thời gian tận số chưa đến với mình sao? Hay ngọn độc công của Phủ Chưởng Hàn kém công hiệu? Nhưng không thể nào như thế? Luận về thời gian, kỳ hạn bảy ngày đã hết từ lâu, nói về độc công Phủ Chưởng Hàn, lão bà đã coi mình như kẻ đại thù nghịch, sau khi thắng một chường, đã không nhân cơ hội dồn mình vào ngay tử địa mà bỏ đi như thế, chứng tỏ người ta đã cầm chắc vận mạng của mình trong tay! Độc ý thâm ác của địch là muốn cho mình bị chết trong sự quằn quại đau khổ!
Lại nữa Hoạt thương công Hoa Diệp Tử lại là bực hiệp y trứ danh trên giang hồ, lời nói của ông ta đâu có lý sai? Thượng Quan Linh nghĩ liên miên những vấn đề lạ lùng trong đầu óc mình, nhưng tinh thần chàng cảm thấy minh mẫn, trong mình như đầy đủ sinh lực, không có triệu chứng gì là độc thương sắp bộc phát. Chàng lại cố chờ đợi thêm, dần dà chàng đã chịu không nổi cảnh tịch mịch xung quanh, bèn đứng dậy bước loanh quanh sau một giấc ngủ, chàng cảm thấy bụng mình không hề thấy đói. Thượng Quan Linh bước vượt khỏi đuôi con Tích dịch, đi được chừng lối ba mươi bước, chỉ thấy là lối tận cùng của ngôi thạch thất, trống rỗng và không thấy một vật gì, chàng bất giác cảm thấy thất vọng.
Thì ra cả một ngôi thạch thất to lớn này, ngoại trừ con quái vật khổng lồ Tích dịch đứng giữa nhà với thế rùng rợn kinh khủng của nó, và những chất lân tinh lấp lóe của vách tường tỏa ra, không gì khác lạ thêm. Thượng Quan Linh bất giác lại chán nản trong người, thầm nghĩ: dù cho mình may mắn không chết cũng không làm sao mà ra khỏi ngôi thạch thất này nữa, và những lời tương truyền của dân gian về hồ Đại Ngũ Trì, đến lông ngỗng còn không thể nào nổi lên mặt nước được huống hồ là con người? Xem ra mình không bị chết về độc thương Phủ Chưởng Hàn, cũng bị chết cóng về thạch thất đồ sộ này mất. Nhưng Thượng Quan Linh đã bước thử lại phía tận cùng để quan sát xem có gì lạ nữa không, nhưng phía tận cùng mờ ám ấy chàng thấy có một khoen tròn, hình như lại là một khoen cửa. Chàng đưa tay kéo ngay chiếc khoen, quả nhiên là một cánh cửa động, tiếp theo là mùi thơm ngát tỏa vào mũi chàng.
Thượng Quan Linh bước ngay vào bầu không khí thơm bát ngát này, lần này chiếc cửa cũng tự động đóng ngay lại, thế là cánh cửa trông không khác nào thạch bích nằm nguyên lại như một vách tường, nếu không có chiếc khoen tròn, đố ai nhận ra đó lại là cánh cửa động bí mật.
Thượng Quan Linh phải thần phục lối kiến trúc tài tình này, quả là tuyệt luân. Chàng buông mắt nhìn khắp xung quanh, ngoài mùi thơm ngát dịu ra, chỉ thấy ngôi thạch thất này diện tích cũng không khác gì ngôi ngoài kia mấy, nhưng đặc biệt chất lân tinh trên vách trong này có vẻ mạnh hơn bên ngoài kia, ánh lấp lóe của nó khiến cho hoa mắt. Chàng bước lại gần nhìn kỹ, thì ra vách ở đây khác hẳn, ngoài kia sần sùi lởm chởm bao nhiêu thì trong này trái lại nhẵn nhụi bấy nhiêu và trên vách này cũng chạm khắc những bức hình người nhan nhản.
Mỗi bức hình người, chiều dài ngắn đều được bốn năm thước, giơ quyền hất cước, hoặc đứng hoặc khom, mỗi một hình là một thế khác biệt nhau, càng kỳ lạ hơn nữa là những chất lân tinh ấy được chạm gắn vào mắt mũi, ngón tay ngón chân của những bức hình linh động trên vách, nhờ ánh lấp lóe ấy mà càng lộ rõ hẳn những nét linh động của hình người trên vách. Thượng Quan Linh bỗng nghĩ: không lẽ những bức hình tuyệt tinh xảo đã được người ta cố ý tạo ra để cho người xem am hiểu những động tác của bức chạm trổ tinh vi ấy. Trong mắt con nhà võ như Thượng Quan Linh, chàng nhận ngay ra tất cả những tư thế của các bức hình người chạm trổ trên vách, từ: mắt, chưởng, cước, ngón tay, ngón chân của hình người, hiển nhiên là đang diễn từng thế võ một!
Lòng Thượng Quan Linh bất giác háo kỳ, chàng bèn bắt đầu từ bức hình người thứ nhất từ nơi ngõ vào, cẩn thận chăm chú xem, chỉ thấy bức hình như đang hiểu rõ ý: bắt đầu của một lối chưởng pháp, trông điệu bộ quái dị và sống sượng vô cùng.
Thượng Quan Linh nhìn mãi, với sức học uyên bác của chàng, nhất là được sự chỉ dẫn tận tâm của Nam bút Gia Cát Dật trong thời ở Ngao Sơn, khiến chàng đối với các võ công của các môn phái trong thiên hạ, đều cũng biết được một sự tổng quát, nhưng quả thật xưa nay chàng chưa hề được thấy một chường pháp nào mà lại bắt đầu ra tay bằng lối kỳ dị này bao giờ. Chàng cố moi óc nhớ của mình về tất cả các lối mở đầu của chường pháp của hầu hết các môn phái trong thiên hạ, nhưng không có một lối mở đầu chưởng pháp nào bằng lối của bức hình thứ nhất trên vách này, ngầm cảm thấy lạ lùng! Nhìn mãi chẳng hiểu, đành bỏ bức hình thứ nhất, và quay sang nghiên cứu về bức hình thứ hai nhưng chàng càng chăm chú xem hao nhiêu thì bức hình thứ hai này lại càng rối loạn phức tạp bấy nhiêu, nhìn thét rồi chàng cũng đành chịu.
Và cứ thế chàng nhìn hết các bức hình còn lại trên vách, chỉ thấy những bức hình to nhỏ bằng nhau ấy chất lân tinh óng ánh nhoà hoa cả mắt, không làm sao hiểu nổi những điệu bộ kỳ quái bí hiểm ấy, toàn là những thế chưởng cổ quái mà xưa nay chàng chưa hề thấy bao giờ. Nhất là lối ăn mặc quái dị của những bức hình chạm trổ trên vách, chỉ thấy bức hình nào cũng để trần ngực và hở hẳn đến lỗ rốn (rún), từa tựa như những bức Phật Như Lai, trong lòng cũng hơi nghi: những bức hình trên vách này, rõ ràng không phải nhân vật trong miền Trung Nguyên, mà chính là phiên tăng (sư tăng nước ngoài) bên Tây Vực Thiên Trúc, hay Mê tông của Tạng Phái, cho nên những dáng điệu của võ kỹ biểu hiện một cách quái dị lạ lùng như trên những bức hình trạm trổ trên vách đại thạch thất này.
Thượng Quan Linh cảm thấy phấn khởi, trong hai bức vách dài thườn thượt ấy, đều trạm trổ toàn những bức hình nhà sư Tây Trúc, với những điệu bộ không bức nào giống với bức nào. Tuy chàng chưa đếm kỹ, nhưng cũng ước lượng có cả trên trăm bức hình chạm như thế là ít, trong lòng Thượng Quan Linh bèn lập ý tính học ngay những võ công kỳ dị của Tây Vực này xem sao. Thế là bắt đầu từ bức thứ nhất, chiếu đúng theo hình dáng của bức hình trên vách, đầu gối bên phải khẽ co lên, chưởng bên trái chỉ thiên, chưởng bên phải trỏ đất. Thoạt đầu chàng cảm thấy cũng bình thường, không có gì lạ, nhưng chỉ trong chớp nhoáng, bỗng cảm thấy khó chịu ngay, khí huyết rạo rực bồi hồi, vội thu ngay tay lập tức.
Thượng Quan Linh lấy làm kinh dị, không hiểu nguyên cớ tại sao? Khi luyện công lại gặp trở ngại như kỳ này quả thật xưa nay chàng chưa hề có hiện tượng này bao giờ! Nhưng chàng bỏ ngay ý định học về loại võ công kỳ dị này, chàng men theo tường vách bước đi, ước đâu hơn ba chục bước, đã đến nơi tận cùng của thạch thất, chợt chàng thấy một cỗ thạch. sàng (giường bằng đá), nhờ ánh lấp lánh của chất lân tinh chiếu sáng, chàng chập chờn thấy có một người ngồi xếp chân bàn tròn trên thạch sàng. Thượng Quan Linh vừa mừng vừa hoảng, không ngờ một nơi bí mật như đáy hồ Đại Ngũ Trì, chắc phải là một vị ẩn thế cao nhân chứ không phải tay phàm tục tầm thường.
Chàng chờ mãi, không thấy người này nhích động, bèn bạo gan cất tiếng rằng:
- Đệ tử Thượng Quan Linh, nay kính tham kiến lão tiền bối! Mong ngài khoan dung tội mạo muội đột nhập tiên đàn của ngài? - Dứt lời chàng cung kính cúi sát mình thi lễ.
Mặc dù cử chỉ hành động của Thượng Quan Linh vô cùng cung kính, tiếng nói trong rõ, nhưng người ngồi trên thạch sàng vẫn như không nghe và không thấy. Chờ mãi không thấy động tỉnh, Thượng Quan Linh lo nghĩ bụng: không lý người này cũng giống như con quái vật khổng lồ Tích dịch sao? Đã chết từ lâu? Chàng buông tiếng gọi thêm hai câu: Lão tiền bối! Nhưng vẫn tuyệt nhiên không tiếng trả lời, chàng đánh bạo gan bước gần lại xem, chỉ thấy người này ngồi im, tóc xõa ngang vai và xoắn kết từng hàng thành khu ốc, hình như đã không tắm gội từ lâu, và bộ tóc hầu như đã che kín cả khuôn mặt, nên nhận diện không rõ lắm. Nếu phán đoán theo bộ áo nhà tăng kỳ dị trên thân của người này, thì đây quả đúng là một vị tăng lữ, hình như vì thời gian ở trong này khá lâu, nên trên đầu mới có tóc dài như thế. Nhận xét chung về tướng hình của người này, hình như không phải là người ở miền Trung Thổ, mà là tăng lữ miền Tây Vực hoặc giả bên Tây Tạng, hay Phật quốc Thiên Trúc!
Thượng Quan Linh đứng tần ngần một hồi khá lâu, chàng thầm lặng suy nghĩ: chắc nhà sư ngoại quốc này có liên quan mật thiết với những bức hình chạm trổ tinh xảo trên hai bức vách kia, nay thấy nhà sư vẫn uy nghi bất động, chàng cũng không dám đoán chắc là người ta còn sống hay đã chết! Chờ mãi đâm sốt ruột, Thượng Quan Linh liền quyết tâm, tự lẩm bẩm một mình rằng:
- Không biết tiền bối là pháp sư và tiên cư tại đâu mà tọa hóa nơi đây! Chắc ngài còn di mạng (lệnh di chúc) để lại chăng, nay tiểu tử có duyên được gặp mặt ngài, nguyện xin được tuân mạng hoàn thành!
Thượng Quan Linh quên bẵng mình có sống nổi để ra khỏi động thất này không, khom lưng kính cẩn vái dài hai vái, rồi chàng nhẹ đưa tay ra khẽ thọc ngay vào mớ tóc xõa trước mặt tính vén lên để xem chân dung vị tiền bối này ra sao! Nhưng nào ngờ tay chàng cảm thấy thọc ngay vào một nơi lỗ trống hỗng, và ngấm ngầm lành lạnh! Thì ra gương mặt của vị tăng nhân này không biết đã biến đâu!
Thượng Quan Linh bất giác cẩn thận nhìn kỹ lại, dù chàng to gan đến đâu, lúc này cũng giật thót mình tái mặt nhảy vọt ngay về sau? Thì ra màn tóc xõa che phủ bộ mặt, chỉ còn lại một chiếc đầu răng trắng kinh khủng, thịt đã bị hóa từ hồi nào rồi, hai lỗ mắt và một lỗ mũi sâu và đen thui, hàm răng nhe trắng hếu, trông càng tăng thêm vẻ hãi hùng.
Thượng Quan Linh trống ngực vẫn còn đập thình thịch! Khá lâu chàng mới định thần lại được, chàng nghĩ: có lẽ xưa kia vị tăng nhân này cũng như mình bây giờ, lạc lầm vào đáy hồ của Đại Ngũ Trì, và sự đói lạnh đã khiến cho vị tăng nhân này để lại cỗ thây ma tại thạch thất này đây, căn cứ theo hài cốt này, có thể đoán phỏng chừng vị tăng nhân đã chết cách đây mười năm có dư. Bất giác Thượng Quan Linh động lòng trắc ẩn, và càng liên tưởng đến vị tăng này đâu có ngờ bao nhiêu năm qua, lại có một kẻ đi theo con đường tuyệt vọng để đến đây như mình bây giờ... chàng thở dài!
Biết mình nay đã vào đến nơi này, không còn mong tái sinh ra khỏi đây nữa, giờ sao không nhân lúc mình còn chưa chết hẳn đem chôn cất hài cốt của vị tăng nhân này, và chính đây cũng là một việc công đức cuối cùng của ta còn sống. Nghỉ xong chàng bèn lập tức lại quì ngay xuống lẩm bẩm khấn rằng:
- Đệ tử Thượng Quan Linh, nay xin mạn phép được chôn cất hài cốt của tiền bối cho chu đáo, kính mong vong linh ngài phù hộ cho đệ tử hoàn thành công việc này trong thời gian trước khi đệ tử chết.
Khấn vái xong, chàng đứng ngay dậy ra tay di động hài cốt của vị tăng nhân vô danh, khi chàng lấy chiếc áo tăng ra, những lớp bụi trắng bay tứ tung xung quanh và một bộ xương người hiện ra trước mặt chàng, chàng dưa tay đụng vào bộ hài cất, bỗng những tiếng lích kích lốc cốc vang lên, cỗ hài cốt đổ xuống thành một đống xương lộn xộn trắng hếu.
Chàng thẫn thờ, bụng nghĩ: sau này mình cũng chẳng khác gì thế! Nhưng vị tăng nhân này nay còn có mình chôn cất tử tế, nhưng liệu phần mình, sau khi chết, chắc gì có ai lại đây chôn cất cho không?... Chàng không còn nghĩ thêm những điều buồn ấy nữa. Sau khi thu gọn đống hài cốt, và chàng đếm có 31 khúc xương cả thảy, chàng nghĩ nên đựng vào một cái gì, nhưng hay nhất là một cái hộp gỗ có nắp để chôn cất thì tốt quá! Nghĩ vậy bèn đi xung quanh chiếc thạch sàng tìm kiếm, dưới ánh sáng của chất lân tinh trên vách, chàng loay hoay tìm tới tìm lui, thình lình chàng phát hiện ra một chiếc rương lớn kiên cố bằng sắt, sau khi giở nắp rương ra xem, bên trong toàn là quần áo, mà trên đống quần áo lại có một quyển sách nhỏ. Thượng Quan Linh cầm lên giở sơ, thấy có chữ tích, nhưng vì nơi thạch sàng này hơi thiếu ánh sáng nên nhìn không rõ mặt chữ. Thượng Quan Linh thầm nghĩ: chắc có lẽ đây là quyển di chúc của tăng nhân vô danh này đây cũng chưa biết chừng! Và chàng muốn lập tức biết ngay danh tánh và lai lịch của vị tăng nhân này, thế là chàng không cần kiểm điểm những vật linh tinh trong rương sắt, cầm ngay quyển sách nhỏ, đi nhanh lại gần vách tường để mượn ánh sáng của lân tinh xem trong quyển sách ghi chép chuyện gì.
Chỉ thấy trên trang thứ nhất ghi rằng:
Tháng tư Đinh Sửu Sùng Trinh năm thứ mười.
Hằng Hà tăng (Tăng nhân miền sông lớn (Le
Gange), nằm phía Bắc nước ấn Độ)
Hữu Duy Na thư thạch thất
Kính đợi ngộ sư huynh Tả Pháp Phụ, hoặc kẻ có duyên phần miền Trung Thổ đến được đây!
May là những chữ trên đây toàn dùng chữ Hán tự, Thượng Quan Linh tính nhẩm ngày tháng ghi trên đây cách nay đã có trên ba chục năm, thời đó rõ ràng là mình còn chưa xuất thế, thế mà vị tăng nhân của miền Hằng Hà Thiên Trúc này quá cố rồi. Chàng bất giác càng kinh ngạc về thời gian tính xa lắc như thế, bèn từ từ giở ngay trang thứ hai để xem tiếp. Hình như vị tăng nhân xưng danh là Hữu Duy Na này rất tinh thông về Hán học, tự pháp sắc sảo nét chữ như rồng bay phượng múa, và đã ghi chép cả một sự tích khá dài! Ở trang hai của quyển sách nhỏ ghi chép rằng:
Ta tên Hữu Duy Na, người xứ Hữu Trà miền Hằng Hà, nay biết ngày chết đã kề gần, trong lòng bần thần xao động kinh khủng, không sao bình tĩnh tự ngưỡng chế nổi tâm tình của mình. Trời ơi!... ta là người qui y tam bảo, cũng là một tăng nhân từng khổ tu lâu năm, giờ này trước khi lên niết bàn, đáng lẽ linh đài phải thanh tịnh, vô suy vô nghĩ, nhưng tại sao ta lại đau khổ và buồn phiền như thế này? Thật quả đúng như lời nói của sư huynh, thân ta mang đầy tội lỗi, dù cho có dùng hết nước sông Hằng Hà để tắm gội, cũng không làm sao rửa hết tội lỗi của mình để mà lên được miền cực lạc đâu!
Nghĩ lại mười năm về trước, tại miền thánh thủy Hằng Hà của nước Thiên Trúc, trong một ngôi tịnh xá trong khu rừng Bàn Na Tha, ta và sư huynh Tả Pháp Thụ, cùng sư đệ Bối Bách Nhân, cùng lo hầu hạ sư phụ ta là Minh Quang đại sư. Sư phụ ta vốn là người miền Trung Thổ, là một vị đắc đạo cao tăng được toàn quốc khiêm kính, ta được hầu cạnh bên ngài, thật còn gì sung sướng cho bằng, và đời sống nhà chùa của ta, suốt ngày chuông mõ tụng niệm Phạn kinh, linh đài thật thanh tịnh, không một chút khổ não nào của trần tục. Sư phụ và sư huynh đều yêu thương ta, và đều dùng tịnh đế (những lẽ phải) của Phật pháp truyền giảng cho ta, càng hết lòng khuyên ta nên cố gắng, để ngõ hầu theo kịp đạo hạnh của thầy và sư huynh ta để sớm thành chánh quả, và thăng lên miền cực lạc!
Nhưng đáng tiếc ta lại là một tăng nhân đầy ma kiếp nghiệt chướng trong mình, chẳng bao lâu, cảnh thanh tịnh của Phật địa Bàn Na Tha, những cảnh vui thú xưa kia ấy, trong nháy mắt đã thành hư không, nay ta ở trong thạch thất của đáy trì này, sóng lòng phảng phất bồi hồi, vẫn còn tưởng nhớ đến những ngày sống thanh bình tại tịnh xá của Bàn Na Tha xưa kia, sự hoài niệm của ta sâu đậm vô ngần, tuy trong lòng ta vô cùng đau khổ, nhưng cũng chẳng biết làm sao hơn, cách xa sư môn, không mong gì sống mà về đến nơi, dẫu cho có võ công tuyệt vời trong người, nhưng cũng chẳng có cách gì, ta cầm bút ghi tới đây, mắt đã nhòa hẳn về những dòng lệ đau khổ. Khởi nguyên của câu chuyện, vào thời năm về trước, vào một cuối buổi của hoàng hôn ta và sư huynh ta Tả Pháp Thụ tôn giả, cả hai lo theo hầu cạnh sư phụ là Minh Quang đại sư, ba thầy trò sau khi lên một ngọn phong phía sau của Bàn Na Tha, trong lúc này ánh tà dương đã khuất núi, gió chiều tà thổi phất phơ, trong lúc này thì thấy sắc mặt của thầy ta rầu rầu không vui.
Minh Quang đại sư, tuổi trên thất tuần, đạo hạnh cao thâm, và đã sớm phá thất tình lục dục, tà ma nghiệp chướng lẽ đương nhiên không có ám ảnh gì có thể xâm hại tâm linh của thầy ta, nhưng không hiểu tại sao ngay trong lúc đó, thầy ta lại có thể có sắc mặt rầu buồn vậy, hiển nhiên trần duyên của ngài còn chưa dứt! Ngay khi đó, ta và sư huynh quì dài ngay xuống hỏi nguyên do, và thầy ta đã thố lộ tâm tình, quả nhiên nhân phi thái thượng (người vẫn không phải thánh hiền tuyệt đỉnh) đâu có thể không xúc động tâm tình được, và thầy ta vốn đến từ miền Trung Thổ, xa quê hương đã gần sáu bảy chục năm, nay công hành sắp viên mãn, và cũng sắp đến ngày phi thăng lên cõi niết bàn, đứng trước cảnh chiều tà, thầy ta cố ngóng trông về miền Bắc, và đã không làm sao cầm lòng nổi, nỗi niềm quyến luyến quê hương của mình, và ngài đã nghĩ đến trước khi tạo hóa (cái chết của nhà Phật), muốn về thăm cố hương một chuyến, và xem các thành quách và thân nhân ngày nay ra sao. Ngay lúc đó, ta và sư huynh cùng hoảng thần, sau khi biết thầy mình có ý này, thế nào cũng sinh nhiều chuyện nghi chướng, thậm chí có thể ảnh hưởng đạo hạnh của thầy ta là khác, và khi bị ảnh hưởng thế thì nhục thân làm sao thành Phật được, chưa chừng vì ý niệm này mà trầm luân trong bể khổ mất!
Ta và sư huynh Tả Pháp Thụ tôn giả, mỗi người vội đưa ngay song chưởng để giúp thầy ta vận công hầu bài trừ tất cả những tà niệm khó khăn, và hai anh em sư huynh đệ chúng ta đã cố dùng đến Vô Tướng thần công để khôi phục sức khỏe cho thầy, chỉ trong nháy mắt, sắc mặt thầy ta thay đổi hơn, và liền hối thúc hai anh em ta xuống núi về ngay tịnh xá. Hôm sau, sư huynh đến cho hay tin, mới hay thầy ta ý niệm xúc động trong giây lát, trần duyên chưa dứt, nên đã bị tà ma ngoại xâm, pháp thể khó chống nổi. Nay ngài đã nằm liên miên trên thiền sàng, tuy không đến nỗi thiệt mạng ngay, nhưng vì thầy ta đã trên sáu chục năm công hành, nay đều đã bị tiêu tan trong một lúc, vì nhớ nhung, nếu nay muốn được bách nhật phi thăng, đắc đạo chánh quả, khác nào như vẽ bánh nhìn cho khỏi đói. Ta đã hầu cạnh thầy ta gần hai chục năm, tình thầy trò thân thiết còn hơn tình phụ tử, nghe tin vậy đau lòng vô cùng, hấp tấp vội cùng vôi sư huynh vào thăm ngài trong tịnh xá sau khi đến nơi, quả đúng như lời sư huynh nói, bao nhiêu năm công tu hành của thầy ta nay đã bị tiêu tan hết, một vị cao tăng đắc đạo nổi danh trong nước, thế mà công lực nay đều mất hết, nghiễm nhiên hóa thành một tục tử phàm nhân!
Sư huynh và ta bèn thương lượng với nhau tìm cách để cứu thầy, sư huynh ta bèn cho hay rằng: nghe đồn trên tuyệt lãnh Phòng Sơn của miền Trung Thổ, có một hồ lớn được mệnh danh là Đại Ngũ Trì, dưới đáy trì có một ngôi thạch thất rất lớn, nghe đâu ngôi thạch thất này do một vị cao tăng thánh giả xây cất, trong đó nghe truyền rằng có một cây dị thảo, cả ngàn năm mới khai hoa, nếu lấy được loại hoa ấy, công lực của sư phụ chúng ta có thể khôi phục lại ngay.
Thế là sư huynh ta quyết ý ngược miền Bắc đến miền Trung Thổ để tìm cây hoa quí ấy đem về Thiên Trúc cứu trị thầy ta, mong công lực thầy có cơ khôi phục, để kịp ngày chánh đạo phi thăng, vì ta theo hầu sát cạnh thầy lâu lắm, nên học được rất nhiều Hán văn và Hán ngữ, nên bàn kỹ là cùng đi với sư huynh cho tiện lợi. Trước khi khởi hành, sư phụ ta đã bói cho hai anh em sư huynh đệ ta một quẻ về hung kiết, nhưng bói phải một hạ hạ chi quẻ (quẻ xăm xấu tệ), báo trước một điềm hung hiểm sẽ đến với hai anh em, thầy ta không vui, và có ý muốn ngăn cản cuộc đi của anh em ta chuyến ngược Bắc này, nhưng sư huynh Tả Pháp Trụ tôn giả quả quyết đi, không hiềm ngại gì về quẻ bói, và hẹn với thầy là trong hai mươi năm sẽ trở về phục mạng. Thấy sư huynh đệ chúng ta thành tâm như thế, sư phụ đành chấp thuận và cố tu thân duy trì chờ đợi bằng lối cố dùng môn Vô Tướng thần công kéo dài cuộc sống thêm hai chục năm để anh em sư huynh đệ chúng ta về. Sau khi nghe lời thầy dặn kỹ lưỡng, anh em chúng ta bèn cáo biệt thầy lên đường!
Ta còn nhớ cảnh, trước khi chia tay tại Bàn Na Tha tịnh xá, sư đệ Bối Bách Nhân biết hai anh em chúng ta lên đường chuyến này hung hiểm gian nan, sư đệ Bối Bách Nhân bèn mặc theo tăng y màu trắng, mang theo chiêng trống pháp khí, tiễn đưa đến tận sông Hằng Hà, và đã tụng hết kinh về Đại bi tiêu họa, cầu thần linh phù hộ cho hai anh em sư đệ chúng ta. Bao phục lên vai tay xách thiền trượng, ngược dòng thánh thủy Hằng Hà hướng về phía Tây khởi trình. Ròng rã hơn tám tháng trời, mới đến miền Trung Thổ, ta và sư huynh vội tìm ngay đến tuyệt lãnh của Phòng Sơn, quả thấy Đại Ngũ Trì hùng vĩ trước mắt, anh em ta bèn gieo mình ngay xuống đáy trì, với ngọn Vô Tướng thần công phá ngay thạch bích. Quả nhiên xưa kia Thánh Giả Thượng Nhân có lưu kệ (câu sấm của đạo Phật) lại, chỉ sơ lược về chiếc cây nhỏ tự tiết ra được mùi thơm ấy, loại cây này thuộc loại tiên phẩm, trời đất tuy là mênh mông đại hải, nhưng lại chỉ độc có mỗi cây này, mà cũng chẳng biết được tên thật của nó. Nhưng Thánh Giả Thượng Nhân đã lưu kệ đặt tên là Tuyết bi, cũng chẳng biết là ý gì, nhưng chắc là thiền cơ của Thánh Giả Thượng Nhân uyên sâu huyền diệu, và công hành của hai anh em sư huynh đệ ta còn non thấp, nên chưa thể nào thấy rõ ngụ ý của vị Thánh Giả Thượng Nhân.
Trong động thất, có con thú khổng lồ Tích long gác giữ cây báu Tuyết bi tiên thảo này, được trồng từ đời nhà Đường, và phải chờ đến ngàn năm sau mới có thể khai ra một đóa hoa màu trắng, và suốt trong mấy trăm năm, con quái thú Tích long lo canh giữ cây tiên thảo này đã sống bằng cách ngửi mùi thơm của Tuyết bi, vì hễ ngửi được mùi thơm thì không còn cảm thấy đói lạnh. Nhưng lúc hai anh em huynh đệ chúng ta đến đây, con Tích long đã chết cứng trong động thất, tra xét theo sấm kệ của Thánh Giả Thượng Nhân để lại thì con vật khổng lồ rùng rợn này đã lo canh giữ cây tiên thảo Tuyết bi chín trăm hai mươi năm, vì hấp thụ mùi thơm của vị thảo quá lâu đời, nên tự nhiên thoát hóa mà chết, nhưng con thú khổng lồ này trước khi chết nó còn biết tám chục năm trách nhiệm chưa hoàn tất xong của mình, nên đã cố gắng chống cho bốn cẳng không bị trụy bẹp xuống để bày ra một thế lo canh giữ cây dị thảo Tuyết bi, trước tinh thần trung kiên của con vật Tích long khổng lồ ấy, quả đã khiến hai anh em huynh đệ ta khâm phục vô cùng.
Khi anh em sư huynh đệ chúng ta vào đến đây, thì nhằm lúc cây dị thảo Tuyết bi đang trổ mầm, tính theo thời gian nở hoa của nó còn phải mất thêm tám năm trời, nếu không chờ đợi mà bứt lấy ngang tay, cây dị thảo này lập tức thành phế vật vô dụng ngay, thế là hai anh em sư huynh đệ chúng ta đành ở lại canh gác và chờ đợi cây dị thảo này khai hoa, rồi sẽ lấy đem ngay về Thiên Trúc cho thầy uống, công như tái tạo, chẳng những công lực bản thân khôi phục lại như xưa, mà còn có thể đắc đạo phi thăng là khác. Cuộc sống của anh em sư huynh đệ ta trong động thất này, thoạt tiên cũng không lấy gì làm cực khổ, vì cây Tuyết bi gần đến kỳ nở hoa, mùi thơm của nó có thể khiến người không cảm thấy đói lạnh, và hai anh em chúng ta đã nghiễm nhiên như trở thành bực tiên nhân không cần ẩm thực đến yên hỏa (khói lửa, ý chỉ những thức ăn phải nấu nướng của phàm nhân)!
Sau một năm trôi qua, vào một hôm, trên thạch sàng, bỗng ta sinh một ý niệm vu vơ.
Ta nghĩ đến thầy ta Minh Quang đại sư, vốn là người Trung Thổ, phiêu bạt tít sang Thiên Trúc, chính ngài đã sáng tạo ra Vô Tướng thần công, trong tất cả những ngọn pháp tinh túy của Vô Tướng thần công, này đã tận truyền hết cho sư huynh Tả Pháp Thụ tôn giả và ta Hữu Duy Na tôn giả, quả là một môn học vô cùng huyền bí thâm sâu, nhưng tiếc thay ta và sư huynh đều là người Thiên Trúc, ta nghĩ: hay là thầy ta muốn có một người Hán nào được sự Chân truyền của môn Vô Tướng thần công, để truyền bá Trung Thổ, biểu dương phái Minh Quang Vô Tướng cũng nên?
Đêm đó ta liền nằm mơ và rõ ý của thầy ta, vội đem những suy đoán ấy nói với sư huynh, và quyết ý ngay là nhân lúc Tuyết bi còn chưa. nở hoa, anh em sư huynh đệ chúng ta nhân tạm đi chu du miền Trung Thổ, tìm kiếm một hậu bối có duyên phận, tư chất căn cơ phải đúng lý tưởng, để truyền cho môn Vô Tướng thẩn công, như thế anh em ta cũng hoàn tất được tâm nguyện của thầy ta phần nào! Nhưng ý quyết định này của ta không được sư huynh Tả Pháp Thụ đồng ý, và còn mắng ta là hão huyền, đồng thời cấm ta có ý niệm tìm học trò để truyền nghề. Xưa nay, ta vốn là một người vô cùng kính nể sư huynh, nên sau khi bị mắng, ta đành bỏ ngay ý niệm tìm người nối truyền.
Nhưng từ đó trở đi, tinh thần của sư huynh ta bỗng nhiên trở nên quái dị lạ lùng, suốt ngày như bồi hồi phảng phất không an, nói mớ trong cơn mộng, ta hết lòng chăm sóc, và dùng công lực của bản thân ra chữa trị cho sư huynh, sau mấy ngày liên tiếp, sư huynh tạm định thần lại bình phục, bỗng sư huynh quyết ý ngay là: đem môn Vô Tướng thần công của thầy truyền ghi khắc toàn bộ lên hết hai bức vách của động thất, để cho những người Hán nào sau này có duyên phận đến đâu, có thể nhìn theo các bức hình toàn bộ đó mà học tập thành công.
Ta nghĩ: động thất dưới đáy của Đại Ngũ Trì đây một nơi vắng vẻ và bí mật như thế, làm sao có người lại được? Còn môn Vô Tướng thẩn công vốn là môn võ học thần kỳ huyền diệu của trí tuệ thầy ta tạo ra, biến hóa tuyệt luân vô cùng tận, những bụng phàm phu tục tử, dẫu tư chất thông minh mà có duyên phận đến được động thất này, nếu không được minh sư chỉ điểm, cũng không thể nào thành công học nổi. Huống hồ khi thầy ta Minh Quang đại sư trong lúc truyền dạy, đã phân chia thành: Tả kiếm hữu chưởng (bên trái dùng kiếm, bên phải dùng chưởng) và hai anh em sư huynh đệ ta chia nhau ra học, mà riêng ta lo tinh cứu về Duy Na chưởng thức cộng tám mươi mốt thế, lại phức tạp vô cùng, nếu không có thầy ta hay ta chỉ điểm tường tận, kẻ học dù có đại trí tuệ, hay đại thông minh đến đâu đi nữa, cũng chật vật khó mà thành công được nếu không lại còn ảnh hưởng đến thể chất của bản thân là khác, nếu tệ hơn, tất cả công lực của bản thân bị mất hơn vài tháng trời mới khôi phục lại. Xem như vậy, dù có ghi khắc lên vách của động thất để chờ kẻ hữu duyên đến, chẳng những không giúp ích gì cho kẻ đến mà trái lại còn gây tai hại cho người ta là khác.
Do đó! ta đã cố khuyên can sư huynh ta bỏ ý niệm này nhưng sư huynh vốn là người cương tính, không chịu nghe, ta phần vì kính nể sư huynh, nên đành miễn cưỡng nghe lời, và ngay từ lúc đó, ta bắt đầu công việc ghi khắc tám mươi mốt thế Duy Na chưởng thức của Vô Tướng thần công lên trên vách của thạch thất!
Và sư huynh cũng ghi khắc luôn tám mươi mốt thế Pháp Thụ kiếm chiêu lên trên vách bên cánh trái, thế là hai bức vách nghiễm nhiên trở thành Tả kiếm Hữu chưởng, ghi khắc hết tất cả những tinh tế trong môn Vô Tướng thần công của thầy ta. Đồng thời muốn cho kẻ học được rõ ràng, sư huynh đã nghĩ ra cách khảm gắn những lân tinh thạch (chất đá có lân tinh) lên mắt, và chân tay của hình tượng trên vách, và hai anh em sư huynh đệ ta trong hai năm trời thời gian, mới hoàn thành những bức hình tuyệt tác này.
Sau khi thành công hai bức bích họa lớn lao công phu này anh em sư huynh đệ ta nắm tay cười mừng sung sướng, trong động thất, Tả kiếm Hữu chưởng khổng lồ! Và cũng từ đó trở đi, hễ mỗi lần nửa đêm ta tỉnh giấc, thường thấy sư huynh ta lảng vảng đứng nhìn những bức hình khắc bên phải là Duy Na chưởng thức, thỉnh thoảng lại giơ chân múa tay như tập luyện.
Lúc ấy trong lòng ta bất giác tự hào vô cùng: môn võ học Vô Tướng thần công mà thầy truyền cho hai anh em sư huynh đệ ta, cả hai môn kiếm và chưởng, hợp lại thì thành một, mà chia ra lại thành hai, tương sinh và tương khắc, sư huynh học về kiếm, còn ta học về chưởng, không ai can dự đến ai, sư huynh không biết rõ môn tinh tuyệt của Duy Na bát thập nhất chưởng cũng như ta không thể hiểu thấu môn huyền diệu Pháp Thụ bát thập nhất kiếm vậy, nay sư huynh ngang nhiên vì phạm sư huấn của thầy, tự ý lén học Duy Na chưởng thức. Sau khi ta phát giác vụ này, thoạt tiên là kinh ngạc, nhưng sau ta lại mừng và tự hào, nhất là ta rõ bản tính của sư huynh là người kiêu ngạo tự cao, nếu ngọn Duy Na chưởng thức của ta không hơn ngọn Pháp Thụ kiếm chiêu của sư huynh, không đời nào sư huynh lại chịu đi học lén lút như thế.
Thì ra sự đề nghị của sư huynh ghi khắc Vô Tướng thần công chưởng kiếm lên vách thạch thất là cố ý muốn học lén chưởng thức của ta mà thôi, và ta lập tức nghĩ ngay sau khi sư huynh học lén hết tám mươi mốt thế Duy Na chưởng thức, thân tụ tập hết những tinh hoa của Vô Tướng thần công, công lực thế nào chẳng hơn mình, và không biết chừng vì lòng tự ích kỷ sẽ ngang nhiên xóa hủy hai bức đại bích họa kiếm chưởng trên vách cũng nên.
Nghĩ vậy, lòng háo thắng của ta đã nổi lên, và nhân lúc sư huynh ta ngủ say, ta lén thức và lại vách bên hai cánh trái, dùng thiền trượng làm kiếm, và cũng học lén môn Pháp Thụ kiếm chiêu. Quả nhiên ta phát hiện một điều, là tuy Pháp Thụ kiếm chiêu lợi hại khôn lường, nhưng oai lực vẫn thua xa hẳn Duy Na chưởng thức của ta nhiều lắm, hèn gì sư huynh dám vi phạm sư huấn của thầy để học lén như thế.!
Và từ đó ta cũng chẳng cần phải học lén kiếm pháp của sư huynh, phần nghĩ ta và sư huynh vốn đồng môn, chưởng kiếm lại đồng nguồn gốc, nay sư huynh muốn kiêm cả hai công lực kiếm và chưởng, cũng là tình thường, vì dù sao cũng là sư huynh, lại vì tính hay tự ái, nên không muốn cúi mình hạ thân học hỏi với sư đệ, ngoài hạ sách học lén bằng cách này ra, không còn thượng sách nào hơn, tuy đáng nực cười, nhưng cũng không phải việc làm trái lẽ phải! Từ đó ta bắt đầu an nhiên trong lòng, nhưng thường khi tỉnh giấc, thấy sư huynh lo tập luyện như say sưa vô cùng, ta bất giác chăm chú, vì Duy Na chưởng thức vô cùng thần kỳ và huyền bí, nếu không người chỉ dẫn học tập quả không phải là dễ dàng, nếu không thấu hiểu được những tinh vi ảo diệu của nó, kẻ học thường bị tụ khí buồn nản, tâm huyết rạo rực ngược lưu, công lực sẽ mất ngay.
Từ đó, mỗi lần sư huynh học lén, ta tại ngấm ngầm quan sát, trong lòng lo lắng bất an, song sư huynh là người cũng từng theo hầu thầy lâu năm, Duy Na chưởng thức và Pháp Thụ kiếm vốn cùng một nguồn hệ mà ra, xem ra sư huynh ta cũng không gặp trở ngại gì, mà rất có thể học một thấu ba là khác. Tuy ta mấy lần tính ra tay giúp sư huynh mau chóng thu được kết quả nhưng lại e ngại xúc phạm đến tự ái của sư huynh, nên lại đành thôi, thoáng mắt thời gian lại vụt trôi qua ngày tháng. Một lần nọ bỗng có tiếng rên la khiến cho ta tỉnh lại trong cơn mộng, chỉ thấy sư huynh nằm lăn dưới nền chân vách cánh phải và có vẻ đau đớn vô cùng. Mà vị trí của sư huynh đang quằn quại ấy chính là bức hình thứ bốn mươi chín, tức là thế Huyết lệ giao bưng (máu huyết tung vọt), thế này là thế khó luyện nhất, nay sư huynh vì thiếu người chỉ dẫn, miễn cưỡng luyện bừa, khiến nỗi khí huyết buồn tụ và các đường huyết trong mình bị nghịch lưu, trong sự đau đớn, đành nằm lăn ra mặt đất rên la.
Ta thấy vậy kinh hồn hoảng vía, vội bồng ngay sư huynh lên thạch sàng, và dùng công lực của bản thân trợ giúp cho sư huynh khôi phục lại. Được sự trợ sức của ta, dần dần sư huynh khôi phục lại sức khỏe, và lẽ đương nhiên là sư huynh đã kinh hãi không dám tiếp tục học thêm nữa, bởi vậy ta càng tự hào về trong tám mươi mốt thế Duy Na Chưởng pháp ấy, sư huynh chỉ có thể biết được có bốn mươi tám thế, và từ thế Huyết lệ giao bưng và cũng tức là thế bốn mươi chín trở về sau, sư huynh ta dành phải bỏ dở không dám tiếp tục.
Cũng vì lòng kính nể sư huynh, ta không nỡ nói thẳng ra, và sư huynh cũng tưởng rằng ta không hay biết chuyện học lén chưởng pháp ấy, trong lòng sư huynh cũng an tâm, từ đó trở di hai anh em vẫn hòa thuận như xưa, đều sống trong động thất chờ đợi tiên thảo khai hoa, hầu mau về Thiên Trúc phục mạng với thầy. Cứ thế, thấm thoát lại trôi qua bốn mươi năm trường, và ngày khai hoa của tiên thảo sắp đến nơi.
Một chiều trong sự im tịch cửa động thất, bỗng sinh kỳ biến. Thạch thất dưới đáy Đại Ngũ Trì xưa nay vẫn là một nơi yên tĩnh, lúc này thình lình sóng nước rung động cuồn cuộn, trời nghiêng đất ngửa, ta và sư huynh thấy vậy biết ngay là núi lửa dưới lòng đất chuyển mình, nên đã gây nên địa chấn, nếu không rời khỏi đây khi nước trì sôi động đến mức kinh hoàng của nó, ngôi động thất này thế nào cũng bị hủy mất, và như thế thì hai anh em sư huynh ta làm sao còn sống sót cho nổi với thiên tai dữ dội ấy.
Sư huynh bảo ta cùng mau chạy thoát thân khỏi cảnh hiểm nghèo cái đã, nhưng ta vì tiếc tiên thảo sắp khai hoa, không muốn bị uổng công khó nhọc trong bao nhiêu năm trời đã chờ đợi, và nhất là khi nghĩ đến thầy ta đang trông ngóng tít đằng phương trời Thiên Trúc, cũng chỉ có độc một chiếc tiên hoa này. Thà ta chịu tan xương nát thịt cũng phải ở lại đây để chờ đợi, không thể nào vì chút tham sinh úy tử mà đành về phục mạng tay không với thầy, và nhất là phải chứng kiến cảnh thảm thương của thầy vì tuyệt vọng mà chết. Và ngay lúc đó ta đã quyết chí không rời bỏ động thất này, sư huynh nổi giận trở mặt trách mắng ta thậm tệ, và tính bứt luôn cây Tuyết bi tiên thảo để trốn ngay khỏi nơi nguy hiểm của thiên tai này. Thế là ta cố liều chết lo bảo vệ cây Tuyết bi tiên thảo, do đó hai anh em ta xảy ra ngay một cuộc xô xát kinh khủng ngay bên cạnh con quái vạt khổng lồ tích long.
Trong cuộc tranh chấp kịch liệt này, sư huynh ta đã dùng ngay cây Pháp Thụ thần kiếm, thế đánh kinh khủng, oai lực cực mạnh, ta thấy không sao cưỡng đỡ nổi, bất đắc dĩ phải dùng đến Duy Na chưởng thức để cứu vãn tình thế nguy ngập trước mắt. Thoạt đầu, chỉ nghĩ là chống đỡ thế đánh của sư huynh để lo bảo vệ cây tiên thảo, mong cứu mạng ân sư, nhưng không ngờ sau khi sử dụng ngọn Duy Na chưởng thức, ta không thể tự chủ được nữa, và dồn đánh hết một hơi tuốt bốn mươi tám thế trong Duy Na Chưởng và đến thế thứ bốn mươi chín tức là ngọn Huyết lệ giao bưng, sau khi ta bửa mạnh một chưởng xuống, ngang nhiên phá hẳn thế thần kiếm của sư huynh, mắt thấy mình không mau thu ngay thế đánh lại, sư huynh thế nào cũng bị mất mạng vì ngọn chưởng của ta mất!
Ngay lúc ấy, sắc mặt sư huynh trông thảm thiết kinh khủng đến nay ta ngồi ghi chép mà vẫn còn nhớ rõ mồn một, và ta cũng thừa biết thế đánh hễ đã phát ra, quyết không thể nào nào miễn cưỡng thu lại được, nhưng trời đã phú cho ta một tính tình nhân hậu, vì thế ta đã nghĩ đến tình sư huynh đệ đồng môn, không nỡ ra tay tàn giết sư huynh. Cũng ngay trong lúc đó, ta đã chợt nghĩ đến tất cả những hình ảnh kỷ niệm từ thuở còn bé sống chung với nhau, những cảnh yêu mến của sư huynh đối với ta, nào cảnh vòi vĩnh của ta được sư huynh hết lòng chiều chuộng, sư huynh đối với ta không khác nào anh em ruột thịt... Tất cả những hình ảnh nên thơ lưu luyến ấy trong chớp mắt đã lướt hết qua trong đầu óc ta. Vì thế ta không thể nào hạ sát thủ với sư huynh ta, thà là mình chịu cảnh khí huyết nghịch trở (máu quản dội ngược) để tự hủy thân mà chết còn hơn là giết sư huynh của ta. Ta bèn miễn cưỡng nhắm mắt thu ngay thế đánh của mình lại. Nhưng cũng ngay trong lúc ta thu chưởng về ấy, sư huynh đã được dịp may ngàn năm một thuở, cây Pháp Thụ thần kiếm vụt đưa nhanh ra, xỉa trúng ngay vào vai bên phải của ta, máu tươi vọt thành vòi, ta hét lên một tiếng thê thảm! Sư huynh thất kinh... ngay trong lúc căng thẳng cực độ này, bên phía ngoài động thất, tiếng đất động trời nghiêng ngả vang lên dữ dội, khiến cho cả hai anh em ta đều ngã lăn ra mặt đất!
Sư huynh thấy ta bị thương nặng mà vẫn lo khư khư bảo vệ cây Tuyết bi tiên thảo, lạnh lùng hậm hực rồi vụt tung mình dậy tìm đường ra ngay khỏi cửa động thất luôn. Và ta không ngờ cuộc biệt ly này của hai anh em sư huynh đệ lại thành cuộc tử biệt với nhau.
Sau khi sư huynh bỏ đi, ta vội vận công để trị thương, thời gian đã hết trên một ngày một đêm, bên ngoài động thất, mọi sự đã trở lại bình thường hóa, núi lửa chưa bộc phát, cuộc động đất cũng ngưng hẳn luôn.
Thật là câu hoạn nạn mới biết kẻ trung gian! Lúc lâm nạn, sư huynh đã lo tẩu thoát lấy thân mình, và không biết đã đi về đâu, còn phần ta thì cố duy trì sức lực để đợi chờ ngày tiên thảo khai hoa, hòng đem nhanh về cho thầy miền Thiên Trúc, dẫu mình có chết cũng không ân hận gì! Duy trì thêm được vài tháng, quả nhiên cây tiên thảo đã trổ nụ, cách ngày khai hoa không còn bao lâu nữa, song, chính lúc sắp đạt tới mục đích này thì Hữu Duy Na tôn giả ta đã mắc bệnh quá nặng. Vết thương do cây kiếm của sư huynh gây nên tuy có thể chữa khỏi, nhưng đáng lẽ ta không nên vì chút lòng nhân mà đang nhiên cắn răng chịu khổ, để thu thế đánh thứ bốn mươi chín là Huyết lệ giao bưng về đến nỗi phải chịu cảnh khí huyết nghịch trở bị thương toàn nội phủ, phần sau khi bị thương, lại lo sợ sư huynh quay về cướp đoạt Tuyết bi tiên hoa, đêm ngày lo lắng canh giữ, nên không có tinh thần yên tĩnh để trị thương, thế là bệnh huyết lệ nghịch đảo càng ngày càng tăng nặng, không những công lực đã mất hẳn đi bảy tám phần mười, mà đến nỗi đi đứng cũng cảm thấy khó khăn, nghĩa là ta chỉ còn lại vỏ xác chờ chết! Than ôi...
Lòng ta đau buồn vô kể, mỗi lần nghĩ đến cảnh ân sư đang mong ngóng anh em ta mau về phục mạng, mà nay mình còn vẫn chờ đợi ngoắc ngoải trong động thất này cho hoa nở, sư huynh không biết đi về đâu? Dần dà tiên hoa đã nở, mùi thơm ngào ngạt khắp thạch thất, tuy thứ hoa này có thể chữa khỏi nội thương cực nặng, nhưng hễ ta mỗi lần nghĩ đến ân sư, lại lập tức bỏ ngay ý niệm ích kỷ của mình, ta cố gượng gạo đứng dậy để thử ra khỏi thạch thất này, nhưng mấy lần đều thất bại, biết không còn hy vọng nào rời khỏi Đại ngũ Trì để đem tiên hoa về cho ân sư trừ phi mình ăn tiên hoa, không những khỏi bệnh mà còn khôi phục lại được công lực xưa kia mà mình đã mất dần mất mòn vì chứng bệnh khí huyết nghịch lưu, nhưng ân nghĩa của sư phụ thâm sâu như trời biển vậy mình nỡ nào sinh lòng ích kỷ để chiếm đoạt nguồn hy vọng cuối cùng của thầy được!
Nay cơn bệnh của ta đã trầm trọng hẳn, gần như tê liệt hết toàn thân, ta biết mạng ta không sống được bao lâu nữa, và càng biết không còn cách nào để đem tiên hoa về xứ, bất đắc dĩ đành ghi lại lời di chúc đây nói rõ mọi sự, và kính đợi kẻ có duyên đến!
Khi ta viết đến đây, hơi thở đã thoi thóp, tuy vậy nhưng trong lòng ta vô cùng đau khổ và hối hận, không làm sao chuộc nổi tội lỗi tầy trời của mình, tuy ta chết đi không lấy gì làm hận, nhưng ta không thể nào nhắm mắt được vì cây Tuyết bi tiên hoa. Nay ta có đem theo loại trầm hương đặc biệt của xứ Thiên Trúc để trong động thất này, thứ gỗ thơm này giữ cho toàn thi hài ta trong mười năm trời. Nay ta gần chết, còn mỗi một linh minh là hy vọng sư huynh ta Tả Pháp Thụ tôn giả có thể về động thất này, hoặc kẻ nào có duyên đến đây, và sau khi thấy cảnh xả thân của ta như thế, hãy làm ơn mang cây tiên hoa về nguồn sông Hằng Hà xứ Thiên Trúc, tìm ngay đến tịnh xá trong khu rừng ở Bàn Na Tha, dâng hiến ngay tiên hoa này cho sư phụ của ta là Minh Quang đại sư, được vậy vong linh của ta sẽ biết ơn vô ngần. Ta cũng kính cẩn yêu cầu sư huynh, hoặc kẻ có duyên nào đây, hãy ráng hiểu cho: Tuyết bi tiên hoa này, vốn là dị chủng trong trần gian, kẻ nào may mắn ăn được, có thể nói là đã đoạt hết công tái tạo của tạo hóa, một báu vật như thế, thử hỏi ai mà không thèm cho được, nhưng xin hãy nghĩ cho Hữu Duy Na ta đây, ráng cắn răng chịu nỗi thống khổ ác nghiệt của bệnh khí huyết nghịch lưu, đến nỗi tạng phủ bị tê liệt mà chết cứng một chỗ, như thế mà ta còn không dám đụng đến mảy may Tuyết bi tiên hoa thì biết.
Và chính lòng tin vô biên của ta đã thúc ta phải hy sinh, chết đi để giữ toàn danh dự cho mình, càng bảo vệ được Tuyết bi tiên hoa! Vì thế, ta kính cẩn yêu cầu kẻ có duyên phần đến, đừng nên vì lòng ích kỷ mà đoạt nuốt Tuyết bi tiên hoa. Được vậy ta vô cùng biết ơn và nguyện gội ơn tạc dạ dưới chín suối.... Ta đã sắp chết . .
Và ta cũng không quên giao hạn với người đến sau, là ta đã hẹn với thầy ta kỳ hạn là trong hai mươi năm trời, trước khi ta chết đi, ta vẫn còn mười năm trời hẹn với sư phụ ta. Vậy trong mười năm ta chết ấy bất luận là ai, hoặc giả là sư huynh Tả Pháp Thụ tôn giả, hay là kẻ hữu duyên đến sau, đều nhất loạt phải tuân theo di chúc của ta, hái ngay tiên hoa đưa về Thiên Trúc, cứu sống thầy Minh Quang đại sư để tròn hết ý chí duy nhất của ta, được vậy linh hồn của ta dưới âm phủ nguyện sẽ hết lòng phù hộ. Nếu kẻ nào dám cưỡng lời di chúc của ta, ta sẽ hóa ngay quỉ dữ tàn sát ngay trong động thất này.
