📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Sách truyện sưu tầm

Hơi thở nhẹ (tiếp theo)

8 trả lời, 2.702 lượt xem — Trang 1 / 1

K.PAUXTôPXKI
Lẵng quả thông


K.PAUXTôPXKI


Mùa thu, nhà soạn nhạc Êđua Grig thường về ở trong những khu rừng gần thành phố Becghen. Mọi khu rừng đều đẹp với bầu không khí phảng phất mùi nấm, với tiếng lá rì rào. Nhưng những khu rừng trên núi và gần biển mới thực là đẹp. Đứng ở đó ta nghe rõ cả tiếng sóng vỗ bờ. Sương mù và biển cả thường xuyên tràn vào và vì khí ẩm quá nhiều nên rêu mọc rậm rịt. Rêu từ trên cành cây xõa dài trên mặt đất như những mớ tóc xanh.
Ngoài các thứ đó ra, trong những khu rừng trên núi, còn trú ngụ một tiếng vang vui tính. Giống như một con khướu nó chỉ làm độc một việc là rình mò để chộp lấy bất kỳ tiếng động nào để rồi liệng lại qua những vách đá.
Một hôm Grigơ bắt gặp trong rừng một em bé có đôi bím tóc nhỏ xíu, con ông gác rừng. Em bé đang nhặt những quả thông bỏ vào trong lẵng.
Trời đang thu. Nếu như ta có thể lấy hết đồng và vàng trên trái đất đem đánh thành muôn vàn lá cây rất mực tinh xảo thì những chiếc lá đó cũng chỉ có thể làm thành một phần rất nhỏ bộ quần áo mà mùa thu đang trải trên những ngọn núi kia mà thôi. Vả lại, những chiếc lá nhân tạo nọ sẽ rất thô kệch nếu so với lá thật, nhất là những lá liễu hoàn diệp. Mọi người đều biết rằng chỉ cần một tiếng chim hót thôi cũng đã đủ làm chúng run rẩy.
- Cháu tên là gì nào? - Grig hỏi.
- Cháu là Đanhi Pêđécxen. - Em bé lí nhí trả lời.
Em bé trả lời lí nhí không phải vì sợ, mà vì bối rối.
Nó sợ sao được khi cặp mắt của Grigơ đang cười.
- Rõ tiếc... - Grigơ nói. - Bác chả có quà gì cho cháu cả. Trong túi bác chả có búp bê, chả có băng, đến cả những con thỏ nhung cũng không có nốt.
- Cháu có con búp bê cũ của mẹ cháu. - Em bé trả lời - Trước kia nó cũng biết nhắm mắt cơ bác ạ. Như thế này này...
Nó từ từ nhắm mắt lại. Khi nó mở mắt. Grig nhận thấy con ngươi của nó có màu xanh lá cây nhạt và vòm lá rừng lấp lánh trong mắt nó như những đốm lửa nhỏ.
- Nhưng bây giờ thì nó ngủ mở mắt. - Em bé buồn rầu nói tiếp - người già hay khó ngủ lắm. Ông cháu cũng vậy, cứ kêu rên cả đêm.
- Này Đanhi này, bác nghĩ ra rồi, - Grigơ nói - bác sẽ cho cháu một món quà thú vị. Nhưng không phải ngay bây giờ, mà độ mười năm nữa.
Đanhi đập hai tay vào nhau:
- Ôi thế thì lâu quá!
- Cháu hiểu không, bác còn phải làm ra nó đã chứ.
- Nhưng nó là cái gì kia, bác?
- Sau này cháu sẽ biết.
- Chả lẽ suốt đời bác, bác chỉ làm được có dăm sáu thứ đồ chơi thôi hay sao? - Em bé nghiêm nghị hỏi.
Grigơ bối rối.
- Không, không phải thế. - Ông cãi lại một cách không được quả quyết. - Có thể bác sẽ làm xong vật ấy trong vài ngày. Nhưng những thứ đó người ta không cho trẻ con. Bác thường chỉ làm ra những món quà cho người lớn.
- Cháu sẽ không đánh vỡ đâu mà - Đanhi năn nỉ và nắm lấy ống tay áo ông kéo lại. - Mà cháu cũng chẳng làm hỏng đâu. Đấy, rồi bác xem! Ông cháu có một chiếc thuyền thủy tinh bé tí tẹo, cháu vẫn lau bụi cho nó đấy nhưng cháu có làm sứt nó tí nào bao giờ đâu.
“Cái con Đanhi này làm mình rối tinh lên rồi đấy? Grigơ bực bội nghĩ thầm và rồi ông lặp lại những điều mà người lớn thường nói với trẻ con khi lâm vào thế bí.
- Cháu hãy còn bé và có nhiều điều cháu không hiểu. Hãy học tập tính kiên nhẫn. Còn bây giờ thì cháu đưa cái lẵng đây cho bác. Cháu ì ạch mãi mới mang nổi nó kia kìa. Bác sẽ đưa cháu về nhà và chúng ta sẽ nói với nhau về một chuyện gì khác.
Đanhi thở dài và đưa cái lẵng cho Grigơ. Cái lẵng quả khá nặng. Trong quả thông có nhiều nhựa, vì thế quả thông nặng hn quả tùng bách.
Khi nhà người gác rừng đã hiện ra giữa đám cây, Grigơ bảo cô bé:
- Thôi, cháu Đanhi, bây giờ cháu chạy về một mình nhé. Ở Nauy có rất nhiều em bé gái trùng tên trùng họ với cháu. Bố cháu tên là gì nhỉ?
- Hagrup ạ! - Đanhi trả lời và hỏi tiếp, vầng trán nhăn lại. - Bác không vào chơi nhà cháu ư? Nhà cháu có chiếc khăn giải bàn này, có con mèo hung này, lại có chiếc thuyền bằng thủy tinh nữa. Ông cháu sẽ cho phép bác cầm nó đấy.
- Cảm ơn cháu. Bây giờ bác không có thì giờ. Chào cháu. Đanhi ạ.
Grig vuốt tóc em bé rồi đi về phía bờ biển. Đanhi chau mày trông theo. Em xách cái lẵng nghiêng về một bên và những quả thông rơi xuống đất.
“Ta sẽ làm một bản nhạc - Grigơ quyết định. - Và trên trang bìa ta sẽ cho in: “Tặng Đanhi Pêđécxen, con gái người gác rừng Hagrup Pêđécxen, khi cô mười tám tuổi”.
Ở Bécghen không có gì thay đổi.
Tất cả những gì có thể làm cho âm thanh bị nuốt đi như thảm, rèm cửa bằng vải dày, giường, ghế, đệm, Grigơ đã loại ra khỏi nhà. Chỉ còn lại một chiếc đi-văng cũ kỹ đủ chỗ cho một người khách ngồi là Grigơ vẫn chưa dám bỏ đi nốt.
Các bạn của nhà soạn nhạc nói rằng nhà của ông giống nơi ở của một tiều phu. Chỉ có một chiếc dương cầm là vật trang sức cho ngôi nhà. Người giàu tưởng tượng có thể nghe thấy giữa những bức tường trắng ở đây nhiều điều kỳ diệu, từ tiếng gầm thét của Bắc băng dương - cái đại dương đang dồn sóng từ trong màn sương mù và gió ra ngoài, và bên trên sóng gió nó ríu rít kể câu chuyện cổ xưa man rợ - cho đến bài hát của đứa con gái ru con búp bê bằng giẻ rách.
Chiếc dương cầm có thể ca về tất cả: về tâm hồn con người đang phấn khởi vươn tới cái cao cả và về tình yêu. Những phím đàn đen và trắng, lướt nhanh dưới những ngón tay chắc nịch của Grigơ, buồn bã, cười cợt ầm ĩ réo lên giông tố và căm thù rồi bất thần lặng hẳn đi.
Trong phút lặng lẽ ấy chỉ còn một sợi dây đàn nhỏ bé là còn rung mãi như thể nàng Lọ Lem bị các chị mắng mỏ đang than khóc.
Grigơ ngả người ra, lắng nghe theo cái âm thanh cuối cùng ấy cho đến khi nó tắt hẳn ở trong bếp, nơi chú dế mèn đã dọa đến cư ngụ từ lâu.
Đến lúc ấy mới nghe rõ tiếng vòi nước nhỏ giọt, đếm từng giây, hệt như một cái máy đo tiết điệu. Những giọt nước nhấn mạnh rằng thời gian không chờ đợi ai và cần phải hối hả làm cho xong những điều dự định.
Grigơ viết bản nhạc tặng Đanhi Pêđécxen trong hơn một tháng.
Mùa đông bắt đầu. Sương mù cao xấp xỉ đầu người phủ khắp thành phố. Những con tàu biển han rỉ từ nhiều nước kéo đến gà gật bên những bến cảng lát gỗ, khe khẽ phì phò thở hơi nước.
Chẳng bao lâu tuyết bắt đầu xuống. Grigơ nhìn qua cửa sổ nhà mình thấy những bông tuyết bay chênh chếch, cố bám lấy ngọn cây. Tất nhiên, không thể nào truyền đạt âm nhạc bằng lời, dù cho ngôn ngữ của chúng ta có phong phú đến thế nào chăng nữa.
Grigơ sáng tác về cái đẹp vô cùng của lòng trinh trắng và của hạnh phúc.
Ông viết và trông thấy cô gái có đôi mắt xanh đang nghẹn ngào vì sung sướng, chạy đến với ông. Cô gái vòng tay ôm lấy cổ ông, áp bên má nóng bừng của cô vào cái má đầy những sợi râu bạc lâu ngày không cạo của ông. “Cảm ơn bác”, cô nói trong lúc chính cô cũng chẳng biết cô cảm ơn ông vì lẽ gì.
“Cháu như mặt trời - Grigơ nói với cô - cháu như làn sóng êm dịu, như buổi sáng tươi mát. Một bông hoa trắng ngần đã bừng nở trong tim cháu và làm tràn ngập thân cháu hương ngát mùa xuân. Ta rất hiểu cuộc đời. Cháu ạ, dù người ta có nói với cháu những gì đi nữa thì cháu hãy cứ tin rằng cuộc đời thật là kỳ diệu và tuyệt đẹp. Ta già rồi, nhưng ta đã hiến tất cả cuộc đời ta, sự nghiệp và tài năng của ta cho tuổi trẻ. Ta đã hiến tất cả mà không đòi trả lại. Vì thế, có thể, ta còn hạnh phúc hơn cả cháu nữa kia. Đanhi ạ!
Cháu là đêm trắng với ánh sáng huyền ảo của nó. Cháu là hạnh phúc. Cháu là ánh lấp lánh của bình minh. Tiếng nói của cháu làm trái tim mọi người rung động.
Cầu Chúa ban phước lành cho mọi vật chung quanh cháu, cho tất cả những gì chạm tới người cháu và những gì cháu chạm tới, những gì làm cháu sung sướng và bắt cháu phải trầm ngâm suy nghĩ”.
Grigơ suy nghĩ và những gì ông suy nghĩ, ông gửi vào phím đàn. Ông ngờ rằng có người nghe trộm ông. Ông còn đoán được ai đang nghe trộm ông nữa. Đó là những con sơn tước trên cành, những tay thủy thủ ngoài cảng quá chén đang lang thang, chị thợ giặt bên hàng xóm, chú dế mèn, những bông tuyết từ trên bầu trời trĩu nặng kia tải xuống và nàng Lọ lem trong bộ quần áo vá chằng vá đụp.
Mỗi người nghe ông theo cách của họ.
Những con sơn tước bối rối. Nhưng dù chúng có loay hoay thế nào mặc lòng những câu chuyện huyên thuyên của chúng cũng không thể át nổi tiếng đàn. Những tay thủy thủ quá chén lang thang ngồi xuống bậc thềm nhà ông, vừa nghe vừa nức nở. Chị thợ giặt đứng thẳng lên, lấy lòng bàn tay lau cặp mắt đỏ hoe và lắc đầu. Chú dế mèn chui ra khỏi kẽ nứt của chiếc lò sưởi lát gạch sứ vuông và nhòm Grig qua một khe hở.
Một bông tuyết rơi, ngập ngừng, lơ lửng giữa từng không, nó nghe thấy tiếng nhạc lanh lảnh đang chảy từ trong nhà ra như những dòng suối. Còn cô Lọ Lem thì mỉm cười nhìn xuống sàn. Một đôi giày xinh xắn bằng pha lê nằm bên chân cô. Đôi giày run rẩy, va vào nhau, đáp lại những hợp âm đang từ trong phòng nhà soạn nhạc bay ra.
Grigơ đánh giá những thính giả ấy cao hơn nhiều so với những quý ngài ăn vận sang trọng và lịch sự vẫn thường tới dự những buổi hòa nhạc của ông.

***
Năm mười tám tuổi Đanhi học hết trung học.
Nhân dịp này cha nàng cho nàng về chơi ít lâu với bà Magđa, em gái ông, ở Krixtania. “Cho con bé (cha nàng vẫn coi nàng là con bé con, mặc dầu Đanhi đã là một cô gái có một thân hình cân đối với đôi bím tóc vàng nặng trĩu) biết cái thế giới này nó ra sao, người ta sống thế nào, và cho nó được giải trí một chút”.
Ai biết được rồi đây tương lai sẽ dành cho Đanhi những gì? Có thể, tương lai sẽ dành cho nàng một người chồng chân thật và yêu nàng nhưng lại đáng ngán và keo kiệt? Hay một chân bán hàng ở một quán tạp hóa trong làng? Hoặc việc làm tại một trong vô vàn những hãng tàu biển ở Bécghen.
Bà Magđa làm thợ may trong một nhà hát. Chồng bà, ông Ninx, cũng làm trong nhà hát ấy. Ông làm nghề tết râu tóc giả.
Hai vợ chồng ở trong một phòng nhỏ ngay dưới mái nhà hát. Từ trong phòng nhỏ nhìn ra có thể trông rõ biển sặc sỡ những lá cờ hiệu hàng hải và pho tượng Ipxen (1).
Những con tàu suốt ngày cứ chõ vào các cửa sổ bỏ ngỏ mà la hét. Ông Ninx đã nghiên cứu những tiếng kêu của lũ tàu thủy ấy kỹ đến nỗi, theo ông nói, ông có thể biết chắc chắn chiếc tàu nào đang kéo còi: tàu Nôđécmây từ hải cảng Côpenhaghen đến, tàu “Người ca sĩ xứ Ecôtx” từ Glazgô hay tàu “Gan đ’Ar” từ Boocđô.
Trong phòng bà Magđa, có rất nhiều vật dụng của nhà hát, gấm thêu, lụa, tuyn, băng, đồ ren, những chiếc mũ dạ thời xưa gắn lông đà điểu đen, những chiếc khăn san của người Digan, những mớ tóc giả bạc trắng, những đôi ủng cao với cựa bằng đồng, những lưỡi gưm, những chiếc quạt và những đôi giày dát bạc đã nát ở những nếp gấp. Tất cả những thứ đó đòi hỏi phải được vá víu sửa chữa, lau chùi và là phẳng.
Trên tường treo những tranh nhỏ cắt ra từ sách và tạp chí: những kỵ sĩ thời vua Lui XIV, những cô gái đẹp bận váy bông, những trang hiệp sĩ, những người đàn bà Nga trong bộ Xaraphan (2) những tay mạch nô và lũ hải tặc Vikinh (3) trên đầu mang những vòng lá sồi.
Muốn lên tới phòng phải leo một cái thang dựng đứng. Ở cầu thang bao giờ cũng phảng phất mùi sơn và mùi vécni bốc lên từ lớp vàng mạ.
* * *
Đanhi thường hay đi xem hát. Đó là một việc hết sức thú vị. Nhưng sau khi xem xong những vở kịch về, Đanhi thường thao thức mãi không ngủ được và đôi khi nàng còn nằm trên giường mà khóc.
Bà Magđa lấy thế làm lo lắng và thường an ủi Đanhi. Bà nói rằng không nên mù quáng tin những gì diễn ra trên sân khấu. Nhưng ông Ninx thì vì thế lại gọi bà là “mụ nái xề” và nói rằng ngược lại, nên tin tất cả những gì xảy ra trên sân khấu. Nếu không thế thì người ta cũng chẳng cần đến nhà hát nào nữa. Và Đanhi tin lời ông.
Tuy vậy bà Magđa vẫn cứ nhất định đòi đi nghe hòa nhạc để đổi món.
Ông Ninx không chống lại ý kiến ấy của bà. Ông nói: “Âm nhạc, đó là tấm gương của thiên tài”.
Ông Ninx thích dùng những danh từ cao siêu và mơ hồ. Ông bo Đanhi giống như hợp âm đầu tiên của một tự khúc. Còn bà Magđa thì theo lời ông, lại có một quyền lực siêu phàm đối với mọi người. Quyền lực đó là ở chỗ bà may những trang phục sân khấu. Mà có ai chẳng biết rằng con người cứ mỗi lần thay một bộ quần áo khác là lại biến đổi hẳn. Thành thử anh diễn viên hôm qua còn là tên giết người bỉ ổi, hôm nay đã trở thành chàng nhân tình si mê điên dại, ngày mai lại là anh hề của nhà vua, còn ngày kia anh ta đã lại thành vị anh hùng của nhân dân.
Trong những trường hợp đó bà cô của Đanhi thường kêu lên:
- Đanhi! Cháu hãy bịt tai lại đi và đừng có nghe những lời ba hoa gớm ghiếc của chú ấy làm gì! Chú ấy ch biết chú ấy nói gì đâu, lão triết gia kiết xác ấy.
Lúc ấy là tháng sáu, trời ấm. Đang hồi những đêm trắng. Những buổi hòa nhạc được tổ chức ngoài trời, tại công viên thành phố.
Đanhi đi nghe hòa nhạc cùng cô Magđa và chú Ninx. Nàng muốn mặc chiếc áo dài trắng độc nhất của mình, nhưng chú Ninx lại bảo rằng người con gái đẹp cần phải biết ăn mặc sao cho nổi bật hẳn lên giữa những người chung quanh. Nói chung, bài diễn văn dài dòng của ông về chuyện đó có thể tóm tắt lại là trong những đêm trắng nhất thiết phải mặc áo đồ đen và ngược lại, trong những đêm tối trời nên mặc đồ trắng để phô sắc trắng lấp lánh của nó.
Không thể nào cãi lại ông Ninx, Đanhi mặc chiếc áo dài nhung đen, loại nhung lụa tuyết rất mịn. Bà Magđa đã mượn trong kho phục trang của nhà hát cho nàng chiếc áo đó.
Khi Đanhi đã mặc xong, bà Magđa phải chịu là ông Ninx có lý: không gì có thể tôn nước da mai mái nghiêm nghị trên gương mặt của nàng và đôi bím tóc dài lấp lánh vàng mười của nàng bằng thứ nhung huyền bí ấy.
- Này Magđa, mình trông mà xem - chú Ninx nói khẽ - con Đanhi đẹp như thể nó đi gặp người yêu trong buổi đầu tiên ấy.
- Đúng vậy, - bà Magđa trả lời. - Thế mà lần hẹn đầu tiên khi ông đến gặp tôi, tiếc rằng tôi lại chả được thấy ông là một anh chàng điển trai si tình. Ông chỉ là một anh chàng ba hoa.
Và bà Magđa đặt một cái hôn lên mái tóc của chồng.
Buổi hòa nhạc bắt đầu sau khi khẩu đại bác cũ kỹ ở ngoài cảng nổ phát súng thường lệ buổi tối. Phát súng báo hiệu mặt trời lặn.
Mặc dầu là buổi tối, cả nhạc trưởng, cả các nhạc công đều không thắp những ngọn điện nhỏ trên những giá nhạc. Tối hôm đó trời sáng đến nỗi những cây đèn lồng được thắp trong tán lá bồ đề hẳn cũng chỉ cốt để tạo cho buổi hòa nhạc một không khí hội hè.
Lần đầu tiên Đanhi được nghe một bản giao hưởng. Bản nhạc gợi lên trong lòng cô một nỗi xốn xang kỳ lạ.
Những âm thanh chuyển tiếp và những hồi sấm của dàn nhạc gợi lên trong trí Đanhi không biết bao nhiêu là hình ảnh giống như trong những giấc mơ.
Bỗng Đanhi giật mình, ngước mắt lên. Nàng có cảm giác như người đàn ông gày gò mặc áo đuôi tôm đang tuyên bố chương trình biểu diễn vừa gọi đến tên nàng.
- Chú gọi cháu đấy ư, chú? - Đanhi hỏi ông Ninx và ngay đó nàng cau mặt.
Chú nàng nhìn nàng một cách không ra là kinh hãi mà cũng không ra là thán phục. Và cả bà Magđa nữa, bà cũng nhìn Đanhi như vậy, chiếc khăn áp vào miệng.
- Có chuyện gì xảy ra vậy? - Đanhi hỏi.
Bà Magđa nắm lấy tay nàng và nói rất khẽ:
- Nghe kìa!
- Các vị thính giả ở những hàng ghế cuối yêu cầu tôi nhắc lại. Vậy, thưa quý vị, dàn nhạc chúng tôi sẽ trình bày hiến quý vị một khúc nhạc nổi tiếng của nhạc sĩ Êđua Grigơ sáng tác tặng cô Đanhi Pêđécxen, con gái ông gác rừng Hagrup Pêđécxen nhân dịp cô mười tám tuổi.
Đanhi hít một hơi dài đến nỗi nàng thấy tức ngực. Nàng muốn dùng hơi thở đó để giữ những giọt nước mắt đang trào lên họng, nhưng vô hiệu. Đanhi cúi xuống và giấu mặt trong đôi bàn tay.
Thoạt đầu nàng không nghe thấy gì hết. Một cơn giông đang cuồn cuộn trong lòng nàng. Cuối cùng nàng nghe thấy tiếng tù và mục đồng rúc lên trong buổi sớm tinh sương và dàn nhạc dây khẽ giật mình, đáp lại bằng hàng trăm tiếng hát.
Điệu nhạc du dương lớn dần, cất mình lên cao; nó gào lên, bay nhanh qua các ngọn cây, như một luồng gió, vặt hết lá, thổi rạp cỏ xuống đất, quất vào mặt người những giọt nước nhỏ xíu và mát rượu. Đanhi cảm thấy có một luồng không khí do âm nhạc dấy lên phả đến và nàng bình tĩnh lại.
Phải, đó đúng là cánh rừng của nàng, quê hưng nàng. Đó là những ngọn núi của nàng, những bài hát của những chiếc tù và, tiếng động của biển quê.
Những con tàu bằng thủy tinh làm nước sủi bọt. Gió reo ca trong những dây buồm. Từ lúc nào không biết, tiếng hát đó đã chuyển thành tiếng những quả chuông nhỏ trong rừng đổ hồi, tiếng đàn chim đang nhào lộn trên không huýt gió, tiếng trẻ con hú gọi nhau trong rừng thành bài hát về người con gái: lúc bình minh người yêu của nàng đã ném một vốc cát vào cửa sổ phòng nàng. Bài hát đó Đanhi đã nghe thấy trên những ngọn núi quê hương.
Vậy ra đó chính là bác ấy. Chính cái ông già đã giúp cô bé Đanhi mang lẵng quả thông về đến tận nhà. Đó là Êđua Grigơ, người làm ra phép lạ và nhạc sĩ vĩ đại? Và người mà nàng đã trách là không biết làm mau chóng.
Thì ra đó chính là món quà mà ông đã hứa cho nàng mười năm sau.
Đanhi khóc, không giấu giếm những giọt lệ biết ơn. Đến lúc ấy bản nhạc đã tràn ngập khoảng không giữa đất đai và mây trời giăng mắc trên thành phố. Sóng nhạc du dương làm cho những đám mây gợn lên lăn tăn và qua những gợn sóng ấy những vì sao lấp lánh.
Bản nhạc đã không còn ca hát. Nó đang kêu gọi. Nó kêu gọi con người hãy đi theo nó đến một xứ sở, nơi không đau khổ nào có thể làm nguội lạnh tình yêu, nơi không có ai đi giành giật hạnh phúc của kẻ khác, nơi mặt trời sáng chói như vòng triều thiên trên đầu một nàng tiên trong cổ tích.
Trong dòng âm thanh cuồn cuộn chảy trôi ấy bỗng nổi lên một giọng nói quen thuộc “Cháu là hạnh phúc - giọng đó nói . - Cháu là ánh lấp lánh của bình minh”.
Bản nhạc tắt. Những tràng vỗ tay lúc đầu còn chầm chậm, sau mỗi lúc một mạnh thêm, vang lên như sấm dậy.
Đanhi đứng lên và đi nhanh về phía cổng công viên.

Mọi người cùng quay đầu lại nhìn nàng. Có thể, có một số người trong đám thính giả đã thoáng nghĩ rằng nàng chính là Đanhi Pêđécxen, người con gái mà Grigơ đã dành tặng tác phẩm bất tử của ông.
“Bác ấy mất rồi ư? - Đanhi nghĩ - Vì sao? “Giá mà nàng lại được gặp ông! Nếu ông lại hiện ra ở đây? Hẳn nàng sẽ chạy ào ngay lại với ông, tim đập rộn ràng, nàng sẽ bá lấy cổ ông, sẽ áp bên má ướt đẫm nước mắt vào má ông và sẽ nói chỉ một câu: “Cảm ơn bác”. - “Cháu cảm vn ta vì lẽ gì cơ chứ?” Hẳn ông sẽ hỏi như thế. “Cháu cũng chả biết nữa...” - Hẳn nàng sẽ trả lời. - Vì bác đã không quên cháu. Vì lòng hào hiệp của bác. Vì bác đã cho cháu thấy cái tuyệt mỹ, mà con người thì phải sống bằng cái tuyệt mỹ ấy”.
Đanhi đi trên những đường phố vắng tanh. Nàng không biết rằng bà Magđa đã phái ông Ninx đi theo nàng nhưng ông giấu không để nàng trông thấy. Ông đi lảo đảo như một người say rượu, miệng lẩm bẩm không biết những gì về câu chuyện thần kỳ xảy ra trong cuộc sống của họ.
Bóng tối nhợt nhạt của đêm vẫn còn trải trên thành phố. Nhưng trong các cửa sổ đã thấy lấp lánh ánh vàng mạ yếu ớt của bình minh phưng Bắc.
Đanhi đi ra bờ biển. Biển vẫn còn ngủ say, không một tiếng sóng vỗ.
Đanhi nắm chặt hai tay lại và rền rĩ vì một cảm giác tuy còn chưa rõ ràng đối với nàng, nhưng đã chiếm lĩnh toàn cơ thể nàng cảm giác về cái đẹp của cuộc đời.

- Đời ơi, hãy nghe đây! - Đanhi nói khẽ. - Ta yêu người.
Và nàng cười, mở to mắt nhìn những ngọn đèn trên những con tàu biển đang chậm rãi ngả nghiêng nơi nước xám và trong vắt.
Ông Ninx đứng ở đàng xa đã nghe thấy tiếng cười đó và ông quay về nhà. Giờ đây ông đã yên tâm về Đanhi. Giờ đây ông hiểu rằng cuộc đời cháu gái ông sẽ không qua đi vô ích.

1954

Kim Ân dịch
===============

1. Nhà văn và nhà viết kịch người Nauy (1818-1906).
2. Một kiểu áo liền váy, không tay, có thắt lưng và gấp nếp ở ngực của phụ nữ Nga thời trước.
3. Quân cướp, người Xcăngđinav, hoành hành ở châu Âu thế kỷ XI và XII.


Đăng nhập để trả lời
0
Tuyết


K.PAUXTôPXKI


Tachiana Pêrrôpna dọn đến nhà cụ Pôtapôp được một tháng thì cụ mất. Nàng ở lại một mình với đứa con gái nhỏ Varia và người vú già.
Ngôi nhà nhỏ, chỉ có ba gian, ở trên một ngọn đồi trông xuống con sông phía bắc ngay đầu tỉnh lỵ. Sau nhà, bên kia khu vườn đã trụi lá là một rừng bạch dương phơi màu trắng bạc. Ở đó, từ sáng sớm đến lặn mặt trời, lũ quạ kêu quàng quạc, bay thành từng đám mây đen trên những ngọn cây trần trụi, báo hiệu trời xấu.
Từ khi rời Matxcva, Tachiana mãi vẫn không sao quen được cái tỉnh lỵ đìu hiu với những ngôi nhà nhỏ bé, những cánh cửa hàng rào kêu ken két, những buổi tối vắng lặng nghe rõ c tiếng ngọn đèn dầu hỏa nổ lép bép.
“Mình ngốc quá! - Nàng nghĩ - Không dưng đi bỏ Matxcva, nhà hát và bè bạn! Đáng lẽ phải đưa Varia đến ở với bà vú ở Puskinô, ở đó chưa bị máy bay bắn phá lần nào, còn mình thì cứ việc ở lại Matxcva. Trời, mình thật ngốc!”
Nhưng không thể trở lại Matxcva được nữa rồi. Tachiana quyết định biểu diễn trong các trạm quân y lưu động - trong thị trấn cũng đã có vài trạm - và nàng thấy trong lòng cũng khuây khỏa đôi chút. Nàng còn thấy thích cái tỉnh lỵ ấy nữa là khác, nhất là khi đông về và tuyết xuống phủ đầy. Ngày lại ngày, êm dịu và xám ngắt. Sông mãi chưa đóng băng, mặt nước màu xanh lá cây bốc khói.
Tachiana quen dần cả với tỉnh lỵ và cả với ngôi nhà không phải của mình. Nàng đã quen chiếc dương cầm lạc giọng, những tấm ảnh úa vàng treo trên tường, những tấm ảnh chụp những thiết giáp hạm bảo vệ bờ biển cổ lỗ. Trước kia, cụ Pôtapốp làm thợ máy tàu biển. Trên cái bàn giấy phủ dạ xanh của cụ có đặt mô hình tuần dương hạm “Grômôbôi”, trên tàu đó cụ đã làm việc. Varia bị cấm không được sờ vào mô hình ấy. Và nói chung, con bé bị cấm không được sờ vào bất cứ vật gì.
Tachina biết cụ Pôtapốp có con trai đang phục vụ trong hạm đội Hắc Hải. Trên bàn, bên cạnh mô hình tuần dương hạm, có bức ảnh của anh. Đôi lúc, Tachiana cầm bức ảnh lên xem, mê mải ngắm nghía rồi nhíu đôi lông mày thanh thanh lại, nghĩ ngợi. Nàng cứ có cảm giác là đã gặp anh ở một nơi nào đó, nhưng đã lâu lắm rồi, trước cả cuộc hôn nhân không toại nguyện của nàng. Nhưng ở đâu? Và khi nào nhỉ?
Anh lính thủy nhìn nàng bằng đôi mắt bình thản, hơi có vẻ chế nhạo, như muốn hỏi: “Thế nào chị? Chẳng lẽ chị vẫn chưa nhớ ra được là chúng ta đã gặp nhau ở đâu hay sao?”
- Không, tôi không nhớ.
Nàng trả lời khe khẽ.
- Mẹ ơi, mẹ nói chuyện với ai thế?
Varia từ phòng bên hỏi to:
- Mẹ nói với cái dương cầm con ạ!
Tachiana cười, trả lời con.
Vào giữa mùa đông bắt đầu có những lá thư gửi cho cụ Pôtapốp, những lá thư do cùng một bàn tay viết. Tachiana xếp những lá thư ấy lại trên bàn.
Một lần, đang đêm nàng chợt thức giấc. ánh tuyết mờ mờ chiếu vào cửa kính. Con mèo xám Ackhip của cụ Pôtapôp để lại đang ngáy khò khò trên đi-văng.
Tachiana khoác áo choàng mỏng vào phòng làm việc của cụ Pôtapôp và đứng một lát bên cửa sổ. Một con chim lặng lẽ bay vụt ra khỏi cây làm tuyết đổ ào xuống. Tuyết bay như một thứ bụi trắng, phủ một lớp mỏng lên trên mặt kính.
Tachiana thắp ngọn nến trên bàn, ngồi xuống ghế bành và đăm đăm nhìn ngọn nến. Ngọn nến cũng chả buồn động đậy. Sau đó nàng thận trọng lấy ra trong chồng thư một bức, bóc phong bì, nhìn chung quanh và bắt đầu đọc:
“Cha yêu quý, thế là con đã nằm bệnh viện được một tháng. - Nàng đọc. "Vết thưng của con không nặng lắm. Nó đang lên da non. Xin cha đừng lo lắng và chớ hút hết điếu thuốc này đến điếu thuốc khác. Con van cha đấy!".
"Con luôn nhớ đến cha" Tachiana đọc tiếp - đến ngôi nhà của cha con ta, đến tỉnh lỵ của chúng ta. Tất cả những cái đó xa xăm quá, tưởng như ở đâu mãi chân trời. Con nhắm mắt lại và thấy con mở cửa hàng rào, bước vào vườn. Mùa đông, tuyết xuống, nhưng con đường nhỏ dẫn tới phong đình bên dốc đã được sửa sang sạch sẽ và băng bụi phủ đầy những khóm tử đinh hương. Lò sưởi trong phòng kêu tí tách. Khói bạch dương thoang thoảng. Cây dương cầm cuối cùng đã được lên dây lại và cha đã cắm những cây nến vàng hình xoắn ốc con mua từ Lêningrat vào những chân đèn. Và vẫn những bản nhạc ấy trên chiếc đàn: bản tự khúc của vở nhạc kịch "Con đầm Pích" và tình ca "Trên những bờ Tổ quốc xa xôi". Không biết quả chuông treo ở cửa có kêu không? Thế là con vẫn chưa kịp chữa. Chả lẽ rồi con sẽ lại được gặp tất cả những cái đó? Chả lẽ rồi con lại được đổ nước giếng trong bình ra mà tắm sạch bụi đường xa? Cha còn nhớ không? Ôi, nếu cha biết được rằng ở đây, ở một nơi xa xôi, con yêu mến tất cả những cái đó biết chừng nào! Cha đừng ngạc nhiên, nhưng con nói với cha một cách thật đứng đắn rằng con nhớ đến những cái đó trong những phút ác liệt nhất của trận đánh. Con biết rằng con đang bảo vệ không riêng gì tất cả đất nước mà cả cái góc nhỏ bé và thân yêu ấy trong lòng con: tức là cả cha, cả khu vườn nhà ta, cả những em bé đầu bù tóc rối trong làng ta, cả những cánh rừng bạch dương bên kia sông và cả con mèo Ackhip nữa. Xin cha đừng cười và đừng lắc đầu cha nhé!
Có thể là khi ở bệnh viện ra, người ta sẽ cho con về nhà trong một thời gian ngắn. Điều đó chưa chắc lắm. Tốt hơn hết là cha đừng đợi".
Tachiana ngồi rất lâu bên cạnh bàn, mắt mở to nhìn qua cửa sổ, nơi bình minh bắt đầu hé lên trong một màu xanh dày đặc, và nghĩ rằng sắp tới đây thôi, ngày một ngày hai, có thể sẽ có một người mà nàng không quen biết từ mặt trận trở về ngôi nhà này và người đó sẽ đau khổ khi phải gặp những người xa lạ ở đây và phải trông thấy mọi vật hoàn toàn không giống như ý người đó muốn.
Sáng hôm sau, Tachiana sai Varia lấy xẻng ra dọn con đường dẫn tới phong đình trên bờ dốc. Cái lầu đã hoàn toàn đổ nát. Những cột gỗ mốc meo, rêu phủ đầy, Tachiana tự tay chữa quả chuông con treo trên cửa. Trên quả chuông có một hàng chữ đúc đến buồn cười “Ta treo trên cửa - Hãy giật cho vui”. Tachiana đụng vào quả chuông. Nó kêu lên lanh lảnh. Con mèo Ackhip khó chịu, ve vẩy đôi tai, rồi bực dọc, đi ra khỏi nhà: có lẽ nó cho tiếng chuông vui vẻ kia là càn rỡ.
Trưa hôm đó, Tachiana, má ửng hồng, cười nói ầm ĩ, mắt quầng thâm vì xúc động, từ ngoài phố về dắt theo một ông lão lên dây đàn, một người Tiệp đã Nga hóa hoàn toàn. Ông lão làm nghề chữa đèn cồn, đèn dầu hỏa, búp bê, ắccoócđêông và lên dây đàn dương cầm. Lão thợ chữa đàn có một cái họ rất buồn cười: “Nôviđan” (Của hiếm). Sau khi lên dây đàn, ông già Tiệp nói rằng chiếc đàn cũ nhưng rất tốt. Không cần ông nói Tachiana cũng biết rõ điều đó.
Khi ông lão về rồi, Tachiana cẩn thận lục khắp các ngăn kéo bàn và tìm thấy một gói to những cây nến hình xoắn ốc. Nàng cắm vào các chân nến đặt trên chiếc dương cầm. Buổi tối hôm ấy, nàng thắp nến lên, ngồi trước dương cầm và tiếng nhạc tràn ngập cả ngôi nhà.
Khi Tachiana ngừng chơi và tắt nến đi thì một làn khói thơm tỏa ra khắp các phòng y như trên cây thông ngày lễ đầu năm.
Varia không giữ được nữa.
- Sao mẹ lại đụng vào đồ vật của người khác? - Nó nói với Tachiana. - Mẹ cấm con, còn mẹ thì lại đụng vào đủ mọi thứ: nào chuông, nào nến, nào đàn. Mẹ lại đặt những bản nhạc của người ta lên trên dương cầm nữa.
- Bởi vì mẹ là người lớn.
Tachiana trả lời.
Varia chau mày, ngờ vực nhìn mẹ. Lúc này Tachiana không giống người lớn một chút nào. Mặt nàng tươi hẳn lên và nom nàng giống cái cô thiếu nữ tóc vàng đã đánh rơi chiếc hài phalê trong cung vua nhiều hơn. Chính Tachiana đã kể cho Varia nghe chuyện cô gái ấy.

