📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

Thảm Kịch Bí Ẩn Ở Styles - AGATHA CHRISTIE - Hết 🔒

45 trả lời, 9.537 lượt xem — Trang 1 / 2
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2010-07-08 03:24:45HanAn>
THẢM KỊCH BÍ ẨN Ở STYLES
Tác giả: AGATHA CHRISTIE
Dịch từ nguyên bản tiếng Pháp: La Mysterieuse Affaire De Styles
Người dịch: PHAN THỊ NGỌC THƯ
Nhà xuất bản Mũi Cà Mau (1989)
 
 
Trong 56 năm theo đuổi nghề viết, nữ văn sĩ Agatha Christie đã cho ra đời 66 cuốn tiểu thuyết và 147 truyện ngắn trinh thám, hai tập thơ, hơn ba chục kịch bản sân khấu cùng với hai cuốn tự truyện. Tác phẩm của bà được dịch ra hơn một trăm ngôn ngữ khác nhau, với trên hai tỷ bản in, phát hành rộng rãi trên toàn thế giới...
Theo Sách kỷ lục Guinness, Agatha Christie là nhà văn có tác phẩm bán chạy nhất mọi thời đại về thể loại trinh thám, và đứng thứ hai nếu tính cả các thể loại khác (sau William Shakespeare). Với việc "thực hiện" khoảng hai trăm "vụ án mạng" và đưa ra ánh sáng cũng ngần ấy vụ giết người, Agatha Christie đã đưa người đọc đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác...
Trong số ba tác gia của thể loại tiểu thuyết trinh thám: Arthur Conan Doyle, George Simenon và Agatha Christie, chỉ có mình bà là nữ. Ở Việt Nam, tên tuổi của bà gắn liền với hai thám tử tài ba Hercul Poirot và Bà Marple, trong những thiên tiểu thuyết li kỳ, hấp dẫn: "Đêm bi thảm", "Người thiếu phụ tuyệt vọng", "Vụ án trên chuyến tàu tốc hành phương Đông", "Mười người da đen bé nhỏ", "Ngòi bút tẩm độc", "Người tình của Shalott", "Những chiếc đồng hồ kỳ lạ"… do Nhà xuất bản Công an nhân dân ấn hành trong mấy thập niên vừa qua.
Agatha Christie là nữ văn sĩ Anh, sinh ngày 15 tháng 9 năm 1890, tại Torquay Devon. Cha của bà làm nghề giao dịch chứng khoán, còn mẹ là một người đàn bà thuộc dòng dõi quý tộc, có ảnh hưởng cực kỳ to lớn đến cuộc đời và sự nghiệp của "Nữ hoàng trinh thám" sau này.
Bắt đầu nghiệp viết với thể loại tiểu thuyết trinh thám, Agatha Christie đã thực sự trở thành một "hiện tượng" trong văn đàn thế giới. Đến với nghề văn mà không hề trải qua bất cứ một trường lớp đào tạo nào, những gì Agatha Christie cống hiến cho văn học thực sự là tài năng, là "duyên" trời định. Cũng giống như một số tác gia thế giới, Agatha Christie cầm bút viết văn, ban đầu chỉ là để giết thời gian nhàn rỗi. Rồi sau đó mới là để thỏa mãn yêu cầu của độc giả và tự thỏa mãn sở thích của mình, để sống và tạo dựng chỗ đứng trong xã hội.
Người đời từng nói, tình yêu là món quà quý giá nhất mà tạo hóa đã ban tặng cho con người. Trong suốt cuộc đời "Nữ hoàng truyện trinh thám" Agatha Christie, tình yêu luôn hiện hữu, là cội nguồn của mọi thăng hoa và sáng tạo. Trong tự truyện của mình, Agatha Christie cho biết, chính tình yêu đã đưa bà đến với nghề viết, và chính tình yêu đã vinh danh tên tuổi của bà.
Mười sáu tuổi được mẹ cho sang Paris học hát và piano, nhưng chỉ một năm sau đó Agatha Christie quay trở lại London, gia nhập thế giới thượng lưu. Đang độ tuổi đẹp nhất của cuộc đời, với một nhan sắc rực lửa, tính cách lãng mạn, Agatha Christie như một ngôi sao chói sáng, thu hút sự chú ý của các chàng trai con nhà danh giá, trong đó có Archibald Christie - một phi công thuộc lực lượng Không quân Hoàng gia Anh.
Cuộc tình của đôi trai tài gái sắc như lửa đang nồng thì Chiến tranh thế giới lần thứ nhất nổ ra. Archibald Christie được điều động sang Pháp chiến đấu. Không giấy mực nào có thể chép hết nỗi nhớ mong trong lòng cô gái trẻ. Ngày lại ngày, Agatha Christie chỉ còn biết viết thư gửi cho người yêu nơi trận mạc và chờ đợi thư hồi âm… Rồi trong một kỳ phép ngắn ngủi, đôi uyên ương đã làm đám cưới. Khi chàng phi công trở lại chiến trường, Agatha Christie sống lẻ loi, âm thầm, cô độc như một người góa bụa. Trong sự xa cách chờ đợi và nhớ nhung ấy, Agatha Christie bắt đầu tập viết tiểu thuyết. Nhưng cô chưa biết nên bắt đầu bằng thơ, tiểu thuyết tình cảm hay truyện trinh thám…
Mấy cô em họ của Agatha Christie thì bảo rằng, tiểu thuyết trinh thám rất chán, vì chỉ cần xem một vài trang là độc giả đã biết ngay ai là thủ phạm rồi. Họ còn nói thêm rằng, cô không thể viết tiểu thuyết trinh thám được vì đó là lĩnh vực của đàn ông. Nghe thấy thế, Agatha Christie bảo rằng: "Chẳng có ai cấm phụ nữ viết truyện trinh thám cả, và chị sẽ viết giỏi hơn cả đàn ông cho các em xem". Nói thế và làm thế, Agatha lao vào viết truyện trinh thám, và viết với một "tốc độ" mà ngay cả cánh đàn ông cũng phải nể.
Cuốn sách đầu tay "Vụ Styles bí mật" được viết khi Archibald Christie đang ở chiến trường, còn Agatha Christie là một trợ lý dược ở một trạm cứu thương. Agatha Christie đã đánh máy tác phẩm của mình cẩn thận, đính kèm một lá thư nhỏ rồi gửi tới một số nhà xuất bản danh tiếng ở London. Sự ra đời của tác phẩm trinh thám đầu tay đã mang lại nhiều hứng khởi, cũng là sự khẳng định tính đúng đắn cho sự lựa chọn ban đầu của một cây bút trẻ.
Chiến tranh kết thúc, chàng phi công của Agatha Christie trở về lành lặn, nhưng tâm tính trở nên thất thường. Việc chăm sóc Archibald Christie đã lấy đi của Agatha Christie rất nhiều thời gian, nhưng bù lại, khi cùng chồng thực thi những chuyến công vụ vòng quanh các nước thuộc địa của Anh, Agatha Christie đã thu lượm được đầy ắp một vali tư liệu để sau này "dựng" thành các tác phẩm trinh thám li kỳ và hấp dẫn. Sự xuất hiện liên tiếp các tiểu thuyết: "Vụ giết ông Roger Ackroyd", "Vụ án mạng ở Me'sopotamic", "Vụ án trên chuyến tàu tốc hành phương Đông"… khiến tên tuổi của nữ nhà văn trẻ nổi như cồn. Nhưng hình như đối với cuộc đời của rất nhiều người đàn bà, sự nổi tiếng và danh vọng không đồng hành cùng hạnh phúc. Một mối tình đã từng được thử thách trong lửa đạn tưởng như sẽ trở thành bất tử, đã "cáo chung" bởi một người đàn bà nhan sắc khác.
