📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

Đoạt Hồn Kỳ (Hết) 🔒

81 trả lời, 9.100 lượt xem — Trang 3 / 3
Hồi 61. Trí Thoái Quần Ma
[/align]

Thình lình, cánh cửa lớn của Lãnh Hương Các mở toang ngay ra, bên trong có tiếng chân người bước từ từ dần ra, Liễu Mi lớn tiếng hỏi:
- Thầy trò Độc Ma! Các ngươi thử nhìn xem ai đã đến kia!
Toàn đám môn đệ của Phi Các ma cung Vô ảnh phong đều chăm chú nhìn lại phía cửa, chỉ thấy Đoạn trường nhân Độc chỉ Thôi Bác đã xuất hiện ngay nơi - cửa tiền, mắt trợn trừng, bên cạnh con thần ưng Đại Hắc ngồi phịch xuống đất, có Thanh điệp Châu Sách và Hồng điệp Châu Chu đứng ngay hai bên. Đinh Hủy, Đinh Phá hồn bay lạc vía, quay đầu lại sau nhìn, chỉ thấy sư tôn mình Độc Ma ngồi trên liễn xa lớn tiếng hạ lệnh:
- Tất cả mau lui nhanh!
Toàn đám môn đệ của Vô ảnh Phong, lúc này không khác gì ngọn sóng thủy triều, rầm rầm rộ rộ, kẻ nào cũng sợ chậm chân mang họa vào thân, ai nấy rút chạy toán loạn rời khỏi ngay Mặc Phụ Sơn.
Hầu Hạo và Liễu Mi đằng này vui mừng cất tiếng cười ha hả, chị em Châu Thị tính mở cuộc truy cản, nhưng bị Liễu Mi cản ngay lại. Mắt thấy đám thủ hạ của Vô ảnh Phong bỏ chạy trối chết, không tên nào còn dám ngoảnh cổ lại nhìn! Thầy trò Độc Ma lúc này càng chứng tỏ rõ lòng ích kỷ của mình, vì họ đã rút lui trước tiên hơn ai hết, mặc cho đám môn đệ hốt hoảng chạy rối rít phía sau, nhiều tiếng thê thảm đã vang lên vì cuộc chen lấn bị ngã xuống vực sâu, khiến cho ai nấy càng kinh hồn bạt vía!
Độc chỉ Thôi Bác Đoạn Trường Nhân, oai danh khét tiếng trong thiên hạ, quả là bậc cao thủ cử thế vô song, giang hồ trong thiên hạ đều khâm phục tột bực!
Đối với những lời báo cáo của Đinh Hãm là vị kỳ nhân Độc chỉ Thôi Bác đã chết tại Tả Diện Phong của Mặc Phụ Sơn, dưới lớp băng tuyết khổng lồ đã chôn sống vị cái thế cao thủ trong vực thẳm, thầy trò Độc Ma vốn đâu tin ngay, đều cho rằng công lực của Thôi Bác vốn là Đệ nhất trong vòm trời võ lâm, làm sao có thể chết dễ dàng như vậy được. Nay dốc hết gần toàn lực của sào huyệt Vô ảnh Phong ra đi, trong lòng cũng đã hơi ái ngại, nhưng vì số của báu vĩ đại trên Mặc Phụ Sơn, đã xui giục lòng tham của Độc Ma, nên rút cục hắn vẫn mở cuộc đại mạo hiểm tiến phạm Lãnh Hương Các của Mặc Phụ Sơn, không ngờ ngay trong lúc thắng thế tuyệt độ và sắp thành công ấy, chị em Châu Thị được ngay ám hiệu của Liễu Mi, nhanh nhẹ từ trong mật thất đẩy ngay ba bức tượng: một Thôi Bác và thần ưng Đại Hắc, sau khi từ từ xuất hiện ra, lẽ đương nhiên đám Độc Ma đâu biết là giả, chỉ thấy Độc chỉ Thôi Bác có vẻ giận dữ, con Đại Hắc lại như đang chực bay lên, thế là toàn đám người của Ma Cung, kể từ thầy trò Độc Ma trở xuống, đều sợ đến nỗi bay hồn thất đảm, lo nhanh chân đào tẩu ngay.
Trong trận đòn tinh thần chiến này, phía Độc Ma đã bị tổn thất mất một phần ba lực lượng, những kẻ bị chết tại Lãnh Hương Điện, phần đông đều bị chen ngã xuống vực thẳm cheo leo của sườn núi hay các khe hiểm trở, những kẻ bị thương  nặng tự biết hết hy vọng, chúng đành tự sát hết, khắp trên ngọn Lãnh Hương Điện, nhan nhản các tử thi quái gở của đệ tử Độc Ma, không bị tàn khuyết tứ chi thì cũng bị bấy bá về ngũ quan, không cũng lở loét cùng mình mẩy! Những xác chết ấy quả đã đến mức độ rùng rợn trên rùng rợn!
Rõ đúng là tên của người, bóng của cây, oai danh hiển hách của Độc chỉ Thôi Bác đã ngang nhiên phải khiến cho đám cường địch thối lui chạy trối chết như vậy Hầu Hạo và Liễu Mi lo đi quan sát hết một lượt toàn khu của Lãnh Hương Điện, thấy không còn tên môn đệ nào của Độc Ma sống sót, trong lòng mới vững tâm.
Mọi người lo mưu tính cho kế hoạch sau này, theo Liễu Mi suy tính, chuyến này Độc Ma bị thảm hại như thế, tất nhiên nổi giận trách mắng Đinh Hãm, không chừng Đinh Hãm còn bị trừng phạt về tội khi sư (nói láo với thầy) là khác, cũng có thể chúng phái người lại Lãnh Hương Điện để điều tra hư thực, nay chúng mình đều nằm trong tình trạng giấy gói ra lửa ấy, nếu bí mật bị lộ ra, hậu quả thật khó tưởng tượng, nay chỉ còn độc mỗi nước ba mươi sáu chước chạy là thượng chước!
Tuy chiếc áo báu Chân châu lũ kim sam và mười bảy báu vật có thể đem theo, nhưng còn số của kho tàng thì tính sao? Chẳng lẽ để lọt hết về tay bọn Độc Ma sao? Như thế khác nào hổ thêm cánh rồng thêm vi!
Hầu Hạo không chịu rời bỏ, chàng nhất quyết ở lại tử thủ. Nhưng hiện nay đám Ma Cung tuy bị tạm lừa gạt; một thời gian sau, thế nào chúng cũng phát giác sự thật, và khi đó chúng sẽ phái cao thủ đến dò thám, thế là mọi người lại bàn kế và gài bẫy để bắt địch.
Liễu Mi tuy biết tình trạng nguy hiểm, phần lại nhớ chàng Thượng Quan Linh, muốn rời khỏi đây ngay, nhưng nay thấy tình hình trên Lãnh Hương Điện quá nguy cấp khẩn trương, đành phải cố nán lại để tìm thử một kế vạn toàn khác, thế là cuộc bố trí lập tức được thi hành trong Lãnh Hương Các ngay.
Một ngày, hai ngày... năm ngày... và mười ngày trôi qua, mọi người chờ đợi, nhưng với sự lo ngại và hoang mang. Sau cùng, ngày thứ mười một, cao thủ của phía Phi Các ma cung quả nhiên đã nhởn nhơ đến như một bóng ma!
Trong Lãnh Hương Các, mọi việc đều đã chuẩn bị sẵn sàng, ai lo vị trí nấy. Bề ngoài trông lẳng lặng, nhưng bề trong đã căng thẳng cực độ, tất cả cảnh vật đang im tịnh để đón chờ một cuộc biến động; thân pháp của kẻ đến nhẹ nhàng như một làn sương, đã lẻn và mò nhanh vào trong Lãnh Hương Các. Chỉ thấy bóng đen đang đi theo lối Nga hành lộ phục (lối đi nhẹ êm như ngỗng, lối nấp khéo như loài cò bạch lộ). Rất thận trọng, chỉ thấy trong ngôi tiểu các đây, Liễu Mi, Hầu Hạo, Thanh điệp Châu Sách, Hồng điệp Châu Chu, mỗi người chiếm một nơi, đều mặc nguyên quần áo nằm trên tấm da thú ngủ.
Trong các, chỉ một ngọn đèn lẻ loi chập chờn, cảnh sắc vô cùng im lặng, Đoạn trường nhân Độc chỉ Thôi Bác và thần ưng Đại Hắc quả không có đây, trước khi đến đây, bóng đen hình như đã dò thăm hết toàn khu của Lãnh Hương Điện, nếu trong Lãnh Hương Các này vẫn không thấy tung tích của Độc chỉ Thôi Bác bóng đen có thể mạnh dạn ra tay thi hành nhiệm vụ.
Nhưng bóng đen xảo quyệt đã sực nghĩ: đáng lẽ trong đây phải có thêm một cô gái nữa mới đúng, đó là Đông Phương Đình, em gái của Hầu Hạo, nhưng tại sao trong tiểu các này lại không có nàng, quả kỳ lạ thật? Bóng đen chăm chú khắp một lượt, nhìn hết hai bên vách tả hữu, biết bên trên có cửa ngầm. Nhưng làm sao biết được bên trong cửa có gì. Một tên bạo gan quỉ quyệt như bóng đen, hắn cũng không dám phát động hành vi mạo hiểm của mình trong lúc này!
Bóng đen ngần ngại và... vẫn ngần ngại, hắn đã cố ý gây nên tiếng động, hy vọng có thể đánh tỉnh bốn kẻ đang ngủ say, và nhường quyền phát động cho họ trước. Nhưng bốn người vẫn ngủ say, hình như họ không hề hay biết gì sự kiện đang tiến diễn âm thầm trong tiểu các. Không khí vẫn im lặng! Sau cùng, bóng đen đã không thể nào kéo dài tình trạng này như thế, kẻ Dạ hành khách của Vô ảnh Phong đã bắt đầu suy nghĩ đến: mình nên ra tay bằng cách nào đây? Bốn người chia ra bốn chỗ ngủ, đối với chị em Châu Thị, đương nhiên bóng đen chẳng coi ra gì, nhưng riêng Hầu Hạo và Liễu Mi, quả là mối e ngại cho Dạ hành khách của Vô ảnh Phong, chỉ sợ đả thảo kinh xà (đụng cỏ rắn hoảng hốt).
Nếu cả hai tỉnh dậy và hợp sức công hãm, e khó mà chiếm được ưu thế, nay thấy Hầu Hạo và Liễu Mi không những ngủ say, mà hai người nằm cách nhau cũng khá xa, nếu muốn ra tay cùng một lúc để chế ngự hai người, không phải là chuyện dễ thi hành gì trong nháy mắt được. Sau hồi chờ đợi và suy nghĩ, vị Dạ hành khách của Vô ảnh Phong bèn quyết định ngay kế sách mạo hiểm để tìm thành công trong may mắn.
Bóng đen nhặt ngay một hòn đá nhỏ và thình lình phát động thế, chỉ thấy toàn thân Dạ hành khách vọt nhanh ra như một làn khói đen uyển chuyển, nhằm ngay hướng của Hầu Hạo lao nhanh tới, đồng thời cũng trong một lúc ấy, viên đá bay tung về phía ngực của Liễu Mi đang ngủ? Sự việc chỉ cần xảy ra trong nhoáng mắt, tay phải của bóng đen đã nhẹ nhàng vuốt phớt qua khuôn mặt của Hầu Hạo...
Bỗng một tiếng ho khan vang lên trong Lãnh Hương Các, cánh cửa Tả môn bên trái đã thình lình mở ra, Đoạn trường nhân Độc chỉ Thôi Bác đã xuất hiện...
Dẫu cho Dạ hành khách của Ma Cung là kẻ võ công siêu tuyệt đến đâu đi nữa, lúc này không khỏi ngẩn người chột dạ mất tinh thần ngay trong thời gian nhấp nháy chớp nhoáng ấy, song chưởng của Hầu Hạo từ dưới đất vọt ngay ra chụp trúng mạch môn cánh tay phải của Dạ hành khách Vô ảnh Phong! Bóng đen hoảng hồn, đang vùng vẫy và tính dùng chưởng bên trái bửa ngang ra về phía Hầu Hạo, bỗng Dạ hành khách cảm thấy hông bị tê liệt, toàn thân bị đổ ngay xuống. Thì ra Liễu Mi đã dùng ngay viên đá của bóng đen để tặng hồi cố chủ, với kết quả là điểm đúng ngay huyệt tê liệt của Dạ hành khách của Ma Cung!
Hầu Hạo, Liễu Mi, Châu Sách, Châu Chu, đều bổ vây hết lại, Liễu Mi xé ngay tấm khăn che mặt của Dạ hành khách, mọi người nhận ngay ra tên này là nhị đệ tử của Độc Ma tức Nhị Hung Đinh Hãm. Lúc này chỉ thấy hắn hôn mê bất tỉnh vì bị điểm trúng trọng huyệt! Cuộc gài bẫy của mọi người quả nhiên đã thành công, ai nấy cảm thấy tâm thần khoan thai nhẹ nhõm hẳn, chỉ thấy sau bức tượng của Độc chỉ Thôi Bác Đông Phương Đình từ sau bước ra, Liễu Mi cười rằng:
- Tiếng ho khan của em Đình quả là giống hệt tiếng ho của Thôi tiền bối hồi còn sống, cả đến tên quỉ quyệt chết bằm như Đinh Hãm đây cũng phải mắc mưu...
Châu Thị Song Điệp vốn là người ghét cay ghét đắng Đinh Hãm, Hồng điệp Châu Chu rút kiếm tính giết ngay Đinh Hãm để trả thù cho chị Bạch điệp Châu Ni, Liễu Mi vội ngăn lại. Nàng cho rằng, lúc này không thể nào giết Đinh Hãm được, nay phải dùng hắn làm con tin, phía Ma Cung không thấy Đinh Hãm về, chỉ nội vài hôm nữa, thế nào cũng phái người đến dò thăm, khi chúng biết Đinh Hãm bị bắt sống, thế nào cũng tin rằng Đoạn trường nhân Độc chỉ Thôi Bác còn sống trên thế gian, may ra chúng không dám liều mạng bén mảng đến Mặc Phụ Sơn, và trên Lãnh Hương Điện này sẽ tạm thời được yên tĩnh trong một thời gian. Kế hoãn binh cầm chân địch này có thể khiến cho Liễu Mi xuống núi để lo chuẩn bị mọi việc, một mặt nàng lo tìm kiếm Thượng Quan Linh, mặt khác nàng lo tìm cách báo tin cho cha già Thanh Thông bang chủ Liễu Khải, và người trong .giới hiệp nghĩa cùng Nam bút Gia Cát Dật, yêu cầu họ mau mau lại cứu viện cho Mạc Phù Sơn và tăng cường thực lực cho Lãnh Hương Điện, rồi sau này sẽ liệu cơ ứng biến.
Anh em Hầu Hạo và chị em Châu Thị cũng cảm thấy tình trạng này chỉ duy còn con đường ấy mà thôi, tuy biết sau khi Liễu Mi ra đi, Lãnh Hương Các này sẽ mất hẳn thăng bằng về tinh thần cũng như thực lực, nhưng vì đại cuộc trước mắt, không thể nào không thi hành biện pháp như thế!
Liễu Mi đơn thân rời khỏi Mặc Phụ Sơn, anh em Hầu Hạo, chị em Song Điệp, lo ở lại trông giữ kho tàng và con tin Đinh Hãm, ai nấy canh cánh trông chờ sự cứu viện.
***
Nay, bút giả xin quay lại thuật về chuyện trong Thanh Thông Cốc.
Trong ngôi huyệt mộ vĩ đại như lăng tẩm của bực vua chúa của Thanh Thông phu nhân ấy, chỉ có một kẻ sống sót duy nhất trong ấy mà thôi, đó là Phích lịch nhị lang Sở Canh - một người sống bị nhốt chung với hai xác chết tại một mộ huyệt rờn rợn đầy hơi ma tử khí âm u này. Ác cái là Sở Canh phải chứng kiến cảnh chết khủng hoảng trong tinh thần trước khi bị chết thực sự. Chàng đã cố gắng tìm đủ cách để vận khí tự giải huyệt, nhưng lần nào cũng bị thất vọng. Thần trí chàng lúc này tỉnh táo vô cùng duy chỉ có nỗi toàn thân không làm sao nhích động được, mắt thao láo nhìn những ánh sáng chập chờn của các ngọn đèn dầu âm u rờn rợn, Sở Canh cũng cảm thấy mình đang đói bụng, vốn là tay ăn mạnh, nay biết rõ trong huyệt mộ đây không có lương thực gì để cho người chết. Chỉ tại mình sống, nên mới càng cảm thấy mình đói kinh khủng. Chàng nhẩm tính thời gian từ lúc trời chưa sáng bị khiêng vào đây, giờ chắc cũng đã quá trưa rồi, càng thất vọng, Sở Canh càng mệt nhọc, chẳng mấy chốc Sở Canh đành chịu số phận hôn mê bất tỉnh.
Cũng chẳng biết thời gian trôi đi trong bao lâu, nhưng Sở Canh đã từ từ hồi tỉnh lại. Bổng chàng phát hiện một việc lạ, toàn thân đã ngẫu nhiên có thể cử động, chân tay cử động dễ dàng, Sở Canh mừng quá, reo to lên một tiếng nhảy bổng người lên. Chàng nghĩ, có lẽ nàng Liễu Văn khi điểm huyệt mình đã nương tay, nên cách một thời gian sau, huyệt đạo tự giải, và chàng đã khôi phục tự do cử động. Bản tính của chàng Sở Canh vốn là người chất phác ngay thẳng, sau khi được cử động tự do, ý niệm thứ nhất hiện trong bộ óc chàng là đào tẩu ngay. Sở Canh bắt đầu tìm kiếm lối thoát, đương nhiên là chỗ nào cũng kín mít, tấm cửa đá lớn đã đậy kín, Sở Canh đẩy thử và dùng quả đấm thôi sơn của mình đấm ịch ịch và gào tướng lên, mong sao người bên ngoài có thể nghe mà mở cửa cho. Nhưng tất cả những động tác gì chàng đang làm đều vô hiệu, không những cánh cửa đá của huyệt mộ quá dày và nặng, đồng thời ngôi huyệt mộ đây lại được xây cất vào một vị trí hoang vắng âm u của Thanh Thông Cốc, những kẻ lo canh gác nghĩa địa, ít khi bén mảng tới đây làm gì, nhất là họ lại châm đầy dầu trước khi chôn sống mình trong huyệt mộ này. Trong thời gian ngắn này, làm gì có ai lại.
Một nơi hoang vắng buồn tẻ ở bãi tha ma của Thanh Thông Cốc như thế, nào có người dẫn xác đến làm gì, mặc cho Sở Canh gào khản cổ, đấm sưng tay, cũng chẳng gây được thành tích ích lợi gì. Phích lịch nhị lang Sở Canh bắt đầu ngừng tay, chàng đã bắt đầu cảm thấy khủng hoảng trong tinh thần, và chàng cũng cảm nhận rõ: đào tẩu không còn hy vọng gì với chàng nữa. Lúc này chàng đang cảm thấy đói và khát đang hành hạ thể xác mình, tìm khắp ngôi huyệt mộ, chẳng có một thứ gì lót dạ tạm, bỗng mắt chàng sáng lên, hai đĩa hoa quả tươi rói cúng trước linh cữu của Thanh Thông phu nhân, chàng bốc lẹ và đưa ngay lên miệng đớp nhưng chàng phải nhổ phì ngay ra, thì ra những trái quả tươi ấy đều được chế làm bằng sáp cả. Sở Canh bực tức rủa ngầm: Thanh Thông Bang lớn như thế mà cũng keo kiệt, đến đồ cúng vái người chết mà cũng bằng thứ giả. Vừa đói vừa khát Sở Canh không biết tính sao ước lượng thời gian bị nhốt trong này cũng hơn một ngày có dư. Một ngôi huyệt mộ không sao thấy ánh mặt trời, càng không phân rõ ngày hay đêm, không một kẽ hở, Sở Canh lại hôn mê dần trong cơn đói khát khủng hoảng.
Sở Canh đã mất hết nhuệ khí đi tìm thức ăn cũng như đi tìm lối thoát, bởi vì trong bộ óc đơn giản của chàng cũng biết rằng: Những hành động đó chỉ tổ khiến cho chàng mệt thêm xác và hao tinh thần, sẽ đưa nhanh chàng đến chỗ tử vong. Dần dà, sự im lặng và bơ phờ lại đưa hồn chàng vào trong làn mộng. Cũng chẳng ai rõ là thời gian bao lâu đã trôi qua, Sở Canh lại tỉnh giấc mộng của mình, vì có gì là lạ...
Chàng mở mắt lắng tai nghe, bất giác rợn tóc gáy và nổi da gà, chàng cảm thấy như từng lỗ chân lông của mình co rúm lại! Eo ôi! Âm thanh ấy được phát ra tự trong hòm đen xì của Thượng Quan Linh, tiếng ấy chính là tiếng cào cấu của người nằm trong quan tài, những tiếng sồn sột càng lúc càng hung dữ! Tam hồn thất phách (ba hồn bảy vía) của Sở Canh gần như muốn thoát luôn khỏi xác, chàng chỉ còn nước ngầm kêu than xui xẻo khổ cực đến thế thì thôi! Đã sắp bị chết đói chết khát đến nơi mà còn chưa yên thân, nay lại còn khéo éo le gây thêm cảnh oan hồn của Thượng Quan công tử hiển linh, có khổ thân không trời...
Sở Canh nghĩ vậy hoảng hồn vội nấp ngay vào một xó tối, không dám lộ diện, chỉ nghe bùng một tiếng vang lớn, nắp hòm đen ngòm của Thượng Quan Linh đã bị bật thủng ngay một lỗ tròn, và một bàn tay màu sắc cổ quái thò ngay ra, trông rõ ràng và rùng rợn kinh người. Sở Canh lúc này mồ hôi lạnh toát cùng mình, không dám thở mạnh, chàng đã đưa tay bịt mặt không dám xem tiếp cảnh hãi hùng, nhưng ở đời, càng những chuyện gì đáng sợ, người ta lại càng háo hức muốn xem, và lẽ đương nhiên chàng Sở Canh đây cũng không thoát khỏi tính háo kỳ tự nhiên của mình, từ những kẽ tay của hai bàn tay đang che mặt ấy, Sở Canh vẫn chăm chú theo dõi tình hình đang diễn tiến tại chiếc hòm đen ngòm. Bỗng lại một tiếng Bùng vang lên dữ dội, chiếc quan tài đen thui của Thượng Quan Linh vỡ tung ra làm nhiều mảnh vụn nát, cũng trong tiếng ván hòm rớt xuống đất tua tủa ấy, chỉ thấy Thượng Quan Linh nghiễm nhiên từ trong quan tài ngồi nhổm dậy với sắc phục thọ y thọ mão của mình (người chết khi liệm vào hòm, được mặc thứ áo mũ đặc biệt).
Sở Canh suýt bất tiếng kêu rú lên, chàng hết hồn co rút cổ lại. Chỉ thấy Thượng Quan Linh chệnh choạng ngồi dậy, lải nhải nói một mình rằng:
- Ở đây là đâu? Đây là đâu kìa?
Bỗng lại nghe một tiếng Bùng dữ dội vang lên, Sở Canh kinh hãi nhìn, thì ra Thượng Quan Linh vung quyền đấm vào một chiếc mặt bàn bằng đá, mặt bàn đá ấy lập tức thủng ngay một lỗ to tướng. Hai tay Thượng Quan Linh cử ngay chiếc bàn bằng đá ấy lên, hai tay bóp vo một hồi, chiếc bàn đá bị vụn ra tan tành từng mảnh nhỏ rớt lộp độp xuống đất. Nơi xó góc tối kia, Sở Canh càng hoảng hồn kinh hải, trống ngực đánh thình thịnh, thầm nghĩ sao Thượng Quan Linh sau khi biến thành ma còn hung dữ lợi hại đến thế kia? Nhưng thấy Thượng Quan Linh đang đưa hai tay dụi mắt, trông cử chỉ có vẻ cuống quít lắm! Hai chân xiêu vẹo bước thấp bước cao, rõ ràng chàng Thượng Quan Linh đang bị thong manh (mắt tuy mở nhưng không trông thấy). Sở Canh đương nhiên không thể nào tin được một người đã uống độc dược mãnh liệt của đại tiểu thư Liễu Văn, và nhất là đã chết đi hơn hai ngày mà nay lại còn sống lại được như thế, càng nghĩ, Sở Canh lại càng run lên cầm cập co mình đứng im một chỗ, không dám nhúc nhích.
Chỉ thấy Thượng Quan Linh đi loạng choạng đúng như một kẻ đui mù, hai tay đưa lên dụi mắt, hễ gặp vật gì vướng chân vướng tay là chàng dồn hết cơn tức của mình hất đá lung tung, chỉ trong nháy mắt, tất cả những vật dụng lọt vào tay Thượng Quan Linh, không có một vật dụng nào thoát khỏi cảnh vụn nát tan tành trong sức mạnh kinh người của chàng, lúc này Thượng Quan Linh không khác nào như một Quỉ nhập tràng hung dữ, chàng ngang nhiên tung hoành phá phách dọc ngang khắp ngôi huyệt mộ, chỉ thấy chàng đụng tới đâu, mọi vật thi nhau đổ vỡ đến đó. Sở Canh hồn bay phách lạc, lúc này chàng mới nhắm mắt không dám ngó cảnh tượng trước mắt! Bỗng như nghe tiếng thở mạnh của Thượng Quan Linh, Sở Canh lại hé mắt ra nhìn, bất giác chàng lại nổi lên một tia hy vọng trong cảnh quẫn bách trước mắt, thì ra chàng Thượng Quan Linh mà Sở Canh đã cho rằng Quỉ nhập tràng kinh khủng ấy mò trúng ngay hai vòng khoen cửa vĩ đại của ngôi huyệt mộ và đang cố ra sức kéo! Sở Canh khấn vái cầu trời rối rít trong bụng mình: Xin thẩn linh giúp tên Quỉ nhập tràng này!
Bỗng cheng một tiếng, hình như tiếng ổ khóa bên ngoài đã bị bứt. Phích lịch nhị lang Sở Canh vừa kinh hoảng vừa mừng rỡ, con người chất phác ngay thẳng như Sở Canh cũng chẳng thèm tính lo thêm chuyện gì, nghĩa là chàng chỉ đợi cửa phá ra là co giò chạy nhanh ngay khỏi nơi kinh hãi tột đỉnh này? Quả nhiên đã ứng nghiệm với lời khấn vái của Sở Canh, thần lực tuyệt luân của Quỉ nhập tràng đui mắt Thượng Quan Linh, lúc này đã từ từ kéo ngay cánh cửa huyệt mộ nặng nề sang một phía! Ánh nắng đã chiếu vào, Sở Canh bất kể mắt mình thình lình bị chói hoa về ánh nắng, cố dồn ngay sức nhảy tung mình lên khỏi cửa huyệt, co giò chạy chối mạng. Thượng Quan Linh tuy bị thong manh, mắt không thấy, nhưng thính giác lại nhạy cảm vô cùng, nghe tiếng động cũng tung mình lên đuổi theo sau, đồng thời lớn tiếng hỏi rằng:
- Ai đang chạy đằng trước? Ai đó?...
- Ôi! Mẹ ơi!...
Sở Canh chỉ buột miệng kêu nhỏ đến người mà chàng cho rằng đã thương yêu mến mình nhất đời! Chàng cầu khấn vong linh của mẹ phù hộ sao cho chàng chạy thoát khỏi cảnh rùng rợn Quỉ nhập tràng đang đuổi! Lúc này, hồn vía Sở Canh đã gần như muốn bay khỏi xác, đâu dám quay đầu lại, chàng đã đinh ninh và chắc chắn là Thượng Quan Linh đã biến thành loại Quỉ nhập tràng thần trùng (thứ quỉ hung dữ nhất). Vô phúc chuyến này bị thộp cổ, ít nào chả bị tan xác vụn xương như những đồ vật mà Thượng Quan Linh đã phá phách trong ngôi huyệt mộ nhà họ Liễu; càng nghĩ, Sở Canh càng chạy thục mạng bất kể là hướng Đông, Tây, Nam, Bắc, hễ thấy đường là chạy! May được trời phú thần lực bất phàm, tuy nhốt sống trong huyệt mộ mà chịu đói khát hai ngày hai đêm, nhưng thể xác mạnh như trâu vẫn có thể cố gượng nổi, nhất là trong lúc cầu sao giữ được toàn mạng sống, chàng đang cố dồn hết toàn sức của mình ra để lo thoát thân.
Mặc dầu chàng đang chạy, nhưng vẫn nghe tiếng đuổi huỳnh huỵch phía sau, và dần dà đã đuổi sát nút. Sở Canh bỗng chợt nghĩ ra, hễ loại Quỉ nhập tràng thì không giỏi về lối chạy vòng quanh, nghĩ vậy, Sở Canh bèn cố ý chạy xiên chạy xéo, chàng muốn bỏ xa Thượng Quan Linh về lối chạy quanh co này. Nhưng lạ thay vị Quỉ nhập tràng Thượng Quan Linh này tuy đôi mắt bị thong manh nhưng với thính giác bén nhọn linh động của chàng vẫn có thể theo bén gót Sở Canh, hễ mỗi lần Sở Canh quanh nhanh đâu, Thượng Quan Linh bén gót ngay đó, và lắm lúc còn nhanh nhẹ hơn cả Sở Canh là khác!
Hình như cước lực và khinh công của Thượng Quan Linh có mòi còn hơn hẳn Sở Canh. Đáng lý Thượng Quan Linh đã bắt kịp Sở Canh từ lâu, nhưng vì chàng bị thong manh, không thấy những chướng ngại vật dưới đất, luôn bị vấp ngã, khi đứng dậy được, Sở Canh lại cách xa đi một quãng. Dần dà Sở Canh cũng biết rõ ngay đến khuyết điểm của Quỉ nhập tràng, chàng nhằm ngay những đường đầy chướng ngại vật cây cối chạy, vượt rãnh, vượt hào nhỏ chạy thẳng ra khỏi phạm vi của Thanh Thông Hội, đằng sau Thượng Quan Linh té lên té xuống đuổi không ngớt!
Mấy lần, Thượng Quan Linh ngã lăn lông lốc xuống các rãnh suối, Sở Canh yên trí là Quỉ nhập tràng chắc phải nằm luôn không sao dậy nổi, chàng quay đầu nhìn lại, ôi chao ôi! Quỉ nhập tràng vẫn lồm cồm bò ngay dậy và rượt theo chí mạng. Sở Canh lại hoảng vía hú hồn cắm đầu cắm cổ chạy! Nếu là người thường, những cái té ngã như trời giáng như thế, không chết cũng bị thương nặng, nhưng đằng này, Thượng Quan Linh vẫn ung dung như không hề có chuyện gì xảy ra, như thế càng chứng tỏ rõ Thượng Quan Linh là một cỗ xác Quỉ nhập tràng chính cống!
Sở Canh sau khi suy đoán rõ lý do như vậy, chàng càng co giò chạy bán sống bán chết! Thế là kẻ trước người sau, rượt đuổi tưng bừng, Thượng Quan Linh bị Sở Canh dắt chạy thẳng ra ngoài Thanh Thông Cốc. Với chức vụ tuần tra hương chủ của Sở Canh, lẽ đương nhiên là chàng thuộc làu hết các đường lối trong toàn khu của Thanh Thông Cốc. Trong cuộc chạy đuổi này, riêng đối Sở Canh và Thượng Quan Linh thì đã trở thành những vấn đề hiển nhiên của nó, nghĩa là không có gì lạ! Nhưng vô tình đã làm náo động hết các thủ hạ canh gác suốt dọc đường mà hai người đã chạy băng ngang, và đám thủ hạ đã cấp bách phi báo cho Thanh Thông lão bang chủ hay tin và xin lệnh định đoạt!
Sau khi được tin báo, Thanh Thông lão bang chủ Liễu Khải cấp tốc ra lệnh cho thủ hạ khắp trong Thanh Thông Cốc, thế nào cũng phải bắt sống cho được hai người về, cấm mọi người chểnh mảng trong nhiệm vụ. Các ám hiệu thi nhau vang lên báo động. Sở Canh biết ngay đó là những hiệu lệnh truy nã gắt gao, trong lòng cuống lên, cặp giò càng chạy như bay không ngừng. Vừa chạy chàng vừa để ý địa hình, thấy đã ra khỏi cửa cốc, bỗng chàng sực nghĩ ra một kế.
Gần nơi Thanh Thông Cốc, có một thung lũng khá sâu, bên dưới thung lũng là một ngọn suối nước chảy siết và mạnh, Sở Canh lúc này đã quá quýnh, bị dồn vào thế bí, chàng chỉ còn nước chạy thẳng lên đường tuyệt của thung lũng mà chàng vừa sực nhớ ra, khi đến ngay vực bờ của thung lũng sâu thăm thẳm ấy, Sở Canh hồi hộp nhoáng nhanh thân nép ngay về một bên nín thở, quả nhiên Quỉ nhập tràng Thượng Quan Linh cũng vừa đuổi sát đến. Sở Canh thình lình phát ra một chưởng đánh ngay vào phía sau lưng Quỉ nhập tràng, chỉ nghe tiếng Thượng Quan Linh hét lên một tiếng thê thảm, toàn thân bị lăn nhào ngay xuống vực sâu thăm thẳm của thung lũng, và sau khi chìm nổi nhấp nhô dưới ngọn nước trắng xóa, toàn thân to bằng hột đậu của Thượng Quan Linh đã bị nước suối cuốn lôi luôn?...
Sở Canh lúc này mới hoàn hồn tỉnh vía của mình lại chàng lảm nhảm khấn vái rằng:
- Thượng Quan huynh ơi! Thượng Quan huynh! Không phải tiểu đệ nhẫn tâm tàn ác thế đâu, thực ra huynh đã biến hóa thành Quỉ nhập tràng khủng khiếp quá! Tiểu đệ không còn cách nào hơn là chấm dứt bằng cách ngoài ý muốn này, mong vong linh của huynh cố chứng giám cho nỗi lòng thành của tiểu đệ... càng mong huynh tha thứ cho .. .
Lúc này đám thủ hạ của Thanh Thông đã đuổi đến bờ vực của thung lũng, nhưng Sở Canh đã kịp thời trốn vào một nơi bụi kín, chỉ thấy đám người cúi nhìn xuống vực thẳm của thung lũng, hình như họ đều cho rằng cả hai đã ngã hết xuống vực thầm và trôi theo dòng nước xiết cuồn cuộn ấy, thế là toàn đám lo về báo lệnh cho Liễu bang chủ. Sở Canh chờ cho mọi người kéo nhau đi hết, mới cố gắng mò ra khỏi phạm vi của Thanh Thông Cốc, sau khi ăn uống lấy sức, vội hấp tấp khởi trình đi ngay Mặc Phụ Sơn để gặp Nhị tiểu thư Liễu Mi.
***
Bút giả xin quay về Thượng Quan Linh mà Sở Canh vẫn nghĩ là Quỉ nhập tràng và đã đang tay phạt ra một chưởng quất bay ngay Thượng Quan Linh xuống dưới vực thẳm của một thung lũng.
Sau khi bị sóng nước cuồn cuộn kéo trôi đi liên miên và được tấp vào một bờ, Thượng Quan Linh đã bất tỉnh ngay sau khi ngã từ trên cao xuống. Khi tấp vào bờ, xui xẻo sao, đầu lại va vào một tảng đá, lại càng bất tỉnh nhân sự luôn. Cũng chẳng biết bao được bao lâu nữa, bỗng có hai người đang bước lại phía bờ suối Đó là một đôi nam nữ, người đàn ông thân hình cao lớn, đầu đội tăng mão, thân mặc áo cà sa, và đều thêu dây kim tuyến sáng óng ánh, tay xách ngược đầu một cây thiền trượng, một khuôn mặt dài như mặt ngựa và đen láng, trông vừa ác vừa tợn, còn người đàn bà thì lại trái ngược hẳn, toàn thân một màu đỏ, từ mặt mũi đến thân hình đều tuyệt đẹp, nhưng đôi mắt có vẻ lẳng lơ và nảy lửa, chứng tỏ nàng không phải là loại đàn bà đứng đắn gì. Quí vị độc giả chắc đang nóng lòng biết ngay hai nhân vật này là ai, dạ xin thưa nhanh ngay, đó là Thiên Trúc cao tăng Tả Pháp Thụ tôn giả, và người đàn bà lẳng lơ ấy chính là trưởng nữ của Thanh Thông bang chủ - Liễu Văn!
Thì ra Thượng Quan Linh sau khi ăn nhầm Tuyết bi tiên hoa trong thạch thất của Đại Ngũ Trì, mất hẳn công lực, và được Đại Hắc của Độc chỉ Thôi Bác cứu thoát nạn; Tả Pháp Thụ sau khi đuổi không kịp Đại Hắc và Thượng Quan Linh, trong lòng tức giận vô cùng, nguyền thế nào cũng bắt cho kỳ được Thượng Quan Linh để nuốt sống mới hả dạ. Từ đó vị tăng nhân của miền Thiên Trúc này bắt đầu phiêu bạt lang thang giang hồ miền Trung Thổ để tìm kiến tung tích Thượng Quan Linh. Trời xui quỉ khiến khéo sao lại đưa ngay vị tăng nhân mặt đen như cột nhà cháy đến miền Lạc Thủy của tỉnh Hà Nam, lảng vảng gần nơi Thanh Thông Cốc để gặp ngay nàng Liễu Văn thất tình đang bỏ nhà ra đi. Khi hai bên gặp nhau đều giật mình kinh ngạc, Tả Pháp Thụ kinh hãi về sắc đẹp tuyệt mỹ của Liễu Văn, và Liễu Văn với bộ óc thông minh bén nhạy, đã đoán ngay ra người này mới là thứ tăng nhân miền Thiên Trúc chính cống, và nàng cũng từng được Thượng Quan Linh kể sơ về chuyện ở Đại Ngũ Trì, nay nhìn vị tăng nhân vừa xấu vừa hung tợn này, biết ngay là vị tăng nhân miền Thiên Trúc Tả Pháp Thụ.
Ngay sau khi đó, Liễu Văn cảm thấy con người của Tả Pháp Thụ cũng ngồ ngộ, bởi nàng nghe công lực của người này siêu tuyệt, tự thành một phái riêng biệt, nếu được sự chân truyền này, lo gì mà không xưng bá tại Trung Thổ này. Nhưng khi thấy bộ mặt ngựa đen thui ấy, nàng Liễu Văn đâm do dự phân vân, phần Tả Pháp Thụ chẳng nghĩ vu vơ lôi thôi gì, vì từ khi rời khỏi xứ Thiên Trúc cùng với sư đệ Hữu Duy Na đến miền Trung thổ, và kể từ khi chia tay với sư đệ tại Đại Ngũ Trì, Tả Pháp Thụ đã ngang nhiên phá giới phạm dâm. Và đã không biết bao nhiêu phụ nữ đã chết về sắc dục quá độ của vị thiền tăng phá giới này, hễ gặp gái đẹp, không làm sao cầm lòng nổi, và mỗi lần mây mưa đều khiến cho kẻ bị nạn chết ngay sau cơn giày vò Tả Pháp Thụ từng gặp nhiều người đẹp, nhưng chưa có lần nào gã bị xao động như lần này. Chỉ thấy Liễu Văn toàn thân một màu đỏ chói rực rỡ, đôi mắt lại đưa tình lẳng lơ khiêu gợi. Tả Pháp Thụ đã nổi ngay lửa dục của mình, kéo ngay Liễu Văn phăng phăng đi!
Liễu Văn tuy là người tà dâm và lại còn sành về lối phát động này, nhưng xưa đều do nàng chủ động khiêu chiến với các trai tráng khỏe và đẹp, chưa bao giờ bị ai dùng cường lực áp bức mình, nay tên phiên tăng này không biết vị đại tiểu thư của Thanh Thông Cốc, cả gan ra tay bạo ngược như thế, trong lòng Liễu Văn cảm thấy tức cười thầm. Nàng quyết ý ra tay để thử xem công lực của người này ra sao? Bèn vờ vẫn gắt gỏng và khua ngay Liễu quyền hoa cước đánh sang Tả Pháp Thụ, nhưng vị tăng nhân cột nhà cháy chỉ cất tiếng cười hà hà... Sau ba đòn, vị phiên tăng phát giác ngay thiếu nữ quả nhiên cũng có vài miếng, Tả Pháp Thụ càng cảm thấy phấn khởi, bèn giơ ngay bản lĩnh của mình ra đối chọi. Liễu Văn đương nhiên đâu phải đối thủ của vị cao tăng này, không đầy năm đòn, đã bị người ta điểm trúng huyệt, toàn thân bủn rủn và bị ngay phiên tăng bồng chạy bay đi luôn. Sau cơn vùi hoa dập liễu, Tả Pháp Thụ tưởng đâu thiếu nữ này thế nào cũng chết, nhưng lạ thay, sau cơn mưa gió ấy Liễu Văn lại tươi cười niềm nở... Giờ đây nàng đã hết chê bai sự xấu xí của vị dị tăng, và trái lại nàng đã bắt đầu yêu vị phiên tăng ác quỉ này! Vì nàng đã tìm được tất cả những gì mới mẻ của đời nơi vị phiên tăng hung tợn ngang tàng này! Hai người thề non hẹn biển, ước sống đến răng long bạc đầu thề thỏa chí yêu nhau! Và sau khi đôi bên tâm sự, Tả Pháp Thụ kinh ngạc về chuyện Thượng Quan Linh. Tính ra, Thượng Quan Linh phải mất bốn mươi chín ngày, tiên hoa mới phát sinh hiệu lực hoàn toàn của nó trong cơ thể của Thượng Quan Linh, trước ngày chưa tới kỳ mãn hạn, phải nên mau mau về ngay ngôi huyệt mộ để mổ ngay bụng Thượng Quan Linh lấy tim gan nuốt tươi như thế cũng như chính mình đã ăn được Tuyết bi tiên hoa vậy!
Liễu Vãn lúc này chẳng còn chút luyến tiếc gì với thượng Quan Linh nữa, trái lại nàng đã mê vị tăng nhân Tả Pháp Thụ, càng muốn cho công lực của người yêu trở nên cử thế vô song, nên sau khi nghe Tả Pháp thụ nói vậy, nàng bằng lòng cùng đi với người yêu về thanh Thông Cốc để lo vấn đề ăn tiên hoa bằng cách nổ bụng Thượng Quan Linh, ăn tim gan trước khi tiên loa chưa phát sinh nội lực. Thế là hai người lo hấp tấp về hướng Thanh Thông Cốc, khi gần đến cửa cốc, Liễu văn không muốn làm kinh động đến mọi thủ hạ, nàng bèn dắt Tả Pháp Thụ đi lối tắt, nào ngờ đi qua bờ suối đây lại phát hiện Thượng Quan Linh nằm hôn mê bất tỉnh như thế! Tính lại thời gian, đã quá hạn bốn mươi chín ngày, hai người cho rằng, sau khi Thượng Quan Linh được ăn Tuyết bi tiên hoa, trong người chàng đã khác hẳn người phàm thường, nên độc tửu của Liễu Văn không thể nào khiến chàng chết đi thực sự, khi mãn hạn bốn mươi chín ngày, chàng đã phá quan tài thoát ra!
Nhưng họ vẫn không hiểu tại sao lại bị nước cuốn trôi đến đây như vậy. Mà đây cách Thanh Thông Hội không xa, Liễu Văn không muốn để người trong cốc phát giác mình, vì nay nàng đã quyết đi theo vị tăng phá giới này, nhưng nàng lại không muốn cha già phải khổ lòng vì chuyện này, nên hối thúc Tả Pháp Thụ đi ngay. Tả Pháp Thụ bèn quyết định đem ngay Thượng Quan Linh bất tỉnh này cùng đi chung luôn, hai người hấp tấp thuê ngay một cỗ xe lừa, hóa trang cho Thượng Quan Linh thành một kẻ bệnh nhân khiêng lên xe đi luôn, dọc đường sợ chàng tỉnh dậy, luôn luôn dùng vật nặng khện mạnh vào đầu để khiến cho Thượng Quan Linh tiếp tục cuộc bất tỉnh nhân sự.
Liễu Văn lúc này bèn thương lượng với Tả Pháp Thụ, lúc này Tuyết bi tiên hoa đã phát huy hiệu lực trong người của Thượng Quan Linh, chỉ riêng có tửu độc đã khiến cho chàng bị thong manh, đầu óc luôn luôn bị đập mạnh khiến cho bất tỉnh, nếu cứ tiếp tục thêm vài ngày nữa, sức lực của tiên hoa chưa chừng có thể xua đuổi hết các chất độc ở trong ra, chừng đó Thượng Quan Linh không những khôi phục công lực, mà còn có thể nhờ sức tiên hoa ấy mà trở thành một thân hình kim cương bất hoại, đến khi đó, không ai có thể đả thương hay giết nổi y là khác. Nay vì vạn toàn, duy chỉ còn cách mau ra tay hạ trước cho xong. Tả Pháp Thụ đã ghét cay ghét đắng Thượng Quan Linh, nay sẵn dịp may ngàn năm một thuở này giết tươi ngay Thượng Quan Linh để uống máu huyết của chàng khiến công hiệu Tuyết bi tiên hoa có thể di chuyển sang ngay thân thể của mình. Trong tâm hồn của ác tăng xứ Thiên Trúc này, chẳng biết sợ pháp luật nhà vua là gì, càng không ngán trời đất sẽ dung tha tội lỗi hay không, ngay khi quyết định giết người, hắn lập tức xách đao chui vào xe lừa để hành hung với ác ý dã man của mình, đưa ngay đến cuống họng Thượng Quan Linh thọc huyết. Nào hay sau khi đâm mạnh xuống cuống họng, mũi đao như dí phải đám bông gòn mềm nhũn, không hề gây nên một thương tích mảy may gì.
Tả Pháp Thụ và Liễu Văn cả kinh hồn, thử thêm một hơi mấy nhát đao nữa, và toàn nhắm những nơi trọng yếu chí mạng của Thượng Quan Linh hạ thủ, nhưng sau khi đâm chém đủ trò, cả hai phát hiện Thượng Quan Linh tuy bị mê man bất tỉnh, như chàng hình như đã có khí công tuyệt đỉnh bao phủ khắp toàn thân, đao kiếm không làm gì nổi chàng, chỉ thấy chém vào đâu thì đó lập tức nổi lên một vết lằn trăng trắng, chỉ nháy mắt vết lằn ấy lại tan ngay. Lúc này cả hai người cùng kinh ngạc, biết ngay là công lực hiệu nghiệm ghê gớm của Tuyết bi tiên hoa, đầu óc hai người quay cuồng vì: kinh giận, ghét, ức và ghen...
Tả Pháp Thụ ghét nhất Thượng Quan Linh, hắn vẫn không chịu bó tay, đem ngay chàng về động thất của Đại Ngũ Trì rồi tính sau.   
Một cuộc hành trình liên miên của cặp dã uyên ương, và chở theo kẻ bất tỉnh nhân sự đi về hướng Ngạc Bắc để đến Đại Ngũ Trì. Họ tưởng đâu hành tung quỉ quyệt của mình không có ai hay biết, nhưng hoàn cảnh của họ, đang nằm trong phạm vi thế lực của Thanh Thông bang chủ. Từ ngày trưởng nữ bỏ nhà ra đi, lão bang chủ Liễu Khải đã ngấm ngầm ra lệnh cho các thủ hạ chú ý dò la cẩn thận tin tức của Đại cô nương, và lúc này một xe ba người và cả đến tên phu xe xúi quẩy ấy cũng đã tránh không khỏi tai mắt theo dõi của thủ hạ Thanh Thông, nhưng vì chúng biết Đại cô nương lợi hại không dám hiện thân ra để yết kiến, một mặt theo dõi hành trình, mặt khác lo phi báo gấp về Liêu bang chủ để xin lệnh định đoạt. Trong Thanh Thông Cốc, Liễu Khải sau khi được tin lòng buồn phiền vô cùng, lập tức ra lệnh theo sát, xem chỗ ở của Đại cô nương và vị phiên tăng Thiên Trúc tại đâu và về báo tin gấp ngay.
Nói về Tả Pháp Thụ tôn giả, khi đến địa phận Phòng Sơn của Ngạc Tây, và ngay dưới chân núi, giết quách ngay tên phu xe, vừa khỏi tốn tiền lại vừa giữ kín hành tung! Quắp ngay Thượng Quan Linh vào động thất dưới đáy của Đại Ngũ Trì. Tên phiên tăng này cũng biết lo chu đáo sắp đặt, hắn đã sắp đầy đủ các đồ dùng cũng như lương thực để sống chung với người đẹp trong động thất một thời gian thoải mái, và vứt Thượng Quan Linh nằm lăn lóc dưới bụng con quái vật khổng lồ Tích long phía bên ngoài, hai người vào ngay ngôi thạch thất mà xưa kia Hữu Duy Na đã ở, thu xếp trang hoàng không khác gì một động phòng của vợ chồng mới cưới nhau. Sau khi sửa soạn tươm tất, dọn ngay rượu thịt thức ăn ra, say sưa tận hưởng no nê, sau khi no thân ấm cật đôi dã uyên ương lẽ dĩ nhiên lại đi tìm thú vui khác trong y phi chi lạc.
Từ ngày hôm sau trở đi, hai người bắt đầu tìm cách để chỉnh trị Thượng Quan Linh, vẫn muốn tìm cách sao để giết chàng rồi uống máu, nhưng lạ thay Thượng Quan Linh lúc này đã hoàn toàn biến đổi hẳn, khắp thân mềm nhũn như bông, không một chỗ nào có thể cho họ ra tay ám hại được. Tả Pháp Thụ và Liễu Văn đã dùng đủ mọi phương pháp: nào đao kiếm, nào lửa đốt, trấn nước kim châm và tất cả những cách họ đã nghĩ ra, nhưng đều vô hiệu, đành bỏ cuộc. Lúc này Thượng Quan Linh đã trở thành con người quái đản dị nhân, lúc này chàng vẫn mê man bất tỉnh nhân sự, thỉnh thoảng hơi nhích động, không ăn không uống, Tả Pháp Thụ và Liễu Văn cho rằng thế nào chàng cũng chết, nhưng lạ thay chàng vẫn sống.
Trong động thất, Tả Pháp Thụ và Liễu Văn tha hồ truy hoan tác lạc, họ sống và cố tận hưởng những gì mà họ thích, nhưng hễ mỗi cuộc vui được tạm ngưng lại họ lại không khỏi buồn bực đến chuyện quái nhân Thượng Quan Linh, một kẻ đại thù mà giết không làm sao chết ấy, thật không biết đối phó ra làm sao. Và chuyện họ lo nơm nớp nhất, nếu hôm nào đó quái nhân Thượng Quan Linh khôi phục được sức mạnh, ngày ấy sẽ nghiễm nhiên trở thành kẻ công lực cái thế vô song, và cả hai người hợp sức lại, chưa hẳn là đối thủ của chàng! Hai người đã thấy vấn đề có vẻ bất an với họ...
Một hôm, Liễu Văn đi thăm chừng xem quái nhân Thượng Quan Linh ra sao, bỗng nàng giật nảy mình chỉ thấy Thượng Quan Linh đang ngồi xếp chân bàn tròn dưới phía bụng của con Tích long khổng lồ, trông chàng như đang ngồi vận công vậy, tuy Liễu Văn đã đi hết sức nhẹ nhàng, nhưng nàng vẫn không làm tránh khỏi thính giác vô cùng bén nhạy của Thượng Quan Linh, chàng thình lình ngửng đầu lên quát hỏi:
- Ai?
Liễu Văn giật bắn người! Đâu dám lên tiếng, chăm mắt theo dõi những hành động của đối phương, chỉ thấy quái nhân Thượng Quan Linh từ từ đứng dậy, hai tay đưa ra quờ quạng, hình như chàng ta vẫn chưa khôi phục nhãn lực của mình? Liễu Văn hoảng hốt chạy bung vào động thất bên trong báo ngay cho Tả pháp Thụ hay, vị tăng nhân xứ Thiên Trúc lật đật ra xem, chỉ thấy Thượng Quan Linh đưa tay sờ soạng vào xác khổng lồ của con Tích long. Hình như chàng ta đã nhận ra đây là chỗ nào, chỉ nghe chàng lẩm bẩm một mình:
- Tích long ơi! Tích long! Không ngờ Thượng Quan Linh ta nay lại nghiễm nhiên về đến dưới bụng ngươi thế này. Hà!... Tuy đã nuốt được Tuyết bi tiên hoa, công lực đã trở thành cái thế vô song nhưng khốn thay nay mắt lại bị thong manh, sống trên đời này còn sung sướng vào đâu? Làm được ích gì cho thiên hạ nhờ? Chẳng thà ta chết quách dưới bụng ngươi cho yên.
Dứt lời, Thượng Quan Linh hất bung ngay đầu của chàng vào bụng con Tích long.
Rầm một tiếng dữ dội vang inh lên, sau khi Thượng Quan Linh húc đầu vào tự tử, xác con quái vật khổng lồ Tích long đã đổ lăn kềnh ra! Tả Pháp Thụ và Liễu Văn kinh hãi tuyệt độ, con Tích long nặng cũng gần cả ngàn cân, toàn thân cứng rắn như thép, thế mà Thượng Quan Linh đã ngang nhiên hất ngã nổi kinh khủng như thế, nếu không phải chính mình thấy rõ tận mắt, quả thật không làm sao tin cho được. Càng kỳ lạ hơn nữa là sau khi Thượng Quan Linh húc bừa như thế chàng đã làm thủng ngay bụng con vật Tích long và bị kẹt luôn chiếc đầu của mình trong đó, toàn thân bị dính theo xác con vật, chỉ thấy chàng quay tay khua chân lung tung, trong lúc lúng túng không làm sao rút đầu ra được.
Tả Pháp Thụ và Liễu Văn chỉ cầu sao Thượng Quan Linh chết luôn trong bụng con vật cho được việc, nhưng thấy chàng sau khi vùng vẫy một hồi, Thượng Quan Lính đã rút được đầu của mình ra khỏi bụng con Tích long, nghiễm nhiên lồm cồm đứng dậy, oai nghi đứng sừng giữa ngôi thạch thất.
Cặp dã uyên ương Tả Pháp Thụ và Liễu Văn thấy kinh hãi vậy, ai nấy bất giác càng nản lòng âu sầu và nổi lên lòng ghen ghét công lực vô biên của Thượng Quan Linh. Họ chỉ thấy Thượng Quan Linh đưa hai tay lên xoa sờ đầu lẩm bẩm:
- Quái lạ ! Quái lạ ! .. .
Hình như chàng cũng kinh ngạc mình húc đầu tự tử như thế sao mà không bể đầu nát óc mà chết, chàng đưa tay rờ hết đầu mình, lại cúi xuống sờ soạng bụng con Tích long, hình như chàng cũng đang bực mình, miệng lại lẩm bẩm:
- Tức quá ! Tức quá ! .. . Chết mà cũng khó ! .. .
Thượng Quan Linh đưa tay dựng ngay xác con vật khổng lồ đứng lại. Con Tích long khổng lồ nặng ngàn cân ấy, dưới thần lực của Thượng Quan Linh, nó lại đứng lại với thế đứng như xưa kia của nó, nhưng bụng nó đã bị toác hẳn một lỗ hổng trông không được đẹp lắm; lúc này Thượng Quan Linh có vẻ phiền bực, thấy chàng lại ngồi phía dưới bụng của con Tích long, hai chân xếp bàn tròn, trông chàng vừa như đang sám hối và đang khấn vái cầu nguyện gì vậy. Xem xong, Tả Pháp Thụ và Liễu Văn kinh hồn bay vía, hấp tấp lui ngay vào trong động thất!
Ánh đèn nhoáng lên cùng hòa với ánh lân tinh trên vách của thạch động, nghiễm nhiên một bóng thiếu nữ sừng sững trước mặt.
Một mật thất như đây, tại sao lại có người xuất hiện thình lình như vậy? Hai người thất kinh, đứng khựng ngay lại chăm chú nhìn, quả đúng một nàng thiếu nữ mặc toàn đồ trắng như áo tang đứng ngay trước mặt hai người.
Tả Pháp Thụ lớn tiếng hỏi ngay:
- Ngươi là ai? - Nhưng tay đã rờ vào binh khí sẵn sàng ra tay.
Bỗng nghe khích một tiếng cười vang lên, toàn thân Bạch y thiếu nữ lướt thướt bước ra. Chỉ thấy rõ ung dung khoan thai, uyển chuyển bước đi của một tuyệt thế giai nhân, và lạ hơn nữa khuôn mặt của Bạch y thiếu nữ đây lại giống hệt nàng Liễu Văn?
Tả Pháp Thụ tưởng mình hoa mắt, vội quay đầu nhìn lại, người yêu vẫn đứng sau mình. Quái lạ! Sao lại có người giống hệt nhau đến thế! Hai khuôn mặt không khác nào như hai giọt nước! Từ thân hình đến diện mạo, in như hai bức tượng được đúc trong một khuôn ra vậy, trong lúc này Tả Pháp Thụ chỉ có mỗi cách phân biệt bằng màu sắc quần áo của hai nàng. Kẻ đến mặc toàn đồ tang và người yêu mình mặc toàn màu đỏ. Tả Pháp Thụ hết nhìn người này lại quay ngắm người kia, một sự ngớ ngẩn và thích thú đã hiện trên khuôn mặt hình ngựa đen như cột nhà cháy của hắn!
Trong lúc Bạch y thiếu nữ đang khoan dung bước lại Liễu Văn bỗng lên tiếng hỏi ngay:
- Phải em Mi đó chăng?
Bạch y thiếu nữ khẽ hừ một tiếng bằng giọng mũi rồi lên tiếng:
- Chính Liễu Mi đã đến đây!
Sau hai câu đối thoại ngắn ngủi và lạnh lùng này, Tả Pháp Thụ mới rõ lẽ đây là hai chị em sinh đôi.
Chỉ thấy Liễu Mi chóng nhanh một cái, từ trong mình rút ra một vật, rồi nói:
- Cha già được tin báo của thủ hạ, biết chị đang quen với một phiên tăng miền Thiên Trúc, nên đã sai em mang ngay chiếc Tiểu Đoạt Hồn Kỳ đến để nhờ giải thích những văn tự trên đó. - Nói xong giao ngay cây Tiểu Đoạt Hồn Kỳ cho Liễu Văn.
Trưởng nữ của Thanh Thông Hội sau khi nghe em nói, tất cả bí mật của mình đã bị cha già biết rõ, nhất là vụ bỏ nhà đi theo vị phiên tăng Thiên Trúc này, tuy trong lòng không được vui, nhưng tình nghĩa cha con quyến luyến, phần lão phụ lại khổ não nghiên cứu về mười tám chữ kỳ lạ của chiếc cờ, nay cha già lại nhờ vả mình như thế, lẽ nào từ chối cho đành!
Tả Pháp Thụ xem qua, bỗng lộ vẻ ngạc nhiên rằng:
- Ồ! Lạ thật! Đây là lối văn cổ điển Phạn tự bên xứ Thiên Trúc chúng tôi!...
Tiếp theo, Tả Pháp Thụ cất tiếng lẩm nhẩm đọc những văn tự lạ lùng trên chiếc cờ, hiển nhiên nhà sư phá giới này biết rõ loại văn tự khó khăn này. Liễu Mi chỉ lạnh lùng đứng xem, không biểu lộ một ý kiến gì, nhưng nàng Liễu Văn đã không thể chờ đợi thêm, cất tiếng hỏi ngay:
- Kìa Pháp Thụ! Ý nghĩa của mười tám chữ ấy nói gì vậy?
Tả Pháp Thụ mắt nhìn hai hàng chữ nhỏ trên cờ lắc đầu rằng:
- Chính tôi cũng chẳng hiểu nghĩa gì, mặc dù tôi có thể đọc hết âm vận của chúng! Nhưng ý nghĩa nói gì thì chịu tịt luôn! ...
Liễu Mi lúc này bèn nói ngay:
- Vậy mười tám chữ ấy, dịch thành Hán văn là những chữ gì?
Tả Pháp Thụ bèn sửa ngay lại giọng dịch âm Hán rằng:
- Vô cư, Động thủy, Tịnh nhược kính, Phát thiên quân, Hữu ý bất tâm, Hữu chỉ bất chi... (Không nơi ở, nước động, tình như mặt gương, tóc ngàn sợi, cố ý vô tâm, có chỉ mà không với tới được...)
Liễu Mi bèn nhớ kỹ ngay mười tám chữ Phạn tự đã dịch thành Hán tự.
Chỉ trong nháy mắt, ba người đều trầm tư mặc tưởng như suy nghĩ, sức học hiểu biết của ba người, đâu phải loại xoàng gì, nhưng họ đành phải bó tay với những ý nghĩa thâm sâu của mười tám chữ, và kẻ bỏ cuộc trước tiên là Tả Pháp Thụ, vì gã đương say ngây ngất vì sắc đẹp của dì nó, nay lại dì nó đứng suy tư, bèn nhân ngay cơ hội trao chiếc Tiểu Đoạt Hồn Kỳ để hầu giở trò bốc hốt ấm ớ với dì nó. Liễu Mi đã chuẩn bị trước, đưa tay ra nắm ngay tay Tả Pháp Thụ trước, tên dâm tăng tưởng đâu dì nó có tình ý lẳng ngầm với mình, trong lòng khoái điên lên, chợt nghe Liễu Văn đứng cạnh lạnh lùng lên tiếng nhắc khéo:
- Hãy coi chừng!
Tả Pháp Thụ giật mình, thấy Liễu Mi nắm ngay mạch huyệt của mình.
Vội tính vùng tay ra, nhưng đột nhiên cảm thấy Liễu Mi đã tăng ngầm thêm sức mạnh, tay mình không khác nào như bị một vòng sắt siết chặt cứng. Liễu Văn tức giận tính ra tay cứu người yêu, nhưng Liễu Mi cười nhạt, chỉ thấy nàng nhoáng tay, chiếc Tiểu Đoạt Hồn Kỳ đã dí sát ngay gần yết hầu Tả Pháp Thụ, khiến cho gã dâm tăng này không dám động mạnh. Liễu Văn cũng lập tức thu ngay thế lại, hấp tấp rằng:
- Kìa em! Hãy buông tay! Có gì thảo luận sau!
Tả Pháp Thụ không ngờ dì nó lại lợi hại đến thế, không dám lên tiếng, chỉ hối hận mình sơ ý nên bị vậy đồng thời lại cảm thấy cây Tiểu Đoạt Hồn Kỳ đang toát ra một nguồn lành lạnh áp hết vị trí yết hầu, khiến nỗi động đậy cũng cảm thấy nguy, đâu còn dám chống đối liều để toi mạng. Nếu nói về công lực, Liễu Mi tuyệt không thể nào là đối thủ của hai người này, nhưng nay nhờ sự nhanh trí của nàng nên đã chế ngự được đối phương, và lên tiếng quát hỏi:
- Thượng Quan Linh nay ở đâu? Mau nói!
Nhưng Tả Pháp Thụ không dám lên tiếng, vì cổ gã đang bị Tiểu Đoạt Hồn Kỳ uy hiếp, chỉ riêng tiếng Liễu Văn rằng:
- Thượng Quan Linh còn chưa chết, hắn đang ở ngoài động thất kia...
Liễu Mi vút đánh tiếng kêu tướng lên:
- Anh Thượng Quan Linh!... Anh Linh ơi!
Có tiếng hồi âm của bên ngoài động thất, và tiếng lẩm bẩm của Thượng Quan Linh tự hỏi:
- Ai đang gọi mình kìa! Ai? Sao nghe giọng có vẻ quen tai lắm?!
Rõ ràng tình lang của mình còn sống, Liễu Mi vừa mừng vừa tủi, không sao cầm lòng, hai hàng nước mắt đã sung sướng tràn ra! Nàng lại lớn tiếng:
- Anh Linh! Em đây! Em Liễu Mi của anh đây?
Tiếng Thượng Quan Linh vẫn lẩm bẩm:
- Thế sao? Đúng thế ư? Trời ơi!... có lẽ mình đang nằm mê chăng, hay là chị nàng lại đang lừa gạt ta... đời nào mình chịu mắc mưu nữa... Hừ! Hừ!...
Liễu Mi vừa đau khổ vừa cuống lên, nhưng phải lo canh gác tên giảo quyệt Tả Pháp Thụ và Liễu Văn, nàng không thể phi thân ngay vào để gặp người yêu, đành lớn tiếng rằng:
- Anh Linh, bộ anh quên một trò chơi câu đố, mà kết quả anh đã thua cho em hai đóa hoa rồi sao?
Đây chẳng qua là một chuyện nhỏ rất thú vị, khi mà cả hai thoát khỏi Phi Các ma cung, dọc đường họ đã tìm ra một trò chơi tao nhã nên thơ, và cả hai đều nhớ những kỷ niệm thú vị này; với thông minh sẵn có, Liễu Mi biết Thượng Quan Linh chỉ yêu có mình, thế nào chàng cũng nhớ những kỷ niệm êm đẹp đó! Nay đem ra thử chàng, quả nhiên thu hiệu lực, Thượng Quan Linh nghe xong, không còn nghi ngờ gì nữa chàng lớn tiếng rằng:
- Liễu Mi!... Em... Em đang ở đâu?
Vừa hỏi chàng vừa loạng choạng chạy thẳng ngay vào động thất bên trong!
Đã cách gần nhau như thế, mà chàng lại nhận không ra mình, trí thông minh đã báo ngầm ngay cho Liễu Mi, đôi mắt người yêu đã bị mù, nàng hét lên một tiếng thê lương buông tay vọt nhanh sang phía người yêu Thượng Quan Linh bất giác ôm chặt lấy Liễu Mi rằng:
- Em!... Em... Anh nhớ em quá!...
- Anh...
Liễu Mi trả lời bằng những động tác, nàng đưa tay người yêu lên má mình và nhẹ đặt nhiều cái hôn tíu tít. Thượng Quan Linh chỉ cảm thấy tay mình bị ướt biết nàng đang khóc vì tủi và mừng...
Cả hai thả hồn chìm trong cảnh tái ngộ bi ai này, họ quên khuấy những nguy hiểm đang rình rập xung quanh họ .
Liễu Văn sực nhớ cây cờ Tiểu Đoạt Hồn Kỳ còn trên tay em mình, nàng đưa tay đoạt ngay luôn! Liễu Mi sực tỉnh cơn mộng, nghĩ là phải rời khỏi ngay nơi đất thị phi này trước!
Thượng Quan Linh bèn thuật lại hết những tình hình xảy ra trong Thanh Thông Hội, khi Liễu Mi nghe đến chỗ chàng vì yêu mình mà cam chịu uống thuốc độc Liễu Mi vừa cảm động, vừa sung sướng, vừa thương tâm... Bù lại Liễu Mi cũng kể hết sự nhớ nhung của mình và các việc đã liên miên xảy ra trong thời gian mà nàng bị bặt tin của Thượng Quan Linh, và nàng chỉ nhờ có mỗi lòng tin mới duy trì đến ngày hôm nay và đoàn tụ trong trường hợp này. Liễu Mi cũng biết ngay trong lúc này không thể nào phí mất ngày giờ, phải tức tốc giải quyết hai câu chuyện trước mắt; một là chữa mắt cho Thượng Quan Linh, hai là tức tốc lo cứu viện cho phía Mặc Phụ Sơn.
Hai việc này, đương nhiên phải ra khỏi Đại Ngũ Trì mới có thể lo được. Liễu Mi bèn nói rõ ý cho Thượng Quan Linh hay, chàng lập tức đồng ý ngay, nhưng trước nhất là lo đi ngay về Mặc Phụ Sơn để cứu viện cho Hầu Hạo, dọc đường nếu may mắn gặp dược lương y chữa mắt thì càng hay. Hai người bèn sửa soạn lên đường.
Hỏi về Liễu Mi, thì ra nàng đến động thất của Ngũ Đại Trì bằng lối nhảy xuống nước. Thượng Quan Linh vốn là ngựa thuộc đường cũ, lúc này tuy mắt không thấy, nhưng vẫn có thể đưa Liễu Mi đi theo lối mà Đại Hắc đã đưa mình chạy thoát dạo nọ; mới hơn một tháng xa nhau, nay con thần ưng Đại Hắc đã trung thành chết chung với chủ, Thượng Quan Linh không khỏi mủi lòng thương tiếc, khi ra đến cửa động, cảm quan thứ sáu của chàng đã khiến chàng nhớ lại tất cả những cảnh vật đã đi... Vốn là người đa cảm đa sầu nay lệ anh hùng không khỏi tuôn rơi để truy điệu thần ưng Đại Hắc, Liễu Mi cố lòng an ủi...
Trong sự săn sóc chu đáo của người yêu, Thượng Quan Linh được đưa lên xe và nhắm thẳng hướng Nam tiến phát đến Mặc Phụ Sơn - Nơi mà sư huynh của Thượng Quan Linh - Hầu Hạo - đang trông ngóng sự cứu viện của mọi người.
Hôm đó, hai người đến Nam Chương, một nơi mà xưa kia Thượng Quan Linh đã bị lão bà bịt mặt dùng Phủ Chưởng Hàn đánh trọng thương và suýt chết trong khi sắp hết hạn bảy ngày, nay tái gặp cảnh cũ như xưa nhưng trong lòng Thượng Quan Linh chỉ ước sao tại đây gặp lại được bà lão bịt mặt đã đánh mình suýt chết dạo nào. Tuy nay mắt mình không trông thấy gì trong lúc này, nhưng nhờ công lực của Tuyết bi tiên hoa, Thượng Quan Linh đã vững lòng tin, chàng không còn ái ngại gì về loại Phủ Chưởng Hàn ghê gớm của lão bà, một kẻ thù ghê gớm mà đã giết hết mười người thân của chàng, nếu chuyến này gặp được mụ ta, chàng quyết không bỏ lỡ dịp trả thù. Liễu Mi thấy Thượng Quan Linh nghiến răng mím miệng như sắp sửa lâm trận vậy, bất giác phì cười và khuyên chàng hãy bình tĩnh vì hiện nay mụ già bịt mặt bí mật ấy, không biết đã ẩn tích từ hồi nào rồi? Làm sao mà tìm cho ra, cũng nhờ câu chuyện này mà Liễu Mi sức nhớ đến vị Thần y trên giang hồ là Hoạt thương công Hoa Diệp Tử, không biết ngay nay ông ta còn ở gần đâu đây không? Nếu còn, mời ông ta lại chữa mắt cho Thượng Quan Linh, thế nào cũng hy vọng được chín phần mười khỏi bệnh!
Nghĩ xong, nàng bèn căn dặn Thượng Quan Linh nằm yên nghỉ ngơi trong quán trọ, chớ nên suy nghĩ bậy mà có hại cho sức khỏe, và nàng cấm đoán chàng không được lẻn đi ra ngoài một mình như kỳ trước!
Thượng Quan Linh tươi cười gật đầu lia lịa, phần Liễu Mi cũng cho rằng Thượng Quan Linh nay đã trở thành một quái nhân võ lâm rồi, trừ phi Liễu Văn có chiếc Tiểu Đoạt Hồn Kỳ và cộng thêm công lực tuyệt cao của Tả Pháp Thụ ra hơi đáng ngại, còn các tay giang hồ cao thủ không đáng quan tâm nữa, và chưa chắc gì Liễu Văn và Tả Pháp Thụ đuổi theo họ.
Sau khi cố căn dặn người yêu ba lần bảy lượt, nàng hấp tấp ra phố Nam Chương thăm hỏi vị giang hồ Thần y, nàng vui mừng quýnh khi nghe tin vị Hoạt Thương Công vẫn còn cư ngụ gần đây.
Thì ra vị Thái y này rất giỏi về khoa trị bệnh, tiếng tăm lừng lẫy khắp giang hồ lang thang khắp thiên hạ, không nhất định ở hẳn một nơi nào, nhưng ông ta cũng như bao nhiêu người phàm thường khác, có nỗi lòng bí mật thầm kín của mình, thì ra miền Nam Chương giữ chân được ông ở lại đây lâu nhất hơn mọi nơi, chỉ vì ông ta mê một ả làng chơi họ Lưu tại đây, thành thử khi có dịp ghé đây, ông ta đều ở lại dăm ba tháng trời. Liễu Mi biết chuyện bí mật này, liền hấp tấp tìm lại tận nơi, quả nhiên gặp lúc ông ta có nhà, Liễu Mi bèn nói rõ thân phận và ý đến của mình với vị Thần y Hoạt thương công Hoa Diệp Tử.
Chuyến này khiến cho vị thần y giật mình ngơ ngác, chỉ nội người đẹp như Liễu Mi đến cũng đã đủ khiến cho ông ta mờ tai hoa mắt rồi, sau khi nghe rõ câu chuyện của nàng, vị danh y há cả miệng ngẩn người như kẻ mắc kinh phong, thì ra nàng là thứ nữ lừng danh oai hách của Thanh Thông Hội, mà người bạn trai của nàng lại là vị thiếu niên trúng Phủ Chưởng Hàn dạo nọ. Không ngờ mình không có cách chữa trị, nay chẳng có thuốc mà người ta cũng khỏi, nhưng khỏi được bệnh kia nay lại vướng phải bệnh mù luôn hai mắt. Sau khi nghe xong, Hoa Diệp Tử vừa kinh vừa nghi, vội sửa soạn thuốc men và dụng cụ của mình, rồi cùng lên xe đi với Liễu Mi về quán trọ. Sau khi gặp Thượng Quan Linh, Hoa Diệp Tử mới biết rõ mọi chuyện, ông ta mừng cho Thượng Quan Linh gặp may mắn như thế.
Trong khi chẩn mạch cho Thượng Quan Linh, Hoa Diệp Tử cau mày nhíu mắt, trầm lặng không nói gì trông thần sắc có vẻ bối rối.
Liễu Mi hồi hộp hỏi:
- Thưa tiên sinh! Mắt của anh Linh có sao không ạ?
Hoa Diệp Tử lắc đầu:
- Không dám giấu gì hai vị, bệnh mắt của Thượng Quan công tử đây, vốn bị trúng độc trước khi tiên hoa chưa tan hết công lực vào trong cơ thể, và sau khi công tử uống độc tửu, sức tiên hoa đã chống đối kịch liệt và dồn hết chất độc ấy lên mắt nên đã khiến cho đôi mắt trở thành thong manh... - Với giọng vô hy vọng Thần y lại tiếp: - Nay Thượng Quan công tử mắt bị trúng chất độc quá mạnh, khiến cho đôi tròng bị thương quá nặng, tuy dưới vòm trời này không thiếu gì bậc lương y, nhưng e khó có phương pháp gì mà cứu nổi...
Nghe nói vậy, tâm hồn Thượng Quan Linh không khác nào như bị té trong trận vực thẳm ở thung lũng Thanh Thông Cốc kỳ trước, chàng chán nản tuyệt vọng, đau khổ, giơ đấm thụi mạnh vào mặt bàn, chiếc bàn dày gỗ quí thủng ngay một lỗ lớn! Liễu Mi cố nén lòng xúc động của mình khuyên nhủ người yêu.
Hoa Diệp Tử thấy hai người đau khổ bịn rịn, mủi lòng khuyên rằng:
- Xin Thượng Quan công tử chớ vội lo buồn chi vậy nay tuy công tử bị thong manh, nhưng tôi tin chắc hiệu lực kỳ diệu của tiên hoa, thể lực lúc này của công tử đã khác hẳn người thường, có lẽ khắp trong thiên hạ, không còn ai có thể giết hại được công tử nữa đâu, từ nay công tử sẽ là người công lực cái thế vô song! Sẽ trở thành một ngôi sao sáng chói trong vòm trời võ lâm! Còn có bao nhiêu sự nghiệp vĩ đại đang chờ đón công tử, vậy mong công tử nên vì đó mà tự hào, chớ có lấy làm chuyện bi thương làm gì!
Liễu Mi cũng hết lòng uyển chuyển khuyên can rằng:
- Anh Linh! Anh cũng nên nghĩ ở đời không có gì thập toàn thập mỹ cả, ngay công lực của anh đã siêu tuyệt vượt bực như thế, sau này thế nào cũng trở thành kẻ đệ nhất trong thiên hạ !
0
Hồi 062. Bệnh Thong Manh
[/align]

Thượng Quan Linh sau khi được tin tuyệt vọng về đôi mắt của mình, chàng biết từ nay mình sẽ phải sống trong một cảnh tối âm u của thế giới người mù, tất cả những gì đẹp của đời, đã hạ màn hết đối với chàng. Phải chi Thượng Quan Linh đã cao niên bạc đầu gì cho cam, đằng này đang thanh xuân đầy nhựa sống, thế mà phải cam đành chịu cảnh sống lúc nào cũng tối ấy... cho dù có võ công cái thế trong người đi nữa, thì có dụng ích gì? Chàng lúc này chỉ biết cúi gầm đầu đau đớn trong tâm hồn mình, Liễu Mi đứng cạnh an ủi. Hoa Diệp Tử không tiện ở lại lâu, ông ta âm thầm ra về .
Chỉ trong khoảnh khắc, bỗng Hoa Diệp Tử hấp tấp chạy vào lớn tiếng rằng:
- Thôi! Có rồi! Có rồi! Có cách rồi... Tôi mơ hồ quá, quên béng ngay một phương pháp này...
Thượng Quan Linh và Liễu Mi vội ngửng đầu, cả hai lại tràn ngập hy vọng đồng thanh hỏi ngay rằng:
- Thưa ngài còn cách gì?
Hoạt thương công Hoa Diệp Tử lại lắc đầu lẩm bẩm rằng:
- Không!... Không!... Phương pháp này! Hà... Thôi đừng nói ra nữa, vì có nói ra cũng không làm sao lo cho được.
Liễu Mi không chịu bỏ lỡ một cơ hội nào, dù nàng biết là mỏng manh, vội truy hỏi ngay:
- Thưa tiên sinh! Thật ra là phương pháp gì? Xin ngài cứ nói thẳng ra xem!
Hoa Diệp Tử rằng:
- Tôi biết rằng trong nhân gian này có thứ dị bảo, có thể dùng trị bệnh mắt, tuy bệnh nặng đến nỗi hư tròng, nhưng được dị bảo ấy thế nào cũng khôi phục nhãn lực ngay, dị bảo ấy được mệnh danh là Ngân hoa hỏa thụ, vật báu này, vốn là một báu vật trấn bang của dân thiểu số Ngọc Thụ ở miền Thanh Hải, nếu được báu vật này, chỉ cần nhúng vào nước đem thấm vào mắt, bệnh thong manh sẽ lành khỏi ngay:..
Liễu Mi vội hỏi ngay:
- Thưa tiên sinh, cây Ngân hoa hỏa thụ hiện nay chả ở Ngọc Thụ Thổ Ty miền Thanh Hải là gì?
Hoạt thương công Hoa Diệp Tử lắc đầu rằng:
- Ấy! . Chính cái khó là chỗ điểm này, nếu Ngân hoa hỏa thụ mà vẫn còn nằm tại Ngọc Thụ, chỉ nội danh vọng và công lực của Liễu cô nương và Thượng Quan công tử, thế nào cũng có thể mượn tạm với họ để chữa bệnh mắt, nhưng khốn nỗi nay cây dị bảo ấy không còn tại Ngọc Thụ nữa rồi, nghe đâu đã bị mất tích lâu năm! Xưa kia, có một vị Thổ Ty của Ngọc Thụ, vốn là người tuấn tú đẹp trai, sau vì một trận giao tranh ác liệt, trở thành người tàn khuyết rùng rợn, từ đó trên giang hồ người ta phong cho một biệt danh Ngọc Thụ Ky Nhân! Vị Ngọc Thụ Ky Nhân này, mười năm trước đã rời bỏ Ngọc Thụ ra đi, và đến nay, chẳng ai còn biết số phận của người này ra sao, và nghe đâu cây dị bảo Ngân hoa hỏa thụ, đã được vị kỳ nhân này mang theo bên mình, và cả người vợ Miêu Gia Diệm Nữ và đứa bé gái đã mất tích một cách thần kỳ với vị Ngọc Thụ Ky Nhân...
Liễu Mi đã rõ trang tình sử bí mật của vị Đoạn trường nhân Độc chỉ Thôi Bác do Hồng điệp Châu Chu kể trên Mặc Phụ Sơn, và nàng còn biết luôn sự tự giải thoát nỗi lòng đau khổ của Độc chỉ Thôi Bác về cái chết lao mình xuống vực sâu của Tả Diện Phong trên Mặc Phụ Sơn, nơi đã xảy ra những cảnh tình đau lòng của vị Đệ nhất cao thủ trong thiên hạ Độc chỉ Thôi Bác. Nếu đoán không sai, dưới vực thẳm của Tả Diện Phong trên Mặc Phụ Sơn ấy, ngoài trừ Thôi Bác, Ngọc Thụ Ky Nhân, Miêu Gia Diệm Nữ, cô bé gái, thần ưng Đại Hắc ra, thế nào trong ngôi mồ thiên nhiên còn chôn cả cây dị bảo Ngân hoa hỏa thụ là khác.
Nhưng vụ án tình ly kỳ này, trừ mình, anh em Hầu Hạo, chị em Song Điệp ra, trên giang hồ không còn ai biết đến vụ án thê thảm này. Liễu Mi tuy là một trong số bốn người biết về chuyện ly kỳ này, nhưng vì can hệ đến thanh danh cả một đời của Độc chỉ Thôi Bác, nàng đâu dám tiết lộ bí mật này ra để gây xáo trộn dư luận trong võ lâm!
Tiếng Hoạt thương công Hoa Diệp Tử tiếp tục rằng:
- Sau khi hai vợ chồng Ngọc Thụ Ky Nhân và đứa bé gái mất tích, dòng họ của Ngọc Thụ cũng kể như đã tuyệt tự không còn người lên kế ngôi nối nghiệp làm Thổ Ty, đồng thời xứ Ngọc Thụ từ ngày bị thất lạc dị bảo Ngân hoa hỏa thụ, liên miên xảy ra thiên tai nhân họa, sự đói kém đã xua đẩy gần hết những người đã sống lâu đời tại Ngọc Thụ, cũng có nhiều người lặn lội ra công để đi tìm tung tích vợ chồng Thổ Ty và đứa bé gái! Chuyện này đã làm chấn động khắp trên giang hồ, và những người xưa kia từng mến phục tính hào phóng của Ngọc Thụ Ky Nhân, chẳng ai là không tình nguyện ra công đi dò thăm tin tức Đến nay tin tức đều vô âm, mà chẳng ai biết đến cây dị bảo Ngân hoa hỏa thụ bị thất lạc phương nào, thành ra chuyện này chỉ có thể cầu may gặp tình cờ mà không thể nào cố công đi tìm cho ra được. Nhưng tôi tin tưởng rằng, một người đầy phúc hậu như Thượng Quan công tử đây, thế nào cũng có kỳ duyên, chắc là chưa tới thời cơ đó thôi, nhưng sau này nếu quả gặp được dị bảo, nhớ kỹ là lấy nước suối lọc cho sạch, rồi dùng Ngân hoa hỏa thụ nhúng vào ấp lên đôi mắt, bệnh chẳng mấy lúc sẽ lành ngay...
Liễu Mi và Thượng Quan Linh hết lời cảm tạ sự chỉ giáo của vị thần y, Hoạt thương công Hoa Diệp Tử cáo từ ra về luôn.
Sau khi thần y Hoạt Thương Công ra về, Liễu Mi và Thượng Quan Linh bèn bàn tính với nhau, chờ lên Mặc Phụ Sơn, sẽ mở cuộc mạo hiểm xuống dưới vực thẳm của ngọn núi băng tuyết Tả Diện Phong một chuyến.
Hai người lại tiếp tục cuộc hành trình, vào đầu tháng mười, họ đã đến Mặc Phụ Sơn. Hai người lững thững lên bộ lên Lãnh Hương Điện, từ đằng xa, Liễu Mi đã thấy một cái tháp đen nhỏ nửa ngọn uy nghi sừng sững trên Lãnh Hương Điện. Nhưng nàng tinh mắt, nhận ngay ra đó là anh chàng Phích lịch nhị lang Sở Canh, hình như đang lo canh gác thì phải!
Sở Canh chỉ lo nhìn tuốt phía xa, chàng không để ý những nơi gần cho mấy, khi Thượng Quan Linh và Liễu Mi lên gần đến nơi, gây nên tiếng động nhẹ, Sở Canh giật mình khi thấy hai người, sự nghi ngờ đã khiến chàng đưa tay lê mắt dụi mạnh, rồi chàng lớn tiếng hỏi:
- Nhị tiểu thư, Thượng Quan công tử nhị vị thật đó sao? ...
Thượng Quan Linh nhận ngay ra tiếng của Sở Canh, chàng mừng hỏi:
- Sở huynh đó ư?...
Sở Canh chạy tung ngay lại ôm choàng ngay Thượng Quan Linh xúc động rằng:
- Hà!... Thượng Quan huynh! Ngày nào tôi cũng đứng đây trông đợi sự trở về của tiểu thư và công tử, vì tôi nghĩ người phúc đức hiền hậu như hai vị, thế nào cũng tránh được các tai họa không may...
Tiếp theo, Sở Canh hết lời xin lỗi về chuyện xảy ra tại ngôi huyệt mộ mà chàng đã gán cho Thượng Quan Linh là quỉ nhập tràng. Thượng Quan Linh vui vẻ tươi cười không chấp trách gì những chuyện nhỏ mọn ấy, thôi thì Sở Canh vui mừng rối rít, nói huyên thuyên, vô tình tiếng nói oang oang của chàng đã kinh động mọi người trong Lãnh Hương Các, mọi người vội chạy ra, thấy là Liễu Mi và Thượng Quan Linh, ai nấy mừng tủi lẫn lộn!
Trong trường hợp này, tâm tình mỗi người một khác Sở Canh vẫn ăn năn về hành động dã man của mình, khi đẩy Thượng Quan Linh té xuống vực thung lũng ở Thanh Thông Cốc, nay tuy đã xin lỗi và Thượng Quan Linh đã không trách chấp gì, nhưng trong lòng của con người quá chất phác này vẫn cảm thấy như bất an, chàng không hề nghĩ rằng, cái thong manh của Thượng Quan Linh đâu phải do lỗi gì chàng gây ra đâu. Còn anh em Hầu Hạo, một người là bạn thân cũng là sư huynh, còn một người nữa là chịu ân cứu tử của Thượng Quan Linh, nay thấy chàng bị thong manh trầm trọng như thế, hai anh em đều rối quýnh lên, Hầu Hạo luôn luôn tỏ vẻ bực tức xoa tay đấm chưởng chan chát, Đông Phương Đình chỉ cúi đầu khóc sùi sụt.
Phần Thanh điệp Châu Sách và Hồng điệp Châu Chu, hai chị em xưa nay chỉ nghe tên của Thượng Quan Linh do mọi người kể lại, nay mới được rõ Lư Sơn chân diện mục, quả là một vị thiếu niên công tử anh tuấn bất phàm, hèn gì chị Liễu Mi phải ngây ngất vì vị công tử bảnh trai này. Thấy mọi người đều tỏ vẻ lo lắng đến Thượng Quan Linh, chị em Song Điệp vẫn cảm thấy tiếc cho chàng trai bị mắc tật thong manh. Những tiếng than ngẩn thở dài nối tiếp nhau truyền ra...
Thượng Quan Linh tuy không thấy rõ sắc mặt của Liễu Mi trong lúc này ra sao, nhưng với thính giác sắc bén, chàng có thể phán đoán Liễu Mi đang làm gì! Chàng có vẻ thành khẩn nói với Liễu Mi rằng:
- Em ơi! Chúng mình đi thôi! Tuy anh không thể nào chiêm ngưỡng ngôi mộ của Thôi lão tiền bối và phu nhân của ông ta, nhưng đối với họ anh vẫn kính trọng họ vô cùng... - Lúc này cả hai người đang đứng cạnh nơi Tả Diện Phong!
Câu nói này, chàng đã tỏ ý nghĩa của mình, nhưng vốn rất yêu Liễu Mi, lại e ngại nàng sẽ ngầm trách mình, Thượng Quan Linh lại lúng túng nói:
- Em Liễu Mi... Ngu huynh không bao giờ quên tấm tình chăm lo săn sóc của em, nhưng sự thong manh của ngu huynh đây chắc là ý trời muốn vậy, chúng mình cũng không thể nào miễn cưỡng cãi ý trời được... nếu...
Thượng Quan Linh cảm thấy khó nói vô cùng, nhưng chàng cũng cố dồn hết can đảm thốt ngay ra:
- Nếu em không đồng ý, anh không có quyền gì để ngăn trở tuổi thanh xuân của em, em có thể để mặc anh... em cứ việc đi lo tương lai của em... anh vẫn có thể nhẫn chịu nếp sống này...
Lời nói này không khác gì một thau nước lạnh buốt đang tạt vào mình Liễu Mi, nàng run người, vừa kinh lại vừa tức, lòng hoài nghi và phẫn nộ buột miệng hỏi rằng:
- Anh rất hài lòng để được xa em phải không?
Liễu Mi sau khi hỏi chỉ thấy sắc mặt Thượng Quan Linh có vẻ đau khổ, nghe chàng khẽ tiếng nói ngay rằng:
- Anh... đương nhiên anh không muốn thế, nhưng nếu đôi mắt bị mù hẳn từ đây, anh không muốn em phải hy sinh vì anh, tuy anh không thích phải xa cách nhau, nhưng anh vẫn nghĩ đến hạnh phúc của em, anh không thể nào sống riêng cho bản thân của mình.
Liễu Mi ôm chầm ngay vào lòng Thượng Quan Linh rằng:
- Anh nghĩ khùng vừa vừa chứ! Em sẽ không bao giờ xa anh đâu... sao anh đến giờ này mà vẫn không chịu hiểu cho nỗi lòng của em...
Thượng Quan Linh đưa tay vuốt sờ tóc Liễu Mi, lẩm nhẩm rằng:
- Nào anh đâu có khùng, chỉ vì anh quá yêu em, nên không nỡ tâm thấy em phải hy sinh cho anh...
Liễu Mi gắt yêu:
- Em cấm anh nói những ý nghĩ thế! Chỉ cần sao chúng ta thật lòng với nhau, trên thế gian này, không có gì có thể ảnh hưởng làm lung lay đến mối tình của mình... anh khùng của em đã hiểu rõ chưa?...
Thượng Quan Linh cảm động:
- Anh hiểu, và hiểu thấm thía là khác, nhưng em đã bị thiệt thòi quá nhiều!
Liễu Mi phì cười an ủi người yêu:
- Anh Linh à! Trong lòng anh lúc này hình như đã bình tĩnh lắm, lời anh quả không sai, nếu là ý trời đã muốn thế, chúng ta cũng chẳng nên nghịch lại, nếu mắt anh khỏi thì càng hay, còn không, chúng mình cũng chẳng cần oán trách gì, nhưng mong sao hai chúng mình có thể sống vững bền bên nhau, được như vậy cũng đủ hạnh phúc lắm rồi, khi nào xong xuôi các mối ân oán, chúng mình sẽ ẩn cư một nơi nào lý tưởng để tận hưởng những nếp thanh nhàn an lạc...
Thượng Quan Linh vuốt tóc nàng:
- Em Liễu Mi... ý em đã trùng hợp với ý anh trong bấy lâu.... em... em... anh biết nói gì hơn nữa đây?..
Hai người đang lúc trao nhau bằng lời nói truyền cảm và những động tác âu yếm ấy, tâm tình họ từ nỗi buồn thất vọng đổi dần sang mừng và cảm thấy mãn nguyện. Thời gian lặng thoảng qua, bỗng hai người cảm thấy những con sóc nhảy chạy tung tăng ngang mặt họ. Liễu Mi ngửng đầu nhìn về phía rừng thông trước mặt, thấy có một người xuất hiện, chỉ thấy đàn sóc chạy nhảy tung tăng khắp xung quanh người ấy như có vẻ thân nhau lắm. Liễu Mi thấy vậy gần như không tin đến nhãn lực của mình, sự thực vẫn hiển nhiên bày trước mắt nàng, đó là một thiếu nữ, nếu nói thiếu nữ là người, thì quả là một người bất phàm trong thế gian, phải hình dung thiếu nữ là tiên nữ có lẽ đúng và hợp hơn!
Lối ăn mặc của thiếu nữ, trông lại càng quái dị, khắp toàn thân đều mặc toàn thứ áo và váy ngắn bằng lá kết lại, để lộ một cặp đùi trắng và thon, tóc rối bung và đi chân không, một nửa bả vai trắng mịn! Liễu Mi lạ lùng nghi hoặc trong lòng, thiếu nữ này phơi nắng hằng ngày, sao da không bị sạm nắng kìa. Không những Liễu Mi cảm thấy thiếu nữ có vẻ đẹp hồn nhiên và còn chứa đựng vẻ đẹp thiêng liêng là khác, thật không khác gì tiên nữ hạ phàm. Chỉ thấy đôi mắt đen láy và đang lộ vẻ ngạc nhiên đang nhìn Liễu Mi, Thượng Quan Linh với vẻ thần sắc hồn nhiên lạ lùng. Càng nhìn Liễu Mi càng cảm thấy mến thích thiếu nữ lạ.
Liễu Mi đoán phỏng thiếu nữ chỉ ước lối đôi tám xuân xanh là cùng! Nhưng cái đẹp thần thánh của thiếu nữ, có thể nói hiếm có trong trần gian này! Liễu Mi đã nổi tiếng là người đẹp trên giang hồ, trong thâm tâm nàng, cũng thường tự phụ như thế, với ý nghĩ của nàng: người đẹp phải có những yếu tố: dung mạo xinh đẹp, cử chỉ ung dung, phong độ ôn hòa, tri thư thức lễ, thông minh sáng suốt, có những điều kiện như thế mới tạm đủ tiêu chuẩn của một người đẹp; và hễ gặp được một nàng đẹp nào, Liễu Mi đều ngấm ngầm đem hết những điều kiện sẵn có của mình để so sánh với đối phương, nhất là những người nàng đã quen như chị em Song Điệp, Đông Phương Đình, Hạ Quyên, đều không phải địch thủ về sắc đẹp với Liễu Mi.
Suốt trong thời gian phiêu bạt giang hồ của nàng, Liễu Mi chưa hề gặp một thiếu nữ khả dĩ có thể khiến nàng ganh tị về cái đẹp! Nhưng kỳ này, mọi thành kiến kiêu hãnh về sắc đẹp của nàng đã bị lung lay, thiếu nữ đang đứng trước mặt nàng đây, tuy chưa hề trang điểm sửa soạn, nhưng sắc đẹp ấy đã khiến nàng phải cảm và phục thầm trong lòng, cái đẹp nhân tạo quả không làm sao át nổi cái đẹp hồn nhiên của nó! Nay thiếu nữ trước mắt mình đây, nào đâu có những phục sức lộng lẫy gì, ấy thế mà đẹp vẫn hoàn đẹp!
Liễu Mi đã nhiều lần nghi ngờ đôi mắt của mình, không biết có lây bệnh thong manh giả không! Cuối cùng nàng vẫn phải chấp nhận sự thật! Nhưng Liễu Mi vẫn còn tự tin về các điều kiện mà mình đã có, sự hiểu biết của mình thế nào cũng trội hơn cô gái có vẻ rừng rú này, nhưng về nhan sắc, Liễu Mi tự hiểu mình không phải địch thủ của thiếu nữ rừng rú này. Lúc này, vì mắt Thượng Quan Linh không thấy, chỉ có Liễu Mi và thiếu nữ nhìn nhau. Liễu Mi bỗng cảm thấy một mùi thơm thoang thoảng dễ chịu lạ, mùi thơm này không phải mùi thơm của hoa, mà là một mùi thơm được toát ra của nữ thể (thân thể con gái), nhưng không phải thứ thơm nồng tục thường, với óc thông minh sẵn, thứ nữ của Thanh Thông Hội lập tức hiểu ngay là chuyện gì.
Xưa kia, Miêu Gia Diệm Nữ với thân thể dị hương của mình mà nổi tiếng trên giang hồ, chẳng cần nói, trong thiên hạ này có mấy người có loại hương thể như thế. Vậy vị thiếu nữ đang đứng trước mắt đây, nhất định là con gái của Miêu Gia Diệm Nữ. Nàng quả là con riêng của Đoạn trường nhân Độc chỉ Thôi Bác, đã bị ngã xuống vực thẳm của miền băng tuyết trên mười năm nay như thế đã không bị thiệt mạng, quả là một chuyện quái dị khó tưởng tượng! Liễu Mi ngó sửng sốt, nàng lúc này càng thấm thía hiểu rõ lời nói của cổ nhân với bốn chữ Thiên đường quốc sắc quả không cần phải trang điểm gì thật. Dầu cho giờ đây có mang ra một bộ quần áo xấu nhất trong trần gian này mặc vào người thiếu nữ đây, vẫn không làm sao giảm bớt được sắc đẹp hồn nhiên của người ta!
Cả đôi bên nhìn nhau khá lâu. Bỗng Liễu Mi lên tiếng hỏi thiếu nữ:
- Này em? Em tên gì?
Thiếu nữ tươi cười để lộ hẳn một hàm răng trắng như ngọc rằng:
- Em tên là A Hương!
Liễu Mi cảm thấy tiếng nói của thiếu nữ đây khác hẳn người phàm thường, một giọng lơ lớ nghe có vẻ tựa giọng của các con sóc vậy.
Liễu Mi bất giác mừng thầm trong lòng; Hà, Hà!... Với sắc đẹp như tiên của nàng, nếu không mở miệng nói chuyện, may ra có thể là người đẹp nhất trong thiên hạ, nhưng với giọng oanh pha lẫn giọng sóc ấy hẳn nhiên đã thua đứt Liễu Mi này rồi? Nghĩ vậy xong, Liễu Mi cười rằng:
- Em Hương, thế em có biết chị đây là ai không?
A Hương với vẻ hồn nhiên của bản ngã nói ngay:
- Em biết! Chính chị là Liễu Mi chứ còn ai...
Liễu Mi giật mình thất kinh, vội hỏi ngay:
- Ai đã nói với em... nói mau chị nghe...
A Hương vẫn cười hồn nhiên rằng:
- Chính Thôi bá bá, bác ấy nghe chị gọi tên... bèn sai ngay em lại gọi chị...
Nàng thiếu nữ đẹp như tiên này, hình như mới học nói tiếng người vậy, nàng chỉ biết dùng những câu rất đơn giản, vì nàng không biết dùng tiếng nghênh đón mà lại nói là gọi...
Thượng Quan Linh đứng cạnh bỗng lớn tiếng hỏi ngay:
- Thôi lão tiền bối hiện ở đâu... phiền tiểu cô nương dẫn đường cho...
Với lời nói đầy văn hoa như vậy, nàng thiếu nữ A Hương chẳng hiểu ất giáp sấp ngửa gì, đôi mắt sáng hẳn lên hỏi Liễu Mi:
- Chị, anh ấy nói gì vậy?
Liễu Mi mỉm cười bước qua nắm ngay tay A Hương, thân mật nói từng tiếng như dịch lại rằng:
- Em Hương, chúng mình đi về!
A Hương hiểu và dẫn luôn hai người đi.
Liễu Mi lúc này đi sát cạnh A Hương, mùi thơm quái dị của thiếu nữ khiến nàng thư thái lạ lùng. Liễu Mi thầm nhủ: May mình cũng là thân gái như nàng, nếu mình là con trai đàn ông, làm sao không khỏi ngây ngất trong lòng... Trong lúc Liễu Mi mãi suy tư ấy Thượng Quan Linh đi phía sau cũng ngửi rõ một mùi thơm tương tự ấy, chàng bất giác lên tiếng rằng:
- Hoa gì đâu mà thơm quá vậy! Mùi thơm có vẻ ngon ngọt... quá lạ...!
Liễu Mi ức ngầm, quả nhiên mũi đàn ông thính thật, nhưng may là chàng nay đã bị thong manh, nếu không, được thấy người đẹp như tiên hạ trần này, chắc gì mà không ngây ngất tâm hồn! Liễu Mi hờn mát không thèm trả lời! Nào hay A Hương đi phía trước nghe chàng nói vậy, bèn hồn nhiên cải chính ngay:
- Không phải là hoa đâu, đó là mùi hương thể của A Hương toát ra đó !
Thượng Quan Linh ồ... một tiếng như kinh ngạc, chàng bất giác tự lẩm bẩm:
- Quốc sắc thiên hương, trời ban dị thể...
Thượng Quan Linh chưa nói hết, Liễu Mi đã không bằng lòng gắt ngay:
- Thôi ông ơi!... Hãy đi mau lên... người ta đã sốt ruột, mà ông còn vui vịnh thơ với phú!...
Thượng Quan Linh vội ngậm thinh ngay, hình như chàng đã cảm thấy người yêu đang ghen thầm, cả ba lẳng lặng đi xuyên khỏi một khu rừng, đến ngay một hang động, trước cửa động xuất hiện một người và một chim ưng khổng lồ!
Liễu Mi buột miệng gọi lớn:
- Thôi thúc thúc!...
Đoạn trường nhân Độc chỉ Thôi Bác không quay đầu lại chỉ thấy ông ta đang cặm cụi khắc chạm một bức tượng người, thần ưng Đại Hắc đứng giúp sức bên cạnh. Liễu Mi lấy làm lạ, vì chỉ thấy Đoạn Trường Nhân dùng móng tay của mình khắc chạm vào một tảng đá, và chính con Đại Hắc đang dùng mỏ cứng rắn của nó, mổ đẽo theo lằn vết của chủ đã gạch. Thỉnh thoảng nó đưa móng trảo của mình ra sửa sang lại, một chim một người, cả hai đang say sưa trong việc tạc tượng người, hình như không hề biết có người nào đứng phía sau mình. Nhìn lại tảng đá, bề cao bằng người thật, và đang được tạc thành một người đàn ông và một người đàn bà, người đàn ông được tạc thành lối ăn mặc của một tù trưởng, trông vừa hiên ngang vừa anh tuấn, còn người đàn bà thì tạc theo lối trang sức của một Miêu gia, một vẻ đẹp hiền thục đoan trang, Liễu Mi có vẻ quen mắt lắm.
Liễu Mi chợt nhận ra ngay, khuôn mặt người đàn bà trên bức tượng đá đây, trông giống hệt mặt của thiếu nữ A Hương. Chẳng cần phải đoán xa xôi, hai bức tượng ấy, kẻ đàn ông chính là Ngọc Thụ Thiếu Tù, còn đàn bà tức bà Miêu Gia Diệm Nữ.
Hai bức tượng đã tạc gần xong, nay chỉ còn ra công gọt sửa những chi tiết nhỏ, nhưng hai bức tượng càng lúc càng hiện ra những nét linh động của nó, trong không khác vì như người sống vậy. Liễu Mi lúc này bất giác lại nổi tính so sánh ngầm, nàng công nhận vị Ngọc Thụ Thiếu Tù quả là một mỹ nam tử, lẽ đương nhiên Thượng Quan Linh không sao sánh kịp với người ta, còn về Miêu Gia Diệm Nữ người ta có một vẻ đẹp chín mùi của thiếu phụ, nay tuy chỉ còn thấy dung nhan bằng tượng đá, ấy thế mà vẫn đủ sức thu hút lạ lùng... nhưng nay, đôi uyên ương đã thành người thiên cổ, nắm xương trắng đã vùi sâu dưới đất và đã chôn theo tất cả tài sắc kinh thế một thời nào... mối hận tình đã đi hết vào dĩ vãng... Liễu Mi nghĩ đến đây, nàng bất giác nổi lên một nỗi lòng tiếc thương vô bờ bến.
Càng ngắm nhìn hai bức tượng, Liễu Mi càng cảm phục quỉ phủ thần công (búa rìu ma công lao thần) tạc chạm của Độc chỉ Thôi Bác. Vị Đoạn Trường Nhân quả là người giỏi, văn võ đã quán tuyệt trong thiên hạ, mà nghệ thuật điêu khắc của ông ta lại còn khéo hơn quỉ thần đến thế! Liễu Mi thầm phục vị kỳ nhân này lắm.
Sau khi Độc chỉ Thôi Bác và Đại Hắc gọt sửa xong bức tượng, mới bắt đầu tiếp khách! Thần ưng Đại Hắc kêu lên một tiếng quá, vỗ cánh vọt ngay lại cạnh Thượng Quan Linh kêu nhỏ rối rít, nó như lo lắng bệnh tình của bạn cũ và cũng như an ủi chàng hãy an tâm bình tĩnh vậy.
Thượng Quan Linh đưa tay vuốt ve Đại Hắc rồi gọi:
- Ưng huynh! Ưng huynh!... không ngờ chúng mình lại gặp nhau đây ! ...
Bên kia, Độc chỉ Thôi Bác quay lại nhìn Liễu Mi và một giọng thân thiết lên tiếng gọi ngay:
- Liễu Mi cháu...
Liễu Mi chạy bạt sang ập ngay vào lòng vị tiền bối khóc nức nở! Vì trong lòng nàng lúc này đã coi vị Thôi đại hiệp đây không khác cha già của mình ở Thanh Thông Hội, thành thử nàng nàng được thể khóc đã! Bao nhiêu những nỗi uất ức bấy lâu, nay nàng được dịp tung ra hết bằng nước mắt của mình.
Thôi Bác vuốt ve tóc nàng Liễu Mi với giọng ấm cúng rằng:
- Hà! Hà! ... Cháu nín đi ! ... Chuyện này đều tại thúc thúc ta mà ra cả... nín đi!... ngoan! Cháu nín đi! Thôi thúc thúc sẽ dạy thêm võ học cho cháu. Cháu vui chớ? Nhưng cháu bây giờ phải nín ngay đã!...
Nhưng vị tiểu thư của Thanh Thông Hội vẫn khóc như mưa không ngớt. Đoạn Trường Nhân rất thích cô bé này, tưởng đâu mình chịu nhận con bé làm môn đệ như thế, thế nào cũng nín khóc ngay, nào hay Liễu Mi lại càng sướt mướt thêm, khiến cho vị đại hiệp đây thêm lúng túng, hết khuyên nín lại vuốt ve an ủi. A Hương chẳng hiểu chuyện gì mà Liễu Mi khóc dữ thế này, chỉ biết băn khoăn đứng bên cạnh.
Thượng Quan Linh nghe tiếng khóc của người yêu và tiếng an ủi của người lạ, chàng lên tiếng khuyên ngay:
- Liễu Mi đừng khóc nữa em!
Thôi Bác nghe tiếng nói này, lập tức hiểu ngay nguyên do cái khóc của Liễu Mi, thì ra ý trung nhân của cô bé này đã bị thong manh! Bèn than rằng:
- Cháu Liễu Mi, hãy dìu ngay Thượng Quan công tử vào trong động đã!
Liễu Mi nghe vậy lập tức ngừng khóc ngay, dẫn ngay Thượng Quan Linh bước lại tham yếu Thôi Bác rồi nói:
- Anh Linh ơi! Đây là vị Thôi Bác đại hiệp mà anh vẫn thường kính phục, và cho đến giờ này anh vẫn chưa được nhìn oai nhan của ngài, nay chỉ có Thôi tiền bối mới có thể chữa khỏi bệnh mắt cho anh được mà thôi. Vậy anh nên lại lạy tạ cầu Thôi tiền bối mở lòng từ bi chữa bệnh cho...
Thượng Quan Linh biết nàng đang dùng thủ đoạn nói khích vị tiền bối, tuy trong bụng không tán thành, nhưng chàng cũng thành khẩn quì xuống rằng:
- Kính lão tiền bối, đệ tử Thượng Quan Linh xin tham yết ngài!
Chàng không hề đả động đến chuyện chữa mắt.
Thôi Bác đỡ ngay dậy, mọi người vào ngay trong động, thấy trang hoàng đơn giản sạch sẽ, mặt đất trải toàn lá thông, vừa êm vừa ấm cúng.
Sau khi mọi người ngồi yên ổn, thần ưng Đại Hắc đứng cạnh, Độc chỉ Thôi Bác huýt lên một tiếng sáo, lập tức cả một đàn sóc lớn bé, chúng tha toàn những hoa quả đưa đến trước mặt mọi người. Thượng Quan Linh và Liễu Mi ăn luôn một hơi vài trái, chỉ cảm thấy thơm ngon lạ lùng, nhưng lại không biết tên những hoa quả ấy gọi sao.
Liễu Mi lúc này bèn kể hết mọi việc đã xảy ra trên Mặc Phụ Sơn và đến khi bắt sống được Đinh Hãm của Vô ảnh Phong mới thôi; và đồng thời cũng nói rõ lý do đến đây là nhờ sự ám chỉ cách chữa bệnh của Hoạt Thương Công đã từng dạy. Chỉ có cây dị bảo Ngân hoa hỏa thụ mới có thể cứu nổi bệnh cho Thượng Quan Linh, nên hai người đã không ngần ngại gì đến đây mạo hiểm một chuyến cầu may, và Liễu Mi cũng không quên thuật lại những chuyện mà Hồng điệp Châu Chu đã kể về cuộc đời của Thôi Bác. Đoạn trường nhân Độc chỉ Thôi Bác chỉ thở dài và gật đầu buồn bã nhận ngay.
Trong cảnh ấm cúng của động hang trải đầy lá thông đây, Độc chỉ Thôi Bác bèn thuật lại cảnh tao ngộ của mình:
Sau khi lao mình từ trên cao xuống vực thẳm để tìm cái chết giải tỏa nỗi hận tình của mình ngờ đâu con linh điểu Đại Hắc, nó quá mến chủ, trong lúc nguy cấp ấy Đại Hắc đã tự động giơ ngay móng trảo của nó chụp ngay thân của Thôi Bác, từ từ hạ mình xuống, nhờ vậy cả chim lẫn người đều được bình an vô sự. Sau khi xuống đến nơi tìm hết các nơi một lượt, nhưng không thấy hài cốt của Ngọc Thụ Ky Nhân và Miêu Gia Diệm Nữ đâu, trong lòng bất giác nghi ngờ!
Thôi Bác đành đem theo Đại Hắc đi vào rừng thông, thoạt tiên chỉ thấy toàn các chú sóc lớn bé, rồi tiếp đó Đoạn Trường Nhân ngửi thấy một mùi thơm quái lạ. Ngay khi ngửi phải mùi thơm ấy, Độc chỉ Thôi Bác suýt ngất hẳn luôn, một mùi thơm mà đã lâu không được ngửi lại, vì chính mùi thơm thể hương của nàng tình nhân Miêu Gia Diệm Nữ! Không lý nàng té xuống đây sau hơn mười năm trời mà vẫn còn sống? Và cả người chồng Ngọc Thụ Ky Nhân cũng chưa chết? Nếu quả nhiên còn sống, Thôi Bác thân hành lại tạ tội trước mặt họ, đồng thời sẽ yêu cầu họ tái lại nếp sống của thế gian, và sẽ bảo Đại Hắc đưa họ về, và sau khi an bài xong mọi việc, Thôi Bác sẽ tự sát ngay trước mặt họ để tỏ lòng thành của mình, và thi hài sẽ do Đại Hắc đưa về Tả Diện Phong để chôn cất!
Cuối cùng tìm thấy hai bộ xương người, một thiếu nữ trần truồng và đang ăn trái với đám sóc, và chính mùi thơm thể hương đã tiết ra từ trên thân mình cô bé này, trên cổ cô bé lại đeo một dị bảo của trần gian, đó là báu vật trấn bang của Ngọc Thụ Thổ Ty xưa kia là cây Ngân hoa hỏa thụ. Trước cảnh bất ngờ và quá rõ ràng của sự kiện này, Độc chỉ Thôi Bác đã khóc sướt mướt, một cái khóc thấm thía nhất trong đời của vị Đoạn Trường Nhân.
Không biết có phải chính nhờ vật dị bảo Ngân hoa hỏa thụ đeo trên cổ của cô bé mà con ruột của mình được thoát cơn tai nạn bị té xuống vực thẳm này chăng? Độc chỉ Thôi Bác không tin, nhìn kỹ toàn thân thiếu nữ, không có một triệu chứng gì là tàn tật, trong lúc té đã nghiễm nhiên tránh khỏi thương tích, như thế chắc là công hiệu của dị bảo ngân hoa hỏa thụ?
Nhìn cô bé lúc đó không khác nào như bậc Nữ hoàng của loài sóc, ăn trái và đùa giỡn với bầy sóc.
Độc chỉ Thôi Bác lúc ấy dồn dập các tư tưởng ý nghĩ trong đầu: nào từ kinh hãi đến đau khổ, rồi hối hận, rồi vui mừng, rồi yêu thương... Và từ lúc đó bỏ ngay ý định tự sát, quyết chí nuôi con cho khôn lớn.
Độc chỉ Thôi Bác lại bồng ngay cô bé, bé ta không biết la khóc tiếng người, chỉ chí chóe kêu như tiếng sóc! Thôi Bác tay bồng con và tiếp tục tìm kiếm thêm, nhưng trong động ngoài hai bộ xương của Ngọc Thụ Ky Nhân và Miêu Gia Diệm Nữ ra, không còn vật gì khác hơn, hình như mọi vật đã quay về với đất. Thôi Bác thở dài não nề, Á Cơ khi sinh đẻ con gái ra chưa đặt tên, và nay với danh nghĩa bố ruột của bé gái, Thôi Bác bèn đặt tên A Hương cho nàng! Sau đi tìm gỗ rừng về làm áo quan để mai táng hai bộ hài cốt của người quá cố rồi lại tìm được một khối đá nhẵn nhụi về tạc chạm thành hai bức tượng, và công việc tạc tượng này đã được làm với thời gian khá lâu, và cũng từ đó, Độc chỉ Thôi Bác phải lo áo bằng lá cho A Hương che thân và dạy nàng tập nói tiếng người, tuy thời gian chẳng được bao lâu, nhưng vì có khiếu thông minh, A Hương cũng đã nói được những tiếng thông thường cần dùng.
Trong những ngày sống tại dưới vực thẳm này, Đoạn trường nhân Độc chỉ Thôi Bác đã tiêu ma thì giờ buồn hận của mình vào việc tạc tượng minh huynh và tình nhân của mình. Thôi Bác chỉ ước vọng sao có thể tìm ra đôi lời nguyền rủa của Ngọc Thụ Ky Nhân hay Miêu Gia Diệm Nữ, dù cho là những lời nguyền rủa tàn nhẫn đến bực tột đỉnh của tàn nhẫn! Nhưng tuyệt nhiên không thấy họ để lại một di tích gì, Thôi Bác quằn quại đau khổ trong lương tâm, không biết rằng vị minh huynh và vị tình nhân của mình trước khi bị chết có thông cảm cho tình cảnh của mình không? Hay là họ vẫn mang theo mối oán hận? Nay Thôi Bác cố sống, chẳng qua chỉ vì cho đứa con gái A Hương, hình như Đoạn Trường Nhân cũng ngầm hiểu rằng, có lẽ vợ chồng Á Cơ muốn mình đào tạo sao cho đứa con gái này trở thành hiệp nữ văn võ toàn tài! Nay dù mình có chết đi cũng chẳng chuộc gì được cho nỗi hận tình của mình, duy chỉ còn cách ráng hết tất cả nỗi ăn năn của mình để dạy dỗ cho A Hương, may ra nhờ đó mà bớt được nỗi khổ muôn đời của mình!
Tài năng của Độc chỉ thôi Bác, lẽ đương nhiên là dư sức dạy dỗ cho A Hương. Cô bé rừng rú này được Thôi Bá Bá dạy nói tiếng người ráo riết, và nàng cũng biết luôn cả loại ngôn ngữ của thần ưng Đại Hắc. A Hương đã tiến bộ nhanh chóng, thần ưng là bạn thân nhất của nàng, và những khi nhàn rảnh thường đưa A Hương đi chơi đó đây. Thấm thoát không bao lâu, vị Độc chỉ Thôi Bác lại tìm ra quyển ký sự của mình, và cuộc đời cứ âm thầm trôi qua mãi cho tới khi Liễu Mi đến.
Sau khi Độc chỉ Thôi Bác nói xong lại còn cho hay thêm một chuyện nữa rằng, sau khi được biết A Hương là con ruột mình, trong lòng như đã cảm thấy có nơi nương dựa về tâm hồn, bệnh ho bất trị xưa kia cũng đã mất hắn, đáng lý sống dưới hang động này không bị chết đói thì cũng chết lạnh, nhưng lạ thay đã không chết như vậy mà trái lại còn khỏi luôn cả bệnh bất trị là khác!
Liễu Mi nhìn lại, quả nhiên da mặt Thôi Bác hồng hào, tinh thần quắc thước hơn xưa nữa, và từ nãy đến giờ quả nhiên không hề ho một tiếng nào.
Nhưng Liễu Mi lúc này còn mải theo đuổi ý nghĩ riêng, miễn cưỡng cười và nói vài câu chúc mừng về sự may mắn. Liễu Mi đang lo nghĩ về số phận của người chồng tương lai của mình, thế bệnh thong manh trầm trọng này, thế nào cũng có dị bảo Ngân hoa hỏa thụ mới có thể cứu nổi, nhưng mãi đến giờ này, vẫn chưa thấy Thôi Bác nhắc đến chuyện trị bệnh này, mà trên cổ của A Hương lại không thấy đeo dị bảo này, hiển nhiên vật báu đã bị chôn theo với thi hài của vợ chồng Ngọc Thụ Ky Nhân!
Nếu phải đào mồ lên để dùng dị bảo chữa bệnh, Thượng Quan Linh biết chuyện này chắc sẽ không đời nào chịu vậy... và như thế, đôi mắt của Thượng Quan Linh đành chịu mang tật suốt đời sao!
Liễu Mi bi thương, tính tình lại bất khuất, nàng càng không muốn thấy hạnh phúc bị thiếu đi một đại chi tiết như thế, vẫn không bỏ một tia hy vọng nào, lên tiếng hỏi ngay:
- Kính thưa đại thúc! Nay cây Ngân hoa hỏa thụ hiện ở đâu?
Độc chỉ Thôi Bác vẫn lẳng lặng không trả lời, bầu không khí vô cùng yêu tĩnh tỏa khắp trong động thạch âm u. Liễu Mi cuống lên, Thôi Bác nhận ngay ra cô bé họ Liễu này đã phải lòng chàng Thượng Quan Linh, nên mới mạnh dạn hỏi gặn mình như thế.
Không thể nào trách nàng được! Thôi Bác tự nhủ lòng mình như vậy. Khi nhìn Thượng Quan Linh, thần sắc quá bình tĩnh của thiếu niên đã khiến cho vị Đoạn trường nhân Độc chỉ Thôi Bác đã phải sửng sốt bất ngờ, chẳng thấy chàng có vẻ hy vọng hay xúc động gì, trái lại chàng có ý gắt với người yêu đã dám hỏi vu vơ như thế. Quả nhiên lời đồn không sai, thì ra vị thiếu niên giang hồ mà là môn đệ của nhóm Càn Khôn Ngũ Tuyệt Nam bút Gia Cát Dật, tính ngay thẳng, hào hoa phong nhã, chẳng khác thầy là mấy, quả là người biết tôn trọng chánh nghĩa là lẽ phải, quí hơn nữa là nỗi lòng trọng nghĩa, không vì sự mù mắt của mình mà đi làm một việc bất nghĩa như thế.
Thượng Quan Linh không hổ danh là vị thiếu niên hiệp nghĩa anh hùng, một vị anh hùng trọng nghĩa như thế, hèn gì khi trải qua những cảnh ra sống vào chết, mà chàng ta vẫn ngang nhiên đổi chuyện hung dữ thành an lành vô sự.
Độc chỉ Thôi Bác cũng từng nghe đến tên của Thượng Quan Linh, nay mới chính thức được thấy mặt, nhưng vị Đoạn Trường Nhân hình như đã quen chàng ta từ lâu rồi. Gia Cát Dật và Túy Đầu Đà đều yêu mến chàng, Hầu Hạo và Đại Hắc đều là bạn thân của chàng, nhất là cô bé Liễu Mi tinh ranh mà mình thích ấy lại yêu say sưa Thượng Quan Linh vậy, nay xem kỹ ra, Thượng Quan Linh quả có rất nhiều điểm cho người ta thích mến lắm.
Thôi Bác lúc này cũng thấy mình có hảo cảm với Thượng Quan Linh, nếu nói về thông minh lanh lợi, quả chàng không làm sao bì nổi với Liễu Mi, nhưng nếu bàn về tâm tình căn cơ, Liễu Mi quả đã thua xa Thượng Quan Linh. Với võ công tuyệt thế hiện nay của mình, đến nay vẫn còn chưa tìm được một người nối nghiệp, vừa rồi có ý muốn thu Liễu Mi là nữ đệ tử, nhưng nay xem ra, Thượng Quan Linh có xứng hơn, nhưng tiếc thay người đã là cao túc của Nam bút Gia Cát Dật, mình đâu có lý đoạt ái đồ người ta, xem ra những bản lãnh tuyệt thế của mình, chỉ còn nước truyền hết lại cho A Hương mà thôi. Thôi Bác vì mải suy nghĩ liên miên, quên luôn câu trả lời, Liễu Mi không tiện hối hỏi, nàng chỉ còn một cách dùng một thứ vũ khí trời đã ban cho người đàn bà - khóc !
Đoạn Trường Nhân quả nhiên không chịu nổi tiếng khóc, bèn từ từ rằng:
- Cháu Liễu Mi! Cháu hãy nín nghe thúc thúc nói đây dị bảo Ngân hoa hỏa thụ đã chôn cất cùng với hai người bạn thân của thúc thúc, nó sẽ làm bạn cùng với vợ chồng Ngọc Thụ Ky Nhân...
Nghe vậy, Liễu Mi càng tuyệt vọng, nàng cố hùng hồn rằng:
- Kính thưa Thôi thúc thúc! Ngân hoa hỏa thụ vốn là bảo vật trấn bang của Ngọc Thụ Thổ Ty. Nay trên giang hồ đều xôn xao về việc dị bảo này bị thất lạc và còn nghe đồn rằng bang Ngọc Thụ vì đã mất báu vật này mà nay liên miên xảy ra tai ách hoạn nạn khắp trong vùng... Nay đại hiệp ngài chỉ lo chỉ có mỗi chuyện riêng vị kỷ của mình, mà không cần đếm xỉa đến hạnh phúc của đại đa số... Ngài đâu biết nỗi thống khổ của đám lê dân đang bị tai ách hành hạ liên miên...
Nói tới đây, nàng cố như nghẹn ngào nức nở thêm, Độc chỉ Thôi Bác cũng không khỏi cười thầm trong bụng: Con bé này quá ranh mãnh thật, mượn cớ thống khổ cứu lê dân Ngọc Thụ, trách ta vị kỷ, bộ ngươi không ích kỷ để cứu người yêu mà lại đi thương khóc thật cho đám dân vô danh ở Ngọc Thụ chăng? Tuy nghĩ trong bụng như vậy, nhưng Thôi Bác không tiện nói toạc ra, nay thấy nàng vẫn khóc sướt mướt, trong lòng tuy bất nhẫn, nhưng cũng chẳng lên tiếng nói gì. Liễu Mi càng khóc to, Thượng Quan Linh lên tiếng rằng:
- Liễu Mi! Sao em lại hồ đồ đến thế! Em cố cưỡng ép Thôi lão tiền bối như thế, có khác nào để thỏa mãn lòng ích kỷ của mình, như thế thì còn gì là đại nghĩa nữa...
Mấy câu nói này, nghĩa chánh từ thuận, Thôi Bác bất giác phải khen thầm, và càng mến thích tính hào hùng của Thượng Quan Linh.
Thình lình, Đại Hắc đang nằm bẹp mình bên cạnh bỗng kêu lên vài tiếng như đang bày tỏ ý kiến của nó với chủ. Liễu Mi đương nhiên không biết ý nghĩa gì? Thôi Bác bất giác thầm nhủ: Tên thiếu niên Thượng Quan này quả thật là người đang gặp vận may, nay đến cả con linh điểu Đại Hắc cũng không muốn hắn bị tật mù suốt đời, ngang nhiên cũng dám tỏ ý xin ta lấy dị bảo ra để chữa trị cho người bạn thân của nó.
Nghĩ xong, bèn từ từ rằng:
- Cháu Liễu Mi nói đúng, Ngân hoa hỏa thụ phải qui hoàn về xứ Ngọc Thụ...
Tuy câu nói ngắn, nhưng đối với Liễu Mi quả là một tin mừng vô kể, nhưng nàng không biết vị Độc chỉ Thôi Bác này sẽ dùng cách gì để lấy cấy dị bảo Ngân hoa hỏa thụ, nếu phải đào mồ bới mả, quả thật là không thể có hành động ấy được. Liễu Mi đằng này băn khoăn, thì Thượng Quan Linh đằng kia lập tức phản đối ngay:
- Hà lão tiền bối (họ của Ngọc Thụ Ky Nhân) và phu nhân đã mai táng cẩn thận, không thể nào có hành động vô nghĩa thế được, nếu Thôi lão tiền bối có ý muốn lấy dị bảo ấy ra, vãn bối không tán thành hành động ấy...
Trông thần sắc Thượng Quan Linh càng lẫm liệt oai phong, Thôi Bác càng thích thú và cười nói rằng:
- Dù Thôi Bác ta có già lẩm cẩm đến đâu đi nữa, trước kia đã lầm lẫn một lần, nay ta không thể nào bị mắc thêm cái lầm tai hại thứ hai nữa, cậu đừng ngần ngại gì... Tuy Ngân hoa hỏa thụ hiện nằm trong mộ, nhưng ta vẫn có cách lấy ra...
Liễu Mi mừng quýnh, nàng yên chí, lúc này nàng mới để ý sự kiện xung quanh, chỉ thấy A Hương đã ngủ say trong lòng của Thôi Bác, bên ngoài trời đã khuya, nàng cũng yên trí tìm một giấc ngủ thoải mái trong động thất ấm áp này.
Sáng hôm sau, Thôi Bác dẫn Thượng Quan Linh, Liễu Mi, A Hương, Đại Hắc, và trên mười mấy chú sóc nhỏ đến ngôi mộ.
Thượng Quan Linh vì bệnh mắt, nên không biết vị Độc chỉ Thôi Bác có diệu kế gì, nhưng Liễu Mi, A Hương, chim ưng Đại Hắc, ai nấy trố tròn mắt theo dõi hành động của Thôi Bác, chỉ thấy Đoạn Trường Nhân líu ta líu tíu, trên mười chú sóc lập tức chạy ngay lại quanh quẩn dưới chân Thôi Bác. Liễu Mi lập tức hiểu ngay dụng ý của vị Đoạn Trường Nhân, nàng kính phục ngầm. Sau những tiếng líu tíu một hồi của Thôi Bác, đám sóc lập tức thi hành nhiệm vụ, chúng xúm xít lại khoét ngay một lỗ hổng nhỏ nơi mộ, và cả đám sóc nối đuôi nhau chạy hết vào trong, chớp nháy, quả nhiên chúng đã không phụ sứ mạng. Trên mười chú sóc đã nghiễm nhiên tíu tít bưng ngay cây dị bảo Ngân hoa hỏa thụ ra, giao ngay cho A Hương, xong chúng lại hùa nhau lấp ngay lỗ hổng kín đáo lại. Hình như công việc này không phải là hành vi đào mả trộm báu gì, Liễu Mi vô cùng vui mừng, nàng thấy cây dị bảo Ngân hoa hỏa thụ chỉ lớn bằng ngón tay cái, hình thù trông tựa như một cây nhỏ bé, chiều dài lối bốn tấc trở lại, lá đều bằng bạc, cành toàn màu ửng hồng, ánh sáng óng ánh nhóa mắt, quả là một kỳ bảo trong trần gian. Lúc này thấy A Hương lấy tay cọ chùi dị bảo, Độc chỉ Thôi Bác bèn cười rằng:
- Hương ơi! Cháu hãy giao ngay bảo thụ cho chị Liễu Mi, và đi lấy nước suối ngay lại đây mau!
A Hương giao ngay cho Liễu Mi và chạy đi lấy ngay nước lại. Độc chỉ Thôi Bác ra lệnh chữa bệnh, Thượng Quan Linh ngồi xếp chân bàn tròn, Liễu Mi ra tay, nàng nhúng bảo thụ vào nước suối, từ từ thấm ngay vào mắt của Thượng Quan Linh, rồi kỳ tích đã xuất hiện ngay sau khi đó... Và ai nấy đang hồi hộp... Bỗng Thượng Quan Linh lớn tiếng reo lên:
- Em Liễu Mi! Hãy mau cám ơn Thôi lão tiền bối... anh đã thấy được mọi vật xung quanh rồi!
Sau khi khôi phục được nhãn lực, câu chuyện thứ nhất của Thượng Quan Linh là quì thụp ngay xuống tạ ơn vị Thôi tiền bối, xong lại hướng qua ngôi mộ của vợ chồng Ngọc Thụ Ky Nhân lạy tạ lễ lớn, rồi đứng lên vái dài A Hương, thần ưng Đại Hắc cũng lại cọ sát thân vào Thượng Quan Linh để tỏ nỗi mừng của nó. Lúc này ba người có ba tâm tình thầm kín khác nhau.
Liễu Mi lúc này mừng ứa nước mắt, vì nàng cảm thấy ước vọng của mình đã đạt tới mục đích! Nàng sung sướng hơn ai hết. Đoạn trường nhân Độc chỉ Thôi Bác, lúc này càng chăm chú quan sát khuôn mặt của Thượng Quan Linh, vị đại hiệp không khỏi ngẩn người về sự cấu tạo của tạo hóa, trong ngũ quan của con người, không dè đôi mắt lại chiếm một địa vị tối quan trọng đến thế. Thượng Quan Linh vừa rồi còn thong manh, tuy cũng thấy rõ các đặc tính: anh tuấn, hiền hậu, chính trực, nhưng vẫn có một thần sắc ngớ ngẩn dài dại thế nào, nay đôi mắt chàng sáng lại, quả trở nên linh động! Chỉ cảm thấy vị thiếu niên càng tỏ ra xuất chúng và hiên ngang lẫm liệt lạ!
Chả thế mà xưa kia nhà danh họa Lý Long Miên vẽ rồng mà không điểm mắt, vì truyền rằng nhà danh họa này vẽ rồng giống đúc như thật, sợ điểm thêm mắt, rồng sẽ bay về trời mất. Suy vậy đủ biết cặp mắt quan hệ là bực nào! Thôi Bác cảm thấy mình đã làm một công đức nhỏ cho hai trẻ đang yêu nhau, trong lòng cũng thấy thư thái dễ chịu.
Riêng phần nàng tiên A Hương, lúc này kinh ngạc hơn ai hết. Trước đây, nàng không hề cảm thấy anh Thượng Quan Linh này có gì lạ, nhưng bây giờ, trong khi vô tình làn nhãn tuyến của nàng đã ngó ngay vào đôi mắt của Thượng Quan Linh khiến nàng có một cảm giác kỳ lạ chuyển khắp trong người. Nàng không biết ngượng nghịu là gì, chỉ cảm thấy quái lạ, và cứ nhìn thẳng trân sang vị thiếu niên anh tuấn, hình như nàng tìm lại những cảm giác là lạ của cái nhìn ấy.
Phần Thượng Quan Linh, sau khi khôi phục lại nhãn lực của mình, chàng sung sướng như muốn đón nhận tất cả mọi cảnh sắc đang xảy ra xung quanh mình, nào cảnh sắc nên thơ của động hang, nào oai hùng của Đại Hắc, nào những chú sóc dễ thương tung tăng, nào bộ mặt hiền từ của Thôi tiền bối đại hiệp, nào khuôn mặt đẹp của ý trung nhân Liễu Mi.
Nhưng sự kinh ngạc sau cùng của chàng là: một thiếu nữ như tiên giáng thế, thân tuy chỉ mặc áo kết bằng lá, một vẻ đẹp hồn nhiên, và càng kinh lạ hơn nữa nàng đã tiết ra một mùi thơm lạ lùng của thể hương! Thượng Quan Linh ngẩn ngơ như kẻ mất hồn, chỉ nghe chàng lẩm bẩm buột ra tiếng nói:
- Trời.... Rõ đúng là tiên nữ hạ phàm!...
 
