Các tiền bối cho em hỏi chút. Em đọc Kinh dịch của Nguyễn Hiến Lê thì thấy cụ xếp tiên thiên & hậu thiên bát quái đều khác với những tư liệu mà em tìm được trên mạng.
VD:
http://vi.wikipedia.org/wiki/Kinh_D%E1%BB%8Bch
Ở đây lúc thì xếp quẻ Càn ở tay trái (ứng với hướng Tây) theo Tiên Thiên hoặc hướng Nam theo Hậu Thiên, lúc thì xếp ở hướng Đông Nam (trên gương bát quái) trong khi theo cụ Nguyễn Hiến Lê thì quẻ Càn ở phía trên (ứng với hướng Nam) theo Tiên Thiên còn ở phía phải dưới ứng theo Hậu Thiên.
Chỉ nhìn vào đã thấy rất mâu thuẫn.
Chào bạn,
Câu trả lời cho bạn tại sao phương vị Quẻ Càn theo Kinh Dịch của cụ Nguyễn Hiến Lê lại khác với phương vị quẻ Càn trên gương bát quái :
Từ 2500 năm trước ở Trung Quốc, đứng đầu hàng loạt các tác phẩm về lý số ứng dụng đều do Quỷ Cốc Tử tiên sinh chấp bút. Lớp thừa kế thuật toán này có nhiều người nổi tiếng như : Đông Phương Sóc, Nghiêm Quân Bình, Quách Hán, Quản Lộ, Liên Thừa Canh,Gia Cát Lượng,Lý Thuần Phong...tới đời nhà Tống đứng đầu là đạo sĩ Trần Đoàn. Nhưng đáng kể nhất là Thiệu Ung (Thiệu Khang Tiết) với tác phẩm Mai Hoa dịch thuật nổi tiếng. Ở việt Nam, từ lâu đã có nhiều bản dịch giới thiệu về thuật toán số này và được nhiều người biết đến. Dựa theo Mai Hoa Dịch Số & Ứng Dụng mới tạo nên gương bát quái.
Phương vị tám quẻ
Phương vị tám quẻ tiên thiên của Phục Hy
Tám quẻ đọc theo thứ tự: Càn 1, chính Nam - Đoài 2, nam - Ly 3, Chính Đông - Chấn 4, Đông Bắc: thuộc dương, chuyển vận nghịch chiều kim đồng hồ.
Tốn 5, Tây Nam - Khảm 6, chính Tây - Cấn 7, Tây Bắc - Khôn 8, chính Bắc: thuộc âm, chuyển vận thuận chiều kim đồng hồ.
Thứ tự của các quẻ dựa vào quan hệ kết hợp hào dương thuộc lưỡng nghi kết hợp Tứ tượng (thái dương, thiếu âm, thiếu dương, thái âm) sinh ra Càn, Đoài, Ly, Chấn; và âm thuộc lưỡng nghi kết hợp Tứ tượng sinh ra Tốn, Khảm Cấn, Khôn.
Phương vị tám quẻ Hậu thiên của Văn Vương kết hợp Lạc thư
Tám quẻ đọc theo thứ tự: Càn, số 6 - Khảm, số 1 - Cấn, số 8 - Chấn, số 3 - Tốn, số 4 – Ly, số 5 – Khôn, số 2 – Đoài, số 7
Thứ tự của các quẻ dựa vào quan hệ Tương Sinh của ngũ hành. Phương của địa bàn làm cơ sở cho hướng:
Càn ứng với Thiên hành Kim, hướng Tây Bắc
Khảm ứng với Thủy, hướng chính Bắc
Cấn ứng với Sơn hành Thổ, hướng Đông Bắc
Chấn ứng với Lôi hành Mộc, hướng chính Đông
Tốn ứng với Phong hành Mộc, hướng Đông Nam
Ly ứng với Hỏa, hướng chính Nam
Khôn ứng với Địa hành Thổ, hướng Tây Nam
Đoài ứng với Trạch hành Kim, hướng chính Tây
Âm dương ngũ hành quan hệ tương khắc qua tâm:
Càn Dương Kim ở Tây Bắc khắc Tốn Âm Mộc ở Đông Nam
Khảm Dương Thủy ở chính Bắc khắc Âm Hỏa ở chính Nam
Cấn Dương Thổ ở Đông Bắc, Khôn Âm Thổ ở Tây Nam, Âm Dương tương khắc
Đoài Âm Kim ở chính Tây khắc Chấn Dương Mộc ở chính Đông.
Ngoài ra dân VN ai cũng gieo quẻ bằng 2 đồng xu trong khi cụ Nguyễn Hiến Lê viết là 3.
Dân Việt Nam gieo quẻ bằng 2 đồng xu còn gọi là Xin Keo, Xin Âm Dương ,ngoài dùng 2 đồng xu còn dùng 2 miếng gỗ hình bán nguyệt.
