Maka Tsuđra
M. Gorki
Từ biển khi thổi về một làn gió ướt và lạnh truyền đi khắp tho nguyên điệu nhạc trầm ngâm của tiếng sóng xô vào bờ và tiếng thì thầm của cỏ cây miền duyên hi. Thỉnh thong từng cn gió lại cuốn theo những chiếc lá vàng nhăn nheo và hắt nó vào đống lửa, khiến cho ngọn lửa bùng to lên, bóng tối của đêm thu vây quanh chúng tôi chốc chốc lại rùng mình, sợ sệt lùi xa ra, hé mở cho chúng tôi thoáng thấy ở bên trái là cánh tho nguyên mênh mông, bên phi là biển rộng bát ngát và ngay trước mặt tôi là bóng dáng Maka Tsuđra, lão Txưgan già đang chăn bầy ngựa của khu trại du mục ở cách chúng tôi dăm chục bước.
Không hề bận tâm đến những đợt gió lạnh thổi tung hai tà áo để lộ bộ ngực lông lá và phũ phàng quạt vào người, lão chống khuỷu tay nằm nghiêng, tư thế đẹp và khỏe, mặt ngonh về phía tôi rít từng hi đều đặn từ cái tẩu to tướng, rồi phun ra từ mồm và mũi những đám khói dày đặc, mắt đăm đăm nhìn qua đầu tôi vào cái khong tối im phăng phắc của tho nguyên, và cứ thế nói chuyện với tôi thao thao, không hề nhúc nhích để tránh những cn gió thổi dữ dội.
- Thế là anh vẫn đi lang thang hử? Hay lắm! Anh chọn cái kiếp ấy là hay tuyệt đấy, anh bạn ạ. Chính phi thế; đi đây đi đó mà nhìn, mà xem, rồi đến khi nhìn đã chán thì nhắm mắt xuôi tay mà chết - chỉ cần thế thôi!
Lão lắng nghe tôi cãi lại cái câu “chính phi thế” của lão với một vẻ hoài nghi rõ rệt, rồi nói tiếp:
- Cuộc sống ư? Những người khác ư? Hề! Anh cần đếch gì? Chính anh cũng là cuộc sống đấy chứ còn gì? Không có anh người ta vẫn sống và sẽ còn sống nữa. Ch nhẽ anh lại nghĩ rằng có kẻ cần đến anh? Anh chẳng phi là bánh mì, chẳng phi là cái gậy, chẳng ai người ta cần đến anh.
- Anh bo anh học người đời và dạy cho người đời ư? Thế liệu anh có học được cách làm cho người ta sung sướng không? Không đâu, anh chẳng học được đâu. Để cho cái đầu nó bạc đi đã, rồi hẵng nói chuyện dạy người. Mà dạy cái gì? Ai nấy đều biết bn thân người ta cần cái gì. Người khôn thì có được cái gì họ lấy cái ấy, còn người dại thì chẳng nhận được gì ráo với lại ai cũng biết tự mình dạy lấy mình.
- Những con người mà anh nói chuyện đó, họ đến là buồn cười. Họ xúm xít, vón lại thành cục, giẫm c lên nhau, ấy thế mà mặt đất nào có thiếu chỗ đứng? Kìa anh xem, - lão khoát rộng cánh tay chỉ ra tho nguyên. - Và họ cứ làm lụng suốt. Để làm gì? Làm cho ai? Chẳng ai biết hết. Cứ nhìn một người đang cày, ai cũng phi nghĩ: sức hắn toát ra từng giọt theo mồ hôi mà xuống đất cho đến khi cùng kiệt, rồi hắn sẽ nằm xuống đất và tan rữa trong lòng đất. Hắn chết đi thì chẳng còn lại chút gì, hắn chẳng trông thấy gì hết, và khi chết hắn cũng như khi mới sinh ra; chỉ là một thằng ngốc.
- Sao thế nhỉ, hắn sinh ra có phi để xới đất rồi chết mà cũng chẳng có thì giờ để bới cho mình một cái huyệt không? Hắn có biết thế nào là tự do không? Hắn có hiểu được khong rộng bao la của tho nguyên không? Tiếng nói của sóng bể có làm cho lòng hắn vui sướng không? Hắn là thằng tôi mọi ngay từ khi mới lọt lòng, và suốt đời vẫn cái thân hắn đây? Hắn mà khôn lên một chút, thì hắn chỉ có cách thắt cổ mà chết thôi.
- Còn như tôi đây, năm mưi tám năm trời tôi đã trông thấy nhiều điều đến nỗi nếu đem viết ra giấy thì có đến một nghìn cái bị như của anh cũng không chứa hết. Anh tính còn cái xứ sở nào tôi chưa đi qua nữa? Anh không tính xuể được đâu. Mà anh cũng không biết những ni tôi đã từng đến. Sống là phi thế mới được; đi, đi mãi, chỉ có thế thôi. Đừng ở lâu một chỗ, có gì đâu mà xem mãi? Kia anh xem, đêm với ngày cứ nối nhau chạy quanh trái đất không ngừng, mình cũng thế phi chạy mãi cho khỏi nghĩ ngợi về cuộc đời, nếu không sẽ chẳng còn yêu nó được nữa đâu. Hễ nghĩ ngợi, là y như rằng hết yêu đời, xưa nay vẫn thế đấy anh bạn ạ.
- Còn hồi tôi ngồi tù ở Galixtin. Ngồi chán tôi lại ngẫm nghĩ: “Mình sống ở đời để làm gì?” Là vì ngồi tù chán lắm, anh bạn ạ, chán ghê người đi được! Thế là cái buồn nó tràn vào lòng, trong khi tôi nhìn ra cánh đồng qua ô cửa sổ, nó tràn vào và vò nát tim tôi. Có ai nói được mình sống để làm gì? Chẳng có ai nói được đâu, anh bạn ạ! Mà cũng không nên tự hỏi mình cái chuyện ấy, cứ sống đi, có thế thôi. Và hãy đi mà nhìn xung quanh, thế thì không bao giờ buồn hết. Hồi ấy suýt nữa tôi lấy thắt lưng treo cổ chết đấy, anh ạ!
- Hề! Tôi có nói chuyện với một người. Hắn cũng là người Nga như anh, tính tình thì nghiêm nghị. Hắn nói: phi sống theo lời Chúa, chứ không được sống theo ý mình thích. Hãy kính thờ Chúa, rồi cầu xin gì Chúa cũng sẽ ban cho, ấy thế mà hắn thì rách như tổ đỉa. Tôi mới bo hắn thử xin Chúa bộ áo quần mới xem. Hắn nổi giận đuổi tôi đi, mồm chửi rủa không ngớt. ấy thế mà trước đó hắn vẫn thường nói là phi tha thứ, phi yêu thưng mọi người, thì hắn tha thứ cho tôi đi, nếu lời lẽ tôi làm hắn bực mình! Cũng là một gã dạy đời! Họ dạy người ta hãy ăn in ít chứ, nhưng bn thân họ thì mỗi ngày chén đến mười bữa.
Lão nhổ một bãi nước bọt vào đống lửa, rồi lặng lẽ nhồi thuốc vào tẩu. Gió khẽ vi vu, giọng như than vãn, mấy con ngựa hí lên vài tiếng trong bóng đêm, từ trại du mục vẳng tới một tiếng hát dịu dàng và say đắm. Đó là tiếng hát của Nonka, cô con gái xinh đẹp của lão Maka. Tôi đã quen thuộc cái giọng ngực thâm trầm, âm sắc tròn mà chắc nịch của cô, bao giờ cũng chứa chất một cái gì kỳ dị, luôn luôn bất mãn và đòi hỏi, dù là khi cô hát hay khi cô chào cũng vậy. Gưng mặt có cái nước da rám nắng rất mịn của cô in rõ vẻ kiêu hãnh của một nữ hoàng, và trong đôi mắt màu nâu thẫm của cô có một bóng rợp gì rất u huyền, long lanh cái ý thức về vẻ đẹp không gì cưỡng nổi của mình và niềm khinh miệt đối với bất cứ cái gì không phi là bn thân mình.
Lão Maka trao tẩu thuốc cho tôi.
- Anh hút đi! Con bé hát hay h? Thế đấy! Chắc anh muốn có một đứa nào như thế yêu anh lắm phỏng? Không à? Thế thì tốt! Phi thế mới được - chớ có tin bọn con gái, phi tránh họ cho xa. Con gái mà được hôn thì nó thấy thú vị, dễ chịu hn là tôi hút tẩu thuốc ấy, thế nhưng mà hôn nó rồi, thì bao nhiêu ý chí trong lòng anh đều tiêu ma hết. Nó buộc anh bằng một cái gì vô hình mà không sao gỡ nổi, và anh sẽ hiến dâng c tâm hồn cho nó. Đúng thế đấy! Hãy coi chừng bọn con gái! Chúng chỉ rặt nói dối! Thôi thì yêu anh hn hết mọi thứ trên đời, thế nhưng cứ thử châm nó một mũi kim găm mà xem, nó sẽ xé nát tim anh ra. Tôi thì tôi biết! Khề khề, tôi biết thừa đi! ấy, anh có thích nghe không, tôi kể cho một chuyện mà nghe! Anh nghe mà nhớ lấy, và hễ nhớ thì suốt đời sẽ được làm con chim tự do.
Ngày trước có một chàng Txưgan trẻ tuổi, tên là Zôbar, Lôikô Zôbar. Khắp nước Hung, nước Tiệp, nước Xlavôni và những vùng quanh biển Đen đều biết chàng ta; chàng dũng cm lắm! ở những vùng này không có lấy một làng nào là không có độ dăm by tráng đinh đã thề độc là sẽ giết chết Lôikô, ấy thế mà chàng vẫn ung dung sống, và hễ chàng đã ưa con ngựa nào thì dù có cho c một trung đoàn canh giữ Zôbar cũng sẽ nhy lên ngang nhiên phóng đi! Khề khề! Chàng thì còn biết sợ ai nữa? Dù cho quỷ xa-tăng có kéo c đoàn tùy tòng đến, thì nếu không ăn một nhát dao của chàng, cũng phi nghe một trận chửi mắng và mỗi chú quỷ phi xi một đòn vào mõm không sai!
Và trại du mục nào cũng biết Zôbar, hoặc nghe tiếng chàng, chàng chỉ thích ngựa thôi, ngoài ra chẳng thiết gì hết; v chăng ngay c ngựa chàng cũng chẳng thích được lâu, cưỡi chán rồi thì đem bán, tiền thì ai cần chàng cho ngay. Chẳng có thứ của gì chàng tiếc hết - anh cần qu tim của chàng ư? Chàng sẽ tự tay móc tim ra cho anh, miễn là làm như vậy có đem lại điều tốt lành cho anh. Chàng ta thế đấy, anh bạn ạ.
Hồi ấy trại du mục chúng tôi đóng ở Bukôvin, kể đến nay đã tới mười năm. Một đêm, vào tiết mùa xuân, chúng tôi đang chi, có c bác lính Đanilô đã từng chiến đấu bên cạnh Kôsut, có c lão Nua già, có c Rađđa, con bác Đanilô.
Anh biết con Nonka nhà tôi rồi chứ gì? Thật đáng một bà hoàng! ấy thế nhưng đem so với Rađđa thì không thể nào so được: so như vậy quá vinh dự cho con Nonka! Dùng lời lẽ để t Rađđa thì chẳng thể t nổi đâu! Cái nhan sắc ấy may ra chỉ có thể ca ngợi trên phím vĩ cầm, mà cũng chỉ có kẻ nào am hiểu cây đàn ấy như hiểu chính tâm hồn mình mới ca ngợi nổi.
Nàng đã làm khô héo bao nhiêu trái tim trai trẻ, thôi thì nhiều không kể xiết. ở Môravi có một lão đại thần, đầu để tóc chùm, trông thấy nàng mà choáng người đi. Lão ngồi trên lưng ngựa ngây người ra nhìn, mình mẩy run bắn lên như sốt rét. Lão đẹp như quỷ sứ ngày hội, mình mặc áo giupan thêu kim tuyến, bên sườn đeo thanh kiếm sáng quắc lên như ánh chớp mỗi khi con ngựa khẽ đạp vó xuống đất, khắp chuôi kiếm dát ngọc và màu nhung của chiếc mũ cứ xanh biếc như một mnh trời, thật là một lão tướng uy nghi lẫm liệt! Lão nhìn, nhìn mãi, rồi nói với Rađđa: “Này! Cho ta hôn một cái, ta sẽ cho túi bạc”, Rađđa quay ngoắt đi, chẳng thèm đáp lấy một lời. “Ta có gì xúc phạm đến nàng hãy tha thứ cho ta, hãy nhìn ta cho dịu dàng một chút”, - lão đại thần nén lòng kiêu ngạo và ném túi bạc xuống chân nàng, một cái túi rất to, anh bạn ạ! Rađđa như thể nhỡ chân đá phi cái túi làm cho nó lăn xuống bùn, và bỏ đi thẳng.
- Chà, gớm cho cái ngữ này! - Lão thở dài, rồi quất roi thúc ngựa phi như bay, bụi bốc mịt mù.
Nhưng hôm sau lão lại đến. “Ai là cha nàng?” - Lão quát lên như sấm vang khắp trại. Đanilô bước ra. “Bán con gái cho ta, muốn bao nhiêu cứ lấy!” Đanilô, bo: “Chỉ có các pan (1) mới bạ gì bán nấy từ con lợn cho đến lưng tâm,
1. Ông lớn (tiếng Ba Lan) (N.D.)
chứ ta đây đã từng chiến đấu bên cạnh Kôsut, ta không buôn bán cái gì hết!” Lão ta toan quát tháo, tay đã sờ đốc kiếm, nhưng có người nào trong bọn chúng tôi cho một mnh bùi nhùi đang cháy vào tai ngựa lão ta, thế là con ngựa lồng lên bỏ chạy, đem lão yêng hùng kia đi. Chúng tôi nhổ trại lên đường. Đi được hai ngày thì lão kia lại đuổi kịp, lão quát: “Này các người! Trước Thượng đế và trước các người, lưng tâm ta trong sạch, hãy g con gái cho ta, ta sẽ đem hết của ci chia sẻ với các người, ta giàu lắm!" Mặt lão bừng bừng, người lão lắc lư trên yên ngựa như cỏ tho nguyên trước gió, chúng tôi im lặng suy nghĩ.