0
Hồi 063. Trận Đấu Trên Lãnh Hương Các
[/align]

Buột miệng lỡ thốt ra câu nói ấy. Thượng Quan Linh biết mình đã thất lễ, chàng hấp tấp thu ngay tia nhìn của mình về, mặt đỏ tai tía, liếc nhìn sang Liễu Mi, thấy nàng có vẻ cáu giận; đương nhiên khắp đàn bà con gái trong thiên hạ, ai mà chẳng: ớt nào là ớt chẳng cay, gái nào là gái lại không hay ghen tình! Thượng Quan Linh bị Liễu Mi trừng mắt, chàng vụt cúi đầu ngay, nhưng những thái độ nhanh như chớp ấy, vẫn không sao tránh khỏi đôi mắt lão luyện của Độc chỉ Thôi Bác. Vị Đoạn Trường Nhân không khỏi thoáng nghĩ đến tương lai số phận của con gái mình, tuy lúc này nàng còn nhỏ tuổi, dưới sự đào tạo dạy dỗ của mình, đương nhiên sẽ không gặp trở ngại gì để khiến cho con gái mình trở thành một vị nữ hiệp văn võ song tài.
Xưa kia mẹ nàng Miêu Gia Diệm Nữ, cũng vì điều kiện kén chồng quá gắt gao, nên đã gặp nhiều khó khăn và phiền toái, vì trong những bài dân ca chua chát của miền Miêu khu đã có những câu: Nhan sắc của em đã khiến anh phải tôn thờ như một vị tiên nữ! Anh không còn dũng lực nào để xâm phạm đến thánh thể... Và tình yêu của anh đã thành thứ tình kính nể tiên nhan.... Cứ xét trong các ý nghĩa của các câu ca dao đó đủ biết xưa Miêu Gia Diệm Nữ cũng từng ngầm khóc than thân về duyên kiếp của mình là dường nào!
Sau này lấy được Ngọc Thụ Thiếu Tù và cũng vì sắc đẹp của nàng mà tai biến thê thảm cho chồng trong vụ thảm án Tần Trung Thất Điểu, rồi liên miên những bi hận tình nối tiếp. Hồng nhan đa mệnh bạc, cổ kim vẫn thế, nay A Hương đã kể như trưởng thành, nhưng nhan sắc không thua gì mẹ, Thôi Bác lo lắng trong lòng, rất có thể vì nàng có nhiều điều kiện ưu tú, mà chịu chung số phần con đường của người mẹ cũng chưa chừng. Đương nhiên, A Hương không thể nào không lấy chồng, mà dưới vòm trời này, chắc không còn tìm ra chàng trai trội hơn như Thượng Quan Linh, tính tình hiền lành chánh trực, văn tài cũng khá, căn cơ võ công cũng cừ, nhất là lại được ăn Tuyết bi tiên hoa, có thể là siêu phàm nhập thánh, tương lai sẽ thành một ngôi sao sáng chói và nhân vật Đệ nhất trong võ lâm! Nhất là phúc đức lại được trời hậu đãi như thế, mấy lần nguy nan, đều tai vạ hết! Nếu ái nữ của mình có thể sánh duyên với chàng thiếu niên này, rõ đúng là một lương duyên đúng lý tưởng!
Nhưng có điều đáng tiếc là con gái thứ nữ của Thanh Thông bang chủ, mà con bé này lại tinh ranh ma quái không ai bì kịp, đời nào chịu buông bỏ Thượng Quan Linh, và tính tình chung thủy triệt để của chàng cũng không thể nào phụ lòng Liễu Mi. Sau khi nghĩ vậy biết không thể nào thực hiện ý định này. Thôi Bác trầm tư suy nghĩ, từ nay chân trời góc biển, biết tìm đâu ra một chàng trai lý tưởng như Thượng Quan Linh? Độc chỉ Thôi Bác bất giác cảm thấy bổn phận của kẻ làm cha quả thật nặng nề trong lòng bất giác u sầu. Lúc này, thần sắc bốn người đều khác nhau hẳn, Thôi Bác buồn rầu, Liễu Mi vẫn chưa nguôi cơn ghen gió của mình, A Hương hồn nhiên, nàng đâu có biết mình đã vô tình gây họa ra, Thượng Quan Linh ngồi xếp chân bàn tròn, mắt nhìn mũi, mũi nhìn miệng, miệng không nói nhưng đã tự nhủ lòng: Rõ khổ! Tình ơi là tình!...
Thời gian đã trôi đi bao lâu? Không ai biết, mà cũng chẳng muốn biết, mọi sự đang im lặng và im lặng một cách nặng nề, nhưng thình lình thần ưng Đại Hắc kêu lên một tiếng lớn, mọi người giật mình kinh tỉnh, chỉ thấy Đại Hắc đang ngậm một bức thiệp trên mỏ và đưa lại cho Thượng Quan Linh.
Thượng Quan Linh nhận ngay bức thiếp lớn giọng đọc:
Chữ gửi Thượng Quan huynh và Liễu Mi tỉ! Đinh Hãm đã trốn thoát, tình hình đang khẩn cấp tại Lãnh Hương Các, mong mau về cứu viện. Đệ Hầu Hạo bái thượng!
Đọc xong Thượng Quan Linh lớn tiếng cuống rằng:
- Chúng mình mau mau về ngay!
Đoạn trường nhân Độc chỉ Thôi Bác lập tức sai ngay Đại Hắc na ngay hai bức tượng đá lên trước, và mọi người theo lên luôn bằng cách đu theo dây đeo. Khi lên đến đỉnh, thấy Hầu Hạo và Sở Canh đều đứng chờ sẵn, hai người thấy Thượng Quan Linh đã khỏi bệnh mắt, vui mừng khôn tả. Độc chỉ Thôi Bác và A Hương lên chuyến thứ hai, Hầu Hạo và Sở Canh bèn qua làm lễ tham kiến, hỏi han vui mừng! Ai nấy vội hấp tấp lo về ngay Lãnh Hương Điện. Hầu Hạo chỉ sợ không kịp, bèn mời ngay Liễu Mi cưỡi ngay Đại Hắc về trước, còn đằng này Độc chỉ Thôi Bác, A Hương, Thượng Quan Linh, Hầu Hạo, Sở Canh, sẽ đi theo lối sơn đạo về ngay ngọn chủ phong của núi Mặc Phụ là Lãnh Hương Điện. Từ ngày Thượng Quan Linh ăn được Tuyết bi tiên hoa, đã nghiễm nhiên trở thành một người thần lực cái thế, ngay lúc này chàng phụ trách mang theo một bức tượng. Bức tượng kia do Sở Canh và Hầu Hạo vác, hai anh chàng này trước kia vốn đã nổi danh mạnh, sức nặng lúc này đối với họ, quả thật không thành vấn đề.
Nhắc về Liễu Mi, nàng lo cưỡi ngay thần ưng Đại Hắc bay thẳng ngay về Lãnh Hương Điện trước, linh tính hình như đã báo cho nàng có chuyện không lành, vội lên tiếng nói với Đại Hắc rằng:
- Ưng lão huynh ơi! Xem ra hình như có chuyện chẳng lành!
Thần ưng Đại Hắc gật đầu lia lịa, chỉ nghe Đại Hắc luôn luôn lên tiếng kêu lớn, hình như nó muốn có cuộc đại chiến để mặc sức tung hoành một trận cho thỏa lòng bấy lâu bị giam hãm dưới đáy thẳm Tả Diện Phong. Liễu Mi quay đầu nhìn mọi người, nhưng nàng chưa thấy ai theo kịp, nàng cho rằng có lẽ vì hai bức tượng đá nên cuộc hành trình của họ bị chậm trễ cũng nên.
Liễu Mi thấy thần ưng Đại Hắc không có vẻ sợ hãi gì, nàng cũng bạo gan hẳn, nhân ngay lúc Đại Hắc bay sà xuống ấy, chỉ nghe gió núi rít lên vù vù, sức lạnh buốt càng kinh người, tứ bề im phăng phắc? Liễu Mi cất tiếng gọi:
- Chị Đông Phương Đình!... Châu Sách ơi!... Châu Chu ơi!...
Thình lình Liễu Mi phát hiện khắp chung quanh, toàn nhóm môn đệ què chân gãy tay, mặt mũi kinh dị rùng rợn, chính là đám thủ hạ của Độc Ma Phi Các ma cung. Ngay trước cửa chánh Lãnh Hương Các ấy, cửa động mở lớn, Độc Ma ngồi oai vệ trên chiếc liễn xa của mình, bốn đại đệ tử đứng hầu hai bên là: Đinh Tàn, Đinh Hãm, Đinh Hủy, Dinh Phá. Nhìn kỹ lại, Liễu Mi than khổ thầm trong bụng, chỉ thấy chị em Song Điệp Châu Sách, Châu Chu, Đông Phương Đình cùng với một người đàn bà đẹp, đều bị nhóm người ghê tởm của Ma Cung bắt trói ngay vào cạnh liễn xa.
Liễu Mi lớn tiếng rằng:
- Độc Ma! Thôi đại hiệp sắp đến nơi rồi... và người không thấy thần ưng Đại Hắc đã có mặt tại đây sao? Biết điều hãy mau mau thả ngay họ ra? Và ta có thể lượng tình Thôi đại hiệp tha thêm một lần nữa cho ngươi...
Độc Ma trên liễn xa cất tiếng cười quái gở lạnh lùng! Khiến kẻ nghe phải kinh hồn rợn người, dứt tiếng cười bèn rằng:
- Con ranh tai quái, bộ lại tính bịa chuyện dùng quỉ kế với bản chủ nhân Tiên Cung đây sao? Thôi Bác và đại ưng đã chết từ lâu, thế mà con ranh tai quái lại cả gan dùng những bức tượng sắt để dọa bọn ta, lại còn bắt nhị đệ tử Đinh Hãm của ta. May là nó đã khám phá ra quỉ kế của các ngươi, nên nay ta quyết đem quân trên Vô ảnh Phong lại, vậy con ranh còn gì để chối cãi nữa?... Nay chị em Song Điệp và người mẹ Ngọc điệp Châu Phụng từ miền Giang Nam đến và cả em Hầu Hạo là Đông Phương Đình đều đã bị chúng ta bắt, bản giáo chủ đây cũng thừa biết ngoài ranh con tai ác ngươi ra, còn tên Hầu Hạo, Sở Canh, và cả tên thiếu niên Thượng Quan. Nghe đâu tên Thượng Quan Linh đã ăn được Tuyết bi tiên hoa, vậy càng hay, nay ta sẽ bắt sống hết trọn ổ lũ ngươi, nhất là tên thiếu niên họ Thượng Quan ấy, bản giáo chủ sẽ hết lòng hậu đãi bằng cách: moi gan tim nuốt sống! Được như vậy, bản giáo chủ ta cũng như đã ăn được Tuyết bi tiên hoa đó sao? Vậy con yêu con chờ gì mà còn không cúi quì mau xuống chịu trói cho rồi. Chẳng lẽ còn đợi bọn ta ra tay mới chịu sao!
Liễu Mi hận ngầm trong bụng, không hiểu nhóm Thôi Bác sao bây giờ vẫn còn chưa tới, với sức lực của mình và cộng thêm sức của Đại Hắc, liệu có thể chống đỡ đến lúc họ tới kịp không!
Nhưng nàng lập tức suy nghĩ ngay: cần tránh đòn nặng để chịu đòn nhẹ, lúc này đừng dại ra tay đối địch với chúng, cứ việc đấu láo với chúng để làm kế hoãn binh chờ cho viện binh phe mình tới là thượng sách hơn cả. Nghĩ vậy Liễu Mi bèn cười rằng:
- Này Độc Ma! Nhà ngươi đã lầm to rồi! Trong chuyến trước, ta đã nói láo để gạt phỉnh ngươi, nhưng kỳ nay ta không nói đùa nữa đâu, hãy xem đây! Không phải là thần ưng Đại Hắc của Thôi đại hiệp là gì?... Cho hay thói thường của người dễ bị mắc lừa là vậy, khi người ta nói phét ba hoa chích chòe thì tin lên tin xuống, hễ người ta khai thiệt, lại cho là ba trợn, xạo...
Thần ưng Đại Hắc quát lên một tiếng oai hùng lẫm liệt, khắp đám đệ tử Ma Cung nghe tiếng kêu của Đại Hắc, ai mấy giật mình xanh máu mặt thất kinh ngơ ngác.
Độc Ma vẫn không tin mà cười rằng:
- Con yêu con? Không biết lại tìm được con nghiệt súc này ở đâu để lại dọa bọn ta, thôi cũng được.
Đinh Hãm, Đinh Phá, hai con hãy ra quần trước, và bắt sống con ranh con cùng giết luôn con nghiệt súc ấy luôn.
Đinh Hãm, Đinh Phá tuân lệnh, cả hai tung mình ra, Liễu Mi thấy kế hoạch hoãn binh của mình không xong, cũng đành cắn răng nói với linh điểu:
- Ưng lão huynh! Đến nông nỗi này, chúng ta cũng hết cách rồi, đành liều một trận với chúng trước vậy.
Linh điểu Đại Hắc lại kêu lên một tiếng lớn vỗ cánh bay vèo ngay lại địch thủ, Đinh Hãm vội phạt ra ngay một Phách không chưởng, đánh trúng ngay vào thân Đại Hắc nhưng vẫn thấy Đại Hắc nguyên thế bất biến, mỏ và trảo sắc bén của Đại Hắc lao toàn thân về mình của Đinh Hãm.
Đinh Hãm lúc này mới hoảng hốt kêu rối lên:
- Nguy rồi! Nó là thứ thiệt đây!
Dứt tiếng vụt quay nhanh và lăn ngay dưới mặt đất, Đại Hung Đinh Tàn thấy vậy, khẽ nhún ngay chiếc độc cước của mình bung vọt qua giải cứu. Hai người hợp sức cùng lo đối địch với Đại Hắc, và nhờ công lực tuyệt cao của Đinh Tàn, nên hai người mới tạm ngang sức với Đại Hắc. Một cuộc chiến khốc liệt giữa người và chim ưng diễn ra tưng bừng.
Bên này Đinh Phá nhảy lại bắt Liễu Mi. Tên tứ hung Đinh Phá này biết công lực của mình hơn Liễu Mi, hắn tỏ vẻ không hấp tấp gì, lên tiếng đùa cợt:
- Này cô bé họ Liễu kia! Hãy ngoan ngoãn theo ta cho rồi! Nếu không!... Hờ! Hờ!...
Liễu Mi thấy thần ưng đã giao chiến, biết thế nào nó cũng kéo dài được cuộc đấu một cách dũng mãnh, làm sao cầm cự chờ cho cứu viện đến kịp thì hay quá, nàng không muốn giao tranh ngay với Đinh Phá trong lúc này, nên cứ nói lăng nhăng:
- Này, nếu ta đầu hàng, thì ngươi sẽ làm gì?
Đinh Phá đảo mắt cười dê rằng:
- Liễu cô nương! Bộ cô không sợ tôi lột hết quần áo của cô ra sao! Và sẽ cho trưng bày trần truồng sống động trước mắt toàn bản môn đệ của Phi Các tiên cung, khiến chúng có một diễm phúc để chiêm ngưỡng một thân hình tuyệt đẹp của trinh nữ Nhị tiểu thư của Thanh Thông Hội, chắc cô vui lòng giúp nhãn phúc của chúng ta chứ! ... Ha ! Ha! Ha!...
Những câu nói khích này, dù không muốn ra tay giao tranh, nhưng mặt cũng đỏ vì thẹn, trong lòng người đẹp cả giận, vung luôn chưởng hét lên một tiếng và bửa ngay ra. Đinh Phá không hấp tấp, hắn chuyển nhanh mình tránh đòn, Liễu Mi lại giơ luôn song chưởng từ ngực ra. Ào một tiếng, một ngọn kình phong ác liệt bắn vọt ngay sang phía ngực của Đinh Phá! Tứ Hung nắm chắc quả đấm thôi sơn của mình, nhanh như điện chớp, đấm sang bả vai bên mặt của Liễu Mi, nàng vừa giải được thế của địch, cánh tay phải của Đinh Phá đã móc ngược lên, chờ nàng vung chưởng lên nghênh, và cũng ngay lúc này thế đánh quái lạ của phiên tăng đã xuất hiện thình lình, chỉ thấy hắn khom nhanh người, bung vọt ngay lại phía sau Liễu Mi, hai tay cùng phát ra, vận chỉ như gió, nhằm cắm vào các nơi trọng huyệt sau lưng của nàng.
Liễu Mi vội xoay nhanh song chưởng, vung bửa liên miên về phía sau, may là Đinh Phá không chủ tâm muốn liều chết với địch, và ngọn Phá phủ trầm châu (bửa thủng thuyền để chìm đáy sông) được thu lại ngay. Cả đôi bên đều tung mình nhảy nhanh ra ngoài vòng chiến, rồi họ xáp ngay lại và càng đánh hăng hơn trước. Chuyến này hình như Đinh Phá đã nổi khùng, chợt thấy hắn vận bộ đứng vững tấn, bửa ngang ra một chưởng. Liễu Mi lập tức cảm thấy chưởng phong lợi hại đang tiến sang phía ngực mình. Tuy nàng đã nhoáng nhanh người tránh, nhưng cũng bị ngọn chưởng lướt trúng sơ, thân liễu nàng hơi loạng choạng.
Nàng lùi ngay nửa bước, nghĩ rằng: Tên ma sống này! Hình như công lực đã tiến khá hơn trước nhiều! Trời ơi! Sao giờ này Thượng Quan Linh và Thôi lão tiền bối còn chưa tới kìa! Nhưng thời gian không cho phép nàng suy nghĩ nhiều. Đinh Phá lại bắt đầu mở thế đánh, Liễu Mi thình lình quay vọt thân, đột nhiên đá mạnh ra một đòn, vừa nhanh vừa hiểm! Phiên tăng né tránh không kịp, chỉ nghe bịch một tiếng, mông đít của Đinh Phá bị trúng đòn, còn tay của Đinh Phá, suýt nữa cũng nắm ngay được gót sen của người ngọc!
Đinh Phá nhờ da thịt dày dạn, công lực lại cừ giỏi, sau khi trúng một đòn cước của Liễu Mi, toàn thân chỉ hơi lảo đảo, và hắn vẫn cười với vẻ mặt dày rằng:
- Này Liễu cô nương! Cô thử đá thêm ngọn nữa đi xem tôi có bản lĩnh chụp được gót sen của cô không nào? Và nếu có ngán thì ta cũng chẳng ép làm gì.
Liễu Mi nghe vừa thẹn vừa tức! Nhưng quả thật mình không sao thắng nổi hắn, cũng không biết tính cách gì hơn, liếc nhìn qua phía đại ưng, chỉ thấy anh em họ Đinh Đại Hung và Nhị Hung đang ác chiến kịch liệt với linh điểu Đại Hắc, đôi bên chưa phân rõ thắng bại. Liễu Mi đang lúc rối tưng bừng và chờ đợi sự cứu viện tới, thì đằng này, Đinh Phá lại cười nham nhở tiến sát ngay lại rằng:
- Liễu cô nương! Tôi không thể nào đùa dai với cô nữa đâu! Vì thầy tôi đã hạ lệnh bắt sống cô, tôi không có cách gì hơn! Vậy xin cô hãy ngoan ngoãn theo tôi một chuyến! Đừng để tôi phải ra tay, e lỡ xé rách quần áo của cô chắc không đẹp mắt gì...
Liễu Mi thấy sắc mặt xấu xí của Đinh Phá tiến gần lại, nàng hoảng hốt nhảy nhoáng ngay thân, đồng thời đánh bung ra một chưởng, nhưng chỉ nghe Đinh Phá lạnh lùng rằng:
- Rõ thật là rượu mời không uống đi uống rượu phạt! Thôi được! Vậy để ta ra tay xé áo trước xem có chịu nhục không cho biết tay!
Dứt lời, hắn vung ngay ra song chưởng với những thế quái lạ, Liễu Mi không tài nào tránh, trong lòng nàng chỉ cuống và cảm thấy tuyệt vọng. Ngay lúc nguy cơ đang chập chờn khắp xung quanh Liễu Mi, thình lình có tiếng hét lớn lên:
- Liễu Mi muội chớ hoảng sợ! Ngu huynh đã tới đây!
Thượng Quan Linh đã đến đúng lúc. Tiếng hét ấy đã khiến cho Đinh Phá chùn ngay thế đánh lại, Liễu Mi thuận thế tung nhanh ngay mình ra tránh ngay vòng chiến. Thượng Quan Linh vốn căm giận đám thầy trò Độc Ma, nay lại sẵn khối đá tượng khá nặng trong tay, chợt chàng vận ngay thần lực của mình quăng ngay khối đá sang đỉnh đầu Đinh Phá!
Khối đá nặng ít nhất cũng đến bốn năm trăm cân, chỉ nội giơ lên cũng thấy khó khăn, huống hồ đằng này lại quăng ném ra, Đinh Phá thấy khối đá kếch sù đang lao vù vù như một Thái sơn áp đỉnh về đỉnh đầu mình. Hắn cuống cả chân tay, định đưa tay ra đỡ nhưng lại ngại không nổi, tính nhảy tránh cũng không kịp! Đang cơn nguy như trứng chim rớt xuống đá ấy may nhờ Tam Hung Đinh Hủy vọt tung mình nghiêng ngay ra, giơ luôn hai tay hứng chịu ngay khối đá, chỉ thấy sau khi hứng được khối đá, toàn thân Đinh Hủy đã bị dội lui luôn ba bước. Thượng Quan Linh thấy Đinh Hủy thần lực dũng mãnh như vậy, đúng là tay đối thủ xứng đáng của mình, chàng quát lên một tiếng lớn, vung cả hai chưởng bủa ào tới, Đinh Hủy hấp tấp liệng ngay tảng đá xuống đất để lo nghênh địch. Sau khi chưởng lực của hai bên đụng độ bùng một tiếng dữ dội vang lên, Tam Hung Đinh Hủy của Vô ảnh Phong bị bắn bổng người lên và văng tuốt ra khá xa.
Đinh Hủy có nằm mơ cũng không thể nào ngờ tên oách Thượng Quan Linh này, nay công lực lại tiến một cách kinh khủng như thế. Lúc này hắn chỉ thấy Thượng Quan Linh đang tung người chạy đến và bồi thêm một chưởng, cát bụi bay mịt trời, Đinh Hủy cả kinh hồn, vội lăn lốc dưới đất để né tránh thế đánh quá dũng mãnh của đối thủ.
Thượng Quan Linh lúc này đang nổi cơn hứng, chàng mở ngay Đinh Giáp Khai Sơn bửa chém túi bụi. Thượng Quan Linh lúc này đâu còn như xưa nữa, nhất là sau khi ăn Tuyết bi tiên hoa. Đinh Hủy đâu phải địch thủ của chàng, mắt thấy sắp bị thua đến nơi. Còn lại tên Tứ Hung Đinh Phá, đã gặp ngay Hầu Hạo và Sở Canh tiếp đánh riêng thành một nhóm, khiến không làm sao thoát thân để cứu nhau. Nhị Hung Đinh Hãm vội dừng ngay cuộc giao tranh với linh điểu Đại Hắc, hấp tấp tung mình sang hợp cùng với sức của Đinh Hủy biến ngay thành thế hai chọi một, chống cự với thế đánh quái ác liệt của Thượng Quan Linh. Nhờ Đinh Hãm là tên quỉ quyệt xảo trí, chỉ trong nháy mắt bên phe hắn đã giữ được thế đánh quân bình ngay. Đôi bên lúc này chưa nhận ra phần bại về ai; bên này, sau khi Đinh Hãm chạy sang phụ sức với Đinh Hủy, thần ưng Đại Hắc càng hiểu rõ thần oai của nó, với hai cánh dực phong ào ào, đôi trảo sắc bén và chiếc mỏ lợi hại ấy hắn luôn luôn khiến địch thủ phải kinh hồn bay vía về lối đánh độc đáo trên không của nó!
Nhưng đại đệ tử của Độc Ma trong Phi Các ma cung của Vô ảnh Phong, Đại Hung Đinh Tàn, quả là tay cao thủ tuyệt luân, tuy là người đã mất một tay và một chân, nhưng với thân hình linh động và công lực khá cao ấy, hắn vẫn nghiễm nhiên ung dung giúp sức sư đệ, Đinh Tàn vẫn có thể cầm cự nổi với loài chim ưng hung dữ khôn lanh như Đại Hắc này.
Trong nháy mắt, bộ tứ của Tứ Hung Vô ảnh Phong đã ra tay đối địch hết các quần anh chánh phái của Lãnh Hương Điện. Trên liễn xa Độc Ma lẳng lặng theo dõi cuộc chiến!
Bỗng nhiên, ai nấy đã nhận ra phía đằng xa một người ăn mặc theo lối nho phục thư sinh, đứng khoanh tay nhìn trận chiến, nét mặt lộ vẻ tươi cười, không ai xa lạ, người ấy chính là người lừng danh nổi tiếng và được liệt vào hạng Đệ nhất cao thủ trong thiên hạ: Đoạn trường nhân Độc chỉ Thôi Bác!
Độc Ma cảm thấy lỗ chân lông mình co rúm lại vì ớn sợ, toàn thân đã toát mồ i lạnh. Chuyến này không thể nào mà không tin lời nói của Liễu Mi nữa. Thôi Bác quả nhiên không chết, nay lại đã xuất hiện ngang nhiên tại đây, xem ra trận chiến này, phía Vô ảnh Phong chắc khó lòng mà hy vọng thắng nổi. Đồng thời thấy một thiếu nữ đứng cạnh Thôi Bác, ăn mặc lại kỳ dị lôi thôi, nhưng nhan sắc lại tuyệt đẹp, thân hình mặc toàn áo váy bằng lá, trước cổ không hiểu đeo vật trang sức gì mà ánh sáng lấp lóe chói mắt.
Độc Ma vốn là người thấy nhiều hiểu rộng, biết ngay đây là báu vật Ngân hoa hỏa thụ của Ngọc Thụ thổ ty là loại báu vật trấn bang của Ngọc Thụ, cũng là một dị bảo có thể sánh ngang hàng với chiếc Tiểu Đoạt Hồn Kỳ của Thanh Thông Hội, một dị báu ít thấy trong trần gian. Độc Ma vốn đã muốn hạ lệnh cho môn đệ giải tán ngay, nhưng sau khi thấy báu vật hiện ra trước mắt mình, động ngay lòng tham, trong thâm tâm đang đầy tràn hy vọng tính cướp đoạt, bèn ngồi trên liễn xa nghĩ kế làm sao đoạt được về tay mình.
Lúc này! Chỉ nghe một tiếng hiệu lệnh của Độc Ma phát ra, khắp tứ phương bát hướng, môn đệ của Ma Cung ồ ạt tiến ngay vào. Một cảnh hỗn loạn tưng bừng diễn ra, Liễu Mi cả giận, cây trường kiếm trên tay vung ngay lên những ánh bạch quang rồng bay rắn lượn, các tiếng hét rú thất thanh vang lên liên miên. Độc Ma thấy thế của phe mình bị nguy hẳn, tay phải khẽ giơ ngay lên tính dùng ngay đến tính mạng của bốn người bị trói cạnh liễn xa, để bắt đối phương phải đình chiến, nhưng nào hay hành động của Độc Ma không sao tránh khỏi đôi mắt canh chừng chặt chẽ của Độc chỉ Thôi Bác. Tay mới vừa giơ lên, bỗng đã nghe một tiếng Oang!... dội lên xé không gian, một vật bay nhanh đến và quất trúng ngay ngón tay của Độc Ma, đau nhói thấu tim phổi, Độc Ma vội thu thế lại ngay.
Có tật giật mình, Độc Ma lén liếc nhìn qua phía Đoạn trường nhân Thôi Bác, chỉ thấy người ta vẫn đứng ung dung thản nhiên như không có chuyện gì xảy ra. Bỗng nghe Độc chỉ Thôi Bác lên tiếng rằng:
- Cháu A Hương! hãy lại cởi ngay dây trói cho dì và ba chị kia đi...
Thiếu nữ rừng rú nghe lời và lướt thướt bước ngay lại, hình như A Hương không biết sợ là gì, tay không chân đi đất, ngang nhiên bước lại phía liễn xa. Chỉ thấy trên khuôn mặt đẹp như tiên nữ của nàng đang mỉm cười hồn nhiên. Độc Ma trên liễn xa cũng phát ngẩn người, thầm nghĩ, con bé này là ai kìa? Sao lại có thể đẹp đến thế được? Nếu mình bắt được về Ma Cung, thế nào nàng cũng là hoa khôi của Phi Các tiên cung...
Còn mải suy nghĩ, chợt thấy thiếu nữ được gọi A Hương đã đến sát ngay liễn xa, và thấy nàng đang đưa tay lên cổ gỡ ngay cây dị bảo Ngân hoa hỏa thụ, tính cắt ngay dây trói trên mình của Ngọc điệp Châu Phụng.
Độc Ma thình lình sực nghĩ, đâu có thể nào để cho mất đám con tin này được, nghĩ vậy thình lình giơ ngay tay mặt ra!
Bỗng lại một tiếng Oanh vang ngân lên, Độc Ma hoảng hốt biết lợi hại, vội rụt nhanh tay lại, không dám thử liều nữa. Nhìn sang phía A Hương, chỉ thấy thiếu nữ như tiên đã cắt đứt hết dây trói Ngọc điệp Châu Phụng, Thanh điệp Châu Sách, Hồng điệp Châu Chu, Đông Phương Bình, bốn người được cởi trói. Thấy cảnh khẩn trương của trận đánh đang diễn tưng bừng, Liễu Mi đang tung hoành dọc ngang trong đám đệ tử của Ma Cung, nhưng vì chúng quá đông, cuộc đánh phá của nàng cũng khó khăn, Ngọc Điệp hét lên một tiếng cùng với hai cô con gái xông ngay vào trận, thôi thì tả xung hữu đột, quyền cước tỏa như pháo bông, chẳng mấy chốc họ đã cướp được binh khí trong tay. Lúc này khí thế lại càng như hổ thêm cánh, cùng hợp sức với Liễu Mi, chẳng khác nào như bốn bướm hái nhụy bẻ hoa, bửa chém như vào chỗ không người.
Tiếng hò reo giết chóc vang khắp toàn ngọn Lãnh Hương Điện, cả đến Độc Ma cũng cảm thấy rùng mình táng đởm, tính ra tay nhưng lại sợ Thôi Bác can thiệp, dần dà đệ tử của phía Ma Cung bị chết và bị thương cứ tăng thêm dần. Tiếng kinh thét gào kêu thảm thiết, át luôn cả tiếng binh đao!
Kẻ không biết võ công là Đông Phương Bình, lúc này như vừa sực tỉnh cơn mộng, nàng cảm thấy mến A Hương, dắt ngay tay nàng và bước lại phía Độc chỉ Thôi Bác.
Đoạn trường nhân Thôi Bác cười nói rằng:
- Hương ơi! Đây là chị Đình của con đó!
A Hương thản nhiên lên tiếng:
- Chào chị Đình!
Đông Phương Đình càng cảm mến nàng thêm và cũng gọi lại:
- Em Hương!
Thôi Bác liếc nhìn toàn trận chiến xong, bèn căn dặn hai nàng:
- Ta muốn xem rõ trận chiến ra sao? Vậy hai cô hãy để ý tên ma già ngồi trên xe kia nhé! Nếu thấy hắn rục rịch gì hai cô hãy báo ngay cho ta biết!
Hai thiếu nữ tuân lệnh, quay ngay tia nhìn về phía Độc Ma trên xe, và vị chủ nhân của Phi Các ma cung trên Vô ảnh Phong lúc này cảm thấy mình hình như đang ngồi phải lửa, trong tâm thần rối cuống lên. Chỉ thấy trong trận chiến thần ưng Đại Hắc độc đấu với Đinh Tàn, đang chiếm nhiều ưu thế. Đinh hãm, Đinh Hủy lo chống cự với Thượng Quan Linh, hình như cả hai đã cảm thấy khó thắng nổi với thế đánh như bài sơn đảo hải của Thượng Quan Linh. Đinh Phá bị sự công đánh tưng bừng của Hầu Hạo và Sở Canh, Đinh Phá cũng bị yếu thế hẳn và hắn chỉ còn nước lo thủ đòn mà thôi. Còn tứ nữ hổ tướng đang tung hoành thả tay giết chém tưng bừng các đệ tử của Ma Cung, và đã trên phân nửa đệ tử bị chết lẫn bị thương nặng. Độc Ma đau lòng, biết khó lòng mà thắng nổi trận này, vừa tính lên tiếng cho toàn nhóm rút lui, miệng vừa há ra, A Hương lập tức mách ngay rằng:
- Thôi bá bá! Miệng người kia sắp kêu kìa!
Chỉ thấy Độc chỉ Thôi Bác thân hình không động đậy chỉ thấy đưa tay phạt lên một cái, một vật tròn lạ bay nhanh ngay về phía mặt của Độc Ma! Chủ nhân Ma Cung thất kinh, vội đưa tay lên gạt, nào hay khi đưa tay lên đụng đến, chỉ cảm thấy như đụng phải cục than lửa, vừa rát vừa bỏng, vội rút ngay tay về, vật ấy vẫn bay nhanh ngay lại mặt, Độc Ma không sao tránh kịp, mặt nạ tức khắc bị bể tung, đồng thời trong miệng có một vật gì vừa nhét mạnh ngay vào vậy, chớp mắt đã đầy cứng mồm! vội vàng nhổ ngay phì ra xem, thì ra là một thỏi đất có mùi hôi bùn, và dính theo hai chiếc răng và máu, thấy vậy Độc Ma càng kinh người hoảng vía.
Thầm nghĩ: Công lực của mình cao tuyệt đến mức vậy, thế mà ngang nhiên vẫn không thể nào chống nổi ám khí tầm thường này của người ta, mắt trơ tráo nhìn ám khí đánh vào miệng, khiến nỗi bị mất cả hai răng. Chỉ nội công lực này cũng đủ kinh thế hãi tục cho trần gian rồi, nhất là người ta đã dùng đến một thỏi đất, có lẽ người ta cốt ý cảnh cáo mình, nếu họ có ý giết mình, mình làm sao giữ nổi mạng! Xem ra công lực cao cường của vị Đoạn Trường Nhân này, quả là danh bất hư truyền, mình không thể nào theo gót kịp được, lại càng không thế nào lấy trứng chọi với đá như thế được! Độc Ma chợt hiểu ngay ra, lúc này đối phương chưa ra tay giết mình, và bắt ngồi coi trận chiến rùng rợn về các cảnh chết chóc của đám đệ tử để uy hiếp tinh thần mình, và sau khi tàn sát hết đám đệ tử, lúc đó mới là giờ điểm chung của đời mình!
Thủ đoạn này quả là lợi hại, Độc Ma thông minh, nghĩ đến vậy càng lạnh mình toát mồ hôi, suy tính để tìm kế tẩu thoát.
Trước mắt, Đông Phương Đình và A Hương đang lo theo dõi cử động của mình, thỉnh thoảng tiếng hò hét trong trận đã chia bớt sự canh gác của Đông Phương Đình, nhưng riêng với thiếu nữ A Hương, nàng lại chăm chăm ngó thật kỹ về hành động của Độc Ma.
Chủ nhân Ma Cung lúc này tức hận vô cùng, không ngờ một nhân vật lừng lẫy hiên ngang một thời như mình, nay đành phải cam tâm đành chịu số phận như thế này, có cô bé canh chừng chặt chẽ, khiến nỗi mình tính phát lệnh ra cũng không được, nay không lẽ chịu bó tay ngồi chờ chết đó ư! Độc Ma không cam tâm! Và đang tìm kế tháo thân để giữ mạng.
Giờ xin quay sang phía trận chiến của tứ nữ hổ Liễu Mi, Châu Phụng, Châu Sách, Châu Chu, cuộc sát phạt vẫn tiếp diễn kinh khủng và rùng rợn, và nửa đám đệ tử của Ma Cung đã tử trận. Nhưng những tiếng hét thê thảm của đám đệ tử của Ma Cung vẫn thi nhau vang hết tiếng này đến tiếng khác, và mỗi tiếng thét lại là có một người hồn lìa khỏi xác tàn tật của chúng, tâm lý chung của đám đệ tử còn đang sống, chúng chỉ mong sao chủ nhân mau ra tay cứu nạn, hoặc ra lệnh cho ngừng chiến, hầu mong giữ mạng sống, nào hay Ma Cung chủ nhân đã bị mắc chẹt, phần Tứ đại đệ tử của Ma Cung lại đương bận tay giao chiến với với toàn các tay cao thủ cừ giỏi cả. Tuy biết các đệ tử bị nạn thảm khốc, nhưng không làm sao rảnh tay ra cứu vãn tình thế được. Ác nữa là lệnh của chủ nhân Ma Cung xưa nay nghiêm khắc vô cùng, chưa có lệnh không ai dám tự ý rút, dù biết là chết, thế là chúng cố thí mạng chống đánh đến cùng. Bởi thế trận chiến cứ tăng thêm sức khốc liệt kinh khủng. Và chính nhờ kiểu đánh thí quân ấy, dần dà đám đệ tử đã tập trung được với nhau và rút lui dần về một góc của đỉnh Lãnh Hương Điện và cố tử thủ kịch liệt.
Và dưới sức công hãm vũ bão của ba mẹ con họ Châu quyết trả thù cho Bạch điệp Châu Ni, hợp cùng với Liễu Mi, chẳng mấy chốc, đám tàn đệ tứ của Ma Cung lại chết bớt đi mất phân nửa. Liễu Mi liếc nhanh trận thế, tính thầm trong bụng: số đệ tử của Ma Cung còn lại đây, mẹ con họ Châu đủ dư sức đối phó rồi, nàng thu ngay kiếm về, tung mình vọt nhanh ra ngoài vòng. Sau khi đứng một lúc, nàng lập tức quyết ý ngay, giải quyết nhanh tên nào hay tên ấy, chỉ thấy Đinh Phá đang bị Hầu Hạo và Sở Canh đánh quýnh người, nguy cơ đã hiện ra tưng bừng. Liễu Mi bèn tính ngay khai đao tên này trước, nghĩ xong, nàng hét lên một tiếng, vung ngay kiếm tham gia ngay vào cuộc chiến để đánh Đinh Phá!
Phích lịch nhị lang Sở Canh vốn là người tính tình ngay thẳng, chàng vẫn canh cánh lo nghĩ đến phía Thượng Quan Linh, vì Thượng Quan Linh lúc này đang phải một chọi với hai, tính sang giúp ngay Thượng Quan công tử từ lâu, nay thấy Liễu Mi nhảy vào vòng chiến lập tức rút lui nhảy nhanh ngay ra, chuẩn bị tiếp tay với Thượng Quan Linh. Thấy vậy, Liễu Mi lập tức lên tiếng gọi ngay lại rằng:
- Sở hương chủ, chớ vội vã thế! Hãy giải quyết ngay tên này đã rồi tính sau!
Sở Canh vốn rất phục tùng nàng Liễu Mi, nghe vậy bằng lòng ngay.
Do đó, Đinh Phá phải chịu một thế đánh ác liệt tam giác, đã bất lợi nay lại càng bất lợi hơn, hắn đã tính liều mạng để đột vây, nhưng dưới sức đánh tơi bời của Liễu Mi, Hầu Hạo, Sở Canh, tên Đinh Phá không làm thực hiện nổi ý định của mình, mấy lần xông ra, đều bị đánh bật về vị trí cũ! Dần dà, Đinh Phá đã cảm thấy mệt, bỗng Hầu Hạo nhận ngay ra một thế trống rỗng của đối thủ, chàng quát ngay một tiếng lớn, người và kiếm hợp nhất, một làn ánh sáng bạc tung vọt ngay về phía địch nhanh như choáng điện.
Đinh Phá nhận ngay ra thế đánh khốc liệt, trong lòng giật nảy mình, liếc nhanh mắt thấy phe mình đã hoàn toàn bị mất ưu thế, trong lòng càng khớp sợ thêm, đang tính rút thế để né tránh, nhưng kiếm quang của Hầu Hạo đã cuộn đến, một luồng khí lạnh đã bao vây khắp xung quanh! Đinh Phá thét lên một tiếng, vung ngay cây kiếm của mình với thế quái dị.
Oang một tiếng, mũi kiếm từ trên bị đè chúi ngay xuống, quái dị lạ lùng. Ngay lúc đó, Hầu Hạo quát lên một tiếng, vận hết toàn lực bửa ngay ra, leng cheng một tiếng, hai kiếm đụng độ nhau. Lập tức nhận ngay ra công lực trên cây kiếm của Đinh Phá đã yếu hẳn, chắc sau cuộc kịch chiến với Hầu Hạo và Sở Canh, hắn đã bị tiêu hao công lực, nay lại thêm Liễu Mi quả đuối sức hẳn.
Hầu Hạo cả mừng, thuận thế dồn ngay toàn lực của mình ra áp đảo đối thủ, kiếm đưa thẳng ra, Đinh Phá cảm thấy nguy cơ, không biết làm sao, đành lăn lông lốc ra xa ngoài năm thước, nhưng lại vừa khéo đụng ngay Phích lịch Sở Canh quát lên rằng:
- Ta sẽ đâm lòi phèo con ma sống như ngươi!
Dứt tiếng Sở Canh đâm ngay mũi kiếm xuống!
Đinh Phá vừa lăn ra, chưa kịp thở hơi để tinh thần, lại phải vội lăn nghiêng ngay phía khác. Nào ngờ thứ nữ tinh ranh của Thanh Thông Bang hình như đoán trước được ngọn tránh này của địch, nàng vừa nhanh vừa lẹ tới sát ngay cạnh và chờ cho tên Đinh Phá vừa tung mình từ dưới đất vọt lên, Liễu Mi thình lình nhanh như cắt xỉa ngay mũi kiếm của mình ra!
Đinh Phá lúc này chỉ còn cảm thấy một ánh bạch quang sáng nhoà trước mặt, không sao tránh kịp, một tiếng thê thảm vang lên, trên vai lập tức bị trúng đòn kiếm. Nhưng Đinh Phá quả là tay công lực cao tuyệt, trong lúc nguy nan mà vẫn cố duy trì không ngã, cây trường kiếm được phạt mạnh ngay ra công hãm đích để tự vệ lấy thân. Lúc này nhìn kỹ Đinh Phá, chỉ thấy tóc tai xõa tơi bời, bả vai máu tươi lênh láng, hình dáng kinh khủng không khác nào con quỉ sống, mắt trợn tròn xoe ngó căm hờn vào khuôn mặt của Liễu Mi, và hắn đã lừ đừ bước chậm từng bước tiến về phía Liễu Mi, dù cho thứ nữ của Thanh Thông Hội to gan bạo dạn đến đâu đi nữa, lúc này cũng không khỏi ớn lạnh nổi da gà; và chính tướng mạo dị hợm ba phần người bảy phần ma này của Đinh Phá, Liễu Mi bỗng quên cả cuộc đánh, chỉ thấy nàng đang lui dần từng bước về phía sau!
Hầu Hạo vội lên tiếng nhắc tỉnh Liễu Mi:
- Liễu cô nương hãy hạ nó cho rồi!
Liễu Mi nghe tiếng nàng mạnh bạo ngay lại, trong khi đó Sở Canh lại nghĩ ra một kế hoàn hảo, mắt thấy Đinh Phá lừ đừ tiến áp về phía Liễu Mi, thình lình Sở canh ngồi thụp ngay xuống, thuận tay phóng ngay thanh kiếm của mình sang! Và thanh kiếm ấy đã chém ngay vào hai đầu gối của Đinh Phá, hắn thét lên một tiếng đau đớn, khụp một tiếng, quì bịch ngay xuống đất. Lúc này, chỉ có Liễu Mi là gần Đinh Phá hơn ai hết, nàng thuận thế vung ngay kiếm ra. Bạch quang nhoáng nhanh một đường sáng lóe lên, Đinh Phá thét lên một tiếng rùng rợn, toàn thân gục sấp ngay xuống, cả một chiếc đầu lâu như quỉ quái ấy bị bạt tít xa trên một trượng! Thế là kết liễu được một trong Tứ Hung của Phi Các ma cung trên Vô ảnh Phong, ba người đều cảm thấy hả dạ khoan khoái, liếc mắt nhìn cuộc diện, Hầu Hạo lớn tiếng rằng:
- Thượng Quan hiền đệ hãy an tâm, có bọn ngu huynh lại tiếp sức đây!
Dứt lời ba người xông thẳng sang phía Đinh Hãm, và dùng ngay lối đánh với Đinh Phá, vây ngay Đinh Hãm lại, đánh in hệt lối đánh đoạt mạng của Đinh Phá, một lối đánh dồn dần địch vào tử địa mới nghe.
Bớt đi một đối thủ, Thượng Quan Linh cảm thấy áp lực trận đánh nhẹ hẳn đi một nửa, lập tức lại sử dụng ngay đến Đinh Giáp Khai Sơn, bửa quất tới tấp như vũ bão, những luồng kình phong dồn dập ép cuộn sang Tam Hung Đinh Hủy. Trong nhóm Tứ Hung, có lẽ Đinh Hủy có cảm tình đặc biệt và thân nhất với Đinh Phá, nay thấy bạn đã chết thê thảm như thế trong lòng đau đớn vô cùng, lúc này chỉ nghe những tiếng sùi sụt phát ra từ trên bộ mặt rùng rợn lở loét của Đinh Hủy. Giờ đây hắn chỉ còn nghĩ đến liều chết để thí mạng với đối phương cho khỏi bị lỗ vốn!
Và cũng chính nhờ lòng bi phẫn liều mạng ấy, hắn đã ngang nhiên cầm cự nổi với kình địch Thượng Quan Linh.
Bên phía liễn xa, chủ nhân Ma Cung thương xót ái đồ bị tử trận, không sao chịu nổi, lập tức đứng ngay dậy.
A Hương thấy vậy vội lên tiếng ngay:
- Thôi b...
Tiếng bá bá còn chưa kịp thoát ra cửa miệng, chủ nhân Ma Cung đã nhoáng như một luồng điện trời trước cơn giông tố, chỉ thấy toàn thân Độc Ma bay bổng ngay lên, cũng ngay lúc ấy, tiếng cười ha hả của Đoạn Trường Nhân vang lên, ống tay áo phất ra một luồng kình lực vô cùng dũng mãnh ập ngay đến chủ nhân Ma Cung, chỉ thấy Độc Ma bị bật ngược ngay về, liếc mắt nhìn vẫn thấy Độc chỉ Thôi Bác ung dung nhìn chiến cuộc đang tiếp diễn, không thèm ngó ngàng gì đến mình, và nghe tiếng Độc chỉ Thôi Bác lẩm bẩm rằng:
- Tên ma già kia! Hãy ngoan ngoãn ngồi yên trên xe mà xem trò cho vui mắt, cuống đi đâu vậy? Nếu còn ương ngạnh, đừng trách ta đây ra tay tiễn hồn ngươi đi sớm đấy nhá ! ...
Âm thanh tuy không lớn, nhưng Thôi Bác đã dùng lối nội lực tuyệt đỉnh để phát tiếng ra, giọng rõ ràng và truyền ngay vào tai của Độc Ma; với câu nói rợn người ấy, không khác nào đã tuyên bố tử hình cho Độc Ma biết, và mỗi khi con người ta kề gần cái chết, dũng khí tự nhiên mà sinh ra. Độc Ma cũng vậy, nghĩ trước sau gì cũng chết, và một cái chết bị đe dọa từng lúc một quả không thể nào chịu nổi khủng hoảng ấy được, thà là chết ngay cho sướng thân! Nghĩ vậy Độc Ma bèn dồn hết ý chết của mình vào chữ liều.
Độc Ma còn chưa kịp thi thố hành động của mình, thì Độc chỉ Thôi Bác, làm như người có mắt đằng sau gáy, thình lình quay ngay lại, đôi mắt sáng quắc tia ra một sức nhìn óng ánh về khuôn mặt của Độc Ma.
Chủ nhân Ma Cung vẫn có vẻ không cam, đưa tay gỡ ngay khăn che mặt ra, để lộ bộ mặt nạ anh tuấn đẹp mắt. Trong lòng Độc Ma còn mơ tưởng rằng, với hai ngọn Đại Ma thần công và Nhiếp Hồn Công của mình có thể so bì phân cao thấp thử với Đoạn Trường Nhân xem sao. Nghĩ vậy, Độc Ma bèn dồn hết nhãn lực của mình lại, ngó thẳng sang phía Thôi Bác và ngầm tính thu hút ngay tia nhìn của đối phương. Nếu kẻ nào bị trúng Nhiếp Hồn Công, thần trí sẽ bị đờ dại hôn mê, và đôi mắt của họ sẽ cảm thấy Độc Ma là người đáng kính trọng, và sẽ để cho Độc Ma sai khiến tự do về lý trí của mình.
Và xưa kia Bạch điệp Châu Ni bị nạn, chính cũng vì lối Nhiếp Hồn Công này. Nay Độc Ma thân hành phát ra, lẽ đương nhiên lợi hại hơn Đinh Hãm đã dùng trên thân Châu Ni nhiều. Khi Độc Ma bắt gặp tia nhìn của Thôi Bác, bèn cố ý khích tướng rằng:
- Đoạn Trường Nhân! Ngươi có dám nhìn thẳng vào mắt ta không?
Thôi Bác cười rằng:
- Lão ma già! Kể người cũng to gan lớn mật thật, với chút trò mèo chó nhỏ mọn ấy, mà cũng dám đem ra múa rối trước mặt ta sao? Tưởng ta không dám ngó ngươi sao! Đáng buồn cho ngươi thật! Vậy ta sẽ cho ngươi mở mắt biết rõ lợi hại của ta...
Dứt lời Đoạn Trường Nhân quát lên một tiếng, đôi mắt sáng ngời tựa như hai ngọn đuốc thiêng, nhìn thẳng ngay sang phía Độc Ma. Chỉ trong chớp nhoáng, Độc Ma cảm thấy mình bị đối phương áp đảo ngay, chỉ cảm thấy một luồng hơi nóng từ từ dồn hắn sang phía mình vậy!
Độc Ma hoảng hốt, biết ngay Nhiếp Hồn Công của mình không thể nào thắng nổi, vội thu ngay lại. Độc Ma đành phải giở đến ngọn giữ nhà là Đại Ma thần công của mình và cũng là ngọn danh hiệu của mình ra. Thứ công lực quái dị này cũng được truyền thần bằng đôi mắt, nhưng oai lực nó thể hơn Nhiếp Hồn Công đến mười lần, khi kẻ nào nhìn vào, tinh thần lập tức bị nhầm lộn ngay, không khác nào như kẻ bị bệnh Mộng ma vậy, hoàn toàn nghe sự chỉ huy của đối phương.
Với đại kình địch trước mắt, Độc Ma chỉ còn ngọn tuyệt học chót nhất và giữ nhà nhất của mình, ánh mắt thình lình biến đổi, Đại Ma thần công lập tức ra ngay. Thôi Bác bỗng cảm thấy mắt mình có cảm giác lạ, trong bụng cũng giật mình, lập tức đề phòng ngay.
Chỉ thẩy Độc chỉ Thôi Bác lúc này đứng oai nghi, thái độ ung dung, đôi mắt không chớp ngó thẳng và tia nhìn của Độc Ma, trên mặt mỉm cười. Đây chính là vẻ oai nghi lẫm liệt của vị Độc chỉ Thôi đại hiệp mỗi lần chống đối với kình địch. Đối diện, chủ nhân Ma Cung cũng đang giở hết ngọn tuyệt kỹ của mình, nhưng vì có chiếc mặt nạ tuyệt đẹp che mất khuôn mặt thật, nên chẳng ai thấy được thần sắc của Độc Ma lúc này ra sao!
Đôi bên đối lập nhìn nhau, dần dà phía Ma Cung thấy ớn lạnh trong mình, ngọn tuyệt học nhất của mình đã đem ra sử dụng, ấy thế mà vẫn không làm gì nổi Độc chỉ Thôi Bác. Nản lòng, thối chí, khớp sợ đã bắt đầu len lỏi vào ý nghĩ của Độc Ma. Chỉ thấy Độc chỉ Thôi Bác một người bệnh hoạn mà xưa kia phải ho lên ho xuống khi mỗi lần lên cơn, nhưng nay không hề thấy đối thủ ho tiếng nào, và cũng chẳng thấy người ta ăn những đóa hoa đỏ ói như xưa kia, da mặt hồng hào, công lực hình như đã tiến hơn trước nhiều. Tia nhìn của Thôi đại hiệp, lúc này chẳng khác nào như hai ánh đuốc sáng chói và đang thiêu đốt dần tâm thần của địch thủ.
Ma Cung chủ nhân không còn biết tính cách gì hơn, là tính đến nước tìm cơ rút ngay thế về để khỏi bị bại. Nghĩ vậy bèn thu rụt ngay tia nhìn của mình lại...
Độc chỉ Thôi Bác ha hả cười rằng:
- Ma già còn những ngọn gì nữa? Hãy giở ngay mau ra! Đừng có đến lúc thua lại không chịu phục...
Nhưng chỉ thấy Độc Ma ngồi nhắm mắt buồn thiu trên liễn xa, rõ ràng đã cam tâm chịu thua!
Những người trong võ lâm, ai cũng có tâm lý hiếu thắng, dù là những kẻ cao thủ tột đỉnh cũng tránh không thoát lệ ấy, nay như Đoạn Trường Nhân cũng vậy, sau khi thắng trận này, biết ngay Độc Ma không phải là đối thủ của mình. Trong lòng cảm thấy một niềm thư thái nhẹ nhàng, căn dặn hai thiếu nữ chớ nhìn vào mắt người này, xong xuôi tươi cười quay mình.
Nhưng cũng lúc đó, Độc chỉ Thôi Bác cảm thấy buồn buồn trong ý nghĩ của mình, từ năm hai mươi tuổi Thôi Bác đã đoạt được danh Thiên hạ đệ nhất, dẫu cho mình không tin, nhưng trong mấy chục năm trời nay, quả nhiên chưa hề gặp qua một địch thủ nào xứng đáng, và nay đến cả tên lừng danh vang tiếng trong Phi Các ma cung trên Vô ảnh Phong Độc Ma cũng chỉ là hạng xoàng như thế! Thôi Bác cảm thấy mình không khác nào ôm đàn gẩy cho trâu nghe!
Trong lúc này, Thôi Bác chỉ còn cố hồi ức lại trận đánh kinh hồn và cũng là một trận xứng nhất trong đời vị đại hiệp họ Thôi, đó là trận chiến cùng với minh huynh Ngọc Thụ Thiếu Tù , ác chiến với bảy anh em cao thủ khét tiếng của Tần Trung Thất Điểu, chỉ có trận này là đáng ghi nhớ hơn, và cũng từ đó, không còn ai dám bén mảng đến tỉ thí với Thôi đại hiệp khét tiếng trong vòm trời võ lâm nữa. Và cũng chính do đó mà Thôi Bác mang họa hận tình vào thân, rồi sinh ra bệnh u buồn!... Và cũng từ đó không bao giờ còn ra tay giao tranh với ai nữa. Và đây, bút giả tạm gác lại chuyện trầm tư mặc tưởng của vị Thôi đại hiệp đang suy tưởng về dĩ vãng để thuật về trận chiến đang tiếp diễn.
Thượng Quan Linh càng lúc càng thắng thế, Đinh Hủy dần dần thối lui về vách núi, Thượng Quan Linh dồn áp sát lại, sự đắc thắng đã thấy nằm rõ trong tay.
Chủ nhân Ma Cung, trong lòng bi ai, mắt thấy tam đồ đệ sắp sửa mất mạng, mình không thể nào ra tay tương cứu được, nỗi lòng bi phẫn không sao tả được. Nghĩ thầm: không lẽ vận số của Ma Cung đã đến ngày tận kiếp mà đám đệ tử và cả mình đều bị táng thân vùi xác tại Lãnh Hương Điện đây sao? Nghĩ đến cuộc sống xa hoa sung sướng hành lạc của Phi Các ma cung trên Vô Ảnh Phong, trên giang hồ ai mà không biết và chẳng ngán. Nay tính chiếm đoạt kho tàng kếch xù của Lãnh Hương Các để gây thanh thế lớn lao cho Vô ảnh phong, nào hay Độc chỉ Thôi Bác chưa chết, đến nỗi lầm một nước cờ, đại cuộc phải chịu thua tàn khốc như hôm nay.
Kẻ anh hùng mạt lộ, chủ nhân Ma Cung bất giác lệ ứa hai hàng... thình lình liếc nhanh mắt, thấy con bé A Hương đang chăm chăm ngó mình. Chợt Độc Ma động lòng, thầm nhủ: Trời đã giúp ta! Lập tức phóng ngay tia nhìn của mình sang thiếu nữ A Hương, một mặt dồn ngay ngọn Nhiếp Hồn Công ra... Trong bụng khấn vái thần: Xin ơn trên phò độ cho con bé này mắc bẫy, xem ra con nhỏ này thế nào cũng can hệ đến đời tư của Thôi Bác, nếu ta bắt được nó, tất cả đều có cơ xoay chuyển ngược cục diện trước mắt, sẽ thay đổi ngay theo ý mình muốn...
Quả nhiên A Hương vì tính háo kỳ nên bị mắc mưu ngay, nàng chỉ cảm thấy đôi mắt của Độc Ma có một ánh sáng lạ lùng, tâm trí A Hương bị mê loạn ngay, chỉ thấy bộ mặt ấy rất dễ thương và dễ mến, nàng có cảm giác người này cũng đáng yêu mến như Thôi bá bá, chị Liễu Mi, hay Đại Hắc và các đàn sóc của nàng vậy, nghĩa là con người hoàn toàn hòa thiện đáng yêu mến.
Lúc đó chỉ thấy đối phương đưa tay ngoắt, A Hương lòng không còn tự chủ, nàng đưa chân bước ngay sang phía Độc Ma...
Trong lúc này hầu hết trận chiến các nơi đều đang đi vào mức sắp kết thúc hẳn, nên Thôi Bác và Đông Phương Đình đều không hề chú ý đến hành động của A Hương. Chính vì Thôi Bác đã dặn trước là đừng ngó vào mắt của địch, nên Thôi Bác vững lòng đứng xem trận chiến. Độc chỉ Thôi Bác lập ý là sau khi tận diệt hết các đệ tử Ma Cung và nhất là sau khi diệt hết Tứ đại đồ đệ của Độc Ma, rồi dưới sự giám sát của mình, vẫn để cho lớp người hậu bối ra tay tiêu diệt luôn tên Độc Ma, như thế vừa tránh khỏi mình ra tay vừa khỏi mất thể diện của kẻ cả như mình!
Nhưng không ngờ sự việc lại xảy ra ngoài ý muốn và quá đột ngột. Thượng Quan Linh đắc thắng, túm ngay được Tam Hung Đinh Hủy, điểm luôn huyệt đạo và cử bổng hắn lên quăng luôn xuống sườn núi! Bị quăng xác trong lúc toàn thân còn cứng đơ vì bị điểm huyệt ấy, Đinh Hủy còn gì là mạng. Thân hắn lăn long lóc như một thùng gỗ lăn tuốt xuống núi. Sau khi thắng Đinh Hủy, Thượng Quan Linh quay đầu nhìn, đám đệ tử của Ma Cung đã bị ba mẹ con Châu Thị giết sạch, bên kia Liễu Mi, Hầu Hạo, Sở Canh, ba người đang vây đánh Đinh Hãm tưng bừng.
Liễu Mi nhanh mắt lên tiếng kêu ngay:
- Anh Linh! Hãy mau qua đây! Thượng Quan Linh vội chạy ngay lại đỡ cho Liễu Mi. Nàng nhoáng người nhanh như một tia chớp vèo ngay sang phía Đại Hắc đang ác chiến với Đại đệ tử Ma Cung là Đinh Tàn.
Linh điểu Đại Hắc càng đánh càng hăng, Đinh Tàn đã cảm thấy đuối sức, khi Liễu Mi vọt tới, nàng chen ngay vào giữa cuộc đấu của đôi bên, giơ ngang trường kiếm ra rằng:
- Đinh lão đại. Nay niệm tình về chị Hạ Quyên, tạm tha cho ngươi một phen, vậy hãy rời mau ngay cho rồi!
Đinh Tàn nhìn nhanh khắp một lượt, biết không sao cứu vãn nổi tình thế được, lên tiếng hỏi rằng:
- Hạ Quyên nay ở đâu?
Liễu Mi trả lời:
- Chị ấy đã được Nam Bút tiên sinh hộ tống về quê nhà...
Liễu Mi đằng này nói chưa hết lời, bên kia Đinh Tàn tung mình phi thân lên xuống núi, thần ưng Đại Hắc tính truy kích, nhưng bị Liễu Mi ngăn lại ngay!
Trên đỉnh Lãnh Hương còn chừa lại mỗi Đinh Hãm bị vây đánh, hắn la hét rùng rợn khuấy rối tinh thần của đối phương để mong có cơ cứu lấy mạng sống của mình.
Độc chỉ Thôi Bác bỗng lên tiếng:
- Cháu Hầu Hạo và Sở hương chủ hãy lo vây hãm tên đó, và phiền Châu gia mẫu nữ (mẹ con) đứng cạnh canh chừng, chớ cho nó thoát khỏi, còn Liễu Mi, Thượng Quan Linh, Đại Hắc, các con hãy sang đây lo liệu số phận cho tên lão tặc này.
Mọi người nhận lệnh tiến sang, sau khi cùng với Thôi Bác quay người lại, ai nấy thất kinh hoảng hồn, không ai còn nói được câu gì, chỉ thấy đôi mắt của thiếu nữ rừng rú ấy như đờ dại đứng tựa người vào lòng của Độc Ma...
 
0
Hồi 064. Trừ Ác Chưa Xong
[/align]

Mọi người thất kinh hoảng vía, há miệng không dám lên tiếng, Đoạn trường nhân Độc chỉ Thôi Bác lòng yêu con tha thiết, bước lên một bước, quát mắng ngay:
- Độc Ma, ngươi quả là một tên tiểu nhơn đê tiện thật, dám ngang nhiên dùng đến thủ đoạn bỉ ổi này... - Dứt lời tay áo bào giơ lên!
Tiếng Độc Ma thình lình hét lên:
- Có ngừng ngay không? Bộ không muốn giữ mạng sống của con bé này sao?
Thôi Bác quả nhiên không dám ra tay, đành giương mắt nhìn sang phía Độc Ma.
Độc Ma tránh hẳn tia nhìn lợi hại của đối thủ, cao giọng như quát lệnh rằng:
- Mau mau lui ngay hết...
Lúc đó, Thượng Quan Linh, Liễu Mi, Thôi Bác, Đại Hắc đều đang vây quanh liễn xa của Độc Ma, còn Đoạn Trường Nhân thấy Độc Ma áp ngay chưởng lên thiên linh cái của A Hương, bất giác đành chịu trận và tự mình rút lui ngay trước tiên, Thượng Quan Linh, Liễu Mi, và Đại Hắc cũng đành theo gót luôn.
Độc chỉ Thôi Bác bèn hỏi ngay:
- Độc Ma! Nhà ngươi muốn sao?
Chủ nhân Ma Cung đưa đôi mắt long lanh nhìn hết tả hữu một lượt, rồi lên tiếng:
- Hãy thả ngay Đinh Hãm ra rồi nói sau!...
Lần này, trước tiền điện của Lãnh Hương Các, đám đệ tử của Ma Cung chết chóc đã quá bộn, trong số Tứ đại đệ tử, Đinh Tàn đã chạy, Đinh Hủy bị Thượng Quan Linh quăng xác xuống sườn núi, Đinh Phá bị Liễu Mi chém bay đầu, nay chỉ chừa lại mỗi tên Nhị Hung Đinh Hãm, tình thế đã nằm trong cảnh dầu cạn bấc hết, nay lại bị hai ông thần lực Hầu Hạo và Sở Canh đánh ráo riết, bên cạnh đó lại có ba mẹ con Châu Thị canh chừng, không làm sao trốn thoát nổi.
Đinh Hãm chỉ còn nước giở trò la hét rùng rợn nhà nghề của mình ra để hầu áp đảo tâm thần đối phương rối loạn, rồi sẽ liệu cơ ứng biến để tháo thân. Nhưng ác thay hắn lại gặp phải hai tay đánh bất kể lề lối chưởng pháp là gì, gặp là bửa đụng đâu chém đó, khiến cho Đinh Hãm càng lúc càng đuối sức dần, trước mắt Đinh Hãm chỉ còn thấy chữ Chết kếch sù đã hiện ra...
Độc chỉ Thôi Bác đành đưa tay ra dấu thả địch, Hầu Hạo, Sở Canh đành ngừng tay, Đinh Hãm như kẻ gặp hoàng ân đại xá tội, hắn vội bước nhanh ngay lại cạnh thầy Độc Ma của hắn, và đứng thở dốc không thôi.
Đôi bên lúc này đều đứng khựng cả lại tại vị trí của mình, chưa có phương pháp gì để giải quyết, phía Độc chỉ Thôi Bác, rõ ràng đang chiếm ưu thế tuyệt đối, nhưng vì A Hương nay nằm trong tay địch, thế cuộc biến đổi hẳn, nay không còn kế gì khả thi. Tiến thối lưỡng nan!
Trời bắt đầu tối, cuộc diện vẫn nằm lắng đọng lại cảnh sắc buồn tẻ bắt đầu len lỏi vào tâm mọi người, nhất là đối với cô bé yếu ớt như Đông Phương Đình, nàng đã không sao cầm lòng được, và cũng là kẻ thứ nhất đã lên tiếng đánh tan bầu không khí im lặng nặng nhọc bằng lối nhiếc mắng:
- Độc Ma! Ngươi quả là hèn nhát, sao không dám buông ngay nàng ra để thử sức cao thấp với chúng tôi? Ngươi quả là tên độc ác tàn nhẫn! Ta nguyền cho ngươi sẽ chết một cách thảm thiết mới hả dạ...
Đinh Hãm thấy vậy lên tiếng chế giễu ngay lại:
- Kìa tiểu cô nương, cô muốn chúng tôi thả nàng ra sao? Chuyện tuy không có gì khó, nhưng ít nhất bọn tôi cũng phải có một cái lợi tối thiểu gì chứ! Đời nào lại buông tha không mà không có điều kiện gì... Có hai điều kiện có thể trao đổi, một là bọn ngươi hãy tìm ngay Đại sư huynh của ta về, và cứu sống ngay Tam sư đệ và Tứ sư đệ của ta sống lại, bên này chúng ta lập tức tha ngay người, và ai lo đường nấy, không ai xâm phạm đến ai... Ha? Ha!... Đương nhiên ta cũng biết người chết không thể nào cứu sống được, nay bên bọn ngươi đại thắng như thế, còn bên ta gần như toàn quân bị tiêu diệt gần hết, như thế có thể nào nói là công bằng chăng? Hừ?... Nếu muốn công bình, ta có một cách kiến diệu vô cùng, ấy là trong bọn các ngươi đây, đàn ông con trai phải tự sát ráo hết, còn đàn bà con gái phải ngoan ngoãn theo chúng ta về Phi Các ma cung để hưởng thú vui trên đời, và con bé này, chúng ta sẽ bằng lòng giao ngay về cho lão bệnh hoạn họ Thôi kia đem đi, và cả luôn con nghiệt súc tai quái kia nữa, cút đi một nơi nào cho thật xa.
Mọi người không ai dằn nổi cơn tức, Linh điểu Đại Hắc vốn thông hiểu ngôn ngữ người, nó kêu lên một tiếng tức tối tính bay ra mở cuộc chiến lại, nhưng bị Đoạn trường nhân Thôi Bác ngăn ngay lại.
Những hành động kiêng kỵ ấy càng khiến cho Đinh Hãm thích trí tha hồ buông lời sỉ vả:
- Sao? Các nàng đã đồng lòng ưng thuận rồi chứ!... Ta bảo đảm lên sống trên Vô Ảnh Phong, các nàng sẽ không thiếu một thứ gì, và tin chắc các nàng sẽ thích thú sau khi quen nếp sống xa hoa tiên cung của thầy trò chúng ta!
Quay sang ngó ngay thấy Liễu Mi: bèn cố ý khiêu khích rằng:
- Này! Liễu cô nương! Cô còn vờ vẫn gì nữa, chị cô nổi tiếng là nữ ma dâm, chắc cô cũng lẳng không kém gì...
Thượng Quan Linh thình lình hét lên một tiếng:
- Ác tặc! Ngươi khi người vừa vừa chứ, ta sẽ liều mạng với ngươi ngay!
Dứt lời nhảy bổng quay lên, vung chưởng tính bửa sang. Đoạn Trường Nhân cũng quyết định ra tay, trên liễn xa thầy trò Độc Ma cất tiếng cười ha hả, rồi vội vàng cử ngay thân hình của A Hương lên, Độc Ma cầm hai tay, Đinh Hãm nắm hai chân, bày ngay một thế sẵn sàng xé xác A Hương ra làm hai mảnh, nếu mọi người dám liều lĩnh phát động thế đánh.
Thôi Bác thình lình ức hận lên tiếng:
- Không cần suy nghĩ nữa. Chúng ta tiến ngay lên! Đành vậy!...
Liễu Mi bỗng lớn tiếng:
- Không! Không! Mọi người hãy nghe tôi nói đã!
Tiếng chưa dứt, toàn thân Liễu Mi đã đứng ngay vào giữa trận và ngăn chặn ngay xô xát sắp tiến diễn.
Chỉ thấy thứ nữ của Thanh Thông Hội, toàn thân mặc áo trắng, gió thổi phất phơ, nghe nàng cất tiếng rằng:
- Độc Ma! Nếu nhà ngươi dám giết thiếu nữ, liệu ngươi có thể nào chạy thoát khỏi tay chúng ta không, các ngươi thử nghĩ: giết một thiếu nữ vô tội, để rồi phải đền lại hai mạng sống như thế, có đáng không đã?
Phàm là người, thử hỏi ai mà chả ngán chết, Độc Ma tuy hung hăng lợi hại, nhưng sau khi nghe lời nói của Liễu Mi, trong lòng cũng không khỏi động tình.
Liễu Mi chụp ngay cơ hội rằng:
- Chẳng thà đôi bên chúng ta bỏ qua vụ này cho rồi, chỉ cần ngươi nói rõ nơi cư ngụ của lão bà bịt mặt bí mật kia hiện ở đâu, đồng thời buông ngay A Hương ra, chúng ta bằng lòng buông tha cho hai ngươi tự do rút đi, tuyệt không hề truy cản, và món huyết thù này, sau này sẽ thanh toán lại.
Sau câu nói này của nàng Liễu Mi, Thượng Quan Linh cũng cảm thấy đúng lý và tuy chàng biết lão bà bí mật kia là kẻ đại thù của mình, nhưng nay cũng đồng ý ngầm với biện pháp của Liễu Mi đưa ra. Riêng phần của Độc chỉ Thôi Bác lẽ đương nhiên là chấp thuận ngay.
Liễu Mi thấy Độc chỉ Thôi Bác gật đầu, trong bụng yên lòng ngay, nàng lại lên tiếng thêm:
- Nay Thôi đại hiệp đã đồng ý, vậy ý của Chủ nhân Ma Cung tính sao, muốn can qua hay ngọc đới, xin cho biết ý ngay để còn lo liệu!
Độc Ma thấy gió xoay buồm, tươi cười đỡ ngay A Hương dậy, đưa mắt nhìn ngay vào mắt nàng, đưa tay nhẹ phất hai phất lên thân nàng, lập tức Đại Ma thần công trên người A Hương bị giải hẳn và khôi phục ngay lại sắc thái ngày thường của mình.
Đôi mắt vừa đen láy của A Hương như vừa tỉnh cơn mộng, thấy mình nằm trên tay người lạ, bên cạnh có Đinh Hãm nhe răng cười với mình, nàng không khỏi thót mình kinh ngạc.
A Hương lập tức lên tiếng gọi:
- Thôi bá bá! Thôi bá bá!...
Nàng vùng vẫy tính chạy sang Thôi Bác, nhưng bàn tay của Độc Ma vẫn giữ ngay trên cổ của nàng, vì Độc Ma lo đề phòng cẩn thận, chỉ sợ thiếu nữ rừng rú này khi tỉnh lại, rồi dùng đến cây Ngân hoa hỏa thụ trên cổ làm rối thì hỏng chuyện hết! A Hương vùng vẫy không sao thoát thân, nàng cuống lên kêu rối rít rằng:
- Buông tôi ra! Buông tôi ra!... Thôi bá bá ơi!... Chị Liễu Mi ơi!... Buông ra!...
Độc chỉ Thôi Bác bỗng biến sắc, Liễu Mi thấy vậy vội lên tiếng êm dịu nói ngay:
- Em Hương, chớ nên kêu gào ồn ào như thế... - Nói xong quay sang phía Độc Ma rằng: - Chủ nhân Ma Cung! Bộ còn không chịu buông người ra sao?
Độc Ma lớn tiếng cười rằng:
- Đã được Thôi đại hiệp hứa danh dự như thế, thầy trò chúng ta thả người và rời khỏi ngay!
Độc chỉ Thôi Bác lạnh lùng rằng:
- Độc Ma! Ngươi đã lợi dụng đến thủ đoạn đê tiện này... Thôi cũng được, nay ta tạm tha cho ngươi một lần, nhưng nay ta trân trọng căn dặn lại, nếu ngươi còn cố tình sinh sự tác quái sau này, gặp phải tay ta lần nữa, thế nào ta cũng đoạt mạng sống của hai thầy trò ngươi ...
Đoạn trường nhân Độc chỉ Thôi Bác quả không hổ danh của một vị đại hiệp đương thời, cái thế kỳ nhân, khí khái nghiêm nghị, sắc mặt không giận mà oai; Chủ nhân Ma Cung nghe xong, cười lên như điên rằng:
- Đã được sự đồng ý của Thôi đại hiệp, thầy trò chúng tôi đâu còn do dự gì nữa. Hãm con, hãy chuẩn bị liễn xa rồi cáo từ các vị để thầy trò mình lên đường cho rồi.
Đinh Hãm chuẩn bị dây cương, Độc Ma buông tay thả ngay A Hương ra, nàng thiếu nữ rừng rú này bèn chạy ập ngay vào lòng Độc chỉ Thôi Bác. Thôi Bác vội kiểm điểm, thấy con gái mình không hề bị thương tích gì mới yên dạ, vội ôm ngay con gái vào lòng, nước mắt mừng tủi:
- Con!... Con!...
Thôi Bác nghẹn ngào ôm con trong lòng; trời tối sầm lại, thầy trò Độc Ma ngồi liễn xa rời ngay Lãnh Hương Điện xuống núi, mọi người giữ đúng theo lời hứa tha cho hai thầy trò ra đi? Liễu Mi thấy thầy trò Độc Ma nói đi là đi ngay, nàng rối lên chạy theo sau kêu lên:
- Ơ kìa! Độc Ma! Ngươi muốn thất lời hứa sao? Sao không trả lời câu hỏi về lão bà bí mật ấy hiện nay ở đâu? Nếu không nói rõ, đừng hòng rời khỏi đây!
Lúc này A Hương đã về với Thôi Bác, không còn phải kiêng ngại gì nữa, nhất là con thần ưng Đại Hắc, quá một tiếng kêu lên, bay ngay lại phía liễn xa, chăm chú theo dõi và sẵn sàng ứng chiến, Đinh Hãm khẽ tiếng chửi thầm:
- Đồ nghiệt súc chết toi!... - Tuy tức, nhưng không dám ra tay chọc ghẹo tới Đại Hắc.
Còn Hầu Hạo thì nghĩ đây là chuyện hệ trọng của minh đệ Thượng Quan Linh, chàng nóng tính hơn ai, đưa tay kéo ngay Sở Canh chạy lại, ba mẹ con Châu Thị cũng vây tới luôn! Độc Ma tuy không coi đám nhân vật này ra gì, nhưng thấy bên đối phương, Đoạn trường nhân Độc chỉ Thôi Bác cũng ngửng đầu lên nhìn về phía mình, không biết làm sao, đành phải trả lời rằng:
- Lão bà bịt mặt ấy vốn ở núi Ai Lao của tỉnh Vân Nam, nay đã về Ai Lao Sơn từ lâu rồi.
Liễu Mi không tin, Độc Ma lại rằng:
- Với danh dự Chủ nhân của Phi Các tiên cung, ta đâu thèm nói láo gì, nếu ranh con họ Liễu ngươi không tin thì thôi. Bọn ta không sức đâu mà cà kê ở đây mãi!
Thượng Quan Linh bước lên kéo ngay tay Liễu Mi, thầy trò Độc Ma cho xe lững thững đi xuống núi luôn.
Bên này, Đông Phương Đình, mẹ con họ Châu, vội hấp tấp vào ngay Lãnh Hương Các thắp đèn lên, Độc chỉ Thôi Bác huýt lên những tiếng sáo kỳ lạ, chẳng mấy lúc một đám khỉ khá đông kéo nhau thành đàn lại, và chúng nghe theo lệnh của Thôi Bác chung sức với mọi người lo thu dẹp các tử thi quăng hết xuống vực thẳm. Xong xuôi, mọi người kéo nhau vào Lãnh Hương Các, hai bức tượng đá của vợ chồng Miêu Gia Diệm Nữ được bày ngay cửa chánh của Lãnh Hương Các trông linh động không khác gì còn sống; mọi người ngồi quây quần trong các, Đông Phương Đình và mẹ con Châu Thị đã sửa soạn một bữa ăn tươm tất cho mọi người.
Độc chỉ Thôi Bác vốn là người chỉ ăn hoa, nhưng nay đã thay đổi hẳn, đã ngang nhiên cùng ăn uống thịt rượu như mọi người, trên mặt không còn lộ vẻ buồn rầu như xưa nữa. Hồng Điệp nói đùa hồn nhiên, đề nghị Độc chỉ Thôi Bác bỏ ngay biệt danh Đoạn Trường Nhân cho rồi. Độc chỉ Thôi Bác cũng gật đầu mỉm cười chấp nhận! Luôn tiện Thôi Bác cũng cho mọi người biết là mình còn hai điều tâm nguyện chưa xong, một trách nhiệm đối với Hầu Hạo và Đông Phương Đình, hai là trách nhiệm đối với A Hương.
Thôi Bác chuẩn bị đưa ngay anh em Hầu Hạo và A Hương cùng về miền Ngọc Thụ Thổ Ty, cây Ngân hoa hỏa thụ phải là vật trấn bang muôn đời của Ngọc Thụ. Đồng thời A Hương nay đã khôn lớn, phải được kế tiếp chức Thổ Ty, và hai bức tượng đá của vợ chồng Ngọc Thụ Thiếu Tù ấy phải để tại Ngọc Thụ, cho khắp dân trong vùng và hậu thế được chiêm ngưỡng dung nhan của một đôi trai tài gái sắc tuyệt trần này, còn các báu vật quan trọng trên Lãnh Hương Điện cũng sẽ tìm cách vận chuyển hết về Ngọc Thụ, và sau này số kho tàng này sẽ do anh em Hầu Hạo toàn quyền chi dụng, để gây sự nghiệp lừng lẫy trong tương lai.
Những lời nói ấy khiến cho anh em Hầu Hạo vừa kinh vừa mừng, cả hai đều mừng là vị Độc chỉ Thôi Bác đã hết lòng chăm lo cho hai anh em, nhưng mãi đến nay cả hai anh em vẫn chưa biết thân thế của mình ra sao, hai người nghe nói mình có toàn quyền sử dụng về khối kho tàng này; nếu vậy anh em mình chẳng là sở hữu chủ của số của cải kếch xù ấy sao? Nhưng không hiểu tại sao lại có chuyện này? Cả hai anh em suy nghĩ mà vẫn không sao tìm ra câu giải đáp được!
Thượng Quan Lỉnh và Liễu Mi lúc này sung sướng hơn ai hết, nhất là nàng Liễu Mi, nay người yêu đã khỏi bệnh mắt, công lực lại tinh tuyệt, và được Độc Ma cho biết tin về chỗ ở của kẻ thù, hai người sẽ chung nhau sát cánh đi phiêu bạt khắp trong giang hồ, và ngoại trừ trong lòng thương nhớ lão phụ Thanh Thông bang chủ ra, nàng Liễu Mi quả thật không còn phải lo lắng gì nữa!
Trong lúc này, bầu không khí trong Lãnh Hương Các vui nhộn vì những câu cười nói của mọi người. Liễu Mi cũng cho mọi người hay là nàng sẽ cùng với Thượng Quan Linh, sau khi rời khỏi Lãnh Hương Các, lập tức họ sẽ khởi trình đi Ai Lao Sơn của tỉnh Vân Nam để tìm cho ra kẻ thù là lão bà bịt mặt có Phủ Chưởng Hàn để tính món nợ thù. Và nay công lực của Thượng Quan Linh đã tiến vượt bực, lại có Sở Canh trợ giúp, chắc thế nào cũng thành công! Hồng điệp Châu Chu, vốn rất mến thích người chị Liễu Mi, nên nàng lên tiếng hỏi ngay:
- Sau khi chị hoàn thành các việc ở Ai Lao Sơn, rồi chị tính làm gì?
Liễu Mi chỉ cười mà không đáp, Châu Chu vẫn hỏi một cách ngây thơ, Thanh Điệp khẽ thích ngay vào em mình lên tiếng rằng:
- Em ranh mãnh vừa chứ! Chị Liễu Mi sau khi xong chuyện, đương nhiên là chị ấy sẽ thành thân ngay với Thượng Quan công tử, vợ chồng trẻ người ta sẽ lo đi phiêu bạt giang hồ chứ còn làm gì nữa mà hỏi vu vơ?
Mọi người nghe vậy cất tiếng cười ồ, dù Liễu Mi có bạo đến đâu, nay cũng không khỏi đỏ mặt nóng tai, Thượng Quan Linh lại càng khỏi nói, chàng như kẻ vừa bị quá chén, Hầu Hạo lên tiếng ngay rằng:
- Không được! Không được! Thượng Quan hiền đệ nếu cưới vợ, thế nào cũng phải chờ đợi chúng tôi đến đông đủ đã, như thế cánh này mới có dịp đại náo cô dâu chú rể chứ, nếu không chắc không ai công nhận cuộc kết hôn đó đâu...
Chị em Châu Sách và Châu Chu nhao nhao phụ họa theo, Hầu Hạo đứng lên nâng chén mời Thượng Quan Linh rằng:
- Nay xin kính mừng tân lang và tân nương một chén trước, sau này sẽ uống rượu mừng của hai người sau!...
Thượng Quan Linh mặt đỏ như gấc, đành nâng chén cạn với sư huynh mình, Hầu Hạo lại quay sang chúc Liễu Mi một chén. Trong thâm tân Liễu Mi yên dạ hẳn về vấn đề này, vì anh chàng Thượng Quan Linh khờ đã chịu uống chén rượu chúc như thế, cũng như đã chính thức nhìn nhận cuộc hôn nhân này, tự cảm thấy mình sung sướng hơn ai hết!
Trong lúc chị em Châu Thị đang vui cười hớn hở, thì con thần ưng Đại Hắc cũng đòi cạn chén rượu mừng với Thượng Quan Linh lão đệ của nó. Đại Hắc vốn tửu lượng cừ mạnh, mỏ vừa chấm vào chén đã hút sạch rượu ngay. Thượng Quan Linh yếu rượu lượng, nhưng không nỡ làm buồn lòng ưng huynh của mình, đành cùng với Liễu Mi hai người cạn chung một chén với ưng huynh. Thần ưng Đại Hắc khự một tiếng tỏ vẻ vô cùng vui mừng phấn khởi, chỉ thấy Đại Hắc hết nghiêng đầu nhìn Liễu Mi lại quay sang nhìn A Hương đang đứng bên cạnh Thôi Bác, Liễu Mi lập tức hiểu ngay cái nhìn tinh quái của vị ưng huynh này, rõ ràng thần ưng Đại Hắc đang so sánh đây! Chắc Đại Hắc đang so bì để tuyển lựa một đệ tức (em dâu) lý tưởng đây.
Liễu Mi lúc này chẳng còn ngại ngùng gì, bèn đứng sát ngay vào Thượng Quan Linh, ráng tươi cười cho thật duyên dáng, vì nàng thầm nghĩ, thần ưng này phải có mắt thẩm mỹ của nó, lẽ đương nhiên A Hương ngoài sắc đẹp hơn Liễu Mi ra, bất cứ việc gì đều kém nàng cả. Sự cố tình gây duyên dáng của Liễu Mi với chim ưng, quả nhiên thâu hái được kết quả, vì sau khi Đại Hắc xem đi ngó lại một hồi, đôi mắt thần ưng nhìn ngay về phía Liễu Mi gật gù như tán thưởng.
Liễu Mi hiểu ngay mình đã thắng. Độc chỉ Thôi Bác, cũng đang cầm chén mỉm cười, chú ý nhìn Thượng Quan Linh, chắc Thôi Bác cũng đang suy nghĩ đắn đo như Đại Hắc, nhưng sau một hồi chăm chú đăm đăm, hình như vị đại hiệp này cũng bỏ ngay quan niệm của riêng mình. Và lúc Ngọc điệp Châu Phụng cùng Đông Phương Đình chúc rượu ấy, Thôi Bác cũng nâng chén mừng cho Thượng Quan Linh. Liễu Mi chỉ trông sao cho Thôi Bác chúc rượu, nếu được vị tiền bối này mừng chúc, danh phận của nàng càng uy tín hơn, quả nhiên nàng đã được mãn nguyện với ý nghĩ của mình, nàng yên chí và hấp tấp cùng với Thượng Quan Linh đứng ngay dậy cùng nâng chén uống cạn một hơi!
Thôi Bác cười rằng:
- Chúc cho hai cháu chóng thành lương duyên và bạch đầu giao lão với nhau!... - Lời chúc vô cùng thành khẩn.
Cả hai vội vàng cảm tạ rằng:
- Hai cháu kính đa tạ Thôi thúc thúc!
Cuộc chúc rượu vẫn đang diễn ra, chỉ thấy chị em Thanh điệp Châu Sách và Hồng điệp Châu Chu cầm chén đứng dậy, chàng Sở Canh cũng đang chuẩn bị sự chúc tụng của mình, và chàng ta không dùng đến chén, mà bưng ngay một bầu rượu khá lớn, cười thích trí đứng luôn dậy.
Liễu Mi cau mày, nàng thầm nghĩ nếu người yêu của mình mà uống hết bầu rượu này, thế nào cũng ngã mất. Nàng quả không hổ là người thông minh tuyệt đỉnh, thoáng cái đã nghĩ ra một kế vui cười nói với chị em Châu Sách và Châu Chu rằng:
- Chị và anh Thượng Quan vui lòng uống với hai em! Nhưng còn hai em chừng nào mới báo tin mừng cho thiên hạ biết về cuộc lương duyên đây.
Nhờ vậy mà từ thế khách đổi ngay lại thành thế chủ, Thượng Quan Linh mừng kéo ngay tay Hầu Hạo và bắt chàng ta phải tuyên bố ngày kết hôn. Hầu Hạo đỏ gay mặt không dám ngửng đầu nhìn ai. Liễu Mi càng được thế trả đũa, nàng cùng với Thượng Quan Linh, lo rót rượu chúc mừng mời tới tấp và cố ý cười nói:
- Đại ca! Anh đừng ngại bị say, vì đã có hai vị tiên cô sẵn sàng uống thay cho anh. Nào Nào! Nào! Xin đại ca hãy cạn cho chén này, gọi là mừng anh sớm báo tin mừng...
Quả nhiên chị em Châu Thị sợ ý trung nhân của mình bị say, nên cả hai nàng vội vàng thướt tha bước lại để tiếp nhận sự khiêu chiến của Liễu Mi và Thượng Quan Linh. Liễu Mi hối ngay Sở Canh qua chúc rượu, cả Đại Hắc và Đông Phương Đình cũng qua chúc rối rít vui nhộn, không khí trong Lãnh Hương Các vui nhộn tưng bừng!
Chỉ riêng nàng A Hương là không hiểu gì về những cách thức của cuộc chúc rượu này, và Thôi Bác cũng không cho nàng uống rượu, nàng chỉ thấy mọi người đùa cợt vui vẻ và nàng chỉ tham dự bằng lối nhìn và cười hồn nhiên. Về phần nữ hiệp Giang nam Ngọc điệp Châu Phụng, sau khi rõ sự ngộ nạn may rủi của ba đứa con gái, vừa mừng vừa buồn thảm. Đứa con gái lớn đã chết về tay lũ Độc Ma trên Vô ảnh Phong, tuy đã giết được Đinh Hủy và Đinh Phá, nhưng nguyên hung (hung thủ chính) Đinh Hãm lại chạy thoát, trong thâm tâm vẫn còn cảm thấy chưa được mãn nguyện.
Còn chuyện đáng mừng là hai cô con gái đã tìm được một nơi qui túc lý tưởng, sau khi gặp mẹ, hai nàng đã bộc lộ tâm tình cho mẹ hay. Hầu Hạo là nhân vật xuất chúng, tính tình chính trực lương thiện, Châu Phụng cảm thấy xứng với con mình lắm, nay lại thấy Thôi Bác đặc biệt đối đãi với anh em Hầu Hạo như vậy biết ngay chàng trai này thế nào cũng là nhân vật bất phàm gì đây, hai con mình lấy được hắn, còn gì khéo cho cuộc lương duyên này! Thấy mọi người xúm xít lại vây quanh Hầu Hạo để chúc rượu tưng bừng, Ngọc điệp Châu Phụng chỉ đứng mỉm cười sung sướng.
Độc chỉ Thôi Bác bước gần lại Ngọc Điệp cười nói:
- Châu nữ hiệp, song thân của Hầu Hạo đã quá cố, vậy nay tôi thay quyền đứng ra để làm chủ cho hắn và đồng thời xin hỏi luôn hai lệnh ái cho vị thế điệt của tôi đây, nhưng không biết ý nữ hiệp tính sao?...
- Lệnh điệt nhân vật bất phàm, chỉ e cho hai tiểu nữ tư dung bình phàm, không sánh nổi với đức phối của quân tử chăng, nhưng nay được sự hậu ý của Hầu công tử không chê bai phận hèn mọn, lại được Thôi đại hiệp ngài đứng ra làm chủ quả là một việc quá may mắn cho hai tiểu nữ, lẽ nào dám chối từ.
Thôi Bác cười ha hả cảm tạ, bên kia Liễu Mi nghe rõ, lại được thế chế riễu chị em Châu Sách và Châu Chu, khiến cho hai nàng cúi đầu vì thẹn. Thôi Bác đến ngay bức vách phía hữu lấy cả hai chuỗi chân châu, giao ngay cho Ngọc điệp Châu Phụng, làm lễ hỏi. Ngọc Điệp đeo ngay vào cổ cho hai con, rồi cởi ngay hai chiếc ngọc phối của hai con đang mang trên mình đưa cho Thôi Bác để chuyển giao cho Hầu Hạo. Lễ hỏi đã hoàn thành, Ngọc Điệp bèn cho biết ý nay cùng với hai con về Giang Nam trước, và không bao lâu sẽ thân hành đưa hai con đến Ngọc Thụ để thành hôn luôn. Sau cuộc vui tưng bừng, trời cũng đã khuya, mọi người sửa soạn nghỉ ngơi.
Sáng hôm sau, mọi người ai nấy lo sửa soạn cho cuộc chia tay lên đường, Thôi Bác, A Hương, anh em Hầu Hạo và thần ưng Đại Hắc cùng một đường về Ngọc Thụ. Thượng Quan Linh, Liễu Mi, Sở Canh cùng một đường về tỉnh Vân Nam để đến thẳng Ai Lao Sơn, còn Ngọc điệp Châu Phụng lo đưa hai con gái trở về Giang Nam. Trong cuộc tạm chia tay này, chỉ riêng mình Hầu Hạo là có vẻ buồn hơn ai hết, phần nhớ minh đệ Thượng Quan Linh, lại càng nhớ hai cô vợ chưa cưới của mình, mắt mình đăm chiêu về phía mẹ con Châu Thị, thấy hai nàng cũng đang khăn hồng lệ thắm, luyến tiếc nhớ nhau từ đây. Đông Phương Đình cũng đâm bịn rịn với Liễu Mi. Thượng Quan Linh và Liễu Mi đều quyến luyến mọi người, con linh điểu Đại Hắc cũng tỏ vẻ mến tiếc cuộc tạm chia tay này với Thượng Quan Linh.
Chỉ riêng có A Hương và Sở Canh là không hề bị lôi cuốn vào trong cảnh bịn rịn này, phần nàng A Hương, thực ra nàng đâu có hiểu gì về cảnh khổ biệt ly này là gì. Còn Sở Canh, vốn là anh chàng chất phác, và trong đầu óc đơn giản của chàng chỉ lo nhớ có Liễu Mi và Thượng Quan Linh, nay được theo cùng đi Ai Lao Sơn Vân Nam, lẽ tất nhiên trong tâm hồn chả cần phải lo nghĩ gì, chàng chỉ cảm thấy một điều là Hầu Hạo cũng thẳng tính ruột ngựa như mình, sức mạnh cũng giống nhau, đôi bên cảm thấy tương đắc, nay chia tay, chỉ hơi thấy nao trong lòng.
Ngày chia tay sắp kế gần, ai nấy tuy không nhắc đến, nhưng trong lòng đều đã buồn man mác. Thôi Bác được sự giúp sức của Châu Phụng, thu thập tất cả châu báu của kho tàng lại. Sau mấy ngày thu xếp, tất cả mọi việc đều đã xong xuôi. Hôm ấy, cũng là hôm đoàn tụ chót của mọi người tại Lãnh Hương Các. Mai đây ai nấy sẽ chia tay lên đường lo việc riêng; mẹ con Châu Thị, Liễu Mi, Thượng Quan Linh, sáng sớm ra đã lo dọn dẹp và xếp đặt một cuộc tiệc chia tay để mọi người thoải mái một bữa.
Đến trời vừa tối, đèn thắp sáng trưng, mọi người đến tề tựu hết tại Lãnh Hương Các, tất cả là bốn đàn ông và sáu đàn bà cùng thần ưng Đại Hắc, họ đều quây quần chung một bàn. Những người ngồi đây ai nấy đều chìm đắm và tạm say sưa trong mối cảm tình sắp chia tay, mai đây người vì tình bạn kẻ vì tình yêu, cũng có người lo cho tròn và kẻ lo nghĩa mẹ cho vuông. Khi gà gáy sáng đây, mỗi người sẽ đi một chân trời Nam Bắc, rồi ngày tái ngộ không biết đến chừng nào... Cảnh tiệc đầy không khí vui, nhưng họ đều mượn cảnh ấy để xua đuổi những tâm tư bịn rịn chia phôi sắp đến...
Sau này, kẻ chân trời người góc biển, mây bay gió cuốn, cuộc tương phùng sẽ ở đâu? Tuy trong huyết quản họ đều là những giọt máu chứa đầy chất phiêu bạt của kẻ giang hồ hiệp nghĩa, nhưng hễ sinh ra là người, ai cũng có những giờ phút phải bịn rịn về tình cảm! Cuộc tiệc càng kéo dài, càng hiện thêm nét buồn của nó, tiếng vui cười đã vắng, ai cũng cảm thấy nghẹn ngào. Liễu Mi thấy vậy bèn bước sang phía Độc chỉ Thôi Bác, thì thầm một hồi, Thôi Bác do dự một lúc, cuối cùng gật đầu.
Thượng Quan Linh không biết người vợ chưa cưới của mình lại đang tính trò chơi gì đây? Bèn lén hỏi nàng, Liễu Mi cúi xuống ghé sát vào tai người yêu cười nói thầm:
- Anh Thượng Quan cưng của em! Thôi Bác thúc thúc sắp sửa kể rõ về thân thế lai lịch của anh em Hầu Hạo cho mọi người hay đấy, vậy anh hãy ráng lắng tai mà nghe!
Thượng Quan Linh giật mình như tỉnh ngay cơn say ngà ngà của mình, trong lòng chàng lúc này mừng khôn tả. Vì vụ bí mật này, đến cả ngay chính bản thân của hai anh em Hầu Hạo cũng không biết, và tất cả những người hiện diện tại đây, có thể nói là không ai lại không muốn biết về vụ bí mật này, và họ càng sốt ruột bao nhiêu thì Thôi Bác lại càng muốn thưởng thức sự ngóng đợi của họ bấy nhiêu vậy!
Không ngờ trước giờ chia tay sắp đến này, nàng Liễu Mi lại khéo đề nghị một yêu cầu với Thôi Bác như vậy, đương nhiên, câu chuyện thú vị này sẽ thu hút trọn vẹn tâm thần của mọi người trong lúc khá buồn này, có thể vì đó mà họ xua đuổi được cảnh khổ não của cuộc chia tay.
Liễu Mi đưa mắt chăm chăm nhìn Thôi Bác, ông ta khẽ gật đầu, Liễu Mi bèn trịnh trọng tuyên bố:
- Nay Thôi đại hiệp sắp sửa công khai kể về lai lịch thân phận của anh em Hầu Hạo, xin quí vị hãy lắng nghe câu chuyện đã được giữ kín bấy lâu!...
Sau lời tuyên bố của Liễu Mi, ai nấy đều thất kinh, Hầu Hạo và Đông Phương Đình bất giác đứng hẳn người lên ngẩn người hấp tấp nói:
- Thưa Thôi thúc thúc, ngài nói thật đấy chứ?!
Thôi Bác mỉm cười hiền từ, đưa tay ra dấu cho mọi người yên tĩnh, rồi bắt đầu thuật lại câu chuyện.
Thôi Bác lên tiếng hiền hòa nói:
- Không phải tôi không muốn nói chuyện này ra, nhưng vì hễ mỗi lần tôi tính kể ra, trong lòng bỗng cảm thấy ân hận và đau khổ vô cùng, và làm như cuống họng bị bế tắc vì nghẹn ngào, vì thế không làm sao nói ra được, nay tôi cố gắng kể lại vậy.
Với một giọng trầm buồn Độc chỉ Thôi Bác bắt đầu thuật:
- "Thời đã xa xưa rồi... lúc đó người nhà Thanh ồ ạt tràn tiến xuống khắp miền Nam hưng quốc đổi chủ, những di thần (những tôi trung đã chết) của nhà Minh lúc bấy giờ ủng lập Phúc Vương tại Nam kinh, vị Các Tương Sử Khả Pháp lo trấn giữ miền Giang Hoài (con sông từ An Huy, Giang Tô đổ ra biển Đông) để cố chống nhà Thanh, nhưng vì Phúc Vương yếu đuối, việc trào chính đều bị thao túng hết vào trong tay bọn Mã Sĩ Anh và Nguyễn Đại Châm. Cuộc trung hưng đành vô vọng, đến khi vị Các Tương Sử Khả Pháp bị chết tại Dương Châu, quân nhà Thanh được thế tiến thẳng vào như nước vỡ bờ đê, rút cuộc một tiểu trào đình của nhà Minh này bị tan tành theo nước lũ của quân nhà Thanh!
Nhưng các chí sĩ Hán tộc của chúng ta, không cam tâm chịu mất nước, sau Phúc Vương lại có Lỗ vương, Đường Vương kế tiếp nổi lên chống đối, nhưng trước sau đều bị thất bại, sau cùng được vị Quế Vương duy trì tàn cuộc được khá lâu, về sau tuy bị phản hại và chết về tên Hán gian Ngô Tam Quế, nhưng đoạn lịch sử này đã để lại cho biết bao nhiêu là bi hùng ca đáng ghi nhớ muôn đời.
Nói về vị Quế Vương này, dòng dõi tôn thất có người họ Chu tên Thuần, là người anh hùng xuất chúng và văn võ toàn tài.
Tôn thất Chu Thuần, từ lâu đã gây căn cơ thế lực ngấm ngầm tại miền Bắc, nói đó là một hải đảo, vị trí nằm ngay cửa bể phía Đông của Xích dương hải khẩu tỉnh Hà Bắc. Cách mười dặm trên hải đảo ấy, có một nơi gọi là Hoàng Đảo, Chu Thuần đặt ngay đại bản doanh của mình nơi đây, và được hầu hết các đám giặc bể khắp vùng đó tôn lên làm quân chúa.
Trên Hoàng Đảo, quân giặc bể đã chôn giấu chân châu báu vật nhiều vô kể, nhân số lại đông đến cả mấy ngàn người, nhiều chiến thuyền đồ sộ, có cả hồng y đại pháo (những cỗ trọng pháo trên tàu bể được phủ khăn đỏ chói), để thêm tình đoàn kết của đám giặc bể, Chu Thuần đã kết duyên với em gái của vị thủ lãnh Hải đạo (thủ lãnh cướp bể), và cũng từ đó được suy tôn làm Chúa đảo, hồng đô đại triển, một cuộc kiến thiết được xúc tiến trên Hoàng Đảo. Những cung thất nguy nga được xây cất lên, chiêu nạp ngay những chí sĩ hiền nhân, chiêu binh mãi mã, tối ngày lo tập luyện binh mã và ngấm ngầm liên lạc với Quế Vương, chờ ngày đại khởi nghĩa, để hoàn thành sứ mạng yêu nước là phản Thanh phục Minh, và cũng chuẩn bị nghênh tiếp Quế Vương về ngay Hoàng Đảo để dùng làm hành cung.
Quế Vương sai sứ từ xa lại, phong ngay Chu Thuần làm Vương và chúa đảo Hoàng Đảo, phong cho vợ Chu Thuần là Đông Phương thị làm vương phi. Từ đó mọi việc trên Hoàng Đảo lên cao như diều gặp gió. Chẳng bao lâu, Đảo chúa đã sinh hạ được thế tử và cung chúa, trai đặt tên là Chu Hoàng và gái là Chu Văn. Chúa hoàng đảo lo tích cực mưu đồ đại cử, ý muốn nghênh đón Quế Vương, cử nghĩa binh tiến đánh thẳng về kinh đô, đuổi hết quân Mãn nô nhà Thanh để khôi phục lại giang san nhà Minh!
Vị chúa đảo Chu Thần, tuy là dòng dõi vua chúa, nhưng tính tình khiêm tốn nhân hậu, biết dùng người đúng chỗ, chứa đầy phong độ của kẻ quân vương tài đức. Lúc đó chí sĩ bốn phương đều đua nhau kéo lại phò tá, cả đến những bực giang hồ giang hồ ẩn sĩ cũng đến đầu hiệu vị tân quân phục Minh phản Thanh này.
Trong thời toàn thịnh của Hoàng Đảo ấy, cách nay đã trên mười năm trời, lúc ấy vị Độc chỉ Thôi Bác và Thiên Si đạo trưởng trong nhóm Càn Khôn Ngũ Tuyệt đều được chúa Hoàng Đảo thỉnh mời đến làm tả hữu tham sự, trong lúc công việc oanh liệt đang tiến hành rầm rộ ấy, không ngờ khí thế nhà Minh đã tận, quốc nạn khó tránh, xui cho bộ hạ của Quế Vương là Lý Định Quốc điều khiển đại quân bị thất bại, mặt trận thua to, đành phải hộ tống Quế Vương chạy tuốt vào miền Nam, và chính quân đội người Hán do tên Hán gian Ngô Tam Quế cầm đầu truy nã gắt gao khiến cho cánh quân đã tàn tạ của Quế Vương và Lý Định Quốc bị cắt làm hai đoạn. Quế Vương đành chạy dài sang Miến Điện, rồi bị người Miến Điện bắt giao luôn cho Ngô Tam Quế, sau chết tại Vân Nam. Lý Định Quốc nghe hung tin Quế Vương mất, nổi cơn tức giận, bèn cử luôn đám tàn quân của mình vào Miến Điện tàn sát dân Miến để trả thù cho Quế Vương bị chúng bán rẻ, cuối cùng vị tướng hết thời này bị thổ huyết chết, đám tàn binh tan lạc hết từ đó.
Một khi vì vua chót nhất của của nhà Nam Minh đã chết, hy vọng phục quốc của Đại Hán dân tộc biến thành một chiếc bánh vẽ mà thôi. Tin tức truyền đến Hoàng Đảo, các chí sĩ đều đau đớn về hung tin này, ai nấy nguyền rủa một lòng xả thân ra đền nợ nước. Độc chỉ Thôi Bác quả thất vọng với đại cuộc, bèn phụng mạnh của chúa đảo Chu Thuần, ngược Bắc để thám sát tình hình của triều đình nhà Thanh hư thực ra sao. Sau khi Thôi Bác đi chẳng lâu, trên Hoàng Đảo đã xảy ra cuộc tai biến lớn lao, những tay cao thủ tuyệt giỏi của triều đình nhà Thanh đã giả dạng đột nhập vào Hoàng Đảo, chúng cấu kết và mua chuộc với những phần tử bất lương, ngoài hợp trong ứng, gây ngay một cuộc phản loạn.
Trong lúc đó lại có một cánh quân lớn lao hùng hậu của Mãn tộc nhà Thanh kéo đến, vì trong Hoàng Đảo đã có những tên phản loạn làm nội ứng cho địch, nên những cỗ hồng y pháo (trọng pháo của giặc bể) đều bị tắc nghẹn không sao dùng được, sau cuộc xáp chiến kinh thiên động địa diễn ra trên toàn diện của Hoàng Đảo, vị thủ lãnh của Hải đảo là Đông Phương Lư bị đâm tử trận. Toàn đảo khói lửa đã ngợp trời, người la ngựa hí vang inh, một trận chiến kịch liệt, mà có thể nói là máu loang khắp Hoàng Đảo!
Trong tình thế cấp bách dầu sôi lửa cháy ấy, chúa đảo Chu Thuần thấy đại thế đã mất, không sao cứu vãn tình thế về được, bèn giao ngay hai đứa con một trai một gái cho Độc chỉ Thôi Bác, Thiên Si đạo trưởng và Đông Phương Tướng ba người. Đông Phương Tướng vốn là tộc huynh của đảo chúa phu nhân, nay tình thế quá cấp bách, Độc chỉ Thôi Bác lại chưa về kịp, nên công việc bảo vệ Chu Hoàng và Chu Văn đều do Đông Phương Tướng và Thiên Si đạo trưởng lo trách nhiệm hộ tống, hai người đã cố gắng đột vây để bảo toàn cuộc rút lui! Chạy chưa được bao xa, một đại đội quân Thanh đã tới tấp truy nã theo, trong đó có khá nhiều các tay giang hồ bịt mặt. Lúc này Thiên Si đạo trưởng và Đông Phương Tướng mỗi người lo bồng trên tay một đứa bé, bỗng một tiếng kêu tuyệt vọng thê thảm của Đông Phương phu nhân vang lên từ phía sau, khi quay đầu nhìn lại, chỉ thấy chúa đảo Chu Thuần đứng sững trong cung thất, trên cổ dính ngay theo một đoạn tỉ thủ khí lạnh âm u, chiếc đầu của Chu Thuần sắp rơi nhưng lại không rớt xuống hẳn, vẫn dính lủng lẳng trên cổ!
Thiên Si đạo trưởng giận điên người, vội giao ngay Chu Hoàng trên tay sang cho Đông Phương Tướng, xách ngay kiếm tung ngược ngay trở lại, để tìm kiếm kẻ giang hồ đã phóng tỉ thủ giết người ấy để trả thù cho Chúa đảo Chu Thuần. Không ngờ trong cảnh hỗn quân hỗn quan ấy, Thiên Si đạo trưởng, sau khi đánh thẳng đến trong, thì cây tỉ thủ đã biến đâu mất dạng. Chu Thuần đã chết, nhưng xác vẫn đứng trơ, trên cổ không thấy một giọt máu, chiếc đầu lúc này đã rớt ngay trên mặt bàn, và hình như đã có người nào để lại ngay ngắn, Đảo phi Đông Phương thị tóc tai rối bung, hai hàng lệ đầm đìa, đang ngửng đầu và hai tay dốc một bình rượu vào miệng. Thiên Si hét lên một tiếng như điên, nhảy bung ngay vào, để hy vọng cứu Đông Phương phi tử.
Nhưng mọi việc đều xảy ra quá chớp nhoáng cho nạn nhân, và cũng quá chậm cho kẻ tiếp cứu, Đông Phương phi tử đã uống độc dược để chết theo chồng. Thiên Si đạo trưởng bi phẫn muốn tìm ngay thủ phạm đã dùng tỉ thủ giết người ấy để trả thù, nhưng trong cảnh quan quân hỗn chiến khốc liệt ấy, tìm sao cho ra kẻ chánh hung, nhất là đám cao thủ giang hồ lại bịt mặt hết. Vô phương! Thiên Si đạo trưởng chỉ còn nước tung sức đánh giết quân địch cho bằng thích để hả giận tang thương trước mắt!
Khốn nỗi trong cảnh quân bại núi vỡ ấy, đại cuộc đã tan biến không còn cách nào cứu vãn tình thế, Thiên Si đạo trường sau hồi kịch chiến tắm máu đó dần dần tỉnh trí lại, biết mình hãy còn trách nhiệm trọng đại trong người, đâu có thể nào nấn ná mãi cuộc chiến này. Nghĩ xong dốc hết toàn lực, xông ra vòng vây tìm Đông Phương Tướng để cùng lo bảo vệ đôi trẻ mồ côi. Dưới ánh lửa ngộp trời và tiếng gào hét quỉ khóc thần sầu do cảnh chiến gây nên ấy, Thiên Si đạo trưởng không tìm thấy Đông Phương Tướng, Chu Hoàng và Chu Văn đâu cả. Trong cảnh đêm tối gió bấc ào ào từng cơn lạnh, Thiên Si đạo trưởng không thể nào phụ lòng ủy thác của Chu Thuần, ông ta tả xung hữu đột, tìm kiếm khắp nơi mãi cho đến sáng. Nhưng khi trời sáng chỉ thấy quân Thanh lo thu vét tất cả chiến lợi phẩm về vàng bạc châu báu của Hoàng Đảo, và bắt theo một mớ tù binh lên thuyền kéo buồm đi luôn, Thiên Si đạo trưởng cũng đã ngấm ngầm theo dõi trong đám tù binh nhưng không hề thấy Đông Phương Tướng và anh em Chu Hoàng và Chu Văn đâu cả.
Chờ cho quân Thanh rút đi hết, chỉ thấy trên Hoàng Đảo, một cảnh thê lương điêu tàn ghê rợn, tử thi đầy rẫy khắp nơi, khói lửa vẫn nghi ngút khắp vùng, Thiên Si đạo trưởng sau khi mai táng vợ chồng Chu Thuần, tự hổ thẹn với lòng mình đã không lo tròn trách nhiệm, khiến đến nỗi xảy ra cuộc thảm biến khốc hại này, ngay khi đó thì Độc chỉ Thôi Bác bỗng về đến trên đảo, đồng thời cứu kịp ngay Thiên Si đạo trưởng, sau khi nghe lời thuật lại với đầm đìa nước mắt của Thiên Si đạo trưởng, Thôi Bác cũng dậm chân đấm tay vì sự về chậm của mình, nay tuy có tuyệt thế công lực trong người, cũng không làm sao cứu nổi vợ chồng Chu Thuần được! Chỉ còn cách gạt nước mắt nuốt hận trong lòng!
Thôi Bác và Thiên Si bèn đi thuyền về ngay đất liền trên đại lục, hai người chia tay lo việc, nguyện thế nào cũng phải hoàn thành di chúc của vợ chồng Chu Thuần, cướp ngay kho tàng lớn lao về, đồng thời tìm ngay Đông Phương Tướng, anh em Chu Hoàng và Chu Văn, nuôi dạy cho thành tài để nối tiếp đại chí của cha, với kho tàng của Hoàng Đảo làm vốn, và sẽ tái kết hợp tất cả các hiệp nghĩa trong thiên hạ, quyết chí phản Thanh để phục Minh lại. Sau khi hai người chia tay, chẳng bao lâu, Thôi Bác đuổi kịp đám quân Thanh đang vận tải của cải kho tàng của Hoàng Đảo, trong sự hộ tống của cuộc di chuyển kho tàng lớn lao này, ngoài một số đại nội cao thủ trong cung đình nhà Thanh ra, còn cả đám bại loại trong giang hồ và sĩ tốt của quân Thanh tổng số có trên trăm người. Độc chỉ Thôi Bác bèn hiện ngay ra chận ngay đoàn quân vận báu này, một trận huyết chiến kịch liệt diễn ra, chỉ thấy ngọn kiếm oai lừng của Thôi Bác tung hoành kinh hồn, vì sự căm giận đám người này đã tàn phá Hoàng Đảo và gây nên bao tang tóc, nên trong lúc giao tranh, Độc chỉ Thôi Bác không hề nương tay tha thứ bất luận với một người nào của đoàn hộ tống này, thẳng tay tiêu diệt! Trận chiến kéo dài suốt từ sáng đến gần trưa, trên trăm người của đoàn hộ tống ấy, không chết cũng bị thương nặng, không một tên nào thoát nạn.
Thôi Bác tìm chưa ra anh em họ Chu, bèn đơn thân độc mã vận ngay hết số của cải kho tàng này về Mặc Phụ Sơn trên Lãnh Hương Các tạm cất giữ. Chuyện này đã xảy ra mười năm về trước, đang lúc Thôi Bác đang tính lên đường tìm kiếm Thiên Si đạo trưởng để thăm dò về tin tức của Đông Phương Tướng và anh em họ Chu, không ngờ cũng ngay trong lúc đó thì vợ chồng Ngọc Thụ Thiếu Tù và Miêu Gia Diệm Nữ tìm đến Mặc Phụ Sơn và một vụ thảm biến đã xảy ngay ra tại Tả Diện Phong trên Mặc Phụ Sơn. Vợ chồng Ngọc Thụ Ky Nhân và đứa bé A Hương đều bị té hết xuống vực thẳm, khiến cho Thôi Bác ân hận và sinh bệnh ho suýt chết, sau nhờ đôi chim ưng hết lòng hái ngậm những đóa boa tục giao hồng hoa mới cứu nổi mạng sống tàn thừa của một người luôn u sầu vì bị ám ảnh.
Cũng từ đó, Độc chỉ Thôi Bác trở thành với biệt hiệu: Đoạn Trường Nhân sống những chuỗi ngày buồn tẻ của cuộc đời, và với tấm thân bệnh hoạn ho hen ấy. Thôi Bác không còn chuyện gì có thể gây nổi hào hứng trong cuộc sống của Đoạn Trường Nhân u buồn ấy nữa.
Không ngờ hai đứa con mà vợ chồng chúa Hoàng Đảo đã để lại đó vẫn sống sót trong cơn tao loạn và chính giờ đây, trong trí hồi ức của anh em Hầu Hạo và Đông Phương Đình, vẫn có thể còn đoán quyết được là hai anh em ấy. Quả nhiên sau đã lọt vào tay những nhân vật giang hồ, do một người có vết sẹo trên mặt và một người đàn bà thúc lãnh, và đám người này đã ép Chu Hoàng uống một thứ thuốc độc, khiến cho chàng quên hết tất cả các chuyện đã xảy ra, tiếp đó lại ép luôn Chu Văn cũng uống, nhưng vì trước khi uống thuốc ấy, Chu Văn đã kêu lên một tiếng Anh ơi nên Chu Hoàng vẫn còn lơ mơ nhớ rõ là mình có một người em gái như thế.
Trong khi đó đám người lo áp giải hai anh em ra ngoài quan ải, nhưng không may cho chúng là giữa đường lại đụng độ gặp phải Thiên Si đạo trưởng, sau cuộc kịch chiến, chỉ cứu được có mình Chu Hoàng, vì địch thủ quá đông, phần lo cho tánh mạng của Chu Hoàng, Thiên Si đành buông bỏ lại Chu Văn cho chúng để lo riêng cho Chu Hoàng để tiện bề tháo lui.
Từ đó Thiên Si lo đưa ngay Chu Hoàng về Tô Huyện Dực Bắc ẩn cư tại Tam Đường Thôn, vì là con của khiêm phạm (trọng phạm của nhà vua), nên đành phải cải danh đổi họ là Hầu Hạo, và Hầu Hạo sau khi bị uống thuốc độc, đối với thân thế lai lịch của mình chẳng hay biết gì. Thiên Si thấy thời cơ chưa đến, nên cũng chưa dám tỏ rõ cho hay vội, suốt trong mười năm trời, chỉ lo việc dạy văn luyện võ cho Hầu Hạo, và xưng hô với danh nghĩa thầy trò, và hạn chế không cho chàng rời khỏi phạm vi nho nhỏ của Tam Đường Thôn, thậm chí cả đến tên của mình cũng không nói cho chàng hay. Về sau, Hầu Hạo thành danh, từ văn sự đến võ công, đều đã có căn cơ, Thiên Si hy vọng chàng có thể khôi phục lại trí nhớ, tìm đủ mọi thứ thuốc để chữa, quả nhiên đã thu được kết quả.
Trong lúc đó, Thiên Si biết rõ Độc chỉ Thôi Bác đang ẩn cư tại Mặc Phụ Sơn, bèn họa ngay một bức hình giao cho Hầu Hạo, và nói rõ với chàng là người trong bức họa sẽ có thể giúp đỡ chàng, bởi vì Chu Thuần ủy thác con mình cho đám cao thủ, chỉ có mỗi mình Độc chỉ Thôi Bác công lực cao nhất, lại nữa người ta đã đoạt được số kho tàng về, Hầu Hạo muốn trả thù cho cha mẹ và tái lập hưng đồ đại sự sau này, lẽ đương nhiên phải được sự hiệp trợ của Thôi Bác. Về sau, hành tung của Thiên Si bị sư huynh là Bắc kiếm Phổ Côn dò la tìm ra, và cho đồ đệ lại mời. Thiên Si biết ngay chuyến đi này điềm dữ nhiều hơn điềm lành, bèn nói rõ ngay địa điểm của bức họa, và hạ lệnh cho Hầu Hạo cấp tốc đi tìm ngay Độc chỉ Thôi Bác, đồng thời nói rõ vụ hung án mười năm về trước của cây Lãnh điện tỉ thủ. Vụ công án này phải kết thúc ngay với thời gian của nó, và mong rằng Thôi Bác có thể trượng nghĩa hiệp trợ cho mau hoàn tất. Ý chính của Thiên Si cho Hầu Hạo đi gặp Đoạn trường nhân Độc chỉ Thôi Bác, rõ ràng là muốn Thôi Bác hãy niệm tình xưa kia của vợ chồng Chu Thuần, trong số ba người được ủy thác trọng trách về anh em họ Chu, nay Thiên Si đã cảm thấy chính bản thân của mình cũng khó giữ, nên đành phải cho ngay Hầu Hạo ra đi tìm Độc chỉ Thôi Bác, mong rằng vị Đoạn Trường Nhân sẽ không phụ ước những lời nguyền xưa kia, và tận lực giúp cho kẻ hậu bối được thân hành trả mối thù Lãnh điện tỉ thủ đã giết cha, sau này nếu tìm ra được cô em Chu Văn, sẽ bàn tính cuộc đại cử phục Minh sau.
Hầu Hạo không rõ thân thế lai lịch của mình, nay thầy lại bận việc ra đi, chàng cũng đành lủi thủi cất bước đi giang hồ, và suốt dọc đường, dần dà chàng mới tìm ra tên thật của thầy mình mà suốt mười năm trời chàng không hề biết đến. Thì ra một nhân vật khét tiếng trong nhóm Càn Khôn Ngũ Tuyệt tức Tây đạo Thiên Si, nhưng đối với thân thế lai lịch của bản thân, chàng lại không sao tìm ra được, đành buồn nản lang thang suốt cuộc hành trình, hễ mỗi lần ra tay giao đấu với ai, chàng bị dồn trong tình trạng bất đắc dĩ cả, bởi vậy mới nổi thêm biệt danh là Lãn Hiệp (hiệp sĩ lười). Trong cuộc hành trình từ Bắc xuôi Nam ấy, gặp Thượng Quan Linh lại được biết Lãnh điện tỉ thủ tái xuất hiện giang hồ, và giết hết trên mười người thân của Thượng Quan Linh tại Nhạc Châu, và cho rằng rất có thể là kẻ thù đã từng giết cha mẹ mình, hai bên đồng chung cảnh ngộ, thế là hai bên kết bạn tri giao.
Nhưng đám Hải Không tăng của Cửu Thiên Tự không hiểu vì đâu mà biết số của lớn lao của Hoàng Đảo nay lại nằm trên Mặc Phụ Sơn, lại biết luôn cả tên thiếu niên họ Hầu này có liên can mật thiết đến Độc chỉ Thôi Bác, đám tăng lữ này muốn chiếm được số kho tàng vĩ đại ấy, nhưng lại ngán sợ vị Đệ nhất cao thủ trong thiên hạ này, nên đã nghĩ ra một cách là theo để bắt cho được Hầu Hạo. Vì thế suốt dọc đường, Hầu Hạo mấy lần bị điêu linh, may mà chúng lại cần phải giữ mạng sống của Hầu Hạo để hòng còn dùng làm vật trao đổi kho tàng với Thôi Bác...
Còn Đông Phương Đình, chính là con gái của Chúa Hoàng Đảo Chu Thuần, tên là Chu Văn, thì ra trong lúc bị đám người áp giải ra quan ải đó, giữa đường anh mình được Thiên Si Tây Đạo cứu thoát, và đám người ấy đã đưa Chu Văn ra quan ải, sau được Đông Phương Tướng tìm ra tung tích, và đã dùng kế đoạt lại và đưa về miền Bắc, mai danh ẩn tiếng đổi luôn tên họ thành Đông Phương Đình. Nhưng kẻ có vết thẹo ngay mặt ấy, chẳng bao lâu đã tìm ra tung tích của Đông Phương Tướng, khiến cho Đông Phương Tướng và con trai là Đông Phương Kiệt lo đưa ngay Chu Văn đi trốn.
Đến sau Đông Phương Tướng biết khó duy trì tình thế, bèn căn dặn con trai Đông Phương Kiệt đưa em gái Đông Phương Đình về Nam để gặp Độc chỉ Thôi Bác che chở. Đông Phương Tướng sau khi bị chết về vết thương nặng tại miền Bắc, người con Đông Phương Kiệt bèn thay cha lo trách nhiệm hộ tống đưa Chu Văn về Nam. Suốt cuộc hành trình, đều gặp các tay giang hồ truy nã, và sau cùng là gặp được chàng Thượng Quan Linh trong tình trạng dở sống dở chết vì ngọn Phủ Chưởng Hàn, và sau khi nhờ được Thượng Quan Linh giải thoát thì Đông Phương Kiệt chết vì vết thương quá nặng.
Sau được Liễu Mi gánh vác trách nhiệm thay cho Thượng Quan Linh, trong lúc chàng đi tự tử, đưa ngay Chu Văn đi tìm người anh ruột, giữa đường, gặp Nam bút Gia Cát Dật tiên sinh, nghe nói Nhữ Nam đang có chuyện quan hệ của giới giang hồ và kết quả là anh em Hầu Hạo gặp nhau đoàn tụ..."
Tất cả đây, đều là những chuyện đã xảy ra từ trước đến nay, dưới sự đối chiếu của tất cả mọi người như Độc chỉ Thôi Bác, Hầu Hạo, Đông Phương Đình, Thượng Quan Linh, Liễu Mi, ai nấy đều rõ ràng nội bộ của câu chuyện.
Hầu Hạo và Đông Phương Đình sau khi nghe hết câu chuyện khá dài này, mới hiểu rõ thân thế lai lịch của hai anh em mình, anh tên gọi Chu Hoàng, em gái gọi Chu Văn, nghĩ đến cha chết vì chiếc Lãnh điện tỉ thủ mẹ mất vì uống độc dược, cha con Đông Phương Tướng đều bị hy sinh tính mạng vì em mình, nay Si đạo trưởng là ân sư không biết chuyện hung kiết ra sao? Và hiện nay không biết ở đâu? Hai anh em càng nghĩ càng khóc sướt mướt cho thân thế đầy bi thương của mình.
Đám Liễu Mi hết lời khuyên nhủ, Độc chỉ Thôi Bác luôn luôn thở dài ân hận vì suốt mười năm mình đã bỏ bê mọi việc, và tuyệt ý với nhân thế để trốn trách nhiệm của mình rồi âm thầm đau khổ theo mối hận tình mà suốt đời không thể làm sao quên nổi, để đến nỗi ngày nay gây nên: Thiên Si Tây Đạo mất tích, cha con Đông Phương Tướng bị hy sinh, anh em Chu Hoàng bơ vơ mãi bấy lâu, càng nghĩ càng thấy hận lòng, càng thấy mình có lỗi với cố nhân!
 
