📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

Bao Thanh Thiên – Thất Hiệp Ngũ Nghĩa (Hết) 🔒

102 trả lời, 13.426 lượt xem — Trang 3 / 4
Hồi Thứ Năm Mươi Chín
[/align]

Tử Nhiêm Bá quyết lòng trừ Mã Cang,
Đinh Triệu Lang vô ý gặp Mãn Hán.
 
Bao Hưng nói với Trương lão rằng: "Dám thỉnh lão trượng cùng đi với Đặng Cửu Như lên Đông Kinh ra mắt Tam công tử. Đặng Cửu Như được làm con nuôi của công tử, thời lão trượng cũng được theo săn sóc mà nhờ tấm thân. Chẳng rõ lão trượng nghĩ thế nào?". Trương lão nghe nói cả mừng tỏ ý vâng lời. Bao Hưng liền hối hả sắm sửa hành trang rồi cùng Cửu Như lên xe rong ruổi. Lúc ra đi còn căn dặn người trong tiệm bánh rằng: "Nếu Hàng gia gia có trở lại, thì nói rằng cùng nhau đã tới phủ Khai Phong rồi".
Lúc Bao Hưng và Trương lão ra khỏi lầu Hội Tiên thời Đinh Triệu Lang hỏi Bắc Hiệp Âu Dương Xuân rằng: "Khi nãy tên ác nô của Mã Cang làm càn và Trương lão đã kể như thế, bụng anh nghĩ sao?". Bắc Hiệp nói: "Hiền đệ, chúng ta cứ ăn uống, lo chi tới việc người ta". Đinh Song Hiệp nói thầm trong bụng rằng: "Đã lâu rồi ta nghe tiếng Bắc Hiệp võ nghệ siêu quần, hào hiệp vô tỉ, thế mà nay lại nói những lời như thế ấy! Mà thôi, có lẽ mới gặp nhau lần đầu nên còn hồ đồ như thế, vậy để ta dò ý người coi thế nào?". Nghĩ đoạn bèn nói: “Chúng ta vẫn một lòng hào hiệp trượng nghĩa, cứu khốn phò nguy, lẽ nào thấy việc bất bình lại nỡ làm thinh, theo ý tôi thời nên lập kế trừ phứt chúng nó cho rồi". Bắc Hiệp khoát tay mà rằng: ”Hiền đệ chớ nói như vậy, há chẳng nghe lời nói: Rừng có mạch vách có tai hay sao?”. Song Hiệp nghĩ rằng: “Ối! Tiếng là hiệp sĩ mà gan như tép, mặt như đậu, thì còn làm được việc gì? Tiếc thay trong mình không có gươm đao, được rồi tôi nay sẽ trổ tài cho y biết danh Song Hiệp. À à. Ta nên cùng y ngủ chung một đêm nay, chờ mê giấc sẽ mượn đao của y mà đi". Nghĩ như vậy liền nói: "Thôi chuyện đâu bỏ đó. Chúng ta cứ việc ăn cơm, bây giờ bụng đói lắm rồi". Bắc Hiệp nói: "Tôi cũng vậy". Hai người bèn kêu nhà hàng đem cơm thịt, cùng ăn no, tính tiền trả rồi đi xuống lầu.
Ra tới đường lộ, bây giờ trời đương đứng trưa, Triệu Lang làm ra dáng mệt mỏi, nói với Bắc Hiệp rằng: “Ngày nay tôi đi đường mệt mỏi lắm, muốn kiếm chỗ nghỉ tại đây, ý nhân huynh tính lẽ nào?". Bắc Hiệp đáp: "Phải, chúng ta mới gặp nhau, đáng lẽ cùng chuyện trò cho thỏa chí, nhưng tôi cũng mệt lắm, chúng ta đi kiếm chỗ nghỉ đi". Triệu Lang nghe nói mừng lắm, vừa đi tới cửa chùa, hai người bèn dắt nhau đi vào, thấy có một ông sãi già, bèn ra mắt, tỏ ý xin ngủ nhờ một đêm, sáng ra sẽ đền ơn tiền nhang khói. Ông sãi vui lòng, đưa hai người tới chỗ có ba căn nhà sạch sẽ và tĩnh mịch lắm. Hai người bèn để hành lý vào đâu đó yên ổn, Bắc Hiệp mở túi gươm treo lên trên vách. Đến chiều tối, hòa thượng đem cơm chay cho hai người ăn. Bắc Hiệp có điều ngụ ý trước nên ăn rất lẹ làng, ăn xong há họng ngáp dài. Đinh Triệu Lang thấy vậy cười thầm trong bụng rằng: "Rõ là hạng người giá áo túi cơm, thế mà dám xưng là Bắc Hiệp”. Cười đoạn nói với Bắc Hiệp rằng: "Nếu nhân huynh có mệt thì xin nghỉ trước đi". Âu Dương Xuân đáp: "Xin lỗi hiền đệ, liệt huynh biết trong mình nhọc mệt nhiều”. Nói rồi lấy gối gối đầu, vừa nắm xuống thì đã nhắm mắt ngáy như sấm.
Đinh Triệu Lang ngồi nhắm mắt định thần, đến bước đầu canh hai bèn nai nịt gọn gàng, với tay lên vách lấy túi gươm đeo vào mình, chỉ nghe Bắc Hiệp ngáy to hơn nữa, vội vàng bước ra, khép cửa lại, nhắm Thái Tuế trang đi tới.
Đi được vài dặm đường, xem lại đã đến nơi, thấy trước mặt có một vòng tường rất cao, liền giậm chân nhảy vào, xem lại thì còn một vòng tường nữa mới tới trong bèn đi lại chân tường giậm chân nhảy lên trên đầu tường, thấy một bên có một cái phòng ló mái ra, nhắm thế qua được, bèn đi lần tới, vừa lẹ bước chuyền qua, bỗng miếng gạch trên đầu tường tróc ra muốn rớt. Triệu Lang sợ để miếng gạch ấy rơi làm kinh động trong nhà, nên gắng ghìm cẳng lại, rồi mới chuyền qua phòng nhỏ rồi lại leo thẳng tới phòng lớn, ngồi trên nhìn xuống, thấy nào là con hầu đầy tớ chạy đi chạy lại hô cơm kêu thịt dâng rượu lấy rau lăng xăng. Triệu Lang bèn nhân lúc chúng nó đi qua khỏi bò lần vào chỗ tối bên vách mà rình, nghe bên trong có tiếng của bọn nàng hầu năn nỉ rằng: "Sao Thiên Tuế uống rượu của mấy nàng kia, lại không dùng của chúng tôi, thế thời chúng tôi không vừa lòng". Rồi nghe có tiếng đàn ông đáp: "Bọn chúng bây cả thảy là tám người, vậy Cô gia* phải theo thứ tự mà uống chứ". Đinh Song Hiệp nghe xong nghĩ bụng rằng: "Hèn chi mà Trương lão nói nó có ý làm phản! có oan đâu! Nó dám xưng cô là quả, không trừ nó sao được".
* Cô gia: Tiếng xưng hô của vua.
Nghĩ rồi bò lần gần tới chỗ bày tiệc ôm đầu cột ngồi nhìn xuống, thấy mé bên kia cách một bức rèm, vắng vẻ không có ai bèn tuột xuống, đứng nép vào len lén nhìn qua. Thấy giữa bàn có một người trạc ba mươi tuổi ngồi chễm chệ, chung quanh rất nhiều tỳ thiếp cười cười giỡn giỡn buông ra những lời bất đạo vô quân, thời nổi giận với tay ra sau lưng rút đao ra, ai dè bảo đao mất tự lúc nào rồi, chỉ còn cái vỏ không mà thôi. Bây giờ trong tay không một tấc sắt, biết tính làm sao! Đương lúc suy nghĩ bỗng nghe bọn tỳ thiếp la hoảng lên rằng: "Không xong rồi, không xong rồi. Đầu của Thái Tuế đã bị yêu tinh cắt mất rồi". Chúng nó vừa la vừa chạy làm rối rít cả lên. Đinh Triệu Lang nghe như vậy nghĩ thầm rằng. "Yêu tinh nào biết trừ bạo trừ hung như vậy, thôi ta khỏi phải lo nghĩ gì nữa, trở về chùa cho xong". Nghĩ đoạn liền lén lén đi ra, nhảy qua tường thứ nhất, vừa đi được ít bước, thấy một người to lớn tay cầm cây nhảy tới đánh đập tứ tung, Đinh Triệu Lang tài cao mắt lẹ nên tránh trớ khỏi, song chỉ có hai tay không, chẳng lấy gì chống cho lại. Đương lúc nguy hiểm bỗng thấy trên đầu tường có một người ngồi, tay xách vật chi không rõ, ném đại vào mình người to lớn kia, người to lớn bị ném té lăn. Triệu Lang liền nhảy tới đè, thời người ngồi trên đầu tường cũng vừa xuống kịp. Đình Triệu Lang nhìn kỹ lại thời chẳng ai đâu lạ, đó chính là người mà mình chê là mật thỏ nhát gan mà xưng hiệu Bắc Hiệp tên Âu Dương Xuân. Triệu Lang thấy vậy cả mừng, song lấy làm lạ một điều là trong tay Bắc Hiệp lại cầm bảo đao của y.
Người to lớn kia bị đè la to lên rằng: “Ơ Hoa Hồ Điệp! Chúng ta kiếp trước có oan nghiệt chi sao mà anh em ta đều bị hại nơi tay mi?". Triệu Lang nói: "Đại hán, chớ lên vô lễ, ai là Hoa Hồ Điệp mà gọi như thế?". Người to lớn nói: "Vậy chẳng phải là Hoa Xung đó hay sao?". Triệu Lang nói: "Không phải, ta là Đinh Triệu Lang đây". Người to lớn nói: "Vây thời tôi nhìn lầm rồi”. Triệu Lang nghe nói lật đật buông người to lớn ấy đứng dậy, phủi bụi giùm cho, nhân thấy trên vai người ấy có một vết máu, hỏi ra mới biết vật của Bắc Hiệp ném khi nãy là thủ cấp của Mã Cang, liền bảo nhau rằng: "Chỗ này không tiện cho chúng ta chuyện vãn, xin hãy mau mau đi ra". Ba người liền nhảy khỏi vòng tường thứ hai, ra tới ngoài đường trống. Đinh Triệu Lang liền hỏi người to lớn ấy rằng: “Túc hạ tên gọi là chi?”. Người ấy đáp: "Tôi tên là Long Đào, nhân vì Hoa Hồ Điệp Hoa Xung giết anh tôi là Long Uyên, nên tôi không lúc nào là không quyết ý báo cừu, nhưng tung tích của Hoa Xung bí mật lắm, khó mà rõ trước được. Mới đây, người trong bọn tôi là Dạ Tinh Tử Phùng Thất nói rằng có người vào nhà Mã Cang, tôi nghĩ chắc là Hoa Xung, té ra lại là hai ngài; tôi vẫn đã nghe tiếng Song Hiệp ở thôn Mạc Hoa, nay tình cờ lại gặp, may mắn biết bao”.
Triệu Lang nhân tiện giới thiệu Âu Dương Xuân cho Long Đào, Long Đào cả mừng nói rằng: "Tôi có ý muốn tới cầu nhị vị giúp sức trả thù anh, song chưa dò hỏi được quý phủ, nay dịp may lại gặp, cúi xin nhị vị vui lòng giúp sức cho". Nói đoạn cúi đầu lạy. Triệu Lang đỡ dậy mà rằng: "Túc hạ bất tất phải làm như vậy" Long Đào đứng lên nói: "Tôi nguyên là kẻ sai dịch trong huyện này, hôm qua vâng lệnh quan huyện đi dò phòng việc kín của Mã Cang, và nhân tiện thăm tin tức của Hoa Hồ Điệp". Bắc Hiệp nói: "Mã Cang làm ác đã gặp tai trời, vậy không còn lo chi nữa, ngặt có Hoa Hồ Điệp tôi không biết mặt nó, thời tính làm sao?". Long Đào nói: "Hoa Hồ Điệp là một vị thiếu niên công tử, võ nghệ cao cường, bên mí tóc hay cài một cây trâm hình bươm bướm cho nên mới có hiệu là Hoa Hồ Điệp. Thường nơi đông đảo, thời y hay tới giả danh du ngoạn, mà hễ gặp đàn bà con gái có sắc đẹp là bắt ngay, hay tới nhà bức hiếp, làm nhiều điều ác không thể kể xiết. Hôm nào đây nghe nói y lên Táo Quân Từ, vậy tôi tính phải theo lên đó mới được" Bắc Hiệp nói: “Táo Quân Từ ở đâu?". Long Đào đáp: “Ở tại huyện này, song cách xa ba mươi dặm, đó là một chỗ rất náo nhiệt". Song Hiệp Đinh Triệu Lang nói: "Hiện nay chúng ta còn phải trở về nhà ít lâu, vậy xin ước rằng, lúc tới đây sẽ cùng nhau hội tại Táo Quân Từ!”. Long Đào nhận lời rồi từ giã ra đi. Hai người liền đi về chùa thay đổi y phục. Triệu Lang mở giỏ đao trả lại cho Bắc Hiệp và hỏi rằng: "Tại cách nào mà nhân huynh lại lấy đao đặng?". Bắc Hiệp nói: "Lúc hiền đệ ngồi xuống lượm cục gạch trên đầu tường để qua một bên, thời đao này đã vào tay tôi rồi”. Triệu Lang nói: "Tài của nhân huynh thật em xin bái phục, song còn một điều lạ, là tỳ thiếp của Mã Cang la hoảng là yêu tinh ấy bởi cớ làm sao?”. Bắc Hiệp đáp: "Chúng ta vì lòng nghĩa hiệp mà làm việc cho nên phải giữ gìn cho người khỏi biết mặt và không mang tiếng". Song Hiệp nói: ”Phải, nhân huynh nghĩ thế ấy thật hay". Bắc Hiệp cả cười móc trong đẫy ra món đồ đưa cho Triệu Lang coi và nói: “ Đây hiền đệ coi vật yêu quái này!”. Triệu Lang tiếp lấy xem, đó là ba cái mặt giả bằng da, hèn cười rằng: “Từ nay em mới rõ nhân huynh là người hai mặt". Bắc Hiệp nói: "Tôi không phải là người hai mặt, song lúc cần dùng tới mới đem ra làm quỷ làm yêu, chuyến này đội mặt giả giết Mã Cang thật hay lắm!”.
0
Hồi Thứ Sáu Mươi
[/align]

Vào Đại Phu Cư, uống rượu gặp người ngang,
Tới Biện Gia Chung, trộm bạc khuấy kẻ dữ.
 
Triệu Lang nghe Bắc Hiệp nói, bèn hỏi rằng: "Thế nào gọi là hay?". Bắc Hiệp đáp: "Mã Cang là người gì mà dám xưng cô xưng quả? Mà không, nếu nó là một người nhà giàu thường, mà hiền đệ giết một cách rõ ràng, chúng nó báo quan là giặc cướp giết người giật của, e hiền đệ cũng mang nguy, huống tại triều nó có quyền thế thời cũng không nên giết bằng cách minh bạch được. Như việc của tôi làm đây, bọn tỳ thiếp cũng chỉ thấy quỷ mặt xanh tóc đỏ, chớ có biết ai mà báo cáo, và quan địa phương cũng khó mà liệu đoán được, đó có phải là một điều hay hay không?". Đinh Triệu Lang nghe nói bái phục lắm. Hai người chuyện vãn đến nửa đêm mới ngủ, sáng ra dâng chút ít tiền hương khói cho hòa thượng rồi ra khỏi chùa. Triệu Lang mời Bắc Hiệp thừa dịp ghé chơi tại thôn Mạc Hoa.
Hàng Chương, từ khi ở tiệm bánh của Trương lão đi ra Khánh Châu, dọc đường nghe kẻ qua người lại xầm xì những việc của Hoa Hồ Điệp làm, Hàng Chương nghe câu được câu chăng, không biết Hoa Hồ Điệp là ai. Ngày nọ đương đi, trong bụng đói như cào, tìm quanh kiếm quán, chợt thấy trong cụm rừng tùng phất phơ lá cờ chiêu khách, biết đó là quán rượu, bèn đi riết tới cửa thấy trên có treo tấm biển ba chữ "Đại Phu Cư”, bèn bước vào trong thấy có hai cái bàn, một bên lót một bộ chõng che, có ông già đương ngồi ngủ gục, bèn đằng hắng một tiếng, ông già giật mình hỏi rằng: "Thưa khách quan muốn uống rượu hay dùng vật chi?". Hàng Chương nói: "Tôi muốn uống rượu, và ăn lót lòng ít nhiều”. Ông quán liền đi hâm một bầu rượu đem ra rồi trở vào bưng đồ ăn. Hàng Chương thấy các món ăn toàn rau đậu không có vật gì vừa miệng liền hỏi: "Còn có món chi nữa hay không?". Ông quán nói:"Còn một thứ trứng gà xào đậu hủ". Hàng Chương bảo ông quán xào một đĩa. Ông quán vừa quay lưng đi vào, thấy ngoài cửa bước vào một người tuổi trạc ba mươi, miệng kêu rằng: "Bớ Đậu lão trượng, mau hâm cho tôi một bầu rượu, rồi sẽ có chuyện nói". Đậu lão hỏi: ”Vậy chớ Trang đại gia đi đâu mà coi bộ vội vàng vậy?”. Người ấy đáp: “Nguyên cháu tôi là Xảo Thư đi đâu mất, nên chị tôi khóc lóc quá, cậy tôi đem tin cho anh rể tôi hay". Hàng Chương thấy người ấy có vẻ thanh tú liền đứng dậy mời cùng ngồi. Người ấy ngồi yên, thấy Đậu lão bưng rượu ra tới bèn nói: "Khi nãy tôi có thấy bầy gà giò đương bươi ăn trước cửa, vậy cảm phiền Đậu lão trượng để lại cho tôi một con, để chúng tôi làm đồ uống rượu”. Đậu lão bèn đáp: “Được, nhưng mà phải trả tiền cho tôi nới nới một chút". Người ấy nói: "Có hề gì, tôi xin trả cho ông hai tiền, được không?". Đậu lão nghe nói cho hai tiền, mừng lắm, liền đi bắt gà.
Bấy giờ Hàng Chương và người ấy ngồi vào chuyện vãn hỏi họ tên nhau, mới biết người ấy là Trang Trí Hòa ở làng bên kia. Hàng Chương hỏi: ”Khi nãy nghe Trang huynh nói có việc cần phải cho anh rể hay, thế mà còn trù trừ nơi đây, e trễ việc đi chăng?” Trang Trí Hòa đáp: "Không ngại gì, vì tôi muốn phải ở đây dò xét trước đã, rồi lập tức cho anh rể tôi hay, chắc anh ấy cũng chẳng có kế gì, tốt hơn là tự tôi dò xét trước”. Nói vừa tới đó, thấy ngoài cửa bước vào một người, kêu Đậu lão bảo hâm rượu, rồi ngồi chồm hổm trên ghế, nghênh mặt hếch mũi coi bộ làm phách lắm, song Hàng Chương không thèm để ý tới.
Đậu lão bưng bầu rượu ra để trước mặt người nọ, anh ta liền thò tay rót, rót xong bắt Đậu lão phải hâm lại và rầy rằng: "Bán thì muốn lấy tiền, mà hâm rượu thì làm biếng". Đậu lão yếu thế phải bưng vào hâm lại rồi bưng ra, người nọ lại biểu phải rót ra rồi hỏi tới đồ ăn, Đậu lão cũng bưng các món như bưng cho Hàng Chương khi nãy, người nọ nhướng mắt nói rằng: "Buôn bán như vầy ai ăn cho được, còn có món gì nữa không?". Đậu lão đáp: "Thời ở chốn quê mùa rừng rú chỉ có bấy nhiêu là cùng, chớ làm sao cho có đồ cao lâu mỹ vị!”. Người nọ thấy Đậu lão đáp như vậy liền giơ tay bước tới muốn đánh. Đậu lão thất kinh lui lại, người nọ đi thẳng vào bếp, hít được mùi thơm ngon, liền bước tới xem thấy trên nồi có một con gà vừa mập vừa tơ đương nấu bèn nói: "Thế này mà mi đám nói không có món gì ngon?". Đậu lão lật đật đáp lại: "Món đó hai ngài đây đã chịu tốn hai tiền mua dùng làm đồ uống rượu, nếu đại gia bằng lòng cho hai tiền tôi sẽ làm thịt con khác nấu cho mà dùng?". Người nọ đáp: "Bây giờ không biết hai tiền ba tiền gì, ta cứ lấy món này ăn trước, rồi mi sẽ làm thịt con khác cho chúng nó”. Nói đoạn múc con gà ra đĩa, bưng đi ra. Đậu lão nói: "Đại gia không được làm như vậy, phải có người trước người sau chứ". Người nọ nói: "Không trước sau gì ráo, ta gấp ăn thì ta ăn trước, chớ đợi không được, mi bảo chúng nó đợi nấu cái khác rồi sẽ ăn". Hàng Chương ngồi ngoài nghe như vậy, máu giận đã sôi, chờ người nọ bưng ra vừa tới liền đứng dậy đạp cho một đạp mâm đĩa đều đổ, đổ cả vào mình vào mặt, người nọ la một tiếng ngã lăn xuống đất, mặt mũi tay chân đều bỏng hết. Hàng Chương vừa muốn bước tới đánh thêm, Đậu lão liền can lại, người nọ biết thế khó đương bèn đứng dậy coi bộ khép nép, rồi bỏ ra chuồn thẳng.
Người nọ đi rồi, Trang Trí Hòa cùng Hàng Chương cũng tính tiền trả và ra khỏi quán. Đậu lão thấy khách về hết, mới lượm con gà phủi bụi đất sạch sẽ, để vào nồi nấu lại và hâm một bầu rượu, bưng ra ghế ngồi ăn uống chơi, vừa bưng ly rượu lên, bỗng thấy Hàng Chương trở lại, lật đật để xuống đứng dậy mà hỏi rằng: "Sao quan khách chưa đi, còn điều chi dạy bảo chăng?”. Hàng Chương đáp: "Tôi xin hỏi lão trượng, vậy người đó tên gì và ở đâu?”. Đậu lão nói: "Khách quan hỏi làm chi! Nó có xứng đáng gì đâu mà cần phải gây gổ?". Hàng Chương nói: "Tôi chẳng có sức đâu mà gây gổ với ai cả, chỉ cần biết được tên họ và chỗ ở của nó mà thôi". Đậu lão nói: "Vậy quan khách không biết cách đây năm dặm có một nơi tên là Biện Gia Chung có một nhà giàu có, chủ nhà là Biện Long đó hay sao? Đứa khi nãy là con nuôi của Biện Long tên Biện Hổ. Biện Long tự xưng mình là Thiết công kê, là người rất tham lam, ngang ngược, lại nuôi rất nhiều con nuôi cũng không khác gì ý cha. Biện Hổ thường tới đây ăn uống, song chẳng khi nào trả tiền, tôi không biết làm sao, chỉ bóp bụng chịu ép mà thôi". Hàng Chương hỏi: "Tại Biện Gia Chung có ai cho mướn phòng ngủ hay không?”. Đậu lão đáp: "Đó chẳng qua là một nơi thôn trang, làm sao cho có phòng ngủ, duy cách đây ba dặm, chỗ đó gọi là trấn Tang Hoa thời có". Hàng Chương hỏi thăm rành rẽ rồi, liền từ giã nhắm trấn Tang Hoa đi tới.
Tới nơi Hàng Chương mướn phòng để yên hành lý, tối lại thay hình đổi dạng ẩn bóng đi qua Biện Gia Chung, leo rào nhảy vách vào nhà lớn, leo lên nóc hé ngói nhìn xuống thấy có một ông già miệng nhọn đương cầm cân, cân nhắc những đĩnh bạc trên bàn, thêm bớt nặng nhẹ không biết mỏi, cộng cả thảy có tới hai trăm lượng, dùng giấy gói lại làm bốn phong rồi lấy dây ràng chắc lại, ký tên làm dấu, đoạn giao cho tiểu đồng bọc vào áo, đốt đèn đem ra nhà sau, còn mình cất dẹp cân. Hàng Chương thấy cơ hội như vậy bèn tuột xuống đất đi riết tới trước ngồi núp, chờ tiểu đồng đi qua liền đưa chân ra chận, tiểu đồng vấp phải ngã nhào xuống đất, cái đèn cũng tắt, bèn la rên rĩ lên. Ông già trong nhà nghe bèn hỏi: "Sao mà vấp ngã vậy?". Tiểu đồng liền xách lồng đèn tắt vào vừa đốt lại vừa nói: "Tôi vừa ra khỏi cửa vấp phải một vật gì không biết". Ông già liền rầy rằng: "Bây giờ mày hay có tính sớn sác như vậy à!". Nói rồi đi theo tiểu đồng ra xem, thì mấy gói bạc đã mọc cánh bay đi đâu mất. Ông già ấy tức là Biện Long thấy bạc đã mất, liền hét to lên rằng: "Con quỷ nhỏ này mày giấu bạc ở đâu, mau mau chỉ ra không thời chết!". Tiểu đồng thấy vậy khóc òa. Biện Hổ ở nhà sau nghe tiếng, chạy ra hợp sức với cha, tìm cùng nơi khắp chỗ cũng không thấy bèn kéo cổ tiểu đồng vào nhà, tính sẽ ra tay trừng trị. Ai dè vào tới nhà, thấy trên bàn có một tờ giấy, trên giấy viết chữ đại ý nói rằng. "Ta đi ngang qua đây, biết nhà mi độc ác mà giàu nên ta tạm lấy đỡ bốn phong, sau này sẽ trả, nếu mi không tin, nghi hại tiểu đồng ta sẽ trở lại lấy đầu lập tức". Cha con Biện Hổ thấy vậy thất kinh tha tiểu đồng mà cũng chẳng dám phô trương việc đó ra.
0
Hồi Thứ Sáu Mươi Mốt
[/align]

Vào rừng tùng, cứu được Xảo Thư
Tới Thiết Lãnh, đánh cùng Hồ Điệp.
 
Hàng Chương lấy được bốn phong bạc rồi, thẳng về đường cũ. Đi ngang rừng tùng thấy có một cỗ xe nhỏ từ trước chạy tới, bèn tựa một cành tùng vừa rườm rà vừa cao lớn leo phóc lên ngồi núp. Ai dè cỗ xe nhỏ kia chạy tới gốc cây đó bèn ngừng lại, nghe có tiếng người nói rằng: "Trời nắng suốt ngày, chắc trong ấy nó mệt lắm, vậy ta nên đem ra cho hóng gió một lát". Rồi lại nghe có người nói: "Ý tôi cũng vậy". Lời đáp ấy là lời đàn bà. Đoạn hai người bèn giở rương trên xe thả ra một đứa nhỏ, bảo nó ngồi dựa vào gốc cây. Hàng Chương nghe lời nói và thấy cách làm như vậy biết không phải là người tử tế, bèn rón rén gác mấy phong bạc lên chạc ba cây rồi rút dao ra cầm vào tay rồi ôm cây tuột xuống. Người đàn ông nọ thấy trên cây nhảy xuống một người, liền quay mình nhắm phương đông mà chạy. Hàng Chương liền rượt theo, chém phớt sau lưng một đao, người đàn ông liền la lên một tiếng ngã lăn xuống đất. Hàng Chương liền trở lại, thấy người đàn bà quỳ mọp dưới đất run rẩy lập cập, bèn hét rằng: "Chúng bay làm gì đó, mau mau nói ra kẻo chết?". Người đàn bà nói: "Xin tráng sĩ bớt giận để tôi thuật lại cho tường. Nguyên chúng tôi là kẻ dụ dỗ con gái". Hàng Chương hỏi: "Dụ dỗ bắt con gái đem đi đâu?". Người đàn bà nói: "Nguyên bên Tương Dương Vương, ngài muốn lập một gánh hát, nên kiếm mua những đứa con trai và con gái nhỏ, miễn đứa nào có chút sắc dễ coi thì ngài trả cho tới năm sáu trăm lượng. Vợ chồng chúng tôi vì nghèo khổ nên buộc lòng phải kiếm việc bậy, nay rủi gặp tráng sĩ biết được, vậy xin dung cho còn tính mạng". Hàng Chương nhìn lại đứa con gái nhỏ, ngây ngô như mê, bèn hỏi: "Chúng bay dùng vật chi làm cho đứa nhỏ ngây mê như vậy?". Người đàn bà đáp: "Trên cung nê hoàn (mỏ ác) của đứa nhỏ bây giờ có một miếng thuốc, nếu gỡ ra thời sẽ tỉnh liền". Hàng Chương nghe nói liền lại gần đứa nhỏ rờ lên mỏ ác quả có miếng thuốc, bèn gỡ xuống rồi bắt người đàn bà treo trên cây bên đường, lại leo lên chỗ để bạc khi nãy lấy xuống. Thấy đứa con gái nhỏ khóc lóc, Hàng Chương bèn hỏi rằng: “Mi tên họ gì?". Đứa con gái nhỏ đáp: “Tôi tên là Xảo Thư". Hàng Chương thất kinh hỏi: "Trang Trí Hòa có phải là cậu mi không?". Xảo Thư đáp: "Phải”. Hàng Chương cả mừng, thấy trời đã rạng sáng, bèn nói với Xảo Thư rằng: "Ta là Hàng Chương, cùng cậu cháu có quen biết. Bây giờ ta bắt được hai vợ chồng đứa gian kia, từ nay cháu cứ ở đây, đợi trời sáng sẽ có người tới cứu, " Sau đó Hàng Chương đi riết về trấn Tang Hoa.
Còn Xảo Thư thì sáng hôm sau có người đi qua thấy, hỏi cặn kẽ nguyên do, biết là gái bị dỗ dắt, liền đi báo cho viên Bảo Giáp chỗ ấy hay. Viên Bảo Giáp liền giải tất cả lên huyện. Bấy giờ người chồng đã chết rồi, còn người vợ thì khai ngay nên bị giam cầm. Quan huyện lại chiếu theo lời Xảo Thư, xuất trát đòi mẹ và cậu Xảo Thư tới nhận con. Trang Trí Hòa lĩnh cháu về ngang "Đại Phu Cư" ghé tỏ việc cháu mình nhờ Hàng Chương cứu cho Đậu lão nghe. Đậu lão mừng lắm, thuật chuyện Hàng Chương trở lại hỏi thăm Biện Gia Chung, kế sáng ngày Biện Gia Chung bị trộm cho Trang Trí Hòa nghe, rồi hai người đều nghi chắc cho Hàng Chương làm việc ấy.
Hai người nói chuyện, chẳng dè ông đạo ngồi một bên nghe rõ, bèn đứng dậy cúi đầu chào và hỏi: "Thưa Trang thí chủ, người họ Hàng mà hai người mới nói đó có phải vóc cao, da mặt sẫm vàng và có để râu lém đém hay không?". Trang Trí Hòa thấy ông đạo ấy ốm yếu như đàn bà, da mét xanh nhưng đôi mắt rất sáng, tiếng nói sang sảng thì có ý tôn kính, bèn đứng dậy đáp rằng: "Chính phải, sao đạo giã lại biết?". Ông đạo nói: "Tiểu đạo vẫn biết người ấy, hằng có ý muốn tìm, song không biết ở đâu?”. Đậu lão nghe nói xen rằng: “Khách khứa tới lui quán này đông lắm, hỏi như vậy ai biết mà nói". Ông đạo không đối đáp với Đậu lão, quay lại nói với Trang Trí Hòa rằng: "Tiểu đạo gặp được thí chủ đây cũng là duyên phận, chẳng hay thí chủ có thể bố thí cho tiểu đạo vài ly rượu không?”. Trang Trí Hòa đáp: "Nếu đạo gia chẳng chê người phàm tục, cùng tôi chuốc chén chuyện trò thời quý lắm. Vậy xin mời dời chỗ lại đây”. Ông đạo liền bước tới ngồi chung một bàn với Trí Hòa. Đậu lão thấy vậy nguýt ông đạo một cái nói thầm trong bụng rằng: “Ôi! Đạo gia gì mà uống rượu chực như vậy!".
Ông đạo ấy tên gì? Vẫn không ai lạ, đó là Tưởng Bình giả dạng đi tìm Hàng Chương. Tưởng Bình vừa uống vừa hỏi thăm tin tức của Hàng Chương. Ăn uống xong, Trí Hòa trả tiền rồi dắt Xảo Thư đi về. Tưởng Bình cũng ra khỏi quán, thấy mặt trời đã lặn, trước mặt lại có một tòa cổ tự, trên treo tấm biển ba chữ: "Thiết Lĩnh Quan". Cửa chùa mở ra, có một ông sãi xách hồ lô đi ra, gật gù coi có vẻ say lắm, Tưởng Bình bước tới xin tá túc một đêm. Ông sãi liền nói: "Nếu đạo hữu chịu nhọc được, hãy đứng chờ tôi đi mua rượu một lát". Tưởng Bình nói: "Tiểu đạo cũng một bợm như sư huynh, vậy xin để tiểu đạo đi mua thế cho". Nói đoạn trao hành lý và chiêu bài cho ông sãi, ông sãi chỉ chỗ bán rượu và đưa hồ lô cho Tưởng Bình vui vẻ ra đi, một lát đem rượu về, lại có mua các món ăn theo bợm rượu nữa. Ông sãi mừng rỡ lắm, dắt tay Tưởng Bình vào chùa, rồi khép cửa lại, dọn rượu thịt ra, hai người ngồi lại ăn uống chuyện vãn.
Tưởng Bình xưng danh mình họ Trương, còn ông sãi ấy tên là Hồ Hòa, trong chùa có một người đương gia là Ngô Đạo Thành, mặt to bụng lớn, ưa võ nghệ, xưng hiệu là Thiết la hán. Hồ Hòa là con sâu rượu, uống rượu say tối ngày, vừa tỉnh thời uống thêm, không độ lượng gì cả. Vì vậy mới uống với Tưởng Bình ít chén liền say cúp, nói nhụ nhựa với Tưởng Bình rằng: "Nè Trương đạo hữu, lát nữa có vị đương gia tới, đạo hữu đừng nói năng điều gì, cứ để cho người ra sao làm gì thời làm, mình không cần biết, rồi thời bày rượu cho người uống say ngủ cho ngon mà thôi".
Tưởng Bình nói: "Nhờ ơn sư huynh dạy bảo, song đương gia làm những gì sao lại chẳng tỏ cho tiểu đạo được biết?". Hồ Hòa đáp: "Nếu đạo hữu muốn biết ta sẽ thuật cho mà nghe chớ có hại gì. Nguyên vị ấy có một người bạn tên là Hoa Hồ Điệp. Người ấy mưu thần chước quỷ cũng nhiều, tài nghệ cũng giỏi. Chiều hôm qua không rõ có việc gì, mà bị một người theo, hai người bèn lập kế bắt người ấy, xiềng vào chân tháp mé sau kia, tới nay chưa thả, đạo hữu biết họ tính làm gì không?”. Tưởng Bình nghe nói động lòng nghĩa hiệp liền hỏi: "Người bị bắt đó là ai?". Hồ Hòa đáp: "Như vậy... Như thế... ". Tưởng Bình nghe nói giật mình kinh sợ.
Nguyên đêm trước Hàng Chương cứu Xảo Thư rồi, trở về trấn Tang Hoa, nghe người nói chuyện Hoa Hồ Điệp làm nhiều chuyện độc ác, ép gái hãm đàn bà thời có ý quyết trừ cho được, nên chờ tối lại bèn thay hình đổi dạng, lén đi dò xét. Tới một cái am nhỏ kia, biển đề là Quan âm am, biết chắc là nơi cô vãi ở, vừa quay đi ra, chợt thấy ngoài rào có bóng người vào, thời lấy làm lạ lắm, nghĩ thầm trong bụng rằng: "Đây là nơi cô vãi tu trì sao lại lúc đêm hôm có kẻ lui tới làm gì?". Nghĩ đoạn liền nhảy rào vào trong lén lén dò xem, không thấy động tĩnh gì, trong chái mé đông có bóng đèn sáng, có một người con trai, bên mái tóc có cài cây trâm con bướm đương ngồi dựa bên cửa sổ nói rằng: "Này tiên cô, tôi đã có lòng ái mộ sao lại không bằng lòng, muốn chọc giận tôi sao?". Kế có tiếng người con gái đáp: "Tôi không bằng lòng, muốn làm gì thì làm coi?". Người con trai lại nói: "Phàm hễ đàn bà con gái nào vừa mắt Hoa Hồ Điệp này thời không bao giờ tránh khỏi. Tôi vì thấy tiên cô có chút nhan sắc nên yêu hương tiếc ngọc, chớ có muốn làm hại đâu mà ngại, nếu không nghe lời, rồi đừng có trách". Người con gái đáp: "Ta là con nhà tử tế, nhưng vì lúc nhỏ tai nạn rất nhiều, nên cha mẹ cho vào cửa phật tu trì, mong được chính quả về kiếp sau, ai dè ngày nay gặp mi sinh lòng quỷ như vầy, ấy là kiếp ta đến rồi còn sợ gì nữa". Người con trai nói: “Ôi! Hèn hạ như mi mà khéo đem cái chết đe ta, ta sẽ giết cho mà coi". Nói tới đây thấy có hào quang nhoáng một cái. Hoa Hồ Điệp tưởng có ai phóng dao, quay mặt nhìn ra, kế có tiếng người kêu: "Bớ Hoa Hồ Điệp, ta lại bắt mi đây!".
Người kêu đó là Hàng Chương. Hoa Hồ Điệp vội vã tắt đèn, vén rèm bước ra khỏi phòng, thấy một mũi tên bay tới liền né mình qua, tên ấy ghim vào mặt vách, kế có người cầm đao nhảy đến chém, bèn rút đao ra đỡ. Hàng Chương và Hoa Hồ Điệp đương giao chiến, thì bỗng ngoài rào có một người cao lớn nhảy vào, tay cầm phát đao, nhắm ngay đầu Hoa Hồ Điệp chém tới. Hoa Hồ Điệp liền nhảy ra khỏi rào chạy đi. Hàng Chương rượt theo, người to lớn ấy cũng rượt theo.
Hàng Chương theo Hoa Hồ Điệp ước ba dặm đường, đến một toà miếu võ kia Hoa Hồ Điệp chạy vào. Hàng Chương rượt theo tới mé sau thấy có ba cái tháp, cái giữa lớn, hai cái bên nhỏ. Hoa Hồ Điệp núp vào chân tháp, Hàng Chương chạy vọng theo kiếm. Hai người rượt nhau chạy quần mãi, kế người to lớn rượt đến kêu lớn rằng: "Hoa Hồ Điệp! Mi trốn ở đâu?". Người ấy kêu dứt tiếng, Hàng Chương thấy Hoa Hồ Điệp huơ tay một cái, trên vai mình liền bị thương, tuy không đau lắm song tê rần lên, bèn nghĩ thầm rằng: "Không xong, chắc bị thuốc độc rồi! Nghĩ đoạn nhảy ra khỏi rào chạy riết về trấn Tang Hoa.
Hoa Hồ Điệp đánh bại Hàng Chương rồi, càng phấn chấn quay lại muốn đối địch với người to lớn, chợt thấy Ngô Đạo Thành chạy đến, bèn hợp lực bắt người to lớn ấy xiềng bên chân tháp.
0
Hồi Thứ Sáu Mươi Hai
[/align]

Cứu người lạ lén đâm Ngô Đạo Thành
Tìm anh bạn, may gặp Tang Hoa điếm.
 
Hồ Hòa không rõ đích xác việc Ngô Đạo Thành bắt người nên nói dấp dính, làm cho Tưởng Bình kinh sợ vô hạn. Hồ Hòa đã say mèm, ngủ tít rồi, mà Tưởng Bình vẫn còn ngồi suy nghĩ. Bỗng nghe ngoài cửa có tiếng kêu, Hồ Hòa tỉnh giấc, giơ tay ra dấu cho Tưởng Bình biết, rồi thổi tắt đèn, mở cửa đi ra. Chỉ nghe ở ngoài có tiếng hỏi: "Ngày nay có chuyện gì hay không?". Hồ Hòa đáp: "Không có". Lại nghe có người nói: "Nó đã say rồi, vậy mi đóng cửa chùa lại". Nói dứt, hai người đi vòng ra mé sau. Hồ Hòa đóng chặt cửa chùa lại rồi đốt đèn lên, nói với Tưởng Bình rằng: "Bây giờ chúng ta uống rượu nữa". Tưởng Bình y lời, ngồi nhâm nhi cho Hồ Hoà say thêm.
Tưởng Bình chờ Hồ Hòa ngủ, bèn nai nịt hẳn hoi, tay xách giáo dài, tắt đèn đi rón rén qua buồng mé đông, vòng ra sau viện, quả thấy ba tòa tháp bằng gạch. Đương còn dòm ngó, nghe tiếng hỏi lớn rằng: "Chúng bay xiềng ta lại đây, có ý muốn làm gì?". Tưởng Bình nghe không phải là tiếng Hàng Chương, liền nói nhỏ nhỏ rằng: "Mi là ai, ta tới cứu mi đây". Nói rồi bẻ khóa cho người ấy. Người ấy định thần hỏi rằng: "Cứu tinh tên họ gì?". Tưởng Bình đáp: "Ta họ Tưởng tên Bình". Người ấy hỏi: "Có phải là Phiên Giang Thử hay không, tôi là Long Đào hằng nghe tiếng ngài lâu lắm". Tưởng Bình hỏi: "Vì sao mà tráng sĩ bị chúng bắt xiềng nơi đây?". Long Đào liền thuật thù anh, và việc đánh nhau đêm hôm cho Tưởng Bình nghe. Tưởng Bình lại hỏi: "Vậy tráng sĩ có biết được tin tức của Hàng Nhị ca ta đâu không?". Long Đào đáp: "Tôi không biết ngài đó, chỉ đêm hôm kia Dạ Tinh Tử báo tin rằng: Hoa Hồ Điệp vào am Quan âm. Tôi liền đi tới, vừa leo tường vào thì gặp một người đương đánh nhau với Hồ Điệp, tôi liền đến tiếp. Hồ Điệp bị thua, người ấy rượt theo, tới đây hai người cũng đối địch cầm cự mãi. Tôi tài kém nhảy tường không được, nên cứ leo qua, vì vậy chậm trễ quá, tôi vừa tới thì người ấy bỏ đi mất, kế chúng nó áp bắt tôi xiềng tại đây". Tưởng Bình bèn hỏi hình dung của người đối thủ với Hoa Hồ Điệp. Long Đào nói ra thời quả là Hàng Chương. Tưởng Bình nghĩ rằng: "Nhị ca đã đánh nhau với Hoa Hồ Điệp sao bỗng dưng lại bỏ đi đâu? Nhân nhớ tới hai người mới đi vào khi nãy bèn hỏi Long Đào rằng: "Khi nãy có hai người vào đây, vậy có thấy chúng nó đi đâu hay không?". Long Đào nói: "Đi qua mé tây, sau rừng tre có một bức tường vôi, có lẽ chúng nó đi vào đó". Tưởng Bình nói: "Vậy thì tráng sĩ ở đây đợi tôi một lát, tôi sẽ tới đó nói chuyện". Nói rồi vội vã ra đi, tới sau rừng tre quả có bức tường vôi, nhưng kín mít Không có cửa đi vào. Tưởng Bình nghĩ chắc trong đó có điều mầu nhiệm, bèn đi vòng theo chân tường, tới một chỗ nọ, tre mọc bịt bùng, măng cao lô xô, có một đường nhỏ đi sát chân tường, Tưởng Bình liền theo đường ấy, vào đứng sát bức tường, lấy tay mò kiếm xem có dấu gì chăng, may sao rờ đúng một cái nút, bèn đè mạnh vào bức tường nguyên hiện ra một cánh cửa. Tưởng Bình cả mừng, chen mình vào trong thấy có một dãy nhà năm căn và một nhà khách lớn, ở phòng mé tây nhà có bóng đèn và người nói chuyện. Tưởng Bình nhón gót đi vào gần bên cửa đứng rình, nghe có người nói: “Đó chẳng qua là một cô vãi có đáng gì mà hiền đệ phải nhọc lòng". Tiếng người khác đáp: "Đó là tại bụng tôi, nhân huynh khó rõ được. Tôi cũng vì nó mà quên ăn biếng ngủ, Hoa Xung này đã giết tới mấy mạng thế mà lạ, duy nó thời giết không đành". Tưởng Bình nghe nói muốn đi sấn vào, song nghĩ ra một kế bèn đi ra cửa reo to một tiếng rằng: ”Vô lượng thọ Phật". Rồi bước ra ít bước ngồi núp vào một chỗ kín đáo.
Ngô Đạo Thành ở trong nghe bèn bước ra hỏi: "Ai nói gì đó?". Không nghe trả lời, liền đi ra cửa, thấy cửa đã mở bèn nghi Hồ Hòa say tới làm rộn, nên không để ý tới, bước rảo qua mé nam. Tưởng Bình thấy cơ hội đã gặp liền rút giáo ra nhắm ngay bụng Đạo Thành đâm tới một mũi, Đạo Thành ngã ngửa xuống đất, hồn xuống âm ty. Tưởng Bình thấy Đạo Thành chết rồi, liền rút giáo đi vào nhà khách. Hoa Điệp nghe có tiếng đi vào, tưởng là Đạo Thành liền hỏi: “Chuyện gì đó hở đại ca?". Tưởng Bình làm thinh không đáp, với tay giở bức rèm nhảy ào vào đâm một mũi. Hoa Điệp lẹ mắt né qua, nghe đánh roạt một cái, lưng áo Hoa Điệp rách toét ra. Hoa Điệp vội vàng nhảy ra khỏi nhà chạy lại bên tường, dòm lại thấy Tưởng Bình rượt theo liền hoa tay một cái. Tưởng Bình kinh hãi cúi đầu né qua, thời thấy một vật bay xớt bên trán đi thẳng tới bức tường khua một cái bốp, còn Hoa Điệp nhảy qua tường đi mất. Tưởng Bình không dám rượt theo nửa trở lại tháp sau chùa kiếm Long Đào đem chuyện mới xảy ra thuật lại. Long Đào khen lắm.
Long Đào nhớ lời hội ước Phùng Thất bèn nói với Tưởng Bình trở lại điếm Tang Hoa. Tưởng Bình nhận lời trở vào chùa lấy hành lý và thay áo quần thầy chùa như cũ. Việc như vậy mà Hồ Hòa vẫn ngủ tít, không hay gì cả.
Hai người về tới điếm Tang Hoa thời mặt trời đã mọc bèn vào quán uống rượu. Ngồi vừa yên thấy người hầu bàn xách thùng nước ra bắt một con cá còn tươi rói. Tưởng Bình nói: "Cá còn tươi ngon lắm, mi làm thịt nấu cho chúng ta một con". Người hầu bàn lấy tay khoát rằng: "Cá này không bán vì có một vị quan võ tới đây, rủi có bệnh, nên đưa tiền cho tôi mua cho người dùng trong khi dưỡng bệnh, vì vậy nên tôi không dám bán". Tưởng Bình nghe nói làm lạ nghĩ rằng: “Cá lý ngư là vật tanh sao lại dùng mà dưỡng bệnh? Nhớ lại lúc ở đảo Hãm Không, hễ bữa nào Nhị ca và Ngũ đệ ăn uống không ngon thời hay dùng cá ly ngư mà trở bữa, không biết chừng vị quan võ ấy là Nhị ca chăng?". Đương còn suy nghĩ, thời đã thấy người hầu bàn làm cá xong, nấu một tô canh rất ngon, khói bay nghi ngút, để vào mâm bưng vào phòng trong. Tưởng Bình bèn rón rén đi theo, một lát đi ra nét mặt vui vẻ miệng chúm chím cười. Long Đào thấy vậy hỏi: "Vì sao mà Tứ gia lại cười?". Tưởng Bình không đáp kêu người hầu bàn lại mà hỏi rằng: "Vị quan võ ấy lại đây đã bao lâu?". Người hầu bàn đáp: "Hôm kia ăn cơm chiều tối đi đến canh tư mới về, thời liền mang bệnh, sai chúng tôi đi hốt thuốc lại sợ các tiệm thuốc không đủ vị, nên sai hốt sáu bảy nơi. Chúng tôi hốt về, người không cho nấu chỉ lựa có ít vị bỏ vào miệng nhai mà thôi. Sáng ra thời bệnh hết liền, thưởng cho chúng tôi bạc, và sai mua cá lý ngư". Tưởng Bình nghe nói gật đầu, sai người hầu bàn đi hâm rượu, rồi ngồi suy nghĩ rằng: "Cứ như lời nó, thời chắc Nhị ca bị ám khí tại Thiết Lĩnh Quan, song lại sợ người biết phương thuốc thần hiệu của mình nên mới sai đi hốt nhiều chỗ". Nghĩ tới đó lại nhớ tới việc đoạt thuốc tại lầu Vân Quang khi trước, nghĩ rằng: "Nguyên khi trước Nhị ca hay để phòng hai viên thuốc trong mình luôn luôn, rủi bị ta đoạt hết, nay đến lúc nguy cấp không có mà dùng, chắc là oán hận ta lắm". Nghĩ tới đó mà mặt buồn rầu.
Long Đào thấy Tưởng Bình mới vui rồi lại đổi sắc buồn mà trông sửng sốt lắm, liền hỏi: "Tại sao Tứ gia chẳng ăn chẳng uống, có việc gì sao không tỏ cho tôi biết?”. Tưởng Bình đáp: “Ấy cũng vì Nhị ca ta". Long Đào hỏi: "Nhị ca hiện giờ ở đâu?". Tưởng Bình nói: “Hiện đương ở trong quán này". Long Đào nói: "Thế thời Tứ gia đã được thành công, trọn chức vụ, lại vẹn nghĩa anh em, sao lại còn trù trừ chưa chịu vào ra mắt lệnh huynh đi?". Tưởng Bình chưa kịp đáp, bỗng thấy người hầu bàn đi ngang, liền kêu đứng lại hỏi rằng: "Mi nhắm bây giờ vị quan võ ấy ăn cá rồi hay chưa? Có lẽ đã rồi thời phải, vậy mi nên vào thưa rằng có ta vào ra mắt. Mà phải nhớ, hễ ta vào đó thời mi phải lập tức đi ra, ta có câu chuyện kín nói với vị quan võ đó". Người hầu bàn vâng lời, Tưởng Bình rón rén đi theo.
0
Hồi Thứ Sáu Mươi Ba
[/align]

Luận nghĩa xưa, động lòng Triệt Địa Thử.
Xem dấu cũ, du thưởng Tru Long Kiều.
 