Nhưng nếu sau khi ta chết trên mười năm, tức là kỳ hẹn đã quá hạn, và như thầy ta cũng đã qui tiên!... Ta cũng tự giải ngay lời nguyền, hoặc giả sư huynh ta, hoặc giả kẻ có duyên phần, đều có thể ăn ngay Tuyết bi tiên hoa, và ta thành tâm cầu nguyện cho người được ăn tiên hoa ấy hãy cố gắng hành hiệp tế thế cho muôn dân được nhờ.... Còn theo lời sấm truyền của Thánh Giả Thượng Nhân để lại, kẻ nào sau khi ăn được tiên hoa ấy, công lực trong người sẽ bị tạm mất hơn đi trong thời gian bốn mươi chín ngày, và nên tĩnh dưỡng ngay trong thạch thất.
Ô hô!... Ta cũng ngu muội thật, trước giờ sắp chết mà còn cố gượng viết bức thư này để lại cho người sau... lúc này ta chỉ còn ngửi thấy mùi thơm của hương trầm hòa chung với mùi bát ngát của Tuyết bi tiên hoa, mắt mơ hồ còn nhận ra những bức ghi khắc vĩ đại trên hai bức vách, bên trái là Tả Pháp Thụ kiếm chiêu, bên mặt là Hữu Duy Na chưởng thức. Ôi tiên hoa! Ôi Thần công! Tâm sức ta đã tàn cạn! Chức trách đã tận, không còn đâu canh giữ cho bọn mi được nữa.
Nay ta mượn quyển di chúc này để lại cho người đến sau, ta tuy chết nhưng vẫn đem theo nỗi hận lòng xuống tuyền đài!...
Hữu Duy Na thủ bút lưu di thư.
Suốt cả một quyển di chúc dài dặc như thế, thì ra đều là thủ bút của vị cao tăng miền Thiên Trúc, mà vị cao tăng này lại là cao túc (đồ đệ giỏi) của Minh Quang đại sư ở tịnh xá Bàn Na Tha thượng du của sông Hằng Hà, tên là Hữu Duy Na! Tính theo ngày tháng năm của quyển thủ bút này, thì Hữu Duy Na tôn giả đã viết cách nay là trên ba mươi năm rồi. Nay thấy lân tinh lấp lánh, dấu vết vẫn như mới tinh, và chàng Thượng Quan Linh sau khi đọc hết những chuyện xảy ra trong quyển thủ bút của vị cao tăng Hữu Duy Na tôn giả này, chàng không khỏi xúc động với những nỗi gian khổ trong mười năm qua của Hữu Duy Na tôn giả, chàng càng kính phục vị cao tăng ngoại quốc này, lại tinh thông văn hóa của Hán tộc miền Trung Thổ như thế.
Không thể nào ngờ được vị cao tăng ngoại quốc này lại có đầy những đức tính: chánh trực, thủ tín, tuyệt không ích kỷ, thà hy sinh mạng sống của mình, cũng quyết không chịu ăn Tuyết bi tiên hoa! Vì vị cao tăng nhất lòng trung thành kính thờ vị tôn sư của mình, lại giữ đúng lời hứa trong hai mươi năm trời, tuy trong mình mang bệnh nặng tuyệt vọng như thế, mà trong lòng vẫn nhất quyết thờ đợi có người đem tiên hoa về cho thầy tại Thiên Trúc. Thượng Quan Linh nghĩ đến mình trong khi vô tình ăn béng mất cây dị thảo ngàn năm một thuở ấy, nhưng cũng may là mình ăn cây Tuyết bi tiên hoa vào lúc vị cao tăng này quá cố đã ba chục năm rồi, nếu vô phúc mình ăn mất trong thời gian còn cấm của người ta, tội này chuộc bằng cách nào cho hết!
Nghĩ đến đây, Thượng Quan Linh toát mồ hôi lạnh trên trán, chàng bất giác thốt lên hai tiếng: Nguy thật! Chàng cẩn thận cất quyển thủ bút lại, và tiếp tục giở xem những vật còn lại trong rương sắt, chỉ thấy toàn quần áo tăng nhân và pháp khí văn cụ, một chiếc rìu và những đồ lặt vặt về dụng cụ, chàng cẩn thận dọn hết ra ngoài, rồi nhặt hết hài cốt của vị Hữu Duy Na tôn giả bỏ hết vào rương sắt, xách theo chiếc rìu và khuân ngay chiếc hòm hài cốt lại ngay phía dưới bụng của con vật khổng lồ Tích long để chôn cất hài cốt. Chiếc rìu vô cùng sắc bén, chắc xưa kia hai anh em sư huynh đệ của Hữu Duy Na đã dùng rìu này để chạm trổ các bức hình vĩ đại trên vách, vì chiếc rìu sắc bén không thể tả, nên công việc chôn hài cốt tiến hành rất thuận lợi! Nhưng Thượng Quan Linh sau khi làm được một chặp, bỗng chàng cảm thấy vô cùng nhọc mệt trong mình, hiện tượng này xưa nay chưa bao giờ xảy ra cho chàng như thế. Bỗng chàng sực nhớ, trong lời nói của Hữu Duy Na trong quyển thủ bút rằng: hễ sau khi ăn Tuyết bi tiên hoa công lực sẽ bị tạm mất đi trong thời gian là bốn mươi chín ngày, không lẽ câu nói này đã linh nghiệm thật sao?!
Thượng Quan Linh cũng sực nhớ lời nói trong quyển di thư là môn Duy Na Chưởng pháp trên bức vách kia, vô cùng khó luyện, nếu không có lương sư chỉ bảo, cứ tập bừa sẽ gây họa khí huyết nghịch lưu ngay vào người, và đến công lực cũng bị ảnh hưởng là khác. Vừa rồi đây mình không nên vì tính háo kỳ học thử trong thế thứ nhất của Duy Na chưởng pháp hèn gì mình cảm thấy khí huyết bồi hồi, chắc có lẽ là tại lý do nghịch huyết đây! Thượng Quan Linh hoảng lên vội đi tìm một viên đá bưng thử xem sao, hòn đá ước chừng có trăm cân, nếu vào ngày thường, một hòn đá như thế đối với Thượng Quan Linh nào thấm thía gì nhưng trong lúc này, mặc cho chàng đã cố vận hết toàn lực trong mình để giở hòn đá lên, nhưng lạ thay, thấy chàng không khác nào như chuồn chuồn bấu vào thạch trụ vậy, hòn đá không hề nhúc nhích.
Thượng Quan Linh biết giờ đây mình đã bị mất hết công lực, lúc này đem so với một người chưa từng tập võ không khác gì yếu như sên, thế nào cũng phải tuân theo lời dạy của Hữu Duy Na trong quyển di thư, phải an tâm tĩnh dưỡng bốn mươi chín ngày trong thạch thất này, để đợi cho tất cả những chất tinh túy tuyệt diệu của Tuyết bi tiên hoa ngấm hết sức lực của nó vào trong toàn cơ thể trong mình, rồi công lực sẽ khôi phục lại như xưa, và còn tăng lên nhiều thêm. Thế là chàng lo làm xong công việc mai táng hài cốt của Hữu Duy Na, quay vào động thất bên trong, lại ngay nơi thạch sàng của Hữu Duy Na đã ngồi nhập hóa ấy ngồi xếp chân bàn tròn, nhắm mắt vận công, để dưỡng điều trị. Nhưng tất cả những sự kiện lại dồn dập chen vào óc của chàng, chàng nghĩ đến độc công Phủ Chưởng Hàn của lão bà bịt mặt bí mật, và phải chăng sau khi mình ăn được thứ cây Tuyết bi hoa tiên lại công hiệu là khởi tử hồi sinh, không cần lo lắng đến đại họa này rồi chứ! Còn thân cuống của cây Tuyết bi hoa tiên, nghĩ đến đóa hoa trắng ấy mình đã không nuốt ngay khi còn tươi, và khi mình ngửi thì đóa hoa lập tức ủ rủ ngay, sau mình mới ăn chung với cuống hoa của nó.
Không biết như thế có thể nói là mình ăn đúng phương pháp của cây Tuyết bi hoa tiên không? Thượng Quan Linh không làm sao đoán cho đúng chắc được vấn đề này! Nhưng có một điều là từ khi hít hết những mùi thơm và ăn nuốt hết cuống lá của cây dị thảo ấy, cơn bệnh đau nhói vì chất hàn độc ấy không còn thấy tái phát nữa! Thượng Quan Linh lại sực nhớ đến trong quyển di thư có nói về loại gỗ trầm đặc của miền Thiên Trúc, chàng bèn ra công tìm kiếm, quả nhiên chàng tìm thấy tại một góc của động thất, khúc gỗ chỉ to bằng ngón tay cái, nhưng sức thơm của nó vô cùng mạnh. Trong lòng Thượng Quan Linh bất giác lại mủi lòng, nghĩ đến xưa kia dụng ý của Hữu Duy Na là cốt giữ cho thi thể khỏi bị rữa thịt, nhưng nào ngờ mười năm sau vẫn không tránh nổi định luật của tạo hóa tất cả đều trả lại cho đất! Đáng thương thay!
Trong những lúc cô liêu quá buồn, Thượng Quan Linh lại đi lục lọi những di vật của Hữu Duy Na, và chàng đối với bộ áo cà sa của vị cao tăng khả kính ấy rất thích thú, thế là chàng thay quách luôn bộ quần áo cũ của mình, nghĩa là chàng thay một cách triệt để bằng từ bên trong đến ngoài, mặc luôn tất cả những phục tăng nhân của Hữu Duy Na vào mình, từ áo cà sa, mũ tăng nhân, giày nhà sư, tất (vớ) nhà chùa, trước ngực cũng đeo một chuỗi niệm châu. Tất cả những thứ chàng đang mang mặc trên mình đây đều vừa vặn như của mình, nhất là chiếc áo cà sa, được thêu chỉ kim tuyến óng ánh, đẹp mắt vô cùng, chàng cảm thấy thư thái trong mình lạ. Dù sao Thượng Quan Linh vẫn còn tính trẻ, sau khi mặc cẩm phục đẹp như thế chàng muốn đi khoe cho thiên hạ biết nét hào hoa của mình, nhưng sực nghĩ nay mình còn ở trong động thất, trong lòng không khỏi ngậm ngùi thương cảm cảnh Cẩm y dạ hành (mặc áo đẹp mà đi trong đêm tối, chẳng có ma nào thưởng thức), nhưng chàng cũng bất giác cười thầm với ý nghĩ lẩm cẩm trẻ con của mình. Nơi một góc của động thất, Thượng Quan Linh bỗng lại tìm được một cây thiền trượng của Hữu Duy Na, nhưng khi chàng cầm lên tay thấy trầm nặng vô cùng, biết ngay là mình hiện giờ đã tạm mất hết công lực, chàng bất giác buồn bã thở dài!
0
Hồi 056. Người Khách Không Quen
[/align]

Tất cả lối trang sức của Thượng Quan Linh lúc này, ngoài trừ cây Lệ thủy tinh kiếm là vật duy nhất của chàng ra, thì tất cả những vật mà chàng đang dùng trên mình ấy, đều hoàn toàn của vị cao tăng tôn giả, từ mũ, áo, quần, tất, giày đều có thêu kim tuyến và chữ văn tự, văn tự lại giống lối chữ triện. Thượng Quan Linh lấy làm kỳ lạ, chàng ngắm đi ngắm lại khá lâu, ngoài trừ chàng đoán được có lẽ đó là phần văn kinh điển của nhà Phật ra, chàng không còn biết gì hơn và ý nghĩ sâu sắc hay nông cạn của nó, đương nhiên chàng không thể nào khám phá được ngụ ý gì!
Bụng thì không thấy đói thật, tinh thần cũng vô cùng sung túc, chỉ có mỗi tội công lực trong mình hoàn toàn mất hẳn. Thượng Quan Linh đành không biết tính sao hơn, chỉ còn nước ráng giam mình tại dưới đáy trì của thạch thất này cho hết hạn bốn mươi chín ngày, chờ cho công lực khôi phục, rồi sẽ tính kế liệu sau. Và cứ thế chàng sống âm thầm một mình trong động thất, và thạch thất này không thể nào chia rõ ngày đêm, Thượng Quan Linh chỉ còn nước tính nhẩm, ước chừng lối đâu hai mươi mấy ngày, còn một nửa chuỗi thời gian nữa mới đến ngày bốn mươi chín theo như trong quyển di thư nói. Sự đói và lạnh đã không thành vấn đề đối với chàng Thượng Quan Linh trong lúc này, nhưng nội tâm của chàng lại bị khủng hoảng về hai vấn đề : một, theo như lời thuật trong quyển di thư thì Hữu Duy Na còn người sư huynh là Tả Pháp Thụ tôn giả, ba mươi năm về trước đã từ động thất của đáy trì đào tẩu đi biệt tích.
Nhưng dù sao, Tả Pháp Thụ cũng là người thứ hai biết về động thất này, nếu như người này còn chưa chết, thế nào cũng còn quay về đây để lấy Tuyết bi tiên hoa, và nếu người này biết mình đã ăn mất tiên hoa ấy, và người sư đệ của họ đã chết e không chừng sẽ trút hết cơn giận tức vào mình mất, dù cho mình công lực vẫn còn mạnh như xưa, liệu bề cũng không phải địch thủ của những hạng cao tăng Thiên Trúc như thế, huống hồ nay mình nuốt tiên hoa, kỳ hạn bốn mươi chín ngày còn chưa mãn, công lực chưa khôi phục được
Thượng Quan Linh chỉ mong sao trong lúc này đừng có xuất hiện vị cao tăng Tả Pháp Thụ tôn giả tại đây thì tuyệt, và nhất là trong thời hạn của bốn mươi chín ngày gay cấn này! Ngoài việc này chàng lo canh cánh bên mình ra, việc thứ hai nữa là: sau khi mãn hạn 49 ngày và khôi phục lại được công lực, làm sao ra khỏi động thất này? Nếu ra bằng lối Đại Ngũ Trì, nhưng chất nước ở đó đến lông ngỗng còn chìm thì thân xác của mình làm sao nổi lên được? Về điểm này, Thượng Quan Linh suy nghĩ mãi, không biết xưa kia sư huynh đệ của hai tăng nhân bên Thiên Trúc ấy có nghĩ đến lúc rút lui ra về không? Và nhất là vị sư huynh của Hữu Duy Na ra đi bằng cách nào khi xảy ra cuộc động đất?
Quyển di thư của Hữu Duy Na không thấy nhắc đến điểm này, mà nếu Tả Pháp Thụ vẫn còn sống trên trần gian này, thì có thể chứng minh rõ là họ đã ra bằng đường lối nào! Thượng Quan Linh suy nghĩ đến mình bị giam hãm tại đây, tuy được ăn nhầm tiên hoa quí báu, thể chất trong mình khác hẳn người thường, sống trong động thất đây tuy không sợ những cơn đói lạnh uy hiếp, nhưng dù sao tuổi của chàng vẫn còn thanh xuân và yêu đời, quả thật chàng không muốn mình bị chết già nua trong động thất này tí nào. Huống hồ ân thù mình còn chưa trả xong, lão bà bịt mặt là kẻ thù đã giết ân sư, nghĩa muội, và tất cả những bạn thân già của mình, rồi còn đang tay hạ độc thủ thâm hiểm bằng lối đánh Phủ Chưởng Hàn! Mối thâm thù máu hận như thế, đâu có thể đời nào quên mà không báo cho được? Nào là Liễu Mi, Gia Cát Dật, Đông tăng Túy Đầu Đà, Tây đạo Thiên Si, sư huynh Hầu Hạo, những người này làm sao mình không trông nhớ cho được? Thượng Quan Linh càng biết rằng: Thế nào Đông Phương Đình cũng đem tin chết của mình truyền khắp ra trong giang hồ, và trước khi cái tin chết của ta chưa được chứng thực đích xác, thế nào nàng Liễu Mi và Gia Cát Dật cũng còn ôm mối hy vọng cuối cùng là chờ xem kỳ tích hiện ra, nghĩa là chờ coi mình còn sống để về gặp mặt họ...
Chàng càng nghĩ càng rối trí, chỉ mong sau hết hạn 49 ngày để tìm lối thoát và tái xuất hiện trong giang hồ để gây nên những sự nghiệp lừng lẫy của đời hiệp nghĩa. . .
Một hôm, trong lúc Thượng Quan Linh đang ngồi nghỉ ngơi tĩnh dưỡng trên thạch sàng, bỗng chàng nghe có tiếng chân người cộp cộp bên động thất phòng ngoài. Thượng Quan Linh thầm nghĩ: nếu quả là người, thì kẻ ấy không ai khác hơn là người sư huynh của Hữu Duy Na tức Tả Pháp Thụ tôn giả! Không lý vị cao tăng của Thiên Trúc này đã đến thực ư? Chàng thừa biết mình không phải tay địch thủ của người ta, chỉ còn nước là ráng làm sao mạo nhận là Hữu Duy Na xem sao, bèn ngồi ngay ngắn trên sàng thạch chờ đợi, và chàng biết trong động thất này không có một nơi nào có thể dung thân trốn cho được.
Tiếng chân càng lúc càng gần, trong sự im tịnh tuyệt đối của động thất, những tiếng bước cộp cộp nghe càng rùng rợn hồi hộp. Thượng Quan Linh tuy ngồi xếp chân bàn tròn trên thạch sàng, nhưng trống ngực đánh thình thịch muốn bể lồng ngực luôn. Dần dần Thượng Quan Linh nghe rõ những tiếng chân đang bước loanh quanh ở động thất bên ngoài, và Thượng Quan Linh đã có thể nghe âm thanh đoán phương vị của những tiếng chân ấy, tiếng bước đang loanh quanh tại nơi mọc của cây dị thảo Tuyết bi tiên hoa, chắc Tả Pháp Thụ đã phát giác cây tiên thảo bị mất,... tiếng chân đã bắt đầu chuyển hướng vào động thất trong của mình. Thượng Quan Linh lúc này gần như muốn nín thở để chờ đợi.
Tiếng kích cách của khoen cửa động thất đã động, cửa mở, và một bóng người lướt ngay vào. Thượng Quan Linh đánh bạo mở mắt nhìn, dưới ánh sáng lập lòe của chất lân tinh thạch, giữa động thất đang đứng uy nghi một vị tăng nhân, chỉ thấy vị tăng nhân này, trang sức không khác gì với những quần áo và đồ dụng của Hữu Duy Na, cũng mũ, cũng cà sa, cũng tất, cũng giày, và cũng thêu chỉ bằng kim tuyến và những văn tự kỳ lạ!
Thượng Quan Linh lúc này lập tức cảm thấy đôi mắt sắc bén của vị tăng đang lạnh lùng quan sát mặt mình. Và hình như đối phương đã nhận rõ ra sự ngụy trang của mình, bỗng y cất tiếng cười lên khanh khách, tiếng cười vang động khắp trong động thất âm thanh không những hùng dũng mà còn quái dị lạ lùng.
Thượng Quan Linh bất giác chột dạ giật mình, nhưng chàng kịp nghĩ ngay lợi hại, lúc này không thể nào nên để lộ chân tướng được, chàng mạnh dạn lên tiếng rằng:
- Kính chào Pháp Thụ sư huynh! Sư đệ trông ngóng sư huynh muốn chết đi được? Tại sao sư huynh đi một hơi những ba mươi năm trời lâu lắc như thế mới về? Tiểu đệ đã sắp sửa không thể chờ đợi thêm nữa!
Nhưng Thượng Quan Linh chỉ nghe những tiếng líu la líu lô tràng giang đại hải của vị tăng nhân cao lớn xứ Thiên Trúc, chàng chẳng hiểu một câu nào, hiển nhiên là vị tăng nhân này đang nói chuyện bằng tiếng Phạn ngữ!
Thượng Quan Linh hợp ngay chưởng rằng:
- Sư huynh! Suốt trong ba chục năm nay, tiểu đệ đã sống cô độc trong động thất này, và cũng nghĩ rằng từ đây về sau, nguyện thay thế tôn sư cố tìm lấy vài người tư chất thông minh ở Trung Thổ này để làm đệ tử nối truyền y bản, như thế mới đáng công của anh em sư huynh đệ chúng mình lặn lội đến đây, vì thế tiểu đệ đã quyết tâm không bao giờ dùng đến ngôn ngữ của Thiên Trúc nữa, vậy xin sư huynh cảm phiền là tiểu đệ không bao giờ dùng tới Phạn ngữ để trả lời sư huynh - Ngừng một chập lại rằng: - Sư huynh đã không về Thiên Trúc, vậy trong bấy nhiêu năm nay chắc sư huynh đã phiêu bạt miền xứ Trung Thổ, vậy mà Hán ngữ của miền Trung Thổ sư huynh vẫn còn chưa biết nói sao?
Tả Pháp Thụ vốn là con người tự ái cao, tính tình ương ngạnh lại càng chịu không nổi những câu nói khích, Thượng Quan Linh dùng ngay đòn đánh tâm lý này, quả nhiên đối phương mắc mưu. Chỉ nghe Tả Pháp Thụ nói:
- Ai bảo ta không biết Hán ngữ? Ta đã biết nói từ lâu rồi. - Nhưng âm giọng còn chứa đầy thổ âm xứ Thiên Trúc!
Thượng Quan Linh tạm yên dạ, chàng cố vờ ra một vẻ thương cảm nói tiếp rằng:
- Thưa sư huynh, từ ngày xảy ra cuộc biến động trời nghiêng đất ngửa ấy, sư huynh tự thoát nhân lấy một mình, thật quả khiến cho tiểu đệ lo ngại cho số phận của hai anh em chúng mình vô cùng, may nhờ trời vô sự, và đệ nghĩ đến công lực của sư huynh siêu tuyệt thể nào cũng thoát nạn, nên đã không ngần ngại chờ đợi tại đây, nào hay một cái đợi như thế đã trôi qua ba mươi năm trường như thế...
Giọng tâng bốc cung kính như thế, quả nhiên đã khiến cho Tả Pháp Thụ hòa dịu hẳn một phần nào, y ngập ngừng một chặp mới hỏi rằng:
- Duy Na, vừa rồi ta vào động thất bên ngoài kia, cây tiên thảo Tuyết bi tiên hoa đã không thấy, cả gốc cũng bị bứt, hiển nhiên nhà ngươi đã ăn mất nó rồi!
Thượng Quan Linh sắp đặt nhanh ngay một câu chuyện, bèn đóng ra một bộ buồn rầu ăn năn rằng:
- Tội của tiểu đệ đáng chết muôn ngàn! Trong cuộc xô xác của anh em chúng mình, vì tình sư huynh đồng môn, tiểu đệ không nỡ đang tay hạ độc thủ trong thế thứ bốn mươi chín của Duy Na chưởng thức tức ngọn Huyết lệ giao bưng, nhưng nào ngờ sau khi tiểu đệ chịu thiệt về sinh mạng để miễn cưỡng thu thế về thì cũng bị mũi kiếm thần của sư huynh xỉa trúng nơi trọng yếu! Sau khi sư huynh bỏ đi trong cơn biến động của núi lửa, thì chẳng bao lâu nơi thạch thất này lại trở lại cảnh sóng yên nước lặng của nó. Trong lúc ấy thì tiểu đệ đã cảm thấy trong mình vì cố gượng thu thế đánh Huyết lệ giao bưng mà đã trở thành khí huyết nghịch lưu, phần vì vết thương do sư huynh gây nên, mạng sống của tiểu đệ chỉ còn nước thoi thóp chờ chết...
Nghe đến đây, Tả Pháp Thụ hầm hầm nổi giận xía ngay vào rằng:
- Và có phải ngươi vì muốn sống mà đã ngang nhiên nuốt mất cây Tuyết bi tiên thảo không?
Thượng Quan Linh vờ hoảng hốt và đượm thêm vẻ ăn năn ngập ngừng rằng:
- Tiểu đệ nay thấy ăn năn vô cùng, nhất là đã phụ bạc tất cả lòng mến yêu của sư tôn và sư huynh, chỉ vì chút ít ý nghĩ hẹp hòi ham sống, mà đã gây nên một tội tày trời như thế!
Tả Pháp Thụ quá thất vọng, bỗng dũng khí y nổi lên đùng đùng, một tiếng cheng vang lên, từ bên cạnh mình y rút ra một cây trường kiếm. Nhưng cây trường kiếm này phải nói nó là cây đại đao thì có phần đúng hơn, vì toàn thân kiếm chẳng những dài mà còn dày là khác Thượng Quan Linh xưa nay chưa hề thấy qua loại trường kiếm như thế này bao giờ, phỏng chừng sức nặng của nó cũng đến ba bốn chục cân là ít, nhưng nằm trên tay Tả Pháp Thụ nhẹ nhàng y như không hề cầm vật gì vậy, trong lúc sử dụng lại lanh lẹ linh động vô cùng. Tuy Tả Pháp Thụ đã rút kiếm bày thế, nhưng vẫn chưa dám mạo muội ra tay ngay, dùng giọng trầm, nặng rằng:
- Duy Na! Không phải là ta không nghĩ đến tình đồng môn của sư huynh đệ chúng ta, nhưng tại ngươi vì lòng ích kỷ mà tự bội tính trước, ngang nhiên nuốt Tuyết bi tiên hoa, khiến cho sư tôn bị đoạn tuyệt hẳn mối hy vọng cuối cùng của ngài, tội tày trời như thế, không thể nào dung tha cho ngươi được? Nay ta thay mặt sư tôn để trừng phạt tội của ngươi, vậy người hãy ngoan ngoãn mà nhận lãnh cho rồi? - Dứt lời, cây Pháp Thụ trường kiếm giơ ngay lên, ung dung bước sang, tính nhắm ngay đầu Thượng Quan Linh bửa xuống!
Thượng Quan Linh bỗng bật cười thành tiếng, đồng thời chàng từ trên sàng nhảy vọt ngay xuống đất, giơ ngay chưởng bày thế, miệng lên tiếng rằng:
- Sư huynh! Cây Tuyết bi tiên hoa quả là tiên phẩm bất phàm, sau khi tiểu đệ nuốt xong, dung nhan bỗng tươi trẻ hẳn lại. Sư huynh thử nhìn kỹ, hiện nay em chẳng hoàn toàn khác xưa lại rồi sao? Nhất là trông trẻ như thiếu niên ngoài hai mươi tuổi.
Những lời nói ấy quả nhiên Thượng Quan Linh đã lừa phỉnh được Tả Pháp Thụ tôn giả, dưới ánh chập chờn của lân tinh thạch vị tăng Thiên Trúc nhìn kỹ, quả đúng thật!
Chỉ thấy đối phương dung nhan tuấn tú, chẳng khác nào như thiếu nữ giả trai, thần khí thanh nhã, diện như quán ngọc, rõ đúng là thay đổi hẳn thành một người khác vậy, đâu còn những nét xưa kia của người sư đệ Hữu Duy Na nữa! Đương nhiên là y vẫn còn chưa biết rõ đây là vị sư đệ giả mạo do Thượng Quan Linh thủ vai, trong khi kinh hãi ấy, cây trường kiếm trên tay vẫn chưa sao hạ nổi xuống.
Cũng nhờ lúc hai bên sát nhau này mà Thượng Quan Linh cũng biết rõ mặt của Tả Pháp Thụ, suýt nữa thì chàng ngất xỉu vì khuôn mặt đó, chỉ thấy một người ngang nhiên vạm vỡ đứng trước mặt mình ấy, lại có một bộ mặt ngựa đen gần như nhọ chảo (lọ nghẹ) khuôn mặt dài quái gở kinh dị. Nằm trong tình trạng giữa sống và chết ấy, Thượng Quan Linh cố mạnh dạn tiếp tục lên tiếng:
- Thưa sư huynh, chẳng nói giấu gì sư huynh, trong ba mươi năm trời qua, công lực của tiểu đệ đã tăng lên kinh khủng!
Thế của Thượng Quan Linh đang bày là: đầu gối bên phải hơi co lên, song chưởng đều xòe hết ra, một chỉ thiên, một trỏ địa, và đúng với thế đầu tiên của Duy Na chưởng thức!
Quả nhiên Tả Pháp Thụ tôn giả bị Thượng Quan Linh phỉnh gạt, trong lòng đâm ái ngại, vì biết rõ mình không phải là đối thủ của sư đệ, huống hồ nay hắn đã nuốt tiên hoa quí nhất trần gian như thế, cộng trong suốt ba mươi năm trời khổ luyện!
Sau khi được sự nhắc tỉnh của sư đệ, Tả Pháp Thụ bèn rầu buồn thu ngay kiếm, cheng một tiếng, nạp ngay vào vỏ! Thượng Quan Linh đã cảm thấy áo lót trong của mình đã ướt hẳn vì mồ hôi của cơn khủng hoảng tột độ! Toàn nhờ cơ trí nhanh nhẹn ứng biến, chàng đã tạm thoát khỏi một cửa ải của quỉ môn quan! Trong bụng thầm nhủ! Kinh hiểm thật, chàng cũng lập tức thu ngay thế của mình về, may phước cho Thượng Quan Linh là còn nhớ nổi ngọn thế khởi đầu này của Duy Na chưởng thức cũng nhờ thế mới phỉnh gạt nổi Tả Pháp Thụ để nhặt lại mạng sống của mình.
Lúc này Tả Phấp Thụ đành tự tìm lối hạ đài! Y cũng vờ bất nhẫn tâm để gỡ gạc lại thể diện của địa vị sư huynh rằng:
- Sư đệ! Tuy ngươi đã phạm một tội tày trời như thế nhưng chúng ta tình nghĩa như thủ túc ruột thịt! Làm sao ta đành hạ độc thủ cho đành.
Thượng Quan Linh mừng quýnh lên trong bụng, bèn thưa ngay:
- Đa tạ sư huynh đã kiếm hạ lưu tình? Tiểu đệ này không chết, nguyện ngày sau thế nào cũng hậu đền ơn sau.
Tả Pháp Thụ đành chịu, và y đi loanh quanh khắp trong động thất, Thượng Quan Linh chỉ sợ bị lộ chân tướng thì nguy, bèn kể lể sơ: nào cây gỗ thơm do chàng trồng trong động thất, nào chiếc giường sắt đã đựng đầy chất phóng uế và chôn xuống đất để cho không khí sạch sẽ. Nhưng vị sư huynh chỉ lạnh lùng ừ bằng tiếng mũi, sau khi loanh quanh trong động thất một hồi, bỗng vị sư huynh như sực nhớ ra chuyện gì, bước thẳng ngay lại trước mặt Thượng Quan Linh, chăm chú quan sát tường tận dung mạo của chàng.
Cái nhìn soi bói ấy đã khiến cho Thượng Quan Linh phải hoảng hồn trong bụng, chàng bèn mạnh dạn hỏi ngay:
- Sư huynh! Sao anh nhìn tiểu đệ như thế?
Tả Pháp Thụ lắc đầu lẩm bẩm rằng:
- Ta không tin, không thể nào tin, dù cho cây tiên thảo Tuyết bi có thần kỳ đến đâu đi nữa, nhưng làm sao cải biến hết cả khuôn mặt của một người được, từ da mặt cho cả đến giọng nói...
Trong ngực Thượng Quan Linh đánh thình thịch, đây quả thật là một lỗ hổng to tướng mà mình đậy không kín! Hữu Duy Na tôn giả vốn là người Thiên Trúc, da đen, trong lúc chết, tính ra cũng trên ba mươi tuổi mà nay da mình trắng trẻo, tuổi còn chưa đầy hai mươi, làm sao mà có thể mạo cho giống hệt sư đệ của người ta? Nay Tả Pháp Thụ sau khi quan sát kỹ, chắc lại phát giác cả đến những nét đại cương của khuôn mặt cũng khác hẳn đây, trách sao người ta không nghi ngờ. Nghĩ vậy, Thượng Quan Linh đành liều và mạnh dạn rằng:
- Chính thế! Tiểu đệ cũng lấy làm lạ! Cây Tuyết bi tiên hoa này quả là kỳ lạ tuyệt luân!
Thượng Quan Linh nói tới đây bèn nghĩ thầm ngay rằng, nay chỉ còn cách phỉnh gạt sao cho Tả Pháp Thụ tin mình, rồi nhờ sức của y đưa mình ra khỏi động thất, chờ mãn hạn xong bốn mươi chín ngày, thì mình hết lo ngại về y nữa, nghĩ vậy bèn rằng:
- Thiên sư huynh, nay sư huynh đã bình yên lại đây đồng thời tiểu đệ tâm nguyện cũng đã xong xuôi, chúng mình mau ra khỏi động huyệt này cho rồi!
Tả Pháp Thụ không trả lời, chỉ khẽ hừ bằng giọng mũi, mặt vẫn đăm đăm nhìn mặt Thượng Quan Linh, chàng chỉ thấy bộ mặt ngựa dài đen kinh khủng càng tăng thêm kinh hoảng trong mình! Nguy cơ đã phục sẵn, chỉ còn đụng tới là bộc phát ngay, chàng cố thản nhiên rằng:
- Thưa sư huynh, nếu bây giờ chưa đi, xin mời sư huynh hãy lên thạch sàng nghỉ ngơi cái đã!
Nói xong Thượng Quan Linh bèn lại ngay một nơi tương đối ngồi xếp chân bàn tròn như nhập định. Tả Pháp Thụ tuổi đã ngoài lục tuần, vì đã đứng từ khá lâu lại trầm ngâm bất quyết, nhưng sau cùng cũng không dám phủ nhận, chỉ sợ chẳng may, sư đệ lại ra tay dùng Duy Na chưởng thức để đối phó, và nhất là hắn lại bị vết xe cũ trước kia để lại, không đời nào còn dám thu lại thế thứ bốn mươi chín Huyết lệ giao bưng như trước nữa, và như thế mình khó lòng mà thoát nạn được.
Sau khi Tả Pháp Thụ suy nghĩ cân nhắc cẩn thận, vẫn không dám mạo muội hành động của mình, thế là một cuộc diện đôi bên phòng hờ lẫn nhau được ngấm ngầm diễn ra! Thượng Quan Linh và Tả Pháp Thụ đều ngồi đối diện với nhau trên thạch sàng, và bên nào cũng nghe rõ sự hô hấp trầm nặng của đối phương, không khí khẩn trương càng lúc càng lúc càng tăng thêm! Đôi bên đều chăm chú canh gác hành động của đối phương, chẳng bên nào dám chểnh mảng sơ ý!
Bỗng Tả Pháp Thụ nghĩ ra một kế bèn rằng:
- Sư đệ! Đã lâu rồi ta không đọc kinh. Trong lòng cảm thấy vô cùng bồi hồi, vậy phiền sư đệ hãy niệm kinh cho ta được an thần có được không?
Mưu kế này của Tả Pháp Thụ quả là lợi hại! Nếu người trước mặt đây quả là vị cao tăng xứ Thiên Trúc xưa kia là Hữu Duy Na tôn giả, không có lý nào mà lại không biết đọc kinh? Còn nếu không, đủ chứng minh là kẻ giả mạo!
Thượng Quan Linh quả nhiên không thể thoái thác được, chàng buột miệng rằng:
- Kính sư huynh vạn an, tiểu đệ sẽ đọc một đoạn kinh tiêu tai an thần cho sư huynh!
Tả Pháp Thụ uy nghi ngồi trên thạch sàng, nhưng tay đã sẵn sàng rờ ngay vào chuôi kiếm, chỉ cần phát hiện đối phương có gì lạ là ra tay ngay! Nói xong Thượng Quan Linh đi lấy ngay những pháp khí chuông mõ lại, gõ thử xong, trong bụng chàng thầm nghĩ: Xưa kia mình học nghệ tại Ngao Sơn, Sư tôn Nam bút Gia Cát Dật đã từng dạy cho mình hai bài kinh rất thông thường trong Phật môn, một là đại bi trú, một nữa là tâm kinh, tuy hồi đó mình có thể đọc thuộc lòng, nhưng không biếc ý nghĩa của văn kinh, chỉ biết rằng Nam bút Gia Cát Dật từng nói cho hay đó toàn là những văn kinh bằng Phạn ngữ, người truyền của Phật gia, trước nhất là trọng về lối tu trì, chỉ có thể tự nhiên mà biết, không thể nào giảng ra mà hiểu nổi, cho nên kinh văn này vẫn dùng nguyên âm của Phạn ngữ để đọc, chưa hề được dịch sang Hán âm. Hồi đó mình chỉ học vu vơ cho biết, nay không ngờ lại có thể dùng đắc lực đến thế được, nhưng không biết có thể nào đánh tan được mối nghi ngờ của vị ma đầu Tây Vực này không? Đang lúc Thượng Quan Linh còn mãi suy tư trên thạch sàng Tả Pháp Thụ đã lộ ra vẻ bực mình, trợn mắt hỏi rằng:
- Sao vậy?
Thượng Quan Linh không cần do dự thêm, chàng gõ ngay mõ và cất tiếng ê a đọc Phạn kinh, chàng tụng loại kinh tiêu tai tiêu nạn trong Đại bi thánh trú!
Lúc này chỉ nghe tiếng vang thanh thanh, tiếng kinh, tiếng mõ, tiếng chuông, đều phối hợp đúng mức và khéo khiến cho kẻ nghe cảm thấy yên lặng trong tâm thần, không những Thượng Quan Linh cảm thấy như thế, mà chính cả Tả Pháp Thụ tôn giả cũng cảm thấy vậy. Sau khi đọc xong kinh, Tả Pháp Thụ nhắm mắt và có tiếng ngáy khò khò . . . Thượng Quan Linh như cảm thấy mình vừa buông được một gánh nặng ngàn cân trên vai xuống, nỗi lòng gay cấn tột đỉnh cũng bớt căng thẳng trong tâm tình, và chàng cảm thấy quần áo của mình ướt vì mồ hôi toát đồng thời toàn thân mệt mỏi, uể oải chịu không nổi. Thì ra chàng đã bị mất hết công lực, nãy giờ lo tập trung tinh thần và cơ trí để đối với tình hình căng thẳng tuyệt độ ấy nay tạm qua được thêm một quan ải khó khăn nữa!
Trong mình đã đuối sức hẳn. Bụng biết vị tăng Tả Pháp Thụ vẫn không khỏi còn nghi nữa, mình không thể nào nhắm mắt ngủ yên được, phải cố gắng duy trì cảnh giác lo đối phó biến động thình lình, nhưng ác nỗi đôi mắt cứ nặng trĩu lại, không làm sao mở nổi. Bụng nghĩ, vị Tả Pháp Thụ này nay đã ngủ say, mình ngủ thử một chút đâu có ngại gì.
Thế là chàng yên trí đánh một giấc ngủ? Không biết được bao lâu nữa, Thượng Quan Linh thấy mình đã ra khỏi động thất của Đại Ngũ Trì, vào đến một khu rừng âm u xa lạ, thình lình một con gấu lớn từ đâu vọt đến, nhảy chụp qua phía mình. Thượng Quan Linh vội vung chưởng đánh ra, bỗng bị làn chưởng của con gấu túm trúng, chàng sực nhớ là mình còn chưa hết hạn bốn mươi chín ngày, công lực chưa khôi phục, lúc này chẳng khác nào như một phế nhân vô dụng, làm sao có thể đánh nổi với con gấu hùng mạnh ấy. Chàng chỉ cảm thấy ngọn chường của mình vung ra, công lực không còn như ngày xưa nữa, sức yếu mềm như bún, nhất là khi nắm vào ngọn trào của con gấu càng mềm yếu thảm hại. Tiếng thở phì phào của con vật nghe rõ mồn một, nhất là khuôn mặt hung dữ của nó lại càng kinh tởm! Chỉ thấy nó há miệng giơ nanh tính ngoạm ngay mình.
Thượng Quan Linh chỉ còn cách nhắm mắt chờ chết. Bỗng con gấu giơ trảo xé rách soạt ngay ngực áo của chàng, sau đó nó cất tiếng cười sằng sặt! Quái lạ! Sao gấu mà cũng biết cười tiếng người vậy. Trong tiếng cười Thượng Quan Linh nghe quen tai lắm... Chàng bỗng sực nhớ, nguy to, đây là tiếng cười của Tả Pháp Thụ, chết chửa? Đây đâu phải mình nằm mộng? Rõ ràng chân tướng mình bị lộ, đại họa đã giáng xuống đầu rồi! Chàng vội mở mắt, chỉ thấy Tả Pháp Thụ một tay túm ngay cườm tay mình, tay kia lo cởi ngay ngực áo của mình, cất tiếng cười như điên. Thượng Quan Linh nghĩ ngay là Tả Pháp Thụ đang tìm vết sẹo nơi ngực, vai mà chính do tay y đâm cách đây ba chục năm, và bây giờ mình đã bị lộ chân tướng, vị tăng nhân Thiên Trúc biết người trước mặt mình đây không phải sư đệ Hữu Duy Na mà là một thiếu niên Hán tộc mạo danh.
Thượng Quan Linh nay bị nắm cánh tay trái, nhưng còn tay bên phải, tuy chàng suýt ngất xỉu vì sự kiện đột ngột trước mắt, nhưng nghĩ đến bó tay chịu chết như thế, trong lòng không cam tâm. Chàng len lén dùng tay phải của mình, thình lình rút ngay ngọn kiếm Lệ tinh thủy, quát lên một tiếng lớn, cố dồn hết toàn lực trong mình vùng ngay dậy, đồng thời đưa ngay lưỡi kiếm gạt bung ngay ra về phía mặt của Tả Pháp Thụ tôn giả.
Thượng Quan Linh tuy là đã bị mất công lực, nhưng thế đánh ra cũng bất phàm, làn bạch quang của Lệ thủy tinh kiếm vừa nhoáng lên, Tả Pháp Thụ cảm thấy mắt hoa lên, liền ung dung buông ngay tay nắm Thượng Quan Linh, đồng thời cũng giơ luôn mười ngón chỉ ra chụp bắt thanh kiếm của Thượng Quan Linh, chỉ nghe cheng một tiếng vang nhỏ, ngọn kiếm đụng trúng ngay ngón tay bên phải của Tả Pháp Thụ. Thượng Quan Linh cảm thấy lập tức thanh kiếm của mình hình như đang chém nhắm vào một khối sắt cứng vậy, sự bật ngược khiến chàng cảm thấy tê tay, suýt nữa bảo kiếm văng khỏi tay. Chắc có lẽ vị tăng nhân Thiên Trúc này đã luyện được môn ngoại công tuyệt vời đây chăng, ngang nhiên không sợ đao kiếm, phần vì công lực của Thượng Quan Linh chưa khôi phục, nên toàn thân bị lảo đảo mạnh, chàng vội hai tay nắm chặt kiếm, đứng thủ ngay thế. Rõ thật là kiếm quí có khác, lúc này mới thấy trong khe tay của Tả Pháp Thụ chảy ra vài giọt máu.
Tả Pháp Thụ tôn giá xem như không có người trước mắt vậy, chỉ nghe y lẩm bẩm rằng:
- Hà! Lại là cây bảo kiếm. Một cây bảo kiếm quí báu!
Nói xong thấy y đưa vết thương lên miệng hút máu, tiếng mút chùn chụt vang lên từng chặp, một thân hình cao lớn và những phục sức quái lạ của vị tăng đứng trước mặt Thượng Quan Linh này, trông chẳng khác nào như một vị thiên thần giáng thế, khiến người không ớn mà lạnh?
Thượng Quan Linh sau khi cố dùng hết toàn sức trong người mình đánh ra một đòn giải nguy ấy, chàng đã kiệt lực hẳn đến nỗi không làm sao còn vung kiếm lên được! Chàng chỉ còn miễn cưỡng cố gắng bày ra một thế, cốt để huy trương thanh thế hầu dọa Tả Pháp Thụ tôn giả? Về phía Tả Pháp Thụ thì nào đâu có hay những bí mật thầm kín của vị thiếu niên người Trung Thổ này, thế là con cọp giấy Thượng Quan Linh đã nghiễm nhiên dọa nổi vị cao tăng của xứ Thiên Trúc, trong ý nghĩ, thằng nhỏ này đã ăn Tuyết bi tiên hoa, trên tay lại có cây kiếm báu, chắc công lực của hắn không thường phàm đâu, không thể nào khinh địch, mà mang họa cũng nên. Vừa nghĩ y vừa mút vết thương trên tay. Thượng Quan Linh cũng không biết đối phương vừa rồi đã dùng đến công lực gì, trong lòng vừa hoảng vừa lạ!
Tả Pháp Thụ từ từ rút ngay thanh trường kiếm to dày bên cạnh mình ra, Thượng Quan Linh như muốn ngộp thở luôn! Đang khi tình trạng căng thẳng và bi ai bất lợi cho chàng Thượng Quan Linh ấy... bỗng động thất bên ngoài lại nổi lên những tiếng lộp cộp của tiếng chân bước, cả hai người cùng giật mình kinh ngạc, và ai nấy lo chăm chú lắng tai...
Tiếng chân ấy càng lúc càng gần, mà có vẻ trầm nặng kinh khủng, phải là tiếng chân của một vật khổng lồ mới có tiếng nặng nhọc như thế được, mà cũng có lẽ không phải tiếng chân của loài người mà lại là tiếng chân của quái vật gì chăng!
Cả từ Thượng Quan Linh đến Tả Pháp Thụ, tinh thần của hai người đều bị tiếng chân quái dị này khiến cho khớp hồn. Họ quên cả cuộc giao tranh, và cả đôi bên đều đưa mắt nhìn nhau đợi chờ ra tay.
Còn có ai lại kia? Cả hai bên đương sự đều nghĩ như vậy, không lý bí mật của động thất dưới Đại Ngũ Trì đây, lại còn có người biết nữa sao? Nhưng ai có thể vào đây? Huống hồ tiếng chân này lại vô cùng nặng nề như thế, nếu là người, chắc người này nội lực phải tuyệt cao! Thượng Quan Linh trong lòng tuy hoảng hốt, nhưng chàng vẫn ôm một hy vọng lớn lao, vì trước sau gì bây giờ chàng đã nằm trong thế quá hiểm nghèo, mặc dầu là ai đến đi nữa cũng còn hơn là không có người đến, biết chừng đâu kẻ đến có thể giúp mình cũng nên!
Còn phần của Tả Pháp Thụ tôn giả, nãy giờ chỉ lo đoán phỏng chừng về công lực của tiếng bước trầm nặng ấy, người này ít nhất cũng phải nặng đến bảy tám trăm cân là ít, đương nhiên không thể nào có một người khổng lồ như thế được, hay là mãnh thú, còn nếu không thì người này đang cố ý khoe công lực ghê gớm của mình để dọa thiên hạ. Bỗng lại nghĩ đến xác của con quái vật khổng lồ Tích long bên động thất đã chết lâu năm như thế, không lẽ bây giờ nó lại sống dậy để tác quái? Nếu không phải nó thì cũng chắc là đồng loài của nó!
Dưới động thất của đáy trì quái vị này, không ai dám bảo đảm là không có chuyện quái đản xảy ra trong lúc này. Tả Pháp Thụ cũng bất giác nổi da gà cùng mình. Hai người hồi hộp chờ sự biến động sắp đến, ai nấy tay cầm chặt kiếm, và dồn hết tia nhìn về cửa vách bí mật của thạch thất. Thình lình tiếng chân ấy đến ngay cạnh cửa thì im bặt. Sẹt một tiếng, cửa mở, nhưng tiếng ấy không phải tiếng của cửa mở gây ra, mà là sức mở cửa quá mạnh, nên ngọn kình phong ấy đã gây nên tiếng sẹt ấy. Thượng Quan Linh và Tả Pháp Thụ gần như nín thở để theo dõi nơi cửa mở, nhưng chỉ thấy một chiếc đầu vừa dài vừa nhọn từ khe cửa đá thò ngay vào bên trong! Cả hai người giật nảy mình suýt buông tiếng kinh rú, chỉ thấy chiếc đầu ấy to hơn thùng gánh nước, lông mướt, đôi mắt tựa như cặp đèn lồng nhỏ, ánh mắt nhấp nháy màu xanh lục, một cái mỏ đen láng và nhọn hoắt và cong trở xuống.
Thoạt tiên, Thượng Quan Linh tưởng đây là con vật khổng lồ Tích long bên động thất phía ngoài sống lại, nay nhìn kỹ, rõ ràng chiếc đầu này là của loại điểu lớn xác đây? Trong lòng lấy làm lạ, không biết đâu mà có loài chim lớn như thế đến đây? Chú chim ta sau khi thò đầu vào ngó Thượng Quan Linh và Tả Pháp Thụ một hồi, lập tức cố chen ngay khối thân kềnh càng của nó vào trong động thất. Khi hai người thấy rõ hẳn khối thân đồ sộ quá sức tưởng tượng ấy, bất giác càng kinh ngạc, chính là hai người còn chưa bao giờ được nghe thấy loại chim khổng lồ này, móng trào và cẳng trông đều vô cùng hùng mạnh. Với thế đứng uy nghi sừng sững của con chim ấy, trông không khác nào một quả đồi nhỏ trước mắt hai người.
Hình thù con đại điểu này trông không khác loài chim ưng. Nó thấy lối phục sức giống nhau của Thượng Quan Linh và Tả Pháp Thụ, chỉ khác là một người da trắng, một người da đen, một cao một thấp, trong con mắt của con chim ưng, hình như tỏ vẻ băn khoăn, chỉ thấy đứng yên chăm chú nhìn hai người. Tả Pháp Thụ tôn giả chờ nãy giờ mà thấy chim ưng không có động tĩnh gì khác lạ, y bèn vung ngay kiếm tính bửa ngay sang Thượng Quan Linh! Nhưng bỗng chim ưng thình lình nhảy vọt ngay ra chận ngay trước mặt Tả Pháp Thụ tôn giả, thế là chia đôi ranh giới hai bên. Tả Pháp Thụ kinh hãi, thu ngay thế lại, hậm hực lên tiếng:
- Tiểu tử, ngươi đã có gan ăn mất Tuyết bi tiên hoa, thì còn sư đệ ta đâu?
Thượng Quan Linh biết xác cọp giấy của mình đã bị lộ, không làm sao che đậy được nữa, bèn cũng nghiễm nhiên nói thẳng rằng:
- Hữu Duy Na đại sư không muốn bội tình để ăn tiên hoa và sau khi bị trúng kiếm của ông, và trong mình lại bị khí huyết nghịch trở chỉ vì trong lúc giao đấu với ông, mà người ta vì lòng nhân hậu không nỡ giết ông, đã thế, trong lúc tính mạng kẻ gần cái chết, vẫn quyết chí không chịu nuốt Tuyết bi tiên hoa để cứu mạng... và người ta đành chịu bỏ mạng đã ba mươi năm trời nay rồi!
Tả Pháp Thụ tôn giả lớn tiếng quát hỏi:
- Lấy gì làm bằng!
Thượng Quan Linh rằng:
- Bộ hài cốt của Hữu Duy Na tôn giả đại sư, đã được tại hạ thu nhặt liệm hết vào trong một chiếc hộp sắt phía dưới bụng con Tích long ngoài động thất kia, và chính trong chiếc rương sắt còn có cả quyển di thư chính thủ bút của ông ta đã kể tường tận, nếu ông không tin có thể lấy lên khám nghiệm lại.
Tính tình Thượng Quan Linh vốn chính trực, nhất là sau khi chàng theo học nghệ với Nam bút Gia Cát Dật, tính tình đó lại càng tăng thêm, càng không muốn nói láo để lừa gạt ai, vụ giả mạo danh của Hữu Duy Na để phỉnh gạt sư huynh của người ta, đó chẳng qua là một sự ngoài ý muốn của mình, nhưng vô tình chàng cũng đã làm tổn thương đến người quá cố là bội tín ăn chiếc tiên hoa, trong bụng chàng vẫn áy náy không yên, nhưng nay được trút hết tết cả sự thật ra, Thượng Quan Linh tự cảm thấy lòng mình khoan khoái vô cùng?
Lúc này Thượng Quan Linh đã coi thường sự sống chết nên chàng vẫn ung dung nói thẳng:
- Trước đây hai mươi ngày, tại hạ đã vô tình vào được đây trong cơn đói lạnh, hơn nữa không biết đầu đuôi câu chuyện ất giáp gì, nên đã ngộ nhận ăn mất Tuyết bi tiên hoa, sau đó mới đọc quyển di thư của Hữu Duy Na nên mới biết rõ tự sự!
