📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

Những kẻ phiêu lưu - The Adventurers (Harolds Robbins) 🔒

150 trả lời, 17.072 lượt xem — Trang 1 / 6
Những kẻ phiêu lưu
The Adventurers
Harolds Robbins
Người dịch: Lê Văn Viện
Nhà xuất bản Văn Học
Lời bạt cũng là lời tựa
Mười năm sau cuộc bạo động, trong đó anh đã chết. Thời của anh trên trái đất này đã qua. Hạn tro  của anh trong chiếc hộp bé tẹo cuối cùng để ẩn náu này cùng đã hết. Giờ đây, quy trình đã được hoàn tất. Anh đã trở về với tro bụi của trái đất, là nơi anh đã sinh ra.
Mặt trời xứ nhiệt đới phả những đợt sóng ẩm nóng chói chang xuống những cây thập tự sơn đen bên những bức tường sét trắng của nghĩa trang khi nhà  báo Mỹ bước ra khỏi taxi bên những cánh cổng sắt hoen gỉ. Ông đưa cho người lái xe tờ năm peso rồi quay đi trước khi anh ta kịp nói lời cám ơn.
Các quầy bán hoa đã tấp nập. Những người đàn bà vận đồ đen đang mua những bó hoa nhỏ. Những tấm mạng đen dầy cộp của họ như che chắn cho họ khỏi sức nóng và ngăn niềm thương đau của họ với cuộc đời. Đám ăn mày cũng ở đấy, những đứa trẻ nhỏ với những cặp mắt thẫm mầu thô lố nằm trong những quầng đen trũng, bụng chúng  trương lên vì đói. Khi ông đi qua, chúng giơ những bàn tay bé nhỏ dơ dáy ra đón những đồng xu ông lơ đễnh buông xuống.
Khi đã qua cổng thì chỉ còn ắng lặng. Cứ như thể có một cầu dao chính nào đó đã ngắt hẳn thế giới bên ngoài. Một người đàn ông vận đồng phục đang ngồi trong chiếc chòi để hở. Nhà báo đi về phía ông ta. "Làm ơi chỉ giùm, senior?". Và thấy một thoáng ngạc nhiên trên mặt khi người đàn ông trả lời "Phố Sáu, nhà hai mươi".
Nhà báo Mỹ mỉm cười, quay đi. Hầu như trong cái chết họ vẫn bám lấy dòng đời. Những lối mòn được gọi là đường phố và nơi họ an nghỉ sau bốn bức tường được gọi là khu nhà. Rồi ông lấy làm lạ về nét ngạc nhiên trên khuôn mặt người đàn ông.
Ông đã đọc thấy mấy dòng thông báo mà ông hằng tìm kiếm khi ngồi trong hành lang một khách sạn mới, lật qua các báo chí địa phương, như ông vẫn làm mỗi khi đến một thành phố mới. Đó là bốn dòng nhỏ xíu vùi giữa các trang cuối, hầu như mất hút trong mớ hỗn độn các thông cáo khác lớn hơn.
Ông đang thả bộ xuôi con đường mòn với những lăng mộ cá nhân trau chuốt. Một cách trễ nải, ông quan sát các tên người: Ramirez, Santos, Oberon, Lopez…Dù dưới sức nóng mặt trời, ông vẫn thấy giá lạnh phả ra từ những tấm cẩm thạch trắng và cảm thấy mồ hôi ẩm lạnh nơi cổ áo.
Giờ đây lối mòn đã rộng hơn. Phía trái ông là những bãi trống lô nhô những bia mộ nhỏ. Bé nhỏ, không được coi sóc, bị quên lãng. Đó là những nấm mồ của kẻ nghèo. Bị ném vào lòng đất trong những hộp gỗ mỏng dính và mặc cho tan biến vào thiên nhiên mà chẳng hề có sự trông nom hay tưởng nhớ. Bên phải ông là các "dãy nhà". Khu chung cư của người chết.
Đó là những toà nhà lớn mái lợp ngói Tây Ban Nha đỏ và xám, cao hai mươi, rộng bốn mươi, dài tám mươi foot, gồm những khối xi măng trắng, từng cụm ba khối. Mỗi ô vuông ba foot, đều mang tên kẻ ngụ cư, một thập tự nhỏ khắc chìm vào xi măng ở bên trên tên người, còn ngày qua đời thì ở bên dưới.
Ông nhìn lên toà nhà đầu tiên. Có một biển kim loại nhỏ gắn trên mái hiên. Phố 3, nhà 1. Ông còn phải đi xa. Cái nóng bắt đầu đổ xuống. Ông nới rộng cổ áo và rảo bước. Đến giờ rồi, mà ông thì không muốn trễ.
Thoạt tiên ông tưởng mình đến nhầm chỗ. Không một ai ở đấy. Ngay cả những người phu đám cũng không. Ông kiểm tra tấm biển kim loại trên toà nhà, rồi kim thời gian trên chiếc đồng hồ đeo tay. Cả hai đều đúng. Ông mở tờ  báo xem thử mình có nhầm ngày chăng, nhưng ngày cũng đúng. Ông thở dài nhẹ nhõm và châm điếu thuốc. Đây là Mỹ La tinh. Ở đấy thời giờ chẳng chính xác như ở nhà.
Ông chậm rãi dạo quanh, đọc tên người trên các ô vuông. Cuối cùng, ông có được điều ông tìm kiếm đang ẩn trong một góc tối dưới mái hiên phía tây nam của toà nhà. Bản năng khiến ông vứt điếu thuốc đi, ngả mũ và chằm chằm nhìn lên văn bia.
D.A.X
10 tháng Năm 1955
Ông nghe thấy tiếng xe ngựa lọc xọc trên đá cuội phía sau. Đấy là chiếc xe trần do con lừa mệt mỏi kéo đi, hai tai dán chặt  vào đầu để phản đối việc bị cưỡng  bức làm việc trong nóng bức. Xà ích mặc bộ đồ kaki đã bạc. Ngồi bên gã là người đàn ông mặc complê đen, đội mũ đen, chiếc cổ áo trắng hồ bột đã ngả vàng vì mồ hôi và bụi bặm. Đi bên xe là một gã phu với chiếc cuốc chim trên vai.
Chiếc xe hộc lên rồi dừng lại. Người vận đồ đen tụt xuống, rút từ trong túi áo ra tờ giấy, liếc qua, rồi nhìn vào những bia mộ dọc theo các bức tường. Mãi tới lúc ông ta dừng lại trước mặt nhà báo Mỹ mới nhận ra rằng người ta đến để mở căn hầm mộ.
Người vận đồ đen, cũng là ông cai, vẫy gã xà ích đến bên rồi nhìn chăm chăm vào căn hầm, khẽ lầu bầu gì đó bằng tiếng Tây Ban Nha trong khi gã xà ích trễ nải kéo lê theo chiếc thang nhỏ chắp bằng nhiều mảnh gỗ. Gã dựng thang vào tường rồi trèo lên, nhìn sát vào khối xi măng hầm mộ.
"Dax", gã nói, giọng khàn đặc.
"Dax", ông cai gật đầu, nhắc lại bằng giọng thoả mãn.
Gã phu mang ra cuốc chim cũng gật đầu. Có một âm hưởng thích thú trong giọng của gã. "Dax".
Gã xà ích đứng trên thang đưa tay ra. "Cuốc".
Rồi với một cú bổ thiện nghệ, gã choảng mạnh lưỡi cuốc vào giữa khối bê tông. Nó bắn toé chùm tia, rạch qua dòng chữ đục, toả ra tứ phía, đúng vào lúc mặt trời đi ngang góc mái hiên. Gã chửi đổng mặt trời bỗng dưng xuất hiện và kéo mũ sụp xuống che mắt, rồi lại choảng mũi cuốc chim vào xi măng. Lần này phiến đá vỡ toang, mảnh bay rào rào trên nền cuội.
Nhà báo nhìn ông cai. Ông ta có vẻ đang theo dõi hai người phu, nhưng rõ ràng là chẳng quan tâm gì tới công việc họ đang làm. Ông ta như chán nản với tất cả. Đây chỉ là công việc muôn thuở mà thôi. Ông ta quay lại khi nhà báo bước tới.
"Những người khác đâu cả?" Nhà báo hỏi bằng thứ tiếng Tây Ban Nha ngập ngừng của mình.
Người đàn ông nhún vai. "Chẳng có ai khác nữa".
"Nhưng trong báo…" Nhà báo ngừng lại. Ông hầu đã cạn vốn tiếng Tây Ban Nha "Nói tiếng Anh chứ?"
Ông cai mỉm cười kiêu hãnh "Vâng, vâng". Ông ta ré lên. "Xin hầu ông".
"Tôi thấy thông cáo trên báo", nhà báo nói với cảm giác nhẹ nhõm, "nên tưởng sẽ có những người khác nữa".
"Không có ai cả", ông cai nói.
"Nhưng ai đã đăng thông cáo? Chắc chắn phải có ai đó chứ. Ông ta là một người nổi tiếng. Rất nổi tiếng".
"Văn phòng đăng thông cáo. Thời gian đã qua khá lâu để ai đó đến mà nhận thi thể. Còn bao kẻ đang chờ chỗ này. Thành phố cứ liên tục phình ra mà. Chúng tôi đã quá chật chội rồi. Ông thấy đấy".
"Tôi thấy rồi" nhà báo nói, ngập ngừng. "Thế không còn ai nữa à? Gia đình. Hoặc bạn bè. Ông ta có rất nhiều bạn bè".
Một nét u ám thoáng nơi cặp mắt người đàn ông. "Người chết là cô đơn".
Một tiếng kêu làu bàu phát ra từ gã xà ích trên thang. Họ quay nhìn lên. Gã đã phá thủng mặt ngoài, và qua đó có thể thấy chiếc quan tài gỗ đã bị mối đã ăn luỗng và bạc màu. Giờ gã đang dùng lưỡi cuốc chim để nậy những mảnh xi măng còn lại rồi nhoai người vào trong hầm mộ kéo chiếc quan tài ra.
Nhà báo quay lại ông cai. "Bây giờ sẽ làm gì tiếp?"
"Ông ta sẽ được đưa lên dàn hoả".
"Rồi sau đó?"
Ông cai nhún vai. "Vì chẳng có ai đến nhận nên tro sẽ đổ chung với tro người khác rồi đổ vào bãi đất mà chúng tôi đang lấn ra đầm lầy".
Chiếc quan tài được đặt trên dải xi măng hẹp bên toà nhà. Ông cai nhìn xuống, kiểm  tra dòng chữ viết trên tấm biển kim loại nhỏ trên nắp với tờ giấy trong tay. "Đúng". Ông ta nói, rồi nhìn lên nhà báo. "Ông muốn xem bên trong quan tài?"
"Không", nhà báo lắc đầu.
"Vậy…khi không có gia đình để trả tiền thì những người phu được phép. Chắc ông hiểu?"
Nhà báo gật đầu và quay đi khi hai người phu bắt đầu mở nắp quan tài, lắng nghe tiếng họ thì thầm khi bàn luận về những thứ mà họ tìm được, và chia chác chúng ra sao. Có một lời rủa khẽ. Rồi âm thanh đóng ván thiên.
Ông cai trở lại bên nhà báo. "Hai anh phu đang thất vọng", ông ta nói "Chẳng có gì ngoài mấy chỗ hàn răng bằng vàng, và chiếc nhẫn này".
Nhà báo nhìn xuống chiếc nhẫn trong tay ông ta. Một lớp bụi phủ kín nó.
"Tôi lấy chiếc nhẫn" ông cai nói "còn để họ lấy mấy mối hàn. Chiếc nhẫn có giá trị, phải không?" Ông ta lấy chiếc khăn nhớp nhúa trong túi ra lau nhẫn rồi đặt nó trong lòng bàn tay.
Nhà báo cúi nhìn. Đó là chiếc nhẫn vàng gắn một mặt đá đỏ thẫm. Ông cầm lên và đọc dòng chữ quen thuộc. Đó là nhẫn của trường Harvard, 1939. "Vâng" ông nói "Nó có giá trị đấy".
"Mười đô la Mỹ?" ông cai hỏi.
Phải mất một khoảnh khắc trước khi nhà báo nhận ra mình được mời mua chiếc nhẫn. Ông gật đầu và rút tiền ra.
"Cảm ơn" ông cai nói.
Nhà báo cất nhẫn vào túi. Họ quay về phía các gã phu đòn. Chiếc quan tài đã nằm trên  xe.
"Đi thôi. Giờ thì đến giàn hoả" ông cai nói, trèo lên xe và ra hiệu chỗ ghế bên cạnh cho nhà báo.
Trời nóng hơn. Chiếc sơ mi của nhà báo ướt đẫm, thấu sang cả áo ngoài. Mất đến hai mươi phút trước khi họ đến một ngôi nhà mái bằng, xám xịt, tẻ ngắt dùng làm nơi hoả táng.
Trong không khí thoáng có mùi khói khi nhà báo xuống xe đi theo hai gã phu đòn khênh chiếc quan tài vào tiền sảnh rộng.
Vào trong, ông ngạc nhiên thấy nhà không có mái. Thay vào đó là bầu trời nóng bỏng trên cao. Có sáu chiếc lò hở miệng bằng đá đặt thành trời vòng tròn trong bốn bức tường của ngôi nhà. Trên mỗi miệng lò, bầu không khí chập chờn, nhảy múa với sức nóng trong lòng nó. Một người đàn ông mặc chiếc áo khoác ngoài xám phủ đầy tro bụi, tiến đến phía họ. "Đúng chứ?"
Ông cai gật đầu và đưa cho ông ta mẩu giấy trắng. "Đúng".
Ông ta ra hiệu cho các phu đòn. "Lò một".
Hai gã phu bước đến lò đá gần nhất và lao chiếc quan tài vào.
Ông cai cầm cánh tay nhà báo và họ đến bên lò. Chiếc quan tài nằm trên những thanh sắt ám khói đen, bên dưới hình như là một lưới sắt nhỏ mắt. "Lấy tro không?"
Nhà báo gật đầu.
Người đàn ông vận áo khoác xám đứng nhìn.
Ông cai giật tay aó nhà báo. "Hắn chờ năm peso cho công việc này đấy. Lệ thế mà".
Nhà báo thò tay vào túi và đưa ra tờ giấy bạc.
Hai hàm răng loé trắng giữa bộ mặt ngăm đen . "Cảm ơn".
Ông ta ra hiệu cho họ và, vẫn tuân theo áp lực trên cánh tay, nhà báo lùi lại cho đến khi họ cùng áp sát bức tường xa. Rồi người đàn ông vận áo khoác xám bắt đầu kéo bễ.
Thoạt tiên là tiếng sôi ùng ục nhẹ trong lò, rồi chuyển nhanh thành tiếng réo ầm ầm. Cứ như thể sấm rền trong  chiếc hộp nhỏ, mà vẫn không thấy ngọn lửa. Chiếc quan tài hầu như chỉ ánh lên trong những luồng khí nóng. Bỗng người đàn ông kéo cánh tay đòn và trong khoảnh khắc hầu như toàn bộ lửa của địa ngục chồm lên.
Nhà báo cảm thấy luồng nóng táp vào mặt, nhưng chỉ trong khoảnh khắc, rồi những ngọn lửa biến mất và chiếc quan tài như tanthành đám bụi xám, xẹp dần trong lò.
Ông cai giật tay áo nhà báo. "Chúng ta ra ngoài hút thuốc đi. Trước khi hút xong, hắn sẽ mang tro đến".
Ông cai nói đúng. Họ chưa hút xong điếu thuốc thì người đàn ông đã ra với chiếc bình nhỏ đựng tro hoả táng bằng sứ xám. Ông ta nhìn ông cai.
"Chiếc bình năm peso đấy" ông cai thì thầm như có lỗi.
Nhà báo lấy tiền trả. Người đàn ông lại gật đầu cám ơn và đưa chiếc bình cho ông cai.
"Giờ chúng ta ra xe" ông cai nói, rồi cho xe quành về phía sau toà nhà. Một chiếc xe nhỏ với con lừa mắt ngái ngủ đang đỗ đấy. Xe đầy rác, bụi và ruồi bay vù vù xung quanh. "Chúng ta đổ tro vào đây".
Nhà báo nhìn chiếc xe chằm chằm. Có điều gì đó bỗng kinh lợm trong ông. "Không còn chỗ nào khác à?"
Ông cai nhìn ông chằmchằm, gật đầu "Có một trang trại ở bên kia đường. Chỉ năm peso là người nông dân sẽ cho chúng ta rắc tro ở đấy".
"Chúng ta đến đó".
Họ đi qua cánh đồng khoai, rồi qua đường. Người nông dân xuất hiện như thể từ trong lòng đất, nơi khoai đã mọc lên. Ông ta biến mất ngay khi nhận đồng năm peso.
Ông cai đưa chiếc bình ra "Mời ông?" Nhà báo lắc đầu. "Ông biết ông ta chứ ạ?" ông cai hỏi.
"Vâng" nhà báo nói. "Tôi biết ông ta".
Ông cai mở nắp bình, rắc tro vào trong gió. Lặng lẽ, họ nhìn gió trải tro bay ngang cánh đồng.
"Nhảm hết" nhà báo chợt nói "Nhảm hết".
"Vì sao, thưa ông?"
"Đây là một người hùng" nhà báo nói. "Trái đất rung chuyển khi ông ta  bước. Đàn ông yêu ông ta và sợ ông, đàn bà run rẩy trước sức mạnh nơi bắp vế ông ta, người ta tìm kiếm sự chiếu cố của ông ta. Mà giờ không một ai ở đây để tưởng nhớ ông". Nhà báo quay đi. "Ông nói đúng. Người chết là cô đơn".
Ông cai lại nắm tay áo ông. Nhà báo quay lại, đối diện ông ta, cảm thấy mệt mỏi và rã rời. Ông mong giá mình đã không thấy mấy dòng thông cáo, đã không đi dưới mặt trời kinh khủng để đến nơi nẻo hãi hùng này, đến cái thế giới không ký ức này.
"Thưa ông, không" ông cai nói nhỏ. "Tôi nhầm. Ông ta không cô đơn. Ông ta đã ở đây mà".
1
QUYỂN MỘT – BẠO LỰC VÀ QUYỀN LỰC
Chương 1
Tôi đang chơi dưới ánh mặt trời nóng bỏng ở sân trước thì nghe thấy tiếng kêu ré xa xăm từ mãi dưới đường ra thị trấn. Con chó của tôi cũng nghe thấy, vì nó bỗng thôi không ngoe nguẩy đuôi quanh tôi và túp lều nhỏ bằng đất mà tôi đang cố xây trong đám bụi bị nung nóng nữa. Nó ngước nhìn tôi, mắt nó trắng bệch, sợ hãi, cái đuôi vàng của nó quặp lấy hai hòn dái. Nó đứng im phắc và bắt đầu run.
"Ai đấy?" Tôi đưa bàn tay vuốt ve nó. Tôi biết nó sợ, nhưng tôi không hiểu vì sao. Tiếng kêu thực ma quái và gây bối rối  một cách lạ lùng, nhưng tôi không sợ. Sợ hãi là điều phải học mới biết được. Tôi lên sáu. Còn quá bé để học điều đó.
Có tiếng súng đùng đoàng ở xa. Tiếng súng ắng nhanh và lại có tiếng thét nữa, lần này to hơn và hãi hùng hơn lần trước. Con chó vùng bỏ chạy ra ruộng mía, hai tai dán chặt vào đầu. Tôi chạy theo nó, kêu lên "Cún! Cún! Về ngay!"
Khi tôi đến bờ ruộng thì nó đã biến mất. Tôi đứng im phắc, cố nghe xem nó đâu, giữa những thân cây nặng nề.
"Cún!" tôi quát lên.
Nó không trở lại. Những cây mía xào xạc nhẹ trong thoảng gió ấm. Tôi ngửi thấy vị ngọt hăng của mía. Đêm qua mưa nên thân mía ướt và nặng nề. Tôi chợt nhận thấy mình chơ vơ.
Những người làm công mấy phút trước vừa rửa ráy ở đây cũng biến cả, biến y hệt như con chó vậy. Hẳn bố tôi sẽ rất cáu. Với mười xu một giờ, ông chờ đợi họ trả lại ông hết công suất.
"Dax!" tiếng thét từ ngôi nhà. Tôi quay lại. Chị tôi và một trong các cô làm bếp đang đứng trên hành lang trước nhà. "Dax! Dax!" chị tôi vừa thét vừa vẫy tay.
"Con chó chạy vào ruộng mía rồi!" tôi la lên và lại quay vào ruộng tìm.
Một thoáng sau, tôi nghe thấy tiếng chân chị phía sau và trước khi tôi kịp rẽ, chị đã ẵm bổng tôi trong hai cánh tay và chạy trở lại hướng nhà. Tôi nghe chị thở hổn hển sát tai tôi và giọng chị thì thào khản đặc đầy nước mắt "Ôi trời ơi! Trời ơi!"
Mẹ tôi đã ở cửa, thậm chí trước khi chúng tôi vào đến hành lang. "Nhanh lên! Hầm rượu!" Bà rít lên "Hầm rượu vang!".
La Perla, bà bếp béo người Anh-điêng đang đứng sau mẹ tôi, đỡ tôi từ tay chị tôi rồi hối hả xuyên qua nhà đến phòng chứa thức ăn bên ngoài bếp. Tôi nghe thấy ở phía sau tiếng sập của cái chốt nặng trên cửa trước.
"Chuyện gì thế, bà La Perla?" Tôi hỏi "Bố tôi đâu?"
Bà ghì chặt tôi vào bộ ngực nặng nề của bà. "Im,cậu nhỏ".
Chúng tôi lóc cóc xuống thang tầng hầm. Những người làm công khác đã ở đấy, sợ hãi trogn bóng đổ của cây nến nhỏ đang cháy trên nắp một thùng rượu.
La Perla đặt tôi xuống chiếc ghế dài nhỏ. "Nào, ngồi đấy và yên lặng!" Tôi ngước nhìn bà. Vui thật, tôi nghĩ thế, vui hơn cả chơi ở ngoài sân. Đây là một trò chơi mới.
La Perla lại vội vã lên thang. Tôi nghe giọng khản đặc của bà hô hoán ở trên đầu. Một lúc sau chị tôi xuống, nước mắt ròng ròng trên má. Chị chạy đến với tôi, quàng hai cánh tay quanh cổ tôi và kéo đầu tôi vào ngực chị.
Tôi cáu kỉnh tụt ra. Ngực chị làm đau mặt tôi. Nó toàn xương, chẳng mềm mại và ấm áp như của La Perla.
"Để mặc em", tôi nói.
Mẹ tôi bước xuống cầu thang, mặt co rúm và quắt lại. Tôi nghe tiếng cánh cửa hầm nặng nề đóng sập và cài then, rồi La Perla cũng xuống, mặt đỏ dừ vì rán sức. Tay bà cầm con dao pha to tướng, thứ bà vẫn dùng để chặt cổ gà.
Mẹ cúi nhìn tôi. "Con không việc gì chứ?"
"Vâng", tôi nói. "Nhưng con cún đã lạc vào ruộng mía..."
Bà như chẳng hề nghe, như đang cố lo lắng xem có tiếng động nào ở bên ngoài không. Rõ phí thời giờ. Chẳng âm thanh nào có thể xuyên thấu qua chừng này lòng đất.
Một trong các cô người làm  bỗng bật khóc vì quá kích động.
"Câm đi!" La Perla rít lên với cử chỉ hăm doạ bằng con dao pha. "Mày muốn chúng nó nghe thấy à? Mày muốn tất cả chúng ta bị giết à?"
Cô gái câm bặt. Tôi mừng vì La Perla đã làm cô ta im, và chị tôi cũng thôi khóc luôn. Tôi không thích chị khóc. Mặt chị trở nên đỏ dừ, xấu xí.
Tôi nín thở và cố lắng nghe. Tôi chẳng nghe thấy gì sất. "Mẹ ơi..."
"Lặng yên, Dax" bà thì thầm một cách nghiêm nghị.
Tôi có chuyện để hỏi. "Bố đâu?"
Nghe thế, chị tôi lại bắt đầu khóc.
"Ngậm mồm!" mẹ tôi rít lên rồi quay sang tôi. "Bố sẽ đây ngay thôi. Nhưng chúng ta phải rất yên lặng cho đến khi bố về. Nghe chưa?"
Tôi gật đầu. Rồi quay sang nhìn chị tôi đang nức nở thầm. Tôi thấy chị sợ, nhưng chẳng có lý do nào để chị phải khóc. Tôi đưa tay ra nắm tay chị. "Đừng sợ", tôi thì thầm. "Em ở đây mà".
Chị gắng gượng nở một nụ cười trong nước mắt, kéo sát tôi vào lòng. "Người anh hùng tí hon của chị", chị thì thầm. "Người bảo vệ của chị".
Tiếng lộp cộp của những chiếc ủng nặng dội từ trên trần xuống. Bỗng chúng như trải đều khắp nhà.
"Bọn cướp!" một trong các cô hầu ré lên. "Chúng sẽ giết chúng ta mất!"
"Câm đi!" Lần này La Perla không chỉ nói suông. Tay bà vung lên trong ánh sáng mờ tỏ. Cô hầu đổ xuống sàn, nằm thút thít. Tiếng chân như tiến về phía bếp.
"Cây nến!" mẹ tôi khàn đặc thì thầm. Ánh lửa nhỏ phụt tắt. Chúng tôi ngồi trong tối mò.
"Mẹ ơi, con chẳng nhìn thấy gì cả" tôi nói.
Một bàn tay đè ngang miệng tôi. Tiếng chân giờ đã ngay trên đầu. Bọn chúng như đã ở trong bếp.
Tôi nghe thấy tiếng loảng xoảng của một chiếc bàn bị hất đổ, lờ mờ giọng đàn ông và tiếng cười của họ. Có tiếng cót két của một cánh cửa và thế là chúng đã ở trong phòng chứa thức ăn. Cánh cửa hầm kêu lạch xạch. Tôi nghe giọng chúng rõ hơn.
"Bọn mái chắc trốn dưới này", một đứa nói và có tiếng cười.
"Cúc cù cúc cù", đứa khác gáy lên. "Trống đầu đàn của các em đây".
Có tiếng đạp cửa. "Mở cửa ra!"
Tôi cảm thấy các cô gái dúm sát vào chân tường, cảm thấy chị tôi run bắn lên. "Chúng nó chỉ tìm gà thôi", tôi thì thầm. "Bảo chúng là chuồng gà ở sau nhà ấy".
Không ai trả lời. Tôi  có nói thì họ cũng chẳng quan tâm nữa. La Perla xô ngang tôi trogn tối rồi đứng chờ ở chân cầu thang. Một tiếng đập nặng lên cánh cửa dội khắp căn hầm.
Một trong các cô hầu quỳ xuống và cầu nguyện một cách cuồng loạn. Có tiếng đổ sầm nữa ở bên trên. Ván cửa vỡ toang và cửa bật mở khi một luồng ánh sáng đổ xuống cầu thang, để lộ La  Perla đứng đấy, kiên định như một tảng đá, con dao pha phản chiếu ánh sáng như chiếc gương tráng bạc.
Mấy đứa bước xuống thang. Tôi thấy ba. Những đứa khác ở phía sau nên tôi chỉ thấy được chân chúng.
Đứa đầu tiên dừng lại khi trông thấy La Perla. "Một mái già bự. Chẳng bõ". Hắn hơi cúi người và săm soi dưới các giàn giá. "Nhưng còn lũ khác đây. Lũ tơ, mỡ màng đây. Con mái già đứng gác bầy con của mụ".
"Bọn chó đẻ!" La Perla nói qua kẽ răng.
Gã đàn ông đứng thẳng lên gần như lơ đễnh và khẩu súng trường ngắn nòng trong tay hắn nổ với một ánh chớp chói loà.
Mùi thuốc súng cay xè trong mũi tôi khi mắt đã quang, tôi thấy La Perla chuệnh choạng lùi tựa vào tường. Trong một thoáng, bà như treo lơ lửng ở đấy rồi từ từ tụt xuống chân tường. Một bên mặt và cổ bà hoàn toàn biến mất. Chỉ còn một đám đỏ tươi những thịt cùng xương.
"La Perla!" Mẹ tôi rú lên, chạy đến bên bà. Chẳng hề cố gắng, gã đàn ông như đổi chiều khẩu súng trong tay và phang vào đầu mẹ tôi khi  bà chạy ngang hắn. Mẹ tôi ngã dập xuống, vắt ngang thi thể La Perla, mặt bà dúm dó kỳ lạ.
"Mẹ ơi!" Tôi bật chạy về phía bà, nhưng những ngón tay của chị tôi như thể chiếc ê-tô và tôi không thể ngọ nguậy được. "Mẹ ơi!" Tôi lại thét lên.
Cô hầu từng cầu nguyện ngất xỉu, nằm vật ra. Gã đầu tiên bước khỏi bậc thang cuối cùng, bước qua La Perla và mẹ tôi, cúi nhìn hờ hững giơ ủng lật cô ta lại. Những tên khác đổ xô xuống cầu thang sau hắn. Mười một đứa cả thảy.
"Nến!", một tên nào đó kêu lên. Một tên khác đánh diêm. Ánh sáng vàng vọt nhảy múa một cách ma quái trong gian hầm. Thằng chỉ huy nhìn quanh. "A, bốn mái tơ và một trống hoa".
Giọng chị tôi bỗng già dặn, mạnh mẽ hơn là tôi từng nghe. "Các người muốn gì?" Chị hỏi. "Lấy gì thì lấy rồi đi đi".
Gã đàn ông nhìn chị chòng chọc. Cặp mắt hắn đen và ánh lên như than. "Con này của tao", hắn thản nhiên nói. "Những thằng khác cũng sẽ hoan nghênh mày đấy".
Cô hẫu ngất lịm đã tỉnh lại đúng lúc để nghe lời ấy. Cô rú lên và lồm cồm đứng dậy, cố lách qua mọi người để đến cầu thang, nhưng một tên đã tóm lấy mớ tóc đen buông xoã, rồi thình lình giật mạnh lại, và cô bật ngửa ra.
Hắn xoay cô lại, tay kia xé ngực áo cô, nhưng thứ vải bông thô quá bền. Nó không rách. Với một câu chửi cáu bẳn, hắn buông cô ra, rồi tay hắn vung lên cùng con dao rạch xoạc ngực áo cô. Chiếc áo bung ra như thể bẹ ngô vậy. Một đường mảnh như kẻ chỉ, bỗng ửng đỏ, bắt đầu từ cổ cô, chạy xuống giữa hai vú và xẻ dọc nếp bụng nâu Anh-điêng, cho đến tận thảm lông dày vùng phồn thực. Cô rú lên, bò đi bằng đầu gối và hai tay, nhưng hắn cười phá và tóm tóc cô lôi lại.
Cô vẫn cố thoát. Nhanh như chớp, hắn quay ngược dao trong tay rồi thọc cán dao ngược lên giữa hai đùi cô, và cô rú lên đổ sụp bên chân hắn, quằn quại trong đau đớn. Lưỡi con dao phản chiếu ánh sáng vàng ệch của cây nến khi nó cắm chổng ngược giữa háng cô. Hắn đặt một chân mang ủng nặng chịch lên bụng cô để giữ cô nằm yên và bắt đầu mở giải rút quần.
Những tên khác cũng đang xông vào các cô hầu còn lại. Niella, cô hầu riêng của mẹ tôi, bị lột trần truồng và vật ngửa trên một thùng rượu, hai tên cướp giữ hai bên trong khi tên thứ ba nhảy lên cô. Sarah, cô gái Anh-điêng mà La Perla đã đưa từ trên núi xuống để phụ bếp, nằm  vật trên sàn ở phía bên kia hầm, sau dãy thùng gỗ.
Tên chỉ huy quay lại. Thân hình hộ pháp của hắn che khuất cả phần còn lại của căn hầm. "Tống khứ thằng nhỏ đi". Hắn lặng lẽ nói. "Nếu không tao sẽ giết nó".
Chị tôi đẩy tôi đi. Tôi quay lại nhìn mặt chị. Nó u sầu, đờ đẫn. Cặp mắt chị như không hồn. "Không! Không!" tôi kêu lên.
"Ra đằng sau đống hộp và đừng có nhìn", chị nói. Đấy không phải giọng của chị. Đấy là giọng của một người lạ, lạnh lẽo và  xa xăm. Cái giọng tôi chưa bao giờ từng nghe.
"Không!"
Cái tát đau điếng của chị chạy ran trên má tôi. "Đi đi! Bảo thì phải nghe!".
Không phải vì đau. Mà là âm sắc quyền uy trong giọng nói của chị tôi. Tôi bật khóc. "Đi!" Chị tôi quát lớn.
Dụi mắt, tôi quay đi và rúc xuống sau đống hộp. Tôi vẫn khóc. Bỗng tôi đái ra quần. Chúng tôi học được ý nghĩa của sợ hãi mới nhanh làm sao.
0
Chương 2
Tiếng rú xuyên thấu của chị tôi đã chặn đứng dòng nước mắt tôi. Nó như khô đi khi con sóng căm thù nóng rãy phủ tràn khắp trong tôi. Tôi nuốt hơi, nhị thở khi hé nhìn qua đống hộp.
Lưng chị quay về phía tôi và hai mông trần của chị vặn vẹo dữ dội khi tên cướp cưỡng chị lùi đến một chiếc hòm. Móng tay chị cào trên mặt hắn, để lại một đám xước đỏ, nhưng hắn tát chị thật hung bạo, rồi chị ngã ngửa ra trên chiếc hòm. Mồm chị há hốc và chị rú lên, nhưng chẳng âm thanh nào bật khỏi cặp môi chị. Cặp mắt chị điên dại chằm chằm nhìn tôi mà chẳng thấy gì. Cặp vú bé tẹo của chị bẹt dí trên bộ xương ngực, bụng chị thì hầu như là một lòng chảo.
Tôi chợt hiểu hắn sắp làm gì. Tôi đã thấy những con bò đực khi người ta thả bò cái vào với chúng. Tôi nhìn tên cướp khi quần hắn tụt xuống ống chân. Bụng hắn là một thảm lông dày, từ đó, sinh thực khí trương cứng của hắn dựng lên như chiếc cán chổi trắng vẫn dùng để quét hành lang. Hắn tì một cùi chỏ vào giữa bụng chị, tay kia tóm cổ chị, dán lưng chị xuống chiếc hòm, làm chị gần như nghẹt thở. Chị rú lên, chồm dậy, cố tuồn khỏi hắn, nhưng hắn vừa chửi vừa gia tăng áp lực trên cổ chị. Chị vẫy vùng, quằn quại và hắn giận dữ tát ngang mặt chị. Đầu chị đập mạnh vào cạnh hòm.
Rồi bỗng chị rú lên, rùng mình. Từ từ, hắn lút vào trong chị, giữa tiếng rú nhoà dần thành tiếng rênrỉ của hấp hối.
Hắn nhấp nhô trên chị. Và rồi, có cái gì như một sự hấp hối kỳ lạ của chính hắn, khi hắn rùng mình một cách bí ẩn giữa tiếng kêu như con thú bật khỏi cổ hắn.
Đúng khoảnh khắc đó hắn nhìn lên, và tôi nhìn thẳng vào mặt hắn. Cặp mắt hắn đờ đẫn và biến dạng, mồm hắn há hốc mà thở. Rồi chị tôi lại kêu rú lên, và tôi thấy máu từ trong chị phùi ra. Tôi run bắn lên. Tôi muốn giết hắn.
Tôi nghe thấy có tiếng lách cách trên sàn gỗ và tôi nhìn xuống. Con dao đã rơi khỏi thắt lưng của hắn. Chẳng suy nghĩ, tôi nhoài qua chiếc hòm, lấy dao. Chậm chạp, như thể cng lắm, hắn quay về phía tôi.
"Tên cướp!" tôi thét lên, phóng dao thẳng vào cổ hắn bằng cả hai tay.
Hắn vung một tay lên và con dao bật khỏi hai tay tôi, rơi xuống giữa tôi và hắn. Tôi lao cả người vào hắn, cố đánh hắn bằng hai nắm đấm, và hắn hầu như trễ nải vung một bàn tay khiến tôi bị văng tít vào đống hòm. Tôi không thấy đau đớn gì. Chỉ còn lòng căm thù và mong muốn được giết chưa từng bao giờ có trong tôi. Tôi chỉ còn hiểu rằng phải tiêu diệt hắn.
Chị tôi chằm chằm nhìn tôi. Bỗng cặp mắt chị ánh lên. "Dax!" chị thét lớn, tóm lấy bàn tay đang cầm con dao của hắn.
Giận dữ, hắn cố rút tay về mà gần như lôi chị tôi từ bên dưới hắn lên. "Dax! Chạy đi! Lạy Chúa!" chị lại hét. "Chạy đi!".
Tôi như đóng băng. Hắn lao vào tôi.
"Chạy đi, Dax!". Hắn lại chực lao vào tôi thì chợt chị như bắt chéo hai chân rồi thu đầu gối lại. Hắn ré lên vì đau đớn. "Dax! Chạy đến chỗ bố đi!" mắt chị sáng lên khi nói câu đó.
Điều này thì tôi hiểu. Điều này đã thấm vào trong tôi. Tôi quay người và chạy lên thang tầng hầm. Tôi nghe thấy tiếng thét nữa ở phía sau. Tôi dừng lại gần như giữa tiếng thét và nghe hắn quát giọng khàn đặc. "Thằng nhãi ranh!".
Tôi lên hết cầu thang và băng qua nhà. Tôi lao ra ánh nắng chói chang. Trong một thoáng, tôi như mù. Tôi có thể thể nhìn thấy gì cả. Rồi tôi bắt đầu chạy về phía ruộng mía, nơi con cún đã biến mất. "Bố ơi! Bố ơi!".
Trên đường, có mấy người đàn ông đi tới. Tôi không biết họ là ai nhưng tôi chạy về phía họ. Tôi đã ra ngoài hàng rào trước khi tên cướp đầu tiên ra khỏi nhà. Tôi chạy xuống đường, kêu lên thất thanh, rồi tôi nghe giọng bố tôi. "Dax! Đội ơn Chúa!".
"Bố!" tôi kêu lên.
Tôi lao vào vòng tay ông. "Bố! Bố! Sợ quá! Đừng để chúng làm con đau!".
Bộ mặt sẫm màu của ông ánh lên trong nắng trưa. Ông ôm chặt tôi." Đừng sợ", ông thì thào. "Sẽ không có ai làm con đau cả".
"Chúng nó làm đau mẹ", tôi khóc nấc lên. "Cả chị nữa. La Perla thì chết rồi còn chị thì đang chảy máu".
Tôi thấy mặt bố tôi sạm đi dưới làn da nâu của ông. "Đây là quân đội của ông đấy à, tướng quân?" giọng ông mỉa mai thật hung tợn. "Họ gây chiến với đàn bà và trẻ con à?".
Người đàn ông mảnh khảnh đứng cạnh bố tôi nhìn ông chằm chằm, rồi cặp mắt xám lạnh ấy quay sang nhìn tôi. Cặp môi mím thành một đường mảnh. "Nếu như người của tôi phạm bất cứ sai trái gì thì họ sẽ chết vì những sai trái ấy, thưa ông".
Ông đi tới căn nhà và bọn cướp đang đuổi theo tôi sững lại khi thấy ông. "Chủ tướng!".
Chúng rụt lại giáp tường khi chúng tôi đi qua. Ông tướng dừng lại bên cửa, quay nhìn lại tôi. "Chúng nó đâu?"
"Trong hầm rượu", tôi nói.
Bỗng bố tôi vụt chạy. Vẫn bế tôi trong tay, ông xô qua ông tướng, vào nhà, qua bếp, xuống thang hầm rượu.
Dừng lại một thoáng, ông nhìn cảnh hoang tàn. Rồi ông từ từ đặt tôi xuống. "Lạy Chúa tôi!" Ông quỳ xuống nâng đầu mẹ tôi lên đùi. "Lạy Chúa tôi!"
Mặt mẹ tôi trắng bệch, im phắc. Đầu bà như ngoẹo đi đã một góc kỳ lạ. Tôi nhìn qua phòng tìm chị tôi. Chị vẫn nằm vắt ngang chiếc hòm, đầu chị vật ngửa, lủng lẳng. Tôi chạy đến chị. "Ổn thoả rồi", tôi kêu lên "Bố đây rồi".
Nhưng chị chẳng nghe thấy tôi nói. Chị chẳng bao giờ nghe tôi nói nữa. Con dao vẫn nẳm ở cổ họng chị, nơi tên cướp đã phóng vào. Tôi chằm chằm nhìn chị, không thể tin được. Rồi tôi gào lên.
Lần đầu tiên tôi nhận thấy điều gì đã xảy ra. Họ đã chết. Tất cả đều đã chết. Mẹ. Chị. La Perla. Tất cả đều đã chết. Tôi thét lên, thét lên, thét lên.
Sau đó – sau khi bố tôi đã bế tôi lên và đưa tôi ra khỏi cái nơi đẫm máu ra ngoài ánh nắng, chúng tôi đứng trong sân. Lúc đó chiều đã muộn và đông người hơn trước. Phải đến hơn một trăm người. Họ đứng quanh, ngó nhìn một cách lặng lẽ.
Mười một tên cướp bị trói xóc xâu vào nhau bằng một giây thừng. Chúng đứng giáp tường, lặng lẽ trong ánh nắng chói chang, chằm chằm nhìn lại những đồng bào của chúng.
Ông tướng ngồi  trên chiếc ghế bên bàn trong hành lang. Ông nhìn chúng, rồi nhìn rộng ra đám đông. Ông nói lặng lẽ, và cái giọng lạnh lùng nhỏ nhẹ của ông xuyên thấu đến những ai đứng xa nhất. "Nghe đây. Và nhớ lấy. Bởi vì những trừng phạt đối với họ sẽ là trừng phạt đối với các anh, nếu các anh cũng quên rằng các anh là những người giải phóng chứ không phải bọn cướp. Các anh chiến đấu vì tự do, vì đồng bào của các anh, chứ không phải vì lợi lộc cho riêng mình. Các anh phụng sự tổ quốc, chứ không phải là bọn đi cướp bóc và hãm hiếp".
Ông đứng lên, quay sang người phụ tá, anh ta đặt khẩu tiểu liên vào tay ông. Chậm rãi, ông quay sang bố tôi, chìa khẩu súng ra. "Mời ông?".
Bố tôi chằm chằm nhìn khẩu súng, rồi nhìn ông tướng, rồi hít một hơi thật sâu, rồi quay ra nhìn những người đang đứng giáp tường. "Không, tướng quân ạ", ông nói nhỏ nhẹ. "Tôi là một người của luật pháp chứ không phải của chiến tranh. Chuyện đau lòng thuộc về tôi, nhưng không phải là chuyện trả thù".
Ông tướng gật đầu rồi bước xuống bậc thềm hành lang, ra ngoài sân đất cháy nắng. Cầm khẩu súng máy lỏng lẻo trong tay, ông bước tới chỗ mười một tên, dừng lại trước người đầu tiên trong hàng, kẻ đã hãm hiếp và giết chị tôi.
"Mày, García" ông lặng lẽ nói. "Mày là đứa tao đã phong chức tiểu đội trưởng. Mày phải khá hơn chứ".
Gã đàn ông chẳng nói chẳng rằng, nhìn thẳng vào cặp mắt ông tướng mà chẳng hề có chút sợ hãi. Hắn biết là không có sự khoan dung nào nữa, và hắn cũng chẳng chờ đợi gì.
Một lưỡi dao ánh lên trong tay khi ông tướng đi dọc hàng người. Khi ông bước ra, chúng tôi thấy được ông đã làm gì. Giải rút quần của từng đứa đã bị cắt, quần tụt xuống đất, để lộ ra chân cẳng và thân dưới trắng ởn của chúng. Chậm rãi, ông tướng đi trở lại khoảng mươi bước. Ông giơ súng lên.
Tôi chằm chằm nhìn García. Cảnh hắn nhấp nhô trên chị tôi bật lại trong đầu. Tôi thét lên và chạy từ hành lang xuống. "Để cháu. Tướng quân! Để cháu giết hắn!".
Ông tướng kinh ngạc quay lại.
"Dax! Dax! Không!" Bố tôi gọi phía sau.
Nhưng tôi không nghe thấy, vẫn chạy tiếp. "Để cháu!".
"Dax!" bố tôi quát lên.
Ông tướng nhìn lại hành lang. "Đấy là công lý", ông nói.
"Nhưng nó là con nít!" Bố tôi đáp. "Nó biết gì về công lý?"
"Hôm nay nó đã học đến cái chết", ông tướng nói. "Nó đã học căm thù, nó đã học sợ hãi. Hãy để cho nó học giết, nếu không, điều đó sẽ vĩnh viễn nung mủ như ung thư trong tâm hồn nó".
Bố tôi lặng thinh. Bộ mặt sẫm màu có dịu bớt khi ông chậm rãi quay đi. "Trong máu nó rồi", ông nói một cách buồn thảm. "Tính tàn  bạo của những kẻ chinh phục".
Tôi hiểu câu ông nói. Ngay ở thời đó tôi đã hiểu. Đó là dòng máu của mẹ tôi, người mà gia đình bắt nguồn từ đám dân Tây Ban Nha từng du nhập cùng với nghị viện của họ.
Ông tướng quỳ xuống "Lại đây cháu".
Tôi bước tới. Ông đặt khẩu súng trên cánh tay, cặp nòng súng trong khuỷu tay, rồi để ngón tay tôi vào cò súng. "Nào", ông nói "Nhìn xuống đầu nòng. Khi cháu thấy nó nhằm vào dái chúng thì bóp cò. Còn để mặc bác".
Tôi nheo mắt dọc theo nòng thép xanh. Tôi hướng súng vào García. Tôi thấy cặp giò trắng hếu và cái bụng lông lá của hắn ngay dưới đầu nòng thép ngắn. Tôi bóp cò.
Tiếng nổ vang trong tai tôi và cái cơ thể trắng ởn tan thành nghìn mảnh đỏ tí tẹo. Tôi cảm thấy ông tướng lia súng suốt hàng người. Lia đến đâu là ở đấy thịt trắng thành thịt đỏ tan tành. Tôi cảm thấy cò súng nóng lên dưới ngón tay, nhưng một niềm hoan lạc và kích động trong tôi đã khiến tôi không buông nó ra, dù cho nó có làm hỏng những ngón tay tôi.
Chợt băng hết đạn và khẩu súng câm lặng. Tôi ngỡ ngàng ngước nhìn ông tướng. "Xong rồi cháu".
Tôi nhìn chằm chằm vào mười một đứa. Chúng co quắp, mặt mũi méo xệch trong cơn hấp hối, mắt trợn trừng vô tri vô giác nhìn lên mặt trời trắng xoá. "Chúng chết rồi à?" Tôi hỏi.
Ông tướng gật đầu "Chúng chết rồi".
Giờ tôi run cầm cập như thể hôm đó đã biến thành băng giá. Rồi tôi bắt đầu khóc. Tôi quay lại, chạy về phía bố tôi. "Bố! Bố ơi!" tôi kêu lên. "Chúng chết rồi. Vậy thì mẹ và chị có sống lại không?"
0
Diogenes Alejandro Xenos. Cái tên quá dài đối với một thằng cu con. Thoạt tiên, mẹ tôi vẫn gọi tôi là Dio. Nhưng rồi bố tôi phát bẳn lên. Ông cho thế là phạm thượng. Rồi ở đoạn nào đó, nó biến thành Dax. Tôi nghĩ La Perla là người đầu tiên gọi tôi thế. Âm Hy Lạp của Diogenes quá khó đối với khẩu ngữ Anh-điêng của bà.
Bố tôi sinh ra ở thành phố duyên hải Curatu, do một thuỷ thủ Hy Lạp và một đàn bà da đen, người bán hàng ăn gần bến cảng, nơi thuỷ thủ vẫn ăn uống khi họ lên bờ.
Tôi còn nhớ đã có lần bố cho tôi xem tấm hình ông bà nội tôi. Dù đang ngồi, rõ ràng là bà tôi cao hơn ông tôi, người đứng bên và hơi lùi sau ghế bà. Mặt bà tôi như rất đen, bà nhìn vào máy ảnh với thế đĩnh đạc, biểu hiện cả nội lực lẫn ý chí. Ông tôi có cặp mắt của con người mơ mộng, một nhà thơ, mà thực ra ông đã từng, trước khi ông ra biển.
Bố tôi mang nước da của bà cụ thân sinh, và có cặp mắt dịu hiền của ông cụ. Ông từng rất yêu quý cha mẹ. Ông kiêu hãnh kể với tôi rằng bà nội tôi xuất thân từ hoàng phái Bantu, người đã bị đưa đến đây làm nô lệ và, ông cụ thân sinh ra bà thì đã dấn thân vào cuộc sống thế nào khi những người nô lệ được giải phóng, để có được chút đỉnh giáo dục.
Jaime Xenos. Bố tôi được đặt tên theo họ ông ngoại của ông. Khi bà tôi có mang quá to, không bán được quán ăn nhỏ nữa, thì ông tôi thay. Nhưng đấy không phải là công việc của ông. Trước khi bố tôi đầy tháng, cả cái quán ăn nhỏ lẫn tất cả những gì bà tôi từng kiếm và dành dụm, đã được bán đi.
Ông nội tôi, người viết chữ đẹp, khi đó đã trở thành thư ký cho quận trưởng quận cảng, và mọi người đã dời đến căn nhà nhỏ cách cảng khoảng hai cây số, nơi họ nuôi dăm con gà, nhìnra biển Caribe xanh thẳm và ngắm những con tàu ra vào cảng.
Họ không có nhiều tiền, nhưng ông bà nội tôi rất hạnh phúc. Bố tôi là con một và ông bà có những hoạch định lớn cho con trai. Ông nội tôi đã dạy đọc và viết từ khi bố tôi lên sáu và qua quận trưởng, đã đưa được ông vào trường dòng, nơi con cháu của các quan chức và giới quý tộc thụ giáo.
Để đền đáp lại vinh dự này, bố tôi phải bắt đầu mỗi ngày của mình vào lúc bốn rưỡi sáng. Công việc của ông là đổ các thùng rác và quét các phòng trước khi lớp học bắt đầu. Các phận sự này kéo dài thêm khoảng ba tiếng đồng hồ nữa sau khi tan học, vào lúc sáu giờ, cộng thêm bất cứ đòi hỏi nào khác của các nhân viên và thầy giáo.
Đến tuổi mười sáu, bố tôi đã học hết tất cả những gì nhà trường có thể giáo huấn. Ông được thừa hưởng dáng vóc của nhà ngoại – cao đến sáu bộ - và đầu óc ham hiểu biết của ông nội tôi. Ông là học sinh sáng láng nhất toàn trường.
Một hội nghị lớn được tổ chức giữa các thầy dòng lãnh đạo nhà trường và ông nội tôi, để cuối cùng đi đến quyết định là bố tôi phải được gửi đến trường đại học để học luật. Vì đồng lương thư ký của ông ngoại quá ít ỏi để có thể trả được học phí này, hội nghị cũng thoả thuận rằng các thầy dòng sẽ trích quỹ học bổng có hạn của nhà trường để trợ giúp. Nhưng ngay cả như thế cũng vẫn không đủ để trang trải học phí, nếu như ông quận trưởng, người mà ông nội tôi làm việc dưới quyền, không đồng ý chi bù vào chỗ thiếu để đổi lấy một giao kèo năm năm làm việc khi bố tôi học xong.
Vậy là ông bắt đầu hành nghề luật bằng sự làm việc không lương tại văn phòng của quận trưởng, nơi bố ông là một thư ký, trong căn phòng tối mù và ẩm thấp, ngồi vắt vẻo trên ghế đẩu mà chép lia lịa những khởi tố, tóm tắt và kết luận…Chính ở đó, nơi bố tôi đang làm việc, ở tuổi hai mươi ba, và vào năm thứ ba của  giao kèo, thì trận dịch ập đến Curatu.
Nó đến trên một con tàu với những cánh buồm trắng sạch sẽ, lướt đi như tung tăng trên những ngọn sóng nhỏ phủ kín vùng nước xanh trong của bến cảng. Nó ẩn náu trong những khoang tàu thâm như bí ẩn và trong vòng ba ngày, gần như ba nghìn sinh linh của thành phố đều bị chết hoặc đang ngắc ngoải.
Buổi sáng đầu tiên ấy, khi ông quận trưởng bước vào, bố tôi đang ngồi bên bàn làm việc. Ông già băn khoăn ra mặt nhưng bố tôi không hỏi gì. Ông cúi đầu trên bộ luật, vờ như không để ý.
Ông quận trưởng bước tới phía sau, nhìn qua vai xem bố tôi đang làm gì. Một giây sau ông nói "Jaime?"
Bố tôi nhìn lên. "Vâng, thưa ngài?"
"Anh đã đến Bandaya bao giờ chưa nhỉ?"
"Thưa ngài chưa ạ".
"Có một vấn đề ở đấy", quận trưởng nói, "Về quyền đất đai. Ông bạn tốt Rafael Campos của tôi có chuyện bất đồng với giới chức địa phương." Bố tôi kiên nhẫn chờ đợi. "Đáng ra tôi phải đích thân đi", quận trưởng nói "Nhưng ở đây còn có nhiều vấn đề gấp…" Giọng ông ta hụt đi.
Bố tôi không trả lời. Qua công việc văn phòng ông biết ở đây chẳng vấn đề nào thực sự quan trọng cả. Nhưng phải đi sáu trăm cây số để đến Bandayz trên miền thượng du, mà đường xá thì hãi hùng. Ngoài ra là những đồn đại về  bọn cướp lang bạt khắp miền đồi núi để trấn lột hành khách.
"Đấy là một vấn đề rất quan trọng" quận trưởng nói tiếp. "Và Campos là một người bạn cố tri. Tôi muốn ông ấy có được một bảo lãnh". Ông ngừng một giây và cúi nhìn bố tôi. "Tôi nghĩ rằng anh đi ngay được sáng hôm nay thì tốt. Tôi đã thu xếp cho anh một con ngựa trong đàn ngựa của tôi".
"Vâng, thưa ngài", bố tôi đứng dậy. "Tôi về nhà thu xếp vài thứ. Tôi sẽ sẵn sàng ra đi trong vòng một giờ đồng hồ".
"Anh biết chuyện ấy rồi chứ?"
Bố tôi gật đầu. "Tất nhiên, thưa ngài. Hai tháng trước tôi đã làm đơn theo yêu cầu của ngài".
Ông quận trưởng thở dài nhẹ nhõm. "Tất nhiên. Tôi quên khuấy đi mất". Ông không hề quên. Ông biết từng hồ sơ tóm tắt của luật sư bào chữa, từng đơn từ kiến nghị do văn phòng ông phát ra từ mấy năm nay đều do bố tôi viết. "Anh sẽ xin lỗi ông Campos giùm cho tôi, do tôi không đích thân đến được chứ?"
"Tất nhiên, thưa ngài", bố tôi đoan chắc. Rồi ông đi ra phòng ngoài, nơi ông nội tôi ngồi trên chiếc ghế đẩu cao mà chép một bản nghị án.
"Chuyện gì vậy?" ông cụ hỏi.
"Đi Bandaya, bố ạ".
Ông nội mỉm cười. "Tốt lắm. Một cơ may lớn đấy. Ông Campos là một nhân vật quan trọng. Bố rất kiêu hãnh vì con".
"Cảm ơn bố. Con đi đây. Tạm biệt bố".
"Đi đi, Jaime" ông cụ nói và trở lại với công việc.
Bố tôi lấy ngựa trong tàu ngựa của ông quận trưởng để về nhà thu xếp ít đồ đạc cá nhân. Bằng cách ấy, ông khỏi phải đi bộ hai cây số trở lại thị trấn.
Bà ngoại tôi đang phơi quần áo ngoài sân trước. Bà ngẩng lên khi bố tôi buộc ngựa vào hàng rào. Ông nhanh chóng giải thích là sẽ đi đâu. Giống như ông nội, bà hồi hộp, sung sướng  trước cơ may lớn của con trai, bối rối giúp ông chọn hai chiếc sơ mi mới nhất mà bà cất cẩn thận cùng với bộ complê bảnh nhất của ông trong chiếc vali cũ sờn.
Hai người trở ra sân đúng lúc một con tàu với những cánh buồm trắng lung linh lướt qua đê  chắn sóng, vào cảng. Bà dừng lại một thoáng, nhìn con tàu trên mặt nước. "Nhìn kìa!" bà chỉ.
Jaime mỉm cười. Mẹ ông từng kể cho ông nghe về những con tàu, về thời bà còn là một cô bé con và ông cụ thân sinh vẫn dẫn bà lên đồi để ngắm những con tàu vào cảng. Lúc về ông cụ thường bảo rằng đến một ngày nào đó, một con tàu lớn với những cánh buồm  trắng lung linh sẽ đến để đưa họ về quê hương bản quán, mảnh đất của tự do, nơi con người không phải quỳ gối trước miếng ăn hàng ngày.
Ông cụ thân sinh của bà đã mất từ lâu, nhưng bà vẫn mang giấc mơ ấy. Chỉ có điều là giờ đây, giấc mơ của bà dồn cho người con trai. Chính ông sẽ dẫn dắt họ đến với tự do. Với sức khoẻ và trí tuệ của ông.
"Ông nội chắc phải thích con tàu kia", con trai bà nói.
Bà cười khi họ bước về phía con ngựa đang gặm cỏ mềm bên hàng dậu. "Con là con tàu với những cánh buồm trắng của mẹ". Bà nói.
Bố tôi hôn bà rồi lên ngựa, phi theo con đường phía sau nhà. Đến đỉnh đồi, ông ngoặt ngựa lại, nhìn xuống. Bà nội vẫn đứng nhìn theo ông. Ông vẫy bà. Bà đưa tay lên. Ông cảm thấy hơn là trông thấy bà cười với hàm răng trắng bóng. Ông lại vẫy rồi quay ngựa trở lại hướng đường cái.
Khi đó, ông thấy con tàu đang lướt tới bến cảng, những thuỷ thủ trên các cột  buồm như thể đàn kiến dại. Trước tiên là cánh buồm ngọn trắng được cuộn xuống, rồi đến cánh buồm mũi, và khi ông rẽ đi, con tàu nhẹ nhàng áp mạn bến, những cánh buồm còn lại trụt cả xuống, để lại bộ xương những cột  buồm dựng đứng.
Hai tháng sau, khi ông trở lại Curatu, con tàu vẫn áp mạn  bên bến – một đống gỗ vụn cháy đen mà từng có thời kiêu hãnh vượt bao đại dương, cuối cùng đã đem cái chết hắc ám đến đây. Ông không tìm thấy dấu vết gì của bố mẹ cả.
Khi người hầu đầu tiên báo tin có kẻ lạ mặt cưỡi ngựa từ trên núi xuống phía trang trại, Rafael Campos lấy ống nhòm và đi ra hành lang. Qua ống nhòm, ông thấy người đàn ông da ngăm đen, vận quần áo thành phố đầy bụi, cưỡi con ngựa sẫm màu, đang cẩn thận lần từng bước xuống con đường núi hóc hiểm. Ông gật đầu tự mãn. Người ăn kẻ làm được báo động. Cẩn trọng chẳng phải là thừa khi mà bất cứ thời điểm nào bọn cướp cũng có thể ào từ trên núi xuống.
Ông lại chăm chắm nhìn qua ống nhòm. Người lạ mặt đi ngựa rất cẩn thận. Campos đặt ống nhòm xuống và rút trong túi ra chiếc đồng hồ vàng. Lúc đó là mười giờ ba mươi sáng, phải một tiếng rưỡi đồng hồ nữa người lạ mặt mới đến trang trại được. Khi đó thì đã là giờ ăn trưa. Ông vỗ mạnh hai bàn tay.
"Dọn thêm một ghế ăn trưa nữa", ông bảo gia nhân.
Phải mặt đến hai tiếng đồng hồ trước khi bố tôi đến được trang trại. Don Rafael ngồi trong bóng râm trên hành lang, vận bộ đồ trắng không chê được của giới quý tộc và diềm xếp nếp của chiếc áo lụa trắng cũng như chiếc dải quấn cổ đen chảy dài chỉ điểm tô thêm cho khuôn mặt mảnh mai, tinh tế của ông. Bộ ria ông mỏng dính và được tỉa rõ đẹp theo thời trang Tây Ban Nha hiện đại nhất, còn cặp lông mày của ông thì chỉ là một thoáng màu xám.
Don Rafael đứng lên khi bố tôi xuống ngựa. Ông tỏ ra mãn nguyện khi nhận thấy phục trang của bố tôi đã được chải sạch sẽ và đôi bốt đã được đánh bóng lộn. Bố tôi nhận thấy sự đánh giá nhanh chóng ấy và mừng vì đã dừng bên một con suối để làm cho ngoại hình ông khả dĩ.
Ông Campos ra đầu cầu thang khi bố tôi bước lên. "Chúc mừng ông", ông nhã nhặn nói theo phong tục miền núi.
"Xin vô  cùng cám ơn ông", bố tôi trả lời. "Tôi được hân hạnh thưa chuyện với ngài Don Rafael Campos phải không ạ?"
Người đàn ông lớn tuổi gật đầu.
Bố tôi cúi chào. "Jaime Xenos từ văn phòng quận trưởng tới phục vụ ngài".
Don Rafael mỉm cười. "Vào đi", ông nói và đưa tay ra. "Anh là khách danh dự của nhà tôi".
"Thưa ngài, đó là vinh hạnh của tôi".
Don Rafael vỗ tay. Một người hầu chạy tới. "Đồ uống lạnh cho khách", ông nói "Và chăm nom con ngựa cho ông".
Ông dẫn bố tôi trở lại bóng râm trong hành lang và mời ông ngồi. Khi ngồi xuống bên chiếc bàn con, bố tôi nhìn thấy một súng trường và hai súng ngắn đặt trên sàn, ngay cạnh ghế ông chủ.
Người đàn ông lớn tuổi thấy ánh mắt của bố tôi. "Ở miền núi, cẩn thận chẳng bao giờ thừa".
"Tôi hiểu" bố tôi nói.
Người hầu mang đồ uống đến. Hai người nâng ly chúc nhau rồi bố tôi bày tỏ lỡI xin lỗi thay cho quận trưởng. Nhưng ông Campos chẳng cần nghe lời cáo lỗi. Với bố tôi, ông còn thoả mãn hơn, ông chắc chắn là toàn bộ công chuyện sẽ được hoàn tất mỹ mãn. Rồi họ vào nhà ăn trưa và sau đó, Don Rafael cáo từ bố tôi để về phòng nghỉ, vì hôm sau họ còn đủ thì giờ để bàn công chuyện. Hôm nay khách của ông phải nghỉ ngơi thoải mái. Vậy là đến bữa cơm tối hôm đó, bố tôi mới thực sự gặp mẹ tôi.
Nhưng từ cửa sổ bên trên hành lang, María Elisabeth Campos đã dõi theo người cưỡi ngựa đi tới cổng trang trại, và cuộc đối thoại dội một cách rõ ràng tới cô trong buổi chiều lặng.
"Anh ta rất cao và đẹp trai, phải không?" một giọng nói từ phía sau cô.
María Elisabeth quay lại. Doria Margaretha, bà cô, người vốn là quản gia trong gia đình kể từ khi bà chị mất, đang đứng phía sau, Elisabeth đỏ mặt. "Nhưng anh ấy đen quá".
"Mang dòng máu da đen", bà cô trả lời. "Nhưng có hề gì. Người ta bảo rằng họ là những người tình và người chồng hết sẩy đấy". Bà tựa qua cô cháu mà nhìn ra khuôn cửa sổ để ngỏ. "Rất đàn ông".
Giọng Don Rafael đề nghị người khách nghỉ ngơi cho tới bữa ăn tối bồng bềnh lên phía họ.
Doria Margaretha rụt đầu lại. Bà nhìn cô cháu gái của mình. "Giờ thì cháu phải lên giường mà nghỉ cả buổi chiều đi", bà nói. "Vị khách của chúng ta mà thấy cháu đỏ dừ và mệt mỏi vì nóng bức thì chẳng còn ra làm sao cả".
María Elisabeth miệng phản đối nhưng vẫn làm theo lời khuyên. Người khách lạ cao lớn, da ngăm đã gây cho cô một ấn tượng mạnh và cô muốn xuất hiện khả dĩ nhất trước mắt ông.
Cuối cùng, các rèm cửa được buông xuống và cô nằm duỗi dài, một mình trong sự mờ tỏ mát mẻ. Cô không ngủ. Ông là một luật sư, cô nghe thấy ông nói vậy. Vậy có nghĩa là ông có phong độ lịch lãm. Không giống như con trai của nông dân và điền chủ quanh trang trại. Họ đều quá thô thiển và tầm thường, ưng súng ống, ngựa nghẽo hơn là những cuộc đàm đạo tinh tế về xã hội.
Vậy là cô phải sớm lựa chọn. Cô đã vượt tuổi mười bảy, mà cha thì đang ép cô lấy chồng. Một năm nữa thôi là cô bị liệt vào loại gái già và phải sống một cuộc đời như Doria Margaretha vậy. Và ngay cả cuộc đời ấy cũng khước từ cô vì cô là con một, không có anh trên em dưới để mà trông nom con cái họ.
Lấy một luật sư thì hay thật, cô thoảng nghĩ khi chìm vào giấc ngủ, được sống ở thành phố, nơi người ta gặp gỡ đủ loại người khác nhau và thú vị.
Bố tôi vô  cùng phấn khích trước cô gái quá trẻ, mảnh mai, xuống ăn tối trong bộ đồ trắng thướt tha làm nổi bật cặp môi hồng và đôi mắt đen, to. Bố tôi cảm thấy, hơn là trông thấy, thân hình mảnh mai và bộ ngực căng đầy dưới váy áo cô.
María Elisabeth gần như lặng thinh trong suốt bữa ăn. Cô nghe láng máng giọng quen thuộc của cha và sung sướng  lắng nghe giọng nói líu ríu mà nhẹ nhàng của người khách. Tiếng nói miền duyên hải vẫn nhẹ nhàng hơn nhiều so với miền núi.
Sau bữa ăn tối, hai người đàn ông sang phòng thư viện hút xì gà và uống cô nhắc, sau đó sang phòng nghe nhạc. Ở đây, María Elisabeth chơi cho họ nghe một vài giai điệu đơn giản. Khoảng nửa giờ sau, cô cảm thấy người khách của họ quá bồn chồn và cô bất đồ chuyển sang nhạc Chopin.
Bố tôi chợt chăm chú lắng nghe. Tình cảm sâu lắng của âm nhạc làm ông rung động và ông chằm chằm nhìn cô gái bé nhỏ gần như bị chiếc đại dương cầm nuốt chửng. Khi bản đàn chấm dứt, ông vỗ tay.
Don Rafael cũng vỗ tay. Nhưng đấy chỉ là lịch sự. Ông cho Chopin quá táo tợn mà thậm chí còn phi luận nữa. Ông ưa thứ âm nhạc đượm buồn thân thuộc hơn những âm hưởng hoang sơ của cái con người mà ông chẳng hề quan hoài.
María Elisabeth đứng lên bên chiếc dương cầm, mặt đỏ ửng, xinh đẹp. "Ở đây nóng bức quá", cô nói và xoè chiếc quạt viền đăng ten nhỏ. "Có lẽ tôi ra ngoài vườn".
Bố tôi đứng dậy tức thì. Ông cúi chào Don Rafael. "Ngài cho phép chứ ạ?".
Don Rafael gật đầu một cách lịch lãm.
Bố tôi đưa cánh tay ra. Cô khoác tay ông một cách thanh nhã và họ bước ra ngoài vườn. Doria Margaretha kín đáo theo sau.
"Cô chơi nhạc hay quá", bố tôi nói.
"Chẳng hay gì đâu", cô cười. "Không có mấy thời gian để tập. Và cũng chẳng có ai để học".
"Đối với tôi thì cô như chẳng còn mấy điều phải học nữa".
"Đối với âm nhạc thì bao giờ cũng còn nhiều điều để học", cô ngước nhìn ông, nói. "Em nghe nói nó cũng giống như luật vậy. Người ta không được phép ngừng học tập, nghiên cứu".
"Đúng. Luật là một ông chủ khắc nghiệt. Nó luôn biến động. Những minh giải mới, những thay đổi mới và cả những điều luật mới diễn ra hầu như hàng ngày".
María Elisabeth thở dài trong thán phục. "Em không hiểu làm sao anh có thể chứa tất cả những điều đó ở trong đầu".
Ông thấy niềm ngỡ ngàng sâu thẳm trong đôi mắt cô.
Đúng nơi ấy và thời điểm đó, mặc dù chẳng hề hay biết, ông đã bị cô thu mất hồn.
Gần một năm sau thì họ lấy nhau, sau khi bố tôi từ Caratu trở lại với tin tức về cái chết của ông bà cụ thân sinh. Chính ông ngoại tôi, Don Rafael, là người đầu tiên đề nghị bố tôi ở lại Bandaya hành nghề luật. Ở đấy đã có hai luật sư, nhưng một người đã già và sắp về hưu. Một năm sau đó, gần đúng đến cả ngày, chị tôi ra đời.
Bố mẹ tôi còn hai người con nữa, giữa chị tôi và tôi, nhưng cả hai đều chết lúc đẻ. Khi đó bố tôi trở nên hứng thú học tiếng Hy Lạp. Ông nội tôi có một thư viện khả dĩ và mọi thứ đã được chuyển từ căn nhà nhỏ ở Caratu đến Bandaya.
Chính Doria Margaretha là người đầu tiên kể cho tôi nghe chuyện sinh nở và lễ rửa tội của tôi. Khi các bà đỡ và ông bác sĩ đi xuống và báo tin vui, bố tôi quỳ một gối xuống mà tạ ơn. Trước hết, vì thực tế tôi là con trai (tất cả những người con khác đều là con gái), thứ đến là vì tôi khoẻ mạnh và có thể sống được.
Gần như tức khắc, mọi người bàn tán xôn xao về tên của tôi. Ông ngoại Don Rafael khăng khăng đòi tôi phải được đặt tên theo cụ thân sinh ra ông. Bố tôi, tất nhiên, lại muốn tôi được gọi theo ông nội tôi. Không ai chịu nhường ai.
Mẹ tôi chính là người thu xếp sự bất đồng đầy đe doạ này. "Hãy đặt tên cho nó ngày mai hơn là  vì quá khứ", bà nói. "Hãy đặt cho nó một cái tên thể hiện hy vọng của chúng ta về tương lai và đầy ý nghĩa đối với tai người nghe".
Điều này hấp dẫn tính lãng mạn và trí tuệ của bố tôi và cả những thôi thúc gia tộc của ông ngoại tôi. Vậy là bố tôi chọn cái tên DIOGENES ALEJANDRO XENOS.
Diogenes là theo tên một nhân vật đi tìm sự thật trong truyền thuyết, Alejandro là tên kẻ chinh phục thế giới. Giải thích thực đơn giản. Bố tôi tuyên bố khi nâng tôi dưới những giọt nước rửa tội của linh mục. "Với sự thật, nó sẽ chinh phục thế giới".
0
 