Tưởng Bình đi theo người hầu bàn vào phòng, nghe người hầu bàn hỏi rằng: "Cá có ngon không, ngài ăn có vừa miệng không?". Hàng Chương đáp: “ Ngon lắm, ơn các em ta không quên, chừng bệnh mạnh sẽ hậu tạ". Nói vừa tới Tưởng Bình bước vào kêu lớn rằng: "Nhị ca ôi! Thế anh tưởng em đã chết rồi sao?... ". Người hầu bàn thấy Tưởng Bình vào liền vội vã đi ra, còn Tưởng Bình đi thẳng tới bên giường Hàng Chương, quỳ xuống đất. Hàng Chương thấy vậy quay mặt ngó vào vách. Tưởng Bình khóc rằng: "Nhị ca ôi! Anh giận em sao? Thế nào anh cũng nghe em một đôi lời dầu em có chết cũng đành. Ban đầu Ngũ đệ ỷ tài không kể phép vua luật nước, làm cho Đại ca buồn bã tự vẫn, nếu không có em thời còn gì. Chuyện đó Nhị ca nào có rõ. Còn như em lập kế cho Đại ca và Nhị ca phân cách nhau đây là cố ý muốn thu phục Ngũ đệ, đến như việc đoạt thuốc thời em cũng vì muốn lập công để gỡ tội cho Ngọc Đường. Anh ôi! Nếu các anh em không hết lòng, Bao tướng gia không nhân đức thời Ngũ đệ phải thế nào, Nhị ca có biết không? Nay chúng ta cả thảy là năm anh em hiện bốn người một đoàn hội họp, một bạn bơ vơ, khiến đêm khóc ngày than, thế mà Nhị ca nào có thấu? Nhị ca ôi! Lúc em đi đây, giả dạng nhà sư, tự nguyện rằng: Nếu tìm được Nhị ca thời trở lại đoàn viên, bằng chẳng được quyết vào chùa tu trì, bõ kiếp xuân xanh cho rảnh". Nói rồi khóc nỉ non như trẻ mất sữa. Vừa khóc vừa nhìn lên mặt Hàng Chương, thấy Hàng Chương lấy khăn dụi mắt, biết là lời mình có thể làm động lòng, bèn tiếp thêm rằng: "Đến nay trời cũng chiều người, cho em được gặp anh ở đây, nếu anh giận em, quên tình minh thệ, há chẳng phải đem mồ hôi máu mắt của em và các bầu bạn chôn lấp đi sao? Nhị ca ôi! Lòng anh nỡ nào đành như vậy? Thôi! Nay Nhị ca đã thấy mặt em rồi, Nhị ca giận em, vậy em cũng thỏa lòng, rồi đây em sẽ tìm nơi vắng vẻ khóc cho cạn nước mắt rồi tự vẫn cho xong". Nói tới đó trong cổ nghẹn ngào, thốt chẳng ra lời nữa. Hàng Chương nghe mấy lời, cầm lòng không đậu liền quay mặt ra hỏi rằng: "Lòng của em anh đã rõ rồi, nhưng anh hỏi em: Vậy lúc em đoạt thuốc sao lại lấy tới hai viên, làm cho anh gặp lúc hiểm nguy, thiếu chút nữa bỏ mạng, có phải em làm như vậy là quấy lắm hay không?”. Tưởng Bình đáp: "Nhị ca ôi! Nếu vì sự đó mà anh giận em thời tội nghiệp cho em lắm, vả chăng cái túi của anh đựng thuốc ấy nó được bao lớn, không lấy ra làm sao đút thư vào được, hay là không lấy làm sao cho anh nghi được mà biết có thư, lại em đâu có biết bói mà đoán trước được ngày nay anh gặp việc hiểm nguy, nếu em biết thời em chừa lại một viên, có đâu đến nỗi ngày nay anh giận dỗi". Hàng Chương nghe nói cả cười ngồi dậy kéo tay Tưởng Bình mà đỡ đứng lên hỏi rằng: "Đại ca, Tam đệ đều mạnh giỏi chứ?". Tưởng Bình đáp: "Đều vô sự". Đáp lại rồi ngồi lại cạnh giường. Hàng Chương liền đem việc đánh nhau với hoa xung bị quăng ám khí, thuật lại. Tưởng Bình cũng đem việc tại Thiết Lĩnh quan nghe Hồ Hòa thuật chuyện như thế nào, cứu Long Đào, đâm chết Ngô Đạo Thành, đánh Hoa Xung bị thương thế nào đều thuật lại. Hàng Chương mừng rỡ nói: "Tuy Hoa Xung chưa chết, song bị một vít đó cũng đủ hết hồn rồi, và cũng trả được cái thù quăng ám khí".
Đương lúc hai người nói chuyện, bỗng thấy ở ngoài đi vào một người, tới trước mặt Hàng Chương quỳ mọp xuống. Tưởng Bình vội vàng đỡ dậy nói với Hàng Chương rằng: "Thưa Nhị ca, người này là Long Đào đây". Hàng Chương đáp: "Tôi có nghe lâu rồi, xin thứ lỗi cho tôi vì tôi không đáp lễ được!”. Long Đào nói: “Tôi ngày nay gặp được Nhị viên ngoại thật là may mắn muôn vàn, ước nguyện cho Nhị viên ngoại mau mau lành bệnh, giúp cho tôi được trả thù anh, ơn ấy sánh tày trời đất". Nói tới đó khóc như mưa xối, Tưởng Bình nói: "Long huynh chớ ngại, chờ Nhị ca tôi mạnh, sẽ hiệp lực trừ khử Hoa Xung, chúng tôi nguyện chẳng để tên giặc ấy sống được”. Long Đào cảm tạ lắm, Tưởng Bình liền ở lại quán săn sóc cho Hàng Chương lại có Long Đào phục dịch nên được chu toàn không mấy ngày mà vết thương của Hàng Chương lành lại, tinh thần tráng kiện như cũ.
Một hôm ba người đương ngồi ăn cơm, thấy Dạ Tinh Tử Phùng Thất chạy tới trán đẫm mồ hôi, tin cho hay rằng: "Hoa Hồ Điệp mới bị quan huyện xuống lệnh tìm bắt gắt lắm, nên đã trốn qua Tín Dương, vào ở trong Đặng Gia Bao". Long Đào nói: "Đã như vậy thời chúng ta phải tới Tín Dương rồi sẽ nghĩ mưu kế". Nói đoạn dạy Phùng Thất ra mắt hai anh em Hàng Chương rồi cùng nhau ngồi lại ăn uống. Tưởng Bình nói: "Hoa Xung là đứa tội ác đầy rẫy, không còn dung được. Theo ý chúng ta phải qua Tín Dương bắt nó một là để trừ họa về sau, hai là trả thù giùm cho Long huynh, ba là Nhị ca về phủ Khai Phong cũng được vẻ vang, ý Nhị ca tính lẽ nào?". Hàng Chương gật đầu. Tưởng Bình nói tiếp: "Vậy thời Nhị ca và tôi cứ để lốt quan võ và thầy chùa như vầy mà đi". Long Đào nói “ Tôi với Phùng Thất thời giả buôn bán dạo, tới đó đợi lúc hữu sự sẽ ra tay. Lại còn một việc là tôi có hẹn với Âu Dương gia và Đinh đại gia, nếu nay đi lên Tín Dương thời phải sai Phùng Thất qua thôn Mạc Hoa cho hay trước, kẻo mất công người tới Táo Quân Từ". Phùng Thất vâng lời hẹn sẽ gặp tại miếu Hà Thần bên mé tây cầu Trung Long. Long Đào lại nói với anh em Hàng Chương rằng: "Phùng Thất đi đây, lâu mất mấy ngày, sáng này tôi lại phải đi trước qua Tín Dương, vậy xin hai ngài yên nghỉ ít ngày rồi sẽ qua miếu Hà Thần cùng nhau hội nghị". Suy tính xong xuôi Dạ Tinh Tủ ra đi, nhằm thôn Mạc Hoa rời gót.
Đây lại nói qua Bắc Hiệp Âu Dương Xuân cùng Đinh Triệu Lang về thôn Mạc Hoa chơi bời mấy bữa, tâm đầu ý hợp, vui vẻ vô hạn. Nhân nhắc tới việc Hoa Xung, ba người tính phải qua Táo Quân Từ, bèn vào xin phép lão mẫu. Đinh mẫu có lòng ngại nhưng không lẽ thoái từ vì có Bắc Hiệp ở đó; nên lập ra một chước, dạy nhà bếp lo sắm tiệc rượu tiễn hành. Bắc Hiệp và hai anh em họ Đinh mừng lắm, xếp đặt hành lý xong xuôi, tới đầu canh ba đã dùng cơm rồi. Chợt thấy con hầu chạy tới cho hay rằng: "Thái thái mới nói trong mình khó ở, nên bây giờ đã ngủ rồi". Anh em họ Đinh nghe nói, lật đật đi vào trong, thấy Đinh mẫu nằm day mặt vào trong bèn hỏi: "Chẳng hay thân mẫu thấy trong mình thế nào?". Đinh mẫu làm thinh, giây lâu mới nói: “Ta không có sao, bay có việc thời cứ đi lo đi!". Hai anh em thấy vậy không dám đi, ở hầu tới canh tư, Đinh mẫu yên giấc mới rón rén bước ra.
Tới nhà khách vẫn thấy Bắc Hiệp còn thức. Bắc Hiệp nghe tin Đinh mẫu khó ở thời không dám ngủ, chờ anh em họ Đinh ra bèn hỏi thăm. Triệu Lang đáp: "Gia mẫu tuổi cao nên hay đau ốm như vậy, phiền lòng Âu huynh". Bắc Hiệp nói: "Chúng ta là bạn tri kỷ, mẹ nhị vị như mẹ tôi. À mà này bác khó ở, chúng ta bất tất tới Táo Quân Từ làm gì?". Nói rồi cùng yên ngủ.
Sáng ngày anh em họ Đinh vừa vào hầu mẹ trở ra tới nhà khách thời trang đinh vào bẩm có Phùng Thất tới. Phùng Thất vào ra mắt ba người, thuật việc bắt Hoa Xung từ đầu đến cuối, và đem lời Long Đào nói lại luôn. Bắc Hiệp hỏi: “Phùng Thất, chừng nào mi trở về bên ấy?". Phùng Thất đáp: "Tôi phải về lập tức đặng dò xét tin tức của Hoa Xung!”. Đinh đại gia liền thưởng Phùng Thất hai lượng bạc rồi nói với Bắc Hiệp rằng: "Cứ như lời Phùng Thất chúng ta phải hội tại miếu Hà Thần mới được". Bắc Hiệp đáp: "Phải, nhưng mà bác hiện đương bệnh, nhị vị đi sao cho tiện. Tốt hơn là để một mình tôi đi, qua đó hợp sức với Hàng gia, Tưởng gia và Long Đào giúp sức chắc trừ nổi Hoa Xung chẳng sai". Anh em họ Đinh nhân thấy mẹ đau nên chẳng dám bỏ đi, liền gật đầu, nhận theo lời Bắc Hiệp. Phùng Thất từ tạ về trước, còn Bắc Hiệp, ngày sau anh em họ Đinh đặt tiệc tiễn hành rồi trân trọng mà chia tay nhau.
Bây giờ chỉ nói riêng về Bắc Hiệp, lúc từ giã anh em họ Đinh, ra khỏi thôn Mạc Hoa, cứ theo đường cái đi riết tới địa giới Tín Dương.
0
Hồi Thứ Sáu Mươi Bốn
[/align]

Bắc Hiệp xem người, thật đôi mắt tỏ,
Hoa Xung giấu dạng, vẫn có ý riêng.
 
Bắc Hiệp đi tới Tín Dương liền thẳng vào miếu Hà Thần, gặp một đám đông người đương quây quần quanh một người to lớn. Người ấy có để trước mặt một cái rổ lớn, miệng rao rằng: "Bánh của tôi chiên ngon lắm, có hành thịt nhiều lại thêm tương giấm cũng ngon, ăn vào ngon miệng lại thêm thơm béo". Thiên hạ mua ăn nhiều lắm, Bắc Hiệp coi kỹ lại người bán ấy là Long Đào, bèn bước lại làm mặt lạ hỏi rằng: “Không rõ được trong miếu có chỗ ở nhờ chăng? Xin người làm ơn cho biết". Long Đào thấy Bắc Hiệp tới liền cười mà đáp: "Chào quan khách, trong miếu có chỗ nghỉ, lại sạch sẽ lắm, nhưng ngài vào miếu chắc rồi cùng ăn cơm với lãnh đạo. Vậy mời ở đây dùng ít cái bánh, bánh thật ngon!". Bắc Hiệp nói: “Thôi, để ta vào miếu rồi mi đem cho ít cái thật sốt cho ta ăn!”. Long Đào nói: "À! Mà ngài có biết ông sãi chủ miếu là Tuệ Hải hay không?". Bắc Hiệp không đáp đi thẳng vào miếu ra mắt Tuệ Hải, tỏ tình quen biết, rồi nghỉ bên phòng mé đông. Tối lại lên trò chuyện với Long Đào. Long Đào nói rằng: "Chưa thấy Hoa Xung tới đây, vậy phải chờ hợp lại cho đủ, rồi sẽ thương nghị". Bắc Hiệp nhận lời ở lại miếu chơi bời với Tuệ Hải.
Một hôm Bắc Hiệp đương đánh cờ với Tuệ Hải thấy ở ngoài đi vào một vị công tử áo quần tốt đẹp, diện mạo khôi ngô, trong tay cầm một cái roi ngựa bước tới bắt tay Tuệ Hải hòa thượng. Hòa thượng liền sai sãi nhỏ dâng trà, rồi hỏi ra mới biết công tử họ Hồ ghé xin ngụ. Bắc Hiệp ngồi nhắm hình dung công tử ấy, rồi nghĩ rằng: "Tiếc thay phong tư như thế ấy, mà ngặt đôi mắt láo liêng, lộ vẻ bất lương”. Đương còn suy nghĩ, nghe ngoài cửa có tiếng kêu rằng: "Vương đệ nhị, Vương đệ nhị". Dứt tiếng có người đi vào dòm công tử ấy rồi ngó Bắc Hiệp. Bắc Hiệp biết là Dạ Tinh Tử Phùng Thất. Sãi nhỏ bước tới hỏi Phùng Thất rằng: "Chú kiếm ai?". Phùng Thất đáp: "Tôi tên Trương Tam tìm người quen là Vương Nhị". Sãi nhỏ nói: "Có phải Vương Nhị bán bánh hay không? Y ở dưới nhà bếp kia, chú vào cửa ngách đó thời gặp". Phùng Thất liền đi vào nhà bếp.
Vị công tử ấy cũng nói rõ ý mình xin trọ, Tuệ Hải nhường phòng phía tây cho, công tử bèn để lại năm đĩnh bạc mới ra đi, hẹn rằng sẽ trở lại.
Tuệ Hải đưa công tử ra khỏi miếu rồi trở vào đánh cờ với Bắc Hiệp nữa. Bắc Hiệp bởi đương nóng rõ tin tức của Hoa Điệp, trí rối lắm nên đánh cờ thua bèn thôi không đánh nữa, trở về phòng mé đông, thấy Dạ Tinh Tử vừa rủ Long Đào ra ngoài nói chuyện, cũng giả bộ xem cảnh hứng gió bước rảo theo lấy mắt liếc một cái rồi đi tuốt, Phùng Thất và Long Đào hiểu ý đi theo. Tới chỗ vắng vẻ không người, Bắc Hiệp bèn hỏi Phùng Thất rằng: "Sao bữa nay mi mới tới đây?". Phùng Thất đáp: "Tôi từ khi đi khỏi thôn Mạc Hoa tới bữa thứ ba liền gặp Hồ Điệp, ai dè nó đi nhung nhăng quá, một ngày đi hai mươi dặm hoặc ba mươi dặm mà thôi, nên mới trễ như thế, khỉ nãy nó mới vào miếu đó" Bắc Hiệp nói: "Vị công tử khi nãy là Hoa Xung à? Hèn gì cặp mắt nó có vẻ bất lương lắm, lại xưng là họ Hồ, có lẽ là chiết chữ Hồ Điệp ra chớ gì? Mà nó tới đây có việc chi à?". Phùng Thất đáp: "Không rõ được, song hôm qua nghe nó có hỏi tên hầu bàn ở khách điếm, thôn Tiểu Đơn ở đâu? Không rõ nó hỏi có ý gì”. Bắc Hiệp lại hỏi thăm tin tức Hàng Chương và Tưởng Bình. Phùng Thất đáp: "Lúc đi đường có gặp, vậy không sớm thời muộn cũng tới đây". Long Đào lại hỏi Bắc Hiệp rằng: "Bây giờ tên Hoa Xung đã tới rồi, Âu Dương huynh tính lẽ nào?". Bắc Hiệp nói: “Chưa hiểu nó có ý tứ gì, vậy phải lo phòng bị trước". Nói rồi đi tản ra, ai nấy đều về miếu.
Tối lại, Bắc Hiệp Âu Dương Xuân không đốt đèn trong phòng mình, để tối om dòm qua phòng mé tây thấy đèn sáng trưng, sau lại thấy thình lình bóng đèn nháng một cái, và nghe la một tiếng, đèn liền tắt. Bắc Hiệp nói thầm rằng: ”Chắc Hồ Điệp làm ma làm quỷ gì đây, ta phải chú ý". Chẳng bao lâu lại thấy có cái bóng đen đánh vụt qua một cái xem kỹ lại thì Hồ Điệp đi thoáng qua, nhón gót bước nhẹ đi mau lắm, vòng qua mé sau rồi bặt tăm. Bắc Hiệp thấy vậy khen rằng: "Tài bộ như thế ấy, bản lĩnh như thế này, tiếc rằng không chịu làm phải thôi". Nói rồi lén ra khỏi phòng đi riết theo, thời Hoa Hồ Điệp đã quay mình nhảy ra khỏi tường mà đi ra ngoài rồi. Bắc Hiệp cũng nhảy theo, tới mé ngoài nhìn mãi không thấy tăm hơi Hoa Điệp ở đâu.
Bắc Hiệp đương ngó quanh quẩn, thấy trên cây tuột xuống một người té ra là Dạ Tinh Tử Phùng Thất, rồi kế Long Đào cũng vừa tới nói rằng: "Thật thằng ấy lẹ chân lắm theo không kịp". Ba người liền tụ lại nghĩ mãi không rõ Hoa Hồ Điệp đi ngõ nào. Bắc Hiệp nói: ”Bây giờ chúng ta nên mai phục tại đây, đợi cho nó về sẽ ra tay". Phùng Thất nói: “Sợ nó không về ngả này thời làm sao? Chi bằng chúng ta ở đây rình nó, còn Bắc Hiệp thời đi theo". Bắc Hiệp nói: "Biết đi đâu mà theo, vậy Phùng Thất leo núp lên cây như cũ, Long Đào rình dưới đầu cầu, còn tôi thì ở trên cầu, hễ gặp thì trong đánh ra ngoài đánh vào, thế nào cũng phải thắng”. Phùng Thất nói: "Phải, tôi ở trên cao nhìn xuống, hễ thấy nó tới thì tôi sẽ liệng đá mà làm hiệu”. Sắp đặt mưu kế xong xuôi, ai nấy theo chỗ định mà ẩn mình, rình như vậy suốt đêm mà không thấy Hoa Xung trở lại.
Sáng ngày Bắc Hiệp Âu Dương Xuân về miếu trước Long Đào, Phùng Thất cũng về theo, cùng nhau đi qua phòng phía tây thấy cửa khép, bèn xô vào xem thời trên bộ ván có một cái gói, mở ra thời có một cái áo bông, một đôi giày và một cái khăn. Bắc Hiệp liền sai Phùng Thất xách ra kế gặp hòa thượng Tuệ Hải tới nơi hỏi rằng: ”Ba ngài thức dậy sớm có chuyện chi sao?". Bắc Hiệp nói: "Khách đã trốn rồi mà chưa hay, hay hòa thượng giấu người ta mất đi?". Tuệ Hải nói: "Nào có, tôi ăn chay niệm phật chớ giấu người mà làm gì, ba ngài nói thế là ý gì?". Long Đào nói: "Nói chơi chớ khách trốn rồi, chúng tôi đi tìm giúp cho hòa thượng sáng đêm mà không gặp". Tuệ Hải hỏi: "Ủa, tiếng nói của Vương Nhị sao đổi giọng như vậy?". Phùng Thất nói: "Người này không phải là Vương Nhị mà tôi cũng không phải là Trương Tam". Hòa thượng Tuệ Hải nghe nói lấy làm lạ. Bắc Hiệp nói: "Sư ông chớ kinh sợ, xin mời vào chùa trong sẽ nói rõ".
Mọi người đều vào, Long Đào, Phùng Thất nói rõ tên mình, thuật chuyện ác của Hoa Xung và nói rằng: “ Người công tử vào miếu hôm qua đó là Hoa Hồ Điệp tức Hoa Xung đó, chúng tôi thấy nó đi hồi canh hai nên đón sáng đêm mà không thấy về". Tuệ Hải nghe nói thất kinh giở túi ra coi thấy áo bông, giày và khăn công tử, lại vào phòng lục soát nữa, thời được cái roi ngựa bèn nói: "Đã như vậy thì biết làm sao?".
0
Hồi Thứ Sáu Mươi Lăm [/align]

Trộm châu đăng, Hoa Điệp bị bắt,
Cứu ác tặc, Trương Hoa cõng đi.
 
Âu Dương Xuân nghe Tuệ Hải nói bèn đáp: "Việc ấy có ngại gì, chắc nó không trở lại đâu. Nay tôi xin hỏi cho biết làng Tiểu Đơn xa hay gần?” Tuệ Hải nói: "Chỉ cách đây chừng ba bốn dặm". Âu Dương Xuân hỏi: "Trong ấy có nhà giàu, quyền hào, chùa chiền, lầu xanh gì không?". Tuệ Hải nói: "Có chùa chiền, chỗ ấy chẳng qua là xóm nhỏ, nào phải là trấn điếm, ở trong ấy có một vị quan lui về ở ẩn, nhà cửa giàu có, ở với mẹ rất thảo, mẹ ngài ăn chay niệm phật, nên ngài có cất một cảnh chùa, dọn dẹp trang hoàng trong chùa trừ các món quý khác không nói, chỉ có một cái châu đăng (đèn bằng châu) thật là vật báu vô giá, kết toàn là châu ngọc nhiều lắm”. Bắc Hiệp nghe xong quay lại nói với Long Đào rằng: "Cứ lời sư phó nói thời có thể nghi được, vậy Phùng Thất nên qua thôn Tiểu Đơn do thám coi thế nào?". Phùng Thất vâng lời ra đi như bay, Long Đào liền xuống phòng dọn cơm ra. Hòa thượng cùng Bắc Hiệp đương nói chuyện, thấy ở ngoài bước vô một người, ăn mặc theo quan võ, da mặt vàng vóc, vóc người nhỏ nhỏ, có vẻ anh hùng hào hiệp lắm. Hòa thượng bước tới nghênh tiếp. Vị quan võ ấy dòm Bắc Hiệp một hồi rồi hỏi: “Có phải ngài là Âu Dương Xuân hay không?". Bắc Hiệp đáp: "Phải, tôi là Âu Dương Xuân, vậy ngài là ai xin cho tôi biết quý danh?". Vị quan võ nói: "Tôi là Hàng Chương, có nghe tiếng nhân huynh lâu rồi hằng muốn thỉnh giáo, nay lại gặp đây thật là may lắm. Vậy nhân huynh tới đây hồi nào?". Bắc Hiệp nói: "Tôi tới đây đã ba ngày, có Long Đào và Phùng Thất nữa. À! Mà còn Tưởng tứ gia ở đâu?". Hàng Chương đáp: "Tứ đệ còn đi sau”. Bấy giờ Long Đào dưới phòng vừa đi lên, ba người cùng ngồi chuyện vãn, kế Dạ Tinh Tử Phùng Thất trở về tới liền nói: “Có Nhị viên ngoại tới đây càng thêm hay, phải hợp lại để thương nghị việc này. Âu Dương gia đoán việc như thần, tên ấy đã tới thôn Tiểu Đơn hồi chiều hôm qua, không biết làm gì đến bị dân làng bắt, rồi sau lại giết hai mạng và trốn đi được. Bây giờ trưởng thôn đã đi báo quan rồi, nhưng chưa sai người tầm nã". Ai nấy nghe nói không hiểu làm sao, chỉ đợi Tưởng Bình tới mà thôi.
Nguyên Hoa Hồ Điệp muốn tới đầu thân với Thần thủ Đại thánh là Đặng Xa. Nhân nghe ngày sinh của Đại thánh gần tới, muốn trộm châu đăng để làm hạ lễ, nên đêm ngụ tại miếu Hà Thần, đúng canh hai bèn lén ra đi. Hắn tới làng Tiểu Đơn vào nhà Phật lên tầng trên thấy châu đăng tỏ rạng, sáng rực như ban ngày, đèn ấy treo bằng một dây sắt, một đầu lại dằn dưới cái đảnh, giơ đảnh lên mới mở được đèn. Hoa Điệp liền thò hai tay vào quay đảnh, vừa nhớm lên, nghe khua một tiếng keng thì cái đảnh liền rút vào bên tượng Phật, mà sợi dây treo đèn cũng rút tuốt lên sườn nhà, chỗ cái bàn để đảnh khi nãy lộ ra một lỗ hổng rất lớn. Hoa Điệp lấy làm lạ chưa kịp rút tay ra thời trong lỗ hổng ấy thò ra hai cái vòng móc bấm vào bắp tay, nghe thêm một tiếng khua nữa thì hai tay Hoa Điệp bị dính gộp lại rồi. Tiếng chiêng gióng rùm lên, có năm sáu người áp tới kéo Hoa Điệp xuống lầu. Vị chủ quản bèn bảo lũ tuần canh rằng: "Bây giờ đêm đã khuya, Viên ngoại ngủ rồi đợi sáng sẽ bẩm, công bắt trộm của các người đáng lắm, vậy phiên này của ai?”. Dứt lời có hai người trả lời: "Dạ chúng tôi là Uông Minh và Ngô Thăng". Chủ quản dặn: "Vậy thời chúng bây ở đây giữ kẻ trộm". Hai người vâng lời.
Nguyên nhà cửa của vị quan đó rộng lớn lắm, nên bốn phía đều có đặt một cái lầu canh trong mỗi lầu canh có bốn tên tuần canh, thay phiên nhau đi vòng nhà tuần giữ. Bây giờ Uông Minh và Ngô Thăng bắt được kẻ trộm nên hai người khác thay. Hai đứa ngồi giữ Hoa Điệp một lúc rất lâu chợt nghe dưới lầu có tiếng bảo: "Chủ quản dạy kêu bớt xuống một người cho ngài dặn việc". Uông Minh liền xuống lầu đi. Ngô Thăng ngồi trên lầu một mình thấy dưới đi lên một người, mặt vàng má hóp, tay cầm gươm mình mặc áo đen liền giật mình vừa muốn la lên thời đầu đã rơi xuống. Người ấy liền lại gần Hoa Điệp nói rằng: "Tôi là Trương Hoa, vâng mạng Đặng đại ca tới trộm châu đăng, không dè bạn đã bị khốn, vậy tôi cứu cho". Nói rồi cởi trói cho Hoa Điệp cõng về Đặng Gia Bao.
Đến khi bọn tuần canh gặp thây Uông Minh bị giết bèn vào báo cho chủ quản. Chủ quản tới xét rồi lên lầu thấy Ngô Thăng đầu một nơi mình một ngả, liền báo cho Viên ngoại. Viên ngoại không biết làm sao, viết tờ bẩm tỏ cả đầu đuôi đem báo với quan, xin quan trên cho người tầm nã.
Bắc Hiệp Âu Dương Xuân, Hàng Chương, Long Đào nghe Phùng Thất nói chuyện, thời ai nấy đều định chờ Tưởng Bình tới sẽ cùng bàn bạc. Chiều đó, họ Tưởng tới, ai nấy ra mắt nhau rồi đem chuyện Hoa Xung thuật lại. Tưởng Bình nghe xong nói: “Cây có cội, nước có nguồn, cuốn dây bắt từ mối, vậy thế nào Hoa Hồ Điệp cũng ở tại Đặng Gia Bao. Mai tôi tới Đặng Gia Bao thám thính nếu tới chiều mà không về thời các anh phải chịu nhọc tới đó mới được”, Ai nấy đều nhận lời, cùng nhau chuyện vãn, chiều lại ăn cơm sớm, rồi cùng nhau mạnh ai nấy ngủ, dưỡng thần cho khỏe.
Ngày sau, Tưởng Bình giả dạng thầy sãi như cũ, đi tới Đặng Gia Bao. Ngày ấy chính là ngày sinh của Đặng Xa, Tưởng Bình vừa tới cửa thấy Đặng Xa đưa một người đi ra, rồi lại dạy gia đinh tới bắt mình, không biết là chuyện gì nên cũng theo gia đinh đi vào.
Nguyên người ấy là Trương Hoa, nhân cứu được Hoa Xung, nghe Hoa Xung nói Bá vương trang Mã Cường cùng Tương Dương Vương kết hảo rất thân mật, nên rủ Đặng Xa qua đó chúc hạ. Đặng Xa liền dạy Hoa Xung viết thư sai Trương Hoa đem tới trước. Ai dè lúc Trương Hoa ra cửa, Hoa Xung thấy Tưởng Bình liền nói với Đặng Xa sai người bắt lại.
Tưởng Bình theo gia đinh vào trong, thấy Đặng Xa và Hoa Xung ngồi trên bèn bước thẳng tới thềm lấy đồ nhà chùa để xuống đất cúi đầu thưa rằng: "Tiểu đạo xin kính chào, chẳng hay thí chủ cho đòi, có dạy điều chi chăng?". Hoa Xung hỏi: “Tao hỏi mi tên họ là gì?". Tưởng Bình đáp: "Tiểu đạo tên Trương Hoa". Hoa Xung hỏi: “Mi tu từ nhỏ tới lớn hay mới tu đây? Hoặc là cố ý thay hình đổi dạng tới đây do thám việc gì?". Đặng Xa hỏi: “Hiền đệ hỏi chi chuyện ấy?". Hoa Xung đáp: “Đại ca có điều chưa rõ, nguyên tại Thiết Lĩnh Quan, em bị một người đâm lén gần chết, nhờ bóng trăng, em xem thấy hình tích nó ốm yếu, bộ đi lanh lẹ giống hệt đạo sĩ này nên em mới hỏi". Tưởng Bình nghe Hoa Xung nói khen thầm rằng: "Thằng này cặp mắt tinh tường lắm, xem người chẳng sai”, rồi đáp: "Tiểu đạo gặp lúc nhà nghèo, nên phải giữ đạo, mượn nghề đoán số mạng kiếm tiền nuôi thân": Hoa Điệp liền đứng dậy xách roi da lại đánh Tưởng Bình và hỏi: "Thật mi không chịu khai rõ hay sao?". Tưởng Bình đáp: "Thật tôi nửa chừng mới xuất gia, nào phải từ lúc nhỏ, sao thí chủ gặng hỏi làm chi?". Hoa Xung nghe lời ấy cả giận, lại đánh càng nhiều Tưởng Bình rên xiết, nói rằng: "Thí chủ làm cái gì khi gọi tiểu đạo vào nhà, không phân đen trắng, chẳng kể gian ngay, đánh kẻ tu hành như thế này là đạo lý gì?". Đặng Xa ngồi bên thấy vậy động lòng chẳng nỡ làm thinh bèn bước tới can.
0
Hồi Thứ Sáu Mươi Sáu [/align]

Trước sâu rộng, Âu Dương Xuân đánh Đặng Xa,
Dưới cầu thấp, Tưởng Bình bắt Hoa Điệp.
 
Đặng Xa can Hoa Xung rằng: "Hiền đệ chớ làm như vậy. Trong thiên hạ thiếu chi người diện mạo giống nhau, sao chắc được người này đâm em". Hoa Xung giận lắm song cực chẳng đã phải trở lại chỗ ngồi. Đặng Xa sai gia đinh đuổi Tưởng Bình ra. Tưởng Bình nói: “Vô duyên thay, vô cớ mà bị đòn lại lấy đồ của tôi không trả". Gia đinh hỏi: "Mi có đồ gì?" Tưởng Bình nói: "Cái trống và tấm chiêu bài của nhà chùa đó". Hoa Xung nghe nạt rằng: "Đừng trả, thử coi nó làm sao?". Đặng Xa vừa cười vừa đứng dậy nói: "Lấy của nó làm chi, trả cho rồi để nó đi đâu thì đi cho rảnh". Nói dứt tiếng bước đến xách tấm chiêu bài, ai dè nó nặng lắm, Đặng Xa phát nghi liền giở lên coi kỹ thời thấy có một cây giáo, liền rút ra xem và nói ráng: "A! Dữ rồi, tên này lớn mật". Hoa Xung cũng đã thấy, liền bước đến xem và nói: "Đó tôi chẳng hề lầm mà. Thật nó là đứa đâm tôi đây, mau bắt nó lại, khảo coi ai bảo nó đối địch với chúng tôi vậy?" Đặng Xa liền sai gia đinh bắt lại, lấy roi da ra đánh. Tưởng Bình ráng bậm môi chịu, trong mình lằn dấu roi. Hoa Xung hỏi: "Sao mi chưa chịu khai?". Tưởng Bình đáp: "Tiểu đạo vốn ở mênh mông, không am không tự, không quan không viện, nếu không vật giữ mình thời làm sao? Giáo là vật phòng thân của tiểu đạo, sao thí chủ lại đánh người như vậy?". Đặng Xa nói nhỏ rằng: "À, phải, lúc xưa Lữ Tổ hằng có bảo kiếm phòng thân. Nay đạo nhân này vẫn du thiên hạ mặt nước cánh bèo, há không có vật để giữ mình sao?". Hoa Điệp nói: "Xin đại ca cứ để yên, để em khảo nó cho ra manh mối". Nói đoạn sai gia đinh đem ra ngoài, tự mình tới cầm roi đánh khảo. Tưởng Bình bây giờ không cãi cọ gì nữa, làm thinh mà chịu.
May sao có người lén mách với Đặng Xa rằng: "Đạo nhân bị đánh đã hết nói rồi". Đặng Xa nghe tin lấy làm xốn xang trong lòng, nghĩ rằng: "Hoa Xung thật tính ngang quá, không xét trước xem sau, đem một tên đạo nhân như vậy đánh cho đến chết, e không khỏi làm lụy tới ta". Nghĩ đoạn liền bước ra trước thấy Hoa Xung đánh đạo nhân đã bầm mình, không còn một miếng da nào là không lằn roi, bèn cười gằn và nói: "Ớ hiền đệ, bữa nay là ngày sinh của liệt huynh, hiền đệ làm như vậy, há chẳng buồn tẻ bữa rượu của chúng ta sao?”. Hoa Xung nghe lời ấy liền buông roi và nói với Đặng Xa rằng: "Vì cơn nóng giận em quên cả việc phải trái, khiến tiệc sinh nhật giảm bớt vẻ vui, em cam chịu lỗi". Nói đoạn đi vào trong, căn dặn gia đinh canh giữ nghiêm ngặt.
Bọn gia đinh có đứa thấy Hoa Điệp làm chuyện ầm ĩ như vậy thời phiền lòng, vì không phải chủ mình mà tới sai cắt cho thêm mệt nhọc, cũng có đứa thương hại cho đạo sĩ vô cớ mà bị đòn oan, liền kiếm rượu hâm nóng cho Tưởng Bình uống, cho bớt đau đớn. Đến lúc trời tối, mấy đứa gia đinh canh giữ Tưởng Bình đã đói bụng, nhưng chưa thấy tốp khác đến thế, thời thì thầm nói với nhau rằng: “Ông đạo ấy bị đánh gần chết đứng dậy không nổi thời làm sao trốn được, vậy chúng ta cứ để đây, đi ăn cơm”. Nói rồi khép cửa lại, cùng nhau đi ra nhà sau.
Ai dè Âu Dương Xuân và Hàng Chương ở lại miếu, theo lời Tưởng Bình dặn, nên tối chưa thấy về bèn đi vào Đặng Gia Bao. Bắc Hiệp đi tới phòng nhốt Tưởng Bình, nghe gia đinh kêu đói, rồi một lát bỏ đi ra sau, liền lén mở cửa bước vào mở trói cho Tưởng Bình, cõng ra vườn hoa, thấy có một giàn nho liền để Tưởng Bình nằm trên ấy. Bắc Hiệp giấu Tưởng Bình xong, liền rút bảo đao cầm tay trở lại thính đường. Lúc này hai tên gia đinh giữ Tưởng Bình khi nãy đã ăn cơm xong, trở lại thấy mất đạo nhân liền chạy báo cho Đặng Xa và Hoa Điệp. Đặng Xa liền xách cung, Hoa Điệp cầm gươm bén đi ra. Vừa ra khỏi nhà khác gặp luôn Bắc Hiệp đi tới. Đặng Xa liền giơ cung lắp đạn bắn một phát, Bắc Hiệp nghe đạn đi gần tới huơ đao đỡ vẹt ra, khua rẻng một tiếng đạn rơi xuống đất. Đặng Xa bắn luôn ước chục phát, cũng không trúng được. Hoa Xung liền nhảy tới tiếp, ai dè vừa bước tới nghe sau lưng có hơi gió, lật đật ngoái đầu dòm lại thời thấy có người huơ đao tới chém mình. Người ấy là Hàng Chương.
Hàng Chương sức rất mạnh, nên Hoa Xung không thể đối địch nổi, vừa đánh vài hiệp thời gươm của Hoa Xung bị Hàng Chương khắc gãy. Hoa Xung thất kinh, nhảy lùi ra vườn hoa kiếm chỗ trốn. Lẩn quẩn thế nào lại chui phóc dưới giàn nho ngay chỗ Tưởng Bình nằm ẩn mình nơi ấy.
Bây giờ tay chân Tưởng Bình hết đau nhức, thấy có người núp dưới chỗ mình nằm, liền chăm chăm xem kỹ thấy mái tóc người ấy có vật chi chớp nhăng, chắc là Hoa Điệp, song trong tay không có một tấc sắt. Tính một hồi liền nghĩ ra một kế, bèn nhắm ngay mình Hoa Điệp nhảy đại xuống, ôm riết vào đầu cắn bám vào tai. Hoa Điệp kinh hãi, thoát chạy lại chân tường vừa gặp Hàng Chương rượt chém cho một đao, Hoa Điệp né khỏi nhảy ra mé ngoài, xảy thấy một người cầm cây nhảy tới đập túi bụi tưng bừng, người ấy là Long Đào, đón đó đã lâu lắm. Hoa Xung thấy thế đã nguy liền quay đầu chạy qua hướng tây, bị Hàng Chương đón lại, liền quay ra mé cầu, vừa tới gặp Tưởng Bình ở đó. Tưởng Bình thấy Hoa Điệp chạy tới liền ôm xô xuống sông nhận cho uống nước một hồi, bất tỉnh nhân sự.
Hàng Chương thấy bắt Hoa Xung rồi, liền bảo Tưởng Bình và Long Đào ở đó chờ, còn mình vào trong giúp sức với Âu Dương Xuân.
Nói về Đặng Xa đánh với Bắc Hiệp, bắn hết ba mươi ba viên đạn tổ rồi, mà không hề trúng được, thời kinh hãi hồn xiêu phách lạc, kế thấy Hàng Chương tới tiếp bèn nhảy lên nhà trốn mát. Bắc Hiệp nghe Hàng Chương nói đã bắt được Hoa Xung rồi, nên không cho đuổi theo nữa.
Lúc ấy Long Đào, Tưởng Bình, Phùng Thất đã đem Hoa Xung vào nhà khách, rồi chia nhau đi lục soát trong nhà không thấy ai cả (vợ con và gia đinh của Đặng Xa đã trốn hết rồi), liền lấy y phục của Âu Dương Xuân cho Tưởng Bình thay. Tưởng Bình lại lấy thái độ quân tử, coi kẻ thù như bầu bạn, nên cũng thay y phục cho Hoa Điệp, kẻo để ướt lạnh tội nghiệp, lại còn đi rót rượu cho Hoa Điệp uống cho tỉnh. Khi Hoa Điệp tỉnh rồi, Tưởng Bình bèn chỉ Âu Dương Xuân, Hàng Chương, Long Đào nói cho biết tên họ mỗi người, và tiếp rằng: "Vì mi không giữ đạo đức làm nhơ nhuốc đàn bà con gái, giết hại người lành, chúng ta vì nghĩa hiệp tới đây bắt mi, để đem ra huyện đối với án giết tuần canh tại nhà quan họ Câu, rồi giải về phủ Khai Phong định án". Hoa Điệp nghe nói cúi đầu làm thinh.
Mấy vị anh hùng cực nhọc suốt đêm nên bụng đã đói, thấy trên bàn rượu thịt đầy dẫy bèn cùng nhau ăn uống. ăn xong trời đã rạng sáng, bèn sai Phùng Thất đi báo cho quan huyện, còn Bắc Hiệp thời cáo từ trở về thôn Mạc Hoa, hầu tới mùa đông dự hôn lễ của Đinh tiểu thư thành thân với Nam Hiệp. Bắc Hiệp đi rồi, bọn sai dịch của quan huyện cũng vừa tới, Hàng Chương và Tưởng Bình cũng hiệp sức áp giải Hoa Xung đến nha.
Sau đó Đặng Xa chờ cho các việc êm lặng, len lén về nhà, nghe tin Hoa Xung bị bắt thời sợ vạ lây tới mình, bèn gom góp của cải bỏ nhà đi qua thôn Bá Vương.
0
Hồi Thứ Sáu Mươi Bảy [/align]

Hoa Điệp đền bồi tội ác, Triển Chiêu thành hôn.
Song Hiệp đặt tiệc tiễn hành, Tịnh Tu bói chữ.
 