Tả Pháp Thụ hình như cảm thấy tức tối vô cùng, chỉ thấy y lạnh lùng hậm hực. Thượng Quan Linh lại cất giọng rằng:
- Nhưng chuyện này quả là một sự tình cờ ngẫu nhiên mà thôi, lại nữa trên quyển di thư của Hữu Duy Na tiền bối có nói rõ, vậy thì tại hạ đây chi là người có duyên được gặp tiên hoa và đóa hoa ấy đã nở suốt trong ba mươi năm trời, như thế đã quá thời hẹn với sư tôn của Hữu Duy Na, và kẻ đến sau có quyền được hưởng tiên hoa đó, nhưng cần nhất là phải tâm tình nhân hậu, làm việc nghĩa cho nhiều, có được như thế, vong linh của Hữu Duy Na tiền bối sẽ phù hộ trong cõi hư vô...
Trong lúc hai bên lo chuyện vãn với nhau, chim ưng hết ngóng tai bên này rồi lại nghe ngóng bên kia, hình như nó biết nghe tiếng người, thỉnh thoảng nó cũng như hiểu vấn đề.
Thình lình, Tả Pháp Thụ cất tiếng cười lên sằng sặc vô cùng đắc ý, khiến cho Thượng Quan Linh không khỏi hồi hộp ái ngại, nhưng con chim ưng như không cảm thấy gì, chỉ thấy nó đưa mắt nhẹ nhìn một cái như vô cùng bực mình vậy?
Tiếng cười dứt, Tả Pháp Thụ mới cất tiếng nham hiểm lạnh lùng rằng:
Hừ! Tiểu tử. Cám ơn nhà ngươi đã tỏ rõ hết mọi chuyện cho ta biết. Ha! Ha! Ha!... Ngươi có biết ta tính đối xử với ngươi ra sao không?...
Thượng Quan Linh lanh lảnh cất tiếng rằng:
- Tại hạ cũng đã tự hỏi lòng mình, và nhận thấy không hề gây nên tội tình gì, nhưng tại hạ nay cũng vui lòng để cho tôn giả ngài phát lạc, miễn sao công bằng hợp lý, dù tại hạ có chết cũng không ân hận!
Tả Pháp Thụ cười lạnh lùng rằng:
- Đương nhiên ta sẽ xử cho thật công bằng, vậy ngươi hãy nghe đây? Chính vừa rồi ngươi đã nhắc tỉnh ta, đóa hoa tiên ấy ngươi đã ăn nó, cách đây mới lối trên hai mươi ngày, như thế càng hay. Ta cũng biết rằng thứ tiên hoa này kỳ dị tuyệt nhân, sau khi người nào ăn nó, sẽ bị tạm mất công lực trong bốn mươi chín ngày, không khác gì một kẻ phàm thường không có võ nghệ. Nguyên nhân này là bởi công hiệu của kỳ hoa ấy hãy còn tụ tập tại nơi ức ngực, vì còn chưa thông suốt được khắp toàn thân và mất 49 ngày sau nó mới thông hết được khắp trong cơ thể, và chừng đó mới khôi phục lại tình trạng như xưa ngay. Nếu người phàm thường không biết võ công, cũng lập tức trở thành một người có công lực tuyệt đỉnh ngay, và nếu gặp những người sẵn võ nghệ như ngươi, công lực ấy càng ghê gớm không thể nào tả được!... Nhưng nay, số 49 ngày của người còn chưa đến, công hiệu của tiên hoa vẫn còn chưa phát hẳn ra toàn thân. Ha! Ha! Ha!... Hay quá! Hay quá!... Bây giờ ta sẽ mổ ngay bụng ngươi ra, ăn tươi nuốt sống ngay tim gan của ngươi, như thế cũng như chính ta đã ăn Tuyết bi tiên hoa vậy... Ha! Ha! Ha!
Lời nói và ý kiến này của Tả Pháp Thụ quả lợi hại, Thượng Quan Linh không ngờ mình lại thành vị thuốc báu cho người ta. Mắt thấy chuyến này mình bị chết thê thảm quá, tim gan bị người ta moi ra nhai ngấu nghiến rùng rợn... Nhưng biết làm sao bây giờ, nhược điểm của mình người ta đã rõ, công lực không có ngoài bó tay chịu đứng ra đâu còn cách gì? Trong khi đó thì Tả Pháp Thụ cất tiếng cười ngất ngưỡng về thượng sách ăn Tiên hoa bằng lối dã man ấy, trong cơn đắc chí, y giơ ngay cây Pháp Thụ thần kiếm lên, tiến từng bước một tới! Nhưng con chim khổng lồ đã chấn ngang giữa lối, Tả Pháp Thụ .giận quát rằng:
- Nghiệt súc! Có rút ra mau không?
Nhưng chim ưng to kêu lên quá một tiếng dữ dội, hình như nó không phục!
Tả Pháp Thụ vung ngay cây thần kiếm của mình chém vù ra phía đầu chim ưng, nhưng trong ý nghĩ của y, thấy con chim quá to lớn này, trong lòng cũng hơi ái ngại, chỉ muốn sao dọa cho nó tránh ra đừng cản trở mình. Quả nhiên chim ta nhanh chân tránh sang một phía, toàn thân Tả Pháp Thụ tiến nhanh ngay về phía Thượng Quan Linh, vung kiếm chém thẳng xuống. Thượng Quan Linh bất giác buột miệng lớn tiếng rằng:
- Thượng Quan Linh ta nay đã bị mất hết công lực, nhà ngươi có giết chết ta như thế cũng không phải là bản sắc của người anh hùng hảo hán!
Thượng Quan Linh vừa dứt tiếng bỗng con chim khổng lồ ấy lại kêu lên một tiếng quá dữ dằn, vụt bay nhanh lại tiếp cứu.
Trong cảnh nguy nan tuyệt độ, cây thần kiếm của Tả Pháp Thụ đã gần kề sát ngay đầu Thượng Quan Linh, chàng biết mình không thể nào chống đỡ trong lúc không còn chút công lực trong mình, đành nhắm mắt chờ chết.
Nhưng thế xông tới của con chim ưng vô cùng dũng mãnh, mắt nó tinh vô cùng, chỉ thấy nó dùng chiếc mỏ cứng như thép ấy mổ thẳng ngay vào thanh kiếm thần của Tả Pháp Thụ, khiến nỗi cây trường kiếm bị bật ngược ra!
Tả Pháp Thụ có nằm mơ cũng không thể nào ngờ rằng con chim ưng to lớn này lại lợi hại khôn lường đến thế? Thế đánh bị hụt đòn, y bất giác cất tiếng chửi rủa ầm ỉ, nhưng vì dùng toàn âm ngữ của Thiên Trúc, nên Thượng Quan Linh và chim ưng đều không biết nghe.
Lúc này chỉ thấy con chim ưng lớn, mắt chớp liên hồi đứng ngó Tả Pháp Thụ, thân hình đồ sộ của nó đứng như bảo hộ luôn cho Thượng Quan Linh, thế đứng của nó hiển nhiên là đang chờ đợi để nghênh địch.
Tả Pháp Thụ không còn chịu nổi, vung ngay cây thần kiếm của mình lên, với một động tác rất chậm chạp, hình như cũng rất thận trọng cẩn mật bửa ra một đòn! Trong đòn này, xem ra rất bình thường, nhưng kỳ thực đó là thế đòn thứ nhất trong Pháp Thụ kiếm chiêu. Trong ngọn đòn này, Tả Pháp Thụ đã dùng đến sáu phần chân lực, ngọn đòn vừa đưa ra nửa chừng, thình lình biến hóa nhanh như làn điện trời, bắn vọt nhanh ra nhắm ngay cổ con chim ưng chém tới. Kiếm thế trông vô cùng dũng mãnh và sắc bén, tiếng gió rít lên, khí thế như thái sơn áp đỉnh, oai lực vô cùng tận, vừa ác vừa hiểm. Chim ưng quá lên một tiếng dữ dội, hấp tấp dùng mỏ mổ ngay sang thanh kiếm, nhưng thanh kiếm đã nhoáng nhanh trước mắt nó, con chim cũng chẳng vừa gì, thình lình nó giương xòe ngay đôi cánh vĩ đại của mình, quạt ngay ra một luồng dực phong (gió cánh chim) dữ dội, Tả Pháp Thụ đứng thế không vững, lập tức bị sức gió của đôi cánh chim ưng quạt thốc và bị lùi hẳn ba bốn bước xa mới cố gắng đứng vững tấn lại được. Nhưng Tả Pháp Thụ đâu phải nhân vật xoàng xĩnh, nhất là về môn Pháp Thụ thần kiếm, thoạt tiên chim ưng ta cũng hơi ỷ y đến chừng thấy thế kiếm đối phương thình lình thay đổi thì đã tránh né đã không kịp, đành phải tung nhanh hai cánh vĩ đại ra để gỡ thế và quả nhiên Tả Pháp Thụ bị dực phong quạt bật hẳn đi ba bốn bước. Nhưng chim ưng trong lúc này cũng bị cây kiếm thần của địch thủ xén mất ít lông ức nơi ngực, một đám lông vụn bay tua tủa xuống.
Chim có vẻ tiếc đám lông rụng của mình lắm, chỉ thấy hắn khẽ nghiêng đầu nhìn đám lông và cúi xuống rỉa sơ vài cái. Bên này Tả Pháp Thụ dùng ngay Hán ngữ mắng chửi:
- Con nghiệt súc chết toi! Tả Pháp Thụ ta nguyện hôm nay phải giết được mi mới nghe!
Dứt lời, Pháp Thụ thần kiếm đâm xiên nhanh ra, một làn kiếm quang nặng nề tỏa ra ngầm mang theo những kình lực đánh bật sang. Chuyến này ra tay hình như lợi hại hơn trước nhiều, công lực cũng tăng lên, và gần như Tả Pháp Thụ đã dốc ra hết chân lực. Chim ưng lúc này cũng hăng hái nghênh tiếp cuộc chiến, mấy lần nhào tới địch, hai cánh phát ra dực phong dũng mãnh quạt tới tấp, cộng thêm chiếc mỏ cứng rắn như thép và linh động tuyệt đỉnh, quả nhiên luôn luôn có thể tiến sát tới thân địch và uy hiếp ngay phía mặt của Tả Pháp Thụ khiến cho vị cao tăng của xứ Thiên Trúc này luôn luôn phải là thu thế về để lo tự giữ thân mình!
Thế là một cuộc ác chiến giữa người và chim diễn ra kịch liệt trong động thất. Dực phong ào ào, ánh kiếm nhấp nhoáng, trong chốc lát, cảnh chiến cứ dữ dội diễn tiến, chưa phân rõ thắng bại.
Lúc này chàng Thượng Quan Linh đứng nhìn cuộc ác chiến kinh khủng ấy, trong lòng kinh hoảng vô cùng, chỉ thấy những thế đánh của Tả Pháp Thụ vô cùng quái dị, thế kiếm biến ảo liên miên bất tuyệt, toàn là những thế đánh lạ lùng mà xưa nay Thượng Quan Linh chưa hề thấy qua bao giờ. Chàng nghĩ bụng nhất định đây là lối Pháp Thụ kiếm thế mà đã được ghi khắp tại nơi vách tường bên cánh trái trong động thất này. Thượng Quan Linh vừa kinh hoảng vừa thích thú, không ngờ mình lại được may mắn chứng kiến một môn võ từ miền Thiên Trúc của vị cao nhân Minh Quang đại sư tự tạo lập ra.
Thượng Quan Linh vốn là con nhà võ, tuy lúc này công lực trên mình đã mất hẳn, nhưng đối với những thế đánh vô cùng hấp dẫn trước mắt đây, chàng bất giác thả tâm thần mình theo dõi một cách say sưa, quên bẵng cả những hiểm nghèo đang chập chờn xung quanh mình, chàng ngấm ngầm để ý các thế ra tay, nhưng cảm thấy vô cùng phức tạp, không dễ dầu gì học tập nhưng đem so với Duy Na chưởng thức thì có phần dễ hơn nhiều. Chàng nghĩ ngay đến lời nói trong quyển chúc thư, về môn Vô Tướng thần công, về chường và kiếm, thì hình như kiếm có phần kém thế hơn chưởng, câu nói của Hữu Duy Na quả thật không sai. Mắt thấy kiếm thế của Tả Pháp Thụ, hoặc thêm hoặc bớt, đều phối hợp một cách khéo léo với phương vị và thời cơ của nó, có thể nói là không có một động tác nào quá thừa hay quá thiếu, khi chậm thì vững như thái sơn, lúc nhanh thì như nhoáng điện, chỉ nội thân pháp vô cùng quỉ dị ấy, quả thật Thượng Quan Linh bình sinh còn chưa hề thấy, chàng bất giác ngẩn người đứng xem. Còn phần chim ưng, cũng chẳng phải thứ hiền gì, hai cánh, một mỏ, đôi trảo, hoặc khi ập tới vung cánh ra quạt, khi lấy mỏ mổ, lúc đạp trảo ra bấu, biết tìm những nơi yếu thế của địch để công hãm. Tuy thân xác nó kềnh càng đồ sộ, nhưng thế đánh của nó không vì thế mà đần độn, trái lại nó cũng nhanh nhẹn như một loài chim sâu vậy, vừa nhanh vừa linh động cướp đánh địch thủ, xét từ nội lực cho đến thân pháp của con chim ưng, quả nó không thua gì các tay cao thủ đương kim trong giang hồ!
Một cuộc Nhân điểu đại chiến được diễn biến ngay trước mắt Thượng Quan Linh, chàng cảm thấy thích thú vô cùng, vì có bao giờ chàng được coi một cuộc ác chiến như thế đâu? Nhất là sự tiến thối có phương pháp của chim ưng, hình như đã truyền dạy thần thuộc, sức chiến đấu của nó lúc này hăng không thể nào tả, khiến cho Thượng Quan Linh không những vừa kính mà lại còn mến thích chim ưng, nhưng dần dà chàng đâm ra kính phục chim ưng vô cùng.
Lúc này Thượng Quan Linh chỉ tiếc rẻ trí nhớ của mình không đủ sức để nhớ hết các thế đánh tuyệt vời của chim và người này, chàng chỉ lơ mơ ghi nhớ được chút đỉnh trong những thế vô cùng thần tình ấy, nếu so về nội lực của chim và người cùng những thân pháp biến hóa của đôi bên, quả thật mình không dám sánh chung với họ, nghĩ đến những cái mình đã học chàng bỗng có một cảm nghĩ buồn buồn trong lòng.
Cuộc tương tranh giữa chim và người càng lúc càng quyết liệt. Tả Pháp Thụ luôn miệng hò hét, chim ưng cũng lên tiếng quá! quá!, chứng tỏ cả song phương đang dốc hết toàn lực để tranh phần thắng. Thượng Quan Linh lúc này chỉ lo canh cánh cho chim ưng, chàng cố tập trung tinh thần của mình để theo dõi, chỉ thấy cuộc chiến càng lúc càng nhanh, phút chốc, thanh kiếm Pháp Thụ thần kiếm đã vây kín hết vòng ngoài của chim ưng, lúc này chỉ thấy như một lồng cầu vĩ đại đang nhốt con chim bên trong. Cánh chim lúc này cũng kém hẳn thế tung hoành, chỉ còn nước ráng chống đỡ, ánh kiếm càng lúc càng vây chặt và rít lên những tiếng gió quái dị. Thật là một cảnh chiến kinh hãi tuyệt đỉnh, thình lình Tả Pháp Thụ tìm ngay được một đòn hở của chim ưng. Bỗng đường kiếm của Tả Pháp Thụ vọt thẳng nhanh vào như một vòi nước trắng xóa về phía chim ưng. Trong cơn khủng hoảng tột độ ấy, Thượng Quan Linh đã thất thanh rú lên!
Quá! một tiếng kêu lên, chim tung luôn đôi trảo đá mạnh ra, nhưng khi nhìn kỹ lại, Thượng Quan Linh còn hồi hộp kinh hãi hơn nữa, chỉ thấy đôi trảo của chim ưng bấu chặt ngay thanh kiếm Pháp Thụ thần kiếm, thấy vậy Thượng Quan Linh đâm nghi ngờ đến con mắt của mình, chỉ thấy con chim khổng lồ ấy ngang nhiên đậu trên thanh kiếm của Tả Pháp Thụ, lại một tiếng quá! vang lên. Nhưng cũng sau tiếng kêu của con chim lớn ấy, thanh kiếm lập tức bị đè ngay hẳn xuống hai tấc. Tả Pháp Thụ nào đâu chịu thua, hai tay cầm kiếm, miệng hét lên một tiếng, nội lực phát ra, thanh kiếm mà con chim ưng đang đậu ấy lại được giơ hẳn lên hai tấc, thế là lại khôi phục ngay nguyên trạng của nó, và từ từ giơ thẳng ra, Thượng Quan linh kinh ngạc đến tuyệt độ, chàng lúc này không khác gì như kẻ bị trúng gió, vì con chim khổng lồ này, ít nhất cũng nặng tới bảy tám trăm cân, thế mà Tả Pháp Thụ vẫn ngang nhiên chịu nổi nó đậu trên cây thần kiếm của mình, thần lực này có thể ngang nhiên khai sơn phá thạch, vác đỉnh cử đình làng mất. Dưới trời này sao lại có người thần lực mạnh kinh khủng đến thế? Thượng Quan Linh giờ đây mới thấy sự kiện này đầu tiên. Lúc này con chim ưng đậu trên thanh kiếm Tả Pháp Thụ ấy lại kêu lên một tiếng quá!, nhưng trong tiếng kêu này có vẻ bi thảm là lạ.
Thượng Quan Linh kinh hồn, chàng chỉ nghe tiếng rít, rít trên ngọn Tả Thụ thần kiếm, chắc bởi Tả Pháp Thụ đã ngầm truyền thần lực vào thanh kiếm, nên khiến cho đôi trảo của chim ưng từ từ đã rướm máu và nhỏ từng giọt xuống. Thượng Quan Linh lòng đau như cắt, chim ưng này vì đứng ra bảo hộ mình, đã không tiếc thân liều chết để đánh với Tả Pháp Thụ, nó dũng mãnh như thế, nay không ngờ vì mình mà nó bị thương, Thượng Quan Linh đâu nỡ ngồi nhìn cảnh đau đớn ấy cho đành? Nhưng ác nỗi công lực trong mình đã mất hết, dầu cho mình có liều chết ra tiếp cứu, cũng chẳng khác nào lấy trứng mà chọi đá thôi.
Tả Pháp Thụ thấy phần thắng đã nằm trong tay, y bất giác cất tiếng cười như điên và dùng Hán ngữ nói rằng:
- Con nghiệt súc! Chắc bây giờ mi biết rõ lợi hại của Tả Pháp Thụ ta rồi chứ! Mà thôi! Mi là loại điểu mà ngang nhiên có nổi công lực như thế, quả thật cũng là hiếm lắm, nếu hôm nay ta giết mi quả thật đáng tiếc lắm... nhất là mi lại khôn linh như thế, chỉ cần mi chịu tâm phục, ta sẽ tha ngay chuyến này cho mi, nhưng từ nay trở đi mi phải theo ta đi giang hồ phiêu bạt khắp chân trời góc bể và tuyệt nhiên không được cưỡng lệnh của ta! Ngươi tính sao?
Nhưng chim ưng kêu một tiếng quá! hung hăng dữ tợn, chứng tỏ nó dã cự tuyệt điều kiện của Tả Pháp Thụ.
Tả Pháp Thụ tôn giả cả giận quát lên tiếng rằng:
- Đồ nghiệt súc chết toi! Mi cũng muốn ương ngạnh với ta sao. - Dứt lời vận sức sang ngay cây kiếm một cái, thân hình đồ sộ của chim ưng lập tức lung lay, máu tươi nơi đôi móng trảo càng ứa ra nhiều. Thấy vậy Thượng Quan Linh không sao còn chịu nổi được nữa, chàng cố dồn hết toàn sức của mình, quát vang lên một tiếng, đồng thời cố sức chém mạnh ra một kiếm.
Ánh bạch quang của cây Lệ thủy tinh kiếm nhoáng lên một đường trắng xóa, tuy cây kiếm nằm trong tay của một kẻ mất hết công lực như Thượng Quan Linh thật, nhưng oai lực của nó vẫn còn. Thế là bắt buộc Tả Pháp Thụ phải lo phân thân ra để đối phó, chim ưng nhân ngay cơ hội nhảy tọt ngay xuống đất, giương ngay đôi cánh khổng lồ, quạt ngay một luồng dực phong dữ dội. Nhờ ngọn kình lực của dực phong được quạt ra bất thình lình, nên khiến cho Tả Pháp Thụ bị loạng choạng lùi hẳn ra sau khá xa. Chim ưng lúc này dùng thân che cho Thượng Quan Linh, đồng thời nó cố xô đẩy Thượng Quan Linh rối rít, y như nó muốn Thượng Quan Linh mau chạy trốn ngay.
Thượng Quan Linh cũng lập tức hiểu ngay ý chim ưng, chàng vừa tính chạy bừa ngay về phía cửa động thạch, nhưng chim ưng bỗng lại kêu lên một tiếng, đưa ngay mỏ ra cắn ngay vạt áo của chàng kéo lùi nhanh lại.
Hình như không phải chạy lối đó, Thượng Quan Linh càng kỳ lạ, ngoài cửa đó ra, không lý trong động thất này còn đường khác để thoát sao? Trong lúc Tả Pháp Thụ lại bắt đầu nhào lên tiến đánh, chim ưng lại phải đứng ra nghênh chiến, nó cố giữ đoạn hậu cho Thượng Quan Linh, vừa chống đỡ nó vừa lo hậu vệ cho chàng, Thượng Quan Linh lùi một mạch đến tận cuối cùng của động thất, chàng thấy bức tường cản lại, bỗng quay nhanh mình lớn tiếng:
- Thần ưng ơi! Hết đường lùi rồi! Thôi thần ưng lo mau chạy đi! Đừng lo gì đến cho tôi nữa!
Nhưng thần ưng vẫn mặc kệ, thân hình đồ sộ của nó vẫn lo lùi dần về phía sau, khiến nỗi ép ngay Thượng Quan Linh dính sát người vào tường. Thượng Quan Linh bụng nghĩ: Thôi! Chắc chuyến này thế là xong đời, chim ưng chắc vì đã quá mệt nhọc nên nó đã không tỉnh trí, nếu nó còn ép thêm mình nữa, làm sao mình có thể chịu nổi thân hình bảy tám trăm cân của nó. Lấy công lực đâu ra để đỡ đây? Thế nào mình cũng bị nát ra như cám mất.
Sau thì không lối thoát, trước thì bị địch ráo riết, Thượng Quan Linh đã biết đến lúc sơn cùng thủy tận, chàng mủi lòng, nước mắt trào ra. Trong khi đó, chim ưng quay nhanh đầu lại nhìn, thình lình thân nó ép bừa vào.
Thượng Quan Linh bị ép bẹp ngay vào vách tường thạch thất, chàng thét lên một tiếng! Tiếp theo tiếng thét của Thượng Quan Linh là một tiếng bùng dữ dội vang lên. Kỳ tích đã hiện ra ngay, thì ra bức vách mà Thượng Quan Linh đang bị dồn ép ấy, lúc này đột nhiên bị nứt ra chẳng khác nào như một tấm gỗ ròn tan bị người không có công lực đánh vỡ ra một lỗ hổng to tướng vậy. Thượng Quan Linh như vừa tỉnh mộng, thì ra ngôi động thất này còn có một lối ra khác. Mắt thấy động thất trong đây là một đường ngầm dài tít, đôi bên vách động đều có đá lân tinh. Trong cơn nguy cấp chàng không còn suy nghĩ, co ngay giò chạy thục mạng. Phía sau thì một chim một người đang đuổi theo, nhưng con chim vẫn lo bổn phận cự địch, vừa đánh nó lùi dần. Khi Thượng Quan Linh chạy được hơn một trượng, quay đầu lại nhìn, Tả Pháp Thụ thấy mình chạy xa, y càng vung sức ra đánh tưng bừng, tiếng thét quát ầm ầm vang, may nhờ con chim ưng cố cản để duy trì tình trạng. Thượng Quan Linh cố chạy hết đường ngầm của thạch thất, khi tận cùng, thấy có một khoen tròn, chàng mở ngay, quả nhiên là cánh cửa của động thất. Chàng vội chạy ngay ra, nhưng nơi đây là một động thất nữa, cứ thế chàng liên miên chạy hết cửa này đến cửa nọ, và chạy vào một thạch thất. Thượng Quan Linh bỗng hiểu ngay, năm ngôi động thất này, tức là năm đáy trì của Đại Ngũ Trì đây, trước khi chàng gieo mình xuống trì, chàng nhớ rõ năm hồ ấy xếp thành thứ tự ngay ngắn, đầu đuôi ráp nối với nhau, nay các động thất dưới này lại liên tiếp nối liền với nhau, dù mình có chạy suốt đời cũng chỉ quanh quẩn hoài trong này mà thôi. Trong lòng Thượng Quan Linh bất giác hoảng lên, nhưng chàng vẫn cất bước chạy, đến tận cùng của một động thất bỗng chàng phát hiện có một cánh cửa hơi khác, khi mở ra thì không ngờ đây là một con đường ngầm dài. Thượng Quan Linh mừng, trong bụng nghĩ chắc đây mới là con đường thoát, ý niệm cầu sống lại nổi lên trong tư tưởng chàng, vội quay đầu lại lớn tiếng gọi:
- Thần ưng ơi! Mau mau lại đây! Đằng này có lối thoát rồi!
Chim ưng kêu lên mấy tiếng như trả lời, nhưng trong tiếng kêu ấy, hình như nó đã bị thương khá nhiều, nó vẫn vừa chống cự vừa lui. Khi Thượng Quan Linh thấy lông lá của chim ưng rối loạn tưng bừng, trên mình nó đã nhiều chỗ bị chảy máu, trong lòng đau khổ vô ngần, bèn lên tiếng:
- Thần ưng ơi? Mau mau trốn khỏi đường ngầm này đã. Đừng có lo cho Thượng Quan Linh này nữa! Mau trốn đi !
Chim ưng vẫn mặc, thình lình thân hình nó lùi nhanh lại, và hất mạnh ngay Thượng Quan Linh vào trong đường ngầm. Trong đây không còn đá lân tinh, một cảnh tối như bưng mắt. Thượng Quan Linh chỉ còn nước lần mò bước đi. Đi được một lúc, chàng cảm thấy phía sau hình như cuộc chiến giữa chim và người đã ngừng hẳn, chàng nghĩ chắc có lẽ vì quá tối không sao thấy nhau. Thế là hai người và một chim đành phải nối theo thứ tự là Thượng Quan Linh đi trước, kế đến là chim ưng, rồi chót là Tả Pháp Thụ. Cả ba lúc này đi dò dẫm trong đường hầm tối thui không khác nào những ông bốc sư đui mắt. Thượng Quan Linh tạm yên dạ, nhưng chàng ngấm ngầm mong ước sao cho chim ưng đừng bị thương quá nặng, ra khỏi ngay đường ngầm cứ bay ngay mà tháo thân, mặc dầu nó có cứu nổi mình thoát hay không, nhưng chỉ cầu sao cho chim ưng thoát khỏi thế kiếm lợi hại của Tả Pháp Thụ. Như thế Thượng Quan Linh mới thấy mãn nguyện trong lòng mình. Đường hầm tuy dài, nhưng cũng chỉ đâu được lối ba tàn nhang, thì ánh sáng đã lấp ló hiện, thế là bầu không khí tạm xả hơi nãy giờ bỗng phút chốc lại khẩn trương lên tột độ!
Chủ ý của Tả Pháp Thụ là chỉ nhắm vào Thượng Quan Linh, biết chàng đã mất hẳn công lực, dù có ra khỏi động hang này, cũng quyết không thể nào thoát được giờ đây cần nhất là phải đánh sao cho con chim ưng này hàng phục trước đã.
Quãng đường của đường ngầm hang động này sắp hết, Tả Pháp Thụ cũng chẳng ngại gì, y đã lo đến con chim sắp bay, nếu khi nó đã thoát khỏi hang, nhưng nếu nó thoát một mình thì không sao, nếu nó lại liều chết để cứu thằng tiểu tử Thượng Quan Linh thì thật là đáng ngại vô cùng.
Tả Pháp Thụ nghĩ vậy vừa lo vừa tức, lập tức mở ngay thế công liên miên, chiếm ngay phần ưu thế, mấy lần y tính phong tỏa hẳn chim ưng để bắt nó nhường lối, rồi sẽ nhảy tung theo bắt ngay Thượng Quan Linh, nhưng lần nào cũng gặp sức chống cự liều mạng của nó, khiến cho Tả Pháp Thụ không sao tiến hành theo ý muốn của mình được. Tiếng kêu quá! quá! liên hồi, âm thanh thê thảm và rùng rợn, và càng gần cửa động bao nhiêu lại càng khẩn trương bấy nhiêu, cuộc chiến kinh diễn vẫn tiếp tục hãi hùng. Thượng Quan Linh lúc này hồn kinh tán đởm, ỷ lại chim ưng cản đường tiến của địch, chàng càng vội tăng thêm tốc độ chạy ra ngoài cửa động, trong chớp nhoáng Thượng Quan Linh đã ra đến nơi có ánh sáng mặt trời.
Ra đến nơi, chàng biết mình vừa ra khỏi một cửa hang núi, chỉ thấy mặt trời trên đỉnh đầu, thì ra là ban ngày, khi nhìn kỹ vị trí mình đang đứng, thì ra là đỉnh của một ngọn núi, hình như rất hoang vu, nhưng không biết có phải một trong những ngọn núi của Phòng Sơn không? Nhưng chỉ thấy nơi của hang đây là một khúc quẹo của quả núi, xung quanh lại có bụi rậm um tùm vô cùng kín đáo. Trong lòng lo lắng sự an nguy của chim ưng, chàng bèn cất cao tiếng gọi:
- Thần ưng ơi! Mau ra đây!
Sức sáng ngoài đây rất mạnh. Thượng Quan Linh cảm thấy hoa mắt, không thể nào mở được. Đang lúc chàng đưa tay lên dụi mắt, ào một tiếng từ trong động vọt ra ngay một con chim ưng lớn. Thượng Quan Linh mừng rỡ. Chim ưng nhảy vọt đến ngay trước mặt Thượng Quan Linh ngồi bẹp mình ngay xuống, Thượng Quan Linh hiểu ngay ý nó leo nhanh lên ngay lưng chim ưng. Chàng chưa kịp ngồi vững, chim ưng đã kêu lên một tiếng thật lớn, tung hẳn thân mình nặng nề của nó rẽ làn không khí bay bỗng lên luôn, thế bay vô cùng mạnh, Thượng Quan Linh suýt bị rớt từ trên lưng của nó xuống, chàng vội bá chặt ngay lấy cổ nó. Trong lúc vừa rời khỏi mặt đất mới có vài thước ấy, thì Tả Pháp Thụ đã từ trong hang đuổi ngay ra đến ngoài, chỉ nghe y hét lên một tiếng, song chưởng cùng phát ra, một ngọn kình lực đánh ngay lên phía chim ưng và Thượng Quan Linh. Tả Pháp Thụ đã dồn tất cả những nỗi tức giận vào trong ngọn song chưởng này để đánh ra, oai lực dũng mãnh tuyệt luân. Thượng Quan Linh như cảm thấy lưng mình bị đá lớn đập phải, khí huyết trong ngực dội hẳn lên, khiến suýt phải buông tay té xuống, may nhờ chàng cố dùng hết tàn lực cố bá chặt lấy chim ưng, duy trì lại toàn thân của mình. Còn riêng phần chim ưng, sau khi bị một chưởng, chợt thân hình nó bỗng tụt dần ngay xuống, nó đã bị thương khá nặng về ngọn chưởng của Tả Pháp Thụ. Nhưng cũng chính ngay lúc này, chim ưng mang theo Thượng Quan Linh trên lưng, nó nhằm ngay đỉnh đầu của Tả Pháp Thụ bay ập xuống, khí thế vừa nhanh vừa dũng mãnh, hình như chim ưng đã ôm chí quyết liều chết chung với địch vậy. Thượng Quan Linh thấy vậy biết đã đến nước đường cùng, nhưng ác nỗi mình không còn công lực, mà vừa rồi lại bị một chưởng của Tả Pháp Thụ, nay thấy chim ưng liều mạng thí chết như thế, chàng đành nhắm chặt mắt lại không dám nhìn cảnh thê thảm sắp xảy ra.
Tả Pháp Thụ không ngờ con chim này lại dám thí xác đến như thế, dù sao y cũng không muốn liều chết làm gì, đành hoảng hồn nhảy tung ngay về sau tránh né. Nhưng chim ưng chỉ cốt dọa đối phương mà thôi, khi toàn thân khổng lồ của nó lao gần sát đỉnh đầu của Tả Pháp Thụ, thì thình lình nó lại ngóc nhanh đầu lên và cố tung mạnh cánh vụt bổng lên thật nhanh, và càng lúc càng cao tít lên... Thì ra chim ưng này cơ trí khôn lanh, nó đã phỉnh lừa được. Tả Pháp Thụ chỉ còn trơ mắt đứng ngó nó bay tít vào trong mây, nhưng trong lòng vẫn không cam tâm, vội dùng ngay đá làm ám khí vung tay đánh lên. Chỉ nghe một luồng cuồng phong xé không khí nhắm ngay về phía một chim một người đang bay trên cao. Tuy con chim khổng lồ đã bay trên một trượng, nhưng công lực của Tả Pháp Thụ không phải xoàng xĩnh gì, chỉ thấy ám khí bằng đá ấy đã nhanh như chớp điện, từ thủ pháp đến kình lực, đều đến nơi đến chốn, đương nhiên là đánh trúng ngay sau đuôi của chim ưng!
 
0
Hồi 057. Thất Thủ Bị Cầm
[/align]

Thượng Quan Linh đang mừng thầm mình thoát cảnh hiểm nghèo, bỗng chàng cảm thấy phía sau đuôi con chim ưng thình lình bị lắc lư mạnh, đồng thời kêu lên một tiếng quá bi thảm. Thượng Quan Linh thất kinh, biết ngay con chim ưng đáng kính đáng mến này đang bị trúng độc thủ của Tả Pháp Thụ, chắc nó lại bị thương thêm và đau khổ vô ngần. Thượng Quan Linh bất giác ứa nước mắt ra than rằng:
- Thần ưng ơi! Thần ưng! Nếu người đã bị thương nặng và khi đã kiệt sức cạn lực, cứ việc quăng thân xác ta xuống cho rồi. Dù cho Thượng Quan Linh ta có bị tan xương nát thịt chăng nữa ta cũng không nỡ lòng nào liên lụy đến người phải hy sinh vì ta.
Nhưng con chim ưng này quả là hùng tráng dũng võ vô ngần. Mặc dù mang vết thương trên mình, nhưng nó vẫn duy trì thế bay của mình, không hề thấy có triệu chứng gì nhào xuống.
Thượng Quan Linh cúi nhìn bên dưới, chàng cảm thấy mỗi lúc mỗi cao hẳn dần, ngọn núi dần dần nằm xa hẳn phía sau, nhưng vẫn còn thấy nhà sư Thiên Trúc Tả Pháp Thụ tôn giả đứng ngay nơi hang núi, giơ chân múa kiếm tru tréo chửi rủa lung tung.
Mặc cho tiếng chửi và ánh kiếm choáng chói vì ánh mặt trời phản chiếu. Thượng Quan Linh và chim ưng vẫn điềm nhiên thoát khỏi cảnh hổ huyệt hiểm nghèo. Thượng Quan Linh sung sướng cầm lòng không nổi, chàng ôm chặt lấy mình chim ưng lớn tiếng reo mừng lên:
- Thần ưng ơi! Thần ưng! Chúng ta đã bình an vô sự rồi. Ráng bay thêm một quãng nữa đi. Tả Pháp Thụ không sao đuổi kịp chúng mình rồi.
Tiếng chim ưng nhẹ kêu, âm thanh nó có vẻ thân mật, hình như nó cũng đang trả lời với Thượng Quan Linh, cũng mừng cho cuộc thoát hiểm này thành công. Thượng Quan Linh phấn khởi quá đỗi. Chàng ôm chặt lấy cổ chim ưng reo lên:
- Thần ưng ơi! Thần ưng! Ngươi thật là... thật là giỏi quá! Chúng mình quen biết nhau trong cảnh hoạn nạn, ra sống vào chết như thế, nguyện sao sau này chúng mình sẽ là bạn thiết với nhau, ngươi có bằng lòng chăng?
Chim ưng như mừng rỡ không kém, chỉ thấy nó gật đầu lia lịa. Thượng Quan Linh quá sung sướng, chàng nghĩ đến bình sinh trong đời mình, ngoài trừ mấy vị trưởng bối sư phụ sư bá ra và từ ngày xuất đạo giang hồ được quen vị hồng phấn tri kỷ nàng Liễu Mi ra, rồi lại quen sư huynh Hầu Hạo... Nay không ngờ mình lại được kết giao với một vị thần ưng tinh khôn thế này và đây cũng là một tình bạn ngoại hạng của chàng, một người bạn khác loài. Chàng sung sướng muôn ngần, chàng lẩm bẩm nói bên tai chim ưng rằng:
- Ưng huynh ơi! Hai chúng mình thành bạn tri kỷ, thì hãy vui lòng cho ta được gọi một tiếng ưng huynh vậy! Nhưng không biết hai chúng mình, thật ra ai lớn hơn ai? Riêng phần tôi năm nay độ tuổi mười chín xuân, chỉ thấy ưng huynh oai hùng lẫm liệt như vậy chắc tuổi phải lớn hơn Thượng Quan Linh chứ?
Chim ưng khẽ tiếng kêu và gật đầu, hình như nó đã ngầm ngầm chấp thuận việc xưng hô ưng huynh với nó .
Thượng Quan Linh cười rằng:
- Nếu vậy hay quá, từ nay trở đi, tôi sẽ gọi bằng ưng huynh vậy. Này ưng huynh ạ. Tôi còn hai người bạn thân nữa, một người là nam tên Hầu Hạo, còn một người là nữ, tên gọi Liễu Mi, sau này nếu gặp họ thế nào tôi cũng giới thiệu cho biết. Tin chắc họ sẽ quí mến ưng huynh lắm.
Chim ưng lúc này kêu lên những tiếng chí chóe nho nhỏ, hình như nó đang muốn biện bạch gì? Đương nhiên Thượng Quan Linh làm sao hiểu được tiếng của nó, chàng chỉ cười rằng:
- Xin lỗi ưng huynh vậy, quả thật là phiền phức, ưng huynh biết nghe tiếng của tiểu đệ, nhưng khốn nỗi tiểu đệ không biết nghe tiếng của ưng huynh, vậy phải chăng ý ưng huynh không muốn giao kết với họ?
Chim ưng lắc đầu Thượng Quan Linh lại hỏi:
- Nếu vậy! Chắc ưng huynh đã quen biết hai người này trước rồi chăng?
Ngoài sự bất ngờ của Thượng Quan Linh, chim ưng gật đầu.
- Thượng Quan Linh trong lòng lấy làm lạ. Sao Hầu Hạo và Liễu Mi lại quen được với chim ưng này kìa? Nhưng không biết chim ưng này gặp họ tại đâu?
Đương nhiên, sau khi thoát hiểm, vấn đề thứ nhất mà chàng trông ngóng là tin tức của thầy mình Gia Cát Dật, Liễu Mi, Hầu Hạo, và cả nàng em ruột của sư huynh là Đông Phương Đình. Chàng càng mong sao được gặp mặt mấy người này, nghĩ vậy chàng bèn vỗ nhẹ vào cổ của chim ưng nói:
- Ưng huynh ơi! Vậy nay họ ở đâu? Ưng huynh có thể đưa tiểu đệ lại gặp họ không?
Chim ưng gật đầu, nhưng ngay trong lúc này, Thượng Quan Linh phát giác ngay một việc, động tác của chim ưng bắt đầu trì độn hẳn. Chàng thất kinh trong lòng, biết chim ưng mang vết thương cùng mình bay một hồi như thế, nay muốn kiệt sức, mỏ chim đã phát ra những tiếng kêu bi thảm, hai cánh lảo đảo muốn nhào xuống.
Thượng Quan Linh lên tiếng kêu rằng:
- Ưng huynh ơi! Chúng mình đã thoát xa lắm rồi, nay không còn ngại gì lão Tả Pháp Thụ đuổi tới nữa, nay ưng huynh bị thương nặng như thế, hay là chúng ta hạ ngay xuống đất đã, để tiểu đệ lo băng bó các vết thương cho ưng huynh, nghỉ ngơi cho lại sức rồi chúng mình bay nữa.
Chim ưng chỉ khẽ kêu, hình như nó không chịu đậu xuống, vẫn cố gắng tiếp tục bay. Lúc này đã quá giờ ngọ, chim ưng vẫn bay, nhưng rồi nó cũng đuối sức hẳn, miệng nó khẽ kêu í é và dần dà hạ thấp xuống.
Thượng Quan Linh nhìn xuống núi thấy cạnh bên núi, có một khoảng đất trống cỏ mướt, cạnh đó lại có suối nước, thanh tịnh và vắng bóng người, vội hối ngay chim ưng đáp xuống ngay đó . Chim ưng từ từ hạ cánh đậu xuống, chờ cho Thượng Quan Linh nhảy xuống xong, chỉ thấy nó hả mỏ thở phì phào như mệt nhọc lắm. Và nó từ từ nằm bẹp ngay xuống. Thượng Quan Linh chỉ thấy lông lá tơi bời, trên thân, bộ đuôi, cặp đùi và nhiều chỗ khác, đều có máu me lênh láng, chỉ thấy toàn thân chim ưng nằm thở thoi thóp. Thượng Quan Linh động lòng bi phẫn của mình, chàng khóc sướt mướt rằng:
- Ưng huynh ơi! Huynh hãy chịu khó nằm nghỉ ở đây chờ tiểu đệ đi lấy nước về cho ưng huynh. - Nói xong, chàng hấp tấp chạy ra suối, dùng ngay một lóng tre múc ngay nước suối đến cho chim ưng uống.
Nhưng chim ưng hình như khát quá, với chút nước ít oi như thế, làm sao đã khát được, nó thấy suối cách đó không xa, nó cố gắng bò và lăn mình lại gần suối thò ngay cổ xuống uống một hơi. Hình như nó đã mệt nhừ, sau khi uống xong nước suối, nó nhắm luôn mắt lại và hả mỏ thở.
Thượng Quan Linh vội dùng ngay Lệ thủy tinh kiếm cắt ngay bao phục xuống, và dùng ngay nước suối lo rửa và trị các vết thương cho chim ưng. Chỉ thấy dưới lớp lông, vết thương lung tung, mà nay lại không có thuốc gì chỉ nhớ hồi thầy mình là Gia Cát Dật, từng dạy mình mấy dị thảo dược, chàng bèn lập tức đi hái lá rồi bèn đâm chung với đất rừng, xong rịt ngay vào vết thương để cầm máu lại, và nơi bị thương nặng nhất là phía sau đuôi của chim ưng, lông đuôi bị cụp xuống, da thịt bấy bá. Thượng Quan Linh thương xót vô cùng.
Sau khi rịt xong thuốc rừng, máu được cầm ngay. Nãy giờ chim ưng cố chịu đau để cho Thượng Quan Linh chăm sóc vết thương cho mình, sau khi băng bó hắn hòi, nó mới mở mắt nhìn Thượng Quan Linh, nó khẽ há í é như ngầm cám ơn sự chăm lo của Thượng Quan Linh.
Trời đã gần buổi hoàng hôn, Thượng Quan Linh bèn lên tiếng dặn rằng:
- Ưng huynh hãy chịu khó nằm nghỉ ở đây nhé, để tiểu đệ lo đi kiếm chút gì về lót dạ cho đỡ đói.
Chim ưng nghe nói bèn há miệng ra dấu, Thượng Quan Linh hỏi:
- Ưng huynh muốn uống nước nữa sao?
Thấy chim lắc đầu, nhưng nó vẫn còn thèm khát lắm. Thượng Quan Linh bèn hỏi đùa rằng:
- Hà! Hà? Không lẽ ưng huynh lại đòi uống rượu sao?
Quái lạ! Chim ưng nghe xong gật đầu lia lịa, nó vui mừng kêu lên một tiếng khoái trí. Ngay khi đó nó liền nhắm ngay mắt lại như yên trí sẽ có rượu uống vậy. Thượng Quan Linh không muốn làm buồn lòng chim ưng, nhưng một nơi hoang vắng như thế này, đào đâu ra có rượu đây? Nhưng chàng cũng thả bước chân đi được một chập, bỗng thấy đằng xa xa có khói tỏa.
Thượng Quan Linh vội tìm lên một địa thế cao đứng nhìn, may quá, cách bờ suối nước không xa, chàng phát giác có một ngôi nhà tranh, Thượng Quan Linh vội tăng nhanh bước đi, khi đến gần, chàng bất giác đâm ra băn khoăn lưỡng lự. Thầm nghĩ: công lực của mình chưa hồi phục, sau khi thay mặc bộ đồ tăng y này, trong túi không có lấy đồng chinh dính túi, vậy làm sao mà mua được rượu. Cảnh chiều tà trước mắt chàng quả là nên thơ hữu tình. Chỉ thấy ba ngôi nhà tranh nho nhỏ, trước là một sân xinh xinh, thóc lúa cao thành đống lù lù, gà vịt cả đàn xúm quanh, chó chạy tung tăng, dăm ba trẻ nít nô đùa. Quả là một bức tranh linh động. Thậm chí Thượng Quan Linh còn ngửi thấy mùi thóc lúa của đồng quê. Chàng lại ngừng bước. Cảnh nên thơ này hình như chàng đã từng gặp ở đâu một lần? Quen mắt lắm! Sao mình không nhớ kìa? Thượng Quan Linh cố suy nghĩ, chợt chàng nhớ ra. Thôi đúng rồi, đó là một cảnh ảo mà khi chàng cùng đi bên cạnh người yêu Liễu Mi đã bàn tới, một mộng đẹp và sống thần tiên của hai người mong ước. Thượng Quan Linh nghĩ và nghĩ... Chàng bất giác mỉm cười với ý nghĩ mơ hồ và viển vông của mình.
Chàng quay về với hiện thực của mình, cất bước đến ngay ngôi nhà tranh ấy. Chàng gặp trước tiên là đám trẻ nô đùa, vì lối ăn mặc của Thượng Quan Linh lúc này toàn là đồ của Hữu Duy Na tôn giả, từ mũ, áo cà sa, giày và tất (vớ) hầu hết lại được thêu chỉ kim tuyến và những chữ Phạn, và dưới chiếc cà sa chàng đã cắt ra để cuốn bó vết thương của chim ưng, để lộ hẳn áo bên trong ra, và trong suốt hai mươi ngày ấy, râu tóc Thượng Quan Linh mọc lung tung, và một ngọn kiếm tòng teng bên cạnh mình, hình dáng của Thượng Quan Linh lúc này trông quái gở vô cùng, tăng chẳng tăng, mà đạo không ra hồn đạo, tục cũng chẳng ra tục.
Đám trẻ nhỏ sau khi thấy người ăn mặc dị hợm như một quái nhân trên trời rơi xuống ấy, cả đám kinh rú lên chạy tọt hết vào trong nhà tranh. Chó bắt đầu bu quanh chàng sủa dữ dội, Thượng Quan Linh lúc này chợt như tỉnh cơn mộng, mùi thơm cơm rượu trong nhà tỏa ra, khiến chàng cảm thấy đói bụng thêm, đồng thời chàng nghĩ đến rượu của chim ưng, thì ra trong ngôi nhà tranh đây đã có rượu. Thời kỳ còn ở trong động thất, sau khi Thượng Quan Linh ăn Tuyết bi tiên hoa, lập tức cảm thấy hết đói, đương nhiên là công hiệu của Tiên hoa nhưng một nữa cũng nhờ tác dụng quái dị của động thất, nay ra khỏi động, chàng đần dần cảm thấy mình thèm ăn uống như người thường. Lúc này chàng đứng cố đợi, chờ cho người trong nhà bước ra, chàng sẽ hạ mình giả làm người phiên tăng, lỡ bước đi đến đây, cầu xin bố thí.
Chỉ nghe trong ngôi nhà tranh ấy đang lục đục rối loạn rồi cửa của gian nhà giữa hé mở, có ba người bước ra. Thượng Quan Linh chưa kịp nhìn rõ vội chấp chưởng cung thân xuống hỏi ngay. Nhưng khi ngẩn đầu lên, Thượng Quan Linh bất giác kinh ngạc, thì ra ba người này không có vẻ gì của những tá điền miền quê cả cách thức ăn mặc họ theo lối tráng sĩ thì đúng hơn, mình mang binh đao, trông người nào cũng khỏe mạnh vạm vỡ, hiển nhiên là ba nhân vật trong giang hồ. Nhưng sao họ lại đến một nơi hoang vắng như đây kìa? Mà trông có vẻ là chủ nhân ngôi nhà đây là khác.
Trái lại, trong mắt Thượng Quan Linh, chàng cũng nhận ra ba người này cũng đang kinh ngạc về sự xuất hiện của mình ở đây. Nhưng lạ cái là trong sự kinh ngạc ấy, họ còn có vẻ hớn hở vui mừng là khác. Thượng Quan Linh đoán sắc mặt họ, trong lòng đâm ra nghi ngại, không hiểu sao họ lại có nét thần sắc lạ lùng đến thế? Ba người này thuộc về môn phái nào trong giang hồ? Một trong ba người ấy lập tức đưa mắt cho hai người kia, thình lình bước ngay lên cất tiếng hỏi ngay Thượng Quan Linh rằng:
- Kính đại sư! Nếu tôi không lầm, thì hình như ngài không phải là vị tăng lữ của miền Trung Thổ đây?
- Thượng Quan Linh đành phải nói dối, chàng bèn chấp chưởng cung thân rằng:
- Kính chào ba thí chủ, tiểu tăng tuy là người gốc miền Trung Thổ, nhưng quả thật gần đây mới từ Thiên Trúc về đây?
Sau câu nói của Thượng Quan Linh, chỉ thấy ba đại hán lập tức tươi cười vui vẻ, nhưng một trong ba đại hán này lại cất tiếng cười dữ dội.
Khiến cho Thượng Quan Linh cảm thấy vô cùng lạ trống ngực đánh thình thịch. Tên đại hán đứng giữa cười xong quay lại nhìn hai đồng bạn của mình rồi noi:
- Trần hiền đệ và Vương hiền đệ, thế này mới đúng là câu Hữu duyên thiên lý năng tương ngộ nhé! Ha Ha Ha! . . .
Tên đại hán bên trái lập tức tiếp lời rằng:
- Đây toàn nhờ hồng phúc của Kim đại ca nên mới may mắn gặp được vị tăng nhân của miền Thiên Trúc này, chuyến này về, thế nào bang chủ lại không ban thưởng cho xứng đáng.
Tên đại hán được gọi là Kim đại ca ấy nhoẻn miệng cười rằng:
- Ha! Ha! Ha... Trần hiền đệ và Vương hiền đệ, chuyến này ba anh em chúng mình may mắn quả là không thể nào tả được? Thế mới đúng với câu “Có nạn cùng đương, có phúc cùng hưởng” chứ! May mắn khiến cho bang chủ vừa ý, ba anh em chúng mình lo gì mà không được khao thưởng cho xứng đáng.
Ba đại hán bàn nói cười thích thú như thế, khiến cho Thượng Quan Linh thất kinh trong lòng, tính bỏ đi nhưng lại không chịu cam tâm về tay không cho đành, nghĩ vậy chàng bèn chấp chưởng rằng:
- Thưa quí vị thí chủ, tiểu tăng còn có bạn bị ốm nặng trên núi gần đây. Mong thí chủ nhủ lòng thương bố thí chút cơm rượu để cứu mạng, được vậy tiểu tăng đội ơn vô cùng.
Tên đại hán được gọi Kim đại ca mặt lộ vẻ vui tươi rằng:
- Được! Được! Được xin đại sứ cứ yên trí, đại sư muốn gì cũng được. ấy chết! Quên mời đại sư vào trong tệ xá ngồi nghỉ cái đã rồi chúng mình trò chuyện chút cho vui.
Dứt lời, cả ba đại hán lo áp ngay Thượng Quan Linh vào trong nhà trưng bày rất đơn giản, nhưng trên bàn thì la liệt rượu thịt, một cặp vợ chồng nông dân, tuổi tác đã cao, nhưng đối với ba đại hán này thì có vẻ cung kính lắm, nay thấy Thượng Quan Linh ăn mặc kỳ dị như thế, họ lộ vẻ ngạc nhiên vô cùng. Kim đại ca lo mời khách vào bàn, hai vợ chồng lão nông phu lo thêm chén bát, Thượng Quan Linh thấy trên bàn có bình rượu lớn, nghĩ ngay đó là món thích nhất của ưng huynh, làm sao xin họ cho để mau mau đem về cho chim ưng, chàng rối lên khi nghĩ đến chim ưng đang quằn quại, chờ đợi mình đem rượu về. Chàng không chịu nổi cảnh chờ đợi nữa. Vừa tính mở miệng, nhưng Kim đại ca đã cướp quyền ưu tiên lên tiếng rằng:
- Tôi xin tự giới thiệu với đại sư, tôi họ Kim tên Hổ còn vị này là Trần Khôi hiền đệ, và vị này là Vương Đại Phát hiền đệ, vậy dám thỉnh giáo pháp hiệu của đại sư xưng hô ra sao?