Ngay từ lúc còn ngồi trên tàu hỏa, trung úy Nikôlai Pôtapôp đã tính rằng anh chỉ có thể ở nhà với cha anh nhiều lắm là hai mươi bốn tiếng đồng hồ. Hạn nghỉ phép thì ngắn mà cuộc hành trình đã chiếm mất gần hết thời gian.
Tàu hỏa tới thành phố vào ban đêm. Vừa bước chân xuống ga, trung úy được ông lão trưởng ga là người quen cho biết cha anh mất đã được một tháng và hiện giờ một nữ ca sĩ trẻ tuổi cùng con gái đang ở nhà anh.
- Chị ta người tản cư.

Ông trưởng ga nói.
Nikôlai im lặng và nhìn ra ngoài cửa kính, nơi những hành khách mặc áo bông, đi ủng dạ, tay cầm ấm nước, đang chạy. Anh thấy chóng mặt.
- Vâng - Ông trưởng ga nói. - Cụ nhà là người thật tốt bụng. Thế mà cụ chết đi không kịp gặp con trai.
- Bao giờ lại có tàu ra, thưa bác?
Nikôlai hỏi.
- Năm giờ sáng mai. - Ông lão nói, rồi im lặng một lát và nói tiếp - anh lại đằng tôi chi. Bà lão nhà tôi sẽ pha trà, dọn bữa tối cho anh. Anh về nhà bây giờ cũng vô ích.
- Cảm ơn bác.
Nikôlai trả lời và bước ra.
Ông trưởng ga nhìn theo, lắc đầu.
Nikôlai đi về phía bờ sông. Phía trên là một bầu trời xanh xám. Tuyết lơ thơ, bay chênh chếch giữa trời và đất. Mấy con quạ bước đi bước lại trên con đường có những đống phân ủ. Trời xẩm tối. Gió thổi từ bên kia bờ sông, từ những cánh rừng, làm anh chảy nước mắt.
- Làm thế nào được! - Nikôlai nói. - Ta về chậm quá! Và tất cả: cả tỉnh lỵ này, cả con sông, cả ngôi nhà, giờ đây đối với ta gần như hoàn toàn xa lạ!
Anh ngoảnh nhìn về phía sườn đồi dốc bên kia thành phố. Ở đó, khu vườn nằm trong băng bụi và ngôi nhà ánh lên một màu đen. Khói bay ra từ ống khói của ngôi nhà. Gió đưa khói bay về cánh rừng bạch dương.
Nikôlai thong thả bước về phía nhà mình. Anh định không vào nhà mà chỉ đi ngang thôi, hoặc có thể, anh sẽ ngó qua mảnh vườn xưa, đứng một lát trong cái lầu nghỉ chân cũ kỹ. Anh không sao chịu nổi, khi nghĩ rằng trong ngôi nhà của cha anh giờ đây đã có những người hoàn toàn xa lạ, vô tình đến ở. Tốt hơn hết là chẳng nhìn thấy gì hết để khỏi phải đau lòng, cứ đi đi và lãng quên dĩ vãng.
- Ờ, - Nikôlai nghĩ bụng. - Con người mỗi ngày một trưởng thành, mỗi ngày nhìn sự vật chung quanh một cách khắc khổ hơn.
Nikôlai về đến nhà khi trời tối. Anh nhẹ nhàng mở cửa vào vườn, nhưng cánh cửa vẫn kêu ken két. Mảnh vườn như giật mình. Tuyết đọng trên cành rơi xào xạc. Anh nhìn quanh. Trên con đường nhỏ dẫn tới phong đình, tuyết đã được dọn sạch sẽ. Nikôlai vào trong lầu, đặt hai tay lên trên cái lan can cũ kỹ. Đằng xa, bên kia rừng, bầu trời hồng lên, mờ nhạt: có lẽ trăng đã nhô ra sau những đám mây. Nikôlai cất mũ, lấy tay vuốt tóc. Chung quanh anh yên lặng, chỉ ở dưới kia, dưới chân đồi, mấy người đàn bà xách những chiếc xô rỗng kêu long xong đi lấy nước ở các lỗ băng.
Anh chống cùi tay trên lan can, nói khẽ:
- Có thể nào lại như thế?
Có ai đó nhè nhẹ đặt tay lên vai anh. Nikôlai ngoảnh lại. Đằng sau anh là một thiếu phụ trẻ, có khuôn mặt xanh xao và nghiêm trang, đầu quàng khăn len. Thiếu phụ nhìn anh bằng đôi mắt sâu thẳm và chăm chú. Trên mi mắt và trên má thiếu phụ những bông tuyết tan dần. Có lẽ đó là tuyết từ trên cành rơi xuống.
- Anh đội mũ vào kẻo cảm lạnh đấy! - Thiếu phụ nói khẽ. - Mời anh vào nhà. Không nên đứng ở đây.
Nikôlai yên lặng. Thiếu phụ nắm lấy cánh tay áo của anh và dẫn anh theo con đường nhỏ đã được dọn sạch. Nikôlai dừng lại ở bên thềm. Xúc động làm anh nghẹn ở cổ họng, không sao thở được. Thiếu phụ vẫn nói khe khẽ:
- Không sao, xin anh đừng ngại vì chuyện ở đây có tôi. Cảm giác đó sẽ qua ngay thôi.
Nàng dậm chân để rũ tuyết bám vào giày. Tức khắc quả chuông trong phòng mắc áo reo lên lanh lảnh trả lời. Nikôlai thở dài thực mạnh, lấy hơi.
Anh bước vào nhà, vừa đi vừa bối rối, lẩm bẩm điều gì. ở phòng ngoài mới cởi áo choàng anh đã ngửi ngay thấy mùi khói bạch dương thoang thoảng và nhìn thấy con mèo Ackhíp. Nó đang ngồi trên đi-văng, ngáp dài. Một đứa con gái tóc bím đứng bên đi-văng và nhìn anh bằng cặp mắt sung sướng. Nhưng nó không nhìn mặt anh mà nhìn mấy viền vàng trên tay áo anh.
- Vào đây, anh!
Tachiana nói và dẫn anh vàp bếp.
Trong bếp, anh thấy có bình nước giếng lạnh và chiếc khăn tay gai quen thuộc thêu hình những chiếc lá sồi đã được treo sẵn ở đấy.
Tachiana trở ra. Đứa con gái mang xà phòng cho Nikôlai và nhìn anh cởi áo, rửa mặt. Nỗi bối rối trong lòng anh vẫn chưa tan.
- Mẹ cháu là ai vậy?
Anh hỏi con bé và đỏ ửng mặt. Câu hỏi đó anh hỏi chỉ để mà hỏi.
- Mẹ cháu cứ tưởng mẹ cháu là người lớn. - Con bé thì thầm với một vẻ bí mật.- Thế nhưng mà mẹ cháu chẳng phải là người lớn tí nào. Mẹ cháu chỉ là một đứa con gái bé nhóc còn xoàng hơn cả cháu nữa kia.
- Tại sao? -Anh hỏi.
Nhưng con bé không trả lời, nó nhoẻn miệng cười và chạy ra ngoài.
Suốt buổi tối hôm ấy, anh không sao xua đuổi được cái cảm giác kỳ lạ là mình đang ở trong một giấc mộng nhẹ nhàng nhưng rất vững chắc. Mọi vật ở trong nhà xếp đặt đúng theo ý anh muốn. Vẫn những bản nhạc ấy trên chiếc đàn dương cầm, vẫn những cây nến hình xoắn ốc đang cháy, nổ tí tách và chiếu sáng căn phòng làm việc của cha anh. Cả những bức thư anh gửi từ bệnh viện về cũng thấy nằm trên bàn, dưới chiếc địa bàn cũ kỹ ngày xưa mà ông cụ vẫn thường dùng chặn lên những bức thư.
Sau khi uống trà, Tachiana dẫn Nikôlai ra thăm mộ cha anh ở bên kia rừng. Mặt trăng mờ mờ đã lên cao. Những cây bạch dương lấp loáng một cách yếu ớt trong ánh trăng, ném những bóng nhẹ xuống tuyết.
Đêm đã khuya, Tachiana ngồi trước dương cầm, nhẹ nhàng lựa phím đàn, rồi ngoảnh lại nhìn Nikôlai và nói:
- Lúc nào tôi cũng có cảm giác là tôi đã gặp anh ở đâu rồi.
- Vâng, cũng có lẽ. -Anh đáp.
Nikôlai nhìn thiếu phụ. ánh nến ở bên cạnh soi sáng nửa khuôn mặt nàng. Anh đứng dậy, đi đi lại lại trong phòng rồi dừng lại, anh nói bằng một giọng trầm trầm.
- Không, tôi không sao nhớ được!
Tachiana ngoảnh lại, sợ sệt nhìn Nikôlai nhưng không nói gì hết.
Nàng đã sửa soạn chỗ cho Nikôlai trên chiếc đi-văng trong phòng làm việc, nhưng anh không sao nhắm mắt được. Mỗi phút trong ngôi nhà này đối với anh thực quý báu và anh không muốn mất phút nào. Anh nằm, chăm chú nghe tiếng bước chân rón rén của con mèo Ackhíp, tiếng đồng hồ tích tắc, tiếng thì thào của Tachiana với người vú già sau cánh cửa đóng. Rồi tiếng nói im bặt, người vú đã đi, nhưng vệt sáng ở dưới cánh cửa vẫn không tắt. Anh nghe thấy tiếng lật giở các trang giấy loạt soạt: chắc Tachiana còn đọc sách. Anh đoán nàng thức cốt để gọi anh dậy cho kịp tàu. Anh muốn nói với nàng rằng anh cũng không ngủ, nhưng anh không dám gọi.
Bốn giờ sáng Tachiana khe khẽ mở cửa và gọi Nikôlai. Anh cựa mình.
- Anh dậy đi thôi, đến giờ rồi. - Nàng nói. - Tôi rất tiếc phải đánh thức anh.

Tachiana tiễn anh ra ga. Hai người đi qua tỉnh lỵ còn đang ngủ im lìm. Sau hồi chuông thứ hai họ từ giã nhau. Tachiana đưa cả hai tay cho Nikôlai và nói.
- Anh nhớ viết thư nhé! Giờ đây chúng ta đã là những người thân. Phải không?
Nikôlai không trả lời, anh chỉ gật đầu.
Mấy hôm sau, Tachiana nhận được một bức thư của Nikôlai viết ở dọc đường.
“Tôi đã nhớ ra chúng ta ở đâu"- anh viết -"nhưng tôi không muốn nói với em khi còn ở nhà. Em còn nhớ Krưm năm một nghìn chín trăm hai mươi bảy không? Mùa thu. Những cây tiêu huyền cổ thụ ở công viên Livađia. Trời u ám. Biển nhợt nhạt. Tôi đi theo con đường nhỏ tới Orêanđa. Trên chiếc ghế dài bên đường có một thiếu nữ ngồi. Cô ta chừng mười sáu tuổi. Trông thấy tôi, cô ta đứng dậy và đi về phía tôi. Khi chúng tôi gặp nhau, tôi liếc nhìn cô. Cô ta đi qua tôi rất nhanh, nhẹ nhàng, tay cầm một cuốn sách mở rộng. Tôi dừng lại, nhìn theo cô rất lâu. Thiếu nữ đó là em. Tôi không thể nhầm được. Tôi nhìn theo em và cảm thấy rằng có một người con gái vừa đi qua ngay bên cạnh tôi, người đó có thể làm tan vỡ cả đời tôi mà cũng có thể đem lại hạnh phúc cho tôi. Tôi hiểu rằng mình có thể yêu người con gái ấy đến hy sinh cả thân mình. Lúc đó tôi đã biết rằng tôi phải tìm em cho bằng được, dù cho có phải trả bất cứ giá nào. Tôi nghĩ như vậy, nhưng lại vẫn cứ đứng lặng. Vì sao? Tôi cũng chẳng hiểu. Từ ngày ấy tôi yêu Krưm và con đường nhỏ, ở đó tôi đã gặp em trong giây lát và mất em vĩnh viễn. Nhưng cuộc đời đã thưng tôi và tôi lại được gặp em. Nếu mọi việc đều ổn thỏa và em cần đến cuộc đời tôi, thì tất nhiên nó sẽ là của em. À, tôi đã thấy bức thư của tôi bị bóc ra để ở trên bàn cha. Tôi đã hiểu tất cả và tôi chỉ biết từ nơi xa xôi này gửi lời cảm ơn em”.
Tachiana đặt lá thư xuống, đôi mắt m màng nhìn qua cửa sổ ra mnh vườn tuyết phủ:
- Trời, mình có ở Krưm bao giờ đâu? Chưa bao giờ! Nhưng lúc này cái đó có gì là quan trọng? Và để cho anh ấy tuyệt vọng làm gì? Và cả mình nữa...
Nàng cười, đưa tay lên che mắt. Bên ngoài cửa sổ hoàng hôn mờ mờ vẫn còn cháy đỏ, mãi không sao tắt được.

1943

Kim Ân dịch

Đăng nhập để trả lời
0
Bạn tieuboingoan than !
Có lẽ tôi bị lôi cuốn bởi tiêu đề " Hơi Thở Nhẹ " Một cảm xúc nhẹ nhàng khi đọc để tựa. Thân tặng tiểu bối Ngoan 6 câu thơ tức cảnh sinh tình.
Nhớ nhau qua hơi thở.
Xao xuyến ngọt bờ môi.
Anh ru em điệu hát.
Tình yêu lên chơi vơi.
Ru em giấc ngủ tuyệt vời.
Với vòng tay mộng , với người em thương.
TMH
"Thơ là trừu tượng, tình cảm là hư cấu được cấu tạo rất vô tư trong hồn thơ
Nếu ý thơ đi quá mức giới hạn của tình cảm, đó là sự hồn nhiên của thơ, xin đừng giận, sự giận dữ làm mất đi vẻ đẹp của thơ".
Trần Mạnh Hùng
Đăng nhập để trả lời
0
Truyện Lẳng quả Thông và Tuyết đã được CtLy mang vào thư viện

Cảm ơn TieuBoiNgoan thật nhiều
Chúc TBN luôn vui

Thân ái
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-07-18 19:01:15ct.ly>
Mối tình đầu