Hàng Chương và Tưởng Bình tới huyện, trình tờ giấy ở phủ Khai Phong ra, quan huyện xem xong liền mời vào thư phòng hỏi kỹ các việc, rồi lập tức thăng đường thẩm vấn. Hoa Xung không hề chối cãi, nhất thiết đều cung khai. Quan huyện viết tờ trình, sai nha dịch theo Hàng Chương, Tưởng Bình và bọn Long Đào giải Hoa Xung lên phủ Khai Phong.
Khi tới Đông Kinh, Tưởng Bình đi vào công đường ra mắt các vị anh hùng, tỏ cả đầu đuôi việc tìm Hàng Chương và bắt Hoa Xung. Ai nấy nghe nói vui mừng vô hạn. Lư Phương, Từ Khánh, Ngọc Đường, Triển Chiêu đều ra trước Hàng Chương, còn Tưởng Bình thay sắc phục vào ra mắt Bao Công. Bao Công nghe nói mừng rỡ lắm, truyền Bao Hưng mời Hàng nghĩa sĩ vào ra mắt.
Bây giờ lính đã giải Hoa Xung tới, tạm giam vào phòng, các hiệp sĩ nghĩa sĩ anh hùng cùng ra mắt lẫn nhau. Từ Khánh chỉ Mã Hán nói với Hàng Chương rằng: "Người bị trúng tên của anh là vị này". Hàng Chương cầm tay Mã Hán xin lỗi, Mã Hán nói: “Nay chúng ta như anh em một nhà, còn nhắc tới việc cũ làm chi?". Công Tôn Sách giục giã Hàng Chương vào thư phòng gia mắt Tướng gia. Hàng Chương và Công Tôn Sách đi rồi, Triển Chiêu bèn truyền bảo bọn nha dịch bày tiệc rượu để thết đãi Hàng Chương.
Chẳng bao lâu Hàng Chương đi với tiên sinh yết kiến Bao Công xong, ra tới phòng trà gặp Trương lão và Đặng Cửu Như ở đó. Cửu Như thấy Hàng Chương liền chạy lại nắm tay thưa rằng: "Con xin ra mắt Hàng tráng sĩ!”. Hàng Chương thấy cử chỉ của Cửu Như mạnh dạn khôn ngoan như người ở nơi quyền quý thời quên phứt. Lúc thấy Trương lão, Hàng Chương hỏi: "Sao hai người lại tới đây?". Bao Hưng liền đem việc gặp tại quán cho tới lúc đem về phủ Bao công tử nhận làm nghĩa tử mà thuật lại một lượt, Hàng Chương mừng rỡ lắm.
Bấy giờ ai nấy đều tới công sở thấy rượu thịt bày sẵn bèn cứ theo thứ tự chia nhau cùng ngồi. Công Tôn Sách nói: "Tướng gia thấy Hàng huynh tới ra mắt vui lòng lắm, thảo tấu lên Thiên tử, trong ấy nói luôn việc bắt Hoa Xung nữa. Chắc tờ tấu ấy tới mắt Thiên tử, Hàng huynh được nhiều điều may lắm". Lư Phương nói: "Rất cám ơn hiền đệ phù trì cho". Hàng Chương lại sai tùy tùng mời Long Đào vào ra mắt các vị anh hùng rồi nói: "Nhờ có Long huynh nhọc nhằn cay đắng nay đã bắt được Hoa Xung đợi xong chuyện rồi sẽ về chẳng muộn". Long Đào nói: "Tiểu nhân nhờ ơn Nhị gia và Tứ gia giúp sức rửa được hờn, trả được thù, thế thời lòng tôi đã toại". Nói chuyện với tới đó có lệnh Bao Công truyền giải Hoa Điệp vào Công đường hầu thẩm. Công Tôn Sách liền cùng bốn dũng sĩ Vương, Mã, Trương, Triệu đều tới công đường hầu chực.
Một lát các dũng sĩ trở ra, Triệu Hổ nói rằng: “Thật Hoa Hồ Điệp là anh hùng, mình làm thì mình chịu, không cần tra hỏi”. Kế Công Tôn Sách ra cũng khen và nói: "Tiếc vì y làm nhơ nhuốc phụ nữ, sát hại lương nhân, có tài mà cậy chi tài, tướng gia lên án trảm quyết đó cũng là nhẹ lắm". Long Đào nghe nói sướng khoái vô cùng.
Qua ngày sau Bao Công tâu lên Thánh thượng, Hàng Chương được vào bái kiến long nhan, được phong chức Hiệu úy, còn Hoa Xung thời y nghị, truyền quan huyện Tường Phù giám trảm. Long Đào từ tạ lui về, Hàng Chương tặng vàng trăm lượng, và cấp thưởng cho sai dịch. Từ đây Long Đào thôi làm chức ở huyện.
Ngày tháng thoi đưa, các anh hùng tụ đủ tại Đông Kinh, năm nghĩa sĩ đã một nhà đoàn hợp. Trăng lặn thỏ lên, ngày đêm thay đổi, chưa bao lâu mà đã tới ngày hôn lễ của Nam Hiệp. Đinh đại gia là Triệu Lang cùng Thái thái đưa tiểu thư Đinh Nguyệt Hoa lên kinh.
Chuyện ấy chẳng lạ chi, nên không cần tả ra, chỉ có một điều là các hào kiệt anh hùng ai cũng tưởng thế nào cũng có đủ mặt Song Hiệp và Bắc Hiệp là anh em họ Đinh và Âu Dương Xuân trong đám cưới này, ai dè Bắc Hiệp chẳng chịu lên kinh, cùng với Nhị gia Đinh Triệu Huệ ở nhà lo việc gia đình.
Hôn lễ của Nam Hiệp xong xuôi, Thái thái và Đinh đại gia ở lại kinh qua tới mùa xuân mới trở lại thôn Mạc Hoa.
Triệu Lang về tới nhà tỏ việc phủ Khai Phong và nói rằng: "Các bầu bạn ở đó đều có lòng kính mộ nhân huynh lắm, muốn cho gặp mặt để tỏ tình luyến ái, tiếc vì chẳng gặp nên họ trách tiểu đệ lắm". Bắc Hiệp nói: "Rất cám ơn các bạn lắm, nhưng tôi chẳng quen việc thù đáp. Nay hiền đệ đã về tôi xin cáo từ". Triệu Lang nói: "Vì cớ nào nhân huynh lại đòi đi vội vậy?". Bắc Hiệp nói: "Liệt huynh có tính hay bay nhảy, nay nhân ở yên nơi đây đã lâu rồi nên trong mình khó chịu, phải đi du lãm mới được". Đinh Triệu Lang thấy Bắc Hiệp đã quyết, chẳng thể giữ lại, bèn xin nán lại hai ngày.
Tới ngày thứ hai, anh em họ Đinh cùng Bắc Hiệp cất chén từ biệt, có tình quyến luyến. Triệu Lang hỏi rằng: "Bây giờ nhân huynh tính đi đâu?". Bắc Hiệp đáp: "Tính sẽ du ngoạn Khánh Châu”. Tiệc rồi, ba người trân trọng chia tay nhau.
Bắc Hiệp ra đi, gặp non xem non, gặp nước thưởng nước. Ngày nọ đi tới huyện Nhân Hòa, thấy một dãy rừng tùng rậm rạp, có một chót nhà cao tít mây xanh, liền nghĩ rằng: "Đó là cảnh Phật thế thời cũng nên tới chiêm ngưỡng". Nghĩ đoạn đi tới cửa, thấy trên ngạch có tấm biển đề ba chữ: "Bàn Cổ Tự", giậu rào xem rất chắc chắn đẹp đẽ, Bắc Hiệp liền mang bao phục đi vào chính điện lớn thấy tượng Tam Hoàng, bèn làm lễ bái. Lễ xong, thấy một chú tiểu đi ra, trạc độ ba mươi, thấy Bắc Hiệp liền thi lễ, Bắc Hiệp cũng đáp lễ rồi hỏi: "Chẳng hay có sự phụ tại hậu viện chăng?". Chú tiểu nói: "Tráng sĩ hỏi sư phụ có việc chi?" Bắc Hiệp nói: "Nhân quá bước tới đây nên trước vào thi lễ và sau xin trà uống". Chú tiểu nói: "Có vậy xin mời vào nhà khách đãi trà". Bắc Hiệp liền theo vào, chú tiểu đi nấu nước, trà đã châm xong, kế thấy một vị hòa thượng trạc bảy mươi mà nhan sắc như trẻ nhỏ, tinh thần cường tráng bước ra thi lễ và hỏi quý danh Bắc Hiệp. Bắc Hiệp đáp xong lại hỏi hòa thượng. Hòa thượng tự xưng pháp danh là Tịnh Tu rồi trò truyện với Bắc Hiệp. Câu chuyện càng dài, lòng kính mộ nhau lại càng nặng, chuyện vãn tới chiều, chú tiểu dọn cơm chay, Bắc Hiệp không từ chối, ăn uống như thường, hòa thượng vui lòng lắm.
Bắc Hiệp ở lại Bàn Cổ Tự chơi, chuyện vãn với Tịnh Tu lâu lắm. Nào khi câu thơ hòa vận, lại có lúc xem hoa nở khi chờ trăng lên, chén trà tỏ nỗi, câu đờn giãi bày.
Một hôm, một người học trò áo quần rách rưới, mặt mày hốc hác, tay cầm một xấp câu đối đi thẳng tới trước mặt hòa thượng và Bắc Hiệp mà thi lễ. Bắc Hiệp đáp lễ rồi hỏi: "Chẳng hay tiên sinh tới đây có điều chi dạy bảo?". Người học trò đáp: "Tiểu sinh nghèo khốn, không của nuôi thân, nhân có ít câu đối xin ẩn sĩ đọc giúp cho". Hòa thượng Tịnh Tu nghe nói đứng dậy tiếp giở cho coi, thoạt thất kinh mà rằng: "Hay lắm! Hay lắm!".
0
Hồi Thứ Sáu Mươi Tám [/align]

Đỗ Ung ở nhờ đọc sách, tiểu thiếp sinh tâm,
Tần Xương cam chịu lỗi lầm, a hoàn tán mạng.
 
Tịnh Tu xem thấy câu đối ấy chữ viết rất hùng kiện, cả khen chẳng ngớt, lại nhắm xem tướng mạo người học trò, thấy tuy là cùng khổ mà phong thái đàng hoàng, nên có ý cảm mến, liền sai chú tiểu mời vào đãi cơm chay. Học trò theo chú tiểu đi rồi, Bắc Hiệp nói với Tịnh Tu rằng: “Tôi xem người ấy rất có chính khí". Tịnh Tu nói: ”Phải, bần tăng cũng xem người ấy có cốt cách lắm nên giữ ở đây làm khách". Hai người nói chuyện một lát lâu thấy có một người đi vào. Tịnh Tu xem rõ là viên ngoại Tần Xương bèn mời ngồi rồi hỏi: "Ngài tới đây có việc chi?". Tần Xương nói: ”Nếu không có việc gì, chẳng dám tới làm rộn nhà chùa. Nhân vì mấy ngày rầy tâm thần chẳng an, nên tới xin sư phụ bói cho một quẻ". Tịnh Tu nói: "Tôi chẳng quen bói quẻ, vậy Viên ngoại nói cho một chữ gì để dùng làm phép mà luận”. Tần Xương nói: "Tôi xin nói chữ Dung". Tịnh Tu viết chữ Dung ra, ngồi suy nghĩ một hồi rồi nói: "Đây là điềm chẳng tốt". Tần Xương nghe nói có vẻ lo buồn, nhân dòm lên bàn thấy có mấy câu đối bèn giở ra xem, xem xong hỏi: "Chữ thật hay, chữ hùng kiện lắm, vậy có phải của sư phụ viết ra chăng?". Tịnh Tu đáp: "Bần tăng viết thế nào được, đó là của một người học trò vừa mới đem bán đây". Tần Xương nói: "Người học trò ấy tên gì, hiện thời ở đâu?". Tịnh Tu nói: “Y tới xin giúp đỡ, nên chưa hỏi tới tên họ, hiện đang ở đây". Tần Xương nói: "Thế thời y là một người hàn nho sao? Tôi đương tìm một người có học, rước về dạy trẻ nhỏ ở nhà, song chưa gặp, vậy sư phụ rước giùm cho, há chẳng tiện cả đôi đường sao?”. Tịnh Tu cả mừng ưng chịu. Tần Xương liền bước ra cửa sai tiểu đồng trở về nhà đem áo quần, mã giày và ngựa tới rước.
Bấy giờ người học trò vào nhà sau tắm gội sạch sẽ, Tịnh Tu cho mời lên, thấy diện mạo khôi ngô, thời có ý kính mộ, bèn tỏ ý Tần Xương cho người học trò nghe và hỏi tên họ. Người học trò ấy tên là Đỗ Ung nghe nói Tần Xương rước dạy học thời nhận lời liền. Kế tiểu đồng đem mão giày quần áo tới. Tần Xương liền cung kính đưa cho Đỗ Ung thay đổi, rồi từ giã Tịnh Tu và Bắc Hiệp mà trở lại Tần Gia trang, để Đỗ Ung ở tại thư phòng cho kêu học trò lại học.
Nguyên vợ Tần Xương là Trịnh Thị, tuổi ước ba mươi có sinh được một đứa con trai tên là Quốc Bích tuổi vừa mười một. Lại có một vợ bé là Bích Thiềm và con hầu, đầy tớ rất đông. Trong đám ấy có một đứa lớn tên là Thể Phụng hầu hạ Trịnh Thị, và một đứa nhỏ là Thể Hà hầu hạ Bích Thiềm. Nhà ngoài thêm có bốn người trai giúp việc là Tấn Bảo, Chiêu Tài, Tấn Lộc, Tấn Hĩ. Tần Xương tuổi trạc tứ tuần song vẫn còn mẹ vú là Bạch Thị tuổi đã trên bảy mươi. Cả nhà gộp lại được gần ba mươi người.
Tần Xương bình sinh ít đọc sách nên hối hận lắm, nay nhà giàu của dư, muốn lo cho Quốc Bích học hành may sau này rạng vẻ tông môn, để khỏi thẹn với tiếng đời chê trọc phú. Từ ngày rước thầy về nhà Tần Xương có ý mừng rỡ, thường đãi đằng rất chu đáo, khi có việc đi đâu thường hay căn dặn vợ hoặc liễu hoàn Thể Hà phải lo liệu tử tế.
Ngày nọ Tần Xương có việc đi khỏi, ở nhà con Thể Hà nấu cơm sai người bưng tới thư phòng cho Đỗ Ung. Bích Thiềm liền lén đi theo, đứng ngoài để mắt vào kẽ vách ngó lên, thấy Đỗ Ung hình dung tuấn tú, tuổi còn măng, phút động lòng tà.
Dịp đâu may mắn cho Bích Thiềm, cách ít lâu Tần Xương cho Đỗ Ung nghỉ dạy nửa ngày, rồi đem Quốc Bích đi thăm bà con. Bích Thiềm nghe tin ấy mừng lắm, chờ Tần Xương đi rồi, bèn tự mình nấu cơm và nấu vài món đồ ăn rất ngon sai con Thể Hà bưng qua phòng cho Đỗ Ung. Một lát Thể Hà trở lại, Bích Thiềm hỏi nó rằng: "Tiên sinh làm gì trong ấy?". Thể Hà đáp: "Đương đọc sách". Bích Thiềm hỏi: "Có nói chuyện gì không?". Thể Hà nói: "Tiên sinh hỏi sao bữa trước gia đồng bưng cơm, mà bữa nay tôi lại bưng cơm sớm vậy? Hỏi như vậy rồi bưng để lại một bên chớ không ăn". Bích Thiềm lấy làm lạ hỏi rằng: "Sao lai không ăn?". Nói đoạn đi hớt hải tới thư phòng, đứng ngoài xoi giấy dán cửa đưa mắt vào xem, thấy đồ ăn vẫn còn y nguyên, bèn giả ho một tiếng. Đỗ Ung nghe ho cất đầu lên ngó, thấy giấy dán cửa rách một lỗ, có người con gái kê mắt dòm lén, bèn hỏi: ”Ai đó vậy?" Bích Thiềm đáp: "Đố biết là ai!". Đỗ Ung nghe tiếng đáp có hơi lả lơi mất tao nhã nên nói: "Đây là nơi thư phòng, không được tới làm rộn như vậy". Bích Thiềm đáp: "Thiếp biết tiên sinh thế nào cũng chẳng rõ, vậy xin tỏ cho tiên sinh tường. Thiếp sánh với phu nhân Trình Thị thời không bằng, mà sánh với liễu hoàn lại cao hơn. Nay Viên ngoại không có ở nhà, e tiên sinh buồn nên tới đây tương hội". Đỗ Ung nghe nói cả giận gắt rằng: "Đừng có nói như vậy, phải mau mau đi khỏi chỗ này!”. Bích Thiềm đáp: "Sao tiên sinh chẳng hiểu việc đời như vậy! Thiếp có lòng tưởng tới, nỡ đành cô phụ hay sao? Đây là chút tình xin tiên sinh nhớ giữ". Đỗ Ung giận lắm nạt rằng: "Thật không chịu đi khỏi đây hay sao? Ta la lên cho mà coi? " Dứt tiếng thời Bích Thiềm đã đi khuất bóng.
Đỗ Ung thấy quang cảnh như vậy vừa giận vừa buồn, nằm nghĩ rằng: "Rất tiếc lòng tốt của Viên ngoại hậu đãi ta rất tử tế, thế mà một đứa hèn hạ như vậy làm hư hoại cái lòng tốt của người, ta khó ở đây được nữa".
Tần Xương về tới nhà, thay xiêm đổi áo xong đi thẳng vào thư phòng, thấy một bên có mâm đồ ăn còn y nguyên mà Đỗ tiên sinh thời mặt giận đằm đằm, lấy làm lạ, vừa muốn ngồi xuống bỗng thấy trong chân vách có vật nháng sáng, bèn cúi lấy xem, té ra đó là chiếc nhẫn của đàn bà. Tần Xương liền quay mình trở ra khỏi thư phòng, không thốt một tiếng, vừa đi vừa xem kỹ, thời chiếc nhẫn ấy là vật của Trịnh Thị, máu giận vì thế mà sôi, lửa ghen vì thế mà phát cháy, vội vàng đi riết lại ngự phòng chỉ mặt Trịnh phu nhân mà rằng: "Mi là đồ nhơ nhuốc, dám làm bại hoại gia phong. Tao bảo mi khoản đãi tiên sinh là gói ghém cơm thịt, chớ có phải bảo mi đem cả thân xác tới thư phòng mà đãi tiên sinh hay sao?". Trịnh phu nhân thấy không có chuyện gì mà đất bằng nổi sóng, ngơ ngẩn mà rằng: "Ai nói với mình rằng tôi tới thư phòng?”. Tần Xương nói: "Có chiếc nhẫn làm bằng cớ đây " Trịnh phu nhân tiếp lấy rồi nói: "Quả vật này là của tôi, song có hai chiếc, một chiếc tôi đeo, một chiếc cho Bích Thiềm!”. Tần Xương nghe nói sai Thể Hà đi kêu Bích Thiềm. Giây lâu thấy Bích Thiềm đầu tóc tơi tả còn Thể Phụng thời vừa khóc vừa đi tới. Bích Thiềm nói rằng: "Con Thể Phụng lén cắp chiếc nhẫn của thiếp, đem bỏ trong thư phòng tính mưu hại thiếp!”. Thể Phụng nói: "Tôi nào có vào phòng dì bao giờ mà ăn cắp, đó rõ là dì đi vào thư phòng, bây giờ đổ thừa cho tôi. Hai đàng cãi cọ nhau um sùm lên, Tần Xương không biết ai phải ai trái.
Bà vú Bạch Thị cùng Trịnh phu nhân thấy vậy liền nghĩ ra một kế, nói nhỏ với Tần Xương rằng: "Phải làm như thế... như thế... ". Tần Xương y lời bèn phân giải lơ là cho êm chuyện.
Tối lại, tới canh hai, Tần Xương đi với bà vú đến thư phòng, thấy đèn vẫn chưa tắt. Đỗ Ung còn thức, bà vú liền gõ cửa hỏi: ”Tiên sinh chưa ngủ sao?!”. Đỗ Ung hỏi: "Còn chuyện gì đó nữa?". Bà vú nói: “Tôi là bà già ở trong phòng của cô hai (chỉ Bích Thiềm), nhân Viên ngoại đã ngủ rồi, nên cô hai sai tôi tới đây rước tiên sinh vào phòng có chuyện". Đỗ Ung nói: "Bà nói đó là nghĩa gì? Ban ngày đứng ngoài lỗ vách nói những câu lơi lả, mà bây giờ lại nói thế nữa, ý muốn tôi từ nhà này mà đi sao chớ?". Tần Xương nghe rõ liền bảo bà vú thôi, cùng trở lại nhà sau. Tần Xương nói rằng: "Cứ như lời mà suy, thì quyết chắc Bích Thiềm chẳng sai. Con ấy đã làm nhơ nhuốc như vậy còn dùng nó vào đâu nữa, ta phải giết nó cho rồi". Bà vú nói: "Không được, nếu đem nó ra mà giết e mang tội sát nhân, và tiếng xấu khó chuộng, chi bằng dọn nhà bỏ trống ngoài hoa viên giam nó vào đó, bỏ cho nó chết đói thời không hệ lụy gì". Tần Xương khen phải.
Sáng ngày sau, Tần Xương dạy Tấn Bảo dọn nhà bỏ không ngoài vườn đem Bích Thiềm ra giam tại đó cấm không cho ai đem cơm nước cho ăn uống, để cho đứa lẳng lơ ấy chết đói cho rồi đời.
0
Hồi Thứ Sáu Mươi Chín [/align]

Tần Viên ngoại lỡ lời đành chịu tội,
Kim huyện quan lập kế gỡ giùm oan.
 
Nguyên con Bích Thiềm với Tấn Bảo có tư tình với nhau, nay đem bỏ nó ra ngoài nhà trống tại vườn hoa, thì có khác gì đem gà bỏ vào bồ lúa. Hai đứa nhờ dịp này toại lòng dâm dục.
Bích Thiềm bàn bạc với Tấn Bảo rằng: "Viên ngoại và Trịnh Thị tuy ngủ ở nhà trên, song buồng Viên ngoại tại phòng mé đông, Trịnh Thị tại phòng mé tây. Vậy đêm khuya chàng lén xách dao vào giết Viên ngoại, rồi đổ là Trịnh thị giận chồng giết chồng, chắc Trịnh Thị bị đền mạng, chừng ấy tôi được cả gia viên điền sản thì chúng ta được hưởng trọn đời khoái lạc, há chẳng sướng hơn là tôi làm thiếp mà chàng làm tớ hay sao?". Tấn Bảo nghe nói vui mừng quên cả nhân đạo, định tối lại sẽ đi giết Tần Xương.
Nói về Tần Viên ngoại từ hôm mắng lầm Trịnh Thị tới nay, nằm gác tay lên trán tưởng lại mà thương vợ, đêm ấy mới qua phòng mé tây cùng Trịnh Thị chung gối. Con Thể Phụng thấy Viên ngoại vào phòng Trịnh Thị hèn lui ra đi qua phòng mé đông là chỗ viên ngoại ngủ, vén màn lên cuốn nệm quét dọn, chẳng ngờ còn đang mệt mỏi buồn ngủ, nằm bừa lên giường tắt đèn ngủ mê mệt.
Tần Bảo thấy đêm đã khuya bèn xách dao lén lén đi vào phòng mé đông, trong phòng tối om không xem rõ ai được. Tấn Bảo lấy tay rờ rờ vừa đụng nhằm đầu, liền chặt một đao. Thương ôi! Thể Phụng vô cớ bị ác nô giết chết. Tấn Bảo chém rồi, nghĩ chắc kế đã thành, vội vã đi ra, thấy mình vấy tinh là máu, bèn đi thay, vừa thay xong, nghe trong phòng có tiếng Viên ngoại kêu: "Tấn Bảo! Tấn Bảo!". Tấn Bảo thất kinh biết Viên ngoại chưa chết, lật đật chạy vào.
Nguyên Tần Viên ngoại qua phòng Trịnh Thị xong, khi trở lại thấy Thể Phụng bị giết trên giường thời sợ lắm mới la hoảng lên. Kế thấy Tấn Bảo vào bèn chỉ cho nó coi. Tấn Bảo thấy mình giết lầm Thể Phụng thời hối hận quá song ráng trấn tĩnh.
Bấy giờ người trong nhà đều hay việc biến, đến tựu lại đông nghịt. Trịnh Thị bàn nên cho mẹ của Thể Phụng là Mã Thị nhiều tiền để êm chuyện ấy. Tần Viên ngoại bằng lòng, bèn sai Tấn Bảo đi mời Mã Thị. Tấn Bảo tới nhà Mã Thị nói rằng: "Tần Viên ngoại hãm hiếp Thể Phụng chẳng được toại lòng nên giết đi". Rồi xúi Mã Thị xuống huyện Nhân Hòa cáo với quan huyện là Kim Tất Chánh. Vì vậy án ấy phát giác ra, quan huyện tới nghiệm thấy quả Thể Phụng bị chém đứt cổ mà chết, liền bắt Tần Xương về huyện, liệm thi thể Thể Phụng đem theo.
Kim huyện quan thăng đường đem Mã Thị ra hỏi qua một lượt, rồi cho xuống, kêu Tần Xương ra hỏi: "Tại sao ngươi giết Thể Phụng?". Tần Xương thưa: "Vì tôi dụ nó vào phòng quyết lòng giam hãm, nó không chịu nên tôi giận giết đi, xin quan tòa chiếu tội gia hình tiểu dân khỏi oán". Sao Tần Xương khai lạ như vậy?
Bởi vì Tần Xương không lẽ nói mình bỏ phòng đi lại an ủi với vợ, lại sợ huyện quan hỏi vì sao thời ló tới việc Bích Thiềm, ló việc Bích Thiềm thời e xấu hổ tới vợ lớn vợ bé, mà mình cũng có tội. Lại vị tiên sinh họ Đỗ kia cũng lụy nữa. Chẳng thà chịu ngay như vậy, có thể ơn thỏa hơn.
Kim Tất Chánh thấy Tần Xương khai như vậy có ý nghi bèn hỏi: "Ngươi giết Thể Phụng rồi, giấu dao ở đâu?" Tần Xương đáp: "Lúc ấy lật đật tôi quăng ở đâu không nhớ được". Tất Chánh nghe lời nói lôi thôi như vậy lại càng nghi nhiều, liền đình án ấy lại, dạy giam Tần Xương vào ngục.
Tần Xương trong ngục cũng yên lòng, vì việc nhà nhờ có Trịnh phu nhân lo liệu giúp cho, lại thỉnh thoảng lén đưa thư về cậy Đỗ Ung chăm sóc những công việc ngoài. Còn Trịnh phu nhân thời cắt bọn Tấn Bảo, Chiêu Tài, Tấn Lộc, Tấn Hĩ thay phiên vào ngục hầu hạ Tần Xương.
Ngày nọ hòa thượng Tịnh phu, nhân cớ đi ra ngoài quyên góp tiền hương khói nhà Phật, bèn lại Tần Gia trang thăm Đỗ Ung. Khi tới cửa ngõ, gặp Tấn Bảo bèn hỏi: "Có Viên ngoại ở nhà hay không? Đỗ tiên sinh mạnh giỏi chứ?". Tấn Bảo đáp: “Ối, sư phụ hỏi Đỗ tiên sinh làm gì, người ấy không tử tế, ở đây lại tư thông với bà chủ tôi, bị Viên ngoại biết được rầy cho nên lòng oán hận, bàn bạc với bà chủ tôi thế nào, giết chết Thể Phụng rồi vu cho Viên ngoại gian hiếp chẳng được mà giết người, vì vậy Viên ngoại bị khốn tại lao, tôi phải tới đó hầu hạ". Nói rồi giả bộ như thường, bỏ đi một mạch. Hòa thượng nghe nói kinh hãi, vội trở lại chùa, vừa đi vừa mắng Đỗ Ung chẳng ngớt.
Về chùa đem chuyện ấy thuật cho Bắc Hiệp Âu Dương Xuân nghe. Bắc Hiệp nói: “Theo mắt tôi xem thời Đỗ Ung quyết không phải là người thế ấy, e cho Tần Viên ngoại có điều chi mờ ám chăng?”. Tịnh Tu nghe nói chẳng vui mà rằng: "Bần tăng vẫn biết Tần Viên ngoại nhiều, trọn đời không làm điều ác, sao lại gặp tai họa như vậy. Ghét thay! Tên Đỗ Ung thật là đứa bất nhân!". Nói dứt lời bỏ đi ra nhà sau.
Bắc Hiệp nghĩ thầm rằng: "Chuyện này chắc có điều oan uổng, vậy tối nay ta phải đi thám thính xem sao?".
Tối lại, Bắc Hiệp nai nít hẳn hoi, tắt đèn, khép cửa không lại giả như ngủ sớm, đi thẳng qua Tần Gia trang. Tới nơi đêm đã hết canh một, đi lần tới thư phòng, nghe tiểu đồng đương nói chuyện với hai tên tuần canh rằng: "Tiên sinh mới đi ra đàng sau đó!". Bắc Hiệp nghe dứt lời len lén đi lên nhà trên nghe bà vú nói: "Chúng bay đừng có làm biếng, phải nấu trà chờ cô hai vào uống!”. Bắc Hiệp nghe dứt nghĩ rằng: “ Quái lạ, sao mà hai người lại không có ở trong nhà, thế thật đáng nghi. Vậy ta đi vòng ra sau xem sao". Nói đoạn đi vòng ra mé sau, vừa tới ba giàn hoa có gian nhà trống, thấy cửa khép hờ, nghe mé trong có tiếng thầm thì. Bắc Hiệp dỏng tai nghe, người đàn ông nói: "Tôi rất may mắn mà được gặp cơ hội này, vậy chúng ta chớ bỏ qua sự vui vẻ đêm nay. Chỗ này kín đáo, chúng ta... tiện lắm". Kế nghe tiếng đàn bà đáp:, ”Thôi thiếp cũng để cho chàng toại chí, nhưng mà chơi hoa chớ bẻ nhành bán rao và phụ tình nhé". Bắc Hiệp nghe mấy lời, cả giận nói rằng: "Thôi còn nghi ngờ gì nữa, quả y như lời Tịnh Tu mà!”. Nói đoạn rút bảo đao xô cửa bước vào. Thương hại cho đôi trai gái nọ, vừa mới... chưa thỏa chí, mà hồn đã lìa đời.
Bắc Hiệp chém chết hai mạng, xách đầu ra mé ngoài, buộc xâu lại máng trên cánh cửa, khí giận mới nguôi, bèn trở về Bàn Cổ Tự. Đỗ Ung vừa đi ra ngoài trở vào, thấy hai tên canh phu chạy tới nói: "Không xong rồi tiên sinh, nguy lắm, chúng tôi đi tuần mé sau, tới giàn hoa thấy hai người ló đầu dòm lên trên cánh cửa, nghi là kẻ trộm nên giơ đèn lên rọi, té ra là đầu của hai người nào bị cắt đem treo ở đó". Đỗ Ung hỏi: "Đầu đàn ông hay là đàn bà?”. Canh phu đáp: "Chúng tôi chưa coi cho kỹ". Đỗ Ung nói: "Vậy thời các người dắt ta ra đó coi".
Ra tới nơi, Đỗ Ung nhìn thấy một cái đầu trong lỗ tai có đeo bông liền hỏi canh phu rằng: "Bây nhìn cái đầu đàn bà ấy là ai?". Canh phu đáp: "Giống hệt cô hai thời phải”. Đỗ Ung lại hỏi: "Còn cái đầu kia coi là ai?". Canh phu đáp: "Quả là đầu của Tấn Lộc rồi". Đỗ Ung nói: "Thôi đừng có động tới nữa phải đi báo quan lập tức. Hãy đi mời bốn vị quan gia ra đây”. Canh phu nói: "Ngày hôm qua Tấn Bảo ở hầu Viên ngoại trong khám, bữa nay là phiên Chiêu Tài, song Chiêu Tài đi vắng, nên Tấn Lộc viết thư cho Tấn Bảo phải nán hầu một ngày nữa. Chẳng hiểu tại sao Tấn Lộc bị giết. Bây giờ chỉ có Tấn Hĩ ở nhà mà thôi". Đỗ Ung liền cho mời Tấn Hĩ tới đọc rõ đầu đuôi bảo đi bẩm cho chủ mẫu hay.
Trịnh phu nhân nghe tin dữ, lật đật tới hỏi Đỗ Ung rằng: "Việc đã như vậy, bây giờ mới liệu làm sao?”. Đỗ Ung nói: "Việc này không nên giấu giếm, phải đi báo quan lập tức". Trịnh phu nhân liền sai Tấn Hĩ đi báo quan địa phương, quan địa phương tới nơi xác nhận rồi chuyển bẩm lên huyện lệnh.
Kim Tất Chánh lập tức hỏi qua loa những điều đại khái, biên cả tên họ rồi nghiệm thây, thấy thân dưới hai thây ấy để lõa lồ, biết là chúng nó tư dâm với nhau. Lại thấy trên bộ ván gần bên có phong thư, quan huyện liền đút vô tay áo. Thêm dưới bộ ván ấy có một cái áo vấy máu, gói một đôi giày và tất. Quan huyện hỏi Tấn Hĩ rằng: "Mi nhìn đồ này coi của ai?". Tấn Hĩ xem một hồi rồi nói: "Quả là của Tấn Bảo". Quan huyện gật đầu nghĩ rằng: "Việc này đều tại Tấn Bảo". Nghĩ đoạn truyền liệm hai thây ấy, và bắt Tấn Hĩ về nha.
Kim Tất Chánh thăng đường, chẳng hỏi Tấn Hĩ mà cũng không tra Tần Xương, lại truyền vào khám đòi Tấn Bảo ra. Tấn Bảo nghe đòi thì dựng tóc gáy, theo sai dịch ra công đường thấy quan huyện nghiêm sắc mặt mà rằng: "Việc của Viên ngoại mi, ta đà dò xét rõ rồi, vậy mi là Viên chủ quản trong nhà ấy, mi phải viết tờ tấu trình để ta xét mà tha cho chủ mi". Tấn Bảo lui xuống viết tờ tấu trình rồi dâng lên. Quan huyện hỏi: "Phải tự mi viết hay là mượn ai?". Tấn Bảo đáp: "Quả chữ tôi viết". Quan huyện liền cầm lên xem kỹ, so với phong thư lượm ở giàn hoa thời rập một tuồng chứ, liền vỗ án hét rằng: "Hay cho tên ác nô, mi thông gian với Bích Thiềm, lại giết Thể Phụng hãm hại Viên ngoại mi, sự thể làm sao mau khai ra cho khỏi bị tra khảo!”. Tấn Bảo nghe hỏi thất kinh, run lập cập thưa rằng: “Việc việc đó tôi không có không biết". Quan huyện dạy nha dịch vả miệng cho nó khai, Tấn Bảo bị vả đau quá liền la rằng: ”Để tôi khai, để tôi khai, xin đừng vả nữa". La rồi cúi đầu khai rõ đầu đuôi, nào là Bích Thiềm để nhẫn làm của tin, bị Viên ngoại thấy được sinh nghi cho phu nhân Trịnh Thị, nào là do ý tiên sinh, biết bùn chẳng nhơ sen, nên giam Bích Thiềm nơi hoa viên, nào là tình riêng dâm lén, bàn bạc mưu ác giết chủ đoạt của, nào dè giết lầm Thể Phụng, thuật không sót tí nào. Còn việc Bích Thiềm và Tấn Lộc vì sao mà bị giết thời nó nói không biết.
Quan huyện nghe khai, bèn hỏi: "Ta chắc mi ghen nên giết Tấn Lộc và Bích Thiềm chớ gì?". Tấn Bảo nói: "Đêm ấy tôi hầu Viên ngoại trong khám, chẳng hề đi đâu làm sao giết được?". Kim huyện quan khi nghe xong gật đầu nghĩ thầm rằng: "Phải, nó khai đó hợp với lời trong phong thư lắm". Vậy ai là người giết Bích Thiềm và Tấn Lộc? Sao Bích Thiềm còn có tình với Tấn Lộc nữa? Phong thư ấy nói những gì ở trong?
0
Hồi Thứ Bảy Mươi [/align]

Dương Trung lòng thành, cô cháu bàn luận,
Kế Tổ trọn thảo, mẹ con gặp nhau.
 
Khi đọc truyện này tới lúc Tấn Bảo cung tội, thời ai cũng lấy làm lạ, không rõ phong thư mà quan huyện lượm được đó nói những gì và Bích Thiềm sao lại có tình với Tấn Lộc nữa!
Nguyên Tấn Bảo được tin của Tấn Lộc đưa sang, rằng mình phải ở trong khám một đêm nữa để hầu Viên ngoại thế cho Chiêu Tài, thời e lỗi hẹn với Bích Thiềm, nên lén lén viết thư cậy Tấn Lộc trao lại cho Bích Thiềm. Ai dè bấy lâu nay Tấn Lộc thấy Bích Thiềm có nhan sắc lại hay cười cợt lang chạ thời cũng muốn chọc ghẹo, mượn cơ hội ấy để thỏa chí. Nhưng ai dè bị giết cả đôi.
Quan huyện Kim Tất Chánh xét rõ án ấy, liền giam Tấn Bảo lại để xử thế mạng cho Thể Phụng, còn Tần Xương thời tha. Duy có kẻ giết đôi trai gái kia thời không rõ là ai, nên phải đình án ấy chờ dò xét đã.
Nói về Tần Xương được trở về nhà, cảm tạ ơn Đỗ Ung đã hết lòng coi sóc việc nhà cho mình, nên cả hai thành ra bạn thân thiết như anh em ruột không e ngại điều gì. Nhân tưởng lời tiên tri của Tịnh Tu, nên Tần Xương rủ Đỗ Ung cùng qua Bàn Cổ Tự tạ ơn. Hai người tới nơi, Tịnh Tu và Bắc Hiệp rất lấy làm lạ. Tần Xương là người ngay ngắn không chịu giấu chuyện gì để nghi hoặc hai người, nên thuật đầu đuôi chuyện đã qua cho hai người nghe. Bấy giờ hòa thượng mới hết nghi nữa, và biết Tấn Bảo là gian dối.
Bốn người chơi bời lân la mấy ngày, Tần Xương cùng Đỗ Ung kiếu từ về Tần Gia trang, Bắc Hiệp cũng từ giã đi qua Khánh Châu.
Bắc Hiệp đi dọc đường nghe người ta nói: "May lắm, Thái thú Khánh Châu đổi người khác, thời oan uổng chúng ta mới vỡ ra được".
Nguyên mùa xuân năm ấy có mở hội thi, Bao Công làm chủ khảo. Khi xong ba trường, Thiên tử thấy trong các tên trúng thí không có tên cháu của Bao Công là Bao Thế Vinh bèn hỏi rằng: "Sao Bao Thế Vinh lại không đậu?”. Bao Công tâu: "Nguyên vì hạ thần vâng mạng làm chủ khảo, nên không cho cháu vào thi, e mất sự công bình". Thiên tử nghe qua liền phán: ”Nhà nước ra lệnh khảo thí là tuyển chọn nhân tài, nếu làm như vậy e Bao Thế Vinh buồn lòng chăng? Vậy cho triệu nó vào điện thí!”. Thế Vinh vâng chỉ vào điện hầu thi, khi truyền lô được chấm đậu phong chức Hàn Lâm. Chú cháu Bao Công tạ ơn Thiên tử và xin cho Thế Vinh về nhà ba tháng thăm nhà, cưới vợ rồi sẽ tựu chức. Chuyện ấy không quan trọng lắm nên chẳng cần nói rõ, nay chỉ thuật tiếp về phủ Khánh Châu có khuyết viên Thái Thú, Thiên tử liền phái người mới thi đỗ Bảng nhãn khoa mùa xuân năm ấy là Nghê Kế Tổ bổ vào. Nghê Kế Tổ vâng chỉ đi với lão bộc là Nghê Trung ra Khánh Châu nhận chức.
Nghê Kế Tổ là con ai, lịch sử thế nào? Trong ấy có nhiều điều lạ lùng, tưởng cũng nên thuật lại một lượt.
Vốn tại phủ Dương Châu, huyện Cam Tuyền, có một người học giỏi tên là Nghê Nhân, từ nhỏ kết duyên với con gái Lý Thái Công, dùng một vật rất quý báu là Bạch Ngọc liên hoa làm của sính lễ. Vật ấy xưa nay không ai có, nên Nghê Nhân quý trọng lắm giao cho vợ cất một nhành, tự mình giữ một nhành. Một ngày kia nhân có việc phải lên Thái Châu thăm bà con, nên mướn một chiếc thuyền đưa đi. Chủ thuyền là Đào Tôn và Hạ Báo lại có một người bạn chèo là Dương Phương, hai tên chủ thuyền ấy vốn là quân ăn cướp sông. Rủi cho vợ chồng Nghê Nhân nên mới mướn đúng vào chúng nó.
Hạ Báo thấy Lý Thị (vợ Nghê Nhân) nhan sắc mặn mà, thời sinh lòng tà dục, nên bàn với Đào Tôn định giết Nghê Nhân, đoạt cả tiền bạc hành lý cho Đào Tôn, còn mình thời chiếm Lý Thị làm vợ.
Hai đứa bàn bạc với nhau xong, lại lén lén cho Dương Phương hay. Dương Phương là người ở mướn nào dám cản ngăn, song trong lòng bất bình lắm. Khi thuyền đi tới một nơi vắng vẻ, hai tên bất lương ấy trói Nghê Nhân quăng xuống sông, rồi Hạ Báo ép Lý Thị những điều hoa nguyệt. Lý Thị khóc nói rằng: "Thiếp có thai gần ngày, làm sao tính việc gối chăn cho được, xin nán đợi khi sinh nở rồi sẽ thành thân". Dương Phương thấy tình cảnh như vậy tội nghiệp, nên khuyên Hạ Báo nới tay cho Lý Thị, rồi bày tiệc rượu ép hai tên bất lương nọ uống say mèm, ngủ mê như chết. Dương Phương thấy chúng nó ngủ rồi bèn bảo Lý Thị rằng: "Tôi có một người cô tu tại am Bạch Y gần cụm rừng mé đông kia, vậy thím nên lén lên bờ, tới đó ẩn thân, kẻo ở đây chẳng khỏi đồ heo chó vô lễ". Lý Thị nghe lời nhân đức cảm tạ vô cùng, lật đật chạy lên bờ nhắm phương đông mà đi. Đi vừa tới cụm rừng trong bụng phát lên đau dữ dội lắm, Lý Thị biết là đến lúc khai hoa, bèn ngồi xuống gốc cây, ôm bụng rên rỉ, một chập quả sinh được một đứa con trai, thấy mặt nó giống cha nó bao nhiêu, sầu thảm càng thêm bấy nhiêu, nhưng không dám lưu luyến nơi đó, sợ kẻ dữ hay được theo bắt thời khốn to, nên vội vã lấy Bạch Ngọc liên hoa gói trên bụng con, dùng áo quần đắp bọc kín đáo, để vào bên cội cây, rồi dáng đứng dậy đi vào am Bạch Y.
Lúc Lý Thị đi rồi, Dương Phương sợ hai tên bất lương thức dậy thấy Lý Thị trốn chắc thế nào cũng hại mình, nên nghĩ một kế rằng: "Vậy thời ta cũng trốn theo, chừng chúng nó tỉnh dậy thấy mất cả hai, thời nghi là ta đã đoạt người đàn bà ấy mà cao chạy xa bay rồi, chắc chúng nó không kiếm tìm nữa". Nghĩ đoạn bèn bỏ thuyền, lên bờ đi riết tới am Bạch Y, ra mắt bà vãi rồi hỏi rằng: "Có người đàn bà tới đây hay không?". Bà vãi hỏi: "Sao cháu lại biết như vậy?”. Dương Phương bèn thuật rõ đầu đuôi lại cho bà vãi nghe, rồi than rằng: "Ở đời lại có những kẻ vì dâm dục mà quên nhân đạo, nay cháu cứu một mạng hơn là cất bảy mươi lăm cảnh chùa, nhưng tội nghiệp cho người đàn bà ấy, chỉ còn có một chút huyết mạch của chồng, để sau này thờ cúng ông bà, thế mà vì cơn vất vả, nàng đã bỏ trong cụm rừng kia rồi, nếu rủi đứa nhỏ ấy có điều gì, e tuyệt dòng mất giống nhà chồng của người đàn bà ấy chăng?”. Bà vãi nói: "Vậy cháu mau mau vào đó tìm kiếm coi, có gặp thì đem nuôi dưỡng làm phước". Dương Phương hỏi: "Đứa nhỏ ấy có dấu tích gì không?". Bà vãi nói: "Cứ như lời người đàn bà nói thời có để nhành Bạch Ngọc liên hoa làm dấu”. Dương Phương nghe xong vội vã ra đi, vào rừng tìm kiếm hoài không gặp.
Dương Phương hết sức kiếm tìm và dò la tin tức đến ba ngày, mới hay rằng: Cách am Bạch Y ba dặm có nhà của Nghê Thái Công. Nhân canh năm đêm ấy Thái Công cưỡi lừa đi qua cụm rừng, nghe có tiếng con nít khóc, bèn xuống lừa đi tìm, gặp một đứa nhỏ nằm dưới gốc cây, trên mình có nhành Bạch Ngọc liên hoa (hoa sen bằng ngọc trắng) thì mừng lắm, vì mình không con, bèn ẵm đứa nhỏ về nhà, thuật dịp may cho vợ nghe. Lương Thị cũng mừng rỡ, vợ chồng mới đặt tên đứa nhỏ là Nghê Kế Tổ.
Dương Phương được tin ấy, bàn với bà vãi rằng: "Nay đã biết chỗ đứa nhỏ rồi, vậy tôi phải tới đó săn sóc nó". Bà vãi khen phải. Dương Phương liền tới nhà Nghê Thái Công xin ở mướn. Nghê Thái Công liền cải tên họ Dương Phương thành Nghê Trung. Nghê Trung lanh lợi giỏi giang nên nghê Thái Công thương, giao cho coi sóc các việc trong nhà.
Mấy phen thỏ lặn ác tà, sen tàn cúc nở, lá đỏ chồi xanh mà Nghê Kế Tổ đã được bảy tuổi đầu.
Ngày nọ Nghê Trung thưa với Thái Công rằng: "Tiểu chủ đã được bảy tuổi, xin gia gia kiếm thầy cho học". Thái Công nhận lời, cho Nghê Kế Tổ tới học với một ông nhiêu ở trong làng. Nghê Trung mỗi ngày đều đưa Kế Tổ đi học, lúc rảnh thường chạy tới am Bạch Y thăm cô và Lý Thị.
Kế Tổ học được ba năm, Thái Công lại rước một vị tiên sinh học rộng tài cao về nhà dạy Kế Tổ. Thời gian qua mau, Kế Tổ đã mười sáu tuổi thi đậu sinh viên.
Tới ngày Kế Tổ xin phép Thái Công đi dạo chơi với Nghê Trung. Khi đi ngang am Bạch Y, Nghê Trung nói rằng: "Am này là chỗ của cô tôi trụ trì, xin mời tiểu chủ ghé bước vào trong dùng trà giải khát". Khi thầy trò Nghê Trung vào tới hậu viện, Lý Thị thấy mặt mày và cử chỉ của Kế Tổ giống hệt Nghê Nhân thời nhớ tới chồng, tưởng lại con, đôi dòng nước mắt nhỏ ròng ròng. Kế Tổ thấy vậy bất giác cảm động cũng khóc ngay. Bà vãi thấy hai mẹ con không biết nhau, mà khóc lóc như vậy thời vỗ tay cười rằng: "Lành thay! Tốt thay! Thật là trời định!". Nghê Kế Tổ lấy làm lạ hỏi: "Bà nói câu ấy là ý làm sao?". Nghê Trung liền quỳ xuống thưa rằng: "Xin tiểu chủ tha tội gian giấu cho lão nô thời lão nô mới dám tỏ thật". Lý Thị đáp: "Ân nhân chớ làm như vậy, hãy đứng dậy đi!" Nghê Kế Tổ cũng lật đật đỡ Nghê Trung dậy, rồi năn nỉ Nghê Trung tỏ thật câu nói ấy cho mình nghe. Nghê Trung liền kể đầu đuôi lại, hai mẹ con Lý Thị nghe nhắc chuyện cũ cảm kích quá, khóc rống lên. Bà vãi và Nghê Trung khuyên giải giây lâu mới nguôi cơn thảm.
Lý Thị bảo Nghê Kế Tổ đưa của tin cho mình coi. Kế Tổ liền lấy trong túi áo nhành Bạch Ngọc liên hoa đưa cho mẹ rồi hai mẹ con lại khóc một hồi nữa rất thảm thiết, ai nghe cũng động lòng.
0
Hồi Thứ Bảy Mươi Mốt [/align]

Nhận làm thầy, ở học Chiêu Hiền quán.
Tìm đứa dữ, lén dò Bá Vương trang.
 