- Thế nào con, con nói đi! - Đanilô lẩm bẩm trong chòm râu.
- Phượng hoàng mà tự đem thân vào tổ quạ thì phận sẽ ra sao? Rađđa hỏi chúng tôi như vậy.
Đanilô cười phá lên, và chúng tôi đều cười theo.
- Hay lắm, con ạ! Ngài đã nghe ra chưa? Không xong rồi! Ngài kiếm lấy con bồ câu - cái giống ấy dễ dãi hn.
Chúng tôi lại lên đường. Còn vị đại thần kia thì giật chiếc mũ quăng xuống đất và thúc ngựa phi thẳng, làm rung chuyển c mặt đất. Đấy, Rađđa như thế đấy, anh bạn ạ!
Thế đấy! Rồi một đêm nọ, chúng tôi đang ngồi quây quần bên nhau, bỗng nghe có tiếng nhạc văng vẳng trên tho nguyên, tiếng nhạc hay quá! Nghe mà máu trong huyết qun cứ nóng bừng lên. Tiếng nhạc kêu gọi người ta đi đến một chốn nào không rõ. Tất c chúng tôi đều cm thấy rằng tiếng nhạc ấy làm ta khao khát một cái gì, mà sau đó cũng chẳng cần sống làm gì nữa, và nếu có sống thì phi sống như bậc đế vưng của thiên hạ, anh bạn ạ!
Rồi từ trong bóng đêm hiện ra một con ngựa trên lưng có chàng trẻ tuổi vừa kéo đàn vừa thong th cho ngựa tiến về phía chúng tôi. Dừng cưng bên đống lửa chàng bỏ đàn xuống và mỉm cười nhìn chúng tôi.
- A, Zôbar, anh đấy ư? - Đanilô mừng rỡ reo lên. - Lôikô Zôbar đây rồi.
Hai chòm ria dài của chàng trẻ tuổi buông xuống tận vai, lẫn với mái tóc quăn, đôi mắt chàng lấp lánh như hai vì sao, và nụ cười rực rỡ như vầng thái dưng, thật thế! Chàng kỵ mã và con ngựa dường như được rèn ra từ một khối sắt. Chàng đứng trong ánh sáng của đống lửa đỏ rực, như tắm trong máu, và nhoẻn miệng cười, hai hàm răng lấp lánh, nói có trời đất, chưa chi tôi đã thấy yêu mến chàng như bn thân mình, từ khi chàng chưa nói với tôi một câu, cũng chưa hề nhận thấy có tôi sống trên thế gian này!
Có những con người như thế đấy, anh bạn ạ! Họ nhìn vào mắt ta, thế là hồn ta cứ tê mê đi, ấy thế mà ta chẳng thấy hổ thẹn chút nào, lại còn thấy tự hào nữa là khác. Đứng trước một người như thế, ta tự thấy mình tốt đẹp hn lên. Những người như thế hiếm có lắm, anh bạn ạ! Thôi thì hiếm thế lại hay. Trên đời mà cái tốt có nhiều, thì người ta chẳng còn thấy nó là tốt nữa. Đúng thế đấy! Nhưng để tôi kể tiếp:
Rađđa cất tiếng hỏi chàng trai: “Anh đàn hay lắm, Lôikô ạ! Ai làm đàn cho anh mà tiếng vang và nhuyễn như vậy?” Lôikô cười “Chính tôi làm! Tay tôi đã làm ra nó không phi bằng gỗ, mà bằng bộ ngực của người con gái ngày trước yêu tôi say đắm, dây đàn thì tôi se bằng thớ tim của nàng. Đàn chưa được chắc tiếng, nhưng tôi cầm mã vĩ vững tay lắm!”
Ai cũng biết bọn con trai chúng ta thường hay tìm cách làm cho mắt con gái mờ ngay đi để cho nó khỏi đốt cháy tim mình, với lại để cho nó vướng buồn vì mình. Lôikô cũng thế. Nhưng chàng ta đã gặp một đối thủ không vừa. Rađđa ngonh đi, rồi vừa ngáp dài vừa nói: “Thế mà người ta cứ bo Zôbar khôn khéo và thông minh! Thật người đời chỉ hay đồn nhm!” - Nói đoạn bỏ đi thẳng.
“Chà, cô nàng răng sắc thật! - Lôikô vừa xuống ngựa, mắt quắc lên. - Xin chào các bạn! Tôi đến thăm các bạn đây!”
“Chúng tôi xin vui mừng đón khách!” - Đanilô đáp.
Chủ và khách ôm nhau hôn. Chúng tôi ngồi nói chuyện một lúc, rồi đi ngủ... Ai nấy đều ngủ rất say. Sáng hôm sau, thức dậy thì thấy đầu Zôbar có quấn một mnh vi, chàng làm sao thế? ấy là con ngựa nó giẫm vó phi chàng trong giấc ngủ.
Ê ề! Chúng tôi biết thừa con ngựa ấy là ai rồi, và tủm tỉm cười trong râu, c Đanilô cũng cười. Sao thế nhỉ, ch nhẽ Lôikô không xứng với Rađđa sao? Không phi đâu! Con gái, dù có đẹp thật, nhưng tâm hồn họ cũng chật hẹp và nhỏ nhen, và dù có đeo lên cổ họ hàng cân vàng, giá trị họ cũng chẳng tăng được chút nào, chà thôi, nói thế là đủ!
Chúng tôi đóng trại ở vùng ấy lâu, dạo ấy công việc chúng tôi chạy lắm. Zôbar cũng ở lại với chúng tôi. Thật là một người bạn tốt! Khôn ngoan, thông thái như một cụ già, cái gì cũng thạo, biết c chữ Nga, biết c chữ Hung. Những lúc anh ta đã cất tiếng lên thì cứ nghe trọn một kiếp người cũng không chán, còn đàn thì, nếu trên đời này có ai đàn như Zôbar, cứ gọi là sét đánh tôi chết ngay tức thì! Hễ chàng đưa mã vĩ trên dây đàn một cái là tim anh rung lên, đưa một cái nữa là tim anh lặng đi, nghe ngóng, trong khi chàng mỉm cười kéo tiếp. Nghe tiếng đàn, vừa muốn khóc lại vừa muốn cười, có khi như ai than thở đắng cay, cầu xin giúp đỡ, nghe đau xót như lưỡi dao cứa vào tim. Có khi như tiếng tho nguyên thì thầm kể với bầu trời những chuyện cổ tích buồn rười rượi. Lại có khi như tiếng một thiếu nữ khóc trong buổi tiễn biệt người yêu ra tho dã. Rồi bỗng nhiên, hây! Một điệu hát phóng khoáng, sinh động vang lên như sấm, và tưởng chừng vầng thái dưng cũng sắp theo nhịp hát nhy múa trên nền trời! Thế đấy, anh bạn ạ!
Mỗi thớ thịt trong người anh đều hiểu thấu điệu hát ấy, và toàn thân anh trở thành nô lệ của nó, và ví thử lúc đó Lôikô hô lên: “Tuốt gưm ra, các bạn!” thì chúng tôi sẽ đều tuốt gưm xông vào bất cứ kẻ nào chàng chỉ. Chàng muốn làm gì ai cũng được, ai nấy đều yêu mến chàng, quý chuộng chàng, duy có một mình Rađđa không thèm nhìn đến chàng; nếu chỉ có thế thôi thì hãy còn được, đằng này nàng lại còn chế giễu Lôikô nữa. Nàng đã làm cho lòng chàng trai đau nhói lên, đúng là đau nhói lên! Chàng nghiến răng ken két, và ria mép giật từng hồi, đôi mắt sa sầm xuống, tối hn đêm và thỉnh thong trong đôi mắt ấy lại ánh lên một tia sáng dữ dội, gieo sợ hãi vào lòng người. Một đêm, Lôikô đi rất xa ra tho nguyên, và cây vĩ cầm của chàng khóc cho đến sáng, nó khóc thưng cái ý chí đã tiêu tan của chàng Zôbar. Chúng tôi nằm nghe và thầm nghĩ: làm thế nào được bây giờ? Và chúng tôi biết rằng nếu có hai tng đá đang lăn vào nhau, không thể nào đứng giữa được; thế nào cũng bị thưng tật. Sự tình qu nhiên đã diễn ra như thế.
Tối hôm ấy chúng tôi ngồi đông đủ c, bàn tán về công việc này nọ. Bàn mãi hết việc cũng đâm chán. Đanilô mới bo Lôikô: “Hát đi, Zôbar, hát đi một bài cho vui lòng thỏa dạ một chút!” Lôikô đưa mắt nhìn Rađđa, lúc bấy giờ đang nằm ngửa mặt lên nhìn trời, và đưa tay gy lên dây đàn, và cây vĩ cầm cất tiếng nói như một trái tim thiếu nữ thật và Lôikô hát.
Hây hây! Lồng ngực ta rực lửa.
Và cánh tho nguyên trời rộng mênh mông!
Như gió cuốn, phi nhanh con tuấn mã,
Cánh tay ta rắn chắc, vững như đồng!
Rađđa ngonh mặt lại, hi nhổm người lên và nhìn vào mặt người hát, cất tiếng cười nhạt, chàng đỏ bừng mặt lên như rạng động.
Hây hôp hây! Dậy đi, nào bạn hỡi!
Hãy cùng ta nhằm phía trước phi nhanh!?
Cnh tho nguyên còn khoác màn đêm tối,
Nhưng chân trời sẽ lóe ánh bình minh!
Hãy bay tới, vầng dưng đang chờ đợi,
Hãy vút lên, cao mãi tận trời xanh!
Nhưng chớ để bờm ngựa bay vướng phi.
áng dung nhan kiều diễm của nàng Trăng!
Đấy, hát như thế chứ! Bây giờ chẳng còn ai hát được thế đâu! Thế mà Rađđa nói như xối nước:
- Anh ch nên bay cao như thế, Lôikô ạ, nhỡ ri chúi mũi xuống vũng nước thì lấm hết c bộ ria.
Lôikô chẳng nói chẳng rằng nhìn Rađđa với một vẻ dữ tợn, chàng cố nhịn và hát tiếp:
Dậy thôi không bình minh sắp rạng
Trong khi ta và bạn vẫn ngủ yên.
Dậy thôi, không trời đã sắp sáng
Chớ để niềm hổ thẹn đốt tâm can!
- Hay quá chừng! - Đanilô nói. - Chưa bao giờ tôi được nghe một bài hát thế; tôi mà nói sai thì quỷ xa tăng cứ lấy cái thân tôi làm tẩu thuốc!
Lão Nua già vê bộ ria, so đôi vai, và ai nấy đều khoái chá với bài hát hùng dũng của Zôbar! Chỉ có Rađđa tỏ ý không thích!
- ấy, có lần muỗi vo ve bắt chước tiếng đại bàng, nghe cũng như thế đấy, - nàng nói, như xối nước lạnh vào chúng tôi.
- Mày muốn ăn roi chắc, hở Rađđa? - Đanilô xấn đến bên con gái, còn Zôbar liền quăng mũ xuống đất nói, mặt tối sầm đen như màu đất:
- Hãy khoan! Bác Đanilô! Ngựa dữ đã có hàm thiếc! Hãy g con gái cho tôi!
- Ăn nói khá lắm! - Đanilô cười - Đấy, có lấy được thì cứ lấy đi!
- Tốt lắm! - Lôikô nói, đoạn quay sang Rađđa: - Nào cô thiếu nữ hãy nghe tôi nói một chút, và đừng có làm bộ! Bọn con gái các cô, tôi biết khối ra rồi. Nhưng chưa có cô nào khích động được lòng tôi như cô, Rađđa ạ, cô đã thu phục được tâm hồn tôi! Biết làm thế nào? Cái gì phi xy đến thì tất sẽ xy đến, và... không có ngựa nào có thể mang ta đi thoát khỏi bn thân ta!... Tôi lấy cô làm vợ, trước Thượng đế, trước danh dự tôi, trước cha cô và trước mọi người. Nhưng hãy nhớ lấy: đừng có bó buộc tự do của tôi: tôi là người tự do, tôi muốn sống ra sao, tôi sẽ sống như thế! - Và rồi chàng tiến lại gần Rađđa, hai môi mím chặt, mắt sáng long lanh. Chúng tôi thấy chàng chìa tay ra cho nàng, ai cũng nghĩ: thế là bàn tay này đã thắng cưng vào con ngựa tho nguyên Rađđa! Bỗng thấy chàng vung cao hai tay lên và ngã ngửa ra, gáy nện xuống đất bộp một tiếng!...
Sao lạ thế này? Tưởng chừng như có viên đạn nào vừa bắn trúng tim chàng. Nhưng không, đó là Rađđa đã quất chiếc roi da dài vào chân chàng, và giật mạnh về phía mình, làm Lôikô ngã.
Thế rồi nàng lại nằm im, không nhúc nhích, cười thầm một mình. Chúng tôi chờ xem thử thế nào. Lôikô ngồi trên mặt đất, hai tay ôm đầu như sợ nó nổ tung ra. Rồi chàng từ từ đứng dậy bỏ ra tho nguyên, không nhìn ai hết. Ông lão Nua thì thầm nói với tôi: “Phi trông theo nó” Tôi liền rón rén đi theo Zôbar trên tho nguyên tối mịt. Thế đấy, anh bạn ạ!
Maka vỗ vỗ tẩu thuốc cho sạch tàn, rồi nhồi điếu khác. Tôi kéo áo khoác quấn cho thật kín người và nằm yên ngắm khuôn mặt già nua của lão, đen sạm đi vì nắng gió. Lão lắc đầu, dáng nghiêm nghị, trầm ngâm, lẩm bẩm nói gì một mình, bộ ria bạc khẽ nhích nhích và gió thổi tung mái tóc bờm xờm. Trông lão giống như một cây sồi già bị sét đánh cháy sém, nhưng hãy còn lực lưỡng, vững chắc và kiêu hãnh với sức mạnh của mình. Biển vẫn thì thầm nói chuyện với bãi cát, và gió vẫn truyền tiếng thì thầm của biển khắp tho nguyên. Nonka đã im tiếng hát, và những đám mây đen đang ùn lại trên nền trời làm cho bóng đêm thu càng dày đặc thêm.
