📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Phong Tục Tập Quán

Kiến Trúc Việt Nam

13 trả lời, 11.131 lượt xem — Trang 1 / 1
Kiến trúc Việt Nam

Đối với người nông nghiệp, Ngôi Nhà - cái tổ ấm để đối phó với nóng, lạnh, nắng, mưa, gió, bão - là một trong những yếu tố quan trọng nhất đảm bảo cho họ có một cuộc sống định cư ổn định, có an cư thì mới lạc nghiệp ! Tục ngữ có câu: thứ nhất dương cơ, thứ nhì âm phần, "dương cơ" và "âm phần" đều là chỗ ở cả: chỗ ở khi còn sống và khi đã chết.
Do ngôi nhà chiếm một vị trí đặc biệt quan trọng trong cuộc sống của người việt Nam cho nên, trong tiếng Việt nhà (chỗ ở) được đồng nhất với gia đình (gồm mọi người sống trong nhà), với vợ chồng (chủ nhân của ngôi nhà thành viên chính của gia đình), được mở rộng nghĩa ra để chỉ một cơ quan (nhà máy), nhà bảo tàng, nhà văn hóa), chỉ quốc gia ( nhà nước) và những người có chuyên môn cao sống trong quốc gia (nhà văn, nhà chính trị, nhà khoa học...).

* Ngôi nhà của người Việt Nam có những đặc điểm gì ?
Trước hết do đặc điểm khu vực cư trú của người Việt Nam là vùng sông nước cho nên ngôi nhà của người Việt Nam gắn liền với môi trường sông nước.
Những người sống bằng nghề sông nước (chài lưới, chở đò,...) thường lấy ngay thuyền, bè làm nhà ở : đó là các nhà thuyền, nhà bè; nhiều gia đình quần tụ lập nên các xóm chài, làng chài. Đây là lời của JB Tavernier viết năm 1909 : "Họ (người Việt Nam) rất thích ở nước, thích ở trên nước hơn là trên cạn. Cho nên phần nhiều sông ngòi thì đầy thuyền. Những thuyền đó thay cho nhà cửa của họ. Thuyền rất sạch sẽ ngay cả khi họ nuôi gia súc ở trong đó"

Nhiều người tuy không sinh kế trực tiếp bằng nghề sông nước nhưng cũng thích làm nhà sàn trên mặt nước để đối phó với ngập lụt quanh năm. Dưới con mất của Finlayson, một nhà ngoại giao người Anh thì Sài Gòn đầu tk. XIX có "nhiều nhà cao cẳng, sàn bằng ván, xếp hàng dọc theo bờ kênh, bờ sông hay dọc theo đường cái rộng thoáng đãng. Phố xá ngang hàng thẳng lối hơn ở nhiều kinh thành châu Âu". Nhà sàn chính là kiểu nhà rất phổ biến ở Việt Nam từ thời Đông Sơn, nó thích hợp cho cả miền sông nước lẫn miền núi. Nó không chỉ có tác dụng đối phó với (a) môi trường sông nước ngập lụt quanh năm mà còn có tác dụng đối phó với (b) thời tiết mưa nhiều gây lũ rừng ở miền núi và ngập lụt định kỳ ở vùng thấp, (c) khí hậu nhiệt đới có độ ẩm cao, và (d) hạn chế và ngăn cản côn trùng, thú dữ (ruồi muỗi, sâu bọ, rắn rết, cá sấu, hổ báo....) Ngày nay, nhà ở những vùng hay ngập nước (như đồng bằng sông Cửu Long) và các nhà kho (nơi phải đối phó với độ ẩm) vẫn duy trì kiến trúc nhà sàn. Vào tk. XVII, nhiều ngôi đình như đình Đình Bảng (Hà Bắc), đình Chu Quyến (Hà Tây), v.v. vẫn làm theo lối nhà sàn.
Kỉ niệm về cuộc sống gắn bó với thiên nhiên sông nước mạnh đến mức những ngôi nhà của người Việt Nam đã được làm với chiếc mái cong mô phỏng theo hình thuyền. Người ta quen cho rằng đặc điểm này là vay mượn của kiến trúc Trung Hoa trong khi thực ra là ngược lại. Nhà sàn Việt Nam từ thời Đông Sơn (chưa hề giao lưu với Trung Hoa) đã có mái cong rồi. Các dấu tích còn lưu lại qua hình khắc trên trống đồng và trong lòng đất cho thấy rõ điều này. Nhà rông Tây Nguyên đến giờ vẫn làm theo kiểu mái cong tuy rằng cũng không hề có giao lưu với Trung Hoa. Tháp Chàm cũng có loại mái cong trong khi đó, nhà Trung Hoa thời Hán mái vẫn thằng đến cuối đời Đường, lối làm nhà mái cong mới thâm nhập dần từ Nam lên Bắc. Thậm chí Cố Cung ở Bắc Kinh được xây dựng vào thời Minh mà mái mới chỉ hơi cong nhẹ.