Thượng Quan Linh khai bừa một tên:
- Tiểu tăng Hằng Nguyệt, không dám quấy quả nhã hứng của quí vị thí chủ, nay tiểu tăng chỉ xin quí vị ban cho tiểu tăng hũ rượu ở trên bàn đây để tiểu tăng còn lo đi cứu mạng bạn, được vậy công đức quí vị thật là vô lượng.
Tên đại hán họ Vương lẩm bẩm tự nhủ:
- Xưa nay tôi chưa hề nghe nói người xuất gia mà lại nghiện rượu như vậy.
Thượng Quan Linh bị lộ tẩy nói dối, bất giác mặt đỏ lên. May mà tên đại hán Kim Hổ đã gắt ngay rằng:
- Đại Phát! Hiền đệ đâu có biết gì? Hằng Nguyệt đại sư đây người ta đâu phải những người tu theo lối Trung Thổ của chúng mình, đương nhiên phong tục khác hẳn, hiền đệ chớ nên mất lòng đại sư mà đắc tội đường đột.
Thượng Quan Linh nghe vậy, khiêm tốn tạ ơn, chàng nói:
- Mong quí vị thí chủ thông cảm cho, bạn tiểu tăng còn đang mắc bệnh nặng, tiểu tăng không thể chần chờ ở đây mãi được.
Kim Hổ vội rằng:
- Đáng chết! Đáng chết... Vậy chắc bạn của đại sư cũng là một vị cao tăng miền Thiên Trúc! Đối với những vị cao tăng miền Tây Vực, anh em chúng tôi vô cùng kính trọng, kính xin đại sư cứ an tâm tọa đây và chỉ cần dại sư cho biết rõ vị trí hiện nay của vị bạn quí ở đâu? Kim Hổ này lập tức cho Trần hiền đệ và Vương hiền đệ đi đón ngay về.
Thượng Quan Linh vội chối từ ngay lòng tốt của Kim Hổ, bụng chàng nghĩ, ưng huynh khổng lồ của mình đâu có thể đến đây thế được. Nghĩ vậy chàng đứng ngay dậy cảm ơn, và đưa tay xách ngay bầu rượu trên bàn tính cáo biệt đi ngay.
Kim Hổ vội ngăn ngay lại rằng:
- Kính thưa Hằng Nguyệt đại sư, xin ngài cứ tin cậy chúng tôi, nếu bạn ngài mắc bệnh, chúng tôi có thể lo chữa chạy ngay, như thế có gì bất tiện đâu. Nhưng sao đại sư lại khăng khăng từ chối mỹ ý của chúng tôi như thế.
Thượng Quan Linh cuống lên, lúng túng rằng:
- Bạn của tôi... khổ quá! Nào ba vị thí chủ đâu có rõ... Bạn tôi vốn là... là... vốn là không phải loài người!...
Ba đại hán nghe nói như vậy giật mình hết hồn vía!
Kim Hổ hỏi rằng:
- Nếu không phải loài người thì loài gì?
- Là một loài chim ưng khổng lồ . - Thượng Quan Linh trả lời xong xách luôn bầu rượu bước đi.
Kim Hổ đưa mắt ra dấu, Trần Khôi và Vương Đại Phát nhảy tung ngay ra chặn ngay lối đi của Thượng Quan Linh lại.
Thượng Quan Linh hoảng lên rằng:
- Ba vị thí chủ muốn chỉ giáo gì?
Kim Hổ cười rằng:
- Kính thưa đại sư! Cũng chẳng giấu gì ngài, mục đích ba anh em chúng tôi đến đây là cốt để tìm cho ra một nhà tăng xứ Thiên Trúc, không ngờ nay trời xui thần khiến khéo léo sao mới gặp ngài tại đây... Bởi vậy nên đâu có thể để ngài ra đi được? Nay biết bạn của ngài là loài chim ưng mà không phải là tăng nhân của Xứ Thiên Trúc, vậy chúng tôi khỏi phải phiền phức mất thêm thì giờ trông nom cho nó làm gì. Vậy xin đại sư hãy vui lòng theo ngay chúng tôi về. Miễn sao ngài đừng có chống cự hay phản kháng, chúng tôi cam đoan sẽ có những sự hữu ích cho ngài.
Thượng Quan Linh quýnh lên, chàng tính đoạt đường để chạy.
Trần Khôi, Vương Đại Phát đưa nhanh tay xuống rờ chuôi kiếm soạt! soạt hai tiếng vang lên, song kiếm của hai người chặn luôn lối thoát của Thượng Quan Linh.
Lúc này Thượng Quan Linh bực mình vì công lực của mình đã bị mất, nếu thường ngày, đám tay chân quèn này đâu có nghĩa lý gì với chàng. Nhưng đáng hận trong lúc này công lực lại mất hết, yếu đến nỗi thua cả người phàm thường, chẳng khác nào như kẻ mang bệnh hoạn trong người, tha hồ mặc sức cho người ta ăn hiếp.
Thượng Quan Linh đâu chịu cam tâm, chàng rút phắt ngay cây Lệ thủy tinh kiếm ra, tay bầu rượu, tay xách kiếm để mở đường đi, ánh kiếm vung lên một đường bạch quang, Trần Khôi và Vương Phát vội giơ ngay kiếm lên đỡ.
Cheng leng! một tiếng vang lên. Binh khí của hai người đều đứt ngang hết, cả hai xanh mặt tái mày, hai ống quần của Vương Đại Phát ướt sũng ngay vì vãi nước tiểu, vội cố né tránh. Nhưng ngay lúc ấy thì Kim Hổ lén lại phía sau, giang ngay hai tay ôm ghì lấy Thượng Quan Linh. Lẽ đương nhiên Kim Hổ đã dồn hết lực trong người ra để khóa chặt đối phương. Thượng Quan Linh lúc này chỉ cảm thấy toàn thân mình như đang bị loài trăn siết vậy. Không sao cự lại nổi. Toàn thân mềm như bún, thanh Lệ thủy tinh kiếm rớt ngay xuống đất.
Lúc này Kim Hổ mới hống hách quát tháo nhắng lên với hai tên đại hán:
- Rõ hai thằng toi cơm bị thịt. Còn không nhặt ngay kiếm và lấy dây trói nó sao mà đứng ì cả đó?
Nghe tiếng quát tháo của Kim Hổ, Trần Khôi và Vương Đại Phát mới hoàn hồn tỉnh vía lại, hai người chia nhau lo việc, đứa lo lượm kiếm, kẻ chạy đi lấy dây. Chẳng mấy chốc, Thượng Quan Linh bị trói như đòn bánh tét.
Bực mình! Tức giận. Lo quýnh và cộng thêm sự rối trí, nên đã khiến cho Thượng Quan Linh ngất đi. Tai chàng vẫn lơ mơ còn nghe tiếng cười vui mừng của ba người, nhất là tên Kim Hổ, bô bô chê bai hai đàn em sợ chết và vô dụng trước địch thủ. Lẽ đương nhiên Trần Khôi và Vương Đại Phát cố tâng bốc vị đàn anh của mình nào võ nghệ siêu quần, cơ trí tài ba, đảm lược kinh thiên... khiến cho tên Kim Hổ khoái chí cười ngất ngưởng trong cuộc nhậu say sưa để tự thưởng chiến công cho mình.
Đêm đã khuya, tiếng tên Kim Hổ lè nhè rằng:
- Chuyến này Kim Hổ ta đã gặp vận may rồi. Ông bà ta đã linh thiêng phù hộ cho ta. Không những đã bắt được nhà sư bên Thiên Trúc mà lại còn được cây bảo kiếm, chuyến này đem dâng lên, thế nào lão bang chủ chẳng mãn ý hài lòng. . . ừ! Hự! . . . . . . Nhưng ta không muốn bang chủ thưởng tiền cho ta, ta chỉ muốn, chỉ muốn...
Trần Khôi như rõ thâm ý của Kim Hổ, hắn vội đỡ lời rằng:
- Đại ca! Em biết rõ ý Kim đại ca lắm. Kim đại ca chỉ muốn đại cô nương để ý đến đại ca chứ gì. Và làm sao thu ngay đại ca vào làm thị vệ cho đại cô nương. Có đúng thế không nào?
Tên Kim Hổ nhoẻn miệng híp mắt cười bắn cả nước ra rằng:
- Trần hiền đệ! Em chẳng khác nào như loài giun sán trong bụng của ta cả. Biết rõ cả đến tim đen của ta đến thế thì thôi... Nói thật ra, quả thật anh có ý như thế, một người đẹp như đại cô nương như thế, nếu nàng chịu để ý đến Kim Hổ ta, dẫu anh có chết cũng bằng lòng ngay.
Vương Đại Phát đứng cạnh lạnh lùng rằng:
- Đại cô nương có gì đáng quí đâu. Nàng chẳng mỗi ngày mỗi thay đổi một đàn ông sao? Bất luận người trong cốc hay ngoài cốc, miễn sao kẻ ấy phải trẻ và đẹp trai, được thế muốn gần nàng ta không khó gì, nhưng có một điều là ai cũng yêu nàng trong sự sợ hãi và khủng hoảng của tinh thần, khi nàng hiền như trừu non, nhưng khi nàng nổi cơn oai lên, quả là đại ma vương giết người không chớp mắt. Vô phúc cho anh nào khi gần nàng mà khiến cho nàng thất vọng, lập tức chiếc đầu dính trên thân bị dọn ngay bằng cách lăn lóc dưới đất.
Trần Khôi cũng phụ họa theo rằng:
- Lão Vương nói đúng lắm. Chính tôi cũng cảm thấy đại cô nương là người đáng sợ lắm. So với nhị cô nương quả là một trời một vực, nhị cô nương không những vừa đẹp lại vừa thông minh, võ công thì khỏi chê, thanh danh lại trong sạch, thật là một người đẹp thập toàn thập mỹ trong thời gian này. Ai thấy cũng phải yêu thích và nể nang.
Kim Hổ gắt lên rằng:
- Này Trần Khôi! Chớ có mơ mộng hão như thế. Nhị cô nương người ta làm sao đem so bì với đại cô nương được. Dẫu cho mặt trời mọc từ hướng Tây lên đi nữa, đời nào nhị cô nương lại đi ngó ngàng đến những hạng người như bọn mình đây. Đối với nhị cô nương, ta quả thật không dám yêu liều như ngươi đâu. Trong lòng ta chỉ biết nể nang mà thôi.
Trần Khôi rằng:
- Đại ca! Em xin bày cho anh một cách, hễ mà khi đại cô nương đã để ý đến anh, và chừng nào anh ôm được người đẹp trong lòng mình, Anh cứ việc tưởng tượng đó là nhị cô nương là yêu rồi:.. Lại nữa chị em họ vốn giống nhau như hai giọt nước. Có gì khác đâu?
Vương Đại Phát cũng lên tiếng rằng:
- Đúng! Đúng! Đúng! Đại ca ạ! Nếu đại ca quả thật có vận may như thế, thật là đáng mừng cho đại ca lắm. Vì em nghe đồn rằng: Đại cô nương lợi hại lắm, tuy đêm nào nàng cũng có bạn trai chung gối, nhưng nàng có phương pháp bí mật là luôn luôn khiến người ta nghĩ rằng nàng vẫn còn tân. Chuyện này đại ca lấy làm lạ không?
Kim Hổ nghe nói vậy chỉ nuốt khan nước miếng, nhưng hắn vội đưa tay lên xua lia lịa rằng:
- Thôi im ngay! Im ngay! Nghe khó chịu quá! À này, Vương hiền đệ, hãy ra thăm chừng vị sư Thiên Trúc ấy, cũng nên cho y ăn uống tí gì, nếu y bị đói, lỡ nói với bang chủ, tội đó không phải đùa đâu nhá?
Lúc này, Thượng Quan Linh đã hôn mê ngủ mất! Nhưng Trần Khôi và Vương Đại Phát cố mớm cho chàng ăn, Thượng Quan Linh cũng đành nuốt cho qua loa.
Đêm đó, Thượng Quan Linh đành phải ngủ lại ngôi nhà tranh, ba người lo trách nhiệm canh chừng Thượng Quan Linh.
Khí hậu càng lạnh dần khi về khuya, Thượng Quan Linh bị trói chặt, phần lại có người canh chừng bên cạnh, nghĩ đến chim ưng ngoài khu núi, vừa bị thương vừa đói không biết sống chết ra sao? Nay mình bị lỡ bước như thế này, nếu vào ngày thường xưa kia, đối với những dây thừng lăng nhăng này, và mấy tên hạng tứ, ngũ lưu như thế, làm gì mà uy hiếp nổi mình? Nhưng bây giờ, rõ đúng là cá chậu chim lồng! Gió đêm trường thoảng từng cơn, Thượng Quan Linh thấy buồn thảm thê lương khi nghĩ đến thần ưng, chàng không sao chớp mắt được, hai mắt cứ thao láo thức suốt canh trường.
Khi trời sáng, ba người lo áp Thượng Quan Linh lên ngựa khi đến quan lộ, không biết ba người đã từ đâu tìm ra một cỗ xe lừa, họ khiêng ngay Thượng Quan Linh vào xe, rồi hấp tấp khởi trình lên đường, Thượng Quan Linh cũng chẳng biết thân mình đang ở địa phận nào, nhưng những phong cảnh và thời tiết lướt ngang qua cửa sổ của xe, chàng đoán ra mình đang đi từ hướng Nam ngược Bắc.
Suốt dọc đường, ba người đều đối đãi tử tế với Thượng Quan Linh, những khi đến chỗ quan lộ đông người, sợ chàng lên tiếng gọi cứu, nên luôn luôn có người dí đao vào ngực chàng để canh chừng mọi biến đổi thình lình, tối đến, Thượng Quan Linh phải ngủ trong xe, có khi khởi trình cả về đêm. Nhưng vấn đề ăn uống của Thượng Quan Linh, ba người đều lo chu đáo tươm tất, và toàn là những thức ăn ngon, hình như ba người chỉ sợ mình tiếp đãi không đến nơi đến chốn vậy Cứ thế, cuộc hành trình ròng rã được tám chín ngày, đến một chiều hoàng hôn nọ, xe bắt đầu chậm lại hình như đã đến nơi mà ba người đã dự tính.
Thượng Quan Linh muốn biết đây là đâu, nhưng ác nỗi rèm xe bị buông kín mít, không làm sao thấy nỗi cảnh sắc bên ngoài. Tay chân vẫn bị trói. Chàng chỉ nghe bên ngoài tiếng người ồn ào nhộn nhịp, hình như rất nhiều người lại hoan nghênh thì phải, và nghe tiếng Kim Hổ nói gì không rõ, nhưng khi âm thanh của y chấm dứt thì những tràng pháo tay vang lên như sấm rền, tiếng hoan hô không dứt. Thượng Quan Linh bàng hoàng không hiểu là chuyện gì, chàng đoán biết sơ là chắc họ đã coi mình đây là loại vật quí báu chăng? Bắt mình đến đây, rồi thiên hạ hoan hô ăn mừng, ý nghĩa gì kìa?
Bỗng có người lớn tiếng rằng:
- Bang chủ giá lâm!... - Âm thanh vô cùng trịnh trọng.
Mọi tiếng ồn ào mất hết! Tứ bề im phăng phắc!
Thượng Quan Linh nghĩ thầm, không biết bang phái nào trong võ lâm đây? Chàng nghe rõ tiếng Kim Hổ bẩm rõ tự sự, tiếp đó nghe một giọng già nua lên tiếng rằng:
- Kim Hổ! Công lao chuyến này của ngươi không nhỏ. Còn Trần Khôi và Vương Đại Phát cũng có công lao, nay hãy về nghỉ cho khỏe đã, mai đây ta sẽ có trọng thưởng ban cho.
Âm thanh hùng dũng, chứng tỏ nội lực của người này đã đến mức tuyệt đỉnh, chỉ nghe ba tên vâng lệnh lui ngay.
Cũng trong lúc đó, một giọng con gái vang lên rằng:
- Thưa cha! Cứ giao ngay vị tăng nhân xứ Thiên Trúc này để con lo liệu cho. Con sẽ có cách bắt hắn phải phục tùng.
Thượng Quan Linh cảm thấy âm thanh này quen lắm, chính là tiếng nói của nàng Liễu Mi, chàng vừa hoảng vừa mừng.
Lại nghe tiếng người già, chắc là thân phụ của Liễu Mi, tức Thanh Thông bang chủ Liễu Khải. Chỉ nghe tiếng người cười ha hả rằng:
- Con gái cưng của cha! Vị tăng nhân Thiên Trúc này sẽ làm việc cho cha, vậy con muốn giữ người ta làm gì. Bộ con gái muốn đùa vui với cha hả. Dứt lời lại một tiếng cười hiền hòa nổi lên.
Tiếng Liễu Mi làm nũng với cha già rằng:
- Ứ! . Cha kỳ quá!... Con tính giúp sức cho cha, nếu cha giao cho con lo liệu, thế nào con cũng có cách khuyên hắn giải thích thiên văn tự trên cây Tiểu Đoạt Hồn Kỳ ấy. Như vậy không tiện lợi hơn cha miễn ép người ta sao? Nay cha đã trách con phá rầy... Con không biết!... Cha đền danh dự cho con... Con không biết!...
Thượng Quan Linh bây giờ mới vỡ lẽ, thì ra mãi đến nay, Thanh Thông Bang hội vẫn chưa khám phá ra những ý nghĩa của mấy chữ trên Tiểu Đoạt Hồn Kỳ, và họ đã bủa lười để bắt một vị tăng nhân của miền Thiên Trúc để về giảng giải, nhưng nào rủi ro cho họ mà cũng xui cả mình như thế này, Thượng Quan Linh vừa bực vừa tức cười, nhưng chàng như kẻ ngậm phải bồ hòn, không dám hé miệng kêu, càng cảm thấy thẹn lòng.
Người ta đồn rằng Thanh Thông bang chủ rất nuông chiều con gái, bất luận việc gì cũng chiều theo hai tiểu thư của mình, nay nghe vậy quả nhiên không sai, chuyến này chỉ nghe Liễu lão bang chủ quay trở lại nói như năn nỉ với con gái của mình rằng:
- È! Con gái cha ngoan lắm! Cha nghe ý con vậy! Thôi nín đi! Nín đi!... Cha đã trách nhầm con gái! Thôi cha giao tăng nhân ấy cho con! À! Cả cây kiếm báu áy cha cũng giao luôn cho con đấy! Như thế con bằng lòng rồi chứ?
Tiếng Liễu Mi phì cười, Thượng Quan Linh tuy không thấy mặt Liễu Mi trong lúc này, nhưng chàng cũng hình dung rõ được bộ mặt nghịch ngợm của người yêu trong lòng không khỏi thích thú lây. Nhưng chàng lại nổi lên một niềm băn khoăn buồn rầu. Sao Liễu Mi lại có thể vui vẻ hồn nhiên như thế! Không lý nàng quên mất mình rồi sao? Hay nàng lại tìm được nguồn vui mới khác trong Thanh Thông Hội rồi? Thượng Quan Linh càng nghĩ càng buồn rầu. Chàng thở dài. Nếu quả thật Liễu Mi đã thay đổi lòng? Tốt hơn hết là mình không nên gặp lại nàng làm gì. Nay công lực chưa khôi phục, khiến nỗi phải chịu bao tủi nhục thế này, thà chết cho người ta khỏi chê cười.
Đang lúc chàng suy nghĩ miên man, bổng rèm xe bị người ta vén lên, Thượng Quan Linh chỉ cảm thấy một bàn tay mềm mại đỡ thân mình lên. Trong cảnh chập choạng, Thượng Quan Linh bị đặt lên một chiếc sàn êm ái và được khiêng ngay vào nhà, chàng nhắm mắt vờ như kẻ hôn mê, chàng hé mắt nhìn lén xung quanh. Ngoài trừ một số thủ hạ của bang hội ra, có cả một đám thị nữ yểu điệu, nhưng trong đám người này có hai người xuất sắc, một người tóc trắng chải thành búi trên đầu, áo màu vàng sậm và có bông chữ thọ, Thượng Quan Linh biết ngay đây là vị bang chủ Thanh Thông Hội Liễu Khải. Một nữa là vị Hồng y thiếu nữ, tuy trong cảnh trời nhá nhem tối ấy, Thượng Quan Linh cũng nhận ra được nét cười và tướng mạo ấy, không phải Liễu Mi thì còn ai vào đó nữa?
Ồ! Đời này thay đổi chóng thật! Sao nàng có thể biến đổi nhanh thế? Xưa kia thích ăn mặc đồ trắng như tuyết, nay lại mặc màu hồng như vậy? Mới cách nhau có gần tháng trời, dẫu cho nàng không biết mình gieo mình tự tử đi nữa, bộ nàng không hề nhớ hay lo lắng đến tin tức của mình hay sao? Trái lại, nàng vần vui hồn nhiên như thế, không có vẻ gì bi ai cả. Thế là Thượng Quan Linh cảm thấy những ý niệm tương tư nhớ thương của mình trong bấy lâu đều hoài công hết.
Các thị nữ vẫn lo khiêng sàng và đã tạt ngang qua nàng Liễu Mi, Thượng Quan Linh lúc này ngầm cảm thấy mắt của Liễu Mi đang nhìn khắp vào người mình, và đôi mắt ấy chắc vừa háo kỳ vừa có vẻ nghịch ngợm. Lẽ đương nhiên nàng không hề làm sao biết được người đang bị trói nằm trên sàng đây lại là Thượng Quan Linh, chẳng qua nàng cảm thấy bộ áo cà sa lạ lùng của mình đang mặc đây kỳ dị, nên mới nói với cha rằng giữ mình lại. Chắc cái tiếng Tăng nhân Thiên Trúc đã gợi lên lòng tò mò của nàng. Thượng Quan Linh lúc này cảm thấy bị tổn thương đến lòng tự ái vô cùng. Lúc này chàng muốn chết ngay cho rảnh nợ. Đám thị nữ khiêng ngay chàng vào một gian nhà rộng lớn, lập tức chàng cảm thấy ánh sáng chói mắt, không sao mở mắt được. Hình như chiếc sàng của mình đã được đặt xuống, Thượng Quan Linh khẽ hé mắt nhìn, chàng giật nảy mình. Chỉ thấy đây là một đại sảnh, trang trí huy hoàng, xa xỉ vô cùng, nhưng những cảnh này Thượng Quan Linh đã tưởng tượng được từ trước, như có điều lạ nhất đang hiện ra trước mắt chàng.
Trong sảnh này thỉnh thoảng có những nam nữ xuất hiện, mà cách thức ăn mặc không khác gì những người rừng nguyên thủy (ăn lông ở lỗ). Thân trên trần trùng trục. Đám đàn ông chỉ đóng khố, phần đông đều cường tráng mạnh khỏe, còn các cô chỉ quấn sơ tấm vải từ bụng trở xuống. Hầu hết đều khỏa hết từ nửa thân trên, họ qua lại trong sảnh đường, cười nói huyên thuyên. Thượng Quan Linh thấy vậy, chàng không thể nào tưởng tượng nổi, lại càng không dám tin đây là nơi cư ngụ của nàng Liễu Mi, sao nàng lại có thể sống chung với đám trai tráng thế này?
Thượng Quan Linh cảm thấy khó chịu vô cùng. Liễu Mi không đời nào có lối sống kỳ dị này. Không chừng đây là nơi cư ngụ của cô chị nàng cũng nên, Thượng Quan Linh nghĩ đến người con gái trưởng của Liễu Khải bang chủ, nàng vốn là người dâm dật nổi tiếng trong giang hồ, hẳn đại sảnh đây là nơi cư ngụ của nàng. Nhưng sao nàng Liễu Mi cũng vào đây, không lý nàng cũng bắt chước theo cô chị mình? Không còn nghĩ đến danh dự tiết hạnh của mình? Thượng Quan Linh cho rằng: chắc là mình đã khiến nàng tuyệt vọng, và trong cơn khủng hoảng của tâm hồn, nàng đã thay đổi hết tính tình xưa kia. Chàng Thượng Quan Linh suy nghĩ liên miên, thì đằng kia, một đám thị nữ lo đi cạnh bên Liễu Mi, chỉ thấy Liễu Mi và toàn đám thị nữ ấy đang đon đả bước sang phía mình. Tiếng cười ai nấy lả lơi, có đứa nói:
- Thưa tiểu thư, tăng nhân Thiên Trúc này, hình như là loại giả mạo, vì tiện nữ thấy bộ tóc dài mà y đã giấu bằng cách chụp mũ nhà sư lên trên.
Lại một tiếng khác cười rằng:
- Hình như tăng nhân lâu lắm không tắm gội, người đâu mà lại hôi như cú vậy, nhất là bộ áo cà sa của y, sặc nồng một mùi mốc khó chịu.
Thượng Quan Linh biết mình hôi thật, vì cả hơn tháng nay có tắm gội gì đâu, làm sao tránh khỏi mùi hôi, còn chiếc áo cà sa của Hữu Duy Na, vốn là một chiếc áo đã cất trong rương sắt đến ba mươi năm trời, như thế làm sao mà không có mùi mốc.
Trong tiếng cười lẳng lơ của đám thị nữ, Thượng Quan Linh tự cảm thấy mặt mình nóng bỏng lên, chàng không dám ngẩng đầu cũng như mở mắt. Mà đám thị nữ cũng nghịch ngợm không thua gì Liễu Mi có đứa nói:
- Ê này, xem tên khéo giả vờ chết thật. Rõ ràng hắn đang nghe lén chuyện của chị em chúng mình, vừa rồi tôi còn thấy mí mắt hắn động đậy cơ đấy.
Một thiếu nữ khác cười khanh khách rằng:
- Để em lại chọc cho hắn tỉnh lại. Chúng mình hãy lấy giấy vo thành một que tăm, rồi thọc vào lỗ mũi hắn, nếu hắn không chịu nổi sự nhột ấy, lẽ dĩ nhiên chân tướng bị lòi ngay.
Kiến nghị này lập tức được mọi người phụ họa ngay, và đám thị nữ lo đi sửa soạn trò đùa tai quái củ chúng.
Đằng này Thượng Quan Linh ức hận, nay bị mất công lực, ai cũng bắt nạt được mình, giờ đây trước mặt nàng Liễu Mi như thế, mình đâu có thể để mất mặt được chẳng thà nhân lúc nàng còn chưa phát giác được chân tướng, mình cắn lưỡi chết cho khỏe thân.
Đang lúc đám thị nữ nhao nhao cười giỡn, bỗng nghe Liễu Mi phát lệnh rằng:
- Cấm ồn ào! Và các ngươi đem hắn đi tắm gội sạch, thay quần áo xong bảo hắn dùng cơm, xong xuôi đưa hắn lại phòng ta. Nhưng phải coi chừng những hành động của hắn.
Đám thị nữ tuân lệnh, tiếp theo có người nhét ngay vào một hột đào lớn vào miệng chàng, Thượng Quan Linh vừa thẹn vừa tức, mình đã muốn chết mà cũng không được toại ý, bị nhục thế này, ai mà chịu cho nổi. Chợt chàng tức giận, theo lời Liễu Mi vừa nói, tí nữa mình sẽ đưa vào phòng nàng, như thế chẳng hóa ra nàng đã thay đổi thành một con người dâm dật như cô chị rồi sao? Thôi, không còn nghi ngờ gì nữa, người ta đã thay lòng đổi dạ rồi. Thượng Quan Linh thầm tính, trong số bốn mươi chín ngày bị mất công lực ấy, mình đã trải qua hơn hai mươi ngày rồi, chẳng thà cứ nhẫn nhục chịu đựng chờ đến khi khôi phục lại công lực khi ấy mình sẽ ra tay hỏi tội phản bội của con người dâm bôn sau.
Khi chàng nghĩ đến đây, thì đám thị nữ đã năm tay sáu cẳng xúm lại lôi quách ngay chàng tắm. Từ thuở có trí khôn đến nay, nào Thượng Quan Linh đã bị con gái đàn bà ăn hiếp như thế này đâu, chàng vừa thẹn vừa tức, cố sức vùng vẫy, nhưng càng như thế đám thị nữ càng thấy vui thích, bảy tám đôi tay trắng nõn tha hồ tung hoành để lột tung áo mũ của chàng, xô đại ngay xuống hồ tắm. Lúc này Thượng Quan Linh không khác nào một trẻ nít lớn mà bị các vú em đè cổ ra tắm gội. Kẻ kỳ lưng, người lo chải đầu, người lo cạo râu cho chàng, họ hì hục cố đùa cả đời rồi mới lấy quần áo tới cho chàng thay, sau khi sửa soạn đâu đấy, đám thị nữ bất giác kinh ngạc ngẩn người thẫn thờ!
Thì ra Thượng Quan Linh lúc này đã biến dạng thành một người khác, họ chỉ thấy vị tăng nhân Thiên Trúc này: môi hồng, răng trắng, mặt tựa quán ngọc, tuy lộ vẻ giận dữ, nhưng vẫn ung dung khí khái, một khuôn mặt đẹp và hấp dẫn nhưng lại uy nghiêm, đám thị nữ không khỏi lòng kính trọng ngay, bộ quần áo Hữu Duy Na tôn giả, không biết họ đã quăng đâu mất tiêu, nay Thượng Quan Linh mặc bộ đồ nho phục, khi chàng đứng ngay lên, trông chẳng khác nào Phan An tái thế, Tử Đô tái sinh. Bảy tám thị nữ nhìn chàng quên cả nháy mắt luôn. Có nàng lên tiếng nói:
- Hắn ta quả là không phải tăng nhân thật, mà lại là một vị công tử điển trai đến thế. Rõ là Phật yếu kim trang, nhân yếu y trang (Tượng Phật có phải vàng mới nổi bật, con người ta có quần áo mới hiện được những vẻ oai vệ và hấp dẫn).
Sau khi tắm gội chỉnh tề, Thượng Quan Linh cũng cảm thấy khuây khỏa trong người, chàng nghĩ bụng: chuyến này mình đã khôi phục hẳn bộ mặt Thượng Quan Linh, thế nào mà Liễu Mi chẳng nhận ra mình. Để xem nàng ăn nói biện bạch với mình sao cho biết. Và sự thẹn thùng kỳ này không phải là mình nữa. Tuy mình không rầy mắng gì nàng, nhưng trong lương tâm của nàng cũng phải biết ân hận chứ?
Nhưng từ khi Thượng Quan Linh đến Thanh Thông Hội, tất cả những hành vi của con gái lớn Liễu bang chủ đều thay đổi hẳn, khiến cho chàng Thượng Quan Linh vẫn tưởng là nàng Liễu Mi của mình, mặt sức chàng tỏ lộ tâm tình của những khi xa nhau, vô tình gây một dịp tốt cho cô trường nữ của Thanh Thông Hội mạo xưng là Liễu Mi luôn.
Tám ngày sau mà Thượng Quan Linh đến Thanh Thông Hội. Liễu Văn - chị của Liễu Mi - bèn dắt Thượng Quan Linh đi gặp cha già. Hình như trước đây, Liễu Văn cũng cho cha già hay biết tự sự, Thượng Quan Linh không phải là tăng nhân miền Thiên Trúc, mà chỉ là một sự ngẫu nhiên gặp gỡ trong lúc chàng gieo mình xuống Đại Ngũ Trì để tự tử. Thậm chí nàng cũng nói thẳng với cha già về mối tình vụng lén của mình với Thượng Quan Linh. Vì thế, khi vị bang chủ của Thanh Thông Hội thấy một thiếu niên công tử hiên ngang lẫm liệt này, mặt lộ vẻ vui mừng phấn khởi, liền xưng hô ngay với chàng Thượng Quan Linh: Hiền tế! Thượng Quan Linh cũng đành cải xưng hô với bang chủ Liễu Khải là Nhạc phụ!
Lão thê (vợ già) của Liễu bang chủ đã sớm qua đời nên trong Thanh Thông Cốc này, Thượng Quan Linh chỉ có Thái sơn mà không có Thái thủy (có một bố vợ chứ không có mẹ vợ). Liễu Khải chuyện vãn một hồi với chàng, xong lão bang chủ vuốt hàm râu trắng cười rằng:
- Mừng cho hiền tế (con rể) gặp đại nạn mà thoát chết, quả là người hiền gặp lành, sau này phúc đức sẽ vô cùng tận, nghe tiểu nữ nói, hiền tế còn may mắn ăn được tiên hoa. Khi công lực hiền tế khôi phục lại, thế nào cũng nổi bật hẳn trong làng võ lâm đương kim, nay tiểu nữ may mắn được gặp kẻ quân tử. Lão phu cũng thật cảm thấy vô cùng vinh hạnh. Ha! Ha! Ha....
Thượng Quan Linh khiêm tốn cảm tạ ý nhạc phụ. Liễu Khải lại rằng:
- Nhưng còn điều... Theo ý lão phu, danh phận của hiền tế và tiểu nữ đã định rồi, hay là cử hành ngay hỉ sự tại Thanh Thông Cốc này cho xong việc trăm năm của tiểu nữ...
Thượng Quan Linh nghe vậy quấn lên rằng:
- Kính thưa nhạc phụ! Tiểu tế đại thù còn chưa báo, hơn nữa việc hôn lễ đại sự này nên chờ gia sư Gia Cát Dật tiên sinh đứng ra làm chủ, nhưng nay gia sư lại không có mặt tại đây...
Không chờ cho Thượng Quan Linh hết lời, Thanh Thông bang chủ đã lắc đầu ngay rằng:
- Ồ! Gì đâu mà hiền tế phải lo ngại! Không sao! Không sao! Những nhân vật giang hồ như chúng mình, càng thành thật càng hay. Cần gì phải câu nệ với lễ giáo cho quá phiền phức, Gia Cát Dật tiên sinh cũng là người hiệp nghĩa như chúng mình, tin chắc thế nào ông ta cũng không phản đối ý lão phu đâu.
Trưởng nữ của Thanh Thông bang chủ liếc nhìn Thượng Quan Linh xong nói với cha già:
- Nay cha đặt đâu con ngồi đó...
Thanh Thông bang chủ cất tiếng cười vang:
- Hay lắm! Hay lắm! Cũng chẳng cần vẽ vời phải lựa chọn ngày tốt gì cho lôi thôi, vậy ngày kia cử hành hôn lễ, hiền tế tính sao?
Thượng Quan Linh trong lòng phiền bực ông nhạc phụ này sao chuyên chế quá, ác cái nàng Liễu Mi không chịu giúp mình, nếu mình phản đối, còn gì là thể diện của người ta, nhất là sẽ bị tổn thương đến lòng tự ái của Liễu Mi. Còn như không từ chối, lập tức thành hôn nay mai, sau này chuyện đồn đãi ra cuộc hôn nhân này không hợp lễ, và sao tránh sự trách mắng cửa sư phụ. Đó là còn chưa kể đến sự đàm tiếu trong thiên hạ. Trong khi chàng Thượng Quan Linh lo quýnh lên, thì đằng này Thanh Thông bang chủ truyền ngay lệnh xuống, tuyên bố ngày đại hôn lễ, phân phối công việc mọi người đi lo. Thế là một cảnh náo nhiệt tưng bừng lập tức bao trùm hết trong Thanh Thông Cốc và tất cả nhân lực, vật lực, tài lực của Thanh Thông Bang đều được sử dụng. Tuy thời gian quá ngắn, nhưng trong sự cố gắng vượt bực của đám thủ hạ cả ngàn người trong bang hội ấy, mọi công việc đều tiến triển một cách nhanh chóng.
Trong cốc tưng bừng nhộn nhịp, kẻ trưng đèn kết hoa, đám người lo quần áo cô dâu chú rể, đám lo kế hoạch tiệc tùng. Nghĩa là tất cả cho ngày cưới của trưởng nữ Thanh Thông Hội.
Lẽ đương nhiên trong hai ngày này, đôi vợ chồng chưa cưới phải ở riêng biệt hẳn. Thượng Quan Linh nhờ vậy mà cảm thấy tạm được thanh nhàn an thân. Và ngày hôm sau, và cũng là ngày còn cách đại lễ một hôm mà thôi, Thượng Quan Linh không biết làm gì, chàng bèn lững thững thả bước đi long dong vu vơ. Bỗng thấy một thiếu niên tráng sĩ, dẫn theo một đám thủ hạ tạt ngang qua. Thượng Quan Linh nhận ra đó là Phích lịch nhị lang Sở Canh, trong lòng mừng rỡ, vội lên tiếng gọi rằng:
- Sở hương chủ! Sở hương chủ!
Sở Canh quay lại, bốn mắt gặp nhau, nhưng Thượng Quan Linh nhận ra trong ánh mắt của Sở Canh kỳ dị vô cùng, bỗng Sở Canh quay người nhanh bỏ đi ngay.
Thượng Quan Linh lấy làm lạ, hấp tấp đuổi ngay sau lên tiếng rằng:
- Kìa! Sở hương chủ, bộ không nhận ra tôi sao? Tôi là Thượng Quan Linh đây mà.
Sở Canh lại thình lình quay vọt mình lại, hai bên nhìn nhau, Thượng Quan Linh chưa khôi phục công lực, vừa thu thế về đã cảm thấy mệt nhọc, nhưng cũng lên tiếng rằng:
- Sở hương chủ, hương chủ đã quên mất người mà từng đánh nhau với hương chủ tại Thanh Thông Bang cốc rồi sao. Trận đó thật là sướng tay lạ.
Thượng Quan Linh nghĩ đến cảnh đánh hồi ấy, mình đã dùng đến Đinh Giáp Khai Sơn toàn những đòn đánh nặng nề với Sở Canh, đôi bên đã bất phân thắng bại, trận đánh đó thật là đã tay quá.
Lúc này trên nét mặt Phích lịch nhị lang Sở Canh quả nhiên mỉm nụ cười nói:
- Đúng rồi! Tôi còn nhớ trận đánh thích thú ấy.
Tiếng nói của Sở Canh vẫn không thay đổi gì, âm thanh vẫn oang oang chắc tai người nghe, quả không hổ danh Phích Lịch Nhị Lang. Thượng Quan Linh rất thích tính cương trực của Sở Canh, tính đưa tay ra nắm tay Sở Canh trò chuyện cho thân mật, bỗng chàng thấy tay Sở Canh cuốn bó vải trắng, hình như bị thương gì, nhưng chàng không tiện hỏi, chỉ vui cười nói:
- Sở huynh ạ. Kỳ đó thật tôi bận việc gấp trong mình, nên đã không chờ huynh dậy để cáo biệt. Chắc khi huynh tỉnh dậy, thế nào chả mắng tôi là kẻ thất tín. Vậy tiện đây, tôi xin lỗi Sở huynh vậy, sau này, nếu Sở huynh còn thích, chúng ta sẽ nghiên cứu chưởng và quyền với nhau cho hả dạ. Vậy Sở huynh nghĩ sao?
Nhưng Sở Canh không trả lời, đôi mắt chăm chú nhìn và khẽ gật đầu, thần sắc có vẻ lạ lùng.
Thượng Quan Linh cảm thấy ngạc nhiên, bèn cố hỏi rằng:
- Tôi đến đây đã gần mười hôm rồi, tính tìm Sở huynh để trò chuyện cho vui, nhưng không làm sao gặp được huynh, thế huynh có biết tôi đến đây bấy lâu không?
Sở Canh bỗng lên tiếng nói:
- Có tôi biết anh đến đây đã lâu, và càng biết anh sắp sửa thành đại cô gia (ông rể lớn), chính tôi cũng muốn tìm anh để nói chuyện. Nhưng mà...
Bỗng Sở Canh ngừng bặt khuôn mặt không nói,
Thượng Quan Linh càng cảm thấy lạ lùng bèn hỏi:
- Nhưng mà cái gì nữa?
Sở Canh muốn nói rõ, nhưng ngập ngừng mãi, thần sắc có vẻ miễn cưỡng lắm. Sau cùng Sở Canh bỗng thở tiếng khẽ dài rồi nói:
- Này! Thượng Quan Linh, bộ anh không hối tiếc ân hận sao?
Thượng Quan Linh càng ngớ ngẩn không hiểu chuyện gì, vội rằng:
- Ơ hay, chuyện gì mà Sở huynh nói là hối tiếc và ân hận?
Sở Canh lăm lăm nhìn chàng Thượng Quan Linh, giọng nói có vẻ hờn giận:
- Bộ còn vờ không biết sao? Tôi muốn nói là nhị tiểu thơ của chúng tôi.
Thượng Quan Linh thản nhiên rằng:
- À em Liễu Mi ư! Mai đây tôi chả thành thân với nàng ta còn là gì? Chuyện mừng như thế có gì mà hối tiếc và ân hận đâu?
Chuyến này luân phiên đến Sở Canh kinh ngạc ngẩn người, chỉ thấy Sở Canh trố mắt há hốc miệng, bước lên một bước, tính mở miệng lớn nói gì. Thượng Quan Linh cũng cảm thấy trong này có gì lạ, cũng chờ xem Sở Canh sẽ nói gì? Trong lúc Sở Canh còn chưa thốt ra tiếng nào, bỗng phía sau Thượng Quan Linh vang lên một tiếng trong như chuông ngân, âm thanh lanh lảnh rằng: á tôi tưởng là ai? Thì ra Sở hương chủ, chắc là người đã quen nhau từ trước, nên mới trò chuyện thân với nhau thế?
Thượng Quan Linh quay đầu nhìn lại thì ra chính là con gái sắp lấy chồng của Thanh Thông Hội.
Sở Canh thấy nàng, sắc mặt bỗng biến ngay, không nói thêm câu gì, hấp tấp quay mình bỏ đi ngay.
Liễu Văn gọi giật ngay lại rằng:
- Kìa, Sở hương chủ đã vội đi thế sao?
Sở Canh ngập ngùng rằng:
Thưa đại... đại cô nương... nếu không có chuyện gì cần nói... tôi xin kiếu vậy.
Tiếng Đại cô nương lọt ngay vào tai Thượng Quan Linh, chàng hết hồn vía, trong óc lập tức nghi ngờ...
Thượng Quan Linh chỉ thấy Liễu Văn đưa tay ra dấu, Sở Canh thui thủi đi luôn một mạch không quay đầu.
Liễu Văn trầm tư ngó Thượng Quan Linh một lúc, bỗng nàng cười ngay rằng:
- Anh... em biết anh lại đang nghĩ bậy về em rồi, tên Sở Canh vốn là tên ngốc, và xưa nay thường xưng hô với em cũng như chị của em là Đại cô nương. Vì y ngốc quá nên không thể nào phân biệt giữa chị và em. Phần y lại sợ oai của chị, nên phải kêu bằng Đại cô nương cho chắc chắn. Em có tức cũng phải chịu... kể lắm lúc bực mình quá . . .
Tuy Liễu Văn khéo giải thích như thế, nhưng Thượng Quan Linh đã bắt đầu nghỉ ngờ.
Mai đây là ngày thành hôn, đem đó Thượng Quan Linh thao thức mãi trong thư phòng, chàng không sao ngủ được. Thượng Quan Linh dậy, lén ra ngoài tản bộ.
Đêm trăng sáng, khí trời mát lạnh. Các tên canh gác khuyên vị tân cô gia nên an nghỉ. Nhưng Thượng Quan Linh mặc, và chàng ra lệnh mọi người khỏi theo hầu, cho đi ngủ hết.
Trong Thanh Thông Cốc, chẳng còn ai lạ gì vị khách quí và cũng là chú rể tương lai của Thanh Thông Bang như Thượng Quan Linh đây, lẽ đương nhiên lời nói của chàng có hiệu lực không kém gì chủ bang. Mấy tên gác lo cung thân rút lui hết.
Thượng Quan Linh thả bước đến vườn hoa. Bỗng phía sau cây ẩn hiện có tiếng người, mà lại, lại có tiếng khóc của thiếu nữ. Thượng Quan Linh giật mình, nghĩ lạ. Sao đêm hôm khuya thế này, sao lại người mất ngủ như mình mà mò ra vườn hoa này khóc thút thít như thế? Tính háo kỳ, chàng nhẹ chân bước lần tới, nghe xem chuyện gì. Nhưng chàng nghe một giọng đàn ông khẽ lên tiếng rằng:
- Em Quyên, em chớ khóc như thế? Hễ em khóc là anh rối loạn tinh thần ngay... Làm sao mà tỉnh trí...
Tiếng nói khá quen tai, à đúng rồi, đúng giọng của Sở Canh đây mà. Tuy đã nói nhỏ, nhưng âm thanh vẫn rền như chuông ngân.
 
0
Hồi 058 Di Hoa Tiếp Mộc
[/align]

Thượng Quan Linh càng thất kinh. Chỉ nghe thiếu nữ gọi Em Quyên ấy khóc nức nở rằng:
- Thưa Sở hương chủ! Bây giờ nên tính sao? Nay nhị tiểu thư đã đi Mặc Phụ Sơn, Thượng Quan công tử lại bị người ta lừa gạt bưng bít như thế. Anh... anh nên nghĩ có cách gì không chứ?
Thượng Quan Linh nghe đến đây bỗng lạnh toát người, biết ngay đã có chuyện chẳng lành. Trống ngực đánh thình thịch, nhưng chàng vẫn cố gắng lắng tai nghe tiếp. Chỉ nghe Sở Canh luôn tiếng than ngắn thở dài rằng:
- Này em Quyên, thế em đã chắc chắn là thám thính rõ chưa. Chớ có nhầm thì mang họa chẳng chơi đâu. Biết đâu Thượng Quan công tử lại chả thích đại tiểu thư.
Nàng gọi tên Quyên hấp tấp cải chính:
- Không đâu! Chính em đã điều tra kỹ càng, để em nói từ đầu trở đi cho anh hay vậy: chính hôm trước đây Thượng Quan Linh bị bọn Kim Hổ bắt về, chuyện này nhị tiểu thư đâu có hay biết gì, nhất là từ ngày nàng từ Nhữ Nam về , bởi nhớ thương chàng Thượng Quan Linh, suốt ngày rầu rĩ tự nhốt mình trên lầu. Nhưng còn Đại tiểu thư nghe bắt được vị tăng nhân Thiên Trúc thì lại cảm thấy hứng thú vô cùng, và từ trong tay cha già đòi cho bằng được Thượng Quan công tử, và đưa về phòng riêng của nàng. Về sau con Điệp lại nói với em, nào là họ tắm gội cho Thượng Quan công tử, và sau khi sửa soạn lại, quả nhiên là vị công tử chính cống, lẽ dĩ nhiên chúng đã báo cáo lại sự giả mạo của Tăng nhân Thiên Trúc cho Đại tiểu thư biết, sau khi thấy ngọn kiếm Lệ thủy tinh. Đại cô nương rõ ngay đây là tình nhân của nhị cô nương tên là Thượng Quan Linh và vừa từ trong tay tử thần thoát chết ra, vì đi lang thang thế nào không biết để đến nỗi bọn Kim Hổ vớ được bắt về Thanh Thông Hội. Con Điệp sau này cũng nói lại rằng:
- Sau khi Đại cô nương phát giác vụ bí mật này nàng lập tức quyết định, và dặn kỹ các tay thủ hạ, cấm tiết lộ bí mật này ra, nàng liền giả mạo ngay là Nhị cô nương Liễu Mi, để cố nhử cho Thượng Quan Linh vào bẫy, nhờ trí thông minh và mưu trí khéo léo, quả nhiên nàng đã lừa gạt nổi Thượng Quan công tử và chàng ta đã tưởng nhầm đó là Liễu Mi. Tính tình của Đại cô nương anh còn lạ gì, lợi hại ra sao chẳng cần em nói anh cũng thừa hiểu, bọn con Điệp chúng tuy không an lòng nhưng ai mà chẳng sợ chết, nên đâu có dám tiết lộ bí mật này ra đâu. Phần thì nhan sắc của Đại cô nương, từ cử chỉ cho đến âm thanh, đều giống hệt như nhị cô nương, hai chị em chỉ có hai điểm nhận ra được là: Đại cô nương có một nốt ruồi đỏ nhỏ bên đuôi mắt phía trái, còn nhị cô nương cũng có một nốt ruồi đỏ như thế, nhưng lại nằm phía đuôi mắt bên tay phải. Nhưng chuyện phân biệt này chắc Thượng Quan công tử không làm sao mà biết được.
Chị em giống nhau như hai giọt nước, Đại tiểu thư lại thông minh tuyệt đỉnh, phần lại rõ chuyện bí mật của em mình với Thượng Quan công tử, nên khi đại tiểu thư đóng vai cô em, không một chỗ nào mà lại không giống Liễu Mi, mà chuyện tại hại hơn nữa là, con Điệp nó thuật lại cho em nghe: ngay hôm thứ hai mà Thượng Quan công tử bị bắt lại đây, đại tiểu thư đã dùng chất thuốc Mê dương ngầm bỏ ngay vào rượu cho Thượng Quan công tử uống. Làm rối loạn tâm tính của Thượng Quan công tử, và cũng chính đêm đó, hai người đã thành... phu thê... và anh cũng thừa biết là Đại cô nương biết cách khiến cho người chung gối tưởng mình hãy còn tân, và nhờ thế, mà Thượng Quan công tử tin là thật, bọn tiểu Điệp chúng nghĩ rằng, xưa nay đại tiểu thư vẫn sống lối sáng Tần tối Sở như thế, nàng chưa hề biết thực sự yêu ai bao giờ. Chuyến này chắc cũng không khỏi là có tính cách tạm thời mua vui mà thôi, phần là nàng hay có tính háo kỳ, và phần nữa trên giang hồ hay tán tụng và ca ngợi thanh danh của nhị tiểu thư, vì ghen tức nên Đại cô nương cố tình phá hoại mối tình của em mình, và chính bọn Tiểu Điệp cũng cho rằng chỉ vài ba hôm là Đại cô nương chán chê ngay, khi đó chúng cố tìm cách đưa Thượng Quan công tử sang cho nhị tiểu thư, để cho đôi bên được đoàn tụ. Nào hay chuyện lại xảy ra ngoài sự tưởng tượng của mọi người, vị nữ ma đầu này lại biết yêu thật, vì chàng Thượng Quan công tử mà Đại tiểu thư đã thay đổi hẳn tính tình, nàng đã sa thải hết những tên nam bộc hầu cận trước kia, bắt các nàng thị nữ ăn mặc chỉnh tề lại, suốt ngày quấn quít bên Thượng Quan công tử, cố dùng hết ma lực để chiếm cảm tình của Thượng Quan công tử, và nàng cũng ban ra một lệnh nghiêm khắc là nếu ai để lộ ra chuyện bí mật này, sẽ bị giết tức khắc. Nàng cũng cấm luôn Thượng Quan công tử đi gặp nhạc phụ, không được tự ý bỏ đi lang thang, nghe tiểu Điệp nói, có một lần, Thượng Quan công tử nghĩ đến Sở Canh huynh đây, nhưng đại tiểu thư đã cấm không cho hai người gặp nhau.
Và tình trạng cứ kéo dài, chẳng ai hay rõ chuyện này, nhưng ngày hôm kia đây tiểu Điệp thấy chuyện này không xong, mới lén tìm em để bàn tính, sau khi nghe rõ chuyện, vội đi báo ngay cho nhị tiểu thư, nhưng nào hay Nhị tiểu thư để thư lại cho hay là đi Mặc Phụ Sơn để thăm tin tức chàng Thượng Quan công tử.
Trong khi đó Đại tiểu thư đã thú thật với cha già là đã thành phu phụ với Thượng Quan công tử rồi. Tuy Thượng Quan công tử chưa rõ nàng là Đại cô nương, nhưng nay quả thật nàng đã yêu, và hứa với cha già là sẽ thay đổi tính nết lãng mạn của mình từ nay, miễn sao được cha già đứng ra làm chủ cho cuộc hôn nhân này. Và nghe nói trong lúc đó lão bang chủ nổi cơn thịnh nộ mắng nhiếc cô con gái lớn sao nỡ đoạt người yêu của em, khi đó Đại cô nương quỳ xuống năn nĩ xin cha già và khóc lóc thê thảm yêu cầu xin cha già..."
Sau hồi im lặng, tiếng Tiểu Quyên lại nói:
"Lão gia kể ra cũng quá hồ đồ, vì rút cuộc ông ta cũng chịu nhận lời van xin của Đại cô nương, và đứng ra hợp tác mối tương duyên trái ngược này, có khổ không chứ! Theo em đoán, chắc lão gia cũng có nỗi khổ tâm của ông ta không nên, vì cô gái lớn thanh danh đã chẳng ra gì, sau này trên giang hồ còn ai dám cưới hỏi con gái mình, mà cứ để đại cô nương tung hoành như thế này còn bại hoại gia phong đến nước nào mới thôi, nay may mắn có được cơ hội thuận tiện này, và nhất là Thượng Quan công tử quả là một giai tế (rể quí) lý tưởng như thế, con gái mình lại chịu cải tà qui chính, ván nay đã đóng thành thuyền, lỡ cho lỡ luôn, còn Thượng Quan công tử cũng chẳng ân hận gì, đàng nào cũng là rể nhà họ Liễu, phần thì Nhị tiểu thư tuy có vẻ khó xử trí lắm, nhưng lão gia nay đang nằm trong thế lửa cháy râu mày chỉ cốt lo sao cho chuyện trước mắt yên ổn cái đã, nên đã nhân cơ hội Nhị tiểu thư vắng mặt trong Thanh Thông Cốc, lập tức cho cử hành hôn lễ của Đại cô nương càng sớm càng hay. Bởi thế trong ngày hôm qua, sau khi lão gia thấy Thượng Quan công tử, chẳng cần phải khách sáo dài dòng, chủ trương và cố ý ép thành hôn, sự phản đối của Thượng Quan công tử cũng trở nên vô hiệu quả.