0
Hồi 065. Vụ Án Lãnh Điện
[/align]

Độc chỉ Thôi Bác bèn tỏ ra ý mình: ngày tháng nay còn dài, kể từ nay mình sẽ lo hết bổn phận về anh em họ Chu, và sẽ coi anh em hai người này như A Hương, đều là con cháu của mình, truyền hết tuyệt nghệ của mình cho ba trẻ. Sau này sẽ đưa linh cửu của cha con Đông Phương Tướng về Hoàng Đảo để mai táng tử tế, và thế nào cũng lo điều tra về tin tức của Thiên Si Tây Đạo! Và nhất là tên kẻ thù đã dùng Lãnh điện tỉ thủ sát hại Chúa Hoàng Đảo, thế nào cũng phải tìm cho ra tên hung thủ này để báo thù.
Lúc này Chu Hoàng (xin quí độc giả hiểu cho từ đây Hầu Hạo đã lấy lại tên họ thật của mình là Chu Hoàng) nước mắt hai hàng thảm thiết rằng:
- Nay Lãnh điện tỉ thủ là vật sở hữu của lão bà bịt mặt. Nếu nói theo vậy, mụ này chính là thủ phạm đã sát hại những người thân của Thượng Quan hiền đệ, mà cũng là kẻ thù đã giết cha tôi, nay đã biết mụ già bịt mặt ấy ở Ai Lao Sơn bên Vân Nam, vậy anh em chúng tôi làm sao mà không đi trả ngay mối thù giết cha này cho được...
Câu nói này thốt ra, quả nhiên là có lý!
Liễu Mi rằng:
- Bây giờ chúng mình nên kéo nhau hết đi Ai Lao Sơn Vân Nam, kết liễu ngay hai mối huyết thù của nhà họ Chu và Thượng Quan rồi thủng thỉnh sẽ tính sau các chuyện khác...
Trong ý Liễu Mi, nàng cho rằng có đông người đi như vậy, thế nào cũng cầm chắc cái thắng trong tay, trong lòng vô cùng phấn khởi:
Nhưng thấy vị Độc chỉ Thôi Bác tỏ vẻ không tán thành rằng:
- Theo chỗ tôi được biết, kẻ sử dụng Lãnh điện tỉ thủ này, không phải lão bà bịt mặt bí mật ấy, mà lại là một người khác, vì lão bà ấy đâu có thù oán gì với nhà họ Chu đâu, mà chỉ có thù với nhà họ Thượng Quan mà thôi, cho nên: người bí mật dùng Lãnh điện tỉ thủ đến Nhạc Châu giết hết mười mạng của họ Thượng Quan, có thể nói là vụ này chính lão bà đã đứng sau lưng để chủ mưu vụ ám sát này...
Thượng Quan Linh hấp tấp rằng:
- Dạ đệ tử biết mụ già bịt mặt ấy có hai người đệ tử theo hầu, hay là một trong hai người đó đã sử dụng đến tỉ thủ để ra tay thi hành cuộc tàn sát...
Thôi Bác lắc đầu liên hồi rằng:
- Không! Không! Hai tên ấy đều không phải, mấy năm gần đây, tôi đã cố gắng để điều tra xem ai là người đã sử dụng đến cây Lãnh điện tỉ thủ này? Nhưng mãi đến bây giờ, vẫn còn chưa biết rõ là ai, nhưng có điều tôi biết người này công lực tuyệt cao, khi sử dụng Lãnh điện tỉ thủ giết người không thấy máu ấy, thủ pháp rất tuyệt và hành động nhanh hơn gió! Hành tung người này khá bí mật, không hề để lộ dấu vết gì trên giang hồ, quỉ xuất nhập thần tuyệt luân, làm như hắn chuyên môn nhận lời ủy thác của thiên hạ để đi thi hành nhiệm vụ ám sát của mình vậy. Vụ xưa kia tại trên Hoàng Đảo và vụ của nhà Thượng Quan, đều thế cả! Tại sao hắn lại làm vậy? Quả thật không ai biết? Nhưng có điều, tên này đã đáng tội chết lắm! Chúng ta quyết thế nào cũng tìm ngay cho được hắn mới thôi. Nhưng mãi đến nay, đến tên họ, tuổi tác, diện mạo và những cố tật đặc biệt của người này, trong làng võ lâm, bất luận là Bạch đạo hay Hắc đạo, đều không có một ai có thể biết đến. Thậm chí cả đến lão bà bịt mặt đã nhờ vả đến hắn để ra tay giết người ấy, cũng không làm sao biết nổi hành tung của hắn ở đâu?...
Thượng Quan Linh bèn đề nghị ý kiến của mình, chàng nhắc đến vụ sau khi bị Phủ Chưởng Hàn của lão bà bịt mặt ấy, từng gặp vị danh y Hoạt thương công Hoa Diệp Tử, vị danh y này đã nhắc đến lão bà bịt mặt ấy cùng với chiếc Lãnh điện tỉ thủ đều từ xứ Mông Cổ đến, và đã tổ chức một bang hội bí mật trong giang hồ, bang hội này được mệnh danh là Tỉ Thủ Bang và chính ngọn kỳ bảo Lãnh điện tỉ thủ hiện đang nằm trong tay đám bang hội bí mật này...
Thôi Bác cho rằng đây chỉ là những lời đồn đãi vu vơ, chẳng qua vì quái nhân sử dụng Lãnh điện tỉ thủ này là một người thần kỳ bí mật không ai biết nổi, nên thiên hạ tha hồ phao tin nhảm nhí để tăng thêm sức huyền bí rùng rợn của sự kiện. Nói đến con người quái dị đã sử dụng Lãnh điện tỉ thủ này, tuy hắn không thường xuất hiện lộ diện trên giang hồ, nhưng hễ mỗi lần ra tay, đều khiến cho thiên hạ phải kinh hãi đến gần mất hồn bay vía, nên trên giang hồ, người ta đã gán thêm cho hắn một cái tên Tỉ Vương. Mặt thật của Tỉ Vương ra sao? Không ai biết! Rất có thể hắn chỉ là một người rất tầm thường và đang lang thang trên giang hồ, và đương nhiên không ai biết hắn là ai? Nhưng hễ mỗi lần hắn ra tay, lại gây kinh động dữ dội trong dư luận giang hồ, khiến cho ai nấy đều chú ý đến Tỉ Vương, nhưng mỗi lần sôi nổi dư luận như vậy là mỗi lần con người thần bí ấy lại biến dạng mất tích.
Bỗng Chu Hoàng sực nhớ, xưa kia ở Nhạc Châu, chị của Thượng Quan Linh là Thượng Bích Vân, khi chết nơi miệng có ngậm chút chỉ tơ màu đỏ, sau này lọt vào tay mình, bèn cho rằng vật này có liên quan đến Lãnh điện tỉ thủ, có thể để lại sau này làm tang vật đối chúng, nên đã cẩn thận lo cất giữ. Quả nhiên không sai, kỳ trên Vô ảnh Phong, khi Tam Hung, Tứ Hung tính nhảy tới để cướp lấy sợi tơ đỏ ấy, may nhờ Nam bút Gia Cát Dật xuất hiện thình lình, nên khiến cho Nhị Hung bỏ chạy luôn, và sợi tơ đỏ ấy nay nằm trên người của Nam bút Gia Cát Dật tiên sinh, không biết là có tác dụng gì không. Độc chỉ Thôi Bác sau khi nghe xong, quả nhiên chú ý ngay, và còn cho rằng rất có thể đây là một manh mối để qui ra tung tích của Tỉ Vương cũng nên!
Mọi người cùng nghĩ, Thượng Quan Linh, Liễu Mi, Sở Canh hãy lên đường đi Vô Tích tại Giang Nam, đây là quê hương của Hạ Quyên, từ ngày chia tay tại Nhữ Nam, Hạ Quyên đã được Nam Bút tiên sinh đưa về quê. Nay chưa chừng vẫn có tại đó, hơn nữa tên Đại Hung của Vô ảnh Phong là Đinh Tàn, hắn đã không sao quên được nàng Hạ Quyên, nên đã theo ngay đi, chưa biết chừng lại có chuyện lôi thôi xảy ra cũng nên, vậy hãy tìm cho ra Nam Bút tiên sinh, sau hãy đi Ai Lao Sơn Vân Nam để thanh toán nợ cũ với lão bà bịt mặt ấy. Với sức thầy trò Thượng Quan Linh, Liễu Mi, Sở Canh, bốn người này đã dư sức đối phó cùng với ba thầy trò của lão bà. Mười mạng người thân của nhà Thượng Quan tuy không phải do chính tay lão bà bịt mặt hạ sát, nhưng chính bà già này đã đứng ra chủ mưu, vậy nên để cho Thượng Quan Linh tự liệu quyết định, hỏi rõ xem về chuyện ân oán xưa kia của các vị tiền bối để liệu mà kết thúc vụ án, và hay nhất là nên làm sao từ miệng lão bà bịt mặt thốt ra tin tức của Tĩ vương, nhưng chắc hy vọng mỏng manh lắm! Và khi gặp Nam Bút tiên sinh, cần nhất là dặn phải giữ gìn cẩn thận đến sợi tơ đỏ để làm bằng chứng khám phá con người kỳ bí Tỉ Vương.
Phần Thôi Bác và anh em họ Chu cùng A Hương, Đại Hắc, vẫn theo nguyên tắc kế hoạch cũ, khởi binh về Ngọc Thụ, vì phía đi Vân Nam, thực lực đã đủ sức, không cần phải tăng thêm sức giúp đỡ nữa; từ ngày Ngọc Thụ mất đi cây dị bảo Ngân hoa hỏa thụ, đã liên miên gây nên tai ách thống khổ cho dân trong xứ, nay dị bảo phải cấp tốc đưa ngay về để trấn bang Ngọc Thụ, miễn gây nên sự dòm ngó của các nhân vật trong giang hồ rồi lại xảy ra rắc rối thêm.
Sau khi quyết nghị, mọi người đều đồng ý. Lúc này chị em Châu Thị mới hiểu rõ người yêu của mình lại là vị vương tử, hai chị em vừa kinh vừa mừng.
Một đêm dài trải qua mệt mỏi...
Sáng hôm sau, mọi người sửa soạn lên đường, thoạt tiên là mọi người hợp sức đẩy hết các xe xuống núi, sau khi xuống đến chân núi yên ổn, Độc chỉ Thôi Bác ngoảnh lại nhìn lại ngôi Lãnh Hương Các mà mình đã sống qua trong mười năm trời, một nỗi niềm quyến luyến đang xâm chiếm tình cảm của Thôi đại hiệp.
Sau khi đoàn người đã đi được một đoạn đường và đến Dương quan đại đạo, nhóm bên. Thôi Bác đi về hướng Tây, một nhóm Thượng Quan Linh và ba mẹ con Châu Thị lo về hướng Nam, dù có luyến tiếc bịn rịn đến đâu, cũng đành phải tạm chia tay.
Nay xin tạm gác về phía Thôi Bác để thuật về nhóm Thượng Quan Linh, đi Vô Tích Giang Nam, cuộc đi này lại tiện đường với ba mẹ con Châu Thị, thế là đoàn người hai trai bốn gái đã thong dong trong cuộc hành trình, chẳng bao lâu, đến một thị trấn, họ mua sắm ngựa để thế cho cước trình. Suốt cuộc hành trình Liễu Mi chỉ lo cho chị Hạ Quyên, Thượng Quan Linh lo nhớ cho thầy Nam Bút tiên sinh, ai nấy lo hấp tấp tăng thêm tốc độ.
Cuộc hành trình tuy không phải là một hai ngày gì nhưng cũng đã sắp đến Vô Tích, Thượng Quan Linh càng hồi hộp, vì chàng chia tay với thầy đã lâu, nay sắp gặp mặt đây, lại lo có chuyện gì bất trắc xảy ra chăng, trong lòng sốt ruột vô cùng. Liễu Mi miễn cưỡng vờ như bình tĩnh, nàng cười nói với Thượng Quan Linh rằng:
- Này anh Linh, em cá với anh! Theo em đoán thì Nam Bút tiên sinh thúc thúc nhất định là đã kết duyên với chị Hạ Quyên rồi! Và có lẽ giờ đây người ta đang say sưa hưởng thụ tân hôn cũng chưa chừng, cho nên họ đã quên hết cả nhóm chúng mình...
Thượng Quan Linh không tin, bụng nghĩ thầy Nam Bút tiên sinh và chị Hạ Quyên, tuy là một đôi trai tài gái sắc lý tưởng thật đấy, nhưng mong rằng họ chớ nên kết hôn trong lúc này, vì Đinh Tàn đang si tình say mê chị Hạ Quyên, rất có thể vì tình yêu mà hắn nhất định sẽ liều mạng với thầy mình.
Liễu Mi cũng còn nhớ, Hạ Quyên từng nói với mình, nàng vốn là con nhà phú hộ ở Vô Tích, có cửa hiệu lớn trong thành, tên hiệu Tụ Hưng Trang, là một hiệu buôn nổi tiếng về tơ lụa. Nghĩ vậy Liễu Mi bèn cho ngựa mình tiến lên trước để dẫn đường vào thành tìm kiếm. Chẳng bao lâu tìm ngay đến trước cửa hiệu buôn Tụ Hưng Trang, nhưng cửa hiệu lúc này lại đóng chặt. Liễu Mi nghi ngờ, Thượng Quan Linh hồi hộp, ngầm khấn vái rằng: Cầu trời đừng có xảy ra chuyện gì cho thầy mình. Liễu Mi xuống ngựa, lại đưa tay gõ cửa, chờ cửa và lên tiếng gọi ầm ĩ, quả nhiên được việc. Két một tiếng, một cánh cửa nhỏ bên góc mở ngay ra, một người đàn ông trông bộ như quản gia thò ngay đầu ra, khi thấy Sở Canh như vị hung thần ác sát, lại thấy mọi người mang kiếm dắt ngựa hoảng quýnh la lên, rụt ngay đầu vào đóng chặt ngay cửa lại và mặc cho đám người đứng bên ngoài.
Sở Canh nổi giận, đòi phá tung ngay cửa, Ngọc điệp Châu Phụng vội khuyên ngăn lại, rồi cùng với Liễu Mi, hai người song song phi thân vào trong viện. Thì ra Ngọc điệp Châu Phụng danh tiếng lừng lẫy miền Giang Nam, nay nàng hiện tương hình ra, trong nhà họ Hạ nhận biết ngay vị nữ hiệp, lập tức có tiếng:
- Trời ơi! Tưởng là ai...
Tiếp theo là có người ra nghênh tiếp, đồng thời có người chạy vào trong phi báo! Người ra nghênh đón Ngọc điệp Châu Phụng vội cung kính gật đầu chào rối rít:
- Kính chào Châu đại nải nải (Bà Châu)! Cầu xin ngài mở lượng từ bi để cứu cô nương chúng tôi...
Liễu Mi nghe nói vậy kinh hoảng, vội hỏi nguyên do, người nọ lắp bắp kể rõ đầu đuôi. Liễu Mi, Châu Phụng đều kinh ngẩn người. Thì ra Nam Bút tiên sinh trong nhóm Càn Khôn Ngũ Tuyệt sau khi đưa nàng Hạ Quyên về quê, quả nhiên đôi bên đã tâm đầu ý hiệp, kẻ mến tài, người chuộng sắc, hai vợ chồng già đều lấy làm hài lòng với tư phong của Nam Bút tiên sinh, và đã đứng ra cử hành hôn sự cho hai người, để hoàn thành một mối lương duyên mà trời xanh đã khéo xếp đặt.
Nào ngờ ba hôm trước đây, bỗng có một quái nhân đến thăm viếng Tụ Hưng Trang, người này chỉ có một tay và một chân khiến mọi người trong trang sợ đến nỗi vãi rắm vãi nước... ướt cả quần! Và quái nhân này nhất định đòi gặp cho bằng Hạ cô nương! Ngay khi đó đã vào thẳng ngay hậu viện, Nam Bút tiên sinh và Hạ Quyên bèn ra gặp, chỉ thấy quái nhân một tay một chân ấy lạnh lùng cười liền hỏi, rồi hẹn ngay với Nam Bút tiên sinh lên Thúc Sơn miền Thái Hồ để thi võ.
Nam Bút tiên sinh cũng không chịu thua, hai người đã đưa nhau đi. Hạ cô nương là người kinh hoảng và rối trí hơn ai hết trong việc này. Hạ viên ngoại đây chỉ có độc mỗi đứa con gái cưng, may mắn lắm mới gặp được một nhân tài xuất chúng văn võ song toàn để làm rể quí không ngờ nay lại xảy ra cuộc tranh chấp lôi thôi đến thế, vợ chồng già đành đóng cửa tiệm nghỉ việc kinh doanh, đem theo các gia đinh trang khách của trang theo ngay lên Thúc Sơn để liều mạng thí xác luôn với quái nhân dị hợm ấy!
Đã ba ngày trôi qua, nhưng đều vô âm tin về, ở đây mọi người đóng kín cửa lo sợ nơm nớp, nên thấy người ngựa kiếm đao là rối trí hoảng sợ ngay. Nào hay là trời giáng cứu tinh đến, nên đã khiến Châu Phụng đến.
Lúc này, nội quyến (thân thích viên ngoại) bước ra khóc lóc khẩn cầu Ngọc điệp Châu Phụng. Liễu Mi và Châu Phụng lập tức nhận lời và an ủi, và quay ra ngoài cho mọi người hay tin, quay đầu ngựa tức tốc nhắm về Thúc Sơn tiến phát. Thúc Sơn nằm cô lập trơ trọi giữa Hồ Trung, chân núi bằng phẳng, giữa một ngọn phong cao ngất trời, khi mọi người đến nơi, chỉ thay hai vợ chồng già họ Hạ và đám gia đinh trai tráng, đang loay hoay ở chân núi mà không làm sao lên được, ai nấy rối như kiến đi trên cát nóng. Hạ Quyên khóc sướt mướt, khi thấy Liễu Mi và Thượng Quan Linh, mừng quýnh lên vợ chồng Hạ viên ngoại vội nhờ ngay Châu Phụng.
Liễu Mi vội hấp tấp an ủi rồi hỏi nhanh ngay Hạ Quyên về tình hình, Hạ Quyên nức nở rằng:
- Cả hai người đã tỉ thí suốt ba ngày ba đêm rồi, đến đêm qua đây còn nghe rõ tiếng đàn Bát long ngân của Nam Bút, nay đã khá lâu không nghe tiếng đàn rồi, xem ra chắc đã có gì chẳng may...
Hạ Quyên khóc sướt mướt và đòi Liễu Mi đưa ngay mình lên đỉnh phong, để được nhìn mặt chồng một lần cuối, dù cho chết chung một chỗ cũng cam tâm mãn nguyện. Thượng Quan Linh hối thúc Liễu Mi, cùng với Sở Canh, Châu Phụng, cấp tốc lên ngay đỉnh phong, còn chị em Châu Sách Châu Chu ở lại bên dưới để phòng bất trắc! Lên đến đỉnh phong, bốn người nhẹ nhàng tiến bước, chỉ thấy một khoảng trống lối sáu trượng tư vuông, nhưng lạ là không thấy bóng người, cả bốn người đều cảm thấy lạnh mình!
Thượng Quan Linh nhanh mắt, sau khi nhìn, ngầm nhủ trong lòng: Rõ chán cho mình thật! Chỉ thấy cạnh nơi đỉnh phong này, có hai tảng đá lớn nhô hẳn ra, Đại Hung Đinh Tàn và Nam Bút thầy mình đều chia ngồi trên hai tảng đá, cách nhau chẳng qua có ba thước là cùng, và cả đôi bên lúc này đang dùng đến nội công tuyệt đỉnh để quyết đấu với nhau, cuộc đấu hết sức gay cấn, vì cả đôi bên đều phải lo đến phía dưới chân mình đang đứng, vì nếu hễ sơ suất, có thể trượt chân té tan thân nát thịt ngay. Thượng Quan Linh, Liễu Mi, Châu Phụng đều ngại ngùng và ai nấy đều cảm thấy như muốn ngừng thở, Sở Canh là kẻ lỗ mãng, đã buông tiếng lên, may nhờ Liễu Mi nhanh tay bịt miệng Sở Canh, lúc này mọi người dồn tia nhìn sang hai người, thấy cuộc đấu đã đi đến mức cao đỉnh nhất, hễ bên nào sơ suất lập tức bị mất mạng ngay.
Đằng này bốn người hồi hộp theo dõi, bên kia hai đối thủ nhìn nhau và sau khi so xong trận nội lực, chẳng ai nhủ ai, cả hai đều đứng ngay dậy. Đinh Tàn Hừ lên một tiếng lạnh lùng, rút kiếm nhanh như một làn điện chớp, chỉ thấy nhoáng hẳn lên một làn ánh sáng lạnh. Nam Bút tiên sinh hơi chậm một bước, mắt thấy cánh tay độc nhất của Đinh Tàn vung kiếm chém sang người Nam Bút tiên sinh, nhóm bốn người phía Thượng Quan Linh giật bắn người lên! Chợt nghe cheng leng vang lên một tiếng, cây trường kiếm của Nam Bút cũng đã vung lên, động tác quả nhanh tuyệt vời chớp mắt, ánh kiếm hai bên đã giao tranh. Đinh Tàn lại lạnh lùng Hừ lên một tiếng, cánh tay độc nhất nhoáng nhanh, ngọn kiếm trên tay lướt vọt ngay ra như một con rắn độc, nhắm ngay trung bàn Nam Bút tiên sinh đâm tới.
Trên một mỏm đá rất chật chội, Nam Bút tiên sinh vẫn nghiễm nhiên né tránh đòn địch, bước nghiêng về trước nửa bộ, miệng quát một tiếng lớn, cây kiếm bửa ngang ngay ra, chỉ nghe tiếng gió do kiếm rít lên, ánh kiếm nhoáng lên như một cầu vồng trắng. Đây chính là ngọn tuyệt kỹ đắc ý của Nam Bút tiên sinh: Đinh Giáp Khai Sơn. Đinh Tàn cũng chẳng vừa gì, rút ngay thế hạ thấp mình xuống, nghiêng ngay mình tránh né, thân mình chưa đứng thẳng hẳn, lại vung ngay cánh tay độc nhất của mình, một làn ánh sáng bạc tỏa nhanh ra một vùng tiến đánh ngay hạ bàn Nam Bút, thế đánh vô cùng quỉ dị và hiểm ác! Choang một tiếng ngân vang, hai kiếm đụng nhau, và chứng tỏ công lực đôi bên ngang sức, khó ai hơn ai. Nam Bút nghĩ ngay địch thủ đã công đánh hạ bàn mình, Đinh Tàn chỉ có một chân, hạ bàn chắc thế nào cũng yếu, vậy cớ gì mình không ra tay thử xem?
Sau khi thu ngay thế lại, thình lình hét lên một tiếng, Soạt Soạt!... liên tiếp chém ra mấy đường như cuồng phong mưa lớn, quét đánh tưng bừng phía hạ bàn độc cước của Đinh Tàn. Thế đánh này quả đã hợp ngay ý với bốn người phía Thượng Quan Linh, ai nấy mỉm người cho là một thế đánh đúng lý tưởng. Mắt thấy Đinh Tàn đã bị mất hẳn ưu thế. Bỗng trong lòng Liễu Mi đâm ra đồng tình thương hại đến con người của Đinh Tàn, nghĩ đến linh tính ngay thẳng của Đinh Tàn, tuy cùng liệt trong hàng ngũ của Độc Ma, và là Đại đệ tử trong Tứ Hung, nhưng Đinh Tàn đã không đồng lưu ô hợp với họ, chàng đã cố lòng bảo vệ sự trinh bạch của chị Hạ Quyên, chứng tỏ rõ cá tính gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn, tuy thân thể tàn tật như thế, nhưng tâm địa lại vô cùng lương thiện khiến người ta phải khâm phục. Lúc này trong đáy lòng của thứ nữ Thanh Thông vô cùng mâu thuẫn, nàng rất hy vọng cho Nam Bút tiên sinh thúc thúc được thắng, nhưng lại không muốn Đinh Tàn bị chết!
Lúc này, chỉ thấy Đinh Tàn mỗi lúc một yếu thế, thình lình Đinh Tàn sử dụng đến thân pháp quái dị, tung mình nhảy ngay khỏi làn kiếm bủa vây của Nam bút chỉ thấy ngọn độc cước của Đinh Tàn đã kê sát ngay bên lề của mỏm đá, toàn thân đang loạng choạng.
Mắt thấy sắp bị ngã nhào xuống vực núi, Nam Bút tiên sinh thu ngay thế lại, vì Gia Cát Dật cũng không nỡ quá dồn ép đối thủ đến nước cùng đường mạt lộ, nhất là Đại Hung Đinh Tàn này lại có ơn hậu với vợ mình xưa kia.
Nhưng công lực của Đinh Tàn quả là kinh thế hãi tục, mặc dù thân hình bị loạng choạng nguy hiểm cực độ đến thế, nhưng chiếc độc cước duy nhất ấy hình như đã được chôn chắc ngay mặt đất, nhờ thế mà toàn thân không bị ngã xuống vực núi. Trông thế đứng của Đinh Tàn lúc này không khác gì như một gốc cây mọc cheo leo bên bờ vực thẳm vậy!
Chỉ nghe tiếng Đinh Tàn lớn tiếng:
- Nam Bút chắc người đã tưởng rằng hạ bàn ta không vững sao! Hà! Hà!... Nhà ngươi cứ việc ra tay đánh thẳng đi, nếu có thể đâm trúng ta, kể như đã có bản lãnh...
Nam Bút bị khích, quả nhiên ra tay, mũi kiếm lập tức đâm ra túi bụi! Nhưng công lực của Đinh Tàn quả là đến mực tuyệt đỉnh, lúc này độc cước của Đinh Tàn không nhúc nhích, đứng nguyên và vững bên bờ vực vận dụng đến khinh công thượng đẳng, đảo nhanh thân trên để né tránh mũi kiếm của đối thủ. Thoạt tiên, Nam Bút còn tỏ vẻ ái ngại, thế đánh ra cố tình chậm chạp, nhưng càng về sau càng nhanh càng thần tốc tuyệt luân, những ánh bạch quang nhoáng lên lia lịa, ấy thế mà Đinh Tàn vẫn có thể ung dung đối phó, thân hình Đinh Tàn lúc này mềm ẽo không khác cành liễu trước cơn bão táp, hễ gió chiều nào ngã ngay theo chiều nấy, mặc cho kiếm quang tua tủa tung hoành và gây sự nguy hiểm đến đâu, cũng không sao chạm đến mảy may tà áo của Đinh Tàn,
Sau này chỉ còn thấy một lồng cầu trắng xóa quay tít với tà áo bay tua tủa của Đinh Tàn, mỗi lúc một nhanh, khiến nhóm bốn người phía Thượng Quan Linh không còn nhận rõ được ai ra ai nữa! Chỉ nghe tiếng cười hào phóng của Đinh Tàn vang lên từng hồi bất tuyệt Nam Bút tiên sinh luôn luôn hò hét, xen vào hai tiếng ấy là tiếng woang woang của cây kiếm thép vang lên? Trong cơn trăm ngàn nguy hiểm ấy, chỉ thấy cây kiếm của Nam Bút, chém ngược ngay một thế rất khéo, mắt thấy Đinh Tàn bí hở đòn, không làm sao thoát khỏi.
Vụt một tiếng vang lên, rõ ràng thấy toàn thân sạm đen của Đinh Tàn bị hất tung lên trên không!...
Liễu Mi vấn sẵn cảm tình với Đinh Tàn, lúc này nàng chỉ còn đưa tay ôm mặt nhắm mắt, không nỡ coi cảnh tượng thê lương khi toàn thân Đinh Tàn bị rớt xuống vực thẳm và chết một cách tan xương nát thịt.
Bỗng một tiếng cười vang lên trên không, tiếng nói lạnh lùng rằng:
- Nam Bút giật mình hoảng vía đấy ư? Ta đây cơ mà, xin đừng ái ngại cho ta...
Định thần nhìn kỹ, Đinh Tàn rõ ràng vẫn đứng nguyên, trên mỏm đá. Liễu Mi bất giác thẹn đỏ mặt tía tai, trống ngực vẫn còn đập mạnh.
Chắc là vị cao thủ cừ khôi của Vô ảnh Phong này vừa rồi đã dùng đến ngọn Diêu tử phiên thân (diều hâu bay ngược), nên đã nghiễm nhiên đứng vững như Thái Sơn. Chớp nháy, đôi bên lại đánh được năm hiệp, chuyến này đến lượt Đinh Tàn thay đổi, cướp thế chủ động để tiến đánh, ngọn trường kiếm được phối hợp chặt chẽ với toàn động tác của bản thân, đòn nào đánh ra cũng nhoáng nhanh như chớp điện!
Bỗng thấy Đinh Tàn xía nhanh lại phía đối thủ, Nam Bút thình lình bị trượt chân, thân hình hơi mất thăng bằng, ngay khi đó, Đinh Tàn quát lên một tiếng:
- Buông tay!
Tiếp theo keng một tiếng vang lên, cây trường kiếm của Nam Bút bay vọt lên không trung! Thượng Quan Linh toát mồ hôi tay vì cuộc diện quá gay cấn và lâm nguy trước mắt của thầy mình, mà mũi kiếm Đinh Tàn đã gần kề yết hầu của Nam Bút tiên sinh. Bốn người dù có cướp cứu cũng không kịp. Chỉ thấy Nam Bút từ trong cơ bại tự cứu lấy thân, ỷ hết vào nội lực tinh thuần của mình, tung người té bừa ra phía sau, vừa vặn suýt soát, thế kiếm Đinh Tàn đã tận tay, nhưng y cũng không thể nào tiến hơn thêm được, độc cước vẫn phải lo thủ chắc bên bờ thẳm của mỏm đá, nguyên thế bất động, chắc Đinh Tàn thừa hiểu trong tình trạng này, không thể nào duy trì lâu được, nếu đối thủ hơi nhích thân đứng lên, thế nào cũng mất mạng dưới kiếm ngay.
Phía mấy người bên Thượng Quan Linh, đều kinh hồn bay vía, không ai nhủ ai, đều tung mình vọt ngay sang. Phích lịch nhị lang Sở Canh lớn tiếng quát ngay:
- Quân đốn kiếp! Ngươi dám hạ thủ?...
Dứt tiếng tung ngay một viên đá đánh sang!
Tiếng quát của Sở Canh vang lên đột ngột, khiến cho Thượng Quan Linh và Liễu Mi đều như muốn ngưng thở luôn, vì trong lúc cao thủ đang giao đấu đến nước khẩn trương trong cuộc lập tức có thể gây ra thảm án ngay! Lúc này mọi người ngừng ngay bước lại chăm chú xem cuộc diện. Nhưng, quái lạ, tiếng hét đó không gây ảnh hưởng gì với Đinh Tàn, mà cả đến viên gạch của Sở Canh đã đánh trúng vào thân Đinh Tàn đến Bịch một tiếng ấy, chẳng khác nào ném vào da trâu, cây trường kiếm của Đinh Tàn, hình như đã nắm chắc và đã quyết ý vậy, thình lình kiếm bay khỏi Đinh Tàn!...
Khoảng cách đôi bên vốn đã gần, nay Đinh Tàn lại thình lình phóng kiếm ra như thế. Nam Bút tiên sinh có tài giỏi đến đâu cũng không sao tránh khỏi...
Trong tình trạng trăm phần chết mà không có lấy một phần sáng ấy, Thượng Quan Linh hét lên một tiếng, song chưởng đẩy mạnh ra, thân hình Đinh Tàn vẫn không biến đổi, cánh tay duy nhất vẫn vung lên đỡ đòn. Bên kia Nam Bút cất tiếng ha ha cười và tung mình đứng lên, thì ra trong lúc Đinh Tàn phóng kiếm lại ấy Nam Bút đã dùng đến thân pháp nhanh tuyệt để quay ngay lưng, và ngọn kiếm của Đinh Tàn đã cắm phập ngay vào cây đàn cổ Bát long ngân đeo sau lưng của Nam Bút. Nam Bút đưa tay rút kiếm, Đinh Tàn nhìn về Thượng Quan Linh, lạnh lùng rằng:
- Muốn đánh lối hợp quần với nhau sao? Hay lắm, vậy cả ba người hãy vào đòn luôn đi. Ta sẵn sàng tiếp!
Thượng Quan Linh cả giận, chực đứng ra hứng trận cho thầy mình, nhưng Nam Bút đã cười cười với mọi người, thần sắc vẫn thản nhiên rằng:
- Linh nhi và Liễu cô nương, hai người hãy tạm thối lui ra sau, không sao đâu, cô Liễu Mi hãy ở lại với chị Hạ Quyên đi, và đừng lo ngại gì chuyện ở đây...
Liễu Mi đời nào chịu, nàng lên tiếng ngay:
- Nam thúc thúc, xin ngài hãy giao việc đây cho bọn cháu. Chị Hạ Quyên đang khóc sướt mướt dưới chân núi!...
Liễu Mi cố dùng đòn tinh thần để đánh vào tâm tình của Nam Bút, quả nhiên tiên sinh nhà ta lo ngay đến vợ, vội vàng gẩy ngay một tiếng đàn của Bát long ngân, tiếng trong thanh và vang lên theo tiếng gió để dội xuống phía chân núi để vợ đỡ lo. Xong Nam Bút lại lên tiếng:
- Hai người chớ nên nhiều lời, mau mau tránh ra!
Bốn người phía Thượng Quan Linh không biết tính sao, đành đứng sang một bên để chờ đợi, lúc này chỉ thấy Nam Bút tiên sinh vung tay quăng luôn ngọn kiếm, ôm tay thi lễ rằng:
- Tàn huynh! Chúng ta đã giao tranh suốt ba ngày đêm rồi, nhưng thắng bại vẫn chưa về tay ai, nay chắc huynh cũng đã đói, vậy chúng ta tạm nghỉ tay ăn uống xong rồi giao đấu nữa, huynh nghĩ sao?
Đinh Tàn gật đầu rằng:
- Được lắm! Được lắm! Nếu chúng ta không phân thắng bại quyết không đời nào ngưng tay, vậy ăn uống xong, chúng ta so đấu lại!
Thế là cả đôi bên ngồi xếp chân bàn tròn để tạm hưu chiến, Thượng Quan Linh bèn đưa ngay thức ăn uống cho hai bên, hai người ung dung ngồi ăn uống.
Những thức ăn thức uống ở đây, vốn là nàng Hạ Quyên lo chuẩn bị cho chồng là Nam Bút tiên sinh, và đã cho bốn người đem lên đỉnh phong, không ngờ nay lại được chia đôi cho hai vị tình địch cùng ăn; thứ nữ của Thanh Thông Hội vốn nổi tiếng là tinh ranh, nay thấy Đinh Tàn ngồi ăn như không cần biết đến người xung quanh là ai nữa, trong lòng Liễu Mi bỗng nảy ra một ý kiến, cố lớn tiếng nói với Thượng Quan Linh rằng:
- Này anh Linh? Lúc chúng mình lên núi, chị Hạ Quyên đã nhắn nhủ chúng mình chuyện gì nhỉ?
Chàng Thượng Quan Linh nào biết Liễu Mi đang tính mưu kế gì, ngẩn ngơ không biết nói sao cho phải, đành thẳng thắn trả lời:
- Nào có biết gì đâu! Anh chỉ nghe chị ấy khóc và đòi lên núi đây, ngoài ra anh đâu có nghe chị ấy nói gì đâu??
Liễu Mi liếc nhìn về phía hai người đang ăn uống, rõ ràng đã bị câu nói của mình thu hút họ, cả hai đều ngừng nhai thức ăn như để nghe ngóng lời nói của mình, cả hai đều vờ như không nghe nhưng làm sao tránh khỏi được đôi mắt tinh ranh của Liễu Mi, tay Nam Bút ngừng hẳn động tác, cánh tay độc nhất của Đinh Tàn lúc này hơi run run. Liễu Mi thấy vậy cả mừng, nhưng nàng thầm trách người yêu mình quá khù khờ nên không biết ra tay hợp tác với mình cho được việc Lúc này chỉ nghe nàng lên tiếng rằng:
- Cái nhà anh này!... Sao anh mau quên thế! Chị Hạ Quyên rõ ràng đã căn dặn hai đứa mình, hãy mau mau để ngay những thức ăn thức uống đây lên cho Nam thúc thúc dùng, và nhất là chị ấy lại biết công lực của Nam thúc thúc cao tuyệt. Nên chị ấy sợ đã ba hôm nay không ăn uống gì, sợ ảnh hưởng đến thân thể và tinh thần trong lúc giao tranh...
Thượng Quan Linh cố suy nghĩ lại, nhưng chàng đâu hề nghe Hạ Quyên nói thế bao giờ đâu, nhưng lúc này chàng cũng ấm ớ ừ cho qua chuyện.
Liễu Mi lại rằng:
- Đó chẳng qua là chị Hạ Quyên đã hết lòng mến đến Nam thúc thúc của chúng ta và chính đó cũng là một bổn phận tối thiểu của người vợ đối với chồng, nếu là người khác! Hừ!... Đời nào chị Hạ Quyên phải rối rít như thế cho mệt xác!
Nói tới đây, Liễu Mi lại liếc mắt qua nhìn hai người, chỉ thấy Nam Bút tiên sinh mặt lộ vẻ vui tươi và hoàn toàn tin tưởng vào lời nói của Liễu Mi. Nhưng khi nhìn sang Đinh Tàn, sắc mặt thấy biến đổi hẳn, lúc này trong thâm tâm như vô cùng đau khổ. Nếu quả lời nói này là sự thật, đủ chứng minh ngay nàng Hạ Quyên đã tuyệt tình với mình, tất cả những gì xưa kia đã xảy ra ở Phi Các ma cung trên Vô ảnh Phong, chẳng qua nàng vì miễn cưỡng để cho mình che chở nàng, chỉ tại mình quá đa tình đa cảm, nay thấy người đẹp đã xuất giá, mình lặn lội lại đây đâu còn hy vọng gì? Nghĩ đến đây cánh tay độc nhất của Đinh Tàn càng rung động vì xúc động. Bỗng nghe đến tang một tiếng, một dĩa rớt ngay xuống đất vỡ tan. Đinh Tàn thuận tay gạt phăng luôn những thức ăn thức uống, xuống vực thẳm, đứng ngay dậy rít lên một tiếng kinh hồn. Hình như Đinh Tàn tự cảm thấy thẹn lòng, mình đã dùng thức ăn uống của người ta như vậy. Sau khi đứng dậy
Đinh Tàn lạnh lùng rằng:
- Nam Bút, nhà ngươi đã chuẩn bị xong chưa?
Nam Bút trả lời:
- Tàn huynh, tôi cũng ân hận là không làm sao giải bớt được nỗi đau khổ của huynh, nếu quả huynh còn muốn giao đấu, tại hạ cũng xin vui lòng tuân theo.
Đinh Tàn khẽ hừ xong lạnh lùng:
- Hay lắm!
Từ từ giơ ngay cánh tay độc nhất của mình lên. Lúc này, đôi bên đều tay không, xem ra một cuộc kịch chiến không thể nào tránh khỏi. Liễu Mi lúc này lại đâm ra hối hận, nay gây sự kích thích này cho Đinh Tàn, chẳng khác nào đem dầu chế thêm vào lửa, trận chiến có lẽ sẽ vào giai đoạn quyết liệt nhất. Nam Bút tiên sinh vốn là nhân vật đã nổi tiếng tăm trong nhóm Càn Khôn Ngũ Tuyệt, lúc này đương nhiên không có ai đứng ra để bênh được vì như thế sẽ tổn hại đến thanh danh của người ta, trừ phi là Đinh Tàn chuyển mục tiêu sang khiêu chiến với bốn người! Nhưng Đinh Tàn đang chiến đấu vì tình địch!
Đinh Tàn bỗng mắt sáng ngời lên rằng:
- Nam Bút, nhà ngươi có thể cho ta mượn cây đàn chút không?
Câu hỏi này khiến cho bốn người phía Thượng Quan Linh phải cười thầm trong bụng, cây Bát long ngân, vốn là tiên phẩm trong nhân gian, Đinh Tàn với tấm thân ba hồn người bảy vía giống quỉ ấy, mà nay cũng nghiễm nhiên đòi chơi thú phong nhã của kẻ nho sĩ Nếu bảo rằng Đinh Tàn muốn dùng để tiêu giải nỗi lòng u sầu của mình, khác nào trước Lỗ Ban múa rìu, gây trò cười mà thôi! Nhưng lúc này thấy Nam Bút tiên sinh không hề lộ vẻ khinh khi địch thủ, hai tay cung kính giao ngay cây đàn cổ sang cho Đinh Tàn.
Nhận xong cây Bát long ngân, Đinh Tàn nhẹ nhàng ngồi ngay xuống, chân độc nhất của Đinh Tàn duỗi cong ra phía trước, cây đàn gác lên đùi. Hình như Đinh Tàn cũng là người biết về âm luật, trong động tác có vẻ thành thạo nhà nghề lắm, chỉ thấy Đinh Tàn có vẻ trịnh trọng trang nghiêm!
Bỗng một tiếng thở dài vang lên, tiếp đó cánh tay độc nhất của Đinh Tàn bắt đầu gẩy vào các dây huyền, những âm thanh vang lên, ai nghe cũng cảm thấy bất phàm? Nhưng trong âm thanh ấy chứa đầy những âm điệu bi ai não nề, dần dà tâm thần mọi người bị tiếng nhạc não nề ấy đưa thẳng vào một cảnh giới ảo tưởng liên miên bất tuyệt. Trong tiếng đàn này, mọi người có thể mường tượng đến lối tả cảnh về đời dĩ vãng của Đinh Tàn, tai họ nghe âm điệu, nhưng óc họ đã phảng phất như thấy một thiếu niên, đang bị cơn bệnh hành hạ và nằm liệt giường chiếu, bệnh tình có vẻ trầm nặng, thân nhân đều tuyệt vọng, ai nấy bỏ tránh xa, chỉ chừa lại riêng mình thiếu niên cô đơn với cơn bệnh ghẻ hờm (?)! Một bệnh kinh tởm, thiếu niên tuyệt vọng, chỉ mong sao cho được chóng chết, nhưng ác nỗi bệnh này lại còn độc hơn cả bị nọc loài rắn độc cắn, hắn không khiến cho con bệnh chết ngay cho được thoải mái, và cứ tàn phá dần mòn thân thể của bệnh nhân!
Tiếng đàn nức nở, gây cho người nghe có thể hiểu rằng, Đinh Tàn xưa kia vốn cũng là một thiếu niên ưu tú chỉ vì mắc phải cơn bệnh hiểm nghèo này, nên tất mọi việc đều thay đổi... tuyệt vọng, bi ai, than thân, tủi phận, tới tấp dồn hết cho Đinh Tàn và chỉ còn cái chết đưa linh hồn mình vào cõi u minh, xa lạ khác... Tiếng đàn vẫn réo rắt, khiến cho kẻ nghe phải thương cảm với cuộc đời của người mắc bệnh!...
Tiếng đàn đưa mọi người nghe vào một cảnh giới khác; mọi người lại lắng nghe tiếng đàn như kể lể: trong cơn tuyệt vọng thiếu niên bỗng lại nổi lên một niềm hy vọng vô biên, sau khi bị cụt hẳn một tay và một chân ấy, thiếu niên vẫn còn nghị lực để cố sống với tấm thân ma dại của mình trên thế gian!
Ai đã gây được nghị lực ấy cho thiếu niên? Ai đã cổ võ cho thiếu niên cố sống với đời? Liễu Mi lập tức nghĩ ngay đến, nhất định là Độc Ma đã cổ võ chàng sống và cho chàng thiếu niên hay là trên đời này không thiếu gì những kẻ mắc bệnh tàn tật như chàng, và đã đưa chàng thiếu niên này vào một lối sống riêng biệt khác! Và đến một nơi sống tập thể của đám người cùi (hủi), và trong đám người cùi bị thiên hạ xa lánh ấy họ đã tức tối giận đời, tự ti mặc cảm, thất vọng và tuyệt vọng, bị đời bỏ quên, và tất cả những trạng thái và tâm lý đó, đã tạo ngầm cho họ một nỗi lòng phẫn uất ghét đời, do đó họ tự kết tụ thành bè phái, luyện hẳn ra một lối võ công quái dị lạ lùng, rồi lập sào huyệt làm đại bản doanh trên Cửu Lãnh Sơn - Phi Các ma cung Vô ảnh Phong - và cũng từ đó, để trả thù với những người đời về tất cả phương pháp tàn nhẫn để hả lòng căm hờn của mình đối với những người không mắc bệnh tật! Thẳng tay tàn sát cũng như dày vò số đàn bà con gái bị bắt lên Vô ảnh Phong.
Tiếng đàn lúc này lại tả đến hoang dâm quay cuồng của lối sống trên Phi Các ma cung, toàn những cảnh say sưa trụy lạc tột độ.
Bốn người phía Thượng Quan Linh, lúc này nghe tiếng đàn như say như tỉnh, chỉ riêng có mình Liễu Mi là tương đối tỉnh hơn ba người, nàng cảm thấy tiếng đàn của Đinh Tàn quả là thần kỳ, trong lòng kính phục vô cùng.
Tiếng nhạc lúc này lại đi vào một cảnh giới khác, một vẻ vui tươi nhộn nhịp! Từ từ trong tiếng đàn thánh thót, Liễu Mi hiểu ngay, Đinh Tàn đã gặp chị Hạ Quyên, và chính chị ấy là người đầu tiên đã hiểu rõ nỗi lòng của Đinh Tàn, thông cảm cho y, không hề sợ hay ruồng bỏ một người mà ai cũng cho là kinh sợ ấy.
Trong lúc Đinh Tàn cảm thấy sức sống yêu đời ngay, nhất là đầy lòng tự tin, ngang nhiên đứng ra ưỡn ngực để bảo vệ cho Hạ Quyên, và đã không ngần ngại gì quyết tâm chống đối với thầy Độc Ma và cả toàn nhóm đệ tử trong Ma Cung, để cố ngăn trở hành động tàn ác của đám người uất hận thế gian này!
Tiếng đàn chứa chan đầy chánh nghĩa và đượm vẻ hy vọng nhiệt liệt, và chính đó là nỗi lòng bí ẩn của Đinh Tàn! Đinh Tàn đã hy vọng một ngày nào đó, Hạ Quyên sẽ không chê bai gì một người như mình, cả hai sẽ thoát khỏi cảnh sống của Phi Các ma cung, rồi sẽ kết thành đôi bạn muôn đời sống trong một cao sơn cùng cốt , chỉ cần hai người thực sự yêu nhau, thế nào cũng có hạnh phúc của lẽ sống... Nhưng rồi tiếng đàn lại như tự oán trách: cho rằng mình không xứng hợp Hạ Quyên chút nào, và càng không muốn làm trở ngại cuộc sống của tuổi xuân Hạ Quyên...
Liễu Mi vẫn nghe... nàng thông cảm hết trường hợp của Đinh Tàn, nàng cho rằng sự kết hợp của một đôi bạn trăm năm, cần nhất vẫn là tâm đầu ý hợp, còn về diện mạo vẫn là thứ yếu, chả thế mà lại có câu: Cái nết đánh chết cái đẹp, cần gì phải nói ai xa, ngay nơi chị mình là Liễu Văn là một bằng chứng hiển nhiên không thể nào chối cãi được! Thượng Quan Linh đã ngang nhiên liều chết để yêu mình, mặc dù người chị cũng có đầy đủ các thứ... của một người phụ nữ như mình, mà nhất là một vẻ đẹp khêu gợi của một thiếu phụ chín mùi... Nghĩ tới đây, Liễu Mi bất giác trách ngầm chị Hạ Quyên có hơi phụ tình của Đinh Tàn, đáng lý không nên phụ bạc người ta như vậy...
Đồng thời Liễu Mi nhìn sang phía Nam Bút, quả nhiên không hổ là một nhân vật trong hào kiệt, so với Đinh Tàn, quả một trời một đất, không những phong độ phây phẩy, đa tài đa nghệ, tính tình lại thiện lương chánh trực, thông minh thành thật, thật là một nhân tài xuất sắc khó kiếm nhất trong muôn ngàn người. Một mẫu người như Nam Bút mà chính trong lòng tiên sinh cũng đang yêu chị Hạ Quyên, lẽ dĩ nhiên đã gây ra khó khăn cho Hạ Quyên! Đem so chung hai cái yêu của hai người đàn ông này, Đinh Tàn chỉ có một ưu điểm, quen chị Hạ Quyên trước, còn ngoài ra, không có một điểm nào có thể so sánh ăn nổi Nam Bút tiên sinh. Nếu bảo rằng Đinh Tàn yêu Hạ Quyên thắm thiết, thì vị Nam Bút cũng không thua gì về cái yêu ấy cả! Vốn là thân gái, Liễu Mi hiểu rõ tình hình hơn ai hết, đương nhiên càng hiểu rõ nỗi khó xử trí của chị Hạ Quyên, và cũng biết rằng chị Hạ Quyên đối với Đinh Tàn chẳng qua chỉ là động lòng thương mà không hề yêu nhưng đối Nam Bút thì trái hẳn.
Tiếng đàn lại như kể lể tất cả nỗi nhớ thương của Đinh Tàn, và chỉ có sự kết hợp với Hạ Quyên mới hòng xoa dịu được vết thương lòng của Đinh Tàn. Nên lúc đôi bên đang xảy ra trận kịch đấu tại Lãnh Hương Điện, Đinh Tàn sau khi biết rõ tin Hạ Quyên, lập tức bỏ ngay cuộc diện trước mắt để lo đi Giang Nam. Nhưng tất cả đã trễ, người đẹp đã sang ngang, tất cả mối nhiệt tình đã lạnh hẳn như băng tuyết, thêm vào đó là những mối phẫn nộ, thất vọng, và tất cả sự yêu và ghét!
Tiếng đàn lúc này chỉ toàn điệu hờn giận oán ghét, chẳng khác nào một ngọn lửa căm hờn đang thiêu đốt tâm hồn quằn quại của Đinh Tàn! Chợt tiếng đàn im bặt luôn.
Đinh Tàn quăng luôn cây đàn cổ Bát long ngân vào lòng Nam Bút tiên sinh. Lúc này chỉ thấy sắc mặt của Đinh Tàn như đã tiêu tan hết âu sầu, trông đầy vẻ bình tĩnh, hình như tiếng đàn đã thoa dịu được cơn giận hờn của Đinh Tàn. Bốn người phía Thượng Quan Linh, đều bị cảm động với tiếng đàn, giờ đây ai nấy lo chăm chú ngó sang phía Đinh Tàn. Sắc mặt Nam Bút tiên sinh có vẻ trắng nhợt và có vẻ động lòng trắc ẩn, ôm tay với vẻ phục rằng:
- Không ngờ Tàn huynh cũng hay về ngọn chơi tao nhã này, nay được nghe Huyền âm của huynh! Khiến cho tại hạ kính phục lắm lắm!
Đinh Tàn lên tiếng ngay:
- Không dám! Không dám! Đó chẳng qua là lối quăng đá để nhử ngọc. Từng nghe tiên sinh đối với cầm đạo (lối chơi đàn) rất thần diệu, vậy ngài có thể cho nghe một khúc được không?
Hiển nhiên là Đinh Tàn có ý muốn so sánh và muốn Nam Bút trả lời dứt khoát vậy. Nhóm người Thượng Quan Linh nghe vậy lại bắt hồi hộp.
Chỉ thấy Nam Bút tiên sinh thái độ khiêm tốn rằng:
- Đã gặp tri âm, tại hạ này đâu dám giấu gì, nhưng sợ làm nhột tai người nghe...
Dứt lời thấy Nam Bút ngồi xếp chân bàn tròn đưa tay khẽ bấm phím đàn.
Tiếng đàn kỳ này khác hẳn, toàn những âm thanh yêu đời và vui nhộn của muôn cảnh vũ trụ, khiến cho người nghe phải cảm thấy khoan thai trong tâm hồn. Chỉ trong chớp nháy, tất cả bầu không khí căng thẳng trên đây như bị xua đuổi sạch hết, khiến cho người ta có cảm tưởng, hai người đang ngồi trên hai mỏm đá đối diện với nhau đây là hai bạn thân đang thủ thỉ tâm sự, và toàn là cảnh vui tươi, không hề có ghen ghét hay thù hận; chỉ thấy khí sắc hiền hòa bao phủ tâm tư mọi người.
Tiếng đàn của Nam Bút đã tả hết các cảnh ngộ của mình khi gặp nạn trên Phi Các ma cung và cuối cùng là sự biết ơn và thông cảm tấm nhiệt tình của Đinh Tàn. Trong tiếng đàn lúc này, nghe toàn những âm điệu an ủi và khích lệ, bày tỏ nỗi chân tình của bạn tri âm, không khác nào cảnh ngộ như Bá Nha gặp Tử Kỳ xưa kia!
Liễu Mi nhìn qua Nam Bút, bất giác thất kinh, chỉ thấy tiên sinh mặt dầm dề mồ hôi, sắc mặt trắng nhợt, hình như đã đuối sức mà cố gượng. Nàng nóng lòng hồi hộp, đưa khuỷu tay khẽ thích vào người Thượng Quan Linh, nhưng chàng cũng đành thúc thủ vô sách, biết thầy mình lúc này đang dồn hết tâm tư ý trí vào Bát long ngân, để cố khuyên giải con người đau khổ như Đinh Tàn, chắc vì sự giao tranh suốt ba ngày đêm và nay phải dồn hết tâm lực vào ngọn đàn, nên quá rối tâm thần khiến cho thể xác bơ phờ như thế? Biết làm sao? Nhất là trong lúc tiếng đàn quái dị của Bát long ngân đang tiết tấu như thế, không thể nào ngắt ngang được, nếu lỗ mãng chưa chừng còn xảy ra tai hại khác cũng nên; ai nấy chỉ hy vọng sao cho tiếng đàn mau chấm dứt, khốn nỗi lúc này Nam Bút tiên sinh đã như si như dại, không thể nào chấm dứt! Khi quay nhìn sang phía Đinh Tàn, Liễu Mi, Thượng Quan Linh đều thất kinh giật mình rú lên!
Trên mỏm đá, Đại Hung Đinh Tàn đã biến dạng đi đâu mất! Không lý trong cơn tuyệt vọng chán nản cực độ Đinh Tàn đã gieo mình xuống vực thẳm chăng? Hai người mạo hiểm lại cúi nhìn xuống vực thẳm, chỉ thấy mây phủ mịt mờ, không hề thấy một dấu tích gì! Nếu bảo là Đinh Tàn từ trên phóng xuống núi, mặc dù là đang mải mê nghe theo tiếng nhạc, nhưng nếu có người đi ngang qua, làm sao mà không thấy cho được?
Lúc này chỉ thấy Nam Bút tiên sinh ngây ngất như dại, đã mất hẳn trạng thái bình thường, tiếng đàn đã đi vào những cảnh giác tinh diệu nhất của âm huyền. Liễu Mi, Thượng Quan Linh vội lay tỉnh ngay Châu Phụng và Sở Canh, bốn người xếp thành một hàng dài, ai nấy nắm tay nhau, Thượng Quan Linh đứng đầu, bước tới gần để kéo Nam Bút tiên sinh, ba người còn lại cố gắng đứng tấn cho chắc phía đất bên này để cố duy trì thế kéo. Nhưng Nam Bút tiên sinh lúc này đã phát công lực của mình ra, toàn thân nặng trĩu như một pho tượng đồng, mặc cho Thượng Quan Linh đã cố dùng thần lực của mình, nhưng cũng không hề xê xích được chút nào. Liễu Mi thấy vậy, vội nói ngay Thượng Quan Linh ngừng tay, rồi căn dặn Sở Canh và Châu Phụng hãy canh chừng Nam Bút, còn nàng và Thượng Quan Linh hấp tấp xuống núi, đi gọi Hạ Quyên lên để gọi tỉnh chồng.
Dần dà, Sở Canh và Châu Phụng phát hiện ra thân hình Nam Bút đang lảo đảo, hai người thất kinh! Nếu ngã xuống vực thẳm, đâu còn mạng sống! Sở Canh cố sức, nhưng vẫn không sao giữ vững, suýt nữa chàng bị nhào xuống vực, đành phải buông tay, Ngọc điệp Châu Phụng nghĩ ngay ra một cách, cởi ngay hai giải dây lưng ngoài của hai người, thắt chặt liền thành một, một bên buộc ngay vào người Nam Bút, một đầu do Sở Canh nắm, hai chân vận tấn thật vững chắc, truyền ngầm ngay kình lực sang cho Nam Bút, quả nhiên đã giữ vững được thân hình ngất ngưởng của tiên sinh khỏi bị ngã nhào!
May chẳng bao lâu, Liễu Mi và Thượng Quan Linh đã quắp Hạ Quyên lên. Khi thấy chồng thảm thương như thế, Hạ Quyên khóc nức nở. Liễu Mi lại bảo Thượng Quan Linh mạo hiểm nhảy sang để đỡ Nam Bút, sau khi chuẩn bị xong xuôi, Hạ Quyên mới dám lên tiếng gọi chồng:
- Nam Bút! Nam Bút! Anh ơi! Em đây! Anh hãy tỉnh lại đi ! ...
Nam Bút thình lình như nghe được một tiếng gọi thân thiết và cũng ngay lúc đó Nam Bút ngất hẳn luôn, may Thượng Quan Linh đã đứng sẵn bên cạnh để đỡ bên này Sở Canh và Châu Phụng tiếp ứng, nên không bị té xuống vực thẳm. Lúc này công lực Nam Bút đã giải hẳn, nên nhẹ hẳn như người thường, nên công cuộc bồng xuống núi về mau Vô Tích để trị bệnh không có gì trở ngại xảy ra. Sau khi thuốc thang điều trị mấy hôm sau, sức khỏe của Nam Bút mới được khôi phục lại.
Giang nam Ngọc điệp Châu Phụng bèn kiếu từ để đưa hai cô con gái Song Điệp về quê. Thượng Quan Linh và Liễu Mi ở lại nhà Hạ viên ngoại, Thượng Quan Linh ngoài công việc thăm hỏi sức khỏe của thầy bao nhiêu thời gian còn lại chàng đều tiêu mài hết trong thư phòng. Ở đây có nhiều loại sách phong phú để chàng tiêu khiển và bổ ích thêm trí óc của mình. Chàng không thường gặp Liễu Mi, chỉ vì Liễu Mi lúc này suốt ngày đã quấn quít bên cạnh Hạ Quyên, đối với một người mà vốn là Chị Quyên đó, nay đột nhiên hóa thành phu nhân của thầy, và như vậy là sư mẫu (tức bà thầy) của mình rồi, thực ra, Thượng Quan Linh không sao đổi được lối xưng hô sư mẫu này, hễ khi gặp mặt, chàng chỉ đỏ mặt gật đầu chào mà chả xưng hô gì ráo!
Nhưng Hạ Quyên là người cởi mở, nàng cười giải thích: nàng cũng chỉ như một nữ đệ tử của Nam Bút tiên sinh mà thôi, vậy cứ việc xưng hô em Mi và Linh đệ. Liễu Mi cũng cho rằng như thế khỏi bó buộc nhau, nên nàng cũng vẫn xưng hô với hai vợ chồng bằng Nam thúc thúc (chú) và Hạ tỉ tỉ (chị): riêng có Thượng Quan Linh cảm thấy khó chịu ngang trái, trong thâm tâm phản đối thầm nhủ: nếu chị nhận là học trò thì đâu có lý gì thầy lại đi lấy học trò ngang xương như vậy. Tuy chàng dám nghĩ vậy, nhưng miệng không dám nói ra.
Trong mấy ngày nay, sự chăm sóc và ân cần của Hạ Quyên đối với Nam thúc thúc, quả đã tròn bổn phận của một kẻ làm hiền thê. Liễu Mi không khỏi ngó cảnh người ta trạnh nhớ đến mình, mối cảm tình và thắm thiết của Thượng Quan Linh với mình, tuy đã nảy nở đúng theo lý tưởng của cả đôi bên, nhưng không biết ngày nào mới được danh chánh ngôn thuận thành vợ chồng trăm năm đây? vốn là đàn bà làm gì Hạ Quyên chẳng hiểu rõ nỗi tâm tình thấm kín thở dài than ngắn vu vơ của cô em Liễu Mi.
Chẳng cần chờ Liễu Mi phải nói toạc chuyện, Hạ Quyên cũng đã ngấm ngầm giúp cô em mình bằng cách thì thầm bên tai chồng về ý định an bài cho đôi trẻ chóng đến ngày kết duyên.
Nam Bút bèn cho Thượng Quan Linh hay, còn vài hôm nữa sắp sửa lên đường. Vì theo tin tức Nam Bút nhận được, những lời nói về lão bà bịt mặt của Độc Ma không được xác thực cho lắm, gần đây lão bà bịt mặt ấy đã bỏ hẳn tỉnh Vân Nam mà đi ngược lên miền Bắc Ô Mông, xem tình hình, rất có thể quan hệ đến Tỉ Vương như lời đồn đãi trong giang hồ!
Nam Bút đã quyết tâm đem theo Thượng Quan Linh, Liễu Mi, để đuổi theo hung thủ, kết thúc mau huyết thù của nhà họ Thượng Quan, đồng thời Nam Bút cũng còn thêm một việc riêng cần giải quyết, đó là việc Thiên Si đạo trường và Túy Đầu Đà. Theo như sự suy xét của Nam Bút, chắc hai vị Tây Đạo và Đông Tăng này đã vào hẳn địa phận của miền sa mạc mênh mông xứ Mông Cổ rồi, nhất định sẽ có những chuyện bất bình thường xảy ra tại đó !
 
 
0
Hồi 066. Bắc Kiếm ẩn Tung
[/align]

Về sợi chỉ tơ đỏ trên cây Lãnh điện tỉ thủ của Tỉ Vương ấy, nay vẫn còn được giữ cẩn thận bên người Nam Bút tiên sinh, nghe đồn rằng dị bảo trong võ lâm Lãnh điện tỉ thủ này có quan hệ mật thiết với nhân vật thần bí là Tỉ Vương và nhân vật thần bí này đã quí trọng đến báu vật Lãnh điện tỉ thủ và thậm chí cả đến những sợi chỉ tơ đỏ, cho nên sau này đã nhờ đến Tứ Hung họ Đinh trên Vô ảnh Phong để cướp đoạt lại! Nên chỉ sự đoán xét của Độc chỉ Thôi Bác không sai lắm, sau khi những sợi tơ đỏ của Lãnh điện tỉ thủ bị đứt ấy, Tỉ Vương hình như đã vì luyến tiếc vật cũ này, rất có thể sẽ không thay thế bằng vật mới! Nhờ thế mà giải tơ đỏ nhỏ này sẽ là manh mối để tìm ra Tỉ Vương và Lãnh điện tỉ thủ ấy!
Thầy trò Nam Bút sau hồi thảo luận và kể cho nhau nghe từ khi chia tay, cuối cùng Thượng Quan Linh mới mặt đỏ lên nói với Nam Bút tiên sinh về chuyện đính hôn của mình với Liễu Mi ở Lãnh Hương Các và được Độc chỉ Thôi Bác đứng ra làm trung gian trong cuộc lễ đính hôn ấy.
Thượng Quan Linh tưởng đâu thầy mình sẽ mắng cho một trận nên thân, vì mối đại thù còn chưa trả, đã ngang nhiên dám tính đến chuyện tư tình trai gái thế! Cha mẹ đã mất, chuyện cưới gả này, đáng lý phải bẩm rõ với sư tôn, đâu có lý nào lại đi chuyên hành như thế? Tin chắc thế nào cũng bị quở trách. Nào hay Nam Bút nghe xong, chỉ mỉm cười gật gù, không những không quở trách, trái lại có ý thông cảm là khác, và đã cho Thượng Quan Linh hay, sau khi trả thù cho song thân, với danh nghĩa sư phụ, Nam Bút sẽ đứng ra làm chủ hôn lễ này cho chàng, và sẽ đưa chàng vào Thanh Thông Cốc để thành thân với nhà họ Liễu. Được vậy sau này hai người có hành hiệp song song trên giang hồ, cũng danh chính ngôn thuận, không bị mang tai tiếng gì trong võ lâm. Thượng Quan Linh bất giác cười thầm trong bụng, thì ra thầy mình cũng muốn mình mau mau lấy vợ như ông ta, để lập gia lập thất cho có căn cớ.
Vào trung tuần tháng mười một và sắp đến tháng chạp, Nam Bút tiên sinh bèn hợp cùng với Thượng Quan Linh, Liễu Mi, Sở Canh khởi trình lên miền Bắc, nghĩ đến chuyến đi này, tránh không khỏi cảnh binh hùng trận hiểm, Hạ Quyên không nên theo trong cuộc hành trình này thì càng hay, Đinh Tàn nay đã đi xa, chắc không còn trở lại làm gì, Nam Bút đành để vợ ở nhà.
Một cuộc hành trình bắt đầu ngược lên miền Bắc, bốn người ròng rã hơn một tháng mới tới miền Bắc. Hôm đó đã gần tới Khảo Thành, ở đây cách Thanh Thông Hội không xa lắm, Liễu Mi bỗng nhớ đến cha già, trong lòng nao nao không được vui.
Suốt dọc đường lên Bắc kỳ này, họ đã không ngừng thăm dò tin tức ngấm ngầm, và được biết gần miền biên khu sa mạc cực Bắc ấy, sắp sửa có chuyện quan trọng xảy ra, Nam Bút đoán phỏng, chắc lại một thịnh hội gì đây, lão bà bịt mặt thế nào chả có mặt tại đó, thế là mọi người hấp tấp tăng thêm tốc độ cuộc hành trình để mau đến kịp.
Tuy gần nhà mình, nhưng Liễu Mi không nỡ vì chuyện riêng của mình mà phá hỏng chuyện công, nhất là chuyện đó lại liên can đến người tình lang của mình, đành phải tự buồn riêng trong đáy lòng. Lúc này đã vào hẳn tiết mùa Đông, trời đất âm u buồn tẻ, vừa lạnh vừa thê lương, qua khỏi Khảo Thành, đến ngay sông Hoàng Hà, giờ đây chỉ thấy mặt sông đóng thành băng tuyết, cứng lạnh hơn sắt, đoàn người ngựa tám mạng lướt qua mặt sông băng tuyết, dẫn đầu là Nam Bút tiên sinh, tiếp theo là Liễu Mi, Thượng Quan Linh, Sở Canh...
Phục trang của bốn người lúc này dày cộm hẳn nhưng không vì thế mà mất hẳn những sắc thái đặc biệt của mỗi người, lưng Nam Bút đeo cây cổ cầm Bát long ngân, Thượng Quan Linh đeo theo bên người cây kiếm Lệ thủy tinh, Liễu Mi sẵn có sắc đẹp đảo quốc khuynh thành, Sở Canh trời phú cho thân hình hộ pháp xuất chúng, và những thứ đặc sắc ấy gồm chung lại trong đoàn người lữ hành này rất dễ gợi nên tính háo kỳ của người đi đường. Liễu Mi vì nhớ đến cha già, lúc này nàng đang trầm tư, không hề để ý gì đến mọi chuyện xung quanh mình, Nam Bút và Thượng Quan Linh đều để ý đến phía dưới chân. Chỉ riêng Phích lịch nhị lang Sở Canh chẳng biết sự nguy hiểm là gì, nay đang đi trên mặt sông, trong lòng chỉ biết có một cảm giác là lạ, hết nhìn bên trái lại nhìn bên phải, thỉnh thoảng mỉm cười, vì thú vị và hay hay của cuộc hành trình này. Bỗng Sở Canh cảm thấy trong đám người qua mặt sông đây, như có một đôi mắt đang theo dõi mình, đến khi chàng để ý bỗng lại không thấy.
Sở Canh tuy lỗ mãng, nhưng cũng có lắm khi chàng tỏ ra nhanh trí vô cùng, lúc này Sở Canh vờ như không để ý đến, chàng vẫn lo cúi đầu đi, chờ đến khi đôi mắt bí mật nọ ngó đến, thình lình chàng ngửng đầu lên! Đối phương hấp tấp thu ngay tia nhìn lại, nhưng trong cơn chớp mắt ấy, Sở Canh đã nhận ngay ra đối phương, thình lình chàng quát tháo:
- À! Ra là mày đó à! Thằng chết bầm!...
Dứt lời tung giò đuổi theo chí mạng!
Thì ra tên này là bộ hạ của Bắc Kiếm trong nhóm Càn Khôn Ngũ Tuyệt tên gọi Tiêu Ngũ, xưa kia trong cuộc tranh chấp của Phổ Côn với Thanh Thông Bang tại Thanh Thông Cốc, Sở Canh đã từng đụng độ, sau lại gặp nhau tại Nhữ Nam một lần nữa, nên nay Sở Canh vẫn còn nhận ra y. Sau tiếng quát của Sở Canh, Liễu Mi cũng nhanh trí buột miệng:
- Là tên Tiêu Ngũ!
Nam Bút, Thượng Quan Linh cũng vội hấp tấp theo sau. Nhưng chỉ thấy đám Tiêu Ngũ có đến trên mười người, lo theo phía sau một chiếc xe, mà không chen chung vào một đám người, cả đoàn đang lo tiến sang đối ngạn, Sở Canh vẫn lẽo đẽo theo sau nheo nheo gọi la:
- Thằng chết bằm... Đừng có chạy chứ!
Tiêu Ngũ và một người râu dài, thình lình quay người lại, thấy Sở Canh đến sát gần, cả hai đồng thời ra tay, chỉ thấy hai làn ánh quang sáng chói của hai ngọn chỉa lớn bắn vọt ra?
Nam Bút tiên sinh thốt lên tiếng:
- Nguy mất? - Vội tung mình vọt ngay lên.
Sở Canh đâu biết lợi hại gì, chỉ thấy hai cây chĩa thép nặng này lại không đánh sang hẳn phía mình, mà lại rớt ngay xuống trước mặt mình, và cũng ngay lúc đó, mặt băng bị trống hổng hai lỗ lớn tướng. Sở Canh cả kinh, tính ngừng ngay thế đuổi của mình lại, nhưng vì đà chạy của mình quá mau, không sao hãm lại kịp, toàn thân bị ngã thụp ngay xuống hố băng tuyết, và chìm dần xuống với tảng băng... Cơn nguy kịch đang diễn, đám Tiêu Ngũ cất tiếng cười ha hả, thình lình có một bóng xanh lao nhanh tới, túm kịp ngay thân Sở Canh kéo ngay khỏi cơn nguy.
Lúc này, tảng băng đá nứt bể thành một diện tích khá lớn, đám người qua sông đang rối rít la hoảng để tránh nguy, ai nấy thấy bóng xanh cứu được Sở Canh, thế nào cũng không khỏi bị nhào xuống hố băng tuyết. Nhưng trong các đôi mắt đang hồi hộp theo dõi, chỉ thấy bóng xanh hai chân khẽ khom, thình lình bung mình vọt bay bổng hẳn nơi hiểm địa, tay quắp theo chàng Sở Canh ướt sũng vọt ngang qua. Tiêu Ngũ và người râu dài nọ cười gằn lạnh lùng, lúc này hai người bốn tay, ai nấy cầm đầy ám khí, sẵn sàng vung ra. Thình lình hai tên này cảm thấy trước mắt hoa lên ánh bạch quang nhoáng nhoáng, một ngọn trường kiếm đã áp gần ngay trước mặt Tiêu Ngũ và quát ngay:
- Này Tiêu Ngũ ! Có muốn sống không?
Đồng thời lại có tiếng lanh lảnh như con gái:
- Kìa! Bộ râu của ông còn chưa bị dê gặm hết sao mà nay lại dài đến thế?
Tiếp theo tiếng nói, cánh tay ngọc nhoáng nhanh qua phía cằm của người râu dài, khiến cho người này kêu đau thét lên.
Tà áo xanh của Nam Bút đang phùn phụt bay tới với thân hình ướt mèm của Sở Canh, đồng thời lên tiếng:
- Linh và Liễu cô nương hãy khoan đã!... - Quay nhanh sang phía Tiêu Ngũ:
- Tiêu Ngũ! Chủ nhân các ngươi đâu?
Tiêu Ngũ bị cây kiếm Lệ thủy tinh của Thượng Quan Linh quét nhanh một đường, đôi lông mày rụng xuống tua tủa, mặt cảm thấy rất lạnh, Liễu Mi càng hung dữ hơn Thượng Quan Linh, cánh tay ngọc giơ ra, cả một chòm râu của Tư Đồ Cống lại bị bứt trụi trơn. Hai người vừa tức vừa giận, nhưng vì khiếp oai của Nam Bút tiên sinh, nên không dám giở hỗn, vội cung thần bẩm ngay rằng:
- Chủ nhân hiện đang tại kinh đô, nay bọn tiểu nhân đang lo áp giải mớ hàng qua sông!
Nam Bút vốn là kẻ quân tử, nghe xong không nghi ngờ gì, nhưng Thượng Quan Linh nghĩ thầm ngay, đám bộ hạ của Bắc kiếm Phổ Côn, nay xuất hiện như thế này, không phải là chuyện ngẫu nhiên, chắc có liên quan đến chuyện đồn đãi gì với cuộc thịnh hội với Mạc Bắc? Nay tình cờ gặp chúng tại đây, thế là đã có người đưa đường chỉ lối cho bọn mình khỏi tốn thì giờ!
Nghĩ vậy bèn nói nhỏ với Nam Bút, bốn người lo theo dõi ngay mười người của đám Tiêu Ngũ và Tư Đồ Cống. Sau khi qua khỏi mặt sông Hoàng Hà, đám Tiêu Ngũ lo lên ngựa, ra roi cho sải về hướng Bắc. Quả đúng sự dự đoán của Thượng Quan Linh, bốn người lo theo ngay phía sau. Liễu Mi đi sau thấy hai cỗ xe này có vẻ kỳ lạ chỉ thấy mui xe cao ngồng, nàng lập tức nghĩ ra được vài phần, cười nói ngay với Nam Bút tiên sinh rằng:
- Thưa Nam thúc thúc, nếu ngài ngồi trong cỗ xe, chắc không bị đụng đầu nhỉ?
Nam Bút sực hiểu ngay, hai người ngầm trao với nhau một nụ cười thông cảm, lập tức cho ngựa sái nhanh tới phía xe, thình lình chia nhanh sang hai bên tả hữu của xe, nhanh như chớp mở bung ngay cửa xe. Nhìn vào trong, chỉ thấy một người ngồi uy nghi bên trong...
Nam Bút lên tiếng ngay:
- Đại sư huynh!
Phổ Côn Bắc Kiếm ngượng ngạo, cười không hẳn cười chậm chạp nói:
- Ừ! Lão tứ, đi đâu vậy?
Nam Bút trả đòn ngay rằng:
- Tiểu đệ đâu có thể quên được mối tình thủ túc của sư huynh đệ, nên ngược mạn Bắc cũng chỉ cốt thăm xem tin tức của Nhị sư huynh và Tam sư huynh ra sao...
Phổ Côn lạnh lùng rằng:
- Lão Nhị và lão Tam chỉ khéo bày trò rối rắm, đừng nói là hiện nay hai người không có mặt tại miền Bắc, dù cho có đi nữa, với sức của lão Tứ ngươi cũng không sao cứu nổi họ...
Câu nói này vô tình đã vạch áo cho người xem lưng, khác nào như đang nói Tây Đạo và Đông Tăng đang gặp nạn tại miền Bắc.
Nam Bút máu nóng sôi lên rằng:
- Vì hai sư huynh, dẫu cho tiểu đệ có phải đạp trên lửa bỏng đi nữa, cũng không thể nào từ nan cho được?...
Phổ Côn thấy Nam Bút đã kiên quyết như thế, không biết nói gì hơn, Nam Bút lại nói tiếp thêm:
- Nay dám phiền đại sư huynh cho biết, hiện nay Nhị sư huynh và Tam sư huynh ở đâu?
Phổ Côn Bắc Kiếm đâm ra do dự, Liễu Mi lên tiếng khích ngay:
- Thưa Nam thúc thúc, người ta là Bắc kiếm Phổ Côn dù sao cũng là một tôn sư của danh phái, nếu biết, thế nào chả nói rõ ra, nhưng e cho ngài có ẩn tình bí mật bên trong nên cảm thấy không tiện thố lộ cũng nên...
Phổ Côn Bắc Kiếm nhìn ngay Liễu Mi, nở một nụ cười miễn cưỡng và hình như đang công nhận lời nói của Liễu Mi là đúng. Nam Bút tiên sinh và Liễu Mi bất giác giật mình, nếu vậy thì Tây Đạo và Đông Tăng chẳng đã bị người giam cầm rồi sao! Nhân vật này khiến cả đến Bắc Kiếm cũng phải ngần ngại không dám nói thẳng ra!
Nhưng Nam Bút vẫn nhớ hai sư huynh của mình nên không ngần ngại theo sát xe hỏi rõ nguyên do. Phổ Côn Bắc Kiếm đành lạnh lùng rằng:
- Này Lão Tứ, đời người ta, ai cũng có lần chết, nhưng nếu biết mình có thể sống thêm được vài ngày nữa, ta tin chắc không ai dại gì đi tìm ngay cái chết cho mau đâu! Này, theo ta được biết, Tây Đạo, Đông Tăng tuy chưa bị chết, nhưng sự gần cái thết đã hiển nhiên, nếu hai chúng ta không đi tìm họ thì thôi, còn không, thế nào cũng chết chung một lúc với họ! Thử hỏi, như thế có ích gì! Chắc ngươi tưởng rằng ta không niệm tình thủ túc chứ gì? Nhưng có lẽ ngươi chưa nghĩ đến, ta đâu phải kẻ vô tâm, mà chẳng qua là không đủ sức... ta... hiện nay... hiện nay...
Giọng nói Phổ Côn hạ thấp và liếc nhìn xung quanh, hình như Bắc Kiếm sợ có người nghe rõ ý nói của mình vậy. Lúc này xung quanh xe, ngoài trừ Nam Bút, Thượng Quan Linh, Liễu Mi và Sở Canh ra, thì toàn là những thủ hạ tâm phúc của Bắc Kiếm đương nhiên là không sợ có kẻ lạ nghe lóm! Mà nhất là tiếng nói của Phổ Côn lại nhẹ thấp, thậm chí cả đến Thượng Quan Linh và Sở Canh cũng không thể nào nghe rõ, kẻ nghe rõ được chỉ có Nam Bút và Liễu Mi, người trước nghe được nhờ công lực, nhưng Liễu Mi chỉ nhờ nhanh trí của mình.
- Hà... - Tiếng thở dài chán nản, nhưng cũng được Nam Bút và Phổ Côn phát ra một lúc...
Liễu Mi giật mình, trong thời gian chớp nháy này, nàng hiểu ngay, vị Bắc Kiếm tuy là từng gây tai ác đa đoan trong giang hồ, nhưng nay xem ra hình như lão cũng còn nghĩ đến chút tình hương hỏa chi giao (kết nghĩa đèn nhang).
Nhưng nhân vật nào mà lại có thể giam hãm nổi Tây Đạo, Đông Tăng như vậy kìa? Khiến nỗi cả Bắc Kiếm cũng không dám ra tay để cứu? Nghĩ vậy Liễu Mi càng lắng tai theo dõi tiếng nói trong xe...
- Ta còn muốn sống thêm vài ngày...
Liễu Mi suýt kêu rú lên, Phổ Côn không dám đi cứu hai sư đệ, cũng không muốn Nam Bút đi mạo hiểm, như vậy đối phương phải là một tay lợi hại. Tây Đạo, Đông Tăng chỉ còn nước chờ chết, dù cho đi cứu cũng không cứu vãn nổi tình thế. Vậy nhân vật ghê gớm này là ai kia?
Với trí thông minh, và kinh nghiệm hiểu biết của vị thứ nữ Thanh Thông Bang, Liễu Mi quả không thể nào tìm ra được một người đệ nhất nào trong làng Hắc Đạo giang hồ cả? Những kẻ hơi có chút tiếng tăm, chỉ có Độc Ma Vô Phong ảnh, lão bà bịt mặt bí mật, nhưng với nhóm này, Thượng Quan Linh và Liễu Mi cũng dám ngang nhiên ra mặt chống đối với họ, lẽ đương nhiên không phải là hai người này!
Liễu Mi nghĩ ngay đến Tỉ Vương! Hành tung thần xuất quỉ nhập như thế, không lý chính người này sao? Liễu Mi cứ lo nghĩ quanh quẩn mãi đến vấn đề này. Đoàn người vẫn đang tiếp tục đi về hướng Bắc. Nam Bút đã bỏ ngựa vào ngồi chung trong xe với sư huynh Bắc Kiếm. Liễu Mi càng để ý nghe lóm cuộc nói chuyện của hai người. Từ lúc Nam Bút vào ngồi trong xe, tiếng nói đâm nhỏ hẳn, Liễu Mi không làm sao nghe được, nàng bèn đem những thắc mắc của mình nói với Thượng Quan Linh. Nhưng vốn là người ngay thắng, chàng chỉ ước mong trong chuyến đi này, làm sao mà tìm cách để thay đổi được tác phong khó tính của vị sư bá, khiến cho ông ta có thể hợp tác chặt chẽ với thầy mình để lo tìm kế cứu nạn cho Nhị sư bá và Tam sư bá. Với danh lừng lẫy Càn Khôn Ngũ Tuyệt xưa kia, ai mà không biết họ thuộc vào trung kiên phần tử trong nhóm người nghĩa hiệp, chỉ vì sau này, bỗng Bắc kiếm Phổ Côn sư bá biến chứng thay đổi tính nết, ba hồi ác ba hồi thiện, thanh danh bị lan truyền ra, khiến cho Càn Khôn Ngũ Tuyệt bị ảnh hưởng lớn. Nếu ngày nay Đại sư bá có thể thay đổi lại tính nết xưa kia quả là một sự mong ước và lý tưởng nhất của mọi người, Thượng Quan Linh với danh nghĩa là người nối nghiệp của Càn Khôn Ngũ Tuyệt, chàng đang cố cầu nguyện cho sự suy nghĩ của mình thành sự thực!
Thỉnh thoảng có tiếng đàn của Bát long ngân từ trong vọng ra, những âm thanh thánh thót này như đang kể lại những mối tình kết nghĩa của sư huynh đệ nhóm Càn Khôn Ngũ Tuyệt... suốt dọc đường, đám bộ hạ của Phổ Côn Bắc Kiếm trầm lặng, Thượng Quan Linh và Liễu Mi cũng đang mãi lo suy nghĩ theo tư tưởng rối rắm của mình, nên cũng mặc họ, chỉ riêng có Sở Canh, thỉnh thoảng lo kiếm chuyện gây gổ. Nhưng Tiêu Ngũ và Tư Đồ Cống cố nhịn, Liễu Mi cũng phải lên tiếng can khuyên Sở Canh. Đoàn người vẫn kéo thẳng về hướng Bắc, trung tuần tháng chạp, họ đã gần đến Cư Dung quan khẩu của Trường Thành, chỉ thấy thiên hạ ở đây ai nấy đang lo sửa soạn để đuổi năm cũ để nghênh đón một cái Tết sắp tới thế mà đoàn người lữ hành của mười mấy mạng bộ hạ của Phổ Côn, cộng thêm với bốn người phía Nam Bút, ngựa, xe, vẫn tiếp tục vượt quan khẩu để lên ngược mạn Bắc hoang lạnh.
Thượng Quan Linh mãi nghĩ đến cách phục thù, trong lòng băn khoăn rối loạn; Liễu Mi lại nghĩ đến gia đình, vì hễ mỗi lần hết năm Tết đến, trong Thanh Thông Cốc vui nhộn hơn đâu hết, nhất là hai cô gái Thanh Thông Cốc, dù bận gì cũng lo về nhà đoàn tụ với cha già để ăn Tết. Nhưng năm nay khác lệ hẳn, Liễu Mi không biết chị Liễu Văn theo vị phiên tăng Thiên Trúc ấy đi về phương trời nào? Chắc họ không về Thanh Thông Cốc rồi, năm nay vắng bóng cả hai cô gái trong nhà, lẽ đương nhiên cha già buồn lắm. Càng nghĩ, nàng càng buồn, nhưng vì chồng chưa cưới của mình đang bận chuyện thù oán bên người, mà lúc này mình không thể nào bỏ rơi được, nàng cố miễn cưỡng đè nén nỗi lòng nhớ nhà của mình để cùng chịu lo chia xẻ mối nguy nan với người yêu trong lúc vất vả này!
Hôm đó đoàn người ngựa của họ đã đến Cư Dung quan khẩu những người từ quan ngoại về khá đông, nhưng lúc này kẻ ra đi tuyệt không hề thấy ai, thành ra đám quân canh cổng quan nhìn họ với những đôi mắt ngạc nhiên. Ra khỏi quan khẩu, dãy Trường Thành từ từ biến dạng sau lưng họ, cuộc hành trình vẫn tiếp tục âm thầm tiến về miền hoang vu lạnh lẽo của mạn Bắc. Nam Bút bỗng chui ra khỏi xe để đi ngựa, đồng thời ra tay vẫy Thượng Quan Linh, Liễu Mi và Sở Canh lại.
Thượng Quan Linh vội lên tiếng hỏi ngay rằng:
- Thưa thầy! Chúng ta phải theo Đại sư bá đi mới biết đường lối chứ?
Nam Bút tiên sinh chưa trả lời, Liễu Mi đã phì cười ngay rằng:
- Nam thúc thúc đời nào chịu ra tay không. Lẽ đương nhiên là thúc thúc đã biết đường biết lối rồi, anh hỏi gì cho thêm lôi thôi vậy?
Nam Bút có vẻ trịnh trọng nói:
- Đại sư bá của con nói với ta, nay Nhị sư bá và Tam sư bá của con đều bị giam hảm tại Bách Linh Miếu của Đại Thành ở Mạc Bắc, và chính nơi đó sắp sửa có một thịnh hội, lão bà bịt mặt thế nào cũng sẽ tham dự cuộc thịnh hội này...
Thượng Quan Linh nghe vậy mừng rỡ, càng tăng mau thêm tốc độ để mong sao chóng đến nơi, lúc này mọi người đã tách rời đoàn của Bắc kiếm Phổ Côn.
Trong cuộc hành trình lạnh lẽo này, Nam Bút kể cho ba người nghe chuyện của Bắc Kiếm! Quả nhiên sư huynh mình đã có nỗi lòng thầm bí mà không thể nào thố lộ ra được, trên giang hồ chỉ biết Bắc kiếm Phổ Côn là một nhân vật khét tiếng lừng danh, vì nổi tiếng nên khó phân biệt thiện ác, nên chẳng ai là người không ngán nể đôi chút, nào có ai hay cho trong mấy năm gần đây sư huynh đang phải sống trong cảnh đau khổ. Bởi Bắc Kiếm nay mất hẳn tự do, bị người ta kềm hãm, biến thành con cờ cho người ta lợi dụng sai khiến, nói ra lẽ đương nhiên không ai có thể tin được, nhưng chính đó là sự thật. Bắc kiếm Phổ Côn xưa kia tính tình vốn kiêu căng, và hay chống đối với ý kiến của ba vị sư đệ, tự ý làm theo ý thích của mình, và đã gây nên một việc ác thứ nhất, và nhờ thế mà bị một tên Ma đầu mua chuộc ngay?!
Về sau, tiếng tăm trên giang hồ bị sa sút hẳn, nhờ được ba vị sư đệ thương tình cố nâng đỡ, trong lòng Bắc Kiếm đã ăn năn hối hận, tính thay đổi lại nếp sống, nhưng vì Bắc Kiếm hình như đã bị sa lầy mỗi ngày mỗi sâu thêm, phần biết sức mình không phải đối thủ, thế nào cũng bị người ta hạ độc thủ, phần lại tham lam lợi lộc nên không bao giờ cải tiến nổi bản tính của mình, từ đó không dám cải tà để qui chánh. Và chính Bắc Kiếm và bộ hạ đều phải phục vụ hết mình cho tên Ma đầu không biết danh ấy, chẳng những thế, mà cả đến tên Độc Ma trên Vô Ảnh Phong, và kẻ mới nổi danh là lão bà bịt mặt, cùng với phái Điểm Thương ở Vân Nam, và cùng với vô số nhân vật đã nổi danh của Hắc Bạch hai đạo, hình như đã hoàn toàn, hoặc trực tiếp hay gián tiếp, đều đã bị tên ác ma vô danh này thao túng ngấm ngầm hết.
Độc Ma tự hào với thiên hạ là trong võ lâm giang hồ chưa ai được thấy bộ mặt thật của y ra sao, nhưng đem so sánh với tên quái nhân ma đầu kia, thì càng thua người ta quá xa, vì tên này có thể hóa thân cả muôn ngàn bộ mặt khác nhau, thần xuất quỉ nhập, và chính đến những kẻ bị y kềm hãm và thao túng trong tay cũng đều không biết con người thật của y ra sao! Và lẽ đương nhiên không ai có thể biết tung tích đích xác của y ở đâu! Và quái nhân này chỉ trông cậy vào tín vật của y để truyền ban mệnh lệnh, và ai nấy phải lo thi hành cho đúng, nếu vô phúc cho ai có vẻ nghi ngờ hay chểnh mảng, ắt khó mà giữ nổi tính mạng, thủ đoạn lẽ đương nhiên là dã man tàn nhẫn, nên khiến cho những người lo phục vụ cho y đều phải nơm nớp lo sợ, và ai nấy cảm thấy mất hẳn tự do, tuy có lòng hướng thiện, nhưng lại không có sức để phản đối lại, nên liên miên ăn năn đau khổ trong những tội lỗi của mình gây ra.
Và chính trong sự an bài này của tên Ma đầu vô danh ghê gớm ấy, hạ lệnh cho Phổ Côn nhử ngay Thiên Si Tây Đạo ra quan ải, và bắt giam, tiếp sau là Đông tăng Túy Đầu Đà tìm đến cũng chung luôn số phận. Mục đích của tên Ma đầu là gì? Theo Bắc kiếm Phổ Côn nói, quái nhân này đã tính cả đến mưu kế để bắt Đông Phương Tướng, nhưng vì Đông Phương Tướng đã mất, nếu xét ra, hình như đang lo đối phó với Độc chỉ Thôi Bác, và dùng ngay Tây Đạo để làm vật ép buộc Thôi Bác phải ra mặt, và rất có thể vụ này có liên quan đến kho tàng vô giá của Hoàng Đảo! Gần đây, Phổ Côn lại được lệnh đi ngay về Bách Linh Miếu Mạc Bắc làm chuyện gì vẫn còn chưa rõ, nhưng có điều biết là có nhiều người tới đó lắm, hình như sẽ có một thịnh hội được cử hành tại đó thì phải! Nên khi Phổ Côn gặp sư đệ Nam Bút tại mặt sông băng giá của con sông Hoàng Hà, tâm tình buồn nản không muốn gặp mặt làm gì, nên cứ ngồi trong xe, sau bị phát giác, Nam Bút vào ngồi chung với đại sư huynh, và cuối cùng bị cảm tình của sư đệ khiến cho mủi lòng nên đã thố lộ bí mật.
Và sợ bị tên quái nhân phát giác, nên sau khi ra khỏi Cư Dung quan khẩu, Phổ Côn và Nam Bút đành chia tay nhau.
Chuyến đi cứu người và trả thù lão bà bịt mặt, cùng với sự tìm rõ manh mối xem ai là Tỉ Vương trong cuộc đi Bách Linh Miếu Mạc Bắc này, đương nhiên là một chuyến đi vô cùng nguy hiểm, chỉ e ngại với sức lực quá nhỏ của bốn người khó mà thành công cho được. Phổ Côn tuy rất muốn giúp đỡ, nhưng đã tỏ ý rõ là không dám mạo hiểm, vậy thì hy vọng càng trở nên mỏng manh. Lúc này, nếu có Độc chỉ Thôi Bác, thần ưng Đại Hắc và Chu Hoàng công tử đến, với sức hùng hậu như vậy, thế nào cũng có thể mở cuộc giao tranh với đám tà ma một trận kịch liệt, nhưng khốn nỗi Thôi Bác lại ở tít miền Ngọc Thụ của Thanh Hải, kẻ Nam người Bắc cả muôn ngàn dặm xa xăm như thế!
Thầy trò Nam Bút luôn luôn chỉ vì nghĩa quên sinh, thậm chí việc đó luôn nguy hiểm hay không, hai thầy trò chẳng cần nghĩ đến. Sở Canh vốn là con người cương trực chất phác, thấy hai thầy trò họ không hề tỏ ý chùn bước trước cảnh uy hiếp lớn lao như thế, máu anh hùng của Sở Canh lại càng sôi động hơn ai, chỉ thấy chàng hiên ngang lẫm liệt tiến đi như sắp sửa đối phó với đại kình địch đâu đây! Chỉ riêng nàng Liễu Mi, nàng tuy không phải là người sợ chết, mà vì nàng là người đắn đo kỹ lưỡng, nay chuyến Bách Linh Miếu thịnh hội này, rất có thể là vì quái nhân Đại Ma đầu vô danh đã triệu tập hết dư đảng, để mưu đồ chuyện gì đây, với thực lực tập trung đông đủ của họ như thế, bốn người phía mình quyết không thể nào là địch thủ của họ được. Nàng nghĩ chuyến đi này của bốn người, nếu bốn người không bị chết, ắt cũng không sao tránh khỏi số phận của Tây Đạo, Đông Tăng bị bắt trọn ổ hết!
Thêm vào đó, Mạc Bắc là một nơi hoang vắng lạnh lẽo xa xăm hẳn Trung Thổ, tin tức khó lưu thông, làm sao có ai đến để cứu? Dẫu cho Thôi Bác ra tay? Chỉ sợ thế lực bị cô đơn yếu ớt, cũng chưa chắc gì là đối thủ của chúng! Liễu Mi thậm chí nghĩ ngay cả đến vị quái nhân bí mật ấy rất có thể đã có một tâm chí lớn lao, muốn làm vua tất cả các phái trong giang hồ, chỉ xem cách hắn chi phối các thế lực và lợi dụng đám tà ma trong Hắc Đạo, nay ngang nhiên đã quản lãnh nổi một thế lực to lớn như thế thì đủ biết! Giờ đây, trong nhóm nghĩa hiệp chánh phái, kẻ công lực tuyệt cao và có thể ra mặt để lãnh đạo quần hào, đương nhiên chỉ có Đoạn trường nhân Độc chỉ Thôi Bác, nhưng Liễu Mi biết rõ hơn ai hết, nếu Độc chỉ Thôi Bác không có người giúp sức, cũng khó lòng mà thành công nổi. Vậy thì cuộc hành trình của bốn người cần phải đắn đo kỹ lại mới được!
Tiếp tục mạo hiểm một chuyến? Hay quay về Trung Nguyên, báo tin ngay cho Thôi Bác, kết hợp các tay hiệp nghĩa, rồi mới cử cuộc đại càn quét đám tà ma này. Liễu Mi cũng hoài nghi luôn cả về lòng thành thật của Phổ Côn Bắc Kiếm, nàng chỉ ngại chuyến đi của bốn người đây đã nằm hết trong chương trình dự tính của đối phương, bốn người có bị bắt cũng còn là chuyện nhỏ, nhưng quan hệ lớn nhất là phe bên chánh phái sẽ mất đi một lực lượng đáng kể, rất có thể vì thế mà gây nên hậu quả nghiêm trọng, khiến cho những âm mưu của kẻ dã tâm thành công, và trên giang hồ, chánh nghĩa sẽ bị tiêu trầm, tà ma hoành hành, và gây nên cảnh khủng khiếp của thảm kịch gió máu mưa tanh từ đây trong võ lâm.
Liễu Mi càng nghĩ càng cảm thấy kinh sợ! Nàng cảm thấy bốn người càng lúc càng tiến gần về cảnh ác mộng của tử thần. Nàng không sao nín nổi, bèn nói ngay ra những ý nghĩ của mình để mọi người suy nghĩ kỹ lại xem! Sau khi nàng Liễu Mi cố trình bày hết ý nghĩ lợi và hại của mình, Sở Canh không có ý kiến gì, xưa nay đều như là thiên lôi nghe sai đâu là đả đó, lúc này nghe nàng nói chỉ gật gù cho là nàng bàn đúng lắm!
Nhưng thầy trò Nam Bút chủ trương là cứ mạo hiểm thử xem, vì Nam Bút tin rằng Bắc Kiếm sư huynh không nói láo với mình, và lẽ đương nhiên cũng không tiết lộ tung tích của bốn người trong chuyến đi này! Liễu Mi đành chịu và theo ý hai người. Hôm ấy họ đến gần Mã Quần Sơn một sa mạc lớn là Khố Ngộ Đại Khắc, lúc này mọi người phải đổi ngựa để đi bằng lạc đà, đem theo những lều vải, lương thực và nước uống chuẩn bị cho một cuộc vượt sa mạc.
Tối đến, họ căng ngay lều vải lên đi nghỉ, Thượng Quan Linh và Sở Canh lo đi kiếm đá để đè lên vải. Nhưng trong bãi sa mạc, đừng nói là không có cây cối, mà cả đến đá cũng khó thấy, hai người thất vọng, đang tính quay về. Sở Canh bỗng kêu lên:
- Thượng Quan Linh! Có đây rồi!
Thượng Quan Linh nhìn theo chỗ Sở Canh đang chỉ, quả nhiên cách đó không xa, có một mỏm đá nhô hắn ra mặt cát. Nhưng hòn đá này quá lớn, rõ ràng là không thể nào dùng được, Thượng Quan Linh đã không tính đi bê làm gì, nhưng Sở Canh bỗng nổi hứng, đòi thử sức với Thượng Quan Linh. Thượng Quan Linh cũng nổi hứng nhận lời ngay! Hai người đưa nhau lại tảng đá nhô trên mặt cát ấy, chỉ thấy đá này bị cát vùi lấp già nửa phía dưới, ước lượng cũng nặng đến sáu bảy trăm cân. Sở Canh ra tay trước, hai tay ôm vòng, cố sức rút, nhưng tảng đá lớn không hề nhúc nhích, bèn quay sang gọi:
- Thượng Quan Linh! Giờ đến phiên huynh lại thử xem sao!
Thượng Quan Linh hớn hở bước ngay lại, đứng vững ngay tấn, giang hai tay ra ôm chắc ngay vào tảng đá lớn, chàng hét lớn lên một tiếng:
- Lên!
Quả nhiên sức công hiệu của Tuyết bi tiên hoa như công tái tạo, nay Thượng Quan Linh đã nghiễm nhiên trở thành tay thần lực cái thế, tảng đá chôn sâu nơi mặt cát, đã bị chàng nhấc bổng hẳn lên! Sở Canh vỗ tay hoan hô.
Thình lình phía dưới tảng đá bay vọt lên một vật... Cả hai kinh ngạc nhìn theo, trong ánh chập choạng của buổi tối vật ấy là đà hạ ngay trên bãi cát ngay trước mặt Sở Canh và Thượng Quan Linh. Hai người nhìn kỹ lại, bất giác tròn xoe mắt và hả miệng ngẩn người, ai nấy trong bụng nghĩ thầm: Quái lạ! Sao lại có thể kỳ lạ như thế kìa!?
Thì ra đó là một người. Đúng là một người! Đứng cạnh họ xa lối hai thước! Càng kỳ lạ hơn nữa là người này lại ăn mặc theo sắc phục của miền Trung Thổ, toàn thân nho phục huyền đen, trông nhã mắt vô cùng. Tuổi lối ngoài ba mươi, da mặt trắng, đôi mắt long lanh đang nhìn vào mặt Thượng Quan Linh, trong cái nhìn vừa đượm vẻ kinh ngạc và vừa như hờn giận... Lúc này cả hai bên đều ngẩn ra, Sở Canh nóng tánh chịu không nổi, chàng cũng không muốn cho người kia nhìn trừng mãi Thượng Quan Linh như thế, lên tiếng ngay rằng:
- Ê này! ông bạn nhìn gì mà có vẻ hung tợn đến thế Có biết nhìn như vậy là mất lịch sự lắm không?...
Người nọ không trả lời, chỉ hừ một tiếng bằng giọng mủi!
Sở Canh đã muốn nổi ngay cơn tam bành, Thượng Quan Linh vội ngăn ngay lại. Hình như chàng hiểu ngay dưới phiến đá to lớn này, chắc có một huyệt động nhỏ, và huyệt động nhỏ này chính là một nơi ngủ tránh gió tránh lạnh lý tưởng của miền sa mạc mênh mông này, nay mình vô tình ôm nhổ hòn đá này lên, khác nào như đi rỡ ngôi nhà che mưa mưa nắng của người, hỏi ai mà không giận cho được! Nghĩ vậy chàng vội niềm nở thi lễ rằng:
- Tại hạ Thượng Quan Linh, vô ý nên đã đắc tội với các hạ, vậy mong cắc hạ thứ lỗi đột ngột cho...
Vừa nôi vừa khom lưng thi lễ, nhưng người kia ngang nhiên không thèm trã lời chỉ nghe hắn lại lạnh lùng hừ lèn một tiếng bằng giọng mũi.
Sờ Canh nắm ngay tay lại tính bước lên động võ, Thượng Quan Linh vội ngăn ngay lại và vẫn niềm nỡ hỏi:
- Dám hỏi các hạ tôn danh đại tính?
Người nọ bị sự khiêm tốn ôn tồn của Thượng Quan Linh, hình như cũng cảm thấy ngượng nghịu lạnh lùng rằng:
- Ta là Bắc Ưng Lãnh Lạc...
Bắc Ưng Lãnh Lạc! Thượng Quan Linh quen lắm, vốn là một vị đại hiệp của miền quan ngoại Cư Dung Quan đây, nay không ngờ lại được gặp đây, Thượng Quan Linh ngạc nhiên ồ lên một tiếng, vội rằng:
- Hóa ra là Lãnh tiền bối! Vãn bối Thượng Quan Linh, và người này là Sở Canh huynh của vãn bối...
Bắc Ưng Lãnh Lạc quả đúng với tên họ Lãnh! Lúc này lên tiếng lạnh lùng:
- Biết rồi! Nhưng ngươi là môn hạ của ai?
Đối với những vị tiền bối hiệp nghĩa, Thượng Quan Linh cung kính thưa:
- Vãn bối là môn hạ của Càn Khôn Ngũ Tuyệt, gia sư là Nam Bút tiên sinh Gia Cát Dật, còn Sở huynh đây là Hương chủ của Thanh Thông Bang...
Bắc Ưng Lãnh Lạc, khẽ ừ một tiếng, đầu gật gù, sắc mặt có vẻ hòa nhã hơn trước... Sở Canh cũng từng nghe danh của Bắc Ưng Lãnh Lạc, chàng biết rằng trên giang hồ có một người khét tiếng lừng danh như thế, nhưng bảy tám năm về trước, người này bỗng nhiên ẩn tích hẳn miền sa mạc, không còn thấy xuất hiện tung tích miền Trung Thổ nữa, và thiên hạ ai nấy đã tưởng người này qua đời! Lúc này Sở Canh cũng tỏ vẻ kính trọng nói:
- Thưa Lãnh tiền bối, đáng lẽ bọn cháu không nên kinh động đến giấc nghỉ của ngài mới phải... Nhưng vì chuyện vô tình, vậy tiện thể xin mời ngài qua lều bọn cháu nghỉ cho vui!
Bắc Ưng Lãnh Lạc đang phân vân, Thượng Quan Linh lại càng cảm thấy áy náy về hành động phá ổ của mình để khiến cho người ta mất nơi nghỉ lý tưởng, vội nói rõ thêm bên lều có gia sư Nam Bút và có thứ nữ Thanh Thông Bang cùng đi trong chuyến này, và họ đang dựng lều để nghỉ ngơi, mời ngay vị Lãnh Lạc tiền bối rời bước sang cho vui.
Bắc Ưng Lãnh Lạc mặt lộ vẻ vui rằng:
- Thôi cũng được. Nay hai cậu đã phá mất nóc nhà của ta rồi, đêm nay cũng chả biết phải dung thân vào đâu chẳng thà sang chen chung với hai cậu cho ấm cũng hay!
Thượng Quan Linh lo đi chung với vị tiền bối họ Lãnh, Sở Canh lo chạy về trước để thông báo. Nam Bút tiên sinh và Liễu Mi vội bước ra khỏi lều để nghênh đón, và vị Bắc Ưng Lãnh Lạc này đã vì lâu không ở miền Trung Thổ, nên đối với nhóm Càn Khôn Ngũ Tuyệt chưa hề quen mặt nhau, chẳng qua đôi bên chỉ được nghe tiếng nhau mà thôi, nay được gặp trong lều, Liễu Mi dọn thức ăn và rượu ra, rồi mọi người vào tiệc vui vẻ. Trong bữa ăn, ai nấy trò chuyện vui vẻ. Bỗng Bắc Ưng Lãnh Lạc hỏi mọi người chuyến đi này có mục đích gì, thấy là người đồng đạo hiệp nghĩa trong giang hồ, Nam Bút cũng tình thật bày tỏ tự sự, nhất là đi tìm hai vị sư huynh và đi gặp lão bà bịt mặt.
Vị Bắc Ưng Lãnh Lạc tuy là thổ địa của miền sa mạc này, nhưng lại chẳng hay biết gì về những chuyện này, chỉ lên tiếng hứa là sẽ tận lực giúp sức trong việc thăm tin, lời ăn tiếng nói đều tô ra vẻ vô cùng thành khẩn, rồi câu chuyện dần dà chuyển hướng sang đến phía Thượng Quan Linh. Lãnh Lạc bất giác giơ ngón tay cái lên khen ngay vị cao túc của Nam Bút tiên sinh, quả là bực thần lực cái thế, chỉ trong chớp nháy, mà đã ngang nhiên cử nổi một khối đá nặng sáu bảy trăm cân! Thượng Quan Linh vội khiêm tốn cảm tạ, còn vị Nam Bút bề ngoài tuy khách sáo khiêm tốn, nhưng nghe ái đồ mình được khen trong lòng sung sướng vô cùng, sau những câu khen lẽ dĩ nhiên cũng nhiều câu hỏi thắc mắc về thần lực của Thượng Quan Linh do đâu mà được vậy. Sở Canh đang đứng cạnh nghe vậy, bèn khai toạc hết những sự kỳ ngộ của Thượng Quan Linh, nào được ăn Tuyết bi tiên hoa, nào không sợ đao kiếm phạm tới v.v... Khiến cho vị Bắc Ưng Lãnh Lạc ngưỡng mộ vô cùng. Nào ngờ câu chuyện của Sở Canh đã vô tình gây nên mầm họa cho Thượng Quan Linh sau này! Quả là một chuyện mà nào ai có thể lường trước được?
Trong khi mọi người đang ngon giấc nồng, đã có một người âm thầm len lén bò dậy, và mò dần đến phía Thượng Quan Linh chăm chú ngó chàng. Mắt thấy mọi người đang ngủ say, chỉ nghe tiếng người này lảm nhảm rằng:
- Nếu quả là kỳ dị như thế, để ta thử ra tay xem sao?
Một làn ánh quang nhoáng nhanh bả vai Thượng Quan Linh . . .
Sáng hôm sau... khi Thượng Quan Linh tỉnh dậy, lúc mặc áo, Liễu Mi bỗng thất kinh rú lên. Nhảy vụt ngay sang xem bả vai bên trái của Thượng Quan Linh, chỉ thấy một vết đao thương dài lối năm tấc, tuy không sâu và rộng, cũng không thấy máu me, lại một vết sẹo hơi bầm.
Liễu Mi hỏi ngay phải chăng đó là vết thương bị đao chém? Thượng Quan Linh cho hay là chàng xưa nay đâu có bị thương bả vai vậy đâu, vết thương này có vẻ kỳ lạ, hình như mới có gần đây, chàng còn nhớ tối qua cởi áo đi ngủ, trên vai nào đâu có dấu vết gì đâu, sao lại có một đêm, mà lại xảy ra chuyện quái gở đến thế? Hai người bàn thì thầm với nhau, nhưng khi nhìn đến vết thương, rõ ràng là vết của đao kiếm gây nên, một nơi xa vắng hoang vu như sa mạc đây, có ai tới đây để ám sát Thượng Quan Linh kìa? Không lý ngoài cây Tiểu Đoạt Hồn Kỳ có thể gây thương tích cho Thượng Quan Linh ra, lại còn thêm một báu vật khác có thể hại nổi chàng nữa sao? Nhưng điều lạ hơn hết mọi người không ai hay biết đã đành, mà chính cả bản thân của Thượng Quan Linh cũng không hay biết gì mới lạ, nếu đó là hành động của người gây nên, vậy thì đủ biết thân pháp và thủ thuật của người ấy đáng sợ đến mực nào, đồng thời về thủ pháp và binh khí cũng quá sức tưởng tượng kỳ lạ của nó!
Nếu bảo là người ta có ý giết hại, sau khi đã được lợi thế như vậy, tại sao họ lại không đoạt luôn mạng chàng cho rồi? Thượng Quan Linh nghĩ mãi không vỡ lẽ. Chàng bèn cho rằng: đây không phải là vết thương bị đâm chém gì, mà có lẽ bị loại sâu bọ kỳ quái gì của miền sa mạc gần đây, vì miền sa mạc luôn luôn có những chuyện quái gở không thể nào giải thích nổi! Riêng phần Liễu Mi, nàng lo vô cùng, bất cứ chuyện gì của Thượng Quan Linh, nàng còn lo hơn là chuyện của bản thân mình, nàng nghĩ thầm, vụ này không những lạ lùng quái gở mà còn đáng sợ là khác! Liễu Mi có tưởng tượng đến một giả thuyết rùng rợn nhất cho rằng một người bí mật nào, nhân đêm khuya đã len vào lều vải, đã ngang nhiên che nổi tai mắt của các tay cao thủ để gây thương tích cho người yêu, đã thế mà không để lại máu tích, vết thương kỳ lạ, người này là ai? Binh khí này là loại binh khí gì?
Càng nghĩ Liễu Mi càng cảm thấy ái ngại lo lắng! Không dám sơ ý, nàng chỉ còn cách cẩn thận đề phòng. Cuộc khởi trình bắt đầu, Bắc Ưng Lãnh Lạc và Sở Canh cùng ngồi một lạc đà. Đoàn người rong ruổi trên bãi sa mạc. Xa xa một trang viện xuất hiện trước mặt mọi người. Trên lưng lạc đà, Bắc Ưng Lãnh Lạc lên tiếng:
- Thưa chư vị, đó là Lãnh Ưng Viện của Sa La Tinh, nay được tạt qua tiện xá, Bắc Ưng Lãnh Lạc tôi ít nhất cũng phải tận chút tình địa chủ để mời quí vị ghé vào nghỉ ngơi chút cho vui...
Mọi người đương nhiên không nỡ làm phật lòng địa chủ, lại nữa cuộc hành trình cũng đã khá lâu rồi, ai cũng cảm thấy mệt mỏi cần phải tạm nghỉ.
Khi đến trước Lãnh Ưng trang viện, chỉ nhìn tổng quát bên ngoài quả nên thơ thật, một miền sa mạc như đây thế mà cũng mọc cây cối xanh um và một con suối vây quanh trang viện khá đồ sộ. Ngôi Lãnh Ưng Trang xây cất ngay trong đám rừng cây, một đường con đưa thẳng vào trong, mặt đường lót bằng đá vụn, hai bên đường toàn cây lớn, tiếng gió vi vu, lá rụng từng đợt, tăng thêm vẻ trang nghiêm và nên thơ cho con đường vào trang viện.
Lạ cái trong trang viện không thấy có ai ra nghênh tiếp. Mọi người tiếp tục đi thẳng vào, khi đến cửa trang, thấy lối xây cất quá hùng vĩ, một tấm biển đen đã bạc màu với ba chữ mạ nhũ vàng Lãnh Ưng Viện, hình như vì lâu đời quá nên các chữ tích bên trên đã mờ hẳn. Lúc này chỉ thấy cổng viện đóng kín, ai nấy phân vân, không lý trong trang viện này không có người! Nghĩ vậy, nhưng không ai nói ra vội, càng không tiện đường đột hỏi Bắc Ưng Lãnh Lạc làm gì... Khi tới cửa viện, chợt Bắc Ưng Lãnh Lạc hú lên một tiếng sáo, hình như để thông báo với người bên trong! Chẳng mấy chốc, cánh cửa lớn của Lãnh Ưng Trang mở dần ra, Bắc Ưng Lãnh Lạc đưa ngay khách vào. Chỉ thấy toàn là nô bộc thị nữ, đứng xấp thành hàng ngay tắp, số người ước gần đến trăm, khi mọi người đi ngang, họ đều cúi mình kính cẩn thi lễ.
Bốn người phía Nam đều lấy làm lạ. Đám nô bộc tuy đông đảo như thế mà sao không hề có một tiếng nói nào để hoan hô đoàn khách. Chờ khi đám nô bộc này ngửng đầu nhìn lên, bốn người thất kinh suýt rú lên thành tiếng! Sắc mặt đám nô bộc này trắng nhợt như thây ma người chết, trông ngây dại và lạnh lùng. Thượng Quan Linh đang kinh ngạc, chàng lập tức cảm thấy tay Liễu Mi đang nắm mạnh vào bàn tay mình một cái, ý như Liễu Mi dặn phải thận trọng với lối cổ quái của trang viện Lãnh Ưng Viện này! Nam Bút cũng ngấm ngầm đề phòng mọi biến chuyển. Chủ nhân Bắc Ưng Lãnh Lạc lo chỉ huy đám nô bộc tiếp khách đi tắm gội thay quần áo, lo thức ăn!
Sau khi mọi người sửa soạn xong xuôi, trên sảnh đường của Lãnh Ưng Trang đã dọn sẵn bàn tiệc. Thượng Quan Linh, Liễu Mi, đều cảm thấy trong trang viện này tất cả cái gì cũng quái lạ, nhà cửa to lớn âm u, dụng cụ trong nhà đều màu đen, ánh nắng thì bị các cây um tùm bên ngoài che khuất, tất cả mọi nơi trong trang viện đều cảm thấy không khí âm người lạnh lẽo của nó, lúc này đang ban ngày, thế mà trong đây phải thắp đèn lạp.
Nhưng điều lạ nhất là đám nô bộc, suốt từ lúc vào đến giờ, Thượng Quan Linh chưa hề nghe họ phát ra một tiếng nói nào, và đám người này, bất kể là già, trẻ, lớn, bé, đàn ông, đàn bà, toàn thân họ đều mặc toàn một màu đen, họ âm thầm làm việc, chỉ có tiếng cọ sát của quần áo họ lúc di chuyển gây nên. Ngoài ra, động tác và lối hành động của họ đều tỏ ra vẻ chậm chạp và thận trọng. và tất cả những khuôn mặt của đám nô bộc này, hình như họ đeo mặt nạ cả, thần sắc trông quái dị... cả đến mí mắt cũng không hề thấy chớp động qua lần nào. Bốn người đều có một cảm giác, sau khi vào Lãnh Ưng Trang này, thật chẳng khác nào như đang vào một huyệt mộ của thế giới u minh vậy!
Nhưng chủ nhân đối với sự nghi ngại của khách không hề giải thích gì, trong bữa tiệc, Bắc Ưng Lãnh Lạc chỉ nói về các tập tục phong thổ nhân tình của miền trại ngoài sa mạc, tiếng cười hào phóng, và câu chuyện đã thu hút ngay sự chú ý của bốn vị tân khách. Khi Bắc Ưng Lãnh Lạc nói đến chuyện, cứ mỗi năm vào mồng mười Tết, lại có thịnh hội tại Bách Linh Miếu vô cùng náo nhiệt, có thể nói là một cuộc hội nhiều trò chơi tiêu khiển nhất, nào đua ngựa, nào các đám thần thánh, nào các cao tăng giảng kinh v.v... Nghe đâu năm nay, tổ chức còn có vẻ linh đình hơn các năm trước là khác, ngoài trừ các hoạt động trên ra còn mới xây cất thêm một ngôi Tự đường mới, để cho Hoạt Phật nhục thân thăng thiên (Phật sống về trời). Câu chuyện này được thoát ra từ cửa miệng của Bắc Ưng Lãnh Lạc, mọi người nghe xong đều kinh ngạc, vì chuyện này rõ ràng có liên quan đến cuộc thịnh hội trong võ lâm, nhưng không biết rằng tên đại ma đầu vô danh bí mật kia có chọn vào ngày này không!
Nam Bút không vội đả động đến vấn đề, quả nhiên Bắc Ưng Lãnh Lạc lại nói tiếp, là vào ngày mồng mười Tết ấy, có cả các tay võ lâm tập trung tại Bách Linh miếu, và chính Bắc Ưng Lãnh Lạc cũng chuẩn bị đi xem cho vui. Đã cuối tháng chạp, và chỉ còn hai ngày nữa là Tết đến, Bắc Ưng Lãnh Lạc cố mời mọi người ở nán lại Lãnh Ưng Trang để ăn Tết, sau ngày Tết sẽ thân hành cùng đi với mọi người để dự cuộc thịnh hội vào ngày mùng mười Tết tại Bánh Linh Miếu.
Sau khi Nam Bút biết rõ ngày hội của Bách Linh Miếu, trong lòng mừng thầm, đồng thời Nam Bút tiên sinh cũng tiếp nạp luôn ý lưu khách của chủ nhân, mọi người đều đồng ý ở lại. Một đêm vô sự trôi qua.
Sáng hôm sau, Thượng Quan Linh dậy, chàng cảm thấy ngôi trang viện Lãnh Ưng này vẫn có một vẻ gì là lạ bí mật. Màu tường đen, và tất cả các vật dụng trong nhà cũng đen, thậm chí cả đến mền gối cũng màu đen, toàn màu âm u tối lạnh, mặc dù là ban ngày nhưng vẫn khiến cho cám giác là đêm!
Tất cả trang viện, mặc dù có gần trăm người làm việc, ấy thế mà vẫn im lặng như tờ, không một tiếng nói hay một tiếng động lớn. Thượng Quan Linh cảm thấy buồn bực khó chịu, chàng cố tìm cơ hội, chờ khi có hai thiếu nữ bước vào phòng, chàng cố hàn huyên để bắt chuyện, nào hay hai thiếu nữ không hề trả lời, dù cho Thượng Quan Linh hỏi gì đi nữa, họ chỉ gật và lắc đầu để đáp lại. Xem tuổi họ chỉ lối độ hai mươi, khuôn mặt cũng khá xinh, chỉ tội nước trắng nhợt và ngây dại mà thôi, đôi mắt không được linh động. Thượng Quan Linh càng cố gắng khám phá lại càng thất vọng! Vì hễ mỗi lần Thượng Quan Linh hỏi dồn tới, hai thiếu nữ nọ như cảm thấy rắn độc tấn công mình, cả hai vội mau mau rút ngay ra khỏi cửa phòng chàng. Thượng Quan Linh chỉ có một cảm giác như mình đang sống trong một thế giới u minh lạ lùng, đây không phải lối sống của người trần gian.
Thượng Quan Linh vội đi tìm ngay Liễu Mi, thấy nàng đang tựa người trên lan can nhìn cá bơi nhởn nhơ trong hồ nước. Đây tuy có chút ánh sáng, nhưng cũng yếu ớt lạ, trông chẳng khác nào như trời sắp đổ cơn giông tố xuống vậy Thượng Quan Linh thấy người yêu dang suy tư trước hồ cá, chàng nghĩ: chắc nàng cũng đang nghĩ như mình, làm cách gì để khám phá ra sự bí mật của màu đen trong Lãnh Ưng Trang này?
 
0
Hồi 067. Bí Mật Của Màu Đen
[/align]

Một không khí đầy rẫy cổ điển và trầm buồn ấy, khiến cho hai người trẻ như Thượng Quan Linh và Liễu Mi không sao chịu đựng nổi, hai người đều biết rằng đây không phải là một chuyện ngẫu nhiên, làm cách gì để khám phá đây? Nhưng họ vẫn cố lòng chờ đợi, riêng chàng Sở Canh đã bực bội lắm, nằng nặc đòi ra ngoài đi loanh quanh, khiến cho Thượng Quan Linh và Liễu Mi phải rối lên khuyên can mới tạm yên. Phần Bắc Ưng Lãnh Lạc, hình như đang bận nhiều chuyện, những lúc rảnh, cùng tìm Nam Bút tiên sinh để trò chuyện, và chỉ họp mặt lúc cơm nước mà thôi, bởi vậy Thượng Quan Linh, Liễu Mi, Sở Canh, trong nội tâm của ba người đều lo ngại, và luôn luôn tìm nhau để tụ họp, tối phải ngủ riêng biệt, nhưng ai nấy cũng cẩn thận lo đề phòng.
Đã hai mươi tám Tết, tuy Bắc Ưng Lãnh Lạc đã giữ mọi người lại để ăn Tết, trong ngôi trang viện âm u lành lạnh ảm đạm này, tất cả đều đượm vẻ tịch mịch, trầm lặng, cổ quái, và cộng thêm sự rờn rợn của bầu không khí, lúc này trong trang viện, chẳng có một vẻ gì gọi là không khí đón Tết cả! Lại càng không có một cảnh tượng gì vui nhộn của ngày trước Tết.
Ngày giờ vô liêu và buồn tẻ vẫn nặng nhọc trôi đi, Thượng Quan Linh, Liễu Mi vẫn không hề bỏ qua vụ khám phá bí mật của màu đen, may là trong trang viện họ được tự do đi chơi các nơi trong trang, nhưng không vì thế mà khám phá manh mối gì, trái lại bí mật vẫn hoàn bí mật. Hai người đã từng lần mò vào đến trong thư phòng lớn thiếu ánh sáng, ở đây họ đã thấy những bức họa của những vị trang chủ của ngôi Lãnh Ưng mấy đời trước, bức cuối cùng là bức chân dung của Bắc Ưng Lãnh Lạc, trong thư phòng, bày la liệt nhiều vật kiện, bao gồm cả những loại binh khí của các bực tiền trang chủ, và những vật kỷ niệm đi tung hoành trên giang hồ, và mỗi vật kiện ấy đều có văn tự chú thích bên cạnh. Trong các sự tích ấy, có nhiều chuyện hai người đã biết từ xưa kia, và trong số chuyện ấy đều có Lãnh Ưng Trang tham gia, quả nhiên xưa kia từng là một vị đại hiệp khét tiếng trong giang hồ.
Nhất là vị Bắc Ưng Lãnh Lạc, trước bức chân dung của người này lại bày la liệt khá nhiều vật, có cả binh khí kỳ hình quái trạng là cây liềm ưng trảo, tuy đã lâu không dùng đến, nhưng ánh sáng của nó vẫn óng ánh chập chờn trong thư phòng ảm đạm này. Bày chung với cây liềm ưng trảo này, có khá nhiều các đao gãy, kiếm gãy, ám khí, quần áo v.v... và bên cạnh mỗi vật như thế, đều có để giấy ghi chú cẩn thận, toàn là các chiến lợi phẩm mà xưa kia Bắc Ưng Lãnh Lạc đã tung hoành dọc ngang trên giang hồ, trong số đó có khá nhiều các nhân vật khét tiếng xưa kia, toàn là các danh sĩ kỳ nhân của Hắc Bạch đạo của cả hai miền quan nội và quan ngoại thời đó. Ba người thấy những vật kiện này bất giác đều sinh ra lòng khâm phục vị Bắc Ưng Lãnh Lạc này, quả không hổ danh là một bậc đại hiệp, chỉ nội nhìn những chiến lợi phẩm đây, cũng đủ biết người ta xưa kia rất có thể là một tay vô địch trong làng võ lâm.
Trong họa thất này, chỉ riêng có bức họa của Bắc Ưng Lãnh Lạc là sống động hơn các liệt vị trang chủ xưa kia, đem so với trang chủ bây giờ, không những trai trẻ, anh tuấn, oai phong lẫm liệt, trông thật hiên ngang khí phách lạ. Nhưng đây chỉ là bức họa vẽ khi còn trẻ hoặc tối thiểu cũng là hồi tráng niên, nay Bắc Ưng đã nghiễm nhiên tóc điểm hoa râm, tuy còn hao hao giống với bức họa, nhưng các nét oai phong dã khác xưa khá nhiều. Thời gian không bao giờ tha tuổi xuân của đời người, chúng luôn luôn lôi cuốn tất cả vào cõi hư vô...
Thượng Quan Linh, Liễu Mi, Sở Canh, ba người sau khi tìm hiểu được chút ít lai lịch vinh quang của vị Bắc Ưng Lãnh Lạc, họ chỉ biết kính phục và không còn một mối hoài nghi gì, nhưng không biết vì duyên cớ gì mà lại khiến cho vị đại hiệp phải tiêu trầm và ẩn cư một miền hoang vu của đất sa mạc này, và không bao giờ chịu quay về Trung Nguyên? Hình như Bắc Ưng Lãnh Lạc không vợ, không con, mà chỉ có toàn đám nô bộc như xác sống không hồn vậy; tất cả những cảnh tịch mịch âm người nơi đây phải chăng là trang chủ đã cố tình tạo ra cảnh như thế? Nếu đúng là do Bắc Ưng Lãnh Lạc sắp xếp, như vậy có ý nghĩa gì?
Còn cả đến bí mật của màu đen, một màu mà không được đa số người thích cho lắm, tại sao vị Bắc Ưng Lãnh Lạc lại có thể thích như thế? Liễu Mi bỗng như phát giác thêm một điều lạ, tất cả các bức họa của các vị trang chủ mấy đời xưa kia đang treo đây đều toàn bận áo màu đen cả! Không lẽ mấy đời nhà họ Lãnh này đều tương truyền cho nhau phải thích màu đen này sao?
Thì ra, trong Lãnh Ưng Trang này, trong mấy đời nay đều là thế giới màu đen cả, đây chẳng qua là một sự háo thích quái gở, nhưng cũng không có gì lạ lùng lắm. Ba người đang tính rút lui ra, khi đến cửa ngõ, Liễu Mi lại sực nhớ ra chuyện gì, nàng bước vào ngắm nhìn kỹ lại mấy bức họa một chập rồi mới chịu về. Ra đến ngoài, Sở Canh và Thượng Quan Linh đều tin vị Bắc Ưng Lãnh Lạc này là người anh hùng hiệp nghĩa, không nên nghi ngờ gì nữa, e làm mích lòng chủ nhân Lãnh Ưng Trang, đôi bên chuyện trò vui vẻ. Nhưng riêng có điều lạ: Liễu Mi không hề tỏ lời nói gì, sắc mặt có vẻ đăm chiêu suy tư điều gì! Thượng Quan Linh lấy làm lạ, hỏi nàng, Liễu Mi đành khẽ trả lời:
- Anh Linh! Vừa rồi em đã xem kỹ về các bức chân dung ấy, kết quả là khám phá ra những màu đen trên ấy hình như mới bôi lên gần đây thì phải?!
Thượng Quan Linh không hiểu nàng muốn ám chỉ gì, ba người vội đưa nhau đi tìm một nơi vắng vẻ để bàn tán.
Liễu Mi nói rất có lý, những bức họa ấy, đã là những chân dung lâu năm của các bực trang chủ đời trước, theo lý ra đâu phải cùng được họa ra một thời gian, về điểm này, chỉ cần tỉ mỉ nhìn xem loại giấy trên bức họa cũng rõ ngay, nếu theo thứ tự, bức này sẽ cũ hơn bức nọ mới đúng! Tuy trong thư phòng thiếu hẳn ánh sáng, nhưng với đôi mắt tinh ranh của Liễu Mi, và hơn nữa nàng đã đưa tay ra sờ mó chứng minh tất cả các bức vẽ đó đều có một khoảng cách biệt của thời gian cả!
Nhưng có điều tất cả những áo trên các bức chân dung ấy đều bị bôi thành màu đen, dấu vết vẫn còn vẻ mới. Về điểm này tuy không lấy gì làm quan trọng, nhưng nếu nghĩ kỹ ra có thể chứng minh rõ một điều, tức là những màu áo trước kia của các bức chân dung ấy, vốn không phải là màu đen như bây giờ! Sự phát giác tuy nhỏ của Liễu Mi, nhưng rất có lý!
Nam Bút tiên sinh đã nhận ra ba vị hậu bối không thích thú gì với lối cảnh sắc âm u ở đây, trong đầu óc ông ta cũng đã an bài sẵn, hết đêm nay, mai đã là mồng một Tết rồi, cuộc thịnh hội tuy đến ngày mồng mười Tết mới bắt đầu, nhưng đây cách Bách Linh Miếu không phải là gần gì. Nam Bút tiên sinh bèn tính đưa ngay ba vãn bối hôm sau lên đường trước, tới sớm vài ngày, như thế có dịp để ngắm xem phong cảnh miền trại ngoại! Mọi người nghe vậy đều mừng quýnh trong lòng.
Nhưng cả ba lại lo ngại chủ nhân đòi giữ khách, sau khi Nam Bút nói rõ ý định! Ba người chăm chú theo dõi thần sắc của vị Bắc Ưng Lãnh Lạc. Chỉ thấy chủ nhân trong ánh mắt hơi lộ vẻ kinh dị, nhưng chỉ thoáng mà thôi. Thượng Quan Linh ngầm than thầm trong lòng, xem ra thế nào chủ nhân cũng đòi giữ khách lại. Nào ngờ lại khác hẳn với ý nghĩ của chàng, Lãnh Ưng trang chủ cười hào phóng lên tiếng rằng:
- Nếu quí khách quả đang bận việc bên người, tôi đâu dám giữ, mai đây nguyện sẽ lo chuẩn bị mọi việc cần thiết để tiễn đưa quí khách khởi trình!
Lời nói này vừa thoát ra khỏi cửa miệng của Bắc Ưng Lãnh Lạc, cá ba kẻ hậu bối Thượng Quan Linh, Liễu Mi, Sở Canh đều cảm thấy tạm yên lòng.
Lúc này Bắc Ưng Lãnh Lạc cho thay rượu mới đến và thân hành rót để mời bốn người rằng:
- Tại hạ đây, đáng lẽ cùng đi chung với quí vị cho vui nhưng không ngờ quí khách lại vội vã đến vậy, phần tại hạ lại còn bận rộn chút việc riêng, nên mai này không thể nào cùng đi với quí vị, thật là đáng tiếc! Đáng tiếc! Và tại hạ cũng không thể tiện đưa xa quí vị, nay gọi là chút rượu thành tâm thân chúc quí vị bình an trong cuộc hành trình sắp đến...
Mời hết Nam Bút, quay sang Thượng Quan Linh, chủ khách đôi bên, sau khi hai làn nhãn tuyến nhìn nhau, Thượng Quan Linh cảm thấy đôi mắt Bắc Ưng Lãnh Lạc lạ lùng, nhưng chàng không để ý cho lắm, sau khi về phòng chàng vùi đầu ngủ kỹ.
Cũng chẳng biết là bao lâu nữa trong làng mộng, bỗng Thượng Quan Linh cảm thấy trong người hơi lành lạnh Chàng đưa tay ra kéo mền, quái lạ! Mền đâu? Bỗng chàng như ngửi thấy mùi mốc và ướt. . . Từ ngày chàng ăn Tuyết bi tiên hoa, công lực đã tiến triển không thể nào ngờ được, có gì hơi lạ là chàng cảm nhận ra ngay, lúc này chàng giật mình lập tức biết ngay có điều gì không lành đang xảy ra, chàng biết mình không còn nằm trên giường mà nằm vào một nơi xa lạ nào đây! Chàng vội tung mình dậy nhưng lập tức cảm thấy toàn thân mệt mỏi làm sao chịu nổi, đầu óc nhức như búa bổ, ùng một tiếng lại ngã ngửa ngay xuống. Tứ bề tối đen như mực, nhưng Thượng Quan Linh vẫn còn có thể nhận ra nơi mình đang nằm đây hình như là một đường ngầm bí mật... Ngoài cái tối như bưng ra còn có cảm giác ươn ướt là khác, lúc này nằm dưới đất Thượng Quan Linh cảm thấy lạnh đã xâm nhập vào cơ thể ! Xưa nay chàng chưa bao giờ bị ớn mình lạnh như thế này bao giờ, và sau khi ăn Tuyết bi tiên hoa, công lực tăng mạnh không biết bao nhiêu lần mà kể, thế mà nghiễm nhiên không thể nào chịu nổi sức lạnh tầm thường này! Chàng sực nghĩ đến lúc mình nhìn vào đôi mắt quái dụ của Bắc Ưng Lãnh Lạc, biết ngay mình đã bị trúng mưu gian của người ta!
Suốt từ khi bước chân vào Lãnh Ưng Trang kỳ lạ này, Thượng Quan Linh không lúc nào là không lo cẩn thận đề phòng, ấy thế mà chỉ còn có một buổi chót nhất mà bị mắc mưu gian của người ta. Chén rượu chúc của Bắc Ưng đã tác quái! Toàn thân chàng lúc này cám thấy mệt mỏi, đầu óc hôn mê nặng nhức, hình như công lực trong người đã bị tiêu tan đi mất vậy. Chàng nghĩ đến thầy, đến vợ chưa cưới Liễu Mi, bạn thân Sở Canh, chắc họ cũng bị chung số phận như mình, chàng rối quýnh trong lòng! Chàng cố gượng gạo đứng dậy, loạng choạng tìm đường ra...
Sau hồi tìm kiếm, chàng phát giác đây là một đường hầm khá dài, cũng không rõ bên nào là lối ra, Thượng Quan Linh đành chọn bừa lấy một hướng, miễn cưỡng lần bước đi, những bước chân xiêu vẹo té lên ngã xuống, nhưng chàng không hề nản chí, vẫn cố gắng lần mò đi! Chàng cũng không quên cất tiếng hết thầy ơi, lại em Liễu Mi, hết em Liễu Mi chán lại gọi đến Sở Canh!... Nhưng tiếng hồi âm của hang tuyệt vang lại rợn người và thê lương, âm thanh lạ hẳn, Thượng Quan Linh không thể ngờ được đến giọng của mình cũng bị biến đổi. Chàng thất vọng lại vừa hoảng hốt... Sau khi gọi được mấy tiếng nữa, bỗng có một tiếng ho truyền lại... Thượng Quan Linh vội ngừng tay lại lắng tai, chàng nghe cách mình không xa, một giọng nói lạnh lùng vang lên:
- Còn nheo nhẻo cái gì nữa, trời sáng họ đã đi hết cả rồi...
Thượng Quan Linh nghe tiếng nói này lạ tai, rõ ràng không phải thầy Nam Bút, càng không phải giọng của Liễu Mi hay Sở Canh. Chắc là người trong trang viện của Lãnh Ưng! Lúc này tuy kẻ địch ngay trước mặt, dù cho chàng có sôi gan cũng đành chịu, vì toàn thân của Thượng Quan Linh đã mềm như bún. Chàng chỉ còn nước bực mình hỏi:
- Ngươi nói sao?
Tiếng nói nọ có vẻ ôn hòa rằng:
- Tôi nói: Thầy của anh và mọi người bạn thân của anh đã đi từ tờ mờ khi trời còn chưa sáng rõ kìa, có lẽ giờ này họ đã đi được trên mấy chục dặm đường rồi cũng nên, dù cho anh có kêu gào đến bể cuống họng nào ai mà nghe cho . . .
Thượng Quan Linh nửa tin nửa ngờ hỏi:
- Ngươi là ai? Phải chăng là người của trang viện đây?
Tiếng nói người nọ bỗng lại trở nên lạnh lùng, hình như câu hỏi của Thượng Quan Linh đã chạm đến lòng tự ái của người nọ vậy, chỉ nghe tiếng ấy trả lời:
- Đương nhiên là người trong trang này, chẳng lẽ với tư cách Lãnh Ưng trang chủ của ta, lại không đáng là người ở đây sao?
Lãnh Ưng trang chủ, Thượng Quan Linh cảm thấy phân vân, chuyện gì lạ vậy kìa! Rõ ràng Lãnh Lạc đã ám hại mình, nhưng tại sao y lại còn ở chung trong hầm bí mật này với mình? Mà lạ hơn nữa là giọng nói của y cũng biến đổi khác hẳn! Thượng Quan Linh ngấm ngầm quyết định, làm sao khôi phục lại công lực đã, rồi sẽ tóm cổ y lại để hỏi mọi nguyên do và bắt y đưa mình ra khỏi huyệt đạo này. Nghĩ vậy chàng ngấm ngầm vận khí lực, nhưng cảm thấy không sao thông suốt, trong tạng phủ thấy đau nhói khó chịu. Biết ngay công lực của mình đã bị trở ngại, trong thời gian ngắn, không thể nào khôi phục cho lại được trong lòng càng thất vọng và ức hận...
Thình lình chàng quyết định, ráng cắn răng chịu đau, cố gắng loạng choạng đứng dậy bước lại và hỏi:
- Thế ngươi hiện ở đâu?
- Ta đây! Anh hãy lại đây!
Thượng Quan Linh nghe theo tiếng nói bước gần lại vài bước, chàng chập chờn nhìn thấy một người lùn đang ngồi dưới đất, vì mặc quần áo trắng, nên càng dễ nhận ra. Thượng Quan Linh tuy đã bị kềm hãm công lực, nhưng chàng vẫn không hề tính ra tay đánh lén, bèn lên tiếng kêu ngay rằng:
- Tại sao ngươi lại ám hại ta? Hãy mau đứng ngay lên và tiếp nhận đòn của ta?...
Người Bạch y dưới đất vừa động đậy, Thượng Quan Linh đã dồn hết toàn lực của mình phạt ra một chưởng, và toàn thân nhào ngay tới, hy vọng là có thể bắt ngay địch thủ, tuy trong người đang bị yếu sức, nhưng lối ra tay của chàng vẫn quả là bất phàm. Người bạch y dưới mặt đất ối lên một tiếng thất kinh, vội vàng giơ ngay song chưởng ra đỡ. Trong cơn tóe lửa ấy, Thượng Quan Linh chỉ thấy đôi bàn tay của người này trắng nõn vô cùng, lúc này đỡ ngược hẳn lên, Thượng Quan Linh lập tức cảm thấy những tàn lực của mình đã tiêu tan đâu hết, tiếp theo là một tiếng pắc tác vang lên, toàn thân ngã lăn nhào ngay xuống đất, ngay bên cạnh của Bạch y nhân!
Ngay lúc ấy, Thượng Quan Linh bất tỉnh nhân sự luôn. Không ai biết là bao lâu, rồi Thượng Quan Linh từ từ tỉnh lại, chàng cảm thấy có một đôi tay đang thoa bóp cho mình, và bàn tay ấy thoa đến đâu ấm tới đó, khiến chàng cảm thấy khoan khoái dễ chịu. Chàng mở mắt ra nhìn, từ đôi bàn tay trắng đến bộ áo toàn trắng, Thượng Quan Linh nhìn ngay lên mặt người này, tóc dài kinh khủng, nhưng khuôn mặt người này vẫn còn nhận rõ ra được chính là Bắc Ưng Trang chủ Lãnh Lạc. Những điểm khác biệt với ngày hôm qua, tóc ngắn áo đen, mà nay lại áo trắng tóc dài râu dài. Mà đâu có người nào trong một đêm trời mà lại có thể mọc râu tóc nhanh kinh khủng đến thế đâu? Thượng Quan Linh cảm thấy phân vân lạ lùng, chàng tự lảm nhảm:
- Liễu Mi! Em! Em! Chuyện gì quái lạ thế này?...
Thượng Quan Linh xưa nay vẫn phục tài về trí tuệ của Liễu Mi, mỗi khi gặp chuyện gì khó khăn phân vân, chàng thường hỏi đến Liễu Mi, nay trong cơn rối trí, bất giác cũng thốt lời ra gọi tên người yêu để hỏi manh mối!
Người áo trắng nọ vẫn lo việc thoa bóp cho Thượng Quan Linh, chàng lên tiếng hỏi ngay:
- Tại sao ngươi đã định hại ta mà nay lại còn cứu ta?
Người áo trắng rằng:
- Nào tôi có hại gì anh đâu, người hãm hại anh chính là người mặc áo đen hôm qua, chứ đâu có phải tôi...
Thượng Quan Linh trầm lặng rồi lại hỏi:
- Không lý lại có hai người là Lãnh Ưng trang chủ sao?
Người áo trắng rằng:
- Đúng thế! Anh đã đoán trúng phong phóc!
Thượng Quan Linh lại hỏi tiếp:
- Nghĩa là trong Lãnh Ưng Trang này, đồng thời có hai người cùng một một danh Bắc Ưng Lãnh Lạc, nhưng người mặc áo trắng thì bị nhốt dưới huyệt đạo bí mật không ai biết tới, còn kẻ nọ mặc áo đen và tha hồ phát lệnh thủ hạ, nhưng lại thường không có mặt trong trang viện... Và kẻ mặc áo đen là tên Bắc Ưng Lãnh Lạc giả mạo và chính tiền bối đây mới là Bắc Ưng Lãnh Lạc chính cống, vậy dám hỏi tiền bối kẻ mặc áo đen giả mạo tên ngài đó là ai vậy?
Sau khi Thượng Quan Linh đã tìm ra manh mối và truy hỏi, người áo trắng bèn thở dài rằng:
- Ta sống tại nơi ẩm thấp tối tăm đây đã sáu năm trời nay, trong thời gian này thân thể của ta tuy đã bị tàn phế, nhưng lòng tin của ta vẫn không sao tắt, ta vẫn hằng mong ước một ngày nào đó, ta sẽ trở về trên mặt đất có ánh nắng, và sẽ lột ngay mặt nạ tên ác đồ ấy, và sẽ tìm cách để tiêu diệt nó...
Thượng Quan Linh lúc này đã quen với không khí xung quanh của huyệt đạo, từ từ chàng đã thấy rõ các vật xung quanh, và cũng chính lúc này, chàng thấy người mặc áo trắng này, từ đầu gối trở xuống, bị cụt hẳn, vì thế nên chỉ có thể ngồi bệt dưới đất, thoạt nhìn có thể tưởng lầm ngay là người lùn.
Thượng Quan Linh động lòng trắc ẩn, và chàng thấy cảnh thảm này của người áo trắng, quên hẳn nỗi đau đớn của mình. Người áo trắng lại nói:
- Thoạt tiên, ta hy vọng có thể khôi phục lại sức, rồi luyện riêng một ngọn tuyệt kỹ, để rồi chính tự tay mình đây sẽ trừng trị tên ác nhân đó, nhưng sau một thời gian trôi qua, ta đã hiểu rằng đó chỉ là một ảo tưởng, vì thực ra ta không làm sao ra khỏi được đường tuyệt đạo này, và nhất là công lực của mình lại kém hẳn tên ma đầu ấy. Cho nên, sau khi thất vọng chán nản, ta đã hy vọng thêm là người khác sẽ trả thù hộ cho ta, cuộc chờ đợi của ta cứ kéo dài mãi, nhất là làm sao có ai lại thình lình, mà vào được một nơi bí mật kín đáo như đây?
Nghe tới đây, Thượng Quan Linh sôi máu hiệp nghĩa, tính ra tay giúp, nhưng chàng lập tức đụng chạm ngay với thực tế trước mắt, toàn thân mình nay đã bị mất sức đâu còn làm được trò trống gì! Chàng thất vọng thở dài, vì trong cảnh bụt lội qua sông này bản thân còn khó giữ vậy, thì sức đâu mà giúp cho người khác!
Người áo trắng thở dài một tiếng, và bắt đầu thuật lại mọi chuyện...
Thì ra, chính vị tiền bối áo trắng này mới thực sự là Bắc Ưng Lãnh Lạc. Bắc Ưng vốn là người gia học uyên thâm, từ năm mười tuổi, đã bắt đầu dấn thân vào giang hồ, tiếng tăm lừng lẫy quan nội và quan ngoại, cả hai làng Hắc Bạch đạo trong võ lâm, đều kính phục ngưỡng mộ tiếng tăm. Vì xử thế công bình chánh đạo, hay giúp đỡ kẻ khó, và hễ có việc tranh chấp xảy ra trong làng võ lâm, đều hiên ngang đứng ra làm trọng tài, và nhờ chính trực không thiên vị ai, nên đã phục lòng thiên hạ, nhiều khi chỉ một vài câu nói, cuộc thù hận đôi bên lập tức tiêu giải ngay, nhờ thế mà đã vô tình bảo toàn một nhóm người xuất sắc của võ lâm lúc bấy giờ! Nhưng sáu năm về trước, Bắc Ưng đứng ra để dàn xếp một việc tranh chấp nọ thì xảy ra lôi thôi rắc rối trong vấn đề.
Số là trong lần ấy, Hắc Sơn Ngũ Hào của miền quan ngoại đã xảy ra cuộc tương tranh với Thượng Hải Quân của tỉnh Hà Bắc, đôi bên hẹn quyết đấu với nhau tại gần Sơn Hải Quan, nguyên nhân của vụ tranh chấp này là do tên út nhất của Quan Ngoại Ngũ Hào là Lão ngũ Thiết Kiến Sơn gây nên, tại gần Thương Châu, hắn đã gây ra án tiền gian hậu sát (hiếp trước giết sau) với một thôn nữ trong vùng, tuy quan phủ có lệnh tróc nã ráo riết, nhưng họ đành thúc thủ với những nhân vật cao thủ đi mây về gió này. Lão ngũ Thiết Kiến Sơn sau khi gây ra vụ án làm chấn động quan phủ này, hắn đã ỷ tài cao tới lui lên tiếng hống hách với các nhân vật giang hồ trong vùng, nói rõ nếu ai không phục, cứ việc tới tìm. Hắn đã chờ tại Thương Châu ba ngày, và đám nhân vật giang hồ vùng Thương Châu, quả khiếp oai của Thiết Kiến Sơn, không ai dám ho he gì.
Khi mãn ba ngày, Thiết Kiến Sơn ung dung rời khỏi Thương Châu; không ai dám ra ngăn chặn, không ngờ ngay lúc đó, con trai duy nhất của Thượng Hải Quân là Hoàng Văn đi ngao du đến miền Thương Châu, sau khi nghe được tin này, cả tức, hấp tấp đuổi theo tên Thiết Kiến Sơn. Một cuộc kịch chiến được diễn ra, vì đôi bên đều là hạng đệ nhất lưu cao thủ, một trận sinh tử chiến diễn ra tưng bừng, nhưng sau chót, Hoàng Văn quả là võ học uyên thâm, tài nghệ cao hơn một bực, khi ngoài trăm hiệp, cây trường kiếm xẻo ngay một tai bên trái của Thiết Kiến Sơn, khiến cho tên này ôm cổ chạy luôn. Hoàng Văn tuổi trẻ háo thắng, chuyến này vì trượng nghĩa ra tay, được thiên hạ hết lời ca ngợi, chàng hiệp sĩ anh hùng hí hửng vui vẻ về nhà, nào chàng ta ngờ đâu mình đã rước họa vào thân. Thượng Hải Quân hỏi ra, mới biết con mình ra tay trừng quân ác nhưng đã nương tay bằng cách xẻo đi một tai bên trái của quân ác, xem ra tên Thiết Kiến Sơn sau khi nhận lãnh bài học này sẽ tự ăn năn sám hối cải tính ác của hắn! Nào ngờ sau khi hắn đào tẩu về Hắc Sơn, khóc thảm thiết với bốn vị nghĩa huynh, cố tình bóp méo sự thực, xuyên tạc câu chuyện: cha con Thượng Hải Quân ỷ thế hiếp người, khiến cho bốn vị nghĩa huynh xung gan nổi tiết, thế là anh em Ngũ Hào miền Hắc Sơn kéo nhau về Nam tìm ngay Hoàng Văn, và năm anh em bắt sống Hoàng Văn, chặt đứt luôn tứ chi (hai cánh tay hai cẳng chân) cho người khiêng ngay về nhà Thượng Hải Quân. Tội nghiệp cho Hoàng Văn chỉ còn miễn cưỡng giữ chút hơi thừa, khi về đến nhà gặp được cha già, chỉ thốt ra được năm tiếng: Cha báo thù cho con rồi tắt thở luôn. Thượng Hải Quân vừa uất vừa đau đớn, ngất xỉu mấy lần, ngay lúc đó Ngũ Hào cho người đem thơ lại mời đến Sơn Hải Quan quyết đấu, Thượng Hải Quân bèn nhận ngay lời thách. Vị đại hiệp đã qui ẩn lâu năm, vì cái chết thảm thiết của con trai độc nhất của ông ta, khiến nỗi ông ta không muốn sống nữa, quyết ý cùng liều chết với kẻ thù, và đã đơn thân độc mã lên miền Bắc để phó hội Sơn Hải Quan.
Tin tức lan truyền ra, trong làng võ lâm đều nổi công phẫn, các tay hiệp nghĩa đồng đạo, ngấm ngầm ra quân, âm thầm bảo vệ cho Thượng Hải Quân đi phó hội! Đồng thời họ cũng nghe đồn Hắc Sơn Ngũ Hào dám ngang nhiên ngông cuồng vậy, chắc đã dựa vào thế lực của một tay lợi hại nào. Các bạn thân của Thượng Hải Quân chỉ sợ thực lực không đủ, nên đã vội lo phi báo ngay tin cho Bắc Ưng Lãnh Lạc, mời người này ra mặt để làm chủ trì công bằng. Khi Bắc Ưng Lãnh Lạc đến Sơn Hải Quan, đôi bên đương sự đã tới đủ mặt, một bên toàn là những tên bại loại Hắc đạo hợp với Hắc Sơn Ngũ Hào, đông đến trên năm chục người, một bên toàn những bạn hữu hiệp nghĩa của Thượng Hải Quân, số đông cũng năm mươi trở lại, thế lực đồng cân ngang nhau, mắt thấy một trận huyết chiến khó lòng tránh khỏi!
Thượng Hải Quân lúc này đã tức không nói được câu gì chỉ còn biết sẵn sàng giao chiến, nhờ mấy người bạn đưa ngay điều kiện ra, bắt Ngũ Hào Hắc Sơn lập tức phải tự tử để tạ tội! Nhưng Ngũ Hào Hắc Sơn đâu chịu, trong khi sắp sửa giao tranh, Bắc Ưng Lãnh Lạc ra mặt can thiệp, xin cả đôi bên tạm ngưng một ngày, để ông ta nghĩ một biện pháp công bằng dàn xếp.
Bắc Ưng Lãnh Lạc vốn đều được người trong võ lâm trọng vọng, đôi bên sau khi nghe lời, đều đồng ý chờ đến ngày hôm sau đó Bắc Ưng đứng ra quyết định.
Nếu phải xử cho công bằng, thì đám Ngũ Hào Hắc Sơn ít nhất lão Đại và lão Ngũ phải tự tử, mới kết liễu được nhưng Ngũ Hào nào chịu nhục thua. Đêm đó, Lãnh Lạc đi loanh quanh trong phòng một mình. Bỗng thình lình, trong bóng tối, có tiếng uy hiếp Bắc Ưng Lãnh Lạc, bắt ngày mai phải cố bênh vực cho phía Ngũ Hào, đứng ra hòa giải bằng cách: Ngũ Hào sẽ cử hành trọng lễ để mai táng Hoàng Văn, và đôi bên kể như hòa trong vụ này. Đồng thời còn nói rõ, số mạng sống chết của Bắc Ưng đã nằm trong tay họ, nếu mai đây mà không ngoan ngoãn theo lời, thủ cấp sẽ không cánh mà bay ngay. Bắc Ưng đường đường là một đại hiệp, xưa nay đâu từng để ai bắt chẹt mình bao giờ, nghe xong liền nổi giận quát người kia hiện ra để gặp nhau.
Trong bóng tối, tiếng nói nọ vẫn lạnh lùng rằng:
- Ta không thể nào ra, và ngươi cũng đừng hòng thấy nổi mặt ta. Người trên thế gian này, chưa hề có ai thấy qua mặt ta, họ chỉ thấy bộ mặt hóa trang của ta, nếu vô phúc cho ai thấy nổi mặt thật của ta, người đó lập tức phải chết ngay! Nay ta chưa kịp hóa trang, nên không thể nào ra gặp ngươi! Và bây giờ ta đếm từ một cho đến mười, nếu ngươi không chịu, ta chỉ khẽ ra tay, hồn ngươi lập tức báo danh ngay tới quỉ phủ!
Tiếng nói kia từ trong bóng tối đã bắt đầu đếm những tiếng lạnh lùng và chậm chạp! Bắc Ưng Lãnh Lạc nghe những âm thanh kiêu hùng và hình như nắm chắc cái thắng trăm phần trăm ấy, như có thể dồn ngay đối thủ vào ngõ tử địa ngay vậy, trong lòng hoảng lên, chợt nghĩ ngay đến một người . . .
Chính là người đã được thiên hạ đồn đãi ghê gớm, không ai khác hơn là Tỉ Vương. Bắc Ưng Lãnh Lạc vội từ trong người hấp tấp lấy ra một vật, choàng nhanh ngay vào cổ.
Tiếng lạnh lùng trong bóng tối vừa đếm hết mười thấy Bắc Ưng Lãnh Lạc không chịu khuất phục, cười gằn lên một tiếng, một làn bạch quang bắn tung ngay ra! Bắc Ưng Lãnh Lạc biết ngay là võ lâm dị bảo Lãnh điện tỉ thủ đây tương truyền rằng xưa nay không ai thoát chết khỏi với ngọn Tỉ thủ ghê gớm này. Lúc này thấy Lãnh Lạc vận hết công lực bình sinh của mình, song chưởng đẩy cùng ra một lượt đánh hẳn vào ngọn Tỉ thủ.
Công lực của Lãnh Lạc vốn là hạng đệ nhất lưu trong giang hồ, ra tay trong cơn tức giận này, đâu phải tầm thường gì, chỉ nghe kình phong ào ào kinh trời động đất. Quả nhiên thấy ngọn Lãnh điện tỉ thủ hơi ngập ngừng lại, Ngũ Hào Hắc Sơn chợt lại bắn vọt tới như một con bạch long. Lãnh Lạc không sao chống cự nổi, chỉ cảm thấy làn bạch quang nhoáng hoa trước mắt, trên cổ như bị thắt chặt lại, sức lạnh thấu xương! Bắc Ưng Lãnh Lạc hồn vía muốn bay luôn khỏi xác, chỉ còn nước nhắm mắt chịu chết.... Ngũ Hào Hắc Sơn nào hay ngay lúc đó lại có kỳ tích xuất hiện, làn bạch quang tắt hẳn, trong phòng xuất hiện một người, toàn thân áo màu đen. Lãnh Lạc nhìn rõ mặt người này, bất giác lại rợn tóc gáy nổi da gà thì ra khuôn mặt ấy không phải là khuôn mặt của người tầm thường, một khuôn mặt chỉ thấy toàn đen và đen... Ngoài ánh mắt sáng lạnh ra, tai, mũi, má, gần như đã mất đâu hết...
Lãnh Lạc đã nhờ báu vật tổ truyền là Kỳ lân bảo đới (chiếc đai báu) cuốn chắc nơi cổ, nên không hề bị rụng đầu, nhưng nay được thấy Tỉ Vương, tuy chưa rõ hẳn bộ mặt thật sự của y ra sao, nhưng với bộ mặt này, Bắc Ưng Lãnh Lạc cũng đã bủn rủn chân tay, không còn sức đâu để kháng cự nữa. Lúc này Tỉ Vương đứng ngay trước mặt Bắc Ưng lạnh lùng rằng:
- Xưa nay chưa ai có thể thoát mạng khỏi về ngọn Tỉ thủ của ta, nay không ngờ lại ngoại lệ như thế, thôi cũng được! Ta tha chết cho ngươi, nhưng ngươi đã thấy ta, chuyện này ta không thể nào buông xuôi cho được...
Bắc Ưng Lãnh Lạc tự biết mình không phải đối thủ, trong lúc Tỉ Vương đang nghĩ cách để xứ trí với Bắc Ưng, thế mà Lãnh Lạc đành tuyệt vọng không dám nhân cơ hội để chạy trốn.
Tỉ Vương trầm tư một lúc rồi rằng:
- Ta sẽ chặt hai cẳng ngươi và đem giam cố tại...
Bắc Ưng Lãnh Lạc nhận ngay lời và cũng đưa ngay điều kiện ra để đánh đổi, đó là Tỉ Vương không được can dự vào việc oán thù của Hắc Sơn Ngũ Hào và Thượng Hải Quân. Không ngờ vị ma đầu Tỉ Vương giết người không chớp mắt này, đã bị cảm động về dũng khí và chánh nghĩa của Bắc Ưng. Tức khắc, Tỉ Vương nhoáng nhanh tay điểm ngay vào huyệt hôn mê của Bắc Ưng. Vị ma đầu này bèn quắp ngay Bắc Ưng Lãnh Lạc rời khỏi Sơn Hải Quan về luôn Bắc Ưng Trang. Sau khi chặt hai chân của Bắc Ưng Lãnh Lạc, Tỉ Vương lấy thuốc cầm máu băng bó lại cho Lãnh Lạc, từ đó vị đại hiệp Bắc Ưng trở thành người tàn phế, rồi bị đưa vào mật đạo của Lãnh Ưng Trang này giam cầm cố, ăn uống có người lo hết, nhưng Tĩ Vương có lời hứa từ trước, trừ phi Bắc Ưng Lãnh Lạc có thể ra thoát khỏi nơi huyệt đạo này, cứ việc lại tìm Tỉ Vương để mà trả thù hay liều mạng, còn không, sẽ phải sống suốt đời tại đây cho đến khi mãn kiếp! Trong Lãnh Ưng Trang, từ đó gặp luôn một kiếp tai ương, cả trên trăm mạng nô bộc trong trang đều bị câm hết, thần tình quái dị, muốn sống không xong muốn chết cũng không được.
Trang viện Lãnh Ưng vốn là một thế ngoại đào viên của miền quan ngoại sa mạc, các tay võ lâm khi phải vượt qua bãi sa mạc mênh mông, đều phải ghé vào đây để nghỉ chân, nhưng ngày nay, tất cả đều đã thay đổi, đây đã trở thành một nghĩa địa màu đen, vì màu đen là màu tiêu biểu của Tỉ Vương, nên chi tất cả mọi vật dụng trong Lãnh Ưng Trang đều được trang điểm thành màu đen hết, không có một sự phản quang, ban ngày cũng như ban đêm. Cả trăm tên nô bộc, đều bị ép mặc áo đen, sau khi uống thuốc, chúng đã mất bản tính đặc biệt của mình, sắc mặt như ngây dại, tất cả mọi động tác trở nên nhẹ nhàng và chậm chạp, chẳng khác nào như các bóng ma đang chập chờn theo sự sai khiến của ma quân.
Trong lúc đó, vị Tỉ Vương ma quân đã hóa trang nghiễm nhiên trở thành một vị Bắc Ưng Lãnh Lạc để xuất hiện công khai trên giang hồ, nhưng Tỉ Vương ma quân lại thường vắng mặt tại Lãnh Ưng Trang, nhưng cũng không hề lấy danh nghĩa của Bắc Ưng Lãnh Lạc để gây các vụ án tàn ác khác.
Vị Tỉ Vương ma quân không những tung tích quỉ xuất thần nhập mà lại còn giỏi cả về cách hóa trang, Bắc Ưng Lãnh Lạc biết mình không sao thắng nổi người này được, đành ôm hận ngồi trong hang huyệt này chờ đợi một kỳ tích xuất hiện, vì chính Bắc Ưng Lãnh Lạc cũng thừa hiểu rằng, nếu mình có thoát ra, cũng không làm sao tránh khỏi tai mắt của những tên chó săn của Tỉ Vương ma quân. Cuộc chờ đợi đã kéo dài ra suốt sáu năm trời và mãi đến khi Thượng Quan Linh đã kéo dài ra suốt sáu năm trời và mãi đến khi Thượng Quan Linh cũng bị giam vào trong mật đạo của Lãnh Ưng Trang!
Sau khi nghe hết đoạn sự tích của Bắc Ưng Lãnh Lạc kể, Thượng Quan Linh như si như tỉnh; trong lòng vô cùng kính phục vị đại hiệp này, nhất là với tấm thân tàn ma dại mà đã kiên nhẫn chờ đợi suốt trong sáu năm trời ở một nơi địa ngục ẩm thấp, trong cảnh âm u tịch mịch đau khổ ấy, đã không sao xóa mờ được ý chí quyết trừ quân gian ác, không thể nói đây không phải là một kỳ công! Nhắc đến chuyện trên giang hồ về sáu năm trước, vụ tranh chấp giữa Ngũ Hào Hắc Sơn và Thượng Hải Quân ở Sơn Hải Quan, đó là một vụ án đã làm chấn động dư luận khắp trong thiên hạ lúc bấy giờ. Thượng Quan Linh cũng biết kết quả cuộc giao tranh kịch liệt ấy, cuối cùng Thượng Hải Quân đã thí luôn mạng chung với anh em Ngũ Hào, nhân vật trong hai phái Hắc Bạch đạo chết cũng không ít. Bắc Ưng Lãnh Lạc sau khi kể xong câu chuyện, nét mặt tỏ ra vô cùng xúc động cảm thương!
Thượng Quan Linh cũng kể lại những việc trên giang hồ đã xảy ra trong sáu năm gần đây cho Bắc Ưng Lãnh Lạc nghe một lượt. Bắc Ưng Lãnh Lạc chăm chú nghe xong, bèn cho Thượng Quan Linh hay là, tên Tỉ Vương ma quân này dã tâm vô cùng, và những nhân vật trong Hắc Đạo bị y mua chuộc rất nhiều, và còn khá nhiều nhân vật hiệp nghĩa bị y bắt chẹt đành phải nghe theo lệnh của y!
Tên Tỉ Vương ma quân này vốn là người đa mưu túc trí tuyệt vời, luôn luôn cải trang hóa dạng, dưới tay lại có sẵn đám tử đảng, thay mặt y để giám sát hành động mọi người, sau đám tử đảng ấy, lại có các tay bí mật khác coi chừng, nghĩa là canh chừng nhau theo hệ thống từng từng lớp lớp và lẽ dĩ nhiên là không ai biết ai ngoài một cao thủ có thể đưa mình vào ngõ chết? Bởi tổ chức chặt chẽ nghiêm minh, các đàn em, hoặc trực tiếp hay gián tiếp, chưa có ai đã được thấy bộ mặt thật của Tỉ Vương ma quân ra sao, nếu có thấy chỉ toàn những bộ mặt đã được cải trang hóa dạng sẵn, hoặc là một tín vật, một đạo hiệu lệnh, và không ai dám chống lệnh! Nếu không, ắt khó giữ mạng sống. Nói tới đây, Bắc Ưng Lãnh Lạc tự nhìn nhận mình không phải địch thủ của Tỉ Vương ma quân. Nay chỉ còn cách tập trung hết các tay nghĩa hiệp trong thiên hạ để mà triệt hạ tên ma đầu ghê gớm ác đức này mới được. Trong sự chọn, xem ra chỉ có vị kỳ nhân được tôn là cao thủ đệ nhất trong thiên hạ là Đoạn trường nhân Độc chỉ Thôi Bác là người xứng đáng ra đảm nhiệm chức minh chủ võ lâm! Nhưng nay xem ra, Tỉ Vương ma quân đã ngấm ngầm chuẩn bị các bè phái của y để dự cuộc thịnh hội tại Bạch Linh Miếu vào ngày mùng một Tết đây, rất có thể thâm ý của Tỉ Vương ma quân khi mở cuộc khiêu chiến với nhóm người nghĩa hiệp miền Trung Nguyên cũng nên. Theo lời thuật lại của Thượng Quan Linh hay rằng: trong đêm ngủ ngoài bãi sa mạc ấy, bả vai là hành động kiệt tác của Tỉ Vương ma quân. Chắc là trong lúc vô tình nghe nói Thượng Quan Linh được ăn tiên hoa, binh khí không thể nào làm gì chàng được, Tỉ Vương ma quân không phục, nên mới dùng đến ngọn binh khí ghê gớm là Lãnh điện tỉ thủ để thử xem sao!
Với thủ đoạn thần xuất quỉ nhập như thế, đương nhiên Tỉ Vương ma quân đã hoàn thành một cách thuận lợi không bị ai phát giác, đồng thời vết thương Thượng Quan Linh lại không thấy máu và liền ngay lại sau khi đó. Chính vết thương ấy là triệu chứng của Lãnh điện tỉ thủ gây nên.
Nay đoán ra, việc mạo xưng Bắc Ưng Lãnh Lạc của Tỉ Vương là cốt để dò thăm tin tức của đám thầy trò Thượng Quan Linh đang mưu tính đến giải cứu Tây Đạo và Đông Tăng, đồng thời cũng tìm lão bà bịt mặt để trả thù, nhưng Thiên Si và Túy Đầu Đà đã bị giam hãm, còn lão bà bịt mặt chính là một trong số những bộ hạ trung tín nhất của Tỉ Vương, nay tương kế tựu kế, nhử hết thầy trò Thượng Quan Linh vào Lãnh Ưng Trang để hãm hại.
Nhưng tại sao lại ra tay để đối riêng với Thượng Quan Linh vậy? Bác ưng Lãnh Lạc ráng phân tích tìm hiểu, một ý nghĩa rùng rợn: Vì Thượng Quan Linh lúc này trở thành con người bất phàm vì ăn tiên hoa nên Tỉ Vương e kỵ ngại ngùng, nên ra tay trước là mạnh hơn. Nhưng nếu không giết Thượng Quan Linh, cũng không xong chuyện, chắc có lẽ Tỉ Vương ma quân cũng muốn bắt chước lối ẩm huyết (uống máu tươi) của Tả Pháp Thụ xưa kia chăng. Vị Tỉ Vương thế nào chả muốn công lực của Tuyết bi tiên hoa truyền sang người mình, nhất là trong tay lại có sẵn binh khí Lãnh điện tỉ thủ, công việc dễ như trở bàn tay.
Thượng Quan Linh càng nghe càng ớn lạnh, Bắc Ưng Lãnh Lạc lại cho rằng: Tỉ Vương vốn là người thông minh tuyệt vời, và rất có thể trong những thời gian tiếp xúc ngắn ngủi ấy, Tỉ Vương ma quân có thể bắt chước tất cả những cử chỉ cũng như lời ăn tiếng nói, và nay chắc chắn đã hóa dạng thành một Thượng Quan Linh giống đúng như tạc để cùng đi chung với nhóm Nam Bút đến Bách Linh Miêu. Và chính trong bữa tiệc đêm qua, Tỉ Vương chả đã nói là bận việc riêng, không thể nào đi chung được cùng chuyến, điều ấy đủ chứng tỏ Tỉ Vương sẽ xuất hiện với lối thế thân của Thượng Quan Linh. Bởi tên ác nhân này không thể cùng một lúc xuất hiện thành hai nhân vật được!
Nói vậy ra, Nam Bút tiên sinh, Liễu Mi, Sở Canh cả ba người này đều chưa phát giác âm mưu của Tỉ Vương đang đi cạnh họ chính là hóa thân của Thượng Quan Linh, trời ơi! Như thế chuyện sẽ tai hại đến chừng nào...
Thượng Quan Linh quýnh lên, đôi mắt chàng tối sầm lại rầm, một tiếng ngất té luôn xuống mặt đất... Nhưng đến khi mặt chàng đụng vào nền đất ướt và lạnh ấy, chàng lại hồi tỉnh lại ngay, nay chỉ còn mình với Bắc Ưng Lãnh Lạc là biết rõ âm mưu thâm độc này của Tỉ Vương ma quân. Bắc Ưng đã thành người tàn phế, đương nhiên không còn hy vọng đắc lực gì mấy, giờ chỉ còn trông cậy vào còn mỗi mình, làm sao lột trần âm mưu của Tỉ Vương ma quân để tránh cho thầy, cho người yêu, người bạn khỏi bị mắc mưu gian.
Thượng Quan Linh cố dồn hết tàn lực của trí óc, chàng cố gắng ngồi dậy, cất tiếng hỏi Bắc Ưng Lãnh Lạc rằng:
- Kính thưa tiền bối, từ đây lại Bách Linh Miếu, phải bao nhiêu lộ trình?
Bắc Ưng Lãnh Lạc rằng:
- Mau nhất cũng phải mất bốn ngày hành trình.
Bắc Ưng như chợt hiểu ngay câu hỏi của Thượng Quan Linh, nên lại bổ túc thêm rằng:
- Cuộc thịnh hội của Bách Linh Miếu vào mùng mười tết đây, đó chính là ngày quyết định tất cả mọi việc, nay mới là mùng một Tết, nếu chậm lắm anh cũng phải khởi trình vào ngày mùng năm Tết thì mới kịp được.
Thượng Quan Linh cố thử đứng dậy, nhưng chàng cảm thấy đầu óc nhức nhói khó chịu, trong mình buồn bực, toàn thân lảo đảo, mới bước được hai bước, lại đành phải ngồi ngay xuống vì chóng mặt. Chàng nản chỉ buồn thảm nói:
- Thưa Lãnh đại hiệp, vãn bối lúc này quả thật muốn chết quá!
Bắc Ưng Lãnh Lạc điềm nhiên khuyên rằng:
- Sao anh bạn trẻ lại nói thế! Đến thân tàn ma dại như tôi đây, còn đang cố vùng vẫy để sống, huống hồ anh là người còn nhiều tương lai rực rỡ đang chờ đợi. Sao vội nản chí thế!
Thượng Quan Linh đau khổ rằng:
- Nay bị giam hãm tại đây, tệ hơn nữa là công lực của vãn bối chưa khôi phục, không sao kịp để ngăn chặn âm mưu hiểm ác của Tỉ Vương, xem ra một trận tai ác khó lòng tránh khỏi, vãn bối nay biết xoay sở ra sao?
Thượng Quan Linh càng nghĩ càng quýnh, vì Nam Bút thầy mình, vợ chưa cưới Liễu Mi, Sở Canh, nay họ đang cùng đi chung với Thượng Quan Linh giả, mà đâu có hay? Làm sao mà tránh khỏi chuyện hung ác sẽ đưa đến cho họ, sợ nhiều khi bị hại mà vẫn còn chưa hiểu nguyên cớ tại sao là khác! Càng nghĩ chàng càng cảm thấy tuyệt vọng bi ai, và đầu óc lúc này chỉ còn nghĩ đến chết.
Chàng đưa tay rờ ngay cây Lệ thủy tinh kiếm bên mình để tính tự tử, nhưng nào còn thấy kiếm quí đâu nữa! Thì ra Tỉ Vương ma quân quả là tên ma đầu suy tính cẩn thận, đã đóng vai Thượng Quan Linh, làm sao có thể thiếu sót được một chi tiết quan trọng ấy? Thượng Quan Linh bực mình, nhưng chàng lại lập tức nghĩ ngay: lao đầu vào vách động đây cũng chết được lắm, nhưng ác nỗi lúc này toàn thân yếu như sên, đến chút sức nhỏ nhen này cũng không còn làm nổi!
Thượng Quan Linh đành thở dài não nề: trong bóng tối âm u của huyệt động, Bắc Ưng Lãnh Lạc không động đậy, hình như ông ta đang suy nghĩ gì, chẳng hề lên tiếng khuyên can hay an ủi Thượng Quan Linh. Một không khí nặng nề đang bao phủ xung quanh hai người, bỗng Thượng Quan Linh lên tiếng:
- Thưa Lãnh đại hiệp, ngài có biết tên khốn kiếp ấy đã cho vãn bối uống thuốc độc gì không? Sao vãn bối cảm thấy như không bao giờ còn khôi phục lại được sức lực của mình vậy?
Bắc Ưng Lãnh Lạc từ từ rằng:
- Tuy tôi không thể nào nói rõ tên chất độc của Tỉ Vương nhưng tôi nghĩ rằng đó là một thứ độc dược ghê gớm, đương nhiên bị nhốt trong này thì làm gì mà có thuốc cứu nổi...
Thượng Quan Linh bỗng lớn tiếng rằng:
- Thưa Lãnh đại hiệp! Vãn bối xin ngài giúp cho một việc, vãn bối xin ghi ơn muôn đời...
Bắc Ưng Lãnh Lạc rằng:
- Anh cứ việc nói, nếu sức lực của Bắc Ung này có thể đạt đến, quyết không trừ khước!
Thượng Quan Linh vẫn lớn tiếng:
- Thưa Lãnh tiền bối, chuyện vãn bối yêu cầu đây không có gì khó khăn lắm! Vì nay vãn bối đã chán nản và tuyệt vọng, duy chỉ còn tìm cái chết để giải thoát nỗi khổ lòng, vậy kính xin ngài hãy mở lòng từ bi, tặng cho vãn bối một chưởng. Vì công lực của ngài vẫn còn, và chuyện này dễ như trở bàn tay, vãn bối thành khẩn xin ngài tội nghiệp ra ơn cho!
Nhưng Bắc Ưng Lãnh Lạc đã khiến cho Thượng Quan Linh phải ngạc nhiên, chỉ nghe Bắc Ưng nói rằng:
- Nay công lực của anh đã mất, quả là một chuyện buồn, cuộc tai ác này quả không thể nào tránh khỏi. Theo tôi nghĩ, anh có sống, thêm đau khổ nhiều, nhất là những kẻ trẻ trung như anh, làm sao chịu nổi sự dày vò đau khổ của những ngày tháng liên miên buồn thảm thế, chẳng thà chết quách đi cho được việc...
Thượng Quan Linh nghe vậy, hiển nhiên Bắc Ưng đã có ý muốn giúp mình, chàng yên trí.
Bắc Ưng Lãnh Lạc lại rằng:
- Này anh bạn trẻ, ta sẽ làm vừa lòng anh, nhưng phải tìm một phương pháp nào mới được! Nếu muốn hạ chưởng đánh chết anh, anh cũng biết rằng nay ta đã thành người tàn phế, công lực thua xa trước, đồng thời anh đâu phải là kẻ thù gì với ta, lỡ ta không nổi được cơn ác khùng thực sự, chừng đánh ra một chưởng, khiến cho anh nửa sống nửa chết, chừng đó lại càng đâm khổ tâm thêm cho nhau là khác!
Thượng Quan Linh vội rằng:
- Vãn bối sẽ quì ngay trước mặt tiền bối, sẽ do đại hiệp phát chưởng đánh thẳng cánh vào ngực hoặc bửa thẳng ngay thiên linh cải, như thế chắc ăn trăm phần trăm, quyết không còn gì trở ngại...
Bắc Ưng Lãnh Lạc vẫn phản đối rằng:
- Như thế cũng không được, nếu đánh vào ngực, thế nào anh cũng bị thổ huyết mà chết, nếu bửa thẳng trên đầu chiếc sọ của anh sẽ bể tan tành, hai cảnh chết ấy đều rùng rợn dễ sợ cả. Anh cũng biết tôi suốt đời này, không còn ra khỏi huyệt động này, nếu anh chết rùng rợn kinh người như thế, anh bảo tôi làm sao không sợ thây ma của anh cho được, lỡ oan hồn anh về phá phách... Hai cẳng tôi đã mất, mà người chết đâu biết nghe lời kẻ sống bao giờ đâu?... Thôi! Thôi!... Tôi ngán ma lắm!...
Thượng Quan Linh cười khóc dở dang, chàng nghĩ Bắc Ưng Lãnh Lạc đáng lẽ tàn tật như thế phải tự tử từ lâu rồi mới phải, ấy thế mà vẫn còn quyến luyến cuộc sống! Lạ thật!...
Tuy chàng nghĩ vậy nhưng không nói ra, và lúng túng hỏi rằng:
- Thưa tiền bối... theo ý ngài... ngài có ý kiến gì?
Bắc Ưng Lãnh Lạc rằng:
- Ta có một cách, anh nằm ngay bên cạnh ta đây, và bạch ngực ra, ta sẽ ra tay điểm vào tử huyệt của anh, để sau khi anh chết, vẫn có thể giữ được một sắc thái tự nhiên và hiền hòa; như thế ta sẽ có cảm giác anh là một bạn thân đang nằm ngủ cạnh bên người ta, mà không phải là một thây ma!
Thượng Quan Linh chỉ cần chết cho chóng, bất luận là phương pháp gì cũng được, chàng nhận ngay lời, lết gần lại cạnh Bắc Ưng Lãnh Lạc, nằm ngửa và bạch ngay ngực ra chờ đợi. Lãnh Lạc giơ ngay ngón trỏ và ngón giữa ra để sửa soạn điểm vào tử huyệt, Thượng Quan Linh chỉ còn nước nhắm mắt chờ chết... Nhưng mãi vẫn chưa thấy Bắc Ưng ra tay, Thượng Quan Linh chờ đợi, và chờ đợi... chàng bất giác hé mắt ra nhìn thử, chỉ thấy Lãnh Lạc đại hiệp đang chăm chú nhìn mình, tay đang giơ lên, hình như còn đang tìm xem điểm vào huyệt nào mới đúng?
Chàng lại cố gắng nhắm mắt để chờ đợi, nhưng Lãnh Lạc vẫn chưa ra tay, suýt nữa Thượng Quan Linh đã buột miệng chửi, nhưng chàng vẫn cố chịu đựng, vì mỗi lúc một tăng thêm phần căng thẳng trong sự khủng hoảng tinh thần của chàng, khiến cho Thượng Quan Linh toát đầy mồ hôi và đã rên lên những tiếng nhỏ... và chàng đã ngất đi luôn. Bỗng chàng cảm thấy một bàn tay khác luồn ngay vào sau lưng mình, một cảm giác lành lạnh truyền ngay vào trong mình. Thượng Quan Linh lúc này lại tỉnh ngay trí, và chàng cho rằng chắc Bắc Ưng xích gần thân mình lại để dễ bề hạ thủ đây. Thôi! Mình sẽ chết tức tối giờ đây! Tuy lúc này, chàng không dám nghĩ thêm gì, nhưng óc chàng lúc này lại phức tạp vô cùng, bao nhiêu hình bóng và sự việc đã dồn dập đưa cả lại một lúc! Chàng cắn răng nhắm chặt mắt, chàng ức và rủa thầm, sao giờ phút này mình lại không ngất đi cho đỡ đau đớn, ác hơn nữa là vị Bắc Ưng Lãnh Lạc này, tại sao ra tay chậm chạp thế không biết... Nhưng cánh tay của Bắc Ưng Lãnh Lạc lại khởi sự ra sức truyền tới sau lưng của Thượng Quan Linh, chàng cảm thấy người mình như lại được nhích bổng lên một ít.
Có ai mà không sợ chết đâu? Chàng Thượng Quan Linh lúc này cũng khẩn trương đến cực độ, chàng có tỏ ra một khí khái của kẻ anh hùng để cố đè nén lòng hoảng sợ kinh hãi hồi hộp của mình, nhưng chàng không sao làm nổi. Chàng đã run như sốt rét, mắt tuy nhắm chặt, môi trắng nhợt, đầy mình toát mồ hôi lạnh, một thời gian chịu đựng quá sức dài, không phải là Bắc Ưng không muốn giúp đỡ mình, mà chính ông ta còn đang cố chuẩn bị cho mọi việc chu tất theo đúng lý tưởng của ông ta, nghĩa là sẽ dồn mình vào một cái chết rất thận trọng!
 