Lý Thị thấy Bạch Ngọc liên hoa thì nhớ tới tình xưa nên khóc òa, Kế Tổ cũng khóc, Nghê Trung và bà vãi khuyên mãi mới nguôi. Kế Tổ liền tỏ ý xin rước mẹ về nhà. Lý Thị can rằng: "Không được, con chớ như thế, mẹ đã thề không muốn nhuốm bụi trần nữa, điều oan uổng của cha con, may còn có con đó, vậy con nên lo học tập sau này được chút quan chức sẽ rửa hận trả thù, thế là đủ rồi". Nghê Kế Tổ thấy mẹ không chịu về nhà bèn quỳ xuống khóc rằng: "Con không biết được mẹ thời thôi, nay đã tìm gặp, con không nỡ để mẹ khổ hạnh trong chốn cửa Phật, con quyết tròn hiếu đạo. Vả chăng cha mẹ nuôi của con cũng là người lương thiện, có lẽ nào chẳng để cho con đền đáp nghĩa sinh thành hay sao? Nếu mẹ chẳng chịu về nhà, con xin ở đây hầu mẹ". Lý Thị nói: "Con ơi chớ khóc, mẹ có ba điều này, nếu con bằng lòng, thời các việc ổn thỏa ngay". Kế Tổ hỏi: "Điều thứ nhất, xin mẹ dạy con được biết". Lý Thị nói: "Điều thứ nhất, là từ nay về sau con phải ráng học hành, cần cho đỗ được một chức quan; điều thứ nhì, là phải lo báo thù tẩy hận cho cha con; điều thứ ba là tìm cho được một nhành Bạch Ngọc liên hoa nữa, vì tổ truyền nó vẫn có hai nhành. Ba điều ấy con lo xong thời mẹ sẽ theo con, nếu trong ba điều ấy mà còn để sót một, thì mẹ cũng không thể nào theo được. Thôi, con hãy trở về nhà đi, kẻo cha mẹ nuôi của con trông đợi". Lý Thị nói rồi đi thẳng vào trong.
Nghê Kế Tổ dùng dằng chẳng nỡ ra về, Nghê Trung thúc hối lắm mới từ giã bà vãi mà đi ra khỏi viện, song bước một bước lại ngoái đầu dòm lại. Đi dọc đường Kế Tổ đem những lời mẹ dặn, nhắc đi nhắc lại cho nhớ, và bàn với Nghê Trung rằng: "Việc lo học, và cần đỗ được chức quan, ta coi rất dễ, đến như tìm nhành Bạch Ngọc liên hoa, thì thật khó khăn lắm, bây giờ biết ngọc ấy ở đâu mà tìm". Nghê Trung nói: "Ý của lão bộc lại không lấy sự tìm ngọc làm khó, mà lại lấy sự đỗ quan làm khó, vậy từ rày về sau cậu lo học là hơn". Kế Tổ nói: "Thù cha như biển rộng, oán mẹ tựa non cao, ta lẽ nào lại không lo học. À! Mà người là ân nhân của ta lẽ nào lại đối xử như chủ tớ cho đành". Nghê Trung nói: "Cậu nói vậy là phải, song chẳng nên tiết lộ việc hôm nay ra, e có điều trở ngại về sau, phải nên giữ gìn cho kín đáo mới được". Kế Tổ gật đầu. Hai người về đến nhà vẫn giữ một mực như thường, không hề để cho ai biết tâm sự.
Nghê Kế Tổ nhớ lời mẹ dặn, quyết rửa thù cho cha nên cố gắng học hành, trong hai năm đã đỗ Hương bảng. Lại đến ba năm kế, là năm ngoái, nhằm buổi hội thi, rủi ông thầy mang bệnh mà chầu trời, nên Kế Tổ lên Đông Kinh có một mình với Nghê Trung lão bộc, vào hội Tiêu Lâm gặp Âu Dương Xuân, Đinh Triệu Lang và trả nợ cho Trương lão nhị đó.
Kế Tổ ở kinh chờ tới ngày mở trường thi, vào ứng khảo được chấm đậu thứ chín, vào điện thí được trúng Bảng nhãn, kế Khánh Châu khuyết chức Thái thú, được chỉ phái đi sung nhậm.
Nghê Kế Tổ vâng chỉ, ra bái tạ Bao Công trở về bái tổ, bấy giờ mới đem việc nhận mẹ ở am Bạch Y thưa lại với Nghê Thái Công và Lương Thị hay. Hai ông bà là người nhân đức, nghe như vậy thì mừng lắm, liền cho rước Lý Thị về nhà, song Lý Thị đã có ước xưa nguyền cũ, lại Kế Tổ phải đi nhậm chức tại Khánh Châu, nên không chịu, chỉ ở lại am Bạch Y, vui vẻ với bà vãi thôi.
Kế Tổ thấy mẹ lòng trần đã dứt, nên dặn dò bà vãi và trợ cấp bạc tiền, rồi cùng với lão bộc Nghê Trung thẳng ra Khánh Châu phó nhậm. Vừa đến nơi thâu được rất nhiều cáo trạng, xem kỹ cả thảy, đều là cáo tên Mã Cường chủ Bá Vương trang.
Nguyên Mã Cường này là em của chủ Thái Tuế trang Mã Cang, nó cậy thế chú là Mã Triêu Hiền nên sang đoạt ruộng vườn, tiền của, cướp vợ bắt gái của người, làm rất nhiều điều bạo ngược tàn ác. Nhà nó có lập một chỗ riêng, gọi là quán Chiêu Hiền, để dung nạp những anh hùng hào kiệt, vì vậy mà bọn côn hoang vô lại tụ tập rất đông. Trong đó cũng có người nghĩa khí, phải tạm chôn mình vào đó để dò xét tình hình của Mã Cường. Hiện người có danh trong đó là Hắc Yêu Hồ Trí Hóa, Tiểu Gia Các Trẩm Trọng Nguyên, Thần Thủ Đại Thánh Đặng Xa, Bệnh Thái Tuế Trương Hoa, Trại Phương Sóc Phương Diêu, ngoài ra những vô danh tiểu tốt không biết là bao nhiêu, hằng ngày múa giáo đánh gươm dợt thử sức cá rồng lộn xộn, náo nhiệt phi thường. Lại riêng có một vị tiểu anh hùng tên là Ngại Hổ, nguyên là tiểu đồng trong quán Chiêu Hiền, tuổi vừa mười bốn mà chí hướng cao thượng, phong thái khác thường, thấy trong bọn duy có mình Trí Hóa là người hào kiệt, lại thêm võ nghệ cao cường, nên thường để ý noi gương, việc chi đều hết lòng phục vụ. Nhờ vậy Trí Hóa thương, cả hai hợp ý, tình nghĩa thầy trò. Trí Hóa dạy võ nghệ cho trong một năm mà Ngại Hổ đã thông hiểu các môn binh pháp.
Một ngày kia Ngại Hổ nói với Trí Hóa rằng: "Bẩm thầy, từ rày về sau thầy cũng chẳng nên can Viên ngoại chi nữa, tự ý người làm chi thời làm, mình có khuyên can quá chỉ tốn hơi mỏi lưỡi mà thôi, chớ người có nghe đâu. Kìa, Viên ngoại cướp của, bắt gái đó chẳng là bất lương sao? Thôi, một bọn con người đông đúc rầm rộ thế này mà chỉ là người vong mạng đó thôi". Trí Hóa nghe nói đáp rằng: "Ngươi chớ nhiều lời, ta cũng đã hiểu rồi". Hai thầy trò Ngại Hổ đã cùng hiểu ngầm ý nhau, kế trong Bá Vương trang có việc xảy ra nữa.
Vốn Mã Cường sai tên ác nô là Mã Dũng đi đòi nợ. Mã Dũng đi được một lát trở về nói rằng: "Tên Hoát Cửu Thành bây giờ cùng khốn lắm, một đồng một chữ cũng không, có đâu trả được nợ". Mã Cường cả giận trừng mắt mà hỏi rằng: "Vậy thời bắt nó giải xuống huyện giam lại, sao lại để nó thong thả như vậy?”, Mã Dũng đáp: "Xin Viên ngoại chớ giận, tôi sẽ nói một chuyện rất hay. Nguyên lúc tôi tới nhà Cửu Thành, thấy có một người con gái đẹp như ngọc, trắng như ngà, ai thấy cũng bay hồn mất vía, hỏi ra mới biết nàng ấy là cháu ngoại của Cửu Thành, nhân rể và con gái chết sớm, nên đem cháu về nuôi, nay vừa được mười bảy tuổi". Mã Cường nghe nói đổi giận làm vui lập tức sai bảy tám tên ác nô tới nhà Cửu Thành bắt người con gái ấy.
Bọn ác nô đi một hồi lâu, dắt về một người con gái, tên là Cẩm Nương, nhan sắc mặn mà, hình dung yểu điệu, vừa đi vừa khóc. Mã Cường liền vỗ về rằng: "Nàng ơi, nàng chớ khóc mà đau đớn lòng ta, có chi đâu mà sợ sệt, chỉ nghe theo ta thời hưởng đủ điều khoái lạc, được mọi nỗi vinh hoa, nè, cứ đi tới trong kia". Cẩm Nương chưa đợi nói dứt lời, gạt nước mắt nạt rằng: "Đồ giặc cướp! Mi bắt con gái nhà lương thiện làm gì? Nay ta tới đây quyết liều sống chết với mi chớ chẳng hề chịu nhục đâu?". Nói đoạn, thò tay vào lưng rút ra một mũi tên, nhảy tới nhắm ngay bụng Mã Cường mà đâm. Mã Cường thất kinh né khỏi, rồi hô cho gia đinh bắt Cẩm Nương nhốt vào nhà lao.
Nói lại lúc Cẩm Nương bị bắt, Hoát Cửu Thành kêu khóc rầm rĩ mà có ai dám tiếp cứu đâu. Khi bọn ác nô đi rồi, Cửu Thành trở vào nhà lấy mũi tên đã mất, biết Cẩm Nương lén lấy theo, để liều mạng với Mã Cường, thời không còn muốn sống nữa, liền đi ra gốc liễu lấy dây lưng treo cổ tự vẫn.
Hoát Cửu Thành vừa đút cổ vào tròng, bỗng có người chạy tới cản lại, và hỏi rằng: “Vì sao mà lão trượng liều mình như vậy?". Cửu Thành liền kể lể đầu đuôi cho người ấy nghe, kể xong lại khóc. Người ấy là ai? Tức là Bắc Hiệp Âu Dương Xuân vậy. Âu Dương Xuân nghe nói động lòng thương, xúi Cửu Thành xuống Khai Phong đầu cáo. Cửu Thành khóc rằng: "Lão vì nghèo mà mang nợ, bởi mang nợ mới bị chúng bắt cháu, bây giờ có tiền bạc đâu mà đi cho tới Khai Phong?". Bắc Hiệp nói: "Việc đó chớ ngại, tôi xin giúp cho”. Nói đoạn móc trong túi da lấy ba đĩnh bạc đưa cho Cửu Thành. Cửu Thành tiếp lấy rồi cúi đầu bái tạ. Chợt thấy một người cầm roi ngựa đứng sau lưng bước tới nói rằng: "Chuyện hai ngài nói tôi rõ rồi, vị Thái thú mới đến đây rất thanh liêm, sao chẳng tới đó kêu oan cho gần. À, mà như muốn kêu lên ở Khai Phong thời nên mượn chủ tôi làm tờ tấu cho. Kìa, người ở mé rừng đó". Bắc Hiệp thấy người ấy vẻ mặt hiền lành, lời nói đoan trang liền dắt Cửu Thành đi theo, tới nơi nhìn kỹ thời là thầy trò Nghê Kế Tổ.
Nghê Thái thú bèn cật hỏi Cửu Thành một lượt, đoạn viết tờ tấu giùm cho. Cửu Thành cất kỹ vào túi, rồi từ tạ về nhà, chờ tới canh năm, lén đi lên phủ.
Ai dè Cửu Thành đi vừa được một đoạn bị Mã Cường sai ác nô theo kịp, bắt trở lại hỏi rằng: "Mi mắc nợ ta, đã chẳng trả thời thôi, sao lại sai cháu gái đem tên tới định hành hung?”. Cửu Thành chưa kịp trả lời, Mã Cường đã hạ lệnh cho lũ ác nô đánh đập túi bụi. Rủi thay, Cửu Thành bị đánh đau quá, quay trở thế nào đến lọt tờ cáo trạng ra, Mã Cường lượm được, xem rõ đầu đuôi, lật đật sai hai tên ác nô giải Cửu Thành xuống huyện xin giam và sai tốp nô khác đi dò coi người nào làm giùm tờ cáo trạng ấy. Đương lúc đó thấy có một người cưỡi ngựa đi ngang, theo sau một người tớ gia. Mã Cường liền sinh nghi.
0
Hồi Thứ Bảy Mươi Hai [/align]

Nghê Trung rủi gặp Giao Thành,
Giáng Trinh tính cứu Kế Tổ.
 
Mã Cường đương nghĩ cách tìm kẻ viết cáo trạng giùm cho Cửu Thành, bỗng thấy thầy trò Nghê Kế Tổ đi tới, trong lòng sinh nghi, liền nghĩ ra một kế, bước tới chắp tay chào rằng: "Tôn huynh mạnh giỏi, chẳng hay phải lên chùa Thiên Trúc dâng hương chăng?”. Nghê Kế Tổ đáp: "Phải, vậy túc hạ là ai?". Mã Cường nói: "Tiểu đệ họ Mã, nhà ở mé trước kia, tiểu đệ có lời nguyện hễ ai đi dâng hương thời mời về nhà mà đãi trà”. Nói đoạn đưa mắt một cái, bọn gia nô hiểu ý, không cần Kế Tổ y lời mời hay không, áp lại nắm hàm thiết ngựa kéo đi. Nghê Trung biết việc không êm, phải lủi thủi đi theo. Đi tới trang môn, Mã Cường vào trước, đi thẳng tới quán Chiêu Hiền hội các hào kiệt lại, đem việc bắt Cửu Thành, gặp tờ cáo trạng, gạt khách vào nhà thuật lại, rồi đưa tờ trạng cho Trẩm Trọng Nguyên coi. Trọng Nguyên coi xong nói: "Tờ trạng này viết hay đặt khéo, nhưng chưa ắt là kẻ tú sĩ đó làm giùm". Mã Cường nói: "Phải hay không cũng cứ treo y lên khảo cho đau rồi hỏi thử". Trọng Nguyên nói: "Viên ngoại chẳng nên làm như vậy. Y là người học trò, nên lấy lễ nghĩa mà đãi, dùng lời lẽ mà hỏi, chừng nào chẳng nhận sẽ tra khảo có vội chi". Mã Cường nghe nói gật đầu, sai gia nô ra mời Kế Tổ vào.
Nghê Kế Tổ đứng trước ngõ đương nghĩ thầm: ”Ta có ý dò phỏng nó, may nay lại có dịp này, nhưng còn e nó không lấy lòng tốt mà đãi thời sao?". Đang suy nghĩ, thấy gia nô ra mời, đi theo tới thính phòng thấy treo có tấm biển đề chữ quán Chiêu Hiền. Mã Cường ngồi chễm chệ ở trên, hai bên sắp hàng rất đông những bọn dao búa vô lại. Kế Tổ còn ngơ ngác thời Trẩm Trọng Nguyên mời ngồi và hỏi rằng: "Chẳng rõ được tên họ của ngài là chi?". Kế Tổ đáp: "Tôi họ Lý tên Đế Thanh". Trí Hóa hỏi: "Ngài tới đây làm gì?". Kế Tổ thưa: "Nhân vâng lệnh mẹ cha lên chùa Thiên Trúc dâng hương". Mã Cường cười ha hả mà nói rằng: “Mi làm sao vậy? Đi dâng hương mà hương đèn vàng bạc ở đâu, sao không mang theo?". Kế Tổ đáp: "Đã sai người đem tới trước rồi, bây giờ chỉ đi với một tớ, thỉnh thoảng xem thưởng phong cảnh dọc đường thôi". Trẩm Trọng Nguyên nói: "Phải xem thưởng phong cảnh là cách phong nhã của người học trò, đến như viết trạng đặt cáo có phải việc của kẻ đọc sách không?". Kế Tổ nói: "Nói thế ấy là có ý gì? Tôi viết trạng đặt cáo cho ai bao giờ đâu?". Trí Hóa hỏi: "Ngài có biết được Hoát Cửu Thành không?". Kế Tổ nói: "Tôi thật chẳng biết ai là họ Hoát cả”. Trí Hóa nói: "Đã chẳng biết thời thôi xin mời vào thư phòng ngồi nghỉ". Dứt lời bọn gia nô đem hai thầy trò Kế Tổ ra khỏi quán Chiêu Hiền.
Vừa ra tới nhà khách thấy một người đầu đội mũ lông mình mặc áo xanh, lưng thắt đai da, chân đi giày rơm, tay cầm roi ngựa đi lại, thấy thầy trò Kế Tổ bèn đứng lại nhìn sững. Nghê Trung thấy người ấy mặt biến sắc, nghĩ thầm rằng: "Thôi không xong, lại gặp oan gia nữa”.
Người ấy là ai? Nguyên đó là Đào Tôn năm xưa trên thuyền. Lúc tỉnh rượu thấy mất Lý Thị và Dương Phương thời nghi là hai người đã cùng nhau trốn lánh. Sau dò hỏi mới hay Dương Phương đầu thân vào nhà họ Nghê, đổi tên là Nghê Trung còn Lý Thị thời tìm không ra tung tích. Hạ Báo và Đào Tôn nhờ dịp phát tài, Hạ Báo lấy một người đàn bà, hủ hỉ sớm khuya, còn Đào Tôn thời gặp Bệnh Thái Tuế Trương Hoa trọng dụng, Mã Cường dùng làm tay tâm phúc đổi tên là Giao Thành. Nhân nghe quan Thái thú mới nhận chức ở Khánh Châu là Nghê Kế Tổ, đương triều Bảng nhãn, lại là môn sinh của Bao Thừa tướng, nên Mã Cường sợ có điều gì quan hệ tới mình, liền sai Giao Thành giả kẻ đi đường dò la tin tức. Giao Thành dò la xong, vừa trở về gặp Dương Phương (tên thật là Nghê Trung) nên nhìn sững đó.
Giao Thành nhìn một hồi, rồi vào ra mắt Mã Cường và các vị hào kiệt, thuật chuyện rằng: "Tiểu nhân vâng lịnh xuống tỉnh, dò xét quan Thái thú là Bảng nhãn Nghê Kế Tổ, người vừa tới nơi, thấu được nhiều cáo trạng có quan hệ với Viên ngoại”. Mã Cường nói: "Nếu có quan hệ tới ta sao chưa thấy đòi?". Giao Thành nói: ”Nhân vì Thái thú đi đường dầm sương dãi nắng, sinh chứng cảm mạo, nên mấy ngày rày dưỡng bệnh, đến các quan liêu cũng chẳng tiếp ai, vì vậy tiểu nhân lập tức về bẩm lại. À, mà hai chủ tới người mới đi đó là ai?". Mã Cường liền đem việc Cửu Thành mà thuật lại. Giao Thành nói: "Viên ngoại chưa rõ, người tớ đó tôi biết lắm, y tên là Dương Phương, tới nhà họ Nghê đã từ lâu lắm ước vài mươi năm nay". Trẩm Trọng Nguyên nghe nói la rằng: "Ối không xong rồi, Viên ngoại đã gạt Thái thú tới nhà đó". Mã Cường lật đật hỏi: "Sao hiền đệ lại biết. ". Trọng Nguyên đáp: "Giao Thành đã nhìn được người tớ già là Nghê Trung, thời chủ chắc là Nghê Kế Tổ chớ ai?". Mã Cường hoảng kinh hỏi rằng: "Việc đã như vậy, giờ tính làm sao?". Tiểu Gia Các Phẩm Trọng Nguyên đáp: "Nhắm không khó gì, bây giờ đợi tới đêm khuya canh vắng, thỉnh Thái thú tới phòng khách lớn chúng ta lấy lễ ra mắt, nói dối là biết Thái thú tới nơi, nên lập kế rước và sơn trang tỏ bày các tình tiết trong các án của người đã cáo. Vậy rồi đem tiền bạc cho nhiều mua chuộc lòng người, xin cho đóng triện làm tin. Nếu người bằng lòng thời các án xong xuôi, lại chúng ta dọn nghi vệ long trọng đưa người về nhà. Sau này ai cũng khiếp sợ chúng ta mà không dám tố cáo nữa. Nếu chẳng được chúng ta đem ra xử tử cho rồi". Trí Hòa nghe nói khen là kế hay. Mã Cường lật đật sai gia nô đem hai thầy trò Kế Tổ nhốt vào phòng không rồi khóa cửa lại, còn mình thì vào trong gặp vợ là Quách Thị.
Quách Thị là cháu của Quách Hòe, thấy chồng mặt có sắc buồn, bèn hỏi rằng: ”Vì sao phu quân chẳng được vui như vậy?”. Mã Cường liền kể việc ấy cho vợ nghe. Quách Thị nghe dứt rầy rằng: “A! Tôi đã nói, bọn người kết giao với phu quân toàn là lũ sói cáo cả, phu quân chẳng nghe. Tin lời chúng nó rồi đây oan nghiệt báo tới cho mà coi. Tôi nghe phu quân mới bắt nàng Cẩm Nương, thiếu chút nữa bị đâm mà chết, nay lại bắt quan Thái thú nữa, đó là ý gì vậy?". Mã Cường liền đem lời của Trọng Nguyên mà thuật lại cho vợ nghe, Quách Thị mới chịu nín, sai con hầu bày tiệc rượu, cùng chồng ăn uống chuyện trò.
Nào dè đâu câu chuyện của vợ chồng Mã Cường nói với nhau đó có con hầu Giáng Trinh nghe rõ cả.
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2010-03-24 17:38:18bevanng>
Hồi Thứ Bảy Mươi Ba

Bởi mê dâm, Phương Diên cứu Châu Giáng Trinh,
Vì tham của, Hạ Báo lầm Tử Nhiêm Bá.
 
Nguyên Giáng Trinh là con của vị cử nhân Châu Hoán Chương, năm nay được mười chín tuổi, vốn là người huyện Nghi Trung phủ Dương Châu, nhân mẹ chết, nên cha con mới qua Khánh Châu tìm bà con, rủi tìm không gặp mới mướn nhà ở tại cầu Tứ Lãnh gần Cô Sơn để ngày vui đọc sách. Ngày nọ Mã Cường đi qua, thấy Giáng Trinh có sắc đẹp, liền lập kế bắt Châu Tiên sinh giải xuống quan Thái thú, nói rằng: "Nó thiếu tôi một trăm rưởi lượng bạc mà không trả nên xin giam lại”. Quan Thái thú hồi trước vẫn biết Châu Tiên sinh bị oan, song thấy của hối lộ nhiều quá nên cứng họng, nhận giấy nợ giả làm thật, giam Hoán Chương vào lao. Còn Mã Cường thời trở về nhà Hoán Chương, bắt Giáng Trinh đem về tính ép làm thiếp. Ai dè việc ấy bị Quách Thị rõ được, làm toáng lên, Mã Cường kiêng oai sư tử Hà Đông, phải giao Giáng Trinh cho Quách Thị dùng làm con hầu. Giáng Trinh khôn ngoan, chiều chuộng Quách Thị, lấy tình mẹ con đãi nhau, nên Quách Thị mến thương, giao cả đồ nữ trang và các chìa khóa cho giữ, lại những việc kín không hề e ngại giấu giếm gì.
Khi Giáng Trinh nghe rõ câu chuyện của vợ chồng Mã Cường nói với nhau bèn nghĩ thầm trong bụng rằng: "Cha ta bị oan đã vừa nửa năm, biết ngày nào thoát ra được. Vậy bây giờ ta nên cứu quan Thái thú, rồi nhờ người gỡ oan cho cha thời lẽ nào người chẳng nhận làm. Nghĩ đoạn đất đèn lồng, xách tới phòng không là chỗ nhốt thầy trò Kế Tổ, thấy không ai canh giữ, bèn móc xâu chìa khóa ra mở thử, may có cái vừa, nên mở được. Thầy trò Kế Tổ bị nhốt, song không có ý gì lo, thoạt thấy cửa mở ra, có người con gái xách đèn vào thời thấy làm lạ. Hai người vừa muốn hỏi thì Giáng Trinh liền ra dấu bảo nín, đoạn dắt cả hai ra vườn hoa, lại mở lớp cửa nữa, ra tới ngoài, Giáng Trinh chỉ đường lối cho, bảo mau mau đi trốn và hỏi rằng: "Ngài có phải là quan Thái thú, thời thiếp có việc oan uổng sẽ thưa?". Nghê Kế Tổ biết không giấu giếm làm chi bèn tỏ thật cho Giáng Trinh biết. Giáng Trinh mừng rỡ, vội vàng đem việc oan ức của cha mình vừa khóc vừa kể lể, rồi cầu xin Nghê Thái thú về nhà lo phương cứu giúp. Nghê Kế Tổ gật đầu nhận lời; Giáng Trinh lại hối đi cho mau, kẻo không khỏi tay đảng dữ. Thầy trò Nghê Kế Tổ cảm tạ vô hạn, vừa quay mình đi ít bước, bỗng nghe Giáng Trinh kêu mà nói rằng: "Xin hãy dừng bước lại, còn có chút chuyện sẽ nói nữa".
Nghê Kế Tổ nghe Giáng Trinh kêu bèn dừng lại, thì Giáng Trinh chạy tới nói rằng: "Vì lật đật, thiếu chút nữa đã quên mất rồi, nguyên tôi có một vật đeo trong mình từ nhỏ tới nay chẳng hề lìa, vậy xin gửi cho Tướng công, khi cứu cha tôi rồi, xin trao lại giùm và dặn cha tôi: "Đừng thương nhớ con chi nữa!”. Nói đoạn đưa vật ấy cho Kế Tổ, Kế Tổ vừa cầm tới tay chưa kịp xem, thời Nghê Trung đã thúc hối đi, nên vội vàng đút vào túi áo, rồi cất bước ra đi ngoái đầu nhìn lại, thì cửa đã đóng chặt.
Châu Giáng Trinh cứu thầy trò Kế Tổ xong, lại nghĩ tới Cẩm Nương ở tại nhà lao, động lòng thương liền đi tới đó tìm cách giải phóng. May thay, tới nơi không có ai canh giữ, nên Giáng Trinh được thong thả mở cửa vào nhà lao hỏi Cẩm Nương rằng: "Nay tôi cứu chị ra khỏi đây, vậy có chỗ nào nương dựa chăng?". Cẩm Nương nói: "Tôi có người cô ở cách đây chẳng xa, có thể tới đó nương nhờ được". Giáng Trinh cả mừng, dắt Cẩm Nương ra khỏi hoa viên đưa ra đường cái, rồi chia tay nhau.
Cẩm Nương đi rồi, Giáng Trinh nghĩ tới việc mình làm mà kinh sợ, nghĩ rằng: "Thôi, việc ta làm thế này, làm sao khỏi ác tặc nổi giận, nếu nó giận, thân ta còn gì, nếu chẳng chết cũng không khỏi ô nhục, thà là một chết còn hơn, người đời có ai trăm tuổi. Ta cứu được thầy trò Thái thú, giải phóng Cẩm Nương, nay ta cũng nên vào nhà lao treo cổ tự vẫn. Chết như thế danh còn mãi mãi, sống làm chi chịu nhục đời đời. Cha ôi! Oan uổng của cha, con cậy Thái thú cứu giúp thế là trọn đạo làm con, dẫu chết cũng không còn oán". Giáng Trinh nghĩ vẩn nghĩ vơ, than dài khóc vắn, rồi quyết ý một chết, bèn đi vào nhà lao, mở dây lưng treo cổ.
Đây nói lại tại quán Chiêu Hiền, lúc bắt được Cẩm Nương có một người động lòng hiếu sắc, ao ước cho được Cẩm Nương làm vợ. Kế thấy Cẩm Nương bị nhốt vào nhà lao thời nghĩ thầm rằng: "Ta phải làm như thế... mới thỏa chí!”.
Người ấy là ai? Tức là Trại Phương Sóc Phương Diêu vậy. Phương Diêu là người thế nào cứ suy danh hiệu của anh ta thời biết. Anh ta nghe người nói Đông Phương Sóc là ông tiên trộm đào nên khoái chí xưng hiệu là Trại Phương Sóc chớ có biết nghĩa lý là gì đâu?
Phương Diêu nghĩ thế rồi, đợi tới nửa canh hai, chẳng thấy Mã Cường tới liền lén lén ra khỏi quán Chiêu Hiền, đi thẳng vào nhà lao. Trong chỗ tăm tối ấy chỉ thấy một người thắt cổ, thời thất kinh, lật đật mở xuống, chẳng biết là Cẩm Nương hay là ai, cứ kê vai cõng riết ra sau hoa viên, thấy cửa mở hé hé, lòng mừng khấp khởi lách mình ra khỏi đi một quãng chừng hai ba dặm tới một chỗ có rãnh nhỏ. Ai dè tại nơi ấy có một tên trộm ngồi rình, thấy Phương Diêu đi tới, trên lưng có cõng một vật tưởng là túi đãy gì liền nhảy tới đập một gậy, Phương Diêu lẹ mắt bắt được gậy, đánh lại tên trộm nhào lăn xuống đất, rồi bò ra xa tìm đường thoát thân. Chính lúc ấy, nàng Giáng Trinh cũng vừa tỉnh hồn lại.
Tên trộm nọ vùng đứng dậy chạy ít bước, có một người to lớn vạm vỡ đón lại hỏi rằng: "Mi làm gì đó?". Tên trộm nói: "Xin ngài cứu tôi, vì tên cướp kia mới đánh tôi và giật mất hành lý". Người cao lớn ấy là Bắc Hiệp Âu Dương Xuân nghe nói cả giận, rút bảo đao cầm tay trở lại hét rằng: “Ác tặc mau để bao hành lý lại". Phương Diêu nghe tiếng tưởng là một bọn với tên trộm nọ, liền để nàng Giáng Trinh xuống bên gốc cây xách gậy của tên trộm khi nãy nhảy tới nghênh địch. Vừa quay qua trở lại, gậy bị đao chặt đứt làm hai. Phương Diêu vội rút phát đao trong lưng ra chém tới, Bắc Hiệp giơ bảo đao ra đỡ, nghe khua một cái rẻng, phát đao cũng gãy hai. Phương Diêu thất kinh cuốn vó chạy dài. Bắc Hiệp không thèm đuổi theo.
Tên trộm nọ thấy Phương Diêu chạy rồi thì mừng rỡ nói rằng: "Nhờ tráng sĩ cứu cho nên bao hành lý của tôi mới còn lại gốc cây kia!”. Bắc Hiệp nghe nói liền bước lại xem, té ra là một nàng con gái liền lật đật hỏi rằng: "Nàng là ai, sao lại đến nỗi này?". Giáng
Trinh nói: "Tôi bị nạn, kẻ xấu cõng tới đây, tên này là trộm giật đồ, thấy cõng tôi tưởng là vác bao hành lý, nên đánh lén, song mưu bất thành, mới trở trái làm phải đó". Bắc Hiệp nghe nói liền bắt tên trộm lại và hỏi rằng: "Ác tặc! Sao mi dám dối ta?". Tên trộm đáp: “Lạy tráng sĩ xin dung thứ, vì cùng khổ mới làm càn, lại ở nhà còn mẹ già đã tám mươi, không gian làm sao cho đủ nuôi mẹ!". Bắc Hiệp nghe dứt không hỏi nữa, quay qua hỏi Giáng Trinh rằng: "Nàng vì sao mà gặp nạn?". Giáng Trinh liền đem việc vừa qua mà thuật lại và tiếp lời rằng: "Hiện bây giờ chẳng chỗ nương tựa, xin tráng sĩ cứu phận hèn". Bắc Hiệp liền hỏi tên trộm rằng: "Nhà mi quả có mẹ già sao?". Tên trộm đáp: "Quả có, nào tôi dám nói dối với tráng sĩ". Bắc Hiệp hỏi: "Nhà mi cách đây bao xa?". Tên trộm đáp: "Chỉ ước vài dặm đường". Bắc Hiệp cả mừng, đáp: “Vậy thời ta tha cho mi, nhưng mi phải cõng nàng này về nhà mi, rồi ta sẽ có chuyện nói". Tên trộm cực chẳng đã phải vâng lời, cõng Giáng Trinh lên lưng, nhằm nhà mình trở lại.
Đây lại nói Nghê Thái thú bị lão bộc Nghê Trung kéo đi hết một hơi ước vài dặm, mỏi mệt quá, liền bảo Nghê Trung hãy thủng thẳng mà đi, vừa đi vừa xem tín vật của Giáng Trinh giao khi nãy, rồi hỏi Nghê Trung rằng: "Quái lạ! Sao Ngọc Liên hoa lại hạ lạc nơi đây?". Nghê Trung lật đật hỏi rằng "Tướng công nói cái gì mà Ngọc Liên hoa đó?”. Kế Tổ đáp: "Khi nãy người con gái cứu mình có gởi tín vật, dặn rằng khi giải oan cho cha nàng rồi mới trao vật ấy lại, khi nãy ta thấy tín vật rõ là một nhành Bạch Ngọc liên hoa, màu sắc, hình dáng đều giống hệt của ta, vừa muốn hỏi đã bị ngươi kéo bừa đi, không kịp hỏi gì hết". Nghê Trung nói: ”Thôi, không cần phải biết, chỉ nên cất kỹ là hơn, nàng đã cứu thầy trò ta, ơn sâu xin chớ phụ”. Kế Tổ và Nghê Trung mải nói chuyện mà đi lạc mất đường. Ban đầu đi theo mé tây bắc, thấy có bóng đèn và nghe tiếng ngựa hí. Nghê Trung hoảng kinh nói: "Không xong, có người theo kịp rồi, vậy tướng công mau mau chạy trốn, để lão bộc ở lại liều mạng với chúng nó". Nói đoạn quay lại mé đông, nhắm chỗ bóng đèn đi tới. Ai dè đi vài dặm thời bóng đèn, tiếng ngựa tách đi qua mé tây bắc.
Nghê Trung thấy vậy mới yên lòng, bèn quay lại đường cũ tìm Nghê Thái thú. Tìm mãi không gặp bèn kêu lớn lên: "Bớ anh, anh ở đâu?". Gọi một lát, chợt thấy có một người trước mặt đi lại hỏi rằng: "Anh kêu ai vậy?". Nghê Trung nói: ”Vì có người đi chung với tôi, rủi lạc nhau, nên tôi mới kêu như vậy". Người nọ nói: "Người đi chung với anh lạc mất, thôi, để tôi giúp anh gọi thử có nghe không". Nói rồi xúm nhau kêu réo um sùm, nhưng chẳng thấy tăm dạng đâu cả. Nghê Trung mới hỏi người nọ đi đâu, tên họ là gì? Người nọ đáp: "Tôi là Vương Phụng Sơn, vì bạn tôi bị chúng lập mưu hãm hại và bắt mất đứa cháu gái, nên tôi đi dò thám, mà vẫn bặt tăm mất dạng; bây giờ không biết nghĩ sao, phải bó tay mà về. À! Mà anh tên gì?". Nghê Trung đáp: "Tôi họ Lý, bây giờ mệt lắm, phải kiếm chỗ nghỉ mới được".
Hai người nói dứt chuyện, nhìn phía xa xa thấy có bóng đèn, bèn tính cùng nhau đi tới đó xin ngủ nhờ. Khi vào nhà ấy thời không có đàn ông, chỉ có một mụ già mà thôi. Nghê Trung khô cổ, xin chén trà thấm giọng, người đàn bà nói: "Nhà tôi không có nước trà, chỉ có rượu, quan khách dùng đỡ có được không?". Vương Phụng Sơn nói: "Được vậy lại càng tốt". Mụ già lật đật đi hâm cho hai người hai chén rượu. Nghê Trung và Vương Phụng Sơn uống xong, đầu xoay như chong chóng, nằm sải tay trên chõng, miệng chảy nước dãi tràn trề. Mụ già vỗ tay cười rằng: "Sướng không, bay sai mụ già hầu hạ như vầy vừa ý chưa?". Nói đoạn kéo hai người để nằm xuống đất, rồi lên chõng ngồi. chợt nghe ngoài cửa có tiếng kêu, mụ già nói: "Khoan đã, thủng thẳng chờ một chút, đừng có vào gấp!". Bắc Hiệp đứng ngoài hỏi tên trộm rằng: "Người đó phải là mẹ mi không?". Tên trộm đáp: “Chẳng phải, ấy là vợ tôi". Bắc Hiệp lại nghe người đàn bà nói lầm bầm rằng: ”Sao bữa nay lại về sớm, giật đồ đem về quãng này người ta thấy thì sao? Phải tôi không bỏ thuốc mê cho hai người này thì khổ to, sáng ra họ đi báo quan, rồi mới tính sao?". Nói dứt lời chạy ra mở cửa, thấy Bắc Hiệp vóc dáng cao lớn, tay cầm đao bén thời kinh hồn nín thinh. Bắc Hiệp bảo tên trộm để nàng Giáng Trinh lên giường. Rồi hai vợ chồng quỳ xuống đất xin dung mạng. Khi nãy Bắc Hiệp đứng ngoài cửa nghe mụ già nói bỏ thuốc cho hai người mê thì định chắc cũng là một kẻ bất lương, liền hỏi: "Bây dùng thuốc gì làm cho hai người này mê man như vầy?". Mụ già nói: !”Đó là rượu mông hán, chừng muốn cho hết mê thời xốc nước, tức khắc tỉnh liền". Bắc Hiệp liền truyền giải thuốc mê cho hai người kia, rồi lại nói gạt nó rằng: "Thuốc rượu mông hán ta uống không bao giờ mê, chúng bay đem cho ta dùng thử coi". Vợ chồng tên trộm có ý muốn hại Bắc Hiệp nên nghe nói vậy mừng lắm, vội vàng đi múc rượu.
Bấy giờ Nghê Trung và Vương Phụng Sơn tỉnh dậy, thấy tên trộm đem rượu ra, Nghê Trung liền hỏi rằng: "Mi có phải Hạ Báo đó chăng?". Tên trộm lại hỏi: "Ủa! Dương Phương, sao mi lại tới đây?". Vương Phụng Sơn đứng nghe lấy làm lạ lắm, sao Nghê Trung nói là họ Lý rồi mà lại họ Dương? Bắc Hiệp chẳng để cho vợ chồng Hạ Báo nói nhiều lời, lập tức ép chúng nó phải uống chén rượu mông hán mới bưng ra đó. Hai vợ chồng tên bất lương nọ uống vào rồi thì ngã ra mê man như chết. Chừng ấy Bắc Hiệp mới hỏi Nghê Trung coi Nghê Thái thú đi đâu? Nghê Trung liền thuật việc bị gạt vào Bá Vương trang, gặp Châu Giáng Trinh đi cứu, đến lúc tản lạc v.v... cho Bắc Hiệp nghe. Bắc Hiệp chưa kịp hỏi nữa, thời nghe Giáng Trinh nói rằng: "Như vậy thì uổng công tôi lắm rồi!". Nghê Trung nghe tiếng quay qua hỏi rằng: "Ủa, sao tiểu thư lại tới đây nữa?”. Giáng Trinh liền đem việc cứu Cẩm Nương rồi treo cổ tự vẫn, đến lúc bị chúng vác đi thuật lại một lượt. Vương Phụng Sơn nghe xong nói rằng: "Nói vậy Cẩm Nương cháu tôi nhờ ơn tiểu thư giải thoát rồi sao? Đa tạ, đa tạ!".
Bắc Hiệp thấy ai nấy đều vô sự, duy có Nghê Thái thú chưa biết ở đâu thời lo ngại lắm, liền trói vợ chồng tên bất lương Hạ Báo lại, rồi dặn dò Vương Phụng Sơn và Nghê Trung sáng mướn kiệu đưa Giáng Trinh về nhà họ Vương tạm trú, rồi Nghê Trung tức khắc về phủ dò thêm coi Thái thú lạc nơi nào? Dặn dò xong, Bắc Hiệp lật đật từ giã đi qua Bá Vương trang.
0
Hồi Thứ Bảy Mươi Bốn [/align]