Việc này đã khiến em mủi lòng, Nhị tiểu thư với em tuy danh phận chủ tớ với nhau, nhưng còn tình thân mật hơn chị em ruột thịt, và em cũng biết rõ nỗi lòng của Nhị tiểu thư, chỉ yêu có một Thượng Quan công tử mà thôi, vì chính nàng đã tỏ rõ tâm sự: nguyện sau này sẽ thành tựu phu thê với chàng Thượng Quan công tử.
Khi em biết rõ tâm sự thần kín của Nhị tiểu thư, em cũng mừng cho nàng lắm, nào hay từ khi Nhị tiểu thư theo cha từ Nhữ Nam về, suốt ngày buồn bã, kém ăn kém uống hơn xưa, tối nàng lại hay thao thức, và thường thường hay tựa cửa như hầu ngóng đợi ai? Em gặp hỏi thì Nhị tiểu thư cho hay về chuyện Thượng Quan công tử gặp đại nạn, không biết sống chết ra sao, nay trông chờ tin tức của Độc chỉ Thôi Bác đằng Mặc Phụ Sơn đến báo tin, và căn dặn hễ thấy chim ưng lớn nào đến, lập tức đến báo ngay cho nàng hay.
Trong lòng em không tin Thượng Quan công tử bị chết, và em tin rằng thế nào người hiền cũng gặp lành, cơn hoạn nạn sẽ tai qua vạ khỏi, và trông đợi Thượng Quan công tử sẽ về đây để đoàn tụ với Nhị tiểu thư. Nào ngờ hy vọng của em đã thành sự thật, quả nhiên Thượng Quan công tử thoát nạn, nhưng nào hay lại xảy ra chuyện biến đổi đột ngột như thế này. Nay Nhị tiểu thư lại bôn ba cả ngàn dặm, trong lúc đó, người yêu của mình lại sắp thành hôn với chị... rõ khổ thân cho nhị tiểu thư... Không hiểu khi rõ vụ này, nàng sẽ đau khổ ra sao?”
Tiểu Quyên nói tới đây, nàng buông tiếng khóc sướt mướt không ngớt.
Sở Canh nghe xong cố lời an ủi, nhưng chàng trai quá chất phác này hình như cũng thúc thủ vô phương, chỉ nghe tiếng thở dài liên hồi. Thượng Quan Linh nghe rõ tự sự, chàng như sực tỉnh cơn mộng. Thầm mừng trong bụng, còn may mà mình kịp phát giác độc kế của nàng Liễu Văn, nhưng khổ nỗi nay vẫn chưa tới ngày khôi phục công lực, làm sao đây? Đang tính hiện thân ra để tính gọi Sở Canh và Tiểu Quyên để bàn kế đối phó, thình lình trên vai mình cảm thấy một bàn tay mềm mại vịn vào. Thượng Quan Linh giật mình ngoảnh đầu lại, dưới bóng trăng thanh, chàng thấy rõ nàng tiểu thư đây có nốt ruồi đỏ tại đuôi mắt bên cánh trái...
Liễu Văn nở một nụ cười lạnh lùng, Thượng Quan Linh hoảng hồn kinh vía, với thân hình đã bị mất hết công lực ấy, chàng lập tức bị xỉu ngất luôn xuống đất. Thân chàng ngã đến bịch một tiếng, khiến cho kẻ nấp sau ngọn giả sơn trong vườn hoa là Sở Canh và Tiểu Quyên thất kinh tung vọt ra ngay. Chỉ thấy chàng Thượng Quan Linh đã hồn mê bất tỉnh nằm dưới đất, đứng cạnh là trường nữ Thanh Thông Hội Liễu bang chủ - Liễu Văn. Lúc này chỉ thấy mắt phượng nàng trợn ngược, mặt đầy vẻ sát khí, đứng oai nghiêm như một nữ la sát. Tiểu Quyên thất kinh rú lên và nấp ngay phía sau Sở Canh.
Dưới ánh trăng lạnh, chỉ nghe tiếng cười nhạt của Liễu Văn lạnh lùng:
- Tiểu Quyên! Người còn muốn sống nữa không?
Dứt lời, nàng vung tay lên, một làn ánh bạc bay nhanh ngay ra. Sở Canh không thể nào đứng im, và chàng bất kể tay mình đang bị thương, ào một tiếng, chàng phát ra một ngọn kình phong đánh bật ngay ám khí ngang nhiên cứu mạng của Tiểu Quyên.
Trưởng nữ Thanh Thông Bang Liễu Văn cả giận quát:
- Sở Canh! Người thật to gan, dám ngang nhiên bênh nó hả?
Sở Canh sống trong Thanh Thông Cốc này, chàng chỉ nghe lời có ba người mà thôi: Bang chủ Liễu Khải và hai chị em Liễu Văn và Liễu Mi. Với cô em chàng quả thật kính nể, nhưng riêng cô chị chàng chỉ nể vì ngán tính tình của cô ta. Nay bị nàng quát tháo vậy, trong lòng Sở Canh không khỏi khớp sợ, những thói quen đã quá phục tùng đã khiến chàng buông ngay tay xuống, miệng ấp úng:
- Dạ không! Nhưng thưa đại tiểu thư... xin... xin đại tiểu thư hãy nghe tôi phân tỏ...
Liễu Văn quát lớn tiếng:
- Cút đi ngay! Ta không muốn nghe gì cả! Cút mau!...
Chỉ thấy nàng bước lên, và đưa tay tính bắt ngay Tiểu Quyên, Sở Canh cuống lên hỏi:
- Đại tiểu thư muốn bắt em Quyên sao?
Liễu Văn cười nhạt rằng:
- Không những thế mà ta còn muốn tước sống da của nó là khác! Xem nó có còn lẻo mép nữa không cho biết.
Tiểu Quyên đang nấp phía sau Sở Canh, biết tính Liễu Văn hễ nói là làm ngay, chuyến này không sao tránh khỏi cái chết, nàng bèn hiên ngang bước ra chỉ ngay mặt Liễu Văn nhiếc mắng:
- Chết đối với ta không đáng sợ, nhưng công lý vẫn nằm rõ trong lương tâm mọi người, chỉ nội những hành động tàn ác đảo ngược của người, cũng khiến cho Thượng Quan công tử đủ ghê tởm rồi, không đời nào công tử chịu lấy một người tàn ác như ngươi, khi Nhị tiểu thư về thế nào cũng tính món nợ này với ngươi. ..
Liễu Văn tức điên người, nàng chỉ lạnh lùng rằng:
- Hay lắm! Hay lắm! Người đã khéo khuyên nhủ ta, ta rất đa tạ tấm lòng quí hóa của người. Ta sẽ tặng người một lễ...
Chữ vật chưa ra khỏi cửa miệng, nàng đã tung mình nhanh như cắt đưa tay kéo nhanh nàng Quyên. Tiểu Quyên kêu rú lên một tiếng, đã bị Liễu Văn kéo rời khỏi Sở Canh.
Phích lịch nhị lang Sở Canh bay hồn hoảng vía hấp tấp lên tiếng:
- Đại tiểu thư! Cô . . . . . . không nên làm thế. . . - Tung ngay mình qua giải cứu.
Nhưng Liễu Văn đã nhanh hơn chàng, song chỉ của nàng đã điểm ngay vào mình Tiểu Quyên. Một tiếng thét kinh người vang lên. Khi Sở Canh đến kịp, chỉ còn thấy Tiểu Quyên nằm lăn dưới đất dãy như đỉa phải vôi, kêu la thảm thiết. Sở Canh nhìn biết ngay Tiểu Quyên đã bị Liễu Văn dùng lối điểm huyệt thay gân đổi cốt cầu chết không được, muốn sống không xong. Sở Canh vội ngồi xuống để giải cứu, nhưng chàng chỉ biết dùng thần lực để đấm thụi thiên hạ, đối với những võ công xảo diệu này, chàng quả là người ngoài nghề, loay hoay toát mồ hôi cùng mình mà vẫn không sao giải nổi huyệt đau đớn cho Tiểu Quyên.
Liễu Văn thấy cảnh kêu la đau điếng của Tiểu Quyên và cử chỉ rối loạn của Sở Canh, nàng chỉ lạnh lùng đứng nhìn và thỉnh thoảng trên khóe miệng nở ra một nụ cười như rất hài lòng với kiệt tác linh động trước mắt.
Sở Canh biết có năn nỉ Liễu Văn cũng chỉ uổng công mà thôi. Chàng cố tìm cách cứu Tiểu Quyên, nhưng vì nàng quá yếu, hơn nữa Liễu Văn ra tay quá nặng như muốn cố đoạt mạng sống của Tiểu Quyên. Sở Canh càng cuống bao nhiêu, rút cục Tiểu Quyên đã không chịu nổi cảnh đau đớn, nàng cắn lưỡi chết. Sở Canh vốn đã yêu thầm nàng Tiểu Quyên, nay thấy nàng tự tử đau đớn như vậy, chàng chỉ còn nước ôm xác người ngọc trên tay buông tiếng khóc rống lên.
Liễu Văn lúc này thấy Sở Canh lo ôm xác Tiểu Quyên khóc sướt mướt, chẳng đề phòng gì đến xung quanh, thình lình nàng đổi ngay ý nghĩ: Giết! Giết! Giết, vì theo nàng nghĩ nếu Sở Canh sống, thế nào cũng là mầm họa sau này cho mình, chẳng thà ra tay thủ tiêu y trước cũng là thượng sách hơn. Bèn lén bước ngay lại phía sau lưng Sở Canh... giơ ngay song chỉ tính điểm nhanh xuống.
Nào hay Sở Canh đâu phải tay vừa gì, tuy trong tình trạng bi ai thống thiết ấy, tai mắt chàng vẫn nhạy cảm vô cùng, nghe kịp tiếng lạ phía sau, chàng thình lình quay ngay thân đứng dậy.
Liễu Văn thất kinh, thu thế không kịp, đành cười lạnh lùng rồi hóa ngay thế điểm của mình thành thế vỗ phát ngay ra một chưởng xeo xéo đánh ra.
Sở Canh không ngờ Liễu Văn lại tính đánh lén mình như vậy, thế là chàng chẳng còn kiêng nể gì vị Đại tiểu thư của mình nữa, bản năng tự vệ của chàng cộng thêm nỗi lòng bi phẫn đau khổ tột độ trong lòng, vung luôn song chưởng ra trả đòn.
Liễu Văn nhận thấy xưa nay Sở Canh đã chịu phục tùng tuyệt đối. Thậm chí trong lúc muốn dồn chàng vào ngõ chết, tưởng đâu chàng sẽ ngoan ngoãn cúi đầu chịu nạp mạng. Nào hay con người chất phác đến nỗi gần như mù quáng ấy nay lại ngang nhiên trả đòn, mới kỳ lạ. Song chưởng của nàng đưa lên đỡ, với những khinh nhuyễn công (loại võ học mềm và nhẹ) mà chỉ dùng có ba bốn phần mười công lực đó, làm sao đỡ cho nổi ngọn đòn khốc liệt trong cơn tức giận của Sở Canh. Chỉ nghe sau tiếng pắc một cái, toàn thân Liễu Văn đã bật ra xa.
Chỉ thấy thân hình nàng bay lên như diều, rồi lại nhẹ nhàng dừng xuống đất. Công lực của Thanh Thông trường nữ quả là một tay cừ khôi, sau khi hai chân chạm đất soạt một tiếng rút phắt bảo kiếm bên mình ra, quát lên một tiếng nhảy tới công đánh. Sở Canh đành phải rút kiếm ra để cố phòng thủ. Liễu Văn chưa đưa hết đà, thình lình nàng biến ngay mấy chục chấm bạch quang chớp nhoáng, điểm sát ngay về phía bụng và ngực của Sở Canh. Vù một tiếng, nàng Liễu Văn đã sử dụng đến một ngọn tuyệt diệu, chạm ngay vào thế đánh tức nước vỡ bờ mãnh liệt của chàng Sở Canh, trong chớp nhoáng ấy, một luồng cuồng phong cuốn thẳng lên, khiến cho cây kiếm của Liễu Văn bị bật hẳn. Liễu Văn cố tập trung chân lực vào mũi kiếm, ánh bạch quang nhoáng liên hồi, nhưng nàng cảm thấy sức lực mình hơi chênh lệch, nhất là sau khi bị thần lực của Sở Canh dội bật lên. Liễu Văn giật nảy mình, phương vị dưới gót sen biến đổi chớp nhoáng và thu ngay thế kiếm lại.
Sau khi định thần, Liễu Văn lại dốc hết toàn lực để mở ngay thế công tiến đánh, chỉ trong chớp mắt, muôn ngàn làn bạch quang tỏa ra tưng bừng. Trong lúc này Sở Canh tính thầm trong bụng: nay mình đã lỡ mắc tội với đại tiểu thư, từ nay trong Thanh Thông Cốc không còn đất cho mình dung thân nữa, nhất là Liễu bang chủ lại là người bênh con gái nổi tiếng hơn ai, Liễu Văn tính tình độc hiểm, người trong bang hội chẳng ai là không rõ, nay nghĩ tới nghĩ lui, tam thập lục kế, tẩu vi thượng kế. Không nên quyến luyến nán lại đây để rồi rước họa vào thân mất. Nhưng Sở Canh lại băn khoăn khó dứt khoát, không biết mình có đi ngay đến Mặc Phụ Sơn để Nhị tiểu thư hay tin không, và còn chàng Thượng Quan Linh đang mê hồn bất tỉnh dưới đất, làm sao mà mình cứu chàng thoát nạn. Liệu mình có đủ tài năng cứu thoát chàng ta không?
Sở Canh đang mãi suy nghĩ nên thế đánh bị ảnh hưởng chậm hẳn lại, vô tình đã để hở cơ cho thế kiếm vô cùng quỉ dị của Liễu Văn xâm nhập. Khi Sở Canh nhận ra chàng càng nổi khùng, quyết dốc hết thần lực trời phú cho mình ra để áp đảo Liễu Văn. Nghĩ xong chàng ngang nhiên quay hẳn thế kiếm gạt tung ngay lên, chỉ thấy hai kiếm tương giao, một luồng ánh quang cực nhanh nhóa ra ngay, tiếp theo cheng leng vang lên, cây trường kiếm của Sở Canh đã bị đứt đôi thành hai, cả đôi bên đều kinh ngạc giật mình. Thì ra cây kiếm trên tay Liễu Văn chính là ngọn Lệ thủy tinh kiếm của Thượng Quan Linh. Chính Liễu Văn cũng chẳng ngờ rằng đòn này lại thuận lợi đến dễ dàng như thế.
Chỉ nghe nàng cười nhạt một tiếng, đưa ngay thanh kiếm Lệ thủy tinh vào đòn. Sở Canh đang bị trống rỗng của đòn, không còn biết tránh né vào đâu, chàng đành nhắm mắt đợi chết. Khi Liễu Văn dí ngay mũi kiếm vào ngực bên trái, chợt nàng thay đổi ý kiến, nàng đưa nhanh ra điểm ngay vào huyệt tê buốt của Sở Canh. Xong xuôi, nàng huýt lên một tiếng sáo hiệu, một đám thủ hạ của Thanh Thông Bang xuất hiện ngay ra.
Liễu Văn ra lệnh, dẹp ngay thi hài của Tiểu Quyên, đồng thời khiêng ngay Thượng Quan Linh và Sở Canh về phòng riêng của mình. Oai danh của đại tiểu thư Thanh Thông Hội mà ai không biết, nay thấy thị nữ tâm phúc của Nhị tiểu thư bị chết, hai người đàn ông mê hồn bất tỉnh, một vị sẽ là Tân cô gia (chú rể mới) trong ngày mai đây, còn vị kia là người giữ chức tuần sát phòng vệ trong bang Sở hương chủ. Nhưng chúng đều ngạc nhiên, sao Đại cô nương lại làm càn đến thế, đã giết thị nữ của Nhị cô nương lại đánh cả Sở hương chủ và chồng chưa cưới chết ngất như thế.
Tuy ai cũng đồng một ý nghĩ như nhau, nhưng chẳng ai dám hé miệng hỏi lôi thôi, cả đám đành lặng lẽ âm thầm lo thi hành mệnh lệnh của Đại tiểu thư tai ác này. Sở Canh bị nhốt ngay vào mật thất (phòng giam tội nhân). Thượng Quan Linh thì bị giữ tại thư phòng. Đến canh ba, bỗng có ba thị nữ vào đến thư phòng và cứu tỉnh ngay Thượng Quan Linh, một trong ba thị nữ chỉ vào hai bình rượu nói với Thượng Quan Linh rằng:
- Bọn nô tì này phụng mạng Đại tiểu thư, đến hỏi công tử, nếu công tử chịu thành hôn với Đại tiểu thư, xin công tử uống ngay bình rượu bên trái, nếu không bằng lòng, xin công tử hãy uống ngay bình rượu có thuốc độc bên tay mặt đây.
Thượng Quan Linh chẳng cần suy nghĩ, chụp ngay bình rượu có thuốc độc đưa lên uống ngay...
Hành động kiên quyết của Thượng Quan Linh, khiến cho hai thị nữ cau mày nhăn mặt tiếc thương chàng. Chỉ nghe tiếng thở dài u buồn của ba thị nữ. Trong lòng họ, đối với vị Đại cô gia này, cảm thấy vô cùng luyến tiếc, dưới vòm trời này, vẫn ngang nhiên còn có những người không bị quáng mắt mờ lương tri về hai chữ Phú quí, không chịu khuất phục về Bạo tàn. Một chàng trai hiên ngang như thế, thật hiếm thấy dưới đời này. Mai đây là ngày lễ thành hôn của chàng, chỉ cần một cái gật đầu, Đại tiểu thư sẽ hết lòng phục vụ như một hiền thê kiểu mẫu theo ý chàng. Từ nay sẽ trở thành mỹ quyến an lai nhất trên đời.
Nhưng oái oăm thay, vị công tử này lại quá chung tình với Nhị tiểu thư Liễu Mi. Nhưng ngoài tính tình khác ra, Liễu Văn nào có gì khác lạ em Liễu Mi đâu. Thật là đôi chị em sinh đôi này, từ diện mạo, thân hình, cử động, thông minh, giọng nói, và tất cả... có gì phân biệt đâu. Huống hồ nay Đại tiểu thư lại chịu mặc áo trắng, và bỏ hết tất cả những tính tình lãng mạn trước kia như thế có khác gì Nhị tiểu thư đâu? Đàn ông! Thật là khó hiểu họ ! Sao họ lại cố chấp như thế không biết. Đành phụ mỹ ý của Đại tiểu thư, đoạn tuyệt mối tình và hy sinh hạnh phúc. Cam chịu nhắm mắt uống độc dược như thế để quyên sinh. Sự kiện gì đã khiến chàng kiên trì và dũng cảm thế. À! ra là chàng công tử này đã hết lòng yêu Nhị tiểu thư. Một thứ yêu mà người ta không biết vịn vào lẽ gì để nói rõ bằng hành động. Chỉ có hành động mới thấy rõ một phần nào. Chính nay Thượng Quan Linh cũng biểu lộ mối yêu bằng cách hành động của mình.
Thấy Thượng Quan Linh chụp uống độc dược một cách không cần suy nghĩ đến hậu quả và càng không đắn đo xem mình phải trả với một giá như thế nào, ba thị nữ đều ngẩn người kinh hồn, ai nấy đều mủi lòng cảm động, tiếc thương, kính phục đã dồn dập xâm chiếm tâm hồn họ, rút cục cả ba đều ứa lệ đau lòng, nhìn vị thiếu niên chung tình hy sinh vì Nhị tiểu thư...
Đang lúc thanh phong mỹ tục trong Thanh Thông Hội được Liễu Văn cố lòng cải thiện để chiều lòng người yêu mới, thì ai ngờ phong ba lại gây sóng gió, Thượng Quán Linh biết chuyện giả mạo của Đại tiểu thư, trước ngày hôn lễ ngang nhiên uống thuốc độc để cự tuyệt mối tình Liễu Văn. Sau này Đại tiểu thư có thể vì tuyệt vọng một mối tình này mà gây nên bao chuyện rối hại về tương lai cũng nên, lẽ đương nhiên các tính xấu tàn ác tà dâm của nàng sẽ bộc phát kinh khủng cũng chưa biết chừng. Và nhất là nàng sẽ mượn thế đó để trả thù lòng tự ái của mình bị tổn thương. Và một khi thi hành thật sự như thế, thì tất cả cảnh trụy lạc của địa ngục này lại giày vò hơn trăm mạng thị nữ dưới tay nàng quản trị...
Thượng Quan Linh uống xong thuốc độc được pha trong rượu, chàng yên trí ngồi chờ đợi cái chết, khi chàng ngẩng đầu lên, bỗng thấy ba thị nữ vẫn chưa đi mà đứng ứa lệ khóc thầm, thân hình chàng khẽ dao động, mắt cảm thấy hoa dần.
Lúc này Thượng Quan Linh cảm thấy trong lòng mình đau quằn quại, biết ngay độc tửu đang hành hạ. Chàng cũng chẳng còn tinh thần đâu để an ủi ba thị nữ đang khóc thương cho mình, động tác của chàng duy nhất trong lúc này: cố giương mắt nhìn họ như đón nhận những mối tình cảm của họ. Ba thị nữ lập tức cảm thấy mình thất nghi lễ, ai nấy vội vã lau ráo nước mắt. Một trong ba thị nữ, cất tiếng thỏ thẻ rằng:
- Nay công tử đã kiên quyết như thế, bọn tiện tì đây xin cáo từ công tử để về phục mạng... Kính mong công tử tự bảo trọng... - Nói xong cả ba hấp tấp lui ngay nơi cảnh tượng quá mủi lòng ấy.
Thượng Quan Linh chỉ mong sao chóng chết cho xong nợ trần, nào ngờ thứ độc tửu này, sau khi uống xong, sức độc của nó không khác gì loại độc công Phủ Chường Hàn, sức độc cứ ngấm ngầm tăng lên, chàng cảm thấy ngực mình đau nhói khó chịu, nhưng tri giác của chàng vẫn còn tỉnh táo, chàng đã muốn chết. ấy lần thứ hai mà chàng đã ngang nhiên khiêu chiến với tử thần, nhưng chàng cầu sao cho đừng giống chuyện lần trước bị Phủ Chưởng Hàn, miễn làm sao có thể chết thật nhanh chóng, vì chàng sợ nhất là cơn dằn vặt đau khổ từ thể xác đến tâm hồn.
Thượng Quan Linh vừa nhắm mắt lại, bỗng cảm thấy trong phòng sáng nhoáng lên, chàng mở mắt ra nhìn, thấy nàng dâm bôn Liễu Văn trước mắt. Tuy vẻ đẹp của nàng có vẻ mặn mà hơn Liễu Mi, nhưng lúc này mặt nàng ủ rủ, nước mắt đầm đìa, khiến ai cũng phải mủi lòng cảm thương, nhưng trong đôi mắt của Thượng Quan Linh, chàng chỉ cảm thấy: đó là người đàn bà tà dâm, vô sỉ, trong lòng chỉ chứa toàn bực tức và giận hờn. Nhìn xong chàng điềm nhiên nhắm mắt cúi đầu không nói một tiếng gì.
Với một giọng vô cùng u oán, nàng Liễu Văn lên tiếng:
- Thưa công tử, chúng ta đã từng hợp thể chi duyên với nhau, lẽ nào công tử đang tâm bạc tình như thế? Lại nữa, xưa kia thiếp tuy gây nhiều tội lỗi, nay đã vì công tử mà cải hối hết lại... Công tử cứ thử nghĩ, từ ngày công tử đến, thiếp có tái phạm thêm tội gì đâu cho đành? Công tử cũng biết là thiếp đã yêu công tử, và từ nay nguyện sẽ trở thành vợ hiền như lòng mong ước của công tử, chỉ mong sao công tử cho thiếp một cơ hội để thay đổi cuộc sống chánh nghĩa... Thiếp chỉ ước sao cho công tử nhủ lòng đoái hoài một chút...
Tiếng nói thành khẩn của Liễu Văn uyển chuyển nhịp nhàng khẽ thốt ra, đôi lúc nàng cũng đã nghẹn ngào. Nhân vô thập toàn, ai nào tránh khỏi lỗi lầm, nhưng khi đã biết hối cải, phải được rộng lượng tha thứ...
Nhưng ác thay, Thượng Quan Linh vẫn ngồi ỳ ra như bụt đất chẳng mở mắt cũng chẳng buồn nhúc nhích. Liễu Văn lại cất tiếng năn nỉ rằng:
- Công tử ơi! Tuy công tử đã uống thuốc độc, nhưng thiếp biết công lực của công tử là hạng tuyệt đỉnh trong thời gian ngắn ngủi chưa thể nào chết ngay được! vậy chỉ cần công tử gật đầu chấp thuận mối chân tình của thiếp, thiếp lập tức đưa ngay thuốc giải độc cho công tử, và mai đây cuộc hôn lễ của chúng ta vẫn tiến hành đúng theo dự định. Nếu công tử sợ mích lòng em gái của thiếp, chúng ta có thể đi một phương trời xa xăm khác sống bạc đầu hạnh phúc với nhau... Và chỉ cần công tử thích sao, thiếp nguyện phục tùng hết lòng... nguyện hết lòng với công tử.
Thượng Quan Linh bỗng ngẩng đầu lên rằng:
- Nhưng có chắc là tuân theo lời của tôi không?
Liễu Văn mỉm một nụ cười đầy hy vọng rằng:
- Dạ, công tử! Bất luận là việc gì, thiếp nguyện nghe theo.
- Vậy hãy nghe đây!
Liễu Văn tưởng đâu đã làm cho Thượng Quan Linh cảm động về nỗi lòng thành của mình, và chàng đã có ý bằng lòng cuộc hôn nhân, nghĩ vậy Liễu Văn chăm chú chờ câu nói của Thượng Quan Linh.
Chỉ nghe tiếng Thượng Quan Linh nghiêm nghị rằng:
- Liễu Văn, xin hãy nghe cho rõ: Tôi mong cô hãy mau mau cút ngay khỏi đây để tôi có thể chết một cách yên tĩnh. Nếu cô còn chút lương tâm liêm sỉ hãy hối cải, sao cô không uống rượu độc cho sạch sẽ nợ trần hơn.
Liễu Văn không thể nào ngờ Thượng Quan Linh lại nhiếc mắng mình thậm tệ đến thế, nàng đau khổ và thất vọng, càng xấu hổ và uất hận trong lòng, nàng loạng choạng như muốn té, hét lên rằng:
- Thượng Quan Linh!... ngươi... ngươi... sao nhẫn tâm độc ác với ta như vậy.
- Đúng thế! Tôi là kẻ độc ác tàn nhẫn, nhất là đối vời một dâm phụ như cô, thà tôi chịu chết còn hơn là phải sống chung với cô như vậy, xin cô đừng nên hy vọng hão gì nơi tôi cho nhọc lòng mệt trí.
Liễu Văn vẫn nghiễm nhiên hầm hầm:
- Hay lắm! Đã thế để ta giúp ngươi mau được như ý muốn, ta sẽ điểm thông hết các huyết mạch cho ngươi, khiến cho chất độc ngấm để tiễn đưa linh hồn mau về chín suối. Nhưng với điều kiện: ngươi phải chịu đựng một cơn đau đớn mới được!
Thượng Quan Linh lập tức bằng lòng ngay, chỉ thấy Liễu Văn đưa cánh tay ngọc của nàng ra dùng ngay đến Cách không chỉ lực chấm điểm lung tung sang phía Thượng Quan Linh, chàng chỉ cảm thấy trước ngực mình nặng trĩu như đá đè, và tất cả những sự đau đớn đang xâm chiếm ngũ tạng của chàng,
Thượng Quan Linh chỉ cảm thấy mặt mày tối tăm, bỗng trong óc chàng như bùng lên một tiếng, ba hồn bảy vía đã rời khỏi xác và không biết vất vưởng về đâu? Chỉ thấy xác Thượng Quan Linh lăn đùng ra sàng. Liễu Văn bước lại, đưa tay sờ mũi. Thượng Quan Linh đã tắt thở hẳn. Nhưng riêng ngực chàng hơi thoi thóp vì tâm đập mà thôi. Chàng quả nhiên đã chết.
Một kẻ nam nhi chính trực, ưu tú, đáng kính đã chết, mà người đó chính lại là một chàng trai mà mình đầu tiên đã yêu... Chất độc đã xâm hết nội trạng của chàng thiếu niên cương trực này, dẫu cho nàng Liễu Văn giờ này kịp hối hận về hành động nóng nảy của mình đi nữa, mọi sự đã trễ, vô phương cứu. Sự phẫn nộ của Liễu Văn được hả dạ, nhưng nàng cũng ôm theo những hận tình bi đát của mình, sự thất bại và hối hận cũng giày vò lương tâm của nàng. Mặc dầu xưa nay nàng toàn nhẫn tâm giết người không gớm tay, và bất luận đối với những cảnh chết chóc nào nàng cũng tỉnh như không hề có trước mắt nàng, nhưng lần này, tất cả những cảm giác đều trái ngược hẳn, tâm tình nàng bị xáo trộn hẳn, vì sự nóng nảy mù quáng của mình, mà nàng phải trả một cái giá có lẽ đến chết vẫn chưa hết hận tình.
Liễu Văn biết mình quá yêu Thượng Quan Linh! Vì tính tình háo thắng, nàng đang tay đoạt người yêu của em, nhưng ác thay Thượng Quan Linh đến chết vẫn không chấp nhận mối tình đó, nhất là đối với lòng dạ bất khuất của chàng, chưa bao giờ Liễu Văn lại gặp một người đàn ông cương liệt đến thế. Nàng đã thấm thía cảm thấy: mình đã thất bại chua cay về tình, và chính em mình – Liễu Mi - đã thắng! Và thắng vẻ vang...
Liễu Văn buồn bã đưa tay ra phủ tấm khăn trắng lên bộ mặt mà nàng đã ấp ủ trong ngày nào... nàng ứa nước mắt... nhưng mọi việc đã tiến diễn một cách im lặng. Và chính những im lặng này đã cấu xé cõi lòng nàng... Liễu Văn gần như tê liệt về tri giác của mình...
Nhưng trong óc nàng còn nhận thấy một việc lạ, chất rượu độc này đã không khiến cho Thượng Quan Linh bị dằn vặt trước khi chết, và lạ nhất là sau khi chết vì trúng độc, lẽ ra thất khổng (bảy lỗ: hai mắt, hai lỗ tai, hai lỗ mũi, một lỗ miệng) phải trào máu tươi ra mới đúng. Đằng này Thượng Quan Linh lại chết với một vẻ an nhiên, không khác gì vị công tử đang ngủ vậy. Nhưng Liễu Văn chẳng muốn tìm hiểu thêm nổi buồn bi thảm trước mắt. Nàng cố trấn tĩnh tinh thần của mình lại để chỉ huy đám thủ hạ lo hành động. Và tất cả những thị nữ và vệ sĩ tâm phúc của nàng đều đã cố gắng hành động theo lệnh của Đại tiểu thư, liệm ngay Thượng Quan Linh vào một chiếc áo quan (quan tài) thật là quí, và ngay đêm đó cho khiêng ngay vào nghĩa địa của Thanh Thông Cốc.
Đặc điểm của Thanh Thông Cốc là cái gì cũng sẵn, việc đám ma cũng nhanh chóng như việc sửa soạn đám cưới, và có phần còn nhanh hơn là khác. Vị trí của nghĩa địa nằm ngay phía cuối cùng của Thanh Thông Cốc, và ở đây nhan nhản những loại nhà hầm được xây cất ngầm dưới đất, và tùy theo lớn nhỏ mà người ta biết được chức phận của người chết được đưa vào những ngôi mộ huyệt âm u buồn tẻ ở đây.
Chiếc quan tài của Thượng Quan Linh được khiêng ngay vào một ngôi mộ huyệt nguy nga và hào nhoáng nhất tại nghĩa địa đây. Trong huyệt mộ này, đã có sẵn một quan tài rất quí nằm tại đây, và đó chính là cỗ linh cửu của Thanh Thông phu nhân, tuy phu nhân đã qua đời từ lâu, nhưng vì Thanh Thông bang chủ vẫn thương nhớ vị ái thê của mình, nên không tiếc của cải, cho xây hẳn một ngôi mộ huyệt đồ sộ không kém gì các ngôi huyệt mộ của các bậc vương hầu. Trong huyệt mộ đây, Thanh Thông bang chủ Liễu Khải đã cho trang trí đúng theo cảnh sắc của một trang viện như trong trang viện hiện nay mà ông ta đang ở, nghĩa là đồ vật gì trên trang viện có thì dưới huyệt mộ này đều có, và tất cả những vật dụng gì xưa kia ái thê đã dùng, đều được dọn hết xuống huyệt mộ này, nên cả ngôi huyệt mộ này toàn cảnh tuyệt sắc xa xỉ tột bực.
Tuy vô cùng đẹp và trang nghiêm, nhưng không khí ở đây không khỏi rờn rợn vì hơi ma và tử khí. Thanh Thông phu nhân lúc sinh tiền, vốn là một trang tuyệt sắc mỹ nhân, có phần còn lộng lẫy hơn cả hai cô con gái bây giờ, là một giai nhân tài mạo song toàn, sau khi kết ngẫu với Liễu Khải, đã cố sức giúp chồng, và đã ngang nhiên trở thành cánh tay mặt của bang chủ, tất cả các tổ chức và kiến thiết, cùng các qui lệ của Thanh Thông Hội, đều do tay phu nhân một tay gây dựng lên cả; nói về tính tình, phu nhân không những là người hiền hậu, mà còn là người khiêm tốn và đa lễ! Tất cả các tay anh hùng hảo hán trong Thanh Thông Cốc, chẳng ai là không phục tài mến đức của phu nhân!
Đối với Thanh Thông bang chủ Liễu Khải, có thể nói là ông ta yêu vợ hơn cả yêu đến tính mạng của mình, một người vợ tài, đức, hạnh đều hoàn hảo ấy, chỉ có điều tiếc sức khỏe quá kém, và hình như đã đúng với câu trời xanh ghét kẻ hồng nhan, mới ngoài ba mươi xuân mà đã lìa trần tại Thanh Thông Cốc, để lại một cái tang vô cùng đau thương cho Liễu bang chủ, khiến nỗi ông ta suýt tự tử để theo ái thê của mình cho trọn tình nghĩa phu thê, nhưng sau vì vướng hai cô con gái, ông ta mới đành bỏ ý nghĩ chết. Và đã không tiếc bỏ tiền của cho xây cất ngôi huyệt mộ đồ sộ để làm nơi an nghỉ của ái thê, và dùng những loại thuốc quí để giữ cho thi hài của vợ khỏi bị tàn phá vì thời gian, và hễ mỗi lần Liễu bang chủ nhớ đến vợ, bèn vào huyệt mộ để tưởng niệm, trong huyệt mộ luôn luôn đèn đóm sáng trưng, vì tất cả những ngọn đèn ở đây đều đã được chế tạo đặc biệt, thắp suốt ba tháng mới chế dầu thêm, những việc này có người lo trông nom cẩn thận.
Nay Thanh Thông bang chủ đã ngoài lục tuần, hai cô gái sinh đôi đã lớn thành người, từ tài mạo, tính tình âm thanh, không khác gì mẹ, nhờ đó Liễu bang chủ gửi gấm tình thương vợ của mình lên hết hai cô gái cưng của mình, hai chị em vừa thông minh vừa nghịch ngợm, và từ lúc nhỏ đã được cha hết lòng chiều chuộng đủ điều, chỉ sợ con gái buồn, cũng vì thế mà Liễu bang chủ đã nổi tiếng trên giang hồ là người chiều con, nhưng hai cô con gái đã thiếu sự gia giáo của. một người mẹ hiền, hai nàng chỉ hấp thụ được sự chiều chuộng của cha già, và thiếu hẳn sự dạy dỗ về đức hạnh, và khi hai nàng lên mười ba tuổi, thì Liễu Văn đã tư thông với một tên thị vệ, và nàng đã đánh mất cái quí nhất của một đời con gái! Và cũng từ đó nàng bắt đầu rớt vào hố sa đọa của cuộc truy hoan vô tận... và đến nỗi lừng danh dâm tà trên giang hồ. Mấy năm gần đây, nhất là từ khi Liễu bang chủ được chiếc Tiểu Đoạt Hồn Kỳ vấn đề an ninh của Thanh Thông Cốc càng ngày càng rối loạn thêm, và Liễu bang chủ cũng chẳng có thì giờ để thăm huyệt mộ của ái thê trong nghĩa địa Thanh Thông Cốc.
Và như đoạn trước đã nói, nơi huyệt mộ cỏ người chuyên lo việc đèn đóm trong huyệt, nên cuộc di chuyển quan tài của Thượng Quan Linh tiến hành một cách rất thuận tiện.
Lúc này, Liễu Văn cùng đi chung với cỗ quan tài đen ngòm của Thượng Quan Linh, và họ đã vào đến trong huyệt mộ của nhà họ Liễu, ngay nơi phía đầu của cỗ quan tài. đen láng bóng ấy được viết mấy chữ lớn màu trắng: Thanh Thông trưởng tế Thượng Quan Linh hủy linh chi cữu (Linh cửu con rể lớn của Thanh Thông Bang Thượng Quan Linh). Đương nhiên vụ này chính do chủ ý của nàng Liễu Văn nghĩ ra như vậy, vì nàng biết rằng mẹ trước khi nhắm mắt vẫn lo về vấn đề lương duyên của hai chị em sau này, và nàng nghĩ rằng: Đối với mối tình của Thượng Quan Linh, mình không đoạt được trong lúc sống, mình cũng nên đoạt bằng lối danh nghĩa chết này cho bõ công, nên nàng đã cho đề rõ ràng trên bài vị: Trưởng tế Thượng Quan Linh chi vị. Ngang nhiên nhận Thượng Quan Linh là chồng, và đem để quan tài của chàng gần bên cạnh linh cữu của mẹ, nàng làm như thế cốt để mẹ dưới cửu tuyền được an tâm về cuộc lương duyên trắc trở của mình.
Sau khi hoàn tất mọi việc, Liễu Văn không quên sai thủ hạ đổ thêm dầu vào các ngọn đèn cho đầy hết, sau đó mới cùng với thủ hạ âm thầm bước lên khỏi huyệt mộ, và cẩn thận hè nhau đậy tấm cửa đá khổng lồ của cửa huyệt mộ, trong ngôi huyệt mộ nguy nga tráng lệ ấy, ngoài người chết ra, nàng Liễu Văn còn để lại trong đó một người còn sống hẳn hoi! Và người đó không ai lạ hơn là Phích lịch nhị lang Sở Canh! Chàng đã bị Liễu văn điểm trúng huyệt tê liệt, mắt mở thao láo nhìn mọi sự xảy ra xung quanh mình, nhất là biết rằng mình đang bị Đại tiểu thư cố tình đem chôn sống để làm tên thần giữ mộ, trong huyệt mộ họ Liễu. Sở Canh mắt thấy mọi người rút lui ra về và tai nghe tiếng cửa huyệt mộ nặng nề đóng lại, trong huyệt mộ lúc này, ánh sáng bắt đầu ảm đạm hẳn, cảnh sắc hơi ma tử khí càng thêm vẻ hãi hùng của nó. Sở Canh bị điểm huyệt tê liệt, toàn thân không sao nhúc nhích cựa quậy được, vừa cuống vừa tức, nhưng đành chịu. Chàng nghĩ thầm mình phải tìm cách thoát ra! Nhưng tình cảnh của Sở Canh, đừng nói là đang bị điểm huyệt, mà dẫu cho công lực của chàng ta có khôi phục lại đi nữa, cũng khó lòng mà thoát khỏi một nơi kiên cố như huyệt mộ đây; đèn đã được châm rót thêm đầy dầu, nếu không có chuyện gì ngoài ý muốn xảy ra, phải ba tháng sau mới có người vào đây để lo việc châm thêm dầu vào các ngọn đèn trong huyệt mộ đây.
Trong đây, tuy cái gì cũng có sẵn, nhưng duy có thức ăn uống là không. Sở Canh đã tự tính nhẩm, theo tình trạng này, thế nào mình cũng bị chết đói mất. Nội tâm chàng bắt đầu khủng hoảng, chàng cố vận khí lực trong mình để mong mau giải huyệt của mình để tìm phương thoát khỏi nơi đầy rẫy hơi ma tử khí rùng rợn trong huyệt mộ họ Liễu này!
***
Nói về Đại cô nương Liễu Văn, sau khi về đến phòng thất của mình, mắt thấy trong cốc chỗ nào cũng đang sửa soạn nhộn nhịp cho cuộc lễ ngày mai, phần đông vẫn chưa ai hay biết về cuộc đại biến động vừa xảy ra kinh khủng như thế; một chết và một bị chôn sống theo. Nàng Liễu Văn nghĩ đến cái chết của Thượng Quan Linh, nếu cha già mà biết, thế nào cũng quở trách, và sau khi em gái biết rõ nội vụ, đời nào chịu để yên. Liễu Văn lo lập tức thu xếp hành lý của mình, và cũng chẳng báo tin cho cha già hay, âm thầm ra ngay khỏi Thanh Thông Cốc, từ đó, nàng bắt đầu bước vào cuộc sống lang thang phiêu bạt của kiếp giang hồ!
***
Lại nói về thứ nữ của Thanh Thông Bang là Liễu Mi, nàng đơn thân khởi trình lên Mặc Phụ Sơn cốt để biết tin tức của người ý trung nhân Thượng Quan Linh. Hôm đó, vào đến khu núi của Mặc Phụ Sơn, thời tiết đã vào trung tuần của tháng tám, gió núi hòa với khí hậu thổi từng cơn, sức gió chẳng những lạnh mà còn mạnh ào ào từng cơn, nhiều lúc nàng Liễu Mi có cảm tưởng như mình đang bị cuốn tung lên mây vì những ngọn gió lốc vô danh.
Nhưng trong lòng Liễu Mi đầy ưu tư, nàng bất giác tự lẩm bẩm:
- Gió ơi!... Làm sao ngươi có thể thổi bổng ta lên được! Trong lúc ta đang mang nặng một mối u sầu trầm trọng hơn sắt đá...
Liễu Mi vốn thông minh hơn chị em Châu Thị:
- Thanh Điệp và Hồng Điệp, công lực lại giỏi tuyệt, chẳng mấy lúc nàng đã tìm ngay ra Lãnh Hương Đỉnh, một nơi cư ngụ của Đoạn trường nhân Độc chỉ Thôi Bác. Lãnh Hương Đỉnh này nằm ngay giữa lưng chừng của Mặc Phụ quần phong. Mắt thấy ngọn phong này cao tít mây xanh, nang đang tính sửa soạn dùng khinh công thượng thặng của mình để lên phong, bỗng nghe trên đỉnh có tiếng người lớn tiếng rằng:
- Mau mau! Chị Liễu Mi đã tới kia kìa!
Chính giọng nói vui mừng của Hồng điệp Châu Chu! Tiếp đó nghe cả tiếng hoan hô reo mừng của Hầu Hạo, Châu Sách, Đông Phương Đình. Tiếng Hầu Hạo từ trên vọng xuống:
- Liễu cô nương, có cần để nói với Đại Hắc xuống đón lên lãnh cho tiện.
Liễu Mi vội trả lời:
- Không cần! Không cần! - Nhưng nàng lập tức nghĩ ngay, Đại Hắc đã về, không biết tin Thượng Quan Linh hung kiết ra sao? Trống ngực hồi hộp đánh thình thịch!
Khi nàng lên đến lãnh, chẳng kịp chào hỏi ai, lên tiếng hỏi ngay:
- Chim ưng Đại Hắc đã về rồi sao? Vậy không biết tin tức của Thượng Quan Linh ra sao?
Hầu Hạo vội rằng:
- Hiền đệ Thượng Quan Linh đã thoát nạn và rời khỏi Đại Ngũ Trì rồi. Nhưng lại bị thất lạc với Đại Hắc! Nay lại bị mất tích, chúng tôi đang tính chia nhau ra đi tìm, và đồng thời cho Nhị Hắc đi đón cô lại, nhưng khéo sao cô đã đến đúng lúc!
Liễu Mi nghe biết tin Thượng Quan Linh thoát chết! Trong lòng nỗi lo canh cánh đã tiêu tan ngay, nàng lại bắt đầu chứa chan biết bao niềm an ủi và hy vọng của tâm tình mình. Nàng vội hỏi đầu đuôi, Hầu Hạo thuật rõ lại hết một lượt, và cho hay rằng sau khi được tin của con Đại Hắc về báo, mọi người đang lo rối lên vì không hiểu tiếng của con chim ưng, và đành chờ đợi Độc chỉ Thôi Bác về thuật rõ, và Thôi Bác cho mọi người hay Đại Hắc sau khi đã vào động thất tại dưới đáy Đại Ngũ Trì, và nó đã phát giác hai vị tăng nhân xứ Thiên Trúc, ăn mặc lạ lùng, ai nấy có bảo kiếm và sắp sửa cuộc giao đấu, trong lúc đó Đại Hắc không thể nào phân biệt ra ai là Thượng Quan Linh.
Sau tình cờ Thượng Quan Linh xưng tên, Đại Hắc mới dám tham gia vào trận chiến và cố ra sức giải cứu. Nhưng theo ý Đại Hắc, vị tăng nhân Thiên Trúc, công lực đã đến mức độ xuất thần nhập thánh, tuy công lực của Đại Hắc có thể ngạo thị những tay đệ nhất lưu trên giang hồ, nhưng không thể nào là địch thủ của vị phiên tăng ngoại quốc này, nên đã bị thương cùng mình, mặc dù vậy, nhưng Đại Hắc cũng đã cứu thoát được Thượng Quan Linh rời khỏi hiểm địa. Giữa đường, Đại Hắc và Thượng Quan Linh đã kết thành đôi bạn thân. Sau khi quá mệt vì các vết thương, đành phải hạ xuống một nơi hoang vắng, Thượng Quan Linh lo bó các vết thương cho Đại Hắc, đồng thời chàng lo đi kiếm rượu cho chim ưng, nào hay Thượng Quan Linh đi biệt luôn một mạch không về! Đại Hắc trọng thương bất tỉnh, cố miễn cưỡng chờ đợi đến hôm thứ hai, mới cố gắng bay đi tìm Thượng Quan Linh, nhưng không hề thấy tung tích chàng đâu. Đại Hắc đành phải gượng bay về Mặc Phụ Sơn, và báo cáo hết mọi sự xảy ra cho Độc chỉ Thôi Bác tiền bối hay. Liễu Mi nghe xong, trong lòng vui mừng lẫn kinh hoàng không ít, vì vẫn còn lo là Thượng Quan Linh cũng bị trúng chưởng của tăng nhân Thiên Trúc, không biết bịnh tình ra sao?
Lúc này đáy lòng nàng dù sao cũng còn tin tưởng rằng Thượng Quan Linh vẫn còn sống. Như thế cũng đã mãn nguyện lắm rồi! Liễu Mi thấy chị em Châu Thị có vẻ thân mật quấn quít Hầu Hạo; chị em Châu Thị cũng sợ Liễu Mi hỏi tới chuyện tâm tình thầm kín của mình, vội nói lảng ngay sang chuyện khác là đã báo tin cho mẹ là Ngọc điệp Châu Phụng ở Giang Nam hay tin, và hai chị em chưa được sự chấp thuận của Thôi lão tiền bối, nên không tiện rời khỏi Mặc Phụ Sơn để về Giang Nam. Liễu Mi cười thầm trong bụng và mắng ngầm:
- Mới đó đã si tình như điên rồi? Đến nỗi cũng không muốn nghĩ đến về nữa! Liễu Mi chỉ cười nhìn hai chị em họ Châu!
Phần Hầu Hạo nay tóc đã dài lại, thần lực trời phú đã khôi phục lại, Đông Phương Đình luôn luôn tươi cười, thân hình nàng cũng lẳn hẳn ra, hết vẻ ốm yếu xưa kia!
Liễu Mi vô cùng phấn khởi và vui mừng, theo ngay mọi người vào Lãnh Hương Các để yết kiến Độc chỉ Thôi Bác. Chỉ thấy Đại Hắc đang nằm lim dim bên cạnh Thôi Bác, khi thấy bóng Liễu Mi, nó khẽ lên lên tiếng như tỏ vẻ ân hận chưa lo hết về nhiệm vụ cứu Thượng Quan Linh. Nhưng hình như các vết thương của Đại Hắc còn chưa khỏi hẳn.
Độc chỉ Thôi Bác ngồi trên sàn, thấy Liễu Mi, trên khuôn mặt trắng bệnh hoạn ấy mỉm lên một nụ cười, ra dấu tay cho mọi người ngồi, lúc này trong Lãnh Hương Các im tịnh vô cùng.
Độc chỉ Thôi Bác từ từ cất giọng rằng:
- Liễu cô nương đến đây, chắc đã nghe họ kể hết mọi sự đã xảy ra rồi, lúc này cũng không nên lo ngại gì nữa, hãy cứ an tâm ở lại Lãnh Hương Đỉnh này. Hôm trước, bên Phi Các ma cung Vô ảnh Phong của dãy núi Cửu Lãnh đã cho người lại nhắc về vụ hội tụ tại Nhã Nam xưa kia, vì chính ta đã từng nói là sẽ truy cứu về vụ chết của Bạch điệp Châu Ni, ta đã ra lệnh cho Độc Ma, hãy về bảo ngay cho Nhị đồ đệ của y là Đinh Hãm trong hai tháng phải tự chết để tạ tội hãm hại Bạch điệp Châu Ni. Đến nay, Đinh Hãm sắp y theo lời hẹn đến Mặc Phụ Sơn để thỉnh tội. Sau khi ta được tin này, trong lòng bỗng cảm thấy hồi hộp bất an, sự kiện này xưa nay ta chưa cảm thấy như vậy bao giờ, nay liễu cô nương đã đến đây, có thể cùng với bốn người của Hầu Hạo lo nghiên cứu bàn tính và hãy lo sắp xếp mọi chuyện, không chừng chuyến này tên Đinh Hãm dám to gan đến Mặc Phụ Sơn của ta như thế, chắc có lẽ nó sẽ quỉ kế âm mưu gì đấy...
Liễu Mi nhận lời, Độc chỉ Thôi Bác nói xong, bỗng nổi cơn ho dữ dội, trông thần sắc có vẻ trầm trọng vô cùng, Đông Phương Đình vội vàng chạy lại, đấm thoa cho vị tiền bối Thôi Bác, và đưa ngay hai đóa hoa đỏ chói cho Thôi Bác nuốt, tiếng ho rũ rượi từ từ được lắng dần xuống. Hầu Hạo đưa mắt cho Liễu Mi, cả hai nhẹ chân rút lui ra. Liễu Mi được chị em Châu Thị đưa đến phòng nghỉ và tắm gội để dùng cơm nước, và cũng mặc luôn loại áo ấm bằng da thú giống hệt chị em Châu Thị và Đông Phương Đình, vì sức lạnh nơi đây phải có loại áo ngự hàn này mới chịu đựng nổi cái lạnh kinh khủng trên tuyệt lãnh của Mặc Phụ Sơn.
Cơm nước xong bốn gái một trai lo bàn tính kế hoạch để đối phó cục thế sắp xảy ra nay mai. Mọi người đều cho rằng: tên Đinh Hãm đã cả gan dám lại đây chắc chắn nó đã có âm mưu gì trong này đây. Nếu nghĩ về mặt lý tưởng một chút, hoặc may ra thầy trò lũ Độc Ma trên Vô ảnh đã khiếp sợ về oai danh của Độc chỉ Thôi Bác lão tiền bối, và biết chắc Thôi lão tiền bối đã nói là thực hành, Đinh Hãm tự liệu không thể nào thoát khỏi, thời hạn hai tháng vừa hết, Độc chỉ Thôi Bác thế nào cũng truy cứu ngay về vụ này, khi đó, dẫu cho Thôi Bác không thân hành xuất mã, nhưng con Đại Hắc thế nào chả đột nhập đến Phi Các ma cung? Đinh Hãm làm sao có thể thoát được? Cho nên thầy trò họ sau khi bàn tính kỹ lưỡng, chẳng thà dùng ngay khổ nhục kế do Đinh Hãm thân hành cô thân độc mã đến xin mạng và tạ tội, may ra Độc chỉ Thôi Bác sẽ giảm nhẹ tội cho chăng? Và rất có thể tạm tha cho y một dịp để cải tà qui chính cũng chưa chừng.