0
Hồi 068. Tự Giả Loạn Chân
[/align]

Những người đang sống, đều sợ chết! Thượng Quan Linh cũng không tránh khỏi lệ ấy, chàng hồi hộp chờ đợi giây phút đó tới... Bỗng Bắc Ưng Lãnh Lạc thình lình quát lên một tiếng: Trúng, hai ngọn chỉ đâm xỉa nhanh ngay xuống. Thượng Quan Linh co rúm người lại, hồn vía như đã vất vướng khỏi ngoài xác. Nhưng tri giác của chàng vẫn chưa bị tuyệt hẳn, chàng cảm thấy bàn tay đang luồn vào lưng của mình bỗng từ sức cực lạnh trở sang sức ấm dần... Nhưng chỉ trong thời gian nháy mắt, tri giác của Thượng Quan Linh đã mất hẳn, toàn thân chàng rụng rời hẳn... Động hang của Bắc Ưng Trang trở nên tịch mịch hư vô...
***
Cách Bắc Ưng Trang lối bốn mươi dặm đường, một đoàn lữ hành bốn người, ba trai một gái đang rong ruổi tắm ánh nắng ban mai của mùa đông, cả đoàn vẫn tiếp tục cuộc hành trình. Cô gái duy nhất trong đoàn đang ngồi trên lưng lạc đà, trông càng hiển hiện sự bé nhỏ của nàng, lúc này nàng đương đi sát với một chàng thanh niên anh tuấn đẹp trai, đôi lạc đà đi song song với nhau, còn hai người đàn ông kia, đi cách xa phía trước đến bốn năm trượng.
Hai người đàn ông phía trước không hề quay đầu lại, hình như họ rất biết điệu với đôi tình nhân đang đi phía sau; đi được một chập, hướng đi bắt đầu chuyển dần về phía Tây Bắc, sau khi vượt khỏi một đồi sa mạc tương đối cao, tay cương của thiếu nữ như có vẻ uể oải! Nhưng sự thực nàng đâu mệt mỏi gì, chẳng qua vì lúc rời khỏi Bắc Ưng Trang đến giờ, ông chồng chưa cưới nàng không hề lên tiếng với nàng một câu nào, lòng dạ cô nàng đã cảm thấy không vui, nên lúc này vờ bộ uể oải để làm nũng với người yêu, mục đích là để cho người yêu quan tâm chăm chú đến mình, và nhất là chuyện trò cho đỡ ghiền. Nàng đưa mắt tống tình, ấy thế mà ông tình lang phải gió lại không chịu hiểu cho đáy lòng thiếu nữ mới khổ; thiếu nữ đã bực bội, nàng bắt đầu làm nũng thực sự:
- Anh Linh ơi ! . . .
Chàng thanh niên anh tuấn quay sang đầu lại, nhẹ giọng hỏi ngay:
- Gì thế em Liễu Mi?
Liễu Mi gắt yêu:
- Cứ lo đi trước một mình, đường dốc thế này mà không chịu kéo giúp người ta một tay.
Chàng Linh nhà ta đi đàng trước bụng nghĩ thầm: Con đòi con khéo nũng nịu thật, mình phải cẩn thận hơn, nhỡ lộ tẩy thì hỏng chuyện hết...
Nghĩ xong, chàng Thượng Quan Linh bèn đứng ngay lại đưa tay ra để kéo cương cho cô thứ nữ đanh đá của Thanh Thông Bang leo lên gò cát, lúc này Liễu Mi ung dung ngồi như một bức tượng bồ tát trên lưng lạc đà, mà chờ Anh Linh ra sức kéo cương lôi lên gò. Anh Linh sau khi qua khỏi gò, bụng lại thầm nhủ: Con bé này tai quái thật, công lực của nó đâu phải là không có cách qua khỏi gò này, rõ ràng cố tình làm nũng để bắt tội người yêu. Hừ! Lẽ đương nhiên đâu biết mình là Thượng Quan Linh giả, trò chơi này kể cũng thú vị thật! Hà hà!...
Liễu Mi thấy ông tình nhân của mình vẫn câm như hến, lại lên tiếng:
- Anh Linh! Sao không nghe anh nói chuyện gì cả, bộ trong người khó chịu sao?
Anh chàng Linh này tương kế tựu kế cất giọng khản tiếng rằng:
- Nào em đâu có hay, ngu huynh tối qua bị quá chén, chiều bị cảm gió, chứ em không nghe tiếng anh bị khản giọng đó sao?
Liễu Mi nghe vậy cảm động cho người yêu, thì ra anh Linh của mình đã khó ở trong người, hèn gì chàng ta không được vui lắm, nàng vội cho lạc đà tiến sát ngay bên chàng, và phi thân ngay qua ngồi chung trên lưng lạc đà của Thượng Quan Linh. Giọng thỏ thẻ êm dịu hỏi:
- Anh Linh! Chỗ nào khó chịu đâu! Có phát nóng không? - Nói xong nàng vừa đưa tay bá ngay vào cổ chàng và áp lưng bàn tay lên má chàng thăm xem nhiệt độ.
Thượng Quan Linh không thể nào ngờ được Liễu Mi lại có cử chỉ thân mật đến thế, lúc này tâm hồn chàng cảm thấy chìm đắm vào ý nghĩ say sưa, trống ngực đập thình thịch. Thầm nghĩ: Đây mới thật là số đào hoa của trần gian. Trời ơi, sao không ghen với tên Thượng Quan Linh cho được, một người đẹp ngọc ngà thế này mà mê hắn... đi đâu mà tìm được một người thứ hai như nàng... Nhưng may, đời thằng oách con ấy đã hết vận, cứ để hắn chịu cảnh trong Bắc Ưng Trang một thời gian rồi sẽ hay, sau này ta trừng trị hắn cẩn thận hơn, giờ đây luân đến phiên mình hưởng phúc cái đã! Hà... Hà...
Liễu Mi khẽ thủ thỉ bên tai chàng:
- Anh Linh... lỗi tại em vừa bắt anh ra sức kéo con lạc đà của em, nên anh mới mệt thế... thôi em xin lỗi anh... và em sẵn sàng đến anh một cái... hôn. - Nàng nói rất nhỏ... và nàng lớn dần tiếng rằng: - Nếu anh thích bắt đền!
Lẽ đương nhiên chàng Thượng Quan Linh không phải là người gỗ, chỉ nghe tiếng Liễu Mi thủ thỉ hỏi:
- Sao anh đỡ mệt rồi chứ?
Chàng Thượng Quan Linh giả cười tình rằng:
- Em Liễu Mi đã cho anh thứ linh đơn tuyệt diệu như thế, lẽ đương nhiên là khỏi ngay tức tốc!
Trong cái động tác nóng bỏng nhấp nháy này, Liễu Mi cảm thấy như có gì là lạ, không nói lần hôn này khác hẳn các lần khác, vì trong các kỷ trước, cứ mỗi lần có những động tác thân mật ấy, chàng đều tỏ ra mất bình tĩnh và áy náy, và không bao giờ chàng lại kịch liệt như lần này. Và còn điểm quan trọng, ấy là cá tính đặc biệt của Thượng Quan Linh, Liễu Mi hiểu rõ hơn ai hết.
Thượng Quan Linh vốn là người thật thà, chàng không hề bao giờ biết châm biếm văn vẻ trong chuyện tình, nhưng lần này chàng lại biết nói đùa phong nhã, cái hôn bằng thứ linh đơn tuyệt diệu... Tuy người nói câu này là vô tâm, nhưng người nghe lấy làm lạ, sao một anh chàng khờ về chuyện tình như Thượng Quan Linh, nay bỗng lại trở nên một tay có vẻ sành như thế! Mẹ nàng Liễu Mi, Thanh Thông phu nhân, vốn là quốc sắc thiên hương, thông minh tuyệt đỉnh phò tá chồng Thanh Thông bang chủ Liễu Khải, giải quyết mau chóng các việc khó khăn, có nhiều chuyện trước khi chưa phát giác, phu nhân đã tiên đoán được ít nhiều của sự việc, và luôn luôn khéo léo dàn xếp mọi chuyện được vuông tròn, đó hoàn toàn nhờ ở bộ trí óc thông minh tuyệt đỉnh của phu nhân. Suốt thời gian sống với chồng, đã giúp chồng ứng biến không biết bao nhiêu chuyện khó khăn, trong số những người quen biết phu nhân, có người khâm phục, cũng có kẻ ghen ghét, và những kẻ ghét ấy đã nói xấu phu nhân, cho là người đa nghi, và họ đã lén tặng một biệt hiệu cho phu nhân là Thiên Hồ! (con hồ ly). Dòng máu thông minh tuyệt đỉnh ấy, hình như phu nhân đã di truyền vào huyết quản cho hai cô con gái sinh đôi, và nhất là cô em lại bị ảnh hưởng mạnh hơn cô chị, nhờ vậy nàng Liễu Mi tinh ranh tuyệt đỉnh, thường đoán trúng phong phóc được những việc sẽ xảy ra, lại nữa nàng có một đôi mắt quan sát khá tinh vi. Nhưng kỳ này, việc xảy ra lại chính trên thân người chồng chưa cưới, dù sao Liễu Mi cũng không thể nào nghi ngờ đến người yêu Thượng Quan Linh của mình, lúc này nàng lại tự cười thầm với tính đa nghi của mình.
Bỗng một lạc đà xuất hiện, cách trước mặt hai người không xa. Sở Canh vừa cười vừa gắt:
- Xin hai người làm ơn nhanh cho chút được không? Nam thúc thúc chờ mãi không thấy đến, tưởng là đã xảy ra chuyện gì rồi...
Liễu Mi sực tỉnh, nàng mỉm cười với Thượng Quan Linh nhảy về lạc đà của mình, giật ngay dây cương hấp tấp khởi trình và tươi cười nói rằng:
- Sở đại ca hãy đi trước đi! Chúng ta sẽ theo ngay sau...
Sở Canh tính móc đùa vài câu để chọc hai người, nhưng chàng sực nghĩ nhị cô nương miệng lưỡi ghê lắm, e mình không địch lại thì dại, nghĩ vậy Sở Canh bèn lo đi trước cho xong.
Liễu Mi cười và ra dấu với người yêu:
- Anh Linh! Thôi chúng mình nên đi mau lên, nếu không Nam thúc thúc lại trách chúng mình.
Thượng Quan Linh không trả lời chỉ mỉm cười gật đầu hai người vội đuổi theo Nam Bút và Sở Canh, sau khi nghỉ ngơi một chập, Liễu Mi lo lắng về sức khỏe của Thượng Quan Linh, tính nói với Nam Bút về sự khó chịu của chàng, nhưng bị Thượng Quan Linh ngăn ngay lại, và chàng đã tỏ ý khỏe hẳn rồi, đừng làm kinh động đến thầy, tránh sự lo phiền của ông ta.
Sau khi nghỉ ăn uống, bốn người lại tiếp tục khởi trình tiến về Bách Linh Miếu, trời bắt đầu về chiều, trên bãi sa mạc, gió bắt đầu thoang thoảng, mây trời cũng biến động. Đi thêm một chặp, Thượng Quan Linh bỗng biến đổi tính tình khác xưa kia, chàng không còn đi chung cạnh với Liễu Mi, lúc nào chàng cũng theo sát ngay sau phía thầy Nam Bút và bạn Sở Canh. Liễu Mi đi cạnh chăm chú quan sát, dần dần nàng lại phát hiện một sự lạ, tất cả những cử chỉ của anh Linh mình đã khác trước nhiều.
Không lẽ những sự kiện này không đáng nghi ngại sao? Liễu Mi tự hỏi lòng mình. Nhưng kinh nghiệm đã cho nàng hay, tất cả những sự kiện nguy hiểm gì đã xảy ra, phần đông đều do những chi tiết nhỏ nhất gây nên cả!
Trong lòng Liễu Mi bắt đầu lo lắng, tiếng nói của Anh Linh cũng đã thay đổi! Cái hôn lạ lùng khác thường, biết nói bông đùa văn hoa, cử chỉ thay đổi, tất cả những sự kiện này, không lẽ đều có nguyên nhân gì bên trong sao? Hoặc chỉ là một sự ngẫu nhiên, hay tại mình đa nghi?
Nếu nói bị cảm mà khản tiếng nói, có thể được lắm, nhưng về thói quen cử chỉ, làm sao có thể cải biến được. Lúc này trông chàng có vẻ ít nói mà lại cố ý lẩn tránh mình! Tại sao vậy? Nàng tìm nhiều giả thuyết, nhưng không một cái nào đứng vững! Âu chỉ là việc ngẫu nhiên... Nàng nghĩ lại đến Bắc Ưng Trang, một trang viên bí mật màu đen. Toàn những khung cảnh quái lạ kỳ dị, tuy lúc này bốn người đã thoát khỏi nơi trang viện màu đen khá xa, nhưng ai nấy vẫn còn bị ám ảnh, không lẽ do ám ảnh đó gây ảnh hưởng gì cho Thượng Quan Linh. Không lý Bắc Ưng Lãnh Lạc trước khi chia tay, đã giở thủ đoạn mờ ám gì trên người Thượng Quan Linh, khiến chàng nội trong một đêm mà đã biến đổi tất cả tính nết của chàng!
Nhưng sao Bắc Ưng Lãnh Lạc lại hành sự như thế! Sao không giết chàng, mà chỉ biến đổi tánh tình của người ta là dụng ý gì? Bỗng Liễu Mi lại nhớ sực đến đêm ngủ ngoài sa mạc mà bả vai bên trái của chàng đã mang vết thương như dao chém lạ lùng, mà chính Thượng Quan Linh chỉ ngờ rằng loại sâu bọ gì của miền sa mạc gây nên thương tích lạ lùng ấy mà thôi, không hề quan tâm cho lắm, nhưng với Liễu Mi, nàng cho rằng trong này thế nào cũng có lý do, chỉ tại mình chưa tìm ra lý do. Nàng nghĩ đến vết thương ấy phải do một thứ đao lợi hại nhất mới gây nên nổi trên người Thượng Quan Linh, mà loại lợi khí này chỉ có một ngọn trong thiên hạ, mà chủ nhân của nó lại là một tên đại ma đầu lợi hại quỉ xuất thần nhập trên giang hồ. Nếu nàng đoán không sai, từ khi tại Bắc Ưng Trang ra đến nay, Thượng Quan Linh đã bị thất thường, chắc thế nào cũng liên quan đến tên đại ma đầu bí mật ấy, nếu vậy, cả đoàn bốn người vô tình đã lọt vào cạm bẫy âm mưu của đại ma đầu rồi cũng nên, mà người xui xẻo nhất và bị hy sinh trước lại là người yêu của mình.
Liễu Mi nghĩ sự việc lạ lùng bắt đầu ngay từ lúc gặp Bắc Ưng Lãnh Lạc, và chính Bắc Ưng trang viện là chung điểm, trước lúc vào trang trại và sau khi rời trang trại, tất cả đều thay đổi một cách đột ngột, cũng có thể nói là âm mưu đang bắt đầu khởi sự. Rất có thể là chàng Thượng Quan Linh đi với mình đây là thứ giả mạo?? Khi Liễu Mi mạnh bạo tự nghĩ ra một giả thuyết như vậy, nàng lại tự cảm thấy mình quá nhiều óc tưởng tượng! Nhưng nàng vẫn lo lắng suy nghĩ để khám phá mọi bí mật nàng đang nghi ngờ.
Liễu Mi bỗng hớn hở chen vào hàng ngũ ba người, cố bám vào Thượng Quan Linh hỏi này hỏi nọ, và tất cả chuyện đều là chuyện cũ đã qua, và nàng chăm chú để nhận xét câu trả lời. Quả nhiên Thượng Quan Linh giả bị lộ tẩy, chỉ thấy chàng ấp úng nói, hình như đã quên hết chuyện dĩ vãng vậy, nàng càng hỏi, Thượng Quan Linh càng tránh trả lời! Liễu Mi thất kinh trong lòng trời ơi!
Nguy!... Thượng Quan Linh xưa nay đâu có bao giờ kỳ lạ thế này, chắc đã xảy ra chuyện gì! Nàng bèn lên tiếng hỏi thêm:
- Anh! Anh còn nhớ trò chơi câu đố, mà kết quả anh đã thua cho em mấy đóa hoa cúc không?
Nàng biết Thượng Quan Linh rất yêu mình, những trò chơi trẻ con này tuy không đáng kể gì. Nhưng chàng ta nhớ và lưu luyến đến chuyện này lắm, và kỳ tại Đại Ngũ Trì, chàng bị thong manh nhờ câu nói này mà chàng mới dám nhận mình, nay mình lợi dụng hỏi ngược lại xem chàng trả lời ra sao, nếu chàng là Thượng Quan Linh thiệt, thế nào cũng đáp trúng là thua mình hai đóa hoa cúc. Nào hay sau câu hỏi này của nàng, Thượng Quan Linh giả đếch chịu trả lời, vờ hẳn người lãng tai, Liễu Mi lại cất tiếng lớn hỏi đủng đỉnh rõ ràng từng tiếng một.
Với giọng khản tiếng, Thượng Quan Linh giả nói rằng:
- Kìa em Liễu Mi, sao hôm nay em quấy rầy anh đến thế? Chúng ta nên đi cho nhanh, em không thấy trời đang chuyển gió đó sao, nói năng nhiều trong lúc này, chỉ tổ cát bay vào miệng chứ ích gì, có chuyện để tí nữa nghỉ rồi nói sau!
Nam Bút tiên sinh đương nhiên là không rõ dụng ý của Liễu Mi, nghe Liễu Mi có vẻ hơi quấy phiền ái đồ của mình thật, cũng lên tiếng:
- Linh nhi đã nói đúng. Liễu cô nương chịu khó đi nhanh thêm cho kịp nơi nghỉ...
Liễu Mi lặng thinh, nhưng nàng đã nhủ thầm: Ngươi dù gian xảo đến đâu, chỉ có thể lừa bịp mắt người khác, đối với thứ nữ của Thanh Thông Bang này, đừng có hòng qua mặt ta nổi, chờ ta sẽ lột mặt nạ của người cho biết Liễu Mi Nhị cô nương đây không phải là tay vừa!
Cuộc hành trình vẫn lẳng lặng tiến bước, nàng thầm nghĩ: Nếu quả như lời tiên đoán của nàng, người trước mặt này là Thượng Quan Linh giả, vậy anh Linh thiệt của mình hiện ở đâu? Bị thủ tiêu rồi chăng? Nhưng sau khi anh ấy ăn tiên hoa toàn thân đã trở nên bất phàm trong thiên hạ, đao kiếm thường không làm gì nổi. Nhưng nàng lại nghĩ, trên giang hồ này thế nào cũng có loại binh khí có thể gây tai hại cho chàng! Ngoài Tiểu Đoạt Hồn Kỳ ra, hãy còn có thêm một vật nữa, mà rất có thể ở ngay bên cạnh mình đây cũng nên. Nếu vậy, Thượng Quan Linh tám phần mười có thể bị hại rồi, trong lòng nàng đau khổ, khi nghĩ đến người yêu bị hại Liễu Mi tính quay về Bắc Ưng Trang để thám hiểm xem sự thực ra sao, nhưng ác nỗi Nam Bút tiên sinh và Sở Canh vẫn chưa hề biết gì về anh chàng Thượng Quan Linh giả, nếu nói ra, đời nào họ chịu tin, nguy cơ đang chập chờn như thế, nàng đâu dám bỏ đi.
Mà nếu quả người yêu bị hại, mình có tuyệt vọng đau khổ quay về Bắc Ưng Trang cũng vô ích, nay chỉ còn cách theo dõi ngay manh mối này để trả thù cho người yêu là thượng sách! Liễu Mi quyết định tùy cơ hành sự, nàng sẽ dùng hết tài trí thông minh để ngấm ngầm đối phó với địch thủ lợi hại, một cuộc săn âm thầm bắt đầu, ý nghĩ của Liễu Mi: Vậy chúng mình chờ xem ai chết về tay ai cho biết.
Tối đến, bốn người tìm đến một chỗ khuất gió để tạm nghỉ, Liễu Mi không đá động gì, sau khi ăn uống xong, nàng bèn ngồi chung với Thượng Quan Linh giả để trò chuyện và quan sát các câu trả lời của chàng, và tất cả cử chỉ và lời nói đã tăng thêm sự nghi ngờ của Liễu Mi, nàng chợt nghĩ ra một kế, thình lình kéo ngay bá vai chàng, tươi cười nói rằng:
- Anh Linh! Hãy để em xem lại vết sẹo trên bả vai anh coi?
Không chờ sự đồng ý hay không, nàng đã vạch toạc ngay áo đối phương ra xem, nhưng nào có thấy sẹo siết gì đâu? Liễu Mi cười nhạt, và tính khởi sự làm khó dễ.
Nhưng chàng Thượng Quan Linh giả đã từ vén cao áo lên, để lộ hẳn một vết sẹo dài gần năm tấc. Cất giọng khản tiếng nói rằng:
- Sao em chóng quên thế, vết sẹo của anh nằm bên bả vai cánh trái kia mà!
Trong câu nói có ý chế giễu này Liễu Mi nản lòng ngồi xuống, thầm nghĩ: Trời ơi! Lạ thật. Chuyện sao quái gở thế này! Mặc dù nàng biết Thượng Quan Linh trước mặt mình đây là giả mạo, nhưng sự giả mạo của người này quá là cao tay ấn không hề quên một chi tiết nhỏ nhen thế. Liễu Mi nghỉ không ra cách gì để đối phó có hiệu lực, nàng rối trí và quýnh lên.
Khi bốn mắt của hai người tiếp giáp nhìn nhau, Liễu Mi đã cảm thấy trong ánh mắt của đối phương lạnh lùng và ác ý, còn chứa chan nhiều cái phức tạp lạ lùng.
Cảnh tượng này, đôi bên đã biết tẩy của nhau, và họ đang nghi kỵ và xét đoán ý nghĩ của đối thủ, một sự nhìn trầm lặng ấy, chính lại là ngọn giao tranh cao độ của các tay cao thủ bằng lối nhìn, đôi bên đều căng thẳng tuyệt đỉnh. Thứ nữ Thanh Thông Bang, cảm thấy đôi mắt này uy hiếp mình lạ lùng, công lực tuyệt cao, rõ ràng mình không phải địch thủ của người ta. Chỉ nghe nàng khẽ hự một tiếng nhẹ rồi ngất luôn trong lều vải. Người nọ tính sấn ngay lại, nhưng rút cục y không thi hành ý nghĩ ấy, nếu là một cô gái khác, chắc y chẳng cần suy nghĩ mà tiến sát lại ngay, nhưng với cô bé tinh ranh của thứ nữ Thanh Thông Bang này, nàng vốn túc trí đa mưu, biết đâu trong cái ngất xỉu lại có trò gì bên trong. Tứ bề im lặng, bên ngoài lều, tiếng gió rít từng hồi, trong lều, ánh đèn soi chập chờn một bóng người đang đứng ngẩn nhìn nàng Liễu Mi, trên sắc mặt người này chỉ hiện toàn sắc thái âm u lạnh lùng.
Đôi mắt lanh lẹ của y vẫn không ngừng chăm chú nhìn vào toàn thân Liễu Mi khá lâu, khi y đã biết đích xác thiếu nữ quả đã bất tỉnh thật sự, y mới cẩn thận bước lên gần một bước. Trong lòng thầm nhủ: Con bé này quả thông minh tinh ranh quá sức tưởng tượng. Nếu để nó sống, thế nào cũng là cái họa lớn lao cho mình, rất có thể còn hỏng hết những kế hoạch của mình... chẳng thà nhân ngay lúc này hạ thủ cho yên trí... Chỉ thấy y thò tay vào trong mình lấy ra một bao bằng da, từ từ mở ngay ra, bên trong một làn ánh quang nhấp nháy sáng chóa...
Người này đang do dự, y lại bước thêm lên một bước, theo kinh nghiệm cho biết y đã đoán đích xác thiếu nữ đã hôn mê bất tỉnh thật sự, giờ đây chỉ việc dốc ngược bao da xuống, dù cho là tay đệ nhất cao thủ trong thiên hạ đi nữa, cũng khó mà tránh khỏi tai ách rùng rợn này. Dưới ánh đèn chập chờn của lều vải, chủ nhân của Lãnh điện tỉ thủ đang say đắm nhìn vẻ đẹp lộng lẫy trước mắt, bỗng y nổi lòng tiếc rẻ, chi nghe y lảm nhảm:
- Quả là một thân hình tuyệt đẹp! Đúng là tượng phẩm kiệt tác của tạo hóa... nhưng, đâu có thể giữ mãi được thời gian sẽ tàn phá tất cả và tất cả... vài năm, vài chục năm, nàng cũng sẽ có những lớp da già cùng mình, và tóc bạc răng móm, mọi vật đều bị nước thời gian cuốn đi hết...
Chủ nhân Tỉ thủ bỗng sinh ra một kỳ tượng quái gở y nghĩ sau khi dùng Lãnh điện tỉ thủ giết chết nàng Liễu Mi, y sẽ chuyển ngay xác người đẹp đi, dùng thuốc ngâm để giữ nguyên cỗ xác cho khỏi bị rã, bên ngoài xác tử thi, sẽ dùng một lớp sáp đặc biệt để bao giữ, khiến cho một thân hình tuyệt đẹp này được giữ mãi mãi... Chủ nhân Tỉ thủ bèn quyết định ngay trong lúc ra tay cắt cổ Liễu Mi, phải nương tay không cho đầu lìa khỏi cổ, và sau khi người ngọc chết, sẽ dùng thuốc hàn gắn vết tích bị cắt lại để giữ nguyên trạng cái đẹp... Nghĩ vậy y bèn từ từ giơ ngay bao da lên... chỉ cần y vung mạnh tay, cây dị bảo võ lâm lập tức nhoáng nhanh ra như một làn điện, chớp mắt có thể hoàn thành ngay sứ mạng của chủ nhân.
Một lần ra tay, chỉ cần một thời gian ngắn và nhanh, nhưng chuyến này quá lạ lùng, bao da trên tay y vẫn không vung mạnh ra. Bởi chính đôi mắt y không hề rời khỏi khuôn mặt quá bắt mắt của nàng Liễu Mi, trong lòng y lúc này vô cùng mâu thuẫn, y đã tự hỏi lòng: có nên đang tay xé nát đóa hoa biết nói này không? Xưa kia, dù công khai hay bí mật, Lãnh điện tỉ thủ cũng đã giết bao nhiêu là nhân mạng, và các cô bị chết về ngọn Tỉ thủ cũng không phải ít ỏi gì. Nhưng xưa nay, chủ nhân Tỉ thủ chưa bao giờ cảm thấy hoài tiếc như trường hợp này, chỉ có một lần, cách thành Nhạc Châu lối mười dặm, tại nhà Thượng Quan Linh, đúng ngay vào đêm rằm, chủ nhân Lãnh điện tỉ thủ ra tay tàn sát một lúc chớp nháy mười mạng người.
Trong lúc gia đình người ấy đang đoàn tụ vui vẻ trong hoa viện, thình lình tai họa thảm khốc bay tới, bạch quang sáng nhóa lên như một giải lụa trắng xóa, bay nhanh qua cổ mọi người trên bàn tiệc, đầu người rụng như sung chín! Những kẻ bị nạn không kêu lên được một tiếng nào, vì dị bảo võ lâm này nhoáng lên nhanh như làn chớp! Nhưng trong khi chín chiếc đầu người rụng lộp độp xuống bàn tiệc ấy, đôi mắt chủ nhân Tỉ thủ đã vô tình chạm với một tia nhìn cuối cùng còn sót lại.
Dù cho chủ nhân Tỉ thủ giết người không gớm tay đến đâu đi nữa, lúc này cũng không khỏi ngẩn người ngạc nhiên, vì người sót lại đó, chính là một thiếu nữ đôi chín xuân xanh, nhan sắc tuyệt đẹp, dưới ánh trăng, chỉ thấy đôi mắt thiếu nữ như vô cùng tức giận và đầy những tia thù hận. Nhưng trong lúc ấy, chủ nhân Tỉ thủ không thể mất thì giờ suy nghĩ hay do dự, tay vung nhanh ngay lên, hồn ngọc thiếu nữ qui tiên cánh ngay khi đó. Và cũng chính từ đó trở di, chủ nhân Tỉ thủ bắt đầu ân hận trong lương tâm. Nay đứng trước vẻ đẹp của Liễu Mi, đem so với thiếu nữ nhà họ Thượng Quan, càng khiến ta phải mến thích. Nhất là suốt cuộc hành trình với nàng từ Bắc Ưng Trang, thiếu nữ này đã tỏ ra thông minh tuyệt vời, tất cả những thái độ, lúc ôn tồn, lúc trân trọng, đều đã ghi sâu vào lòng dạ chủ nhân Tỉ thủ một ấn tượng khó phai mờ! Chủ nhân Tỉ thủ lúc này cất ngay bao da, và lặng lẽ rời khỏi lều vái.
Sáng hôm sau, Thượng Quan Linh giả đã cưỡi lạc đà đi trước, Liễu Mi vẫn còn ngủ li bì trong làng mộng. Nam Bút tiên sinh thấy vậy, bèn nói với ái đồ hãy chờ cùng đi chung với nhau, nhưng chàng Thượng Quan Linh giả đã viện cớ đi dò đường trước, và ngang nhiên cưỡng lệnh thầy, Sở Canh thấy vậy chàng lại giở ngay đến thông minh vặt của mình nghĩ: chắc hai anh chị lại gây trò hờn mát nhau đây, chàng viện cớ đi dò đường, nàng lại vờ ngủ trễ giấc. Tình nhân trẻ rõ lắm chuyện thật!...
Nam Bút tiên sinh cảm thấy lạ, vội sai ngay Sở Canh vào thăm Liễu Mi, vào đến nơi, thấy nàng vẫn chưa tỉnh giấc, cất tiếng gọi, nhưng vẫn không thấy tỉnh.
Sở Canh xưa nay vẫn kính nể Nhị cô nương lắm, xem nàng như một vị bồ tát tôn nghiêm, tính đưa tay lay gọi, nghĩ đi nghĩ lại, rút cục vẫn không dám, sợ nàng tỉnh dậy trách mắng lại đâm dại. Sở Canh vội chạy báo ngay cho Nam Bút tiên sinh, Nam Bút tiên sinh vội vào, phát giác ngay nàng đang bị hôn mê liên miên, bèn lập tức cấp cứu mãi mới tỉnh lại. Thấy nàng không sao, mới tạm yên trí, vội hỏi phải chăng đã cãi vã với Thượng Quan Linh sao mà ngủ mệt thế?
Sau khi khôi phục lại trí nhớ, nàng giật bắn người, thì ra mình đã bị mê mẩn trong suốt đêm qua đến giờ này! Một sự hoảng sợ nhất của những cô gái còn trong trắng đã nảy bật ngay trong đầu óc đa nghi của Liễu Mi, nàng vội mời ngay Nam Bút và Sở Canh hãy tạm tránh ra ngoài để nàng thay quần áo, mượn cớ này nàng hồi hộp lo kiểm tra hạ thể của mình xem có gì khác lạ, nhưng không có một dị tượng gì xảy ra. Nàng hú vía thở khoan thai.
Sau khi thay xong quần áo khác, nàng thản nhiên bước ra ngoài lều hỏi Thượng Quan Linh đâu. Sở Canh vội cho hay là đã đi dò đường trước rồi. Nam Bút thấy Liễu Mi đã xong xuôi, bèn hối thúc lên đường ngay.
Liễu Mi đang quyết định lựa chọn kế hoạch. Nay Thượng Quan Linh giả đã biết bị lộ, nên đã đi trước để dụ địch vào bẫy, thế nào cũng có những cạm bẫy kỳ nguy hiểm đang chờ đợi họ!
Nếu quay về Bắc Ưng Trang để tìm kiếm Thượng Quan Linh thiệt, đương nhiên là thượng sách, nhưng cũng có đều e ngại quan trọng, vì nếu Thượng Quan Linh bị thủ tiêu thật, chẳng hóa ra mình bỏ mất một cơ hội theo dõi kẻ thù. Và sau này biết đâu mà tìm ra cho nhân vật Tỉ Vương ghê gớm này! Chỉ trong thoáng mắt, Liễu Mi quyết định ngay ý nghĩ của mình, chọn ngay con đường theo dõi tung tích của Tỉ Vương ma quân. Lúc này Liễu Mi càng trở nên buồn bực, nàng cũng thừa biết đem việc này bàn với Nam Bút và Sở Canh, lẽ đương nhiên họ không thể nào chấp nhận có chuyện giả mạo Thượng Quan Linh như vậy được.
Trừ phi Liễu Mi khai toạc, may ra Nam Bút tiên sinh có thể tin ngay, nhưng chuyện mắc cỡ chết người ấy, đối với một thiếu nữ như Liễu Mi, đâu dám hé răng thuật lại. Lúc này Sở Canh đã thu gọn lều vải và vật dụng, cuộc hành trình lại bắt đầu tiếp tục, Liễu Mi đành thở dài cưỡi lên lưng lạc đà! Ba người khởi trình suốt dọc đường, chỉ có Sở Canh là hí hửng vui hơn ai hết, nào chàng trai chất phác này đâu có biết nguy cơ đang ẩn hiện tứ bề quanh mình đâu. Nam Bút đã cảm thấy có chuyện lạ thường, tiên sinh dùng lời ôn tồn để thăm hỏi Liễu Mi, thực ra đôi bên đã có chuyện xích mích gì với nhau?
Liễu Mi không phải không muốn nói ra, nhưng vì tâm thần nàng rối loạn, cũng không biết nên bắt đầu nói như thế nào cho phải! Nam Bút tiên sinh chờ mãi, thấy nàng vẫn buồn, muốn nói lại thôi, tiên sinh cho ngay rằng ái đồ mình đã bắt nạt con bé đây, chuyện gây gổ của tình nhân trẻ làm sao tránh khỏi được, nhưng trong bụng tiên sinh đã tính sẵn tí nữa sẽ quở trách ái đồ vài câu và bắt phải xin lỗi Liễu Mi, như thế chắc sẽ vừa lòng ngay cô bé ưa hờn mát này. Nam Bút càng nghĩ càng cho ý kiến của mình là đúng! Nên tiên sinh cũng không màng truy hỏi cặn kẽ thêm làm gì!
Suốt dọc đường, đã đến giờ ngọ, ba người vẫn chưa bắt gặp Thượng Quan Linh đâu cả, tuy chàng đi trước mọi người lối hai tàn nhang, nhưng dù sao cũng phải chờ đợi mọi người chứ, nay ngang nhiên đi mất tăm mất tích như vậy Nam Bút tiên sinh đã nổi giận trong bụng! Nghĩ đến chuyến này sẽ chỉnh giáo cho chàng một mẻ nên thân mới được, ba người đều ăn uống luôn trên lưng lạc đà, cuộc hành trình vẫn tiếp tục, họ không nghỉ ngơi. Các dấu chân lạc đà mới xuất hiện trên mặt cát không lâu.
Nam Bút thấy vậy hối thúc ngay Liễu Mi và Sở Canh đuổi nhanh theo. Mãi đến xế chiều, bỗng Sở Canh đi phía trước lên tiếng gọi ngay. Nam Bút và Liễu Mi lại coi, chỉ thấy một lạc đà đứng ngay đằng xa. Những đồ đạc lủng lẳng trên lưng con vật hai gò lưng ấy, rõ ràng lạc đà của Thượng Quan Linh!
Lạc đà không hề nhúc nhích, Sở Canh lấy làm lạ, nhưng Liễu Mi đã rõ ngay và cho Sở Canh biết, con lạc đà đã chết lâu rồi. Sở Canh không tin, đi tới nơi và đưa tay ra sờ con vật, đầu con lạc đà rớt bịch ngay xuống mặt đất, khoanh cổ không hề thấy có chút máu nào để lại.
Nam Bút tiên sinh lớn tiếng kêu hoảng:
- Nguy to!... Lãnh điện tỉ thủ!
Sở Canh tuy là anh chàng lỗ mãng nhất, nhưng cũng biết oai danh của Lãnh điện tỉ thủ, ngay lúc đó giật nẩy mình nhảy thót ngay về sau. Nam bút Gia Cát Dật, một trong nhóm Càn Khôn Ngũ Tuyệt lúc này lo ngay đến sự an nguy của ái đồ Thượng Quan Linh, không cần suy nghĩ, soạt một tiếng, rút ngay cây trường kiếm bên mình ra. Dưới cảnh trời đất bao la này, vị đại hiệp sắc mặt vô cùng trịnh trọng và hấp tấp nói:
- Liễu Mi, Sở Canh, chúng ta đuổi theo cho nhanh, có lẽ Linh nhi bị bắt không lâu...
Dứt lời, Sở Canh lại bạo gan phóng nước đại cùng với Nam Bút hấp tấp mở cuộc truy tầm! Trong ba người, duy có Liễu Mi am hiểu nội vụ hơn ai hết, nàng biết rõ đây là một kế quỉ quyệt của Tỉ Vương ma quân, nếu hấp tấp đuổi theo, thế nào cũng bị trúng kế địch.
Liễu Mi vội lớn tiếng:
- Nam Bút thúc thúc, Sở đại ca, xin hãy ngừng ngay lại đã đó là quỉ kế của người ta, chớ vội vàng mà bị mắc bẫy, hãy nghe Liễu Mi bày tỏ...
Lạc đà của Nam Bút và Sở Canh đã xa ngoài ba trượng, nghe tiếng Liễu Mi nói, Nam Bút vội hỏi:
- Liễu cô nương, có chuyện gì lạ sao? Cứu người như cứu lửa, Linh nhi nay đã nguy cấp, càng mau càng hy vọng nhiều hơn.
Nam Bút vẫn nghĩ rằng Liễu Mi còn giận Thượng Quan Linh, nên nàng ta không muốn ra tay cứu ái đồ, nào hay Liễu Mi lúc này đang đau khổ trong lòng vì người yêu nay bỗng nhiên lại bị hiểu lầm, nàng nghẹn ngào trong cuống họng, sắc mặt tái hẳn và không sao nói lên lời.
Nam Bút lớn tiếng gắt:
- Ơ kìa! Còn do dự mà không mau lên?
Liễu Mi cố gượng gạo rằng:
- Thưa... Thưa... đó là chàng... Thượng Quan Linh... giả mạo...
Nam Bút và Sở Canh đều kinh hoảng về câu nói này, chỉ nghe tiên sinh lại gắt:
- Nói nhảm nào!
Sở Canh lắc đầu lia lịa...
Liễu Mi bèn trình bày tóm tắt câu chuyện đêm qua xảy ra, và cũng lấy làm lạ là sao đối phương không ra tay hạ độc thủ trong lúc nàng còn đang hôn mê bất tỉnh, mà lại âm thầm bỏ đi trước như vậy?
Thứ nữ Thanh Thông Bang vốn là cô gái lanh lợi, mặc dù trong cơn bối rối tột độ như lúc này, nàng vẫn trình bày vấn đề một cách đơn giản nhưng rất rành mạch, khiến nỗi Nam Bút tiên sinh và Sở Canh kinh hãi không ít, và cả hai không thể nào mà không tin cho được.
Sau khi nói rõ, Liễu Mi còn suy đoán, rất có thể Thượng Quan Linh đã bị thiệt mạng, hoặc bị giam cầm bí mật, nhưng dù sống hay chết, lúc này thế nào cũng còn tại Bắc Ưng Trang, nếu may mắn không bị chết, thì thế nào công lực cũng bị người ta hạn chế hẳn. Còn đến người Thượng Quan Linh giả mà đi trước kia, lẽ tất nhiên là một sự hóa trang quá tuyệt của địch thủ, rất có thể là nhân vật khét tiếng Tỉ Vương ma quân! Dù cho không phải thì cũng là loại bộ hạ đắc lực của Tỉ Vương và chắc tên này cũng giỏi về lối dị dung thuật (sửa đổi sắc mặt), về tài thông minh thì khỏi cần bàn tới, chỉ coi nội hai việc hóa trang Bắc Ưng Lãnh Lạc và Thượng Quan Linh cũng đủ rõ trí tuệ người ta rồi.
Nay ra tay giết chết lạc đà như vậy, rõ ràng đang dụ địch, và cũng là kế khích tướng, tên ma đầu này không những cơ mưu cao cường, kế hoạch hiểm ác tuyệt luân, nếu ba người không đuổi theo thì thôi, còn trái lại, làm sao tránh khỏi tai biến? Liễu Mi chủ trương, lúc này nên tránh nặng để chịu cái nhẹ, quay ngay về Lãnh Ưng Trang tìm ngay Thượng Quan Linh, rồi sẽ định lại các kế hoạch sau để đối phó. Đề nghị đưa ra, chàng Sở Canh lại gật lia lịa, nhưng riêng Nam Bút tiên sinh lại tỏ trầm tư...
Nam Bút tiên sinh bày tỏ ý kiến mình, chủ trương phân công ra hợp tác với nhau, đợt này may mắn lắm mới biết được chút manh mối của Tỉ Vương ma quân, và hai sư huynh của mình là Tây Đạo, Đông Tăng đều phải trông cậy vào vụ này mới mong tìm ra được tung tích. Mùng mười Tết Tỉ Vương cử hành cuộc thịnh hội tại Bách Linh Miếu, thế nào tới ngày ấy y cũng tham gia, nay đã mùng ba Tết, Nam Bút tiên sinh quyết định, sai ngay Liễu Mi và Sở Canh, hai người quay ngay về Lãnh Ưng trang viện thám thính về vụ Thượng Quan Linh, còn phần mình sẽ tương kế tựu kế tiếp tục đuổi theo địch, và sẽ dốc hết toàn sở trường của mình ra để lo chống đối với Tỉ Vương, làm sao cũng phải thăm cho ra tin tức của Thiên Si đạo trưởng và Đông tăng Túy Đầu Đà.
Hẹn với Liễu Mi và Sở Canh, sau khi thăm rõ vụ bí mật tại Bắc Ưng Trang, thế nào cũng phải về ngay Bách Linh Miếu để tụ hợp. Nếu trời thương, chưa ai bị thiệt mạng, tất cả mọi người sẽ tụ tập tại Bách Linh Miếu. Nhân ngay cuộc thịnh hội đó, hãy hợp sức đại náo cho chúng một trận Lạc hoa lưu thủy (hoa rụng nước cuốn tung). Nếu chẳng may Thiên Si Tây Đạo và Túy Đầu Đà Đông Tăng đều bị hy sinh, Nam Bút cũng tỏ rõ lập trường là không thiết sống, và sẽ quyết tâm theo dõi tung tích của Tỉ Vương để trả thù cho hai sư huynh, và căn dặn Liễu Mi và Sở Canh, sau khi đến Bách Linh Miếu, nếu thấy Nam Bút để lại ám hiệu, chớ nên đi theo để hiệp sức khác nào châu chấu đá xe, đâu ăn nhằm gì, lúc đó phải mau rời ngay quan ngoại, hỏa tốc về ngay Trung Nguyên báo tin cho Độc chỉ Thôi Bác, và sẽ do nhân vật Đệ nhất cao thủ trong thiên hạ này ra mặt triệu tập các tay cao thủ nghĩa hiệp lên miền Bắc để càn quét hết những yêu khí miền này.
Liễu Mi đã khóc sướt mướt khi nghe lời của Nam Bút tiên sinh, nhưng nàng thay đổi một điều: Sở Canh phải tức tốc khởi trình đi ngay về miền Trung Nguyên, về ngay miền Ngọc Thụ Thanh Hải, yết kiến ngay Độc chỉ Thôi Bác và báo cáo rõ mọi việc đang xảy ra, và thỉnh cầu ông ta tập hợp các nhân vật đồng đạo, hoả tốc kéo ngay lên miền quan ngoại để cấp cứu. Còn phần mình, nếu sau khi đến Bắc Ưng Trang cứu được Thượng Quan Linh không chết, cố nhiên là chuyện may lớn, và cũng sẽ kéo ngay đến Bách Linh Miếu để nhân cơ hiệp trợ. Nếu người yêu một ngắn hai dài vì rủi ro, nàng cũng quyết liều để truy đuổi tên Tỉ Vương ma quân để trà thù cho người yêu . . .
Nam Bút tiên sinh cởi ngay cây đàn Bát long ngân giao cho Sở Canh dặn rằng:
- Sau khi anh đi xong việc Ngọc Thụ, mong anh giao lại cây cổ đàn này cho tiện nội (vợ Nam Bút - Hạ Quyên) để làm một vật kỷ niệm...
Sở Canh cảm động gật đầu... Nam Bút căn dặn xong bèn chia tay cưỡi ngay lạc đà đi trước về hướng Tây Bắc.
Sở Canh và Liễu Mi rơi lệ nhìn cho đến khi khuất dạng Nam Bút, chàng Sở Canh mới ấp úng nghẹn ngào nói với Nhị tiểu thư của mình:
- Thôi, tôi cũng xin kiếu từ Nhị cô nương để lên đường, vậy mong cô hay tự bảo trọng, xong việc tại Ngọc Thụ, thế nào tôi cũng ghé về Thanh Thông Cốc, và bẩm rõ tự sự với lão bang chủ, vì ngài vẫn thương mến cô nhất, thế nào ngài cũng đem theo đồng đạo đến giải cứu cô.
Lúc này rối trí quá, Liễu Mi cũng không biết nên nói gì hơn, may là Sở Canh đã nghĩ đến việc báo tin cho cha già, nàng chỉ còn nói:
- Sở đại ca, cám ơn anh nhiều, chúc anh lên đường thuận lợi! Cũng mong rằng chúng ta sẽ chóng gặp lại nhau?
Hai người đều cưỡi lên lạc đà của mình, một lướt về hướng Đông, một nhắm về hướng Tây!
Mặc dù trời đã tối, cảnh sa mạc vắng tanh và buồn rờn rợn. Liễu Mi vẫn cố gắng khởi trình, tất cả chuyện nàng đều nóng lòng vì người yêu Thượng Quan Linh.
Không hề có một cảnh hãi hùng gì có thể ngăn cản bước tiến của nàng. Dần dà, giơ tay đã không thể nào nhận ra năm ngón, tối như bị bưng mắt, lúc này nàng cố muốn đi thêm cũng không được nữa, con thuyền miền sa mạc - lạc đà - nó đã nằm ỳ ngay mặt cát, không chịu đứng dậy, dù Liễu Mi đã nặng tay roi, nhưng vô hiệu, giữa bãi sa mạc vắng hoang, hung kiết chưa biết ra sao, trong lòng Liễu Mi đã cảm thấy bối rối...
Đang lúc Liễu Mi chuẩn bị nằm ngay tại trận để nghỉ, thình lình, con lạc đà lại giở chứng chướng, nó bỗng đứng ngay dậy và bước đi. Liễu Mi hoảng người chăm chú, cả một bầu không khí đen ngòm ấy, cách mặt đất lối bốn năm thước bề cao, bỗng xuất hiện một đám ánh bạch quang to bằng bàn tay, ánh sáng nhấp nháy và tung tăng chập chờn đi phía trước dọn đường cho con lạc đà đi theo sau.
Liễu Mi không thể nào ngăn bước tiến của lạc đà, trong lòng nàng thất kinh, mặc dù đã chăm chú hết sức, nhưng vẫn không nhận ra đám trắng nhấp nháy ấy là gì, ánh sáng ấy cứ nhảy múa chập chờn đi trước, nhưng xung quanh ánh sáng ấy lại không nhận ra có gì lạ lùng thêm.
Nếu bảo là ánh sáng chập chờn ấy do tay người múa may, không thể nào có thể được. Chắc là loài động vật quái dị ở miền sa mạc! Liễu Mi chỉ thấy qua ánh sáng lập lòe của những con đom đóm, nhưng nàng chưa bao giờ được thấy loại động vật nào lại có ánh đom đóm to gần bằng bàn tay như thế, Liễu Mi cố vững dạ, nàng nghĩ thầm, chắc không phải loại thú dữ thần kỳ gì đâu mình cũng chẳng nên hoảng sợ làm gì, nhưng nàng băn khoăn, không hiểu ánh sáng tung tăng này sẽ dẫn một thú và một người đi đâu vậy?
Nhưng chẳng mấy chốc, Liễu Mi đã giật bắn người! Vì ánh sáng này nhảy múa có qui tắc đều đặn, hiển nhiên không phải là sinh mạng của động vật, mà do người chế ngự hẳn hoi. Những lúc tốc độ của ánh sáng nhịp chậm lại, nàng hình như cảm thấy có những giải tơ lụa chập chờn xung quanh. Nàng thất kinh, chợt nhớ ngay đến kỳ bảo của võ lâm Lãnh điện tỉ thủ! Trời ơi! Liễu Mi lập tức cố ghìm ngay cương lạc đà lại, tụt nhanh xuống khỏi lạc đà chuẩn bị nghênh địch.
Lãnh điện tỉ thủ nay thình lình xuất hiện tại đây, chẳng cần đoán cũng dư biết là Tỉ Vương ma quân đã có mặt gần đâu đây, không thể nào ngờ được, hắn đang bị Nam Bút theo dõi mà lại có thể thình lình xuất hiện nơi đây Liễu Mi vừa kinh vừa mừng.
Mừng vì Tỉ Vương đã ở đây, như vậy là Nam Bút tiên sinh khỏi lo ngại gì, với võ công và cơ trí tài năng của ông ta, rát có thể chiến thắng nổi các bộ thuộc của Tỉ Vương, và không chừng còn có thể cứu được hai vị sư huynh Tây Đạo và Đông Tăng cũng nên.
Cái hoảng của nàng là: Tỉ Vương nay xuất hiện đây để nhử mình, lẽ đương nhiên là không có hảo ý gì. Liễu Mi tuy đã cố sức dũng cảm và ỷ hết vào tài trí khôn ngoan của mình để xoay sở đối phó, nhưng nay cô thân độc mã, trong lòng không khỏi khơm khớp rờn rợn!
Liễu Mi cố gắng miễn cưỡng tập trung hết tinh thần, nắm chắc ngay thời cơ thuận tiện để đối phó. Nàng chăm chú theo dõi ánh sáng lập lòe, nàng cũng cảm thấy hình như một con quái vật vậy... Thình lình, ánh sáng lạ lùng ấy tan biến mất. Xa xa, lối vài chục bước, bỗng có ánh đèn xuất hiện...
 
0
Hồi 069. Bệnh Tật Quái Dị
[/align]

Thì ra đó là một ngôi lều vải dựng trên mặt cát của sa mạc, lúc này thình lình xuất hiện, chẳng cần phải đoán già đoán non, biết ngay đó là một cạm bẫy của tên đại ma đầu. Liễu Mi suy nghĩ nhanh, rồi ngang nhiên nàng dắt theo con lạc đà của mình tiến thẳng về ngay lều vải. Vì nàng nghĩ rằng: chống cự hay hơn là lẩn trốn, dẫu Tỉ Vương cao giỏi đến đâu đi nữa cũng chỉ là một người mà thôi, trí tuệ con người tuy có khác biệt nhưng không đến nỗi nào quá chênh lệch. Vậy là Liễu Mi quyết tâm so sánh một chuyến với Tỉ Vương. Khi đến gần, ánh đèn trong lều sáng trưng, càng khiến cho Liễu Mi thất kinh là ngôi lều này hoa lệ và to lớn khác thường, bên ngoài mỹ quan bắt mắt, bên trong ẩn hiện như có người. Liễu Mi dừng bước, nàng cố ý gây tiếng động bằng chuỗi nhạc (những trái chuông nhẹ đeo trên cổ lạc đà) trên cổ con thuyền sa mạc, trong lều lập tức có người ra nghênh tiếp.
Kẻ bước ra là hai thiếu nữ ăn mặc theo lối Mông Cổ tay xách đèn bão, khi thấy Liễu Mi đến phủ phục quì ngay xuống, với giọng nói oanh vàng thô thẻ bằng Hán ngữ rằng:
- Bọn nô tì chờ đây đã lâu, nay kính mời phương giá Nương Nương vào trong nghỉ ngơi!
Tỉ Vương vốn là nhân vật thần kỳ quỉ dị tuyệt luân, giỏi về dị dung thuật, hai thiếu nữ Mông Cổ này đây, không chừng lại là trò ma quái của y cũng nên, nhưng Liễu Mi tinh mắt, lúc này nhận ngay ra hai thiếu nữ trước mắt mình đây quả là phái nữ trăm phần trăm, cổ không thấy cục yết hầu, da trắng mịn, cử chỉ khoan thai yểu điệu. Vậy là Tỉ Vương có giỏi đến đâu cũng không thể nào hóa trang đến mức như thế được.
Liễu Mi bỗng lên tiếng quát:
- Hãy đứng dậy! Trong kia còn có ai nữa không?
Hai thiếu nữ thất kinh, một nàng lật đật đáp ngay:
- Dạ thưa chỉ có hai nô tì chờ hầu Nương Nương tại đây ngoài ra không còn ai nữa...
Vừa nói hai thiếu nữ vừa cung kính khom mình lùi dần vào trong để dẫn nàng Liễu Mi vào. Bên trong trang hoàng sang trọng, mùng mền gấm vóc, vật dụng sẵn sàng, hầu như đầy đủ tiện nghi, trong cách bày xếp không những thứ tự mà lại còn đẹp, lúc này nàng ngửi thấy mùi thịt dê và rượu ngon đang bay toả khắp trong lều, thì ra giữa lều, một hỏa lò nho nhỏ đang nấu sẵn một tả pín lù (cù lao) mùi thơm nghi ngút. Liễu Mi cám thấy đói bụng và thèm ăn lạ, mắt thấy hai thiếu nữ đi cạnh lăng xăng lo hầu hạ. Liễu Mi bước lại nằm trên sàng êm ấm, nàng đang kinh ngạc với tất cả sự việc đang xảy ra trước mắt, khi hai thiếu nữ Mông Cổ lo bưng rượu thịt đến, nàng nghĩ thầm: có nên ăn hay không? Không dám mạo hiểm, nhưng nàng có ngay hai thiếu nữ làm vật thí nghiệm.
Giờ đây, Liễu Mi muốn cho vững bụng, xem coi hai thiếu nữ này có phải là thiếu nữ thực sự không? Lập tức hống hách với tư cách Nương Nương hạ lệnh cho hai nàng tuột luốt hết áo quần đang mặc trên người, còn phần mình nằm trên sàng lo thưởng thức... Hai thiếu nữ quả nhiên tuân lệnh ban, cởi hết áo này sang đến áo nọ, cuối cùng cả hai thân thể lõa lồ và trần truồng như nhộng mới đứng im để chờ lệnh.
Sau khi Liễu Mi nhận rõ hết bí mật của hai nàng, nàng cũng phải khen thầm trong bụng là đẹp, và hết nghi là trai giả gái. Lúc này chỉ thấy hai thiếu nữ nhan sắc này, tuy đứng trước mặt người đồng phái - Đàn bà - hai nàng cũng cảm thấy thẹn thuồng, nhưng không dám tỏ vẻ gì là oán hận, trái lại còn vô cùng cung kính đứng chờ lệnh.
Liễu Mi ngầm cảm thấy ăn năn, vội bảo ngay hai nàng mặc áo lại chỉnh tề, một nàng lo đứng hầu cạnh Liễu Mi, nàng kia lo cho lạc đà ăn uống. Liễu Mi đưa ngay rượu thịt cho thiếu nữ ăn trước, nàng chờ một lúc không thấy có gì lạ, mới yên trí ăn uống. Khi ngang dạ, Liễu Mi mới bắt đầu hàn huyên với cô Mông Cổ đứng hầu cạnh. Thiếu nữ kể nguyên do, nàng tên gọi Khiêm Ba Nương, người xứ Mông Cổ, vì đi làm ăn tại Bách Linh Miếu, nên biết nói tiếng Hán. Bách Linh Miếu vốn là một thành phố nhất nhì của Mạc Bắc, một nơi tập trung cả hai sắc dân Hán và Mông, những ngôi miếu tự Lạt ma được mọc như nấm, nhan nhản khắp nơi, ngôi miếu lớn nhất được thờ Thiên Đế, theo lệ đã truyền từ lâu đời, Thiên Đế là tượng trưng cho thần quyền tối cao vô thượng, để làm hài lòng thần thánh, người ta đã tạo ra và cử hành rất nhiều trò nghi lễ quái đản, như về chuyện phúng tế, xưa kia từng bắt người sống để phúng tế, kẻ được tuyển phải là trinh nữ mỹ miều, sau khi Lạt ma tuyển chọn và được sự đồng ý của gia trưởng thiếu nữ, miếu tự sẽ phát ra một số tiền khá lớn, một nửa làm tiền sính lễ, còn lại nữa nọ sẽ đem dùng hết vào cuộc hôn lễ giữa người và thần, những thiếu nữ bị tuyển trúng sẽ được xưng ngay Thiên Hậu Nương Nương, và được đưa ngay vào thần miếu ăn chay tắm sạch, một mặt trang phục đặc biệt đã dành cho Thiên Hậu Nương Nương để tiếp nhận cuộc chiêm ngưỡng của hàng vạn tín đồ.
Ngoài sự đau khổ của mỹ nữ phải đóng vai Thiên Hậu Nương Nương ra, có thể nói là không ai lại không vui mừng, điên cuồng, thậm chí là gia trưởng của Thiên Hậu Nương Nương cũng hăng vui như mọi người bản xứ, phần thì họ được một số tiến khá đáng kể, phần khác là họ cảm thấy vinh dự là có thể kết thân gia với thần linh, tuy trong lòng cũng thương tiếc con, nhưng thây kệ! Danh dự với lợi lộc trên tất cả. Sau khi chuẩn bị cho chu tất cả tháng trời, mới quyết định ngày cử hành đại lễ, lẽ dĩ nhiên các tín đồ bốn phương tấp nập kéo về để dự lễ, trước bức thần tượng của Thiên Đế vĩ đại ấy, có sẵn một bình đài bằng đá nhẵn, trên chất đầy củi khô, và trong tiếng niệm kinh của hàng ngàn tăng Lạt ma và những tiếng chiêng trống rung vang rền ấy. Thiên Hậu Nương Nương được người khiêng đặt lên trên bình đài bằng đá mà đã chất sẵn cỗi khô ấy, trước sự chứng kiến của hàng ngàn, hàng vạn tín đồ ấy, dưới mặt bình đài được châm lửa thần, và ngọn lửa thần đã liếm hết toàn xác sống của người trinh nữ, và cuộc lễ tế sống cho thần được kể như chấm hết.
Luật tế sống trinh nữ này, mãi đến ba chục năm trước đây mới được một vị cao tăng Lạt ma là Tang Kim đại sư ở Tích Bách Linh Miếu ra lệnh phế bỏ. Chẳng bao lâu Tang Kim đại sư quan bế (cũng như tu kín). Và gần đây tin tức trong giới thần tự chùa chiền truyền ra, nói là Tang Kim đại sư công hành viên mãn quyết định vào mùng mười Tết đây, sẽ cử hành lễ Nhục thể thành Phật, Phi thăng chứng đạo, đồng thời lại cũng truyền ngay ra pháp dụ, phải tìm ngay một trinh nữ mỹ miều thông minh, để làm lễ kết thân với thần. Một cuộc lễ về tục lệ tế sống đã phế bỏ ba chục năm trời, nay lại được cử hành, tin đã được truyền hầu khắp miền Mạc Bắc, phỏng đoán đến ngày mùng mười Tết tới đây, Bách Linh Miếu thế nào thiên hạ sẽ kéo đến đông như kiến cỏ. Các bậc nhân sĩ của cả hai sắc dân Hán và Mông, tuy không muốn xem cảnh xuất giá của Thiên Hậu Nương Nương, nhưng ai mà không muốn đến dự lễ Nhục thể thành Phật của Tang Kim đại sư phi thăng.
Nàng thiếu nữ Mông Cổ Khiêm Ba Nương nói tới đây ngừng luôn không nói nữa, thiếu nữ liếc trộm nhìn Liễu Mi, và như có một cảm tình thương tiếc cho hoàn cảnh của thiếu nữ tuyệt sắc người Hán này.
Nghe xong câu chuyện, Liễu Mi suy nghĩ và phân tích, rõ ràng lại trò múa rối của Tỉ Vương ma quân, hắn đã lợi dụng đến lực lượng của tôn giáo, để huyền hoặc lòng người, nào thần linh kết thân nào nhục thân đắc đạo, e toàn trò bịp đời đây cũng nên. Nếu báo vị Tang Kim đại sư là vị cao tăng đắc đạo, tiếc thương cho các cô con gái bị hy sinh vô lý, đã ra lệnh phế bỏ tệ đoan, cớ sao nay lại nuốt lời để giở lại trò xuất giá của Thiên Hậu Nương Nương, nhất định đã có mờ ám gì trong này.
Hoặc vị Tang Kim đại sư lúc này cũng đang bị sự kềm tỏa của Tỉ Vương, thậm chí vị lão tăng Lạt ma này đã chết rồi, và nay lại có một kẻ giả mạo đứng ra thay thế. Nhưng có điều khiến cho Liễu Mi nhức óc suy nghĩ nhất là dụng ý của Tỉ Vương ma quân thật khó hiểu vô cùng, tên ma đầu này muốn thao túng tất cả quần hào trên giang hồ, để so tài với Độc chỉ Thôi Bác của miền Trung Nguyên, nhưng tại sao y lại tìm đến một miền xa xăm như xứ Mạc Bắc này kìa? Đã thế lại còn lợi dụng đến tôn giáo, phải chăng y đã cố tình bày bố kế nghi trận của mình để che tai mắt thiên hạ, hay còn thâm ý gì sâu sắc hơn nữa?
Dù cho Liễu Mi có thông minh tuyệt vời đến đâu đi nữa, cũng không làm sao hiểu nổi được toàn bộ kế hoạch của Tỉ Vương được?! Nhưng có thể phỏng chừng, đây quả là một âm mưu rộng rãi của kẻ địch thủ, và nhất là Tỉ Vương không phải là kẻ điên cuồng gì, xử việc lại rất có thế ngăn nắp! Càng thấy những việc rối rắm bí mật này xảy ra, càng chứng tỏ rõ trí tuệ siêu việt của Tỉ Vương, chỉ nội việc chỉ huy ngấm ngầm các quần hào nghe lệnh cũng đủ thấy lợi hại rồi! Liễu Mi nghĩ vậy, tự biết trí lực của mình còn chưa sánh nổi với Tỉ Vương, nhưng vì lòng háo thắng, nàng lập ý tương kế tựu kế, để tự lấy thân mình ra làm mồi nhử.
Lúc này, tuy đôi mắt của Khiêm Ba Nương nhìn trộm Liễu Mi, nhưng đã không sao tránh khỏi tia nhìn sắc bén của cô thứ nữ Thanh Thông Bang này được, Liễu Mi ngầm nhủ lòng: Kể ra cô bé Mông Cổ này cũng giàu lòng từ bi thật, cũng biết tiếc thương cho Liễu Mi mình, nhưng nào nàng đâu có hay ta đang tương kế tựu kế với địch!
Liễu Mi lên tiếng:
- Vậy hai người xưng hô với ta là Nương Nương, vậy có phải là đã tuyển trúng ta để làm Thiên Hậu Nương Nương không?
Khiêm Ba Nương gật đầu, Liễu Mi sực nghi ngờ đến một điểm, và cũng chính là một điểm khiến nàng băn khoăn. Nàng cố ý tươi cười rằng:
- Nhưng rất tiếc các ngươi đã tìm nhầm người, các ngươi chả cần tìm đến trinh nữ sao? Nhưng ta đâu phải người còn trinh nữa đâu!
Quả nhiên Khiêm Ba Nương mắc mưu và tiết lộ bí mật, chỉ nghe cô bé Mông Cổ này ngửng đầu rằng:
- Dạ không! Nương Nương quả là gái trinh nữ. Bọn nô tì đều biết rõ hết.
- Làm sao các ngươi dám quả quyết như vậy? Bộ không sợ tội nói điêu sao?
- Dạ đối với vấn đề này, trong tự đã tiến hành công việc rất cẩn thận! Nếu chưa hề khám nghiệm kỹ lưỡng, dẫu cho có đẹp hơn chị Hằng đi nữa, khi đã mất đồng trinh, quyết không bao giờ đủ tư cách để đi làm Thiên Hậu Nương Nương!
Sau câu nói này, Liễu Mi chợt nhớ đến đêm mà đấu nhãn lực với Thượng Quan Linh giả tại nơi sa mạc, sau cơn hôn mê dài tỉnh lại, nàng phát giác giải rút (dây lưng) đã bị cởi, sau khi nói tránh với Nam Bút và Sở Canh thay quần áo, nàng đã tìm hiểu ngay vấn đề quan trọng của mình, nhưng may phước chưa hề gì. Bây giờ nghĩ ra, chắc tên Tỉ Vương chết bằm ấy đã tiến hành một cuộc khám nghiệm bí mật trên người mình. Cũng may là hắn chưa làm nhục mình, nếu không, làm gì mình còn mặt mũi sống trên trần gian! Liễu Mi lúc này lại nghĩ cách phải mau mau tiến hành công việc tìm kiếm Thượng Quan Linh trước rồi mọi việc sẽ lo sau. Nghĩ vậy nàng bèn khôn khéo cậy miệng của nô tì người Mông Cổ, hỏi xem là mệnh lệnh của ai đã đưa ra đây, để đón nàng như thế.
Lúc này cô thiếu nữ lo cho lạc đà ăn kia đã bước vào lều và cả hai đều cho Liễu Mi hay chuyện, số là hôm mùng một tết, tại Bách Linh Miếu đã phát ngay ra một thông cáo nói là đã tuyển được Thiên Hậu Nương Nương và người trúng tuyển này là cô gái Hán tộc, nay đang du hành nơi bãi sa mạc, và Thần Miếu tức khắc phái hẳn ra hai mươi đoàn người lo đi nghênh đón, và đều chuẩn bị sẵn lều và thức ăn uống, chia nhau đóng rải rác khắp chu vi của miền sa mạc là ba trăm dặm, để cung hầu cho Thiên Hậu Nương Nương làm những trạm nghỉ ngơi trong suốt cuộc hành trình.
Mà hai thiếu nữ Mông Cổ này, chính lại là một trong đoàn người có nhiệm vụ đi đón Thiên Hậu, nào ngờ mới tới đây không lâu thì gặp Nương Nương giáng lâm. Liễu Mi thầm nghĩ, đêm nay mới mùng ba Tết, mình rời khỏi Lãnh Ưng Trang vào ngày mùng một Tết, làm sao Bách Linh Miếu loan truyền tin nhanh như thế! Chắc trong Lãnh Ưng Trang, Tỉ Vương đã nhắm trước ngay mình từ đầu, cũng chẳng hiểu y đã dùng phương pháp gì mà truyền tin mau chóng để khiến cho người Bách Linh Miếu tự phái người ra nghênh đón khắp cuộc lộ trình. Dụng ý của Tỉ Vương ma quân muốn gì đây?
Không lẽ chính y lại muốn cho mình trở thành Thiên Hậu Nương Nương? Hay có quỉ kế âm mưu khác? Liễu Mi không làm sao tìm ra câu trả lời hợp lý. Nàng lại chuyển ngay sự lo lắng về phía Thượng Quan Linh, bèn gạn hỏi hai tì nữ, nhưng chúng không biết gì về Lãnh Ưng Trang, và chỉ biết là họ đang nhận sự chỉ huy của một quản sự Lạt ma của Bách Linh thần tự, và họ đã cho biết cách ăn mặc, diện mạo của Liễu Mi, và giao ngay nhiệm vụ nghênh đón Thiên Hậu Nương Nương tại vùng sa mạc, ngoài ra không còn hay biết gì hơn.
Liễu Mi thất vọng, nhưng biết hai thiếu nữ Mông Cổ này đều khai thật tình, nàng đành thở dài. Về hai cô gái Mông Cổ này rất ngạc nhiên về thái độ của Liễu Mi, Thiên Hậu Nương Nương sẽ bị thiêu sống vào mùng mười tới đây, thế mà cô gái người Hán này vẫn ung dung như không hề sợ hãi gì. Lạ thật!
Một đêm vô sự trôi qua.
Sáng hôm sau, khi ăn uống chuẩn bị xong xuôi, Liễu Mi đã quyết ý đi thám thính Lãnh Ưng Trang một chuyến để được tin đích xác của Thượng Quan Linh.
Lúc này, hai thiếu nữ bước lại quì bẩm:
- Kính thỉnh Nương Nương sửa soạn khởi trình về Bách Linh Miếu!
Liễu Mi mỉm cười và cự tuyệt, hai thiếu nữ càng quì lạy lục như tế sao, và xin được theo sát Nương Nương để hầu hạ, và đều cảm thấy như vậy mới vinh hạnh cho họ.
Nhưng Liễu Mi đoán hiểu ngay đến ý nghĩ thầm kín của họ, chẳng qua chúng muốn được một số phần thưởng xứng đáng với Bách Linh Tự hay trái lại, sẽ bị trừng phạt về tội tiếp đón sơ suất với Thiên Hậu. Lúc này thấy hai người quì lạy rối rít Liễu Mi vừa bực mình vừa tức cười, nàng mặc kệ, leo ngay lên lạc đà nhằm về hướng Lãnh Ưng Trang khởi trình. Hai thiếu nữ vội chạy lại níu kéo, Liễu Mi nổi giận, khẽ giơ chưởng phất ngã hai người nằm lăn dưới mặt cát!
Hai thiếu nữ Mông Cổ lúc này mới ngã ngửa ra là Nương Nương cũng là người biết võ nghệ như một bậc nữ hiệp, cả hai vội chạy vào trong lều, Liễu Mi đi được một chập, chợt nghĩ thế nào hai con bé ấy cũng tìm cách báo tin, để xem coi chúng làm cách nào. Liễu Mi quay nhìn lại quả nhiên thấy hai thiếu nữ, tay đang cầm một cẩm nang màu đen, hình như có vẻ rất cung kính bước đứng trước lều, lẩm bẩm như đang khấn vái. Thình lình trong bao cẩm nang đen, bay vọt ra một vật, Liễu Mi vội chăm chú, lấy làm quái lạ vô cùng, thì ra là một con rắn đen dài ước năm sáu tấc, bay lanh lẹ lạ lùng. Liễu Mi vốn là người hiểu biết khá nhiều, nàng hiểu ngay đây là một loại độc trùng được gọi là Phi xà (rắn bay) của miền trại ngoại, loại rắn này hành động cực nhanh, tính độc dữ, nàng tính dùng ám khí đánh chết ngay con Phi xà, nhưng trong lúc bất thình lình này, trong tay không có một ám khí gì để sử dụng, mắt đành nhìn theo rắn bay mất dạng, trong lòng nàng tự trách mình đã thất sách.
Nàng quay đầu đi ngay về hướng đã định của mình - Lãnh Ưng Trang. Vào gần giờ ngọ, trên bãi sa mạc chập chùng bỗng có âm thanh quái lạ truyền đến. Nghe kỹ, toàn là tiếng trống chiêng pháp khí của nhà chùa, âm thanh từ trong hoang mạc dần dần truyền tới, tiếng nghe lanh lảnh và khiến cho người ta phải hồi hộp rạo rực trong người. Liễu Mi cảm thấy âm thanh kinh người này mỗi lúc một tiến về phía mình, biết có chuyện... vội cho lạc đà lướt lên một gò cát cao để quan sát. Chỉ thấy một đoàn trăm người đang tiến tới, có ngựa và lạc đà, số đông đến gần trăm người, cả nam lẫn nữ, đàn ông mặc tăng y, tay cầm pháp khí trống, chiêng, kèn, đủ loại, các thiếu nữ đều ăn mặc theo lối nàng Khiêm Ba Nương. Càng kỳ lạ hơn nữa: trong đám người ngựa này đang lo đẩy kéo theo một chiếc mã xa hoa lệ, Liễu Mi nhìn kỹ, trên xe màn gấm được vén gọn gàng đẹp mắt, bên trong không có người Liễu Mi đã hiểu rõ ngay là gì, trong bụng thầm kêu khổ.
Liễu Mi tính thầm, đám người này tất nhiên là bộ hạ của Tỉ Vương ma quân, nhưng không biết trong số này có cao thủ nào không? Thế nào cũng không tránh khỏi một trận giao tranh nảy lửa. Soạt một tiếng, Liễu Mi rút kiếm đứng chờ đợi địch! Ánh kiếm nhoáng nhoáng của Liễu Mi, khiến cho đoàn người lập tức phát hiện, tiếng tù và báo động vang lên, có ba mươi kỵ mã lập tức rầm rập phóng ngay đến gò cát của Liễu Mi và mở ngay một cuộc bao vây xung quanh.
Một đại Lạt ma dẫn đầu ngồi trên yên ngựa, cung kính cúi mình bẩm với Liễu Mi rằng:
- Bần tăng Pháp Đô, giữ chức giám tự trong Bách Linh thần tự, nay phụng pháp dụ của chủ trì Tang Kim đại sư đặc biệt chuẩn bị pháp giá để nghênh đón Thiên Hậu Nương Nương về thần tự...
Liễu Mi bật cười rằng:
- Này Pháp Đô lạt ma! Thế ngươi có biết bản cô nương đây là ai không?
Pháp Đô cung kính trả lời:
- Mong Nương Nương tha tội cho bần tăng quả không biết gì về lai lịch của Nương Nương!...
Liễu Mi dõng dạc rằng:
- Vậy lũ ngươi hãy ngoáy tai nghe cho rõ đây: bản cô nương dây là ái nữ của Thanh Thông Bang miền Trung Nguyên danh đã từng vang động khắp trên giang hồ, giết quân gian ác không biết bao nhiêu mà kể, e lũ ngươi đều bị thong manh đui mù hết sao mà đi tìm Thiên Hậu Nương Nương lại cả gan dám tìm đến bản cô nương ta, chuyện nực cười thật... Nay bản cô nương cũng tạm mỡ một cửa lưới, niệm vì tội lũ ngươi vô tri, vậy có khôn hồn thì cút nhanh hết, chớ dại mà chọc tức bản cô nương, nếu không những đầu của lũ ngươi sẽ rụng hết như sung chín nhũn bây giờ!...
Liễu Mi tưởng đâu với danh nghĩa lừng lẫy của Thanh Thông Bang, miền quan ngoại này thế nào chả biết tiếng tăm, đối với đám tăng Lạt ma này, chắc gì mà chẳng kiến hiệu.
Nào hay trái hẳn ý nghĩ của Liễu Mi, đám phiên tăng Lạt ma nghe xong cũng chẳng coi vào đâu, chỉ cười nhạt và nói:
- Nương Nương đã là người xuất thân nơi danh môn như thế, quá thật đại hạnh cho ngã Phật, đám bần tăng đây cũng được danh dự lây theo. Nay chuyên thành lại đón rước Nương Nương, vậy xin ngài ban ngay pháp giá khởi trình về thần tự.
Lúc này, xe giá đã đến ngừng ngay dưới dốc gò. Pháp Đô lạt ma đưa tay ngoắc dấu, bốn tên tì nữ Mông Cổ hấp tấp khuân ngay ra một tấm thảm đỏ chói, từ xa giá trải tuốt lên đến trên gò, bốn thiếu nữ trải xong bèn cung kính bẩm rằng:
- Kính thỉnh Nương Nương pháp giá đăng xa!
Nàng biết không thể nào tránh khỏi một cuộc xô xát đẩy ngay con lạc đà của mình xuống gò và lớn tiếng quát:
- Pháp Đô! Bản cô nương thật không thích làm Thiên Hậu Nương Nương, vậy ngươi tính sao?
Pháp Đô chắp tay rằng:
- Phàm sự đều do thiên định, huống hồ đây là việc Thần tình kết thân, mà thiên hạ ai chẳng cầu mong một danh dự này, nay danh phận đã định, kính mong Nương Nương chớ nên cố chấp...
Liễu Mi thản nhiên lạnh lùng rằng:
- Ta không tin kẻ xuất gia lại dùng thủ đoạn cưỡng ép người ta như thế!
Dứt lời tính dẫn lạc đà đi luôn.
Pháp Đô lạt ma ngước ngay lông mày xếch của mình, chắp tay chưởng lại nói:
- Bần tăng phụng mạng hành sự, dù thế nào cũng phải thỉnh mời Nương Nương pháp giá, nếu ngài đã cố chấp như thế, xin đừng trách là bần tăng giở trò hỗn láo!
Nói dứt tiếng, ngoắc tay ra dấu, toàn đám Lạt ma, vội vàng từ trong áo cà sa giở đao ra, thúc ngựa vây sát vào ngăn trở ngay lối đi. Liễu Mi cả giận, chợt nàng hét vang lên một tiếng, trên lưng lạc đà nàng phi bổng ngay thân lên, cướp đánh ngay tên Lạt ma đứng trước trong bọn, vung ngay ngọn chưởng, kình phong thình lình phát ra, vị phiên tăng nọ lập tức ngã nhào ngay xuống người. Một cảnh ngựa hí người la bắt đầu náo động tưng bừng, Liễu Mi nhanh tay đoạt ngay ngựa, vừa tính xông khỏi vòng vây. Bỗng nghe một tiếng quát phía trước, thân hình hộ pháp của Pháp Đô đã lù lù ngay trước mặt, và giơ tay ra để bắt. Liễu Mi chỉ thấy y hai tay không xấn vào một trận một cách hùng dũng, chứng tỏ vị Lạt ma này có ngọn nội ngoại công cực mạnh đây. Liễu Mi chột dạ, vội phi thân nhảy tung ngay xuống đất!
Pháp Đô quát lớn:
- Xuống ngựa hết!
Đám Lạt ma đua nhau tụt xuống ngựa, giơ ngay giới đao chặn hết các đường!
Liễu Mi cả điên tiết, nàng tính mỡ cuộc đại tàn sát, vung ngay một đường kiếm quát lớn:
- Pháp Đô! Có dám tỉ thí với bản cô nương ta không? Nếu ta thắng ngươi thì liệu tính sao với ta!?
Pháp Đô vẫn cung kính rằng:
- Nương Nương dẫu có giết chết bần tăng đi nữa, các bộ hạ của bần tăng đây vẫn phải tiếp tục nhiệm vụ cung thỉnh Nương Nương pháp giá hồi thần tự...
Liễu Mi thất vọng trong lòng, hét rằng:
- Vậy hãy rút ngay binh khí ra mau!
Pháp Đô ngửng đầu cung kính:
- Dạ bần tăng không dám gây thương tích đến ngọc thể của Nương Nương, bần tăng xin dùng tay không để hầu với Nương Nương vài đường vậy!
Liễu Mi bung vọt ngay thân sang, kiếm giơ thẳng tắp nhắm ngay trước ngực Pháp Đô dấn tới, nhưng vị Lạt ma này không hề nhúc nhích, thứ nữ Thanh Thông Bang vội biến ngay thế đánh thành Băng xuyên đảo tả (núi tuyết đổ ngược), mũi kiếm khiêu nhích hẳn lên. Mắt thấy tính mạng của vị phiên tăng khó lòng mà giữ nổi, ngay trong thời gian tóe lửa ấy, ngọn chướng của Pháp Đô đã lồng lên như một làn điện! Ào một tiếng, kình phong bén nhạy tuyệt luân, ngọn kiếm đang thắng thế của Liễu Mi, thình lình bị ngọn kình phong đánh bật ngược ra! Liễu Mi không ngờ miền quan ngoại lại có tay cao thủ cừ khôi này, nàng cố thận trọng lo đối phó, vội vàng giở ngay đến kiếm pháp linh động tuyệt diệu để đánh thật gấp.
Nhoáng mắt bảy tám hiệp đã trôi qua, nhưng tên Pháp Đô vững vàng như núi Thái Sơn, chỉ thủ thế mà không hể trả đòn, mặc cho nàng Liễu Mi đánh tới tấp, đôi mắt Pháp Đô theo dõi, chờ cho nhận được chận binh khí của nàng. Sau mười hiệp, Liễu Mi lo ngay một kế khác, công lực của phiên tăng này quả nhiên đã ăn đứt mình, nay người ta chưa ra tay, nếu không mình ắt khó tránh khỏi thua trận. Thứ nữ Thanh Thông Bang vừa đánh vừa lo tìm cách để gỡ kế.
Đang lúc này Liễu Mi lo suy nghĩ và thế đánh bắt đầu chậm dần ấy, Pháp Đô bỗng lên tiếng:
- Thưa Nương Nương, thời gian cũng không dư mấy, bần tăng chỉ có thể hầu chừng ba chục hiệp với Nương Nương là cùng, sau ba mươi hiệp, bần tăng phải mạn phép ép Nương Nương pháp giá hồi thần tự...
Liễu Mi tính thầm ngay trong bụng và cười rằng:
- Sao nhà ngươi có vẻ hách dịch thế, vậy bản cô nương thử xem sao khi mãn ba mươi hiệp, ngươi dùng cách gì để bắt ta cho biết?
Pháp Đô không nói thêm gì, ánh mắt sáng hẳn lên, miệng lẩm bẩm lo đếm theo hiệp đánh, khi vừa dứt hiệp thứ ba mươi, thình lình quát lớn tiếng:
- Xin Nương Nương tha tội mạo phạm cho bẩn tăng.
Tiếng chưa dứt, toàn thân đã vèo nhanh đến phía sau, vận chỉ điểm ngay vào sau lưng Liễu Mi. Pháp Đô ra tay nhanh như gió, Liễu Mi biết không làm sao tránh khỏi, và biết ngay cả nơi mà đối thủ sẽ điểm ấy là Tiếu yêu huyệt (huyệt cười nơi eo), nàng nghĩ thầm: vị phiên tăng này kể ra cũng biết lễ phép nam nữ thọ thọ bất thân cơ đấy, chuyển ra sau lưng mình để điểm huyệt, khi chỉ phong ép tới, lại e ngại đường đột đến mỹ nhân, cấp tốc thu ngay thế điểm thành thế vỗ nhẹ vào Tiếu yêu huyệt. Nhưng oai lực của cái vỗ này đâu phải tầm thường gì, những hạng đệ nhất trong làng cao thủ, khi ra tay đâu có đời nào bất tỉnh nhân sự ngay... đã là cao thủ, khi ra tay đâu có đời nào bị sai lệch mảy may nào, nhưng không ai có học đến chữ ngờ trên đời, tay phải của Pháp Đô vỗ vào huyệt, tay trái đồng thời giang ngay ra để phòng hờ đỡ ngay thân hình bất tỉnh của vị Thiên Hậu Nương Nương!
Trong thời gian mau như tóe lửa ấy, huyệt đạo của Liễu Mi đã bị điểm trúng. Quái lạ! Nàng không bị ngã chỉ thấy nàng cười gằn, thuận tay vung kiếm bửa ngay ra! Bục một tiếng, Pháp Đô cũng không thể nào ngờ, bả vai bị trúng kiếm, máu phun xối xả. Quí vị biết tại sao nàng Liễu Mi lại thoát được ngọn điểm huyệt một cách thần tình như thế, thì ra trong người Liễu Mi đã mặc chiếc áo giáp đại nội kỳ bảo Chân châu lũ kim sam, nhờ báu vật ấy mà giữ thân và cũng lừa được vị phiên tăng Pháp Đô, trở ngay thế bại thành thắng. Báu vật này, trước kia trên Lãnh Hương Điện ở Mặc Phụ Sơn, từng được thế tử Chu Hoàng (tức Hầu Hạo) dùng làm áo ngự địch, và nổi bật trong trận huyết chiến kịch liệt, Liễu Mi thấy thích quá, mân mê chiếc áo mãi, hai huynh muội Chu Hoàng bèn thỉnh mạng với Độc chỉ Thôi Bác đem tặng ngay chiếc áo giáp này cho Liễu Mi, và cũng kể như một lễ vật ăn hỏi cho chàng Thượng Quan Linh.
Pháp Đô lạt ma nào hay chuyện này, nay bị thương nặng trên bả vai, đau đớn khiến y la hét ỏm tỏi. Hai mắt trợn tròn, không hề vì vết thương nặng mà lùi bước, trái lại ung dung bước bừa vào trận, Liễu Mi chưa từng thấy ai lại hung dữ đến thế, thật trông Pháp Đô lúc này không khác gì một hung thần ác sát giáng thế, nàng khớp người thụt lùi dần từng bước về sau. Thình lình phía sau, các thủ hạ của Pháp Đô, mạnh tay quăng ngay ra một vật, trúng ngay vào bắp vế của Liễu Mi, nàng ngã khụy ngay xuống, Pháp Đô nhanh như cắt đưa hai tay ra chụp ngay thân Liễu Mi, thuận thế hất tung ngay nàng đi... mọi người chỉ thấy cỗ liễn xa khẽ rùng mình, thì ra toàn thân nàng Liễu Mi đã bị quăng ngay vào liễn xa êm ả! Pháp Đô lúc này một tay bụm chặt vết thương, miệng quát lệnh khởi trình.
Trên liễn xa Liễu Mi rối quýnh lên, đang tính vùng vẫy bỗng thấy phía trước mặt nhoáng lên một ánh màu vàng và bay tuốt ngay vào lòng Pháp Đô lạt ma, Lạt ma tinh mắt, nhận ngay ra đó là con phi xà màu vàng chói, chỉ thấy tên Pháp Đô có vẻ cung kính chìa ngay hai bàn tay hộ pháp ra, con rắn vàng ấy lướt ngay xuống, nằm khoanh trên bàn tay của Pháp Đô và ngóc đầu lên le lưỡi, trông động tác rắn kỳ dị vô cùng.
Từ dưới bụng rắn, Pháp Đô gỡ ngay ra một quyển thư nhỏ và mở ra xem, Liễu Mi đoán, con rắn màu vàng này có thể là tin sứ (sứ thần đưa thư) đang truyền lệnh tuyên bố của Tỉ Vương Ma Cung. Quả nhiên đúng với ý phỏng đoán của Liễu Mi, sau khi Pháp Đô xem xong, lấy ra một bao cẩm nang, bỏ ngay con rắn màu vàng vào trong, và bước ngay lại liễn xa, chắp tay rằng:
- Dạ bẩm vừa nhận được lệnh, trong thần tự đã biết tin Nương Nương đi Lãnh Ưng Trang để thăm một người tên gọi Thượng Quan Linh...
Liễu Mi giật thót người, vội hỏi:
- Thế người này hiện còn sống chứ?
Pháp Đô gật đầu rằng:
- Bẩm còn sống, nhưng công lực đã mất, nay bị giam dưới mật đạo của Lãnh Ưng trang viện! Nay chủ trì của Thần tự là Tang Kim đại lạt ma, vừa đây cho phi xà truyền pháp dụ đến, vì muốn tôn trọng Nương Nương, nên đã bằng lòng để Nương Nương đến Lãnh Ưng Trang để gặp mặt lần cuối cùng với Thượng Quan Linh, nhưng sau khi gặp nhau, lập tức phải quay nhanh về Bách Linh Miếu thần tự, vì chớp mắt, sắp đến ngày đại lễ của mùng mười Tết...
Liễu Mi chỉ nghe người chồng chưa cưới của mình chưa chết, có thể nói là nàng mừng đến nỗi suýt ngất người đi là khác, nàng ngồi ngay dậy và lợi dụng ngay tư cách Thiên Hậu Nương Nương hạ lệnh mau đi ngay. Công lực của Pháp Đô quả là hạng tuyệt cao, bả vai bị thương như thế, mà vẫn coi thường, lên ngay ngựa chỉ huy đoàn người tiến thẳng về hướng Lãnh Ưng Trang. Khi trời vào buổi hoàng hôn, đoàn người đã đến ngay Lãnh Ưng Trang, cửa trang lúc này mở lớn, đám nữ tì như những bóng u linh ấy đang xếp hàng nghênh đón. Pháp Đô lạt ma có vẻ thông thạo với trang viện này lắm, chỉ thấy y dẫn Liễu Mi đi vào một cửa hang và nói:
- Kính thỉnh Nương Nương vào trong để tương hội với người bạn Thượng Quan Linh, bần tăng sẽ đứng chờ đợi bên ngoài này, và xin Nương Nương hiểu cho thời gian tối đa là hai tàn nhang, vì sau cuộc thăm hỏi của nương nương chúng tôi còn phải khởi trình ngay suốt đêm nay để kịp về Bách Linh Miếu thần tự.
Liễu Mi cầm ngay đến lòng, tiến ngay vào huyệt đạo ẩm thấp, nàng không biết Thượng Quan Linh ở đâu? Trống ngực đánh thình thịch. Nàng đi được một chặp, thình lình thấy dưới mặt đất, có một đống lù lù trăng trắng, Liễu Mi vội bước lại xem, thì ra là một cỗ tử thi của người tàn phế đã bị mất hai chân, không biết tại sao lại chết tại đây. Không thấy thương tích, cũng chẳng hiểu chết về lý do gì, sau khi thấy cỗ tử thi quái dị này, Liễu Mi càng hoảng hồn, không biết người yêu của mình có bị chung cảnh ngộ như thế này không. Nàng rụt rè tiến thắng đi từng bước, nhưng không nhìn thấy ai Liễu Mi cất tiếng gọi:
- Anh Linh ơi ! . . . Anh. . . Linh. . . Em Liễu Mi của anh đây...
Trong hang vắng lạnh và ẩm thấp này, chỉ nghe tiếng hồi âm... dội lại... Bên ngoài mới buổi hoàng hôn, trong này đã tối hù như đêm khuya, khiến người không ớn mà lạnh. Liễu Mi đã đâm lo ngại cho số phận của người yêu, một nơi giam cực khổ như thế, quả thật không làm sao hiểu nổi, nhận xét kỹ về tử thi: từ thân hình tàn phế đã lâu, đến diện mạo, tuổi tác, quyết không thể nào là Thượng Quan Linh được! Nhưng có điều là khuôn mặt của tử thi đây, hao hao giống vị Lãnh Ưng, không những thế mà còn giống luôn hẳn với vị Bắc Ưng Lãnh Lạc mà đã từng ân cần tiếp đãi mọi người! Thôi! Đúng rồi người này mới chính là vị Bắc Ưng Lãnh Lạc thiệt đây! Thì ra Tỉ Vương ma quân đã giam nhốt người ta tại đây với tư cách tàn nhẫn: phế hẳn thân người cho què, công lực mất hết, lẽ đương nhiên làm sao thoát khỏi một nhà lao kiên cố bí mật này, dù cho là kẻ cao thủ tột đỉnh đến đâu nữa, cũng đành chịu ngồi chờ chết. Nhưng có điều quái lạ, từ tất cả các chi tiết mà xét đoán thì vị chủ nhân của Lãnh Ưng Trang rõ ràng đã sống tại động hang này lâu ngày, mà có lẽ ông ta mới chết cách đây không bao lâu, tuy là một nơi ẩm thấp nhưng chiếc áo trắng vẫn còn vẻ sạch tươi.
Trên người tử thi, không còn thêm gì để lại, Liễu Mi không được thêm manh mối gì, nàng không hiểu người yêu mình còn sống hay đã chết? Hiện ở đâu? Nếu chết, lẽ đương nhiên phải có xác để lại đây chứ? Vậy có thể chứng tỏ chàng chưa chết, và chàng đã trốn thoát, khi mà chỉ có độc mỗi cửa động huyệt bằng sắt dày và nặng đã đóng kín, vì trước khi vào Liễu Mi đã để ý và nghe được các âm thanh vô cùng nặng nề của tấm cửa huyệt đạo mà dù cho Thượng Quan Linh có khôi phục được thần lực của mình đi nữa cũng chưa chắc gì đẩy nổi tấm cửa vĩ đại ấy! Vậy chàng đã đi đâu? Nếu quả Thượng Quan Linh đã vào đây! Vậy kể như chàng đã mất tích một cách thần bí lạ lùng!
Chán nản và hoang mang đã đến với nàng, Liễu Mi nghĩ ngợi đến câu Hồng nhan mệnh bạc nàng cho rằng quả là một định lý ngàn năm bất di bất dịch! Tự cổ chí kim vẫn thế. Nàng so sánh cái chết của Thiên Hậu Nương Nương thì chẳng thà chết quách đây cho khỏe xác.
Nàng quyết định va đầu vào tuốt cuối đường hang huyệt. Liễu Mi đã lẩm nhẩm khấn vái:
- Mẹ ơi, con sẽ gần mẹ mãi mãi từ đây. Anh Linh ơi! Em quả là một cô gái bất tường đối với anh chăng... Cha ơi! Con xin cha tha tội cho đứa con bất hiếu mà đã làm khổ lòng cha nhiều lần... - Nước mắt của Liễu Mi đầm đìa, nàng cắn chặt răng, nhắm ngay phía tận cùng của hang huyệt đạo lao đầu đi...
Mắt thấy cảnh máu loang thây đổ sắp diễn ra trong hang huyệt ẩm thấp này... nhưng có câu: Tự cổ gian nan duy nhất tử (xưa nay gian khổ chỉ có chết là cùng) cổ ngữ này quả không sai. Phàm là người ai cũng sợ chết đều luyến tiếc mạng sống của mình cả, nhất là trong trường hợp tự tử, trong tình trạng gay cấn nhất, thình lình hãm ngay ý chí lại, chuyện đó là thường! Và chính nàng Liễu Mi lúc này cũng vậy, trong lúc toàn thân nàng lao đi như một chiếc pháo thăng thiên bị ngược hướng vậy. Thình lình nàng cảm nhanh thấy sợ hãi, càng nghĩ ngay đến cảnh rùng rợn đấu bể sọ vỡ máu thịt be bét. Trong thời gian nhanh như chớp ấy, bản năng cầu sống của Liễu Mi đột nhiên nổi dậy. Liễu Mi tính thu ngay thế lao đầu của mình lại, nhưng nàng đã dùng tất cả công lực của mình vọt ra như một mũi tên vừa được bắn mạnh đi!
Ngay lúc đó, chớp nhoáng nhanh như cắt, Liễu Mi chỉ còn ngầm thốt ra tiếng: Thế là hết! mắt nàng nhắm chặt.
Ầm... một tiếng vang động mạnh, kỳ tích chợt xuất hiện. Cả một bức vách bị đổ về sức lao của Liễu Mi, vì công lực của Liễu Mi đã dồn ra hết, toàn thân nàng lúc này vẫn thấy bị bung tuốt ra ngoài với đà lao! Phi ra ngoài bức vách, ánh sáng hẳn, lúc này đang vào cảnh hoàng hôn, khí trời lành lạnh, gió thoang thoảng...
Liễu Mi cảm thấy: ngoài trừ đôi bàn tay bị đau vì đà đưa ra đỡ vách, trên mình không thấy đâu bị thương, nàng có cám giác như mình vừa thoát một cơn ác mộng. ý chí tự tử của nàng lúc này đã nhờ cảnh trạng thay đổi quá ly kỳ mà bị tan hết, nàng lúc này toát đầy mồ hôi lạnh và trí não tỉnh hẳn, nhận ngay đây là một manh mối, không thể nào bỏ qua!
Nàng đứng ngay dậy kiểm điểm, hóa ra bức vách đổ ra ấy, lại là một tảng đá vuông lối hơn trượng, lúc này trong hang huyệt lộ hẳn một lỗ hổng tối đen, trông không khác nào như một cái miệng khổng lồ của con quái vật, càng lạ hơn nữa là xung quanh chu vi tảng đá ấy, không hề bị nứt mảy may nào, hình như đây chính là một ngưỡng cửa bí mật của hang huyệt, và tảng đá ấy đã khép kín lên vách của hang bí mật này, trong sức mạnh vô tình của mình không ngờ đã làm đổ ngay xuống và tạo nên một cửa ăn thông ra. Liễu Mi tiếp tục nhận xét, nàng lại nhìn thấy đôi dấu tay của mình in ngay nơi tảng đá tuy trông rõ ràng, nhưng có thể đoán ngay, công lực của mình quyết không thể nào đánh bật được một tảng đá như thế. Hoặc tảng đá này, vốn là một cửa ra vào bí mật, lại nữa, có thể là trước Liễu Mi, đã có người nào bị giam trong này, đã dùng đến chường lực phá vách để đào tẩu, nhưng vì tính cẩn thận có ẩn ý gì bí mật, người ta lại đậy nguyên lại như cũ, để không ai có thể thấy được một dấu vết gì khả nghi.
Nếu giả thuyết này đứng vững, dưới vòm trời này, loại hẳn chàng Thượng Quan Linh ra, còn ai có nổi một thần lực dũng mãnh như thế? Trống ngực của Liễu Mi lúc này đập mạnh thình thịch, nàng nắm ngay manh mối này và tiếp tục khám phá thêm, xem phải chăng là người yêu Thượng Quan Linh của mình đã thoát khỏi đây. Nàng bắt đầu tìm chi tiết trên vách táng đá, một hồi trôi qua... Thứ nữ Thanh Thông Bang bỗng reo lên một tiếng mừng! Thì ra nàng đã tìm được dấu vết của một đôi bàn tay đàn ông, hai bàn tay đều xòe ngón cả, dấu bàn tay ấy đã lõm hẳn vào tảng đá, chứng tỏ đôi bàn tay của người này, phải có một thần công cái thế, và sau khi đẩy được tấm vách này, mới để lại một dấu tay khá sâu như thế.
Xưa kia, trong ngôi huyệt mộ của họ Liễu tại Thanh Thông Cốc, Thượng Quan Linh đã phá quan tài và huyệt mộ bằng sức thần công có một không hai này, và cũng từng để lại dấu vết bàn tay như đây, Liễu Mi còn nhớ rõ, và cũng biết sức thần công này chính nhờ chàng may mắn ăn được Tuyết bi tiên hoa mà có. Trên đời này, quả không còn ai có thần lực sánh hơn chàng Thượng Quan Linh của mình được.
Liễu Mi càng suy nghĩ càng mừng phấn khởi, chỉ nghe nàng lẩm nhẩm nói:
- Anh Linh khùng của em ơi! Anh quả là một người có phước đức lớn lao. Dưới bàn tay của Tỉ Vương ma quân, anh vẫn ngang nhiên thoát khỏi, em nghi chắc vị Bắc Ưng Lãnh Lạc tiền bối thiệt kia đã giúp anh và khiến cho công lực của anh khôi phục lại nên đã phá được vách huyệt hang này để đào tẩu, nhưng oan gia quí của em ơi! Nay anh lại lạc đi phương hướng nào vậy? Anh có biết chăng Nam Bút tiên sinh đang cố thân đuổi theo kẻ địch, Sỡ Canh đã cấp tốc về Trung Nguyên để cầu cứu... còn em... em đã lặn lội đến đây để tìm anh...
Liễu Mi sau khi tự lảm nhảm một hồi, nàng đoán ngay Thượng Quan Linh thế nào cũng khởi sự đi Bách Linh Miếu. Thôi được! Nhân ngay đám phiên tăng Pháp Đô còn đứng chờ đợi nơi cửa huyệt, nay dại gì mình không tách ngay hàng ngũ của chúng để đi truy tầm Thượng Quan Linh. Sau khi quyết ý, tà áo trắng nàng phất phới vừa chực tung mình đi. Chợt nàng lại nghĩ: Tại sao Thượng Quan Linh trước khi đi lại bít nguyên vẹn lối ngõ này lại? Rất có thể là vì thi hài của Bắc Ưng Lãnh Lạc chăng? Nhưng mặc dù sao, hành động này của chàng nhất định phải có duyên cớ gì đây. Nay mình muốn đi, hay hơn hết là nên sắp xếp nguyên vẹn theo y như cũ, nhưng với tảng đá khổng lồ ấy, công lực của Liễu Mi quả nhiên không làm sao giở nổi nó lên để trám lại cửa vách.
Thời gian của Pháp Đô giao hẹn đã mãn, nếu không đi ngay giờ đây, ắt không còn dịp để thảo luận, Liễu Mi không do dự gì nữa nàng tung mình phi thân.
Một tiếng lạnh lùng vang bật lên trong huyệt hang ẩm thấp tối om:
- Hãy khoan!
Liễu Mi giật nảy mình, thì ra xung quanh nàng đã bị đám phiên tăng bao vây, tên Pháp Đô lạt ma đã hiện ngay trước mặt, và cung thân kính cẩn bẩm rằng:
- Giờ khắc đã đến, kính thỉnh nương nương pháp giá khởi trình!
Liễu Mi nay buồn thiu, khẽ thở dài nói:
- Thôi đành! Vậy pháp Đô ngươi hãy cho người đậy lại tấm cửa đá này vậy, và tất cả mọi việc trong huyệt hang này, đều phải giữ nguyên vẹn theo tình trạng cũ! Được như vậy ta sẽ theo các ngươi lên đường ngay!
Đành theo sự chi phối của định mệnh vậy, tức người đâu thể miễn cưỡng cãi với tạo hóa...
Màn đêm đổ xuống bao trùm mọi cảnh vật, thứ nữ Thanh Thông Bang ngậm lệ bước lên liễn xa tiếp tục khởi trình...
Bút giả xin quay ngược về thời gian hai hôm trước để thuật tiếp cánh huyệt đạo bí mật ẩm thấp âm u của Lãnh Ưng Trang.
Thượng Quan Linh chịu đựng các sự khổ đau đang dày vò, bước chân của tử thần đã bước đến gần... tất cả những kết quả của dự đoán đã đến, Bắc Ưng Lãnh Lạc đã xỉa mạnh ngay chỉ vào ngay ổ tim chàng... Ngay khi đó, linh hồn của Thượng Quan Linh phảng phất như đang vào một cảnh giới khác. Trong giờ phút nhanh như chớp ấy Thượng Quan Linh càng nhận được rõ ràng hai sự kiện, một là bàn tay của Bắc Ưng Lãnh Lạc đỡ sau lưng mình, đang khi lạnh buốt, thình lình không hiểu sao lại đổi sang ấm áp và nóng.
Một việc khác nữa, chàng cảm thấy không đau đớn gì lắm, hóa ra cái chết lại dễ dàng và dễ chịu như thế, nếu biết vậy mình tội gì phải hồi hộp hoảng sợ. Chớp mắt, mọi tư tưởng của Thượng Quan Linh đã đình trệ hắn, tiếp theo là một ngừng thở luôn... Bên cạnh chàng Thượng Quan Linh lúc bấy giờ, một người áo trắng tàn phế - Bắc Ưng Lãnh Lạc - hai tay lúc này không ngừng hoạt động, ôm ngay Thượng Quan Linh vào lòng, song chưởng chia ngay ra một trước ngực, một sau lưng, hai bàn tay ấy áp sát vào và từ từ vận hành, thần sắc khẩn trương tột độ, dần dà trên đầu của Bắc Ưng Lãnh Lạc bốc hơi nóng, lúc này vị đại hiệp Bắc Ưng đang dồn hết công lực bình sinh của mình để tụ tập hết vào song chưởng, cố gắng thi thố trên mình Thượng Quan Linh.
Không bao lâu, tim chàng thiếu niên đập mạnh dữ, sự hô hấp từ yếu trở nên mạnh, rồi từ mạnh trở về mức bình thường. Đồng thời, sắc mặt từ trắng bệch đổi dần sang mức thường. Thình lình, ọc một tiếng vang lên, vị thiếu niên đã mửa ra một đống nước xanh lè, sau khi ói mửa xong, thiếu niên lại hôn mê bất tỉnh. Bắc Ưng Lãnh Lạc thở một tiếng khoan thai, chuyến thi thố này, Bắc Ưng đã đồn hết công lực bình sinh của đời mình, nay may mắn đã thành công; vị cao thủ giang hồ đã bị tàn phế này cảm thấy công lực của mình bị tiêu hao quá nhiều, trong lúc trị bệnh khẩn trương nên không cảm thấy gì, nhưng sau khi trở về trạng thái yên tịnh, vị đại hiệp tàn phế đã cảm thấy nội tạng ngũ phủ của mình rạo rực khó chịu và đau nhói vô cùng.
Chỉ nghe Bắc Ưng Lãnh Lạc lảm nhảm rằng:
- Giỏi lắm ta cũng chỉ còn sống được ba tàn nhang nữa là cùng? Nhưng ước nguyện sao trời xanh thương người hiền lương, khiến cho công việc của ta thành công, phù trợ cho thiếu hiệp này mau khôi phục bệnh, và hoàn thành tâm nguyện ao ước của mình, dẫu cho mình có chết cũng được nhắm mắt...
Bắc Ưng Lãnh Lạc cố gắng chịu đau khổ bình tĩnh chăm chú theo dõi vị thiếu hiệp Thượng Quan Linh. Một tàn nhang đã trôi qua, vẫn chưa thấy Thượng Quan Linh tỉnh, Bắc Ưng Lãnh Lạc bất giác thở dài, cúi đầu nói lảm nhảm, nhưng kỳ này có vẻ bi ai:
- Hắn vẫn chưa tỉnh, mình tin chắc thế nào hắn cũng tỉnh. Với tất cả những căn cơ có sẵn và trời phú gặp những may mắn bất phàm ấy, cộng thêm sự hy sinh công lực cả một đời của mình để thi thố cứu mạng hắn, chắc không đến nỗi lại sai lầm, và thế nào hắn cũng bình phục lại. Nhưng chỉ hiềm! Chỉ hiềm nếu sau hai tàn nhang nữa mà y chưa tỉnh lại, hắn sẽ không còn dịp nào để trò chuyện với ta nữa rồi, khi đó ta đã chết... đừng... đừng... đừng để ta phải thất vọng! Thượng Quan Linh ơi! Hãy gắng tỉnh dậy đi nào. . .
Quả thần u minh đã không phụ lời ước của Bắc Ưng Lãnh Lạc, Thượng Quan Linh quả nhiên từ từ tỉnh lại.
Mắt chàng từ từ mở, cái đầu tiên đập vào mắt của Thượng Quan Linh, là một khuôn mặt hiền hòa và ánh mắt yếu ớt của Bắc Ưng Lãnh Lạc.
Thượng Quan Linh hỏi rằng:
- Thưa tiền bối! Bộ ngài cũng chết rồi sao? Ồ! Thế là chúng mình lại được gặp nhau dưới âm phủ này... Lạ thật!... Sống chết đâu có gì phân biệt đâu?...
Bắc Ưng Lãnh Lạc lắc đầu phủ nhận nói:
- Anh đã nhầm rồi! Ta không hề giết anh, trái lại ta đã cứu anh. Nay anh đã mửa được thứ rượu độc của Tỉ Vương và khôi phục lại sức như xưa, nếu không tin anh có thể thử ngay.
Thượng Quan Linh tung mình nhảy bổng lên, quá nhiên thân hình đã linh động đúng theo ý muốn, trong lòng vẫn còn hoài nghi, ào một tiếng, quất ra một chưởng, bụi đá bay tung tua tủa, hiển nhiên thần lực của chàng đã kinh hồn người, quả bất phàm!
Thượng Quan Linh nghĩ: không thể tin nổi một kỳ tích ly kỳ này, vội hấp tấp hỏi nguyên do. Bắc Ưng Lãnh Lạc trầm trầm thuật lại.
Bắc Ưng Lãnh Lạc quyết tâm muốn cứu chàng, nhưng ngại sức mình không thể nào đạt được tới đích, trong hang huyệt tìm đâu ra thuốc giải cứu, nếu dùng công lực của mình để ép chất độc trong người của Thượng Quan Linh ra, e khó mà thành công.
Cuối cùng, Bắc Ưng Lãnh Lạc nghĩ ra một cách, quyết tâm thử xem. Thoạt tiên, Bắc Ưng Lãnh Lạc tạo ngay một trạng thái khủng hoảng để khiến cho Thượng Quan Linh cám thấy tử thần đã bước tới, nhưng Bắc Ưng Lãnh Lạc vẫn chưa ra tay, khiến cho chàng Thượng Quan Linh càng cảm thấy kinh hãi sợ toát mồ hôi lạnh.
Và Bắc Ưng đã nhân ngay cơ hội này, dùng ngay chưởng lực truyền hết công lực vào ngực và lưng của chàng, và cuối cùng đã ép được độc lực ra khỏi thân, khiến cho chàng thiếu niên anh tuấn này khôi phục ngay lại thần sắc xưa kia. Nay nói rõ ra Thượng Quan Linh mới vỡ lẽ, vội quỳ thụp xuống lạy tạ ơn cứu mạng của Bắc Ưng Lãnh Lạc. Và đồng thời chàng đòi cõng ngay vị đại hiệp cùng nhau rời thoát nơi hang huyệt ẩm thấp tối đen này. Bắc Ưng Lãnh Lạc bèn nói cho Thượng Quan Linh biết cách kiến tạo của hang hầm này rất đặc biệt và kiên cố chỉ có mỗi một lối ra, và là một tấm cửa sắt dày nặng vô kể, nếu không có chìa khóa để mở bên ngoài, tuyệt không thể nào hòng mở được nó.
 