Nghê Thái thú giữa đường gặp nạn.
Hắc Yêu Hồ trong ngục giết gian
 
Nói về Nghê Thái thú lạc mất lão bộc Nghê Trung rồi, thời không thông đường lối mà đi, nên ngồi bẹp dưới gốc cây nghỉ chân, bỗng thấy xa xa đi lại một tốp người ngựa đèn đuốc sáng lòa, chưa trốn tránh kịp thì bị bắt ngay.
Nguyên ác tặc Mã Cường đương uống rượu với vợ, sai người đi thăm chừng thầy trò Thái thú, thấy hai người trốn mất liền sai gia nô đốt đèn thắp đuốc đi tìm kiếm giáp nhà, tới hoa viên thấy mở cửa, liền bắt ngựa rượt theo mé tây bắc, đi một đỗi xa thấy Nghê Thái thú ngồi dựa gốc cây, bèn áp lại bắt giải về Bá Vương trang. Mã Cường trợn mắt hỏi Nghê Thái thú rằng: "Sao mi lại dám thừa lúc đêm hôm lén trốn như vậy?" Nghê Thái thú đáp: "Ta đâu có trốn, chỉ vì vợ mi thả ta mà thôi". Mã Cường nghe nói cả giận sai giam Nghê Thái thú vào nhà lao, và cắt người canh giữ cẩn thận, rồi thẳng vào phòng vợ hét rằng: "Đồ tiện tỳ, sao mi dám tự tiện thả quan Thái thú?". Quách Thị ngồi trơ trơ không thèm trả lời, một lát lâu mới cười nhạt rằng: "Nói vậy mà nói được à? Hồi đầu hôm tới bây giờ, tôi uống rượu với phu quân, có lìa ra bước nào mà nói làm vậy?". Mã Cường nghe vợ nói, tỉnh ngộ liền lật đật đi ra. Quách Thị liền kêu lại hỏi rằng: ”Bây giờ đã bắt lại được chưa?". Mã Cường đáp: “Bắt lại được rồi, nhưng có một mình Thái thú mà thôi, còn lão bộc đã trốn mất". Quách Thị nói: "Như vậy là khổ to rồi, tai họa sắp tới ngay. Nếu lão bộc đi báo rằng chúng ta bắt hại Thái thú, chừng ấy mới tính làm sao?”. Mã Cường nghe nói thất kinh không nghĩ ra mưu kế gì, than rằng: "Không xong rồi, gây vạ to rồi, thôi, đợi ta bàn luận với các vị mưu sĩ coi sao?". Nói đoạn, đi thẳng ra quán Chiêu Hiền đem chuyện ấy hỏi bọn hào kiệt. Trẩm Trọng Nguyên nghe hỏi mà vẫn làm thinh không nói một tiếng, chỉ có bọn đao báu lao nhao chộn nhộn đáp rằng: "Hễ có binh tới thời tướng ra đánh chơi cho biết mặt. Bây giờ nên đem Thái thú giết quách cho rồi, sáng ngày mà có binh triều tới đây, Viên ngoại để mặc chúng tôi. Nếu thắng được thời vinh diệu cho anh hùng, bằng chẳng thắng thời lui qua hợp với Tương Dương Vương mà xử sự". Mã Cường nghe nói khoái chí lắm, lập tức sai Mã Dũng vào nhà lao giết Nghê Thái thú rồi đem thây lấp xuống giếng sau vườn. Hắc Yêu Hồ Trí Hóa nghe lệnh truyền, vội vã xin đi giúp sức với Mã Dũng. Mã Dũng vui lòng cho đi.
Trí Hóa và Mã Dũng đi tới nhà lao, thấy có gia nô ở giữ bèn bảo rằng: "Viên ngoại sai chúng ta ra thế cho bay đi nghỉ". Lũ gia nô cả mừng bỏ đi tứ tán ráo. Trí Hóa liền mở cửa đi vào trước, Mã Dũng đi theo sau, Trí Hóa quay lại nói với Mã Dũng rằng: "Đưa dao đây!" Mã dũng liền rút dao đưa ra, Trí Hóa tiếp lấy đâm một mũi, Mã Dũng chết không kịp la.
Trí Hóa giết Mã Dũng rồi, bước vào nói với Nghê Thái thú rằng: "Xin ngài ở đây đợi tôi, một lát sẽ trở lại”, Nói đoạn kéo thây Mã Dũng ra sau vườn lấp xuống giếng rồi trở lại. Tới nơi thời Thái thú đã đi đâu mất. Trí Hóa nghi là Trẩm Trọng Nguyên ăn chặn đã cứu Thái thú đi trước, liền chạy riết lại quán Chiêu Hiền rình xem, vẫn thấy Mã Cường và Trẩm Trọng Nguyên còn ngồi đó, bèn trở ra khỏi nhà đứng lên chỗ cao, dòm khắp bốn phía thấy trước rừng cây có bóng người bèn bươn bả chạy tới, vừa tới nghe có tiếng kêu: "Ớ Trí hiền đệ? Có liệt huynh ở đây". Hắc Yêu Hồ nhìn lên thấy rõ là Bắc Hiệp thời cả mừng mà nói rằng: "Phải Âu Dương huynh đó chăng? Quan Thái thú bây giờ ở đâu?”. Bắc Hiệp liền đem Trí Hóa ra mắt Nghê Kế Tổ, rồi ba người định kế. Qua đêm sau tới canh hai sẽ bắt Mã Cường, cậy Trí Hóa làm nội ứng. Câu chuyện vừa dứt, liền nghe có tiếng ngựa chạy tới, tưởng là ai, té ra là Ngại Hổ lén trộm ngựa của Nghê Thái thú mà cưỡi tới. Trí Hóa dạy Ngại Hổ ra mắt Bắc Hiệp. Bắc Hiệp hỏi rằng: "Đứa trẻ này là ai?". Trí Hóa nói: "Vốn là đồ đệ của tiểu đệ đó". Bắc Hiệp nói: "Vậy thời thầy trò hiền đệ mau mau trở lại Bá vương trang, kẻo chúng hồ nghi, còn ta đưa Thái thú về phủ”. Nói đoạn chia đường ra đi.
Dọc đường Trí Hóa hỏi Ngại Hổ rằng: "Sao mi lại trộm ngựa đem tới đây làm gì?". Ngại Hổ đáp: "Lúc thầy đi với Mã Dũng thời tôi có đi theo, thấy thầy giết Mã Dũng thời tôi chắc là cứu Thái thú, nên lật đật trở lại trộm ngựa đem qua đây cho người, ai dè thầy với Thái thú đi mau quá". Trí Hóa nói: "Không, ta chưa cứu được Thái thú, thời bác Âu Dương của mày đã cứu người trước rồi". Ngại Hổ hỏi: "Cha chả! Tiếc thay! Làm sao xem mặt bác Âu Dương cho tường được? Tôi ái mộ bác lắm!". Trí Hóa nói: ”Tối mai bác Âu Dương mày còn trở lại nữa". Hai thầy trò vừa đi vừa nói chuyện tới hoa viên liền tách nhau, Trí Hóa vào quán Chiêu Hiền phục lệnh, nói dối rằng: “!Mã Dũng còn mắc đem thây Nghê Thái thú lấp xuống giếng nên đi trễ sau”.
Đây nói lại Bắc Hiệp đưa Nghê Thái thú về nhà, dọc đường thuật lại chuyện gặp Giáng Trinh và Nghê Trung, kế dòm lên thấy trời gần sáng mà cách phủ cũng chẳng bao xa Bắc Hiệp liền dặn Thái thú rằng: “ Tướng công xin nhớ chiều mai phái người tới miếu ôn Thần cách mé nam Bá Vương trang hai dặm hiệp lực cùng tôi bắt cho được Mã Cường. Bây giờ trời sáng rồi, tôi đưa tới phủ e có điều bất tiện. Nghê Thái thú nghe nói tuột xuống ngựa tạ ơn rồi cùng nhau từ giã.
Nghê Thái thú vào tới nhà, tên thư đồng là Dư Khánh dâng trà và thưa rằng: "Nghê Trung chưa thấy về". Kế Tổ buồn lắm. Một lát người hầu dâng đồ điểm tâm, Thái thú đương ăn, thấy Nghê Trung về tới, thuật lại lúc mình bị lạc đường, đi vào nhà Hạ Báo bị thuốc mê kế có người cứu, rồi sai đưa Châu Giáng Trinh về nhà Vương Phụng Sơn, lại gặp Cẩm Nương đã về đó, hai người ở chung với nhau. Vương Phụng Sơn có một trai, dáng người nho nhã, e ở nhà bất tiện nên sai lên phủ thăm Hoát Cửu Thành và ở lại hầu hạ. Nghê Thái thú nghe nói mừng rỡ lắm, sai người dọn cơm cho Nghê Trung ăn. Ăn uống xong, Nghê Thái thú nhớ lời Bắc Hiệp dặn, bèn cho đòi hai tên sai dịch là Vương Khải và Trương Hùng tới dạy rằng: "Hai ngươi phải lựa hai mươi tên lính mạnh mẽ dạn dĩ, giắt đao vào mình, chia nhau đi rải rác, đừng cho ai biết, tới tại miếu ôn Thần cách mé nam Bá Vương trang hai dặm, mai phục tại đó. Tới lúc đốt đèn có người to lớn mắt xanh râu đỏ tới, thời chúng bay phải nghe theo lời người ấy điều khiển, nếu có đứa nào trái lệnh thời cứ phạt hai ngươi mà thôi, phải cẩn thận cho lắm, việc này rất bí mật đừng để hở ra”. Vương Khải và Trương Hùng vâng lệnh thi hành.
Nói về Mã Cường nghe lời bọn côn đồ sai Mã Dũng và Hắc yêu hồ giết Nghêu Thái thú rồi, sao không thấy Mã Dũng trở về, nghĩ chắc là Thái thú đã chết, còn Mã Dũng sợ tội nên trốn đi. Nghĩ quá sợ, lát rồi phát rồ, lật đật sai gia đinh bày tiệc rượu cùng bọn môn hạ đánh chén để khuây đi. Nhưng anh hùng không mật như Mã Cường này làm sao yên lòng được.
0
Hồi Thứ Bảy Mươi Lăm [/align]

Cắt trướng điều, Bắc Hiệp bắt đứa dữ,
So Ngọc Liên, Thái thú kết duyên lành.
 
Mã Cường trọn ngày đó kinh sợ chẳng an, tới chiều không thấy động tĩnh gì, liền truyền gia bộc dọn tiệc cùng với bọn môn hạ đánh chén nữa. Ai nấy đều có vẻ vui cười vô sự, chỉ có Trí Hóa biết trước sự cơ rồi, nhưng không hề nhạy miệng, còn Trẩm Trọng Nguyên cũng rõ nên giả đau bụng, bỏ tiệc qua nằm một bên. Mã Cường không hề để ý tới, chén to chén nhỏ, chén vơi chén đầy, uống cho say đến lã rồi, mới lò mò vào phòng Quách Thị, chuyện trò vơ vẩn đến đầu canh hai. Vợ chồng sửa soạn vào trướng yên nghỉ, thấy ngoài rèm bước vào một người to lớn, tay cầm gươm bén sáng quắc lạnh mình. Vợ chồng Mã Cường hồn xiêu phách tán, sụp xuống đất lạy lia, miệng xin dung mạng, Bắc Hiệp liền xé vải màn trước trói vợ chồng Mã Cường lại rồi bịt miệng bỏ đó, đi vòng ra ngoài hoa viên vỗ tay ba tiếng.
Ba tiếng vỗ tay vừa dứt thời 20 tên Khoái đầu và Vương Khải, Trương Hùng liền vâng lệnh, theo Bắc Hiệp vào phòng ngủ của Mã Cường. Bắc Hiệp dặn dò chúng nó gìn giữ ác phạm, còn mình thời trở ra đánh đuổi lũ côn đồ. Dặn vừa dứt tiếng xảy nghe phía trước có tiếng người kéo tới. Đó là bọn của Tuần thủ đại thánh Đặng Xa và Bệnh Thái Tuế Trương Hoa đương ở lại quán Chiêu Hiền, thấy con hầu ra báo rằng vợ chồng Viên ngoại bị bắt, nên lật đật dẫn lũ chồn chuột vào tiếp cứu.
Bắc Hiệp thấy vậy nhảy tới đón lại, Đặng Xa liền thò tay vào túi móc đạn ra bắt một phát, Bắc Hiệp huơ đao đỡ ngược lai, đạn ấy văng trúng vào đầu một đứa trong bọn của Đặng Xa. Đặng Xa cả giận giường cung bắn mãi, hễ đạn bay vừa tới thời Bắc Hiệp đỡ. Cứ nghe một cái rẻng thời bọn của Đặng Xa có một người bị thương. Trương Hoa thấy Bắc Hiệp có một mình nên coi thường, múa đao xốc tới chém. Bắc Hiệp đã đề phòng trước rồi, nên lưỡi đao của Trương Hoa vừa tới thời đưa bảo đao ra đỡ một cái thật mạnh, đao của Trương Hoa bay mất nửa ngọn, còn lại cái đuôi trơ trơ. Chúng thấy thế không xong la lên một tiếng, rút nhau trở lại quán Chiêu Hiền đóng cửa trốn. Lúc ấy thầy trò Trí Hóa đã chuẩn bị hành lý xong xuôi, cùng nhảy lên mái nhà đứng xem trận thế, thấy bọn Đặng Xa bại rồi bèn nhảy xuống ra mắt Bắc Hiệp và hỏi:. "Đã bắt được Mã Cường chưa?". Bắc Hiệp đáp: "Đã bắt được cả hai vợ chồng". Trí Hóa nói: "Quách Thị chẳng tội gì, dung cho nó, chỉ giải một mình Mã Cường xuống phủ mà thôi". Bắc Hiệp khen phải, sai Vương Khải và Trương Hùng sửa soạn giải Mã Cường về phủ. Trí Hóa chạy đi kiếm Giao Thành bảo đem một con ngựa cho Viên ngoại cưỡi. Giao Thành chẳng dám cãi, đem ngựa ra để Mã Cường cưỡi đi, Bắc Hiệp và Trí Hóa sai Ngại Hổ quảy đồ hành lý cùng bọn sai dịch đi khỏi Bá Vương trang bấy giờ đã canh năm rồi.
Đi đọc đường, Bắc Hiệp thấy Ngại Hổ còn nhỏ mà có chí khí anh hùng, nói năng lanh lợi thời mến lắm, nên trò chuyện với nó, nhân hỏi tới nhà cửa cha mẹ, mới hay Ngại Hổ mồ côi lại không bà con nương tựa. Bắc Hiệp động lòng thương, bèn hỏi rằng: "Nay ta thấy mi cô đơn như vậy, ý ta muốn thâu mi làm nghĩa tử mi có bằng lòng chăng?". Ngại Hổ mừng rỡ đáp rằng: "Nếu tôi được đi theo một người anh hùng hào hiệp thời còn chi may bằng". Nói đoạn xin Bắc Hiệp và Trí Hóa dừng bước rồi để gói hành lý xuống, trước lạy cha nuôi sau lạy thầy, coi bộ vui mừng lắm.
Bây giờ trời sáng, mà cách phủ chẳng bao xa, Bắc Hiệp giao Mã Cường cho bọn sai dịch, rồi quay lại hỏi Trí Hóa rằng: "Bây giờ thầy trò hiền đệ tính đi đâu?". Trí Hóa đáp: "Đệ tính qua phủ Tùng Giang vào thôn Mạc Hoa". Bắc Hiệp nói: "Nếu hiền đệ có tới anh em họ Đinh, nói liệt huynh xin có lời thăm bác và Song Hiệp nhé". Trí Hóa nói: "Sao Âu Dương huynh không đi cho vui?". Bắc Hiệp nói: "Liệt huynh mới ở bên qua đây tính xem phong cảnh Khánh Châu, ai dè gặp việc này, vậy phải ở lại ít lâu nữa, trừ cho xong bọn côn đồ tại quán Chiêu Hiền và chờ xong án này, rồi thưởng ngoạn các nơi danh thắng mới chẳng uổng công xa xôi lặn lội". Nói đoạn cùng nhau từ giã, Ngại Hổ không nỡ chia tay, đôi giọt nước mắt đằm đằm, nghĩa mới mà tình sâu.
Nói về lũ côn đồ trốn trong quán chiêu hiền, khi nghe êm lặng rồi mới dám đốt đèn lên, kiểm điểm nội bọn lại thời không thấy Trí Hóa và Ngại Hổ, chúng nó bèn bàn với nhau phải làm như vầy... như vầy... Đoạn nhất tề kéo nhau lên nhà trên ó lớn rằng: “Chúng ta là một bọn với Bắc Hiệp, theo công sai tới đây, vì Mã Cường nay hãm hại dân gian độc ác mà giàu có, nên chúng ta đoạt cả của tiền, phá tan nhà cửa để trả hận". Nói dứt lời áp vào phá rương bửa tủ, lấy bạc vàng rồi đi tứ tán.
Quách Thị bấy giờ nhờ con hầu cởi trói vào ngủ trong mùng, nghe cuộc biến động như vậy, không dám cục cựa chờ chúng nó đi rồi mới ló cổ ra, kêu liễu hoàn, bộc phụ tựu lại tra điểm tiền bạc rồi dạy Giao Thành lập tờ cớ, làm biên trình cáo với quan huyện, kèm tội cả cho Bắc Hiệp. Lại e tội chồng khó gỡ, nên lén viết thư cầu cứu với chú là Mã Triêu Hiền, phái Giao Thành đem thư ấy lên kinh.
Bây giờ nói qua Vương Khải và Trương Hùng giải Mã Cường về phủ, Nghê Thái thú vội vã thăng đường hỏi rằng: “Sao mi dám giả mạo tờ giấy vu cáo cho Cửu Thành và Hoán Chương mắc nợ, làm ngang bắt hiếp con gái nhà người?”. Mã Cường đáp: "Nguyên hai người ấy quả có thiếu nợ, và chịu thế con cho tôi, chớ thật không có bắt hiếp ai ráo". Nghê Thái thú lại hỏi: “Còn việc sai gạt bắt ta là ý gì?". Mã Cường đáp: "Quan lớn là bậc tứ phẩm huỳnh đường, có tới nhà tiểu nhân bao giờ đâu?". Thái thú giận lắm tra khảo đôi ba lần nó cũng chẳng khai, thậm chí sai đánh bốn chục hèo, cũng một mức chối. Sau đem Cửu Thành và Hoán Chương ra đối chất, nó cũng nói là hai người ấy thiếu nợ bằng lòng thế con. Đương còn tra khảo, chợt thấy dưới huyện chuyển lên một tờ trình báo, trong ấy nói nhà Mã Cường bị cướp, chính trộm là Bắc Hiệp đem sai dịch tới cướp đoạt rất nhiều tài vật, luôn có kẹp tờ cáo theo. Thái thú xem xong tỏ ý không vui truyền giam đỡ Mã Cường vào ngục, cho Hoát Cửu Thành về nhà, còn Hoán Chương thời cầm ở lại nha, rồi trở vào thư phòng cho đòi Vương Khai, Trương Hùng tới hỏi rằng: "Hai người làm sao bắt được Mã Cường?". Vương, Trương hai người bèn thuật rõ đầu đuôi cho Thái thú nghe. Nghê Thái thú lại hỏi: "Còn những tài vật trong nhà nó, người có động tới món gì không?". Vương Khải và Trương Hùng thưa: “Chúng tôi làm việc quan đã lâu rồi, chẳng hề dám sai phép dầu một cây củi, một miếng giấy trong nhà cũng không động tới".
Nghê Thái thú nghe xong, truyền cho Vương Khải và Trượng Hùng đi tra xét việc đó. Hai người vâng mệnh ra đi.
0
Hồi Thứ Bảy Mươi Sáu [/align]

Nghê Thái thú giải chức về kinh sư,
Bạch hộ vệ cải trang gặp hiệp khách.
 
Nghê Thái thú lại sai Nghê Trung mời Châu Hoán Chương vào thư phòng, dùng lễ tân khách mà đãi. Thái thú bèn đưa nhành Bạch Ngọc liên hoa ra cho Hoán Chương xem, Châu Hoán Chương thấy vậy động lòng lệ rơi tầm tã. Nghê Trung bèn thuật việc Châu Giáng Trinh thoát khỏi nạn về đã ở tại nhà Vương Phụng Sơn cho Hoán Chương nghe. Hoán Chương liền đổi buồn làm vui. Thái thú bèn hỏi tới nguyên do nhành Bạch Ngọc liên hoa ấy. Châu Hoán Chương thuật răng: "Việc ấy đã trải qua hai mươi năm rồi. Lúc đó tôi còn ở huyện Nghi Trung, nhà mở cửa sau ra mé sông Dương Tử, ngày nọ thấy trôi tới một cái thây người đàn ông ước ba mươi tuổi, bèn động lòng thương, vớt lên dùng hòm rương liệm chôn làm nghĩa. Ai dè lúc sửa áo vuốt quần cho cái thây, đụng nhằm một vật tức là Bạch Ngọc liên hoa đó. Vì muốn sau này con cháu người vô phước ấy dễ nhìn thấy tìm cất, nên tôi giao cho vợ tôi giữ làm của tin, sau vợ tôi bất hạnh qua đời, con tôi yêu quý vật ấy đeo liền vào mình không hề rời một phút". Nghê Thái thú nghe những lời ấy gan như nát, ruột tự đâm, nước mắt tuôn như mưa. Nghê Trung khuyên rằng: "Tướng công chớ khóc hãy lấy của mình ra đọ coi sao?". Nghê Thái thú liền móc trong túi ra một nhành Bạch Ngọc liên hoa khác để hai nhành lại gần nhau, xem ánh sắc giống hệt, ráp lại thời thành một đóa liên hoa, Nghê Thái thú không cầm lòng được bèn khóc rống lên, Châu Hoán Chương sửng sốt, kế Nghê Trung đem cả nguyên do ngọc ấy kể rõ từ đầu tới Đuôi. Hoán Chương nghe rõ khuyên rằng: "Xin Thái thú chớ sầu, bây giờ hài cốt tiên phụ tử đã có nơi yên ổn, trước rủi mà sau may, xin ngài đừng khóc lóc nữa". Nghê Thái thú gạt lệ cảm tạ ơn Hoán Chương chôn cất cha mình, rồi giữ ở tại nhà đài đằng rất hậu.
Nghê Trung thỉnh thoảng nhắc tới ơn Hoán Chương chôn cất Nghê Nhân (cha Nghê Thái thú bị trôi sông), ơn Giáng Trinh giải cứu thầy trò tại Bá Vương trang và giữ gìn báu vật, khuyên Nghê Thái thú gá duyên mà báo nghĩa. Nghê Thái thú cũng sẵn ý ấy cậy Phụng Sơn làm mai, tỏ cho Châu Hoán Chương biết, Hoán Chương vui lòng. Vương Phụng Sơn lại cậy Nghê Trung làm mai nói với Cửu Thành cưới Cẩm Nương cho con mình. Hoát Cửu Thành cũng ưng chịu.
Một thời gian sau Nghê Thái thú sai Nghê Trung cầm nhành Bạch Ngọc liên hoa về am Bạch Y bẩm lại với mẹ mình là Lý Thị hay rằng: "Điều thứ nhất đã được đỗ quan, điều thứ hai, tìm được ngọc liên hoa rồi, và rước luôn gia quyến”.
Nghê Trung về rước gia quyến, sau này thêm nhiều nỗi rắc rối nữa. Vốn có văn thư trên kinh gửi xuống, nói Thái thú Nghê Kế Tổ trái hại lương dân, liên kết với trộm cướp, buộc phải giải chức về kinh, còn Mã Cường thời giao cho Đại Lý tự tra xét. Nghê Thái thú lập tức phụng chỉ, phái sai dịch giải Mã Cường về kinh, còn mình giao ấn tín cho quan úy thự, rồi ôm những cáo trạng của chúng dân cáo Mã Cường và dắt theo hai vị trưởng ban.
Khi tới kinh, Văn đại nhân nghe nói đương sự án ấy đã tới liền thăng đường, đem Mã Cường ra hỏi. Mã Cường đã được tin của Mã Triêu Hiền dặn trước, nên chỉ khai là Nghê Kế Tổ chẳng lo việc, tàn hại bá tính, liên kết với trộm cướp đánh bật nhà mình, hiện có tờ cáo và tờ trình của quan huyện làm bằng. Văn đại nhân nghe xong cho Mã Cường lui xuống, mời Nghê Thái thú ra hỏi đầu đuôi tự sự, rồi cho nghỉ ngơi. Đoạn xem các trạng cáo của Mã Cường một lượt, đoạn đòi Mã Cường lên hỏi nữa, nhưng nó chẳng nhận lỗi chỉ đổ cho Thái thú kết bè hiệp đảng với Bắc Hiệp mà cướp phá nhà mình. Văn đại nhân không rõ chân giả thế nào, phải mời Thái thú ra hỏi coi Bắc Hiệp là ai? Thái thú đáp: "Bắc Hiệp tên là Âu Dương Xuân, vì hay chuộng nghĩa, cứu nạn, nên người xưng là Bấc Hiệp cũng như Triển hộ vệ có hiệu là Nam Hiệp vậy". Văn đại nhân nói: "Như vậy thời quyết chắc là Bắc Hiệp chẳng phải là kẻ cướp giật. Nếu muốn cho minh án này phải mời người ấy ra mới được. Vậy Thái thú cho biết người ấy bây giờ ở đâu chăng?". Nghê Thái thú đáp: "Hiện nay còn ở tại Khánh Châu”. Văn Ngạn Bắc nghe xong tạm giam Nghê Thái thú tại miếu Ngục Thân, cho người hầu đãi tử tế.
Qua ngày sau Văn đại nhân viết sớ bày tỏ tình án ấy dâng lên Thiên tử, Thánh thượng bèn hạ chỉ phái tứ phẩm hộ vệ Bạch Ngọc Đường tầm nã Âu Dương Xuân về kinh phục án.
Cẩm Mao Thử vâng chỉ, vào thư phòng trình với Bao Công, rồi ra công sở dự tiệc tiễn hành của các vị hào kiệt. Trong khi uống rượu Tưởng Bình dặn Bạch Ngọc Đường rằng: "Ngũ đệ có qua Khánh Châu, trước nên ra mắt quan Thái thú tỏ việc của em, rồi cậy người ra cáo thị liền tỏ đầu đuôi các việc, dưới ký tên em. Tuy và phụng chỉ đến xin ra mắt mà về kinh, chừng ấy em lấy tình nghĩa cảm hóa người. Nếu chẳng vậy, chắc Bắc Hiệp chẳng chịu về kinh mà lại sinh thêm nhiều điều rắc rối". Bạch Ngọc Đường nghe dặn trong bụng chê Tưởng Bình là hèn nhát, song ngoài miệng giả bộ vâng lời. Tiệc xong Bạch Ngọc Đường sai bạn là Bạch Phúc sửa soạn hành lý rồi từ giã các vị anh hùng mà qua Khánh Châu.
Khi tới nơi Ngọc Đường mướn nơi trọ, không thể làm theo lời Tưởng Bình dặn, mỗi ngày sai Bạch Phúc đi khắp chợ búa đường sá dò la, như vậy ba bốn ngày không thấy tin tức gì. Ngọc Đường thay hình, giả dạng làm một vị tú tài, đầu đội khăn be, mình mặc áo hoa, chân đi giày đỏ, tay cầm quạt kim tráp, đi ra khỏi chỗ ngụ vừa đi vừa quạt, không định đi đâu, hai chân bước mãi. Đi đến một tiệm trà nọ, tên là phường Ngọc Lan, vốn là hoa viên của quan hoạn, Bạch Ngọc Đường liền đi thẳng vào trong, thấy nào là đình lạ, cầu nhỏ, lại thêm cây cối um sùm, cỏ hoa đầy dẫy, thật là đẹp mắt vô cùng. Bạch Ngọc Đường liền kêu một bình trà ngồi tại một ngôi đình rót uống, vừa nhâm nhi ít chén, bỗng trời mưa như xối, những khách ngoạn thưởng tại đó đều về hết rồi. Ngọc Đường thấy mưa càng lâu càng to, trời lại gần tối, bèn trả tiền rồi dầm mưa trở về. Đi khỏi nơi uống trà ít dặm đường sá lầy bùn, mưa như đổ nước, không thể đi được nữa. Thấy bên đường có một tòa miếu võ, liền vào cửa đứng trú mưa, ngước đầu ngó lên thấy một tấm biển đề: Tuệ Hải Diệu Liên am, ngó xuống đôi giày đã lấm tèm lem liền cởi ra. Đương cởi giầy thì thấy một gã tiểu đồng tay bưng bút nghiên, miệng kêu: "Tướng công, Tướng công". Rồi đi thẳng qua mé đông. Bỗng trong am có một cô vãi mở cửa ra nói: "Tướng công của mi ở trong này”. Tiểu đồng không nghe cứ đi thẳng, cô vãi liền khép cửa đi vào. Bạch Ngọc Đường thấy quang cảnh như vậy lấy làm lạ nghĩ rằng: "Sao tướng công nó ở trong am, mà kêu nó không vào, lại có ai không dám kêu lớn tiếng, chắc là có điều chi ám muội đây, vậy ta phải vào xem sao?". Nghĩ đoạn bỏ đôi giày trên thềm cất mình nhảy vào đầu tường tuột vào mé trong, thấy một cô vãi tay bưng mâm vuông đựng đồ ăn bốc hơi nghi ngút, và một tay xách bình rượu, đi tới cửa ngách lần theo bức tường rồi đi qua một cái cửa khác. Ngọc Đường liền rón rén đi theo, tới nơi đứng núp ngoài cửa, nghe trong phòng có tiếng nói: "Bây giờ cũng đã tối rồi, mời tướng công dùng bữa rồi yên nghỉ giây lát. Lại nghe có tiếng con trai nói: "Ta chẳng thèm dùng rượu thịt của mi đâu. Bụng chúng bay thế nào mà bắt ta không cho về, đó là phép tắc gì vậy? Mà sao lại đeo khít mình ta, không chịu nói ra vậy?". Rồi lại có tiếng con gái nói: “Tướng công chớ nên cố chấp, đây rõ là lương duyên trời định mà". Người con trai nạt rằng: "Bây chớ nói xàm như vậy". Bạch Ngọc Đường rình nghe thấy vậy nghĩ thầm rằng: "Người ấy dầu có từ cũng khó được". Kế lại nghe tiếng cô vãi mời: "Xin tướng công dùng chén rượu này". Người con trai không đáp, hất chén rượu xuống đất. Cô vãi cả giận mắng rằng: "Ta đã lấy lòng tốt mà đãi mi, sao mi không biết điều như vậy. Ta nói cho mà biết, dẫu thế nào cũng chẳng ra khỏi đây đâu! Bên kia có người bệnh gần chết cũng như mi vậy". Người con trai nghe nói thất kinh, kêu cứu ầm lên.
Bạch Ngọc Đường liền vén rèm bước vào xô hai cô vãi đứng ra hai bên, rồi nói với người trai nọ rằng: "Có tôi tới đây, tôn huynh yên dạ". Người trai nọ nói: "Lũ này thật là vô Phật vô kinh, làm nhiều điều xấu xa quá". Bạch Ngọc Đường nói: "Như vậy thì hại gì, người sinh ở đời mà thật có tình, thời tôn huynh câu nệ làm chi nữa? Dám hỏi tôn huynh tên họ là chi?". Người trai nọ đáp: "Tiểu đệ họ Thang tên là Mộng Lang, người thôn Thanh Diếp phủ Dương Châu, vì đi thăm bà con, ở lại làng phía trước, nay nhân thư thả muốn tới phường Ngọc Lan xem cảnh và đề vịnh chơi. Vì quên đem nghiên bút nên sai tiểu đồng trở về lấy, kế bị trời mưa, tôi phải vào trú tại đây. Ban đầu bọn này còn lấy lễ nghĩa tiếp đãi, sau lại đem những gì là mây mưa, hoa nguyệt quyến rũ, thật nhiều lời nhơ nhuốc, lắm giọng lẳng lơ, không miệng nào thuật lại được”. Bạch Ngọc Đường nghe dứt, liền nói: "Như vậy thời tôn huynh lỗi lắm”. Thang Mộng Lang hỏi: ”Tôi lỗi làm sao?". Ngọc Đường nói: "Chúng ta là kẻ học trò chấp kinh cũng phải tòng quyền, phải tùy cảnh ngộ cho yên chớ”. Thang Mộng Lang lắc đầu rằng: "Ôi! Thế nào tôi cũng quyết chẳng nghe lời quấy". Ai dè hai cô vãi đứng bên thấy Ngọc Đường đẹp trai, trẻ trung, nên bao nhiêu tà tâm tình bây giờ trút vào Ngọc Đường. Cô vãi lớn, tuổi lối ba mươi, tay cầm chén, tay bưng bình rượu lại trước mặt Ngọc Đường rót đầy một chén dâng lên mà nói rằng: "Mời tình lang dùng chén rượu hợp hoan!”. Ngọc Đường lật đật cất chén uống cạn. Cô nhỏ tuổi hơn cũng rót một chén bưng lại thưa rằng: "Tướng công đã uống của sư tỷ lẽ nào lại từ chối của tôi cho đành". Ngọc Đường cũng tiếp lấy uống cạn, rồi hỏi tên họ hai cô vãi, thời người lớn là Minh Tâm, nàng nhỏ là Tuệ Tính. Ngọc Đường biết tên cả hai rồi, bèn nói: "Minh Tâm, Minh Tâm, tâm chẳng minh thời mê. Tuệ Tính, Tuệ tính, tính chẳng tuệ thời hôn, hai người hôn hôn mê mê, bắt đầu tự lúc nào?". Hỏi đoạn nắm mỗi cô một tay, quay lại hỏi Thang Sinh rằng: "Tôi phê như vậy có đúng hay không?". Thang Mộng Lang đáp: "Đừng hỏi đệ làm gì, đệ coi bộ huynh cũng đã hôn mê rồi đó". Nói dứt lời, nghe hai cô vãi kêu đau tay, xin buông ra, Ngọc Đường không buông, trợn mắt hét rằng: "Ta hỏi chúng bây, vậy chớ gạt người vào đường bậy bạ, tội đáng bực nào? Chúng bay hãm hại bao nhiêu người rồi, trong am cả thảy có mấy đứa như bay, hử?". Hai cô vãi quỳ xuống thưa rằng: ”Trong am chỉ có hai tôi với hai bà lão và một trò nhỏ, chúng tôi không hề hại tính mạng ai. Sau nhà có cậu Châu Sinh, tự bởi mình nên mang lấy chứng bệnh liệt nhược". Nói rồi kêu đau, khóc lóc thảm thương. Thang Sinh thấy vậy động lòng, nói với hai cô vãi rằng: "Nếu chúng bay muốn khỏi hại, phải hỏi thăm nhà cửa của Châu Sinh, cho người đưa tin tới bảo người nhà tới rước về". Hai cô vãi dạ dạ vâng lời. Bạch Ngọc Đường lại nói: "Nếu sau này ta hay bọn mi chẳng vâng lời, ta sẽ tới đây giết cả lũ”. Nói đoạn buông tay ra, hai cô vãi cả mừng chạy riết ra sau trốn mất.
Bây giờ Thang Mộng Lang mới có lòng kính phục Ngọc Đường, bước tới nắm tay khen ngợi. Chợt thấy bức rèm vén lên, có một người to lớn bước vào, theo sau là một tiểu đồng xách đôi giày. Người to lớn hỏi tiểu đồng rằng: ”Phải tướng công mi là người này không?". Thang Sinh hỏi: "Sao ngài lại tới đây tìm tôi, nếu không có vị này cứu, ắt là khốn ta". Người to lớn ấy nói: "Thôi hai thầy trò ngài mau mau trở về đi". Thang Sinh chưa kịp đáp, thấy tiểu đồng đưa đôi giày thời lấy làm lạ không rõ là giày của ai. Đến chừng dòm lại thấy Ngọc Đường chân đi tất, liền trao lại cho Ngọc Đường mang vào.
0
Hồi Thứ Bảy Mươi Bảy [/align]

Tử Nhiêm Bá tài cao, phục được Ngũ Thử
Bạch Ngọc Đường thế kém, chịu sút song hùng.
 
Thầy trò Thang Mộng Lang từ giã ra về, Ngọc Đường bèn bước tới nắm tay người to lớn chào rằng: "Chào tôn huynh”. Người to lớn nọ vội vàng đáp lễ rồi hỏi: "Chẳng hay tôn danh của huynh là gì?”. Bạch Ngọc Đường đáp: "Tiểu đệ họ Bạch tên Ngọc Đường". Người to lớn nói: "Có phải Ngọc Đường đại náo Đông Kinh đó không?". Ngọc Đường đáp: "Phải, Cẩm Mao Thử là tôi, còn tôn huynh quý hiệu là gì?". Người to lớn đáp: "Tôi là Âu Dương Xuân đây!”. Ngọc Đường nói: "Nói vậy thời túc hạ là Bắc Hiệp Tử Nhiêm Bá sao? Dám hỏi túc hạ tới đây có việc gì?". Bắc Hiệp đáp: "Nhân đi qua am này thấy tiểu đồng kêu khóc, hỏi ra mới hay nó bị lạc chủ, vì vậy dừng bước vào đây, thấy Ngũ đệ đứng rình, kế Ngũ đệ vào chuyện trò và phát lạc hai cô vãi, nên ta trở ra đem tiểu đồng vào cho chủ tớ gặp nhau”. Ngọc Đường nghe nói nghĩ thầm rằng:"Y nói đứng rình lâu lắm, sao ta không hay! Ta vẫn đi tìm y, nay gặp đây không bắt còn đợi chừng nào. Ủa mà không tiện, chỗ này chật hẹp, chi bằng gạt ra ngoài cũng chẳng muộn gì". Nghĩ đoạn bèn nói với Bắc Hiệp rằng: "Nơi đây chẳng tiện cho chúng ta chuyện vãn, vậy xin mời về nhà trọ sẽ cùng nhau bày tỏ tâm sự". Bắc Hiệp nói: "Vậy thời càng hay”.
Hai người liền cùng nhau ra khỏi am Tuệ Hải Diệu Liên, bây giờ mưa tạnh trời trong, sao dày trăng tỏ Bắc Hiệp hỏi rằng: ”Ngũ đệ tới Khánh Châu có việc gì?". Ngọc Đường nói: "Vì túc hạ mà tới đây". Bắc Hiệp dừng bước lại hỏi rằng: "Vì liệt huynh chuyện gì? " Ngọc Đường bèn đem chuyện Nghê Thái thú và Mã Cường cung khai tại Đại Lý Ti và mình vâng chỉ thế nào thuật lại. Bắc Hiệp nghe Ngọc Đường nói có hơi kiêu căng, liền nói: "Nói vậy ngũ đệ là khâm mạng hộ vệ đây mà. Vậy xin tha lỗi cho Âu Dương Xuân nhé! Chẳng may khâm mạng lão gia tính cho Âu Dương Xuân này phải về kinh hay thế nào, xin dạy cho biết?”. Bắc Hiệp nói như vậy là có ý dò coi Ngọc Đường có biết cách giao tình hay không? Nếu thật là người biết phải, thời cùng nhau bàn tính thiệt hơn ắt chuyện được ổn thỏa. Chẳng dè Bạch Ngọc Đường quen tính kiêu ngạo, ỷ mình có võ nghệ, coi trước mắt không người nên đáp rằng: "Đây là phụng chỉ quân vương, ắt phải bắt túc hạ theo Bạch mỗ về kinh chớ sao!”. Âu Dương Xuân cười lạt rằng: "Tử Nhiêm Bá đường đường nam tử như vầy mà đi theo Ngũ đệ về kinh, há chẳng để tiếng cười cho thiên hạ sao? Xin nghĩ lại cho". Ngọc Đường nghe nói chẳng phân khinh trọng, nổi nóng nói lớn rằng: “Phỏng như lời túc hạ nói, thời thật chẳng vâng lệnh hay sao? Thôi có giỏi thời thử tài cho biết ai cao ai thấp". Bắc Hiệp cười rằng: "Xin nghe lời lão gia dạy bảo". Ngọc Đường liền cởi áo, lột giày, mở khăn, nhảy ra thủ thế, Bắc Hiệp đứng vỗ tay cười ngất. Ngọc Đường thấy vậy lại càng giận nhảy tới tay đánh chân đá, Bắc Hiệp nghĩ thầm rằng: "Mình đã nhịn nó, nó lại thách mình, thôi đá vậy phải chơi cho nó biết mặt”. Nghĩ đoạn nhìn lên thấy Ngọc Đường đánh tới bèn né tránh. Ngọc Đường liền dùng thế hồi mã, Bắc Hiệp giả đò nhảy lên, Ngọc Đường thấy Bắc Hiệp nhảy thời cả mừng đánh trái lại. Bắc Hiệp lại né qua giơ hai ngón tay bắt vào hông sườn một cái, Ngọc Đường tê điếng cả mình thở muốn không ra hơi, mắt toé đom đóm, gân mạch run cả. Bắc Hiệp sợ làm thẳng tay e Ngọc Đường bị bệnh, bèn đánh sau lưng một cái rồi buông ra, lại xin lỗi rằng: "Liệt huynh lỡ tay, xin Ngũ đệ thứ lỗi” Ngọc Đường không đáp, bỏ đi thẳng.
Ngọc Đường về tới chỗ trọ, nhảy tường vào, sai Bạch Phúc đi nấu nước trà, còn mình nằm sải tay trên giường nghĩ rằng: "Thôi rồi Cẩm Mao Thử, mặt mũi nào mà về Đông Kinh, ăn năn đã muộn, phải chi theo lời Tứ ca thời đâu có nên nông nỗi này?". Nghĩ đoạn mở dây lưng, leo lên ghế buộc vào xà nhà làm vòng, xong xuôi đút đầu vào tự vẫn. Ai dè vừa cho đầu vào thời vòng lại tuột ra như vậy đôi ba lần. Ngọc Đường nghĩ rằng: "Hay là ta chưa tới số chết nơi đây sao?". Nghĩ tới đây bỗng có người vỗ vai nói rằng: "Ngũ đệ so tính dở lắm vậy?". Ngọc Đường quay đầu ngó lại thấy Bắc Hiệp tay cầm áo hoa, tay xách giày và khăn của mình, thời giật mình nói thầm rằng: "Quái lạ, y tới đây hồi nào mà ta không hay, thật nghề y hơn ta nhiều lắm".
Nguyên Bắc Hiệp thấy Ngọc Đường líu ríu đi về, e anh ta nóng trí nghĩ bậy, nên lật đật ôm áo, khăn, giày, lén lén đi theo. Tới cửa phòng nghe Ngọc Đường sai Bạch Phúc nấu nước, kế thấy bắc ghế buộc vòng, bèn lừa vào đứng sau lưng lâu lắm mà Ngọc Đường không hay.
Bắc Hiệp để gói đồ xuống, bước lại mở dây kéo Ngọc Đường rồi hỏi rằng: "Ngũ đệ muốn bắt thường mạng với liệt huynh sao? Nếu Ngũ đệ chết thời liệt huynh cũng chết với một lượt". Ngọc Đường nói: "Túc hạ nói vậy là nghĩa làm sao?”. Bắc Hiệp nói: "Nếu Ngũ đệ nghĩ quấy rồi tự vẫn thời liệt huynh há ở êm được với bốn anh em của Ngũ đệ sao? Mà Nam Hiệp cũng không còn để cho liệt huynh thong thả được. Lại còn mặt mũi nào ngó các bạn tại phủ Khai Phong nữa. Tốt hơn là chết theo Ngũ đệ cho xong". Ngọc Đường nghe nói làm thinh, Bắc Hiệp nghĩ một hồi rồi nói: "Chuyện vừa rồi, ngũ đệ chớ chấp làm chi, đó chẳng qua là giỡn với nhau thôi, có gì mà phải bỏ một đời xuân xanh như vậy. Ngũ đệ ơi? Vì chút vinh diệu mà Ngũ đệ muốn chôn bùn liệt huynh hay sao? Nay có một cách này, là phải làm thế nào cho anh em Đinh song hiệp chịu xuất đầu, giúp nước giúp vua, cùng với liệt huynh về kinh. Làm như vậy Ngũ đệ khỏi mang tiếng bất tài, mà liệt huynh cũng khỏi chịu điều bị bắt, ý Ngũ đệ nghĩ sao?". Bạch Ngọc Đường nghe nói mừng rỡ nhận lời và xin sẽ tới thôn Mạc Hoa toan liệu, Bắc Hiệp từ giã ra đi.
Bấy giờ Bạch Phúc châm trà bưng lên, Ngọc Đường bảo rót một chén, nhưng chưa uống, sai Bạch Phúc đốt đèn lồng ra cửa nhà trọ đợi mình. Đoạn ôm áo khăn, giày, quạt nhảy tường đi ra chỗ vắng, mặc vào y dáng tú tài rồi trở lại. Chủ nhà trọ thấy vậy hỏi: "Tướng công đi đâu bây giờ mới về?”. Ngọc Đường đáp: “Vì gặp bạn quen giữ lại đãi đằng cơm nước nên về trễ". Bạch Phúc liền xách đèn đi trước. Ngọc Đường theo sau vào phòng, thời chén nước còn nóng, liền bưng uống cạn, rồi thay áo quần, ăn cơm, lại dặn Bạch Phúc sửa soạn hành lý, tới canh năm đi qua phủ Tòng Giang thôn Mạc Hoa.
Khi tới nơi, Ngọc Đường sai Bạch Phúc vào bẩm trước, còn mình thì thủng thẳng đi sau. Vừa tới cửa đã thấy trang đinh sắp hàng và anh em họ Đinh ra rước, mời thẳng vào nhà khách, phân ngôi chủ khách cùng ngồi. Bạch Ngọc Đường xin vào ra mắt Đinh thái thái rồi mới trở lại trà nước và bày nỗi hàn huyên, chuyện vãn vui cười, hai anh em họ Đinh kiếm chuyện ghẹo Ngọc Đường một hồi rồi sai gia đinh bày tiệc cùng nhau ăn uống.
Rượu được vài tuần, Đinh Triệu Lang hỏi Ngọc Đường rằng: "Ngũ đệ đi chuyến này có việc quan hay là việc riêng?". Ngọc Đường đáp: “Chẳng giấu chi hai anh, vốn là việc quan, song nhờ hai anh mới xong được". Triệu Huệ hỏi: "Đã là việc quan sao còn cậy anh em tôi?". Ngọc Đường đáp: "Nhân vì án của Nghê Thái thú và Mã Cường trong đó có kẹp Bắc Hiệp vào, nên Thánh chỉ sai đi tầm nã". Triệu Lang nói: “Vậy đã có gặp nhau chưa?". Ngọc Đường bèn thuật những lời Tưởng Bình dặn, mà mình không nghe, đến nỗi phải đọ tài cao thấp với Bắc Hiệp ra sao, rồi vâng lời Bắc Hiệp qua cầu với anh em họ Đinh lên kinh thế nào... Anh em họ Định nghe xong vỗ tay cười rằng: "Nói vậy thời Ngũ đệ đã chịu phục Bắc Hiệp rồi à?". Ngọc Đường đáp: "Chẳng những chịu phục mà thôi, lại còn cảm kích nữa, vì tài của Bắc Hiệp hơn tôi gấp bội". Triệu Huệ nghe dứt, nói lộn rằng: "Tôi cũng phục tài Bắc Hiệp lắm. Thôi Âu dương huynh còn ẩn mặt làm chi hãy ra đây trò chuyện cho vui". Bỗng từ mé trong ba người bước ra. Bắc Hiệp đi trước, theo sau một người tuổi ước tam thập và một gã nhỏ. Ngọc Đường vội vàng đứng dậy nắm tay Bắc Hiệp hỏi rằng: "Âu Dương huynh tới đây hồi nào?". Bắc Hiệp nói: "Cũng vừa mới tới". Ngọc Đường lại hỏi: "Còn hai vị này là ai?”. Triệu Huệ đáp: "Vị này là Trí Hóa, hiệu là Hắc Yêu Hồ, vốn thông gia với nhà tôi, còn gã nhỏ này là đồ đệ của Trí huynh”. Ngại Hổ lật đật ra mắt Ngọc Đường. Bạch Ngọc Đường nắm tay nó, xem thấy hình dung phong tú thời khen ngợi lắm.
Mọi người đều vui mừng cùng nhau phân thứ tự ngồi vào tiệc ăn uống. Thật rất tâm đầu ý hợp ăn uống tới canh ba mới mãn tiệc.
Sáng ngày Ngọc Đường và Bắc Hiệp cùng lên Đông Kinh.
0
Hồi Thứ Bảy Mươi Tám [/align]

Hắc Yêu Hồ định kế trộm Châu quan,
Bùi nghĩa bộc cải trang giả nạn tẩu.
 