Khi nghe Archibald Christie tuyên bố đã trót yêu người đàn bà khác, Agatha Christie héo rũ như tàu lá và bỏ đi biệt tích trong mười ngày liền. Cảnh sát đã tìm thấy chiếc xe của cô bỏ ở vệ đường, ở một nơi cách nhà vài chục cây số và sau đó tìm thấy Agatha Christie tại một khách sạn, trong tình trạng mất trí nhớ. Cô đã quên tất cả, trừ tên cái người đàn bà đã cướp đi chàng phi công dũng cảm của cô…
Sau một thời gian điều trị, Agatha Christie gửi con vào trường nội trú và lao vào những chuyến viễn du bất tận. Những chuyến đi ấy đã đưa cô đến với một tình yêu mới. Max Mallowan - một nhà khảo cổ học, kém Agatha Christie tới 14 tuổi đã thay chàng phi công Hoàng gia đem lại niềm vui và nghị lực để nữ văn sĩ tiếp tục sự nghiệp còn dang dở. Agatha Christie lại cùng Max Mallowan vượt đại dương sang Trung Đông, đến với những di chỉ khảo cổ đang ngủ sâu dưới lòng đất. Ngoài việc chăm sóc và trợ giúp công việc cho chồng, Agatha Christie đã tìm kiếm thêm rất nhiều tư liệu để hoàn thành những tiểu thuyết, truyện ngắn và kịch bản sân khấu sau này… Cuộc hôn nhân với Max Mallowan thực sự bền vững trước mọi thử thách của số phận. Agatha Christie đã không ít lần khẳng định, đằng sau những thành công của bà trên văn đàn là bờ vai vững chắc của chồng, rằng "Những nhà khảo cổ học là những người chồng lý tưởng - vợ của họ càng già thì họ càng thích thú"...
Có một điểm tương đồng giữa các chuyên gia về tiểu thuyết trinh thám: Những thám tử tài danh thường được tác giả "nuôi dưỡng" trong một thời gian rất dài, xuất hiện trong rất nhiều tác phẩm. Arthur Conan Doyle "nuôi" thanh tra Sherlock Holmes, George Simenon nâng niu, chiều chuộng thanh tra Maigret, còn Agatha Christie lại "đeo mang" tới những bảy thám tử. Trong đó nam thám tử Hercule Poirot và nữ thám tử Marple được Agatha Christie cho tham gia nhiều điệp vụ hơn cả và cũng được nhà văn cho "sống" lâu nhất.
Nam thám tử Hercule Poirot xuất hiện ngay từ tiểu thuyết đầu tay của Agatha Christie và chỉ "chết" trước tác giả có một năm. Hình tượng Hercule Poirot được giới thiệu với độc giả có khuôn mặt rất đàn ông, để râu con kiến, đầu đội mũ phớt, ăn mặc kiểu cách, thông minh, kiêu hãnh.Vị thám tử điển trai này luôn coi thường hiểm nguy, ít biết đến thất bại, nhưng bị đối phương đánh giá là một kẻ "gàn dở", bởi anh ta luôn mồm nói đến những giá trị đạo đức. Hercule Poirot liên tiếp xuất hiện trong 30 tiểu thuyết và 50 truyện ngắn của Agatha Christie. Trong thời gian đầu, Agatha Christie rất yêu mến chàng thám tử của mình. Nhưng đến khi "nuôi" Hercule Poirot được mười năm, Agatha Christie đã nảy ra ý định “khai tử" cho nhân vật này. Do công chúng quá yêu thích chàng thám tử đẹp trai, tài ba Hercule Poirot nên bà đành để cho thám tử tiếp tục sống và phá án, mặc dù đã nhiều lần bà kêu rằng đã chán Hercule Poirot đến tận cổ.
Trái ngược với Hercule Poirot, nữ thám tử Marple xuất hiện muộn và ít hơn rất nhiều, nhưng lại được Agatha Christie hết mực cưng chiều. Tuy nhiên, khi ở độ tuổi 85, cái chết đã cận kề, Agatha Christie không nỡ lòng nào để cho hai thám tử huyền thoại của mình bơ vơ nơi trần thế, nên đã cho cả hai cùng lần lượt "được" chết trong hai tác phẩm cuối cùng của mình. Hercule Poirot chết năm 1975, trong "Curtain: Vụ án cuối cùng của Hercule Poirot". Bà Marple "tạ thế" sau Hercule Poirot một năm, trong cuốn "Sleeping Muder: Vụ án cuối cùng của bà Marple"…
Là phụ nữ dấn thân vào lĩnh vực xưa nay được coi là lãnh địa của giới mày râu, nghệ thuật tiểu thuyết trinh thám của Agatha Christie đã đạt tới trình độ điêu luyện. Phần lớn các các tiểu thuyết của bà đều được xây dựng trên những nghi vấn một cách đầy đủ và vận hành như một cuộc chơi đầy kỳ thú, trong đó độc giả chạy đua với thám tử vì cả hai đều nắm được đầy đủ các tình tiết của vụ án và đều có khả năng ngang nhau trong việc lật mặt nạ thủ phạm trong một không gian luôn mở.
Agatha Christie mất ngày 12 tháng 1 năm 1976 ở tuổi 86, tại Wallingford, Oxfordshire. Toàn bộ bản quyền tác phẩm của Agatha Christie hiện được cháu trai của bà, Mathew Prichard lưu giữ.
 
 


📎 TKOStyles
0
LỜI GIỚI THIỆU
               
Tên tuổi của Agatha Christie không lạ gì trong số những nhà văn nổi tiếng trên thế giới chuyên viết truyện trinh thám.
Tính chất hấp dẫn của thể loại truyện này không còn phải bàn cãi, sách thường được in với số lượng lớn, được nhiều tầng lớp độc giả hâm mộ bởi cốt truyện gay cấn, bố cục chặt chẽ, tiến triển nhanh, gọn, bất ngờ, cách xử lý thông minh, chính xác… Đó là ưu điểm của thể loại truyện trinh thám, nhưng ở không ít nhà văn lại cũng là nhược điểm bởi sự thiếu vắng của tâm lý nhân vật, tính cách, chiều sâu của nội tâm, bối cảnh xã hội, lý tưởng đạo đức… Nhưng ở Agatha Christie hầu như những nhược điểm đó đã được khắc phục, những truyện của bà bao giờ cũng giản dị, tránh những tình huống một cách bất ngờ vô lý, các nhân vật đều có tính cách, bối cảnh xã hội rõ nét, nhất là lòng nhân hậu, lý tưởng đạo đức bao giờ cũng thắm đượm trong hầu hết các trang sách. Bên cạnh đó, chất “trinh thám” trong truyện lại không thiếu, truyện đọc vào là lôi cuốn ngay, các sự kiện dồn dập, mới lạ nhưng hợp lý, các tình huống đan chéo vào nhau được xử lý một cách thông minh, bất ngờ không thể đoán ra được, cuối cùng đi đến kết cuộc nhiều người đọc thấy ngỡ ngàng đồng thời lại thấy không có gì hợp lý hơn.
“Thảm kịch bí ẩn ở Styles” chúng tôi giới thiệu với bạn đọc sau đây nằm trong số những truyện như vậy.