Chương 4
Tôi thức dậy khi tia nắng đầu tiên le lói vào phòng. Nằm nán trên giường một giây, tôi vùng dậy ra cửa sổ.
Mặt trời mấp mé đường chân trời, đang leo qua dãy núi. Một cơn gió thoảng từ phía tây và tôi rùng mình vì đợt lạnh cuối cùng còn lại trong đêm luồn vào áo ngủ. Bỗng tôi mót giải. Tôi lôi chiếc bô nhỏ dưới gầm giường ra. Tôi dốc bầu tâm sự mà không hiểu liệu bố có cho tôi một cái bô to hơn không, giờ đây, hai đàn ông chúng tôi là những người duy nhất còn lại trong nhà. Đái xong, tôi cảm thấy ấm hơn, đặt lại chiếc bô vào chỗ cũ và trở lại bên cửa sổ.
Bên kia đường phía trước nhà, tôi thấy làn khói nhẹ bốc lên từ những đống lửa nhỏ mà xung quanh là bọn cướp cuộn tròn trong những tấm chăn bẩn thỉu, đang ngủ. Không một động tĩnh, không một âm thanh trong đám họ. Tôi tụt chiếc áo ngủ ra rồi mặc áo quần và đi giày vào. Tôi mặc chiếc áo len Anh-điêng ấm áp mà La Perla đã đan tặng tôi vào ngày sinh nhật, rồi đi xuống nhà. Tôi đói. Đã đến giờ ăn.
Sarah, vốn giúp việc La Perla, đang nhóm lò. Chị ngước lên khi tôi bước vào, khuôn mặt Anh-điêng phẳng lì, vô cảm.
"Tôi đói rồi", tôi nói. "Bây giờ chị có trở thành đầu bếp không đấy?"
Chị gật đầu chẳng nói chẳng rằng. Sarah rất ít nói.
"Tôi muốn ăn ốp lết và jăm bông".
Chị lại gật đầu, với tay lấy chiếc chảo rán đen sì, nặng trịch, nhanh chóng vẩy hai ngón tay mỡ vào chảo rồi đặt lên một trong hai lỗ lò. Rồi chị xắn ba lát từ tảng jăm bông treo bên, cuối cùng đập ba quả trứng vào chảo.
Tôi nhìn mà khâm phục. Chị tốt hơn cả La Perla. Bà sẽ chẳng cho tôi ăn ốp lết. Bà sẽ bắt tôi ăn cháo. Tôi quyết định làm một thử nghiệm cực hạn đối với người bếp mới này. "Cà phê sữa", tôi nói.
Sarah đặt cà phê trước mặt tôi, không nói một lời. Tôi uống soàn soạt sau khi trút ba thìa tú ụ đường đen vào ly. Vị ngọt át được vị cà phê khủng khiếp. Tôi chưa bao giờ thực sự thích uống cà phê, nhưng nó làm cho tôi cảm thấy mình lớn lên.
Chị đặt đĩa ốp lết trước mặt tôi. Nó được rán già, nóng bỏng và rắn chắc như La Perla từng làm. Tôi chờ ít phút cho nó nguội bớt rồi nhón lên ăn, dõi nhìn Sarah qua khoé mắt.
Chị chẳng hề nói một lời về việc tôi không dùng dao nĩa đã được đặt bên đĩa. Chị cũng chẳng đứng đấy mà nhìn tôi, chỉ có một biểu hiện bí ẩn trong đôi mắt chị. Ăn xong, tôi đứng dậy, ra chỗ vòi bơm, mở nước vào tay và chùi mồm rồi lau khô bằng chiếc khăn mặt vắt ở đấy. "Rất ngon", tôi nói đầy tán thưởng.
Điều gì đó trong cặp mùi mchị nhắc tôi nhớ đến cái nhìn của chị khi bọn cướp sấn đến chị trong hầm rượu. Nó chứa đựng vẫn sự chấp nhận đầy bí ẩn ấy.
Do một kích động nào đó, tôi tiến đến và nâng vạt váy trước của chị lên. Cặp đùi chị không một dấu vết và thảm lông giữa hai đùi như chẳng hề bị xới động.
Tôi buông vạt váy xuống và nhìn vào mặt chị. "Bọn chúng có làm đau chị không, Sarah?" tôi hỏi. Chị lặng lẽ lắc đầu. "Tôi mừng vì chúng không làm chị đau", tôi nói tiếp.
Rồi tôi thấy long lanh tròng nước quanh cặp mắt sẫm mầu của chị. Tôi nắm tay chị "Đừng khóc. Sarah, tôi sẽ không để chúng làm thế với chị nữa đâu. Tôi sẽ giết chúng".
Bỗng hai cánh tay chị ghì xiết lấy tôi, và tôi cảm nhận bộ ngực ấm áp của chị áp vào mặt mình, tai nghe tiếng đập nặng nề của trái tim chị. Sarah nấc lên thổn thức, nhưng hầu như chẳng phát ra lấy một âm thanh. Tôi  ắng lặng trong vòng tay chị, tất cả ý nghĩ chỉ là "Đừng khóc Sarah, xin chị đừng khóc".
Một giây sau, chị buông tôi ra, bình thản ném thêm củi vào lò. Chẳng còn gì để nói nữa. Tôi đi ra. Cả nhà im ắng khi tôi đi qua phòng ăn và phòng khách. Tôi bước ra ngoài hành lang.
Bên kia đường đã có động tĩnh. Bọn cướp bắt đầu trở dậy. Tôi nghe tiếng động nhẹ ở cuối hành lang, bèn quay về phía đó.
Phía ấy vẫn còn chìm sâu trong bóng tối, nhưng tôi trông thấy đầu cháy đỏ của một điếu xì gà và hình một người đàn ông đang ngồi trên chiếc ghế của bố tôi. Không phải là  bố. Ông không bao giờ hút xì gà vào buổi sớm mai.
Khuôn mặt rõ hơn hẳn khi tôi bước từ ngoài sáng vào bóng tối. Cặp mắt xám nhạt đang chăm chú nhìn tôi. "Xin chào tướng quân", tôi lễ phép.
Ông trả lời cũng nhã nhặn tương tự. "Xin chào người lính", ông rít hơi xì gà nữa rồi cẩn thận đặt nó xuống mép bàn. "Sáng nay cháu có khoẻ không?"
"Cháu khoẻ", tôi trả lời. "Cháu dậy sớm".
"Bác biết. Bác nghe thấy cháu bên cửa sổ trên".
"Bác đã dậy rồi à?" tôi có nghe thấy tiếng động gì đâu.
Ông thoáng mỉm cười, để lộ hàm răng nhỏ, trắng và đều đặn. "Các ông tướng cũng giống như con nít vậy, phải dậy vào lúc bình minh để xem thử mỗi ngày có gì chờ họ chứ".
Tôi im lặng nhìn sang trại lính. "Họ vẫn còn ngủ", tôi nói.
Một thoáng khinh miệt trong giọng ông. "Cánh nhà quê. Họ chỉ nghĩ được đến hai bữa ăn. Họ ngủ ngon vì biết chắc hai bữa ăn sẽ được cung cấp cho họ".
Ông lại cầm điếu xì gà lên. "Cháu đã ăn sáng chưa?"
"Rồi ạ. Sarah đã cho cháu ăn. Chị ấy khóc".
"Phụ nữ vốn hay khóc", ông hờ hững nói. "Rồi sẽ qua thôi"
"Cháu không khóc".
Ông nhìn tôi trước khi nói. "Không, cháu là đàn ông. Đàn ông chẳng có thì giờ để rơi nước mắt vì những chuyện đã rồi".
"Bố cháu khóc", tôi nói. "Hôm qua, ở nghĩa trang". Nhớ lại, tôi thấy tắc nghẹn nơi cổ. Mặt trời tàn, đổ những bóng dài ngang khu mộ chí nhỏ phía sau nhà. Tiếng cót két của cánh cổng sắt đã gỉ. Âm thanh mềm nhão của những cục đất đen ẩm ướt rơi xuống các quan tài và sự ngọt xớt của tiếng La Tinh mà ông linh mục dội vào bầu không khí buổi sớm mai. Tôi nuốt khối nghẹn xuống. "Cháu cũng khóc".
"Điều đó được phép", ông tướng trả lời đầy nghiêm trọng. "Thậm chí bác cũng đã khóc". Ông lại đặt điếu xì gà xuống và đưa tay kéo tôi lại với ông. "Nhưng đấy là hôm qua. Hôm nay chúng ta lại là đàn ông và không có thì giờ cho nước mắt". Tôi lặng lẽ gật đầu. "Cháu là một cậu bé dũng cảm. Cháu làm bác nhớ các con trai của bác". Tôi lặng thinh. "Một đứa hơn cháu mấy tuổi, còn đứa kia kém cháu một tuổi. Bác còn có một bé gái nữa. Nó lên bốn". Ông mỉm cười, kéo tôi lên lòng. "Chúng nó sống trên núi", ông nhìn qua đầu tôi tới những dãy đồi xa xôi. "Ở đó, chúng nó an toàn". Mắt ông quay lại nhìn tôi. "Có lẽ cháu cũng thích đến thăm chúng chứ? Ở trên núi có nhiều việc phải làm".
"Cháu sẽ có một con ngựa con chứ ạ?" Tôi hỏi ngay.
Ông nhìn tôi đầy suy tư. "Không phải bây giờ. Có lẽ khi cháu lớn hơn chút nữa. Cháu sẽ có một con lừa hết sẩy".
"Nó sẽ là của cháu, của chính cháu chứ?"
"Tất nhiên. Ngoài cháu ra, không ai được phép cưỡi nó cả".
"Thế thì thích quá" tôi nói nghiêm chỉnh. "Có lẽ, cháu sẽ rất thích. Nhưng…" Tôi tụt khỏi đùi ông và ngước nhìn ông "Nhưng bố cháu thì sao? Giờ bố cháu chẳng còn ai ngoài cháu".
"Bác cho là bố cháu sẽ đồng ý. Sang năm bố cháu sẽ rất bận, sẽ không có thì giờ để ở đây đâu. Bố cháu sẽ ở chỗ bác".
Lúc này mặt trời đã bò quanh góc hành lang và người ta đã cẩm nhận sự ấm áp của ban ngày. Có tiếng cào khẽ dưới chân chúng tôi rồi đến tiếng trơn truội, như thể có ai đó nấp dưới sàn gỗ. Hầu như trước khi tôi kịp cử động, ông tướng đã đứng lên, khẩu súng lục nằm gọn trong tay. "Ai?" giọng ông gay gắt.
Lại có tiếng cào nữa, rồi đến tiếng ư ử quen thuộc. Tôi nhảy từ hành lang xuống và chui vào gầm. Một cái mũi lạnh và cái lưỡi quen thuộc liếm khắp mặt tôi. Tôi thò tay lôi con chó nhỏ mầu phân bò từ gầm hành lang ra, ôm nó đang cuống quýt trong tay, rồi đứng dậy.
"Cún!" tôi sung sướng  kêu lên. "Cún! Nó về rồi!".
0
 