Chiếc mái cong bắt nguồn từ phương Nam, ngoài ý nghĩa là hình ảnh của con thuyền, không có tác dụng thực tế gì. Chính vì vậy mà vào thời Đông Sơn, khi mà một chiếc cán dao, một chiếc môi (vá) múc canh cũng có thể được trang trí một cách cầu kì, thì nhà nhà đều làm mái cong; còn về sau này thì mái nhà bình dân thường làm duỗi thẳng cho giản tiện. Chỉ còn những công trình kiến trúc lớn (như đình chùa, miếu mạo, dinh thự, cung điện) mới được làm mái cong cầu kì. Ngoài ra các đầu dao ở bốn góc nhà, đặc biệt là đình chùa cung điện, cũng được làm cong vút lên tạo nên một dáng vẻ thanh thoát đặc biệt cho ngôi nhà vốn được trải rộng trên mặt bằng để hòa mình vào thiên nhiên.
Ở trên vừa nói rằng nhà sàn có tác dụng đối phó với môi trường tự nhiên. Nó nằm trong một biện pháp rộng hơn được người Việt Nam đúc kết là nhà cao cửa rộng. Đó cũng là tiêu chuẩn ngôi nhà Việt Nam Về mặt cấu trúc; nó khác hẳn ngôi nhà ở phương Tây xứ lạnh phải làm nhỏ, trần thấp, tường dầy, cửa ít và nhỏ để giữ hơi ấm.
Cái cao của ngôi nhà Việt Nam bao gồm hai yêu cầu : nơi con người đặt chân cao so với mặt đất, và mái cao so với nơi con người đặt chân. Nhà sàn đáp ứng yêu cầu "cao" thứ nhất (nơi con người đặt chân cao so với mặt đất) và có tác dụng đối phó với lụt lội, ẩm ướt, côn trùng... Ngày nay, nhà Việt Nam phần nhiều đã chuyển sang dạng nhà đất. Nhưng nhà đất lý tưởng vẫn là nhà phải có nền cao: nhà những người có của. nhà địa chủ, dinh thự quan lại.... đều làm nền cao; nhiều nơi hay ngập lụt, nền nhà cứ phải nâng cao dần. Còn yêu cầu "cao" thứ hai - mái cao so với nơi con người đặt chân (sàn hoặc nền) - là nhằm tạo ra một khoảng không gian rộng, thoáng mát trong nhà để đối phó với nắng nóng. Mái cao còn tạo ra một độ dốc lớn để đối phó với lượng mưa nhiều, khiến cho nước thoát nhanh, tránh dột, tránh hư mục mái. Hình nhà Đông Sơn cho ta thấy mái đều được làm khá cao so với sàn nhà. Tuy nhiên cái cao của mái nói đến ở đây không phải là cao tùy ý mà là cao vừa phải (tỉ lệ hợp lí giữa chiều ngang và chiều đứng đảm bảo độ dốc cần thiết là nằm ba ngồi hai). Ở vùng ven biển mái nhà lại phải làm thấp để tránh bão (do nhiều gió nên thấp ở đây cũng đủ mát rồi).
Một câu hỏi tất yếu đặt ra là tại sao cùng với nhà cao, ngời ta không làm cửa cao mà lại làm cửa rộng? Cửa không làm cao là để tránh cái nắng xiên khoai và tránh bị ma hắt. Để tránh nắng, ngơi ta còn đan những tấm dại lớn bằng tre nứa để cản bức xạ nhiệt từ mặt trời và bức xạ nhiệt thứ cấp từ sân hắt vào. Cũng để tránh nắng, tạo ra một vành đai bóng mát quanh nhà và hắt ma ra xa chân các cột gỗ, đầu dói mái nhà Việt Nam (giọt gianh) thường được đưa ra khá xa so với hàng hiên; mái nhà sàn ở vùng núi thậm chí có giọt gianh gần ngang với mặt sàn.
Còn phải làm cửa rộng là để đón gió cho thoáng mát, tránh nóng. Đầu hồi nhà trường để trống một khoảng hình tam giác để cho hơi nóng và khói đun bếp trong nhà bốc lên có chỗ thoát ra, đây cũng là một thứ cửa - cửa sổ trên cao - nó cùng với các cửa ở dưới tạo thành một hệ thống thông gió hoàn chỉnh. Cửa rộng để đón gió mát, nhưng đồng thời mặt khác lại phải tránh gió độc, gió mạnh; bởi vậy. dân gian có kinh nghiệm không làm cổng và cửa thẳng hàng (cửa chính thường ở giữa nhà, còn cổng thường lệch về bên trái), tuyệt đối tránh không để con đường trước mặt đâm thẳng vào nhà. Trường hợp bất khả kháng, phải làm một tấm bình phong bằng cây xanh hoặc bằng gạch để ngăn bớt gió và phân tán chúng sang hai bên.
Biện pháp quan trọng thứ hai để đối phó với môi trường tự nhiên là chọn hướng nhà, chọn đất. Đó là cách tận dụng tối đa thế mạnh của môi trường tự nhiên để đối phó với nó.
Đơn giản hơn cả là chọn hướng nhà. Hướng nhà tiêu biểu là hướng Nam : lấy vợ đàn bà, làm nhà hướng nam. Câu tục ngữ tưởng chừng vô lí đó thực ra rất dễ hiểu : Đối với người Việt Nam đã làm nhà thì phải là nhà hướng Nam - điều đó cũng hiển nhiên như việc lấy vợ phải là đàn bà vậy! Sở dĩ như thế là vì Việt Nam ở gần biển, trong khu vực gió mùa. Trong bốn hướng thì duy nhất chỉ có hướng Nam (hoặc đông Nam) là hướng tối ưu: Buổi sáng và buổi chiều không bị nắng chiều xiên khoai; và tránh được cái nóng từ phương Tây, cái bão từ phương Đông, và gió lạnh từ phương Bắc (gió bấc) thổi về vào mùa rét, lại vừa tận dụng được gió mát từ phương Nam (gió nồm) thổi đến vào mùa nóng. Muốn mát thì không gì cho bằng gió tự nhiên, gió Nam; tục ngữ có câu: Một trăm người hầu không bằng ở đầu ngọn gió và Gió Nam chưa nằm đã ngáy.
Quan sát thực địa cho thấy rằng, từ thời nguyên thủy, người xưa đã biết tận dụng hướng Nam này để chống nóng và chống rét : phần lớn hang động Hòa Bình có người ở đều quay về hướng Nam hoặc Đông Nam. Không một hang có người ở nào lại có cửa quay về hướng bắc. Các tòa thành có nhiều cửa mở ra bốn phía thì cửa chính bao giờ cũng là cửa phía Nam (Ngọ Môn của kinh thành Huế có nghĩa là cửa phía Nam, "ngọ" là phương Nam theo trục tư ngọ trên la bàn của thầy địa lý).
Nhà nhìn về hướng Nam cho nên cây đòn nóc nằm theo hướng đông-tây. Theo truyền thống văn hóa nông nghiệp trọng bên trái, người ta quy ước đặt gốc cây đòn nóc ở phía Đông (phía Đông bên trái ) cho nên đòn nóc còn có tên gọi là đòn đông, nhiều nơi dọc chệch thành đòn dông. Cũng do truyền thống trọng bên trái, bàn thờ Thổ công (ông Táo) - vị thần quan trọng nhất, cai quản cái bếp, cái nhà - được đặt ở gian bên trái; bài vị của ông vì thế được ghi là Trù tư mệnh Táo phủ thần quân.
Cả cái bếp cũng được đặt bên trái (phía Đông), biệt lập và vuông góc với nhà chính, nhìn về hướng lây. Tại sao bếp lại nhìn về hướng Tây? Kinh nghiệm dân gian cho rằng nếu bếp làm không đúng hướng thì gia đình sẽ lục đục và hay sinh hỏa hoạn. Đó là do chức năng đặc biệt của bếp là nấu nướng: bếp nhìn về hướng Tây sẽ tránh được ngọn gió thường xuyên thổi từ phía biển (hướng Nam và Đông); trong trường hợp ngược lại. ngọn lửa sẽ bị gió tạt về phía vách gây cháy nhà, chí ít là cơm chẳng lành canh chẳng ngọt (như thế thì làm gì mà gia đình không sinh lục đục!).
Nhưng nếu chỉ chọn hướng một cách giản đơn thì nhiều khi không giải quyết được vấn đề. Bởi lẽ tùy thuộc vào địa hình địa vật xung quanh, vào sự có mặt của núi, của sông, của con đường.v.v. mà ảnh hưởng của gió, nắng.... sẽ khác nhau. (cho nên ngoài việc chọn hướng, còn phải chọn nơi, chọn chỗ: (chọn bạn mà chơi, chọn nơi mà ở).
Để giải quyết vấn đề một cách triệt để hơn, ở một mức độ cao hơn, truyền thông văn hóa phương Nam đã hình thành nên cả một nghề Chọn đất để làm nhà, đặt mộ, gọi là nghề phong thủy. Nghề phong thuỷ bắt nguồn từ những nhu cầu tinh tế trong quá trình sống định cư và những kinh nghiệm lao động phong phú của người nông nghiệp. Đất làm nhà gọi là dương cơ, đất đặt mộ gọi là âm phần; dương cơ được coi trọng hơn âm phần (nhất dương thắng thập âm), song trên thực tế thì người ta chỉ chú trọng đến đất dương cơ khi lập đình chùa, đặt đô thị, còn nhà thường dân thì chủ yếu chỉ chọn hướng mà thôi; nhưng âm phần thì thường nhờ thầy địa lí đi tìm đất rất cẩn thận. Trong "Vân Đài loại ngữ", Lê Quý Đôn kể rằng Hoành Cừ vốn không tin phong thủy, nhưng đã nói : "Người phương Nam... thử đất huyệt táng tốt hay xấu, họ dùng chỉ ngũ sắc đem chôn xuống đất độ mấy năm. rồi đào lên xem. Hễ đất tốt thì sắc chỉ không phai, đất xấu thì sắc chỉ biến màu hết. Họ lại lấy đồ đựng nước đem thả con cá vào nuôi.rồi chôn xuống đất vài năm, hễ cá sống là đất tốt, cá chết là đất xấu. Vì vậy, xem cây cỏ tươi hay hay héo cũng biết được đất tốt hay xấu".
Thuật phong thủy hình thành ở nền văn hóa nông nghiệp Nam-á nên khởi đầu hoàn toàn được xây dựng trên căn bản âm dương Ngũ hành. "Phong" và "thủy" là hai yếu tố quan trọng nhất, tạo thành vi khí hậu cho một ngôi nhà. Nhà xứ nóng rất cần có gió và nước. phong là gió, động hơn thuộc dương; không có gió thì hỏng, nhưng gió nhiều quá cũng không tốt; gió có thể bị núi đồi, mô đất hay cây to lái di, do vậy nhà phong thủy cần nắm vững hướng gió, biết sử dụng các bình phong để lái gió theo ý mình. Thuỷ là nước. tĩnh hơn. thuộc âm; mặt nước trước nhà sẽ tạo nên sự cân bằng sinh thái trong khuôn khổ của một vi khí hậu; dòng nước ngoằn ngoèo, càng dài thì càng tụ, nếu phình ra thành hồ ao thì càng tụ thêm; nước đọng (bất cập) thì tù, không tốt, nhưng nước chảy mạnh (thái quá) cũng hỏng, chỉ có nước chảy từ từ (âm dương điều hòa) là tốt nhất.
Theo Ngũ hành, các thế đất được phân thành hình thủy (ngoằn ngoèo như dòng nước), hình hỏa (nhọn như ngọn lửa). Hình mộc (dài như cái cây), hình kim (tròn), hình thổ (vuông). Đúng theo mối tương quan giữa các phương đông- tây của Ngũ hành với hai loại hình văn hóa, thế đất hình Kim (ứng với phương Tây du mục) được coi là sẽ phù trợ cho con cháu phát theo đường võ, còn thế đất hình Mộc (ứng với phương Đông nông nghiệp) sẽ phù trợ cho con cháu phát theo đường văn, nếu một thế đất có đủ cả Ngũ hành thì được coi là sẽ phát đế vương. Người nổi tiếng hơn cả về nghề phong thủy trong lịch sử việt Nam là ông Nguyễn Đức Huyên đời Lê, người làng Tả Ao (Nghi Xuân, Nghệ An), tục gọi là cụ Tả Ao, để lại nhiều sách dạy nghề này.
Lực âm dương vận động trong lòng đất, chạy thành mạch. Truyền thống văn hóa nông nghiệp Nam-á coi trọng bên trái (phương Đông) hơn bên phải (phương Tây), nên mạch đất được gọi là long mạch (long = Rồng = phương Đông theo Ngũ hành), việc tìm đất gọi là tầm long, công cụ để tìm đất là cái tróc long và la bàn (la bàn lớn hơn cái tróc long, đầy đủ thông tin hơn, dùng để phân kim điểm huyệt).
Phép tầm long, trước hết phải tìm tổ sơn, rồi dò theo long mạch mà tìm đến huyệt. Huyệt trường là thế đất có án che phía trước (gọi là tiền án. có khi là một quả đồi), chẩm làm chỗ dựa phía sau (gọi là hậu Chẩm, có khi là một trái núi), bên trái có tay Long và bên phải là tay Hổ (gọi là tảThanh Long, hữu Bạch Hồ). Tay Long và tay Hổ có thể là đồi núi. bờ ruộng,. dưới dạng hai vành móng ngựa lồng vào nhau : tay Long (= bên trái, phương Đông) phải lồng ra ngoài tay Hổ (= bên phải, phương Tây). Huyệt còn phải có chỗ trũng nước tụ lại ở phía trước (Minh đường) và chỗ trũng ở phía sau (Não đường). Long mạch có thể lớn hoặc nhỏ: lớn nó có thề gồm cả một vùng lãnh thổ, với những dãy nhiều ngọn núi trên một tay Long có thể có nhiều điểm kết, điểm kết nhất gọi là Hàm Rồng.
Các kinh đô khi xưa đều là những địa điểm được chọn theo con mắt phong thủy. Trong Chiếu dời đô, Lí Công Uẩn miêu tả vị trí thành Đại La - mà rồi sẽ được đổi tên là Thăng Long như sau "Thành Đại La ở vào nơi trung tâm Trời Đất, được cái thế rồng cuộn hổ ngồi; đã đúng ngôi Nam Bắc Đông Tây, lại tiện hướng nhìn sông dựa núi. Địa thế rộng mà bằng, đất đai cao mà thoáng. Dân cư khỏi chịu cảnh khốn khổ ngập lụt, muôn vật cũng rất mực phong phú tốt tươi. Xem khắp đất Việt ta, chỉ nơi này là thắng địa". Thành Huế ở trung tâm đất nước, nhìn rộng thì có biển đằng tờớc, núi đằng sau; nhìn hẹp thì có núi Ngự Bình ở phía trước làm án, sông Hương chảy lững lờ bao quanh, trên sông ở hai đầu có hai cồn đất như hai hòn đảo chầu vào - cồn Dã Viên ở bên phải là Bạch Hổ. Cồn Hến ở bên trái lớn hơn là Thanh Long, đoạn sông nằm giữa hai cồn đất ấy chính là Minh Đường. Con mắt phong thủy đã giúp tìm cho các đó thị những địa thế có núi có sông, có âm dương hòa hợp, tạo nên một môi trường thiên nhiên trong sạch và lành mạnh : Thăng Long có sông Nhị núi Nùng; Huế có sông Hương núi Ngự; Vinh có sông Lam núi Hồng Lĩnh; Đà Nẵng có sông Hàn núi Sơn Trà...
Ngoài ra, trong việc "chọn nơi mà ở", người Việt, với tính cộng đồng nông nghiệp của mình, rất quan tâm đến việc chọn hàng xóm láng giềng xung quanh. Đến thời kì kinh tế hàng hóa đã phát triển, người Việt còn rất coi trọng việc chọn vị trí giao thông thuận tiện : nhất cận thị, nhị cận giang. Những đô thị có tốc độ phát triển nhanh đều là đô thị gần biển, sông, có giao thông thuận tiện. Các thôn ấp miền Nam và các khu dân cư mới hình thành đã từ bỏ cách tổ chức theo xóm làng với lũy tre khép kín cổ truyền mà chuyển sang quy tụ theo trục đường sông, đường bộ. Trong đô thị, vị trí nhà mặt tiền được đánh giá cao. Tuy nhiên các yếu tố phong thủy và cộng đồng vẫn không bị lãng quên; khi xét đến nhiều tiêu chuẩn thì yếu tố hàng xóm (lân) vẫn được xếp vào thứ hai : nhất cận thị. nhị cận lân, tam cận giang, tứ cận lộ. ngũ cận điền.
Biện pháp thứ ba để đối phó với môi trường tự nhiên là tận dụng tối đa thế mạnh của môi trường tự nhiên trong việc chọn và sử dụng vật liệu xây dựng.
Vật liệu xây dựng tự nhiên sẵn có nhất là tre. Cây tre có mặt ở khắp nơi. Tre có tác dụng cải thiện môi sinh, làm cho không khí mát mẻ, che chắn gió bão, được dùng làm vật liệu quan trọng cho việc làm nhà. Họ hàng nhà tre theo đặc tính của mình mà được phân công mỗi loại một việc: bương, vầu thân to dầy, đốt ngắn chịu sức nén khỏe có thể làm cột nhà; tre đằng ngà thân gần như đặc lại dẻo nên chịu sức kéo tốt có thể dùng làm đòn tay; mai thẳng và dày đều được bổ ra thành lá làm sàn nhà cho bà con miền núi; nứa mỏng có thể đập dập lợp mái hoặc đan vách; rồi còn hóp, luồng, trúc, giang, mây, song.... Để chống mối mọt, lạt mây tre phải luộc trước khi chẻ, chẻ rồi phải gác bếp cho khói xông; tre ngâm khoảng một năm dưới bùn ao khi vừa vớt lên mềm như sợi bún rất dễ uốn. còn khi để khô thì có khả năng chống mối mọt rất hiệu nghiệm. Tổng hợp và linh hoạt như thế, tre xứng đáng là hình ảnh biểu trưng cho tính cách Việt Nam, cho cái đẹp Việt Nam: Trúc xinh trúc mọc đầu dình, em xinh em đứng một mình cũng xinh.
Sau tre thì đến gỗ. Gỗ quý và lí tưởng để làm nhà, để xây dựng đình chùa, cung điện là gỗ tứ thiết: đinh, lim, sến, táu. Còn để làm nhà dân gian thì phổ thông hơn cả là xoan, mít. Người nông thôn khi lập gia đình và làm nhà thường bao giờ cũng trồng một bụi tre ở góc vườn, một hàng xoan, vài gốc mít - đó là do tinh thần cộng đồng, thói quen lo xa : lối sống vì tương lai của người Việt Nam: tre, xoan, mít, đó là chuẩn bị cho 20 năm sau con mình có vật liệu làm nhà. Thân xoan cao, thẳng, phần gốc dể tròn làm cột, phần trên đẽo gọt làm xà, kèo....; gỗ xoan đắng (do chất nhựa) có tác dụng chống mối mọt lí tưởng: Nhà gỗ xoan, quan ông nghè.
Lợp mái thì phổ biến là các vật liệu thực vật : rơm rạ, lá cọ (lá gồi), lá dừa nước cỏ tranh, nứa đan thành tấm. Ở một số địa phương miền Nam trên rui mè người ta đổ một lớp đất sét rồi mới lợp lá gồi lá dừa nước lên trên - đất sét có tác dụng cách nhiệt (chống nóng) và chống cháy rất tốt.
Nung đất làm gạch xây tường và ngói lợp mái là một nghề thủ công rất phổ thông và cổ truyền có từ ngàn xưa. Ngói có nhiều loại với các chức năng khác nhau : ngói ống, ngói chiếu, ngói âm dương, ngói vảy rồng, ngói mũi hài, ngói lưu li (tráng men),... Gạch thì ngoài gạch chữ nhật, gạch vuông thông thường còn có các loại gạch chuyên dụng như gạch hộp (có kích thước lớn), gạch múi bưởi (xây cửa vòm), gạch có mộng, gạch thước thợ, gạch tròn, gạch đa giác....
Để xây tường thì hỗn hợp vỏ ốc vặn đốt thành than, vôi vỏ sò nghiền nát, trộn với cát giấy hàn hay rơm nếp vò nát luyện với vỏ xây dè đặt (hoặc các loại cây khác tùy địa phương) và mật mía tạo nên một chất kết dính lí tưởng; nó được dùng để đắp những con rồng, phượng, nghê. sấu.... trên nóc đình đắp những đầu đao cong vút rất bền vững với thời gian.
Về cách thức kiến trúc thì đặc điểm của ngôi nhà Việt Nam truyền thống là rất động và linh hoạt.
Toàn bộ ngôi nhà được hình thành trên cơ sở một bộ khung chịu lực hình hộp với sự liên kết chặt chẽ giữa các bộ phận trong một không gian ba chiều : theo chiều đứng, trọng lực của ngôi nhà phân bố đều vào các cột (cột cái, cột con, cột hiên) và dồn xuống các viên đá tảng kê chân cột; theo chiều ngang. các cột được liên kết bằng các kẻ (bẩy, câu dầu....) tạo nên các vì kèo; theo chiều dọc ngôi nhà, các vì kèo được liên kết lại với nhau bằng các (xà nóc, xà thượng, xà trung, xà hạ, xà chân). Để tăng thêm sự vững chắc cho ngôi nhà. các cột phải được đẽo theo hình đầu cán cân, chân quân cờ (ngọn cột nhỏ, gần gốc phình to và chân cột thắt lại theo tỉ lệ 6-10-8), khi dựng vì kèo thì các cột phải đứng theo thế choãi chân gọi là thượng thu hạ thách (thách 2 phân cho mỗi thước cao của cột). Không cần đến móng, tường. Tường đất vách nứa, hoặc ván bưng xung quanh chỉ có tác dụng che nắng mưa chứ không chịu lực.
Tất cả các bộ phận của ngôi nhà được lắp ghép lại bằng dây buộc, néo con xỏ (đối với nhà tre) hoặc mộng (đối với nhà gỗ). Mộng là phần gờ lồi ra của một bộ phận này lắp khít vào chỗ lõm có hình dáng và kích thước tương ứng ở một bộ phận khác (theo nguyên lí âm dương). Kĩ thuật ghép mộng áp dụng cho toàn bộ đồ mộc truyền thống, từ nhà đến giường tủ, bàn ghế.... tạo nên sự liên kết chắc chắn nhưng lại rất động và linh hoạt. Khi di chuyển chỉ cần làm ngược lại là có thế tháo dỡ ra rất dễ dàng.
Vì vậy, không có gì đáng ngạc nhiên khi biết rằng vua Gia Long đã cho dỡ một số cung điện của thành Hà Nội chở theo đường thủy vào dựng ở Huế; ngược lại, một nhà thờ họ ở Huế đã được chở ra Hà Nội dựng ở làng Vẽ; đền Hai Bà Trưng và chùa Trấn Quốc ở Hà Nội đã được di chuyển từ ngoài bờ sông vào trong đồng để tránh lụt; cũng để tránh lụt, vào năm 1903, đình Chèm ở bờ sông phía bắc Hà Nội đã được nâng cao hơn so với mặt nền cũ là 6 thước ta. Với kiều nhà này, việc mua bán nhà và đất là hai việc khác hẳn nhau.
Để thống nhất kích thước, trong khi phương Tây dùng bản vẽ kĩ thuật phức tạp, chi li và cứng nhắc thì người Việt Nam dùng cái thước tầm (còn gọi là rui mực sào mực). Đó là một thân tre bổ đôi dài hơn chiều cao của cột cái, trong lòng máng vạch những kí hiệu cho phép xác định các khoảng ngang, khoảng đứng và khoảng chảy, từ đó mà ấn định được kích thước của các bộ phận như chiều cao của cột hiên, cột con, cột cái...Cấu tạo của thước tầm là chung cho mọi nhà, nhưng mỗi thước lại được tính theo một đơn vị gốc mang tính rất cá biệt là dốt gốc ngón tay út hoặc gang tay của người chủ nhà (truyền thống coi con người là trung tâm, lấy kích cỡ con người làm chuẩn để đo đạc tự nhiên và vũ trụ). Thành ra nhà nào thước ấy, không thể mượn thước người khác mà làm nhà cho mình được. Thước tầm trở thành vật xác định quyền sở hữu ngôi nhà của chủ nhân. Khi hoàn thành nhà, phải làm lễ cài sào để báo cáo với thần linh thổ địa và long trọng đưa cây thước tầm lên gác ở vị trí cao nhất dưới nóc giữa hai vì kèo. chỉ khi nào cần sửa chữa thì thợ cả mới lấy xuống để đo cắt các chi tiết thay thế.
Về hình thức kiến trúc thì ngôi nhà Việt Nam là tấm gương phản ánh đặc điểm của truyền thống văn hóa dân tộc.
Hình thức kiến trúc của ngôi nhà Việt Nam phản ánh truyền thống coi trọng bên Trái (phía Đông) của văn hóa nông nghiệp. Ngoài những điều đã nói về chiếc đòn đông có đầu gốc ở phía trái (phía Đông), về cái bếp luôn đặt phía trái (phía Đông),... ta còn có thể gặp hàng loạt sự kiện thú vị khác. Một tòa thành có nhiều cửa thì cửa chính nằm phía Nam; còn nếu có hai cửa nhìn về phía Nam thì cửa chính là cửa tả (bên trái, phía Đông). ở Nam Bộ, nếu trong nhà có thờ tổ tiên của cả hai họ thì bàn thờ họ nội đặt bên trái (phía gốc của cây đòn dông, phía đông) và họ ngoại đặt bên phải; cha mẹ đã qua đời thì bàn thờ cha mẹ đặt bên trái (vì gần gũi hơn), bàn thờ ông bà đặt bên phải.
Hình thức kiến trúc ngôi nhà Việt Nam còn tuân thủ nguyên tắc coi trọng các con số ước lệ, nhất là số lẻ theo truyền thống văn hóa nông nghiệp. Bước vào cổng là cổng tam quan; bước lên bậc là bậc tam cấp; các kiến trúc lớn đều dựng theo lối nhà tam tòa. Các tòa thành như thành Cổ Loa, thành Huế đều có kiến trúc 3 lớp vòng thành. Ngọ Môn ở Huế nhìn chính diện có ba cửa (số 3) dành cho Vua và quan lại, thêm hai cửa phụ hai bên cho lính và súc vật (số 5), trên nóc có 9 nhóm mái (ca dao Huế : Ngọ Môn 5 cửa 9 lầu - Cột cờ 3 cấp, Phú Văn Lâu 2 tầng). Số gian của một ngôi nhà, số bậc của cầu thang trong nhà bao giờ cũng lẻ. Nói chung, khi có khả năng lựa chọn thì kiến trúc nhà cửa cho người sống đều chọn các sô lẻ vì số lẻ là dương (dương = động; động là sự sống và động còn phù hợp với tư duy linh hoạt của văn hóa nông nghiệp). Trong khi đó thì nhà cho người chết- nhà mồ - của các dân tộc (ở Việt Bắc, Tây Nguyên) lại chọn các số chẵn (ví dụ, số bậc cầu thang), vì số chẵn là số âm (âm = tĩnh, chết).