M.GORKI


Ngay từ dạo ấy số phận, để giáo dục cho tôi, đã bắt tôi thể nghiệm những nỗi xúc động bi hài kịch của mối tình đầu.
Một tốp bạn bè quen thuộc rủ nhau đi chơi thuyền trên sông Ôka. Họ giao cho tôi cái nhiệm vụ mời hai vợ chồng K. cùng đi, đôi vợ chồng này mới ở Pháp về được ít lâu, nhưng tôi chưa có dịp làm quen với họ. Tôi đến nhà họ vào một buổi tối.
Họ ở căn hầm của một tòa nhà cũ; trước mặt nhà là một vũng nước bẩn choán hết cả tòa chiều rộng của mặt đường, suốt mùa xuân và gần suốt cả mùa hè không lúc nào khô đi được; quạ và chó dùng nó làm gương soi, lợn thì ra đấy tắm.
Đang mang một tâm trạng có phần đăm chiêu tư lự, tôi đường đột bước vào căn nhà của hai người chưa quen biết này như một hòn đá lăn trên sườn núi xuống, và gây nên một tình trạng thảng thốt lạ thường trong gia đình họ. Một người đàn ông đẫy đà, vóc người tầm thước, có bộ râu màu hung hình rẻ quạt và đôi mắt hiền hậu màu thiên thanh, hấp tấp đóng cánh cửa dẫn vào phòng trong rồi ra đứng trước mặt tôi, vẻ mặt hầm hầm.
Ông ta vừa xốc lại quần áo vừa hỏi tôi một cách không lấy gì làm niềm nở:
- Ông muốn gì?
Đoạn nói thêm, giọng răn dạy:
- Trước khi vào nên gõ cửa!
Sau lưng ông ta, trong bóng tranh tối tranh sáng của gian phòng, có một cái gì đang cuống quít cử động, trông như một con chim trắng rất lớn đang giãy giụa, và một giọng nói lanh lảnh vui tươi vang lên:
- Nhất là khi vào nhà những người có gia đình.
Tôi hỏi gắt, xem họ có phải là những người tôi đang cần gặp không? Và khi người đàn ông, trông giống như một ông chủ hiệu làm ăn khấm khá, trả lời là phải, tôi nói rõ cho ông ta biết tôi đến đây để làm gì.
- Ông bảo là Clac phái ông đến phải không? - Người đàn ông vừa hỏi vừa vuốt bộ râu một cách chững chạc và trầm ngâm, rồi ngay lúc ấy bỗng giật mình quay ngoắt lại, bật lên một tiếng kêu đau đớn.
- ái! Kìa Onga!
Căn cứ vào cái động tác đột ngột của hai bàn tay ông ta tôi suy ra rằng ông ta bị ai véo mạnh vào cái bộ phận của cơ thể mà người ta thường tránh gọi tên ra, hẳn là vì nó ở vào một vị trí hơi thấp hơn thắt lưng một chút.
Thế chân ông ta là một thiếu nữ thân hình mảnh dẻ đứng vịn tay vào khung cửa mỉm cười nhìn tôi với đôi mắt màu xanh lam.
- Ông là ai? cảnh sát à?
- Không ạ, chỉ là cái quần thôi, - tôi trả lời một cách lễ phép, còn cô thiếu nữ thì cười phá lên.
Tôi không thấy chạnh lòng, vì trong đôi mắt của cô ta long lanh một nụ cười đặc biệt - chính cái nụ cười mà tôi đã mong đợi từ lâu. Hình như cô ta cười vì cách trang phục của tôi: hôm ấy tôi mặc cái quần rộng màu xanh của cảnh binh, và thay cho áo sơ-mi tôi khoác một chiếc áo vét trắng của đầu bếp; áo này rất tiện lợi: nó có thể đóng vai áo vét-tông một cách khá đắc lực, và lại có cúc móc gài đến tận cổ cho nên ở bên trong không cần mặc sơ mi. Một đôi ủng săn đi mượn và một chiếc mũ rộng vành của kẻ cướp ý bổ sung cho y phục của tôi một cách tuyệt mỹ.
Sau khi cầm tay áo tôi, vào phòng và ấn tôi ngồi xuống một chiếc ghế tựa, người thiếu nữ đứng trước mặt tôi hỏi:
- Tại sao anh ăn mặc buồn cười thế?
- Sao lại buồn cười?
- Anh đừng giận, - cô ta ôn tồn khuyên tôi.
Một cô gái rất kỳ lạ, ai mà có thể giận được?
Người đàn ông có râu đang ngồi trên giường quấn một điếu thuốc lá. Tôi đưa mắt chỉ về phía ông ta, hỏi:
- Đó là bố cô, hay là anh cô?
- Chồng ! - Người đàn ông trả lời quả quyết.
- Thế thì sao? - Cô cười, hỏi tôi.
Tôi ngẫm nghĩ một lát rồi nhìn kỹ cô, nói:
- Xin lỗi.
Câu chuyện tiếp diễn bằng cái giọng nhát gừng như vậy trong khoảng năm phút, nhưng tôi cảm thấy mình có thể ngồi im lìm trong căn nhà hầm này năm giờ, năm ngày, năm năm cũng được để nhìn khuôn mặt trái xoan thanh tú của người thiếu phụ và đôi mắt dịu dàng của nàng. Miệng nàng nhỏ nhắn, môi dưới dày hơn môi trên như thể mới mọng thêm lên; mái tóc rậm màu hạt dẻ cắt ngắn ngang tai làm thành một cái mũ lộng lẫy, với những món tóc quăn lòa xòa trên đôi vành tai hồng hồng và đôi má đỏ hây như má con gái. Hai tay nàng rất đẹp, lúc nãy, khi nàng đứng ở phòng ngoài tựa tay vào khung cửa, tôi đã được trông thấy nó để trần đến tận vai. Nàng ăn mặc một cách đặc biệt giản dị, trên là một chiếc áo ngắn màu trắng có ống tay rộng viền đăng-ten, và dưới là một cái váy cũng màu trắng may rất khéo. Nhưng đặc sắc nhất ở nàng là đôi mắt màu xanh lam: nó ánh lên một tia sáng vui tươi, trìu mến biết chừng nào, với một vẻ tò mò thân ái làm sao! Và cái này thì không nghi ngờ gì nữa: nàng mỉm cười chính cái nụ cười hoàn toàn không thể thiếu được đối với trái tim của một người đàn ông hai mươi tuổi, một trái tim đã bị sự thô bạo của cuộc sống dày vò.
- Sắp mưa rào đến nơi rồi đây, - ông chồng vừa thông báo vừa phun khói thuốc lá qua bộ râu.
Tôi nhìn ra cửa sổ: sao sáng vằng vặc trên bầu trời không gợn một chút mây. Lúc ấy tôi mới hiểu rằng mình làm phiền người này, bèn ra về với một niềm vui thầm lặng trong lòng như sau khi gặp được một cái gì mình đã tìm từ lâu mà vẫn tự giấu lòng.
Suốt đêm hôm ấy tôi đi lang thang giữa đồng không, trân trọng gợi lại ánh sáng dịu dàng của đôi mắt màu xanh lam, và đến khi trời hửng sáng tôi đã tin chắc như đinh đóng cột rằng người thiếu phụ nhỏ nhắn kia hoàn toàn không phải là một người vợ xứng đôi với cái ông phục phịch có bộ râu cằm và đôi mắt hiền lành của một con mèo no đủ kia. Thậm chí tôi còn thấy thương hại nàng: tội nghiệp, ai đời phải sống với một người có những mẩu vụn bánh mì giắt trong râu!...
Đến hôm sau chúng tôi bơi thuyền trên dòng sông Ôka đục ngầu, dưới bóng bờ sông dốc đứng làm bằng những lớp đất sét nhiều màu ép lên nhau. Ngày hôm ấy là ngày đẹp nhất kể từ khi khai thiên lập địa. Vầng thái dưng rực rỡ lạ thường trên một bầu trời quang đãng tưng bừng như ngày hội, trên sông thoang thoảng mùi dâu đất đang chín tới, mọi người đều sực nhớ ra rằng mình quả là những người rất tốt, và điều đó khiến lòng tôi tràn ngập một tình yêu thưng trong sáng đối với họ. Ngay đến như ông chồng của người nương tử của lòng tôi té ra cũng là một người đáng quý: ông ta không ngồi vào cùng thuyền với vợ - chiếc thuyền này do tôi chèo và suốt ngày hôm ấy ông xử sự một cách thông minh tuyệt vời: thoạt tiên ông kể cho mọi người nghe rất nhiều điều thú vị về ông già Clatxtôn, rồi uống hết một bình sữa thượng hảo hạng, sau đó ngả lưng dưới một bụi cây và mãi cho đến tối ngủ giấc ngủ yên lành của một đứa con nít.
Lẽ dĩ nhiên là chiếc thuyền của chúng tôi đến nơi “cắm trại” trước tiên, và khi bế công nương của tôi lên bờ, nàng nói:
- Anh khỏe quá!
Tôi cảm thấy mình đủ sức xô ngã bất cứ tháp chuông nào trong thành phố và cho nàng biết rằng tôi có thể bế nàng về đến tận phố nhà - bảy verxtơ cả thảy. Nàng cười khe khẽ, mắt nàng mơn trớn tôi, và suốt ngày hôm ấy đôi mắt nàng ánh lên sáng ngời trước mặt tôi, và dĩ nhiên tôi tin chắc rằng nó chỉ sáng cho mỗi mình tôi mà thôi.
Từ đấy về sau mọi việc đều diễn biến với một tốc độ hoàn toàn tự nhiên đối với một người đàn bà lần đầu tiên gặp được một con thú ngộ nghĩnh, chưa từng thấy bao giờ, và đối với một chàng trai khỏe mạnh đang cần đến sự mơn trớn của một bàn tay phụ nữ.
Chẳng bao lâu tôi được biết rằng tuy bề ngoài trông như thiếu nữ chưa chồng, nàng lớn hơn tôi những mười tuổi, đã từng được ăn học trong Học viện dành cho các “thiếu nữ quý tộc” ở Beloxtôc, đã từng là vị hôn thê của quan lãnh binh Cung điện Mùa Đông, đã từng sống ở Paris, đã từng học vẽ và đã học xong nghề bà đỡ. Về sau tôi lại được biết thêm rằng mẹ nàng cũng là bà đỡ và đã từng đón lấy tôi trong giờ phút tôi chào đời: trong cái sự kiện này tôi thấy có một cái gì tiền định và lấy làm vui mừng vô cùng.
Quá trình giao du với giới giang hồ và lưu vong, mối tình dan díu với một người trong bọn họ, rồi sau đó là cuộc đời lang bạt kỳ hồ và khi no khi đói trong những căn nhà hầm và những gác xép ở Paris, Pêterbua, Viên - tất cả những cái đó đã làm cho cô nữ sinh cũ của Học viện trở thành một con người phức tạp một cách ngộ nghĩnh, thú vị một cách hiếm có. Nhẹ nhàng, linh hoạt như một con chim vành khuyên, nàng nhìn cuộc sống và nhìn con người với óc tò mò sắc bén của một thiếu niên thông minh, nàng hát những bài hát Pháp một cách say sưa, hút thuốc lá với những tư thế rất đẹp, vẽ rất khéo, đóng kịch khá hay, may vá rất giỏi và làm mũ phụ nữ rất tài. Nghề đỡ đẻ thì nàng lại không làm. Nàng nói:
- Tôi đã đỡ bốn lần, nhưng tỷ lệ tử vong lên tới bảy mươi lăm phần trăm.
Điều đó đã khiến nàng vĩnh viễn xa lánh cái việc gián tiếp góp phần vào sự sinh sôi của loài người, còn về phần đóng góp trực tiếp vào đấy thì đã có một bằng chứng là đứa con gái của nàng, một cô bé lên bốn xinh đẹp và dễ yêu. Nàng kể chuyện mình với cái giọng mà người ta vẫn dùng khi nói đến một người mình đã biết rất rõ và đã phát chán lên rồi. Nhưng đôi khi nàng tựa hồ như ngạc nhiên trong lúc nói về mình, đôi mắt nàng tối sầm lại trông thật kiều diễm, và trong đáy mắt nàng thoáng ánh lên một nụ cười ngượng nghịu; trẻ con khi nào ngượng cũng mỉm cười như thế.
Tôi cảm được rất rõ cái trí thông minh sắc sảo, vững chắc của nàng, tôi hiểu rằng nàng cao hơn tôi về phương diện văn hóa, tôi thấy rõ cái thái độ khoan dung đầy thiện ý của nàng đối với người đời, nàng thú vị hơn tất cả những thiếu nữ và thiếu phụ tôi quen không biết bao nhiêu mà kể, cái giọng khinh bạc của nàng khi kể chuyện khiến tôi phải ngạc nhiên, và tôi có cảm giác là con người ấy biết rõ tất cả những gì mà những người quen tôi có tư tưởng cách mạng vốn biết, ngoài ra lại còn biết một cái gì khác, quý giá hơn, nhưng nàng nhìn mọi sự từ xa, đứng sang một bên mà quan sát, với nụ cười của một người lớn đứng xem những trò đùa nghịch của trẻ con, những trò đùa nghịch đáng yêu tuy đôi khi cũng nguy hiểm.
Căn nhà hầm nàng ở ngăn ra làm hai phòng: một gian bếp nhỏ kiêm phòng lót, và một gian lớn có ba cửa sổ trông ra đường và hai cửa sổ trông ra khong sân rác rưởi bẩn thỉu. Đây là một chỗ thuận tiện để dọn một xưởng đóng giày, nhưng chẳng hợp chút nào với một người đàn bà thanh lịch đã từng ở Pari, cái thành phố thần thánh của cuộc Cách mạng vĩ đại, thành phố của Môlie, Bômacse, Huygô và nhiều danh nhân khác. Còn có nhiều sự bất tương ứng nữa giữa bức tranh với cái khung hiện tại của nó, và tất cả những sự bất tương ứng đó đều làm cho tôi khó chịu và gợi lên trong lòng tôi nhiều cảm xúc khác nhau, đặc biệt là lòng thương xót đối với người phụ nữ. Nhưng bản thân nàng thì dường như không hề nhận thấy những điều mà tôi cho là phải làm cho nàng tủi cực.
Nàng làm việc từ sáng đến tối. Buổi sáng nàng nấu nướng và dọn dẹp, xong đâu đấy lại ngồi vào chiếc bàn lớn đặt trước cửa sổ suốt ngày vẽ những bức truyền thần - dùng bút chì sao lại những bức ảnh chụp mấy ông trưởng giả trong phố, đồ lại những bản địa đồ, tô màu những bản in thạch, giúp chồng làm những tập thống kê về ruộng đất. Từ khung cửa sổ mở rộng, bụi ngoài đường phố lên bàn và lên đầu nàng, và những đôi chân của khách qua đường hắt cái bóng to lướt qua trên mấy tờ giấy. Nàng vừa làm việc vừa hát, và hễ ngồi lâu quá mỏi lưng, nàng lại đứng lên cầm chiếc ghế nhảy một bài van-x hay chơi với đứa con gái. Tuy làm rất nhiều việc dễ giây bẩn, nàng bao giờ cũng sạch sẽ tinh tươm như một con mèo.
Chồng nàng là người tốt bụng và lười biếng. Ông ta thích nằm trên giường đọc những cuốn tiểu thuyết dịch, đặc biệt là tiểu thuyết của Đuyma-bố. Ông thường nói rằng loại sách này “làm cho các tế bào não tươi trẻ ra”. Ông ta thích nhìn nhận cuộc sống “trên quan điểm thuần túy khoa học”. Ăn thì ông gọi là “hấp thụ chất dinh dưỡng” và ăn xong ông thường nói: Quá trình vận chuyển dung dịch dinh dưỡng từ dạ dày đến các tế bào của cơ thể đòi hỏi trạng thái yên tĩnh tuyệt đối”.
Rồi chẳng buồn rũ cho sạch những mẩu vụn bánh mì mắc trong bộ râu, ông vào giường nằm, đọc say sưa một đoạn tiểu thuyết của Đuyma hay Xaviê đ Môngtêpanh trong dăm bảy phút, rồi sau đó, suốt hai tiếng đồng hồ mũi ông thở phì phò thành một tiếng nhạc rất trữ tình, bộ ria mềm màu nhạt của ông khe khẽ nhúc nhích như thể ở bên trong có một vật gì vô hình đang bò. Tỉnh giấc, ông trầm ngâm nhìn hồi lâu lên những kẽ nứt trên trần, rồi bỗng sực nhớ ra:
- Hôm qua Kuzma thuyết minh sai tư tưởng của Parnel rồi!
Bèn đi thuyết phục Kuzma. Khi ra đi ông dặn vợ:
- Mình tính nốt hộ tôi số hộ không có ngựa ở hạt Maiđane nhé. Tôi về ngay!
Ông ta về nhà vào khoảng nửa đêm, đôi khi muộn hơn, rất hài lòng.
- Mình ạ, hôm nay tôi bác cho Kuzma một trận tơi bời. Cái lão bợm già ấy nhớ được lắm câu trích dẫn thật, nhưng ngay về phương diện này tôi cũng không chịu thua. Có một điều là lão ấy hoàn toàn không hiểu chút gì về chính sách phương đông của Glatxtơn, gàn quá đi mất!
Ông ta luôn nói đến Binê, Risê và vệ sinh não bộ. Những khi trời xấu phải ngồi nhà, ông ta chăm lo việc giáo dục đứa con gái của vợ ông - một đứa bé ra đời một cách ngẫu nhiên đâu trên chặng đường giữa hai câu chuyện tình.
- Lêlia, khi ăn con phải nhai cho kỹ, sự tiêu hóa sẽ được dễ dàng hơn, nhai kỹ thì dạ dày sẽ biến hợp chất dinh dưỡng thành một tổng hòa hóa chất dễ đồng hóa một cách nhanh chóng hơn.
Sau bữa ăn, trong khi đặt mình vào “trạng thái yên tĩnh tuyệt đối” ông đặt đứa bé vào giường và kể cho nó nghe:
- Như vậy là khi kẻ tham quyền cố vị khát máu Bônapact cướp lấy chính quyền một cách phi nghĩa...
Vợ ông nghe những bài giảng ấy thì cười ngặt nghẽo, chảy cả nước mắt ra, nhưng ông ta không giận vợ, bởi vì ông không có đủ thì giờ để mà giận: chỉ một lát sau ông đã ngủ thiếp đi. Con bé nghịch bộ râu tơ của bố một lúc rồi cũng ngủ nốt, mình cuộn tròn thu lu. Tôi đã làm thân được với nó rất mực, nó nghe những câu chuyện kể của tôi một cách thích thú hơn là những bài giảng của ông Bôlexlap về tên tiếm vị khát máu và về mối tình bi thảm của hoàng hậu Giôzêphin đờ Bôhacne đối với hắn ta; điều này làm nảy sinh trong lòng ông Bôlexlap một mối ghen tị rất ngộ nghĩnh.
- Tôi phản đối đấy, anh Pêskôp ạ! Thoạt tiên nhất thiết phải truyền thụ cho trẻ những nguyên lý cơ bản của cách nhìn nhận thực tại, sau đó mới cho nó làm quen với thực tại. Giá anh biết tiếng Anh và có điều kiện đọc qua cuốn Vệ sinh tâm hồn ấu nhi...
Tiếng Anh thì hình như ông ta chỉ biết có hai chữ “gút bai”.
Ông ta nhiều tuổi gấp đôi tôi, nhưng lại có được cái tính tò mò của một con chó xù non, ông ta thích kháo chuyện và tỏ ra mình là người am hiểu tất cả những điều bí ẩn không riêng gì của các giới cách mạng Nga, mà cả của các giới cách mạng ở nước ngoài nữa. Và chăng cũng có thể ông ta am hiểu tường tận thật: đã khá nhiều lần có những nhân vật bí ẩn đến nhà ông ta, lúc nào họ cũng có thái độ như những diễn viên bi kịch tình cờ phải đóng vai những nhân vật hiền lành chất phác. ở nhà ông ta tôi đã từng gặp nhà chính trị bất hợp pháp Kabunaiep với một bộ tóc gi màu hung đỏ đội rất vụng, mặc một bộ com-lê vằn chật và ngắn một cách lố bịch.
Lại có một lần đến nhà ông Bôlexlap tôi gặp ở đấy một con người láu lỉnh có cái đầu nhỏ xíu, trông rất giống một anh thợ cắt tóc. Hắn ta mặc cái quần ngựa ca-rô, một chiếc áo vét-tông màu xám và đi đôi dày bốt-tin kêu ken két. Bôlexlap nháy tôi ra nhà bếp, thì thầm:
- Đây là một người từ Paris về, được ủy thác một nhiệm vụ rất quan trọng, ông ta cần gặp Kôrôlenkô, vậy anh đi tổ chức hộ cuộc gặp gỡ này.
Tôi đi... Nhưng hóa ra là người ta đã chỉ cho Kôrôlenkô xem người này ở ngoài phố và ông đã tuyên bố một cách thâm thúy:
- Không, xin đừng giới thiệu cái thằng công tử bột ấy với tôi làm gì.
Bôlexlap lấy làm chạnh lòng cho người Paris và cho “sự nghiệp cách mạng”, suốt hai ngày liền ngồi viết một bức thư cho Kôrôlenkô, thử dùng đủ các thứ văn phong, từ giọng giận dữ và nghiêm khắc cho đến giọng trách móc dịu dàng, rồi cuối cùng đem đốt những mẫu mực của thể văn thư tín ấy trên nắp lò sưởi. ít lâu sau bắt đầu xy ra những vụ bắt bớ ở Matxcva, ở Nigini, ở Vlađimia, và đến đấy mới vỡ nhẽ ra rằng con người mặc quần áo ca-rô ấy - ngài Lanđlen - Hácting, một nhân vật nổi tiếng sau này, là tên khiêu khích đầu tiên mà tôi được gặp.
Bên cạnh những nét đó thì ông chồng của người tôi yêu dấu là một anh chàng tốt bụng, hơi đa cảm và đa mang cái “hành lý khoa học” của mình một cách hài hước. Ông ta có nói:
- ý nghĩa của đời người trí thức là ở chỗ không ngừng tích lũy hành lý khoa học nhằm mục đích phân phát nó một cách vô tư trong qung đại quần chúng...
Mối tình của tôi càng thêm sâu nặng lại càng trở thành một niềm đau khổ. Tôi thường ngồi trong căn nhà hầm nhìn nương tử của lòng tôi cắm cúi trên chiếc bàn làm việc, và say sưa choáng váng với cái ý muốn bế nàng lên, đưa nàng đi đâu cho xa cái căn nhà hầm đáng nguyền rủa này, với cái giường đôi rộng thênh thang, với chiếc đi-văng nặng nề và cũ kỹ nơi con bé nằm ngủ, với mấy cái bàn la liệt những đống sách và giấy tờ bụi bặm. Ngoài cửa sổ những bóng chân người thấp thoáng một cách kỳ quặc, đôi khi lại thấy một con chó hoang thò mõm vào cửa sổ. Không khí ngột ngạt, từ ngoài đường đưa vào mùi bùn bị nắng hun nóng lên. Cái bóng dáng thanh tú, nhỏ nhắn như một thân hình thiếu nữ ấy vừa hát khe khẽ vừa sột soạt đưa ngòi bút hay đầu bút chì trên giấy, âu yếm mỉm cười với tôi bằng đôi mắt xanh lam kiều diễm. Tôi yêu người đàn bà ấy đến mê sảng, đến điên cuồng và thương nàng đến đau xót, hằn học.
- Anh kể cho tôi nghe một chuyện gì về anh đi, - nàng bàn.
Tôi kể, nhưng mấy phút sau nàng đã nói:
- Đấy có phải chuyện anh đâu.
Và chính bản thân tôi cũng hiểu rằng tất cả những điều mà tôi nói đến vẫn chưa phải là tôi, mà là một cái gì trong đó tôi vướng mắc vào một cách mù quáng. Tôi cần tìm thấy mình trong cái mớ bòng bong hỗn tạp của những ấn tượng và những biến cố mà tôi đã sống qua, nhưng tôi không biết cách và không dám làm việc đó. Tôi là ai, tôi là cái gì? Vấn đề này làm cho tôi rất băn khoăn. Tôi đang căm giận cuộc đời: chưa chi nó đã xui tôi làm cái việc nhục nhã là mưu toan tự sát. Tôi không hiểu được những con người, cuộc sống của họ tôi thấy nó vô lý, ngu xuẩn, bẩn thỉu quá. Trong tôi chứa chất cái trí tò mò quá nhạy bén của một con người không hiểu tại sao lại cứ nhất thiết phi dòm vào tất cả những ngõ ngách tối tăm của cuộc sống, vào đáy sâu của tất cả những sự bí ẩn của đời người, và đôi khi tôi cảm thấy mình có đủ sức phạm một tội ác vì tò mò: tôi sẵn sàng giết người chỉ để biết sau đó mình sẽ ra sao.
Tôi có cảm giác là nếu tôi tìm được mình thì trước mắt người đàn bà tôi yêu sẽ hiện ra một con người ghê tởm, mắc míu trong một mạng lưới dày đặc, vững chắc của những cảm xúc và những ý nghĩ kỳ dị; một con người của mê sảng, của ác mộng, nó sẽ làm nàng khiếp sợ và ghê tởm. Tôi cần làm một cái gì đối với bản thân. Tôi tin chắc rằng chính người đàn bà này không những có thể giúp tôi cảm biết được cái bản ngã thật của mình, mà còn có thể làm một điều gì thần diệu mà sau đó tôi sẽ lập tức thoát ra khỏi sự giam cầm của những ấn tượng đen tối của cuộc sống, sẽ vĩnh viễn vứt bỏ được một cái gì đó ra khỏi tâm hồn, và tâm hồn tôi sẽ bừng lên ngọn lửa của một sức mạnh lớn lao, của một niềm vui vĩ đại.
Cái giọng khinh bạc của nàng khi nói về mình cũng như thái độ khoan dung của nàng đối với người đời đã khiến tôi tin chức rằng nàng biết được một cái gì phải thường. Nàng có chìa khóa riêng để đi vào tất cả những điều bí ẩn của cuộc sống, cho nên nàng bao giờ cũng vui vẻ, bao giờ cũng tự tin. Có lẽ tôi yêu nàng chủ yếu là vì những điều mà tôi không hiểu được ở nàng, nhưng tôi vẫn yêu nàng với tất cả sức mạnh và nhiệt tình của tuổi trẻ. Kìm hãm được cái nhiệt tình ấy đối với tôi là một việc khó khăn đến mức đau đớn: chưa chi nó đã thiêu đốt thể xác tôi và làm cho tôi kiệt quệ. Giả sử tôi đơn giản hơn, thô kệch hơn, thì tôi sẽ đỡ khổ hơn, nhưng tôi tin rằng những mối quan hệ với người đàn bà không bó hẹp trong cái hành động giao hòa sinh lý mà tôi đã từng được biết dưới dạng thô lỗ một cách nghèo nàn, đơn giản một cách thú vật của nó, cái hành động ấy khiến tôi có một cảm giác gần như ghê tởm, mặc dầu tôi là một thanh niên khỏe mạnh và khá hiếu sắc, lại có một trí tưởng tượng dễ kích động.
Tôi không hiểu niềm mơ ước lãng mạn ấy làm sao có thể hình thành và sống mãi trong tôi, nhưng tôi tin chắc mười phần rằng ở phía sau những điều tôi biết được còn có một cái gì mà tôi chưa hề biết, và chính cái đó chứa đựng cái ý nghĩa cao cả, huyền bí của sự đồng giao với phụ nữ, một cái gì lớn lao, hoan lạc và thậm chí khủng khiếp ẩn nấp sau cuộc ân ái đầu tiên,
- sau khi thể nghiệm được niềm hoan lạc ấy, con người đổi mới hoàn toàn.
Tôi nghĩ rằng tôi nảy ra những ý tưởng huyền hoặc ấy không phi vì những cuốn tiểu thuyết tôi đã đọc: tôi đã nuôi dưỡng và phát triển nó từ cái đầu óc đối kháng với thực tại, bởi vì:
“Tôi đã đến thế gian này để mà không thỏa thuận”.
Ngoài ra, tôi còn có một kỷ niệm kỳ dị, mơ hồ: ở một nơi nào bên ngoài thực tại, và vào một thời gian nào rất sớm sủa của tuổi thơ, tôi đã từng thể nghiệm một sự rung chuyển mạnh mẽ của tâm hồn, một cơn run rẩy hoan lạc của cảm giác hài hòa, hay nói cho đúng hơn, của một linh cảm về sự hài hòa, đã thể nghiệm một niềm vui tươi sáng hơn ánh nắng ban mai, khi mặt trời mọc. Có lẽ điều đó đã xảy ra mãi từ những ngày tôi hãy còn nằm trong bụng mẹ, và đó là một sự rung động diễm phúc của tinh lực thần kinh của mẹ tôi đã truyền vào tôi thành một luồng nóng hổi, đã sáng tạo nên tâm hồn tôi và lần đầu tiên đã nhen nhóm nó lên cho nó sống, có lẽ đó là một giây phút hạnh phúc mãnh liệt của mẹ tôi đã chiếu rọi vào tôi suốt đời thành cái khát vọng đợi chờ ở người phụ nữ một cái gì phi thường.
Khi người ta không biết thì người ta tưởng tượng ra. Và điều khôn ngoan nhất mà con người đã đạt đến được là cái khả năng biết yêu người phụ nữ, biết ngưỡng mộ sắc đẹp của họ; từ tình yêu đối với phụ nữ đã nảy sinh tất cả những gì đẹp đẽ trên thế gian.
Một hôm, trong khi tắm, tôi đứng trên một chiếc xà-lan nhảy xuống nước, ngựơc va phải cọc neo, chân vướng phải sợi dây chão, người bị treo ngược trên mặt nước, đầu chìm xuống nước, và bắt đầu sặc sụa. Một người đánh xe bò đã lôi tôi lên. Người ta xóc mạnh người tôi cho ra hết nước, làm xây sát hết cả da tôi. Tôi khạc ra máu, và phải nằm yên trên giường nuốt nước đá.
Nàng đến thăm tôi, ngồi bên cạnh giường và vừa hỏi tôi xem sự việc đã xảy ra như thế nào, vừa đưa bàn tay nhẹ nhàng đáng yêu vuốt lên đầu tôi. Đôi mắt nàng tối sẫm lại, nhìn tôi lo lắng.
Tôi hỏi: nàng có thấy tôi yêu nàng không?
- Có. - nàng nói, miệng mỉm cười dè dặt, - tôi có thấy, và như thế không tốt một chút nào, tuy tôi cũng đã đem lòng yêu anh.
Dĩ nhiên là sau câu nói ấy cả đất trời đều rung chuyển, và hàng cây trong vườn quây nhau lại quay tròn trong một điệu vũ hân hoan. Tôi câm lặng đi vì bất ngờ, dúi đầu vào đùi nàng và giả sử lúc ấy tôi không ôm nàng thật chặt, tôi đã bay qua cửa sổ như một cái bong bóng xà-phòng rồi.
- Đừng cử động, như thế rất có hại cho anh! - Nàng lấy giọng nghiêm nghị bo tôi và cố di chuyển đầu tôi lên gối như cũ. - Và nhất là đừng có xúc động, nếu không tôi sẽ bỏ đi. Nói chung anh là một người rất điên rồ, trước đây tôi không tưởng tượng là có những người như thế. Về những tình cảm và quan hệ giữa chúng ta, ta sẽ bàn sau, khi nào anh bình phục.
Tất cả những lời ấy nàng nói rất điềm đạm và mỉm cười một cách âu yếm lạ lùng bằng đôi mắt sẫm tối. Một lát sau lui ra, để lại trong lòng tôi một ngọn lửa hy vọng muôn màu và niềm tin diễm phúc rằng từ nay, với sự giúp đỡ thân ái của nàng, tôi sẽ mọc cánh bay bổng lên thế giới của những tình cảm và tư tưởng khác.