0
Hồi 070. Hắc Y Sứ Giả
[/align]

Thượng Quan Linh lần ngay đến cửa sắt, vận hết toàn lực bình sinh của mình ra thử, quả nhiên không nhúc nhích gì nổi. Bắc Ưng Lãnh Lạc bèn nói với Thượng Quan Linh, hãy lại đằng cuối hang tận cùng thử xem. Thượng Quan Linh nghe lời, bước lại phía tận cùng của cuối hang, vận hết thần lực bình sinh của mình ra để đẩy, tuy bức vách có kiên cố, nhưng so với tấm cửa sắt dày nặng có phần yếu hơn. Lúc này chàng nghĩ đến ân sư Nam bút Gia Cát Dật, ái thê chưa cưới Liễu Mi, bạn thân Sở Canh và đồng thời cảm động sự cứu giúp của Bắc Ưng Lãnh Lạc, chàng cố vận hết toàn thân thần lực, một lần... hai lần... cố sức mạnh đẩy. Đến lần thứ ba, một tiếng ầm dữ dội vang lên, một tảng đá rộng hơn trượng chu vi đã bung ra và để lộ hẳn một miệng lỗ khuyết to tướng, bên ngoài ánh trăng sao lu mờ, gió nhẹ thoáng lúc này đã vào canh khuya của đêm trường.
Thượng Quan Linh sung sướng trong lòng, quay ngay vào bồng Bắc Ưng Lãnh Lạc để đào tẩu. Không ngờ vị ân nhân cứu mạng này lại phản đối rối rít, cho rằng mình đã thành kẻ tàn phế, tỏ ra thoát khỏi đây cũng chỉ vô ích với đời, sự chờ đợi bấy lâu nay, chỉ cốt hy vọng có vị đại hiệp nào đến để hứa với mình là sẽ tiêu trừ tên Tỉ Vương ma quân, để trả thù giùm cho mình, dù có chết cũng yên trí để nhắm mắt. Thượng Quan Linh vội nói với vị Lãnh tiến bối yên tâm, vì chính Tỉ Vương đã ỷ vào cây Lãnh điện tỉ thủ gây nên vụ án mười mạng của nhà Thượng Quan ở cách mười dặm ngoài thành Nhạc Châu!
Chàng thề nguyền, dù vì công hay tư, thế nào cũng phải tìm đủ mọi cách để tiêu trừ cho bằng được con người hung hiểm quỉ diệu tuyệt luân số một dưới vòm trời này mới chịu? Nghe xong, lời phẫn uất của Thượng Quan Linh đối với Tỉ Vương, Bắc Ưng Lãnh Lạc tuy dã hiểu ý quyết chí của chàng, nhưng có điều, Tỉ Vương vốn là một ma quân mưu cơ xảo trá tuyệt vời, không ai có thể ngờ trước được hành động thần xuất quỉ nhập của y, phải khôn khéo lắm mới có thể thành công, vậy không thể nào không e ngại cho được!
Hai người bèn bàn kế hoạch để đối phó, Tỉ Vương đã dùng đủ diện mạo của Bắc Ưng Lãnh Lạc để xuất hiện trên giang hồ. Vậy nhân lúc Tỉ Vương đang giả mạo Thượng Quan Linh, Thượng Quan Linh thật cũng nên hóa dạng thành Bắc Ưng Lãnh Lạc để đi phó hội gấp tại Bách Linh Miếu, khiến cho Tỉ Vương bị sự đột ngột làm cho y phải kinh hãi không biết thật giả ra sao, như thế Tỉ Vương sẽ phải thân hành điều tra vụ án ly kỳ này, và Thượng Quan Linh có thể nhân ngay cơ hội để hoàn thành sứ mạng báo thù. Bắc Ưng Lãnh Lạc cho Thượng Quan Linh hay về cách dị dung thuật bí mật của Tỉ Vương hiện đều ở trong thư phòng, có sẵn cả mặt nạ da người của Bắc Ưng Lãnh Lạc trong đó, xem ra Tỉ Vương đã giả dạng Thượng Quan Linh thì bộ mặt Bắc Ưng thế nào y cũng còn để lại trong thư phòng.
Thượng Quan Linh lúc này bị khích động tâm thần, vì biết mình sắp mở cuộc mạo hiểm gian nan để vào nơi hổ huyệt, nhưng ý chí chàng không hề nao núng với tình trạng tột nguy này. Bắc Ưng Lãnh Lạc cho biết xưa kia tuy bị bắt nhưng nhờ Lãnh Lạc có báu vật Kỳ lân bảo đới nên khi Lãnh điện tỉ thủ xoay quanh một vòng nơi cổ, lần thứ nhất Tỉ Vương phải công nhận mất hiệu lực, và nhìn nhận đó là một dị số của Bắc Ưng, phá ngay lệ thường là để cho Bắc Ưng Lãnh Lạc sống sót trên đời, với điều kiện bị tàn phế và cấm cố trong hang huyệt bí mật đây, dụng ý của Tỉ Vương không ngoài mục đích là để giữ oai danh của mình khỏi bị ảnh hưởng. Nhưng Bắc Ưng Lãnh Lạc cảm thấy hài lòng nhất là hai báu vật của mình, Tỉ Vương không hề tịch thu, đó là Kỳ lân báo đới và ngọn ám khí nổi danh một thời là ưng trảo liên.
Bắc Ưng Lãnh Lạc lấy ra hai báu vật này tặng cho Thượng Quan Linh, vì có hai báu vật này mới có thể chứng tỏ Bắc Ưng Lãnh Lạc lại xuất hiện thực sự, và cho Tỉ Vương ma quân hung dữ đến đâu cũng phải hoảng người thất kinh, đến chừng đó nắm lấy thời cơ thuận tiện; may ra còn nhờ trời phù hộ mới có thể thành công. Thượng Quan Linh cung kính bái lãnh nhưng nói rõ là không dám tiếp nhận báu vật của tiền bối, nay chỉ tạm mượn, khi diệt được Tỉ Vương sẽ kính hoàn lại. Sau khi bàn tính, Thượng Quan Linh bèn hối thúc ngay Bắc Ưng Lãnh Lạc lên đường ngay, Thượng Quan Linh cho rằng bất luận thế nào, cũng phải cứu ngay Bắc Ưng ra khỏi nơi hang huyệt này trước, và tìm cách an bài sự an toàn cho vị ân nhân xong xuôi, chàng mới yên trí đi tính nợ với tên Tỉ Vương. Nay đã biết lối thông ra ngoài Thượng Quan Linh tính cõng ngay Lãnh Lạc ra và nghĩ với công lực hiện đã khôi phục của mình, phần Tỉ Vương vắng mặt tại Lãnh Ưng Trang, Thượng Quan Linh có thể mạnh dạn tìm bộ mặt nạ da người của Bắc Ưng Lãnh Lạc, rồi sẽ khởi trình di Bách Linh Miếu để phó hội.
Thấy vậy Bắc Ưng Lãnh Lạc khẽ thở dài nói:
- Ta cũng không muốn giấu gì anh bạn trẻ nữa, mạng sống của ta nhiều lắm là còn nửa tàn nhang nữa là cùng...
Thượng Quan Linh hoảng hồn thất kinh hỏi:
- Kính thưa tiền bối! Ngài muốn nói...
Bắc Ưng Lãnh Lạc từ từ rằng:
- Không giấu gì anh, trong cuộc cứu chữa cho anh, và nhất là lại không có thuốc men gì, vì để cứu anh, công lực toàn thân tôi đã bị hao tận hết... vì đã mất sức quá độ, thế nào cũng phải chết...
Thấy Thượng Quan Linh như ăn năn đau khổ, Bắc Ưng Lãnh Lạc xua ngay tay không cho chàng lên tiếng, và an ủi chàng rằng:
- Anh đừng buồn và hối hận về chuyện này làm gì, vì đây là sự tình nguyện của ta, ta không ân hận tí nào, trái lại ta cảm thấy sung sướng là khác, vì con người tàn phế như ta có sống trên trần cũng bằng thừa, và chắc không bao giờ tìm được Tỉ Vương để phục thù. Nay tuy ta hy sinh, nhưng cái hy sinh này đã giúp được việc cho anh, và nhờ thế anh có thể thay ta trả thù, nay ta cảm thấy mãn nguyện về hành động chính đáng của ta lắm...
Nói tới đây, hối thúc Thượng Quan Linh mau khởi trình, nhưng chàng đâu có chịu, chàng đâu có thể ngờ được vị Lãnh Lạc đại hiệp, vì cứu mình mà phải hy vinh mạng sống như thế, chàng chỉ biết có một cảm giác nghẹn ngào hối hận, rối quýnh đang xáo trộn quay cuồng trong óc mình.
Thượng Quan Linh bèn truy hỏi ngay có cách gì để cứu cấp ngay không? Bắc Ưng Lãnh Lạc lắc đầu tỏ ý không còn phương pháp gì! Vị đại hiệp lúc này như ngọn đèn cạn dầu chỉ chờ thoảng làn gió nhẹ là tắt ngay... Càng lúc, vị đại hiệp tỏ ra yếu dần... hơi thở đã mau dần... Thượng Quan Linh quì ngay bên cạnh vị đại hiệp, chàng nghĩ người ta đã hy sinh tính mạng để cứu mình, nay trước cơn hấp hối của vị đại hiệp, mà mình đành phải trơ mắt chứng kiến cảnh mủi lòng của sinh ly tử biệt này... Thượng Quan Linh vốn là người chánh trực thành khẩn, mang ân huệ của người ta, thế nào cũng nghĩ cách để báo đáp, huống hồ đối với vị đại hiệp Bắc Ưng Lãnh Lạc đây.
Lúc này chàng vội ghé sát vào tai Lãnh Lạc để hỏi phương pháp cứu chữa, chàng không nhẫn tâm để chứng kiến cảnh đau lòng này. Nhưng Bắc Ưng chỉ nhè nhẹ lắc đầu. Thượng Quan Linh càng cuống, bất kể ất giáp, đưa ngay song chưởng ra, một áp vào ngực và một nơi lưng của Bắc Ưng để cứu trị cho vị đại hiệp...
Thời gian nặng nề trôi... lâu và khá lâu, không thấy hiệu lực gì, với hai bàn tay của mình đang áp vào người đại hiệp Thượng Quan Linh chỉ thấy tim của Bắc Ưng Lãnh Lạc đập rất yếu...
Thượng Quan Linh hoảng hồn không dám đụng tới nữa, chàng vội nhẹ tiếng gọi:
- Lãnh tiền bối... Tiền bối không thể đi trong lúc này được! Tiền bối ơi! Hãy ráng chờ cho Thượng Quan Linh trở về đây để ngài thấy chiếc thủ cấp của Tỉ Vương đã chừng đó ngài hãy an tâm ra đi...
Bắc Ưng mỉm cười khi nghe những lời phấn khởi... mắt vị đại hiệp đã nhắm lại... Thượng Quan Linh đã cố sức để cổ võ ý chí của đại hiệp. Nhưng Bắc Ưng đại hiệp đã không bao giờ hồi tỉnh nữa!...
Đến khi Thượng Quan Linh phát giác vị đại hiệp trong lòng mình đã lạnh ngắt, ông ta đã âm thầm ra đi... Bên ngoài, ánh trăng sao chập chờn ảm đạm, bên trong, Thượng Quan Linh đầy lòng bi thảm, hai hàng nước mắt nóng hổi không ngớt lăn trên hai gò má của vị thiếu hiệp.
Tại sao ông trời quá bất công đến thế, một vị đại hiệp chính trực nhân nghĩa như thế sao lại phải gặp một cái chết đau đớn thế này? Trời xanh sao nỡ bất công như thế?
Thượng Quan Linh đau khổ suy nghĩ mãi, rút cục chàng lẩm bẩm khấn vái:
- Kính vái anh linh của Lãnh tiền bối, nay vãn bối xin quyết lập lời nguyền, thế thế nào cũng đoạt cho bằng được võ lâm dị báo Lãnh điện tỉ thủ, sẽ dùng ngọn tỉ thủ này để ăn miếng trả miếng với tên ma đầu, cắt ngay thủ cấp của Tỉ Vương đem đến đây để tế lễ với Lãnh tiền bối...
Khấn xong, Thượng Quan Linh đứng dậy ngắm nhìn tử thi của Bắc Ưng Lãnh Lạc... Bỗng chàng lại khóc sướt mướt cúi lạy rằng:
- Kính thưa tiền bối, đệ tử xin kiếu ngài. Mong anh linh của ngài phù hộ cho đệ tử được thành công!
Ra khỏi hang, chàng vận ngay thần lực, vác ngay tảng đá khổng lồ ấy đóng kín lại cửa hang? Trong bụng khấn thầm và mong rằng đừng có ai khám phá ra bí mật này và kinh động đến di hài của Bắc Ưng Lãnh Lạc, chờ mình hoàn thành sứ mạng và đem thủ cấp của Tỉ Vương đến ...
Nhân cảnh đêm tối, Thượng Quan Linh lẻn đột nhập ngay vào Lãnh Ưng Trang. Nay công lực kinh thế hãi tục của chàng đã khôi phục, thân pháp lẹ làng linh động như vượn, chàng nhoáng ngay vào thế giới màu đen của Lãnh Ưng trang viện, không hề kinh động đến một người nào! Hiển nhiên kẻ giả mạo Bắc Ưng Lãnh Lạc đã vắng mặt trong trang viện, cả đến đám nữ nô bộc như xác sống ấy cũng biến đâu mất, lúc này trong Lãnh Ưng Trang vô cùng tịch mịch. Thượng Quan Linh vốn là ngựa quen lối cũ, nên công việc tiến hành thuận tiện đúng theo ý tưởng, chàng mò ngay đến thư phòng lục lạo một hồi, quả nhiên trong một ngăn tủ kín đáo, tìm ngay một bộ áo đen và một bộ mặt nạ da người. Chính tất cả những vật dùng này, người khách thần bí nọ đã dùng để giả mạo Bắc Ưng Lãnh Lạc, chẳng cần do dự, chàng vội mặc ngay vào mình và mang mặt nạ xong, lập tức tìm đến một gương bằng đồng, thắp ánh đèn lên để soi, quả nhiên là một diện mạo của Bắc Ưng Lãnh Lạc, giống trăm phần trăm.
Sau khi nhìn kỹ trong gương đồng, Thượng Quan Linh phải khen thầm trong bụng là mặt nạ da người này quả đã chế tạo khéo hết chỗ nói. Chàng vững bụng về sự cải dạng của mình, tung ngay mình vọt ra đằng cửa sổ, lẻn mò ngay vào nhà bếp, đánh cho một bụng no nê cẩn thận, rồi sắm theo bình nước và chút lương thực, mò ngay tới chuồng ngựa, tuyển ngay một con tuấn mã, dắt nhẹ ra khỏi trang trại thì trời cũng vừa khởi sáng.
Nay đã mùng ba Tết, Thượng Quan Linh lúc này đã hoàn toàn thay đổi với một lối phục sức, toàn thân áo đen, trên cổ ngầm cuốn Kỳ lân bảo đới và ngọn binh khí nổi danh ưng trảo liêm của Bấc ưng Lãnh Lạc được dắt kín ngay phía dưới gấu áo. Lúc này, tâm thần và hùng khí của Thượng Quan Linh hiên ngang lẫm liệt, chàng đã quyết chí mạo hiểm, khẽ vọt mình lên yên nhắm ngay hướng Tây Bắc khởi trình.
Chàng nhẩm tính với tốc độ của tuấn mã, chỉ ba bốn ngày đường sẽ tới kịp đại thành Bách Linh Miếu của miền Bắc, cuộc thịnh hội của mùng mười Tết, thế nào cũng kịp dự. Lúc này Thượng Quan Linh lại khấn nguyện thầm: trước ngày mùng mười này, may sao tên ma đầu Tỉ Vương chưa vội hãm hại ân sư Nam Bút, ái thê Liễu Mi và bạn Sở Canh, để chờ cho mình đến kịp lột gian mưu của y! Sự lo lắng đã giục Thượng Quan Linh ra roi, tuấn mã cất vó lướt như bay, quả là loại lương câu miền quan ngoại... Lúc này chỉ thấy cát bụi gây thành một đường khói hồng xa dần...
Một cuộc hành trình liên miên suốt ngày đêm không ngừng, nhưng Thượng Quan Linh cũng sợ sức ngựa chịu không nổi mà chết dọc đường thì khốn, nếu gặp nơi có cỏ và nước, không thể nào không nghỉ để dưỡng sức ngựa. Vào chiều hoàng hôn ngày hôm sau Thượng Quan Linh đã trông thấy một màu xanh xa xa... hiển nhiên nơi đó có cây và nước. Con tuấn mã đã đánh được mùi, lúc này nó đã như mệt và khát, chẳng cần Thượng Quan Linh phải chỉ huy nó đã ngửng đầu hí vang lên như mừng rỡ, bọt mép nó trắng xóa, và khi gần đến nơi, lại thấy có hai ngôi lều dựng ở đó.
Nơi miền sa mạc, nay lại xuất hiện hai ngôi lều như thế, quá là chuyện chẳng thường! Thượng Quan Linh lập tức đề phòng trong bụng! Chàng cho ngựa sải nhanh lại, vừa ngay lúc đó, bên trong lều vải chạy vọt ra hai người, không sao ghìm cương kịp, mắt thấy thế nào cũng tông vào hai người này, nhưng chợt hai người thình lình nhảy tung tránh khỏi! Và họ lại vọt nhanh ngay lại chặn ngay đầu ngựa của Thượng Quan Linh.
Rõ ràng là lỗi tại mình quá hấp tấp, nên suýt đá tông phải người ta, đang tính cất tiếng để xin lỗi, không ngờ lại có chuyện lạ xảy ra, hai người này mặt đang hầm hầm nổi giận, nhưng sau khi nhìn rõ hình dạng Thượng Quan Linh, cả hai un bắn người và vội vàng quì thụp ngay xuống đất.
Cả hai gã đại hán này đều ăn mặc theo lối Mông Cổ, một trong hai người dùng Hán ngữ lắp bắp nói:
- Bọn tiểu nhân đáng chết! Đáng chết! Không biết Hắc y sứ giả đã giáng lâm... Kính mong Sứ giả tha tội chểnh mảng cho bọn tiểu nhân không biết để ra đón ngài...
Dứt lời cả hai lại cộc đầu như tế sao!
Câu xin lỗi của Thượng Quan Linh lúc này bị tắt nghẽn ngay, chàng lập tức hiểu ngầm, thôi đúng rồi! Đám người này chắc có liên hệ gì với Tỉ Vương đây, mà cái danh hiệu kỳ lạ Hắc y sứ giả, chắc phải là một tay chân trọng yếu của Tỉ Vương, tướng mạo lại giống hệt Bắc Ưng Lãnh Lạc. Và địa vị của Hắc y sứ giả chắc có lẽ hiển hách lắm nên đám người này thấy mình mới sợ hãi đến nông nỗi ấy!
Trong hai ngôi lều vải này nghe tiếng ồn ào bên ngoài đều chạy ra hết, sau khi thấy chàng Thượng Quan Linh đều hấp tấp quì mọp xuống hết, không dám ngửng đầu lên nhìn.
Thượng Quan Linh thấy vậy, lập tức suy đoán ra được phần nào, thôi đúng rồi, Bắc Ưng Lãnh Lạc tuy bị giam cầm sáu năm trời, nhưng tướng mạo đặc sắc của vị đại hiệp này đã bị lợi dụng để làm Hắc y sứ giả, trong phạm vi thế lực của Tỉ Vương, vô tình đã tạo ra một ngẫu tượng oai quyền tượng trưng! Và chắc hai chữ sứ giả ấy phải có ý nghĩa gì đặc biệt lắm? Rất có thể chính đó là Tỉ Vương, hơn nữa Tỉ Vương không hề dùng đến chân diện mục gặp ai xưa nay! Đương nhiên phải biệt phái các đệ tử đắc lực để nhậm quyền chức đại biểu cho mình, chẳng cần phải suy đoán sâu xa, Hắc y sứ giả này đương nhiên là một trong số nhậm quyền đại biểu ấy.
Thượng Quan Linh tuy là anh chàng thật thà, nhưng tâm tư lại khá thông minh, tuy dự đoán không bằng Liễu Mi, nhưng trong chuyến này, quả chàng cũng đã đoán trúng được tám chín phần mười. Nhưng Thượng Quan Linh lại nổi ngay một nghi vấn khác, theo lời Bắc Ưng Lãnh Lạc nói, chính Tỉ Vương đã mạo danh của Bắc Ưng để hoạt động, nhưng nay vô tình các thủ hạ của Tỉ Vương lại xưng hô với Bắc Ưng Lãnh Lạc là Hắc y sứ giả!
Nếu vậy, kẻ mạo danh của Bắc Ưng không phải bản thân của Tĩ Vương, vậy Hắc y sứ giả lại là ai kìa? Thượng Quan Linh chìm nghỉm cuộc suy tư, chàng quên mất đám người đang quì mọp dưới đất. Hai bên quì trước đầu ngựa ấy vẫn run run như thằn lằn đứt đuôi, thình lình đằng kia có tiếng quát rằng:
- Hai tên tử tội đã đắc lỗi với Sứ giả, nay Sứ giả đã không dung tha, còn không lo mau tự quyết cho rồi, bộ muốn liên lụy đến bọn chúng ta đây hay sao?
Tiếng quát ấy đã khiến Thượng Quan Linh giật mình.
Trong lúc Thượng Quan Linh chưa biết nên xử sự ra sao, hai tên đại hán quì phía trước đầu ngựa, tên bên trái ngẩng quay đầu lên, đưa tay rút nhanh ngay đao phắt ngay cổ, máu phun, thây ngã, cảnh rùng rợn bày ngay trước mắt. Tên còn lại bên cánh phải cũng đưa tay ra sửa soạn tự vận, nhưng bị Thượng Quan Linh ra tay ngăn chặn, chàng giơ ngang tay lên, một ngọn kình lực phát ra, cây đao bị bay bổng tít lên không. Bịch một tiếng, cả thân người của đại hán bị bật ngửa ra phía sau.
Lúc này, Thượng Quan Linh không lên tiếng, chàng chỉ sợ giọng nói của mình lại không giống Hắc y sứ giả thì nguy, cố sửa giọng oai hách và phát ra hai tiếng giản dị rằng:
- Cút mau!
Tên nọ như vừa lượm được hồn mình trong tử địa về hắn xúc động khóc sùi sụt quì lạy tạ như tế sao.
Đằng kia, âm thanh nọ lại quát lên:
- Tên tử tội không lo xéo nhanh đi lo bữa của Sứ giả còn đợi gì nữa...
Thượng Quan Linh đành phải nhảy xuống đất và bạo phổi bước ung dung ngay về phía lều, một đám người đã vội hấp tấp bước ra đón, người dẫn đầu là đại hán cao lớn, mặc theo lối người Hán, nhìn quen mắt lắm. Chỉ thấy người này cung kính quì xuống rằng:
- Tiểu nhân Tra Phong, xin được kính hầu sứ giả tại đây!
Giọng nói của người này chính là giọng quát trong hai lần vừa rồi, khi hắn ngẩng đầu lên, Thượng Quan Linh kinh ngạc, trời ơi, thì ra tên Tra Phong này không phải là ai xa lạ gì, chính là một trong hai tên đồ đệ của lão bà bịt mặt. Mình đã biết hắn, nhưng hắn làm sao nhận ra Hắc y sứ giả lại là Thượng Quan Linh? Chàng vừa mừng vừa kinh, tên này đã có mặt tại đây, lão bà bịt mặt thế nào cũng đã ở gần đâu dây, vậy là cơ hội báo thù đã nằm ngay trước mắt. Chàng hồi hộp, chỉ sợ lộ tẩy thì hỏng chuyện, vội thu ngay tâm thần của mình lại, oai hách rằng:
- Đứng dậy!
Tên Tra Phong kính cẩn dẫn đưa ngay Thượng Quan Linh vào trong lều, chàng âm thầm đề phòng và bụng bảo dạ: Thượng Quan Linh! Hãy ráng mà bình tĩnh, cơ hội đã đến, nhưng phải cẩn thận tuyệt đối, đừng nên để lỡ dịp may... Vào đến lều, bên trong trang hoàng hoa lệ đẹp mắt.
Khi ăn uống, Thượng Quan Linh dằn lòng không nổi, bèn lạnh lùng quát:
- Tra Phong, thầy ngươi đã lại chưa?
Tra Phong lật đật thưa:
- Kính bẩm Sứ giả, hiện sư phụ và sư đệ của tiểu nhân đều ở bên kia lều, để tiểu nhân qua mời họ qua đây!
Thượng Quan Linh lập tức nảy ra một linh cảm, cất giọng hừ lên một tiếng lạnh lùng âm u, tỏ ý không bằng lòng. Tra Phong thấy vậy giật mình hoảng hồn, không dám ho he một tiếng nào, vội lui nhanh ra ngoài.
Một chặp, Tra Phong dẫn hai người bước vào, Thượng Quan Linh nhìn thấy, trống ngực càng đập thình thịch, thì ra chính lão bà bịt mặt và tên đồ đệ! Chàng cố đè nén nỗi lòng hồi hộp của mình. Không chờ cho hai người tiến gần, Thượng Quan Linh oai hùng quát:
- Các người kể cũng hách thật! Hừ! Hừ...
Hai đệ tử đứng cạnh lão bà vội quì mọp ngay xuống đất, tên Tra Phong vội cung kính rằng:
- Kính bẩm sứ giả, tại mấy ngày này gia sư trong người khó ở, nên sư đệ tiểu nhân luôn phải túc trực hầu cạnh, nên mới chểnh mảng lại nghênh tiếp và tham yết ngài, kính xin sứ giả rộng lượng khoan dung cho... - Quay ngay sang phía sư đệ quát ngay: - Tra Lôi! Còn chờ gì mà không gỡ khăn che mặt ra để tạ tội với sứ giả!
Tên Tra Lôi lập tức ngoan ngoãn nghe lời, cỡi ngay khăn che mặt ra cúi lạy lia lịa.
Thượng Quan Linh chỉ lạnh lùng hậm hự, chỉ thấy lão bà bịt mặt vẫn cầm cây trượng đứng uy nghi bất động. Khi Thượng Quan Linh nhìn chăm ngay vào mặt lão bà ấy, người già bịt mặt này mới cất tiếng rằng:
- Sứ giả! Tuy người có những đặc quyền khác với Tử y sứ giả (sứ giả áo tím), Lục y sứ giả và Lam y sứ giả và được xưng chung là Tứ đại sứ giả, có quyền đại biểu chúa thượng đồng thời nắm quyền sát sinh trong tay, những chuyến này lão bà ta đâu phải là vờ bệnh trong người, nếu quả người n chuyện này mà nổi giận, vậy xin hãy nể mặt mụ già này mà miễn truy cứu cho...
Thượng Quan Linh thấy mụ già này có vẻ ngang ngạnh ngạo mạn vậy, trong bụng cũng chưa biết nên quyết định ra sao, nên mượn danh nghĩa gì để nhử cho mụ ta ra tay giao đấu, để mình lấy cớ giết! Đương nhiên Thượng Quan Linh không thích mượn oai của Tỉ Vương và quyền lực của Hắc y sứ giả để ép họ tự chết, nhưng nhìn qua phía địch, nếu cả ba thầy trò họ đều hợp sức lại, quả là thực lực của họ hơn mình, nếu lỡ việc chẳng thành, thầy trò họ chạy ráo cả. Thì càng hỏng chuyện!
Chàng bèn nghĩ ngay một kế là phải làm sao chọc cho mụ già bịt mặt này nổi khùng và ép mụ ta vào thế phải ra tay, như thế mới hòng kết liễu mối thù Phủ Chưởng Hàn và nhất là vụ án giết mười mạng người thân của họ Thượng Quan Linh. Nghĩ xong, Thượng Quan Linh bèn lạnh lùng chậm rãi nói:
- Hừ! Vậy thế ngươi có biết Chúa công sai ta đến đây có mục đích gì không?
Lão bà bịt mặt cảm thấy bất an, giọng có vẻ run rằng:
- Lão bà ta quả chưa biết. Dám xin sứ giả cho hay!
Thượng Quan Linh cười nhạt lạnh lùng:
- Câu chuyện về rằm tháng năm ngoái, xảy ra tại Thượng Quan Trang cách Nhạc Châu mười dặm; nay Chúa công có lệnh, muốn nhà ngươi phải tường trình bẩm rõ lại hết đầu đuôi của vụ án ly kỳ đó để Chúa công còn lo định liệu mọi việc quan trọng sắp đến!
Trong lòng Thượng Quan Linh, xưa nay vẫn chưa làm sao tìm rõ được nguyên nhân tại sao lão bà bịt mặt này lại phó thác cho Tỉ Vương dùng ngọn Lãnh điện tỉ thủ, giết một lúc mười người thân của nhà họ Thượng Quan! Nay kẻ đại thù đang đứng trước mắt, bụng nghĩ dẫu có giết ngay mụ già này, e cũng khó mà biết rõ căn do về vụ thám án năm xưa tại Thượng Quan Trang, vì vậy chàng đành phải mượn danh lệnh của Tỉ Vương để hầu biết nguyên nhân của vụ án, xong sẽ ra tay trả thù! Và chàng cũng ngầm cho rằng lão bà bịt mặc đây ương ngạnh và ngạo mạn lắm, e mình dùng lối này cũng chẳng có hiệu quả gì, với Thượng Quan Linh lúc này, chẳng qua có tính cách thăm dò thử mà thôi, nếu mụ ta không phục, cũng có thể trở thành một lý do cho Thượng Quan Linh khiêu khích để ra tay gây chiến!
Nào ngờ sau khi lão bà bịt mặt nghe xong, thở dài một tiếng, toàn thân loạng choạng về phía sau như muốn đứng không vững, cây trượng chống dưới đang rung lên. Thượng Quan Linh bỗng cảm thấy thương hại mụ già này, đáng lẽ mình không nên ép người ta quá thế, tội nghiệp. Nhưng chàng lại sực nghĩ ngay, lão bà đây chính là kẻ đại thù địch của mình, không thể nào vì lòng nhân nghĩa mà buông tha cho mụ ta được. Nay mình đã bị vướng trong thế cưỡi trên lưng cọp, Thượng Quan Linh bỏ ngay ghế ngồi và từ từ đứng dậy, đôi mắt sáng ngời nhìn thẳng sang phía mụ già đang lảo đảo như muốn ngã ấy lạnh lùng rằng:
- Hừ! Tại sao thì nói đi chứ...
Hiển nhiên lão bà bịt mặt chuyến này bị ép bức, và lại chạm đúng vào nỗi lòng đau đớn của mụ ta, nên trong cơn kinh hoàng phẫn uất bi ai ấy, không làm sao dứt khoát ngay được, chỉ trầm mặc lặng thinh, còn hai tên đồ đệ Tra Phong và Tra Lôi; khăn bịt mặt đã gỡ, lúc này chỉ thấy sắc mặt hai tên này đều đầy vẻ bi ai uất ức.
Lúc này Thượng Quan Linh cứ chờ họ chống đối để chàng có cơ ra tay mở cuộc đại tàn sát ba thầy trò này!
Và chính đây cũng là một cuộc thử thách oai lực của Tỉ Vương; chờ một chặp, lão bà bịt mặt bỗng cắn răng nghiến lợi bật khóc cửa miệng từng tiếng một:
- Được! nếu dã là... lệnh... của Chúa công... mụ già ta đâu... dám không... tuân lệnh...
Thượng Quan Linh ngầm kinh hãi, quá nhiên oai quyền của Tỉ Vương ghê gớm thật!
Tra Phong và Tra Lôi có vẻ rất quan tâm đến thầy chúng, tiếng Tra Lôi rối lên:
- Thưa sư phụ!... -- Ý hắn như muốn ngăn cản!
Lão bà bịt mặt quay lại đưa tay ngăn ngay hai đồ đệ tính theo sau, và chậm rãi nói:
- Hai đứa con hãy lo tiếp hầu sứ giả tại đây, ta phải về lều bên kia, chiếu theo lệnh của Chúa công, sẽ ghi chép lại những chuyện dĩ vãng, để nhờ sứ giả chuyển trình và cầu xin Chúa công mở ơn hái hà...
Dứt lời, lão bà bịt mặt lững thững bước ra khỏi lều. Thượng Quan Linh lại nghiễm nhiên ngồi xuống ăn uống một mình, chàng nghĩ thầm, nếu mình không mượn ý chỉ (tựa loại chiếu chỉ, nói bằng miệng) của Tỉ Vương mụ già này đời nào chịu khai chuyện này ra, nay kể mình thành công, chàng cảm thấy khoái trá vô cùng, bụng nghĩ bấy lâu em Liễu Mi cứ chê mình thật thà, chất phác vô dụng, nếu nàng biết được chuyện này đây mới hiểu, mình cũng không phải là hạng xoàng gì nhé !
Trong lều, Tra Phong, Tra Lôi ngồi chung một góc, Thượng Quan Linh ngầm quan sát, thấy hai tên này có vẻ hậm hực, nhưng lại không dám nổi cơn! Ngoài ra các tên khác đều trốn tuốt đi đâu hết, Thượng Quan Lỉnh nghĩ bụng: Hắc y sứ giả này chắc phải là một tên hung ác dữ tợn, nên mới có thể đại biểu quyền oai để sai khiến các bộ hạ của Tỉ Vương, vậy nhân vật này không phái là hạng tầm thường gì, từ võ công mưu trí, đều có thể liệt vào hạng đệ nhất lưu, rất có thể Hắc y sứ giả xưa nay thường thay thế Tỉ Vương để chấp pháp tử hình cho đám thủ hạ nên chi mọi người thấy dáng Hắc y sứ giả đều như gặp Diêm Vương dưới quỉ phủ vậy.
Càng không ngờ rằng mình vô tình lại được đóng một vai trò quan trọng đến thế, Thượng Quan Linh chỉ cười ngầm trong bụng. Đâu nửa tàn nhang trôi qua, lão bà bịt mặt vẫn chưa thấy quay về, Thượng Quan Linh đã nổi nóng, nghĩ ngay tới hai tên đồ đệ bất lương này của mụ ta, nay đã lọt vào tay mình, thế nào cũng trừng trị cho chúng một mẻ! Nghĩ vậy bèn lạnh lùng khiêu khích ngay rằng:
- Tra Phong, Tra Lôi! Đã lâu không có dịp gặp hai ngươi! Vậy chắc công lực của hai người thế nào chả có tiến bộ ít nhiều! Hà! Hà! Tiện giờ này không bận công việc gì, chúng mình thử quần với nhau vài ngọn xem sao...
Nghe câu nói ấy, anh em họ Tra đâu phải là kẻ ngốc nghếch gì mà không biết dụng ý, Tra Lôi không dám ho he gì. Tra Phong vội vã rằng:
- Anh em tiểu nhân vốn tài hèn sức mọn, đâu dám to gan lớn phổi mà ra tay rối trước mắt Hắc y sứ giả đại nhân...
Thượng Quan Linh nói ngay:
- Không sao! Không sao!
Dứt lời đứng dậy, hất ngay áo bào đen lên, rút ngay ngọn binh khí lừng danh của Bắc Ưng Lãnh Lạc là lưỡi kiếm ưng trảo, chỉ thấy ngọn binh khí kỳ hình quái trạng sắc bén này ánh sáng nhoang nhoáng khắp trong lều. Hai tên cao túc họ Tra của lão bà bịt mặt, xưa kia cũng đã cùng giao tranh qua với Thượng Quan Linh, nhưng hồi đó với một chọi một, đương nhiên chàng dư sức thắng, nhưng hai anh em chúng họp sức, quả khó thắng nổi! Nhưng ngày nay, nhất là sau khi Thượng Quan Linh đã ăn Tuyết bi tiên hoa, công lực dũng mãnh vô cùng, hơn nữa ngày còn học nghệ tại Ngao Sơn, ân sư Nam bút Gia Cát Dật, đã cặn kẽ chỉ dạy cho chàng hầu hết về cách sử dụng các loại binh khí kỳ lạ, nên chi ngày nay với ngọn ưng trảo liêm trên tay, chàng cũng thành thuộc không kém gì cây Lệ thủy tinh kiếm. So với công lực ngày nay của mình, dư sức thắng nổi anh em họ Tra họp lực lại.
Dưới ánh đèn trong lều, Thượng Quan Linh thấy rõ hai bộ mặt cắt không ra máu của anh em họ Tra, chàng hơi thất vọng. Thượng Quan Linh giơ ngay lưỡi liềm ưng trảo cười nói:
- Trong này cũng khá rộng, vậy chúng ta cứ việc đùa với nhau tại đây cho vui! Hai ngươi cùng lên cả một lúc cho tiện, và cứ việc thẳng tay, đừng có ngại gì hết.
Tên Tra Phong miệng mấp máy, hình như còn muốn năn nỉ van xin, nhưng người em Tra Lôi, có vẻ đầy can đảm hơn người anh, hắn ngang nhiên đứng phắt dậy, soạt một tiếng kiếm rút ra khỏi vỏ, hiên ngang nói rằng:
- Đại ca! Anh còn do dự gì nữa? Rõ ràng Chúa công đã có lệnh, nên mới cho sứ giả đến đoạt tính mạng chúng ta. Đại trượng phu dầu chết cũng phải oai phong hiển hách, hà tất phải ngoe nguẩy đuôi khuyển mà cầu xin làm gì, đã lâu lắm rồi, tuy đệ chưa bao giờ gặp mặt Chúa công: nhưng cá tính của Chúa công đệ rõ lắm. Khi mà Chúa công bắt anh phải chết trong hai canh, tuyệt không bao giờ kéo dài đến canh ba, nay sứ giả phụng mạng tới đây chẳng cần gì nói cho thêm lôi thôi! Chúng ta cứ việc tuân mạng cho rồi!
Tra Phong nghiễm nhiên đứng dậy hỏi:
- Dám hỏi sứ giả, phải chăng ý Chúa công muốn anh em chúng tôi chết...
Thượng Quan Linh lạnh lùng không đáp, Tra Phong bi phẫn rằng:
- Đã là lệnh của Chúa công, sứ giả cần gì phải ép chúng tôi ra tay như vậy, tuy bọn chúng tôi bất tài, nhưng vẫn còn đủ can đảm để tự sát!... - Rút ngay kiếm sửa soạn tự tử.
Bỗng lại nghi hoặc hỏi rằng:
- Dám hỏi sứ giả, nếu anh em chúng tôi hợp lực bị bại lẽ dĩ nhiên không còn nói vào đâu. Còn may mắn được sứ giả nể tình nhường cho nửa đòn nào... nếu vậy... sứ giả lại tính xử trí sao?
Thượng Quan Linh cười thầm trong bụng: đã sắp toi mạng đến nơi mà vẫn còn mơ sống, đáng cười thay cho lũ vô tri. Chàng bèn lên tiếng lạnh lùng:
- Hai ngươi chỉ cần thắng nổi ta nửa đòn thôi, bản sứ giả sẽ niệm tình tha ngay cho hai người tự do ra đi!
Anh em họ Tra mừng thầm trong lòng, anh em đưa mắt ra dấu với nhau, rồi Tra Phong lên tiếng:
- Kính thưa sứ giả! Vậy anh em chúng tôi xin giở hỗn với ngài vậy?... Và xin ngài chỉ giáo!...
Anh em họ Tra chia nhau một bên trái, một bên phải, thình lình vung kiếm ra áp đánh sang!
Tra Phong, Tra Lôi biết rằng trước mặt mình đây là một kình địch ghê gớm, chỉ cốt sao mình thắng được nửa đòn, nếu không, máu sẽ loang ngay tại đây mất, nên hai em ra tay toàn dùng các thế đánh bí hiểm để đoạt phần hy vọng cho bản mạng mình, càng đánh càng tỏ ra liều mạng.
Võ công quỉ dị của anh em họ Tra này, đều giống nhau ở chỗ tả chưởng hữu kiếm (bên trái chưởng, bên mặt dùng kiếm), đồng thời đưa ra, tay trái của hai người giơ xòe ra như hai móng trảo, nhằm bấu vào huyệt đạo thượng bàn của Thượng Quan Linh, đồng thời hai ngọn kiếm giao nhau như hình một chiếc kéo lớn, chém phạt túi bụi. Chỉ thấy kiếm thế chưởng phong vung lên tua tủa, dũng mãnh tuyệt vời!
Thượng Quan Linh cũng muốn cho hai tên hoảng hồn một chuyến, chàng không thèm né tránh, đứng ngẩn người như kẻ hoang mang bối rối, không biết tránh đòn ra sao. Anh em họ Tra cũng biết đối thủ đang vờ để nhử đòn, lập tức hoảng hốt, nhưng vì thời gian xảy ra quá chớp nhoáng, hai người không sao thu kịp thế đánh của mình về, chưởng và kiếm đều đánh trúng vào người Thượng Quan Linh. Anh em họ Tra chỉ cảm thấy đôi cánh tay đau nhói ê ẩm, và nơi mà chưởng kiếm đánh trúng ấy không khác nào như đánh trúng vào miên thạch vậy. Ngay lúc đó, Thượng Quan Linh hét lên một tiếng, thần lực phát ra, bên trái dùng chưởng, bên mặt ngọn câu liêm ưng trảo đánh cùng ra một lúc, chỉ thấy ánh sáng nhóa choáng lên đường, anh em họ Tra bị bung hẳn toàn thân lên, cây ưng trảo liêm vẽ lên một đường chớp nhoáng, cheng keng keng hai cây kiếm của anh em họ Tra bị tiện gãy rớt xuống mặt đất!
Tra Phong, Tra Lôi miễn cưỡng lóp ngóp bò dậy, tên Tra Lôi kể cũng còn khí phách anh hùng, từ ngày cha sinh mẹ dưỡng đến nay, hắn chưa từng thấy qua lối võ công xuất sắc tuyệt đỉnh này bao giờ, nay biết anh em mình, dẫu cho hợp sức cả sư phụ mình là lão bà đi nữa, cũng chưa phái đối thủ của Hắc y sứ giả này? Vị sứ giả quả danh bất hư truyền, công lực cao không thể nào lường nổi! Trong lòng đã tuyệt vọng, nghĩ nay đã bại, không sao tránh khỏi cái chết, chẳng thà mình tự sát quách cho yên phận! Nghĩ xong liếc nhìn ngay huynh trưởng Tra Phong, sắc mặt anh minh tái mét như gà bị cắt tiết, hơi thở dốc và mồ hôi ướt sũng tóc, tinh thần vô cùng khủng hoảng!
Hắc y sứ giả lúc này đứng cách hai người không xa, tay cầm ngọn binh khí kỳ hình quái trạng ưng trảo liêm, ánh sáng lấp loáng oai phong lẫm liệt.
Tra Lôi nói với anh mình rằng:
- Đại ca! Em xin đi trước đây! Và xin gặp anh dưới âm ty vậy. Tí nữa thầy có lại phiền anh bẩm lại, em rất ân hận là không thể nào hầu cạnh bên thầy mãn đời, vậy kính mong thầy hãy tự bảo trọng lấy ngọc thể, phúc thọ khang sinh...
Tra Phong bi thảm quyết liệt với em rằng:
- Tiểu đệ cứ yên trí đi vậy, ngu huynh sẽ lo bẩm lại với thầy và thế nào cũng sẽ gặp lại em dưới suối vàng...
Tra Lôi cầm ngay cây kiếm gãy trên tay, nhằm ngay tim của mình đâm mạnh, máu tươi phun, thân ngã bịch xuống!
Thượng Quan Linh vốn là người nhân hậu, không háo sát, dù đối kẻ địch cũng vậy, nay thấy Tra Lôi tự sát, chực tính ra tay ngăn chặn nhưng đã trễ, chàng tự cảm thấy ăn năn. Tra Phong lui ngay về góc âm thầm ngồi xuống, và lên tiếng hôi rằng:
- Tiểu nhân muốn gặp mặt thầy để từ biệt lần chót, không hiểu sứ giả bằng lòng cho phép không?
Thượng Quan Linh im lặng, lúc này chàng đang động lòng trắc ẩn, tuy nét mặt chàng đang được che phủ bằng một lớp mặt nạ da người bằng tướng mạo Bắc Ưng Lãnh Lạc, nhưng trong ánh mắt chàng đã để lộ ra một tia nhìn tỏ vẻ thương hại. Tên Tra Phong đã nhận ra cái nhìn quái lạ ấy, hắn đâm ngờ vực. Thượng Quan Linh cũng biết mình hơi sơ suất trong thái độ, bèn quay về chỗ ngồi để chờ lão bà bịt mặt, trong lòng thầm nhủ: Mình không nên tỏ ra yếu đuối tình cảm như thế! Thử nghĩ, nào cha nào mẹ nào tổ mẫu... nào em gái... cả nhà mười mạng... nay chỉ đổi có ba mạng của chúng, có gì gọi là quá quắt đâu?
Nghĩ vậy Thượng Quan Linh lại tỏ ra thần oai lẫm liệt của mình, Tra Phong thở dài, ngồi im một góc. Khá lâu, lão bà bịt mặt bước vào, nhìn thấy Hắc y sứ giả ngồi uy nghi đường thất, hai tên đồ đệ, Tra Phong ngồi co ro một góc, xác chết Tra Lôi nằm lăn dưới đất, lão bà bịt mặt kinh hoảng, lập tức đứng khựng lại, toàn thân run rẩy.
Thượng Quan Linh cố tâm muốn dày vò cho mụ ta đau khổ, hai mắt chàng nhìn đăm đăm vào sự đau khổ của mụ già bịt mặt, chỉ thấy toàn thân lão bà loạng choạng như muốn xỉu... Nhưng vị nữ ma đầu này quả là bất phàm, chỉ nhoáng mắt đã lấy lại sự bình tĩnh ngay.
Lúc này, Thượng Quan Linh rất muốn biết thần sắc của lão xem ra sao, nhưng tiếc vì có khăn đen che kín mít! Chàng chỉ nhìn thấy đôi mắt tỏa ra những ánh sáng đau khổ, tuyệt vọng thê thảm... Lão bà bịt mặt không nói một tiếng nào, lẳng lặng bước sang, cầm ngay một phong thư dán kín giao ngay sang cho Thượng Quan Linh. Chàng thu ngay bức thư kín bỏ vào túi, chàng cũng biết trong này đã ghi chép tất cả những nguyên nhân đầu đuôi của vụ án mượn tay Tỉ Vương dùng dị bảo Lãnh điện tỉ thủ để giết mười mạng người của gia đình mình. Lúc này Thượng Quan Linh đã sôi gan nóng lòng, cho rằng giờ đây ba thầy trò lão bà bịt mặt phải thường mạng, vụ này phải được giải quyết trước, còn lại tất cả nguyên do đã gây nên vụ thảm án sẽ tìm hiểu sau...
Thấy hai thầy trò của lão bà đang chăm chăm ngó mình, Thượng Quan Linh cố ý quay tử thi của Tra Lôi và khiêu khích rằng:
- Lão bà chắc đã kinh hãi việc xảy ra như thế, và cũng không ngờ chuyện lại đột ngột như vậy?
Lão bà bịt mặt bỗng cất tiếng cười lên sằng sặc kinh rợn rằng:
- Có gì là lạ lão bà ta đã biết trước thế nào cũng có một ngày như đêm nay... Hà! Hà! Hà... - Tiếng cười thê thảm rờn rợn...
Thượng Quan Linh sử dụng ngay đến nội lực ép tiếng nói ra để át vào tiếng cười quái gở của lão bà, Và truyền ngay vào tai hai người rằng:
- Đã biết có ngày hôm nay, vậy tại sao lại theo hầu Chúa công?
Việc dò thăm mạo hiểm này, chính là điểm nghi ngờ còn lẩn quẩn trong lòng Thượng Quan Linh, lão bà từng biết Tỉ Vương là tay độc ác dã tâm, tại sao lại can tâm tình nguyện tiếp nạp?
Không ngờ câu hỏi này lại do chính miệng của Hắc y sứ giả một trợ thủ đắc lực nhất của Tỉ Vương hỏi ra, dầu cho lão bà bịt mặt là người tinh khôn đến đâu đi nữa, lúc này cũng không thể nào ngờ được rằng vị Hắc y sứ giả trước mặt mình đây lại là chàng Thượng Quan Linh đã cải dạng? Với địa vị của kẻ tâm phúc quyền uy nhất của Tỉ Vương, Hắc y sứ giả đã hỏi ngay đến câu hỏi này, quả không ai có thể ngờ được? Lão bà bịt mặt hình như cũng biết mình đã đến giờ tận số, không sao tránh khỏi, thà nói quách ngay tâm sự của mình ra:
- Thưa sứ giả, câu hỏi của sứ giả có biết tại sao tôi lại phải làm thế không?... Chẳng qua là một sự bất đắc dĩ... Hà! Hà! Hà...
Sau tiếng cười, lão bà bèn lên tiếng nói thẳng:
- Hắc y sứ giả có biết tại sao không? Không những chỉ riêng ba thầy trò chúng tôi mà thôi, phàm những người có quan hệ với Chúa công như thầy trò Độc Ma trên Vô ảnh Phong, Phổ Côn Bắc Kiếm trong Càn Khôn Ngũ Tuyệt phái Điểm Thương ở Vân Nam, Kê Vĩ Bang của Giang Nam, Biện Trang Hổ của Dực Đông... Tất cả mọi người này, đều như lão bà ta đây hết! Ta cũng biết sứ mạng của Hắc y sứ giả người đến đây hôm nay, vốn là nhận lệnh của Chúa công để lấy đoạt mạng ba thầy trò ta, Ha! Ha!... Nay ta là người ngoại lục tuần có chết, kể cũng không yểu tướng gì, vậy đâu có tiếc gì! Nhưng nay ta muốn nói toạc hết sự ân hận và hối tiếc của lòng ta, đáng lẽ không nên vì chuyện tư oán không trả thù được để rồi phải nhờ vả đến chủ nhân của Lãnh điện tỉ thủ ra tay hộ, khiến nỗi tạo ra hoàn cảnh mất tự do như ngày hôm nay! Nhưng lão bà ta tin chắc rằng, sau khi ta chết không bao lâu, Chúa công Lãnh điện tỉ thủ của ngươi chẳng còn sống được bao lâu trên trần này...
Nghe vậy, đủ rõ thủ đoạn khủng bố rùng rợn của người thống trị Tỉ Vương đã đến cực quyền chuyên chế ra sao rồi, ắt sau này thế nào cũng tự dẫy lửa đốt thân. Nhưng Thượng Quan Linh lúc này đang phải đóng vai Hắc y sứ giả, không thể nào lại không tỏ ý trung thành với Chúa công của mình, bèn lạnh lùng quát rằng:
- Hừ! Chớ nói sàm bậy! - Đôi mắt tỏa ra những tia hung dữ!
Lão bà bịt mặt vẫn thản nhiên, hình như không sợ gì cái chết đang kế cạnh, tiếp tục oai hách rằng:
- Sứ giả! Nay ta phiền Sứ giả về báo tin lại với Chúa công, lão bà ta tuy có chết cũng chẳng tiếc gì, nhưng ta tin tưởng chắc rằng phàm những kẻ mà hiện nay đang tấp nập đến tham dự cuộc thịnh hội tại Bách Linh Miếu đây, chẳng ai mà lại không bị kẹt như tình cảnh của lão bà ta đây, họ đều oán thán ngầm trong lòng, mãi đến nay Chúa công vẫn chưa cho người đời biết rõ mặt thật của mình, càng không dùng lối đối xử bằng thành tín và dùng đức để phục lòng người, cứ lo lợi dụng quan hệ mâu thuẫn, dọa dẫm khủng bố để ép thiên hạ. Lão bà ta dám quả quyết rằng, nếu cuộc diện cứ giữ nguyên tình trạng cũ ấy, thế nào cũng chẳng còn bao lâu thời gian để rồi phải bị tan nát thất bại nặng nề...
Thượng Quan Linh lại phải vờ nổi giận quát tháo om, tay khua ngay ngọn ưng trảo liêm rằng:
- Câm ngay không! Ngươi dám khi quân phạm thượng đến thế sao, tội đáng chết...
Lão bà sau cơn bồng bột khích động, lại trở về trạng thái lạnh lùng hỏi:
- Sứ giả! Chúa công cho ngươi lại đây tìm ta, ngoài trừ nhắc lại chuyện cũ xưa kia, còn căn dặn thêm gì không?
Thượng Quan Linh lúc này không biết mình nên trả lời sao cho phải, nếu nói không có gì, rất có thể lão bà nhân ngay dịp để hạ đài, mình sẽ mất ngay cơ hội.
Nhưng nếu nói là lấy tính mạng của mụ ta, câu nói hình như khó thốt ra miệng. Chàng đành gật đầu nói:
- Chúa công còn một việc nữa là nhờ bản Sứ giả đây truyền đến cho lão bà...
Lão bà bịt mặt không chờ nói hết, khanh khách cười ngay rằng:
- Sứ giả vốn là người ngoài cuộc, sự việc giữa Chúa công và ba thầy trò ta, Sứ giả chẳng qua là người phụng mạng mà thôi, đương nhiên Sứ giả cũng chẳng cần phải e nể gì! Nhưng cũng nên hiểu cho lão bà ta là người biết điệu lắm, oan có đầu, nợ có chủ, ai bảo ta trước kia đã suy tính bậy, nay không thể nào thoát khỏi số mạng. Ta cũng chẳng muốn trốn tránh hèn nhát làm gì, dù cho là sự trừng phạt tàn ác đến đâu lên trên thân ta, ta củng cam tâm chịu đựng hết, quyết không từ chối! Sứ giả cứ việc nói thẳng đi, phải chăng Chúa công đã muốn lấy tính mạng của thầy trò ta? Hừ! Hừ! Nhưng không biết Chúa công có vui lòng cho ta được quyền chọn lựa cách thức, vì ta muốn chết một cách nhanh chóng...
Lúc này lão bà bịt mặt đứng đợi câu trả lời phán quyết của Hắc y sứ giả nhưng không hiểu tại sao, Thượng Quan Linh lại nổi ngay lòng bất nhẫn. Chàng lập tức nghĩ, thôi vậy, mình chỉ kiếm cách làm nhục cho mụ ta một mẻ, để hả nỗi lòng báo thù của mình, rồi tha cho hai thầy trò trốn di, chỉ cốt sao họ trốn khôi thế lực của Tỉ Vương, từ nay bỏ tính gây ác; làm người ai chả có lúc lầm lỗi nhưng biết sửa lại tội lỗi mới đáng quí, nếu cứ oan oan tương báo mãi, biết đời nào mới xong! Thà lấy đức giải oán cho yên mọi chuyện gây thù kết oán! Có được vậy mới là bản sắc của kẻ hiệp nghĩa anh hùng.
Huống hồ lời nói của lão bà đây lại như đã vô cùng ăn năn về lỗi lầm của mình, tuổi tác lại nằm trong cảnh ánh nến (đèn cầy) lập lòe trước cơn gió, sống chết sẽ đến bất kỳ lúc nào không hay. Nay mình có tha cho mụ ta, chắc mụ cũng sống chẳng được bao lâu nữa. Còn tên Tra Phong cũng đáng tha thứ! Xét kỹ ra, chính Tỉ Vương mới là hung thủ giết hết mười mạng của gia đình mình, vậy mình nên tìm ngay Tỉ Vương để thanh toán món nợ không nhất quyết dứt được.
Thầy trò lão bà bịt mặt đã sốt ruột ngóng đợi, lão bà vẫn im lặng, nhưng tên Tra Phong đã ý lên một tiếng. Rõ ràng hắn đã phát giác vị Hắc y sứ giả này hình như có gì khác với bản tính độc ác tàn nhẫn xưa kia.
Thượng Quan Linh thấy tình trạng vậy lập tức quyết định nhanh ngay, đối với mối thù oán của lão bà bịt mặt này, mình nên xem rõ lời tự thuật trong bức thư của mụ ta đã rồi sẽ quyết định sau, lập tức truy cản theo để giết cũng còn kịp chán, nếu tội đáng tha, mình cũng nên rộng lượng buông cho mụ ta thoát khỏi cảnh thúc bó của Tỉ Vương, dùng đức trả oán, quả là một việc đáng thi hành. Nhưng giờ đây phải làm nhục mụ ta một mẻ để hả bớt cơn giận ấm ức trong lòng, đồng thời cũng chọc cho hai thầy trò họ uất ức bỏ đi, mình tiện bề bóc thư xem về vụ án ly kỳ của nhà mình. Quyết ý xong, Thượng Quan Linh lên tiếng rằng:
- Chúa công cũng không có ý gì đòi mạng của ba thầy trò ngươi ...
Câu nói này không những đã khiến cho Tra Phong mừng mà bà lão bịt mặt cũng tỏ ra sung sướng và nghi ngại...
Chỉ nghe lão bà bịt mặt lập tức lên tiếng rằng:
- Chắc Chúa công có chuyện gì muốn sai bảo ba thầy trò ta, nay Tra Lôi đã chết, còn hai thầy trò ta, nay đội ơn Chúa công không hết, nguyện sau này sẽ là thần bộc trung thành nhất với Chúa công, sau này, Chúa công có sai khiến bất luận là việc khó khăn đến đâu, cũng không dám từ khước...
Thượng Quan Linh chợt nghĩ ra một kế bất chợt, bèn nói:
- Kể ra Chúa công cũng không có điều gì yêu cầu quan trọng! Nhưng Chúa công có nói rằng, bởi vì lão bà bấy lâu nay vẫn che mặt bằng khăn đen như thế, nên chưa có lần nào được thấy Lư Sơn chân diện mục của lão bà, nay hạ lệnh cho Sứ giả mời người hãy tự bỏ chiếc khăn che mặt ra, và bản sứ giả sẽ lo vấn đề ghi chép kỹ càng các chi tiết về khuôn mặt của lão bà để trình về cho Chúa công tường lãm!...
Thượng Quan Linh nói câu này vốn vô tâm, chỉ cho rằng chuyện bắt chẹt này hay hay vui vui mà thôi. Nhưng không ngờ hai thầy trò lão bà bịt mặt nghe nói vậy, chẳng khác nào như sấm đánh ngang tai, hấp tấp lui về sau...
Chỉ thấy lão bà bịt mặt giận run người lên, không nói được một câu gì, tên học trò lớn của mụ ta liền quát mắng:
- Hừ! Tỉ Vương là người gì vậy? Tại sao lại dễ nuốt lời như thế, xưa kia từng hứa rõ với ân sư ta được không bao giờ cho ai thấy mặt thật... Bây giờ lại ngang nhiên giở trò phản phúc...
Thượng Quan Linh không ngờ sự việc lại quan trọng đến thế, nhưng muốn duy trì uy tín Hắc y sứ giả, chàng không thể không cứng cỏi quyết cương đến cùng được, đồng thời, tính háo kỳ của chàng đã nổi dậy ngay trong lúc này, không biết sau tấm khăn đen che mặt kia, liệu có những bí mật gì tại đó? Nghĩ xong, lên ngay giọng oai nghi quát lớn:
- Tra Phong! Hừ liệu mà giữ hồn, bản Sứ giả phụng mạng hành sự, lệnh Chúa công đã ban, ai dám trái cãi, sao ngươi dám cả gan gọi đến húy danh (tên kiêng kỵ) của Chúa công, bộ chán sống lắm rồi sao?
0
Hồi 071. Tuyệt Thế Tư Dung
[/align]

Tưởng đầu tiên Tra Phong ham sống sợ chết, chuyến này thế nào cũng hoảng hồn kinh vía. Nào hay sự việc đến lại trái ngược hẳn, chỉ nghe tên Tra Phong quát lớn:
- Này Hắc y sứ giả, nhà ngươi chỉ là hạng người thêm vi thêm cánh cho quân ác để hoành hành tác quái, thầy trò chúng ta đã bằng lòng giao sinh mạng ra thì thôi chớ... thế mà nay còn làm nhục người ta như thế, thử hỏi có ai chịu nổi sự bức hiếp quá độ như thế?... Tra Phong này nguyện liều mạng với ngươi luôn cho xong.
Dứt lời hắn nhảy ngay tới với đôi tay không, Thượng Quan Linh cũng đã biết công lực của người này ra sao rồi, đâu để ý gì, nhưng có điều chàng thắc mắc, tại sao muốn xem mặt lão bà bịt mặt đây là một điều tối kỵ như thế? Nghĩ xong chàng cười nhạt một tiếng, sửa soạn ra tay tiếp đòn Tra Phong, chợt lão bà bịt mặt đứng cạnh lên tiếng quát:
- Tra Phong! Mau lui về, châu chấu đá xe, thiêu thân chụp lửa, nào có bổ ích gì cho việc đâu?
Tra Phong đành cung kính nghe lời thầy lui ngay về sau đứng yên. Lão bà bịt mặt trầm tiếng rằng:
- Dám phiền Sứ giả hãy theo lão bà ta ra ngoài một chuyến, thế nào cũng làm vừa lòng sự yêu cầu của Sứ giả...
Giọng nói vô củng bi phẫn, Thượng Quan Linh đã nằm trong thế cưỡi lưng cọp đành ráng cứng đầu cứng cổ rằng:
- Nếu vậy thì hay lắm! Đi! Đi...
Tra Phong lẽo đẽo đi theo, nhưng bị lão bà bịt mặt ngăn ngay lại rằng:
- Phong con, đừng theo thầy đi làm gì nữa, vậy con hãy chờ tại lều đây, nếu thầy còn sống mà về, đó là một chuyện may mắn, còn nếu không, con phải nghe theo lời của sứ giả, không nên ương ngạnh, phải hiểu rằng con có chống cũng vô ích... may ra sứ giả không nỡ đang tay tận diệt, trong ba thầy trò, sẽ để con sống sót lại, khi đó con hãy hỏa táng thi hài của ta và anh con, xong đem tro cốt ấy về Ai Lao Sơn Vân Nam mà mai táng, và con cũng nên trầm tâm lo học đạo, chớ nên lưu luyến cảnh sống của giang hồ, càng không nên can dự vào bất luận là chuyện ân oán thị phi gì... Tình thầy trò bấy lâu, nay chắc phải quyết biệt nhau, vậy thầy mong rằng con sẽ gắng nghe lời thầy, chớ để thầy phải ngậm ngùi...
Thượng Quan Linh đứng cạnh, nghe những lời nói bi ai này cũng đâm mủi lòng, chàng chỉ nghĩ: mình vô tình bắt chẹt, chứ nào có ý làm nhục đâu, nay vì phải đóng vai Hắc y sứ giả, nằm trong thế cưỡi lưng cọp, nên không tiện ra mặt. Lúc này, tên Tra Phong đã quì ngay trước mặt lão bà bịt mặt khóc nức nở.
Lão bà đành cầm ngay cây trượng của mình bước nhanh ra lều, Thượng Quan Linh theo ngay đằng sau.
Lúc này vào khoảng canh ba của đêm trường, tay lão bà cầm ngay một cây tùng liệu (cây đuốc nhựa thông) sáng trưng, cùng với Thượng Quan Linh rời xa hẳn hai ngôi lều trên mười trượng, đến ngay một bãi cát im tịch. Sau khi cắm cây đuốc tùng liệu xuống cát, lão bà bịt mặt giơ ngay cây trượng lên rằng:
- Hắc y sứ giả! Không phải ta có ý muốn chống lệnh nhưng quả thật ta đã có lời nguyền từ trước, nghĩa là từ khi ta khởi sự che mặt đến nay, đã hơn ba bốn mươi năm rồi và chính ta đã tự đặt cho ta một qui lệ, trừ phi ta chết, hoặc là kẻ nào võ công thắng nổi ta, ngoài ra không ai có thể được thấy mặt thật của ta... mãi đến khi ta bắt đầu gặp Tỉ Vương - Nói tới đây, lão bà ngừng lại rồi tiếp ngay: - Xin lỗi, lão bà ta bây giờ không cần phải kính nể gì mà gọi Chúa công nữa... Lẽ đương nhiên, bộ mặt thật của Tỉ Vương và thậm chí đến thân hình của người này, trong bao nhiêu năm nay, chưa ai được thấy đích xác bao giờ, ta chỉ được nghe bằng giọng nói, nếu lão bà ta nhớ không lầm, lúc ấy y quả đã chấp thuận lời yêu cầu của ta, quyết không miễn cường bắt ta phải lộ diện thật... nhưng nào ngờ nay y lại ngang nhiên nuốt lời hứa như thế...
Ngập ngừng một hồi, lão bà lại tiếp:
- Đương nhiên sự đến đây của Hắc y sứ giả là phụng mạng Tỉ Vương, lão bà ta đâu còn biết nói gì hơn, nhưng lại không thể nào không giữ đúng theo lời nguyền của ta... Chính ta cũng biết Sứ giả là vị đại hiệp khét tiếng Bắc Ưng Lãnh Lạc, nay lại nghiễm nhiên là tay trợ lực đắc ý nhất của Tỉ Vương, lão bà ta tuy ở tít tại miền Vân Nam, nhưng cũng đã nghe danh sấm sét của ngươi, quả đáng khâm phục! Khâm phục!
Thượng Quan Linh ăn năn và lúng túng, chàng không biết nên xử trí ra sao trong trường hợp này, cảm thấy mặt nóng, nhưng may có mặt nạ che kín, nếu không chàng đã bị lộ tẩy ngay!
Lão bà bịt mặt thình lình cất giọng rằng:
- Nhưng ngày nay, Hắc y sứ giả không còn là vị đại hiệp Bắc Ưng Lãnh Lạc xưa kia nữa rồi, lão bà ta quả thật cũng không bội lời nguyền xưa kia, vậy Sứ giả đòi xem mặt ta... Hà hà!... Ít nhất cũng xin nhà ngươi ra tay biểu lộ vài ngọn tuyệt học của ngọn ưng trảo liêm khiến cho lão bà đây tâm phục khẩu phục, và ta sẽ tự sát để cho Sứ giả người tha hồ ghi chép về khuôn mặt của ta.
Dứt lời cây trượng của lão bà giơ ngay lên. Thượng Quan Linh phân vân và bối rối, không biết nên xử trí ra sao, cũng đành giơ ngay ưng trảo liêm lo giữ thế của mình.
Lão bà bịt mặt lại lên tiếng nói rõ:
- Sứ giả, trận đấu này sau khi phân rõ thắng bại, hễ lão bà ta may mắn thắng nửa đòn nào, dám phiền Sứ giả hãy về báo rõ lại với Tỉ Vương, thầy trò ta từ nay sẽ thoát ly khỏi quan hệ với y, mặc cho y có hăm dọa hay bắt chẹt bằng thủ đoạn gì, thầy trò ta thà chết chứ không chịu quay đầu! Nếu ta thua, đương nhiên không còn yêu sách gì để đòi hỏi, hơn nữa ta cũng đã chán đời rồi, chết đi cũng chẳng sao, nhưng... nhưng... nhưng về tên Tra Phong, nếu được Sứ giả tha cho hắn mạng sống, để hắn có thể đem di cốt của ta về quê mai táng, lão bà ta tuy có chết, cũng cám ơn đại đức của Sứ giả...
Thượng Quan Linh nhận lời ngay, lão bà bịt mặt lập tức cám ơn, nay khách sáo mời ngay Thượng Quan Linh ra tay trước.
Đấu óc Thượng Quan Linh lúc này rối lung bung, đối với lão bà bịt mặt này, tuy giận rất đậm, nhưng cũng khiêm tốn rằng:
- Lão bà niên trưởng, vậy kính xin ra tay trước!
Lão bà không còn do dự gì, ứng ngay tiếng:
- Mạn phép!
Dứt lời ào một trượng quất ngay sang.
Thượng Quan Linh hấp tấp né tránh, không ngờ lão bà già nua mà lại không thua gì thiếu niên, thân pháp nhanh, kình lực mạnh, Thượng Quan Linh hơi chột dạ.
Nhưng lại còn có chuyện quái lạ xảy ra, thế lão bà đánh ra toàn các ngọn lạ lùng, lúc này tay trái mụ ta thình lình trở ngược rạ, vận chỉ điểm ngay sang mặt Thượng Quan Linh, khi gần đến nơi lại bỗng đổi ngay lối điểm thành lối bấu hình như có ý muốn bấu quào này của đối phương, xem ra như vô tình nhưng quả thật là hữu tâm, phải biết rằng trên khuôn mặt của chàng lúc này, ngoài trừ đôi mắt sáng long lanh là của chính Thượng Quan Linh ra, còn lại tất cả tướng mạo đều mượn dạng cũ của Bắc Ưng Lãnh Lạc cả, nếu bị đối phương quào trúng, lập tức lộ nguyên hình ngay. Nhưng bản tính con nhà võ đã khiến Thượng Quan Linh nhoáng nhanh người để né tránh, tay trái dùng chưởng, tay mặt câu liêm, đồng thời phát đòn ra cự địch.
Hai ngọn binh khí một trượng và một câu liêm còn chưa kịp giáp tiếp nhau, chưởng bên trái của Thượng Quan Linh, đã hoa nhanh ngay trước mặt để đỡ ngay bàn tay như quỉ trảo của lão bà, và đang lúc tính phát đòn ra công hãm, thình lình lão bà bịt mặt biến đâu mất, Thượng Quan Linh biết lợi hại ngay, chợt vội quay nhanh ngay mình lại. Thì ra mụ ta đã nhoáng vèo về phía sau lưng chàng, lúc này đôi bên chỉ cách nhau có gần một thước. Thượng Quan Linh giật mình thất kinh, công lực của lão bà nay lại cừ giỏi hơn trước nhiều, tuy tuổi tác đã cao niên, nhưng với thân pháp lanh lẹ và linh động tuyệt độ quả thật là khiến người ta khó lòng tin! Nguy cơ hiện ngay trước mắt, Thượng Quan Linh chỉ còn hét lên một tiếng, từ ngọn chưởng và cả cây câu liêm đồng thời đánh thốc ra nhanh như nhoáng điện để tự cứu bản thân và công hãm địch thủ.
Choang một tiếng vang lên dữ dội, ngọn ưng trảo liêm chém trúng ngay cây trượng đen của lão bà bịt mặt, sao lửa tóe nhoáng lên một vùng nhỏ, binh khí đôi bên đều là loại thép quí, ngang nhiên thành thế cờ trống tương đương, bên kia tám trượng bên này nửa cân! Nhưng cũng trong chớp mắt đó, ngọn kình lực bên tay trái của Thượng Quan Linh đã chiếm ưu thế, đừng nói là lão bà bịt mặt là người đã cao niên, dù cho còn trẻ đi nữa cũng quyết không thể nào đỡ nổi thần lực của Thượng Quan Linh, nay song chưởng tương giao với nhau, nội lực của đối phương dần dần yếu hẳn, cuối cùng, chịu không nổi, khẽ hừ lên một tiếng, nhanh chân lùi tránh.
Lão bà bịt mặt lùi ngay một hơi mấy bước, mới đứng vững tấn của mình, chỉ nghe một tiếng thở dài sau tấm khăn che mặt của lão bà, Thượng Quan Linh lúc này ngầm cảm thấy sung sướng, chàng nhớ bị Phủ Chưởng Hàn ngày nào của lão bà bịt mặt đây, nay mình nghiễm nhiên thắng hiên ngang như thế, quả đã nhờ kỳ công của Tuyết bi tiên hoa. Nay ỷ vào thần lực tinh diệu và võ nghệ của mình đây, đâu còn phải ngán sợ gì ngọn Phủ Chưởng Hàn? Khi nghĩ đến Phủ Chưởng Hàn, Thượng Quan Linh lại giận tiết lên tiếng rằng:
- Nay lão lão, sao không dùng ngọn độc công Phủ Chưởng Hàn; Bản sứ giả sẵn sàng tiếp hầu ngọn tuyệt kỹ độc công xem lợi hại đến đâu!
Lão bà bịt mặt giật mình, giọng nói có vẻ đau khổ rằng:
- Xin Sứ giả chớ có nhắc đến chuyện Phủ Chưởng Hàn làm gì nữa, lão bà ta đã phát thệ, suốt kiếp này, không bao giờ dùng đến ngọn độc công ấy nữa.
Thượng Quan Linh ngạc nhiên hỏi:
- Tại sao vậy?
- Vì nửa năm trước đây, ta đã thử chưởng lực này khiến cho một vị thiếu niên bị thương, sống chết không biết ra sao, nay ta hối hận vô cùng...
- Hừ!...
Lời đoán này của lão bà, quả nhiên trùng hợp với sự nghi đoán của Thượng Quan Linh.
Thình lình lão bà bịt mặt lên tiếng:
- Hừ!... Hắc y sứ giả, chính nhà ngươi đây đâu phải là Bắc Ưng Lãnh Lạc gì, mà nhà ngươi chính là ác ma Tỉ Vương, và ta cũng tin chắc nhà ngươi đã giết mất Bắc Ưng Lãnh Lạc và đeo ngay bộ mặt nạ giống hệt của vị đại hiệp này... Nay ta đã sắp thành kẻ thiên cổ, ta chỉ cầu mong ngươi cho ta được thấy bộ mặt thật của Tỉ Vương của ngươi! Hơn nữa ta đã sắp về chín suối, lẽ đương nhiên đâu còn có thể tiết lộ bí mật của ngươi ra trong thiên hạ...
Trong lòng Thượng Quan Linh lúc này đủ các mùi vị chua đắng, cay, ngọt, mặn, chàng đứng ngẩn người không biết tính ra làm sao. Bụng nghĩ thầm: Nếu mụ mà thấy mặt thật của ta, e lại không hoảng đến cấm khẩu luôn ấy à! Nào ngươi có ngờ đâu con trai của kẻ thù đã thân hành đến đòi món nợ máu trong trường hợp quá ly kỳ này!
Chợt nghe tiếng lão bà kêu lên:
- Cho ta xem! Cho ta xem!
Vừa kêu vừa loạng choạng chạy sang, Thượng Quan Linh nổi khùng, giang ngay tay chận, đồng thời phát ra một ngọn đòn kỳ khí chỉ nghe soét một tiếng, giở bung ngay khăn che mặt của lão bà - một chiếc khăn đen mà đã che suốt bốn mươi năm trời. Lúc này, trời gần sắp sáng, Thượng Quan Linh được thấy chân diện mục của lão bà bí mật. Chàng kinh hoảng, tiếp theo là hoang mang và như người bị vây trong mê hồn trận, không còn hiểu tại sao và tại sao nữa... Lão bà lúc này chỉ mỉm cười nham hiểm. Thượng Quan Linh ngó chăm chăm vào khuôn mặt ấy nhưng chợt đôi tay như quỉ trảo đã thò ngay gần cổ Thượng Quan Linh...
Thượng Quan Linh cảm thấy một luồng gió lạnh tạt tới trước mặt chỉ chớp mắt, chiếc mặt nạ tướng mạo của Bắc Ưng Lãnh Lạc đã nằm ngay trong đôi trảo của Lão bà!
Khi một khuôn mặt anh tuấn lộng lẫy xuất hiện trước mặt lão bà, sự kinh hãi cao độ đã khiến cho mụ ta ối lên một tiếng thất thanh!
Phần Thượng Quan Linh, khi chàng đang bị mê hoặc với mặt thật của lão bà ấy, bỗng dưng gặp sự thay biến thình lình như thế, với bản năng tự vệ của con người khi gặp biến, chàng đã nhanh tay bửa ra một chưởng, phét một tiếng, toàn thân lão bà đã lăn xuống mặt cát như một nhánh cây khô bị gãy. Đến khi Thượng Quan Linh phát giác sự việc ấy là chuyện gì thì lão bà đã bị trúng chưởng nơi ngực, và chính mụ ta đã cố ý không tránh ngọn đòn ấy, tính mạng của mụ ta khó mà kéo dài!
Với thần lực của Tuyết bi tiên hoa, ngọn chưởng ấy đâu phải tầm thường gì, dù cho là hạng đệ nhất lưu cao thủ, cũng khó mà chịu nổi, huống hô đây lại là một lão bà cao niên, và lạ nhất là sau khi mụ ta kêu lên một tiếng ôi lại không chịu né tránh đòn đánh, trái lại ngang nhiên hứng chịu ngay đòn chí mạng cua Thượng Quan Linh. Thậm chí mụ ta không hề hự lên được một tiếng nào, chắc chắn đã bị trọng thương nơi ngực, máu tươi đã thấy ứa ra đằng miệng.
Thượng Quan Linh đã bị mê hoặc, một thứ mê hoặc mà không sao giải thích nổi: chuyện này sao lại có thể như thế được?! Chàng cố suy ngẫm... trong khi Thượng Quan Linh bắt chẹt để lột chiếc khăn của lão bà ấy; thâm tâm của chàng đinh ninh rằng: sau tấm khăn che mặt ấy, nhất định phải là một khuôn mặt xấu xí vô cùng và già nua. Rất có thể là khuôn mặt ấy không thua các nhân vật kinh tởm trên Phi Các ma cung của Vô ảnh Phong, phải là bộ mặt thịt rữa xương tan rùng rợn vì các bệnh cùi lở loét nếu không thì cũng là bộ mặt bị người thù phá hủy. Bốn mươi năm trời như thế, nên hiểu rằng chuộng đẹp vốn là thiên tính của loài người, nhất là đối với phái nữ, luôn luôn thích cho mọi người phải trầm trồ về vẻ đẹp của mình, vô phúc cô nào không đẹp thì cũng ráng tìm chút duyên nổi hoặc duyên chìm để cầu bắt những cái nhìn lắc lư của thiên hạ, thế mà lão bà này đã chịu khó che bộ mặt của mình suốt bao nhiêu năm ấy, chẳng cần nghĩ cũng đoán được bộ mặt ấy phải kinh tởm rùng rợn lắm!
Nhưng tất cả mọi biến chuyển, đều xáo trộn một cách quá đột ngột, không thể nào tưởng tượng được, càng khiến cho Thượng Quan Linh phải ngơ ngác kinh dị. Khi chàng tước được chiếc khăn che mặt của lão bà ra, một khuôn mặt đặc biệt ngoài sức tưởng tượng của chàng đã xuất hiện trước mặt chàng! Đó là một bộ mặt tuyệt đẹp, trẻ măng như cô gái mười bảy mười tám, làn thu ba sáng long lanh, mày hình lá liễu, môi hình anh đào, mũi thon và cao, nghĩa là tất cả các ngũ quan trên bộ mặt này đều phối hợp một cách khéo léo lạ, từ má đến trán, không thể nào tìm ra được một nét nhăn của tuổi già, với bộ mặt tươi trẻ như thế, nhiều lắm là hai mươi tuổi là cùng, nhưng bộ mặt hấp dẫn ấy lại không tương xứng với bộ tóc trắng đen lẫn lộn trên đầu và thân hình luộm thuộm của lão bà già nua, đã có gần sáu mươi tuổi. Thượng Quan Linh cũng càng không hiểu việc mà lão bà đã tự xưng đã gần sáu mươi, nhưng tại sao lại còn giữ được một dung mạo trẻ đẹp như cô gái mười tám như thế, không lý dưới trần gian này lại có thứ linh dược quí báu đến thế sao? Hay là nhờ sự hung dâm mà giữ được phong độ thanh xuân đến thế. Chàng nghĩ ngay: Với bộ mặt tuyệt đẹp và hấp dẫn như thế, người khác, họ đã cố phô trương hầu như cho thiên hạ đều phải say đắm về dung nhan tuyệt thế của mình, nhưng người này sao lại quái gở khác thường đã che đậy giấu giếm đi như thế trong suốt bốn chục năm trời với tấm khăn đen? Thượng Quan Linh say sưa suy nghĩ để tự tìm câu giải đáp, mãi đến khi chiếc mặt nạ của chàng bị người tước ra mới kinh tỉnh. Càng không ngờ trong lúc cuống quít phát chưởng ra, đối phương lại không chịu né tránh, nên bị thương nặng và nằm chờ tử thần đến rước.
Thượng Quan Linh chăm chú nhìn, phát giác người này hãy còn sống, lúc này đang từ từ ngồi nửa mình dậy, trên nét mặt hấp dẫn lạ lùng ấy này, hình như đã cảm thấy một sự vui mừng trong lòng vậy, lúc này chỉ thấy đôi mắt hiền hòa của lão bà có bộ mặt thiếu nữ này nhìn chăm vào Thượng Quan Linh.
Thượng Quan Linh bất giác ngồi xổm ngay xuống dịu dàng hỏi:
- Còn nhận được tôi chứ?
Mặc dù bị trọng thương trong mình, nhưng lão bà vẫn có thể phát âm nói rõ từng âm ngữ rằng:
- Có! Tôi nhận ra anh, anh là Thượng Quan Linh, và tôi... tôi không bao giờ quên được anh...
Thượng Quan Linh giải thích với vẻ hối hận.
Quả thật tôi không có ý đánh bị thương... như thế, tuy chúng ta có mối thâm thù huyết hận với nhau, nhưng khi tôi biết bà đã có ý ăn năn hối cải, tôi đã không muốn ra tay làm gì... nhưng ngặt vì, dung mạo của bà khiến tôi kinh ngạc sững sờ, và trong lúc ấy bà lại thình lình nhân cơ hội để tước mặt nạ của tôi... Với bản năng tự vệ của con nhà võ, không ngờ đã khiến cho bà phải trọng thương...
Vẻ ăn năn lúng túng của Thượng Quan Linh, khiến cho lão bà vui tươi hồn nhiên...
Chỉ thấy lão bà tươi tỉnh cười rằng:
- Ta cũng không giấu gì anh, với bộ mặt hấp dẫn này của ta đây, bốn mươi năm về trước, không biết đã làm điên đảo biết bao nhiêu chàng trai hồi bấy giờ, dẫu cho các người trai anh tuấn hồi đó có anh hùng hảo hán đến đâu đi nữa, nhưng đứng trước mặt Lỗ Yểu Nương ta, đều phải ngoan ngoãn nghe lời bày bịa của ta...
Bấy giờ Thượng Quan Linh mới hiểu rõ kẻ thù của mình tên gọi là Lỗ Yểu Nương, nghe tên này cũng quen tai lắm, nhưng Thượng Quan Linh không nhớ rõ mình đã nghe tại dâu, chỉ mơ màng hiểu rằng, cái tên này đã từng vang danh một thời trong làng giang hồ mấy mươi năm về trước. Thượng Quan Linh không khỏi cho lời nói của Lỗ Yểu Nương là đúng, vì sau bốn mươi năm của ngày hôm nay đây, Lỗ Yểu Nương đã tóc trắng, động tác đã hoàn toàn của một bà già, ấy thế mà dung nhan của bà vẫn còn sức thu hút người nhìn không chán đến thế, ngược dòng thời gian về bốn mươi năm về trước, vào thời vàng son của Lỗ Yểu Nương, với bộ mặt hấp dẫn tuyệt vời như tiên ấy, cộng thêm bộ tóc đen óng mượt, thân hình yểu điệu Thượng Quan Linh nhắm mắt tưởng tượng cũng hình dung được sắc đẹp ấy có thể hơn Liễu Mi bây giờ của mình, thậm chí so với A Hương chắc cũng tương đương và có phần hơn là khác.
Lúc này, Lỗ Yểu Nương nhìn chăm Thượng Quan Linh, từ từ cất giọng rằng:
- Bốn mươi năm trước, chính ta đã tự động che mặt lại phần vì chính bản thân mình, phần nữa là vì một người khác, và ta cũng không muốn để cho thiên hạ vì sắc đẹp của ta mà nổi lòng si mê để quấy phiền ta, thậm chí có thể gây nên những bi kịch không đâu...
Không ngờ hồi đó nàng Lỗ Yểu Nương lại biết suy nghĩ lợi hại đến thế, lại càng không muốn dùng sắc đẹp . của mình để gây khổ cho các chàng trai si tình, đành dùng khăn che ngay dung mạo tuyệt đẹp của mình lại để tránh bớt thị phi, hành vi này quả khiến ta khâm phục kính nể.
Thượng Quan Linh bất giác đâm ra hảo cảm với Lỗ Yểu Nương rằng:
- Lão có tâm tình hoài bão như thế, nhưng không biết lão vừa rồi nói, một nửa vì mình, như vậy có ngụ ý gì bên trong?
Lỗ Yểu Nương bị hỏi đột ngột, hình như đã chạm vào chuyện thầm kín vậy, bất giác thở dài rồi nói:
- Có gì đâu, trọn bốn mươi năm về trước, ta đã cố gắng tìm cách để giữ gìn dung nhan cho tươi hoài, nhưng mục đích để làm gì? Giờ đây nói ra kể cũng nực cười, bởi vì hồi ấy ta áp đảo một vị thiếu nữ đẹp, vì thiếu nữ đó với ta cùng yêu một chàng trai anh tuấn xuất sắc, hành động này của ta, có thể là cố cạnh tranh để được yêu...
Thượng Quan Linh cho rằng hành động này không có gì là quá đáng, chàng vừa nghe vừa gật gù.
Lỗ Yểu Nương với một giọng bi thảm lại nói tiếp:
- Nhưng về sau, bao nhiêu công trình của ta đều sụp đổ hết, mặc dù ta có thể giữ dung nhan tươi trẻ mãi mãi, và sắc đẹp của ta hấp dẫn đến độ không sao từ chối, nhưng chàng ta... chàng ta đã nhiếc ta là loại hồ ly tinh, dẫu cho biết bao đàn ông phải điên đảo với ta... mặc dù ta đã tận dùng hết các cách, nhưng đều vô hiệu và người mà ta yêu ấy đã tuyệt tình ra đi... Kể từ đó ta cũng tuyệt vọng bằng cách dùng khăn đen che ngay nhan sắc của ta lại không muốn cho ai thấy...
À ra là vậy, Thượng Quan Linh nghĩ thầm, Lỗ Yểu Nương này kể ra cũng là gái chung tình lắm, nhưng không biết người đàn ông đó ghét người ta về điểm nào mà nỡ tuyệt tình đến thế, lúc này Thượng Quan Linh cảm thấy thương hại cho mối tình tuyệt vọng của Lỗ Yểu Nương, bèn hỏi rằng:
- Nếu vậy, chắc lão ghét giận người đó ghê lắm?
Lỗ Yểu Nương gật đầu:
- Đúng thế! Ta giận vô cùng, đã có một dạo ta đã nghĩ đến ăn thịt uống huyết chàng ta mới hả dạ... Nhưng những năm gần đây, ta đã nghĩ vỡ hết lẽ sống của đời, tất cả mọi sự trên thế gian này, chẳng khác nào làn khói bay ngang mắt mình vậy, tài cao, sắc đẹp, rút cục rồi cũng hóa thành đất bụi, tất cả mọi sự của thế gian, đều không sao tồn tại với sự tàn phá vô tình của thời gian... Đúng là đàn bà họa thủy, hồng nhan là cạm bẫy, tự cổ không biết đã chôn vùi biết bao nhiêu anh hùng hiệp sĩ!... Thượng Quan Linh! Anh nên nghe lời răn khuyên của ta, chớ nên bị sắc đẹp quyến rũ ý trí của mình, tự mình phải nắm chắc chủ trương của mình! Chính người đàn ông mà ta đã yêu ấy, không khác gì điển hình của anh bây giờ, chàng ta đã phân biệt rõ thị phi và thiện ác, càng không bao giờ bị sắc đẹp mê hoặc, tuy hồi đó ta giận chàng lắm, nhưng nay suy ra, ta không thể nào chối cãi là chàng ta đã có lý.
Thượng Quan Linh lúc này nghiễm nhiên nghe những lời khuyên răn, mắt thấy vị Lỗ Yểu Nương nay hiện thân nói rõ cuộc đời xưa kia, vô tình cũng như đã cho Thượng Quan Linh biết rõ xưa kia, lão bà cũng là người đẹp trời nghiêng nước ngửa như ai, nhưng khác là đáy lòng độc như rắn của nàng, rất có thể thanh danh còn bị vang tiếng là khác. Tuy đã bị người ta bỏ rơi, mà vẫn nay phải công nhận là người ta có lý.
Nhìn kỹ sắc mặt của Lỗ Yểu Nương, thấy càng tái mét hẳn, vài vết thương nơi vai và ngực đều trầm trọng, nay lão bà đều trông vào công lực để duy trì sự sống của mình. Tử thần đã mỗi lúc một gần Lỗ Yểu Nương.
Thượng Quan Linh bất giác lên tiếng hỏi:
- Lỗ lão lão, bây giờ ngài thấy sao?
Lỗ Yểu Nương hiện ra một nụ cười tươi trên khóe miệng rất nhanh và khẽ giọng rằng:
- Cám ơn anh đã hỏi han, ta còn khá lắm, anh cứ yên tâm. Anh đã rộng lượng với ta như thế, ta mừng lắm!...
Thượng Quan Linh tuy không nói gì, nhưng lòng chàng vô cùng mâu thuẫn, trước mặt mình đây, là kẻ đại thù của gia đình mình, thôi, mình không đang tay hạ thêm độc thủ làm gì cho mang tiếng ác, nay phó mặc hết cho định mạng vậy!
Lỗ Yểu Nương lại lên tiếng rằng:
- Đến nay, manh mối của thù oán với song thân của anh, ta đều đã viết rõ trong lá thư, nên lúc này cũng chẳng có phải thuật lại nơi đây làm gì, sau này anh rảnh xem sẽ rõ! Những gì đã lầm lỗi, đều lầm lỗi cả rồi, người chết không thể nào sống lại được... Ta đã ăn năn bao nhiêu vì chuyện ấy, ta cũng không còn nhiều thì giờ để sống nữa... - Nói tới đây, âm giọng của Lỗ Yểu Nương quá nhiên tất cá đã yếu dần hẳn.
Thượng Quan Linh thấy mủi lòng, vội vàng rằng:
- Lỗ lão lão xin đừng nói những chuyện ấy nữa, xin hãy an lòng nghỉ cho khỏe, để tôi đi cho tin Tra Phong lại đây lo cứu cấp...
Lỗ Yểu Nương vội lắc đầu hấp tấp nói:
- Thôi! Anh cũng chẳng nên quýnh lên thế làm gì, số phận của ta chỉ có thế thôi, đừng có miễn cưỡng làm gì nữa. Nay nhân lúc không có ai tại đây, ta còn đủ chút hơi thừa, vậy hãy mau nghe ta thuật lại những bí mật về Tỉ Vương, để anh có thể áp dụng lối biết người biết ta, với tài trí thông minh của anh, để mà đi phó hội mùng mười Tết tới đây tại Bách Linh Miếu.
Với giọng yếu đuối của người sắp chết, Lỗ Yểu Nương bèn sơ lược về cá tính bí mật của Tỉ Vương ma quân, người này quả là một quái nhân bất bình phàm, xuất đạo giang hồ đã lâu năm, đến nay, các phái trên giang hồ đều bị y thao túng, đông nhất là số người trong hai phe Hắc, Bạch đạo, đã ngang nhiên tạo thành một tổ chức hết sức lớn lao, nhưng có điều lạ nhất: xưa nay chưa ai thấy qua mặt thật của người này ra sao. Y có bốn vị sứ giả lừng danh là Tử y sứ giả, Lục y sứ giả, Bạch y sứ giả và Hắc y sứ giả, bốn người đều thay mặt y để hành sự theo cái gọi là lệnh Chúa công, bốn người này đều là những nhân vật nổi danh, công lực tuyệt cao và nhất là một lòng trung thành với Tỉ Vương, chỉ huy đám quần hào, nếu ai không tuân phục, một trong bốn Sứ giả có thể ra tay tiền trảm hậu tấu ngay. Có khi bốn Sứ giả không ra tay giết, nhưng kẻ bị nạn có thể chết một cách bí mật rùng rợn, trường hợp đó các Sứ giả sẽ loan báo: chính đó là do Chúa công thân hành ra tay trừng trị tội nhân. Những cảnh trừng phạt ghê rợn khủng khiếp như thế, khiến không ai lại không ngán sợ! Còn với bốn Sứ giả hung ác lại càng dữ tợn, hễ không ra tay thì thôi, còn một khi đã can thiệp vào chuyện gì, không bao giờ để cho người nào sống sót, nên chi những nhân vật có dính dáng đến Tỉ Vương, không ai là không bị kềm chế thao túng theo lối khủng bố tinh thần đó! Không còn ai dám phán kháng Chúa công ghê gớm Tỉ Vương!
Nghe đến đây, Thượng Quan Linh bỗng sực nhớ đến vụ qua sông băng tuyết ở Hoàng Hà, khét tiếng như Bắc kiếm Phổ Côn mà cũng phái ngán oai lực của Tỉ Vương nên đã phải thốt ra câu nói: Ta còn muốn sống thêm vài ngày. Lỗ Yểu Nương lại kể tiếp, theo như lão bà được biết, hiện nay đám người đang bị Tỉ Vương thao túng trong tay, ngoài trừ ba thầy trò của Lỗ Yểu Nương ra, có phái Điểm Thương ở Vân Nam, thầy trò Độc Ma Vô ảnh Phong, Kê Vĩ Bang miền Giang Nam, Biện Trang Hổ miền Dực Đông, Thái Hành Lục Khấu. Bắc kiếm Phổ Côn đầu hàng, còn hai vị Đông tăng Túy Đầu Đà và Tây đạo Thiên Si không chịu phục, lúc này đã bị giam cầm, và gần đây nghe đâu tên phiên tăng miền Thiên Trúc là Tả Pháp Thụ và trưởng nữ của Thanh Thông Bang Liễu Văn, cũng đã tham gia vào trận doanh của Tỉ Vương, mà còn giao luôn chiếc cờ Tiểu Đoạt Hồn Kỳ cho Tử y sứ giả để chuyển giao lại cho Tỉ Vương, đồng thời Liễu Văn cũng đã viết thơ gửi về Thanh Thông bang chủ Liễu Khải, mời ngay ông già đến mạn Bắc miền quan ngoại để dự thịnh hội Bách Linh Miếu vào ngày mùng mười Tết.
Dụng ý của Tỉ Vương là muốn kết đúc lại đồng minh thật lớn mạnh, giăng lưới để bổ vây khắp các cao thủ trong thiên hạ, tới sẽ so tài cao thấp với Độc chỉ Thôi Bác tại miền Trung Nguyên, cần Tứ đại sứ giả hoặc dùng phi xà huyện lệnh, hoặc thân hành ra quân, hạ lệnh cho mọi người phải đến tập trung tại Bách Linh Miếu, vào đúng ngày mùng mười Tết. Chúa công của mọi người sẽ thân hành ra đứng ra lãnh việc chủ trì để làm lễ khai đàn lập phái cho các cao thủ.
Và hết thảy những nhân mã hảo hán của các đường lục lâm và bị Ti Vương thao túng ấy, trong mấy ngày nay đây họ đã kéo nhau đến địa giới của Mạc Bắc này rồi. Ai nấy cũng biết rằng chỉ riêng phần Tỉ Vương công lực cao tuyệt không thể nào ngờ được, các tay trợ thủ đắc lực như Tứ đại sứ giả, toàn là những nhân vật sóng gió oai hách một thời trong giang hồ võ lâm xưa kia. Trong đó, Tử y sứ giả lại là Tử tu khách Yểu Phi, một nhân vật nổi tiếng miền Hiệp Bắc, vị này là một tiền bối trong làng Bạch đạo công lực cao giỏi, tính tình ngay thẳng và nhân hậu, lừng danh trên giang hồ, đã phong đạo qui ẩn lâu năm, nhưng không hiểu sao nay ông ta lại chịu giúp tên Tỉ Vương thật là một sự kiện quái lạ...
Lam y sứ giả là Lân vương Cổ Thái Huyền, người này vốn là một đại đạo độc cước nổi danh trong làng Hắc đạo giỏi về ngọn ám khí Lân hỏa đơn, có thể nói là không ai địch lại. Lục y sứ giả là âm ty tú tài Trần Thân là một tay bại loại trong giang hồ, tên này vốn là một tên thám hoa dâm tặc. Hai tên Cổ Thái Huyền và Trần Thân này, đều là những kẻ đã chồng chất khá nhiều vụ án, công lực thuộc vào hạng cao thủ tuyệt vời trong làng Hắc đạo, nay đều bị Tỉ Vương thu nạp dưới trướng đã gây vi gây cánh thêm cho mạnh, không gì lạ lắm.
Lạ nhất là với Hắc y sứ giả, từ tướng mạo cho đến binh khí, đều tỏ rõ cá tính của người này xưa kia là người công bình chánh trực, chính thế mà Bắc Ưng Lãnh Lạc lại được người đời ví cho cái danh của Lỗ Trọng Liên, nhưng nay xét ra, có hai điểm khác xa nhau, Bắc Ưng Lãnh Lạc vốn là người thích màu trắng, chuyện này ai ai cũng biết, nhưng nay thình lình lại chuyển biến hẳn sang màu đen, điểm thứ là Bắc Ưng Lãnh Lạc vốn là con người nghĩa hiệp chánh phái, tại sao lại cam chịu đi làm tay sai như thế, đáng nghi ngờ lắm.
Trong Tứ đại sứ giả đối với Cổ Thái Huyền và Trần Thân, không ai lạ gì, vì bản lĩnh sài lang của chúng như thế nhưng đối với Lãnh Lạc và Yểu Phi, mọi người có vẻ nghi ngờ. Trong sự suy đoán của lão bà bịt mặt Lỗ Yểu Nương, vì xưa nay chưa hề thấy Tứ đại sứ giả cùng tập họp nhau và xuất hiện cùng một lúc bao giờ cả, như vậy có thể đoán ràng; Tứ đại sứ giả đây, rất có thể là kẻ hóa thân của Tỉ Vương, vi trên thực tế, tên Tỉ Vương này vốn là kẻ thông minh tuyệt đỉnh, ở thể nói ít ai bì kịp, càng có thể những người như Tử Tu Khách Yểu Phi, Bắc Ưng Lãnh Lạc, Lân Vương Cổ Thái Huyền, Âm Ty tú tài Trần Thân, bốn người này sự thật đã bị Tỉ Vương giết từ lâu hoặc đã giam cầm tại một nơi nào?
Còn chính bản thân của Tỉ Vương lại mượn lốt của Tứ đại sứ giả này xuất hiện tùy theo nhu cầu để thao túng các phái bằng bộ óc hết sức tinh khôn của y. Đến nay, giả thuyết của Lỗ Yểu Nương lập ra và được Thượng Quan Linh đem đối chứng với những sự kiện đã xảy ra, rất có thể đúng với dự tưởng nêu ra lắm, và cũng chứng tỏ kẻ đầu tiên gặp tại bãi sa mạc và chàng giở đá thi sức với Sở Canh đã bày ra ấy, chính là Tỉ Vương đội lốt của Bắc Ưng Lãnh Lạc. Còn ba Sứ giả Lục, Lam, Tử ấy, Cổ Thái Huyền và Trần Thân rất có thể là chính bản thân chúng đang làm Sứ giả nhưng vị Yểu Phi quả đáng nghi ngờ, nếu không phải là Tỉ Vương đội lốt, cũng có thể tay trợ thủ đắc lực nào đang giả dạng.
Giờ đây, tất cả mọi bí mật đã gần như rõ cả, Hắc y sứ giả đã là bạn thân của Tỉ Vương, mà nay y lại đội lốt Thượng Quan Linh, lẽ đương nhiên vị Hắc y sứ giả phải đành gác lại, theo sự suy tính của Lỗ Yểu Nương, đến giờ đây mà vẫn chưa nhận được Phi xà truyền lệnh để ra lệnh cho mọi người đề phòng Hắc y sứ giả phản loạn, như vậy là các tay bộ hạ của Tỉ Vương vẫn chưa hay biết gì về tin Hắc y sứ giả phản loạn. Và chính đây là một cơ hội lớn lao để dồn Tỉ Vương vào con đường đại bại!
Tỉ Vương nay đã đội lốt Thượng Quan Linh và chắc rằng đã đến Bách Linh Miếu, và tất cả các thủ hạ của y chắc cũng đã đến đông đủ, mặc dầu trong bụng họ đều không cam chịu, nhưng lại không dám chống đối ra mặt. Theo dự đoán của Lỗ Yểu Nương, Tỉ Vương nay đã bắt chẹt Bắc kiếm Phổ Côn, giam hãm Thiên Si Tây Đạo và Đông tăng Túy Đầu Đà, và lẽ đương nhiên không thể buông tha Nam bút Gia Cát Dật, thế nào cũng tìm đủ mọi kế để hàng phục vị nho sĩ này. Nam Bút ương ngạnh sẽ chung số phận với hai sư huynh luôn, nghĩa là sẽ bị giam bí mật vào một nơi mà không ai hay biết. Còn phần Liễu Mi và Sở Canh, Tỉ Vương hiện đang cần kéo vây cánh Thanh Thông Bang, may ra không gì đáng ngại cho hai người này. Nay nhân cơ hội chúng đang huy động toàn lực tập trung chú ý về cuộc thịnh hội lập ra tại Bách Linh Miếu, Thượng Quan Linh hãy đội lốt Hắc y sứ giả đến xuất hiện ngay đó, tin chắc thế nào cũng khiến cho Tỉ Vương kinh người ngạc nhiên!
Và đám người ở Bách Linh Miếu ngoài trừ một số ít là tử đảng của Tỉ Vương ra, còn phần đông điều bị áp bức bó buộc cả! Chuyến đi này của Thượng Quan Linh, trách nhiệm vô cùng gian nan, phải lo cứu Nam Bút, Tây Đạo, Đông Tăng, Liễu Mi, Sở Canh, càng nên giải thích những gông ách của Tỉ Vương đang trùm lên đầu cổ các nhân vật sa cơ thất thế của các tay giang hồ hảo hán, khiến cho mọi người khôi phục lại tự do, cải hối lầm lỗi của mình để hướng thiện. Đồng thời cũng nhân ngay dịp ấy truy diệt Tỉ Vương và bè đảng tai ác của chúng, phá tan luôn âm mưu khai đàn lập giáo của Tỉ Vương ma quân. Thượng Quan Linh nghĩ đến chuyến đi này, không phải không hy vọng thành công, nhưng vì cô thân độc mã, không một tay giúp sức, phần thành công có vẻ mỏng manh lắm. Lão bà bịt mặt Lỗ Yểu Nương tuy đã hết lòng ăn năn với lỗi lầm của mình nay muốn trợ giúp Thượng Quan Linh thành công nhưng với tình trạng trước mắt đây Lỗ Yểu Nương cũng chỉ đề cập rõ đến những sự kiện mà mình biết, và dự đoán cho chàng, đồng thời hết lòng khuyến khích ý chí cho Thượng Quan Linh, còn về công việc kế hoạch tiến hành ra sao, Lỗ Yểu Nương cũng vô phương, tất cả đều chờ đợi theo thiên ý an bài vậy...
Dần dà, tiếng nói của Lỗ Yểu Nương càng lúc càng nhẹ :
- Thượng Quan Linh ... anh mau ... anh mau đi đi ... đừng...lo... cho... tôi... nguyện... anh... thân hành... diệt được tên ma quân... Tỉ Vương... và hãy... cầu xin hộ song thân của anh... hãy tha thứ... tội lỗi cho tôi.
Dứt lời, Lỗ Yểu Nương ngã ngửa người ra, hơi thở đã dồn dập, Thượng Quan Linh quýnh rối lên! Chàng đã hết ý thù địch với kẻ hấp hối trước mắt, vội ngồi sát ngay xuống khẽ tiếng:
- Thưa tiền bối, ngài hãy ráng nghỉ ngơi, chớ nghĩ đến những chuyện đau lòng trong lúc này làm gì, ngài yên trí, thế nào cũng sẽ hợp sức với vãn bối này để lo tiêu diệt tên Tỉ Vương...
Lỗ Yểu Nương đã không nói rõ, chỉ thấy hai môi mấp máy, Thượng Quan Linh vội ghé sát tai gần mới nghe rõ:
- Thôi... Hết rồi... tất cả... đã hết... tôi... rất... sung sướng... anh nên đi ngay... chúc... anh... thành công...
Chỉ thấy vị nữ ma đầu có lòng hướng thiện này, đôi mắt từ từ nhắm lại với vẻ vô cùng thoải mái, nét tươi tỉnh đã hiện rõ trên bộ mặt tuyệt đẹp ấy, càng khiến kẻ nhìn không sao chán được...
Thượng Quan Linh đành thúc thủ vô phương nhìn tử thi. Lúc này đã hết cảnh bình minh, ánh nắng mùa đông đang chiếu tỏa trên bộ mặt của Lỗ Yểu Nương, hiện tất cả những khía cạnh của một trang tuyệt thế tư dung. Vị Lỗ Yểu Nương quả không hổ danh nữ trung quái kiệt, với sáu mươi tuổi đời như thế, mà vẫn giữ nổi sắc đẹp như thế, và suốt bốn mươi năm trời nay không hề được thấy, nhưng trong lúc hấp hối bước sang thế giới u linh này, lại ngẫu nhiên được vị thiếu niên anh tuấn chiêm ngưỡng vẻ đẹp cuối cùng của cuộc đời!
Thượng Quan Linh lúc này chỉ cảm thấy tiếc rẻ cho trang tuyệt sắc giai nhân, cuộc đời của bà ta đã liên can đến cha mẹ mình, khiến nỗi yêu mà xảy ra bi kịch vụ án giết hết toàn gia của mình.
Kẻ thù đã chết, mối ân oán của các bậc thượng bối nay đã được Lỗ Yểu Nương ghi rõ trong phong thư khá dày, Thượng Quan Linh bất giác từ trong mình lấy bức thư dày cộm ấy ra xem!
Trước cảnh hoang vu của bãi sa mạc, Thượng Quan Linh đã mê mẩn ngây ngất theo dõi câu chuyện ân oán của các bậc thượng bối, trong đó có song thân của chàng, vì quá mải miết. Thượng Quan Linh không còn chú ý đến các sự kiện đang xảy ra xung quanh mình.
Khí hậu tháng giêng, bãi sa mạc càng hanh lạnh hơn bao giờ, gió đùa từng cơn, khiến cho mớ tóc trắng của Lỗ yểu Nương bay phất phơ như các làn khói tỏa, cảnh sắc thật não nùng thê lương!
Thượng Quan Linh không hề chú ý những cảnh trạng mủi lòng ấy! Tâm tư chàng đã bị những chữ đen trên giấy trắng thu hút hẳn, thậm chí đã có người xuất hiện bên cạnh, mà chàng vẫn chưa hay biết, một đôi mắt tròn xoe của người tráng niên đang xuất hiện trên bãi cát. Khi người tráng niên nhận rõ người đang ngồi chăm chú xem thư ấy, chiếc mặt nạ da người đã rớt trên mặt cát và người này lại có bộ mặt tươi trẻ anh tuấn phong nhã của một thiếu niên, không phải là bộ mặt của Hắc y sứ giả Bắc Ưng Lãnh Lạc, người tráng niên từ từ lẩm bẩm một mình:
- Hừ! Thằng nhãi chết toi. Thì ra là ngươi! Thế mà đã dọa cho Tra Phong này bay hồn bay vía suýt chết mấy lần!... Nhưng quái lạ! Sao đã trúng Phủ Chưởng Hàn của thầy ta mà còn không chết, trái lại công lực còn tiến triển kinh khủng như thế... Lạ thật! Lạ thật!
Thình lình, Tra Phong giật bắn người như bị ai đâm trúng mình vậy, toàn thân hắn run lên như gà sắp toi!
0
Hồi 072. Thanh Y Hiện Thân
[/align]

Thì ra Tra Phong đã nhìn thấy thi thể của thầy mình Lỗ Yểu Nương, đang nằm trên mặt cát, mớ tóc trắng tung bay tua tủa từng hồi theo làn gió, khăn che mặt rớt một phía, cây thủ trượng cũng nằm một nơi... Tra Phong và cùng với người em đã chết là Tra Lôi, tuy biết thầy mình xưa kia từng dùng thuật thám bổ trú nhan (tìm chất bổ để giữ dung nhan), nên khiến cho vẻ mặt không bao giờ bị già nua đi được, nhưng hai anh em họ Tra lại chưa bao giờ được thấy mặt thật của thầy lần nào! Mãi nay, thầy đã chết, Tra Phong mới hân hạnh được thấy dung mạo lộng lẫy của sư tôn, không ngờ lại có vẻ đẹp nghiêng trời ngửa nước ấy. Lập tức, hai hàng lệ tuôn như mưa, miệng lảm nhảm than vãn kể lể:
- Ôi thầy ơi!... Hơn bốn mươi năm trời nay, ai đâu dám to gan mà tước đoạt chiếc khăn che mặt thiêng liêng của thầy để xem dung nhan đâu, thế mà nay thằng oách con này đã giết thầy mà còn ngang nhiên xem trộm dung nhan của thầy, nó đã phạm luật đại kỵ của thầy trò chúng ta, Tra Phong này còn sống ngày nào, quyết không đời nào dung tha tội cho nó được... Ân sư ơi! Ân sư!... Tất cả đều bị thằng tiểu quỉ này, nếu không vì chuyện giết hết toàn gia nhà nó, thầy trò chúng mình đâu đến nỗi bị Tỉ Vương thao túng để mất hết tự do, mà sau khi thảm họa xảy ra, ngài đã lập lòng từ bi hối hận về hành động của mình, nhất là sau dùng Phủ Chưởng Hàn đánh thằng nhãi này, từ đó tâm tư ngài càng đâm ra bất an. Nào ngờ hôm nay, ngài đã phải thiệt mạng vào chính tay của con cá độc đã thoát lưới này, không bị chết về nội thương đau đớn, mà còn bị nó ngang nhiên tước khăn che mặt làm nhục như thế... ôi!... ân sư ơi! ân sư! Nếu anh linh của ngài còn lảng vảng đâu đây, xin hãy mau mau về phù hộ cho đệ tử, nhân lúc thằng nhãi đang mê mẩn xem thư của ngài, để đệ tử ra tay giết ngay nó hòng trả mối thâm thù đại hận cho ngài...
Tra Phong lúc này mặt lộ hung quang, lập tức rút ngay ngọn dao găm hình lá mía bên người nhẹ chân bước ngay lại phía sau lưng Thượng Quan Linh, thình lình hắn vung hết bình sinh của mình thẳng tay đâm phập ngay xuống ...
Nào hay chỗ bị đâm ấy lại mềm nhũn như bông gòn, Thượng Quan Linh không hề bị thương tích gì, Tra Phong chỉ còn nước kinh hoảng kêu thầm trong bụng: Ối trời đất quỉ thần ơi! Ngã đùng ngay ra mặt đất, lăn nhanh ngay lại bên cạnh xác thầy để nhắm mắt chờ chết!...
Quái lạ! Thượng Quan Linh hình như không hề cảm thấy có gì xảy ra, với cái đâm thình lình của Tra Phong như thế, hình như không kinh động đến chàng ta chút nào cả, thậm chí Tra Phong nằm kế sát ngay đó hồi hộp thở mà Thượng Quan Linh vẫn không hay biết.
Chỉ thấy chàng ta đang chăm chú xem thư, sắc thái trên mặt luôn luôn thay đổi, có hồi vui vẻ, lúc lại bi ai, khi thì nắm tay đấm thật chắc nịch, khi lại thở dài não nề, lúc lại nước mắt tuôn sa dầm dề...
Tra Phong ngạc nhiên lạ lùng, nghĩ thầm: Sao chuyện lạ... thế kìa, không lý đây là một kế hoạch thành công của ân sư trước khi chết đã để lại? Nên phong thư này đã có oai lực khiến cho thằng nhãi này bị điên rồ mất trí khôn, nên mới khóc cười thất thường như thế....
Nay đã đâm hắn không chết, Tra Phong đành mạnh dạn đứng ngay dậy, nhẹ nhàng lượm ngay chiếc khăn che lại dung nhan cho thầy, nhặt luôn cây trượng, rồi cõng ngay xác thầy lên lưng. Tất những hành động như vậy mà Thượng Quan Linh vẫn không hay, Tra Phong dùng ngay cây trượng viết ngay chữ trên mặt cát, xong xuôi cười nhạt vài tiếng, ung dung bỏ đi!
Không biết là bao lâu, nhưng lúc này Thượng Quan Linh đã coi xong bức thơ dài, trong lòng xúc động vô cùng! Lên tiếng gọi inh lên:
- Tiền bối! Tiền bối!
Nhưng chỉ thấy toàn cảnh cát hoang vu, thi hài lão bà bịt mặt Lỗ Yểu Nương không biết đã biến đâu mất.
Sau khi hiểu rõ các ẩn khúc trong thư, Thượng Quan Linh nhận thấy đáng tha thứ cho Lỗ Yểu Nương lắm, và càng không thể nào để người ta chết về tay mình được, nhưng quái lạ, vừa rồi rõ ràng còn nằm đây, chớp mắt đã không thấy!? Thượng Quan Linh đứng dậy để quan sát, trên bãi cát, có chữ nguệch ngoạc để lại.
Sát hạ ân sư, tước khăn che mặt, trộm nhìn dung nhan, mối đại thù này thế nào cũng báo, mong ngươi hãy chờ đợi... Tra Phong lưu tự...
Thượng Quan Linh khóc sướt mướt, không phải chàng sợ Tra Phong sau này trả thù, mà vì Lỗ Yểu Nương đã chết, chàng ăn năn bi thảm về hành động lỗ mãng của mình. Chàng tự lẩm bẩm: Thượng Quan Linh ơi! Thượng Quan Linh! Hãy mau mau trấn tĩnh lại tinh thần đi dự cho kịp cuộc hội Bách Linh Miếu, nếu không, e sẽ phụ lòng người đã khuất mà còn thẹn lòng với người còn đang sống...
Nghĩ xong, vội hấp tấp nhặt ngay chiếc mặt nạ của Bắc Ưng Lãnh Lạc đeo ngay, dắt cẩn thận lại ngọn ưng trảo liêm, bước nhanh về lều, đã có người vội lo ngay ngựa, chuẩn bị sẵn lương khô và nước uống. Thượng Quan Linh nhảy lên yên ngựa đi ngay, đám người không dám thở mạnh, vì họ biết Hắc y sứ giả sau khi nổi giận, ba thầy trò của lão bà bịt mặt, một người bị giết, hai người mất tích, đâu có ai dám ho he ngo ngoe gì để rước họa vào thân.
Trong lúc ấy, suốt dọc đường đưa tới Bách Linh Miếu, vị Hắc y sứ giả giả hiệu này đã được các thủ hạ tiếp đón cung kính và thận trọng, từ chỗ ăn chỗ ở cho đến việc đổi tuấn mã, đều chu đáo hết chỗ chê? Lẽ đương nhiên Thượng Quan Linh càng phải tận dùng oai quyền hống hách của Hắc y sứ giả để cho mọi người khỏi ngờ vực, nên suốt dọc đường đều thuận tiện, và nhờ sự đổi ngựa liên miên, thời gian và lộ trình càng được rút ngắn một cách mau chóng!
Ngày mùng bảy Tết, Thượng Quan Linh đã đặt gót đến đại thành của miền Mạc Bắc là Bách Linh Miếu. Chuyến này chàng bắt đầu tinh quái hơn, sợ mình xuất hiện với vai Hắc y sứ giả lúc này chưa tiện, có khi còn gây thêm khó khăn là khác, trước khi vào thành, chàng đã mua ngay một áo da mặc ngoài, lại dùng khăn đen choàng lên đầu, đóng bộ thành một người dân bản xứ, một chiếc khăn đen ngay sống mũi trở xuống, rồi ngang nhiên tiến bước vào thành.
Chỉ thấy thành của miền Mạc Bắc đây, lúc này náo nhiệt vô cùng, phố xá nhộn nhịp, người chen vai nhau đi, có đủ loại người, Hán, Mông, Tạng, Hồi, thậm chí có cả người mũi lõ Tây phương. Thượng Quan Linh rất cẩn thận về hành động của mình, thình lình thấy khách đi đường bỗng chen nhau rối loạn về hai bên đường. Quay đầu nhìn lại, chàng mừng thầm trong bụng, chỉ thấy bốn tên đại hán đang khiêng một chiếc kiệu lớn đi như bay lại, phía sau và phía trước của kiệu lớn ấy, có cả thảy sáu thiếu niên cưỡi ngựa đi kèm. Nhìn người ngồi trên kiệu, ăn mặc theo lối văn nhân, tuổi ước ngũ tuần, để râu đen, nước da ngăm ngăm, ánh mắt oai nghiêm, nhưng lại đượm vẻ rầu buồn không vui. Thượng Quan Linh từng nghe Liễu Mi kể, trong cuộc hội tại Nhữ Nam trước kia, từng có nhân vật này tham gia, và người này chính phái Điểm Thương ở Vân Nam, tức Hận thư sinh Hoàng Kha đây! Đang lúc Thượng Quan Linh không biết đi đâu để tìm tung tích của họ, nay bỗng gặp Hoàng Kha tại đây, và người này lại có quan hệ với Tỉ Vương, vậy đúng là một nhân vật hướng dẫn chỉ đường cho mình.
Nghĩ vậy, Thượng Quan Linh đành rảo bước theo bén gót đoàn kiệu của Hoàng Kha, chả mấy chốc, một ngôi miếu tự nguy nga đã sừng sững trước mắt. Chỉ thấy người chưởng môn của Điểm Thương Phái Hận thư sinh Hoàng Kha vội hấp tấp xuống ngay kiệu vào trong; từ đằng xa có thể thấy rõ cửa miếu nguy nga đồ sộ, có người canh giữ, Thượng Quan Linh không dám đi thẳng bằng cửa trước, chàng bèn quay ngay sang phía sau miếu, phi thân vọt ngay bức tường cao, lẻn vào trong. Chỉ thấy miếu tự đây trang trí huy hoàng tráng lệ, kẻ tăng người tục tấp nập, những ai nấy đều im lặng di động, sự ăn mặc của Thượng Quan Linh lúc này, không khác nào những kẻ tục gia đang đi ấy.
Chàng bạo gan chen bừa ngay vào đám đông, vì chàng muốn tìm Hận Thư Sinh, nhưng người này đã biến đâu mất. Chàng đi một cách vô mục đích để tìm; cũng vô tình chàng bước lại một ngôi lầu, nghe tiếng thì thầm từ dưới lầu vọng ra. Chàng lắng tai, bất giác mừng thầm trong lòng, thì ra cả đám bại loại gian manh giang hồ đã có mặt tề tựu tại đây hết. Chàng vội nấp vào một nơi tối, chăm chú nhìn xuống dưới đại sảnh, thấy một đám người đang ngồi quay quần chung một bàn ăn uống vui vẻ với nhau!
Trong số người ấy nổi bật nhất là thân hình hộ pháp, và với bộ mặt ngựa đen thui như cột nhà cháy của Tả Pháp Thụ, bên cạnh là một hồng y mỹ nữ Liễu Văn, chị sinh đôi với Liễu Mi. Một phía khác sư bá Bắc kiếm Phổ Côn ngồi một mình phía sau có người già đứng hầu, Thượng Quan Linh nhận ra đó là Tư Đồ Cống. Còn Hoàng Kha thì ngồi rầu rĩ, chính là bản tính đặc biệt của y nên mới có biệt danh Hận Thư Sinh, đối chọi với Hận Thư Sinh là Độc Ma - chủ nhân của Phi Các ma cung trên Vô Ảnh Phong, chỉ thấy toàn thân Độc Ma mặc cẩm bào hào nhoáng mặt che khăn đen, nói năng hoạt bát vui vẻ bên cạnh Độc Ma cũng có một người bịt mặt, Thượng Quan Linh cho rằng rất có thể là Nhị đồ đệ của y - Đinh Hãm. Ngoài ra còn khá nhiều người phần đông đều là các nhân vật bắt mắt, y phục cổ quái, tiếng cười nói kinh dị, theo những lời trò chuyện của đám người kỳ lạ ấy, Thượng Quan Linh cũng biết rõ ngay họ là những nhân vật của: Kê Vĩ Bang, Thái Hành Lục Khấu, Dực Đông Biện Trang Hổ, cha con Lỗ bắc Náo hải thần Chung Thiên Thu.
Đám người này chia thành ra nhiều nhóm, cười nói huyên thiên, chỉ duy có Tả Pháp Thụ, Bắc Kiếm, Hoàn Kha, không mấy nói chuyện với nhau. Hoàng Kha vốn bản tính như vậy, nên mọi người không ai trách làm gì, Bắc Kiếm xưa nay tự cao ít nói, Tả Pháp Thụ là phiên tăng ngoại quốc, ngôn ngữ không tiện, cũng không đáng trách. Nhưng nàng tà dâm Liễu Văn lúc này tha hồ cười tình với bất cứ ai mà nàng cảm thấy hay hay, trong cả một ngôi đại sảnh, tiếng cười tiếng nói vang lên hỗn độn. Bỗng có một gã đàn ông hùng dũng đứng ngay lên dõng dạc nói rằng:
- Cũng thưa chư vị... không biết chư vị có ai thấy qua nhan sắc của Thiên Hậu Nương Nương năm nay chưa?
Sau câu hỏi của Dực Đông Biện Trang Hổ thoát ra khỏi miệng, mọi người phản ứng không giống nhau, có người cho Thiên Hậu Nương Nương xinh đẹp tuyệt sắc, có người lại mến tiếc. Bắc Kiếm ngồi lặng thinh không nói, Hận thư sinh Hoàng Kha thở dài. Chỉ có Tả Pháp Thụ và Liễu Văn, hình như không rõ về nội tình của câu chuyện này, nên họ cũng điềm nhiên không quan tâm lắm, nhưng nàng Liễu Văn muốn biết chuyện, và đã tuyển ngay đến vị Hận thư sinh Hoàng Kha làm đối tượng hỏi chuyện rằng:
- Kìa Hoàng lão gia! Ngài thở dài buồn gì vậy! Vậy chắc ngài đã được thấy cô bé ấy, nên tiếc chứ gì?
Hoàng Kha không nói gì nhưng bên cạnh có người lên tiếng!
- Lão Hoàng xưa nay đều vậy! Thở dài chính là ký hiệu đặc biệt của lão Hoàng, có gì phải lạ?
Lại có tiếng người khác rằng:
- Không đâu, Hoàng huynh quả đã mến tiếc thật đấy! Nếu không nói ra thì thôi, còn đem khai rõ lai lịch của cô bé ấy! E thế nào trong đám chúng mình đây có người phải đau khổ là khác!
Người này nói xong quay nhìn ngay vào mặt Liễu Văn...
Liễu Văn cảm thấy người nói câu này có dụng ý! Đôi mắt phụng ngước hẳn lên như muốn truy hỏi thêm, người kia cảm thấy mình đã lỡ vui miệng, lập tức quay nhanh sang phía khác để làm ngơ. Liễu Văn càng nghi, đoán không ra là lý do gì! Quay nhìn về phía Tả Pháp Thụ, thấy vị phiên tăng này hình như không vừa lòng với thái độ lẳng lơ của mình, sắc mặt hầm hầm vì ghen gió.
Trưởng nữ của Thanh Thông vốn là gái thông minh, làm gì chả hiểu ý ghen của tên phiên tăng, nhưng lúc này nàng cũng tỏ ra biết điều và ngồi yên phận, tạm gác câu chuyện nghi ngờ sang một bên. Kẻ phủ phục trên lầu là Thượng Quan Linh, lúc này chàng đang suy nghĩ đến một nghi vấn, rõ ràng câu nói của người kể về Thiên Hậu Nương Nương ấy muốn ám chỉ có liên hệ với Liễu Văn. Không lẽ tên Tỉ Vương ma quân lại chọn đến Liễu Văn để đảm nhiệm chức Thiên Hậu Nương Nương sao? Thượng Quan Linh cố suy nghĩ để tìm hiểu lời ám chỉ nọ, nhưng sự biến đổi đột ngột đã dập tắt ngay sự suy tư của chàng, vì có tiếng báo lớn lên rằng:
- Lam y sứ giả giá đáo...
Mọi tiếng ồn ào trong đại sảnh bỗng im bặt, sự im lặng có thể nghe rõ cả tiếng kim rớt dưới mặt đất là khác. Thượng Quan Linh cũng phải ngầm khen sức oai phong của Tứ đại sứ giả Hắc, Tử, Lục, Lam. Chính chàng cũng lo cẩn thận đề phòng, e mình thở mạnh mà tránh không khỏi những tai mắt vô cùng bén nhọn của những cao thủ trong đại sảnh! Chỉ thấy cửa sảnh mở, một người Lam y nghiễm nhiên bước vào, mọi người trong sảnh lập tức cung kính thi lễ! Chỉ riêng có tên phiên tăng Tả Pháp Thụ là kẻ không hề khom lưng, chỉ thấy đầu của phiên tăng khẽ gật. Thân hình của Tả Pháp Thụ và Bắc Kiếm đều suýt soát đồ sộ gần bằng nhau, đều thuộc vào hạng thân hình Hạc lập kê quần (thân chim hạc lọt vào đàn gà) nhưng tác phong của hai người lại đối chọi nhau hẳn, Bắc Kiếm thì cúi mình gần sát mặt đất, còn Tả Pháp Thụ chỉ khẽ gật đầu, sự trái ngược kịch liệt ấy đã gây sự kinh ngạc vô ngần cho mọi người. Thượng Quan Linh chăm chú quan sát vị Lam y sứ giả, trong quả oai nghiêm thật. Trong toàn sảnh đều là các tay ma đầu lừng danh lẫm liệt nay hết thảy đều tỏ vẻ vô cùng cung kính với Lam y sứ giả, nhưng sứ giả ngạo mạn khẽ gật gù, kể như đã đáp lễ mọi người!
Chỉ thấy người này khoác một áo choàng màu xanh, trùm hết toàn thân, thân hình cỡ trung bình, sắc mặt âm u lạnh lùng, tuổi ước ngoại ngũ tuần, quắc thước vô ngần, lúc này vừa đáp lễ vừa khách sáo rằng:
- Chư vị cứ việc tự tiện! Tự tiện!
Dứt lời đưa tay cởi ngay áo choàng, đã có người đến tiếp nhận mang đi treo. Lúc này Lam y sứ giả lại xuất hiện với bộ võ phục gọn gàng và cũng màu xanh, hai bên hông đeo hai hồ lô màu xanh, có lẽ đó là hai quả Lân hỏa đơn khét tiếng của y. Lúc này mọi người trong sảnh, để tỏ lòng tôn kính với Lam y sứ giả Lân vương Cổ Thái Huyền này, mọi người chưa ai dám ngồi xuống, trước khi Lam y sứ giả còn chưa an tọa, chỉ riêng độc mình Tả Pháp Thụ chẳng cần để ý về lễ phép, lại nữa Cổ Thái Huyền cũng đã nói là tự tiện, thế là vị phiên tăng chẳng nề gì ngồi bịch ngay xuống trước tiên!
Lân vương Cổ Thái Huyền mắt trợn trừng, lạnh lùng cười nhạt và bước về phía Tả Pháp Thụ. Liễu Văn biết sẽ có chuyện lôi thôi, nàng vội đứng ra dung hòa cho tình hình bớt căng thẳng đôi bên bằng cách tươi cười giới thiệu cho cả hai bên:
- Trời ơi! Chắc có lẽ hai vị còn chưa quen biết nhau, nào! Nào! Nào!... để tiểu muội đứng ra giới thiệu cho!
Lam y sứ giả ngừng ngay bước, Tả Pháp Thụ vẫn ngay người ngồi đực ra, Liễu Văn vội kéo ngay tên cột nhà cháy dậy rồi nói:
- Đây là một trong Tứ sứ giả của Chúa công, tức Lam y sứ giả Lân vương Cổ Thái Huyễn... còn vị này là Thiên Trúc can tăng Tá Pháp Thụ tôn giả, mới đến Trung Nguyên chưa bao lâu, nên tất cả các tập quán đều chưa quen...
Tiếng oanh thỏ thẻ êm tai, thế là một cuộc diện sắp nổ bùng bị dập tắt ngay, Liễu Văn tuy đã khéo dàn xếp, nhưng vị Lam y sứ giả, cũng chẳng biết y có ỷ vào công lực của bản thân, hay lại mượn oai phong của Tỉ Vương mà ngang nhiên kiêu hãnh lạ lùng!
Lúc này, Lam y sứ giả hình như không coi Tả Pháp Thụ vào đâu, chỉ lạnh lùng rằng:
- Hân hạnh. - Thình lình ôm quyền vái dài sang Tả Pháp Thụ.
Phiên tăng không hề hay biết gì về ý nghĩa cái vái ấy, nhưng mọi người đứng cạnh đã thất kinh, Liễu Văn không dám ra tay giúp, đang tính nhắc tỉnh cho tình nhân, nhưng mọi sự đã trễ.
Một ngọn kình phong ngấm ngầm bắn ra, thân hình đồ sộ của Tả Pháp Thụ không sao đứng vững nổi, chỉ thấy vị phiên tăng bị bật lùi liên miên ra phía sau... may được Độc Ma lấy ngay một chiếc ghế đỡ ngay về phía lùi của Tả Pháp Thụ.
Bản ý của Độc Ma, vốn có lòng tốt giúp người trong lúc sa cơ, nên mới hấp tấp đẩy ghế ra, chỉ cốt sao nạn nhân khéo léo xoay sở thu bớt tốc lực lại ngồi xuống, như thế đã giữ ngay được thể diện, nhưng nào ngờ thân hình của vị phiên tăng này quá nặng cân, sau khi khối thịt nặng nề ngồi vào chiếc ghế, chỉ nghe rắc một tiếng, chiếc ghế gỗ kiên cố ấy lập tức bị gãy tan tành.
Lân vương Cổ Thái Huyền, đưa mắt nhìn tả hữu quát ngay:
- Quí khách giá đến, tại sao dám dùng loại ghế yếu hư như thế, còn không mau mau dọn ngay ghế sắt ra đây?
Sau một tiếng dạ chát tai vang lên, chớp mắt mọi người đã thấy bảy tám mạng đại trán ì ạch khiêng ngay ra một chiếc ghế sắt!
Nhưng lạ nhất là chiếc ghế này lại bốc khói nóng, hình như đã bị nung nóng sẵn, kẻ ngồi vào, thế nào chả bị tóe khói...
Đừng nói mọi người trong đại sảnh kinh ngạc, đến như chàng Thượng Quan Linh đang phủ phục trên lầu nhìn xuống ấy, cũng không làm sao đoán rõ nổi dụng ý của Lân vương Cổ Thái Huyền. Chàng đâu hiểu rằng đây là một thủ đoạn khủng bố tinh thần cao độ và cách dùng áp lực của Tỉ Vương, nhất là đối với những người mới nhập bọn, càng được các Sứ giả biểu diễn những cảnh rùng rợn để thu phục đám ma đầu, khiến cho họ không dám nghĩ tới chữ phản!
Lúc này Lam y sứ giả Lân vương Cổ Thái Huyền, cố biểu lộ một ngọn công lực tuyệt kỹ để chấn át tinh thần mọi người. Chỉ thấy Lam y sứ giả bước lại bên ghế sắt, đưa tay chụp và cử ngay lên và đưa ngay về phía Tả Pháp Thụ, với vẻ cung kính nói rằng:
- Xin mời quí khách ngồi!
Cuộc biểu diễn tuyệt kỹ này, không chỉ các ma đầu trong đại sảnh lúc này phải lắc đầu le lười mà cả đến Thượng Quan Linh cũng đăm ra băn khoăn khó nghĩ, không biết đôi tay của Lân Vương là thứ loại gì mà ngang nhiên dám cầm vào chiếc ghế sắt nóng bốc khói như vậy.
Từ ngày xuất đạo giang hồ đến nay, Thượng Quan Linh đã thâu được khá nhiều kinh nghiệm, nhưng xưa nay chưa thấy và cũng chưa nghe ai nói đến một ngoại công như thế, với bàn tay thịt đi bốc sắt nóng bỏng như thế. Nếu Thượng Quan Linh có thể nghĩ về biệt hiệu Lân Vương của Cổ Thái Huyền, may ra cũng có thể đoán được vị hỏa khí chuyên gia chơi lửa nổi tiếng này một phần manh mối nào!
Lúc này bao nhiêu con mắt trong sảnh đều dồn hết vào vị phiên tăng, khiến cho vị ác tăng này lúng túng vừa tức giận vừa luống cuống, sắc mặt đã xấu nay càng xấu thêm. Thượng Quan Linh tức cười thầm xem Tả Pháp Thụ sẽ ứng phó ra làm sao.
Trong lúc mọi người chờ đợi và Tả Pháp Thụ rối quýnh lo tìm cách đối phó, thình lình trong sảnh lại thay đổi không khí! Liễu Văn đứng ngay dậy cười lẳng lơ từ trên bàn cầm ngay hai ấm bằng sắt, tươi tỉnh rằng:
- Trời ơi! Trà đều nguội lạnh hết rồi? Nay sẵn lò đây để tiểu muội lo hâm lại cho nóng...
Thuận tay nàng đặt ngay hai ấm trà lên chiếc ghế sắt đang bốc khói, và quay về lấy chiếc ghế của mình đẩy cho Tả Pháp Thụ. Thì ra chiếc ghế sắt ấy, quả nhiên bên trong trống bọng, và được đốt than, nên đặt hai ấm sắt không bao lâu, trà đã bắt đầu sôi lục bục!
Liễu Văn lăng xăng rót trà ân cần mời tất cả ma đầu trong sảnh, người được mời trước là Lân vương Cổ Thái Huyền. Trong chớp mắt, cuộc căng thẳng được Liễu Văn khéo léo dàn xếp ổn thỏa.
Không khí vui vẻ lại bắt đầu, bỗng Dực Đông Biện Trang Hổ đứng ngay dậy cất tiếng hỏi:
- Kính thưa sứ giả, nghe đâu cuộc Mạc Bắc thịnh hội này, hình như Chúa công chúng ta có ý khai đàn lập giáo, vậy không biết chuyện này có thật?
Câu hỏi này khiến cho các ma đầu im lặng hẳn, ai nấy lo tập trung tia nhìn về phía Lân vương Cổ Thái Huyền, bên trên lầu, Thượng Quan Linh càng lắng tai hơn ai hết. Nhưng Lân vương Cổ Thái Huyền không phủ nhận, cũng không chịu nói rõ, mà chỉ khẽ gật gù.
Mọi người cảm thấy thất vọng, trong đám người bỗng lại có tiếng lanh lảnh rằng:
- Dám hỏi sứ giả? Nếu đã là khai đàn lập giáo, thế nào Chúa công lại chẳng thân hành đến chủ trì cho cuộc lễ thêm long trọng, vậy chắc chúng mình đây sẽ được chiêm ngưỡng chân diện mục của Chúa công cũng nên?
May mà câu nói này do thiếu nữ tuyệt sắc long y Liễu Văn hỏi, vì chỉ có nàng mới dám hỏi đến như thế.
Lân Vương lại thấy cô nàng dễ mến, nên cũng không nổi giận. Chỉ nghe Lam y sứ giả nói:
- Lẽ đương nhiên là Chúa công sẽ thân hành lại chủ trì cho cuộc đại lễ, nhưng xưa nay, những kẻ được thấy mặt Chúa công chỉ riêng có Tứ đại sứ giả của chúng ta mà thôi, và nay Chúa công cũng không phá lệ thường đó! Nếu chư vị nhất định muốn được xem mặt Chúa công chỉ sợ không được. Vì Chúa công luôn thay hình đổi dạng, không bao giờ hiện mặt thật để gặp ai, kể cả Tứ đại sứ giả chúng ta cũng thế, nhưng được cái vinh hạnh Chúa công cho biết trước mà thôi. Còn đối với chư vị, e đến ngày mùng mười sắp tới dây, chắc vẫn không làm sao có thể biết được ai là Chúa công? Bởi vì Chúa công có đứng sát ngay cạnh chư vị, chư vị cũng không thể nào nhận ra nổi...! Hà! Hà! Hà...
Chủ nhân Phi Các ma cung Độc Ma bỗng hỏi:
- Không lý Chúa công không đứng ra làm chủ tọa cuộc thỉnh hội?
Lân vương Cổ Thái Huyền lắc đầu, mọi người xôn xao bàn tán, cho rằng thế nào cũng do một trong Tứ đại sứ giả đứng ra thay mặt. Nhưng là ai? Tử y sứ giả Yểu Phi, Hắc y sứ giả Lãnh Lạc, hai vị này có uy thế hơn Lục y sứ giả Trần Thân và Lam y sứ giả Cổ Thái Huyền nhiều. Nhưng Lân vương Cổ Thái Huyền đã cho mọi người hay đừng mất công đoán mò làm gì, người chủ trì đại lễ này là người ngoài Tứ đại sứ giả, tức là có riêng một người khác...
Sau khi nghe câu nói này, ai nấy thất kinh, đến kẻ đang nghe trộm như Thượng Quan Linh cũng đâm ra ngơ ngác khó hiểu, cuộc thịnh hội Mạc Bắc này, tất cả bộ hạ của Tỉ Vương lo tập trung để khai đàn lập giáo, nay kẻ chủ trì thịnh hội lại không phải bản thân của Tỉ Vương, càng không phải Tứ đại sứ giả? Mà lại là một người lạ khác. Như vậy quả là một việc quái lạ? Bao nhiêu đôi mắt đều đổ dồn về hết Cổ Thái Huyền, kể cả tia nhìn của Thượng Quan Linh, ai nấy cùng chờ đợi câu giải thích.
Lân vương Cổ Thái Huyền rằng:
- Gần đây, ngoài Tứ đại sứ giả Hắc, Tử, Lục, Lam ra Chúa công đã tìm thêm được một vị và lập ngay làm Thanh y sứ giả, và vị Thanh y sứ giả sẽ là thủ lãnh của Ngũ đại sứ giả và kỳ Bách Linh Miếu đại hội này, chúng ta khai đàn lập giáo, chính do vị Thanh y sứ giả ấy đại biểu Chúa công đến chủ trì cuộc lễ...
Mọi người lại xôn xao, không biết lại vị cao thủ nào nổi danh trên giang hồ, mà được Tỉ Vương trọng vọng đến vậy.
Thanh y sứ giả là nhân vật gì? Không ai biết, đã có người sốt ruột về chuyện này, và công khai hỏi Cổ Thái Huyền rằng:
- Dám hỏi Sứ giả, vậy Thanh y sứ giả này là người trong làng Bạch Đạo hay Hắc Đạo?
Cổ Thái Huyền nói:
- Người trong làng Bạch Đạo!
Mọi người suy đoán ngay về những nhân vật thứ yếu trong làng Bạch đạo, thậm chí đoán luôn cả đến Giang nam Ngọc điệp Châu Phụng.
Con của Lỗ Bắc Náo Hải lúc này cất tiếng hỏi:
- Thôi, tôi đoán ra rồi, tôi biết Thanh y sứ giả là ai rồi?
Mọi người quay nhìn hết về phía thiếu niên, chỉ nghe thiếu niên rằng:
- Thưa chư vị Thúc, Bá, chúng ta thử nghĩ xem, trong làng Bạch đạo thử hỏi ai có bản lãnh thắng được chư vị thúc bá Tứ đại sứ giả? Theo ý của tiểu điệt nghĩ, chỉ có người ấy... người đã ẩn cư trên Mặc Phụ Sơn, sống vất vưởng với những đóa hoa đỏ, nhưng công lực của người này thì quả là không ai bì kịp được, trong làng Bạch đạo được suy làm thủ lãnh...
Trong sảnh lúc này có người kinh rú lên:
- Đoạn trường nhân Độc chỉ Thôi Bác!
Lúc này con của Chung Thiên Thu là Chung Lệnh Gia suy đoán về tham vọng của Độc chỉ Thôi Bác, không những công lực có thể hơn tứ đại sứ giả mà còn có thể so ngang hàng với Tỉ Vương là khác, nhưng sự việc có thể như thế được không? Nếu Độc chỉ Thôi Bác cũng đã thần phục Tỉ Vương để làm chức Thanh y sứ giả, vậy trong đương đại võ lâm, Tỉ Vương đã thành người vô đối thủ ! Và công nhiên trở thành minh chủ trên giang hồ, vậy thì cần gì phái khai đàn lập giáo cho lôi thôi? Đương nhiên sự suy đoán của Chung Lệnh Gia không thể nào đứng vững được.
Lam y sứ giả Cổ Thái Huyền lạnh lùng lên tiếng:
- Chư vị cũng chớ nên suy đoán mò làm gì cho toi công: phải biết Thanh y sứ giả kỳ này thay quyền Chúa công lại đây, địa vị chí tôn, mong chư vị hãy thận trọng lời ăn tiếng nói của mình, phải tuyệt đối phục tùng và tôn kính để khỏi mang họa vào thân!...
Trong sảnh, không khí bắt đầu nặng nề, vì cũng hiểu rằng khi Tỉ Vương nâng đỡ một người nào lên, và để gây uy tín cho kẻ ấy, thường hay có những cuộc tàn sát ghê gớm để khủng bố tinh thần quần ma, nay sự việc đang bắt đầu, nhất là sau khi nghe lời cảnh cáo của Cổ Thái Huyền, ai nấy đều lo cho bản thân mình. Trong sảnh lúc này bỗng trở nên im lặng!
Thình lình, bên ngoài sảnh có tiếng rằng:
- Thanh y sứ giả giá lâm!... Lục y sứ giả...
Mọi người giật mình thất kinh, ai nấy ngóng dài cổ để chiêm ngưỡng xem người đó là ai?
Thượng Quan Linh trong bóng tối cũng giương mắt chăm chú xem Thanh y sứ giả là vị ma nào mà được Tỉ Vương chiếu cố hậu đãi như vậy! Trong sảnh im phăng phắc, Lam y sứ giả mặt hướng ra ngoài cửa, cung kính để nghênh tiếp, mọi người thấy Cổ Thái Huyền làm như vậy! Không ai dám chểnh mảng. Mọi người bắt chước theo khom lưng cúi mình, nhưng mắt lại cố ngước lên để nhìn ra phía cửa, trông bộ tịch đến buồn cười.
Lúc này tên phiên tăng Tả Pháp Thụ cũng phải bắt chước theo động tác của mọi người luôn! Mọi người nghe tiếng chân mỗi lúc một gần thêm...
Thượng Quan Linh lúc này cũng căng thẳng tuyệt độ về tiếng bước ấy, chàng đề phòng... trong bụng nghĩ thầm: công lực người này quả không hổ đệ nhất lưu trên giang hồ. Tiếng chân đến cửa sảnh đường thì ngừng hẳn, thình lình một lồng cầu xanh lè nhoáng vụt ngay vào trong. Mọi người ngửng đầu nhìn, ai nấy vội cúi ngay đầu xuống đồng thanh rằng:
- Kính bái Lục y sứ giả!
Thượng Quan Linh nhìn kỹ, chỉ thấy người này mặc áo choàng màu lục, áo quần, giày, thậm chí đến vỏ kiếm và chuôi kiếm, đều màu lục hết, trông rất chói mắt, mặt trắng như thoa phấn, sắc mặt ngạo mạn vô cùng, tuổi hình như còn trẻ.
Thượng Quan Linh biết người này từng nổi danh quỉ kế và thành công trong làng Hắc đạo với danh âm ty tú tài Trần Thân! Chỉ nội xem y vừa rồi nhoáng thân vào sảnh ấy, cũng hiểu ngay khinh công của y đã thuộc hạng đệ nhất lưu trong giang hồ rồi. Trong cả hai làng Hắc Bạch đạo cũng khó mà tìm được tay đối thủ lanh lẹ tuyệt mức như thế.
Sau khi âm ty tú tài Trần Thân xuất hiện, trông lại càng có vẻ hiển hách hơn Lam y sứ giả Cổ Thái Huyền nhiều, mọi người thăm hỏi kính cẩn, y vẫn ngang nhiên không thèm trả lời và cũng chẳng cần đáp lễ một ai. Chỉ thấy y tay nắm vào chuôi kiếm và dõng dạc hiên ngang nói:
- Thanh y sứ giả nay là vị thay mặt cho Chúa công đã đến ngoài cửa, vậy tất cả những ai có mặt tại đây phải coi sứ giả như Chúa công, và để tỏ lòng cung kính ngưỡng mộ Chúa công, tất cả phải quì xuống để nghênh tiếp Sứ giả cho chu đáo lễ nghi...
Tiếng nói của âm Ty Tú Tài có một oai lực vô biên, khiến cho toàn đám quì mọp ngay xuống!
Lúc này thấy hai vị sứ giả Lục và Lam, bước gần ra phía cửa cúi khom lưng và đồng thời cung kính rằng:
- Kính thỉnh Thanh y sứ giả!
Người thanh y hiên ngang bước vào, khí phách hiu hiu tự đắc. Thượng Quan Linh trên lầu nhìn kỹ, người này mặc toàn thân màu xanh, vì mặt ngửa lên, nên Thượng Quan Linh càng nhìn rõ, khuôn mặt tuấn tú, mắt sáng như sao, đường nét cấu tạo của bộ mặt đều cân dối, nhìn xong, Thượng Quan Linh ngộp hẳn hơi thở, ngầm than thầm: Trời ơi! Thì ra là vậy...
Lúc này Thanh y sứ giả đứng ngay cửa, hai sứ giả Lam và Lục hướng dẫn mọi người tung hô:
- Cung nghinh Thanh y sứ giả và nguyện Sứ giả phúc thọ khang ninh! Chúa công phúc thọ khang ninh!
Thanh y sứ giả giơ tay ra dấu cười rằng:
- Chư vị, xin bình thân!
Mọi người, lúc này mới ngửng đầu và đứng lên chiêm ngưỡng oai dung của Thanh y sứ giả. Ngay trong chớp nháy đó, trong sảnh cũng đã vang lên tiếng ối! ối! kinh ngạc. Tâm tình mọi người lúc này khác lạ hẳn, từ Kê Vĩ bang chủ, Biện Trang Hổ, Thái Hành Lục Khẩu, Điểm Thương Hoàng Kha, cha con Chung Thiên Thu và Chung Lệnh Gia đều không ngờ rằng Thanh y sứ giả lại trẻ măng đến thế, mà cũng không biết thiếu niên này là ai? Còn thầy trò Độc Ma, Bắc kiếm Phổ Côn, trưởng nữ Thanh Thông Liễu Văn, Tá Pháp Thụ, lúc này không những kinh hãi, mà còn không thể nào tin được, sau tiếng ối! ối! của mọi người, bất giác đều khẽ tiếng buột miệng:
- Trời ơi!... là... Thượng Quan Linh!
Đúng thế! Khuôn mặt của Thanh y sứ giả đây chính là bộ mặt anh tuấn bắt mắt của Thượng Quan Linh! Lúc này sự biến đổi huyền ảo của bầu không khí đại sảnh đây ngoại trừ bản thân của Thanh y sứ giả và Thượng Quan Linh thiệt đang nấp trên lầu ra, không còn ai có thể biết nội tình ẩn khúc trong này ra sao, kể luôn cả Cổ Thái Huyền và Trần Thân!
Thanh y sứ giả nghiễm nhiên mỉm cười đứng nhìn mọi người, thần sắc oai phong nhưng nhã mắt, hình như sứ giả cũng biết mọi người không tin, nhưng vẫn đứng uy nghi cho mọi người quan sát tường tận, cho họ dụi mắt thật kỹ để xem và chứng tỏ rõ đây không phải là mộng, mà là sụ thực.
Lục y sứ giả âm ty tú tài Trần Thân đứng cạnh giới thiệu ngay rằng:
- Gần đây Chúa công đã dùng kim phi xà truyền mật lệnh báo rõ cho tất cả Tứ đại sứ giả biết tin về sự tân nhiệm Thanh y sứ giả là Thượng Quan Linh đại hiệp. Và vị Thượng Quan Linh đại hiệp đây vốn là người trong làng bạch đạo, cũng là một vị thiếu niên anh hùng ưu tú của võ lâm, xuất thân danh môn mà lại còn là cao túc đắc ý nhất của Nam bút Gia Cát Dật tiên sinh trong nhóm Càn Khôn Ngũ Tuyệt...
Câu nói này tới đây, tất cả mọi người đều kinh ngạc, ai nấy dồn hết tia nhìn sang phía Bắc kiếm Phổ Côn. Quá là một chuyện đột ngột ly kỳ không ai có thể tin được! Đời thửa nào mà lại có sư điệt nghiễm nhiên chễm chệ làm thủ lãnh của Ngũ đại sứ giả mà trong khi đó vị sư bá già nua phải quì lạy sư điệt mình. Bắc kiếm Phổ Côn đã chịu không nổi quái trạng này, hừ lên một tiếng lạnh lùng toàn thân nhích động như muốn ra tay. Nhưng Bắc kiếm Phổ Côn cũng đâu phải người ngốc gì, tuy không ngửng đầu lên, nhưng cũng đã phát giác Lân vương Cổ Thái Huyền, âm ty tú tài Trần Thân đang chăm chú nhìn mình. Toàn thân Bắc Kiếm khẽ rung một hồi rồi trở lại yên tịnh, cúi đầu không nói năng gì và cũng chẳng buồn nhìn ai. Thượng Quan Linh đang nấp trên lầu nhìn xuống, cảm thấy thương hại cho tình cảm của sư bá mình, vì sống mà đã phải trả không biết bao nhiêu giá, kể cả giá đau khổ và giá nhục nhã!
Lục y sứ giả đã cười lên với mọi người rằng:
- Chắc chư vị đây kinh ngạc về tuổi trẻ của Thượng Quan Linh đại hiệp, nhưng chuyện này đâu có gì lạ, tự cổ có câu Hậu sinh khả úy, anh hùng vốn xuất thân trong đám thiếu niên, Thượng Quan Linh đại hiệp vốn là một điển hình của lớp thiếu niên anh hùng, chắc chư vị cũng cảm thấy không đáng tín niệm người trẻ chứ gì, thôi được, xin mạn phép Thanh y sứ giả bản sứ giả này được giới thiệu thêm!
Thanh y sứ giả mỉm cười như nhận lời âm ty tú tài Trần Thân lại nghiễm nhiên rằng:
- Trần Thân ta đám vỗ ngực nói một câu, trong số chư vị đang có mặt tại đây, tin chắc là không có một ai có thể hòng làm tổn thương đến sợi lông chân của đại hiệp Thượng Quan Linh... đương nhiên chư vị sẽ không tin lời nói của ta, nhưng chư vị nên hiểu cho rằng, Thượng Quan đại hiệp đã may mắn được ăn một cây tiên thảo gọi Tuyết bi tiên hoa... và dưới trần gian này của vòm trời võ lâm, chỉ ngoài hai báu vật ra, không còn có báu vật thứ ba nào có thể hại được Thượng Quan đại hiệp. Mà trong hai báu vật ấy là gì? Xin nói nhanh một là Lãnh điện tỉ thủ hiện nay ở đâu, đương nhiên chư vị rõ, còn một báu vật thứ hai là Tiểu Đoạt Hồn Kỳ nhờ Liễu đại tiểu thư và Tả Pháp Thụ có nhã ý đem hiến tặng cho Chúa công... cho nên, chư vị không lấy làm lạ gì, người mà đã có thể kềm chế vị Thượng Quan đại hiệp, là nhờ trong tay có hai báu vật quí hóa này, người ấy chính là Chúa công của chúng ta... âm ty tú tài Trần Thân nói tới đây Thượng Quan Linh thiệt đang nấp lên trên đầu sảnh đưa ngay tay lên rờ cổ mình.
Có quả thật vậy không? Không biết báu vật Kỳ lân bảo đới còn có công hiệu nữa không chứ? Nhưng bảo đới này chỉ có thể giữ được chiếc cổ, nếu Tỉ Vương dùng Lãnh điện tỉ thủ hay Tiểu Đoạt Hồn Kỳ để chiếu cố các nơi trọng huyệt trên người thì tính sao! Càng nghĩ Thượng Quan Linh càng ớn lạnh...
Sau câu giới thiệu của âm Ty Tú Tài xong, những người chưa quen biết chàng Thượng Quan Linh đều có vẻ tin tưởng và tỏ lòng khâm phục chàng thiếu niên anh tuấn này lắm. Nhưng thầy trò Độc Ma, Liễu Văn, Tả Pháp Thụ đều rõ Thượng Quan Linh hơn ai hết, lúc này đâu chịu phục, sắc mặt mấy người này đã hầm hầm, Thanh y sứ giả nhận ra, nhưng chỉ mỉm cười... do Lục y sứ giả và Lam y sứ giả tiến dẫn vị Thanh Y đi ngang khắp mặt mọi người, cười nói huyên thuyên, bất luận là đứng trước mặt vị đại ma đầu nào trong đám, vị sứ giả thiếu niên anh tuấn, đều ung dung ăn nói đâu vào đấy! Lễ độ vô ngần, đối với những người chưa biết Thượng Quan Linh, lúc này đều bị khớp về khí độ hiên ngang của chàng, ai nấy cung kính đối xử. Thượng Quan Linh thiệt trên lầu nghĩ bụng, nếu mình đứng trong địa vị đó, chắc không sao bì nổi với người ta được?
Thanh y sứ giả hình như cũng biết rõ ai đang không phục mình, sau khi hàn huyên xong với cha con Chung Thiên Thu và Hận thư sinh Hoàng Kha, vẫn do hai sứ giả Lục và Lam tiến dẫn đi về phía thầy trò Độc Ma.
Cổ Thái Huyền bên cạnh nói rằng:
- Đây là vị chủ nhân của Phi Các tiên cung trên Vô Ảnh Phong Độc Ma, kia là cao túc Đinh Hãm...
Chưa dứt lời, Đinh Hãm đã lạnh lùng rằng:
- Thanh y sứ giả! Chúng ta đều là chỗ đã quen nhau từ trước kia mà!
Thanh y sứ giả mỉm cười nói:
- Thế sao? - Tay khẽ giơ lên, tên Đinh Hãm trước mặt bỗng cảm thấy đầu gối đau nhói, không sao chịu nổi bịch một tiếng quì ngay trước mặt, Thanh y sứ giả vội rằng:
- Không dám? Không dám! Sao thế huynh lại dùng trọng lễ với ta như thế, Cổ Thái Huyền, hãy mau thay mặt ta đỡ ngay vị thế huynh này dậy!
Cổ Thái Huyền đỡ ngay tên Đinh Hãm dậy, chỉ thấy mặt hắn trắng toát, Độc Ma vừa hoảng vừa giận, trong lòng xót thương ái đồ biết hắn đã bị trúng ám khí.
Bèn quan tâm hỏi ngay:
- Sao Đinh Hãm? Con cảm thấy sao?
Thình lình Độc Ma cảm thấy đầu gối mình tê nhức, đôi chân của Độc Ma, vốn là đôi chân giả, nhưng chính lại đau ngay chỗ tiếp giáp giả thật ấy, trong lòng kinh hoảng. Đầu gối như muốn quì thấp xuống, Độc Ma hoảng cuống lên, nghĩ bụng nếu mình quì xuống! Còn gì là thể diện của Độc Ma Phi Các tiên cung nữa!
 