GS-TS Trần Ngọc Thêm
Cơ sở văn hóa Việt Nam, TP.HCM, 1996

Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-07-07 09:27:31Trương Củng>
KHÁI QUÁT NHÀ VIỆT


Là một dân tộc có lịch sử lâu đời và địa bàn cư trú khá rộng rãi, ngay từ thiên kỷ II trước công nguyên, tổ tiên người Việt (Lạc Việt) đã đi vào thời đại đồng và trở thành xã hội có giai cấp, có Nhà nước với nhiều ngành nghề khá phát triển đặc biệt là nghề nông và nghề đánh cá. Ngoài ra, các nghề thủ công khác cũng đạt được nhiều thành tựu. Tất cả những điều đó phần nào biểu hiện thông qua ngôi nhà, đơn vị sinh hoạt nhỏ nhất, và sau đó là xóm làng cùng các đơn vị hành chính cao hơn nữa.

Làng xóm của người Việt xưa được gây dựng ở những vị trí tiện nước sinh hoạt và sản xuất, đồng thời phải là nơi cao ráo có khả năng chống thú dữ, giặc giã. Về sau này, tiêu chí đó còn được mở rộng thêm, đó là tiện lợi về giao thông, khi phương thức sản xuất đã vượt qua khỏi phương thức tự cung tự cấp hai loại nhà chủ yếu là nhà sàn và nhà đất, tùy thuộc vào địa hình cũng như nhu cầu sử dụng về mặt không gian. Về sau này, khái niệm khuôn viên xuất hiện làm hoàn chỉnh thêm quy mô của mỗi ngôi nhà.

Bao gồm trong mỗi khuôn viên là một tổ hợp nhà gồm có nhà chính, nhà phụ và các công trình phục vụ sinh hoạt khác như vườn, ao, nhà bếp, nhà kho... Cách bố trí trong khuôn viên gia đình không chỉ khác nhau bởi mức độ giàu nghèo, mà còn khác nhau ở mỗi địa phương. ở miền bắc thường có các loại tổ hợp nhà như nhà chữ môn; nhà chữ công; nhà chữ nhị; nhà thước thợ... ở miền nam lại có các loại tổ hợp nhà như: nhà chữ đinh; nhà nối đọi (còn gọi là xếp đọi, sắp đọi hay sóc đọi) cùng một số biến thể trên cơ sở của các loại nhà này.

Cũng như nhiều dân tộc khác, nhà ở của người Việt thường sử dụng các loại thảo mộc kết hợp với đất đá. Càng về sau này, tỷ lệ đất đá càng nhiều hơn thay thế cho chất liệu thảo mộc. Ngôi nhà nhờ đó mà cũng vững chãi, ổn định hơn. Tuy nhiên, một số quy cách trong việc xây dựng thì vẫn được bảo đảm. Các quy cách này được ghi trên một chiếc sào tre gọi là thước tầm. Tùy theo từng địa phương cũng như quy ước của từng nhóm thợ, các ký hiệu trên thước tầm có thể khác nhau, song đây thực sự là một "bản vẽ" vô cùng chính xác mà cũng vô cùng bí ẩn của những ngôi nhà Việt.

Nói đến một ngôi nhà, điều cơ bản nhất vẫn là mặt bằng sinh hoạt được tạo ra từ những kết cấu của ngôi nhà đó. Khái niệm xây dựng nhà không chỉ là dựng lên những bức tường, mà chính là không gian được tạo ra bởi những bức tường đó là hoàn toàn chính xác. Tùy theo điều kiện và tập quán ở mỗi nơi, mặt bằng sinh hoạt của mỗi ngôi nhà cũng có nhiều điểm khác nhau. Cùng trên một diện tích, nhưng mặt bằng sinh hoạt của một ngôi nhà sàn có thể gấp từ 2 đến 2,5 lần một ngôi nhà gỗ hoặc nhà gạch khác. Nhà ở của cư dân ven biển khác nhiều so với nhà ở của cư dân vùng đồng bằng; nhà đô thị khác với nhà nông thôn, ở miền bắc, miền trung và miền nam, cách bố trí tạo ra mặt bằng sinh hoạt của mỗi ngôi nhà đều khác nhau. Đây chính là nét phong phú, đa dạng của những ngôi nhà Việt, gắn với tập quán và tín ngưỡng của từng vùng.

Ngôi nhà với tín ngưỡng dân gian

Tuy chỉ là một tế bào rất nhỏ trong đời sống cộng đồng, nhưng với mỗi cá nhân, ngôi nhà lại là cả một vấn đề lớn. Nó không chỉ đơn thuần là nơi cư trú, sinh hoạt của gia đình mà hướng nhà, thế đất còn ảnh hưởng đến cả tương lai con cháu sau này theo quan điểm của người xưa. Chính vì thế mà dựng nhà được coi là một trong những việc lớn của đời người, phải được chọn lựa rất kỹ càng với nhiều thủ tục không hề đơn giản. Muốn có được địa điểm "đắc địa" chủ nhà phải nhờ đến thầy "địa lý" hay các vị khoa bảng hiểu biết thuyết phong thủy và khoa phối hợp âm dương, ngũ hành để xem giúp. Người ta phải quan sát hình thế các mạch đất, hướng di chuyển của nước trong mạch đất để tìm ra nơi có chứa tụ khí của mảnh đất ấy. Chỗ đó gọi là đất "kết dương cơ" và sẽ được chọn để dựng nhà.

Thế đất đẹp nhất phải là: "Minh đường thủy tụ" tức là trước nhà có nước tụ trong sáng như gương để nuôi dưỡng khí mạch của đất. Trước nhà mà có mặt nước rộng như thế thì gia chủ sẽ làm ăn phát tài, gặp nhiều may mắn. Còn trái lại, nếu thủy tụ bất thường, khi có, khi không, nước lại đục là không tốt.

Cũng vì lý do này mà nếu trường hợp không có "thủy tụ" tự nhiên, người ta thường đào ao trước nhà hoặc xây hòn non bộ để tượng trưng cho yếu tố đó. Ngoài ra còn cần đến thế đất hai bên tả, hữu. Thế đất bên trái được gọi là "Thanh long", bên phải là "Bạch hổ". Nếu nhà có thế đất hai bên là thanh long và bạch hổ, như vậy là cân xứng "Tả phù hữu bật" làm ăn sẽ phát tài, nhiều lộc, con trai, con gái đầy nhà. Người Nam Bộ có câu:

Không "long" như người không chân
Không "hổ" như đứa ở trận không tay.

Như vậy là bên trái phải có sông nước (thanh long: âm). Bên phải có đất cao (bạch hổ: dương). Nếu không có đất cao thì thay bằng vườn cây. Không những thế, mảnh đất để cất nhà còn phải phù hợp với hướng tuổi của gia chủ, nhà phải xa đình chùa, miếu mạo, cây cổ thụ. Nếu bắt buộc phải làm nhà gần đình chùa mà cùng trên một đường thẳng thì phải làm thụt lùi về phía sau một chút. Nhà không được làm trên mộ vì nhà là dương, mộ là âm. Tối kỵ là con đường, con nước (sông, ngòi, khe, suối hoặc đòn dông nhà người khác đâm thẳng vào mặt nhà mình.

Hướng nhà cũng là điều rất quan trọng nên phải lựa chọn vô cùng cẩn thận. Trước hết phải là "hướng thuận tuổi" với tuổi chủ nhân. Nếu muốn có hướng nhà "đại lợi" thi căn cứ vào bát quái. Tỷ như: gia chủ tuổi Tuất, Hợi, thì không được làm nhà theo hướng tây - bắc.

Hướng nhà còn được ấn định của năm làm nhà. Năm Giáp Tuất thì nhà không được quay về hướng bắc. Năm Giáp Tý, nhà không nên nhìn về hướng nam hoặc bắc... Ngoài ra còn phải để ý đến hướng nước chảy của các dòng nước gọi là "cuộc". Nước chảy về hướng tây là "kim cuộc", hướng đông là "mộc cuộc", hướng bắc là "thủy cuộc" và hướng nam là "hỏa cuộc". Nếu tuổi của gia chủ hợp với "mộc" thì nhà phải hợp với "mộc cuộc" tức hướng đông. Nếu nhà ở vị trí có dòng nước chảy quanh thì đó là địa điểm tốt vì được nhiều cuộc đất hợp lại.

Xem thế đất và hướng nhà theo thuyết phong thủy thì rất phức tạp và không phải nơi nào cũng có người am hiểu thuyết này, cho nên hướng nhà thường được thực hiện theo kinh nghiệm của cha ông để lại:

"Nam phương quý đường
Bắc phương quý án
Tứ thời bất hạn"

Hay:

"Ăn quả cành lạ, làm nhà hướng nam "

Hoặc:

- "Cất nhà quay cửa vô nam
Quay lưng về chướng không làm mà cũng có ăn "
- "Cất nhà quay mặt hướng đông
Con gái không chồng mà lại chửa hoang"

Nhà hướng nam phổ biến ở miền bắc vì đối với miền bắc hướng nam là hướng mát mẻ nhất. Còn ở nhiều vùng khác, nhất là miền trung trở vào Nam Bộ lại tùy thuộc vào hướng gió thịnh hành trong năm mà có hướng nhà khác nhau. Tuy vậy phổ biến nhất vẫn là hướng nam, đông, đông-nam hay tây-nam.

Sau khi đã chọn được thế đất và hướng nhà rồi, tiếp đến là công việc tạo tác ngôi nhà. Từ khi bắt tay vào làm nhà cho đến khi ngôi nhà được hoàn tất, người ta còn phải thực hiện khá nhiều nghi lễ. Song tùy từng nơi từng vùng những nghi lễ này có gia giảm khác nhau:

- Lễ bình cơ (Phú Yên) gia chủ mua sắm lễ vật đặt ngay trên miếng đất định chọn để cúng gia tiên, thổ thần rồi mới định hướng nhà. Sau đó gia chủ đi mời thợ bàn việc làm nhà.
- Lễ phạt mộc, kiểu cách của ngôi nhà đã được thống nhất giữa chủ và thợ, người ta làm lễ khởi công gọi là lễ phạt mộc. Gia chủ làm hai mâm cỗ, một để cúng gia tiên, thổ thần, một để cúng tổ sư thợ mộc. Cúng xong người thợ cả cầm rìu chặt ba nhát vào một cây gỗ định làm cột cái để làm phép. Có nơi gia chủ nhặt lấy ba miếng gỗ do người thợ vừa chặt văng ra giữ lấy để đề phòng thợ làm phản thì đem ba miếng gỗ ấy ra ếm lại.

Sau lễ này có thể bắt tay ngay vào công việc. Nhưng cũng có thể để lùi vài ngày sau cũng được. Nhưng nhất thiết người thợ cả phải lên rui mực định kích thước ngôi nhà vào lòng của nửa thân cây tre hay hóp. Rui mực còn gọi là thước tầm, sào nhà... tùy theo từng địa phương.

- Lễ lập tục hay lễ cắt nóc, lễ này được coi là quan trọng nhất không thể bỏ qua. Chọn được ngày tốt gia chủ nhờ một người nào đó trong họ phải là vợ chồng song toàn, nhiều con lắm cháu, làm ăn phát đạt để làm lễ đặt cái nóc (đòn dông) lên gian chính giữa. Nếu nhà làm chưa xong mà chọn được ngày tốt người ta cũng có thể tổ chức lễ này. Nếu vậy người ta làm hai cái nạng để nâng đoạn cái nóc của gian chính giữa lên. Đoạn gỗ này phải để nguyên đó cho đến khi dựng nhà thì đặt vào vị trí của nó trong bộ khung.

Trong khi làm lễ, đoạn đòn nóc đó được buộc hai cành lá thiên tuế, một vài vuông vải đỏ hay vóc đại hồng có vẽ hình bát quái (bùa), trừ yểm để ma khỏi vào nhà quấy nhiễu. Ngoài ra người ta còn treo một cuốn lịch tàu hay một cuốn sách chữ Hán, cầu mong cho con cháu học hành tấn tới.

- Lễ an thổ, lễ này để báo thổ thần biết nhà đã làm xong. Trong số lễ vật có gạo rang trộn với nước để rắc vào bốn góc nhà.
- Lễ động sàng, cúng báo gia tiên để dọn về nhà mới và được kê gia cụ vào nhà.
- Lễ hoàn thành hay còn gọi là lễ lạc thành, lễ cài sào (gác thước tầm lên hai đầu cột cái của gian chính giữa). Lễ mừng nhà mới, chủ nhà tổ chức cúng gia tiên, thổ thần rồi liên hoan. Những người được mời tới dự thường tặng chủ nhà tiền, câu đối, pháo...
- Lễ trả công thợ, lễ này do thợ tổ chức cúng tiên sư để nhận tiền công.
- Lễ an cư, lễ tạ tổ tiên, thổ thần để báo cho biết là chủ nhân đã làm ăn yên ổn trong nhà mới.

Ngoài hàng loạt những nghi lễ, thủ tục kể trên, việc chọn kích thước cho mỗi ngôi nhà cũng là điều khá đặc biệt. "Nhà nào sào nấy". Cái sào ở đây chính là cái thước tầm của mỗi ngôi nhà. Nó quyết định quy mô của mỗi ngôi nhà theo yêu cầu của chủ nhân. Còn việc chọn đơn vị đo lường dùng vào việc làm nhà thì chỉ mấy thập kỷ gần đây người thợ làm nhà mới dùng thước mét, còn xưa kia họ sử dụng một loại thước đo khá đặc biệt. Cái thước này biểu hiện mối tương quan giữa tầm vóc của chủ nhân với ngôi nhà của mình. Làm nhà cho ai, người thợ cả lấy chiều dài đốt gốc ngón tay út của chủ nhân làm đơn vị cơ bản cho cái thước đo. Mỗi thước dài bằng 10 đơn vị cơ bản đó. Như vậy mỗi thước này cũng vào khoảng trên dưới 40 cm. Riêng diều này cũng đủ thấy ngôi nhà gắn bó với con người ta đến thế nào.

Nhìn lại một khoảng thời gian

Từ sau Cách mạng Tháng Tám tới nay, nhất là vào những năm cuối thập kỷ hai mươi, nhà cửa ở nông thôn người Việt đã có rất nhiều thay đổi. Nhà mới mọc lên san sát khắp nơi làm cho bộ mặt nông thôn thay đổi hẳn. Tuy vậy sự phát triển nhà cửa ở nông thôn của từng địa phương cũng có sự khác biệt: về tốc độ xây dựng, về vật liệu xây dựng, về kiểu dáng và thị hiếu...

Ở trung du và đồng bằng Bắc Bộ có những kiểu nhà giống nhau tùy từng thời điểm và hình như những cư dân vùng này có thị hiếu gần nhau. Riêng những nơi gần đô thị lại có khuynh hướng làm nhà theo kiểu thành phố.

Còn ở nông thôn miền trung và miền nam, nhà cửa mới được xây dựng lại có sắc thái khác.

Tuy rằng nhà cửa mới được xây dựng ở trung du và đồng bằng Bắc Bộ ngày một nhiều, nhưng về kiểu cách (mẫu nhà) còn nghèo nàn và đơn điệu.

Giống nhau vẫn là cơ bản, chỉ khác nhau về chi tiết mà chủ yếu lại là mặt trang trí "mỹ thuật" trong kiến trúc.

Từ sau cách mạng cho đến những năm 60, người ta vẫn làm nhà theo kiểu cũ. Bộ sườn hoàn toàn bằng gỗ với các kiểu vì kèo phức tạp. Hãy còn chạm trổ nhưng đã khác xưa là đường nét không những thô vụng mà còn bôi thêm sơn xanh đỏ lòe loẹt... Tất nhiên cách tổ chức trên mặt bằng sinh hoạt vẫn ít có sự thay đổi so với trước cách mạng. Nhưng rồi kiểu nhà này đã được coi là cổ lỗ, ngày càng ít người ưa thích. Một dạng nhà khác được thay thế, nhưng chẳng bao lâu nó lại bị phủ định để dẫn đến một kiểu nhà được coi là "mốt nhất".

Dạng nhà sớm bị phủ định đã có chiều hướng tiến bộ: tuy không khác nhà xưa bao nhiêu, nhưng người ta đã sử dụng những kiểu vì kèo đơn giản, thay một số cột bằng tường chịu lực, số gian nhà không nhất thiết phải là lẻ. Nhà cao ráo thông thoáng, nhiều cửa. Gian dành cho phụ nữ không còn bịt bùng như xưa.Trong nhà hầu như không có chạm trổ, tô vẽ mà chỉ có một vài mô típ đơn giản nơi diềm dưới mái ở hàng cột hiên.