Cốt truyện thật giản dị, hầu như là thông thường. Một gia đình gồm một người mẹ kế, hai người con trai và một tài sản lớn của người cha để lại. Trong gia đình đang có chuyện phải quan tâm là vấn đề thừa kế gia sản thì xảy ra chuyện người mẹ kế lúc đó đã sáu mươi lăm tuổi, đâm say mê một người đàn ông nhỏ hơn mình đến hai mươi tuổi. Người đàn ông vào nhà mang theo mình đầy những sự nghi ngờ thì sau đó người mẹ kế bị đầu độc chết. Mọi lời buộc tội rõ ràng là chĩa vào người đàn ông và ngay bản thân anh ta cũng cố tình để lộ những cử chỉ, hành động cho mọi người nghi ngờ mình. Trong lúc đó cuộc điều tra của cảnh sát lại bắt gặp những dấu vết buộc tội ở người con trai lớn. Anh bị bắt. Phiên tòa diễn ra, sự nghi ngờ của mọi người lại hướng về người em kế. Ai là thủ phạm? Tình thế thật rối ren, nhưng đã có một viên thám tử người Bỉ, một người nhỏ nhắn, sống khiêm tốn, ẩn dật đã theo dõi suốt quá trình diễn ra vụ án. Ông không bỏ sót một sự kiện nào, nối kết chúng lại với nhau thành một chuỗi mắc xích hợp lý, bằng tài nhận xét thông minh và cách xử lý khôn khéo, nhanh nhạy ông đã vạch mặt được thủ phạm, minh oan cho những người vô tội và hơn nữa, giữ gìn được tình yêu của họ. Đó là ý nghĩa lớn nhất của cuộc điều tra và cũng là tính nhân bản trong cuốn truyện của Agatha Christie.
Xuất bản cuốn “Thảm kịch bí ẩn ở Styles” của Agatha Christie, chúng tôi mong muốn giới thiệu với bạn đọc một tác phẩm gần như là mẫu mực cho thể loại truyện trinh thám với hình thức và nội dung đích thực của nó, trái với nhiều loại sách “vụ án” khác chỉ nhằm lôi cuốn người đọc bằng những tình tiết giật gân rẻ tiền, những cảnh sa đọa để thỏa mãn những thị hiếu thấp. Bởi thông qua trình bày những tội ác và bọn tội phạm, một cuốn sách thật sự có ý nghĩa khi nó hướng con người tới cuộc sống lương thiện hơn.
 
NHÀ XUẤT BẢN MŨI CÀ MAU- Năm 1989
0
CHƯƠNG I
TÔI ĐẾN STYLES
 
Tiếng vang to lớn gây nên trong quần chúng bởi cái được mệnh danh là “Vụ án ở Styles” đến nay đã giảm bớt đôi chút. Tuy vậy, do tiếng tăm có tầm cỡ quốc tế gắn liền với sự việc đó, tôi được ông bạn Poirot cũng như gia đình ấy đề nghị viết lại tóm lược vụ việc. Chúng tôi hy vọng qua đó sẽ chấm dứt được những lời đồn đại giựt gân vẫn còn đang lan truyền.
Do đó tôi sẽ ghi lại một cách ngắn gọn những tình huống qua đó tôi có dính líu đến vụ án này.
Hồi đó, tôi được đưa về từ mặt trận do bị thương, và sau khi nằm điều trị vài tháng trong một quân y viện, tôi được nghỉ phép một tháng để dưỡng sức. Vì không có một người họ hàng gần nào, và cũng chẳng có một người bạn thân nào cả, tôi đang suy nghĩ đến cách tận hưởng tốt nhất kỳ nghỉ này thì, thật tình cờ, tôi gặp John Cavendish. Tôi gần như mất liên lạc với anh ta từ vài năm nay rồi. Hơn nữa, tôi chưa bao giờ chơi thân với anh ta lắm. Anh lớn hơn tôi ít ra là mười lăm tuổi, mặc dầu trông anh chưa đến cái tuổi bốn mươi lăm của mình. Nhưng, lúc còn nhỏ, tôi thường đến chơi ở Styles, khu đất của mẹ anh, trong vùng Essex.
Chúng tôi hàn huyên với nhau khá lâu về thuở xa xưa ấy và, cuối cùng anh rủ tôi đến nghỉ phép ở Styles.
- Mẹ tôi sẽ vui mừng khi gặp được cậu sau bấy nhiêu năm - anh nói.
- Bà ấy vẫn khỏe mạnh chứ? Tôi hỏi.
- Ồ, vâng. Cậu có biết rằng mẹ tôi đã tái giá không?
Tôi e rằng đã để lộ sự ngạc nhiên của mình quá rõ. Tôi nhớ đến bà Cavendish (người đã kết hôn với cha của John lúc ông này đã góa vợ và có hai người con trai) như một người phụ nữ đẹp ở tuổi trung niên. Hiện nay bà ta chắc chắn không thể dưới sáu mươi lăm tuổi. Tôi nhớ lại tính cách cương nghị, độc tài của bà, với lòng ham mê được nổi danh vì những việc làm từ thiện của giới thượng lưu, với ý thích về những ngày khai mạc các buổi lễ từ thiện và khuynh hướng muốn đóng vai trò nhà hảo tâm. Vô cùng rộng lượng, bà có một gia sản riêng kếch xù.
Khu đất của họ ở vùng quê, Styles Court, do ông Cavendish mua vào thời gian đầu của cuộc sống chung của họ. Ông này hoàn toàn chịu sự chi phối của vợ đến độ, khi qua đời, ông đã dành cho bà toàn quyền sử dụng khu đất và phần lớn thu nhập của mình. Sự sắp xếp đó khiến cho hai cậu con trai của ông bị thiệt thòi. Nhưng bà mẹ kế luôn luôn tỏ ra vô cùng rộng lượng đối với họ, và do họ còn nhỏ khi hai người lấy nhau nên lúc nào họ cũng xem bà như mẹ đẻ của mình.
Laurence, người em út, đã có một thuở nên thiếu đầy những khó khăn. Anh đã tốt nghiệp y khoa, nhưng lại từ bỏ sự nghiệp bác sĩ và chỉ muốn sống ở Styles Court để theo đuổi ảo tưởng về thơ văn, mặc dù những vần thơ của anh cho đến nay vẫn chưa đạt được một sự thành công vang dội nào cả.
John đã có một thời gian hành nghề luật sư, rồi quyết định sống cuộc đời an nhàn của một người thượng lưu ở vùng thôn quê. Cách đây hai năm, anh đã lập gia đình và đem người vợ trẻ đến Styles. Tôi có cảm tưởng anh muốn bà mẹ kế tăng thêm trợ cấp cho mình để có thể ra ở riêng. Nhưng bà Cavendish thích tự mình lên kế hoạch và muốn người khác phải tuân theo. Trong tình huống đó, bà chắc chắn có ưu thế hơn đối với anh, bởi vì bà là người nắm giữ túi tiền.
John nhận thấy sự ngạc nhiên do cái tin mẹ anh tái giá gây nên cho tôi, và anh mỉm cười hơi chua xót.
- Đó là một người đàn ông bất tài - anh bực bội nói - Tôi không giấu cậu, Hasting ạ, điều đó làm cho cuộc sống của chúng tôi thật khó chịu. Còn về phần Evie… Cậu nhớ Evie chứ?
- Không.
- Ồ, có lẽ cậu chưa quen biết cô ấy thì phải. Đó là người mẹ tôi mướn để bầu bạn với bà ta. Cô ấy lo toan mọi việc… một phụ nữ tốt, cái cô Evie ấy… Không trẻ, cũng chẳng đẹp, nhưng tốt bụng.
- Anh định nói gì thế?
- Về tên đàn ông đó, hắn đúng là rơi từ trên trời xuống, tự xưng là một người bà con xa của Evie gì đó, cô này, nói giữa chúng ta thôi, không có vẻ gì vui mừng về mối liên hệ họ hàng này cả. Bất cứ ai cũng có thể thấy đó là một con người cơ hội và thô kệch. Hắn có bộ râu dài màu đen và mang giày đánh véc-ni bóng loáng bất kỳ lúc nào. Nhưng mẹ tôi thích hắn ta ngay và bà thâu nhận hắn vào làm thư ký. Anh biết rằng bà phụ trách một lô các hội từ thiện khác nhau chứ?