Chương 5
Manuelo giơ tay lên để dừng chúng tôi lại rồi đưa vội những ngón tay ngang miệng. Tôi ngồi trên lưng con ngựa nhỏ mà như không dám thở. Tôi nhìn Roberto. Cả nó nữa, cũng rất căng thẳng.
Roberto là con trai cả của tướng Diablo Rojo. Nó gần mười một, hơn tôi hai tuổi. Tôi gần chín tuổi nhưng cao hơn nó đến bảy phân. Nó ghen tị đến chết với tôi vì chuyện đó.
Những người khác ngồi im phắc trên lưng ngựa. Họ lắng nghe. Tôi cũng dỏng tai lên, nhưng chẳng nghe được gì ngoài tiếng xào xạc của lá rừng.
"Chúng nó không xa đâu" Manuelo thì thầm "Phải di chuyển thật nhẹ nhàng".
"Tốt nhất là mình phải biết được chúng nó có bao nhiêu đứa". Gato Gordo quay lại thì thầm.
Manuelo gật đầu. Mèo Bự luôn luôn có lý. Hắn là một nhà tư tưởng. Có lẽ vì quá nặng nề, di chuyển đối với hắn là sự khó khăn mà hắn nghĩ nhiều.
"Tôi sẽ theo dõi chúng", Manuelo nói, và tụt xuống ngựa.
"Không", Mèo Bự vội can. "Lá thì khô, cành sẽ làm trơ khấc cậu ra. Thế là chúng biết mình ở đây".
"Thế…làm thế nào mình biết được?"
Gato Gordo chỉ lên đầu. "Ở trên cây" hắn nói "như một con khỉ ấy. Chúng sẽ chẳng bao giờ nghĩ đến việc nhìn lên đâu".
"Chúng mình nặng quá" Manuelo trả lời. "Mình nặng thế này thì cành cây có thể gẫy và…bụp…chúng mình chết ngóm".
Mèo Bự nhìn Roberto và tôi. "Nhưng chúng nó không đến nỗi nặng lắm".
"Không!" Tiếng thì thầm của Manuelo gần như là một tiếng nổ trong sự cô tịch. "Tướng quân sẽ giết chúng ta nếu như có chuyện gì xảy ra với con trai ông ấy".
"Dax có thể đi được". Mèo Bự khẽ trả lời.
Tôi thấy sự nghi ngại trên mặt Manuelo. "Tớ không biết".
Trước khi hắn nói được gì thêm, tôi đã tóm lấy một cành cây, đu người khỏi yên ngựa, leo lên. "Tôi đi". Tôi vừa nói vừa nhìn xuống bọn họ.
Mặt Roberto sưng lên, mắt trừng trừng. Tôi biết là vì tôi đi, mà nó thì không. Nhưng bố nó đã hạ lệnh rất nghiêm, mà ai cũng phải phục tùng người chỉ huy. Roberto đứng im.
"Thật khẽ" Manuelo căn dặn. "Chỉ đếm xem chúng có bao nhiêu đứa và chúng có loại vũ khí gì. Rồi quay lại báo cáo".
Tôi gật đầu rồi trèo cao mãi lên  cây. Cách mặt đất khoảng mười lăm bộ, đúng trước khi những cành cây quá mảnh, không chịu nổi sức nặng, tôi bắt đầu chuyền từ cây nọ sang cây kia.
Tôi chuyền nhanh như sóc, vậy mà cũng phải mất đến một tiếng đồng hồ để vượt một phần tư dặm đến trại của chúng. Và, nếu như khói từ đám lửa của chúng không xộc vào mũi tôi, thì tôi đã đến mà không hề hay biết. Vậy nên tôi đã dừng lại gần như ngay trên đầu chúng.
Tôi lặng lẽ bám chặt một cành cây, tim đập như trống làng. Từ từ, tôi nhích lùi, cho đến khi hoàn toàn kín trong vòm lá.
Bằng vào giọng oang oang của chúng, tôi biết chúng chẳng nghi ngờ một ai trong vòng hàng dặm. Tôi cẩn thận đếm từng cái đầu. Có mười bốn đàn ông cả thảy, đồng phục xanh, đỏ của chúng phai bạc, bụi bặm. Đám lửa đêm đã nhóm và thỉnh thoảng một đứa lại ném thêm củi vào. Tôi không hiểu vì sao chúng thổi nấu gì cho bữa ăn tối, nhưng thắc mắc ấy đã được trả lời tức thì.
Một người đàn bà đi ra. Một gã đàn ông nằm gần đống lửa ngồi lên và nói với thị. Bằng vào những dấu hiệu trên tay áo, tôi biết hắn là tiểu đội trưởng. Giọng hắn gắt gỏng. "Bữa tối đâu?"
"Đang dọn đây ạ". Người đàn bà thấp giọng trả lời.
Một thoáng sau, hai người đàn bà khác khiêng ra một thùng sắt lớn. Mùi thịt hầm xông lên và tôi thấy nước bọt bắt nổi bong  bóng trong mồm.
Hai người đàn bà đặt thùng xuống và bắt đầu múc thịt hầm vào từng đĩa sắt. Chờ chúng ăn xong, họ dọn dẹp đồ thừa rồi lui ra vài bước để ăn. Tôi chyền cây đến chỗ họ nấu. Còn có đám tro tàn của một đám lửa khác cách đó hai mươi bộ. Gần bên là mấy chiếc chăn, cho thấy chỗ ngủ của đám đàn bà.
Mặt trời lặn nhanh khi tôi trở lại. Mặc dù mọi người đang nghe ngóng chờ nhưng tôi đã nhảy vào giữa đám không một tiếng động, và kiêu hãnh khi thấy họ sửng sốt ra mặt.
"Mười bốn người dưới sự chỉ huy của một tiểu đội trưởng", tôi nói. "Chúng đã hạ trại để qua đêm".
"Có vũ khí gì?" Mèo Bự hỏi.
"Tôi thấy có súng trường và hai khẩu tiểu liên".
"Hai thôi à?"
"Tôi chỉ thấy có thế".
"Tớ không hiểu bọn chúng làm gì ở đây". Mèo Bự nói.
"Chắc là đi tuần tiễu", Manuelo nói. "Chúng vẫn thường tuần tiễu để may ra phát hiện ta ở đâu". Hắn cười. "Chúng chẳng bao giờ tìm ra cả".
"Mười bốn người và hai khẩu tiểu liên", Mèo Bự lẩm bẩm, đầy suy tư. "Chúng mình chỉ có năm, không kể hai thằng nhỏ. Tớ cho tốt hơn hết là lủi thôi".
"Bây giờ là lúc tiêu diệt đấy", tôi nói. "Các phụ nữ vừa cho chúng ăn. Giờ chúng hẳn sẽ mải mê với họ…"
"Bọn chúng có cả phụ nữ?" Manuelo ngạc nhiên.
"Có".
"Mấy người?"
"Ba!"
"Bọn đào ngũ", Mèo Bự nói. "Chúng chạy lên núi cùng với mèo của chúng".
"Có thể đúng", một người nói. "Tướng quân đang đuổi bọn quân đội chạy re. Chiến tranh sẽ chấm dứt nhanh thôi".
"Quân đội vẫn còn  chiếm đóng các cảng", Mèo Bự đáp. "Chúng ta không thể thắng cho đến khi tướng quân chiếm được Caratu. Một khi chúng ta cắt chúng khỏi biển thì bọn Mỹ sẽ không thể giúp chúng được. Lúc đó chiến tranh mới sẽ chấm dứt".
"Tớ nghe nói chúng ta đang tiến về Caratu", Manuelo nói.
"Mình sẽ làm gì với bọn lính này?"Mèo Bự trở lại vấn đề.
"Tớ không biết", Manuelo ấp úng. "Chúng có hai tiểu liên".
"Chúng còn có cả ba phụ nữ". Mèo Bự nói đầy ý nghĩa.
"Bọn đào ngũ sợ mọi thứ" Diego Gonzalez thêm. "Đã lâu..".
Mèo  Bự ngắt lời hắn bằng cái nhìn đầy thông báo vào Roberto và tôi. "Chúng ta có thể sử dụng tiểu liên. Tướng quân sẽ thưởng cho chúng ta". Hắn nhìn tôi "Chúng có đặt  gác không?"
"Không", tôi trả lời. "Chúng nằm ăn uống quanh đống lửa. Chẳng có cảnh giới gì cả. Tôi có thể tè ngay vào thùng thức ăn mà chúng chẳng biết đâu".
Manuelo đi đến một quyết định. "Chúng ta sẽ bất ngờ tấn công. Trước rạng đông là lúc chúng ngủ say nhất".
Tôi quấn tròn chăn quanh người để chống buốt giá đêm đen. Bên cạnh, Roberto cử động. "Cậu thức à?" tôi thì thầm.
"Ừ".
"Tớ cũng không ngủ được", tôi nói. "Cậu có sợ không?"
"Không", câu đáp tức thì và khinh thị. "Tất nhiên không".
"Tớ cũng không".
"Tớ không thể đợi đến sáng được. Tớ sẽ giết một trong những thằng lính ấy. Chúng mình sẽ giết hết bọn chúng".
"Cả các phụ nữ à?" Tôi hỏi.
"Tất nhiên không", nó khinh bỉ trả lời.
"Thế chúng mình làm gì với họ?"
"Tớ không biết", nó nghĩ một lát. "Hiếp họ, tớ đoán vậy".
"Tớ không thích thế", tôi nói. "Đấy là điều đã xảy ra với chị tớ. Nó làm họ đau".
"Bởi vì cậu là một thằng nhóc con", giọng nó đầy khinh miệt. "Cậu có muốn cũng chẳng hiếp được ai".
"Sao lại không?"
"Cậu quá bé. Con chim gõ kiến của cậu chưa đủ lớn".
"Thế mà nó cũng to bằng của cậu đấy", tôi bực tức trả lời. "Tớ cao hơn cậu".
"Nhưng con chim gõ kiến của cậu thì không".
Tôi lặng thinh, biết nó nói đúng. Đã hơn một lần tôi thấy chim nó, bởi nó vẫn thường lôi ra chơi trong bãi ở sau nhà, và khi cứng lên thì to gấp đôi của tôi.
"Cách gì thì tớ cũng sẽ hiếp một cô ả", tôi nói thách thức.
Nó cười giễu cợt. "Cậu không thể, nó không cứng lên đâu". Nó kéo chăn trùm đầu. "Thôi, ngủ đi. Để cho tớ nghỉ một tí".
Tôi nằm, lặng lẽ nhìn các vì sao. Đôi khi chúng sà xuống quá thấp, như tôi có thể đưa tay mà chạm vào được. Tôi không hiểu ngôi nào là mẹ tôi, ngôi nào là chị tôi. Bố tôi bảo rằng họ sẽ lên thiên đàng và trở thành các vì sao của Chúa trời. Đêm nay họ có thấy tôi không? Cuối cùng, tôi ngủ thiếp đi.
Tôi tỉnh dậy ngay khi Manuelo chạm vào người, và đứng phắt lên. "Tôi sẵn sàng chỉ chỗ của chúng cho các cậu".
"Không", Manuelo lắc đầu. "Cậu ở lại đây với bầy ngựa. Phải có người trông bọn ngựa, nếu không chúng sẽ tản đi mất".
"Nhưng…"
Manuelo cắt lời, giọng kiên quyết. "Cậu và Roberto sẽ ở lại với bầy ngựa. Đấy là lệnh".
Roberto lảng tránh ánh mắt tôi. Nó nói gì thì nói, nhưng cuối cùng thì nó vẫn là  bé. Nếu không nó đã không bị ở lại.
"Muộn rồi đấy!" Mèo Bự nói qua kẽ răng.
"Ở đây cho đến khi chúng tớ trở lại", Manuelo răn đe. "Nếu đến trưa không thấy ai trở lại thì đem ngựa về nhà. Rõ chứ?"
Chúng tôi lặng lẽ gật đầu và nhìn cả bọn mất hút vào rừng.
Tôi theo Roberto ra chỗ buộc ngựa. Chúng lặng lẽ gặm cỏ như thể đang trong chuồng nhà.
"Tớ không hiểu tại sao bọn mình lại không được dự cuộc vui", tôi nói. "Bọn ngựa bị buộc chằng chân cả rồi".
"Manuelo bảo chúng mình phải ở đây", Roberto nói.
Chợt tôi bạo dạn hẳn lên "Cậu thì phải. Tớ thì không".
"Manuelo sẽ cáu đấy".
"Hắn sẽ không bao giờ biết. Tớ có thể chuyền cây đến đấy nhanh hơn là bọn họ đi bộ". Tôi trèo lên một cây gần nhất. "Tớ sẽ kể cậu nghe tất cả những gì xảy ra!".
Roberto nhìn tôi chằm chằm rồi chạy tới. "Chờ tớ với!".
0
Chương 6
Chúng tôi nấp ở trên cây cho đến khi Roberto giật giật tay tôi. Nó chỉ, và tôi thấy Manuelo cùng Mèo Bự đang ở rìa bãi trống. Rồi hai người lại biến vào lá rừng.
Từ lợi điểm này, tôi thấy rõ người bên mình khi họ tản quanh đám lính đang say ngủ, ngổn ngang quanh đống lửa tàn. Tôi bắt đầu đếm. Chỉ được có mười hai. Rồi tôi hiểu. Chúng đi với đám đàn bà. Không biết Manuelo có để ý đến không.
Tôi thấy Mèo Bự ra hiệu cho ai đó ở bên kia bãi trống. Manuelo ra khỏi vòm lá. Và thấy ánh mờ của con dao rựa rộng bản khi Diego xuất hiện bên anh. Manuelo ra hiệu và cả bọn lặng lẽ chạy qua  bãi trống. Những con dao vung lên, bổ xuống và năm tên lính đã chết trước khi những tên khác kịp mở mắt.
Cuộc tấn công hữu hiệu đến man rợ. Hai tên nữa bỏ mạng khi chúng cố lăn đi. Một tên chết ngay khi toan ngồi dậy. Tên kia gần như văng đầu khỏi cổ ngay khi sắp quỳ trước Mèo Bự.
Cho đến lúc này vẫn chẳng hề có tiếng động, chỉ có vận động của những người đàn ông khi họ chém trong sự điên cuồng hấp hối của cái chết. Rồi một trong những tên lính bỗng nhổm lên bò như điên tới một bụi cây để trốn. Tiếng nổ vang của một khẩu súng lục dội qua rừng. Bầy chim ngừng hót. Tên lính đập mặt xuống đất. Hai tên còn lại phủ phục, tay đưa lên đầu la lối xin tha. Giọng chúng lảnh lói trong nắng sớm vừa xuyên qua kẽ lá xuống  bãi đất trống. Nhưng chẳng có thoáng phân vân nào trước sự khẩn cầu khoan hồng của chúng.
Một giây ắng lặng trong khi người của chúng tôi lấy lại hơi, rồi Manuelo đứng lên "Chúng chết cả rồi chứ?"
"Ừ", Mèo Bự trả lời.
"Tất cả chứ?" Manuelo hỏi.
Họ lặng lẽ đi kiểm tra các xác chết. Dieto ngẩng lên từ một tên hắn vừa lấy chân lật lại. "Tớ cho là thằng này vẫn còn sống".
"Thế thì cậu còn chờ cái quái gì?" Manuelo hỏi.
Con dao rựa của Diego ánh lên trong nắng sớm và cái đầu lăn khỏi thân tới hai bộ. Diego thậm chí không dừng lại xem kết quả nhát chém. Hắn thúc chân vào một thi thể khác rồi bước đến đứng sau Manuelo và Mèo Bự. "Tớ chỉ đếm được mười hai".
"Tớ cũng vậy", Manuelo xác nhận điều Mèo Bự vừa nói. "Thằng bé bảo có mười bốn cơ mà".
"Và ba phụ nữ" Diego nói thêm.
"Nó có thể nhầm", Mèo Bự nói. "Nó chỉ là một đứa trẻ".
"Tớ không cho như thế", Manuelo nói. "Hai tên nữa ắt phải đi cùng đám đàn bà".
"Chúng không thể đi xa được. Chúng ta lùng chứ?"
"Không" Manuelo nói. "Lúc này thì chúng hẳn đã biết. Chúng ta sẽ chẳng bao giờ thấy chúng trong khu rừng này đâu. Thu hết súng ống đạn dược đi". Hắn châm một điếu xì gà nhỏ rồi đứng tựa vào thân cây.
Họ vừa bắt đầu thu lượm súng ống thì tôi nghe có tiếng động gần như ngay dưới gốc cây tôi đang nấp. Nhìn xuống, tôi thấy tên tiểu đội trưởng địch, khẩu tiểu liên kẹp nách đang nâng lên để quét bãi trống. Giờ thì nó đang nhắm thẳng Mèo Bự.
Không suy nghĩ, tôi quát "Gata Gordo, cẩn thận!"
Phản ứng của Mèo Bự thật chuẩn. Hắn nhào vào bụi cây hệt như con vật mà hắn đã được đặt tên. Nhưng Diego thì không. Hắn nhìn chăm chăm lên cây tôi đang ẩn, với vẻ ngạc nhiên thực ngu xuẩn trên mặt. Rồi một loạt đạn như nhấc bổng hắn lên không, hất ngược hắn lộn vòng ra phía sau.
Nòng súng chĩa về phía chúng tôi. "Lùi lại! Roberto! Lùi lại!" Tôi hét lên, nhảy sang một cành khác.
Tôi nghe tiếng súng nổ, nhưng rồi câm bặt gần như ngay khi phát hoả. Tôi nhìn xuống. Tên kia đang giật quy lát như điên. Súng tắc. Tôi không đợi nhìn thêm.
Roberto ré lên phía sau tôi. Tôi liếc lại qua vai. Mặc dù thấp hơn, nhưng nó nặng hơn tôi nhiều, và cành cây nó bám đã gãy. Nó lộn qua đám lá cạnh lăn xuống đất, gần như ngay dưới chân tên tiểu đội trưởng.
Tên đội quăng súng đi, bổ nhào vào Roberto. Hắn lộn vòng rồi đứng lên, tóm lấy Roberto, với một con dao kề cổ. Qua đầu Roberto, hắn nhìn chằm chằm người bên chúng tôi. Họ chằm chằm nhìn lại. Khẩu súng của Manuelo đang chĩa vào hắn, và Mèo Bự thì đứng sững với con dao rựa buông thõng bên hông. Hai người khác chậm chạp dịch chuyển phía sau họ.
Chẳng ai phải bảo là tên đội đang nắm chủ bài. Một cái nhìn đã là đủ. "Đứng yên hay là thằng bé chết!".
Manuelo và Mèo Bự trao đổi một cái nhìn đầy bối rối. Tôi không cần nghe cũng biết họ đang nghĩ gì. Tướng quân chẳng hề thích. Nếu như có chuyện gì xảy ra cho Roberto thì có nghĩa là họ không nên trở về. Chết ở trong rừng còn khả dĩ hơn nhiều so với điều mà tướng quân sẽ dành cho họ. Họ đứng lặng.
Mèo Bự là người nói đầu tiên. Hắn chúc mũi dao xuống đất. "Thả thằng bé ra", hắn nói thật trơn tru. "Chúng tôi sẽ để anh yên ổn vào rừng".
Tên đội cười gằn rồi nhổ bọt. "Mày tưởng tao là một thằng ngu à? Tao đã thấy lòng khoan dung của chúng mày trước sự lạy van của chiến hữu tao".
"Đây là chuyện khác", Mèo Bự trả lời.
Manuelo nhích dần sang một bên, và lưỡi dao của tên đội ánh lên. Một vệt máu đỏ xuất hiện trên má Roberto.
"Đứng im!" hắn quát. Manuelo đứng như tượng. "Vứt súng xuống!" Manuelo lưỡng lự nhìn Mèo Bự. Cái gật đầu của Mèo Bự hầu như không nhận biết nổi, và khẩu súng của Manuelo rơi xuống đất.
"Cả những đứa khác nữa!" tên kia ra lệnh tiếp.
Mèo Bự buông con dao rựa xuống và hai người khác buông súng. Tên đội nhìn đống vũ khí một lát rồi quyết định chống lại ý đồ tự mình thu hồi vũ khí. "Varga! Đây, lại đây!"
Giọng hắn dội qua rừng. Không ai trả lời. Hắn quát lên. "Varga! Đây!"
Vẫn không có ai trả lời.
"Đồng bọn của anh chuồn rồi" Mèo Bự nói nhỏ. "Tốt hơn là anh làm như chúng tôi nói".
"Không!" tên đội bắt đầu nhích dần đến đống súng, cẩn thận đẩy Roberto ra phía trước hắn. "Lùi lại!" hắn cảnh cáo. "Lùi xa đống súng ra".
Từ từ, họ lùi lại. Tên đội chắc chắn lần từng phân tới phía họ. Khi hắn đến đúng dưới gốc cây tôi đang nấp thì một cơn phẫn nộ lạnh lẽo và lạ lùng giần giật trong tôi. Cứ như thể tôi đã biết từ lâu điều phải làm. Cứ như thể ma quỷ đã hớp hồn tôi.
Tôi cảm nhận – hơn là  biết – rằng tôi đã rút dao khỏi dây lưng. Cán dao nằm trong nắm tay siết chặt của tôi, lưỡi dao giương ra như một mũi kiếm. Một tiếng thét man rợ bật khỏi cổ họng khi tôi lao từ trên cây xuống. "Ta giết!".
Tôi thoáng thấy bộ mặt trắng nhợt ngẩng lên khi tôi xô xuống hắn. Tôi thấy đau nhói nơi cánh tay khi cả hai chúng tôi lăn trên đất. Rồi có hai bàn tay tóm lấy tôi, lăn đi. Tôi lăn, và khi đứng lên được thì tôi thấy Mèo Bự đang đứng trên tên đội.
Có một nét ngỡ ngàng trên mặt hắn khi hắn đứng đấy, nhìn xuống, con dao rựa vẫn buông thõng. "Nó giết rồi!" hắn nói. Hắn nhìn tôi. "Hắn chết rồi. Thằng nhóc bọ đã giết hắn rồi".
Tôi chằm chằm nhìn xuống tên đội. Mồm hắn há hốc, hai mắt hắn trừng trừng, vô cảm chĩa lên trời. Ngay dưới cằm hắn, phần nửa cán dao của tôi chổng ngược.
Tôi nhìn Roberto. Nó đang nằm trên đất mà thở. Tôi thấy một rạch máu trên má nó. "Cậu không việc gì chứ?" tôi hỏi.
Nó gật đầu, chẳng nói chẳng rằng. Có một ánh nhìn kỳ lạ trong cặp mắt nó, gần như là nó cáu.
Bỗng một tiếng rú bật lên phía sau, rồi tôi thấy đau nhói ở gáy, và khi quay người lại thì chỉ để nhận những vệt móng tay cày trên hai má. Tôi ngã ngửa ra, thấy một con mụ đang giẫy giụa trong tay Mèo Bự. Thị nhổ vào mặt tôi. "Mày đã giết anh ấy! Mày không phải là một đứa trẻ, mày là một con quái vật! Một cái ung nhọt đẻ ra từ bụng mẹ mày!".
Có tiếng 'cốp lạnh tanh khi chuôi con dao rựa của Mèo Bự đánh vào thị và thị lặng lẽ chuồi xuống đất. Trong giọng của Mèo Bự có ngữ điệu thoả mãn khi hắn nhìn quanh và thấy hai người đàn bà kia đang bất động trước mũi súng của Manuelo.
"À", hắn nói, "đã tìm được hai con phò rồi à?"
0
Chương 7
Santiago, tay Anh-điêng, bứt nắm lá từ một bụi cây dưới vịnh, lấy hai tay vò nát. Rồi hắn cúi xuống vục một ít bùn ở bên bờ hố nước. "Đắp vào mặt đi", hắn nói. "Sẽ khỏi đau đấy".
Roberto và tôi đều làm như chỉ dẫn. Bùn non mát rượi. Tôi nhìn nó. "Có đau không?" tôi hỏi một cách trân trọng.
"Ít thôi".
"Tớ chưa bao giờ bị thương cả", tôi nói.
Nó ra chiều kiêu hãnh, sờ lên vết cắt nhẹ. "Có lẽ nó sẽ để lại một vết sẹo". Nó nhìn tôi, vẻ chê bai. "Nhưng của cậu thì sẽ không. Những vết cào chẳng sâu như vết thương do dao đâu".
"Ồ" tôi thất vọng nói. Tôi chả có gì để khoe cả.
Tôi nhìn về phía Manuelo và Mèo Bự. Họ đang thì thầm với nhau dưới một gốc cây. Thỉnh thoảng họ lại liếc sang mấy phụ nữ đang ngồi dưới đất bên rìa bãi trống.
"Chẳng hiểu họ chuyện trò gì thế nhỉ?" tôi hỏi.
"Tớ không biết" Roberto nói. Nó không nhìn Manuelo và Mèo Bự mà chăm chăm nhìn mấy ả. "Đứa trẻ nhất không đến nỗi tồi".
"Cậu có cho là họ giận bọn mình không?"
"Ai cơ?" giọng Roberto hơi bối rối. Rồi nó nhìn qua và hiểu ý tôi. Nó lắc đầu. "Tớ cho là không đâu. Nếu tụi mình không đến đây để báo cho họ thì họ đã chết sạch rồi".
"Ừ".
"Và cuối cùng thì tớ đã nhảy vào thằng đội để cản hắn".
Tôi nhìn Roberto chằm chằm. Tôi cứ tưởng khi đó nó ngã. "Cậu rất dũng cảm".
"Cậu cũng thế", nó lại liếc các phụ nữ. "Tớ chỉ mong họ đừng có bàn soạn nữa. Tớ đã sẵn sàng chơi một đứa ngay đây!"
"Thật à?"
"Là cái chắc".
Bàn soạn xong, Mèo Bự đi tới chỗ chúng tôi. Qua đống xác, hắn dừng lại bên Diego. Santiago nói "Tội nghiệp Diego".
Giọng Mèo Bự chẳng hề xúc động "Tội nghiệp Diego cái cứt gì! nó quá ngu xuẩn. Đã bao nhiêu lần tớ bảo là đừng có trố mắt ra mà nhìn một cách ngớ ngẩn. Đáng đời".
Santiago nhún vai rồi quay đi khi Mèo Bự đi tiếp tới chỗ chúng tôi. "Bọn nhỏ ổn chứ?"
"Vâng", Roberto trả lời cho cả hai.
"Tốt", hắn nói. "Các cậu quay lại lấy ngựa được không? Chúng ta có nhiều thứ phải chở đấy".
Roberto nói trước khi tôi kịp phản ứng. "Các anh sẽ làm gì với đám phụ nữ?"
Mèo Bự nhìn nó. "Canh gác, cho đến khi các cậu trở lại".
"Vậy thì tôi sẽ ở lại giúp canh gác chúng", Roberto nói. "Cử một trong những người khác đi với Dax".
Mèo Bự chằm chằm nhìn nó rồi bước lại chỗ Manuelo. Họ lại thì thầm. Cuối cùng, Mèo Bự trở lại.
"Nếu được ở lại, về nhà các cậu sẽ không nói gì chứ?"
Roberto gật đầu.
Tôi thì chẳng ch hắn nói thế nghĩa là thế nào, nhưng tôi cũng muốn ở lại nếu như Roberto được ở lại. "Tôi cũng hứa sẽ chẳng nói gì hết".
Giọng Mèo Bự nhẹ hẳn đi. "Cậu sẽ ở lại" hắn nói. "Chúng tớ có công việc quan trọng cho cậu hơn là việc đi lấy ngựa. Đó là việc cảnh giới. Chúng tớ không muốn tên lính đã trốn thoát sẽ  trở lại và bất thần tóm cổ chúng ta như tên đội. Đi ngược đường trở lại khoảng một phần tư dặm và hết sức cảnh giác!"
"Tôi không biết", tôi nhìn Roberto nhưng nó chẳng nói gì.
Mèo Bự rút khẩu súng lục ở thắt lưng ra. "Đây, cầm lấy. Nếu thấy hắn thì bắn báo động một phát lên trời".
Điều đó làm cho tôi vững tâm. Đây là lần đầu tiên có người cho tôi cầm một khẩu súng lục.
"Cẩn thận" Mèo Bự nói. "Đừng có bắn vào mình đấy".
"Không" tôi trịnh trọng trả lời, liếc quanh xem thử những người khác có nhìn mình không. "Đừng lo. Nếu hắn ở quanh đây thì tôi sẽ báo cho anh".
Tôi đi xuôi con đường được khoảng một trăm bộ thì nghe thấy tiếng cười của họ, và không hiểu vì sao họ lại cười. Tôi đã đi khuất hẳn mà tiếng cười vẫn còn dội theo. Khi đoán chừng mình đã đi được khoảng phần tư dặm, tôi trèo lên một cái cây cao để có thể nhìn bao quát xung quanh.
Khoảng mười lăm phút sau, tôi bỗng thấy bồn chồn. Nếu như tên lính có ở quanh quất đâu đây, thì tôi cũng chẳng nhìn thấy hắn. Tôi phải ở đây bao lâu? Mèo Bự không nói gì về điều này cả. Tôi chờ thêm vài phút rồi quyết định trở lại hỏi hắn.
Tôi gần như chạm trán với họ khi lại nghe thấy tiếng cười. Bằng vào bản năng, tôi leo lên cây. Có một điều gì đó bảo với tôi rằng họ có thể cáu nếu như thấy tôi trở lại, vào lúc đó, nhưng trí tò mò đã thắng tôi.
Tất cả bọn họ tụ tập ở rìa bãi trống. Thoạt tiên, tôi không thấy được họ đang làm gì, bởi vì họ ở sâu trong bóng rợp của một cái cây lớn. Tôi lặng lẽ đi vòng sang phía bên kia của bãi trống. Nhưng tất cả những gì tôi thấy được là cả một đống thân thể hỗn độn. Và chợt hiểu ra.
Nhưng đấy không phải là cảnh lưu lại trong ký ức tôi . Những người đàn bà này chẳng hề sợ hãi. Họ không la thét, còn cười ngặt nghẽo nữa là đàng khác.
Santiago Lớn đang ngồi tựa gốc cây, điếu xì gà nhỏ lủng lẳng trên môi. Nét mặt hắn thoả mãn một cách bí ẩn. Tôi đưa mắt tìm Roberto. Bỗng nó chui ra khỏi bụi cây, tay cầm quần.
Tôi chằm chằm nhìn. Nó nói đúng, tôi miễn cưỡng nghĩ vậy. Của nó to hơn của tôi, sừng sững như một chiếc cột cờ nhỏ.
Santiago Bé nói gì đó với mọi người qua kẽ răng. Yên lặng bỗng bao trùm khi tất cả bọn họ quay nhìn Roberto.
Mèo Bự nhổm lên, cái bụng trắng hếu nhẵn thín. Hắn làu bàu và tôi nghe giọng hắn qua bãi đất trống. "Đã đến lúc rồi. Tướng quân sẽ biết ơn đấy. Phải không? Nó đã là người đàn ông rồi".
Người đàn bà mà Mèo Bự nằm lên trên kéo hắn xuống. Hắn cáu bẳn gạt tay thị đi. "Phò!" hắn đẩy thị ra rồi đứng lên.
Chậm rãi, Manuelo và Santiago Bé cũng đứng lên. Manuelo đổ ít nước lên bụng rồi lau khô bằng chiếc khăn bông. Hắn quay về phía Roberto. "Như đã thoả thuận. Cậu được chọn".
Roberto nhìn đám phụ nữ. Họ nằm đó, trần truồng, vẫn long lanh mồ hôi, ngước nhìn nó bằng những cặp mắt hững hờ. "Tớ lấy con này", nó chỉ.
Người nó chọn không hơn một cô bé mới lớn là  bao. Tôi thì tôi sẽ chọn một trng những người khác, vú họ to hơn, và đấy là cái mà Roberto bảo tôi là nó thích. Nó sụp xuống trên hai đầu gối ở phía trước thị. Cùng với tiếng cười, thị đưa tay kéo ập nó xuống rồi giơ hai đùi lên mà khoá chặt quanh người nó.
Tôi thấy hai đùi và  cặp mông béo trắng của thị gần như cuộn chặt lấy Roberto. Tôi nhìn những người khác. Họ đang rất thích thú. Một giây sau Manuelo quay sang và đổ xuống người đàn bà gần hắn nhất. Tôi nghe thị làu bàu khi khoá hai đùi quanh hắn. Lại một tiếng kêu nữa và Mèo Bự lao vào với một thị khác.
Tôi lại quay nhìn Roberto. Hai đứa rập rình trong một vũ điệu vô nhịp kỳ quặc. Tôi thấy một sự kích thích râm ran trong mình. Tim tôi đập như trống làng và một nhói đau kỳ lạ lan ra từ háng tôi. Miệng tôi bỗng khô  cong. Tôi không thở được .
Roberto bỗng rú lên, vật vã một cách điên dại như thể cố thoát cơn ghì xiết của người đàn bà. Sửng sốt, tôi cảm thấy mình trượt đi, vội tóm lấy một cành cây, nhưng đã quá muộn. Tôi rơi từ trên cây xuống gần như ngay dưới chân họ.
Manuelo lăn ra và nhìn tôi. "Trật lấc!"
"Đồ nói dối!" tôi quát lên.
Mèo Bự quay đầu lại. "Cậu phải gác con đường cơ mà".
"Đồ nói dối!" tôi quát lên, lao và người đàn bà gần nhất, đít nhấp nhổm, bắt chước vũ điệu của Roberto. "Tôi cũng muốn hiếp một con!"
Mèo Bự lôi tôi lại. Tôi vùng vẫy. "Buông ra! Buông tôi ra!".
Tôi vần còn đang nhấp nhổm một cách cuồng dại khi bị Mèo Bự nhấc bổng khỏi mặt đất. Tôi vùng vẫy và đấm túi bụi vào mặt hắn. Tôi khóc. "Nếu tôi đã đủ lớn để giết người thì tôi cũng đủ lớn để hiếp đàn bà! Tôi chẳng kém gì Roberto cả!".
Nhưng hai cánh tay Mèo Bự đã ghìtg sát vào bộ ngực nhễ nhại mồ hôi của hắn. Tôi ngửi thấy đầy mùi mô hôi của đàn ông và bỗng cơn sốt vùng vẫy trong tôi biến mất.
Tay hắn nhẹ nhàng xoa đầu tôi. "Thôi nào, con gà trống nhỏ của tôi" hắn thì thào. "Bình tĩnh. Mọi thứ sẽ đến với cậu đúng lúc. Chẳng mấy chốc cậu sẽ là một người đàn ông".
0
Chương 8
Những người đàn bà bắt đầu lo lắng khi cánh đàn ông đã mặc xong quần áo. Họ thì thầm với nhau, rồi thị lớn tuổi nhất, người đã cào tôi, bước ra bãi trống. "Các anh không bỏ chúng em lại giữa rừng này chứ?"
Manuelo đã cài xong thắt lưng. "Chúng anh có mang các em đến đây đâu".
"Nhưng chúng em sẽ chết mất. Chẳng ai bảo vệ, chẳng ai kiếm đồ ăn cho chúng em cả".
Manuelo rút khẩu súng lục ra, thay băng đạn đã bắn hết.
Thị cân nhắc sự yên lặng của hắn. "Chúng em chiều các anh đấy chứ? chúng em tiếp tất cả các anh. Muốn bao nhiêu lần cũng được. Chúng em chẳng hề phàn nàn gì".
Manuelo nhìn chúng tôi. "Các cậu thu xếp súng chưa?"
"Rồi", Mèo Bự trả lời.
"Thế thì đi thôi", Manuelo cất bước.
Người đàn bà chạy theo hắn. Thị túm lấy cánh tay hắn. "Bọn cướp!" Mặt mụ méo xệch đi vì tức giận. "Bọn súc sinh vô tình. Chúng ta là đồ chứa giống của bọn mày đấy à? Bất cứ đứa nào trong bọn tao cũng có thể mang một đứa con của chúng mày!".
Manuelo giằng ra và người đàn bà bật lùi mấy bước. "Đồ chó!" Thị thét vào mặt hắn. "Mày định để chúng tao chết ở đây à?"
"Ừ", hắn hờ hững đáp rồi rút súng, bắn thị.
Viên đạn đẩy lùi thị vào một thân cây. Thị sụp xuống trên hai gối rồi cuối cùng đổ xuống thành một cuộn tròn, tay cào cào trên mặt đất lần cuối rồi im hẳn.
Manuelo quay đi, giơ khẩu súng vẫn còn nhả khói.
"Hai đứa kia ù té rồi", Mèo Bự nói.
Tôi nhìn qua bãi trống. Chỉ còn tiếng xào xạc trong bụi lá nói lên sự hiện diện của họ.
"Bọn mình có đuổi theo chúng không?"
"Không", Manuelo nhét súng vào bao. "Chúng ta đã mất đủ thời gian với bọn phò  này rồi. Còn cả một ngày đường về thung mới được ăn đấy. Ở nhà mọi người sẽ đói nếu chúng ta không nhanh chân lên".'
Mèo Bự mỉm cười. "Bọn phò  được một bài học", hắn nói khi chúng tôi bắt đầu xuất phát. "Chúng không thể sở hữu một người đàn ông chỉ đơn giản vì đã có lần quặp đùi vào lưng anh ta".
 
Mãi sớm hôm sau chúng tôi mới về đến thung lũng Bandaya. Tôi ngồi thẳng trên yên, chăm chăm nhìn xuống, cố tìm nhà mình. Đã hơn hai năm trôi qua kể từ lần cuối cùng tôi thấy nó.
Tôi còn nhớ cái buổi chiều mà mọi chuyện đã được quyết định. Bố tôi và ông tướng chuyện trò lặng lẽ trong hành lang. Thỉnh thoảng bố lại nhìn tôi đang chơi ngoài sân với con cún.
"Dax". Tôi quay lại nhìn  bố. "Dạ". Ông vẫy tay "Lại đây".
Vừa nhìn bố tôi vừa đi tới. Có những vết hằn trên mặt ông mà tôi không thấy và nước da sẫm đã chuyển sang màu xám.
"Tướng quân bảo là ông đã nói với con về việc con chuyển đến nhà ông ở trên núi".
"Vâng, bố ạ".
"Con có ưng không?"
"Ông bảo con có thể có một con lừa. Và khi con lớn hơn thì sẽ có riêng một con ngựa nhỏ". Bố tôi lặng thinh. "Ông cũng bảo rằng bố sẽ đi với ông. Bố phải đi à? Con thích ở đây với bố".
Bố tôi và ông tướng nhìn nhau. "Bố không muốn xa con, con ạ. Nhưng bố buộc phải thế".
"Vì sao ạ?"
"Chuyện quan trọng. Tướng quân và bố đã thoả thuận một liên minh".
Tôi vẫn chẳng hiểu gì cả. Bố tôi tiếp tục "Nhân dân bị áp bức và xứ sở ta đầy đói khát và bất công. Chúng ta phải làm tất cả những gì có thể để giúp họ".
"Thế tại sao bố không đem họ đến đây?" Tôi hỏi. "Có đủ chỗ cho mọi người cơ mà".
Bố tôi và ông tướng lại nhìn nhau. Bố tôi kéo tôi lên lòng "Chúng ta không làm thế được", ông giải thích. "Có quá nhiều người mà".
Tôi biết hết mọi người trong thung lũng. Họ chẳng nhiều đến thế, và tôi bảo "Không".
Bố tôi mỉm cười. "Còn có nhiều đồng bào nữa ở bên kia những dãy núi con ạ".
"Bao nhiêu? Gấp đôi hả bố?"
Ông lắc đầu. "Hơn thế nhiều. Hàng ngàn, hàng vạn. Nếu tất cả mọi người đều đến đây thì sẽ chẳng có đủ chỗ ngủ nữa".
"Ồ..." tôi cố tưởng tượng xem thử lời bố tôi mà đúng thì sẽ thế nào. Không thể mường tượng nổi. Một ý nghĩ khác nảy ra trong đầu. "Bố đi với ông tướng vì bố là tù nhân của ông à?"
"Không" bố tôi nói. "Tướng quân và bố là bạn. Cả bố và ông đều tin rằng nhân dân phải được giúp đỡ."
"Thế rồi  bố sẽ trở thành một tên cướp như ông ấy à?" Tôi hỏi.
"Tướng quân không phải là một tên cướp".
"Nhưng người của ông ấy là thế", tôi vạch ra.
"Không như thế nữa", bố tôi giải thích. "Ông đã nhận tất cả bọn cướp vào quân đội của ông. Những người ấy là du kích".
"Quân đội có đồng phục xanh, đỏ", tôi nói. "Còn họ thì không. Đối với con, trông họ như bọn cướp ấy".
"Rồi họ sẽ có đồng phục", ông tướng ngắt lời.
"Ồ" tôi nhìn ông. Mặt ông thực điềm tĩnh. "Thế thì lại khác. Lúc đó trông họ sẽ giống như quân đội".
Tôi nghe tiếng vó ngựa đi tới và nhìn ra phía đường. Đấy là ông ngoại tôi, Don Rafael. "Ông ngoại!" tôi kêu lên, nhẩy khỏi lòng bố, chạy ra hàng lan cạn vẫy tay. "A, ông ngoại! Ông ngoại!".
Mọi lần, khi tôi đứng bên hàng lan can mà kêu như thế thì ông ngoại tôi vẫy vẫy tay và kêu lên trả lời tức thì. Lần này, ông lặng thinh. Khi ông xuống ngựa, tôi thấy ngay là ông đang giận dữ vì môi ông mím chặt, mặt ông trắng nhợt.
Bố tôi đứng lên khi ông già bước lên thang. "Xin chào cha, Don Rafael".
Ông ngoại không trả lời mà chằm chằm nhìn bố tôi với cặp mắt lạnh băng. "Tôi đến đón cháu tôi".
Tôi toan chạy tới, nhưng có cái gì đó trong giọng ông ngoại đã chặn lại. Tôi nhìn ông, rồi lại nhìn bố tôi.
Mặt bố tôi thậm chí còn  xạm hơn khi ông đưa tay kéo tôi lại. Tôi cảm nhận những ngón tay ông run rẩy trên vai tôi. "Con thấy cháu sẽ không được an toàn trong thung lũng này sau khi con đi".
"Anh không còn quyền gì đối với nó nữa", ông ngoại trả lời với cùng giọng lạnh lùng ấy. "Anh đã nhập bọn với lũ người giết mẹ nó và anh không còn được coi là bố nó nữa. Khi một người đã ăn nằm với bọn cặn bã thì người ấy cũng trở thành cặn bã luôn".
Tôi cảm nhận những ngón tay bố tôi lún sâu vào vai mình. Nhưng giọng bằng phẳng của ông chẳng hề thay đổi. "Chuyện xảy ra là một tai biến", ông nói. "Những kẻ phạm tội đã phải trả giá".
Ông ngoại cao giọng gần như quát "Điều đó có làm cho con gái tôi, vợ anh, sống lại không? Cả con gái anh nữa? Họ đã chết. Vậy mà hôm sau anh đã sánh vai đi cùng bọn đã cướp đi cuộc đời họ. Nay anh lại còn trao con trai anh cho chúng chăm nom!". Bố tôi không trả lời. "Anh sẽ không thoả mãn chừng nào anh chưa thấy nó cũng trở thành bọn chúng. Bọn giết người! Bọn hiếp dâm!"
Ông ngoại bước đến nhưng bố tôi đẩy tôi ra phía sau. "Nó là con trai của con", ông vẫn nói với giọng lặng lẽ. "Con sẽ không để nó ở lại. Nó sẽ bị sử dụng làm con tin để chống lại con nếu như bọn quân đội trở lại. Ở trên núi nó sẽ được an toàn hơn".
"Đồ máu đen!" ông ngoại tôi nhổ toẹt bãi nước bọt. "Đồ máu đen! Đồ tiện dân! Đồ  chó đẻ nô lệ! Ta tưởng mày là một thằng đàn ông bằng không thì ta đã không cho phép mày lấy con gái ta. Giờ thì ta hiểu là ta đã lầm. Chẳng còn vực thẳm nào mà mày không tụt xuống để hạ mình trước bọn chinh phụ mày. Hệt như bố mẹ mày trước chủ vậy!".
Chợt ông tướng quát lên "Đủ rồi ông già!".
Ông ngoại nhìn tướng quân như thể ông ta là cát bụi vậy. "Bọn cướp!" cách ông ngoại nói làm cho từ ấy như thể một từ dơ dáy nhất mà tôi chưa từng nghe.
Mặt tướng quân đỏ dừ vì giận dữ. "Thôi đi ông già! Chúng tôi đã chừa ông và tài sản của ông ra, thế vẫn chưa đủ sao? Hay là ông quá già nên muốn tìm đến cái chết cho đỡ đau xương?"
Ông ngoại quay sang bố tôi như thể tướng quân không hề hiện diện. "Nếu như còn một chút tình nào đối với con trai mày thì hãy đưa nó cho tao trước khi quá muộn".
Bố tôi lắc đầu.
"Đi đi!" ông tướng ra lệnh. "Trước kh ta hết kiên nhẫn và thu hồi những ân huệ mà con rể của ông đã dành cho ông".
Ông ngoại nhìn ông ta chòng chọc. "Ta không cần đến sự kiên nhẫn của nhà ngươi, cũng  chẳng cần đến ân huệ của hắn. Qua bao năm tháng, ta đã thấy quá nhiều lòng từ thiện của các ngươi rồi. Ta sẽ sống để xem đầu ngươi bêu trên cọc như ta đã thấy những đứa khác vậy".
Ông quay ra, bước xuống hành lang, đến bên con ngựa của mình, lưng thẳng, kiêu hãnh, bộ đồ ông mặc trắng như tuyết trên đỉnh núi. Ông lên ngựa, xoay một vòng. "Quân đội sẽ đến, để xem các người dũng cảm đến chừng nào!".
Rồi ông nhìn tôi, giọng dịu hẳn đi. "Tạm biệt cháu của ông", ông buồn bã nói. "Ông đã bắt đầu để tang cho cháu".
Ông thúc ngựa đi nước kiệu. Tôi nhìn theo, con ngựa đá tung những đám bụi nhỏ trên con đường đất cứng  cho đến khi khuất hẳn. Tôi quay nhìn bố, đôi mắt ông gợn thoáng buồn giống như tôi đã thấy trong mắt ông ngoại vậy. Bỗng ông bế tôi lên tay rồi ghì chặt tôi vào ngực. "Con ơi, con", ông thì thầm. "Cầu trời bố đã hành động đúng với con".
Tướng quân vỗ mạnh tay, một người đàn ông chạy từ bên kia đường sang. Anh ta to lớn, và béo đến mức tôi chưa từng thấy, vậy mà anh ta chạy thật nhẹ nhàng, lanh lẹ, làm tôi nhớ đến những con sơn dương núi to tướng vẫn nhảy từ vách đá nọ sang vách đá kia. Anh ta đã cầm mũ trong tay. "Vâng, thưa ngài?"
"Gato Gordo", ông tướng nói. "Chuẩn bị quân trang và đưa thằng bé này trở lại trong núi. Ta trao nó cho anh. Chỉ một mình anh chịu trách nhiệm, nếu như có điều gì xảy ra cho nó".
"Vâng, thưa ngài". Người đó cúi chào và quay sang nhìn tôi. "Cậu bé đã sẵn sàng đi chứ ạ?" Anh ta lễ phép hỏi.
Bố tôi nhìn ông tướng. "Phải đi ngay à?"
Ông tướng gật đầu. "Mối nguy hiểm gia tăng từng ngày".
Bố đặt tôi xuống. "Vào bảo Sarah sắp quần áo cho con".
"Vâng, thưa bố". Tôi đi vào.
"Nhanh lên cậu ạ". Gato Gordo gọi với theo. "Chúng ta vào núi lúc hoàng hôn là tốt nhất".
Nhưng đây là hai năm trước, còn bây giờ thì mặt trời đang soi tỏ và tôi  có thể nhìn xuyên thấu thung lũng, cảm nhận một niềm hưng phấn trào lên. Tôi xa nhà đã lâu quá. Ông ngoại sẽ mừng vì cuối cùng đã không phải để tang đứa cháu ngoại.
 
1
Chương 9
Chúng tôi chỉ mới xuống núi vài phút thì bỗng Manuelo giơ tay ra hiệu dừng lại. áp tai xuống con đường đất cứng một lát, hắn ngẩng đầu lên. "Gato Gordo", hắn goi. "lại mà nghe".
Mèo Bự cũng áp tai nghe với hắn. Bỗng cả hai trở dậy và lên ngựa. "Ta phải tránh đường này, và trốn ngay", Manuelo nói.
Mèo Bự nhìn quanh. "Sườn núi trống trơn cả".
"Thế thì phải quay lại", Manuelo vội quay ngựa.
Từ bé tôi đã từng chơi trên những dãy đồi này. "Xuôi đường, ngay ở chỗ quẹo có một lùm cây nhỏ. Phía sau lùm cây là một cái hang. Chúng ta có thể ẩn ở đấy".
"Hang có chứa được cả ngựa không?"
"Có lần tôi nghe  bố bảo là hang chứa được cả một quân đoàn".
"Thế thì nhanh lên" Manuelo nói. "Chúng tớ theo sau".
Chúng tôi phi nước kiệu đến chỗ ngoặt trên đường. Bụi cây ở đấy đúng như tôi nhớ. Tôi đi đến cửa hang. "Hang đây", tôi nói.
Manuelo tức khắc xuống ngựa. "Cậu và Roberto dẫn ngựa vào trong hang!" hắn ra lệnh. "Những người khác đi với tôi. Chúng ta phải xoá dấu vết của mình ở trên đường!".
Họ tụt khỏi yên khi Roberto và tôi thu các dây cương để dẫn ngựa vào hang. Thoạt tiên chúng cứ hí ầm lên và né tránh bóng tối, nhưng chúng tôi nói năng nhẹ nhàng với chúng, và lát sau thì chúng yên lặng. Roberto xâu tất cả cương vào chiếc vòng rồi buộc vào một tảng đá, rồi chúng tôi chạy ra  cửa hang.
Mèo Bự và Santiago Lớn đi giật lùi lại phía chúng tôi, vừa đi vừa dùng cành cây quét đất. Manuelo và Santiago Bé đang lắp ráp khẩu súng máy. Lắp xong, họ xách súng chạy vào cửa hang.
Khi Mèo Bự và Santiago Lớn xong việc, họ gật đầu mỹ mãn với khẩu súng. Manuelo ra hiệu cho Santiago Bé. "Lên cây. Nếu có rắc rối thì yểm trợ chúng tôi bằng khẩu súng trường của cậu".
Santiago đã ổn định giữa những cành cây gần như ngay khi lệnh dứt. Những cành lá rung rinh khi hắn mất hút vào trong.
Manuelo nhìn hai đứa nhỏ chúng tôi. "Vào trong hang đi".
Trck hi chúng tôi kịp phản đối thì Mèo Bự đưa tay lên. Tiếng vó ngựa nặng trịch đã rõ. "Khoảng hơn hai mươi", hắn nước, đưa tay ra hiệu cho chúng tôi nằm xuống.
Manuelo bò ra phía đường. Tôi thấy gáy hắn bên bờ bụi cây khi hắn nhô lên để nhìn xuống. Tôi cố nhìn qua hắn xuống đường, nhưng con đường đã bị vạt đồi dốc che khuất.
Tiếng vó ngựa to hơn và đầu Manuelo mất hút. Âm thanh dội vào chúng tôi từ  bốn phía đường, rồi nó đi ngang qua và bé dần.
Manuelo chạy lại. "Kỵ binh", hắn nói. "Cả một trung đội! Tớ đếm được ba mươi tư đứa".
Cặp môi Mèo Bự bặm lại. "Chúng làm gì ở đây nhỉ? Bọn quân đội không đến Bandaya cơ mà".
Manuelo nhún vai. "Thì chúng đang ở đây".
Có tiếng kèn lính vẳng từ xa rồi ắng lặng. Manuelo lắng nghe thêm một lát rồi ngồi xuống sau khẩu súng máy, châm một điếu xì gà nhỏ. Nom hắn đầy vẻ tư lự.
"Ê, cậu bé!" hắn thấp giọng gọi. "Cậu thấy gì?"
Giọng đáp nghẹt qua đám lá. "Chẳng gì sất. Đường trống trơn".
"Không phải đường, thằng ngu! Thung lũng cơ mà".
Im lặng một lát rồi giọng đáp dội lại. "Có khói bốc lên. Nhưng xa quá, chẳng biết là cháy cái gì".
"Cậu nhìn thấy gì nữa không?"
"Không. Tớ xuống nhé?"
"Ở đấy"
"Dái tớ sưng lên vì cành cây này rồi".
Mèo Bự cười. "Dái cậu đau chẳng phải vì cành  cây đâu". Hắn quay sang Manuelo. "Cậu thấy thế nào?"
"Tớ chẳng biết" Manuelo lưỡng lự. "Có thể là một bọn đi càn hành quân qua thung lũng".
"Giờ thế nào?" Mèo Bự hỏi. "Chúng ta về à?"
"Súng là món thay thế tồi của thịt…"
"Nhưng nếu bọn lính có ở trong thung lũng…"
Manuelo ngắt lời. "Chúng mình chẳng biết là có hay không. Bọn duy nhất chúng ta thấy thì đã phóng đi rồi".
Mèo Bự lặng thinh. Santiago Lớn bước đến, ngồi xuống trước mặt hắn. Ba người đàn ông lặng lẽ ngồi quanh khẩu súng máy. Manuelo dụi điếu xì gà rồi cẩn thận cất mẩu còn lại vào túi. "Chỉ có một cách để tìm ra. Một trong chúng ta phải xuống thung lũng".
"Nhưng nếu có bọn quân đội ở đấy thì thật nguy hiểm".
"Nhưng sẽ nguy hiểm hơn nếu chúng ta về nhà mà chẳng hề có thịt, cũng chẳng chắc chắn là kiếm được gì", Manuelo trả lời.
"Đúng" Mèo Bự gật đầu. "Bọn họ chẳng ưng thế".
"Hoàn toàn không" Santiago Lớn nói thêm. "Họ sẽ đói".
Cả hai nhìn sững. Thật hiếm khi gã Anh-điêng mở mồm.
Manuelo quay lại Mèo Bự. "Cậu đi".
"Tớ?" Mèo Bự kêu lên. "Sao lại tớ?"
"Cậu là đứa duy nhất trong bọn từng ở thung lũng này. Vậy cậu đi là hợp lý".
"Nhưng tớ chỉ ở đây đúng một ngày", Mèo Bự phản đối. Hắn hất tay về phía tôi. "Rồi còn tướng quân phái tớ về với nó".
Manuelo nhìn tôi. "Cậu còn nhớ thung lũng không?"
"Còn".
"Cách trang trại của nhà cậu bao xa?"
"Một tiếng rưỡi đi ngựa".
"Thế đi bộ? ngựa sẽ gây quá nhiều sự chú ý".
"Ba, mà có thể đến bốn tiếng".
Manuelo quyết định. "Hãy mang thằng bé đi cùng. Nó sẽ là người dẫn đường của cậu".
Mèo Bự làu bàu. "Ít nhất thì chúng tớ cũng phải đi ngựa. Cậu  biết là tớ đi bộ khó nhọc thế nào rồi. Vả lại, tớ thấy quá nguy hiểm. Chúng tớ sẽ bị giết mất".
Manuelo đứng lên. "Thế thì các cậu càng không cần đến ngựa". Hắn nói lời phán quyết. "Tạm biệt".
Mèo Bự đứng lên, với khẩu súng trường.
"Để đấy!" Manuelo gay gắt nói. "Giấu súng lục ở dưới áo ấy. Rồi nếu có gặp ai trên đường thì cậu chỉ nên là gã nhà quê nghèo cùng với con trai về Bandaya mà thôi. Nếu thấy cậu với khẩu súng trường thì chúng sẽ bắn cậu trước khi hỏi".
Nom Mèo Bự sầu muộn hẳn. "Cậu sẽ chờ chúng tớ bao lâu?"
Manuelo liếc mặt trời rồi nhìn Mèo Bự, tính toán. "Giờ là khoảng tám giờ. Nếu thằng bé nói đúng thì cậu sẽ đến trang trại vào khoảng trưa. Nếu đến tối các cậu vẫn không trở lại thì chúng tớ sẽ quay về nhà".
Mèo Bự im lặng nhìn hắn. Người nọ hiểu ý người kia. Nếu như tình thế đảo ngược thì Manuelo cũng sẽ hành động tương tự. Đấy là một trong những điều kiện của cuộc sống.
Mèo Bự quay lại tôi. "Đi thôi, cậu. Rõ ràng đó cũng là nhiệm vụ của tớ là phải đưa cậu về nhà".
"Dái tớ sắp giết tớ rồi đây", giọng Santiago Bé rên rỉ trên cây.
Mèo Bự nhìn lên, cười một cách độc ác. "Tệ nhỉ. Có lẽ cậu ưng nhập bọn với chúgn tớ để thưởng thức cuộc dạo chơi này hơn?"
 
Mặt trời gần như đứng giữa không trung khi chúng tôi đến ruộng mía. Chuồng ngựa và nhà bếp đã bị đốt cháy rụi. Sức nóng từ những cây gỗ cháy thành than như vẫn phả lên mặt.
Bao tử đau thắt, tôi đứng lên. Mèo Bự lôi tôi xuống. "Yên lặng! Có thể vẫn còn vài đứa quanh đây".
Tôi nhìn, như thể hắn là ai đó tôi chưa từng gặp. "Chúng nó đốt nhà tôi".
Hắn không trả lời. Mắt quét dọc con đường hoang vắng. "Vì thế mà bố cậu gởi cậu lên núi", hắn nói cộc lốc.
"Nếu biết, bố phải để tôi lại đây. Tôi sẽ không để chúng đốt trang trại!".
"Chúng có thể đốt cả trang trại lẫn cậu", Mèo Bự đứng lên. "Đi. Có thể chúng ta biết thêm được gì chăng."
Tôi theo hắn qua đường. Có một xác chết, nằm sấp mặt trên cát bụi. Mèo Bự lật xác lại, rồi nhổ bọt khinh thị. "Lão nhà quê!"
Tôi nhận ra ông ấy. Đấy là Sordes, ông già làm vườn nhà và trông nom hoa quả quanh nhà. Tôi bảo Mèo Bự. Hắn lại nhổ  bọt.
"Cũng vậy. Đàng nào thì lão cũng thôi làm việc luôn".
Chúng tôi đi tiếp đến nhà. Hành lang cũng biến mất. Hình như nó đã tụt xuống hầm. Giờ thì tôi thấy sức nóng gay gắt hơn.
Mèo Bự đưa chân ra hất một khúc gỗ. Nó rời khỏi khung, trụt xuống hầm. Gần như tức thời, một lưỡi lửa từ dưới vụt lên. Chúng tôi đi quanh nhà về phía sau. "Có thể còn ai đó ở dưới hầm", tôi bảo Mèo Bự. Hắn thản nhiên. "Nếu còn thì họ sẽ chín dừ đấy".
Cho đến khi bụi  ca6y trồng giữa nhà và chuồng ngựa chúng tôi mới thấy hai phụ nữ. Họ bị trói vào cùng gốc cây, áp lưng nhau, và họ nhìn chúng tôi bằng cặp mắt vô cảm. Tôi nhận ra một người. Đó là Sarah, chị đầu bếp. Người kia tôi chưa gặp bao giờ.
Họ bị lột trần truồng, và toàn thân họ đầy những vết cắt nhỏ xíu, máu khô cứng. Đàn kiến đã bò lên họ. "Đây là Sarah", tôi nói.
Mèo Bự chằm chằm nhìn. "Cô gái Anh- điêng?"
Tôi gật đầu, rồi nhớ lại chị đã dọn bữa ăn sáng vào buổi sớm cuối cùng ở nhà ấy. "Tại sao chúng không chỉ hiếp rồi giết chị ấy đi?" tôi hỏi. "Tại sao chúng lại phải tra tấn chị ấy?"
"Bọn lính!" Mèo Bự lại nhổ bọt. "Chúng nó tệ hơn chúng ta".
"Vì sao?" tôi nhắc lại.
"Bọn chúng tưởng là cô ta có thể khai với chúng điều gì đó". Hắn đi trở lại ruộng mía. "Đi thôi, ở đây chẳng có gì sất".
Chúng tôi gần tới đường thì chợt hắn túm tôi lại. "Tên cậu là Juan", hắn thì thầm rõ gay gắt. "Đừng nói! Để tớ nói!"
Tôi chẳng hiểu ngô khoai gì cho đến khi sáu tên lính vận đồng phục xanh và đỏ bỗng xhi và chĩa súng vào chúng tôi.
0
Chương 10
Mèo Bự bỏ mũ, nở nụ cười xun xoe. "Chúng tôi chỉ là dân quê nghèo đến Bandaya để kiếm việc, thưa ngài. Tôi và con trai ạ".
Tên trung uý nghi hoặc. "Chúng mày làm cái gì ở chỗ này?"
"Chúng tôi thấy có khói" Mèo Bự nói. "Chúng tôi tưởng…"
"Chúng mày tưởng có thể ăn cắp, ăn trộm ở đây?"
"Thưa ngài không ạ" Mèo Bự phản đối với giọng đau đớn. "Chúng tôi tưởng là mình có thể giúp được gì chăng. Chúng tôi không biết là chuyện quân sự ạ".
Tên trung uý nhìn xuống tôi. "Thằng bé bao nhiêu tuổi?"
"Thằng Juan, con trai tôi gần mười hai rồi ạ".
"Chúng tao đang tìm một thằng bé lên tám" tên trung uý nói. "Con trai của thằng cướp Xenos".
"Chúng tôi không biết hắn ạ", Mèo Bự nói.
Tên trung uý lại nhìn tôi. Hắn ngần ngừ. "Nó cũng ngăm đen như con trai mày ấy".
"Đứng thẳng lên Juan!" Mèo Bự quay sang tên trung uý "Ngài thấy thằng Juan nhà tôi cao chưa? Một đứa lên tám thì làm sao bằng cỡ nó được".
Tên trung uý vẫn xem xét tôi. "Mày lên mấy?" hắn chợt hỏi.
"Thưa ông mười một ạ".
"Tại sao da mày đen thế?"
Tôi nhìn Mèo Bự. Tôi không hiểu hắn ngụ ý gì.
"Mẹ cháu là…"
Tên trung uý lườm Mèo Bự. "Tao hỏi thằng nhỏ…"
"Mẹ tôi người da đen". Tôi đáp, cảm giác Mèo Bự dường như thở dài nhẹ nhõm.
"Sống ở đâu?"
Tôi ra hiệu về phía núi. "Thưa ông, ở trên kia".
"Một thằng nhóc nhà quê mà ăn nói trôi chảy nhỉ", tên trung uý nói với Mèo Bự.
"Thưa ngài, đó là do nhà thờ đấy ạ", Mèo Bự vội vã. "Mẹ cháu rất sùng đạo. Nó đã được học trường dòng ở vùng núi đấy ạ".
Tên trung uý nhìn hắn chằm chằm một lát. "Đi".
"Thưa ngài sao ạ?" Mèo Bự phản đối. "Chắc chắn là ngài chẳng cần gì thêm ở chúng tôi nữa. Chúng tôi muốn về nhà thôi".
"Chúng mày sẽ về nhà sau", tên trung uý nói. "Ông đại tá muốn thẩm vấn mọi kẻ khả nghi. Đi!".
Bọn lính nhanh chóng quây lấy chúng tôi. "Ông đưa chúng tôi đi đâu ạ?" Mèo Bự hỏi.
"Đến trang trại của Don Rafael Campos. Đi!".
Chúng tôi theo sau hắn. Bọn lính theo sau chúng tôi. Tôi thấy tay Mèo Bự đặt trên vai. Hắn thì thầm. "Cậu sẽ không nhận ra ông ngoại nhé?"
"Nhưng nếu ông nhận ra tôi?" tôi thì thầm lại.
"Khi đó hẵng hay. Mấy năm rồi. Có thể cụ không nhận ra".
Có nhiều đàn ông, đàn bà và trẻ con đứng quanh trang trại của ông ngoại tôi. Mèo Bự kéo tôi sang một bên. "Cậu biết ai trong số những người này không?"
Tôi lắc đầu. "Không có ai quen cả".
"Tốt" hắn nhìn quanh. "Phải kiếm cái gì ăn mới được. Bao tử tớ đang sôi lên đây".
Mặt trời chói chang và tôi vừa mệt vừa khát. "Có một cái giếng ở sau nhà".
"Quên hẳn đi" Mèo Bự nói vội. "Chúng chỉ cần thấy là cậu biết cái giếng ở đâu là đi tong hết". Hắn thấy biểu hiện trên mặt tôi và hắn kéo tôi lại. "Nào, cậu, chúng ta sẽ cố tìm một chỗ trong bóng râm để nằm nghỉ ngơi một lát".
Có chỗ như thế cạnh chiếc xe bò ở sân trước. Mèo Bự ngồi phịch xuống tựa lưng vào bánh xe. Tôi nằm duỗi thẳng và chỉ trong chốc lát đã thiếp đi. Tôi không biết mình đã ngủ được bao lâu khi Mèo Bự lay dậy. "Mở mắt ra, cậu". Tôi ngủ chỉ nửa giờ.
Bọn lính đang dồn mọi người về phía hành lang của ngôi nhà. Chúng tôi đứng lên đi cùng với mọi người.
Một tên lính gác bước lên bậc thang rồi quay về phía chúng tôi. "Xếp hàng đôi".
Tôi nhìn quanh. Tất cả gồm khoảng năm mươi người ở trên sân. Phần đông là người lớn, chỉ có vài đứa trẻ trạc tuổi tôi.
Cánh cửa trước mở và hai tên lính bước từ trong nhà ra, đỡ một ông già ở giữa. Tôi nuốt hơi thở và toan tiến lên, nhưng bàn tay Mèo Bự đã như chiếc kẹp sắt trên cánh tay tôi.
Đấy là ông ngoại, nhưng không phải ông ngoại của ký ức tôi. Bộ đồ bao giờ cũng trắng tinh của ông giờ đây nhàu nát và máu bên mép ông chảy qua chòm râu xuống cổ áo. Cặp mắt ông rỗng không vì đau đớn và cằm run rẩy khi ông gắng đứng thẳng người.
Tên đại tá bước ra, nhìn chúng tôi rồi nhìn ông ngoại. Hắn có bộ ria đen, như kẻ chỉ và có nét cười nhạo báng trên mặt.
Giọng hắn ré lên the thé. "Don Rafael, những đứa này khai là dân quê ở thung lũng này. Chúng bảo ông biết chúng và sẽ đảm bảo về chúng. Chúng tôi muốn ông nhìn từng đứa và có đứa nào ông không nhận ra thì hãy cho chúng tôi biết. Hiểu chứ?"
Ông ngoại gật đầu. "Tôi hiểu", ông nói một cách khó khăn. "Tôi đã nói với ông tất cả những gì tôi biết rồi".
Giọng viên đại tá sốt ruột. "Để xem". Hắn ra hiệu cho tên lính trên bậc thang. "Cho chúng từ từ đi qua".
Dòng người xếp hàng đôi bắt đầu lê bước ngang hành lang khi ông ngoại nhìn xuống với cặp mắt đờ đẫn. Bỗng viên đại tá chỉ vào tôi, nói. "Ê, thằng nhóc! Đứng ra phía trước để chúng tao thấy".
Tôi ngập ngừng, rồi cảm thấy bị Mèo Bự đẩy lên trước. Tôi nhìn thẳng vào mắt ông ngoại. Một cái chớp mắt nhận biết bất thần cháy lên ngắn ngủi rồi hai hàng mi từ từ cụp xuống. Khi mở lại, cặp mắt vẫn nguyên cái nhìn trống rỗng như trước.
Viên đại tá nhìn chúng tôi chằm chằm. "Được rồi, đi tiếp".
Dòng người lại lê đi. Tôi thấy viên trung uý, người đã bắt chúng tôi, thì thầm vào tai viên đại tá.
"Đứng lại!" viên đại tá quát. Dòng người dừng lại.
"Mày!" hắn chỉ tôi, "Đứng ra!"
Tôi nhìn Mèo Bự. Mặt hắn trống rỗng, vô  cảm, chỉ cặp mắt là ánh lên. Hắn cầm tay tôi, khúm núm cúi đầu. "Vâng, thưa ngài".
Viên đại tá quay sang ông ngoại tôi. "Trung uý bảo tôi là anh ta đã tóm được hai đứa này ở gần trang trại của con rể ông. Chúng  bảo chúng là dân quê ở vùng đồi núi đang đi kiếm việc. Ông có biết chúng không?"
Ông ngoại nhìn  xuống chúng tôi. Có một ánh xa xăm và bí hiểm trong cặp mắt ông. "Tôi đã từng thấy họ", giọng ông bằng phẳng.
"Bọn chúng là ai vậy?" viên  đại tá hỏi.
Ông ngoại tôi như phải rất lâu sau mới trả lời. Cuối cùng, ông liếm môi và nói. "Tôi già rồi", giọng ông run rẩy. "Tôi không nhớ tên nhưng tôi đã thấy họ thường đi kiếm việc ở trong thung lũng".
Viên  đại tá quay sang xem xét tôi. "Thằng bé da sẫm màu. Con rể ông cũng thế".
"Nhiều người trong thung lũng chúng tôi mang dòng máu da đen, và đó chưa hề bị coi là tội ác".
Viên đại tá trầm ngâm nhìn ông rồi rút súng ra nhằm vào tôi. "Vậy thì với ông thằng nhóc này sống hay chết cũng chẳng hề gì?"
Một thoáng sầu muộn trong cặp mắt ông ngoại tôi nhưng nó biến mất khi ông quay lại viên đại tá. "Không hề gì".
Hắn chậm rãi lên cò súng, không nhìn tôi, vẫn dõi mắt vào ông ngoại. Bỗng Mèo Bự đẩy tôi sang bên. "Thưa ngài", hắn kêu lên. "Xin ngài rộng lòng thương! Đừng lấy thằng con trai độc nhất của tôi đi! Vì Chúa, xin ngài tha cho".
Viên đại tá quay súng khỏi tôi và chĩa vào Mèo Bự. Giọng hắn  bẹt và lạnh. "Mày chết thay nó chứ?"
Mèo Bự phủ phục xuống. "Xin ngài rộng lòng thương! Vì Chúa!".
Ông ngoại tôi quay ra, nhổ bọt xuống Mèo Bự. "Giết cả hai đứa cho xong đi!" ông nói giọng khinh thị. "Chấm dứt cái cảnh quỳ mọp hèn hạ bẩn thỉu của chúng đi. Nó làm ta tởm lợm!"
Viên đại tá chòng chọc nhìn ông rồi nhét súng vào bao.
Mèo Bự tức thì bò lổm ngổm lên. "Xin một ngàn lần đội ơn ngài! Chúa ban cho ngài một ngàn phúc lành!".
Viên đại tá phẩy tay. "Tiếp tục đi".
Mèo Bự lôi tôi vào hàng. Từ từ, chúng tôi lê đi, và cuối cùng đã qua khỏi hành lang. Tôi thì thầm. "Ông ngoại không biết tôi!"
"Ông biết cậu!".
"Nhưng…"
Tay Mèo Bự bóp chặt vai tôi. Viên đại tá đi dọc hàng người, dừng lại trước mặt tôi. "Tên mày là gì?"
"Juan", tôi trả lời.
"Đi với tao", hắn quay đi và Mèo Bự bước bên tôi, theo hắn trở lại hành lang. Viên đại tá ngước lên gọi một trong hai tên lính. "Đem lão già xuống đây và tống những đứa khác đi".
Tên lính quàng một tay bên sườn ông ngoại, dìu ông xuống bậc thang. Có tiếng xì xào khẽ ở phía sau. Tôi quay đầu nhìn đám người trên đường. Tiếng thì thầm giận dữ càng to lên khi họ thấy ông ngoại bị dẫn từ hành lang xuống.
"Bảo chúng nó xéo đi!" viên đại tá quát. "Nếu cần thì bắn bỏ chúng đi!".
"Đi đi! Đi đi!" viên trung uý rút súng ra. "Đi đi!".
Đám đông nhìn hắn trừng trừng. Hắn bắn một phát lên trời, và họ từ từ chuyển động.
Khi con đường đã vắng tanh, viên đại tá quay lại tôi. "Mày sống hay mày chết thì lão già cũng chẳng quan tâm", hắn lặng lẽ nói. "Bây giờ xem thử mày có nghĩ như thế về lão không?"
 
