📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

Bao Thanh Thiên – Thất Hiệp Ngũ Nghĩa (Hết) 🔒

102 trả lời, 13.428 lượt xem — Trang 1 / 4
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2010-03-31 18:52:11bevanng>
Phạm Văn Điểu (Dịch)
Bao Thanh Thiên – Thất Hiệp Ngũ Nghĩa
(Truyện bảy kiếm khách và năm nghĩa sĩ)

Nhà xuất bản hội nhà văn
Lời Giới Thiệu

1. Bao Thanh Thiên Và Các Hảo Hán


Bao Công là một nhân vật có thật trong lịch sử, ông tên là Bao Chửng, thi đậu tiến sĩ đời Tông Thái Tông, làm quan đến chức Long đồ các đại học sĩ, Phủ doãn Phủ Khai phong. Khai Phong là kinh đô của nhà Tống. Thời Tống Thái Tông và Tống Nhân Tông được coi là hai triều vua có nhiều cải cách và thành tựu, lại tập hợp được nhiều nhân tài như Vương An Thạch - Âu Dương Tu - Phạm Trọng Yếm. Cùng phò tá Nhân Tông sau này, hai đại thần trụ cột trong số các đại thần khác là Bao Công (văn) và Tống Địch Thanh (võ).
Nhưng Bao Công nổi tiếng là người xét án giỏi, công minh, khám phá ra nhiều vụ án động trời trong đó có vụ Quách Hòe dùng “mèo đổi chúa”, hay là chuyện Trần Sỹ Mỹ phụ bạc người vợ chung thủy, hiếu nghĩa Tần hương Liên... Ông được coi là Thần Tượng của Công Lý, chỉ có ông mới giải được nỗi oan ngất trời như Lý Thần Phi bị đổi con (sau này là Tống Nhân Tông), hoặc những người tôi mà tai bay vạ gió hoặc bị quyền thần, gian thần bày mưu hãm hại. Ông trở thành nhân vật huyền thoại được lưu truyền trong dân gian. Nhưng sở dĩ ông làm được những công trạng lớn đầy uy tín với triều đình và trong dân chúng, chính là nhờ giải môn sinh và tùy tòng giúp việc. Đó chính là Công Tôn Sách, Triển Chiêu (Nam Hiệp), Vương Triều,  Mã Hán, Trương Long, Triệu Hổ, Âu Dương Xuân (Bắc Hiệp), Tưởng Bình, Đinh Triệu Lang, Trẩm Trọng Nguyên,  Bạch Ngọc Dương, tức đám hảo hán lừng danh đời Tống hết lòng vì công việc.
“Thất hiệp ngũ nghĩa" chính là tập hợp những truyện lưu truyền trong dân gian về tài dò xét, võ nghệ tuyệt luân, đến đi đúng lúc, khi nhẫn nại kiên trì, lúc bôn tẩu thần tốc, xuất quỉ nhập thần của giàn hảo hán dưới trướng của Bao Thanh Thiên... Tuy Thất hiệp ngũ nghĩa không được liệt vào hạng sách văn chương cực hay của Trung Quốc như Thủy Hử, Tam Quốc, nhưng nó cũng có một vị trí nhất định, đặc biệt nó được rất đông người đọc từ thế hệ này sang thế hệ khác say sưa đọc. Có người cho Thất hiệp ngũ nghĩa là tiền thân của truyện kiếm hiệp Trung Hoa... Cũng là một lý... Nhưng thật ra Thất hiệp ngũ nghĩa đề cao hảo hán, đại hiệp không phải như lời bịa ra vô lối về các miếng võ, miếng chưởng sau này, mà chính là đề cao lòng khẳng khái, phóng khoáng, thích diệt ác, trừ gian, cứu người hiền đức, lương dân bị lâm vào những bước đường cùng oan uổng...
Thông thường hảo hán, nghĩa hiệp hay sống ở ngoài vòng pháp luật, và họ thường có thứ luật giang hồ riêng.  Nhưng ở trong Thất hiệp ngũ nghĩa này, chính họ lại cộng tác đắc lực với Bao Thanh Thiên (đại diện cho Vương Triều Tống), bởi ông và họ cùng một mục đích: đấu tranh cho công lý, cho thiện thắng ác... Mà điều đó, người viết Thất hiệp ngũ nghĩa đã nói rõ ở những trang cuối cùng tập sách của mình: "Phàm kẻ hiệp khách nghĩa sĩ, thường hành động khác nhau ví như Thẩm Trọng Nguyên thời thật là khó. Tự mình đã chịu cái danh giúp giặc làm càn. Trước mặt Trương Dương Vương, Trọng Nguyên vẫn phải giả phụ họa theo chúng, chứ không hề bàn mưu định kế gì, lại dùng cái thông minh của mình để dò xét nội tình chúng. Đến như Bắc Hiệp (Âu Dương Xuân) và Nam Hiệp (Triển Chiêu) kia, đi đến đâu cứu khổ phò nguy, ai chẳng gọi là nghĩa hiệp thế mà sánh với Trọng Nguyên lại dễ dàng hơn, không thể bì kịp. Vì Trọng Nguyên thì phải tùy cơ ứng biến, quỷ trí đa đoan, đến lúc việc đã xong, rồi mới được vào hàng nghĩa hiệp. Thế chẳng phải là việc khó khăn hay sao?".
Vậy ra hảo hán cũng có những người phải náu mình làm việc nghĩa âm thầm!
Bởi vì, họ đều cùng một mong ước xã hội công bằng, pháp luật nghiêm minh, mong diệt trừ tham quan, lại nhũng, mong một đời sống người lương thiện được bảo trợ, một cuộc sống yên lành và mọi mầm ác phải diệt thường xuyên, diệt tận gốc...
Thất hiệp ngũ nghĩa tưởng như một truyện kiếm hiệp, một thứ văn chương giải trí, nhưng đâu có phải như thế! Từ truyện Thất hiệp ngũ nghĩa mà điện ảnh Đài Loan,  Hồng Kông đã khai thác, làm phim truyền hình đến hàng trăm tập và rất ăn khách.
Lần tái bản này, được sự đồng ý của Nhà xuất bản Kim Đồng (in lần đầu năm 1989), chúng tôi in theo bản in đó.
Ngô Văn Phú

2. Huyền Thoại Bao Công


Ấm no, sung sướng, cũng như sự thật và lẽ công bằng, vẫn là niềm khao khát chính đáng của con người từ bao đời. Nhưng ở trong xã hội còn áp bức, bóc lột, con người nhiều khi không thực hiện được ước mơ tốt đẹp đó. Vì vậy nhân dân đã sáng tạo ra những câu chuyện cổ tích, huyền thoại hay dã sử để gửi gấm khát vọng của mình.
Từ buổi bình mình của lịch sử nhân loại, đã xuất hiện những ông bụt, ông tiên như ông Bụt trong truyện Tấm Cám hiện lên hỏi "Làm sao con khóc?" rồi dùng phép thuật cứu giúp người lành, trừng phạt kẻ ác. Đến thời trung cổ, lại có những hiệp sĩ cưỡi ngựa dong ruổi lên đường, dùng thanh gươm nghĩa hiệp để cứu khốn phò nguy, như kiểu Robin Hood, hiệp sĩ rừng xanh của Anh, hay Rôlăng, hiệp sĩ trên thung lũng Rôngxơvô của Pháp. Đến thời phong kiến, kiểu "hiệp sĩ" trung cổ lại trở thành lỗi thời, như anh chàng Đôn Kihôtê cưỡi con ngựa Rốtxinăng đi dẹp sự bất bằng trên cõi đời nhưng lại đánh nhau với cối xay gió, tuy bề ngoài có vẻ lố bịch, nực cười nhưng bên trong vẫn ánh lên ngọn lửa nhiệt tình muốn xóa sạch bất công áp bức, cho con người hạnh phúc, tự do. Ở Việt Nam, hình ảnh Lục Vân Tiên "giữa đường thấy sự bất bình mà tha?" đánh cướp cứu Kiều Nguyệt Nga, sau đó lại lên đường đi đánh giặc ngoại xâm, bảo vệ đất nước trong truyện nôm Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu, có lẽ là điển hình trọn vẹn nhất về mẫu người hiệp sĩ trong chế độ phong kiến.
Nhưng trong xã hội phong kiến, không phải cứ dẹp xong giặc ngoại xâm là tức khắc mọi người đều sung sướng và bình đẳng, mà còn có áp bức, bất công, do vẫn tồn tại chế độ bóc lột. Dưới khuôn khổ nhà nước phong kiến, nhân dân lại sáng tạo ra hình ảnh vị quan công minh liêm chính, cầm cân nảy mực cho công lý, dùng pháp luật thẳng tay trừng trị kẻ gian ác, bất lương, cứu người lương thiện mắc vòng oan uổng. Muốn vậy không thể chỉ dùng sức mạnh và lưỡi gươm mà đủ, trước hết phải vận dụng trí tuệ sáng suốt, tài quan sát và óc phán đoán tinh vi, nhậy bén, mưu trí thông minh để vén mở màn bí mật che giấu mưu mô của kẻ ác, đưa chúng sa bẫy để nhân đó lật mặt trái của chúng, bắt chúng thừa nhận tội lỗi. Và cuối cùng phải có một trái tim nóng bỏng thiết tha với hạnh phúc của nhân dân, một cái đầu kiên cường dũng cảm, không chịu khuất phục, nhượng bộ trước một thế lực tàn ác muốn bóp méo pháp luật, thay đen đổi trắng, bịt miệng người bị oan, bao che cho kẻ có tội.
Cũng như nhân dân nhiều nước khác trên thế giới, nhân dân Trung Quốc đã sáng tạo ra hình tượng Bao Công, vị quan xử án công minh chính trực, khẳng khái vô tư đã khám phá ra không biết bao nhiêu vụ án ly kỳ, cứu bao người lương thiện bị oan và thẳng tay trừng trị kẻ phạm pháp, dù chúng được những nhân vật chóp bu trong chính quyền phong kiến như vua, thái hậu nâng đỡ, dù chúng ở những địa vị cao như quý phi (vợ lẽ vua), quốc trượng (bố vợ vua), phò mã (con rể vua), thái giám (người bố già nuôi vua từ nhỏ).
Bao Công không phải là một nhân vật hoàn toàn hư cấu mà xuất phát từ một nhân vật lịch sử có thật, đó là vị quan Long đồ các đại học sĩ, lệnh doãn phủ Khai Phong, tên là Bao Chửng (chữ Chửng có nghĩa là cứu vớt, ngụ ý cứu vớt nhân dân) dưới triều vua Tống Nhân Tông (thế kỷ 11) có tài xử án. Ngoài những chuyện vụ án có thật do chính Bao Công xử, nhân dân còn thêm thắt vào nhiều mẩu chuyện khác, có thể do vị quan khác xử, có thể hoàn toàn hư cấu, để xây dựng một hình tượng trọn vẹn về một con người cầm cân nẩy mực cho pháp luật, luôn đứng về phía công lý và chính nghĩa. Từ những "thoại bản" rời rạc cho những nghệ nhân hát rong kể khắp nơi, có người đã tập hợp lại bổ sung thêm, soạn thành bộ tiểu thuyết Thất hiệp ngũ nghĩa. Ở đây Bao Công không đơn độc, mà có một tập thể người tốt giúp đỡ: đó là bảy người hiệp khách và năm người nghĩa sĩ, những phần việc trong quá trình xét xử được lần lượt phân công cho từng người thích hợp, mọi người đồng tâm hiệp lực tìm ra manh mối vụ án dẫn đến kết quả mỹ mãn. Ngoài một số chi tiết mang màu sắc hoang đường do chưa thoát khỏi ảnh hưởng của đầu óc mê tín thần quyền, hay mượn cớ đánh lạc hướng giai cấp thống trị đương thời: trong truyện có nhiều chi tiết phù hợp với khoa học, kết hợp với thực tiễn quan sát và tư duy lôgich, khiến người ta liên tưởng đến phương pháp làm việc của thám tử Sêlốc Hôm trong truyện của Cônân Đôilơ. Như vậy là tinh thần hiệp sĩ đã được kết hợp với tinh thần khoa học.
Thất hiệp ngũ nghĩa là một truyện cổ khuyết danh Trung Quốc, nói lên ước mơ của những người lương thiện cùng khổ, hy vọng có một xã hội công bằng. Ban biên tập đã sử dụng bản dịch cũ của Phạm Văn Điều, do Tín Đức thư xã xuất bản năm 1952 ở Sài Gòn*. Bản dịch này có nhiều chữ cổ, văn cổ và tiếng địa phương. Để cuốn sách đến với bạn đọc hiện đại, ban biên tập đã hiệu đính trên tinh thần làm gần gũi hơn với ngôn ngữ phổ thông đại chúng và hiện đại.
Trong khi chờ đợi một bản dịch tốt hơn trên cơ sở nguyên bản, những người làm công việc biên tập đã cố gắng đạt tới sự dễ hiểu mà vẫn trung thành với bản chính. Vì khả năng điều kiện có hạn, không khỏi sai sót mong các bạn đồng nghiệp và bạn đọc góp ý, giúp đỡ để khi tái bản, cuốn sách được hoàn chỉnh hơn.
Hoài Anh
* Do không biết địa chỉ của ông Phạm Văn Điều, nên chúng tôi không liên lạc được, mong ông thông cảm.
0
Hồi Thứ Nhất [/align]

Mộng Sao Khuê, Trung Lương xuống thế,
Nổi trận sấm, Hồ Ly lánh tai.
 
Tại tỉnh Giang Nam, phủ Lưu Châu, huyện Hiệp Phi, thôn Bao Gia có một vị Viên ngoại họ Bao tên Hoài, nhà rất giàu, tính hiền hậu, gá nghĩa với Viện quân Châu Thị. Ông bà sớm sinh được hai trai, bây giờ đã trưởng thành. Người con cả tên Bao Sơn, đã có vợ là Vương thị, người em là Bao Hải cũng đã có vợ là Lý Thị. Vợ chồng Bao Sơn mới được một con trai vừa đầy tháng vợ chồng Bao Hải thì chưa.
Bao Sơn là người trung hậu thành thực, chính trực vô tư, lại kết đôi với Vương Thị là người đức hạnh đoan trang, còn Bao Hải thì bạc ác, gian hiểm, thêm vợ là Lý Thị tâm địa cũng không đoan chính, nhưng may Viên ngoại khéo thu xếp gia đình nên cả nhà đều chiều chuộng lẫn nhau, dưới trên hòa thuận mà vui với nghiệp ruộng nương.
Châu viện quân (vợ Viên ngoại) tuổi đã năm mươi mà còn chửa. Viên ngoại nghĩ rằng: “Nhà đã có con có cháu đủ rồi, nếu sinh thêm càng bận, lại lo Viện quân tuổi cao sức yếu, không chịu được đau đớn khi sinh nở, và nhọc nhằn lúc cho bú mớm". Vì vậy mà thường thường chẳng vui.
Ngày kia, Viên ngoại ngồi một mình trong thư phòng, đương phân vân nghĩ ngợi, thì thấy trong mình mệt mỏi lắm, rồi đôi mắt lần lần sụp mi... chợt mơ màng thấy trên không mây lành bao phủ, khí tốt nghi ngút, từ xa có một làn hồng quang xẹt tới, rồi sa xuống một vật kỳ quái: đầu mọc hai sừng, mặt xanh tóc đỏ, miệng rộng răng to, tay trái xách nghiên bạc, tay phải cầm bút son, nhảy nhót múa may, tới trước mặt. Viên ngoại thấy vậy sợ sệt vô cùng, la to lên một tiếng, tỉnh ra là giấc chiêm bao. Bụng còn hồi hộp, tâm lý đương ngẩn ngơ, thời con hầu xô cửa bước vào, thưa rằng: "Bẩm Viên ngoại, bà vừa sinh được công tử nên con vào cho hay tin mừng”.  Viên ngoại nghe qua đã chẳng vui, lại thở dài, ngồi sững giây lâu rồi đằng hắng và than rằng: "Thôi rồi, nhà ta đã chẳng may mới sinh giống yêu tà, đó là oan gia đã đến!". Nói rồi đứng dậy đi lững thững vào trong, hỏi thăm sơ sài ít câu rồi cũng quay lại thư trai, không hề nhắc nhở tới đứa bé mới đẻ.
Vợ Bao Hải là Lý Thị, đỡ đần cho Viện quân sinh, xong rồi chạy hơ hải về nhà mình, thấy chồng ngồi đừ trong ấy thì lấy làm lạ hỏi rằng: "Má mới sinh được một em trai, mình có biết hay không?". Bao Hải đáp: "Cũng chính vì sự đó mà tôi bực mình đây. Mới rồi, cha kêu lên thuật chuyện chiêm bao quái dị, rằng có một người mặt xanh tóc đỏ, tự trên trời nhảy xuống, vừa tỉnh giấc ra, thời má sinh đứa nhỏ ấy liền, nếu suy nghĩ kỹ thì thật là điềm không tốt đó”. Lý Thị nghe vậy bèn nói: "Phải! Vậy thì tính thế nào, chớ để nó ở trong nhà sau này báo hại chẳng ít, người xưa hay nói: Yêu tinh vào nhà, người chết của hết. Lời đó nghiệm có thật. Nay sao mình không bàn với cha đem quăng phứt nó ra nơi đồng trống rừng hoang cho khỏi tai vạ về sau. ". Bao Hải gật đầu bươn bả vào, ra mắt Viên ngoại, nói lại với ông. Viên ngoại cũng bằng lòng dặn rằng: "Việc này ta giao cho mày lo liệu thế nào. xong thời thôi“. Bao Hải trở lại nói phao rằng Công tử đã chết, mới dùng đệm hư giỏ rách, bảo vợ gói đứa bé lại cho mình mang lên núi Cẩm Bình. Lên tới nơi có một đám cỏ rậm, bèn để xuống định để mặc đứa bé đó, bỗng thấy hai điểm sáng trong chỗ rập rạp rọi ra, đó là cặp mắt của một con cọp rất lớn đương chằm chằm ngó tới. Bao Hải thấy vậy hồn vía lên mây, không xem trước nhắm sau, túm cả gói liệng phắt vào, rồi đâm đầu chạy miết về nhà, vừa run vừa nói: "Cọp cọp, cọp bắt ta rồi!". Lý Thị vội vàng hỏi rằng: “Mình làm gì vậy, cọp ở đâu!” Bao Hải đem việc gặp cọp thuật lại, Lý Thị nói: "Nếu vậy bây giờ đứa bé ấy có lẽ cọp đã ăn mất rồi". Bao Hải gật đầu đáp phải.
Hai vợ chồng đương chuyện vãn trong nhà, ai dè Vương Thị (vợ Bao Sơn) đi ngang qua nghe rõ đầu đuôi nghĩ thế là quá tàn nhẫn, trở về ngồi khóc thút thít mãi. Bao Sơn ở ngoài đi vào thấy vậy gạn hỏi nguyên do. Vương Thị nói lại, Bao Sơn không tin nói rằng: “Không lẽ có chuyện đó, vì ai, dẫu là người không có lương tâm, tưởng cũng không thể làm như vậy. Muốn tường gốc ngọn, chờ tôi lên núi Cẩm Bình đó kiếm thử coi". Nói rồi, Bao Sơn đi liền. Tới nơi thấy vùng cỏ rậm bèn bước lần quanh, chỉ thấy một cái giỏ rách, chớ không có gì khác. Trong bụng hồ nghi là đứa bé đã bị cọp ăn, song Bao Sơn cũng gượng đi tới ít bước nữa, liền thấy có một đứa bé mặt đen như sơn, mình đỏ như son, nằm ngo ngoe trên đám cỏ. Bao Sơn mừng rỡ khôn xiết, cởi áo bọc đứa bé vào lòng, đi riết về nhà trao lại cho vợ. Vương Thị ẵm đứa bé vạch vú cho bú, còn Bao Sơn cũng lẩn quẩn một bên, rờ rẫm vuốt ve, rồi nói với vợ rằng: "Nay tuy đem được chú ba về nuôi đó là việc may, nhưng trong nhà ta tự nhiên có hai đứa nhỏ, người ngoài biết được chắc không khỏi nghi ngờ “. Vương Thị đáp: "Phải, vậy tốt hơn là bây giờ đem con mình gửi cho người khác nuôi, để một mình tôi thong thả nuôi chú ba mới được”. Bao Sơn nghe nói vừa lòng lắm, bèn đem con gửi cho vợ chồng Trương Đắc Lộc nuôi hộ. Hai vợ chồng người này, mới bỏ đứa con vừa đầy tháng, người buồn sữa căng, nay được Bao Sơn cậy nuôi con thì vui lòng vâng chịu.
Ngày tháng thoi đưa, sáu lần đông qua xuân tới, Bao Công (tên đứa bé bị bỏ trên núi mà Bao Sơn đem về nuôi) đã được bảy tuổi, kêu anh ruột chị dâu (vợ chồng Bao Sơn) bằng cha mẹ. Vợ chồng Bao Sơn gọi chú bé là Hắc Tử.
Bữa nọ là lễ sinh nhật của Châu viện quân,  Vương Thị qua bái thọ mẹ chồng, có dẫn Hắc Tử theo.  Khi làm lễ xong, Hắc Tử chạy tới trước mặt bà nội, quỳ xuống lạy ba lạy rất đỗi cung kính. Viện quân thấy vậy ẵm vào lòng, nựng nịu và nói:” "Ta nhớ sáu năm trước có sinh một trai, thương thay! Lúc ta mê man thời nó đã chết, còn sống thì năm nay cũng bằng thằng cháu này”. Vương Thị dòm quanh không thấy ai liền quỳ xuống bẩm rằng: "Bẩm mẹ, xin tha lỗi cho con, đứa nhỏ thật là con của mẹ đẻ ra, vì con thấy mẹ tuổi cao, nuôi bú cực nhọc, nên lén đem về nhà phụng dưỡng mà không cho mẹ hay. Nay nhân mẹ nhắc đến, con không dám giấu, vậy xin thưa ngay mẹ rộng lòng dung thứ". Châu Viện quân nghe nói lật đật đỡ Vương Thị dậy và nói: "Trẻ mà được con nuôi, ơn ấy ra dày, nhưng còn con của con bây giờ ở đâu?" Vương Thị thưa: "Dạ, con đã gửi cho người khác nuôi rồi". Viện quân sai kêu con của Bao Sơn về, xem hai đứa hình dáng chẳng khác nhau bao nhiêu, liền mời Viên ngoại tới, cả nhà xúm nhau nói chuyện ấy. Bấy giờ Hắc Tử gọi vợ chồng Viên ngoại là cha mẹ và kêu vợ chồng Bao Sơn là anh chị, Viện quân thương Hắc tử lắm, lại kêu tên riêng là Tam Hắc.
Ba năm sau, Bao Công đã được chín tuổi. Vợ chồng Bao Hải cũng quyết làm sao giết cho được mới nghe. Một hôm Bao Hải lại nhà Viên ngoại nói gièm rằng: "Thưa cha, nhà chúng ta vốn lấy cần kiệm làm gốc, nay chú ba đã chín tuổi đầu, không phải nhỏ nhít gì, mà thả chơi bời lêu lổng, vậy xin cho nó đánh đọ với lũ mục đồng hay là bầu bạn với con của lão Châu là thằng Trương Bảo Nhi đi chăn trâu.  Một là tập cho quen, hai là khỏi tốn cơm ăn rồi ngồi không vô ích". Viên ngoại nghe theo lời, đem bàn chuyện đó với vợ. Châu viện quân cũng bằng lòng, bèn giao Bao Công cho lão Châu sai khiến. Từ đây,  Bao Công bầu bạn với Trương Bảo Nhi, khi lùa châu, dê ra mé sông, khi lại đuổi ra khỏi cổng làng hay lên núi Cẩm Bình thả cho ăn.
Một bữa nọ, Bao Công lùa trâu tới núi Cẩm Bình bỗng đâu mây mù sấm nổ, biết trời sắp mưa to, liền chạy vào miếu cũ trong hẻm núi để trú. Mưa ào ào, sét nổ rầm rầm, đất rung cây đổ, Bao Công ngồi xếp bằng tròn trên ghế hồi lâu, chợt nghe có người ở phía sau bước tới, ôm chặt lưng mình, liền quay đầu ngó lại, thấy một đứa con gái, mặt mày hơ hải có vẻ sợ sệt, khá thương. Bao Công nói thầm rằng: "Không rõ con nhà ai, song chắc là vì sợ sấm sét nên chạy vào núp".  Nghĩ vậy nên Bao Công lấy áo đắp cho. Mưa càng to, sấm càng dữ, đôi ba giờ mới tạnh. Mây tỏ trời trong,  Bao Công nhìn lại bên mình thấy đứa con gái đã biến đâu mất. Bao Công không để ý gì tới, vội vã ra kêu Trương Bảo Nhi cùng nhau lùa trâu về.
Về tới đầu cổng làng, Bao Công gặp đứa ở của Lý Thị là Thu Hương, tay bưng dĩa bánh đưa Bao Công mà nói rằng: "Mợ hai bảo tôi bưng bánh này ra cho cậu ăn lót lòng”. Bao Công nói: "Phiền em về thưa lại với chị hai nói ta cám ơn lắm". Nói đoạn thò tay cầm bánh muốn ăn, ai dè tay run mạnh, làm cái bánh rơi xuống đất, vừa cúi lượm, có con chó ở đâu bỗng chạy lại tha đi. Trương Bảo Nhi đứng một bên xem thấy tiếc lắm, muốn chạy theo giật lại, Bao Công cản mà rằng: “Bánh đã bị chó ngậm vào miệng rồi, dẫu có lấy lại ăn cũng không được, thôi bỏ đi, lùa trâu về nghỉ tốt hơn". Dứt lời, chúng hè nhau lùa trâu về chuồng.  Tới nơi, Bảo Nhi vào trước mở cổng, thấy con chó nằm dưới đất, máu trong mũi, miệng, tai, mắt đều chảy ra bèn la toáng lên. Bao Công cũng chạy vào xem. Bao Công lấy làm lạ nói: "Chắc là con chó trúng độc, song không biết ăn phải vật gì". Trương Bảo Nhi nghe nói xong vội kể rằng: "Chắc là nó ăn bánh mà chết, mới hồi nãy con Thu Hương đem bánh của mợ hai gửi cho cậu ba, không may bánh bị rơi, con chó này ăn hỗn, nên bây giờ chết ngoẻo cổ cờ chứ gì". Lão Châu nghe nói hiểu ngay, bèn kêu Bao Công vào nhà, thầm thì dạy bảo: "Từ nay về sau, mợ hai có cho món chi, mượn làm chuyện gì, cậu phải để ý dè dặt, kẻo lại mắc mưu độc nữa!". Bao Công vâng dạ và lộ vẻ buồn bã vô cùng.
Cách lâu lâu, Thu Hương sang nói với Bao Công rằng: “Lý Thị sai mời có chuyện cần”. Bao Công tin thật theo nó qua nhà. Lý Thị giả bộ niềm nở vui cười bảo rằng: "Hôm qua con Thu Hương ra sau vườn, vô ý làm rớt cây trâm xuống giếng, nếu mà má hay được, chắc tôi không khỏi bị mắng. Muốn mượn người khác mò, e giếng hẹp khó xuống, chỉ có chú vóc nhỏ mình nhẹ, có thể giúp tôi được, song chưa biết chú ưng hay không?". Bao Công đáp: "Chuyện đó khó gì, tôi mò giúp cho". Lý Thị nghe nói rất mừng, bèn kêu Thu Hương lấy một sợi dây đi với mình và Bao Công ra sau vườn. Tới giếng, Bao Công lấy dây quấn vào lưng, tay bám miệng giếng, bảo Lý Thị và Thu Hương nắm mối trên và lần lần thòng xuống. Vừa được nửa chừng, Lý Thị Buông tuốt sợi dây, Bao Công bị rơi xuống rất mạnh, thẳng tới đáy giếng. Nhưng may là cái giếng khô (hoặc có thần nhân phù hộ, chứ giếng có nước nên Lý Thị mới mưu hại cho chết chìm), Bao Công bây giờ mới rõ mưu gian của chị dâu mình, hối hận vô cùng, trách mình sao không nghe lời lão Châu để đến nỗi mang họa. Nhưng việc đã lỡ rồi, đương ở dưới giếng sâu làm sao ra khỏi.
Trong khi lo nghĩ bỗng thấy trước mặt có một chỗ sáng. Bao Công không hiểu là cái gì, bụng tưởng là bóng kim xoa chiếu ra (cũng chưa hết tin) bèn rờ rờ đi tới, lại thấy bóng sáng đó nới ra một đỗi xa, cứ việc bước theo, càng theo càng thấy xa. Bao Công đã lấy làm lạ sao trong giếng lại có đường sá như vậy, gắng hết sức đi, chừng một dặm điểm sáng ấy không động nữa. Bao Công bước lại gần xem té ra là một mảnh gương cũ, cầm day qua trở lại, song tối quá soi không được rõ; chỉ biết có hơi lạnh ở dưới đất xông lên, làm cho cả mình đều lạnh. Bấy giờ Bao Công mới ngẩng đầu lên, thấy trước mặt có chỗ sáng, liền cầm luôn mảnh gương ấy đi lại, hóa ra đó là cái hố ở sau vách hè, Bao Công nghĩ rằng: "Ai có dè cái giếng ấy lại thông với hố này, thôi ta về luôn không cần trở lại".  Nghĩ vậy Bao Công liền leo lên đi thẳng tới nhà Bao Sơn vào ngồi im, không nói với ai một tiếng gì. Vương Thị thấy vậy hỏi: "Chú ba ở đâu lại đây mà buồn rầu vậy hay là ai chọc ghẹo gì chăng?". Bao Công đem việc xuống giếng, nhất nhất thuật lại, Vương Thị nghe nói rất đỗi bất bình, song chỉ có khuyên giải Bao Công cho bớt buồn bã và dặn từ nay về sau có chuyện gì phải để ý dè dặt. Bao Công miệng dạ dạ, tay lần túi móc một mảnh gương cũ giao cho Vương Thị và nói: “Gương này tôi lượm được dưới giếng, xin chị làm ơn cất giúp, đừng bỏ bậy mà lạc mất", dặn rồi đi ra.  Vương Thị ngồi một mình than thở căm giận vợ chồng Bao Hải lắm. Vương Thị đương than thở, Bao Sơn ở ngoài đi vào, Vương Thị đem việc vừa rồi thuật lại cặn kẽ. Bao Sơn lắc đầu nói: "Không có lẽ như vậy, đừng có tin lời chú ba, thôi để mai tôi gọi nó về bên này cho khỏi sinh chuyện rầy rà quấy quá". Tuy ngoài miệng Bao Sơn nói vậy, mà trong bụng vẫn biết tính tình Bao Hải và những việc trước kia rồi, song phận làm anh biết sao, làm thinh cũng ngặt, nói ra e mất tình anh em.
Ít lâu sau, Bao Sơn nói với Vương Thị rằng: "Ta xem tướng chú ba chắc không phải người thường, và lại thêm có nhiều chuyện xảy ra lạ lùng như vậy, không biết chừng sau này vinh vang lắm. Ta với chú hai chịu dốt đã đành, không lẽ bây giờ để cho chú ba đi theo đường ấy nữa. Ý tôi muốn rước thầy dạy nó học, may sau này nên thân, thời nhà ta may mắn lắm. Mình nghĩ thử coi được hay không?". Vương Thị nghe nói gật đầu đáp rằng: "“Thiếp rất bằng lòng, song việc ấy còn phải thưa lại với cha mới được".
Hôm sau rảnh công việc, Bao Sơn tới hầu Viên ngoại thuật rõ ý mình. Viên ngoại bằng lòng lắm. Bao Sơn liền trở về, dò hỏi khắp xóm cùng làng, tìm thầy rước cho em học. Trong làng nghe đồn Bao Sơn đón thầy, kẻ chỉ đầu nọ người mách đầu kia. Sau nghe Ninh Lão tiên sinh là người học giỏi đức tốt, Bao Sơn tới xin ra mắt, tỏ ý mình khẩn cầu. Ninh Lão cũng vui lòng ưng thuận.
Đến ngày nhập học, Bao Công cùng bạn đồng song là Bao Hương vào lễ Thánh Tổ, rồi ra lạy lão sư, từ đó bắt đầu chuyên lo việc học.
Thật là:
Văn chương tô điểm kẻ anh tài,
Lễ nhạc đúc rèn người tuấn kiệt.
0
Hồi Thứ Nhì [/align]

Chùa Kim Long, anh hùng cứu nạn.
Làng ẩn dật, Hồ Ly trả ơn.
 
Nói về Ninh Lão tiên sinh dạy Bao Công, hễ nói qua là thuộc ngay, Ninh Lão nghi là người nhà đã có dạy sách nào, hễ nói chưa hết câu trên là hiểu được câu dưới. Ninh Lão rất vui vẻ nghĩ sau này Bao Công chắc sẽ hiển đạt, nên thường cho là thần đồng, là kỳ tài, lại sửa cho tên Chửng nghĩa là vớt, lấy ý sau này sẽ cứu vớt dân ra khỏi nơi nước lửa và đặt chữ là Văn Chính, cũng lấy ý là người sẽ có tài về chính trị, vì chữ văn với chữ chính nhập lại mà ra nghĩa ấy.
Ác qua thỏ lại, Bao Công học được năm năm, tuổi đã mười bốn, văn giỏi thơ hay. Ninh Lão hằng thôi thúc nộp tên ứng thi, nhưng Viên ngoại chẳng cho.  Qua hai năm sau, Bao Công đã mười sáu tuổi, bấy giờ gặp kỳ tiểu khảo, “ Ninh Lão tiên sinh không thể bỏ qua cơ hội tốt nữa, liền sang nhà Bao Sơn nói rằng: "Ý tôi muốn cho Bao Công ứng khảo đã hai năm nay, song bị Viên ngoại cản trở làm ra lôi thôi mất cả thời giờ, nay vừa tới khảo kỳ, tôi tới cho cậu hay, nếu chịu đem Bao Công đi ứng khảo thời thôi; bằng không, tôi xin thế quyền lo tính cho nó". Bao Sơn nói: “Việc thầy tính rất phải, nhưng phải để tôi khuyên cha tôi đã".  Nói rồi đến thưa với Viên ngoại rằng: “Ninh Lão tiên sinh muốn chú ba ứng khảo ấy là vinh dự cho nhà ta, chúng ta lẽ nào từ chối, thà là cho nó đi, tiên sinh không còn nói gì được nữa". Viên ngoại ưng thuận. Bao Sơn mừng rỡ vô cùng, về nói lại với Ninh Lão. Ninh Lão gật đầu xếp đặt các việc cho Bao Công ứng khảo. Công việc ấy Viên ngoại không thèm để ý tới, chỉ có Bao Sơn là mong mỏi cho nên hết lòng lo lắng thôi.
Ngày khảo thi đã qua, trời vừa rạng sáng, nghe tiếng chộn rộn trước ngõ, Viên ngoại tưởng là bọn nha dịch nào, ai dè mở cửa ra là tin báo Bao Công thi đậu.  Viên ngoại nghe tin đã chẳng mừng lại ra chiều buồn bã, lui vào nhà nằm, thân thích nườm nượp tới chúc mừng, ông cũng chẳng ra; thậm chí không có lời tạ ơn Ninh Lão. Bao Sơn năn nỉ đôi ba lần mới chịu cho làm tiệc để thù báo. Ngày ấy khi Ninh Lão tới nhà khách,  Viên ngoại chỉ nắm tay mời ngồi thôi, không chuyện vãn gì, tỏ ra chiều lơ đãng lắm. Tiệc bày xong, cùng nhau phân ngôi chủ khách, trên bàn sực nức mùi thịt cá, đầy những rượu ngọt bánh ngon. Viên ngoại vẫn có vẻ như vậy, Ninh Lão dằn không được mới mở lời rằng: "Nay lịnh lang sẵn chất thông minh, nếu lo cho học, chẳng những là bậc tú tài, mà cử nhân, tiến sĩ cũng có thể dư sức, sau này hiển đạt không biết tới đâu là cùng, đó là một đức hạnh... " Ninh Lão vừa nói tới đó, Viên ngoại ngắt ngang câu chuyện rằng: "Đức hạnh gì? Đó là bất hạnh cho nhà tôi nên mới sinh thứ con phá gia như vậy?". Ninh Lão nghe qua lấy làm lạ hỏi: "Sao Viên ngoại lại nói lạ vậy? Thuở nay có ai là người không muốn cho con cháu thành đạt, và cũng không ai lại buông lời lạ kỳ dường ấy". Viên ngoại liền đem giấc chiêm bao trong lúc sinh Bao Công thuật cả lại cho Ninh Lão nghe. Ninh Lão vốn là người học rộng biết nhiều, nghe qua đoán chắc là Khuê tinh giáng thế, lại thấy cử chỉ đoan trang và tư chất thông minh của Bao Công thời quyết sau này nên bậc đại quý, ngồi nghe cứ gật đầu khen hay mãi. Viên ngoại kể xong, nói tiếp rằng: "Từ nay về sau xin tiên sinh chớ dạy nó nữa". Ninh Lão chẳng bằng lòng đáp: "Thế thời không cho nó thi khảo hay sao?". Viên ngoại nói: “Không cần". Ninh Lão cả giận nói: “Trước khi con ông chưa học với tôi thì còn là con ông, nay đã học với tôi, thời là học trò tôi, tôi phải lo thế nào cho học trò được hiển đạt, hầu khỏi tiếng giáo bất nghiêm, từ nay xin khỏi làm nhọc tới Viên ngoại, tôi cứ làm như ý nguyện tôi là đủ”. Dứt lời đứng dậy đi ra không đợi tới mãn tiệc. Tại sao Ninh Lão làm ra mặt giận như vậy? Là vì ông thừa biết Viên ngoại vốn người ngu độn,  Bao Sơn thì hiếu hạnh quá dầy, nếu bỏ luống e Bao Công khó nổi thành danh, nên mới có ý đứng ra lo cho cậu học trò yêu.
Đến kỳ thi hương, Ninh Lão tiên sinh bàn bạc với Bao Sơn để sửa soạn cho Bao Công ứng thí. Bây giờ không cần thưa lại với Viên ngoại nữa, Ninh Lão tự mình chủ trương, Bao Sơn cũng vui lòng vâng dạ.  Đến ngày treo bảng thấy tên Bao Công được xếp đầu.  Bao Sơn vui mừng khôn xiết, duy có Viên ngoại cứ buồn rầu như trước. Lần này Bao Sơn thết yến đãi khách và tạ ơn Ninh Lão tiên sinh. Ăn uống linh đình, chuyện trò vồn vã gần một ngày, đâu đó dọn dẹp xong xuôi, Ninh Lão bàn với Bao Sơn nên đưa Bao Công lên kinh thi Hội. Bao Sơn cũng bẩm lại với Viên ngoại, Viên ngoại cực chẳng đã phải cho, song không bằng lòng đem theo nhiều tôi tớ, e hao tốn tiền của, chỉ cho một tiểu đồng là Bao Hưng đi theo mà thôi.
Đến lúc ra đi, Bao Công vào lạy cha mẹ, từ giã anh và chị dâu rồi vào thư phòng bái biệt tôn sư.  Ninh Lão nắm tay căn dặn nhiều lời vàng đá, Bao Hưng sửa soạn hành lý xong xuôi, cùng Bao Công lên đường. Bao Sơn theo tiễn mười dặm đường xa rồi mới chia tay.
Bao Công và Bao Hưng lên ngựa ruổi dong, ngày đi đêm nghỉ, cứ nhắm hướng kinh sư bước tới. Bữa kia gặp một quán nhỏ, thầy trò đi thẳng, lựa chỗ ngồi, kêu nhà hàng dọn cơm. Dọn ra, Bao Công ngồi giữa, Bao Hưng ngồi ghé một bên, hai thầy trò cùng nhau ăn uống.
Bao Công nhìn sang bàn bên cạnh thấy một vị đạo nhân đang bưng chén rượu ra chiều nghĩ ngợi. Từ ngoài đi vào một gã võ sinh oai phong lẫm liệt, rõ mặt anh hùng. Đạo nhân vừa thấy võ sinh, lật đật đứng dậy, miệng gọi ân nhân và mời ngồi. Người ấy không ngồi, móc trong túi ra một nén bạc đưa cho đạo nhân và nói rằng: "Tạm lấy bạc này, tối nay chúng ta sẽ gặp nhau”. Đạo nhân nhận nén bạc gật đầu một cái rồi bước ra khỏi quán đi liền. Bao Công thấy võ sinh tuổi chừng hai mươi, phong độ hiên ngang, liền đứng dậy lại gần, chắp tay nói rằng: "Chào tôn huynh, nếu tôn huynh chẳng chê kẻ hèn mọn, xin cho hầu chuyện chơi cho vui". Người ấy ngắm Bao Công một hồi, rồi cả cười đáp rằng: "Đã được ơn ngài hạ cố, lẽ nào dám chẳng vâng lời". Bao Hưng vội vàng đứng dậy kêu nhà hàng đem đồ ăn và rượu thêm, còn mình đứng một bên hầu tiệc. Bao Công cùng người lạ phân ngôi chủ khách. Khách là Triển Chiêu tên chữ là Hùng Phi. Một người văn một người võ, nhưng câu chuyện rất là ý hợp tâm đầu. Uống được ít chén, Triển Chiêu cáo từ rằng: "Vì có chút việc riêng, chẳng tiện ngồi lâu, xin kiếu tôn huynh ngày khác sẽ tái hội". Nói đoạn đứng dậy ra đi, Bao Công không rõ là chuyện gì, cứ việc ăn uống, rồi thầy trò lại tiếp tục lên đường.
Đi một đỗi, trời tối, không thấy đường đi, gặp một toán mục đồng đương lùa trâu về, Bao Hưng chạy tới trước hỏi thăm: "Các anh ơi? Đây là chỗ nào, xin cho được biết". Mục đồng đáp: "Từ đây qua mé tây nam hai mươi bốn dặm, có trấn Tam Nguyên là một nơi đô hội, các người đã đi lạc qua đây là hướng chính tây, nếu muốn đi vòng lại, phải xa đến ba mươi dặm". Bao Công thấy trời đã tối quá không đi kịp liền hỏi: "Phía trước có chỗ ngủ nhờ được một đêm chăng?". Mục đồng đáp: "Trước mặt là đồn Sa Nhi, không có quán, chỉ có nhà người ở mà thôi". Dứt lời lùa trâu đi thẳng, còn thầy trò Bao Công cứ nhằm đồn Sa Nhi đi tới. Đi được vài giờ thấy một tòa miếu, trên có tấm biển đề bảy chữ: "Sắc kiến Hộ quốc Kim long tự". Bao Công nghĩ thầm rằng: "Trời tối lỡ đường chi bằng vào đây tạm ở một đêm, sáng sẽ đáp tiền nhang khói". Nghĩ vậy liền xuống ngựa vào gõ cửa. Một ông sãi trong chùa bước ra mở cửa hỏi rõ lai lịch rồi mời vào. Vào tới trong, Bao Hưng nhốt ngựa cất đồ, còn Bao Công được hòa thượng dắt vào nhường cho ở viện Vân Đường. Phân ngôi chủ khách, cùng ngồi, trà nước xong xuôi, hòa thượng hỏi thăm nhà cửa tên họ Bao Công, biết là học trò đi lên kinh thi Hội. Bao Công hỏi lại, hòa thượng đáp rằng: "Bần tăng tên là Pháp Bổn có một sư đệ là Pháp Minh, chùa này chỉ có hai chúng tôi trụ trì mà thôi". Nói đoạn đi ra, một lát thấy sãi nhỏ bưng vào một mâm cơm chay, thầy trò ngồi lại ăn uống, xong xuôi Bao Công sai Bao Hưng cất dọn mâm chén đỡ mất công cho sãi nhỏ. Bao Hưng vâng lời bưng đi, ra khỏi viện Vân Đường, thấy xa xa có một người đàn bà trẻ tuổi vừa đi lại vừa nói: "Mé tây viện Vân Đường có khách ngủ nhờ, chúng ta phải ra mé sau mới được". Bao Hưng không biết núp vào đâu, liền lùi lại, chờ người đàn bà ấy qua khỏi mới đi tiếp.  Trả mâm chén rồi lật đật chạy về phòng báo cho Bao Công hay. Đương lúc nói chuyện thấy sãi nhỏ bưng thếp đèn, tay bưng bình trà, dớn dác đi tới, để đèn và bình trà xuống bàn rồi quày quả đi vào. Bao Hưng lại càng sinh nghi, đoán chắc nơi này là ổ trộm cướp, nên mới có đàn bà, muốn lánh ra khỏi nơi ổ gấu hang hùm, song coi lại cửa chùa đã khóa chặt rồi, tìm chỗ nào cũng không có lối ra. Bao Hưng thấy vậy mới nói với Bao Công rằng: "Bẩm cậu, bây giờ làm thế nào trốn ra khỏi chùa này?". Bao Công nói: "Cửa đã khóa chặt, một kẽ hở cũng không, vậy đi ngả nào được bây giờ?". Còn bàn bàn luận luận, chưa tìm được kế thoát thân, bỗng nghe cửa kẹt một tiếng, hai cánh mở ra, có một người bước vào, Bao Hưng hoảng hốt chạy núp vào một góc, còn Bao Công nhìn kỹ lại thì ra là gã võ sinh mới gặp lúc ban ngày ở tửu quán.
Nguyên vị đạo nhân ở quán cơm trước là người trong chùa này, vì hai sãi Pháp Bổn và Pháp Minh đi cướp bóc, bắt đàn bà con gái, bị hòa thượng ngầy ngà, nên chúng giết hòa thượng mà chiếm chùa. Đạo nhân sợ bị liên can và cũng muốn vì hòa thượng phục thù, nên đi cáo quan. Ai dè hai sãi giặc kia có nhiều tiền lo lót với bọn nha lại, vì vậy chúng nó có người bênh vực, lại đổ cho đạo nhân là vu cáo cho người lương thiện, bắt đánh 20 roi và đuổi ra khỏi chùa. Đạo nhân uất ức không biết tỏ với ai, vào rừng từ tận, may gặp Triển Chiêu đi tới cứu cho khỏi chết, lại hỏi nguyên do, rồi hứa lo giúp cho đạo nhân, dặn đạo nhân phải ở lại quán, để dễ bề tới lui lo tính. Lúc ban ngày Triển Chiêu vào quán cho đạo nhân bạc mới gặp Bao Công ở đó, vì việc hai sãi kia chưa trị được, nên vừa uống được vài chén, liền từ giã Bao Công về nhà trọ, thay hình đổi dạng rồi vào chùa. Tới nơi Triển Chiêu nhảy vách vào, đi lần lần lên gác thấy hai sãi ngồi giữa, bốn, năm đứa đàn bà ngồi vây quanh, uống rượu đánh đàn, vui vẻ như chốn làng chơi chứ chẳng phải nơi chùa Phật. Chúng nó hoan lạc như vậy mà cũng chẳng quên có thói dữ, nên xầm xì với nhau rằng: "Đúng canh ba chúng ta còn nhọc một chút, là phải giết hai thầy trò ở bên viện Vân Đường kia". Triển Chiêu nghe nói nghĩ thầm rằng: "Ta phải lo cứu hai người kia trước rồi sau sẽ trở lại giết lũ mày, dẫu chúng nó có bay lên trời cũng không thoát khỏi". Nghĩ vậy liền trở lại viện Vân Đường dùng khuyết kiếm cạy khoen xô cửa bước vào, tưởng là ai, té ra là Bao Công, người mới quen trong quán lúc ban ngày.
Triển Chiêu bước vào thấy Bao Công, liền thuật lại lời của bọn ác tăng bàn soạn, và tiếp rằng: "Tôn huynh mau mau theo tôi ra khỏi viện này tìm đường lánh nạn". Nói đoạn dắt thầy trò Bao Công đi ra, đến bên tường thò tay vào đây lấy một sợi dây, một mối buộc vào lưng Bao Công, còn một mối nắm vào tay nhảy lên đầu tường, kéo Bao Công lên, rồi thòng xuống mé ngoài. Bao Công xuống tới đất mở dây trả lại Triển Chiêu cũng làm cách ấy mà cứu Bao Hưng.  Khi hai thầy trò ra khỏi chùa; Triển Chiêu dặn rằng: "Thôi! Đã thoát nơi nguy hiểm, tôn huynh cứ an lòng đi đi, Bao Công nhìn lại, thấy Triển Chiêu nhảy vọt một cái đã mất tăm dạng.
Bao Công cùng Bao Hưng bước cao bước thấp, đường sá gian nan, đánh liều đi mãi, tới đầu cổng một làng kia thời trống đã điểm canh năm. Xa xa thấy một ngọn đèn leo lét, Bao Hưng chỉ cho Bao Công mà nói rằng: "Kìa kìa, nhấp nhoáng ngọn đèn, thật là nhà người, chúng ta nên lại xin nghỉ, đợi sáng sẽ đi”.  Bao Công khen phải, liền đi tới gõ cửa. Cửa tre vừa mở, một ông già trong nhà bước ra hỏi: "Ai đi đâu khuya khoắt lắm vậy?". Bao Hưng đáp: "Vì thầy trò chúng tôi nóng đi, nên lên đường quá sớm, té ra trời còn khuya lắm, nên ghé đây xin nghỉ đỡ, đợi thật sáng sẽ đi". Ông già xem tướng Bao Công rõ là người học trò, còn Bao Hưng lanh lợi, nên vui lòng lắm, liền mời vào trong. Thầy trò vào nhà, thấy ông già là kẻ chuyên nghề đậu hũ, la liệt những cối, thùng, chậu, ảng, có một cái chõng, bèn cùng xúm ngồi với nhau. Bao Công hỏi ông già rằng: "Xin lão trượng cho biết tôn danh là gì?". Ông già đáp: "Lão họ Mạnh, nhà không trai gái, một mình chuyên nghề đậu hũ nuôi thân". Ông già nói xong, vào trong vớt cho hai thầy trò mỗi người một chén đậu hũ non.  Đêm khuya, lặn lội nhọc nhằn, cổ khô bụng xót, nên hai thầy trò uống vào ngon ngọt như rượu Quỳnh Tương. Nhân ngồi trò chuyện với Mạnh lão, hỏi qua đường đi nước bước, mới biết còn hai chục dặm nữa mới tới Tam Nguyên.
Đương khi chuyện vãn, thấy lửa đỏ rực một góc trời, Mạnh lão lại cửa dòm ra thấy ngọn lửa ló lên ở phía đông nam, suy ra chắc là ở Kim Long tự phát hỏa. Bao Công và Bao Hưng cũng chạy ra xem, trong bụng biết ngay là hiệp sĩ đã đốt chùa rồi, song giả bộ hỏi Mạnh lão rằng: "Chỗ cháy đó lão trượng có biết được không?". Mạnh lão đáp: "Làm dữ mang tai, lưới trời dẫu thưa mà khó lọt, số là chùa Kim Long, từ lúc hòa thượng chết, để lại hai đứa học trò là Pháp Minh và Pháp Bổn, hai con quỷ đó là hai đứa không Trời không Phật, thường hay giết người giật của, đón đường bắt gái, sánh với bọn lục lâm lại quá ác hơn, nay lẽ trời báo ứng, chúng nó bị họa cũng không trách gì".
Trời đông đã trắng, ngọn cỏ còn sương, thầy trò Bao Công từ tạ Mạnh lão lên đường, ông già họ Mạnh đưa ra cửa và chỉ rõ ràng đường đi.
Hai thầy trò Bao Công ra đi, rừng bụi ngoắt ngoéo, đường sá khó khăn, ngựa, hành lý và tiền bạc đã mất hết rồi, không biết làm sao. Bao Công đi một lát lại nghỉ, nghỉ rồi lại đi, buồn lắm mới than với Bao Hưng rằng: "Đường từ đây lên Kinh sư còn mấy ngày nữa, mà trong túi không tiền, ngựa mất, lại đi bộ như vầy, chịu làm sao cho nổi?" Bao Hưng khuyên giải rằng: "Xin thầy chớ lo, đợi đến Tam Nguyên là nơi cậu tôi ở, sẽ tạm tiền mua lừa và chút hành lý, có lẽ cũng dùng tới Kinh sư được". Bao Công tưởng thật, cũng vui lòng ráng sức đi, trời vừa trưa tới Tam Nguyên. Ngó thấy người đông cảnh đẹp, náo nhiệt phi thường, thầy trò vào một cái quán hai tầng lầu, lên thẳng tầng trên, kêu nhà hàng đem cơm thịt, ăn uống no nê. Xong rồi, Bao Hưng thưa cùng Bao Công rằng: "Xin thầy ở đây, để tôi đi kiếm cậu tôi, mượn tiền mua lừa và sắm đồ hành lý". Bao Công gật đầu, Bao Hưng chạy xuống nhìn kỹ hiệu quán là Vọng Xuân lầu, để lúc trở lại đừng nhầm. Bao Hưng ra đi, bụng tính kiếm chỗ vắng vẻ sẽ cởi giầy và áo lót ra bán lấy tiền, về nói dối là của cậu mình cho. Đi dông đi dài một hồi, mình đổ mồ hôi, lại thấy một đám đông người đứng chùm nhum, kẻ xem người ngóng như có cuộc gì vui lắm vậy. Bao Hưng liền chạy tới, chen vào, không thấy gì lạ hơn là một tờ giấy trải trên mặt đất, nét chữ rõ ràng, vừa nghe người đứng một bên đọc lên rằng: "Lời cáo bạch cùng hiền nhân quân tử ở tứ phương được rõ: Nguyên con gái ông họ Lý ở làng Ẩn Dật, bị yêu mị khuấy phá, nếu ai có tài chữa bệnh đuổi tà ông sẽ tạ ơn ba trăm lượng bạc, quyết chẳng nuốt lời “. Bao Hưng biết rõ chuyện rồi, trong bụng nghĩ thầm rằng: "Nay chúng ta đương cơn cùng khốn, cũng nên lại đó cầu may, nếu được thì có tiền đi đường, không thời ăn chực vài ngày cũng đỡ". Nghĩ vậy liền lần tới người giữ cáo bạch.
Đó thật là:
Lúc khốn gặp nhằm cơ hội tốt,
Khi cùng nghĩ kịp trí mưu hay
0
Hồi Thứ Ba [/align]