Anh em họ Đinh và Trí Hóa đưa Bạch Ngọc Đường và Bắc Hiệp đi rồi, trở vào tới nhà khách, Trí Hóa nói rằng: "Tôi tưởng việc ấy rất quan trọng, xét kỹ ra đều tại chú cháu Mã Cường làm quấy, nếu chẳng lập kế đánh đổ được Mã Triêu Hiền thời khó xong”. Triệu Huệ hỏi: ”Trí huynh có kế gì hay không?”. Trí Hóa nói: ”Có, mà phải làm điều dối trá, đánh lận cho chú cháu nó mắc vào, tang cớ đủ rồi, khó bề cứu gỡ, nhưng kế đó khó làm". Triệu Lang nói: "Khó làm sao thời nói nghe thử?". Trí Hóa nói: "Ban đầu tôi vào Bá Vương trang là cố ý dò xét việc cử động của Mã Cường, biết có ý giao hảo với Tương Dương Vương rắp lòng sinh quấy, nay cũng nên lấy cớ ấy để trừ bớt tai hại cho nước nhà. Nhưng việc này phải chịu bốn điều khó. Thứ nhất, phải có một vật của nhà vua, phần đó tôi xin lãnh. Thứ nhì, có một người tuổi tác với một đứa con trai hay con gái nhỏ mà gan dạ, biết liệu cơ ứng biến và chịu nổi các việc khó khăn. Thứ ba, chúng ta trộm được đồ nhà vua rồi, phải đem giấu sau lầu Phật nhà Mã Cường để sau này lấy đó là tang cớ". Đinh Triệu Huệ nghe nói đến đó hớt rằng: "Việc thứ ba đó tôi xin lĩnh cho. Còn điều thứ tư là gì?". Trí Hóa nói: ”Duy có điều thứ tư thời khó nhất phải có một người biết rõ căn nguyên, đi một mình lên phủ Khai Phong bày tỏ đầu đuôi mọi việc điều thứ tư cần thiết lắm, việc thành hay bại đều trông vào đó cả. Người mà đi được thật khó kiếm!". Trí Hóa vừa nói vừa liếc Ngại Hổ. Ngại Hổ liền đứng dậy nói: "Điều thứ tư, tôi xin lĩnh mạng". Trí Hóa nguýt một cái nói: ”Đồ đệ còn nhỏ tuổi, làm sao đương nổi việc to tát thế được?". Ngại Hổ đáp: "Cứ ý đồ đệ, thời đồ đệ đi đây có ba điều ích lợi". Triệu Lang nghe Ngại hổ đòi đi thời tưởng trẻ nhỏ hay nói bướng, tới chừng nghe nói có ba điều kiện ích lợi, thời nghĩ chắc nó có ý hay, liền hỏi: ”Mi nói ba điều ích đó cho ta nghe?". Ngại Hổ đáp: "Một là cháu ở tại Bá Vương trang từ nhỏ tới lớn, mọi việc của Mã Cường cháu biết rõ lắm. Vả lại ba năm trước Mã Triêu Hiền có nghỉ chức về đó, lúc ấy thầy cháu chưa tới, nay trộm được đồ đem nói rằng Triêu Hiền về lén đem theo thời hợp với sự thật lắm. Hai là: Tục ngữ có câu: “Con nít không nói láo". Vậy cháu lên phủ Khai Phong kể các việc chắc không ai nghi ngờ. Ba là thầy cháu có công dạy dỗ, nhờ cơ hội này lập được chút công danh, há chẳng ích hay sao?". Đinh Triệu Lang vào Đinh Triệu Huệ nghe Ngại Hổ nói dứt vỗ tay khen. Trí Hóa nói: "Nhị vị hiền đệ chớ vội khen, nó còn trẻ ăn chưa no lo chưa kịp, nó tưởng phủ Khai Phong là chỗ chơi chứ không dè đến nơi ấy thấy oai võ của các vị anh hùng, xem nghi vệ cách dò hỏi của Bao tướng thời gan mật tiêu tan, xương gân run rẩy, nói bậy nói bạ mà làm hỏng việc lớn!”. Ngại Hổ nghe mấy lời ấy thì chân mày dựng thẳng, cặp mắt xoe tròn, nói rằng: "Đó là thầy khinh tôi. Chớ đầu xuống điện Diêm Vương thấy mặt hang thần ác quỷ, hoặc lên non gươm núi lửa, tôi cũng chưa rủn lòng đổi chí, lựa là cứu người nghĩa sĩ trung thần kia?". Anh em họ Đinh nghe Ngại Hổ nói khí khái thời khen lắm. Trí Hóa nói: "Thôi, đừng nói nhiều chuyện, bây giờ ta giả đò Bao tướng cật hỏi mi coi sao?". Ngại Hổ lật đật quỳ xuống thưa: "Xin sư phụ cứ hỏi". Trí Hóa liền hỏi: "Tên Ngại Hổ kia! Trong nhà chủ mi quả là có vật phạm cấm, mà thật là của Đại lão gia (chỉ Mã Triêu Hiền) đem về hay không?”. Ngại Hổ đáp: "Bẩm tướng gia! Quả ba năm trước, Đại lão gia nghỉ chức về làng, tự tay đưa lại cho tôi đem giấu vào lầu Phật. Thật rõ tôi tận mắt thấy". Trí Hóa hỏi: "Như lời mi nói, thời vật phạm cấm giấu tại nhà mi phải chăng đã ba năm rồi?". Ngại Hổ thưa: "Dạ phải”. Trí Hóa giả đò giận vỗ bàn một cái rầm nạt rằng: "Đã ba năm rồi, sao tới nay mi mới đi cáo?".
Một câu hỏi đó làm anh em họ Đinh sững sờ, chắc thế nào Ngại Hổ trả lời cũng không được. Nào dè Ngại Hổ chẳng hề luống cuống, thong thả đáp rằng: "Bẩm Tướng gia, tôi năm nay mười lăm tuổi, cách ba năm trước thời mới được mười hai, vẫn còn ngu dại, lại chưa rõ giấu gian là phạm tội: Tới nay chủ tôi can án bị giam, có kẻ mách cho tôi rằng: Người nào biết rõ tính gian mà giấu giếm thời bị buộc tội đồng lõa, nếu ta cung khai chuyện ba năm trước cho rõ ràng thì được giảm tội. Vì vậy tôi sợ nên tới đây tố cáo với lão gia". Triệu Lang nghe Ngại Hổ đáp xuôi rót, liền nói: "Được rồi, điều thứ tư cháu lĩnh được lắm”. Trí Hóa đáp: ”Tuy nói vậy, mà chừng nó đi phải có hai phong thư gửi gấm mới được. Bây giờ có cần dùng ít món đồ phải kể ra cho đủ rồi sẽ liệu toan". Triệu Huệ vội vàng bưng mực viết đem ra. Trí Hóa vừa đọc vừa viết rằng: "Xe bằng cây một cỗ, chiếu khổ lớn một chiếc. Màn và nệm cũ một đôi. Chảo, nồi, gáo, vá, chén, đĩa, rổ các vật cho đủ dùng. Một ông già, một đứa con nít hoặc trai hoặc gái, đều phải đem áo vải cũ theo". Đinh Triệu Lang thấy biên như vậy, bèn nói: “Trí huynh dùng mấy món đó làm gì?". Trí Hóa nói: "Nay liệt huynh muốn lên Đông Kinh trộm mũ Cửu Long trân châu của Thánh thượng. Bởi vì Mã Triêu Hiền làm Tổng quản kho Tứ Chấp nên giữ mũ ấy. Bây giờ liệt huynh tính giả làm dân mất mùa đi trốn, lên Đông Kinh tìm nơi ở yên, rồi dò kho Tứ Chấp ở đâu sẽ trộm Châu quan rồi lấy chiếu nệm đậy kín lại một bên, còn một bên, để đứa nhỏ đó ngồi thời không ai nghĩ được, như vậy trở về mới êm mà việc này phải cần có ông già và đứa nhỏ gan dạ và chịu khổ cực được mới xong. Đâu hiền đệ nghĩ kiếm giùm có hay không?”. Đinh Triệu Huệ đáp: "Tôi có một vị chủ quản đã già tên là Bùi Phúc chẳng những là người chịu cực khổ, gan dạ mà thôi, lại còn ngay thẳng hào hiệp nữa. Nhưng mà phải lấy đại nghĩa tỏ cho ông ấy nghe, rồi cậy giúp sức chớ đừng cho biết bí kế, chừng nào ông ấy chịu chắc rồi sẽ nói cho biết”. Trí Hóa gật đầu sai người đi kêu Bùi Phúc.
Bùi Phúc ra mắt ba vị anh hùng. Trí Hóa bèn đem chuyện Mã Cường bạo ngược, hại người bắt gái, đến Nghê Thái thú giả trang dò xét, bị hãm vào bẫy, được Bắc Hiệp cứu, vì đó mà cả hai bị Mã Cường lập mưu hãm hại, nay ở trong ngục chưa biết chết sống thế nào, nói một lượt cho Bùi Phúc nghe. Bùi Phúc nghe xong trợn mắt nói rằng: "Như vậy phải giết tên ác tặc đó cho rồi, còn để làm chi?". Đinh Triệu Huệ đáp: "Ông đừng nóng, việc đó còn lâu. Bây giờ tri huyện cũng vì việc đó muốn cậy ông lên Đông Kinh, có được hay không?”. Bùi Phúc nói: "Tôi xin đi". Trí Hóa nói: "Vậy thời phải cải trang làm kẻ mất mùa đi trốn nạn, tôi với ông giả làm cha con, còn đứa nhỏ nữa thời làm cháu, cùng đi lên Đông Kinh; ông nghĩ có được không?”. Bùi Phúc đáp: "Kế ấy thật hay". Trí Hóa nói: "Còn đứa nhỏ chưa có, tính sao đây?". Bùi Phúc liền chỉ cháu mình là Anh Thơ tuổi vừa lên chín, Trí Hóa cả mừng định ngài mai sẽ khởi hành.
Đinh Triệu Lang theo giấy của Trí Hóa biên, sắm sửa đủ mọi vật, rồi bày tiệc tiễn hành. Bùi Phúc, Anh Thơ cùng ngồi vào ăn uống không phân chủ tớ. Ăn uống xong, sai dọn một chiếc thuyền đưa Trí Hóa, Bùi Phúc, Anh Thơ đi theo sông Trường Giang, tới ranh đất Hà Nam, đem đồ đạc và xe lên bờ. Trí Hóa mang dây vào vai kéo xe đi trước, Bùi Phúc đi sau phụ đẩy, tìm nơi đông đảo lần tới xin tiền.
Ngày nọ tới Đông Kinh, cũng cứ việc đẩy xe, vừa đi, vừa xin tiền như cũ. Trời chiều mát mẻ, đường sá thưa người, Trí Hóa chưa biết tìm chỗ nào đình trú, chợt gặp một vị quan hỏi: "Ông già đẩy xe đi đâu, có chỗ để nghỉ đêm hay chưa?”. Bùi Phúc đáp: "Xin ngài chỉ cho, già thật chẳng biết". Có người đứng bên cạnh nói với vị ấy rằng: "Vậy thì chỉ cho ông ấy vào đình Huỳnh". Bùi Phúc theo lời chỉ dẫn của người ấy mà đẩy xe tới. Tới nơi lấy mền nệm trải lên bực thềm, dỗ cho Anh Thơ ngủ. Đến lúc canh khuya yên lặng, Bùi Phúc hỏi Trí Hóa rằng: "Bây giờ đã tới đây, chúng ta sẽ làm gì?". Trí Hóa nói: "Đêm nay ta hãy nghỉ yên, mai tôi đi dò xem tình thế đã". Nói đến đó nghe tiếng chuông đánh beng beng, hai người bèn nín lặng, nghe bọn tuần canh có đứa nói: "Bên kia có xe ai để vậy?”. Đứa khác đáp: "Đó là xe của cha con ông già bị mất mùa bỏ xứ mà Trương Đầu Nhi chỉ vào đây hồi sớm đó”. Nói rồi bỏ đi, hai người yên tâm nằm ngủ.
Sáng ngày Trí Hóa vừa thức đậy, thấy có tốp người vác xuổng, mang dây và xách nào sọt nào thúng xa xa đi lại, bèn lật đật chạy tới xin tiền. Trong bọn đó có người nói: "Tên này kỳ quá, sáng ngủ dậy chưa cạy ghèn, nên không thấy bọn mình đi làm sao lại còn xin tiền chớ!". Trí Hóa giả không nghe lại gần người khác xin nữa.
0
Hồi Thứ Bảy Mươi Chín [/align]

Giả làm mướn, tới Ngự Hà moi bùn đất.
Trổ tài hay, leo cây cao bắt khỉ.
 
Đương lúc Trí Hóa xin tiền, có một người trong tốp ấy đứng ra hỏi rằng: "Ớ chú kia, chẳng hay chú tên họ là gì?". Trí Hóa đáp: "Tôi tên Vương Nhị, còn ông đại danh là chi?”. Người ấy đáp: "Ta tên Vương Đại, bây giờ có một chuyện muốn nói với chú em, nhưng không biết chú em có bằng lòng hay không?". Trí Hóa nói: "Xin ông cho biết". Vương Đại bèn nói: "Hiện nay trong Tử cấm thành có mướn phu vét hào, mỗi ngày ăn ba bữa cơm, và tiền công sáu mươi tiền, vậy chú em vào đó làm còn sướng hơn là đi xin, nhục lắm!”. Trí Hóa chưa kịp đáp thời Bùi Phúc đã bước tới hỏi: "Không cần năm sáu chục tiền, miễn có cơm cho con tôi ăn là đủ. Này con, thôi con đi theo chú này đi làm đi". Vương Đại nói: ”Chú em cứ đi làm, mỗi ngày đem về sáu chục tiền cho ông cháu ở nhà ăn cũng đủ mà". Trí Hóa bằng lòng liền đi theo vào Tử cầm thành lĩnh sọt, xuống làm công như những người phu ở đó.
Trí Hóa làm được một ngày, chiều lĩnh tiền đem về cho Bùi Phúc. Vương Đại căn dặn mai sáng đi làm nữa. Bùi Phúc nói: ”Vương đầu nhi ơi? Cha con tôi cùng quẫn quá, nhờ ông chỉ chỗ làm, đã có cơm ăn lại có tiền, thật cũng nhờ trời giúp đỡ ơn ông tôi cũng chẳng quên". Vương Đại cười không đáp rồi từ giã đi về. Tối lại, lúc vắng vẻ, Trí Hóa nói với Bùi Phúc rằng: "Nhân dịp này, mình giả làm mướn vào ra trong Tử cấm thành, chờ cơ hội sẽ dò được Tứ Chấp khố rồi sẽ ra tay".
Ngày sau Trí Hóa lại theo bọn Vương Đại vào Tử cấm thành làm công như thường. Trong lúc đương làm, chợt nghe có tiếng ồn ào liền cất đầu lên xem, thấy có hai người nội tướng đương đứng chỉ trỏ trên cây bèn dòm lên thời thấy trên cây ấy có một con khỉ nhỏ, cổ mang xiềng đương chuyền qua nhảy lại. Trí Hóa nhìn thấy như vậy, vụt nói khan rằng: “À! Con khỉ chuyền cao ghê, phải không mắc làm đây, leo bắt nó chơi". Hai người nội tướng (quan trong cung) nghe nói cả mừng chưa kịp mở miệng thời Vương Đại đã gàn Trí Hóa rằng: "Vương nhị đệ, làm thời lo làm, nói chuyện lôi thôi gì đó! Chắc bắt được sao?". Hai vị nội tướng nói: "Vương đầu nhi, để rồi ta cho mi uống rượu mà. Chuyện gì lại cản người đó không cho bắt giùm khỉ ấy cho ta". Vương Đại nói: "Không phải là tôi không cho, nhưng sợ nó nói láo, rồi bắt không được mà thôi". Nội tướng nói: "Như vậy có can gì tới mi”. Nói đoạn bảo Trí Hóa rằng: "Chú kia, chú làm ơn leo lên bắt giùm con khỉ ấy cho tôi, tôi sẽ hậu tạ". Trí Hóa gầm đầu đáp rằng: "Tôi có biết leo ở đâu”. Nội tướng thấy Trí Hóa làm cao liền day qua trách Vương Đại. Vương Đại liền năn nỉ Trí Hóa, bảo ráng leo bắt giùm.
Trí Hóa thấy nội tướng và Vương Đại nói lắm bèn xắn áo quần leo lên cây, chuyền lẹ làng chẳng khác chi con khỉ trên ấy. Khỉ đương ngồi trên cây, thấy có người leo lên, vội vàng nhảy qua nhánh khác lựa chỗ kín ngồi núp. Trí Hóa liền dõi theo tìm kiếm, thấy chỗ khỉ ngồi rồi, bèn lén leo nhẹ nhẹ lên một nhánh khác, nhằm chừng ngang chỗ với con khỉ ngồi bên kia thì ngừng lại, kiếm mối dây xiềng, rồi vung mình nhảy qua nắm chặt lại. Khỉ bị bắt thình lình bèn nhảy đại vào mình Trí Hóa cắn. Trí Hóa lẹ tay chụp ôm chặt lấy nó rồi tuột xuống giao cho hai vị nội tướng.
Hai vị nội tướng cả mừng, hỏi Trí Hóa rằng: "Chú tên họ là chi?". Trí Hóa đáp: "Tôi tên Vương Nhị!”. Nội tướng nói: "Chúng tôi cám ơn chú, vậy xin tặng cho vài nguyên bảo uống trà chơi". Nói đoạn móc túi đưa cho Trí Hóa hai đồng nguyên bảo đáng chừng hai lượng, lại nói với Vương Đại rằng: "Vương đầu nhi! Mai mi cũng đem Vương Nhị vào đây, nhưng đừng bắt y làm công nghe”. Nói rồi ôm khỉ đi vào trong.
Chiều lại, Trí Hóa về chỗ để xe tại đình Huỳnh, Vương Đại cũng ghé lại. Cả hai đem chuyện bắt khỉ được tiền, thuật cho Bùi Phúc nghe, Bùi Phúc mừng rỡ lắm.
Sáng ngày Vương Đại cũng cứ lệ ghé rủ Trí Hóa đi. Khi vào tới hào trong Tử cấm thành, Trí Hóa cũng lãnh vật dụng xuống làm như thường. Vương Đại cản rằng: "Nghỉ đi, nội tướng bảo chú em đi coi chừng cho họ làm mà thôi. Kìa, nội tướng ra kia". Trí Hóa ngước lên xem thấy vị nội tướng hôm qua tay bưng hộp sơn dáng trái đào đi ra, vừa cười vừa hỏi: "Vương Nhị, ngươi tới đây rồi sao?”. Trí Hóa đáp: "Dạ, tôi mới vừa tới” Nội tướng nói: "Ngươi đừng làm, chỉ coi chừng mà thôi. Lão gia sợ ngươi làm như họ nhọc lắm, nên sai ta ra đây, một là thăm chừng, hai là đem đồ cho ngươi ăn điểm tâm!”. Nói đoạn đưa hộp ấy cho Trí Hóa. Trí Hóa vội tiếp lấy giở ra xem rồi ghé mũi vò ngửi đoạn đậy lại như cũ. Nội tướng hỏi: "Sao ngươi không ăn?". Trí Hóa đáp: “Vì tôi có cha già, nên không nỡ ăn vật ngon, muốn đem về dâng cho người!”. Nội tướng khen rằng: “Khá khen ngươi có lòng thảo, thôi ta cho ngươi mượn luôn cái hộp đó, trưa ta sẽ trở ra".
Đến đúng trưa lại thấy vị nội tướng mất khỉ hôm qua với vị nội tướng bưng đồ ăn lúc sớm đi ra. Vương đầu nhi vội vàng chạy lại nghênh tiếp. Nội tướng nói: "Vương đầu nhi! Đã phiền mi sai cắt cho Vương Nhị coi xếp giúp vậy ta thưởng cho mi một ít tiền uống rượu”. Nói đoạn móc túi cho Vương Đại hai nguyên bảo, đoạn kêu Trí Hóa lại gần hỏi rằng: "Vương Nhị, ta nghe ngươi là người con thảo, ta khen lắm, vậy cái hộp ngươi để đâu?". Trí Hóa đáp: "Dạ, tôi còn để y nguyên đàng kia, chưa hề ăn tới". Nội tướng nói: "Đâu? Bưng đi theo ta". Trí Hóa liền bưng hộp đi theo. Vừa tới trên cầu Kim Thủy, nội tướng liền nói: "Ta là họ Trương, thấy ngươi tử tế và có lòng thảo, ta mến lắm. Cái này ngươi cứ ăn, còn trong hộp đó đem về cho cha ngươi!”. Nội tướng vừa nói vừa giở hộp bánh cho Trí Hóa ăn. Trí Hóa miệng thời ăn, tay thời vạch áo lượm bánh bọc vào. Vừa ăn vừa dòm dáo dác hỏi rằng: "Cha! Cái miếu đó lớn quá, mà sao trước cửa có cây gì cao vậy?". Nội tướng nghe hỏi thời tức cười đáp: "Ngươi chưa nghe người ta nói hoàng cung hay sao? Đây là cung điện nhà vua chớ miếu chùa nào ở đây! Cây cao đó là cột cờ?". Trí Hóa hỏi: “Chỗ cột cờ đó là cái nhà gì mà đẹp vậy?". Nội tướng đáp: "Đó là đền Trung Liệt và đền Song Nghĩa". Trí Hóa lại hỏi: ”Còn chỗ cất cái đền lớn đó là cái gì?". Nội tướng đáp: ”Ấy là điện Tu Văn". Trí Hóa lại dòm qua mé khác rồi chỉ và hỏi: "Còn cái cao chót vót đó là cái gì?”. Nội tướng đáp: "Đó là lầu Diệu Võ". Trí Hóa lại hỏi: "Gần bên lầu Diệu Võ có cái gì sùm sụp đó?". Nội tướng đáp: "Ấy là chỗ cất các vật quý báu cua nhà vua, gọi là Tứ Chấp khố". Trí Hóa nghe nói nhìn kỹ phương hướng, rồi giả đò nói bậy bạ rằng: "Mấy tòa nhà lầu hay cái đền các gì đó đẹp nhưng có chút khó coi, là cái nào trên nóc cũng dựng cái ống khói cao nghêu”. Nội tướng cười rằng: "Ngươi như thằng hề, làm ta cười nôn ruột, thôi bưng hộp về đi, ta vào cung", nói rồi đi vào. Trí Hóa đứng nhìn Tứ Chấp khố rất kỹ, rồi bưng hộp đem về, lại trở ra coi cho phu làm. Tới chiều, về chỗ để xe tại đình Huỳnh.
Tối lại, Trí Hóa chờ tới canh hai bèn nai nịt gọn gàng mang túi bá bảo, dặn dò Bùi Phúc rồi lén đi vào Tử cấm thành.
0
Hồi Thứ Tám Mươi [/align]

Trộm mũ Cửu Long, giao cho Đinh Triệu Huệ,
Đón kiệu Thừa Tướng, vạch chuyện Mã Triêu Hiền.
 
Hắc Yêu Hồ Trí Hóa tới Hoàng thành, dùng dây như ý leo vào vòng trong rồi ráng hết tài nghề lén lén leo truyền qua mấy lớp ngăn nữa, hễ tới chỗ nào thời chăm chú nhìn xem đường lối. Khi tới kho Tứ Chấp, Trí Hóa leo lên trên nóc giở ngói xếp một bên rồi mở túi bá bảo lấy cưa liên hoàn ra cưa rui, vừa chỗ chui mình vào, kế đụng lớp thiếc đóng trần, Trí Hóa vội vàng lấy dùi nhọn dùi ít lỗ rồi rút phát đao ra kéo một lỗ đút vừa bàn tay gần bên chỗ đóng liền mí. Đoạn nằm sấp trên cây thò tay đút kìm vặn những đinh ốc đóng mí thiếc ấy nhổ lần lần thành ra hở một đường khá dài. Nhổ được bao nhiêu bao nhiêu đinh đều bỏ cả vào túi bá bảo, rồi lấy dây như ý buộc vào cây đòn tay, cho dây ấy thòng vào chỗ chiếc mí thiếc hở, rồi đeo theo tuột xuống.
Khi vào được trong kho, đi lần tới một cái buồng, ngoài cửa có giấy niêm đề chữ Thiên, thời biết đó là chỗ để mũ Cửu Long bèn lẹ lưỡi liếm niêm ấy cho ướt mà gỡ ra, rồi lấy xâu thìa khóa giả mà mở khóa. Cửa mở, Trí Hóa liền bước vào thấy trên giường ngà có để một cái túi bằng lụa vàng, bên cạnh có một cái thẻ đề: "Chữ Thiên, số thứ nhất mũ Cửu Long một cái". Trí Hóa bụng mừng lắm, lật đật lấy hộp, bỏ mũ nai nịt vào lưng, rồi đi ra khóa cửa buồng lại, dán niêm y như cũ, lại e có dấu tay nên lấy vạt áo lau lia lịa. Đoạn đi trở lại mối dây như ý mà leo lên, rồi móc đinh ra vặn liền mí thiếc lại, sửa kín chỗ lỗ khoan y như cũ. Lên tới trên nóc cũng ráp mui lợp ngói, trét vôi đâu đó xong xuôi, ai vô ý thời không biết là có kẻ vừa cạy phá!
Trí Hóa lấy được mũ Cửu Long liền ra khỏi kho Tứ Chấp đi riết về chỗ để xe tại đình Huỳnh. Bùi Phúc giở chiếu lên, Trí Hóa để hộp mũ vào gói lại, rồi lấy nệm mền phủ lên sùm sụp. Trí Hóa lại bảo Bùi Phục giả bệnh rên rỉ gào la. Trời vừa hừng đông, Vương Đại đã tới rủ Trí Hóa đi làm như mọi khi, Trí Hóa liền nói: "Nay chẳng may cha tôi đau yếu, nhắm ở đây không tiện, thế nào cũng phải về quê". Vương Đại thấy tình cảnh như vậy cũng không ép, nên từ giã ra đi. Còn Anh Thơ không hiểu việc gì, thấy ông đau thì tưởng thật nên kêu khóc rầm rĩ. Trí Hóa đẩy xe đi, Bùi Phúc nằm trên xe rên, Anh Thơ đi lẫm đẫm theo coi rất thảm thương.
Ra tới chỗ vắng vẻ, Trí Hóa kêu Bùi Phúc dậy, ẵm Anh Thơ để lên xe, rồi người kéo kẻ đẩy đi vội qua khỏi Hà Nam tới Trường Giang mướn thuyền đưa về thôn Mạc Hoa. Thuyền về gần tới Đinh Gia trang thời thấy Song Hiệp và Ngại Hổ đem thuyền tới đón. Cùng nhau về tới nhà, dọn dẹp đồ đạc và giấu mũ Cửu Long xong xuôi, Trí Hóa bèn hỏi Triệu Huệ rằng: "Bây giờ mũ Cửu Long đã có rồi, vậy Nhị đệ sẽ làm thế nào?". Triệu Huệ đáp: "Đệ đã sắm đủ các giấy tiền vàng bạc nhang đèn, định lên Thiên Trúc dâng hương. Trí huynh nghĩ có được chăng?". Trí Hóa gật đầu.
Tối lại, đợi lúc trang đinh đều ngủ hết, anh em họ Đinh và Trí Hóa mới đem đãy lụa vàng, mở lấy mũ Cửu Long ra xem. Thật là tiếng đồn chẳng sai. Vua giàu không biết ngần nào. Mũ làm bằng vàng, dát đầy châu ngọc, giăng ngang nằm dọc tinh những hình rồng đếm cả thảy là chín con, nên tên là Cửu Long quan. Ai nấy xem rồi gói lại như cũ giao cho Đinh Triệu Huệ. Tới canh năm, Triệu Huệ bèn sai một tên tùy tùng gánh nhang đèn vàng bạc và túi mũ Cửu Long giấu lẫn trong ấy, theo mình lên Thiên Trúc.
Đinh Triệu Huệ đi được mấy ngày, trở lại thuật chuyện với Triệu Lang, Trí Hóa, và Ngại Hổ rằng: "Khi tôi tới Thiên Trúc, thuê lầu của Châu lão mà ở, ban ngày đi dâng hương, chiều lại giả bệnh lên lầu yên nghỉ, chờ tới canh hai đem mũ Cửu Long lén vào lầu Phật tại nhà Mã Cường, quả thấy ba cốt Phật thật lớn, rồi lại trở lại lầu của Châu lão không ai hay biết. Sáng ngày liền từ giã về đây".
Triệu Lang và Ngại Hổ nghe nói cả mừng, duy có Trí Hóa thời làm thinh chỉ đưa mắt ngó Ngại Hổ. Ngại Hổ bèn ung dung nói rằng: "Bây giờ chú Hai đã làm xong bổn phận rồi, còn phận của cháu, cháu cũng xin đi lo cho xong". Trí Hóa nói: "Ớ trò ơi! Chuyện này là chuyện của trung thần nghĩa sĩ chớ không phải chuyện chơi. Ta và chú mày đã vào nơi nguy hiểm, tới chốn gai chông, xếp đặt các việc yên thỏa rồi, mi có lên Đông Kinh nên cẩn thận chớ để lỡ chuyện ra mà hại tới tính mạng trung thần nghĩa sĩ!”. Hai anh em họ Đinh cũng nói: ”Cháu nên thận trọng kẻo lưu hại tới thầy cháu nữa”. Ngại Hổ nói: "Bẩm thầy và hai chú! Đi chuyến này, Ngại Hổ xin thề trước rằng: Dầu cho đầu đứt chớ lòng cũng chẳng dời”. Trí Hóa nói: "Ta cầu cho mi giữ được như lời, đây là bức thư gửi cho Bạch ngũ thúc của mi đây, lên tới Đông Kinh nhớ trao cho người". Ngại Hổ tiếp lấy thư đút vào túi áo rồi trở vào trong sửa soạn hành lý đi lên Đông Kinh. Anh em họ Đinh và Trí Hóa đưa tiễn ra đến cửa còn dặn rằng: "Cháu ráng nhớ mũ để sau tấm vách mé tả cốt Phật giữa nhé". Ngại Hổ dạ dạ rồi quảy túi hành lý lên vai.
Thật là:
Có chí lựa gì người tuổi nhỏ
Không tài càng hổ kẻ râu dài
Ngày kia Ngại Hổ đi tới Đông Kinh, vào thành đi qua phủ Khai Phong chớ chẳng tìm Bạch Ngọc Đường. Ngại Hổ đương đi dọc đường, bổng nghe có tiếng nạt rằng: “Tránh, tránh cho kiệu Thừa tướng đi" thời trong bụng cả mừng, bèn chờ kiệu đi tới ra quỳ đón mà kêu oan. Bao công liền bảo Trương Long bắt đem về phủ, rồi vội vã thăng đường sai đem Ngại Hổ vào hỏi rằng: "Trẻ nhỏ kia tên họ là gì?”. Ngại Hổ thấy Bao Công rất nghiêm, lại thêm các tráng sĩ đứng la liệt hai bên thời có ý khâm phục, bèn thưa rằng: "Tiểu nhân họ Ngại tên Hổ, năm nay mười lăm tuổi, vốn là tôi tớ của Viên ngoại Mã Cường". Bao Công hỏi: “Mi tới đây có việc gì?". Ngại Hổ thưa: “Tiểu nhân có rõ được một việc gian nghịch, lại nghe người ta nói hễ ai biết được điều gian nghịch mà không tố cáo quan trên thì mang tội nặng, vì vậy tiểu nhân sợ, nên phải tới đây bày tỏ với Tướng gia". Bao Công nói: "Có việc cho thời nói đi”. Ngại Hổ đáp: “Nhơn vì ba năm trước Đại lão gia đã nghỉ chức về quê". Bao Công hỏi: "Đại lão gia mi là ai?”. Ngại Hổ đáp: "Thưa Đại lão gia tôi là (vừa nói vừa đưa bốn ngón tay) Tứ Chấp khố Tổng quản Mã Triêu Hiền, là chú ruột của Viên ngoại tôi, lúc về quê ngồi kiệu xuống, rồi đuổi tả hữu đi ra, duy có tiểu nhân cho là nhỏ không biết gì nên để lại. Rồi Đại lão gia mới mở kiệu lấy ra một cái túi lụa vàng, nói nhỏ với Viên ngoại rằng: “Đây là mũ Cửu Long trân châu của Thánh thượng ta lén đem về đây, ngươi nên cất kín sau Phật lầu đừng cho ai biết, đợi chừng nào Tương Dương Vương khởi sự sẽ đem dâng cho người. Viên ngoại tôi liền tiếp lấy, sai tôi ôm theo người ra lầu Phật, rồi giấu vào sau tấm vách bên, cốt Phật giữa”. Ngại Hổ nói tới đó ai nghe cũng thất kinh rởn ốc. Bao Công liền hỏi tiếp: "Rồi sao nữa?”. Ngại Hổ đáp: "Sau này tiểu nhân nghe người ta nói biết tình gian mà không cáo thời đồng tội, tiểu nhân sợ lắm, kế Viên ngoại tôi bị đòi lên kinh, tôi e Viên ngoại tôi khai rõ chuyện năm xưa, thời tôi có dự vào, biết gian mà không cáo, chắc chẳng khỏi tội, vì vậy phải bôn ba tới đây tỏ bày đầu đuôi, xin Tướng gia xá tội cho tiểu nhân nhờ". Bao Công nghe xong ngồi suy nghĩ giây lâu, bỗng vỗ án hét to rằng: "Hay cho Ngại Hổ, mi dám già hàm lẻo mép, tố cáo quan Tổng quản trong triều, ai bày mưu chỉ lối cho mi, mau khai ngay kẻo chết". Tả hữu cũng hòa tiếng vặn hỏi om sòm.
0
Hồi Thứ Tám Mươi Mốt [/align]

Đem ngự hình thử gan tiểu hiệp,
Nhóm nội hoạn xét mất Ngự quan.
 
Ngại Hổ nghe Bao Công hỏi mình thời nghĩ thầm rằng: "Hèn chi người ta đồn Bao Công là tay lợi hại, thật quả chẳng sai". Nghĩ đoạn giả bộ đứng dậy bước xuống và nói: "Không có ai bày mưu cho tôi cả, đó là sự thật tôi khai, nếu chẳng tin, đợi Viên ngoại tôi nói thời biết". Bọn nha dịch thấy Ngại Hổ còn trẻ tuổi không hiểu việc quan, nên la rùm lên rằng: "Không được đi, hãy trở lại quỳ xuống". Ngại Hổ liền trở lại quỳ xuống. Bao Công cười nhạt mà rằng: "Ta xem mi là một đứa trẻ con quỷ quyệt xảo trá lắm, vậy mi có biết quy củ của bản quan thế nào không?". Ngại Hổ đáp: "Bẩm Tướng gia, tiểu nhân không biết". Bao Công nói: "Bản quan có lệ như vầy: Phàm kẻ nào tố cáo người bậc trên mình, thời sẽ bị chặt cả tay chân, nay mi đã cáo chủ mi, theo lý phải chặt cả tay chân mới được". Nói đoạn truyền tả hữu thỉnh ngự hình. Vương, Mã, Trương, Triệu vâng lệnh đem Cẩu đầu trát ra để giữa sân. Ngại Hổ xem thấy một lưỡi gươm đồng sắc lẹm, sáng quắc, thấy lạnh cô rùng mình, song gan mật tiểu hiệp cũng quá to nên cứ giữ một lòng trước sau như một.
Bao Công hạ lệnh cho Trương Long, Triệu Hổ cởi y phục của Ngại Hổ ra, rồi đút hai chân vào trước. Mã Hán nắm đầu Ngại Hổ còn Vương Triều thời đỡ lưỡi Cẩu đầu trát đưa lên. Ai thấy cũng sợ cho Ngại Hổ cụt hai chân, song anh ta không hề đổi sắc. Bao Công thấy vậy liền hỏi: "Ớ Ngại Hổ! Việc này ai bày mưu cho mi thời mau khai ra kẻo cụt chân tay rồi ăn năn không kịp". Ngại Hổ một mực rằng: "Lạy Tướng gia, thật không ai xúi giục cả, đó là sự thật mà thôi, nếu Tướng gia không tin, cho người đi lấy mũ Cửu Long. Nếu không có, tiểu nhân xin cam chịu tội". Bao Công nghe dứt lời truyền Trương Long, Mã Hán buông Ngại Hổ ra, rồi hỏi rằng: "Ngại Hổ, mũ Cửu Long bây giờ còn tại lầu Phật của Viên ngoại mi không?". Ngại Hổ thưa: "Quả thật như vậy”. Bao Công liền sai giam Ngại Hổ vào ngục.
Ngại Hổ vào tới ngục có tên lính canh là Hích Đầu Nhi nói rằng: "Mời ngài ngồi một lát tôi sẽ châm trà cho ngài dùng". Ngại Hổ thấy nó tử tế, lấy làm lạ, nghĩ chắc là bọn đỉa đói muốn kiếm tiền. Đến lúc dùng trà thời quả ngon ngạt mũi nhưng không biết Hích Đầu Nhi có ý gì. Uống trà xong lại thấy bưng vào mâm đồ ăn và rượu nữa. Ngại Hổ còn đương phân vân suy nghĩ, chợt ngoài cửa có tiếng người. Hích Đầu Nhi lật đật chạy ra chào rước, thì là một vị quan trưởng.
Hích Đầu Nhi thưa với quan trưởng ấy: “Vâng lệnh ngài, tôi hầu đãi thiếu gia kỹ lưỡng lắm, mới vừa bưng thịt rượu vào nữa kia". Vị quan trưởng nói: "Cám ơn, ta sẽ thưởng mi mười lạng bạc, cứ lại nhà ta mà lấy, bây giờ ta có chuyện nói với thiếu gia, mi hãy ra ngoài một chập".
Hích Đầu Nhi vâng lệnh đi ra.
Vị quan trưởng ấy chính là Bạch Ngọc Đường.
Nguyên Bạch Ngọc Đường nghe có đứa nhỏ vào phủ tố cáo, bèn đi tới xem, té ra thấy Ngại Hổ, lấy làm lạ, không hiểu nó đến đây làm gì. Đến chừng nghe nó khai, biết là nó vì chuyện Bắc Hiệp và Nghê Thái thú mà tới, thời lại càng sửng sốt hơn nữa, sao chuyện to lớn như vậy mà lại giao cho trẻ nhỏ e không xong được. Kế thấy Bao Công vỗ án sai đem ngự hình thời kinh hãi lắm. Ai dè Ngại Hổ là đứa trẻ gan liền hiệp sĩ, mật lớn anh hùng, cứ khai y như trước, không chút nao lòng thì khen lắm. Tới lúc thấy Bao Công hạ lệnh tha và giam Ngại Hổ vào ngục, liền tới gặp Hích Đầu Nhi dặn rằng: "Đứa trẻ ấy là cháu ta, mi phải hầu đãi tử tế, rồi ta sẽ hậu thưởng cho". Hích Đâu Nhi một là vì tiền, hai là vì thế, nên tử tế với Ngại Hổ vậy.
Bạch Ngọc Đường bảo Hích Đầu Nhi ra ngoài rồi, bèn đi tới hỏi Ngại Hổ rằng: "Cháu thật là bậc tiểu hiệp nên mới dám đến Khai Phong. Sao cháu tới đây lại không báo cho chú hay trước?". Ngại Hổ liền đem các việc thu lại một lượt rồi nói: "Hồi cháu đi, thầy cháu có gửi phong thư cho chú, song cháu e tới đây mà đi tìm chú ắt tiết lộ cơ mưu, lại cũng tình cờ gặp kiệu Tướng gia đi chầu về, cháu liền đón kiệu kêu oan nên không tìm chú được". Ngại Hổ nói đoạn móc túi lấy thư trao cho Bạch Ngọc Đường. Ngọc Đường giở ra xem thấy Trí Hóa dặn dò gửi gắm Ngại Hổ cho mình, lo liệu tay trong cho ổn thỏa. Thế mà Ngại Hổ ỷ gan liền mật to, không tìm mình mà cho hay trước, nên mới bị một trận kinh hồn như thế. Ngọc Đường xem xong, hỏi Ngại Hổ rằng: "Cháu vào ngục, đã dùng cơm nước gì chưa?". Ngại Hổ nói: "Có một mâm cơm mà có mấy chén rượu con uống làm sao cho đủ. Cháu không muốn ăn cơm, uống ít chén rượu là vừa". Ngọc Đường thấy Ngại Hổ tuổi nhỏ mà tửu lượng chẳng ít, thời sai Hích Đầu Nhi đi lấy thêm, rồi dặn dò Ngại Hổ ít điều rồi mới trở về phủ.
Hôm sau Bao Công dâng sớ, tâu rõ các việc. Mã Cường, Mã Triêu Hiền và Tương Dương Vương mưu phản y theo khẩu cung của Ngại Hổ lên cho Thiên Tử. Vua Nhân Tôn xem sớ xong, nhớ lại: "Binh bộ Thượng thư Kim Huy cũng thường dâng sớ tâu Hoàng thúc có ý mưu phản, mà trẫm không suy xét, giáng chứng người ấy rồi, nay Bao Công dâng sớ, trong cũng có nói chuyện ấy, thật đáng nghi lắm". Vì vậy vua liền xuống mật chỉ sai Trần Lâm tới kho Tứ Chấp kê tra các bảo vật.
Trần Lâm vâng chỉ đem vài tên thủ hạ đến dinh Tổng quản truyền chỉ. Mã Triêu Hiền chưa rõ việc gì, cứ theo quan Đô Đường đi tới kho Tứ Chấp. Tới nơi xem kỹ niêm phong, rồi mở cửa kho đi thẳng tới buồng chữ Thiên, số hiệu thứ nhất gỡ niêm khóa đi vào, xem thấy giường ngà đó mà đãy lụa đi đâu rồi. Trần Lâm liền hỏi Mã Triêu Hiền rằng: "Mũ Cửu Long trân châu ở đâu?". Triêu Hiền tái mét mặt đáp: “Tôi không biết". Trần Lâm liền nói: "Bản quan vâng chỉ Thánh thượng kê tra mũ ấy, nay đã mất rồi, phải chờ ý Thánh thượng thế nào". Nói đoạn sai thủ hạ coi giữ Triêu Hiền, rồi vào chầu Thiên tử.
Vua Nhân Tôn nghe tâu nổi giận, liền hạ lệnh bắt Mã Triêu Hiền giao cho Đô Đường tra xét. Trần Lâm tâu: "Muôn tâu bệ hạ! Mã Tổng quản giữ kho mà trộm của, tội rất lớn. Vả lại cháu người là Mã Cường có can án, đương đối thẩm tại Đại Lí Ti, chắc người ấy rõ nhiều nội tình trong này lắm. Xin Thánh thượng giao luôn việc này cho Đại Lí Ti là xong". Vua Nhân Tôn chuẩn tấu, lại e Đại Lý Ti thẩm vấn chẳng khỏi có điều sơ suất bèn hạ chỉ cho Hình bộ Thượng thư Đỗ Văn Huy, Đô sát viện Tổng quản Phạm Trọng Võ, Khu mật viện Chưởng viện Nhan Xuân Mãn cùng với Đại Lí Ti mà thẩm tra.
Chỉ ấy truyền xuống, các quan đều tựu tại Đại Lí Ti đủ mặt cùng xem tờ tấu của Bao Công, mới hay Mã Cường, Mã Triêu Hiền và Tương Dương Vương mưu phản, thời ai nấy kinh hãi. Phạm Trọng Võ nói: "Chút nữa Đô Đường đến, chúng ta nên hỏi đứa nhỏ ấy coi sao. Mà phải làm như vậy... như vậy... mới được". Các quan đều khen phải, rồi hỏi Văn Ngạn Bác rằng: "Án của Mã Cường đã tra xét ra sao?". Văn đại nhân đáp: "Mã Cường đã nhận mình có hoành hành ngang ngược, hãm hại nhân dân, nhưng cứ một hai nài nỉ rằng: Nghê Thái thú kết liên với Bắc Hiệp cướp giật nhà mình; nên bản ti đã sai bắt Bắc Hiệp rồi, té ra người ấy là Âu Dương Xuân, một tay nghĩa hiệp chớ chẳng phải kẻ cướp giật. Bản ti hỏi tới năm phen cũng chẳng chịu nhận, nên bản ti sai người dò thám. Nay có Ngại Hổ là gia đồng của Mã Cường, có lẽ việc cướp giật ấy nó hiểu rõ, vậy thử đem nó ra hỏi xem sao". Các quan nghe nói đều khen phải.
Ngại Hổ đã bị một cơn sấm sét, gan tiểu hiệp càng chắc, mật tiểu hiệp các dày, nên trước mặt các quan không hề nao núng, cứ ung dung quỳ xuống công đường. Trần Công hỏi: ”Mi năm nay được bao nhiêu tuổi?". Ngại Hổ đáp: "Bẩm được mười lăm tuổi". Trần Công hỏi: "Mi còn nhỏ, có sự gì oan ức mà dám đi cáo trạng?”. Ngại Hổ bèn thuật y như lời đã khai tại phủ Khai Phong hôm qua. Đỗ Văn Huy liền hỏi: "Mi ở tại nhà Mã Cường mấy năm rồi?”. Ngại Hổ nói: “ Tiểu nhân ở từ lúc nhỏ tới bây giờ". Đỗ Văn Huy nói: "Ba năm trước hồi Đại lão gia mi giao mũ Cửu Long cho Viên ngoại mi, thật mi có thấy rõ sao?". Ngại Hổ đáp: "Dạ tôi thấy rõ ràng, tại chủ tôi sai tôi bưng mũ ấy theo người vào lầu Phật mà giấu!”. Đỗ Văn Huy hỏi: "Sao chuyện ba năm trước mà tới nay mi mới cáo?". Ngại Hổ đáp: "Hồi đó tôi mới mười hai tuổi còn dại dột, chưa biết rằng thấy việc gian mà không tố cáo thời bị tội". Phạm Trọng Võ hỏi: "Vậy chớ Đại lão gia đưa mũ Cửu Long cho chủ mi, người nói lời gì?". Ngại Hổ đáp: "Tôi chỉ nghe Đại lão gia nói: Phải cất mũ này cho kín đáo, đợi lúc Tương Dương Vương khởi sự sẽ dâng cho ngài thời được tước trọng vị cao". Phạm Trọng Võ lại hỏi: "Như vậy thời Đại lão gia của mi, mi nhận mặt được không?".
Một câu hỏi ấy, làm cho Ngại Hổ ngơ ngẩn chưa biết phải trả lời làm sao.
0
Hồi Thứ Tám Mươi Hai [/align]

Ngại Hổ nhanh mắt, thật giả phân tường,
Triêu Hiền một lẽ, chú cháu đồng tội.
 