Nhưng nếu nghĩ về mặt không may: Thầy trò Độc Ma vốn nổi danh hung dữ trong thiên hạ, nhất là tính tình nham hiểm hung ác tuyệt độ, hay dùng kế để gạt lừa địch, nhất là trong nhóm thầy trò của Độc Ma, tên Đinh Hãm là lắm mưu chước hiểm độc hơn ai, nay hắn ngang nhiên dám lại phó hội thỉnh tội như thế, và thừa biết chị em Châu Thị thế nào cũng trả mối thù đã hại chị Châu Ni, vậy thì cuộc đi Mặc Phụ Sơn của hắn, hy vọng sống của hắn chẳng mong manh lắm sao? Không lẽ hắn đã ỷ vào một bí mật gì? Rất có thể lắm!
Sau khi bàn tính kỹ, họ đều đồng ý là lập tức chuẩn bị để đề phòng ngay, trừ hẳn nàng Đông Phương Đình không biết võ công ra, mọi người đồng ý chia thành ba tiểu tổ, Liễu Mi riêng một tổ, Hầu Hạo riêng một tổ, chị em Châu Thị hợp nhau lại thành tổ thứ ba, và luân phiên nhau để đảm nhiệm công việc canh gác tuần tiễu trên toàn khu của Lãnh Hương Các.
Vào đêm thứ ba, luân đến phiên của chị em Châu Thị trực gác, Liễu Mi không dám sơ ý, nàng vẫn mặc sẵn quần áo để ngủ. Vừa chợp mắt mơ màng vào làng mộng, bỗng nghe tiếng quát hô của Hồng điệp Châu Chu, tiếp theo là tiếng cười ha hả, và tiếng binh khí va chạm! Liễu Mi vội rút ngay kiếm, phi thân nhanh ra ngoài, dưới ánh trăng thanh lành lạnh của Mặc Phụ Sơn dạ du khách của Vô ảnh Phong đã đến thăm viếng! Hầu Hạo đã đứng cạnh chị em Song Điệp, hiển nhiên chàng đã lo lắng an nguy cho hai nàng nhanh hơn mình. Đôi bên đã giao tranh, và hiện đều đang giữ thế thủ, thấy chị em Song Điệp chưa bị gì, Liễu Mi mới bớt lo!
Nàng nhìn sang phía Đinh Hãm, thấy hắn ăn mặc theo lối thiếu niên thư sinh, dưới bóng trăng lạnh, phong độ cũng phây phây! Cũng môi đỏ răng trắng, mắt sáng như sao, một công tử xuất sắc cũng như ai! Giang hồ truyền rằng tên nhị ma Đinh Hãm này vốn là người mắc bệnh lở ghẻ kinh niên, tóc đều bị rụng vì lở chốc, mặt mũi sần sùi kinh tởm, và cũng thiên hạ đồn rằng tên này giỏi khoa Dị dung thuật (thay đổi diện mạo), vậy nay xem ra bộ mặt ngụy trang là kẻ thư sinh đây, chắc chắn là thứ giả đã tạo nên, nếu người nào không biết rõ căn nguyên của hắn, nhất là đối với phái nữ nhẹ dạ, thế nào cũng bị lầm ngay khuôn mặt hấp dẫn ấy! Liễu Mi tung mình nhảy ngay đến phía Hầu Hạo, chỉ thấy tên Đinh Hãm cải trang ấy có vẻ vô cùng điềm tĩnh, hắn đưa mắt nhìn hết bốn người một lượt, cất tiếng cười và đưa tay lên thi lễ:
- Thân chào Hầu công tử, Liễu cô nương cùng nhị vị Châu cô nương... Hân hạnh gặp nhau đây...
Châu Chu tính vung ngay kiếm ra đánh, nhưng bị Châu Sách cản ngay lại. Đôi mắt tham lam của Đinh Hãm liếc nhìn hết ba nàng, miệng lên tiếng ghẹo rằng:
- Tam vị cô nương mới xa cách một thời gian ngắn như thế nay nghiễm nhiên lại xinh khéo hơn trước nhiều, không biết những loại công tử nào mới có diễm phúc chiếm được trái tim của người đẹp đây! Ha! Ha! Ha!...
Trước kia, Đinh Hãm từng biết mặt chị em Châu Thị, nhưng riêng về Liễu Mi chỉ nghe nói, nên thấy mặt đã nhận ngay ra! Quả nhiên là nàng tiên đẹp mà lại còn thông minh tuyệt!
Cả ba người đều biết rõ lợi hại về Đái Ma thần công và Nhiếp Hồn Công trong ánh mắt của Đinh Hãm, chính vì thế mà trước kia Châu Ni bị nạn, lúc này cả ba nàng đều không dám nhìn thẳng với làn nhãn tuyến của Đinh Hãm.
Hầu Hạo hỏi ngay rằng:
- Đinh Hãm, ngươi nay đã lại đây để tạ tội, sao còn không quì ngay xuống mà tự kết liễu mạng sống của mình cho rồi, còn đợi chờ gì nữa.
Đinh Hãm cười rằng:
- Đâu mà lại có chuyện dễ dàng như thế, nay ta có thư đây, vậy phiền lòng các người hãy đưa ngay lại cho Thôi Bác!
Dứt lời vèo một tiếng, quăng ngay mảnh giấy hoa tiên xếp gọn thành bốn sang. Liễu Mi dặn ba người canh chừng cho cẩn thận, nàng cầm ngay bức thư ấy đi tìm ngay vị Độc chỉ Thôi Bác. Khi đến Lãnh Hương Các, Độc chỉ Thôi Bác đã lững thững bước ra, Liễu Mi báo cáo Đinh Hãm đã đến, và đưa thư ngay cho vị cái thế kỳ nhân Thôi Bác. Sau khi xem xong, vẻ mặt của vị Đoạn trường nhân Độc chỉ Thôi Bác tỏ ra vô cùng quan trọng. Liễu Mi rất muốn biết xem trong ấy đã nói những gì? Nhưng nàng không có cơ hội vì sau khi xem xong, Thôi Bác đã cất ngay bức thư ấy vào ống tay áo, miệng khẽ huýt ngay một tiếng sáo, Đại Hắc bỗng hiện ngay đến trước mặt như chờ lệnh của chủ nó. Trong lúc này thần sắc nó oai lẫm vô cùng.
Đoạn trường nhân Độc chỉ Thôi Bác lành lạnh rằng:
- Tên Đinh Hãm lớn gan thật, dám rủ ta lên trên một ngọn Tả Diện Phong (ngọn núi bên cánh trái) để tỉ thí, thật đáng thương thay cho hắn, với thân phận đom đóm ấy mà dám sánh với ánh sáng của trăng sao! Thôi cũng được, để ta thân hành xử quyết quân hung đồ này, để nó chết cho được cam tâm hả dạ không oán hờn...
 
0
Hồi 059. Ngân Hoa Hỏa Thụ
[/align]

Ngừng một lúc, Thôi Bác lại đổi giọng tự lẩm nhẩm rằng:
- Nhưng lạ, sao tên này lại rủ ta đến một nơi núi đóng băng tuyết quanh năm như Tả Diện Phong như thế... không lẽ nó lại rõ chuyện bí ẩn của mình sao?... Không! Không đời nào có thể như thế được, có lẽ đây chỉ là một sự ngẫu nhiên trùng hợp mà thôi...
Giọng nói khẽ dần, nhưng Liễu Mi vẫn nghe rõ ràng, bất giác trong lòng xao động mạnh, quả nhiên nàng đã tự đoán không sai, nơi Tả Diện Phong của Mặc Phụ Sơn một nơi quanh năm tuyết phủ như thế, nơi đó chắc đã có chuyện bí mật gì của vị kỳ nhân Độc chỉ Thôi Bác mà không thể cho người đời biết được. Đinh Hãm là tên quỉ kế xảo trá cùng mình, và lẽ đương nhiên cuộc rủ Độc chỉ Thôi Bác ra đó để giao tranh không phải là một sự ngẫu nhiên được.
Nghĩ vậy Liễu Mi bèn cố khuyên can Thôi Bác chớ nên rời Lãnh Hương Đỉnh, cứ việc xử quyết tên Đinh Hãm ở đây cũng được! Độc chỉ Thôi Bác trầm tư một hồi, bỗng ngửng ngay đầu lên, tia nhìn chiếu thẳng ngay lên mặt của Liễu Mi. Nàng Liễu Mi tự cảm nhận vị kỳ nhân cái thế này chắc có bí mật gì không muốn cho ai biết, chắc là một chuyện không mấy đẹp lòng, nhưng lúc này thấy sắc mặt của Độc chỉ Thôi Bác điềm nhiên, không tỏ vẻ gì là ăn năn hay hối hận, chắc có lẽ mình đã đoán lầm về người kỳ nhân cái thế này! Liễu Mi hơi hối hận với lối nghĩ của mình, nàng bất giác cúi đầu xuống như để chuộc lỗi của mình.
Thôi Bác bỗng hỏi:
- Liễu cô nương, những điều lầm lỗi mà sự thực ra là vô tâm, như vậy có thể nói là tội lỗi của mình không nhỉ?
Liễu Mi hiểu ngay, lập tức trả lời ngay:
- Kính thưa tiền bối, những sự lầm lỗi do vô tâm mà gây nên, tuy có thể người ta bất an trong lương tâm, nhưng đương nhiên đó không phải là tội lỗi của mình!
Nói xong, nàng ngửng đầu nhìn lên, thấy vị kỳ. nhân cái thế trước mặt mình hình như đã bớt một nỗi suy tư gì trong lòng, Liễu Mi hơi cảm thấy yên lòng.
Thôi Bác lại lẩm nhẩm nói:
- Cám ơn Liễu cô nương. Nay ta đã đủ dũng khí để đến đó, đối với sự khiêu chiến của kẻ hậu bối giang hồ, mình đâu có thể cự tuyệt lời thỉnh cầu của chúng! Nếu cự tuyệt tức là mình đã tỏ ra hèn yếu.
Liễu Mi vội rằng:
- Vãn bối nguyện đi theo ngài để dự trận!
Độc chỉ Thôi Bác lắc đầu rằng:
- Không nên, các người cần phải lo canh giữ ngôi Lãnh Hương Các, bởi vì... bởi vì... - Tiếng thở dài não nề, rồi Thôi Bác buồn bã nói tiếp: - Nhưng nay không còn thời gian nói cho hết câu chuyện khá dài này, cô nên nhớ kỹ, nếu chẳng may mà gặp nguy biến xảy ra, hãy mau mau mở ngay cánh cửa đá bên trái của Lãnh Hương Các, hoặc may ra còn có cơ cứu kịp, còn về cánh cửa đá bên mặt ấy, các người đừng có mó đến làm gì, vì trong ấy toàn những báu vật mà các người phải lo hết sức để bảo vệ, nếu ta chẳng may lỡ xảy ra chuyện gì bất trắc, người trên giang hồ thế nào cũng đến tranh đoạt những báu vật trong đó! Còn phần anh em Hầu Hạo, cô càng phải nên cẩn thận, đừng để anh em chúng lọt vào tay người khác nữa...
Những câu nói tuy bí mật chẳng chuyện nào ăn khớp với chuyện nào, nhưng đối với con người sẵn thông minh của Liễu Mi, nàng biết trong này lẽ tất nhiên có nguyên do, trước là Thôi Bác không chịu nói, nay lại nói là không đủ thời gian. Nhưng vì muốn trấn an tâm tư của vị Độc chỉ Thôi Bác, Liễu Mi gật đầu liên hồi rằng:
- Kính thưa tiền bối cứ an trí, mọi việc sẽ có vãn bối lo liệu đúng theo ý ngài.
Độc chỉ Thôi Bác nhìn nàng, khẽ gật gù, miệng nở một nụ cười như vô cùng tin tưởng vào cô bé thông minh tuyệt như Liễu Mi.
Nhưng nụ cười ấy tắt ngay một cách rất nhanh, Liễu Mi nhận rõ thấy trên khuôn mặt của vị ẩn thế đại hiệp này đã để lộ ra một vẻ quyến luyến và nhớ thương.
Chỉ nghe Độc chỉ Thôi Bác lẩm nhẩm rằng:
- Liễu cô nương quả là người thông minh, hèn gì ai cũng khen thưởng cô, từ khi tại Nhã Nam, ta đã có ý muốn thu ngay cô làm môn đệ, không chỉ riêng cô và cả hai anh em Hầu Hạo, vì ta còn chưa hết trách nhiệm với hai anh em họ. Chị em Châu Thị cũng được cảm tình của ta lắm... nhưng ta vẫn tưởng đâu thời gian còn dài, chưa nên vội vã làm gì trong lúc này...
Liễu Mi vội an ủi rằng:
- Với công lực cái thế của tiền bối như thế, đối với việc xử quyết một tên Đinh Hãm bại loại trong giang hồ, cũng không đến nổi phải mất bao nhiêu thì giờ, chờ đến khi ngài về, vẫn còn nhiều thì giờ để chỉ dạy cho bọn vãn bối kia mà, vậy xin ngài chớ nên để tâm chuyện này làm gì...
Đôi mắt của Độc chỉ Thôi Bác vô cùng đăm chiêu, chỉ thấy vị ẩn thế đại hiệp khẽ lắc đầu, thần sắc có vẻ bất đắc dĩ lắm!
Liễu Mi vội bước lại dìu đỡ và lên tiếng:
- Kìa tiền bối! Ngài làm sao thế?
Độc chỉ Thôi Bác khẽ nói nhỏ bên tai Liễu Mi:
- Liễu cô nương, trong thâm tâm ta lúc này khó chịu vô cùng, có lẽ... ta đi chuyến này... không bao giờ về nữa...
Liễu Mi thất kinh, cuống rối lên:
- Tiền bối! Sao ngài lại nghĩ quan trọng đến thế? Tên Đinh Hãm chẳng qua là một kẻ vãn bối của phái gian tà, đến như bản thân Liễu Mi đây còn chẳng coi ra gì nữa, như vậy hắn đâu phải là tay đối thủ của ngài mà lo...
Thôi Bác lắc đầu rằng:
- Không... không phải... không phải chuyện này... mà chính là trong ý nghĩ của ta đang dằn vặt ta!... Cô đâu có biết cho nỗi khổ của ta... trong những năm sống tại Lãnh Hương Các đây, đã nhiều lần ta tính nhảy xuống ngọn núi tuyệt phong tả diện ấy để kết thúc cuộc sống thừa của mình, để cầu sự an tâm trong đáy lòng của mình...
Liễu Mi hiểu ngay vị kỳ nhân cái thế đang có chuyện đau khổ trong người, một thứ đau khổ tuyệt đỉnh của tâm hồn, nàng vội nói lớn lên:
- Không! Không! Thưa tiền bối! Vì trách nhiệm của ngài còn chưa xong, bao nhiêu việc còn phải chờ ngài giải quyết, vậy ngài đâu có thể nào buông tay dở dang như thế được... Mong ngài hãy nghĩ lại cho...
Câu nói lớn này, quả nhiên đã có hiệu lực, Thôi Bác lấy lại tinh thần phấn khởi của mình, ánh mắt đăm chiêu biến ngay. Hầu Hạo và chị em Châu Thị từ bên ngoài bước vào, Đông Phương Đình cũng từ trong Lãnh Hương Các bước ra, mọi người đều tập trung cả một chỗ.
Hầu Hạo lên tiếng:
- Kính thưa tiền bối, tên Đinh Hãm đã ra đi, và hắn dặn rằng hắn đi trước để chờ ngài tại Tả Diện Phong; và hắn cũng không quên nói rằng: Độc chỉ Thôi Bác được xưng là Đệ nhất cao thủ trong thiên hạ, thế nào cũng không chịu thua ai.
Liễu Mi kéo ngay Hồng điệp Châu Chu dặn nhỏ vài câu, Hồng Điệp gật đầu lia lịa, và nàng lén đứng ngay cạnh chim ưng Đại Hắc. Thôi Bác lao ngay lên lưng chim ưng Đại Hắc, và lên tiếng căn dặn mọi người cẩn thận canh phòng Lãnh Hương Các, rồi đưa tay ra dấu, con Đại Hắc quát lên một tiếng lớn, tung cánh bay bổng ngay lên! Và ngay lúc đó, Hồng điệp Châu Chu bỗng vọt mình lên túm ngay vào đùi chim ưng Đại Hắc. Mọi người thất kinh kêu rú lên, Liễu Mi vội lên tiếng rằng:
- Chớ có hét ầm lên thế! Chính tôi sai em Hồng Điệp đi theo vậy!
Thanh điệp Châu Sách vội lớn tiếng gọi vọng lên:
- Hãy cẩn thận đấy!
Nhưng Đại Hắc đã bay cao, đương nhiên nó không muốn hại đến cô bé đang ôm chặt đùi mình, Độc chỉ Thôi Bác thấy vậy đưa tay ra nhấc ngay thân hình bé bỏng của Hồng Điệp lên lưng con Đại Hắc, hai người cưỡi một chim, cả ba từ từ xa dần...
Phía dưới, mọi người nhìn theo và trong lòng đều lo canh cánh về hậu quả! Trời đã bắt đầu sáng hẳn, bóng chim ưng cũng đã biến dạng, Liễu Mi kể lại thần sắc và chuyện kỳ dị của vị ẩn thế đại hiệp cho mọi người nghe.
Thanh điệp Châu Sách chủ trương, nên mở ngay hai cánh cửa đá tả hữu Lãnh Hương Các ra xem có gì bên trong, nhưng anh em Hầu Hạo lại ngăn cản, vì tình thế chưa đến lúc nguy cấp, hãy khoan đã. Một trai ba gái, đứng ngay đỉnh phong, đưa mắt nhìn hết phong cảnh của khu Mặc Phụ Sơn, nhưng trong lòng ai nấy đều áy náy. Họ chờ đợi có đến cả gần chục tàn nhang đã trôi qua. Thình lình một tiếng ầm dữ dội vang từ mé trái của Tả Diện Phong lại. Tiếp theo là những tiếng: Ùng lùng! Ùng lùng vang lên liên miên không ngớt. Thấy cả những ánh quang lạ lùng bắn tung lên, nhưng vì khoảng cách quá xa, nhìn không rõ vật gì. Mọi người kinh hồn hoảng phách, Liễu Mi hấp tấp rằng:
- Nguy to mất! Xem tình thế, hình như núi tuyết đã lở.
Nàng vốn là tay hiểu nhiều biết rộng, chắc đã đoán không sai, Hầu Hạo cuống lên, chuẩn bị ngay lại đó xem thực hư ra sao.
Liễu Mi ngăn ngay lại rằng:
- Chớ vội, vì công lực của Độc chỉ Thôi Bác không những hơn hẳn tên Đinh Hãm đến mười bực trên mà lại có Đại Hắc trợ sức, tin chắc không thể nào bị sơ suất điều gì đâu, hơn nữa Thôi Bác đã căn dặn chúng mình phải cố lo công việc bảo vệ Lãnh Hương Các này, và nhất là không cho Hầu đại ca đi mạo hiểm!
Bốn người vẫn chờ đợi... và chờ đợi... Thời gian lại trôi qua lối thêm năm tàn nhang nữa, thình lình trên Lãnh Hương Đỉnh, một giọng cười vang lên. Mọi người kinh ngạc nhìn lên, Đinh Hãm đã quắp theo Hồng Điệp đến từ lúc nào không ai hay biết! Chỉ nghe thấy tiếng của Đinh Hãm ha hả cười rằng:
- Hừ! Lão Thôi Bác chỉ được chút hão danh! Nay quả nhiên đã bị vùi xác xuống vực thẳm của núi tuyết, còn con chim hung dữ ấy, hình như nó đã bị thương từ trước, nên khi núi tuyết bị lở xuống, nó không còn tung cánh bay lên được, và ngang nhiên cùng bị vùi chung xác với chủ nó . . .
Vừa nói, Đinh Hãm vừa buông ngay Hồng Điệp ra, và nàng đã chạy nhanh sang phía Thanh Điệp ôm chặt ngay chị mình đứng run cầm cập, Thanh điệp Châu Sách lên tiếng hỏi em rằng:
- Kìa em! Lời nói của tên Đinh Hãm này đều thật cả sao?
Hồng Điệp gật đầu công nhận hết là lời nói của tên Đinh Hãm không sai chút nào, quả thật Đoạn trường nhân Độc chỉ Thôi Bác và con chim ưng Đại Hắc đã hy sinh.
Đinh Hãm lúc này vô cùng ngạo mạn hiên ngang rằng:
- Đêm nay, ta đến để khuyên các ngươi! Các ngươi cứ việc an tâm, ta đến đây cốt để thanh toán danh dự của ta với lão Độc chỉ Thôi Bác! Tuyệt không hề có ý làm khó dễ gì với lũ ngươi. Nhưng nếu chịu nghe theo ta, thế nào cũng có ích lợi cho lũ ngươi, không chừng còn sung sướng hạnh phúc là khác. Ha! Ha! Ha!... Chắc có lẽ lũ ngươi tin, chưa biết, tại nơi cư ngụ của Thôi Bác đây, đã cất giấu những báu vật vô giá của những châu phẩm đại nội của tiền trào vua chúa, ngoài báu vật Chân châu lũ kim sa (áo bằng sợi kim tuyến và đầy dẫy chân châu đính trên) ra, còn có mười bảy dị bảo khác, đó còn chưa kể đến những vàng bạc hằng hà vô số trong đó, kỳ đại hội các phái giang hồ ở Nhã Nam ấy, chính họ đã tính tước đoạt hai anh em Hầu Hạo, cốt để thi hành mưu kế bắt chẹt Độc chỉ Thôi Bác đánh đổi kho tàng vô giá đó?...
Ngừng một lúc, hắn lại nói tiếp:
- Nay tuy không biết kho tàng ấy hiện nằm đâu trên Mặc Phụ Sơn, nhưng ta tin chắc với bản lãnh và tài trí vượt bực của Đinh Hãm ta đây, thế nào ta cũng khám phá ra kho tàng vô giá này! Thử nghĩ xem, sau khi kho tàng báu vật này lọt vào tay quản trị của Phi Các tiên cung Vô ảnh Phong của chúng ta, và nhất là trên giang hồ, tên Độc chỉ Thôi Bác đã qua đời, chỉ có bọn Phi Các tiên cung chúng ta là hãnh diện độc tôn trên giang hồ, với tiền của và thế lực như thế, hỏi ai mà không chịu phục tùng nhóm Vô ảnh Phong!... Còn hai anh em Hầu Hạo nên theo ngay ta về Tiên Cung để cho sư phụ ta xử quyết, còn hai chị em Châu Thị... hí hí!... Chị Châu Ni của hai cô đã từng làm lễ hợp thể chi duyên với ta rồi, nay tuy nàng đã quá cố, ta vẫn tưởng nhớ đến luôn, nay thấy hai em lại hao hao giống chị như thế, ta càng nhìn càng ưa... nay ta tuy đường đột, nhưng hai em cũng nên nghe lời là theo ta về ngay, thế nào ta cũng đặc biệt chiều đãi hai em, chúng ta cùng sống những ngày hạnh phúc của trần gian... Còn phần Liễu cô nương, tại hạ đây không dám miễn cưỡng, nhưng xin cô hãy về bẩm rõ lại với lệnh tôn Liễu lão bang chủ, nên dẹp bỏ ngay danh hiệu Thanh Thông Bang hội mà đầu hàng Phi Các tiên cung của chúng tôi cho rồi, nếu không, khi đại đội nhân mã của Tiên Cung đến vấn tội ương ngạnh chừng đó có hối cũng không kịp...
Liễu Mi cả giận, nàng quát lên:
- Ác tặc! Dám cả gan lớn mật sủa bậy! Cô nương ta sẽ đưa ngay hồn người du âm phủ cho rồi. – Dứt lời, rút kiếm công hãm.
Tiếng quát của Liễu Mi khiến cho Hầu Hạo kinh tỉnh, chàng cũng cả tức, lớn tiếng quát rằng:
- Đinh Hãm hãy mau nạp mạng cho ta!
Tiếng dứt, kiếm vung ngay ra, cùng hợp sức với Liễu Mi đánh tới tấp ra, lập tức gió kiếm vùn vụt, trong chớp nhoáng làn song kiếm đã vây chặt Đinh Hãm. Đinh Hãm chỉ lạnh lùng cười, thân pháp biến ảo như một bóng ma chập chờn, thình lình trong làn kiếm quang của Hầu Hạo và Liễu Mi, Đinh Hãm uyển chuyển vọt khỏi ngay trận thế kiếm quang của hai người, tiến sát ngay đến sau lưng Hầu Hạo đưa chường phạt tới.
Liễu Mi vội lên tiếng:
- Hầu huynh hãy coi chừng, đừng để cho hắn thoát! - Dứt tiếng lại vung kiếm tiến đánh.
Đinh Hãm ung dung cười nói:
- È, người đẹp cũng dễ thương quá! Ta xin nghe lời ta làm sao nỡ bỏ người đẹp đi cho được. Ít nhất ta cũng phải hưởng được chút ít tình cảm đặc biệt của cô mới đành bỏ đi chứ!
Vừa nói mắt Đinh Hãm vừa lẳng lơ nhìn Liễu Mi với những ánh chớp lia lịa của hắn, nhưng nàng đời nào chịu vào bẫy của địch thủ, Liễu Mi tiến đánh cẩn thận, tâm thần không hề nóng nảy, Hầu Hạo trái lại hậm hực nóng tính, chàng muốn làm sao hạ ngay địch thủ, nhưng thân hình của Đinh Hãm bỗng lại chập chờn như bóng ma trơi, thình lình ào một tiếng đánh ra một chưởng, chưởng này phát ra từ cánh trái của địch, và nhắm ngay thân sau của Hầu Hạo đánh tới, ngọn chưởng lại chứa đựng cả hai đặc điểm cương nhu, oai lực kinh người, đúng là một thứ công lực nội gia thượng thặng trong làng võ lâm. Mắt thấy Đinh Hãm mỉm cười phát ra ngọn chường tuyệt luân này, Hầu Hạo không làm sao chống đỡ kịp, nguy cơ đã hiển hiện.
Nhưng Liễu Mi cũng đã dùng ngọn khinh công thượng thặng của mình, khi Đinh Hãm chuyển mình xoay thế, nàng cũng đã theo sát ngay phía sau địch, khéo đến nỗi như bóng theo hình! Kiếm đưa nhanh ra, và chọn ngay thế chưởng của Đinh Hãm và nhoáng nhanh một làn kiếm quang, giải tỏa ngay thế nguy tột độ của Hầu Hạo. Đồng thời nàng chuyển nhanh ngay thế thủ thành thế công, Đinh Hãm chỉ ý lên một tiếng, toàn thân mình lại vèo nhanh ngay ra để tránh thế đánh hiểm ác của đối phương. Sau cơn biến đổi chớp nhoáng ấy, không những Hầu Hạo kinh tỉnh, mà cả Liễu Mi cũng cảm thấy Nhị ma Đinh Hãm công lực quả nhiên bất phàm. Chỉ nội môn điểm chỉ và thân pháp nhanh như ma trơi ấy, đã vượt hẳn trên Liễu Mi và Hầu Hạo rồi. Chị em Châu Thị thấy Liễu Mi vừa cứu nguy cho chàng Hầu Hạo, cũng chẳng cần biết đắn đo công lực của mình đi đến đâu, cả hai tuốt ngay kiếm và tham gia ngay vào trận chiến.
Thoạt đầu, dưới sức công đánh mãnh liệt, hai nàng cũng tạm chiếm được chút ưu thế, nhưng khi thời gian kéo dài ra, Đinh Hãm đã biết công lực của hai nàng chỉ có vậy mà thôi, hắn bèn cố dùng đến ngọn tuyệt đỉnh khinh công của mình, nhảy nhót xung quanh bốn người, và lần nào hễ gặp nguy, hắn đều nhanh mình nhảy ngay lại phía sau chị em Châu Thị để mượn hai người này làm bia đỡ đòn, khiến cho Liễu Mi và Hầu Hạo đành phải thu ngay đòn đánh của mình lại. Phần thì khinh công của chị em Châu Thị quá non, luôn luôn bị chẹt trong thế giữa, tay chân vướng hẳn, chị em hai người cốt sao để giúp sức chàng Hầu Hạo và Liễu Mi nhưng luôn luôn lại gây nên trở ngại cho họ, lắm lúc thấy rõ mình thế nào cũng đánh trúng địch thủ, ấy thế mà chỉ nhoáng cái hắn đã biến mất, và khiến cho ngọn đòn của mình suýt đánh phải người của phe mình, nhiều khi không kịp thu thế, tiếng bính khí đã chạm vào nhau tóe đom đóm lửa, chị em Châu Thị khóc cười không xong. Trong lúc đó, tên Đinh Hãm là hay giở thói chọc ghẹo khả ố của hắn, với công lực của hắn, đương nhiên dư sức khiến cho hai chị em Châu Thị bị thương hay bại trận ngay, nhưng hắn lại không làm thế, chỉ ỷ hết vào tài khinh công thượng thặng của mình, cứ xuyên hết phía này qua phía nọ, thỉnh thoảng đưa tay rờ chỗ này, véo nhẹ chỗ kia, lắm lúc lại còn khẽ vuốt nhẹ vào má hai nàng, miệng chắp chắp! khen đẹp khen duyên, khiến chị em Châu Thị vừa kinh vừa thẹn, luôn luôn lên tiếng quát gắt vì tức giận. Dần dà Đinh Hãm bắt đầu nổi nóng, vì Liễu Mi và Hầu Hạo đã xoay cuộc chiến vào ưu thế cho phe mình, hắn bắt đầu lại thi hành cách đánh vững chắc của hắn, luôn luôn tung mình lại đằng sau phía hai chị em Châu Thị, để dùng hai nàng làm thuẫn hứng đòn. Mắt thấy Đinh Hãm đẩy mạnh chị em lại hứng đòn, khiến cho Liễu Mi và Hầu Hạo đều phải lúng túng thu đòn đánh về, Đinh Hãm lại được dịp cười như điên! Chứng tỏ hắn đắc ý vô cùng.
Hầu Hạo lớn tiếng rằng:
- Châu Sách! Châu Chu! Hai em mau tránh nhanh ra!
Thanh điệp Châu Sách và Hồng điệp Châu Chu vội hấp tấp lui ngay, hai làn kiếm quang của Liễu Mi và Hầu Hạo lập tức bao vây ngay Đinh Hãm. Nhưng tên Nhị ma Đinh Hãm này không hề nao núng, hắn vẫn bình tĩnh, đánh vững, ung dung đối phó. Liễu Mi và Hầu Hạo cũng đã rút được kinh nghiệm, lại biết đối thủ là một tay cao cường, mình không thể nào nóng tính được cần phải đánh cho thật kỹ , cứ thế, một trước một sau, hai người cố vây hãm Đinh Hãm. Dần dà, thân pháp như ma trơi của Đinh Hãm mất dần hiệu lực trước thế đánh kỹ lưỡng của hai người. Liễu Mi và Hầu Hạo đã chiếm lần sang ưu thế! Và những khi không thể tránh, Đinh Hãm đã phải trả đòn, mà nói về nội lực, Hầu Hạo trời phú sẵn thần lực, ngọn kiếm cực kỳ nặng, nhất là làn kiếm của Liễu Mi cũng lợi hại không kém, Đinh Hãm đã cố sức mở thử hai lần giải thế, nhưng thất bại, biết không phải địch thủ của hai người. Lúc này Liễu Mi và Hầu Hạo cũng rõ ngay tâm ý của họ càng cẩn thận, không vội tham công, vẫn cẩn thận lo phối hợp để áp đảo đối phương! Quả nhiên Đinh Hãm bị khốn đốn trong vòng vây của ánh kiếm! Lúc này phía Liễu Mi chỉ còn trông chờ thời cơ đến là sẽ kết liễu ngay hồn của tên Nhị Hung Đinh Hãm này về âm phủ để trả thù rửa hận cho Châu Ni, Thôi Bác, và Đại Hắc.
Tuy đã chiếm ưu thế rõ rệt, nhưng Hầu Hạo và Liễu Mi vẫn chưa dám mạo hiểm để đột kích thình lình! Vì hai người đều rõ, tên Nhị Hung Đinh Hãm này, dù sao vẫn là hạng đệ nhất lưu cao thủ trong giới võ lâm, quả là một kình địch, hơn nữa hắn lại là người quỉ kế đa đoan, khó lòng lường biết hắn đang mưu tính gì đây!
Đồng thời, để trả mối đại thù cho Châu Ni, Thôi Bác và Đại Hắc, chuyến này quyết không thể nào để Đinh Hãm thoát lưới, dù cho mang theo thương tích trên mình tẩu thoát cũng không được, vì nếu vậy thì hậu họa sẽ khó mà lường được. Bốn con mắt của Liễu Mi và Hầu Hạo lúc nào cũng bám sát vào Đinh Hãm, hai thanh niên vẫn tung hoành bổ vây địch, chỉ chờ cho Đinh Hãm mệt lả là họ sẽ ra trọng thủ hạ sát ngay, chờ đợi... không ai lên tiếng.... ngoài tiếng kiếm vùn vụt bủa khắp xung quanh Đinh Hãm, chị em Châu Thị và nàng Đông Phương Đình không biết võ công, đều kinh hãi hồi hộp chăm chú theo dõi cuộc chiến, nhưng trong thâm tâm của ba nàng lúc này đều khấn vái ngầm cho trận thắng thuộc về phe của mình. Trong ánh kiếm tua tủa ấy, thỉnh thoảng Đinh Hãm cố bửa vòng vây hòng thoát thân, nhưng lần nào cũng bị Liễu Mi ép vào vị trí cũ. Bỗng Đinh Hãm cười lên khanh khách, trong tiếng cười vô cùng quái dị, Hầu Hạo bất giác đưa mắt chú ý hắn, chàng lập tức cảm thấy bộ mặt đẹp trai ấy có một thu hút tia nhìn của mình. Hầu Hạo hơi bị xao xuyến trong lòng vì hấp dẫn lực của bộ mặt mỹ nam tử! Đinh Hãm khó khăn lắm mới sử dụng được ngọn Nhiếp Hồn Công, khiến cho Hầu Hạo mắc vào đòn của mình, dịp ngàn năm một thủa ấy đời nào hắn chịu bỏ lỡ cơ hội! Chỉ thấy Đinh Hãm tiến nhanh ngay thân áp tới vung nhanh chưởng đánh vụt ngay tới.
Liễu Mi vội lớn tiếng:
- Coi chừng! - Làn kiếm cuốn ngay lại phía sau Đinh Hãm.
Nhưng cao thủ gặp cao thủ có khác! Tên Đinh Hãm không thèm để ý đến thế đánh phía sau của Liễu Mi, toàn thân mạnh bạo tiến sang và hích mạnh vào thân Hầu Hạo. Nếu Hầu Hạo nằm trong trạng thái bình thường, và nhất là thần lực của mình phòng thủ kín thế đánh của địch trước mắt, và phối hợp với sự chận đầu đánh đuôi của Liễu Mi, tất nhiên thế nào cũng có thể chuyển nguy thành an ngay. Nhưng chẳng may cho Hầu Hạo chỉ trong nháy mắt sơ ý, tâm thần đã bị địch chia tán, chỉ thấy Đinh Hãm đang mỉm cười lạnh lùng, tiến sang, vừa nhẹ giật mình, sự mê mẩn chưa tiêu hẳn, thì lòng kinh hoàng đã nổi bật lên, cây kiếm trên tay bỗng bị phong tỏa ngay, không làm sao vung thế đánh ra được.
Thình lình Đinh Hãm hét lên một tiếng, thế chưởng chớp nhoáng không khác nào như đá vỡ tung bửa ngay từ trên tới, cây kiếm của Hầu Hạo lập tức cảm thấy bị ép nặng nề. Toàn thân bị bật lùi ngay về sau hai bước, Đinh Hãm cười, chụp ngay thời cơ, thế kiếm của Liễu Mi cũng vừa đến, chỉ thấy thân hình hắn khẽ động, thanh kiếm Liễu Mi vừa đưa lại, bỗng hình dáng của Đinh Hãm đã biến mất tăm tích, chỉ thấy hắn nhẹ nhàng lướt vèo ngay khỏi cạnh thân Hầu Hạo, khi soạt ngang vai ấy, Hầu Hạo nghiễm nhiên đã không ngăn cản nổi. Liễu Mi vừa kinh vừa giận, khó khăn lắm mới vây được hắn, nay không ngờ nó lại thoát khỏi lưới. Liễu Mi tung nhanh mình lại cạnh Hầu Hạo, chỉ thấy chàng thở hổn hển, mặt đỏ gay lên, nhìn sắc mặt chàng có vẻ bối rối và ân hận, Liễu Mi cũng không nỡ lên tiếng trách.
Tiếng cười của Đinh Hãm vọng lại rằng:
- Nay ta tạm tha mạng cho lũ ngươi, và nội trong mười hôm nữa, toàn sư đồ của Phi Các tiên cung Vô ảnh Phong sẽ đến vấn tội lũ ngươi, xem lũ ngươi có thể trốn thoát đâu cho biết...
Không để cho Hầu Hạo và Liễu Mi đuổi theo, Đinh Hãm đã tung mình vèo nhanh xuống khỏi Lãnh Phong Đỉnh của Mặc Phụ Sơn.
Đại địch đã đào tẩu, tuy đã đi xa, nhưng tiếng cười của Đinh Hãm vẫn còn dư âm vang lên lảng vảng.
Hai chị em Châu Thị và Đông Phương Đình lúc này chạy đến hỏi Hầu Hạo rằng:
- Đại ca không bị thương gì chứ?
Hầu Hạo gượng cười lắc đầu, cả ba nàng một cô em ruột, hai cô người yêu, nghe xong họ đều thở nhẹ trong mình.
Bốn nữ một nam lo về ngay Lãnh Hương Các. Liễu Mi bèn mời ngay Hồng điệp Châu Chu kể rõ đầu đuôi cuộc bị hại của vị ẩn cư đại hiệp Đoạn trường nhân Độc chỉ Thôi Bác ra sao. Hồng Điệp sau hai trận kinh hồn hoảng vía, lúc này nàng mới yên tâm và bắt đầu kể lại đầu đuôi vụ Độc chỉ Thôi Bác bị hại.
Sau khi nàng nhận ý kiến Liễu Mi để theo bén gót vị kỳ nhân cái thế Thôi Bác, nàng hồi hộp chỉ sợ Độc chỉ Thôi Bác không chấp nhận, nên đành ráng chờ đến khi chim ưng Đại Hắc tung cánh bay lên, và nhân ngay cơ hội ấy chụp ngay vào đùi Đại Hắc. Cảnh nguy không thể nào tả, tuy con Đại Hắc không lạ gì Hồng điệp Châu Chu, nhưng chính nó cũng không dám tự chủ chuyện này, đành dùng móng trảo lo giữ chặt lấy thân Hồng Điệp. Trong lúc đó tiếng lẩm nhẩm của Độc chỉ Thôi Bác trên lưng chim nói rằng:
- Rõ thật nghiệt chướng. Cho hắn lên đây! Chắc lại là ý con ranh Liễu Mi láu cá đây, có gì đâu mà hắn lại cho con bé này đi xem!?
Tuy đương trách, nhưng giọng nói vẫn hòa nhã, chỉ thấy Độc chỉ Thôi Bác đưa tay đỡ ngay Hồng Điệp lên lưng Đại Hắc. Hồng Điệp lúc này tái mét mặt, đến nỗi không dám thở mạnh, Độc chỉ Thôi Bác cũng chẳng có chuyện gì nói với Hồng Điệp. Chim ưng vẫn tiếp tục nhiệm vụ bay của nó, thình lình đến ngay phía trái của Mặc Phụ Sơn, tức Tả Diện Phong bỗng cảm thấy con Đại Hắc càng lúc càng bay cao, rồi thình lình nó lại lao nhanh hạ ngay xuống với tốc độ kinh người.
Đến khi đứng dưới mặt đất, Hồng điệp Châu Chu cảm thấy lạ lùng ngạc nhiên hẳn! Chỉ thấy ngọn tả phong này cao vô kể, dưới chân toàn như mây phủ, trước mắt lại sừng sững một bức tường tuyết cao tuốt không thấy đỉnh. Có lẽ địa thế nơi đây khá cao, nên tuy Hồng điệp Châu Chu đã mặc áo da thú ngự hàn, nhưng nàng vẫn cảm thấy lạnh trong mình, nhất là khi nhìn những ngọn núi tuyết chót vót ấy, hàm răng của nàng càng run lên cầm cập thành tiếng. Hai đầu gối đánh lặp cặp vào nhau. Càng như thế nàng càng cảm thấy mỏi cổ vô cùng.
Nơi nàng đứng, chỉ là một mũi nhọn nhô ra của núi tuyết, phía dưới đáy tuyết và băng đá, Hồng điệp Châu Chu cảm thấy sức lạnh từ dưới chân chuyển lên trên khắp cơ thể, nàng hối hận đáng lẽ mình không nên mạo hiểm đến nơi đây để bị lạnh kinh khủng như thế này, sự hoang mang đã khiến nàng phát khóc, vì tuổi nàng quá trẻ, cái khóc và cười bén nhạy vô cùng.
Thôi Bác bèn lên tiếng căn dặn Châu Chu rằng:
- Cô hãy đứng ở đây chờ đợi, và Đại Hắc sẽ đứng đây với cô, nhớ kỹ là chớ có động mạnh và đi đâu!
Dặn xong, Thôi Bác bèn bước đến vách tường tuyết sừng sững trước mắt; trong khi đó, con Đại Hắc giương ngay cánh của nó ra ủ ngay thân hình bé bỏng của Hồng Điệp vào trong nách. Lúc này nàng cảm thấy ấm áp nhiều, nàng nhẹ vạch lông của Đại Hắc để theo dõi hành động của Độc chỉ Thôi Bác bên ngoài, thật không gì sung sướng tho bằng lúc này, vừa ấm lại vừa êm ả, nàng bất giác lên tiếng rằng:
- Ưng đại ca! ấm quá! Tí nữa về tôi sẽ cho ưng đại ca một bữa ăn thật ngon để thưởng công ưng đại ca.
Đại Hắc chỉ khẽ tiếng kêu lên một tiếng nhỏ như bằng lòng tiếng an ủi của nàng lắm.
Ngay lúc đó, chỉ thấy tà áo Độc chỉ Thôi Bác phất phơ vì ngọn gió của núi tuyết, và ông ta lên tiếng rằng:
- Đinh Hãm! Nhà ngươi ở đâu?
Sau mấy tiếng gọi liên tiếp nhưng vẫn không tiếng trả lời chỉ nghe những âm thanh vang lại rõ ràng vô cùng quái lạ! Tên Đinh Hãm này đã biến đi đâu? Hồng điệp Châu Chu đang rúc dưới cánh của Đại Hắc băn khoăn. Chờ lâu một lúc sau, bỗng nghe phía sau bức tường tuyết ấy, có một giọng nói thê lương trầm trầm rằng:
- Kìa Thôi lão đệ! Thôi lão đệ! à... Chính tôi đây mà... Hà... - Một tiếng thở dài não nề tiếp theo.
Giọng nói như của một kẻ hấp hối bị trọng thương đang phát ra! Âm thanh rõ ràng, đượm vẻ u buồn não nề, phảng phất như tiếng của một oan hồn tử quỉ đang oán trách, khiến người nghe phải rùng mình rợn tóc gáy, tâm thần bồi hồi theo nhịp tim đập thình thịch. Hồng Điệp hoảng hồn sợ hãi, nàng chưa bao giờ nghe tiếng nói kinh khủng như thế, nàng tính vùng chạy, rõ ràng đây là tiếng của ma quái, chắc đây là oan hồn ma đã chết lâu đời tại khu núi tuyết này đây, khi nàng nhích người động vào thân Đại Hắc, nàng sực nhớ mình đang rúc trong nách của chim ưng, đã có sự bảo vệ chắc chắn của Đại Hắc, không đáng ngại gì thêm nữa, thấy mắt nó sáng quắc và đang chăm chú về hướng phát ra tiếng nói, hình nó cũng đang thắc mắc tâm sự gì thì phải! Nhưng nó lại có vẻ hiên ngang bình tĩnh lạ lùng! khiến cho Hồng Điệp cảm thấy an tâm phần nào trong bụng!
Nàng chú ý nhìn về phía trước, chỉ thấy sau khi Độc chỉ Thôi Bác nghe rõ tiếng nói này, hình như cảm thấy kinh dị vô cùng, thân hình gầy đét của vị ẩn cư đại hiệp Thôi Bác này đang bị lảo đảo. Đại Hắc khẽ kêu lên một tiếng, hình như nó cũng đang lo cho hành động đột ngột của chủ nhân, tính bay ra để bảo hộ, bỗng thấy Thôi Bác lại vội vàng nuốt ngay hai đóa hoa đỏ và khôi phục ngay tinh thần lại như cũ, tiếng nói thê lương im bặt, mọi sự lại trở về cảnh êm tịnh, khiến cho người ta có cảm giác ngộp thở!
Nhưng không khí ngộp thở đó không kéo dài được bao lâu vì đã có tiếng người ngâm nga rằng:
Ngọc thụ thiếu tù tuấn,
Miêu gia diệm qui hương,
Tương giai kết liên lý,
Cầm tì lạc kim thương. . .
Đứng trước vách tường băng tuyết lạnh lùng ấy, thân hình gầy ốm của Thôi Bác lại lảo đảo, chỉ nghe vị ẩn cư đại hiệp này cố cất tiếng hỏi:
- Ngươi là ai? Là ai?
Tiếng nói từ phía bức vách tường băng tuyết vang lại lạnh lùng:
- Thôi Bác! Thật không nhận ra tôi rồi sao? Hà! Hà!... Thôi lão đệ! Tôi là Ngọc Thụ Thiếu Tù đây! Chính nghĩa huynh của Thôi lão đệ?... Hà! Hà! Hà...
Thôi Bác lớn giọng gằn rằng:
- Nói nhảm! Nghĩa huynh đã chết từ mười năm trước, ngươi chính là tên Đinh Hãm ác tặc? Hừ! Ngươi tưởng tao không biết sao? Với tài cán của ngươi mà cũng tính mạo xưng nghĩa huynh của ta hả? Đừng có mớ ngủ như thế. . .
Nhưng tiếng nói thê lương kia vẫn trầm tĩnh, không có vẻ gì bực tức:
- Ồ! Thế sao? Thôi Bác! Lúc này lương tâm lão đệ chẳng đang cuống là gì đó! Nhưng tội gì phải cuống quít đến thế? Nếu ngươi không có một sự bí mật đau khổ nào, hay một chuyện gì cắn rứt lương tâm, tại sao ngươi lại tỏ ra bối rối vậy?... - Bỗng tiếng nói quát lớn lên: - Thôi Bác! Con người đang mắc bệnh cuồng về Thương tâm, hại người lại hại mình, chỉ là một tên quân tử giả hiệu, nay ta phải kể rõ hết những tội lỗi xấu xa của ngươi ra, khiến cho thiên hạ ai nấy đều rõ con người đã lừng danh: Thiên Hạ Đệ Nhất Kiếm! và chính là con người từng được giới võ lâm tôn sùng như Độc chỉ Thôi Bác Thôi đại hiệp! Hừ! những mỹ danh ấy chẳng qua chỉ dùng để bưng bít che đậy tấm lòng ích kỷ xấu xa của bản ngã tiểu nhân của bản thân mình! Đã lỡ lầm lỗi, mà không còn dám nhìn nhận tội lỗi của mình, như thế có khác gì với kẻ tiểu nhân đê tiện đâu? . . .
Giọng nói vừa nghiêm nghị vừa hùng hồn khiến cho Hồng Điệp đánh trống ngực thình thịch, nhưng có điều lạ: vị Độc chỉ Thôi Bác không hề lên tiếng cải chính hay cãi lại, bị đối phương nhiếc mắng như thế, hình như ông ta càng cảm thấy đau khổ, đứng im cúi đầu không nói năng một tiếng nào.
Tiếng nói lạ lùng nọ, sau khi ngừng một chặp, lại tiếp tục rằng:
"Thôi Bác! Có lẽ chuyện quá lâu nên ngươi đã quên bớt dĩ vãng của nó rồi chứ! Vậy hãy để ta nói ra để nhắc lại cho ngươi nhớ, và cũng để tăng thêm sự hối hận của ngươi! Đó là câu chuyện đã xảy ra cách nay hai mươi năm, trong giang hồ thời ấy, đã là một tiếng vang chấn động khắp võ lâm, đó là chuyện hôn lễ của Ngọc Thụ Thiếu Tù và Miêu Gia Diệm Nữ, cuộc lễ được cử hành bên bờ Thanh Hải, cả ngàn nhân vật lừng danh trong giang hồ đều được mời đến dự lễ, lẽ đương nhiên là cuộc hôn lễ ấy náo nhiệt tưng bừng có một không hai trong giới võ lâm. Miêu Gia Diệm Nữ ấy vốn tên nàng gọi Á Cơ, sinh trưởng tại Miêu khu (khu người Mèo xứ Vân Nam Trung Hoa). Nàng là một cô gái có hai dòng máu hỗn hợp Miêu Hán, trong trắng thông minh, ôn tồn lễ độ, năm mười ba tuổi đã nổi danh trên khắp giang hồ là giai nhân khuynh quốc khuynh thành, và tương truyền rằng: nàng còn có một đặc điểm trên người tỏa ra một dị hương (sức thơm lạ lùng trong cơ thể toát ra).
Phàm những vật dụng gì của nàng dùng đến nhất là quần áo, đều có mùi thể hương (mùi thơm thân thể) của nàng để lại, họ Tù coi nàng như một thần linh, các tay thiếu niên hiệp sĩ trong giang hồ, đã khá nhiều người vào thăm khu Miêu tộc (nơi cư ngụ của dân Mèo), lẽ đương nhiên là cậu nào cũng muốn chiếm cảm tình của nàng Á Cơ! Nhưng vị Diệm nữ của họ Tù này, vốn là một nhân vật không khác gì tiên nữ, những chàng trai phàm thường đâu có thể sánh vai với nàng?
Đến năm mười tám, nhan sắc nàng càng như nguyệt điện Hằng Nga, nhưng trong con mắt kiêu ngạo của người đẹp, vẫn chưa chấm được vị như ý lang quân nào.
Hằng năm, các hiệp sĩ trẻ tài ba khắp phương trời đổ về Miêu Khu, thôi thì mạnh chàng nào chàng nấy giở hết tài nghệ của mình ra để mong chiếm lòng người đẹp! Suốt ngày đi ngong ngóng ngoài cửa nhà, nào ca, nào hát, nào đàn, nghĩa là đủ trò... cốt sao được thấy mặt người đẹp, nhưng hễ kẻ nào được thấy mặt thật của Á Cơ, họ đều không dám tin đến mắt của mình nữa, không sao tin nổi dưới trời lại có người đẹp đến thế! Càng không dám mơ tưởng đến tấm thân tỏa dị hương của Á Cơ, họ tự biết sức mình, không làm sao sánh nổi với một nàng như tiên vậy! Dẫu cho mình có ước trong mộng cũng cảm thấy thẹn lòng là khác. Vì thế, họ nôn nao đến như thế nào, họ lại âm thầm ra về một cách êm dịu!
Nhưng chuyện giai nhân sánh tài tử đã đến! Miêu Gia Diệm Nữ Á Cơ đã tìm được vị ý trung nhân của mình, đó là chàng trai anh tuấn miền Thanh Hải, con trai của Ngọc Thụ Thổ Ty, tên Ngọc Thụ Thiếu Tù, tuổi trẻ anh tuấn, võ công cao cường, lịch thiệp phong lưu, mới ngoài hai mươi xuân xanh quả là một nhân vật lừng danh trên giang hồ! Chàng cũng là người kén vợ hà khắc, khi nghe danh nàng Miêu Gia Diệm Nữ, chàng không quản khó nhọc khởi trình lặn lội vào Miêu khu, cốt được yết kiến giai nhân, quả nhiên khi gặp nhau, đôi bên đã xao xuyến tâm hồn, và định liệu ngay việc chung thân..."
Tiếng nói lạnh lùng từ bức vách băng tuyết lấy giọng lại nói tiếp:
- Và bốn câu thơ vừa rồi ta ngâm ra đó, chính là bài thơ của Độc chỉ Thôi Bác của ngươi, còn nhớ rõ chứ? Trong khi trên bàn tiệc lễ cưới của Ngọc Thụ Thiếu Tù và Miêu Gia Diệm Nữ, chính ngươi đã cất tiếng ngâm vang bài thơ của ngươi để tặng vui cho bữa tiệc cưới! Và hồi đó ngươi còn là minh đệ (anh em kết nghĩa) của Ngọc Thụ Thiếu Tù, và cũng là một tay đệ nhất cao thủ trong thiên hạ, tân khách ai cũng khâm phục, đều nói ngươi và Ngọc Thụ Thiếu Tù tình nghĩa như anh em ruột, nhưng không ngờ con người của ngươi lại mặt người lòng thú như thế, ngay trong lúc đó đã ngấm ngầm nuôi họa trong lòng. Mắt thấy Miêu Gia Diệm Nữ dung mạo như tiên nữ, hơn nữa được ngửi mùi dị hương của Á Cơ, trong tư tưởng đã nảy ra ngay phi phi chi niệm... (những ý nghĩ không chánh đáng)...