Lôikô đi bước một, đầu cúi gầm, hai tay buông thõng như hai sợi dây da treo lủng lẳng, đi đến gần một bờ khe, chàng ngồi lên một tng đá và buông một tiếng thở dài. Tiếng thở dài não nuột đến nỗi tìm tôi ứa máu ra vì xót thưng, nhưng tôi vẫn không đến cạnh chàng. Lời nói chăng khuây được nỗi buồn, có đúng không anh? Chính thế đấy! Chàng ngồi một tiếng đồng hồ, rồi một tiếng nữa, đến tiếng thứ ba chàng vẫn ngồi im không nhúc nhích.
Tôi nằm cách đấy không xa. Đêm hôm ấy trời quang dãng, trăng xối bạc lên khắp tho nguyên và có thể trông rõ mọi vật từ xa.
Bỗng tôi trông thấy bóng Rađđa đang vội vàng từ phía trại đi tới.
Tôi mừng lắm! “Chà, tốt rồi đây! - Tôi nghĩ bụng, - cô bé Rađđa khá lắm!" Cô gái đã đến gần Lôikô mà chàng vẫn không hay biết. Nàng đặt tay lên vai chàng, Lôikô giật mình, buông hai tay đang bưng mặt ra và ngẩng đầu lên. Chàng đứng bật dậy rút dao ra. Thôi, chàng giết chết cô bé mất! Tôi đã toan hô hoán lên cho trại biết, rồi bỏ chạy lại, thì bỗng nghe thấy:
- Bỏ dao xuống! Không vỡ sọ bây giờ!
Tôi nhìn thì thấy Rađđa cầm khẩu súng lục đang nhằm vào trán Zôbar. Thật đáng là con gái quỷ xa-tăng! Tôi nghĩ bụng; thôi thế là bây giờ họ ngang sức nhau rồi đấy, thử xem rồi sẽ ra sao?
Rađđa giắt súng vào thắt lưng và nói với Zôbar:
- Anh nghe đây! Tôi đến đây không phi để giết anh, mà làm lành, vứt dao đi - Lôikô bỏ dao và hằm hằm nhìn vào mặt nàng, thật là kỳ dị, anh ạ! Hai con người đang đứng nhìn nhau như hai con ác thú, thế mà c hai đều đẹp đẽ, gan dạ như nhau, chỉ có vầng trăng sáng và tôi nhìn họ thế thôi.
- Lôikô, anh nghe tôi đây; tôi yêu anh! - Rađđa nói. Lôikô chỉ so vai, như thể chân tay đã bị trói chặt.
- Tôi đã gặp nhiều chàng trai, nhưng anh gan dạ hn và đẹp hn hết thy về tâm hồn cũng như gưng mặt, tôi chỉ nháy mắt một cái, họ có thể cạo trụi ria đi, nếu tôi muốn, là tất c bọn họ sẽ quỳ xuống chân tôi. Nhưng như thế có ra gì? Họ vốn đã chẳng lấy gì làm gan dạ lắm, và nếu vào tay tôi, họ sẽ nhũn ra c. Trên đời này còn ít chàng trai Txưgan gan dạ lắm, ít lắm. Lôikô ạ. Tôi chưa yêu ai bao giờ, Lôikô ạ, tôi chỉ yêu anh. Nhưng tôi còn yêu tự do nữa! Tự do thì tôi yêu hn c anh. Nhưng không có anh tôi không thể sống được, cũng như anh không thể sống thiếu tôi. Cho nên tôi muốn anh là của tôi, c linh hồn lẫn thể xác, anh nghe ra chưa?
Lôikô cười nhạt:
- Tôi nghe ra rồi! Nghe cô nói lòng tôi vui lắm đấy! Nào nói nữa đi!
- Thế này nữa nhé, Lôikô ạ, dù anh có vùng vẫy ra sao, tôi cũng sẽ trị được anh, anh cũng sẽ thuộc về tôi. Thế thì đừng để mất thì giờ vô ích; những chiếc hôn và những sự mn trớn của tôi đang chờ anh... tôi sẽ hôn anh rất nồng nàn, Lôikô! Chiếc hôn của tôi sẽ làm cho anh quên cuộc sống của anh... và những bài ca sôi nổi của anh - trước đây vẫn là niềm vui của bọn trai trẻ Txưgan - sẽ không còn vang trên tho nguyên nữa; anh sẽ hát những bài tình ca êm dịu cho tôi, cho Rađđa nghe... Do đó, anh đừng mất thì giờ vô ích, tôi đã nói như vậy, nghĩa là ngày mai anh sẽ quy phục tôi như quy phục người huynh trưởng của anh trong trại. Anh sẽ phủ phục xuống chân tôi trước mặt toàn trại và sẽ hôn bàn tay phi của tôi - lúc bấy giờ tôi sẽ là vợ anh.
Cái cô bé quỷ quái ấy muốn thế đấy! Chưa ai từng nghe nói về một chuyện như thế bao giờ! Ngày xưa chỉ có người Hắc Sn có lệ ấy, các cụ già bo thế, chứ người Txưgan thì chưa bao giờ! Nào anh bạn, anh liệu có nghĩ ra được một trò gì ngộ nghĩnh hn không? Có nghĩ nát óc suốt một năm cũng chẳng ra đâu.
Lôikô nhy né sang một bên, rồi thét vang tho nguyên như thể vừa bị trúng thưng vào ngực. Rađđa run lên, nhưng không hề mất tự chủ.
- Thôi, chào anh, hẹn đến mai, mai anh sẽ làm như tôi đã ra lệnh. Anh nghe ra chưa, Lôikô?
- Nghe ra rồi ! Tôi sẽ làm, Zôbar rên rỉ và dang hai tay về phía nàng, Rađđa chẳng thèm nhìn lại và Zôbar loạng choạng như một thân cây bị gió xô gẫy, rồi ngã vật xuống đất, vừa cười vừa khóc nấc lên.
Cái con Rađđa đáng nguyền rủa đã giày vò chàng trai ấy như thế đấy. Tôi phi chật vật lắm mới làm cho chàng tỉnh lại được.
Chao ôi! Quỷ thần nào muốn cho con người ta phi đau khổ? Kẻ nào lại thích nghe một trái tim người rên rỉ trong khi rạn vỡ ra vì buồn phiền? Đấy anh thử nghĩ xem!...
Tôi trở về trại và kể cho các kỳ lão nghe. Họ suy nghĩ một lúc, rồi quyết định đợi thử xem sao. Thì sự tình nó thế này đây. Tối hôm ấy, khi mọi người tụ tập quanh đống lửa. Lôikô cũng đến. Chàng trông thng thốt khác thường, và mới một đêm mà đã hốc hác hẳn đi, mắt trũng sâu xuống: chàng cứ nhìn xuống đất, nói với chúng tôi:
- Sự tình nó như thế này đây, các bạn ạ: đêm qua tôi đã nhìn vào lòng tôi, và không còn tìm thấy có chỗ nào dành cho cuộc sống tự do của tôi trong đó nữa. Chỉ có một mình Rađđa sống ở đó mà thôi! Kìa, nàng Rađđa xinh đẹp đang mỉm cười như một nữ hoàng. Nàng yêu tự do hn yêu tôi, mà tôi thì yêu nàng hn c tự do của tôi, cho nên tôi đã quyết định sẽ phủ phục xuống chân nàng như nàng đã ra lệnh, để cho mọi người đều thấy rõ sắc đẹp của nàng đã chinh phục được chàng Lôikô Zôbar gan dạ mà trước khi gặp nàng vẫn đùa giỡn với con gái như chim ưng đùa giỡn với bầy vịt. Sau đó, nàng sẽ thành vợ tôi, sẽ vuốt ve và hôn hít tôi, thành thử tôi sẽ không còn muốn hát cho các bạn nghe nữa, mà cũng chẳng còn nhớ tiếc gì tự do của tôi nữa, có phi thế không, Rađđa? - Chàng ngước mắt lên nhìn Rađđa, gưng mặt u uất.
Nàng lặng lẽ và nghiêm khắc gật đầu, rồi gi tay chỉ xuống chân mình. Chúng tôi cứ ngây ra nhìn không hiểu gì hết. Thậm chí cứ muốn đi đâu cho rnh, miễn là đừng phi thấy cái cnh Lôikô Zôbar sụp xuống chân một đứa con gái, dù đứa con gái ấy có là Rađđa chăng nữa. Chúng tôi cứ thấy hổ thẹn thưng xót, buồn tủi thế nào ấy.
- Nào! - Rađđa lớn tiếng giục Zôbar.
- Chà, cô vội thế, còn đủ thì giờ mà, rồi cô lại còn phi ngấy lên nữa ấy... - đoạn chàng cười phá lên, tiếng cười như tiếng thép rung lanh lnh.
- Đấy, sự tình chỉ có thế thôi, các bạn ạ! Còn phi làm gì nữa? Còn phi thử xem trái tim nàng Rađđa của tôi có rắn chắc như nàng đã tỏ ra với tôi không. Vậy tôi xin thử, các bạn tha thứ cho tôi.
Chúng tôi chưa kịp đoán xem Zôbar định làm gì thì Rađđa đã ngã sóng soài trên mặt đất, trên ngực cắm đến tận chuôi con dao quắm của Zôbar. Chúng tôi choáng người đi.
Rađđa rút con dao ra, ném sang một bên, rồi lấy món tóc đen nhánh của mình áp lên vết đâm, và mỉm cười nói to, giọng rành rọt:
- Vĩnh biệt Lôikô! Em đã biết là anh sẽ làm như vậy! - Rồi nàng tắt thở.
Anh đã hiểu được cô gái ấy chưa, hở anh bạn?! Thật là một cô gái ma quỷ, tôi nói sai xin muôn đời chịu nguyền rủa!
- Ôi! Giờ thì tôi xin phủ phục xuống chân em, hỡi nữ hoàng kiêu hãnh! - Lôikô thét vang tho nguyên, rồi phục xuống đất, áp môi vào chân người đã chết và lịm đi hồi lâu. Chúng tôi cất mũ và đứng im lặng.
C sự đã như thế, còn biết nói gì anh? Thật thế! Ông lão Nua cũng toan sai trói Zôbar lại. Nhưng chẳng có bàn tay nào dám gi lên trói chàng lại đâu, chẳng có ai chịu làm việc ấy, và lão Nua cũng biết như vậy. Lão khoát tay một cái, rồi lng ra. Còn Đanilô thì nhặt con dao Rađđa đã vứt đi, ngắm nghía nó hồi lâu, bộ ria bạc khẽ nhích nhích. Trên lưỡi dao cong và sắc máu Rađđa vẫn còn hi nóng. Rồi Đanilô tiến đến bên Zôbar và đâm con dao vào lưng chàng, đúng phía tim. Người lính già Đanilô cũng đúng là cha đẻ của Rađđa.
- Thế đấy! - Lôikô ngonh lại nhìn Đanilô nói rất rõ, rồi hồn chàng dõi theo Rađđa.
Chúng tôi đứng dậy lặng nhìn Rađđa nằm sóng soài bàn tay vẫn áp chặt món tóc lên ngực, hai mắt mở to hướng lên khong trời xanh, và nằm dưới chân nàng là chàng Lôikô Zôbar gan dạ. Những món tóc quăn phủ kín mặt chàng.
Chúng tôi đừng trầm ngâm suy nghĩ, ria lão Đanilô già run run và đôi mày rậm cau lại. Lão nhìn trời và lặng thinh, còn ông già Nua, tóc bạc trắng như cước, nằm úp mặt xuống đất khóc rưng rức, đôi vai già run lên bần bật.
Cũng đáng cho người ta khóc lắm, anh bạn ạ!
Anh đi đây đi đó, thôi thì anh cứ đường anh mà đi, đừng rẽ ngang rẽ dọc. Cứ thẳng đường mà đi. May ra rồi chẳng chết oan chết uổng. Chỉ có thế thôi đấy, anh bạn ạ!
Maka lặng thinh, cất tẩu thuốc vào bao, xốc lại vạt áo cho kín ngực. Mưa đổ xuống lộp độp, gió thổi mạnh lên, biển gầm gừ âm ỉ và tức tối. Mấy con ngựa lần lượt lại gần đống lửa đang lụi dần, đôi mắt to thông minh ngó chúng tôi, rồi đứng im vây quanh chúng tôi thành một vòng kín.
- Hôp - hôp - ê - hôi! - Maka âu yếm nựng chúng, gi tay vỗ vỗ lên mình con ngựa ô cưng nhất của lão, rồi quay sang phía tôi nói: - Thôi ngủ đi! - Đoạn kéo áo khoác trùm lên đầu, vưn dài người ra đất và lặng thinh.
Tôi không buồn ngủ, tôi nhìn ra bóng tối của tho nguyên và trong khong không trước mặt tôi chập chờn bóng dáng đẹp đẽ và kiêu hãnh của nàng Rađđa. Nàng áp bàn tay với món tóc đen nhánh lên vết thưng trên ngực, và qua mấy ngón tay thon th rám nắng của nàng máu rỉ ra từng giọt một rỏ xuống đất thành những ngôi sao màu đỏ rực như lửa.
Và theo gót nàng là chàng Lôikô Zôbar dũng cm khuôn mặt nấp sau những món tóc quăn đen rậm và từ dưới những món tóc ấy ứa ra những giọt nước mắt to và lạnh ri mau...
Mưa mỗi lúc một nặng hạt, và biển c cất tiếng hát khúc ca u hoài và trang trọng, ca ngợi đôi thanh niên Txưgan xinh đẹp và kiêu hãnh: Lôikô Zôbar và Rađđa con gái người lính già Đanilô.