Còn kiểu nhà được coi là "mốt" ấy, đó là kiểu nhà "tường hoa quá mái" nhà "hiên tây". Thật ra không có gì mới. Vào những năm 30 người ta đã thấy nó xuất hiện ở các đô thị và một vài nơi ở nông thôn của những quan lại về hưu hoặc của một vài thương gia có gốc gác ở quê... tất nhiên là của những người giàu có. Họ tiếp thu một vài bộ phận, vài chi tiết của kiến trúc Pháp rồi cấy vào ngôi nhà cổ truyền. Do vậy mà người dân quê gọi là "nhà lai Tây". Vẫn là nhà ba gian hai chái hay năm gian đứng (không có chái), vẫn những kiểu vì kèo phức tạp. Riêng hiên không có mái dốc mà đổ mái bằng được đỡ bằng một hàng cột phảng phất kiểu cột inônic hay corantơ. Hàng cột nay còn phải đỡ một mảng tường dài suốt mặt nhà và được xây cao quá mái cho nên mới có tên là "hiên tây" hay "tường hoa quá mái". Mọi mô-típ trang trí người ta đều phô ra ở cái mặt tường này. Còn cách bố trí trên mặt bằng sinh hoạt hầu như không khác xưa là mấy.

Gần đây, bước vào thập kỷ 20 này, nông thôn miền bắc đã có nhiều nhà tầng, một khuynh hướng tốt là tiết kiệm được diện tích nền mà diện tích sử dụng lại nhiều hơn. Tất nhiên là cần đến xi-măng, sắt thép thay cho gỗ, tre. Điều đáng quan tâm ở đây là nhiều kiểu nhà mới chỉ là sự sao chép, chắp vá lai căng. Người ta đã lạm dụng quá nhiều trang trí, hoàn toàn mang tính hình thức phô trương, lãng phí vật liệu, tiền của mà không mấy mỹ thuật. Dù vậy, phải thừa nhận rằng nhà cửa ở nông khôn miền bắc đã có nhiều thay đổi. Hầu như khó tìm ra những túp lều lụp sụp siêu vẹo như dưới chế độ cũ. Nhà mới khang trang, sáng sủa, hợp vệ sinh, nhiều nhà gạch ngói hơn, nhiều tiện nghi hơn. Tuy nhiên, lối sống ở trong nhà hãy còn thay đổi chậm. Cái tâm lý phô trương, hình thức, ưa lòe loẹt... hình như ngày càng có cơ hội để phát triển.

Còn với nông thôn miền trung và miền nam, nhà cửa mới được xây dựng cũng ngày một nhiều và với tốc độ ngày càng tăng. Ở miền trung kiểu nhà cổ truyền đã có sự thay đổi từ khá lâu do nhiều lần tu sửa, thêm bớt hoặc xây dựng mới. Chủ yếu là dùng những vì kèo đơn giản và nhiều nhà đã dùng tường thay cột. Nhà được xây dựng với phong cách giản dị, thanh nhã, ít phô trương bề ngoài mà chú ý nhiều đến thiết bị bên trong. Song cũng còn nhiều nhà quá thừa thãi bàn ghế, giường phản... làm cho không gian trong nhà thêm chật chội, vướng mắc kém phần thoải mái.

Cho dù từ khía cạnh nào đi nữa, một điều không thể phủ nhận là mỗi ngôi nhà với từng gia đình và cả cộng đồng bao giờ cũng mang trong sự tồn tại của nó cả một ý nghĩa vô cùng to lớn. Thời gian, sự vận động xã hội và tốc độ đô thị hóa ngày một tăng đã làm mai một dần đi dáng dấp của những ngôi nhà cổ kính, chứng nhân của cả một hành trình lịch sử, đồng thời cũng là một mảng lớn bản sắc của văn hóa dân tộc. Đây thực sự là một thách thức lớn đòi hỏi phải có một cách đặt vấn đề nghiêm túc và những biện pháp tích cực, kịp thời, của nhiều cơ quan chức năng trong giai đoạn hiện nay, để quá trình phát triển đô thị của chúng ta không đi quá xa những gì thiêng liêng vốn có, bởi lẽ bên trong mỗi ngôi nhà là những con người.

Tiến sĩ Nguyễn Khắc Tụng
(theo báo Văn nghệ trẻ)
Đăng nhập để trả lời
0
Nhà lá mái

Anh về dỡ gỗ đa đa
Cất nhà lá mái tháng ba em về
(Ca dao Bình Định)

1. Dù quy mô thế nào, một nhà lá mái hoàn chỉnh thường có ba gian: nhà chính, nhà cầu và nhà lẫm. Nhà lầm chồi ra phía trước bên trái, tạo thành chữ L, trên cao làm kho chứa lúa, dưới là nơi ở của con cái. Nối sau nhà lẫm là phòng ở và bếp. Mỗi gian có hai mái trước sau, 2 chái phía còn lại nên nhìn tổng thể nhà có nhiều mái đá nhau. Có nhiều người gọi là nhà đá mái với lập luận nếu bảo lá mái vì lợp tranh thì nhà lợp lá dừa, lá cọ cũng có thẻ gọi như thế. Tuy nhiên tên gọi phổ biến vẫn là nhà lá mái và điều cơ bản khiến trúc này nổi tiếng vì chính cấu tạo của nó: mái, vách đều 2 lớp. Nhiều nhà có cả 2 lớp cửa.

Nhà chính có 4 vì kèo, mỗi vì kèo có 4 cột trụ tròn, 2 cột sát vách trước sau, 2 cột giữa nhà. Có thể nhìn thấy tổng cộng 16 cột nhưng hàng cột trong tạo thành 3 gian thờ, chỉ còn 2 cột hàng ngoài có vẻ thảnh thơi vì hàng cột ở kèo biên được lắp vách ván tạo thành 2 phòng là chái đông và chái tây. Chái tây gọi là chái tàu dành cho khách. Chái đông là buồng vợ chồng gia chủ. Tại sao lại “đông chủ”? Theo chúng tôi, từ chái đông (luôn là phía trái nhà từ bàn thờ nhìn ra) phát triển tiếp nhà cầu, nhà lẫm, bếp… cho tiện sinh hoạt - chữ L tổng thể sẽ che khoảng sân trước tránh gió bấc vì hướng nhà ở dao động từ đông tới nam. Các cụm từ “3 gian, 2 chái”, “đông chủ tây khách” rất phổ biến từ nhà lá mái mà có. Riêng “đông tây chủ khách” còn được người Bình Định vận dụng vào vị trí tiếp khách dịp lễ, tiệc đến tận ngày nay.

Ở nhà lá mái, giàn cột, kèo, xiên, trính… đều sử dụng gỗ tốt: lim, sơn, sầm, ná, xay, mít… Trừ cột tròn bào nhẵn, tất cả đều được xoi, tiện, chạm rất công phu. Các hình chạm chủ yếu là hoa lá, chim, nai, sóc, dơi, cây đàn… Một số nhà đầu kèo mái trước còn tạc nhái đầu rồng (nhà dân không được phép tạc rồng như cung vua phủ chúa). Các đường diềm 3 khám trên cao, các hàng bạo xổ hai bên cột được chạm thủng khiến 3 gian thờ cùng với cả tủ thờ, án thờ (án giò nai hoặc cò điếu) tạo nên vẻ đẹp vừa trang nghiêm vừa nhẹ nhàng thanh thoát. Hai vách ván tạo thành chái đông chái tây gọi là phên lụa giàn khép, trên cao trang trí ô hộc rất tinh tế.

Phần lớn nhà lá mái làm kèo ghép cho từng đoạn trụ. Ở đầu trụ, để cho lưng kèo phẳng, nơi ghép phải “uốn cong” âm dương bẩy tiếp nhau. Chỗ “uốn” này là cơ hội cho các nghệ nhân chạm khắc và bộc lộ tài năng. Chống từ trính lên giao nguyên - nơi 2 đầu kèo giao nhau trên đỉnh - là bộ phận trụ lỏng khá độc đáo và có màu sắc bí ẩn, người dân gọi nôm na là cối, chày. Cối là bộ đỡ tròn đặt từ trính, nhiều tầng nở dần lên ôm lấy chân chày, đầu chày thuôn nhỏ khớp với giao nguyên thành hoa thị 6 cạnh. Ni tấc của 2 chi tiết này, theo lưu truyền trong dân, hoàn toàn không thuộc tính toán của người thợ cả mà do quyết định của thầy tử vi, bói toán.

Áp ngay lưng kèo là lớp mái thứ nhất: trần sìa. Đó là những cây tre già ngâm nước hơn một năm để khỏi mối mọt, tẩy mắt, chẻ trái trả rồi ép phẳng thành tấm, bên trên đắp đất bùn trộn nhuyễn với rơm. Lớp cật tre sạch sẽ tinh tươm khá tương xứng với dàn gỗ bóng lộn. Lớp mái thứ 2 được chống cao phần đỉnh tạo độ dốc lớn có tác dụng che mưa nắng cho lớp trần sìa và dàn gỗ. Tre cũng ngâm nước kỹ, nguyên cây làm rui, chẻ ra làm mè, cột bằng dây mây neo giữ khoảng cách 10cm rất chắc chắn. Mái tranh được lợp dày 20, 30cm, chân mái xén bằng, thắt con rít bằng tre cặp vòng rất đẹp. Độ dốc lớn, khi lợp người thợ phải buộc dây lưng níu vào mè sau nếu không dễ cắm đầu xuống đất. Tranh dày, mái dốc, tới hơn 30 năm mới lợp lại!

Vách nhà là mầm trỉ trét đất. Mầm là những cây tre được dựng dọc, trỉ cũng bằng các thanh tre buộc ngang hai bên mầm. Đất ruộng nhào nhuyễn với rơm trét hai phía trong ngoài xong dùng đất gò mối trộn nước dây tơ hồng hồ lại lớp mặt cho phẳng. Gặp vách đất hai lớp kiểu này khi phá bỏ còn khó hơn tường xây. Toàn bộ vách dựng trên hàng liệt địa lá rộng 20cm theo tường. Lớp này đặt trên những tắc kê 3cm cách liệt địa bàn 20.30cm bằng gỗ xay chống mối. Khe hở vách tạo độ thông thoáng.

Dàn cửa chính theo kiểu thượng phong song hạ bản (còn gọi là bàn khoa, buồng khoa, bàn pha), trên là những song tiện, dưới panô, được xoi chỉ rãnh, chạm khắc công phu. Mái nhà kéo dài ra chỉ còn cách đất 1m6, nhiều nhà làm tiếp lớp cửa thứ 2 gọi là cửa thông hành. Vùng nhiều trộm cướp, cửa thông hành được làm bằng gỗ sung, thứ gỗ có đặc tính rìu chặt không tách, búa đánh không vỡ. Yếu điểm của nó là dùng lửa thổi sẽ tự ngún dần nhưng thời gian phá được sẽ lâu. Mái sau và chái làm vách thứ 2 tạo thành các luồng chứa chum, vại đựng các loại lương thực, các nông cụ…

Nền nhà dùng đất thịt trộn muối đằm kỹ, làm đất khong nứt nẻ khô rốc, vừa mát vừa không bụi khi quét. Do cấu tạo 2 lớp, đặc biệt là lớp mái đất, nhà lá mái rất mát mùa hè ấm áp mùa đông.

2. Tuy vật liệu chỉ là gỗ, tre, tranh, đất nhưng độ bền vững của nhà lá mái rất cao. Qua hàng trăm cơn bão, trận lụt nhà vẫn an nhiên đứng đó làm nơi che chở và hạnh ngộ, nới ươm mầm yêu thương của bao thế hệ, cuộc đời. Độ bền vững có yếu tố quyết định của những người thợ, những nghệ nhân dân gian. Long rong về những nếp nhà xưa, tôi gặp câu: “làm thầy nuôi vợ, làm thợ nuôi miệng” thật thú vị. Các vị thầy (cúng, bói,… cả thầy đồ) có xôi oản, gạo nếp, tiền bạc đem về cho gia đình; người thợ quanh năm suốt tháng ăn ở nhà chủ, làm bao giờ xong mới thôi. Theo cụ Trần Bá Tuyến, một người thợ từng làm rất nhiều nhà mái lá (hiện cư ngụ ở phường Đống Đa., T.P Quy Nhơn); và theo hồi ức nhiều cụ già, cái “bao giờ” nêu trên không dưới 3 năm, với một bạn thợ hơn 10 người gồm thợ cả, thợ chính, thợ học việc. Khi làm nhà xong, người thợ thành như thân quyến của gia chủ, lễ lộc cúng giỗ hàng năm đều về.

Bạn thợ được chủ cấp nồi niêu, gạo thóc tự nấu ăn, nước gạo cơm thừa họ dùng nuôi heo, heo con thành heo nái, để nhiều lứa mới xong nhà. Nhà ở đây bao gồm cả các vật dụng bên trong: giường, tủ, án thờ, tràng kỷ, phản gỗ… Dàn gỗ và vật dụng trong nhà có nhiều đường cong, chạm khắc, đòi hỏi sự khéo tay, khổ công. Cây trính chẳng hạn, không phải để thẳng mà đẽo cong 2 đầu kiểu giá chiêng, đầu chạm hoa cuộn. Tác phẩm này phải cần súc gỗ lớn gấp đôi làm nguyên liệu… Nét chạm khắc, bào, nạo đã hoàn chỉnh thì còn công đoạn cuối cùng là đánh bóng. Người thợ xưa không có giấy nhám. Công cụ để đánh bóng là chuối khô, dùng nùi lá đánh đến lên nước sáng bóng mới thôi. Công phu nhất, tinh xảo nhất chứng tỏ tay thợ nghề rõ nhất là hệ thống ngàm miệng. Vì không hề sử dụng định, chốt gỗ (con sẻ) nên ngàm miệng phải thật khít, vừa đẹp, vừa chắc. Những đường cong, những chi tiết chạm khắc, vừa đẹp, vừa chắc. Những đường cong, những chi tiết chạm khắc rắc rối khi lắp vào ôm kín đến mức chủ nhà thử bằng cách đổ nước vào tháo ra bên trong vẫn khô là được thừa nhận. Người thợ vừa khéo tay, vừa học đức kiên trì, nghiêm cẩn khi làm việc. Mất 3 năm miệt mài, người học việc mới được thầy cho ra nghề. Chữ “nuôi miệng” trong câu trên có 2 ý: miệng người và miệng gỗ!

3. Nhà lá mái Bình Định có tự bao giờ? Với gần 20 ngôi nhà tôi tìm tới ở Tuy Phước, An Nhơn, Phù Cát, Phù Mỹ các chủ nhân bây giờ đều khẳng định nôm na: của ông cố, ông nội để lại. Với các cụ ngoài 80, 90 như Trần Sánh, Hồ Ngọc Anh (Lộc Ngãi, Phước Quang), cụ giáo Hiệp (Luật Lễ, Phước Long – Tuy Phước), bằng phép tính đơn giản cũng biết cách đây 120-150 năm. Hiếm hoi có nhà ghi năm xây dựng như nhà thờ Nguyễn An ở Cát Hưng, Phù Cát: người thợ đã tỉ mỉ khắc lên vì kèo thông tin chính xác cho ta bây giờ, niên đại thế kỷ rưỡi! Ngay cả nhà thờ danh thần triều Tây Sơn Lê Công Miễn (Phước Hòa) được xếp hạng di tích văn hóa cũng 200 năm trở lại. Mấy chục năm chiến tranh ác liệt đã triệt hạ hàng trăm ngôi nhà ở Hoài Ân, Phù Mỹ… Nhà nổi tiếng cột to vùng Ân Nghĩa, Ân Đức không còn; An Nhơn trù phú và cổ kính của đất vua cũng chẳng còn bao nhiêu. Nhà lá mái tồn tại đến giờ nhiều nhất là ở Tuy Phước, xã nào cũng có. Trên thực tế có thể xác nhận nhà lá mái Bình Định thuộc thế kỷ XIX. Yếu tố độc đáo nhất của nhà lá mái là phần mái đất. Nhà ở đắp đất nhiều nước trên thế giới cũng có. Riêng Việt Nam các ngôi cổ tháp của người Chăm chất liệu cơ bản là đất. Trụ lỏng từ trính lên giao nguyên cấu tạo cối, chày rất giống yoni-linga, những hình thờ sinh thực khí của người Chăm. Nhà lá mái Bình Định có thể kế thừa kiến trúc ở Chăm cổ?