Mấy hôm sau tôi ngồi trên một cánh đồng, bên bờ một cái vực. ở phía dưới, trong các bụi rậm, gió thổi rì rào. Bầu trời xám xịt hứa hẹn một trận mưa. Bằng những lời lẽ đứng đắn, khô khan, người đàn bà ấy nói về sự cách biệt tuổi tác giữa chúng tôi, phân trần rằng tôi còn phải học, mà bây giờ lại đeo trên cổ một người vợ với một đứa con thì quá sớm. Tất cả những điều đó đều đúng một cách khó cãi lại, đều được nói ra bằng cái giọng của một người mẹ, lại càng khiến tôi yêu thêm, kính trọng thêm người đàn bà đáng yêu ấy. Tôi có một cảm giác buồn bã và dịu ngọt trong lòng khi nghe giọng nói, những lời lẽ đằm thắm của nàng. Đây là lần đầu tiên người ta nói năng với tôi như vậy.
Tôi nhìn xuống đáy vực, nơi những bụi cây ngã nghiêng trước gió chảy thành một dòng sông xanh, và thầm tuyên hệ với lòng mình là sẽ đem hết sức lực của tâm hồn ra đền đáp lại mối tình trìu mến của con người này.
- Trước khi quyết định một việc gì, ta cần phi nghĩ cho kỹ, - tôi nghe thấy một giọng nói nhỏ nhẹ. Nàng đang cầm một nhánh cây dẻ bứt lúc nãy quất quất lên đầu gối, mắt nhìn về phía thành phố nấp sau những khu vườn xanh um nằm vắt trên mấy ngọn đồi.
- Dĩ nhiên tôi phẩi nói chuyện với Bôlexlap. Ông ấy đã cảm thấy có một cái gì, và đã bắt đầu có những thái độ rất thiếu tự chủ. Mà tôi thì không thích những tấn kịch gia đình.
Tất cả những điều đó đều rất buồn và rất hay ho, nhưng hóa ra giữa lúc này vẫn không thể thiếu được một cái gì dung tục và buồn cười.
Chiếc quần tôi đang mặc vốn rộng lưng, tôi phải cài vào thắt lưng một cái kim găm bằng đồng dài không ba phân (bây giờ không thấy có những thứ kim găm như vậy nữa: âu cũng là một điều may cho những kẻ si tình nghèo túng). Cái đầu nhọn của chiếc kim găm đáng nguyền rủa ấy luôn luôn cào khe khẽ vào da tôi. Một động tác bất cẩn - thế là cả chiếc kim găm đâm tuột vào sườn tôi. Tôi đã tìm cách rút nó ra được một cách kín đáo, nhưng tôi kinh hãi nhận thấy rằng từ cái vết đâm khá sâu ấy máu chảy ra rất nhiều, ướt cả cái quần. Tôi không mặc đồ lót, mà cái áo vét đầu bếp thì chỉ xuống đến ngang thắt lưng. Làm thế nào đứng dậy mà đi được với một cái quần ướt dính bết vào người như thế?
Hiểu rõ tính chất hài hước của tình thế, căm phẫn sâu sắc vì cái dạng phàm tục của nó, trong cơn kích động dữ dội, tôi bắt đầu nói huyên thuyên với cái giọng thiếu tự nhiên của một anh kép hát trót quên mất vở.
Ngồi nghe tôi nói được mấy phút, lúc đầu thì chăm chú, sau đó thì ngỡ ngàng rõ rệt, nàng nói:
- Sao anh nói năng khoa trương thế? Anh bỗng dưng đâm ra lạ quá!
Câu nói đó làm cho tôi hoàn toàn mất trí, và tôi im bặt như bị ai chẹn cổ.
- Ta về đi thôi, sắp mưa rồi!
- Tôi ở lại đây.
- Tại sao?
Tôi biết trả lời nàng ra sao bây giờ?
- Anh giận tôi à? - Nàng hỏi, đôi mắt dịu hiền nhìn chăm chú vào mặt tôi.
- ồ không! Giận mình thì có.
- Giận mình cũng không nên, - nàng đứng dậy, khuyên tôi.
Còn tôi thì không thể nào đứng dậy được. Ngồi trong vũng nước âm ấm, tôi có cảm giác là máu của tôi từ chỗ thủng bên sườn đang tuôn ra róc rách như một dòng suối, chỉ một vài giây nữa là người đàn bà ấy sẽ nghe tiếng róc rách này và sẽ hỏi:
“Cái gì thế?
“Đi đi!” - Tôi thầm van ln nàng trong ý nghĩ.
Nàng độ lượng bố thí thêm cho tôi mấy lời âu yếm nữa rồi bỏ đi, men theo bờ vực, người đung đưa một cách duyên dáng trên đôi chân thon thả. Tôi nhìn theo cái bóng dáng mềm mại của nàng đang xa dần, nhỏ dần lại, rồi nằm lăn ra đất, chợt choáng người đi vì vừa vỡ nhẽ ra rằng mối tình đầu của mình sẽ là một mối tình bất hạnh.
Dĩ nhiên, sự việc đã diễn ra đúng như vậy: ông chồng của nàng tuôn ra một dòng lệ rộng thênh thang hòa lẫn những giọt nước bọt chan chứa tình cm, những lời lẽ não lòng, và nàng đã không nỡ bi sang phía tôi qua cái dòng thác dính như hồ ấy.
- Ông ấy tội nghiệp lắm, còn anh thì mạnh mẽ thế kia! - Nàng nói, nước mắt rưng rưng. - Ông ấy bảo tôi: “Nếu em bỏ anh mà đi, anh sẽ chết tàn chết lụi như bông hoa không có mặt trời...”
Tôi cười phá lên, khi nhớ lại đôi chân ngắn cũn cỡn, hai cái đùi đàn bà, cái bụng tròn như qu bí ngô của cái bông hoa ấy. Râu ông ta là ni trú ngụ của ruồi, ở đấy bao giờ cũng có thức ăn cho chúng.
Nàng mỉm cười nhận xét:
- Phi, nói thế nghe cũng thật buồn cười, nhưng dù sao cũng khổ thân ông ấy lắm.
- Tôi cũng thế.
- ồ, anh còn trẻ, anh có sức...
Hình như đây là lần đầu tiên tôi cảm thấy mình là kẻ thù của những kẻ yếu. Về sau, vào những dịp nghiêm trang hơn, tôi đã nhiều lần quan sát thấy rõ những kẻ mạnh bất lực một cách bi đát nhường nào giữa những kẻ yếu, thấy rõ bao nhiêu tinh lực vô cùng quý báu của con tim và khối óc bị tiêu phí để kéo dài sự tồn tại của những kẻ đã bị thiên nhiên lên án tử hình.
ít lâu sau, ốm dở, trong một tình trạng rất gần gũi với sự điên rồ, tôi bỏ thành phố ra đi và gần suốt hai năm tôi vật vờ trên các đường trường của nước Nga như một bông hoa cù gai. Tôi đi khắp miền sôngVonga, sông Đông, miền Ukrain, miền Krưm, miền Kapkaz, thể nghiệm vô số những ấn tượng, những biến cố khác nhau, trở nên thô lỗ, tâm trạng hằn học càng tăng, nhưng tôi vẫn giữ nguyên vẹn trong tâm hồn cái hình nh yêu kiều của người đàn bà ấy, mặc dầu tôi đã gặp những người đẹp hn, tốt hn và thông minh hn nàng nhiều.
Và hn hai năm sau, vào một ngày thu ở Tiflix, khi có người nói với tôi rằng nàng vừa ở Pari về và rất mừng khi được biết rằng tôi đang ở cùng một thành phố với nàng, tôi, một thằng thanh niên hai mưi ba tuổi khỏe như vâm, lần đầu tiên trong đời đã ngất đi.
Tôi không dám đến nhà nàng, nhưng chẳng bao lâu chính nàng, thông qua những người quen biết, đã mời tôi đến.
Tôi thấy nàng hình như còn đẹp hn và đáng yêu hơn trước. Vẫn cái bóng dáng thiếu nữ ấy, vẫn đôi má đỏ ửng mịn màng ấy và vẫn tia sáng êm dịu ấy của đôi mắt màu thiên thanh. Chồng nàng ở lại Pháp, nàng chỉ đem theo đứa con gái, láu lỉnh và duyên dáng như một chú dê non.
Khi tôi đến nhà nàng, một trận bão đang tràn qua thành phố, sấm chớp ầm ầm, mưa trút xuống rào rào trên đường phố, từ trên ngọn núi Thánh Đavit đổ xuống một dòng thác mãnh liệt xói bật những phiến đá lát đường lên. Tiếng gió rú, tiếng nước vỗ giận dữ, tiếng những vật gì sụt lở rầm rầm làm rung chuyển c ngôi nhà, gian phòng phút phút lại lóe sáng lên trong một ánh lửa xanh lè, và có thể tưởng chừng như mọi vật xung quanh đều đã ri vào một vực thẳm ướt át, không đáy.
Con bé sợ quá chui tuột vào trong đống chăn, còn hai chúng tôi ra đứng bên cửa sổ, mắt quáng lòa vì những tia chớp, và không hiểu tại sao lại nói chuyện thì thầm.
- Đây là lần đầu tiên tôi được trông thấy một cn giông như thế này, - giọng nói của người đàn bà yêu dấu thánh thót bên tai tôi.
Rồi bỗng nhiên nàng hỏi:
- Thế nào rồi, anh đã khỏi cái bệnh yêu tôi chưa?
- Chưa.
Nàng hình như ngạc nhiên, và vẫn thì thầm, nàng nói:
- Trời ơi, anh thay đổi nhiều quá! Một người khác hẳn.
Nàng từ từ buông mình xuống chiếc ghế bành bên cửa sổ, giật mình và nheo đôi mi lại, chói mắt vì một ánh chớp khủng khiếp và thì thào:
- ở đây người ta nói nhiều đến anh. Anh đến đây ở để làm gì? Anh kể cho tôi nghe đi: thời gian qua anh sống ra sao?
Trời ơi, sao nàng bé bỏng và xinh đẹp đến thế?
Tôi kể cho nàng nghe đến nửa đêm, như thể tự thú. Những hiện tượng dữ dội của thiên nhiên bao giờ cũng có tác dụng kích thích tôi, làm cho tâm hồn tôi tràn đầy một niềm vui dào dạt. Chắc hẳn tôi kể khá hay - tôi tin chắc như vậy khi thấy sự chăm chú của nàng và cái nhìn căng thẳng của đôi mắt mở rộng. Chỉ thỉnh thoảng nàng mới thì thào:
- Thế thì khủng khiếp quá.
Khi ra về, tôi nhận thấy nàng từ giã tôi không phi với cái nụ cười bao dung của người lớn tuổi hn, cái nụ cười trước kia bao giờ cũng làm cho tôi hi phật lòng. Tôi đi trên những đường phố ướt át, ngắm vành trăng lỡi liềm nhọn hoắt cắt đứt những đám mây rách tả tơi, và thấy đầu choáng váng vì vui mừng. Hôm sau tôi gửi qua bưu điện cho nàng một bài thơ. Về sau nàng hay đem nó ra ngâm, cho nên nó đã ghi sâu vào ký ức của tôi:
Thưa quý nưng!
Để có được một lời âu yếm
Một khóe nhìn êm dịu của nàng
Nhà ảo thuật nộp mình làm nô lệ:
Hắn tinh thông một nghề thú vị
Từ những chuyện vặt, từ hư không
Hắn biết đúc thành những niềm vui nhỏ!
Nàng hãy nhận tên tiểu nô vui vẻ!
Biết đâu từ những niềm vui nhỏ bé
Hắn chẳng tạo nên hạnh phúc lớn lao
Cả vũ trụ này, chẳng phải đó sao:
Sinh ra từ những tế bào cỏn con?
Vâng!
Thế giới sinh ra vốn sẵn buồn,
Niềm vui đã hiếm lại đau thưng,
Nhưng cũng khá nhiều trò ngộ nghĩnh:
Như kẻ tôi đòi của Quý nương.
Lại cũng có một cái gì tuyệt mỹ,
Đó chính là Nàng, hỡi Quý nương
Nàng!
Nhưng hãy lặng im!
Có nghĩa gì đâu những chữ cùn
Khi đem so với tấm lòng em?
Trái tim em: đóa hoa đẹp nhất
Trên trái đất này vốn rất nghèo hoa.
Dĩ nhiên những câu này khó lòng có thể gọi là thơ ca được nhưng nó đã được viết ra trong một phút hân hoan chân thành.
Giờ đây tôi lại ngồi trước mặt con người mà tôi cho là tốt nhất đời, cho nên tôi không thể nào thiếu được. Nàng mặc một chiếc áo dài màu thiên thanh; không che mờ những đường nét thanh tú của hình dáng nàng, nó phủ lên người nàng một làn mây mềm mại, thm tho. Nàng vừa nghịch hai cái ngù nhỏ ở dây thắt lưng vừa nói với tôi những lời lẽ phi thường; tôi theo dõi những cử động của mấy ngón tay nhỏ nhắn móng hồng của nàng và cm thấy mình là một cây vĩ cầm đang được một nhạc sĩ điêu luyện âu yếm lên dây. Tôi muốn chết đi, tôi muốn làm cách nào hít thở người đàn bà ấy vào tâm hồn mình, để cho nàng vĩnh viễn ở lại trong ấy. Thân thể tôi hát lên trong một trạng thái căng thẳng ngây ngất mãnh liệt đến đau nhức lên, và tôi có cm giác như tim mình sắp nổ tung.
Tôi đọc cho nàng nghe mẩu truyện ngắn đầu tay của tôi vừa mới in xong, nhưng tôi không nhớ nàng đánh giá nó ra sao. Hình như nàng ngạc nhiên:
- Ô, thế ra anh bắt đầu viết văn xuôi rồi à?
Như trong giấc mộng tôi nghe văng vẳng từ một nơi nào xa lắm:
- Mấy năm qua tôi nghĩ đến anh rất nhiều. Ch nhẽ vì tôi mà anh đã phải trải qua nhiều phen khổ i như thế?
Tôi nói với nàng những gì gì, đại ý là trong cái thế giới có nàng sống không có cái gì là khổ i và đáng sợ hết.
- Anh đáng yêu thật.
Tôi muốn ôm lấy nàng quá chừng, nhưng hai tay tôi nó dài lêu nghêu một cách ngu xuẩn và nặng nề một cách kỳ quặc, tôi không dám động đến người nàng, sợ làm nàng đau. Tôi đứng trước mặt nàng, và người lo đo dưới những chấn động ào ạt của trái tim, tôi ấp úng:
- Cô sống với tôi nhé. Cô ơi, cô sống với tôi nhé!
Nàng cười khe khẽ và... thẹn thùng chăng? Đôi mắt đáng yêu của nàng ánh lên sáng lòa. Nàng bỏ ra góc phòng và đứng đấy nói vọng về:
- Bây giờ thế này nhé: anh đi Nigini, tôi sẽ ở lại đây. Tôi sẽ suy nghĩ, rồi viết thư cho anh...
Kính cẩn cúi chào nàng như nhân vật chính của một cuốn tiểu thuyết nào đấy đã từng làm, tôi ra về, bước lơ lửng trên không trung.
Sang mùa đông nàng đem con gái về Nigini ở với tôi. “Vợ chồng nghèo cưới nhau - đêm qua rất mau” trí tuệ của dân gian đã nói một cách ngạo nghễ và buồn rầu như vậy. Tôi đã được kiểm nghiệm qua bn thân cái chân lý sâu xa của câu tục ngữ này.
Chúng tôi thuê với giá hai rúp một tháng một ngôi nhà riêng - một ngôi nhà cũ trong vườn một ông linh mục. Tôi dọn chỗ ở trong căn phòng mắc áo, còn vợ tôi ở ngay trong buồng tắm, cũng kiêm luôn cả phòng khách. Cái biệt thự ấy không lấy gì làm thích hợp với cuộc sống gia đình. Trong các góc nhà và ở những chỗ nối vách hơi ẩm đóng băng lại. Đêm đêm ngồi làm việc, tôi có được bao nhiêu áo quần đều đem trùm lên người hết và đắp thêm ra ngoài cả một tấm thảm, ấy thế mà vẫn sinh chứng tê thấp khá nặng. Đó là một điều gần như siêu tự nhiên vì hồi ấy tôi có một sức khỏe và một sức chịu đựng phi thường mà tôi vẫn lấy làm tự hào.
Trong phòng tắm ấm hn, nhưng khi tôi đốt lò sưởi lên thì khắp ngôi nhà ở của chúng tôi tràn ngập cái mùi ngột ngạt của gỗ mục, của xà phòng và của chổi tắm hi. Con bé của chúng tôi, một con búp bê bằng sứ xinh đẹp, có đôi mắt diệu kỳ, đứng ngồi không yên: nó nhức đầu vì mùi ấy.
Sang mùa xuân thì nhện và bọ đất bắt đầu lũ lượt đến thăm ngôi nhà tắm. Hai mẹ con sợ chúng đến khiếp đi; tôi phải lấy giày cao su giết bọ. Quanh mấy khung cửa sổ nhỏ mọc dày những bụi điền thanh và phúc bồn tử đã hóa dại, trong phòng bao giờ cũng tối mờ mờ, thế mà ông linh mục nghiện rượu dở hi không chịu cho tôi nhổ hay ít ra cũng xén bớt những bụi cây ấy đi.
Dĩ nhiên, lẽ ra cũng có thể tìm một chỗ ở tiện nghi hơn, nhưng chúng tôi trót mắc nợ ông linh mục, mà ông ta lại rất thích tôi nên không chịu để cho chúng tôi đi ni khác.
- Ông bà sẽ quen đi! - Ông ta nói. - Nếu không thì ông cứ trả nợ cho tôi và muốn đi đâu thì đi, đi sang mà ở với người Anh cũng được.
Ông ta không thích người Anh. Ông khẳng định:
- Đó là một dân tộc lười biếng, nó chưa hề phát minh được một cái gì ngoài trò chi bài “kiên nhẫn”, và không biết cách đánh giặc.
Ông ta có một thân hình to lớn lạ thường, một cái mặt tròn đỏ ối và một bộ râu đỏ xòe rộng, ông ta rượu chè be bét đến nỗi không thể làm lễ ở nhà thờ được nữa và chết mê mệt vì một chị thợ khâu mũi nhọn, da đen, trông giống như con quạ.
Kể lại cho tôi nghe những trò xỏ xiên của cô ta, ông lấy lòng bàn tay hất mấy giọt lệ đọng trên bộ râu và nói:
- Tôi rất hiểu cô ta là đồ vô lại, nhưng cô ta khiến tôi nhớ lại bà thánh tuẫn đạo Phimiama vĩ đại, vì thế mà tôi yêu cô ta!
Tôi đã tra cứu kỹ danh sách của thánh - không làm gì có bà thánh nào tên như vậy c.
Công phẫn trước thái độ vô thần của tôi, ông tìm cách lay chuyển tâm hồn tôi bằng những luận chứng bênh vực đức tin như sau:
- Anh bạn trẻ ạ, anh hãy nhìn vấn đề này một cách thiết thực; người vô thần thì có độ mấy chục, còn người tin đạo thì có đến hàng triệu! Tại sao như vậy? Tại vì cũng như con cá này không thể sống ngoài nước, thì linh hồn cũng không thể sống ngoài giáo hội. Anh đã chịu chưa? Nhân dịp này, ta hãy cạn chén!
- Tôi không uống rượu, tôi bị tê thấp.
Xóc nĩa vào miệng cá quả, ông gi nó lên cao, vẻ dọa nạt, và nói:
- Cả cái đó cũng vì thiếu đức tin mà ra!
Tôi thấy xấu hổ quá chừng trước mặt vợ tôi về cái nhà tắm ấy, xấu hổ đến mất ngủ, về nỗi thường không mua được thịt ăn, không mua được đồ chi cho con bé, về tất cả cái cảnh bần cùng khốn kiếp, mai mỉa này. Bần cùng là một cái tệ, nó không làm cho bn thân tôi ngượng ngùng và day dứt, nhưng đối với cô nữ thanh lịch ấy và nhất là đối với con gái nàng, cuộc sống này thật là nhục nhã, khốn nạn.
Đêm đêm, ngồi vào bàn trong cái xó riêng của mình chép lại những đn kiện, đn kháng cáo và đn chống án, hay nặn ra những truyện ngắn, tôi nghiến răng ken két và nguyền rủa mình, nguyền rủa người, nguyền rủa số phận, nguyền rủa tình yêu.
Nàng cư xử rất đại lượng, như một người mẹ không muốn cho con trai mình thấy mình khổ sở. Không hề nghe thấy từ miệng nàng thốt ra một lời than phiền nào về cnh sống hèn hạ này; hoàn cảnh càng khó khăn bao nhiêu giọng nói của nàng càng thanh thản, tiếng cười của nàng càng vui vẻ bấy nhiêu. Từ sáng đến tối nàng vẽ chân dung những ông linh mục và các bà vợ quá cố của họ, vẽ địa đồ các huyện: nhờ mấy bn địa đồ này mà hội đồng nông phố đã được thưởng huy chưng vàng trong một cuộc triển lãm nào đấy. Và khi không còn mấy ai đặt vẽ truyền thần nữa, nàng thu nhặt những mụn vi linh tinh, những cọng rm và những mẩy dây điện kết thành những chiếc mũ kiểu Pari mốt nhất cho các cô các bà ở phố chúng tôi. Tôi không hiểu biết chút gì về các thứ mũ của phụ nữ, nhưng hiển nhiên là trong đó có che đậy một cái gì hết sức khôi hài, - người thợ mũ của tôi mỗi khi đứng trước gưng ướm thử cái món phục sức huyền hoặc do tay mình làm ra, đều cười lăn lóc, tưởng đến ngạt thở. Nhưng tôi nhận thấy những chiếc mũ này có một nh hưởng kỳ lạ đối với khách hàng: sau khi đã phục sức cho cái đầu của mình bằng những thứ ổ gà ngũ sắc ấy, họ đi khệnh khạng trên đường phố, ưỡn bụng ra một cách đặc biệt kiêu hãnh.
Tôi nhận việc của một ông trạng sư và viết truyện ngắn cho tờ báo địa phưng với số nhuận bút hai cô-pếch một dòng. Tối tối, sau bữa dùng trà, nếu nhà chúng tôi không có khách, vợ tôi kể cho tôi nghe những mẩu chuyện thú vị về những chuyến đến thăm của sa hoàng Alecxanđr Đệ nhị ở học viện nữ sinh Belôxtôc: ngài ban phát cho các thiếu nữ quý tộc những chiếc kẹo gì mà sau khi ăn vào thì một số nữ sinh bỗng dưng có mang một cách thần kỳ và thỉnh thong một nữ sinh xinh đẹp nào đó lại biến mất trong khi đi săn với hoàng thượng ở khu rừng Belovega, rồi sau đó đi lấy chồng ở Pêtecbua.
Nưng tử của tôi kể cho tôi nghe những chuyện rất hấp dẫn về Pari: tôi đã được biết Pari qua sách vở, đặc biệt là cuốn sách rất đứng đắn của Măcxim Đuycăng, còn nàng thì đã tìm hiểu Pari qua những quán rượu ở Môngmactr và cuộc sống nhộn nhịp ở khu La-tinh. Những câu chuyện này còn khích động tôi mạnh hn c rượu vang, và tôi ngồi sáng tác những bài tụng thi ca tụng người phụ nữ, cm thấy rằng chính nhờ sức mạnh của tình yêu đối với họ mà người ta đã sáng tạo được tất cả những gì đẹp đẽ trên đời.
Những câu chuyện hấp dẫn tôi và làm cho tôi thích thú hơn cả là những câu chuyện kể lại những cuộc tình duyên mà bản thân nàng đã sống qua. Nàng nói đến những chuyện đó một cách lý thú lạ lùng, và với một sự chân thành đôi khi khiến cho tôi hết sức lúng túng. Bằng một giọng bông đùa, với những từ ngữ nhẹ nhàng như những nét vẽ của một cây bút chì gọt rất nhọn, nàng gợi lên hình nh hài hước của vị tướng xưa kia đã từng là vị hôn phu của nàng - trót bắn vào con bò tót trước cả sa hoàng, ông ta quát với theo con bò bị thưng:
- Xin hoàng thượng xá lỗi cho!
Nàng kể chuyện về những người lưu vong Nga, và bao giờ trong những lời lẽ của nàng tôi cũng thấy nàng che giấu một nụ cười khoan dung đối với con người. Đôi khi sự thành thực của nàng đi xa đến mức chuyển thành một sự trâng tráo ngây th: nàng khoái trá liếm môi với cái lưỡi nhọn và hồng như lưỡi mèo, và mắt nàng ánh lên một tia sáng đặc biệt. Đôi khi tôi có cảm giác trong đôi mắt ấy thoáng hiện ý kinh tởm, nhưng thường thường thì tôi thấy nàng chỉ là một cô bé mi chi búp bê mà thôi.
Có một lần nàng nói:
- Một người đàn ông Nga si tình bao giờ cũng hơi lắm lời và hơi nặng nề, nhiều khi lại còn ăn nói quá hoa mỹ đâm khó chịu. Chỉ có người Pháp mới biết yêu một cách đẹp đẽ, đối với họ tình yêu hầu như là một tôn giáo.
Sau lần ấy, tôi bất giác bắt đầu cư xử với nàng một cách dè dặt hơn và nương nhẹ nàng hơn.
Về phụ nữ Pháp nàng có lần nói:
- ở họ không phải bao giờ cũng có được một tình cảm tha thiết, đắm đuối, nhưng họ thay thế cái đó một cách rất đích đáng bằng một tính hiếu cm vui tươi, được phát triển một cách tinh vi, tình yêu đối với họ là một nghệ thuật.
Nàng nói những điều đó một cách rất nghiêm trang, giọng như cô giáo. Đó không hẳn là những tri thức mà tôi đang cần, nhưng dù sao đó cũng là những tri thức, nên tôi nghe nàng một cách ham hố.
- Giữa đàn bà Nga và đàn bà Pháp có lẽ cũng có một sự khác nhau như những trái cây với những chiếc kẹo hoa qu, - nàng nói điều này trong một đêm trăng, ngồi dưới một giàn hoa ở trong vườn.
Bn thân nàng cũng là một chiếc kẹo. Nàng hết sức ngạc nhiên khi, vào những ngày đầu chung sống với nhau, tôi trình bày, dĩ nhiên là một cách say sưa, cho nàng rõ những quan niệm lãng mạn của tôi về quan hệ nam nữ.
- Anh nói thật đấy à? Anh nghĩ như thế thật à? - Nàng hỏi. Lúc bấy giờ nàng đang nằm trên tay tôi, dưới ánh trăng xanh mờ mờ.
Tấm thân trắng hồng của nàng trông như trong suốt, và tỏa ra mùi hưng hăng hắc, say nồng của hạnh nhân. Mấy ngón tay thanh tú của nàng lơ đãng nghịch bờm tóc của tôi, và nàng nhìn vào mặt tôi với đôi mắt mở to có chiều lo lắng, miệng mỉm cười ngờ vực.
- Ô, trời ơi! - Nàng thốt lên, nhy xuống sàn và bắt đầu trầm ngâm bước trong căn phòng từ chỗ sáng vào bóng tối, làn da mịn như nhung của nàng ánh lên dưới trăng, đôi chân để trần chạm lên sàn không một tiếng động. Rồi nàng lại đến cạnh tôi, đưa hai bàn tay vuốt má tôi và nói với cái giọng của một người mẹ:
- Lẽ ra anh phải bắt đầu cuộc đời với một thiếu nữ, phi, đúng thế! Chứ không phi với tôi...
Khi tôi cầm lấy hai tay nàng, nàng khóc và nói khe khẽ:
- Anh cũng biết tôi yêu anh đến thế nào, phi không? Tôi chưa bao giờ vui sướng được như với anh, thật đấy, anh phải tin như vậy! Tôi chưa bao giờ yêu một cách tha thiết và đằm thắm như thế này, với một cõi lòng nhẹ nhõm như thế này. Với anh tôi thấy thích lạ lùng, ấy thế nhưng tôi cũng phi nói rằng chúng mình đã lầm: tôi không phi là người yêu anh cần có, không phải! Tôi đã lầm.
Không hiểu nổi nàng, tôi đâm hong và vội vàng trấn áp tâm trạng của nàng bằng niềm vui ái ân. Nhưng dù sao những lời lẽ kỳ dị này cũng vẫn đọng lại trong ký ức của tôi. Mấy ngày sau, qua những giọt nước mắt hân hoan, nàng lại rầu rĩ nhắc lại những lời ấy:
- Ôi, giá tôi là một thiếu nữ!...
Tôi còn nhớ đêm hôm ấy có cơn bão tuyết đang lồng lộn ngoài vườn, những cành điền thanh bị gió xô nghiêng gõ canh cách vào kính cửa sổ, gió lùa vào ống lò sưởi rú rít lên như một con chó sói, trong phòng chúng tôi tối tăm, lạnh lẽo, những tấm giấy dán tường tróc hồ kêu sột soạt.
Kiếm dôi ra được dăm rúp, chúng tôi mời mấy người quen đến và tổ chức những bữa ăn tối linh đình: chúng tôi ăn thịt uống rượu vôtka và bia, ăn bánh ngọt và nói chung là tha hồ hưởng lạc. Cô gái Pari của tôi vốn xưa nay rất háu ăn. Nàng rất thích các món ăn Nga: món “xut-súc” - tức món dạ dày bò nhồi bột tiểu mạch hấp và mỡ ngỗng, pa-tê trộn mỡ cá và thịt cá trê, xúp khoai tây hầm với thịt cừu.
Nàng tổ chức ra một hội gọi là “Hội của những cái bụng háu đói” gồm độ một chục người thích ăn uống no say, có những tri thức mỹ học tinh tế và nói không biết chán mồm về những bí quyết ngon lành của nghệ thuật nấu ăn. Riêng tôi thì tôi quan tâm đến những điều bí ẩn thuộc một lĩnh vực khác, ăn rất ít, và quá trình hấp thụ các chất dinh dưỡng không có nhu cầu mỹ học của tôi, nó nằm ở bên ngoài những nhu cầu mỹ học của tôi.
- Đó là những con người rỗng tuếch! - Tôi nói về những cái “Bụng háu đói” như vậy.
- Cũng như bất cứ người nào, nếu đem lay cho kỹ, - nàng tr lời, - Hain có nói: “Tất cả chúng ta đều ra đường trần truồng dưới bộ cánh của chúng ta!”.
Những câu danh ngôn có giọng hoài nghi thì nàng biết rất nhiều, nhưng tôi có cm giác là không phải bao giờ nàng cũng sử dụng nó một cách đúng chỗ và đúng lúc.
Nàng rất thích “lay” những kẻ đồng loại nam giới, và nàng làm việc đó một cách khá dễ dàng. Lúc nào cũng vui tưi, dí dỏm, mềm mại như con rắn, nàng nhanh chóng nhen nhóm lên quanh mình một không khí sôi nổi rộn ràng, khích động những cm xúc không lấy gì làm cao cấp lắm. Một người chỉ cần nói chuyện với nàng mấy phút là tai đã đỏ ửng lên, rồi một lát sau lại chuyển sang màu tía, đôi mắt thì ướt ra, ngây ngất, nhìn nàng hệt như một con dê nhìn cái bắp ci.
- Một người đàn bà có nam châm! - Một ông phó chưởng bạ trầm trồ thốt lên như vậy. Đó là một anh chàng quý tộc bất đắc chí có những cái mụn cm như Đmitry Tiếm vị và cái bụng to như một cái chóp nhà thờ.
Một anh học trò cao đẳng ở Yarôxlap có bộ tóc vàng nhạt làm th tặng nàng - bao giờ cũng theo thể đắc-tin.
Tôi thấy những bài th của anh ta rất khó ngửi, còn nàng thì mỗi lần đọc thơ lại cười phá lên chảy cả nước mắt.
- Cô kích họ như vậy để làm gì? - Tôi hỏi.
- Trò ấy cũng thú như đi câu cá măng ấy. Như thế gọi là làm dáng. Không có một người đàn bà biết tự trọng nào lại không thích làm dáng.
Đôi khi nàng mỉm cười nhìn vào tận mắt tôi, hỏi:
- Anh ghen à?