Và c hai uy nghi lượn vòng im lặng trong bóng tối và chàng Lôikô tuấn tú không sao với tới được nàng Rađđa kiêu kỳ.
1892
Cao Xuân Hạo dịch
m.gorki
Bà lão Izerghin
I
Tôi được nghe kể những câu chuyện này ở gần
Ackeeman, trên bờ biển xứ Betxarabi.
Một buổi tối, làm xong công việc hái nho thường ngày, toán thợ Mônđavi, trong đó có tôi cùng làm, đi về phía bờ biển, còn tôi và bà lão Izerghin ở lại dưới bóng lá dày đặc của những gốc nho, ngả mình trên mặt đất, lẳng lặng nhìn bóng dáng những người đi về phía bờ biển đang tan dần trong sưng đêm xanh thẳm.
Họ vừa đi vừa cười, hát. Đàn ông nước da màu đồng hun, ria đen và lồng bồng, tóc xoăn dày rậm, xõa đến vai, mặc áo vét ngắn và quần rộng; đàn bà, con gái thì vui vẻ, uyển chuyển, mắt xanh thẫm, da cũng sạm nắng. Tóc họ đen nhánh và mượt như tơ, buông xõa. Gió ấm và nhẹ lùa vào tóc họ, làm những đồng tiền bện trong tóc kêu leng keng. Gió ào tới từng đợt lớn đều đặn, nhưng đôi khi, nó dường như nhy qua một vật gì vô hình và thốc mạnh, làm cho tóc những người đàn bà bay tung lên, phấp phới quanh đầu họ như những cỗ bờm kỳ dị. Những lúc như thế, nom họ có vẻ quái dị hoang đường. Họ mỗi lúc một rời xa chúng tôi, còn đêm tối và trí tưởng tượng dường như làm cho họ càng đẹp hơn.
Có người nào chơi vĩ cầm... Một cô gái hát giọng trầm dịu dàng, có tiếng cười vui vẻ...
Không khí nhiễm đầy mùi hơi biển gay gắt và khí bốc nồng đậm của đất thấm đẫm nước mưa từ lúc gần tối. Lúc này, trên trời vẫn còn những mng mây xốp nhẹ bay lang thang, hình thù và màu sắc kỳ dị, chỗ thì đường nét mềm mại như những luồng khói lam và xanh tro đang cuồn cuộn bốc lên, chỗ thì hằn rõ như những tng đá đen mờ đục hoặc nâu. Giữa các mảng mây, những mnh trời xanh ngời lên thứ ánh sáng dịu dàng, lấm tấm những vì sao óng ánh như vụn vàng. Tất c những cái đó: âm thanh và mùi vị, mây và người đều đẹp và buồn lạ lùng, như mở đầu cho một câu chuyện cổ tích huyền diệu, mọi vật đều như ngừng sinh trưởng, chìm dần vào cõi chết. Tiếng nói ồn ào càng ra xa càng lặng đi, biến thành những tiếng thở dài não nuột.
- Sao anh không đi với họ? - Bà lão Izerghin hất hàm hỏi.
Thời gian đã làm cho lưng bà lão cong gập xuống, cặp mắt xưa kia đen láy đã mờ đục và lúc nào cũng đẫm lệ. Giọng nói khô khan của bà lão nghe đến kỳ lạ, như tiếng xương va nhau lục cục.
- Tôi không thích. - Tôi trả lời bà lão.
- Ôi chao... Bọn người Nga các anh vừa sinh ra đã già lão. Lúc nào cũng càu quạu như quỷ sứ ấy... Con gái vùng tôi nó sợ anh đấy... Vậy mà anh trẻ khỏe thế kia...
Trăng đã lên. Vành trăng to tròn, đỏ như máu, dường như từ giữa lòng thảo nguyên nhoi lên, chốn thảo nguyên xưa kia đã ngốn bao nhiêu thịt người và uống bao nhiêu máu người và hẳn là vì vậy mới trở nên màu mỡ và phì nhiêu như thế này. Bóng lá giống những hình thêu ren, trùm lên người chúng tôi như một tấm lưới. Bên trái, bóng mây nhuốm ánh trăng xanh lướt trên tho nguyên, mây trở nên trong hơn và sáng hơn.
- Xem kìa. Larra đang đi đấy!
Tôi nhìn về phía bàn tay run run với những ngón tay cong cong đang trỏ: ở đấy có những bóng mây đang lướt qua, rất nhiều bóng và một trong những bóng ấy tối và đậm hơn những bóng khác, lướt nhanh hơn, và thấp hơn - đó là bóng của một mảng mây trôi gần mặt đất hơn và nhanh hơn các mảng khác.
- Có ai đâu! - Tôi nói.
- Anh mù hơn cả một bà lão như tôi. Xem kìa, hắn đen thẫm, đang chạy qua thảo nguyên đấy thôi!
Tôi lại nhìn và chẳng thấy gì, ngoài một bóng tối.
- Một bóng tối đấy chứ! Tại sao cụ gọi nó là Larra?
- Nó đấy! Bây giờ nó như một bóng tối, mà nhất định phải thế thôi! Nó sống đã hàng nghìn năm nay, mặt trời làm khô quắt thân thể và máu xương nó, gió thổi tan tác hình hài nó. Chúa có thể hành hạ con người để trừng phạt tội kiêu ngạo của nó như thế đấy!
- Cụ kể cho tôi nghe câu chuyện ấy xy ra như thế nào đi! - Tôi nài bà lão kể, vì cảm thấy trước rằng đây là một trong những truyền thuyết tuyệt diệu của thảo nguyên. Và bà lão kể cho tôi nghe câu chuyện cổ tích ấy.
"Từ bấy đến nay đã bao nhiêu nghìn năm trôi qua rồi. ở một miền xa, xa lắm, mãi bên kia biển, nơi mặt trời mọc, có một xứ có con sông lớn, ở đấy mỗi lá cây ngọn cỏ đều tỏa bóng rợp đủ cho con người tránh nắng, vì ở xứ ấy nắng dữ lắm!
Đất đai xứ ấy mới phì nhiêu làm sao!
ở đấy có một bộ lạc hùng cường, họ chăn gia súc, dùng sức mạnh và lòng dũng cảm để săn thú dữ, và sau cuộc săn, họ ăn uống linh đình, ca hát và đùa bỡn với các cô gái.
Có lần, trong bữa tiệc, một cô trong đám thiếu nữ, một cô gái tóc đen, hiền dịu như đêm tối, bị một con đại bàng từ trên trời sà xuống quắp đi. Những mũi tên bọn đàn ông bắn vào chim đều lả tả rơi xuống đất, nom thực thảm hại. Thế là họ đâm bổ đi tìm cô gái, nhưng không sao tìm thấy. Rồi họ quên cô đi, như vẫn lãng quên mọi việc trên đời".
Bà lão thở dài và im lặng. Giọng nói sin sít của bà cụ khiến tôi tưởng như đó là lời than vãn của tất cả những thế kỷ đã bị lãng quên nay nhập vào lồng ngực bà và hiện lên thành bóng dáng những hồi ức. Biển dịu dàng họa lại đoạn mở đầu của một trong những truyền thuyết cổ xưa, có lẽ đã được sáng tạo trên vùng biển này.
Những hai mưi năm sau, cô gái tự dẫn thân trở về, kiệt quệ, héo hắt, cùng đi với cô là một chàng trai đẹp và khỏe như chính cô hai mươi năm xưa. Khi người ta hỏi bấy lâu nay cô ở đâu, cô liền thuật lại rằng đại bàng đã đem cô lên núi và ăn ở với cô như vợ chồng. Đây là con trai cô, cha nó đã qua đời, khi đại bàng cảm thấy sức lực đã suy yếu, nó bay vút lên trời cao lần cuối cùng, rồi cụp cánh, thả mình rơi xuống những mỏm đá núi nhọn hoắt và chết tươi tan xác...
Mọi người ngạc nhiên nhìn đứa con trai của đại bàng. Họ thấy nó cũng không có gì hơn họ, duy có đôi mắt nó lạnh lùng và kiêu hãnh như mắt chúa các loài chim. Họ nói chuyện với nó, còn nó thích thì nó trả lời, không thì nó lặng thinh. Khi các bậc già cả trong bộ lạc đến, nó nói chuyện với các cụ như với những người bằng vai. Như thế là làm nhục các cụ, và các cụ gọi nó là mũi tên cùn không có lông đuôi, bảo cho nó biết rằng hàng nghìn người như nó và hàng nghìn người tuổi tác gấp đôi nó còn phải kính trọng và tuân lời các cụ kia. Còn nó trân trân nhìn các cụ và trả lời rằng trên đời này, không đâu còn những người như nó nữa. Mọi người tôn kính các cụ thì mặc họ, chứ nó không muốn làm như họ. Ô, thế là các cụ nổi giận đùng đùng. Các cụ nổi giận và bảo nó:
- Nó không thể ở đây với chúng ta được! Mặc cho nó xéo đi đâu thì xéo!
Nó bật cười và đi đến chỗ nó muốn tới: nó đến gần một cô gái xinh đẹp đang nhìn nó chằm chằm. Nó đến cạnh cô và ôm lấy cô. Nhưng cô là con gái một vị trưởng lão vừa kết tội nó. Và tuy nó đẹp trai, cô vẫn cự tuyệt nó, vì sợ cha. Cô cự tuyệt nó và lảng đi, còn nó đánh cô và khi cô ngã xuống, nó giậm chân lên ngực cô mạnh đến nỗi máu vọt qua miệng cô, cô gái thở hắt ra, quằn quại như con rắn và tắt thở.
Tất cả những người chứng kiến cảnh tượng ấy đều kinh sợ, bàng hoàng: lần đầu tiên có kẻ giết một người phụ nữ ngay trước mặt họ như vậy. Tất cả đều im lặng hồi lâu, nhìn cô gái nằm sóng sượt trên mặt đất, mắt mở trừng trừng, miệng ứa máu, và nhìn nó: nó đứng cạnh xác cô gái, một mình đối diện với tất cả mọi người, kiêu hãnh, không cúi đầu, dường như thách thức người ta trừng phạt nó. Rồi, khi đã định thần, người ta túm lấy nó, trói lại và mặc nó đấy, vì thấy rằng giết nó ngay lúc đó thì đơn giản quá và không hả dạ.
Đêm càng về khuya càng tối và tràn đầy những âm thanh êm dịu, lạ kỳ. Trên thảo nguyên, chuột rít lên những tiếng rầu rĩ, dế kêu rinh rích trong đám lá nho, lá cây thở dài và thầm thì với nhau, vầng trăng tròn vành vạnh, trước đỏ như máu, bây giờ càng ra xa trái đất càng nhợt đi và tỏa xuống thảo nguyên làn sưng mù xanh lam mỗi lúc một dày đặc...
Thế rồi họ họp nhau lại để tìm ra một hình phạt xứng đáng với tội ác... Họ muốn cho ngựa xé xác nó, nhưng lại thấy hình phạt ấy vẫn còn nhẹ. Họ nghĩ tới việc mỗi người bắn vào nó một phát tên, nhưng rồi họ cũng bác bỏ cách ấy. Có người bàn nên thiêu sống nó, nhưng khói ở đống lửa bốc lên sẽ không cho họ thấy sự thống khổ của nó. Người ta đưa ra nhiều cách trừng phạt nhưng không có cách nào vừa ý tất cả mọi người. Còn mẹ nó quỳ trước mặt mọi người, im lặng, không còn đủ nước mắt và lời lẽ để van xin tha thứ cho nó. Họ bàn mãi, rồi một hiền giả lên tiếng sau khi suy nghĩ hồi lâu:
- Ta hãy hỏi nó xem tại sao nó lại làm thế?
Người ta hỏi nó. Nó nói:
- Cởi trói cho ta! Bị trói thì ta không nói đâu!
Nhưng khi đã được cởi trói, nó hỏi:
- Các người cần gì? -Nó nói hách dịch như họ là nô lệ của nó...
- Mày nghe thấy rồi đấy... - Bậc hiền gi nói.
- Ta cắt nghĩa hành động của ta cho các người nghe để làm gì?
- Để chúng tao hiểu. Mày là thằng kiêu ngạo, nghe đây! Đằng nào mày cũng chết. Vậy thì hãy giúp chúng tao hiểu việc mày đã làm. Chúng tao còn sống, chúng tao cần biết nhiều hơn những điều chúng ta biết hiện nay, cái đó có ích cho chúng tao...
- Được, ta sẽ nói, tuy rằng bản thân ta có lẽ cũng chưa hiểu đúng câu chuyện đã xảy ra! Ta giết cô gái hình như vì cô ấy cự tuyệt ta... Mà ta lại cần cô ấy.
- Nhưng cô ấy có phải của mày đâu! - Họ bảo nó.
- Thế các người chỉ dùng những gì các người có thôi ư? Ta thấy rằng mỗi người đàn ông chỉ có tiếng nói, đôi tay và đôi chân là của mình thôi, vậy mà họ chiếm hữu các giống vật, chiếm hữu đàn bà và đất đai... cùng vô khối cái khác nữa...
Họ bảo với nó rằng tất cả những gì người đàn ông chiếm được thì đều phải đem bản thân mình ra trang trải: trang trải bằng trí tuệ và sức lực của mình, đôi khi cả tính mệnh nữa. Nó trả lời rằng nó muốn giữ gìn nguyên vẹn bản thân nó.
Họ nói với nó lâu lắm, và cuối cùng, họ thấy nó tự coi mình là người thứ nhất trên đời, và ngoài bản thân nó, nó không nhìn thấy gì nữa hết. Mọi người đều kinh sợ khi họ hiểu rằng nó đã tự hãm mình vào cảnh cô độc như thế nào. Nó không có bộ lạc, không có mẹ, không có gia súc, không có vợ và cũng chẳng muốn những thứ đó.
Khi đã thấy rõ điều đó, họ lại bàn nhau nên trừng phạt nó như thế nào. Nhưng họ bàn không lâu, vị hiền giả ban nãy vẫn để mặc cho họ bàn luận liền lên tiếng:
- Này thôi! Có hình phạt đây rồi. Một hình phạt ghê rợn, các người có nghĩ một nghìn năm cũng không tìm được ra một hình phạt như thế. Cách trừng phạt nó ở ngay trong bản thân nó! Hãy thả nó ra, cứ để cho nó được tự do. Đấy là hình phạt của nó!