Trừ yêu mị, Bao Văn Chính kết duyên;
Chịu hoàng ân, Định Viễn Huyện phó nhậm
 
Lúc Bao Hưng thấy tờ cáo bạch, chen vào hỏi người giữ giấy rằng: "Đường từ đây lại làng ẩn Dật, độ bao xa?". Người ấy đáp: "Ước chừng ba dặm, nhưng em là ai lại hỏi thơ thẩn như vậy?" Bao Hưng nói: "Chẳng cần phải biết tôi là ai, chỉ nên biết thầy tôi là người kinh thần khốc quỉ, trừ quỉ ma như chơi; tróc yêu tinh nháy mắt, nhưng ngặt có một điều là thầy tôi chẳng bao giờ chịu khoe danh ra mặt, nay nhân thấy nhà họ Lý khẩn cầu, tôi vui miệng nói cho các anh tới cầu khẩn họa may chờ tôi không dám chắc. Mà tôi dặn trước cho, nếu người có từ chối, thời có một mực năn nỉ có lẽ người sẽ động từ tâm mà giúp liền"? Người ấy nói: "Nếu tôi phải lội gai đạp lửa mà thầy anh giúp tôi cũng chẳng nề “. Nói đoạn giục Bao Hưng dắt đi. Bao Hưng cười thầm dắt thẳng về quán.
Bao Công thấy Bao Hưng đi lâu, đương ngồi trông, thấy Bao Hưng bước vào trước liền mắng cho một chập. Bao Hưng gục đầu giây lát, mới đem chuyện họ Lý cầu thầy thỏ thẻ nói lại. Bao Công nghe nói cả giận mắng rằng: "Thật mày lôi thôi quá.  Chuyện gì mà phải bận lòng đến những chuyện không thể làm được". Bao Hưng lặng im không dám nói nữa, đằng hắng ra hiệu, Lý Bảo (người nhà của họ Lý đi dán cáo bạch cầu thầy) dưới lầu đi lên quỳ trước mặt Bao Công bẩm rằng: "Muôn lạy thầy, tôi là Lý Bảo vâng lệnh chủ mẫu rước thầy chữa bệnh cho tiểu thư, may gặp anh học trò đây bảo cho biết rằng thầy thần thông quảng đại, pháp lực vô biên, nên tới khẩn cầu xin thầy xuống dạ từ bi, cứu tiểu thư tôi khỏi nạn". Nói rồi cúi đầu lạy dài. Bao Công nói: "Thật quản gia khéo nhẹ tính quá, nghe lời thằng đó mà nhọc công, tôi nào có phép tắc gì mà trừ tà trị bệnh".  Bao Hưng đứng bên xen lời rằng: "Xin thầy lấy dạ từ bi ưng chịu, quản gia thật thành tâm, mà lẽ nào từ chối cho đành". Bao Công nghe nói trợn mắt nguýt Bao Hưng và mắng rằng: "Đồ chết dẫm, tao không biểu mày lẻo mép". Và day qua nói với Lý Bảo rằng: "Đó là lời nó nói xàm, tôi không hề trị bệnh trừ ma bao giờ". Lý Bảo nghe nói bèn lạy nữa và năn nỉ rằng: "Nếu thầy không chịu thời Chủ mẫu tôi trách mắng rằng tôi không hết lòng cầu thỉnh, vì khi nãy tôi mách với người trong làng rằng có gặp thầy pháp thuật cao cường có thể cứu tiểu thư tôi được". Bao Công trong bụng giận Bao Hưng lắm, song thấy Lý Bảo năn nỉ quá, bèn nghĩ thầm ràng: "Người xưa có nói: Tà mị hay kiêng người chánh trực. Bao mỗ này bản tính chân chính, vậy ta thử đem chân chính tới đàn áp tà mị thử coi sao, nếu không linh nghiệm chừng ấy ta sẽ kiếm kế thoát thân cũng chẳng muộn".  Nghĩ rồi ngó Lý Bảo mà rằng: "Thôi! Ta chẳng nỡ bỏ lời quản gia mà hóa ra phụ lòng. Vậy thời chúng ta cùng đi". Lý Bảo mừng rỡ vô cùng xá lia lịa, đứng dậy đi trước dẫn đường. Ra khỏi Vọng Xuân lầu thấy người tựu đông như kiến, cố ý đón xem Pháp sư. Hai thầy trò Bao Công cứ đi theo Lý Bảo thẳng tới Lý phủ. Lý Bảo vào trước báo tin.
Lý đại nhân là chủ Lý Bảo đó chẳng ai đâu lạ, vốn là quan Lại bộ tên Lý Văn Nghiệp, vì tuổi già không muốn làm quan, nên xin về hưu để hưởng thú tĩnh mịch, phu nhân là Trương Thị. Vợ chồng họ Lý không có con trai, chỉ sinh một gái, nhân dạo hoa viên bị tà ma khuấy phá, nên phu nhân sai bọn Lý Bảo đi các nơi tìm thầy cứu gỡ. Hôm ấy, vợ chồng đương ngồi trong nhà bàn luận bệnh tình của tiểu thư, thấy Lý Bảo vào bẩm đã thỉnh được Pháp sư, mà là người thiếu niên nho nhã. Lý lại bộ nghĩ rằng: "Quái lạ! Đã là nho lưu đọc sách thánh hiền sao lại còn dư ngày giờ mà làm việc dị đoan nữa". Liền dạy Lý Bảo mời vào thư phòng. Bao Công vào, Lý Bảo dâng trà xong, thấy Lý lại bộ tới, rõ người quý tướng, dung mạo đoan trang, tóc râu đều bạc. Bao Công bước tới thi lễ rằng: "Vãn sinh ra mắt tôn quan". Lý lại bộ xem thấy Bao Công tướng mạo thanh kỳ, phong thái hiên ngang thì vội vàng đáp lễ, phân ngôi chủ khách. Lý lại bộ hỏi qua căn cớ vì sao mà đi tới đây. Bao Công đem việc mình đi thi bị cướp, thuật lại cặn kẽ không giấu giếm chỗ nào. Lý lại bộ thấy Bao Công ăn nói lanh lợi trơn tru mới hỏi về học vấn. Hễ hỏi một Bao Công đáp mười, không vấp váp lời nào cả. Lý lại bộ cả mừng thầm tưởng: "Người này cốt cách thanh kỳ, lại học hành sâu rộng, sau này có lẽ là bậc trên người". Liền cắt Lý Bảo ở lại hầu hạ, còn mình lui vào nhà trong.
Chiều lại, Bao Công đương nằm nghỉ tại thư phòng, phu nhân sai người hỏi: "Coi phải sắm sửa những gì để thiết đàn trị quỉ". Bao Hưng hớt nói: "Phải có ba cái bàn lớn, một cái ghế ngồi, đem bày trong phòng tiểu thư, bàn trải vải phủ, lại phải có một nghiên châu sa, một tờ giấy vàng, một thanh bảo kiếm, một quản bút mới, lọ hương, bình bông cho đủ, cả thảy đều phải cho tinh khiết. Chờ thầy ta định thần dưỡng tính tới chừng canh hai sẽ lên đàn". Lý Bảo chạy đi một lát trở lại nói với Bao Hưng rằng: "Các thứ đã lo đủ cả rồi". Bao Hưng liền đi vào phòng chỉ cho Lý Bảo bày biện, rồi trở về thư phòng thấy Bao Công nằm ngủ ngáy pho pho, liền kêu lớn lên một tiếng. Bao Công tỉnh giấc nói: "À! Được! Mày về đây, thôi để tao ngủ một giấc". Bao Hưng đáp: "Chưa được, vì phu nhân có lệnh mời lên đàn trị quỉ sao thầy chưa đi". Bao Công ngồi dậy dụi mắt mắng rằng: "Đồ chết dẫm, mi hại ta, chứ ta biết phù phép gì mà trị tà trục quỉ?" Bao Hưng nói: "Khổ không? Tôi đã nhọc bao nhiêu sức, nhức óc mệt trí, để kiếm cho thầy một bữa cơm ngon, một nơi ở sướng, thế mà còn mắng à! Tục ngữ có câu: Không công hưởng lộc ăn nằm chẳng yên.  Vậy nay thầy cũng nên vào phòng xem sao, họa may nhờ chính khí mà tà mị trốn đi. vẹn toàn cả ơn và nghĩa nữa". Bao Công tự mình không biết tà quỉ là gì, nhưng Bao Hưng ép quá, cực chẳng đã phải đi. Bao Hưng thấy Bao Công chịu đi, liền ra hiệu một tiếng, thấy Lý Bảo đã chực sẵn ở ngoài hồi nào, bưng đèn vào rước. Bao Công và Bao Hưng theo vào ngự phòng của tiểu thư, thấy đèn đuốc huy hoàng, ghế bàn la liệt. Bao Hưng nói với Lý Bảo rằng: "Tới giờ thiết pháp, những người không được tinh khiết phải lánh cho xa, đừng léo hánh vào mà mất linh nghiệm". Lý Bảo vâng dạ đuổi cả thị tỳ và mình cũng xuống hậu đường, để chỗ cho thầy trò Bao Hưng thiết pháp.
Bây giờ Bao Hưng mới bước lại gần bàn đốt hương lên, rồi gật đầu lạy ba lạy. Bao Công thấy thế cũng tức cười, song cố nhịn. Bao Hưng lạy xong lại cầm bút chấm son, phạch giấy ra, suy nghĩ một lát, thình lình tay quây lia lịa, như có người kéo dạy cho viết thành một câu: "Đào khí, đào khí. Đả cai, đả cai". Viết xong lại lật đật xếp đốt rồi bước xuống, thấy Bao Công còn ngồi sững vội nói: "Sao thầy không lên đài ngồi". Bao Công không biết nghĩ sao phải lên ghế giữa ngồi, xem thấy trước mặt có một thanh kiếm, một nghiên son, một quản bút, một tờ giấy, bất giác sinh ra cảm hứng, vội vàng cất bút chấm son. Đương lúc suy nghĩ thình lình như có ai kéo tay, viết đầy tờ giấy, mà cũng không biết là viết những gì, vừa muốn đọc lại, bỗng nghe tiếng la hoảng ở ngoài, vội vàng xách kiếm chạy ra xem, thấy Lý Bảo mặt mày hơ hải kêu líu lưỡi. Bao Công hỏi có chuyện gì, Lý Bảo đáp: "Mới vừa ra tới viện, bỗng thấy một đạo bạch quang xông lên, làm cho hồn phách tôi tản lạc cả". Bao Hưng nghe thế liền nói rằng: "Phải! Tôi đã bảo anh khi nãy, nếu thầy cỏ thiết pháp thời đừng có lại đây, vì anh không nghe lời mới có chuyện lôi thôi như vậy". Lý Bảo đáp: "Lão gia tôi nhận thấy thầy thức khuya e mệt, nên sai ra dẹp đàn, đặng thầy về nghỉ cho sớm". Bao Công nghe nói hối bảo Bao Hưng xách lồng đèn trở về thư phòng an nghỉ. Còn bọn Lý Bảo dọn dẹp bàn ghế thấy có bức giấy vàng vẽ chữ son và thanh gươm, tưởng là của pháp sư để lại trấn yểm tà quái, liền đem vào trao cho bọn đầy tớ gái. Vừa quay ra, Lý lại bộ kêu bảo đem cho người xem. Lý Bảo lấy đem lại. Lý lại bộ kê vào đèn xem, không phải là phù chú gì, đó là một bài thơ tứ tuyệt:
Giữa chốn rừng sâu kẻ chịu ơn
Xui quăng bánh độc mới còn thân,
Giếng sâu trước đã đem ra khỏi
Nay giúp luôn nên cuộc hôn nhân.
Lý lại bộ thấy trong thơ ẩn tàng sự tích không hiểu ra sao, mới kêu Lý Bảo sai ra dụ dỗ Bao Hưng dò hỏi lai lịch Bao Công, rồi mau mau trở về bẩm lại. Lý Bảo vâng lệnh đi liền.
Nguyên lúc ban ngày Lý lại bộ chuyện vãn với Bao Công, thấy người tài cao học rộng, trở vào khoe với phu nhân và thêm lời rằng: "Gã ấy sau này chắc là bậc công hầu khanh tướng, chở chẳng vừa". Phu nhân nói: "Nếu vậy chừng y trị bệnh cho con ta mạnh, ta nên gả cho y, được sau này sẵn có bóng tùng nó gửi thân đằng cát". Lý lại bộ nói: "Lời phu nhân nói thật hợp ý tôi, song cũng phải chờ xem bệnh tình của con ra sao?". Vợ chồng bàn luận như vậy lại nghe Lý Bảo nói, tới canh hai Bao Công đăng đàn thiết pháp, nên lén sai Lý Bảo ra rình xem công cuộc. Ai dè Lý Bảo lại đem bức thư ấy vào, không rõ ý tứ làm sao, nên mới sai ra dò hỏi như vậy.
Qua ngày sau bệnh tiểu thư quả thật thuyên giảm, Lý đại nhân và phu nhân rất vui mừng, lại vừa được tin Lý Bảo cho hay rằng: Cứ như lời Bao Hưng, bức thư ấy là trạng thái cảnh ngộ khốn nạn của Bao Công từ lúc nhỏ tới lớn, và chắc là Bao Công chưa gá duyên nơi nào cả. Lý lại bộ nghe qua cả mừng, và nghiệm chắc việc ấy là tinh hồ ly trả ơn cho Bao Công. Nay con gái họ Lý đã gặp gỡ duyên lành, nên vội vàng thay y phục chỉnh tề đi ra thư phòng. Lý Bảo chạy báo trước, Bao Công lật đật ra cửa nghênh tiếp; xem thấy Lý lại bộ mặt sắc mừng, dung nghi đoan chính.
Khi ngồi xong, Lý lại bộ nói: "Tiểu nữ mang bịnh trầm kha đã bao lâu rồi, may nhờ hiền khiết cứu khỏi, ơn ấy quá nặng, không biết lấy chi đền. Lão phu vốn không trai, chỉ có một gái, ý muốn đưa cho hiền khiết sửa túi nâng khăn, gọi đáp chút ơn, song không rõ tôn ý thế nào, xin cho lão phu được biết". Bao Công đáp: "Dám thưa đại nhân, việc nhân duyên là việc trọng, vãn sinh không lẽ tự tiện, còn phải đợi lệnh cha mẹ và anh chị mới được". Lý lại bộ nghe nói cười hì hì, thò vào tay áo móc tờ giấy vàng trao cho Bao Công và nói: "Hiền khiết xem thử giấy này, bất tất phải từ chối". Bao Công xem qua, quả bút tích của mình, thẹn đỏ mặt và nghĩ thầm rằng: "Đêm qua lúc ta hoảng hốt, sao lại viết nên những câu này? À! Ta còn nhớ thuở nhỏ chăn trâu trên núi, lúc mưa to sấm dữ, gặp một đứa gái rồi biến mất đi, đó không chừng là hồ ly, nên sau này cứu ta mấy phen khỏi hại, và nay xui khiến cho ta nên được lương duyên". Lý lại bộ thấy Bao Công ngồi trầm ngâm suy nghĩ bèn nói rằng: "Hiền khiết hà tất phải nghĩ ngợi, đó chẳng là tà mị khuấy phá đâu, mà thật là lương duyên trời định, vậy hiền khiết chớ nên bỏ lòng lão phu tội nghiệp". Bao Công không biết từ chối sao, liền nói: "Đại nhân đã không chê bần tiện mà thương đến thân này, tiểu sinh đâu dám chẳng ưng, song còn một chuyện xin thưa rõ, là bao giờ lên kinh thi Hội xong, trở về bẩm lại với cha mẹ anh chị, rồi sẽ lo sính lễ".  Lý lại bộ nghe nói cả mừng vội buộc lời rằng: "Bậc đại trượng phu một lời đã nói như chạm sâu vào đá, không thể quên được, lão phu chỉ trông mong bao giờ tin lành đưa tới là xong". Nói rồi lui về sai người bày tiệc mời Bao Công tới khoản đãi, chén tạc chén thù, luận thi luận phú; nào là mưu lược tề gia, nào là phương châm trị quốc. Bao Công đối đáp như nước chảy mây tuôn, Lý đại nhân đẹp lòng khôn xiết.  Cầm hai thầy trò ở chơi ba ngày phu nhân sắm sửa hành lý, cho tiền bạc, lựa ngựa hay và sai Lý Bảo theo hầu hạ.
Thầy trò Bao Công từ giã Lý lại bộ và phu nhân rồi lên đường. Gió hốt bụi hồng, cát lầy móng ngựa. Đi được vài ngày thấy phong cảnh kinh kỳ hiện ra trước mặt. Ba thầy trò vui vẻ đi tới. Khi vào thành, thuê một gian phòng rất sạch sẽ yên tĩnh, để làm nơi ăn ở và đọc sách, chờ tới ngày mở hội, chen mình vào chốn khoa trường.
Nay nói qua việc quốc chính trong triều. Từ lúc Chân Tôn hoàng đế băng hà, Nhân Tôn kế vị, phong Lưu hậu là Thái hậu, lập Bàng phi làm Hoàng hậu, cất Quách Hòe lên làm Tổng quản đô đường, Bàng Kiết làm Quốc trượng gia phong Thái sư. Bàng Kiết vốn người gian nịnh ỷ mình cầm được quyền thế, lại có vây cánh rất đông và thấy vua còn nhỏ tuổi, nên ý muốn chuyên quyền, song Nhân Tôn vốn là một vị Minh quân, tuổi tuy nhỏ mà tinh thông mọi việc, lại có bầy tôi trung nghĩa phụ tá nên luật pháp nghiêm minh, Bàng Kiết dẫu muốn làm gì cũng khó.
Mùa xuân năm ấy, Bàng Kiết được vua phái làm Tổng tài trong hội thi, vì vậy mà sĩ tử phần nhiều đều trượt. Đến giờ yết bảng thấy tên Bao Công được chấm đậu Tiến sĩ, Hàn lâm viện vâng chỉ truyền lô, sắc tấn phong Bao Công làm Tri huyện Định Viễn, thuộc phủ Phụng Dương. Bao Công lãnh sắc bằng rồi, thâu thập hành lý ra khỏi Kinh đô trở về cố quán. Vào lạy cha mẹ, ra mắt anh ruột chị dâu, tới thăm thầy. Bày tỏ những nỗi gian nguy trong lúc đi đường và thuật luôn việc kết thân với nhà họ Lý. Vợ chồng Viên ngoại nghe qua mừng rỡ và vui lòng quên đi chuyện cũ, lựa ngày tế tổ tông và tạ ơn Ninh Lão.
Cách ít ngày Bao Công bái biệt cha mẹ, anh chị và thầy, cùng Bao Hưng, Lý Bảo lên đường nhậm chức. Đi gần đến huyện Định Viễn, Bao Công dặn Lý Bảo trông coi hành lý, còn mình và Bao Hưng thay xiêm đổi áo giả dạng kẻ hèn hạ, đặng đi do thám tình hình của dân. Ngày kia hai thầy trò Bao Công đi vào thành huyện Định Viễn, đương ngồi ăn cơm trong quán, chợt thấy ở ngoài bước vào một người, nhà hàng vội vã chào. Người ấy kéo ghế ngồi xong, nhà hàng bưng ra hai bầu rượu và hai cái chén. Người ấy hỏi: "Ta có một mình sao mi lại đem đến hai bầu rượu hai cái chén?". Nhà hàng đáp: "Hồi đại gia đi vào tôi thấy sau lưng có một người bỏ tóc xõa, máu me nhem nhúa đi theo, tôi tưởng là người hầu của đại gia, thế mà bây giờ đâu mất, không lẽ tôi ngủ đứng mà mê nên thấy bậy!".
Ấy là:
Kẻ dữ lập mưu giết chúng
Hồn oan vấn vít báo cừu
0
Hồi Thứ Tư [/align]

Trong chùa lượm đấu, khép tội Bì Hùng,
Dưới bệ tấn già, tan thân Triệu Đại
 
Nói tiếp, khi người lạ ấy nghe nhà hàng nói những lời thời kinh hoàng thất thố, lật đật uống ít chén rượu, tính tiền trả rồi bỏ đi. Bao Công thấy như vậy gọi nhà hàng lại hỏi: "Người mới ra đó tên họ là chi?". Nhà hàng đáp: "Người đó tên là Bì Hùng, đầu dọc của mười hai người buôn ngựa". Bao Công nhớ rõ tên họ, ăn uống xong, sai Bao Hưng vào huyện truyền dụ, còn mình đi sau. Tới nơi thấy nha dịch thơ lại sắp hàng nghênh tiếp. Vào trong dinh, quan phủ ấn dâng ấn tín lên. Bao Công liền lật cả sổ bộ giấy má ra xem thấy trong đó có một án, là tên Trầm Thanh giết ông sãi trong điện Già Lam, tình tiết chi li thật là khó hiểu. Vì vậy vội vã thăng đường xuống lịnh sẽ thẩm vấn cái án của Trầm Thanh. Bọn nha lại thấy Bao Công đã đi phục dò, hỏi các việc trước khi nhậm chức biết là một viên quan công minh nên đều sợ sệt.
Bao Công lên công đường sai lính lập tức vào ngục dẫn bọn Trầm Thanh ra bắt đứng sắp hàng trước bệ. Bao Công xem kỹ Trầm Thanh tuổi ngoài ba mươi, dáng sợ sệt, quỳ mọp xuống đất, trông có vẻ là kẻ hung tàn, bèn cất tiếng hỏi rằng: "Trầm Thanh, mi vì cớ gì mà giết người, mau mau khai ngay, đặng bản quan xem xét". Trầm Thanh khóc mà thưa rằng: "Muôn lạy lão gia, ngày trước lúc con đi thăm cha mẹ, trở về nửa đường trời tối mưa dầm, nhân thấy gần bên có một cảnh chùa, con bèn vào xin nghỉ nhờ. Hôm sau đương đi trên đường, gặp công sai, thấy sau lưng con có vết máu, họ tra hỏi con ở đâu đi lại, con không giấu giếm gì, đem cả việc mắc mưa vào chùa thuật lại, ai dè công sai nghe rồi bắt con dẫn trở lại điện Già Lam. Con không rõ sự gì cũng đành liều đi theo, tới chùa thấy bên bàn Phật có thây thầy sãi bị giết. Con không biết ai giết, nhưng mà công sai cứ đổ con là người giết sãi ấy, bắt vào giam nơi ngục này, thật là oan ức cho con lắm. Xin đại gia lấy lượng từ bi, đèn trời soi xét cho con nhờ". Bao Công nghe qua liền hỏi rằng: "Lúc mi đi ra khỏi chùa là lúc nào?". Trầm Thanh thưa: "Trời vẫn chưa sáng". Bao Công lại hỏi: "Y phục mi sao lại có vết máu ấy?". Trầm Thanh thưa rằng: "Nguyên con xuống bếp, có một giọt máu ở đâu rơi xuống dính vào áo con". Bao Công nghe rồi gật đầu; truyền đem giam lại trong ngục, rồi sai khiêng kiệu xuống điện Già Lam, Bao Hưng cưỡi ngựa đi theo. Bao Công vừa đi vừa nghĩ rằng: "Nếu thật tên Trầm Thanh kia giết thầy sãi, sao mé trước mình không vấy máu lại vấy ở sau lưng và một điều lạ là trong tay nó không có khí giới gì". Còn đương suy nghĩ đã tới điện Già Lam. Bao Công xuống kiệu, cấm kẻ thủ hạ không cho một ai vào, chỉ đem một mình Bao Hưng cùng đi. Bao Công vừa bước vào điện thấy tượng Phật hư mục, liền bước vòng lại sau tượng xem rõ dưới trên bất giác gật đầu. Rời điện chính xuống nhà bếp, ông thấy trên mặt đất quả có dấu máu, thấy bên cạnh có một vật, nhặt lên xem, rồi đút ngay vào tay áo rộng, trở ra lên kiệu đi thẳng về nhà.
Về tới thư phòng thì Lý Bảo đã đem hành lý tới và xếp đặt trong cả rồi, Bao Công uống trà xong sai Bao Hưng truyền cho trưởng lại trong nha tới hầu.  Người ấy là Hồ Thành nghe lệnh đòi, liền vào ra mắt Bao Công. Bao Công nói với Hồ Thành rằng: "Ta có một chuyện cần, muốn dùng nhiều thợ mộc, vậy người phải kêu giúp cho ta, nội ngày mai cho có". Hồ Thành dạ dạ lui ra.
Hôm sau, Hồ Thành đem thợ tới, Bao Công đã bảo sắp sẵn những bàn thấp, và có đủ bút, nghiên, giấy ở sau nhà, đem bọn thợ ra đó đếm cả thẩy là chín người, mời ngồi cả vào bàn và nói rằng: "Bản quan muốn làm ít cái đế để bồn hoa, vậy mỗi người phải nghĩ vẽ một kiểu, nếu ai vẽ đẹp và lạ, sẽ được thưởng tiền". Các thợ vâng dạ, ai nấy cắm cúi lo vẽ. Bao Công ngồi trên định thần xem kỹ, một lát các thợ đều dâng kiểu lên. Bao công tiếp lấy xem, tới một bức liền hỏi: "Bức này của ai, người vẽ tên họ là gì?" Một người thợ bước ra thưa: "Bức đó vốn của tôi, tên là Ngô Lương".  Bao Công liền cho các thợ kia về hết, chỉ giữ lại một mình Ngô Lương mà thôi, rồi sai lính dắt vào công đường, nha dịch đánh trống rầm lên. Bao Công bước lên công đường vỗ bàn hỏi lớn rằng: "Ngô Lương, sao mi dám lớn gan giết chết thầy sãi, cớ sự thế nào mau mau khai rõ?" Ngô Lương nghe qua run như thằn lằn đứt đuôi, hồn vía lên mây thưa rằng: "Lạy lão gia, tôi là kẻ lo làm ăn không hề làm những chuyện như vậy, xin lão gia xét lại, kẻo oan người lương thiện". Bao Công nói: "Đầu đuôi nhất thiết, ta đã hiểu rồi, mi còn chối, chưa chịu khai sao? Tả hữu đâu? Vào điện Già Lam thỉnh tượng Phật về đây". Tả hữu dạ dạ đi liền, một lát khiêng tượng Phật đem về, mọi người lấy làm lạ không biết chuyện gì, xúm xem đông như kiến.  Bao Công bước ra tiếp tượng Phật và làm bộ như nói năng bàn bạc chuyện gì, rồi trở vào nói với Ngô Lương rằng: "Phật mới vừa bảo cho ta biết rằng lúc mi hạ sát thầy sãi ấy, mi có để dấu tích ở sau lưng Ngài". Nói đoạn sai nha dịch dẫn Ngô Lương ra xem, quả thấy sau lưng tượng Phật có vấy một bàn tay trái sáu ngón in vào rõ ràng. Ai dè lúc dòm lại tay Ngô Lương, bàn tay trái cũng có sáu ngón, so với dấu đó không sai một mảy. Ngô Lương bấy giờ hồn xiêu phách lạc câm miệng không có một lời nào chối cãi. Tả hữu thầm khen Bao Công là một vị thần minh nên mới tra được những án mầu nhiệm như vậy. (Nguyên lúc Bao Công vào chùa khám nghiệm, nhặt được dưới đất một cái đấu đen lại thấy sau lưng tượng phật, có dấu in rõ sáu ngón tay, biết là tay người thợ mộc có nhánh, nên lập kế ấy).
Khi so tay rồi tả hữu dắt Ngô Lương ra quỳ trước công đường, Bao Công vỗ án hét to lên rằng: "Mi là người phạm tội, sao chưa chịu khai còn đợi gì nữa?".  Ngô Lương liền khai rằng: "Xin đại gia chớ giận, tôi xin khai ngay. Số là tôi với hòa thượng trong chùa quen biết nhau lắm. Ngày kia tôi cùng hòa thượng chén tạc chén thù, hòa thượng say tít, tôi bảo hòa thượng nên cho đồ đệ đi quyên giáo, kiếm chút ít dành dụm. Hòa thượng không ngại gì lòng tôi nên nói thiệt rằng: "Việc ấy khỏi lo, là vì mấy năm nay đã có để được hai mươi lượng bạc". Tôi hỏi luôn hòa thượng chỗ cất có được chắc chắn không kẻo lạc mất thì khốn, hòa thượng nói rằng cất trong đầu tượng phật. Khi tôi nghe rõ, bỗng động lòng tham, lại thấy hòa thượng đương say liền lấy búa đập chết đi tay còn dính máu, đi ngay lên tượng phật, tay trái đỡ lưng, tay phải thò vào đầu móc bạc, chẳng dè dấu tay đó là cái tang chứng ngày nay, đại gia đã thần minh thấu rõ, tôi còn giấu giếm làm chi". Bao Công nghe khai xong liền đưa cái đấu ra cho nó coi. Ngô Lương nhận là của mình làm rớt trong lúc lấy búa mà không hay. Xong xuôi bắt Ngô Lương đứng tờ cung xưng, còn Trầm Thanh thời cho mười lượng bạc và tha về.
Bao Công vừa muốn lui vào hậu dường, bỗng nghe tiếng trống và tiếng kêu oan inh ỏi, liền sai tả hữu đòi vào, đó là một gã thiếu niên và một người trung niên. Tới trước công đường, gã thiếu niên quỳ xuống cáo rằng: "Lạy thượng quan, tôi tên là Khuông Tất Chánh có một người chú buôn hàng lụa tên là Khuông Thiên Hựu. Chú tôi có một cây quạt san hô nặng ước một lượng tám, đánh mất ba năm nay chưa tìm được. Ngày nay tôi gặp người này lưng đeo quạt giống y của chú tôi, nên năn nỉ y cho tôi xem, kẻo để nhìn lầm không phải, té ra người này đã không cho lại mắng nhiếc và níu tôi lại, nói rằng tôi giật của, xin đại gia lấy lượng hải hà xét cho tôi nhờ". Còn người kia khai rằng: "Tôi nguyên là người phủ Giang Tô, họ Lữ tên Bội, đương đi giữa đường gặp tên này kéo tôi lại, nói rằng cây quạt san hô tôi đeo trong lưng đây là của chú nó, nghĩ vì giữa lúc ban ngày, nó dám đón người giật của, xin thượng quan tra xét". Bao Công nghe nói sai đem quạt lên xem quả là một vật rất tốt, màu đỏ bóng, liền hỏi Khuông Tất Chánh rằng: "Mới rồi mi nói quạt này nặng bao nhiêu?". Tất Chánh đáp: "Một lượng tám". Bao Công lại hỏi Lữ Bội, Lữ Bội nói: “Nguyên của người bạn cho nên không biết nặng bao nhiêu?". Bao Công bảo Bao Hưng đem cân đúng một lượng tám không sai. Bao Công mới ngó Lữ Bội mà rằng: "Cứ như lời Khuông Tất Chánh khai vật này là của nó". Lữ Bội lật đật thưa: "Lạy thượng quan, xin đèn trời soi xét, vì của đó bạn tôi cho làm sao tôi biết được bao nhiêu phân lượng. Bao Công hỏi vặn lại rằng: "Đã nói là của bạn mi cho, vậy bạn mi là ai có nhớ hay không”. Lữ Bội đáp: "Người bạn cho tôi cây quạt đó là Bì Hùng trùm lũ bán ngựa”. Bao Công nhớ lại tên Bì Hùng ở trong quán, vội vàng sai tả hữu dẫn hai người lui ra, một mặt sai người đi tìm Bì Hùng.
Khi Bì Hùng tới Bao Công thăng đường hỏi rằng: "Nghe nói nhà ngươi có cây quạt san hô, vậy còn hay không?". Bì Hùng đáp: "Ba năm trước tôi có vật ấy".  Bao Công hỏi: "Vậy ngươi có đem quạt ấy cho ai hay không?" Bì Hùng thưa: "Tôi không biết quạt ấy là của ai, còn đợi người mất xin mà trả lại, thời làm sao dám cho người khác". Bao Công hỏi: "Vật ấy bây giờ ở đâu?”. Bì Hùng thưa: "Hiện còn ở tại nhà tôi". Bao công nghe xong, liền sai đem Bì Hùng ra, đem Lữ Bội lên hỏi: "Mới rồi ta hỏi Bì Hùng, nó nói không cho mi quạt thế sao mi lại có, hãy khai rõ cho ta nghe?". Lữ Bội ngơ ngẩn nói: "Đó là vợ của Bì Hùng cho". Bao Công hỏi: "Làm sao mà vợ Bì Hùng lại cho mi?". Lữ Bội làm thinh không khai nữa. Bao Công nạt tả hữu đem chèo kẹp ra, lúc đó Lữ Bội mới chịu khai rằng mình tư thông với Liễu Thị, nên Liễu Thị lén tặng làm của tin. Bao Công cho đòi Liễu Thị tới, ai dè Liễu Thị giận chồng hay kết bè gian giảo, nên vào công đường liền khai ngay việc chồng nàng tư thông với vợ Dương Đại Thành là Tất Thị mới lấy được quạt nọ mà đem về, giao cho nàng cất ba năm nay. Nhân mới đây kết hảo với Lữ Bội, lén đem cho phứt đi. Bao Công nghe qua, lập tức viết trát đi bắt Tất Thị.
Đương còn thẩm vấn bỗng nghe ở ngoài có tiếng trống, cho gọi người đánh trống vào, té ra người ấy là Khuông Thiên Hựu chú của Khuông Tất Chánh, nghe cháu bị người kéo níu đến phải vào cửa quan, nên sợ hãi chạy tới bày tỏ nỗi oan ức. Thiên Hựu tới trước mặt Bao Công quỳ xuống bẩm rằng: "Nguyên ba năm trước tôi có sai tên Dương Đại Thành cầm cây quạt san hô làm vật chứng thực tới tiệm lấy nhiễu. Sau hai ngày tôi tới tiệm không thấy Dương Đại Thành mà cây quạt cũng không có ở đó, vì vậy tôi đến nhà y hỏi thăm. Hóa ra Dương Đại Thành đã chết đêm trước rồi, mà quạt ấy cũng không rõ đã lọt vào tay ai. Việc ấy tôi bỏ qua đã ba năm nay, chẳng dè mới rồi, cháu tôi nhìn quạt ấy mà bị người cáo tố tới thượng quan, xin thượng quan cứ lẽ công bình, xét xem ai đúng ai sai". Bao Công cho Thiên Hựu xuống, và đòi Bì Hùng và Tất Thị lên. Bao Công hỏi Tất Thị trước rằng: "Chồng mi chết về bệnh gì?". Tất Thị luống cuống chưa kịp đáp, Bì Hùng đứng một bên hớt rằng: "Vì bệnh đau bụng mà chết". Bao Công nổi giận vỗ án hét lớn rằng: "Đồ chó, nhạy miệng mà hại thân, thật bọn mi đã đồng mưu mà giết Đại Thành, lẽ đã lộ rồi, mưu gian khó giấu, mau mau khai rõ". Bì Hùng nói: "Thật tôi có thông gian với Tất Thị chớ không có mưu hại Đại Thành”. Bao Công gắt giọng hỏi rằng: "Mi còn chối nữa sao? Mi đã quên lúc những lời tửu bảo nói trong quán và tình trạng mi lúc ấy thế nào rồi sao?".  Bì Hùng nghe nhắc tới, mặt tái xanh, lạy mà bẩm rằng: "Lạy thượng quan, mưu sâu không che được mắt thần, xin để kẻ hèn thú thật, nguyên vì tôi thông gian với Tất Thị, sợ Dương Đại Thành hay nên lập mưu phục rượu cho y say, rồi dùng dao nhọn đâm chết, mua quan quách, khâm liệm, nói dối là đau bụng mà bỏ mình, sẵn thấy có cây quạt san hô, mới xách đem về cho vợ tôi cất. Đó là tội ác tôi làm tôi chịu, há đổ cho ai". Bao Công nghe xong, bắt ký tờ cung xưng, kết án tử hình, còn Tất Thị bị xử lăng trì, đánh Lữ Bội bốn chục hèo, Liễu Thị bị bán làm nô tỳ.  Chú cháu họ Khuông vô sự lãnh quạt ra về.
Án ấy phát lạc rồi, mọi người đều khâm phục tài của Bao Công, còn bọn gian rất đỗi kinh sợ.
Tại Tiểu Hà Oa, có một ông già tên là Trương Tam người cương trực, giàu lòng nghĩa hiệp nên còn có tên Biệt Cổ, trước chuyên nghề đốn củi nuôi thân, nay tuổi cao sức yếu được anh em trong bọn cho coi sóc việc cân đo cũng đủ tiền ăn qua ngày tháng. Một hôm chợt nhớ tới Triệu Đại ở bên Đông Tháp Oa mấy năm trước có thiếu bốn trăm đồng tiền mua củi, mới sửa soạn đi đòi. Khi tới nhà Triệu Đại thấy phong cảnh khác xưa, cửa nhà đổi mới, Biệt Cố lấy làm lạ không dám đi vào, lần tới nhà lối xóm hỏi thăm, mới biết Triệu Đại vừa phát tài giàu có lớn lắm, nên trong làng đều kêu y là Triệu quan nhân. Trương Tam nghe nói trở lại lấy gậy gõ cửa kêu lớn rằng: "Triệu Đại,  Triệu Đại anh ơi!". Nghe trong cửa có tiếng đáp rằng: "Ai xấc lắm vậy, cái gì mà Triệu Đại, Triệu tiểu hử?".  Cửa mở, Triệu Đại quần áo bảnh bao, mày râu nhẵn nhụi, sang trọng lắm, liền hỏi rằng: "Nhớ năm trước chú còn thiếu tôi bốn trăm đồng tiền củi, năm nay khá, cho tôi xin lại”. Triệu Đại nói: "Trả thời trả, song nán vào nghỉ chơi đã". Đương lúc nói chuyện ở trong nhà bước ra một người đàn bà, Triệu Đại chỉ nói: "Người này là vợ của em đây “. Và day lại nói với người đàn bà ấy rằng: "Chẳng phải ai đâu lạ, đó là anh Trương Tam đây mà". Người đàn bà nghe nói bước tới thi lễ. Trương Tam cùng hai vợ chồng vào nhà, người đàn bà bưng trà ra, Trương Tam không uống cứ đòi về. Triệu Đại thấy không thể giữ lại, liền lấy đủ số tiền trả. Trương Tam xem thấy những chậu đen để la liệt trong nhà thì xin một cái, Triệu Đại liền cho,  Trương Tam mừng lắm vội vã ra về.
Từ Đông Tháp Oa về Tiểu Hà Oa, đường xa ước ba dặm, Trương Tam tay xách chậu, tay chống gậy lần về. Đi tới một gốc cây kia, bỗng nhiên gió thổi ù ù, hơi lạnh làm cho Trương Tam nổi da gà, liền để chậu xuống nghỉ, bỗng nghe văng vẳng sau lưng có tiếng bi ai rằng: "Thắt đứt lưng ta đi”. Trương Tam nghe tiếng sợ lắm, đằng hắng vài cái, xách chậu lên đi không dám ngó lại, mà tai vẫn cứ nghe tiếng kêu: "Trương bá bá ôi! Chờ tôi với!". Trương Tam quay đầu lại không thấy ai, sợ và giận lắm, miệng lẩm bẩm trách mình rằng: "Ta không khi nào ăn ở gian tà, mà sao lại bị ma chòng yêu ghẹo, hay là mạng ta đã tới nên gặp quỉ đón đường đây chăng?". Bụng nghĩ vẩn vơ, chân bước thẳng, về tới lều tranh, xô cửa bước vào, dẹp gậy và chậu, vừa đặt đít ngồi lại nghe tiếng: "Bác ơi! Tôi chết rất oan khổ!". Trương Tam kinh hãi nói thầm rằng: "Cái gì mà cứ ghẹo ta mãi vậy? Người chính trực sợ cóc gì loài ma quái". Nghĩ vậy liền cất tiếng hỏi rằng: "Thôi, mi nói ta đã nghe rồi, vậy mi là ai đó?". Bỗng nghe đáp: "Tôi đây là Lưu Thế Xương người ở làng Bác Bửu ngoài cửa thành Tô Châu, nhà có mẹ già là Châu Thị, cưới vợ con nhà họ Vương, sinh được một trai tên là Tuế, nhà chuyên nghề buôn lụa làm kế sinh nhai, nhân lúc bán hết về nhà, hành lý nặng nề mà lừa đã mệt, nhân lỡ đường trời tối, ghé ngủ nhờ nhà Triệu Đại. Ai dè vợ chồng nó thấy của nhiều động lòng tham, mới giết tôi mà đoạt. Bác ôi! Oan chìm biển thẳm, cừu hận suốt đời, nó giết tôi rồi đem cả xương thiêu ra tro, trộn với đất nặn thành những chậu đen đó. Vậy phiền bác, thương người oan uống, thay tôi mà tới trước mặt Bao Công kêu oan giùm". Nói dứt tiếng khóc ròng. Trương Tam nghe nói động lòng hào hiệp không còn sợ gì, kêu rằng: "Cái chậu đen (nghe có tiếng dạ) ta giúp mi đi tố cáo, e Bao Công không nhận đơn, vậy mi nên theo ta đi mới xong”. Nghe tiếng đáp rằng: "Xin vâng lời bác, bác có đi thì cứ xách chậu theo là đủ”.
Cả đêm Trương Tam lo liệu không hề nhắm mắt, sáng ngày dậy sớm ra đi. Khi tới huyện Định Viễn trời còn sớm lắm, cửa chưa mở, ngồi chờ giây lâu, mới nghe tiếng trống hầu, Trương Tam xách chậu đi vào, miệng kêu oan chẳng dứt. Nha dịch vào bẩm, Bao Công vời vào, Trương Tam liền đem việc Triệu Đại cho mình một cái chậu đen và lúc gặp hồn oan khóc tỏ những gì, một lượt nói qua không sót, và lấy chậu đen để làm chứng. Bao Công nghe qua, liền cất tiếng kêu thử cái chậu đen, tới đôi ba lần mà không nghe ứng tiếng; nhưng thấy Trương Tam già cả e là lẫn lộn nên không giận, liền sai dẫn ra. Ra khỏi cửa Trương Tam hỏi cái chậu vì sao Bao Công kêu nó không dạ, cái chậu trả lời rằng: "Vì trong cửa có môn thần, tôi vào không được, xin bác thưa lại". Trương Tam lật đật xách chậu chống gậy và kêu oan nữa. Nha dịch cản lại Trương Tam liền đem lời cái chậu mới nói với mình thuật lại. Bọn nha dịch vào bẩm, Bao Công nghe qua vội vàng viết một đạo bùa sai đem ra ngõ đốt và cho đòi Trương Tam. Tới trước công đường, Bao Công cũng kêu cái chậu như trước, đôi ba lần cũng không thấy trả lời, cả giận vỗ bàn rày mắng om sòm, và sai tả hữu đè Trương Tam đánh mười hèo để răn kẻ sau. Tả hữu vâng lời đánh đủ số hèo và đuổi ông già ra khỏi cửa. Trương Tam ra ngoài kêu cái chậu mà hỏi nữa thì nó đáp rằng: "Vì thân thể trần truồng không dám ra mắt tinh chủ (Bao Công là Khuê tinh giáng thế) xin bác làm ơn vào bẩm lại". Trương Tam nói: "Thôi đi, thân già sức yếu, làm ơn chưa thấy ơn, đã thấy mười hèo đáp trước, bây giờ còn bảo vào... " Cái chậu đen cứ năn nỉ mãi ông cũng xiêu lòng lại vào kêu oan. Bao Công lấy làm lạ nghĩ rằng: "Đã bị mười hẻo, mà còn vào nữa, chuyện này quả có can cớ chi đây, Nghĩ vậy cho người ra hỏi, Trương Tam cũng đem lời cái chậu đen mới nói mà thưa lại. Bao Công liền sai Bao Hưng lấy quần áo giấy ra đốt, và đòi Trương Tam vào. Trương Tam vừa đi vừa kêu, thời nghe cái chậu ứng thinh đáp lại. Vào trước công đường, Bao Công cũng kêu như trước, chuyến này mới nghe có tiếng đáp rằng: "Lạy tinh chủ, có tôi đây” Ai nấy nghe đều lấy làm lạ. Bao Công liền hỏi Trương Tam điều oan khúc của cái chậu đen, Trương Tam liền thuật lại cặn kẽ. Bao Công nghe rồi cho Trương Tam ra nghỉ, một mặt viết thơ sai người đi mời bà con của Lưu Thế Xương (hồn oan của cái chậu đen), một mặt cho đi bắt vợ chồng Triệu Đại.
Khi Triệu Đại và vợ là Điêu Thị tới, Bao Công không cho thấy mặt nhau, trước đem Triệu Đại ra hỏi sơ sài rồi đem giam, kế đem Điêu Thị ra, Bao Công nói: "Điêu Thị, chồng mi đã khai rằng việc giết Lưu Thế Xương, mưu mẹo đều tại mi bày chỉ". Điêu Thị nghe nói giận chồng lắm, nên không chối cãi cứ việc khai thật rằng: "Khi Lưu Thế Xương ghé ngủ nhờ, chồng tôi thấy bạc nhiều, động lòng tham, nên lấy dây thắt cổ cho chết nghẹt mà đoạt của, bây giờ bạc ấy vẫn xài chưa hết, còn để tại nhà". Bao Công bắt lăn tay vào tờ cung xưng rồi lập tức sai người đi lấy bạc. Lấy bạc xong, sai đem Triệu Đại lên để đối chất với vợ nó, ai dè đứa gian thường hay to gan, Triệu Đại một mực không chịu khai, đến nỗi bị tra khảo quá mà chết. Bao Công đem thây ra, còn mình thì làm tờ thông lên phủ và viết tấu văn báo về kinh.
Vừa khi mẹ và vợ Lưu Thế Xương tới, Bao Công liền giao bạc lại, và tiền bán gia tài của Triệu Đại. Còn Trương Tam, mẹ và vợ Lưu Thế Xương đem về nuôi, để đáp ơn người hào hiệp.
Thật là:
Triệu Đại mưu gian nên chết nghiệt,
Trương Tam lòng tốt được ơn đền.
0
Hồi Thứ Năm [/align]

Bị cách chức, gặp cao tăng nghĩa sĩ,
Nhờ Long Đồ, rõ oán quỉ, oan hồn.
 