Ngại Hổ nghe Phạm đại nhân hỏi như vậy thời nghĩ thầm rằng: ”Ban đầu ta quả có thấy Mã Triêu hiền song không để ý cho lắm. Nay mà nói không nhận được cũng không xong". Nghĩ đoạn đáp rằng: "Tôi nhận mặt Đại lão gia được". Phạm đại nhận liền sai tả hữu đem Mã Triêu Hiền ra.
Khi Phạm đại nhân hỏi Ngại Hổ có nhận được lão gia hay không, thời nó đã có ý nghi, nên quỳ dưới thềm lén lén ngó ra ngoài, chừng nghe Phạm đại nhân đem Mã Triêu Hiền ra thời có một vị thái giám già, cổ tay tuy đeo hình cụ mà đi lên thềm vẫn ung dung vui vẻ, đến lúc tới trước công đường mới nhăn mày im hơi làm bộ rầu rĩ, đứng sững chớ không quỳ xuống xưng tên. Ngại Hổ thấy vậy thời hiểu liền. Lại nghe Phạm Trọng Võ nói rằng: "Ngại Hổ và Mã Triêu Hiền nhận ra nhau chưa?". Ngại Hổ giả đò ngước mặt lên dòm rồi nói: "Người này không phải Đại lão gia của tôi". Trần Lâm ngồi trên cười rằng: "Thằng nhỏ này tinh mắt quá, thôi đem người ấy xuống, đem Mã Triêu Hiền ra đây". Tả Hữu vâng lời dắt Mã Triêu Hiền giả xuống, giây lâu đem Mã Triêu Hiền thật lên.
Tên gian thần ô lại buồn bã lắm, nước mắt khóc ướt mèm, đi tới trước công đường liền quỳ xuống. Trần Lâm thấy tình cảnh như vậy động lòng thương hỏi rằng: “Có người cáo ông rằng ba năm trước giả về quê lén lấy mũ Cửu Long trân châu của Thánh thượng đem theo, có không ông cứ thiệt khai ngay đi!”. Mã Triêu Hiền nghe nói thất kinh, lính quýnh đáp rằng: “Mũ ấy để tại kho, mất hồi nào tôi không hay, chớ thật không lấy". Văn đại nhân nói: "Thôi, đừng nói nữa. Ngại Hổ thuật y khẩu cung của mi cho ông ta nghe". Ngại Hổ liền thuật lại một lượt rồi nói: "Bẩm Đại lão gia, chuyện đã như vậy, còn giấu giếm làm chi”. Mã Triêu Hiền nói: "Con quỷ nhỏ này bất nhân lắm, tao có biết mày là ai?". Ngại Hổ nói: "Sao lão gia lại nói vậy? Hồi đó tôi mười hai tuổi, hầu hạ liền bên cạnh, lão gia thường khen tôi lanh lợi sau này tất phát đạt chẳng sai, sao bây giờ lão gia quên đi?". Mã Triêu Hiền nói: "Ừ mà giá tao nhận biết mày, mà tao đem mũ Cửu Long giao cho Mã Cường hồi nào chứ?". Văn đại nhân nói: "Mã Tổng quản chớ chối cãi, có sao thời khai thật đi, cho khỏi rách da chảy máu, nếu không khai chúng tôi xin thỉnh đại hình". Mã Triệu Hiền đáp: "Bẩm các ngài, nếu các ngài không thương, dẫu cho kẹp đánh tra khảo tôi cũng đành lòng". Nhan đại nhân nói: "Nếu khoanh tay mà hỏi mãi có ai chịu khai đâu. Vậy cứ thỉnh đại hình". Tả hữu đem đại hình ra, Ngại Hổ khóc và nói túi bụi rằng: "Không, không, tôi không cáo nữa, tôi không cáo nữa, tôi không cáo”. Trần Công công hỏi: "Sao mi lại không cáo?" Ngại Hổ đáp: "Tôi đi cáo đây là vì sợ biết tình gian mà giấu thời có tội, chớ chẳng dè làm hại tới Đại lão gia tới như vậy. Trời ơi! Tuổi tác đường này mà chịu tra khảo thời còn sống sao được. Thôi, tôi không cáo đâu, " Trần Công nói: ”Chuyện này đã thấu tai Thánh thượng rồi, làm sao thôi được". Nói rồi sai dẹp hình cụ và đem Mã Triêu Hiền với Ngại Hổ xuống.
Đỗ đại nhân liền nói với các quan rằng: "Tôi có một cách này, nên đem Mã Cường ra hỏi một lượt xem sao?". Các quan gật đầu, rồi sai tả hữu vào ngục dắt Mã Cường ra, không cho chúng nó thấy mặt nhau. Khi Mã Cường tới trước công đường, Đỗ đại nhân liền hỏi rằng: "Nay có người tới kêu oan cho mi, mi có nhìn biết không?". Mã Cường nói: "Xin cho xem mặt". Đỗ đại nhân dắt Ngại Hổ ra, Mã Cường nhìn thấy Ngại Hổ, nghĩ thầm trong bụng rằng: "Thằng nhỏ này vì chủ mà kêu oan thật ít có ai như vậy". Nghĩ rồi vội vã bẩm báo rằng: "Tên này là gia nô của tôi, tên là Ngại Hổ”. Đỗ đại nhân hỏi: "Nó được mấy tuổi?". Mã Cường đáp: "Được mười lăm tuổi đầu”. Đỗ đại nhân hỏi: "Nó có phải là thế bộc của mi chăng?". Mã Cường đáp: “ Phải, nó ở nhà tôi từ thuở nhỏ tới nay". Văn đại nhân liền nói tiếp: “Thôi, Ngại Hổ đọc khẩu cung lại nghe". Ngại Hổ liền đọc y lại, rồi nói: "Xin Viên ngoại chớ tưởng lạ, tiểu nhân vì sợ tôi nên phải buộc lòng tố cáo”. Mã Cường nạt rằng: “Đồ chó, mi thật già hàm đặt chuyện, lão gia nào đưa mũ cho ta hả?".
Trần Công công nói: ""Chỗ này là công đường, chớ chẳng phải là nơi để mi rầy la tôi tớ". Mã Cường nói: "Bẩm đại nhân, ba năm trước chú tôi về quả là không có đem mũ Cửu Long theo, đó là Ngại Hổ cáo gian". Nhan đại nhân nói: ”Nó cáo rằng mũ ấy mi sai nó bưng đi giấu sau lầu Phật, còn chối sao được”. Mã Cường nói: "Nếu quả có mũ ấy tại nhà tôi, thì tôi xin làm cam đoan nhận tội". Các quan liền sai đem bút mực cho Mã Cường làm cam đoan, rồi đem Mã Triêu Hiền ra cho chú cháu thấy nhau và đưa tờ cam đoan của Mã Cường cho y coi, Mã Triêu Hiền cũng chịu làm cam đoan, nếu có mũ Cửu Long tại lầu Phật thì mình cũng xin chịu tội. Việc ấy xong, sai tả hữu đem giam chú cháu Mã Cường vào ngục.
Văn đại nhân nói với Ngại Hổ rằng: "Còn việc cướp giật nhà Viên ngoại mi đó, mi có biết rõ hay không?". Ngại Hổ đáp: "Viên ngoại tôi có một khu nhà rộng đặt tên là quán Chiêu Hiền, có nhiều người ở đó, mỗi ngày tập luyện côn quyền, dượt thử gươm giáo. Nhân ngày nọ chủ tôi gặp vị tú tài, nói là quan Thái thú mới nhận chức, nhất tại địa lao, không rõ ý muốn làm gì. Kế vị tú tài ấy nhờ có người cứu khỏi, nên chủ tôi sợ lắm. Mấy người ở trong quán Chiêu Hiền bảo rằng: Nếu có bề gì thì kéo rốc qua ở với Tương Dương Vương. Nào dè tới canh hai đêm ấy có một người to lớn đem quan binh tới bắt Viên ngoại và phu nhân tôi trói lại. Mấy người ở trong quán Chiêu Hiền nghe báo, liền chạy tới cứu chủ, bị người to lớn nọ đánh thua ráo, nên chạy về quán Chiêu Hiền mà trốn. Lúc đó tôi cũng lo trốn, nên không rõ việc cướp giật ấy ra sao?". Văn đại nhân hỏi: "Mi có biết hồi giải Viên ngoại mi về phủ là hồi nào không?". Ngại Hổ nói: "Tôi nghe Giao Thành nói hồi đó là canh năm". Văn đại nhân nói với các quan rằng: "Cứ như lời ấy thì vụ cướp này không có can thiệp tới Âu Dương Xuân chút nào". Các quan hỏi: "Làm sao ngài rõ được?". Văn đại nhân nói: “Cứ như trong tờ cung, bị cướp hồi rạng đông, mà Âu Dương Xuân. hiệp lực với sai dịch giải Mã Cường về phủ hồi canh năm, thời làm sao cướp cho được".
Các quan khen phải, rồi sai đi bắt Giao Thành, ai dè Giao Thành đã trốn từ lâu rồi. Các quan liền hợp nhau dâng sớ lên Thiên tử.
Hôm sau, có chiếu chỉ của Thiên tử dạy phủ Khánh Châu bắt đồ đảng tại quán Chiêu Hiền và tìm mũ Cửu Long. Quan tuần kiểm tại đó liền đem binh tới quán Chiêu Hiền thì không thấy một bóng người, chỉ xét được ít nhiều thư từ đi lại với Tương Dương Vương bàn việc nghịch mà thôi, bèn lấy thư ấy rồi đem Quách Thị lên lầu Phật, tìm mũ Cửu Long sau vách cốt Phật giữa. Quan tuần kiểm liền đem mũ Cửu Long và bắt Quách Thị áp giải lên kinh. Các quan đều tựu tại Đại Lí Ti, thỉnh mũ Cửu Long để trước tòa rồi dạy đem Quách Thị ra hỏi: "Vì sao mà ngự quan lại ở tại nhà mi?”. Quách Thị đáp: "Thật tôi không rõ việc ấy”. Phạm đại nhân hỏi: “Mi thấy mũ ấy tìm được tại đâu?". Quách Thị đáp: "Mé sau vách, vế phía tả cất Phật giữa”. Đỗ đại nhân hỏi: ”Quả mi thấy rõ hay không?". Quách Thị đáp: "Bẩm phải". Đỗ đại nhân liền bảo ký tờ cung rồi sai đem Mã Cường ra. Mã Cường thấy có vợ tới thì thất kinh, lại nghe Văn đại nhân nói: "Bây giờ đã thấy ngự quan tại nhà mi rồi, mi còn có lời gì chối cãi nữa chăng?”. Mã Cường biến sắc, hỏi vợ rằng: "Mũ ấy tìm thấy ở đâu?". Quách Thị nói: “Sau tấm vách giữa chớ ở đâu”. Mã Cường hỏi: “Ai đem để đó?". Quách Thị nói: "Ai đem thì ông biết, sao lại hỏi tôi?". Văn đại nhân không để vợ chồng Mã Cường nói lâu, bèn hét rằng: "Nghịch tặc, còn chối cãi gì, mau ký tờ cung đi!”. Mã Cường không thể từ chối, vừa ký tờ cung vừa kêu oan liền miệng. Văn đại nhân sai tả hữu lôi vợ chồng Mã Cường xuống, rồi đem Mã Triêu Hiền ra, đưa khẩu cung của Mã Cường cho y coi. Triêu Hiền coi xong, hỏi sơ Quách Thị ít điều, rồi cứng họng ngẩn ngơ chỉ có nhắm mắt ký tờ cung cho xong chuyện. Các quan thấy chú cháu Mã Cường cung khai rồi bèn dạy giam cả vào ngục, duy chừa Quách Thị lại để hỏi rõ vụ cướp giật ban đêm.
Đương lúc tra hỏi, có nha dịch vào báo rằng: "Ngoài cửa có ông già kêu oan cho Nghê Thái thú”. Văn đại nhân liền cho đòi vào. Ông già ấy vào tới công đường dâng tờ trình lên. Các quan chuyền tay nhau xem thì Nhan đại nhân bèn bàn rằng: "Đây cũng là việc có can thiệp với vụ mà thánh chỉ phú cho chúng ta, tuy nay Mã Triêu Hiền đã bị bắt giam về tội tự đạo, song còn án Mã Cường và Nghê Thái thú; vậy sẵn có Nghê Trung kêu oan đây, chúng ta nên đem nội vụ ra xét, mai sẽ dâng sớ lên tâu Thiên tử". Văn đại nhân gật đầu khen phải.
0
Hồi Thứ Tám Mươi Ba [/align]

Nghê Thái thú đền ơn trả oán,
Bạch Ngọc Đường cứu lụt bắt yêu.
 
Nghê Trung tới trước công đường trình trạng rồi, quỳ xuống khóc kể đầu đuôi, từ lúc vâng chỉ ra Khánh Châu nhận chức, giả trang dò xét dân tình, đến khi bị Mã Cường bắt, nhờ Giáng Trinh cứu, lại bị bắt lần thứ hai, tình cảnh thế nào đều nói rõ lại. Phạm đại nhân nghe xong bèn hỏi: "Chủ của nhà ngươi bị hàm oan, sao nay mới thân tố?”. Nghê Trung thưa: "Nhân vì tôi vâng việc chủ về Dương Châu rước gia quyến. Khi trở lại mới hay việc này, bèn lật đật lên kinh, kêu oan cho chủ”. Nói đoạn khóc rống lên.
Văn đại nhân nói với các quan rằng: “Cứ trong tờ trình của Nghê Trung thời phù hợp với lời khai của Nghê Kế Tổ, Âu Dương Xuân và Ngại Hổ. Vậy phải đòi Nghê Kế Tổ và Âu Dương Xuân ra hỏi lại xem sao?”. Các quan khen phải, sai tả hữu mời hai người ra. Văn đại nhân liền hỏi Nghê Thái thú rằng: "Ông cùng Bắc Hiệp định chừng nào bắt Mã Cường? Và chừng nào giải về phủ?". Nghê Thái thú đáp: "Định tới canh hai đem sai dịch bắt Mã Cường, rồi rạng sáng ngày sau về tới phủ”. Văn đại nhân lại hỏi Bắc Hiệp rằng: "Bắt Mã Cường hồi canh hai, sao rạng đông mới về tới phủ?". Âu Dương Xuân thưa: "Vì bắt Mã Cường rồi còn phải chống cự với bọn trong quán Chiêu Hiền tới canh năm chúng nó mới tan, và đường từ Bá Vương trang về tới phủ xa ước tới vài mươi dặm nên giải Mã Cường tới rạng đông mới đến phủ". Văn đại nhân đem Quách Thị ra hỏi: "Ai bắt chồng mi, mi có nhớ không?". Quách Thị thưa: "Người to lớn râu đỏ" Văn đại nhân hỏi: "Chồng mi bị bắt ra khỏi nhà hồi nào?!”. Quách Thị đáp: "Hồi canh năm". Văn đại nhân hỏi: "Còn nhà mi bị cướp hồi nào?”. Quách Thị đáp: "Hồi đó trời chưa sáng". Văn đại nhân hỏi: “ Trong tờ khai kẻ đồ mất nhiều lắm, không lẽ có một người giật. Vậy mi có thấy chúng nó đông chừng bao nhiêu không?". Quách Thị đáp: "Đông lắm song không rõ là bao nhiêu, vì lúc ấy tôi không dám ló đầu ra, chỉ nghe chúng nó nói rằng: "Chúng là người của Bắc Hiệp tới mà thôi”. Văn đại nhân nói: "Người đi cướp giật ai dại gì lại nói tên mình hay là bọn đồng lõa. À, mà lúc đó mấy người ở quán Chiêu Hiền đâu không tiếp cứu?”. Quách Thị đáp: "Sáng ngày đó, tôi tra xét đồ đạc lại, chẳng những là không thấy bọn ấy mà tới đồ đạc ở đó cũng mất sạch ráo. Bẩm thượng quan, những bầu bạn của chồng tôi đó đều là quân quấy quá bất lương chứ không có người nào tử tế". Văn đại nhân nghe dứt, nói với các quan: "Các ngài có nghe chưa. Đó là bọn cường khấu tại quán Chiêu Hiền cướp giật rồi. Vậy mau đem Mã Cường ra đối diện với Nghê Trung".
Mã Cường nhắm thế chối cãi không xong, bèn khai thật những việc mình đã làm, không giấu giếm một tí gì. Các quan liền sai đem Nghê Thái thú, Bắc Hiệp, Ngại Hổ, Nghê Trung ở vào một nơi để đợi thánh chỉ, còn bao nhiêu đều giam vào ngục, rồi đồng dâng sớ, kẹp luôn những thư từ xét được tại quán Chiêu Hiền và các tờ cung khai lên cho Thánh thượng. Thiên tử xem xong, lấy sớ lại, ấy bởi ngài là người lấy đức trị dân, nay vì án này có liên quan đến Hoàng thúc Thiệu Tước, nên không muốn xét kỹ, chỉ xuống chiếu xử trảm cho chú cháu Mã Cường, và giam Quách Thị, còn Nghê Thái thú thời được phục chức, Bắc Hiệp vô sự; Ngại Hổ còn nhỏ mà cáo kẻ có tước quyền, lý ra là có tội, song bởi vì mũ Cửu Long mà cáo nên rộng tha cho.
Chiếu ấy truyền xuống, Nghê Thái thú dâng biểu tạ ơn và kẹp thêm một tờ tấu kể lể nỗi Nghê Nhân bị hại, Lý Thị hàm oan, Dương Phương trung liệt, Đào Tôn, Hạ Báo hung tàn. Thiên tử xem xong liền ban dụ xuống truy phong cho Nghê Nhân hàm ngũ phẩm, sắc tặng cho Lý Thị, cáo phong Nghê Thái công và phu nhân hàm lục phẩm. Nghê Trung thất phẩm thừa nghĩa lang ở tại phủ, Châu Giáng Trinh có Ngọc Liên Hoa thời thành hôn với Nghê Thái thú. Châu Hoán Chương thời ân tứ sĩ. Còn Đào Tôn, Hạ Báo thời cho truy tìm rồi xử tội.
Nghê Thái thú được ơn Thiên tử, liền lạy tạ ơn, rồi ra tham kiến Bao Công, định ngày nhận chức, mời Bắc Hiệp và Ngại Hổ ra Khánh Châu. Tới nơi ra mắt Lý phu nhân và vợ chồng Nghê Thái Công, Lý phu nhân vẫn giữ việc tu trì trai giới. Nghê Thái thú lại sai Nghê Trung đi với Châu Hoán Chương tới nguyện Nghi Trưng lấy cốt Nghê Nhân về, giết Hạ Lão tế linh, rồi an táng. Xong việc ấy, bèn lựa ngày lành kết duyên với Châu Giáng Trinh. Còn cha con Bắc Hiệp chờ các việc xong xuôi bèn đi qua thôn Mạc Hoa.
Nhân Tôn thiên tử tiếp liền những sớ báo tại hồ Hồng Trạch có lụt, chẳng những hư hại mùa màng lại còn làm chết người, tốn hao tiền của nữa. Mặt rồng chẳng vui, liền triệu Bao Công tới thương lượng. Bao Công liền tiến cửa Nhan Xuân Mẫn làm tuần án đi xét các sông và yên úy dân tình. Vua chuẩn tấu, rồi hạ chỉ. Nhan Xuân Mẫn tiếp chỉ liền tới phủ Khai Phong xin Bao Công dạy phép trị thủy và xin cho Công Tôn Sách, Bạch Ngọc Đường theo giúp sức. Bao Công bằng lòng qua ngày sau dâng biểu xin cho Công Tôn Sách và Bạch hộ vệ về theo giúp Nhan tuần án. Thiên tử chuẩn tấu, Nhan Xuân Mẫn tạ ơn rồi nội ngày đó xuất hành.
Ngày nọ tới thành Tứ Thủy, quan phủ là Trâu Gia ra tiếp. Đương còn hỏi thế nước yếu mạnh ra sao, thời thấy có người tại đê Xích tới báo rằng: "Nạn lụt chưa xong, lại thêm có thủy quái nữa". Nhan đại nhân nghe như vậy, bèn định với quan phủ sáng ngày sẽ lên núi Tây Hư xem nước. Quan phủ nhận lời kiếu lui. Nhan đại nhân bèn bàn luận việc ấy với Công Tôn Sách và Bạch Ngọc Đường một lượt rồi mới đi nghỉ.
Ngày sau ba người ngồi kiệu đi với quan phủ lên núi Tây Hư dòm xuống, thấy một vùng trắng xóa, sóng bủa nhấp nhô, cuồn cuộn như sôi, tràn ngập cả đê đường nhà cửa. Còn dân chúng thời xúm nhau che chòi dựng lều trên mấy chỗ nước mới mấp mé mà ở. Tình cảnh thật khá thương, ai xem qua cũng xót dạ. Bạch Ngọc Đường thấy vậy nghĩ thầm rằng: "Thương hại cho muôn dân đã bị thủy tai lại thêm thủy quái, mà lạ sao thủy quái không bắt người lại lấy đồ đạc trong nhà và tiền của? Muốn rõ điều này tối nay ta phải dò xét xem sao?". Nghĩ đoạn liền cho Nhan tuần án biết, rồi dắt theo bốn tên sai đinh đi thẳng lên đê Xích, nói rằng mình phụng chỉ đi tra nghiêm quanh cảnh lụt lội. Dân chúng nghe vậy liền tới cúi đầu tỏ sự khốn khổ. Bạch Ngọc Đường liền sai che một cái lều, chui vào ngồi, kêu ít người nạn dân tới cùng nhau nói chuyện thủy quái, nhân hỏi thăm tung tích đi lại của nó, thời biết rằng thủy quái chỉ có một cách gầm rống mà thôi. Bạch Ngọc Đường nghe xong móc túi đưa ra vài lượng bạc sai người đi mua chút ít rượu thịt về cùng nhau ăn uống. Trong khi ăn uống chuyện vãn, Ngọc Đường hỏi tới đường lối và các ngọn ngành xung quanh đê Xích. Mọi người đều nói: "Chỉ có bên kia chân núi là chỗ nước xoáy, thời thế nước ứ vẫn dữ dội lắm, hễ ai đi thuyền qua đó thì bị chìm đắm, thật là một nơi rất nguy hiểm". Bạch Ngọc Đường hỏi: "Nơi ấy có tên là gì?". Dân đáp: "Cách đây vài dặm là miếu Tam Hoàng". Bạch Ngọc Đường nghe ghi nhớ kỹ lưỡng lắm. Ăn uống xong dặn dân chúng núp trốn trong lều coi mình bắt thủy quái.
Đêm vừa quá canh hai, Ngọc Đường nghe có tiếng khì khịt bèn lén ra khỏi lều, tay cầm cục đá, núp xem tình thế. Thấy dưới nước nhảy lên một vật hình như hình người, mặt mày dữ tợn. Tóc bỏ xõa đi xăm xăm vào lều Bạch Ngọc Đường lén lén theo sau lưng, nghe trong lều có tiếng la: ”Quái vật tới đó! Thủy quái tới đó!" Bạch Ngọc Đường ở sau lưng vội vàng ném một cục đá Thủy quái bị ném đau quá, vừa quay đầu lại, bị Ngọc Đường ném tiếp một cục nữa quá nặng nên nhào lăn xuống đất. Ngọc Đường liền nhảy tới đè, rồi sai dịch áp tới bắt quái vật đem vào lều. Rọi đèn xem thì người ấy mang lốt, lột lốt ra thời chỗ bị ném chảy máu quá nhiều, kêu khóc xin dung mạng.
Ngọc Đường còn đương xem chợt nghe ngoài đê có tiếng la: "Thủy quái tới? Thủy quái tới?", liền vội vã chạy ra chỉ thấy mặt nước dợn và cuộn sóng thôi. Bây giờ các hương lão đều tề tựu lại coi thủy quái, thấy rõ người giả dạng mà cướp giật của dân, nên ai nấy đều tay đánh miệng chửi rất tàn tệ. Bạch Ngọc Đường cản lại mà rằng: "Đã biết đó là giả rồi, vậy từ rày về sau chớ có sợ nữa, hễ gặp thì xúm nhau bắt cho được đem nạp lại viện Tuần án mà lĩnh thưởng, chớ đánh khảo làm chi cho mỏi tay, sẽ có luật nước nghiêm trị cho". Mọi người vâng dạ, Bạch Ngọc Đường liền sai dịch giải con quỷ giả đó về viện Tuần án.
0
Hồi Thứ Tám Mươi Bốn [/align]

Công Tôn Sách dò nước gặp Mao Sanh,
Tưởng Trạch Trường lội hồ bắt Ngô Khấu.
 
Bạch Ngọc Đường về đến viện Tuần án, ra mắt Nhan đại nhân thuật rõ chuyện thủy quái. Nhan đại nhân liền thăng đường đem thủy quái giả ra tra. Thời là mười ba tên thủy khấu (ăn cướp trên mặt nước) tụ tập tại miếu Tam Hoàng, ban ngày cướp giật thuyền qua lại, tối giả thủy quái chụp giật của cải của dân chúng trên đê Xích. Bạch Ngọc Đường lại thuật lời hương lão đã nói chỗ xoáy nọ. Công Tôn Sách nghe nói như vậy nghĩ thầm rằng: "Chắc là có chỗ nào bị ngăn lấp, nên thế nước ứ dội làm cho tràn ngập các nơi, vậy phải tra xét cho kỹ rồi khai đào cho thông, mới mong cứu được nạn". Nghĩ xong tỏ ý với Nhan tuần án xin ngày mai đi dò xem thế nước. Nhan đại nhân chấp thuận. Bạch Ngọc Đường lại nói: "Đã có thủy khấu, ắt phải viện Tứ ca tôi trị nó mới xong". Nhan đại nhân nhận lời, liền viết sớ tâu lên Thiên tử, xin phủ Khai Phong phái Tưởng Bình tới giúp sức.
Ngày sau Nhan đại nhân phái hai viên Thiên tổng là Hoàng Khai và Thanh Bình cùng tám tên thủy thủ chèo hai chiếc thuyền cho Công Tôn Sách đi xem thế nước. Đi chẳng bao lâu, Thanh Bình hớt hải chạy về báo rằng: "Chúng tôi theo Công Tôn tiên sinh tới chỗ nước xoáy, chúng tôi cản không cho đi tới, Công Tôn tiên sinh không nghe nên thuyền bị chìm, ngài và Hoàng Khai mất tăm dạng, chúng tôi cứu không kịp, mau trở về báo cho đại nhân hay". Nhan đại nhân nghe nói thất kinh hỏi rằng: "Chỗ ấy bây giờ có thuyền bè qua lại không?". Thanh Bình thưa: ”Trước kia thì có, song từ khi xảy ra những chuyện nguy hiểm chìm đắm, thì thuyền bè sợ hãi nên không dám qua lại nữa". Nhan đại nhân nghe nói buồn lắm, sai quân đem thuyền đến mò kiếm thi thể mà thôi. Kiếm trót ngày mà không thấy tung tích gì, khoanh tay đợi Tưởng Thạch Trường tới.
Mấy hôm sau Tưởng Bình tới, Nhan đại nhân kể lại chuyện Công Tôn Sách và Hoàng Khai bị chìm tại chỗ nước xoáy ở Triền Noa và lời của tên thủy khấu cung khai rằng còn đồ đảng mười hai đứa tụ tập tại miếu Tam Hoàng cho Tưởng Bình nghe.
Hôm sau, Tưởng Bình bảo Thanh Bình chèo thuyền đưa mình tới Triền Noa. Thanh Bình thấy Tưởng gia ốm yếu thời nghĩ thầm rằng: "Người như vầy mà bắt sao cho được quái vật, chẳng qua đem thịt mà nạp miệng hùm thôi". Mải nghĩ như vậy, thuyền đã tới nơi, nước xoáy ầm ầm, thấy mà sởn gáy. Tưởng gia tay cầm giáo, mình mặc đồ lội nước rất gọn đứng dậy co giò nhảy đùng xuống nước, không còn thấy tăm dạng ở đâu.
Tưởng Bình đi dưới nước, mở mắt ra xem, thấy xa xa đi lại có một người, mình mặc lốt da, tay cầm chùy sắt, mò mò đi tới. Tưởng Bình định chắc người ấy lội nước không mở mắt được, bèn cho một mũi giáo vào hông, người ấy chết liền. Tưởng Bình đi lần tới đâm luôn hai người như vậy nữa, rồi đi ước ba dặm thời tới bờ, bèn nhảy lên, thấy có một tòa miếu, trên ngạch có tấm biển đề "Tam Hoàng miếu”. Tưởng Bình len lén đi vào, không thấy bóng người thấp thoáng, thẳng tới nhà bên trong nghe có tiếng rên hù hù, bèn bước tới xem, thời là một ông sãi bị ốm.
Ông sãi ấy vừa thấy Tưởng Bình lật đật nói rằng: “Tôi không biết việc gì, đó là bọn học trò tôi thả vị tiên sinh và Thiên Tổng rồi trốn đi, để họa lại cho tôi đó xin lão gia dung mạng!”. Tưởng Bình nghe lời nói, có thể dò ra manh mối được, bèn hỏi: ”Tôi vì cứu vị tiên sinh ấy mà tới, vậy người đã bị hại chưa?". Ông sãi nói: "Vậy ngài là quan viên đây sao? Xin thứ lỗi cho tôi. Nguyên mấy ngày trước có hai người chìm thuyền tại Triền Noa, bọn thủy khấu mò vớt đem về cứu sống, nhìn ra thời một người là viên Thiên tổng họ Hoàng, còn hỏi người nọ là Công Tôn tiên sinh vâng chỉ Thiên tử đi trị thủy. Bọn thủy khấu nghe vậy, liền giao hai người cho học trò tôi giữ, rồi để lại ba người cướp giật thuyền buôn qua lại, còn bao nhiêu đều đi lên Tương Dương Vương thông báo, hoặc giết cả hai người hay là đem nạp cho Phi Xoa Thái bảo Chung Hùng. Khi chúng nó đi rồi, tôi bàn bạc với học trò thả hai người ấy đi và bảo nó trốn để tôi ở lại liều mạng cho chúng nó giết đánh gì tự ý". Tưởng Bình gật đầu và tỏ ít lời cảm ơn, rồi hỏi: "Người đầu mục của nó tên gì?". Ông sãi nói: "Nghe nó tự xưng là Trấn Hải Giao Ngô Trạch". Tưởng gia hỏi: "Còn vị tiên sinh và Thiên tổng đi ngả nào, ông biết không". Ông sãi nói: “Chỗ chúng tôi ở đây hoang vắng lắm, một mặt trông ra biển, một mặt dựa vào non, chỉ có một con đường đi rất khúc khuỷu quanh co, ước mười dặm tới một chỗ kêu là Loa Sư Loan, tới chỗ đó mới có nhà người ở”. Tưởng gia hỏi: "Từ đây lại Loa Sư Loan có thể đi đường thủy được không?". Ông sãi nói: "Được và gần lắm, ước vài dặm thôi!”. Tưởng Bình hỏi: “Chừng nào bọn thủy khấu về đây?". Ông sãi nói: “Ước vài ngày thời nó về tới". Tưởng Bình hỏi xong lai lịch rồi nói "Vậy ông nên yên dạ, mai này sẽ có quan binh tới bắt chúng nó, ông không bị hại đâu”. Nói đoạn đi ra khỏi miếu, nhảy ùm xuống nước, lặn ra tới Triền Noa ló lên thuyền dặn Thanh Bình rằng: “Ngươi mau chèo thuyền trở về báo với Tuần án, xin thêm năm mươi tên quan binh sáng ngày đem thuyền tới miếu Tam Hoàng bao vây bốn phía, chờ cho thủy khấu tụ tập lại, khi chúng đi ra sẽ núp theo mà đánh". Thanh Bình nói: “Chỗ nước xoáy này đi qua sao được?". Tưởng Bình nói: "Khi trước có ba tên thủy khấu đi đục thuyền, bây giờ ta đã giết rồi còn gì sợ. À! Ta đã dò được tin Công Tôn tiên sinh và Hoàng Thiên tổng đi đâu rồi”. Nói dứt lời, nhảy xuống nước lội qua mé tây bắc, Thanh Bình quay thuyền trở về.
Tưởng Bình đương đi dưới nước, nghe trên đầu có tiếng động, bèn trồi lên thời thấy một người ngồi trên bè thả lưới bắt cá. Người nọ dòm thấy Tưởng Bình mặt đồ chẹt ốm nhách như con vượn thời cười rằng: "Bộ tướng như vậy mà cũng lội nước làm giặc, ta không thèm hại mi đâu. Sao chưa chịu đi đi?". Tưởng Bình nói: "Không, ta không phải là thủy khấu, mà ngươi cũng không phải là kẻ đánh cá, vậy dám hỏi quý tính là chi? Ta tới đây chỉ hỏi thăm đường qua Loa Sư Loan mà thôi". Người nọ hỏi: "Mi tên họ là gì?" Tưởng Bình đáp: "Tôi họ Tưởng tên Bình”. Người nọ vội vàng nói: "Té ra Phiên Giang Thử đây sao? Xin thứ lỗi, tôi đây là Mao Tú nhà ở tại Loa Sư Loan, nhân có hai vị quan trưởng ở tại nhà, hằng nói tới danh hiệu ngài và nói rằng ít lâu nữa ngài sẽ tới, nên sai tôi giả đánh cá mà thăm tin. Vậy xin mời ngài về nhà tôi cùng nhau gặp gỡ. Tưởng Bình nhận lời leo lên, Mao Tú cuốn lưới rồi chống bè về Loa Sư Loan. Khi tới nơi thấy một ông già tức là cha của Mao Tú ra tiếp rước, kế Công Tôn Sách và Hoàng Khai ra chào mừng, ai nấy chuyện trò rất là vui vẻ. Công Tôn Sách liền chỉ ông thân của Mao Tú và nói với Tưởng Bình rằng: "Lão trượng đây quý danh là Cửu Tích, thật người cao minh ẩn sĩ, thông hiểu cách trị thủy". Tưởng Bình nghe nói mừng lắm.
Một lát Mao Tú bày cơm nước ra, mọi người xúm lại ăn uống rồi ở nghỉ tại đó. Hôm sau Tưởng Bình nai nịt gọn gàng, cầm giáo từ giã các vị ra đi, và hứa rằng: "Khi nào trừ xong thủy khấu sẽ trở lại rước”. Dứt lời ra mé hồ nhảy xuống, tính đi tới chỗ nước xoáy rồi tới miếu Tam Hoàng dò tin tức Thanh Bình và thủy khấu xem tới chưa. Chẳng dè đi vừa một đỗi, thấy có hai người mặc lốt da, tay cầm đao đi tới, Tưởng Bình bèn huơ giáo thưởng mỗi người một mũi rất mạnh, cả hai đều chết liền.
Tưởng Bình giết hai tên thủy khấu rồi, mới quay mình trở đi, chợt thấy có mũi thương đâm tới liền vội né tránh. Người đâm Tưởng Bình đó là Trấn Hải Giao Ngô Trạch. Từ khi đem tám tên thủy khấu trở lại miếu Tam Hoàng tính giải Công Tôn Sách và Hoàng Khai qua Quân Sơn cho Phi Xoa Thái bảo, ai dè vừa vào miếu thời nghe có tiếng la: "Bắt thủy khấu! Bắt thủy khấu!”. Bọn thủy khấu hoảng kinh cầm đao túa ra, bị phục binh của Thanh Bình giết hai đứa và bắt bốn đứa. Còn hai đứa thoát khỏi, lặn xuống nước tìm đường thoát thân, rủi gặp Tưởng Bình mới giết khi nãy đó. Viên đầu lĩnh của bọn thủy khấu là Ngô Trạch tuy có tài giỏi, song chống cự với Thanh Bình và quan binh không lại, nên nhào xuống nước tìm đường thoát thân. Đi vừa tới đây gặp Tưởng Bình, liền giơ thương đâm tới. Tưởng Bình né khỏi mũi thương rồi huơ giáo giao chiến. Phàm phép chiến đấu dưới nước phải khác hơn trên bờ, ở dưới thường dùng khí giới ngắn nhỏ mới tiện chớ thương dài, bản lớn nên xoay xở chậm chạp lắm, vì vậy Tưởng Bình lừa thế lòn ra sau lưng, một tay với nắm khăn trùm, một tay dùng giáo đâm vào bắp tay Ngô Trạch. Ngô Trạch bị đâm đờ đẫn không còn chống cự nổi, buông trường thương, rồi lăn đi. Tưởng Bình ôm lại nhận hoài, không cho ló mũi lên mặt nước lấy hơi thở, đến chừng thấy Ngô Trạch uống nước nhiều rồi, bèn kéo lên mặt nước thấy thuyền của Thanh Bình đậu dài theo mé hồ bèn kêu thuyền ra vớt Ngô Trạch lên, xóc nước cho tỉnh lại. Tưởng gia bèn hỏi Thanh Bình rằng: “Ngươi đem binh tới miếu Tam Hoàng sự thể ra sao?". Thanh Bình đáp: "Tới đó vây bắt được bốn tên thủy khấu và giết hai tên, còn hai tên chạy thoát". Tưởng Bình nói: “Hai tên ấy ta cũng giết được rồi. Chỉ người này chẳng hiểu có phải là Ngô Trạch hay không?". Nói đoạn sai dắt ra một tên thủy khấu bị bắt sống, rồi chỉ Ngô Trạch mà hỏi thời nó nhận là đầu lĩnh Ngô Trạch chẳng sai. Tưởng Bình cả mừng, truyền lệnh thủy thủ chèo thuyền riết về viện Tuần án.
0
Hồi Thứ Tám Mươi Lăm [/align]

Ra tài trị thủy, cha con Mã Tú được phong
Vì nghĩa bắt gian, chú cháu Tưởng Bình gặp mặt
 