4. Phó giáo sư Chu Quang Trứ, tác giả cuốn “kiến trúc dân gian truyền thống Việt Nam” đã nghiên cứu khá công phu ở các dân tộc 3 miền. Đầu năm 2000 ông đến Bình Định được anh Từ Như Huyền Trân, cán bộ Bảo tàng đưa ra một số nhà lá mái, ông thừa nhận cuốn sách của mình còn thiếu sót đáng kể! Nói tới văn hóa truyền thống Bình Định, không thể thiếu nhà lá mái! Dĩ nhiên thời bấy giờ ít ai nghĩ chuyện làm nhà lá mái để ở.

Chiến tranh đã lùi xa. Những ngôi nhà còn lại đang gánh nặng của thời gian sự quên lãng. Lớp con cháu thành đạt hướng về đô thị; còn lại những ông bà già bất lực nhìn mái dột cho mối xông dần hoa lá, sóc nho. Nhà lá mái bây giờ chỉ còn khung gỗ, trần sìa; vách đã được xây gạch, mái ngói , nền xi măng. Bằng khả năng của mình, từng gia đình cố gắng gìn giữ gia sản của ông cha. Nhà ông Ba Nghĩa (Nhơn Hòa, An Nhơn), anh Sáu Quảng, ông Trần Đình Trương (Tri Thiện, Phước Quang, Tuy Phước)… vẫn được bảo quản tốt bằng cách giữ nguyên vì kèo áp vách trang trí; tầng trên cũng vậy.

Thực tế trong dân là thế. Các nhà quản lý, các nhà chức năng thì sao? Ở Bảo tàng chỉ có một ảnh chụp nhà thật và một mô hình thu nhỏ chưa đạt yêu cầu. Ông Đặng Hữu Thọ giám đốc Bảo tàng cho biết mua lại và phục chế một ngôi nhà lá mái như thật thì điều kiện ở ta chưa làm được. Ở ngành Văn hóa cũng chưa thấy có kế hoạch gì cụ thể!

Theo chúng tôi, trong phạm vi có thể, bên cạnh tấm ảnh ngôi nhà, BTTH nên chụp nhiều tấm ảnh mô tả các chi tiết đặc sắc bên trong, phần nào đáp ứng nhu cầu tìm hiểu của các em học sinh và khách tham quan, và trong tương lai nên xây dựng một ngôi nhà lá mái hoàn chỉnh, tiêu biểu từ rào giậu cổng ngõ vào, vừa để bảo tồn vừa làm phương tiện trực quan giáo dục truyền thống. Và các nhà nghiên cứu văn hóa dân gian, lẽ ra đã có những công trình khoa học nghiên cứu một cách nghiêm túc về nhà lá mái.

Trong bài viết “Bình Định đất mẹ của thơ tôi” nhà thơ Chế Lan Viên thể hiện sự hàm ơn đất nước con người Bình Định, có trân trọng nhắc đến ngôi nhà lá mái như một phần máu thịt thơ ông. Hy vọng một ngày nào đó chúng ta còn có cơ hội tự hào nhiều hơn về kiến trúc đặc sắc này của quê hương Bình Định khi nó được nghiên cứu đánh giá chính xác và làm tốt hơn về các vấn đề bảo tồn.

Theo: Thư Viện Bình Ðịnh
Đăng nhập để trả lời
0
Nhà ở dân gian miền Trung
Vietsciences-Trần Quang Minh

Nhà do một nhóm thợ xây, gọi là "hiệp thợ", đứng đầu là thợ cả . Có thể coi đây là đội xây cất bây giờ .
Để chúng ta hiểu rõ hơn về nhà dân gian, tôi liệt kê những từ vựng trong ngôi nhà:
I/ Từ vựng:
VÌ : Dãy cột từ trước ra sau . Nhà nhỏ , mỗi dãy cũng phải có 2 hoặc 3 cột , vừa vừa thì 4 hoặc 5 cột , khá giả mỗi dãy được 6 hay 7 cột
KÈO : Hệ thống gỗ kết nối các đầu cột của VÌ
Tùy theo số cột và hình dạng của KÈO , ta có nhà RỌI hay nhà RƯỜNG


Các KÈO và CỘT liên kết nhau thành khung nhà , dân gian gọi là BỘ GIÀN TRÒ . Tùy theo vị trí , cột có nhiều tên khác nhau
CỘT HIÊN : Cột ngòai cùng ,trước khi vào nhà
CỘT QUÂN : Dãy cột kế tiếp , chỗ cửa ra vào
CỘT CÁI : Dãy cột giữa nhà
CỘT QUYẾT TIỀN : Hai cột góc nhà phía trước
CỘT QUYẾT HẬU : Hai cột góc nhà , phía sau
CỘT ĐẤM TIỀN : Hai cột Quân , bìa nhà , phía trước
CỘT ĐẤM HẬU : Hai cột Quân , bìa nhà , phía sau
CỘT CỬA ĐÔNG PHÒNG : Cột kế đấm hậu , cùng với đấm hậu làm thành cửa vào phòng ở hướng Đông
CỘT CỬA TÂY PHÒNG : Cột kế đấm hậu , cùng với cột này , lam thành cửa vào phòng ở hướng Tây
Nhà dân gian đa số quay hướng về hướng Nam , đây là hướng mà theo thuật Phong Thủy ngày xưa , là tốt nhứt

Cột Quân có nơi gọi là CỘT CON
Cột Cái , có nơi gọi là cột hàng 1, cột Con là cột hàng 2 , cột Hiên là cột hàng 3 . Do đó ông bà ta thường ra HÀNG HIÊN hay HÀNG BA để hứng gió .
KÈO cũng tùy theo vị trí , mà có nhiều tên khác nhau
KÈO QUYẾT TIỀN : Liên kết cột Cái bìa phía trước với cột Quyết Tiền
KÈO QUYẾT HẬU : Liên kết cột Cái bìa phía sau với cột Quyết Hậu
KÈO ĐẤM TIỀN : Liên kết cột Cái bìa phía trước với cột Đấm Tiền
KÈO ĐẤM HẬU : Liên kết cột Cái bìa phía sau với cột Đấm Hậu

XÀ : Nối các bộ Vì Kèo , cũng tùy vị trí , mà có tên khác nhau
XÀ THƯỢNG : 2 thanh , nối đầu cột Cái
XÀ HẠ TIỀN : Nối đầu cột con phía trước
XÀ HẠ HẬU : Nối đầu cột Con phía sau
XÀ HIÊN : Nối đầu cột Hiên
XÀ NGẠCH : Nối chân cột Con , nơi ngạch cửa ra vào

Bộ Vì Kèo của nhà 3 gian 2 chái , cũng tùy vị trí , mà có tên như sau
VÌ NHẤT TÂY : Bìa gian giữa hướng Tây
VÌ NHÌ TÂY : Bìa gian bên , hướng Tây
VÌ NHẤT ĐÔNG : Bìa gian giữa hướng Đông
VÌ NHÌ ĐÔNG : Bìa gian bên , hướng Đông

Ở Bình Trị Thiên , lọai nhà Rường rất được ưa thích . Nhà thường làm theo 3 lọai kích thước , căn cứ theo
a / Chiều dài của TRẾNG , tính bằng thước mộc , là khỏang cách của 2 tim cột cái
b / Chiều cao cột CÁI , từ mặt TẢNG ( mặt kê đá chân cột ) đến TRỐC ( đầu cột )
1/ NHÀ BA HAI , có Trếng dài 3 thước 2 và cột cao 8 thước 6 nên còn gọi là nhà TÁM SÁU
2/ NHÀ BA BẢY , có Trếng dài 3 thước 7 và cột cao 9 thước 1 nên còn gọi là nhà CHÍN MỐT
3/ NHÀ BỐN HAI , có Trếng dài 4 thước 2 và cột cao 10 thước 5 nên còn gọi là nhà MƯỜI NĂM

Thước mộc là thước riêng của chủ nhà . Đo chiều dài của đốt chân ngón tay út , bàn tay trái ,( nếu chủ nhà là nam )
Nếu chủ nhà là nữ , thì đo chân ngón tay út ,bàn tay phải ( nam tả , nữ hữu ) Chiều dài này nhân cho 10 , ta có 1 thước dài trên dưới 40 cm , tùy theo chủ nhà cao hay thấp , ngón tay dài hay ngắn .
Kích thước này phù hợp với thước LỖ BAN , phải chăng , đây là thước Lỗ Ban của riêng từng người ?


DÁNG CỘT :Cột được kê trên đá tảng , ( Đá xanh vuông , mỗi cạnh 45 cm dày 10 cm Có hình dạng và tỷ lệ như hình vẽ

CỬA RA VÀO : Giữa xà hạ tiền và xà ngạch , ta có cửa ra vào

Đố trên của cửa gọi là Cầu Quảng có then cài
Đố đứng của cửa gọi là CON ĐỨNG, liên kết ngạch cửa , cầu Quảng với cột con
Trên ngạch cửa có khóet lỗ gọi là LỖ CẬU , để tra CHÂN CÔ của cánh cửa
Cánh cửa , người dân thích lọai THƯỢNG SONG HẠ BẢN , Đó là cánh cửa , phía trên có song gỗ thẳng , hoặc con tiện , phía dưới là ván , vừa kín đáo , vừa mát


Đăng nhập để trả lời
0
Nhà sàn truyền thống của người Tày ở Nà Hang (Tuyên Quang) (Số 2(92)/04)