0
Chương 11
Lúc này đã gần ba giờ chiều, mặt trời đang đổ lửa xuống trái đất. Mồ hôi khô cứng trên người và nước bọt bốc hơi trong miệng, để lại vị mằn mặn buồn nôn. Dù dưới sức nóng ấy, tôi vẫn cảm thấy lạnh cóng từ bên trong, và cứ run bắn lên khi chúng đem ông ngoại xuống  bậc thang.
"Đưa lão ra chiếc xe", viên đại tá ra lệnh.
Ông già vùng ra, kiêu hãnh. "Ta đi được!".
Tên lính nhìn viên đại tá. Hắn gật đầu và chúng tôi theo ông ngoại bước tới giữa chiếc sân đang cháy bỏng. Khi tới chiếc xe, ông quay lại nhìn  chúng. Có những nếp nhăn đầy âu lo hằn trên hai má, nhưng cặp mắt ông bình thản, tỏ tường. Ông lặng thinh.
"Lột lão ra!" viên đại tá ra lệnh.
Bọn lính bước tới. Ông già đưa một tay lên như thể ngăn lại, nhưng chúng đã lột quần áo ông ra. Thân hình gầy guộc của ông cũng gần trắng như bộ quần áo ông mặc. Không có áo quần, ông như bé đi, quắt queo với những dẻ sườn nhô ra. Cặp mông và hông sườn chảy nhẽo do thất bại trước thời gian.
"Trói lão vào bánh xe!".
Chúng trói ông giang chân, giang tay theo nan hoa bánh xe. Chiếc ổ trục lồi lên giữa lưng, thúc ông ưỡn cong ra trong một tư thế tục tĩu khó chịu. Mặt ông nhăn nhúm vì đau đớn, ông nhắm mắt và quay đầu để tránh mặt trời chiếu thẳng vào.
Viên đại tá ra ý chứ không cần ra lệnh. Một tên lính ép đầu ông lão vào nan hoa bánh xe và buộc một dây da quanh trán để đầu ông không cử động được.
"Don Rafael", giọng viên đại tá khẽ đến mức thoạt nghe tôi không biết là chính hắn đã nói. "Don Rafael!" ông ngoại tôi nhìn vào mắt hắn. "Không cần thiết phải như thế này, Don Rafael", viên đại tá nói gần như trân trọng. Ông ngoại không trả lời. "Lão biết thằng bé trốn đâu không?"
Mắt ông ngoại không  chớp. "Ta đã nói với mi, là ta không biết. Diablo Rojo đã mang nó đi".
"Điều đó thật khó tin. Don Rafael", giọng hắn vẫn nhỏ nhẹ .
"Đấy là sự thật".
Viên đại tá lắc đầu, rõ ràng là buồn bã. "Con rể lão, Jaime Xenos, đã tự gia nhập bọn cướp, những kẻ đã giết con gái lão. Chúng tôi biết hắn đầy tham vọng chính trị. Chúng tôi còn có giả thiết nào hắn là lão đồng tình với hắn?"
"Nếu vậy" ông ngoại hỏi, "thì ta lại ngu đến mức ở lại đây, trong trang trại của ta, để mi có thể tìm được?"
"Biết đâu lão cho là tuổi tác có thể cứu lão".
Giọng ông ngoại đầy tự trọng. "Ta không bao giờ là một tên phản bội".
Viên đại tá quay sang tôi. "Mày sống ở đâu?"
"Ở trên núi, thưa ông".
"Mày xuống thung lũng làm gì?"
Cặp mắt ông ngoại dõi nhìn tôi. "Để làm việc, thưa ông".
"Ở nhà mày không có việc à?"
Mèo Bự vội trả lời. "Thưa ngài, không ạ. Hạn hán…"
"Im! Tao hỏi thằng nhỏ!"
"Không có gì ăn", tôi nói. Ít nhất đấy cũng là sự thật.
Hắn liếc ông ngoại rồi nhìn tôi. "Mày biết người này chứ?"
"Thưa ông vâng, ông ấy là Don Rafael, nhà điền chủ".
'Hắn là Don Rafael, kẻ phản bội", viên đại tá quát lên.
Tôi không trả lời. Bỗng hắn tóm cổ tay tôi, vặn ngược cánh tay ra sau. Tôi thét lên đau đớn, như có lửa đốt khắp người. Hắn rít lên. "Hắn là ông ngoại mày! Mày không nhận à?"
Tôi lại thét lên khi hắn gia tăng áp lực, choáng váng. Sau đó là một cú đánh vào thái dương, và tôi ngã xuống, nức nở.
Như thể từ rất xa xăm, tôi nghe thấy giọng ông ngoại, lạnh và vô tình. "Chỉ riêng điều ấy thôi đã đủ thuyết phục mi rồi chứ, đại tá. Không một ai mang dòng máu của ta lại cho mi được thoả mãn nghe họ khóc cả. Điều đó dưới tầm của chúng ta".
Tôi nghe thấy tiếng chửi làu bàu rồi một tiếng "cộp" khô khan. Tôi nhìn lên. Viên đại tá vừa rời đi, khẩu súng còn nằmg trong tay hắn. Máu ròng ròng chảy xuống một bên mùi ông ngoại. Chòm râu ông đã đỏ sẫm. Nhưng môi ông mím chặt.
Viên đại tá quay sang một trong những tên lính. "Đổ nước vào dây da quanh thái dương lão", hắn nói. "Xem thử mặt trời có giúp cho sự thật bật ra khỏi mồm lão không".
Hắn bỏ đi, và tôi thấy Mèo Bự nhấc tôi đứng lên. Khi  cử động cánh tay, vai tôi đau nhừ. Ông ngoại lặng lẽ nhìn tôi, rồi nhắm mắt lại, và tôi cảm nhận sự đau đớn trong ông. Một cách bản năng, tôi chực đưa tay ra. Nhưng Mèo Bự đã tóm cánh tay tôi, gần như đúng lúc tôi cử động, và buộc tôi quay đi. Viên đại tá vẫn dõi nhìn.
Một tên lính đi qua, mang theo xô nước, và hắt cả xô vào mặt ông ngoại tôi. Ông nghẹn thở, thổi phì phì vì nước chảy tràn trên mặt. Tôi cảm nhận nắng rát trên người ông. Tôi biết chiếc dây da bắt đầu thít chặt quanh trán ông. Gần như ngay trước mắt tôi, tôi thấy nó khô đi và co lại. Mồm ông há ra và ông bắt đầu thở dốc.
Có tiếng chân bước phía sau. Tôi quay lại và thấy viên  đại tá đang đi tới, tay cầm chiếc ly cao. Đá trong ly kêu lanh canh. Hắn dừng lại trước mặt ông ngoại, đưa ly lên nhấp một ngụm. "Nào, Don Rafael, lão có ưng  cùng ta làm một chầu rhum lạnh không?"
Ông ngoại im lặng. Chỉ có đôi mắt ông là không đủ lực để tránh nhìn chiếc ly. Lưỡi ông khua trên cặp môi khô.
"Một từ", viên đại tá nói. "Chỉ một từ thôi. Thế là đủ".
Với một gắng gỏi, ông già đưa mắt khỏi chiếc ly để nhìn thẳng vào mắt viên đại tá. Có một sự miệt thị trong giọng ông mà nó vượt xa tất cả những gì tôi từng nghe được. "Thử nghĩ xem ta đã có thể bảo vệ bọn bay...Lũ chúng mày tồi tệ hơn cả bọn cướp. Ít nhất thì chúng cũng còn có sự dốt nát để mà tha thứ. Còn trước Chúa thì chúng mày sẽ có cái gì?"
Miệng chiếc ly vỡ tan khi viên đại tá đập nó vào vành bánh xe. Hắn dí miệng ly vỡ vào khoang bụng trần ông ngoại tôi. "Lão già, mày sẽ nói. Mày sẽ nói!".
Ông ngoại tôi hít một hơi sâu rồi nhổ thẳng vào mặt viên đại tá. Bỗng một tiếng thét bật ra từ cổ ông và cũng nghẹn luôn tại đó khi ông nhìn xuống trong hãi hùng.
Viên đại tá lùi ra và tôi hiểu vì sao ông ngoại lại thét lên. Chiếc ly, với một phần dương vật của ông kẹp ở bên trong, cắm ngập trong thịt ông. Tôi thét lên, nhưng Mèo Bự nhanh chóng ấn mặt tôi vào cái bụng bự của hắn và làm ngạt đi.
"Để cho nó nhìn!" viên đại tá quát.
Từ từ, Mèo Bự buông tôi ra, nhưng giữ một bàn tay cảnh giới trên vai. Tôi nhìn viên  đại tá. Cặp mắt hắn lạnh tanh. Tôi nhìn ông ngoại. Ông rũ ra. Máu chầm chậm nhỏ từ chiếc ly xuống đất.
Tôi chớp mắt để cố ghìm hai dòng lệ. Viên đại tá không được thấy tôi khóc. Dù sao thì tôi cũng hiểu ông ngoại không thích thế. Một ánh dịu dàng xuất hiện trong mắt ông, và tôi biết ông đã hiểu. Rồi ông từ từ nhắm mắt lại.
"Lão chết rồi!" một trong những tên lính kêu lên.
Viên đại tá thô bạo vạch mí mắt ông già lên. "Chưa," hắn nói, giọng mãn nguyện."Chúng không chết dễ thế đâu. Chúgn mong sống mãi mãi cơ". Hắn quay trở lại ngôi nhà. "Gọi ta khi hắn tỉnh lại. Ta vẫn  chưa ăn bữa trưa".
Hắn đi lên hành lang rồi mất hút vào trong nhà.
"Chúng tôi cũng đói" Mèo Bự kêu bọn lính.
"Hãy mừng là chúng mày không cùng bọn với lão" một trong chúng trả lời, ra hiệu về phía ông ngoại tôi.
Mèo Bự nhìn tôi rồi lại nhìn tên lính. "Nó chỉ là đứa con nít. Ít nhất thì cũng rủ lòng thương để tôi đưa cháu vào bóng râm".
Hắn nhún vai. "Cho phép. Nhưng đừng có giở trò gì đấy nhé".
Mèo Bự ném mình xuống đất, trong bóng rợp của hành lang và tôi lăn xuống bên hắn. Hắn nhìn trời. "Vài giờ nữa mặt trời sẽ lặn. Manuelo và những người khác sẽ đi mà không có chúng ta".
"Đại tá sẽ làm gì chúng ta?"
Mèo Bự nhún vai. "Chúng sẽ giết, hoặc là để chúng ta đi. Tất cả sẽ tuỳ thuộc vào cái ông già đàng kia kìa. Nếu ông nói thì chúng ta chết, nếu không…ừ, chúng ta còn hy vọng".
Giờ thì tôi bắt đầu hiểu. Cung cách nó phải thế. Cốt lõi cuộc sống chúng ta là thế, và cũng là điều hệ trọng duy nhất ở đời. Tôi liếc lại qua vai. Ông già vẫn rũ ra đó, lặng lẽ, mặt trời thiêu đốt thịt da. Tôi thì thầm. "Mong là chúng ta có thể giết được ông đi".
Mèo Bự nhìn tôi. Có cái gì đó như sự tán thưởng trong mắt hắn. "Ông ấy sắp chết rồi", hắn lặng lẽ nói. "Chúng ta hãy cầu mong cho ông chết trong bình lặng".
Có tiếng động phía sau chúng tôi. "Đứng lên! Lão tỉnh rồi".
Giọng viên đại tá từ phía sau tôi. Tôi quay lại. Hắn đang dùng chiếc khăn ăn lau mồm một cách thanh nhã. "Don Rafael!"
Ông ngoại không nhìn hắn.
"Don Rafael!" viên đại tá lại nói. "Lão có biết ta không?"
Mắt ông già long lên điên dại. "Đem ngựa cho ta!" ông bỗng quát lên. "Ta sẽ phi vào núi để chính tay ta giết bọn vô lại!".
Viên đại tá khinh bỉ quay đi. "Bỏ lão xuống và giết lão đi. Lão chẳng dùng được gì thêm cho ta nữa".
Toan bước đi thì hắn để ý thấy tôi. "Chờ một phút. Mày vẫn cứ bảo lão già không phải ông ngoại mày chứ?"
Tôi không trả lời. Hắn rút khẩu súng trong bao ra, bật băng đạn và năm viên rơi vào tay hắn. Hắn nắm tay lại và nhìn tôi. "Còn một viên đạn. Mày sẽ  giết lão". Tôi nhìn Mèo Bự. Cặp mắt hắn tối sẫm, ơ thờ. Tôi ngập ngừng. "Mày sẽ giết lão". Viên đại tá quát và đưa tôi khẩu súng.
Nó nặng trịch trong tay tôi. Nặng hơn của Mèo Bự nhiều. Tôi nhìn viên đại tá. Cặp mắt hắn nảy lửa, mặt hắn đỏ dừ. Chỉ một viên đạn là đủ. Nhưng rồi chúng sẽ giết tôi, cả Mèo Bự nữa.
Khi tôi  bước tới, ông ngoại vẫn lặng thinh, nhưng đôi mắt ông như bỗng sáng lên. "Gì vậy, cháu nhỏ?" Tôi không nói.
"Cháu nhỏ muốn gì vậy?" ông lại hỏi.
Tôi cảm thấy bao tử thắt lại khi nâng khẩu súng lên. Ông ngoại tôi nhìn thấy điều đó. Ông không nhúc nhích. Tôi thề là một nụ cười yếu ớt đã xuất hiện trong mắt ông trước khi tôi bóp cò.
Sức giật xoay tôi đi nửa vòng và khẩu súng nặng trịch văng khỏi tay khi tôi cố gượng đứng lên. Ông ngoại tôi đổ sụp trên bánh xe, đôi mắt vô cảm.
Giọng viên đại tá từ phía sau. "Tốt". Hắn quay lại ngôi nhà.
Tôi nhìn ông ngoại. Nước mắt trào lên trong mắt. Tôi cố dằn xuống. Sống hay chết, ông ngoại tôi đều không thích nước mắt. Mèo Bự đặt tay lên vai tôi, vừa dẫn vừa lôi tôi ra phía đường. Bọn lính thờ ơ nhìn chúng tôi đi qua. Cuối cùng tôi kêu lên "Tôi đã giết ông! Tôi không muốn, nhưng tôi đã giết ông!"
Mèo Bự vẫn bước gấp. "Thế thì có hề gì?" hắn không nhìn tôi. "Ông ấy sống hay chết cũng vậy. Vấn đề là chúng ta đang sống!".
0
Chương 12
Ba tiếng đồng hồ sau hoàng hôn chúng tôi mới trở lại được hang. Những người khác đã bỏ đi. Tôi quá mệt, đến mức không mở mắt được nữa. Tôi lăn xuống đất. "Tôi đói".
"Rồi sẽ quen". Mèo Bự đáp. Hắn đi quanh hang, mắt dõi trên đất trong ánh sáng mờ tỏ.
"Cả khát nữa". Hắn không trả lời. Một lát sau, tôi tò mò xem hắn tìm kiếm cái gì. "Anh làm gì đấy?"
Hắn liếc tôi. "Tớ đang cố xem bọn họ đi lâu chưa".
Hắn quỳ một gối xuống nhặt  cái gì đó, nghiền nó trong tay và ném đi. "Rồi! Họ mới đi được một giờ. Có thể chúng ta đuổi kịp họ".
Tôi cố đứng lên. "Sao anh biết? Anh tìm thấy cái gì thế?"
"Cứt ngựa" hắn nói và rời hang. "Ở giữa vẫn còn âm ấm".
Tôi chưa bao giờ nghĩ Mèo Bự có thể đi nhanh đến thế, cứ phải chạy gằn theo hắn, tới đỉnh núi. Dưới ánh trăng, con đường rõ như ban ngày. Đêm lạnh dần. Tôi hổn hển. "Còn bao xa nữa?"
"Bọn họ sẽ dừng lại ở bên kia núi thôi".
Phải đến hai dặm nữa mới tới đỉnh. Tôi lăn xuống bên đường thở dốc. "Cậu làm cái gì thế?" Mèo Bự hỏi.
"Không thể đi được nữa…" tôi khóc. "Tôi đói…Tôi rét…"
Hắn chằm chằm nhìn tôi. "Tớ cứ tưởng cậu là một thằng đàn ông", hắn cay nghiệt nói.
"Tôi không phải là một thằng đàn ông. Tôi rét  và tôi mệt".
Hắn ngồi xuống bên tôi. "Được thôi", giọng hắn nhẹ nhàng hơn. "Thì chúng ta nghỉ". Hắn thọc tay vào túi lôi ra một mẩu xì  gà nhỏ, cẩn thận bụm tay che gió khi châm lửa, rít một hơi dài.
Tôi nhìn hắn, run cầm cập. "Đây", hắn bảo, "rít một hơi đi. Nó sẽ sưởi ấm cậu".
Tôi làm theo, và tức khắc ho sặc sụa đến nghẹn cổ. Hết cơn ho, thật kỳ lạ, tôi thấy ấm hơn thực. Hắn bỏ áo khóac ra, quàng lên vai tôi, kéo tôi vào lòng. Có cái gì đó thuộc về mùi đàn ông phả ra từ hắn làm tôi cảm thấy an toàn, chắc chắn, song trước khi nhận ra điều đó, tôi đã chìm vào giấc ngủ.
Những tia nắng đầu tiên rọi vào mắt đánh thức tôi dậy. Tôi lăn đi, quờ tay tìm hắn. Nhưng tay chỉ quờ vào đất và tôi bật ngồi dậy. Hắn đã biến mất. Tôi hãi hùng nhìn quanh. "Mèo Bự!".
Có tiếng sột soạt trong bụi cây và Mèo Bự chui ra, mang theo con thỏ xiên trên đầu gậy. "Vậy là cậu cũng đã dậy đấy à?"
"Tôi tưởng…"
"Cậu tưởng là tớ bỏ cậu à?" hắn cười. "Tớ chỉ đi kiếm cái gì để ăn thôi. Nào, kiếm củi chất lửa lên trong khi tớ lột thằng thỏ này".
Con thỏ dai ngoách nhưng tôi chưa từng ăn cái gì ngon đến như thế. Tôi lấy ngón tay chùi mỡ trên miệng rồi liếm sạch. Mèo Bự cười, đứng lên. "Cất xương vào túi ấy. Rồi thì chúng ta sẽ có cái mà nhai trong cả ngày nay". Hắn đá tung đám lửa nhỏ. "Đi thôi".
Tôi nhặt đến mẩu xương cuối cùng bỏ vào túi rồi theo hắn lên đường. "Tôi xin lỗi vì chuyện tối qua".
"Quên chuyện ấy đi".
"Nếu không vì tôi thì anh đã đuổi kịp mọi người rồi".
Giọng hắn hiền hoà. "Nếu không vì cậu thì xương tớ đã mục ở trong thung lũng rồi. Vả lại, chúng ta chẳng thể đuổi kịp họ đâu".
"Chúng mình sẽ làm gì đây? làm thế nào để về nhà được?"
"Cuốc bộ. Con người đi bộ trước khi học cưỡi ngựa".
Tôi nhìn hắn. Mèo Bự chúa ghét đi bộ. Từ Bandaya đến chỗ ẩn náu của chúng tôi ở trên núi đi ngựa mất hai ngày rưỡi. Đi bộ phải mất đến hơn một tuần.
Giọng Mèo Bự cắt ngang suy nghĩ của tôi. "Dỏng tai lên. Nghe thấy gì là chúng ta rời đường cái ngay. Chúng ta không mạo hiểm. Hiểu chưa?"
"Ừ, hiểu" tôi lẩm bẩm.
Cuối cùng, chúng tôi vượt đỉnh núi và vào khoảng nửa dặm xuống suờn núi bên kia thì gặp một con suối nhỏ. "Chúng ta dừng nghỉ ở đây" Mèo Bự nói.
Tôi chạy đến và nằm vật bên dòng nước, uống lấy uống để. Mèo Bự lôi tôi lại. "Đủ rồi. Nghỉ một lát đã, rồi lại uống tiếp".
"Tôi bơi được không?"
Hắn nhìn như thể tôi hoá dại. Người miền núi không tin ở sự tắm táp. "Được" hắn nói, "nhưng đừng ngâm lâu. Lớp bảo vệ trên da cậu sẽ trôi hết mất".
Tôi tụt quần áo ra rồi lội xuống suối. Dòng nước trong vắt làm tôi vui sướng vẫy vùng. Có con cá trắng nhỏ lướt qua và tôi sải tay lao theo nó. Rồi nghe có tiếng khúc khích, tôi nhìn quanh.
Hai đứa con gái nhỏ đang đứng trên bờ nhìn tôi, còn Mèo Bự thì mất hút. Tôi vội vàng thụp xuống dòng nước nông.
Đứa con gái bé lại khúc khích cười. Đứa lớn quay ra gọi "Bố ơi! Diego! Lại đây nhanh lên. Có một thằng bé ở dưới suối".
Một lát sau, hai người đàn ông từ trong bụi đi ra, súng trường trong tay, chĩa vào tôi. "Mày làm gì ở đấy?"
"Cháu bơi".
"Đi lên!"
Tôi toan đứng dậy nhưng lại vội thụp xuống nước. "Ném cho cháu cái quần".
Người lớn tuổi liếc nhìn hai đứa con gái. "Quay đi", ông ra lệnh.
Tôi đứng lên lội vào bờ.
"Mày có một mình à?" Người đàn ông trẻ tuổi hỏi.
"Không, thưa ông" tôi  cầm chiếc quần anh ta  giơ ra. "Cháu đi cùng với bố".
"Bố mày đâu?"
"Thưa ông cháu không biết. Bố cháu vừa mới ở đây…"
"Đây rồi", Mèo Bự chui từ trong bụi ra, bộ mặt bự của hắn rạng rỡ trong một nụ cười, để lộ những chiếc răng to tướng. Hắn bỏ mũ và cúi chào "José Harnandez xin có mặt, thưa các ông".
Hắn đứng thẳng lên, vẫn toe toét. "Juan, thằng con trai tôi", hắn nói thêm, ra hiệu về phía tôi. "Thằng nhóc thích nước".
Người lớn tuổi chĩa súng vào hắn. "Anh làm  gì ở đây?"
Mèo Bự bước tới như thể không hay biết gì về khẩu súng đang chĩa về mình. "Tôi và thằng con trai từ thung lũng trở về nhà. Ở Bandaya nhiễu nhương quá. Cánh quân đội. Chẳng phải chỗ cho hai bố con yêu hoà  bình kiếm công ăn việc làm".
Mũi súng đã gần chạm bụng Mèo Bự. "Các người sống ở đâu?"
"Từ đây về mất một tuần. Các ông về đâu đấy ạ?"
"Estanza".
Từ Bandaya đến Estanza mất mấy ngày. Con đường rẽ xuống miền Nam, vượt hai dãy núi. Đến đấy, chúng tôi có thể rẽ theo những đường mòn qua rừng núi.
"Có thể các ông cho phép chúng tôi được đi cùng", Mèo Bự cúi đầu. "Người ta nói ở đấy có bọn cướp".
Hai người đàn ông nhìn nhau. "Đúng", người trẻ tuổi nói. "Đại tá Guiterrez bảo rằng đường có nhiều cướp lắm". Anh ta quay lại Mèo Bự. "Ngựa của các người đâu?"
Mèo Bự cười. "Ngựa ấy à? Làm sao mà có được ngựa, thưa ông? Chúng tôi chỉ là dân quê nghèo. Nếu có được một con lừa thì cũng đã phúc lắm rồi".
"Nhưng, thưa ngài…" Người đàn ông trẻ tuổi phản đối.
"Được thôi, Diego", người kia nói, thoáng chút bận tâm. "Một người đàn ông với một thằng con nít thì làm gì được?"
0
Chương 13
 Tôi ngồi ở cửa sau xe, quay lưng lại với hai đứa con gái trong khi Mèo Bự ngồi vào ghế xà ích cùng với ông Moncada. Diego cưỡi ngựa đen lớn đi bên c.nh, khẩu súng trường đặt hờ hững ngang yên. Moncada làm nghề trồng trọt, ông đi đón hai con gái ở nhà ông bà ngoại chúng về.
Tôi mệt mỏi duỗi chân ra, một tay bám lấy thành xe để khỏi bị văng ra nếu như có chợp đi. Tôi nhìn lên trời. Đã tối hẳn. Sẽ phải dừng lại thôi, vì đi đêm trên đường thì quá nguy hiểm.
"Ở chỗ rẽ tới có khu rừng nhỏ", Diego nói. "Chúng ta có thể nghỉ đêm ở đấy".
Chiếc xe dừng lại trên bãi cỏ. Mèo Bự nhảy xuống và kéo tôi theo. "Nhanh lên, kiếm củi đốt lửa, trước khi các tiểu thư bị cóng".
Tôi ngạc nhiên nhìn hắn. Mèo Bự chẳng bao giờ quan tâm đến ai cả. Chỉ chính hắn ta thôi. "Quơ nhanh lên!" hắn quát.
Tôi bắt đầu lượm củi. Liếc lại, tôi thấy Mèo Bự đang đỡ hai cô bé trên xe xuống. Khi tôi ôm củi trở lại thì ngựa đã được buộc bên góc cây, đang gặm cỏ. "Ông muốn tôi để củi ở đâu ạ?" tôi hỏi.
Ông Moncada ra hiệu chỗ đất trước mặt, nhưng Mèo Bự ngăn lại. "Thưa ông, gần đường cái, lửa ở đây thì lộ quá. Nó có thể là một hấp dẫn đối với các vị khách bất đắc dĩ".
Ông Moncada nghi ngại nhìn Diego. Anh ta gật đầu.
Mèo Bự bước sâu vào trong trảng. "Tôi cho là ở đây thì hơn".
Tôi ném củi xuống chỗ Mèo Bự chỉ. Khi tôi trở lại với một ôm củi nữa thì lửa đã bập bùng. Tôi mệt lử.
"Nữa", Mèo Bự ra lệnh. Hắn chặt mấy cành nhỏ, buộc chụm thành một giá ba chân. Khi tôi trở lại lần nữa thì đã có một chỉếc nồi kim loại đang treo lủng lẳng giữa ba cọc và mùi thịt bò hầm đẫm cả bầu không khí.
"Đủ rồi chứ ạ?"
Mèo Bự ngẩng nhìn tôi, mặt hắn sáng lên trong ánh lửa. "Tạm đủ, dưới chân "đồi có con suối. Xách xô nước lên đây".
Tôi đi đến chiếc xe. Vera, đứa bé, nhìn tôi khúc khích cười. Tôi thấy khó chịu. Lúc nào nó cũng cười khúc khích.
"Cậu cần gì?" Marta, đứa lớn, hỏi.
"Một cái xô đựng nước".
Vera lại khúc khích. Tôi nhìn nó chằm chằm. "Tại sao lúc nào cô cũng cười thế?" nó cười to hơn. Nước mắt giàn giụa trên hai má. "Có gì buồn cười đâu?" Tôi bắt đầu cáu. Lũ con gái ngu xuẩn.
"Trông cậu buồn cười lắm". Tôi nhìn lại mình. "Không phải bây giờ", nó vội nói. "Lúc chiều. Khi ở dưới nước ấy. Cậu còm quá".
Tôi nhăn mặt. "Còn hơn là béo như cô ấy".
"Xô đây", Marta đột ngột nói. Tôi tưởng như có chút giận dữ trong giọng nói ấy.
Tôi cầm lấy chiếc xô trên tay nó. "Cảm ơn".
"Không dám", nó trả lời nhã nhặn không kém.
Vera lại khúc khích cười. "Cô ấy làm sao thế?" tôi hỏi.
Marta nhún vai. "Nó chỉ là đứa con nít. Nó mười hai. Chưa bao giờ nó thấy một đứa con trai trần truồng cả".
"Chị cũng chưa thấy bao giờ!" Vera vặn lại.
Marta hất đầu. "Nhưng tao mười bốn rồi, tao không làm như một đứa con nít về chuyện ấy".
Diego đến phía sau tôi. "Mày đã lấy được xô chưa?" anh ta hỏi một cách ngờ vực.
"Thưa ông rồi ạ".
"Thế mày còn chờ gì? Đi lấy nước như bố mày bảo đi".
Tôi lặng lẽ quay đi, nghe được hắn hỏi hai cô gái. "Nó nói cái gì thế?"
"Không", Marta trả lời.
"Nên tránh xa nó ra".
Mèo Bự đang chờ tôi. "Nhanh lên. Bọn họ càng ăn sớm thì càng ngủ sớm".
"Cậu sẽ làm gì?" tôi hỏi.
"Lấy ngựa. Chúng ta có thể về đến nhà trong vòng hai ngày. Hơn nữa, tớ ưng con hắc mã này quá".
"Không dễ đâu" tôi nói. "Diego không tin chúng ta đâu".
Mèo Bự mỉm cười. "Tớ sẽ giết hắn".
Có tiếng động trong bụi cây phía sau, và Diego từ trong bụi bước ra, súng trường lăm lăm. Chả lẽ hắn không bao giờ rời khẩu súng?
Mèo Bự lau tay vào quần. "Tôi vừa xuống rửa tay".
 