Không, tôi không ghen, nhưng những trò này cũng có quấy rối cuộc sống của tôi ít nhiều, tôi không thích những kẻ dung tục. Tôi vốn vui tính và biết rằng tiếng cười là cái thuộc tính tốt đẹp nhất của con người. Tôi coi những chú hề ở rạp xiếc, những nhà trào phúng ở các sân khấu ngoài trời và những diễn viên hài kịch ở nhà hát là những kẻ bất tài, và đinh ninh rằng giá tôi làm trò thì công chúng còn cười nhiều hn. Và qu nhiên đã nhiều lần làm cho khách khứa cười đến đau cả hai mạng sườn.
- Trời ơi! - Nàng trầm trồ thán phục. - Lẽ ra anh có thể là một diễn viên hài kịch đại tài! Lên sân khấu đi anh ạ, lên đi!
Bn thân nàng cũng thu được nhiều kết quả trong những buổi diễn kịch nghiệp dư, và đã có nhiều ông bầu hạng đứng đắn mời nàng lên sân khấu.
- Tôi thích sân khấu nhưng lại sợ hậu trường, - nàng nói.
Nàng là một người chân thực trong những ước vọng, tư tưởng và lời lẽ.
- Anh triết lý nhiều quá, - nàng răn tôi. - Cuộc sống thật ra rất đn gin và thô lỗ; không việc gì phi phức tạp hóa nó lên bằng cách cứ đi tìm cho nó một ý nghĩa gì đặc biệt, chỉ cần tìm cách làm dịu bớt tính chất thô lỗ của nó. Ngoài ra, không thể làm gì hn thế nữa đâu.
Trong cái triết lý của nàng tôi cm thấy có thừa yếu tố phụ khoa, và tôi có cm tưởng là nàng lấy cuốn “Giáo trình sn khoa” làm sách Phúc âm. Chính nàng cũng có kể cho tôi nghe rằng một cuốn sách khoa học nào đó đọc sau khi ra trường đã làm cho nàng choáng váng.
- Là một đứa con gái ngây th, tôi cảm thấy như bị giáng một hòn gạch lên đầu; tôi có cm giác như bị người ném từ trên mây xuống vũng bùn, tôi khóc lên vì thưng tiếc những điều mà tôi không còn có thể tin được nữa, nhưng chẳng bao lâu tôi cm thấy ở dưới chân mình một mnh đất tuy tàn nhẫn, nhưng vững chắc. Tiếc hn c là Thượng đế, trước kia tôi đã cảm thấy Thượng đế rõ ràng, gần gũi biết bao nhiêu, thế mà bỗng nhiên ông ta tan biến đi như khói thuốc lá, và cùng với ông ta cũng tan luôn cả giấc mộng về cảnh thiên đường cực lạc của tình yêu. ấy thế mà chúng tôi trước kia trong Học viện đã nghĩ nhiều biết bao, đã nói đến tình yêu một cách hay ho biết chừng nào!
Cái chủ nghĩa hư vô đậm màu Pari và màu Học viện của nàng có một tác dụng xấu đối với tôi. Có những khi đang đêm tôi rời bàn viết đứng dậy, đến xem nàng ngủ, - trong chăn đệm nàng trông còn bé bỏng hn, thanh tú hn, xinh đẹp hn nữa, - tôi nhìn nàng và xót xa nghĩ đến cái tâm hồn nàng đã bị bẻ cong queo, đến cuộc đời rối ren của nàng, và lòng thưng xót đối với nàng lại càng tăng thêm mối tình của tôi.
Sở thích văn học của hai chúng tôi khác nhau một cách không sao dung hòa được: tôi hân hoan đọc Banzac, Flôbe, còn nàng thì thích Pôn Fêvan, Octav Fiê, Pôn đ Côc và nhất là cuốn Cô gái Girô vợ tôi - mà nàng coi là cuốn sách sắc so nhất; đối với tôi thì cuốn này cũng tẻ nhạt như bộ Hình luật. Tuy vậy, quan hệ giữa hai chúng tôi vẫn rất tốt, chúng tôi không bớt quan tâm đối với nhau, người này vẫn tìm thấy ở người kia những điều lý thú và khát vọng tìm nhau vẫn không phai nhạt. Nhưng sống chung với nhau đến năm thứ ba tôi bắt đầu nhận thấy trong tâm hồn có một cái gì khẽ két lên thành những âm thanh báo hiệu điềm chẳng lành và những tiếng ấy ngày càng to hơn, rõ hơn. Tôi học không ngừng, học một cách háo hức, và bắt đầu say sưa thực sự với việc văn chưng, tôi càng ngày càng cm thấy khách khứa làm phiền mình: đó là những con người chẳng có gì lý thú. Số khách ngày càng tăng, vì hai vợ chồng tôi bắt đầu kiếm được nhiều tiền hn và có thể tổ chức nhiều bữa ăn trưa và ăn tối hn.
Cuộc sống của nàng tựa hồ như một phòng trưng bày người sáp, và vì đàn ông không đeo biển “yêu cầu đừng sờ tay vào” cho nên đôi khi nàng cư xử với họ một cách quá thiếu thận trọng, còn họ thì lý giải sự tò mò của nàng một cách quá ư có lợi cho mình, và trên cơ sở đó đã phát sinh ra những sự hiểu lầm mà tôi buộc lòng phi gii quyết. Đôi khi tôi làm cái việc đó một cách thiếu tự chủ và có lẽ là bao giờ cũng vụng về; người bị tôi xách tai than phiền về tôi:
- Thôi được rồi, tôi xin nhận: tôi có lỗi! Những ai lại véo tai tôi, tôi là thằng con nít hay sao? Tôi nhiều tuổi gần gấp đôi cái thằng cha cục mịch ấy, thế mà hắn lại đi véo tai tôi. Thà hắn đánh tôi lại còn khá chứ!
Rõ ràng là tôi không có được cái nghệ thuật trừng phạt đồng loạt sao cho ăn khớp với tính tự trọng của họ.
Đối với các truyện ngắn của tôi, vợ tôi có một thái độ khá dửng dưng nhưng kể cho đến một thời gian nào đấy điều này tuyệt nhiên không làm tôi phật ý chút nào: hồi ấy chính tôi cũng chưa tin rằng mình có thể là một nhà văn nghiêm túc, tôi coi công việc viết truyện đăng báo của tôi chẳng qua là nguồi phưng tiện sinh sống, mặc dầu đã lắm khi tôi thể nghiệm thấy những đợt triều mãnh liệt của một sự say sưa quên mình kỳ lạ. Nhưng một buổi sáng nọ, khi tôi đem đọc cho nàng nghe truyện Bà lão Ierghin vừa viết xong đêm qua, nàng lăn ra ngủ say như chết. Thoạt phút đầu điều đó không làm tôi chạnh lòng, tôi chỉ ngừng đọc và ngồi nhìn nàng, suy nghĩ mông lung.
Tựa mái đầu nhỏ nhắn mà tôi hằng yêu dấu lên thành tựa của chiếc đi-văng ọp ẹp, miệng hé mở, nàng thở đều đều và êm ái như một đứa trẻ. Qua những cành điền thanh, ánh nắng ban mai rọi vào cửa sổ những vệt nắng vàng, giống như những bông hoa bằng không khí đậu lên ngực và lên đùi nàng.
Tôi đứng dậy và lặng lẽ ra vườn, tim quặn đau vì vết đâm sâu độc của tự ái bị tổn thưng, lòng nặng trĩu dưới mối hoài nghi đối với năng lực của mình.
Qua mỗi quãng đời tôi đã sống, tôi chỉ được nhìn thấy những người phụ nữ trong lao động nặng nề, nô lệ, trong bùn lầy, trong trụy lạc, trong cnh khốn cùng hay trong trạng thái no nê tự mãn, dung tục gần như chết. Tôi chỉ có được một ấn tượng đẹp đẽ của thời th ấu, đó là Nữ hoàng Macgô, nhưng đã có c một dãy núi những ấn tượng khác ngăn cách tôi với hình nh tuyệt vời ấy. Tôi tưởng đâu chuyện cuộc đời Izerghin phải làm cho phụ nữ ưa thích, nó có thể thức tỉnh trong lòng họ tình yêu đối với tự do, đối với cái đẹp. Thế mà người phụ nữ gần gũi tôi nhất lại không hề xúc động trước thiên truyện ngắn của tôi - người ấy ngủ.
Tại sao như vậy? Cái chuông mà cuộc sống đã đúc nên trong lồng ngực tôi không đủ âm vang chăng?
Người đàn bà ấy đã được tiếp nhận vào lòng tôi thay cho một người mẹ. Tôi chờ đợi và tin tưởng rằng nàng có thể cho tôi uống chất mật nồng say, có thể kích thích những tinh lực sáng tạo, tôi chờ đợi nh hưởng của nàng sẽ làm dịu bớt tính thô lỗ mà tôi đã nhiễm phải trên những nẻo đường đời.
Đây là chuyện ba mươi năm về trước, và tôi hồi tưởng lại những điều này với một nụ cười trong tâm hồn. Nhưng vào hồi ấy thì cái quyền không ai dám chối cãi của con người - quyền được ngủ khi nào buồn ngủ đã làm cho tôi rất phiền lòng.
Tôi vẫn tin rằng nếu nói đến chuyện buồn một cách vui vẻ, cái buồn sẽ tan biến đi. Và tôi nghĩ rằng trong vũ trụ có một kẻ tinh quái nào đang hoạt động, thích thưởng ngoạn những nỗi đau khổ của con người; tôi có cảm giác là có một thứ thần linh gì đấy chuyên bày ra những tấn kịch sinh hoạt, phá phách đời sống người ta một cách khéo léo: tôi coi nhà soạn kịch vô hình ấy là kẻ thù riêng của tôi và cố gắng đừng rơi vào cạm bẫy của hắn.
Tôi còn nhớ rằng khi tôi đọc trong cuốn sách của Onđenbua Phật Thích - ca, thân thế, học thuyết và công xã của Người, cái câu “Mọi sự tồn tại đều là đau khổ” đã làm cho tôi hết sức căm phẫn: tôi không được thể nghiệm nhiều những niềm vui của cuộc sống, nhưng tôi vẫn thấy những nỗi thống khổ cay đắng của nó là một sự ngẫu nhiên chứ không phải là một quy luật. Đọc kỹ cái công trình nghiên cứu nghiêm túc của tổng giám mục Khrixanph về '"Tôn giáo phương Đông" tôi càng căm phẫn mà nhận thấy rằng lý thuyết về vũ trụ đặt cơ sở trên sự sợ hãi, chán chường, đau khổ, đối với tôi đều hoàn toàn không thể chấp nhận được. Và sau khi thể nghiệm một cách nặng nề tâm trạng cuồng si tôn giáo, tôi đã thấy tủi giận vì tính chất vô bổ của tâm trạng này. Sự kinh tởm đối với đau khổ đã làm nảy sinh trong tôi một lòng căm thù hữu cơ đối với mọi tấn kịch, và tôi đã học được một nghệ thuật khá công hiệu để biến những tấn kịch đó thành những trò hề ngộ nghĩnh.
Dĩ nhiên, lẽ ra cũng có thể đừng bàn gì đến những chuyện này, bởi vì đó chẳng qua cũng chỉ để nói rằng giữa tôi và người đàn bà ấy đã nảy sinh một “tấn kịch gia đình”, nhưng cả hai chúng tôi đã đồng lòng cản trở sự phát triển của nó. Tôi đã nói triết lý ít nhiều là vì tôi muốn nhắc lại những chặng khúc khuỷu trên con đường mà tôi đã đi qua trong khi tìm kiếm bản thân mình.
Người đàn bà của tôi, bản tính vốn vui tươi, cũng không có khả năng diễn kịch tại gia - một trò chi mà những người Nga thuộc c hai giới, quá nặng về “tâm lý”, vốn dễ mê say.
Nhưng những bài th đắc-tin của anh học trò cao đẳng tóc vàng dù sao cũng đã tác động đến nàng như những giọt mưa thu. Bằng một nét chữ tròn trĩnh, rất đẹp, anh ta nắn nót viết hết tờ giấy viết thư này đến tờ giấy viết thư khác và kín đáo nhét nó vào khắp nơi khắp chốn - trong mấy cuốn sách, trong chiếc mũ, trong cái bình đựng đường. Mỗi lần bắt được những tờ giấy gấp cẩn thận ấy, tôi lại đưa cho vợ, nói:
- Xin nàng tiếp nhận cho sự biểu hiện mới này của mưu toan chiếm đoạt trái tim nàng!
Thoạt tiên những mũi tên bằng giấy của Cupiđôn không có tác dụng gì đối với nàng, nàng đọc cho tôi nghe những bài thơ dài lê thê ấy, và chúng tôi đồng tình cười ha hả mỗi khi gặp những dòng đáng ghi nhớ như:
Ngày đêm ta ở bên nàng,
Bóng nàng trọn vẹn in trong tim này;
Khi nghiêng trán, lúc đưa tay,
Tiếng oanh thỏ thẻ ngất ngây lòng người.
Muốn sao tung cánh khắp trời,
Làm diều hâu lượn quanh người ta yêu.
Nhưng có một lần, sau khi đọc một bn báo cáo như vậy của anh học trò, nàng nói, vẻ trầm ngâm:
- Tôi thấy thương anh ta quá!
Tôi còn nhớ là lúc bấy giờ người mà tôi thưng hại không phi là anh chàng ấy, còn nàng thì từ giờ phút đó không bao giờ đem những bài th đắc-tin đọc to lên nữa.
Nhà thơ ấy là một chàng trai to bề ngang, hn tôi độ bốn tuổi, tính trầm lặng ít nói, rất thích các thứ rượu mạnh và rất giỏi ngồi dai. Đếnn ăn trưa nhân một ngày hội nào đấy vào lúc hai giờ, anh ta có thể ngồi lỳ ra đấy cho đến hai giờ đêm, không một cử động, không nói một câu nào. Cũng như tôi, anh ta làm nghề chép đn từ cho một ông trạng sư, đã nhiều lần làm cho ông chủ hiền lành này phi ngạc nhiên vì tính đãng trí của anh ta, có một thái độ khinh bạc đối với công việc mình làm và thường hay nói với một giọng trầm hơi phều phào:
- Nói chung toàn là những việc vớ vẩn.
- Thế thì việc gì không vỡ vẩn?
- Biết nói thế nào cho anh rõ đây? - Anh ta hỏi, dáng trầm ngâm, đôi mắt xám buồn tẻ ngước lên trần, và không nói gì thêm nữa.
Anh ta tẻ nhạt một cách nặng nề và dường như tr tráo, và điều đó làm cho tôi khó chịu hn c. Anh ta uống rượu rất lâu say; say rồi, anh ta khịt mũi ra chiều mỉa mai. Ngoài ra tôi không thấy có gì đặc biệt ở anh ta nữa, vì theo một quy luật chung thì đứng trên quan điểm của ông chồng, người theo tán tỉnh vợ mình bao giờ cũng là người xấu.
Đâu ở Ukrain có một người bà con giàu cứ mỗi tháng gửi cho anh học trò năm mưi rúp - một món tiền lớn đối với thời bấy giờ. Vào những ngày lễ anh học trò đem kẹo đến tặng vợ tôi, và nhân ngày lễ thánh của nàng đã đem đến tặng một cái đồng hồ báo thức - một gốc cây bằng đồng, ở trên có một con cú đang mổ một con rắn.
Cái khí cụ kh ố này bao giờ cũng đánh thức tôi dậy sớm mất một giờ by phút so với giờ đã định.
Không làm dáng với anh học trò nữa, vợ tôi quay ra đối xử với anh ta với thái độ dịu dàng âu yếm của một người đàn bà cm thấy mình là người đã phá vỡ sự thăng bằng về tinh thần của một người đàn ông. Tôi hỏi: theo ý nàng thì câu chuyện đáng buồn này sẽ kết thúc ra sao?
- Tôi không biết, - nàng đáp, - tôi không có một tình cm gì rõ ràng đối với anh ta, nhưng tôi muốn lay anh ta. Trong anh ta có một cái gì đã ngủ thiếp đi, và hình như tôi có thể thức tỉnh anh ta dậy.
Tôi biết rằng nàng nói rất thật; ai ai nàng cũng cứ muốn thức tỉnh, và trong việc này nàng thành công rất dễ dàng: nàng lay tỉnh kẻ đồng loại, và ở trong hắn ta thức dậy một con vật. Tôi nhắc nàng nhớ đến Xiêcxiê, nhưng điều đó không làm nguội lạnh được cái khát vọng “lay tỉnh” đàn ông, và tôi trông thấy rõ quanh tôi dần dần phát triển một đàn cừu đực, bò đực và lợn đực mỗi ngày một đông đúc.
Những người quen biết rộng lượng kể cho tôi nghe những chuyện truyền thuyết m đạm và đáng kinh dị về sinh hoạt gia đình của tôi, nhưng tôi vốn là người trực tính, thô lỗ: tôi cnh cáo những kẻ sáng tác truyền thuyết:
- Tôi sẽ đánh ông!
Một số người tự thanh minh một cách gi dối; một số ít thì phật lòng, nhưng cũng không phật lòng lắm lắm. Còn vợ tôi thì nói:
- Anh ạ, lỗ mãng chẳng ăn thua gì đâu, chỉ tổ làm cho họ càng nói tệ hn! V lại anh có ghen đâu?
Đúng, tôi còn trẻ, và rất tự tin, cho nên không ghen. Nhưng có những cm xúc, những ý nghĩ và những phỏng đoán mà người ta chỉ có thể nói với người yêu chứ không thể nói với ai nữa hết. Có những giờ phút giao tiếp với người phụ nữ mà người ta trở nên xa lạ đối với bn thân mình và tự bộc lộ mình trước mặt họ như kẻ tín đồ trước mặt Thượng đế. Mỗi khi tôi hình dung rằng tất c những điều đó - những điều rất riêng tư của tôi và chỉ của tôi thôi - nàng có thể đem nói lại với một người nào khác trong một phút thân mật, tôi thấy khổ tâm quá, tôi cm thấy có thể xy ra một cái gì rất giống như sự phn bội. Có lẽ mối lo sợ ấy chính là cội rễ của lòng ghen tuông chăng?
Tôi cm thấy một cuộc sống như thế có thể hất tôi ra khỏi con đường tôi đang đi. Tôi đã bắt đầu nghĩ rằng ngoài văn học ra, tôi không còn có một chỗ đứng nào khác trong cuộc sống nữa. Trong một tình cnh như vậy không thể nào làm việc được.
Sở dĩ tôi không làm toáng lên là vì qua một quá trình sống lăn lộn tôi đã biết thể tất đối với người đời, dù có thế nào tôi vẫn không mất hứng thú, tinh thần hay lòng kính trọng đối với họ. Ngay từ dạo ấy, tôi đã thấy rằng nếu ai ít nhiều cũng đều có tội trước đấng Thượng đế vô danh của chân lý tuyệt đối, còn trước con người thì những kẻ đức độ lại có tội hn c. Những kẻ đức độ là những đứa con ri sinh ra từ sự giao hợp giữa thói xấu với đức hạnh, và sự giao hợp này không phi là sự cưỡng hiếp - thói xấu cưỡng hiếp đức hạnh hay ngược lại cũng thế - mà là hậu qu tự nhiên của cuộc hôn nhân hợp pháp giữa hai bên, trong đó sự tất yếu mỉa mai đóng vai trò ông linh mục. Còn hôn nhân là một phép màu huyền bí khiến cho hai thái cực rõ rệt khi hợp lại với nhau hầu như bao giờ cũng đẻ ra một sự trung bình tẻ nhạt. Hồi ấy tôi rất thích những chuyện ngược đời, như một đứa trẻ thích ăn kem, sự sắc bén của nó kích thích tôi như chất rượu ngon, và tính chất ngược đời trong lời lẽ bao giờ cũng san bằng những sự ngược đời thô bỉ, đáng căm giận của thực tế.
- Có lẽ tôi đi đi thì hn, - tôi nói với vợ.
Sau khi suy nghĩ, nàng ưng thuận:
- Phi! Anh nghĩ đúng! Cuộc sống này không thể hợp với anh được, tôi rất hiểu.
Hai chúng tôi cùng buồn với nhau một ít, lặng lẽ ôm chặt lấy nhau, rồi tôi rời khỏi thành phố, và ít lâu sau nàng cũng ra đi, bắt đầu cuộc đời sân khấu. Câu chuyện mối tình đầu của tôi kết thúc như vậy đấy, - một câu chuyện hay, tuy kết thúc dở.
Cách đây không lâu, người đàn bà đầu tiên của tôi đã chết.
Muốn cho công bằng, tôi phi nói rằng đó là một người đàn bà chân chính! Nàng biết sống bằng những gì mình có được, nhưng mỗi ngày đối với nàng đều là ngày hôm trước của một cuộc vui lớn, lúc nào nàng cũng khấp khởi chờ đợi một ngày mai đây trên trái đất sẽ nở ra những đóa hoa mới lạ, từ những ni no ni nào sẽ có những con người đặc biệt thú vị đến đây, sẽ xy ra những biến cố lạ kỳ.
Có một thái độ ngạo nghễ, gần như khinh miệt đối với những nỗi gian truân của cuộc sống, nàng xua những nỗi gian truân ấy đi như xua muỗi, và bao giờ tâm hồn nàng cũng nhấp nhổm sẵn sàng chờ đón những nỗi kinh ngạc vui mừng. Nhưng đây không còn là niềm hân hoan ngây th của cô nữ sinh, mà là niềm vui sướng khỏe mạnh của một con người ưa thích cái cnh nhộn nhịp lắm màu lắm vẻ của cuộc đời, ưa thích những mối liên hệ rối ren, vừa bi đát vừa hài hước, giữa những con người, ưa thích cái dòng thác của những biến cố nhỏ nhặt loáng thoáng như những hạt bụi trong tia nắng.
Tôi sẽ không nói rằng nàng yêu thưng đồng loại, không; nhưng nàng thích xem xét họ. Đôi khi nàng xúc tiến hay phức tạp hóa sự phát triển của những tấn kịch thường ngày giữa một đôi vợ chồng hay một đôi người yêu, khéo léo kích thích lòng ghen tuông của đôi này, góp phần làm cho đôi kia nhích gần lại với nhau: cái trò chi không khỏi có phần nguy hiểm ấy rất có sức hấp dẫn đối với nàng.
- “Tình yêu và cái đói cai trị thế giới”, còn triết học là cái vạ của thế giới, - nàng nói. - Người ta sống là để mà yêu, đó là sự nghiệp chủ yếu nhất của cuộc sống.
Trong số những người quen của chúng tôi hồi ấy có một ông viên chức nhà ngân hàng quốc gia: người dài ngoẵng, gầy guộc, ông ta có cái dáng đi chậm chạp và long trọng của một con sếu, ăn mặc rất cẩn thận, luôn chăm chú nhìn lại cách trang phục của mình, chốc chốc lại đưa mấy ngón tay khô đét, vàng vọt búng những hạt bụi bám trên bộ quần áo, những hạt bụi mà ngoài ông ta ra không còn ai có thể trông thấy được. Mọi ý nghĩ độc đáo, mọi từ ngữ có màu sắc, đều bị ông thù ghét, đều dường như chói chang đối với ngôn ngữ của ông, vốn nặng nề và chính xác. Ông ta ăn nói chững chạc, oai vệ, và trước khi nói một điều gì, - ông lại đưa mấy ngón tay lạnh lùng vuốt lại bộ ria thưa thớt màu hung.
- Với thời gian, môn hóa học ngày càng có ý nghĩa trọng đại đối với ngành công nghiệp chế biến nguyên liệu. Về phụ nữ, người ta nói họ đỏng đnh là đúng. Giữa người vợ và người nhân tình không có sự khác nhau về sinh lý mà chỉ có sự khác nhau về pháp lý.
Tôi nghiêm chỉnh hỏi vợ:
- Cô có dám khẳng định rằng tất c các ông chưởng bạ đều có cánh không?
Nàng tr lời ngượng ngùng và buồn bã:
- ồ không, tôi không đủ can đm để nói như vậy, nhưng tôi dám khẳng định: cho voi ăn trứng la-coóc là lố bịch.
Ông bạn của chúng tôi nghe cuộc đối thoại này trong khong hai phút, rồi tuyên bố một cách thâm thúy:
- Tôi có cm tưởng rằng ông bà nói những điều này một cách hoàn toàn thiếu nghiêm túc.
Có một hôm cộc đầu gối vào chân bàn rất đau, ông ta nhăn mặt và nói một cách hoàn toàn tin tưởng:
- Tính chất rắn là một thuộc tính không thể chối cãi được của vật chất.
Có bận, sau khi tiễn chân ông ta ra về, hưng phấn và sng khoái, sôi nổi và thanh thn, vợ tôi ng người lên đùi tôi, hỏi:
- Anh xem, ông ta ngu độn một cách toàn vẹn, hoàn chỉnh biết chừng nào. Cái gì cũng ngu, ngay c dáng đi, cử chỉ- cái gì cũng đần độn. Tôi thích ông ta ở chỗ ông ta là một mẫu mực hoàn chỉnh. Anh vuốt má tôi tí!
Nàng rất thích tôi đưa mấy ngón tay, chỉ hi chạm vào da mặt nàng, khẽ vuốt những nếp nhăn hầu như không thể trông thấy được dưới đôi mắt đáng yêu của nàng. Mắt lim dim, người rúm lại như con mèo, nàng gù gù trong cổ:
- Con người ta thật thú vị lạ lùng! Ngay c một con người không có gì lý thú đối với mọi người xung quanh, cũng kích thích trí tò mò của tôi. Tôi muốn dòm vào người đó như dòm vào một cái hộp - nhỡ ra ở đấy có đựng một cái gì chưa có ai để ý thấy, chưa bao giờ đưa ra cho ai xem thì sao? Chỉ có tôi thấy được, tôi là người đầu tiên thấy được.
Những cuộc tìm tòi cái “chưa có ai để ý thấy” ấy của nàng không hề có gì căng thẳng, chật vật, nàng tìm với sự thích thú và háo hức của một đứa trẻ lần đầu tiên lọt vào một căn buồng lạ. Và qu nhiên đôi khi nàng đã nhen nhóm được trong đôi mắt đờ đẫn của một con người tẻ nhạt một cách vô hy vọng cái tia sáng nhạy bén của một ý nghĩ sắc so, nhưng điều thường thấy hn là nàng nhen nhóm lên cái dục vọng lì lợm muốn chiếm hữu nàng.
Nàng rất yêu thích thân thể của mình, và đôi khi, đứng khỏa thân trước tấm gưng, nàng tấm tắc:
- Người đàn bà thật là một công trình tuyệt tác! Sao mà cái gì cũng hài hòa đến thế!
Nàng thường nói:
- Khi tôi mặc đẹp, tôi cm thấy mình khỏe hn, mạnh hn và thông minh hn!
Qu có thế: mặc bộ cánh đẹp vào, nàng vui hẳn lên, trở nên hóm hỉnh khác thường, mắt nàng long lanh một cách đắc thắng. Nàng biết cách may cho mình những chiếc áo đẹp bằng vi hoa, mặc nó như người ta mặc nhung mặc lụa, và tuy trang phục rất đn s, nàng bao giờ cũng có vẻ như diện rất sang. Phụ nữ đều lấy làm hâm mộ những bộ cánh của nàng; dĩ nhiên họ nói điều đó lên không phi bao giờ cũng thành thật, nhưng bao giờ cũng rất ồn ào. Họ ganh tị với nàng, và tôi còn nhớ có một người đã buồn rầu thốt lên:
- Chiếc áo của tôi đắt gấp đôi chiếc áo của chị, nhưng lại xấu gấp mười - thậm chí nhìn chị tôi còn thấy đau và nhục nữa.
Dĩ nhiên phụ nữ không ưa nàng, họ không tiếc lời ngồi lê đôi mách về chúng tôi. Một bà y tá quen biết, rất đẹp, nhưng lại càng thiếu thông minh hn nữa, rộng lượng cnh cáo tôi:
- Người đàn bà ấy sẽ hút hết máu ông!
Tôi đã học được rất nhiều điều trong thời gian sống cạnh người đàn bà đầu tiên của tôi. Nhưng dù sao nỗi tuyệt vọng trước sự cách biệt không sao xóa bỏ được giữa nàng và tôi vẫn làm tôi xót xa đau đớn.
Đối với tôi cuộc sống là một bài tính đố quan trọng. Tôi thấy, tôi nghĩ quá nhiều, tôi sống trong tình trạng lo âu không ngớt, trong tâm hồn tôi có c một mớ vấn đề đang la hét lên thành một bn hợp xướng hỗn hoạn: những vấn đề ấy hoàn toàn xa lạ đối với tâm hồn của người đàn bà tuyệt diệu ấy.
Một hôm ở ngoài chợ có một viên cnh binh đánh đập tàn nhẫn một cụ già rất đẹp lão - một người Do thái chột mắt, vì người này bị buộc tội là ăn cắp một chùm bánh nướng vòng của một lão chủ hiệu nào đấy. Tôi gặp cụ Do thái giữa phố, mình bê bết những đất bụi, ông ta bước đi chầm chậm, với một vẻ trang trọng phi thường, như một nhân vật trong tranh cổ, con mắt đen và to của ông nghiêm nghị nhìn lên bầu trời chói chang trống tri, và từ đôi môi bị đánh dập, máu chy dọc theo chòm râu dài thành từng dòng nhỏ, nhuộm những tia đỏ rực lên chòm râu bạc ph ấy.
Cnh tượng đó đã diễn ra cách đây ba mưi năm, thế mà bây giờ đây tôi vẫn trông thấy hiện rõ mồn một trước mắt cái nhìn hướng lên lên trời chứa chất một lời trách móc thầm lặng, tôi vẫn thấy rõ đôi mày sắc nhọn và bạc trắng rung rung trên gưng mặt cụ già. Những sự lăng nhục đối với con người thật khó lòng quên được, và chớ ai quên những sự lăng nhục đối với con người!
Tôi về nhà, c người rũ rượi hẳn ra, tê dại đi vì xót xa và căm giận. Những ấn tượng như thế nó xô bạt tôi ra ngoài cuộc sống, tôi trở thành một người lạ lạc vào cuộc sống, và để hành hạ con người đó, người ta cố tìm bắt hắn phi chứng kiến tất cả những gì nhơ nhuốc ngu xuẩn, khủng khiếp nhất có thể có được trên thế gian này, tất c những gì có thể nhục mạ tâm hồn con người. Và trong những giờ phút ấy, trong những ngày ấy tôi đã thấy rõ hn bao giờ hết con người gần gũi tôi nhất thật ra xa cách tôi đến chừng nào.
Khi tôi kể cho nàng nghe chuyện cụ già Do thái bị đánh đập, nàng rất ngạc nhiên:
- Hóa ra vì thế mà bây giờ anh như điên như dại đấy à? Ô, thần kinh anh yếu thật!
Rồi nàng hỏi:
- Anh nói là ông ta đẹp lắm à? Nhưng đã chột thì còn đẹp làm sao được?
Bất cứ sự đau khổ nào cũng đều làm cho nàng khó chịu, nàng không thích nghe kể chuyện bất hạnh, th trữ tình hầu như không làm cho nàng xúc động, lòng thưng xót ít khi bừng lên trong trái tim nhỏ bé, vui tươi của nàng. Hai nhà thơ nàng thích nhất là Bêrăng giê và Hainơ - con người vẫn cười trong đau khổ.
Trong thái độ của nàng đối với cuộc sống có một cái gì gần gũi với lòng tin của đứa trẻ đối với cái tài vô hạn của người làm trò quỉ thuật: tất cả những trò đã xem qua đều rất hay, nhưng trò hay nhất vẫn là trò sắp xem. Có lẽ một giờ nữa sẽ được xem trò đó, hay ngày mai, nhưng thế nào rồi cũng được xem!
Tôi nghĩ rằng đến phút lâm chung nàng vẫn còn hy vọng được xem cái trò quỷ thuật cuối cùng, không sao hiểu nổi, tài tình lạ lùng ấy.