Tiếng nói lạ lùng nơi vách băng tuyết khi kể đến đây, kẻ ngồi bịch trên mặt đất là Thôi Bác bỗng lên tiếng biện bạch rằng:
- Khi đó ta chỉ có lòng ái mộ nàng Á Cơ mà thôi! Nào đâu ý niệm tà bậy gì đâu, càng không có âm mưu cướp đoạt ái thê của bạn!
Tiếng nói lạnh lùng nọ lại tiếp:
- "Thôi Bác! Chắc ngươi còn lạ gì câu: Nhược tưởng nhân bất tri, trừ phi kỷ mạc vi! (nếu muốn người ta không biết, trừ phi là mình không làm.) Tội lầm lỗi do ngươi gây nên như thế, bộ ngươi còn tính chối cãi!... Và cuộc lương duyên mỹ mãn của Ngọc Thụ Thiếu Tù và Miêu Gia Diệm Nữ, từ đó được lan truyền ra giang hồ, khiến cho bao nhiêu người đều ngưỡng mộ cho cuộc lương duyên trai tài gái sắc này, nào hay một năm sau, có thể nói là vì hạnh phúc quá mơ đẹp của họ nên đã khiến cho trời xanh phải ghen ghét đố kỵ, và một trận phong ba bão táp đã dồn dập đánh vùi vào mối hạnh phúc quá lý tưởng của hai người!
Năm thứ hai, bên phía Ngọc Thụ, bảo vật trấn bang tổ truyền của Ngọc Thụ Thổ Ty bị mất, và sau khi Ngọc Thụ Thiếu Tù bôn ba khắp chân trời góc biển, rồi mới tìm ra thủ phạm, thì ra chính là kiệt tác của Tần Trung Thất Điểu, mà chính Tần Trung Thất Điểu lại là nhân vật khét tiếng trong Hắc Đạo! Võ lâm, võ công cao tuyệt, thuộc hạng đệ nhất lưu trên giang hồ! Ngọc Thụ Thiếu Tù tự lượng sức mình không phải là địch thủ của Tần Trung Thất Điểu. Nhưng vì Ngân Hoa Hỏa Thụ vốn là một báu vật trấn bang được truyền mấy mươi đời, và nay đã truyền đến Ngọc Thụ Thổ Ty, và theo lời tương truyền của thổ dân trong vùng Ngọc Thụ, thì chính nhờ cây dị bảo kỳ thụ Ngân Hoa Hỏa Thụ mà những nông sản ở đây mới được phong phú sung túc, gia súc mạnh và sinh sản nhiều, gió hòa mưa thuận, dân trong vùng được hạnh phúc ấm no, và dân bản xứ tin rằng, nếu cây Ngân Hoa Hỏa Thụ bị mất đi, thế nào trong vùng cũng xảy ra thiên tai nhân họa: Nào núi sập đất lở, nào nạn hồng thủy tràn lụt, nghĩa là những tai ách tầy trời có thể đến với họ, vì thế Ngọc Thụ Thiếu Tù không thể nào không mạo hiểm để đi Tần Trung, nhưng vì tưởng mình yếu thế, nên đã rủ luôn Độc chỉ Thôi Bác cùng đi chung, và cũng bởi ngươi là minh đệ với người ta, lẽ đương nhiên không thể nào từ chối.
Sau khi bọn ngươi đến Tần Trung, quả nhiên vị Thần Trung Thất Điểu không hề chối cãi, với bản sắc của kẻ anh hùng, y đã nhận ngay hành động của mình là đã lấy báu vật Ngân Hoa Hỏa Thụ, sau khi nói rõ lý do, suýt khiến cho Ngọc Thụ Thiếu Tù chết ngất vì cơn tức giận. Thì ra nguyên do của Tần Trung Thất Điều lấy trộm bảo vật, là vì y nghe Ngọc Thụ Thiếu Tù đã cưới được người vợ tuyệt sắc trong khu Miêu gia tên là Á Cơ ngay lúc đó bèn nói rõ mục đích với khổ chủ, nếu muốn chiếm lại cây báu vật Ngân Hoa Hỏa Thụ không khó khăn gì, cứ việc đem vợ lại đổi, và lẽ dĩ nhiên Á Cơ sẽ trở thành thê thất của Tần Trung Thất Điểu (bảy chim tại miền Tần Trung) và sẽ lần lượt luân phiên làm vợ của bảy anh em chúng!
Sau khi chúng đề nghị ra điều kiện bỉ ổi này, không những là Ngọc Thụ Thiếu Tù tức điên lên, mà cả đến Độc chỉ Thôi Bác ngươi cũng nổi khùng ngay, thế là đôi bên ra tay giao tranh. Nhưng công lực của Tần Trung Thất Điểu đâu phải hạng xoàng xĩnh gì, võ nghệ của chúng tự xưng hùng một phái, đặc điểm là nhanh nhẹn về môn chụp, nhảy, bắt, giống như loài chim, vì vậy mới lấy hiệu là Thất Điểu (bảy chim) trong lúc đó chúng ỷ người đông thế mạnh, tức khắc đánh toàn những thế quái dị với những binh khí lạ lùng, chẳng bao lâu khiến cho Ngọc Thụ Thiếu Tù bị trọng thương. Trong cuộc hỗn chiến kinh thiên động địa đó, chỉ còn Độc chỉ Thôi Bác ngươi là đang phát hết thần oai của mình, vừa lo bảo vệ minh huynh vừa lo cuộc đại huyết chiến, trong cơn tức giận tột đỉnh, ngươi đã liên miên cho xuất ra các thế trọng thủ (nặng tay) để cướp ưu thế trận chiến, và ngọn độc môn kiếm pháp nổi danh của ngươi trong thiên hạ là Độc Kiếm đã được tung ra.
Và cũng trong trận đánh khốc liệt này Độc chỉ Thôi Bác ngươi đã ngang nhiên xóa hẳn danh cũng như mạng của bảy anh em Hắc Đạo Tần Trung Thất Điểu! Sau khi đoạt lại cây Ngân Hoa Hỏa Thụ thì vị minh huynh của ngươi đã thành một con người máu. Các vết thương nặng nhẹ cùng mình, hơi thở thoi thóp, và ngay khi đó đã căn dặn lại hãy đưa bảo thụ về ngay xứ Ngọc Thụ, và cũng nói rằng vì bị quá nhiều vết thương dẫu cho có thể sống được, cũng trở thành kẻ tàn phế vô dụng, mà vợ là Á Cơ còn trẻ đẹp, chàng không muốn bắt vợ phải sống chung với một người chồng tàn phế xấu kinh khủng, và chàng thà chịu chết tại Tần Trung, nhất định không về Ngọc Thụ, và nhờ đến Độc chỉ Thôi Bác ngươi lo săn sóc người đẹp Á Cơ, và nếu có thể hãy cùng với nàng thành ngay tình phu phụ! Thôi Bác! Lời nói đó chính là lời nói tâm huyết của Ngọc Thụ Thiếu Tù, nhưng sự thực cũng là một hy vọng ấp ủ từ lâu trong đáy lòng giả quân tử của ngươi, nhưng, tại sao ngay lúc đó, ngươi lại kiên quyết không chịu nhận lời và đã cố chủ trương đưa ngay người minh huynh về Ngọc Thụ cơ chứ!
Hà! Hà!... Thiên hạ đều cho Độc chỉ Thôi Bác ngươi là kẻ đại nhân đại nghĩa, nhưng mà riêng đối với ta, ta đã nhận ngay ra quỉ kế của ngươi, bởi vì ngươi thừa biết Á Cơ rất mực yêu chồng, khó lòng mà chiếm nổi mối tình của nàng, nên ngươi đã thâm hiểm cố đem một người tàn phế như Ngọc Thụ Thiếu Tù về, khiến cho nàng phải thương tâm và tuyệt vọng trước sự thực hiển nhiên ấy, nghĩa là ngươi muốn giết bớt những cảm tình của Á Cơ đối với chồng nàng, đồng thời có thể tiêu diệt hết mối tình cũ xưa kia là khác. Mượn cớ để săn sóc bệnh tình cho minh huynh, ngươi đã nghiễm nhiên có lý do để ở lại Ngọc Thụ, và cái nhân nghĩa ngụy trang của ngươi, đã chiếm được lòng khâm phục của người đẹp Á Cơ, đồng thời ngươi cũng là một trang thiếu niên anh tuấn, nếu đem so bì với kẻ đang bị các vết thương tàn phá, hầu hết từ mặt đến toàn thân như Ngọc Thụ Thiếu Tù, thật không khác nào quạ đen sinh với phụng hoàng, còn Miêu Gia Diệm Nữ Á Cơ tuy là người thanh bạch trong trắng, nhưng dù sao nàng cũng là một đàn bà, một đàn bà được cấu tạo bằng xương và thịt như trăm ngàn người thường khác trong thế gian này! Nàng vừa đẹp vừa trẻ, dưới quỉ kế khéo léo của Độc chỉ Thôi Bác ngươi, nàng đã coi ngươi như một người thân, nàng đã từ chỗ kính nể mà đi đến chỗ yêu... và cứ thế tự nhiên sa ngã âm mưu khéo léo của ngươi...". Âm thanh chỉ trích và trách móc càng lớn giọng, khiến cho Hồng điệp Châu Chu đang núp trong cánh Đại Hắc hoảng hồn thất kinh! Thật có chuyện này ư? Độc chỉ Thôi Bác đã thực hành động như thế sao? Hồng Điệp có nhiều nghi vấn lẩn vẩn trong đầu óc. Nhưng Độc chỉ Thôi Bác đang ngồi ì trên mặt băng tuyết ấy đã dùng một giọng nói thê thảm thấm thía cất tiếng trả lời ngay:
- Không! Không!... Ta không đời nào có ý nghĩ ấy... quả... quả ta không có ý độc ác như thế, tôi nhìn nhận tôi yêu nàng, nhưng tôi không hề nghĩ đến dùng thủ đoạn gì với người ta...
Nơi bức tường băng tuyết, tiếng cười lại thình lình nổi lên, giọng cười rợn người và tiếng nói âm u lạnh lùng:
- Độc chỉ Thôi Bác, vụ này ngươi có thể bưng bít nổi được mắt thiên hạ, nhưng không thể nào giấu nổi ta, nếu không, tại sao ngươi lại chịu cam khổ dằn vặt lương tâm mình như thế?
Độc chỉ Thôi Bác cúi gầm đầu tiếng nói nghiêm nghị và chua chát ấy bỗng biến sang một giọng êm dịu rằng:
- Cố nhiên cũng có thể nói như thế này: hành động của ngươi trong lúc ấy, một nửa có thể vì nghĩa vụ cao cả, không nhẫn tâm để cho minh huynh Ngọc Thụ Thiếu Tù bị trọng thương mà phải bỏ mình nơi hoang vắng của đất khách quê người, nên đã cố hết mọi tâm cơ để hộ tống người minh huynh về cố hương, nhưng chẳng lẽ ngươi lại nhận không ra những vết thương tàn tật không thể nào cứu vãn của người ta? Và sau này liệu còn bảo đảm được hạnh phúc giữa Á Cơ và Ngọc Thụ Thiếu Tù nữa không? Dụng tâm của ngươi quả tàn nhẫn, ngang nhiên lợi dụng cơn tai biến này để chiếm đoạt tình yêu, rõ đúng là Minh tri cố phạm! (Đã biết rõ mà còn cố phạm). Thương thay cho Ngọc Thụ Thiếu Tù , sau khi về đến Ngọc Thụ , tuy là giữ được mạng sống của mình, nhưng đã bị mù hẳn một mắt, phế hẳn một cánh tay, xương sống bị gãy, trở thành một người gù, què, chột mắt... càng đau đớn thêm là bộ mặt tuấn tú xưa kia, nay chỉ còn là một bộ mặt kinh rợn: miệng bị toác ngược đến mang tai bên trái, tai bên phải đã mất, mũi bị mọc hếch lên, những vết sẹo tàn nhẫn này đều do binh khí quái gở Ô kim Ô trảo của anh em Tần Trung Thất Điểu để lại cho chàng? Một kẻ tàn tật không kém gì quỉ hiện thân trên thế gian . . .
Ngừng một lúc tiếng lạnh lùng ấy lại tiếp:
"Con người anh tuấn của Ngọc Thụ Thiếu Tù lúc này, một phần giống người còn chín phần giống quỉ, tất cả những nét phong nghi hào hoa xưa kia đã biến vào hết dĩ vãng của mọi người. Ác hơn nữa, những kẻ trước kia đã từng ghen ghét với Ngọc Thụ Thiếu Tù, nhân ngay cơ hội sa cơ thất thế của người ta, chúng đã tàn nhẫn gán cho Ngọc Thụ Thiếu Tù một biệt hiệu độc ác Ngọc Thụ Ky Nhân (Ky nhân: con người lẻ loi và tàn tật quái dị). Từ đó, biệt hiệu Ngọc Thụ Ky Nhân và Miêu Gia Diệm Nữ đã hiển nhiên thành sự đối chọi chát chúa không thể nào tránh được về ý nghĩa của nó. Chính Ngọc Thụ Ky Nhân cũng là người biết đại nghĩa, sau khi sống sót, chàng đã đề nghị ngay tỉ ly (cũng như ly dị vợ chồng) với Á Cơ, cốt tránh cho nàng Á Cơ khỏi phải sống cảnh đau khổ của tuổi xuân, Á Cơ lúc đó kiên quyết không chịu, nhưng cũng từ đó trở đi, Ngọc Thụ Ky Nhân bắt đầu ly thân hẳn Á Cơ.
Nhưng còn phần ngươi Độc chỉ Thôi Bác, lúc ấy Ngọc Thụ Ky Nhân đã cố ý để tác hợp cuộc lương duyên: Trai anh hùng gái thuyền quyên giữa ngươi và Á Cơ mong cho hai người sánh vai để hưởng những hạnh phúc với nhau! Nhưng Độc chỉ Thôi Bác ngươi tuy trong lòng đã thích sướng điên lên, nhưng còn vờ vẩn thờ ơ, bề ngoài để giữ bộ mặt đạo mạo của kẻ quân tử giả hiệu, đã không chấp thuận nhưng lại mượn cớ chăm sóc minh huynh để nán ở lại Ngọc Thụ với danh nghĩa là bảo vệ Ngân Hoa Hỏa Thụ, nhưng sự thực ngươi đã cố ý lợi dụng cơ hội để gần gũi Miêu Gia Diệm Nữ Á Cơ, và ngươi đã ngang nhiên ở lại với lý do mặt dày như thế! Nay ta hỏi ngươi: Sao lúc ấy ngươi không dám dứt khoát ra đi? Không lẽ quả thật ngươi đã vì minh huynh Ngọc Thụ Thiếu Tù? Vì Ngân Hoa Hỏa Thụ thực sao?
Theo ý ta đoán, chẳng qua Độc chỉ Thôi Bác ngươi đang mê mệt sắc đẹp của Miêu Gia Diệm Nữ Á Cơ mà thôi, tâm hồn ngươi lúc đó đang phải giao chiến với người đẹp thiên nhân nên đã khiến ngươi không làm sao dứt khoát nổi... Bây giờ ngươi thử nghĩ! Lời đoán của ta có sai không?"
Những câu chất vấn gắt gao ấy, quả đã khiến cho Độc chỉ Thôi Bác cúi đầu không hề mở miệng để bào chữa gì. Bên bức vách băng tuyết thiên nhiên ấy, giọng nói vẫn lạnh lùng rằng:
"Hà! Hà!... Ngươi đã nhìn nhận bằng cách im lặng, chắc có lẽ khi đó, ngươi đã nhận thấy Á Cơ đã có tình ý với ngươi, và đã có sẵn mưu kế trong mình, dùng hai chữ Nhân Nghĩa để huyễn hoặc lý trí mọi người, và chính dã tâm của ngươi đã cố chờ đợi ngày mà nàng Á Cơ sẽ tự động hiến dâng trọn vẹn cả linh hồn lẫn thể xác của nàng vào lòng ngươi.
Tội nghiệp cho nàng Á Cơ, đang độ tuổi phây phây yêu đời, nay chồng phải tự bỏ trốn tránh đơn phương của nghĩa vụ chồng, cố lánh mặt nàng ân tình cách biệt, hồn xuân trăng lạnh đêm dài nằm không với chiếc gối tẻ buồn, Á Cơ chỉ còn nước tự than thân tủi phận, sống những đêm phòng không chiếc bóng người đâu phải giống cỏ cây sắt đá vô tình, và sự khát tình yêu đã ngấm ngầm nhen đốt bừng bừng trong đáy lòng nàng! Dần dà, tính tình Á Cơ bắt đầu thay đổi, trước kia nàng không chịu rời khỏi chồng, càng không muốn hạ mình để linh giá (lấy chồng khác) nhưng giờ đây, ý chí đó đã lung lay, nàng không sao chịu đựng nổi những giấc cô đơn khủng hoảng trong tâm hồn, tuy mang tiếng có chồng nhưng cũng như không, Á Cơ cũng thừa biết rằng, Ngọc Thụ Ky Nhân chỉ còn chờ cái chết để tìm một giải pháp thoát ly nỗi khổ tâm của mình, vì chàng đã hiểu mình không còn năng lực để làm bổn phận của một người chồng, hay là đàn ông trăm phần trăm cũng thế!
Oái oăm thay, nàng Á Cơ lại ước mong sao có một mụn con để an ủi cõi đời cô liêu của mình, dù cho là một đứa trẻ trai hay gái, miễn sao do nàng sinh ra là được và được vậy nàng sẽ dồn hết tâm tư tủi buồn của mình vào tương lai đứa nhỏ, nhưng nàng đâu có ngờ rằng: Tần Trung Thất Điểu đã dã man đánh vào hạ thể của chồng mình, khiến cho Ngọc Thụ Ky Nhân ngoài sự tàn phế lại còn trở thành một người Thiên Yểm (bị hoạn), mất hẳn năng lực sinh trực dòng dõi. Tội nghiệp cho Miêu Gia Diệm Nữ Á Cơ, nàng đau khổ không thể nào tưởng tượng khi biết rõ vụ này, mối hy vọng cuối cùng của nàng cũng đã tan tành theo mây khói, nàng đã cố quyên sinh mấy lần, nhưng đều được con ma quỉ tai ách Độc chỉ Thôi Bác cứu sống lại hết, ngươi đã không cho nàng quyên sinh, và đã mượn ngay dịp may ngàn năm một thuở ấy, không cho nàng tự sát để rồi ngày ngày gần gũi với Á Cơ, nào hai người cùng chung đọc sách ngâm thơ vịnh phú.
Những cuộc uống trà câu cá và dạo cảnh được nối tiếp hoài hoài, và hình bóng của hai người đã xuất hiện hầu hết các nơi danh lam thắng cảnh trong vùng Ngọc Thụ, và dân cư vùng Ngọc Thụ đều kính trọng ngươi là một bực quân tử đại nhân đại nghĩa, nhưng thực ra ngươi đã được tấc lấn thước, tận hưởng hết những diễm phúc của nhân gian. Cuối cùng, kế sách của ngươi đã đạt tới đích, dần dần nàng Á Cơ đã mê say ngươi, để rồi chuyển hết nỗi tình ra yêu ngươi và trong đáy lòng của nàng đã nhen cháy ngọn lửa yêu đời, và cũng đã đốt tan những ý nghĩ tối đen về tự tử.
Trong tư tưởng của nàng Á Cơ, dần dần ngươi đã chiếm được chỗ đứng của Ngọc Thụ Thiếu Tù xưa kia. Ngươi lại sẵn có các điều kiện lý tưởng của nàng: đẹp, trẻ tuổi, hùng tráng, tuấn tú, đa tài, đa nghệ và nhất lại đa tình, văn nhã ôn hòa, khéo chiều ý người, võ công lại đứng nhất trong thiên hạ không ai có thể sánh bì, là những cái tình cảm đúng mực thước của nó, không bao giờ để đi quá lố ra ngoài phạm vi, nghĩa là hoàn toàn không có ý đường đột, bởi cũng nhờ cách dùng cảm tình đúng mức này, mà nàng Á Cơ đã lọt vào bẫy Yêu lúc nào không hay vì nàng đã coi ngươi như chồng của nàng, có phần hơn nữa là khác, mối yêu của nàng đã gần như phát cuồng, chỉ còn đợi ngươi mở miệng, nàng sẽ lập tức chánh thức chia tay với Ngọc Thụ Ky Nhân, và sẽ cùng ngươi đi đắp xây một tổ uyên ương đẹp nhất trần gian. Nguyện kết thành phu thê tóc bạc răng long với ngươi để phỉ chữ ái tình!
Nhưng! Ngươi quả là con người độc ác, đã biết chuyện giấy không thể nào gói lửa. Nhưng ngươi lại đang tâm giữ phong độ của một kẻ khách quân tử, không hề đả động đến vấn đề dầu sôi lửa bỏng ấy của Á Cơ, thậm chí về sau, nàng Á Cơ đã cố gắng lắm đưa vấn đề ra để thăm dò ngươi, nhưng ngươi tai ác quá. Không từ khước mà cũng không quyết định dứt khoát, mượn cớ này cớ nọ phân giải cho qua chuyện.
Càng như vậy, lại càng khiến cho nàng Á Cơ đau khổ thêm, nàng biết không phải là ngươi không yêu nàng, nhưng vì quan hệ lễ giáo không dám ngang nhiên bước qua dư luận miệng đời, nàng không còn cách gì hơn, nhưng một sự thực không thể chối cãi, nàng đã đau khổ trong cảnh sống không yên chết không xong, tâm hồn nàng quằn quại... nhưng nàng có biết đâu, ngươi chỉ là một quân tử giả hiệu. Có đúng thế không?..."
Lúc này Độc chỉ Thôi Bác đau khổ khẽ gật đầu, giọng bơ phờ trả lời rằng:
- Đúng! Nhưng không phải ta đã cố ý làm như thế?
Lúc này, nàng Hồng Điệp trong cánh chim Đại Hắc, càng nghe càng hồi hộp, vì nàng chỉ muốn bênh vực cho vị kỳ nhân Độc chỉ Thôi Bác. Từ nãy giờ người kia cứ lo trách mắng và chất vấn cay chua như thế, Châu Chu chỉ ước sao Độc chỉ Thôi Bác có thể lập tức đứng ngay dậy để tự biện bạch để chứng minh rõ nhân cách của mình, và nếu cần, ra tay giết quách ngay tên ăn nói sàm bậy kia, nhưng ý nghĩ của nàng lại trái hẳn với sự thực đang hiện ra trước mắt, Độc chỉ Thôi Bác không những không chối cãi mà còn nhìn nhận một cách vô cùng uể oải về tinh thần, khiến đến nỗi nàng Hồng Điệp cảm thấy buồn bực.
Tiếng nói nơi bức vách băng tuyết lại nổi lên:
"Hay lắm! Ngươi đã can đảm nhìn nhận! Vậy chúng ta hãy ngược lại dòng thời gian để vén bức màn bi kịch ấy lên, và có thế mới chứng minh sự giả mạo quân tử của ngươi!
Miêu Gia Diệm Nữ Á Cơ, không thể nào sống cảnh ngoắc ngoải như thế, nên nàng đã tự động lập kế, dùng nhan sắc để quyến rũ người, nàng mong sao sau khi thành sự thực, ngươi sẽ tội nghiệp và yêu nàng, sẽ không còn bị cái vỏ quân tử giả ngăn trở mối tình trai tài gái sắc ấy nữa, và sẽ đưa nàng sống một cảnh hạnh phúc tuyệt trần khác! Và nàng đã dùng một loại thuốc đặc chế của xứ Miêu, thuốc mệnh danh Mê Cổ (loại thuốc như ngải, làm cho người ta say mê u ám) đem hòa lẫn vào rượu, cốt khiến cho ngươi bị loạn tính, phát khởi dục tình, và sẽ chủ động đòi hỏi trong việc cầu hoan, nhờ vậy mà mục đích của Miêu Gia Diện Nữ Á Cơ đạt tới nguyện vọng. Thế là: một bên vốn Đồng nam chi thể (trai chưa phá giới), bên kia vốn Thiếu phụ khát tình, đôi bên đã tự động khởi ngay cuộc Điên loan đảo phụng tại ngôi lầu của dinh thự Ngọc Thụ Thổ Ty, và cả hai đã ngang nhiên quay cuồng suốt một đêm bão tình!
Cũng có lẽ ngươi còn cố minh oan cho mình bằng lối: Bị thuốc mê Mê Cổ, nên mất hết lý trí và đã gây ra một sự lầm lẫn lớn lao ấy! Nhưng, chuyện ấy ngươi có thể đem lừa gạt người khác mà thôi. Không làm sao có thể che nổi mắt ta! Vì ta rõ Thôi Bác, ngươi là kẻ công lực cao nhất trong thiên hạ hồi đó, không còn ai có thể sánh ngang với ngươi, vậy nếu ngươi không tình nguyện trong vụ đó, chút xíu Mê Cổ làm sao mà đủ sức mê nổi hạng người nhất trong thiên hạ như ngươi!"
Thôi Bác lên tiếng cải chính! Nhưng tiếng nói đằng bức vách băng tuyết vẫn không dung tha rằng:
- "Dù cho là ngươi cố tâm muốn tạo nên cái lầm lỗi này đi nữa, nhưng theo ta cảm thấy, ngươi vẫn chưa có gì gọi là quá lầm lỗi, bởi vì Ngọc Thụ Thiếu Tù đã có ý ly dị với vợ từ trước và có ý là muốn cho nàng theo hầu ngươi...
Chủ động trong vụ lầm lẫn này lại chính do tay nàng Á Cơ mà ra. Nhưng ngươi cũng không nên vì lòng ích kỷ của mình sau đêm nghiệt duyên đã hiển nhiên xảy ra như thế, và không bao lâu sức thuốc yếu tan dần, ngươi tỉnh lại và phát giác mọi chuyện như thế, vì lòng ức hận đã không bảo tồn được bộ mặt quân tử giả tạo đại nhân nghĩa của mình, phần thì sợ câu chuyện lan truyền ra, vì thể diện danh dự, vì lòng ích kỷ cực đoan và ý niệm tàn ác của mình, ngươi đã ngang nhiên không nghĩ và tội nghiệp cho nỗi lòng đáng thương hại của Á Cơ, nhân ngay cơ hội sau trận mây mưa, nàng đã thiếp trong mộng đẹp của mình, tên mặt người dạ thú như ngươi đã vì khủng hoảng mà không cần cân nhắc hậu quả, và đã âm thầm không từ biệt mà ra đi luôn. Từ đó ngươi sống chui rúc vào các vùng núi hoang vu cùng cốc, không dám lộ diện,... trong lúc này, chỉ tội nghiệp cho nàng Á Cơ, sau khi tỉnh lại, phát giác con người phụ bạc như ngươi đã biến dạng bỏ đi, không còn màng gì đến con người đang đau khổ như nàng, sự thương tâm và thất vọng, thật không ai có thể hình dung nỗi tuyệt vọng của nàng!
Nay nghĩ lại: chỉ có Ngọc Thụ Ky Nhân mới đáng là một người đại nhân đại nghĩa. Sau khi nghe lời khóc lóc thảm thương của Á Cơ kể, biết rõ nội tình, không à trách gì ngươi càng không trách gì Á Cơ, và đã lập tức phong tỏa ngay mọi tin tức, phao tin rằng ngươi đã vào núi đi tìm thuốc để trị bệnh tật cho minh huynh, và cũng đã bí mật giết luôn mấy tên thị nữ hầu cận Á Cơ đã biết chuyện để diệt khẩu! Chẳng qua là cốt giữ thanh danh cho con người mặt người dạ thú như ngươi, và dưới sự an bài kín đáo của Ngọc Thụ Ky Nhân, thanh danh của ngươi lại càng vang như sóng cồn, càng được thiên hạ kính nể, và cũng đều cho là một trang hiệp nghĩa tiêu chuẩn nhất!
Từ đó Ngọc Thụ Ky Nhân lo hết mọi việc cho vợ, trong vòng luôn luôn chờ đợi ngày về của ngươi, và chàng ta sẽ ly dị hẳn hoi với Á Cơ, mặc cho ngươi đem đi đâu cũng được, miễn sao Á Cơ được hạnh phúc sung sướng! Nhưng con người của ngươi, đã bị trói buộc về: lễ giáo, ích kỷ, xấu hổ... vì thể ngươi không hề lộ diện.
Nhưng chuyện gì đến phải đến, và giấy không làm sao mà gói lửa. Hậu quả của cuộc Điên loan đảo phượng đã khiến cho Á Cơ cảm thấy trong sinh lý thay đổi lạ lùng, chẳng bao lâu nàng ngầm cảm thấy: Lưu thủy lạc hoa xuân khứ dã! Tiền đường giang thượng bất lai triều. (tạm dịch: Nước chảy hoa rơi xuân đi mất! Bến sóng tiền giang mất thủy triều. Nhưng hai câu thơ này ngụ ý người phụ nữ sau cuộc ái ân đã tắt đường kinh).
Trong cơn kinh hoàng, Á Cơ đành nói rõ cho Ngọc Thụ Ky Nhân biết. Ngọc Thụ Ky Nhân quả đã không hổ danh là bực nhiệt huyết nam nhi, một người đáng kính mến vô cùng, vì để che tai mắt thiên hạ, chàng đành phải sửa soạn lại áo sống đẹp mắt, dùng khăn che mặt, để cùng ở chung với vợ, nhưng sự thực ra, hai người đều chia giường ngủ, và tất cả sự bày đặt lấy lệ này, chẳng qua là không muốn gian tình của Á Cơ và ngươi bị bại lộ, tránh cho đứa nhỏ tương lai sau này khỏi cảnh đau khổ vì vô thừa nhận!
Trong lúc họ đang sống những ngày buồn bã của tình cảnh Ngọc Thụ ấy, thì Độc chỉ Thôi Bác ngươi ngang nhiên đi tiêu diêu khắp các nơi danh lam thắng cảnh, và những phong độ đại nhân đại nghĩa, công lực tuyệt thế của ngươi đã vang lừng khắp trong giang hồ, và biết bao kẻ hậu bối muốn theo gót ngươi để học ít võ công, nhưng những hành động Thần long kiến thủ bất kiến vĩ của ngươi, càng khiến cho mọi người chiêm ngưỡng và khâm phục, thế là từ đó cái tên Độc chỉ Thôi Bác nhân nghĩa hành hiệp, võ công cái thế, oai danh lừng lẫy khắp trong thiên hạ ai mà không biết? Nhưng ngươi đâu có ngờ rằng, nơi Ngọc Thụ xa xôi kia, có hai tâm hồn đang ngóng đợi sự trở về của ngươi!
Rút cục Á Cơ đã lâm bồn, nàng sinh hạ được một con gái, người ta chỉ ngỡ là dòng họ của Ngọc Thụ, như thế là có kẻ nối dòng, nhưng họ có hay đâu chính đó là một đêm truy xuân của Độc chỉ Thôi Bác ngươi đã để lại! sau khi nàng Á Cơ khai hoa nở nhụy, Ngọc Thụ Ky Nhân chờ mãi không thấy ngươi về, trong lòng lo ngại cho ngươi đi tìm kiếm tung tích của ngươi khắp nơi. Và cuối cùng đã tìm ra tung tích của ngươi, tức vào mười năm về trước, họ đã tìm ra ngươi tại Mặc Phụ Sơn đây! Ngọc Thụ Ky Nhân sau khi được tin đích xác biết thế nào ngươi cũng không chịu về, chàng bèn dẫn theo vợ và đứa nhỏ, chẳng quản gì đường xá muôn trùng, khởi trình tuốt từ miền Thanh Hải để vào Trung Thổ tìm ngươi! Và chính hôm đó, cũng tại nơi Tả Diện Phong đây, câu chuyện đã phát xảy ra như thế nào, chắc Độc chỉ Thôi Bác ngươi vẫn còn nhớ rõ chứ?"
Lúc này Độc chỉ Thôi Bác bỗng nhảy bổng lên, hai tay bịt kín mặt thống thiết la lên rằng:
- Ta không quên! Ta không quên! Trong mười năm nay, cảnh tượng ấy vẫn chưa sao xóa nhòa hẳn trong ký ức của ta! Ôi!... Ôi!... ngươi là ai? Thực ra ngươi là ai đây? Sao có thể biết rõ chuyện bí ẩn của ta? Ta. . . Ta xin ngươi ! . . . Xin ngươi hãy mở lòng từ bi . . . đừng nói ra nữa...
Độc chỉ Thôi Bác càng lúc càng mất bình tĩnh, chim ưng Đại Hắc và Hồng Điệp càng hoảng kinh, cả hai vội chuẩn bị sẵn sàng ứng biến. Bỗng thấy Độc chỉ Thôi Bác lại nuốt hai đóa hoa, tâm thần như được yên tĩnh trở lại! Trong lúc đó tiếng cười ghê rợn lại nổi lên sau bức vách băng tuyết. Sau tiếng cười quái gở ấy, giọng nói lạnh lùng lại bắt đầu vang lên:
- Thôi Bác! Ngươi đã sợ hãi sao? Ngươi không muốn ta nói, nhưng ta không hề tội nghiệp ngươi chút nào, ta nói hết những tội ác của ngươi! Mười năm trước, đúng! Một ngày của mười năm trước đây, Ngọc Thụ Ky Nhân và Miêu Gia Diệm Nữ cùng bồng theo một đứa nhỏ đến Mặc Phụ Sơn, và Ngọc Thụ Ky Nhân biết ngươi đứng tại Tả Diện Phong đây, xa xa đã thấy tà áo phất phơ của ngươi vì gió núi, Ngọc Thụ Ky Nhân đã bảo Á Cơ lại ngay phía ngươi đứng, còn phần chàng ta, vì sợ ngươi thẹn hổ trong lương tâm, nên đã nén bỏ xuống núi ngay khi đó. Nhưng tình hình mười năm về trước khác hẳn bây giờ, ngọn băng tuyết không được cao như bây giờ, nhưng sức lạnh hồi ấy lạnh hơn bây giờ nhiều! Khiến nỗi Á Cơ đứng ôm con run lên cầm cập không hiểu cái run ấy vì lạnh hay vì cảm động khi gặp lại con người bạc tình như ngươi!? Thôi Bác, chắc ngươi không quên cảnh trong lúc đó chứ! Nhất là khi giọng run rẩy của Á Cơ đã cất gọi: Anh Thôi Bác, Anh... Anh....
 
 
0
Hồi 060. Một Dĩ Vãng Tan Lòng
[/align]

Tiếng người kỳ dị này nói tới đây, Độc chỉ Thôi Bác hét lớn lên rằng:
- Ngươi là ai? Ta cầu xin ngươi hãy giết chết ngay ta đi! Nếu không, ta xin ngươi đừng nói nữa. Xin hãy nhủ chút lòng từ bi cho lời thỉnh cầu của ta!
Nhưng, tiếng kỳ dị của người bí mật nọ vẫn vang lên lạnh lùng và kiên quyết rằng:
- "Bây giờ đây, ta sắp kể đến mẩu chuyện cao trào nhất của nó, làm sao có thể nín thinh không nói ra cho được; ngươi đã biết đau khổ, như thế hay lắm! Vậy ngươi hãy nghe ta thuật lại, cũng có thể hồi tưởng phần nào cảnh sắc và tình hình trong lúc đó, xem có phải tội lỗi của ngươi không sao tha thứ nổi không!
Trong lúc đó Á Cơ vừa khóc, vừa gọi, vừa chạy qua phía ngươi. Sau khi nghe rõ âm thanh, ngươi đã biết là nàng Á Cơ đã đến, và tiếng khóc trẻ thơ trong lòng nàng vang lên, ngươi kinh ngạc, và đã biết rõ mọi sự! Nhưng Thôi Bác ơi! Thôi Bác, nếu trong lúc đó ngươi còn chút lòng trắc ẩn, biết rõ mẹ con nàng yếu đuối như thế, làm sao chống nổi với sức mạnh kinh khủng tại Tả Diện Phong của Mặc Phụ Sơn... và nếu ngươi còn chút bản lĩnh của người thường, nghĩa là còn chút tình cảm, đương nhiên ngươi sẽ ôm ngay lấy mẹ con nàng vào lòng. Nhưng, Thôi Bác ơi! Đáng tiếc cho ngươi chỉ là một con người tàn nhẫn độc ác quá chừng, đã biết rõ chuyện mà vẫn muốn tìm cơ lẩn trốn, và thình lình ngươi đã tung mình tránh sang một bên!
Nhưng ngươi đã quên bẵng chỗ mình đứng đó là một mỏm tuyết nhô ra, phía dưới là vực sâu thăm thẳm, hầu như không thấy đáy, và nàng Á Cơ không thể nào ngờ rằng ngươi lại có ý hại nàng khi nàng tung mình nhảy qua để ngươi ẵm vào lòng, và mắt nàng lúc đó chỉ chăm chú ngó vào ngươi, nào đâu có để ý gì đến vực sâu thăm thẳm ngay trước mặt? Cái nhảy sang ấy... đã trợt chân và hỏng cẳng, tội nghiệp cho hai mẹ con nàng, toàn thân rớt luôn xuống vực sâu với tiếng kêu cứu kinh hồn... như thế mà ngươi còn không chịu nhận tội lỗi tày trời của ngươi sao? Không phải ngươi đã cố ý muốn hại mẹ con người ta chết là gì?
Độc chỉ Thôi Bác bứt ngay khăn bịt tóc trên đầu xuống, tóc rối bung lên, và lớn tiếng rằng:
- Kính Hoàng thiên chứng kiến cho, tội lỗi lầm lỡ về mười năm trước của Thôi Bác, quả thật là do vô tình mà ra, nếu có nói gian, xin trời tru đất diệt...
Tiếng cười lạnh lùng nơi bức vách băng tuyết khổng lồ lại nổi bật lên như không tin câu thề của Độc chỉ Thôi Bác và cất tiếng rằng:
- "Thế sao ngay lúc đó, ngươi không nhảy quách xuống để cùng chết chung với mẹ con người ta. Nhưng con người giả quân tử của ngươi, mà làm gì có nổi dũng khí như thế! Trong lúc tâm thần ngươi vất vưởng và nằm úp trên mặt tuyết ấy, không bao lâu ngươi mơ màng như cảm thấy mãnh thú đến sát ngươi. Và ngay khi đó ngươi đã phát ra một chưởng thình lình, một tiếng hét thê thám lập tức phát ra ngay bên cạnh mình của ngươi.
Trong lúc ấy, ngươi mới nhận rõ là ai, thì ra là một người gù lưng, chột mắt, khuyết tai, miệng toác, mũi hếch ngược, quả là một quái nhân rùng rợn! Nhưng chính đó lại là vị minh huynh khả ái khả kính Ngọc Thụ Ky Nhân của ngươi! Sau khi trúng chưởng, Ngọc Thụ Ky Nhân đã bị thương nặng nhưng còn cố gắng lớn tiếng rằng: Thôi lão đệ! Thôi lão đệ!... Trời ơi Chính... ta... đây mà!.. Và sau đó, Ngọc Thụ Ky Nhân chỉ còn nấc lên một tiếng, vĩnh từ cõi trần luôn vì ngọn chưởng quá nặng của ngươi. Xác của người ta cũng không phải phiền đến ngươi phải ra công chôn cất vì ngay lúc đó toàn thân Ngọc Thụ Ky Nhân đã lăn luôn xuống vực thẳm sâu tít... Thôi Bác!... Chắc ngươi lại muốn nói đây là vụ đánh lầm chứ gì! Hừ!.. sau khi ngươi đã giết ba mạng người như thế, lương tâm tự hối hận và nỗi lòng bi thương quá độ vì tất cả những chuyện mình đã gây ra!
Ngay lúc đó ngươi đã bị hộc máu ngất đi, chỉ còn chờ tử thần đến rước là xong một đời người độc ác, nhưng nhờ đôi chim ưng đã kịp hái ngay loại hoa đỏ đặc sản của Mặc Phụ Sơn là Tục Giao hồng hoa, nên mạng ngươi tạm được cứu sống, và đôi linh điểu ấy đã chuyển ngay ngươi về Lãnh Hương Các và chúng đã giữ nổi mạng sống của ngươi đến ngày nay, và Độc chỉ Thôi Bác ngươi đã ỷ vào những công hiệu của những đóa hồng hoa ấy nên đã duy trì được mạng sống, nên ngoài biệt hiệu Độc chỉ Thôi Bác ra, ngươi lại còn thêm được một danh hiệu khác là Đoạn Trường Nhân, tuy ngươi ít xuất hiện trên giang hồ, nhưng thanh danh của ngươi đã lẫy lừng khắp nơi, và được hầu hết mọi giới trong võ lâm khiêm kính và bái phục.
Tuy nhiên, trong lúc đó, vợ chồng của Ngọc Thụ Ky Nhân Á Cơ cùng với đứa con gái nhỏ đã ra đi và biệt tăm tích từ đó, nhưng nào có ai biết, đó chính là một kiệt tác trứ danh của ngươi, và người ta chỉ truyền nhau rằng, ngươi vì truy niệm tình bạn, nên đã trở thành một người buồn rầu ít nói, ẩn cư tại Mặc Phụ Sơn cũng chính nhờ thế mà ngươi đã nổi thêm biệt hiệu Đoạn Trường Nhân, thiên hạ lại càng mến cảm và kính phục ngươi thêm. Nhưng Thôi Bác ơi! Thôi Bác! Một hung thủ độc ác và ích kỷ như ngươi! Thật là uổng khi sinh ra là người, chỉ cốt sao mua danh kết dự!... Tuy những nỗi đau khổ đã đua nhau dằn vặt và xé tan tác cõi lòng của ngươi, nhưng kẻ chết đâu có thể khởi tử hoàn sinh, ngươi lấy gì để chuộc cho hết tội lỗi nặng tầy trời của ngươi..."
Những lời chửi mắng thấm thía ấy khiến cho vị Độc chỉ Thôi Bác không làm sao ngóc đầu lên nổi, chỉ nghe tiếng thở dài liên miên, Hồng điệp Châu Chu và chim ưng Đại Hắc vẫn chăm chú theo dõi, trong nháy mắt tiếng nói lạ lùng kia im bặt hẳn, không khí trở nên tĩnh mịch. Hồng điệp Châu Chu suy nghĩ về câu chuyện khá dài này, lúc này nàng mới rõ biệt hiệu Đoạn Trường Nhân của Độc chỉ Thôi Bác là do câu chuyện đau lòng này mà ra, và một con người giỏi nhất trong thiên hạ ấy lại có một nỗi buồn cũng nhất luôn!... Nhưng suy nghĩ cho kỹ, tình cảnh của vị đại hiệp đây vẫn có thể dung cảm được lắm, vì tất cả những gì đã tạo ra vở bi kịch này, toàn là những sự rủi ro khéo léo mà ra, không thể đổ tội hết cho Thôi Bác được. Nói về mặt đạo nghĩa, có thể Thôi Bác đang mang một vết thương lòng suốt đời, nhưng không thể nói đó là một tội lớn của vị cái thế kỳ nhân này!
Hồng điệp Châu Chu suy nghĩ vậy, nàng bỗng nảy ra ý kiến: lại an ủi vị Thôi Bác tiền bối đang bị lương tâm cắn rứt, nhưng ngay khi đó, Hồng Điệp đã nghe tiếng nói của Đoạn trường nhân Thôi Bác lên tiếng vọng về phía vách tuyết sừng sững trước mặt rằng:
- Hừ! Đinh Hãm, ngươi quả là tay lợi hại, đã dùng thủ đoạn này để đối phó với ta! Khiến cho lòng ta bị quằn quại vì đau khổ, và sẽ tự tìm lấy một lối giải thoát cho tâm hồn. Đinh Hãm! Thôi cũng được! Ta sẽ làm vừa lòng ngươi vậy, ngươi hãy hiện thân ra và giết ta cho được việc! Ta quyết không đời nào chống cự lại!
Câu nói vừa dứt, Đại Hắc và Hồng Điệp cũng thất kinh hoảng hồn, tiếng chim và tiếng người cùng rú lên. Nhưng Thôi Bác lúc này hình như đã quá đau khổ, không hiểu gì đến chuyện đằng sau lưng mình! Với tiếng rú của chim và người ấy, Độc chỉ Thôi Bác như không hề nghe đến.
Lúc này chỉ nghe tiếng Đinh Hãm lạnh lùng vang lên:
- Thôi Bác! Ngươi lại tính giở trò lừa bịp rồi! Thử hỏi với công lực mà được liệt vào Đệ nhất trong thiên hạ ấy, ai mà có thể giết nổi ông! Nếu ông đã muốn chết! Sao không đâm đầu xuống ngay vực thẳm băng tuyết trước mắt ấy mà chết có hơn không?
Giọng bi đát của Độc chỉ Thôi Bác rằng:
- Chính cũng vì ta e ngại công lực của ta quá cao, có khi nhảy xuống mà không chết chăng...
Đinh Hãm xảo trá lại bẫy ngay một cách:
- Ông có thể dùng đến tột đỉnh nội công, đánh bạt thẳng ngay vào ngọn núi tuyết khiến cho những tảng băng đá bị lở cả khối khổng lồ xuống, và sau khi ông phạt ra ngọn nội lực ấy, sức lực trong người đã mỏi hết, và các khối băng đá ấy sẽ chôn vùi luôn xuống vực thắm, như thế thì có ai mà sống cho được!
Độc chỉ Thôi Bác đành cam nhận một cái chết Đinh Hãm đưa ra như thế, vì chính ông đã muốn giải thoát nỗi đau khổ tâm linh của mình, bèn khẽ tiếng rằng:
- Được lắm?
Đại Hắc vội bay ngay lại cạnh chủ, Hồng Điệp cũng bước lại, nàng cố cắn răng chịu lạnh đưa tay ra kéo bả vai Thôi Bác lắp bắp rằng:
- Thôi bá bá!... ngài... ngài... không thể hành sự như thế. . .
Đại Hắc quá lên một tiếng, tính bay lên bức vách tuyết để tìm tên Đinh Hãm để giao chiến! Nhưng Thôi Bác đã gọi lại và ngăn cản ngay hành động của Đại Hắc, tiếng Đinh Hãm lại vang lên rằng:
- Thôi Bác! Còn con chim ưng này, sau khi ông chết, nó sẽ không còn ai để quản thúc nữa, chừng đó nó nổi tính hung hăng giết người, liệu ai mà chịu nổi nó...
Thôi Bác rằng:
- Ngươi yên trí, ta sẽ bảo nó cùng chết chung với ta?
Dứt lời, Độc chỉ Thôi Bác đưa tay trìu mến vuốt ve cổ Đại Hắc rồi lên tiếng rằng:
- Đại Hắc ơi Đại Hắc!... nay lòng ta đã tan nát vì những vết thương lòng, dẫu cho có những đóa Tục giao hoa để giữ mạng sống của ta, nhưng ta vẫn ăn năn đau khổ có sống trên đời này, cũng chẳng còn thú vị gì, nay sự đau khổ của ta đã gia tăng kịch liệt, chẳng thà buông bỏ hết tất cả mọi sự trên trần này, để tìm cái chết cho yên tâm cho rồi Đại Hắc thần ưng ôi! Tình sống chung của chúng ta bấy lâu, nay ta phải rời bỏ ngươi đi vào một thế giới u linh khác,... nếu ngươi còn có ý quyến luyến trần thế thì hãy bay về cố hương tại hải ngoại của ngươi, còn nếu vì quyến luyến ta và muốn chết cùng với ta cũng được...
Con thần ưng Đại Hắc vốn là loại linh điểu khôn ngoan, từng sống chung lâu năm với Thôi Bác, tình cảm đã gần như cha con. Nay nghe Thôi Bác nói vậy, nó gật đầu lia lịa, giơ mõm lên kêu những tiếng bi ai não nề.
Độc chỉ Thôi Bác lại rằng:
- Đại Hắc ôi! Trời ơi! Ngươi đành chịu hy sinh với ta! Thôi cũng được! Từ ngày con Nhị Hắc chết đi, ngươi đã không có bạn đồng loài, khi quen được người bạn mới Thượng Quan Linh thì lại bị mất tích, trò đời đều buồn thế cả, chẳng thà chết đi cho xong nợ đời... nhưng than ôi! Với thân hình cường tráng mạnh bạo của ngươi như thế, tí nữa đây phải chịu cảnh núi tuyết băng lở, và chết thê thảm vì những khối băng tuyết khổng lồ đè, thật khiến ta đau lòng vô cùng...
Lúc này chỉ thấy vị cái thế kỳ nhân đã đến bước đường cùng của cuộc đời đau khổ vì lương tâm hối hận, nước mắt ứa từng hàng trên lông con Đại Hắc. Chỉ có Hồng điệp Châu Chu là người tỉnh trí hơn, biết ngay Thôi Bác trong lúc quá xúc động về tinh thần đã bị trúng quỉ kế của Đinh Hãm! Nàng cố gắng khuyên can, nhưng Thôi Bác vẫn mặc tình, quay sang phía vách tuyết rằng:
- Đinh Hãm, ngươi hãy hiện ra đây! Vì ta sắp vận chưởng phá núi tuyết đây, nhưng đối với cô bé đây, ngươi phải nhận lời yêu cầu cuối cùng này của ta, nghĩa là phiền ngươi hãy đưa cô bé về với chị của cô ta!
Đinh Hãm bèn hiện ngay thân ra, toàn thân bộ nho phục lịch thiệp, mắt đượm vẻ mỉm cười trả lời ngay:
- Ông cứ yên trí! Thế nào tôi cũng làm tròn theo ý ông dặn!..
Hồng điệp Châu Chu biết ngay tình thế lâm nguy, nàng nhất định ngăn cản hành động thiếu suy xét của Thôi Bác và sự hy sinh của thần ưng Đại Hắc, nàng gào khóc giãy nãy lên không chịu rời đi! Nhưng Thôi Bác vẫn mặc, tay khẽ phất chỉ thấy toàn thân Hồng Điệp thình lình bay bổng lên, tên Đinh Hãm lập tức đưa tay ra đỡ ngay thân Hồng Điệp và lui nhanh ngay về một phía. Hồng Điệp giãy nãy như đỉa phải vôi, nào quyền, nào cước, nào miệng, nàng đấm đá cắn véo lung tung nhưng Đinh Hãm chỉ cười hì hì, đối với kẻ thù đã hại chết chị mình Bạch điệp Châu Ni đây, với công lực yếu kém của Hồng Điệp, đâu phải là địch thủ của đối phương, nàng đánh túi bụi vào Đinh Hãm, chẳng khác nào như thế châu chấu đánh voi chẳng nhằm gì! Và chính lúc Hồng Điệp bị quắp chặt dưới nách của Đinh Hãm ấy, nàng đã chứng kiến ngay một cảnh kinh hồn bay vía trước mắt!
Độc chỉ Thôi Bác và thần ưng Đại Hắc, cùng trong một lúc, tiếng hét của Thôi Bác, tiếng kêu của chim ưng, cả chim lẫn người bay vọt bổng lên vách tuyết. Một cuộc biểu lộ thân pháp cuối cùng của đại hiệp và thần ưng. Hồng điệp Châu Chu đã nhìn rõ ràng, dưới ánh chói sáng của khối băng tuyết ấy, cứ thấy tu mi anh phong lẫm liệt của Độc chỉ Thôi Bác, và thần ưng hùng vĩ phi phàm, một người và một chim ấy đã dốc hết toàn lực ra để phát chưởng phong và dực phong. Một tiếng ầm ầm long trời lở đất đã vang lên, khối băng tuyết khổng lồ đã từ trên lưng đỉnh núi đua nhau rớt từng tảng lớn nhỏ xuống, tiếp theo chỉ thấy thân Độc chỉ Thôi Bác và thần ưng Đại Hắc đã chúi nhanh hết xuống vực thẳm cùng với những khối băng đá đổ xuống như thác nước. Hồng Điệp tuyệt vọng kêu lên một tiếng thất thanh rồi nàng ngất đi luôn...
***
Tất cả câu chuyện trên đây, được Hồng điệp Châu Chu kể lại sau khi Hầu Hạo và Liễu Mi đánh bật Đinh Hãm, và câu chuyện này được thuật tại Lãnh Hương Các! Sau khi nghe hết câu chuyện bi thương của vị đại hiệp, và sự hy sinh của người và chim như thế, Hầu Hạo và Liễu Mi thở ngắn thờ dài, riêng Đông Phương Đình và Thanh Điệp nước mắt đầm đìa.
Liễu Mi lên tiếng:
- Theo ý tôi đoán, Thôi đại hiệp đã bị trúng quĩ kế của tên Đinh Hãm này...