Có tiếng động nào đó trong đêm đánh thức tôi dậy. Tôi lăn đi trong chiếc chăn ông Moncada cho mượn và hé nhìn Mèo Bự. Hắn nằm ngủ, ngáy nhẹ. Tôi quay đầu dõi tìm Diego. Hắn không có trong chăn.
Tôi liếc về phía chiếc xe, nơi ông Moncada và hai con gái đang nằm ngủ. Không có âm thanh gì vọng từ đó. Tôi nằm lặng thinh một lát. Có lẽ Diego đi xả bầu tâm sự.
Tôi lại nghe có tiếng ngựa hí vang và quay đầu lại, kịp thấy Diego lặng lẽ lẻn đến bên chiếc xe, súng đã lên cò, sẵn sàng.
"Suỵt!"
Mèo Bự thức giấc hệt như con vật mà hắn mang tên. Tôi lấy tay ra hiệu. Mèo Bự lặn lại gần. "Hắn tính giết họ!" tôi thì thầm.
Mèo Bự không cử động. "Mặc hắn. Càng đỡ phiền cho ta".
Diego trườn lên phía trước xe, khẩu súng lồng qua vai. Tôi thấy hắn co hai châN lại rồi bật thẳng ra, và một tiếng thét ré lên.
Diego bắn như điên khi ông Moncada bật khỏi thùng xe. Ông cố choảng hắn bằng báng súng và khi cả hai vật lộn với nhau bên thành xe thì Mèo Bự nhào lên, chạy tới họ.
"Súng!" hắn gọi lại tôi. "Lấy khẩu súng!"
Hắn dừng lại bên hai người đang  vật lộn, và tôi thấy một loé sáng trong ánh trăng khi Mèo Bự rút dao ra, bổ xuống. Diego gập người lại như một con dao xếp. Mèo Bự thúc mạnh đầu gối vào ngay dưới ngực Diego, rồi tung người bật trở lại, dao lăm lăm trong tay. Khi Mèo Bự bật dậy thì lưng ông Moncada đang quay về phía hắn. Mèo Bự giơ dao lên nhưng cũng đúng lúc đó ông ta quay lại, súng trong tay.
Mèo Bự buông xuôi tay bên sườn. "Ông bình an chứ ạ?" hắn hỏi, giọng quan tâm.
Ông Moncada nhìn hắn rồi nhìn xuống Diego. "Tên  cướp", ông rủa. "Nó toan giết tôi!".
"Thưa ông, may mà tôi thức giấc".
Ông Moncada mỉm cười. "Tôi mang ơn anh, anh bạn. Anh đã cứu sống tôi".
Mèo Bự nhìn xuống. Lần đầu tiên hắn không biết nói gì. Nhưng một giây sau lưỡi hắn lại dẻo liền. "Thưa ông, có gì đâu ạ. Đấy chỉ là chuyện nhỏ để đáp lại sự hảo tâm của ông thôi".
Hắn bước tới bên Diego, lấy chân hất hắn lại. "Hắn chết rồi. Ông thuê thứ người này ở đâu ạ?"
"Ở Bandaya. Người ta bảo là vùng núi có bọn cướp, đi một mình với hai đứa con gái nhỏ không an toàn. Đại tá Guiterrez đã giới thiệu Diego. Hắn từng làm trinh sát trong quân đội".
Mèo Bự nói thẳng thừng. "Hắn toan giết ông rồi cướp ngựa của ông . Hắn ắt phải thèm con hắc mã của ông lắm".
"Con hắc mã?" ông Moncada ngạc nhiên. "Nó không phải của tôi. Ngựa của hắn đấy".
Đôi lông mày của Mèo Bự dướn lên. "Vậy ạ?"
Ông Moncada gật đầu. "Chiếu theo pháp luật, bây giờ nó là của anh".
Mèo Bự nhìn tôi. Hắn mỉm cười. Đây là lần đầu tiên có một đạo luật nào đó lại ủng hộ hắn. Tất cả những gì của tên cướp sẽ đương nhiên thuộc về hắn nếu như hắn giết tên cướp.
"Bố có việc gì không?" Từ trong xe một giọng nói sợ hãi gọi ra.
Tôi quên khuấy hai đứa con gái. Marta rụt rè thò mặt ra bên thành xe.
"Chúng ta thoát rồi!" ông Moncada xúc động kêu lên. "Đội ơn Chúa, chúng ta đã thoát chết! Con người tử tế này, chẳng nề chính tính mạng của mình, đã bảo vệ chúng ta trước kẻ ám hại này."
Một lát sau, hai đứa con gái trèo qua thành xe leo xuống. Chúng ôm lấy cha mà hôn, mà khóc một cách sung sướng. Cuối cùng, ông Moncada quay về phía chúng tôi, mặt rạng rỡ. "Giờ thì tôi hiểu tại sao Diego lại không muốn bố con anh đi cùng  chúng tôi!"
"Thưa ông, cũng là may mắn cho tất cả chúng ta", Mèo Bự trả lời. Hắn quay nhìn tôi rồi nói với giọng của một người có tài sản. "Ra xem ngựa của chúng ta có buộc cẩn thận không?"
0
Chương 14
Tôi vừa đổ  xong bao cuối cùng vào thùng thịt bò thì chợt nhận ra hai đứa con gái cũng ở trong nhà kho và đang nhìn tôi. Tôi đặt nắp thùng lên và bắt đầu đóng đinh. Marta nói "Mai cậu về?"
Đấy là lời tuyên bố hơn là một câu hỏi. Tôi lắc đầu. Chúng tôi đã ở lại trang trại của họ đến gần một tuần. Ông Moncada không muốn một mình đi tiếp chặng đường và tôi cũng biết Mèo Bự đã đồng ý hộ tống ông. Nhất là sau khi hắn được biết nhà chăn nuôi tốt bụng có cả một đàn gia súc và sẽ tặng để đền ơn chúng tôi bốn thùng thịt bò muối tươi và cho mượn cả một chiếc xe để chở.
Tất nhiên như vậy có nghĩa là Mèo Bự phải ký cược lại con hắc mã cho đến khi chúng tôi trả lại chiếc xe. Vậy là hợp đồng đã được ký kết và chúng tôi tiếp tục rong ruổi về Estanza.
Tất cả đã đêm ngày muối thịt bò để chuẩn bị cho chuyến đi. Tôi đóng chiếc đinh sau chót rồi nói. "Vâng, mai chúng tôi đi".
"Cậu bao nhiêu tuổi nhỉ?" Vera hỏi.
"Mười ba" tôi trả lời, biết là nó mười hai.
"Không phải", Marta khinh thường nói. "Tớ nghe bố cậu bảo với bố tớ là cậu mới lên mười".
"Cậu có anh chị em không?" Vera hỏi.
Tôi lắc đầu. Giờ tôi đã làm xong việc và bắt đầu cảm thấy lạnh trong căn nhà kho âm u. Tôi lấy áo mặc vào.
"Cậu còm hom" Vera nói. "Xương cậu cứ lòi cả ra". Nó lại khúc khích cười. Tôi nhìn nó khinh bỉ.
"Đừng để ý đến nó" Marta nói. "Bao giờ nó cũng cố tìm xem một đứa con trai thì có cái gì".
"Chị cũng thế! Chính chị đã theo Diego khi hắn đi xả vòi".
"Thì mày đã bảo tao chỗ hắn đi!" Marta đốp lại. Nó nhún vai. "Thằng cha khủng khiếp!"
"Khi đó thì chị có nghĩ thế đâu. Chị bảo là của nó to hơn của bố!"
Giờ thì tôi hiểu. Marta hạ giọng thành lời thì thầm đầy âm mưu. "Hắn thấy bọn tớ nhìn hắn. Cậu có biết hắn làm  gì không?"
Tôi lắc đầu.
"Hắn tiến tới chỗ bọn tớ nấp. Tay hắn cầm cái ấy, và xoa xoa bóp bóp. Trong một phút, nó lớn lên gấp ba lần!"
Giờ thì tôi bắt đầu thấy thú vị. "Rồi sau thì sao?"
Giọng Marta gợn chút thất vọng. "Chẳng sao sất. Bố đi đến, thế là té chạy về xe".
Tôi  cũng thất vọng. Tôi muốn biết cái gì sẽ xảy ra sau đó.
"Cách gì thì tớ cũng chẳng ưa Diego", Vera nói thêm. "Hắn sẽ giết bọn mình sau khi giết bố".
"Trước hết hắn sẽ hiếp các cô", tôi nói giọng thành thạo.
Câu nói làm cho hai đứa xúc động. "Sao cậu biết?"
"Bao giờ người ta cũng hiếp bọn con gái trước khi giết chúng".
"Tại sao?" Marta hỏi.
Tôi nhún vai. "Biết sao được? nhưng sự thể là như vậy đấy".
Vera tò mò nhìn tôi. "Cậu biết nhiều thứ lắm phải không?"
"Cũng đủ" tôi trịnh trọng trả lời.
"Cậu có thể làm cái của cậu cũng cứng như của Diego đã làm?"
"Quá dễ. Bất cứ người đàn ông nào cũng làm được".
"Tớ thề là cậu thì không", Marta nói. "Cậu còn bé quá".
"Tớ không hề bé!" tôi cáu sườn.
Hai chị em nhìn nhau, mặt kích động đến lạ. "Thế thì chứng minh đi", Marta nói, giọng bí ẩn.
"Tại sao tớ phải làm? Tớ không khoái thì sao?"
"Cậu quá bé", Marta trả lời. "Cậu sợ cậu không thể làm nổi!"
"Tớ có thể làm được! Tớ sẽ chứng minh cho mà xem".
Mắt hai đứa dõi theo khi tôi mở khuy quần. Tôi lôi chim ra và mân mê nó như đã thấy Roberto làm. Chẳng có gì xảy ra cả.
"Có thể cậu làm nhanh quá" Marta thì thầm. "Diego làm chậm hơn nhiều".
Tôi ngỡ ngàng. Biết đâu nó lại hiểu về chuyện này hơn cả tôi .
Nó thấy tôi ngần ngừ. "Đây", nó thò tay ra, "để tớ chỉ cho cậu".
Tay nó nóng và ẩm. Tôi thấy râm ran khắp người. Tôi nhìn cả hai đứa. Chúng chẳng hề ngước mắt lên. Lần đầu tiên không thấy Vera cười khúc khích.
Bắt đầu cảm thấy co thắt ở nơi háng, tôi nhìn xuống và bừng bừng kiêu hãnh. Con chim gõ kiến của tôi cứng ngắc. Nó không to như tôi tưởng, nhưng rất cứng. "Tôi đã bảo các cô là tôi có thể được. Nên thôi đi thì hơn, nếu không tôi sẽ hiếp các cô đấy".
"Cậu chẳng dám đâu!" Marta thì thầm.
"Không à? Tốt nhất là cá cô xéo khỏi đây nhanh lên".
Chúng không động đậy, mắt vẫn dán vào con gõ kiến của tôi.
"Cậu định hiếp ai trước?" Marta thấp giọng hỏi.
"Ai thì cũng thế , nhưng tốt hơn hết là các cô đi đi, thế thôi".
Hai chị em nhìn nhau. "Chị lớn tuổi hơn", Vera nói.
Tôi chẳng hề nghĩ đến cảnh ngộ này. "Các cô có đi đi không?" Tôi lên giọng hăm doạ, hỏi.
Marta nhìn tôi. "Được rồi. Cậu có thể làm tớ trước".
"Có lẽ chẳng thích đâu. Cô đi đi thì hơn".
Marta vén váy lên. "Cậu có làm hay không?" nó sốt ruột. Cặp mắt ánh lên sự chờ đợi đầy thách thức.
"Gì thế này?"
Tôi ngẩng đầu lên. Mèo Bự đang đứng ở ngay cửa, mặt đầy ngờ vực, còn Vera thì đã biến mất. Hắn bước đến, bàn tay quặp lấy cả nửa đầu tôi. "Đây là cách mày trả ơn sự hiếu khách của chủ nhà ư?"
Marta đã chạy về phía cửa. Tôi quay lại Mèo Bự. Hắn đã hết cáu và nở một nụ cười rạng rỡ. "Cậu nên  cài khuy quần lại".
Tôi nhìn xuống ngượng ngập. Hắn xoa đầu tôi thật thân ái. "Tớ cũng đã nghĩ chẳng mấy chốc là hai con bướm nhỏ này sẽ bâu lấy cậu", hắn lại cười. "Phải lo xe cộ sẵn sàng để mai đi sớm".
Hắn đi về phía tàu ngựa. Đến cửa, hắn quay lại nhìn tôi, đọc thấy biểu hiện ngỡ ngàng trên mặt tôi. "Đừng có ngạc nhiên. Tớ đã bảo là chẳng bao lâu cậu sẽ trở thành người đàn ông mà".
0
Chương 15
Một phát súng vang lên và trước khi âm thanh của nó hết dội lại trong tai, tôi đã lăn vào và nằm dán xuống sàn xe. Một phát nữa, và Mèo Bự đã dán bụng xuống lòng mương bên đường. Rồi hắn đứng lên, mình đẫm bùn, vung nắm đấm một cách cáu bẳn về phía chân núi và hét "Santiago! Thằng mù đần độn! Con lừa ngu xuẩn núp dưới đít mẹ! Mày không thấy tao, đồng chí của mày đây hả?"
Chíu! Một viên đạn xới tung bụi ngay mũi giày Mèo Bự và hắn tụt lại xuống mương. Lần này hắn không dậy nữa cứ nằm đầm bụng trong nước mà la. "Đồ con lừa! Thằng chó Anh-điêng! Tao đây, Mèo Bự đây!"
"Mèo Bự à?" giọng Santiago Lớn dội xuống sườn núi.
"Phải, Mèo Bự. Mày là con khỉ già mù! Mèo Bự đây!"
Có tiếng sột soạt trong bụi và Santiago Lớn xuất hiện ngay bên bờ mương. Mèo Bự đứng lên, nước rỏ ròng ròng từ vành mũ xuống mặt, và hắn cứ thổi phì phì.
"Mèo Bự, thật cậu đấy à?" Santiago Lớn quẳng súng, ôm chầm lấy người bạn. "Cậu vẫn sống!"
"Tớ đang sống đây, cám ơn cậu!" Mèo Bự cố vùng vẫy khỏi vòng tay người Anh-điêng. "Thôi, để tớ yên!"
"Bọn tớ cứ tưởng cậu đã chết" Anh ta lùi lại như để ngắm Mèo Bự. "Cậu còn sống và an toàn. Chẳng một vết xước nào".
Mèo Bự nhìn xuống mình. Bộ quần áo mới toanh mà ông Moncada cho hắn sũng đầy bùn. "Không một vết xước". Hắn rống lên, phóng ra một cú đấm. Santiago ngã ngửa ra. Anh ta nhìn Mèo Bự với một biểu hiện đầy thương tổn trên bộ mặt vốn vô cảm của mình. "Mèo Bự, tại sao cậu lại cáu tớ? Tớ đã làm gì nào?"
"Cậu đã làm gì à?" Mèo Bự gầm lên. "Nhìn cái sơmi mới của tớ đi. Nhìn cái quần mới của tớ đi. Tiêu rồi! Cậu đã làm đấy!"
Manuelo xuất hiện. Anh ta liếc người Anh-điêng vẫn đang nằm trên đất rồi nhìn xuống Mèo Bự. Một thoáng sau, anh ta nói với giọng bằng phẳng, vô cảm. "Có lẽ sua cái trò trẻ nít này, cậu sẽ cho chúng tớ biết cậu có cái gì ở trong xe chứ?"
Chúng tôi rời núi đi Bandaya mới chỉ có mười hai ngày mà cứ như đã cả năm trời. Về trại, mọi người bâu quanh và xem chúng tôi như những anh hùng. Mọi người như không thể đợi cho đến khi chiếc thùng đầu tiên được mở ra, và đám phụ nữ cuống quýt đem thịt bỏ vào nồi. Bởi vì hầu như suốt thời gian qua mọi người sống bằng rễ cây và chơi trò ú tim. Sau đó thì cũng chẳng hơn gì, vì hạn hán và trò ú tim phổ biến khắp vùng sơn cước.
Cả thảy có tám đàn ông, bốn đàn bà và bốn trẻ con trong căn trại nhỏ ở vùng sơn cước này, mà Diablo Rojo dùng làm đại bản doanh, kiêm nơi ẩn náu của mình. Ba người đàn bà và ba đứa trẻ thuộc về ông ta. Người đàn bà và đứa trẻ còn lại thuộc về Manuelo.
Ba đứa con của vị tướng đều có mẹ riêng của chúng. Roberto, đứa lớn nhất, và là bạn tôi, mang mầu da nâu. Rất có thể nó mang dòng máu Anh-điêng vì mẹ nó có quan hệ xa của dòng họ Santiago. Eduardo, đứa con trai thứ hai, giống vị tướng hơn cả, mặc dù vẫn có thân hình thô kệch vì dòng máu pha của nó. Chỉ Amparo, đứa con gái út là trắng trẻo, tóc vàng với thân hình thon thả và cặp mắt sáng, sống động. Cặp mắt luôn long lanh với một hưng phấn nội tâm nào đó. Rõ ràng con bé nằm trong sự yêu chiều của vị tướng, cũng giống như mẹ nó vậy.
Mẹ Amparo có thân hình thon thả với bộ tóc vàng óng, không giống như hai bà kia, cả hai đều da nâu và vừa lùn vừa mập. Cả hai đều ghen đến tận cổ nhưng đều không dám hở lời khích bác. Bà ở đâu đó dưới miền duyên hải và người ta bảo rằng vị tướng đã tìm thấy bà trong một nhà kho ở dưới đó, nhưng bà thì xưng là co ngái của một người đàn ông đáng kính xứ Castil bị phá sản và người đàn bà Đức di tản. Dù sao thì ba cũng ứng xử như một mệnh phụ phu nhân và hai người đàn bà kia phải nấu nướng và phục dịch bà như những người hầu kẻ hạ.
Khi vị tướng vắng nhà, bà dành hầu hết thời gian để chơi với Amparo, cứ mặc quần áo cho nó rồi lại cởi ra, như thể với búp bê vậy. Điều này, cộng với sự sủng ái của vị tướng và sự ái mộ của tất cả những người đàn ông khác trong trại, đã đủ để làm hư hỏng hoàn toàn con bé. Là đứa trẻ lên bảy, nó vừa hỗn vừa dễ hờn khi không có được thứ nó muốn.
Giờ thì Amparo, trong bộ đồ trắng xinh xắn, đang đứng cạnh chiếc xe khi tôi bước xuống. "Người ta bảo mình là cậu đã chết", nó tuyên bố với một giọng khá buồn rầu.
"Ừ, nhưng mà không".
"Mình đã đọc lời cầu nguyện cho cậu, mẹ cũng hứa là mọi người có thể cầu nguyện khi đến nhà thờ".
Tôi nhìn nó. Chúng tôi cùng là trẻ con với nhau, nhưng giờ đây bỗng tôi cảm thấy như nó dừng lại ở một đứa con nít. "Xin lỗi. Nếu biết thì tôi đã tự để cho mình bị giết rồi".
Một nụ cười bất thần rạng rỡ trên mặt nó. "Thật không, Dax? Cậu có thể làm như vậy với mình chứ?"
"Tất nhiên", tôi nói, giễu nó.
Nó ôm  choàng và hôn lên má tôi. "Ôi Dax", nó kêu lên. "Cậu chính là người mình thích nhất! Mình mừng vì cậu không bị giết".
Tôi đẩy ra. Nó nhìn tôi, bừng bừng. "Mình quyết định rồi".
"Làm gì?" tôi hỏi.
"Lớn lên, mình sẽ lấy cậu", nó chạy đi. "Mình sẽ nói với mẹ là mình đã quyết định".
Tôi nhìn cho đến khi nó vào nhà. Trước hôm tôi di chuyển vừa rồi, nó đã từng nổi cơn tam bành vì đã quyết định lấy Manuelo và mẹ nó bảo rằng không thể, vì Manuelo đã có người đàn bà khác rồi. Còn trước đó chỉ vài tuần thì là chuyện tương tự với gã liên lạc trẻ mang những tin tức mới nhất từ chỗ vị tướng về.
Tôi nghe thấy ở phía bên kia, Mèo Bự đang khoác lác về con hắc mã. Rồi tôi thấy Roberto và Eduardo đứng ngay bên. "Chào!"
Eduardo chào lại ngay. Nó chỉ ít hơn tôi vài tháng nhưng bé và gầy hơn tôi nhiều. Còn Roberto chỉ rầu rĩ nhìn tôi. Mặt nó tái mét, mắt nó vàng ệch. "Cậu sao thế?" tôi hỏi.
Eduardo nói trước khi thằng em cất lời. "Nó vừa ăn đòn".
"Một trận đòn? Sao thế?"
Roberto vẫn im lặng. Eduardo nhún vai. "Tớ không biết. Anh em nhà Santiago và cả Manuelo nữa. Vợ Manuelo điên hắn lắm".
"Eduardo!" Mẹ nó gọi từ trong nhà.
"Tớ đi đây".
Tôi lặng lẽ tháo ngựa. Roberto đứng nhìn. Tôi ném cho nó một nắm giây cương. "Giúp tớ đưa chúng vào hàng rào".
Chúng tôi dẫn bọn ngựa đi. Tôi mở cánh cửa và đẩy chúng vào trong. Chúng bắt đầu gặm cỏ, ở góc xa, với những con khác. Những con ngựa nhà trễ nải nhìn những kẻ mới đến bằng nửa con mắt.
"Nhìn kìa", tôi nói. "Chúng vờ như chẳng nhìn thấy nhau. Song mai là thành bạn với nhau ngay. Ngựa cũng như người ấy mà".
"Ngựa không bị nổ ống khói". Roberto rầu rĩ nói.
"Không? Làm sao mà cậu bị?"
Nó nhổ toẹt xuống đất. "Từ bọn phò. Bị tất. Vợ Manuelo đang nổi cơn tam bành với hắn".
"Bị lậu thì tệ lắm hả?" Tôi hỏi.
Nó lắc đầu. "Không tệ lắm. Nhưng đau khi cậu đi tè".
"Nhưng làm sao mà bị chứ?"
"Cậu ngốc lắm! Là do con gõ kiến của cậu gõ phải cái chỗ chứa bệnh. Manuelo bảo cậu không phải là một người đàn ông, cho đến khi cậu bị nổ ống khói!"
"Tớ đã có một đàn bà".
"Thật à?" Roberto nói, giọng nghi ngờ.
Tôi gật đầu. "Marta, con gái ông Moncada. Ở chỗ bọn mình lấy thịt ấy. Tớ đè nó ở trong chuồng ngựa".
"Có vào không?"
Tôi không hoàn toàn hiểu nó nói vậy là nghĩa gì. "Tớ nghĩ thế. Dù sao thì tớ cũng chẳng để ý. Tớ quá bận bịu. Tớ có thể hiếp nó nếu như Mèo Bự không lôi tớ dậy".
Nó nhìn tôi chằm chằm. "Nó bao nhiêu tuổi?"
"Mười bốn. Cậu cho là tớ có bị nổ không?"
Nó lắc đầu. "Không đâu, nó chỉ là đứa con nít. Một mụ đàn bà mới làm nổ ống khói của cậu được. Mèo Bự có bị không?"
"Tớ không biết. Hắn không nói".
"Có thể hắn may mắn. Có thể hắn không dính".
Nó bỏ đi và tôi đi theo, không hiểu. Nếu như anh sẽ không phải là một người đàn ông cho đến khi anh dính điều đó, thì làm sao anh có thể coi là may mắn như như anh không dính nó?
0
Chương 16
Mặt Mèo Bự sưng sỉa khi tôi theo hắn ra bốt tiền tiêu. "Cậu có biết cậu đang đi đâu không?"
"Xem xét loanh quanh thôi". Tôi trả lời một cách ngây thơ.
"Thì cứ xem, nhưng tại sao cậu cứ phải lẳng nhẳng như cái đuôi mỗi khi tớ đi? Thế nào cũng có ngày tớ vấp phải cậu và rồi cậu sẽ bẹp dí như con bọ ấy".
Tôi không đáp, cứ theo sau ở một khoảng cách an toàn, và cáu kỉnh đá tung những hòn sỏi. Tôi không muốn bị nghiền như một con bọ. Mèo Bự cứ như thế suốt tuần, kể từ khi Manuelo không cho hắn trở lại lấy con hắc mã. "Quá thiếu người", Manuelo bảo thế.
Thường thì mười người gác nơi ẩn náu. Nhưng hai người đã chết. Một bị tay thượng sĩ quân đội giết, còn người kia bị giết trước khi chúng tôi đi lấy thịt. Hắn say xỉn và đã toan hiếp một trong những người đàn bà của tướng quân. Tôi nghĩ đấy là mẹ của Amparo, nhưng không chắc lắm. Tất cả những gì tôi nghe được là một tiếng thét, rồi hai phát súng. Khi tôi đến đấy thì hắn đã chết.
Santiago Bé đang canh gác. "Đến giờ rồi", hắn lầu bầu.
"Tớ chết đói rồi đây".
"Điều tốt nhất đối với nổ ống khói" Mèo Bự nói một cách ranh mãnh "là một cái bao tử rỗng đấy".
Người trẻ tuổi lườm hắn. "Thế thì tớ khuyên cậu kiêng cữ đi. Cậu mà ăn nữa thì chẳng có con ngựa nào khiêng nổi cậu đâu".
"Ồ!" Mèo Bự đốp lại. "Con hắc mã của tớ có thể khiêng tớ kể cả khi tớ nặng gấp năm lần bây giờ".
"Tớ chẳng tin là có con hắc mã nào cả" Người trẻ tuổi nói một cách nghiệt ngã khi hắn bước xuống đồi.
"Là vì cậu ghen tị đó thôi". Mèo Bự la lên phía sau hắn. "Dax đã cùng đi với tớ. Dax thấy nó rồi, phải không?"
"Đúng, tôi thấy nó rồi".
Nhưng Santiago đã khuất dưới chân đồi.
"Nó là một con ngựa ô hết xẩy, phải không Dax?"
"Một con ngựa tuyệt trần!"
Mèo Bự ngồi xuống lẩm bẩm "Manuelo chẳng hiểu được sở hữu một con vật tuyệt trần như vậy nghĩa là thế nào. Nó chẳng bao giờ có một con ngựa thì làm sao nó hiểu được?"
Tôi không trả lời. Hắn tiếp tục. "Cậu tưởng là tớ đã hỏi mượn vợ nó à? Cũng chẳng phải vì mụ ấy không khoái, mà là cái cách của thằng cha ấy. Cậu phải ở lại đây, nó bảo thế. Chúng ta ta quá ít ngườ.i" hắn nhún vai. "Bọn họ có thể làm được cái quái gì nếu như chúng mình không trở về? tớ chẳng tội gì phải ở đây để bị thằng Manuelo từ chối một đề nghị hợp tình hợp lý như vậy. Chúng nó sẽ chết đói, chỉ có mà ăn thịt chuột với cứt thỏ và táo dại".
Tôi vẫn im lặng. Nhưng Mèo Bự như chẳng quan tâm đến việc tôi có nói hay không, tiếp tục "Sau tất cả những gì tớ đã làm cho bọn nó, mà bọn nó dám có gan nghi ngờ rằng tớ không có nổi con vật tuyệt vời đó", hắn đặt khẩu súng trường xuống, châm điếu thuốc. "Điều đó vượt quá sức chịu đựng của một người đàn ông".
Tôi nhìn luồng khói hắn phả ra rồi nhìn quanh. Những triền đồi thật thanh bình. Sương chiều đã buông từ bao giờ. "Chào Gato Gordo", tôi nói và bước xuống đồi.
Bước đến khúc quanh, tôi ngoái lại. Hắn vẫn ngồi đấy, với hai luồng khói lặng lẽ uốn lượn từ hai lỗ mũi. Xuống được nửa đường, tôi chợt nghe tiếng kêu của một con gà tây rừng. Ngay tức khắc, nước miếng tôi chảy ra. Đã từ lâu lắm rồi tôi không được ăn món này. Tôi đã phát ớn cái món thịt muối muôn thuở.
"Cục ta cục tác…" tôi kêu lên.
Nó đáp lại, nhưng âm thanh phát ra từ đâu đó xa lắm, ở bên trái tôi. Tôi chui vào trong bụi rậm, lại kêu nữa. Nó trả lời. Nhưng nó như càng xa khỏi tôi. Khi tôi đuổi kịp nó thì trời đã nhá nhem.
Tôi không biết nó hay là tôi ngạc nhiên hơn khi đầu con gà rừng nhô lên khỏi bụi cây ngay trước mũi tôi .
Trong một thoáng, hai bên nhìn nhau một cách nghi hoặc, rồi con chim khổng lồ nhoai cổ ra lao vào rừng. Nhưng nó không đến đích, bởi nhanh hơn, tôi đã vung dao phạt băng đầu nó.
Tôi cảm thấy dòng máu nóng phun vào ngực áo khi cái thân hình không đầu chạy ngang rồi dãy đành đạch trên đất. Phải đến mươi phút sau nó mới chảy hết máu và nằm lịm. Khi tôi vắt con chim khổng lồ trên vai, để cổ nó lủng lẳng sau lưng thì trời đã tối hẳn.
Manuelo đang đứng gần tàu ngựa khi tôi đi vào. "Cậu đi đâu đấy?" hắn cáu kỉnh. "Cậu biết sẩm tối là phải về chứ".
Tôi lẳng con gà tây dưới chân hắn. "Lạy Chúa tôi", hắn thốt lên. "Cậu lấy đâu ra thế?"
"Tôi nghe thấy nó kêu khi tôi đang xuống núi".
Manuelo nhấc con chim lớn lên, ước lượng. "Ít nhất là mười lăm ký. Estrella, ra xem Dax mang cái gì về này! Mai mở tiệc!".
Nhưng không có bữa tiệc nào cả vì đêm đó cánh quân đội đã ập đến.
 
Vài giờ đồng hồ trước bình minh, tôi nghe thấy tiếng súng đầu tiên. Lăn khỏi giường, tôi vớ lấy đôi giầy, và lấy con dao dưới gối.
Từ đâu đó trong nhà, vang lên tiếng thét của một người đàn bà. Tôi không ra phía cửa mà quay lại, lao thẳng qua cửa sổ ra sân, ngay khi ngôi nhà nổ tung sau lưng.
Tgty những chớp loé sau họng súng và nghe tiếng la thét hỗn độn khi bò lồm cồm rồi vụt chạy vào bìa rừng, nhẩy qua các bụi cây lúp xúp, cuối cùng lăn  xuống một con mương. Tôi lấy hơi rồi cẩn trọng nhô đầu lên.
Tất cả những gì tôi thấy trong ánh lửa là những bộ quân phục xanh, đỏ. Manuelo và Santiago Lớn chạy ngang chái nhà, và chớp loé từ họng súng trường của họ. Một tên lính ngã xuống, tên khác thì rống lên, tay ôm bụng. Có một tên đuổi theo và ném một cái gì đó vào Manuelo mà nó cứ quay vòng ở trên không.
"Manuelo!" tôi thét lên. "Cẩn thận!"
Nhưng chẳng ai nghe tôi cả. Manuelo đứng sững một thoáng, rồi nổ tung thành ngàn mảnh. Giờ thì hai tên lính đang đuổi theo Santiago Lớn. Khẩu súng trường của hắn hết đạn và hắn dùng nó như một ngọn giáo, xông vào hết tên nọ đến tên kia. Rồi tai tôi nghe tiếng thét của hắn khi một lưỡi lê xuyên qua cổ và một lưỡi lê xuyên ngang thắt lưng, từ phía sau hắn.
Tôi cúi rạp, chạy dọc lòng mương, tới trước nhà. Khi chạm lối mòn đến bốt tiền tiêu, tôi nghe một tiếng ré đinh tai và thấy Amparo chạy ngang, bộ đồ ngủ trắng kéo lê theo sau. Tôi túm được chân nó, và trước khi nó kịp ré lên, tôi đã bịt miệng và lôi nó xuống lòng mương. Tôi cúi sát mặt nó. "Im lặng! Dax đây!"
Nỗi sợ hãi dịu đi trong mắt và nó gật đầu. Tôi nhấc tay khỏi mồm nó. "Nằm yên đấy! Tôi đi xem tình hình ra sao".
Tôi nhô đầu lên. Santiago Bé nằm chết cứng, cách tôi không quá một mét, mắt mở trừng trừng nhìn tôi. Những người khác chết đây đó quanh nhà. Bọn lính vẫn còn ở đấy. Một người đàn bà, quần áo đang bốc  cháy, vừa chạy ra khỏi nhà vừa la thét thê thảm. Eduardo chạy theo, kêu lên "Mẹ! Mẹ ơi!"
Một loạt đạn nổ, người đàn bà ngã dập xuống đất. Eduardo ngã đè lên bà. Một tên lính chạy về phía họ, dùng lưỡi lê xục mãi vào hai thân hình đang bốc lửa.
Một bóng nhỏ lao ra khỏi nhà, hai tay vung con dao bầu lấp loáng trong ánh lửa. Đấy là Roberto, và tướng quân chắc phải kiêu hãnh vì nó. Không một thoáng sợ hãi trên mặt, không có gì ngoài căm thù, khi nó vừa thét vừa lao tới một tên lính.
Hoàn toàn bất ngờ, tên lính bỏ chạy. Nhưng đã quá muộn. Con dao bầu phóng xuống và bỗng một cánh tay tên lính như rời khỏi vai, ngay khi một loạt đạn nổ từ phía sau. Roberto như treo trong không trung một thoáng rồi ngã vật ngửa xuống đất, ngay cạnh thi thể đứa em trai nó, và bà mẹ của đứa em này.
Giờ chỉ còn tiếng lách cách, rào rào của lửa cháy. Rồi tôi nghe tiếng đàn bà kêu khóc. Ba phụ nữ bị dồn vào một góc nhà. Bọn lính quây quanh họ. Tôi thấy mẹ Amparo đứng giữa, như cố gắng đỡ mẹ Roberto. Người đàn bà của Manuelo xuất hiện với bộ mặt lạnh băng, vượt mọi xúc cảm.
Một viên sĩ quan bước tới. Tôi không thấy mặt hắn, nhưng tôi biết hắn ngay khi hắn mở miệng. Cho đến chết, tôi không thể quên cái giọng đó. "Chúng chết cả chứ?"
"Vâng, thưa đại tá. Tất cả, trừ bọn đàn bà này".
Viên đại tá gật đầu."Tốt. Muốn làm gì bọn chúng thì làm. Nhưng nhớ là tất cả phải chết trước khi chúng ta rút đi. Ta đã thề là không một đứa phản bội nào sống sót!"
"Vâng, thưa đại tá".
Viên đại tá vừa khuất sau chái nhà những người đàn bà đã bị lột trần truồng và nằm dạng háng trên mặt đất, còn bọn lính thì đã xếp thành ba hàng dọc trước họ. Tôi cảm thấy một cử động bên  cạnh và quay lại. Đấy là Amparo, mắt nó mở thô lố. "Chúng làm cái gì thế?"
Tôi biết bọn lính làm gì. Hiếp và giết. Sự thể chỉ có thế. Nhưng bỗng tôi hiểu ra rằng để cho nó nhìn cảnh này cũng chẳng lợi lộc gì. Nó chỉ là một đứa con nít. Làm sao bắt nó hiểu ra cảnh đàn ông làm những gì trong chiến cuộc?
Tôi lôi nó xuống lòng mương. "Không sao", tôi thì thầm, và kéo nó theo sau, tới lối mòn ra bốt tiền tiêu. Nhưng bốt tiền tiêu đã hoang tàn. Không có Mèo Bự ở đấy. Bỗng tôi biết hắn đi đâu. Chỉ có thể đến Estanza lấy con hắc mã.
Tôi xuống sườn núi bên kia, về hướng Nam. Cả một vùng âm u và hoang vắng. Nếu đi nhanh, chúng tôi có thể đuổi kịp hắn. Đêm bắt đầu tàn, ngày bắt đầu xuất hiện bên vai tôi. Đất rừng còn thấm đẫm sương giá ban mai.
"Mình lạnh quá", Amparo run rẩy trong bộ đồ ngủ mỏng tang.
Tôi biết điều phải làm. Mèo Bự đã dậy. Tôi cởi chiếc áo khoác Anh-điêng dày cộp ra và choàng lên vai Amparo. Chiếc áo trùm đến tận bụng chân con bé. Rồi tôi tháo giầy ra, bắt nó đi vào đôi chân để trần của mình.
"Giờ tiếp tục đi", tôi nói với tất cả cố gắng để nó vững dạ. "Sẽ nghỉ khi mặt trời mọc và sưởi ấm chúng ta".
0
Chương 17
Xuống núi chưa được một phần tư đường thì tôi nghe thấy nhiều giọng đàn ông rì rào phía sau. Tôi nắm cánh tay Amparo và rúc vội vào một bụi cây. Vừa kịp.
Bốn tên lính, tay lăm lăm súng trường ,xuất hiện gần như ngay trước mũi chúng tôi. "Thôi!" một tên nói, buông mình xuống đất. "Đủ rồi. Tớ không thể đi thêm nữa đâu".
Những tên khác đứng quanh, nhìn hắn. Một tên nói "Nhưng ông đại tá bảo phải kiểm tra hết con đường mòn xuống núi cơ mà".
Tên ngồi dưới đất nhìn lên. "Thế ông đại tá có đi cùng chúng ta không? Không, ông ta đang tuý luý ở dưới kia, trong khi mình thì hết hơi giữa đám rừng rú chết tiệt này. Cha ông đại tá!".
Một tên khác thụp xuống. "Nghỉ lát đã. Mà ai biết cơ chứ?"
Tất cả làm theo. Lát sau, một tên bỗng hỏi. "Cậu chơi ả nào?"
Tên lính đầu tiên giọng khoác lác. "Tớ chơi tất. Ngay sau khi xả vào một ả, tớ lại xếp vào hàng khác".
Tên lính kia lắc đầu. "Thảo nào, cậu rũ ra như cái dẻ khoai".
"Còn cậu, làm đứa nào?"
"Cái con điên loạn ấy. Tớ không hiểu vì sao nó lại nhặng xị lên thế. Lỗ của nó to đến mức cả con ngựa chui lọt. Tớ thậm chí chẳng thấy bến bờ đâu cả".
"Con ấy đâu có hay", một tên khác gật gù.
Tên lính đầu tiên ngoác mồm cười. "Con tóc vàng là số một. Rõ ràng là nó chơi thường xuyên. Nó dướn lên đúng lúc cậu phóng vào và…rẹt, xong. Nếu không quá đông thì tớ đã cho nó cái nữa. Lần sau thì ả không thể xong xuôi một cách nhẹ nhàng thế đâu". Hắn với chiếc bình toong. "Tớ khát quá. Người có bao nhiêu nước đã bị rút cạn cả". Hắn tu bình toong, nước tràn khỏi mép.
"Mình cũng khát", Amparo thì thầm.
"Suỵt!"
Ngay lúc đó, một tên lính đứng lên. "Có lẽ mình đi thôi".
"Để làm gì?" tên lính đầu tiên hỏi. "Chắng có ai dưới ấy sất".
"Nhưng ông đại tá đã ra lệnh cần phải kiểm tra cả con đường".
Tên lính đầu tiên cả cười. "Có nghĩa là chúng mình phải xuống đến chân núi rồi lộn lại lên đỉnh?" hắn liếc mặt trời. "Chúng mình có thể nghỉ ở đây đến trưa, rồi về báo cáo. Ai biết được?"
" Tớ chẳng biết đâu".
"O.K. Thì cậu cứ đi đi. Chúng tớ sẽ ở đây đợi cậu trở lại."
Tên kia ngồi phịch xuống. "Cậu nói đúng. Ai mà biết được?"
Amparo đã ngủ say tít.
Bọn lính cũng ngả xuống trong những tư thế thoải mái và bắt đầu nhắm mắt.
Giá mà tôi  cũng được nghỉ ngơi thì tốt bao nhiêu. Nhưng tôi không dám. Tôi phải cố không cho mắt díp xuống. Mặt trời leo lên cao, và ngày đã bắt đầu ấm áp.
Tôi cố giương mắt lên, nhưng đầu cứ gật lia lịa. Rồi có lẽ tôi đã thiếp đi, chỉ tỉnh dậy khi bỗng nghe thấy tiếng ồn ào.
Bọn lính đang lố nhố. Một tên nói. "Đủ muộn rồi đấy. Về thôi".
 
Tôi nhìn bọn chúng đi ngược lên núi cho đến khi khuất sau chỗ rẽ. Amparo vẫn đang say giấc nồng. Tôi nhẹ nhàng lay. "Mình đói", nó vừa dụi mắt vừa nói.
"Chúng ta sẽ ăn ngay thôi".
"Về nhà đi. Mẹ hứa với mình là sẽ ăn tối với con gà tây cậu giết hôm qua ấy".
"Chúng ta không thể. Bọn lính vẫn còn ở đấy".
Cơn ngái ngủ biến khỏi khi ký ức dội lại trong nó. Bỗng nó khóc. "Mẹ ơi! Mẹ ơi!"
"Im ngay!" tôi nói một cách thô bạo.
"Rồi mình có gặp mẹ không?"
"Tất nhiên". Làm sao có thể bảo nó sẽ chẳng bao giờ thấy mẹ nữa? Tôi hỏi. "Làm sao cậu trốn khỏi nhà được?"
"Khi bọn lính bắt mẹ, mình đang trốn ở dưới gầm giường. Ngay khi bọn chúng đi ra, mình nhảy qua cửa sổ và chạy." nước mắt lại trào ra trong mắt nó. "Mình cứ chạy thục mạng".
"Thông minh đấy".
Mắt nó sáng lên. "Thật à?" Amparo chúa thích nịnh. Nịnh đối với nó chẳng bao giờ là đủ cả. "Mình thông minh đấy chứ?"
"Rất thông minh".
Nó gật đầu mãn nguyện. "Bọn chúng đi rồi à?"
"Chúng đi rồi", tôi đứng lên. "Chúng mình cũng phải đi thôi".
"Chúng mình đi đâu?"
Tôi nghĩ một thoáng. Không thể đuổi kịp Mèo Bự nữa, nhưng tôi biết hắn đi đâu. "Đến Estanza".
"Estanza?" nó hỏi. "Ở đâu?"
"Xa lắm. Chúng mình phải cuốc bộ".
"Mình thích đi bộ".
"Nhưng chúng mình phải rất thận trọng, không được để ai thấy. Hễ có người là phải trốn".
"Vì có thể là bọn lính", nó nói một cách tinh khôn.
"Ai mình vẫng phải trốn, vì ai cũng có thể kể cho bọn lính là họ đã thấy mình".
"Mình sẽ cẩn thận", nó hứa. "Giờ mình vừa đói vừa khát".
"Một đoạn nữa sẽ có một khe suối".
"Mình cũng phải đi giải nữa".
Đấy là điều nó không cần phải đợi. "Kia kìa, trong bụi ấy".
Amparo đến đó, ngồi thụp xuống , nâng váy lên thật thanh nhã. "Mình không thể đi giải được nếu cậu cứ đứng nhìn".
Bọn con gái kỳ thật. Tôi nhìn hay không thì có khác gì nhau?
Khoảng nửa giờ đồng hồ, chúng tôi đến khe suối. Tôi nhớ điều Mèo Bự đã bảo bèn nhắc nó đừng uống nhanh quá. Rồi xoạc cẳng ra, tôi dầm mặt trong nước. Lưng tôi bỗng ngứa như điên: mặt trời nóng đã nung các nốt muỗi đốt. Tôi quài tay về phía sau mà gãi. Lưng tôi dầy cộm. Tôi táp nước lên vai.
Amparo nói. "Lưng cậu sưng vù. Mẹ tớ vẫn xát lá nguyệt quế lên nối muỗi đốt đấy".
"Lá ấy trông thế nào?"
"Cả đám kia kìa", nó chỉ. Tôi bứt một nắm, chà lên, nhưng lá cứ rơi lả tả. Amparo đưa tay ra. "Để mình làm cho".
Nó nhúng nắm lá trong nước một lát. "Quay lưng lại đây".
Tôi cảm nhận nắm lá ướt, và nước chảy trên lưng. Nó nói đúng, vài phút sau thì hết ngứa.
Tôi ngồi nhìn dòng suối. Một đàn cá bơi qua đã bắt mắt tôi.
Tôi nhớ Santiago Bé vẫn xiên cá bằng mũi tên. Tôi nhìn quanh, kiếm một cành cây thẳng, dùng dao róc lá rồi vót một đầu nhọn. Rồi quỳ bên bờ nước.
Đàn cá lại lượn qua. Tôi phóng lao, nhưng chúng nhanh hơn, còn tôi thì suýt nhào xuống nước. Phải bắt đầu lại. Sau lần cố gắng thứ ba thì tôi rút kinh nghiệm. Đàn cá chạy re về tứ phía và vấn đề là đoán xem con nào sẽ lao về phía mình. Tôi cho là con bơi cuối đàn, bèn phóng lao, và cảm nhận con cá nơi đầu mũi lao.
Tôi quay lại, đắc thắng, với con cá đang dẫy trên đầu que. "Chúng ta ăn thôi!".
Amparo ghê tởm. "Ăn sống à? Cậu làm sao mà nấu nó được?"
Niềm đắc thắng mờ hẳn. Tôi ngồi xuống một phiến đá lớn, và ré lên khi đít chạm mặt đá. Phiến đá dưới sức nóng của mặt trời nóng giẫy như viên gạch nung. Nếu nó đủ làm bỏng mông tôi thì cũng đủ để nướng một con cá.
0
Chương 18
Món cá khá ngon, mặc dù còn hơi sống sít. Tôi bắt thêm hai con nữa, để dập tắt cơn đói của cả hai. Lần nào tôi cũng phải lạng mỏng con cá ra mà "nướng" trên phiến đá rồi lại phải dùng dao mà bóc từng miến khỏi "chảo". Cũng may mà chúng tôi ấy thật no, vì suốt hai ngày sau, tôi chỉ kiếm được hạt dẻ và dâu rừng. Buổi sáng thứ ba thì gặp một cây xoài và chúng tôi ăn ngốn ngấu, đến mức cả hai đều đau bụng muốn chết, rồi là phải nằm lại cả ngày hôm ấy.
Amparo bắt đầu khóc khi màn đêm buông xuống. "Mình muốn về nhà".
Tôi nhìn nó, lúng túng, vô phương như bất cứ người đàn ông nào khi đối đầu với nước mắt của một người đàn bà. Khuôn mặt vốn xinh xắn của nó tóp đi. "Bụng mình đau quá". Nó nói.
Tôi cũng thế. Lần sau thì cạch món xoài. "Ngủ đi. Sáng mai sẽ khá hơn".
Nó giậm chân đành đạch. "Tôi không muốn! Tôi ngán ngủ ở dưới đất lắm rồi. Sâu bọ bò khắp người mà lại suýt chết  cóng nữa. Tôi muốn về nhà, ngủ trên giường của mình!"
"Ừ, nhưng không thể".
"Tôi cứ đi!" hai chân nó nhẩy cẫng lên trong cơn thịnh nộ.
Tôi hiểu. Nó sắp trình diễn màn tam bành nổi tiếng của nó đây. Tôi thì chẳng thích tí nào. Tôi vung tay ra, trúng má nó, và trong một thoáng, nó như đóng băng lại trong kinh ngạc. Rồi nước mắt nó trào ra. "Anh đánh tôi à?"
"Tôi sẽ làm tiếp nếu cô không câm họng!" tôi nói hung tợn.
"Tôi ghét anh!" Tôi không trả lời. "Tôi nói thật đấy! Tôi sẽ không lấy anh đâu!"
Tôi nằm xuống thảm cỏ, nhắm mắt.
Im lặng hồi lâu, rồi nó xích lại gần tôi, rúc vào cạnh tôi. "Mình lạnh quá, Dax!"
Tôi nhìn. Cặp môi nó tái xám vì lạnh. Chúng tôi đang ngủ ngoài chỗ trống. Tôi phải tìm một chỗ có thể ngăn những luồng gió thổi từ trên núi xuống vùng đồng cỏ.
"Đứng dậy. Phải tìm một chỗ ấm hơn để ngủ".
Chúng tôi đi. Tôi nhìn lên trời. Chẳng thích tí nào: những đám mây thấp che lấp cả trăng, sao và đầy đe doạ. Một luồng gió lạnh ẩm tràn qua và tôi biết chẳng mấy chốc nữa là mưa.
Mưa ập đến sớm hơn tôi nghĩ. Tôi kéo Amparo đi nhanh hơn. Đôi chân trần của tôi cảm thấy mặt đất mềm nhũn, đầy bùn.
Amparo lại khóc. Một lần nó gần như khuỵu xuống, nhưng tôi lôi phăng nó đi. Chúng tôi chạy. Rồi bỗng chúng tôi đã đến nơi. Tôi lôi nó vào rừng và dừng lại dưới một gốc cây lớn. Ở đấy đỡ hơn, mưa chưa kịp xuyên thủng tán lá dày đặc. Chúng tôi đứng mà thở dốc. Và tôi bỗng cảm nhận Amparo run lên bần bật. Nhưng cặp mắt nó sáng và long lanh một cách kỳ lạ. "Dax, mình nghe thấy tiếng người".
Tôi kéo nó sát vào, cố sưởi ấm nó bằng thân nhiệt của mình. "Không, mình nghe thấy tiếng người". Giọng nó mỏng dính, căng thẳng. Tôi sờ trán nó, nóng như hòn than. Chắc là nó sốt rồi. "Suỵt. Giờ chúng ta có thể nghỉ".
Nó đẩy tôi ra. "Không", nó cáu bẳn. "Lắng nghe đi".
Tôi nghe lời nó mà thấy buồn cười. Thoạt tiên chẳng thấy gì sất, nhưng rồi tôi nghe thấy tiếng rì rầm rất nhỏ như từ phía sau chúng tôi. "Đợi đây", tôi thì thầm.
Amparo gật đầu và tôi luồn vào rừng, khoảng năm chục bộ thì thấy họ. Ba chiếc xe thổ mộ nằm bên vệ đường, dưới những cây lớn, và ba người đàn ông đang ngồi trong một chiếc, vây quanh ngọn đèn bão nhỏ, đánh bài. Ba người khác nằm dài beg hai chiếc xe kia. Cả bọn đều vận đồng phục xanh, đỏ của quân đội. Súng trường dựng bên chiếc xe phía trước.
Tôi leo lên cây, xem xét cẩn thận các xe khác. Xe rỗng không cả, có một xe chứa khá nhiều chăn. Tôi nhìn bọn chơi bài, tự hỏi có thể lẻn đi với một cái chăn được không. Rồi tôi biết mình không thể lựa chọn, khi nhớ đến cơn sốt của Amparo. Tôi chịu trách nhiệm với nó, như thể Mèo Bự với tôi vậy. Tôi chẳng thể làm khác được.
Tôi lẻn đến chiếc xe phía sau, lôi một cái chăn ra, cuộn chặt lại. Tôi nhìn quanh xem thử còn có gì xài đỡ được không. Tôi nhét vào túi bao diêm. Có miếng bì đã khô cong, nằm trỏng chơ trên sàn xe, tôi cũng lấy luôn .
Vào lại trong rừng, phải mất mấy phút tôi mới định hướng được, rồi tôi dễ dàng trở lại chỗ Amparo. Nó nằm đấy, ắng lặng khi tôi chui trong bụi ra.
"Dax?" nó thì thầm. Tôi nghe thấy răng nó đánh lập cập.
"Ừ. Nhanh lên, cởi đồ ướt ra!"
Tôi trải chăn ra, cuộn tròn con bé lại rồi rút dao ra cắt một miếng bì mỏng. "Đây, cứ mút đi".
Nó gật đầu rồi bỏ miếng bì vào miệng. Tôi nằm xuống cạnh nó rồi cắt một miếng nhỏ cho mình. Miếng bì vừa cứng vừa mặn nhưng cảm giác có nó trong mồm thật dễ chịu một cách kỳ lạ. Tôi cảm nhận Amparo đã bớt run và chỉ vài phút sau, nhịp thở đều của nó cho biết nó đã ngủ. Đối với một đứa con giá thì Amparo cũng không đến nỗi nào.
Con chim hót vang trên đầu đã đánh thức tôi dậy. Qua kẽ lá, tôi thấy bầu trời xanh. Tôi nhìn Amparo. Nó cuộn tròn như một con kén trong chăn.
Tôi nhìn quanh, tìm quần áo của nó nhặt lên. Nó dậy. Tôi đưa ngón tay lên môi để bảo rằng nó đừng nói gì cả. Nó gật đầu.
Tôi cắt cho nó một miếng bì nhỏ. "Đợi đây, tôi sẽ quay lại".
Tôi chỉ mất vài phút là ra đến bãi trống. Bọn lính và những chiếc xe đã đi. Đám lửa nhỏ nơi chúng hạ trại vẫn còn âm ỉ. Tôi ném mấy cành khô vào để giữ lửa rồi quay lại chỗ Amparo.
Sau một đêm lạnh ẩm thì đống lửa thật tuyệt. Sáng hôm đó, chúng tôi phải rời đường cái ba lần để lẩn trốn. Thoạt tiên là tốp đàn ông đi bộ, tiếp theo là một người đàn ông đánh chiếc xe thổ mộ và cuối cùng là một cặp vợ chồng đi xe. Đã có lúc tôi toan kêu đi nhờ xe, nhưng lại thôi. Không nên liều vì bằng vào mật độ của xe, tôi cho là chúng tôi đã ở gần một thị trấn nhỏ.
Tới một khúc quanh trên đường, tôi nhìn thấy nhà cửa và khói bốc lên từ những ống khói, tôi kéo Amparo xuống cánh đồng. "Chúng ta phải đi quanh thị trấn".
Nó gật đầu và đến sẩm tối thì ngôi làng ở phía sau chúng tôi.
"Mình đói", nó phàn nàn. "Ăn bì có no đâu".
"Tối chúng ta sẽ có cái ăn".
Tôi đã phát hiện một vài chuồng gà và ngay sau khi tìm được chỗ tốt để qua đêm, tôi sẽ quay lại liền. Tôi tìm chỗ quá tốt, nhưng Amparo nhất định không chịu ở một mình.
Khi chúng tôi dừng lại ở một chỗ trong cánh đồng, gần những chuồng gà, thì trời đã tối như mực. Đó là vườn sau của một ngôi nhà và vì thế, chúng tôi phải đợi cho đến khi tôi chắc chắn là mọi người trong nhà đã đi ngủ.
"Đợi đây. Đừng đi đâu cả!" tôi dặn Amparo.
Không đợi câu trả lời, tôi lặng lẽ lao qua bãi trống rồi tay rút dao, tay nâng then cài một chuồng gà gần nhất.
Tức khắc, bọn gà nháo nhác và kêu tướng lên, có đến bốn mươi dặm cũng nghe thấy. Một con gà mái đỏ to đùng chạy về phía tôi và tôi cho nó một nhát dao. Tôi lia trượt một con khác nhưng cũng tóm được một mái tơ trắng.
Nhanh chóng, tôi nhét dao vào bao, tóm cẳng lũ gà, chạy như bay, và sụp xuống cạnh Amparo ngay khi người nông dân bật cửa, ra khỏi nhà, chiếc áo ngủ phần phật trong gió. Ông ta cầm cây súng trường và khi thấy cửa chuồng gà mở toang, ông chạy ra đóng lại. Rồi ông chạy đến tận bờ ruộng, gần chỗ chúng tôi.
"Gì thế?" tiếng đàn bà từ trong nhà.
"Con chồn khốn kiếp này lại mò lũ gà! Thế nào tôi cũng cho nó biết tay!"
Tôi huých tay Amparo và ra hiệu cùng chuồn. Khi thấy hai cái đầu gà trong chuồng, ắt ông ta hiểu chẳng phải chồn cáo nào đã oanh tạc đàn gà của ông. Chúng tôi chạy tuốt về nơi ẩn náu và bỗng chúng tôi chẳng thấy mệt mỏi gì. Thậm chí Amparo còn cười vui khi hai con gà lủng lẳng trên ngọn lửa, những con mạt nhảy tứ tung từ trong lông chúng để khỏi bị thiêu cháy.
0
Chương 19
Ngày thành đêm và đêm thành ngày làm cho chúng tôi mất hẳn dòng thời gian khi ra khỏi triền đồi cuối cùng để bước vào sa mạc. Tôi láng máng cho rằng phải đến ba tuần lễ kể từ khi chúng tôi rời trại, nhưng tôi cũng không chắc lắm.
Lúc ấy khoảng hai giờ chiều, khi chúng tôi nhìn qua sa mạc tới triền đồi mà phía bên kia là thảm xanh và thung lũng mầu mỡ của Estanza. Tôi thấy vài chiếc xe thổ mộ trên đường và hiểu rằng chúng tôi không thể vượt sa mạc vào ban ngày. Quá dễ lộ vì chẳng có chỗ để ẩn náu trong cái biển cát nóng bỏng và phẳng lì này.
Tôi cố tính khoảng cách bằng mắt. Mèo Bự và tôi phải mất ba giờ đồng hồ để vượt qua trên một chiếc xe ngựa. Có nghĩa là vào khoảng hai mươi dặm. Nếu đi cả đêm, chúng tôi có thể qua được.
Tôi quay sang Amparo. Mặt nó đen xạm vì nắng và mớ tóc vàng óng ả của nó như được hồ bột trắng, lông mày lông mi xám ngoét v gần như mất dạng trên nền da đen. Hai má nó mỏng quẹt, tóp lại và tôi có thể thấy những đầu xương mảnh dẻ của nó trồi ra cũng như nỗi sầu muộn đã kéo xệ hai bên mép nó xuống. Tôi lấy một cái xương gà trong túi ra. Nó bỏ vào mồm, chậm rãi mút mát, để cho nước miếng làm mềm xương trước khi nhai. Cả Amparo cũng đã học được rất nhiều trong mấy tuần vừa qua.
Bao nhiêu lần trong ngày chúng tôi phải rời đường mà ẩn nấp. Hơn một lần, suýt chạm trán với bọn lính tuần tiễu, nhưng giác quan thứ sáu của chúng tôi đã phát triển để báo cho biết khi hiểm nguy đến gần. Tôi lại nhìn sa mạc. "Chúng ta phải vượt trong đêm. Chúng ta phải tìm một chỗ để nghỉ cho đến tối".
Amparo gật đầu. Nó hiểu mà chẳng cần tôi phải giải thích. "Chúng mình còn gì để ăn không?" Nó vừa mút xương vừa hỏi.
Tôi nhìn quanh. Đây không phải xứ sở để săn bắt. Cây cối thưa thớt, chỉ có những bụi lúp xúp hình như chỉ mọc trong sa mạc. Thế có nghĩa là nước cũng chẳng nhiều nhặn gì. "Nhưng gần đến Estanza rồi", tôi nói. "Ở đấy sẽ có ối đồ ăn thức uống".
Nó lặng lẽ gật đầu. Tôi thấy nó nhìn xuống những chiếc xe chuyển động trên đường." Tất cả bọn họ có ghét chúng mình không? Tất cả bọn họ có giết chúng mình không?"
Tôi ngạc nhiên trước câu hỏi của nó. "Mình không biết".
"Thế thì tại sao chúng mình cứ phải ẩn náu mãi?"
"Vì không biết họ nghĩ gì về chúng ta".
"Mẹ chết rồi", nó chợt nói, "cả những người khác nữa. Cả Roberto và Eduardo. Vì thế mà chúng mình không trở lại được, phải không?" Tôi không trả lời. "Cậu có thể nói cho mình nghe", nó lặng lẽ nói. "Mình sẽ không khóc đâu".
Tôi gật đầu.
Nó nhìn chằm chằm vào mắt tôi. "Cả ba cũng chết à?"
"Không".
Nó nhìn xuống sa mạc. Rồi quay lại nhìn tôi. "Nếu ba chết", nó hỏi, "cậu có lấy mình và chăm lo cho mình không?"
Tôi nhìn nó chằm chằm. Nó đứng đấy, gầy guộc và vô vọng làm sao. Hệt như con cún khi nó không chắc tôi có cho nó khúc xương hay không. Tôi nắm tay nó. Tôi cảm nhận sự ấm áp và niềm tin đặt trong tay tôi. "Em biết là anh sẽ lấy em mà. Chúng ta đã thoả thuận điều này từ lâu rồi còn gì".
Nó mỉm cười. "Anh còn mẩu xương nào không?"
Tôi lấy đưa mẩu cuối cùng cho nó. "Đi thôi", tôi nói. "Tìm một bóng râm rồi cố mà ngủ".
 