0
Hồi 073. Ngộ Thương Ái Đồ
[/align]

Lúc này chỉ thấy Thanh y sứ giả khẽ phất vạt áo, cũng chẳng biết là y đã dùng thủ pháp gì, thầy trò Độc Ma lập tức cảm thấy hết đau nhức ngay! Thanh y sứ giả cười nói cố che ngượng cho thầy trò Độc Ma, hai thầy trò lúc này biết thân phận đành cúi đầu không ho he gì. Thượng Quan Linh nấp lén bên trên lầu, biết rõ y vung tay để đánh ám khí, không những về cách đánh ám khí nhanh nhẹ tuyệt luân đến thế đã là hiếm thấy, càng lạ hơn nữa là cái phất vạt áo bào, ngang nhiên có thể hút về những ám khí đánh ra! Luyện thế nào mà có thể đến mức điêu luyện ấy kìa?!
Trong lúc chàng Thượng Quan Linh thiệt bên trên đang cau mày suy nghĩ thì chàng Thượng Quan Linh giả bên dưới đã bước ngay lại mặt Liễu Văn và Tả Pháp Thụ. Và chính hai người này lại càng không phục, nhưng nàng Liễu Văn lấy làm lạ tại sao con người như Thượng Quan Linh mà cũng đầu vào dưới trướng của Tỉ Vương và vinh nhiệm chức thủ lãnh trong Ngũ đại sứ giả. Nghĩ vậy Liễu Văn lẳng lơ ghẹo ngay rằng:
- Kìa sứ giả! Dám hỏi trong kỳ Đại Ngũ Trì đó, cây Tiểu Đoạt Hồn Kỳ đã gây thương tích cho sứ giả chỗ nào nhỉ?
Câu hỏi này chẳng qua nhắc đến chuyện cũ của Đại Ngũ Trì, khi Liễu Văn đoạt được Tiểu Đoạt Hồn Kỳ, bỗng cắm mạnh vào lưng Thượng Quan Linh, chàng né nhanh nên bị sướt vào sườn, áo rách và rớm máu, nhắc chuyện cũ này, chẳng qua là muốn bêu xấu Thượng Quan Linh chơi! Lúc này, Thượng Quan Linh thiệt nấp trên lầu cười thầm trong bụng, chàng thầm nhủ: chuyến này cô ả có tinh khôn đến đâu cũng bị lầm to quáng mắt gà rồi. Những câu nói ấy khác nào như đem đàn gảy vào tai trâu. Thượng Quan Linh giả làm sao hiểu được chuyện này! Chàng bất giác cười thầm trong bụng và chăm chú nhìn, chỉ thấy Thanh y sứ giả khéo vờ vẫn cười tỉnh. Cái cười ấy khiến cho nàng Liễu Văn lại như nóng bỗng khắp trong mình, vì lúc này nàng vẫn còn thấy yêu Thượng Quan Linh, thôi thì nàng giở hết các ngọn lẳng của mình để tống tình với Thanh y sứ giả. Lúc này Tả Pháp Thụ khẽ hừ một tiếng lạnh lùng và sửa soạn gây sự...
Nhưng sự kiện lạ lùng đã khiến cho hắn bỏ ngay ý định gây sự của mình. Vì lúc này thấy Thanh y sứ giả ngồi ngay vào chiếc ghế sắt nóng bốc khói ấy mà không hề hấn gì. Chỉ nghe Thanh y sứ giả nói:
- Quê hương của đại sư, vốn ở miền sông Hằng Hà bên Thiên Trúc, và chắc ở ngay trong tịnh xá của rừng Bàn Na Tha? Tôn sư chắc là Minh Quang đại sư, nghe nói vị cao tăng này đã tiên du từ lâu, nhưng đến nay, các môn hạ còn đang lò dò thăm về tin tức hai vị đại sư Tá Pháp Thụ và Hữu Duy Na, nay người chủ trì ngôi tịnh xá Bàn Na Tha là Bảo Nghiêm pháp sư này, chính đại sư cũng đã nhờ tại hạ tìm thăm tin tức của nhị vị. Hà! Hà!...
Câu nói này khác nào như dao đâm vào người Tả Pháp Thụ, vô tình cho tên phiên tăng này biết là bao nhiêu bí mật của y đều đã lọt vào bộ óc của Thanh y sứ giả. Và chính những nhược điểm này mà Tỉ Vương lợi dụng để thao túng tinh thần của nạn nhân.
Lúc này không còn ai có vẻ dị nghị gì đến Thanh y sứ giả nữa. Chỉ thấy Thanh y sứ giả từ từ bước lại phía Bắc kiếm Phổ Côn, Thượng Quan Linh trên lầu bất giác trợn tròn mắt, thầm nghĩ: ma đầu này không biết sẽ uy hiếp và dày vò tinh thần của sư phụ mình đến mức độ nào đây?
Bắc kiếm Phổ Côn rõ thấy Thanh y sứ giả là sư điệt của mình, nhưng ông ta đã nghiễm nhiên khớp vẻ oai phong của Thanh y sứ giả, hai mắt cúp ngay xuống, không dám nhìn ngược lên.
Thanh y sứ giả đứng cách lối hai bước nhìn Bắc kiếm Phổ Côn không ôn hòa mà cũng chẳng uy hiếp.
Bắc kiếm Phổ Côn bỗng lảm nhảm tự hỏi:
- Nam Bút... Nam Bút đệ... giờ đây em ở đâu?...
Dù cho lão đại của nhóm Càn Khôn Ngũ Tuyệt bề ngoài có lạnh lùng tàn nhẫn đến đâu đi nữa, nhưng trên thực tế, đối với ba sư đệ đều quan tâm, nhất là đối với sự chót út của Nam Bút, Bắc Kiếm biết sư đệ cùng đi với Thượng Quan Linh, rùng mình biến đi như Đại Thánh trong truyện Tây Du, đã nghiễm nhiên trở thành Thanh y sứ giả! Nhưng Nam Bút đi đâu kìa?
Trước mặt sứ giả thân tín của Tỉ Vương, thế mà Bắc Kiếm vẫn dám tỏ vẻ quan tâm đến sư đệ Nam Bút, khiến cho Thượng Quan Linh thiệt trên lầu vô cùng cảm động...
Dù sao cũng là nhân vật trong Càn Khôn Ngũ Tuyệt, tuy bị lỡ bước vào cạm bẫy địch, nhưng vẫn có lương tri của tình nghĩa huynh đệ. Chính câu hỏi lảm nhảm của Bắc Kiếm cũng là điều muốn biết của Thượng Quan Linh, chàng cố lắng tai theo dõi.
Thanh y sứ giả khẽ mỉm cười rằng:
- Nay ba anh em họ đều ở chung với nhau. Nhưng vì ý kiến của ba người vẫn chưa cải biến, nên Chúa công có lệnh làm sao cố khuyên ba người để hoàn thành sứ mạng trước ngày mùng mười Tết. Và mong ngài cố khuyên họ cho khéo để hoàn tất nhiệm vụ!
Bắc kiếm Phổ Côn sắc mặt trắng như tờ giấy, cung kính lãnh mạng.
Bắc Kiếm nghĩ: thằng sư điệt này quả đã biến đổi quá nhiều, không những không coi sư bá ra gì, mà cả đến Thiên Si Tây Đạo và Đông tăng Túy Đầu Đà sư bá cùng với ân sư Nam Bút đều không còn nể nang gì nữa, đã không xưng hô lễ độ, mà đều xưng tổng quát là ba anh em họ, không những Bắc Kiếm ức vị sư điệt ăn hiếp mình mà hầu hết các tay ma đầu tại sảnh đường, đều cho đây là sự bất kính của hậu bối đối với tiền bối, khiến cho ai nấy căm giận vô cùng. Thượng Quan Linh thiệt lúc này cắn răng nghiến lợi nguyên sẽ thân hành trả thù tên mạo xưng tướng mạo của mình, khiến nỗi thanh danh trong trắng của mình bị phá sản, đáng hổ thay! Chỉ thấy Thanh y sứ giả thình lình quay thân lại, mọi người lại len lét như rắn mùng năm, ai nấy tỏ vẻ sợ sệt vô ngần.
Thanh y sứ giả đưa mắt nhìn tứ hướng và hỏi ngay với Lân vương Cổ Thái Huyền rằng:
- Lão bà bịt mặt sao còn chưa thấy lại kia?
Thượng Quan Linh đang nấp trên này bất giác giật thót mình.
Chỉ nghe tiếng Cổ Thái Huyền bẩm lại:
- Thưa Sứ giả, vừa rồi đã cho người điều tra rồi...
Thượng Quan Linh quýnh người, chàng cho rằng, nếu họ dùng lối truyền tin bằng kim phi xà thần tốc như thế và lại khám phá ra Hắc y sứ giả đã giết lão bà bịt mật, Tra Phong đào tẩu, như vậy thì nguy mất. Thượng Quan Linh lúc này đã biết đích xác, Hắc y sứ giả và Thanh y sứ giả đều là sự hóa trang kín đáo và khéo tuyệt của Tỉ Vương. Đúng như lời của lão bà bịt mật Lỗ Yểu Nương nói, trong số Tứ đại sứ giả ấy chỉ có Lục y sứ giả và Lam y là có người chính cống, còn Tử y và Hắc y là bản thân của Tỉ Vương.
Nào hay trong ngàn sự kín đáo ấy là còn có nửa điều hớ hênh, tưởng đâu Bắc Ưng Lãnh Lạc đã tàn phế và bị nhốt trong hầm bí mật của Bắc Ưng Trang cùng với tên Thượng Quan Linh hấp hối trúng độc chờ chết là yên chuyện! Đâu có thể ngờ Bắc Ưng Lãnh Lạc lại hy sinh tính mạng cho mình để cứu sống Thượng Quan Linh mà tạo nên một lỗ trống hổng to tướng thế này.
Từ Bắc Ưng Lãnh Lạc, Lỗ Yểu Nương, và chính kinh lịch của bản thân mình, Thượng Quan Linh dần dần đã suy đoán ra, kẻ đang đóng vai Thanh y sứ giả ấy, chính là Tỉ Vương. Nhưng chàng vẫn chưa hiểu rõ, tại sao tên Tỉ Vương lại xưng Thượng Quan Linh để đóng vai Thanh y sứ giả?
Phải biết Thượng Quan Linh danh vọng đâu có thể ngang hàng với các bật tiền bối như Lỗ Yểu Nương, Lãnh Lạc... không hiểu Tỉ Vương có dụng ý gì? Nhưng cuộc diện trước mắt đây quả nguy hiểm, không cho chàng nghĩ ngợi vu vơ nhiều!
Tỉ Vương biết chắc chắn Hắc y sứ giả không bao giờ có thể xuất hiện được, nhưng nếu khi nghe tin Cổ Thái Huyền báo lại là Hắc y sứ giả đã xuất hiện, và giết mất lão bà bịt mặt tại vùng sa mạc, như thế chẳng bị lộ tẩy ư? Bây giờ phải lập tức lo kế đối phó!
Chỉ thấy Thanh y sứ giả đã giao lệnh lại cho một tay thân cận, vạt áo bào nhoáng lên, chuẩn bị rời ngay đại sảnh. Thượng Quan Linh trên này hấp tấp tính theo dõi, nhưng khốn nỗi mình đang ở trên lầu, dưới lầu toàn các cao thủ, nếu sơ suất để lộ tung tích thêm rầy rà, chàng hối hả quay thân, tính xuống lầu lo theo dõi. Và ngay trong lúc lúng túng ấy, tung tích của Thanh y sứ giả đã biến dạng mất. Thượng Quan Linh cuống lên chẳng cần suy nghĩ gì, chàng bước sâu thêm vào ngôi miếu tự. Loanh quanh một chập, đến một chỗ tương đối vắng, bổng nghe có tiếng quen quen thì thầm với nhau, Thượng Quan Linh mừng thầm.
Thì ra chính là âm thanh của Thanh y sứ giả! Thượng Quan Linh vội rón rén bước ngay lại gần phòng, bên trong có tiếng truyền ra rằng:
- Pháp giá của Thiên hậu Nương Nương phải chăng đã đến trong miếu?
Hình như tiếng của Lân vương Cổ Thái Huyền rằng:
- Dạ thưa đã đến. Chúa công cần xem xét không?
Quả nhiên Thượng Quan Linh đã đoán trúng, người Thanh y sứ giả mà đội lốt Thượng Quan Linh chính là bản thân của Tỉ Vương vì từ trong cách xưng hô Chúa công của Cổ Thái Huyền ấy đã chứng minh rõ ràng! Một tiếng cười nhẹ nhàng từ trong phòng vọng ra. Âm ty tú tài Trần Thân cười rằng:
- Quả là người đẹp nghiêng trời ngửa nước, hèn gì Chúa công cũng phải mê mẩn, nhưng bản sứ giả cảm thấy có hai điều hơi khó khăn, một là vào ngày mùng mười Tết này có cuộc lễ thịnh soạn linh đình như thế liệu nàng có thể sợ mà ngất đi không? Thứ hai, nếu mặt thật của nàng lộ ra, liệu có làm rúng động các người có mặt trong buổi lễ, chẳng hạn như Trưởng nữ Thanh Thông Bang Liễu Văn...
Thượng Quan Linh giật thót mình. Trời ơi ! Không lẽ là nàng thật đó sao? Trong lòng rối quýnh, càng đâm chăm chú theo dõi câu chuyện, nhưng nghe Thanh y sứ giả khẽ tiếng rằng:
- Trần Thân! Trong hai điểm mà ngươi đã nghi ngờ ấy ta đã nghĩ tới từ trước, và đã sẵn sàng chuẩn bị hết rồi, khỏi cần phải lo...
Cổ Thái Huyền tâng bốc rằng:
- Chúa công xưa nay hành sự châu đáo, thần cơ tài tình, bọn tôi làm sao so sánh cho bằng... Chúa công? Có cần bảo Pháp Đô đem nàng vào đây để giải nỗi lòng tương tư của Chúa công...
Thanh y sứ giả nhẹ cười rằng:
- Thôi cũng được! Vậy Thái Huyền hãy đi nói cho Pháp Đô hay, khi pháp giá của Nương Nương vào thánh điện, tạt ngang đây, hãy cuốn ngay mành mành lên, chúng ta hãy ở trong phòng này xem được rồi, trước sau gì cũng chỉ còn có ba ngày, cần gì phải hấp tấp vội vã trong lúc này!
Cổ Thái Huyền hấp tấp lãnh mạng đi ngay; lúc này trời đã vào buổi hoàng hôn, ngôi chùa to lớn đã bắt đầu chìm dần vào cảnh âm u. Thượng Quan Linh nấp nơi bóng tối nên không bị phát giác.
Chờ đâu một lúc, xa xa có tiếng bánh xe chuyển bánh Thượng Quan Linh hồi hộp chờ đợi, chăm chú theo dõi! Dần dần xe đã đến gần, khi tạt qua cửa phòng, mành mành được vén lên, trong xe một mỹ nhân tuyệt sắc buồn rầu ngồi trong. Thượng Quan Linh khi nhận rõ người đẹp trong xe, cơn tức giận nổi ngay trong lòng, chàng cảm thấy trời đất quay đất ngửa tối tăm mặt mày.
Chàng cố trấn tĩnh tinh thần, thầm nhủ lòng: Liễu Mi em ơi! Mong em chớ có hoang mang hoảng sợ! Ngu huynh đã đến đây. Trước sau gì cũng liều mạng để cứu em thoát hiểm... cầu chúc em yên tâm... Chàng hấp tấp lén theo ngay xe, Thượng Quan Linh hết sức cẩn thận đề phòng ba tên ma đầu, trong phòng là Tỉ Vương, Lân vương Cổ Thái Huyền, âm ty tú tài Trần Thân. May là phía sau xe Nương Nương ấy có khá nhiều tăng lữ và tục nhân theo sau. Thượng Quan Linh cũng lén nhập ngay vào bọn sau xe này, không ai phát giác. Sau khi đã được một chặp, pháp giá của Thiên Hậu đến ngay một ngôi nhà lớn rộng âm u, Thượng Quan Linh liếc nhìn một lượt, không thấy Tỉ Vương, Cổ Thái Huyền và Trần Thân theo, ở đây ngoại trừ đám tăng lữ và tục nhân theo phía sau xe ra, đằng trước pháp giá có một Lạt ma tăng cao lớn, và bốn Lạt ma khác theo hộ giá, cộng thêm bốn thiếu nữ Mông Cổ theo hầu.
Chàng nghĩ: lúc này không ra tay còn đợi đến chừng nào? Chàng tung vọt mình lại phía trước xe, một tay kéo ngay ngựa đang đi lại, tay kia bung ngay rèm xe cất tiếng gọi:
- Liễu Mi em!...
Cỗ xe pháp giá của Thiên Hậu Nương Nương do ba ngựa kéo, lúc này làm sao chịu nổi thần lực của Thượng Quan Linh, cỗ xe ngừng ngay lại và ngựa kêu hí vang lên.
Đồng thời cả bốn tên thiếu nữ Mông Cổ cũng hét rú lên vì kinh hoảng, bốn tên Lạt ma hộ giá lập tức ra tay, hai tên gần nhất giơ ngay tay hộ pháp, chụp ngay sau lưng Thượng Quan Linh...
Thượng Quan Linh cũng chẳng thèm ngoảnh đầu lại tay mặt hắn túm chặt ngựa, tay trái vung ra đằng sau, hai tên Lạt ma giận quát lên một tiếng, thế đánh mới phát ra được một nửa, toàn thân đã bị chưởng lực của đối phương đánh bay bạt luôn. Thượng Quan Linh lại lên tiếng gọi:
- Liễu Mi em! Em! Ngu huynh đã đón đây! Em! Sao thế em?
Chàng chỉ thấy thiếu nữ toàn thân y phục lộng lẫy, trên đầu vai phủ đầy các dây châu báu, ngọc ngà lòa mắt.
Thượng Quan Linh vừa tính nhảy lên xe, hai cây thiền trượng đồng thời bửa tới phía eo của chàng, mặc dù đánh trúng mà Thượng Quan Linh vẫn trơ trơ không hề hấn gì! Hai tên ma đầu lại cứu giá ấy, lúc này thấy sự việc xảy ra quái lạ, chúng tưởng hai cây thiền trượng sắc bén, thế nào cũng gây nên cảnh máu loang thiền điện, hoặc tiếng thét ghê rợn vang lên, nào hay xảy ra ngoài dự đoán của chúng, khách lạ không khác nào một bóng ma, ngang nhiên không bị một thương tích gì! Hai tên Lạt ma giật mình bỏ luôn thiền trượng, hai người bốn tay, chia nhau ôm ngay hai chân của Thượng Quan Lỉnh tính kéo ngay chàng xuống. Thượng Quan Linh đã bị kéo xuống một nửa, nhưng chàng như vẫn chưa hề phát giác, mắt vẫn chăm chú vào xe để nhìn một dung nhan tuyệt thế, chỉ thấy đôi mắt của thứ nữ Thanh Thông là Liễu Mi lúc này bám chặt, trông nàng không khác nào như một pho tượng bồ tát oai nghiêm bằng ngọc. Thượng Quan Linh hoảng người vì sự im lặng quái gở của người yêu, chàng đâm nghi, không lẽ đã bị điểm huyệt hay đã bị độc thủ của Tỉ Vương, mà phải uống phải chất độc gì chăng? Chàng rối trí, bèn tính bồn ngay nàng rời khỏi đây đã. Chợt chàng cảm thấy nửa thân phía dưới mình đã có sức trì nặng, thì ra hai tên bị chưởng đánh bay ấy, lúc này cũng vào hùa cùng hai đồng bọn lại níu kéo kịch liệt. Thượng Quan Linh quát lên một tiếng, nửa thân trên không động đậy, hai chân hất tung mạnh ra, trong bốn tên Lạt ma, có hai tên biết chuyện đã vội buông tay, còn hai tên kia lại liều chết như ôm cột nhà sắp đổ, nhưng làm sao chịu nổi ngọn đá thần lực ấy, chỉ thấy hai tên ấy không khác gì hai trái cầu bị đá tung đi!
Cảnh náo động vang lên phía sau xe, bọn người cả tăng lẫn tục ầm ầm rút binh khí bủa vây tới. Thượng Quan Linh đang lo về người yêu, thấy đám người này đến quấy phá mình, chàng nổi giận, tung ngay người xuống xe, quyền cước lung tung đánh túi bụi! Chớp mắt chưởng phong ào ào khắp xung quanh, kình lực mạnh tuyệt luân, đám người vây đánh ấy binh đao bị bật văng, tiếng kinh tiếng hoảng vang liên hồi, ai nấy lo lui ngay thế để liệu kế đánh lại. Thượng Quan Linh chỉ ngại những tiếng kêu thét ấy sẽ kinh động đến Tỉ Vương, Cổ Thái Huyền, Trần Thân thì càng thêm rầy rà chàng bèn ra tay đánh nặng đòn, hy vọng thoát đám người trước mặt, cứu Liễu Mi và rời ngay nơi này.
Chớp mắt thần lực ào ào bửa ra, oai phong lẫm liệt, bốn tên Lạt ma và đám người tăng tục ấy đâu phải là địch thủ của Thượng Quan Linh, lúc này trông chàng không khác nào như cọp lọt vào đàn dê non. Đám người thi nhau ngã. Nhưng đám người này đã bị oai lực của Tỉ Vương ăn sâu trong óc, mặc dù thấy thua và có thể bị mất mạng ngay trước mắt đây, cũng không dám ngang nhiên bỏ chạy. Họ chỉ còn nước vừa lo chống cự vừa lo la hét để hy vọng cầu viện binh tới.
Thượng Quan Linh nổi khùng, nên ra tay nặng đòn thêm. Mắt thấy sắp sửa toàn thắng, vừa tính phi thân lên xe để cứu người yêu. Thình lình phía xa có tiếng lạnh lùng quát rằng:
- Hãy giang ra hết, để bần tăng tiếp hầu với vị cao nhân quí khách này xem!
Tiếng nói oang oang như chuông đồng rền, nghe qua đủ biết, công lực người này không phải hạng xoàng xĩnh gì. Chính người này là vị Lạt ma cao lớn đang lãnh đạo cuộc pháp giá của Thiên Hậu Nương Nương, chắc người này là Pháp Đô đây, nhưng quái lạ! Từ lúc Thượng Quan Linh ra tay giao tranh với đám người hộ giá ấy, vị Pháp Đô này đứng khoanh tay nhìn, không hề ra tay ngăn đỡ, mãi đến lúc mọi người thua hết, y mới đứng ra tiếp đòn!
Câu nói của Pháp Đô lúc này chẳng khác gì lệnh Hoàng ân đại xá của bực vua, mọi người mừng rối và lui rạp ngay hết. Pháp Đô nhảy vọt ngay lại quát lệnh, mọi người hấp tấp ra roi cho ngựa tiến. Thượng Quan Linh cả giận, bung người vọt theo xe. Vị đại Lạt ma Pháp Đô đã chận ngay trước mặt, lạnh lùng cười, chợt phát ra một chưởng, một ngọn kình phong bắn thẳng và ép sang phía chàng. Đồng thời lên tiếng hỏi:
- Bần tăng Pháp Đô, dám hỏi tôn giá là ai? Sao dám ngang nhiên chặn giá cướp đoạt Thiên Hậu Nương Nương như thế?
Thượng Quan Linh vừa cuống vừa giận, không thèm trả lời vung chưởng phạt ngay ra; chàng cũng thừa biết tên đại Lạt ma là người chủ chốt của nhóm người hộ giá này, đâu dám chểnh mảng, dùng ngay sáu phần chân lực, chuẩn bị ép lùi đối thủ, rồi sẽ quăng mình đuổi theo pháp giá.
Nào hay vị đại Lạt ma Pháp Đô quả là tay cừ, ngang nhiên vung chưởng đón tiếp, chỉ nghe đến pắc một tiếng vang lên, hai ngọn kình lực tiếp giao, Thượng Quan Linh hơi bị nhoáng mình, giật mình về công lực của Pháp Đô, mắt thấy xa giá Nương Nương đã vào trong ngôi nhà lớn, lòng dạ cuống lên, không màng giao đấu với địch nữa, chàng tính tung mình đuổi theo. Thân hình của Pháp Đô linh động tuyệt vời, chỉ nhoáng mắt đã chắn ngay lối tiến của Thượng Quan Linh, hét rằng:
- Nếu thí chủ không chịu nói rõ nguyên do, dù bần tăng có bất tài, cũng dám to gan ngăn ngay sự tiến bước của thí chủ lại!
Thượng Quan Linh đành bị dồn vào thế liều, khẽ hừ một tiếng bước tới nửa bước, hai cánh tay vẽ hẳn hai vòng bán cung, thình lình quát lớn:
- Ai dám ngăn cản bước tiến của ta!
Nhanh như điện trời nhoáng, song chưởng từ ngực đẩy mạnh ra, chưởng phong ào ào, Pháp Đô lật đật vung chưởng chống đỡ, tà áo cà sa trên mình bay tung phất phới. Chỉ nghe Pháp Đô lớn tiếng khen:
- Công lực khá lắm!
Dứt tiếng khen, một ngọn kỳ hiểm được đánh ra, ào một tiếng, hai ống tay áo cà sa cuồn cuộn lên, nhắm ngay song nhãn (đôi mắt) của Thượng Quan Linh đánh tới.
Chàng không dám chểnh mảng, quát lên một tiếng, song chưởng vung ra chàng không tránh mà lại nghênh tiếp đón, biến chưởng xòe thành trảo, đồng thời ra tay chớp nhoáng, một tay chụp ngay ống tay áo của Pháp Đô, tay kia đấm mạnh ngay sang phía mặt địch thủ. Ống tay áo của Pháp Đô, xem ra khó lòng tránh khỏi ngọn bắt bằng trảo của Thượng Quan Linh, nếu bị chụp trúng, thế nào cũng bị rách soạt áo cà sa. Nào hay sự kiện xảy ra quá bất ngờ, chỉ thấy vạt ống áo của Pháp Đô vụt từ thế đang duổi thẳng ấy đột ngột biến lượn sang hình rắn uốn khúc vọt ngay khỏi bàn tay của Thượng Quan Linh và quẹt ngang ngay tới phía Kỳ môn trọng huyệt trên ngực chàng. Đồng thời, ống tay áo nọ cũng đã đụng ngay đến chưởng bên trái của Thượng Quan Linh.
Thượng Quan Linh kinh hoàng không biết giở đòn ra sao, đành ấm ức khẽ hừ lên một tiếng vèo thân né tránh...
Hai bàn tay như cự linh chưởng của Pháp Đô đã từ trong hai ống tay áo cà sa thò ngay ra, và luân phiên đánh tới tấp, khí thế dũng mãnh tuyệt luân, ngăn chặn lối thoát của Thượng Quan Linh, khiến chàng không sao rút được nửa bước! Mắt thấy pháp xa đã gần khuất dạng, trong lòng rối quýnh, ức giận, bị thương vì mình không sao cứu kịp người yêu bị nạn, trong trạng thái giữa giận và ức ấy chàng bắt liều đánh túi bụi, ra tay đều là những ngọn đòn sát thủ cả! Sau năm hiệp chớp nhoáng, chàng nếm ngay phần ưu thế về mình, lúc này thấy vị tăng Lạt ma Pháp Đô bị trùm kín trong những chưởng phong tới tấp của Thượng Quan Linh, chỉ còn nước đỡ mà không còn thế công hãm như trước!
Thượng Quan Linh đã phát hết công lực bình sinh của mình và đem hết những gì đã học được trên Ngao Sơn ra áp dụng, chàng sực nhớ đến ngọn Phân Hoa Phất Liễu (rẽ hoa khoát cành liễu) của sư bá Đông tăng Túy Đầu Đả đã truyền dạy, chưởng và quyền nhập một đánh ra! Chỉ thấy toàn thân chàng phất phơ như gió thổi cành liễu trông lại tựa hồ như chàng say ma men hết đảo phía Đông lại nghiêng hướng Tây, bên đấm bên quạt, thoạt nhìn vào, tưởng đâu là lối đánh bừa bãi vô chưởng pháp, nhưng thực ra là một lối đánh biến ảo vô cùng tận, vừa bí hiểm vừa tuyệt luân, chỉ nháy mắt đã khiến cho vị đại Lạt ma Pháp Đô lúng túng tay chân, đầu óc rối loạn! Chỉ nghe Pháp Đô vừa cố đỡ đòn vừa lên tiếng.
- Xin thí chủ hãy nương tay và cho biết danh tánh và chủ ý của cuộc viếng thăm này.
Thượng Quan Linh không thèm trả lời, chàng nghĩ đã là địch thủ với nhau, nói làm gì cho tốn hơi. Ỷ ngay kỳ công của Tuyết bi tiên hoa, không né không tránh, tiến đánh bừa vào địch, mình có chịu mấy đòn cũng chẳng ăn nhằm gì, nhưng nếu hễ địch trúng một đòn của mình, lập tức ngã lăn quay ra ngay.
Chưởng vung ồ ạt, nhoáng mắt lại trên mười hiệp, thình lình một tiếng quát oai của Thượng Quan Linh vang lên, song chường vung ra đẩy mạnh ngay vào địch. Ngọn đòn này của chàng tuy lợi hại, nhưng cửa ngực của chàng lúc này vô cùng trống rỗng, Pháp Đô lạt ma thấy ngay cơ hội ngàn năm có một thuở, phần lại Pháp Đô cũng hết lối tránh né, bèn chụp ngay cơ hội, thình lình đánh thốc song chưởng vào ngực đối phương, nhưng quái lạ Thượng Quan Linh không hề né thân hay gỡ đòn, chợt Pháp Đô biết mình bị mắc bẫy địch, tính thu thế biến ngay lối đánh, nhưng đã trễ. Chỉ nghe một tiếng Bùng vang lên, đôi chưởng hộ pháp của Pháp Đô đã đánh trúng vào ngực của Thượng Quan Linh, và cũng trong lúc tóe lửa ấy, bả vai mình cũng bị Thượng Quan Linh bửa mạnh hai đấm như trời giáng.
Sau khi đôi bên đều trúng đòn, Thượng Quan Linh vẫn trơ trơ như tượng đá, riêng phần Pháp Đô đã hự lên một tiếng trầm nặng, toàn thân loạng choạng lùi ngay vài bước và ngồi bịch ngay xuống, mặt dầu Thượng Quan Linh không nỡ giết, chàng tung ngay mình nhảy vọt qua đầu Pháp Đô, lao nhanh vào ngôi đại điện nguy nga sắp chìm trong cảnh tối.
Khi vào đến trong điện, trên giá xa đã mất dạng Liễu Mi, trong điện đèn đuốc sáng trưng, khá nhiều tăng lữ đang làm lễ bái Phật.
Nghe thoảng tiếng gió, mọi người trong điện quay nhìn, thấy Thượng Quan Linh đang đứng ngang nhiên nơi cửa điện, trong đại điện lập tức hỗn loạn có người lớn tiếng:
- Chính hắn! Mau bắt ngay lại!
Chớp mắt đã có vài tên Lạt ma nhảy bổ ngay lại, Thượng Quan Linh không muốn giao tranh với họ, chàng quay mình bỏ chạy. May nhờ ngôi Phật tự ở đây nguy nga rộng lớn, đình đài lầu các nhan nhản, lúc này trời chập choạng tối, chẳng mấy chốc, Thượng Quan Linh đã thoát khỏi cuộc truy nã của đám tăng của Lạt ma. Chàng chạy đến một nơi vắng hoang, tìm thử xem có cách gì để đối phó?! Bỗng chàng sực nhớ đến, rõ khờ quá, sao mình không xuất hiện với danh phận Hắc y sứ giả của Bắc Ưng Lãnh Lạc để ép chúng giao ngay Liễu Mi và sư phụ cùng sư bá? Tuy lúc này tên Tỉ Vương đã đề phòng và đang lo điều tra tin tức về lão bà bịt mặt, nhưng theo Thượng Quan Linh phỏng đoán, chắc y còn chưa nhận được báo cáo, nay mình vẫn có thể thử xem thời vận may mắn của mình. Nghĩ vậy, Thượng Quan Linh bèn giở ngay khăn bịt đầu và khăn che mặt, cởi ngay chiếc áo da, rút ngay ngọn binh khí ưng trảo liêm cầm tay, sửa soạn chắc lại Kỳ lân bảo đới nơi cổ. Lúc này chàng đã nghiễm nhiên trở thành một Hắc y sứ giả oai hách, chàng khẽ hít một hơi dài để định lại tinh thần, xong ung dung nhấc chân bước di mạnh bạo! Chàng quay về nơi giao đấu với Lạt ma Pháp Đô vừa rồi, không thấy vị tăng nhân hộ pháp này đâu nữa! Chàng lại quay bước vào trong đại điện!
Vừa đến tiền điện, hai tên Lạt ma cầm đuốc chạy phăng phăng ngay lại.
Thượng Quan Linh quát lên một tiếng:
- Đứng im!
Hai tên hốt hoảng đứng ngay lại, cả hai cùng đồng thanh hỏi:
- Ai vậy?
Thượng Quan Linh lại quát:
- Rõ quân đui mù. Đến ta mà không nhận ra sao?
Nghe tiếng quát lạnh người rợn da gà, cả hai tên lạt ma run rẩy giơ đuốc để xem cho rõ, nhưng cả hai hoảng vía, lùi và quì mọp ngay xuống đất rằng:
- Bọn nô bộc không biết là đại giá của Hắc y sứ giả đến, tội đáng chết! Đáng chết!
Thượng Quan Linh yên bụng, lên tiếng gắt nhẹ nhàng:
- Đứng dậy!... Chúa công có lệnh cho ta đến đây hộ giá Nương Nương, ta mới tới, chưa biết Thiên Hậu Nương Nương nay đâu, vậy hãy mau đưa ta lại đó cho khỏi mất thì giờ!
Hai tên Lạt ma trả lời ngay rằng:
- Dạ bẩm sứ giả, nay Thiên Hậu Nương Nương đang ở trong thánh điện và do nhóm hộ vệ Pháp Đô trông chừng công việc hộ giá, nhưng mật đạo vào trong điện ấy đã bị phong toả, bọn nô bộc đây không có chìa khóa...
Thượng Quan Linh chợt lại nghĩ ra một kế hoạch, chàng đổi sang vấn đề khác rằng:
- Thôi được, đã có Pháp Đô hộ vệ, ta đi thăm chậm chút cũng không ngại gì, nhưng còn ba nhân vật trong nhóm Càn Khôn Ngũ Tuyệt nay giam cầm tại đâu, đưa ngay ta lại tuần tra kỹ càng một lượt xem sao!
Hai tên Lạt ma đưa mắt nhìn nhau, giơ ngay đuốc lửa đi trước dẫn dường. Lúc này Thượng Quan Linh suy tính ngầm trong bụng, Liễu Mi ít nhất cũng đến mùng mười mới đem ra làm lễ tế thần, vậy giờ đây chưa có gì gọi là nguy hiểm, chẳng thà lúc này nên nghĩ cách cứu thoát sư phụ và hai sư bá thoát hiểm trước, xong sẽ hợp sức của bốn người có lẽ dễ hành sự hơn.
Thượng Quan Linh theo hai tên Lạt ma đi quanh co mãi, không biết đã đi được bao xa, nhưng khi ra bằng một cửa bên hông, đã thấy cách xa hẳn ngôi đại miếu, chàng không dám lơ đểnh, suốt dọc đường, chàng cố thầm nhớ lối đã đi qua, khi đến trước một ngọn núi, thấy một cánh rừng xuất hiện trước mắt, xuyên qua cánh rừng, thấy ánh sáng ẩn hiện lập lòe, thì ra là một ngôi nhà tranh được cất sát ngay cạnh núi. Hai tên Lạt ma ngừng bước lại. Thượng Quan Linh ra dấu cho hai người ra về, trong lòng chàng lúc này không khỏi hồi hộp, đứng im một chặp để định thần xong, chàng mới quyết tâm đẩy cửa vào. Bên trong, một tên đại hán thình lình đẩy cửa đứng dậy.
Thượng Quan Linh biết ngay đại hán là một trong . nhóm quần ma vừa rồi là Dực Đông Biện Trang Hổ. Chỉ thấy Biện Trang Hổ cung kính rằng:
- Tưởng ai, hóa ra là sứ giả ngài đã đến! Hà! Hà!... vừa rồi Thanh y sứ giả xuất hiện, ai nấy đều ngờ đâu Hắc y sứ giả và Tử y sứ giả chuyến này không đến! Nào hay giờ này ngài đã đến!
Thượng Quan Linh rằng:
- Cuộc thịnh hội của Bách Linh Miếu, vốn là đại lễ khai đàn lập giáo của chúng mình, ai mà không mong lại dự cho thêm long trọng!
Vừa nói vừa nhìn chăm chăm vào Biện Trang Hổ, Biện Trang Hổ vội tươi cười nói:
- Vừa rồi tại hạ nhận lệnh của Lam y sứ giả, ở đây canh gác ba tên nhân vật của Càn Khôn Ngũ Tuyệt! Vì những anh em ở đây đều đã được điều động về miếu tự lo công việc khác cả...
Thượng Quan Linh nghi ngờ, ngôi nhà tranh nho nhỏ này, trừ những bàn ghế và dụng cụ đơn giản ra, không có gì khác lạ thêm, không hiểu thầy mình và hai vị sư bá bị giam cầm nơi đâu, chàng bèn hờ hững nói rằng:
- Thanh y sứ giả đã cho ta hay, có người đây canh gác cũng vững rồi, nhưng chúng ta cũng nên đi tuần tra xem sao.
Biện Trang Hổ được Hắc y sứ giả cho nước ngọt, mừng như mở cờ trong bụng, vội hớt hải lấy ngay ra một xâu chìa khóa, bước ngay lại một chiếc tủ trong nhà tranh, thò ngay chìa vào mở cửa tủ.
Ồ! Sau khi cửa tủ mở, thì ra bên trong là một đường hầm, Thượng Quan Linh biết ngay đây là mật thất được xây cất trong lòng núi, dùng để giam giữ các tội phạm, chàng để ý nhớ kỹ hình dáng chiếc chìa khóa, rồi lên tiếng rằng:
- Phiền ngươi đi trước cho!
Biện Trang Hổ lật đật thắp đuốc dẫn đường đi trước, không bao lâu, trước mặt đã hiện ra một thạch thất, trên vách thạch thất, có ánh sáng lập lòe và chiếu rõ ba người bên trong, chính thầy mình Nam Bút đang ngồi như nhập định, sư bá Đông Tăng đang ôm bầu rượu ngủ say và tiếng ngáy khò khò, một vị nữa đang ngồi như suy tư, vì chỉ thấy lưng, nhưng Thượng Quan Linh đoán chắc là sư bá Tây đạo Thiên Si.
Lúc này Biện Trang Hổ khẽ tiếng nói với Thượng Quan Linh rằng:
- Ba người này kỳ quái lắm, mỗi người có một đặc điểm cá tính riêng, Thiên Si đạo trưởng suốt ngày ngồi ỳ như suy tư, còn Túy Đầu Đà là ma men, hễ có rượu vào là yên chuyện, chỉ riêng có Nam bút Gia Cát Dật là kỳ quái nhất, và cũng chẳng ai dám trêu ghẹo đến quái tiên sinh này!
Lúc này Thượng Quan Linh nào còn nghe gì đến lời nói của Biện Trang Hổ đâu, chàng chăm chú nhìn vào các song sắt, biết ngay các song sắt ấy thế nào cũng có chuyện lạ lùng bên trong, còn không làm sao có thể giữ nổi ba nhân vật cao thủ của Càn Khôn Ngũ Tuyệt như thế. Chùm chìa khóa này đang ở trong tay Biện Trang Hổ, nên lợi dụng ngay, nghĩ vậy bèn nói:
- Biện Trang Hổ, ngươi hãy mở ngay song cửa này đi!
Biện Trang Hổ tưởng đâu mình lãng tai nghe nhầm, nghi ngờ hỏi lại:
- Sứ giả muốn mở ngay Nhuyễn kim lao (loại cửa lao bàng sắt dẻo dai) ra sao?
Quả nhiên Thượng Quan Linh đã đoán trúng, thì ra loại song sắt ở đây gọi là Nhuyễn kim, hèn gì cố thể giam giữ nổi nhân vật của Càn Khôn Ngũ Tuyệt và từ trong câu hỏi ngạc nhiên của Biện Trang Hổ, Thượng quan Linh biết ngay hắn kinh hãi sợ sệt, lỡ ra ba nhân vật trong đây bị sẩy thoát ra, hậu quả thật không thể nào tưởng tượng nổi!
Thượng Quan Linh lên tiếng gắt gỏng:
- Hừ! Bộ chưa nghe rõ lời ta sao? Ta muốn mở ngay cửa này ra!
Biện Trang Hổ lật đật lo mở, bụng nghĩ thầm, công lực của Hắc y sứ giả tuyệt cao, chắc là có gì đây, hơn nữa có người ta lo anh lo làm gì? Lựa ngay ra một chìa và trèo ngay lên vách cách xa chỗ đứng vài thước, thò vào một lỗ nhỏ để mở. Thượng Quan Linh thấy vậy càng lạ, ra lỗ khóa không nằm ngay song sắt, có lẽ đề phòng tù nhân cướp chìa trong lúc mở nên mới đặt khóa ở nơi xa như thế!
Lúc này ba nhân vật bên trong đã bị kinh động, ai nấy ngửng đầu lên nhìn!
Nhưng Nam Bút làm sao mà nhận nổi Hắc y sứ giả đây là học trò của mình Thượng Quan Linh!? Chỉ nghe Nam Bút lạnh lùng cười rằng:
- Hà! Hà!... Tỉ Vương, gió nào đã thổi ngươi lại đây vậy!
Câu nói này không khiến cho Hắc y sứ giả giật mình, trái lại đã khiến cho Dực Đông Biện Trang Hổ giật bắn người, hắn ngờ đâu Hắc y sứ giả đây chính là Chúa công Tỉ Vương và hiện lại đứng ngay bên cạnh mình đây, chùm chìa khóa trên tay đã rớt ngay xuống đất từ lúc giật mình. Thượng Quan Linh lạnh lùng hừ một tiếng, Biện Trang Hổ vội lượm ngay lên và lật đật tra vào lỗ trên vách. Nào hay phía sau vù đến một tiếng gió, Biện Trang Hổ có nằm mơ cũng không thể nào ngờ rằng vị Chúa công lại ra tay đối với mình như thế, chẳng kêu được một tiếng nào, hôn mê huyệt đã bị điểm, lăn đùng ra mặt đất.
Cả ba nhân vật Càn Khôn Ngũ Tuyệt đều kinh ngạc việc lạ xảy ra trước mắt, Nam Bút mỉa mai rằng:
- Tỉ Vương! Kể ra nhà ngươi không được chính đáng quang minh chút nào, người ta chỉ là chó săn của ngươi, sao lại đang tay làm như thế?
Thượng Quan Linh không nói gì, xoay ngay một vòng chìa khóa soẹt... một tiếng lớn, lưới song sắt vọt hẳn lên năm thước. Ba nhân vật Càn Khôn không thể nào tin được Tỉ Vương thân hành đến mật thất, ra tay điểm huyệt Biện Trang Hổ, lại mở cửa nhuyễn kim lao!
Thiên Si Tây Đạo ngửng ngay đầu tóc bù xù của mình hỏi:
- Tỉ Vương! Người tính làm gì vậy?
Thượng Quan Linh thấy sư bá và sư phụ đang vô cùng khẩn trương, trong lòng đâm ra thương cảm, đang tính đưa tay gỡ ngay mặt nạ của Bắc Ưng Lãnh Lạc cho ba vị tiền bối reo mừng.
Nào hay sư bá Đông tăng Túy Đầu Đà lớn tiếng quát: xông bừa ra mau!...
Toàn thân Đông Tăng loạng choạng như người say ào bừa ra ngoài song cửa như con mãnh hổ, chẳng nói ất giáp gì ào một tiếng bửa ngay một chưởng vào hậu não Thượng Quan Linh! Thượng Quan Linh tránh không kịp vội lớn tiếng:
- Sư bá hãy khoan!
Ngọn võ tuyệt kỹ Phân Hoa Phất Liễu của Đông tăng Túy Đầu Đà đánh ra với tất cả công lực của mình, bởi vì đối phương đây là đại ma đầu Tỉ Vương ma quân, không thể nào coi thường được. Thượng Quan Linh tuy nhờ công hiệu của Tuyết bi tiên hoa nên không bị mất mạng trong ngọn đòn này, nhưng trước ngực đã cảm thấy bị chấn động mạnh, khí huyết rạo rực, trong tạng phủ đã đau nhói từng cơn. Khổ nỗi ba vị tiền bối lại không nghe rõ tiếng kêu của chàng. Lúc này Đông tăng Túy Đầu Đà thấy đánh trúng một đòn kinh khủng như thế, mà địch thủ vẫn ngang nhiên không ngã và hề hấn gì, bất giác ngẩn người trợn mắt, rồi lớn tiếng:
- Hừ! Tỉ Vương kể ra ngươi cũng giỏi đấy! - Dứt lời Đông Tăng quay sang Tây Đạo và Nam Bút nói tiếp: - Kìa, lão Nhị và lão Tứ, còn chần chờ gì mà không ra tay dẹp dọn tên ma đầu này cho rồi!
Thượng Quan Linh lúc đau quá, nói không lên lời, chàng cố chịu đau, và giơ tay ra dấu đừng đánh vội!
Nào hay chàng vừa giơ tay lên, phía trong lao, Tây đạo Thiên Si lập tức hiểu lầm ý, cùng với Nam Bút song song nhảy vọt ra ngoài, tiếng Tây đạo Thiên Si quát lớn:
- Hãy cố gắng sát cánh với nhau để đối phó với tên đại ma đầu này, không cần phải kiêng nể gì đạo nghĩa qui luật giang hồ với những hạng ma đầu tàn ác số một này làm gì! Cứ việc thẳng tay!
Thượng Quan Linh quýnh lên muốn biện bạch rõ, nhưng ác cái hai vị cao thủ lúc này đã đỏ ngầu mắt, ra tay nhanh như chớp, toàn những thế vừa hiểm vừa ác vừa dữ, đều nhắm các nơi trọng yếu của địch chiếu cố! Thế là cả ba tay tổ của nhóm Càn Khôn Ngũ Tuyệt, mạnh ai nấy giở hết tuyệt kỹ của mình ra: Nam Bút tuy đánh ngọn Đinh Giáp Khai Sơn khí thế ào ào, lập tức oai thế hiện khắp một vùng, Đông Tăng bửa đánh với ngọn Phân Hoa Phất Liễu, vừa cố đánh lén địch trong lúc gặp sơ hở của địch; Tây đạo Thiên Si vốn giỏi nhất về ngọn khinh công trong nhóm Càn Khôn, lúc này lo thủ giữ một hướng, thân hình nhoáng động lanh lẹ tuyệt vời, luôn luôn chủ động với thế đánh!
Thượng Quan Linh tính lên tiếng biện bạch, nhưng ác nỗi trong ngực đau nhói, không sao thốt ra tiếng. Trong lòng cuống và hoảng, nhưng thấy hai sư bá và sư phụ vây khốn chặt chẽ như thế, đâu có thì giờ để tĩnh dường hồi sức lại, và cả ba vị tiền bối bấy lâu đã căm giận Tỉ Vương, lúc này gặp dịp tiêu diệt đại ma đầu, đời nào họ chịu bỏ qua cơ hội ngàn năm một thuở ấy. Phần vì Thượng quan Linh chỉ lo giữ thân mà không trả đòn, nên ba vị tiền bối càng được thể bạo gan đánh bừa, lúc này ai nấy lo giở hết ngọn tuyệt học bình sinh của mình ra, từ lối đánh đến phần công lực, toàn dùng đến trên tám phần mười kình lực và chiếu cố vào những nơi nguy hiểm nhất của địch! Thượng Quan Linh ức là lúc này lại bị tắt tiếng, không sao lên tiếng để giải thích với ba vị tiền bối, thậm chí nguy cấp đến nỗi không cho chàng có thì giờ rút lui để gỡ mặt nạ Bắc Ưng Lãnh Lạc! Đành cố cắn răng chịu đựng, phần lo ngầm vận chân lực để mong khôi phục tiếng nói, phần phải ỷ vào kỳ công của tiên hoa cố gắng vận dụng hết tất cả những tinh xảo sở trường của mình ra để né tránh trong làn gió ào ạt của ba tay tổ vây hãm. Chừng nào quýnh quá đành giơ những chỗ tương đối không trọng yếu ra chịu đấm hay chưởng!
Cuộc đánh vây liên tiếp! Chợt Thượng Quan Linh dùng ngay lối đánh của bản môn phái lúc nào cũng không hay,
Đông tăng Túy Đầu Đà phát giác trước và lên tiếng nói với Nam Bút:
- Kìa! Lạ không! Lão tứ, sao Tỉ Vương cũng học được ngọn Đinh Giáp Khai Sơn của cậu kia! Hà! Hà!...
Túy Đầu Đà chưa cười xong, chuyện kỳ lạ xảy ngay ra, chỉ thấy kẻ địch trước mắt thình lình biến đổi ngay lối đánh toàn thân loạng choạng như anh say rượu, chưởng nào chưởng nấy và quyền nào quyền nấy đánh ra khéo léo vô cùng, lúc hư lúc thực, biến ảo kỳ lạ! Đây chính là ngọn tuyệt kỹ độc đáo Phân Hoa Phất Liễu của Đông tăng Túy Hòa Thượng. Trời ơi chuyện gì kỳ lạ thế kìa! Tỉ Vương ngang nhiên biết cả ngọn giữ nhà của mình, và có vẻ còn linh hoạt hơn cả mình là khác. Đông Tăng lẩm bẩm thốt ra lời:
- Không lẽ tên này đã học trộm võ nghệ của anh em chúng ta?
Thiên Si cho ngay tên Tỉ Vương là nhân vật thần bí quỉ quyệt tuyệt luân, chắc đây lại là mưu kế sâu độc gì của y, vội nhắc tỉnh ngay hai sư đệ Đông Tăng và Nam Bút, chớ nên chểnh mảng. Cả ba lại ồ ạt cố mở các thế đánh dữ dội!
Ai nấy đã dốc hết toàn lực bình sinh của mình, và họ cũng đã cảm thấy với ba người khét tiếng trong nhóm Càn Khôn hợp lực đối phó với một tên Tỉ Vương người ta như thế, đã trên mười hiệp trôi qua, thế mà vẫn chưa áp đảo được địch, ai nấy cảm thấy chạm phải lòng tự ái, nếu về sau chuyện này truyền ra, còn gì là thanh danh oai lừng của Càn Khôn!
Thượng Quan Linh lúc này rối quýnh lên vì né tránh! Đối với sư phụ Nam Bút và sư bá Đông Tăng, nhờ chàng biết rõ các lối đi, nên công việc né đòn hay chịu đòn đều thuận tiện cả. Nhưng riêng với Nhị sư bá Tây đạo Thiên Si, võ nghệ ông ta riêng hẳn một lối, thân pháp lanh lẹ không chê, chưởng phong lại dũng mãnh vô cùng. Thượng Quan Linh đã mấy lần bị đòn, nhưng phần vì nhờ công hiệu của tiên hoa, phần những nơi trúng đòn ấy không đáng ngại lắm, nên vẫn còn miễn cưỡng cầm cự nổi. Nhưng lúc này chàng vừa quýnh, tiếng bị tắt, không sao giải thích rõ với ba vị tiền bối, chỉ sợ ngoài hai mươi hiệp, thế nào cũng chết về tay sư phụ và hai sư bá mất!
Thình lình, Thượng Quan Linh cảm thấy trong người hơi khác, chàng mừng sắp sửa thốt được tiếng nói. Lúc này, vừa gần đúng hai mươi hiệp, cả ba đều giận, thở dốc và dồn hết toàn lực đánh thốc!
Xưa kia, Càn Khôn Ngũ Tuyệt cũng từng có thế đánh hợp sức mọi người như thế, tuy đã cách lâu năm không sử dụng đến; nhưng giờ phút này, đối phó kình địch trước mắt, đành phái giở ngay ra đánh!
Thượng Quan Linh vừa trườn khỏi qua Đông Tăng thì gặp ngay Tây Đạo, và bùng một tiếng bị một chưởng ngay lưng.
Thượng Quan Linh cố dồn hết lực mình bay vèo ngay ra trận chiến, chàng biết nếu không thoát bằng lối nguy cấp này, chỉ Nam Bút và Đông Tăng càng hợp sức giáng thêm một đòn thí mạng mình sẽ đi đứt mất. Nhưng dù sao chàng đã kiệt sức, cái đà bay ấy chàng đã không còn sức để thu tốc lực lại, chỉ nghe Bịch một tiếng nặng nề, toàn thân Thượng Quan Linh bị rớt ngay vào một góc vách. Nhưng ngờ đâu ngọn chưởng lại chữa ngay được cấm khẩu của chàng!
Sau khi Thượng Quan Linh bị trúng một chưởng của Tây đạo Thiên Si, ọc một tiếng... chàng bị thổ ra một búng máu tươi! Đồng thời chàng cố tập trung tàn lực của mình hấp tấp hét:
- Khoan. Khoan!... - Dứt lời đưa nhanh tay gỡ mặt nạ đang đeo trên mặt ra!
Đông Tăng đầu đà đang tính vung chưởng quạt thốc tới chợt thấy rõ đối thủ là ai, hòa thượng vội thu ngay thế đánh lại lớn tiếng rằng:
- Này này!... Lão tứ (Nam Bút) mau lại mà xem chuyện gì mà kỳ quái vậy?!... ,
 
0
Hồi 074. Họa Giáng Thần Tự
[/align]

Nam bút Gia Cát Dật và Tây đạo Thiên Si bước gần lại phía thiếu niên nằm bất tỉnh dưới đất, chỉ thấy thiếu niên nằm bất tỉnh dưới đất, chỉ thấy thiếu niên hai mắt nhắm chặt, sắc mặt trắng bệch như vôi. Tây đạo Thiên Si không nhận ra thiếu niên bất tỉnh này là ai, lúc này lạnh lùng rằng:
- Bộ đây là mặt thật của Tỉ Vương ma quân đó sao?
Nam Bút đứng cạnh lên tiếng ngay:
- Thưa sư huynh! Đây chính là sư điệt Thượng Quan Linh của ngài, chuyện này phải truy cho ra manh mối mới được!
Trong những ngày tháng bị giam hãm trong mật lao Nhuyễn kim này, Đông tăng Túy Đầu Đà thuật rõ về đồ đệ của sư đệ Nam Bút, nào ưu tú ra sao! Nào khôn lanh như thế nào. Túy Đầu Đà vốn không thu môn đệ, nhưng lại rất mến thích sư điệt Thượng Quan Linh, trong lúc kể chuyện, đương nhiên không tránh khỏi lòng thiên vị cho sư điệt, phịa hết chỗ can! Làm như vị sư điệt sắp trở thành nhân vật đệ nhất trong thiên hạ không bằng. Từ ngày xảy ra vụ án ở Cửu U Địa Khuyết tại Vạn Tính Công Phần, Thiên Si đạo trưởng quả nhiên chưa hề gặp Thượng Quan Linh hồi nào, nên không sao phán đoán đích xác được, trong lòng chỉ có một ý niệm, cho rằng Thượng Quan Linh bất quá cũng như đến ái đồ Chu Hoàng (Hầu Hạo) của mình là cùng. Mãi đến sau, Nam Bút cũng bị bắt và giam vào mật thất đây mới kể rõ đầu đuôi câu chuyện kỳ ngộ của Thượng Quan Linh và đồ đệ Tây Đạo là Chu Hoàng, hiện nay hai chàng thiếu niên anh hùng đang bước dần lên thang danh vọng của làng võ lâm!
Nay thấy hai sư đệ Nam Bút và Đông Tăng rối rít lên vì Thượng Quan Linh, đều cúi sát xuống thăm thương thế và kiểm soát xem có phải chàng không! Nhưng...
Tây đạo Thiên Si vẫn hồi hộp, vội nhắc tỉnh cho hai sư đệ:
- Hãy coi chừng, không lại mắc mưu của Tỉ Vương?
Chỉ thấy Nam Bút và Đông Tăng vội vã xem xét, bỗng Túy Đầu Đà nước mắt dầm dề rằng:
- Trời ơi là trời, chính hắn đây? Tội nghiệp cho sư điệt! Tôi biết rõ những vết kín trong người hắn, dù cho Tỉ Vương có giỏi thuật dị dung đến đâu, cũng không thể nào biết các vết kín đáo của nó được!
Thiên Si thấy vậy mới yên dạ ngồi xuống, giọng Nam Bút run run nói:
- Tội nghiệp Linh nhi, nó đã cải dạng Bắc Ưng Lãnh Lạc, nên mới lừa được tên Biện Trang Hổ để cứu anh em chúng mình, khổ nỗi chúng mình lại không phát giác sớm, chúng mình ra tay hợp sức như thế, làm sao nó chịu nổi, nếu không nhờ kỳ công Tuyết bi tiên hoa chắc nó chết về tay chúng mình rồi!
Túy Đầu Đà Đông Tăng dậm chân than rằng:
- Trời! Bây giờ làm sao đây!... Tại sao hắn lại không gọi một tiếng Túy sư bá để đến nông nỗi này!... Rõ khổ thân chưa?...
Tây đạo Thiên Si bình tĩnh hơn, vội lên tiếng ngay:
- Hai sư đệ chớ vội hoảng lên thế, hãy mau ngồi xuống, giúp sức khôi phục ngay cho nó!
Câu nói nhắc tỉnh luôn hai người, vội ngồi thụp ngay xuống, mỗi người đưa ra một chưởng, đều áp ngay vào lưng và ngực của Thượng Quan Linh, từ từ ép nội lực ra để giúp thiếu niên khôi phục lại. Thiên Si đạo trưởng dùng luôn song chưởng áp hết vào phía sau Thượng Quan Linh, thế là cá ba vị cao thủ tuyệt đỉnh lo ép nội lực giúp cho chàng.
Thượng Quan Linh lúc này vẫn còn tri giác, chàng cẩn thận vận khí hiệp lực với sư phụ cùng hai sư bá để điều hòa trị thương khiến cho khí huyết nghịch trở nên thông suốt qua thập nhị trọng lâu phục qui khí hải, khạc một tiếng, Thượng Quan Linh nhả ngay ra một búng máu tươi.
Tây đạo Thiên Si thở dài khoan thai rằng:
- Thôi! Khỏi lo nữa!
Nhưng Nam Bút và Đông Tăng rất mến Thượng Quan Linh, hai người vẫn chưa chịu buông tay. Sau một lúc, Thượng Quan Linh đã cảm thấy khỏe khoắn, chàng vội cất tiếng:
- Đa tạ nhị sư bá và sư phụ! Đệ tử đã khỏi hẳn.
Nói xong tính đứng ngay dậy làm lễ bái kiến. Đông Tăng và Tây Đạo bèn khuyên hãy tỉnh dưỡng, chớ nhiều lễ lúc này mà trở ngại cho sức khỏe. Đông Tăng cưng sư điệt nhất, Túy Hòa Thượng đưa ngay bầu rượu của mình kề ngay miệng cho sư điệt hớp một ngụm cho máu huyết lưu thông. Dần đà mặt Thượng Quan Linh đỏ gay vì hơi men, bốn thầy trò ngồi ngay nơi mật thất kể sơ về những cuộc chia tay bấy lâu.
Thượng Quan Linh lúc này mới hay hai vị sư bá và ân sư của mình bị nạn ra sao! Thoạt tiên là sư bá Bắc kiếm Phổ Côn bị Tỉ Vương uy hiếp bắt phải mời gọi ba sư đệ đến, Phổ Côn trước mắt tìm đến nhị sư đệ Tây đạo Thiên Si, lừa hai sư đệ đến miền Mạc Bắc của thành Bách Linh Miếu, khuyên Tây Đạo nhập vào đảng Tỉ Vương, Thiên Si không chịu, dùng lời đại nghĩa khiển trách và khuyên sư huynh Bắc Kiếm nên quay về con đường chính nghĩa!
Nhưng Bắc Kiếm bị mắc thế kẹt vào tay Tỉ Vương đành phải nghe theo lệnh của ma quân, cầm tù ngay nhị sư đệ Tây Đạo tại Mạc Bắc, và đem giam ngay vào mật thất này để làm mồi nhử thêm hai sư đệ là Đông Tăng và Nam Bút, Tây Đạo phần vì cô thân yếu thế, phần nghĩ tình sư huynh, nên cũng chẳng buồn phản kháng làm gì, yên trí ngồi tù trong Nhuyễn kim lao. Sau sư đệ Đông Tăng tìm đến, nhưng vì đánh không lại dư đảng của Tỉ Vương, nhất là sự hợp lực công hãm của Lam y sứ giả, Lân vương Cổ Thái Huyền và Lỗ Yểu Nương, âm ty tú tài Trần Thân, đành tình nguyện vào thạch thất để ngồi tù với sư huynh Tây Đạo! Sau cùng đến Nam bút Gia Cát Dật, từ ngày chia tay rời khỏi Bắc Ưng trang viện, và phát giác Thượng Quan Linh giả đi chung với Tỉ Vương và y đã giết lạc đà để thị oai với mọi người! Thế là ba người chia ra ba ngả: Liễu Mi quay về Bắc Ưng trang viện để cứu Thượng Quan Linh, Sở Canh lo về Trung Nguyên cầu viện cứu cấp, Nam Bút đơn thân dấn mình phó hội Bách Linh Miếu. Không ngờ sau khi đến nơi, lập tức bị trúng kế hiểm độc của Tỉ Vương, chỉ thấy đao kiếm kề ngay cổ Bắc Kiếm để uy hiếp Nam Bút, vì tình thủ túc sư huynh đệ bấy lâu, không nỡ thấy cánh sư huynh già tuổi mà chết về cảnh đầu rụng như thế, đành hiên ngang nạp mình vào chung luôn nhà lao với hai sư huynh luôn. Cả ba sư huynh đệ đều nhất quyết không chịu sự cám dỗ oai bức của Tỉ Vương ma quân, ai nấy coi chết nhẹ như lông hồng, khiến cho tên Tỉ Vương cũng đành thúc thủ chưa biết tính kế gì để đối phó!
Mãi nay, Thượng Quan Linh lại cứu cả ba sư huynh đệ, thấy được vị nối nghiệp thiếu niên anh hùng như thế, ai nấy đều khoan khoái trong lòng vô ngần. Thượng Quan Linh cũng lo thuật hết mọi việc mà mình đã đụng độ và đến lúc vào cứu ba vị tiền bối, ai nấy vừa kinh hãi vừa khâm phục thầm Thượng Quan Linh, đều phải công nhận hậu sinh khả uý. Sau khi rõ mọi sự, thầy trò bốn người khiêng Biện Trang Hổ giam ngay vào Nhuyễn kim lao rồi mọi người rời ngay khỏi thạch thất bí mật.
Thượng Quan Linh lúc này canh cánh lo đến thân phận của người yêu Liễu Mi, tính đi cứu ngay, Nam Bút đành dặn chàng hãy đi trước, còn ba vị tiền bối sẽ lo tiếp ứng sau!
Lúc này trời đã bắt đầu sáng dần, Thượng Quan Linh lo đến sự an nguy của Liễu Mi, căn cứ theo manh mối, chàng biết ngay rằng hiện Liễu Mi đang bị giam cầm tại Thánh điện, hấp tấp đi ngay. Bụng lúc này nghĩ thầm, mình đã dùng lốt của Hắc y sứ giả Bắc Ưng Lãnh Lạc mà cứu được ba vị tiến bối, nay thử thêm một chuyến nữa cũng chẳng sao.
Nghĩ xong bèn sửa soạn nai nịt gọn ghẽ, nghiễm nhiên ung dung xuất hiện với lốt dạng của Hắc y sứ giả ngầm tiến về phía Thánh điện.
Trời sáng tinh sương, mọi cảnh im tịnh và lạnh, cửa Thánh điện đóng kín mít, lòng Thượng Quan Linh rối quýnh, chàng không do dự tìm ngay đến một cửa sổ đưa tay quạt ra một chưởng, cửa bung, toàn thân chàng vèo nhẹ vào như một làn khói đen, bên trong là ngôi đại thất, la liệt bày các pháp khí, cảnh im tịnh!
Thượng Quan Linh bất kể đến hậu quả ra sao, chàng tìm kiếm tứ tung hết ngôi Thánh điện. Nhưng chàng không phát hiện được một chuyện gì cả. Càng không biết Liễu Mi bị Tỉ Vương giam giữ tại đâu? Chàng bạo gan lần mò ngay thẳng lại đại Thánh điện để quan sát. Chỉ thấy một tượng Phật nguy nga oai vệ, đèn nhang trên hương án nghi ngút, không khí khắp trang điện âm u rờn rợn. Dưới hương án một lò lửa đang cháy phừng phừng, không hiểu đốt gì bên trong, chỉ thấy ngọn lửa xanh lè. Thượng Quan Linh nghĩ nay đã mùng chín, mai là mùng mười Tết, cũng là ngày mà Tỉ Vương khai đàn lập giáo, và sẽ làm lễ tế thần để thiêu sống người yêu của mình trong tước vị Thiên Hậu Nương Nương, nhưng giờ đây nàng ở đâu? Càng nghĩ càng quýnh. Trong cơn rối trí, mắt Thượng Quan Linh vô tình liếc về phía sau hương án, chàng phát giác như có gì lạ ở Thánh kham (cái trang để thờ cúng thần Phật), chàng bước gần lại vào đưa tay rờ ngay vào Thánh kham!
Cạch một tiếng, thì ra phía dưới Thánh kham được ngầm đặt một miếng ván hoạt động mở hoác hẳn để lộ một miệng hố vừa đủ cho mọi người tiến vào, bên trong ẩn hiện ánh sáng, nhưng không nhìn rõ bên trong có gì quái lạ? Thượng Quan Linh tần ngần một hồi, cuối cùng chàng quyết tâm vào trong thám thính, vì Liễu Mi, nên chàng không ngần ngại gì? Sau khi vào, chàng đóng trái cánh ván và nó tự động khép lại như cũ. Đi không bao lâu bỗng chàng ngửi thấy một mùi thơm là lạ, và nhờ ánh sáng trên vách, chàng nhận ra nơi mình đứng hình như là một khuê các của thiếu nữ thì phải, trong này trang hoàng lộng lẫy xa hoa. Không xa lại có một cỗ nha sàng (giường ngủ bằng ngà), cẩm trướng buông phủ sát chân giường, bên trong hình như đang có vị tuyệt sắc giai nhân nằm phơi thân ngọc. Chàng hồi hộp bước lại, cũng chẳng cần nghĩ gì đến lễ giáo Thọ thọ nữa, đến gần sàng, đưa tay vén ngay cẩm trướng lên, chàng mừng như điên khẽ reo lên:
- Em! Liễu Mi... - cúi thân xuống ôm ngay người ngọc vào lòng thủ thỉ: - Liễu Mi... ngu huynh đã khổ sở đi tìm em, nay may nhờ trời run rủi, nên ngu huynh mới gặp em đừng sợ... chúng mình sẽ trốn ngay khỏi nơi nguy hiểm này ...
Nhưng người ngọc trong lòng không có phản ứng gì... Thượng Quan Linh phát giác có chuyện lạ, chàng thấy Liễu Mi trong lòng mình lúc này mắt nhắm nghiền, toàn thân lạnh cứng, tim đã ngừng đập! ... Thượng Quan Linh vô cùng tuyệt vọng và đau khổ! Không ngờ khi mình tìm ra được người, chỉ còn lại một cỗ xác không hồn. Chàng không biết Liễu Mi bị thiệt mạng bằng cách nào, chắc đã bị tên Tỉ Vương vùi liễu dập hoa mà chết, hoặc nàng thấy tuyệt vọng, tự tìm cái chết!
Thượng Quan Linh đau khổ... chàng lẩm bẩm:
- Liễu Mi em ơi!... em đã đi trước anh như thế, hỏi ngu huynh còn sống ở đời này làm gì nữa. Em! Em hãy chờ anh nơi suối vàng, anh sẽ lại ngay để gặp em...
Chàng rút ngay ưng trảo liêm tính đâm ngay vào ngực, chợt chàng nghĩ lại, từ khi mình ăn Tuyết bi tiên hoa, ngoài trừ hai thứ Lãnh điện tỉ thủ và Tiểu Đoạt Hồn Kỳ là những binh khí có thể giết mình ra, những binh đao khác không làm gì được thân mình, chàng lại thất vọng buồn bã, muốn chết mà cũng không được! Lúc này chàng lại đâm ra oán trách Tuyết bi đã làm khổ cho chàng ! ...
Thượng Quan Linh ôm xác người ngọc ngồi thừ như phỗng, sự bi ai quá mức đã khiến chàng tê dại khắp tâm thần, linh hồn chàng như đã rời khôi xác. Ngay lúc này, bỗng lại có chuyện lạ xảy ra. Chỉ nghe tiếng tranh luận của hai người, mỗi lúc một lớn dần, một tiếng kiên quyết rằng:
- Thưa thầy! Con đã quyết tâm thử xem!
Tiếng già nua rằng:
- Thôi đành vậy! Thầy nay đã ngoài bảy mươi, dù mai đây có chết, cũng không thể nói là yểu tướng, vậy con tội gì phải đi gửi gấm hy vọng vào người mình không quen biết bao giờ ấy!... Huống hồ người này lại là người mới vang danh hiệp nghĩa sau đây, nếu con làm phiền người ta, chẳng may có chuyện gì, chúng ta làm sao ăn nói...
Tiếng người trẻ lại nói:
- Kính bẩm sư tôn, đệ tử dù cho có tan xương nát thịt, cũng quyết không đời nào để sư tôn bị mất mạng thảm thê, dù cho là một hy vọng mỏng manh đến đâu, đệ tử cũng liều mạo hiểm một phen? May được trời phù hộ, chưa biết chừng lại thành công cũng nên. Nếu không...
Tiếng người già ngắt ngang ngay:
- Thầy hiểu ý con, nghĩa là con không chịu sự chi phối của thuyết định mạng, hơn nữa mai đây khó tránh một cái chết, chẳng thà thử một phen...
- Kính sư tôn, đệ tử quả có ý như vậy...
Thượng Quan Linh lấy làm lạ, nghe giọng nói người trẻ tuổi quen tai lắm, nghe câu chuyện này thì hình như học trò không nỡ để người thầy mai phải chết khổ sở, nên bàn tán tìm kế cứu giải, và cũng hình như hai thầy trò đang tính đi làm phiền đến một người nào không liên can đến họ. Thượng Quan Linh bỗng sực nghĩ, không lẽ người họ muốn làm phiền đó lại là mình đây sao?? sau một hồi im lặng, người già hình như cảm động về chân tình môn đệ, chỉ nghe tiếng thở dài của người già rằng:
- Thôi đành! Sự việc đã ra nông nỗi này! Liều xem vậy, con hãy ra đi là vừa, nhưng cần phải cẩn thận...
Tiếng chân bước gần đâu đây, trong khoảnh khắc, tiếng chân đã kề gần vào khuê các và im bặt lại. Thượng Quan Linh thò đầu khỏi trướng nhìn, một Lạt ma cao lớn xuất hiện ngay cạnh, hóa ra là Pháp Đô lạt ma, hèn gì Thượng Quan Linh nghe giọng nói quen tai.
Thấy hai mắt của Pháp Đô nhìn về mình, Thượng Quan Linh lên tiếng ngay rằng:
- Này Pháp Đô, người đừng có hòng nhờ cậy ta giúp gì trái lại ta muốn yêu cầu người giúp cho một việc, xin người hãy mau mau giết chết ta cho rồi! Được vậy, ta sẽ đội ơn người vô cùng nơi chín suối.
Pháp Đô lộ vẻ ngạc nhiên rằng:
- Tôn giá là người công lực siêu tuyệt và lại nhờ công hiệu của tiên hoa, ai mà có thể giết được tôn giá, tuy đang đứng trong tình trạng long đàm hổ huyệt (đầm rồng hang hổ) nhưng vẫn vững chắc như núi Thái Sơn, không hiểu sao tôn giá lại nói những lời tang tóc như vậy?
Thượng Quan Linh gượng cười đau khổ rằng:
- Không nói giấu gì đại Lạt ma, Liễu Mi đây vốn là ái thê chưa cưới của tại hạ, nay nàng chết đi như thế, quả thật tôi không thiết sống làm gì nữa, nhưng ác nỗi Tuyết bi tiên hoa đã hại tôi, khiến tôi muốn chết mà cũng không xong, nên nay phiền đại Lạt ma giúp tôi được toại nguyện...
Nghe xong câu nói của Thượng Quan Linh, Pháp Đô bỗng ngửng đầu lên, ánh mắt sáng ngời nhìn thẳng ngay vào mặt Thượng Quan Linh, rồi lẩm bẩm rằng:
- Xin Phật tổ khoan dung đệ tử...
Dứt lời khấn, Pháp Đô bước ngay lên một bước, với vẻ hy vọng tràn trề với Thượng Quan Linh rằng:
- Xin thiếu hiệp chớ vội kinh hoàng, thực ra Liễu Mi nữ hiệp không phải bị chết đâu...
Thượng Quan Linh vừa kinh vừa nghi, không dám tin tường, mắt tròn xoe chờ đợi sự giải thích của Pháp Đô lạt ma.
Nhưng vị đại Lạt ma lại khéo tránh chuyện, nói lảng sang việc khác rằng:
- Thiếu hiệp muốn cứu Liễu Mi nữ hiệp không có gì khó, đáng lẽ bần tăng tận tình giúp đỡ là khác, nhưng... không biết thiếu hiệp có chịu cho điều kiện của bần tăng đưa ra không...
Thượng Quan Linh chẳng cần suy nghĩ, gật đầu nhận ngay, chàng chỉ cần miễn sao cứu sống được Liễu Mi, còn về điều kiện của Pháp Đô, nếu sức mình có thể làm được, cũng chẳng cần phải khước từ? Trong ánh mắt Pháp Đô không sao giấu nổi nỗi vui mừng, lật đật bước gần lại trước cẩm trướng, giải thích rõ tình hình hiện tại.
Thì ra Tỉ Vương ma quân thần xuất quỉ nhập tung hoành dọc ngang trên giang hồ như thế để nô dịch quần hào sai khiến quần ma, nhưng y lại có một tánh tốt, không thích sắc đẹp. Nhưng không hiểu tại sao, khi y đội lốt của Bắc Ưng Lãnh Lạc để hiện thân với chức Hắc y sứ giả tại Lãnh Ưng Trang và khi gặp được thầy trò Nam Bút và Sở Canh cùng Liễu Mi, vị ma đầu này lại đâm ngẩn người mê ngay trang giai nhân thiên hương tuyệt sắc Liễu Mi, và muốn chiếm hẳn thuộc về mình.
Sự ngấm ngầm điều tra đã cho Tỉ Vương biết nàng là vợ chưa cưới của Thượng Quan Linh, và với bộ óc tinh vi nhiều mưu chước của con người đệ nhất ma đầu ấy, kế độc ngang nhiên được thi hành. Biết không thể dùng Lãnh điện tỉ thủ để giết, vì như vậy sẽ lộ chuyện ngay, nên đã sát hại Thượng Quan Linh bằng thuốc độc và nhốt chung với Bắc Ưng Lãnh Lạc, rồi đổi lốt thành Thượng Quan Linh để lừa Liễu Mi, nhưng nào hay thứ nữ Thanh Thông này quá thông minh, nên đã phát giác, khiến cho Tỉ Vương ma quân càng phục lại càng yêu mê thêm, nguyền chiếm nàng cho kỳ được. Sau khi Tỉ Vương khám biết Liễu Mi còn là xử nữ nguyên vẹn, lại càng quyết ý nạp làm thê thất và chính thức dùng Phi xà truyền thư thông báo là đã tuyển lựa được Thiên Hậu Nương Nương và mở ngay một cuộc vây bắt Liễu Mi như chúng ta đã thấy, và chính Pháp Đô là người đã nghênh giá Thiên hậu để đưa về đại thành Bách Linh Miếu.
Tỉ Vương giao ngay quyền trông coi Liễu Mi cho Pháp Đô, chuẩn bị đến mùng mười Tết sẽ đem ra làm lễ hy sinh tế thần với danh nghĩa Thiên Hậu Nương Nương xuất giá. Nhưng tại sao Liễu Mi không phản kháng, mà lại chịu để cho Pháp Đô đưa về Bách Linh Miếu? Bởi trong Lãnh Ưng Trang nàng phát giác Thượng Quan Linh đã tẩu thoát, và tin chắc thế nào người yêu cũng đến cứu mình, nên nàng chẳng hề chống làm gì, tha hồ để cho Pháp Đô áp tải. Còn phần Lạt ma Pháp Đô, cũng là người có lòng tốt, khi phát giác cửa vách thạch động bí mật của Lãnh Ưng Trang bị phá, biết đã có phạm nhân trọng yếu vượt ngục, nhưng y giấu nhẹm việc này trong bụng, sau khi đậy kỹ lại cửa hang khổng lồ ấy, khi về đến Bách Linh Miếu, nghiêm cấm các bộ hạ không được tiết lộ bí mật này ra.
Liễu Mi sau khi đến Bách Linh Miếu, nàng mất hết tự do. Dưới sự thiết kế tinh vi của Tỉ Vương, y lột trần hết y phục của người đẹp, để lộ nguyên một khỏa thể tuyệt đẹp dùng ngay một loại sáp đặc chế, thoa bôi ngay một lớp vào mình nàng Liễu Mi thành hẳn một bộ áo sáp tuyệt tinh xảo, chỉ chừa có hai lỗ mũi để thở. Lẽ đương nhiên khi thi hành xong bọc sáp lõa thể này, nàng Liễu Mi đã bị điểm huyệt kỹ, và nhờ bộ áo sáp tuyệt diệu ấy Thượng Quan Linh tường đâu người yêu mình đã chết.
Nếu bảo Tỉ Vương đang yêu say đắm nàng Liễu Mi vậy tại sao lại ngược đãi người đẹp như vậy? Ấy, chính đó là tất cả kế hoạch khéo léo của Tỉ Vương... bởi y hiểu rằng, Liễu Mi đã chết lòng về Thượng Quan Linh từ lâu rồi, nay muốn chiếm được tim óc của người đẹp đâu phải là việc dễ, nên y đã tận dụng tất mọi khả năng tuyệt vời của mình...
Với lệnh truyền rùng rợn bằng phi xà khiến cho toàn nhóm thủ hạ nghênh tiếp long trọng suốt dọc đường sa mạc, cốt để khiến cho Liễu Mi cảm thấy thế lực lớn lao vô cùng của Tỉ Vương mà sinh lòng sợ sệt! Rồi tất cả mọi biện pháp được tiến hành chu đáo, nay lại biến Liễu Mi trở thành, một người đẹp bằng sáp, để đem ứng dụng trong ngày khai đàn lập giáo, làm lễ hỏa thiêu Thiên Hậu Nương Nương để hiến dâng trinh nữ cúng tế thần linh, Tỉ Vương đã bố trí sẵn sàng hết, và cuộc lễ hỏa tế ấy sẽ do tay chơi lửa nhà nghề Lân vương Cổ Thái Huyền sắp đặt kế hoạch, nghĩa là dùng lửa đốt bộ áo sáp của Liễu Mi, nhưng lại không hề gây tổn thương đến da thịt của người đẹp, và khi đến giờ phút tóe lửa chớp nhoáng ấy, sẽ cho tỏa ra một đám khói mù mịt để che tai mắt mọi người, bức thạch đài tế lễ ấy sẽ tự động bật ra và trút ngay toàn thân Liễu Mi vào một đường mật đạo ăn tuốt đến thạch thất của Thánh kham này.
Đến khi đó, Tỉ Vương sẽ xuất hiện với lốt Thượng Quan Linh để chiếm cứ người ngọc Liễu Mi. Trong cơn kinh hoảng tột độ và liên miên sống trong trạng thái chập chờn với thần chết ấy, sự uy hiếp và cộng thêm một thủ đoạn ôn hòa trìu mến mềm dẻo, tin chắc thế nào cũng chiếm được trọn vẹn thể xác và tinh thần nàng. Quá là một kế hoạch tuyệt diệu khéo léo hết chỗ chê. Nay được Pháp Đô nói rõ hết ra, khiến cho Thượng Quan Linh không thể nào không kinh hãi cho được. Nhưng điều lạ, Pháp Đô vốn tay sai đắc lực của Tỉ Vương tại sao đem bí mật này kể cho Thượng Quan Linh hay?!
Sau khi chàng rõ đầu đuôi tự sự, biết người yêu chưa bị gì chàng vững dạ, cũng không vội hỏi Pháp Đô về cách thức cứu người! Mà chàng vào thẳng đề với Pháp Đô là muốn đánh đổi với điều kiện gì? Đại Lạt ma Pháp Đô đưa tay lên vỗ mạnh một tiếng, nơi phụ cận, lập tức có tên Lạt ma khác xuất hiện, Pháp Đô dùng tiếng Mông Cổ nói với họ một hồi, hai tên nọ lãnh mạng đi luôn. Lúc này Thượng Quan Linh mới nhận ra, thì ra Pháp Đô cũng cẩn thận chu đáo, khi bàn chuyện với mình, đã cho lo canh chừng bên ngoài để phòng hờ những tử đảng của Tỉ Vương... Trong chốc lát, có Lạt ma đem ngay cơm nước lại, Pháp Đô và Thượng Quan Linh ngồi đối diện với nhau ăn uống, trong bữa ăn, Pháp Đô kể ngay đến việc yêu cầu của mình.
Cách mười năm về trước đây, ngôi thánh tự điện Bách Linh Miếu vốn là một cửa Phật thanh tịnh nghiêm trang. Chủ trì Tang Kim đại lạt ma nguyên là vị cao tăng đắc đạo và cũng là sư tôn của Pháp Đô, võ công xuất chúng, nhiệm chức Giám tự Thánh tự, nên khiến cho ngôi cổ miếu của Mạc Bắc an ninh vô cùng. Nhưng nào ai có ngờ, cảnh thanh bình bỗng gây sóng gió, một kỳ họa đã tới ngôi Thánh tự giám. Từ đó trở đi, ngôi Thánh tự Bách Linh Miếu bắt đầu bị một bầu không khí tà ác bao phủ hết. Trong đêm đó, nơi ngủ của Pháp Đô, cách thiền phòng của thầy Tang Kim đại lạt ma không xa lắm vì thầy đã trên lục tuần, nên Pháp Đô thường hay quan tâm đến sức khỏe của thầy về đêm. Đêm ấy là một đêm lạnh cắt da, vào nửa đêm, Pháp Đô bỗng bị một âm thanh kỳ lạ đánh thức giấc và tiếng ấy đã phát ra tại thiền phòng của Tang Kim đại lạt ma, hình như là tiếng gắt gỏng của sư tôn. Pháp Đô kinh hoảng hấp tấp vùng ngay dậy, và chạy sang phòng thầy.
Ra khỏi cửa, đi chưa được mấy bước, trong bóng tối, bỗng lù lù xuất hiện một người, khi Pháp Đô nhìn rõ, bất giác toát mồ hôi lạnh. Thì ra chính là sư tôn Tang Kim đại lạt ma, chủ trì Bắc Ưng Lãnh Lạc chỉ thấy vị cao tăng khoác chiếc áo mỏng xông về phía Pháp Đô mỉm cười.
Pháp Đô không thể nào tin được, thầy mình xưa nay sợ lạnh hơn ai hết, thế mà giờ đây lại choàng chiếc áo mỏng tanh trong đêm khuya lạnh thấu xương này, vừa tính cất tiếng hỏi, trước mắt hoa hẳn lên, thầy mình đã biến tích luôn! Pháp Đô lật đật đến ngay thiền phòng đẩy cửa vào, trời ơi! Rõ sư tôn Tang Kim đại lạt ma đang nằm trên thiền sàng! Vậy người vừa rồi quyết không phải thầy mình, rất có thể là hồn hiển linh của thầy mình chăng.
Nghĩ tới đây, Pháp Đô rùng mình ớn lạnh, vội bước nhanh lại lên tiếng:
- Bạch sư phụ!
Nhưng không có tiếng trả lời. Pháp Đô tưởng đâu thầy mình đã qua đời, nhanh tay khám nghiệm, thì ra đã bị người ta dùng lối điểm huyệt nặng, khiến cho hai chân bị tàn phế hẳn. Tang Kim đại sư tuổi cao sức yếu, không sao chịu nổi cơn đau đớn nên đã hôn mê bất tỉnh luôn!
Pháp Đô vừa hoảng vừa giận, vội lo cứu cấp, Tang Kim đại lạt ma sau khi tỉnh dậy, thảm thiết nói với đồ đệ rằng:
- Ma chướng của Thánh tự Bạch Linh đã đến rồi con ơi1
Thì ra tên thần xuất quỉ nhập Tỉ Vương đã không hoạt động tại Trung Nguyên mà nay đã ngang nhiên về Mạc Bắc, nay lại dùng thủ pháp kỳ dị để uy hiếp và thao túng Tang Kim đại lạt ma. Và từ đó Phật quốc trang nghiêm của miền Mạc Bắc này trở thành một đại bản doanh sào huyệt đại ma đầu Tỉ Vương, toàn ban Lạt ma trong Thánh tự đều bị uy hiếp thao túng triệt để, Pháp Đô tính thí mạng liều chết với Tỉ Vương, nhưng vì sức yếu và thế cô, đành phải chịu nhục, sống chết đều dở dang.
Dưới sự sắp xếp của Tỉ Vương, sáng ngày hôm sau, trong Thánh tự tuyên bố Tang Kim đại lạt ma bắt đầu bế quan mười năm sau sẽ dự kỳ đắc đạo chánh quả, bạch nhật phi thăng, và chức chủ trì thánh tự do Pháp Đô thăng nhậm, còn Tang Kim đại lạt ma bị di chuyển ngay xuống mật thất của Thánh kham, từ đó các Lạt ma trong Bách Linh thánh tự, đều trở nên nanh vuốt của Tỉ Vương tàn ác!
Và tất cả những nguyên nhân của đám Lạt ma triệt để làm hài lòng Tỉ Vương ma quân chẳng qua cốt để đánh đổi lại sự giải huyệt của Tỉ Vương đối với thầy Tang Kim đại lạt ma, nhưng đã mười năm trôi qua, họ đã cố nhẫn nại chờ đợi... và gây không biết bao chuyện ác do Tỉ Vương sai khiến, nhưng vẫn không thể nào cầu xin được chút lòng thương hại của Tỉ Vương để giải cứu cho thầy.
Đến nay, kỳ hẹn mười năm đã hết, bè lũ quần ma của Tỉ Vương đã tấp nập đến tế tựu tại mạn Mạn Bắc để chuẩn bị khai đàn lập giáo, các tay sai của Tỉ Vương tuyên bố, ngoài chuyện cúng tế trinh nữ để hiến thần linh ra, sẽ còn mục nhục thân thành Phật của Tang Kim đại lạt ma đắc đạo thăng thiên.
Tin này do Lục y sứ giả âm ty tú tài Trần Thân và Lam y sứ giả Lân vương Cổ Thái Huyền truyền ra, từ Pháp Đô cho đến hết thảy Lạt ma trong thánh tự đều kinh ngạc và tức giận vô cùng. Lúc này mới biết rõ tính tình tàn ác thâm độc của tên Tỉ Vương ma quân này.
Nay trong cơn tuyệt vọng, thầy trò Pháp Đô thà chịu chết bằng cách tự sát hơn là để ác ma Tỉ Vương lợi dụng trong kế hoạch thâm độc của y. Trong khi hai thầy trò ôm nhau tính tự tử ấy, bỗng có tay sai của Tỉ Vương Lục y sứ giả hiện thân ra lạnh lùng cười, cánh cáo hai người chớ hành động dại dột mà mang thêm tai họa.
Lục y sứ giả cho biết là Tỉ Vương đã bố trí sẵn sàng hết, nhất là đã bỏ một thứ thuốc độc ghê gớm vào các giếng nước ăn trong Bách Linh Tự, thứ thuốc độc ấy đã nhiễm hết vào trong các Lạt ma trong Thánh Tự, loại thuốc độc này chỉ có riêng mình Tỉ Vương mới có thể giải cứu. Nếu Tang Kim đại lạt ma không chịu nghe lệnh hy sinh về kế hoạch cho Tỉ Vương, sau ngày đại hội quá mười ngày các tăng lữ Lạt ma trong miếu tự sẽ trúng độc chết thảm khốc.
Sự tàn sát thâm độc của Tỉ Vương quả hết chỗ chê, thoạt tiên dùng tính mạng của Tang Kim đại lạt ma để uy hiếp các tăng lữ, nay lại dùng tính mạng của các tăng lữ để uy hiếp Tang Kim phải hy sinh đúng với kế hoạch của Tỉ Vương.
Tang Kim đại sư quả không hổ danh là vị cao tăng, vì tính mạng các đồng đạo ông ta nghiễm nhiên nhận lời của Tỉ Vương, Lam y sứ giả và Lục y sứ giả nở những nụ cười nham hiểm, tiếp theo là những kế hoạch của Tỉ Vương ngày khai đàn lập giáo ấy chỉ ngại trong số các tay ma đầu có kẻ không chịu phục, sẽ xảy ra rắc rối, nên ngoài sự dùng võ lực trấn át ra, còn thêm ít mục múa rối để che tai mắt thiên hạ, khiến cho những kẻ phó hội phải tin và tuân theo triệt để.
Trong cuộc thịnh lễ sắp khởi sự để hỏa thiêu Tang Kim đại lạt ma thăng thiên ấy, vị chủ trì Thánh Tự phải đọc một bài diễn thuyết đại ý là khuyên các quần hào phải triệt để tuân nghe theo lệnh của Tỉ Vương vì đó là ý Trời đã định cho Tỉ Vương giữ chức minh chủ võ lâm, tuyệt không thể hoài nghi gì nữa.
Trong cơn bị uy hiếp và tuyệt vọng ấy... trời đã không nỡ tuyệt lộ kẻ mắc cạn, trong Bách Linh Tự bỗng lại lóe lên một tia hy vọng của sự sống còn! Đó là sự xuất hiện của thượng Quan Linh thiệt. Khi Pháp Đô chứng kiến sự biến cố của Lãnh Ưng Trang, không ngờ trên thế gian này lại có người thần lực đến như thế, nếu có thể hợp tác với người này để chống Tỉ Vương, may ra có thể xoay chuyển tình thế lại. Sau khi về Bách Linh Tự, Pháp Đô đã ngấm ngầm chú ý đến sự thăm viếng của vị cái thế thần lực kỳ hiệp xuất hiện. Trong khi các thủ hạ và bè lũ của Tỉ Vương tập tụ về Bách Linh Miếu đông đủ, thì chỉ thiếu mặt ba thầy trò lão bà bịt mặt, tên Tỉ Vương đang đội lốt Thượng Quan Linh và đóng vai Thanh y sứ giả ấy lập tức nghi ngờ và hạ lệnh cho điều tra tức khắc. Một cuộc thâu tin đại qui mô bằng lối phi xà truyền lệnh được tung đi khắp trạm.
Pháp Đô cũng ngấm ngầm mạo hiểm cho các tay thủ hạ thân tín của mình đi thu ngay các rắn bay ấy lại, ngoài số tin không quan trọng thì bắt được một tin đặc sắc là thầy trò lão bà bịt mặt, đã bị Hắc y sứ giả Bắc Ưng Lãnh Lạc tiêu diệt, Pháp Đô là người hiểu rõ nội tình, biết trong tứ sứ giả ấy Hắc y sứ giả và Tử y sứ giả chỉ có danh mà không có thật, mà cũng chính là hiện thân của Tỉ Vương. Nay Tỉ Vương đã xuất hiện với danh nghĩa là Thanh y sứ giả, lẽ dĩ nhiên không thể nào đóng thêm vai Hắc y sứ giả để giết thầy trò lão bà bịt mặt. Vậy thì vị Hắc y sứ giả này rất có thể là vị đại hiệp đã trốn khỏi huyệt bí mật tại Lãnh Ưng Trang, Pháp Đô nghe lén những cuộc bàn tán của các tay tâm phúc của Tỉ Vương, và biết người giả lốt Bắc Ưng Lãnh Lạc để đóng vai Hắc y sứ giả ấy là Thượng Quan Linh thiệt, và sớm muộn gì cũng sẽ đến Bách Linh Miếu để cứu thứ nữ Thanh Thông Liễu Mi. Mà kẻ lo canh giữ Liễu Mi lại chính do Pháp Đô, thế là vị Pháp Đô lạt ma này lo sẵn mưu kế của mình, chờ đợi Thượng Quan Linh đến. Và nay, trong ngôi mật thất của Thánh kham, các thủ hạ thân tín của Pháp Đô lo canh ráo riết khắp bên ngoài, bên trong Pháp Đô ân cần tiếp đãi Thượng Quan Linh ăn uống và kể rõ tự sự.
Sau cuộc kể rõ mọi việc, Pháp Đô lạt ma bèn đi ngay vào đề chính là mời Thượng Quan Linh hợp tác cùng với họ, sẽ tương kế tựu kế, vào ngày mồng mười Tết mai đây, trong cuộc đại lễ khai đàn lập giáo, sẽ mở ngay một cuộc đại náo Tỉ Vương ma quân cho hả dạ. Thượng Quan Linh đang rầu về phe mình yếu thế cô sức, Sở Canh về Trung Nguyên cầu viện chưa tới, xa như thế chắc gì đến kịp, nay may mắn được nhóm Pháp Đô hợp tác, còn gì mừng cho bằng, chàng lập tức nhận lời ngay. Gần đến giờ ngọ, bỗng nghe có tiếng ám hiệu vang lên, thì ra ám hiệu của thủ hạ Pháp Đô, cho biết có người đang đến.
Pháp Đô vội kéo ngay Thượng Quan Linh trốn vào một phòng khác, quả trong nháy mắt Lam y sứ giả Lân vương Cổ Thái Huyền đi tuần đến, Pháp Đô cung kính nghênh đón, sau khi thấy không có gì lạ xảy ra, bèn căn dặn Pháp Đô và Tang Kim, mai đây ngày tối quan trọng, tất cá đều chiếu theo hoạch định mà thi hành, cấm chểnh mảng xao lãng, Pháp Đô cung kính vâng dạ liên hồi và tiễn đưa Cổ Thái Huyền ra ngoài, xong xuôi lại cẩn thận cho người canh gác, hấp tấp vào thương lượng với Thượng Quan Linh để tìm cách đối phó. Một ngày êm tĩnh trôi qua, không khí bên ngoài càng hiền hòa thì trái lại bên trong càng khẩn trương tột độ, một cuộc u ám đang phủ khắp mọi lòng người có liên quan đến cuộc thịnh hội của Bách Linh Thần tự mai đây.
Về phần ba vị tiền bối Thiên Si, Nam Bút, Đông Tăng, tự biết sức Tỉ Vương, nên sau khi thoát khỏi thạch thất, tìm cách ẩn tích ngay, mắt thấy quần hào đang mở cuộc lùng soát, ba người kinh hoảng. Tỉ Vương, Lục y sứ giả, Lam y sứ giả không hề tham gia một cuộc lùng soát! Mà chỉ ra lệnh cho Dực Đông Biện Trang Hổ ngấm ngầm quan sát động tĩnh của Bắc kiếm Phổ Côn.
Bắc kiếm Phổ Côn, dù sao cũng còn tình nghĩa hương hỏa với ba vị sư đệ, nếu không có Ngũ đại sứ giả thân hành ra đốc trận, Bắc Kiếm cũng mở cuộc điều tra cho lấy lệ, nhưng nào hay lại có Biện Trang Hổ theo sát nách giám thị mình, phải đành cúi đầu làm đúng nguyên tắc. Nhưng trong ngấm ngầm khấn vái cho ba sư đệ liệu khôn ngoan mà rời khỏi ngay nơi đất thị phi này. Tỉ Vương và các tay sai đắc lực sao không tiến hành cuộc lùng soát? Chỉ vì tại ba thầy trò lão bà bịt mặt vẫn chưa thấy tới, mà tin của phi xà đem về toàn là tin không đáng kể. Tỉ Vương đã ra lệnh cho Lam và Lục hai sứ giả lo tiến hành riêng về vụ này. Nhưng mặt khác, Biện Trang Hổ đã chứng thực sự xuất hiện của Hắc y sứ giả và đã ngang nhiên cứu thoát ba nhân vật của nhóm Càn Khôn Ngũ Tuyệt là Tây Đạo, Đông Tăng và Nam Bút, vụ này quá quan trọng, hai sứ giả Lục và Lam cấp tốc lo thúc lãnh thủ hạ, cẩn thận mở cuộc lùng bắt. May Thượng Quan Linh và Pháp Đô hai bên đã hợp tác với nhau và đương ẩn thân một nơi an toàn nhất của Bách Linh Tự.
Kết quả cuộc lùng soát, ba nhân vật Càn Khôn và Hắc y sứ giả vẫn bặt vô âm tín, một đêm căng thẳng lẳng lặng trôi qua!
Sáng mồng mười Tết, mọi việc đã sẵn sàng. Thoạt tiên, đại thành Bách Linh Miếu, tiếng pháo nổ rền tai mọi người, báo trước cuộc thịnh lễ sắp khởi hành. Tiếp đến, tiếng trống tiếng chuông đổ rền, cổng miếu tự mở toang hết một lượt, các tăng lữ Lạt ma, tay bê pháp khí xếp hàng thủng thỉnh đi theo thứ tự và xếp theo hàng lối đã định trước trong đại điện âm u hùng tráng. Thanh y sứ giả với bộ áo lộng lẫy cùng với Lam y sứ giả và Lục y sứ giả xuất hiện cùng một lượt để chủ trì cuộc lễ, nghi thức tôn giáo bắt đầu. Trong đại điện lúc này, ngoại trừ tăng lữ Lạt ma ra, còn phần đông đều là thủ hạ của Tỉ Vương, cùng với các phái anh hào, và các thân hào nhân sĩ địa phương, đông đảo có trên trăm người, ai nấy im lặng như tờ.
Bên ngoài điện, toàn dân thập phương đến xem lễ đầu người lô nhô chen chúc, ai nấy lúc này ngóng dài cổ ra để xem các cuộc thịnh lễ ngoạn mục sắp diễn.
Chủ trì của Thánh Tự là Pháp Đô lạt ma, cất tiếng sang sảng tuyên bố, tất cả các cuộc thịnh hội hôm nay là do Thanh y sứ giả Thượng Quan đại hiệp đứng ra thay mặt chúa công để chủ trì buổi lễ. Dưới sự phò trợ của hai sứ giả Lam và Lục, Thanh y sứ giả ung dung tiến bước lên tế đàn, lưng quay về phía thần tượng, mặt hướng về mọi quan khách, áo quần lộng lẫy, kiếm dắt bên mình trông oai nghi lẫm liệt và anh tuấn lạ! Ngôi đại điện đây âm u lạnh lùng, lúc này Thanh y sứ giả đứng hiên ngang trên đàn, cất giọng tuyên bố bắt đầu thịnh lễ, nhưng vì muốn cho dân chúng thập phương bên ngoài điện được chiêm ngưỡng cuộc thịnh lễ, ngôi nóc đại điện và bức tường nên gỡ ngay cho mọi người được thấy.
Sau câu tuyên bố nảy lửa của Thanh y sứ giả quần hào nhao nhao bàn tán xì xầm, dẫu cho là công lực tuyệt cao của ba sứ giả Thanh y, Lam y, Lục y lợi hại đến đâu đi nữa nhưng muốn trong một thời gian ngắn ngủi này mà dời hết nóc đại diện và bức tường đồ sộ kia, đâu phải là chuyện bỡn.
Trên lễ đàn, Thanh y sứ giả chỉ mỉm cười. Thình lình! Thanh y sứ giả song chưởng giơ ra phạt ngay một chưởng lên không “ào” một tiếng, tất cả các đôi mắt trong điện lúc này, chỉ thấy nóc nhà đại điện bị bay mất một mảng lối năm thước tư vuông!
 
0
Hồi 075. Xử Nữ Hiến Tế
[/align]

Tất cả những người có mặt trong đại điện lúc này đều kinh hồn tán đảm, nhưng chuyện lạ vẫn tiếp tục diễn ra mà không ai có thể tin được, lúc này ánh sáng mặt trời đã từ nơi lỗ trống chiếu hắt vào trong đại điện, không khí u ám rờn rợn trong điện đã biến tan. Thanh y sứ giả trên tế đàn vẫn liên miên phạt chưởng, các mái nóc đã bay đi từng tảng năm thước tư vuông ngay ngắn và thuận lợi theo đúng ý của Thanh y sứ giả, chớp mắt đã gỡ hẳn đi một trong ba mái ngói của đại điện, mọi quần hào trong điện kinh hãi tột độ. Đừng nói là chưa ai thấy thứ chưởng lực đánh gỡ ngói nhà ngăn nắp như thế bao giờ, mà lạ nhất là không một miếng ngói nào bị rớt xuống, mà đều bay bổng ra ngoài hết, đồng thời ai nấy nghĩ bụng, thế nào các tảng ngói ấy sẽ gây thương tích cho dân chúng bên ngoài, nhưng quái lạ lúc này bên ngoài lại vang lên những tiếng hoan hô kịch liệt, không hề nghe một tiếng kêu la hoảng hốt nào cả. Đến khi Thanh y sứ giả ngừng tay, thì ra từng lớp ngói ấy bị bay ra phía bên phải của đại điện, nằm ngay ngắn thành lớp tại khoảng đất trống ấy.
Dẫu cho là các tay quần hào trong đại điện đây là những bậc đại ma đầu nổi danh trên giang hồ đi nữa, nay chứng mắt thấy được những hạng công lực kinh thiên động địa quỉ khóc thần sầu như thế, không ai là không khâm phục hay kinh sợ. Chỉ nghe thầy trò Độc Ma và Bắc kiếm Phổ Côn thì thầm rằng:
- Không tin Thượng Quan Linh lại có công lực ghê gớm như thế!
Thiên Trúc phiên tăng Tả Pháp Thụ xưa nay thường tự phụ với thần lực của mình, nay chuyện kỳ lạ diễn ra trước mắt, khiến hắn không sao không thầm phục, gật đầu tấm tắc khen. Cả đến Liêu Văn đứng cạnh cũng khâm phục vô ngần. Trong lúc đó, ở dưới tế đàn trong thánh kham bốn con mắt từ kẽ hở đang quan sát động tỉnh bên ngoài.
Thì ra hai đôi mắt ấy là của Thượng Quan Linh thiệt và sư đệ cua Pháp Đô lạt ma là Pháp Sơn, Thượng Quan Linh thiệt nhìn xong một chặp mới khẽ tiếng rằng:
- Khó tin thật! Thế gian đâu có thể có công lực ghê gớm như thế?
Pháp Sơn bên cạnh thấy Thượng Quan Linh ngạc nhiên kinh người và không thể nào tin sự kiện trước mắt là thiệt, và sợ chàng mất lòng tin mà không dám tiến bước thì tất cả mọi kế hoạch đều bị tan rã hết. Pháp Sơn nghĩ vậy bèn vội lên tiếng giải thích và để cổ vũ lòng tự tin của Thượng Quan Linh rằng:
- Thiếu hiệp xin chớ kinh hoảng vội, những trò này đều giả hết, trên thế gian này làm gì có công lực ghê gớm như thế, đây cũng là một lối làm từa tựa loại ma thuật mà thôi, đám tử đảng của Tỉ Vương đã ngấm ngầm xếp đặt sẵn các trò ma tịt trên mái điện...
Thượng Quan Linh thiệt lúc này được giải thích mới khẽ ồ lên một tiếng, lòng tự tin của chàng lập tức khôi phục ngay lại.
Chớp mắt, cả một mái ngói của nóc điện bị chưởng phong của Thanh y sứ giả gỡ hết đi, quần hào lúc này trố mắt sững người kinh hãi đến quên cả vỗ tay hoan hô. Lúc này Lục y sứ giả âm ty tú tài Trần Thân cất tiếng cao giọng rằng:
- Thanh y sứ giả vạn tuế!
Ai nấy trong đại điện như vừa tỉnh cơn mê, đồng thanh hoan hô và chúc tụng theo Lục y sứ giả. Thanh y sứ giả lúc này đứng trên tế đàn tỏ vẻ vô cùng hài lòng, miệng mỉm cười sắc thái ung dung! Trong hàng người thứ ba của ngôi đại điện có ba đàn ông Mông Cổ, lúc này đều cúi đầu và đưa mắt khẽ nhìn nhau với vẻ thất vọng. Ba người này là Tây Đạo, Đông Tăng, Nam Bút. Họ được Thượng Quan Linh cho biết nay Tỉ Vương đội lốt của Thượng Quan Linh xuất hiện với chức Thanh y sứ giả, nay thấy Tỉ Vương công lực ghê gớm như thế, thực quả không ai có thể tin được!
Nếu đem công lực của tên ma đầu khét tiếng này so với Độc chỉ Thôi Bác, có thể hơn hẳn một bực là khác. Đông Tăng khẽ bàn với Nam Bút, thanh thế Tỉ Vương lớn lao như vậy, tiền đồ của nhóm hiệp nghĩa giang hồ quả bị lu mờ ảm đạm hẳn. Đừng nói là muốn đại náo cuộc đàn khai lập giáo của tên ma đầu tàn ác này không có hy vọng, mà cả đến chuyện Thượng Quan Linh lo cứu nguy cho Liễu Mi cũng khó lòng mà thực hiện được.
Túy Đầu đã khẽ tiếng rằng:
- Xem tình hình nghiêm trọng quá! Nhị sư huynh! Chúng mình nên tính sao?
Tây Đạo vốn là người trầm tĩnh túc trí đa mưu, nghe sư đệ Đông Tăng hỏi như vậy, cũng nhẹ tiếng rằng:
- Chớ lo ngại, theo riêng ý ngu huynh, Tỉ Vương không thể nào có nổi công lực như thế được, nếu y mà có nổi công lực như vậy, thế nào lại chả đi tìm kiếm ngay Độc chỉ Thôi Bác để tỉ thí? Trong này có sự bịp bợm đây, chúng mình nên thận trọng để chờ, chớ để mắc mưu của Tỉ vương ma quân...
Sau câu nói của Tây Đạo, Nam Bút, Đông Tăng tạm vững bụng và cũng hùa theo mọi người vờ hoan hô reo mừng. Cả ba người đều hóa trang những đàn ông xứ Mông Cổ, khó ai mà nhận diện ra nổi.
Tiếng hoan hô tạm ngưng, Lục y sứ giả âm ty tú tài Trần Thân, mặt hớn hở vui vẻ tuyên bố:
- Thanh y sứ giả đã biểu lộ ngọn tuyệt kỹ để gỡ hết mái nóc của đại điện rồi, nay còn chừa lại ba vách tường sẽ do tại hạ và Cổ huynh đây sẽ chia nhau dọn...
Trong tiếng hoan hô cổ vũ tưng bừng ấy, Lục y sứ giả oai hách đứng đợi tả hữu khiêng ra một ngọn binh khí quái dị, thì ra là một Đại thiết bài (bảng sắt lớn), ước sức nặng bốn năm trăm cân, thiết bài có kèm theo xích sắt để cầm. Mọi người trong đại điện, thấy âm ty tú tài Trần Thân có loại binh khí này không khác gì với loại dây xích nhỏ tinh vi của Lãnh điện tỉ thủ của Tỉ Vương, không lý tên Trần Thân này lại dùng thiết bài này để làm binh khí giết người sao? Loại binh khí nặng nhọc quái dị thế này, quả hiếm thấy trên giang hồ lắm, xem hắn sử dụng ra làm sao?
Nhưng mọi sự xảy ra đều luôn luôn theo ngoài dự đoán của mọi người, trông tướng dạng âm Ty Tú Tài phong nhã yếu đuối, tuyệt không thể nào có sức khỏe để sử dụng miếng thiết bài, nhưng nào ngờ đâu cây thiết bài ấy là binh khí của Trần Thân. Chỉ thấy hắn bước lại cửa điện, khi còn cách xa lối bốn năm thước dừng chân đứng lại các tăng Lạt ma đã lo dẹp những người xung quanh ra xa hẳn một trượng. Lục y sứ giả vận ngay kình lực khắp toàn thân, thình lình hét lên một tiếng, cây thiết bài đánh bật ngay sang phía cửa chánh của đại điện. Ầm một tiếng vang lên, cả một mảng lớn cửa điện đổ rầm xuống, và Âm Ty Tú Tài không ngừng tiếng hét, vung thiết bài đánh ầm ầm vào các thế khéo léo tuyệt lạ, chớp mắt cả một bức tường chánh điện bị đập đổ hết.
Thượng Quan Linh đang nấp trong mật huyệt nhìn ra, thấy cảnh tường phá này oai hách quá? Chàng ngẫm nghĩ, nếu mình ra tay đẩy phá, chắc cũng được như ý muốn. Nhưng nói về cách khéo léo lanh lẹ, tuyệt không thể nào đem so với tên Âm ty tú tài Trần Thân này được.
Pháp Sơn bên cạnh Thượng Quan Linh rụt trí vội lên tiếng khẽ cổ vũ rằng:
- Tên Lục y sứ giả Âm Ty Tú Tài này, không những tuyệt về võ công, mà còn kiêm cả cơ trí mưu mô xảo quyệt không hổ là một tên trợ thủ đắc lực của Tỉ Vương nhưng hắn cũng là một trong những nhân vật ta phải tiêu diệt, nên tên hắn đã nằm trong sổ đen của chúng ta. Vậy xin thiếu hiệp an tâm, nếu thiếu hiệp nay xuất hiện với diện mạo của Thanh y sứ giả, tên này thế nào cũng chết về tay thiếu hiệp chứ không chạy đâu khỏi?
Thượng Quan Linh gật đầu lia lịa, trong lòng bàn tính, nay thấy công lực của Lục y sứ giả hay như thế, nếu khi giao tranh phải nắm ngay thời cơ hạ sát đối thủ ngay tức khắc, không cần phải do dự gì.
Nhìn trong đại điện, lúc này Âm ty tú tài Trần Thân đã hoàn tất nhiệm vụ phá hẳn bức tường chánh của đại điện, miệng nở nụ cười, hiu hiu tự đắc, bước về tế đàn. Tiếng hoan hô lại ầm vang khắp đại điện. Chờ tiếng hoan hô ngớt. Lam y sứ giả Cổ Thái Huyền đủng đỉnh bước ra giữa điện cất tiếng cười rằng:
- Giờ luân đến phiên tại hạ xin múa rối với hai bức tường hai bên còn lại...
Dứt lời thò tay vào mình lấy ra hai vật tròn xoe chia ném về cánh tường bên trái và cánh tường bên phải.
Pắc! Pắc! hai tiếng nổ nhỏ vang lên, ngọn lửa bắn phụt ngay ra, cả hai bức tường bốc lửa cháy phừng phừng. Mọi người trong điện, kẻ lớn gan vẫn đứng yên nhìn, nhưng đối với kẻ công lực yếu đuối, thấy lửa cháy càng lúc càng tợn, trong lòng hoảng vía kinh hồn, đã tính co giò chạy.
Lân vương Cổ Thái Huyền đứng giữa điện dõng dạc đưa hai tay nói:
- Xin chư vị chớ vội kinh hoảng, chỉ trong chớp mắt đây hai bức tường sẽ tan hết theo làn khói, Cổ Thái Huyền này xin đảm bảo từ sợi tơ tóc của chư vị, xin chư vị cứ an lòng ngồi yên chớ kinh hoảng.
Ai nấy lúc này bán tín bán nghi, ngọn lửa đổi sang khói xanh, tuy cách xa hơn mười thước, nhưng mọi người không thấy sức nóng lan tới, thật kỳ lạ. Quả nhiên trong chốc lát, hai cánh tường tả hữu đã bị ngọn lửa liếm trụi ra tro khói. Mọi người thấy Lân vương Cổ Thái Huyền chẳng cần tốn công lao khó nhọc gì mà ngang nhiên phá tiêu hẳn hai bức tường đi như vậy, ai nấy đều kinh hãi về loại ám khí lợi hại chưa hề thấy bao giờ này.
Nhưng không ai biết được hai viên đạn ấy làm sao mà lại có nổi oai lực ghê gớm vậy. Cả Thượng Quan Linh cũng lấy làm lạ lùng khó hiểu. Lúc này Thượng Quan Linh đang ngầm đo lường sức địch, nếu chính thức giao tranh với tên âm Ty Tú Tài, chỉ nội cây thiết bài nặng bốn năm trăm cân ấy cũng đáng ngại lắm. Còn bên Lâu vương Cổ Thái Huyền càng đáng ngại hơn, hắn chỉ đưa tay tung ra một viên hỏa đạn, oai lực không biết đâu mà đoán được.
Cả bên trong lẫn bên ngoài cửa đại điện, quý khách đông đến cả ngàn người, ai nấy liệu thấy rõ tình hình trên Thánh đàn và tin tức của nội điện truyền rao đều biết là các ngọn kiệt tác của ba vị sứ giả, Thanh y, Lục y, và Lam y tiếng hoan hô cổ vũ vang động cả một vùng đại điện, khiến những kẻ yếu tim phổi phải bồi hồi.
Kế hoạch giáo đầu của Tỉ Vương kể như đã thành công mỹ mãn theo ý tưởng, khiến cho các quần hào khiếp phục mà không dám có ý mạt thị. Còn đám dân chúng thì tôn ba vị sứ giả như thần Phật vậy.
Trong cảnh hoan hô náo nhiệt, thình lình một thánh tự vang lên ba tiếng chuông đồng. Nghi thức tế thần bắt đầu. Lúc này không còn ai dám nói ba vị sứ giả là tục gia không đủ tư cách để chủ trì cuộc lễ, Thanh y sứ giả đứng giữa hai Lục y và Lam y cùng nhau bước lên đại đàn để làm lễ. Tiếng chuông vang lại, các tăng lữ Lạt ma cất tiếng đọc kinh và gõ các pháp khí. Khói hương nghi ngút tỏa quấn thần tượng, một bầu không khí vô cùng tôn nghiêm bao quanh khắp ngôi đại điện. Quần hào đều ngồi im không nhúc nhích. Nghi thức vẫn tiến hành, sau khi đọc xong kinh, tiếp theo cuộc lễ đi đến mức cao trào, khởi sự tế sống trinh nữ.
Kẻ phụ trách Ty nghi (người đọc chương trình) cất giọng tuyên bố, để cảm tạ thần ân, một lệ cũ đã bỏ phế từ lâu trong cuộc lễ đầu năm nay sẽ quyết định khôi phục lại và đã tuyển được Thiên Hậu Nương Nương để hiến cho thần linh.
Quần hào là đám người đứng gần đài tế nhất, lẽ dĩ nhiên thấy rõ mọi việc đang tiếp diễn, chợt trưởng nữ Thanh Thông Bang Liễu Văn giật nảy mình, tiếng kinh hoảng chưa dám rú ra, vội kéo ngay Tả Pháp Thụ đứng cạnh, hấp tấp nói nhỏ:
- Trời ơi! Đó là em Liễu Mi!
Tá Pháp Thụ gật đầu nói:
- Đúng rồi, đúng là cô em Liễu Mi của em! Anh nhận rõ lắm!
Liễu Văn cuống quít, nàng tự biết công lực và cơ trí của mình, mặc dù sao, cũng không thể nào cứu sống được em mình, khẽ tiếng nói với Tả Pháp Thụ đứng cạnh rằng:
- Anh không thể nào đứng im khoanh tay như thế được tôi chỉ có mỗi một người em, xưa nay tuy chị em bất hòa, nhưng nó cũng còn mến tôi lắm, chuyện gì cũng nương chiều theo ý tôi, tội nghiệp cho nó nay lại bị cảnh đầy đọa này...
Liễu Văn càng nghĩ những tính tốt của em lại càng rơm rớm nước mắt?
Tả Pháp Thụ khẽ tiếng rằng:
- Thật là lạ hết sức! Anh không hiểu vì lý do gì cả? Thằng nhãi Thượng Quan Linh chẳng đã ăn hỏi với em của cô rồi sao? Thế mà nay nó mới lên được địa vị Thanh y sứ giả đã nhẫn tâm thiêu sống người yêu của nó như thế?
Liễu Văn nay đã bối rối lục thần vô chủ, nào đâu có biết phán đoán gì nữa. Chỉ nghe nàng hấp tấp gắt rằng:
- Anh còn suy đoán gì nữa, chắc Liễu Mi thấy Thượng Quan Linh hợp tác với Tỉ Vương để làm Thanh y sứ giả, nên hai người đã trở mặt với nhau, và Thượng Quan Linh đã ác tâm tàn nhẫn dùng ngay kế mượn đao giết người, nay nguy cơ đã hiện rõ trước mắt, hãy mau mau nghĩ cách để cứu người đã...
Tả Pháp Thụ lắc đầu rằng:
- Em...! Chính em cũng hiểu rõ anh, em nghĩ đến anh đâu có cách gì để cứu Liễu Mi bây giờ?
Liễu Văn nào phải không biết, đừng nói là sức của hai người không đi đến đâu, cho dù đám quần hào ở đây muốn rục rịch lập tức sẽ bị ba Sứ giả đàn áp ngay.
Liễu Văn sau khi quyết định cứu em, bèn khẽ tiếng nói nhỏ bên tai Tả Pháp Thụ, phiên tăng đứng im không nói, nhưng sắc mặt có vẻ khó coi lắm. Từng cao nhất của tế đàn lúc này có hương xa của Thiên Hậu Nương Nương, từng dưới ba vị sứ giả đứng sát cánh với nhau. Âm Ty Tú Tài liếc đôi mắt diều hâu nhìn khắp một lượt về phía quần hào. Hắn phát hiện trong đám quần hào ấy, chỉ trừ thầy trò Độc Ma đeo mặt nạ ra, mọi người ai cũng có vẻ luyến tiếc một giai nhân sắp thọ nạn, nhất là Bắc kiếm Phổ Côn, Liễu Văn càng đâm ra bất an. Âm Ty Tú Tài chỉ mỉm cười.
Bỗng hắn phát hiện có những tia nhìn phẫn nộ và bối rối xuyên lại phía mình, âm Ty Tú Tài nhận ngay đó là tia nhìn của một gã người Mông Cổ, đôi mắt của âm ty tú tài Trần Thân quả lợi hại, hắn đã nhận ra ngay người này không phải là người Mông Cổ, mà chỉ là một sự hóa trang, và chắc không ai xa lạ hơn là vị út của Càn Khôn Ngũ Tuyệt, Nam Bút tiên sinh đây.
Trần Thân điềm tĩnh mỉm cười, tia nhìn lập tức nhẹ chớp ra dấu với Dực Đông Biện Trang Hổ, tiếp theo khẽ thì thào với Bắc kiếm Phổ Côn, Bắc Kiếm kinh hãi, bất giác quay đầu lại nhìn, đúng quá! Cả ba sư đệ của mình đang bàn tán với nhau. Bắc kiếm Phổ Côn đành lặng thinh, sắc mặt ảm đạm. Bên kia, Nam Bút tiên sinh bối rối cuống lòng, cho ngay hai vị sư huynh hay, người đang đóng lốt Thiên Hậu Nương Nương này, không phải là ai xa lạ chính là thứ nữ của Thanh Thông Bang Liễu Khai tên Liễu Mi, và cũng là vợ chưa cưới của ái đồ Thượng Quan Linh, như vậy chứng tỏ sự mạo hiểm của Thượng Quan Linh không những chưa cứu được người, mà trái lại rất có thể ái đồ đã gặp nạn cũng nên.
Xem tình trạng đã quá nguy cấp, sư huynh đệ ba người lo âm thầm thương lượng để cứu người. Các Lạt ma sau khi dứt tiếng đọc kinh, tay cầm pháp khí, bốn mươi chín người cùng đứng ngay dậy một lượt. Lúc này trên thượng đài của tế đàn thị nữ, Lạt ma và ba vị sứ giả đều lui hết ngay xuống, các tăng lữ bắt đầu đi xung quanh tụng kinh.
Hiển nhiên đã sắp đến giờ khắc kinh hoàng nhất. Lam y sứ giả Lân vương Cô Thái Huyền đã thò tay vào người lấy hỏa đạn chuẩn bị ném lửa thiêu đàn. Mọi người đều cảm thấy không khí ngột ngạt khẩn trương...
Lân vương Cổ Thái Huyền đang lăm le tính ném hỏa đạn. Nhưng thực ra chỉ huy trương thanh thế dụng ý chẳng qua muốn cho thiên hạ để ý đến Liễu Mi, mà cố nhử cho các tay muốn cứu Liễu Mi lộ ngay nguyên hình, như thế Thanh y sứ giả và Lục y sứ giả có thể thẳng tay tàn sát ngay những ai dám ngang nhiên cướp lễ tế thần này để tận diệt những phần tử dị kỷ.
Thanh sứ giả và Lục y sứ giả, lúc này chú ý quan sát động tĩnh của mọi người. Quả nhiên kẻ thứ nhất không chịu nổi là Liễu Văn, thình lình nàng đứng phắt dậy, tay đã sẵn ám khí, nàng tính phát ra để đánh bật viên đạn lửa của Cổ Thái Huyền, nào ngờ ám khí của nàng còn chưa tung ra, chợt dưới nách bị tê, khẽ nấc lên một tiếng, hôn mê bất tỉnh nhào ngay vào lòng Thiên Trúc ác tăng Tả Pháp Thụ. Hóa ra là Tả Pháp Thụ đã chuẩn bị sẵn, y không muốn để cho người yêu quá mạo hiểm như thế, nên đã kịp thời điểm trúng huyệt hôn mê của nàng. Lúc này Tả Pháp Thụ thở dài, ôm ngay thân Liễu Văn vào lòng, sắc mặt buồn thảm.
Thanh y sứ giả và Lục y sứ giả mỉm cười lạnh lùng. Đằng kia Tây Đạo, Đông Tăng, Nam Bút đã chuẩn bị ra tay nhưng Thiên Si nhanh mắt, phát giác ngay cái nhìn của sư huynh Bắc kiếm Phổ Côn, đầy vẻ ngầm cảnh báo.
Chứng tỏ rõ Phổ Côn Bắc Kiếm nay tuy đứng về phe địch, nhưng đối với ba sư đệ vẫn còn tình hương hỏa, nên có ý ngăn trở ba người để miễn bị hy sinh. Nhưng ba nhân vật của Càn Khôn Ngũ Tuyệt không thể nào đứng khoanh tay nhìn Liễu Mi bị chết thảm thiết như thế, và đã quyết tâm liều mạng, phó thác thành bại cho trời định, đối với ý cảnh cáo của Bắc Kiếm, ba người đều vờ như không biết.
Tây Đạo trong tay đã cầm sẵn ám khí. Nam Bút rờ sẵn chuôi kiểm bên mình, cách thức cứu người của họ có vẻ chu đáo hơn Liễu Văn nhiều, nghĩa là họ chờ cho Lân vương Cổ Thái Huyền ra tay trước rồi mới hành động sau theo kế hoạch là Tây Đạo, Đông Tăng cố ngăn chặn địch, Nam Bút phụ trách giúp người, nếu thuận lợi, sẽ cùng với Liễu Mi đột vây thoát trước.
Nhưng vỏ quít dày thường gặp móng tay nhọn! Bắc kiếm Phổ Côn thấy mình tỏ ý cảnh cáo mà không được kết quả gì, đành thở dài đứng dậy. Tiếp theo Dực Đông Biện Trang Hổ, cha con Lỗ Bắc Chung Thu Tử, Giang Nam Kê Vĩ bang chủ cũng nối đuôi nhau đứng dậy, ai nấy lo canh chừng hành động của ba vị sư đệ. Đông tăng Túy Đầu Đà khẽ tiếng rằng:
- Chúng mình đã bị lộ tẩy, nay họ đang xiết chặt vòng vây.
Tây đạo Thiên Si ung dung rằng:
- Cứ tùy cơ mà ứng biến, chớ có sửa đổi làm gì!
Ba người xưa nay vốn là hiệp sĩ nhiệt huyết, sau khi ba người đã quyết định mạo hiểm, chẳng ai còn để ý đến sự sống chết của mình nữa.
Về phía Thượng Quan Linh thiệt và Pháp Sơn lạt ma đang trố mắt ngắm nhìn chăm chú, Pháp Sơn thấy hành động của Bắc kiếm Phổ Côn kỳ lạ, bèn nhắc tỉnh ngay với Thượng Quan Linh. Thấy hai sư bá và sư phụ mình đang chuẩn bị ra tay cứu Liễu Mi trên tế đàn,
Thượng Quan Linh bối rối tự lẩm bầm: Trời ơi! Sư bá và sư phụ ơi! Các ngài chớ có ra tay trong lúc này! Vì đệ tử đây đã an bài sẵn kế hoạch rồi... Thượng Quan Linh vội nói với Pháp Sơn lo tìm cách để báo tin cho sư bá và thầy biết, Pháp Sơn trịnh trọng tỏ ý lắc đầu không làm sao báo tin được trong tình trạng quá gay go này, vì ba nhân vật này đã bị chúng canh chừng cẩn mật, nếu mình báo tin, thế nào cũng bị bại lộ, mà kế hoạch trù liệu sẽ bị tan theo mây khói hết.
Thượng Quan Linh biết, bây giờ phải nghĩ đến đại cuộc, lỡ ra sẽ nguy hết đến tình mạng của ba vị tiền bối, chàng chỉ còn cách âm thầm khấn vái thần linh phù hộ. Mắt chăm chăm theo dõi các động tĩnh đang diễn biến bên ngoài, thế là sự thể khiến ai nấy lo ngại nhất đã không thể nào tránh, các tăng lữ đã qui vị, Lam y sứ giả cười lạnh lùng rồi vung tay ném ngay hỏa đạn ra! Ám khí của Tây đạo Thiên Si bay vèo ra khỏi tay cheng một tiếng, đan xéo nhau với hỏa đạn của Lân vương Cổ Thái Huyền, chỉ thấy hỏa đạn bay ngay về phía Thanh y sứ giả nếu hỏa đạn nổ, thế nào cũng chết người của bọn chúng.
Nhưng, chuyện lạ lại bắt đầu xảy ra, hỏa đạn sau khi trúng vào thân Thanh y sứ giả lại không nổ tung, Lân vương Cổ Thái Huyền chỉ cười nhạt. Ba vị phía Càn Khôn Ngũ Tuyệt biết bị mắc mưu, đồng thanh quát lớn, rút ngay binh khí nhảy vọt ra cứu người, các tay cao thủ lập tức ngăn chặn ngay hành động của họ lại. Đồng thời lúc đó, Lân vương Cổ Thái Huyền lấy ra một hỏa đạn ném ngay lên tế đàn, lửa phất lên ùn ùn.
Nam Bút tiên sinh kinh hoảng, hét lên một tiếng lớn, vung ngay kiếm chém bung ra. Đông tăng Túy Đầu Đà thấy ánh lửa trên tế đàn, cuống lên lo cứu người, ai nấy tung hết các ngọn đánh tuyệt kỹ của mình ra, quả là: nhất phu biện mạng, vạn phu mạc địch (một người liều mạng, vạn người khó đỡ), huống hồ cả ba người đều là nhân vật nổi tiếng đương thời, thuộc đệ nhất lưu của làng võ lâm, trận xung đột này lập tức thấy rõ oai thế ngay, cha con Chung Thiên Thu đã không sao chống đỡ cuộc tấn công dũng mãnh như cọp rừng này. Ba vị sứ giả vẫn không hề ra tay. Thanh y sứ giả chỉ đứng mỉm cười. Lam y sứ giả Lân vương Cổ Thái Huyền vốn có ám khí hỏa đạn, nhưng vì cảnh hỗn chiến có bạn có địch, không thể nào đem xử sự trong lúc rối ren này.
Ba người nhóm Càn Khôn Ngũ Tuyệt đã áp tới dần, Lục y sứ giả Âm ty tú tài Trần Thân hạ lệnh quát ngay rằng:
- Nay Thanh y sứ giả đại diện Chúa Công truyền lệnh, hôm nay thế nào cũng bắt cho kỳ được ba người này.
Tiếng tuyên bố vừa dứt, quần hào xôn xao, trừ Thiên Trúc phiên tăng Tả Pháp Thụ đang lo cho nàng Liễu Văn ra, hầu hết mọi quần hào đều đã tuốt hết binh khí, lo chen vào trợ chiến. Đám ma đầu này, toàn là những tay khét tiếng trên giang hồ, nay họ dốc toàn lực ra công hãm, dẫu cho cho người có công lực tuyệt giỏi đến đâu đi nữa, tục ngữ có câu: song quyền nan địch tứ thủ (hai tay đấm khó lợi với bốn tay) dưới tình thế địch đông mình yếu như thế, lập tức họ bị sa hẳn vào cuộc khổ chiến, bị vây và đần dà phải lùi hẳn, và chỉ còn nước đỡ đòn để báo vệ.
Cuộc kịch chiến vẫn tiến hành, Thanh y sứ giả liếc nhìn về phía tế đàn, ngọn lửa đã liếm dần sang phía Thiên Hậu Nương Nương. Thanh y sứ giả nói thầm với Âm ty tú tài Trần Thân, lập tức thấy vị Lam y sứ giả này tung mình nhoáng ngay gần đến Thánh kham. Trong Thánh kham lúc này có bốn con mắt đang chăm chú theo dõi cuộc kịch chiến bên ngoài. Thượng Quan Linh rối quýnh như kiến phải bỏng, thấy ân sư và hai vị sư bá đang xông ra bị quân ma đầu vây hãm tới tấp, chàng ức mình vì không thể nào ứng chiến trong lúc này, chàng lẩm bẩm tự hỏi:
- Trời ơi? Sư bá và sư phụ ơi! Nếu có thiêng xin ba ngài mau mau rời khỏi ngay đây đi. Khổ quá! xem chừng tôi phải xông ra liều chết với chúng luôn...
Pháp Sơn nghe vậy kinh hoảng rằng:
- Ấy chết1 Thiếu hiệp chớ có nông nổi thế, phải chiếu theo kế hoạch đã vạch sẵn mà tiến hành, nếu sai một ly đi một dặm, chúng ta sẽ hoàn toàn thất bại hết, không những thế mà hầu hết tính mạng của mọi người đều bị hy sinh hết, xin thiếu hiệp hãy thận trọng suy xét.
Thượng Quan Linh đã mất bình tĩnh, chàng run lên rằng:
- Đại sư nói đúng, nhưng các vị tiền bối ấy đang lâm nguy như thế, tôi đâu có thể ngồi yên cho được, nếu lỡ có bề gì, suốt đời tôi phải ân hận và sẽ trở thành một kẻ tội nhân lớn lắm sao?
Pháp Sơn lạnh lùng như nhắc tỉnh lại:
- Nhưng thiếu hiệp không thể nào rời khỏi nơi đây, vì tí nữa đây, sau khi áo sáp của Liễu cô nương bị cháy tan, thân cô nương sẽ từ trên tấm thạch bán ấy trút xuống đây, đồng thời Tỉ Vương sẽ thân hành xuất hiện tại đây để ép liễu vùi hoa, nếu lúc ấy không có thiếu hiệp ở đây thử hỏi ai là người cứu nguy cho Liễu cô nương?
Nghe câu nói này, Thượng Quan Linh vẫn bàng hoàng chưa quyết định dứt khoát, Pháp Sơn lại lên tiếng rằng:
- Ba vị tiền bối đều là bực cao thủ đương thời, nay tuy bị vây hãm như thế, nhưng vẫn dư sức để tự vệ, lại nữa Tỉ Vương cũng chưa muốn giết ba vị, nếu có thua chắc cũng bị bắt sống mà thôi.
Thượng Quan Linh lúc này đã như lục thần vô chủ mắt vẫn ghé nhìn trận chiến ác liệt bên ngoài, đồng thời chàng cũng thấy ánh lửa đốt lan đến chân Liễu Mi, nhìn những ngọn lửa xanh lè ấy, tinh thần Thượng Quan Linh càng kinh hoàng căng thẳng tột độ. Chàng đã có triệu chứng suýt ngất. Pháp Sơn thấy vậy khẽ ý lên một tiếng vội nhắc tỉnh ngay chàng, chỉ thấy Thanh y sứ giả đang đứng ra để che cho Lục y sứ giả Trần Thân, mà hình như Trần Thân đang chờ đợi cơ hội để hành động vậy.
Pháp Sơn lúc này trấn tĩnh nhất, và biết ngay đây là gian mưu của Tỉ Vương, khẽ tiếng nói với Thượng Quan Linh rằng:
- Xem kế hoạch của chúng đã thay đổi hẳn, khi tấm thạch bản lộn ngược xuống ấy, Tỉ Vương Thanh y sứ giả thế nào cũng thân hành lại đây, nhưng nay có lẽ vì trận chiến kịch đấu đang xảy ra, nên Tỉ Vương không sao rút thân ra được, nên sai Âm Ty Tú Tài đến đây lo liệu cũng nên.
Thượng Quan Linh thất kinh hấp tấp hỏi:
- Vậy kế hoạch của chúng ta có cần thay đổi để đối phó với họ không?
Pháp Sơn chẳng cần suy nghĩ:
- Quá trễ rồi! Nay sư huynh Pháp Đô đang bận bên ngoài, sự liên lạc đã bị gián đoạn, nếu chúng mình thay đổi kế hoạch, trong tình trạng không liên lạc với nhau ấy thế nào cũng rước lấy những sự không may vào người. Nay chúng mình nên theo kế hoạch cũ mà tiến hành, vậy xin thiếu hiệp hãy mau mau chuẩn bị, vì tên Trần Thân sắp vào đến nơi đây. Chúng mình lo nấp kỹ trước đã.
Dứt lời kéo Thượng Quan Linh nấp ngay vào một nơi mật huyệt của Thánh kham.
Bên ngoài hỗn chiến vẫn diễn ra sôi nổi, quần hào chỉ lo vây kín ba nhân vật của Càn Khôn Ngũ Tuyệt, nhưng mọi người không ai muốn hạ độc thủ Tây Đạo, Đông Tăng, Nam Bút, ba nhân vật khét tiếng một thời xưa, vẫn oai dũng chống trả kịch hệt, thình lình Biện Trang Hổ trúng kiếm của Nam Bút, bị thương nặng, máu chảy thành vòi. Biện Trang Hổ vừa lùi lập tức vòng chiến bị khuyết, Nam Bút cố xông bừa ra. Thầy trò Độc Ma cười ha hả thế ngay vào lỗ hổng đó, Nam Bút lại bị vây như cũ.
Lúc này, ngọn lửa xanh đã thiêu đốt toàn thân Thiên Hậu Nương Nương, tất cả số người dự hội tại đây đều mục kích vị tuyết đại giai nhân này đang bị rước đi bằng ngọn lửa tai ác của Lân vương Cổ Thái Huyền. Tiếng cười điên cuồng của Cổ Thái Huyền vang lên khắp trong điện, tiếp theo hắn lại ném thêm hai hỏa đạn nữa, lập tức trên tế đàn và dưới Thánh kham tỏa lên một đám khói mờ mịt, cũng nhân đám khói để làm bình phong yểm hộ này, thạch bản của tế đàn khởi sự lộn ngược và trút ngay thân Thiên Hậu Nương Nương xuống dưới mật huyệt của Thánh kham còn tên Âm Ty Tú Tài lúc này cũng nhanh chân lướt ngay vào đường hầm bí mật.
Khi tiếng chuông vang lên, khói đã tan hết, ngọn lửa xanh lè đã tắt hẳn, tung tích của Thiên Hậu Nương Nương đã mất biệt. Tên ty nghi tuyên bố, cuộc lễ đã hoàn tất pháp thể của Thiên Hậu đã được thánh hỏa rước về trời. Những tiếng than tiếc ngấm ngầm trong lòng mọi quần hào.
Nam Bút tiên sinh đứng nhìn ngẩn về phía tế đài, rối rít kêu:
- Liễu Mi!...Liễu Mi ơi! - Sau tiếng kêu ông ta lăn ra bất tỉnh luôn.
Biện Trang Hổ chỉ chờ dịp để trả thù vừa rồi, nay gặp dịp ngàn năm một thuở này, đâu chịu bỏ qua. Vác ngay ngọn đao của mình bửa bừa ngay xuống. Mắt thấy Nam Bút thế nào cũng chấm dứt mạng sống oanh liệt một thời, trong thời gian tóe lửa ấy, thình lình nghe choang một tiếng vang lên, đao kiếm đụng nhau, và ngọn kiếm đã gạt phắt ngay đao của Biện Trang Hổ, khiến cho cánh tay của Biện Trang Hổ tê buốt hẳn. Khi Biện Trang Hổ định thần nhìn xem ai, hóa ra là Bắc kiếm Phổ Côn .. đã ra tay cứu Nam Bút, lập tức nổi giận đùng đùng:
- Lão già chết toi này! Bộ tính làm phản sao?
Bắc Kiếm trợn mắt tính nổi cơn thịnh nộ nhưng lập tức lại bừng tỉnh ngay và ôn hòa rằng:
- Người ta đã bất tỉnh như thế, hà tất phải hạ độc thủ làm gì?
Biện Trang Hổ nổi giận, vung đao chém bừa lại, ngay lúc này một tiếng lạnh lùng vang lên rằng:
- Chính ta cũng gai mắt tên già này rồi!
Thì ra kẻ nói tiếng này là một trong Thái Hành Ngũ Khấu, lão tứ Phi ngô tiêu Lỗ Tiến, dứt câu nói vung tay phóng luôn ám khí đánh thẳng sang Bắc kiếm Phổ Côn, Bắc Kiếm né tránh không kịp. Thiên Si, Đông Tăng vốn vẫn kính mến sư huynh, nay thấy sư huynh lại ra tay cứu Nam Bút tứ đệ như thế, càng cảm động. Thấy sư huynh đang lâm nguy, tính ra tay cứu nhưng đã trễ.
Thiên Si cảm thấy mắt tối sầm lại, điên cuồng xông bừa sang. Túy Đầu Đà miệng phun máu uất ra, bắn đầy mặt cha con Chung Thiên Thu, khiến hai cha con này không sao mở mắt kịp, hai nhân vật Càn Khôn lập tức bay toàn thân sang, cứu sư huynh.
Đằng này Thái Hành Lục Khấu, phái Điểm Thương Hoàng Kha đều bổ ra vây kín lại. Bên kia ám khí đã bay sát gần sau lưng Bắc Kiếm, bỗng Tư Đồ Cống hét lên một tiếng như điên, toàn thân nhoáng vèo lại hứng chịu hết những ám khí, chỉ nghe những tiếng chịch! chịch! chịch! liên tiếp, ba ngọn phi ngô tiêu (hình tiêu con rết) đã trúng hết vào nơi trọng yếu của Tư Đồ Cống, chết không kêu được một tiếng nào. Sự biến đổi quá đột ngột này đã gây kinh ngạc cho khắp quần hào về cử chỉ nghĩa bộc cứu chủ này, ai nấy thì thào bàn tán xôn xao, tất cả những tay ma quân giết người không gớm tay lúc nào đều đã tự động ngừng chiến. Bắc kiếm Phổ Côn mếu máo chảy nước mắt, ôm ngay xác Tư Đồ Cống để khám nghiệm, thấy ba mũi tiêu đều vào các nơi trọng huyệt, khiến cho nghĩa bộc già của mình thiệt mạng.
Đang khi mọi người còn xúc động về sự kiện xảy ra trước mắt ấy, thì Tây Đạo, Đông Tăng lo bước ngay lại phía Nam Bút vội vàng ôm ngay sư đệ lên tính hấp tấp rời ngay vòng vây. Thình lình Lam y sứ giả Lân vương Cổ Thái Huyền vèo nhoáng thân ra, nhẹ xòe bàn tay, một hỏa đạn nằm gọn ngay lòng bàn tay, cười nham hiểm trầm tiếng lạnh lùng rằng:
- Trò vui đã diễn hết đâu! Sao vội đi ngay thế - Dứt tiếng y tính ném ngay hỏa đạn trên tay ra, Tây Đạo, Đông Tăng biết lợi hại, vội vàng đề phòng.
Lại có chuyện kinh người tiếp diễn trong đại điện, chỉ thấy Thanh y sứ giả tà áo bay uyển chuyển, lướt ngay tới Bắc kiếm Phổ Côn, thình lình ra tay vung chưởng, chỉ cách thiên linh cái của Bắc Kiếm ước chừng hai tấc, rồi lạnh lùng cười rằng:
- Càn Khôn Ngũ Tuyệt kết nghĩa kim lan, nay Bắc Kiếm đã ở đây, không lý Tây Đạo, Đông Tăng, Nam Bút lại không ở chung với sư huynh sao?
Chỉ cần bản chưởng của Thanh y sứ giả ép thêm xuống, dẫu cho chiếc đầu của Bắc Kiếm có làm bằng sắt đi nữa, ắt cũng bị bể vỡ ngay. Đang lúc Tây Đạo, Đông Tăng đang ôm Nam Bút để đột thoát vòng vây ấy, không ngờ Tỉ Vương ma quân lại dùng thủ đoạn lấy tính mạng của sư huynh để ép chẹt, lúc này cả hai người đều kinh hãi! Thanh y sứ giả mỉm cười lạnh lùng rằng:
- Tả hữu đâu? Còn không mau mau chuẩn bị tịnh thất để chiêu đãi quí khách sao?
Quần hào bỗng ào hết lên một lượt, áp giải luôn nhóm Càn Khôn.
Đại điện khôi phục ngay sự trật tự, lúc này nghi thức lại bắt đầu.
Nay xin quay đầu bút thuật lại Thiên Hậu Nương Nương từ trên tế đàn cao ấy rớt xuống một đường hầm bí mật của Thánh kham.
Chỉ thấy một thân hình lõa thể từ trên trút xuống và rớt ngay vào một nha sàng đã đặt sẵn. Sau khi nằm trong sàng, không thấy thiếu nữ nhúc nhích gì. Thượng Quan Linh tính vọt ra ngay để xem sao. Vừa chực động thân, Pháp Sơn đã nhanh hơn chàng, lập tức ngăn trở lại và khẽ tiếng nói bên tai chàng:
- Tên âm Ty Tú Tài đã đến, chớ nên nông nổi mà hỏng kế hoạch.
Thượng Quan Linh nhìn kỹ, quả nhiên công lực của vị Lục y sứ giả cừ khôi lắm, hành động nhanh nhẹ như con chồn mướp, không gây một tiếng động nào, hai mắt hắn sáng quắt. Chỉ thấy tên Trần Thân này sau khi ngó quanh ngó quất một hồi, sau chót ngừng ngay tia nhìn lại chiếc giường ngà... Thượng Quan Linh nổi tức đùng đùng trong tâm thần, ngầm quyết định thế nào cũng thủ tiêu tên gian ác này.
Nhưng chàng nghĩ ngay: nếu mình ra khiêu chiến đường hoàng với danh nghĩa của bản thân mình, chưa chắc gì đã là địch thủ của âm ty tú tài Trần Thân, còn mình xuất hiện với bộ dáng Thanh y sứ giả tên Trần
Thân sẽ ngộ nhận là đồng đạo, khi ấy mình sẽ thẳng tay hạ độc thủ đẽ tiêu diệt y. Khéo ngẫu nhiên là Tỉ Vương đang đội lốt của Thượng Quan Linh để xuất hiện với chức Thanh y sứ giả, nay Thượng Quan Linh thiệt đâu cần gì phải hóa trang mà càng dễ đánh lừa Trần Thân, đồng thời nhóm của Pháp Đô lạt ma đã chuẩn bị sẵn từ trước quần áo của Thượng Quan Linh lúc này, hoàn toàn phục sức đúng hệt theo lối ăn mặc của Thanh y sứ giả Tỉ Vương. Chỉ cần hiện thân ra, thế nào tên âm Ty Tú Tài cũng ngỡ là Chúa Công mình đã đến. Và hắn tuyệt nhiên không thể nào nghi ngờ được. Thượng Quan Linh và Pháp Sơn lúc này đâu dám lên tiếng, đôi bên đều trao đổi ý kiến bằng lối viết vào bàn tay của nhau, sau khi hai người đồng ý. Thượng Quan Linh hồi hộp chờ đợi.
Chỉ thấy tên Âm ty tú tài Trần Thân lẩm bẩm một mình:
- Đã nghe đồn vế sắc đẹp của thứ nữ Thanh Thông Bang, nay được thấy quả là trang tuyệt sắc giai nhân...
Lòng dục đã thúc tên âm ty sứ giả bạo phổi chiếm đoạt người đẹp trước mắt... Sau khi thẫn thờ nhìn ngắm ngây ngất, hắn từ từ cúi mình xuống để ôm thân người đẹp. Thình lình một giọng cười lạnh lùng vang lên, Trần Thân vội quay phắt ngay mình lại, Thanh y sứ giả xuất hiện đột ngột phía sau, khiến cho âm Ty Tú Tài hồn bay vía lạc, tay chân gần muốn rụng rời. Trong bộ óc bén nhạy của hắn còn nghĩ cá tính khắt khe của Tỉ Vương, một khi Chúa Công đã phát giác nội vụ có dã tâm phản nghịch như thế, không làm sao tránh khỏi một sự tàn sát ghê gớm sẽ xảy ra.
Trần Thân chợt thoáng nghĩ nhanh Tỉ Vương đang bận chủ trì cuộc lễ bên ngoài diện, sao lại xuất hiện thình lình nơi đây kìa? Nhưng vì muốn giữ mạng sống, hắn không cần tìm hiểu nguyên do, hấp tấp quay mình dồn hết toàn lực bình sinh vào song chưởng đẩy bung ra ngay.
Thượng Quan Linh cũng thừa biết hắn sẽ liều mạng chết mạo hiểm, nên chàng đã chuẩn bị sẵn không cần đắn đo gì, vung ngay chướng nghênh địch. Bùng một tiếng dữ dội, hai luồng kình phong đụng độ vì Thượng Quan Linh sợ bị lộ tẩy trước mắt tên Trần Thân, nên lúc ra tay chàng đã vận dụng đến chín mười phần công lực, công hiệu của Tuyết bi tiên hoa đâu phải vừa gì, khi chưởng phong đôi bên tiếp giao, dù cho tên Trần Thân giỏi đến đâu đi nữa, cũng không làm sao chịu đựng nổi, lúc này chỉ thấy toàn thân hắn lảo đảo.
 