Tôi gật đầu.
- Chiến tranh đã nhân chúng lên gấp bội. Có lẽ hắn rất có ích cho bà. Nhưng chúng tôi muốn té ngửa khi, cách đây ba tháng, bà bất ngờ tuyên bố với chúng tôi rằng bà đã đính hôn với Alfred. Dễ hắn phải trẻ hơn bà đến hai mươi tuổi. Đối với hắn, rõ ràng đó là một cuộc săn tiền. Nhưng thế đấy, mẹ tôi hoàn toàn tự do làm theo ý mình, và bà đã lấy hắn.
- Có lẽ đó là một tình huống khó khăn đối với tất cả các anh.
- Khó khăn ư? Hãy nói là không thể chịu nổi!
Và thế là, ba ngày sau, tôi đáp xe lửa đến Styles Saint-Mary, một nhà ga nhỏ không có lý do gì để tồn tại cả, nằm giữa những cánh đồng xanh và những con đường làng. John Cavendish đón tôi trên sân ga và đưa tôi ra xe hơi.
- Cậu thấy đấy, chúng tôi cũng còn chút ít xăng - anh nhận xét - chủ yếu là nhờ vào các hội từ thiện của mẹ tôi.
Làng Styles Saint-Mary nằm cách nhà ga khoảng hai dặm, còn Styles Court thì xa hơn một dặm. Ngày hôm đó ấm áp và yên tĩnh, một ngày của tháng bảy. Và cứ nhìn phong cảnh bằng phẳng của miền Essex trải dài xanh tươi và yên bình dưới ánh nắng mặt trời buổi trưa thì gần như không thể nào tin rằng ở đằng kia, không xa lắm, dù gì đi nữa thì cuộc chiến tranh vẫn đang tiếp diễn. Dường như tôi bất ngờ bước vào một thế giới khác.
Khi chúng tôi vượt qua cửa rào của khuôn viên, John bảo:
- Tôi e rằng cậu sẽ thấy cuộc sống ở đây thật yên tĩnh, Hasting ạ.
- Anh bạn thân mến ơi, đó chính là điều tôi mong muốn.
- Ồ! Sẽ khá dễ chịu nếu như người ta muốn có một cuộc sống an nhàn. Mỗi tuần hai lần, tôi cùng những người tình nguyện đi lao động và đến phụ giúp các nông dân. Vợ tôi thường xuyên làm việc đồng áng. Cô ấy dậy từ năm giờ mỗi sáng để vắt sữa bò và không ngừng tay cho đến giờ ăn trưa. Nhưng, suy cho cùng, sẽ dễ sống hơn nếu như không có tên khốn khiếp ấy, Alfred Inglethorp.
Anh thắng xe bất thình lình và liếc nhìn đồng hồ.
- Tôi tự hỏi không biết chúng ta có kịp ghé qua đón Cynthia không đây? Chắc là không rồi. Cô ta có lẽ đã rời bệnh viện.
- Cynthia ư? Không phải là vợ anh sao?
- Không. Cynthia là người được mẹ tôi nhận đỡ đầu. Cô ta là con gái một người bạn học nội trú xưa của bà, người đã kết hôn với một luật sư không mấy lương thiện. Ông này bị phá sản và con gái họ trở thành mồ côi không có một xu dính túi. Mẹ tôi đã giúp cô ta và cô ấy đến sống với chúng tôi đã gần hai năm nay rồi. Cô ta làm việc ở bệnh viện của hội chữ thập đỏ ở Tadminster, cách đây khỏang mười cây số.
Trong khi anh nói những lời này, chúng tôi ngừng xe trước một ngôi nhà cũ kỹ nhưng rất đẹp. Nghe thấy tiếng xe của chúng tôi, một người phụ nữ mặc bộ đồ bằng vải tuýt đang cúi trên một luống hoa ngẩng đầu lên.
- Chào Evie, đây là người hùng bị thương của chúng ta. Ông Hasting, cô Howard.
Cái bắt tay cô Howard dành cho tôi thật mạnh, gần như đau đớn. Tôi cảm kích bởi đôi mắt thật xanh trên gương mặt rám nắng. Đó là một phụ nữ khoảng bốn mươi tuổi, vẻ khả ái. Cô ta có giọng nói trầm, với những âm sắc vang to, gần như của phái nam, một vóc dáng vuông vức với đôi chân to lớn xỏ trong đôi giày thô cũ kỹ. Chẳng mấy chốc, tôi phát hiện ra rằng cô ta phát âm bằng giọng văn điện tín.
- Cỏ dại mọc nhiều như cỏ gà. Không làm sao ngăn chúng được. Quý vị sẽ giúp tôi. Hãy cẩn thận.
- Tôi cam đoan rằng tôi sẽ rất vui được giúp ích cho cô - tôi đáp.
- Đừng nói thế. Không thận trọng. Sau này ông sẽ hối hận.
- Sao cô bi quan thế, Evie? - John mỉm cười nói - Hôm nay chúng ta sẽ dùng trà ở đâu? Trong nhà hay ngoài vườn?
- Ngoài vườn. Trời quá đẹp để phải giam mình trong nhà.
- Thế thì hãy đi thôi. Hôm nay cô làm vườn như thế là đủ rồi. Người làm ruộng rất xứng đáng được hưởng thù lao. Hãy nghỉ giải lao đi.
- Thế đấy - cô Howard vừa tháo găng tay làm vườn ra vừa nói - tôi gần như hoan nghênh ý kiến đó của anh.
Cô dẫn đường cho chúng tôi và, đi vòng qua ngôi nhà, chúng tôi đến chỗ bữa trà được dọn lên, dưới bóng mát của một cây sung lớn.
Thấy chúng tôi đến gần, một phụ nữ trẻ đang ngồi trong chiếc ghế bành mây đứng lên và bước đến trước mặt chúng tôi.
- Nhà tôi, Hasting ạ - John bảo.
Tôi không bao giờ quên giây phút đầu tiên gặp mặt Mary Cavendish. Dáng vóc cao và mảnh mai của bà hiện lên tương phản với ánh nắng gay gắt; ánh sáng dịu của ngọn lửa âm ỉ dưới đống tro rạng lên trong đôi mắt đẹp màu hung, ở bà toát ra một sự yên bình vô bờ, nhưng lại làm cho người ta nghĩ đến một tâm hồn hoang dã và khó khuất phục trong một cơ thể văn minh tuyệt diệu.
Bà đón tôi bằng vài lời chào hỏi với chất giọng trầm nhưng rất rõ, và rồi tôi gieo mình xuống ghế, rất hài lòng vì đã nhận lời mời của John. Mary Cavendish rót cho tôi một tách trà và vài lời nhận xét nghiêm túc mà bà đưa ra đã củng cố thêm trong suy nghĩ của tôi rằng bà là một phụ nữ hoàn toàn khả ái. Thật luôn luôn đáng khích lệ khi được một người chăm chú nghe mình, và tôi tự hào tả lại một vài biến cố trong thời gian dưỡng bệnh ở nhà an dưỡng với sự cao hứng đầy tính khôi hài khiến cho bà rất thích thú. Bởi vì John, mặc dù là một người đàn ông tuyệt vời, vẫn không thể tự hào là một người nói chuyện có duyên.
Vừa lúc đó, một giọng nói mà tôi nhớ rất rõ, vọng qua tai chúng tôi qua khung cửa để mở gần nhất.