Đêm đó gió nổi muộn, vào lúc chúng tôi xuống đường để vượt sa mạc. Cả hai đều run cầm cập vì những đợt gió lạnh quất vào. Tôi nhìn Amparo. "Em không sao chứ?"
Nó gật đầu, quấn chặt áo quanh người và cúi thấp đầu xuống.
"Đợi đã" tôi nói, trải chiếc chăn dạ ra, lấy dao rạch đôi. Sau đêm nay, chúng tôi chẳng cần đến nó nữa, bởi sẽ ở trang trại của ông Moncada. "Đây, dùng nó như khăn choàng, quấn chặt vào".
Gió càng dữ dội hơn, thảng hoặc, như bốc cát ném vào mặt. Nhiều lần chúng tôi loạng choạng ra khỏi con đường và lún sâu trong cát, thậm chí không còn biết là mình đi về hướng nào nữa. Tôi cố nhìn các vì sao để định hướng, nhưng chúng cũng đã bị che khuất. "Không nhìn thấy gì cả", Amparo kêu lên. "Cát cứ đổ vào mắt em".
Tôi kéo tấm choàng lên trùm kín đầu nó, chỉ để một khe hở nhỏ ở phía trước đủ để nhìn. "Ổn chứ?"
"Vâng".
Tôi cũng làm tương tự và ổn thật. Chúng tôi lại lao đi. Cổ tôi khô cứng. Ngực tôi nổ lép bép hệt muối rang. Bỗng bầu trời như sáng lên. Thoạt tiên mà một màu xám nhạt, rồi mặt trời nhô lên khỏi dãy núi phía sau. Nghĩa là từ phía tây. Nghĩa là vào một lúc nào đó tron đêm, chúng tôi đã rẽ quanh và đi lộn lại. Bây giờ thì chúng tôi đang ở giữa sa mạc, và giữa thanh thiên bạch nhật. Xa xa, một xe thổ mộ đang đi tới.
Tôi nắm tay Amparo, chạy vội ra khỏi con đường . Song bốn xung quanh phẳng lì, chẳng có chỗ nào để ẩn náu cả. Tôi bảo Amapro nằm xuống và mình cũng dán người trên cát cạnh nó. Tôi kéo hai tấm khăn choàng, trùm lên đầu cả hai. Có lẽ trông nó cũng giống như cát và có thể lừa được người qua lại.
Tôi nghe tiếng lọc cọc của bánh xe. Nó đã đi qua. Song một chiếc khác lại xuống và tôi lại phủ phục như cũ.
"Em khát quá!" Amparo nói.
"Nằm im, đừng nghĩ đến nước".
Tôi cảm nhận mồ hôi đang chảy ròng ròng trên lưng và háng. Tôi liếm môi. Môi vừa khô vừa mặn. Tôi bỏ tấm khăn choàng ra. Bằng vào tầm nhìn của tôi thì con đường trống trơn ở cả hai phía.
"Ổn rồi, ta đi thôi. Phủ tấm khăn choàng lên, đỡ nóng đấy".
Hơi nóng  bốc lên từ con đường làm thành những vân sóng kỳ lạ trước mắt chúng tôi. Hai chân tôi bắt đầu phồng giộp.
"Em khát quá, Dax".
"Chúng ta đi một quãng nữa rồi nghỉ".
Tôi có đi thêm nửa giờ. Cát nóng đến nỗi không dám thò chân bước tiếp nữa. Lưỡi tôi khô cong và sưng tấy. Tôi cố giữ nước miếng trong miệng, nhưng nó khô luôn.
"Đau quá, Dax ơi", Amparo bắt đầu khóc. "Mồm em đau quá".
Nó âm thầm thút thít. Đôi môi nó hẳn đang cần nước. Tôi rút dao, khứa trên một đầu ngón tay. Máu trào ra.
"Khỉ thật!"
"Anh làm gì thế?" nó hỏi.
"Đứt tay". Tôi đẩy ngón tay về phía nó. "Mút đi".
Nó đưa ngón tay tôi vào mồm và mút. Một lát sau, nó nhìn lên. "Ổn chứ?"
Tôi nặn ngón tay, cố làm cho máu ứa ra. "Lần nữa cho chắc".
Nó lại mút. Lần này, khi tôi nhìn ngón tay mình, hai bờ vết thương trắng bệch. "Ổn rồi".
"Tốt", nó nhấc mảnh chăn lên, nhìn ra. "Sắp tối rồi".
Ngày đã tàn và sức nóng đang từ giã thảm cát. Tôi vục dậy, quỳ trên hai đầu gối, nhìn xuống con đường cắt qua các dãy núi. Ở bên kia là Estanza. "Nếu đi suốt đêm thì sáng mai ta sẽ đến đó".
Amparo nhìn tôi. "Chúng ta không kiếm được nước uống à?"
"Từ đây đến Estanza chẳng có gì sất".
Nó đi vào vệ đường, ngồi xuống. "Em mệt lả rồi".
"Anh biết, Amparo". Tôi choàng tấm khăn choàng của tôi lên nó. "Cố ngủ một chút đi. Mai mọi thứ sẽ ổn cả".
Nó nằm xuống, nhắm mắt, chẳng mấy chốc đã thiếp đi. Tôi cũng muốn ngủ, nhưng một nỗi đau kỳ lạ bên trong làm tôi không ngủ nổi. Dù tôi nằm quay phía nào nó vẫn đau. Tôi để Amparo ngủ khoảng hai giờ.
 
Cuối cùng, chúng tôi đến được trang trại của ông Moncada, khoảng một giờ trước bình minh. Nhiều ngựa đã buộc trước sân, nhưng chẳng thấy ai cả. Tôi ra hiệu cho Amparo yên lặng khi chúng tôi đi vòng ra phía sau.
Có khói bốc lên từ ống khói nhà bếp. Khói xộc mạnh vào mũi đến nỗi tôi thấy mình muốn té xỉu vì đói. Chúng tôi qua sân sau, đến cửa nhà bếp. Nắm tay Amparo, tôi mở cửa.
Trời vẫn tối, tôi chẳng nhìn thấy gì cho đến khi điều chỉnh được mắt. Tôi nghe tiếng ré của một người đàn bà rồi toàn cảnh bỗng hiện rõ mồn một trước mắt. Người đầu bếp đứng cạnh lò, ba người đàn ông đang ngồi bên bàn ăn, hai người trực diện, người thứ ba quay lưng về phía tôi. Tôi bỗng nhận ra đồng phục xanh, đỏ của họ.
Tôi quay lại, đẩy Amparo về phía cửa. "Chạy!"
Nó vụt qua sân như một con thỏ. Tôi lao theo, tai nghe một tiếng hét phía sau, ngoái lại và vấp phải một khúc gỗ rồi ngã lăn ra. Khi tôi lồm cồm  bò dậy thì một tên lính đã chạy vượt qua tôi.
"Chạy đi, Amparo, chạy đi!" tôi thét lên. "Chạy đi!"
Một tên lính khác đến chỗ tôi. Tôi quay nhìn hắn, rút dao ra, song đầu óc choáng váng. Kiệt quệ sau nhiều đêm dài không ngủ đã thắng tôi. Tôi thấy rõ mặt hắn rồi bỗng chẳng còn gì trong tôi ngoài điên dại và căm thù. Nỗi uất hận muốn được giết cứ ứ lên trong cổ. "Mèo Bự!" Tôi lao vào hắn, chĩa thẳng mũi dao.
Hắn đã bán đứng  chúng tôi. Vì vậy mà bọn lính có thể càn tận nơi ẩn náu, mà bao người đã bị giết, và tất cả chỉ vì con hắc mã khốn kiếp.
Khi lao lên với co ndao trong tay, tôi nghe tiếng thét của Amparo. Quay lại thì thấy một tên lính đã bắt được nó, đang lôi về. Amparo vừa la vừa đá chân tứ tung. Tôi lại thấy choáng váng.
Tôi quay lại phía Mèo Bự. Hắn chằm chằm nhìn tôi, mặt trắng như tờ giấy. "Dax!"
Tôi thét lên điên dại. "Mèo Bự! Tao không chết như những người khác. Tao sẽ giết mày! Tao sẽ cắt dái mày và nhét vào cái mồm dối trá của mày!"
"Không! Dax! Không!"
"Đồ phản bội!" tôi  bước thêm một bước về phía hắn, nhưng có điều gì đó không ổn với sàn nhà. Nó cứ bồng bềnh như biển ở Curatu vậy, nơi mà tôi đã có lần đến cùng với bố. "Đồ phản bội!"
"Dax!"
Nhưng đây là một giọng khác. Giọng mà tôi không thể nào quên, mặc dù đã hơn hai năm nay tôi chẳng được nghe. Tôi nhìn qua Mèo Bự đến cửa bếp, nơi bố tôi đang đứng. Nhưng rõ ràng là có điều gì đó không ổn. Tôi cho là mình đã mất trí. Bố tôi cũng mặc đồng phục quân đội.
"Bố!" tôi kêu lên, bước một bước về phía ông, nhưng bỗng nhớ đến Mèo Bự, cơn giận dữ một lần nữa trào lên trong tôi. Tôi thét lên. "Tao sẽ giết mày! Tao sẽ giết mày!"
Tôi vung tay để phóng dao vào cổ hắn, nhưng mặt trời làm loá mắt tôi. Tôi chớp mắt rồi bỗng mọi thứ đều nhạt nhoà. Con dao tuột khỏi tay, và tôi gục xuống và hai cánh tay đỡ lấy tôi…
Tôi thấy tối sầm, nhưng lại nghĩ: làm sao có thể là đêm được khi mà bình minh vừa mới bắt đầu?
 
Rồi từ vùng tối này, tôi nghe giọng bố tôi. Giọng nói ẩn chứa yêu thương. Đau đớn. Và cả sầu muộn nữa. "Con, con trai, ta đã làm gì để con đến nông nỗi này?"

Bóng đêm mới nhân từ làm so khi nó buông phủ xuống tôi.
 
 
0
Chương 20
Ông già vận chiếc áo choàng đen ngả người trên ghế bành, đan những ngón tay vào nhau một cách vô tư trong khi đợi câu trả lời của tôi. Cặp mắt đen của ông long lanh sau cặp kính.
"Thưa thầy, con sẽ cố gắng hơn nữa ạ", tôi nói.
"Ta hy vọng như vậy, Diogenes", nhưng giọng ông thiếu hẳn sự tin tưởng như giọng tôi.
Trường học chỉ giản dị không phải là chỗ của tôi. Cái đều đặn và buồn tẻ của lớp học quả là một sự giam cầm. Chỉ những môn tôi ưng là tôi học tốt. Ngôn ngữ. Anh văn, Pháp văn. Thậm chí cả Đức văn. Latin là một ngôn ngữ chết, chỉ có cánh tu sĩ thuộc  các giáo phái lố lăng mới sử dụng. Trong suốt hai năm ở trường, tôi không qua nổi môn Latin. Đấy là lý do tôi đang đứng trước mặt ông hiệu trưởng của học viện.
"Người cha đáng kính của anh từng là một trong những học sinh chói sáng nhất của chúng tôi", ông hiệu trưởng nói, đầy nghi thức. "Ông ấy không đứng sau bất cứ ai trong môn Latin. Nếu anh muốn theo chân ông trong ngành luật thì anh cũng phải như vậy".
Dường như ông chờ đợi câu trả lời. "Thưa thầy, vâng ạ".
"Anh cũng phải xếp hạng cao hơn trong những môn khác", ông liếc xuống tờ báo cáo trên bàn. "Rất nhiều môn anh chỉ vừa đủ điểm để qua. Ngữ pháp, văn chương, lịch sử, địa lý…"
Tôi nhìn quacs khi giọng ông cứ đều đều trôi đi. Tôi thấy Mèo Bự đang cả cười bên ngoài cổng trường, đợi tôi. Trong bộ đồng phục xanh đỏ, hắn trở thành một nhân vật đầy ấn tượng, và như thường lệ, là  trung tâm của nhóm người ngưỡng mộ, là các cô hầu, các mệnh phụ cũng đang đợi người nhà như hắn. Tôi không thể quen nổi hình ảnh hắn trong bộ đồng phụ. Nhất là bộ quân phục ấy. Mặc dù quân đội giờ đây là của chúng tôi và tướng quân đã là ngài tổng thống.
Khi tôi và Amparo đến Estanza thì cuộc cách mạng đã chấm dứt trước đó cỡ ba tuần. Chúng tôi phải mất đến năm tuần để đến được đấy, mà trong suốt thời gian đó, chúng tôi lại chẳng dám chuyện trò với bất cứ ai.
Tôi vẫn còn nhớ, ít lâu sau, tướng quân vào phòng tôi ở trang trại ông Moncada. Tôi phờ phạc nằm trên giường, vẫn còn run rẩy vì hậu quả cơn sốt. Tôi nghe tiếng chân đi ủng phía ngoài cửa phòng và quay ra chào. Ông không phải là người cao lớn nhưng trong bộ quân phục của tổng quân uỷ, trông ông như cao hơn.
Khuôn mặt ông vẫn gầy và sắc sảo, cặp môi ông mỏng, tàn bạo và cặp mắt xám nhạt đến kỳ lạ vẫn mở thao láo như thường lệ. Bàn tay ông êm ái khác thường khi đặt nó lên tấm mền trắng tôi đang đắp. "Người lính".
"Tướng quân".
"Bác đến để cảm ơn cháu vì đã đưa con gái bác về với  bác", ông lặng lẽ nói. Tôi không trả lời. Tôi không hiểu ông ta phải cảm ơn tôi làm gì. Tôi có thể làm hơn thế. "Cháu đã thấy…" giọng ông lưỡng lự thật khác thường. "Cháu đã thấy điều gì đã xảy ra đối với những người khác?" Tôi gật đầu. "Roberto và Eduardo. Chúng nó còn trong núi không? Chúng tôi không tìm thấy xác hai đứa. Tất cả đều bị ném vào lửa".
"Thưa ông, họ đã chết". Tôi phải quay mặt đi trước cơn đau bỗng dâng trong mắt ông. "Cháu thấy họ chết".
"Có…" giọng ông lại ngập ngừng. "Có lẹ không?"
"Vâng, như những người đàn ông ngoài mặt trận, thưa ông, cứ không phải là trẻ nít. Chính mắt cháu thấy Roberto giết hai đứa".
Bỗng ông gào lên. "Thằng chó đẻ Guiterrez".
Tôi băn khoăn nhìn ông. "Ông đại tá?"
Cặp mắt xám nhạt của ông ánh lên. "Guiterrez, tên đồ tể vùng Bandaya! Nó đã biết lệnh hưu chiến trước khi nó lên núi mà".
"Hưu chiến, thưa ông?"
"Ngừng bắn, người lính ạ. Không có đánh nhau trong khi cuộc đầu hàng đang được thu xếp".
Ông bước đến bên cửa sổ trong khi vẫn quay lưng về phía tôi. "Chiến cuộc đã hoàn toàn chấm dứt khi hắn tấn công nơi ẩn náu".
Tôi nhắm mắt lại. Tất cả đều vô nghĩa. Mọi người chết đều vô nghĩa. Tất cả mọi người. Ông ngoại tôi, cả ông ngoại tôi nữa. Tất cả chỉ vì viên đại tá. Một mối căm thù sâu thẳm dội lên trong tôi .
Có tiếng chân người đi ngoài cửa, tôi mở mắt. Mèo Bự bưng cơm trưa cho tôi. Cuốn băng trắng trên cánh tay hắn, nơi mũi dao của tôi đã đâm vào, lộ hẳn trong căn phòng mờ tối.
"Nào con trống tơ bé nhỏ của tôi. Cậu tỉnh rồi mà".
Giọng tướng quân như nổ tung. "Chuyện gì đã xảy ra đối với bốt tiền tiêu? Tại sao chúng ta không được báo để chạy trốn?" ông bước lại bên giường. "Chuyện gì đã xảy ra?"
Mặt Mèo Bự bỗng trắng bệch như tờ giấy, tôi thấy những giọt mồ hôi lấm tấm trên trán hắn. Còn ánh mắt hắn thì tôi chưa thấy thế bao giờ. Kể cả khi hắn đối mặt với cái chết.
Tôi lại nhắm mắt. Tôi biết điều gì đã xảy ra và tại sao Mèo Bự đã bỏ bốt. Nhưng tôi không còn là trẻ nít. Tôi biết, có thêm cái chết nữa cũng chẳng lấy lại được cuộc sống của những người đã chết. Vả lại nếu như Mèo Bự có ở đấy thì hắn cũng chỉ cộng thêm một xác chết mà thôi.
Tôi nhìn lên tướng quân "Cháu không biết, thưa ngài. Cháu tỉnh dậy khi nghe loạt đạn đầu tiên. Khi cháu biết là nhà đang cháy thì cháu chạy xuống lòng mương. Rồi cháu thấy Amparo, cháu tóm tay nó, cùng chạy".
Tướng quân chằm chằm nhìn tôi. "Cháu đã làm tốt". Ông lại nắm tay tôi, tay ông mềm mại lạ thường. "Các con trai ta đã chết nhưng tinh thần và lòng dũng cảm của chúng nó vẫn sống – trong các cháu. Ta sẽ mãi mãi xem cháu là con trai ta".
Tôi ngạc nhiên thấy nước mắt dâng lên trong cặp mắt xám nhạt. Tướng không khóc. Đàn ông không khóc. Chính ông đã bảo tôi thế. "Xin cảm ơn ngài".
Ông gật đầu, vươn thẳng người, bước ra phía cửa. Đến cửa, ông quay lại. "Cháu ăn trưa đi".
Tôi bỗng chợt nhớ. "Amparo có khoẻ không ạ?"
Ông mỉm cười. 'Nó khá rồi. Bác sẽ đưa nó đi Curatu cùng. Mong cháu chóng khoẻ rồi cùng đến chỗ bác".
Tôi nghe tiếng ủng của ông ngoài sảnh khi quay nhìn Mèo Bự. Mặt còn tái dại, nhưng hắn đã nở nụ cười. "Cậu đã trả lại cho tôi chiếc áo", hắn nói.
Tôi không hiểu, nhưng bỗng nổi cáu. "Tôi đã trả lại cho cái đầu của cậu!" Tôi đẩy khay cơm về phía hắn. "Đem đi. Tôi không đói".
Hắn lặng lẽ rời phòng và tôi quay nhìn ra cửa sổ. Nhưng tôi không thấy trời xanh và nắng vàng, cũng không nghe tiếng véo vườn của bầy chim trên cành. Tôi chỉ thấy viên đại tá, và tôi chỉ nghe cái giọng ghê tởm ấy. Lòng căm thù lại dội lên, làm cho mồm tôi đầy vị đắng. Nếu hắn còn sống thì thế nào tôi cũng lùng giết hắn cho bằng được!
Vài tuần sau, tôi đến Curatu. Bố tôi tìm được một ngôi nhà ngay dưới chân đồi, nhìn ra biển, không xa nhà ông bà nội trước đây là mấy. Ngay sau đó, tôi ghi tên vào trường dòng mà bố tôi đã từng học khi còn nhỏ, và vẫn ông hiệu trưởng từng ghi tên bố tôi vào trường, giờ đang giảng giải cho tôi về một người học sinh mà học hành chẳng ra gì thì sẽ ra sao.
Một cách miễn cưỡng, tôi cố chú ý đến giọng đều đều của ông. "Anh đầy triển vọng đấy", ông kết luận. "Nhưng anh phải khổ luyện hơn nữa để đạt được vị trí mà cha anh có thể tự hào".
"Tôi xin cố gắng, thưa ông. Tôi sẽ khổ luyện".
Ông mỉm cười. "Tốt. Đi đi con".
"Xin cảm ơn ông".
Tôi rời căn buồng được dùng làm văn phòng của ông, chạy ra hành lang. Tôi phải nheo mắt vì nắng chói chang đột ngột khi Mèo Bự len ra khỏi đám đông đầy sùng bái. "Xe đang đợi, tiểu công tử".
Từ khi trở lại Estanza, hắn không gọi tôi bằng tên hay cậu cậu tớ tớ nữa. Tôi trở thành "tiểu công tử", một "ngài" tí hon. Tôi không thể đi đâu hoặc làm gì mà không có hắn loanh quanh. Tôi cười khi nghe hắn bảo tướng quân và bố tôi đã cử hắn làm bảo vệ riêng của tôi. Họ đâu biết tôi cần gì bảo vệ riêng. Tôi đủ sức tự bảo vệ mình. Nhưng không ăn thua. Mèo Bự luôn quanh quất đâu đó.
Tôi nhìn chiếc limousine đen với tài xế vận đồng phuc ngồi sau tay lái rồi đưa sách vở cho Mèo Bự. "Tôi không thích xe cộ gì cả. Tôi thích đi bộ".
Tôi vào thành phố. Một lát sau, tôi nghe tiếng động cơ nổ nhẹ phía sau. Tôi liếc lại. Chiếc xe đang bò từ từ xuống đồi, tài xế và Mèo Bự ngồi ở hàng ghế trước. Tôi cười thầm. Ít nhất thì đây còn là điều không thay đổi của Mèo Bự. Hắn vẫn thích đi xe hay cưỡi ngựa hơn là đi bộ.
Sau đó, tôi ngồi trên một cột mốc ở cuối bến cảng, nhìn một con tàu đang xuống hàng, nghe đám thuỷ thủ chửi rủa đám phu khuân vác dưới cầu cảng bằng tiếng Pháp, và những lời đốp lại bằng tiếng Tây Ban Nha. Thầy giáo Pháp văn của tôi chắc phải kinh ngạc trước kiến thức của tôi về thứ ngôn ngữ ấy nếu như ông nghe tôi nhắc lại một vài câu chửi thề của họ.
Tôi nhìn lên lá cờ tam tài xanh, đỏ trắng đang bay trên cột buồm. Luồng gió từ biển thổi vào làm nó phần phật một cách ngạo nghễ. Tôi nhìn suốt dọc bến cảng. Có hai tàu khác cũng đang xuống hàng. Một treo cờ Panama và một treo cờ Hy Lạp.
Trước cách mạng, người ta bảo bên cầu cảng không thể ít hơn hai mươi chiếc tàu. Phần lớn từ Bắc Mỹ và Anh. Giờ thì cả Anh lẫn  Mỹ đều cấm tàu của họ đến bến cảng này. Bố tôi bảo rằng vì họ từng liên minh với chính phủ cũ mà lại chưa công nhận chính phủ mới của chúng tôi. Còn tôi thì chẳng hiểu điều đó có liên can gì đến tàu  bè. Nhất là khi chuối rụng thối bên cầu cảng, cà phê hạt nằm trong kho cảng cho mọt ăn và người ta phải đốt cả những cánh đồng mía.
Tôi nghe tiếng chân phía sau và quay lại. Hai đứa trẻ đang đi đến. Chúng mặc những bộ quần áo bẩn thỉu, tã tượi mà hình như là trang phục phổ biến trong vùng này của thành phố. Hai đứa dừng trước mặt tôi và một đứa ngả mũ ra, nói với tôi thật cung kính. "Chúng cháu đói quá, xin ngài vài xu".
Tôi không có tiền. Tôi không cần tiền. Tôi muốn gì thì Mèo Bự đưa cho. "Không có", tôi nói sẵng để che giấu sự ngượng nghịu.
"Chỉ một xu thôi thưa ông. Xin hãy vì Chúa lòng lành".
Tôi nhảy khỏi mố cọc. "Xin lỗi. Tôi không có đồng nào cả".
Tôi thấy chúng trao nhau cái nhìn đầy nghi hoặc, rồi đứng ngay trước mặt tôi, chặn lối đi dẫn về trung tâm cảng.
"Xin lỗi", tôi nói.
Tôi thấy hai bộ mặt sưng sỉa. Chúng bất động. "Chúng mày muốn gì?" tôi hỏi. "Tao đã bảo là tao không có tiền".
Chúng không trả lời.
"Tránh ra!" tôi bắt đầu cáu. Chẳng lẽ bọn ngu này cho là tôi tiếc một vài xu?
"Nó muốn đi qua", đứa lớn nói một cách giễu cợt. Đứa nhỏ cười thật ranh mãnh rồi gằn giọng nhắc lại lời đứa lớn.
Cơn giận bị dồn nén trào lên trong tôi. Trong một loáng, đứa nhỏ bay khỏi lối đi, rơi xuống nước và đứa lớn ré lên khi mũi giầy của tôi đá trúng ngay dái nó. Tôi  bồi thêm một cú vào sườn và nó cũng rơi  xuống nước luôn.
Tôi đang nhìn chúng cố nhoai tới một cái cọc thì nghe tiếng chân phía sau. "Có chuyện gì thế?" Mèo Bự hỏi.
"Chúng không để tôi đi".
"Bọn nhà quê!" Mèo Bự nhổ xuống nước.
Chiếc xe đang đợi bên cầu cảng. Tôi hỏi Mèo Bự trước khi bước vào xe. "Tại sao chúng lại đi xin tiền?"
"Ai cơ?"
"Bọn nó". Tôi chỉ hai đứa đang lồm cồm trèo lên cầu cảng.
Mèo Bự nhún vai. "Chúng bao giờ chả là bọn ăn mày".
"Chúng nó bảo bị đói".
"Chúng nó bao giờ chả đói".
"Nhưng không ai bị đói thì mới đúng chứ. Cuộc cách mạng chỉ vì có thế".
Mèo Bự nhìn tôi, một cái nhìn kỳ lạ. "Tôi, bản thân tôi đã từng qua ba cuộc cách mạng. Nhưng tôi chưa từng thấy cuộc nào đem thức ăn mà nhét vào bao tử bọn nhà quê cả. Bọn chúng sinh ra để đói".
"Thế thì họ chiến đấu để làm gì?"
Mèo Bự cười. "Để chúng ta không phải như họ, không phải đi xin ăn".
Tôi nhìn hắn một thoáng, bước ra khỏi xe. "Anh có xu lẻ nào không?"
Hắn gật đầu.
Tôi đưa tay ra. Hắn  bỏ mấy đồng xu vào. Tôi đi trở lại phía cuối cầu cảng. Hai đứa nhìn tôi nghi ngại, nỗi sợ hãi làm tối cặp mắt chúng. Đứa lớn vẫn ôm bụng. Đứa nhỏ nhổ xuống chân tôi.
"Bọn nhà quê!" tôi ném nắm xu vào chúng rồi quay đi.
0
Chương 21
Lâu đài của tổng thống nằm giữa trung tâm thành phố, được bao bọc bằng bức tường cao mười tám bộ. Bức tường ngăn cách một cách hữu hiệu toà lâu đài với phố xá. Chỉ có hai cổng, một ở phía Bắc nhìn ra những triền núi ở ngoại vi thành phố và một ở phía Nam, nhìn ra biển. Bản thân nó là một pháo đài. Lính gác luôn hiện diện ở hai bên cổng sắt và lính tuần tiễu đều đặn trên đỉnh bức tường cao ngất.
Với quyết định của một trong các tổng thống trước đây, người đã bị đạn bắn từ một khu nhà phía ngoài trong khi ông ta đang đi từ tư dinh đến văn phòng, toàn bộ hai khối nhà bao quanh lâu đài đã bị san phẳng. Vậy là không còn một cửa sổ nào có thể nhìn vào khuôn viên của lâu đài nữa. Tuy nhiên, nó vẫn không tránh cho ông tổng thống ấy khỏi bị giết. Sau nhiều tháng nuốt hận vì tổng thống đã bám theo một cô ả, chính vợ ông đã bắn ông.
Cánh lính ở cửa Nam đứng nghiêm khi chiếc limousine đen to tướng từ từ đi vào. Từ ghế sau, tôi lơ đãng nhìn họ. Chiếc xe rẽ phải, đi về phía tư dinh, một toà nhà bằng đá trắng ở góc đông nam. Khi chiếc xe dừng trước sảnh, cánh lính nhìn tôi một cách bình thường vì việc thăm viếng Amparo hàng tuần của tôi đã thành thường lệ.
"Căn" của Amparo ở bên phải. Bên trái thuộc về cha nó, còn khu trung tâm là những phòng khách. Tôi được dẫn vào một phòng lớn ở đầu toà nhà dùng làm phòng khách của nó. Như thường lệ, tôi phải đợi. "Công chúa", như người ta gọi Amparo, không bao giờ đúng giờ cả.
Tôi đang đứng bên cửa sổ nhìn ra vườn thì Amparo đi vào, theo sau là bà bảo mẫu. Nó đi đến phía tôi trong bộ đồ trắng lộng lẫy, mớ tóc vàng óng buông trùm đôi vai trần, đưa tay ra một cách độc đoán. Theo lệ, tôi hôn tay nó, "Amparo", tôi nói.
"Dax", nó mỉm cười. "Hay quá, anh đã đến".
Chúng tôi nói những điều mà tuần nào cũng nói và giờ thì chúng tôi lại chờ những lời thông lệ của bà bảo mẫu. Những lời đó được phát ra đúng tiến độ. "Giờ thì ta để các con chơi với nhau".
Amparo gật đầu. Chúng tôi đợi bà khép cánh cửa rồi nhìn nhau cười, rồi đến cửa sổ, nhìn xuống.
Đúng là bà bảo mẫu đi ra từ cửa bên. Mèo Bự đang đợi bà ở đấy, mũ kêpi cầm tay. Cả hai vội vã đến căn phòng nhỏ của bà ta trong khu dành cho người hầu trong toà nhà.
Amparo bật cười. "Bà ấy chờ chuyến viếng thăm của anh cả tuần đấy".
"Không phải anh", tôi trả lời cộc lốc.
Nó cười và quay nhìn tôi. "Chúng mình xem họ chứ?"
Tôi lắc đầu. Hôm nay, tôi chẳng thấy thích thú gì.
Thỉnh thoảng chúng tôi vẫn vào phòng ngủ của Amparo, và ở đấy, từ một ô cửa, có thể nhìn qua một cửa mái kính xuống thẳng giường ngủ của bà bảo mẫu. Chán chết. Lần nào họ cũng cùng một điệu. Tôi không hiểu làm sao mà Mèo Bự không phát ngán, như chúng tôi đã ngán xem họ.
"Anh không biết", tôi đứng bên cửa sổ, nhìn ra ngoài.
"Thì anh có gì vui đâu".
Tôi nhìn nó. Mỗi lần gặp Amparo, ở tuổi lên chín, tôi thấy nó càng ngày càng đẹp, và nó cũng ý thức được điều đó. Nhưng nó như chỉ sống một mình, không được phép ra ngoài bốn bức tường lâu đài. Thậm chí không đến trường. Thầy giáo được đưa vào.
Mỗi buổi chiều, những đứa bạn chơi được phê chuẩn vào thăm nó. Hai con gái ông Moncada, giờ đang học ở trường nội trú ở Curatu, cũng đến một lần trong tuần. Những đứa con của các nhà quý phái và các chính trị gia địa phương cũng lần lượt được đưa vào.
Ngoài ra, Amparo sống trong một thế giới chỉ toàn là người lớn. Nó như hiểu biết rất nhiều điều ở đời và bao giờ cũng đầy ắp những mẩu đàm tiếu ác hiểm về mọi người.
Nó ngồi xuống sofa. "Ông hiệu trưởng bảo anh sao?"
Tôi thực sự ngạc nhiên. "Sao em biết là ông ấy cho gọi anh?"
Nó cả cười. "Bà bảo mẫu. Em nghe bà ấy bảo là nếu không vì bố anh thì anh đã  bị xuống hạng đấy".
"Bà ấy nghe ở đâu?"
"Từ một trong những cận vệ của cha em. Cha em vẫn  đòi xem sổ liên lạc của anh mà".
Ông tổng thống có bao nhiêu chuyện quan trọng trong đầu hơn là điểm của tôi ở trường. Làm sao lại có mối quan tâm đến tôi như thế?
"Cha luôn nghĩ về anh. Người bảo rằng nếu các anh của em còn sống thì họ đều sẽ giống anh". Nó buông một lời láu lỉnh. "Có lúc, em mong mình là con trai, để ba em khỏi sầu muộn".
"Ông nên có em hơn bất cứ ai trong họ". Tôi nói.
Mắt nó sáng lên. "Anh nghĩ thật thế à?"
"Tất nhiên".
"Em có thể làm như bất cứ đứa co ntrai nào".
"Anh chắc là em có thể", tôi đáp. Tốt nhất là tránh cãi  cọ với Amparo để khỏi kéo theo một cuộc tranh biện mới.
"Bao giờ anh đi Paris?"
Lần này thì tôi thật sự kinh ngạc "Paris?"
"Anh sẽ đi Paris", nó nói như đinh đóng cột. "Em nghe ba bảo thế. Cha anh sẽ đến đây trong một chuyến thường vụ. Mỹ và Anh khước từ đưa thường thuyền tới đây. Chúng ta phải tìm thị trường mới cho sản phẩm của mình, bằng không thì chẳng thể sống sót. Có lẽ Pháp là logic hơn cả".
"Có thể anh sẽ không đi cùng với bố".
Nó lắc đầu. "Không. Cha anh có thể đi nhiều năm. Hơn nữa, em nghe ba nói rằng ông sẽ thu xếp để anh học bên ấy".
"Thật là lạ vì ông chẳng hề nói gì với anh cả".
"Mới chỉ quyết định sáng nay. Em nghe hai người nói trong bữa ăn sáng".
Tôi nghĩ về chiếc tàu Pháp mới thấy ngoài cảng. Rất có thể hai cha con sẽ đi chiếc tàu đó. Tôi bước tới cửa sổ, nhìn ra. Không nhìn thấy con tàu ở cầu cảng. Chắc nó nhổ neo rồi.
Amparo đến cạnh tôi. "Chúng mình ra ngoài đi dạo nhé?"
"Nếu em muốn".
Chúng tôi đi bằng cửa riêng mở ra một khu vườn nhỏ. Vừa ra khỏi toà nhà thì hai người lính đã xuất hiện ở phía sau chúng tôi như từ trên trời rơi xuống . Chúng tôi đi qua cổng sắt rồi tản bộ tới toà nhà hành chính. Những hàng lính đứng nghiêm đưa tay lên vành mũ chào khi chúng tôi đi qua.
Một chiếc xe lăn bánh tới trước "tiểu lâu đài", tên mới được đặt cho nhà khách. Một người đàn ông chạy tọt vào toà nhà. Tôi không thấy mặt ông ta. "Ai đấy?"
Amparo nhún vai. "Em có lần nào thấy mặt ông ta đâu. Em nghĩ đấy là người quản lý của La Cora".
Tôi biết La Cora là ai. Cô ấy là người mới nhất trong cả loạt người ở trong tiểu lâu đài. Tổng thống thích đồ cung tiến.
"Em cho là ba sẽ chẳng đến đấy nữa đâu", bỗng Amparo nói.
"Vì sao?"
"Em chắc ba đã ớn La Cora rồi. Ba ăn cơm tối với em suốt cả tuần qua". Một thoáng móc máy trong giọng đắc thắng của nó.
Tất nhiên tôi biết về những người đàn  bà đã đến tiểu lâu đài. Họ đến và đi trong một chu trình ổn định. Họ ở lại khoảng sáu tuần lễ rồi biến mất. Vài ngày sau, một người khác lại xuất hiện.
Tổng thống của chúng tôi là người có khẩu vị phong phú. La Cora đã tồn tại lâu hơn hết mọi người. "Không biết trông cô ấy thế nào?"
"Nó không xinh lắm đâu", Amparo trả lời, vẻ miệt thị.
"Vậy mà tôi lại nghe nói cô ấy đẹp lắm".
"Em không cho là như thế. Nó chỉ có cặp vú bự thôi. Ra đến đây này". Nó đưa hai bàn tay ra phía trước, cách ngực một bộ.
"Tôi thích ngực bự".
Nó nhìn xuống ngực. Cặp vú của nó mới như hai chùm cau. "Em sẽ có cặp vú thật bự", nó nói. "Bự hơn của con đó".
"Anh chắc là em sẽ có". Tôi nói như để an ủi.
"Anh có thích gặp nó không?"
"Có".
Amparo quay ngoắt, bước lên tiền sảnh tiểu lâu đài. Lính gác đứng nghiêm, chào rồi mở cửa. Chúng tôi vào trong nhà. Người quản gia chào chúng tôi .
Amparo nhìn xuống ông ta. "Tôi đến kêu  La Cora".
Người quản gia đứng đấy, chần chừ. Tôi thấy là ông ta không biết làm thế nào. Tuy nhiên, Amparo vốn vẫn làm theo lối của nó. "Tôi không quen đợil".
Người quản gia cúi gập. "Xin mời công chúa đi lối này ạ".
Ông ta dẫn  chúng tôi đến một căn ở cánh trái của toà nhà rồi dừng ngoài cửa. Chúng tôi nghe tiếng thì thào từ trong vọng ra. Ông ta gõ cửa. Các giọng thì thầm im bặt. Một lát sau, tiếng một người đàn bà gọi vọng ra. "Ai đấy?"
"Công chúa đã đến".
"Công chúa à?"
"Vâng, thưa cô. Công chúa muốn gặp cô".
Lại tiếng thì thào  vội vã, rồi cánh cửa mở ra. Một người đàn bà cao với cặp mắt đen tròn và mớ tóc đen búi tó đứng giữa cửa. Cô ta nhìn Amparo rồi lùi lại. "Tôi rất hân hạnh, thưa công chúa."
Amparo tiến thẳng vào, cứ như thể phòng của chính nó. "Tôi nghĩ chúng ta  cùng uống trà chung cho vui".
Cô gái liếc vội người đàn ông đang đứng bên cửa sổ. Tôi thấy ông ta gật đầu như một cái máy. Mặt ông ta mỏng quẹt với bộ râu kiểu Vandich. Cặp mắt rất đen và long lanh.
"Tôi rất sung sướng, thưa công chúa". La Cor vỗ tay, người quản gia xuất hiện. "Cho chúng tôi dùng  trà đi, ông Juan".
Amparo nói "Tôi xin giới thiệu bạn tôi, Don Diogenes Alejandro Xenos".
La Cora khẽ nhún đầu gối và tôi cúi chào. "Rật hân hạnh, thưa cô".
"Tôi có thể giới thiệu người quản lý của tôi được không, ông Guardas?"
Người quản lý cúi chào, hai gót giầy của ông ta dập vào nhau kiểu quân sự đến đinh cả tai. "Xin sẵn sàng phục vụ", ông ta đứng thẳng người lên, nhìn La Cora. "Tôi tin là cô sẽ mời được ngài tới dự. Tôi đã thu xếp một chương trình đặc biệt cho đêm nay".
"Ông ấy sẽ dự".
Guardas đi ra phía cửa. "Xin phép quý vị. Tôi còn nhiều việc khẩn cấp quá".
Amparo gật đầu. Tôi nhìn cánh cửa đóng lại, và  chắc chắn ông ta từng là một người lính. Điều đó lộ rõ trong cách đi đứng, cả nhịp bước nhà  binh của ông ta.
La Cora khép lại kín hơn chiếc áo choàng tắm, sửa lại búi tóc. "Nếu như được biết trước quý vị tới, thưa công chúa, tôi phải sửa soạn kỹ càng hơn. Quý vị cho phép?"
"Tất nhiên".
Amparo quay nhìn tôi ngay khi La Cora rời phòng. "Cô ta vú bự đấy chứ?" nó thì thào.
Bỗng tôi nghe một giọng nói qua cánh cửa sổ để mở, bèn đến bên và nhìn ra. Không thấy ai nói, vì người đó đang đứng ngay dưới bậu cửa sổ. Nhưng giọng nói quen thuộc một cách lạ lùng.
"Bom phải đặt trên bàn, đúng nửa đêm!"
Giọng đáp thật khó phân biệt. "Sẽ được thực thi, thưa ngài".
"Cẩn thận. Đừng có ngớ ngẩn đấy!".
Một thoáng ắng lặng, rồi hai người đàn ông xuất hiện. Một là quản gia và người kia là quản lý Guardas. Gã quản gia mới đưa tay lên ngang chừng để chào thì ông Guardas đã vội vã rút đi. Hèn nào, giọng nói như quen thuộc, thì ra tôi mới nghe có mấy phút trước đó.
Tôi quay nhìn Amparo. Nó đang ngắm mình trong gương. "Anh có nghĩ là vú em cũng sẽ to như của La Cora không?"
"Anh nghĩ thế", tôi lạnh nhạt.
Nó thấy mặt tôi trong gương. "Anh có gì phiền muộn vậy?"
"Tối nay chắc họ sẽ có một cuộc vui lớn", tôi nói. "Thậm chí họ chuẩn bị cả pháo ở trên bàn".
"Anh nghe ở đâu thế?"
"Mới đây thôi. Tôi nghe ông quản lý của La Cora chỉ thị cho gã quản gia. Hắn muốn đặt một quả bom ở trên bàn vào đúng nửa đêm. Anh không hiểu họ giải trí kiểu gì nữa".
Giọng La Cora từ cửa vào. "Thực ra chỉ là một bữa tiệc nhỏ cho tổng thống và một vài nghị sĩ. Chúng tôi mừng bước sang năm thứ ba ngài là người lãnh đạo và là ân nhân của chúng tôi".
"Ồ, thế thì đúng là lý do cho quả bom vào lúc nửa đêm rồi".
La Cora cả cười. "Công chúa nói đúng như một điềm báo. Thực ra nó chỉ là kem đúc thôi".
"Đấy là một ý tưởng rất thông minh", tôi nói. "Bom kem".
La Cora nhìn qua Amparo. "Công  chúa biết cha mình thích kem như thế nào mà".
Đúng lúc đó gã quản gia bưng khay trà vào phòng.
"Tôi nghĩ lại rồi". Bỗng Amparo nói. "Tôi chợt nhớ là phải về. Anh có đi không, Dax?"
Tôi ái ngại nhìn La Cora rồi vội theo Amparo. Nó đã mất hút dưới sảnh. Tôi đuổi kịp thì nó vừa đến cửa vào tiền sảnh. "Em cáu kỉnh gì vậy?" tôi hỏi, mở cánh cửa cho nó.
"Em ghét mụ ấy!"
Hai người lính xuất hiện đàng sau khi chúng tôi đi về phía tư dinh. "Vì sao?" tôi hỏi. "Cô ấy đã làm  gì em nào?"
Amparo lạnh lùng nhìn tôi. "Anh cũng giống như tất cả bọn đàn ông, chẳng thấy gì ngoài cặp vú bự".
"Không đúng!"
"Đúng thế! Em thấy anh cứ dán mắt vào thị, nhỏ cả dãi ra".
"Thế em bảo anh phải để mắt vào đâu?" tôi hỏi. "Chẳng còn cái gì mà nhìn nữa".
Amparo dừng lại khi chúng tôi bước vào lối đi riêng của nó. "Anh chưa bao giờ nhìn em như thế".
"Anh sẽ", tôi hứa. "Khi nào em lớn lên".
"Nếu là người lịch sự thì phải ngay từ bây giờ!" tôi bật cười. "Anh cười cái gì?"
"Chắng có cái gì để nhìn cả".
Tôi thấy tay nó vung lên, vừa kịp tóm trước khi nó choang vào mặt tôi. "Tại sao em lại làm thế?"
Mắt nó long lên tức giận. "Tôi ghét anh!". Nó giằng tay khỏi tay tôi, vẻ ngạo mạn. "Tôi không bao giờ muốn gặp anh nữa!"
Tôi nhún vai, bước xuống các bậc thang.
"Dax!"
"Gì cơ?"
Nó đưa tay ra. "Anh không hôn tạm biệt em".
0
Chương 22
 Khó chịu bởi một bàn tay thô nhám lắc vai, tôi lăn đi, quấn kín trong chăn. Tấm chăn mềm, ấm áp. Tôi không muốn đến trường. Tôi có thể vờ bị ốm.
"Dậy đi, Dax!" giọng Mèo Bự hối hả.
Tiềm thức tôi nhận biết được cái giọng ấy. Tôi đã từng nhiều lần nghe giọng như thế, trong rừng, trong triền núi. Nó có nghĩa là nguy hiểm. Tôi ngồi lên, tỉnh như sáo. Đêm vẫn buông ngoài cửa sổ. "Gì thế?"
Mặt Mèo Bự đầy căng thẳng. "Bố cậu cần gặp cậu ngay!"
"Bây giờ?" tôi liếc đồng hồ, hai giờ sáng.
"Ngay tức khắc!"
Tôi thấy ớn lạnh nơi xương sống, vừa cài khuy áo vừa run. Bố tôi bị thương rồi! ông sắp chết rồi!
Mèo Bự vẫn ắng lặng đầy căng thẳng.
Tôi nhìn, khi hắn đưa cho tôi chiếc áo khoác. "Bom!"
Tôi thấy nỗi kinh hoàng trên mặt hắn. "Bom kem! Giết người!"
Hắn vội làm dấu. "Cậu biết à?"
Tôi nắm tay hắn. "Bố tôi còn sống không? Nói ngay đi!"
"Ông còn sống. Nhưng chúng ta phải nhanh lên".
Tài xế đã ngồi sau tay lái, và xe lao về lâu đài tổng thống.
Lính gác bỏ qua thông lệ, vẫy tay để chúng tôi vào.
Phòng nghỉ đông nghịt người. Tôi thấy tổng thống ngồi trên chiếc ghế ở góc phòng. Ông ở trần, một bác sĩ dang băng bó phía trên ngực. Mặt ông trắng bệch và nhăn nhúm khi ông nhìn tôi.
"Bố cháu đâu ạ?"
Ông hất hàm về phía phòng của La Cora. "Ở trong phòng ngủ".
Không một lời, tôi chạy về căn của La Cora, nơi mà Amparo và tôi đã đến vào buổi sáng. Thạch cao và bụi đất tung toé khắp nơi. Nửa bức tường phía xa đổ sập vào trong. Phòng ăn bị phá huỷ hoàn toàn. Những cửa sổ và cửa ra vào lớn kiểu Pháp toang hoác. Bàn ghế gẫy vụn, rải rác khắp nơi. Thi thể hai người đàn ông nằm trên sàn, nhưng tôi không kịp nhìn họ.
Tôi qua một cửa ra vào nữa để vào một phòng nghỉ nhỏ. Một cánh cửa đóng im ỉm với hai lính gác hai bên. Họ mở cửa cho tôi.
Tôi khựng lại ngay cửa. Hai linh mục đã ở đấy, một bàn thờ đã dựng tạm ngay chân giường và ánh sáng chập chờn của cây nến đổ bóng cây thập tự rung rinh trên tường.
Một người quỳ trước bàn thờ, người khác cúi xuống giường, giơ cây thập tự trên mặt bố tôi. Phía bên kia giường là ông bác sĩ, tay còn cầm mũi kim tiêm dưới da.
Hai chân tôi như đổ chì. Tôi loạng choạng bước vào phòng, vừa kịp được chiếc ghế bên giường. "Bố ơi!"
Mặt ông xám xịt, và khi cúi xuống hôn ông, tôi cảm nhận những giọt mồ hôi lạnh ngắt trên má ông. Ông không cử động.
Tôi nhìn bác sĩ. "Bố tôi chết rồi à?" Bác sĩ lắc đầu. "Đừng có dối tôi! Ông chết rồi!"
Tôi nâng bố tôi dậy. Ông rên lên, và tôi đặt vội xuống, tay như phải bỏng. Bên trái ông rỗng không. Tôi chằm chằm nhìn ông bác sĩ. "Cánh tay của bố tôi đâu?"
"Đã mất trong vụ nổ".
Cảm nhận có một thứ ánh sáng nhảy nhót trong đầu, tôi nhìn lên, thấy  vòm cuốn trên trần bằng gương, thấy những bóng kỳ quái của những người đứng quanh giường. Tôi chậm rãi nhìn quanh phòng. Toàn là nhung đỏ và nạm vàng. Treo trên tường toàn là tranh những người đàn ông và đàn bà khoả thân. Góc phòng nào cũng đặt tượng các cặp ôm nhau một cách dâm đãng.
Bố tôi lại rên lên. Tôi nhìn ông. Những giọt mồ hôi như trồi ra khỏi trán. Ông bác sĩ nhẹ nhàng lau đi. Tôi từ từ đứng lên. "Đưa bố tôi ra khỏi đây ngay!"
"Không," ông bác sĩ nói. "Di chuyển ông ấy rất nguy hiểm".
"Tôi không cần biết!" tôi la lên. "Đưa ông ấy ra khỏi đây ngay! Tôi không muốn ông chết trong phòng một con điếm!"
Tôi cảm nhận hai bàn tay ông linh mục trên vai tôi. "Con…"
Tôi lắc mạnh tay ông ra. "Tôi muốn đưa bố tôi ra khỏi đây! một người đàn ông không chết trên giường của một con điếm!"
Ông bác sĩ kịp dừng lời khi có giọng nói từ phía sau tôi. Tổng thống. Ông đứng giữa cửa, băng quấn quanh ngực trần. "Đứa trẻ là con trai ông ấy", ông nói. "Các người hãy làm theo lệnh của nó.."
"Nhưng.." ông bác sĩ phản đối.
"Chuỷên cả giường lẫn ông ấy đến phòng tôi trong tư dinh".
Tiếng nói của tổng thống là lệnh cuối cùng. Ông ra hiệu cho những người lính đứng sau. Họ đắp thêm chăn cho bố tôi. Mười người lính mới khiêng nổi chiếc giường nặng trịch đi về phía tư dinh. Mèo Bự và tôi lặng lẽ theo sau và chỉ đến khi bố tôi được chuyển vào phòng của chính tổng thống, tôi mới quay sang ông linh mục, người đã đi theo chúng tôi từ phòng ngủ của La Cora đến. "Thưa Cha, giờ thì con xin cầu nguyện".
Ánh sáng ban mai yếu ớt toả vào phòng khi một giờ sau, tổng thống mở cánh cửa ra vào. Ông nhìn tôi một thoáng rồi bước đến bên giường bố tôi. Tôi nhìn ông đứng lặng. Mặt ông vô cảm.
Ông quay về phía tôi. "Nào, người lính, đã đến giờ ăn sáng". Tôi lắc đầu. "Để ông ấy yên. Ông ấy sẽ sống". Tôi nhìn vào mắt ông. "Bác không nói dối cháu", ông lặng lẽ nói. "Ông ấy sẽ sống".
Tôi tin ông. Ông quàng tay trên vai tôi khi ra khỏi phòng. Đến cửa, tôi ngoái lại. Bố tôi như đang ngủ. Tôi thấy tấm vải trắng phập phồng trên ngực ông.
Chúng tôi xuống dưới nhà. Mùi thức ăn nóng xộc vào mũi bỗng làm tôi thấy đói. Tôi ngồi xuống bàn, một người hầu đặt một đĩa giăm bông và trứng trước mặt tôi. Tôi ăn ngấu nghiến.
Tổng thống ngồi ở đầu bàn, một người hầu khác mang cho ông tách cà phê đang bốc khói. Ông mặc chiếc áo rộng nên tôi không biết ông còn phải băng bó không, nhưng tôi thấy ông cầm tách cà phê lên một cách ngượng ngập.
"Giờ thì cháu thấy khá hơn chưa?" ông hỏi khi tôi ăn xong.
Tôi gật đầu. Một người hầu đặt một tách cà phê sữa trước mặt tôi. Cà phê nóng và ngon. Tôi nhấm nháp rồi đặt tách xuống. "Chuyện gì xảy ra cho La Cora?"
Mắt tổng thống nảy lửa. "Con điếm chuồn rồi".
"Như thế nào?"
"Khi món kem được đặt lên bàn thì nó rời phòng. Nó bảo nó muốn trang điểm thêm, nhưng thực ra nó chuồn ngay trên chiếc xe đen. Nó và một đứa nữa, gã đàn ông mang râu. Cả hai ngồi trên ghế sau. Thằng quản gia của nó lái xe". Ông cầm tách cà phê lên. "Chúng ta sẽ tìm thấy nó và khi đó…"
"Tại sao lính không giữ xe lại?"
"Không, và chúng đã trả giá cho sự chểnh mảng đó".
"Bom đặt trong kem?"
Mặt ông đầy kinh ngạc. "Sao cháu biết?"
Tôi kể cho ông nghe cuộc đối thoại bên dưới cửa sổ mà hôm qua tôi nghe được. Ông lặng thinh khi nghe tôi kể. Có tiếng gõ cửa. Ông gật đầu để người hầu ra mở.
Một viên đại uý, bước vào và đứng nghiêm chào. Tổng thống lơ đãng chào lại. "Thưa ngài, đã tìm được La Cora và tên quản gia".
"Tốt", tổng thống đứng lên. "Chính ta sẽ gặp hai đứa này".
"Thưa ngài, chúng chết cả rồi ạ".
"Ta đã nói là ta muốn chúng sống!" tổng thống hét lên.
"Khi chúng tôi tìm thấy chúng thì chúng đã chết, thưa ngài. Chúng trốn trên chiếc xe đen. Chúng bị bắn. Cổ họng vỡ toang".
"Tìm thấy chiếc xe ở đâu?"
"Trên đường Paredos, thưa tổng thống".
Tôi biết con đường này, từ triền núi xuống cảng.
"Đoạn nào trên đường?"
"Gần vịnh ạ".
"Còn tên có râu đâu?"
"Không thấy tăm hơi của hắn ạ. Chúng tôi đã lục tung cả khu vực, cả các bến cảng. Hắn biến mất tăm".
Tổng thống im lặng một thoáng rồi gật đầu. "Cảm ơn, đại uý".
Ông quay sang tôi. "Bây giờ cháu phải nghỉ ngơi. Bác đã bảo chuẩn bị một phòng cho cháu. Cháu sẽ sống ở đây cho đến khi ba cháu hoàn toàn bình phục".
Những giấc mơ xáo động giấc ngủ chập chờn của tôi. Trong một giấc mơ tôi trở lại sân nhà bố tôi. Mặt trời chói chang và nóng bỏng đến mức tôi thấy đầu tôi bốc cháy khi tôi nghe một giọng nói quen thuộc đến kỳ lạ. "Còn một viên đạn cuối cùng trong súng. Giết nó đi!".
Tôi bật ngồi dậy, mắt mở trừng trừng. Chiều muộn đang bu^Người xuống, bỗng tôi biết tôi đã nghe giọng nói ấy ở đâu. Gã quản lý của La Cora, ông Guardas, người đàn ông mang râu, chính là đại tá Guiterrez.
Tôi nhảy khỏi giường, mặc vội quần áo. Tôi không hiểu vì sao, nhưng lần này tôi phải tìm được hắn. Vì tôi có thể giết hắn
0
Mèo Bự xuất hiện khi tôi ra khỏi phòng. Tôi lao đi và đụng trán vào cửa phòng bố tôi. "Ông thế nào?"
"Ông vẫn ngủ", bác sĩ trả lời.
Tôi tiếp tục đi dọc hành lang về phía cầu thang. Tôi vừa bước xuống thì Amparo đi lên. Nó giang tay chặn tôi lại. Ít nhất thì nó cũng không chơi trò chơi công chúa. "Cha anh có khoẻ không?"
"Ừ, ông đang ngủ".
"Anh cũng ngủ đi. Em muốn anh ăn trưa với em".
Tôi chạy xuống các bậc thang. "Anh đang có việc phải làm".
Tôi ra phía cửa trước, vẫy xe. "Cậu đi đâu?" Mèo Bự hỏi.
"Ra bến cảng".
Tôi lao vào xe và hắn leo vội vào ghế trước, vặn vẹo người khi chiếc xe chuyển bánh. "Để làm gì?"
"Tìm gã đàn ông mang râu. Thằng cha đã biến mất ấy".
"Làm sao mà cậu tìm được? Cả quân đội lẫn cảnh sát đã xới tung thành phố lên mà họ chẳng thấy một dấu vết gì của hắn cả".
Tôi nhún vai, chỉ cho tài xế đến ngay cầu cảng mà hôm qua tôi đã ở đấy. Tôi xuống bến cảng, đi vào lối hẻm. Cả hai thằng hôm qua đều ở đấy, đứng câu quanh mố cọc.
"Hai thằng nhà quê!" Chúng nhìn lên, mặt mũi sưng xỉa, rồi lại tiếp tục câu. "Hai thằng nhà quê!" tôi lại gọi. "Hôm qua chúng mày ăn xin vài xu. Hôm nay tao đem cho một trăm peso đây!" Lần này chúng nhìn tôi chằm chằm với ánh mắt nghi ngờ. "Lên đi,tao không đánh chúng mày đâu".
Hai đứa ngập ngừng một lát rồi  buông cần câu xuống, leo lên. Đứa lớn bỏ mũ xuống . "Thế ngài cần gì ở chúng cháu ạ?"
...