Bao Công xử án ấy, xa gần nức tiếng, chính trực vô tư, bọn quan trên, ghen ghét và nhân lỗi tra đến chết người, nên ít lâu ông bị cách chức. Bao Công liền giao cả việc huyện lại cho viên thủ ấn, rồi xếp đặt hành lý, ra về, ai dè Lý Bảo thấy tình cảnh như vậy, đã thâu góp đồ tế nhuyễn của riêng tây, lỏn mất tự bao giờ, thành ra cũng còn có hai thầy trò như cũ. Bao Công ra đi, trăm họ theo đưa đông đảo. Lòng chan chứa biết bao cảm tình, ra tới trường đình Bao Công khuyên nhủ ít lời rồi từ giã lên ngựa.
Bụi hồng mù mịt, vó ngựa gập ghềnh. Bao Công vừa đi vừa nghĩ: "Ta từ nhỏ đã chịu biết bao nhiêu gian khổ, nhờ anh chị thương tình, rước thầy cho học, may sao long vân gặp hội, nhẹ bước công danh, ai dè đâu, nay rủi ro một chút mà vinh hoa đã như ngọn đèn dưới gió, thời còn mặt mũi nào mà trở lại quê nhà, âu là dời bước tới kinh đô chờ ngày toan liệu”.  Còn đương nghĩ ngợi chợt tới một núi kia nghe tiếng đồng la inh ỏi, trong núi túa ra một lũ lâu la. Cầm đầu là một tướng mặt đen, mình thấp hình dáng khôi ngô, hét lên một tiếng, lâu la bắt trói thầy trò Bao Công giải lên sơn trại, đem buộc vào cột chờ cho bốn vị đại vương tới. Thầy trò Bao Công bị trói ước một giờ mới thấy Đại vương thứ tư hớt hải chạy về nói: "Khổ rồi! Khổ rồi! Ngu đệ mới gặp một người hành khách, tưởng đâu ra đón đường thu của, ai dè người ấy võ nghệ cao cường, nếu ngu đệ chậm chân ắt không còn tính mạng, vậy trong các anh ai ra bắt nó để rửa hận cho em?". Đại vương thứ nhất và Đại vương thứ nhì chịu ra đi. Hai người nai nịt, cưỡi ngựa ra khỏi trại thấy người hành khách đứng trên sườn núi, liền phóng ngựa tới. Đại vương thứ nhất vừa trông thấy mặt người khách, cười ầm lên: "Tưởng là ai, té ra huynh trưởng, vậy xin mời lên sơn trại đàm đạo chơi “.
Nguyên núi này tên là Thổ Long Cang, nơi giặc cướp ẩn núp. Có hai người là Trương Long, Triệu Hổ trước theo họ Bàng, sau biết chúng nó là lũ quyến gian không chịu phụ tá, nên bỏ ra đi. Rồi tới núi này, gặp bọn lâu la, liền thu phục và xưng làm chúa tướng.  Sau bọn Vương Triều, Mã Hán xuống thi, bị bọn Bàng Thái sư đuổi ra, cả hai giận lắm, cũng về ngang núi này gặp Trương, Triệu mời lên sơn trại kết làm anh em. Vương Triều làm anh cả, Mã Hán thứ hai,  Trương Long thứ ba, Triệu Hổ thứ tư.
Nói về người lạ ấy cùng với Mã Hán về tới sơn trại, thấy buộc trong cột hai người, bèn chạy ra xem, bất giác hỏi to lên rằng: "Thế nào mà huyện tôn lại ở đây?”. Bao Công liếc xem liền nói: "Có phải Triển nghĩa sĩ đó hay không?". Vương Triều nghe hai người đáp liền chạy lại mở trói cho Bao Công và mời lên thỉnh đường chuyện vãn. Triển Chiêu hỏi nguyên do,  Bao Công nhất nhất thuật cả việc mình, ai nghe tới cũng lắc đầu than thở. Triển Chiêu bảo bốn anh em họ Vương phải tạ tội với Bao Công, xong rồi phân ngôi chủ khách cùng ngồi, lâu la bưng rượu thịt lên, sáu người xúm nhau ăn uống, chén thù chén tạc, câu chuyện lại qua, thật là ý hợp tâm đầu lắm. Bao Công nhân hỏi bốn anh em họ Vương rằng: "Tôi xem các ngài rõ thật là tay hiệp sĩ, sao lại ẩn núp rừng sâu núi hiểm làm vậy?". Vương Triều đáp: "Nhân vì gian nịnh chật triều, trung thần phải lánh mặt nên chúng tôi mượn núi này, tạm dung thân". Triển Chiêu nói: "Bốn anh em rất may, nay mới gặp được Bao huyện tôn, tuy người đương phải buổi long đong, song biết đâu sau này triều đình lại chẳng nhớ công mà phục chức hay sao? Đến chừng ấy tưởng các ngài cũng nên bỏ nơi tăm tối mà theo đàng quang minh, đem cả tài năng mà giúp cho dân nước, há chẳng quý sao?". Bốn anh em họ Vương rập nhau đáp rằng: "Triển gia đã dạy các em rất vừa lòng, chừng nào Bao huyện tôn hưởng lại phấn nước hương vua, thời chúng tôi nguyện hết sức chen vai cất gánh". Sáu người vui vẻ, ăn uống tới canh ba, tiệc mới tàn.
Sáng ngày thầy trò Bao Công và Triển Chiêu cùng cáo biệt lên đường, bốn anh em họ Vương tỏ tình lưu luyến chẳng đành cho đi, song thấy lòng khách quả quyết, nhắm không thể ép cầm, nên cùng nhau đưa xuống núi. Khi tới đường rẽ, Bao Công và Triển Chiêu quyến luyến quá chừng dường như không nỡ chia tay.
Từ khi thầy trò Bao Công ra đi, cứ đường kinh đô thẳng tới, ngày kia đi ngang qua cửa chùa Đại Tướng Quốc, Bao Công bỗng nặng đầu hoa mắt, ngã phục xuống ngựa. Bao Hưng lật đật chạy lại đỡ, thấy hai mắt Bao Công nhắm cứng, kêu hoài không lên tiếng, kinh hoảng khóc òa, làm cho náo động tới tận trong chùa.
Chùa ấy, nguyên có một vị cao tăng, học hành sâu rộng, nghề y dược, tướng bốc lại càng hay, tục danh là Gia Cát Toại, pháp hiệu Liễu Nhiên, lúc ấy đương ngồi dưỡng thần, nghe ngoài cửa có tiếng người kêu khóc, bèn bước ra xem. Thấy vậy hòa thượng liền bước lại chẩn mạch, rồi kêu chúng tăng ra khiêng vào để nằm bên căn phía đông, còn mình hối hả hốt thuốc trao cho Bao Hưng nấu đổ cho Bao Công.
Đến canh hai thuốc ngấm, Bao Công lần lần tỉnh lại, mở mắt ra, thấy đèn đuốc sáng trưng, một bên Bao Hưng đứng hầu, một bên một vị hòa thượng ngồi trên ghế. Bao Công liền hỏi: "Đây là chỗ nào?". Bao Hưng liền đem việc vừa xảy ra và nhờ ơn hòa thượng cứu giúp thuật cả lại. Bao Công nghe muốn trổi dậy đáp tạ. Hòa thượng cản lại không cho và bảo rằng: "Trong mình còn yếu, chẳng nên cử động sớm, nên tĩnh dưỡng ít lâu”. Cách vài ngày Bao Công đã khỏe, ra tạ ơn hòa thượng, cùng người chuyện vãn giây lâu.  Hòa thượng liền hỏi thăm tên tuổi quê quán, biết là người lương đống, song còn đương chịu cái nạn một trăm ngày, qua khỏi thời vô sự. Vì vậy hòa thượng mời ở lại chùa, khi bàn về việc nước, khi lại cùng ngọn bút hòa vần, lúc xem trăng lên, lúc vơi chén rượu, thật là tâm đắc vô cùng. Ở như vậy gần ba tháng. Ngày kia Bao Công đi với Liễu Nhiên hòa thượng ra trước cửa chùa ngắm cảnh, chợt có một gã nhà bếp tay xách giỏ rau đi ngang, thấy Bao Công, đứng nhìn không chớp mắt, nhưng Bao Công nào có để ý tới.
Nguyên gã ấy là nhà bếp của Vương thừa tướng, vì Hoàng thượng (Nhân tôn) chiêm bao thấy hiền thần, tỉnh dậy nhắm chân dung vẽ ra bức Long đồ; truyền lệnh Thừa tướng sai người tìm kiếm. Thừa tướng vâng chỉ, về rước thợ giỏi họa lại nhiều bản, rồi chia cho bọn Ngu Hầu mỗi người cầm một bản đi tìm kiếm. Ngày ấy gã nhà bếp đi qua chùa Tướng Quốc, gặp được Bao Công, nhìn với người trong bức Long đồ không sai một mảy. Lật đật chạy về cho Ngu Hầu hay, Ngu Hầu vào chùa thời thấy một vị đạo nhân ngồi đánh cờ với hòa thượng, xem kỹ rồi trở về báo cho Thừa tướng. Thừa tướng mừng lắm, truyền đi kiệu vào chùa, sãi nhỏ vào bạch với hòa thượng, Liễu Nhiên ra rước vào Thiền đường. Vương thừa tướng nói: "Trong chùa này được bao nhiêu tăng chúng? Ý tôi muốn phát cho mỗi người một đôi giày, vậy phiền hòa thượng vui lòng giúp cho". Hòa thượng vâng lời, cho kêu các tăng chúng ra lãnh giày. Vương thừa tướng ngó chăm chăm, không thấy người nào giống như đồ họa, liền hỏi hòa thượng rằng: "Chúng tăng lĩnh đủ chưa? Còn ai nữa không kêu ra?". Hòa thượng nói: "Chỉ còn một người, mà người ấy không bao giờ chỉ vì một đôi giày mà phải hạ mình chịu ơn ai cả, nếu thượng quan muốn thấy mặt nên lấy lễ đãi mới được”. Vương thừa tướng đáp: "Được, việc ấy không khó gì, phiền hòa thượng dắt vào ra mắt “. Vào tới phương trượng, Bao Công không thể trốn tránh, cực chẳng đã phải tới thi lễ. Vương thừa tướng đáp lễ lại và nhìn kỹ thấy hình dáng giống hệt người trong bức Long đồ, cả mừng hỏi rằng: "Túc hạ tôn danh quý tánh là chi?". Bao Công liền thưa: "Phế viên là Bao Chửng, nhân xử án Ô bồn (cái chậu đen) mà bị cách chức". Vương thừa tướng nói: "Án ấy quá ư quái đản, lão phu thật khó tin”. Bao Công nghiêm sắc mặt đáp: "Lẽ thời ít có, nhưng việc quyết chẳng không, xưa nay những lẽ trái oan, thường mượn tang chứng làm chắc.  Bao tôi lấy lẽ công mà xử đoán, dân tình cũng chưa cho là quái đản, nếu bỏ qua không hỏi tới, thời lẽ ức bao giờ khám phá cho mình, mà hồn oan e phải ngậm ngùi nơi chín suối". Vương thừa tướng nghe Bao Công ăn nói cứng cỏi, lòng đã vui mừng, liền mời Bao Công về phủ, lưu lại thư phòng.
Sáng sớm, bảo Bao Công thay đổi theo y phục huyện quan, cùng đi tới đứng trước cửa đền chờ lệnh.  Khánh đổ ba hồi, Thiên tử lâm triều, bá quan đủ mặt.  Vương thừa tướng ra quỳ tâu rõ các điều. Nhân Tôn Hoàng đế rất vui, cho triệu Bao Công vào, Bao Công vào trước bệ tung hô vạn tuế. Thiên tử mắt rồng xem kỹ, rõ ràng là người trong giấc chiêm bao, trong lòng cả đẹp liền hỏi: "Vì sao mà khanh bị bãi chức?". Bao Công đem rõ các chuyện tâu qua, Thiên tử không tỏ ý là lạ, cười mà phán rằng: "Khanh đã xử được án Ô bồn, thỏa oan uổng, có lẽ cũng trừ được yêu tà trong cung Ngọc Chấn, vì nơi ấy đã bao lâu nay mỗi đêm đều có hồn oan kêu khóc, vậy phiền khanh tới trấn yểm thử coi sao?". Vua phán xong, Vương thừa tướng phái viên thái giám tổng quản là Dương Trung đưa Bao Công vào cung Ngọc Trấn.
Khi đi tới cung, Bao Công xem thấy ngọc ngà chói rực, bệ điệu huy hoàng, bước tới cửa Dương Trung đứng lại nói với Bao Công rằng: "Ông phụng chỉ vua, vào điện trừ tà, vậy thời vào đi, còn tôi chỉ núp ngoài cửa đây coi chừng mà thôi". Bao Công gật đầu bước nhẹ nhẹ vào trong điện, thấy chính giữa có đặt bảo tòa bèn bước lại trước cúi đầu lễ, dòm qua bên cạnh thấy có chỗ ngồi, liền ngồi vào đó. Dương Trung thấy Bao Công biết lễ đã có lòng cảm phục, sau lại thấy ngồi nghiêm ngó thẳng, rõ ràng một người chánh trực quân tử thời nghĩ thầm rằng: "Người như vậy, trách gì thánh thượng chẳng ái mộ?". Đương lúc suy nghĩ, bỗng đâu gió tới ào ào hơi lạnh thấu xương, Dương Trung dựng tóc gáy, ngồi bẹp ngoài cửa, một lát mê man không biết gì (bị quỷ nhập), gió dưới đơn trì hốt lên mây và trong ấy có tiếng than khóc rất ghê.
Bao Công ngồi trong điện, định thần xem kỹ, thời thấy đèn đuốc đều tắt. Dương Trung ngã phịch dưới đất, mê man một hồi lâu, rồi đứng dậy lập cập chạy vào quỳ trước điện, đèn đuốc sáng lại như cũ. Bao Công biết quỷ đã nhập vào xác Dương Trung rồi nên hỏi: "Mi có điều chi oan ức, nên hồn hiện về làm quỷ làm tinh, khá mau bày tỏ lại cho ta nghe thử?".  Dương Trung nói éo éo trong cổ đáp rằng: "Tiện tỳ tên là Khấu Châu, nguyên là kẻ thừa ngự trong cung Kim Hoa, nhân cứu chúa mà chịu ngậm oan nơi địa phủ đã hai chục năm nay". Nói bao nhiêu rồi đem cả nguyên ủy các việc lập mưu hãm hại thế nào khóc tỏ lại một lượt và nối lời rằng: "Nay Lý nương nương gần thoát khỏi nạn, nên tôi lại đây bày tỏ, xin ráng sức gỡ oan". Bao Công nói: "Việc oan đã rõ, cách tra thẩm phải lo, nhưng khốn nỗi mi làm quỷ làm yêu kinh động thánh giá, lỗi ấy chẳng vừa, vậy bây giờ phải kiếm nơi ẩn tích, đợi ta minh oan cho". Dương Trung dạ dạ rồi quay đi ra ngồi lại chỗ cũ ngoài bệ cửa, hồi lâu vươn vai, ngáp thức dậy lại gần hỏi Bao Công rằng: "Ông có thấy gì không, sao chưa trở lại phục mạng”. Bao Công nói: "Đã thấy quỷ rồi ngặt ông cứ ngủ mãi". Dương Trung hỏi: "Quỷ gì?” Bao Công nói: "Nữ quỷ tên là Khấu Châu”. Dương Trung nghe nói tới tên Khấu Châu thời thất kinh nói thầm rằng: "Quái lạ! Sao chuyện con Khấu Châu đã cách đây hai chục năm mà y lại rõ?". Nghĩ rồi giả bộ cười, hỏi rằng: "Sao con Khấu Châu lại thành quỷ mà phá khuấy thế này?". Bao Công đáp: "Không cần gì phải biết chuyện ấy, vả chăng hoàng thượng sai hai ta vào đây trừ tà, mà ông cứ lo ngủ mãi. Sáng mai vào chầu, ai có điều chi cứ tâu qua là đủ”. Dương Trung nghe qua rụt cổ nói: "Lão Bao ơi! Bao ca ca ơi! Bao đại nhân ơi! Ông muốn giết tôi sao chớ. Hoàng thượng sai chúng ta vào đây trấn quỷ, tôi cũng biết mạng vua làm trọng, song không cớ gì, trận gió vừa qua làm cho tôi mê man như chết, bây giờ về phục lệnh biết lấy gì mà tâu, nghe nói ông là người rộng lượng đức tốt, lẽ nào giết tôi cho đành?". Bao Công nghe nói thiết tha như vậy cả cười nói: "Thôi! Mai vào chầu Thánh thượng, ông nên tâu rằng quỷ ấy là hồn oan của ả Khấu Châu hầu hạ ở cung Kim Hoa hiện lên để xin siêu độ. Chúng tôi đã hứa và bảo phải lánh xa không nên quấy phá nữa".  Dương Trung cả mừng lật đật từ giã về báo trước ở Nội các. Sáng ngày Bao Công và Dương Trung vào chầu Thiên tử, chỉ tâu là hồn oan uổng. Vua Nhân tôn nghe qua hài lòng bèn xuống lệnh cầu siêu cho Khấu Châu và ra dụ bài lệnh giáng chức cũ, lại thăng Bao Công lên làm lệnh doãn tại phủ Khai Phong và chức âm dương học sĩ. (Vì chức đó mà người ta truyền tụng là Bao Công giỏi xét việc ma quỷ. Ban ngày đoán kiện dương gian, tối về xử án âm phủ).
Bấy giờ Bao công lạy Thiên tử mà phụng sắc, ra tạ ơn Vương thừa tướng và hòa thượng Liễu Nhiên rồi thẳng ra phủ Khai Phong. Rồi sai Bao Hưng đem thư về nhà, thăm cha mẹ, anh chị và Ninh Lão tiên sinh rồi ghé làng ẩn Dật trao tin, một là báo tin mừng hai là cầu hôn.
Thật là:
Trời phật hay thương kẻ phải,
Quỷ ma thường sợ người ngay.
0
Hồi Thứ Sáu [/align]

Được Cổ Kim bồn, kết duyên gái đẹp,
Dùng Công Tôn Sách, để dọ người gian.
 
Bao Hưng vâng lệnh Bao Công đem thư về nhà, chẳng bao lâu trở lại phủ bẩm rằng: "Con đem thư về nhà, ông bà đều mạnh giỏi, nghe Tướng công làm Phủ doãn cả nhà mừng lắm, ông bà có cho con năm chục lượng bạc. Cậu cả mợ cả cũng có cho con ba chục lượng. Riêng mợ cả có gửi cho Tướng công một cái gói, nói rằng trong đó là cái gương Tướng công đem nhờ cất giùm ngày xưa, và có thuật cho con nghe một chuyện ngộ lắm. Số là từ lúc Tướng công ra đi, mợ cả thấy gương tỏ rạng mới đem ra treo trong nhà, một ngày kia con Thu Hương đi ngang cửa mợ cả, trượt chân ngã một cái vỡ đầu máu chảy lênh láng, bèn vào nhà lại chỗ treo gương soi xem. Ai dè nó thấy máu nhiều quá tối mắt phát điên lên, reo to một tiếng đâm đầu chạy miết về nhà đè mợ hai móc tròng con mắt bên tay phải. Bây giờ nó bị giam vào một nơi như con quỷ sống, còn mợ hai thời chết đi sống lại đôi ba lần, đau ốm liên miên, tìm thầy thuốc chữa cũng chưa hết”. Bao Hưng vừa nói vừa dâng gương lên rồi tiếp rằng: "Đó, rồi con đi lại nhà cậu hai, thấy cậu buồn lắm song cũng có cho con ba lượng bạc. Con ở lại nhà ông bà một ngày, ngày sau qua làng Ẩn Dật dâng thư. Lý công và phu nhân mừng lắm nói ít lâu sẽ đưa tiểu thư qua, và có thư trước cho Tướng công đây”.  Nói đoạn đưa thư lên, Bao Công xem qua lập tức sai bảo gia nhân sửa soạn phòng the, đặng chờ người ngọc.
Chẳng bao lâu, Trương phu nhân cùng Lý tiểu thư tới kinh sư. Bao Công chọn được ngày lành tháng tốt kết duyên với Lý tiểu thư. Loan phụng nên đôi,  Tấn Tần hòa hợp. Bao Công được sánh đôi với Lý tiểu thư là người trinh tịnh, đoan trang thời vui không biết bao nhiêu. Tiểu thư có một bảo vật tên Cổ kim bồn là một vật quý trên đời ít có, nhưng Bao Công không để ý tới cho lắm. Ít lâu Trương phu nhân từ giã rể con trở về làng ẩn Dật, trong đám bộ hạ có một đứa con tên là Lý Tài, lanh lợi khôn ngoan nên phu nhân để lại hầu hạ vợ chồng Bao Công.
Ngày kia Bao Công đương ngồi trong phủ, chợt thấy một người tuổi ước năm mươi, miệng kêu oan chẳng dứt, liền cho đòi vào hỏi rằng: "Chẳng hay ông già họ là chi, có điều gì oan ức?" Người ấy lại bẩm rằng: "Tôi họ Trương tên Trí Nhân, ở tại làng Thất Lý, có một người em họ tên là Trương Hữu Đạo, buôn bán, nhà ở xa xôi ước ba dặm. Hôm ấy tôi thấy nó lâu qua, mới tới thăm nó, té ra nó đã chết được mấy hôm rồi, hỏi thăm em dâu tôi là Lưu Thị xem em tôi đau bệnh gì, sao chết không cho tôi hay. Nó nói chồng nó đau bụng chết, và vì nó đơn chiếc nên chưa nhắn tin kịp. Nghe vậy tôi không tin, đi cáo với quan huyện xin đào tử thi lên xét. Đến khi đào lên quả không thương tích gì, tôi đã đau lòng cho em tôi chết oan không ai rõ. Tưởng chuyện đã yên, thế mà em dâu tôi lại bảo tôi vu cáo cho người lương thiện, xin phạt tôi hai chục hèo. Lạy thượng quan, tiểu nhân nghĩ chắc là Trương Hữu Đạo không phải bệnh mà chết, song vì trời cao đất dày, kêu không tới, vạch không thông, nghĩ có thượng quan công minh xin thương tình thẩm xét”. Bao Công nghe xong hỏi rằng: "Em của ông thường hay có bệnh hay không?". Trí Nhân đáp: "Dạ thưa không”. Bao Công lại hỏi: "Ông không gặp em ông, ước bao lâu?". Trí Nhân đáp: "Anh em tôi ở với nhau rất hòa thuận, thường hay qua lại thăm nhau, cứ hai ba ngày gặp nhau là thường. Mới đây, năm ngày tôi không thấy nó, nên đi thăm, té ra việc xảy như vậy". Nói rồi khóc òa, Bao Công nghe, nói rằng: "Năm ngày trước vẫn còn, ngày thứ sáu qua thăm thì đã chết được ba hôm, ắt sau khi đi thăm anh về một đôi ngày thời chết, vậy cũng có duyên cớ chi, chứ chẳng lẽ bỗng dưng mà chết". Nghĩ đoạn liền viết trát đòi Lưu Thị rồi lui vào thư phòng tạm nghỉ.
Vào tới thư phòng Bao Hưng dâng lên một bao thư nói của người học trò đưa tới. Bao Công tiếp lấy xem, thời là thư của Liễu Nhiên hòa thượng tiến cử người hiền, liền cho mời tên học trò vào. Chào hỏi xong xuôi, Bao Công hỏi tên họ, người học trò đáp: "Văn sinh họ Công Tôn tên Sách, nhân lận đận trường ốc, lưu lạc non xanh, may vào chùa Tướng Quốc gặp hòa thượng Liễu Nhiên thật lòng hậu đãi và có thư tiến dẫn tới thượng quan, xin rộng lòng dung nạp kẻ hèn, sẽ hết sức đền ơn tri ngộ". Bao Công thấy người ấy ăn nói gọn gàng, cử chỉ đoan trang, nhân hỏi qua sách vở điển cố, nhất thiết đều đối đáp được cả.  Bao Công mừng rỡ vô hạn. Đương lúc chuyện trò chợt thấy tả hữu vào bẩm rằng đã đòi Lưu Thị tới, liền kêu Lý Tài hầu đãi Công Tôn Sách, còn mình cùng Bao Hưng đi ra công đường, đòi Lưu Thị vào. Lưu Thị trạc độ đôi mươi, con người lanh lợi, bước vào công đường không có vẻ sợ sệt. Bao Công cất tiếng hỏi rằng: "Mi có phải Lưu Thị vợ của Trương Hữu Đạo chăng?".  Lưu Thị đáp phải. Bao Công hỏi tiếp: "Chồng của mi đau bệnh gì mà chết?" Lưu Thị thưa: "Chiều hôm nọ chồng thiếp đi xóm về, ăn cơm rồi đi ngủ, đến canh hai phát lên đau bụng, làm cho thiếp kinh hoàng vô cùng, chạy thuốc men cho uống, ai dè mạng cùng số vắn một lát thời chết “. Nói dứt lời cất tiếng khóc rống lên. Bao Công vỗ án hét to lên rằng: "Ta hỏi chồng mi đau bệnh gì mà chết, sao lại nói rồng rắn quá vậy?” Lưu Thị thưa: "Bẩm lão gia chồng thiếp bị chứng đau bụng mà chết “. Bao Công hỏi: "Đã đau bụng mà chết, sao lại không cho anh chồng mi là Trương Trí Nhân hay? Căn cớ làm sao, mau khai ngay". Lưu Thị đáp: "Thiếp chẳng tin cho Trương Trí Nhân hay một là vì bận việc mà quên, hai là không dám cho anh hay".  Bao Công hỏi: "Sao lại không dám cho hay?". Lưu Thị đáp: "Vì mỗi lần anh ấy qua nhà, khi thấy vắng người thì hay chọc ghẹo thiếp, thiếp cho hay rằng chồng thiếp đã chết, anh ấy đã không khóc, lại còn buông nhiều lời xằng bậy, và làm nhiều điều nhơ nhớp xấu xa, miệng người tử tế không thể thuật lại được. Thiếp thấy người như vậy mắng cho một mẻ thích đáng.  Anh ấy hổ thẹn ra về. Ai dè thẹn quá hóa giận, đã chẳng biết tỉnh ngộ thời thôi, lại còn tới huyện vu cáo rằng em anh ta chết ức, xin mở hòm xem thây té ra thây không vết tích gì, nên bị quan huyện đánh cho hai chục hèo. Tưởng đâu đã ăn năn mà chừa. Đến nay lại còn đến lão gia tố cáo, thật khốn nạn cho thiếp biết bao nhiêu, chồng chết, nước mắt chưa ráo, mà thêm khổ vì anh chồng nữa, tấc gan càng nát, trăm lạy lão gia, xin lấy ngọn đèn công lý mà soi chỗ tối tăm cho phận góa bụa này nhờ ơn". Nói dứt lại khóc tức tưởi.  Bao Công thấy Lưu Thị miệng lanh hơn pháo, lưỡi bén như gươm, quyết chẳng phải con người lương thiện, bèn nghĩ rằng: "Chuyện này cũng khó, nếu không đủ chứng cớ thời không vạch được oan, phải tạm ít lâu sai người thám thính “. Nghĩ rồi liền nói với Lưu Thị rằng: "Bổn quan nghe lời mi khai gian ngay chưa rõ, song bị người vu oan như thế, lẽ cũng khá thương, vậy tạm về, ba ngày nữa sẽ tới công đường hầu xét “. Lưu Thị dạ dạ lui ra.
Bao Công lui vào thư phòng đưa tờ khẩu cung cho Công Tôn Sách coi, Công Tôn Sách xem xong nói rằng: “Cứ như vãn sinh xem ở khẩu cung đây, thì Trương Trí Nhân nghĩ chẳng lầm, song vì Lưu Thị khôn lanh giảo quyết, nên phải tra xét cho minh bạch mới có thể thuyết phục nó được". Bao Công hỏi: "Nếu vậy phải làm sao?". Công Tôn Sách nói: "Đợi vãn sinh giả đi dò thăm, chừng nào có cớ duyên gì, sẽ trở về bẩm báo". Bao Công nhận lời.
Công Tôn Sách thay hình đổi dạng làm một thầy thuốc rong, tay xách chiêu bài, vai mang rương thuốc, đi ra xăm xăm tới làng Thất Lý. Dò xét nhọc nhằn cả ngày mà không ra manh mối, tính trở về phủ lo phương khác, đi quanh quẩn thế nào lại tới một cái quán kia tại trấn Du Lâm tên là Hưng Long điếm, bèn đi vào kêu nhà hàng dọn cơm thịt cho mình ăn.  Đương ngồi ăn, Công Tôn Sách chợt thấy một đám đông người dắt ngựa đi vào, trong ấy có một người lùn lùn mặt đen, cất tiếng rổn rảng rằng: "Ai trong đó mau mau nhường chỗ cho chúng ta ngồi". Dứt tiếng thời có một người khác bước tới can rằng: "Tứ đệ đừng la lối!". Nói rồi bảo chủ quán rằng: "Xin chủ quán nói lại với quan khách chịu phiền rời vào trong, nhường hai phòng này cho chúng tôi vì nội bọn đông lắm".  Chủ quán lăng xăng nói với Công Tôn Sách, Công Tôn Sách bằng lòng, nhà hàng dọn sang bàn mé sau.
Bọn kia cởi yên nhốt ngựa, cất đẹp hành lý, kêu dọn rượu thịt, rồi xúm nhau ngồi vào ăn uống. Công Tôn Sách ghé nhìn thấy ngồi trên bốn người, còn bao nhiêu ngồi bàn dưới. Chúng đương ăn uống. Người đen và lùn hỏi ba người kia rằng: "Mai đây chúng ta vào phủ Khai Phong e người nhớ hờn cũ, không thu dụng thời tính sao?". Người mắt tròn như trái táo nói: "Tứ đệ khéo lo xa, tôi chắc Bao Công không phải là người hay câu nệ như vậy đâu”. Công Tôn Sách nghe dứt lời, đứng dậy bước qua chắp tay nói với bốn người ấy: "Nếu bốn ngài cần lên phủ Khai Phong, kẻ bất tài này xin ra sức tiến dẫn". Bốn người lật đật đứng dậy, người lớn hơn hết hỏi: "Túc hạ là ai, xin mời ngồi chuyện vãn chơi cho vui". Công Tôn Sách khiêm tốn đôi ba lần mới ngồi, ai nấy xưng tên họ, thì ra bốn vị hảo hớn kia là Vương Triều, Mã Hán, Trương Long,  Triệu Hổ ở Thổ Long Cang, trước đã có ý bỏ tà theo chánh, nay nghe Bao Công làm Phủ Doãn nên bỏ sơn trại phân phát tiền bạc cho lâu la, đem kẻ tâm phúc ít người xuống phủ Khai Phong xin thu nạp.
Công Tôn Sách cùng bốn người chuyện trò, ăn uống vui vẻ lắm, tới canh hai tiệc mới tan.
Đó thật là:
Vì thanh chính xa gần nức tiếng
Nên anh hùng lặn lội tới hầu.
0
Hồi Thứ Bảy [/align]

Thiết tiên miếu cứu xong tớ nghĩa,
Thất lý thôn dò được án nghi.
 
Nói về bốn anh em họ Vương, ăn nhiều uống đậm, nên đặt lưng nằm xuống thời ngủ mê man. Tới canh tư giật mình thức dậy, thấy trăng tỏ làu làu tưởng đâu trời đã sáng, nên đánh thức cả bọn, sắm sửa lên đường. Còn Công Tôn Sách cũng vì lo lắng mà trọn đêm không nhắm mắt, nghe bọn kia thức, thời cung vội vàng trổi dậy, thấy người hầu chờ trước quán (ngựa của anh em họ Vương nhường cho Công Tôn Sách) liền rửa mặt gỡ đầu, lấy chiêu bài, mang thùng thuốc, tính tiền trả cho nhà hàng, rồi cùng nhau lên ngựa, nhằm phủ Khai Phong đi tới.
Vầng trăng lãng đãng, vó ngựa rập ràng, ngọn cỏ sương dầm, bước đường quạnh quẽ. Ngựa chạy lần tới một khóm rừng, lúc ấy là đầu canh năm, chợt thấy trước mặt có một tòa miếu, thoáng qua một bóng người, nhìn rõ là đứa con gái mặc áo đỏ, chạy tới cửa miếu lách mình chui vào. Ai nấy xem rõ đều lấy làm lạ Trương Long nói: "Đêm khuya thanh vắng mà con gái đi vào miếu làm chi, chắc cũng có duyên cớ, nhân trời chưa sáng chúng ta nên vào đó coi thử thế nào?" Mã Hán bảo bọn đi theo đem ngựa và hành lý vào trong rừng tùng núp đợi, còn năm người bước tới cửa miếu thấy có tấm biển đề ba chữ "Thiết Tiên Quan".  Công Tôn Sách nói: "Lạ chưa? Người con gái mới đi vào, không nghe đóng cửa, mà bây giờ cửa lại khít cứng như vậy?". Triệu Hổ chạy lại co tay đấm vào cửa rầm rầm, vừa đấm vừa kêu: "Đạo nhân mau ra mở cửa". Chợt nghe trong cửa có tiếng hỏi: "Ai đó? Làm cái gì mà đêm hôm tăm tối lại động cửa rầm rầm như vậy?”. Vừa dứt tiếng thời cửa mở ra, có một vị đạo nhân bước tới. Công Tôn Sách vội vàng thi lễ và nói: "Chúng tôi là người đi đường, nhân nóng công việc đi quá sớm, bây giờ khô cổ khát nước xin cho vào nghỉ chân, và nhờ chén trà nhấp giọng, rồi sẽ dâng ít nhiều lễ mọn để hương khói". Đạo nhân nói: "Khoan đã! Để tôi vào bạch lại với viện trưởng mới được".  Đương nói chuyện lôi thôi, chợt thấy ở trong có một vị đạo sĩ mày rậm mắt to, trán cao lưng lớn đi ra nói rằng: "Quý vị muốn uống trà, thời có ngại gì, xin mời vào”. Năm người đi theo tới đại diện, thấy đèn đuốc sáng chưng, chia ngôi chủ khách cùng ngồi. Hỏi chuyện ít câu, đạo sĩ đi vào trong lo trà nước. Trương Long, Triệu Hổ nóng chuyện khi nãy, nên giả đi tiểu, lỏn ra sân sau tìm người con gái áo đỏ. Đi vòng quanh miếu thấy hiên sau có một cái chuông lớn, lại gần nghe có tiếng rên. Triệu Hổ nói: "Chắc ở trong này”.  Trương Long bảo rằng: "Đâu, hiền đệ xách lên coi".  Triệu Hổ đỡ lên, Trương Long thò tay vào kéo người trong ấy ra, thời là một ông già bị trói co lại, miệng nhét đầy những bông vải, liền cởi trói và móc bông trong miệng ra, một chập ông già tỉnh lại than rằng: "Thôi, chết ta rồi! Khổ lắm!" Trương Long hỏi: "Ông là ai, sao lại bị chúng nó bắt nhốt trong này vậy?". Ông già đáp: "Tôi là Điền Trung, người ở Trần Châu.  Nhân con Bàng Thái Sư là An Lạc hầu Bàng Dực vâng chỉ đi chẩn tế cho dân nghèo, nó tới nơi không tuân lệnh vua, lại lập ra một cái hoa viên, cướp bắt con gái dân gian đem về hãm hiếp. Chủ nhân tôi là Điền Khởi Nguyên, chủ mẫu là Kim Ngọc Tiên, nhân lão bà bị bệnh, cắt thịt nấu thuốc cho uống, đến khi bệnh lành chùa thắp hương cầu nguyện. Ai dè Bàng Dực thấy người có sắc, sai thủ hạ bắt đi và bắt luôn chủ nhân tôi cầm trong ngục, lão bà ở nhà nghe tin như vậy, khóc ngất lên rồi chết. Tôi lo lắng chôn cất xong, tính lên Kinh cáo tố, đi nửa đường trời tối ghé Thiết Tiên quan này ngủ trọ nghỉ chân. Lũ đạo nhân trong miếu thấy hành lý tôi nặng nề tưởng là nhiều tiền, sắp sửa hãm hại, vừa mới ra tay, thời nghe tiếng động ngoài cửa, nên mới đem nhốt vào đây, nếu chậm một phút nữa thời mạng già này đã ô hô rồi. Tôi chết không tiếc chi, ngặt nỗi oan kia không ai tố cáo".  Trong khi ông già thuật chuyện, Triệu Hổ liếc thấy bên cạnh có một tên đạo sĩ đứng rình, bèn nhảy tới đá cho một đá nhào lăn xuống đất. Nào hay đứa hung đạo kia ở nhà trong đương lo quạt trà đãi khách dòm không thấy Trương Long, Triệu Hổ, mới sai tiểu ra kêu, lâu quá không thấy trở ngại, biết là có chuyện chẳng lành, hắn bèn trở vào phòng kín, thay đồ giáp xách đao bén, ra hậu viện xem sao. Khi ra tới nơi thấy tiểu bị đã ngã nằm dưới đất, máu giận phừng phừng, liền nhảy tới huơ đao chém Trương Long.  Trương Long mắt sáng như sao, mình lẹ như chớp nháng, nhảy ra tránh khỏi lưỡi đao, đạo nhân nhảy tiếp theo chém một đao nữa. Trương Long tay không có một tấc sắt, một khúc cây chống đỡ, khốn lắm không biết làm sao, cứ nhảy qua nhảy lại né lưỡi đao mà thôi. Đạo nhân chém không trúng tức lắm, cứ xông tới chém mãi. Trương Long ra hết thế để bắt đao, song đạo nhân võ nghệ cũng khá, nên không thể đè bẹp được. Trương Long cầm cự như vậy hồi lâu, may sao Vương Triều chạy tới. Đạo nhân quay lại chém Vương Triều, Vương Triều liền thủ thế "Suy song vọng nguyệt” chờ ngọn đao gần tới, luồn mình nhảy vào, đạo nhân trống thế, bị Trương Long ôm ngang eo ném ra xa, ngọn đao văng tuốt. Triệu Hổ nhảy tới đạp trên lưng đè xuống, còn Trương Long chạy kiếm dây, trói lại, dắt ra trước điện. Rồi mấy người chia nhau tìm kiếm khắp miếu không thấy ai nữa, vòng lại chính điện thấy tượng Bồ Tát mặc áo đỏ, biết người con gái vào miếu hồi khuya là Bồ Tát hiện thân để cứu Điền Trung khỏi nạn, ai nấy đều tôn niệm vô cùng.
Bây giờ Công tôn Sách mới chạy vào rừng tùng gọi những người đi theo đem hành lý ra, cho bốn người áp giải hai tên đạo nhân tới huyện Tường Phù, quan huyện làm tờ thân báo lên phủ. Rồi tất cả cùng Điền Trung ra khỏi miếu nhằm phủ Khai Phong đi tới.
Khi tới phủ, bốn anh em họ Vương tạm ở ngoài, một mình Công Tôn Sách vào ra mắt Bao Công, đem chuyện mình đi thuật rõ lại một lượt. Thuật xong công Tôn Sách đứng dậy xin Bao Công cho mình đi dò xét chuyện Lưu Thị nữa. Bao Công bằng lòng, Công Tôn Sách mang rương thuốc ra đi.
Công Tôn Sách đi rồi, Bao Công kêu Bao Hưng dắt Điền Trung vào thư trai hỏi rõ nguồn cơn, rồi cho xuống ở dưới trà phòng, đợi lúc thẩm xét sẽ kêu tới, không ló mặt ra, e hở môi lậu tiếng mà Bàng Phủ biết chuyện. Lại truyền Bao Hưng mời bốn dũng sĩ vào ở trong ban phòng chờ khi sử dụng.
Công Tôn Sách ra khỏi nha môn đi miết tới làng Thất Lý, vừa đánh chiêng beng beng, miệng vừa rao lớn rằng: "Bà con cô bác, ở hai bên đường, nghe cho tỏ tường, có thầy thuốc giỏi, đạo y sành sỏi, học thức uyên thâm, một tấm từ tâm, cứu đời giúp chúng, người đều truyền tụng, thuốc tới bệnh thuyên, bệnh quỉ thời có thuốc tiên, lo gì chẳng mạnh, đừng có giấu lánh, để bệnh trầm trầm, nuôi bệnh lâu ngày, cũng như nuôi cọp". Đương rao như vậy chợt có một bà già đứng bên đường đón lại. Công Tôn Sách hỏi: "Tôi là thầy thuốc phương xa mới tới, lão bà muốn dùng thuốc hay sao?". Bà già đáp: "Con dâu của lão đau ốm đã lâu nên đón tiên sinh tới nhà chẩn trị". Công Tôn Sách nghe nói nhận lời, bà già dẫn đường đi trước. Về tới nhà bà già, mời ngồi, rồi đem chuyện mình ra kể: "Lão họ Vưu, chồng khuất sớm, có một trai tên là Cẩu Nhi, làm trưởng công cho Trần Đại Hộ (Trần ứng Trực) nay dâu lão ở nhà mang bệnh, ăn uống không được đã hơn nửa tháng nay, xin tiên sinh coi giùm mạch, bốc thuốc cho nó". Công Tôn Sách hỏi: "Con dâu bà bây giờ ở đâu?". Bà già đáp: "Ở buồng bên kia, để tôi vào cho nó hay". Nói rồi chạy vào buồng. Công Tôn Sách ngồi ngoài nghe tiếng bà già kêu: "Nè con! Nè con! Mẹ mời được thầy coi mạch bốc thuốc cho con đây, Rồi có tiếng đàn bà trả lời rằng: "Mẹ ơi! Đừng mời làm gì, vì một là bệnh con không lấy gì nặng lắm, hai là nhà không tiền, lấy gì trả ơn cho người ta". Bà già nói: "Con ơi! Con không nghe thầy nói cứu kẻ nghèo làm phước không lấy tiền và nói rằng nuôi bệnh như nuôi cọp đó sao? Con nên để cho thầy xem bệnh, cho thuốc mau mạnh, ấy cũng đỡ chút lo cho mẹ, mẹ chỉ có mong nhờ ở con, chớ không trông gì tới con đẻ của mẹ nữa". Tiếng người đàn bà đáp rằng: "Mẹ đã vậy thì mời thầy vào đây”. Rồi bà lão vội vàng chạy ra mời Công Tôn Sách nói đi chữa bệnh cho có cớ để thám thính, chớ không dè anh ta học sâu biết rộng mà nghề thuốc cũng tinh tường. Coi xong mạch rõ cả căn bệnh, Công Tôn Sách nói với bà già rằng: "Tôi xem mạch là thai mạch". Vưu Thị nói: "À, phải rồi đâu chừng bốn năm tháng nay“. Công Tôn Sách tiếp: "Theo ý tôi nghĩ thời bệnh này bị trí não sinh ra, vì uất ức buồn rầu quá độ, nếu không sớm trị, e mắc chứng lao, vậy phải nói rõ nguyên do rồi mới bốc thuốc được". Vưu Thị nghe nói khen rằng: "Thật thầy là thần thánh nên nói không sai, để lão thuật lại thầy nghe. Nguyên con tôi làm trưởng công cho Trần Đại Hộ nhọc nhằn mới ăn được đồng tiền, ngày kia nó về đem theo nhiều bạc". Nói tới đó người đàn bà trong buồng chặn lời rằng: "Mẹ bất tất phải nói tới chuyện đó”. Công Tôn Sách nói: "Phải nói, không nói thời làm sao tôi rõ nguyên do mà trị bệnh". Vưu Thị nói: "Thầy nói phải, con lo dưỡng bệnh là tốt, có sao đâu mà ngại”. Nói rồi tiếp rằng: "Lão thấy nhiều bạc lòng phát nghi, hỏi con lão thì nó đáp rằng: "Chủ nó là Trần Đại Hộ, nhân tư thông với vợ Trương Hữu Đạo bên làng Thất Lý, một hôm đến chơi rủi gặp chồng nàng, bèn đem lòng ghen tức, trở về lập mưu giết cho chết đi, mới cho nó bạc". Nói tới đây người đàn bà trong buồng cũng chặn lời rằng: "Mẹ nói chuyện chi đó?".  Vưu lão bà nói: "Ai đâu mà ngại, chỉ có thầy đây mà ngại gì". Nói rồi thuật tiếp: "Cho nó bạc bảo nó làm việc đó. Tôi nghe nói sợ lắm, bảo đừng làm, vợ nó cũng khuyên can quỳ dưới đất khóc với nó, nó đã chẳng nghe, lại đạp vợ nó một đạp rồi bỏ đi. Sau đó nghe nói Trương Hữu Đạo chết, vợ nó vừa bị đạp, vừa buồn rầu quá nên sinh ra bệnh". Công Tôn Sách nghe xong, cầm bút biên toa đưa cho Vưu bà mà rằng: "Phương thuốc này rất kỳ bí, dùng hồng miêng đốt thành tro, hòa chung với rượu uống thời rất hoạt huyết an thai". Vưu lão bà nhớ rồi, Công Tôn Sách lại hỏi: "Con bà làm xong việc ấy, Trần Đại Hộ không có chi đáp tạ nữa sao?". Vưu lão bà nghe liền hỏi đáp: "Nghe nói Trần Đại Hộ có hứa cho nó sáu mẫu đất".  Tôn Sách hỏi: "Vậy chớ có giấy tờ bút tích gì làm chắc không?" Vưu bà lão nói: "Không có! Không biết rồi nó có hay không nữa?". Tôn Sách nói: "Vậy sao được, nó đã cậy con bà làm chuyện như vậy, hứa cho đất lại không bút tích gì, sau này mẹ con bà lấy gì làm chắc, thôi để tôi viết thế cho bà một tờ trình đem đến quan chiếu theo đó mà đòi đất". Vưu lão bà nghe nói mừng lắm. Công Tôn Sách mở rương thuốc ra, lấy giấy viết trao cho lão bà, rồi mang rương thuốc từ tạ ra đi. Vưu lão bà nói: "Nhọc lòng thầy quá, không có lễ tạ, lại chẳng một chén trà giải lao, thật không phải". Công Tôn Sách nói: "Không sao đâu bà chớ ngại, bổn phận tôi phải lo cứu người, đó là sự thường “. Nói rồi vội vàng đi, lòng mừng khấp khởi vui sướng biết chừng nào, đi vội về phủ Khai Phong.
Thật là:
Ý đẹp bởi nghe tin đích xác,
Lòng vui vì rõ chuyện ly kỳ.
0
Hồi Thứ Tám [/align]