0
Hồi 076. Gặp Nhau Trên Quãng Đường Hẹp
[/align]

Chỉ thấy toàn thân Trần Thân bị ngất ngư như gió phất cành liễu, đôi chân vẫn bám chặt mặt đất không hề xê xích, hiển nhiên công lực của vị Lục y sứ giả đã đến mức tuyệt vời. Chợt hắn vung luôn hai ống tay áo, lập tức thấy hai làn ánh bạc từ trong tay áo bay thẳng sang phía Thượng Quan Linh. Chàng vội vận hết chân khí để phong tỏa châu thân, chớp mắt, vô số ánh bạc ấy bị bật rơi hết xuống mặt đất. Thượng Quan Linh bước lên một bước, đang tính ra tay hạ sát Âm ty tú tài Trần Thân. Trần Thân run lập cập vội từ trong mình móc ra một miếng ngọc bài, hai tay giơ khỏi đỉnh đầu, giọng nói ... hốt hoảng rằng:
- Kính Chúa Công. Miếng ngọc bài ngài ban cho vẫn còn đây và chính ngài đã đảm bảo là không dùng Lãnh diện tỉ thủ để giết kẻ hèn này? Nay... nay... vì ma xui quỉ khiến Trần Thân lúc mờ trí óc, nên tật xưa vẫn chưa tuyệt gốc, lại vì ngọc thể Nương Nương quá đẹp, nên khiến cho Trần Thân không sao kiềm lòng được. Nhưng thực ra Trần Thân chưa hề đụng tới, kính xin Chúa Công tha thứ cho lần này, nay Trần Thân xin nạp trả ngay ngọc bài này, và rời ngay khỏi đây...
Hóa ra Tỉ Vương với tên trợ thủ đắc lực này lại có một hiệp định quân tử như vậy, ban cho ngọc bài và có thể thế một tội chết. Thượng Quan Linh nghĩ nhanh ngay, lúc này phải lo chu toàn cho đại cuộc, không thể nào để lộ tẩy, nên đành chấp thuận lời yêu cầu của Trần Thân, nhưng chàng không dám lên tiếng nói một tiếng nào, sắc mặt lạnh lùng khẽ gật đầu. Âm ty tú tài Trần Thân như gặp ân xá của hoàng thượng, vội bỏ ngay miếng ngọc bài lại hấp tấp lo chuồn ngay theo lối của Liễu Mi rớt xuống, chỉ thấy hắn tung mình, xông thẳng lên đỉnh nắp của mật huyệt, vọt ngay lên tế đàn, và từ tế đàn hắn quăng nhanh mình bỏ đi luôn.
Trong khi ấy, nghi thức lễ lộc vẫn tiến hành, đám quần hào sau khi áp giải và giam cầm nhóm Càn Khôn Ngũ Tuyệt quay ra, Thanh y sứ giả đang lo chủ trì cuộc lễ.
Lam y sứ giả lo đứng cạnh. Chỉ thấy một ánh xanh lục loáng nhanh trên tế đàn, chớp cái đã mất dạng. Thì ra Âm ty tú tài Trần Thân đã lo giữ mạng sống, đâu dám làm náo động ai, hắn đã dùng hết khinh công tuyệt đỉnh của mình để tháo thân, không dám quay cổ lại. Nhưng cũng may là hắn không quay đầu lại, nếu không, thế nào chả phát giác sự có mặt của Tỉ Vương Thanh y sứ giả. Tỉ Vương không thấy động tĩnh gì xảy ra, nhóm quần hào, những kẻ công lực yếu kém không ai có thể đoán ra được chấm nhoáng màu lục ấy là gì? Chỉ riêng có Lân vương Cổ Thái Huyền trong bụng rõ hơn hết. Màu lục và thân pháp như rồng bay ấy, trừ Âm ty tú tài Trần Thân ra đâu còn ai vào đó?
Nhưng không hiểu tại sao âm Ty Tú Tài lại lẩn trốn như thế? Lập tức nghi ngay, cổ ngữ có câu: Giang sơn dịch cải, bản tính nan di (Núi sông có thể thay đổi bản tính con người khó mà nắn theo khuôn mẫu), Trần Thân vốn nổi tiếng là Thái hoa tặc (Cướp chuyên hái hoa) nay chắc y đã vì sắc đẹp của Thiên Hậu Nương Nương nên đã ngang nhiên bạo phổi đoạt đi sao.
Cổ Thái Huyền tính cảnh tỉnh ngay Tỉ Vương, nhưng sau khi nghĩ kỹ, y lại bỏ luôn ý đó. Đối với Tỉ Vương y chỉ kính nể, nhưng với Trần Thân, y lại nặng cảm tình, nên đành vờ như không hay biết gì. Trong lòng còn cầu chúc sao cho Trần Thân chóng thoát khỏi thế lực của Tỉ Vương, chớ để cho Tỉ Vương phát giác thì nguy. Đồng thời, bản thân Cổ Thái Huyền cũng đang nghĩ: sau khi Trần Thân ra đi, địa vị của mình sẽ nổi bật bên cạnh của Tỉ Vương.
Trong lúc bên ngoài điện này, Cổ Thái Huyền mãi suy tư về cuộc đời của mình sau này không biết đi về đâu? Thì bên trong mật huyệt Thượng Quan Linh đã dùng mền cuốn ngay thân hình của vợ chưa cưới lại, Liễu Mi vẫn hôn mê chưa tỉnh, Thượng Quan Linh ôm ngay thân Liễu Mi tính kiếm đường rời ngay khỏi đây, nhưng chàng vừa bước, đằng sau đã có tiếng trách móc: Kìa Thượng Quan đại hiệp, sao lại bội tín nhanh thế. Nỡ nào ngang nhiên bỏ rơi tất cả tính mạng của các tăng lừ trong Thánh tự như vậy...?
Hai anh em sư huynh đệ Pháp Đô và Pháp Sơn hấp tấp bước gần ngay lại, Pháp Sơn đã không nể nang gì rút ngay giới đao ra, xấn đến chận ngay lối đi lại, Pháp Đô thành khẩn rằng:
- Bần tăng mới từ trên tế đàn xuống, nay cuộc lễ Phật sống thăng thiên sắp sửa khởi sự, xin đại hiệp chớ nên bội ước để hỏng hết các vấn đề, nhất là khiến cho số đông người bị thiệt mạng, chúng tôi có chết đi tuy cũng chẳng sao, nhưng tin chắc đại hiệp nỡ lòng nào làm như thế cho đành.
Thượng Quan Linh thở dài xong nói rằng:
- Nay Liễu cô nương đang hôn mê bất tỉnh, biết làm sao đây?
Pháp Đô rằng:
- Xin đại hiệp cứ giao ngay Liễu cô nương cho sư đệ của bần tăng Pháp Sơn, và xin đại hiệp chớ lo ngại gì cả...
Thượng Quan Linh đành nghe theo lời, giao ngay Liễu Mi cho Pháp Sơn, chợt bên ngoài điện coong một tiếng chuông vang lên pháp Đô biến sắc phát lệnh ngay:
- Sư đệ mau chuẩn bị và thông báo ngay các tăng lữ nếu vạn bất đắc dĩ hãy lập tức uống ngay thánh thủy để giải độc và rời ngay khỏi đây, chớ nên lưu luyến làm gì nữa... Giờ ngu huynh cùng với Thượng Quan đại hiệp lo đi thay đổi quần áo, để chuẩn bị y kế hành sự, mọi người uống xong nước thánh thủy, nên cấp tốc bảo vệ sư tôn rời khỏi ngay đây và đi mau về Sắc La Tự của Mạc Bắc. Chủ trì ngôi tự ấy là Ban Đạt thượng nhân, bực sư bá của chúng ta, và ở đó có những kiến thiết đặc biệt có thể tạm lánh nạn được... Còn trên tế đàn, bần tăng cùng các tăng lữ còn lại trên đó ắt chuyến này khó lòng mà giữ được mạng sống, vậy tất cả đều phú thác hết cho mạng trời, nên nhớ là chớ có nhúng tay mà cứu để gây thêm nguy hiểm cho sư tôn. Sau khi cứu Liễu cô nương tỉnh dậy, có thể đặt ngay cô nương nơi đã dự định trước, sau khi lửa cháy, Thượng Quan đại hiệp có thể đến cứu ngay...
Sau khi giao hết trách nhiệm, Pháp Sơn tay bồng nàng Liễu Mi buồn thảm ngó sư huynh Pháp Đô rằng:
- Sư huynh ! ...
Pháp Đô hiểu lòng sư đệ không nhẫn tâm thấy mình bị chết trên tế đàn, nhưng sắc mặt Pháp Đô cố ý sa sầm ngay xuống khẽ quát:
- Pháp Sơn! Sao hồ đồ đến thế. Tình thế đã nguy cấp như thế, sao còn quyến luyến như hạng nữ nhi vậy... Còn không thi hành nhanh đi...
Pháp Sơn mủi lòng bi thảm nói:
- Pháp Sơn xin tuân ngay pháp dụ của sư huynh, sẽ lo hộ trì sư tôn và đồng môn tăng lữ trốn ngay về Sắc La Tự, nhưng xin sư huynh hãy ráng tự bảo trọng, sớm thoát cảnh hiểm nghèo để về tương hội Sắc La Tự... sư huynh đệ hai người quyến luyến nhìn nhau, lệ tuôn âm thầm, Pháp Đô hít mạnh hơi quay phắt ngay người và kéo luôn Thượng Quan Linh hấp tấp đi luôn.
Pháp Sơn gạt lệ nhìn sư huynh khuất dạng, mới bồng Liễu Mi đi và làm nhiệm vụ của mình ngay.
Nói về cảnh ngoài điện, nghi lễ vẫn đang tiến hành long trọng, người đông như kiến cỏ, toàn thấy đầu người lô nhô. Ty nghi dõng dạc tuyên bố, hoạt Phật thăng thiên sắp bắt dấu, ai nấy hồi hộp chờ đợi...
Thanh y sứ giả từ từ quay mình lại, cả ngàn vạn con mắt đang theo dõi trên tế đàn, chỉ thấy khói bốc mịt mờ, bao phủ hết tế đàn. Tiếng tung hô của dân chúng vang lên:
- Tang Kim đại lạt ma! Tang Kim hoạt Phật...
Thì ra họ đã thấy một vị tăng Lạt ma, mặt đầy vẻ hiền từ, ngồi xếp bàn tròn trên phổ đoàn. Mọi quần hào đều im thin thít như để sùng kính vị cao tăng.
Lúc đôi mắt từ từ mở, và liếc nhìn hầu hết khắp quần hào xung quanh, nhưng tín đồ hấp tấp lo vái lạy vị Phật sống, nhưng thầy trò Độc Ma và Tả Pháp Thụ sau khi thấy rõ tia nhìn của vị cao tăng, trông không có vẻ gì hiền từ mà trái lại có vẻ cương quyết, cương nghị vô cùng.
Cả đến Thanh y sứ giả cũng cảm thấy kỳ lạ, tính trừng mắt để cảnh cáo Tang Kim lạt ma, nhưng chỉ thấy vị cao tăng trên phổ đoàn nhắm mắt lại. Chuyện lạ đã thu hút tia nhìn của mọi người, chỉ thấy ngôi phổ đoàn nhỏ ấy đã đưa hẳn vị cao tăng thăng bổng lên không. Hàng vạn tín đồ hoan hô vái lạy. Quần hào đã khiếp phục về những công lực của ba sứ giả Thanh y, Lục y và Lam y nay lại chứng kiến hoạt Phật thăng thiên như thế, ai nấy thấy rõ tòa phổ đoàn đang lơ lững trên không trung, khiến cho họ không khỏi ngạc nhiên.
Không lẽ trên thế gian này quả có chuyện Hoạt Phật lên trời sao? Trong lòng quần hào đều phân vân đánh dấu hỏi. Nhưng sự thật chỉ có Tỉ Vương, Lân vương Cổ Thái Huyền, và nhóm của Pháp Đô và vị lão tăng ngồi trên tòa phổ đoàn biết ngầm mà thôi, trò này cũng chẳng khác gì trò gỡ nóc mái điện, nghĩa là đều được dàn cảnh sắp xếp từ trước. Coong một tiếng chuông vang lên, đánh thức hẳn các mối suy nghĩ của mọi người, chỉ thấy Thanh y sứ giả quay mặt lại phía quần hào, cất tiếng tuyên bố rằng:
- Hôm nay là ngày lễ tế thần của Bách Linh Thánh Tự, đồng thời cũng là ngày khai đàn lập Vương Thiên Giáo của chúng ta...
Sau câu nói này, hầu hết những kẻ dự đại hội đều thất kinh, tất cả mọi quần hào đều rõ dã tâm của Tỉ Vương, nhưng chưa ai được biết giáo phái ấy sẽ lấy danh nghĩa gì, giờ đây mới rõ giáo phái của Tỉ Vương lấy một danh nghĩa kiêu cuồng là Vương Thiên Giáo như thế, quần hào không ai là không kinh ngạc đến ba chữ Vương Thiên Giáo?...
Lúc này trên tế đàn Lam y và Thanh y sứ giả đều nhận ra sắc mặt kinh lạ của đám quần hào, nhưng hai nhân vật thủ não này vẫn điềm nhiên như không, Thanh y sứ giả tiếp tục tuyên bố:
- Dưới Vương Thiên giáo chủ có Thanh y, Tử y, Hắc y, Lục y và Lam y, cộng cả thảy ngũ đại sứ giả, quyền lực cũng phân theo tên chức vừa nêu, ngày thường phụ trách truyền đạt ý chỉ của giáo chủ, và cùng với các đàn hương chủ cùng nhau chấp hành điều luật của giáo chủ, chăm lo hết các việc lớn nhỏ của bản giáo phái... Các nhân vật của các hương đàn chủ đã quyết định xong hết, nay tạm thời chưa tuyên bố ra vội, để xong cuộc lễ, sẽ có phi xà mang mật lệnh truyền đến, phàm đã tham gia vào bản giáo, đều phải hết lòng triệt để tuân theo giáo qui của bổn giáo, tuyệt đối phục tùng giáo chủ và ngũ đại sứ giả. Tí nữa đây, trước khi Phật sống về trời, thế nào cũng hiển lộ thánh tích để hiểu dụ các người. Vương Thiên Giáo là một giáo thay trời để hành đạo, các người chớ nên hoài nghi gì và nên thích huyết ăn thề trước mặt Phật sống, sau khi nhập giáo phải trung thành đến chết...
Quần hào đã có vẻ bất mãn, vì họ tưởng đâu trong lúc này, ít nhất cũng tuyên bố đến chức vụ quan trọng của trong giáo phái, nào hay Thanh y sứ giả chỉ nói sẽ có mật lệnh cho biết sau, còn về tôn chỉ lập giáo, chỉ vỏn vẹn có trong bốn chữ Thay trời hành đạo, không hiểu có phải là sau khi kết hợp được mọi lực lượng sẽ ngang nhiên khiêu chiến với nhóm nghĩa hiệp chánh phái miền Trung Nguyên do Độc chỉ Thôi Bác không? Về điểm này, Thanh y sứ giả không hề đả động đến.
Trong đám quần hào, một vị út nhất của nhóm Thái Hành Lục Khấu là Thiên thủ quan âm Từ Lai, lúc này ngang nhiên lên tiếng hỏi:
- Dám hỏi sứ giả. Chúng tôi hy vọng ngày hôm nay, trong buổi lễ tuyên thệ nhập giáo này, muốn được thấy mặt giáo chủ, vậy không hiểu giáo chủ có chấp nhận cho, lời yêu cầu này không?
Câu nói này quả là nguyện vọng hầu hết của mọi người trong lúc này, ai nấy ngong ngóng chờ đợi để được chiêm ngưỡng chân diện mục của Chúa công và là giáo chủ Vương Thiên Giáo. Lẽ đương nhiên mọi quần hào đều phụ theo ý của Thiên thủ quan âm Từ Lai.
Trên tế dàn, Lam y và Thanh y nhìn nhau, Thanh y sứ giả khẽ gật gù, Lam y sứ giả Lân vương Cổ Thái Huyền lập tức dõng dạc tuyên bố rằng:
- Giáo chủ là người ưa luôn hóa thân thành muôn ngàn nhân vật, không bao giờ xuất hiện chân diện mục với bất cứ là ai, vậy nay chỉ cho chư vị thấy tín vật để làm tin, và chính giáo chủ đang quan tâm đến chư vị, và hiện đang xung quanh chúng ta...
Dứt lời, hai tiếng bụp bụp vang lên, một đám khói mờ mịt che lấp hẳn hai vị sứ giả. Mọi người hồi hộp chờ đợi và chờ đợi, thình lình một làn ánh sáng trắng xóa bay vọt ngay trên đỉnh đầu mọi quần hào, tung lướt như một con bạch xà lớn. Chỉ nghe những tiếng rú thất thanh:
- Lãnh diện tĩ thủ! Lãnh điện tỉ thủ!
Quần hào lập tức cảm thấy bầu không khí lành lạnh khắp mình, dù cho quần hào lúc này ngạo mạn tự kiêu đến đâu, đối với ngọn lợi khí số một trong vòm trời võ lâm này là ngọn Lãnh điện tỉ thủ không còn ai dám ngẩng hết cổ để xem cho rõ, nhưng các con mắt của các bậc đệ nhất lưu cao thủ đây đâu phải tầm thường, họ đã nhận ra làn ánh trang xóa ấy, rõ ràng có dây xích nối theo đuôi và được phóng ra từ trong đám khói mờ mịt. Vậy là có người đang thao túng điều khiển ngọn Lãnh điện tỉ thủ và kẻ đó chính là Tỉ Vương, sự sử dụng linh hoạt tuyệt vời ấy đã khiến cho mọi quần hào phải khiếp sợ kinh hồn.
Trong lúc ánh quang nhoang nhoáng vù vù trên đỉnh đầu quấn hào ấy, bỗng có tiếng của Lam y sứ giả trong đám khói mờ mịt vang lên rằng:
- Mỗi lần tung hoành của Lãnh điện tỉ thủ không hề nào lại không thấy chút máu tươi được. Nay giáo chủ đặc biệt thi ân nghĩa, tha chết cho, nhưng thế nào cũng phải xẻo một tai...
Sau lời tuyên bố của Lân vương Cổ Thái Huyền trong đám khói mờ mịt ấy, quần hào giật mình thất kinh, không biết số ai xui xẻo đây, chẳng ai như ai đều rụt ngay cổ lại thật kín.
Bỗng làn ánh trắng sà ngay nhanh xuống đám quần hào. Một tiếng thét kinh hoàng rú lên. Làn ánh quang vọt bổng bay lên và quay nhanh về trong đám khói mù.
Lúc này mọi người hoàn hồn lại vía, định thần nhìn xung quanh, ai nấy đều phát giác ngay người vừa đề nghị được thấy giáo chủ là Thiên thủ quan âm Từ Lai, trên đầu lúc này không còn lấy một sợi tóc, nhẵn láng bóng trông chẳng khác nào như một tiểu ni cô. Tai bên trái của Từ Lai bị xẻo mất, nhưng không hề thấy vấy máu, lúc này nàng đã ngất lịm vào tay tình nhân là lão tứ Phi ngô tiên Lỗ Tiến.
Thì ra Tỉ Vương đã ghét nàng Thiên thủ quan âm Từ Lai, nên mới dùng Lãnh điện tỉ thủ để răn phạt nhẹ... quần hào vừa kinh vừa giận, nhưng không ai dại gì ra tay rước vạ vào thân.
Đám khói tan hẳn, hai sứ giả Thanh y và Lam y lại xuất hiện trước mắt mọi người. Trong đám người tinh mắt đây đã có người nhận đoán là Tỉ Vương nhưng ngặt vì dưới oai lực ghê gớm của ngọn Lãnh điện tỉ thủ không ai dám ho he lên tiếng chấp đối.
Lúc này hai vị sứ giả càng tỏ vẻ hiu hiu tự đắc, giơ tay ra dấu, cuộc thịnh lễ lại bắt đầu. Tiếng kinh đều đều, tiếng mõ tiếng chuông hòa nhịp... Bỗng ty nghi lại tuyên bố: trước khi Phật sống lên trời, vì có lòng thương mến các tín đồ, nay có lệnh bố thí Thánh thủy cho các tăng lữ và dân chúng, uống nước Thánh này có thể trừ hết mọi bệnh tật và tăng thêm tuổi thọ. Dứt lời tuyên bố, thấy một đám Lạt ma khiêng ba chum lớn đến, trong chứa nước trong veo, đặt ngay trước mặt tế đàn, chỉ thấy Thanh y sứ giả nhẹ giơ tay, lập tức thấy một đám bụi trắng xóa bắn ngay nhanh vào ba chum nước Thánh.
Quần hào lo ngại Tỉ Vương đầu độc, không ai dám lại uống, nhưng tất cả các tăng lữ trong Thánh Tự đã nối nhau tiến bước lại ba chum nước khổng lồ để uống Thánh Thủy rồi quay lại lo việc của mình.
Đây chính là một cuộc đổi chác của Tỉ Vương: Tang Kim lạt ma phải hy sinh thân thể để cứu vớt các sinh mạng của toàn tăng lữ của Bách Linh Tự. Pháp Đô lạt ma lúc này đứng cạnh ba chum nước Thánh để ra dấu cho mọi tăng lữ mau uống và rời ngay đi. Đám tăng lữ này sau khi uống nước giải độc của Tỉ Vương, hấp tấp vào ngay tầng trong cùng của đại tự, lấy ngay các hành trang đã sắp xếp từ trước, và hành động theo sự chỉ huy của vị cao tăng khác là Pháp Sơn lạt ma, nhân ngay cảnh kinh kệ phía trước điện đang vang rền ấy, họ ngậm ngùi ứa lệ rời khỏi ngôi Bách Linh Tự, trốn ngay về Sắc La Tự.
Lúc này, trước tế đàn chỉ còn lại có mười ba vị Lạt ma do Pháp Đô thúc lãnh để tụng kinh đọc kệ cho buổi lễ, dưới mắt kiểm soát của ác ma, họ không thể nào thoát thân được, lúc này ai nấy luân phiên nhau lo uống nước giải độc rồi lại lo tiếp tục đọc kinh.
Lúc này đã gần hoàng hôn, coong một tiếng chuông vang, ty nghi lên tiếng tuyên bố, Tang Kim lạt ma sắp nói rõ về tôn chỉ của Vương Thiên Giáo, sau khi nghe pháp dụ của Phật sống xong sẽ thích huyết ăn thề để nhập giáo. Lúc này những dụng cụ sẵn sàng trước mặt quần hào. Quần hào lúc này đều ngước mắt nhìn Tang Kim đại sư ngồi lơ lửng trên phổ đoàn.
Thanh y sứ giả và Lam y sứ giả ngửng đầu nhìn lên, Pháp Đô lạt ma đưa mắt nhìn mười vị tăng lữ, lúc này mọi người ngừng hết các tiếng mõ, chuông và kinh, Pháp Đô ra dấu cho mười vị tăng lữ, mau nhân cơ hội rời ngay nơi nguy hiểm này. Nhưng mười vị tăng lữ này không nỡ tâm bỏ Pháp Đô ở lại chịu nạn một mình, thế là toàn nhóm quyết trí ở lại.
Pháp Đô thấy vậy, bất giác thở dài và xúc động ứa nước mắt.
Coong một tiếng chuông vang lên, ai nấy ngẩng đầu nhìn lên. Chỉ thấy trên tòa phổ đoàn, mắt của vị cao tăng Tang Kim đại sư mở ra và từ trên nhìn xuống. Một giọng cương quyết từ trên truyền xuống:
- Xin chư vị hãy nghe lời khuyến cáo của lão tăng... - Nói tới đây ngừng lại một lúc và thình lình nói nhanh rằng: - Quí vị đã mắc mưu gian của Tỉ Vương, tất cả đều là những trò bịp bợm lớn lao, vậy các vị hãy mau rời ngay đây nếu chậm e khó...
Câu nói này khác nào trời long đất lở, trước tế đàn xôn xao xáo động. Quần hào vội đứng phắt cả lên, Thanh y sứ giả và Lam y sứ giả vừa kinh vừa giận, Pháp Đô lạt ma và mười vị tăng lữ tính phát động ngay thế đánh. Thình lình Lam y sứ giả quát lên một tiếng:
- Lũ ngươi dám phá hỏng đại sự! To gan thật!
Dứt lời, vung ngay hỏa đạn ra bụp một tiếng, từ trên không, Tang Kim đại sư vung tay phạt luôn ra một chưởng, Lân hoả đạn đánh lạc hướng ngay sang phía trái của tế đàn. Ùng một tiếng vang lên, trời nghiêng đất ngửa, khói mù mịt, giọng nói trầm tĩnh từ trên vang xuống rằng:
- Lục y sứ giả đã trốn, nay Tỉ Vương và Cổ Thái Huyền đã bị cô lập, và khắp xung quanh của ngôi đại điện đều được ngầm chôn hỏa dược (thuốc nổ) sắp sửa nổ tung bây giờ. Vương Thiên Giáo đã bị tan rã hết, các người không lo đi cho nhanh, bộ muốn hồn về âm phủ hay sao?
Ùng! Ùng! Ùng!... tiếng nổ vang rền. Thanh y sứ giả lớn tiếng kêu gọi quần hào chớ náo động, nhưng ngay lúc này các mõ, chuông trên tay mười vị Lạt ma gõ vang inh ỏi, át hết các tiếng nói của Tỉ Vương và hầu hết mọi âm thanh hỗn loạn.
Pháp Đô lạt ma cùng với các tay cao thủ lập tức cho đốt ngay ngòi hỏa dược, chỉ trong chớp mắt, thuốc nổ tứ tung tưng bừng cà một vùng Bách Linh Thánh Tự đã trở thành cảnh biển lửa sáng chói một chân trời. Muôn ngàn tiếng kêu la hoảng hốt và tiếng lấn nhau của dân xem lễ rối loạn xen tiếng nổ kinh hoảng, cảnh hỗn loạn diễn ra bởi cảnh tranh sống. Thật là quỉ khóc thần sầu khủng khiếp.
Trong đám quần hào, thầy trò Độc Ma nhanh trí hơn hết, nhân ngay lúc hai sứ giả còn kinh hoàng trước cảnh hãi hùng ấy, và cảnh khói lửa mịt mờ ấy, đã dùng ngay khinh công tuyệt đỉnh tung mình rơi ngay khỏi nơi hoả ngục, tiếp theo là phiên tăng Tả Pháp Thụ cõng luôn Liễu Văn lo thoát nạn, Thái Hành Lục Khấu cũng vì tức Tỉ Vương đã xẻo tai Thiên thủ quan âm Tử Lai, nay luôn dịp cũng thoát thân luôn thể. Liên tiếp là nhóm Kê Vĩ Bang, Lỗ Bắc Hắc Hải Thần là cha con Chung Thiên Thu cũng tung mình đi, phái Điểm Thương của Hoàng Kha thấy cảnh vậy thở dài một tiếng cũng quăng mình đi nốt. Chỉ còn chừa lại tên khờ Dực Đông Biện Trang Hổ vì quá khiếp oai của Tỉ Vương nên ở ỳ lại không dám chuồn. Trong cơn khói lửa hỗn loạn tưng bừng ấy, một ánh bạch quang sáng nhoáng lên nhắm bay thẳng vọt lên phía Tang Kim lạt ma, trên tòa phổ đoàn. Chính Biện Trang Hổ lúc này tận mắt thấy cây Lãnh diện ti thủ cuốn nhanh ngay một vòng nơi cổ lão hòa thượng, chuyện kỳ lạ đã hiện ra, chiếc đầu của lão tăng không bị rụng xuống như Biện Trang Hổ tưởng tượng, chỉ nghe tiếng cười rờn rợn từ trên truyền xuống.
Ánh bạch quang bỗng quay về phía dưới, tiếp theo các tiếng mõ, chuông và tiếng tụng kinh thình lình im bặt hết trong nháy mắt, thì ra mười chiếc đầu của các vị Lạt ma đã rụng về cây Lãnh điện tỉ thủ. Nhoáng cái, ánh bạch quang ẩn tích hẳn. Trong ánh lửa chiếu rực đỏ ấy, thấy Pháp Đô đang vung thiền trượng giao tranh bạt mạng với Lam y sứ giả Lân vương Cổ Thái Huyền, nhưng đã thấy lộ nhiều nguy cơ khắp chung quanh. Dục Đông Biện Trang Hổ như đang nằm mơ trong cơn mộng dữ, lửa cháy ngợp trời, càng dữ dội, cả một cảnh tang tóc thần sầu quỉ khóc.
Biện Trang Hổ bị thương chưa đỡ, lúc này tay lăm le đao, do dự không biết nên trợ giúp Lam y sứ giả hay nhân dịp đào tẩu. Thình lình, vị Tang Kim hoạt Phật bỗng bay đến trước mặt, vung tay quạt luôn một chưởng sang phía Lân vương Cổ Thái Huyền.
Lam y sứ giả Lân vương Cổ Thái Huyền, bỗng vung tay lên, một vật tròn xoe bay ngang sang phía Tang Kim đại sư. Bụp một tiếng nổ! Trong ánh lửa xanh nhoáng lòe lên ấy, râu mày của cao tăng đã hiện rõ, trên khuôn mặt hình như vật gì đang tan dần và rớt xuống, chớp mắt, vị lão cao tăng này bỗng biến hẳn một chàng thiếu niên anh tuấn! Lân hỏa đạn ngang nhiên không làm gì nổi đối phương, lúc này chỉ nghe đối thủ cười rằng:
- Này Cổ Thái Huyền, có nhận ra Thượng Quan Linh ta không? Trần Thân đã đào tẩu, ngươi còn quyến luyến gì ở đây nữa? Âm mưu của Tỉ Vương đã hoàn toàn tan rã, bộ ngươi còn muốn bán mạng cho y nữa sao? Sao không lo trốn đi cho yên thân phận...
Lam y sứ giả Cổ Thái Huyền lạnh lùng cười rằng:
- À ra là nhãi con phá đám đây! Thôi được, nay ta tạm dung tha cho ngươi một chuyến, sau này thế nào ta cũng tính món nợ này với ngươi sau...
Dứt lời quay nhanh mình tung vọt đi, và nhân trong lúc thình lình ấy, Lam y sứ giả lại tung một hỏa đạn về phía Pháp Đô lạt ma. Tiếng thét kinh hoàng của Pháp Đô vang lên và ngã lăn ngay ra mặt đất. Thượng Quan Linh hấp tấp chạy lại cứu. Thấy cảnh vậy, Biện Trang Hổ kinh hồn tán đởm, vội vàng lén chuồn luôn, nhưng hắn lại không dám đi cùng chiều với Cổ Thái Huyền, chỉ lo gặp Tỉ Vương hay Cổ Thái Huyền, thế nào cũng không thoát khỏi cảnh làm nô dịch cho họ, nghĩ vậy hắn bèn chọn ngay hướng ngược chiều để lo thoát thân.
Lúc này cảnh biển lửa vẫn cháy nổ ngùn ngụt, khói lửa bao vây gần hết khu Bách Linh Thánh Tự, ánh lửa chiếu rực một vùng. Mười thây ma không đầu của các vị Lạt ma vẫn đứng trơ, tay của mỗi vị một dáng điệu, hoặc đang giơ lên hoặc đang gõ vào pháp khí như mõ, chuông v.v... Trên cổ đều không có một làn máu, trông rùng rợn kinh người.
Trên tay Thượng Quan Linh lúc này, chỉ còn lại cỗ xác đang hấp hối của Pháp Đô, thì ra vị tăng Lạt ma này bị trúng hỏa đạn của Cổ Thái huyền, ngực bị cháy nát ghê sợ. Thượng Quan Linh lúc này vô kế khả thi. Pháp Đô cố gắng cất tiếng hỏi:.
- Thượng Quan thí chủ... thí chủ có biết tên Tỉ Vương đâu rồi không?
Thượng Quan Linh vội nói:
- Tôi thấy y đã lẻn vào đường ngầm nơi tế đàn để vào mật huyệt của Thánh kham và chắc là y lo tìm Trần Thân và Liễu Mi, khi phát giác hai người này mất tích, trong cơn thất vọng, thế nào cũng cho là Trần Thân phỗng tay trên đi rồi, vậy chúng ta cũng tạm yên trí về việc này...
Nét mặt Pháp Đô bớt căng thẳng, nhưng giọng vẫn không được an tâm hỏi rằng:
- Nhưng không biết sư tôn của bần tăng và vị sư đệ Pháp Sơn và các tăng lữ, liệu có thoát khỏi sự truy tung của tên Tỉ Vương để về lánh nạn tại Sắc La Tự của sư bá bần tăng không?
Trong tình trạng này, Thượng Quan Linh chỉ biết hết lòng an ủi Pháp Đô đang cơn thoi thóp. Lúc này vị Lạt ma quá đau đớn, tay nắm chặt bàn tay của Thượng Quan Linh, lắp bắp rằng:
- Thượng Quan... thí chủ... đại hiệp... bần... bần tăng... rất đa tạ ... thí chủ ... nay thí chủ ... mau tìm ... Liễu... cô nương... nếu... bần tăng... chết đi... thế nào... cũng phù hộ ... cho hai vị ... được ... hạnh phúc ...
Thượng Quan Linh vốn là người dễ xúc cảm, lúc này trong lòng xao động, làm sao nỡ bỏ đi cho được, vội hấp tấp rằng:
- Xin ngài hãy ráng lên, để tôi cõng ngài thoát khỏi đây và tìm cách chữa vết thương bỏng cho ngài...
Pháp Đô lắc đầu tạ tuyệt! Tuy dưới trời này không thiếu gì danh y, nhưng quyết không sao cứu nổi mạng mình. Bèn cố căn dặn Thượng Quan Linh nên thận trọng, vì Tỉ Vương thế nào cũng bày mưu kế lập trận khác, mà chưa chừng tại Sắc La Tự của sư bá sau này sẽ mang họa với Tỉ Vương cũng nên. Chỉ mong sao Thượng Quan Linh mau về gấp Trung Nguyên liên lạc ngay với các phái Bạch đạo để tranh thủ thế chủ động, sớm tiêu diệt ma quân Tỉ Vương để trừ hại cho võ lâm, và chăm sóc giùm Tang Kim đại sư và sư đệ Pháp Sơn cùng các tăng lữ, dù cho Pháp Đô có chết cũng mỉm cười nơi chín suối, Pháp Đô vừa nói vừa cố gắng hối thúc Thượng Quan Linh rời ngay đi, nói hết Pháp Đô duỗi bật hai tay chân, hồn qui địa phủ luôn.
Thượng Quan Linh đau đớn lẩm bẩm cầu nguyện rằng:
- Pháp Đô đại sư ơi! Xin ngài cứ an tâm ra đi, chỉ cần Thượng Quan Linh này còn sống ngày nào trên đời, thế nào cũng nguyện tiêu diệt Tỉ Vương và Lân vương Cổ Thái Huyền.
Khấn xong cúi lạy thi hài của Pháp Đô lạt ma, mắt nhòa lệ quay mình đi luôn về phía Tây Bắc của Bách Linh Thánh Tự. Nơi đây chàng sẽ tìm ra người vợ chưa cưới Liễu Mi.
Thượng Quan Linh lại sực nhớ đến ba vị sư bá và sư phụ, nhưng không biết bốn người hiện đang giam giữ tại đâu? Chàng chỉ còn nước khấn thầm cho bốn vị tiền bối tai qua nạn khỏi! Chàng quyết định tìm Liễu Mi trước, rồi hợp sức hai người đi tìm tiền bối.
Chàng hồi hộp đến nơi mà đã hẹn trước với Pháp Đô và Pháp Sơn, đến nơi cửa phòng vẫn đóng kín mít, bất kể ất giáp gì, vung ngay cước đá bay luôn. ánh lửa nhoáng lên, hiện rõ hẳn cảnh trong phòng, khiến chàng vừa kinh vừa giận, chỉ thấy trong phòng, một người đang cầm kiếm đứng uy nghi, thì ra chính là tên Thanh y sứ giả mạo dạng Thượng Quan Linh và mới xưng Vương Thiên giáo chủ Tỉ Vương. Phía sau lưng y là một thiếu nữ đang cố sức muốn xông ra. Thượng Quan Linh nhìn rõ, chính nàng Liễu Mi chứ còn ai. Chàng rối rít lên tiếng:
- Em Liễu Mi chớ vội hoảng, có ngu huynh tại đây!
Phía sau Tỉ Vương Liễu Mi reo mừng lên:
- Anh Linh...
Liễu Mi cố sức để tung người ra, nhưng Tỉ Vương làm như người có mắt sau gáy vậy, tha hồ cho Liễu Mi dùng cách gì, cũng không sao xông ra được.
Thượng Quan Linh thấy vậy tức điên người, với hai tay không, chàng quên cả nguy hiểm, lớn tiếng quát:
- Hừ? Tỉ Vương! Nay chúng ta lại đụng độ thật sự với nhau. Vậy hãy tính tất cả số nợ cho rồi.
Tỉ Vương lúc này vẫn giữ nguyên diện mạo của Thượng Quan Linh cười nham hiểm rằng:
- Ta tưởng là ai phá đám, hóa ra lại là nhãi con ngươi. Hừ, chắc ngươi đã được sự trợ giúp của thằng già chết toi Bắc Ưng Lãnh Lạc nên mới sống đến hôm nay, đã thế lại còn kết cấu với Tang Kim, Pháp Đô để phá hoại kế hoạch của ta... Hờ!... Hờ!.
Thượng Quan Linh ưỡn ngực ngang nhiên nói:
- Người đã đoán đúng! Nhưng mạng ta chưa tới ngày tận. Và ta nguyền là phá hỏng âm mưu của ngươi, đồng thời thân hành giết con người độc ác như ngươi đấy. Người giết chết lão bà bịt mặt là ta, kẻ cứu Tây Đạo, Đông Tăng, Nam Bút là ta, dọa tên Âm ty tú tài Trần Thân và giả dạng Tang Kim đại sư cũng là ta nốt, chỉ riêng mình ta, đã phá hoại hết các kế hoạch khai đàn lập giáo của người, Tỉ Vương ngươi đã cố công bao nhiêu tâm cơ nay đành thất bại tan tành chua cay, lũ chó săn của ngươi cũng đã lo chạy toán loạn bốn phương trời, cơ nghiệp sụp đổ tiêu tan... Bây giờ chúng ta đã đứng vào thế một mất một còn, sao ngươi còn không ra tay cho rồi...
Thượng Quan Linh cố ý mắng lớn để khích chiến, và chàng quyết liều một phen... Tỉ Vương chỉ cất tiếng cười khanh khách, đôi mắt có vẻ kinh phục nhìn Thượng Quan Linh rằng:
- Khá lắm! Khá lắm! Xưa nay Tỉ Vương ta hoành hành trên giang hồ, chưa hề gặp ai đám xung đột chánh diện với ta, chuyến này tuy ngươi có duyên phận và phần nhờ âm mưu của Tang Kim và Pháp Đô, trợ giúp cho ngươi thành công, khiến cho ngươi hiên ngang đắc trí như thế, những đảm lượng và cơ trí của ngươi đáng khen lắm. Nhưng Thượng Quan Linh hãy nghe rõ đây, xưa nay chưa ai được biết mặt thật của ta, mà ngày thường, những người chỉ thấy ta hóa dạng mà biết ta là Tỉ Vương là đã đáng tội chết rồi, nay ngươi sắp chết đến nơi, ta không thể nào phá lệ thường ấy được. Vậy ngươi còn di ngôn di chúc gì thì nói hết đi?
Liễu Mi cuống lên:
- Tỉ Vương!... Ngươi không làm vậy được, anh Linh... Hãy thận trọng...
Thượng Quan Linh liền rằng:
- Em Liễu Mi! Thà là ngọc nát, chứ anh không muốn ngói toàn, ngày nay chúng mình đã không thể nào đội trời chung với hắn nữa, chỉ còn nước liều một phen...
Dứt lời ào một tiếng với tám phần công lực choảng ngay sang phía ngực của Tỉ Vương.
Chỉ thấy Tỉ Vương né nhẹ mình, cây Lệ thủy tinh kiếm hất ngược lên tạo thành luồng gió, coong lên một tiếng, ngọn chưởng phong của Thượng Quan Linh chỉ đánh bật ngọn kiếm chớ không suy suyển gì đến Tỉ Vương.
Tỉ Vương không hề giận, mà trái lại còn tươi cười rằng:
- Hờ! Hờ!... Giỏi lắm! Giỏi lắm! Vậy nhãi con hãy nghe rõ đây. Tỉ Vương ta vốn có mắt quan sát nhận người lắm, từ ngày gặp nhau tại Bắc Ưng Trang, ta đã có lòng mến thích hai đứa ngươi, nếu không, ta việc chỉ tặng thêm chút thuốc độc, ngươi làm sao mà còn mạng đến bây giờ, nay tuy ngươi đã phá hỏng đại sự của ta, và là người thứ nhất dám ngang nhiên khiêu khích với ta, nhưng ta không trách giận đâu. Thôi! Ta cũng chẳng giấu giếm gì với hai đứa ngươi, nay ta quyết định thu dụng hai đứa ngươi, Liễu Mi sẽ trở thành ái thê của ta và ngươi sẽ thế chức Thanh y sứ giả trong Vương Thiên Giáo quyền lực chỉ thua ta mà thôi...
Chưa nói hết lời, Thượng Quan Linh đã tức tối quát:
- Tỉ Vương hãy câm ngay. Bọn ta dù chết cũng không khuất phục, ngươi đừng có hòng mớ ngủ...
Liễu Mi phía sau vừa thẹn vừa giận, cánh tay ngọc vung ngay ra một chưởng, pắc một tiếng, đánh ngay vào eo lưng của Tỉ Vương, nào hay Tỉ Vương không hề cảm thấy gì, tay quăng ra suýt trúng tay Liễu Mi, nàng thất kinh rú lên một tiếng.
Thượng Quan Linh vội vung chưởng để thu hút sự chú ý của Tỉ Vương, để Liễu Mi khỏi bị đối thủ bắt. Động tác của Tỉ Vương nhẹ nhàng, chỉ thấy y dùng chưởng bên trái, kiếm bên tay mặt, thuận tay vung lên phong tỏa, lập tức Thượng Quan Linh và Liễu Mi bị đẩy ra mấy bước, Tỉ Vương cất tiếng rằng:
- Hừ! Không phải Tỉ Vương ta có ý khoác lác, nếu nói về cơ trí võ công, tài năng lãnh tụ, thuật thống lãnh các tay cao thủ, Tỉ Vương còn sống trên thế gian này ngày nào, không thể có kẻ thứ hai chen chân vào địa vị của ta, ta đảm bảo sau này ta sẽ gây nên một cơ nghiệp kinh thiên động địa dưới vòm trời võ lâm này, và đến chừng đó các ngươi sẽ hiểu rõ lời nói ngày hôm nay của ta không ngoa chút nào...
Thượng Quan Linh giận không nói gì, nhưng Liễu Mi đanh đá mỉa mai ngay Tỉ Vương:
- Tỉ Vương, ngươi mà làm nên cơ đồ gì, Liễu cô nương ta đã nhận rõ hết đường lối của ngươi, chẳng qua chỉ lợi dụng quyền thuật, bắt chẹt để thao túng, cố tạo ra các mâu thuẫn, sử dụng tất cả các đám chó săn để chuyên gây việc ác... Và sau này thế nào cũng bị các tay nghĩa hiệp truy sát kỳ cùng và bị chết về nghiệp đầu rời khỏi cổ. Những dã tâm và vĩ nghiệp của người, rút cục cũng chỉ là cơn ác mộng mà thôi...
Câu nói này không khiến cho Tỉ Vương khỏi giật mình, Liễu Mi nhân ngay cơ hội tung mình vèo ngay như én bay sang phía Thượng Quan Linh.
Tỉ Vương giận quát:
- Hừ! Rõ hai đứa ngươi vẫn u mê chưa tỉnh trí sao?
Thượng Quan Linh, Liễu Mi đưa mắt nhìn nhau, vì họ biết rõ có hợp sức của hai người cũng chưa phải là đối thủ của Tỉ Vương, nay không thể chiến, cũng không thể nào hàng, lại càng không có biện pháp gì để ứng phó với nguy cơ trước mắt. Thượng Quan Linh vẫn ườn ngực tỏ vẻ không ngán! Tỉ Vương cười nhạt rằng:
- Này Thượng Quan Linh, ta thừa biết ngươi đã được tiên thảo Tuyết bi tiên hoa, nên những hạng đao kiếm thường không thể nào làm gì nổi ngươi, nhưng ngươi phải hiểu cho rằng: dưới vòm trời này vẫn còn hai báu vật để khắc chế người, đó là Lãnh điện tỉ thủ và Tiểu Đoạt Hồn Kỳ, mà nay hai báu vật ấy đều nằm trong tay ta. Ta cũng thừa hiểu Bắc Ưng Lãnh Lạc đã tặng chiếc đai Kỳ lân bảo đới để cuốn vào cổ ngươi, có thể phòng Lãnh điện tỉ thủ chém bay đầu, nhưng nếu ta sử dụng Lãnh điện tỉ thủ vào các nơi khác trên thân thể người, liệu ngươi nghĩ sao? câu nói này đã đánh trúng ngay nhược điểm của hai người. Thượng Quan Linh tuy đã ôm chặt chữ liều, nhưng kẻ lo nơm nớp là Liễu Mi, đã tái mặt trong lúc này...
Tỉ Vương thấy vậy càng dọa già rằng:
- Hừ! Thượng Quan Linh thử nghĩ, nếu ta dùng Lãnh điện tỉ thủ đâm phập vào ngực của Liễu Mi... và Liễu Mi thử tưởng tượng khi ngọn Lãnh điện tỉ thủ ngoáy vào ổ tim của Thượng Quan Linh...
Hai người bị Tỉ Vương uy hiếp đến tột bực, đành cùng chung một ý niệm là cùng chết với nhau. Hai người ôm chặt lấy nhau để chờ đợi. Thượng Quan Linh kêu rằng:
- Tỉ Vương! Nhà ngươi cứ việc thẳng tay đi. Chúng ta đã tình nguyện cùng chết với nhau, và không bao giờ chịu thỏa hiệp với quân ma đầu tàn nhẫn như ngươi...
Tỉ Vương cười lạnh lùng, lùi ngay về sau một bước rằng:
- Nếu đã muốn thế. Đừng có trách ta đang tâm ác ý, vậy hai đứa chuẩn bị đi để ta ra tay vậy.
Thượng Quan Linh và Liễu Mi ôm chặt nhau nhắm nghiền mắt chờ đợi Lãnh điện tỉ thủ tiễn đưa hồn về chín suối Tỉ Vương không ngờ rằng sức ái tình mãnh liệt đến thế, ngang nhiên chịu chết để trọn vẹn chữ tình với nhau.
Dẫu cho Tỉ Vương xưa nay là tay giết người không gớm máu, lúc này bất giác cũng phải cảm động, đầu lắc nhẹ. Ngọn lợi khí số một trong võ lâm Lãnh điện tỉ thủ đang lấp lánh ánh sáng trong ống tay áo của Tỉ Vương, nhưng vẫn chưa bay ra.
Tỉ Vương bỗng hạ ngay ống tay áo xuống, y tìm ra được một lý lẽ cho mình và nói:
- Thượng Quan Linh! Ngươi hãy giao miếng ngọc bài mà đã được trên tay Trần Thân cho ta vậy.
Thượng Quan Linh không do dự gì, thò tay móc ngay ngọc bài quăng trả cho Tỉ Vương.
Tỉ Vương rằng:
- Ta có cá thảy năm miếng ngọc bài, phàm bất cứ ai có miếng ngọc bài này của ta, đều có thể chuộc mạng chết một lần, nay ngươi gặp may được ngọc bài tạm thoát chết kỳ này. Cũng bởi vì ta thích tính tình dũng cảm và chân thành của hai ngươi, nên cả đến Liễu Mi, ta cũng tha chết một lần cho luôn... Nhưng hai đứa phải nhớ kỹ, Tỉ Vương ta không bao giờ sai lời, lần sau gặp mặt lại, trừ phi hai đứa ngươi phải hàng thuận ta, nếu không ta sẽ thẳng tay tàn sát không tha như lần này. Nay hai ngươi có thể yên trí ra đi, sau này thế nào cũng còn có dịp gặp nhau, còn bốn ông bạn Càn Khôn Ngũ Tuyệt đã bị ta giam một nơi kín đáo, các ngươi tuyệt không thể nào tìm ra được đâu, đừng có phí công tốn sức uổng công. Cuộc phá đám hôm nay kể như ngươi đã thành công hoàn toàn, nhưng các ngươi phải biết cho rằng: Vương Thiên Giáo của chúng ta sẽ tiếp tục thành lập, và sẽ ngang nhiên tàn quét hết các tay võ lâm miền Trung Nguyên, vậy hai ngươi nên suy nghĩ cho chín chắn, hãy mau biết thời cơ mà hàng thuận, còn được sống hạnh phúc, nếu chọc tức ta... Hờ! Hờ! ta sẽ có cách để trị hai đứa sống chết một cách dở dang.
Dứt lời, vạt áo của đệ nhất ma quân Tỉ Vương này phật một tiếng, quăng mình vèo đi luôn. Thượng Quan Linh, Liễu Mi tỉnh hồn, hai người vội lo tìm ngựa và lương khô trong những nơi chưa bị cháy, rồi song song hướng về hướng nam khởi trình.
Sau khi Thượng Quan Linh và Liễu Mi qua khỏi sông Hoàng Hà cố thăm dò tin tức động tĩnh của hai phái tà chánh trong võ lâm, nhưng không hề có một tin tức gì.
Cả hai khó dứt khoát, không biết nên đi Ngọc Thụ hay không? Nếu chẳng may Độc chỉ Thôi Bác, Chu Hoàng, Chu Văn, Sở Canh, A Hương, mấy người này rời khỏi Ngọc Thụ ra đi thì uổng cuộc hành trình. Họ vẫn tiếp tục đi, nhưng hướng đi nhắm về quê của Liễu Mi. Khi về đến cố hương, tâm tình nàng đã bắt đầu vui vui, luôn luôn mỉm cười, trái lại Thượng Quan Linh có vẻ rầu rĩ. Chẳng bao lâu họ đã đến địa phận của Thanh Thông Cốc, các bộ hạ dã hấp tấp phi báo ngay cho bang chủ hay tin tức thứ nữ nhị cô nương đã về. Thanh Thông lão bang chủ Liễu Khai nghe tin con gái về, mừng hớn hở vội ra đón, cha con ôm nhau mừng rối lên, chỉ nghe lão bang chủ nói:
- Con cưng! Cưng của cha!... Hà! Hà!... con cha đã về.
Thượng Quan Linh cũng vội bước tới làm lễ tham kiến nhạc phụ đại nhơn, Liễu Khai tươi cười đỡ ngay rể đứng dậy. Đêm đó, trong Thanh Thông Cốc mở tiệc khoản đãi Nhị cô nương và cô gia. Giữa bàn tiệc Liễu Mi thuật rõ hết mọi chuyện xảy ra, khiến vị Liễu bang chú hồi hộp theo dõi câu chuyện như mình đang dự trận vậy.
Khi hỏi rõ Thanh Thông bang chủ, quả nhiên Độc chỉ Thôi Bác đâu có thỉnh mời các tay hiệp nghĩa trong thiên hạ để chế ngự Tỉ Vương đâu. Sở Canh chắc đã đến Ngọc Thụ, nhưng nhóm Độc chỉ Thôi Bác còn chưa bắt đầu hành động. Thanh Thông Bang vốn giỏi về việc tổ chức truyền tin, nay lão bang chủ Liễu Khai hạ lệnh cho thủ hạ đi thám thính tin tức các nơi và có gì lo về báo cáo ngay.
Lúc này, Thượng Quan Linh tuy là thượng khách của Thanh Thông Cốc, ai nấy đều hết lòng kính mến vị đại hiệp anh tuấn này, nhưng lòng chàng vẫn buồn rầu không vui. Cũng vì hôn lễ chưa cưới chính thức, nên hai người không chung phòng, nhưng Thượng Quan Linh vẫn có các tì nữ của Liễu Mi phái sang hầu hạ tận tụy chàng tại thư phòng. Suốt mấy hôm, các tì nữ vội báo tin cho Liễu Mi hay là vị cô gia này, tối nào cũng không an giấc, thường hay la hoảng kinh hãi trong giấc mộng.
 
0
Hồi 077. Điều Kiện Như Thế
[/align]

Liễu Mi rõ ngay sự đau khổ buồn bực của Thượng Quan Linh, quả thật chàng ta đã vì chiến dịch Bách Linh Thánh Tự, trong trận này chưa tiêu diệt Tỉ Vương ma quân, và cũng chưa hoàn thành lời ước nguyện với Bắc Ưng Lãnh Lạc, vô tình còn hy sinh luôn cả tính mạng của Pháp Đô lạt ma, lại khiến cho các vị sư bá cùng sư phụ bị tay Tỉ Vương bắt, nên lòng chàng ân hận với người quá cố nhất là nhớ các vị sư bá và thầy, không sao an giấc, luôn luôn bị Lãnh điện tỉ thủ và Tiểu Đoạt Hồn Kỳ ám ảnh. Và sự thoát chết dưới tay Tỉ Vương, lại không phải do công lực của bản thân mình gây nên, mà là một sự nhờ vả vào miếng ngọc bài đặc ân của Tỉ Vương nên mới thoát chết.
Thượng Quan Linh vốn là một chàng trai bất khuất, nhưng đối với sự kiện này, chàng cảm thấy là một sự nhục lớn lao của con nhà võ, không thể nào trả thù được, bởi vậy làm sao vị thiếu hiệp này làm sao chịu đựng được. Và chính điểm này là một cái buồn lớn lao trong lòng chàng.
Liễu Mi chỉ sợ người yêu quá suy nghĩ mà lâm bệnh thì nguy, nàng cố nghĩ cách để giải quyết.
Rút cục, nàng thứ nữ khôn ngoan của Thanh Thông bang chủ đã nghĩ ra một kế, tuy mỏng manh, nhưng cũng không thể nói là không có hy vọng thành công. Nàng bèn thương lượng với Thượng Quan Linh, nay nếu muốn công lực át hẳn Tỉ Vương, chỉ có thể nhắm về hai sự kiện.
Điều thứ nhất, là mười tám chữ Phạn văn trên ngọn cờ Tiểu Đoạt Hồn Kỳ và đã được Tả Pháp Thụ xưa kia dịch bằng Hán ngữ tại dưới Đại Ngũ Trì, Liễu Mi vẫn còn nhớ rõ trong lòng: Hữu ý bất tâm, hữu chỉ bất chí, vô cư, động thủy, tịnh như kinh, phát thiên quân. Nhưng mười tám chữ này quả là uyên thâm kỳ bí lạ lùng hết sức, dù cho nàng Liễu Mi thông minh đến đâu đi nữa cũng không thể nào hiểu nổi ý nghĩa sâu xa bên trong được.
Điều thứ nhì, là về những thế chưởng được khắc trong thạch động của Đại Ngũ Trì, và chính là ngọn võ Vô Tướng thần công của Minh Quang đại sư truyền ra và được xưng với danh là Duy Na chưởng thức cộng cả thảy là chín chín tám mươi mốt thế, so với tám mươi mốt thế Pháp Thụ kiếm chiêu lợi hại hơn nhiều. Đến như bản thân của Tả Pháp Thụ là kẻ đồng môn còn khó học nổi, và Thượng Quan Linh cũng đã từng thử, nhưng kết quả, mới vào đầu đã gặp ngay trở ngại.
Nhưng chuyến lặn lội về Đại Ngũ Trì, không biết có thể học được ngọn tuyệt học này không? Liễu Mi cố cổ vũ Thượng Quan Linh may ra có thể nhờ sức Tuyết bi tiên hoa mà luyện nổi môn võ học Duy Na chưởng thức cũng chưa chừng.
Thượng Quan Linh suy nghĩ, ngoài việc này ra, quả không còn phương pháp gì khác, chàng quyết tâm đi thử một chuyến, ngay lúc đó bèn cùng với ái thê chưa cưới sửa soạn đăng trình đi ngay Đại Ngũ Trì trên Phòng Sơn.
Liễu Mi sửa soạn chu đáo mọi việc và nói rõ tất cả quyết định cho gia đình hay; xin lão bang chủ Liễu Khai phái ngay người đi Ngọc Thụ miền Thanh Hải yết kiến với Đoạn trường nhân Độc chỉ Thôi Bác, để báo rõ các tin tức đã xảy ra, và hy vọng ông ta hãy tạm án binh bất động, nếu trời thương hại, chuyến đi Đại Ngũ Trì này thành công, sau này sẽ liên kết hết các tay nghĩa hiệp để đối phó với tà phái của Tỉ Vương.
Lão bang chủ tuy không muốn con gái mình đi mạo hiểm, nhưng biết rõ trách nhiệm của hai trẻ quá nặng nề, hơn nữa, hai phái chánh tà trước sau gì cũng tránh không khỏi một trận quyết đấu, nay ngoại trừ kế này ra, quả không còn cách gì hơn, đành phải bằng lòng ý kiến của con gái cưng.
Hai người bèn đăng trình về hướng Ngạc Tây.
Hạ tuần tháng ba, họ đã đến Phòng Sơn. Liễu Mi cùng với Thượng Quan Linh lo sắm những thức ăn uống đầy đủ để vào động thất của Đại Ngũ Trì để dùng. Khi vào đến thạch thất, cảnh sắc vẫn như xưa.
Trên vách thạch động, hai môn võ học Pháp Thụ kiếm chiêu và Duy Na chưởng thức vẫn còn nguyên vẹn.
Liễu Mi sắp xếp xong các đồ đạc cần dùng xuống đất, cười nói rằng:
- Này anh Linh, chúng mình phân công hợp tác với nhau. Anh lo học môn Duy Na chưởng thức còn em lo nghiên cứu mười tám chữ trên Tiểu Đoạt Hồn Kỳ xem là ý nghĩa gì.
Thượng Quan Linh vui vẻ bằng lòng ngay với đề nghị của Liễu Mi, hai người nghỉ ngơi ăn uống xong một hồi, Thượng Quan Linh bỗng đứng dậy đi đến vách tường đá khảm về võ học Duy Na chưởng thức, chàng nhìn ngay vào thế khởi đầu. Thế này quá là cổ quái kỳ lạ, song chưởng một ngửa lên trời, một úp xuống đất, Thượng Quan Linh bắt chước đúng theo, và suy ngẫm về sự tinh diệu bên trong. Chàng cảm thấy rất thuận lợi, tiếp theo là thế thứ hai của bức hình, chàng từ từ đổi thế, nào hay trong ngực bỗng trở nên bần thần, khó chịu vô cùng, vội ngừng ngay lại, vận động để nghỉ, khá lâu mới cảm thấy khôi phục lại, chàng quay nhìn Liễu Mi, thấy nàng đã viết hết cả mười tám chữ trên mặt đất, sắc mặt đăm chiêu suy nghĩ.
Thượng Quan Linh không muốn phá rối nàng, chàng cố tâm để khắc phục mọi trở ngại và nguyền thế nào cũng phải lo học cho kỳ được Duy Na chưởng thức này mới nghe. Sau khi nghỉ ngơi lấy lại sức, chàng lại cẩn thận học tiếp, và lần này ngang nhiên đã học được thế thứ hai, nhưng đến thế thứ ba, chàng cảm thấy khó khăn, mặc dù cố thử mấy lần, nhưng vẫn không sao vượt qua được, và quá mệt đến lã người, dành phải ngừng tay nghỉ, chỉ thấy mắt như tóe đom đóm, ngực rạo rực bồi hồi, khó chịu vô ngần, lúc này Liễu Mi cũng nghỉ ngơi, nàng quay nhìn Thượng Quan Linh cười nói:
- Xem ra mười tám chữ này là một nguyên tắc tu luyện về nội công cơ đấy.
Thượng Quan Linh không muốn Liễu Mi phải thất vọng, chàng mỉm cười nói mình đã có chút tiến triển trong Duy Na Chưởng.
Và cứ thế bên tìm hiểu mười tám chữ Phạn, bên lo học chưởng pháp, thấp thoáng đã bảy ngày trôi qua.
Thượng Quan Linh miễn cưỡng tiến hành cuộc học tập của mình, vì trong ba ngày mà chàng vẫn loanh quanh trong tư thế thứ năm và thứ sáu, chàng lại cảm thấy bồi hồi khó chịu không sao chịu đựng nổi, trong lòng đâm thất vọng vừa sốt ruột, đành ngừng lại để nghỉ, chợt nghe tiếng nấc hự một tiếng phía sau, Thượng Quan Linh quay đầu nhìn lại, thấy Liễu Mi ngất luôn trên mặt đất, chàng quấn quít lay gọi:
- Liễu Mi... Em!... Em!...
Vội ôm ngay nàng dậy, chỉ thấy đôi má của Liễu Mi đỏ ửng, Thượng Quan Linh vội xoa nắn huyệt cho nàng, khá lâu nàng mới dần tỉnh lại, khẽ than và buồn bã nói với người yêu rằng:
- Anh Linh ạ? Em đã hiểu hết tất cả ý nghĩa của mười tám chữ Phạn ấy, nhưng đồng thời cũng phát giác được trong mười tám chữ này là một nguyên tắc để tu luyện nội công tuyệt đỉnh, nay chúng mình tuy rõ ý nghĩa, nhưng lại không biết nhập môn bằng cách nào, xem ra, nếu không có cao nhân chỉ dẫn, chắc cũng chỉ uổng công hao lực mà thôi...
Thượng Quan Linh cố an ủi nàng và khuyên bỏ ngay chuyện tìm hiểu này sang một bên để tránh ảnh hưởng cho sức khỏe. Lúc này hai má nàng trắng bệch, chỉ nghe Liễu Mi nhẹ tiếng nói:
- Anh Linh ơi! Từ khi em bị ngọn lửa độc của Lân vương Cổ Thái Huyền thiêu ấy, chất độc đã ăn sâu vào trong nội thể, sau những trận kinh hoàng bôn ba bấy lâu và tất cả những lo nghĩ đã dồn dập, cơn bệnh của em thành cố tật... nay thọ nguyên của em cũng đã sắp tận.
Nghe vậy Thượng Quan Linh quýnh lên vội bồng ngay ái thê chưa cưới, lo đi tìm danh y Hoạt thương công Hoa Diệp Tử cứu mạng Liễu Mi.
Liễu Mi vội ngăn cản và lắp bắp nói mình đã không hy vọng gì, cố tật đã ngấm ngầm từ lâu, nay được thể bùng phát ra, không còn cách gì để cứu vãn, con đường chết đã nằm sẵn trước mắt nhưng nàng hài lòng là đã được ở một nơi yên tĩnh của thạch thất đây cùng với Thượng Quan Linh, Liễu Mi yêu cầu chàng chớ có đụng đậy mà tăng thêm sức đau đớn trong lòng nàng.
Thượng Quan Linh càng quýnh hoảng, thấy sắc mặt nàng trắng toát, hơi thở dồn dập... Chàng nghĩ nếu Liễu Mi có mệnh hệ nào, chàng cũng liều thân luôn để theo người yêu xuống chín suối.
Liễu Mi lúc này đã cấm khẩu, chỉ còn đôi mắt dại đờ nhìn người chồng chưa cưới của mình... Nàng như đang thông cảm nỗi tình yêu của chàng đối với mình...
Thượng Quan Linh cảm thấy trời như sắp sụp đến nơi! Mặt mày hoa lên choáng váng vì người yêu đang đi dần vào cõi chết... ruột gan chàng như đứt từng khúc... nước mắt chàng dầm dề nhỏ trên mặt người yêu, không ngờ tất cả mọi việc lại xảy ra chớp nhoáng như thế!
Chàng tuyệt vọng, khẽ đặt ngay mình Liễu Mi xuống và lẩm bẩm rằng:
- Liễu Mi em ơi! Ngu huynh nào có thể bỏ em ra đi như thế, nếu em có linh thiêng, hãy về giúp cho anh được mau rời khỏi thế gian này để được sát bên em mãi mãi... hiện nay anh khó chết vì Tuyết bi tiên hoa... ôi em!... Liễu Mi...
Chàng thiếu hiệp nghẹn ngào... Bỗng Thượng Quan Linh đứng phắt ngay dậy, lo tìm cách để chết cho nhanh!
Chàng rối cuống, đau khổ, không biết nên làm sao để mà chết?
Ngay khi đó, bỗng lại có chuyện lạ xảy ra!
Bên ngoài thạch thất bỗng lại có tiếng Cộc! Cộc! Cộc! truyền vào, Thượng Quan Linh nghĩ bụng: trong giờ phút này mà lại còn có người tới thình lình như thế, chẳng cần đoán, nhất định phải là vị kỳ nhân và công lực cao cường lắm đây. Nay Liễu Mi đã chết, tội gì mình không ra ngoài kia gây chiến để nhờ tay vị cao nhân nào đó giết mình cho mau chết, nghĩ xong chàng rút ngay kiếm tung mình vọt ra, chỉ thấy thạch động bên ngoài, dưới ánh sáng chập chờn của lân quang, một tăng nhân trung niên đang loay hoay đi dưới bụng con tích long khổng lồ.
Thấy tăng nhân này mặt lạ hoắc, chàng hét lên một tiếng, chủ động khiêu chiến, vung ngay kiếm chém bừa sang, tăng nhân nọ giật mình thất kinh, vội vàng né tránh ngay sang một bên, lên tiếng quát hỏi:
- Hãy ngừng tay ngay! Thí chủ là ai vậy?
Thượng Quan Linh thấy thân pháp người này né tránh tài tình, biết ngay khinh công người này không phải tay xoàng, công lực quyết không thua gì mình, nên nghe hỏi mà không trả lời gì, vung bừa kiếm đâm tới đối phương, cố ép địch phải trả đòn, nhưng sự hàm dưỡng của tăng nhân hình như cao lắm, chỉ thấy tung mình nhẹ nhàng tránh xa gần trượng, và hấp tấp hỏi:
- Thí chủ hãy ngừng ngay lại, có gì nói rõ đã, sao lại hung hăng thế?
Thượng Quan Linh lên tiếng nói khích thêm:
- Không có gì đáng nói cả! Hôm nay không phải tôi chết, thì ông toi, chớ hỏi vu vơ làm gì! Mau mau ra đòn đi!
Soạt một tiếng lại chém ngay sang phía tăng nhân, lúc này tăng nhân cũng không chịu nổi con người bướng kỳ cục này nữa, lập tức rút binh khí để trả đòn, Thượng Quan Linh thấy cây kiếm lành lạnh của tăng nhân, chàng mừng thầm và ngầm vái: Cầu trời cho ngọn kiếm kia là một bảo kiếm để giết nổi Thượng Quan Linh này, như thế mình sẽ đứng đón trước dưới đường cửu tuyền để chờ em Liễu Mi đáng yêu của mình... Nghĩ xong, chàng phưỡn ngay ngực xông nhanh tới phía mũi kiếm tăng nhân, nhưng tăng nhân nọ kinh người hoảng hốt!
Quả nhiên xưa nay chưa thấy ai đánh lối kỳ dị liều mạng như thế, tăng nhân kinh ngạc ý lên một tiếng vội thu ngay thế nhảy lùi ra sau.
Thượng Quan Linh hấp tấp đánh bừa vào, tăng nhân vội vung kiếm lên gạt, trong cơn tóe lửa ấy, Thượng Quan Linh nổi hứng, hét lên một tiếng tăng thêm công lực trên ngọn kiếm, lập tức vị tăng nhân bị bật ngay về sau mấy bước. Thượng Quan Linh bất giác thất vọng, chàng không ngờ công lực người này lại kém mình đến thế. Vậy làm sao có thể giết nổi mình? Chàng bất giác cúi đầu ứa nước mắt khóc cho tình cảnh đau khổ của mình...
Tăng nhân lấy làm lạ lùng, sao vị thiếu niên này sau khi đánh bật mình lại đứng khóc sướt mướt như vậy, bèn ôn tồn hỏi:
- Thí chủ thần lực cái thế vô song, bần tăng Bách Lỗ vô cùng khâm phục, dám hỏi thí chủ tôn danh đại tánh xưng hô ra sao?
- Nếu được vậy thì quí hóa quá! Nay tôi xin thuật rõ ngài hay vậy, nay tôi có người vợ chưa cưới đang hấp hối vì cơn bệnh tâm trí lao quá độ, nay đã hết hy vọng hồi sinh, mà riêng tôi không muốn sống đau khổ một mình trên trần gian, nhưng vì Tuyết bi tiên hoa tác quái, khiến tôi không làm sao chết theo ái thê, quả là một sự đau khổ vô ngấn trong tâm thần tôi!... Nay được thấy công lực ngài cao cường, tôi đã nghĩ ra được một kế, sẽ nằm ngửa ra và xin ngài cứ thẳng tay phát chưởng đánh mạnh vào ngực tôi, đến khi nào tôi chết thực sự thì thôi...
Bách Lỗ nghe xong, lắc tay lia lịa, và kiên quyết nói:
- Cửa Phật vốn từ bi, chỉ có cứu người, chứ tuyệt không bao giờ nghĩ cách để giúp người ta tự sát bao giờ.
Bách Lỗ cũng cho hay nay còn thuốc bên người, thử vào xem bịnh tình của nạn nhân xem sao, may ra còn có cơ cứu được chăng? Hai người vội vào ngay thạch động bên trong, Thượng Quan Linh đưa tay thăm mũi nàng Liễu Mi, thấy đã tắt hơi thở, nước mắt lã chã tuôn rơi, Bách Lỗ vội quì ngay xuống móc thuốc ra bỏ vào miệng Liễu Mi, bảo Thượng Quan Linh lấy ngay nước đến đổ ngay vào miệng nàng, hai người chờ mãi không thấy động tĩnh gì, Bách Lỗ khẽ tiếng rằng:
- Tôn phu nhân quả là vị quốc sắc thiên hương, nay gặp chuyện bất hạnh... tuy đã uống linh đơn của bổn sư môn, mà vẫn không hồi sinh được, xem ra duyên trần đã dứt, không còn thuốc gì cứu được nữa, nay thí chủ muốn chung tình quyên sinh theo ái thê, bần tăng quả thông cảm vô cùng, nhưng sức bần tăng không thể nào đạt đúng nguyện vọng của thí chủ... mong thí chủ lượng tình cho...
Thượng Quan Linh gào lên như bắt vạ rằng:
- Đại hòa thượng ngài tuy không thể cứu sống nàng, nhưng có thể khiến tôi chết được cơ mà! Sao ngài lại từ chối để nhìn sự đau khổ của tôi, thử hỏi như thế liệu có phù hợp với hai chữ từ bi không?...
Bách Lỗ biến sắc mặt... Thượng Quan Linh vẫn cố năn nỉ khá lâu, vị tăng nhân hình như bị cảm động, quả nhiên nhận lời rằng:
- Nếu thí chủ đã cương quyết đòi chết, bần tăng đành ra tay giúp thí chủ vậy, nhưng bần tăng cũng có một điều kiện, muốn thí chủ coi như là một cuộc trao đổi.
Thượng Quan Linh nghiễm nhiên rằng:
- Thưa đại hòa thượng, tại hạ nay đã quyết tâm chết đâu còn có thể giúp gì cho hòa thượng, sau khi chết, lại còn phải phiền đến hòa thượng lo cho vấn để hậu sự (việc mai táng), vậy ngài nói xem là điều kiện gì!
Bách Lỗ thở dài một tiếng, kính cẩn quì ngay xuống, mặt hướng về hướng Tây chắp tay rằng: Xin Phật tổ khoan dung đệ tử! Khoan dung đệ tử!
Khấn xong đứng ngay dậy, trang nghiêm nói rằng:
- Không giấu gì thí chủ, nay bần tăng biết trong sư môn còn một ước nguyện lớn lao chưa được thành tựu, đó là việc chạm tư dung của một Quan thế âm đại sĩ chỉ tại ngọc đẹp khó kiếm, thợ giỏi lại không có, nên sư môn đối với vấn đề này vẫn chưa đạt tới ước nguyện, nay bần tăng thấy diện mạo của vị nữ thí chủ đây, bỗng sinh ra một ý nghĩ kỳ lạ, khuôn mặt của nữ thí chủ đây, quả là một diện mạo trang nghiêm ung dung vô cùng, tư dung tuyệt sắc; và cũng vì chưa cưới nhau, chắc nữ thí chủ đây vẫn là đồng trinh, bần tăng nay trộm nghĩ, nếu được sư môn dùng thuốc đặc biệt tiêm nhiễm vào nữ thể, có thể giữ cho xác còn nguyên vẹn, đem chuyển ngay về Thiên Trúc, như thế sẽ có ngay một bức tượng đại sĩ hoàn toàn mỹ quan.
Thượng Quan Linh không thể nào ngờ rằng việc yêu cầu của Bách Lỗ lại như thế được... nếu quả di hài của Liễu Mi có thể vận chuyển sang miền Thiên Trúc và báo tồn muôn đời với thời gian và lại có hàng vạn ngàn tín đồ cung thờ chiêm bái như một bồ tát, kể cũng là một chuyện đáng kiêu ngạo lắm!
Suy nghĩ đắn đo một hồi, Thượng Quan Linh bằng lòng ngay với lời yêu cầu của Bách Lỗ tăng, và chàng yêu cầu vị hòa thượng này cũng đem di hài của mình vận chuyển ngay đi Thiên Trúc và cũng chiếu theo phương pháp giữ xác lại như Liễu Mi, nếu có thể, xin để chung cùng nơi với thi hài của nàng càng hay!
Sự yêu cầu của chàng, Bách Lỗ cân nhắc một hồi, rồi cũng nhận lời ngay. Bàn tính xong xuôi, Bách Lỗ hòa thượng chuẩn bị hành động, lúc này Thượng Quan Linh nằm thẳng băng dưới đất, bạch ngực ra, sẵn sàng hứng chịu các đòn chường nặng nể! Nhưng Bách Lỗ hòa thượng vốn là đệ tử của Phật môn, tâm địa từ thiện, nay phá giới để hạ độc thủ giết người như thế, trong lòng bỗng nao nao bất an, hai tay run rẩy và công lực không làm sao vận ra được.
Thấy vậy, Thượng Quan Linh cuống lên, chàng cố hối thúc Bách Lỗ mau ra tay!
Bách Lỗ bỗng như sực nhớ ra một chuyện, hỏi rằng:
- Ấy chết! Tí nữa thì hỏng chuyện, thí chủ phải nói rõ tên tuổi và quê quán ở đâu, để bần tăng còn có thể đọc kinh siêu độ cho thí thủ sau khi nhắm mắt an giấc chứ, có như thế bần tăng mới hòng tránh khỏi nghiệt tội chứ...
Thượng Quan Linh rằng:
- Tại hạ Thượng Quan Linh, vốn người Nhạc Châu ở tỉnh Tương...
Câu nói chưa dứt, chỉ thấy Bách Lỗ hòa thượng thất kinh rú lên một tiếng, vùng luôn hai tay ôm quàng ngay Thượng Quan Linh run lên rằng:
- Trời ơi! Em! Em!... Em của anh!
Thượng Quan Linh đờ người chẳng hiểu chuyện gì, rõ lạ lùng. Vị đại hòa thượng rõ ràng đang gọi mình là:
Em! Em... Em của anh.... Nhưng cả nhà mười mạng đã bị chết hết về ngọn Lãnh điện ti thủ của Tỉ Vương, mình đâu có một người anh hòa thượng như thế này?!
Bách Lỗ hòa thượng thấy em kinh ngạc nghi ngờ, lúc này bi thảm nói:
- Trời ơi! Em! Chắc em không nhận ra ngu huynh, anh là Thượng Quan Tứ đây, chính là anh của em, Thượng Quan Tứ đây!...
Câu nói này khiến cho Thượng Quan Linh tỉnh ngộ hẳn. Ôi chao! thì ra vị Bách Lỗ hòa thượng đây chính là con trai của lão bà bịt mặt Lỗ Yểu Nương và Bách Hoa Chúa, từ nhỏ được gửi nuôi tại nhà Thượng Quan, và mất tích trên mười năm trời.
Thượng Quan Tứ tuy không phải là con ruột của nhà Thượng Quan, nhưng vì từ bé đã được cha mẹ Thượng Quan Linh là Thượng Quan Thế Nhã và mẹ là Phương Xảo Linh hết lòng nuôi dưỡng, coi không khác như con ruột, nên Thượng Quan Tứ cứ tưởng mình là con của nhà họ Thượng Quan, nay gặp em là Thượng Quan Linh, bảo sao mà chàng không mừng điên lên cho được!
Thượng Quan Linh lúc này trăm mối ngổn ngang trong lòng, cất giọng run run rằng:
- Đại ca! Không ngờ lại gặp anh tại đây! Đáng lẽ em phải vui mừng lắm mới phải, nhưng tạo hoá khéo trêu người. Ai ngờ đâu anh em chúng mình lại gặp nhau trong hoàn cảnh này...
Thượng Quan Tứ xuất gia làm hòa thượng, lấy pháp hiệu Bách Lỗ, chính lại là húy danh của bố mẹ, chứng tỏ chàng tuy vào cửa Phật nhưng vẫn còn nặng lòng quyến luyến gia đình.
Lúc này vị Bách Lỗ Thượng Quan Tứ hấp tấp an ủi em rằng:
- Em chớ nên rầu rĩ bi ai vội, vị cô nương này đã là em dâu tương lai của ngu huynh, dù sao ngu huynh cũng ráng tận hết mọi năng lực để tìm phương cứu...
Vị hòa thượng lúc này đã khôi phục hết cảm tình của kẻ tục gia, tâm tư đều dồn hết cho người thân, tất cả cách xưng đều thay đổi hẳn, từ Thí chủ, Bần tăng chuyển sang Em và Ngu huynh, và rối rít lo cứu người em dâu.
Bách Lỗ vội ngồi ngay xuống sau khi khám kỹ cẩn thận, từ trong mình móc ra một lọ thuốc nhô, đổ ngay ra, đủ thứ linh đơn nằm trong lòng bàn tay, lanh tay lựa ngay mấy viên, giao cho Thượng Quan Linh dùng nước và chường lực ép ngay vào miệng Liễu Mi.
Khi ngón chỉ của Thượng Quan Linh đụng đến môi người yêu, chàng cảm thấy lạnh ngắt, trong lòng bất giác tuyệt vọng và nghi ngờ hỏi:
- Đại ca! Liệu còn cứu được không?
Bách Lỗ nghiêm nghị nói:
- Ngu huynh cũng không thể nào trả lời chắc chắn cho em được, vị cô nương đây tuy đã tắt hơi, nhưng vừa rồi ngu huynh đã nhận ra nàng còn chút sức nóng trong lòng, chứng tỏ nàng là người sẵn công lực, nay không cam tâm nhắm mắt về thế giới u minh, nên đã cố gắng duy trì sức sống cho đến lúc cuối cùng, nên vẫn còn chút hiện tượng của sự sống. Nay ngu huynh đã dùng thứ linh đơn độc đáo của sư môn là truy hồn chuộc mạng cho nàng uống, nhưng vẫn chưa thể nào giúp nàng được, nếu nàng còn được chút linh minh nào, có thể biết mà vận hóa sức thuốc thì thần hiệu của linh đơn sẽ giữ nguyên được nội tạng của nàng trong bốn mươi chín ngày không bị hủ hóa. Ngu huynh sẽ tận lực hộ trì đem nàng về ngay sư môn bên Thiên Trúc, cầu xin với thầy của ngu huynh, để dùng nội qui pháp trong Vô Tướng thần công để cứu sống mạnh nàng... nhưng không biết sức nàng có thể hóa thuốc không, hoặc ngu huynh có thể đưa về kịp Thiên Trúc, và Vô Tướng thần công liệu có thể cứu nổi, tất cả đều thành vấn đề gay go và chưa biết sao mà đoán được!
Thượng Quan Linh nghe Bách Lỗ nói xong, trong lòng càng đắm ra bần thần, Thượng Quan Linh đưa ngay tay lên ngực Liễu Mi quả nhiên vẫn còn hơi nóng, mà hình như càng lúc càng tăng dần thêm, một tia hy vọng lại nổi lên trong lòng Thượng Quan Linh, chàng vội cho Bách Lỗ hay, Bách Lỗ khám kỹ, sắc mặt cũng vui mừng hẳn, và cho hay tình hình có hy vọng lắm, nhưng giờ đây vẫn chưa tiện di động thân thể nàng, phải kiên tâm chờ cho sức thuốc tan khắp trong cơ thể của nàng, và ít nhất cũng phải mất mấy tàn nhang, chừng đó mới tiện bề chuyên trình di chuyển nàng về Thiên Trúc để cứu trị!
Hai anh em lo ngồi chờ đợi, và giở ngay lương khô ra ăn uống và kể các chuyện xảy ra của nhau cho dối phương nghe.
Bách Lỗ bèn thuật về đời mình sau khi được trưởng thành trong gia đình họ Thượng Quan, không biết gì về thân thế bí mật của mình vẫn tưởng đâu Thượng Quan Thế Nhã là cha và Phương Xảo Linh là bố mẹ thân sinh ra mình. Trong khi được nuôi nấng tại gia đình họ Thượng Quan, Bách Lỗ đã hấp thụ được một sự gia giáo tốt đẹp và vợ chồng Thượng Quan Thế Nhã coi Bách Lỗ cũng như con ruột, các người trên dưới trong nhà đều xưng hô bằng Đại công tử cho ăn học tử tế và lúc ấy Bách Lỗ đã tính sau này học xong sẽ ra làm quan.
Bỗng trong một cơ hội ngẫu nhiên, chàng phát giác về thân thế của mình có vẻ ly kỳ, bèn trực tiếp hỏi ngay mẫu thân là Phương Xảo Linh, và chính dưỡng mẫu Phương Xảo Linh cũng kể rõ mọi sự cho Bách Lỗ!
Thượng Quan Tứ (Bách Lỗ) lúc này mới rõ mình quả thật không phải là người của nhà họ Thượng Quan, cha mình là Bách Hoa Chúa đã qua đời, mẹ là Lỗ Yểu Nương còn sống trên thế gian. Khi ấy, Thượng Quan Tứ muốn đi gặp mẹ ruột, nên đã lén bỏ nhà ra đi, với tấm thân yếu đuối của thư sinh, chàng bắt đầu phiêu bạt lang thang trên giang hồ, từ Nhạc Châu khởi trình đi về xứ Ai Lao Sơn của tỉnh Vân Nam.
Nào hay định mạng chàng thư sinh long đong vất vả, trên dọc đường gặp ngay các bại loại giang hồ hãm hại, bị bắt cóc và đem bán cho người ta làm nô lệ, sau nhiều đợt đổi chủ trong hai năm trời Thượng Quan Tứ đã bị bán làm nô lệ tuốt sang xứ Thiên Trúc!
Khi đó chàng đã ba mươi ba tuổi, nhưng định mệnh vẫn éo le, khiến cho vị quí công tử đã tiều tụy thảm thương như que củi. Chàng tự hận với tấm thân yếu đuối của kẻ thư sinh, nên không sao thoát khỏi một vận mạng bi thảm của hoàn cảnh, chỉ còn cách chịu đựng và tin tưởng vào một ngày kia sẽ nở mặt với đời.
Cuối cùng, đến năm Thượng Quan Tứ được ba mươi lăm tuổi, định mạng bắt đầu chuyển hướng hẳn.
Nhà vua Thiên Trúc vốn là tâm hướng về Phật, ngài đã chuộc có trên một ngàn hai trăm nô lệ của các xứ bị bán, rồi gửi hết vào các ngôi chùa chiền lớn nhỏ của cửa Phật, trong số đó, Thượng Quan Tứ là người có duyên may mắn được vào nơi tịnh xá ở Bàn Na Tha tại thượng du sông Hằng Hà, để làm những công việc quét dọn nhà chùa.
Từ đó, Thượng Quan Tứ bắt đầu sống cuộc đời an thân với những công việc nhẹ nhàng, dần dà chàng đâm mến thích cảnh sống của nhà chùa, lúc này chàng cũng đã hiểu tiếng Phạn, khi các cao tăng giảng kinh thuyết pháp, Thượng Quan Tứ đều chăm chú nghe, dần dần chàng đâm ra thích thú phật pháp và tận tâm để tìm hiểu.
Chàng bắt đầu dùng Hán văn để ghi chép lại những ý nghĩa để học.
Lại một cơ hội ngẫu nhiên nữa đưa tới, đó là vị chủ trì của tịnh xá Bàn Na Tha là Bảo Nghiêm pháp sư được xem quyển ghi chép pháp học của Thượng Quan Tứ.
Bảo Nghiêm pháp sư là người đã nối nghiệp Minh Quang đại sư, thuộc bậc hậu bối kỳ tài, học vấn uyên bác, Hán học thâm sâu, sau khi xem quyển ghi chép của một nô công người miền Trung thổ, thì ra là người tinh thông Lão Nho, càng hiếm thấy là đối với Phật giáo, chàng đã đến mức độ đăng đường nhập thất, đã có một sức hiểu biết siêu việt.
Bảo Nghiêm pháp sư vô cùng sung sướng, và đã phá lệ thường để đề bạt tên nô công miền Trung Thổ này lên trong hàng ngũ đệ tử.
Thượng Quan Tứ sau khi kể rõ thân thế và tỏ rõ quyết lòng xuất gia, Bảo Nghiêm pháp sư đã thân hành thí độ cho chàng, và để kỷ niệm song thân, đã lấy pháp hiệu là Bách Lỗ.
Bách Lỗ sống tại dị quốc suốt năm năm liền, trong thời gian ấy, Bảo Nghiêm đã đào tạo cho Bách Lỗ trở nên một vị tinh thông Phật pháp, một cao tăng hiếm hoi, đồng thời trên người cũng đầy đủ tuyệt nghệ của một nội gia cao thủ .
Mãi năm Bách Lỗ bốn mươi tuổi, bỗng một hôm, Bảo Nghiêm đại sư hỏi môn đồ có nhớ quê hương không?
Bách Lỗ không dám giấu sư tôn, đành thành thật khai vẫn còn nhớ.
Bảo Nghiêm pháp sư mỉm cười, dặn ngay Bách Lỗ đêm vắng hãy vào thiền phòng để yết kiến, đêm đó, hai thầy trò cùng ở trong mật thất, Bảo Nghiêm bèn kể về chuyện bốn mươi năm trước về cuộc hành trình tìm thuốc cứu thầy của hai sư huynh Tả Pháp Thụ tôn giả và Hữu Duy Na tôn giả. Rút cục hai mươi năm đã mãn hạn, Minh Quang đại sư chờ hai môn đệ không thấy về, sau khi bói đoán quẻ, biết hết hy vọng, bèn hạ lệnh cho Bảo Nghiêm lên nắm quyền chưởng y bổn, rồi Minh Quang đại sư từ trần sau đó.
Kể từ ngày hai sư huynh ra đi, đã bốn mươi năm trời trôi qua, nhưng tin tức hai người đều bặt vô âm tín. Bảo Nghiêm pháp sư, quyết ý truy xét về vụ mất tích này của hai sư huynh, nhưng phần vì mắc công việc chủ trì nhà chùa, không thể nào rời thân ra đi miền Trung Nguyên, tính chọn các sư đệ và tăng thống, nhưng không có nhân tài nào có thể đảm đương trọng thác này.
Mãi đến khi Thượng Quan Tứ đã thí phát xuất gia, và mất năm năm trời để nhận xét, Bảo Nghiêm đã hài lòng, nhận định Bách Lỗ là người có thể lo trọng thác của mình là tìm thăm tin tức của hai sư huynh.
Sau khi thầy trò tâm sự và thoả thuận đồng ý, một chuyến đi Trung Nguyên được quyết định ngay!
Với Bách Lỗ, duyên trần chưa dứt, thường vẫn quyến luyến mẹ là Lỗ Yểu Nương, và càng nhớ dưỡng phụ dưỡng mẫu, chuyến về Trung thổ đây, công tư đều kiêm tiện và lý tưởng. Mãi cuối năm vừa qua, Bách Lỗ mới tới Trung Thổ, và Bách Lỗ quyết ý thăm tin mẹ ruột trước.
Trong tình cờ, Bách Lỗ gặp Tỉ Vương, phát giác Bách Lỗ là tay cừ giỏi, Tỉ Vương tính thu dụng dưới trướng mình, sau vô tình lại được biết thân thế của Bách Lỗ, biết là con trai của lão bà bịt mặt, Tĩ Vương không muốn mẹ con lão bà đoàn tụ, nên đã cố ý đánh lạc hướng manh mối, báo hại cho Bách Lỗ hòa thượng bôn ba vất vả đi tuốt sang miền Tây Tạng, dĩ nhiên là toi công hao lực.
Trái lại Tỉ Vương từ trong miệng Bách Lỗ đã dò được khá nhiều chuyện và tình hình ngôi tịnh xá ở Bàn Na Tha và sự chấp chưởng y bổn của Bảo Nghiêm pháp sư vô tình đã thành những tài liệu quí báu cho Tỉ Vương, nhờ vậy, Tỉ Vương mới bắt bí Tả Pháp Thụ tôn giả vào phe mình để tăng cường thế lực, nên trong cuộc thịnh hội tại Bách Linh Thánh Tự Thanh y sứ giả đã ngang nhiên tiết lộ bí mật về chuyện của Tả Pháp Thụ, khiến cho vị Thiên Trúc ác tăng còn chưa hoàn thành sứ mạng của sư môn và đã hại chết sư đệ Hữu Duy Na, khó mà chuộc được trọng tội! Nhất là sau khi được biết sư môn bên Thiên Trúc đã cho người ra truy tung tìm tích, lòng dạ của Tả Pháp Thụ càng hoang mang hoảng sợ, và đã hết lòng lo bám vào thế lực của Tĩ Vương để nhờ vả sau này.
Bách Lỗ sau khi bị Tỉ Vương đánh lừa đi Tây Tạng, không thu được kết quả gì, đành quay về Phòng Sơn của Ngạc Bắc để dò tin về Tuyết bi tiên hoa và nhị vị sư bá! Nhưng dưới xác con tích long nào có tiên hoa gì đâu.
Đang lúc bàng hoàng, lại gặp Thượng Quan Linh xuất hiện.
Nay trong thạch động của Đại Ngũ Trì, Bách Lỗ hòa thượng Thượng Quan Tứ kể hết mọi sự tình cho em là Thượng Quan Linh nghe.
Biết tiên hoa em mình đã may mắn được hưởng, Bách Lỗ hòa thượng vui mừng khôn tả, rồi câu chuyện bắt sang hỏi về tin tức của mẹ là Lỗ Yểu Nương, và dưỡng phụ mẫu Thượng Quan Thế Nhã và Phương Xảo Linh, và hai sư bá Tả Pháp Thụ, Hữu Duy Na.
Câu hỏi này khiến cho Thượng Quan Linh ngẩn người đớ họng khó trả lời. Mắt nhìn người đại ca, vẻ bối rối, nhưng vốn là người thật thà, Thượng Quan Linh cứ y thực kể lại đầu đuôi!
 
0
Hồi 078. Cuộc Đụng Chạm Nảy Lửa
[/align]

Sau khi Thượng Quan Tứ mất tích, Lỗ Yểu Nương tìm không ra con mình, nên căm tức nhà họ Thượng Quan, và đã yêu cầu Tỉ Vương ra tay, vào ngày rằm tháng hai năm ngoái; đêm trăng tròn ấy... Cách Nhạc Châu Thành mười dặm, ở Thượng Quan Trang bị Lãnh điện tỉ thủ ra tay hành hung, khiến cho mười mạng nhà họ Thượng Quan bị thiệt mạng, chỉ riêng có Thượng Quan Linh nhờ đi học nghệ với Nam bút Gia Cát Dật tại Ngao Sơn nên đã thoát nạn. Nghe đến đây, Bách Lỗ tăng Thượng Quan Tứ thất kinh nhảy bổng người lên!
Nghĩ đến ơn nuôi nấng của dưỡng phụ dưỡng mẫu, sao mẹ ruột Lỗ Yểu Nương không chịu điều tra đích xác mà đã gây thù báo oán như thế, quả thật là ngoài sức tưởng tượng, khiến cho Bách Lỗ tăng Thượng Quan Tứ bùi ngùi xúc động mạnh!
Thượng Quan Linh kể tiếp về vụ trả thù của mình với lão bà bịt mặt. Mãi đến khi Lỗ Yểu Nương chết đi, và được xem bức thơ của bà ta để lại, khi đó mới rõ sự ân oán của các vị tiền bối, và hoàn cảnh của Lỗ Yểu Nương càng đáng được thông cảm. Nhưng Thượng Quan Linh đã lầm lỗi trong hành động, lòng ăn năn hối hận vô tả. Sau thi hài của lão bà bịt mặt Lỗ Yểu Nương được đồ đệ là Tra Phong đem về Ai Lao Sơn ở Vân Nam để mai táng...
Tất cả những sự xảy ra này, Thượng Quan Linh đã nghẹn ngào cố gắng để tường thuật rõ ràng. Chàng vừa kể vừa để ý xem sắc mặt của Bách Lỗ Thượng Quan Tứ, nhưng khi được hung tin mẹ ruột qua đời, tuy vẻ mặt buồn thảm, nhưng không hề có nét oán hờn người em Thượng Quan Linh. Trái lại, Bách Lỗ lấy tư cách của đại ca để khuyên giải người em chớ nên buồn, chẳng qua đều tại số trời định cả. Các ân oán của những vị tiền bối kể như đã chấm dứt, không nên dây dưa đến kẻ hậu bối làm gì nữa, giờ đây phải cố chung lưng đấu cật để cố tiến thủ vào sự việc ích lợi cho đời, có như thế mới khiến cho vong linh người quá cố hài lòng mỉm cười nơi chín suối.
Thượng Quan Linh không thể ngờ rằng vị đại ca của mình lại đại lượng khoan dung đến thế, trong lòng vô cùng xúc động và càng đâm ra kính mến, chàng bất giác gọi:
- Đại ca!... anh đối với... em... quá tử tế...
Tiếp đó Thượng Quan Linh lo kể về hai vị sư bá của trưởng huynh Thượng Quan Tứ. Nay Tả Pháp Thụ đã không còn mặt mũi nào về Thiên Trúc, nên đã cam lòng kết cấu với Vương Thiên Giáo của Tỉ Vương để làm các chuyện tàn ác. Và kể hết luôn cuộc gặp gỡ của mình với Liễu Mi cho huynh trưởng Thượng Quan Tứ nghe. Cuộc kể chuyện này có lẽ trôi qua trên mười tàn nhang.
Thượng Quan Linh cũng cho anh hay là hiện nay thế lực của Tỉ Vương khá lớn mạnh, lại nữa trong tay có hai báu vật Lãnh điện tỉ thủ và Tiểu Đoạt Hồn Kỳ, đều là sát tinh đối với bản thân mình, nay xem ra, tuyệt chưa phải là đối thủ của Tỉ Vương, Liễu Mi lại nguy kịch như thế, nay đưa nàng đi Thiên Trúc để cầu khẩn Bảo Nghiêm pháp sư dùng lối cứu mạng Vô Tướng thần công nội qui để cứu trị, chờ gì mà không cho mình đi theo luôn sang Thiên Trúc. Nếu nhờ trời, hai vợ chồng trẻ này sẽ tái trương cờ trống kéo về Trung Nguyên để tính sổ nợ thù oán với Tỉ Vương. Còn chẳng may Liễu Mi có mệnh hệ nào, Thượng Quan Linh quyết sẽ bắt chước nối gót theo anh Thượng Quan Tứ là thí phát vào cửa Phật.
Nghe xong lời của em, Bách Lỗ tăng Thượng Quan Tứ lắc đầu lia lịa, tỏ ý không bằng lòng. Vì Bách Lỗ cho rằng, về công lực của Tỉ Vương, không thể nào cho là lợi hại được, chỉ riêng có hai báu vật Lãnh điện tỉ thủ và Tiểu Đoạt Hồn Kỳ là đáng kể và là khắc tinh của em mình!
Minh Quang đại sư sau chín năm trường cố chờ đợi hai đệ tử, nhưng sau khi thất vọng và bệnh nặng nằm trên giường, ngài lo ngại Vô Tướng thần công sẽ bị thất truyền, nên đã khẩu thụ tâm pháp (truyền lại bằng miệng) về môn võ học tinh vi của cửa Phật này cho đệ tử Bảo Nghiêm pháp sư.
Bách Lỗ tăng Thượng Quan Tứ lại được sự chân truyền của ân sư Bảo Nghiêm, và đã thâu thập hết môn Vô Tướng thần công.
Nay đem ra chỉ dạy cho Thượng Quan Linh để biết mà áp dụng học lối chưởng của Duy Na chưởng thức, sau khi biết rõ quyết yếu và thuộc làu các chi tiết huyền diệu trong ấy, tự nhiên có thể dung hòa và thông suốt được ngay trong tám mươi mốt thế của Duy Na Chưởng, và không còn cảm thấy những hiện tượng quái lạ bồi hồi như khi mới bắt đầu tập.
Bách Lỗ tăng cố tận tình chỉ dạy cho em, và hối thúc chàng cố gắng luyện tập cho nhớ.
Thượng Quan Linh lúc này tự mình diễn tiến chưởng pháp Duy Na quả nhiên không còn trở ngại gì, một hơi thăng diễn luôn tám mươi mốt thế, chỉ thấy trong thạch thất, tiếng gió ào ạt, oai lực kinh người.
Trong lòng Thượng Quan Linh mừng lắm, hào khí bốc đầy mình, chàng đã nghĩ sẽ đem ngọn tuyệt kỹ Duy Na chưởng thức đi kiếm Tỉ Vương liều mạng một trận.
Trong lúc Thượng Quan Linh lo luyện tập, Bách Lỗ tăng Thượng Quan Tứ lo đứng cạnh chỉ dẫn, nhất là đến thế thứ bốn mươi chín của ngọn Huyết lệ đảo lưu căn dặn em phải hết sức thận trọng.
Thượng Quan Linh sau khi được anh truyền cho yếu quyết của Duy Na Chưởng, cuộc học tập tinh tiến thần tốc khiến cho người anh phải tấm tắc khen em thông minh sáng dạ hơn mình.
Nói về Duy Na Chưởng vốn là một công lực lợi hại vô cùng trong Vô Tướng thần công, khi đã ra tay sử dụng, bất luận là một binh khí gì cũng không thể nào tiến sát vào được trong luồng gió ào ạt càng về sau càng dũng mãnh ấy, và khi đến ngọn Huyết lệ đảo lưu của thế bốn mươi chín, đây chính là một thế đánh vô cùng trọng yếu, nếu được sử dụng một cách toàn mỹ, đủ cho đối thủ là cường địch đến đâu cũng sẽ bị hy sinh tính mạng về ngọn đánh này, nay có thể ỷ vào môn Duy Na Chưởng mà không còn phải ngại gì đến Lãnh điện tỉ thủ của Tỉ Vương nữa. Thượng Quan Linh nghe anh nói vậy mừng vô cùng, tiếp đó chàng đem luôn mười tám chữ Phạn mà Liễu Mi đã viết dưới đất để nhờ anh chỉ dẫn giảng giải. Bách Lỗ Thượng Quan Tứ sau khi thấy, sắc mặt bỗng biến hẳn, lập tức lẩm nhẩm đọc đi đọc lại để nhớ kỹ trong lòng.
Thượng Quan Linh kinh ngạc hỏi nguyên do? Bách Lỗ trang nghiêm cho hay, thì ra trong mười tám chữ Phạn văn ngắn ngủi đây, Thượng Quan Tứ đã từng nghe sư tôn Bảo Nghiêm nói đó là một nội công tâm pháp thượng thặng của Phật Gia Thiên Trúc, đã bị thất truyền từ lâu không ngờ nay lại xuất hiện tại miền Trung Thổ.
May là hàm ý của mười tám chữ Phạn ngữ này sâu xa huyền ảo, vốn là cương lãnh của tâm pháp, nên không ai có thể hiểu được, khi luyện tập phải cần tham chứng những bí cấp đã cất kỹ ở tịnh xá của Bàn Na Tha mới có thành quả; và cho biết sư môn đã vì bị thất lạc cương lãnh tâm ngữ của nội công này, đã gây biết bao sóng gió.
Nay may mắn lại gặp được nơi đây, Bách Lỗ vội nhớ kỹ ngay mười tám Phạn ngữ của Nội công tâm pháp cương lãnh, chuẩn bị về báo cáo lại với sư môn.
Tuy trong cuộc hành trình về miền Trung Thổ này, Tuyết bi tiên hoa không còn, hai vị sư bá, một vị đã qua đời, còn một vị lại trụy lạc; mà nay lại mang xác chết của thiếu nữ của Thanh Thông Bang về để làm phiền nhiễu sư tôn, nhờ tìm cách cứu. Tính ra chỉ còn có mỗi một việc là tìm lại được một Cương lãnh tâm pháp nội công như vậy là công lao lớn nhất, nếu mình đem về tiến hiến cho thầy chuyện này, thế nào Bảo Nghiêm sư tôn cũng ca ngợi công lao của mình, chừng ấy mình sẽ lựa thế xin ông ta cứu cho Liễu Mi, chắc sao cũng dễ dàng hơn.
Loại nội công tâm pháp cực cao sâu này, nay chỉ mới có cương lãnh, nếu không có bí cấp Thiên Trúc, thật vô phương mà học tập! Bách Lỗ căn dặn Thượng Quan Linh chỉ việc lo cố công luyện tập Duy Na Chưởng cũng dư sức đối phó với Tỉ Vương, không cần gì phải màng đến mười tám chữ Phạn ngữ trên Tiểu Đoạt Hồn Kỳ làm gì, và cũng đừng nên đi theo về Thiên Trúc e thêm khó khăn cho Bách Lỗ.
Và Bách Lỗ Thượng Quan Tứ cũng cho hay, linh đơn của tịnh xá Bàn Na Tha đặc chế, công hiệu chỉ có thể duy trì được bốn mươi chín ngày mà thôi, nếu quá hạn là kể như chết, và cũng chờ cho chất thuốc ngấm kỹ xong, Thượng Quan Tứ sẽ sử dụng đến ngọn Súc địa phi hành thuật (lối phi hành như rút đường đất cho ngắn lại), cuộc hành trình sẽ bất kể ngày đêm, được vậy mới đến kịp, nếu phải đem theo chàng Thượng Quan Linh, thế nào cũng trở ngại cho việc cứu cấp và chưa biết chừng còn có tai nạn xảy ra nữa là khác.
Sau khi ông anh hòa thượng cố lòng khuyên giải cho em an tâm, hẹn đúng nửa năm sau, nghĩa là trước tháng chín Bách Lỗ hòa thượng sẽ quay về Trung Nguyên và gặp nhau tại Thanh Thông Cốc, nếu nhờ trời thương vị hôn thê của em còn sống, thế nào cũng đoàn viên vui vẻ, còn không sẽ lại đón em đi Thiên Trúc xuất gia luôn, đồng thời, trong thời gian nửa năm trời này Thượng Quan Linh có thể ỷ vào ngọn võ Duy Na Chưởng mới học ấy để đi tìm kiếm Tỉ Vương để trả thù, càn quét sạch các tà yêu quái khí của nhóm ma đầu bại loại trên giang hồ, để khôi phục lại sự yên tịnh thanh bình trong võ lâm.
Và đây cũng có lẽ là một cuộc mạo hiểm cuối cùng nhất của Thượng Quan Linh, sau khi giết được Tỉ Vương, và giải tỏa được thế lực tà ác của Vương Thiên Giáo, cứu các vị sư bá và sư phụ, chàng sẽ trở về Thanh Thông Cốc, an tâm chờ đợi anh là Thượng Quan Tứ và vợ chưa cưới về đoàn tụ.
Bách Lỗ tăng lại ân cần căn dặn với em, thế nào cũng phải ráng đoạt cho bằng được chiếc cờ Tiểu Đoạt Hồn Kỳ trong tay của Tỉ Vương để cho Thượng Quan Tứ có thể hoàn thành một sứ mạng đối với sư môn ở Thiên Trúc.
Sau khi căn dặn ân cần, anh em ngồi nhìn nhau ngậm ngùi.
Thượng Quan Linh bỗng lên tiếng hỏi:
- Đại ca! Anh xem Liễu Mi liệu có hy vọng được mấy phần?
Bách Lỗ hòa thượng nói thực, hy vọng mỏng manh lắm!
Thứ nhất, về phần Liễu Mi, không biết nàng có thể duy trì về đến miền Hằng Hà Thiên Trúc để dùng Phật pháp cứu trị.
Thứ hai, dẫu cho Bách Lỗ hòa thượng thương em mà cố liều mạng, bất kể ngày đêm để sử dụng đến Súc địa phi hành thuật để cho mau tới nơi, nhưng đường xá xa xôỉ với bốn mươi chín ngày ngắn ngủi ấy, liệu có thể đến kịp? Hoặc dọc đường còn gặp nhiều trở ngại gì, chỉ sơ suất một tí, hai người đều có thể bị thiệt mạng ngay tức khắc.
Còn nếu mỗi việc thuận lợi và kịp trong bốn mươi chín ngày về đến sư môn, nhưng chẳng may lại gặp lúc sư tôn đang bế quan hoặc vân du nơi khác, chỉ những chi tiết cỏn con ấy cũng dư sức tạo thành bi kịch ngay.
Vì trong tịnh xá Bàn Na Tha, chỉ riêng có sư tôn Bảo Nghiêm pháp sư là người duy nhất biết dùng nội qui trong Vô Tướng thần công để cứu mạng người, ngoài ra không ai dám mạo hiểm vì biết công lực mình chưa đến độ tuyệt vời đó. Nếu giả như cả ba điều kể trên đều trôi chảy thuận lợi, Bách Lỗ Thượng Quan Tứ đoán rằng: Bảo Nghiêm pháp sư vốn tánh tình từ bi chánh trực, thế nào cũng chấp nhận lời thỉnh cầu của mình để cứu mạng nàng thứ nữ Thanh Thông Bang.
Những câu phân tích của Bách Lỗ Thượng Quan Tứ, cũng như đã tỏ rõ, chuyện cứu sống Liễu Mi, có thể nói là vô cùng mỏng manh: thất bại đã thấy rõ trong dự đoán, còn thành công mới là ngoài sức tưởng tượng của hai người!
Thượng Quan Linh lúc này chỉ cúi đầu khóc sướt mướt.
Thời gian mỗi lúc một co ngắn lại, Bách Lỗ tăng Thượng Quan Tứ đứng dậy chuẩn bị khởi trình.
Dùng ngay mền cuốn kỹ Liễu Mi xong, đai ngay lên lưng chặt chẽ; Thượng Quan Linh vội lấy ngay cái hộp sắt đựng di cốt của Hữu Duy Na dưới bụng con tích long và tìm ngay cây thiền trượng của Hữu Duy Na, giao hết cho Bách Lỗ hòa thượng đem về Thiên Trúc.
Bách Lỗ hòa thượng lấy ngay mấy chục viên linh đơn nuốt hết một lượt, vì trong cuộc chuyên trình ngày đêm không nghỉ ngơi này, không còn cơ hội đâu để nghỉ chân ăn uống, đành phải nhờ đến linh đơn này để giữ sức trong cuộc hành trình liều mạng ấy.
Thượng Quan Linh tiễn đưa Bách Lỗ Thượng Quan Tứ ra khỏi cửa động thạch thất, lúc này đang vào cảnh đêm tối, trời đầy sao, gió thoang thoảng.
Anh em gạt lệ ngậm ngùi chia tay, ai nấy đều âm thầm cấu nguyện cho cuộc hành trình thuận lợi, để bớt đau khổ và hoang mang, họ đã ký thác hết vào đấng linh thiêng che chở.
Sau khi thốt ra tiếng Em tự bảo trọng! Chỉ thấy Bách Lỗ tăng nhoáng mình đã biệt dạng luôn; Thượng Quan Linh lúc này ngẩn ngơ và kính phục về ngọn Súc địa phi hành thuật thần diệu đến thế, quả xưa nay chưa từng nghe và thấy lần nào.
Ngẩn ngơ một lúc, Thượng Quan Linh quay vào động thất, chàng cố phấn khởi để tự an ủi, cố bỏ hết sự suy nghĩ liên miên sang một bên, quyết tâm nghe theo lời của Thượng Quan Tứ, chuyên cần cố tập luyện về Hữu Duy Na bát thập nhất chưởng (81 chưởng của Hữu Duy Na), sau ba ngày, chàng đã tự tin là thành thuộc lắm rồi?
Thượng Quan Linh bắt đầu rời khỏi động đề truy tìm Tĩ Vương của Vương Thiên Giáo.
Trong lòng suy nghĩ, nay đi đâu tìm Tỉ Vương? Lại nữa mình cô đơn độc chiếc thế này, nếu muốn càn quét thế lực tà ác ấy, lực của mình chắc quá yếu, nay cần phải kết hợp với các tay hiệp nghĩa chánh phái và cùng với Độc chỉ Thôi Bác liên kết thành một khối cho mạnh, nghĩ vậy chàng quyết định khởi trình Thanh Hải tìm đến Ngọc Thụ để gặp Đoạn trường nhân Độc chỉ Thôi Bác.
Thời tiết trung tuần tháng ba, Thượng Quan Linh khởi trình về hướng Tây, khi đến Thanh Hải đã vào trung tuần tháng tư...
Địa hạt của ngọc Thọ đã hiện trong tầm nhìn, chỉ thấy cây cối sầm uất, bò dê từng đàn, quả là một nơi chăn nuôi lý tưởng của miền trại ngoại.
Đang tính thăm hỏi xem thổ Ty Phủ ở đâu, bỗng đằng xa có hai ngựa phi nhanh tới, người trên lưng ngựa lớn tiếng:
- Thượng Quan hiền đệ! thượng Quan hiền đệ!
Thượng Quan Linh đang đứng trong bóng mát, ngạc nhiên nhìn về phía có tiếng gọi, ra là hai anh em Chu hoàng và Chu Văn, Thượng Quan Linh vội sải ngựa nghênh đón.
Một cuộc gặp gỡ tay bắt mặt mừng... Thượng Quan Linh nắm chặt tay Chu hoàng rằng:
- Tiểu đệ vừa mới tới hôm nay, vừa tính hỏi đường, may mắn sao lại khéo gặp nhau đây!
Chàng vừa nói xong, bỗng thấy sắc mặt anh em họ chu như nghi ngờ gì, Chu Hoàng vội hỏi:
- Kìa hiền đệ thôi thúc thúc đâu?
Thượng Quan Linh kinh ngạc, lập tức rằng :
Tiểu đệ từ xa tới đang tính đến để yết kiến Thôi lão tiền bối, và còn chưa gặp ngài, sao huynh trưởng lại hỏi ngược tiểu đệ vậy?
Nghe vậy, Chu Hoàng lớn tiếng kinh hãi:
- Lạ quá!... - Và sắc mặt tái đi luôn.
Thượng Quan Linh chẳng hiểu là chuyện gì.
May nàng Chu Văn còn bình tĩnh, bèn giải thích rõ cho Thượng Quan Linh hay.
Thì ra trong tháng hai, Phích lịch nhị lang Sở Canh từ Mạc Bắc đến và báo rõ tin và xin cầu cứu.
Đoạn trường nhân Độc chỉ Thôi Bác, anh em Chu Hoàng, Chu Văn, A Hương đều cuống lên, lập tức nói với Sở Canh đi liên lạc gấp phía Giang Nam, bên này họ sẽ chuẩn bị và tức tốc khởi trình đi Mạc Bắc để cứu viện đồng đạo.
Nào hay chưa khởi trình, vào trung tuần tháng hai, bỗng có tin báo cáo là Thượng Quan đại hiệp cô thân đến Ngọc Thụ. Mọi người vội mừng ra nghênh đón, quả là chàng Thượng Quan Linh, nhưng khác xưa hơi nhiều, trầm mặc ít nói, thần sắc tiều tụy, cử chỉ nhiều lúc như ngớ ngẩn, hỏi đến chuyện Mạc Bắc, cười nói không có gì xảy ra, có hỏi đến Nam Bút và Liễu Mi, chi cười ngô nghê mà không trả lời.
Xem tướng mạo, rõ ràng bị khích động và quá xúc cảm, nên tinh thần đã biến đổi thất thường, Độc chỉ Thôi Bác vội lấy thuốc quí ra chữa bệnh. Chờ chàng khỏi hẳn để biết mọi sự thật và sẽ tùy theo đó mà lo cứu viện!
Lúc đó anh em Chu Hoàng ngỡ đâu Sở Canh về cầu cứu Nam Bút, Liễu Mi, Thượng Quan Linh đã bị cầm hãm tại Mạc Bắc, sự kiện chắc đã vô cùng hung hiểm! Rất có thể Nam Bút, Liễu Mi đã bị hy sinh, hay bị bắt, nên Thượng Quan Linh mới trở nên người ngớ ngẩn như thế, và đã được Tỉ Vương cố tình thả về Nam để thị uy với các tay anh hào trong Bạch đạo... Độc chỉ Thôi Bác điềm tĩnh lo chữa bệnh cho Thượng Quan Linh, mọi người bồi hồi với dự đoán của mình.
Không ngờ hai hôm sau, Độc Chỉ Thôi Bác và kẻ thất thường Thượng Quan Linh đã mất tích một cách bí mật.
Thoạt tiên anh em họ Chu còn tưởng đâu là kế an bài của thôi thúc thúc, nhưng suốt mấy ngày liền, không có tin tức gì, lúc đó mọi người mới quýnh hoảng lên.
Mở ngay cuộc thám thính, theo lời truyền lại: trong đêm đó đã có người thấy hai vị này đi về khu núi của Ngọc Thụ.
Ngọc Thụ tân Thổ Ty là nàng A Hương bèn ra lệnh cho toàn tộc phát động công cuộc tìm kiểm tung tích của hai người , kết cuộc là không có một kết quả nào.
Biết đã sinh biến, đồng thời tăng cường đi tìm, nhưng mãi đến nay, vẫn chưa đâu vào đâu, mà nàng A
Hương đã lăn bệnh trên giường anh em họ Chu không thế nào rời đi xa được, tâm tình đã rối lên như tơ vò.
Hôm nay ra đi tuần bỗng lại gặp Thượng Quan Linh.
Thấy Thượng Quan Linh chuyến này lại khác hẳn kỳ trước, tinh thần lẫm liệt oai nghi, ăn nói đâu vào đấy, từ người cho đến ngựa, đều chứng tỏ đã bôn ba ngàn dậm lại; chuyện gì mà quái lạ thế kìa!
Sau khi Chu Hoàng nói xong, Thượng Quan. Linh như sực nhớ ra, kêu lớn lên rằng:
Thôi nguy rồi! Thôi lão tiền bối không cẩn thận nên đã mắc quỉ kế của Tỉ Vương, kẻ đó đâu phải là tiểu đệ mà chính là Tỉ Vương đã đội lốt của tiểu đệ.
Tiếp theo, Thượng Quan Linh vừa đi vừa kể cho hai anh em nghe câu chuyện về Tỉ Vương đã mượn lốt của mình.
lúc này anh em Chu Hoàng mới biết Thôi thúc thúc đã bị Vương Thiên giáo chủ Tỉ Vương đánh lừa, và nay không biết đã đi về đâu?
Tuy công lực của Thôi đại hiệp tuyệt cao, cái thế vô song, nhưng ông ta vốn là kẻ quân tử, làm sao mà đề phòng nổi các âm mưu trá thuật của tên Tỉ Vương ghê " gớm ấy, nếu có mệnh hệ nào, biết làm sao đây?
Ba người bàn tính thấy chuyện hung nhiều hơn điềm lành, ai nấy im lặng suy nghĩ khá lâu, Chu Văn lên tiếng:
- Giờ hãy lo về nhà trước rồi sẽ tìm cách lo liệu.
Anh em họ Chu đi trước dẫn đường, khi vào đến thành Ngọc Thụ quanh co một hồi đến ngay Thổ Ty nha môn.
Nha môn đây kiến trúc toàn bằng đá, hùng tráng, vĩ đại, nghiêm trang, hễ có lối đi là có tráng đinh canh gác cẩn mật, trật tự oai nghiêm.
Vào khỏi cửa lớn, thấy ngay hai bức tượng thạch của vợ chồng Ngọc Thụ Thiếu Tù và Miêu Cương Diệm Nữ và chính là hai bức điêu khắc kiệt tác của Độc chỉ Thôi Bác, trông hai bức tượng không khác gì như người sống linh động vô cùng!
Tân nhiệm nữ Thổ Ty A Hương nghe báo anh Thượng Quan Linh thiệt đã đến, vội cố gắng dậy ra tương kiến!
Vị thiếu nữ như tiên tử này nay đã đổi thay hơn xưa nhiều, nghĩa là càng tăng thêm vẻ đẹp của một thiếu nữ đã trưởng thành.
Thượng Quan Linh kể hết mọi sự đã diễn tiến với Tỉ Vương cho ba người nghe xong, ai nấy đều cảm thấy tâm thần nặng nhọc vô kể.
Thượng Quan Linh bỗng sực nhớ đến ưng huynh Đại Hắc, hỏi ra mới hay: từ ngày Thôi Bác mất tích, thần ưng ngày nào cũng bay đi tìm, và đêm về cứ kêu la bi thảm, bô ăn bỏ uống. Gần đây nghe tráng đinh nói Đại Hắc đã bay tuốt về hướng Bắc, mãi đến nay vẫn chưa thấy bay về
Phần Sở Canh đi Giang Nam mãi nay vẫn chưa có tin gì !
Chu Hoàng cũng nhớ hai vị hôn thê chưa cưới, lòng càng bồi hồi rối loạn cho sự an nguy của hai nàng.
Thượng Quan Linh bèn đề nghị: nay xem ra Thôi lão tiền bối đã bị Tỉ Vương đánh lừa rời khỏi Ngọc Thụ. Phần Giang Nam lại không có tin gì đến, vụ này phải truy cứu ngay mới được, mọi người nên đến Giang Nam thăm xem tin tức ra sao?
Lời đề nghị của Thượng Quan Linh, đều được ba người tán thành ngay!
Qua ngày hôm sau, họ lên đường, cuộc hành trình được tiếp diễn suốt ngày lẫn đêm đến tháng năm, họ đã kế gần vùng Cửu Lãnh Sơn.
Trên đường quan đạo, Chu Văn chăm chú các việc xung quanh, bỗng nàng phát hiện một sự kiện kỳ lạ.
Thì ra trên quan lộ ấy, một dọc ba xe lừa, xe nào cũng phủ mành mành kín mít, kẻ giữ cương xe mặc toàn quần áo đen, động tác lanh lẹ, hình như nhân vật trong Hắc đạo! Nàng Chu Văn bèn khẽ tiếng cho anh và Thượng Quan Linh hay.
Kẻ đánh xe hình như đã phát giác, chỉ thấy chúng hốt hoảng ra roi tăng nhanh tốc độ!
Thượng Quan Linh tưởng đâu đám cướp bóc Hắc đạo đang ăn hàng đây, chàng cũng chẳng muốn nhúng tay can thiệp làm gì trong lúc này, nên cũng chẳng đuổi theo ba xe bí mật ấy làm gì, bỗng một trong ba xe ấy, thình lình có tiếng vang ra.
Nghe tiếng đàn, Thượng Quan Linh bỗng giật mình. Trời!... tiếng đàn này nghe quen tai lắm, tiếng Bát long ngân sao? Thượng Quan Linh ngầm nhủ: Có chuyện lạ! Lập tức căn dặn ngay Chu Hoàng lo hộ vệ cho hai thiếu nữ và hãy chờ ở cửa núi Cửu Lãnh, còn mình chuyện này sẽ cùng với ngọn Duy Na chưởng thức độc thân thám hìềm hang rồng hổ huyệt của bọn này xem sao. Chia tay với Chu Hoàng xong, bèn âm thầm lén đuổi theo ba xe lừa bí mật nọ, được một chặp quả nhiên ba chiếc xe rời ngay đường quan lộ và rẽ ngay vào một đường rừng nhỏ khác hướng.
Tiếng thác nước ầm ầm đổ, ảo ảnh của Phi Các Ma cung xuất hiện trước mắt, ba xe lừa dần dần mất dạng luôn.
Vốn ngựa thuộc đường cũ, thượng Quan Linh lẻn mò ngay vào Ma Cung.
Chỉ thấy trong Ma Cung, ngày nay vẫn không thua gì xưa kia, bộ hạ của độc Ma gần như đã bị tiêu diệt hết trong chiến dịch Lãnh Hương điện trên Mặc Phụ Sơn nhưng nay lại bổ sung hoàn bị và khôi phục còn náo nhiệt hơn xưa là khác.
Lúc này chỉ thấy các nam đệ tử kỳ hình quái trạng và các nữ đệ tử xinh đẹp nhởn nhơ cười nói tấp nập như ong bướm ngày xuân.
Bọn người trong ba chiếc xe lừa bước ra, Thượng Quan Linh kinh ngạc, thì ra là Phích lịch nhị lan Sở Canh, Hạ Quyên cô nương, Giang nam Ngọc điệp Câu Phụng, Thanh Điệp Châu Sách, Hồng Điệp Châu Chu, bốn gái một trai đều bị bắt chung cả.
Thì ra kẻ cầm đầu trong đoàn xe này, sau khi tháo khăn che mặt ra hóa ra là Nhị Hung Đinh Hãm.
Xem ra bọn người này đã bị trúng ngọn nhiếp Hồn Pháp của Đinh Hãm nên không ai có thể phản kháng trong lúc này!
Chỉ riêng có nàng Hạ Quyên là vẫn ôm cây đàn Bát long ngân của chồng, thỉnh thoảng lại bật lên hai tiếng cũng may là nàng còn tỉnh được chút để gảy đàn và khiến cho Thượng Quan Linh đã kịp nhận tiếng đàn cổ Bát long ngân nên đã theo dõi ngay đến.
Thượng Quan Linh vừa kinh vừa giận chàng quyết.
Ý cứu mọi người, nhưng không biết trong ma cung này, còn những tay cao thủ nào khác nữa không? Nên vẫn do dự chưa ra tay, ngấm ngầm chờ đợi cơ hội .
Đinh Hảm đưa ngay bốn gái một trai vào ngay thế giới Lưu Ly nơi đại sảnh của Phi Các ma cung, bỗng xuất hiện một người, thân hình cao lớn mặt hình chữ nhật, tai lớn, râu quai nón, nhưng lại chỉ có một tay và một chân, nhận kỹ hóa ra Đinh Tàn.
Phong tính của hắn chưa đổi, nay ngang nhiên lại vào hùa với Độc Ma, Thượng Quan Linh thấy vậy, trong lòng bất giác nỗi giận.
Nhưng lúc này thấy tên Đinh Tàn có vẻ quan tâm đến nàng Hạ Uyên, chứng tỏ Đinh Tàn vẫn còn yêu Hạ Quyên.
Chỉ nghe hắn hỏi rằng:
- Nhị đệ tính sao với nhóm người này?
Đinh Hãm cười ha hả rằng:
- Tiểu đệ có lý nào lại không biết tính đại ca, nàng họ Hạ này lẽ đương nhiên là người ý trung nhân của đại ca, tiểu đệ đâu dám chuyên quyền can thiệp vào! Đương nhiên là hãy giao lại cho đại sư huynh. Còn về Châu Thị Song Điệp, đương nhiên là thuộc phần của tiểu đệ... còn thằng họ Sở kia, cứ tặng quách nó một đao là yên chuyện, còn mụ sồn sồn Châu Phụng coi cũng bắt mất lắm. Nhưng không hiểu sư tôn háo không?...
Nghe nói đến đây, Thượng Quan Linh đã sôi gan, chuyến này chàng quyết không để cho tên Đinh Hãm thoát lưới.
Chỉ nghe Đinh Tàn rằng:
- Vậy đa tạ nhị đệ, ta đem ngay Hạ cô nương đi đây!
Đinh Hãm rằng:
- Ấy! Ấy! Hãy khoan đã nào... về việc sư tôn đã nói với đại ca là: muốn đại ca nhập vào Vương Thiên Giáo, ý đại ca tính sao?
Đinh Tàn trầm ngâm một lúc, xong nói:
- Nhị đệ! Ta cũng không giấu gì ngươi, ta quả thật không muốn gia nhập vào Vương Thiên Giáo. Tuy ta có lòng yêu nàng Hạ Quyên, nhưng ta tuyệt không vì lòng ích kỷ để chiếm nàng, vì ta biết chồng nàng là Nam Bút tiên sinh vẫn còn sống trên thế gian này và hiện đang bị Vương Thiên giáo chủ giam giữ, nay ta sẽ đưa nàng Hạ Quyên về nguyên quán để chờ ngày đoàn tụ với chồng nàng. Ngoài việc này ra, ngu huynh xin nhị đệ hãy nể mặt ngu huynh chuyến này phóng thích ngay cho mẹ con Châu Thị và Sở Canh, nhị đệ nên biết rằng họ đều liên quan mật thiết với Độc chỉ Thôi Bác, thầy trò trên Vô Ảnh Phong chúng ta hà tất phải đi giúp sức Tỉ vương để kết thù gây oán với vị hiểm Độc chỉ Thôi Bác như thể.
Thượng Quan Linh nghe Đinh Tàn nói vậy, biết vị phế nhân này đã hoàn toàn cải tà qui chính vừa rồi mình đã trách lầm người ta.
Lúc này chỉ nghe tiếng cười lạ lùng của Đinh Hãm rằng:
- Sao đại ca ăn nói hồ đồ thế, anh phải hiểu rằng nay thế lực của Vương Thiên Giáo lớn mạnh vô cùng, các quần hào trên giang hồ đều đã qui thuận theo Tỉ Vương và cả đến bốn vị danh nhân của Càn Khôn Ngũ Tuyệt chẳng bao lâu cũng hàng thuận, còn đại ca nói về tên quỉ bệnh hoạn Thôi Bác ấy. Hà! Hà! Hà!... tiếc cho đại ca còn chưa hay tin, y đã bị Vương Thiên giáo chủ lập kế bắt giam lại một nơi rồi...
Quả Độc Chỉ Thôi Bác đã bị Tỉ Vương lập kế bắt giữ; lúc này Thượng Quan Linh càng quyết ý chế phục tên Đinh Hãm để truy hỏi về tin của Thôi Bác ngõ hầu hầu ra tay cứu.
Đinh Hãm ngập ngừng một chặp rồi khuyên Đinh Tàn hãy mau gia nhập vào Vương Thiên giáo lo gây dựng cơ đồ sau này.
Đinh Tàn không chờ y nói hết, lạnh lùng hỏi ngay;
- Nhị đệ! Bộ tính cố tình ép ngu huynh sao?
Đinh Hãm cười ha hả rằng:
- Đại ca! Kẻ sáng sủa không bao giờ nói chuyện tối tăm, nếu anh đồng ý gia nhập vào Vương Thiên Giáo, cô nàng họ Hạ đây, tiểu đệ xin kính dâng ngay cho đại ca, nếu không tiểu đệ đành mất lòng với đại ca, và chính ý tôn sư cũng muốn như thế...
Đinh Tàn cả giận quát lên:
- Hừ! Chính vì ngươi đã xui cho sư tôn sa lầy vào đường tà ác không còn tự rút thân ra được, nay ta đã quyết đem Hạ cô nương ra đi. Không tin thì tùy ý ngươi, thử xem có cản ngăn nổi hành động của Đinh Tàn ta không?
Độc cước của Đinh Tàn nhẹ nhún, nhoáng cái đã sát ngay cạnh nàng Hạ Quyên, giơ ngay cánh tay duy nhất của mình, ôm tuốt luôn cả người lẫn đàn vào lòng.
Đinh Hãm cười nhạt, bước ngay lên một bước, có ý mỉa mai rằng:
- Hừ!... Đại ca què quặt như thế, nếu không có sự trợ giúp của tiểu đệ e khó mà thoát ra khỏi nơi Vô Ảnh Phong của Cửu Lãnh Sơn.
Đinh Tàn vừa tính bung mình đi, nhưng Đinh Hãm xảo quyệt đã chận ngay lối, đôi tay xòe ra, chia đánh ngay vào các trọng huyệt của Hạ Quyên!
Vì chỉ có một tay mà lại mắc ôm nàng Hạ Quyên, không biết làm sao, đành phải buông ngay Hạ Quyên xuống, Đinh Hãm khoái trí cười ha hả.
Thình lình Đinh Tàn chủ động ra tay công đánh, chỉ thấy độc cước khẽ nhích, cả một thân hình đồ sộ chụp ngay sang phía Đinh Hãm, đồng thời vung tay bửa ngay thượng bàn Đinh Hãm, một luồng kình lực kinh người!
Đinh Hãm né tránh không kịp, pắc một tiếng, trên má bị ngay một cái tát bốc lửa!
Nhìn kỹ, Đinh Hãm đã sưng má và ứa máu nơi miệng, Thượng Quan Linh đứng trong bóng tối cảm thấy khoái lạ! Khiến cho chàng cũng không khỏi phục thầm về thân pháp nhanh tuyệt của Đinh Tàn.
Sau cái tát dữ dằn ấy, Đinh Hãm từ thẹn đổi sang tức, chỉ nghe hắn hét lên một tiếng, rút ngay kiếm ra khỏi vỏ, đâm chém bừa sang đại sư huynh. Đinh Tàn nào chịu kém thế, vung ngay độc bối của mình đỡ đòn.
Lúc này trong đại sảnh của Ma Cung anh em họ Đinh mở cuộc đụng chạm nảy lửa với nhau, mạnh ai nấy xử hết tuyệt kỹ của mình ra để chiếm phần ưu thế. Thân pháp hai bên chập chờn như Thố khởi hạc lai (Thỏ nhảy hạc sà), cuộc giao tranh càng lúc càng ác liệt.
Các đệ tử nam nữ trong Ma Cung né tránh tưng bừng rối loạn!
Thượng Quan Linh lúc này nghĩ thầm: cứ để họ tự ra tay trừ nhau, mình đỡ phí hơi tốn sức càng hay.
Nhìn trận chiến, mười hiệp đã dư, và cũng đã phân rõ ngay ra cảnh yếu và mạnh, công lực của Đinh Tàn quả hơn hẳn Đinh Hãm, tuy chỉ độc cước và bối, nhưng ngang nhiên đối địch với ngọn trường kiếm của Đinh Hãm, và phần nhiều tiến đánh hơn là giữ thế, ngoài mười hiệp đã chiếm hẳn ưu thế.
Bỗng Đinh Hãm quát lên một tiếng, thình lình nhảy vào ngay về phía sau, chỉ thấy hai ánh mắt kỳ lạ ngó ra!
Thượng Quan Linh bất cẩn, vừa ngó vào ánh mắt ấy lập tức cảm thấy không hay ngay, biết rõ đây là ngọn Nhiếp Hồn Pháp, chàng vội vàng thu ngay tâm thần của mình lại, không dám nhìn vào ánh mắt của y nữa. May là chàng kịp phát giác ra sớm, nên không bị ảnh hưởng gì.
Trong lúc ấy trước mặt Đinh Hãm, nghe Đinh Tàn lớn tiếng quát:
- Trò trẻ con ấy mà cũng dám mang ra lòe ta sao? Hãy coi và nhận chưởng của ta đây.
Đinh Tàn quả là tay cừ tuyệt, ngọn chưởng vung ra trong cơn tức ấy, kình phong ào ào dữ dội, khiến cho tên Đinh Hãm không làm sao đứng vững, toàn thân lảo đảo như gió phất cành liễu.
Đinh Tàn được thể đâu chịu nhường, liền vèo ngay thân lại liên miên bồi luôn một hơi mấy chưởng, khiến cho Đinh Hãm chỉ còn nước lúng túng đỡ đòn!
Đinh Hãm biết nguy, vội vung kiếm tính đột vòng vây nhảy ra, nhưng ác nỗi ngũ chỉ của Đinh Tàn múa nhảy khắp mình hắn, khiến hắn không sao thoát thân ra được Đinh Hãm dần dần đuối thế hẳn, túng quá, Đinh Hãm đành kêu lên những tiếng thê lương rợn người!
Đây vốn là một ngọn cuối cùng nhất của y, vì tiếng kêu thê lương rợn người này có thể khiến cho kẻ địch bàng hoàng vất vưởng tâm thần, do đó mà động tác bị đình trệ đi phần nào, khiến cho y thừa dịp tháo thân đào tẩu!
Nhưng xui cho hắn, trước mặt đại sư huynh Đinh Tàn, quỉ kế của hắn lại không phát sinh ra một hiệu lực gì! Đinh Tàn vẫn đánh tới dồn dập, khiến cho Đinh Hãm càng lúng túng.
Thình lình Đinh Hãm hét lên một tiếng, anh em họ Đinh trong chiến trận hấp tấp nhảy bay cả ra.
Trong bóng tối, Thượng Quan Linh cũng kinh hãi chăm chú.
Chỉ thấy ngực Đinh Tàn bị toạc ra một vết thương lối mấy tấc, áo rách, máu tươi lênh láng!
Không ngờ tên Đinh Hãm trong cơn nguy ngập như thế vẫn ngẫu nhiên chuyển bại thành thắng!
Nhưng càng lạ hơn nữa là: sau khi khiến cho Đinh
Tàn bị thương, đáng lẽ hắn phải nhân ngay dịp may này mà đào tẩu cho nhanh, thế mà không biết tại sao tên Đinh Hãm vẫn đứng yên tại chỗ, và thân hình run rẩy như kẻ lên cơn sốt!
 