Thế là liền xảy ra một việc vĩ đại. Một tiếng sấm gầm vang, mặc dầu trên trời không có mây đen. Đấy là các thần thánh trên thượng giới chuẩn nhận lời nói của bậc hiền giả. Mọi người rạp mình bái vọng và tản đi. Còn gã trai ấy - bây giờ có tên là Larra, nghĩa là kẻ bị ruồng bỏ, bị xua đuổi - cười ầm lên, nhìn theo những người đang bỏ gã mà đi, gã cười, ở lại một mình và sống tự do như bố gã. Nhưng bố gã không phải là người... Còn gã là người. Thế là gã bắt đầu sống phóng túng như con chim. Gã đến các bộ lạc và cuỗm gia súc, bắt cóc cô gái: cướp tất cả những gì gã muốn lấy. Họ bắn vào gã, nhưng tên không thể xuyên vào người gã, vì gã được che chở bởi một lớp bọc vô hình của hình phạt tối cao. Gã khéo léo, tham tàn, dũng mãnh hung bạo và không bao giờ dàn mặt mọi người. Người ta chỉ thấy gã từ xa. Suốt bao lâu, Larra cứ đơn độc một mình, quanh quẩn gần mọi người, nó sống rất lâu như vậy, hàng mấy chục năm trời. Nhưng có lần, nó đến gần mọi người, và khi họ xông vào nó thì nó đứng yên không nhúc nhích, không hề tỏ ra có ý định tự vệ. Thế là một người trong bọn họ đoán ra và hét lên:
- Đừng động đến nó! Nó muốn chết đấy!
Mọi người dừng lại, không muốn giảm nhẹ số phận của kẻ đã làm hại họ, không muốn giết nó. Họ dừng lại và cười nhạo nó. Còn nó run lên khi nghe tiếng cười của họ, hai tay túm lấy ngực, tìm kiếm cái gì trên ngực, bỗng nhiên nó nhặt một hòn đá và xông vào họ. Nhưng họ giạt cả ra tránh nó và không đánh nó một cái nào, rồi khi nó mệt lả, thét lên một tiếng ai oán và ngã vật xuống đất thì họ lùi ra xa đứng nhìn nó. Nhưng nó bỗng đứng lên, nhặt lấy con dao không rõ của ai đã đánh rơi trong lúc xô xát với nó, và tự đâm vào ngực. Nhưng con dao gẫy gập như đâm phải đá. Nó lại ngã nhào xuống và cứ đập đầu xuống đất mãi. Nhưng đất tránh né nó, lún sâu xuống mỗi khi đầu nó dập xuống.
- Nó không thể nào chết được! - Mọi người sung sướng nói.
Họ kéo nhau đi, bỏ mặc nó. Nó nằm ngửa mặt lên trời và thấy những con đại bàng dũng mãnh bay lượn tít trên trời cao như những chấm đen nhỏ. Cặp mắt nó chứa chất biết bao buồn khổ, tưởng chừng có thể đủ để đầu độc cả nhân loại. Thế rồi từ đấy, nó vẫn cô độc một mình, tự do và chờ đợi cái chết đến với nó. Cho đến giờ nó vẫn lang thang khắp nơi... Anh thấy đấy, bây giờ nó chỉ còn là cái bóng và sẽ như vậy mãi mãi. Nó không hiểu cả tiếng nói lẫn hành động của mọi người, nó chẳng hiểu gì cả. Nó vẫn tìm kiếm, đi lại đây đó... Nó không có chỗ dung thân giữa mọi người. Đấy, một con người bị trừng phạt về tội kiêu ngạo như thế đó!
Bà lão thở dài, im lặng, đầu gục xuống ngực, lúc lắc mấy cái nom đến kỳ dị.
Tôi nhìn bà. Tôi thấy hình như bà lão buồn ngủ. Không hiểu vì sao tôi bỗng xót xa thương bà. Đoạn cuối câu chuyện, bà kể bằng một giọng rất thống thiết, đầy hăm dọa, vậy mà tôi vẫn cm thấy một âm thanh sợ sệt, nô lệ.
Trên bờ biển có tiếng hát vang lên, tiếng hát kỳ dị. Thoạt đầu là một giọng nữ trầm cất lên hai ba âm thanh, rồi đến một giọng khác hát lại từ đầu vẫn bài ấy, nhưng giọng thứ nhất luôn luôn đi trước giọng thứ hai... giọng thứ ba, thứ tư, thứ năm bắt vào khúc hát vẫn theo trình tự ấy. Bỗng nhiên, những giọng nam hợp xướng nổi lên, vẫn bài đó, và lại hát từ đầu.
Mỗi giọng nữ lanh lảnh nghe tách bạch hẳn, ta có thể mường tượng đó là những dòng suối muôn màu từ trên cao đổ xuống các khối đá, réo rắt vọt tung lên hòa vào làn sóng giọng nam dày đặc đang nhịp nhàng cuộn lên, chìm ngập trong làn sóng đó, rồi lại bứt ra, át hẳn mọi âm thanh ấy, và giọng này tiếp giọng kia, lại vút lên cao, trong trẻo và mạnh mẽ.
Tiếng hát át hẳn tiếng sóng...
II
- Anh có nghe thấy ở đâu người ta còn hát như thế không? - Bà lão Inzerghin vừa hỏi vừa ngẩng đầu lên và cái miệng móm mém mỉm cười.
- Không, tôi chưa bao giờ nghe thấy...
- Và sẽ không bao giờ được nghe thấy nữa. Chúng tôi thích hát. Chỉ những người đẹp mới có thể hát hay, vì những người đẹp là những người ham sống. Chúng tôi ham sống. Anh tưởng những người đang hát ở kia không mệt mỏi sau một ngày vừa qua sao? Chớ tưởng lầm như vậy! Họ làm việc từ lúc mặt trời mọc cho tới hoàng hôn, bây giờ trăng đã lên mà họ vẫn ca hát. Những kẻ không biết sống thì đã đi ngủ rồi. Những người yêu đời vẫn ca hát, anh thấy đấy.
- Nhưng sức khỏe... - Tôi toan nói.
- Sức khỏe bao giờ cũng đủ dùng suốt đời. Sức khỏe! Nếu anh có tiền, anh lại không tiêu tiền chăng?
Sức khỏe cũng là vàng. Anh có biết thời trẻ tôi đã làm gì không? Tôi dệt thảm từ sáng tinh m cho đến chiều hôm, gần như không hề đứng lên. Tôi lanh lợi như một tia sáng mặt trời, vậy mà cứ phải ngồi lì một chỗ như tảng đá. Tôi ngồi đến nỗi đôi khi xương cốt kêu răng rắc. Vậy mà cứ tối đến là tôi chạy đến với người yêu để ôm hôn chàng. Ba tháng ròng như thế, suốt thời gian chúng tôi yêu nhau. Hồi ấy, đêm nào tôi cũng đến với chàng. Thế mà tôi sống đến ngần này tuổi rồi đây: khí lực sung túc lắm đấy chứ! Tôi đã yêu biết bao nhiêu người! Tôi đã cho và nhận bao nhiêu cái hôn!
Tôi nhìn mặt bà lão. Cặp mắt đen của bà vẫn mờ đục, hồi ức không làm cho cặp mắt ấy linh hoạt lên. ánh trăng rọi sáng cặp môi khô nứt nẻ của bà, rọi sáng cái cằm nhọn vêu vao dính những sợi tóc bạc và cái mũi nhăn nheo khoằm xuống như mỏ cú. Hai má trũng xuống thành hai hõm đen: từ dưới tấm khăn đỏ, như miếng giẻ rách quấn quanh đầu, một mớ tóc màu tro xõa ra, dính bết vào bên hõm má. Da mặt, da cổ và da tay chằng chịt nếp nhăn nom như những vết khía và mỗi khi bà lão cử động, tôi cứ tưởng như làn da khô héo ấy sẽ rách tơi tả, bong xuống từng mnh và trước mắt tôi sẽ hiện lên bộ xương trần trụi với hai hốc mắt đen ngòm, đờ đẫn.
Bà lão lại bắt đầu kể chuyện, bằng cái giọng lạo xạo của mình.
- Dạo ấy, tôi sống với mẹ ở Fanmi, ngay trên bờ sông Buôclat. Khi anh ấy đến xóm tôi thì tôi mười lăm tuổi. Anh ấy cao lớn, thân hình mềm dẻo, ria đen, vui tính. Anh ấy ngồi nói chuyện và cất giọng sang sảng, thét vọng vào cửa sổ gọi chúng tôi: “Này, các người có rượu nho... và cái gì cho tôi chén với không?” Tôi nhìn ra cửa sổ và qua những cành tần bì, tôi thấy: cả dòng sông xanh biết dưới ánh trăng, anh mặc sơ mi trắng, chiếc thắt lưng rộng bản buông thõng hai đầu xuống một bên sườn, một chân anh đứng trong thuyền, chân kia ghếch lên bờ. Anh lắc lư và hát một điệu gì không rõ. Thấy tôi, anh nói: “Chà, ở đây có cô em xinh đẹp quá đi mất! Thế mà ta chẳng biết gì cả!” Cứ như là trước khi gặp tôi, anh đã biết tất cả con gái đẹp trên đời rồi không bằng ! Tôi đem rượu nho và thịt lợn luộc cho anh... Rồi bốn ngày sau, tôi đã hiến cả con người tôi cho anh... Đêm nào chúng tôi cũng xuống thuyền đi chi với nhau. Anh đến, huýt sáo khe khẽ như tiếng chuột nhảy, còn tôi nhảy qua cửa sổ xuống sông như một con cá... Thế rồi chúng tôi cho thuyền đi... Anh là một tay chài lưới ở Prut, về sau, khi mẹ tôi đã biết hết mọi chuyện và dọt cho tôi một trận nên thân thì anh luôn luôn dỗ tôi đi với anh đến Đôbruja và đi xa hơn nữa, tới cửa sông Đanuyp. Nhưng lúc ấy tôi không thích anh nữa rồi: anh chỉ biết ca hát và ôm hôn tôi, ngoài ra không còn gì nữa! Tôi đã chán anh rồi. Hồi ấy có một đoàn người Guxun kéo đến vùng này, và trong bọn họ có những tay đáng yêu... Bọn họ sống đến là vui, có một cô gái nọ đang chờ đợi chàng trai hiên ngang của mình (chàng là người xứ Cacpát). Cô cứ tưởng anh đã vào tù hoặc bị giết trong một cuộc ẩu đ ở đâu đó, vậy mà bỗng nhiên chàng vụt đến với cô, như từ trên trời rơi xuống, đi một mình hay với hai ba người bạn. Chàng mang đến cho cô những món quà sang trọng: thứ gì họ cũng kiếm được một cách dễ dàng thôi mà! Chàng ăn uống linh đình ở nhà cô, hãnh diện về cô trước các bạn mình. Cô thích thú về chuyện đó. Tôi nhờ một cô bạn hiện đang có một chàng Guxun giới thiệu họ cho tôi... Tên cô ấy là gì? Tôi quên mất rồi... Bây giờ tôi bắt đầu quên hết mọi việc trên đời. Từ bấy đến nay đã bao lâu rồi, mọi việc đều quên ráo cả. Cô ta giới thiệu cho tôi một anh chàng giỏi trai. Anh chàng khá xinh... Đầu tóc anh đỏ, cái gì cũng đỏ hoe: cả ria lẫn những búp tóc xoăn! Một cái đầu rực lửa! Dáng dấp anh buồn rười rượi, khi thì anh âu yếm, khi thì gầm thét và ẩu đả như thú dữ. Có lần anh đánh vào mặt tôi... Còn tôi nhảy chồm vào ngực anh như một con mèo, cắn ngập răng vào má anh... Từ đó, trên má anh có một lỗ trũng, và khi tôi hôn vào lỗ trũng ấy thì anh thích lắm.
- Thế còn anh thuyền chài, anh ta đi đâu? - Tôi hỏi.
- Anh thuyền chài, hả? Anh ta... vẫn ở đấy. Anh ta nhập bọn với cánh Guxun. Thoạt tiên, anh ta vẫn cứ dỗ dành tôi và dọa quẳng tôi xuống sông, nhưng rồi cũng không có chuyện gì c, anh ta nhập bọn với họ, kiếm được một cô khác... Cả hai anh bạn của tôi - anh thuyền chài và anh Guxun ấy - cùng bị treo cổ một lúc. Tôi có đi xem họ bị treo cổ. Chuyện đó xảy ra ở Đôbruja. Khi đi ra chỗ xử tội, anh thuyền chài mặt tái mét, khóc lóc, còn anh Gunxun thì phì phèo tẩu thuốc. Anh đi ung dung như thường và hút thuốc, hai tay đút túi quần, một bên ria mép ng xuống bên vai, nhánh kia thõng trước ngực. Thấy tôi, anh nhả tẩu thuốc ra và lớn tiếng gọi tôi: “Vĩnh biệt!...” Tôi thưng tiếc anh suốt một năm trời. Chuyện đó xảy ra lúc họ định về quê ở Cacpát. Trước khi đi, họ đến thăm một người Rumani để từ biệt. Họ bị bắt ở đó. Chỉ có hai người bị bắt, còn thì mấy người bị giết, những người khác trốn thoát... Sau đó, họ đã trả thù gã người Rumani kia... Họ đốt trại, đốt nhà xay bột, đốt hết lúa mì của hắn. Hắn trở thành ăn mày.
- Cụ làm việc ấy đấy chứ? - Tôi đoán già đoán non.
- Bọn Guxun thiếu gì bạn bè, không phải chỉ có mình tôi... - Người nào là bạn thân nhất của họ, người ấy rửa hờn cho người khuất bóng...