Đoán oan án, được lên Học sĩ,
Tâu chẩn bần, ra xét Trần Châu
 
Nói về Công Tôn Sách về tới phủ Khai Phong, vào ra mắt Bao Công, thuật rõ đuôi đầu những việc mình vừa do thám được. Bao Công nghe qua mừng rỡ bội phần, thầm khen Công Tôn Sách là người có học. Tướng Công sai Bao Hưng bày tiệc rượu khoản đãi và truyền sai dịch đi đòi Vưu Cẩu Nhi.
Chẳng bao lâu chúng đem Vưu Cẩm Nhi về phủ,  Bao Công liền thăng đường, kêu vào trước mặt hỏi rằng: "Mi phải là Vưu Cẩu Nhi đó chăng?" Cẩu Nhi đáp phải. Bao Công nói tiếp: "Có hồn oan của Trương Hữu Đạo tới cáo tại bản phủ nói rằng mi và chủ mi là Trần Đại Hộ định mưu giết nó, Đại Hộ giết người để tư thông với vợ người, thời không nói chi đến. Nhưng mi nghe lời người ta mà làm ác, chắc cũng vì ham tiền, ham tiền mà chỉ ham ít như mi thời uổng lắm.  Nghe nói Đại Hộ bảo mi làm xong việc ấy rồi cho sáu mẫu đất, mà bây giờ nó không cho, đó là sự ức của mi. Vậy mi cứ thật khai ngay, bản quan sẽ vì mi mà xét đoán và cứu gỡ cho khỏi tội”. Cẩu Nhi nghe nói oan hồn tố cáo thì sợ. Lại nghe Bao công hứa vì mình mà xét việc cho đất và cứu cho khỏi tội, thì hả dạ lắm, liền khai rằng: "Nguyên chủ nhân tôi là Trần Ứng Trực có giao tình với vợ Trương Hữu Đạo là Lưu Thị.  Ngày nọ bị Trương Hữu Đạo gặp, may thoát được về nhà, lo nghĩ phương kế để giết Hữu Đạo, cho rảnh tay mới hả lòng thỏa dạ. Ông ta mới kêu tiểu nhân bảo phải giúp một chuyện. Tiểu nhân hỏi, thời ông nói kiếm con thi qui, tiểu nhân hỏi: "Thi qui hình đáng ra sao, ở đâu có?". Ông nói hình như con kim đầu trùng, hay ở trong mấy huyệt mả, khi nào thây người chết tiêu hết rồi mà cái óc còn thời trong ấy có con thi qui. Tiểu nhân nghe nói thấy chuyện khó, không chịu, ông liền lấy hai thoi bạc trao cho, và hứa nếu tìm được thời ông sẽ cho thêm sáu mẫu ruộng. Việc ấy ông sai đâu, tiểu nhân làm đó chớ thật lòng không muốn chút nào. Vậy ban ngày ông cho tiểu nhân ngủ, dưỡng tinh thần, tối đi đào kiếm cực nhọc mất mười lăm mười sáu đêm mới được một con, đem về phơi khô tán mạt, hoặc trà hoặc cơm mà rắc vào một chút, ai ăn phải liền phát chứng đau bụng mà chết ngay. Nếu tìm kiếm trong mình không thấy dấu vết gì cả, duy coi cho kỹ thời mới thấy dưới mí mắt có rựng rựng điểm máu bầm mà thôi. Khi tiểu nhân làm tròn bổn phận, không biết chủ nhân dùng để làm gì. Cách ít hôm nghe nói Trương Hữu Đạo đã chết, tiểu nhân nghĩ chắc là giống độc đó hại y, ăn năn không kịp.  Chuyện có bao nhiêu, tiểu nhân đã khai hết rồi, lạy lão gia kiếm cách cứu giùm tính mạng”. Bao Công nghe xong, truyền bảo thơ lại đem tờ cung bắt Cẩu Nhi điểm chỉ vào rồi xuất trát đòi Trần Ứng Trực, lại dặn Cẩu Nhi rằng: "Chừng Trần Đại Hộ chủ mi tới, mi cứ ra mặt đối chất, bề gì có ta đừng lo”, Cẩu Nhi dạ dạ vâng lời. Bao Công lại sai đòi mẹ con Vưu lão và Lưu Thị (vợ Trương Hữu Đạo).
Chẳng bao lâu Trần Ứng Trực tới, Bao Công thăng đường hỏi rằng: "Trần Ứng Trực, vì sao mi giết Trương Hữu Đạo cứ thật khai ngay đi”. Trần Ứng Trực nghe hỏi run rẩy đáp rằng: "Thiệt tôi không làm điều ấy, lạy lão gia xin thương”. Bao Công vỗ án hét lớn rằng: "Mi thật gan lớn, dám lẻo mép chối, tả hữu đâu đem Cẩu Nhi ra đây đối chất”. Trần Ứng Trực xám cả mặt cuống quýt nói rằng: "Việc tư thông với Lưu Thị thời có, còn việc giết Hữu Đạo thì quả không, xin thượng quan chớ nghe lời Cẩu Nhi mà hại oan người lương thiện “. Bao Công cả giận kêu tả hữu đem hình cụ lên. Tả hữu dạ rân, khiêng ra ba khúc cây để trước công đường, Ứng Trực đã lạnh lòng sốt ruột nói rằng: "Lạy thượng quan, để tôi khai, xin khai cho khỏi hình cụ “. Nói rồi khai y như lời Cẩu Nhi và thêm rằng: "Lúc được độc dược ấy tôi liền đưa cho Lưu Thị, dặn rưới vào cơm cho Trương Hữu Đạo ăn, y ăn rồi thời chết mà mình không có thương tích “. Bao Công nghe rồi bắt Ứng Trực ký tờ cung xung. Sau đó Lưu Thị và mẹ con Vưu lão bà tới.
Bao Công dạy dắt Lưu Thị vào trước. Lưu Thị tưởng chuyện đã ổn thỏa rồi, nên đi vào coi bộ vui vẻ tự đắc lắm, đến khi thấy mặt Trần Ứng Trực thì má hồng chẳng nhuộm mà thâm, mày liễu chưa chà đã rủ. Bao Công không cần hỏi tới, dạy kêu Trần Ứng Trực đối chất. Trần Ứng Trực ngó Lưu Thị khóc rằng: "Chuyện bí mật mà tôi bảo nàng làm đó, tưởng không ai hay, thời mình được vui vẻ cùng nhau yên hưởng khoái lạc, ai dè hồn oan Trương Hữu Đạo đã tới tố ở cửa quan, việc đã bại lộ còn giấu giếm làm chi. Tôi đã cung rồi, thôi nàng cũng khai ngay cho khỏi da tan thịt nát”. Lưu Thị nghe qua mắng rằng: "Oan gia, khéo hại ai vậy?". Chưa dứt lời, bị Bao Công hét một tiếng. Lưu Thị cúi đầu suy nghĩ hồi lâu rồi khai rằng: "Thôi, Trần lang cũng khai rồi, còn gì mà chối. Dạ, thượng quan, giết chồng thiếp án kia thiếp chịu, còn chuyện Trương Trí Nhân chòng ghẹo mà thiếp khai trước đó là nói xấu cho người, chớ thật không có “. Bao Công liền biểu ký tờ cung, rồi cho kêu mẹ con Vưu lão bà lên. Vưu Thị khóc tỏ các lẽ không sai một lời và thêm rằng: "Bây giờ mẹ con tôi không biết lấy gì làm kế sinh nhai, chỉ còn mong ở sáu mẫu đất của Trần Đại Hộ hứa cho, và có giấy của dâu tôi đây, xin thượng quan minh xét “. Nói rồi móc trong tay áo ra một tờ giấy đưa cho Bao Công. Bao Công xem bút tích của Công Tôn Sách thời cười thầm, rồi ngó Trần Ứng Trực hỏi: "Mi có hứa cho mẹ con Vưu lão bà ruộng đất, sao không cho, vậy bằng lòng hay không?". Ứng Trực chịu bằng lòng. Bao Công liền giao việc ấy cho huyện quan lo liệu, rồi lên án lăng trì Lưu Thị, trảm Trần Ứng Trực, xử giảo Vưu Cẩu Nhi nhưng còn cho án treo.
Sau đó Bao công lấy giấy giao cho Công Tôn Sách viết sớ tấu. Công Tôn Sách viết xong, thấy Bao Hưng cầm lại một tờ tấu văn nói rằng: "Tướng công tôi bảo đem tờ này lại cho ông, dặn gài chung với mấy cái đó, sáng đem dâng cho Thiên tử". Công Tôn Sách tiếp lấy xem, bất giác đổ mồ hôi, bụng phập phồng.
Ngày sau, Bao Công mặc đồ triều phục, tay cầm tấu văn, vào điện lạy vua, miệng tung hô vạn tuế, rồi dâng lên. Vua xem qua lòng đã không vui, lần lần nghĩ lại đó là lời ngay can phải, thật người vì nước vì dân, chớ chẳng phải tư thù tư oán, liền đổi giận làm vui, cho phép Bao Công an vị. Vua nghĩ nỗi tình tệ ở Trần Châu, e moi chuột hư nền, phang chim đổ lá, nên muốn cho kín bớt việc, liền gia phong cho Bao Công chức Long đồ các Đại học sĩ, song vẫn còn trị sự ở phủ Khai Phong như thường và phải tới Trần Châu tra xét việc phát chẩn. Bao Công quỳ tâu: "Hạ thần không đủ quyền bính, e không phục được lòng người, nếu phụng chiếu rồi mà người không tuân lệnh thời hạ thần nguyện chẳng dám". Vua phán: "Trẫm ân tứ cho khanh Ngự trát tam đạo (ba tờ thông trát của vua) thời còn ai lại chẳng dám tuân lệnh”. Bao Công tạ ơn, lĩnh chỉ lui ra khỏi triều.
Lúc Bao Công vào triều, Công Tôn Sách ở tại thư phòng ngồi đứng chẳng an, đương lúc lo lắng bỗng thấy Bao Hưng chạy vào cho hay rằng Bao Công được gia phong Long đồ các Đại học sĩ và phải ra Trần Châu tra xét vụ phát chẩn. Công Tôn Sách nghe nói mới mừng, ngó ra trước phủ thấy Bao Công vừa về tới. Công Tôn Sách ra đón, Bao Công liền nói rằng: "Thánh thượng sẽ ân tứ cho tôi Ngự trát tam đạo, vậy tiên sinh nghĩ giúp tôi coi phải làm sao, cho khỏi phụ thánh ân?". Nói đoạn đi thẳng vào trong. Còn Công Tôn Sách thời trở vào thư phòng trăm ngàn lo nghĩ: "À! À! Có khi ông ta muốn lập mưu đuổi khách, chớ ân tứ ngự trát thời còn phải nghĩ gì nữa, đó thuộc về phần nội các, ta có quyền gì mà nghĩ. Thôi, chắc là không muốn dùng ta nữa, nên kiếm chuyện khỏi khó chớ gì. Vậy ta nên làm thế nào... để tỏ lòng ta và dò ý ông luôn thể “. Nghĩ rồi mài mực vuốt giấy vẽ ba ngọn trát đao để tên là Long, Hổ, Cẩu, biên rõ thước tấc và cách làm. (Lấy ý rằng Ngư trát tam đạo mà vua phán ra đó là thông trát cho bá tính, bây giờ cũng đọc như vậy mà tại trại một chút là Ngự trát tam đao nghĩa là ba ngọn đao ngự trát).
Khi vẽ xong Công Tôn Sách đem bức ấy đưa lên cho Bao Công xem, nhưng trong bụng hồi hộp sợ bị quở ai dè Bao Công xem rồi sắc mặt vui lộ ra mặt khen: "Tiên sinh thật là bực chân tài “. Nói rồi sai Bao hưng đi kêu thợ mộc chiếu theo bức vẽ và phương pháp đó làm thành ba ngọn ngự trát bằng gỗ rồi buổi sáng sẽ dâng lên Thiên tử.
Rạng ngày Bao Công sửa soạn đi chầu, sai người dùng rương vàng đựng ba ngọn đao kiểu đó vào trong, ngồi kiệu vào triều tâu rằng: "Hạ thần là Bao Chửng ngày hôm qua được Bệ hạ ân tứ Ngự trát tam đao, nay hạ thần vâng theo thánh chỉ, nghĩ ra dạng thức thế này, chẳng dám chuyên dùng, xin dâng lên để hầu ngự lãm". Tâu xong, thị thần mở rương vàng ra ngọn trát đao chia ba phẩm Long, Hổ, Cẩu. Bao Công lại tâu: "Như có kẻ nào phạm phép thời xin cứ theo phẩm cấp mà hành “. Vua nghe qua đã hiểu ý Bao Công muốn nhân lời phán đổi làm ra được trát đao để răn đe ở quan ngoài, thời mặt rồng lộ vẻ vui mừng và chuẩn tấu. Bao Công tạ ơn rồi lên kiệu trở về phủ.
Vừa đi qua đường chợ, ông thấy mười vị phụ lão, đồng quỳ trước kiệu tay dâng tờ trình. Bao Công sai ngừng kiệu. Bao Hưng góp tờ trình dâng lên. Bao Hưng xem rồi xé nát quăng xuống đất, truyền cho quan địa phương đuổi họ ra khỏi thành lập tức. Mấy vị phụ lão khóc rằng: "Chúng ta chẳng từ cực nhọc, từ xa xôi lặn lội tới kinh sư, chỉ mong trả được chút hờn, ai dè gặp vị lão gia này cũng sợ quyền thế, thôi oan uổng của chúng ta, biết kêu đâu bây giờ?". Nói rồi lại khóc rống lên nữa. Bọn sai dịch nạt rằng. "Đi cho mau, dẫu khóc cũng vô ích, có ai lại chẳng sợ chết bao giờ?". Các vị phụ lão không biết làm sao, chỉ dắt nhau ríu rít đi ra khỏi thành. Vừa ra khỏi cửa chợt thấy một người cưỡi ngựa chạy tới, đó là Bao Hưng, đón các vị phụ lão dắt vào chỗ vắng nói rằng: "Lão gia không phải không muốn nhận tờ trình của các ông, song sợ nơi đường chợ đông đảo, tai mắt rất nhiều, e hỏng việc, nên lão gia sai đón các ông, mời về phủ hai người, còn bao nhiêu kiếm nơi trú tạm. Vậy bây giờ ông nào chịu đi với tôi?”. Các vị phụ lão mừng rỡ lắm, lựa ra hai người đi với Bao Hưng.
Khi đến phủ Khai Phong, Bao Công mời vào thư phòng hỏi các việc, rồi cho ra ngoài tạm nghỉ. Dặn tả hữu đừng nói việc đó cho ai hay đợi mình sửa soạn đi thăm Trần Châu. Hai vị phụ lão khấu đầu bái tạ đi ra khỏi thành.
Lúc Bao Công được Thiên tử chuẩn cho ba vật ngự hình là Long, Hổ, Cẩu, ba ngọn trát đao thời liền sai Công Tôn Sách coi sóc cho thợ làm. Khi làm xong đưa cho bốn dũng sĩ Vương Triều, Mã hán, Trương Long, Triệu Hổ. Rồi mời cả các quan liêu tới phủ chứng giám. Ai nấy xem thấy cũng rùng mình sởn gáy, khen ngợi vô cùng.
Xong việc ấy, Bao Công liền hạ lệnh đi thẩm tra việc phát chẩn ngoài Trần Châu. Bốn dũng sĩ, Bao Hưng, Lý Tài, Công Tôn Sách đều theo. Điền Trung được đưa theo. Ra thành Bao Công đòi các vị phụ lão tới, củng đi.  Ngày kia Bao Công đi tới Trần Tam Tinh chợt nghe trước kiệu có tiếng kêu oan. Bao Công thấy một người đàn bà đầu đội trạng quỳ dưới đất liền tiếp lấy dâng lên. Bao Công xem xong nói với người đàn bà rằng: "Mi khá trở về, chờ bản quan tới công quán, sẽ tới hầu”. Người đàn bà dạ dạ lui ra, Bao Công đi vào công quán.
Thật là:
Hết sức giúp ngay trừ vạ.
Lo chi nhọc sức cực lòng
0
Hồi Thứ Chín [/align]

Mua đầu heo, nho sinh đeo lấy họa,
Giả dạng khó, dũng sĩ gặp người gian.
 
Người đàn bà đội trạng ấy, là họ Văn, lấy chồng nhà họ Hàng, chồng chết đã lâu, có được một trai tên là Thoại Long nay tuổi vừa mười sáu. Hai mẹ con mướn nhà ở tại Bạch Gia Bao. Văn Thị chuyên nghề may vá kiếm ăn, con thời đọc sách, nhà chia ra làm ba, phòng ngủ, chỗ tiếp khách và thư phòng.
Một buổi tối Hàng Thoại Long đương chong đèn đọc sách, đến nửa canh một, chợt thấy buồng bên kia có dáng người giày đỏ áo xanh đi vào, Hàng Thoại Long lật đật chạy sang bên gọi Văn Thị. Văn Thị giật mình hỏi: "Vì cớ nào con không lo học lại vào làm rộn vậy?”. Thoại Long nói: "Con mới vừa thấy một người đi vào buồng, nên kêu mẹ thức dậy xem phải kẻ trộm không?". Văn Thị nghe nói cũng sợ là ăn trộm vào nhà liền bảo bưng đèn đi rọi. Thoại Long rọi tới dưới giường nằm thấy đất vun cao lên liền la rằng: "Mẹ ôi! Sao đất đùn đống lên thế này?". Văn Thị chạy lại coi thấy đúng, liền hối giở giường lên, rồi banh đất ra, thấy một cái rương đậy kín, Thoại Long chạy lấy dao cạy lên thì trong ấy đựng rất nhiều tiền bạc. Mẹ con lòng rất vui mừng. Thoại Long nói với Văn Thị rằng: "Mẹ, có lẽ trời phật thấy mẹ con ta cơ khổ, nên cho của này đặng con ăn học chớ gì". Văn Thị đáp: "Con nói có lẽ phải, vậy sáng ngày phải đi chợ mua lễ vật về đáp tạ thần minh đã có lòng phù hộ". Nói đoạn ém đất chỗ đó lại và kê giường như cũ, rồi mẹ con yên nghỉ.
Đêm ấy Thoại Long mừng lắm, thức dậy rất sớm, thấy ngoài sân sáng trưng, chạy kêu Văn Thị dậy lấy tiền và hỏi thăm mua những vật gì. Khi Thoại Long ra khỏi nhà, trên trời trăng tròn còn sáng, sao mai chưa mọc, biết là còn khuya lắm, nhưng không ngần ngại gì cứ lang thang đi mãi. Tới trước cửa lò heo họ Trịnh thấy trong nhà có bóng đèn liền gõ cửa. Bỗng dưng đèn đuốc đâu mất hết, trong nhà tối thui, kêu mãi không ai lên tiếng, vội vã quay mình trở lại. Đi được ít bước Thoại Long nghe tiếng mở cửa, ngó lại thời đèn cháy sáng như cũ và nghe thấy Trịnh đồ kêu: "Ai mua đầu heo?". Thoại Long nghe kêu trở lại,  Trịnh đồ thấy mặt mừng rỡ nói quýnh rằng: "Ồ? Tưởng ai đâu té ra là cậu hai, ủa sao cậu nói đi mau đầu heo không đem thúng rổ gì hết vậy?". Thoại Long đáp: "Vì lật đật quá, quên phứt đi, bây giờ làm sao?". Trịnh đồ nói: "Không hại gì tôi sẵn có cái bao bằng vải đây, cho cậu mượn xách về sáng đem trả lại cho tôi cũng đặng”. Nói rồi chạy vào xách bao ra, máu me còn dính, nói với Thoại Long rằng: "Đầu heo tôi đã bỏ trong đó rồi “. Thoại Long lật đật lấy tiền ra trả, rồi xách bao hối hả ra về.
Đi ngang bọn tuần đinh, chúng nó thấy bèn đón lại, hỏi: "Ai xách bao gì đó?". Thoại Long đáp: "Tôi, tôi mua đầu heo". Vừa nói vừa thở hổn hển. Tuần đinh thấy bộ anh ta nghi, lật đật mở bao coi, té ra trong ấy không có đầu heo, lại có đầu một người con gái tóc tai rối bù, máu me bê bết. Thoại Long thấy vậy hồn phi phách tán, chết sững người ra. Bọn tuần đinh liền dắt về Nghiệp huyện. Trời sáng quan huyện ngồi hầu, tuần đinh dẫn Thoại Long vào bẩm cái việc và cái bao làm tang. Quan huyện thấy Thoại Long hình dung mỏng mảnh, mặt mũi hiền từ, rõ là một gã thư sinh, chớ chẳng phải một tay gian ác. Quan huyện hỏi: "Mày tên gì, sao lại giết người như vậy?“. Thoại Long khóc lóc thưa rằng: "Tiểu nhân tên là Hàng Thoại Long, vì qua nhà họ Trịnh mua đầu heo quên đem rổ,  Trịnh đồ bèn cho mượn bao và đã đựng đầu heo vào hồi nào rồi, đưa cho tiểu nhân, tiểu nhân vô ý tưởng thật xách về, gặp tuần đinh đón hỏi, mở ra mới hay là đầu người “. Nói rồi khóc rống lên nghe rất thảm thiết.  Quan huyện sai đòi Trịnh đồ tới, thời nó chối là không có bán đầu heo cho Thoại Long, hỏi tới cái bao vải, thời cũng chối là không phải của nó. Thương hại cho gã thư sinh tuổi nhỏ làm sao tranh cãi cho lại miệng một đứa già hàm! May sao quan huyện lòng lành, thấy Thoại Long nho nhã không nỡ gia hình, nên giam cả hai vào ngục chờ ngày phân xử.
Văn Thị ở nhà trông con mãi không thấy về, đi hỏi thăm mới hay, oan ức vô cùng, thảm sầu lắm nỗi, muốn vạch trời kêu lên, may đâu nghe Bao Công là người chính trực vô tư, đoán việc như thần, vừa ra Trần Châu nên đón đường đội trạng.
Khi Bao Công vào công quán, Huyện doãn tới nghênh tiếp, Bao Công liền hỏi tới án của Hàng Thoại Long. Huyện doãn thưa rằng: "Vẫn còn giam đợi thẩm vấn chớ chưa kết án". Bao Công truyền đem Thoại Long tới hỏi rằng: "Hàng Thoại Long, vì sao mi giết người, cứ thật nói ngay đi?". Thoại Long nhỏ nước mắt ròng ròng khóc mà bẩm rằng: "Vì tiểu nhân đi mua đầu heo quên đem rổ nên Trịnh đồ cho mượn bao ấy”. Bao Công hỏi: "Mi gặp tuần đinh lúc nào?". Thoại Long thưa: "Lúc ấy trời chưa sáng”. Bao Công hỏi: "Trời chưa sáng mi đi mua đầu heo làm gì?". Thoại Long không biết trả lời làm sao, cúi đầu mà khóc mãi.  Bao Công cho dẫn xuống rồi nói với quan huyện cho người tới khám soát nhà của Hàng Thoại Long cho kỹ coi đó có vật chi không. Huyện quan vâng lời.
Bao Công sai dắt Trịnh đồ ra xem thấy người mắt to mũi lớn, mày rậm trán vồ, rõ ràng tướng đứa bất lương, liền hỏi: "Sao mi lại bỏ đầu người ta vào bao mà bán cho Thoại Long? “. Trịnh đồ cứ khai y như lời đã khai với quan huyện. Bao Công giận lắm tấn cho mấy chục hèo mà Trịnh đồ cũng một mực chối dài, không hở môi một tiếng. Bao Công liền sai dẫn xuống.  Kế đó quan huyện lại bẩm rằng: "Ti chức lĩnh mạng xét nhà Hàng Thoại Long được một cái rương mở ra là tiền bạc, lại kiểm soát ở dưới thời có một cái thây đàn ông không đầu”. Bao Công dạy đem Hàng Thoại Long ra, hỏi: "Nhà của mi ở đó là ông bà để lại, hay mẹ con mi cất lên?". Thoại Long đáp: "Không phải của ông bà để lại, mà cũng không phải của mẹ con tôi cất lên, nhà ấy mướn của người ta và ở cũng chưa lâu”.  Bao Công hỏi: "Hồi trước ai ở đó?". Thoại Long nói: "Việc đó tiểu nhân không biết được". Bao Công nghe xong đem cả hai vào giam như cũ, rồi mời Công Tôn Sách ra bàn luận. Cùng nhau suy nghĩ mãi, cũng không hiểu chuyện ấy nguyên do thế nào, Công Tôn Sách xin đi dò xét. Bao Công nói: "Để hoãn lại cho bản quan suy nghĩ đã". Công Tôn Sách liền kiếu ra khách phòng bàn chuyện ấy với bốn vị dũng sĩ. Bàn qua tính lại rất lâu, song cũng không ai tìm được manh mối nào. Công Tôn Sách liền trở lại phòng riêng của mình nằm gác tay ngẫm nghĩ.
Ngoài này Triệu Hổ nói với ba người kia rằng: "Nè ba anh, từ khi chúng ta xuống đây, ăn hao xài tốn, chớ chưa lập được chút công gì, nay nhân việc này, để cho tiểu đệ đi dò hỏi thử coi". Ba người nghe nói cười rằng: "Việc rất bí mật, mà em thời thô lỗ, đâu đủ sức gánh vác". Triệu Hổ nghe nói hổ thẹn lắm lui về phòng nằm buồn bã. Có một đứa dưới trướng khôn lanh thấy vậy thưa nhỏ rằng: "Lão gia muốn đi dò việc đó, phải làm sao cho người ta đừng nhìn được mặt mới được". Triệu Hổ hỏi: "Vậy mi nghĩ phải làm thế nào. " Người tùy tùng đáp : "Phải làm như thế... như thế... ". Triệu Hổ nói: "Nhờ mi giúp cho ta". Anh ta vâng lời lui xuống giây lâu và thưa rằng: "Các vật lo xong rồi, xin mời lão gia cùng đi”. Triệu Hổ nghe theo đi tới một chỗ vắng vẻ, cỏ cây rậm rạp, người tùy tùng vạch dưới cỏ móc lên một cái gói, mở ra lấy thứ nước lọ thoa mày mặt Triệu Hổ, lại cởi hết y phục ra, lấy áo rách quần rách bận vào, đắp vào ống chân ba, bốn miếng thuốc vàng, đội lên một cái nón rách, mang một đôi dép, một cây gậy và một cái bị. Khi Triệu Hổ thay hình đổi dạng xong, người tùy tùng đứng nhắm cười ngất rằng: "Được rồi! Giống hệt một người ăn mày thế thời còn ai nhận được nữa, thôi lão gia cứ đi đi tôi ở đây hầu đợi". Triệu Hổ gật đầu cười múm mím rồi cầm gậy xách bị nhắm đầu làng đi thẳng tới. Và đi bụng vừa nghĩ: "Ta đã giả dạng ăn mày, thời cũng nên chúc vè xin cơm mới đúng điệu chớ”. Nói rồi cất tiếng rằng: "Ông bà cô bác, lấy dạ từ bi, thương tới phận kẻ bệnh hoạn, nghèo hèn, thí cho chút cơm thiu, canh cặn, hỡi ông bà cô bác ơi?". Miệng kêu cơm láp dáp, chân rảo đi hoài, hết đầu này tới ngả nọ, mặt trời đã thấp xuống, chim bay về tổ, chuông chùa đã giục.  May lúc ấy là sau ngày rằm nên hễ mặt trời lặn thời trăng lên. Triệu Hổ tới một chỗ kia thấy sau tường nhà có người bò vào, trong lòng đã nghi, nói thầm rằng: "Trời sáng trăng thế này sao lại có kẻ trộm?".  Liền bỏ cả gậy, bị và dép ở ngoài rồi lại gần tường nhảy tót lên đứng dòm vô trong thấy có một đống củi chất gần đó. Triệu Hổ bò lại nhè nhẹ, thấy có một người đương núp nơi ấy, liền lại đánh cho một thoi, tên ấy nhào lăn, há miệng vừa muốn la. Triệu Hổ vội vàng đè xuống và dọa rằng: "Mày đừng la, nếu la tao giết chết". Tên ấy liền năn nỉ rằng: "Tiểu nhân không la, “xin lão gia tha cho khỏi chết". Triệu Hổ hỏi: "Mày tên họ là chi, đi trộm những gì mà bỏ bao gói đó?".  Tên ấy đáp: "Tiểu nhân tên là Diếp Thiên Nhi, nhà có mẹ già tám mươi tuổi, vì sinh kế khó khăn mới ra tay gian giảo thế này". Triệu Hổ thấy dưới đất có một đoạn lụa trắng và một cái thây đàn bà không có đầu, bèn nói với Diếp Thiên Nhi rằng: "Mày là kẻ sát nhân sao còn kiếm lời nói dối tao. Tao nói cho mà biết, tao đây là Triệu Hổ người của Bao lão gia phủ Khai Phong đây, cũng vì chuyện này mà tao phải nhọc lòng dò kiếm". Diếp Thiên Nhi nghe qua kinh hãi, năn nỉ rằng: "Triệu lão gia ôi! Tiểu nhân quả có ăn trộm chớ thật không giết người”. Triệu Hổ nói: "Không biết có giết hay không, ta cũng không tha “. Nói rồi lấy đoạn lụa trói tay, và nhét vào miệng cho đừng la được, rồi lôi bỏ dẹp bên góc. Triệu Hổ nhảy ra ngoài, không thèm nhớ tới gậy bị giày dép gì nữa, đâm đầu chạy riết về công quán. Lúc đó đêm mới quá canh một, về tới chỗ lúc ban ngày giả trang ra đi, người lính vẫn còn đợi đó. Thấy Triệu Hổ về nó liền hỏi: "Chuyện ấy lão gia đã dò được chưa?". Triệu Hổ nói: "May lắm, sắp được thành công”. Nói đoạn đi thẳng vào công quán gặp Bao Hưng đi ra, liền nắm tay kéo lại. Bao Hưng không nhận được là ai, thấy áo quần tèm lem, hình thù kỳ cục thời sợ hãi lắm, chừng nghe nói: "Chịu khó vào bẩm với Đại nhân nói có Triệu Hổ vào yết kiến". Bao Hưng nghe nói mới hoàn hồn nói rằng: "Trời ôi! Té ra Tứ gia đây sao? Tưởng là ai chực giết tôi đây mà?". Dứt lời cùng nhau vào ra mắt Bao Công.  Bao Công đương ở trong thơ phòng, thấy Triệu Hổ thay hình đổi dạng như vậy thời cười ngất một hồi mới hỏi: "Triệu dũng sĩ vào đây có việc gì?". Triệu Hổ bèn đem chuyện đi dò gặp kẻ trộm thế nào, thấy thây người con gái không đầu thể nào thuật lại một lượt. Bao Công mừng rỡ khôn xiết.
Đó thật là:
Không chịu ăn không ngồi rồi.
Mới dò ra mối hùng gian.
0
Hồi Thứ Mười [/align]

Chiếu lời đứa trộm, Bao Công đoán án như thần.
Cảnh thảm bà già, hiệp si cho tiền chẳng tiếc.
 
Bao Công nghe Triệu Hổ bắt được Diếp Thiên Nhi liền phái bốn tên công sai đi tới đó, hai tên giữ cái thây, còn hai tên áp điệu Diếp Thiên Nhi.  Triệu Hổ thời vào trong cởi bỏ lốt ăn mày.
Công Sai đi chẳng bao lâu dắt Diếp Thiên Nhi về tới Bao Công liền thăng đường hỏi: "Mi tên gì? Cớ sao lại giết người?". Diếp Thiên Nhi, vì nhà nghèo mới ăn trộm lần đầu rủi bị người bắt được, xin lão gia dung thứ”. Bao Công hỏi: "Đã ăn trộm của, sao còn giết người?". Thiên Nhi đáp: "Tiểu nhân quả không có giết người”. Bao Công vỗ án hét rằng: "Thằng này láo thật, tả hữu đâu, đem ra đánh hai mươi hèo coi".  Thiên Nhi bị đòn đau quá, nói láp dáp trong miệng rằng: "Thật là thời vận xui quá, lần trước đã vậy, lần này lại vậy". Bao Công nghe được, kêu lên hỏi rằng: “Lần trước thế nào, nói lại nghe?". Diếp Thiên Nhi biết mình lỡ lời bèn đáp: "Nhân vì ở Bạch Gia Bao có nhà Bạch Hùng tới ngày sinh nhật, tiểu nhân thừa cơ vào lấy trộm... ". Bao Công nghe nói hỏi: "Sao khi nãy mi nói lần này là ăn trộm lần đầu, vậy thời lần này mi ăn trộm là lần thứ nhì sao?". Thiên Nhi đáp: "Dạ phải". Rồi nói tiếp: "Khi vào được trong nhà rồi, mò tới phòng kia là buồng của người thiếp là Ngọc Nhụy, tiểu nhân núp lại, một lát lâu Ngọc Nhụy mở cửa cho một người trai vào, người đó là chủ quán của Bạch Hùng, tên là Bạch An, hai bên ôm nhau vào trướng...  Chờ cho ngủ mê, tiểu nhân lén lén mở tủ, rinh được một hộp khá nặng, đem ra leo tường về, khi mở khóa ra coi, không có bạc tiền gì, chỉ có một cái đầu trơ trọi, lần thứ nhất đã vậy, lần này lại được cái thây!". Bao Công liền hỏi: "Cái đầu trong hộp ấy là đàn ông hay đàn bà?". Thiên Nhi đáp" Thật là đầu đàn ông”. Bao Công hỏi: "Rồi mi đem đầu ấy bỏ ở đâu?". Thiên Nhi đáp: "Nhân ở trong làng có ông già Phụng, lúc trước tiểu nhân ăn trộm dưa bị ông ấy bắt, nên oán lắm, mới đem đầu ấy quăng vào nhà trả thù”. Bao Công nghe xong truyền sai dịch đi đòi ông già Phụng và tên chủ quán Bạch An rồi dạy giam Thiên Nhi vào ngục.
Qua ngày sau, một trong hai tên lính lệ ở giữ thây, chạy về bẩm rằng: "Chúng tôi giữ thây ấy và đã dò rõ rằng chỗ đó là nhà của Trịnh đồ nên về bẩm lại”. Bao Công nghe bẩm đã rõ được ít nhiều, lập tức thăng đường, đem Trịnh đồ ra hỏi. "Trịnh đồ, mi đã nói rằng không có giết người, vậy thây đàn bà đâu. sau nhà mi đó?". Trịnh đồ mất vía, nhắm không chối được bèn khai rằng: "Nguyên đêm ấy lúc canh năm, tôi vừa thọc huyết heo, chợt có tiếng kêu cửa, liền mở cửa ra thấy một người con gái, tôi hỏi vì sao mà thân gái lại đường đột canh khuya như thế. Nàng ấy xưng là Cẩm Nương, con nhà tử tế rủi bị mẹ đầu bắt bán cho lầu xanh, không đành chôn ngọc xuống bùn, nên kiếm phương lánh nạn. Tôi thấy nàng ấy sắc đẹp lại đeo nhiều đồ, lòng thèm khát ầm ầm nổi lên, ép nàng sự liễu hoa, nàng không chịu nên la lên, tôi sẵn lấy dao hăm dọa. Ai dè giằng co với nhau, dao phạm đứt tiện cổ nàng, tôi lật đật cởi cả y phục, đem thây ủ sau hè trở vào lột trâm, thoa, trang sức. Đương lúc ấy xảy ra tiếng kêu cửa mua đầu heo, tôi liền tắt đèn, nghĩ ra một kế, lấy bao vải túm đầu ấy lại giả là đầu heo, rồi đốt đèn mở cửa, thấy người đi mua đó là Hàng Thoại Long quên đem rổ, mưu độc gặp may, liền trao cả bao cho cậu ta, cậu ta xách đi không coi tới”. Trịnh đồ khai xong đứng tờ cung rồi đi xuống. Bao Công liền kêu lão già Phụng lên hỏi: "Vì cớ nào chôn lén đầu người ta?". Lão già Phụng chẳng dám giấu, khai rằng: "Đêm nọ nghe ngoài cửa có tiếng động, tôi bèn ra xem thời thấy đầu người tôi sợ hoảng lên, mới đi cậy anh Lưu Tam chôn giùm, anh ta đòi ăn một trăm lượng, túng thế phải năn nỉ cho năm chục lượng anh ta mới chịu chôn. Thật là vô cớ mà hao tiền tốn của!".
Bao Công nghe xong cho lui ra, rồi sai quan huyện cho sai dịch đi bắt Lưu Tam và bảo chỉ chỗ đào cái đầu lên khám nghiệm. Ngay sau đó Bạch An bị giải tới Bao Công thấy người còn trẻ và ăn mặc cực đẹp,  liền hỏi: "Mi có phải là chủ quán nhà họ Bạch tên Bạch An đó chăng?". Bạch An đáp phải. Bao Công vỗ án hét rằng: "Sao mi lại thông gian với thiếp của chủ mi?". Bạch An hoảng hốt nói: "Việc đó thật tôi không có”. Bao Công truyền dắt Thiên Nhi ra đối chất.  Thiên Nhi ngó Bạch An mà rằng: "Chú mày khéo chối bữa đó tao rình thấy chú mày ôm Ngọc Nhụy vào trướng mà. Rồi chúng bây ngủ mê, tao mở tủ lấy một cái hộp, tưởng đã phát tài, ai dè chúng bây giết người, để đầu trong ấy, việc đó còn chối cãi làm chi?". Bạch An nghe qua biến sắc, lại bị Bao Công giục giã bảo khai, nên liền khai rằng: "Cái đầu ấy là của Lý Khắc Minh, lúc chủ tôi nghèo, có vay của y năm trăm lượng bạc. Lúc tới đòi, y lại thuật chuyện rằng, khi đi dọc đường có gặp một tên thầy chùa điên tên là Đào Nhiên Công đưa cho y một cái gói tên là Du tiên chẩm muốn dâng cho Tinh chủ. Hỏi chủ tôi có biết Tinh chủ hay không? Chủ tôi nói không biết và xin coi gói ấy, thấy gói ấy quý đẹp động lòng muốn, và cũng không muốn trả năm trăm lượng bạc, nên phục rượu cho Khắc Minh uống rồi giết đi. Sau đó sai tôi đem chôn dưới cái nhà ba căn kia. Tôi nghĩ chuyện tư thông với Ngọc Nhụy nếu ông ta hay chắc là khó lắm, nên lén cắt việc thông gian vỡ lở ra thì lấy đầu ấy làm cớ ép bức ông. Ai dè rủi bị con quỷ trộm này nó lấy, chứ thật chúng tôi không muốn giết ai cả". Bao Công hỏi: "Mi cắt đầu rồi, còn cái thây chôn ở đâu?". Bạch An nói: "Chôn trong nhà ba căn kia, sau khi chôn ít lâu thời mẹ con Hàng Thoại Long mướn ở". Bao công nghe xong truyền Bạch An ký tờ cung, rồi sai đi bắt Bạch Hùng.  Lúc ấy quan huyện về bẩm rằng: "Ti chức bắt được Lưu Tam bảo y chỉ chỗ moi cái đầu lại gặp được một cái thây khác nữa, không dám tự tiện bỏ qua, xin về bẩm lại. Còn cái đầu ấy nghiệm ra quả bị dao chặt đứt và có ướp thủy ngân nên còn tươi". Nói rồi lui ra.
Bao Công dạy đem Lưu Tam vào hỏi: "Vậy cái thây người ta đào gặp đó tên gì?". Lưu Tam thưa: "Đó là thây người em tôi tên là Lưu Tứ. Lúc tôi xách cái đầu đi chôn mướn được ăn tiền của lão già Phụng, rủi nó thấy được chạy ra dọa tôi, nói sẽ bẩm quan làm tội, tôi sợ, hứa cho nó mười lạng bạc được êm chuyện, nó không bằng lòng đòi ăn bốn mươi lăm lượng, tôi giận quá giả vờ chịu, lừa nó đi chôn phụ với tôi, khi nó lom khom đào lỗ, lừa khi bất ý tôi đập chết rồi chôn một bên cái đầu kia. Ai dè vận mạt nên mới chỉ lầm, thôi mình làm thời mình chịu”. Bao Công nghe xong bắt ký tờ cung rồi đuổi xuống. Bạch Hùng tới, Bao Công hỏi y không chối cãi, khai y như Bạch An vừa khai trước đó và dâng gói Du tiên lên.
Bao Công xét rõ đầu đuôi liền nghị án: Trịnh đồ mê sắc tham của giết người phải thế mạng cho Cẩm Nương, Bạch Hùng thế mạng cho Khắc Minh, Lưu Tam thế mạng cho Lưu Tứ, đều đem ra xử trảm,  Bạch An xử giảo án treo, Diếp Thiên Nhi bắt đi sung quân, lão già Phụng chôn lén đầu người phải tội đồ. Ngọc Nhụy bán đi cho người phương xa. Còn Hàng Thoại Long không lo ăn học, tham bậy của tiền, tội đã đáng, song nghĩ tuổi nhỏ còn dại nên đuổi về.  Văn Thị mẹ góa con côi, biết lo bổn phận lấy điều nghĩa dạy con, được hưởng hai chục lượng bạc.
Bao Công xét rõ án ấy, tiếng khen vang rền cả nước. Ở phủ Thường Châu, huyện Võ Tấn, làng Ngộ Truật, có vị hiệp khách là Triển Chiêu. Từ lúc chia tay Bao Công tại Thổ Long Cang, Triển Chiêu đi ngao du các nơi danh sơn thắng cảnh. Sau khi thỏa chí, mới trở về phụng dưỡng mẹ già. Ít lâu mẹ về tiên cảnh, liền giao cả gia nghiệp cho tớ già là Triển Trung rồi lại đi du ngoạn. Một hôm gặp một tốp người nào già nào trẻ, nào đàn ông đàn bà, bồng bế mang đội đi rất đông, Triển Chiêu liền đón lại hỏi: "Các ông ở đâu đến đây?". Bọn họ đáp: "Công tử ôi! Chúng tôi là dân lành ở Trần Châu, vì con Bàng Thái sư là An Lạc hầu Bàng Dực phụng chỉ đi phát chẩn, y ỷ thế cha nên lúc tới Trần Châu đã chẳng phát chẩn, lại còn bắt tráng đinh xây lập một tòa lầu gác và hoa viên, rồi bắt đàn bà con gái của dân gian, hễ người đẹp thời bắt là hầu thiếp, kẻ xấu thời bắt làm tôi tớ. Vì vậy chúng tôi sợ sắp lụy tới mình nên lo trốn trước “. Nói rồi rùng rùng kéo đi. Triển Chiêu nghe xong muốn tới Trần Châu, xem An Lạc hầu ra sao, nghĩ vậy nên cứ nhắm đại lộ đi hoài. Tới một chỗ kia, thấy có một người đàn bà đương ngồi bên gò mả khóc rất thảm, Triển Chiêu liền đứng lại hỏi. Người đàn bà đáp rằng: "Tôi họ Dương, vợ của Điền Trung, vì vợ chồng chủ tôi là Điền Khởi Nguyên bị hại... ". Triển Chiêu hỏi: "Bị ai hại?". Dương Thị nói lại y như lời Điền Trung đã nói tại chùa Thiết Tiên Quan và nói thêm: "Vì chồng tôi chôn lão bà tại đây, rồi đi lên kinh tố cáo, song đến nay chưa thấy tin tức gì. Còn tiểu chủ tôi thời bị bọn An Lạc hầu tống ngục, người nhà không được đem cơm". Triển Chiêu nghe xong, móc túi lấy ra mười lượng bạc và nói: "Chuyện như vậy, còn có trời chứng chiếu, bà chớ khóc làm chi, xin tạm nhận mười lượng bạc này tiêu tạm". Nói rồi trao bạc cho Dương Thị rồi quay mình nhắm hoa viên đi tới.
Thật là:
Đi giữa đường gặp việc bất bình.
Lòng hiệp sĩ không đành bỏ lảng.
0
Hồi Thứ Mười Một [/align]

Rượu Tàng Xuân, nghĩa sĩ đổi bình,
Lầu Nhuyễn Hồng, gian hầu sắp kế.
 
Khi Triển Chiêu đi tới chỗ hoa viên của Bàng Dực liền mướn một căn phòng ở gần đó. Đến canh hai bèn thay hình đổi dạng mở cửa ra đi, Triển Chiêu đến bên tường hoa viên, móc trong đáy bát bảo ra một sợi dây, quăng vòng trên đầu tường, đeo theo dây ấy bò lên tới trên rồi móc trong túi một cục đá liệng thử vào trong coi chỗ đó có ao rãnh gì không.  Biết chắc là đất bằng, anh ta liền níu dây tuột xuống, rón rén đi vào. Trong nhà kia có bóng đèn leo lét dòm theo kẽ vách thấy có bóng người, một ông, một bà đương ngồi uống rượu và nói chuyện. Triển Chiêu dỏng tai nghe người đàn ông nói rằng: "Rượu này tên là Tàng Xuân, nếu mình uống thời lửa dục bừng lên không thể nào ngăn nổi. Bởi Hầu gia (Bàng Dực) mới bắt được nàng Kim Ngọc Tiên, nàng ấy chẳng chịu chung chăn gối, Hầu gia hết phép dỗ dành không ích chi, nên bảo tôi làm rượu ấy giá đến ba trăm lượng bạc". Người đàn bà hỏi: "Sao lại đắt vậy?". Người đàn ông đáp: "Vì làm rượu ấy phải tốn đến mười lượng hoa Cao cao, nhưng mình được phát tài". Người đàn bà nói: "Phát tài mà tổn đức thời sao?" Người đàn ông nói: "Ta vì nghèo, cực chẳng đã phải làm như vậy thôi!".
Đương lúc nói, chợt trước cửa có tiếng kêu: "Tang tiên sinh". Triển Chiêu ngó ra xem thấy một người xách đèn đi tới, liền núp mình dưới bức rèm. Người đàn ông trong nhà lật đật ra mở cửa, vừa đi vừa dặn người đàn bà ẩn mặt trong buồng, Triển Chiêu nhân lúc ấy lẻn vào nhà xách bình ngọc đựng rượu Tàng Xuân trút qua cái bầu đỏ của chúng nó uống khi nãy, rồi chiết rượu khác vào để y lại đó, đoạn leo theo cột lên ngồi trên giường nhà chờ xem.
Người kêu cửa đó là người nhà của Bàng Dực tên là Bàng Phúc, còn người đàn ông trong nhà đó tên Tang Năng. Năng vốn là một học trò nghèo thi trượt nay nhờ chút mồm mép, ăn nhờ ở nhà An Lạc hầu. Đương uống rượu cùng vợ, nghe Bàng Phúc kêu liền ra, Bàng Phúc nói: "Hầu gia sai tôi qua bảo tiên sinh bưng rượu Tàng Xuân cho ngài”. Tang Năng lật đật vào bưng bình ngọc theo Bàng Phúc. Triển Chiêu thấy hai người đi rồi liền ôm cột tuột xuống, đi nhẹ nhẹ ra khỏi nhà. Còn người đàn bà khi nãy bây giờ mới ló ra ngồi lại bàn rót rượu uống nữa, uống ít chén, lòng xuân khoan khoái, bụng mơ tưởng những chuyện chi chi... thời nghe tiếng Tang Năng kêu cửa vào, Tang Năng thấy vợ mặt đỏ phừng phừng thời lấy làm lạ lắm, mới trút bầu coi rượu trong ấy, bất giác chắt lưỡi than rằng: "Thôi rồi! Bậy quá!" Lật đật đi múc nước lạnh dã thuốc cho vợ rồi hỏi rằng: "Mình mới rồi uống rượu trong bầu này phải không?" Người đàn bà đáp: "Phải, lúc chàng ra đi thiếp ngồi đây rót nhâm nhi ít chén". Tang Năng nói: "Thôi rồi! Mình uống nhầm rượu Tàng Xuân rồi, lạ quá, sao nó ở bên bình ngọc lại bò qua được vào bầu này?". Người đàn bà nghe rõ liền khóc rằng: "Chàng lập mưu hại người chưa được trở lại hại mình trước đó, thấy chưa?" Tang Năng nói: "Thôi! Chuyện lỡ rồi, không nói chi nữa, bây giờ phải lo làm sao có đủ ba trăm lượng bạc, sáng đem nói với Hầu gia thì xong”.
Triển Chiêu ra khỏi nhà Tang Năng đi lần tới Nguyễn Hồng Đường. Nghe Bàng Dực kêu đầy tớ gái bưng đèn và bình ngọc rượu Tàng Xuân đi với mình lên lầu Lê Phương, liền rót đi trước lên núp vào bức rèm, nghiêng tai nghe ở trong bọn nô tỳ đương khuyên Kim Ngọc Tiên rằng: "Chúng tôi hồi mới bị bắt cũng không chịu như chị vậy. Sau khi khổ quá phải ráng, nhờ vậy nay mới được ăn ngon mặc tốt". Ngọc Tiên nghe nói cất tiếng khóc ngay. Bàng Dực dưới lầu đi lên, mặt hớn hở, lại gần dỗ dành: "Nàng không chịu chăn gối với ta, thôi ta không ép, vậy có ly rượu này xin nàng uống rồi ta đưa về”. Ngọc Tiên không chịu uống hất ly rượu xuống đất. Bàng Dực cả giận sửa soạn sai bọn nô tỳ xuống tay vầy hoa đập liễu ngay lúc ấy có đầy tớ gái vào báo có Thái thú Trương Hoàn tới xin ra mắt có chuyện cần kíp, hiện còn đợi dưới Nguyễn Hồng Đường. Bàng Dực nghe nói có Thái thú nửa đêm tới, lòng nghĩ chắc có chuyện hệ trọng. Hắn liền bảo bọn nô tỳ rằng: "Chúng bay nên dỗ dành mỹ nhân, một lát tao trở lại quyết không tha". Nói rồi đi xuống lầu tới Nguyễn Hồng Đường. Thái thú ra mắt Bàng Dực. Bàng Dực hỏi: "Có chuyện chi mà Thái thú tới đây lúc ban đêm vậy?". Trương Thái thú đáp: "Ti phù mới tiếp được thông văn rằng Hoàng thượng phái Long đồ các Đại học sĩ Bao Công ra đây xét việc phát chẩn, trong năm ngày nữa sẽ tới đây, vậy ti chức mau bẩm cho Hầu gia hay được lo phòng bị trước “. Bàng Dực nói: "Bao Hắc Tử là học trò cha ta, chắc không dám vạch vẽ chuyện ta”. Trương Thái thú nói: "Hầu gia đừng tưởng vậy. Bao Công là người ngay thẳng vô tư, lại Hoàng thượng có ban cho người ba ngọn Ngự trát. Việc hầu gia làm thế nào Bao Công cũng biết “. Bàng Dực nghe nói liền đáp: "Ôi! Sự đó khỏi lo, bộ hạ ta có một tay dũng sĩ tên Hạng Phúc, sức đạp nghiêng non, tát biển, sai nó ra đón đường Bao Công thời còn lo gì “. Trương Thái thú nói: "Vậy được".  Bàng Dực lập tức sai Bàng Phúc đi kêu Hạng Phúc.
Triển Chiêu ở ngoài dòm vào kẽ vách thấy Hạng Phúc hình dáng khôi ngôi, phẩm mạo hùng tráng, bước vào. Bàng Dực hỏi: "Dũng sĩ dám đi việc này không?". Hạng Phúc đáp: "Đã chịu ơn hầu gia quá nặng, dẫu đạp gai lội lửa cũng không dám từ”. Bàng Dục cả mừng bèn nhờ Trương Thái thú rằng: "Xin Trương Thái thú lo xong việc ấy thì tôi sẽ đáp ơn trọng thể". Trương Thái thú cả mừng và nhận lời, liền cáo từ mà lui về phủ, Hạng Phúc đi theo. Ra khỏi cửa, đi tí bước Hạng Phúc dừng chân lại nói: "Ủa, cái mũ của tôi rơi đâu mất rồi?". Nói rồi trở lại lượm đội lên, đi ít bước nữa lại nói: "Quái lạ! Sao cứ rơi hoài vậy?". Trương Thái thú cười rằng: "Tại ông cao quá, đi đụng nhánh cây, nên rơi hoài chứ gì". Ra khỏi cửa hoa viên, cả hai cùng lên kiệu về nhà.
Mũ của Hạng Phúc sao rơi mãi vậy? Đó là Triển Chiêu muốn thử coi học nghiệp của y thế nào. Ban đầu núp bên đường, chờ đi ngang qua lấy mũ liệng đi, nhưng y không để ý gì tới, sau Triển Chiêu lại núp ở bờ hồ Thái Thạch lấy một lần nữa, mà Hạng Phúc cũng không xem xét gì, biết là người lỗ mãng không đáng sợ.
Thật là:
Bàng Dực kê đầu cụng đá,
Triển Chiêu lột mũ thử người.
0
Hồi Thứ Mười Hai [/align]

Trấn An Bình, Ngọc Đường làm nghĩa,
Xóm Miêu Gia, Song Hiệp chia vàng.
 