0
Hồi 079. Thử Sơ Tuyệt Kỹ
[/align]

Thượng Quan Linh chăm chú nhìn kỹ, lập tức hiểu ngay, thì ra Đinh Hãm sau khi thắng đòn, toàn thân đã đuối sức hẳn, không làm sao còn cất bước nổi.
Đinh Tàn lúc này cả giận lớn tiếng quát rằng:
- Đinh Hãm! Ta rất cảm ơn về ngọn kiếm này của ngươi, luôn thể ta cũng xin lỗi luôn, ân nghĩa giữa chúng ta nay đã đoạn tuyệt, vậy ta cũng mời người nếm luôn thể ngọn chưởng của ta cho biết.
Chợt Đinh Tàn bước ngay tới, vung luôn ra một chưởng. Toàn sảnh như đang gặp bão thổi tới ùng ùng lạnh người! Hiển nhiên Đinh Tàn đã dốc hết toàn lực về ngọn chưởng này.
Trong lúc này, Thượng Quan Linh mới hiểu thêm:
- Đinh Tàn vẫn còn nghĩ đến chút tình hương hỏa với Đinh Hãm, nên trong lúc ra tay vẫn chưa nỡ thẳng tay toàn lực đến nay bị thương như vậy mới quyết ý thẳng tay.
Công lực của Đinh Tàn có thể nói là đã hoàn toàn biểu lộ ra hết, quả là kinh thế hãi tục, như sấm rền vạn nẻo, như có thể xô núi nứt đá, xem ra Đinh Hãm khó tránh khỏi, nhưng sau khi Đinh Tàn phát ra ngọn chưởng kinh người ấy, bỗng có tiếng quát lên:
- Ngừng tay ngay!
Chỉ thấy một bóng đen, đang từ trên không nhoáng vèo xuống, trên lưng chừng đã phát chưởng ra để ngăn chặn Đinh Tàn!
Bùng một tiếng, thế chưởng của Đinh Tàn đã phát quá nhanh, không sao ngăn chặn đúng theo ý muốn, bóng đen đã chậm một bước, không kịp để chặn ngọn kình phong của Đinh Tàn, chi hơi đụng xéo ngọn chưởng phong của Đinh Tàn.
Phần vì tức giận Đinh Hãm tuyệt tình nhân nghĩa, phần Đinh Tàn cảm thấy thế đang cưỡi lưng cọp khó xuống, lúc này chỉ thấy ngọn kình phong không những không ngừng, mà trái lại càng tăng thêm tốc độ nhanh như chớp vọt sang phía Đinh Hãm.
Đinh Hãm rú vang lên một tiếng kinh hồn, khiến người nghe rợn tóc gáy nổi da gà.
Hình như cùng với tiếng rú kinh người ấy, bóng đen cũng đã hạ chân đứng gần ngay đó, và đã toàn lực phát chưởng đẩy bật ngay Đinh Tàn sang một bên. Thượng Quan Linh nhận ra bóng đen chính là chủ nhân Phi Các ma cung Độc Ma.
Độc Ma kỳ này không dùng đến liễn xa, toàn thân mặc cẩm bào óng ánh, khăn thêu bịt mặt với thân hình cao lớn bước ngay sang khám nghiệm thương thế của ái đồ Đinh Hãm. Hình như tên Nhị hung Đinh Hãm sắp chết đến nơi, nhưng cũng ngay lúc này, lại có chuyện quái lạ xảy ra.
Chỉ thấy Ma Cung chủ nhân ôm ngay Đinh Hãm vào lòng, Nhị Hung cố gượng buột miệng kêu:
- Thưa cha! cha ơi!...
Từ Đinh Tàn cho đến Thượng Quan Linh đang nấp trong bóng tối đều nghe rõ tiếng gọi thê lương ấy, họ đều giật mình nghi hoặc trong bụng.
Độc Ma lúc này không khác gì kẻ điên cuồng, ôm chặt ngay Đinh Hãm, lên tiếng gọi và nói:
- Con... Con... Hãy ráng lên... con... con... con không thể nào chết được... con không nên để cha lại mà ra đi như thế... trời ơi ...
Trong cơn quá cấp bách, Ma Cung chủ nhân quên cả việc cứu cấp cũng có lẽ Độc Ma thừa biết thương thế quá nặng của Đinh Hãm, không còn thuốc gì chữa nổi, nên đành chịu trận.
Tiếng gọi của Độc Ma quả đã khiến cho Đinh Hãm từ từ hé mở mắt tuyệt vọng lắp bắp nói:
- Ra... cha... chính... là... cha của... con...
Ma Cung chủ nhân gật đầu rối lên. Hấp tấp nói:
"Con ơi!... Đều tại ta cả... ta đã có ý giấu con trong suốt bao nhiêu năm trời nay, mẹ của con đã bị ta bỏ bê từ lâu đến nông nỗi này, ta cũng chẳng còn giấu giếm gì con nữa, vậy cha sẽ kể rõ cho con hay vậy?... Hồi ấy, ta với mẹ con yêu nhau, và bộ mặt của ta đã được đặc chế bằng thứ da người Côn La Trà ở hải ngoại để che đậy cái xấu xí kinh dị của ta, và đến cả đôi chân tàn phế của ta cũng dùng thứ kim thuộc miền Bắc Hồ để tạo thành Kim thoái và linh động không thua gì người thường... Nhưng vì ta đã tự biết thân phận, khuôn mặt của ta vốn là một khuôn mặt kinh khủng rùng rợn nhất dưới vòm trời đương kim, huống hồ ta đã từng lập lời nguyền, còn sống ngày nào, ta quyết không để cho ai thấy bộ mặt thật của ta, bất luận ai phạm phải lời nguyền này của ta đều phải chết!
Nhưng mẹ con hồi đó vì trẻ và lại đầy tính háo kỳ, nhân lúc ta ngủ say, đã lén giở chiếc Côn La Trà trên mặt ta để xem rõ mật thật của ta! Nhưng vì bộ mặt kinh khủng của ta rùng rợn nên mẹ con đã thét rú và chết ngất luôn dưới mặt đất, từ trong làng mộng ta tỉnh dậy, và hiểu ngay chuyện gì đã xảy ra, đáng lẽ ta đã giết ngay mẹ của con lúc đó... nhưng nàng là người mà ta yêu nhất trên đời, ta không nỡ ra tay, cuối cùng ta âm mưu bỏ đi ngay!
Một năm sau, ta mới biết tin nàng đã sinh ra con, cũng vì bệnh độc di truyền, nên khi sinh con ra tóc đều trụi trơ, dạng mạo cực kỳ xấu xí, thế là hàng xóm láng giềng bắt đầu kỳ thị mẹ của con, và nàng đã lén đưa con vào trong rừng và tự tử luôn trong núi. Từ đó ta đưa con về nhà nuôi nấng cho đến ngày nay. Con ơi!... tuy ta không nói rõ về mối quan hệ giữa cha con mình, nhưng trong những sự đối đãi hàng ngày của ta, con là người thông minh, đương nhiên là có thể nhận ra sự khác biệt..."
Nghe đến đây, Đinh Hãm cố gượng nói lên một câu:
- Cha ơi ! ... con ... con muốn ... được như mẹ ... thấy được khuôn mặt thật của cha...
Ma Cung chủ nhân không do dự gì, lập tức nói ngay:
- Con... Thế nào cha cũng làm vừa lòng con... chỉ vì con là con ruột của cha...
Dứt lời đưa tay lên từ từ gỡ chiếc khăn thêu, lộ hẳn ra một bộ mặt mỹ miều của chiếc mặt nạ Côn La Trà. Thình lình sẹc! một tiếng, Độc Ma xé toạc ngay chiếc mặt nạ.
Bộ mặt chân thật của Độc Ma đã hiển lộ...
Đinh Tàn kinh hãi lùi bước!...
Thượng Quan Linh ngộp người suýt thất thanh kêu lên!...
Thì ra khuôn mặt của Độc Ma không còn một khuôn mặt nữa! Nói rõ ra là một chiếc đầu lâu sống động kinh khủng, lỗ mũi sâu hóm, khi nhích động, nếu thính tai sẽ nghe rõ tiếng ken két của các khớp xương cọ vào nhau! Xưa kia Thượng Quan Linh đã từng thấy bộ mặt dữ tợn rừng rợn của Tam Hung Đinh Hủy, nhưng nếu đem so với khuôn mặt của thấy y lúc này quả còn thua hẳn một trời một vực!
Một khuôn mặt như đầu lâu sống rùng rợn ấy, dù cho công lực Thượng Quan Linh cao tuyệt đến đâu, lúc này nhìn thấy cũng phải rùng mình nổi da gà đầy mình. Chỉ thấy tên Đinh Hãm sau khi thấy rõ bộ mặt thật của thân sinh mình, thình lình hắn cất tiếng cười như điên cuồng!
Thượng Quan Linh lấy làm quá lạ! Bị trọng thương sắp chết đến nơi, sao còn có thể phát ra tiếng cười như điên vậy. Nhưng chỉ nghe Đinh Hãm cố gắng thốt ra một câu cuối cùng:
- Trời... Không ngờ cái xấu của con còn thua như thế... sau sư huynh Đinh Hủy... con đã tưởng mình chiếm hạng nhì... bây giờ mới biết mình, mình còn thua hai bậc... mà hãnh diện hơn hết là cha của con đã chiếm quán quân!... Thưa cha... con... xin... vĩnh... biệt... cha... đi đây
Dứt lời hộc máu tươi, hai chân duỗi thẳng, hơi thở dứt luôn...
Độc Ma nức nở khóc, nhưng tiếng khóc vô cùng quái dị, nước mắt cũng lăn trên hai gò má xương, nhưng tuyệt không hễ thấy nước mũi, càng lạ hơn nữa là đáng lẽ Đinh Tàn nên nhân dịp này mà trốn đi cho yên, nhưng lạ cái Đinh Tàn vẫn đứng trơ như không có gì xảy ra xung quanh mình.
Trong bóng tối, Thượng Quan Linh cảm thấy không khí đại sảnh bi ai thảm thương, và cũng đã dần dần đi đến tình trạng căng thẳng!
Chàng hồi hộp chờ đợi, chuẩn bị ứng phó với những biến chuyển thình lình xảy ra...
Ma Cung chủ nhân lúc này nức nở rằng:
- Đinh Hãm con ơi?... con an trí yên giấc đi! Chỉ tiếc cha đã đến chậm một bước, nhưng cha nhất định giết kẻ thù cho con, để con được hả dạ nơi chín suối...
Dứt lời từ từ đứng dậy và bước sang phía Đinh Tàn, lạnh lùng cười...
Tiếng cười khiến cho người ta rợn tóc gáy. Ánh sáng trong sảnh vốn đã thiếu thốn không rõ, lúc này Ma Cung chủ nhân bắt đầu chập chờn hành động, chỉ thấy trên cổ áo của chiếc cẩm phục óng ánh ấy, một chiếc đầu lâu sống đang nhích động cựa quậy, thật không khác gì hồn ma quỉ sống xuất hiện. Đinh Tàn lùi dần về sau lớn tiếng:
- Thưa sư phụ...
Ma Cung chủ nhân lạnh lùng lên tiếng:
- Đứa nào đang gọi ta là thầy đó, phải học trò và kẻ thù đã giết con ta đó không?...
Đinh Tàn lớn tiếng phân trần:
- Thưa thầy, xin thầy hãy khoan dung đệ tử không biết Nhị đệ lại là con ruột của thầy, nên đệ tử đã chót lỡ tay, tội đáng chết nhưng mong sư phụ hãy tội nghiệp nghĩ đến Tứ đại đệ tử của Ma Cung này chỉ còn lại mỗi mình con đây, nếu quả sư phụ nhất quyết giết con, sau này lấy ai để phụng hầu bên cạnh thầy...
Ma Cung chủ nhân cười quái gở rằng:
- Đinh Tàn! Nay ta cũng chẳng cần đến sự hầu hạ của ngươi nữa! Hai người thân yêu nhất của đời ta, một vợ một con, đều đã lìa bỏ ta ra đi... ta cũng chẳng luyến tiếc gì thế gian này nữa! Vậy ngươi cũng nên theo ta đi chung một chuyến này cho rồi...
Ma Cung chủ nhân lúc này giơ luôn hai tay ra, Thượng Quan Linh giật mình, không những bộ mặt biến đổi mà cả đến đôi tay cũng khác hẳn như xưa kia, chỉ thấy xương khô và móng tay dài nhọn, rõ ràng là đôi quỉ trảo chứ đâu phải tay người.
Chỉ thấy Độc Ma giơ hai trảo từ từ bước gần về phía Đinh Tàn để chụp. Đinh Tàn hoảng hốt cố gắng rằng:
- Thưa thầy, thầy quên lời định ước của chúng mình rồi sao? Bất luận an nguy thế nào, chúng ta đều phải chung sống với nhau, quyết không nên ép nhau...
Độc Ma thê lương lạnh lùng rằng:
- Đinh Tàn! Không lý ngươi lại không biết lời nguyền của ta? Kẻ nào đã thấy mặt ta, tất nhiên phải chết, vợ ta con ta đều chết, bộ ngươi còn muốn sống sao?
Đinh Tàn thở dài, đành chuẩn bị sẵn sàng, mắt thấy khó tránh khỏi một cuộc kịch chiến; lúc này Thượng Quan Linh nghĩ nhanh: có nên ra tay trợ giúp Đinh Tàn không?
Trong lúc ý nghĩ của chàng còn băn khoăn chưa dứt khoát ấy, trong đại sảnh Ma Cung Độc Ma đã phát khởi thế công, trạng thái quái dị lập tức hiện ngay trước mắt!
Chi thấy Độc Ma thình lình lao mình nháy bay tới! Những tiếng chuyển động kêu răng rắc tiếng trong các khớp xương của vị Độc Ma nổi lên ớn lạnh, đôi quỉ trảo xòe nhanh ngay ra, tiến sát về phía Đinh Tàn. Nhưng thình lình Độc Ma lại chậm rãi bước tới như quỉ nhập tràng!
Thượng Quan Linh thấy quái trạng trước mắt đây, không khác nào như kẻ mắc bệnh mộng du, chàng chợt hiểu ngay, đây là ngọn Đại Ma thần công và chính do đây mà chủ nhân Ma Cung lấy danh là Độc Ma; có thể nói môn tuyệt học này của Độc Ma là ngọn bản lãnh lợi hại nhất!
Chắc Độc Ma cũng thừa biết công lực của vị đại đệ tử Đinh Tàn này ra sao rồi, nếu không dùng đến ngọn tuyệt kỹ này, khó lòng mà giữ phần thắng cho mình.
Chỉ thấy Độc Ma lúc này sử dụng đến ngọn tuyệt học Độc Ma thần công, đôi quỉ trảo thò ra rụt vô, hai chân nhảy lăng xăng, chẳng khác gì bộ xương người khoác áo nhảy múa tứ tung, thoạt đầu cũng chưa thấy gì lợi hại.
Nhưng nhìn về phía mặt Đinh Tàn, lúc này sắc mặt bạc như vôi, trán đã toát mồ hôi! Tả xông hữu đột mà vẫn không sao thoát khỏi!
Chỉ thấy kình phong ào ạt, các động tác của đôi quĩ trảo, đều đâu vào đó, phần đông được đánh ra bằng hình tròn, chỉ thấy Đinh Tàn cố gắng xông khỏi vòng vây, hễ mỗi lần sắp thành công, lại bị sức quỉ trảo thu hút ngay về vị trí cũ .
Thời gian càng kéo dài, ưu thế càng thiên hẳn sang phía Độc Ma, dần dà sinh mạng của Đinh tàn đã bị thao túng trong tay Độc Ma, nhưng lúc này Độc Ma vẫn chưa chịu ra tay sát thủ, tay chân vẫn nhảy múa quay cuồng như kẻ biến trí, phát ra những luồng phong hiểm độc bao vây chặt chẽ xung quanh Đinh Tàn.
Thượng Quan Linh lúc này mới nhận thấy sức lợi hại của Đại Ma thần công ghê gớm như vậy, mắt thấy Đinh Tàn chỉ còn nước giữ đòn, hoàn toàn bị động! Nếu kéo dài thời gian, thế nào cũng bị thiệt mạng. Thượng Quan Linh tự hỏi lòng: Nên ra tay để cứu ngay không?
Thượng Quan Linh đâm do dự và băn khoăn, vì nếu loại võ công của Ma Cung chủ nhân thuộc loại đàng hoàng chánh tông, thì chàng dám liều để thử, nhưng ác nỗi lại là một thứ võ công hiểm độc quỉ dị, chàng phân vân không hiểu liệu có thắng nổi không?
Trong lúc Thượng Quan Linh mải suy nghĩ trong bóng tối, thì nơi ánh sáng, cuộc giao tranh đã sang giai đoạn khác.
Cuộc nhảy múa điên loạn của Độc Ma lúc này càng tăng nhanh kinh người.
Thình lình một tiếng kêu quái đản như ma hét; Thượng Quan Linh cũng lạnh xương sống luôn!
Sau tiếng hét ấy, tay chân của Đinh Tàn cũng nhảy múa theo!
Thoạt tiên, Thượng Quan Linh ngỡ đâu Đinh Tàn đang dùng lối đánh Dĩ độc trả độc, chắc Đinh Tàn cũng biết về lối Đại Ma thần công, nên lúc này mang ra đối chọi đây. Chỉ thấy đôi bên mặt nhìn mặt nhau nhảy múa tưng bừng, chớp nhoáng, cả một đại sảnh cuồng phong càng dữ dội, khiến cho kẻ nhìn bị hoa mắt loạn thần...
Trong cuộc nhảy chọi với nhau ấy, Ma Cung chủ nhân, động tác dần dà chậm lại và cuối cùng trở nên yên tịnh và đứng hẳn sang một mé, giương đôi mắt lạnh lùng vô cảm tình và đầy tia tàn nhẫn nhìn Đinh Tàn. Trái lại, Đại hung Đinh Tàn, càng nhảy càng nhanh, càng hấp tấp mồ hôi dầm dề như tắm, thần sắc vô cùng đau đớn, muốn thôi mà không sao được.
Thượng Quan Linh suýt bật tiếng kinh hãi kêu lên! Thì ra sự lợi hại của Đại Ma thần công không phải chủ động ra tay giết đối thủ. Trái lại là khiến cho đối thủ nhảy múa đến chừng nào kiệt hơi hết sức lăn ra mà chết.
Thượng Quan Linh vừa kinh vừa giận về lối giết người dã man này, chàng tính hiện ngay thân ra để cứu Đinh Tàn, nhưng chàng lại hiểu ngay không làm sao cứu nổi, nếu mình không biết rõ bí quyết của môn võ công tà ác này. Không chừng lại khiến cho Đinh Tàn thiệt mạng sớm là khác, phải cẩn thận mới được.
Tuy chàng biết chắc số mạng của Đinh Tàn đang lâm nguy kịch độ, nhưng lại nghĩ không ra cách gì để giải cứu Thượng Quan Linh bối rối và hoang mang vô cùng!
Thình lình nghe tiếng quát lớn của Độc Ma, chỉ thấy Đinh Tàn bỗng giơ ngay bàn chưởng lên cao, và nhắm ngay vào thiên linh cái của mình bửa mạnh xuống.
Một tiếng Pắc nổ lên trong đại sảnh Ma Cung, Thượng Quan Linh ôm mặt không dám nhìn, nhưng trong lòng hối hận mình đã không kịp ra tay cứu người!
Đành đứng trân người nhìn Đinh Tàn bể sọ chết thảm thương, xác lăn đùng ra giữa sảnh Ma Cung.
Ma Cung chủ nhân cười lạnh lùng đưa mắt nhìn khắp đại sảnh một lượt, bỗng tia nhìn lại vẻ tàn nhẫn hung bạo.
Thượng Quan Linh chợt giật mình, vì bốn nữ một nam đang mê mân về Nhiếp Hồn Pháp của Đinh Hãm hãy còn đứng tại một góc kia.
Ma Cung chủ nhân cười nham hiểm từ từ bước sang phía nhóm Sở Canh.
Thượng Quan Linh tự nhủ thầm: Vừa rồi đã lỡ hy sinh Đinh Tàn, bây giờ không thể nào chần chờ nữa, dù cho Đại Ma thần công lợi hại đến đâu, đã mang danh kẻ hiệp nghĩa, không thể nào làm ô danh đi được. Huống hồ sống chết đều có mạng trời an bài... Nghĩ xong, hào khí chàng bốc đấy mình, từ nơi nấp thân, chàng vọt bỗng ra lớn tiếng hét:
- Có Thượng Quan Linh đây!
Độc Ma chợt quay nhanh người lại, trong cảnh diện đối diện (mặt nhìn mặt) này, Thượng Quan Linh lại bị khiếp người với bộ mặt đầu lâu sống của Độc Ma, động tác chàng đâm lúng túng, chợt chàng nghĩ: không nên khớp hoảng và nhìn vào mặt Độc Ma, nếu không đến mắc mưu địch mất!
Ma Cung chủ nhân lạnh lùng rằng:
- Nhãi con! Ra là ngươi đến đây hả! Hà... Hà!..
Chuyến này chắc chắn không phải là Vương Thiên giáo chủ chứ!... Nhãi con chỉ là hạng hậu bối trong giang hồ, có gì mà hống hách vênh váo đến thế!...
Thượng Quan Linh bị nói khích, cả giận rằng:
- Độc Ma! Khinh người vừa vừa chứ! Nay Thượng Quan Linh ta dám ngang nhiên dùng địa vị của kẻ hậu bối để khiêu chiến với ngươi.
Nói xong chàng sửa bộ đứng tấn chờ đợi.
Thấy vậy, Độc Ma lại nổi lên một trận cười quái gở và khen:
- Nhãi con khí phách hiên ngang thật! Đúng là dê con không ngán cọp thiêng, thảo nào Vương Thiên giáo chủ đã tán thưởng đến oách con ngươi ... Ta đã có lời nguyền từ trước, hễ thấy mặt thật của ta đều phải chết! Thôi đành vậy, ta chắc ngươi không đời nào chịu nhận điều kiện tự tử, nếu không lộ sơ tuyệt kỹ của Đại Ma thần công trong Phi Các tiên cung chắc ngươi không chịu tâm phục. Vậy hãy đứng yên để mà thưởng thức!...
Dứt lời, hai cánh tay như quỉ trảo duỗi thẳng ra ngay, chân dậm mạnh một tiếng, cuộc nhảy múa quái gở bắt đầu. Thượng Quan Linh không ngờ tên ma đầu này mới vào mà giở ngay đến ngọn võ công hiểm độc quỉ dị này ra, cảnh chết thê thảm của Đinh Tàn là cái gương soi sáng cho mình, nghĩ vậy, Thượng Quan Linh lạnh mình.
Bản năng đã tự động xui khiến chàng đào tẩu, nhưng đôi chưởng như quỉ trảo của Độc Ma đã quơ mạnh ra, Thượng Quan Linh chỉ cảm thấy một sức mạnh âm nhu đã hút ngay chàng về vị trí cũ, đồng thời đôi tay vung tua tủa thành các vòng tròn ấy, làm như đã tạo ra một bức tường vô hình vây quanh lại vậy, không làm sao có thể xung đột ra được. Cảnh Đinh Tàn vừa bị vây hãm đây không ngờ bây giờ luân đến phiên mình, trong lòng càng đâm hoảng sợ.
Dần dà, áp lực của chủ nhân Ma Cung càng lúc càng dữ dội.
Thượng Quan Linh nằm trong cảnh tuyệt địa, bản năng cầu sống của con người đã thúc giục chàng cố gắng để đột vây tả xung hữu đột; đụng tới đâu, chàng cảm thấy như dội vào một bức tường mềm dẻo đến đó, lập tức lại bị dội trở về vị trí cũ.
Bỗng linh cảm của Thượng Quan Linh tới đột ngột trong lúc chân tay của chàng sắp sửa múa nhảy theo động tác của Độc Ma! Sao mình không dùng thử Hữu Duy Na bát thập nhất chưởng? Nghĩ tới đây, chàng như tìm được một ánh đèn trong đêm tối mịt mù. Vì ngọn Duy Na Chưởng có thể thắng nổi Tỉ Vương thì Độc Ma trước mặt đây không thể nào đối phó nổi, vì thực ra công lực của Độc Ma đây làm sao bì bằng với Tỉ Vương của Vương Thiên Giáo? Nếu không làm sao y lại chịu ngoan ngoãn nghe lời của Tỉ Vương?
Nghĩ vậy, Thượng Quan Linh bèn dùng ngay đến ngọn tuyệt học Duy Na chưởng thức khởi chiến. Tuy bị bao vây chặt chẽ, và phạm vi bị siết nhỏ chập hẹp, nhưng Thượng Quan Linh vẫn có thể hoàn thành với thế khởi điểm của mình, co gối bên mặt lên, một chưởng hướng thiên, một chưởng hướng địa. Tiếp theo là biến thế, óc chàng lúc này nhớ kỹ ngay các bức vẽ của Đại Ngũ Trì, cứ liên miên thứ tự diễn ra. Mắt chàng không dám nhìn thẳng mặt địch, chỉ biết cúi đầu đánh ra các thế mình đã học, thoạt đầu không khỏi có cảm giác vướng tay ngượng chân, nhưng chỉ sau mười đòn, những áp lực chung quanh đã cảm thấy giảm hẳn. Lòng tin của Thượng Quan Linh tăng lên, chàng bắt đầu đánh nhanh như vũ bão cuồn cuộn sang phía Độc Ma. Khiến cho Độc Ma lúng túng không còn sức để trả đòn, chỉ còn cố lo đỡ!
Thét rồi Ma Cung chủ nhân cảm thấy đỡ đòn khó khăn, thế cục lúc này nghịch đảo hẳn; Thượng Quan Linh vẫn cúi đầu đánh chí mạng; Hữu Duy Na chưởng pháp quả là môn tuyệt học bí truyền xứ Thiên Trúc! Vì sau ba mươi hiệp, chủ nhân Ma Cung đã hoàn toàn bị đuối thế, chỉ toàn thấy lùi và lùi... Trong lúc này, Thượng Quan Linh vẫn lo ngại về tà công Đại Ma thần công của Độc Ma, không dám ngừng tay, cứ chuyên tâm công hãm tới tấp! Cứ hết thế này chuyển nhanh sang thế kia, khi đến thế bốn mươi chín của ngọn Huyết lệ đảo lưu, Thượng Quan Linh thấy thuận tay vô cùng, chàng bất giác cất tiếng rú lên một tiếng sung sướng! Bỗng cảm thấy tay mình nhẹ hổng, thì ra kẻ địch trước mắt mình đã bị trọng thương và nằm lăn ra dưới đất từ lúc nào, không thấy động đậy!
Thượng Quan Linh lúc này như tỉnh mộng, biết lời nói của Thượng Quan Tứ quả không sai, nếu Duy Na Chưởng luyện cho thật thuộc và tinh vi, công lực ấy sẽ trở thành tay vô địch miền Trung Thổ. Chàng sung sướng mừng thầm trong lòng. Bỗng chàng sực nhớ cần phải truy hỏi Độc Ma về Tỉ Vương và Độc chỉ Thôi Bác hiện ở đâu!
Lúc này Thượng Quan Linh đã hết ngán bộ mặt đầu lâu sống của Độc Ma, chàng bước tới và thụp ngay ngực chủ nhân Ma Cung hỏi:
- Hừ! Tỉ Vương và Thôi Bác tiền bối hiện ở đâu? Mau nói!
Độc Ma lúc này cố gắng chịu đau và thở dài! Chứng tỏ vị ma đầu này đã hổ thẹn, vì không ngờ đại danh lẫy lừng của mình bây giờ lại bị bại về tay một kẻ hậu bối trong giang hồ như thế, trong bụng quả không cam lòng chút nào.
Độc Ma cố gượng hỏi:
- Nhãi... nhãi con, ngọn võ... công của... người học... gọi là... võ gì hả?
Thượng Quan Linh cười dõng dạc nói:
- Độc Ma! Thiếu hiệp ta nay cũng chẳng cần giấu gì thà ngươi, để cho ngươi thua một cách tâm phục khẩu phục. Vừa rồi thiếu hiệp ta đã sử dụng đến ngọn tuyệt học của xứ Thiên Trúc, đó là một môn huyền công vô thượng Phật môn tại tịnh xá Bàn Na Tha ở vùng thượng lưu sông Hằng Hà, được mệnh danh là Hữu Duy Na bát thập nhất chưởng trong môn Vô Tướng thần công...
Dẫu cho Độc Ma là người hoành hành trên giang hồ khét tiếng và hiểu biết rộng đến đâu nữa, nhưng vẫn chưa bao giờ nghe đến môn võ công lạ lùng này. Nhưng Độc Ma hiểu rằng Thượng Quan Linh đã nói thật, đành ngậm ngùi cúi đầu. Thượng Quan Linh sợ Độc Ma chết thình lình, nên đã vội hỏi về tin Tỉ Vương và Độc chỉ Thôi Bác. Mắt Độc Ma bỗng bừng lên, đưa ngay ra một điều kiện để trao đổi, nghĩa là di hài của Độc Ma và Đinh Hãm phải được dời ngay xuống dưới ngọn thác của Vô Ảnh Phong, và hãy chôn gần với một ngôi mộ tại đó.
Trong ngôi mộ đó chôn một người đàn bà, chính là ái thê của Độc Ma, và cũng là thân mẫu của Đinh Hãm.
Thượng Quan Linh khẳng khái nhận lời:
- Được! Ta sẽ hứa giúp là hợp táng ba người cùng một chỗ, nhưng bây giờ ngươi hãy mau cho ta biết tin Thôi đại hiệp ở đâu?
Độc Ma cố gắng nói, Thôi Bác hiện bị Tỉ Vương giam cầm lại Lục Bàn Sơn tỉnh Cam Túc trong một hang cốc kỳ dị được mệnh danh là Thiên Nhẫn Chiêu. Thượng Quan Linh lại hỏi về tên đại hung Vương Thiên giáo chủ Tỉ Vương, hiện ở đâu? Nhưng Độc Ma ấp úng có vẻ sợ sệt không dám nói. Hiển nhiên vị chủ nhân Ma Cung này vẫn còn ngán sợ Tĩ Vương, mặc dù sắp chết đến nơi, cũng không dám bội phản Vương Thiên giáo chủ để tiết lộ bí mật nơi ở của Tỉ Vương.
Thượng Quan Linh vừa bực vừa giận, chàng cố ý nhấn mạnh về điểm đôi bên phải giữ lời hứa như điều kiện đã đưa ra, nếu Độc Ma cố tình không nói, Thượng
Quan Linh cũng chẳng cần nhọc hơi để thi hành nghĩa vụ mai táng! Lời đe dọa này quả nhiên đã có hiệu lực, Ma Cung chủ nhân đành phải khai rõ là Tỉ Vương hiện đang ở tại Lãnh Hương Điện, Mặc Phụ Sơn của Đoạn trường nhân Độc chỉ Thôi Bác.
Sau câu nói này, Độc Ma đã tự cắn đứt ngay lưỡi, thế là một vị ma quân lừng danh đã đem theo tất cả nỗi hận lòng xấu xa của mình rời sang thế giới u minh khác.
Thượng Quan Linh buông ngay xác chết Độc Ma xuống, chàng lo lấy nước để cứu tỉnh năm người.
Sở Canh, Hạ Quyên, Châu Phụng, Châu Sách, Châu Chu trước sau đều tĩnh hết lại; sau khi thấy Thượng Quan Linh và mọi tình hình trong đại sảnh của Phi Các ma cung, ai nấy như vừa tỉnh cơn mộng. Thi hài rùng rợn của Độc Ma quá khủng khiếp, nên chị em Hồng Điệp và Thanh Điệp trông thấy kêu rú lên một tiếng, toàn thân loạng choạng muốn ngất xỉu. Thượng Quan Linh không ngờ Độc Ma đã chết mà vẫn còn oai lực khiến người ta phải kinh hoàng đến mức đó, chàng vội lấy khăn che ngay khuôn mặt đầu lâu của Độc Ma lại. Hạ Quyên lúc này cũng phát giác thi hài Đinh Tàn, nàng đau khổ xúc động, chạy ngay ôm xác khóc thảm thương. Thượng Quan Linh vội cho Ngọc điệp Châu Phụng hay, nay anh em Chu Hoàng đang chờ tại cửa núi Cửu Lãnh và cả A Hương cũng có mặt ngoài đó, dặn hãy mau đưa ba nàng ra đó gặp họ trước. Còn tất cả các việc tại đây, chàng và Sở Canh sẽ lo liệu thu xếp. Ngọc Điệp vội khuyên Hạ Quyên và cùng với hai cô con gái lo rời khỏi Ma Cung ngay.
Sở Canh lúc này gặp Thượng Quan Linh mừng quýnh lên, thôi thì hỏi han rối rít về Nam Bút, Nhị cô nương Liễu Mi. Thượng Quan Linh không thì giờ đâu kể tỉ mỉ, chỉ thuật sơ đại khái, và hối Sở Canh mau giúp sức để lo công việc mai táng cho Độc Ma theo như lời Thượng Quan Linh đã hứa. Thi hài Đinh Tàn cũng được chôn cất một nơi cao ráo của ngọn Vô ảnh Phong.
Sau khi Thượng Quan Linh chôn xong ba xác chết về, thấy Sở Canh giải quyết các việc trong Ma Cung cũng đâu vào đó! Thoạt tiên Sở Canh cho tập họp hết các nam nữ đệ tử trong Ma Cung lại, tịch thu hết những của cải châu báu của Ma Cung, chia phát đồng đều cho mọi người, rồi ra lệnh phải hạ san gấp để tìm kế sinh nhai, an phận làm người lương thiện. Sau khi giải quyết mọi chuyện ổn thỏa, Phích lịch nhị lang Sở Canh cho ngay một ngọn lửa, thế là cả một ngôi Phi Các ma cung bị hoả táng sạch trơn.
Ra đến cửa núi, mọi người mừng mừng tủi tủi... một đêm ngủ rừng với đám lửa trại, và ai nấy lo thuật tất cả chuyện của mình cho mọi người nghe, trong số ấy chỉ có chuyện của Thượng Quan Linh và Liễu Mi là đầy hấp dẫn ly kỳ và gay cấn hơn hết. Sau khi biết tin hung dữ về Liễu Mi mọi người đều ngậm ngùi lo lắng, không biết liệu có thoát khỏi được nạn không. Sở Canh đã khóc ròng lên về chuyện Nhị cô nương, khiến mọi người không cầm lòng nổi, rút cục, ai nấy đành phó thác cho mệnh trời. Sau hết câu chuyện được chuyển đề sang cách cứu các vị tiền bối nay còn bị giam hãm. Chu Hoàng chủ trương, phải đi Lục Bàn Sơn tỉnh Cam Túc lo cứu Đoạn trường nhân Độc chỉ Thôi Bác trước, đồng thời lo dò la xem Tỉ Vương đã bắt giam Càn Khôn Tứ Tuyệt tại đâu. Sau khi cứu được mọi người, sẽ cử Thôi thúc thúc với tư cách lãnh tụ để dìu dắt các quần hào đi thảo chiến với Tỉ Vương, khi đó chắc thế nào cũng càn quét tận diệt được tên ma đầu đệ nhất này.
Mọi người đều tán thành, chỉ riêng Thượng Quan Linh không hề đá động, chàng cúi đầu suy nghĩ.
Ngọc điệp Châu Phụng là người giàu kinh nghiệm giang hồ, nói rõ ngay về Lục Bàn Sơn ở tỉnh Cam Túc, vốn là một nơi ít dấu chân người lui tới, và có một chỗ kỳ dị được gọi tên là Thiên Nhẫn Chiêu, vốn là một cái ao lâu đời trên ngàn năm nay, bốn bề vách núi đá sừng sững, bất cứ vật nhẹ đến đâu; nếu rớt xuống đều chìm lỉm. Không ngờ Tỉ Vương lại giam Thôi Bác đại hiệp tại một nơi hung hiểm như thế, không biết giờ đây Thôi đại hiệp còn sống tại trần gian nữa không, theo ý Châu Phụng, cuộc giải cứu càng tiến hành càng gấp càng hay.
Tuy Tỉ Vương không có tại đó, nhưng thế nào cũng có các tay bộ hạ của y tại đó để canh gác Thôi Bác, Châu Phụng cũng chủ trương, hay nhất là cả bọn kéo nhau đi hết cho mạnh sức đối chọi. Mọi người đều tán thành, nhưng riêng Thượng Quan Linh vẫn trầm tư suy nghĩ, ai nấy lạ lùng đều dồn hết tia nhìn sang vị thiếu niên đại hiệp này!
Thượng Quan Linh đành nói rõ về sự suy nghĩ của mình, thì ra, lần đầu tiên chàng sử dụng đến Duy Na chưởng thức trong Vô Tướng thần công, không ngờ lại thu lượm được sự thành công như thế, mới dùng đến ngọn Huyết lệ đảo lưu của thế thứ bốn mươi chín, đã khiến cho kình địch Độc Ma phải trọng thương, nên chỉ lúc này, lòng tin của chàng tăng mạnh hẳn, nay biết tin đệ nhất đại ma đầu Vương Thiên giáo chủ hiện đang ở Lãnh Hương Điện trên Mặc Phụ Sơn, nên chàng nhất quyết muốn lại đấu thử một chuyến với Tĩ Vương xem sao.
Sau khi kế hoạch của Thượng Quan Linh đưa ra, quần hiệp đều chủ trương Thượng Quan Linh không nên mạo hiểm. Nhưng thiếu niên đại hiệp không nghe, nhất quyết đòi thử một chuyến, chàng chủ trương mọi người ai lo việc nấy, còn chàng sẽ đơn thân lo đi trả thù, nếu thành công càng hay, còn ngược lại, chàng sẽ giữ toàn mạng rút lui để phối hợp với mọi người!
Chu Hoàng thừa biết tính tình ngang ngạnh của vị sư đệ, biết có khuyên cũng vô ích, chàng là người tán thành trước cho sư đệ vui lòng; ngay lúc này, số đông lại tình nguyện ở lại theo Thượng Quan Linh đi Mặc Phụ Sơn để tùy cơ trợ lực cho chàng. Nhưng Thượng Quan Linh đều cảm tạ từ chối hết, chàng quyết đi một mình.
Đến sáng hôm sau, tám hiệp sĩ nam nữ chia thành hai hướng khởi trình, một bên lo nhắm về hướng Tây đi Lục Bàn Sơn cứu người, còn phần Thượng Quan Linh đơn thân xuôi về miền Nam đi Mặc Phụ Sơn. Đường chia hai nẻo, nhưng ngòi bút chỉ có thể tả được một; vậy bút giả xin tạm gác nhóm người đi Lục Bàn Sơn cứu Độc chỉ Thôi Bác để viết tiếp về Thượng Quan Linh.
Chẳng bao lâu, Mặc Phụ Sơn đã hiện trước mắt. Thượng Quan Linh cẩn thận chờ đến tối, thay xong dạ hành y đâu đó mới lén bò lên núi.
Lãnh Hương Các đèn đóm sáng trưng, Thượng Quan Linh nấp nơi bóng tối nhìn ra, chuyện thứ nhất đã đập vào mắt chàng: một vị phiên tăng già cao lớn có khuôn mặt ngựa đen láng, chẳng cần đoán cũng biết ngay chính là vị ác tăng Thiên Trúc Tả Pháp Thụ tôn giả, lúc này ngồi xếp chân bàn tròn ngay nơi cửa Lãnh Hương Các, đôi mắt bơ vơ nhìn bầu trời đen nghịt. Cạnh phiên tăng, một vị đại hán lực lưỡng, chính là Dực Đông Biện Trang Hổ.
Khá lâu Tá Pháp Thụ thở dài nói:
- Lão Biện, Tử y sứ giả hắn là cái hạng quái gì vậy?
Biện Trang Hổ lạnh lùng cười nhạt:
- Đại danh của Tử y sứ giả mà đại hòa thượng không biết sao? Hà! Hà! rõ là cóc nằm đáy giếng!... Vị Tử y sứ giả này xưa kia vốn là một lãnh tụ hiệp nghĩa lừng danh, gọi Tử chu khách (khách râu tím) Yểu Phi, nội ngoại công lực đều đã đến mức đăng đường nhập thất, hưởng danh dự giang hồ trên hai chục năm, nay đã qui theo Vương Thiên Giáo, và đứng ngôi thứ hai trong ngũ đại sứ giả của Chúa công, oai quyền lớn vô cùng...
Tả Pháp Thụ đầy vẻ hằn học rằng:
- Thằng chết bầm ấy nó khi rẻ ta quá, thật không thể nào chịu được, chẳng còn biết hắn lợi hại đến đâu, nhưng đâu phải giáo chủ, có hung hăng mấy cũng chỉ là một sứ giả, thế mà dám khi rẻ ta. Trước sau gì ta cũng tìm cách so tài thử với hắn cho biết...
Thượng Quan Linh nấp trong bóng tối nghe rõ rành rành, nghĩ bụng: khéo thế, chuyến này lại được xem nội bộ của Tỉ Vương cấu xé nhau, vậy mình cứ việc tọa sơn quan hổ đấu (ngồi trên núi xem cọp chọi nhau) rồi liệu cơ ứng biến!
Thượng Quan Linh bèn lén chuyển về phía sau Lãnh Hương Các, bỗng một việc khác kinh ngạc hơn đã xảy ra. Dưới ánh đèn trong các, chiếu rõ một vị đại hán râu tím bầm đang ôm một thiếu nữ tuyệt đẹp nằm trên nha sàng. Khi Thượng Quan Linh định thần nhìn kỹ, trời ơi! Liễu Mi!... Óc chàng cảm thấy như trời quay đất ngửa, chàng tức giận suýt hét lên, thỉ thấy cử chỉ động tác của thứ nữ Thanh Thông vô cùng lẳng lơ phóng đãng, Thượng Quan Linh xung gan, tính rút kiếm nhảy vào liều chiến với đại hán râu tím.
Nhưng chàng lập tức nghĩ ngay, nhìn cảnh tượng, rõ ràng là Liễu Mi tình nguyện, đâu phải bị người cưỡng ép, nếu vậy mình có quyền gì để can thiệp, chàng buồn bã bỏ đi. Thình lình chàng lại quay đầu về nhìn lấn chót với người yêu. Trong cái nhìn cuối cùng này, chàng đã nhận thấy một nốt ruồi bên mé trái của người đẹp.
Chợt chàng hiểu rõ ngay mình đã bị lầm hoàn toàn, đây là cô chị của Liễu Mi, chàng thở dài khoan thai.
Tự trách mình hồ đồ, Liễu Mi đã được trưởng huynh đưa về Thiên Trúc cứu cấp, làm sao mà có thể xuất hiện nơi đây được. Hèn gì Tả Pháp Thụ vừa rồi nằng nặc đòi liều mạng với Tử y sứ giả. Nhưng có điều lạ là tại sao Liễu Văn xưa kia thích mặc đồ màu đỏ rực, nay sao lại mặc đồ trắng toát như thế. Hay nàng tưởng em đã qua đời để nhớ em nàng ăn mặc màu trắng của em sao?
Thứ hai là con người của Tử y sứ giả đáng nghi ngờ, vì trong Ngũ đại sứ giả, chỉ có Lục y và Lam y và cũng chính là Âm ty tú tài Trần Thân và Lân vương Cổ Thái Huyền, còn Hắc y sứ giả Bắc Ưng Lãnh Lạc đã chết, chỉ riêng có Tử y sứ giả, không biết có thiệt thọ là Tử tu khách Yểu Phi không? Theo lời truyền, vị này là đại hiệp trong làng Bạch đạo, nếu vậy chắc người này cũng chung số phận như Hắc y sứ giả, người này thật đã chết và được Tỉ Vương triệt để lợi dụng trong lốt Tử y sứ giả!
Thượng Quan Linh mải suy nghĩ, nhưng mắt chàng cũng đang được chứng kiến một cuộc khiêu tình tuyệt độ của Tử y sứ giả, chỉ nghe tiếng cười dâm bôn của Liễu Văn...
Tử y sứ giả rằng:
- Người đẹp ơi. Hãy luôn luôn sống bên cạnh Tử y sứ giả này nhé, ta sẽ không bao giờ ngược đãi em đâu, nhưng có một điều người đẹp nên để ý, từ nay trở đi, phải triệt để mặc màu trắng, cấm không được mặc màu gì khác...
Lời yêu cầu lạ lùng quá! Thượng Quan Linh không hiểu tại lý do gì? Đến Liễu Văn cũng cảm thấy lạ, mắt nàng đảo nhanh nhìn sứ giả.
Chỉ nghe sứ giả đánh trống lấp.
- Người đẹp chớ lo ngại gì tên cột nhà cháy Tả Pháp Thụ ấy làm gì cho bận tâm, nếu hắn không phục, Tử y sứ giả sẽ giết luôn hắn nội đêm nay...
Liễu Văn tỏ vẻ oán trách rằng:
- Dám không phục! Bộ y không sợ chết sao? Ngài là chúa tể của y, đời nào y dám phản đối?...
Tử y sứ giả cố như không hiểu nghĩa nói:
- Lẽ đương nhiên, với ngũ đại sứ giả của giáo chủ, đều có quyền tiền trảm hậu tấu với Chúa công, thử hỏi ai dám không phục!?
Trưởng nữ Thanh Thông quả khôn lanh, chỉ nghe nàng phì cười và nói ám chỉ ngay đến sự ngụy trang của Tử y sứ giả rằng:
- Nào phải em nói Tả Pháp Thụ ngán sợ Ngũ đại sứ giả đâu, vì năm người này công lực cũng chẳng hơn gì y em muốn nói Tả Pháp Thụ dù cho lá gan có to bằng trời đi nữa, y cũng không thể nào không sợ Vương Thiên giáo chủ và nhất là cây lợi khí thứ nhất dưới vòm trời võ lâm là Lãnh điện tỉ thủ...
Thượng Quan Linh bên ngoài giật mình vì câu nói này! Liễu Văn đã nói đúng với sự nghi ngờ của chàng, quả nhiên Tỉ Vương đang đội lốt Tử y sứ giả.
Trong im lặng, trưởng nữ Thanh Thông bỗng cất tiếng:
- Em đoán sai sao?
Tử y sứ giả bỗng cất tiếng cười ha hả, ôm chặt ngay Liễu Văn vào lòng vui vẻ nói:
- Lão già Liễu Khai khéo sinh được hai cô con gái thật! Đủ các điều kiện: Đẹp! Khôn! Và nhất là Lẳng nữa! ...
 
 
0
Hồi 080. Sai Một Ly Đi Một Dặm
[/align]

Tuy câu nói ấy không trả lời thẳng, nhưng đã ngang nhiên như mặc nhận tất cả! Quả nhiên người đang gợi tình trong phòng này là bản thân của Vương Thiên giáo chủ Tỉ Vương.
Trong căn phòng, tiếng Tỉ Vương bắt đầu kể về chuyện mình:
- Hồi đó tuy danh tiếng của Tỉ Vương ta chưa khét . tiếng như bây giờ, nhưng về võ công, có thể liệt vào nhất nhì trong thiên hạ, với sức ấy đã dư sức cho ta ngang nhiên đoạt tình yêu của cha em và Ngọc Thụ Thiếu Tù! Thắng lợi là cái nắm chắc? Nhưng có hai chuyện cố kỵ với ta, khiến cho ta không làm sao phấn khởi tinh thần được, thứ nhất là Thanh Thông phu nhân và Miêu Cương Diệm Nữ đều đã trở thành thiếu phụ, nên không xứng đáng làm phối ngẫu với ta, thứ hai, họ đều đã có đối tượng để yêu ta có ép được đi nữa cũng chẳng thú gì! Bởi vậy ta quyết định bỏ, và ôm theo một quan niệm Thiên nhai hà xứ vô phương thảo (Chân trời đâu mà không có cỏ thơm) để tìm người ý trung nhân...
Thì ra Tỉ Vương cũng đã từng xao xuyến về hai nét đẹp của hai vị giai nhân tiền bối! Chuyện kể ra khiến cho Liễu Văn kinh ngạc vô cùng. Lúc này Vương Thiên giáo chủ lại kể tiếp:
- Nhưng, đến nay ta đã công nhận là hoàn toàn thất bại, mặc dù khối vạn người đẹp dưới trần gian này, nhưng oái oăm thay, không một ai vừa ý ta. Không bao lâu ta được tin hai đối tượng lý tưởng của ta Thanh Thông phu nhân và Miêu Cương Diệm Nữ trước sau đều đã tạ thế, và nghe họ đã sinh ra những đứa con gái kháu khỉnh trong óc ta bỗng gây ra một ý kỳ tưởng là muốn lùa hết những đứa con gái của hai người đối tượng này làm thê thiếp để bù đắp vào tâm hồn trống rỗng của ta.
Sắc đẹp của chị em họ Liễu đã lẫy lừng trên giang hồ, nhưng cô chị hành vi bất kiểm, đã mất đồng trinh, và trong hai người ta đã bị mất một... - Nói tới đây, Tỉ Vương vẫn thản nhiên, nhưng Liễu Văn thẹn cúi đầu.
Liễu Văn có vẻ oán trách rằng:
- Đã muốn đi tìm Liễu Mi và cô con gái của Miêu Cương Diệm Nữ, sao bây giờ lại còn đùa cợt với tôi như vậy?
Tỉ Vương cười nói:
- Em nói không sai, chính ta đã yêu Liễu Mi, cũng vì yêu, ta để cho nàng đi, nhưng ta sẽ tìm cách để nàng chuyển ý hồi tâm mà lấy ta! Còn về con gái của Miêu Cương Diệm Nữ, ta đã dò ra tin tức, quả là một quốc sắc thiên hương, tiên tử hạ phàm, tuy cũng thông minh tài trí nhưng về ngôn ngữ phong độ không thể nào bì với Liễu Mi... và ta càng yêu nàng về điểm hiện nay chưa có người nào theo đuổi tới nàng... Như thế Tỉ Vương ta chỉ dùng sơ thủ đoạn, chắc chắn nàng sẽ ngã ngay vào lòng ta...
Liễu Văn bất giác hỏi ngay:
- Giáo chủ tính tiến hành bằng cách nào?
Tỉ Vương rằng:
- Ta biết tên quỉ bệnh hoạn Thôi Bác thế nào cũng không chịu, vậy thứ nhất là phải thuyết phục vị Đoạn Trường Nhân này; đáng lẽ cũng chỉ có hai nguyên nhân là tranh chức lãnh tụ trong võ lâm và kho tàng của anh em Chu Hoàng, nhưng nay, lại tăng thêm một chuyện nữa đó là nàng A Hương... Nên ta đã không ngần ngại gì đội lốt giả mạo Thượng Quan Linh đến đánh lừa Thôi Bác đến Lục Bàn Sơn để tìm thuốc chữa bệnh, Thôi Bác quả nhiên tin lời, theo ta đến Thiên Nhẫn Chiêu và ta đã nhẫn tâm đẩy ngay Thôi Bác xuống thung lũng của ao sâu ấy.
Thượng Quan Linh nghe đến đây muốn điên người, Liễu Văn cũng tròn xoe mắt kinh ngạc về chuyện của Vương Thiên giáo chủ đang kể. Tỉ Vương tiếp tục:
- Nơi đó, đã được Tỉ Vương ta bố trí sẵn sàng, sau khi rớt xuống, Thôi Bác đành chịu trận, ta cũng hiện rõ thân phận Vương Thiên Giáo ra. Thôi Bác biết bị mắc lừa, cất tiếng chửi rủa ta um lên. Tỉ Vương ta bèn đưa ra ba điều kiện với y, thứ nhất, nhường địa vị lãnh tụ võ lâm cho ta, và y sẽ thoái lui trong giang hồ. Thứ hai, hạ lệnh cho anh em Chu Hoàng nộp số của kho tàng! Thứ ba, A Hương sẽ lấy ta... Nhưng nào ngờ tên Thôi Bác quá ngoan cuồng, đối với ba điều kiện của ta đều không chấp thuận lấy nửa điều nào...
Đến đây, Liễu Văn lại hỏi:
- Thế sao giáo chủ còn không ra tay giết Thôi Bác?
Vương Thiên giáo chủ cười nói:
- Đương nhiên Tỉ Vương ta có dụng ý mới không giết y,... hãy hiểu rằng, Thôi Bác là người rất được cảm tình của thiên hạ, nếu thủ tiêu đi, họ sẽ có phản cảm ngay với ta... nên tìm cách để hàng phục y, như thế các quần hùng mới chịu tuân lệnh và trung thành với ta! Ngoài ra, còn một điểm nữa là nàng A Hương, thế nào cũng tìm ra được Độc chỉ Thôi Bác, bởi con linh điểu thần ưng Đại Hắc ấy đang cố công tìm kiếm chủ nhân của nó. Nhưng Vương Thiên giáo chủ ta đâu phải là tay ngốc dại, ta đã cho bố trí sẵn những cơ quan tuyệt diệu tại đó, ngoài trừ ta ra, các tay cao thủ đến đâu, và cả con thần ưng Đại Hắc, cũng đừng hòng mà cứu nổi Thôi Bác thoát hiểm!
Thượng Quan Linh giật mình nghĩ đến cuộc lo cứu của nhóm Sở Canh! Chàng cố thận trọng xem Tỉ Vương còn nói gì đến Thiên Nhẫn Chiêu nữa không để liệu cách cứu người.
Liễu Văn hình như đã đoán được kế hoạch của Tỉ Vương một phần nào, nàng lên tiếng hỏi:
- Giáo chủ! Em đoán giáo chủ đang an bài kế này để đánh đổi với điều kiện là lấy thân A Hương để đổi cho Thôi Bác thoát hiểm!
Vương Thiên giáo chủ gật đầu nhận:
- Em đã đoán trúng kế hoạch của ta, ta cũng thừa biết A Hương tuyệt không nỡ tâm để Thôi Bác bị giam hãm khốn khổ sống chết dở dang như thế! Trong lúc họ tuyệt vọng vô phương giải cứu, ta sẽ hiện thân ra và bàn riêng điều kiện với A Hương, thế nào nàng cũng đồng ý...
Liễu Văn vốn phận gái, đối với tình cảnh của A Hương nàng cũng ngậm ngùi thở dài! Thượng Quan Linh căm uất, chàng quyết tâm với sức của mình để ngăn chặn âm mưu bỉ ổi này của Tỉ Vương và sẽ đưa hồn tên ma đầu ghê gớm này về âm phủ.
Lúc này Tỉ Vương có vẻ đắc trí về những hạnh phúc sắp thực hành của y, chỉ nghe tiếng Tỉ Vương lại nói:
- Sau khi ta chiếm được A Hương, lập tức sẽ thả ngay Thôi Bác, thế nào y cũng xấu hổ, nếu không tham gia hợp tác với ta cũng sẽ tự rút lui khỏi làng giang hồ, đương nhiên sẽ dâng ngay chức lãnh tụ võ lâm cho Vương Thiên giáo chủ ta, và sẽ không dám can dự đến công việc của ta! Trừ được đối thủ Thôi Bác; chiếm được ngọc nữ A Hương ta sẽ tiến thêm một bước nữa, lợi dụng tất cả những mâu thuẫn quyền uy để khiến cho các tay hiệp nghĩa sa lầy vào cạm bẫy của ta... và số kho tàng đồ sộ của anh em Chu Hoàng, sẽ là một phương tiện cho ta để khuếch trương thế lực của Vương Thiên Giáo, khi ấy ta sẽ nghiễm nhiên trở thành kẻ độc bá trong thiên hạ... và ta cũng tìm cách chiếm cho bằng được Liễu Mi luôn! Sau khi hoàn thành đại công, ta sẽ đóng đô ngay tại sơn minh thủy tú của miền Giang Nam thơ mộng, và cho xây cất một ngôi lâu đài vĩ đại đặt tên là: Hương Mi để cho hai nàng tuyệt sắc giai nhân và cũng là ái thê của Ti Vương tận hưởng hạnh phúc trần gian...
Liễu Văn buột tiếng hôi:
- Sau khi giáo chủ thành công, sẽ an bài Liễu Văn này ra sao?
Vương Thiên giáo chủ sửng sốt, nhưng nói ngay:
- Liễu Văn sao lại ghen tương như thế được, cô phải hiểu rằng cô đã đụng chạm nhiều người rồi, như vậy đâu có thể kết hợp với bản giáo chủ được! Càng phải hiểu rõ, cô đã biết ta là Tỉ Vương, đó là một ân huệ đặc biệt, vì trừ Ngũ đại sứ giả, nếu ai vô phúc biết được Tỉ Vương ta, Lãnh điện tử thủ không dung tha mạng... Nay vì cô quá giống Liễu Mi, khiến ta chạnh lòng tương tư đến nàng nên mới đặc biệt cho vời lại và bắt mặc áo trắng để Tỉ Vương ta đỡ nhớ, trong lúc buồn rầu... cô đừng tưởng bở là ta si mê cô đâu, và cũng nên biết rằng, Tỉ Vương ta có một tật kỳ dị, đời ta không bao giờ giao tiếp với gái mất trinh!
Liễu Văn cười lẳng lơ rằng:
- Làm sao mà giáo chủ dám nói Liễu Văn này đã mất?...
Vương Thiên giáo chủ bóng mỉa mai rằng:
- Nếu mà cô cũng là trinh nữ, khắp thế gian này, ai ai cũng trinh nữ cả rồi! . .
Có lẽ Liễu Văn đã động lòng tham bã hư vinh của Tỉ Vương nên không ngần ngại mặt dày nói rằng:
- Giáo chủ chỉ nghe lời đồn nhảm của thiên hạ, sự thực ra Liễu Văn vẫn giữ được thân mình trong trắng! Nay không biết duyên tiền định hay sao mà Liễu Văn lại thấy mến yêu Vương Thiên giáo chủ ngài. Nay em cam tâm hiến thân, nếu ngài không chê bai, tối nay sẽ rõ lời em nói không điêu ngoa!
Thượng Quan Linh nghe đến đây, sực nhớ trước kia mình cũng bị nàng lừa một vố, nay không ngờ nàng lại giở trò ma tịt với Tỉ Vương, chàng tính lột trần ngay quỉ kế của Liễu Văn, nhưng chợt nghĩ Tỉ Vương chính là kẻ thù của mình, tội gì nói ra! Nghĩ vậy Thượng Quan Linh bất giác bịt miệng cười thầm.
Trong phòng, Tỉ Vương như hứng chí cười hỏi:
- Có thật không? Thôi được, để ta nghiệm thử xem...
Dứt lời, bàn tay Tỉ Vương phiêu lưu... tiếng cười lẳng lơ của Liễu Văn phát ra từng hồi.
Ti Vương lại nói:
- Liễu Văn, lời em có lẽ tin được, vậy ta sẽ thu dụng em, nhưng ta có một điều phải nói rõ trước: nếu em quả còn nguyên vẹn ta sẽ coi em ngang hàng với Liễu Mi và A Hương, cùng chung cuộc sống đầy phú quí vinh hoa của đời, quyết không phụ lòng. Nhưng em lừa dối ta! Hờ! Hờ!... Đêm nay sẽ là đêm tận số! Vì Lãnh điện tỉ thủ không bao giờ dung tha bất luận người thân nào của chủ nhân nó, vậy ta mong cô hãy thận trọng suy nghĩ kỹ về tư tưởng của mình...
Thượng Quan Linh đứng ngoài toát mồ hôi lạnh thay cho Liễu Văn, chắc thế nào nàng cũng thiệt mạng về Lãnh điện tỉ thủ của Vương Thiên giáo chủ mất. Lòng chàng mong sao Liễu Văn chớ có chơi dại!
Chi nghe tiếng cười khiêu gợi của Liễu Văn vang lên trong phòng, chợt ánh sáng bên trong lu mờ hẳn... Thượng Quan Linh nghĩ: có nên ra tay lấy mạng Tỉ Vương trong lúc này không?
Bỗng Thượng Quan Linh phát giác có người lẻn tới, chàng nhận ngay ra bóng đen là ác tăng Tả Pháp Thụ, vội vàng vèo né ra một chỗ khác để xem trận đánh ghen của tên cột nhà cháy ra sao cho biết, chỉ thấy Tả Pháp Thụ rút ngay Pháp Thụ thần kiếm bên mình, miệng mấp máy như đang rủa thầm.
Thiên Trúc ác tăng Tả Pháp Thụ đang giơ tay tính đẩy cửa sổ, thình lình một tiếng thét rú thê thảm vang lên, tiếp theo ánh sáng trong phòng tăng rõ hẳn, rõ ràng là tiếng thét rú kinh hồn của Liễu Văn, Tả Pháp Thụ lớn tiếng:
- Em Liễu Văn!
Bùng một tiếng, đạp ngay cửa xông vọt vào. Thượng Quan Linh trong bóng tối nhìn hết cánh sắc bên trong phòng, khiến cho người nhìn vừa giận vừa kinh, chỉ thấy Liễu Văn toàn thân trần truồng, không một mảnh vải che thân, nằm lõa lồ trên sàn, trên bộ ngực trắng nõn đó, một ngọn dao găm sáng choáng cắm gần ngập lưỡi.
Nhìn về phía Ti Vương, áo sống lôi thôi lếch thếch, đứng giữa phòng, mặt tức giận hầm hầm... Tả Pháp Thụ nhảy bay lại giường ôm ngay Liễu Văn, khóc Sướt mướt, chợt y ngửng đầu lên nhìn vị sứ giả!
Vương Thiên giáo chủ không hề kinh hoàng với sự kiện trước mắt, chỉ thấy Tỉ Vương đưa tay vung lên, một làn ánh bạc nhoáng nhanh về ống tay áo của Tỉ Vương, thì ra Vương Thiên giáo chủ đã thu hồi ngọn Lãnh điện tỉ thủ về, đứng uy nghiêm cài lại nút áo, và trước đám chó săn thủ hạ, hắn không hề giải thích gì. Lúc này tên chó săn Biện Trang Hổ cũng bị tiếng hét rú kinh hồn ấy thu hút chạy vào, thấy tình hình trong phòng, y đứng ngẩn người không biết nói sao!
Tuy ngọn Lãnh điện tỉ thủ đã bị Tỉ Vương thu về, nhưng trên ngực Liễu Văn đã để lại một lỗ sâu hoắm, lạ nhất là không hề thấy máu ứa ra, Tả Pháp Thụ tay run cầm kiếm, sắc mặt hầm hầm như muốn liều mạng, nhưng sau khi biết rõ vị Tử y sứ giả trước mắt đây chính là Tỉ Vương, bao nhiêu nhuệ khí đều chìm hết!
Đôi bên ngó nhau, bỗng Tỉ Vương lên tiếng:
- Tả Pháp Thụ! Bộ không phục sao? Có muốn nếm mùi vị của Lãnh điện tỉ thủ không?
Vừa hỏi, vị Tỉ Vương cố giơ ống tay áo lên cho đối phương thấy rõ ánh sáng lấp lóe của Lãnh điện tỉ thủ, Tả Pháp Thụ sợ tái mặt, thần sắc ảo não đau khổ, trán toát mồ hôi.
Tỉ Vương đắc trí cười, Biện Trang Hổ thấy vậy đứng ra điều đình và cầu xin giáo chủ chớ bắt tội Tả Pháp Thụ.
Tỉ Vương thấy có cớ để vuốt mặt hạ đài nên mới nói rõ đáng lý Liễu Văn không nên lừa dối mạo xưng là trinh nữ, và chính Tỉ Vương đã có lời thanh minh từ trước! Sự thể xảy ra thê thảm này không thể nào trách Tỉ Vương không nói trước!
Tả Pháp Thụ lúc này mới rõ lẽ, thì ra lỗi tại Liễu Văn cả, không còn lên tiếng nói thêm gì, Tỉ Vương hạ lệnh lo hậu sự mai táng Liễu Văn. Dực Đông Biện Trang Hổ vừa tính ra tay, Tả Pháp Thụ khẽ hừ lên một tiếng, giơ chưởng đẩy mạnh ngay Biện Trang Hổ ra xa, tra kiếm vào vỏ ôm ngay thi hài Liễu Văn, dùng mền cuốn ngay ngọc thể của nàng lại rồi ung dung bước ra khỏi Lãnh Hương Các, tìm ngay một ngọn đỉnh thật cao để chôn cất người tình nhân của mình!
Sau khi lấp đất xong, bê ngay một tảng đá khá lớn lại dựng ngay trước mộ làm bia, dùng ngay đến Kim Cương chỉ lực, khảm ngay trên đá những chữ: Tuyệt thế giai nhân, trưởng nữ Thanh Thông Liễu Văn cô nương chi mộ! Năm tháng ngày... Tả Pháp Thụ lập xong xuôi, y đứng thương khóc sướt mướt, chỉ nghe y lảm nhảm:
- Liễu Văn em ơi... mong em hãy đợi anh tại âm ty địa phủ! Anh sẽ đến ngay với em!
Dứt lời, Pháp Thụ thần kiếm giương ngay lên, nhắm ngay ổ tim đâm! Trong cơn nhanh tóe lửa ấy, bỗng từ trong cánh rừng, một chấm sáng bay vù ra như sao băng, cheng một tiếng, đánh trúng ngay vào Pháp Thụ thần kiếm khiến cho cây kiếm trầm nặng bật rớt ngay xuống đất!
Tả Pháp Thụ kinh ngạc nhìn, chỉ thấy một vệt dài từ trong cánh rừng vọt ra, tọc một tiếng đứng ngay gần trước mặt, thì ra là một người mày kiếm mắt sáng như sao, khuôn mặt anh tuấn bất phàm, không ai xa lạ, chính là anh chàng đã ăn nhằm Tuyết bi liên hoa Thượng Quan Linh.
Thượng Quan Linh vốn có lòng tốt nên ra tay cứu, vừa chực lên tiếng khuyên can, không ngờ Tả Pháp Thụ đã quyết lòng chết chẳng những không cám ơn, trái lại còn lên tiếng quát:
- Thằng chó con! Lại ngươi đến phá đám nữa hả!
Tả Pháp Thụ nhặt ngay cây bảo kiếm, soạt một tiếng, dùng ngay tám phần công lực, phạt ngang ngay eo của Thượng Quan Linh. Vì đang cơn tức giận, nên oai lực dũng mãnh tuyệt luân, Thượng Quan Linh cũng biết rõ lợi hại, lúc này không còn thì giờ để giải thích, cũng không dám chểnh mảng, vội vàng mượn ngay đà kình lực của ngọn kiếm tung mình nhảy theo ra ngoài, và lên tiếng:
- Hãy ngừng tay! Tôi có chuyện nói!
Tả Pháp Thụ lúc này đã trút cơn tức sang Thượng Quan Linh:
- Thằng chó con! Ta quyết lấy mạng ngươi. Ào một tiếng, chuyến này thế kiếm đổi từ lối quét sang đâm, lợi hại và ác hiểm vô cùng. Thượng Quan Linh lúc này đã vững tấn, bụng nghĩ: trừ phi phải dùng đến Duy Na Chưởng, còn không chắc khó thắng nổi lão cột nhà cháy này! Nghĩ xong Duy Na Chưởng được tung ra nghênh chiến, một thân nhẹ co lên, một chưởng hướng thiên, một chưởng hướng đất, tiếp theo các thế khác được liên miên tới tấp phát ra, khiến cho cây Pháp Thụ Kiếm của đối phương bật hết về một phía. Lúc này Thượng
Quan Linh cố dồn hết sức vào ngọn tuyệt học này để tiến đánh cẩn thận, Tả Pháp Thụ biết lợi hại, không sao chống đối, đành lớn tiếng:
- Số phần ta đã mãn? Đành vậy...
Dứt lời, buông thõng ngay kiếm xuống, nhắm mắt chờ chết, Thượng Quan Linh thất kinh, vội ngừng ngay tay, lên tiếng rằng:
- Kìa tôn giả? Tôi vốn đâu có ý gây sự với tôn giả đâu chẳng qua bị kiếm tôn giả ép quá nên mới đường đột như vậy, mong lượng thứ cho!
Tả Pháp Thụ ngửng ngay đầu lên hỏi:
- Làm sao mi biết được ngọn tuyệt học Duy Na chưởng thức này?
Thượng Quan Linh y thật kể lại rõ ràng.
Thiên Trúc tăng Tả Pháp Thụ được tin về sư môn, và hiện sư đệ Bảo Nghiêm pháp sư đã chấp chánh chức chưởng môn, không ngờ vẫn còn quyến luyến hai vị sư huynh, nên đã sai sư điệt Bách Lỗ đến miền Trung Thổ thăm dò tin tức, nay hài cốt của Duy Na sư đệ đã được sự điệt đem về Thiên Trúc, thế nào cũng được các tín đồ sùng bái, linh hồn sư đệ chắc đã an lòng nơi cõi Phật, nhưng còn mình, trời ơi! Một kẻ phản bội sư môn, gây nhiều tội ác, tất cả hy vọng đều tan theo mây khói, thậm chí nay phải gửi xác nơi đất khách quê người, Tả Pháp Thụ càng nghĩ càng mủi lòng khóc sướt mướt. Tả Pháp Thụ bèn quyết chí đem hết sức sống thừa của mình để cố hiệp trợ các tay hiệp nghĩa lo thanh trừ thế lực tàn ác, để vãn hồi vận kiếp của võ lâm miền Trung Thổ, như thế thể chuộc bớt được những tội lỗi xưa kia của mình, chờ Bách Lỗ sư điệt tới, sẽ theo về Thiên Trúc để chịu trừng phạt của sư môn, như vậy có chết cũng được yên tâm, chết tại quê hương cố thổ, được vậy cũng mãn nguyện lắm!
Thượng Quan Linh mừng rối lên, vội kéo ngay Tả Pháp Thụ đứng lên, hai người bàn tính; vì lúc này trong Lãnh Hương Điện chỉ có Tỉ Vương và Biện Trang Hổ hai người, nếu công lực Thượng Quan Linh có thể thắng nổi Tỉ Vương, thì tên chó săn Biện Trang Hổ giao cho Tả Pháp Thụ lo liệu! Hai người hào khí bốc đầy mình và vững lòng tin, Thượng Quan Linh lượm ngay Kỳ lân bảo đới cùng với Tả Pháp Thụ lần ngay về Lãnh Hương Điện
tìm Tỉ Vương!
Đến nơi, chỉ thấy lãnh Hương Các vắng tanh, đi
tuốt về phía gần đầu núi, thấy Biện Trang Hổ đang lững
thững đi bách bộ một mình, Tả Pháp Thụ bỗng quát:
- Biện Trang Hổ! Mau về đây!
Biện Trang Hổ giật mình quay đầu lại, thấy là Tả Pháp Thụ bèn rằng:
- Này Tả Pháp Thụ, nay giáo chủ đã đi Lục Bàn Sơn miền Cam Túc rồi, đồng thời giáo chủ có dặn lại hai
đứa mình phải đi cấp tốc ngay về miền Mạc Bắc, hợp
cùng với Lục y và Lam y sứ giả, chuẩn bị vào rằm tháng
tám này, phụng mạng đến Sắc La Tự, để tái cử hành cuộc khai đàn lập Vương Thiên Giáo. Khi đó, giáo chủ sẽ trị phục ngay Độc chỉ Thôi Bác, và bất luận trong làng Bạch đạo hay Hắc đạo, tất cả các hiệp sĩ trên giang hồ, đều phải triệt để tuân lệnh tập trung hết miền Mạc Bắc, qui y giáo chủ, để hưng phò Vương Thiên Giáo!
Thượng Quan Linh đứng nấp ngay sai lưng cao lớn của Tả Pháp Thụ, nên Biện Trang Hổ không thấy! Lúc này Tả Pháp Thụ lên tiếng rằng:
- Hay lắm!... Biện Trang Hổ, ngươi hãy chờ ta một chút!
Dứt lời tung mình bay vèo ngay sang! Biện Trang Hổ thấy lấp ló người phía sau Tả Pháp Thụ, nhưng cách xa không rõ, bèn lớn tiếng hỏi:
- Kìa! Chứ ai theo đằng sau vậy ?
Tả Pháp Thụ đã nhoáng nhanh như làn gió lại gần Biện Trang Hổ, vừa tung tay đòn vừa lớn tiếng nói:
- Ông tổ của ngươi chứ còn ai vào đây!
Biện Trang Hổ có nằm mộng cũng không thể nào ngờ được sự đột biến nhanh như cắt này, còn chưa nghĩ tránh bằng cách nào, đường kiếm của Tả Pháp Thụ nhoáng lên như một bạch xà, chiếc đầu Biện Trang Hổ bay ngay xuống mặt đất.
Tả Pháp Thụ quay nhanh mình về, thấy Thượng Quan Linh đứng ngẩn người như phỗng, bèn vỗ vai chào nói:
- Thượng Quan đại hiệp, nay chúng ta chia tay, đại hiệp lo đuổi theo Tỉ Vương, còn phần tôi sẽ lo khởi trình đi ngay Mạc Bắc, vì Tỉ Vương vắng mặt nơi đây, đối và hai tên Âm ty tú tài Trần Thân và Lân vương Cổ Thái Huyền, tôi có thể dư sức đối phó nổi, và trước sau gì cũng phải lo cứu ngay các vị Càn Khôn Ngũ Tuyệt rồi choáng cho chúng một trận tan hoa nát lá mới hả dạ được...
Thượng Quan Linh hấp tấp rằng:
- Ấy chết? Xin tôn giá chớ vội lỗ mãng thế, tôi biết trong đám quần hào phần đông đều bất mãn sự bạo hành của Tỉ Vương, như phái Điểm Thương Hoàng Kha, cha con Chung Thiên Thu, và cả đến nhóm Thái Hành Lục Khấu cũng đã ngấm ngầm căm hờn trong lòng, phần nhiều họ đều bị ép buộc cả, mong tôn giả tùy cơ mà ứng biến, chỉ nên trừ diệt hai tên Trần Thân và Cổ Thái tuyền là đủ rồi... Còn phần tôi nếu diệt được Tỉ Vương, cứu được Thôi Bác tiền bối, thế nào cũng tức tốc đến ngay Mạc Bắc để gặp nhau...
Tả Pháp Thụ gật đầu lia lịa, nhận lời sẽ tùy cơ ứng biến, và sẽ cố gắng khuyên nhủ quần hào, hợp lực để lung lay thế lực của Tỉ Vương cho sụp đổ để cứu bốn vị Càn Khôn Tứ Tuyệt.
Đôi bên chia tay xuống núi để lo nhiệm vụ.
Thượng Quan Linh lo ngại an nguy cho A Hương, nên cuộc hành trình được khởi hành suốt ngày đêm; cuối tháng bảy mới tới gần địa phận Lục Bàn Sơn, chàng hấp tấp vào núi để tìm ao Thiên Nhẫn Chiêu, nhưng tìm mãi lẫn không thấy đâu. Một hôm, lang thang mãi trong lường núi, phần mệt và đói, khó khăn lắm mới săn được một con nai con, chợt đâu một vật đen thui từ trên không nhào nhanh xuống, thì ra là một chim ưng lớn, giơ trảo chụp ngay con thịt bay bổng lên không. Thượng Quan Linh tinh mắt nhận ra ngay, vội lớn tiếng:
- Đại Hắc ! ... Ưng huynh! ... Ta là Thượng Quan Linh đây Đại Hắc!
Chim ưng quay đầu bay ngay xuống, quả nhiên thần Ưng là Đại Hắc, trông vẫn oai hách như độ nào, nhưng trong đôi mắt có vẻ mệt mỏi, Thượng Quan Linh vừa mừng vừa tủi, ôm choàng ngay lấy ưng huynh kêu hỏi rối rít:
- Ưng huynh vẫn còn lảng vảng Lục Bàn Sơn đây, chắc Thôi thúc thúc vẫn còn bình an, vậy mau đưa ta đến đó gấp.
Thần ưng phục ngay xuống, Thượng Quan Linh cưỡi lên, linh điểu vọt bay bổng. Chớp mắt, đến một nơi sơn cốc của thung lũng, là là hạ cánh xuống và khẽ cất tiếng kêu, trong thạch động lập tức có người ra nghênh đón.
Nào Chu Hoàng, Chu Văn, Hạ Quyên, Châu Phụng, Châu Sách, Châu Chu, A Hương, mọi người thấy Đại Hắc đưa Thượng Quan Linh đến, ai nấy vui mừng khôn tả. Thượng Quan Linh hỏi ngay:
- Tỉ Vương ma quân đã đến đây chưa?
Mọi người ngạc nhiên, Chu Hoàng cho hay, cả bọn mới tới đây được hai ngày, bởi Thiên Nhẫn Chiêu là một nơi kỳ hiểm, Thôi thúc thúc bị giam khốn tại đó, chưa nghĩ được cách gì để cứu người, và hai ngày đây, cũng chưa thấy có người lạ nào xuất hiện.
Thượng Quan Linh yên trí chắc mình đã khởi trình suốt ngày đêm, nên đã đến trước hơn Tỉ Vương! Nghĩ xong vội cùng với quần hiệp lại thăm Thôi Bác, chỉ thấy dưới thung lũng sâu thăm thẳm ấy quả nhiên có một cái ao và có một người như bị chôn cứng ngay giữa ao. Chu Hoàng bên cạnh giải thích, Thôi Bác đại hiệp hiện không thể nào dùng sức với cái ao đầm quái lạ ấy, hằng ngày đều trông cậy Đại Hắc mang cơm nước bay xuống dưới để mớm cho chủ nhân. Sự hiểm trở của những vách núi thung lũng đây đều do thiên nhiên tạo ra, trơn láng như kính, không một nơi nào có thể dùng sức bấu víu vào được đương nhiên không thể nào xuống bằng vách núi để cứu được, nếu quăng dây thừng cũng là một chuyện hết sức khó khăn! Vì Thôi Bác không thể nào tự mình dùng sức được hơn nữa trên miệng vách núi đây quá nguy hiểm, nếu không khéo, cứu không được Thôi tiền bối mà lại bị ngã xuống thung lũng thì nguy thêm là khác.
Chính linh điểu Đại Hắc cũng đã cố gắng mạo hiểm để cứu chủ mấy lần, nhưng vì thung lũng của Thiên Nhẫn Chiêu đây quá sâu, khi bay xuống đã là một việc khó khăn lắm, và khi đến mặt ao ấy, lại không thể nào dùng sức, mấy lần Đại Hắc mạo hiểm chân lực bị đuối, suýt bị nhào thân xuống ao, may nhờ nô cố gắng bay lên kịp mới thoát nạn!
Từ đó Thôi Bác càng không muốn Đại Hắc mạo hiểm, quần hiệp cũng cố khuyên can linh điểu, chỉ ngại lỡ ra thì không còn ai để lo cơm nước cho Thôi thúc thúc. Thôi Bác bị khốn dưới ao thung lũng không sao thấy mặt được quần hiệp, mọi tin đều nhờ linh điểu Đại Hắc truyền đạt.
Lúc này ai nấy đều đã rõ âm mưu và mục đích của Tỉ Vương và cũng biết ràng chỉ có Tỉ Vương là biết dùng cách gì để giải cứu Thôi Bác. Nay dù cho Thượng Quan Linh có thể thắng nổi Tỉ Vương Ma Cung đi nữa, chưa chắc gì hắn đã chịu nói cách giải cứu! Mà nếu không cứu được Thôi Bác, dẫu cho có giết được Tỉ Vương cũng vô bổ cho vấn đề. Huống hồ giết được một tay đại ma đầu lợi hại như Tỉ Vương đâu phải là dễ. Sau câu nói lợi hại này, càng cảm thấy nghiêm trọng, quần hiệp đưa mắt nhìn quanh nhau, không nghĩ được phương pháp nào. Bầu không khí bắt đầu trầm mặc.
Sở Canh vốn là người ăn ngay nói thẳng, chàng lên tiếng:
- Không lẽ chúng mình đành bó tay để tiếp nhận điều kiện của Tỉ Vương, và khiến cho A Hương cô nương phải làm...
Sở Canh không tiện nói toạc ra, mặt chàng đỏ gay lên, mắt mọi người đều nhìn dồn về hướng Hạ Quyên.
Hạ Quyên như đã có cách sẵn, nàng mỉm cười rằng:
- Đương nhiên không thể nào để cho A Hương bị tổn hại, nhưng chúng ta có thể tương kế tựu kế, tự cổ có câu: Trí giả thiên tư, tất hữu nhất thất, ngu giả thiên thất, tất hữu nhất đắc (kẻ khôn ngàn cái cũng có một cái dại, kẻ dại ngàn cái cũng có một cái khôn), nay Tỉ Vương chơi trá thuật, chuyến này Hạ Quyên chơi đấu thử trí lực với y xem. Nay ta đã nghĩ ra một kế, nhưng phải nhờ đến Thượng Quan Linh và A Hương, nếu mạng trời run rủi thì tà giáo sẽ bị diệt, hiệp nghĩa sẽ phục hưng lại như xưa, tám chín phần mười có thể hành động, nếu có thất bại, cũng không có gì tổn hại nghiêm trọng cả...
Hạ Quyên vốn là người có trí, quần hiệp thường vẫn khâm phục, ai nấy lập tức tỏ ý ủng hộ và hỏi ngay kế ấy như thế nào?
Hạ Quyên cười rằng:
- Thiên cơ bất khả lậu; nào hai người ghé tai lại đây!
Dứt lời Hạ Quyên thì thầm nhỏ bên tai Thượng Quan Linh và A Hương. Quần hiệp không ai biết được gì, chỉ thấy hai người gật đầu liên miên.
Hôm sau, bỗng không thấy Thượng Quan Linh đâu, anh em họ Chu, A Hương, Hạ Quyên, mẹ con họ Châu, Sở Canh, vẫn tiếp tục kéo nhau lại miệng thung lũng để tìm cách cứu người. Phương pháp của họ rất đần độn, trước hết lo chui vào các hang hốc tìm cây và gỗ, chuẩn bị chế tạo một Lộc lô (cái trục). Hì hục hai ngày qua. Sáng ngày thứ ba, đang lúc mọi người lo việc rối rít. Thình lình vù một tiếng, ánh màu vàng nhoáng ngay trước mắt, ai nấy phát hiện một con kim xà nhỏ đang bay trên không! A Hương đã được Hạ Quyên căn dặn từ trước, nên lúc này vờ như thích trí, chạy đuổi theo con rắn đang bay, chỉ thấy rắn bay đằng trước, người đuổi theo sau, dần dần xa hẳn và vào đến trong rừng. Chợt trong cánh rừng hiện ra một vị thiếu niên anh tuấn, giơ ngay chưởng ra, bắt ngay con Kim phi xà vào tay. A Hương ngấn người đứng nhìn vị thiếu niên anh tuấn!
Bỗng A Hương như thẹn thùng, vội quay mình bỏ đi, sau lưng nàng một tiếng thở dài và tiếp theo tiếng nói ôn tồn:
- Xin cô nương hãy khoan đi!
Trống ngực nàng đập thình thịch, quay ngay người lại, vẫn thấy mắt thiếu niên đang chăm chăm ngó sang bên mình.
Chỉ thấy thiếu niên mỉm cười trên khuôn mặt anh tuấn và đưa ngay tay ra rằng:
- Phải chăng cô thích con rắn vàng xinh xắn này? Vậy tiểu sinh xin biếu tặng luôn cho cô nương vậy?!
Dứt lời, từ trong mình lấy ra lọ thủy tinh nhỏ, bỏ ngay rắn vàng vào trong, đậy nắp cẩn thận, rồi giao ngay sang trước mặt nàng A Hương!
 
0
Hồi 081. Thành Công Mỹ Mãn
[/align]

Vị thiếu niên anh tuấn hấp dẫn này, chính là cái lốt đã hóa trang của Vương Thiên giáo chủ Tỉ Vương, A Hương cũng biết rõ như vậy, nhưng vì sự khích lệ của Hạ Quyên, nên nàng đã vững lòng tin tưởng, hơn nữa chuyến này lại vì Thôi bá bá, càng phải mạo hiểm để quay quần với ma quân này; nghĩ vậy nàng càng e lệ thẹn đỏ bừng mặt, khiến cho Tỉ Vương ngây ngất say đắm về phong độ của nàng.
Tỉ Vương lẩm bẩm rằng:
- Chút quà nhỏ nhen, mong cô nương vui lòng nhận cho!
A Hương ung dung nhận, Tỉ Vương lại mời nàng ngồi, nàng không cự tuyệt, vén ngay áo ngồi xuống đám cỏ xanh mướt.
Tỉ Vương thấy A Hương buồn rầu, khẽ thở dài hỏi ngay:
- Kìa cô nương, có chuyện gì khiến cô nương buồn?! Nếu có chuyện gì khiến cô nương vui được, dù cho là trăng sao trên trời, tiểu sinh cũng cố tìm cho bằng được để mua nụ cười vui tươi của cô...
Giọng A Hương thỏ thẻ nói:
- Xưa kia tôi không biết cảm giác buồn rầu là gì! Nhưng từ khi Thôi bá bá bị hãm trong ao Thiên Nhẫn Chiêu, tôi không thấy và không nghe được giọng ông ta, nên cái buồn ghê gớm đã xâm chiếm trọn vẹn tâm tình của tôi...
Tỉ Vương nghe xong cười nói:
- Tiểu sinh ngỡ chuyện gì đã khiến cô nương mất vui thì ra là vậy. Hà! Hà!... Việc này dễ giải quyết lắm?
A Hương vờ kinh ngạc hỏi:
- Trời ơi!... đến như anh Chu Hoàng, dì Hạ Quyên, chị Văn, anh Sở Canh,... họ đều thúc thủ chịu trận, không lý công tử lại có cách gì sao?
Tỉ Vương cười:
- Đương nhiên! Đối với sự thoát hiểm của Thôi Bác, tiểu sinh coi dễ như trở bàn tay... - mắt Tỉ Vương đảo nhanh và nói tiếp: - Nhưng... tiểu sinh có một yêu cầu nhỏ nhen, nếu cô nương vui lòng chịu sống chung với tiểu sinh cho mãn kiếp, tiểu sinh sẽ lập tức lo cứu ngay ông ta...
A Hương cố ý trầm lặng một hồi rồi nói:
- Miễn sao công tử còn sống trên đời ngày nào, tôi sẽ sát bên cạnh công tử ngày đó...
Nghe câu nói này, Tỉ Vương xao xuyến trong tâm hồn, nhưng cũng lập tức có ý nghi ngờ ngay, rõ ràng là câu nói của cô bé này có sự ám chỉ gì đây nên mới nói thế!
Nhưng Tỉ Vương lại nghĩ võ công tuyệt luân của mình, trên giang hồ, có thể nói là vô địch trong thiên hạ, huống hồ lại có Lãnh điện tỉ thủ, Tiểu Đoạt Hồn Kỳ và Lệ thủy tinh kiếm; nay lại nô dịch hầu hết anh hào trong thiên hạ để sáng lập Vương Thiên Giáo, oai thế lừng lẫy, ai sánh bì cho lại! Dưới vòm trời này, ai có thể giết nổi mình?
Bỗng Tỉ Vương lại trở về hẳn với thực tế trước mắt ràng:
- Tiểu sinh cũng chẳng cần giấu gì cô nương, nguyên dưới ao Thiên Nhẫn Chiêu ấy kỳ hiểm vô ngần, phàm người bị rớt xuống đó, tuyệt không thể nào cứu nổi, nhưng tiểu sinh đã cho dùng lưới chăng sẵn bên dưới, chỉ cần bấm nút cơ quan để thu lưới, Độc chỉ Thôi Bác có thể nhảy lên ngay. Và kẻ giữ nút cơ quan ấy là một linh hầu (khỉ khôn), tiểu sinh chỉ cần sai kim phi xà bay xuống dưới hang động bí mật ấy, linh hầu sẽ biết ngay ý định của ta và thả người ra ngay...
Nói tới đây, Vương bèn đưa ra ngay chiếc lọ nhỏ đựng rắn vàng, lẩm bẩm như đọc thần chú, rồi thả ngay kim phi xà bay vọt đi. A Hương hơi vững tâm, nàng cũng phát giác Thượng Quan Linh và Chu Hoàng đang nấp trong cánh rừng để canh chừng biến động.
Đây là kế hoạch của Hạ Quyên, nghĩa là khi thấy Thôi Bác thoát hiểm, Thượng Quan Linh và Chu Hoàng sẽ ra tay ngay với Tỉ Vương.
Quả nhiên chuyến này đã đúng như sự dự đoán của Hạ Quyên, dẫu cho khôn mười năm, đố ai tránh khỏi dại một phút, như thế cũng đủ chết người rồi... chỉ nội một phút này cũng đủ chết người rồi... Tỉ Vương ngờ đâu cô bé A Hương ngây thơ hồn nhiên này, quyết không thể nào giở được trò nguy hiểm gì với mình.
Trong lúc Tỉ Vương đang say đắm trầm lặng về sắc đẹp ngây thơ của A Hương, hai cao thủ đã lén lẻn đến trong cánh rừng.
Chỉ nghe Tỉ Vương đứng kề cạnh tuyệt thế mỹ nhân, ôn tồn hỏi:
- Cô nương, cô sẽ vui lòng sống suốt đời với tôi chứ!
A Hương hiểu ngay câu nói sống suốt đời của Tỉ Vương là ám chỉ tới sống của tình vợ chồng, nàng bất giác đỏ ửng mặt e lệ cúi đầu, Tỉ Vương đắm đuối với nét đặc sắc của nàng và lúc này đã hoàn toàn chìm trong cảm giác hạnh phúc!
Từ trong mình, Tỉ Vương lấy ngay ra lá cờ nhỏ quái dị giao cho nàng A Hương để làm lễ vật. A Hương biết ngay lá cờ này là Tiểu Đoạt Hồn Kỳ nhưng để phù hợp với kế hoạch của Hạ Quyên, nàng vẫn hỏi han về lai lịch chức cờ, Tỉ Vương bèn giải thích đây là một báu vật vô cùng quý hóa, và mười tám chữ Phạn trên cờ ấy nguyên là một võ học để tu luyện về nội công, nếu ai có thể thông hiểu, võ công kể như vào hạng tuyệt đỉnh, không còn ai sánh kịp.
A Hương cầm xem xong cười rằng:
- Trong ba thứ báu vật của công tử, tôi đã được thấy hai, nhưng còn một thứ không được xem!
Tỉ Vương tần ngần một chập nói:
- Lãnh điện tỉ thủ thả ra là giết người, xưa nay tôi chưa hề cho ai thấy bao giờ... nay... thôi vậy... cũng bởi ta đã quá mến yêu em, và trước sau gì em cũng thành người vợ yêu quí của anh, cho em xem cũng chẳng sao...
Dứt lời vén luôn cánh tay áo bên trái lên, A Hương kinh ngạc thấy một sợi xích bạc rất nhỏ dính ngay vào chuôi Tỉ thủ, óng ánh sáng chói, nhìn kỹ thấy sợi xích bạc nhỏ ấy cuốn chặt Tỉ thủ vào cánh tay!
Nhưng kỳ lạ nhất là về sợi dây xích, một đầu buộc vào chuôi ngọn dao quái gở, còn đầu xích nọ lại như bị khảm hẳn vào trong thớ thịt ở bắp tay của Tỉ Vương, trông như sợi xích đã từ trong mọc ra.
A Hương lấy làm lạ hỏi, Tỉ Vương nhìn nhận quả là sợi dây xích ấy đã khảm hẳn vào xương cánh tay của mình, và như thế ngọn Tỉ thủ mới không bao giờ rời khỏi ngay được, khi phóng ra để giết địch, chỉ trong chớp mắt lại về ngay trong tay mình; đồng thời ngọn tỉ thủ đều chế bằng thứ thép quí miền Đại Hô cực bắc sắc bén vô cùng. A Hương nghe xong nhất định nằng nặc đời cho bằng được ngọn Tỉ thủ.
Tỉ Vương tuy đắn đo, nhưng vì yêu, nên đã gật đầu bằng lòng, cũng không biết Tỉ Vương đã dùng phương pháp gì, chỉ trong chốc lát, đã tháo ngay ngọn Tỉ thủ trong cánh tay ra với sợi xích và giao ngay sang. A Hương sau khi cầm ngọn Tỉ thủ trên tay, nàng có cảm giác ngọn ỉ thủ này như muốn bay ra khỏi tay. Tỉ Vương đứng cạnh giải thích Lãnh điện tỉ thủ này gần như đã thành một linh vật, khi cắm vào thân nạn nhân đều làm cho khô máu, nên sau khi giết người xong không hề thấy máu chảy ra, và nó hành động theo ý muốn người sử dụng, ra tay không lần nào sai đích được!
A Hương tươi cười và bỗng nhiên nói:
- Anh ơi!... Em thích đóa hoa vàng đằng kia, anh lại hái cho em đi... - nói xong đưa tay chỉ sang phía trước.
Vương Thiên giáo chủ Tỉ Vương lúc này đã bị tiếng gọi anh ơi của nàng Hương bắt hết hồn vía, sự ngây thơ về ái tình của Tĩ Vương đã bắt đầu phát động một cách tuyệt độ, y không do dự gì, bước ngay ra phía đóa hoa.
Sau cùng, khi Tỉ Vương đã cầm đóa hoa trên tay, thình lình một tiếng cười lạnh, trước mặt nhoáng nhanh một bóng người, một thiếu niên công tử tay cầm kiếm chận ngay lối.
Vương Thiên giáo chủ nhận ngay ra thiếu niên là con trai của Hoàng Đạo chúa là Chu Hoàng. Nhưng Tỉ Vương vẫn ung dung rằng:
- Hừ! Ta đã biết rõ lai lịch của ngươi. Nhưng ngươi cũng đừng hoảng sợ, tuy xưa nay hễ ai nhận được ta là Tĩ Vương đều mất mạng ngay, nhưng chuyến này, bản giáo chủ đã thay đổi tính tình, đặc biệt ra ân cho các ngươi gia nhập vào Vương Thiên Giáo của ta tổ chức, cùng nhau sống cảnh thái bình vinh hoa! Vậy ta không chấp những tiểu tiết nhỏ nhen làm gì! Vậy ta mong ngươi hãy gia nhập vào Vương Thiên Giáo và ngày rằm tháng tám này được tổ chức tại Sắc Lư Tự miền Mạc Bắc, sau khi giáo phái thành lập chính thức xong, chúng ta sẽ tính đến công nghiệp phản Thanh phục Minh, và kho tàng của ngươi sẽ được sử dụng trong đại nghiệp này... những ngày phú quí vinh hoa rực rỡ sắp đến với chúng mình...
Chu Hoàng không để Tỉ Vương nói hết, bỗng lên tiếng nói lớn:
- Tỉ Vương! Nhà ngươi đã đến ngày tận số rồi, nay ta sẽ thanh toán mối thù của cha ta xưa kia!
Tỉ Vương biết ngay chuyện chẳng lành, công lực của Chu Hoàng chẳng qua được sự chân truyền của Tây đạo Thiên Si, dù cho y có được thêm chân truyền của Độc chỉ Thôi Bác, cũng không dám ngang nhiên đối địch với Tỉ Vương! Nhưng Vương Thiên giáo chủ đã nghi ngay đây là cả một âm mưu kế hoạch mà đối phương đã sắp xếp, mình sơ ý thiếu cẩn thận, nên đã mắc bẫy địch.
Tỉ Vương giật mình khi nghĩ đến ngọn Lãnh điện tỉ thủ đã nằm trong tay A Hương. Vội quay nhanh thân lại, chợt Tỉ Vương lại bắt gặp ngay chàng thiếu niên mà y vừa sợ vừa mến là Thượng Quan Linh, lúc này đứng chặn ngay lối tiến về hướng A Hương của Tỉ Vương.
Dù cho Tỉ Vương là tay lợi hại đến đâu, lúc này cũng không khỏi ý lên một tiếng. Nhưng quả y không hổ danh là vị ma quân ghê gớm, chỉ thoáng mắt, y đã trấn tĩnh được ngay tinh thần, mỉm cười hỏi:
- Thượng Quan Linh! Chuyến này chắc ngươi đã chịu phục rồi chứ? Kìa liễu Mi đâu?
Thượng Quan Linh quát:
- Tỉ Vương! Hôm nay là ngày tận số của ngươi! Vậy trước khi nhắm mắt qua thế giới u minh, hãy thưởng thức môn tuyệt học Hữu Duy Na chưởng pháp trong Vô Tướng thần công của ta cho biết.
Dứt lời, Thượng Quan Linh phát động ngay thế đánh một gối nhẹ co, song chưởng chia ra một thiên một địa, nhanh như chớp, ào một tiếng, ngọn kình phong đánh thốc ngay sang phía Tỉ Vương. Đồng thời phía sau lưng Tỉ Vương, Chu Hoàng cũng quát lên một tiếng, cây trường kiếm vung ngay ra tiến đánh; Tỉ Vương bị lưỡng đầu thọ địch (đầu đuôi bị đánh)! Tỉ Vương lạnh lùng cười thình lình nhảy tung mình lên không để tạm tránh hai thế đánh quá dũng mãnh của hai thiếu niên! Soạt một tiếng, Tỉ Vương rút luôn ngọn Lệ thủy tinh kiếm bên mình, đánh chớp nhoáng sang phía Chu Hoàng! Chu Hoàng lúc này dồn hết tinh thần để trả thù cho cha, nên không hề để ý đến ngọn Lệ thủy tinh kiếm trên tay Ti vương, bỗng cheng leng một tiếng, kiếm của Chu Hoàng bị tiện đứt đôi.
Chu Hoàng vội tung mình nhảy tránh, nhưng công lực của Tỉ Vương đâu phải hạng xoàng, chỉ nghe ào một tiếng, ngọn kình phong quất trúng ngay Chu Hoàng. chàng ngã sấp ngay dưới mặt đất.
Ngay lúc đó thì ngọn kình phong của Thượng Quan Linh cũng áp tới phía sau Tỉ Vương, Vương Thiên giáo chủ thình lình cảm thấy áp lực phía sau nặng nề, bắt buộc buông Chu Hoàng để quay về lo nghênh địch!
Thấy sư huynh Chu Hoàng bị thương ngã lăn trên mặt đất, Thượng Quan Linh hoảng hốt và đã cố gắng tung hết các oai lực trong ngọn Duy Na Chưởng ra để áp đánh kịch liệt, trong chớp mắt khiến cho Tỉ Vương không thể nào làm gì Chu Hoàng được! Thượng Quan Linh vừa đánh vừa liếc mắt nhìn Chu Hoàng, thấy chàng đã ngồi được dậy và đang cố gắng vận công để trị thương. Thượng Quan Linh hơi an tâm và vội tập trung hết tâm thần lo đối phó với kình địch ghê gớm trước mặt, chàng nhớ kỹ các thế tuyệt diệu trong Duy Na Chưởng mà đã được Bách Lỗ Thượng Quan Tứ chỉ dạy. Sau hai mươi đòn đánh như vũ bão, Thượng Quan Linh đã cảm thấy các bộ tấn của mình đã vững chắc!
Lúc này, trong trận quay cuồng sống chết với nhau, bên ngoài A Hương và Chu Hoàng hồi hộp khẩn trương tột độ mấy lần A Hương tính phóng ngọn Lãnh điện tỉ thủ, nhưng nàng lại e sợ tĩnh vật này nhận được chủ cũ thì nguy hết cho mọi người, nên thẫn thờ không dám ném ra. Còn Thượng Quan Linh lúc này thừa biết hai báu vật Tiểu Đoạt Hồn Kỳ và Lãnh điện tỉ thủ này đã không nằm trong tay vị ma quân, chàng càng tin tưởng và đánh mạnh hơn bao giờ hết!
Chớp nhoáng, chỉ còn cảm thấy những ngọn gió ào ạt do Hữu Duy Na chưởng pháp gây ra, chỉ thấy cánh rừng rào rạt nghiêng ngửa lá bay tung trời.
Vương Thiên giáo chủ đã núng thế, cảm thấy kém thế, thình lình lừa cơ tung vọt mình sang phía A Hương hấp hối nói:
- Em Hương! Mau trả ngọn Lãnh điện ti thủ cho anh đi!
Nhưng A Hương đã kinh hoàng thất sắc! Tỉ Vương đã chợt hiểu: đã mắc mưu địch, nhưng đau khổ nhất lại bị chính nàng Hương lừa luôn hai báu vật sống chết của mình, báu vật đã mất, Thôi Bác đã thả ra, trời ơi... đúng là đời tàn và anh hùng mạt lộ... Vương Thiên giáo chủ lúc này quá bi uất, hét lên một tiếng kinh khủng, giương ngay song trảo qua chụp nàng Hương!
A Hương hét rú lên một tiếng:
- Anh Linh! Hãy nhanh tay!
Dứt tiếng, nàng mạo hiểm tung ngay ngọn Tiểu Đoạt Hồn Kỳ và Lãnh điện tỉ thủ ra! Làn ánh quang nhoáng lóe mắt mọi người, chỉ thấy Thượng Quan Linh và Tỉ Vương đều tung thân pháp nhanh tuyệt lên để cướp báu vật... Tỉ Vương không hổ danh là đệ nhất cao thủ ma quân, tay y đã chụp được sợi xích bạc nhỏ trong tay, y cười đắc trí và nham hiểm, sửa soạn tung ra để đoạt mạng địch...
Trong cơn kinh hoàng ngộp thở ấy, chi nghe bụp một tiếng, nơi eo của Ti Vương đã bị một vật đen thui thủi đâm trúng toàn thân Tỉ Vương lảo đảo...
Trong chiến trận, ngọn Lãnh điện tỉ thủ đã bị Tỉ Vương quăng bung lên không, ánh chớp loang loáng; Thượng Quan Linh nắm ngay cơ hội ngàn năm một dịp này, tiến nhanh thân vào, quát lên một tiếng dữ dội, phạt bung ngay ra một chưởng!
Chính ngọn chưởng này lại đúng nhằm ngay ngọn thứ bốn mươi chín trong Duy Na Chưởng là ngọn Huyết lệ đảo lưu một ngọn chưởng lợi hại và kinh rợn nhất! Ai nấy đều nghe tiếng rú thê thảm vang lên, trên ngực Tỉ Vương đã bị ngọn Lãnh điện tỉ thủ găm ngay nơi ngực. Thì ra ngọn chưởng Huyết lệ đảo lưu của Thượng Quan Linh đã nhắm ngay ngọn Lãnh điện ti thủ phạt ra và khiến cho ngọn tỉ thủ quay ngược chiều găm vào ngực của Tỉ Vương.
Ti Vương lúc này loạng choạng với vết thương nơi eo và ngọn Lãnh điện tỉ thủ trên ngực, sau khi lui được vài bước, bỗng ngã bịch ngay xuống đất.
Thượng Quan Linh như vừa tỉnh cơn ác mộng, chàng vội bước nhanh tới, chụp ngay sợi xích bạc thu ngọn Lãnh điện tĩ thủ!
Vết thương trên ngực của Tỉ Vương không hề để lại chút máu nào, một kiếp người tàn ác đã lãnh hết những ác quả của mình, và chính lại chết về ngọn Tỉ thủ mà y vẫn tự tin!
Thượng Quan Linh khi biết chắc Tỉ Vương đã chết; chàng mới khẽ tiếng khấn vái lẩm bẩm: Kính thưa vong hồn song thân, và quí vị lão tiền bối đã bị thiệt mạng về Tỉ Vương... nay mối thù huyết hải đã được trả xứng đáng! mong sao quí vị được mỉm cười nơi chín suối... Khấn xong, chàng nghẹn ngào ứa nước mắt.
Thượng Quan Linh định thần nhìn kỹ thấy cảnh vật chung quanh mình, chợt chàng thấy A Hương đã ngất đi vì hoảng khiếp, nơi eo của Tỉ Vương lại bị găm ngọn Tiểu Đoạt Hồn Kỳ.
Thì ra, khi nàng Hương quăng hai ngọn báu vật ra, ngọn Tiểu Đoạt Hồn Kỳ đã rớt ngay cạnh Chu Hoàng, và Chu Hoàng thấy tình thế quá nguy, chụp nhanh ngọn cờ nhắm mắt phóng liền, nào ngờ lại may mắn trúng địch, nên mới cứu vãn nổi tình thế nguy nan và Thượng Quan Linh mới thành công thuận lợi được như thế!
Còn Chu Hoàng sau khi vì dùng sức quá độ nên lại ngất lăn ra mặt đất thiếp luôn.
Thượng Quan Linh vội huýt sáo đánh tiếng gọi mọi người. Chẳng bao lâu, Hạ Quyên và Chu Văn dìu đỡ Độc Chỉ Thôi Bác đến, phía sau là ba mẹ con họ Châu, Sở Canh và con thần ưng Đại Hắc.
Quần hiệp đến nơi, thấy đại công đã thành, Tỉ Vương đã đền tội ác, Thượng Quan Linh đứng ngẩn người, A Hương và Chu Hoàng hồn mê bất tỉnh dưới đất!
Thượng Quan Linh hình như đã mệt quá sức! Quần hiệp vừa kinh vừa mừng, Độc chỉ Thôi Bác vội ngồi ngay xuống lo bắt mạch cho ba người, xong phân chia công việc cho mọi người lo cứu trị nội thương cho Chu Hoàng, chẳng bao lâu họ đều tỉnh lại hết.
Quần hiệp lúc này muốn xem bộ mặt thật của Tỉ Vương, nhưng Độc chỉ Thôi Bác ngăn cản ngay, chắc khuôn mặt của Tỉ Vương có khuyết điểm kinh tởm ghê gớm, nên đã không muốn để cho người đời biết đến, hơn nữa, ở đây phần đông là các nữ hiệp, thế nào cũng kinh hoàng không ít, tốt hơn đừng xem làm gì. Dứt lời sai Đại hắc tha ngay xác thết của Tỉ Vương quăng ngay xuống ao thung lũng của Thiên Nhẫn Chiêu. Quần hiệp lo nghỉ ngơi mấy ngày để khôi phục sức khỏe, rồi bàn tính lên miền Mạc Bắc để trừ tiệt luôn bè đảng của Tỉ Vương là nhóm âm ty tú tài Trần Thân và Lân vương Cổ Thái Huyền.
Độc chỉ Thôi Bác bèn thúc lãnh quần hiệp và Đại Hắc bắt đầu khởi trình đi Mạc Bắc. Đầu tháng tám, quần hiệp đã đến Sắc La Tự Mạc Bắc, ai nấy hồi hộp không biết tình hình ra sao. Họ chỉ nghe tiếng chuông văng vẳng vọng từ Sắc La Tự ra, quần hào đều lo chuẩn bị khí giới sẵn sàng. Trong tiếng chuông ngân vang ấy, một đoàn Lạt ma sư sãi tiến ra nghênh đón, người dẫn đầu Lạt ma là Pháp Sơn lạt ma. Tiếng hoan hô vui mừng vang, ai nấy vui vẻ tay bắt mặt mừng, hỏi han rối rít, đưa nhau vào Sắc La đại tự, các tăng lữ trong tự đều cung kính nghênh đón quần hiệp, khi đến ngôi đại điện, thấy bốn vị xếp thành hàng ngang đứng đón ngay cửa điện.
Thượng Quan Linh vui mừng reo lên, thì ra bốn vị đó là Càn Khôn Tứ Tuyệt Bắc Kiếm, Tây Đạo, Đông Tăng, Nam Bút!
Hạ Quyên thấy mặt phu quân may mắn thoát nạn, nàng cũng quên mất lễ phép của cửa Phật, chạy ngay lại rúc ngay vào lòng Nam Bút mừng mừng tủi tủi, cười khóc lẫn lộn, Chu Hoàng dắt ngay em gái lại thăm hỏi sức khỏe của ân sư Tây đạo Thiên Si, còn Thượng Quan Linh thì bị vị sư bá say Đông Tăng ôm chầm lấy cười híp mắt lại vì sung sướng được thấy vị sư điệt đáng yêu. Bắc Kiếm tươi tỉnh niềm nở với khắp mọi người, trong bầu không khí nhộn vui ấy, Pháp Sơn lại báo cho mọi người sửa soạn nhập tiệc chay của nhà chùa để tẩy trần. Mọi người vui cười đưa nhau vào đại sảnh dùng tiệc chay.
Trong bữa tiệc, Nam bút Gia Cát Dật kể ra đầu đuôi câu chuyện: hóa ra Tả Pháp Thụ tôn giả quả là một tay cừ khôi xuất chúng, sau khi đơn thân độc mã đến Mạc Bắc, dò la được nơi giam giữ bốn vị Càn Khôn Tứ Tuyệt đã giết luôn đám Kê Vĩ Bang để cứu bốn vị thoát nạn, và tiến thẳng ngay về Sắc La Tự.
Trong khi đó đám chó săn của Tỉ Vương, Âm ty tú tài Trần Thân, Lân vương Cổ Thái Huyền, và cả nhóm Thái Hành Lục Khấu, Điểm Thương Hoàng Kha, cha con Chung Thiên Thu đều đang sửa soạn cuộc tiến đánh Sắc La Tự, mục đích chính là để mở cuộc khai đàn lập giáo lần thứ hai; phần đông các quần hào lại ngán sợ oai quyền của Tỉ Vương, không ai dám cãi lệnh, đang lúc nguy cấp thì nhờ Tả Pháp Thụ và Càn Khôn Tứ Tuyệt đến kịp, thoạt tiên là ra hiểu dụ cho mọi người đừng nên để Tỉ Vương lợi dụng, nên mau cải tà qui chính để sống một đời với sự nghiệp chính đáng trong võ lâm.
Nhưng quần hào e ngại thế lực của Tỉ Vương, phần lại có Trần Thân và Cổ Thái Huyền nắm quyền sát sinh trong tay, nên không ai dám ngang nhiên đứng ra phản đối đôi bên đành phải giải quyết dứt khoát bằng võ lực.
Thế là cuộc đại chiến ở Sắc La Tự nổ ra, Tả Pháp Thụ và Càn Khôn Tứ Tuyệt đành dọn hết các ngọn tuyệt kỹ bình sinh của mình ra tung hoành với dư đảng của Tỉ Vương, đồng thời Pháp Sơn cũng lo thúc lãnh các Lạt ma trợ chiến hăng hái, kết quả tà khó thắng chánh, số tử vong bên quần ma mỗi lúc một tăng thêm, chỉ riêng Phi ngô tiêu Lỗ Tiến và Thiên thủ quan âm Từ Lai trong nhóm Thái Hành Lục Khấu biết đường lo rút lui tẩu trước.
Nhưng có chuyện đáng buồn nhất là trong lúc Càn Khôn Tứ Tuyệt lo càn quét tận diệt đám tử đảng Trần Thân, thì cũng phát hiện Tả Pháp Thụ đã hạ sát được Lân vương Cổ Thái Huyền, nhưng trước khi chết, Cổ Thái Huyền đã kịp ném ra một Hỏa đạn gây thương tích trầm trọng cho Tả Pháp Thụ.
Trong cơn sám hối, Tả Pháp Thụ đã nhờ quần hiệp lo tìm cách để đưa cốt hôi (xương đã đốt thành tro) về Thiên Trúc Bàn Na Tha để hợp với ước nguyện lá rụng về gốc.
Càn Khôn Tứ Tuyệt vừa lo đám tang cho Tả Pháp Thụ mới hai ngày, thì đoàn Độc chỉ Thôi Bác đã đến, mọi người đều cảm thấy ngậm ngùi cảm động cuộc ra đi của Tả Pháp Thụ.
Vị chủ trì của Sắc La Tự và Tang Kim đại lạt ma, hai vị cao tăng này đều thân hành ra cảm tạ hết quần hiệp đã cố công tiêu diệt đám quần ma! Quần hiệp ở lại nghỉ ngơi vài hôm rồi lên đường và đem luôn cốt hôi và thần kiếm của Tả Pháp Thụ về Trung Thổ, khi tạt ngang Bắc Ưng trang viện phát hiện những người trong này đã trốn bỏ đi hết, Thượng Quan Linh phá cửa hầm vào lo chôn cất thi hài của vị tiền bối Bắc Ưng Lãnh Lạc, quần hiệp đều làm lễ trước mộ một vị đại hiệp để tỏ lòng kính mến.
Xong xuôi quần hiệp đưa nhau về miền Trung Nguyên thì đã vào tháng chín, cũng là kỳ ước của Bách Lỗ Thượng Quan Tứ và Thượng Quan Linh, suốt dọc đường chàng buồn rầu lo nghĩ về người vợ chưa cưới của mình là Liễu Mi, những khi quá khủng hoảng về tâm thần, chàng thường lẩm bẩm lo cầu nguyện cho Liễu Mi tai qua nạn khỏi. Trong những lúc này, nàng A Hương lại luôn sát cánh bên cạnh Thượng Quan Linh để an ủi, khiến chàng cũng khuây khoả được phấn nào.
Chẳng bao lâu, Thanh Thông Cốc đã hiện trước mặt. mọi người, Đại Hắc lo bay đi trước báo tin! Được tin, mọi người trong cốc mở cuộc đón rước tưng bừng.
Thượng Quan Linh không sao cầm lòng nổi, chàng co giò chạy như bay vào cốc và đến thẳng ngay khuê phòng của thứ nữ Thanh Thông.
Đến nơi, chàng thấy một trang tuyệt thế giai nhân, toàn thân một màu trinh trắng, đang đứng cửa lầu ngóng đợi..
Thượng Quan Linh kêu lớn tiếng:
- Liễu Mi em...
Chàng chạy bay ôm chặt lấy người yêu vào lòng! Những cảm xúc lộn xộn đã khiến chàng ngớ ngẩn và ngây ngất! Đôi bên chỉ còn thốt một tiếng: Anh và em, và cuối cùng là chìm lắng trong sự vuốt ve trìu mến...
Khá lâu Thượng Quan Linh mới nói:
- Em,... từ nay chúng mình đã tai qua nạn khỏi rồi, anh nguyện sẽ không bao giờ bị xa em nữa!...
Liễu Mi nghẹn ngào sung sướng:
- Anh yêu quí! Anh hãy mau mau sang cám ơn Bách Lỗ đại sư Thượng Quan Tứ của anh đi, nếu không có anh ấy Liễu Mi đâu còn sống được đến ngày nay để được đoàn tụ sung sướng như thế này...
Bách Lỗ đại sư tươi cười bước lại gần rằng:
- Anh chúc mừng hai em tai qua nạn hết... và cũng chúc hai em sẽ bách niên giai lão, hạnh phúc khang ninh...
Thượng Quan Linh nắm chặt tay trưởng huynh Bách Lỗ, xúc động ứa nước mắt, nghẹn ngào không thốt ra được câu gì.
Trong Thanh Thông Cốc, không khí tưng bừng náo nhiệt, Lão bang chủ Liễu Khải và Sở Canh lo khoản đãi quí khách, yến tiệc linh đình, pháo đốt mừng vang khắp trong cốc.
Quần hiệp an cư một thời gian trong cốc, các vị lão tiền bối như Độc chỉ Thôi Bác, bang chủ Liễu Khai, Nam Bút tiên sinh, Hạ Quyên... ai nấy lo thương nghị để giải quyết luôn ba đám mừng của nhóm hậu bối tại Thanh Thông Cốc luôn.
Một là thứ nữ Thanh Thông Bang Liễu Mi và A Hương cùng thành hôn với Thượng Quan Linh, vì chính Thôi Bác đại hiệp tìm không ra vị rể lý tưởng nào cho hợp, dù cho làm lẽ Thượng Quan Linh cũng xứng, huống hồ cô bé A Hương cũng phải lòng vị thiếu hiệp tài sắc văn võ cừ khôi này! Liễu Mi cũng không phản đối, càng được mọi người tán thành triệt để.
Hai là Chu Hoàng và hai chị em Châu Điệp, nay cũng cử hành ngay lễ cưới tại đây, cho yên chuyện lòng của bậc già cũng như các đương sự.
Còn một đôi hôn nhân ngoài sức dự đoán của mọi người cũng như quí vị độc giả, đó là cô em gái của Chu Hoàng là Chu Văn cùng với anh chàng tính thẳng như ruột ngựa là Sở Canh, đôi bên tình đầu ý hiệp, nên lão bang chủ đứng ra làm chủ xin ngay với Độc chỉ Thôi Bác để hợp tác cuộc lương duyên này cho đôi trẻ hữu tình, Thôi Bác cười ha hả nhận lời ngay.
Đúng ngày mười chín tháng chín, với toàn nhân lực và tài lực của Thanh Thông Bang, ba đám cưới được tổ chức linh đình, kèn trống, chiêng, pháo, thi nhau mang lại các niềm vui cho mọi người trong cốc! Trong ba cuộc động phòng tuy có khác nhau bề ngoài, nhưng bề thầm kín chắc là hái được hạnh phúc hết!
Sau cuộc lễ vài hôm, bang chủ bèn cho người lên núi Mặc Phụ Sơn dời mộ con gái lớn về huyệt mộ họ Liễu, vì Liễu bang chủ nghĩ ràng Liễu Văn hư như thế cũng tại trách nhiệm mình một phần nào, nên không muốn để mộ con mình bị hoang lạnh bơ vơ...
Quần hiệp sửa soạn ai về xứ nấy, nhóm thứ nhất là Bắc kiếm Phổ Côn, Thiên Si Tây Đạo, Đông tăng Túy Đầu Đà lo kết bạn về Ngao Sơn an nhàn tuổi vãn niên, và để chuộc các lỗi lầm của mình, Bắc Kiếm đã quyết về đó diện bích khổ tu mãn kiếp luôn! Trước khi ra đi, đều tỏ ý cho Thôi Bác rõ nếu sau này có phục hưng nhà Minh để diệt Thanh, họ sẽ xuống núi ra tay trợ giúp triệt để.
Nam Bút lo về quê vợ miền Giang Nam sống một cuộc đời thần tiên. Còn Bách Lỗ Thượng Quan Tứ lo đem chiếc cờ Tiểu Đoạt Hồn Kỳ và cốt hôi của sư bá Tả Pháp Thụ về Thiên Trúc, trước khi khởi trình chàng sẽ ghé qua Ai Lao Sơn tỉnh Vân Nam để thăm mộ thân mẫu là Lỗ Yểu Nương, đồng thời sẽ nói rõ cho Tra Phong hay về mối oan thù đã hết, và nếu Tra Phong thích, chàng có thể đưa luôn Tra Phong xuất gia đầu phật luôn cho có bạn thâm giao ở xứ Thiên Trúc! Vợ chồng Thượng Quan Linh gạt lệ tiễn đưa người trưởng huynh. Còn nhóm Thôi Bác, vợ chồng Chu Hoàng và mẹ vợ Chu Phụng cũng khởi trình lại Hoàng Đảo của cha xưa kia để mưu đồ cuộc đại nghĩa phục Minh diệt Thanh.
Chu Văn đã thành vợ Sở Canh, mà Sở Canh lúc này Liễu bang chủ gian hết quyền hành trong Thanh Thông Cốc và chỉ định sẽ là người nối nghiệp lão bang chủ luôn! Nên vợ chồng Sở Canh không thể bỏ cơ nghiệp đi được.
Sau khi vui thêm với nhạc phụ mấy ngày, Thượng Quan Linh bèn đưa hai vị ái thê của mình về Nhạc Châu thăm quê giỗ mả các thân nhân, xong sẽ đưa nhau về Ngọc Thụ định cư và trông giữ kho tàng vô giá để chuẩn bị ứng dụng cuộc khởi nghĩa của Hoàng Đạo sau này.
Một cuộc chia tay Phong hổ vân long tạm yên trong một thời gian để lo cuộc phục hưng của nhà Minh... và không ai được biết ngọn cờ đại nghĩa ấy sẽ được phát động vào lúc nào. Và ngọn bút cùn của tại hạ cũng xin tạm kết thúc nơi đây luôn!
 
Hết
 
0
http://vnthuquan.net/truyen/truyen.aspx?tid=2qtqv3m3237nvn1n2n1nvn31n343tq83a3q3m3237nvn

Đã mang vào thư viện

Thành thật cảm ơn bevanng đã góp sức cho thư viện


Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
0
«« « 1 2 3 » »»