- Thế nào, Alfred, anh sẽ viết cho bà công chúa sau bữa trà chứ? Em sẽ đích thân viết cho phu nhân Tadminster để yêu cầu bà ta chủ tọa ngày bán thứ hai. Hay tốt hơn nên đợi bà công chúa trả lời đã? Nếu bà này từ chối, phu nhận Tadminster có thể chủ tọa ngày thứ nhất, và bà Crosbie ngày thứ hai. Và cũng phải viết cho bà công tước về vấn đề buổi lễ của nhà trường nữa.
Chúng tôi nghe thấy tiếng thì thầm của một người đàn ông và giọng bà Inglethorp đáp lại:
- Vâng, tất nhiên rồi. Sẽ rất tiện, sau bữa trà. Anh đã nghĩ đến mọi việc, Alfred thân yêu ạ.
Cánh cửa mở ra thêm một chút và một phụ nữ luống tuổi, rất quý phái và còn khá đẹp, với những nét độc đoán, bước ra tiến về phía bãi cỏ. Một người đàn ông theo sau, hơi khúm núm.
Bà Inglethorp đón tiếp tôi một cách nồng nhiệt.
- Ồ, ông Hasting! Tôi rất vui mừng được gặp lại ông sau bao nhiêu năm. Alfred thân yêu, đây là ông Hasting. Còn đây là chồng tôi.
Tôi nhìn “Alfred thân yêu” với một chút tò mò. Anh ta quả là một nhân tố khá lạc lõng trong môi trường này. Tôi không lấy làm lạ là tại sao John lại ghét bộ râu của anh ta. Đó là một bộ râu dài nhất và đen nhất mà tôi từng thấy. Anh ta đeo một chiếc kính kẹp mũi bằng vàng và nét mặt anh ta trông thản nhiên một cách lạ lùng. Tôi tự nhủ có lẽ anh ta rất tự nhiên trên sân khấu, nhưng lại không thích hợp một cách kỳ lạ đối với cuộc sống hàng ngày. Giọng anh ta khá trầm và cảm động. Anh ta đặt một bàn tay bất động trong tay tôi và nói:
- Rất hân hạnh được biết ông, ông Hasting.
Rồi quay sang vợ:
- Em Emily thân yêu, anh e rằng chiếc gối này hơi ẩm ướt đấy.
Bà nhìn chồng tình tứ trong khi anh ta thay chiếc gối dựa khác với tất cả sự ân cần và âu yếm. Quả là một sự hài lòng kỳ quặc ở một phụ nữ biết điều về biết bao mặt khác.
Cùng với sự hiện diện của Alfred Inglethorp, một cảm giác gượng ép và đầy ác cảm kín đáo dường như xâm chiếm mọi người. Nhất là cô Howard, cô không hề tìm cách giấu diếm tình cảm của mình. Tuy vậy bà Inglethorp dường như chả nhận thấy điều gì bất thường cả. Bà vẫn giữ được vẻ liếng thoắng mà tôi nhớ mãi mặc dù đã bao năm qua, và bà tuôn ra hàng tràng lời lẽ về buổi hội chợ do bà tổ chức sắp tới đây. Thỉnh thoảng bà lại hỏi chồng về một ngày tháng nào đó. Thái độ chăm chú và chu đáo của anh này vẫn không thay đổi. Ngay từ đầu, tôi đã có ác cảm lớn đối với anh ta, và tôi tự hào rắng những cảm tưởng ban đầu của mình thường khá sáng suốt.
Chẳng mấy chốc, bà Inglethorp quay sang Evie để căn dặn về các bức thư và chồng bà lại nói với tôi bằng giọng chăm chút:
- Ông Hasting, ông có phải là nhà binh chuyên nghiệp không?
- Không. Trước chiến tranh tôi làm việc ở Lloyds.
- Ông sẽ quay lại đó khi chiến tranh kết thúc chứ?
- Có lẽ như vậy. Hoặc có thể tôi sẽ bắt đầu ở một lĩnh vực khác.
Mary Cavendish chồm ra phía trước:
- Ông sẽ chọn nghề gì nếu ông được tự do làm theo ý thích của mình?
- Điều đó cũng còn tùy.
- Ông không có những ý muốn thầm kín sao? - Bà nói thêm.
- Bà sẽ cười tôi cho mà xem.
Bà mỉm cười:
- Có thể lắm.
- Thế này nhé, tôi vẫn luôn có ước mơ thầm kín được làm thám tử đấy.
- Thế ư? Scotland Yard phải không? Hay Sherlock Holmes?
- Ồ, tất nhiên là Sherlock Holmes rồi. Nhưng, nghiêm túc mà nói, thì tôi bị cuốn hút ghê gớm bởi lãnh vực đó. Một hôm ở Bỉ, tôi đã gặp một nhà thám tử rất nổi tiếng mà tôi rất thích. Đó là một người đàn ông nhỏ nhắn nhưng rất đáng kính ngạc. Ông ta cho rằng, để trở thành một thám tử giỏi, chỉ đơn giản cần phải có phương pháp thôi. Cách thức của tôi cũng dựa trên cách của ông ta, mặc dù tất nhiên là tôi có đi xa hơn. Đó là một người đàn ông kỳ quặc, rất trau chuốt, nhưng lại giỏi một cách tuyệt vời.
- Tôi cũng rất thích một câu chuyện trinh thám hay - cô Howard nói - nhưng người ta chỉ viết toàn những điều bậy bạ. Thủ phạm chỉ được phát hiện vào chương cuối cùng mà thôi. Mọi người đều kinh ngạc. Còn trong một vụ án thật sự, người ta đoán được ngay ai là thủ phạm.
- Tuy nhiên đã có khá nhiều vụ án không bao giờ được đưa ra ánh sáng - tôi nhấn mạnh.
- Bởi cảnh sát thì tôi không nói làm gì… Nhưng còn những người có liên can trong vụ án… Những người bà con…Tôi cho rằng không thể nào bịp được họ.
- Thế nghĩa là - tôi nói, khá thích thú - cô cho rằng nếu như cô dính líu vào một vụ án, một vụ giết người chẳng hạn, cô sẽ biết được ngay ai là thủ phạm chứ gì?
- Tất nhiên rồi! Có thể tôi không thể chứng minh được điều đó với các luật sư, nhưng tôi tin chắc rằng tôi sẽ biết được. Tôi sẽ cảm nhận được điều đó ngay, nếu như hắn đến gần tôi.
- Có thể thủ phạm là một phụ nữ chứ.
- Vâng. Nhưng giết người là một hành vi thô bạo. Đó thường là hành động của một người đàn ông hơn.
- Nhưng trong trường hợp một vụ đầu độc thì lại khác - Giọng nói trong trẻo của Mary Cavendish khiến tôi giật mình - Bác sĩ Bauerstein hôm qua đã bảo với tôi rằng, nhờ vào sự hiểu biết của các bác sĩ về các loại độc dược tinh vi, rất có thể có nhiều trường hợp đầu độc mà không hề bị nghi ngờ gì cả.
- Ồ! Mary, quả là những lời nói gở! - Bà Inglethorp kêu lên - Tôi tưởng chừng như nghe thấy tiếng ai đó đang đi trên nấm mồ của mình. À, Cynthia đây rồi.
Một thiếu nữ trong bộ đồng phục của đội phụ tá tình nguyện băng ngang qua bãi cỏ.
- Cynthia này, hôm nay cô về trễ đấy. Đây là ông Hasting. Cô Murdoch.
Cynthia Murdoch là một thiếu nữ rất tươi, đầy sức sống và sinh lực. Cô cởi bỏ chiếc nón và tôi có thể ngắm nhìn những lọn tóc hung, bàn tay nhỏ nhắn và trắng muốt mà cô chìa ra để xin một tách trà. Với đôi mắt và cặp lông mày sẫm màu, có lẽ cô là hiện thân của sắc đẹp. Cô gieo mình xuống đất, gần John và tươi cười với tôi khi tôi trao cho cô đĩa bánh săng-uých.