Triển Chiêu ra khỏi hoa viên trở về chỗ ngụ, trống đã điểm canh năm. Ngày hôm sau từ biệt chủ nhà trọ đi thẳng lại nhà quan Thái thú dò thám. Thấy trước cửa nhà có buộc một con ngựa, yên đã sẵn, một đứa nhỏ ngồi dưới đất giữ. Biết là hạng Phúc chưa đi, Triển Chiêu vào quán uống rượu cầm chừng. Một chặp thấy Hạng Phúc đi ra, nhảy lên ngựa vụt roi cho chạy. Triển Chiêu liền trả tiền rượu, xuống lầu đi theo. Đến trấn An Bình, thấy bên đường mé tây có một nhà hàng rất lớn, biển đề là Phan Gia lầu, Hạng Phúc vào đó, Triển Chiêu cũng vào theo, thấy y ngồi bên nam, thời kéo ghế ngồi bên bắc. Triển Chiêu uống ít chén, thấy mé đông có người ngồi ăn mặc sang trọng, ra dáng giàu có lắm. Lại ở ngoài có một vị võ sinh đi vào, hình dung tuấn tú, bụng Triển Chiêu đã luyến mộ lắm. Hạng Phúc vừa thấy vị võ sinh ấy vội vã chạy lại nắm tay nói: "Bạch huynh, sao lâu gặp nhau lắm vậy?". Võ sinh ấy đáp: "Hạng huynh, xa cách nhau mấy năm, nay gặp được thật may quá". Nói rồi cùng ngồi vào một bàn, Triển Chiêu dỏng tai nghe, Hạng Phúc nói: "Chúng ta cách nhau đã ba năm, tôi nhớ lệnh huynh lắm, muốn tới tôn phủ thăm, song bị cái nghèo trói cẳng, vậy lệnh huynh năm nay vẫn mạnh khỏe chứ?". Võ sinh ấy đáp: "Anh ấy đã khuất lâu rồi". Hạng Phúc nghe nói ra chiều buồn bã, rồi bắt qua chuyện khác.
Nguyên vị võ sinh ấy là nghĩa sĩ tên Bạch Ngọc Đường, hiệu là Cẩm mao thử. Buổi xưa Hạng Phúc đi mãi võ, lỡ tay đánh chết người, nhờ anh Ngọc Đường là Bạch Kim Đường cứu, cho tiền, và khuyên nên tìm đường lập thân. Ai dè Hạng Phúc gặp An Lạc hầu đi Trần Châu, kết liên với Bàng Phúc, cậy tiến mình cho Bàng Dực, gặp lúc Bàng Dực đương cầu dũng sĩ để giúp sức hà hiếp dân đen, nên được dung nạp. Đương lúc hai người nói chuyện, thấy một ông già áo quần rách rưới dưới lầu đi lên, lại quì một bên người nhà giàu ngồi bàn hướng đông, năn nỉ những gì không biết. Người nhà giàu không chịu. Bạch Ngọc Đường thấy vậy bước lại hỏi: "Ông có chuyện chi, nói cho tôi biết, lại cầu cạnh người khác?". Ông già đáp: "Công tử ơi? Vì tôi có thiếu bạc của Viên ngoại đây, không có mà trả, nên Viên ngoại bảo phải đem con gái tôi mà gán nợ, tôi năn nỉ không được, xin công tử giúp cho".
Bạch Ngọc Đường nghe nói mới hỏi người nhà giàu kia rằng: "Ông này thiếu tiền chú bao nhiêu?". Người nhà giàu đáp: "Thiếu tôi năm lượng vốn, đã ba năm không trả lời, cộng cả vốn lời là ba mươi lăm lượng”.  Ngọc Đường hỏi: "Có giấy tờ chi không?". Người nhà giàu nói có, rồi móc trong túi đưa ra cho Ngọc Đường coi Ngọc Đường liền móc bạc ra trả thay, người nhà giàu được bạc cả mừng, lấy bỏ túi rồi xuống lầu đi thẳng. Bạch Ngọc Đường liền đưa giấy nợ cho ông già và dặn rằng: "Từ rày về sau có ai cho vay nặng lãi như vậy thời đừng vay nữa". Ông già dạ dạ vâng lời và cám ơn liền miệng rồi từ giã đi xuống, đi ngang chỗ Triển Chiêu ngồi, Triển Chiêu liền mời rằng: "Xin mời ông ngồi dùng với tôi một chén rượu". Ông già nói: "Tôi với ngài chưa từng quen, nào dám làm bận lòng ngài". Triển Chiêu nói: "Có ngại chi chuyện đó". Ông già từ chối mãi không được, phải ngồi uống ít chén. Triển Chiêu nhân hỏi tên tuổi và chỗ ở người nhà giàu khi nãy. Ông già nói: "Nó tên là Miêu Tú ở Miêu Gia tập, vì con y là miêu Hằng Nghĩa làm kinh thừa trong nha quan Thái thú, nên y ỷ thế ngang dọc khinh rẻ hàng xóm, cho vay cắt cổ lắm, tôi không dè mới ra thế này “. Nói đoạn cáo từ ra đi. Triển Chiêu lại đứng nghe câu chuyện của Hạng Phúc và Bạch Ngọc Đường. Bạch Ngọc Đường hỏi Hạng Phúc rằng: "Bây giờ anh dễ thở không?". Hạng Phúc nói: "Lúc trước nhờ lệnh huynh cứu khỏi, gặp được An Lạc hầu thâu nạp, nay vâng lệnh người ra trấn Thiên Xương có việc công”. Bạch Ngọc Đường hỏi: "An Lạc hầu nào?". Hạng Phúc nói: "Ở đây có mấy An Lạc hầu? Chỉ có một mình con Bàng Thái sư mà thôi”. Nói rồi hỉnh mũi coi bộ tự đắc lắm. Bạch Ngọc Đường tỏ ý không bằng lòng nói rằng: "Sao anh lại gửi thân ở đó?". Dứt lời đứng dậy đi xuống lầu. Triển Chiêu thấy vậy khen thầm trong bụng rằng: "Chim khôn phải lựa cây lành, thế mới đáng tay hiệp sĩ chớ". Bây giờ Triển Chiêu tính phải tới nhà Miêu Tú, nên vội vã tính tiền trả rồi ra đi. Trống điểm canh một, Triển Chiêu thay hình đổi dạng đi lại xóm Miêu Gia, tìm nhà Miêu Tú. Khi tới nơi thấy trong nhà khách đèn thắp sáng trưng, Triển Chiêu lại gần dòm qua theo kẹt cửa, thấy Miêu Tú và con là Miêu Hằng Nghĩa ngồi nói chuyện. Miêu Tú nói với con rằng: "Ngày nay tại xóm Phan Gia, tao đòi được ba mươi lăm lượng bạc trừ vốn năm lượng, tao còn lời ba chục lượng, con nghĩ có sướng không?". Hằng Nghĩa lần lưng lôi ra sáu gói bạc, rồi nói với cha rằng: "Cha được có ba chục, còn tôi lời tới ba trăm mới sướng chứ!". Miêu Tú hỏi "Bạc đâu được nhiều vậy?". Hằng Nghĩa đáp: "Vì hôm quan Thái thú sai Hạng Phúc đi rồi, sợ việc không nên, Hầu gia mới tính mưu khác, sẽ thay đổi hình dạng lên theo đường rừng Đồng cao đi về kinh. Chờ cho Bao Công xét việc phát chẩn rồi thế nào sẽ lo liệu, đã vậy lại còn gom góp đồ tế nhuyễn và đem nàng Kim Ngọc Tiên về theo. Song cả đoàn lại đi đường khác, việc đưa đón ấy lại giao phần con, có cho đủ tiền. Thế nhưng con còn dối quan Thái thú rằng Hầu gia bảo phải cấp cho ba trăm lượng bạc. Con tính về tới kinh sẽ xin thêm Hầu gia ít nhiều nữa. Cha nghĩ coi có hay không? Việc của Hầu gia làm đều ám muội cả đành phải cho tiền, cha nghĩ mình như thế sướng không?". Triển Chiêu đương rình chợt có bóng người vụt thoáng qua, trông giống như gã võ sinh ở Phan Gia Lầu lúc ban ngày, chợt cười thầm rằng: "Ban ngày thế người trả nợ, tối đi vạch vách lấy tiền". Cười rồi dòm thấy xa xa có bóng đèn, sợ người đi tới, Triển Chiêu bèn trèo lên mái nhà ngồi rình, một chặp thấy con hầu hơ hải chạy ra nói với cha con Miêu Tú rằng: "Nguy lắm! Khổ lắm! An nhân đi đâu mất, kiếm không được rồi!". Cha con Miêu Tú vội vã chạy vào. Ngoài này Triển Chiêu nhân vắng người tuột xuống, lẻn vào trong nhà, lại gần sáu gói bạc, bụng nghĩ rằng: "Ta nên lấy một nửa mà thôi, còn một nửa chia cho gã võ sinh kia". Nghĩ đoạn lượm ba gói bỏ vào túi, rồi lách mình chui ra nhắm Thiên Xương trấn đi tới.
Nguyên bóng người mà Triển Chiêu thấy đó là Bạch Ngọc Đường. Ngọc Đường thấy người đứng rình bên cửa, đến khi người ấy thấy bóng đèn lại leo lên mái nhà, thời biết là đồng nghiệp với mình, nên đi vòng ra mé sau. Đèn ấy của con hầu bưng cho vợ Miêu Tú đi tiêu, khi vợ Miêu Tú chui vào cầu tiêu, con hầu bưng đèn vào nhà. Nhân dịp đó Bạch Ngọc Đường xô cửa giơ đao bảo đừng la, vợ Miêu Tú thất kinh chịu phép. Ngọc Đường móc khăn bịt họng rồi kéo ra xó vựa lúa. Con hầu bưng đèn trở ra thấy mất phu nhân, hoảng hốt kêu ầm lên, ra cho cha con Miêu Tú hay. Miêu Tú và Hằng Nghĩa chạy vào bên trong tìm kiếm. Bạch Ngọc Đường trở ra nhà khách thấy bạc còn có ba gói, đoán chắc bợm ngồi mái nhà khi nãy đã lấy bớt rồi, song lòng cũng tốt nên nhường lại cho mình, bỗng thấy vui cầm ba gói rồi đi ra.
Cha con Hằng Nghĩa sai gia đinh lục soát các nơi kiếm được phu nhân rồi, mới nhớ lại ba trăm lượng bạc còn để trên nhà. Hằng Nghĩa lật đật chạy lên, nó đã biến đâu mất rồi, tức mình than trời trách đất. Miêu Tú chạy lên xem, biết mình đã bị mưu "nhử cọp lìa rừng” của kẻ trộm rồi, cha con ngó nhau buồn rầu hết sức.
Thật là:
Của trái lẽ không hề được hưởng.
Người gian tham có lúc bị trừng.
Nói về Bao Công ở lại Trấn Tam Tinh xét rõ án Hàng Thoại Long rồi, sắp sửa đi Trần Châu. Một ngày rỗi rãi, Bao Hưng ngồi một mình nhớ tới gối Du tiên mới nghĩ rằng: "Tối nay ta thử dùng gối Du Tiên ngủ chơi một giấc coi sao?”. Nghĩ vậy, đến tối lúc Bao Công ngủ rồi, Bao Hưng mới năn nỉ với Lý Tài rằng: "Mấy bữa nay trong mình tôi không được khỏe, tối nay cần phải ngủ một giấc cho ngon để dưỡng thần, vậy phiền anh hầu Tướng công một đêm, sáng ngày tôi sẽ thế”. Lý Tài nói: "Được, anh em mà lo gì, anh về nghỉ đi, tôi hầu cho". Bao Hưng mừng rỡ lắm đi tuốt về phòng riêng, lấy gối Du tiên ra xem, bất giác trong mình mệt mỏi, sẵn gối liền kê đầu, vừa nằm xuống đã ngáy pho pho. Hồn dạo chơi trong làng mộng, thấy mình đi ra khỏi cửa gặp một con ngựa đã thắng yên sẵn, có hai đứa mặc áo xanh đứng hầu, không suy nghĩ gì, nhảy lên ngựa vụt roi đi, đến một chỗ kia, giống như phủ Khai Phong, liền nhảy xuống ngựa đứng ngơ ngáo, dòm lên cửa thấy biển đề bốn chữ: "Âm dương bảo điện". Một vị Phán quan trong cửa bước ra hỏi rằng: "Mi là ai sao dám giả dạng Tinh chủ* xuống làm quỷ đây?". Nói rồi có lực sĩ áo vàng bước tới hét một tiếng. Bao Hưng giật mình thức dậy mình toát mồ hôi, nghĩ rằng: "Phàm việc gì đều có đấng tạo hóa xếp đặt trước, vậy cái gối này để cho Tinh chủ nằm, làm sao mình nằm cho được.  Còn Lý Khắc Minh nói dâng cho Tinh chủ mà Tinh chủ nào vậy nhỉ?". Nghĩ vơ tính vẩn hoài, ngủ không được, nghe trống trở canh tư liền trở dậy vào phòng Bao Công.
* Tinh chủ: Tức Bao Công.
0
Hồi Thứ Mười Ba [/align]

Bao Hưng lén thử Du tiên chẩm,
Triển Chiêu giúp bắt An Lạc hầu.
 
Lúc vào, thấy Lý Tài dựa trên ghế ngủ mê, trên bàn có một phong thư, liền cầm lên coi, thất kinh, mới kêu Lý Tài dậy hỏi: "Tờ giấy này ở đâu đem lại?". Lý Tài chưa kịp đáp. Bao Công nghe tiếng, thức dậy hỏi: "Giấy gì ở đâu?". Bao Hưng liền bưng đèn, Lý Tài dâng giấy lên, Bao Công xem xong sai đi mời Công Tôn Sách. Khi Tôn Sách tới, Bao Công đưa giấy cho xem. Trong ấy viết: "Ngày mai tới trấn Thiên Xương phải coi chừng kẻo bị thích khách, và mau mau chia làm đôi, một tốp đi ngã đường rừng Đông Cao bắt Bàng Dực, một tốp đi ngã am Quan âm cứu tiết phụ”. Lại có hàng chữ nhỏ rằng: "Tiết phụ là Kim Ngọc Tiên”. Công Tôn Sách xem xong liền hỏi: "Giấy này ở đâu đưa lại?". Bao Công nói: "Không cần biết chuyện đó, nên lo việc đề phòng và phái người đi cho kịp là hay”. Tôn Sách lui ra cùng bốn dũng sĩ Vương, Mã, Trương, Triệu thương nghị.
Giấy ấy nguyên của Triển Chiêu, vì từ khi lấy bạc của Miêu Tú rồi liền đi thẳng ra trấn Thiên Xương.  Tới đó chưa thấy Bao Công, liền đi luôn qua trấn Tam Trinh bỏ thư báo tin rồi trở lại Thiên Xương chờ xem sự thể.
Ngày sau Bao Công tới trấn Thiên Xương vào ngụ tại công quán. Công Tôn Sách phái hai người lính dũng cảm là Cảnh Xuân và Trịnh Bình hầu hai bên cửa tra xét người ra vào. Còn bốn dũng sĩ ở chung quanh phòng Bao Công đêm ngày tuần giữ, phần mình và Lý Tài, Bao Hưng cũng hầu gần Bao Công để hộ vệ, nếu có điều chi bất chắc sẽ nhất tề hạ thủ. Canh giữ nghiêm ngặt như vậy tới canh tư cũng chưa thấy gì, Triệu Hổ ngồi gác, nghênh mặt ngó trên nóc nhà, ngọn cây, khi dòm tới một cây dầu, vụt la lớn rằng: "Có người núp đây!". Ở trong Vương Triều, Mã Hán, Trương Long túa ra, ngoài bọn canh tuần xách đuốc kéo vào, áp lại dưới gốc cây. Ai nấy đều thấy quả có bóng đen chuyền lên mái nhà, rồi ngói trên ấy liệng xuống như mưa. Triệu Hổ giận lắm hét rằng: "Giặc chạy đâu cho thoát!". Dứt tiếng nhảy lên mái nhà bắt người ấy xuống. Cả bọn áp lại, giải vào trước mặt Bao Công. Bao Công đã chẳng giận lại cả cười, sai Công Tôn Sách xuống mở trói. Công Tôn Sách giả bộ ngơ ngẩn hỏi rằng: "Tại sao nó quyết giết Tướng công mà Tướng công lại đãi nó tử tế vậy?". Bao Công đáp: "Ta xem y phải là tay hào kiệt nên động lòng thương, vả lại y với ta cũng chẳng cừu hận chi, y làm như vậy là bị kẻ tiểu nhân sai khiến, chớ nào phải bản ý ác. Mau xuống mở trói cho người ta". Công Tôn Sách ngó người ấy mà nói rằng: "Lão gia đãi ngươi như vậy ngươi nên lo báo ơn thế nào cho phải”. Nói rồi bảo Trương Long, Triệu Hổ mở trói. Vương Triều thấy bắp vế người ấy có một mũi tên liền bước lại nhổ giùm, rồi bảo Bao Hưng nhắc ghế mời ngồi. Người ấy thấy chung quanh Bao Công toàn những tay dũng sĩ kiện tướng đứng hầu nghĩ thầm: "Người ta nói Bao Công chính trực, biết trọng kẻ anh hùng, nay thật chẳng sai". Nghĩ vậy nên sợ không dám ngồi, sụp xuống đất quỳ mà thưa: "Tiểu nhân vô lễ, phạm tới đại nhân, tội đáng chết, xin đại nhân tùy liệu”. Bao Công vội vã nói: "Tráng sĩ khỏi phải quỳ lạy, xin ngồi cùng ta đàm đạo". Người ấy nói: "Tiểu nhân là kẻ phạm tội, trước mặt đại nhân đâu đám ngồi". Bao Công nói: "Ta đã mời, tráng sĩ cứ ngồi cớ chi mà ngại". Người ấy cực chẳng đã phải xá ba xá rồi ngồi. Bao Công hỏi: "Chẳng hay tên tuổi của tráng sĩ là chi, ai sai tới đây?". Người ấy thấy lòng Bao Công rộng rãi, cảm phục lắm liền tỏ ngay rằng: "Tiểu nhân là Hạng Phúc, vâng lệnh Bàng Dực ra đây hành thích đại nhân, ai dè đại nhân là người sáng suốt độ lượng thế này, khiến tiểu nhân hổ thẹn biết mấy “. Bao Công cười rằng: "Không sao, miễn sau này lúc gặp mặt An Lạc hầu xin tráng sĩ làm chứng việc này để tôi với Thái sư khỏi thương tổn đến tình thầy trò là đủ”. Hạng Phúc dạ dạ vâng lời. Bao Công sai Công Tôn Sách chữa vết thương cho Hạng Phúc. Vương Triều dâng mũi tên khi nãy cho Bao Công xem và nói: "Tên này có chữ đề là của Triển gia đây”. Bao Công nói: "Nếu vậy thời cái thư hồi đêm cũng của Triển nghĩa sĩ nữa, thật nghĩa sĩ hết lòng vì ta, ơn nặng biết mấy?".
Nói lại lúc Mã Hán vâng lệnh Công Tôn Sách giắt hai đầu mục Cảnh Xuân và Trịnh Bình ra am Quan Âm. Tới nơi Mã Hán thấy trước cửa có để cái kiệu ở đó, lấy làm lạ, đương đứng dòm chợt “nghe có tiếng kêu: "Hiền đệ tới muộn quá". Mã Hán dòm lên thời người ấy kêu là Triển Chiêu. Triển Chiêu nói với Mã Hán rằng: "Ngu huynh mới đón kiệu cứu được Kim Ngọc Tiên và gửi trong chùa rồi". Mã Hán và hai đầu mục đi cùng Triển Chiêu vào chùa, thấy có một bà già và một sư nữ (Bà già ấy là vợ của Điền Trung, nhờ Triển Chiêu cho hay trước nên tới đây đón chủ). Triển Chiêu nói với bà già rằng: "Bây giờ bà ở hầu phu nhân đây, đợi chừng Điền tướng công được tha sẽ bảo cho lại đây xum họp". Rồi dặn sư nữ rằng: "Phiền cô vì nghĩa mà đãi hai thầy trò Kim phu nhân đây cho tử tế chừng Điền tướng công trở lại sẽ hậu tạ cho". Lại nhắn với Mã Hán rằng: "Hiền đệ về bẩm lại với lão gia, nói rằng Triển Chiêu ít lâu sẽ tới hầu, còn Kim Ngọc Tiên là người liệt phụ, bất tất phải đem ra công đường đối chất làm chi “. Nói rồi ra chùa đi thẳng. Mã Hán với hai đầu mục trở về gặp tướng công.
Lại nói Trương Long, Triệu Hổ đến rừng Đông Cao không thấy sự gì, bèn nói cùng nhau rằng: "Có lẽ chúng nó đã đi khỏi đây rồi chăng?". Đợi một chặp nữa thấy một tốp người ngựa đi tới, Trương Long, Triệu Hổ cả mừng bảo bọn lính tráng núp vào gốc cây. Tốp nọ đi tới tất cả ùa ra. Bộ hạ của Bàng Dực thấy vậy ré lên rằng: "Sao chúng bay lớn gan dám đón đường hầu gia?". Trương Long nói: "Hầu gia nào ở đâu, sao không có áo rồng mũ ngọc, tao không biết Hầu gia nào cả". Lũ bộ hạ chỉ một người trong bọn mà nói: "Kìa! Người đó là An Lạc hầu, con của Thái sư! Vì muốn dò hỏi việc công nên thay hình đổi dạng như vậy, chúng bây vô lễ mau tạ tội đi". Trương Long, Triệu Hổ nhìn quả là Bàng Dực liền nói: "Để hai tôi chịu tội". Vừa nói vừa nhảy tới đè đầu Bàng Dực nhào xuống ngựa cho bọn sai dịch trói lại. Đám bộ hạ thấy thế cắm đầu lùi vào rừng như chuột. Trương Long, Triệu Hổ không thèm rượt theo, cứ lo điệu gian hầu Bàng Dực về công quán mà thôi.
Đó rõ thật:
Tiết phụ khỏi nạn nhờ nghĩa sĩ.
Gian hầu lậu kế bởi anh hùng.
0
Hồi Thứ Mười Bốn [/align]

Chém gian thần, Bao Công thử đao Long trát,
Biết hiền tài, Quốc mẫu tới miếu Thiên Tề.
 
Nói về Trương Long, Triệu Hổ giải Bàng Dực tới công quán. Bao Công lật đật giục mở trói rồi nói rằng: "Tôi với Thái sư là nghĩa thầy trò, thời cùng Hầu gia có tình bầu bạn, nhưng nay có chút án này cần phải có Hầu gia đối chất, vậy xin Hầu gia cứ thật nói ra, tôi sẽ liệu lượng giúp cho". Nói rồi giao tờ trình cho coi và sai người dắt Điền Trung, Điền Khởi Nguyên, mười vị phụ lão và những đàn bà con gái bị bắt ra. Bàng Dực thấy Bao Công dỗ ngọt rằng sẽ giúp mình, và ngoài mặt ung dung vẻ đoán chắc là có lòng tư vị mình nên đáp rằng: "Bẩm khâm sai đại nhân, những việc lầm lỗi đó là bởi tôi không nghĩ kịp, nay ăn năn chuyện đã muộn rồi, xin đại nhân mở lượng hải hà, nghĩ tình cứu giúp". Bao công hỏi: "Những lỗi ấy Hầu gia đã nhận rồi, vậy chuyện Hạng Phúc ai sai nó?". Bàng Dực kinh hãi đáp: "Chuyện đó tôi không biết". Bao Công sai dắt Hạng Phúc ra đối chất. Hạng phúc thấy mặt Bàng Dực liền nói: "Thưa Hầu gia, chuyện ngài sai khiến đó tôi đã khai rõ với quan khâm sai rồi, ngài còn giấu giếm sao được?". Bàng Dực thấy thế không chối nổi phải chịu ngay. Bao Công liền buộc làm tờ cung. Xong rồi cho đòi cả chứng cớ vào, người nhìn con, người nhìn vợ, kẻ nhìn em, kẻ nhìn dâu; xa cách bao lâu, nay gặp mặt cảm động vô cùng, khóc than rền rĩ. Bao Công truyền bảo mấy người ấy đứng ra hai bên chờ xem phán xử và sai đi đòi Trương Thái thú tới. Sau đó Bao Công ngó Bàng Dực mà rằng: "Tội Hầu gia đã đến thế, nếu giải về kinh e Hoàng Thượng giận mà làm liên lụy tới Thái sư và đường xá xa xôi e nhọc nhằn vậy bản chức xin phân xử tại đây có lẽ tiện hơn". Bàng Dực nói: "Khâm sai đã dạy, lẽ nào tôi dám chẳng vâng, xin nhớ giùm nghĩa cũ tình xưa mà châm chước cho tôi nhờ". Bao Công liền viết ba chữ đưa xuống, lính đi, một lát dâng ngọn Long đầu trát ra, giở tấm phủ ra, hào quang lấp lánh, ai thấy cũng lạnh mình. Sau đó đưa Bàng Dực ra lột cả y phục, trói lại, xô quỳ trước sân. Vương Triều tay xách Long đao coi rất oai dũng. Bao Công xuống lệnh, tay Vương Triều hoạt động một cái, Long đầu trát vừa vung qua, đầu Bàng Dực đã rơi xuống đất.
Bàng Dực đã đền tội xong rồi. Bao Công truyền đổi đao khác và thay phiên tới Hạng Phúc. Hạng Phúc thấy Bàng Dực đã như thế thời sợ sệt quá chừng, kế bị đem ra, xương sống lạnh ngắt, ăn năn không kịp. Tả hữu y theo lệ trước cởi áo, trói, và xô quỳ ở trước sân. Vương Triều cũng đưa tay, Cẩu đao cũng thật bén, nhoáng qua một cái, đầu đứa bất nghĩa đã rơi xuống đất liền.
Vừa xong, đã thấy quan phủ vào bẩm rằng: "Ti chức vâng lệnh khâm sai đi bắt Thái thú Trương Hoàng, tới nơi đã thấy y thắt cổ mà chết rồi nên lập tức về bẩm lại". Bao Công liền một mặt phái người đi khám thấy, một mặt mời Điền Khởi Nguyên lên an ủi và bảo về am Quan âm cho gặp vợ, lại kêu cả các người bị nạn khi trước lên khuyên dỗ ít lời, rồi cho dắt vợ dẫn con về lo lắng làm ăn như cũ.
 Xử xong án, trở vào phòng Bao Công sai Công Tôn Sách viết tấu văn, và ra yết thị, phái ủy viên xét bộ khẩu và phát chẩn cho dân. Lúc trước muôn dân lớp bị nạn trời, lớp bị tai người, nay được tỏ nỗi khúc oan và được cho của nữa nên cám ơn nhân đức lắm.  Đâu đâu cũng tung hô tướng quân rền trời.
Bao Công phóng chẩn rồi muốn nhân dịp ấy đi dò la các chỗ, nên khi trở về, không đi theo đường cũ nữa. Một hôm đương đi trên cầu, con ngựa của Bao Công cưỡi, không chịu đi nhảy lăng xăng. Bao Công đánh thế nào cũng không bước tới, liền nghĩ thầm rằng: "Con ngựa này, xưa nay không như thế, sao lại sinh chứng, hay là tại đây có điều chi oan uổng hay sao?" Nghĩ vậy liền sai Bao Hưng đi kêu một người trong xóm đó lại hỏi rằng: "Chú tên gì, chỗ này là xứ chi nói cho bản quan biết?". Người ấy đáp. "Tôi tên Phạm Tôn Hoa, chỗ này là Thảo Châu Kiều”. Bao Công hỏi: "Gần đây có công quán hay không?". Tôn Hoa nói không. Bao Công nhìn thấy một nhà cao ở trước mặt liền chỉ và hỏi Tôn Hoa rằng: "Chỗ đó là nhà ai?". Tôn Hoa đáp: "Đó là miếu Thiên Tề. Bao Công hạ lệnh cả đoàn bộ đi tới đình trú tại miếu đó, rồi hỏi Tôn Hoa rằng: "Nhà dân gian ở chung quanh đây nhiều hay ít?". Tôn Hoa đáp: "Mé nam giáp đường cái, mé đông là Du Lâm, mé tây là Hoàng Thổ Cang, mé bắc là Phá Giao (lò gốm hỏng). Ở Phá Giao chỉ có vài mươi nóc nhà thôi, thật là một nơi vắng vẻ quạnh quẽ lắm". Bao Công nghe rồi, bảo Công Tôn Sách viết một tấm bảng có hai chữ lớn "phóng cáo" truyền Tôn Hoa vác đi khắp các nơi rao rằng: "Ai có điều chi oan uổng, mau mau lại miếu Thiên Tề cáo tố với Bao khâm sai". Tôn Hoa vâng lời vác bảng vừa đi vừa rao, khắp đầu đường cuối xóm, không một ai đáp ứng, lần lần đi tới chỗ lò gốm hỏng, rao chưa dứt lời nghe có tiếng: "Mụ có điều oan ức đây, xin dắt giùm mụ tới đó". Tôn Hoa thấy bà già liền hỏi rằng: "Má má già rồi, còn muốn tới cửa quan làm chi?".
Bà già ấy là ai? Nguyên là Lý Thần Phi bị Lưu hậu mưu hãm vào lãnh cung, sau quyết hại cho chết.  Lý Thần Phi là mẹ đẻ của Tống Nhân Tôn, hiện nay đang ở ngôi. Lúc mới đẻ, Lưu hậu lập kế đổi chúa rồi giao Thái tử cho con Khấu Châu đem quăng xuống Kim Thủy Trì. Nhờ Khấu Châu trung hậu đem Thái tử gửi cho Bắc Thiên Thế và Địch Thái Hậu nuôi. Sau Thái tử phục ngôi biết Khấu Châu bị hại nên mới có hồn oan ở cung Ngọc chấn. Lý Thần Phi được cha của Tôn Hoa nuôi giấu trong một lò gốm hỏng, vì khóc nhớ con... đã đui hai con mắt. Sau khi cha Tôn Hoa mất, Tôn Hoa lại chăm sóc Lý Phi như mẹ. Lý Phi nghe Tôn Hoa hỏi tiền đáp rằng: "Vì con của mụ bất hiếu lắm, nên mụ phải đi báo quan". Tôn Hoa nghe nói chưng hửng, hỏi: "Vậy chớ con của má má là ai?".  Lý Phi nói: "Việc con của mụ, nếu chẳng phải một vị quan đúng bậc công minh thời không xét đoán nổi.  Mụ thường nghe người ta nói Bao Công chính trực thanh liêm lại giỏi đoán việc âm dương. Nay đã gặp đây không cáo tố còn đợi chừng nào nữa?". Tôn Hoa nói: "Nếu vậy thời tôi đưa má má đến đó kêu oan". Lý Phi nghe nói liền đưa đầu gậy cho Tôn Hoa dắt đi.  
Tới miếu Thiên Tề, Lý Phi vào ra mắt Bao Công rồi nói rằng: "Xin đại nhân đuổi hết kẻ tả hữu ra ngoài, mụ sẽ tỏ những điều oan uổng”. Bao Công nhận lời truyền tả hữu lui hết ra, duy để lại một mình Bao Hưng mà thôi. Tả hữu đi ra rồi, Bao Công nói rằng: "Bây giờ bốn phía không ai, bà có điều chi oan ức tỏ ra cho bổn quan liệu lý". Lý Phi cất tiếng rằng: "Bao khanh ơi! Khổ cho Ai gia lắm! Đau lòng..!”. Chỉ nói bấy nhiêu rồi khóc rống lên, Bao Công ngồi trên sửng sốt, Bao Hưng đứng dưới ngẩn ngơ, không biết chuyện gì, mà ai lại dám kêu Khâm sai tướng công là khanh là tướng đó.
Thật là:
Tối mắt vì con chưa mấy thảm.
Nát gan với phận thật nên thương.
0
Hồi Thứ Mười Lăm [/align]

Giả nhận mẹ, Bao Công trọn lòng trung,
Hứng mù sương, Phu nhân chữa mắt tối.
 
Bao Công nghe bà già kêu mình là Bao Khanh và tự xưng là Ai gia thời lấy làm lạ lắm, song cứ ngồi nghe thuật lại chuyện cũ. Khi Lý Phi thuật xong, Bao Công nói rằng: "Tuy lời như vậy; nhưng chưa có chi làm bằng cớ, làm sao bản quan tin được”, Lý Phi nghe nói lật đật thò tay vào đẩy móc ra một gói đưa cho Bao Công. Bao Công tiếp lấy, mở ra mấy mươi lớp mới thấy trong ấy có một túi nhỏ, mở túi nhỏ ấy ra thời là một hạt kim hoàn trên có khắc chữ "Ngọc Chấn cung” và tên của Lý Phi. Bao công xem rồi gói lại lập tức, đưa cho Bao Hưng dâng lại cho Lý Phi, còn mình thời đứng dậy bước xuống tòa, thỉnh Lý Phi lên ngồi trên rồi cúc cung bái kiến. Lý Phi nói: "Bao Khanh bất tất như vậy, chuyện oan uổng của Ai gia đều nhờ ở khanh cả". Bao Công thưa: "Bẩm lệnh Nương nương chớ quá lo ngại, kẻ hạ thần xin hết lòng vì Nương nương mà vạch chuyện này, nhưng mà tai mắt quá nhiều, e lộ ra chăng, vậy xin Nương nương tha tội cho hạ thần và xin nhận người làm mẹ, vậy ý Nương nương ra sao?". Lý Phi đáp: "Đã như vậy thời mẹ chỉ có trông mong ở con thôi!". Bao Công cả mừng cúi xuống tạ ơn, rồi sai Bao Hưng ra truyền quan huyện sắm một cái kiệu lớn, lựa hai hầu gái lanh lợi, trang sức cho sạch sẽ và cấp các đồ dùng cùng tiền bạc cho đủ cung dụng lúc đi đường, chừng về tới kinh sẽ trả lại. Công quán thời phải bày biện chỉnh tề... lại nói cho Tôn Hoa biết rằng bà già mà nó dắt tới đó là mẹ của Khâm sai tướng công. Nay mẹ con gặp nhau rồi, cảm ơn Tôn Hoa đã thường hay cung cấp chăm sóc lâu nay, nên muốn cho nó theo hầu về kinh sư.  Tôn Hoa nghe vậy, vui mừng như được bay lên mây, nên vâng liền. Bao Hưng lại thúc quan huyện lo liệu các vật bày trí, và nói ý Bao Công muốn Tôn Hoa về kinh. Quan huyện y lời lui ra.
Khi xếp đặt các việc xong rồi, Bao Công viết một bức thư, niêm kín sai Bao Hưng đem về kinh trước.  Còn Lý Phi tắm gội, thay y phục, lên kiệu, được một đỗi Bao Công liền thưa rằng: "Thưa mẹ, xin cứ tới trước nơi công quán, rồi con sẽ theo sau”. Lý Phi nói: "Con chớ nhọc lòng nhiều lễ như vậy”. Bao Công dạ dạ lui ra. Tùy tùng thấy lão gia trở lại, cùng cất bước lên đường, một tốp người ngựa rầm rộ, ai cũng vui lòng không có điều chi nghĩ ngợi, duy có Công Tôn Sách sinh nghi mà thôi.
Đây nói riêng về Bao Hưng vâng lệnh đem thư về phủ Khai Phong, hầu gái thấy Bao Hưng về liền vào bẩm với Lý phu nhân (vợ Bao Công). Phu nhân cho vời vào hỏi: "Lão gia có được mạnh giỏi chăng?". Bao Hưng vội vàng đáp rằng: "Lão gia mạnh như thường, nay có thư đem về dâng cho phu nhân đây". Nói rồi dâng thơ, phu nhân giở ra xem:
"Bản quan tại Trần Châu, gặp được thái hậu là Lý nương nương, giả nhận làm mẹ con, phu nhân mau sai người dọn dẹp Phật đường cho sạch sẽ, chuẩn bị cho Nương nương về ở, và phu nhân phải lấy lễ mẹ chồng nàng dâu ra mắt. Làm sao che được tai mắt chung quanh là hay lắm".
Phu nhân xem xong, nói với Bao Hưng rằng: "Ngươi trở lại hầu đón lão gia, và thưa: "Ta đã xếp đặt các việc xong xuôi, song không tiện viết thơ đáp". Nói đoạn sai đầy tớ gái lấy cho Bao Hưng hai mươi nén bạc. Bao Hưng lĩnh bạc từ tạ lui ra bỗng gặp các bạn mời ăn cơm. Khi cùng nhau ăn uống, mọi người hỏi chuyện đi đường, Bao Hưng vui miệng thuật sơ sơ xong lại hỏi: "Vậy còn Bàng thái sư ở nhà, thế nào?".  Họ đáp: "Lúc tấu văn của lão gia tâu lên, Hoàng thượng cả giận, quăng tờ cung của con y xuống cho y coi, coi xong y cúi đầu xin tội... Chuyện đó có lẽ y cưu hờn lão gia lắm, sau này e có nhiều việc lôi thôi, lão gia cần phải đề phòng lắm mới được". Bao Hưng nghe xong, hỏi cặn kẽ chuyện ấy, an ủi cho êm lòng họ, từ giã lên ngựa buông cương.
Còn trong phủ, phu nhân bảo bọn sai dịch bày biện xong xuôi, mỗi ngày mỗi ngóng trông người về.
Một hôm nghe báo kiệu đã tới thành còn cách phủ không bao xa nữa, phu nhân liền đem cả con hầu ra đợi ở cửa Tam Lương. Giây lát kiệu tới, Lý phu nhân bước tới trước kiệu quỳ xuống thưa rằng: "Dâu bất hiếu họ Lý xin ra mắt nương thân và chúc mừng ngọc thể khang kiện". Lý Phi đáp: "Ta miễn lễ cho". Bây giờ kẻ hầu xúm lại đỡ Lý Phi ra khỏi kiệu và đưa vào Phật đường.
Lý Phi ngồi xong, bọn con hầu đều lui vào thay y phục hết, nhân lúc vắng người, phu nhân mới quỳ xuống tâu rằng: "Thần thiếp xin bái kiến, và cầu chúc Nương nương sống lâu muôn tuổi". Lý Phi giơ tay khoát mà rằng: "Con chớ nên làm như vậy, về sau cứ lấy lễ mẹ chồng nàng dâu thôi. Vả lại mẹ họ Lý, mà con cũng họ Lý, thế thời còn ngại gì". Phu nhân dạ dạ vâng lời, Lý Phi bèn đem những chuyện do lúc bị hại thuật lại một hồi, rồi nói rằng: "Vì mẹ nhớ con của mẹ quá, khóc đến nỗi hai mắt tối lại thế này”. Vừa nói vừa khóc rất thảm, phu nhân nghe xong, thoạt nghĩ lại: ”Mình có một vật có thể trị mắt sáng lại được, vậy bây giờ nên thử xem sao, nếu Nương nương lành bệnh thời còn chi quý hơn nữa". Nghĩ rồi quỳ xuống tâu với Lý Phi rằng: "Con có một vật tên Cổ Kim Bồn, trên có hai lỗ âm dương, dùng hứng nước mù sương, có thể chữa mắt tối sáng lại. Tối nay con xin cầu trời khấn phật để giúp cho Nương nương “. Lý Phi nghe nói cả mừng. Sau khi ăn cơm chiều, phu nhân cáo từ lui ra, tắm rửa sạch sẽ, tới tối bưng Cổ Kim Bồn ra hoa viên, tự mình thắp nhang cầu nguyện trời Phật hai tay ngọc bưng Cổ Kim Bồn đưa thẳng lên, đứng hứng mù sương.
Lòng ngay động tới cõi trời, đêm ấy mù sương dầm rưới, và hình như trong Cổ Kim Bồn có sức hút vào không mấy lát mà mù sương lọt vào trong hai lỗ âm dương, thấy bồn có hơi nặng phu nhân liền đỡ xuống xem, vui mừng khôn xiết, hối hả bưng vào. Lúc ấy Lý Phi vẫn còn thức, mới nhúng tay thoa nước ấy vào đôi mắt, thời biết hơi lạnh thấu xương, hơi thơm nực mũi, trên trán rịn chút mồ hôi, trong hai mắt có hơi chuyển động, nhưng Lý Phi cứ nhắm cứng lại mãi. Thật lâu mới mở thử ra thời mây trống mù tan, xem thấy rõ ràng muôn vật. Lý Phi rất vui vẻ mà phu nhân cũng mừng rỡ.
Qua ngày sau được tin Bao Công đã về kinh, song còn ở lại chùa Đại Tướng Quốc, chờ vào triều kiến thiên tử rồi sau mới về dinh.
Ấy là:
Chưa vỡ án, con còn xa mẹ.
Đợi vào chầu, vợ ngóng dạng chồng.
0
Hồi Thứ Mười Sáu [/align]

Phủ Khai Phong, Bao Công tiếp Tổng quản,
Cung Nam Thanh, Thái hậu nhìn Địch phi.
 
Rạng ngày Bao Công vào chầu, tâu rõ các việc tại Trần Châu, vua khen ngợi vô cùng, ban cho vật báu rất nhiều. Bao Công tạ ơn lĩnh thưởng, rồi vội vàng trở về phủ Khai Phong. Tới nơi, vợ chồng hỏi sơ sài câu ấm lạnh, rồi phu nhân vào Phật đường bẩm trước cho Lý phi hay rồi sau Bao Công mới vào, quỳ và chúc rằng: “Thần là Bao Công ra mắt Nương nương và xin dâng ngàn tuổi”. Tâu xong cúi mặt xuống. Lý Phi phán rằng: "Miễn lễ cho con “. Bao Công liền đứng dậy.
Lúc trước Lý Phi chỉ có nghe tiếng Bao Công mà thôi chứ chưa từng thấy mặt, nay mắt đã sáng, xem thấy Bao Công hình dung tuấn tú, miệng rộng mũi cao mày rậm râu thưa, đúng là người phúc tướng, thời mừng lắm bèn nói rằng: "Ai gia thật nhờ vợ chồng Bao Khanh lắm lắm". Bao Công đáp: "Xin Nương nương yên tâm nghỉ ngơi đợi kẻ hạ thần kiếm được cơ hội sẽ làm sao trừ bọn gian thần cứu an xã tắc mới vừa lòng". Lý Phi gật đầu. Vợ chồng Bao Công lui ra rồi, bọn đầy tớ gái mới dám bước vào, Lý Phi cũng miễn hầu cho chúng nó.
Hôm sau Bao Công thức dậy chợt thấy Bao Hưng vào bẩm có Ninh Tổng quản xin vào ra mắt. Bao Công truyền mời vào thư phòng đãi trà đợi mình ra tiếp kiến. Ninh Tổng quản vào tới thư phòng thấy bài trí đơn giản không xa hoa phiền phí khen thầm lắm. Một lát lâu, Bao Công tới. Ninh Tổng quán nói: "Nghe tin đại nhân đi Trần Châu về, hôm qua muốn tới thăm song e đại nhân còn nhiều việc cần phải xếp đặt nên chẳng dám? Nay sáng sớm lật đật qua đây mừng đại nhân đã được công thành". Bao Công nói: "Đáng lẽ thời tôi phải qua thăm đại phu, song chưa rảnh thật có lỗi nay đại phu tới đây may mắn biết mấy, chẳng hay đại phu còn có điều chi dạy bảo chăng?". Ninh Tổng quản cười hì hì và đáp: "Tôi lại đây chẳng có chuyện chi lạ, nhân vì Lục Hiệp vương gia hay kính mộ tấm lòng trung của đại nhân, thường đem những hành vi của đại nhân thuật lại cho Nương nương (Địch thái hậu) nghe. Nương nương cũng khen ngợi lắm. Mới đây, vương gia đi hầu nghe chuyện Bàng Dực mà đại nhân đã chém trước tâu sau kia, càng thấy tỏ tấm lòng yêu nước thương dân của đại nhân, nên tâu lại với Nương nương, Nương nương vui lòng quá. Vương gia tôi tuổi còn măng, ý muốn tới học tập với đại nhân, mai sau này sẽ trở nên một vị hiền vương, song ngại vì xưa nay chưa được quen biết.  Theo ý tôi thời đại nhân cũng nên tới lui trong cung để vương gia thân thiện. Nay tới ngày sinh nhật của Nương nương, các quan thân tới bực công hầu bá tước ai cũng sắm sửa lễ vật đi mừng thọ, vậy đại nhân cũng thừa dịp này rời gót tới, một là ra mắt Nương nương gọi đáp chút ơn hạ cố, hai là Vương gia nhờ đó để qua lại học tập, vậy há chẳng phải một điều hay hay sao? Vì vậy tôi phải tới đây trước thăm đại nhân sau muốn nói điều ấy”. Bao Công nghe xong bụng nghĩ rằng: "Ta xưa nay chưa từng quen với kẻ quyền quý trong kinh, lại chuyện của Thái hậu còn đương làm rối lòng đây, Hoàng thượng nào có dè mẹ ruột mình đương chịu cảnh trần ai, âu là tương kế tựu kế, may ra có cơ duyên tốt, ta sẽ rõ được nhiều khúc chiết. Vả lại Lục hiệp vương gia cũng là một vị hiền vương, giao hảo với người nhắm chẳng ngại chi “. Nghĩ rồi liền hỏi "Nương nương nhắm ngày nào?". Ninh Tổng quản đáp: "Lễ ấy sẽ bày ra hai ngày mai và mốt, chính gấp như vậy nên tôi phải cho đại nhân hay sớm". Bao Công nói: "Đại phu đã có lòng tốt dạy bảo cho, tôi lẽ nào chẳng vâng, song vì tôi là ngoại quan chẳng tiện vào cung, nay nhân có mẹ tôi ở trong phủ, muốn mai này dâng lễ rồi đưa bà tới khánh chúc vậy có được chăng?". Ninh Tổng quản đáp: "Ủa! Cụ tới đây hồi nào? Được vậy lại càng quý, thôi để tôi về tâu trước với Nương nương”. Bao Công cảm tạ lắm. Ninh Tổng quản từ tạ ra về lại còn dặn với rằng: "Phiền đại nhân bẩm lại với cụ nhà rằng tôi xin chúc người vạn an, ngày kia vào cung sẽ có tôi ứng chực". Bao Công gật đầu đưa ra khỏi cửa mới vào.
Bao Công trở vào đem chuyện ấy nói kỹ lại với vợ và cậy vào thưa với Lý Phi. Lý phu nhân lĩnh mạng đi liền, còn Bao Công thời ra thư phòng, sai Bao Hưng đi lo các thọ lễ. Sáng ngày Bao Hưng ứng đủ các vật,  Bao Công xem lại một lượt, rồi sau sai dịch khiêng qua Nam thanh cung, còn Bao Hưng thời cỡi ngựa cầm thiếp đi theo. Tới nơi, Bao Hưng thấy ngựa xe như nước, áo quần như nêm, kẻ qua người lại xôn xao, cỡi ngựa không được phải xuống đi bộ. Vào trong thấy quan viên chật ních, lễ vật đầy dẫy, Bao Hưng móc danh thiếp đưa ra, người chủ quán nơi đó xem xong liền mời vào trong đãi trà và phân phó bọn sai dịch rằng: "Đó là lễ phẩm ở phủ Khai Phong phải cất đậy cho kỹ càng". Đương khi đó có người truyền rằng: "Vương gia đương ngồi trong điện đợi người quản gia ở phủ Khai Phong, vậy mau mau vào hầu”. Bao Hưng nghe qua vội vã đi theo, vào thấy một tòa điện, mạ bạc thếp vàng rất đẹp, ngồi trên là một vị Vương gia mặc áo bào đeo ngọc, hai bên có nhiều nội phủ hầu hạ, hèn cúi đầu làm lễ. Vương gia dạy rằng: "Mi trở về bẩm lại với Quý phi rằng ta rất cám ơn người, sau này đi chầu gặp nhau sẽ đáp tạ". Nói rồi truyền cho bọn nội phu cấp cho Bao Hưng năm chục lượng bạc,  Bao Hưng tạ ơn lui ra, gặp Ninh Tổng quản đi tới cười khanh khách mà rằng: "Chủ quản tới đây hồi nào? Phiền ông lúc về xin thưa lại với đại nhân rằng việc đó tôi đã tâu với Nương nương rồi, mai Thái thái* cứ thong dong tới không còn ngại gì". Bao Hưng gật đầu nhận lời.
* Thái thái: tiếng chỉ bà thân sinh ra người bạn quý.
Về tới phủ, ra mắt Bao Công và trình lại các việc,  Bao Công nghe xong gật đầu rồi đi ra nhà sau hỏi Lý phu nhân rằng: "Phu nhân tâu việc ấy, ý Nương nương nghĩ thế nào?". Lý phu nhân đáp: "Thiếp đem việc ấy tâu lại, ban đầu ý Nương nương còn lưỡng lự nói đi đây không biết mặc sắc phục nào và dùng lễ tiết gì? Thiếp thấy ý lưỡng lự nên khuyên Nương nương tạm mặc theo nhất phẩm thôi. Lúc vào cung,  Địch nương nương ngó thấy chắc không cho bái yết đâu. Việc đã đến thế này, không lộn lạo không được.  Nương nương nghe thiếp nói nghĩ ngợi một lát lâu mới ưng chịu”. Bao Công nghe vậy vui mừng khôn xiết bảo Lý phu nhân tuyển hai con hầu lanh lợi, còn mình ra cắt người đi hộ tống.  
Ngày sau, phu khiêng kiệu vào tam đường, Lý Phi sửa soạn ra đi, bất giác cảm kích tuôn hai hàng lệ, Lý phu nhân khuyên giải ít lời, Lý phi mới nguôi dạ. Khi sắp bước lên kiệu phu nhân còn căn dặn Lý Phi rằng: "Nương nương đi chuyến này, thấy động tĩnh nên thừa dịp tỏ bày chân thực, xin chớ nên vì việc nhỏ bỏ hỏng việc lớn sau này “. Lý phi gật đầu chấm nước mắt đáp rằng: "Ai gia chịu oan ngót hai mươi năm nay nhờ có vợ chồng phu nhân hết lòng trung nghĩa, may sau được trở lại cung vi, ơn ấy quyết không quên lãng”. Nói rồi bước lên kiệu. Phạm Tôn Hoa và Bao Hưng đi theo hộ tống.
Bao Hưng theo Lý Phi tới cung Nam Thanh, ngó thấy Vương Tam liền chạy lại nắm tay nói rằng: "Anh ba! Thái thái tôi đã tới kìa". Vương Tam nghe xong lăng xăng chạy vào trong, một lát có hai tên nội phụ ra truyền lệnh rằng: "Những tân khách đến dự lễ xin tạm tiếp tại ngoại đường, riêng Thái thái ở phủ Khai Phong mời vào nội cung thôi". Bao Hưng nghe nói, thôi thúc kiệu phu khiêng kiệu theo hai tên nội phụ vào cung. Còn Bao Hưng thời được Vương Tam đem vào thư phòng đãi trà.
0
Hồi Thứ Mười Bảy [/align]

Giả bệnh nặng, Nhân Tôn nhìn mẹ,
Ra mật chiếu, Quách Hòe bị tra.
 