1923

Cao Xuân Hạo dịch
Đăng nhập để trả lời
0
Chào Tieuboingoan

Truyện Mối Tình Đầu , CtLy đã mang vào thư viện rồi,
Còn truyện Tây Thi Ct.Ly đang đọc và sửa chánh tả như TBN đã nói,
Xong là Ct.Ly sẽ mang từ từ vào trang thư viện nhé

Cảm ơn TBN đã góp sức với VNTQ nhé
Chúc TBN luôn vui [:)]

Thân Ái
Đăng nhập để trả lời
0


Maka Tsuđra


M. Gorki


Từ biển khi thổi về một làn gió ướt và lạnh truyền đi khắp tho nguyên điệu nhạc trầm ngâm của tiếng sóng xô vào bờ và tiếng thì thầm của cỏ cây miền duyên hi. Thỉnh thong từng cn gió lại cuốn theo những chiếc lá vàng nhăn nheo và hắt nó vào đống lửa, khiến cho ngọn lửa bùng to lên, bóng tối của đêm thu vây quanh chúng tôi chốc chốc lại rùng mình, sợ sệt lùi xa ra, hé mở cho chúng tôi thoáng thấy ở bên trái là cánh tho nguyên mênh mông, bên phi là biển rộng bát ngát và ngay trước mặt tôi là bóng dáng Maka Tsuđra, lão Txưgan già đang chăn bầy ngựa của khu trại du mục ở cách chúng tôi dăm chục bước.
Không hề bận tâm đến những đợt gió lạnh thổi tung hai tà áo để lộ bộ ngực lông lá và phũ phàng quạt vào người, lão chống khuỷu tay nằm nghiêng, tư thế đẹp và khỏe, mặt ngonh về phía tôi rít từng hi đều đặn từ cái tẩu to tướng, rồi phun ra từ mồm và mũi những đám khói dày đặc, mắt đăm đăm nhìn qua đầu tôi vào cái khong tối im phăng phắc của tho nguyên, và cứ thế nói chuyện với tôi thao thao, không hề nhúc nhích để tránh những cn gió thổi dữ dội.
- Thế là anh vẫn đi lang thang hử? Hay lắm! Anh chọn cái kiếp ấy là hay tuyệt đấy, anh bạn ạ. Chính phi thế; đi đây đi đó mà nhìn, mà xem, rồi đến khi nhìn đã chán thì nhắm mắt xuôi tay mà chết - chỉ cần thế thôi!
Lão lắng nghe tôi cãi lại cái câu “chính phi thế” của lão với một vẻ hoài nghi rõ rệt, rồi nói tiếp:
- Cuộc sống ư? Những người khác ư? Hề! Anh cần đếch gì? Chính anh cũng là cuộc sống đấy chứ còn gì? Không có anh người ta vẫn sống và sẽ còn sống nữa. Ch nhẽ anh lại nghĩ rằng có kẻ cần đến anh? Anh chẳng phi là bánh mì, chẳng phi là cái gậy, chẳng ai người ta cần đến anh.
- Anh bo anh học người đời và dạy cho người đời ư? Thế liệu anh có học được cách làm cho người ta sung sướng không? Không đâu, anh chẳng học được đâu. Để cho cái đầu nó bạc đi đã, rồi hẵng nói chuyện dạy người. Mà dạy cái gì? Ai nấy đều biết bn thân người ta cần cái gì. Người khôn thì có được cái gì họ lấy cái ấy, còn người dại thì chẳng nhận được gì ráo với lại ai cũng biết tự mình dạy lấy mình.
- Những con người mà anh nói chuyện đó, họ đến là buồn cười. Họ xúm xít, vón lại thành cục, giẫm c lên nhau, ấy thế mà mặt đất nào có thiếu chỗ đứng? Kìa anh xem, - lão khoát rộng cánh tay chỉ ra tho nguyên. - Và họ cứ làm lụng suốt. Để làm gì? Làm cho ai? Chẳng ai biết hết. Cứ nhìn một người đang cày, ai cũng phi nghĩ: sức hắn toát ra từng giọt theo mồ hôi mà xuống đất cho đến khi cùng kiệt, rồi hắn sẽ nằm xuống đất và tan rữa trong lòng đất. Hắn chết đi thì chẳng còn lại chút gì, hắn chẳng trông thấy gì hết, và khi chết hắn cũng như khi mới sinh ra; chỉ là một thằng ngốc.
- Sao thế nhỉ, hắn sinh ra có phi để xới đất rồi chết mà cũng chẳng có thì giờ để bới cho mình một cái huyệt không? Hắn có biết thế nào là tự do không? Hắn có hiểu được khong rộng bao la của tho nguyên không? Tiếng nói của sóng bể có làm cho lòng hắn vui sướng không? Hắn là thằng tôi mọi ngay từ khi mới lọt lòng, và suốt đời vẫn cái thân hắn đây? Hắn mà khôn lên một chút, thì hắn chỉ có cách thắt cổ mà chết thôi.
- Còn như tôi đây, năm mưi tám năm trời tôi đã trông thấy nhiều điều đến nỗi nếu đem viết ra giấy thì có đến một nghìn cái bị như của anh cũng không chứa hết. Anh tính còn cái xứ sở nào tôi chưa đi qua nữa? Anh không tính xuể được đâu. Mà anh cũng không biết những ni tôi đã từng đến. Sống là phi thế mới được; đi, đi mãi, chỉ có thế thôi. Đừng ở lâu một chỗ, có gì đâu mà xem mãi? Kia anh xem, đêm với ngày cứ nối nhau chạy quanh trái đất không ngừng, mình cũng thế phi chạy mãi cho khỏi nghĩ ngợi về cuộc đời, nếu không sẽ chẳng còn yêu nó được nữa đâu. Hễ nghĩ ngợi, là y như rằng hết yêu đời, xưa nay vẫn thế đấy anh bạn ạ.
- Còn hồi tôi ngồi tù ở Galixtin. Ngồi chán tôi lại ngẫm nghĩ: “Mình sống ở đời để làm gì?” Là vì ngồi tù chán lắm, anh bạn ạ, chán ghê người đi được! Thế là cái buồn nó tràn vào lòng, trong khi tôi nhìn ra cánh đồng qua ô cửa sổ, nó tràn vào và vò nát tim tôi. Có ai nói được mình sống để làm gì? Chẳng có ai nói được đâu, anh bạn ạ! Mà cũng không nên tự hỏi mình cái chuyện ấy, cứ sống đi, có thế thôi. Và hãy đi mà nhìn xung quanh, thế thì không bao giờ buồn hết. Hồi ấy suýt nữa tôi lấy thắt lưng treo cổ chết đấy, anh ạ!
- Hề! Tôi có nói chuyện với một người. Hắn cũng là người Nga như anh, tính tình thì nghiêm nghị. Hắn nói: phi sống theo lời Chúa, chứ không được sống theo ý mình thích. Hãy kính thờ Chúa, rồi cầu xin gì Chúa cũng sẽ ban cho, ấy thế mà hắn thì rách như tổ đỉa. Tôi mới bo hắn thử xin Chúa bộ áo quần mới xem. Hắn nổi giận đuổi tôi đi, mồm chửi rủa không ngớt. ấy thế mà trước đó hắn vẫn thường nói là phi tha thứ, phi yêu thưng mọi người, thì hắn tha thứ cho tôi đi, nếu lời lẽ tôi làm hắn bực mình! Cũng là một gã dạy đời! Họ dạy người ta hãy ăn in ít chứ, nhưng bn thân họ thì mỗi ngày chén đến mười bữa.
Lão nhổ một bãi nước bọt vào đống lửa, rồi lặng lẽ nhồi thuốc vào tẩu. Gió khẽ vi vu, giọng như than vãn, mấy con ngựa hí lên vài tiếng trong bóng đêm, từ trại du mục vẳng tới một tiếng hát dịu dàng và say đắm. Đó là tiếng hát của Nonka, cô con gái xinh đẹp của lão Maka. Tôi đã quen thuộc cái giọng ngực thâm trầm, âm sắc tròn mà chắc nịch của cô, bao giờ cũng chứa chất một cái gì kỳ dị, luôn luôn bất mãn và đòi hỏi, dù là khi cô hát hay khi cô chào cũng vậy. Gưng mặt có cái nước da rám nắng rất mịn của cô in rõ vẻ kiêu hãnh của một nữ hoàng, và trong đôi mắt màu nâu thẫm của cô có một bóng rợp gì rất u huyền, long lanh cái ý thức về vẻ đẹp không gì cưỡng nổi của mình và niềm khinh miệt đối với bất cứ cái gì không phi là bn thân mình.
Lão Maka trao tẩu thuốc cho tôi.
- Anh hút đi! Con bé hát hay h? Thế đấy! Chắc anh muốn có một đứa nào như thế yêu anh lắm phỏng? Không à? Thế thì tốt! Phi thế mới được - chớ có tin bọn con gái, phi tránh họ cho xa. Con gái mà được hôn thì nó thấy thú vị, dễ chịu hn là tôi hút tẩu thuốc ấy, thế nhưng mà hôn nó rồi, thì bao nhiêu ý chí trong lòng anh đều tiêu ma hết. Nó buộc anh bằng một cái gì vô hình mà không sao gỡ nổi, và anh sẽ hiến dâng c tâm hồn cho nó. Đúng thế đấy! Hãy coi chừng bọn con gái! Chúng chỉ rặt nói dối! Thôi thì yêu anh hn hết mọi thứ trên đời, thế nhưng cứ thử châm nó một mũi kim găm mà xem, nó sẽ xé nát tim anh ra. Tôi thì tôi biết! Khề khề, tôi biết thừa đi! ấy, anh có thích nghe không, tôi kể cho một chuyện mà nghe! Anh nghe mà nhớ lấy, và hễ nhớ thì suốt đời sẽ được làm con chim tự do.
Ngày trước có một chàng Txưgan trẻ tuổi, tên là Zôbar, Lôikô Zôbar. Khắp nước Hung, nước Tiệp, nước Xlavôni và những vùng quanh biển Đen đều biết chàng ta; chàng dũng cm lắm! ở những vùng này không có lấy một làng nào là không có độ dăm by tráng đinh đã thề độc là sẽ giết chết Lôikô, ấy thế mà chàng vẫn ung dung sống, và hễ chàng đã ưa con ngựa nào thì dù có cho c một trung đoàn canh giữ Zôbar cũng sẽ nhy lên ngang nhiên phóng đi! Khề khề! Chàng thì còn biết sợ ai nữa? Dù cho quỷ xa-tăng có kéo c đoàn tùy tòng đến, thì nếu không ăn một nhát dao của chàng, cũng phi nghe một trận chửi mắng và mỗi chú quỷ phi xi một đòn vào mõm không sai!
Và trại du mục nào cũng biết Zôbar, hoặc nghe tiếng chàng, chàng chỉ thích ngựa thôi, ngoài ra chẳng thiết gì hết; v chăng ngay c ngựa chàng cũng chẳng thích được lâu, cưỡi chán rồi thì đem bán, tiền thì ai cần chàng cho ngay. Chẳng có thứ của gì chàng tiếc hết - anh cần qu tim của chàng ư? Chàng sẽ tự tay móc tim ra cho anh, miễn là làm như vậy có đem lại điều tốt lành cho anh. Chàng ta thế đấy, anh bạn ạ.
Hồi ấy trại du mục chúng tôi đóng ở Bukôvin, kể đến nay đã tới mười năm. Một đêm, vào tiết mùa xuân, chúng tôi đang chi, có c bác lính Đanilô đã từng chiến đấu bên cạnh Kôsut, có c lão Nua già, có c Rađđa, con bác Đanilô.
Anh biết con Nonka nhà tôi rồi chứ gì? Thật đáng một bà hoàng! ấy thế nhưng đem so với Rađđa thì không thể nào so được: so như vậy quá vinh dự cho con Nonka! Dùng lời lẽ để t Rađđa thì chẳng thể t nổi đâu! Cái nhan sắc ấy may ra chỉ có thể ca ngợi trên phím vĩ cầm, mà cũng chỉ có kẻ nào am hiểu cây đàn ấy như hiểu chính tâm hồn mình mới ca ngợi nổi.
Nàng đã làm khô héo bao nhiêu trái tim trai trẻ, thôi thì nhiều không kể xiết. ở Môravi có một lão đại thần, đầu để tóc chùm, trông thấy nàng mà choáng người đi. Lão ngồi trên lưng ngựa ngây người ra nhìn, mình mẩy run bắn lên như sốt rét. Lão đẹp như quỷ sứ ngày hội, mình mặc áo giupan thêu kim tuyến, bên sườn đeo thanh kiếm sáng quắc lên như ánh chớp mỗi khi con ngựa khẽ đạp vó xuống đất, khắp chuôi kiếm dát ngọc và màu nhung của chiếc mũ cứ xanh biếc như một mnh trời, thật là một lão tướng uy nghi lẫm liệt! Lão nhìn, nhìn mãi, rồi nói với Rađđa: “Này! Cho ta hôn một cái, ta sẽ cho túi bạc”, Rađđa quay ngoắt đi, chẳng thèm đáp lấy một lời. “Ta có gì xúc phạm đến nàng hãy tha thứ cho ta, hãy nhìn ta cho dịu dàng một chút”, - lão đại thần nén lòng kiêu ngạo và ném túi bạc xuống chân nàng, một cái túi rất to, anh bạn ạ! Rađđa như thể nhỡ chân đá phi cái túi làm cho nó lăn xuống bùn, và bỏ đi thẳng.
- Chà, gớm cho cái ngữ này! - Lão thở dài, rồi quất roi thúc ngựa phi như bay, bụi bốc mịt mù.
Nhưng hôm sau lão lại đến. “Ai là cha nàng?” - Lão quát lên như sấm vang khắp trại. Đanilô bước ra. “Bán con gái cho ta, muốn bao nhiêu cứ lấy!” Đanilô, bo: “Chỉ có các pan (1) mới bạ gì bán nấy từ con lợn cho đến lưng tâm,
1. Ông lớn (tiếng Ba Lan) (N.D.)
chứ ta đây đã từng chiến đấu bên cạnh Kôsut, ta không buôn bán cái gì hết!” Lão ta toan quát tháo, tay đã sờ đốc kiếm, nhưng có người nào trong bọn chúng tôi cho một mnh bùi nhùi đang cháy vào tai ngựa lão ta, thế là con ngựa lồng lên bỏ chạy, đem lão yêng hùng kia đi. Chúng tôi nhổ trại lên đường. Đi được hai ngày thì lão kia lại đuổi kịp, lão quát: “Này các người! Trước Thượng đế và trước các người, lưng tâm ta trong sạch, hãy g con gái cho ta, ta sẽ đem hết của ci chia sẻ với các người, ta giàu lắm!" Mặt lão bừng bừng, người lão lắc lư trên yên ngựa như cỏ tho nguyên trước gió, chúng tôi im lặng suy nghĩ.
- Thế nào con, con nói đi! - Đanilô lẩm bẩm trong chòm râu.
- Phượng hoàng mà tự đem thân vào tổ quạ thì phận sẽ ra sao? Rađđa hỏi chúng tôi như vậy.
Đanilô cười phá lên, và chúng tôi đều cười theo.
- Hay lắm, con ạ! Ngài đã nghe ra chưa? Không xong rồi! Ngài kiếm lấy con bồ câu - cái giống ấy dễ dãi hn.
Chúng tôi lại lên đường. Còn vị đại thần kia thì giật chiếc mũ quăng xuống đất và thúc ngựa phi thẳng, làm rung chuyển c mặt đất. Đấy, Rađđa như thế đấy, anh bạn ạ!
Thế đấy! Rồi một đêm nọ, chúng tôi đang ngồi quây quần bên nhau, bỗng nghe có tiếng nhạc văng vẳng trên tho nguyên, tiếng nhạc hay quá! Nghe mà máu trong huyết qun cứ nóng bừng lên. Tiếng nhạc kêu gọi người ta đi đến một chốn nào không rõ. Tất c chúng tôi đều cm thấy rằng tiếng nhạc ấy làm ta khao khát một cái gì, mà sau đó cũng chẳng cần sống làm gì nữa, và nếu có sống thì phi sống như bậc đế vưng của thiên hạ, anh bạn ạ!
Rồi từ trong bóng đêm hiện ra một con ngựa trên lưng có chàng trẻ tuổi vừa kéo đàn vừa thong th cho ngựa tiến về phía chúng tôi. Dừng cưng bên đống lửa chàng bỏ đàn xuống và mỉm cười nhìn chúng tôi.
- A, Zôbar, anh đấy ư? - Đanilô mừng rỡ reo lên. - Lôikô Zôbar đây rồi.
Hai chòm ria dài của chàng trẻ tuổi buông xuống tận vai, lẫn với mái tóc quăn, đôi mắt chàng lấp lánh như hai vì sao, và nụ cười rực rỡ như vầng thái dưng, thật thế! Chàng kỵ mã và con ngựa dường như được rèn ra từ một khối sắt. Chàng đứng trong ánh sáng của đống lửa đỏ rực, như tắm trong máu, và nhoẻn miệng cười, hai hàm răng lấp lánh, nói có trời đất, chưa chi tôi đã thấy yêu mến chàng như bn thân mình, từ khi chàng chưa nói với tôi một câu, cũng chưa hề nhận thấy có tôi sống trên thế gian này!
Có những con người như thế đấy, anh bạn ạ! Họ nhìn vào mắt ta, thế là hồn ta cứ tê mê đi, ấy thế mà ta chẳng thấy hổ thẹn chút nào, lại còn thấy tự hào nữa là khác. Đứng trước một người như thế, ta tự thấy mình tốt đẹp hn lên. Những người như thế hiếm có lắm, anh bạn ạ! Thôi thì hiếm thế lại hay. Trên đời mà cái tốt có nhiều, thì người ta chẳng còn thấy nó là tốt nữa. Đúng thế đấy! Nhưng để tôi kể tiếp:
Rađđa cất tiếng hỏi chàng trai: “Anh đàn hay lắm, Lôikô ạ! Ai làm đàn cho anh mà tiếng vang và nhuyễn như vậy?” Lôikô cười “Chính tôi làm! Tay tôi đã làm ra nó không phi bằng gỗ, mà bằng bộ ngực của người con gái ngày trước yêu tôi say đắm, dây đàn thì tôi se bằng thớ tim của nàng. Đàn chưa được chắc tiếng, nhưng tôi cầm mã vĩ vững tay lắm!”
Ai cũng biết bọn con trai chúng ta thường hay tìm cách làm cho mắt con gái mờ ngay đi để cho nó khỏi đốt cháy tim mình, với lại để cho nó vướng buồn vì mình. Lôikô cũng thế. Nhưng chàng ta đã gặp một đối thủ không vừa. Rađđa ngonh đi, rồi vừa ngáp dài vừa nói: “Thế mà người ta cứ bo Zôbar khôn khéo và thông minh! Thật người đời chỉ hay đồn nhm!” - Nói đoạn bỏ đi thẳng.
“Chà, cô nàng răng sắc thật! - Lôikô vừa xuống ngựa, mắt quắc lên. - Xin chào các bạn! Tôi đến thăm các bạn đây!”
“Chúng tôi xin vui mừng đón khách!” - Đanilô đáp.
Chủ và khách ôm nhau hôn. Chúng tôi ngồi nói chuyện một lúc, rồi đi ngủ... Ai nấy đều ngủ rất say. Sáng hôm sau, thức dậy thì thấy đầu Zôbar có quấn một mnh vi, chàng làm sao thế? ấy là con ngựa nó giẫm vó phi chàng trong giấc ngủ.
Ê ề! Chúng tôi biết thừa con ngựa ấy là ai rồi, và tủm tỉm cười trong râu, c Đanilô cũng cười. Sao thế nhỉ, ch nhẽ Lôikô không xứng với Rađđa sao? Không phi đâu! Con gái, dù có đẹp thật, nhưng tâm hồn họ cũng chật hẹp và nhỏ nhen, và dù có đeo lên cổ họ hàng cân vàng, giá trị họ cũng chẳng tăng được chút nào, chà thôi, nói thế là đủ!
Chúng tôi đóng trại ở vùng ấy lâu, dạo ấy công việc chúng tôi chạy lắm. Zôbar cũng ở lại với chúng tôi. Thật là một người bạn tốt! Khôn ngoan, thông thái như một cụ già, cái gì cũng thạo, biết c chữ Nga, biết c chữ Hung. Những lúc anh ta đã cất tiếng lên thì cứ nghe trọn một kiếp người cũng không chán, còn đàn thì, nếu trên đời này có ai đàn như Zôbar, cứ gọi là sét đánh tôi chết ngay tức thì! Hễ chàng đưa mã vĩ trên dây đàn một cái là tim anh rung lên, đưa một cái nữa là tim anh lặng đi, nghe ngóng, trong khi chàng mỉm cười kéo tiếp. Nghe tiếng đàn, vừa muốn khóc lại vừa muốn cười, có khi như ai than thở đắng cay, cầu xin giúp đỡ, nghe đau xót như lưỡi dao cứa vào tim. Có khi như tiếng tho nguyên thì thầm kể với bầu trời những chuyện cổ tích buồn rười rượi. Lại có khi như tiếng một thiếu nữ khóc trong buổi tiễn biệt người yêu ra tho dã. Rồi bỗng nhiên, hây! Một điệu hát phóng khoáng, sinh động vang lên như sấm, và tưởng chừng vầng thái dưng cũng sắp theo nhịp hát nhy múa trên nền trời! Thế đấy, anh bạn ạ!
Mỗi thớ thịt trong người anh đều hiểu thấu điệu hát ấy, và toàn thân anh trở thành nô lệ của nó, và ví thử lúc đó Lôikô hô lên: “Tuốt gưm ra, các bạn!” thì chúng tôi sẽ đều tuốt gưm xông vào bất cứ kẻ nào chàng chỉ. Chàng muốn làm gì ai cũng được, ai nấy đều yêu mến chàng, quý chuộng chàng, duy có một mình Rađđa không thèm nhìn đến chàng; nếu chỉ có thế thôi thì hãy còn được, đằng này nàng lại còn chế giễu Lôikô nữa. Nàng đã làm cho lòng chàng trai đau nhói lên, đúng là đau nhói lên! Chàng nghiến răng ken két, và ria mép giật từng hồi, đôi mắt sa sầm xuống, tối hn đêm và thỉnh thong trong đôi mắt ấy lại ánh lên một tia sáng dữ dội, gieo sợ hãi vào lòng người. Một đêm, Lôikô đi rất xa ra tho nguyên, và cây vĩ cầm của chàng khóc cho đến sáng, nó khóc thưng cái ý chí đã tiêu tan của chàng Zôbar. Chúng tôi nằm nghe và thầm nghĩ: làm thế nào được bây giờ? Và chúng tôi biết rằng nếu có hai tng đá đang lăn vào nhau, không thể nào đứng giữa được; thế nào cũng bị thưng tật. Sự tình qu nhiên đã diễn ra như thế.
Tối hôm ấy chúng tôi ngồi đông đủ c, bàn tán về công việc này nọ. Bàn mãi hết việc cũng đâm chán. Đanilô mới bo Lôikô: “Hát đi, Zôbar, hát đi một bài cho vui lòng thỏa dạ một chút!” Lôikô đưa mắt nhìn Rađđa, lúc bấy giờ đang nằm ngửa mặt lên nhìn trời, và đưa tay gy lên dây đàn, và cây vĩ cầm cất tiếng nói như một trái tim thiếu nữ thật và Lôikô hát.
Hây hây! Lồng ngực ta rực lửa.
Và cánh tho nguyên trời rộng mênh mông!
Như gió cuốn, phi nhanh con tuấn mã,
Cánh tay ta rắn chắc, vững như đồng!
Rađđa ngonh mặt lại, hi nhổm người lên và nhìn vào mặt người hát, cất tiếng cười nhạt, chàng đỏ bừng mặt lên như rạng động.
Hây hôp hây! Dậy đi, nào bạn hỡi!
Hãy cùng ta nhằm phía trước phi nhanh!?
Cnh tho nguyên còn khoác màn đêm tối,
Nhưng chân trời sẽ lóe ánh bình minh!
Hãy bay tới, vầng dưng đang chờ đợi,
Hãy vút lên, cao mãi tận trời xanh!
Nhưng chớ để bờm ngựa bay vướng phi.
áng dung nhan kiều diễm của nàng Trăng!
Đấy, hát như thế chứ! Bây giờ chẳng còn ai hát được thế đâu! Thế mà Rađđa nói như xối nước:
- Anh ch nên bay cao như thế, Lôikô ạ, nhỡ ri chúi mũi xuống vũng nước thì lấm hết c bộ ria.
Lôikô chẳng nói chẳng rằng nhìn Rađđa với một vẻ dữ tợn, chàng cố nhịn và hát tiếp:
Dậy thôi không bình minh sắp rạng
Trong khi ta và bạn vẫn ngủ yên.
Dậy thôi, không trời đã sắp sáng
Chớ để niềm hổ thẹn đốt tâm can!
- Hay quá chừng! - Đanilô nói. - Chưa bao giờ tôi được nghe một bài hát thế; tôi mà nói sai thì quỷ xa tăng cứ lấy cái thân tôi làm tẩu thuốc!
Lão Nua già vê bộ ria, so đôi vai, và ai nấy đều khoái chá với bài hát hùng dũng của Zôbar! Chỉ có Rađđa tỏ ý không thích!
- ấy, có lần muỗi vo ve bắt chước tiếng đại bàng, nghe cũng như thế đấy, - nàng nói, như xối nước lạnh vào chúng tôi.
- Mày muốn ăn roi chắc, hở Rađđa? - Đanilô xấn đến bên con gái, còn Zôbar liền quăng mũ xuống đất nói, mặt tối sầm đen như màu đất:
- Hãy khoan! Bác Đanilô! Ngựa dữ đã có hàm thiếc! Hãy g con gái cho tôi!
- Ăn nói khá lắm! - Đanilô cười - Đấy, có lấy được thì cứ lấy đi!
- Tốt lắm! - Lôikô nói, đoạn quay sang Rađđa: - Nào cô thiếu nữ hãy nghe tôi nói một chút, và đừng có làm bộ! Bọn con gái các cô, tôi biết khối ra rồi. Nhưng chưa có cô nào khích động được lòng tôi như cô, Rađđa ạ, cô đã thu phục được tâm hồn tôi! Biết làm thế nào? Cái gì phi xy đến thì tất sẽ xy đến, và... không có ngựa nào có thể mang ta đi thoát khỏi bn thân ta!... Tôi lấy cô làm vợ, trước Thượng đế, trước danh dự tôi, trước cha cô và trước mọi người. Nhưng hãy nhớ lấy: đừng có bó buộc tự do của tôi: tôi là người tự do, tôi muốn sống ra sao, tôi sẽ sống như thế! - Và rồi chàng tiến lại gần Rađđa, hai môi mím chặt, mắt sáng long lanh. Chúng tôi thấy chàng chìa tay ra cho nàng, ai cũng nghĩ: thế là bàn tay này đã thắng cưng vào con ngựa tho nguyên Rađđa! Bỗng thấy chàng vung cao hai tay lên và ngã ngửa ra, gáy nện xuống đất bộp một tiếng!...
Sao lạ thế này? Tưởng chừng như có viên đạn nào vừa bắn trúng tim chàng. Nhưng không, đó là Rađđa đã quất chiếc roi da dài vào chân chàng, và giật mạnh về phía mình, làm Lôikô ngã.
Thế rồi nàng lại nằm im, không nhúc nhích, cười thầm một mình. Chúng tôi chờ xem thử thế nào. Lôikô ngồi trên mặt đất, hai tay ôm đầu như sợ nó nổ tung ra. Rồi chàng từ từ đứng dậy bỏ ra tho nguyên, không nhìn ai hết. Ông lão Nua thì thầm nói với tôi: “Phi trông theo nó” Tôi liền rón rén đi theo Zôbar trên tho nguyên tối mịt. Thế đấy, anh bạn ạ!
Maka vỗ vỗ tẩu thuốc cho sạch tàn, rồi nhồi điếu khác. Tôi kéo áo khoác quấn cho thật kín người và nằm yên ngắm khuôn mặt già nua của lão, đen sạm đi vì nắng gió. Lão lắc đầu, dáng nghiêm nghị, trầm ngâm, lẩm bẩm nói gì một mình, bộ ria bạc khẽ nhích nhích và gió thổi tung mái tóc bờm xờm. Trông lão giống như một cây sồi già bị sét đánh cháy sém, nhưng hãy còn lực lưỡng, vững chắc và kiêu hãnh với sức mạnh của mình. Biển vẫn thì thầm nói chuyện với bãi cát, và gió vẫn truyền tiếng thì thầm của biển khắp tho nguyên. Nonka đã im tiếng hát, và những đám mây đen đang ùn lại trên nền trời làm cho bóng đêm thu càng dày đặc thêm.
Lôikô đi bước một, đầu cúi gầm, hai tay buông thõng như hai sợi dây da treo lủng lẳng, đi đến gần một bờ khe, chàng ngồi lên một tng đá và buông một tiếng thở dài. Tiếng thở dài não nuột đến nỗi tìm tôi ứa máu ra vì xót thưng, nhưng tôi vẫn không đến cạnh chàng. Lời nói chăng khuây được nỗi buồn, có đúng không anh? Chính thế đấy! Chàng ngồi một tiếng đồng hồ, rồi một tiếng nữa, đến tiếng thứ ba chàng vẫn ngồi im không nhúc nhích.
Tôi nằm cách đấy không xa. Đêm hôm ấy trời quang dãng, trăng xối bạc lên khắp tho nguyên và có thể trông rõ mọi vật từ xa.
Bỗng tôi trông thấy bóng Rađđa đang vội vàng từ phía trại đi tới.
Tôi mừng lắm! “Chà, tốt rồi đây! - Tôi nghĩ bụng, - cô bé Rađđa khá lắm!" Cô gái đã đến gần Lôikô mà chàng vẫn không hay biết. Nàng đặt tay lên vai chàng, Lôikô giật mình, buông hai tay đang bưng mặt ra và ngẩng đầu lên. Chàng đứng bật dậy rút dao ra. Thôi, chàng giết chết cô bé mất! Tôi đã toan hô hoán lên cho trại biết, rồi bỏ chạy lại, thì bỗng nghe thấy:
- Bỏ dao xuống! Không vỡ sọ bây giờ!
Tôi nhìn thì thấy Rađđa cầm khẩu súng lục đang nhằm vào trán Zôbar. Thật đáng là con gái quỷ xa-tăng! Tôi nghĩ bụng; thôi thế là bây giờ họ ngang sức nhau rồi đấy, thử xem rồi sẽ ra sao?
Rađđa giắt súng vào thắt lưng và nói với Zôbar:
- Anh nghe đây! Tôi đến đây không phi để giết anh, mà làm lành, vứt dao đi - Lôikô bỏ dao và hằm hằm nhìn vào mặt nàng, thật là kỳ dị, anh ạ! Hai con người đang đứng nhìn nhau như hai con ác thú, thế mà c hai đều đẹp đẽ, gan dạ như nhau, chỉ có vầng trăng sáng và tôi nhìn họ thế thôi.
- Lôikô, anh nghe tôi đây; tôi yêu anh! - Rađđa nói. Lôikô chỉ so vai, như thể chân tay đã bị trói chặt.
- Tôi đã gặp nhiều chàng trai, nhưng anh gan dạ hn và đẹp hn hết thy về tâm hồn cũng như gưng mặt, tôi chỉ nháy mắt một cái, họ có thể cạo trụi ria đi, nếu tôi muốn, là tất c bọn họ sẽ quỳ xuống chân tôi. Nhưng như thế có ra gì? Họ vốn đã chẳng lấy gì làm gan dạ lắm, và nếu vào tay tôi, họ sẽ nhũn ra c. Trên đời này còn ít chàng trai Txưgan gan dạ lắm, ít lắm. Lôikô ạ. Tôi chưa yêu ai bao giờ, Lôikô ạ, tôi chỉ yêu anh. Nhưng tôi còn yêu tự do nữa! Tự do thì tôi yêu hn c anh. Nhưng không có anh tôi không thể sống được, cũng như anh không thể sống thiếu tôi. Cho nên tôi muốn anh là của tôi, c linh hồn lẫn thể xác, anh nghe ra chưa?
Lôikô cười nhạt:
- Tôi nghe ra rồi! Nghe cô nói lòng tôi vui lắm đấy! Nào nói nữa đi!
- Thế này nữa nhé, Lôikô ạ, dù anh có vùng vẫy ra sao, tôi cũng sẽ trị được anh, anh cũng sẽ thuộc về tôi. Thế thì đừng để mất thì giờ vô ích; những chiếc hôn và những sự mn trớn của tôi đang chờ anh... tôi sẽ hôn anh rất nồng nàn, Lôikô! Chiếc hôn của tôi sẽ làm cho anh quên cuộc sống của anh... và những bài ca sôi nổi của anh - trước đây vẫn là niềm vui của bọn trai trẻ Txưgan - sẽ không còn vang trên tho nguyên nữa; anh sẽ hát những bài tình ca êm dịu cho tôi, cho Rađđa nghe... Do đó, anh đừng mất thì giờ vô ích, tôi đã nói như vậy, nghĩa là ngày mai anh sẽ quy phục tôi như quy phục người huynh trưởng của anh trong trại. Anh sẽ phủ phục xuống chân tôi trước mặt toàn trại và sẽ hôn bàn tay phi của tôi - lúc bấy giờ tôi sẽ là vợ anh.
Cái cô bé quỷ quái ấy muốn thế đấy! Chưa ai từng nghe nói về một chuyện như thế bao giờ! Ngày xưa chỉ có người Hắc Sn có lệ ấy, các cụ già bo thế, chứ người Txưgan thì chưa bao giờ! Nào anh bạn, anh liệu có nghĩ ra được một trò gì ngộ nghĩnh hn không? Có nghĩ nát óc suốt một năm cũng chẳng ra đâu.
Lôikô nhy né sang một bên, rồi thét vang tho nguyên như thể vừa bị trúng thưng vào ngực. Rađđa run lên, nhưng không hề mất tự chủ.
- Thôi, chào anh, hẹn đến mai, mai anh sẽ làm như tôi đã ra lệnh. Anh nghe ra chưa, Lôikô?
- Nghe ra rồi ! Tôi sẽ làm, Zôbar rên rỉ và dang hai tay về phía nàng, Rađđa chẳng thèm nhìn lại và Zôbar loạng choạng như một thân cây bị gió xô gẫy, rồi ngã vật xuống đất, vừa cười vừa khóc nấc lên.
Cái con Rađđa đáng nguyền rủa đã giày vò chàng trai ấy như thế đấy. Tôi phi chật vật lắm mới làm cho chàng tỉnh lại được.
Chao ôi! Quỷ thần nào muốn cho con người ta phi đau khổ? Kẻ nào lại thích nghe một trái tim người rên rỉ trong khi rạn vỡ ra vì buồn phiền? Đấy anh thử nghĩ xem!...
Tôi trở về trại và kể cho các kỳ lão nghe. Họ suy nghĩ một lúc, rồi quyết định đợi thử xem sao. Thì sự tình nó thế này đây. Tối hôm ấy, khi mọi người tụ tập quanh đống lửa. Lôikô cũng đến. Chàng trông thng thốt khác thường, và mới một đêm mà đã hốc hác hẳn đi, mắt trũng sâu xuống: chàng cứ nhìn xuống đất, nói với chúng tôi:
- Sự tình nó như thế này đây, các bạn ạ: đêm qua tôi đã nhìn vào lòng tôi, và không còn tìm thấy có chỗ nào dành cho cuộc sống tự do của tôi trong đó nữa. Chỉ có một mình Rađđa sống ở đó mà thôi! Kìa, nàng Rađđa xinh đẹp đang mỉm cười như một nữ hoàng. Nàng yêu tự do hn yêu tôi, mà tôi thì yêu nàng hn c tự do của tôi, cho nên tôi đã quyết định sẽ phủ phục xuống chân nàng như nàng đã ra lệnh, để cho mọi người đều thấy rõ sắc đẹp của nàng đã chinh phục được chàng Lôikô Zôbar gan dạ mà trước khi gặp nàng vẫn đùa giỡn với con gái như chim ưng đùa giỡn với bầy vịt. Sau đó, nàng sẽ thành vợ tôi, sẽ vuốt ve và hôn hít tôi, thành thử tôi sẽ không còn muốn hát cho các bạn nghe nữa, mà cũng chẳng còn nhớ tiếc gì tự do của tôi nữa, có phi thế không, Rađđa? - Chàng ngước mắt lên nhìn Rađđa, gưng mặt u uất.
Nàng lặng lẽ và nghiêm khắc gật đầu, rồi gi tay chỉ xuống chân mình. Chúng tôi cứ ngây ra nhìn không hiểu gì hết. Thậm chí cứ muốn đi đâu cho rnh, miễn là đừng phi thấy cái cnh Lôikô Zôbar sụp xuống chân một đứa con gái, dù đứa con gái ấy có là Rađđa chăng nữa. Chúng tôi cứ thấy hổ thẹn thưng xót, buồn tủi thế nào ấy.
- Nào! - Rađđa lớn tiếng giục Zôbar.
- Chà, cô vội thế, còn đủ thì giờ mà, rồi cô lại còn phi ngấy lên nữa ấy... - đoạn chàng cười phá lên, tiếng cười như tiếng thép rung lanh lnh.
- Đấy, sự tình chỉ có thế thôi, các bạn ạ! Còn phi làm gì nữa? Còn phi thử xem trái tim nàng Rađđa của tôi có rắn chắc như nàng đã tỏ ra với tôi không. Vậy tôi xin thử, các bạn tha thứ cho tôi.
Chúng tôi chưa kịp đoán xem Zôbar định làm gì thì Rađđa đã ngã sóng soài trên mặt đất, trên ngực cắm đến tận chuôi con dao quắm của Zôbar. Chúng tôi choáng người đi.
Rađđa rút con dao ra, ném sang một bên, rồi lấy món tóc đen nhánh của mình áp lên vết đâm, và mỉm cười nói to, giọng rành rọt:
- Vĩnh biệt Lôikô! Em đã biết là anh sẽ làm như vậy! - Rồi nàng tắt thở.
Anh đã hiểu được cô gái ấy chưa, hở anh bạn?! Thật là một cô gái ma quỷ, tôi nói sai xin muôn đời chịu nguyền rủa!
- Ôi! Giờ thì tôi xin phủ phục xuống chân em, hỡi nữ hoàng kiêu hãnh! - Lôikô thét vang tho nguyên, rồi phục xuống đất, áp môi vào chân người đã chết và lịm đi hồi lâu. Chúng tôi cất mũ và đứng im lặng.
C sự đã như thế, còn biết nói gì anh? Thật thế! Ông lão Nua cũng toan sai trói Zôbar lại. Nhưng chẳng có bàn tay nào dám gi lên trói chàng lại đâu, chẳng có ai chịu làm việc ấy, và lão Nua cũng biết như vậy. Lão khoát tay một cái, rồi lng ra. Còn Đanilô thì nhặt con dao Rađđa đã vứt đi, ngắm nghía nó hồi lâu, bộ ria bạc khẽ nhích nhích. Trên lưỡi dao cong và sắc máu Rađđa vẫn còn hi nóng. Rồi Đanilô tiến đến bên Zôbar và đâm con dao vào lưng chàng, đúng phía tim. Người lính già Đanilô cũng đúng là cha đẻ của Rađđa.
- Thế đấy! - Lôikô ngonh lại nhìn Đanilô nói rất rõ, rồi hồn chàng dõi theo Rađđa.
Chúng tôi đứng dậy lặng nhìn Rađđa nằm sóng soài bàn tay vẫn áp chặt món tóc lên ngực, hai mắt mở to hướng lên khong trời xanh, và nằm dưới chân nàng là chàng Lôikô Zôbar gan dạ. Những món tóc quăn phủ kín mặt chàng.
Chúng tôi đừng trầm ngâm suy nghĩ, ria lão Đanilô già run run và đôi mày rậm cau lại. Lão nhìn trời và lặng thinh, còn ông già Nua, tóc bạc trắng như cước, nằm úp mặt xuống đất khóc rưng rức, đôi vai già run lên bần bật.
Cũng đáng cho người ta khóc lắm, anh bạn ạ!
Anh đi đây đi đó, thôi thì anh cứ đường anh mà đi, đừng rẽ ngang rẽ dọc. Cứ thẳng đường mà đi. May ra rồi chẳng chết oan chết uổng. Chỉ có thế thôi đấy, anh bạn ạ!
Maka lặng thinh, cất tẩu thuốc vào bao, xốc lại vạt áo cho kín ngực. Mưa đổ xuống lộp độp, gió thổi mạnh lên, biển gầm gừ âm ỉ và tức tối. Mấy con ngựa lần lượt lại gần đống lửa đang lụi dần, đôi mắt to thông minh ngó chúng tôi, rồi đứng im vây quanh chúng tôi thành một vòng kín.
- Hôp - hôp - ê - hôi! - Maka âu yếm nựng chúng, gi tay vỗ vỗ lên mình con ngựa ô cưng nhất của lão, rồi quay sang phía tôi nói: - Thôi ngủ đi! - Đoạn kéo áo khoác trùm lên đầu, vưn dài người ra đất và lặng thinh.
Tôi không buồn ngủ, tôi nhìn ra bóng tối của tho nguyên và trong khong không trước mặt tôi chập chờn bóng dáng đẹp đẽ và kiêu hãnh của nàng Rađđa. Nàng áp bàn tay với món tóc đen nhánh lên vết thưng trên ngực, và qua mấy ngón tay thon th rám nắng của nàng máu rỉ ra từng giọt một rỏ xuống đất thành những ngôi sao màu đỏ rực như lửa.
Và theo gót nàng là chàng Lôikô Zôbar dũng cm khuôn mặt nấp sau những món tóc quăn đen rậm và từ dưới những món tóc ấy ứa ra những giọt nước mắt to và lạnh ri mau...
Mưa mỗi lúc một nặng hạt, và biển c cất tiếng hát khúc ca u hoài và trang trọng, ca ngợi đôi thanh niên Txưgan xinh đẹp và kiêu hãnh: Lôikô Zôbar và Rađđa con gái người lính già Đanilô.
Và c hai uy nghi lượn vòng im lặng trong bóng tối và chàng Lôikô tuấn tú không sao với tới được nàng Rađđa kiêu kỳ.
1892