Người Tày là một trong những cư dân bản địa, đã sớm có mặt và cư trú trên một địa bàn rất rộng ở vùng Việt Bắc, Đông Bắc Việt Nam. Huyện Nà Hang (Tuyên Quang) là một trong những địa bàn tập trung đông người Tày sinh sống, chiếm tới 57% dân số toàn huyện.
Người Tày là một trong những cư dân bản địa, đã sớm có mặt và cư trú trên một địa bàn rất rộng ở vùng Việt Bắc, Đông Bắc Việt Nam. Huyện Nà Hang (Tuyên Quang) là một trong những địa bàn tập trung đông người Tày sinh sống, chiếm tới 57% dân số toàn huyện. Tuy vậy, do tập quán cư trú, người Tày ở đây cũng không tập trung thành những làng bản đông đúc mà thường quy tụ trên một địa bàn tương đối rộng, nhà nọ cách xa nhà kia. Nếu như ở một số địa phương khác người Tày đã dần chuyển sang sử dụng loại nhà đất hay nửa sàn nửa đất thì tới nay ở vùng Nà Hang (Tuyên Quang), do những điều kiện nhất định về tự nhiên, kinh tế, xã hội, còn bảo lưu được nhiều mẫu nhà sàn truyền thống.
Tập quán canh tác chủ yếu là trồng lúa nước, do vậy người Tày thường định cư ở những vùng thung lũng trước núi, gần sông, suối để tiện nguồn nước sinh hoạt và sản xuất, gần đồng ruộng để tiện chăm sóc cây trồng, đồng thời cũng không xa rừng để khai thác nguồn lâm sản. Ngoài việc chú ý đến sự tiện lợi cho sinh hoạt, những nghi lễ liên quan đến việc chọn đất làm nhà cũng hết sức được coi trọng. Công việc này thường được các thầy cúng đảm nhận bao gồm cả việc xác định hướng nhà và ngày giờ để dựng nhà cùng các nghi lễ liên quan để xin phép thổ công cho gia chủ được phép dựng nhà.
Nhà của người Tày ở Nà Hang thường là những ngôi nhà sàn độc lập, có khuôn viên bao bọc xung quanh bằng rào nứa đan thành phên buộc vào cọc tre hay dùng những đoạn nứa cắm sát vào nhau, cũng có nhà trồng một số loại cây, hoa làm hàng rào. Sát cạnh khuôn viên nhà lại có một mảnh vườn nhỏ trồng các loại rau xanh, bầu bí, cây gia vị, cây thuốc, cũng dùng nứa cây rào dậu cẩn thận để dùng để tránh gia súc, gia cầm trong nhà phá hoại; Nhiều nhà còn có ao thả cá, xung quanh nhà trồng các loại cây ăn quả như mận, hồng, lê, táo...
Gầm sàn mở ra không gian xung quanh, được sử dụng để buộc trâu bò, quây chuồng lợn, chuồng gà, chứa củi, đặt cối giã gạo, để quạt hòm, cối xay, cối giã, để cày bừa và các loại nông cụ, xe đạp, xe máy.
Nhà của người Tày ở Nà Hang có bố cục mặt bằng hình chữ nhật, hai đầu hồi còn được mở rộng, kéo dài thêm bằng những sàn phơi, sàn rửa. Diện tích trung bình 150 - 200m2, chiều cao trung bình 7 - 9m tính từ nền lên đến nóc. Phổ biến là loại nhà kiểu 4 gian 2 chái có chiều dài khoảng 18 - 20m, rộng khoảng 8 - 10m. Nhà có hai mái chính có độ dốc vừa phải, mái trước và mái sau bằng nhau hợp thành một hình tam giác cân, khác với kiểu nhà 7 hàng cột ở vùng Chiêm Hóa có mái sau dài hơn mái trước do có thêm một hàng cột ở phía sau. Phía hai đầu nhà còn có hai mái phụ để che mưa nắng cho phần hiên, cầu thang phía trước và phần sàn rửa, cầu thang phía sau. Hai mái phụ này không gặp nhau với mái chính ở bờ nóc mà được làm thấp hơn, ở phía dưới mái chính, những rui mè liên kết với nhau bằng cách buộc với một thân vầu, hay gỗ đặt cao hơn vị trí câu đầu của bộ vì nóc đầu tiên và cuối cùng một chút. Nhìn bên ngoài vẫn thấy đây là một ngôi nhà 4 mái cân xứng. Vật liệu lợp mái là lá cọ rất sẵn ở những rừng cọ trong vùng, cách lợp cũng như hầu hết ở các nơi khác: tách tàu lá cọ làm 2 mắc lên thanh mè, cứ mỗi hàng mè lại trở mặt xếp từ phải qua trái rồi đến từ trái qua phải. Do nguồn lá cọ tại địa phương sẵn có nên mái được lợp rất dày, bền chắc.
Kết cấu khung nhà sàn của người Tày ở Nà Hang tương đối thống nhất về tổng thể nhưng rất phong phú về chi tiết ở phần kết cấu vì nóc. Hầu hết là loại vì kèo 4 hàng cột, gồm 2 kèo, 2 cột cái, 2 cột quân. Cũng có loại nhà theo kiểu 6 hàng cột, thêm 2 hàng cột hiên. Các cột được liên kết với nhau bằng câu đầu, thanh ngang, các bộ vì liên kết với nhau bằng thanh xuyên dọc. Kết cấu vì nóc đơn giản nhất chỉ gồm một thân cột đỡ chỏm kèo đứng chân lên một thanh ngang liên kết hai đầu cột cái. Kết cấu phức tạp hơn được làm như kiểu vì nóc giá chiêng của người Việt: cột trốn đỡ chỏm kèo đứng chân trên một thanh ngang ngắn, thanh ngang này liên kết hai cột trốn khác đỡ kèo ở vị trí hoành mái hai bên lại đứng chân lên một thanh ngang dài liên kết hai cột cái. Kiểu kết cấu này khiến cho lòng nhà được mở rộng. Hai bộ vì ở hai đầu hồi nhà thường được đan phên che chắn hay bưng ván trổ thủng thành những hình hoa văn, những bộ vì trong nhà được để trống giữa các gian. Hệ thống cột này xuyên suốt từ mặt nền lên đến tận mái, các cột thường được kê trên những chân tảng bằng đá, chân tảng thường không có hình dạng nhất định mà phụ thuộc vào hình dáng của những tảng đá trong tự nhiên. ở Nà Hang hiện vẫn còn bảo lưu những nhà sàn có hệ thống cột được chôn xuống nền đất, nhiều cột bị ẩm, mục, đã đứt hẳn chân nên phải kê lại bằng đá tảng, bằng gỗ hay bất cứ vật liệu gì mà chủ nhà có thể kiếm được. Điều đó chứng minh những nhà sàn truyền thống trước kia có kiểu chân cột được chôn xuống đất, nhưng những ngôi nhà được dựng trong khoảng 20 - 30 năm trở lại đây đều có kiểu chân cột kê đá tảng nhằm mục đích kéo dài tuổi thọ của các chân cột bằng các loại gỗ đang dần ngày một hiếm đi.
Nguyên liệu dùng để làm khung nhà thường là những loại gỗ sẵn có tại địa phương, phổ biến là gỗ trò, trâm, nghiến, có khi cũng dùng cả thân vầu, tre, diễn, gỗ cọ để làm những chi tiết phụ. Trước đây, khi dựng nhà, để làm bộ khung, đồng bào thường phải mất từ 1 đến 3 năm để đi tìm gỗ trên rừng, tìm được một cây gỗ ưng ý đốn xuống rồi cho trâu kéo về vứt ở ngoài trời mưa nắng, đến khi đủ gỗ dựng nhà thì những cây gỗ này cũng đã tương đối khô, những cây nào bị mối mọt thì bỏ luôn không dùng. Sau khi kiếm gần đủ nguyên liệu là đã có thể dựng nhà, nếu thiếu có thể vay mượn thêm của bà con trong bản. Nguyên liệu lá cọ lợp mái cũng thường được khai thác ở những rừng cọ gần nhà, ai làm nhà hay sửa nhà thì được ưu tiên khai thác lá cọ, người khác không được lấy.
Thợ dựng nhà của người Tày ở Nà Hang thường ở ngay trong bản và là những người biết kĩ thuật dựng nhà chứ không phải là thợ chuyên nghiệp, những người này bình thường vẫn làm công việc nông nghiệp khác, khi có người dựng nhà mới thì được mời đến và cũng được trả công để đảm nhiệm những công việc chủ yếu, còn lại các công việc khác do mọi người trong bản cùng đến giúp, ai biết việc gì thì giúp việc ấy, ngoài việc giúp công, bà con còn giúp nhau cả về nguyên liệu dựng nhà, tiền, gạo... Về kĩ thuật xây dựng, chủ yếu sử dụng các kĩ thuật đẽo, bào, đục mộng, chốt, buộc, néo... Theo tập quán, khi dựng nhà người ta xếp hết các vì liên kết theo hàng ngang các cột trước rồi mới dựng các bộ vì lên để chia thành gian, bộ vì xếp đầu tiên bao giờ cũng được dựng lên cuối cùng và bộ vì xếp cuối cùng (vì thứ 5) lại được dựng lên đầu tiên.
Nhà của người Tày ở Nà Hang cũng như ở một số nơi khác, có các mặt xung quanh được che bằng liếp hoặc bưng bằng ván. Trước đây chủ yếu là sử dụng nứa đan thành liếp, hoặc đầu tiên khi mới dựng nhà dùng liếp, ở một thời gian, khi có điều kiện mới thay dần các tấm liếp bằng ván gỗ. Tuy vậy, xung quanh nhà vẫn để rất nhiều cửa sổ bằng những tấm liếp được chống lên vào mùa hè và đóng lại khi trời lạnh, do vậy những ngôi nhà này thường rất sáng sủa, thoáng mát. Gần đây đồng bào ưa làm loại cửa sổ bằng ván gỗ hai cánh có ổ quay và then cài cũng bằng gỗ có thể đóng mở dễ dàng. Những cửa sổ này cũng được chắn bằng những loại chấn song đơn giản bằng những đoạn tre, vầu hay gỗ được đẽo gọt tạo thành hoa văn trang trí. Đầu hồi phía sau thường được bưng kín, chỉ có một cửa duy nhất đi ra phía cầu thang phụ. Trong nhà rất ít khi được ngăn thành các buồng nhỏ, nếu có cũng chỉ có khoảng 1 - 2 buồng dành cho con gái, con dâu.
Mặt sàn cách nền đất phía dưới khoảng trên dưới 2 m, nền đất thường được đầm kĩ. Sàn nhà được làm bằng các loại mai, vầu được đập dập, chẻ nhỏ lát theo chiều ngang nhà và khi hỏng đâu được sửa, thay đến đấy rất dễ dàng, nhanh chóng. Cũng giống như hệ thống vách tường bao quanh nhà, mặt sàn cũng được lát cả bằng ván gỗ theo chiều ngang nhà hoặc khi mới làm nhà thì lát theo kiểu trên, qua một thời gian gia chủ có điều kiện kinh tế thì dần được thay bằng ván gỗ.
Sàn phơi và sàn rửa cùng một mặt bằng với sàn nhà nhưng có tính chất như một công trình phụ gá vào với tòa nhà chính, hệ thống cột chống phía dưới sàn không có liên kết gì với nhà chính, thường được dùng những đoạn cây nhỏ dễ kiếm hay nguyên vật liệu thừa trong quá trình làm nhà, cách bố trí các cột cũng không theo quy luật nào, chỗ nào yếu thì chống thêm cột, phía dưới các sàn này không sử dụng để chứa gì. Thực tế sử dụng chỉ một thời gian dưới trời mưa nắng, hay thường xuyên bị dội nước, những sàn phơi, sàn rửa này thường nhanh chónh bị hỏng phải gia cố thêm hoặc làm mới.
Bố trí không gian sử dụng trong ngôi nhà của người Tày ở Nà Hang cũng có điểm khác biệt so với một số địa phương khác: Trước nhà đối diện với cầu thang thường là một máng nước bằng gỗ, thân vầu hoặc bằng đá dùng để dựng nước rửa chân trước khi lên nhà. Cầu thang lên nhà bằng gỗ thường gồm 9 bậc, có một số ít nhà làm 7 bậc, không có tay vịn. Lên hết cầu thang tới một hiên rộng nhìn ra phía trước nhà. Toàn bộ phần này nằm ở phía dưới mái phụ phía đầu hồi để tránh mưa nắng. Qua hiên vào cửa chính của nhà ở phía đầu hồi phía trước, cánh cửa thường được làm bằng liếp hay gỗ tấm có hai cánh. Gian thứ nhất là gian khách, khách đến chơi nhà hoặc ngủ lại chỉ có thể ở phần không gian này. Gian thứ hai có đặt bàn thờ tổ tiên trên gác xép (phần không gian sát mái đua ra), phía dưới hai bên đều có kê sập, bếp giành cho khách có thể ở ngay gian thứ nhất hoặc gian thứ hai. Bàn thờ bao giờ cũng đặt ở phía đối diện chéo góc với cửa chính ra vào, nếu cửa ở bên trái thì bàn thờ ở bên phải gian thứ hai và ngược lại, cách bài trí bàn thờ cũng khá đơn giản chỉ gồm: bát hương, đèn, đĩa đựng hoa quả, chai rượu. Ông chủ nhà nếu lớn tuổi cũng thường ở gian thứ hai này ngay phía dưới bàn thờ để tiện hương khói, tiếp khách. Gian thứ 3 thường có một đố ngăn cách với gian thứ hai là nơi dành cho chủ nhà hoặc vợ chủ nhà, cũng ở gian này giữa nhà là bếp của gia đình, chạn bát, phía sau nhà ở gian này có thể mở thêm ra một sàn rửa để rửa bát đũa, đồ ăn. Phía trên bếp gia đình có gác bếp hai tầng dùng để xông khói một số loại thực phẩm hoặc những đồ đan lát nhằm mục đích bảo quản, gác bếp được treo lên bằng những đoạn tre gác giữa các vì kèo. Gian thứ tư là nơi dành cho các con, cũng có gia đình sử dụng 1 bên để lương thực, chạn bát hoặc nơi rửa bát. Đầu hồi phía sau thường là một chái có cửa mở ra cầu thang phụ, sàn rửa, nơi rửa ráy, tắm giặt, nơi đại tiểu tiện xuống chuồng lợn phía dưới. Có gia đình dùng không gian ở phần chái này làm bếp để tiện việc rửa ráy, nấu nướng, chăm sóc lợn gà.
Những nghi lễ liên quan đến quá trình dựng nhà của người Tày ở Nà Hang, ngoài việc xem hướng, xem ngày giờ, như đã nói, quan trọng nhất khi bắt đầu tiến hành dựng nhà phải có nghi thức xin một lá bùa trấn trạch (gọi là "Biên"). Bùa này là một tấm vải đỏ kích thước khoảng 30 - 40cm do các thầy cúng sau những nghi lễ viết, trên đó dùng chữ Hán: Sắc lệnh, Khương Thái Công tại thử ... niên ... nguyệt ... nhật, có nơi ghi thêm chữ Phúc như Đông Hải, thọ tỉ Nam Sơn, lễ để xin lá bùa này dứt khoát phải có 12 chiếc bánh dày, thịt lợn. Khi dựng vì kèo lên thì lấy bùa dán lên câu đầu để cho ngôi nhà có sinh khí và vững bền. Sau khi nhà đã dựng xong cũng phải có những nghi lễ thì mới được phép ở, hôm về nhà mới, người chồng đi trước tay cầm một bó đuốc để xua đuổi tà ma, vợ tay cầm chạc trâu, gánh vài cum lúa và một ống nứa đựng nước. Khi vào nhà hai vợ chồng khấn thổ công, thổ thần xin cho được tạm trú. Lúc đó trong nhà đã có một vị già làng, trưởng bản đứng đợi sẵn lên tiếng trả lời đồng ý cho vào ở (giả làm tiếng thổ thần).
Nà Hang (Tuyên Quang) là một trong số ít nơi còn bảo lưu được những nét độc đáo trong kiến trúc nhà ở truyền thống của người Tày, thể hiện qua kết cấu, kỹ thuật, nguyên vật liệu cũng như mặt bằng, bố trí nội, ngoại thất. Những di sản kiến trúc này nằm trong một tổng thể những yếu tố về điều kiện tự nhiên, môi trường và những sinh hoạt vật chất cũng như văn hóa tinh thần. Điều đó tạo nên những nét đặc sắc của văn hóa tộc người.
Nhưng cũng như nhiều địa phương khác, di sản kiến trúc ở đây cũng đang chịu ảnh hưởng, tác động mạnh mẽ từ nhiều phía: nguồn nguyên, vật liệu đang cạn kiệt dần, cảnh quan môi trường tự nhiên và văn hóa thay đổi, đặc biệt dự án thủy điện Nà Hang đang được tiến hành sẽ làm ngập một vùng rộng trong đó có những ngôi nhà sàn này. Trong đó cũng phải kể đến cả tâm lý của một bộ phận lớp người trẻ tuổi, có xu hướng không thích ở trong những ngôi nhà sàn truyền thống, mà chuyển sang ở nhà đất, nhà xây. Do vậy, di sản kiến trúc này cũng đang đứng trước những nguy cơ, thách thức, cần có những giải pháp bảo tồn, phát huy.

Lê Thị Tuý Hoàn
www.vae.org.vn
Đăng nhập để trả lời
0
Trước hết do đặc điểm khu vực cư trú của người Việt Nam là vùng sông nước cho nên ngôi nhà của người Việt Nam gắn liền với môi trường sông nước.




&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;


Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-07-08 11:07:12HongYen>
đình Đình Bảng (Hà Bắc)


Đình Bảng



Trở lại quốc lộ 1A, tiếp tục đi lên phía bắc, đến km 15 là hết địa phận thành phố Hà Nội, sang tỉnh Bắc Ninh và đó là đất làng Đình Bảng thuộc huyện Tiên Sơn thuộc loại giàu của tỉnh Bắc Ninh. Dân sống vừa bằng nghề nông vừa bằng nghề buôn, ngày trước buôn tơ lụa, nay buôn nhiều hàng công nghệ phẩm. Tại đây có ba di tích: Ngôi đình làng, đền Lý Bát Đế (còn gọi là đền Đô) và khu lăng mộ các vua Lý. Về những ngôi đình cổ kính nổi tiếng của đất Kinh Bắc, người ta thường truyền tụng câu ca dao:

Thứ nhất là đình Đông Khang
Thứ nhì Đình Bảng, vẻ vang đình Diềm


http://www.hanoi.gov.vn/hanoiwebs/administration/departments/sodulich/dddl_vungphucan_c1.htm#top
Đăng nhập để trả lời
0
Dưới mái rêu nhà cổ
22:7', 10/1/ 2005 (GMT+7)

Tôi nện gót trên những phiến đá xanh mòn nhẵn, vịn tay vào vách rêu thẫm mát lạnh, cảm nhận thật rõ ràng về thời gian... Lối ngõ nhiều tầng khúc lên dần trực chỉ đỉnh đồi cao nhất làng Lộc Yên (xã Tiên Cảnh, huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam), nơi tọa lạc ngôi nhà cổ có giá trị độc đáo và số phận khá ly kỳ.

Ngôi nhà 6 thế hệ


Chủ nhân của ngôi nhà, cụ Nguyễn Huỳnh Anh, vừa mừng thượng thọ 90. Đôi mắt cụ đã vương bóng mây bay ngang, và tai chỉ còn nghe quen tiếng sấm đì đùng. Duy những biến cố thăng trầm gắn với số phận kỳ lạ của ngôi nhà thì cụ vẫn đinh ninh... Ngôi nhà không có niên biểu, nên chẳng biết đích xác là dựng vào năm nào - cụ kể bằng cái chất giọng cao và trúc trắc của người dân bản địa. Nhưng đến cụ đã là thế hệ thứ 4 của dòng họ Nguyễn Đình hít thở không khí dưới mái rêu phong cổ kính này.


Đã có 6 thế hệ dòng họ Nguyễn Đình sinh trưởng trong ngôi nhà cổ này.

Bắt đầu từ đời cụ cố Nguyễn Đình Hoàng, một đại phú gia làng Lộc Yên, thời ấy thuộc tổng Tiên Giang, huyện Tiên Phước. Cái sự giàu của cụ cố Hoàng cũng đáng kể ra để ngẫm: có bạc thước trong tay từ đời trước để lại, song cụ cố Hoàng không mua lấy chút quan tước làm vinh gia, cũng chẳng ham tậu ruộng cò bay thẳng cánh mà thành địa chủ theo thói thông thường một thuở một thời. Chỉ khi 5 người con trai thành gia lập thất ra ở riêng thì cụ cố Hoàng mới đổ tiền dựng cho mỗi người một ngôi nhà gỗ thật công phu để truyền đời...

Mấy thế hệ con cháu tiếp theo đều được học đủ chữ nghĩa, nhưng không người nào đi thi để làm quan, mà chỉ bám đất làm ăn. Tỷ như cụ Anh, làu thông cả Hán văn lẫn quốc ngữ từ tấm bé, song suốt đời vẫn là một nông dân... Ngôi nhà này truyền đến đời cụ Anh đã ngót nghét 200 năm. Cháu nội cụ Anh, đứa nhỏ nhất cũng đã vào đại học, đã là thế hệ thứ 6 dựa vào gốc cột cái to gần 1 vòng tay người ôm mà lớn lên trong ngôi nhà này...

Kiến trúc độc đáo


Những gốc cột cái trong ngôi nhà từng ấy năm cũng chưa một lần rời khỏi phiến đá tảng đặt chân. Cả ngôi nhà gần như vẫn nguyên trạng thuở ban đầu, chỉ có phần mái lợp chuyển từ tranh sang ngói vào năm 1941. Cụ Anh kể, nguyên mái nhà gồm 2 lớp: lớp mái dưới làm bằng sườn tre đan đắp đất sét, lên khoảng 2 tấc tay là lớp mái trên, lợp tranh, để chống nắng nóng, nhất là sét đánh, hỏa hoạn, lỡ cháy lớp tranh thì thay, xứ này thiếu thứ gì khác chứ tranh tre thì “vô tư”. Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Thượng Hỷ ở Trung tâm Bảo tồn di sản - di tích Quảng Nam, kiểu mái ấy là đặc trưng của nhà Lá Mái.

Ngôi nhà gồm 3 gian và 2 chái đầu hồi, kiến trúc theo một lối riêng hết sức độc đáo, gọi là nhà “tam đoạn” (còn gọi là kẻ chuyền): mỗi bộ vì kèo có 3 phần kết cấu là kèo lòng nhất, kèo lòng nhì và kèo lòng ba gối đầu nối tiếp từ cột cái (nóc), qua cột quân, rồi xuống cột muống (hiên). Các trính (còn gọi là trến, quá giang) được đẽo khắc uốn lượn, cùng với trỏng quả (con đội) chạm nổi hình con dơi bay xuống, và gia thu (hai cánh trang trí hai bên trỏng quả) của kèo nóc khiến kết cấu gỗ ở chính thất hết sức sinh động, mỹ thuật.