Kiệu của Lý Phi vào tới cửa thứ hai thì có bốn tên thái giám ra thế cho kiệu phu khiêng kiệu vào. Tới cửa thứ ba mới để xuống. Ninh Tổng quản bước ra tiếp và vấn an, bọn con hầu đỡ Lý Phi xuống kiệu đáp lễ lại Tổng quản. Ninh tổng quản liền đi trước dẫn đường, vào trong cung đã thấy Địch thái hậu ra cửa rước. Địch thái hậu vừa thấy Lý Phi thời hình như trong trí nhớ có gì ngờ ngợ, đến chừng Lý Phi tới trước mặt vừa muốn làm lễ ra mắt, Thái hậu vội khoát tay miễn lễ cho, rồi cùng nhau nắm tay mời ngồi, Lý Phi không e lệ gì, dòm thấy Địch thái hậu lúc bây giờ có phần già hơn trước nhiều, thời lộ chút vẻ buồn, còn Địch thái hậu bây giờ nhìn kỹ Lý Phi thời trong lòng băn khoăn, bụng nghĩ: "Lý Thần Phi chết rồi làm sao còn sống ở dương gian này được?". Nên cũng không nghĩ ngợi gì nữa. Hai người lúc uống trà, nhân chuyện vãn chơi tâm đầu ý hợp, Địch thái hậu mến lắm nên giữ ở lại chơi ít ngày, Lý Phi rất vừa lòng, vì tưởng lúc ở trong cung này có lẽ may gặp dịp, sẽ tỏ bày tâm sự. Địch thái hậu thấy Lý Phi nhận lời liền sai nội giám ra thưởng tiền cho bọn tùy tùng và bảo về bẩm lại với Bao Công. Tới bữa cơm, Địch thái hậu cùng Lý Nương nương kề vai nhau ngồi ăn, vừa được vài tuần rượu Địch thái hậu mới tỏ lời khen Bao Công và gọi Lý Nương nương là người hiền. "Phu nhân khéo dạy bảo con mới được như vậy". Nhân lúc ấy lại hỏi tới tuổi Lý Nương nương, Nương nương đáp rằng: "Tôi vừa được bốn mươi hai tuổi". Địch thái hậu hỏi tới tuổi của Bao Công thời Nương nương đỏ bừng mặt ấp úng không đáp được. Địch thái hậu thấy vậy không lẽ hỏi nữa, bèn chuyển sang chuyện khác. Ăn xong dắt tay nhau đi xem các chỗ, vừa đi Địch thái hậu vừa nhớ tới câu hỏi trong bữa ăn lòng hồ nghi, nghĩ rằng: "Có bao giờ mà mẹ không biết tuổi con, hay là người này có điều chi ám muội chăng? Âu là tối nay mời ngủ chung cùng ta, nhân lúc ấy sẽ hỏi lại nguyên do mới rõ được các điều bí ẩn".
Buổi tối, khi vào màn, Địch thái hậu mới đem câu chuyện mẹ không biết tuổi con hồi chiều hỏi vặn lại Nương nương. Nương nương thấy hỏi rất khẩn cấp, không biết đối đáp làm sao, bất giác cảm động đáp nhỏ rằng: "Hoàng thư không nhận biết Ai gia hay sao?". Chỉ nói có bấy nhiêu thôi rồi mở lời không được nữa mà khóc òa, Địch thái hậu nghe qua thất kinh vội vã đáp rằng: "Có phải Phu nhân là Lý Thần Phi không?". Lý Nương nương khóc tấm tức đáp không ra lời Địch thái hậu nói rằng: "Chúng ta ở trong thâm cấm bốn phía không ai, tâm sự thế nào xin cứ nói ra, có chi mà ngại". Lý Nương nương liền đem những cảnh ngộ lúc bị hại thế nào, Dư Trung thế mạng làm sao, vì đâu mà trôi nổi tại Trần Châu, nhớ ai mà đui mắt, cùng lúc gặp Bao Công giả nhận mẹ con thế nào,  Lý phu nhân cầu trời chữa mắt sáng lại làm sao? Nhất nhất đều thuật lại và thêm rằng: "Nay nhân lễ thọ của Hoàng thư, tôi quyết tới đây thổ lộ chân tình, may được tỏ tường “. Thái hậu nghe dứt lời, nước mắt tuôn rơi hỏi rằng: "Có vật chi làm chắc không?". Lý Nương nương bèn đưa kim hoàn ra, Địch thái hậu xem thấy thất kinh quỳ xuống. Lý Thái hậu vội vàng đỡ dậy rằng: "Hoàng thư đã nhìn biết ta rồi, làm sao cho Hoàng thượng được hay nữa!". Địch thái hậu tâu rằng: "Xin Nương nương yên lòng, tôi sẽ có kế hay".  Nói rồi thuật việc Lưu hậu và Quách Hòe dùng kế đem mèo mà tráo Thái tử, chực đem giết, may sao Khấu Châu có lòng trung, giao cho thái giám Trần Lâm để vào hộp đem gửi trong cung nam Thanh nuôi lớn. Sau con của Lưu hậu chết yểu mới cất Thái tử lên ngôi Đông cung, nhân Thái tử hay vào lãnh cung chơi, thiên tính đã sẵn, thấy mẹ động lòng, Lưu hậu sinh nghi, kiếm lời gièm cho Lý Nương nương phải tự tử. Lý thái hậu nghe nói như say mới tỉnh, giọt lệ chan hòa, bảo Địch thái hậu phải làm sao cho mẹ con được tương ngộ. Địch thái hậu nghĩ ra một kế bàn kề miệng nói nhỏ vào tai Lý Nương nương như thế... như thế.
Qua ngày sau, Địch thái hậu sai Ninh Tổng quản vào triều tâu rằng: "Địch Thái nương nương, mới đêm hôm qua thốt nhiên nhuốm bệnh, nay đang rất trầm trọng”.
Đêm ấy Nhân Tôn hoàng đế cùng nằm chiêm bao thấy một con chim phượng lông lá còi cọc, bay tới kêu một tiếng lớn rồi vỗ cánh làm cho Nhân Tôn giật mình tỉnh giấc, kinh hãi dị thường, từ đó tới sáng không ngủ được. Vừa hừng đông, thấy viên Tổng quản ở cung Nhân Thọ tới báo rằng: "Lưu Thái hậu đau nặng". Nhân Tôn vội vào thăm, tới nơi thấy thái hậu đương mê sảng miệng nói lảm nhảm rằng: "Khấu cung nhân! Sao mi dám vô lễ vậy?". Vua Nhân Tôn cũng tưởng Lưu Thái hậu mê nói cuồng thôi, nên sai mời ngự y vào điều trị rồi đi ra. Vừa khỏi cung vua chợt gặp Ninh Tổng quản ở cung Nam Thanh đón tâu Địch Thái hậu nhuốm bệnh. Vua Nhân Tôn liền đi luôn qua cung Nam Thanh vào tới tẩm phòng không thấy tùy tùng hay đầy tớ ở hầu đó, chỉ có một mình Địch thái hậu đắp chăn gấm nằm trong giường thôi.  Vua Nhân Tôn liền bước tới quỳ xuống hỏi thăm bệnh thể, Địch Thái hậu nói: "Bệnh mẹ không mấy nặng chỉ có đau xoàng thôi". Sau đó Lục hiệp Vương gia cũng vào thăm với thái giám Trần Lâm. Địch Thái hậu nhân dịp mới hỏi Nhân Tôn rằng: "Con người ở đời lấy gì làm trọng? Vương nhi có được biết không?".  Nhân Tôn đáp: "Lấy hiếu làm trọng”. Địch Thái hậu tiếp rằng: "Đã biết trước lấy hiếu làm trọng, song Vương nhi có biết ai là người không biết tới mẹ đương nổi trôi khốn khổ không?". Hai câu hỏi ấy làm cho vua Nhân Tôn ngạc nhiên không hiểu là ý gì, vội vàng tâu rằng: "Xin mẹ dạy lại điều ấy, vì con chưa được biết”. Địch thái hậu liền đưa một cái hộp cho Nhân Tôn và hỏi rằng: "Vương nhi có biết lai lịch vật này làm sao không?". Vua Nhân Tôn tiếp hộp mở ra xem thời trong ấy là một cái túi Ngọc Tỷ Long Phục, trên có chữ của Tiên Hoàng Nhân Tôn chưa hiểu đưa lên coi. Lúc đó thái giám Trần Lâm đứng bên cạnh thấy vật cũ bất giác động lòng nhớ tới chuyện xưa, nước mắt chảy ròng ròng. Nhân Tôn quay lại thấy Trần Lâm khóc lại càng lấy làm lạ nữa, liền hỏi lai lịch. Địch thái hậu nói rằng: "Lúc trước Lưu Thái hậu mưu với Quách Hòe tranh ngôi Hoàng hậu với mẹ Vương nhi là Lý Phi, nên kiếm thế hại. Lúc Lý Phi lâm bồn đem tráo Vương Nhi rồi sai con cung nữ Khấu Châu đem quăng xuống Kim Thủy Trì. Không ngờ nó trung chính giao lại cho thái giám Trần Lâm đem vào cung Nam Thanh gởi nuôi, cái túi này là vật gói Vương Nhi trong lúc đó". Nói tới đó khóc một hồi, rồi tiếp luôn tới lúc Lý Phi vào lãnh cung và lúc Dư Trung thế mạng. Tân Phụng gửi nuôi cho tới khi vào ở lò gốm cũ, sau gặp Bao Công... thuật lại một hồi.  Nhân Tôn nghe hết kinh hãi không cùng, khóc như mưa xối. Khóc rồi hỏi rằng: "Bây giờ mẹ của con còn ở đâu?”. Hỏi rồi nghe sau vách có tiếng khóc và bước ra một vị mặc sắc phục theo Nhất phẩm phu nhân.  Nhân Tôn sững sờ. Lý Phi e Thiên tử chưa tin bèn đưa hột kim hoàn cho coi. Nhân Tôn xem thấy không khác chi hột của Lưu Hậu nhưng trên khắc chữ Ngọc Chân cung và tên Lý Thần Phi, bèn vội vàng quỳ xuống lạy và khóc rống lên, Lục Hiệp vương gia cùng Trần Lâm cũng khóc. Địch Thái hậu bước xuống an ủi ai nấy mới nguôi, Nhân Tôn cầm tay Trần Lâm khóc rằng: "Trần Thái giám ơi! Nếu trẫm không nhờ lòng trung của ngươi, ngày nay đâu còn mà gặp mẹ". Trần Lâm cảm khích quá chỉ có ứa nước mắt mà không nói gì. Nhân Tôn quay lại thưa với Địch Thái hậu rằng: "Hài nhi làm Thiên tử, để mẹ phiêu lưu, còn mặt mũi nào ngó các văn võ bá quan nữa”. Địch Thái hậu khen phải rồi ghé tai nói nhỏ... Nhân Tôn vâng lời, an ủi mẹ ít lời rồi kêu kiệu về cung lập tức ngự bút thảo chiếu, sai Quách Hòe và Trần Lâm đi đến phủ Khai Phong tuyên đọc, Quách Hòe nào rõ chuyện gì một mực vui cười vâng chỉ.
Bao Công ăn cơm sáng xong, nghe báo lật đật thay triều phục, truyền bảo mang hương án ra trước phủ rước thánh chỉ. Bao Công tung hô rồi đứng chờ Quách Hòe mở đọc.
"Phụng thiên thừa vận Hoàng đế chiếu rằng: Nay có thái giám Quách... ". Đọc mới tới đó thấy tên mình,  Quách Hòe kinh hãi ngừng lại không đọc nữa. Trần Lâm vội vã tiếp rằng: "Nay có thái giám Quách Hòe mưu nghịch lòng gian khó lường. Chẳng kể Tiên hoàng, lại không giữ dạ trung thành. Lý Thái hậu lâm bồn, bị mưu gian ác, túi vàng gói lại quyết hại trừ quân, nơi lãnh cung giam khốn hiền phi rấp lòng tranh vị, nhờ có Khấu Châu trọn nghĩa, Trần Lâm hết lòng trung, nay mới được yên hoàng tộ. Nếu không có Tân Phụng mưu cao, Dư Trung thế mạng, xưa đà tan nát. Nhưng mà, Quốc mẫu trầm oan, khốn khổ hai mươi năm lẻ, nếu không có Bao Khanh trung nghĩa, ai biết đâu kẻ chính người tà. Kẻ dữ đã lộ, mưu phép công nên đoán án. Chiếu phó cho phủ Khai Phong, tra tấn rồi luận hình". Bao Công nghe xong tung hô vạn tuế, tiếp thánh chỉ, rồi xuống lịnh bắt gian thần. Bọn dũng sĩ Vương Triều, Mã Hán áp lại trói Quách Hòe cởi cả triều phục đem tới công đường xô quỳ xuống, tuyên đọc thánh chỉ một lần nữa rồi hỏi rằng: "Những chuyện đã qua rồi, mưu mẹo thế nào mau khai ngay kẻo bị tra tấn".
Đó thật là:
Phụng lại non kỳ, kẻ gian lậu kế.
Trời còn có mắt, đứa dữ mang tai.
0
Hồi Thứ Mười Tám [/align]

Sắp xảo kế, gian thần phục tội,
Ra chiếu chỉ, Thái hậu hồi cung.
 
Khi Bao Công vào công tòa tra hỏi Quách Hòe thời cũng lưu Trần Lâm ở đó để đối chất.  Bao Công hỏi Quách Hòe rằng: "Lúc ban đầu mi hãm hại Lý Phi thế nào, tráo Thái tử làm sao mau khai ngay đi”. Quách Hòe đáp: "Lý Phi tự dưng như người bị quỉ nhập, làm cho Tiên hoàng giận mà biếm vào Lãnh cung chớ có tráo chác gì mà hỏi lạ thế?”. Trần Lâm ngồi bên tiếp rằng: "Đã nói không mưu tráo Thái tử, làm sao lại có lời dặn Khấu Châu phải lấy dây lưng thắt cho chết Thái tử rồi quăng xuống Kim Thủy Trì?". Quách Hòe nghe hỏi nghênh mặt cự rằng: "Trần Tổng quản! Sao ông lại dám chất vấn tôi? Nếu tôi trở về lãnh lệnh vua ra đây chắc ông cũng không thoát khỏi tội!". Bao Công nghe vậy cười nhạt mà rằng: "Quách Hòe! Mi đã chẳng cậy oai Lưu Hậu thời thôi, nếu cậy tới chắc không khỏi tội. Tả hữu đâu đem nó ra đánh hai chục hèo!". Tả hữu dạ dạ, kéo Quách Hòe xuống đánh đủ số, Quách Hòe bị đòn thịt đứt da tan, biết việc trọng hệ rồi, song cũng không chịu khai, cứ nói: "Việc Lý Phi sinh ra bị quỷ nhập, đối với Quách Hòe này không can hệ gì sao lại gia trọng hình thế này?". Bao Công hỏi: "Đã nói không mưu tráo chúa, sao lại xử tử Khấu Châu?". Quách Hòe nói: "Vì Khấu Châu phạm tới Thái hậu nên mới bị gia hình".  Trần Lâm chặn lời rằng: "Ông nói vậy sai rồi. Lúc khảo Khấu Châu bản thân tôi có ở đấy. Lưu thái hậu hỏi nó rằng: Mi bồng Thái tử đem bỏ ở đâu, phải khai ngay. Chuyện như vậy sao ông lại nói nó phạm thượng?" Quách Hòe nguýt một cái rồi nói: "Phải! Bị ngươi đánh nó độc quá, chịu không nổi, nó mới đập đầu xuống thềm mà chết, thế sao lại hỏi ta?". Bao Công thấy vậy giận lắm, sai tả hữu tra tấn Quách Hòe. Nhưng Quách Hòe không chịu khai.
Ngày thứ hai đem ra tra nữa, cũng không ăn thua gì. Bao Công một mặt thảo sớ tâu vua, một mặt cho mời Công Tôn Sách ra để cùng bàn luận, Công Tôn Sách nói rằng: "Vãn sinh có một cách tra, chắc y gan ruột thế nào cũng phải khai".
Ngày thứ ba Bao Công thăng đường, truyền đem Quách Hòe ra. Đêm ấy Quách Hòe nằm trong ngục nghĩ rằng: "Ta đã bị nông nỗi này hai ngày hai đêm rồi, sao lệnh của Lưu thái hậu lại chưa tới, hay mắc điều chi mà quên hay sao? Thế nào thời thế, ta quyết không cung, thời Bao Chửng làm sao định án được".  Đương suy nghĩ lại thấy cai ngục mở cửa, bọn sai dịch áp vào, dẫn ra công đường. Tới nơi Quách Hòe thấy một lò lửa đỏ đương đốt những kìm sắt có gai, không biết để dùng làm chi, chỉ cúi đầu quỳ đợi lệnh. Bao Công hỏi rằng: "Quách Hòe, ban đầu mi định kế hại Lý Phi thế nào và dùng vật gì tráo Thái tử, mau nói thiệt đi!" Quách Hòe đáp: "Không có chuyện ấy, nếu quả có năm tháng đã phải lộ ra rồi, đại nhân nghĩ coi, không có thì lấy gì mà khai". Bao Công nghe qua giận lắm, vỗ án rầm rầm, hét to lên rằng: "Thằng gian thần kia, mi thật nhiều mưu lớn mật, chuyện đã bại lộ, Thánh thượng cũng hay mà mi còn chối à? Tả hữu gia hình nó cho mau”. Tả hữu dạ dạ, lột áo Quách Hòe ra, một người cầm cái kìm đỏ lửa giơ vào mình.  Bao Công hỏi "Quách Hòe! Mi đã chịu khai chưa?".  Quách Hòe làm thinh không đáp, Bao Công đằng hắng một tiếng, cái kìm đỏ úp vào mình Quách Hòe cháy nghe xèo xèo, hơi thịt bay khét nghẹt. Quách Hòe rên la rất thảm, rồi ngã đừ ra bất tỉnh nhân sự,  Bao Công truyền sai dịch đem giam lại trong ngục.
Công Tôn Sách đã sắp đặt trước rồi, nên bọn sai dịch không đem Quách Hòe vào ngục, lại khiêng vào miếu ngục thần. Quách Hòe tới đó, thấy viên đề lao sắc mặt vui cười, tay bưng chén đi lại trước mặt nói rằng: "Đại phu ôi! Tôi thấy đại phu chịu tra tấn khốn khổ quá không đành lòng, nên tìm được chút thuốc Định Đông này, xin đại phu uống vào, để cho an thần ích khí”. Quách Hòe thấy viên đề lao ân cần mời đãi, liền tiếp lấy và nói rằng: "Ta nhờ ơn ngươi giúp đỡ, may sau này được xuất đầu lộ diện chắc chẳng quên ơn". Viên đề lao nói: "Phải, nếu đại phu được ra khỏi phủ Khai Phong chúng tôi chỉ nhờ đại phu nửa lời cũng đủ quý hiển”. Tính Quách Hòe ưa nịnh nọt, nay được viên đề lao gãi đúng chỗ ngứa vui lòng lắm, không e ngại gì, bưng chén thuốc uống cạn. Một lát thấy trong mình khỏe khoắn êm ái lắm, viên đề lao lại đem rượu mời uống nữa, đương khi uống, nhân hỏi tới việc cung Nhân Thọ, thời viên đề lao đáp rằng: "Vì mấy bữa nay Lưu Thái hậu bị hồn Khấu Châu phá khuấy, nên quý thể bất an, nay cũng giảm bớt rồi, ít ngày nữa tỉnh táo lại, thì đại phu cũng khỏi nạn”.  Quách Hòe nghe nói vậy sung sướng lắm, uống luôn vài chén nữa, bất giác đôi mắt trầm trầm nhắm lại, say mèm. Viên đề lao bèn dẹp cả chén bầu, rồi mình cũng lánh đi chỗ khác, chỉ để một mình Quách Hòe nằm đó mà thôi.
Trong cơn mơ màng, Quách Hòe nghe gió thổi rao rao, lọt vào kẽ vách, làm cho cảnh thêm tịch mịch, hơi rất lạnh lùng, lần lần gió càng lớn, cát bay mù mịt, thoạt thấy trước mặt mờ mờ có bóng người đi tới.  Quách Hòe kinh hãi muốn la lên, kế bóng ấy đi tới gần và nói rằng: "Quách quản gia ôi! Xin cứu tôi với".  Quách Hòe hỏi: "Người là ai?". Bóng ấy đáp: "Tôi không phải ai xa lạ, cung nữ Khấu Châu đây, vì chuyện đi luân hồi, nhưng không ai đối chất để vỡ oan án, nếu đợi tới Lưu Thái hậu và Quản gia xuống tới, thời lâu quá, vì số hai người còn hưởng hơn chục năm nữa. Vì vậy hôm qua Diêm Vương có mời Thái hậu xuống hỏi việc ấy, Thái hậu nói rằng đầu đuôi chỉ tại Quản gia, vậy xin mời Quản gia xuống điện Diêm Vương đối chất một lời giúp cho tôi được siêu linh tịnh độ". Quách Hòe nghe nói dựng tóc gáy, lạnh xương sống, lại thấy bóng ấy rõ là một người con gái tóc xũ rối bong, máu me đầy mặt, giống hệt Khấu Châu, lại nhớ lời viên đề lao mới nói khi nãy thời sợ sệt lắm, nói lập cập rằng: "Khấu cung nhân ôi! Oan uổng cho nàng quá! Lúc trước tôi tính mưu với Vưu bà lột da một con mèo để tráo Thái tử và hãm hại Lý Phi, nàng nào có biết được, vì vậy mà nàng đến phải thác oan, thôi đối chất, nếu quả tôi còn sống được vài năm nữa, khi ra khỏi ngục rồi sẽ rước cao tăng cầu siêu cho oan hồn nàng". Nói dứt nghe hồn Khấu Châu khóc rằng: "Đại phu nói vậy tôi rất đội ơn song lát nữa đây tới điện Diêm Vương đại phu nên thuật lại chuyện trước cho tỏ tường để tôi được thanh thoát".  Hồn Khấu Châu nói tới đó thời có tiếng quỉ sứ thầm thì đi tới, xem kỹ là hai con quỷ vô thường. Tới nói rằng: "Vua Diêm Vương đã thăng điện rồi, cho bắt sinh hồn của Quách Hòe và đòi oan hồn Khấu Châu về đối chất". Nói dứt lời áp lại bắt Quách Hòe dắt đi theo hồn oan của Khấu Châu.
Quách Hòe tưởng mình bị tra tấn đã chết rồi, cứ việc đi theo hai quỷ tới điện Diêm Vương. Khi vào một tòa điện kia, quang cảnh mờ mờ bốn bề lặng lẽ, không phân được đông tây nam bắc, coi rõ ràng một cõi u quang. Quách Hòe nghĩ là chỗ Diêm Vương liền cúi đầu quỳ xuống. Xảy nghe Diêm Vương phán rằng: "Quách Hòe, việc mi làm với Lưu Thái hậu đáng lẽ phải xa vào ngục u tù, song vì số mi còn hưởng thọ hơn chục năm nữa, nên chưa luận tội, nay nhân hồn oan của Khấu Châu vấn vít, mi nên đem cả mưu mẹo xưa kia nói lại một lượt để cởi oan cho nó được hưởng siêu sinh, tưởng mi cũng không nỡ nào giấu giếm cho nó phải oan trầm mãi". Quách Hòe nghe xong không ngại ngùng gì nữa, cứ y chuyện cũ thuật lại một lượt, nào là lúc lột da mèo tráo chúa để hại Lý Phi, giao Thái tử cho Khấu Châu quăng xuống Kim Thủy Trì, cố ý đoạt ngôi chính cung cho Lưu hậu, nhất nhất mỗi việc đều nói không giấu giếm. Thuật xong, thấy trên điện đèn đuốc bật cháy sáng trưng, Diêm Vương khi nãy tức là Bao Công giả dạng, còn bọn quỷ sứ phán quan đều là bọn lính tráng tùy tùng thay hình, coi không khác chi cảnh điện Diêm Vương.
Bây giờ viên thư lại trình tờ khẩu cung của Quách Hòe vừa khai và lời đối đáp với hồn oan khi nãy. Bao Công bắt Quách Hòe ký khẩu cung, Quách Hòe nhắm không thể chối từ bèn cất bút ký liền. Bao Công thu tờ cung rồi truyền đem Quách Hòe vào ngục. Sáng sớm vào chầu vua Nhân Tôn tâu đủ các việc và dâng tờ cung ấy lên. Vua Nhân Tôn xem xong đút vào tay áo đi thẳng vào cung Nhân thọ. Vào tới nơi thấy Lưu hậu mê man, song thấy vua vào vội nói rằng: "Quách Hòe “ là lão thần của Tiên hoàng, xin Vương nhi tha lỗi cho nó". Nhân Tôn làm thinh không đáp lấy tờ cung của Quách Hòe trải trước mặt cho Lưu Thái hậu coi. Lưu Thái hậu xem xong, run bần bật thở dài một cái, hồn bỏ xác mà bay đi. Nhân Tôn phân phó cho nội thị đưa Lưu hậu ra ngoại điện, dùng theo lễ Phi tần mà khâm liệm và tống táng.  Xong xuôi chuyện ấy rồi, truyền quét dọn cung điện, triệu quan Khâm thiên giám, lựa ngày lành tháng tốt hồi cung. Lại triệu Bao Công vào triều, dạy thảo chiếu ban hành cho bàn dân thiên hạ, từ đó muôn dân mới biết quốc mẫu là Lý Thị chớ không phải Lưu Thị nữa.
Đến ngày lành, trong triều các quan tề tựu đủ mặt, đến các vương phi mệnh phụ cùng tới mừng lễ hồi cung. Bây giờ trước cửa cung Nam Thanh Lý Thái hậu và Địch nương nương cùng vào cung. Tới nơi Lý Thái hậu lên điện cho các quan và mệnh phụ bái lễ, rồi cho vợ chồng Bao Công tới tạ ơn. Lễ yến linh đình không sao nói hết được.
Lễ hồi cung xong rồi, Thiên tử truyền đem Quách Hòe ra xử tử, còn Vưu bà trước kia đồng mưu với Quách Hòe, song nay chết rồi cũng không khỏi tội, nên truyền moi thây lên dầm nát ra.  Khấu Trung tận trung, Dư Trung, Tân Phụng toàn nghĩa thời được lập đền thờ hai bên sân cung Nhân Thọ, phong đền Khấu Châu là Trung liệt từ, đền Dư Trung, Tân Phụng là Song nghĩa tử. Bao Công được nhắc lên làm Thừa tướng, phong Công Tôn Sách một chức quan lớn, bốn dũng sĩ đều sung chức tại phủ Khai Phong. Lại vâng ý chỉ của Thái hậu phong cho Trần Lâm chức Đô đường, Phạm Tôn Hoa chức Thừa tín lang. Sửa lò gốm cũ lại làm miếu thờ, cắt Tôn Hoa làm miếu quan, ban cho bạc tiền, ruộng đất, ở ăn coi việc quý tế.
Phấn nước hương vua thêm vinh nghĩa bộc.
Luật nghiêm hình trọng không thứ gian thần.
0
Hồi Thứ Mười Chín [/align]

Bị ếm ma, trung thần phải nạn,
Giết yêu đạo, hào kiệt lập công.
 
Bao Công khi được thăng chức Thừa tướng thời nhớ tới ơn Nam hiệp Triển Chiêu lắm, một hôm đi chầu về vào thư phòng viết một phong thư truyền “ Bao Hưng sắm hậu lễ sai người mang ba trăm lượng bạc tới phủ Thường Châu, huyện Võ Tấn, thôn Ngọc Truật rước Triển Hùng Phi và viết luôn một phong thư khác về thăm nhà. Sau đó chợt thấy viên đầu mục vào bẩm có một người đàn ông và một người đàn bà kêu oan ngoài phủ. Bao Công lật đật thăng đường, cho đòi hai người ấy vào. Cả hai đều trạc tuổi ngũ tuần, Bao Công cho đòi người đàn bà lên hỏi, bà ta khai rằng: "Tôi là Dương Thị, chồng họ Huỳnh chết đã lâu rồi, có để lại hai gái, đứa lớn tên Kim Hương, đứa nhỏ tên Ngọc Hương, con nhỏ đã hứa gả cho con trai Triệu Quốc Thạnh. Đến ngày cưới con nhỏ về nhà chồng còn con lớn cũng đi đâu mất, tìm kiếm hết sức không được, tôi bối rối vô cùng, ai dè họ Triệu tới, nói tôi là tráo chị duyên em, không biết y lấy cớ gì tôi đã mất con mà còn vu điều chẳng phải nữa, xin lão gia phán xử “. Bao Công nghe xong hỏi rằng: "Nhà bà thường có thân quyến tới thăm luôn chăng?". Dương Thị đáp: "Chẳng những là thân quyến, cho tới nhà ở chòm xóm cũng không mấy khi tới thăm". Bao Công nghe rồi hỏi tới Triệu Quốc Thạnh, thời y khai rằng: "Tôi nguyên có định hôn cho con tôi với đứa con gái nhỏ của bà họ Dương, vì con ấy xinh xắn, còn chị nó thì xấu lắm, lúc rước dâu về nhà té ra bị tráo chị thế duyên em, tôi tức mình tới rầy rà với bà, thời bà ấy lại bắt đền tôi sao cưới em mà lại rước luôn chị, vì sự ức cúi xin thượng quan thẩm xét". Bao Công hỏi rằng: "Ông biết rõ mặt hai chị em nó hay không?". Triệu Quốc Thạnh đáp: "Trước khi tôi chưa kết thân cũng đã biết rõ cả mặt chúng nó". Bao Công nghe rõ đầu đuôi tạm cho cả hai lui về, chờ người dọ tin.
Bao Công lui vào thư phòng, Bao Hưng dâng trà lên, uống được ít hớp, thời thấy đôi mắt đờ đẫn, và nói rằng: "Hơi gì tanh quá vậy?". Nói rồi ngã gục xuống mê man bất tỉnh, Bao Hưng la hoảng lên, bọn Lý Tài chạy vào đỡ đem lên giường. Lý phu nhân nghe tin cũng chạy ra, chỉ thấy Bao Công nằm dài trên giường, mắt trợn ngược, tròng không đảo nữa, không hiểu bệnh tình ra sao, rất là lo sợ. Ngay sau đó thấy Công Tôn Sách tới, đi thẳng lại giường chẩn mạch cho Bao Công. Coi xong lấy làm lạ lắm. Bao Hứng hỏi: "Bệnh Tướng công thế nào?". Công Tôn Sách đáp: "Đó chẳng có bệnh chi, chẳng qua là mê ngất một lúc thôi”. Nói rồi sai người vào bẩm cho Lý phu nhân hay và an ủi người, còn mình thì lo viết sớ tâu lên Thánh thượng.  Thiên tử hay tin phái ngự y tới, song cũng không rõ đó là bệnh gì. Thái hậu cũng sai Trần Lâm tới viếng.  Bao Công mê man như vậy suốt năm ngày, không ăn uống nói năng gì cả. Bọn Bao Hưng, Lý Tài, Công Tôn Sách và bốn dũng sĩ, Vương, Mã, Trương, Triệu hầu hạ ngày đêm không rời, ai nấy chỉ nhìn mặt nhau thở dài than vắn thôi. Sau đó có tin người đi Thường Châu về nói Triển Hùng Phi không có ở nhà, lão bộc hứa rằng ngài về sẽ thưa lại. Còn tin nhà thời ông bà đều bình an cả.
Triển Chiêu sau khi cứu Kim Ngọc Tiên cùng Vương Triều chia tay tới nay, chỉ sớm xem phong cảnh các nơi danh thắng, chiều lại cùng các sãi nơi phật am. Nghe tin Bao Công tìm được quốc mẫu, thăng chức Thừa tướng, Triển Chiêu vui mừng vô hạn, bèn nghĩ rằng: "Đã như thế ấy, thời ta còn e gì lại không tới phủ Khai Phong một phen". Ý đã quyết rồi, cứ thẳng đường vừa ngoạn du vừa đi tới. Một buổi trưa kia đi tới trấn Du Lâm, lên nhà hàng uống rượu, vừa cất chén uống, thấy có một người đàn bà đi tới, áo quần rách rưới, mặt mày mét xanh, hình vóc ốm o, rất là tiều tụy. Một lát người ấy tới trước mặt nói rằng: "Nô gia là Vương Thị, chồng là Hồ Thành ở tại thôn Tam Bảo, nhân gặp năm hạn mất mùa, không lấy chi nuôi được thân, rủi chồng và mẹ chồng phải bệnh nặng, thuốc men đã chẳng có, cơm nước lại không, muôn phần nguy hiểm, nô gia phải đánh liều đi xin, cầu quý quân tử mở dạ từ bi cứu cho chút ít".  Triển Chiêu thấy người đàn bà nói tha thiết bèn móc túi cho một đỉnh bạc và dặn rằng: "Thím nên đem bạc này về lo thuốc men cho mẹ chồng và chồng thím, còn dư bao nhiêu làm tiền dưỡng bệnh, đừng có đi nghêu ngao xin xỏ nữa không nên". Người đàn bà nhìn thấy đỉnh bạc ấy rất nhiều, ước hơn ba lượng, thời không dám lấy, nói rằng: "Quân tử có lòng làm phúc xin cho một vài đồng là đủ, nô gia không dám nhận nhiều”.  Triển Chiêu lấy làm lạ hỏi rằng: "Ta đã cho, sao lại từ không lấy?". Người đàn bà đáp: "Thưa quý khách, lòng tốt của ngài con xin đội ơn mãi mãi, song e đem bạc này về mẹ chồng và chồng của con sinh nghi, hóa ra chẳng phụ lòng tốt của ngài sao?". Triển Chiêu chưa biết nói sao, người chủ lầu nghe vậy chạy lại nói rằng: "Thím đừng ngại chuyện đó, quân tử đã có lòng tốt thời cứ nhận đi, nếu sau có chuyện gì cứ bảo chồng thím lại đây nói tôi, tôi sẽ làm chứng cho". Triển Chiêu nghe dứt lời, khen là phải. Ai dè bên cạnh có một đứa vô lại tên là Lý Nhi tính hay vu trá, thấy vậy liền bước lại trước mặt Triển Chiêu mà rằng: "Quan khách chớ nên cho người đàn bà ấy nhiều tiền như vậy, đó là cái nghề kiếm ăn của chúng nó. Trước đây ít lâu, có người cho y bạc, bị chồng y nghi, sinh ra lắm chuyện lôi thôi, bức lấy một trăm lượng bạc mới chịu thôi, không thì kiếm điều xấu hổ vu cho. Bây giờ quan khách cho y bạc, e chốc lát chẳng khỏi chồng y lại sinh sự lôi thôi nữa". Triển Chiêu nói không chú ý, song bụng nghĩ rằng: "Nếu quả nó dối gạt, ta cũng không lo gì, sợ là sợ kẻ khác mắc lừa mà thôi, bây giờ ta vô sự, cũng nên đi tới thôn Tam Bảo, coi xem quả vậy sẽ trừng trị chúng nó một phen để răn kẻ khác".  Nghĩ rồi tính tiền trả nhà hàng rồi xuống lầu nhắm thôn Tam Bảo đi tới. Đi một đỗi thời trời đã tối, thấy bên đường có một cái am đạo sĩ Hình Kiết đi bái đàn phương xa, nên trong am chỉ có hai tiểu đạo là Đàm Minh, Đàm Nguyệt ở mà thôi, mé bên tây cho khách ở.
Tới đến hết canh hai, Triển Chiêu tỉnh dậy, lén ra khỏi điện đi lại thôn Tam Bảo, ai dè qua một chỗ kia đèn đốt sáng trưng và có tiếng chuyện vãn rầm rì.  Triển Chiêu bèn nhảy lên tường dòm xuống thấy tên đạo sĩ đương nói chuyện với một người con gái, bèn lắng tai nghe. Người con gái nói rằng: "Chúng ta lập kế như thế, nhưng không biết chị hai về bên họ có chịu hay không chưa biết". Đạo sĩ nói: "Nếu họ không chịu thời còn nhạc mẫu lo cho mình, lo gì chuyện ấy, cho mệt". Triển Chiêu không hiểu chuyện gì, quay mình bỏ đi, chợt nghe đứa con gái ấy nói tiếp rằng: "Chàng nói Bàng Thái sư muốn hại Bao Công, chuyện ấy làm sao thuật lại cho thiếp nghe thử?". Triển Chiêu giật mình dừng lại rình nghe, tên đạo sĩ kia đáp rằng: "Em chưa biết việc đó, để tôi nói cho mà nghe, vả chăng phép của thầy ta hay lắm, bá phát bá trúng, bây giờ đương thiết đàn tại hoa viên của Bàng Thái sư được năm ngày rồi, đợi đúng bảy ngày thì xong, chừng ấy được đền ơn một ngàn lượng, chúng ta sẽ ăn cắp rồi cao chạy xa bay tìm nơi an hưởng, vợ chồng ta thỏa thích biết bao!”. Triển Chiêu nghe xong, lật đật trở về gom góp hành lý ra đi không thèm cáo từ ai hết, ra đường nhắm thành Biện Lương đi thẳng.  Chẳng bao lâu tới thành, thời cửa đã đóng không sao vào được, liều dùng phép leo thành, vào được trong rồi bèn tìm tới phủ Thái sư, vòng ra sau hoa viên thấy cao tháp pháp đà, trên ấy đèn đuốc sáng trưng, có một đạo sĩ già bỏ tóc xõa thắp hương làm phép.  Triển Chiêu lén lén đi lên đài, lại sau lưng đạo sĩ rút gươm ra.
Hình Kiết đương làm phép, chợt nghe sau gáy có hơi lạnh, liền quay đầu lại nhìn thấy Triển Chiêu đôi mắt chằm chằm huơ đao một cái hào quang nhoáng ra. Rầm! Bình để trên bàn vỡ đôi, đạo sĩ thất kinh hồn vía, ré lên một tiếng rồi chạy thẳng xuống đài. Triển Chiêu tức tốc chạy theo chém đạo sĩ chết ngã lăn, rồi trở lên đài xem xét, thấy trên bàn máu dơ lênh láng mảng bình dọc ngang. Triển Chiêu thấy có một cái hình người bằng cây, bèn lượm và lấy tấm khăn bàn gói lại rồi đi xuống lượm thêm cái đầu của Hình Kiết nữa, nhắm thư phòng của Bàng Thái sư đi tới.
Thật là:
Mưu hại Bao Công chưa tuyệt mạng,
Mà hồn đạo sĩ sắp chầu trời.
0
Hồi Thứ Hai Mươi
[/align]

Liệng đầu người, Hùng Phi dọa nịnh,
Bắt được bợm, học sĩ thấu mưu.
 
Nói về thầy trò Bàng Phúc đương ngồi tại thư phòng bàn rằng: "Sáng tới đây là đúng sáu ngày rồi, một ngày nữa thời Bao Công sẽ chết". Vừa nói tới đó chợt nghe tiếng rầm, miếng kính che cửa sổ vỡ nát ra, có một cái đầu người máu chảy ròng ròng từ ngoài bay vào. Bàng Kiết thất kinh rú lên một tiếng ngã sấp xuống ghế. Một lát không thấy động nữa, thầy trò làm gan bưng đèn lại xem, thời ra là cái thủ cấp của lão đạo sĩ Hình Kiết. Bàng Thái sư nghe chắc là người ở phủ Khai Phong lén qua phá phép, bèn phái người vây bao bốn phía. tìm bắt nhưng không thấy ai, hối hận vô cùng, bèn thu xếp chôn cất đạo sĩ chớ không biết làm sao được. Nam hiệp Triển Chiêu ôm gói hình cây thoát ra hoa viên thẳng tới phủ Khai Phong. Công Tôn Sách và bốn dũng sĩ nghe báo lật đật ra nghênh tiếp. Triển Chiêu hỏi rằng: "Tướng công bệnh trạng thế nào?". Công Tôn Sách ngẩn ngơ hỏi lại rằng: "Sao ông lại biết được?". Triển Chiêu nói: "Muốn rõ xin vào trong tôi sẽ nói cho nghe". Ai nấy vâng lời, vào trong trà nước xong xuôi,  Triển Chiêu vừa mở trong gói ra một cái hình người bằng cây vừa hỏi rằng: "Các ông có biết vật này không?". Công Tôn Sách tiếp lấy xem rồi đưa cho bốn dũng si, không ai hiểu là gì. Công Tôn Sách đem lại bên đèn coi kỹ thấy có chữ biên tên tuổi của Bao Công, liền gật đầu nói với Triển Chiêu rằng. "Tôi hiểu rồi, tôi hiểu rồi, đây là phép yếm ma của bọn đạo sĩ chớ gì?". Triển Chiêu khen rằng: "Tiên sinh thật đại tài, nên nghĩ không sai“. Các dũng sĩ không hiểu đầu đuôi ra sao, nên xin Nam hiệp thuật lại. Ngay lúc ấy Bao Hưng ở trong đi ra nói rằng: "Tướng công đã tỉnh dậy, đương ngồi ăn cháo, sai tôi ra mời Triển nghĩa sĩ vào”. Công Tôn Sách liền hối Triển Chiêu cùng đi, vào tới thư phòng ra mắt Bao Công rồi ngồi lại chuyện vãn. Bao Công nói rằng: "Bao tôi đã mong nhờ nghĩa sĩ nhiều phen, chưa biết lấy chi đáp tạ, nay lại có việc này, nếu không nhờ nghĩa sĩ cứu cho, thời mạng Bao mỗ đã về chín suối". Triển Chiêu từ chối rất khiêm nhượng. Công Tôn Sách nhân nói qua việc sai người tới Thường Châu nhưng Nam hiệp không có ở đó.  Triển Chiêu nghe vậy liền đáp rằng: "Tôi đây lưu lạc phong trần như cánh bèo, không biết đâu làm chắc, mới nghe tin đại nhân bái tướng, sắp sửa tới chúc mừng, tình cờ tới Thông Chân quán, nghe tin đại nhân lâm bệnh nặng, vội vã đi thâu đêm tới viếng, nay vừa tới nơi, bệnh đại nhân vừa khỏi, thật hồng phúc biết bao “. Bao Công và Công Tôn Sách nghe qua không rõ đầu đuôi, liền hỏi: "Chẳng hay Thông Chân quán ở nơi nào, vì sao nghĩa sĩ lại được tin ở đó?".  Triển Chiêu bèn đem mọi chuyện thuật lại một lượt.  Bao Công nghe qua như người mê mới tỉnh, Công Tôn Sách vỗ tay cười rằng: "Như vậy thời án của bà Dương Thị và nhà họ Triệu đã rõ rồi". Bao Công tiếp rằng: "Phải, người con gái ở am ấy có lẽ con của Dương Thị bị đạo sĩ bắt lén”. Công Tôn Sách nói: "Nếu không phải thì là gì?". Nói rồi cười xòa.
Bao Công ngồi suy nghĩ một hồi rồi truyền bảo Công Tôn Sách một bản tấu văn lên Thánh thượng, luôn tỏ việc Bàng Kiết dùng tà thuật ám hại đại thần, đem việc giết lão đạo sĩ Hình Kiết và hình người bằng cây làm chứng, đợi tới tan canh sẽ vào triều trình đệ.  Bao Công sắp đặt xong xuôi, Triển Chiêu đứng dậy cáo từ, Bao Công liền bảo Công Tôn Sách và bốn dũng sĩ ra ngoài bày tiệc khoản đãi.
Hôm sau Bao Công ăn lót lòng xong, cho người đi bắt Đàm Minh, Đàm Nguyệt và người con gái ở quán Thông Chân, lại cho đòi Dương Thị cùng Triệu Quốc Thạnh tới hầu. Khi mấy người ấy tới phủ, Bao Công liền thăng đường, kêu Đàm Minh lên trước, thấy đạo sĩ ấy tuổi trạc tam tuần, hình dung ốm yếu, coi ra vẻ một người đoan trang, chẳng phải bợm hung ác, liền hỏi rằng: "Mi có phải là Đàm Minh đó chăng, mau đem những việc của mi làm nói lại cho bản quan rõ?".  Đàm Minh cúi đầu thưa rằng: "Tiểu đạo là Đàm Minh, học trò của Hình Kiết, ban đầu có hai thầy trò ở tại quán Thông Chân mà thôi; thường thầy tôi làm nhiều điều ám muội, tôi cản ngăn không được, lại còn bị trách cứ đòn roi, đến nỗi lo rầu thành bệnh. Sau đấy người em họ tôi là Đàm Nguyệt cờ bạc điếm đàng, quẫn bách lắm mới tới thầy tôi vay tiền, ông cụ dỗ thế nào mà nó liền xuất gia, từ khi thầy tôi gặp Đàm Nguyệt rồi, khác nào cọp mọc thêm cánh, cả hai làm lắm điều ác nghiệt nói không xiết. Mới đây thầy tôi được Bàng Thái sư thỉnh đi thiết đàn, có đem Đàm Nguyệt theo, song vừa một ngày thời thấy Đàm Nguyệt trở về, có dắt theo một người đạo sĩ còn trẻ và đẹp lắm, qua ngày sau tôi ra phòng sau thấy người hôm qua không phải đạo sĩ, thật là một người con gái.  Thưa lão gia, Đàm Nguyệt làm như vậy là trái đạo, song tôi không dám kìm chế nó, miễn sao khỏi hại tới thân tôi thời thôi. Từ đó về sau, mỗi ngày Đàm Nguyệt đều đi tới phủ Bàng Thái sư, khi đi thời khóa cửa phòng rất kín, khi về thời cùng nhau, ăn uống cười giỡn. Bữa nay chúng nó sắp sửa đi trốn, thì bị bắt đây. Lời thật tôi khai ngay xin lão gia lượng xét".  Bao Công nghe xong gật đầu cho xuống và đòi Đàm Nguyệt lên, thời thấy một tên đạo sĩ còn trẻ tuổi trạc đôi mươi, mắt lanh, mặt sáng coi lộ vẻ phường bất lương, lại ăn mặc rất đẹp không phải người tu, liền cả giận vỗ bàn hét lớn rằng: "Chứa gái, cắp của đó là phép tu của mi phải chăng?" Đàm Nguyệt cuống quýt lên, nhắm không chối được, bèn khai thật rằng: "Muôn lạy lão gia, tiểu đạo thật là Đàm Nguyệt muôn ngàn chịu tội. Nhân vì qua lại trước nhà Dương Thị thấy con gái bà là cô Ngọc Hương rất đẹp đẽ mỹ miều sinh lòng yêu mến, về sau thường tới lui, hai bên có tình luyến mộ, liền ước hẹn cùng nhau, mượn cửa sau làm ngõ tới lui tình tự, rủi bị Dương Thị bắt được không biết làm sao, tiểu đạo mới dùng tiền bạc, lụa vải mua lòng bà. Ai dè họ Triệu muốn cưới Ngọc Hương cho con, chúng tôi mới lập mưu, tới hôm cưới thời thế chị nàng vào, còn nàng thời giả đạo sĩ về ở quán Thông Chân. Tưởng mưu kia đã kín êm, gạo sống thành cơm, nhà họ Triệu cũng không nói chi được, ai dè chuyện lại tới quan thế này". Bao Công hỏi: "Mi dùng tiền bạc bao nhiêu mua được lòng Dương Thị?".  Đàm Nguyệt thưa: "Chỉ có ba trăm lượng mà thôi".  Bao Công hỏi: "Mi là đạo sĩ làm sao có nhiều bạc như vậy?”. Đàm Nguyệt đáp: "Tiểu đạo ăn cắp của thầy.  Bao Công hỏi: "Thầy mi làm gì có bạc?". Đàm Nguyệt đáp: "Nguyên thầy tôi có phép thuật rất hay, nếu muốn hại ai, chỉ dùng cây đạo chạm thành hình người, biên tên họ niên canh, lấy máu dơ đựng vào trong bình, bỏ bình ấy vào, rồi thầy tôi làm phép, đúng bảy ngày thời người bị ếm ấy không bịnh hoạn gì mà tắt hơi vong mạng. Nhân lão gia cùng Bàng Thái sư có đại cừu, nên người rước thầy tôi tới thiết đàn ếm hại, hẹn thành việc sẽ đáp tạ một ngàn rưỡi lượng bạc, thầy tôi xin lãnh trước năm trăm, khi nào xong việc sẽ lĩnh đủ”. Bao Công nghe xong sai điệu Đàm Nguyệt xuống và đòi mẹ con Dương Thị lên.
Đó rõ ràng:
Theo đạo nhưng còn mê cảnh tục,
Tới quan khó giữ kín mưu gian.
 
0
Hồi Thứ Hai Mươi Mốt [/align]

Trước điện Kim Loan, Bao Công thăng chức,
Dưới lầu diễn võ, Hùng Phi thọ phong.
 