- Ông hãy ngồi xuống thảm cỏ đây này. Sẽ thoải mái hơn.
Nghe theo lời cô, tôi ngồi xuống bên cạnh.
- Cô làm việc ở Tadminster phải không, cô Murdoch?
Cô gật đầu.
- Vâng, vì những tội lỗi của mình.
- Bộ người ta làm khổ cô lắm sao? - Tôi hỏi thế để trêu ghẹo cô.
- Đừng hòng! - Cynthia kiêu hãnh kêu lên.
- Tôi có một người em họ làm y tá - tôi nhận xét - Cô ta bị bà y tá trưởng làm cho khiếp vía.
- Tôi không lấy làm lạ đâu. Nếu ông được biết họ ra sao, ông Hasting ạ. Ông không thể nào tưởng tượng được đâu. Nhưng, lạy Chúa, tôi không phải là y tá; tôi làm việc trong bịnh xá.
- Và cô đã đầu độc bao nhiêu người rồi? - Tôi tươi cười hỏi.
- Ồ! Hàng trăm…
- Cynthia! - Bà Inglethorp gọi - Cô có thể viết hộ tôi mấy bức thư không?
- Rất sẵn sàng, dì Emily ạ.
Cô vụt đứng dậy, và điều gì đó trong cách cư xử của cô nhắc tôi nhớ rằng cô có một vị trí thấp trong nhà bà Inglethorp, và bà này, dù có tốt đến đâu đi nữa thì cuối cùng cũng không cho phép cô quên điều đó.
Bà chủ nhà quay sang tôi:
- John sẽ chỉ phòng cho ông. Chúng ta ăn tối lúc mười chín giờ ba mươi. Cách đây ít lâu, chúng ta đã bỏ việc ăn tối trễ hơn thế. Phu nhân Tadminster, vợ của vị đại diện của chúng ta tại Hạ viện (bà này là con gái của ngài cố nghị viện Abootsbury) cũng làm như vậy. Bà ấy cũng đồng quan điểm với tôi, chúng ta cần làm gương trong việc tiết kiệm. Quả là chúng ta đang sống trong thời chiến. Ở đây không có gì bị bỏ phí cả: mỗi mẩu giấy đều được cẩn thận nhặt lại và sử dụng.
Tôi bày tỏ sự ngưỡng mộ của mình trước một cách tổ chức hoàn hảo đến như vậy. John dẫn tôi đến tận nhà, ở đó chúng tôi leo lên một cầu thang lớn, giữa chừng chia làm hai nhánh đưa đến hai cánh khác nhau bên trái và bên phải của ngôi nhà. Căn phòng của tôi nằm bên cánh trái và trông ra khu vườn.
John rời tôi đi và, ít phút sau, tôi trông thấy anh ta chậm rãi băng ngang thảm cỏ, vai sánh vai cùng với Cynthia Murdoch. Tôi nghe bà Inglethorp nóng nảy gọi “Cynthia!” và thấy cô thiếu nữ giật mình chạy vào nhà. Cùng lúc đó, một người đàn ông xuất hiện từ bóng mát của một cái cây và cũng từ từ tiến về ngôi nhà. Trông anh ta khoảng bốn mươi tuổi, khuôn mặt đăm đăm và nhẵn nhụi đượm đầy vẻ u sầu. Khi đi ngang qua chỗ tôi, anh liếc nhìn lên cửa sổ phòng tôi và tôi liền nhận ra anh, mặc dù anh đã thay đổi nhiều trong vòng mười lăm năm nay, kể từ buổi gặp trước đó của chúng tôi. Đó là cậu em kế của John, Laurence Cavendish. Tôi tự hỏi điều gì đã có thể tạo nên sắc mặt đỏ của anh.
Rồi tôi không nghĩ đến chuyện đó nữa và trở lại với những suy nghĩ của riêng mình.
Buổi tối trôi qua khá dễ chịu và đêm hôm đó tôi mơ thấy người đàn bà lạ lùng đó - Mary Cavendish.
Buổi sáng hôm sau, trời trong và nắng, tôi tự nhủ rằng sẽ được hưởng những ngày nghỉ thật tuyệt vời. Tôi chỉ gặp bà Cavendish vào giờ ăn trưa. Sau đó bà rủ tôi đi dạo và chúng tôi lang thang trong rừng suốt buổi chiều. Chúng tôi quay về vào khoảng lúc mười bảy giờ. Bước vào tiền sảnh, John ra dấu cho chúng tôi đi theo anh vào phòng hút thuốc. Tôi thấy ngay qua nét mặt của anh đã có một biến cố không hay gì đó xảy ra. Chúng tôi bước theo anh vào phòng và anh đóng cửa lại sau lưng chúng tôi.
- Mary này, quả là một chuyện không hay. Evie vừa cãi nhau với Alfred Inglethorp xong, và cô ta định bỏ đi.
- Evie?
John gật đầu buồn rầu.
- Phải. Cô ta đến gặp mẹ và… đích thân Evie đây rồi.
Cô Howard bước vào, tay cầm chiếc va-li. Trông cô ta xúc động nhưng rất cương quyết và hơi thủ thế.
- Dù sao đi nữa - cô kêu lên - tôi cũng đã nói với bà ấy cách nghĩ của mình.
- Evie thân mến - bà Cavendish nói - không thể như thế được. Cô không thể bỏ chúng tôi đi đâu cả.
Cô Howard gật đầu.
- Hoàn toàn thật đấy. Tôi e rằng mình đã nói với Emily vài điều mà bà ấy không thể nào quên hoặc tha thứ được trong một khoảng thời gian dài. Sẽ càng tốt nếu như điều đó khiến bà ta phải suy nghĩ lại. Nhưng có lẽ sẽ chỉ như nước đổ đầu vịt đối với bà ấy thôi. Tôi đã bảo thẳng thừng với bà ta: “Emily ạ, bà là một phụ nữ luống tuổi, và không có gì ngu ngốc hơn là một bà già ngốc nghếch. Người đàn ông đó thua bà đến hai mươi tuổi. Đừng tìm hiểu tại sao hắn đã cưới bà. Vì tiền của bà đấy. Ông nông dân Raikes có một bà vợ khá xinh đẹp. Hãy hỏi chàng Alfred của bà xem anh ta đã ở chỗ họ trong bao lâu?” Bà ta đã tức điên lên. Tự nhiên thôi. Tôi lại bảo: “Tôi cần phải lưu ý bà, dù cho bà có thích hay không đi nữa. Người đàn ông đó thích giết bà ngay trên giường hơn là nhìn thấy bà nằm ở đó. Hắn là một tên vô lại. Bà có thể nói gì với tôi cũng được hết. Nhưng đừng quên rằng tôi đã báo trước cho bà rồi đấy. Hắn là một tên vô lại”.
- Thế bà ấy bảo sao?
Cô Howard nhăn mặt một cách đầy ý nghĩa:
- Rằng “Alfred yêu quý ấy… và Alfred cưng ấy… những lời vu khống bỉ ổi… những lời bịa đặt khủng khiếp… quả là một người vợ xấu mới buộc tội chồng yêu quý của mình như vậy…” Tôi càng rời căn nhà sớm chừng nào thì càng tốt cho tôi chừng ấy. Do đó, tôi đi đây.
- Nhưng không phải ngay lập tức chứ?
- Ngay bây giờ.