Hồng điệp Châu Chu gạt nước mắt của mình rằng:
- Chị Liễu Mi nói đúng lắm, sự thật quả đúng như vậy và tên Đinh Hãm chết toi ấy sau khi mục kích trận tự tử của Thôi tiền bối và thần ưng, hắn quắp theo em và cứu tỉnh ngay sau đó, và còn nói rất nhiều chuyện với em...
Mọi người nghe vậy lại chăm chú theo dõi nghe, Hồng điệp Châu Chu rằng:
- "Tên chết toi này quả là ghê gớm, hắn nói về chuyện bí mật này của Thôi tiền bối, đương kim thế nhân không ai biết, mà chính do Thôi tiền bối vì lòng ân hận đau khổ suốt trong thời gian đó, nên ông ta đã viết lại đầu đuôi câu chuyện vào quyển sách, và quyển ký sự nhỏ ấy sau này bị Thôi tiền bối quăng ngay vào một nguồn suối của Mặc Phụ Sơn, chuyện xảy ra cách nay cũng khá lâu, và trang cuối cùng của quyển ký sự nhỏ ấy lại ghi thêm rằng: còn bận sứ mạng phụ trách hai anh em Hầu Hạo và Đông Phương Đình khiến ông ta không thể nào tiêu cực chán đời như thế, nên ông ta đã quăng ngay quyển ký sự và hy vọng tất cả những dĩ vãng đau lòng ấy sẽ trôi theo dòng nước suối trong veo vào một nơi hoang vu vô tận, và ông ta càng muốn đón nhận tất cả những gì mới mẻ của cuộc đời, làm sao khiến cho các dĩ vãng xưa kia phai mờ hẳn, và ông nguyện cố gắng sẽ dồn hết tâm trí vào những việc cứu nhân độ thế oanh liệt, nghĩa là cố gây cho thật nhiều công đức để hầu chuộc lại những tội lỗi dĩ vãng của mình... Nào hay, quyển ký sự nhỏ nhen ấy lại khéo lọt vào tay của tên trời bằm Đinh Hãm như thế; từ cuộc hội ở Nhã Nam, sau khi Thôi Bác tiền bối biểu lộ sơ thân pháp, khiến cho thầy trò Độc Ma kinh hồn tảng vía, và Thôi tiền bối đã hẹn cho tên Đinh Hãm trong hai tháng phải tự quyết mà nạp mạng chết về vụ Bạch điệp Châu Ni.
Độc Ma sau khi về Phi Các ma cung trên Vô ảnh Phong đang buồn rầu không có cách đối phó, nhưng Đinh Hãm đã có kế trong bụng, vì chính hắn biết rõ căn bệnh lòng của Thôi Bác tiền bối, thế nào cũng cầm chắc phần thắng trong tay, bèn đơn thân độc mã đi Mặc Phụ Sơn vờ xin thỉnh tội.
Và đã ngang nhiên rủ Thôi Bác đại hiệp lại Tả Diện Phong lãnh, và hắn không quên tìm một nơi nấp thân kín đáo, và cố kể lể hết mối chuyện tình thương tâm ấy để uy hiếp áp đảo ngay tinh thần đau khổ của Thôi tiền bối, và tên chết bằm Đinh Hãm này lại còn một bản lĩnh khác, ấy là tiếng cười quái dị của hắn, và lên tiếng trách mắng, bởi lẽ nghiêm nghị và hùng hồn, biểu lộ tất cả những chánh khí hào hùng của kẻ trung trực, khác nào như đã đánh trúng vào nơi chí mạng, chịu sao nổi cơn dằn vặt quá đau khổ, duy chỉ còn cái chết mới mong thoát cảnh. Bởi vậy nên Độc chỉ Thôi Bác đại hiệp và thần ưng Đại Hắc đã bị hy sinh tính mạng về quỉ kế của tên Đinh Hãm.
Tên chết bằm Đinh Hãm sau khi thắng trận đòn tinh thần chiến này, hắn không giấu nổi lòng vui mừng nên đã khai rõ bí mật cho em biết, lúc đó em giả vờ không tin, hắn liền lấy ra quyển ký sự nhỏ của Thôi tiền bối cho em coi, lúc đó em chợt nghĩ, tên chết bằm này nay đã nghiễm nhiên có quyển ký sự bí mật này, khó lòng mà hắn lại không đem quyển ấy ra bêu xấu trong thiên hạ, nếu vậy thanh danh của Thôi Bác tiền bối sẽ tổn thương đến đâu, ngay lúc đó em đã dồn hết toàn lực của em chụp ngay quyển ký sự ấy quăng luôn xuống vực thẳm sâu không đáy ấy!
Liễu Mi, Hầu Hạo, Châu Sách, Đông Phương Đình, nghe xong đều khen Châu Chu lanh lợi nhanh trí khôn. Mọi người lại hỏi tên Đinh Hãm còn nói thêm gì nữa, nhưng mặt Châu Chu đã chỉ ửng lên như người say rượu, lúng túng không biết nên nói hay không, trong lúc đó Hầu Hạo cứ hỏi rối lên, nàng đành rằng:
- Tên chết bằm đã mở miệng nói những câu thô tục hạ lưu hết sức, nhưng hắn cũng nói sau khi Thôi Bác chết đi, từ nay, năm thầy trò Độc Ma của Phi Các ma cung trên Vô ảnh Phong sẽ thành bá chủ trong thiên hạ, và hai anh em Hầu huynh sẽ giao cho Độc Ma định đoạt số phận. Còn trong Lãnh Hương Các của Thôi Bác tiền bối, nơi đây có Chân châu lũ kim sam và mười bảy thứ báu vật quí giá, và vô số vàng bạc được giấu trong đây, sau khi Phi Các ma cung Vô ảnh Phong chiếm được kho tàng quí báu lớn lao này, lo gì mà không thống trị nổi các bang phái đại hội trong thiên hạ. Và Độc Ma sẽ ngang nhiên trở thành kẻ lãnh tụ trong võ lâm đồng đạo, hắn còn nói... còn nói rằng...
Tới đây Châu Chu như ngập ngừng, nhưng Hầu Hạo kém sức bén nhạy, nhất là về tâm tình các cô gái, nay càng thấy người ta ấp úng ngượng ngùng lại càng hỏi tới thêm:
- Sao! Hắn còn nói thêm gì?
Dù sao Châu Chu cũng mới gần mười sáu tuổi, chẳng có kinh nghiệm gì về vấn đề ăn nói, nghe Hầu Hạo cuống lên vậy, nàng cũng hấp tấp buột miệng ngay:
- Tên chết bằm nói rằng, từ ngày chị Bạch điệp Châu Ni chết, hắn nhớ thương vô cùng! Nay thấy em và chị Thanh Điệp nhan sắc hao hao giống chị Châu Ni, hắn càng mến yêu và quyết sẽ đưa bọn em về sống những ngày hạnh phúc sung sướng trên Phi Các ma cung của Vô ảnh Phong... và sẽ bảo đảm mọi sự an nguy cho bọn em...
Châu Chu chưa hết lời, Hầu Hạo đã tức điên, chàng nhảy lên la chửi hầm hầm:
- Thằng Đinh Hãm chó chết ấy! Hầu Hạo ta còn sống ngày nào trên thế gian, nguyền sẽ phân thây ngươi ra thành muôn mảnh mới hả lòng ta!
Liễu Mi, Châu Sách, Đông Phương Đình, ba người thấy Châu Chu non dại, chuyện như thế mà không biết giấu đi, trái lại còn nói toạc ra như vậy, trách sao Hầu Hạo không điên khùng được! Hồng điệp Châu Chu vốn đã yêu Hầu Hạo, nay thấy mình lỡ miệng nói rõ chuyện không đáng nói như thế, vì vô tình mình như đã bênh cho Đinh Hãm vậy, nay thấy Hầu Hạo giận đùng đùng, biết ngay chàng ta đã hiểu lầm chuyện, Châu Chu cuống rối và khóc òa lên ngã vào lòng chị!
Lãnh Hương Các bỗng trở nên yên lặng và buồn tẻ Liễu Mi ném ngay một cái nhìn đặc biệt cho Đông Phương Đình, nàng chợt hiểu ý và theo ngay Liễu Mi ra ngoài. Trong này, Hầu Hạo như vẫn chưa nguôi cơn giận, Châu Sách ghé gần tai em gái mình khẽ nói vài câu Hồng điệp Châu Chu chùi ngay nước mắt, nhẹ nhàng bước ngay sang cạnh Hầu Hạo, cúi đầu xuống khẽ tiếng rằng:
- Thưa đại ca! Em đã lỡ lời! Tên Đinh Hãm chết bằm ấy đáng phân thây lắm, nhưng em đã là người của đại ca, nếu lọt vào tay lũ ma ấy, em sẽ chịu chết để giữ trọn lòng thanh bạch... - Giọng càng lại thấp như chỉ muốn cho riêng Hầu Hạo nghe mà thôi: - Đại ca! Xin anh yên tâm, tuy hắn là kẻ dâm tà nổi tiếng nhưng... nhưng hắn chưa dám cưỡng ép em...
Câu nói này quả nhiên sinh ra hiệu lực, vì Hầu Hạo đã hiểu lầm cho rằng sau khi Hồng điệp Châu Chu hôn mê bất tỉnh, tên Đinh Hãm đã giở trò bất lương của hắn, nhưng nay xem ra chắc không đến nỗi vậy, mắt thấy Châu Chu đang ứa lệ đứng cúi đầu, cô chị Châu Sách đang mỉm cười thông cảm nhìn mình, chàng lại nhìn kỹ lại Liễu Mi và em gái mình đã đi từ hồi nào... Rồi sự ưu ái đã nổi lên trong đáy lòng của Hầu Hạo, chàng giang đôi cánh tay ra ôm chặt ngay chị em Châu Thị vào lòng an ủi bằng những cái siết chặt chẽ của mình...
Không bao lâu, Liễu Mi và Đông Phương Đình đánh tiếng từ ngoài bước vào, Hầu Hạo vội đỏ mặt buông ngay hai nàng ra, mọi người bàn tính, Đinh Hãm nay ra về, và hẹn gặp sau mười ngày sắp đến, đúng ngày hẹn, thầy trò Độc Ma trên Vô ảnh Phong sẽ dẫn theo môn hạ đến Mặc Phụ Sơn Lãnh Hương Các để đoạt báu vật trong kho tàng ở đây!
Độc chỉ Thôi Bác đã chết, con thần ưng dũng mãnh tuyệt luân Đại Hắc cũng đã hy sinh theo chủ nhân, may mới chỉ có tên Đinh Hãm đến viếng sơ Mặc Phụ Sơn như thế, mà đã khiến cho Lãnh Hương Các của Mặc Phụ Sơn thế lực bị rung rinh, khéo léo gắng sức lắm mới tạm đuổi được tên Đinh Hãm đi, nếu nay mai chúng kéo toàn sư của Vô ảnh Phong lại, làm cách gì để chống đối đây! Cầu cứu ư! Thanh Thông Cốc lại nằm xa tít tại Hà Nam, còn Nam bút Gia Cát Dật, Tây đạo Thiên Si, nào biết họ hiện đang ở đâu? Còn chạy trốn, cũng là một biện pháp, nhưng trong lòng mọi người có vẻ không cam tâm chịu lép như thế. Tuy biết rằng thầy trò Độc Ma tới, thế nào toàn nhóm phe mình cũng bị bắt hết, và bảo vật trong Lãnh Hương Các thế nào cũng bị chúng vơ vét đi sạch hết. Liễu Mi đề nghị, hãy đem theo hết báu vật trốn, nào hay khi mở cửa thạch môn bên hông ra xem, bên trong trống rỗng, nào có báu vật gì đâu.
Nhưng chắc báu vật này đã được chôn cất nơi nào bí mật chăng, nếu không sao Thôi Bác tiền bối lại căn dặn phải giữ gìn thận trọng, như thế mình làm sao bỏ trách nhiệm đi cho đành! Nhưng hễ nghĩ đám thầy trò của Độc Ma đến, mọi người không ớn mà lạnh, cả đám ngơ ngác ngó nhau, vô kế khả thi, Liễu Mi sực nhớ lời dặn của Thôi Bác trước khi ông ta ra đi Tả Diện Phong, nếu gặp chuyện gì cấp bách, có thể mở ngay cánh cửa bằng đá bên trái, nay mình thử xem sao. Nào ngờ khi mở cánh cửa bên trái ấy, các nàng đều đồng thanh rú hoảng lên vì kinh hãi, hồn bay vía lạc, Đông Phương Đình và chị em Châu Thị đều bị ngất xỉu, Hầu Hạo và Liễu Mi cùng lui ngay bước về sau, chỉ thấy bên trong thạch môn ấy, ngang nhiên xuất hiện Độc chỉ Thôi Bác và đôi thần ưng khổng lồ đang đứng chầu cạnh hai bên...
Một sự kiện khiến cho mọi người bủn rủn chân tay, miệng há hốc, lưỡi ríu lại, không ai nói được câu gì riêng Đông Phương Đình yếu bóng vía nhất nàng ngã lăn ra mặt đất bất tỉnh, chị em Châu Thị lảo đảo xỉu đầu xuống, chỉ có Liễu Mi là nhanh trí, nàng cũng chẳng cần phải chuyển mình quay người lại, gót sen điểm mạnh mặt đất, toàn thân nàng đã vọt người ngay về phía sau trên một trượng xa, sau cơn hoảng hồn định thần lại chỉ thấy Hầu Hạo mặt trắng toát hai hàm răng đụng cầm cập vào nhau, ấp úng rằng:
- Thế. . . thế. . . này. . . là chuyện . . ra làm . . . sao kìa?
Mắt thấy ba nàng đã hôn mê bất tỉnh dưới đất Liễu Mi kinh ngạc xong, bèn tỏ ý cho Hầu Hạo, hai người nhảy vọt ngay lại, đỡ ngay lưng ba nàng bất tỉnh, đồng thời cả hai cũng vội ngầm chuyển sức gót chân pắc một tiếng vang lên, cả hai cung kính khom mình thi lễ và nói rằng:
- Kính thưa Thôi Bác tiền bối, bọn vãn bối quả thật không biết ngài lại ở đây, xin ngài khoan dung tội đường đột mạo phạm oai tôn!
Nhưng sau câu nói tạ lỗi ấy, Đoạn trường nhân Thôi Bác vẫn không lên tiếng nói gì, trong lúc đó Hầu Hạo đã vội lo cứu tỉnh Châu Thị Song Điệp và em gái mình, ba nàng sau khi tỉnh lại, tường đâu oan hồn của Thôi đại hiệp chết không nhắm mắt được nên hồn ma đã xuất hiện về đây, càng nghĩ, ba nàng càng run lên cầm cập đứng sau lưng Hầu Hạo để nhờ sự che chở của chàng, cả ba không dám liếc mắt ngó nhìn vào trong thạch thất.
Hầu Hạo và Liễu Mi, chắc cũng nhờ công lực ở trong thân mình, lúc này cả hai trở lại thái độ bình tĩnh của mình, lúc này mọi người đã rời ra gần đến cửa, một cánh được tạm khép lại, trong cảnh ẩn hiện chập chờn ấy, cỏ thể nhận rõ Đoạn trường nhân Thôi Bác và đôi thần ưng đứng sừng sững giữa ngôi thạch thất, Thôi Bác mặc bộ nho phục nghiêm trang, nét mặt trắng toát, tay cầm Tục giao hồng hoa đứng nhìn mọi người với vẻ lạnh lùng! Hầu Hạo nghĩ bụng: Đoạn Trường Nhân quả không hổ danh là Đệ nhất cao thủ trong thiên hạ! tên Đinh Hãm đã dày quỉ kế để hại ông ta, nhưng nào hắn đã thành công đâu? Giờ đây, Thôi tiền bối chẳng đã về lại Lãnh Hương Các là gì, lẽ đương nhiên đây không phải là chuyện ma quỉ hương hồn gì, mà kẻ phàm tục vẫn tin, nhất định là công lực của vị Đệ nhất trong thiên hạ này sau khi lao mình vào vực thẳm của thác băng tuyết rất kinh khủng ấy, người ta đã lén trốn khỏi cảnh hiểm nghèo và thoát nạn về lại ngôi thạch thất bí mật này của Lãnh Hương Các
Nhưng, Hầu Hạo cũng lập tức cảm thấy một lỗ thủng lớn tướng trong sự suy đoán của mình, làm sao giải thích rõ lý do của con thần ưng Nhị Hắc. Nó đã chết tại Cửu Thiên Tự xưa kia, và đã được Thôi Bác tiền bối xác thực hẳn hoi, vậy làm sao mà nó có thể sống lại ngang nhiên xuất hiện tại thạch thất của Lãnh Hương Các đây? Hầu Hạo biết anh em mình vốn có gì mật thiết liên quan đến Độc chỉ Thôi Bác, và nhất là được vị kỳ nhân này mến yêu, chàng đành đánh bạo lên tiếng rằng:
- Kính thưa Thôi thúc thúc! Ngài đã về đây từ hồi nào mà sao bọn cháu không ai hay biết?
Nào hay sau tiếng hỏi này, trong thạch thất vẫn im lặng như tờ, chờ thêm một lúc, Hầu Hạo bất giác lẩm bẩm nói một mình rằng:
- Ủa! Lạ chưa kìa? Không lẽ mắt chúng mình đều bị hoa hết?
Liễu Mi lập tức lên tiếng:
- Đâu có lý nào cả năm người cùng hoa mắt một lúc như thế!
Hầu Hạo đành im và chờ cuộc biến động xem sao.
Một ngọn gió bên ngoài tạt vào thạch thất, chỉ thấy một người và hai chim ưng chập chờn lui nhẹ về sau, động tác rõ ràng ấy, mọi người đều thấy rõ, ai nấy lại hoảng hồn hú vía về sự kiện quái đản trước mắt, có người như đã cảm thấy toát mồ hôi lạnh.
Tuy cả đám đã sống chung bấy lâu với Độc chỉ Thôi Bác, đối với một kỳ nhân này ai cũng đem lòng kính nể, nhưng vì thường ngày ông ta ít cười nói, nên chẳng hiểu rõ lòng vị đại hiệp này ra sao, nay đột nhiên thấy ông ta xuất hiện thần bí và với vẻ giận hờn như thế, sao khi Liễu Mi và Hầu Hạo đánh tiếng hỏi, ông ta vẫn không hề trả lời, chẳng biết duyên cớ gì? Ai nấy lúc này nơm nớp lo ngại kinh hãi trong lòng.
Lại chờ thêm một lúc, nhưng vẫn không có động tĩnh xảy ra, chỉ thấy trong thạch thất, cảnh sắc vẫn âm u rờn rợn, im phăng phắc, Thôi Bác và đôi thần ưng vẫn đứng uy nghi bất động. Liễu Mi chợt như đã nghĩ ra gì, nàng nói nhỏ với Hầu Hạo:
- Hầu đại ca hãy lo cho họ, để tôi vào xem sao!
Hầu Hạo vội khẽ tiếng:
- Liễu cô nương nên thận trọng!
Vừa dứt lời gót sen nàng Liễu Mi khẽ điểm, toàn thân nàng vọt nhanh vào như một làn khói nhẹ.
Bên ngoài anh em Hầu Hạo và chị em Châu Thị, mọi người như ngừng thở chờ đợi! Không ai quên đưa tay rờ sẵn lên binh khí để ứng biến.
Thời gian nặng nề trôi, mọi người toát mồ hôi tay, trống ngực càng lúc càng đánh mạnh... và trong khi không khí căng thẳng tột đỉnh ấy, tiếng gọi của Liễu Mi đang vang lên, một âm thanh chứa toàn ẩn ý kinh ngạc quái lạ:
- Hầu huynh ơi! Hãy mau vào cả đây mà xem!
Cả bốn người thở đến phào, rồi tiến nhanh ngay vào trong, chỉ thấy Liễu Mi đánh ngay đá lửa, trong ánh lửa nhoáng lên ấy, thấy rõ hẳn Đoạn Trường Nhân và đôi thần ưng uy nghi sừng sững, mọi người không khỏi giật thót mình ngừng ngay lại.
Liễu Mi vội rằng:
- Chớ có sợ! Không phải thật đâu, mau lại gần đây!
Hầu Hạ bạo gan bước lại đưa tay ra sờ, thất thanh rằng:
- Quả nhiên chỉ là một người bằng tượng, làm khéo đến nỗi mà trông in như người sống!
Đông Phương Đình và chị em Song Điệp Châu Thị, cũng đánh bạo bước lại gần xem, quả nhiên một người và đôi thần ưng ấy, hoàn toàn đúc tạc bằng sắt, lẽ đương nhiên là khá nặng, bên ngoài được phết màu vẽ son cẩn thận, thậm chí dưới chân của bức tượng người và chim ấy, đền gắn ngầm bánh xe, để tiện khi di động, nếu có sức người đẩy vào, trông linh động không khác nào sống thật. Liễu Mi dùng ánh lửa chiếu khắp hết ngôi thạch thất, ngoại trừ ba bức tượng người và chim ra, hầu hết trong ngôi thạch thất không cỏ lấy chút bụi cát nào, trống rỗng và sạch sẽ không chút bụi trần. Liễu Mi thở dài, buồm nản ngậm ngùi rằng:
- Thôi đại hiệp quả đã qua đời rồi, hình như ông ta đã dự đoán được những việc này sẽ xảy ra trong tương lai, nên ông ta đã để lại những bức tượng như thế này.
Anh em Hầu Hạo và chị em Châu Thị đều hiểu ý nói của Liễu Mi, ai nấy ngậm ngùi thê lương và đều cảm thấy trách nhiệm khó khăn của mình. Đông Phương Đình nhắc tỉnh mọi người, lời nói của Thôi Bác tiền bối quả không thể nào sai sự thực, cửa động nằm bên phải ấy, chúng mình nên xem xét kỹ lưỡng lại coi!
Năm người kéo nhau sang cánh cửa bên phải, sau khi chăm chú, bỗng Hồng Điệp phát giác trên vách có vẻ lạ bèn đưa tay lên khẽ đẩy, không ngờ vách tường tự động mở, bên trong lại một thạch thất khác. Nhưng có điều hào quang chói tỏa, làm lóe mắt mọi người, chỉ thấy ngôi thạch thất này, châu báu vàng ngọc nằm ngổn ngang cùng mật thất, ước chừng số lượng, có thể lên đến con số trên triệu lạng châu báu là ít. Hầu Hạo tỏ vẻ bực mình rằng!
- À ra đây là những thứ mà trên giang hồ đang thêm thuồng đến nó đây! Hừ!...
Liễu Mi tính thầm, quả nhiên số của cải châu báu kếch sù này, với sức lực của năm người, trong một thời gian ngắn ngủi mười ngày, không thể nào di chuyển hết đi một nơi khác nào được, nhất là Độc chỉ Thôi Bác đã căn dặn ở lại để bảo vệ kho tàng này, xem ra cuộc tranh đoạt chiến khó mà tránh khỏi. Nay tình thế khẩn trương, binh hung chiêu nguy, chuyện hung kiết chưa biết sẽ ra sao, dẫu cho nàng Liễu Mi lanh lợi thông minh, tài trí đảm lược đến đâu, lúc nảy cũng không khỏi cau mày bối rối suy nghĩ làm sao lo cho tròn trách nhiệm giữ gìn kho tàng!
Chỉ thấy trong số châu báu vàng ngọc ấy, lại có mười bảy chiếc hộp bằng gỗ và trạm trổ khéo léo, niên phong cẩn thận chắc đây là loại mười bảy báu vật đây, cũng chẳng có tâm địa mở ra xem trong lúc này, khi bước đến một góc của phòng mật thất, Hồng điệp Châu Chu bỗng vô tình lượm lên một chiếc áo có ánh sáng óng ánh, đặc biệt của chiếc áo này là đính rất nhiều chân châu lớn nhỏ đủ loại, chất áo có vẻ bền dai vô cùng. Xem ra đây có lẽ là báu vật được mệnh danh Chân châu lũ kim sam đây, Liễu Mi bèn bảo Hồng Điệp cầm ra, phòng có khi dùng đến bất thình lình cũng nên. Mọi người ra khỏi kho tàng của mật thất, lo bàn tính kế hoạch, quyết không thể nào ngồi yên bó tay chịu chết, bảo tàng quá nhiều, không tiện vận chuyển đi nhưng có tạm dời ngay mười bảy báu vật và chiếc áo Chân châu lũ kim sam khỏi ngay Lãnh Hương Các trước! Sau khi suy tính kỹ, không còn cách gì hơn chỉ còn nước mạo hiểm, nhân ngay lúc thầy trò Độc Ma Vô ảnh Phong chưa tới, hành động ngay cấp bách, mọi người lo thu xếp và chuẩn bị lên đường.
Liễu Mi tính vốn hay cẩn thận, nên trước khi khởi trình, nàng đã đi dò xem tình hình nơi Mặc Phụ Sơn xem có gì lạ không. Thế là nàng hấp tấp đi dọ thám trước đường.
Sau khi Liễu Mi tung mình lên hẳn trên tuyệt đỉnh của Lãnh Hương, nàng bỗng cảm thấy tứ phía hơi lạ với thân pháp và tai mắt bén nhạy của nàng, Liễu Mi đã phát giác người của Độc Ma phía Vô ảnh Phong đã đến, tất cả những cây cối khắp bốn phía, đã chói ra những tia nhìn không thiện ý gì, nàng đã chuẩn bị sẵn, nàng cố bình tĩnh trấn tĩnh lòng khích một tiếng bật cười rằng:
- Quí khách đã có tình đến thăm viếng như vậy, chờ gì mà không còn hiện thân cho rồi!
Tiếng còn chưa dứt hẳn, một tiếng cười dài vang lên, tiếng cười quen tai lắm! Chính là người trong Ma Cung, Liễu Mi không ngờ rằng Độc Ma lại thân hành xuất trận như thế, thầm nghĩ chuyến này e nguy mất, trong lòng nàng bắt đầu thất vọng và ái ngại, tiếng cười của Độc Ma đây phải loại hiền gì, nhân ngay lúc Liễu Mi bàng hoàng vất vưởng tinh thần ấy, tiếng cười của y đã phát sinh ra hiệu quả rồi, Liễu Mi thình lình cảm thấy tâm thần mình như bị khớp hẳn, trong lòng giật nảy mình.
May nhờ nàng là người căn cơ, thông minh nhanh trí, vội thu ngay tâm thần rối loạn bồi hồi của mình lại, vận ngay nội công lên phòng ngự, nên mới không bị mắc vào bẫy của Độc Ma. Tiếng cười thình lình tắt hẳn, trên Lãnh Hương Điện (chót vót của đỉnh). Từ Độc Ma và các tay thủ hạ từ từ xuất hiện ra hết, nhưng thấy Độc Ma ngồi trên Liễn xa, Tam Hung, Tứ Hung Đinh Hủy và Đinh Phá chia đứng hai bên, Độc Ma khăn đen bịt mặt, Liễu Mi cảm thấy phía sau nổi lên tiếng sột soạt, nàng khỏi cần quay đầu nhìn cũng biết là thủ hạ của Độc Ma đang bao vây khắp ngọn Lãnh Hương Đỉnh, một sự bao vây chặt chẽ!
Liễu Mi vội liếc mắt nhìn quanh, thì ra Hầu Hạo cũng đã xuất hiện từ hồi nào rồi, tay chàng đang cầm trường kiếm, sẵn sàng ứng chiến. Nàng quay nhìn khắp bốn phía một vòng, Liễu Mi có bạo gan đến đâu cũng không khỏi ớn lạnh rùng mình, chỉ thấy nhan nhản những người của Ma Cung hiện thân ra, và họ đã để lộ hết những bộ mặt thật, những khuôn mặt mà bệnh tật đã tàn phá kinh khủng, kẻ tàn khuyết tứ chi, người mặt mũi lở loét, kẻ giơ xương trắng hếu, người bị hủi, kẻ lở loét, người sâu quảng... thôi thì đủ hạng bệnh... và cũng đủ thứ mùi tanh của mủ và máu ấy gây nên... Liễu Mi cảm thấy mình đã lợm giọng buồn mửa, nhưng nàng cố trấn tĩnh lý trí của mình.
Lúc này vị Ma Cung chủ nhân bỗng lên tiếng rằng:
- Đoạn trường nhân Độc chỉ Thôi Bác, võ công cái thế siêu tuyệt, hải nội ngoại đều khâm phục, sau cuộc tạm biệt tại Nhã Nam, thời gian chẳng qua mới một tháng, bỗng nghe tin sét đánh do tiểu đồ Đinh Hãm báo lại, cố nhân nay đã qui tiên cảnh trước ta, và đã tảng thân tại diện phong của Mặc Phụ Sơn, chết dưới lớp băng tuyết hãi hùng như thế, thật đáng tiếc, từ nay trong võ lâm đã mất đi một vì sao sáng chói... cũng vì hung tin này, nên bản chủ nhân không quản vất vả dẫn theo toàn bộ hạ của Vô Ảnh Phong đến để phúng điếu bạn cố tri đã quá cố...
Liễu Mi nghiễm nhiên rằng:
- Không dám! Không dám! Thôi đại hiệp vẫn khỏe mạnh sống tại Lãnh Hương Các, nào đâu có chuyện gì tang tóc đâu, chắc tiền bối ngài đã lầm lẫn chăng!
Độc Ma lạnh lùng rằng:
- Nghe danh thứ nữ của Thanh Thông Bang quỉ quyệt tuyệt luân, nay quả nhiên dám điêu ngoa trước mặt bậc tiền bối, như vậy chẳng đã tỏ ra bất kính vào bản chủ nhân ta sao... - nói tới đây, vung tay phải lên ra lệnh cho Song Hung Đinh Hủy và Đinh Phá rằng:
- Hai đứa ngươi hãy bắt ngay tên nam nữ này lại, còn lại bao nhiêu người khác, lập tức lo vào Lãnh Hương Các lo khuân hết của cải kho tàng về ngay Phi Các tiên cung Vô ảnh Phong không được bê trễ việc! Vì ta không tiện ở đây lâu!
Đinh Hủy Đinh Phá cung thân nhận lệnh, cả hai tung mình vọt ra quát lớn:
- Hầu Hạo! Liễu Mi! Hai người còn không mau mau quì xuống chịu trói cho rồi!
Đám đệ tử của Phi Các ma cung, ít ra cũng có đến cả ngàn mạng người, nay chúng hiện thân ra trước Lãnh Hương Đỉnh, và số đông đều đem theo khí cụ và đồ dùng như để khuân vác báu vật về sào huyệt của chúng, và những tên ma sống này đều có thể lên đến tuyệt đỉnh của Mặc Phụ Sơn này đây để hoành hành, hung bạo như thế, đủ chứng tỏ công lực của chúng cũng chẳng vừa gì, như vậy thực lực của Phi Các ma cung không thể nào khi thường được.
Trong khi ấy, đám người của Ma Cung đồng thanh hò hét vang trời, phía này chỉ Hầu Hạo và Liễu Mi, nào chúng có coi hai người vào đâu, binh khí tuốt ra, ánh sáng loang loáng, chúng xông bừa hết vào cửa chánh của Lãnh Hương Các.
Liễu Mi và Hầu Hạo cũng tung mình vọt ngay vào cửa, giơ ngang kiếm ra, đám người Ma Cung vội lùi ngay về sau. Đính Hủy, Đinh Phá tung mình xông tới, Tứ Hung Đinh Phá quát lên rằng:
- Hai đứa chết đến trước mắt mà còn không hay. Mau tránh nhanh ra không?
Hầu Hạo giơ ngay kiếm ra, cất tiếng khiêu chiến rằng:
- Đinh Phá, nếu ngươi thắng nổi tay kiếm của ta, lũ ngươi sẽ được vào yết kiến Thôi đại hiệp ngay! Còn không! Hãy làm ơn cút ngay khỏi đây cho ta đỡ gai mắt.
Đinh Phá cả giận lạnh lùng cười nhạt:
- Đoạn Trường Nhân nay đã chết, hai đứa ngươi lúc này có khác gì du hồn sắp về âm phủ, thế mà còn không biết thân phận lại còn tính chuyện ương ngạnh chống đối, rõ không biết tự lượng sức mình chút nào cả thôi được, để ta bắt hai ngươi trước rồi tính sau!
Một tiếng sáo huýt lên, Đinh Hủy đồng thời phát động ra tay, Hầu Hạo thừa biết Đinh Hủy sức mạnh vô cùng, chỉ sợ Liễu Mi không phải đối thủ, chàng bèn vung kiếm ra hứng đòn trước, đằng này Đinh Phá lạnh lùng cười một tiếng, vung kiếm tiến nhanh ngay vào Liễu Mi.
Bốn người chia thành hai cặp giao tranh, chớp mắt, bốn thanh trường kiếm quay cuồng túi bụi, cả một vùng kiếm quang loang loáng, kiếm khí ào ào, trận đánh kịch liệt kinh hồn.
Đối với kình địch trước mắt, Liễu Mi không dám chểnh mảng, thấy Đinh Phá lao nhanh mình như điện chớp lại, thanh kiếm nhoáng lên, khiến nàng hoa cả mắt, vội tung mình né bộ tránh ngay ra vài thước, toàn thân Đinh Phá bị sẹt ngang qua người nàng, đúng là suýt soát một ly đi một dặm! Đinh Phá đã hụt đòn đánh của mình.
Đinh Phá bất giác cũng phải buột miệng Hừ! lên một tiếng, có lẽ hắn cũng bị lối khinh công tuyệt đỉnh của Liễu Mi khiến hắn phải giật mình, lúc này chỉ thấy hắn lướt nhanh tới, mũi kiếm đưa ngược lên, và ngầm vận công lực đẩy ra với ngọn Bồi lôi sơ phóng (hoa sấm sét chớm nở), kình lực nửa hư nửa thực, nửa úp nửa mở, biến hóa vô tận, vốn là một loại kiếm pháp vừa dẻo vừa nhanh, và phần đông các tay kiếm pháp cừ giỏi của phái nữ lưu, đều biết sử dụng ngọn này.
Nay không ngờ một tên đàn ông xấu xí không khác nào quỉ sống như Đinh Phá này mà cũng thông thạo lối đánh của đám nữ nhi như thế, Liễu Mi không khỏi thất kinh trong lòng, nàng thấy Đinh Phá không những thạo mà còn khéo lạ, Liễu Mi không dám bén gần trong phạm vi của địch, thân nàng nghiêng nhanh, gót sen đổi bộ, rồi vèo nhanh ta xa vài bước, chắc nàng đã nhận ra lợi hại của Đinh Phá. Chỉ thấy Đinh Phá cười ngạo mạn, thình lình vung mình vọt lại, cả cánh tay phải phạt mạnh và nhanh, ánh kiếm không khác nào như một con rắn, mũi kiếm mổ thẳng sang phía Liễu Mi. Thế đánh vừa độc vừa lẹ.
Liễu Mi nhận thấy nội lực của mình chắc không thể nào hơn đối phương, toàn thân nàng lúc này trơn như một con cá, nhẹ nhàng quay ngang mình, vụt ngược mũi kiếm của mình đâm thẳng ra, một thế kiếm pháp vừa công vừa thủ, kín mít các mặt, chỉ thấy ánh kiếm của nàng lúc này lóe ra các đóa hoa trắng xóa, bay tua tủa khắp trận chiến để cự địch! Đến lúc này, Tứ Hung Đinh Phá của Vô ảnh Phong mới biết con bé Liễu Mi quả không phải tay dễ bắt nạt gì, đành giở ngay tuyệt nghệ của mình ra lo ung dung quay quần trong kiếm pháp khá cừ khôi của Liễu Mi, trong trận cuồng phong kiếm ảnh như mưa rào ấy, hoặc khi thấy trường kiếm tìm nơi hở để xỉa nhanh vào, có khi lại vung chưởng hay chỉ lực hầu đánh ngã đối phương, luôn luôn đã áp đảo và uy hiếp Liễu Mi.
Chỉ chốc lát, Liễu Mi nhận ngay ra tên Đinh Phá chỉ dùng thế thủ để công hãm mình, hắn cố lợi dụng lối đánh này để tiêu hao thể lực của mình, không nên mắc mưu địch. Nghĩ xong, nàng biến đổi ngay thế đánh của mình thành ra chậm chạp. Nhưng tên Đinh Phá quả là tay cừ, hắn đã nhận ngay ra, và không để lỡ dịp may cây kiếm chém ngang ra, không sao tránh kịp, Liễu Mi đành phải giơ kiếm hứng càn. Cheng! một tiếng vang lên, Liễu Mi cảm thấy hổ khẩu như tê buốt đau nhói, kiếm suýt bay khỏi tay, quả thế kiếm của Đinh Phá lợi hại thật. Trong lòng giật mình, vội cố gắng chống đỡ, chuyển nhanh thế đứng giữ kín khắp châu thân, dồn hết nội lực vào thanh kiếm để đối phó với kình địch.
Đôi kiếm tương giao vù vù, chỉ nghe những tiếng thép vang coong coong sau khi chúng va chạm vào nhau tóe đóm sao. Thời gian khi kéo dài ra, thân hình Đinh Hủy cũng đã cảm thấy rung rinh, Liễu Mi cố gắng ngưỡng chế hơi thở của mình, nhưng nàng thấy trong mình đã an tâm, Đinh Phá tuy lợi hại, nhưng so về công lực của hắn, cũng chẳng hơn gì mình bao nhiêu, chỉ miễn sao mình cố thận trọng, thế nào cũng không đến nước bị bại trận. vốn là người lanh lợi sáng trí, Liễu Mi chợt nghĩ ra một kế, cánh tay nàng vụt nhanh ra thình lình... một thế Phủ đệ trừu tân (dưới lưỡi búa rìu, rút rỉa tiền bổng quan huyện), thế đánh vừa nhanh lại vừa hiểm, do không kịp phòng hờ, cây trường kiếm của Liễu Mi đã nhoáng đến trước mặt, mắt thấy Đinh Phá không chết cũng bị thương nặng, nhưng chỉ nghe hắn Hự! lên một tiếng, kiếm bên phải, chưởng bên trái hai thế đồng thời đánh ra ngay! Công lực của Tứ Hung Đinh Phá Vô ảnh Phong quả nhiên bất phàm, chưởng bên trái nhắm ngay eo đẹp như rắn nước của Liễu Mi ập tới, một chưởng một kiếm được đánh ra nhanh như cắt, nội sự linh động và hiểm ác cũng đã chiếm hẳn về mặt tuyệt luân của nó. Cũng trong thời gian nhấp nháy ấy, Liễu Mi chợt nghĩ ngay: nên rút thế về tự lo thân? Hay là cùng xe thí xe với tên hung ác này cho rồi!
Trong tình trạng cá sổng lưới như thế, Liễu Mi vô cùng khó nhọc lắm mới lừa được một đòn, không ngờ tên Đinh Phá lại quỉ quyệt đến thế, trong lòng không cam tâm, nhưng cũng trong thời gian cực ngắn ngủi này, một khuôn mặt quen thuộc đã hiện nhanh quá trí óc nàng, một khuôn mặt hào hoa phong nhã, anh phong lẫm liệt,... một bộ mặt vô cùng thiện cảm... và cũng là một bộ mặt tăng cường nhựa sống cho nàng... đó là bộ mặt của chàng thiếu niên anh hùng Thượng Quan Linh... thế là tất cả nguồn hy vọng quyến luyến yêu đời lại phát khởi một cách tuyệt đỉnh trong tư tưởng của nàng... vì yêu... nàng không thể liều mạng! Nhanh như chớp, nàng đã quyết định ngay!
Thình lình nàng Liễu Mi hét lên một tiếng, ngọn trường kiếm tỏa nhanh ra như con rắn trắng nhảy vọt tới tấp sang địch, nàng đã cố mở thế công để làm thế thủ cho mình.
Đinh Phá cũng thở dài như vừa trút được một gánh nặng trong người, thì ra con bé này cũng còn biết sợ chết, không dám liều nước xe thí xe như thế, chắc nàng cũng không thể nào biết được trong thâm tâm của Đinh Phá còn sợ chết hơn nàng nhiều? Sau thế đánh này được Liễu Mi hoãn chậm lại, cả đôi bên đều bắt đầu cẩn thận từng miếng từng ngọn một, chẳng bên nào dám mở các thế mạo hiểm để chiếm phần thắng. Trong khi phía bên kia Liễu Mi đánh chậm và cẩn thận lại ấy, thì phía bên Hầu Hạo và Đinh Hủy đã lên đến mức cao trào tuyệt đỉnh của trận chiến. Hầu Hạo và Đinh Hủy, cả hai vốn được trời phú thần lực cái thế, nên hai thanh kiếm của hai đối thủ múa lên, kình lực mạnh tuyệt luân, tiếng gió ào ạt từng cơn, lối đánh khác hẳn với những thế cẩn thận như bên Liễu Mi, chỉ hai bên đánh thục mạng và bừa bãi, hễ tiện là bửa nhau sẵn dịp là không tha, lắm lúc ngọn đánh chẳng thành chương pháp nhà võ nữa. Lối đánh càng lúc càng thục mạng chí tử, đôi bên đã dùng đến chân lực hoàn toàn. Chỉ thấy Hầu Hạo nghiến răng trợn mắt, kiếm vung bạt mạng, miệng lớn tiếng la:
- Ta nguyền sẽ bửa chết tên quỉ sống như ngươi mới thôi!
Dứt tiếng, ánh kiếm kẹp luôn ngọn kình phong dũng mãnh cuốn thẳng sang phía Đinh Hủy.
Thân hình Đinh Hủy nhoáng nhẹ như làn gió thoảng sang bên lạnh lùng cười lên tiếng trứ danh Hò! Hò!... của mình, trên khuôn mặt lở lói loét giơ xương kinh rợn ấy, thỉnh thoảng thở ra những tiếng phì phào khó nghe vô cùng. Chỉ thấy làn kiếm quang của Hầu Hạo từ trên bửa xuống. Trong ngọn này, Hầu Hạo đã dùng đến tám phần công lực, oai lực cực mạnh! Võ công của Đinh Hủy cũng thuộc loại đệ nhất lưu cao thủ đương kim giang hồ, lẽ nào lại không rõ lợi hại của đối thủ toàn thân nhoáng nhanh một cái, đã tránh xa hơn nửa trượng, phương pháp nhoáng thân né tránh đòn của Hầu Hạo này tính ra tên Đinh Hủy đã né tránh cả trên chục lần như thế rồi, Hầu Hạo cũng thừa biết tên quỉ sống này cố sức tiêu hao chân lực của mình, nhưng vì quá hăng say trận chiến, chàng cũng chẳng để tâm làm gì, chỉ nghĩ sao nhử cho hắn chịu hứng đòn của mình. Nghĩ vậy Hầu Hạo cứ liên miên bửa hết ngọn này sang đến ngọn khác!
Hầu Hạo lại vung kiếm truy kích, Đinh Hủy lại tung mình nhoáng tránh, Bùng! một tiếng vang lên, một cây cổ thụ hai người ôm đã bị ngọn kiếm của Hầu Hạo phạt trúng, đứt đôi đổ rầm ngay xuống, oai thế mãnh liệt kinh người, không khác nào cơn bão táp của trận cuồng phong kinh khủng đang hoành hành. Đinh Hủy cũng rít lên một tiếng kinh dị, vung kiếm phản công tới tấp lại, nhưng Hầu Hạo đã hiển nhiên đang thắng thế, khiến cho Đinh Hủy dần dà đã cảm thấy khó khăn trong cuộc chiến. Chắc có lẽ trong thời gian ở không tại Mặc Phụ Sơn, Hầu Hạo đã ra công khổ tập thêm võ công của mình, nên giờ đây mới có thành tích cừ khá như vậy? Phần thâm ý của Đinh Hủy, vốn muốn khiến cho đối thủ tiêu hao dần công lực, và chờ đến chừng nào Hầu Hạo mệt nhoài ra, hắn chỉ việc ra tay mà bắt là xong chuyện, hắn cũng biết thiếu niên Hầu Hạo này là một nhân vật lạ lùng lắm.
Sư tôn Độc Ma của mình lúc này vẫn chưa thể giết tên Hầu Hạo này được và cần phải bắt sống, nhưng sau trận đánh khá lâu từ nãy đến giờ, tên Hầu Hạo này càng đánh, lại càng hăng tiết, không có một triệu chứng gì là mệt nhọc mới kỳ lạ. Khiến cho Đinh Hủy ngoài sự kinh ngạc còn cộng thêm một chút lòng chán ngán, phần phải tuân lời của sư tôn bắt sống, nên hắn không dám giở đến những ngọn đòn khốc liệt của mình!
Trái lại phía Hầu Hạo chẳng còn gì phải kiêng kỵ, chàng chỉ biết một điều là làm sao bửa chết ngay tên Đinh Hủy dưới kiếm mình mới hả dạ, toàn dùng những ngọn đòn thục mạng đánh ra ngang nhiên đã áp đảo hẳn tên Đinh Hủy; một trận chiến có thể nói là cả ngàn năm mới có một thuở như vậy, chỉ thấy cát bụi mù mịt, tiếng gió ào ào, cây lá gần vùng chiến rung rinh chuyển động như cổ võ cho trận chiến thêm hào hùng!
Đinh Hủy cố chống thế đánh như vũ bão của Hầu Hạo, tình thế mỗi lúc một hiểm ác, dẫu cho công lực Đinh Hủy cao giỏi đến đâu, nhưng cứ nằm trong tình trạng chịu đấm ăn xôi hoài, khi trả đòn, lại phải dè dặt, vừa phí sức và lao tâm, dần dần mồ hôi ướt đầy trán. Phải biết rằng Đinh Hủy cũng là tay thần lực trời phú, đương kim võ lâm ít ai sánh ngang được, trong Vô Ảnh Phong, thường tự hào về nội lực hùng hậu của mình, xưa nay chưa bao giờ cảm thấy mệt mỏi là gì nay gặp phải kẻ kình địch càng đánh càng hăng như Hầu Hạo đây, trong lòng hắn bắt đầu khủng hoảng. Thình lình hắn hét lên một tiếng lớn với giọng Hờ khởi đầu rằng:
- Thằng nhãi con! Bộ còn chưa chịu phục sao?
Hầu Hạo chẳng biết nghe và chàng cũng chẳng buồn nghe, chỉ hét lên một tiếng và vung kiếm phạt bừa ngay ra, Đinh Hủy cúi nhanh xuống, suýt thì hắn bị bay đầu! Đinh Hủy cả giận, hắn la lối như tiếng ma tru tréo, hắn nghĩ thầm: mình phải đánh thẳng tay mới xong, nếu nó bị thương, mình bất quá bị sư tôn rầy la chút đỉnh là cùng, tuyệt không thể nào để hắn thắng mình. Nghĩ vậy Tam Hung Đinh Hủy bèn chủ động mở ngay thế công, ào ào đánh ra một lúc bốn đòn chớp nhoáng, và toàn là các thế nhanh và kinh hiểm tuyệt độ. Oai lực phút chốc bao phủ khắp toàn thân Hầu Hạo!
Làn kiếm như rồng bay rắn nhảy! Hầu Hạo không sao trở tay chống đỡ nổi, đành lùi nhanh vài bước né tránh.
Đinh Hủy lớn tiếng hét:
- Còn không mau mau quì xuống đầu hàng sao?
Hầu Hạo tuy cũng biết rõ công lực của mình còn thua đối thủ một bực, nhưng chàng đâu chịu khuất phục như thế, lớn tiếng nạt nộ lại:
- Sủa bậy cái gì vậy?
Tam Hung Đinh Hủy tức điên người, ngọn kiếm trên tay bỗng vung lên như cơn vũ bão, tấn công tới tấp sang, Hầu Hạo lập tức bị áp đảo, nguy cơ đã hiện ra cùng mình. Nhưng Hầu Hạo vẫn cố chịu đòn chống đỡ và lo lui dần. Thình lình Đinh Hủy tỏa ra một làn kiếm trắng xóa, phong kín ngay khắp châu thân của Hầu Hạo, hết cả đường lui để tránh đòn, chỉ còn nước nhắm mắt chờ chết. Mũi kiếm của Đinh Hủy đã dí sát ngay vị trí tim của Hầu Hạo, nắm chắc phần thắng trong tay, Đinh Hủy lại quát hỏi:
- Nhãi con! Chịu phục chưa?
Chẳng cần suy nghĩ, Hầu Hạo lớn tiếng ngay:
- Không phục! Không phục! Không phục!...
Đinh Hủy nổi khùng, cũng chẳng cần do dự gì, thẳng tay đâm ngay mũi kiếm!
Bên kia, Liễu Mi nhanh mắt hơn ai hết, nàng hét thét lên một tiếng, bay bung mình ra để cứu, nhưng ác nỗi Đinh Phá theo sát như một bóng ma phía sau lưng nàng, thanh trường kiếm vung lên và ngăn cản ngay thế tiếp cứu của nàng, ngang nhiên chận ngay trước mặt Liễu Mi lạnh lùng rằng:
- Sao! Liễu cô nương không nỡ để hắn chết sao?
Liễu Mi quả không muốn thấy Hầu Hạo bị giết như thế, nhưng nàng lúc này lại không thể nào không theo dõi sự việc trước mặt được, nàng trố mắt đớ miệng đành ngó mũi kiếm oan nghiệt của Đinh Hủy đâm mạnh xuống... bỗng một tiếng bục! rõ ràng vang lên, tiếp theo là tiếng thét kinh hãi của Liễu Mi rú lên, ai nấy hồn bay phách lạc!...
Nhưng kỳ tích đã xuất hiện ngoài sự tưởng tượng của mọi người! Sau khi ngọn kiếm của Đinh Hủy đâm tuốt xuống, chẳng khác nào như đã đâm phải một khối đá và sắt vậy tiếp theo là Hầu Hạo phưỡn mạnh ngay ngực ra, một tiếng cheng! vang lên, thanh kiếm của Đinh Hủy đã gãy làm đôi.
Trong tình trạng này, Đinh Hủy đã sợ đến nỗi hồn bay vía lạc tuốt lên mây xanh, vì bộ mặt đã nham nhở, nên không ai biết rõ sắc thái của hắn kinh ngạc sợ hãi đến mức độ nào! Chỉ thấy hắn đã cố dùng một động tác thật nhanh nhảy tránh sang một bên! Đinh Phá cũng không thể ngờ sự thể lại biến đổi đột ngột bất ngờ như thế, tay chân chậm chạp, và Liễu Mi nhân ngay lúc hoảng hồn của địch thủ ấy, nàng vội tung mình nhảy vọt ngay lại phía cạnh Hầu Hạo, thấy chàng quả nhiên không hề hấn gì, chỉ thấy chàng trố mắt như vừa tỉnh cơn mộng, nàng lập tức hiểu ngay, thì ra Hầu Hạo đã mặc chiếc áo báu Chân châu lũ kim sam, là một bảo vật của đại nội tiền trào trong hoàng cung nhà vua, và nhờ dị báu của chiếc áo này mà đã ngang nhiên cứu sống mạng của Hầu Hạo!
Tương truyền rằng, chiếc áo Chân châu lũ kim sam vốn không sợ đao kiếm thủy hỏa, thần kỳ tuyệt luân, nay mới thấy thần hiệu của nó ghê gớm như thế.
Sau khi Hầu Hạo nhặt lại cái chết của mình trong tay tử thần như thế, chàng cùng với Liễu Mi bỗng bạo hẳn gan, vung ngay kiếm lên phong tỏa ngay cửa chánh của Lãnh Hương Các để chờ địch!
Trên liễn xa, Độc Ma bỗng buông tiếng cười ha hả một hồi rằng:
- Đinh Hủy và Đinh Phá! Hai đứa con đã bị chúng dọa đến nỗi sợ thế sao?... Trời, Đó! Chính là chiếc áo quí Chân châu lũ kim sam đó! Chiếc áo này là một loại áo ngắn, chỉ có thể bảo vệ nửa thân trên, đao kiếm và lửa nước đều không thể làm gì nổi chiếc áo ấy.
Nghe tới đây, Đinh Hủy và Đinh Phá cùng hét lên, cả hai xông nhanh vào phía Hầu Hạo. Lúc này cả hai đã học khôn là không thèm công đánh phía nửa thân trên của Hầu Hạo, mà toàn mở các thế đánh nửa thân dưới tức hạ bàn. Bị địch biết thóp yếu điểm chàng lại phải lúng túng chống đỡ cực nhọc. Cảnh hiểm nghèo xảy ra tua tủa khắp xung quanh! Vì xưa nay nào có lối đánh kỳ quặc như thế này đâu!
Chớp mắt, Song Hung Đinh Hủy và Đinh Phá đã cướp đánh tưng bừng với những thế võ quái dị, mắt thấy chiếm hẳn ưu thế, và sắp thu ngay trận thắng trước mắt, khiến cho Hầu Hạo và Liễu Mi phải lúng túng, lo được mặt này mất mặt nọ! Đến sự tự lo giữ thân cũng đang bị uy hiếp cực độ!
Liễu Mi thấy tình hình quá bí này, nàng thình lình tung mình bay vọt lên, miệng huýt một tiếng sáo ré vang một âm thanh như ong ngân vang lên nghe êm tai lạ!
 
0