Tiếng hát trên bờ biển đã im bặt, bây giờ chỉ có tiếng sóng biển ì ầm hòa nhịp với bà lão: tiếng sóng tư lự và sôi nổi hòa điệu tuyệt diệu cho câu chuyện về một cuộc đời sóng gió. Đêm mỗi lúc một êm dịu hn, ánh trăng xanh ngời tỏa chiếu càng rộng khắp trong đêm, còn những âm thanh m hồ phát ra từ cuộc sống tất bật của những cư dân vô hình của đêm tối cứ khẽ dần đi, bị át trong tiếng sóng biển rì rào mỗi lúc một to... vì gió mỗi lúc một mạnh.
- Sau đó tôi còn yêu một anh chàng Thổ Nhĩ Kỳ nữa. Tôi ở trong khuê phòng của anh ta ở Xukutari. Tôi sống ở đó suốt một tuần, cũng được... Nhưng rồi tôi đâm chán... Lúc nào cũng chỉ thấy đàn bà là đàn bà... Anh ta có tám ... Suốt ngày họ chỉ ăn, ngủ và tán chuyện lăng nhăng... Hay chửi nhau, quang quác cái mồm lên như những con gà mái. Anh ta không còn trẻ nữa, cái anh Thổ Nhĩ Kỳ ấy. Tóc gần bạc hết, nghiêm trang rất mực và giàu có. Nói năng như đấng chúa tể... Mắt đen... đôi mắt thẳng thắn... nhìn thẳng vào tâm hồn người ta. Anh rất thích cầu nguyện. Tôi gặp anh ở Bukaresti... Anh đi đi lại lại trong chợ như một ông vua, xem xét mọi cái với vẻ trang nghiệm, rất đỗi trang nghiêm. Tôi mỉm cười với anh. Ngay chiều hôm đó, người ta chộp lấy tôi ở ngoài phố và đưa lên xe, đưa đến nhà anh. Anh buôn bạch đàn và dừa, còn anh đến Bukaresti mua cái gì thì không rõ. “Cô em đến Thổ Nhĩ Kỳ với ta chứ?” Anh hỏi “ồ vâng, em xin đi với chàng !” “Tốt lắm!” Thế là tôi đi. Anh chàng Thổ Nhĩ Kỳ ấy giàu có lắm. Anh ấy có một đứa con trai, thằng bé ngăm ngăm đen, rất mềm mại... Nó mười sáu tuổi. Tôi cùng với nó trốn khỏi nhà anh Thổ Nhĩ Kỳ ấy... Tôi trốn sang Bungari, đến Lôm-Palanka... ở đấy, tôi bị một Bungari cho một nhát dao vào ngực, ghen về chồng chưa cưới hay chồng, tôi cũng không nhớ nữa.
Tôi ốm, nằm một thời gian dài trong tu viện. Một tu viện phụ nữ. Một cô gái chăm sóc tôi, cô ta người Ba Lan, cô có người anh ở một tu viện khác - tôi còn nhớ là ở gần Acse-Palanka - anh vẫn lui tới thăm cô, anh cũng là một thầy tu... Anh ta... cứ uốn éo làm duyên làm dáng trước mặt tôi như con sâu ấy... khi tôi khỏe hẳn, tôi bỏ ra đi với anh... sang nước Ba Lan của anh.
- Hượm đã! Thế thằng bé Thổ Nhĩ Kỳ bây giờ đâu rồi?
- Thằng bé ấy à? Thằng bé ấy nó chết rồi. Vì nhớ nhà hay vì tình thì không rõ... Nó héo quắt đi như cái cây nhỏ non yếu, bị nắng rọi quá nhiều... nó cứ héo quắt mãi đi... tôi nhớ, nó nằm trên giường, người đã trong vắt và xanh nhợt như tng băng, vậy mà tình yêu vẫn rực cháy trong người nó... Nó vẫn nài tôi cúi xuống và hôn nó... Tôi đã yêu nó và tôi còn nhớ tôi đã hôn nó rất nhiều... Rồi nó suy kiệt hẳn, gần như không cử động được nữa. Nó nằm trên giường và kêu van thảm thiết như một thằng ăn mày xin bố thí, nài tôi nằm xuống cạnh nó và sưởi ấm cho nó. Tôi nằm xuống. Tôi vừa nằm xuống với nó... thì toàn thân nó lập tức nóng rực lên như lửa. Một hôm, tôi thức dậy thì nó đã lạnh ngắt... nó chết rồi. Tôi khóc thương nó. Biết nói thế nào được? Có lẽ chính tôi đã giết nó. Lúc ấy tuổi tôi gấp đôi tuổi nó. Tôi khỏe mạnh như thế, dồi dào sức sống như thế... Còn nó, nó là cái gì?... Một thằng nhóc!
Bà lão thở dài, và làm dấu thánh ba lần - lần đầu tiên tôi thấy bà cụ làm dấu - mấp máy cặp môi khô lẩm bẩm câu gì không rõ.
- Thế rồi cụ sang Ba Lan... Tôi nhắc.
- Phi... đi với gã Ba Lan nhỏ nhắn ấy. Gã là một kẻ lố bịch và đê tiện. Khi cần đàn bà thì gã quấn quít lấy tôi như con mèo, và từ lưỡi gã tuôn ra một thứ mật ngọt nóng hừng hực, nhưng khi gã không thèm muốn tôi thì gã nói tôi đau như roi quất. Có lần, chúng tôi đi trên bờ sông thốt nhiên gã nói một câu hợm hĩnh xúc phạm đến tôi! Ôi chao!... Tôi giận điên lên! Tôi sôi lên như thùng nhựa nấu! Tôi nhấc bổng gã lên như nhấc đứa trẻ - người gã nhỏ bé, - tôi bóp chặt hai cạnh sườn gã, đến nỗi gã tái nhợt đi. Thế rồi tôi lấy đà quăng gã xuống sông. Gã kêu gào. Gã kêu gào đến là tức cười. Tôi đứng trên bờ nhìn gã, còn gã vùng vẫy dưới nước. Thế là tôi bỏ đi. Từ đấy, tôi không bao giờ gặp gã nữa. Tôi có cái may mắn như vậy đấy: không bao giờ gặp lại những người mà tôi đã từng yêu. Đấy là những cuộc gặp gỡ tệ hại, chẳng khác gì gặp lại những người đã chết.
Bà lão im lặng, thở dài. Tôi tưởng tượng ra những người mà bà lão đã gợi lại trong ký ức. Đây là chàng Gunxun râu tóc đỏ rực như lửa, ria mép vắt vẻo, đang đi đến chỗ chết mà vẫn điềm nhiên phì phèo tẩu thuốc. Hẳn là anh có cặp mắt xanh biếc lạnh lùng, nhìn mọi sự vật một cách chăm chú, cưng quyết. Bên cạnh anh là gã thuyền chài xứ Prut, ria đen: gã khóc lóc và không muốn chết, và trên khuôn mặt tái mét, đau buồn vì sắp phi từ giã cuộc đời, cặp mắt vui vẻ mờ đi, bộ ria mép đẫm nước mắt rũ xuống hai bên cái miệng méo xệch, nom mới buồn thm làm sao. Còn đây là lão già Thổ Nhĩ Kỳ trang nghiêm, chắc hẳn là một người tin ở định mệnh và chuyên chế, cạnh lão là gã con trai lão, bông hoa bé nhỏ, nhợt nhạt và mnh mai của phưng Đông, đã bị đầu độc vì những chiếc hôn. Còn đây là anh chàng Ba Lan háo danh, vừa thanh lịch vừa tàn nhẫn, vừa khéo nói vừa lạnh lùng... Tất c bọn họ chỉ là những cái bóng nhợt nhạt, còn người đàn bà mà họ đã ôm hôn thì đang ngồi cạnh tôi, một con người sống, nhưng thời gian đã làm cho héo hắt đi, không còn thân hình, không còn khí huyết, lòng không ham muốn, mắt không còn những tia sáng linh lợi, cũng gần như một cái bóng.
Bà lão kể tiếp:
- ở Ba Lan, tôi sống khó khăn lắm. Người nước này lạnh nhạt và dối trá. Tôi không biết thứ tiếng rin rít như tiếng rắn phun của họ... Người nào nói cũng rít lên. Sao họ lại rít lên thế nhỉ? Chúa ban cho họ thứ tiếng rin rít của loài rắn là bởi họ hay dối trá. Hồi ấy tôi cứ đi mà chẳng biết là đi đâu, tôi thấy họ tụ tập nhau nổi lên chống lại người Nga các anh. Tôi đi đến thành phố Bôcnia. Một gã Do thái bỏ tiền ra mua tôi, không phải mua cho gã, mà để dùng tôi làm món hàng buôn bán. Tôi cam chịu cảnh ngộ ấy. Muốn sống được thì phải biết làm một việc gì. Tôi chẳng biết làm gì bởi thế tôi đành bán thân nuôi miệng. Nhưng lúc ấy, tôi nghĩ rằng hễ kiếm được ít tiền đủ để về quê nhà ở Buôclat là tôi sẽ dứt bỏ xiềng xích, dù là kiên cố đến mấy đi nữa. Vậy là tôi ở lại đấy. Khách của tôi là những pan giàu có, chúng chơi bời chè chén ở nhà tôi. Chúng phải trả giá đắt về những cuộc ăn chơi đó. Chúng đánh nhau, khuynh gia bại sản vì tôi. Có một tên trong một thời gian dài vẫn cố giành lấy tôi cho riêng mình hắn và một hôm, hắn làm thế này: hắn đến, mang theo tên gia nhân vác một cái bao tải. Tên pan hai tay cầm lấy bao tải và dốc ngược trên đầu tôi. Những đồng tiền vàng túa ra, đập xuống đầu tôi, và tôi vui thích nghe thấy tiếng tiền vàng rơi loảng xoảng xuống sàn nhà. Nhưng mặc dầu vậy, tôi vẫn tống cổ tên quý tộc đó đi. Nó có cái mặt bự thịt, thô kệch, còn bụng thì cứ như cái gối to phồng. Nom nó như con lợn ỉn ăn no. Phải, tôi đã tống khứ thằng cha đó đi; mặc dù nó nói rằng nó đi bán hết đất đai, nhà cửa, ngựa nghẽo để rắc vàng lên khắp người tôi. Hồi đó, tôi yêu một pan xứng đáng mặt đầy sẹo. Mặt anh đầy vết chém ngang dọc vì những nhát gưm của bọn Thổ Nhĩ Kỳ; trước đó ít lâu, anh đứng về phía người Hy Lạp đánh lại chúng. Đấy mới thật là con người!... Người Hy Lạp thì thân thiết gì với anh, anh là người Ba Lan kia mà? Nhưng anh ra trận, cùng họ chống lại kẻ thù của họ. Anh bị chúng đâm chém, lòi một mắt, bàn tay trái mất hai ngón... Người Hy Lạp thì thân thiết gì với anh, anh là người Ba Lan kia mà? Duyên do là thế này: anh thích làm nên chuyện phi thường. Và khi một con người ưa thích làm nên chuyện phi thường thì bao giờ người đó cũng biết lập kỳ công và cố tìm được chỗ có thể làm chuyện đó. Anh biết không, trong cuộc sống bao giờ cũng có chỗ để làm nên sự nghiệp phi thường. Còn những kẻ không tìm được cơ hội để lập nên kỳ công thì chỉ là những kẻ lười biếng hoặc hèn nhát, hoặc là không hiểu cuộc sống, vì nếu hiểu cuộc sống thì mỗi người đều muốn lưu lại bóng dáng mình sau khi mình không còn trên đời này nữa. Và như thế thì cuộc sống sẽ không ngốn ngấu con người không để lại vết tích gì... ồ, anh chàng bị chém nát mặt ấy đáng là con người. Anh sẵn sàng đi đến cùng trời cuối đất để làm được một việc gì. Hẳn là người Nga các anh đã giết anh ta trong thời gian nổ ra cuộc nổi loạn. Nhưng tại sao các anh lại đi đánh người Magya? Này thôi, im đi!...
Và để bắt tôi im lặng, bà lão Izerghin đột nhiên ngừng bặt, trầm ngâm suy nghĩ.
- Tôi còn quen biết một người Magya. Một hôm, anh ta bỏ tôi ra đi, lúc ấy là mùa đông và mãi đến mùa xuân, khi tuyết tan, người ta mới tìm thấy anh ta trên cánh đồng, đầu bị đạn xuyên qua. Thế đấy! Anh thấy chứ: tình yêu giết người không kém bệch dịch hạch, tính ra không ít hn đâu... Vừa nãy tôi nói chuyện gì nhỉ? à, nói về Ba Lan... Phi, ở đấy tôi đã chi canh bạc cuối cùng của tôi! Tôi gặp một tay quí phái Ba Lan... Tay này mới thật đẹp trai! Ranh như quỷ sứ ấy! Còn tôi thì già rồi, ôi chao, tôi già thật rồi! Lúc ấy tôi đã đến bốn mưi chưa nhỉ?... Có lẽ đến rồi đấy... còn nó thì kiêu hãnh, được bọn đàn bà chúng tôi chiều chuộng. Tôi đau khổ vì nó. Đúng thế, nó muốn lập tức muốn chiếm lĩnh tôi mà không tốn chút công sức nào, nhưng tôi đâu có chịu. Chưa bao giờ tôi chịu làm nô lệ cho bất cứ kẻ nào. Tôi đã dứt được thằng Do thái, tôi cho nó vô khối tiền... Bấy giờ tôi ở Cracôvi. Tôi đã có đủ mọi thứ: ngựa, vàng bạc, kẻ hầu người hạ... Con quỷ kiêu ngạo ấy lui tới thăm tôi và vẫn muốn tôi tự gieo mình vào hai cánh tay nó. Chúng tôi cãi nhau... tôi còn nhớ là vì chuyện ấy mà tôi đâm ra sọm người đi. Câu chuyện kéo dài khá lâu... Tôi đã thắng: nó quỳ gối van xin tôi... Nhưng vừa chiếm được tôi thì nó cũng bỏ tôi luôn. Thế là tôi hiểu rằng tôi đã già rồi... Ôi, điều đó chẳng dễ chịu gì cho tôi đâu! Chẳng dễ chịu gì đâu! Tôi thì tôi yêu nó, thằng quỷ sứ ấy... Còn nó, khi gặp tôi, nó cười cợt... cái thằng xỏ lá thế! Khi nói chuyện với những đứa khác, nó chế nhạo tôi, tôi biết. Chà, đau xót lòng tôi, thật đấy! Nhưng nó vẫn ở đây, gần gũi, và dù sao tôi vẫn mê nó. Khi nó ra đi đánh nhau với người Nga các anh, lòng tôi đau đớn vô cùng. Tôi cố nén lòng, nhưng không thể được... Và tôi quyết đi theo nó. Nó ở gần Vacxôvi, trong rừng...