Chúng tôi đứng đó nhìn cô ta chăm bẵm một lúc. Cuối cùng, thấy những lý lẽ của mình không làm được gì cả, John Cavendish đi xem bảng chỉ dẫn về các tuyến đường xe lửa. Vợ anh bước theo sau, vừa bảo nhỏ rằng bà sẽ thử tìm cách làm cho bà Inglethorp đổi ý. Khi bà bước ra khỏi phòng, gương mặt cô Howard thay đổi ngay. Cô nghiêng người về phía tôi.
- Ông Hasting, trông ông lương thiện. Tôi có thể tin ở ông không?
Tôi hơi ngơ ngác. Cô đặt bàn tay mình lên cánh tay tôi và giọng nói của cô chỉ còn là tiếng thì thầm:
- Hãy trông chừng bà ấy, ông Hasting ạ. Cái bà Emily đáng thương của tôi. Tất cả bọn họ đều là cá mập cả. Ồ, tôi biết mình đang nói gì chứ? Không có một người nào trong bọn họ mà lại không túng thiếu và không tìm cách moi tiền của bà ấy cả. Tôi đã che chở cho bà ấy bằng tất cả sức mình. Nhưng bây giờ, khi tôi không còn ở đây nữa, họ sẽ bòn rút tiền của bà ấy cho mà xem.
- Tất nhiên, cô Howard ạ - tôi nói - cô có thể trông cậy ở tôi để làm hết sức mình. Nhưng tôi cho rằng cô hơi mệt và cô hơi quan trọng hóa vấn đề này.
Cô lúc lắc ngón tay trỏ để ngắt lời tôi.
- Hãy tin ở lời tôi đi, ông bạn trẻ ạ. Tôi đã sống trong thế giới này lâu hơn ông một chút. Tất cả những gì tôi đòi hỏi ở ông là hãy mở to mắt ra. Ông sẽ hiểu tôi muốn nói gì.
Tiếng máy xe hơi nổ vọng lên qua khung cửa sổ để mở. Cô Howard đứng lên và tiến về phía cửa. Giọng của John vang lên bên ngoài. Tay đặt trên nắm cửa, cô ta quay sang ra dấu cho tôi.
- Và nhất là, ông Hasting ạ, hãy canh chừng con quỷ ấy, chồng bà ấy.
Cô ta không có thì giờ để nói gì thêm nữa.
Cô Howard bị chìm ngập trong những tiếng chúc tụng và lời từ biệt. Ông bà Inglethorp không ló mặt ra.
Trong khi chiếc xe rời xa, bà Cavendish bỗng tách khỏi nhóm và băng qua thảm cỏ để ra đón một người đàn ông cao lớn để râu, đang tiến về phía căn nhà. Bà hơi đỏ mặt khi đưa tay cho ông ta bắt.
- Ai đấy? - Tôi bỗng hỏi, vì bất giác tôi đâm ra nghi ngờ người đàn ông đó.
- Đó là bác sĩ Bauerstein! - John trả lời cộc lốc.
- Ông ta là ai thế?
- Ông ta đang nghỉ an dưỡng trong làng sau một cơn suy nhược thần kinh nặng. Đó là một bác sĩ chuyện khoa ở London, một trong những nhà chuyên môn về độc dược học của thời đại chúng ta.
- Và là một người bạn thân của Mary - Cynthia mạnh dạn nói thêm.
John Cavendish nhíu mày và vội đổi đề tài.
- Hãy đi dạo một vòng, Hastings ạ. Thật là rắc rối. Evelyn Howard đã luôn luôn tỏ ra rất nóng tính nhưng không có người bạn nào đáng tin hơn cô ấy.
Chúng tôi xuống đến làng bằng cách băng qua những khu rừng bao quanh một phía của khu đất.
Lúc quay về, khi vượt qua một trong những cửa rào, chúng tôi gặp một phụ nữ rất đẹp thuộc tuýp di-gan, đến từ phía đối diện chúng tôi và tươi cười chào chúng tôi.
- Một phụ nữ đẹp! - Tôi nhận xét.
Khuôn mặt John đanh lại.
- Đó là bà Raikes.
- Người mà cô Howard…?
- Đúng vậy! - John  đáp cộc lốc.
Tôi nghĩ đến người phụ nữ luống tuổi, tóc bạc trắng, trong căn nhà rộng lớn, đến khuôn mặt nhỏ nhắn và sáng sủa tươi cười với chúng tôi, và một cái rùng mình khiến tôi ớn lạnh bất ngờ, như một linh tính mà tôi vội gạt ngay đi.
- Styles quả là một nơi tuyệt vời - Tôi nói với John.
Anh gật đầu với vẻ u buồn.
- Phải, đó là một lãnh địa đẹp. Một ngày nào đó nó sẽ thuộc về tôi, lẽ ra ngay bây giờ nó phải thuộc về tôi, nếu như cha tôi đã để lại một tờ di chúc hợp lý. Và như thế tôi sẽ không bị túng quẫn đến như vậy.
- Anh túng lắm ư?
- Hasting thân mến ạ, tôi có thể thú nhận với cậu, tôi không biết xoay sở ra sao để có tiền nữa.
- Cậu em của anh không giúp được gì cho anh sao?
- Laurence ư? Nó ngốn hết những gì nó có để cho xuất bản những bài thơ đáng thương của mình ở những nhà xuất bản thuộc loại có tiếng. Không, chúng tôi đều sạch túi. Nhưng tôi phải thừa nhận, mẹ tôi đã luôn luôn tỏ ra rộng lượng đối với chúng tôi, ít nhất là cho đến bây giờ… Tất nhiên, sau đám cưới của bà…
Anh ngưng bặt và nhíu mày.
Lần đầu tiên, tôi có cảm giác rằng sự ra đi của Evelyn Howard đã làm thay đổi bầu không khí. Sự có mặt của cô ta đồng nghĩa với sự an toàn. Bây giờ, sự an toàn đó đã mất đi và không khí bị nhuốm đầy ngờ vực. Tôi nghĩ đến khuôn mặt nham hiểm của bác sĩ Bauerstein và, bất giác, tôi linh cảm một tai họa sắp giáng xuống.
0
CHƯƠNG II
NGÀY MƯỜI SÁU VÀ MƯỜI BẢY THÁNG BẢY
 
Tôi đến Styles vào ngày mùng năm tháng bảy. Bây giờ thì tôi viết đến những biến cố của những ngày mười sáu và mười bảy cùng tháng. Để tiện cho bạn đọc, tôi sẽ kể lại những sự việc trong hai ngày đó với sự chính xác lớn nhất có thể có được. Sau này, chúng được xác lập lại tại phiên tòa, nhờ vào những cuộc hỏi cung dài và đáng chán.
Hai ngày sau khi cô ra đi, tôi nhận được thư của Evelyn Howard, cho biết cô đã xin vào làm y tá tại bệnh viện Midlingham, một thành phố công nghiệp lớn cách Styles hai mươi cây số. Cô tha thiết mong tôi báo cho cô biết ngay khi bà Inglethorp tỏ vẻ muốn có một cuộc giảng hòa.
Chỉ có một điều phật ý đến khuấy động sự yên tĩnh của tôi thôi. Tội buộc lòng phải nhận thấy ý thích quái gở mà về phần tôi, tôi không tài nào hiểu nổi, dường như bà Cavendish đã có đối với quan hệ giữa bà và bác sĩ Bauerstein. Tôi không làm sao hình dung được điều gì ở ông ta lại khiến bà ấy bị lôi cuốn, nhưng bà không ngừng mời ông ta đến nhà chơi và thường đi dạo rất lâu cùng ông ta.