Viếng thăm của nguyên thủ quốc gia? Đấy là một vinh dự". Ông đặt một tay lên vai tôi, đẩy tôi đi trước.
Viên thuyền trưởng rõ ràng là sầu muộn. "Tôi thành thật cầu xin được đặc ân của ngài ạ. Nếu chúng tôi không bắt kịp con triều này thì chuyến đi sẽ chậm mất nửa ngày".
Nhưng tổng thống thật tinh tế. "Chắc chắn là chính phủ của ông còn buồn hơn nếu như ông từ chối cuộc viếng thăm con tàu của tôi, con tàu mà tôi rất mực ngưỡng mộ? Tôi từng nghe về đoàn thương thuyền tuyệt vời của quốc gia vĩ đại của ông".
"Nhưng, thưa ngài…"
Giọng tổng thống bỗng gay gắt. "Thuyền trưởng, tôi buộc phải kiểm tra con tàu của ông hoặc là tôi bắt giữ nó, vì ông đã vi phạm sự hiếu khách của chúng tôi, để cho tên giết người, một kẻ thù của quốc gia  chúng tôi lẩn trốn".
"nhưng chúng tôi không có hành khách, thưa ngài. Chỉ có thuỷ thủ đoàn, những người đã luôn luôn cùng con tàu kể từ khi rời bến nhà hơn bốn tuần nay".
"Thế thì tập hợp thuỷ thủ đoàn lại để kiểm tra!" Thuyền trưởng ngập ngừng. "Ngay tức khắc!". Tổng thống ra lệnh.
Thuyền trưởng quay sang thuỷ thủ trưởng. "Báo cho mọi người lên boong".
Một lát sau, thuỷ thủ đoàn bắt đầu tập họp. Có ba mươi hai người cả thảy. Họ xếp hàng đôi ngoằn ngoèo dọc boong tàu.
"Nghiêm!"
Hai hàng đứng thẳng. Mọi người nhìn chăm chăm phía trước.
"Đây là toàn bộ thủy thủ đoàn?" tổng thống hỏi.
Thuyền trưởng gật đầu. "Vâng, thưa ngài".
Tổng thống quay sang đại uý Borja. "Đem hai người đi khám tàu. Không sót ngóc ngách nào".
Viên đại uý mang theo hai người lính. Số lính còn lại đứng nghiêm khi tổng thống bảo tôi. "Bây giờ chúng ta đi xem mặt bọn chúng chứ? Một tên có râu thì cũng không đến nỗi khó phát hiện".
Nhưng không phải giản đơn như vậy. Chẳng ai có râu cả. Khi chúng tôi dượt lại hàng người lần thứ hai thì đại uý Borja trở lại, báo cáo rằng không có ai khác ở trên tàu.
"Cháu có nhận ra hắn không?" giọng tổng thống đầy lo lắng.
Tôi lắc đầu. Nhưng hai đứa cung cấp tin tức không thể bịa chuyện được. Chúng nó không thông minh đến mức ấy.
Thuyền trưởng bước tới. Một ngữ điệu đắc thắng phảng phất trong giọng ông ta. "Tôi tin là giờ thì ngài đã được thoả mãn?"
Tổng thống không trả lời. Ông nhìn tôi, và tôi kêu lên "Không! Hắn ở đây, hắn phải ở đây! Rõ ràng là hắn đã cạo râu!"
"Vậy thì làm thế nào để cháu nhận ra hắn?"
Tôi ra hiệu. Tổng thống cúi xuống để tôi có thể nói thầm vào tai. Ông mỉm cười, gật đầu, rồi quay lại người đứng đầu hàng. "Tên anh là  gì?"
Người thuỷ thủ đứng nghiêm. "Diego Cárdenas, thưa ngài".
Tổng thống tiếp tục sang người thứ hai. "Tên gì?"
"Jesu María Luna, thưa ngài".
Chẳng bao lâu, chúng tôi đến người thứ ba kể từ cuối hàng. Tổng thống dừng lại trước một gã đàn ông mảnh dẻ trong bộ quần áo đầy dầu mỡ của thợ cho dầu. Mặt hắn đầy mỡ, thậm chí tóc hắn cũng bẩn thỉu.
"Tên gì?"
Người đàn ông liếc tôi, ngập ngừng rồi nói bằng giọng cục cằn. "Juan Rosario".
Tổng thống toan bước tới người kế tiếp, nhưng tôi quay lại. "Juan Rosario gì cơ?"
"Rosario Guard…" hắn bỗng câm bặt, lao vào tôi, hai tay hắn thít lấy cổ tôi. "Thằng mọi đen khốn nạn! Đáng lẽ tao phải giết mày hai lần rồi! lần này thì tao giết mày!"
Tôi bấu chặt hai tay hắn, cảm thấy ngực như lửa đốt và hai con ngươi như muốn bật ra. Mèo Bự xông vào phía sau hắn và tôi thấy gọng kìm trên cổ oải ra.
Tôi đứng thở dốc, nhìn xuống người đàn ông trên sàn tàu. Hắn lắc đầu, lăn đi và chằm chằm nhìn lại. Cặp mắt hắn vẫn thế, nhìn trân trân, lạnh lẽo và tàn bạo. Hắn có thể đổi màu tóc, cạo râu, thậm chí nói gằn giọng, nhưng hắn không thể thay đổi cặp mắt ấy. Cái liếc trực diện của hắn vào tôi như giọt nước cuối cùng đổ vào bát nước đầy.
Tôi hất vạt áo khoác, rút con dao găm giấu trong thắt lưng ra, tuốt dao, lao thẳng vào cổ hắn như tôi từng làm với con gà, nhưng có ai đó đã tóm lại trước khi tôi lao vào hắn. Tôi nhìn lên khuôn mặt của Tổng thống. Giọng ông điềm tĩnh, hiền hoà. "Cháu không cần phải giết hắn" ông nói. "Cháu không còn ở trong rừng nữa".
Ba tháng sau, tôi đứng trên boong một con tàu khác khi nó bắt đầu nhổ neo. Tôi nhìn xuống, thấy Amparo vừa nhẩy cỡn lên vừa vẫy tay. Tôi vẫy lại. "Tạm biệt! Amparo. Tạm biệt".
Nó vừa vẫy tay vừa la lên cái gì đó, nhưng bến cảng ồn quá, tôi không thể nghe được. Con tàu từ từ đi vào lòng kênh. Giờ thì đám đông trên bến cảng chỉ còn là một mảng mầu. Phía sau họ là thành phố và phía sau thành phố là những dãy núi xanh rờn, rực rỡ trong nắng chiều.
Bố tôi đặt tay lên vai tôi, kéo tôi về phía mình. Tôi nhìn ông. Mặt ông còn hốc hác và ông vẫn chưa quen với ống tay áo rỗng không phía bên trái, nhưng cặp mắt ông sáng, dịu dàng và tràn ngập một tình cảm mà tôi chưa thấy bao giờ.
"Con nhìn cho kỹ vào", ông nói, cánh tay còn lại của ông ôm chặt lấy tôi. "Chúng ta đang đến một thế giới khác".
Tôi liếc thấy Mèo Bự ở phía sau, rồi bố tôi nhìn vào đất liền, nói. "Một thế giới cũ nhưng sẽ là mới đối với bố con mình", ông tiếp tục. "Cho nên, con nhìn kỹ vào để nhớ lấy thành phố này, nhớ lấy những dãy núi, đồng ruộng kia. Bởi vì khi con trở về thì con không còn là đứa con nít nữa. Con sẽ là một người đàn ông!"
 
0
QUYỂN HAI – QUYỀN LỰC VÀ TIỀN
Chương 1
Ông bác sĩ rút kim tiêm dưới da ra một cách thành thục rồi quay sang người thanh niên đang đứng cạnh giường. "Mũi tiêm sẽ giúp ông ngủ, Dax, và giúp ông có đủ nghị lực để chống chọi với cơn khủng hoảng có thể đến vào đêm nay".
Người thanh niên không trả lời ngay. Anh đi đến đầu giường, nhẹ nhàng lau mồ hôi ẩm trên trán bố. "Nhưng ông cũng sẽ qua đời", anh lặng lẽ nói, không ngẩng lên.
Ông bác sĩ ngập ngừng. "Không thể nào  biết được. Lần trước cha anh đã đánh lừa chúng ta. Tất cả đều nằm trong bàn tay của Chúa trời". Ông cảm nhận tác động trong cặp mắt nâu sẫm của người thanh niên. Dax nói.
"Ở trong rừng, chúng tôi có câu, Chỉ cây cỏ mới đặt số phận mình trong bàn tay Chúa trời. Chỉ cây cỏ mới tin vào Chúa".
Giọng anh nhỏ nhẹ và ông bác sĩ vẫn chưa quen với thứ tiếng Pháp nhẹ nhàng, líu nhíu và gần như là không có trọng âm. Ông vẫn nhớ cậu ta phải chật vật với ngôn ngữ như thế nào khi lần đầu tiên ông gặp. Bảy năm trước đây. "Và anh không tin à?"
"Không, tôi đã chứng kiến quá nhiều điều khủng khiếp nên khó mà còn nhiều niềm tin".
Dax lại nhìn xuống bố. Jaime Xenos nhắm mắt, như đang nghỉ. Nhịp thở của ông nặng nề, khó khăn.
"Tôi đi kêu linh mục để làm những lễ tiết cuối cùng", ông bác sĩ nói. "Anh có đồng ý không?"
Dax nhún vai. "Tôi có đồng ý hay không, không quan trọng. Điều quan trọng là bố tôi có tin hay không".
"Tôi sẽ trở lại sau bữa tối", ông bác sĩ nói.
 
Khi cánh cửa trước của lãnh sự quán đóng lại sau lưng ông bác sĩ, Dax trở vào văn phòng bố. Mèo Bự và Marcel Campion, thư ký kiêm phiên dịch của bố anh, băn khoăn bước tới. Dax lắc đầu, đến bên bàn, lấy một điếu xì gà nhỏ trong hộp, châm hút.
"Anh nên gởi bức điện cho tổng thống", anh bảo Marcel, giọng anh bằng phẳng, đầy kiềm chế. "Cha sắp qua đời. Xin cho ý kiến".
Người thư ký vội vã rời phòng. Một thoáng sau, tiếng lách cách của chiếc máy chữ phảng phất qua cánh cửa đóng kín. Mèo Bự cáu bẳn nguyền rủa "Ôi, Đức Mẹ đồng trinh! Thế là chấm dứt ở đây. Ở cái xứ sở băng giá chết tiệt này!".
Dax lặng thinh. Anh đến bên cửa sổ nhìn ra ngoài.
Chiều xuống, trời bắt đầu mưa. Mưa làm mềm những toà nhà xám đen bẩn thỉu dọc đường đến Montmartre. Hầu như Paris lúc nào cũng mưa.
Hệt như buổi tối họ từ Corteguay lần  đầu tiên đặt chân đến đây, bảy năm về trước. Trông họ như lũ cả thộn, khăn quàng trùm kín mặt để chống đỡ một cách vô hiệu với mưa tuyết tháng Hai, đứng ngơ ngáo bên lề đường cùng với đống hành lý cao ngất mà tài xế taxi quẳng xuống.
"Cánh cổng chết tiệt này khoá rồi", Mèo Bự nói.
"Bấm chuông nữa đi. Phải có ai ở trong nhà chứ".
Mèo Bự đưa tay lên. Tiếng leng keng ngập cả khu phố nhỏ, dội từ nhà nọ sang nhà kia. Nhưng vẫn chẳng thấy ai trả lời.
"Tôi có thể mở cửa được".
"Thế còn chờ gì nữa?"
Hành động của Mèo Bự quá nhanh, mắt thường không dõi kịp. Khẩu automatic rung lên trong tay hắn và tiếng dội như sấm rền trong đêm.
"Thằng ngu!" Cha Dax giận dữ. "Giờ thì cảnh sát sẽ ập đến và cả thế giới biết là chúng ta không vào được chính lãnh sự quán của mình! Người ta sẽ được một mẻ cười!" ông nhìn cánh cổng. "Mà có được gì đâu. Cổng vẫn đóng".
"Không ạ", Mèo Bự lấy chân hẩy. Cánh cổng mở ra, bản lề kêu ken két. Ông Xenos bước vào, nhưng Mèo Bự giang tay ngăn lại. "Tôi thấy thế nào ấy, như có mùi tử khí. Để tôi vào trước thì hơn".
"Vớ vẩn! Hơn kém cái gì. Mà tại sao lại hơn với chả kém?"
"Quá rõ rồi! Ramizez phải ở đây, vậy mà nhà trống không. Có thể là một cái bẫy. Ramirez có thể đã bán đứng chúng ta".
"Bậy nào. Ramírez không bao giờ làm thế. Tổng thống đã bổ nhiệm anh ta giữ chức này, vì chính ta tiến cử".
Tuy vậy, ông vẫn đứng sang bên, nhường Mèo Bự dẫn đầu trên lối vào toà nhà. Cỏ dại mọc lút tất cả, phất những giọt sương ẩm ướt vào chân họ. Một cách vô thức, giọng Dax chỉ còn là tiếng thì thầm. "Cậu có cho là cửa trước cũng khoá không?"
"Để xem", Mèo Bự vẫy tay để mọi người dạt sang một bên, rồi dán bụng xuống đất, hắn cẩn trọng thò tay vào núm cửa.
Cánh cửa êm ái mở ra. Mọi người căng mắt nhìn vào vùng tối bên trong, nhưng chẳng thấy được gì. Khẩu automatic lại bỗng xuất hiện trên tay Mèo Bự. Cặp môi hắn cử động trong một lời thì thầm "Ta đi với Chúa đây!"
Mọi người nghe tiếng hắn vấp ngã trong bóng tối, tiếng chửi thề, rồi tiếng hắn gọi đúng lúc đèn bật sáng. "Không có ai cả".
Mọi người trố mắt nhìn. Cứ như thể một cơn lốc vừa tràn qua đây. Mọi thứ tung toé khắp nơi. Chiếc bàn trong bếp có lẽ là thứ đồ đạc duy nhất còn đứng đủ trên bốn chân.
"Bọn trộm đã qua đây" Mèo Bự nói.
Cha Dax nhìn hắn. Một biểu hiện đau đớn kỳ lạ trong cặp mắt, như thể ông vẫn chưa hiểu được những gì ông nhìn thấy. Cuối cùng ông buồn bã nói "Không phải bọn ăn trộm. Bọn phản bội".
Mèo Bự lặng lẽ cuốn điếu thuốc khi cha Dax nhặt một tờ giấy đấy sàn xem. "Có thể chúng ta vào nhầm nhà", hắn toan an ủi.
Cha Dax lắc đầu. "Không, chúng ta vào đúng nhà rồi". Ông giơ tờ  giấy ra. Một công văn chính thức của Corteguay.
Dax nhìn cha. "Con mệt quá".
Ông già kéo con trai vào lòng, nhìn quanh phòng rồi nhìn Dax. "Chúng ta không thể ở đây. Tôi có thấy một nhà nghỉ ở chân đồi. Đi thôi, không biết họ có gì cho mình ăn không, nhưng ít nhất thì chúng ta cũng có một chỗ qua đêm khả dĩ".
Một cô gái ăn vận gọn gàng nhún chân chào khi mở cửa, líu lo thứ tiếng Pháp của Paris "Xin chào các ông".
Cha Dax chùi chân cẩn thận trên thảm cửa trước khi bước vào. Ông bỏ mũ "Cô có ba phòng ngủ cho đêm nay không?"
Mặt đầy ngạc nhiên, cô ta liếc Mèo Bự hai tay đầy hành lý, nhã nhặn hỏi "Các ông có hẹn không ạ?"
Bây giờ thì đến lượt mọi người bối rối. "Hẹn? có nghĩa là đặt trước à?" Cha Dax cố tìm một từ đúng trong mớ kiến thức Pháp văn hạn hữu của ông. "Có cần thiết không?"
Cô ta mở cánh cửa sang một phòng khách nhỏ. "Xin quý vị đợi một chút ở đây. Tôi sẽ kêu  bà Blanchette".
"Cảm ơn", cha Dax dẫn mọi người vào. Căn phòng được bầy biện tỉ mỉ với thảm dầy sẫm màu, sofa và ghế bành mềm mại. Chiếc lò sưởi đang bập bùng, thật ấm áp. Trên kệ là chai brandy.
Một giọng sung sướng phát ra từ sâu thẳm cổ họng Mèo Bự. "Có thế chứ", hắn nói, bước tới chiếc kệ. Hắn nhìn lại ông lãnh sự. "Tôi rót cho ngài một ly brandy chứ ạ?"
"Không biết có nên hay không, bởi vì chúng ta không biết brandy được bày ra cho ai".
"Cho khách ạ", logic của Mèo Bự thật không chê vào đâu. "Nếu không thì để ra đây làm gì?"
Hắn rót cho ông một ly rồi tợp nhanh ly của mình. "Tuyệt", hắn nhanh nhẹn rót cho mình một ly nữa.
Dax ngã xuống chiếc sofa đặt trước lò sưởi. Sự ấm áp của ngọn lửa như liếm trên mặt. Nó thấy đôi mắt trĩu xuống .
Cửa mở và cô gái đưa một phụ nữ đứng tuổi, mặn mòi vào phòng. Bà vận chiếc váy dài nhung thẫm màu, hai chuỗi ngọc trai trên  cổ và một viên kim cương to đùng gắn trên mặt chiếc nhẫn vàng ở ngón tay.
Cha Dax cúi đầu chào. "Jaime Xenos".
"Ông Xenos", bà liếc Mèo Bự rồi Dax. Nếu bà có ý phản đối Mèo Bự đã tự rót brandy cho mình thì chắc bà cũng chẳng để lộ ra. "Tôi có thể giúp gì cho quý vị đây".
"Chúng tôi cần chỗ ngủ qua đêm" Cha Dax nói. "Chúng tôi ở lãnh sự quán Corteguay trên phố, nhưng chắc có gì trục trặc đó. Không có ai ở đấy cả".
Giọng người đàn bà cực kỳ nhã nhặn. "Thưa ông, tôi có thể xem hộ chiếu của ông được không? ấy là quy định mà".
"Tất nhiên", cha Dax đưa ra các tấm hộ chiếu bọc da màu đỏ.
Bà Blanchette xem qua rồi nhìn vào Dax. "Con trai ông?"
"Vâng. Và tuỳ viên quân sự của tôi".
Mèo Bự sung sướng ra mặt trước sự thăng trật bất ngờ này, và nhanh nhẹn tự thưởng cho mình một ly brandy.
"Ông là lãnh sự mới à?"
"Vâng, thưa bà".
Bà Blanchette trả lại hộ chiếu, lưỡng lự một thoáng rồi nói. "Xin lỗi ngài, cho tôi ra xem lại phòng ốc. Cũng đã muộn mà cũng khá nhiều khách đặt phòng".
Ông lãnh sự lại cúi chào. "Cám ơn lòng tốt của bà".
Bà Blanchette khép cửa lại phía sau, đứng yên một lát. Rồi bà nhún vai, đi xuống, mở cửa vào một căn phòng còn được bài trí cầu kỳ hơn cả căn phòng bà vừa bước ra.
Giữa  phòng là chiếc bàn lớn với năm người đàn ông đang đánh bài. Đứng sau họ là các cô gái trẻ đẹp, ăn vận đồ thời thượng nhất. Hai cô gái khác đang trò chuyện trên chiếc sofa bên lò sưởi.
"Banco", một người chơi bài kêu.
"Khỉ thật!" người kia trả lời, ném bài xuống bàn. Ông ta nhìn lên bà Blanchetted. "Có ai đó hay ho không?"
"Em không biết. Nam tước ạ" bà trả lời. "Đấy là lãnh sự mới của Corteguay".
"Hắn muốn gì? tin tức về cái thằng chó đẻ Ramirez à?"
"Không" bà  trả lời. "Ông ta muốn phòng ngủ qua đêm".
Tay chơi bài, người vừa mua đứt một nhà băng, khúc khích cười. "Gã tội nghiệp này có thể đã thấy dấu tích của ông. Tôi đã bảo ông là chẳng chóng thì chầy cũng sẽ xảy ra mà".
"Sao em không tống khứ hắn đi?" Nam tước hỏi.
"Em không biết" bà Blanchette trả lời, giọng bối rối. "Em cũng toan làm thế, nhưng khi thấy thằng nhỏ…"
"Hắn mang theo con trai à?" Nam tước hỏi.
"Vâng" bà lưỡng lự một lát rồi quay ra cửa. "Có lẽ em chẳng làm gì được".
"Một phủt" Nam tước De Coye đứng lên. "Tôi muốn thấy họ".
"Ông làm sao thế, Nam tước?" Người chơi bài ngồi bên trái hỏi. "Ramizez chơi ông chưa đủ ngay trên chiếc bàn này à? Hắn nợ ông hơn tất cả chúng tôi – ít nhất cũng một trăm ngàn franc".
"Đúng" chủ nhà băng đồng ý. "Thế ông tưởng có thể đòi tay lãnh sự mới à? Chúng ta đều biết Corteguay đang vỡ nợ".
Nam tước De Coyne nhìn đám bạn bè, nói "Các ông là một bọn ưa chỉ trích cay độc. Còn tôi chỉ đơn giản là tò mò muốn xem lần này họ đưa đến cho chúng ta một tay như thế nào mà thôi".
"Thì có khác gì? Bọn chúng giống nhau hết. Tất cả cái mà chúng nó thực sự muốn là tiền của chúng ta".
"Ngài có muốn gặp họ không ạ?" Bà Blanchette hỏi.
Nam tước lắc đầu. "Không, chỉ nhìn họ thôi".
Ông ta theo bà đến bức tường ngăn, rồi bà kéo tấm rèm. Có một ô kính nhỏ ở trên tường. "Ta có thể thấy họ", bà nói,"nhưng họ không thấy được ta. Có gương ở phía họ".
Nam tước gật đầu rồi nhìn vào phòng. Hình ảnh đầu tiên ông ta thấy là cậu bé mặt đầy mệt mỏi đang ngủ thiếp trên sofa.
"Nó đúng khoảng tuổi con trai tôi " ông ta ngạc nhiên nói với bà Blanchette. "Mẹ thằng bé chắc đã chết, nếu không thì nó chẳng đi với bố thế này. Có ai biết Ramirez ở đâu không?"
Bà Blanchette nhún vai. "Người ta đồn là hắn có một chỗ ở vùng Riveria của người Ý, nhưng cũng chẳng ai biết chắc cả. Một đêm vào tuần trước, một chiếc xe tải chuyển tất cả các thứ ở lãnh sự quán đi".
Mặt Nam tước sa sầm. Vậy là vì sao họ phải đến đây thuê phòng. Ông biết thừa là đối với Ramirez thì một mẩu củi cũng chẳng còn. Ông thấy người đàn ông cao lớn bước đến bên sofa, đặt chiếc gối dưới đầu cậu bé. Có một biểu hiện dịu dàng đến bí ẩn trên khuôn mặt sẫm mầu của người đàn ông.
Nam tước bỏ tấm rèm, quay sang bà Blanchette. Người đàn ông tội nghiệp này sẽ hứng đủ phiền hà nếu có tin đồn lan ra là một lãnh sự mới của Corteguay đã đến Paris. "Dành cho họ phòng của tôi. Chắc Zizi không phản đối nếu tôi qua đêm ở phòng cô ấy".
0
Chương 2
 Đã mười giờ sáng mà cứ như thể là nửa đêm khi Marcel Campion nghe tiếng gõ cửa. Anh lăn đi, chụp chiếc gối lên đầu, nhưng vẫn nghe giọng the thé của mụ chủ nhà.
"Được rồi, được rồi!" Anh vừa ke6u vừa ngồi dậy. "Tí nữa quay lại. Tôi sẽ trả tiền nhà, tôi hứa với bà mà!"
"Thưa ông, ông có điện thoại ạ".
"Tôi à?" Marcel nhíu mày cố nghĩ xem ai có thể gọi điện cho mình. "Bảo họ cầm máy. Tôi xuống ngay đây".
Loạng choạng đến chậu rửa, anh vặn vòi rồi táp nước lạnh cóng lên mặt, cặp mắt đỏ ngầu nhìn chằm chằm một cách độc địa vào anh từ trong chiếc gương bé tí. Anh lơ mơ nhớ lại thứ vang gì anh đã uống đêm qua. Loại gì thì loại, nhưng chắc chắn là kinh khủng, bởi nó rất rẻ.
Bà gác dan ngồi sau bàn khi anh cầm điện thoại lên, cố vờ như không nghe, nhưng anh biết là bà chẳng để sót lời nào. "Alo?"
"Ông Campion?" một giọng nữ tươi tắn hỏi.
"Vâng".
"Xin cầm máy. Nam tước De Coyne đang gọi".
Và chưa kịp ngạc nhiên, Marcel đã nghe câu hỏi "Có phải ông Campion đã từng làm việc ở lãnh sự quán Corteguay không?"
"Vâng, thưa ngài" giọng Marcel đầy trọng thị. "Nhưng tôi không còn làm việc ở đấy nữa. Lãnh sự quán đã đóng cửa".
"Tôi biết. Nhưng một lãnh sự mới vừa tới. Tôi cho là anh nên quay lại", giọng Nam tước cụt ngủn.
"Nhưng thưa ngài, ông lãnh sự cũ còn nợ tôi ba tháng lương!"
Rõ ràng là Nam tước không quen đề nghị của mình bị từ chối. "Trở lại làm việc. Tôi sẽ đảm bảo lương của ông".
Nam tước dập máy, để lại Marcel đứng nhìn chằm chằm vào chiếc điện thoại câm lặng. Từ từ, anh đặt nó xuống. Bà gác dan đến bên anh, mỉm cười "Ông trở lại làm việc?"
Anh không đáp, bước đến cầu thang mà lòng còn băn khoăn. Nam tước De Coyne là một trong những người giàu nhất nước Pháp. Tại sao ông ấy lại quan tâm đến cái nước Corteguay bé tí ấy? Hầu hết mọi người còn chẳng biết nó ở đâu.
Chuông điện thoại lại ré lên, bà gác dan nhấc máy, rồi đưa cho Marcel. "Của anh đấy".
"Alô?"
"Campion", giọng cụt ngủn như đã quen ra lệnh, "tôi muốn anh đến đấy ngay!".
Marcel liếc đồng hồ khi anh rẽ vào đường Pelier để lên đồi. Mười một giờ. Thế đã đủ nhanh. Thậm chí đối với Nam tước.
Người bán tạp phẩm dang quét vỉa hè trước cửa tiệm chào anh. "Chào Marcel", giọng ông vui vẻ "Anh trở lại có việc gì thế?"
"Xin chào. Tôi đến lãnh sự quán".
"Trở lại làm việc?" ông bán tạp phẩm nhìn anh một cách cay đắng. "Thằng khốn nạn Ramirez đã trở lại à? Hắn vẫn còn nợ tôi hơn bảy nghìn tranc đấy".
"Ba ngàn francs", Marcel nhắc lại như máy. Anh nhớ mọi thứ theo kiểu ấy.
"Ba ngàn, bảy ngàn, thì có khác gì nhau? Ramirez biến mất và tiền của tôi cũng vậy". Ông bán tạp hoá đứng tựa cây chổi. "Chuyện gì thế?" ông bí mật hỏi. "Anh có thể nói với tôi mà".
"Tôi không biết", Marcel thành thực trả lời. "Tôi chỉ vừa nghe có ông lãnh sự mới tới. Tôi nghĩ là có thể kiếm lại công việc cũ".
Ông bán tạp hoá đầy suy tư. "Có thể tiền của tôi cũng chưa đến nỗi biến mất". Ông nhìn Marcel "Năm mươi phần trăm cho anh nếu như anh đòi được cho tôi. Một ngàn rưởi franc đấy".
"Ba ngàn rưởi", Marcel trả lời như máy.
Ông bán tạp hoá nhìn anh một thoáng rồi nở nụ cười hồ hởi. Ông véo vào cánh tay Marcel. "Ái chà, cái anh chàng Marcel này. Tôi vẫn bảo là phải dạy sớm thì mới thắng anh được mà. Đúng là ba ngàn rưởi franc".
Marcel tiếp tục lên đồi. Giờ thì anh đã thấy toà lãnh sự. Vì một thôi thúc nào đó, anh tạt sang bên lề đối diện. Điều đầu tiên anh thấy là cánh cổng để mở ra, thậm chí từ bên kia đường, anh cũng thấy được chiếc khoá đã  bể. Anh gật gù. Có lẽ họ đã phải đập bể nó để vào. Anh không biết người chủ nhà sẽ nói sao đây.
Điều thứ hai anh thấy là một thằng bé đang cắt cỏ trong vườn trước. Mặc dù trời lạnh, nó chỉ mặc áo lót và những bắp thịt nơi cánh tay nó cứ cuồn cuộn mỗi khi nó vung con dao quắm lên. Mặt nó tập trung đầy vẻ nghiêm trọng.
Marcel nhìn chằm chằm lưỡi dao quắm trong tay thằng bé. Anh chưa từng thấy nó bao giờ. Rồi anh mới nhớ anh đã thấy trong một vài tấm hình mà Ramirez cho anh xem. Thằng bé không phải người Pháp, điều đó thì rõ rồi. Không phải, vì cái cách nó điều khiển con dao quắm thiện nghệ đến thế. Dù là ai chăng nữa thì nó cũng đến với ông lãnh sự mới. Bỗng thằng bé ngẩng đầu lên và bắt gặp cái nhìn của anh.
Cặp mắt sẫm màu của nó đầy vẻ thách thức. Từ từ, thằng bé đứng lên. Tay nó vẫn cầm con dao quắm, nhưng giờ thì Marcel cảm thấy như nó đang nhắm thẳng cổ mình. Cặp môi thằng bé mím lại một cách man rợ mà vẫn để lộ hai hàm răng trắng đều.
Bất giác, Marcel lại run rẩy. Rồi, chẳng cần hiểu vì sao, anh quay xuống đồi. Mãi cho đến chỗ rẽ, anh vẫn còn muốn thề là cặp mắt thằng nhỏ đã xuyên vào sống lưng anh.
Anh nhào vào một quán bar. "Cognac!" anh uống vội rồi kêu một tách cà phê. Trong khi nhấm nháp tách cà phê, anh mới cảm nhận sự ấm áp của ly cognac. Nếu không phải là Nam tước De Coyne đã đích thân bảo thì anh đã chẳng bao giờ trở lại làm việc ở đấy, giữa những kẻ man rợ ấy.
Từ bàn của anh, Marcel thấy thằng bé vào tiệm tạp hoá bên đường. Đầy thôi thúc, anh kêu tính tiền, thanh toán rồi bước sang. Qua cánh cửa ra vào để mở, anh thấy thằng bé chọn hai bánh mì gối, một miếng phó mát và một khúc xúc xích to tướng. Marcel lưỡng lự một thoáng rồi bước vào.
Thằng bé đang mải nhìn ông bán tạp hoá gói đồ cho nó.
"Ba trăm franc", ông bán tạp hoá nói.
Thằng bé nhìn tấm hoá đơn trong tay. Marcel thấy rõ là nó chỉ có hai trăm franc. "Ông phải lấy thứ gì lại vậy", nó nói thứ tiếng Pháp ngập ngừng.
Ông bán tạp hoá thò tay lấy khúc xúc xích thì Marcel nói "Đừng có lừa đảo như vậy chứ. Đây là cách ông tính để đòi tiền của lãnh sự quán Corteguay đấy à?"
Thằng bé như hiểu được từ lãnh sự quán, phần còn lại quá nhanh đối với nó. Nó nhìn Marcel.
"Bận gì đến anh, Marcel", ông bán tạp hoá lầu bầu. Nhưng rồi cũng đặt lại khúc xúc xích và nhét hai trăm franc vào túi.
"Cảm ơn", thằng bé nói rồi ra khỏi cửa hàng.
Marcel đi theo nó trên vỉa hè. "Cậu phải luôn luôn cẩn thận với họ đấy", anh nói tiếng Tây Ban Nha. "Họ sẽ đánh cắp cả răng nanh của cậu nếu như họ cho cậu là người nước ngoài".
Cặp mắt thằng bé đen và sâu thẳm. Nó gợi cho Marcel tới cặp mắt của con hổ mà có lần anh thấy trong vườn thú. Cũng thứ ánh sáng hung hung hoang dã ấy đã loé lên ở đấy. "Cậu làm cho ông lãnh sự Corteguay mới đấy à?"
Cặp mắt thằng bé không chớp. "Tôi là con ông ấy. Anh là ai?"
"Marcel Campion. Tôi từng là thư ký và phiên dịch cho lãnh sự quán".
Sắc mặt Dax không thay đổi nhưng Marcel cảm nhận, hơn là nhìn thấy, một động thái lẹ làng của tay nó. Hình con dao thoáng dưới áo nó. "Tại sao anh lại đứng nhìn tôi?"
"Tôi nghĩ là ông lãnh sự mới có thể sử dụng dịch vụ của tôi. Nếu không…" Anh không nói hết câu, ý nghĩ về con dao được giấu kỹ làm cho anh phát hoảng.
"Nếu không… thì sao?"
"Có chuyện ba tháng lương mà ông lãnh sự cũ thiếu tôi" Marcel gấp gáp trả lời.
"Ramirez?"
"Ramirez." Marcel gật đầu. "Ông ta cứ hứa lần lữa là tuần tới tiền sẽ về. Và rồi một buổi sáng tôi đến làm  việc thì lãnh sự quán đã đóng cửa".
Thằng bé nghĩ một thoáng. "Tôi cho là anh nên đến nói chuyện với bố tôi".
Marcel bồn chồn nhìn xuống tay thằng bé. Nhưng tay nó trống trơn. Anh thở phào nhẹ nhõm. "Tôi sẽ rất vinh dự".
Họ cùng nhau đi lên phố.
Khi họ về đến lãnh sự quán, ông lãnh sự mới ngồi sau chiếc bàn gỗ mảnh dẻ giữa tiền sảnh trống trơn, rộng mênh mông, một đám đàn ông giận dữ ,hoa tay múa chân, la thét trước mặt ông.
"Gato Gordo!" thằng bé quát lên, lao thẳng qua đám người, đến cha nó.
Chỉ một loáng, Marcel thấy mình bị quẳng ra ngoài khi một người đàn ông bực on nhẩy từ cửa vào. Anh quay nửa vòng trên không trước khi lấy lại được thăng bằng và khi đứng lên được thì thấy người đàn ông bự con và thằng bé, với những con dao trong tay, đang cùng đương đầu với đám đông.
Không khí ắng lặng bỗng bao trùm cả căn phòng. Marcel thấy những bộ mặt tái dại vì sợ hãi và anh chợt nhận ra rằng mình cũng đã vừa hãi hùng như thế nào. Trong một khoảnh khắc, tất cả bọn họ đang ở một thế giới khác . Một thế giới của chết chóc và bạo lực. Paris đã biến mất.
Và anh hiểu ngay rằng đây không phải là lần đầu tiên người đàn ông bự con và thằng bé phải cùng nhau đương đầu với hiểm nghèo. Đã có nhiều thời điểm như thế này. Anh hiểu được hầu như từ dòng giao lưu không lời giữa hai con người này. Phản ứng của họ như xuất phát từ một não bộ chung. Cuối cùng, một người trong đám đông nói. "Nhưng chúng tôi chỉ cần tiền của mình thôi".
Marcel mỉm cười. Đây là cách khước từ thanh toán mà họ chưa từng nghiệm trải. Còn rất hữu hiệu nữa. Anh mong mình cũng làm được như vậy với các chủ nợ của mình.
Ông lãnh sự từ từ đứng lên. Marcel trố mắt kinh ngạc. Ông ta cao hơn nhiều so với người ta tưởng. Mặt ông buồn rầu và mệt mỏi, cái mệt mỏi tinh thần chứ không phải thể chất.
"Nếu các ông chờ ở bên ngoài", ông nói, giọng mệt mỏi. "Tôi sẽ thảo luận về những hoá đơn của các ông, với từng người một".
Các chủ nợ quay ra, lặng lẽ xếp hàng sau Marcel. Khi người cuối cùng đã ra, anh nghe giọng thằng bé "Đóng cửa lại, Marcel".
Đấy không còn là giọng của một thằng bé nữa ,đấy là giọng của một chiến binh đã quen với mệnh lệnh của mình được phục tùng. Marcel lặng lẽ đóng cửa lại. Khi anh quay lại, những con dao đã biến mất, chỉ còn thằng bé ngồi sau bàn, cạnh cha nó.
"Bố có sao không?" nó hỏi với giọng đầy yêu thương. Marcel không hoàn toàn lĩnh hội nổi, trên một bình diện nào đó, thằng bé hầu như lại là cha và người cha lại là con.
0
Chương 3
Trong văn phòng được lát gỗ với những đồ đạc bọc da nặng chịch, Nam tước ngồi sau chiếc bàn chạm trổ khổng lồ, chăm chú lắng nghe. Thật khó mà có thể tin được toàn bộ những chuyện đã xảy ra trong một tuần lễ kể từ khi Marcel trở lại làm việc. Nhưng giọng Nam tước đã kéo anh lại từ khoảnh khắc không tưởng. "Tổng số nợ mà Ramirez để lại là bao nhiêu?"   
"Gần mười triệu franc. Tám mươi triệu peso của họ".
Như thói quen, Nam tước chuyển đổi một cách tự động khoản tiền sang đô la và bảng. Một trăm sáu mươi ngàn đôla. Bốn mươi ngàn bảng. Ông lắc đầu. "Và ông lãnh sự tự trả hết bằng tiền riêng?"
Marcel gật đầu. "Ông ấy thấy đấy là trách nhiệm của mình. Ramirez là do chính ông tiến cử và ông cho là chính phủ thì quá nghèo để có thể gánh thêm một khoản nữa".
"Ông ta kiếm tiền ở đâu?"
"Cánh đổi tiền. Ông trả phí đổi tiền hai mươi phần trăm".
"Chính vì sau chuyện này mà ông lãnh sự quyết định đến Ventimiglia để xem thử Ramirez có làm một điều gì đó để hoàn trả không chứ gì?"
Marcel gật đầu. "Nhưng cũng đã quá muộn. Năm ngày làm việc trong cái nhà ẩm thấp và không đốt sưởi ấy, mà lại còn nằm trên sàn lạnh giá với một chiếc chăn đơn, đã quật ngã ông. Sáng hôm đó ông Xenos tỉnh dậy cùng cơn sốt cao. Buổi chiều, tôi cho gọi bác sĩ và chỉ thoáng nhìn, bác sĩ đã buộc ông lãnh sự phải nhập viện ngay. Ông Xenos phản đối, nhưng rồi bị ngất xỉu. Chúng tôi khiêng ông ra xe của bác sĩ rồi đi thẳng đến bệnh viện".
Nam tước lắc đầu. "Danh dự của một người đồng thời là tài sản quý nhất và cũng là sự xa xỉ đắt giá nhất của người ấy".
"Tôi có thể hiểu được ông lãnh sự", Marcel nói. "Ông ta là một trong những người đáng trọng nhất, lý tưởng nhất mà tôi từng thấy. Nhưng con trai ông ấy luôn làm tôi bối rối. Nó không giống cha chút nào. Ở đâu cha nó suy tư thì nó lại phản ứng nhanh, ở đâu cha nó tràn đầy xúc cảm thì nó lại đầy kiềm chế. Nó như một con thú trong rừng sâu, ngay cả trong cách di chuyển, suy nghĩ và hành động. Nó chỉ có một điều trung thành. Đối với cha nó".
"Và họ đi Ventimiglia – thằng bé cùng với viên cận vệ?"
Marcel gật đầu. Anh còn nhớ khi họ từ bệnh viện trở về toà lãnh sự quán băng giá ấy. Anh đã nhìn thằng bé khi canh cửa khép sau lưng họ. Đó là một mặt nạ không thể đọc được.
"Có lẽ tôi nên đi lấy lại tiền vé đi Ventimiglia của cha anh và của tôi", Marcel nói.
"Không", giọng Dax đanh lại. Nó liếc Mèo Bự. Marcel nghĩ là đã có một thông tin vô hình chuyển giao giữa hai người, bởi vì Mèo Bự hầu như đã gật đầu trước khi Dax nói tiếp "Lấy thêm một vé. Tôi cho là ba chúng ta nên đến thăm ông bạn Ramirez một chút, cũng đã lâu quá rồi".
Sau đó, họ ngồi bên sườn đồi trong ánh nắng chiều phai bạc của Riviera, nhìn xuống toà biệt thự. Nơi đó, quanh chiếc bàn kê giữa sân, có ba gã vây lấy chai vang. Miền quê tĩnh lặng, âm thanh rì rào của giọng nói họ vọng tới triền đồi.
"Đứa nào là Ramirez?"
"Cái gã mảnh dẻ nhưng rắn chắc ngồi ở giữa ấy" Marcel trả lời.
"Hai đứa kia là ai?"
"Bọn bảo vệ. Hắn không bao giờ thiếu chúng cả".
Mèo Bự nguyền rủa. "Tôi biết thằng to con. Sánchez. Nó từng là  bảo vệ của tổng thống". Hắn nhổ toẹt xuống đất. "Tôi vẫn bảo nó là thằng phản bội mà!"
Mấy người đàn bà bưng đồ ăn ra sân. Ramirez cả cười, vỗ mông một cô nàng đi ngang qua. "Họ là ai vậy?" Dax hỏi.
Marcel nhún vai. "Tôi không biết. Ramirez bao giờ chả có một đám thị tì".
Dax mỉm cười. Marcel cảm nhận chẳng có gì ấm áp trong cái cười ấy. "Ít nhất thì chúng ta cũng biết được là hắn không ngủ với bọn bảo vệ". Nó đứng lên. "Chúng ta phải phát hiện phòng ngủ của hắn trước khi hắn vào ngủ".
"Nhưng làm thế nào mà vào được?" Marcel hỏi. "Cổng đương nhiên sẽ khoá".
Mèo Bự khúc khích cười. "Không hề gì, chúng ta vượt tường".
"Thế thì hoá ra trộm cắp à? Chúng ta có thể bị tù!"
"Còn Ramirez thì ăn cắp tiền một cách hợp pháp à?" giọng Dax đầy miệt thị. Marcel không trả lời.
Mèo Bự ngả lưng vào một gốc cây, khúc khích cười đắc ý. Hắn đưa một tayra sục vào mớ tóc Dax. "Hệt như ngày xưa ở nhà, phải không sếp?"
"Rất có thể là phòng đầu, phòng có ban công ấy" thằng bé nói.
Nó chưa dứt lời thì cánh cửa kiểu Pháp trên ban công mở, Ramirez bước ra. Hắn đứng tựa hàng lan can, điếu thuốc lá ửng đỏ. Hắn như đang nhìn ra biển. Chẳng mấy chốc, một ả đi ra cùng hắn. Hắn ném điếu thuốc hút dở qua ban công và họ nghe phảng phất tiếng cười của người đàn bà. Rồi Ramirez cùng ả vào trong nhà. Cánh cửa ban công để mở.
"Thằng phản bội này hiếu khách thật", Mèo Bự nói. "Giờ thì chúng mình khỏi phải tìm khắp nhà".
Ngay lúc đó, đèn tắt, căn nhà tối om. Mèo Bự toan đi nhưng tay Dax giữ hắn lại. "Để cho hắn mươi phút. Lúc đó thì cả ngàn con ngựa phi hắn cũng chẳng nghe thấy vì quá bận  bịu".
Dax leo lên đỉnh  bức tường đá trước, Mèo Bự bám sau. Họ giúp Marcel lên, rồi nhẩy xuống như những con mèo. Marcel hít một hơi dài rồi rơi xuống bên họ. Đầu gối anh chạm đất, bò lồm cồm rồi đứng ngay dậy. Dax và Mèo Bự đang chạy tới toà nhà trên những đôi chân êm như nhung. Anh vội vã theo sau.
Họ đến phía đầu nhà và trước khi Marcel đuổi kịp, họ đã ở trên mái ban công. Trước hết là leo lên hàng lan can đá, rồi làm như một con thạch sùng. Marcel cũng leo lên được mái. Dax đã rời mái để xuống ban công.
Mèo Bự leo bên cạnh Dax, không một tiếng động, quay xuống giúp Marcel lên. Hắn thở như sấm trong tai anh. Thật là kỳ lạ là chẳng thể nghe thấy hắn ở trong nhà.
Dax ghé mồm vào tai Marcel. "Chờ ở đây cho đến khi chúng tôi ra hiệu. Nếu thấy ai thì báo cho chúng tôi".
Marcel gật đầu. Cảm giác ớn lạnh của hãi hùng lan trong bao tử. Anh vội nuốt nước bọt. Dax đã quay ra cùng Mèo Bự. Hai người dán mình vào hai cánh cửa ban công, mắt họ nhắm nghiền, và trong một thoáng, Marcel cho là họ đang cầu nguyện. Rồi anh nhận ra là họ đang làm quen với đêm tối. Gần như đồng thời, tay họ cử động và Marcel thấy ánh thép lạnh tanh của những con dao. Anh nhắm mắt lại. Anh đến bệnh mất! Dù sao cũng phải dằn cơn buồn nôn xuống.
Khi Marcel mở mắt ra thì cả hai đã biến mất, chẳng gây ra tiếng động nhỏ. Anh cố lắng nghe, tim đập thật nặng nề. Có tiếng ú ớ trong phòng, một tiếng ré ở trên giường và tiếng rơi của một vật nặng trên  sàn. Sau đó là ắng lặng.
Marcel muốn ù té chạy nhưng nỗi hãi hùng về những gì họ có thể làm với anh nếu anh bỏ chạy còn khủng khiếp hơn nỗi sợ hãi về những điều có thể xảy ra, nếu ở lại.
Giọng thì thầm cộc lốc của Dax từ trong phòng. "Marcel?"
Anh hoảng sợ dừng lại ở cửa. Ramirez và người đàn bà, cả hai đều trần truồng, nằm sóng soài trên sàn. "Họ chết rồi?" anh thì thầm hỏi trong cơn sốc.
"Không" giọng Dax đầy khinh thị. "Thằng phản bội ngất xỉu. Con đàn bà cũng vậy. Kiếm cái gì để trói chúng lại".
"Gì cơ?"
"Đến tủ quần áo!" Mèo Bự rít lên. "Con đàn bà này phải có bít tất lụa chứ?"
Marcel mở các ngăn kéo một cách điên dại. Ở ngăn thứ hai, anh thấy cái cần tìm. Mèo Bự đang nhét chiếc bít tất của Ramirez vào mồm kẻ phản bội. "Cho nó nếm mùi thối của chính nó", hắn nói một cách thoả mãn.
Marcel đưa nắm bít tất ra, lặng thinh. Một cách nhanh nhẹn và thành thạo, Mèo Bự trói gô bọn chúng lại. Xong, hắn đứng lên. "Cũng giữ chúng im lặng được một chút", hắn quay sang Dax.
"Sao nữa?"
"Chúng ta chờ thằng phản bội tỉnh dậy". Dax lặng lẽ nói. "Rồi chúng ta sẽ tìm ra chỗ giấu tiền. Không xa đâu".
Dax nhìn Marcel. "Cha tôi bảo hắn ăn cắp bao nhiêu?"
"Sáu triệu franc trong vòng hai năm qua".
Dax lại nhìn xuống Ramirez. "Phần lớn vẫn còn ở đây. Hắn chưa đủ thời gian để tiêu nhiều đâu".
Ramirez mở mắt trước, nhìn thấy Dax đang cúi xuống, con dao kề cổ hắn. Mắt hắn thao láo trong hãi hùng. Thoạt tiên, tưởng như hắn ngất xỉu lại, nhưng rồi hắn trừng trừng nhìn Dax.
"Thằn phản bội, mày nghe tao chứ?" Ramirez gật đầu.
Một âm thanh ú ớ phát ra từ đám  bít tất trong miệng hắn. "Thế thì nghe kỹ đây" Dax tiếp tục. "Chúng tao đến để đòi tiền. Lấy được tiền, mày và con đàn bà sẽ vô sự. Bằng không, mày sẽ có một cái chết dài dài".
Một âm thanh tắc nghẹn nữa phát ra từ đám bít tất.
Dax giơ con dao lên để hắn thấy. "Tao sẽ bỏ đám giẻ trong miệng mày ra. Chỉ một hành động thôi là mày sẽ chết sặc vì dòng máu phun lên từ háng mày, chỗ hai hòn dái ấy".
Marcel nín thở khi Dax lôi nắm bít tất ra. May là Ramirez chẳng phải là người hùng.
"Nào", Dax thì thầm. "Tiền?"
"Hết rồi!" giọng Ramirez khản đặc. "Chiếu bạc đã ngốn hết rồi!"
Dax cười thầm. Con dao chỉ lướt nhẹ và vệt máu chạy dọc bụng Ramirez. Mặt hắn đầy hãi hùng trước dòng máu của chính hắn đang chảy. Mắt hắn trợn ngược rồi té xỉu.
"Thằng hèn lại ngất xỉu", Mèo Bự nhìn Dax. "Cứ thế này cả đêm mất".
Dax dốc sạch một bình nước. Ramirez tỉnh dậy, thổi phì phì.
Cũng là lúc mụ đàn bà tỉnh dậy, lăn lộn, giãy đành đạch trên sàn. "Giữ nó lại!" Dax ra lệnh. "Nó sẽ làm cả nhà nhẩy xổ vào chúng ta đấy!"
Mèo Bự vừa tát vừa đè mụ đàn bà xuống. Mặc dù bị trói, mụ cố đá hắn. Mèo Bự cười gằn. "Ít nhất thì mụ còn can đảm hơn thằng phản bội". Hắn nặng nề ngồi xuống cặp mông của mụ, tay tóm gáy, ấn mụ xuống sàn một cách hữu hiệu.
"Tiền đâu?" Dax lại hỏi.
Ramirez trân trân nhìn Mèo Bự và mụ đàn bà. "Hết rồi, tôi đã bảo là hết rồi mà!"
Mèo Bự nhìn kẻ phản bội. "Con bé được đấy chứ, mặc dù vú không bự lắm".
Ramirez lặng thinh.
Mèo Bự nhìn Dax. "Cũng đã khá lâu rồi đấy. Tớ đã ba ngày trinh bạch".
Dax không rời cặp mắt của Ramirez. "Cứ làm đi", nó lặng lẽ nói. "Chơi mụ đi. Xong thì để cho Marcel chơi mụ luôn".
Sự phản kháng của Marcel chỉ lên đến cuống họng mà không bao giờ phát ra cả. Anh thấy ánh hung hung hoang dã trong cặp mắt của Dax. Mụ đàn bà chống cự khi Mèo Bự dúi đầu gối xuống để xoạc hai đùi mụ ra. Hắn mở khuy quần. "Vui đi, chú nhỏ", hắn lẩm bẩm. "Giờ thì em sẽ biết thế nào là một người đàn ông đích thực. Của anh đâu phải như con giun khốn khổ của thằng kia".
Câu nói nổ ra từ cổ họng Ramirez. "Kia! két sắt trong tường sau chiếc giường ấy!"
"Thế có phải tốt hơn không", Dax cười. "Nào, mở thế nào đây?"
"Chìa khoá trong túi quần tôi".
Dax lấy chiếc quần vắt trên lưng ghế, giơ chiếc chìa khoá lên. "Cái này phải không?"
Ramirez gật đầu. "Sau bức tranh trên tường".
Dax nhanh nhẹn gỡ bức tranh xuống, đưa chìa khoá vào chiếc két sắt đen. "Không được!" nó cáu bẳn nói, rồi trở lại chỗ Ramirez.
Ramirez rời mắt khỏi Mèo Bự. "Đấy là chìa khoá xe. Cái khác".
Marcel không thể không nhìn trân trân. Cho đến giờ, hiếp dâm chỉ là một từ anh đọc thấy trên báo mà thôi. Anh cảm thấy choáng váng vì một nỗi phấn khích kỳ lạ. Nó không giống như sự thông dâm mà anh đã nghiệm trải. Nó lạnh lùng, man rợ và tàn bạo. Mèo Bự đã vào mụ đàn bà. Marcel thấy toàn thân mụ run lên dưới tác động này.
"Marcel!"
Anh buộc phải rời mắt khỏi cặp này, đi đến chỗ Dax. Trong két chất đầy những bó giấy bạc được  buộc cẩn thận. "lạy Chúa tôi!" anh thì thầm.
"Đừng có đứng đấy trố mắt ra một cách ngớ ngẩn nữa đi! đi lấy chiếc áo gối rồi giúp tog đóng gói tiền".
Marcel không thể không ngoái lại phía sau khi anh đưa áo gối cho Dax. Anh nhìn Ramirez. Gã phản bội nhìn chằm chằm Mèo Bự và mụ đàn bà. Mãi cho đến khi Ramirez liếm môi, Mèo Bự mới nhận ra là hắn đang nghĩ gì. Tiền đã bị quên khuấy.
Cả thế giới điên mất rồi. Chẳng còn có gì là có ý nghĩa nữa. Dax, sau cái liếc chiếu lệ vào cái cặp đang quằn quại kia, hầu như không còn để ý đến họ nữa. Cứ như thể những gì đang xảy ra là một chuyện thường ngày. Marcel cũng đang phải vật lộn với cơn phấn khích nhục dục của chính mình, hai chân anh run rẩy, mà lần đầu tiên anh quan hệ với một người đàn bà thì có thế đâu.
"Tốt!" giọng Dax đầy thoả mãn. Chiếc áo gối gần căng cứng. Nó nhanh nhẹn lấy chiếc bít tất lụa thắt đầu hở lại, rồi ngồi bên mép giường, nhìn xuống Mèo Bự. "Đừng làm suốt đêm đấy". Nó hờ hững nói. "Chúng ta còn phải ra khỏi đây".
Nó nhìn chiếc chìa khoá kia trong chùm chìa khoá. "Anh lái xe chứ?" nó chợt hỏi Marcel. Anh lặng lẽ gật đầu.
"Tốt. Chẳng gì bằng cuốc xe êm ả trong một đêm thanh bình".
 