Cao Xuân Hạo dịch



m.gorki
Bà lão Izerghin
I

Tôi được nghe kể những câu chuyện này ở gần
Ackeeman, trên bờ biển xứ Betxarabi.
Một buổi tối, làm xong công việc hái nho thường ngày, toán thợ Mônđavi, trong đó có tôi cùng làm, đi về phía bờ biển, còn tôi và bà lão Izerghin ở lại dưới bóng lá dày đặc của những gốc nho, ngả mình trên mặt đất, lẳng lặng nhìn bóng dáng những người đi về phía bờ biển đang tan dần trong sưng đêm xanh thẳm.
Họ vừa đi vừa cười, hát. Đàn ông nước da màu đồng hun, ria đen và lồng bồng, tóc xoăn dày rậm, xõa đến vai, mặc áo vét ngắn và quần rộng; đàn bà, con gái thì vui vẻ, uyển chuyển, mắt xanh thẫm, da cũng sạm nắng. Tóc họ đen nhánh và mượt như tơ, buông xõa. Gió ấm và nhẹ lùa vào tóc họ, làm những đồng tiền bện trong tóc kêu leng keng. Gió ào tới từng đợt lớn đều đặn, nhưng đôi khi, nó dường như nhy qua một vật gì vô hình và thốc mạnh, làm cho tóc những người đàn bà bay tung lên, phấp phới quanh đầu họ như những cỗ bờm kỳ dị. Những lúc như thế, nom họ có vẻ quái dị hoang đường. Họ mỗi lúc một rời xa chúng tôi, còn đêm tối và trí tưởng tượng dường như làm cho họ càng đẹp hơn.
Có người nào chơi vĩ cầm... Một cô gái hát giọng trầm dịu dàng, có tiếng cười vui vẻ...
Không khí nhiễm đầy mùi hơi biển gay gắt và khí bốc nồng đậm của đất thấm đẫm nước mưa từ lúc gần tối. Lúc này, trên trời vẫn còn những mng mây xốp nhẹ bay lang thang, hình thù và màu sắc kỳ dị, chỗ thì đường nét mềm mại như những luồng khói lam và xanh tro đang cuồn cuộn bốc lên, chỗ thì hằn rõ như những tng đá đen mờ đục hoặc nâu. Giữa các mảng mây, những mnh trời xanh ngời lên thứ ánh sáng dịu dàng, lấm tấm những vì sao óng ánh như vụn vàng. Tất c những cái đó: âm thanh và mùi vị, mây và người đều đẹp và buồn lạ lùng, như mở đầu cho một câu chuyện cổ tích huyền diệu, mọi vật đều như ngừng sinh trưởng, chìm dần vào cõi chết. Tiếng nói ồn ào càng ra xa càng lặng đi, biến thành những tiếng thở dài não nuột.
- Sao anh không đi với họ? - Bà lão Izerghin hất hàm hỏi.
Thời gian đã làm cho lưng bà lão cong gập xuống, cặp mắt xưa kia đen láy đã mờ đục và lúc nào cũng đẫm lệ. Giọng nói khô khan của bà lão nghe đến kỳ lạ, như tiếng xương va nhau lục cục.
- Tôi không thích. - Tôi trả lời bà lão.
- Ôi chao... Bọn người Nga các anh vừa sinh ra đã già lão. Lúc nào cũng càu quạu như quỷ sứ ấy... Con gái vùng tôi nó sợ anh đấy... Vậy mà anh trẻ khỏe thế kia...
Trăng đã lên. Vành trăng to tròn, đỏ như máu, dường như từ giữa lòng thảo nguyên nhoi lên, chốn thảo nguyên xưa kia đã ngốn bao nhiêu thịt người và uống bao nhiêu máu người và hẳn là vì vậy mới trở nên màu mỡ và phì nhiêu như thế này. Bóng lá giống những hình thêu ren, trùm lên người chúng tôi như một tấm lưới. Bên trái, bóng mây nhuốm ánh trăng xanh lướt trên tho nguyên, mây trở nên trong hơn và sáng hơn.
- Xem kìa. Larra đang đi đấy!
Tôi nhìn về phía bàn tay run run với những ngón tay cong cong đang trỏ: ở đấy có những bóng mây đang lướt qua, rất nhiều bóng và một trong những bóng ấy tối và đậm hơn những bóng khác, lướt nhanh hơn, và thấp hơn - đó là bóng của một mảng mây trôi gần mặt đất hơn và nhanh hơn các mảng khác.
- Có ai đâu! - Tôi nói.
- Anh mù hơn cả một bà lão như tôi. Xem kìa, hắn đen thẫm, đang chạy qua thảo nguyên đấy thôi!
Tôi lại nhìn và chẳng thấy gì, ngoài một bóng tối.
- Một bóng tối đấy chứ! Tại sao cụ gọi nó là Larra?
- Nó đấy! Bây giờ nó như một bóng tối, mà nhất định phải thế thôi! Nó sống đã hàng nghìn năm nay, mặt trời làm khô quắt thân thể và máu xương nó, gió thổi tan tác hình hài nó. Chúa có thể hành hạ con người để trừng phạt tội kiêu ngạo của nó như thế đấy!
- Cụ kể cho tôi nghe câu chuyện ấy xy ra như thế nào đi! - Tôi nài bà lão kể, vì cảm thấy trước rằng đây là một trong những truyền thuyết tuyệt diệu của thảo nguyên. Và bà lão kể cho tôi nghe câu chuyện cổ tích ấy.
"Từ bấy đến nay đã bao nhiêu nghìn năm trôi qua rồi. ở một miền xa, xa lắm, mãi bên kia biển, nơi mặt trời mọc, có một xứ có con sông lớn, ở đấy mỗi lá cây ngọn cỏ đều tỏa bóng rợp đủ cho con người tránh nắng, vì ở xứ ấy nắng dữ lắm!
Đất đai xứ ấy mới phì nhiêu làm sao!
ở đấy có một bộ lạc hùng cường, họ chăn gia súc, dùng sức mạnh và lòng dũng cảm để săn thú dữ, và sau cuộc săn, họ ăn uống linh đình, ca hát và đùa bỡn với các cô gái.
Có lần, trong bữa tiệc, một cô trong đám thiếu nữ, một cô gái tóc đen, hiền dịu như đêm tối, bị một con đại bàng từ trên trời sà xuống quắp đi. Những mũi tên bọn đàn ông bắn vào chim đều lả tả rơi xuống đất, nom thực thảm hại. Thế là họ đâm bổ đi tìm cô gái, nhưng không sao tìm thấy. Rồi họ quên cô đi, như vẫn lãng quên mọi việc trên đời".
Bà lão thở dài và im lặng. Giọng nói sin sít của bà cụ khiến tôi tưởng như đó là lời than vãn của tất cả những thế kỷ đã bị lãng quên nay nhập vào lồng ngực bà và hiện lên thành bóng dáng những hồi ức. Biển dịu dàng họa lại đoạn mở đầu của một trong những truyền thuyết cổ xưa, có lẽ đã được sáng tạo trên vùng biển này.
Những hai mưi năm sau, cô gái tự dẫn thân trở về, kiệt quệ, héo hắt, cùng đi với cô là một chàng trai đẹp và khỏe như chính cô hai mươi năm xưa. Khi người ta hỏi bấy lâu nay cô ở đâu, cô liền thuật lại rằng đại bàng đã đem cô lên núi và ăn ở với cô như vợ chồng. Đây là con trai cô, cha nó đã qua đời, khi đại bàng cảm thấy sức lực đã suy yếu, nó bay vút lên trời cao lần cuối cùng, rồi cụp cánh, thả mình rơi xuống những mỏm đá núi nhọn hoắt và chết tươi tan xác...
Mọi người ngạc nhiên nhìn đứa con trai của đại bàng. Họ thấy nó cũng không có gì hơn họ, duy có đôi mắt nó lạnh lùng và kiêu hãnh như mắt chúa các loài chim. Họ nói chuyện với nó, còn nó thích thì nó trả lời, không thì nó lặng thinh. Khi các bậc già cả trong bộ lạc đến, nó nói chuyện với các cụ như với những người bằng vai. Như thế là làm nhục các cụ, và các cụ gọi nó là mũi tên cùn không có lông đuôi, bảo cho nó biết rằng hàng nghìn người như nó và hàng nghìn người tuổi tác gấp đôi nó còn phải kính trọng và tuân lời các cụ kia. Còn nó trân trân nhìn các cụ và trả lời rằng trên đời này, không đâu còn những người như nó nữa. Mọi người tôn kính các cụ thì mặc họ, chứ nó không muốn làm như họ. Ô, thế là các cụ nổi giận đùng đùng. Các cụ nổi giận và bảo nó:
- Nó không thể ở đây với chúng ta được! Mặc cho nó xéo đi đâu thì xéo!
Nó bật cười và đi đến chỗ nó muốn tới: nó đến gần một cô gái xinh đẹp đang nhìn nó chằm chằm. Nó đến cạnh cô và ôm lấy cô. Nhưng cô là con gái một vị trưởng lão vừa kết tội nó. Và tuy nó đẹp trai, cô vẫn cự tuyệt nó, vì sợ cha. Cô cự tuyệt nó và lảng đi, còn nó đánh cô và khi cô ngã xuống, nó giậm chân lên ngực cô mạnh đến nỗi máu vọt qua miệng cô, cô gái thở hắt ra, quằn quại như con rắn và tắt thở.
Tất cả những người chứng kiến cảnh tượng ấy đều kinh sợ, bàng hoàng: lần đầu tiên có kẻ giết một người phụ nữ ngay trước mặt họ như vậy. Tất cả đều im lặng hồi lâu, nhìn cô gái nằm sóng sượt trên mặt đất, mắt mở trừng trừng, miệng ứa máu, và nhìn nó: nó đứng cạnh xác cô gái, một mình đối diện với tất cả mọi người, kiêu hãnh, không cúi đầu, dường như thách thức người ta trừng phạt nó. Rồi, khi đã định thần, người ta túm lấy nó, trói lại và mặc nó đấy, vì thấy rằng giết nó ngay lúc đó thì đơn giản quá và không hả dạ.
Đêm càng về khuya càng tối và tràn đầy những âm thanh êm dịu, lạ kỳ. Trên thảo nguyên, chuột rít lên những tiếng rầu rĩ, dế kêu rinh rích trong đám lá nho, lá cây thở dài và thầm thì với nhau, vầng trăng tròn vành vạnh, trước đỏ như máu, bây giờ càng ra xa trái đất càng nhợt đi và tỏa xuống thảo nguyên làn sưng mù xanh lam mỗi lúc một dày đặc...
Thế rồi họ họp nhau lại để tìm ra một hình phạt xứng đáng với tội ác... Họ muốn cho ngựa xé xác nó, nhưng lại thấy hình phạt ấy vẫn còn nhẹ. Họ nghĩ tới việc mỗi người bắn vào nó một phát tên, nhưng rồi họ cũng bác bỏ cách ấy. Có người bàn nên thiêu sống nó, nhưng khói ở đống lửa bốc lên sẽ không cho họ thấy sự thống khổ của nó. Người ta đưa ra nhiều cách trừng phạt nhưng không có cách nào vừa ý tất cả mọi người. Còn mẹ nó quỳ trước mặt mọi người, im lặng, không còn đủ nước mắt và lời lẽ để van xin tha thứ cho nó. Họ bàn mãi, rồi một hiền giả lên tiếng sau khi suy nghĩ hồi lâu:
- Ta hãy hỏi nó xem tại sao nó lại làm thế?
Người ta hỏi nó. Nó nói:
- Cởi trói cho ta! Bị trói thì ta không nói đâu!
Nhưng khi đã được cởi trói, nó hỏi:
- Các người cần gì? -Nó nói hách dịch như họ là nô lệ của nó...
- Mày nghe thấy rồi đấy... - Bậc hiền gi nói.
- Ta cắt nghĩa hành động của ta cho các người nghe để làm gì?
- Để chúng tao hiểu. Mày là thằng kiêu ngạo, nghe đây! Đằng nào mày cũng chết. Vậy thì hãy giúp chúng tao hiểu việc mày đã làm. Chúng tao còn sống, chúng tao cần biết nhiều hơn những điều chúng ta biết hiện nay, cái đó có ích cho chúng tao...
- Được, ta sẽ nói, tuy rằng bản thân ta có lẽ cũng chưa hiểu đúng câu chuyện đã xảy ra! Ta giết cô gái hình như vì cô ấy cự tuyệt ta... Mà ta lại cần cô ấy.
- Nhưng cô ấy có phải của mày đâu! - Họ bảo nó.
- Thế các người chỉ dùng những gì các người có thôi ư? Ta thấy rằng mỗi người đàn ông chỉ có tiếng nói, đôi tay và đôi chân là của mình thôi, vậy mà họ chiếm hữu các giống vật, chiếm hữu đàn bà và đất đai... cùng vô khối cái khác nữa...
Họ bảo với nó rằng tất cả những gì người đàn ông chiếm được thì đều phải đem bản thân mình ra trang trải: trang trải bằng trí tuệ và sức lực của mình, đôi khi cả tính mệnh nữa. Nó trả lời rằng nó muốn giữ gìn nguyên vẹn bản thân nó.
Họ nói với nó lâu lắm, và cuối cùng, họ thấy nó tự coi mình là người thứ nhất trên đời, và ngoài bản thân nó, nó không nhìn thấy gì nữa hết. Mọi người đều kinh sợ khi họ hiểu rằng nó đã tự hãm mình vào cảnh cô độc như thế nào. Nó không có bộ lạc, không có mẹ, không có gia súc, không có vợ và cũng chẳng muốn những thứ đó.
Khi đã thấy rõ điều đó, họ lại bàn nhau nên trừng phạt nó như thế nào. Nhưng họ bàn không lâu, vị hiền giả ban nãy vẫn để mặc cho họ bàn luận liền lên tiếng:
- Này thôi! Có hình phạt đây rồi. Một hình phạt ghê rợn, các người có nghĩ một nghìn năm cũng không tìm được ra một hình phạt như thế. Cách trừng phạt nó ở ngay trong bản thân nó! Hãy thả nó ra, cứ để cho nó được tự do. Đấy là hình phạt của nó!
Thế là liền xảy ra một việc vĩ đại. Một tiếng sấm gầm vang, mặc dầu trên trời không có mây đen. Đấy là các thần thánh trên thượng giới chuẩn nhận lời nói của bậc hiền giả. Mọi người rạp mình bái vọng và tản đi. Còn gã trai ấy - bây giờ có tên là Larra, nghĩa là kẻ bị ruồng bỏ, bị xua đuổi - cười ầm lên, nhìn theo những người đang bỏ gã mà đi, gã cười, ở lại một mình và sống tự do như bố gã. Nhưng bố gã không phải là người... Còn gã là người. Thế là gã bắt đầu sống phóng túng như con chim. Gã đến các bộ lạc và cuỗm gia súc, bắt cóc cô gái: cướp tất cả những gì gã muốn lấy. Họ bắn vào gã, nhưng tên không thể xuyên vào người gã, vì gã được che chở bởi một lớp bọc vô hình của hình phạt tối cao. Gã khéo léo, tham tàn, dũng mãnh hung bạo và không bao giờ dàn mặt mọi người. Người ta chỉ thấy gã từ xa. Suốt bao lâu, Larra cứ đơn độc một mình, quanh quẩn gần mọi người, nó sống rất lâu như vậy, hàng mấy chục năm trời. Nhưng có lần, nó đến gần mọi người, và khi họ xông vào nó thì nó đứng yên không nhúc nhích, không hề tỏ ra có ý định tự vệ. Thế là một người trong bọn họ đoán ra và hét lên:
- Đừng động đến nó! Nó muốn chết đấy!
Mọi người dừng lại, không muốn giảm nhẹ số phận của kẻ đã làm hại họ, không muốn giết nó. Họ dừng lại và cười nhạo nó. Còn nó run lên khi nghe tiếng cười của họ, hai tay túm lấy ngực, tìm kiếm cái gì trên ngực, bỗng nhiên nó nhặt một hòn đá và xông vào họ. Nhưng họ giạt cả ra tránh nó và không đánh nó một cái nào, rồi khi nó mệt lả, thét lên một tiếng ai oán và ngã vật xuống đất thì họ lùi ra xa đứng nhìn nó. Nhưng nó bỗng đứng lên, nhặt lấy con dao không rõ của ai đã đánh rơi trong lúc xô xát với nó, và tự đâm vào ngực. Nhưng con dao gẫy gập như đâm phải đá. Nó lại ngã nhào xuống và cứ đập đầu xuống đất mãi. Nhưng đất tránh né nó, lún sâu xuống mỗi khi đầu nó dập xuống.
- Nó không thể nào chết được! - Mọi người sung sướng nói.
Họ kéo nhau đi, bỏ mặc nó. Nó nằm ngửa mặt lên trời và thấy những con đại bàng dũng mãnh bay lượn tít trên trời cao như những chấm đen nhỏ. Cặp mắt nó chứa chất biết bao buồn khổ, tưởng chừng có thể đủ để đầu độc cả nhân loại. Thế rồi từ đấy, nó vẫn cô độc một mình, tự do và chờ đợi cái chết đến với nó. Cho đến giờ nó vẫn lang thang khắp nơi... Anh thấy đấy, bây giờ nó chỉ còn là cái bóng và sẽ như vậy mãi mãi. Nó không hiểu cả tiếng nói lẫn hành động của mọi người, nó chẳng hiểu gì cả. Nó vẫn tìm kiếm, đi lại đây đó... Nó không có chỗ dung thân giữa mọi người. Đấy, một con người bị trừng phạt về tội kiêu ngạo như thế đó!
Bà lão thở dài, im lặng, đầu gục xuống ngực, lúc lắc mấy cái nom đến kỳ dị.
Tôi nhìn bà. Tôi thấy hình như bà lão buồn ngủ. Không hiểu vì sao tôi bỗng xót xa thương bà. Đoạn cuối câu chuyện, bà kể bằng một giọng rất thống thiết, đầy hăm dọa, vậy mà tôi vẫn cm thấy một âm thanh sợ sệt, nô lệ.
Trên bờ biển có tiếng hát vang lên, tiếng hát kỳ dị. Thoạt đầu là một giọng nữ trầm cất lên hai ba âm thanh, rồi đến một giọng khác hát lại từ đầu vẫn bài ấy, nhưng giọng thứ nhất luôn luôn đi trước giọng thứ hai... giọng thứ ba, thứ tư, thứ năm bắt vào khúc hát vẫn theo trình tự ấy. Bỗng nhiên, những giọng nam hợp xướng nổi lên, vẫn bài đó, và lại hát từ đầu.
Mỗi giọng nữ lanh lảnh nghe tách bạch hẳn, ta có thể mường tượng đó là những dòng suối muôn màu từ trên cao đổ xuống các khối đá, réo rắt vọt tung lên hòa vào làn sóng giọng nam dày đặc đang nhịp nhàng cuộn lên, chìm ngập trong làn sóng đó, rồi lại bứt ra, át hẳn mọi âm thanh ấy, và giọng này tiếp giọng kia, lại vút lên cao, trong trẻo và mạnh mẽ.
Tiếng hát át hẳn tiếng sóng...


II

- Anh có nghe thấy ở đâu người ta còn hát như thế không? - Bà lão Inzerghin vừa hỏi vừa ngẩng đầu lên và cái miệng móm mém mỉm cười.
- Không, tôi chưa bao giờ nghe thấy...
- Và sẽ không bao giờ được nghe thấy nữa. Chúng tôi thích hát. Chỉ những người đẹp mới có thể hát hay, vì những người đẹp là những người ham sống. Chúng tôi ham sống. Anh tưởng những người đang hát ở kia không mệt mỏi sau một ngày vừa qua sao? Chớ tưởng lầm như vậy! Họ làm việc từ lúc mặt trời mọc cho tới hoàng hôn, bây giờ trăng đã lên mà họ vẫn ca hát. Những kẻ không biết sống thì đã đi ngủ rồi. Những người yêu đời vẫn ca hát, anh thấy đấy.
- Nhưng sức khỏe... - Tôi toan nói.
- Sức khỏe bao giờ cũng đủ dùng suốt đời. Sức khỏe! Nếu anh có tiền, anh lại không tiêu tiền chăng?
Sức khỏe cũng là vàng. Anh có biết thời trẻ tôi đã làm gì không? Tôi dệt thảm từ sáng tinh m cho đến chiều hôm, gần như không hề đứng lên. Tôi lanh lợi như một tia sáng mặt trời, vậy mà cứ phải ngồi lì một chỗ như tảng đá. Tôi ngồi đến nỗi đôi khi xương cốt kêu răng rắc. Vậy mà cứ tối đến là tôi chạy đến với người yêu để ôm hôn chàng. Ba tháng ròng như thế, suốt thời gian chúng tôi yêu nhau. Hồi ấy, đêm nào tôi cũng đến với chàng. Thế mà tôi sống đến ngần này tuổi rồi đây: khí lực sung túc lắm đấy chứ! Tôi đã yêu biết bao nhiêu người! Tôi đã cho và nhận bao nhiêu cái hôn!
Tôi nhìn mặt bà lão. Cặp mắt đen của bà vẫn mờ đục, hồi ức không làm cho cặp mắt ấy linh hoạt lên. ánh trăng rọi sáng cặp môi khô nứt nẻ của bà, rọi sáng cái cằm nhọn vêu vao dính những sợi tóc bạc và cái mũi nhăn nheo khoằm xuống như mỏ cú. Hai má trũng xuống thành hai hõm đen: từ dưới tấm khăn đỏ, như miếng giẻ rách quấn quanh đầu, một mớ tóc màu tro xõa ra, dính bết vào bên hõm má. Da mặt, da cổ và da tay chằng chịt nếp nhăn nom như những vết khía và mỗi khi bà lão cử động, tôi cứ tưởng như làn da khô héo ấy sẽ rách tơi tả, bong xuống từng mnh và trước mắt tôi sẽ hiện lên bộ xương trần trụi với hai hốc mắt đen ngòm, đờ đẫn.
Bà lão lại bắt đầu kể chuyện, bằng cái giọng lạo xạo của mình.
- Dạo ấy, tôi sống với mẹ ở Fanmi, ngay trên bờ sông Buôclat. Khi anh ấy đến xóm tôi thì tôi mười lăm tuổi. Anh ấy cao lớn, thân hình mềm dẻo, ria đen, vui tính. Anh ấy ngồi nói chuyện và cất giọng sang sảng, thét vọng vào cửa sổ gọi chúng tôi: “Này, các người có rượu nho... và cái gì cho tôi chén với không?” Tôi nhìn ra cửa sổ và qua những cành tần bì, tôi thấy: cả dòng sông xanh biết dưới ánh trăng, anh mặc sơ mi trắng, chiếc thắt lưng rộng bản buông thõng hai đầu xuống một bên sườn, một chân anh đứng trong thuyền, chân kia ghếch lên bờ. Anh lắc lư và hát một điệu gì không rõ. Thấy tôi, anh nói: “Chà, ở đây có cô em xinh đẹp quá đi mất! Thế mà ta chẳng biết gì cả!” Cứ như là trước khi gặp tôi, anh đã biết tất cả con gái đẹp trên đời rồi không bằng ! Tôi đem rượu nho và thịt lợn luộc cho anh... Rồi bốn ngày sau, tôi đã hiến cả con người tôi cho anh... Đêm nào chúng tôi cũng xuống thuyền đi chi với nhau. Anh đến, huýt sáo khe khẽ như tiếng chuột nhảy, còn tôi nhảy qua cửa sổ xuống sông như một con cá... Thế rồi chúng tôi cho thuyền đi... Anh là một tay chài lưới ở Prut, về sau, khi mẹ tôi đã biết hết mọi chuyện và dọt cho tôi một trận nên thân thì anh luôn luôn dỗ tôi đi với anh đến Đôbruja và đi xa hơn nữa, tới cửa sông Đanuyp. Nhưng lúc ấy tôi không thích anh nữa rồi: anh chỉ biết ca hát và ôm hôn tôi, ngoài ra không còn gì nữa! Tôi đã chán anh rồi. Hồi ấy có một đoàn người Guxun kéo đến vùng này, và trong bọn họ có những tay đáng yêu... Bọn họ sống đến là vui, có một cô gái nọ đang chờ đợi chàng trai hiên ngang của mình (chàng là người xứ Cacpát). Cô cứ tưởng anh đã vào tù hoặc bị giết trong một cuộc ẩu đ ở đâu đó, vậy mà bỗng nhiên chàng vụt đến với cô, như từ trên trời rơi xuống, đi một mình hay với hai ba người bạn. Chàng mang đến cho cô những món quà sang trọng: thứ gì họ cũng kiếm được một cách dễ dàng thôi mà! Chàng ăn uống linh đình ở nhà cô, hãnh diện về cô trước các bạn mình. Cô thích thú về chuyện đó. Tôi nhờ một cô bạn hiện đang có một chàng Guxun giới thiệu họ cho tôi... Tên cô ấy là gì? Tôi quên mất rồi... Bây giờ tôi bắt đầu quên hết mọi việc trên đời. Từ bấy đến nay đã bao lâu rồi, mọi việc đều quên ráo cả. Cô ta giới thiệu cho tôi một anh chàng giỏi trai. Anh chàng khá xinh... Đầu tóc anh đỏ, cái gì cũng đỏ hoe: cả ria lẫn những búp tóc xoăn! Một cái đầu rực lửa! Dáng dấp anh buồn rười rượi, khi thì anh âu yếm, khi thì gầm thét và ẩu đả như thú dữ. Có lần anh đánh vào mặt tôi... Còn tôi nhảy chồm vào ngực anh như một con mèo, cắn ngập răng vào má anh... Từ đó, trên má anh có một lỗ trũng, và khi tôi hôn vào lỗ trũng ấy thì anh thích lắm.
- Thế còn anh thuyền chài, anh ta đi đâu? - Tôi hỏi.
- Anh thuyền chài, hả? Anh ta... vẫn ở đấy. Anh ta nhập bọn với cánh Guxun. Thoạt tiên, anh ta vẫn cứ dỗ dành tôi và dọa quẳng tôi xuống sông, nhưng rồi cũng không có chuyện gì c, anh ta nhập bọn với họ, kiếm được một cô khác... Cả hai anh bạn của tôi - anh thuyền chài và anh Guxun ấy - cùng bị treo cổ một lúc. Tôi có đi xem họ bị treo cổ. Chuyện đó xảy ra ở Đôbruja. Khi đi ra chỗ xử tội, anh thuyền chài mặt tái mét, khóc lóc, còn anh Gunxun thì phì phèo tẩu thuốc. Anh đi ung dung như thường và hút thuốc, hai tay đút túi quần, một bên ria mép ng xuống bên vai, nhánh kia thõng trước ngực. Thấy tôi, anh nhả tẩu thuốc ra và lớn tiếng gọi tôi: “Vĩnh biệt!...” Tôi thưng tiếc anh suốt một năm trời. Chuyện đó xảy ra lúc họ định về quê ở Cacpát. Trước khi đi, họ đến thăm một người Rumani để từ biệt. Họ bị bắt ở đó. Chỉ có hai người bị bắt, còn thì mấy người bị giết, những người khác trốn thoát... Sau đó, họ đã trả thù gã người Rumani kia... Họ đốt trại, đốt nhà xay bột, đốt hết lúa mì của hắn. Hắn trở thành ăn mày.
- Cụ làm việc ấy đấy chứ? - Tôi đoán già đoán non.
- Bọn Guxun thiếu gì bạn bè, không phải chỉ có mình tôi... - Người nào là bạn thân nhất của họ, người ấy rửa hờn cho người khuất bóng...
Tiếng hát trên bờ biển đã im bặt, bây giờ chỉ có tiếng sóng biển ì ầm hòa nhịp với bà lão: tiếng sóng tư lự và sôi nổi hòa điệu tuyệt diệu cho câu chuyện về một cuộc đời sóng gió. Đêm mỗi lúc một êm dịu hn, ánh trăng xanh ngời tỏa chiếu càng rộng khắp trong đêm, còn những âm thanh m hồ phát ra từ cuộc sống tất bật của những cư dân vô hình của đêm tối cứ khẽ dần đi, bị át trong tiếng sóng biển rì rào mỗi lúc một to... vì gió mỗi lúc một mạnh.
- Sau đó tôi còn yêu một anh chàng Thổ Nhĩ Kỳ nữa. Tôi ở trong khuê phòng của anh ta ở Xukutari. Tôi sống ở đó suốt một tuần, cũng được... Nhưng rồi tôi đâm chán... Lúc nào cũng chỉ thấy đàn bà là đàn bà... Anh ta có tám ... Suốt ngày họ chỉ ăn, ngủ và tán chuyện lăng nhăng... Hay chửi nhau, quang quác cái mồm lên như những con gà mái. Anh ta không còn trẻ nữa, cái anh Thổ Nhĩ Kỳ ấy. Tóc gần bạc hết, nghiêm trang rất mực và giàu có. Nói năng như đấng chúa tể... Mắt đen... đôi mắt thẳng thắn... nhìn thẳng vào tâm hồn người ta. Anh rất thích cầu nguyện. Tôi gặp anh ở Bukaresti... Anh đi đi lại lại trong chợ như một ông vua, xem xét mọi cái với vẻ trang nghiệm, rất đỗi trang nghiêm. Tôi mỉm cười với anh. Ngay chiều hôm đó, người ta chộp lấy tôi ở ngoài phố và đưa lên xe, đưa đến nhà anh. Anh buôn bạch đàn và dừa, còn anh đến Bukaresti mua cái gì thì không rõ. “Cô em đến Thổ Nhĩ Kỳ với ta chứ?” Anh hỏi “ồ vâng, em xin đi với chàng !” “Tốt lắm!” Thế là tôi đi. Anh chàng Thổ Nhĩ Kỳ ấy giàu có lắm. Anh ấy có một đứa con trai, thằng bé ngăm ngăm đen, rất mềm mại... Nó mười sáu tuổi. Tôi cùng với nó trốn khỏi nhà anh Thổ Nhĩ Kỳ ấy... Tôi trốn sang Bungari, đến Lôm-Palanka... ở đấy, tôi bị một Bungari cho một nhát dao vào ngực, ghen về chồng chưa cưới hay chồng, tôi cũng không nhớ nữa.
Tôi ốm, nằm một thời gian dài trong tu viện. Một tu viện phụ nữ. Một cô gái chăm sóc tôi, cô ta người Ba Lan, cô có người anh ở một tu viện khác - tôi còn nhớ là ở gần Acse-Palanka - anh vẫn lui tới thăm cô, anh cũng là một thầy tu... Anh ta... cứ uốn éo làm duyên làm dáng trước mặt tôi như con sâu ấy... khi tôi khỏe hẳn, tôi bỏ ra đi với anh... sang nước Ba Lan của anh.
- Hượm đã! Thế thằng bé Thổ Nhĩ Kỳ bây giờ đâu rồi?
- Thằng bé ấy à? Thằng bé ấy nó chết rồi. Vì nhớ nhà hay vì tình thì không rõ... Nó héo quắt đi như cái cây nhỏ non yếu, bị nắng rọi quá nhiều... nó cứ héo quắt mãi đi... tôi nhớ, nó nằm trên giường, người đã trong vắt và xanh nhợt như tng băng, vậy mà tình yêu vẫn rực cháy trong người nó... Nó vẫn nài tôi cúi xuống và hôn nó... Tôi đã yêu nó và tôi còn nhớ tôi đã hôn nó rất nhiều... Rồi nó suy kiệt hẳn, gần như không cử động được nữa. Nó nằm trên giường và kêu van thảm thiết như một thằng ăn mày xin bố thí, nài tôi nằm xuống cạnh nó và sưởi ấm cho nó. Tôi nằm xuống. Tôi vừa nằm xuống với nó... thì toàn thân nó lập tức nóng rực lên như lửa. Một hôm, tôi thức dậy thì nó đã lạnh ngắt... nó chết rồi. Tôi khóc thương nó. Biết nói thế nào được? Có lẽ chính tôi đã giết nó. Lúc ấy tuổi tôi gấp đôi tuổi nó. Tôi khỏe mạnh như thế, dồi dào sức sống như thế... Còn nó, nó là cái gì?... Một thằng nhóc!
Bà lão thở dài, và làm dấu thánh ba lần - lần đầu tiên tôi thấy bà cụ làm dấu - mấp máy cặp môi khô lẩm bẩm câu gì không rõ.
- Thế rồi cụ sang Ba Lan... Tôi nhắc.
- Phi... đi với gã Ba Lan nhỏ nhắn ấy. Gã là một kẻ lố bịch và đê tiện. Khi cần đàn bà thì gã quấn quít lấy tôi như con mèo, và từ lưỡi gã tuôn ra một thứ mật ngọt nóng hừng hực, nhưng khi gã không thèm muốn tôi thì gã nói tôi đau như roi quất. Có lần, chúng tôi đi trên bờ sông thốt nhiên gã nói một câu hợm hĩnh xúc phạm đến tôi! Ôi chao!... Tôi giận điên lên! Tôi sôi lên như thùng nhựa nấu! Tôi nhấc bổng gã lên như nhấc đứa trẻ - người gã nhỏ bé, - tôi bóp chặt hai cạnh sườn gã, đến nỗi gã tái nhợt đi. Thế rồi tôi lấy đà quăng gã xuống sông. Gã kêu gào. Gã kêu gào đến là tức cười. Tôi đứng trên bờ nhìn gã, còn gã vùng vẫy dưới nước. Thế là tôi bỏ đi. Từ đấy, tôi không bao giờ gặp gã nữa. Tôi có cái may mắn như vậy đấy: không bao giờ gặp lại những người mà tôi đã từng yêu. Đấy là những cuộc gặp gỡ tệ hại, chẳng khác gì gặp lại những người đã chết.
Bà lão im lặng, thở dài. Tôi tưởng tượng ra những người mà bà lão đã gợi lại trong ký ức. Đây là chàng Gunxun râu tóc đỏ rực như lửa, ria mép vắt vẻo, đang đi đến chỗ chết mà vẫn điềm nhiên phì phèo tẩu thuốc. Hẳn là anh có cặp mắt xanh biếc lạnh lùng, nhìn mọi sự vật một cách chăm chú, cưng quyết. Bên cạnh anh là gã thuyền chài xứ Prut, ria đen: gã khóc lóc và không muốn chết, và trên khuôn mặt tái mét, đau buồn vì sắp phi từ giã cuộc đời, cặp mắt vui vẻ mờ đi, bộ ria mép đẫm nước mắt rũ xuống hai bên cái miệng méo xệch, nom mới buồn thm làm sao. Còn đây là lão già Thổ Nhĩ Kỳ trang nghiêm, chắc hẳn là một người tin ở định mệnh và chuyên chế, cạnh lão là gã con trai lão, bông hoa bé nhỏ, nhợt nhạt và mnh mai của phưng Đông, đã bị đầu độc vì những chiếc hôn. Còn đây là anh chàng Ba Lan háo danh, vừa thanh lịch vừa tàn nhẫn, vừa khéo nói vừa lạnh lùng... Tất c bọn họ chỉ là những cái bóng nhợt nhạt, còn người đàn bà mà họ đã ôm hôn thì đang ngồi cạnh tôi, một con người sống, nhưng thời gian đã làm cho héo hắt đi, không còn thân hình, không còn khí huyết, lòng không ham muốn, mắt không còn những tia sáng linh lợi, cũng gần như một cái bóng.
Bà lão kể tiếp:
- ở Ba Lan, tôi sống khó khăn lắm. Người nước này lạnh nhạt và dối trá. Tôi không biết thứ tiếng rin rít như tiếng rắn phun của họ... Người nào nói cũng rít lên. Sao họ lại rít lên thế nhỉ? Chúa ban cho họ thứ tiếng rin rít của loài rắn là bởi họ hay dối trá. Hồi ấy tôi cứ đi mà chẳng biết là đi đâu, tôi thấy họ tụ tập nhau nổi lên chống lại người Nga các anh. Tôi đi đến thành phố Bôcnia. Một gã Do thái bỏ tiền ra mua tôi, không phải mua cho gã, mà để dùng tôi làm món hàng buôn bán. Tôi cam chịu cảnh ngộ ấy. Muốn sống được thì phải biết làm một việc gì. Tôi chẳng biết làm gì bởi thế tôi đành bán thân nuôi miệng. Nhưng lúc ấy, tôi nghĩ rằng hễ kiếm được ít tiền đủ để về quê nhà ở Buôclat là tôi sẽ dứt bỏ xiềng xích, dù là kiên cố đến mấy đi nữa. Vậy là tôi ở lại đấy. Khách của tôi là những pan giàu có, chúng chơi bời chè chén ở nhà tôi. Chúng phải trả giá đắt về những cuộc ăn chơi đó. Chúng đánh nhau, khuynh gia bại sản vì tôi. Có một tên trong một thời gian dài vẫn cố giành lấy tôi cho riêng mình hắn và một hôm, hắn làm thế này: hắn đến, mang theo tên gia nhân vác một cái bao tải. Tên pan hai tay cầm lấy bao tải và dốc ngược trên đầu tôi. Những đồng tiền vàng túa ra, đập xuống đầu tôi, và tôi vui thích nghe thấy tiếng tiền vàng rơi loảng xoảng xuống sàn nhà. Nhưng mặc dầu vậy, tôi vẫn tống cổ tên quý tộc đó đi. Nó có cái mặt bự thịt, thô kệch, còn bụng thì cứ như cái gối to phồng. Nom nó như con lợn ỉn ăn no. Phải, tôi đã tống khứ thằng cha đó đi; mặc dù nó nói rằng nó đi bán hết đất đai, nhà cửa, ngựa nghẽo để rắc vàng lên khắp người tôi. Hồi đó, tôi yêu một pan xứng đáng mặt đầy sẹo. Mặt anh đầy vết chém ngang dọc vì những nhát gưm của bọn Thổ Nhĩ Kỳ; trước đó ít lâu, anh đứng về phía người Hy Lạp đánh lại chúng. Đấy mới thật là con người!... Người Hy Lạp thì thân thiết gì với anh, anh là người Ba Lan kia mà? Nhưng anh ra trận, cùng họ chống lại kẻ thù của họ. Anh bị chúng đâm chém, lòi một mắt, bàn tay trái mất hai ngón... Người Hy Lạp thì thân thiết gì với anh, anh là người Ba Lan kia mà? Duyên do là thế này: anh thích làm nên chuyện phi thường. Và khi một con người ưa thích làm nên chuyện phi thường thì bao giờ người đó cũng biết lập kỳ công và cố tìm được chỗ có thể làm chuyện đó. Anh biết không, trong cuộc sống bao giờ cũng có chỗ để làm nên sự nghiệp phi thường. Còn những kẻ không tìm được cơ hội để lập nên kỳ công thì chỉ là những kẻ lười biếng hoặc hèn nhát, hoặc là không hiểu cuộc sống, vì nếu hiểu cuộc sống thì mỗi người đều muốn lưu lại bóng dáng mình sau khi mình không còn trên đời này nữa. Và như thế thì cuộc sống sẽ không ngốn ngấu con người không để lại vết tích gì... ồ, anh chàng bị chém nát mặt ấy đáng là con người. Anh sẵn sàng đi đến cùng trời cuối đất để làm được một việc gì. Hẳn là người Nga các anh đã giết anh ta trong thời gian nổ ra cuộc nổi loạn. Nhưng tại sao các anh lại đi đánh người Magya? Này thôi, im đi!...
Và để bắt tôi im lặng, bà lão Izerghin đột nhiên ngừng bặt, trầm ngâm suy nghĩ.
- Tôi còn quen biết một người Magya. Một hôm, anh ta bỏ tôi ra đi, lúc ấy là mùa đông và mãi đến mùa xuân, khi tuyết tan, người ta mới tìm thấy anh ta trên cánh đồng, đầu bị đạn xuyên qua. Thế đấy! Anh thấy chứ: tình yêu giết người không kém bệch dịch hạch, tính ra không ít hn đâu... Vừa nãy tôi nói chuyện gì nhỉ? à, nói về Ba Lan... Phi, ở đấy tôi đã chi canh bạc cuối cùng của tôi! Tôi gặp một tay quí phái Ba Lan... Tay này mới thật đẹp trai! Ranh như quỷ sứ ấy! Còn tôi thì già rồi, ôi chao, tôi già thật rồi! Lúc ấy tôi đã đến bốn mưi chưa nhỉ?... Có lẽ đến rồi đấy... còn nó thì kiêu hãnh, được bọn đàn bà chúng tôi chiều chuộng. Tôi đau khổ vì nó. Đúng thế, nó muốn lập tức muốn chiếm lĩnh tôi mà không tốn chút công sức nào, nhưng tôi đâu có chịu. Chưa bao giờ tôi chịu làm nô lệ cho bất cứ kẻ nào. Tôi đã dứt được thằng Do thái, tôi cho nó vô khối tiền... Bấy giờ tôi ở Cracôvi. Tôi đã có đủ mọi thứ: ngựa, vàng bạc, kẻ hầu người hạ... Con quỷ kiêu ngạo ấy lui tới thăm tôi và vẫn muốn tôi tự gieo mình vào hai cánh tay nó. Chúng tôi cãi nhau... tôi còn nhớ là vì chuyện ấy mà tôi đâm ra sọm người đi. Câu chuyện kéo dài khá lâu... Tôi đã thắng: nó quỳ gối van xin tôi... Nhưng vừa chiếm được tôi thì nó cũng bỏ tôi luôn. Thế là tôi hiểu rằng tôi đã già rồi... Ôi, điều đó chẳng dễ chịu gì cho tôi đâu! Chẳng dễ chịu gì đâu! Tôi thì tôi yêu nó, thằng quỷ sứ ấy... Còn nó, khi gặp tôi, nó cười cợt... cái thằng xỏ lá thế! Khi nói chuyện với những đứa khác, nó chế nhạo tôi, tôi biết. Chà, đau xót lòng tôi, thật đấy! Nhưng nó vẫn ở đây, gần gũi, và dù sao tôi vẫn mê nó. Khi nó ra đi đánh nhau với người Nga các anh, lòng tôi đau đớn vô cùng. Tôi cố nén lòng, nhưng không thể được... Và tôi quyết đi theo nó. Nó ở gần Vacxôvi, trong rừng...
Nhưng khi tôi đến nơi thì được biết bọn họ đã bị các anh đánh tan... nó bị bắt làm tù binh, giam ở một làng cách đấy không ra.
Tôi nghĩ: “Thế là ta không bao giờ còn gặp nó nữa!”. Nhưng tôi muốn gặp nó. Thế rồi tôi cố tìm cách gặp nó cho bằng được. Tôi gi dạng làm một mụ hành khất, chân đi tập tễnh và mặt quấn băng, tìm đến cái làng nó bị giam. Chỗ nào cũng gặp người Cô-dắc và lính tráng... Tôi đã phải trả một giá đắt để đến được nơi đó! Tôi đã dò được chỗ giam người Ba Lan và tôi thấy rằng khó lòng mà lọt tới được! Nhưng tôi cần phải đến. Thế là ban đêm, tôi bò đến chỗ họ bị giam giữ. Tôi bò trong vườn rau, giữa các luống đất và tôi thấy một tên lính gác đứng trên đường tôi đi... Tôi đã nghe thấy bọn người Ba Lan đang hát và nói oang oang. Họ hát một bài ca ngợi Đức Mẹ... và nó cũng hát với họ... Ackadec của tôi... Tôi chua xót nghĩ rằng trước kia người ta bò rạp đến tìm tôi... vậy mà bây giờ đã đến lúc tôi bò trên mặt đất như con rắn, tìm đến với một gã đàn ông và có lẽ là bò đến tìm cái chết của tôi cũng nên. Kìa, tên lính gác đã gác nghe ngóng, vươn người về phía trước. Tôi phải làm thế nào đây? Tôi đứng lên và tiến thẳng đến trước mặt hắn. Tôi không có dao, không có gì hết, chỉ có hai bàn tay và miệng lưỡi của tôi thôi. Tôi lấy làm tiếc rằng đã không giắt dao bên mình! Tôi thì thầm: “ấy gượm!... Nhưng tên lính đã chìa lưỡi lê vào họng tôi. Tôi thì thầm nói với hắn: “Đừng đâm, hãy gượm, nếu anh còn có một tấm lòng thì xin hãy nghe tôi! Tôi không thể cho anh cái gì đâu, nhưng tôi van xin anh...”. Hắn hạ súng xuống và cũng thì thầm nói với tôi: “Xéo đi, mụ kia! Xéo đi! Mụ muốn gì?” Tôi bảo hắn rằng con trai tôi hiện bị nhốt ở đây... “Anh hiểu đấy, anh lính ạ, con trai tôi! Anh cũng là con trai một người nào đó, phải không? Thế thì anh hãy nhìn tôi đây, tôi cũng có một đứa con trai như anh, vậy mà bây giờ nó ở kia! Cho tôi nhìn nó một tí, có lẽ chẳng bao lâu nữa nó sẽ chết... chưa biết chừng ngày mai anh sẽ bị giết... mẹ anh sẽ khóc anh chứ gì? Và hẳn là anh đau lòng nếu chết mà không được nhìn mặt mẹ, phải không? Con trai tôi cũng đau lòng như thế. Anh hãy thương lấy thân anh, thương nó, thương cả tôi nữa, vì tôi là người mẹ!...”.
Ôi chao, tôi nói với hắn lâu lắm! Trời mưa, chúng tôi ướt ráo cả. Gió gào thét, gầm rú, lúc thì thốc vào lưng, lúc thì xô vào ngực tôi. Tôi đứng, lảo đảo trước mặt tên lính tr tr như tượng đá ấy... Còn hắn thì luôn miệng nói: “Không!” Và mỗi lần nghe tiếng “Không!” lạnh lùng của hắn thì niềm mong muốn được gặp Ackadec càng bừng cháy trong lòng tôi. Tôi vừa nói vừa đưa mắt lượng sức vóc tên lính: hắn nhỏ bé, gầy ngẳng và ho luôn miệng. Thế là tôi sụp xuống đất trước mặt hắn, ôm lấy đầu gối hắn, không ngớt van nài hắn bằng những lời lẽ nhiệt thành, rồi tôi quật hắn xuống. Hắn ngã vào đống bùn. Nhanh như cắt, tôi lật úp mặt hắn xuống đất,, dìm đầu hắn xuống vũng nước để hắn khỏi kêu. Hắn không kêu, chỉ vùng vẫy, cố hất tôi ra khỏi lưng hắn. Còn tôi, hai tay ấn đầu hắn xuống bùn sâu hơn nữa. Hắn tắt thở... Thế là tôi đâm bổ đến kho thóc, chỗ có tiếng hát của những người Ba Lan. “Ackadec!”... - Tôi thì thầm gọi qua khe tường. Những người Ba Lan ấy sáng ý lắm, nghe tiếng tôi gọi, họ vẫn tiếp tục hát! Kìa, đôi mắt Ackadec hiện ra trước mắt tôi. “Anh có thể ra được không?” - “Được, chui qua dưới sàn!” - nó nói. “ừ, thế thì ra đi”. Rồi bốn người chui qua dưới sàn ván ra ngoài: ba người khác và Ackadec của tôi. “Bọn lính gác đâu?” - Ackadec hỏi. “Nó nằm kia kìa!...” Thế là họ im hơi lặng tiếng, nhẹ nhàng ra đi, khom mình sát đất. Trời mưa, gió gào thét. Chúng tôi đã ra khỏi làng và im lặng đi hồi lâu trong rừng. Chúng tôi đi thật nhanh. Ackadec dắt tay tôi, tay nó ấm và run run. Ôi!... Lúc nó chưa nói gì cả thì đi cạnh nó, tôi sung sướng làm sao. Đấy là những phút cuối cùng, những phút sung sướng trong cuộc đời đầy ham muốn của tôi. Nhưng chúng tôi ra đồng cỏ và dừng lại. Cả bốn người đều cảm tạ tôi. Ôi, họ nói lâu lắm và nhiều lắm nói những gì tôi cũng chẳng rõ nữa! Tôi chỉ nghe và nhìn gã pan của tôi. Nó sẽ làm gì cho tôi đây? Đây này, nó ôm lấy tôi và nói rất nghiêm trang. Tôi không còn nhớ nó nói những gì, nhưng tóm lại là nó bảo bây giờ để trả lời ơn tôi đã cứu nó ra khỏi chốn ấy, nó sẽ yêu tôi... Nó quỳ xuống trước mặt tôi, mỉm cười nói với tôi: “Bà chúa của anh ơi!” Chà, thằng chó, giả dối đến như thế đấy!... Thế là tôi đá cho nó một cái và định đập vào mặt nó, nhưng nó né tránh và bật dậy. Nó đứng trước mặt tôi, hầm hầm và tái mét... Ba tên kia cũng đứng dậy, đứa nào cũng cau có. Cả bọn đều im lặng. Tôi nhìn chúng... Tôi còn nhớ, lúc đó tôi chỉ cảm thấy chán ngán vô cùng, không còn thiết gì nữa... Tôi bảo chúng: “Các người đi đi!” Còn chúng, đồ chó, chúng hỏi tôi: “Chị sẽ quay lại đằng ấy và chỉ cho chúng biết chúng tôi đi đường nào chứ?” Quân đê hèn làm sao! Nhưng rồi chúng cũng bỏ đi. Và tôi cũng đi... Hôm sau người Nga các anh bắt được tôi, nhưng rồi họ thả ngay. Thế là tôi thấy đã đến lúc tôi phải xây một tổ ấm, tôi sẽ sống cuộc đời con chim cu! Tôi đã đâm ra ì ạch, cánh đã yếu, lông đã bợt màu... Đã đến lúc sống chân chỉ, đã đến lúc rồi! Tôi đến Galixi, rồi từ đó về Đôbritia. Và tôi ở đây đã ba chục năm trời. Tôi lấy một anh chồng người Mônđavi, anh ấy mất đã gần một năm. Còn tôi vẫn sống! Sống đơn độc một mình... Không không phải một mình mà sống với những người kia.
Bà lão đưa tay về phía biển, mặt biển khắp nơi đều yên tĩnh. Đôi khi một âm thanh ngắn ngủi, hư o bật lên rồi tắt lặng ngay.
- Họ yêu tôi. Tôi kể cho họ nghe đủ thứ chuyện. Họ cần nghe những chuyện đó. Bọn họ còn trẻ cả... Sống với họ tôi thấy thú vị lắm. Tôi nhìn họ và nghĩ: “Đã có thời ta cũng như thế... Có điều là thời ấy, cái thời sôi nổi xa xưa của ta, con người có nhiều sức lực và nhiều lửa sống hn, vì thế sống vui hơn và thú hơn... Đúng thế!...”
Bà lão im lặng. Ngồi bên bà, tôi cm thấy buồn man mác. Bà lão thiu thiu ngủ, đầu lắc la lắc lư và khẽ lầm rầm cái gì không rõ... có lẽ bà cầu nguyện.
Trên mặt biển nhô lên một đám mây đen nặng nề, có đường viền gân guốc, giống như một chỏm núi. Đám mây trườn vào tho nguyên. Từ chỏm mây, có những mng mây tách ra, bay vượt lên trước và lần lượt che tắt hết ngôi sao này đến ngôi sao khác. Biển động ầm ầm. Cách chúng tôi không xa, dưới những gốc nho, người ta hôn nhau, thì thầm, thở dài. Một con chó sủa rống lên ở một ni nào xa tít trong tho nguyên... Không khí đầy một mùi kỳ lạ, làm ngứa ngáy lỗ mũi, kích thích thần kinh. Bóng mây in xuống mặt đất từng đám dày đặc, trườn đi, trườn đi biến mất rồi lại xuất hiện... ở chỗ mặt trăng trước kia, chỉ còn lại một vệt trắng đục, đôi khi bị một mảng mây xanh nhạt hoàn toàn che khuất. Xa xa trên thảo nguyên lúc này đã trở nên đem ngòm và đáng sợ, như đang ẩn náu và thu giấu trong mình một cái gì bí ẩn, có những đốm lửa xanh lam bùng lên. Chúng xuất hiện trong giây lát, khi thì chỗ này, khi thì chỗ kia rồi tắt đi, cứ như có mấy người tản mát trong thảo nguyên, ở cách xa nhau, đang tìm kiếm cái gì, xòe diêm lên nhưng lại bị gió thổi tắt ngay. Đấy là những lưỡi lửa xanh rất kỳ dị, gợi nhớ tới một cái gì hoang đường.
- Anh có thấy những ánh lửa không? - Bà lão Izerghin hỏi tôi.
- Những ánh lửa xanh kia phải không? - Tôi vừa nói vừa trỏ ra thảo nguyên.
- ánh lửa xanh hả? ừ, đúng đấy... Vậy ra những ánh lửa ấy vẫn còn bay lượn! Lạ thật... Nhưng mắt tôi bây giờ không còn thấy những ánh lửa ấy nữa. Bây giờ có nhiều cái tôi không nhìn thấy được.
Trước đó tôi đã được nghe một đôi điều về nguồn gốc những tia lửa này, nhưng tôi muốn nghe bà lão Izerghin kể câu chuyện ấy.
- Những tia lửa ấy từ trái tim cháy của Đankô tóe ra đấy. Thuở xưa, có một trái tim một hôm đã bốc cháy. Những tia lửa này là ở trái tim đó mà ra... Tôi sẽ kể cho anh câu chuyện ấy... cũng là một câu chuyện cổ tích cũ... Câu chuyện cũ kỹ, toàn những chuyện cũ kỹ c thôi! Anh thấy không, thời xưa có biết bao nhiêu chuyện hay?... Còn thời nay chẳng có gì hết: không có công việc, không có con người, cũng chẳng có những chuyện cổ tích như thời xưa nữa... Tại sao? Nào, nói đi... Anh không trả lời được đâu... Anh biết được những gì nào? Bọn trẻ các anh biết được những gì? Hà, hà!... Nếu các người nhìn kỹ vào thời xưa thì sẽ gii đáp được hết... Nhưng các người không nhìn, và vì thế các người không biết sống... Tôi không nhìn thấy cuộc đời chăng? ồ, tôi thấy hết, mặc dù mắt tôi kém! Tôi thấy thiên hạ không sống, mà chỉ đắn đo, suy tính và phí cả đời vào việc đắn đo suy tính đó. Rồi khi sống uổng hết một đời người vì phao phí thời gian thì lại bắt đầu khóc than cho số phận. Nhưng viện số phận ra mà làm gì? Số phận của mỗi người là ở chính bản thân người đó! Cho tới nay, tôi vẫn gặp đủ mọi loại người, nhưng không thấy những người dũng cảm! Họ đâu cả rồi?... Người đẹp cũng mỗi ngày một ít đi.
Bà lão bắt đầu suy nghĩ về việc những người dũng cm và đẹp biến đi đâu hết cả, vừa suy nghĩ vừa chăm chú nhìn khắp thảo nguyên tối thẫm, như để tìm trong đó câu trả lời. Tôi chờ nghe câu chuyện của bà lão và im lặng, sợ rằng hỏi câu gì thì cụ sẽ lại xoay sang chuyện khác.
Và bà lão bắt đầu kể.