Tưởng Bình và Thanh Bình áp giải thủy khấu về, ra mắt Nhan đại nhân và Bạch Ngọc Đường rồi thuật lại chuyện bắt và giết hai thủy khấu thế nào, và tiến cử cha con Mao Tú là người thông hiểu cách trị thủy, có thể giúp việc được tại hồ Hồng Trạch này. Nhan đại nhân nghe theo lời, sai Thiên Tổng Thanh Bình đem hai mươi binh bảo chở lễ vật tới Loa Sư rước Công Tôn Sách và thỉnh cha con Mao Tú.
Thanh Bình vâng lệnh đi rồi, Nhan đại nhân liền thăng đường, đem Ngô Trạch ra xét hỏi. Ngô Trạch cứ thật tình khai rằng: "Nguyên Tương Dương Vương thấy bọn tôi biết lội lặn dưới nước giỏi, nên sai tới khuấy phá tại hồ Hồng Trạch, một là làm cho hư vỡ đê đường, nhân dân không dám ở đó; hai là làm chìm đắm cướp giật thuyền bè qua lại, cho hành khách không dám đi qua; rồi sai người tới chiếm cứ ở giữ tại đó vì nơi ấy là chỗ yết hầu của xứ Tương Dương”. Nhan đại nhân lấy khẩu cung của bọn Ngô Trạch rồi, liền sai nha dịch đem cả bọn xuống huyện, giam vào ngục, đợi khi trị thủy xong sẽ áp giải về Đông Kinh, giao phó xong thời thấy Thanh Bình trở lại báo rằng: “, Công Tôn Sách đã mời cha con họ Mao tới, thuyền vừa đậu mé hồ". Nhan đại nhân vội vã sai đem ngựa tới bến thuyền chực rước. Ai nấy đều lên ngựa về tới nơi, thẳng vào thư phòng hỏi Mao Cửu Tích về phép trị thủy. Cửu Tích liền móc túi ra một bức địa đồ. Nhan đại nhân tiếp lấy xem, nào là rạch ngòi, nào là đê cản, chỗ này hẹp, chỗ nọ sâu, mỗi nơi đều được biên đề rất kỹ rõ ràng minh bạch; chỗ nào đắp đê cản được, chỗ nào phải khai vét cho thông. Nhan đại nhân xem xong mừng rỡ chẳng xiết, trao lại cho Công Tôn Sách xem, cả hai khen ngợi lắm, vui vẻ như được vật báu, nên cầm cha con họ Mao ở lại, đợi Thánh thượng xuống chỉ, rồi sẽ giúp sức mà cứu lụt cho dân chúng.
Công Tôn Sách và Hoàng Khai thì đi tới miếu Tam Hoàng tạ ơn và nói cho hòa thượng hay rằng mình đã mướn người tìm kiếm học trò của hòa thượng về mà đáp ơn cứu mạng.
Chẳng mấy ngày thánh chỉ đã xuống. Nhan đại nhân liền phân phát khởi công, cứ theo địa đồ ấy mà làm, trong bốn tháng trời xong xuôi, thật tài của Mao Cửu Tích đáng kính phục. Việc trị thủy hoàn thành, Nhan đại nhân sai giải Trấn hải giao Ngô Trạch và bốn tên thủy khấu về kinh giao cho Hình bộ thẩm trị, còn viên chức tại viện tuần án cũng lục tục về triều. Nhan đại nhân dâng biểu phục chỉ, ngoài lại có một tờ tâu rõ công cán của cha con Mao Tú và Hoàng Khai, Thanh Bình. Thiên tử xem xong sắc phong cho Mao Cửu Tích ngũ phẩm, Mao Tú lục phẩm, còn Hoàng Khai, Thanh Bình thâu dụng chừng nào có chỗ khuyết sẽ bổ nhiệm.
Hình bộ thượng thư là Âu Dương Tu đem Ngô Trạch ra tra, thời rõ là chúng nó bị Tương Dương Vương xúi giục, liền dâng sớ tâu lên Thiên tử.
Thiên tử xem sớ của Âu Dương Tu, lập tức triệu Bao Công tới bàn cách tảo trừ Tương Dương Vương, vì mưu gian đã lộ không còn dung được nữa. Bao Công liền tâu rằng: "Nếu bây giờ gióng trống phát binh e Tương Dương Vương khởi biến, chi bằng sai người lén dò tình thế, trừ bớt vây cánh, rồi gióng một hồi trống thời thành công ngay". Vua liền chuẩn tấu, phong Nhan Xuân Mẫn làm Văn uyên các đại học sĩ, vâng chỉ tuần án Tương Dương; gia phong Công Tôn Sách làm chủ sự, Bạch Ngọc Đường làm Tứ phẩm hộ vệ, Tưởng Bình cất lên thế vào tước cũ của Ngọc Đường, cùng theo ra Tương Dương tuần xét.
Chẳng dè Tương Dương vương đã sắp đặt phòng ngừa. Tả thời có Hắc Lang Sơn, Kim diện thần Lam Kiêu; hữu thời có Quân Sơn Phi Xoa thái bảo Chung Hùng coi giữ thủy bộ, thành ra thế vững như chân kiềng.
Nói về Thiên tử ngày nọ nhớ tới Bắc Hiệp Âu Dương Xuân, bèn triệu Bao Công tới, Bao Công tâu rõ tài đức của Bắc Hiệp cho Thiên tử nghe. Thiên tử khen lắm. Bãi chầu, Bao Công về phủ kể chuyện ấy cho Nam Hiệp. Nam Hiệp ra công sở nói lại với các vị anh hùng, Tưởng Bình liền nói: "Nếu muốn tìm Bắc Hiệp thì tôi xin đi cho, vì tôi có thể biết chỗ của y, và nhân dịp dò la công sự". Các vị anh hùng khen phải. Tưởng Bình liền vào ra mắt Bao Công mà xin đi. Bao Công vui lòng cho, lập tức biên phiếu đóng ấn giao cho Tưởng Bình, Tưởng Bình tiếp lấy bái tạ lui ra, từ giã các vị anh hùng rồi đi qua thôn Mạc Hoa.
Ngày kia vừa tối, tới trấn Lai Phong vào ngụ tại quán Duyệt Lai, cơm nước xong xuôi, vào phòng yên nghỉ, buồn đi tiểu mới ra mé sau, thấy có người lấy tay gõ cửa chớ không kêu, bèn núp xem. Khi cửa mở ra, người ấy lách mình vào rồi khép cửa lại. Tưởng Bình nghĩ là có việc ám muội, bèn nhảy tường mà vào thì ra đó là chỗ chủ quán ở. Nghe có người nói: "Tiểu đệ cầu đại ca giúp đỡ, mới đây lại phòng mé đông tôi nhìn ra người nghịch với Viên ngoại tôi, thời làm sao chịu để cho y đi khỏi". Lại nghe có người đáp: "Tuy như vậy song làm sao báo cừu cho em được?”. Người nọ nói: "Tiểu đệ đã thấy nó ngủ rồi, ngủ mê lắm, vậy đến đó thắt cổ nó cho chết rồi kéo bỏ nơi đồng hoang thì có hại gì". Người khác nói: "Đợi nói ngủ thật mê rồi sẽ hạ thủ không muộn gì".
Tưởng Bình nghe tới đó bèn trở ra đi qua phòng mé đông, lén đi vào thấy người còn trẻ nằm quay mặt vào vách mà ngủ, lại gần xem thời là tiểu hiệp Ngại Hổ đương say, thì nghĩ thầm rằng: "Đứa trẻ như vầy, vì ham uống rượu đến nỗi mê say, nếu không có ta tới đây, thì còn gì tính mạng". Nghĩ đoạn thổi đèn rồi đứng núp mé sau cửa rình xem có động tĩnh gì chăng? Giây lâu thấy có người đi tới cửa, liền gạt chân cho té, người đi sau vừa tới cũng té luôn. Tưởng Bình liền nhảy ra đè cả hai và nói luôn: “Ta là Tưởng Bình đây, nó là kẻ ác tặc". Ngại Hổ nghe la tỉnh dậy nhảy xuống giường. Tưởng Bình ngóc đầu lên, bảo phụ sức đè hai người ấy. Ở ngoài, người hầu phòng nghe la liền xách đèn đi vào. Tưởng Bình bảo nó thắp giùm đèn trong phòng lên, rồi trói hai người ấy lại, coi kỹ thì một người là chủ quán, một người là anh em bạn với chủ quán.
Tưởng Bình trói cả hai rồi, bèn ngồi lên hỏi chủ quán rằng: “Cớ sao mi nghe lời gian ác, mà mưu hại cháu ta, mau nói ta nghe thử?”. Chủ quán nói: "Xin lão gia chớ giận, tôi tên là Tào Phiêu, chỉ vì bạn tôi là Đào Tôn lo trả thù cho Viên ngoại nó, rủi sao vị khách này vào tiệm, Đào Tôn nhìn là kẻ thù Viên ngoại mình, quyết ý trả oán, nên cậy tôi tới đây giúp sức". Tưởng Bình hỏi: "Phải cậy mi tới đây thắt cổ cháu ta hay không?". Tào Phiêu nói: "Quả không có chuyện ấy, chẳng qua là cậy tôi phụ bắt gian mà thôi". Tưởng Bình liền nói lại y những lời của chúng nó vừa bàn bạc lại một lượt. Tào Phiêu tắc họng hết chối cãi. Ngại Hổ liền kéo người nọ lên nói với Tưởng Bình rằng: ”Tên này là Đào Tôn, bộ hạ của Mã Cường cải tên là Giao Thành, lên kinh dâng trạng gỡ tội cho chủ, sau vì thấy thế nguy, e liên lụy tới mình nên kiếm nơi trốn lánh". Tưởng Bình nói: "Đã đổi tên là Giao Thành, nay sao lại cải là Đào Tôn". Đào Tôn thưa: ”Vì sau này sợ án của Mã viên ngoại liên lụy tới thân nên đổi theo tên cũ”. Tưởng Bình nói: "Cái tên mà còn không chính, thì lòng chắc chẳng ngay". Nói đoạn sai người hầu phòng đi báo quan Bảo giáp ở tại đó, nói rằng: "Có công sai tại phủ Khai Phong đi bắt kẻ gian, phải mau mau tới!”. Tưởng Bình hỏi: "Chỗ này thuộc về huyện nào?". Bảo giáp đáp: "Thuộc về huyện Đường". Tưởng Bình hỏi: "Quan huyện tên họ là gì" Bảo giáp đáp: "Tên Hà Chí Hiền”. Tưởng Bình liền nói: "Ta đây là Tưởng Bình, vâng lệnh Bao thừa tướng đi bắt tội phạm, nay gặp nó trong quán này, đã bắt trói lại rồi, vậy phiền các ngươi gìn giữ, đợi sáng ngày giải xuống huyện với ta". Bảo giáp thưa: "Xin lão gia yên dạ, chúng tôi nguyện hết sức lo tròn bổn phận". Tưởng Bình nói: "Được vậy càng hay”. Nói đoạn nắm tay Ngại Hổ dắt về phòng mình bên mé tây.
0
Hồi Thứ Tám Mươi Sáu [/align]

Ngọa Hổ Câu anh hùng tìm bạn,
Cửa Trân Ngọc chú cháu lạc nhau.
 
Tưởng Bình dắt Ngại Hổ về phòng mình rồi hỏi rằng: "Thầy cháu bây giờ ở đâu, cháu tới đây có việc gì?" Ngại Hổ thưa: "Sau khi thầy trò cháu dự lễ hôn nhân của Nghê Thái thú rồi, thời liền qua bên chú Đinh ở thôn Mạc Hoa. Chẳng dè chú Đinh có sai người do thám sự tình của Tương Dương Vương thì biết rằng Tương Dương biết được triều đình đã biết mưu phản của mình, sẽ cử binh chinh phạt, nên dự bị rất chắc chắn, phía tả có Hắc Lang Sơn, Kim diện thần là Lam Kiêu ở giữ đường bộ; phía hữu có Quân Sơn, đặt Phi Xoa thái bảo là Chung Hùng ở giữ đường thủy. Hai đường ấy là nơi yết hầu rất trọng yếu để chống cự với triều đình. Vì vậy thầy và cha nuôi của cháu lo sợ cho bác Thiết diện kim cang là Sa Long bị chúng dụ vào nẻo có mai phục hay là bị chúng làm hại, vì nhà của bác Sa Long ở tại Ngoa Hổ Câu gần Hắc Lang Sơn lắm. Lo vậy nên thầy và cha nuôi cháu đi với chú Huệ lên Ngọa Hổ Câu, để cháu ở nhà với chú Lang buồn quá, nên cháu lén ăn cắp của chú Lang năm lượng bạc làm lộ phí đi lên Ngọa Hổ Câu chơi ai dè đi vừa tới đây lại gặp kẻ thù!”. Tưởng Bình nghe nói nghĩ thầm rằng: ”Thằng này thật là đứa anh hùng nên mới ham những nơi náo nhiệt, sao lại không đem nó đi theo với". Nghĩ đoạn nghe Ngại Hổ hỏi rằng: "Thưa chú, chẳng hay chú tới đây bắt tội phạm hay là có việc chi nữa chăng?". Tưởng Bình nói: "Ta tới đây cố tìm cha nuôi của cháu”. Ngại Hổ hỏi: "Bây giờ chú muốn đi đâu?". Tưởng Bình nói: "Cha nuôi cháu đã lên Ngọa Hổ Câu, thời sáng này chú giải Giao Thành xuống huyện rồi cũng lên đó". Ngại Hổ nghe nó mừng lắm thưa rằng: "Vậy thời chú làm ơn dắt cháu theo với. Nhưng mà lên tới nơi chú nhớ nói với thầy và cha nuôi cháu rằng chú dắt cháu đi cho khỏi bị rầy nhé". Tưởng Bình nghĩ rằng: "Thằng này nhỏ mà ghiền rượu quá, lại ăn cắp tiền nữa. Thôi ta dắt nó theo cho trọn nhân tình và dễ tìm Bắc Hiệp, nhưng phải làm như vầy... như vầy". Rồi nói rằng: "Nếu cháu muốn chú dắt đi thời phải chịu một điều này: "Ngại Hổ nói: "Điều gì xin chú cứ nói". Tưởng Bình nói: "Từ nay về sau, cháu có uống rượu thì chỉ uống ba chén mà thôi, chớ chẳng cho thêm lên một chén nữa, vậy có chịu không?". Ngại Hổ suy nghĩ một hồi rồi ưng chịu.
Sáng ngày, chú cháu Tưởng Bình cùng đi với viên Bảo giáp giải Tào Phiêu và Giao Thành xuống huyện Đường trình ấn phiếu của Bao Công cho Hà Chí Hiền xem rồi cậy phái người giải hai tên phạm về kinh. Hà huyện thấy có ấn phiếu của Tướng phủ thì không dám trễ nải, lập tức sai người giải tống. Chú cháu Tưởng Bình cũng từ giã đi. Sai dịch giải Tào Phiêu và Giao Thành tới phủ Khai Phong. Bao Công liền thăng đường thẩm vấn, Giao Thành (tức Đào Tôn) khai ngay việc giết Nghê Nhân, làm tôi Mã Cường thế nào... Bao Công bắt ký khẩu cung, rồi dùng Cẩu đầu trát chém Bao Thành còn Tào Phiêu thời bắt đi sung quân.
Chú cháu Tưởng Bình ra khỏi huyện Đường đi qua Hồ Quảng, quả nhiên Ngại Hổ mỗi ngày chỉ uống ba chén rượu mà thôi. Ngày nọ đi tới Nhụ Khẩu mướn thuyền của Phú Tam mà đi. Đi hơn một ngày, lúc ba bốn giờ chiều, Phú Tam liền bảo thủy thủ đậu thuyền nói rằng sắp có sóng to gió lớn. Thuyền liền đậu lại mũi Nga Đầu, dưới ấy một đỗi là cửa Trân Ngọc, thật là một nơi vắng vẻ vô cùng. Gần đỏ đèn, người trong thuyền đều ăn cơm, ăn xong dòm lên trời thấy trời trong mây tạnh không có chút gió nào thoảng qua. Tưởng Bình nghi Phú Tam là kẻ gian ác muốn cướp giật hành lý nên lựa nơi vắng vẻ đậu lại, chờ tối ra tay, nên cẩn thận đề phòng lắm. Còn Ngại Hổ thời ăn uống rồi liền nằm ngủ say.
Chừng một lát lâu có gió thổi tới ù ù, trời tối như mực, sóng đánh ầm ầm, thuyền đậu trong mé bờ thế mà cũng lao chao nghiêng chuyển. Sóng gió như vậy ước một giờ, thời trời trong trăng mọc, sóng lặng thuyền êm. Tưởng Bình ngồi trong thuyền nghe xa xa có tiếng kêu cứu, lắng tai nghe rõ thời tiếng ấy ở mé tây bắc, liền ra ngoài xem, thấy tại đó có điểm đèn leo lét bèn nghĩ rằng: "Ta nên cứu người làm nghĩa!”. Nghĩ đoạn lật đật nhảy đại xuống nước nhắm theo hướng có tiếng la lội tới. Lội một đỗi thấy có một người đương hụp lên hụp xuống theo dòng nước mà trôi tới. Tưởng Bình vội vàng ôm riết lấy người ấy lội phóng vào bờ, kéo theo xốc nước. Chẳng bao lâu người ấy tỉnh dậy. Tưởng Bình hỏi tới tên họ tuổi tác thời người ấy đáp rằng: "Tôi tên Lôi Chấn tuổi hơn năm chục". Tưởng Bình liền hỏi: ”Có phải ông với quan Triêm Đường của Tương Dương Vương là Lôi Anh có bà con không?”. Lôi Chấn nói: "Nó là con tôi, sao ân nhân lại biết?". Tưởng Bình nói: "Vì nghe tiếng đã lâu nhưng chưa gặp mặt, vậy chẳng hay lão trượng quê quán tại đâu và bây giờ đi đâu?". Lôi Chấn đáp: "Nhà tôi ở về thôn Bác Bảo, sau phủ Tương Dương chừng một dặm. Nhân nhà con gái tôi nghèo nên tôi sắm sửa y phục nữ trang qua huyện Lăng thăm nó, mới mướn thuyền của anh em Mễ Tam và Mễ Thất đưa đi. Chúng nó thấy tôi có y phục và rương níp nhiều bèn động lòng tham, nói rằng trời sắp có dông to gió lớn, nên đậu thuyền lại, tới trời tối bèn giết đầy tớ của tôi. Tôi thấy thế nguy bèn kêu người tháp cứu, thời chúng nó lại toan giết tôi, tôi liền tông cho sút cửa thuyền ra nhảy xuống sông, may nhờ có ân nhân cứu mạng”. Tưởng Bình nghe dứt nói rằng: "Bây giờ thuyền nó ắt chưa đi, vậy ông ở đây đợi một lát tôi sẽ đem rương níp về cho mà xem". Nói rồi nhảy xuống nước nhắm chỗ có bóng đèn lội tới. Tới nơi nghe hai tên cướp ấy nói với nhau rằng: "Bửa rương đó ra coi những gì ở trong". Tưởng Bình nghe nói vội vàng vịn thuyền nhảy lên. Mễ Thất ở trong khoang thấy có người tới lật đật xách dao nhảy ra. Tưởng Bình liền đá cho một cái té nhào, rồi giật dao chém chết. Mễ Tam ở trong khoang thấy thế nguy cấp liền chui ra cửa nhào xuống nước tìm đường thoát thân. Tưởng Bình vội vàng nhảy theo, bắt đem lên thuyền kiếm dây trói lại, bỏ nằm tại khoang thuyền, rồi lội trở lại chỗ Lôi Chấn ngồi, cõng đem lại đó.
Tưởng Bình cõng Lôi Chấn trở lại thuyền, thời rương níp còn nguyên y, bèn dặn ông ta rằng: "Bây giờ tên cướp còn lại đã bị tôi bắt trói rồi, không còn lo gì nữa, vậy ông ở đây đợi sáng mướn thuyền khác mà đi". Nói đoạn, nhảy xuống nước lội lại mũi Nga Đầu, thời không thấy thuyền mình ở đó, chắc là Phú Tam thấy trời êm gió xuôi bèn nhổ neo chèo thuyền đi rồi. Tưởng Bình không biết tính sao, bèn lội trở lại thuyền của Lôi Chấn. Vừa tới nơi nghe Lôi Chấn nói lập cập rằng: "Mày đừng cục cựa, nếu cãi lời tao chém một đao". Tưởng Bình biết ông ta sợ, bèn lên tiếng rằng: "Có tôi lại đây lão trượng chớ sợ". Nói đoạn nhảy lên thuyền ra mắt Lôi Chấn, thuật chuyện thuyền mình đã đi rồi và xin theo đưa ông qua huyện Lăng. Lôi Chấn cả mừng lật đật lấy y phục trao cho Tưởng Bình thay. Tưởng Bình thay y phục xong, dòm lại thấy Mễ Tam, bèn đá xuống nước chìm ngấm, rồi quay lại nói với Lôi Chấn rằng: "Lũ này giết hại không biết mấy mạng, cướp giết chẳng biết bao nhiêu, nay số mãn thời cùng mới gặp Tưởng mỗ, thôi lúc sống đã làm ăn trên mặt nước, thời bây giờ cho nó chết dưới đáy nước”.
Việc Tưởng Bình đưa Lôi Chấn qua huyện Lăng không vội chi, nay chỉ nói lại Tiểu Hiệp Ngại Hổ ngủ một giấc tới sáng thức dậy không thấy Tưởng Bình, bèn chui ra ngoài hỏi Phú Tam rằng: "Chú ta đâu rồi?”. Phú Tam nói: ”Hai người ngủ với nhau trong khoang sao lại hỏi tôi?". Ngại Hổ nghe nói thất kinh, xem kỹ lại thấy trước mũi thuyền có để đôi giày liền la rằng: "Thôi rồi, chú ta té xuống nước mất, chắc là bọn bay lập mưu hại chứ gì?". Phú Tam nói: "Chú em nói sao vậy? Hồi hôm đậu thuyền thời hai người ngủ ở khoang trước, chúng tôi ngủ ở khoang sau, làm sao ra đó mà hại? Chắc là ông ta đi tiểu trật chân té xuống sông chớ gì?”. Người bạn chèo nọ nói xen vào: "Thôi thôi biết rồi, cậu đừng nói, cậu thấy ông kia có nhiều đồ hành lý, nên cậu giết mà đoạt, rồi lại đổ thừa cho bọn tôi”. Ngại Hổ nguýt một cái rồi nói: "Chú của ta mà ta hại sao được?". Người bạn chèo nói: ”Biết đâu, tiền tài làm tối mắt, bạc vàng làm đen tâm mà". Ngại Hổ nghe nói cả giận xắn tay áo muốn đánh người ấy. Phú Tam cản lại mà rằng: "Thôi, tôi hiểu rồi. Ông ấy không bị ai hại, mà cũng không phải trật chân té, nếu bị ai hại, hay là té sao còn đôi giầy để trên thuyền, chắc là đi đâu rồi". Ngại Hổ nghe nói hết giận, hai người bạn chèo cũng nín thinh. Ngại Hổ liền vào khoang xem hành lý vẫn còn nguyên, ấn phiếu của Tướng phủ và y phục cũng không mất, đến đãy tiền cũng còn đủ, thời buồn lắm không rõ chú Tưởng đi đâu, không lẽ nửa đêm mà lội xuống sông mò cá. Ngại Hổ còn đương suy nghĩ, nghe Phú Tam nói rằng: "Bớ chú em? Thuyền đã đến bến rồi, mau mau sửa soạn mà lên “. Ngại Hổ cực chẳng đã phải buộc đãy tiền vào lưng, rồi quảy hành lý lên bờ.
0
Hồi Thứ Tám Mươi Bảy
[/align]

Cướp cá giật rượu, Ngại Hổ gặp anh,
Luận phú bình thi, Kim Công thử rể.
 
Ngại Hổ quảy đồ hành lý lên bờ, vừa đi vừa nghĩ: ”Chú Tưởng cứu mình khỏi nạn, mà rồi bị nạn mình không cứu được còn xưng Tiểu Hiệp làm gì!". Nghĩ như vậy bất giác trong lòng cảm xúc khóc ròng. Khóc một hồi bỗng nhớ lại: "Ủa! Chú Tưởng hằng tự xưng là Phiên Giang Thử, nghĩa là con chuột vọc nước, dám vọc nước chắc là lội giỏi, hễ lội giỏi đâu có chết chìm”. Nghĩ tới như vậy bèn vỗ tay cười. Ngại Hổ mải suy nghĩ khóc khóc cười cười, mà đi tới tối không hay. Chừng bụng đói muốn kiếm nhà nghỉ, thời không có tiệm quán nhà cửa ai, đương lúc cùng đường lạ cảnh ấy, thấy xa xa có ánh đèn bèn đi riết tới, thời nơi ấy là một cái chòi, có hai người thợ câu đương uống rượu. Hai người thợ câu ấy thấy Ngại Hổ tới, liền rầy rằng: “Chỗ chúng ta uống rượu chơi vui, mi là trẻ nhỏ ở đâu dám tới đây làm rộn?". Ngại Hổ nói: "Bởi vì đường xa quá, bụng đói như cào vậy, xin cho ít miếng đỡ dạ". Nói dứt lời liền áp vào bưng rượu uống. Hai người thợ câu nói: "Mi muốn ăn uống, thời để chờ chúng ta ăn thừa sẽ cho mi ăn". Ngại Hổ nói: ”Ta chẳng phải ăn mày hay ăn đậu phường mà ăn như vậy. Ta có tiền đây hai người bán chịu cho ta ít chén rượu không?". Người thợ câu nói: "Chúng ta chẳng phải lập quán bán rượu, mi muốn uống thời đi mua mà uống!”. Ngại Hổ không thèm nói, thò tay bưng rượu uống. Người thợ câu nói: "Thằng nhỏ này quá lắm, tao không bán, sao mày lại uống?". Ngại Hổ nói: “Không bán cho tao thời tao giật tao uống chớ sao?”. Người thợ câu cười nhạt, rằng: "Mi giật à! Tao không cho đâu, giỏi ra đây". Nói rồi nhảy ra khỏi chòi xắn áo đứng thủ thế. Ngại Hổ vội vàng để gói hành lý xuống nói rằng: “Nếu muốn vậy thời phải thẳng tay, bằng tao thắng bao nhiêu cá đó phải để tao ăn một bụng". Người thợ câu không thèm trả lời, co tay nhảy tới đấm một đấm. Ngại Hổ né qua khỏi lừa thế đá một cái, người ấy té nhào. Người còn ngồi trong chòi thấy vậy nhảy ra đánh sau lưng Ngại Hổ một đấm, Ngại Hổ lẹ mắt, quay lại đỡ rồi đá cho một đá cũng nhào lăn. Hai người ấy nhắm sức mình đánh không lại đứng dậy phủi áo, xoay lưng đi thẳng.
Ngại Hổ đánh thắng hai người thợ câu rồi trở vào chòi thấy cá rượu còn nhiều thì mừng lắm, ngồi lại ăn uống một hơi sạch nạo đến cặn cũng không chừa. Uống hết rượu dưới mâm, dòm lên nóc chòi thấy có treo một cái bầu, mừng lắm, mở xuống xem quả là bầu rượu, song bị nắp thiếc, vặn ốc, Ngại Hổ mở không được nên đập cổ mà uống. Uống hết bầu rượu ấy liền quảy gói hành lý lên vai bất kể là hướng nào, cứ cắm đầu đi mãi.
Ngại Hổ đi một lát, thấm rượu, đi không được nữa, nhìn bên đường thấy có cái đình hư không kể bụi bậm dơ sạch gì, liền để gói hành lý xuống gối đầu nằm, vừa nhắm mắt thì đã ngáy khò khò ngủ mê man như chết.
Chính lúc Ngại Hổ đương say, hai người thợ câu bị đánh kia, về gọi thêm năm sáu người nữa, kéo tới chòi, thấy mâm đĩa nghênh ngang không còn chút rượu cặn cá thừa, lại cái bầu cũng vỡ, mà Ngại Hổ thì đi đâu mất. Chúng bèn lật đật rượt theo đến cái đình hư, gặp Ngại Hổ say mèm nằm như chết ở đó, bèn nổi giận đánh cho ít hèo, song cậu ta không thèm cục cựa. Chúng đánh mãi song cũng như không. Trong bọn có người lớn tuổi bảo rằng: “Lúc nó đương say đánh cũng vô ích, nếu rủi sẩy tay nó chết thời mang họa to. Chi bằng đợi nó tỉnh dậy sẽ đánh răn nó một lần cho sợ, sau bỏ cái thói cướp giật đó đi". Cả bọn khen phải, bèn cầm gậy ngồi vây chung quanh Ngại Hổ mà chờ. Đến khi Ngại Hổ tỉnh rượu mở mắt ra đã thấy bảy tám người ngồi vây mình, thời định chắc là viện binh của hai chú thợ câu tới trả thù, nhưng không thèm sợ. Bụng nghĩ rằng: "Dầu có bề gì, cho chúng nó đánh ít gậy cho đã giận chớ hại gì". Nghĩ đoạn ngồi nhổm dậy ôm hành lý đâm đầu chạy đi. Bọn nọ rượt theo, Ngại Hổ liền đứng lại hỏi rằng: ”Sao mấy người không cho tôi đi?" Bọn ấy đáp: "Vì mi giật rượu cá của ta mà ăn, lại đập bầu đập đĩa nữa, bây giờ thôi sao được?". Ngại Hổ nói: ”Thời hồi nãy mấy người đánh tôi rồi, còn đòi gì nữa?". Bọn nọ đáp: “Còn mâm đĩa và cái bầu mi đập bể thời sao?". Ngại Hổ đáp: "Thời tôi đền tiền cho mấy người có được không?". Bọn họ nói: "Trả mấy món ấy cho ta, chớ đền tiền mà làm gì?". Ngại Hổ nói: “Các người nói lạ quá, người đời có sống có chết, đồ đạc có lành có vỡ. Không chịu cho đền, muốn đánh bao nhiêu nữa thời đánh". Nói rồi để gói xuống cúi nằm dài dưới đất. Bọn họ chưa biết nghĩ sao, bỗng có một người học trò trẻ tuổi vừa đi tới, thấy vậy bèn hỏi rằng: "Thưa các ngài, chẳng hay người này tội lỗi chi mà các ngài đánh khảo như vậy, xin các ngài vì tình tôi mà tha cho nó một phen". Bọn ấy nói: “Thằng nhỏ này không biết con nhà ai mà nghênh ngang quá, đã giật cá rượu của chúng tôi mà ăn lại còn đập bể mâm bầu chén đĩa nữa, nên chúng tôi phải trừng trị nó. Nay ngài xin, thời tôi vị lòng mà tha cho". Nói rồi kéo nhau về hết.
Người học trò thấy bọn họ đi rồi, liền lại gần Ngại Hổ thấy anh ta nằm úp mặt vào tay áo bèn đỡ dậy. Ngại Hổ vừa ngồi dậy phủi áo vừa cười ha hả. Người học trò bảo rằng: "Đừng cười, đừng cười. Tại sao mà bị chúng đánh, nói lại cho ta nghe". Ngại Hổ đứng dậy nói: "Nhục lắm, nhục lắm đừng hỏi nữa. Muôn ngàn lỗi đều tại tôi cả". Người học trò cứ hỏi mãi, Ngại Hổ cực chẳng đã phải thuật rõ đầu đuôi lại cho y nghe. Người học trò nghe dứt nghĩ rằng: "Cứ như lời nó nói thời thật là người hào sảng nên biết sai mà nhận lỗi". Nghĩ đoạn xem lại dung nhan diện mạo của Ngại Hổ thì có vẻ hào hiệp anh hùng, liền sinh lòng ái mộ, hỏi rằng: "Chẳng rõ tôn huynh là ai?". Ngại Hổ nói: "Tôi tên Ngại Hổ, còn tôn huynh họ gì?" Người học trò nói: “Tôi tên Thi Tuấn". Ngại Hổ nói: "Ủa! Té ra Thi tướng công đây sao! Xin chớ cười tôi nhé". Thi Tuấn nói: ”Người trong bốn biển vẫn là anh em, có lẽ nào lại cười nhau”. Ngại Hổ nghe câu ấy không hiểu là nói ý gì, tưởng Thi Tuấn muốn kết làm anh em với mình, nên lật đật đáp rằng: ”Tôi là đứa thô lỗ hèn hạ, nếu tôn huynh có lòng hạ cố, tôi xin vâng lời, mà bái làm anh". Thi Tuấn biết Ngại Hổ nghe lầm song thấy anh ta là người cứng cỏi gan dạ đáng cho mình kết làm bạn lắm, bèn nhận lời và hỏi rằng: ”Vậy tôn huynh được bao nhiêu tuổi?!”. Ngại Hổ nói: "Tiểu đệ được mười sáu tuổi”. Thi Tuấn nói: "Tôi lớn hơn một tuổi!”. Ngại Hổ nói: "Vậy thời đại ca ngồi lên cho tiểu đệ lạy một lạy”. Nói đoạn mọp xuống đất lạy. Thi Tuấn vội vàng đáp lễ, rồi dắt Ngại Hổ đi với mình. Ngại Hổ bèn quảy gói hành lý đi theo Thi Tuấn.
Hai người đi tới cụm rừng, thấy có đứa gia đồng đương giữ ngựa trông đón. Thi Tuấn liền kêu rằng: “Bớ Cẩm Tiên, mau lại đây ra mắt Nhị gia". Cẩm Tiên (tên của gia đồng) nghe chủ bảo như vậy thì không dám trễ nải, vội vàng chạy lại xá Ngại Hổ và thưa: "Tiểu nhân là Cẩm Tiên, xin ra mắt Nhị gia". Ngại Hổ từ nhỏ tới lớn chưa có ai xá mình và kêu bằng Nhị gia, nay thấy Cẩm Tiên xá và kêu như vậy thì mừng lắm, lật đật nói: "Đừng xá nữa". Nói rồi móc túi lấy hai lượng bạc cho Cẩm Tiên. Cẩm Tiên không dám lấy, cứ đưa mắt ngó Thi Tuấn. Thi Tuấn biết ý bèn nói: "Nhị gia cho thời lấy đi, sợ nỗi gì". Cẩm Tiên tạ ơn rồi lấy bạc. Thi Tuấn bèn hỏi Ngại Hổ rằng: “Bây giờ Nhị đệ muốn đi đâu?". Ngại Hổ nói: "Tôi tính lên Ngọa Hổ Câu tìm thầy và cha nuôi của tôi, còn đại ca tính đi đâu?”. Thi Tuấn nói: "Tôi tính lên Tương Dương thăm Kim bá phụ. Bây giờ chúng ta gấp đi, không được cùng nhau trò chuyện cho thỏa, thật cũng buồn lắm". Ngại Hổ nói: ”Không sao, bây giờ ta tạm lìa nhau rồi sau sẽ gặp". Nói rồi kẻ lên yên lướt dặm, người quảy gói băng ngàn.
Đây nói về cha Thi Tuấn là Thi Kiều, tên chữ là Tất Xương, trước có ngồi chức tri huyện, về sau kém mắt nên nghỉ chức về quê. Có hai người bạn thiết, một người là quan Binh Bộ Kim Huy, vì dâng sớ cáo Tương Dương Vương mưu nghịch nên bị cách chức, một người là quan Thái thú Trường Sa, tên Thiệu Ban Kiệt. Ba người tuy bầu bạn, mà nghĩa tựa anh em. Thi lão gia vốn biết Kim Huy có một vị tiểu thư hương trời sắc nước, đã từng tỏ ý cầu hôn cho Thi Tuấn. Kim Huy cũng bằng lòng, song vẫn chưa giao nộp sính lễ. Nay Thi lão gia thấy con mình đã trưởng thành, nên sai qua Tương Dương ra mắt Kim Huy, một là học tập văn chương, hai là nhắc việc hôn nhân luôn thể. (Vì vậy Thi Tuấn vâng lệnh cha qua Tương Dương, đi nửa đường gặp Ngại Hổ).
Ngày nọ Thi Tuấn tới cầu Cửu Tiên dưới núi Cửu Vân, huyện Tương Dương, hỏi thăm nhà kim công đi tới. Tới nơi vào ra mắt, Kim Công thấy Thi Tuấn phẩm mạo đoan trang, hình dung tuấn tú thời đã có ý ưa, bèn đặt tiệc khoản đãi. Trong khi ăn uống, Kim Công cật hỏi thi phú văn chương, Thi Tuấn nhất nhất đối đáp xuôi rót như nước chảy. Kim Công thấy chàng phong tư đã có, tài học đủ đầy, thời mừng rỡ vô hạn, sai gia đồng dọn thư phòng cho Thi Tuấn ở, còn mình đi vào nhà trong nói chuyện với vợ là Hà phu nhân.
0
Hồi Thứ Tám Mươi Tám
[/align]

Cẩm Tiên lén giấu trâm Bạch Ngọc.
Giai Huệ làm rớt tuột Tử Kim.
 
Hà phu nhân nguyên là em gái của quan huyện Hà Chí Hiền, sinh được một con gái tên là Mẫu Đơn, năm nay vừa mười sáu tuổi và một con trai tên Kim Chương vừa bảy tuổi. Kim Công lại có một cô hầu tên là Xảo Nương nữa.
Kim Công vào nhà trong, đem chuyện Thi Kiều kém mắt, nay viết thư sai con là Thi Tuấn tới ở đọc sách, và lời lẽ trong thư có ý cầu hôn thuật lại cho vợ nghe. Hà phu nhân hỏi: "Vậy ý ông thế nào?". Kim Công nói: "Nguyên hồi trước Thi hiền đệ cũng có nói chuyện này nhiều phen, nhưng chưa định sính lễ. Đến nay cháu Thi Tuấn tuổi đã lớn khôn, chẳng những phẩm mạo đoan trang mà lại thêm học hành uyên bác nữa, thật xứng đôi vừa lứa với con gái ta biết mấy!". Hà phu nhân nói: "Đã như vậy, sao ông chưa hứa cho rồi?". Kim Công nói: "Bây giờ để cháu nó ở lại đây, thỉnh thoảng xem cử chỉ nó rồi sẽ hứa, vội gì mà lo". Hai ông bà luận luận bàn bàn, chẳng dè có người nghe lén.
Nguyên con liễu hoàn của tiểu thư tên là Giai Huệ ở hầu tiểu thư từ bé tới lớn, nhan sắc dễ coi. Giai Huệ vốn thông minh, thường gần lúc tiểu thư đọc sách tập chữ, nên cũng biết văn lý ít nhiều. Hàng ngày hay ra vào phòng của Hà phu nhân. Nay bỗng nhiên nghe Kim Công và phu nhân luận bàn việc hứa hôn, bèn đi riết về tư phòng cười hỉ hả nói với tiểu thư rằng: "Vui lắm, vui lắm, tiểu thư mừng đi?". Mẫu Đơn hỏi: ”Chuyện gì mà vui mà mừng đó?". Giai Huệ đáp: "Mới đây tôi nghe ông nói với bà rằng có cậu Thi ở nhà mình đọc sách, ông cật vấn thi từ khen là người học giỏi lại thêm dung mạo đẹp đẽ, nên ông bàn với bà gả cô cho cậu đó, vậy cô có vui hay không? Đáng mừng hay không?”. Tiểu thư nghe nói cả thẹn, gắt rằng: "Mi là con đòi đứa ở, sao không biết giữ phận, nói những chuyện gì vậy, muốn trốn hay sao?". Giai Huệ đang cao hứng, bị tiểu thư rầy bèn đi ra, bụng nghĩ rằng: "Chẳng phải là cô không chịu, song... ". Nghĩ rồi đi ra thư phòng đứng ngoài xem diện mạo Thi Tuấn, xem xong nói thầm rằng: ”Người thế này, hèn chi ông khen cũng phải, phong tư như thế rõ bậc kỳ tài, nếu tiểu thư trông thấy ắt vui mừng lắm, vậy ta nên làm thế này... thế này... ".
Giai Huệ nghĩ như vậy. Lật đật trở vào nhà trong, chỗ buồng mình, lấy ra một vuông khăn có thêu hoa phù dung, bụng nghĩ rằng: "Khăn này của tiểu thư cho ta, vậy ta cậy nó làm mai dẫn lối". Nghĩ đoạn cầm bút đề trên khăn hai câu thơ:
Quan quan, kìa riêng thư cưu,
Giọng kêu thánh thót ở đầu bãi sông*
* Nguyên hai câu kinh thi: Quan quan thư cưu, tại hà chi châu.
Đề xong xếp bỏ vào tay áo, chờ tới đúng trưa, lén tới thư phòng thấy Thi Tuấn đương còn ngon giấc mà Cẩm Tiên cũng không có mặt ở đó, Giai Huệ liền rón rén đi lại bên ghế, bỏ khăn ấy kề bên mình Thi Tuấn rồi vội vã đi ra. Nào dè Cẩm Tiên ở ngoài đi vào thấy bên mình tướng công có vuông khăn, liền lén lấy lên xem, mở ra thời hương thơm ngào ngạt, trên khăn có đề hai câu rút trong kinh thi. Cẩm Tiên liền nghĩ thầm rằng: "Khăn này chẳng phải của tướng công ta, vậy chớ của ai đem bỏ đây, ta phải để ý dò xem".
Ngày sau, Giai Huệ lại lén ra thư phòng, thấy Thi Tuấn đương giở rương kiếm sách nên không dám kinh động bèn đi về. Bỗng thấy trước mặt có người đi tới đón hỏi: "Nàng là ai, đi vào thư phòng làm gì vậy?" Giai Huệ bèn hỏi rằng: "Còn chàng là ai?”. Cẩm Tiên đáp: "Tôi là gia đồng của Thi tướng công tên Cẩm Tiên đây". Giai Huệ nói: "Tôi là liễu hoàn tâm phúc của tiểu thư tên là Giai Huệ. Chẳng hay cái khăn hôm qua, tướng công đã trông thấy chưa?". Cẩm Tiên nghe hỏi, định chắc khăn của nàng này rồi, bèn đáp: "Thơ thơ chớ vội, thế nào rồi đó đây cũng nên nghĩa vợ chồng mà!". Giai Huệ nghe nói thẹn đỏ mặt đáp rằng: “Chàng chớ nói quấy. Bởi vì tiểu thư đãi tôi rất hậu lại ông ở nhà cũng có để ý công tử, vì vậy tôi mang ơn muốn việc cho sớm thành, nên đem khăn này tới cho tướng công khuyên hãy mau mau tính việc cầm sắt, kẻo chậm trễ e lỡ làng duyên phận". Cẩm Tiên nói: "Thơ thơ đã biết vậy, nhưng cái khăn ấy thật chẳng tiện lắm, vì tại thư phòng còn có tôi hầu hạ tướng công, nếu làm vậy bại lộ ra rồi thời có phải gây hại hay không?". Giai Huệ nói: "Chàng hãy an dạ. Vì tại thư phòng cũng có một tôi hầu hạ tiểu thư, có ai lọt vào mà rõ được việc này. Vậy chúng ta sẽ ráng hết sức giúp cho tròn ơn chủ”. Nói rồi đi thẳng vào trong.
Một hôm tiểu thư sai Giai Huệ lượm cất đồ tư trang. Nàng thấy có một đôi ngọc hoa rất tinh xảo, bèn lén lấy giấu một cây đem đưa cho Cẩm Tiên. Cẩm Tiên nhân tiện đút phứt vào trong rương sách, dòm đi nhắm lại, không có món gì cho đáng để giao lại, chỉ thấy trong cái quạt có chuyền xâu chuỗi Tử Kim Ngư bèn lấy ra, rồi mang cái khăn thêu phù dung hôm nọ đề thêm hai câu:
Dịu dàng, khép kín khuê phòng.
Áo cừu muôn lượng vẫn lòng đã ham*
* Cũng hai câu kinh thi: Yểu điệu thục nữ, quân tử hảo cừu.
Đề xong, gói cái tuột quạt vào trong đem ra đưa
Giai Huệ và nói: "Tôi nói hễ việc nên cũng không tại tôi, thơ thơ không tin coi thử cho biết". Nói đoạn mở khăn ra cho Giai Huệ xem. Giai Huệ đứng chờ cũng đã lâu nên tiếp lấy kẹp vào nách mà đi. Giai Huệ đi một đỗi gặp đứa ở của Xảo Nương là Hạnh Hoa Nhi tuổi vừa mười hai, nó thấy Giai Huệ đi tới bèn hỏi: "Thơ thơ đi đâu đấy?". Giai Huệ nói: “Ta ra hoa viên hái hoa". Hạnh Hoa Nhi hỏi: "Hái hoa ở đâu?". Giai Huệ nói: "Hoa chưa nở nên ta không hái". Hạnh Hoa Nhi không nghe cứ níu lại xin. Giai Huệ quên mình đương có món gian trong nách, bèn nổi giận nói: "Con nhỏ này vô duyên quá, làm gì cứ níu kẻo người ta hoài vậy?". Nói rồi giật áo đi thẳng.
Giai Huệ đi rồi, Hạnh Hoa Nhi dòm xuống đất thấy có một cái gói liền lượm đút vào tay áo trở vào phòng dì Xảo Nương. Xảo Nương thấy nó vào bèn hỏi: "Mi đi đâu về đây?”. Hạnh Hoa Nhi nói: "Con Giai Huệ dễ ghét quá, nói đi hái hoa mà tôi xin nó không cho, nó bỏ đi ríu ríu, lật đật làm rớt gói này mà không hay". Nói rồi đưa cho Xảo Nương xem. Xảo Nương xem xong bụng nghĩ nhiều điều cay nghiệt.
Nguyên từ khi Kim thượng thư bị cách chức về, buồn vì nỗi đường quan hoạn gay go nên hay tìm nơi tiêu khiển có khi đến mười bữa nửa tháng mới về, vì vậy Xảo Nương lòng dục khó dằn, lén tư tình với một vị hạ khách. Ngày nọ dẫn hạ khách vào nhà mát tại hoa viên mà... Rủi tiểu thư đi với Giai Huệ vào đó thiêu hương lại gặp, làm cho cả hai tan cuộc mây mưa. Vị hạ khách đó e việc bị phát giác ra, nên lén trốn đi. Xảo Nương mất người tình, oán tiểu thư và Giai Huệ lắm. Đến nay thấy bức khăn và tuội Tử Kim Ngư thời nghĩ ra một kế, bèn nói với Hạnh Hoa Nhi rằng: ”Mi cho tao cái này, tao sẽ may cho một cái áo". Hạnh Hoa Nhi ưng thuận. Xảo Nương lại dặn: "Mà mi đừng nói cho ai hay việc cái gói này, và lúc ông vô, mi cũng đừng thấp thoáng đằng trước, được vậy ta sẽ đãi mi tử tế”. Hạnh Hoa Nhi bằng lòng.
Ngày kia Kim Công tới nhà riêng của Xảo Nương. Xảo Nương đãi trà nước xong rồi, bèn quỳ xuống thưa rằng: "Thiếp có một điều rất quan hệ, xin bẩm lại cho lão gia được hay". Kim Công nói: “Có điều chi thời nói đi". Xảo Nương nói: "Việc này hệ trọng lắm, nếu thiếp nói ra, xin lão gia chớ làm phát giác, mà phải để ý dò xét mới được". Nói dứt lời đưa cái khăn và tuội quạt Tử Kim Ngư cho Kim Công xem. Kim Công thấy trong khăn có bốn câu kinh thi, hai câu trước có nét bút dịu dàng yểu điệu, hai câu sau nét bút cứng cỏi thảo suất. Kim Công xem xong sinh nghi, vội hỏi: "Hai vật này ở đâu mà nàng có?”. Xảo Nương đáp: Xin lão gia chớ giận. Nguyên thiếp vào phòng viếng thái thái, đi ngang phòng tiểu thư thời lượm được vật này”. Kim Công nghe xong lửa giận bừng bừng, lật đật gói lại đút vào tay áo, Xảo Nương nói: "Thưa lão gia, việc này có quan hệ tới nhà ta nhiều lắm, xin chớ để tiết lộ ra, mà phải dò xét cho minh bạch mới được".
0
«« « 1 2 3 4 » »»