Xin keo cũng phải theo thủ tục giống như xin xâm. Trước hết, đương sự phải qùy hoặc ngồi bệt xuống chiếu xá vài cái, rồi lấy 2 miếng gỗ hình bán nguyệt, mỗi miếng có một mặt phẳng và một mặt vòng, đưa lên ngang trán, miệng lâm râm cầu khấn. Khấn xong, người xin keo buông 2 miếng gỗ ra để cho rơi xuống mặt chiếu. Nếu được một mặt bằng và một mặt vòng, tức một Âm (ngửa) một Dương (xấp), có nghĩa là Thần đã xác nhận quẻ xâm đương sự đã xin. Được Thần ý xác nhận như vậy, đương sự hết sức vui mừng, sẽ qùy hoặc đứng mà lậy tạ 4 lậy. Nếu mà keo lên cả hai mặt bằng, tức 2 Âm; hoặc lên cả hai hình vòng, tức 2 Dương, nghĩa là Thần chưa xác nhận, cho nên đương sự phải xin keo lần nữa. Trường hợp tới lần thứ hai mà vẫn không được một Âm và một Dương, tức là ý Thần chưa định, phải bắt đầu lại tất cả, tức là phải xin xâm lần nữa. Các gia nhân Lăng Miếu kể rằng, có nhiều người lo âu khổ sở vì không xin được xâm và keo, nên đã phải trở lại nhiều lần, mỗi lần cách nhau cả tuần lễ, cho tới khi thỉnh được Thần ý mới thôi.
Theo cụ Nguyễn Hiến Lê thì dùng ba đồng tiền Càn Long Leo* cũng xin giải thích đây là phương pháp gieo quẻ Dịch - một thuật bói toán. Bạn muốn hiểu rõ thì cứ từ từ nghiên cứu Kinh dịch, hiểu được bao nhiêu thì tuỳ duyên.
Ngoài ra hình của âm dương: theo đông y thì là âm thăng dương giáng: dương bên trái, âm bên phải nhưng trong các gương bát quái hoặc các chú giải về học thuyết âm dương, 2 mảng đen và trắng bị xoay lộn xộn mỗi nơi 1 kiểu.
Theo học thuyết âm dương áp dụng cho y học thì :
1. Trên âm, dưới dương.
2. Bên trái âm, phải dương (Theo giáo sư Hirasawa,Bác sĩ Nogier,Viện vật lý và sinh hóa ở Leningrat (Liên Xô
)
3. Trong âm, ngoài dương.
Thiên 'Ngũ Tạng Sinh Thành Luận' (TVấn 10) ghi : "Phù ngôn chi Âm Dương, Nội vi âm, ngoại vi Dương, Phúc vi âm, Bối vi Dương" (Nói về Âm Dương, trong thuộc âm, ngoài thuộc dương, bụng thuộc âm, lưng thuộc dương).
4.Âm dương và tạng phủ :
+ Thiên "Âm Dương Ứng Tượng Đại Luận" ghi : "Lục phủ giai vi dương, Ngũ tạng giai vi âm" (Lục phủ thuộc dương, Ngũ tạng thuộc âm). Như thế Tâm, Can, Tỳ, Phế, Thận thuộc âm, còn Tiểu Trường, Đởm, Vị, Đại Trường, Bàng quang, Tam Tiêu thuộc dương. Tâm Bào, được coi như 1 tạng mới, do đó thuộc âm.
+ Giáo sư Ohsawa (tác giả phương pháp dưỡng sinh, người Nhật), trong sách "Phương Pháp Dưỡng sinh", lại có 1 số nhận xét hơi khác trong việc phân chia Tạng phủ và Âm Dương. Theo đó, Tâm, Can, Thận thuộc dương (thay vì thuộc âm) còn Phế, Vị thuộc âm. Ohsawa cho rằng Tim, Gan và Thận có hình dáng đặc và nặng nên thuộc dương, còn Phổi và Dạ dầy rỗng, nhẹ nên thuộc âm.
Có gì mâu thuẫn giữa 2 quan điểm phân chia Âm Dương giữa sách Nội Kinh và Ohsawa không " Sách Nội Kinh là sách kinh điển, tích chứa kinh nghiệm bao đời của người xưa, Gs. Ohsawa là nhà nghiên cứu có tiếng trên thế giới, như vậy cả 2 quan điểm đều có lý do của nó.
Có thể tạm hiểu như sau : Theo "Kinh Dịch", mỗi vật thể, hiện tượng... đều do 2 yếu tố : THỂ (hình thể) và DỤNG (công dụng, chức năng) tạo nên. Một vật nào đó, có thể có hình dạng (thể) là âm nhưng lại có công dụng là dương hoặc ngược lại, Thể là dương nhưng Dụng là âm.
Thí dụ : Tạng Tâm, xét về hình thể là 1 quả tim, đặc nặng, nên mang đặc tính dương tức là dương về Thể, nhưng Tâm lại có nhiệm vụ cung cấp máu cho toàn cơ thể, máu thuộc âm, do đó Tâm mang đặc tính âm xét về Dụng.
Thí dụ : Quả Ớt, xét về hình thể, quả ớt có màu đỏ, do đó thuộc dương, nhưng ớt có vị cay, khi vào ruột, làm nở các mao trạng ruột, tiêu thức ăn nhanh, như vậy, ớt có đặc tính âm nếu xét về công dụng.
Riêng phần này chúng ta trao đổi sau, Leo* chưa nghiên cứu kỹ về y lý.
Chúc bạn vui,
Thân ái.
![[:)]](/images/smiley/s1.gif)
Leo*