Bao Công cho đòi mẹ con Dương Thị lên hỏi rằng: "Bà nhận số bạc ba trăm lượng của Đàm Nguyệt tại chỗ nào?". Dương Thị nghe nói Đàm Nguyệt đã khai rõ rồi, nhắm không thể chối bèn thưa rằng: "Bạc ấy bây giờ tôi để trong đáy tủ ở nhà tôi”.  Bao Công tức khắc sai người đi lấy. Còn mẹ con Dương Thị thời Bao Công sai tả hữu chèo kẹp để trừng kẻ quấy. Mẹ thời làm mụ đầu, hợp với ý tham lợi bán dâm, con thời vào lầu xanh, Kim Hương hổ thẹn diện mạo xấu xí nên xin vào cửa thiền làm vãi lo việc tu hành. Kế đó tùy tùng lấy bạc đem về tới. Bao Công trả cho Triệu Quốc Thạnh năm chục lượng, bảo về cưới vợ khác cho con. Đàm Minh đạo hạnh chân thành cho ở quán Thông Chân làm chủ, Đàm Nguyệt tính tình gian giảo, thói tục chưa rời, không phải người tu, thật loài hung dữ, nên cho ra chốn biên thùy sung quân. Án xét như vậy, song còn phải đợi tâu lên Hoàng thượng.
Bao Công trở lại thư phòng, thời thấy Công Tôn Sách đưa tấu văn tới, xem rồi bèn đem những lời của Đàm Nguyệt khai phụ vào. Qua ngày sau, trống vừa tan canh, Bao Công liền vào triều, phủ phục trước sân son, tung hô vạn tuế. Thiên tử thấy Long đồ học sĩ đã khỏe, thời vui vẻ lắm, cho vời lên điện, Bao Công tạ ơn, bước lên dâng tấu văn cho Thánh hoàng xem xét.  Nhân Tôn xem xong lại có hình cây làm chứng thời nghĩ thầm rằng: "Ai có dè Thái sư là dòng quốc thích, lại làm ra miếng tiểu nhân. Bao Công khi không bị bệnh, không ai rõ được căn nguyên, cứ như lý này, thời mới biết có người hãm hại". Nghĩ xong vời Bàng Thái sư lên điện đưa tờ tấu ấy cho y coi. Bàng Kiết coi xong, cúi đầu chớ không biết nói lời chi nữa. Vua Nhân Tôn vốn người từ thiên nhân đức, thấy vậy cũng động lòng, bèn xuống chiếu chỉ rằng: "Tội Bàng Thái sư đáng lẽ nên trị tội để răn người sau, song vì nghĩa cũ tôi xưa, cho được khỏi chết, mà phải cách chức đi lưu nhậm. Còn nghĩa sĩ Triển Chiêu thời Bao Thừa tướng phải mời tới lầu diễn võ trình bày võ nghệ". Bao Công tạ ơn lui về phủ, sai người đón mời Nam hiệp Triển Hùng Phi tới thư phòng đem ý Thánh thượng nói lại. Triển Chiêu không biết tính sao phải vâng lệnh. Bốn dũng sĩ và Công Tôn Sách nghe tin ấy cũng thết tiệc khoản đãi Triển Chiêu.
Sáng ngày Bao Công lên kiệu. Nam hiệp cưỡi ngựa theo sau, cùng tới hầu diễn võ đứng hầu thánh giá. Một lát thấy các quan văn võ hộ tống Hoàng thượng tới nơi. Bao Công và Triển Chiêu bái lễ xong xuôi, Thiên tử mới hỏi tới họ tên quê quán của Nam hiệp. Triển Chiêu nhất nhất tâu bày. Thiên tử xem thấy Triển Chiêu hình dung khôi ngôi, tướng mạo đoan trang, phải tay võ tướng lại thêm ăn nói lưu loát thời lòng vua ưng lắm, bèn dạy ra trường diễn võ thử tài. Công Tôn Sách và bốn dũng sĩ đã dự bị khí giới nơi ấy, liền đưa bảo kiếm cho Triển Chiêu. Triển Chiêu tiếp lấy bước lên cúi đầu xá ba xá lui xuống tung đao ra sức múa may, một làn hào quang quây quần chung quanh mình, ban đầu còn thấy được tới lui qua lại, sau rốt chỉ thấy một vầng bạch sắc cuốn tròn luôn chuyển như trái cầu. Các quan văn võ và bốn dũng sĩ lè lưỡi lắc đầu khen tặng chẳng dứt, còn Thiên tử ngồi trên để mắt nhìn không rời. Triển Chiêu múa gươm rồi mặt không sắc mệt, mình chẳng có mồ hôi, bước lên đài xá ba xá nữa. Thiên tử cả vui hỏi Bao Công rằng: "Múa gươm đã tài như vậy, còn bắn tên thế nào xin thử luôn xem?". Bao Công tâu rằng: "Triển Chiêu thường hay nói rằng mình có thể bắn tắt đốm lửa ở đầu cây nhang, song đó là ban đêm, bây giờ giữa ban ngày không thể thử được, vậy tạm dụng mộc bài, dán giấy trắng, bệ hạ muốn thế nào tùy ý, miễn ý ngó thấy rõ thì thôi, Thiên tử gật đầu, quan viên dâng bài lên. Thiên tử cất bút chấm ba chấm, rồi giao đem xuống cho Triển Chiêu. Triển Chiêu dạy đem ra xa ước ba chục bước cắm xuống đất, rồi tự mình cầm cung lắp tên, ngoảnh lại lầu diễn võ khấu bái Thiên tử, rồi nhảy lên ngựa đánh cho chạy ba vòng rồi lui ra xa giương cung lắp tên bắn vào mộc bài ba phá, chỉ nghe trúng liền ba tiếng, Triển Chiêu liền xuống ngựa quỳ trước ngai vàng đợi lệnh. Mộc bài dâng lên, Thiên tử xem thấy ba mũi tên đầu cắm ngay vào ba điểm châu sa không sai một mảy thời khen rằng: "Ấy thật là tay thiện xạ trong nghề bắn tên". Bao Công lại quỳ tâu thêm rằng: "Triển Chiêu còn một nghề thứ ba nữa là nghề nhảy, xin Thánh thượng lên từng lầu thứ ba ngồi xem, mới biết lời hạ thần". Vua Nhân Tôn nhận lời, hạ lệnh các đại thần theo mình lên lầu, còn các quan thời ở dưới, khi Thiên tử yên tọa rồi, Bao Công ra hiệu cho Triển Chiêu thử tài, thời thấy y lại dưới chân lầu, bước rảo ít bước, rùng mình, uốn lưng, dậm một cái, nhảy tót lên tới từng thứ ba, nhẹ nhàng như lông hồng, lanh như chớp nhoáng. Thiên tử thất kinh nói với các đại thần rằng: "Đó, thấy không các khanh, có biết tại sao trong chớp mắt mà nghĩa sĩ nhảy cao quá vậy?". Các quan không biết sao, chỉ biết khen mà thôi. Bấy giờ Triển Chiêu lên tới từng thứ ba rồi, liền ôm cột leo tuốt lên trên xà, móc chân treo tòn ten như con dơi, rồi uốn mình vung qua mệt cái, bỏ chỗ đó mà đeo nơi khác, lại bấu tay mé dưới mấy cây rui, bò như thằn lằn leo ngược. Thiên tử khen ngợi rằng: "Triển nghĩa sĩ là người, thế mà sao lại leo giỏi quá, không khác chi ngư miêu của trẫm". Triển Chiêu trổ cả tài của mình rồi, liền tới trước mặt Thiên tử bái tạ rồi lui ra.
Vua Nhân Tôn thử tài Triển Chiêu rồi trở về cung, xuống chỉ phong cho chức Ngư tiền tứ phẩm hộ vệ. Bao Công tiếp chỉ cùng Triển Chiêu quay mặt lại cúi đầu tạ ơn rồi trở về phủ Khai Phong. Bao Công sai Bao Hưng đem phục sắc theo tứ phẩm ban cho Triển Chiêu. Vừa trở lại gặp bốn dũng sĩ và Công Tôn Sách mời ra công sở dự yến cung hạ. Cùng nhau ngồi vào bàn cất chén thù tạc, vui vẻ chuyện trò, kế thấy Bao Hưng đi ra truyền rằng: "Tướng công cho mời Công Tôn tiên sinh". Ai nấy không hiểu chuyện gì xúm hỏi Bao Hưng thời Bao Hưng cũng không hiểu, Công Tôn Sách lật đật cáo từ anh em, đứng dậy theo Bao Hưng vào thư phòng một lát trở ra nói lại rằng: "Tướng công đòi tôi vào dạy làm một tờ tấu tạ ơn thế cho Triển huynh, và làm luôn một tờ điều trần, trong ấy đại ý nói rằng nhân Thái hậu nhập cung đó là một khánh lễ ít có, lại thêm quốc gia yên trị là nhờ nhiều người anh hùng tài giỏi, nên xin Thiên tử mở ân khoa để chọn hiền tài trong thiên hạ". Ai nấy nghe qua đều vui mừng, cho làm vậy là phải lẽ.
Sáng ngày sau Bao Công dắt Triển Chiêu vào chầu Thiên tử, bái tạ hoàng ân, và dâng điều trần lên. Vua Nhân Tôn xem qua rất vui lòng, chấm bút phê y rồi truyền nội các ra cáo thị cho nhân dân biết.
Thật là:
Nghĩa sĩ nay đà nhờ lộc nước.
Hàn nho rồi sẽ hưởng ơn vua.
0
Hồi Thứ Hai Mươi Hai [/align]

Trọng võ mượn tiền vợ chồng bị nạn,
Bạch Hùng đánh cọp cậu cháu gặp nhau.
 
Tại tỉnh Hồ Quảng phủ Võ Xương, huyện Giang Hạ làng Nam An Thiện có một người hàn nho tên là Phạm Trọng Võ, vợ là Bạch Ngọc Liên, cùng nhau đã có một trai tên là Kim Ca vừa được bảy tuổi. Ngày kia Trọng Võ đi hội văn với các bạn về, vẻ mặt buồn rầu lắm. Bạch Ngọc Liên không hiểu duyên cớ làm sao bèn hỏi rằng: "Chẳng hay phu tướng có việc chi, bữa nay đi hội văn về lại không được vui như vậy?". Trọng Võ đáp: "Hiền phụ vốn chưa rõ, để tôi phân lại cho tường, số là lúc tôi tới hội văn với các bạn đồng song, thời thấy mỗi người đều sửa sang hành lý như sắp đi đâu xa. Tôi mới hỏi, thời họ nói rằng Thánh thượng mới mở ân khoa tuyển người tài. Họ lại rủ tôi cùng đi, tôi nghe qua hứng chí lắm, song... ". Ngọc Liên nói: "Ý thiếp cũng muốn như vậy, từ cách mẫu thân tới nay đã mươi năm, đêm ngày mong mỏi cho phu tướng xuống kinh ứng thí sẽ cùng đi một đường, tiện viếng mẫu thân và em luôn thể, nay cơ hội đã đến, biết lo thế nào cho được như ý?". Vợ chồng bàn luận vì nhà nghèo không biết vay mượn ai cho có tiền làm lộ phí.
Ngày sau vợ chồng thức dậy sớm, đương ngồi nói chuyện, chợt nghe có tiếng gõ cửa. Trọng Võ lật đật ra mở, thời thấy người bạn tri kỷ là Lưu Hồng Nghĩa bước vào. Vợ chồng Trọng Võ mừng lắm, Kim Ca cũng lại chào bác. Mời ngồi và trà nước xong xuôi, Hồng Nghĩa mới hỏi Trọng Võ rằng: "Hoàng thượng xuống chỉ mở ân khoa, hiền đệ có hay hay không?". Trọng Võ đáp: "Đã hay rồi, song còn đương trù trừ chưa quyết”. Hồng Nghĩa hỏi: "Tài học như hiền đệ, sao lại không đi ứng thí may ra danh toại công thành chớ cứ như thế này mãi thời khổ lắm". Trọng Võ đáp: "Chẳng giấu chi anh, em cũng có ý ấy, song tiền bạc không có lấy chi làm lộ phí, lại thêm vợ em muốn cùng đi với em lên kinh thăm mẹ nữa". Hồng Nghĩa hỏi: "Lộ phí phỏng tốn bao nhiêu, tôi sẽ lo liệu cho?". Trọng Võ đáp: "Ít lắm cũng phải tốn tám chục lượng”. Hồng Nghĩa nói: "Ừ! Có vậy, thời mai đừng đi đâu chờ tin, tôi chạy giúp cho có được không!". Nói rồi từ giã ra về.  Trưa hôm sau, Trọng Võ đương than thở với vợ, thấy Hồng Nghĩa dắt tới một con lừa đen và cầm hai gói bạc đưa cho Trọng Võ mà rằng: "May lắm, có lẽ hiền đệ đã hết lúc khốn khó rồi, tôi đã hỏi được một trăm lượng, đủ cho vợ chồng hiền đệ và cháu về kinh, vậy hiền đệ mau mau lo xếp đặt hành lý, mai là ngày hoàng đạo, xuất hành tốt lắm". Trọng Võ nghe nói mừng rỡ lắm hỏi rằng: "Bạc ở đâu mà nhân huynh có nhiều như vậy, hay là vay hỏi ai, tiền lời bao nhiêu nói cho em biết?". Hồng Nghĩa đáp: "Không ngại gì, bạc đó tôi hỏi của người không lấy lời, nếu có lời đi nữa, tôi lo hộ cho, hiền đệ bất tất phải lo lắng, vậy bây giờ nên ra chợ mua sắm các vật cần dùng lúc đi đường cho kịp, kẻo mai xuất hành thiếu thốn khó lắm?". Trọng Võ vâng lời, cùng nhau dắt lừa ra đi, còn Ngọc Liên ở nhà lo cơm nước và xếp đặt y phục hành lý. Chiều lại, Lưu Hồng Nghĩa và Trọng Võ trở về, cùng ăn cơm. Nhưng vật gì có thể dùng được lúc đi đường thời đem theo, còn vật gì để lại đều gởi gấm cho Hồng Nghĩa.
Gà vừa gáy sáng, ai nấy đều thức dậy, sắm sửa lên đường. Hồng Nghĩa chỉ con lừa nói với Trọng Võ rằng: "Con lừa này nguyên của tôi, song nó hay nhát chủ, vậy tôi xin tặng cho hiền đệ đi đường, nếu tiện thời nên bán nó đi mua một con khác mà cưỡi”. Trọng Võ đáp: "Em đã nhờ nhân huynh giúp đỡ quá nhiều, nay chẳng lẽ từ chối nữa, song đến sự bán con lừa này mà mua con khác thời em không nỡ. Người ở đời có lẽ nào lừa lại quên chủ, xin nhân huynh chớ nghi”. Nói rồi bái biệt nhau, lưu luyến giây lâu mới phân tay kẻ đi người ở. Vợ chồng Trọng Võ kẻ cưỡi lừa người đi xe, ngày đi đêm nghỉ, khát uống đói ăn, chẳng bao lâu đã tới kinh kỳ, liền mướn nhà ở ngụ. Khoa thi này Bao Công làm chủ khảo, nên trong chốn trường thi nghiêm ngặt. Tới ngày vào trường, sĩ tử đều đem hết sức học tài hay để vin nhành quế. Trọng võ vào luôn ba trường đều đắc ý. Bảng hổ chưa nên, bèn tính đem vợ con vào Vạn Toàn Sơn thăm nhạc mẫu. Vào tới nơi, hỏi thăm người ở trong đó, không ai biết nhà họ Bạch ở đâu, vợ chồng buồn bã vô cùng, quay xe trở lại. Đi ngang một bãi cỏ nọ, màu xanh mướt, gần bên lại có nhiều bực đá trắng sạch sẽ lắm, Trọng Võ liền mở xe thả lừa cho ăn, dắt vợ bồng con để ngồi trên bục đá, còn mình thời bước rảo qua phía Đông Sơn Khẩu kiếm người hỏi thăm nhà họ Bạch. Đi một hồi không gặp ai, bèn trở lại thời vợ con đâu mất, không còn ở đó. Hoảng hồn chạy đi kiếm cùng cũng không gặp. Kêu réo cũng không nghe trả lời. Trọng Võ vừa đi vừa khóc rồi gặp lão tiều phu, bèn chạy lại hỏi thăm, ông ta chắt lưỡi đáp rằng: "Thôi rồi? Còn chi hỏi nữa, vậy chú không biết Oai liệt hầu ở Độc Hổ trang tên là Ác Đăng Vân hay sao? Khi nãy người đi săn về ngang, tôi thấy trên ngựa có chở một người đàn bà đương kêu khóc inh ỏi, còn đứa nhỏ thời không thấy”. Trọng Võ nghe nói lật đật hỏi rằng: "Độc Hổ trang ở phía nào, cách đấy bao xa?". Ông tiều đáp: "Cách đây năm dặm, ở về phía đông nam có một khu rừng tức là Độc Hổ trang đó". Trọng Võ nghe xong, đâm đầu chạy nhào xuống núi, nhắm Độc Hổ trang đi tới.
Nguyên Ác Đăng Vân cùng bọn tùy tùng đi săn trong rừng gặp hai con cọp, vừa lúc định bắn thì cọp ấy chạy hoảng, ngang bãi cỏ xanh thấy Kim Ca liền tha mất, Bạch Ngọc Liên thấy con bị cọp bắt la ré lên, Ác Đăng Vân vừa đi qua liền bảo bọn tùy tùng chở lên ngựa đem về Độc Hổ trang.
Kim Ca bị cọp bắt đi qua cánh rừng kia, có ông tiều đốn củi ở đó thấy vậy động lòng tiểu nhi bị hại.  Muốn cứu trong tay sẵn có cái rìu liền ngồi phục xuống, chờ cọp chạy ngang, giơ thẳng tay đánh vào lưng một cái rất mạnh, cọp thình lình bị đánh nhả Kim Ca ra cong đuôi chạy mất. Ông tiều chạy lại thấy đứa nhỏ còn thở, liền ẵm về nhà. Vào tới nhà ông ta để đứa nhỏ lên giường, chạy kiếm một chén nước nóng cho uống, và lấy thuốc thoa dấu cọp. Một lát Kim Ca tỉnh dậy rên rỉ. Mẹ của tiều phu thấy đứa nhỏ mặt mũi sáng sủa thời thương lắm, lại nghe tiều phu thuật chuyện cứu nơi miệng cọp kinh hãi vô hạn.  Bà ta vỗ về đứa nhỏ và hỏi tới nhà cửa mẹ cha. Đứa nhỏ bèn thuật lại rằng: "Tôi tên là Kim Ca vừa được bảy tuổi, cha tên là Phạm Trọng Võ, mẹ họ Bạch... ".  Mẹ tiều phu nghe nói chặn hỏi rằng: "Mẹ cháu phải Bạch Ngọc Liên hay không?". Kim Ca đáp: "Phải “. Mẹ tiều phu vội vàng ôm Kim Ca vào lòng, khóc ồ rằng: "Cháu ôi! Vì bà mà cháu ra nông nỗi này”. Kim Ca ngơ ngẩn không biết gì cũng khóc theo. Tiều phu dỗ rằng: "Cháu đừng khóc, để cậu nói mà nghe. Cậu đây là Bạch Hùng em của mẹ cháu, còn bà đây là bà ngoại của cháu, lâu nay nhớ cha mẹ cháu lắm, hằng nhắc nhở, nay cháu bị nạn tới đây, bà động lòng nên khóc như vậy". Kim Ca nghe nói ôm bà ngoại khóc ròng,  Bạch Hùng cũng rơi nước mắt.
Thật là:
Tưởng đã chôn xương trong bụng cọp,
Nào hay còn sống ở nhà bà.
0
Hồi Thứ Hai Mươi Ba [/align]

Bị đánh đau, Trọng Võ phát điên,
Ham uống rượu, Khuất Thân bỏ mạng.
 
Nói về Kim Ca nhận được cậu và bà ngoại rồi, bèn đem chuyện tìm bà tới lúc bị cọp tha thuật lại, nhân nhắc tới cha mẹ thời khóc rống lên. Bạch Hùng dỗ rằng: "Cháu đừng khóc nữa, bữa nay trời đã tối rồi, đợi sáng mai cậu sẽ vào cửa Đông Sơn tìm cha mẹ cháu”. Kim Ca nghe nói cũng yên lòng.
Gà vừa gáy sáng, trời vừa tan sương, Bạch Hùng ăn sơ ít hột cơm rồi nhắm hướng Vạn Toàn sơn đi tới. Đi dọc đường gặp một người đàn ông tóc rối như tơ vò, máu chảy đầy mặt, tay trái xách áo, tay mặt xách một chiếc giày đỏ, thấy mặt Bạch Hùng không hỏi han gì xách giày lại đánh, vừa đánh vừa nói: "Đồ chó, mày giỏi đánh tao đi, mày giỏi giết tao đi! “. Bạch Hùng lấy làm lạ lắm, nhìn thời hình dáng giống anh rể mình là Phạm Trọng Võ, song hỏi thời người ấy nói điên nói khùng hoài, không biết làm sao, tính trở về cõng Kim Ca qua cho cha con nhận nhau. Nghĩ vậy liền chạy về thôn Bác Bảo.
Người ấy chính là Phạm Trọng Võ. Lúc Trọng Võ nghe ông tiều nói vợ mình bị Oai liệt hầu bắt, liền bươn bả tới nơi đứng ngoài cửa réo đòi vợ. Ai dè ác Đăng Vân lập mưu gạt Trọng Võ vào nhà, nửa đêm phao rằng vào nhà ăn trộm, hạ lệnh cho gia đình kẻ gậy người hèo đánh chết ngất đi, rồi bỏ vào hòm, sai người khiêng đem bỏ trong rừng hoang, vừa khiêng đi dọc đường gặp một tốp người đi tới, chúng nó hoảng bỏ chạy. Tốp ấy nguyên là người ở phủ Khai Phong, lúc điểm danh biết Trọng Võ đậu trạng, nên lại nhà trọ báo tin, thấy cửa khóa then gài, người không bóng vắng, hỏi chủ phòng mới biết là Trạng nguyên đi Vạn Toàn sơn tìm mẹ, liền tức tốc đi tìm, bất kỳ nửa đường gặp hai đứa khiêng rương tưởng là kẻ trộm, vừa đón bắt, thời chúng đã chạy dài, lật đật mở rương ra xem, ai dè Trọng Võ chết đi sống lại, ở trong rương nhảy tót rạ, xách giày đập bậy, đụng ai đập nấy, nói xàm như điên. Bọn người đi báo tin đỗ trạng thấy kẻ đó mặt mày máu nhuộm, tóc tai rối bù, nói năng lảm nhảm, cho là người điên nên bỏ đi thẳng. Còn Trọng Võ thời nghêu ngao nơi đường sá, ăn bậy nói xàm, may gặp Bạch Hùng. Bạch Hùng chạy riết về nhà cõng Kim Ca, khi tới nơi, người điên khi nãy đâu mất, không biết liệu làm sao, lại cõng về. Về nhà hỏi kỹ Kim Ca xem nơi trọ của cha mẹ nó mướn ở chỗ nào, bèn lặn lội vào. kinh tìm kiếm.  Đường xa hơn bốn chục dặm, tưởng tới nơi là gặp chị và anh, ai dè chẳng thấy, cửa khóa then gài, đành ôm sầu nuốt thảm mà trở lại. Đi bơ vơ ở chợ nghe người nói: "Tân Trạng nguyên là Phạm Trọng Võ, bỏ chỗ ở đi đâu mất, tìm mãi chưa gặp". Bạch Hùng nghe vậy hơi yên lòng, vì nếu Trọng Võ mà thi đậu thời có người tìm kiếm, bất tất phải bận lòng lo, nên quay trở về.
Ngày mà Bạch Hùng đi tìm Trọng Võ đó, có lắm chuyện rắc rối xảy ra. Nguyên tại đường Cổ Lầu trong thành có một xưởng cây tên là Hưng Long của hai anh em người ở Sơn Tây là Khuất Thân và Khuất Lương. Khuất Thân hay uống rượu say sưa nên thiên hạ đều gọi là Khuất hồ tử, còn Khuất Lương là người tử tế lanh lợi nên xưởng cây nhờ đó mà được khá giả.  Ngày kia Khuất Thân nói với em rằng: "Ta nghe bên trại cây phía nam núi Vạn Toàn, mới chở cây về nhiều lắm, vậy ta tính qua trả giá mua ít nhiều, em nhắm có được hay không?". Khuất Lương đáp: "Anh lo lắng như vậy là tốt”. Nói rồi vào trong lấy ra bốn trăm lượng bạc đưa cho Khuất Thân và sai gia đinh dắt ra một con lừa trắng cho anh cưỡi. Con lừa ấy tính hay nhập bầy, khi đi đường một mình thời đi dở lắm. Hễ có bóng lừa khác đi trước thời hoang mang chạy theo rất giỏi. Khuất thân lĩnh bạc cỡi lừa nhắm trại cây mé nam núi Vạn Toàn đi tới. Khi ra mắt, chủ trại tính toán giá cả không xong, chẳng bằng lòng mua. Song thường thói con buôn hay chiêu mối hàng, nên bày tiệc rượu đãi Khuất Thân rất hậu. Khuất thân bị tiệc rượu ấy, cù cưa cù nhằm tới tối mới kiếu ra về. Vừa đi ngang một chỗ kia, lừa bỗng dở chứng, co đầu, rùng cổ, nhảy đá lăng xăng, Khuất Thân biết ở trước chắc có lừa khác, liền nới cương chạy tới, quả thấy trong bụi đầu kia có một con lừa đen rất tốt, yên lạc còn đủ.  (Nguyên lừa ấy của Phạm Trọng Võ vợ mất con cọp bị tha, Trọng Võ bỏ đi để lừa lại đó). Khuất Thân liền kêu lớn: "Lừa của ai bỏ đây?". Kêu năm bảy lần cũng không nghe trả lời, liền nghĩ trong bụng rằng: "Nay gặp được lừa này, yên lạc rất tốt, lại mập mạp, ta cũng nên đổi quách con lừa này đi". Nghĩ rồi nhảy xuống, mở túi bạc buộc qua lưng con lừa đen, nhảy lên quất một roi, bỏ lừa trắng của mình lại đó.
Trời bấy giờ tối lắm, lại không có trăng, phần thời đường núi khó khăn nên Khuất Thân tìm kiếm nhà ngủ đậu, chợt thấy trước mặt có bóng đèn, bèn giục lừa tới gõ cửa, một lát chủ nhà ra mở cửa và mời vào trong. Khuất Thân tỏ ý xin nghỉ nhờ, chủ nhà bằng lòng. Khuất Thân buộc lừa cởi yên và đem túi bạc để trên chõng, rồi cùng nhau ngồi nói chuyện. Chủ nhà ấy nguyên là Lý Bảo quản gia của Lý Thiên Quan cho theo Bao Công đi trước. Ngày Bao Công bị cách chức, nó mới gom góp của cải trốn đi, rồi ăn chơi sa đọa nên tiền của đã sạch bách, sau trôi nổi các nơi, may gặp người gả con cho, và mở hàng buôn bán. Ngựa quen đường cũ, rượu gặp bợm ghiền. Lý Bảo được tiền cứ theo thói trước, xài phá đến tiêu sự nghiệp. Lý lão rầu mà chết, còn có hai vợ chồng, không biết lấy gì ăn, bán lần bán hồi gian hàng cũng xẹp, đồ đạc hết trơn, nay chỉ còn ba gian nhà rách đó. Lý Bảo đương ngồi nói chuyện với Khuất Thân, thấy chong đèn cạn dầu, bèn bước vào trong múc thêm. Người vợ buồn rầu, thấy chồng mới kề miệng vào tai nói nhỏ rằng: "Người khách bỏ gói gì trên chõng khi nãy mà khua đó?". Lý Bảo đáp: "Ấy là gói bạc". Người” vợ nói: "Chắc là nhiều lắm nên coi bộ nặng, thôi vợ chồng mình phát tài rồi!". Lý Bảo hỏi: "Làm sao được?". Người vợ đáp: "Có khó gì, mình trở ra hỏi y coi muốn uống rượu không, như y chịu uống, thời sẵn rượu ngon đây, mình ép cho thật say, rồi chừng đó thiếp sẽ có kế... ". Lý Bảo hội ý bưng dầu ra châm ngồi lại nói chuyện rất là thân thiết. Nói bao la thế giới một hồi bèn hỏi Khuất Thân rằng: "Đại ca tới đây cũng tối không biết lấy chi khoản đãi, xin tạm bày tiệc rượu cùng nhau chuốc chén, gọi là chút nghĩa sơ giao". Khuất Thân nghe nói tới rượu thì khoái chí lắm, lật đật đáp rằng: "Trong lúc lỡ chân trái bước này, nếu hiền huynh hạ cố tới thời còn chi vui bằng”. Lý Bảo thấy Khuất Thân trúng kế, lật đật vào trong hâm rượu bưng ra, rồi cùng nhau ngồi lại chén chú chén anh. Khuất Thân nào dè mưu quỷ, tưởng thật nên cứ việc uống hoài, uống đến nỗi say mèm, nằm ngủ mê ngáy như trâu thở. Bấy giờ vợ Lý Bảo trong buồng bước ra, Lý Bảo hỏi rằng: "Nó đã say rồi, phải nghĩ mưu nào lấy tiền cho yên?". Người vợ không đáp, trở xuống bếp lấy một sợi dây luộc rất dài, đưa cho Lý Bảo mà rằng: "Cầm sợi dây này thời biết". Lý Bảo dùng dằng không chịu, người vợ gắt rằng: "Đã tham tiền mà còn làm mặt hiền từ nhân đức". Lý Bảo cực chẳng đã phải cầm dây, người vợ liền làm vòng đút vào cổ Khuất Thân, chồng một mối vợ một mối, ráng hết sức kéo thẳng ra,  Khuất Thân nghẹt cổ giãy giụa một hồi rồi trợn trắng mắt lên, duỗi tay chết thẳng cẳng. Vợ chồng Lý Bảo giết Khuất Thân rồi, bèn mở túi bạc ra đếm, thấy trong ấy cả thảy đến tám gói thời vui mừng khôn xiết:
Thật là:
Tham của giết người không sợ tội.
Thấy tiền tối mắt có sai đâu!
0
Hồi Thứ Hai Mươi Bốn [/align]

Khuất Hổ Tử hoàn hồn lầm xác gái,
Bạch Ngọc Liên phụ thể lộn thây trai.
 
Khi vợ chồng Lý Bảo giết Khuất Thân rồi, bèn lấy cả tiền bạc cất vào một nơi. Vợ mới bảo chồng rằng: "Bây giờ đêm khuya canh vắng, bốn phía không ai, mình nên cõng thây này đem bỏ sau miếu bên bờ phía bắc, thời còn ai biết được nữa". Lý Bảo nghe theo kề vai cõng thây, mở cửa nhè nhẹ, ngó quanh ngó quất một hồi không thấy ai bèn rón rén ra đi. Hắn đi được một đỗi xa, thấy mờ mờ trước mặt có bóng thoáng qua, thất kinh không dám bước tới, quăng đại thây ma trên vũng cỏ rồi đâm đầu chạy về. Về tới nhà người vợ lại nói rằng: "Còn phải nhọc một chút nữa mới xong, nếu còn để con lừa ở trong nhà e không khỏi mang hại". Lý Bảo nghe nói lật đật chạy ra mở cương thả lừa và đuổi đi, lừa cũng lạ thật, đã thả mà không chịu đi. Vợ Lý Bảo giận lắm, vác gài cửa ra đập, đau quá nó chạy cong đi mất. Rồi vợ chồng Lý Bảo mới đóng cửa ngủ giả đò vô sự.
Sáng ngày những người đi đường thấy có thây người chết nằm sóng sượt giữa đường, lật đật đi báo quan địa phương. Quan truyền đem tới khám nghiệm; đương lúc lật qua trở lại xem, thời thây ấy co tay ngoe chân, dân chúng vội vàng đỡ dậy, một lát thở khì ra và rên rỉ, nhưng bộ yếu lắm. Quan địa phương lật đật bước tới hỏi rằng: "Người vô phước kia, mau mau tỉnh lại, thuật cặn kẽ chuyện bị hại cho ta nghe". Thây của Khuất Thân mở mắt ra dòm một hồi rồi trả lời giọng đàn bà rằng: "Có chi mà các người bu chung quanh thiếp chòng ghẹo thế này, chẳng sợ sái lễ sao?". Nói rồi lấy tay áo che mặt, ai nấy đều tức cười và lấy làm lạ lắm. Quan địa phương hỏi tiếp nữa rằng: "Tại sao mà ngươi bị chúng thắt cổ hại chết như vậy nói lại cho ta biết". Khuất Thân nói: "Thiếp tự treo cổ mà chết, chớ có ai giết đâu?". Quan địa phương lại hỏi: "Tại sao mà ngươi treo cổ tự vẫn?". Khuất Thân nói: "Vì chồng con thiếp dắt thiếp đi tìm mẹ, rủi bị Oai liệt hầu nào đó bắt ngang đem về ép bức, thiếp không chịu nên tự vẫn mà chết". Các người ngồi nghe đều lấy làm lạ, cớ sao hình dung rõ là đàn ông, mà lại nói tiếng đàn bà và tình sự đàn bà như vậy. Còn đương phân vân nghĩ ngợi, bỗng đâu một người điên ở sau đi trờ tới, cầm chiếc gậy đập đánh lăng xăng. Khuất Thân dòm thấy nói với người chung quanh rằng: “Người cầm chiếc giày là chồng thiếp đó, xin các ngài giữ lại đừng cho đi". Đương lúc nói bỗng phía trước có hai người đàn ông đương chèo kéo nhau đi tới kêu quan địa phương xin phân xử.  Ấy là Bạch Hùng và Khuất Long. Bởi hôm qua Bạch Hùng không tìm được Trọng Võ, nên bữa nay lại đi tìm nữa, dọc đường gặp con lừa, tưởng hễ gặp lừa thời gặp anh rể, chớ không dè lừa trắng chẳng phải của Trọng Võ. Vì Bạch Hùng vô ý quên hỏi Kim Ca sắc lừa ra sao nên khi thấy lừa liền mở cương leo lên cưỡi đi được một đỗi lại gặp Khuất Lương đi tìm anh.  Khuất Lương thấy người lạ cưỡi lừa của anh mình thời kéo lại hỏi rằng: "Sao chú giật lừa và bạc của anh tôi, vậy anh tôi ở đâu phải chỉ ra ngay?". Bạch Hùng nói: "Lừa này của anh rể tôi, chú muốn nhận ngang thời phải để anh rể tôi cùng đối chất". Hai người gây gổ nhau một hồi, rồi kéo tới xin quan địa phương phân xử.
Khuất Lương đương kéo Bạch Hùng, thấy Khuất Thân ngồi ở trong, mừng quýnh, buông ra chạy vào kêu rằng: "Anh ơi, anh ơi! Làm gì ngồi đó vậy, trên cổ sao lại có dấu giây thắt, nói cho em nghe?". Khuất Thân đáp: "Người này làm cái gì vô lễ vậy, mất phép lịch sự coi sao được!". Khuất Lương nghe giọng nói không phải người Sơn Tây, lại nheo nhéo như tiếng đàn bà thời đứng nhìn trân trân suy nghĩ ngơ ngẩn. Lại nghe Khuất Thân kêu Bạch Hùng nói rằng: "Bạch Hùng! Sao em lại bạc đến nỗi, không biết chị sao? Chị khốn khổ quá mà!". Bạch Hùng nghe nói cũng kinh dị. Kế ở ngoài có một người điên đi vào, Bạch Hùng nhìn kỹ là người mình mới gặp trong núi ngày hôm kia, đương lúc nghĩ ngợi, thời nghe Khuất Thân kêu lớn rằng: "Bạch Hùng! Em không biết Phạm Trọng Võ là anh rể của em đó sao? Mau mau giữ lại đừng cho đi nữa”. Quang cảnh như vậy ai nấy đều thấy lạ kỳ, chỉ xin quan địa phương giải về huyện Tường Phù mà thôi. Giải đi một đỗi gặp một con lừa đen đàng kia chạy lại, đi sau có một người lùn và một tên bạn đường.
Nguyên Bao Công làm chủ khảo khoa thi, khi chấm bài xong, thấy quyển của tên Phạm Trọng Võ trúng đậu Trạng mới sai người lại chỗ nhà trọ báo tin, tới nơi không thấy Trọng Võ ở đó, đi tìm cùng cũng không gặp, nên vào triều chầu Thiên tử tâu rõ việc mất Trạng nguyên, khi kiệu về dọc đường, gặp con lừa đen đón đường, mọp hai chân trước gục đầu coi rất thảm. Bao Công nghĩ rằng: "Vật thường cũng có tính linh như người. Con lừa này đón đường chắc cũng có lẽ gì oan ức của chủ nó chẳng sai". Nghĩ vậy liền nói rằng: "Lừa đen kia? Mi quả có điều oan uổng thời mau quay đầu qua hướng nam trở đuôi lại hướng bắc, ta sẽ cho người theo dò xét cho". Bao Công vừa nói dứt lời, con lừa quả quay đầu về nam trở đuôi lại bắc. Bao Công liền sai Triệu Hổ đi theo, nếu có điều chi mau mau trở về bẩm lại. Triệu Hổ vâng lệnh đi theo, lừa đen cứ chậm chậm đi trước dắt đường. Đi một đỗi Triệu Hổ mỏi cẳng, lừa cũng đứng lại chờ.  Triệu Hổ liền nói với lừa rằng: "Bây giờ ta đã mỏi chân, mi nên chở ta đi ít dặm". Lừa nghe nói liền cúi đầu quỳ chân xuống, Triệu Hổ leo lên, đi riết tới miếu hoang trong núi Vạn Toàn. Triệu Hổ nhảy xuống dòm không thấy ai, vừa muốn quay mình trở lại, chợt nghe tiếng kêu cứu ở mé trong, liền nhảy lên vách lầu đứng dòm, thấy trong phòng bên kia có một cái hòm, một người đàn bà dung mạo rất tốt ngồi dựa bên. Triệu Hổ bèn nhảy xuống lại gần hỏi rằng: "Vì sao cô nương lại ngồi nơi này, cái hòm ấy nguyên cớ làm sao?". Người đàn bà đáp: "Lạc tử bị chúng mưu hại, đặng đoạt bốn trăm lượng bạc, rồi chẳng biết làm sao lại vào trong quan tài này". Triệu Hổ bèn chạy kiếm đạo sĩ ở miếu ấy lại hỏi, thời đạo sĩ đáp rằng: "Miếu này nguyên của Oai liệt hầu, hôm qua người sai hai tên gia đinh khiêng quan tài tới, nói rằng mẹ của chủ quán Ác Thọ chết, dạy tội chôn, nhưng mắc phải ngày cấm thổ chưa chôn vội, đợi mai này sẽ chôn. Ai dè hối hôm nghe có tiếng rên rỉ trong quan tài, tôi lật đật mở ra thời là đàn bà chớ không phải bà già như lời đã nói“. Triệu Hổ nghe nói dạ phát nghi, nhìn lại bộ tịch người đàn bà thời hệt như đàn ông, ăn nói dõng dạ, đi đứng chững chạc lại càng lấy làm lạ lắm, liền truyền bắt đạo sĩ và giải người đàn bà về phủ Khai Phong.
0
Hồi Thứ Hai Mươi Lăm [/align]

Nghe lời xét lẽ, đoán được hiền ngu,
Xem bóng ngắm hình, khó phân trai gái.
 
Nói về Triệu Hổ bảo lính theo bắt đạo sĩ và giải người đàn bà vừa ra khỏi miếu một quãng nghe người đàn bà nói rằng: "Kìa kìa, người đứng bên bờ phía nam là kẻ giết lạc tử đó". Nói rồi chạy lại níu người ấy mà hét rằng: "Lý Bảo! Mi dám lập mưu giết ta mà đoạt bốn trăm lượng bạc, bây giờ mi giấu bạc ấy ở đâu, mau chỉ ra?". Người nọ nói: "Thím này sao dám vô lễ như vậy, tôi đâu có biết thím là ai, tiền bạc gì đâu mà mưu đoạt!". Triệu Hổ không hiểu lý cớ thế nào, cứ bảo lính theo mở một đầu dây buộc đạo sĩ mà bắt Lý Bảo xâu vào, rồi cứ phủ Khai Phong trở lại. Đi gần tới huyện Tường Phù thấy án ấy có trạng nguyên Phạm Trọng Võ nên không dám xử, lập tức chuyển giải lên phủ Khai Phong.
Bao Công nghe báo lập tức thăng đường, thấy Trọng Võ nói xàm làm quấy thì không biết sao, mới hỏi Công Tôn Sách. Công Tôn Sách đáp: "Người này bây giờ phải cho uống thuốc để giải cơn điên mới có thể hỏi được". Bao Công thấy phải, cho Công Tôn Sách đem Trọng Võ về trị bệnh. Rồi đòi Bạch Hùng lên hỏi. Bạch Hùng khai rằng: "Tiểu nhân tên Bạch Hùng, ở làng Bác Bảo, mé tây nam núi Vạn Toàn, chuyên nghề săn bắn nuôi thân. Ngày nọ cứu được đứa nhỏ khỏi miệng cọp, hỏi ra là con của chị tôi, hỏi tới cha mẹ nó thời biết rằng anh chị tôi cưỡi lừa đi tìm tôi. Nghe vậy tôi mới đi kiếm, tới bụi dâu nọ gặp một con lừa, tôi tưởng chắc là của anh rể, mới định dắt đi, thì gặp một người ở Sơn Tây chạy tới nói lừa ấy của anh y, lại vu rằng tôi đoạt của bắt lừa, kéo nhau tới quan địa phương. Thấy người ta đương xúm xét coi hỏi một người đàn ông, bấy giờ người Sơn Tây mới buông tôi ra, chạy vào nhìn người nọ nói là anh mình. Ai dè người ấy nói giọng đàn bà không nói giọng Sơn Tây, không nhận người Sơn Tây là anh em, lại kêu tôi vào nhận là chị em. Chuyện thật lạ lùng, cúi xin lão gia vì tiểu nhân xét rõ ai phải ai trái". Bao Công hỏi: "Anh rể mi tên họ là gì?". Bạch Hùng đáp: "Tên Phạm Trọng Võ, ở tỉnh Hồ Quảng, phủ Võ Xương, huyện Giang Hạ". Bao Công nghe rõ tên ấy là tân khoa Trạng nguyên liền gật đầu, cho Bạch Hùng lui xuống, đoạn kêu Khuất Lương lên hỏi. Khuất Lương khai rằng: "Tôi cùng anh tôi là Khuất Thân mở xưởng cây tại đường Cổ Lầu. Hôm trước anh tôi đem bốn trăm lượng bạc vào mé nam núi Vạn Toàn mua cây, đi từ sáng đến đêm không về, tôi sinh nghi có việc biến, liền đi tìm, dọc đường gặp người họ Bạch bắt lừa của anh tôi, y nói lừa của anh rể y, không ai nhịn ai nên đem tới quan địa phương xin xử. Khi tới nơi, tôi thấy anh tôi ngồi đó, bèn lại nhìn và hỏi thăm, té ra hình dạng thì quả là anh tôi, mà cử chỉ nói năng thời không phải. Anh tôi không nhận tôi là em, lại nhận người họ Bạch là em. Xin thượng quan thẩm xét”. Bao Công hỏi: "Mi có thể nhìn chắc con lừa trắng quả là của anh mi không?". Khuất Lương đáp: "Dạ, quả chắc lừa ấy của anh tôi". Bao Công liền cho xuống, kêu Khuất Thân lên, tả hữu la om lên: "Đại gia đòi Khuất Thân lên hầu cho mau mau lên". Kêu hoài mà Khuất Thân cứ ngồi trơ, thậm chí lại trước mặt nói cũng không đi, bộ ngơ ngác thẹn thuồng lắm. Tả hữu bàn nói lại rằng: "Đại nhân cho đòi ngươi lên hỏi việc".
Bây giờ Khuất Thân mới chịu đi, bước rất yểu điệu, tới trước công đường sụp quỳ như đàn bà, ai nấy tức cười lắm, song không dám. Bao Công hỏi rằng: "Ai mưu hại mi, mau nói lại cho bản quan nghe?". Khuất Thân đáp: "Tiểu phụ tên là Bạch Ngọc Liên nhân chồng là Phạm Trọng Võ lên kinh ứng thi, đem con là Kim Ca cùng đi, sau khi chồng vào đủ ba trường, liền vào núi Vạn Toàn kiếm nhà mẹ. Hỏi thăm người không gặp, trở về ngang bãi cỏ xanh, thả lừa cho ăn, mẹ con thiếp ngồi nghỉ trên bực đá, còn chồng thiếp đi tản bộ ngoài xa, bỗng một con cọp từ đâu nhảy tới tha con thiếp chạy đi, đương lúc thiếp kêu khóc, có một tốp người đi săn vừa tới trong đó có một vị quan sai bắt thiếp, đem về nhà nhốt vào một chỗ, ép gió nài trăng, thiếp không chịu tự vẫn mà chết. Chẳng hiểu sao, một luồng gió mát thoáng qua, thiếp sống lại, thân thể biến ra thế này, và có đông người quây quần một bên chọc ghẹo". Bao Công nghe nói, nhìn lại dung nhan, thấy có hơi buồn, mới kêu Khuất Lương lên hỏi: "Mi biết người này không?". Khuất Lương đáp: "Dạ người này rõ là Khuất Thân anh tôi". Bao Công chỉ Khuất Lương, rồi hỏi Khuất Thân rằng: "Mi biết người này không?". Khuất Thân lắc đầu đáp: "Thiếp không gặp mặt người này bao giờ, làm sao biết được". Bao Công cho Khuất Lương xuống, kêu Bạch Hùng lên hỏi: "Mi biết người này không?". Bạch Hùng nói: "Không”. Hỏi Khuất Thân biết Bạch Hùng không, thời y đáp rằng: "Đó là em thiếp tên là Bạch Hùng". Bao Công nghe xong biết là hồn nhập nhầm xác, song không biết lấy lẽ gì xử cho rõ, nên báo cho tất cả lui xuống.
Bao Công còn đương suy ngẫm, Triệu Hổ bước vào bẩm rõ tình hình trong lúc đi theo con lừa đen, và xin giải cả bọn vào. Bao Công cho đòi đạo sĩ lên hỏi. Đạo sĩ quỳ xuống thưa rằng: "Bẩm lão gia, tiểu đạo tên là Diệp Khổ Tu ở giữ miếu cho Oai liệt hầu. Ngày hôm qua trong phủ của Hầu gia khiêng ra một cái hòm nói đó là mẹ của chủ quán Ác Thọ đau bệnh mà chết, sai tiểu đạo chôn, nhân ngày cấm thổ nên chưa chôn vội tránh tới ngày sau sẽ chôn... ". Mới nói tới đó Bao Công vỗ án nạt rằng: "Đạo sĩ khéo già mồm, mùa này tiết khí thế nào mà mi dám là cấm thổ? “. Đạo sĩ hoảng hốt lạy lia lịa và nói rằng: "Lạy lão gia, chớ vội giận để tiểu đạo khai ngay. Nguyên vì tiểu đạo nghe nói người chết, là mẹ của chủ quán Ác Thọ, bụng tưởng chắc là đem theo trong hòm nhiều đồ trang sức quý giá, nên nói dối, chờ tối cạy hòm lấy, ai dè khi cạy ra người trong hòm sống dậy, coi kỹ là đàn bà, song bộ tịch mạnh mẽ ăn nói dõng dạc giống hệt như đàn ông, cứ rượt tiểu đạo đánh mãi, trong lúc tiểu đạo bị đánh đau kêu cứu, thời có hai người tới bắt”. Bao Công nghe xong bảo Khổ Tu ký khẩu cung, rồi xuất trát đòi Ác Thọ tới. Sai dịch đi rồi Bao Công cho đòi người đàn bà lên hỏi. Tả hữu kêu truyền nhau rằng: "Đem người đàn bà lên, đem người đàn bà lên". Song người ấy ngồi lỳ một chỗ không đi. Tả hữu lại trước mặt hỏi: "Thím kia, đại nhân cho gọi sao không đi?” Người đàn bà đáp: "Tôi rõ là đàn ông, nào phải đàn bà mà anh em giễu như vậy". Nói rồi bước lên công đường. Bao Công hỏi: "Thím kia, có chuyện chi oan uổng khá nói ra đi". Người đàn bà đáp: "Tôi không phải đàn bà, thật là Khuất Thân ở xưởng cây đường Cổ Lầu, nhân đi qua Vạn Toàn mua cây, không xong, trở về gặp trời tối, ghé nhà nọ xin nghỉ nhờ, chủ nhà ấy tên là Lý Bảo thấy tôi có bạc nhiều, liều phục rượu say rồi thắt cổ cho chết. Không biết tại sao khi tôi sống dậy lại thấy nằm trong hòm, một bên có đạo sĩ, còn bốn trăm lượng bạc thời mất tiêu. Tôi giận quá đánh đạo sĩ đòi bạc, kế bị công sai vào bắt, ra khỏi miếu một đỗi thấy Lý Bảo xách nước, tôi liền chỉ cho công sai bắt luôn và xin giải tới đây cho lão gia định xét”. Bao Công nghe xong kêu Bạch Hùng lên hỏi y có biết người đàn bà ấy chăng? Bạch Hùng nhận rằng: "Bẩm lão gia! Người này quả là Bạch Ngọc Liên chị tôi”. Người đàn bà nói: "Á! Anh này nói lầm rồi, tôi nào phải đàn bà mà gọi là chị”. Bao Công lại kêu Khuất Lương lên, người đàn bà nói: "Khuất Lương em ơi! Tưởng chúng ta không gặp nhau nữa rồi, ai dè trời còn giúp người ngay khỏi chết”. Khuất Lương cười rằng: "Ai mà có anh không râu bao giờ?". Bao Công nghe rõ đầu đuôi biết là hai hồn nhập nhầm xác nên cho lui xuống, rồi đòi Lý Bảo lên. Bao Công thấy mặt đứa tớ phản, lòng giận căm gan, song chuyện đã qua rồi không thèm nói, chỉ hỏi rằng: "Lý Bảo! Sao mi dám lớn gan giết người đoạt của như vậy?". Lý Bảo nhìn lên thấy Bao Công khí vũ oai nghiêm đã kinh sợ, lại thấy Bao Hưng, Lý Tài đứng sau ăn mặc theo thất phẩm lang quan thời hối hận lắm, tức mình muốn chết cho rồi, nên không chối từ cứ thật khai ngay không sót một mảy. Bao Công truyền Lý Bảo ký khẩu cung, rồi xuất trát cho đi bắt vợ nó. Sai dịch đi ra, kế tốp khác giải Ác Thọ tới. Bao Công liền hỏi Ác Thọ rằng: "Hôm trước, chủ mi sai khiêng cái quan tài ra miếu, người chết ấy là ai?". Ác Thọ nghe hỏi thất kinh xám mặt đáp: "Dạ thưa lão gia, người chết ấy là mẹ tôi". Bao Công hỏi: "Ngươi ở với Hầu gia được bao nhiêu năm rồi?". Ác Thọ đáp: "Vừa được ba mươi sáu năm". Bao Công hỏi: "Mẹ mi bao nhiêu tuổi?". Ác Thọ đáp: "Tôi không nhớ được". Bao Công vỗ án hét rằng: "Rõ mi nói láo, nếu mi có mẹ sao lại không nhớ tuổi, ở đời có ai như thế không, tả hữu đâu, đem đánh nó bốn mươi hèo?". Tả hữu dạ ran, Ác Thọ lạy lia lịa mà rằng: "Lạy lão gia, bớt cơn giận để cho tôi khai. Người trong quan tài ấy là ai tôi thật không được biết. Chỉ nhớ rằng tôi theo Hầu gia vào Vạn toàn sơn săn bắn, gặp một người đàn bà đương ngồi khóc, xem nhan sắc rất đẹp, Hầu gia sai bắt đem về nhốt trên lầu, sai bọn hầu gái dụ dỗ cho kết thân với Hầu gia, ai dè tới chiều có gã họ Phạm tới cửa réo đòi vợ. Hầu gia giả bộ cho mời vào khoản đãi tử tế, tới nửa đêm sai gia đình đánh chết, bỏ thây vào rương cũ, sai khiêng bỏ dưới núi”. Bao Công chặn lại hỏi rằng: "Còn người đàn bà ấy tại sao mà chết?". Ác Thọ đáp: "Còn người đàn bà ấy bị ép bức quá không chịu nổi, tự treo mình mà chết. Hầu gia thấy việc không nên mà hại tới hai mạng, liền dùng quan tài tẩm liệm thây người đàn bà giả tiếng là mẹ tôi, sai khiêng qua miếu cho đạo sĩ chôn. Lời thật khai ngay, còn sau sao nữa thời tôi không biết". Bao Công nghe xong buộc ký khẩu cung, rồi truyền giam các tội phạm vào ngục, còn hai người nhập nhầm hồn được giữ riêng. Lại sai Vương Triều, Mã Hán đi vào Độc Hổ trang bắt Oai liệt Hầu Ác Đăng Vân ngày mai vào hầu án.
Đâu đó xong xuôi, Bao Công trở vào trong ăn cơm, rồi vào thư phòng ngồi suy nghĩ mãi không ra mưu lược nào, cứ nói lẩm bẩm trong miệng rằng: "Hồn đàn ông nhập xác đàn bà, hồn đàn bà nhập xác đàn ông, biết nghĩ sao đây?... " Bao Hưng đứng hầu một bên thấy vậy quỳ xuống thưa rằng: "Muôn lạy lão gia, việc ấy có khó chi mà nghĩ không ra, tiểu nhân có kế xin trình lão gia”. Bao Công nghe nói cả giận nạt rằng: "Khéo nhiều chuyện, làm rộn trí ta, mí tài cán gì mà mong giải khó được".
Thật là:
Bao Công trí rộng nhưng còn rối,
Tiểu tử tài chi lại nói càn.
0
Hồi Thứ Hai Mươi Sáu [/align]

Bao Công xuống điện âm Dương,
Khuất, Bạch hai người đổi xác.
Trọng Võ vào phủ Khai Phong,
Triển Chiêu một lúc về làng.
 