Trên 2 kèo đầu hồi còn trang trí bức cuốn chạm hình cuốn thư cách điệu, và ở mặt dưới kèo lòng ba chạm các cảnh thú rừng như nai, sóc... rất chi tiết, lộ rõ nét tài hoa của phường thợ. Cụ Anh cho biết, ngôi nhà do phường thợ mộc nổi tiếng Vân Hà ở xã Tam Thành (Tam Kỳ, Quảng Nam) dựng nên. Mỗi một cây kèo trong ngôi nhà chạm khắc xong tốn chí ít một tháng công phu! Theo ông Nguyễn Thượng Hỷ, kiểu thức nhà rường, kết cấu “tam đoạn” và điêu khắc tinh xảo vẫn còn nguyên trạng khiến ngôi nhà cổ này có giá trị kiến trúc “độc nhất vô nhị”.

Hai lần “chống lại” ông Diệm

Ngôi nhà cổ đón gió theo “phương vua” (quay mặt hướng Nam) trên đỉnh đồi cao nhất làng Lộc Yên hấp dẫn đến mức Ngô Đình Diệm hai lần gạ mua bằng đủ phương cách. Tất nhiên là cụ Anh đã kiên quyết từ chối, nên bây giờ đây tôi mới có cơ duyên hầu chuyện cụ trong ngôi nhà cổ kính này. Cụ Anh kể: Lần đầu là vào năm 1939, ông Diệm vừa từ quan, về ở với anh ruột là ông Ngô Đình Khôi, đương chức Tổng đốc Quảng Nam.

Cụ Anh trong ngôi nhà cổ.

Ông Diệm cưỡi ngựa lên đây, có ông Tri huyện Tiên Phước cùng quan gia theo hầu đông lắm. Sau khi xem xong nhà, ông Diệm cứ nằng nặc đòi mua, ngã giá là 1 nghìn rưỡi đồng bạc Đông Dương. Lúc đó 10 ang lúa (45 kg) chỉ có 2 đồng. Cụ Anh không chịu bán. “Thế rồi cụ có bị làm khó dễ chi không?” - “Răng lại không. Ông Diệm nổi giận đùng đùng bỏ về. Chỉ ngày sau, tui có trát đòi xuống huyện, ông Tri huyện lệnh phải bán nhà cho cụ Thượng (tức Ngô Đình Diệm, trước đó mang hàm Thượng thư - NV).

Tôi vẫn nhất mực không nghe. Thế là cứ năm bữa, nửa tháng, ông huyện lại gửi trát đòi tui xuống, dọa dẫm phỉnh dụ đủ điều. Mấy lần sau đó tui không chịu xuống nữa. Rồi chuyện cũng êm đi, tưởng ông Diệm cũng đã quên, ai ngờ 20 năm sau ông Diệm lại lần nữa đòi mua...”. Cụ Anh bồi hồi bảo, lần thứ hai này phải nhờ có chút may mắn nào đó, hoặc ông bà phù hộ, chứ không thì ngôi nhà khó thoát số phận cột kèo phải rời nhau, bởi lần ấy ông Diệm không đích thân ra mặt về đây, mới ớn. Đó là vào năm 1960.

Truyền “ý chỉ” của ông Diệm là ông Thiếu tá tỉnh trưởng Quảng Tín, với xe pháo, lính tráng và súng ống đầy mình. “Ông tỉnh trưởng ra giá, hễ trong vòng vài chục triệu bạc, tui muốn bao nhiêu cũng có, và còn hứa sẽ cắt thêm cho tui một khoảnh đất ở thị xã Tam Kỳ - tỉnh lỵ bấy giờ. Tui không chịu. Ông tỉnh trưởng hạn cho tui suy nghĩ, ý là không muốn bán cũng phải bán, vì ông Diệm muốn mua cho bằng được. Run rủi làm sao, sau đó vùng này thành chiến địa tranh chấp dữ dội giữa Cách mạng với Quốc gia, nên việc tui không chịu bán nhà cũng được cho qua”...

Gìn giữ cho muôn đời sau...

Từ năm 1965, gia đình cụ Anh phải chuyển ra trung tâm huyện ở để tránh tên bay đạn lạc. Làng Lộc Yên ngày nào cũng hứng đại bác bắn phá, nhưng kỳ lạ sao ngôi nhà vẫn chẳng chút hề hấn. Cụ Anh bùi ngùi: “10 năm, từ 1965 cho đến 1975, tui cứ ban ngày vào ở làm vườn, đêm trở ra trung tâm huyện ngủ, nhưng chẳng bao giờ tui nghĩ đến chuyện dời nhà hay bán nhà. Mươi năm lại đây, cả chục lần người ta đến gạ gẫm mua nhà, nhưng tui vẫn trả lời mười lần như chục là không bán. Nếu tui có ý định bán, thì làm chi còn cơ hội đến bây chừ để mấy người gùn ghè...”.

Mái đầu bạc cụ Anh thoáng hơi đổ xuống mặt bàn gỗ vuông đen bóng cổ xưa, mường tượngï như cụ đang lắng nghe tiếng vọng từ đâu đó xa xăm lắm, rồi giọng cụ trầm xuống theo 2 câu đối trên bức liễn đặt ở bàn thờ gia tiên: “Bách tải triệu bằng bồi phúc trạch/Nhất sanh trì thủ trọng cương thường. Cụ cố tui lưu lại bức liễn đối ni, bên trong còn ẩn hàm ý muốn lớp con cháu kế thừa phải gìn giữ “phúc trạch” mà truyền đời. Nhưng tâm nguyện ấy của cụ cố tui đã không được làm toàn vẹn...”.

Có tiếng gió thổi dài bên ngoài gian nhà cổ, rạt rào âm hưởng từ những tán đại thụ hàng trăm năm tuổi trên đỉnh vườn đồi... “Cả 5 ngôi nhà ngày ấy đều được cụ cố tui dựng ở làng Lộc Yên, nhưng đến bây chừ đã thất tán hết...3 cái rưỡi. Nhà cụ nội út bên kia đồi chỉ còn 1 gian...”. Chỉ có mỗi một ngôi nhà của cụ Anh vẫn giữ được nguyên vẹn nền móng và kiến trúc khởi thủy dẫu qua biết bao thăng trầm ly loạn chiến tranh, và cả những ham muốn đổi chác ở đời...

Một chuyên gia nghiên cứu nhà cổ người Nhật Bản đến chiêm ngưỡng ngôi nhà cổ này có nói, đại ý, làm nhà không chỉ là kỹ thuật, mà còn là tâm linh, là bản sắc, gỗ cũng là bản sắc văn hóa... Đối với ngôi nhà cổ này, dâu bể thời gian đã lưu dấu trên những phiến đá mòn lối ngõ và lên nước gỗ đến mức có thể nhìn thấy bóng dáng con người ở đó...


TRƯƠNG ĐỨC TỚI
Theo: SGGP
Đăng nhập để trả lời
0
Nhìn qua đình làng ở Huế

--- không rõ tác giả ---

Nói đến kiến trúc Huế, không ít người chỉ nghĩ đến cung điện và lăng mộ các vua nhà Nguyễn, cho rằng đây là bộ mặt nghệ thuật cung đình duy nhất của Việt Nam còn lại. Có mở rộng, thì cũng chỉ thêm vào một số chùa lớn. Đã nhiều người đề cập đến kiến trúc Huế, đều chỉ dừng ở các loại di tích trên. Đúng là Huế có nhiều cung điện, lăng mộ và chùa. Song chỉ cần ra ngoại vi thành phố Huế, chúng ta còn gặp nhiều kiến trúc đẹp của tư nhân, của dòng họ và đặc biệt là các ngôi đình của dân làng.

Tiêu biểu cho nghệ thuật đình làng ở Huế mà hầu như người dân ở đây đều biết là các đình Kim Long, Dương Nỗ và Lại Thế. Ba ngôi đình thuộc ba làng ngày nay có đời sống xã hội khác nhau (đình Kim Long ở ngay sát nội thành, trên mặt phố, liền sau chợ, đình Dương Nỗ ở khá xa nội thành, thuộc làng quê ven đường ra cửa biển Thuận An; còn đình Lại Thế ở ven nội thành nhưng lại thuộc một làng quê kín đáo) nhưng bản thân kiến trúc lại gặp nhau trong một dáng vẻ chung và tạo nên một phong cách đình làng xứ Huế.

Cũng như hầu hết đình làng ngoài Bắc, đình làng ở Huế với tư cách là bộ mặt kiến trúc của một làng, được xây dựng ngay ở đầu làng, như một người chủ hiếu khách niềm nở chào đón những ai đến thăm làng. Gắn bó với các kiến trúc của dân trong làng, ba phía gồm hai bên và đằng sau liền sát nhà dân, còn mặt trước đình thoáng đãng, nhìn qua sông ra cánh đồng rộng. Đến thăm làng, từ xa chúng ta đã thấy đình làng thấp thoáng trong các tán cây cổ thụ, bề thế trong toàn cảnh, lại thiêng liêng mà vẫn thân mật. Đến gần mỗi ngôi đình được giới hạn trong một khuôn viên cụ thể có cửa đình được xây những trụ gạch vuông vức vươn cao, có bổ ô trang trí. Qua cửa vào trong sân đình, cũng như nhiều kiến trúc cổ ở Huế, xây chắn ngang một bức bình phong, buộc ta phải đi vòng sang hai bên. Bức bình phong trước hết theo quan niệm “phong thủy” để che chắn những gì không hay, tạo sự kín đáo cho công trình phía trong, đồng thời là một diện rộng để đắp vẽ trang trí những hình có tính chúc tụng cả dân làng. Sân sinh hoạt thường có lối đi rộng ở giữa dẫn vào tòa Đại đình, còn hai bên để đất trồng cây lưu niên. Đình ở Huế còn hiện trạng đến nay đều được xây dựng vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, song khác với những đình đồng thời ở ngoài Bắc có nhiều kiến trúc phức tạp, ở đây không có các dãy Tả vu, Hữu vu ở hai bên sân, không có tòa Tiền tế ở phía trước và Hậu cung ở phía sau, mà chỉ có duy nhất tòa Đại đình mặt bằng chữ nhật. Có lẽ trước đây, ngay khi ngôi đình còn sống đầy đủ đời sống xã hội của nó, việc ăn uống và tế lễ linh đình cũng như việc linh thiêng hóa Thành hoàng không nặng như ở đình làng ngoài Bắc. Với mặt bằng chỉ có Đại đình hình chữ nhật ngang, đình làng ở Huế xây dựng muộn, song lại gần gũi với những đình làng sớm ở ngoài Bắc có niên đại có thế kỷ XVI - XVII.

Đình làng ở Huế thường có ba gian và hai chái, ở hai đầu không có tường bao, luôn gắn bó với bên ngoài. Những đình lớn như đình Lại Thế thì hai chái kéo dài, mở rộng thành những chái kép, tạo cho lòng đình như năm gian hai chái. Phía hiên trước đình thường có mái đua vươn ra một khoảng rộng do một hệ thống cột đỡ, nên từ trước về sau đình có số hàng cột lẻ - thường là bảy.

Khác với đình ngoài Bắc có bộ mái chiếm hai phần ba chiều cao nên úp nặng, do đó mặt mái phải vênh cong và các đao lượn bay lên gây cảm giác nhẹ để kéo lại; đình ở Huế có bộ mái chỉ chiếm già nửa chiều cao nên bản thân khối hình nhẹ nhàng, bộ mái được xòe rộng ở mặt phẳng nghiêng, không cần đao lượn cong. Có lẽ ở gần biển, để chống với sức gió to, các bờ nóc và bờ giải đều cao to đè mép mái chắc chắn, được đắp vẽ trang trí rực rỡ làm cho nó nhẹ đi. Hai đầu bờ nóc đắp “hồi long” tức rồng quay đầu vào trong chầu mặt trời kính màu nổi lên trên những cụm mây ở giữa bờ nóc. Một số đình còn có thêm “bờ nóc” thứ hai nằm song song với bờ nóc trên, đè ngang mái khoảng hai phần ba từ dưới lên. Hai đầu bờ đắp phượng, còn ở giữa là mặt trời hoặc rồng chầu mặt trời, tạo cảm giác như có hai tòa nhà song hành áp sát vào nhau, làm cho mọi người “quên” đi tác dụng chính đè mái khỏi bị bốc khi có gió bão. Góc gãy của bờ giải thường đắp hình lân, còn ở bờ giải trên mái đua đắp hình rùa. Toàn bộ “tứ linh” rồng - phượng - lân - rùa đều được “treo” lên mái đình ở dạng điêu khắc “tượng tròn” có gắn mảnh sứ màu như được vẽ. Còn ở bốn góc đao đình chỉ hơi lượn lên đắp hình “con giao” theo các guột cuộn, gợi lên hình rồng cách điệu.

Khác với bộ mái đắp vữa nhiều khi khá cầu kỳ, thân đình nhìn từ ngoài rất ít trang trí, dường như muốn tạo sự đối lập làm nền cho bộ mái nổi hẳn lên. Thềm đình khá cao, song nền rất thấp nên không bị lênh khênh trước gió mà lại thoáng sáng.

Sau phần mái đè úp lên trên, kết cấu bên trong Đại đình chính là bộ khung gỗ mộng mẹo rất sít. Do Đại đình thường có ba gian chính, nên theo hàng cột dọc trước ra sau, có bốn “vài” đình (tức vì kèo - theo cách gọi quen thuộc ở ngoài Bắc). Từng “vài” đình đều gồm những chiếc kèo thẳng liên kết theo kiểu kèo chồng để đuôi kèo dưới chồng lên đầu kèo trên, chiếc kèo dưới cùng có thân uốn cong lên đỡ mái đua được gọi là “kẻ”, gợi đến những chiếc “kẻ cổ ngỗng” ở một số chùa ngoài Bắc, có thể tháo bỏ cắt ngắn bộ mái mà không làm yếu kết cấu.

Các cột cái, cột quân và cột hiên trong cùng một “vài” được nối với nhau từng đôi một, ở đầu cột, bằng những chiếc kèo. Riêng hai cột cái, ngoài hai chiếc kèo trên cùng giao nhau ở đỉnh nóc nhờ một con xỏ gọi là “giao nguyên”, còn có xà ngang được gọi là cái “trếnh” hay “trếng”, nối với nhau ở lưng chừng cột mang chức năng chiếc quá giang trong kiến trúc ngoài Bắc. Hai đầu “trếnh” chạm những cuộn mây, rồi xuyên qua cột cái nhô một đoạn ngắn ra ngoài cột để chèn con chêm áp sát cột. Phía trên cái “trếnh” ở chính giữa có đặt áp sát “trếnh” một đoạn gỗ trang trí những vân xoắn to gọi là “con tôm” có dáng gợi nhớ cái cối. Dựng đứng trên lưng “con tôm” là một trụ tiêu dáng cái chày, ở đầu trên của trụ tiêu dang ngang một thanh gỗ gọi là áp quả, toàn bộ như người đứng dang ngang hai tay, để đỡ bụng hai chiếc kèo trên cùng.

Các “vài” nối với nhau tạo thành nối liên kết ngang, gồm thượng lương, xà và hoành tử. Thượng lương trong kiến trúc đình làng Huế, giống như nhiều kiến trúc khác ở đây, gồm hai lớp trên và dưới song song nhau gọi là trùng lương (tức thượng lương kép), thường có lắp khung rộng ở khoảng giãn cách. Các xà thượng ở đầu cột cái, xà trung ở đầu cột quân và xà hạ ở đầu cột hiên đều được gọi là cái xuyên. Song song với các xà (ở trên đầu cột), do kèo (hoặc kẻ ở phần mái đua) đỡ, là các hoành tử.

Kiểu kết cấu kèo chồng này ít thấy trong hệ thống nhà chính ở cung điện; song lại phổ biến trong các nhà rường của quý tộc, nhà thờ họ và chùa.