Nhưng khi tôi đến nơi thì được biết bọn họ đã bị các anh đánh tan... nó bị bắt làm tù binh, giam ở một làng cách đấy không ra.
Tôi nghĩ: “Thế là ta không bao giờ còn gặp nó nữa!”. Nhưng tôi muốn gặp nó. Thế rồi tôi cố tìm cách gặp nó cho bằng được. Tôi gi dạng làm một mụ hành khất, chân đi tập tễnh và mặt quấn băng, tìm đến cái làng nó bị giam. Chỗ nào cũng gặp người Cô-dắc và lính tráng... Tôi đã phải trả một giá đắt để đến được nơi đó! Tôi đã dò được chỗ giam người Ba Lan và tôi thấy rằng khó lòng mà lọt tới được! Nhưng tôi cần phải đến. Thế là ban đêm, tôi bò đến chỗ họ bị giam giữ. Tôi bò trong vườn rau, giữa các luống đất và tôi thấy một tên lính gác đứng trên đường tôi đi... Tôi đã nghe thấy bọn người Ba Lan đang hát và nói oang oang. Họ hát một bài ca ngợi Đức Mẹ... và nó cũng hát với họ... Ackadec của tôi... Tôi chua xót nghĩ rằng trước kia người ta bò rạp đến tìm tôi... vậy mà bây giờ đã đến lúc tôi bò trên mặt đất như con rắn, tìm đến với một gã đàn ông và có lẽ là bò đến tìm cái chết của tôi cũng nên. Kìa, tên lính gác đã gác nghe ngóng, vươn người về phía trước. Tôi phải làm thế nào đây? Tôi đứng lên và tiến thẳng đến trước mặt hắn. Tôi không có dao, không có gì hết, chỉ có hai bàn tay và miệng lưỡi của tôi thôi. Tôi lấy làm tiếc rằng đã không giắt dao bên mình! Tôi thì thầm: “ấy gượm!... Nhưng tên lính đã chìa lưỡi lê vào họng tôi. Tôi thì thầm nói với hắn: “Đừng đâm, hãy gượm, nếu anh còn có một tấm lòng thì xin hãy nghe tôi! Tôi không thể cho anh cái gì đâu, nhưng tôi van xin anh...”. Hắn hạ súng xuống và cũng thì thầm nói với tôi: “Xéo đi, mụ kia! Xéo đi! Mụ muốn gì?” Tôi bảo hắn rằng con trai tôi hiện bị nhốt ở đây... “Anh hiểu đấy, anh lính ạ, con trai tôi! Anh cũng là con trai một người nào đó, phải không? Thế thì anh hãy nhìn tôi đây, tôi cũng có một đứa con trai như anh, vậy mà bây giờ nó ở kia! Cho tôi nhìn nó một tí, có lẽ chẳng bao lâu nữa nó sẽ chết... chưa biết chừng ngày mai anh sẽ bị giết... mẹ anh sẽ khóc anh chứ gì? Và hẳn là anh đau lòng nếu chết mà không được nhìn mặt mẹ, phải không? Con trai tôi cũng đau lòng như thế. Anh hãy thương lấy thân anh, thương nó, thương cả tôi nữa, vì tôi là người mẹ!...”.
Ôi chao, tôi nói với hắn lâu lắm! Trời mưa, chúng tôi ướt ráo cả. Gió gào thét, gầm rú, lúc thì thốc vào lưng, lúc thì xô vào ngực tôi. Tôi đứng, lảo đảo trước mặt tên lính tr tr như tượng đá ấy... Còn hắn thì luôn miệng nói: “Không!” Và mỗi lần nghe tiếng “Không!” lạnh lùng của hắn thì niềm mong muốn được gặp Ackadec càng bừng cháy trong lòng tôi. Tôi vừa nói vừa đưa mắt lượng sức vóc tên lính: hắn nhỏ bé, gầy ngẳng và ho luôn miệng. Thế là tôi sụp xuống đất trước mặt hắn, ôm lấy đầu gối hắn, không ngớt van nài hắn bằng những lời lẽ nhiệt thành, rồi tôi quật hắn xuống. Hắn ngã vào đống bùn. Nhanh như cắt, tôi lật úp mặt hắn xuống đất,, dìm đầu hắn xuống vũng nước để hắn khỏi kêu. Hắn không kêu, chỉ vùng vẫy, cố hất tôi ra khỏi lưng hắn. Còn tôi, hai tay ấn đầu hắn xuống bùn sâu hơn nữa. Hắn tắt thở... Thế là tôi đâm bổ đến kho thóc, chỗ có tiếng hát của những người Ba Lan. “Ackadec!”... - Tôi thì thầm gọi qua khe tường. Những người Ba Lan ấy sáng ý lắm, nghe tiếng tôi gọi, họ vẫn tiếp tục hát! Kìa, đôi mắt Ackadec hiện ra trước mắt tôi. “Anh có thể ra được không?” - “Được, chui qua dưới sàn!” - nó nói. “ừ, thế thì ra đi”. Rồi bốn người chui qua dưới sàn ván ra ngoài: ba người khác và Ackadec của tôi. “Bọn lính gác đâu?” - Ackadec hỏi. “Nó nằm kia kìa!...” Thế là họ im hơi lặng tiếng, nhẹ nhàng ra đi, khom mình sát đất. Trời mưa, gió gào thét. Chúng tôi đã ra khỏi làng và im lặng đi hồi lâu trong rừng. Chúng tôi đi thật nhanh. Ackadec dắt tay tôi, tay nó ấm và run run. Ôi!... Lúc nó chưa nói gì cả thì đi cạnh nó, tôi sung sướng làm sao. Đấy là những phút cuối cùng, những phút sung sướng trong cuộc đời đầy ham muốn của tôi. Nhưng chúng tôi ra đồng cỏ và dừng lại. Cả bốn người đều cảm tạ tôi. Ôi, họ nói lâu lắm và nhiều lắm nói những gì tôi cũng chẳng rõ nữa! Tôi chỉ nghe và nhìn gã pan của tôi. Nó sẽ làm gì cho tôi đây? Đây này, nó ôm lấy tôi và nói rất nghiêm trang. Tôi không còn nhớ nó nói những gì, nhưng tóm lại là nó bảo bây giờ để trả lời ơn tôi đã cứu nó ra khỏi chốn ấy, nó sẽ yêu tôi... Nó quỳ xuống trước mặt tôi, mỉm cười nói với tôi: “Bà chúa của anh ơi!” Chà, thằng chó, giả dối đến như thế đấy!... Thế là tôi đá cho nó một cái và định đập vào mặt nó, nhưng nó né tránh và bật dậy. Nó đứng trước mặt tôi, hầm hầm và tái mét... Ba tên kia cũng đứng dậy, đứa nào cũng cau có. Cả bọn đều im lặng. Tôi nhìn chúng... Tôi còn nhớ, lúc đó tôi chỉ cảm thấy chán ngán vô cùng, không còn thiết gì nữa... Tôi bảo chúng: “Các người đi đi!” Còn chúng, đồ chó, chúng hỏi tôi: “Chị sẽ quay lại đằng ấy và chỉ cho chúng biết chúng tôi đi đường nào chứ?” Quân đê hèn làm sao! Nhưng rồi chúng cũng bỏ đi. Và tôi cũng đi... Hôm sau người Nga các anh bắt được tôi, nhưng rồi họ thả ngay. Thế là tôi thấy đã đến lúc tôi phải xây một tổ ấm, tôi sẽ sống cuộc đời con chim cu! Tôi đã đâm ra ì ạch, cánh đã yếu, lông đã bợt màu... Đã đến lúc sống chân chỉ, đã đến lúc rồi! Tôi đến Galixi, rồi từ đó về Đôbritia. Và tôi ở đây đã ba chục năm trời. Tôi lấy một anh chồng người Mônđavi, anh ấy mất đã gần một năm. Còn tôi vẫn sống! Sống đơn độc một mình... Không không phải một mình mà sống với những người kia.
Bà lão đưa tay về phía biển, mặt biển khắp nơi đều yên tĩnh. Đôi khi một âm thanh ngắn ngủi, hư o bật lên rồi tắt lặng ngay.
- Họ yêu tôi. Tôi kể cho họ nghe đủ thứ chuyện. Họ cần nghe những chuyện đó. Bọn họ còn trẻ cả... Sống với họ tôi thấy thú vị lắm. Tôi nhìn họ và nghĩ: “Đã có thời ta cũng như thế... Có điều là thời ấy, cái thời sôi nổi xa xưa của ta, con người có nhiều sức lực và nhiều lửa sống hn, vì thế sống vui hơn và thú hơn... Đúng thế!...”
Bà lão im lặng. Ngồi bên bà, tôi cm thấy buồn man mác. Bà lão thiu thiu ngủ, đầu lắc la lắc lư và khẽ lầm rầm cái gì không rõ... có lẽ bà cầu nguyện.
Trên mặt biển nhô lên một đám mây đen nặng nề, có đường viền gân guốc, giống như một chỏm núi. Đám mây trườn vào tho nguyên. Từ chỏm mây, có những mng mây tách ra, bay vượt lên trước và lần lượt che tắt hết ngôi sao này đến ngôi sao khác. Biển động ầm ầm. Cách chúng tôi không xa, dưới những gốc nho, người ta hôn nhau, thì thầm, thở dài. Một con chó sủa rống lên ở một ni nào xa tít trong tho nguyên... Không khí đầy một mùi kỳ lạ, làm ngứa ngáy lỗ mũi, kích thích thần kinh. Bóng mây in xuống mặt đất từng đám dày đặc, trườn đi, trườn đi biến mất rồi lại xuất hiện... ở chỗ mặt trăng trước kia, chỉ còn lại một vệt trắng đục, đôi khi bị một mảng mây xanh nhạt hoàn toàn che khuất. Xa xa trên thảo nguyên lúc này đã trở nên đem ngòm và đáng sợ, như đang ẩn náu và thu giấu trong mình một cái gì bí ẩn, có những đốm lửa xanh lam bùng lên. Chúng xuất hiện trong giây lát, khi thì chỗ này, khi thì chỗ kia rồi tắt đi, cứ như có mấy người tản mát trong thảo nguyên, ở cách xa nhau, đang tìm kiếm cái gì, xòe diêm lên nhưng lại bị gió thổi tắt ngay. Đấy là những lưỡi lửa xanh rất kỳ dị, gợi nhớ tới một cái gì hoang đường.
- Anh có thấy những ánh lửa không? - Bà lão Izerghin hỏi tôi.
- Những ánh lửa xanh kia phải không? - Tôi vừa nói vừa trỏ ra thảo nguyên.
- ánh lửa xanh hả? ừ, đúng đấy... Vậy ra những ánh lửa ấy vẫn còn bay lượn! Lạ thật... Nhưng mắt tôi bây giờ không còn thấy những ánh lửa ấy nữa. Bây giờ có nhiều cái tôi không nhìn thấy được.
Trước đó tôi đã được nghe một đôi điều về nguồn gốc những tia lửa này, nhưng tôi muốn nghe bà lão Izerghin kể câu chuyện ấy.
- Những tia lửa ấy từ trái tim cháy của Đankô tóe ra đấy. Thuở xưa, có một trái tim một hôm đã bốc cháy. Những tia lửa này là ở trái tim đó mà ra... Tôi sẽ kể cho anh câu chuyện ấy... cũng là một câu chuyện cổ tích cũ... Câu chuyện cũ kỹ, toàn những chuyện cũ kỹ c thôi! Anh thấy không, thời xưa có biết bao nhiêu chuyện hay?... Còn thời nay chẳng có gì hết: không có công việc, không có con người, cũng chẳng có những chuyện cổ tích như thời xưa nữa... Tại sao? Nào, nói đi... Anh không trả lời được đâu... Anh biết được những gì nào? Bọn trẻ các anh biết được những gì? Hà, hà!... Nếu các người nhìn kỹ vào thời xưa thì sẽ gii đáp được hết... Nhưng các người không nhìn, và vì thế các người không biết sống... Tôi không nhìn thấy cuộc đời chăng? ồ, tôi thấy hết, mặc dù mắt tôi kém! Tôi thấy thiên hạ không sống, mà chỉ đắn đo, suy tính và phí cả đời vào việc đắn đo suy tính đó. Rồi khi sống uổng hết một đời người vì phao phí thời gian thì lại bắt đầu khóc than cho số phận. Nhưng viện số phận ra mà làm gì? Số phận của mỗi người là ở chính bản thân người đó! Cho tới nay, tôi vẫn gặp đủ mọi loại người, nhưng không thấy những người dũng cảm! Họ đâu cả rồi?... Người đẹp cũng mỗi ngày một ít đi.
Bà lão bắt đầu suy nghĩ về việc những người dũng cm và đẹp biến đi đâu hết cả, vừa suy nghĩ vừa chăm chú nhìn khắp thảo nguyên tối thẫm, như để tìm trong đó câu trả lời. Tôi chờ nghe câu chuyện của bà lão và im lặng, sợ rằng hỏi câu gì thì cụ sẽ lại xoay sang chuyện khác.
Và bà lão bắt đầu kể.