Bao Công nghe Bao Hưng nói như vậy cả giận la rầy, song Bao Hưng cứ nhỏ nhẹ thưa rằng: "Việc ấy nếu Tướng công không xuống điện âm Dương thời chẳng còn cách nào nữa”. Bao Công hỏi rằng: "Điện âm Dương ở đâu?". Bao Hưng thưa: "Ở dưới cõi âm ti địa phủ”. Bao Công nghe nói càng thêm giận, nạt lớn rằng: "Đồ khốn ta bảo câm đi, còn lẻo mép hả, có ai sống mà xuống được âm ti bao giờ?". Bao Hưng nói rằng: "Tiểu nhân đâu dám lẻo mép, vì tiểu nhân có đi rồi". Bao Công hỏi: "Mi đi hồi nào?". Bao Hưng thưa: "Hồi ở trấn Tam Tinh, tiểu nhân lén thử gối Du Tiên, xuống tới điện Âm Dương bị Âm thần nói tôi giả mạo Tinh chủ nên đánh đuổi về”. Bao Công nghe nói tới hai tiếng Tinh chủ, thời nhỏ lúc xử án cái chậu đen và tại cung Ngọc Chấn xét hồn oan, cũng nghe quỷ gọi mình là Tinh chủ, nên cho lời nói ấy có lý phải, bèn nói: "Bây giờ gối ấy ở đâu?". Bao Hưng nói: "Dạ, để tiểu nhân đi lấy“. Nói rồi lật đật lui ra, một lát đem gối dâng lên. Bao Công tiếp lấy xem, thấy như một khúc cây mục, trên có chữ lăng quăng coi không rõ là ý gì. Bao Công xem rồi gật đầu trao lại cho Bao Hưng. Bao Hưng hiểu ý đem vào ngự phòng để lên giường buông màn trải nệm xong, ra rước Bao Công vào. Bao Công thấy xếp đặt màn gối xong xuôi, vừa lòng lắm, liền để áo leo lên nằm, còn Bao Hưng cũng ở đó hầu hạ.
Bao Công tuy muốn ngủ, song trong bụng có điều lo, nên cứ trăn trở mãi, tưởng lúc mình còn đứng bên ngai vàng tâu với Thiên tử những việc oan án, vừa xong bái tạ lui ra khỏi triều thấy có hai đồng tử áo xanh dắt tới một con ngựa đen, thưa rằng: "Thỉnh Tinh chủ lên ngựa“. Bao Công liền leo lên, quất một roi, ngựa chạy như bay, trong nháy mắt đã tới một tòa thành trì rất đồ sộ. Bao Công còn đương nghĩ ngợi, ngựa đã sải qua khỏi cửa thành, vào tới một nơi nha môn liền đứng lại. Có hai vị quan phán bước tới thi lễ và thưa rằng: "Thỉnh Tinh chủ thăng đường". Bao Công liền bước xuống ngựa đi thẳng lên đơn trì thấy giữa đại đường có treo ở trên một tấm biển đề bốn chữ: "Âm dương bảo điện" và thấy la liệt trên công vị những bàn ghế đều một màu đen, Bao Công vội vã ngồi trên ghế giữa. Hồng phán quan dâng lên một cuốn sổ nhỏ, Bao Công giở ra xem không thấy chữ, vừa muốn hỏi, lại thấy Hắc phán quan tiếp lật ra trải trên bàn. Bao Công xem kỹ thời thấy có tám câu chữ ngay ngắn: "Nguyên là sửu với dần, đã dùng mèo với thìn, thượng ti hay lầm lạc, cho nên hồn nhập nhầm, nếu muốn rõ việc ấy, mảnh gương xưa vẫn còn, trích máu ra rọi thử, ngón giữa mới là đúng”. Bao Công xem rồi, đương còn nghĩ ngợi, bất giác giật mình, kêu lên một tiếng, Bao Hưng bưng đèn vào xem, Bao Công hỏi rằng: "Bây giờ là chừng nào?". Bao Hưng đáp: "Mới hết canh ba". Bao Công dậy pha trà đem uống, bỗng thấy Lý Tài thưa có Công Tôn Sách tới ra mắt. Bao Công liền ra tiếp, Công Tôn Sách thưa rằng: "Bệnh của Phạm sinh, tiểu sinh đã cứu khỏi rồi". Bao Công cả mừng hỏi: "Bây giờ đã được như thường chưa?". Công Tôn Sách đáp: "Cơn điên đã hết, song còn yếu đuối lắm". Bao Công khen rằng: "Công tiên sinh thật kỳ tài, cảm phiền chịu nhọc một chút nữa cho y thật mạnh càng tốt". Công Tôn Sách vâng dạ, uống trà rồi lui ra. Bao Công ngồi nghỉ một lát, sai Bao Hưng vào lấy gương cũ và bảo Lý Tài ra truyền thăng đường. Bao Công an tọa rồi, sai Bao Hưng treo Cổ cảnh lên, và cho đòi hai người nhập nhầm hồn vào, bảo trích máu đầu ngón tay giữa nhỏ vào mặt gương. Khi nhỏ máu vào, gương ấy chói lòa ra, sáng rực cả công đường, ai nấy đều lòa mắt, hai vết máu cứ luân chuyển chạy hoài, không nhập lại, Bao Công bảo hai người nhầm hồn rọi mặt vào gương ấy Hai người đều kê mặt vào xem, thấy mình kẻ thời bị thắt cổ, kẻ thời treo cổ, họng nghẹt cứng, thở không ra hơi, ngã lăn xuống đất mê man. Ai nấy thấy vậy đều sợ nhìn lên thời gương không chói lòa như khi nãy. Còn hai người nọ lần lần tỉnh dậy, vẻ không còn lộn xộn như trước, Bao Công sai Bao Hưng lau gương đem cất chung với Cổ kim bồn, và gối Du tiên, truyền đưa Khuất Thân ra ở ngoài ban phòng, còn Bạch Thị thời giao cho nữ dịch nuôi dưỡng.
Qua ngày sau, Công Tôn Sách dắt Phạm Trọng võ tới tạ ơn Bao Công. Bao Công dạy Trọng Võ sao lục lại những bài làm ở trường thi, cho mình kẹp luôn với bản trình lên Thiên tử. Lại cho Trọng Võ hay rằng vợ con y đều đã bình an. Phạm Trọng Võ nghe tin như vậy mừng rỡ khôn xiết. Bao Công thấy người còn yếu nên bảo Công Tôn Sách đem về điều trị nữa. Hai người vừa ra khỏi cửa, Vương Triều, Mã Hán giải Oai liệt hầu Ác Đăng Vân tới. Bao Công liền thăng đường tra hỏi. Ác Đăng Vân ỷ mình là Hầu gia lại nhiều bạn thế lực, nhắm Bao Công không thể làm gì mình nên không chối cãi, cứ thật khai ngay. Bao Công nghe xong buộc ký khẩu cung, rồi bảo Mã Hán đem ngư bình ra dùng Hổ đầu trát chém Ác Đăng Vân, Cẩu đầu trát chém Lý Bảo, còn Ác Thọ thời xử trảm giam hậu, và vợ Lý Bảo cũng xử giảo giam hậu. Diệp đạo sĩ bị tội khui thây trộm của, đầy ra tỉnh Thiểm Tây, phủ Diêm An sung quân. Anh em Khuất Thân thời lĩnh bạc ra về, con lừa trắng nhập công, vì Khuất Thân có tính tham nên bị phạt. Lừa đen của Trọng Võ có công được đem về nuôi dưỡng ở phủ. Bấy giờ vợ chồng Phạm Trọng Võ cũng bái tạ Bao Công và đi tới thôn Bác Bảo. Mẹ con, chị em, vợ chồng, cha con gặp nhau mừng mừng tủi tủi. Bao Công xử xong án ấy, viết tấu tâu lên Thánh thượng tỏ hết tội ác của Oai liệt hầu và điều oan uổng của Trọng Võ, lại xin hoãn lại mười ngày sẽ mở yến hội đãi tân trạng. Nhân Tôn vui lòng phê chuẩn. Lại thấy có một đạo tấu văn dâng lên nữa, coi ra là Hộ vệ Triển Chiêu tâu xin nghỉ chức về tế tổ. Thiên tử cũng ưng chuẩn cho nghỉ hai tháng như lời xin.
Nam Hiệp Triển Chiêu đã được Thiên tử y tấu, bọn Công Tôn Sách và bốn dũng sĩ bày tiệc tiễn hành, lưu luyến vài ngày xếp đặt hành trang rồi mới ra đi. Đi tới một chỗ rất vắng vẻ, Triển Hùng Phi liền thay đồ triều phục, giả dạng võ sinh như cũ, rồi nhắm phủ Thường Châu, làng Ngộ Truật mà trở lại. Về tới nhà gõ cửa thấy lão bộ Triển Trung ra mở. Triển Trung thấy Nam Hiệp về mừng quýnh chào hỏi lăng xăng, rồi chạy vào trong rót trà bưng ra. Triển Chiêu mời mọi người cùng uống. Triển Trung đứng một bên nói rằng: "Lúc quan nhân đi rồi ở phủ Khai Phong có sai người tới rước, và đem lễ vật rất nhiều, tôi không nhận, song họ cứ để đó về, lại có để thư lại”. Vừa nói vừa móc thư đưa ra, Triển Chiêu xem xong cười rằng: "Bây giờ ta đã làm quan võ thuộc tứ phẩm tại phủ Khai Phong rồi". Triển Trung cười: "Quan nhân nói chơi sao chớ, quan tứ phẩm mà ăn mặc như vậy?". Triển Chiêu đưa gói phẩm phục cho coi, Triển Trung xem xong sụp xuống đất lạy, Triển Chiêu đỡ dậy hỏi: "Ngươi làm cái gì lạ vậy?". Triển Trung đáp: "Bây giờ quan nhân được làm quan, tôi phải lạy ra mắt chớ". Triển Chiêu cười rằng: "Tình nghĩa thầy trò trước sao sau vậy, cần chi phải giữ lễ lắm?". Nói đoạn đưa tiền sai sắm lễ phẩm mai sẽ tế tổ tiên. Triển Trung lĩnh tiền ra đi, gặp ai khoe nấy, gặp ai nói nấy, chẳng bao lâu mà xóm làng đều rõ, có quan tứ phẩm hộ vệ về làng tế tổ, nên đúng ngày sau là ngày hỉ tế, người ta xúm lại rất đông. Triển Chiêu mặc sắc phục vào, cỡi ngựa đi trước oai nghiêm hùng dũng, tướng mạo đoan trang, ai nấy cũng khen. Tới phần mộ thấy bốn bề sạch sẽ, cây cối rườm rà, lòng khen thầm Triển Trung là tớ có nghĩa, tế lễ xong xuôi, đãi đằng làng xóm suốt ngày mới hết.
Nam hiệp tế tổ rồi ở lại nhà ít ngày, Triển Trung nhân lúc nhà hạ, bàn tới việc hôn nhân, thời Triển Chiêu tỏ ý rằng: "Ta cũng đương nghĩ tới việc đó, nhớ lại anh em bạn ta lúc trước có điềm chỉ ở Khanh Châu, vậy ta muốn qua đó xem thế nào sẽ liệu“.
Mấy hôm sau, Triển Chiêu giao cả nhà cửa mồ mả cho nghĩa bộc Triển Trung căn dặn ít lời, rồi từ giã, cùng lính theo ra cửa nhắm Khanh Châu rảo bước.
Đó thật là:
Áo gấm đã vinh vang hiệp sĩ,
    Đuốc hoa còn chọn lựa giai nhân.
0
Hồi Thứ Hai Mươi Bảy [/align]

Hẹn tới Hồ đình, sẵn lòng giúp đỡ.
Tìm vào Trà điếm, đồng chí gặp nhau.
 
Ý Triển Chiêu đi chuyến này còn muốn thăm cảnh Tây Hồ. Ngày kia tới Khanh Châu, cách Tây Hồ không bao xa, liền tìm chỗ trọ, cất hành lý, giao ngựa cho lính theo, rồi đi bộ tới Tây Hồ, thơ thẩn trên Đoạn Kiều Bình, đưa mắt ra xa ngắm cảnh. Nước trong trời tạnh, cảnh sắc tươi sáng, khiến cho khách du quang mười phần thỏa thích. Đương mê cảnh gợi tình, chợt thấy bên kia bờ có một ông già vừa cởi áo đâm đầu xuống nước. Triển Chiêu kinh hoàng la lên, song không biết làm sao mà cứu, vì chẳng biết lội nước. Đương lúc Triển Chiêu vừa chạy vừa la, có một chiếc thuyền câu từ xa bơi lại như tên bay, tới chỗ ông già nhào khi nãy, thuyền ngừng, người bơi ấy bỏ đầm nhảy xuống lặn mò một lát vớt được ông già, xốc đem lên bờ. Triển Chiêu thấy vậy cả mừng chạy tới, thời người thiếu niên ấy đương vác hai cẳng ông già lên vai cho thông cổ xuống, chạy mà xóc nước. Triển Chiêu đứng nhìn theo, thấy gã thuyền câu ấy tuổi trạc đôi mươi, mặt mày sáng sủa, tướng mạo khôi ngô, lộ vẻ khác thường, thời ngợi khen thầm trong bụng.
Thiếu niên ấy xóc nước cho ông già một lát. Ông ta ói nước ra rất nhiều, rồi thở khì ra và rên một tiếng. Người thiếu niên nghe vậy lật đật để xuống kêu lớn rằng: "Lão trượng mau tỉnh dậy, lão trượng mau tỉnh dậy". Ông già mở mắt ra, thiếu niên ấy hỏi rằng: "Tại sao lão trượng lại liều thân như thế?“. Ông già đáp: "Lão phu tên là Châu Tăng, chủ tiệm trà ở Trung Thiên Trúc. Cách ba năm trước, thình lình tại cửa tiệm có một người đi tới té quỵ tại đó, lão bản tính từ thiện, thấy vậy thời thương, nên sai người khiêng vào trong, trùm mền hơ lửa, thang thuốc cho y tỉnh dậy, hỏi ra mới biết người ấy là Trịnh Tân, không cha mẹ anh em, không người thân thích, vì bị đói và tuyết xuống nhiều nên đuối sức mà ngã như vậy. Lão nghe nói động lòng thương, mới bảo y ở lại trong tiệm giúp việc với lão. Lão đãi y thật hết sức tử tế, y lại giỏi nghề biên chép tính toán, nên lão mến lắm, giao cho coi sổ sách, thời thật rành rẽ tín cẩn. Lão thấy vậy mới gả con gái cho y, ai dè vừa một năm con lão chết, lão mới hỏi con nhà họ Vương cho y gọi là rể thảo hơn trai. Nào hay mưu quỷ nó đã sắp sẵn để hại lão, nên khi y gặp con nhà họ Vương thời y tử tế với lão hết sức, dẫu con trai thảo bực nào cũng không bằng. Y mua được lòng lão rồi, mới giọng kèn tiếng uyển rằng: "Cha bây giờ đã già cả, vợ con thì bất hạnh rồi, còn con đây cũng như trai, tiệm trà này trước sau cha cũng kế cho con, vậy xin cha sửa hiệu lại là Trịnh gia trà lâu, đặng sau khi cha nhắm mắt rồi con khỏi lo điều rắc rối với họ hàng”. Lão nghe nói có lý, nên bằng lòng cho sửa bảng hiệu. Từ khi sửa bảng hiệu rồi, vợ chồng y nghiễm nhiên trở thành người chủ tiệm, bấy giờ mới phụ bạc lão, thậm chí đến đuổi lão đi, nói rằng tiệm ấy đã bán cho y rồi, không được ở nữa. Lão tức mình tới huyện Nhân Hòa kiện y, ai dè y đã thông mưu với huyện lại, đổ cho lão vu cáo, đem đánh hai chục hèo và đuổi ra ngoài. Ân nhân nghĩ đó mà coi, lão còn vui gì mà sống, thà là xuống chốn âm ty, đội trạng cáo người bạc nghĩa". Gã thiếu niên nghe xong nói rằng: "Ông tính như vậy lầm quá, nó đã đoạt tiệm trà của ông, ông chết thời khoái ý nó lắm. Theo ý ngu của tôi, ông nên sống lập một tiệm khác, tranh mối với nó coi ai hơn“. Ông già nói: "Bây giờ lão không áo mặc, không cơm ăn, lấy gì mà lập tiệm?". Gã thiếu niên hỏi: "Muốn lập tiệm trà như vậy phải tốn bao nhiêu bạc?". Ông già đáp: "Kiệm lắm cũng ba trăm lượng mới đủ“. Gã thiếu niên nói: "Nhiều lắm thời không đủ, chớ lối ba hoặc bốn trăm thời tôi có thể giúp ông”. Triển Chiêu nghe tới lời đó, trong bụng khen thầm rằng: "Thật rõ là người hiệp sĩ, trọng nghĩa kinh tài“. Nghĩ rồi vội vàng bước tới nói với ông già rằng: "Châu lão trượng chớ hồ nghi, nếu lời anh đây nói không đủ tin, tôi sẽ bảo lãnh cho". “Gã thiếu niên nghe nói liền ngước mặt lên nhìn Triển Chiêu một hồi rồi nói rằng: "Phải, ông đừng ngại chi, có công tử đây hứa như vậy là đủ chắc, đúng trưa mai ông lại Đoạn Kiều Đình này đợi tôi". Nói tới đó móc trong túi ra một nén bạc ước năm lượng đưa cho ông già và tiếp lời rằng: "Ông cầm tạm năm lượng bạc này dùng xài cơm nước và phí tiền trọ. Còn áo quần ông bây giờ ướt hết, đi đứng cũng khó, vậy sẵn dưới thuyền tôi có đồ khô, ông nên lấy thay, rồi mai sẽ mua sắm". Nói rồi kêu thuyền câu ghé vào, lấy áo quần cho ông già, rồi bước xuống bơi đi mất. Ông già lúc ấy cũng từ giã Triển Chiêu mà đi.
Triển Hùng Phi trở lại mướn một chỗ trọ tại Trung Thiên Trúc, dọn đồ ở xong, liền đi tìm lầu trà của họ Trịnh. Đi một đỗi, thấy một tòa lầu cao, trước có treo một tấm biển, một bên đề Hưng Long trại, một bên đề Trịnh gia lầu. Triển Chiêu liền bước thẳng vào thấy một người hình dung gầy gò, miệng nhọn, mặt choắt, ngồi trên cái ghế tre, một tay ôm choàng đầu gối, một tay đỡ đầu chống khuỷu xuống tủ tiền, trơ mắt ngó ra trước cửa. Người ấy thấy Triển Chiêu dòm mình, lật đật chạy lại hỏi rằng: "Quan khách muốn uống trà, xin mời lên lầu”. Triển Chiêu liền bước thẳng lên lầu kéo ghế ngồi, đưa pha trà bước tới hỏi rằng: "Chẳng hay quý khách muốn uống trà hay là rượu?". Triển Chiêu đáp: "Muốn uống trà". Y liền lấy tấm thủy bài trên vách xuống đưa cho Triển Chiêu tự ý lựa thứ trà nào cho vừa. Triển Chiêu không lựa trà, lại hỏi tên họ y. Y đáp: "Chẳng lựa là Tam Hòe, Tứ Hòe gì, nếu khách quan nào có lòng tốt kêu Ngũ Hòe, Lục Hòe, Thất Hòe cũng được". Triển Chiêu cả cười rồi nói rằng: "Ta gọi mi là Lục Hòe. Còn chủ mi họ gì?". Y đáp: "Họ Trịnh, vậy chớ ngài không thấy tấm biển trước cửa hay sao?". Triển Chiêu nói: "Ta nghe nói lầu này của họ Châu sao lại về Trịnh?". Lục Hòe nói: "Nguyên là của họ Châu, sau này để cho họ Trịnh". Triển Chiêu hỏi: "Châu, Trịnh hai người có phải bà con nhau không?". Y đáp: "Ngài biết rõ rồi, Châu, Trịnh vốn là cha vợ với chàng rể, nhưng Châu cô nương đã mất rồi, hiện họ Trịnh đã tục thứ”. Triển Chiêu hỏi: "Có phải cưới con gái họ Vương không?". Y nói: "Phải”. Triển Chiêu lại hỏi: "Người vợ họ Vương thế nào, tử tế không, sao mà cha vợ chàng rể lại đem nhau thưa kiện ở huyện Nhân Hòa vậy?“. Y nghe hỏi tới đó nghĩ rằng: "Ông này cố ý tới đây làm gì, uống trà hay là đi tọc mạch?". Nghĩ rồi đáp: "Không rõ". Triển Chiêu lại hỏi: "Chủ mi ở chỗ nào? Có ai ở chung không?". Y lại càng nghi ngờ lắm, đáp rằng: "Chỉ có hai vợ chồng và con hầu mà thôi". Triển Chiêu nghe xong lại hỏi: "Lúc ta mới vào thấy người ngồi trên ghế đó có phải chủ mi không?". Đáp: "Phải". Triển Chiêu nói: "Ta xem trên mặt chủ mi có lộ hồng quang, chắc sẽ được phát tài lắm". Bấy giờ Triển Chiêu mới quay lại lấy tấm thủy bài lựa trà rồi trả lại. Lục Hòe vừa đi xuống lầu, thời nghe có tiếng đi lên nữa. Triển Chiêu nhìn lại thấy một vị võ sinh ăn mặc rất đẹp, tướng mạo anh hoa đi tới kéo ghế ngồi xéo với mình. Lục Hòe lật đật lại lau ghế rồi hỏi rằng: "Công tử bận chuyện chi mà lâu lại đây lắm vậy?". Gã võ sinh đáp: "Có chuyện chi đâu, ta mới tới đây lần này là lần đầu”. Lục Hòe thấy nói hơi sái với câu hỏi mình thời thắc cỡ, liền hỏi lại rằng: "Công tử muốn uống trà hay uống rượu?". Gã võ sinh đáp: "Châm trà Võ Tiên!” Lục Hòe nghe xong vừa quay mình đi thời gã võ sinh kêu trở lại nói: "Ủa mà quên! Vậy chớ mi họ gì?". Y đáp: "Tôi họ Lý". Gã võ Sinh lại hỏi luôn tới tên chủ nó, đại để y như lời hỏi của Triển Chiêu khi nãy, mà Lục Hòe cũng đáp lại như vậy. Gã võ sinh cũng nói: "Lúc ta mới vào thấy mặt chủ mi lộ hồng quang chắc là phát tài lắm". Lục Hòe cảm tạ, rồi chống tay đi xuống, vừa đi vừa nghĩ: "Quái lại, ngày nay sao lại có hai người khách tới đây, cử chỉ coi hệt nhau, lại hình như đi tới đây cố ý tọc mạch chớ chẳng phải uống trà".
0
Hồi Thứ Hai Mươi Tám [/align]

Trong trà phố, Trịnh Tân bị trộm,
Trên hồ đình, Châu Lão chịu ơn.
 
Triển Chiêu ngồi một bên nghe người khách ấy nói chuyện với Lục Hòe, nhất nhất đều y như mình khi nãy, bèn lắng nghe, lén xem dung mạo cho kỹ, thời quả là gã thuyền câu đã cứu Châu lão hồi sáng, thời lấy làm lạ nghĩ rằng: "Đã là võ sinh sao còn giả đóng làm thuyền chài là ý gì?". Chợt thấy gã sinh ấy đứng dậy đi tới trước mặt Triển Chiêu vòng tay thi lễ rằng: "Chào tôn huynh". Triển Chiêu vội vã để chén trà xuống đứng dậy đáp lễ rồi nói: "Nếu chẳng ngại sang hèn cùng nhau xin chung bàn, trò chuyện chơi cho vui”. Võ sinh ấy đáp: "Đã nhớ tưởng tới, lẽ nào dám chẳng vâng lời”. Nói rồi hai người ngồi vào một bàn, Lục Hòe dưới lầu bưng trà lên thấy vậy, nó thầm trong bụng rằng: "Hai người này cùng một chỗ lại đây, lạ gì chẳng hỏi y nhau một cách". Liền bưng bình trà Võ Tiền và cái chén để chung vào một nơi. Gã võ sinh lại bảo rằng: "Chúng ta muốn uống rượu, vậy mi đem lên cho ta hai bầu, và lựa thứ đồ ăn nào ngon bưng luôn thể”. Lục Hòe dạ dạ xuống lầu. Võ sinh ấy bèn hỏi Triển Chiêu rằng: "Chẳng hay ông anh tên họ là chi, và quê quán tại đâu?". Triển Chiêu đáp: "Tôi nhà tại phủ Thường Châu huyện Võ Tấn họ Triển tên Chiêu tên chữ là Hùng Phi". Gã võ sinh tiếp: "Có phải mới được lên tứ phẩm, đoái đao hộ vệ và khâm tứ là Ngự miêu, người xưng là Nam hiệp Triển gia đây chăng?". Triển Chiêu đáp: "Đâu dám như thế, vậy chẳng rõ anh tên họ là chi?". Võ sinh đáp: "Tôi người phủ Tòng Giang thôn Mạc Hoa tên là Đinh Triệu Huệ đây”. Triển Chiêu vội vàng hỏi tiếp: "Có phải có ông anh tên Lang, mà thiên hạ gọi là Đinh nhị quan hay không?". Đinh Triệu Huệ đáp: "Anh em chúng tôi đâu có được như thể”. Triển Chiêu nói: "Lâu nay đã từng nghe danh hai ngài, song chưa tới ra mắt được, bây giờ gặp gỡ ở đây thật may mắn vô cùng “. Đinh Triệu Huệ nói: "Anh em chúng tôi cũng vẫn nghe danh anh hằng ao ước tới chơi, nhưng chưa có dịp nay gặp đây thỏa chí biết bao".
Nói vừa tới đó Lục Hòe bưng rượu và đồ ăn lên, Đinh Triệu Huệ cầm bầu rót rượu mời Triển Chiêu. Triển Chiêu cũng rót đáp lại, hai người ăn uống chuyện vãn rất vui vẻ. Nhân hỏi tới việc giả dạng ông chài, Triệu Huệ cười mà đáp rằng: "Tôi vâng lệnh lên chùa Linh Ẩn để hương, đi qua bờ hồ này, thấy cảnh đẹp trời thanh non cao nước biếc nên cải trang du thưởng, bất ý cứu được Châu lão, xin chớ cười“. Đương lúc nói chuyện, có một đứa tiểu đồng dưới lầu đi lên thưa với Triệu Huệ rằng: "Mới rồi đại nhân (Triệu Lang) có sai người tới giục ngài về và có thư dâng lên, xin quan nhân hội kiến". Triệu Huệ tiếp lấy xem, rồi nói với tiểu đồng rằng: "Ta gởi lời về thưa với đại nhân rằng mai sẽ về“. Triển Chiêu thấy vậy hỏi rằng: "Anh đã có chuyện, sao lại chưa kiếu về, bất tất phải lưu luyến với tôi làm chi?". Đinh Triệu Huệ nói: "Biết không có chuyện gì, nếu anh đã dạy như vậy, xin cho tôi lui về, mà mai này thế nào, lúc quá trưa, ngô huynh cũng nhớ lại chốn hồ đình tương hội nhé". Triển Chiêu nhận lời. Đinh Triệu Huệ bèn kêu Lục Hòe lên bảo rằng: "Chúng ta ăn uống nãy giờ, tính hết, bao nhiêu ta xuống dưới sẽ trả đủ“. Nói rồi đi xuống, còn Triển Chiêu ngồi một mình, giây lát cũng trở về, nghỉ ngơi tới canh hai bèn thay hình đổi dạng mang bảo kiếm đi tới lầu của Trịnh Tân. Từ dưới chân lầu leo tuốt lên mái, dòm trong cửa nọ, thấy có bóng đèn, bèn lại gần nghe có tiếng đàn bà hỏi rằng: "Sao mi đi gọi ngài lại chẳng thấy lên?". Con hầu đáp: "Ngài còn bận việc tiền bạc một lát, xong sẽ lên sau”. Một lát lâu người đàn bà lại giục: "Mi đi xem thử coi quan nhân đã tính xong chưa. Bây giờ đã canh ba rồi mà sao chưa thấy lên?". Vừa dứt lời nghe dưới lầu có người đi lên và nói rằng: "Không có tiền à, không được, phải đòi cho có, để đấy sẽ coi ta!". Dứt tiếng nghe mở cửa và nghe đánh rổn một tiếng, Triển Chiêu dòm theo khe của, thấy người ngồi ở tủ tiền lúc ban ngày đi vào, và trên bàn để tám gói bạc bao bằng giấy tây ngoài lại có niêm dấu. Trịnh tân vừa thò tay mở cửa tủ vừa nói rằng: "Ta đương mắc tính toán việc mua bán, mình có việc chi cần mà sai con hầu đi gọi đến đôi ba lần như vậy?". Miệng thời nói, còn tay thời lấy mấy gói bạc cất vào tủ rồi đóng lại. Người đàn bà nghe hỏi đáp rằng: "Thiếp tưởng công việc đã xong xuôi nên mời mình lên". Trịnh Tân hỏi: "Có việc gì vậy?”. Người đàn bà đáp: "Ấy là chuyện của lão chết bầm đó mà, tuy lão đã bị trục xuất, song tại huyện lão còn dám tới cáo, thời chắc phủ hay mà kinh đô lão cũng chẳng từ, thì biết tính thế nào?". Trịnh Tân thở ra than rằng: "Nếu nghĩ tới ơn chiếu cố của lão buổi xưa, mà ngày nay ta bạc đãi đến nông nỗi này, thời thật cũng phụ với vợ trước của ta lắm". Nói tới đó tuôn hai giọt lụy nghẹn ngào. Triển Chiêu đứng ngoài nghe, nói thầm rằng: "Trịnh Tân vẫn là đứa còn lương tâm mà!". Bỗng nghe tiếng chén đũa khua loang choang và có tiếng thầm thì khóc lóc, Triển Chiêu nghe kỹ là người đàn bà kêu khóc. Lại nghe Trịnh Tân nói rằng: "Mình chớ nên giận dữ làm chi, tôi nói thế là có ý đâu?”. Người đàn bà khóc rằng: "Mình đã tưởng nhớ vợ cũ, sao lúc chị ấy chết mình không chết theo, lại cưới tôi làm chi?". Trịnh Tân nói: "Đó chẳng qua nói chuyện vậy thôi, mình đừng giận tôi nữa". Nói rồi lại đi bên người đàn bà ấy dỗ dành năn nỉ, một lát mới hết khóc.
Trịnh Tân thấy vợ hết giận bèn sai con hầu đi hâm rượu. Con hầu vâng lời đi xuống, một lát nghe dưới lầu có tiếng la hoảng, con hầu hớt hải chạy lên coi bộ rất kinh hãi. Trịnh Tân vội vã hỏi, nó đáp rằng: "Ở dưới... dưới thang lầu, có... có cái gì như cục lửa to lắm, lăn... lăn tròn hoài?". Người đàn bà nghe xong liền nói: "Có gì lạ đâu, không chừng là tiền của lão chết bầm kia chôn, nên kim khí xung thiên, vậy hai ta cũng nên xuống xem cho nhớ sáng ngày sai đào lấy”. Trịnh Tân nghe nói máu tham nổi lên, bèn sai liễu hoàn đốt đèn lồng lên. Bấy giờ liễu hoàn đã hết hồn không dám đi lấy, sẵn trên giá có cây đèn sáp, nó bèn lấy đốt, cầm đi trước, vợ chồng Trịnh Tân nối gót xuống lầu. Lúc này Triển Chiêu đứng ngoài cửa mừng lắm nghĩ rằng: "Ta cũng nên thừa cơ hội này vào lấy bạc mới nhẹm”. Chợt thấy có bóng người thoáng qua, Triển Chiêu coi rõ là gã thuyền câu ban ngày, liền cười và nói trong bụng rằng: "Chà chà! Y cũng dám vào đây kiếm tiền nữa chớ, thật giỏi, mà làm sao y biết chỗ để tiền mà lấy, ta làm sao nói cho y biết được? Đương còn suy nghĩ thì thấy Đinh Triệu Huệ đi thẳng lại bên tủ, tay đè một cái, cửa liền mở ra, thò vào lượm bạc bỏ vào túi. Triển Chiêu đứng ngoài đếm cả thảy tới chín lần lượm rồi mới đóng cửa tủ lại, lấy làm lạ lắm vì khi nãy chỉ thấy có tám gói mà thôi, sao bây giờ lại tới chín gói. Đương còn nghĩ ngợi, thời nghe dưới lầu có tiếng đi lên và nghe tiếng Trịnh Tân rầy con hầu rằng: "Đồ hư quen nết, chuyện không có gì làm cho ta kinh hãi!". Nói rồi dắt nhau đi lên. Triển Chiêu thất kinh nghĩ thầm rằng: "Chúng nó đã đóng cửa rồi, thế thì làm sao cho bạn ta ra khỏi, nếu y thật là tay hiệp khách thời đỡ lo!". Bổng thấy trong ấy đèn đuốc đều tắt cả bốn phía tối đen. Triển Chiêu khen thầm và mừng lắm, kể nghe Trịnh Tân kêu rằng: "Sao mà đèn tắt hết như vậy? Còn đèn sáp sao cũng quăng đi, mau mau xuống lầu lấy lửa thắp đèn lên coi!”. Triển Chiêu biết Đinh Triệu Huệ là tay giỏi, nên mượn lúc tắt đèn mà thoát thân, lại tự cười mình sao bạc gần tới tay để cho Triệu Huệ lấy, vậy còn ở đây làm gì, bèn hối hả tuột xuống lầu đi thẳng về chỗ trọ.
Lúc Trịnh Tân có lửa đốt đèn lên, thấy cửa tủ hình như có ai mở, liền chạy lại coi, mở tủ ra xem không còn một gói bạc nào cả, bèn la hoảng rằng: "Bị trộm rồi, bị trộm rồi". Vợ y hỏi: "Có mất tiền hay không?". Trịnh Tân đáp: "Chẳng những là mất tám gói bạc mới cất vào, cho đến gói bạc cũ hai mươi bốn lượng cũng mất". Vợ chồng lật đật chạy xuống lầu tìm kiếm khắp nơi, không thấy tăm hơi chi, chỉ có than thở cùng nhau mà thôi.
Triển Chiêu quay về, ngủ một giấc tới mặt trời mọc ba sào mới dậy, ăn lót lòng ba hột rồi lững thững đi ra Đoạn Kiều Bình, tới nơi chỉ thấy Châu lão đợi đó chứ chưa thấy Đinh Triệu Huệ. Châu lão thấy Triển Chiêu tới bèn thi lễ và nói: "Lão hàn tới đây đợi đã lâu rồi". Triển Chiêu nói: "Anh thợ câu kia chưa lại đây sao?". Châu lão đáp: "Vẫn chưa". Đương còn trông đợi, thấy Đinh Triệu Huệ đi tới lại có đem theo hai đứa tớ. Triển Chiêu chỉ và nói rằng: "Bạc giúp cho ông đã có rồi kìa". Châu lão dòm lại, thời chẳng phải là thợ câu hôm qua, mà lại là một vị võ sinh công tử. Triển Chiêu bước tới thi lễ, cả ba chào hỏi xong xuôi, Đinh Triệu Huệ bèn hỏi Châu lão rằng: "Bấy giờ tiền bạc sẵn sàng, vậy lão trượng có lựa chỗ nào để mở cửa hàng hay chưa?". Châu lão đáp: "Đã có rồi, lầu ấy của người bạn tôi, ở cách Trịnh gia lầu ước một lần tên, chỗ đó trước là tiệm vẽ, nhân bạn tôi là Mạnh Mồ già yếu thôi nghề rồi, giao lầu ấy cho tôi coi chừng giùm, nay muốn mở lại buôn bán cũng dễ". Đinh Triệu Huệ nói: "Vậy lại càng tốt, mà ông có ai giúp sức buôn bán với không?". Châu lão đáp: "Có, tôi có một đứa cháu tên là Ô Tiểu Ất lúc trước làm ở tiệm tôi, sau này Trịnh Tân cải hiệu tiệm, rồi đuổi nó đi". Đinh Triệu Huệ lại nói: "Như vậy thời có thể mở được một tiệm trà khác rồi, tôi có một đứa tớ cũng có thể giúp ông được, nó lanh lợi, chuyện chi ông cũng nên trông cậy ở nó". Nói rồi sai tiểu đồng đem gói lại mở ra. Triển Chiêu đứng xem chằng chằng không nháy mắt.
Thật là:
Thấy việc bất bình không lẽ bỏ.
Lấy tiền vô nghĩa giúp người cùng.
0
Hồi Thứ Hai Mươi Chín
[/align]

Giúp người cùng khổ, Châu lão kinh dinh.
Mời khách anh hùng, Triển Thiệu đồng hạnh.
 
Đinh Triệu Huệ sai tiểu đồng mở gói ra, gói lớn gói nhỏ khác nhau. Đinh Triệu Huệ nói: "Tám cây bạc này phân lượng chẳng đồng, có nặng có nhẹ, nhưng cả thảy được bốn trăm hai chục lượng”. Châu lão vui mừng hết lòng cảm tạ. Đinh Triệu Huệ lại nói: "Nếu sau này có ai hỏi ông bạc ở đâu mà có, cứ nói rằng của con quan Tổng binh trấn phủ Hùng quan tên là Đinh Triệu Huệ hiện ở tại phủ Tòng Giang thôn Mạc Hoa". Triển Chiêu cũng nói: "Còn nếu có ai lấy gì làm tin, thời cứ nói có tên Triển Chiêu ở thôn Ngộ Truật huyện Võ Tấn phủ Thường Châu làm chứng”. Đinh Triệu Huệ lại sai tiểu đồng kêu chiếc thuyền câu hôm qua đem áo quần đã giặt sạch sẽ trả lại cho Châu lão. Rồi sai một đứa tiểu đồng mang bạc đi với Châu lão lo liệu việc lập tiệm. Châu lão tạ ơn rồi từ biệt ra đi. “Bấy giờ người tùy tùng của Triển Chiêu đã dắt ngựa tới, Đinh Triệu Huệ thấy vậy bèn nói: "Hôm qua có sai người tới kêu tôi về, tiểu đệ có gửi thư trả lời rằng, nhân dịp may gặp được tôn huynh, thời anh muốn tôi ra mắt như người khát trông nước. Vậy tiện dịp dám thỉnh tôn huynh quá bộ lại nhà chơi vài bữa". Triển Chiêu nghĩ rằng mình đang thư thả, cũng nên lại đó chơi ít lâu, liền nói: "Nếu tôn huynh không hạ cố thời thôi, nếu đã hạ cố ngu đệ nào dám từ”. Nói rồi kêu người hầu đem hành lý và ngựa trở về nhà đợi mình đi chơi Tòng Giang ít lâu.
Triển Chiêu và Đinh Triệu Huệ bèn dắt tiểu đồng, cùng nhau xuống thuyền nhắm Tòng Giang lướt tới Thuận buồm xuôi gió, đường sông từ đây tới Tòng Giang thật là gần. Trong khi cùng nhau ở dưới thuyền, hai người chuyện vãn rất là ý hợp tâm đầu, nhân hỏi tới tuổi tác, thời Triển Hùng Phi lớn hơn Đinh Triệu Huệ hai tuổi, nên Triệu Huệ kêu Hùng Phi bằng anh, còn Hùng Phi kêu Triệu Huệ lại bằng em. Trong lúc trò chuyện, bất giác nói tới chuyện Châu lão, Triển Chiêu bèn hỏi Triệu Huệ rằng: "Hiền đệ vâng lệnh bá mẫu đi dâng hương, sao lại đem nhiều bạc như vậy?". Triệu Huệ đáp: "Vì cần mua ít nhiều đồ đạc". Triển Chiêu hỏi: "Bây giờ tiền bạc ấy đã cho Châu lão hết rồi, lấy gì mua sắm được?". Triệu Huệ đáp: "Đệ tuy là bất tài, song cũng lo tạm được?”. Triển Chiêu cười nói: "Nếu cho mượn thời tốt, bằng không thời liền bị tắt đèn, làm sao lại không được?". Đinh Triệu Huệ nghe nói lấy làm lạ hỏi: "Triển huynh nói thế là có ý gì?". Triển Chiêu liền đem chuyện đêm trước thuật lại, hai người vỗ tay cười xòa. Chuyện vãn vừa xong, thuyền đã tới bến đậu, hai người lên bờ. Đinh Triệu Huệ sai tiểu đồng chạy mau vào nhà báo tin, còn mình cùng Triển Chiêu lững thững đi sau. Qua một chỗ Hùng Phi thấy một con đường trải đá, hai bên là một cụm rừng rất sum sê sầm uất, dưới mỗi gốc cây dài theo con đường ấy đều có một người hoặc hai người đầu không đội mũ, chân chẳng đi giày, áo ngắn quần cụt, mày đậm mắt to, khoanh tay đứng hầu, bèn hỏi Đinh Triệu Huệ rằng: "Những người ấy làm gì mà ở đó đông vậy?". Triệu Huệ đáp: "Nguyên vì dưới sông này có đến năm trăm chiếc thuyền chài lưới thường hay đánh lộn nhau tranh giành tôm cá, nên mới lấy chỗ Lưu Hoa Thang làm ranh giới. Mỗi bên quản hơn hai trăm chiếc, cứ mười chiếc có một người tiểu đầu mục, trăm chiếc có một người đại đầu mục, và cả thảy có một vị thủ lãnh giữ những điều ước hẹn của hai bên. Hai anh em tôi quản một bên, hễ trong phủ có cần dùng cá tôm thời các đầu mục vâng lệnh cung cấp, còn bao nhiêu mới đem ra chợ bán. Mấy người ấy tức là các đầu mục, nay tới đây trình diện tiểu đệ". Triển Chiêu nghe nói gật đầu bước đi, tới một con đường lát đá vảy cá xanh, đó là tới cửa ngõ, thấy trên cửa có một người đương đứng chờ, hai bên theo hầu rất nhiều trang đinh. Người ấy thấy Triển Chiêu đi tới bèn bước xuống rước.
Người này là Đinh Triệu Lang anh em sinh đôi với Triệu Huệ, ra trước một giờ nên đứng ngôi anh. Cả hai hình dáng in hệt nhau, nếu Triển Chiêu không gặp Triệu Huệ trước thời chắc là nhận lầm ngay. Triển Chiêu theo anh em họ Đinh vào trong, mở bảo kiếm ở lưng ra đưa cho tiểu đồng, rồi cùng ngồi vào bàn. Triển Chiêu muốn vào ra mắt Đinh thái thái, Triệu Huệ đỡ lời xin để mình bẩm lại, rồi chừng nào ra mắt cũng được. Trong khi uống trà, anh em họ Đinh hỏi tới việc của Triển hùng Phi cứu Bao Công thế nào, và được hậu đãi ra sao? Triển Chiêu liền đem cả việc tại Kim Long Tự gặp sãi dữ, nơi Thổ Long Cang gặp kẻ cướp, ngoài trấn Thiên Xương, trong vườn hoa của Bàng Kiết phá tà ma, đầu đuôi thuật lại cặn kẽ. Hai anh em họ Đinh nghe xong khen ngợi lắm. Lại hỏi rằng: "Cũng có nghe đại ca bái yết Thánh thượng tại lầu Diễn võ có diễn thi võ nghệ, được Thánh thượng cho hiệu là Ngự miêu, đầu đuôi làm sao nói cho anh em tôi được biết?". Triển Chiêu đáp: "Việc đó đều tại Bao tướng gia tâu lên, chớ ngu huynh tài cán gì mà dám như vậy”. Triệu Huệ nói: "Đại ca bất tất phải khiêm nhượng, chúng tôi muốn đại ca múa một hiệp để chỉ bảo thêm, chẳng hay có ưng không?". Triển Chiêu đáp: "Bảo kiếm đã đưa cho gia đinh cất rồi". Triệu Huệ bèn sai gia đinh vào lấy, rồi tự mình tuốt ra khỏi vỏ, thấy màu sáng chói lòa, tiếng khua như khánh, rất khen ngợi là kiếm tốt. Triển Chiêu muốn thử tài hai anh em họ Đinh biết xem kiếm hay không, bèn hỏi rằng: "Nhị vị có biết kiếm ấy tên là gì không?". Triệu Lang với tay cầm kiếm lên xem một lượt rồi nói rằng: "Có phải là kiếm Cự Khuyết chăng?". Triển Chiêu khen thầm trong bụng rằng: "Thật là bậc chân tài có mắt xem nổi bảo kiếm". Rồi nói rằng: "Thật lời nói chẳng sai, đó là kiếm Cự Khuyết vậy”. Dứt lời đút kiếm vào bao. Triệu Huệ tiếp lời rằng: "Khi nãy đại ca vừa có ý về việc múa kiếm, vậy cũng nên múa vài hiệp cho chúng em coi". Triển Chiêu thấy không thể chối từ, liền uống ít chén rượu, rồi xăn áo vo quần, xách kiếm ra trước sân. Anh em họ Đinh cũng bước theo, Triển Chiêu quay lại nói rằng: "Đường kiếm của tôi còn rất sơ sài, nếu có chỗ nào chưa hay, xin nhị vị hiền đệ chỉ giáo thêm". Hai anh em họ Đinh đồng thanh nói: "Đâu dám như thế, đâu dám như thế”. Triển Chiêu nghe xong liền vung kiếm ra múa. Anh em họ Đinh đứng dựa cột xem, tới mấy chỗ hay, vỗ tay khen ngợi. Triển Chiêu múa xong ngừng kiếm nói với anh em họ Đinh rằng: "Tài hèn như vậy, có chi đến phải làm nhọc mắt nhị vị hiền đệ đâu”. Hai anh em họ Đinh nói: "Kiếm pháp như vậy, trên đời dễ có mấy ai, nhưng tiếc vì kiếm ấy có hơi nhẹ tay một chút. Tiểu đệ có một cây kiếm rất tốt, xin dâng cho đại ca xem". Nói rồi kêu một đứa tiểu đồng lại dặn nhỏ ít lời, rồi cùng nhau trở vào nhà. Tới nơi thấy rượt thịt ê hề, nem, cá đầy mâm. Triệu Lang cầm bầu rót rượu đưa cho Triển Chiêu và mời ngồi vào tiệc.
Cùng nhau thù tạc được ít chén, tiểu đồng mang kiếm tới, Triệu Huệ tiếp lấy, rút ra đưa cho Triển Chiêu và nói: "Kiếm này nguyên của cha chúng tôi để lại, bấy lâu nay cũng chưa biết tên nó là gì, dám phiền đại ca coi thử". Triển Chiêu nghĩ thầm rằng: "Đinh nhị gia thật là tinh quỷ, mới một chút mà muốn trả đũa lại ta nên đem kiếm ra thử tài". Nghĩ rồi lấy kiếm xem thử, xem xong cười rằng: "Thật là bảo kiếm, song không hiểu có phải là kiếm Tràm Lư hay không?". Đinh Triệu Huệ đáp: "Lời đại ca nói chẳng sai, song không biết dùng kiếm này múa có được vừa tay không?". Triển Chiêu nghe nói liền xách kiếm ra múa một chặp nữa. Hai anh em họ Đinh xem xong hỏi rằng: "Đại ca múa kiếm này có mệt chăng?". Triển Chiêu nghe hỏi chẳng vui liền đáp: "Kiếm này nếu sánh với kiếm của tôi thời nhẹ hơn nhiều lắm". Đinh Triệu Huệ nói: "Sao đại ca lại nói vậy, khinh kiếm tức là khinh người đó, kiếm này còn có chủ nó, e cho đại ca thấy mặt chủ nó mà không dám chưng tài mình ra!". Câu nói ấy làm cho Nam Hiệp thẹn thùa, gắt lên rằng: "À! Dầu chủ cây kiếm này là người thế nào, liệt huynh cũng xin thừa tiếp, chớ sợ gì, hiền đệ nói coi người ấy là ai?". Đinh Triệu Huệ nói: "Đại ca chớ quên lời, kiếm ấy của em gái tôi đó”. Nam Hiệp nghe nói mắc cỡ liếc Triệu Huệ một cái, kế thấy con hầu ra thưa có Đinh thái thái tới. Triển Chiêu nghe thưa vội vã bước ra khỏi tiệc, cúi đầu làm lễ. Đinh thái thái vào ngồi yên nơi, ngó lên xem tướng Nam Hiệp một lượt, thấy rõ là một kẻ anh tài hào kiệt, bất giác lộ vẻ vui mừng nói ngay rằng: "Thôi mời hiền đệ hãy ngồi xuống, bất tất giữ lễ cho lắm “.
Nguyên là lúc Triệu Huệ vừa gặp Triển Chiêu thời đã có ý muốn tính nhân duyên cho em gái mình, nên lúc về nhà vào ra mắt Đinh lão mẫu đã có tỏ ý rồi. Nên khi Triển Chiêu ra mắt, Triệu Huệ thấy mẹ mình đã ưng ý, nên len lén lui ra, chạy thẳng vào phòng thêu của tiểu thư.
Thật là:
Thấy khách anh hùng liền đẹp ý.
Lo chi thục nữ chẳng vừa lòng.
0
«« « 1 2 3 4 » »»