Các đình làng ở Huế được chạm khắc trang trí nội thất có phần khiêm nhường và không đi vào các đề tài về sinh hoạt con người như đình làng ngoài Bắc các thế kỷ XVI - XVII. Do các thành phần tham gia kiến trúc, từ cột đến xà, hoành... đều thanh thoát, có phần nhỏ nhẹ, vốn đẹp ở bào trơn, đóng bén nên không có cảm giác nặng nề, không phải viện đến điêu khắc quá mức. Ngoài các vân xoắn ở đầu “trếnh”, “con tôm” và “áp quả”, nghệ nhân chỉ chú ý trang trí ở một số kèo, và mặt bụng của mấy chiếc hoành đỡ mái hiên trước đình. Dường như thống nhất trong các nhà rường và đình làng một số đề tài được lặp đi lặp lại ở vào những vị trí nhất định của kiến trúc: Đầu các kèo chạm vân hóa kiểu như dãy gai trên sống lưng “rồng” và đặc biệt lưu ảnh trang trí kiến trúc thế kỷ XVII ngoài Bắc là mỗi mặt đầu kèo có một tia mây lửa hắt chéo lên. Các kèo nối cột quân xuống cột hiên có thân hoa uốn cong, mặt bên của đuôi kèo chạm một vật quý (hai mặt của bốn chiếc kèo thuộc ba gian chính chạm đủ bộ bát bửu), còn ở thân chạm hoa cúc và vân xoắn hẳn biểu thị sự cầu mong hạnh phúc cho cư dân làm ruộng nước. Riêng chiếc kẻ đỡ mái đua được chạm khá tỉ mỉ, gợi ra toàn thân một con rồng cách điệu cao: Đầu kẻ được chạm phủ lên những hình hoa lá và cuốn thư, còn đuôi kẻ mang hình đuôi rồng rõ nét. Các đình làng ở Huế hiện tại không thấy dấu vết gì của dầm sàn. Có lẽ đình làng ở đây vẫn giữ được kiểu thức đình làng thế kỷ XVI ở ngoài Bắc, mà cho tới nay có thể tin khi khởi dựng không có sàn. Ngay cả nền đình, một số được láng xi măng hoặc lát gạch men hoa, chứng tỏ mới được làm thời sau, còn nguyên xưa có lẽ để nền đất cho thông khí và con người được tiếp xúc thường xuyên với mẹ đất?

Những đình ở Huế, hiện trạng về kiến trúc và trang trí đều thuộc phong cách cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX. Song đó là niên đại tu bổ hơn là khởi dựng. Chẳng hạn kiến trúc đình Kim Long còn ghi rõ: “Khải Định, Canh Thân đại tu bổ” cho biết lần sửa đình quy mô lớn (như làm lại hoàn toàn) là vào năm Canh Thân đời Khải Định, tức năm 1920. Còn ở đình Lại Thế, mặt bụng chiếc xà nối đầu hai cột quân ngoài của gian giữa ghi lại đầy đủ các mốc làm và tu sửa. Những dòng chữ cho biết vào giờ Dậu (17 giờ - 19 giờ) ngày mồng 6 tháng Mười năm Tân Dậu, niên hiệu Vĩnh Hựu (tức năm 1741 - thật ra năm này đã là năm thứ hai đời Cảnh Hưng rồi, có lẽ Huế thuộc Đàng Trong nhận được tin muộn hay lúc đầu chưa chịu thừa nhận Cảnh Hưng nên vẫn giữ niên hiệu Vĩnh Hựủ) đặt thượng lương (tức cất nóc khi làm đình). Giờ Tỵ (9 giờ - 11 giờ) ngày 11 tháng Tư năm Canh Tý niên hiệu Cảnh Hưng 41 (tức năm 1780) lại đặt thượng lương (tức làm lại hoàn toàn). Đến giờ Giáp Thìn ngày Nhâm Thân 15 tháng Một năm Ất Tỵ niên hiệu Thiệu Trị 5 (tức năm 1845) làm lại đình. Và lần sửa đình quy mô sau cùng còn đến nay được đặt thượng lương vào khắc Kỷ Hợi ngày Tân Mùi mồng 8 tháng Năm năm Tân Mão, niên hiệu Thành Thái 3 (tức năm 1891).

Trong chức năng của đình làng có việc thờ Thành hoàng, qua phân chia chỗ thờ thấy Thành hoàng chưa quá cách biệt với dân làng. Trong khi ở nhiều đình ngoài Bắc, Thành hoàng được thờ trong Hậu cung kín đáo thì các đình ở Huế thờ ngay trong Đại đình trống trải. Đại đình Kim Long có chín bệ thờ chia ra hàng trước bốn bệ và hàng sau năm bệ. Đại đình Lại Thế có ba án thờ ở ba gian xếp ngang hàng nhau. Riêng đình Dương Nỗ chỗ thờ được quây lại giữa bốn cột trong của gian giữa bằng cách xây hai bên, còn đằng trước lắp cánh cửa và y môn. Dù sao những lối thờ này còn rất gần với lối thờ tổ tiên trong các gia đình. Qua mấy ngôi đình tiêu biểu ở Huế còn được giữ gìn đến nay, có thể nhận thấy đều được làm lại vào khoảng 100 năm lại đây, nhưng khởi tạo thì vào đầu thế kỷ XVIII, sau đó hỏng lớn thì làm lại, còn thì hỏng đâu sửa đấy để giữ gìn cho con cháu, gắn bó con cháu với các thế hệ trước, tạo niềm tự hào cho dân làng để gây tinh thần yêu nước từ yêu cái cụ thể ở làng quê mình.

- Đình làng ở Huế thống nhất trên tổng thể với đình làng Việt Nam (mà gốc từ đình làng ngoài Bắc) không xây dựng kiến trúc đơn độc, trái lại xây dựng cả một phong cảnh kiến trúc vừa lợi dụng vừa cải tạo môi trường thiên nhiên tạo thành ngôi nhà chung đa năng. Vừa thờ Thành hoàng vừa diễn ra các sinh hoạt văn hóa - xã hội của dân làng, trang nghiêm mà ấm cúng gần gũi với thiên nhiên và con người, lấy kết cấu khung gỗ và bộ mái đè xuống để che chở các hoạt động và chống mọi sự phá hoại của thời gian.

- Đình làng ở Huế cùng kiểu với kiến trúc nhà rường của quý tộc nhà Nguyễn và cũng gần với kiến trúc một số cung điện. Đã có nhà rường của quý tộc sau bán cho triều đình làm cung điện, bán cho dân làng làm đình hoặc bán cho dòng họ làm nhà thờ. Như vậy ở Việt Nam, kiến trúc của tư nhân, của dòng họ, của dân làng và của triều đình trong chừng mực nào đó có thể chuyển hóa cho nhau. Nói cách khác, cung điện và lăng tẩm của triều đình Huế không hẳn là kiến trúc cung đình tách biệt và đối lập với kiến trúc của làng xã, mà chỉ là dạng cao của kiến trúc dân gian, là kết quả lao động tập thể của các hiệp thợ - nghệ nhân, chưa có dấu ấn nghệ thuật riêng của nghệ sĩ kiến trúc.

- Đình làng ở Huế trong điều kiện cụ thể về tự nhiên và xã hội đã có những sáng tạo để thích nghi với môi trường ở dáng hình chung, ở tỷ lệ độ cao của mái và thân, ở quan hệ giữa quy mô của thành phần kiến trúc với trang trí kiến trúc, ở bộ mái đua mở rộng không gian và làm khu đệm với ngoài trời, đặc biệt ở lối kết cấu “bộ vài kèo chồng” có thể nối thêm hay tháo bớt từ dưới lên trên mà phần có sau cùng vẫn hoàn chỉnh.

- Đình làng ở Huế có mối liên hệ với kiến trúc ngoài Bắc ở những đình cổ (thế kỷ XVI - XVII) nhiều hơn là ở những đình thời Nguyễn, chứng tỏ chủ nhân của nó là con cháu của các cộng đồng từ ngoài Bắc di cư vào trong khoảng trước sau thế kỷ XVI, còn giữ trong ký ức các hình mẫu đình làng ở quê xa và giờ tái hiện tại chỗ. Vì thế tìm hiểu đình làng ở Huế soi sáng thêm về nguồn gốc và sự phát triển của đình làng Việt Nam.

Nguồn: Suutap.com
Đăng nhập để trả lời
0
Các bài của Trương Củng rất hay. chỉ tiếc là hơi ít hình ảnh minh họa

📎 House1
Thảnh thơi thơ túi rượu bầu
Trần ai ai biết công hầu là ai
Đăng nhập để trả lời
0
quá trình biến làng thành phố:

📎 House2
Thảnh thơi thơ túi rượu bầu
Trần ai ai biết công hầu là ai
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-07-10 11:05:37Trương Củng>
To heritage_vn
bài Nhà ở dân gian miền Trung của Trần Quang Minh có hình minh hoạ cách bố trí các kèo cột và một số chi tiết kỹ thuật khác khá đặc sắc nhưng vì hình ảnh có trục trặc nên không thể kèm theo cùng với bài được. Bạn có thể tham khảo thêm theo link này http://vietsciences.free.fr/timhieu/khoahoc/kientruc/
Thân
TC
Vạn kim bảo kiếm tàng thu thuỷ
Mãn mã xuân sầu áp cẩm yên.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-07-10 21:21:07HongYen>
Hi TC,
Bạn có thể tham khảo thêm theo link này http://vietsciences.free.fr/timhieu/khoahoc/kientruc/


TC cho HY post cái link nầy nha.

Cám ơn.

&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;

Kỹ thuật lắp ráp nhà ở dân gian miền Trung

Vietsciences- Trần Quang Minh 09/06/05



Kỹ thuật lắp ráp nhà bằng mộng mẹo có nguồn gốc từ lối gác cành lên chạc cây làm nhà chòi, dung ngoàm tự nhiên không có giá trị về nghệ thuật.

Từ từ tiến đến mộng hở, rồi mộng mang thắt là mộng hoàn thiện nhất. Lỗ mộng có 2 phần: phía trên là mộng trơn, phía dưới là lỗ mộng có mang thắt, khi lắp ráp thì tra đầu buông có mang thắt vào lỗ mộng trơn, rồi sập xuống lỗ mộng có mang thắt, sau đó lắp vào phần lỗ mộng trơn 1 thanh xuyên hoặc lắp kín bằng 1 con nêm.

Kiểu mộng có mang thắt, khi lắp ráp xong, thì hoàn toàn ổn định, không một sức mạnh nào kéo ra được, khi cần tháo ra, thì làm những động tác ngược lại, vừa tiện vừa nhanh

Trong ngôi nhà dân gian, cứ 2 vì kèo liên kết nhau, thành bộ khung hình hộp, không biến dạng, các cột như được treo trên khung nhà, và toàn bộ ngôi nhà như được đặt ngồi trên mặt đất.

Hệ thống liên kết các vì kèo gồm:

- Xà thượng: ( Xuyên thượng ) Nối đầu cột cái

-Xà hạ: ( Xuyên hạ ) Nối đầu cột quân

-Xà hiên: Nối đầu cột hiên

- Xà ngưỡng:( còn gọi là địa thu hay ngạch cửa )




Ở nhiều đình cổ có hệ thống xà tử kép gồm xà tử thượng và xà tử hạ, song song nối đầu các cột quân, giữa 2 xà tử được lồng ván lá gió.

Tường không tham gia chịu lực, chỉ để che chắn, do đó nếu bão sập tường, động đất, hay lún móng, nhà cũng không sập.

Qua mặt cắt ngang, ta thấy các bộ phận giằng, ăn mộng vào cột, hoặc chồng đè lên nhau, chủ yếu liên kết 2 cột cái và 2 cột quân, phần đỡ mái hiên, giao cho đoạn đầu kẻ.





I) KÈO MÁI



Kèo chính từ nóc xuống cột quân ( cột nhì ), và có 4 cái

Hai kèo tiền và 2 kèo hậu, nhỏ đầu trên, to dần đến họng cột nhì, cong xuống rồi thẳng ra.

Đầu trên kèo tiền có buông và lỗ con sẽ ( hay lỗ con tron ).

Đầu trên kèo hậu có mõ, tức rãnh xẻ cho buông lồng vào, cũng có lỗ con sẽ.



Chỗ 2 đầu kèo ráp, có con sẽ đóng lại, gọi là giao nguyên, đòn dông đặt trên giao nguyên.


Chi tiết của Kèo mái



- Từ giao duyên xuống họng cột nhất, có bong túm


- Từ họng cột nhất đến họng cột nhì thì làm ống trấy

- Ở họng cột nhì, phần cong xuống rồi ngay ra là cổ kèo

- Từ cổ trở đi, là đuôi kèo , mặt trên gọi là trôn mộng mẹo, mặt dưới chạm tam sơn và lá lót 2 bên, phần trên phẳng gọi là lá mạn , phần dưới phình ra gọi là má kèo thỉnh thoảng có chạm ốc rìa.

- Suốt lưng kèo có 6 lỗ chốt đòn tay, nếu kiểu nhà kép, người ta chồng bạo hộc.



II) KÈO BA , KÈO TƯ

Kèo Ba, bắt nối từ cột nhì, xuống cột ba , có 4 cái.

Đầu trên kèo ba cũng có buông để tra vào họng cột, chồng lên trên miệng kèo mái. Đuôi kèo ba, nếu không làm cù quày, thì chạm tam sơn và lá lót, cũng có lá mạn, má kèo.

Kèo Tư chỉ gặp ở những nhà lớn, nối cột ba với cột tư, chạm hình con cá, kiểu nhà 1 gian 2 chái, ít có kèo này.


III) KÈO ĐẤM, KÈO QUYẾT

Kèo đấm , gọi tắt là đấm, có 4 cái, và làm ống trấy, 2 cái cho chái Đông, 2 cho chái Tây, chia ra đấm tiền và đấm hậu.

Hai đấm tiền chạy suốt từ cột nhất xuống cột đấm ở hông chái, mà không cần kèo ba, nghĩa là không có cột đỡ ở giữa.

Hai đấm hậu, được tiếp theo bởi 2 đấm ba, tất nhiên có cột, và cột này thường làm khung cửa.

Đầu các đấm phải làm mộng vược, thứ mộng vừa để lọt 1/3 họng cột.

Kèo quyết, gọi tắt là quyết , là những kèo bắt chéo từ cột nhất ra cột quyết ở góc chái co 4 cái. Kéo này thẳng và làm ống trấy, đầu có mộng vược đuôi có buông như các kèo đấm.





© http://vietsciences.net và http://vietsciences.free.fr Trần Quang Minh


http://vietsciences.free.fr/timhieu/khoahoc/kientruc/kythuatlaprapnhamientrung.htm
Đăng nhập để trả lời
0
Khi đọc bài nầy thì liên tưởng câu dân gian: "anh em cột chèo".

Vậy anh em cột chèo là nói về nhà cửa hay nói về ghe, thuyền bè, sông nước.

Mong đuợc góp ý.

&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;

Nhân đây nhớ lại một du học sinh Việt Nam đạt giải nhất ở Nhật Bản về cách xây dựng nhà gỗ 5 tầng (chưa tìm ra tài liệu). Ở Nhật thích làm nhà gỗ có vẻ như cổ kính và thiên nhiên.

Tuy vậy cũng phối hợp tân tiến nên xây dựng nhiều tầng lầu. Vì xây bằng gỗ nên chỉ có thể xây ba tầng mà thôi. Những cao ốc nhiều tầng nâng đỡ bằng cốt sắt thép. Hiện taị có lẻ bằng sợi thủy tình tổng hợp...

Bạn du học sinh Việt Nam đuợc giải nhất nhờ sáng kiến, xây nhà 5 tầng cũng bằng gỗ theo truyền thống Nhật. Nhưng những thanh gỗ đó đã được gia cố bằng ruột thép. Bạn ấy nói từ ý nghĩ của cây bút bi. Bạn xem, cây bút bi tưỡng là bình thường, như với con mắt nhà kiến trúc laị có vị trí khác.

&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;

Hiện tại thấy ở Mỹ người ta dùng bù lon, lớn bé thế cho các cột kèo và ngàm. Các miếng bợ bằng inox cũng rất thông dụng để nối kết các cột kèo. Ngoài ra keo cũng rất quan trọng trong xây dựng.

Nhìn những nhà thờ với cột gỗ lớn tạo thành mái cong và hình ngôi sao trên nóc để taọ ánh sáng thiên nhiên, ta càm thấy rất gần guỉ với thiên nhiên. Có lẻ taọ cảm giác thông công với Đấng Thiêng Liêng....
Đăng nhập để trả lời
0