Nam tước vươn qua mặt bàn. "Họ lấy lại được bao nhiêu?"
"Gần bốn triệu rưỡi franc". Marcel đáp, trở về với thực tại.
"Tôi rất mừng" Nam tước nhìn xuống bàn, đầy suy tư. "Thằng bé thật cừ khôi. Đã bàn bạc về việc nó sẽ học ở trường nào chưa?"
"Tôi nghe ông lãnh sự đề cập đến các trường công. Nhưng đấy là trước khi lấy lại được tiền".
"Rất tiếc là điều đó cũng chẳng giúp gì được mấy" Nam tước nói. "Khoản ấy chưa đủ để trả các món nợ cá nhân của ông lãnh sự trong vụ ông trang trải nợ cũ". Ông gõ chiếc bút chì trên bàn. "Tôi muốn anh đề nghị thằng bé được theo học trường De Roqueville".
"Nhưng đấy là trường cao giá nhất Paris".
"Và là trường tốt nhất. Con trai tôi cũng học ở đấy. Tôi sẽ trả học phí. Thu xếp đi. Thằng bé sẽ được học bổng".
Cảm nhận về tờ mười ngàn franc trong túi làm cho Marcel tự tin hẳn, khi anh rời văn phòng của Nam tước. Tình hình tài chánh của anh sáng sủa lên rất nhiều. Ông bán tạp hoá không còn là người duy nhất cần thoả thuận để thu hồi nợ nữa.
Nhưng vẫn còn một câu hỏi chưa được trả lời làm anh đau đầu. Anh vẫn không hiểu vì sao nam tước De Coyne lại quan tâm tới ông lãnh sự và con trai ông ta đến thế.
0
Chương 4
Chiếc intercom trên bàn của cha Dax kêu lên rè rè. Dax quay từ cửa sổ vào, cầm lên. "Vâng, Marcel?"
"Bạn cậu, Robert đã đến".
"Cảm ơn. Bảo cậu ấy vào đi".
Robert bước vào, đưa tay. "Mình đến ngay sau khi nghe tin".
Họ bắt tay kiểu Âu châu, như họ vẫn làm khi gặp nhau hoặc tạm biệt, dù sớm hôm đó họ đã cùng nhau ở sân tập polo.
"Cảm ơn. Sao cậu biết?" Dax hỏi.
"Tay hầu bàn ở câu lạc  bộ. Hắn nói với mình về cú điện thoại" Dax cười gượng. Paris cũng chẳng không gì một tỉnh lẻ ở quê nhà. Giờ thì tin tức chắc đã tung toé khắp nơi và chẳng mấy chốc, cánh nhà báo xuất hiện ở cửa. "Mình có thể làm được gì không?"
Dax lắc đầu. "Chẳng ai làm được gì nữa. Tất cả những gì chúng ta có thể làm là chờ đợi".
"Sáng nay khi cậu rời nhà, ông cụ nặng lắm hả?"
"Không. Nếu thế thì mình đã chẳng đến sân tập".
"Tất nhiên".
"Cậu biết đấy, cha mình không khoẻ. Từ khi đến châu Âu, ông hay bị cảm lạnh, rất nặng, chưa hết trận này đã tiếp trận kia. Hoá ra ông không còn sức đề kháng. Marcel thấy ông gục trên bàn. Anh ấy và Mèo Bự khiêng ông lên gác rồi gọi bác sĩ. Bác sĩ bảo đấy là vấn đề tim của ông, và họ gọi mình".
Robert lắc đầu. "Thời tiết này không hợp với cha cậu. Ông phải sống ở Riviera mới đúng".
"Lẽ ra cha mình chẳng bao giờ phải đến đây. Không khí căng thẳng quá sức ông. Ông hay đau ốm, kể từ khi mất cánh tay".
"Thế tại sao ông không về?"
"Vì ý thức với công việc. Ông làm việc với ngân hàng của cha cậu về đợt tín dụng đầu tiên đã cứu đất nước mình khỏi phá sản".
"Thế thì sau đó ông có thể về nhà chứ".
"Cậu không hiểu cha mình" Dax nhăn mặt. "Đấy mới chỉ là bắt đầu. Ông gõ từng cửa ở Âu châu để giúp đất nước. Tất cả những sự ghẻ lạnh, khinh thị và khước từ đã biến ông thành một ông già. Nhưng ông cứ gắng gỏi".
Dax lấy điếu thuốc nhỏ màu nâu, châm hút. "Cậu biết đấy", Dax nói nhẹ nhàng. "Những năm trước ở đây cũng chẳng hơn gì. Tay lãnh sự cũ đã để lại một bãi rác và  cha mình đã dọn sạch. Ông đã trả hết nợ cũ từ tiền túi của ông, mặc dù vì thế mà ông phá sản. Cho đến hôm nay, ông vẫn không biết là mình đã biết rằng tất cả đã dốc vào những tờ hoá đơn tồn đọng ấy – nhà ở Curatu, tiết kiệm của ông… tất cả những gì ông có. Chỉ có một thứ ông không đụng đến, là trang trại ở Bandaya, và cũng chỉ vì ông muốn một ngày nào đó là của mình". Dax rít hơi thuốc dài rồi để khói chầm chậm phả ra từ hai lỗ mũi.
"Mình không biết chuyện đó" Robert nói.
Dax cười gằn. "Nếu học bổng ở De Roque không xuất hiện như một phép màu thì mình đã phải học trường công rồi. Vậy mà cha mình phải từ bỏ tất cả những thứ ông cần để mình được ăn mặc tử tế và có đủ xăng cho xe để Mèo Bự có thể đón mình vào cuối tuần".
Robert De Coyne nhìn Dax. Lạ một cái là không ai ở trường có thể đoán được. Thì cũng phong phanh về những đặc quyền đặc lợi của hoàng phái xa xưa mà nay thì đã phá sản, nhưng mọi người đều biết hai học sinh này là ai. Họ ở đây vì họ đã mang lại địa vị xã hội cho nhà trường. Dax là dân Nam Mỹ và mọi người đều cho là cánh Nam Mỹ giàu có lắm. Họ có mỏ thiếc, giếng dầu và những đàn gia súc khổng lồ. Họ không bao giờ nghèo.
Bỗng, biết bao điều đã xảy ra trong những năm đầu ở trường trở nên rõ ràng hơn đối với Robert. Ví dụ như sự kiện vào cuối tuần đầu tiên ở trường chẳng hạn. Chiều thứ năm, sau giờ học cuối cùng là giờ tự do. Ở hậu trường phòng thể thao, mọi người đứng quanh một trong những học trò mới.
Cặp mắt sẫm mầu của nó hờ hững nhìn họ. "Tại sao tôi lại phải đánh nhau với một trong các bạn?"
Sergei Nikovitch với cái nhìn đầy khinh miệt, giải thích. "Bởi vì tuần sau chúng ta phải rút thăm để xem mày sẽ chung phòng với ai cho đến hết năm học. Nếu mày không đấu thì làm sao chúng tao biết là nên nhận hay nên từ chối mày?"
"Tôi cũng có quyền tương tự chứ?"
"Chỉ khi nào mày thắng. Và mày có quyền chọn bạn ở chung".
Cậu học trò mới nghĩ một lát rồi gật đầu. "Tôi cho là ngu xuẩn, nhưng tôi sẽ  đấu".
"Tốt" Sergei nói. "Chúng ta sẽ chơi đẹp. Mày có thể chọn một trong chúng tao để đấu, như thế mày sẽ không phải đấu với một người to con hơn. Nhưng mày không được phép chọn ai bé hơn".
"Tôi chọn anh".
Mặt Sergei bỗng sửng sốt. "Nhưng tao cao hơn mày cả một cái đầu. Như vậy không đẹp".
"Chính vì thế mà tôi chọn anh".
Sergei nhún vai. Nó cởi áo khoác và nhìn mọi người khi Robert De Coyne tiến đến cậu học trò mới.
"Thay đổi ý định đi", nó thành thực nói. "Đấu với tớ đi. Tớ cùng cỡ với cậu. Sergei bự con nhất và là thằng đánh nhau cừ nhất lớp đấy".
Cậu học trò mới mỉm cười. "Cảm ơn. Nhưng tôi đã chọn rồi. Chuyện này thật ngu xuẩn. Vậy còn làm nó tệ hơn làm gì?"
Robert nhìn nó mà kinh ngạc. Đấy là cách mà sau này nó luôn luôn cảm nhận, nhưng nó chưa bao giờ thấy ai dám nói thẳng ra như thế. Dù sao thì đấy cũng là một "lệ làng". Một cách bản năng, nó thấy thích cậu học trò mới. "Dù cậu thắng hay thua thì tớ cũng tự cho là mình may mắn nếu như rút thăm trúng cậu là  bạn cùng phòng của tớ".
Cậu học trò mới nhìn nó, bỗng ngượng nghịu. "Cám ơn".
"Sẵn sàng chưa?" Sergei gọi.
Cậu bé bỏ áo khoác rồi gật đầu.
"Mày lại được phép chọn đấy" Sergei nói. "Điểm hay đo ván?"
"Đo ván" nó nói chỉ vì từ kia không rõ nghĩa lắm đối với nó.
"Tốt. Trận đấu kết thúc khi một bên đo ván".
Thực ra thì trận đấu đã kết thúc trước đó rồi. Và cũng kết thúc luôn cái "lệ làng" này ở De Roqueville, nhanh đến mức cả bọn vẫn còn đang chờ một cái gì đó sẽ xảy ra.
Sergei đưa hai tay ra ở tư thế vật truyền thống và bắt đầu vận động quanh cậu bé. Cậu bé xoay người theo, hai tay buông thõng. Rồi Sergei tóm cậu bé, còn những động tác của cậu bé chỉ là những loáng mờ của tốc độ. Lòng bàn tay cậu ta gạt cánh tay Sergei đưa ra, cánh tay này thõng xuống như liệt vị. Cậu ta xoay người để tăng thêm chưởng lực coh bàn tay kia chém ngang sườn đối thủ. Chỉ đủ thời gian để thấy biểu hiện kinh ngạc trên mặt Sergei khi nó cúi gập người vì đau, rồi cậu bé thoắt đã ở phía sau, thoi vào gáy hắn bằng những chồi xương của nắm đấm. Sergei gục xuống sàn.
Cậu học trò mới nhìn hắn rồi nhìn mọi người. Mọi người nhìn cậu bé mà chưa tin vào mắt mình. Nó vẫn thở đều, bình thản đến lấy chiếc áo khoác được gấp cẩn thận đặt trên sàn, rồi bước đi, rồi ngoái lại nói với Robert "Tớ chọn cậu làm bạn cùng phòng". Rồi liếc Sergei vẫn nằm trên sàn. "Cậu nên giúp nó. Tay gẫy rồi, cả hai xương sườn nữa. Nhưng sẽ ổn thôi. Tớ không giết nó".
 
Người gác cửa ở khách sạn Royale Palace trông thật đường bệ. Cao lớn, tới hai mét, và đôi ủng cùng chiếc mũ Cossack càng làm cho ông ta cao hơn. Còn  bộ đồng phục xanh và hồng cùng với hai cầu vai và cặp dây nạm vàng đeo chéo ngực làm ông có diện mạo của một ông tướng ở nhà hát Franz Lehár.
Ông làm nhiệm vụ của mình tại cửa khách sạn như một vị tướng. Các xe đẩy hành lý được xếp gọn gàng trong góc kín và sẽ lôi thôi cho cậu gác dan nào không để lại các xe này theo đúng cách ấy. Giọng oang oang với ngữ điệu nặng nề của ông được đồn là có thể kêu taxi ở cách ba dẫy nhà. Người ta còn đồn rằng đã có thời ông thực sự là một đại tá trong quân Cossack, nhưng chẳng ai xác minh cả. Song người ta biết chắc ông từng là Bá tước, một người họ hàng xa của nhà Romanov. Một đêm đông năm 1920, ông xuất hiện, hoàn toàn suy sụp, trước cửa khách sạn, và ở lại đấy luôn. Bá tước Ivan Nikovitch không phải là người thờ chữ tín, càng không phải là nó như có thể bàn thảo chuyện riêng tư. Một vết sẹo do kiếm kéo dài trên má và được giấu đi phân nửa dưới bộ râu đen tỉa tót cẩn thận đã đủ để làm nản lòng những ai định tìm những phẩm chất ấy ở ông.
Giờ đây, ông đang ngồi một cách khó chịu trong chiếc ghế bị coi là quá nhỏ với ông, nhìn xuống thằng con trai đang nằm trên giường. Ông không cáu, cũng không thương thằng con, chỉ phiền lòng mà thôi. "Mày là thằng ngu", ông nói. "Không ai đấu với một đối thủ không biết luật. Có thể bị giết như chơi. Luật lệ được làm là để bảo vệ chính mày, và cả kẻ thù của mày nữa. Chúng ta đã thua  bọn Bolshevich là vì thế đấy. Chúng nó không hề biết luật".
Điều đó làm Sergei đau hơn cả vết thương. Nó đã bị đánh gục với sự dễ dãi và tốc độ của một thằng bé chỉ bằng nửa nó. "Con không biết là nó không biết luật".
"Lẽ ra mày phải giải thích cho nó, nói nhiều vào. Nội thế đã đủ để làm cho nó bối rối, và như vậy thì dễ dàng cho mày hơn".
Sergei nghĩ một lát rồi lắc đầu . "Con không nghĩ thế. Con nghĩ là nó phớt tất".
Có tiếng ồn ào dưới cửa sổ. Đám sinh viên tan lớp. Bá tước Nikovitch đứng lên, ra cửa sổ nhìn xuống.
"Bố muốn thấy thằng bé. Nó có ở trong bọn này không?"
Sergei nghển đầu nhin qua cửa sổ. "Kia, thằng da ngăm ngăm đi một mình ấy".
Bá tước nhìn Dax đi ngang sân sang toà nhà bên kia mà không hề liếc nhìn những đứa trẻ khác. Ông quay lại bên con trai "Có lẽ con đúng. Thằng nhỏ này sẽ luôn luôn làm luật riêng cho nó. Nó không sợ đi một mình".
 
Năm sau Dax và Robert chuyển đến khu cư xá chính của trường, và chỉ chuyển dần xuống tầng sau từng năm học, cho đến khi tới tầng trệt là chấm dứt những năm tháng ở De Roqueville. Bây giờ thì chúng đã thành 'ma cũ'. Và đấy cũng là lý do để Sergei nhập bọn cùng. Học sinh lớn thì  ba đứa chung một phòng.
Đấy là chủ trương của nhà trường dựa trên niềm tin rằng ba là con số sáng tạo hơn so với hai hoặc bốn. Bốn trong một phòng thì thường là kết thúc với hai chống lại hai. Hai trong một phòng thì không kinh tế. Dax và Robert chỉ mới bắt đầu mở đồ đạc thì có tiếng gõ cửa. Robert ra mở. Sergei đứng đấy, vali trong tay.
Không thể nói được ai trong họ ngạc nhiên hơn. Sergei kiểm tra lại thẻ phòng mà nó vẫn đang cầm ở tay, rồi số phòng gắn trên cửa. "Chính là phòng này, được thôi".
Nó đặt vali xuống. Dax và Robert cứ lặng nhìn. "Tớ không đề nghị, các cậu biết đấy", nó nói. "Thằng chung phòng với tớ thôi học và lớp trưởng chỉ định tớ đến đây".
Hai đứa vẫn lặng thinh. Từ sau cuộc đấu, Sergei và Dax vẫn cố tránh mặt nhau. Bỗng Sergei cười. Có một sinh lực ấm áp trong cái cười ấy. "Tớ rất mừng vì chúng ta không phải đấu nữa, bởi chắc là xương sườn của tớ sẽ không kham nổi".
Robert và Dax liếc nhau, nụ cười trả lời hé trên môi hai đứa.
"Môn văn của cậu thế nào?" Robert hỏi.
Sergei lắc đầu. "Chẳng ra gì".
"Toán, lý, hoá?" một biểu hiên thểu não thoáng qua khi Sergei cứ lắc đầu quầy quậy. "Thế thì cậu khá môn gì?" Robert hỏi. "Đấy là những môn cần nhất đấy".
"Tớ không biết" Sergei khai. "Đấy cũng là những môn yếu của tớ".
"Sử, địa thể chế?" Dax hỏi.
"Những môn này tớ cũng chẳng khá".
Dax liếc Robert. "Chúng tớ cần một bạn chung phòng có thể dạy chúng tớ một cái gì đó. Có lẽ cậu cũng không khả dĩ lắm".
"Không", Sergei buồn rầu trả lời.
"Có cái gì cậu có thể dạy chúng tớ không?"
Sergei nghĩ một lát rồi mặt nó sáng lên. "Tớ biết mười bảy cách thủ dâm".
Hai đứa đồng thời đưa tay lên đầu chào. "Chúc mừng gia nhập câu lạc bộ!"
0
Chương 5
Chiếc Citroen đen dừng lại bên sân polo và Jaime Xenos bước ra. Ông nhìn đám người ngựa rối mù, nheo mắt. "Dax đâu?"
"Cậu ấy ở bên đội mũ xanh trắng", Mèo Bự nói. "Kia kìa".
Một con ngựa tách ra khỏi đám rối mù, lao xuống cuối sân. Một cậu bé mảnh khảnh đang lách gậy, lừa quả cầu dọc sân bằng những cú đánh chắc nịch đầy cẩn trọng, không để cho cầu thoát khỏi vòng kiểm soát của mình.
Một đối phương lao chéo sân tới. Dax liệng mình trên yên, đánh quả cầu suốt sân đến một đồng đội. Người này đánh trái cầu xuống cuối sân, ở đó, Dax thảnh thơi lẩy nó vào giữa hai cột gôn mà không một đối thủ quanh mình.
"Ông Xenos?"
Ông lãnh sự quay lại. Giọng nói của người đàn ông gầy như cái lạt, đầy mùi mồ hôi ngựa. "Vâng?"
"Tôi là huấn luyện viên polo, Fernande Arnouil. Tôi rất hân hạnh được gặp ngài".
Jaime Xenos gất đầu. "Rất sung sướng được gặp ông".
"Thưa ngài, tôi rất sung sướng vì ngài đã đến. Ngài có xem con trai ngài chơi không đấy?"
"Chỉ mới một chút thôi. Thú thật là tôi không biết môn này".
"Cũng hiểu được ạ", người huấn luyện viên trả lời như chữa lỗi. "Rất tiếc là chỉ trong vài năm gần đây, môn này đã không còn phổ biến nữa". Ông ta ra hiệu về phía chiếc xe. "Và tôi tin là sự chiến thắng của chiếc xe bé nhỏ kia là một đóng góp lớn cho sự suy thoái của môn thể thao này".
Xenos nhã nhặn gật đầu.
"Các trang thanh niên ngày nay không học cưỡi ngựa nữa. Họ thú học lái xe hơn. Cho nên khi một trang thanh niên lịch lãm như con trai ngài đến đây thì điều quan trọng là tài năng của anh ấy phải được phát triển".
"Thế nó chơi cũng được à?"
Arnouil gật đầu. "Cậu ấy như một người hồi tổ về lại ngày xưa ấy. Con trai ngài sinh ra để chơi môn này. Cứ như thể cậu ấy ra đời với đôi chân đặt sẵn trong bàn đạp ngựa rồi".
"Tôi rất hãnh diện" cha Dax nhìn dọc sân. Một hiệp đấu khác đang sôi sục. Dax đang điều khiển con ngựa bằng hai đầu gối, cố giữ cầu, rồi ngả người như rời hẳn khỏi yên, đánh ngược trái cầu trở lại qua chân ngựa. Một đồng đội chặn trái cầu rồi như lao ra khỏi sân trong khi Dax lừa một phần của đội bạn theo mình.
"Đẹp quá!" người huấn luyện viên quay lại cha Dax. "Ngài đã thấy vì sao tôi mời ngài đến chứ ạ?" Ông lãnh sự gật đầu. "Sang năm, con trai ngài sẽ mười sáu tuổi. Cậu ấy sẽ được phép chơi trong các cuộc thi đấu liên trường".
"Tốt".
"Nhưng để được phép, cậu ấy phải có ngựa riêng. Đó là luật".
Ông lãnh sự gật đầu. "Thế nếu nó không có?"
Arnouil nhún vai kiểu Gaulois điển hình. "Cậu ấy không thể chơi, cho dù có cừ đến mức nào đi nữa".
Jaime Xenos nhìn ra sân. "Nó cần mấy con?"
"Ít nhất là hai. Tốt hơn là ba hoặc bốn. Mỗi hiệp nên có một con ngựa mới".
Ông lãnh sự không nhìn người huấn luyện viên. "Một con ngựa như vậy bao nhiêu tiền?"
"Ba đến bốn mươi ngàn franc".
"Vậy à?" Xenos trả lời, đầy suy tư.
Người huấn luyện viên nheo mắt liếc ông ranh mãnh. "Nếu ngài có khó khăn trong việc kiếm những con ngựa này", ông ta nói một cách ngoại giao, "có lẽ tôi có thể tìm một người tài trợ".
Xenos hiểu ông ta nói gì, gặng cười. "Nếu ông cho là đáng", ông nói. "thì con trai tôi sẽ co ngựa của nó".
"Thưa ngài, tôi rất sung sướng vì ngài đã nghĩ như thế. Ngài không cần phải tiếc. Co ntrai ngài sẽ trở thành một trong những cầu thủ lớn nhất trong thời đại của chúng ta".
Họ bắt tay, ông lãnh sự nhìn người đàn ông nhỏ bé có cặp giò như hai cánh cung đi về cuối sân, và hiểu Mèo Bự đang nghĩ gì. Ông mệt mỏi bước vào xe. "Cậu thấy thế nào?"
Mèo Bự nhún vai. "Cũng chỉ là một trò chơi thôi ạ".
Cha Dax lắc đầu. "Hơn thế nữa. Là trò chơi của những người có khả năng".
"Thế thì  bỏ thôi ạ".
"Chúng ta không thể bỏ được".
"Chúng ta không thể chơi được", Mèo Bự đốp chát. ""Còn bao nhiêu là nhu cầu thúc bách khác".
"Cũng là một cách để Dax có thể trở thành một biểu trưng của đất nước chúng ta. Người Pháp có thể giúp chúng ta".
"Thế thì nói Tổng thống gửi một trăm sáu mươi ngàn franc sang để mua ngựa".
Ông lãnh sự mỉm cười. "Mèo Bự, cậu quả là kỳ tài".
Mèo Bự nhìn ông qua gương hậu không hiểu ông nói gì.
"không phải tiền, mà là ngựa. Những con ngựa đốm mình dây với những cặp chân như dê núi phải là hoàn hảo đối với trò chơi này. Tôi chắc Tổng thống sẽ vui vẻ gửi mấy con ngựa sang đây".
 
Người huấn luyện viên gặp Dax khi cậu vừa ra khỏi phòng thay quần áo. "Tôi vừa nói chuyện với cha cậu", ông nói "Ông đảm bảo với tôi là sang năm cậu sẽ có ngựa".
"Thật à?" Người huấn luyện viên gật đầu. Cặp mắt Dax quét một lượt sân. "Ông ấy còn ở đây không?"
"Ở cuối sân, gần cổng ấy".
Nhưng Dax đã nhìn thấy chiếc xe và chạy về cuối sân. Cha cậu ra khỏi xe, ôm lấy cậu. "Sao bố không bảo con là bố đến?"
Cha cậu mỉm cười. Dax lớn phổng hẳn lên, đã đứng đến vai cha. "Bố không chắc là có thể đến được".
"Con mừng là bố đã đến". Đây là lần đầu tiên ông đến trường.
"Có chỗ nào ta có thể uống trà được không?"
"Có một quán ở trong làng".
Họ lên xe. "Huấn luyện viên bảo con là bố nói với ông ấy sang năm con sẽ có ngựa riêng".
"Đúng".
"Làm gì có tiền ạ?" Dax hỏi. "Chúng ta chịu thôi".
Ông lãnh sự mỉm cười. "Tổng thống sẽ gửi cho chúng ta bốn con ngựa núi".
Dax lặng lẽ nhìn ông.
"Có sao không ạ?"
Một thoáng âu lo trên mặt cha làm Dax không nỡ lòng nào mà nói với ông rằng những con ngựa chơi polo tốt đòi hỏi phải qua nhiều năm tập luyện. "Thế thì tuyệt thật". Cậu siết chặt tay cha.
 
"Thôi đừng có ngu", Sergei nói. "Nghỉ hè với bọn tớ ở Cannes đi. Cha Robert có một vila ở đấy, cả một chiếc tàu nữa".
"Không. Tớ phải làm việc với bọn ngựa xem thử vào mùa thu tới chúng có khá hơn không".
"Chỉ phí thời gian thôi", Sergei nói chắc. "Cậu sẽ không bao giờ biến được những con ngựa núi ấy thành ngựa polo đâu".
"Huấn luyện viên bảo cứ thử xem".
"Tớ không hiểu tại sao bố cậu không mua những con ngựa polo bình thường. Mọi người đều biết cánh Nam Mỹ các cậu tiêu tiền như rác mà".
Dax cười thầm. Sergei có biết sự thật đâu. "Nếu được thì sẽ là một điều tốt cho đất nước tớ. Bố tớ vẫn bảo điều đó sẽ thuyết phục được dân Âu châu là bọn mình có thể làm được những việc khác ngoài việc trồng chuối và cà phê".
Sergei đứng lên. "Tớ vào làng đây. Có một em hầu bàn mới toanh trong quán đấy. Đi không?"
Dax lắc đầu. Nó còn nhiều việc phải làm với năm franc. "Không. Tớ phải chuẩn bị cho kỳ thi".
Sau khi Sergei đi, Dax ngồi lặng thinh. Thế là đã ba năm nó ở Pháp. Cảm thấy bồn chồn, nó đứng dậy, đến bên cửa sổ, nhìn xuống những thảm cỏ và vườn cây được chăm sóc cẩn thận.
Bỗng nó nhớ những dãy núi hoang sơ. Ở đây cái gì cũng quá sạch sẽ và quá ngăn nắp. Chẳng có cái hưng phấn trong việc tìm ra một con đường mới, một con đường mới từ trên núi xuống. Ở đây chỉ toàn là đường sẵn có để theo.
Hầu như tất cả các nền văn minh đều như thế. Thậm chí bố nó, người đã được chuẩn bị để tôn trọng và tuân thủ luật lệ cũng chưa bao giờ nghĩ rằng tất cả chỉ để dẫn đến sự tù hãm này. Với mỗi thất bại mới, thất vọng mới, ông như co lại và lún sâu vào nội tâm. Việc phản phúc của Ramirez mới chỉ là bắt đầu.
 Còn bao sự cố khác mà sự tinh vi và tính huỷ hoại của nó còn khủng khiếp hơn nhiều. Những hứa hẹn ủng hộ nền độc lập của Corteguay của giới chính trị và tài phiệt Anh, Mỹ. Có những nếp nhăn mà Dax chưa từng thấy trên mặt cha. Sự rụt rè, sự bất trắc trong phong cách ông đã đánh dấu sự bắt đầu tuổi già của ông. Tiếng chuông của ba năm trời đầy thất bại đã thỉnh.
Dax cảm nhận được tất cả, và có lúc nó muốn kêu lên với cha rằng cuộc sống này không phải của họ, rằng họ phải về nhà, về với những cánh đồng, những dãy núi, với thế giới mà họ hiểu biết. Nhưng nó biết cha sẽ không nghe, không thể nghe. Quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ, hy vọng thành công vẫn âm ỉ trong ông.
Có tiếng gõ cửa nhẹ phía sau. Nó quay lại "Vào đi".
Cậu mở ra và Nam tước De Coyne bước vào.  Hai người chưa từng gặp nhau. "Tôi là cha của Robert. Cháu là Dax phải không?"
"Thưa ông vâng ạ".
"Thế Robert đâu?"
"Thưa ông, cậu ấy về ngay đấy ạ".
"Tôi ngồi được chứ?". Không đợi trả lời, Nam tước ngồi xuống chiếc ghế bành. Ông liếc quanh phòng. "Không thay đổi mấy kể từ lần trước tôi đến đây".
"Có lẽ không ạ".
Bỗng Nam tước nhìn nó. "Có lẽ dù cho ta có rất muốn thay đổi đi chăng nữa, thì sự vật vẫn chẳng thay đổi là bao".
"Thưa ông, cháu không biết ạ". Dax không hiểu lắm sự ẩn dụ của Nam tước. "Cháu cho là còn tuỳ thuộc vào thứ mà ta muốn thay đổi ạ".
Nam tước gật đầu. "Robert có nói là cháu có thể sẽ cùng nghỉ hè với chúng tôi."
"Thưa ông, có lẽ là không. Cháu rất biết ơn ạ".
"Vì sao cháu không đến?"
Dax cảm thấy khập khiễng trong câu trả lời. "Cháu dạy mấy con ngựa Corteguay chơi polo ạ".
Nam tước gật đầu một cách trịnh trọng. "Rất nên. Tôi sẽ rất quan tâm đến kết quả này. Nếu cháu thành  công thì rất có giá trị cho đất nước cháu. Nó sẽ chỉ cho nước Pháp thấy rằng Corteguay có thể làm những thứ khác ngoài trồng chuối và cà phê".
Dax nhìn ông chằm chằm. Đấy chính là lời cha Dax đã nói. Nó thấy phấn chấn hẳn lên. Nếu một người như cha của Robert cũng cảm thấy thế thì có lẽ sự thể không đến nỗi tồi lắm. Có lẽ vẫn còn hy vọng cho nhiệm vụ của cha nó.
0
Chương 6
Sylvie bắt đầu dọn bát đĩa và Dax rời khỏi bàn. Một lát sau,  nó ra ngoài. Arnouil và Mèo Bự ngồi ngả người trên ghế. Mèo Bự cuốn một điếu thuốc.
Arnouil đưa mẩu xì gà nhỏ lên miệng, im lặng cho đến khi Mèo Bự châm điếu thuốc của hắn. "Thằng bé sống một mình nhiều quá. Nó không bao giờ cười cả".
Khói thuốc lan trên mặt Mèo Bự. Hắn không trả lời.
"Lẽ ra nó không nên ở đây và làm việc cả một vụ hè", huấn luyện viên tiếp tục. "Lẽ ra nó phải đi cùng bạn bè".
Mèo Bự nhún vai. "Bọn ngựa có khá không?"
"Hơn thế nhiều. Cứ như lũ ngựa này sinh ra để chơi polo ấy. Chúng sẽ làm cuộc cách mạng trong polo. Nhưng chắc chắn ông lãnh sự phải để cho thằng bé vui chơi nữa chứ".
"Dax không giống những đứa trẻ khác", Mèo Bự nói một cách thận trọng. "Đến một lúc nào đó, cậu ấy sẽ là một người lãnh đạo ở đất nước chúng tôi. Thậm chí cậu ấy có thể trở thành tổng thống".
"Kể cả Napoleon cũng đã từng là một đứa trẻ" huấn luyện viên trả lời. "Tôi chắc nó không để cho vận mệnh cướp mất tuổi trẻ đâu".
"Napoleon đã trở thành người lính do lựa chọn. Ông ấy không phải là một chiến binh từ năm lên sáu".
"Thế Dax đã từng à?"
Mèo Bự nhìn huấn luyện viên, lặng lẽ gật đầu. "Khi Dax chưa đầy bảy tuổi, chính tổng thống đã cầm súng cho Dax bóp cò để trừng phạt bọn đã giết mẹ và chị cậu ấy".
Huấn luyện viên lặng thinh một lúc. "Thế thì thằng bé chẳng cười bao giờ cũng không lạ".
 
Đêm tĩnh lặng và những cơn gió tây mát lạnh đầu tiên đã thổi về khi Dax đi đến chuồng ngựa. Đám ngựa hí lên khi nghe tiếng chân Dax, nó cho mỗi con một viên đường, vốn luôn để trong túi. Nó vỗ về và lũ ngựa lại hí lên những âm thanh nhỏ nhẹ, đơn côi.
"Bọn mình đều nhớ nhà cả" nó thầm thì. Chúng nó không thích sự bức bối của chuồng ngựa. Chúng nó nhớ bãi quây ngoài trời.
"Dax?" giọng Sylvie từ cửa chuồng.
"Tôi ở đây với bọn ngựa".
"Anh làm gì thế?" cô vừa đi vào vừa tò mò hỏi.
"Tôi thăm chúng một chút. Chúng cũng cô đơn và nhớ nhà".
Cô dịu dàng. "Anh cũng cô đơn, phải không Dax?"
Nó nhìn chằm chằm. Cô là người đầu tiên hỏi câu ấy. Nó ngập ngừng. "Thỉnh thoảng".
"Anh có cô nào ở nhà không?"
Nó thoáng nghĩ về Amparo, đã ba năm xa cách. Không biết giờ con bé như thế nào. Rồi nó lắc đầu. "Không. Không thực là như vậy. Có lần, khi tôi lên chín, một cô bé lên bảy đã quyết định lấy tôi. Nhưng nó đã lớn và bỏ qua chuyện ấy rồi".
"Em có một bạn trai", cô nói, "nhưng anh ấy đã vào hải quân sáu tháng nay, và sáu tháng nữa anh ấy mới về".
Nó nhìn cô gái. Đấy là lần đầu tiên nó nghĩ về cô như một phụ nữ. Từ trước tới nay, cô vẫn chỉ như ai đó lăng xăng quanh bàn, quanh chuồng ngựa…Trừ mớ tóc dài, cô chẳng có gì là phụ nữ, không có cái gì căng tròn có thể thấy dưới áo sơmi vải trúc bâu luôn xắn tay. Bỗng Dax thấy sự mềm mại đầy nữ tính trong cô.
"Xin lỗi", nó nói mà không hiểu vì sao, ngoại trừ vào thời điểm ấy, hình như cô cũng cô đơn như chính nó và bầy ngựa vậy.
Lũ ngựa lại hí lên. Nó đưa mấy cục đường cho cô. "Chúng muốn cô cho ăn".
Cô cầm những viên đường rồi chui quá các cây chắn song ngang. Bầy ngựa rúc mõm vào cô, đòi phần mình. Cô bật cười khi một con húc mũi lm` cô ngã ngửa vào lòng Dax đang đứng sau. Bất đắc dĩ, hai cánh tay Dax ôm choàng lấy cô.
Cô nhìn chằm chằm vào mặt Dax, bốn mắt nhìn nhau, rồi Dax buông cô ra. Có một nút căng thẳng đến quặn đau trong  bụng nó. Giọng nó cộc cằn ngay cả với chính mình. "Có lẽ chúng nó đã ăn đủ rồi đấy".
"Vâng", cô như chờ đợi.
Nó cảm thấy sự căng thẳng nơi háng và thái dương thì giật đùng đùng. Nó chui qua các cây song ngang. Giọng cô gái kéo nó lại "Dax!"
Nó nhìn cô, một chân đã bước qua cây chắn.
"Em cũng cô đơn".
Nó vẫn không cử động. Cô đi đến bên nó, đặt nhẹ một tay lên chỗ cứng ngắc nơi háng nó. Với một tiếng rên cuồng dại của đau đớn, nó kéo cô gái vào lòng và toàn  bộ mối căng thẳng của tuổi trẻ cùng nỗi cô đơn của nó đã nổ tung thành một ngọn lửa cao trào.
Sau đó nó nằm lặng thinh trong phòng, nghe tiếng thở nhẹ nhàng của Mèo Bự ở giường bên. Cơn đau trong nó đã biến mất. Bỗng Mèo Bự hỏi "Cậu có chơi con bé không?"
Nó quá ngạc nhiên đến mức không cố lẩn tránh câu hỏi ấy nữa. "Làm sao cậu biết?"
"Bọn tớ biết mà".
"Bố cô ấy…"
Mèo Bự cười. "Thế cậu nghĩ là ông ấy mù à?"
Dax nghĩ một lát. "Ông ấy có cáu không?"
Mèo Bự khúc khích. "Tại sao phải cáu chứ? Người tình của con bé đã đi cả năm mnay và ông ấy hiểu rằng một con ngựa cái non cần có dịch vụ vào đúng mùa chứ. Vả lại, cô ta cũng đã đủ tuổi".
"Đủ tuổi? cô ấy khoảng tuổi tôi".
"Hăm hai rồi. Chính bố cô ấy bảo mình".
Hai mươi hai, Dax nghĩ, hơn nó gần bảy tuổi. Hèn nào, cô ta tấn công trước. Chắc cô ta phải nghĩ nó là thằng nhóc xuẩn nên mới phải đợi lâu như thế. Nó lại cảm nhận sự trương cứng nơi háng khi nhớ lại cảnh hai đứa thít chặt nhau thế nào. Thình lình, nó bật dậy khỏi giường.
"Cậu đi đâu đấy?"
Chợt nó cười. Đây là một cuộc chạy trốn mới, một thứ tự do mới. Lẽ ra nó phải phát hiện ra điều này lâu rồi mới đúng. "Thế chẳng phải anh đã bảo tôi là một lần thì không bao giờ đủ cả sao?"
0
«« « 1 2 3 4 5 » »»