III

“Thuở xưa, trên trái đất này, có một đám người sinh sống ở một khu vực nọ, xung quanh khu lều trại của họ ba bề là rừng rậm bao bọc, không thể len quá được, phía kia là tho nguyên. Đó là những người vui vẻ khỏe mạnh và dũng cảm. Nhưng rồi thời buổi khó khăn đã tới: có những bộ lạc khác không hiểu từ đâu xuất hiện, xua đuổi những người vẫn ở đây từ trước vào tít trong rừng sâu. ở đấy chỉ có đầm lầy và bóng tối vì rừng đã lâu đời lắm rồi, cành lá quấn quít dày rậm đến nỗi không còn nhìn thấy bầu trời nữa, và tia sáng mặt trời phi khó khăn lắm mới lọt qua đám lá um tùm để soi rọi chút ít xuống đầm lầy. Nhưng khi những tia nắng chiếu xuống mặt nước đầm lầy thì mùi hôi thối bốc lên đến nỗi họ lăn ra chết, hết người này đến người khác. Đàn bà trẻ con trong bộ lạc khóc lóc, còn các ông bố thì nghĩ ngợi và buồn rầu. Cần phải ra khỏi khu rừng này, và muốn vậy chỉ có hai con đường: con đường thứ nhất là trở lại phía sau thì có những kẻ thù mạnh và hung dữ, con đường thứ hai là tiến lên phía trước thì ở đó là những cây khổng lồ, cành to khỏe, ôm chặt lấy nhau, ngoằn ngoèo đâm sâu xuống đất bùn dính chắc của đầm lầy. Những thân cây tr tr như đá ấy ban ngày đứng sừng sững, im lìm trong ánh sáng lờ mờ, xám xịt, và tối đến, khi đốt lửa lên thì cây cối càng dịch sát lại bao quanh đoàn người. Đêm cũng như ngày, xung quanh đoàn người bao giờ cũng có một vòng bóng tối vững chắc chỉ chực nghiến bẹp họ, mà họ thì đã quen với cảnh thảo nguyên bao la. Khi gió đập các ngọn cây và cả khu rừng gào thét như hăm dọa và hát bài ca đưa đám họ thì cnh tượng càng ghê rợn hơn. Dù sao họ vẫn là những người dũng cảm và họ có thể chọi nhau một mất một còn với những kẻ đã có lần đánh bại họ, nhưng họ không thể chết trong chiến đấu được, vì họ còn có những lời di chúc, nếu họ chết thì những lời di chúc sẽ mất theo. Bởi vậy, họ cứ ngồi đấy và suy nghĩ bao đêm ròng, giữa tiếng cây rừng xào xạc, trong hi thối độc địa của đầm lầy. Họ ngồi đấy và ánh lửa tạo nên những bóng đen chập chờn nhy nhót xung quanh họ trong một điệu vũ thầm lặng, mọi người đều có cảm giác như đấy không phải là những bóng đen nhảy múa, mà là ma quỷ của rừng và đầm lầy đang hân hoan đắc thắng... Họ vẫn ngồi đấy và nghĩ ngợi. Nhưng không có cái gì, cả công việc lẫn đàn bà, lại làm suy mòn thể xác và tâm hồn người ta bằng những ý nghĩ buồn rầu. Người ta suy yếu đi vì lo nghĩ... Nỗi khiếp sợ nảy nở trong bọn họ, làm tê liệt những cánh tay rắn chắc của họ, đàn bà khóc lóc trước tử thi những người chết vì uế khí và khóc than cho số phận những người còn sống nhưng đã mất chí khí vì hong sợ, tiếng khóc của họ làm cho đoàn người hoang mang thêm. Trong rừng, người ta bắt đầu nghe thấy những câu nói hèn nhát, lúc đầu còn rụt rè, thì thầm, rồi càng về sau càng lớn tiếng hn... Họ đã định đến nộp mình cho quân thù và dâng tự do của mình cho chúng. Vì kinh hong trước cái chết, không ai còn sợ sống nô lệ nữa... Nhưng đúng lúc đó, Đankô xuất hiện và một mình anh, anh cứu thoát cả đoàn người”.
Rõ ràng là bà cụ vẫn thường kể câu chuyện trái tim cháy của Đankô. Cụ nói như hát, và giọng nói xin xít, rè rè của cụ khiến tôi hình dung rõ mồn một tiếng ào ào của khu rừng có những con người bất hạnh, kiệt lực, chết dần vì hơi độc của đầm lầy...
Đankô là một người trong bọn họ một chàng trai trẻ đẹp. Những người đẹp bao giờ cũng can đảm. Và anh nói với các bạn anh như thế này:
“- Nghĩ ngợi không thể hất bỏ được tảng đá trên đường ta đi. Kẻ nào không mó tay vào việc gì thì chẳng làm nên công chuyện gì. Cứ lo nghĩ làm chi cho hao tâm tốn sức? Hãy đứng lên, chúng ta sẽ đi sâu vào rừng và xuyên qua rừng, bởi vì rừng cũng có chỗ kết thúc, mọi cái trên đời đều có chỗ kết thúc! Ta đi đi! Nào! Tiến bước!...”.
Họ nhìn anh và thấy anh hơn hẳn tất cả bọn họ, vì trong mắt anh ngời lên bao nhiêu sức mạnh và nhiệt tình sôi nổi.
- Anh dẫn chúng tôi đi! - Họ bảo anh.
Thế là anh dẫn họ đi...
Bà lão im lặng và nhìn ra tho nguyên, ở đó bóng tối mỗi lúc một dày đặc lại. Những tia lửa tóe ra từ trái tim cháy của Đankô sáng bừng lên ở ni nào phía xa, nom như những bông hoa xanh bay lượn trên không, chỉ nở ra trong giây lát.
Đankô dẫn họ đi. Mọi người nhất loạt đi theo anh: họ tin anh. Đường đi thật khó khăn! Rừng tối om, cứ bước một bước, đầm lầy lại há cái mõm tham lam hôi thối ra nuối mất người, và cây cối sừng sững chặn đường như một bức thành kiên cố. Cành cây quấn quýt lấy nhau; rễ bò lan khắp nơi như đàn rắn, và cứ mỗi bước đi, họ lại phi tốn bao nhiêu mồ hôi và máu. Họ đi lâu lắm... Rừng mỗi lúc một dày rậm, sức lực mỗi lúc một suy kiệt! Họ bắt đầu oán trách Đankô, trách anh trẻ người non dạ, đưa họ đi vào chỗ vu vơ. Nhưng anh vẫn dẫn đầu đoàn người, hăng hái và tưi tỉnh.
Rồi một hôm, dông bão gầm thét trên rừng, cây cối ào ào ghê rợn. Trong rừng bỗng tối mù tối mịt, tưởng chừng như bao nhiêu đêm tối trên đời kể từ khi có rừng đến nay đều tụ cả lại. Những con người nhỏ bé đi giữa những cây lớn, trong tiếng sấm đáng sợ. Họ đi, còn những cây khổng lồ lắc lư, nghiến ken két và gào lên những bài ca thịnh nộ. Tia chớp bay trên các ngọn cây, ánh lửa xanh lạnh lẽo rọi sáng mọi vật trong khong khoắc và biến mất cũng nhanh như khi xuất hiện, làm mọi người kinh sợ. Cây cối được ánh chớp lạnh lẽo rọi sáng, nom như những vật sống, dang rộng những cánh tay dài ngoằn ngoèo, đan thành một mạng lưới dày xung quanh đoàn người, cố ngăn chặn họ. Từ trong đám cành lá tối tăm, có cái gì đáng sợ, hắc ắm, lạnh lẽo nhìn đám người đang đi. Đường đi gian nan, đoàn người mệt lả, mất tinh thần. Nhưng họ xấu hổ, không dám thú nhận sự yếu hèn của mình, vì thế họ trút căm hờn và giận dữ vào Đankô, con người dẫn đầu họ. Họ trách anh không biết dẫn dắt họ, thế đấy!
Họ dừng lại và giữa tiếng gầm gào đắc thắng của rừng, trong bóng tối run rẩy, những con người mệt mỏi và dữ tợn ấy bắt đầu kết tội Đankô.
- Mi là kẻ hèn mọn làm hại chúng tao, - họ bảo anh. - Mi dẫn chúng tao đi và làm chúng tao kiệt lực, vì vậy mi phải chết!
- Các người bảo: “Dẫn chúng ta đi!” và tôi dẫn các người đi! - Đankô hét lên, hiên ngang đứng trước mặt họ. - Tôi có gan dẫn đường và tôi dẫn các người đi! Còn các người, các người đã làm gì để tự giúp mình? Các người chỉ cắm cổ đi và không biết giữ sức để đi được lâu dài hơn! Các người chỉ miết đi như đàn cừu!
Nhưng những lời đó làm họ càng điên tiết hơn.
- Mi phải chết! Mi phải chết! - Họ gầm lên.
Rừng cũng gầm lên, gầm mãi lên, hòa với tiếng hét của họ và ánh chớp xé toang bóng tối thành từng mảnh. Đankô nhìn đám người mà anh đã ra công khó nhọc vì họ và thấy rằng họ là những con thú. Nhiều người xúm quanh anh, nhưng trên mặt họ không có chút gì là cao thượng và không thể mong họ tha thứ cho anh. Thế là trong tim anh cũng bùng lên niềm phẫn nộ sục sôi, nhưng lòng thưng người đã dập tắt ngọn lửa uất giận ấy. Anh yêu họ và nghĩ rằng không có anh, có lẽ họ chết mất. Trong tim anh bừng lên ngọn lửa nhiệt thành thiết tha muốn cứu thoát họ, đưa họ lên con đường dễ dàng, và những tia lửa của niềm mong muốn mãnh liệt ấy lóe lên trong mắt anh... Còn họ thấy thế, lại tưởng anh nổi khùng nên mắt mới sáng quắc lên như vậy, họ liền giữ miếng như những con chó sói, chờ xem anh đánh lại họ, họ tiến sát đến, vây chặt lấy anh để dễ bề bắt và giết anh. Anh đã hiểu ý nghĩ của họ, do đó ngọn lửa trong tim anh càng cháy rực hơn nữa, vì ý nghĩ của họ làm anh buồn rầu.
Rừng vẫn hát bài ca thê lương, sấm chớp đùng đùng, mưa như trút nước.
- Ta sẽ làm gì cho mọi người đây?! - Đankô gào to hơn sấm.
Bỗng nhiên, anh đưa hai tay lên xé toang lồng ngực, dứt trái tim ra và giơ cao trên đầu.
Trái tim cháy sáng rực như mặt trời, sáng hơn mặt trời, và cả khu rừng im lặng, sáng lên dưới ngọn đuốc của lòng thưng yêu vĩ đại đối với mọi người. Trước ánh sáng của trái tim Đankô, bóng tối tan tác và run lẩy bẩy, nhào xuống cái mõm hôi thối của đầm lầy nơi rừng sâu núi thẳm. Đoàn người sửng sốt, đứng trơ ra như phỗng.
- Đi thôi! - Đankô thét lớn và xông lên phía trước, về chỗ của mình, tay giơ cao trái tim cháy rực, soi đường cho mọi người.
Họ xông lên theo anh, mê man như bị chài. Rừng lại bắt đầu ồn ào, ngạc nhiên lắc lư các ngọn cây, nhưng tiếng ồn ào của rừng bị tiếng chân người rầm rập át đi. Họ chạy nhanh và mạnh bạo, cảnh tượng kỳ diệu của trái tim cháy bốc cuốn họ. Bây giờ vẫn có người chết, nhưng họ chết không than vãn và khóc lóc. Còn Đankô vẫn luôn luôn đi ở phía trước và trái tim anh vẫn cháy bùng bùng, sáng rực!
Bỗng nhiên, rừng giãn ra nhường lối cho anh, giãn ra và lùi lại ở phía sau, dày đặc và câm lặng, còn Đankô và tất cả đám người ấy lập tức chìm vào cái biển ánh sáng mặt trời và không khí trong lành được nước mưa gột sạch. Dông bão ở đằng kia, sau lưng họ, trên khu rừng, còn ở đây là mặt trời rực rỡ, thảo nguyên thở đều đều, cỏ ngời sáng vì những giọt nước mưa chói lọi như kim cương và sông lấp lánh ánh vàng... Trời đã về chiều và dưới ánh hoàng hôn, sông đỏ như dòng máu nóng hổi phụt ra từ bộ ngực bị xé rách của Đankô.
Chàng Đankô can trường và kiêu hãnh đưa mắt nhìn thảo nguyên bao la trước mặt, sung sướng nhìn khoảng đất tự do và bật lên tiếng cười tự hào. Rồi anh gục xuống và chết.
Đoàn người vui sướng và tràn đầy hy vọng, không nhận thấy Đankô đã chết và không thấy trái tim can đảm của anh vẫn cháy bừng bừng cạnh xác anh. Chỉ có một người vốn tính cẩn thận nhận thấy điều đó và sợ xảy ra chuyện gì không hay, liền giẫm chân lên trái tim kiêu hãnh ấy... Trái tim tóe ra một loạt tia sáng, rồi tắt ngấm...
- Đấy, duyên do của những ánh lửa xanh thường xuất hiện trên thảo nguyên vào lúc trước cơn dông là như vậy!
Bây giờ khi bà lão đã kể xong câu chuyện cổ tích tuyệt đẹp của mình, thảo nguyên bỗng yên tĩnh lạ thường, như kinh ngạc về sức mạnh của chàng Đankô dũng cảm đã đốt cháy trái tim mình soi đường cho mọi người và chết mà không đòi hỏi gì cả.
Bà lão thiu thiu ngủ. Tôi nhìn bà cụ và nghĩ: “Trong trí nhớ của bà lão còn lưu lại bao nhiêu truyện kỳ diệu và biết bao nhiêu hồi ức nữa”. Rồi tôi nghĩ về trái tim cháy hùng vĩ của Đankô và về trí tưởng tượng của nhân loại đã sáng tạo nên biết bao nhiêu truyền thuyết đẹp đẽ và đầy khí phách.
Gió thổi tung những mảnh áo rách và phơi trần bộ ngực khô đét của bà lão Izerghin đang thiếp đi mỗi lúc một say. Tôi kéo lại manh áo che cho tấm thân già lão và cùng nằm xuống cạnh bà. Thảo nguyên vắng lặng và tối om. Mây đen vẫn trôi trên trời, chầm chậm, tẻ ngắt... Biển ầm ì một điệu buồn bã.

1894


Phạm Mạnh Hùng dịch










Đăng nhập để trả lời
0

Bạn Ct.ly thân mến!

Cám ơn nhiệt tình của bạn, nhưng tôi muốn bạn trước khi đưa vào thư viện, hãy giúp tôi sửa lỗi chính tả, kể cả truyện "mối tình đầu" cũng vậy đó, vì tôi sửa mà cũng chưa hết đâu. Tôi vừa xem lại thì phát hiện ra vô khối lỗi mà, thông cảm nghen!
Vừa rồi tôi đưa cả hai truyện lên một lần đó; Truyện Maka Tsuđra và Bà lão Izrghin. Bạn kiểm tra lại giúp tôi nhé. Cám ơn bạn.

Tieuboingoan
Đăng nhập để trả lời
0
Ok,
Đã đưa lên trang thư viện rồi, có gì sẽ coi lại, như lời nhắn của TieuBoingoan , nhé
Lúc này CtLy làm cẩu thả ghê há???
Vì mùa này lóng bức quá, mà truyện thì nhiều nên ít có " dòm " nhiều trước khiêng vào thư viện,
Nhưng hỏng sao, sẽ c sửa lại sau, bây giờ cho đọc giả có truyện để đọc " nóng nồi vừa thổi vừa đọc mà TBN" [8D][:D]

May là khg có sis NH đó nhen [sm=27.gif]
Nếu khg Sis sẽ khg kí đầu CtLy mà sẽ nhờ qua KĐG mới chít đó chớ [:D][8D][&amp;:]

OK, có gì CtLy sẽ dòm lại sau nhé, chúc TBN luôn vui và nội công càng thâm hậu để đem truyện vào cho VNTQ nhé

Thân Thương
Tặnh TBN để tỏ lòng ngưởng mộ và biết ơn của Công Tử Lỳ nà [8D][:D]


📎 rosestournes
Đăng nhập để trả lời
0