III
“Thuở xưa, trên trái đất này, có một đám người sinh sống ở một khu vực nọ, xung quanh khu lều trại của họ ba bề là rừng rậm bao bọc, không thể len quá được, phía kia là tho nguyên. Đó là những người vui vẻ khỏe mạnh và dũng cảm. Nhưng rồi thời buổi khó khăn đã tới: có những bộ lạc khác không hiểu từ đâu xuất hiện, xua đuổi những người vẫn ở đây từ trước vào tít trong rừng sâu. ở đấy chỉ có đầm lầy và bóng tối vì rừng đã lâu đời lắm rồi, cành lá quấn quít dày rậm đến nỗi không còn nhìn thấy bầu trời nữa, và tia sáng mặt trời phi khó khăn lắm mới lọt qua đám lá um tùm để soi rọi chút ít xuống đầm lầy. Nhưng khi những tia nắng chiếu xuống mặt nước đầm lầy thì mùi hôi thối bốc lên đến nỗi họ lăn ra chết, hết người này đến người khác. Đàn bà trẻ con trong bộ lạc khóc lóc, còn các ông bố thì nghĩ ngợi và buồn rầu. Cần phải ra khỏi khu rừng này, và muốn vậy chỉ có hai con đường: con đường thứ nhất là trở lại phía sau thì có những kẻ thù mạnh và hung dữ, con đường thứ hai là tiến lên phía trước thì ở đó là những cây khổng lồ, cành to khỏe, ôm chặt lấy nhau, ngoằn ngoèo đâm sâu xuống đất bùn dính chắc của đầm lầy. Những thân cây tr tr như đá ấy ban ngày đứng sừng sững, im lìm trong ánh sáng lờ mờ, xám xịt, và tối đến, khi đốt lửa lên thì cây cối càng dịch sát lại bao quanh đoàn người. Đêm cũng như ngày, xung quanh đoàn người bao giờ cũng có một vòng bóng tối vững chắc chỉ chực nghiến bẹp họ, mà họ thì đã quen với cảnh thảo nguyên bao la. Khi gió đập các ngọn cây và cả khu rừng gào thét như hăm dọa và hát bài ca đưa đám họ thì cnh tượng càng ghê rợn hơn. Dù sao họ vẫn là những người dũng cảm và họ có thể chọi nhau một mất một còn với những kẻ đã có lần đánh bại họ, nhưng họ không thể chết trong chiến đấu được, vì họ còn có những lời di chúc, nếu họ chết thì những lời di chúc sẽ mất theo. Bởi vậy, họ cứ ngồi đấy và suy nghĩ bao đêm ròng, giữa tiếng cây rừng xào xạc, trong hi thối độc địa của đầm lầy. Họ ngồi đấy và ánh lửa tạo nên những bóng đen chập chờn nhy nhót xung quanh họ trong một điệu vũ thầm lặng, mọi người đều có cảm giác như đấy không phải là những bóng đen nhảy múa, mà là ma quỷ của rừng và đầm lầy đang hân hoan đắc thắng... Họ vẫn ngồi đấy và nghĩ ngợi. Nhưng không có cái gì, cả công việc lẫn đàn bà, lại làm suy mòn thể xác và tâm hồn người ta bằng những ý nghĩ buồn rầu. Người ta suy yếu đi vì lo nghĩ... Nỗi khiếp sợ nảy nở trong bọn họ, làm tê liệt những cánh tay rắn chắc của họ, đàn bà khóc lóc trước tử thi những người chết vì uế khí và khóc than cho số phận những người còn sống nhưng đã mất chí khí vì hong sợ, tiếng khóc của họ làm cho đoàn người hoang mang thêm. Trong rừng, người ta bắt đầu nghe thấy những câu nói hèn nhát, lúc đầu còn rụt rè, thì thầm, rồi càng về sau càng lớn tiếng hn... Họ đã định đến nộp mình cho quân thù và dâng tự do của mình cho chúng. Vì kinh hong trước cái chết, không ai còn sợ sống nô lệ nữa... Nhưng đúng lúc đó, Đankô xuất hiện và một mình anh, anh cứu thoát cả đoàn người”.
Rõ ràng là bà cụ vẫn thường kể câu chuyện trái tim cháy của Đankô. Cụ nói như hát, và giọng nói xin xít, rè rè của cụ khiến tôi hình dung rõ mồn một tiếng ào ào của khu rừng có những con người bất hạnh, kiệt lực, chết dần vì hơi độc của đầm lầy...
Đankô là một người trong bọn họ một chàng trai trẻ đẹp. Những người đẹp bao giờ cũng can đảm. Và anh nói với các bạn anh như thế này:
“- Nghĩ ngợi không thể hất bỏ được tảng đá trên đường ta đi. Kẻ nào không mó tay vào việc gì thì chẳng làm nên công chuyện gì. Cứ lo nghĩ làm chi cho hao tâm tốn sức? Hãy đứng lên, chúng ta sẽ đi sâu vào rừng và xuyên qua rừng, bởi vì rừng cũng có chỗ kết thúc, mọi cái trên đời đều có chỗ kết thúc! Ta đi đi! Nào! Tiến bước!...”.
Họ nhìn anh và thấy anh hơn hẳn tất cả bọn họ, vì trong mắt anh ngời lên bao nhiêu sức mạnh và nhiệt tình sôi nổi.
- Anh dẫn chúng tôi đi! - Họ bảo anh.
Thế là anh dẫn họ đi...
Bà lão im lặng và nhìn ra tho nguyên, ở đó bóng tối mỗi lúc một dày đặc lại. Những tia lửa tóe ra từ trái tim cháy của Đankô sáng bừng lên ở ni nào phía xa, nom như những bông hoa xanh bay lượn trên không, chỉ nở ra trong giây lát.
Đankô dẫn họ đi. Mọi người nhất loạt đi theo anh: họ tin anh. Đường đi thật khó khăn! Rừng tối om, cứ bước một bước, đầm lầy lại há cái mõm tham lam hôi thối ra nuối mất người, và cây cối sừng sững chặn đường như một bức thành kiên cố. Cành cây quấn quýt lấy nhau; rễ bò lan khắp nơi như đàn rắn, và cứ mỗi bước đi, họ lại phi tốn bao nhiêu mồ hôi và máu. Họ đi lâu lắm... Rừng mỗi lúc một dày rậm, sức lực mỗi lúc một suy kiệt! Họ bắt đầu oán trách Đankô, trách anh trẻ người non dạ, đưa họ đi vào chỗ vu vơ. Nhưng anh vẫn dẫn đầu đoàn người, hăng hái và tưi tỉnh.
Rồi một hôm, dông bão gầm thét trên rừng, cây cối ào ào ghê rợn. Trong rừng bỗng tối mù tối mịt, tưởng chừng như bao nhiêu đêm tối trên đời kể từ khi có rừng đến nay đều tụ cả lại. Những con người nhỏ bé đi giữa những cây lớn, trong tiếng sấm đáng sợ. Họ đi, còn những cây khổng lồ lắc lư, nghiến ken két và gào lên những bài ca thịnh nộ. Tia chớp bay trên các ngọn cây, ánh lửa xanh lạnh lẽo rọi sáng mọi vật trong khong khoắc và biến mất cũng nhanh như khi xuất hiện, làm mọi người kinh sợ. Cây cối được ánh chớp lạnh lẽo rọi sáng, nom như những vật sống, dang rộng những cánh tay dài ngoằn ngoèo, đan thành một mạng lưới dày xung quanh đoàn người, cố ngăn chặn họ. Từ trong đám cành lá tối tăm, có cái gì đáng sợ, hắc ắm, lạnh lẽo nhìn đám người đang đi. Đường đi gian nan, đoàn người mệt lả, mất tinh thần. Nhưng họ xấu hổ, không dám thú nhận sự yếu hèn của mình, vì thế họ trút căm hờn và giận dữ vào Đankô, con người dẫn đầu họ. Họ trách anh không biết dẫn dắt họ, thế đấy!
Họ dừng lại và giữa tiếng gầm gào đắc thắng của rừng, trong bóng tối run rẩy, những con người mệt mỏi và dữ tợn ấy bắt đầu kết tội Đankô.
- Mi là kẻ hèn mọn làm hại chúng tao, - họ bảo anh. - Mi dẫn chúng tao đi và làm chúng tao kiệt lực, vì vậy mi phải chết!
- Các người bảo: “Dẫn chúng ta đi!” và tôi dẫn các người đi! - Đankô hét lên, hiên ngang đứng trước mặt họ. - Tôi có gan dẫn đường và tôi dẫn các người đi! Còn các người, các người đã làm gì để tự giúp mình? Các người chỉ cắm cổ đi và không biết giữ sức để đi được lâu dài hơn! Các người chỉ miết đi như đàn cừu!
Nhưng những lời đó làm họ càng điên tiết hơn.
- Mi phải chết! Mi phải chết! - Họ gầm lên.
Rừng cũng gầm lên, gầm mãi lên, hòa với tiếng hét của họ và ánh chớp xé toang bóng tối thành từng mảnh. Đankô nhìn đám người mà anh đã ra công khó nhọc vì họ và thấy rằng họ là những con thú. Nhiều người xúm quanh anh, nhưng trên mặt họ không có chút gì là cao thượng và không thể mong họ tha thứ cho anh. Thế là trong tim anh cũng bùng lên niềm phẫn nộ sục sôi, nhưng lòng thưng người đã dập tắt ngọn lửa uất giận ấy. Anh yêu họ và nghĩ rằng không có anh, có lẽ họ chết mất. Trong tim anh bừng lên ngọn lửa nhiệt thành thiết tha muốn cứu thoát họ, đưa họ lên con đường dễ dàng, và những tia lửa của niềm mong muốn mãnh liệt ấy lóe lên trong mắt anh... Còn họ thấy thế, lại tưởng anh nổi khùng nên mắt mới sáng quắc lên như vậy, họ liền giữ miếng như những con chó sói, chờ xem anh đánh lại họ, họ tiến sát đến, vây chặt lấy anh để dễ bề bắt và giết anh. Anh đã hiểu ý nghĩ của họ, do đó ngọn lửa trong tim anh càng cháy rực hơn nữa, vì ý nghĩ của họ làm anh buồn rầu.
Rừng vẫn hát bài ca thê lương, sấm chớp đùng đùng, mưa như trút nước.
- Ta sẽ làm gì cho mọi người đây?! - Đankô gào to hơn sấm.
Bỗng nhiên, anh đưa hai tay lên xé toang lồng ngực, dứt trái tim ra và giơ cao trên đầu.
Trái tim cháy sáng rực như mặt trời, sáng hơn mặt trời, và cả khu rừng im lặng, sáng lên dưới ngọn đuốc của lòng thưng yêu vĩ đại đối với mọi người. Trước ánh sáng của trái tim Đankô, bóng tối tan tác và run lẩy bẩy, nhào xuống cái mõm hôi thối của đầm lầy nơi rừng sâu núi thẳm. Đoàn người sửng sốt, đứng trơ ra như phỗng.
- Đi thôi! - Đankô thét lớn và xông lên phía trước, về chỗ của mình, tay giơ cao trái tim cháy rực, soi đường cho mọi người.
Họ xông lên theo anh, mê man như bị chài. Rừng lại bắt đầu ồn ào, ngạc nhiên lắc lư các ngọn cây, nhưng tiếng ồn ào của rừng bị tiếng chân người rầm rập át đi. Họ chạy nhanh và mạnh bạo, cảnh tượng kỳ diệu của trái tim cháy bốc cuốn họ. Bây giờ vẫn có người chết, nhưng họ chết không than vãn và khóc lóc. Còn Đankô vẫn luôn luôn đi ở phía trước và trái tim anh vẫn cháy bùng bùng, sáng rực!
Bỗng nhiên, rừng giãn ra nhường lối cho anh, giãn ra và lùi lại ở phía sau, dày đặc và câm lặng, còn Đankô và tất cả đám người ấy lập tức chìm vào cái biển ánh sáng mặt trời và không khí trong lành được nước mưa gột sạch. Dông bão ở đằng kia, sau lưng họ, trên khu rừng, còn ở đây là mặt trời rực rỡ, thảo nguyên thở đều đều, cỏ ngời sáng vì những giọt nước mưa chói lọi như kim cương và sông lấp lánh ánh vàng... Trời đã về chiều và dưới ánh hoàng hôn, sông đỏ như dòng máu nóng hổi phụt ra từ bộ ngực bị xé rách của Đankô.
Chàng Đankô can trường và kiêu hãnh đưa mắt nhìn thảo nguyên bao la trước mặt, sung sướng nhìn khoảng đất tự do và bật lên tiếng cười tự hào. Rồi anh gục xuống và chết.
Đoàn người vui sướng và tràn đầy hy vọng, không nhận thấy Đankô đã chết và không thấy trái tim can đảm của anh vẫn cháy bừng bừng cạnh xác anh. Chỉ có một người vốn tính cẩn thận nhận thấy điều đó và sợ xảy ra chuyện gì không hay, liền giẫm chân lên trái tim kiêu hãnh ấy... Trái tim tóe ra một loạt tia sáng, rồi tắt ngấm...
- Đấy, duyên do của những ánh lửa xanh thường xuất hiện trên thảo nguyên vào lúc trước cơn dông là như vậy!
Bây giờ khi bà lão đã kể xong câu chuyện cổ tích tuyệt đẹp của mình, thảo nguyên bỗng yên tĩnh lạ thường, như kinh ngạc về sức mạnh của chàng Đankô dũng cảm đã đốt cháy trái tim mình soi đường cho mọi người và chết mà không đòi hỏi gì cả.
Bà lão thiu thiu ngủ. Tôi nhìn bà cụ và nghĩ: “Trong trí nhớ của bà lão còn lưu lại bao nhiêu truyện kỳ diệu và biết bao nhiêu hồi ức nữa”. Rồi tôi nghĩ về trái tim cháy hùng vĩ của Đankô và về trí tưởng tượng của nhân loại đã sáng tạo nên biết bao nhiêu truyền thuyết đẹp đẽ và đầy khí phách.
Gió thổi tung những mảnh áo rách và phơi trần bộ ngực khô đét của bà lão Izerghin đang thiếp đi mỗi lúc một say. Tôi kéo lại manh áo che cho tấm thân già lão và cùng nằm xuống cạnh bà. Thảo nguyên vắng lặng và tối om. Mây đen vẫn trôi trên trời, chầm chậm, tẻ ngắt... Biển ầm ì một điệu buồn bã.
1894
Phạm Mạnh Hùng dịch