Ngày mười sáu tháng bảy là ngày thứ hai. Một ngày thật đầy rắc rối. Buổi hội chợ nổi tiếng đã diễn ra hôm thứ bảy và vào tối hôm mười sáu, người ta tổ chức một buổi lễ mà trong đó bà Inglethorp phải đọc một bài thơ về chiến tranh. Chúng tôi đều rất bận rộn trong buổi sáng để trang trí căn phòng nơi diễn ra buổi lễ. Chúng tôi ăn trưa muộn và bỏ cả buổi chiều để nghỉ ngơi trong khu vườn. Tôi nhận thấy thái độ của John hơi kỳ quặc. Anh có vẻ nóng nảy. Sau bữa trà, bà Inglethorp đi nghỉ một chút trước khi đương đầu với những mệt nhọc của buổi tối, còn tôi thì rủ Mary Cavendish làm một ván quần vợt.
Khoảng mười chín giờ kém mười lăm, bà Inglethorp cho gọi chúng tôi để báo rằng chúng tôi sẽ muộn mất thôi vì bữa tối sẽ được dọn lên sớm hơn thường lệ. Chúng tôi phải vội vã để kịp bữa ăn và xe hơi đợi chúng tôi ngoài cửa ngay trước khi bữa ăn chấm dứt.
Buổi lễ thành công lớn. Buổi ngâm thơ của bà Inglethorp được vỗ tay nồng nhiệt. Còn có cả vài hoạt cảnh với sự tham gia của Cynthia nữa. Cô ấy không trở về cùng với chúng tôi vì được mời ở lại ăn cơm và ngủ đêm tại nhà những người bạn cùng tham dự vào các hoạt cảnh.
Sáng hôm sau, bà Inglethorp, hơi mệt mỏi, dùng điểm tâm trên giường. Nhưng đến mười hai giờ ba mươi thì bà đã tỏ ra rất nhanh nhẹn và dẫn Laurence cùng tôi đến ăn trưa tại nhà một hàng xóm.
- Tôi đã nhận được lời mời dễ thương của bà Rolleston. Bà ta là chị của phu nhân Tadminster, ông biết đấy. Gia đình Rolleston đến đây cùng với gia đình Le Conquérant… một trong những dòng họ lâu đời nhất của chúng ta.
Mary đã cáo từ, viện cớ có một cái hẹn với bác sĩ Bauerstein.
Bữa trưa diễn ra rất thoải mái, và khi chúng tôi trở về bằng xe hơi, Laurence đề nghị ghé thăm Cynthia ở bịnh xá. Bà Inglethorp bảo rằng đó là một ý kiến hay, nhưng vì còn nhiều thư từ để viết, bà sẽ thả chúng tôi xuống đó. Chúng tôi có thể về cùng với Cynthia bằng xe kéo.
Chúng tôi bị người gác cổng bịnh xá chặn lại và giữ cho đến lúc Cynthia ra bảo lãnh cho chúng tôi vào. Cô ta trông rất đẹp và rất tươi trong chiếc áo bờ-lu dài và trắng. Cô mời chúng tôi bước vào phòng làm việc và giới thiệu chúng tôi với cô bạn đồng nghiệp, một thiếu nữ có vẻ khá dữ dằn tên là Nibs.
- Biết bao nhiêu là chai lọ! - Tôi kêu lên trong khi nhìn quanh căn phòng - Cô có biết rõ những gì chứa trong các chai đó không?
- Ồ! Hãy tỏ ra độc đáo hơn. - Cynthia thở dài - Mỗi người vào đây đều tuôn ra câu nói đó. Chúng tôi đến phải suy nghĩ một cách nghiêm túc để trao tặng một phần thưởng cho người đầu tiên sẽ không nói: “… biết bao nhiêu là chai lọ…”. Và tôi cũng biết các ông sẽ tiếp là: “Cô đã đầu độc bao nhiêu người rồi?”.
Tôi mỉm cười thú nhận tội lỗi của mình.
- Nếu như ông biết rằng việc đầu độc một người nào đó do bất cẩn dễ đến chừng nào thì ông sẽ không cười nổi đâu. Nào, hãy dùng một tách trà đi. Chúng tôi có cả đống thực phẩm dự trữ bí mật trong chiếc tủ này đây. Không, Laurence ạ, đó là tủ đựng độc dược… Cái tủ lớn kìa. Phải, cái đó đấy.
Bữa chiều trôi qua rất vui vẻ và sau đó chúng tôi phụ Cynthia rửa dọn. Chúng tôi vừa cất chiếc muỗng cuối cùng thì có tiếng gõ cửa. Khuôn mặt của Cynthia và Nibs bỗng lộ vẻ nghiêm nghị.
- Mời vào - Cynthia nói với giọng quan chức.
Một cô y tá trẻ, khá nhút nhát, hiện ra, tay cầm một cái chai mà cô ta trao cho Nibs, cô này phác cử chỉ trao lại cho Cynthia vừa nhận xét một cách khó hiểu:
- Tôi không trực nhật ở đây hôm nay.
Cynthia cầm lấy cái chai và quan sát với vẻ nghiêm khắc của một quan tòa.
- Lẽ ra cô phải đem nó đến cho tôi hồi sáng nay.
- Bà y tá trưởng đã quên mất. Bà ta rất lấy làm tiếc.
- Và bây giờ tôi không thể pha chế lọ thuốc này trước sáng ngày mai được.
- Cô không thể làm cho chúng tôi ngay chiều nay sao?
- Thế này nhé - Cynthia duyên dáng bảo - chúng tôi rất bận, nhưng tôi sẽ cố hết sức để pha thuốc.
Cô y tá nhỏ cáo lui còn Cynthia lấy một lọ thuốc trên chiếc kệ rót đầy chai và đặt lên chiếc bàn sau cánh cửa.
Tôi mỉm cười.
- Cần phải duy trì kỷ luật - tôi nói.
- Đúng thế. Hãy bước ra bao lơn nhỏ của chúng tôi. Từ đó có thể trông thấy tất cả các văn phòng phía trong.
Tôi bước theo sau Cynthia và cô bạn, họ chỉ cho tôi xem những căn phòng khác nhau. Laurence ở lại trong phòng, nhưng Cynthia rủ anh ta nhập bọn với chúng tôi ngay. Rồi cô nhìn đồng hồ.
- Không còn gì phải làm sao Nibs?
- Không.
- Tốt lắm. Nào, chúng ta có thể đóng cửa và về thôi.
Trong buổi trưa này, Laurence hiện ra thật khác lạ dưới mắt tôi. Tâm tính anh khó hiểu về mọi mặt và trái ngược hẳn với ông anh, nhút nhát và dè dặt. Tuy vậy, anh cũng có một chút duyên gì đó và tôi cho rằng, nếu hiểu rõ anh hơn, anh có thể gây nên ở người khác một sự mến mộ sâu sắc. Tôi đã cho rằng trước mặt Cynthia, anh cảm thấy lúng túng, còn cô ta thì lại tỏ ra hơi rụt rè khi gần anh. Nhưng ở đây, cả hai đều rất vui vẻ và cùng nói chuyện như hai đứa trẻ.
Khi chúng tôi đi ngang qua làng, tôi bày tỏ ý định muốn mua một ít tem, và chúng tôi ngừng lại trước bưu điện.
Ở bưu điện bước ra, tôi va phải một người đàn ông nhỏ nhắn đang đi vào. Tôi hơi tránh qua một bên, vừa lên tiếng xin lỗi, thì ông ta bỗng ôm chầm lấy tôi trong tay và nồng nhiệt hôn tôi, vừa kêu lên ngạc nhiên:
- Anh bạn Hastings của tôi! Đúng là bạn Hastings của tôi rồi.
- Poirot! - Tôi kêu lên.
Và quay sang những người ngồi trên chiếc xe kéo sau kiểu Anh:
- Thật là một cuộc gặp gỡ lý thú đối với tôi, cô Cynthia ạ. Đây là ông bạn cũ của tôi, ông Poirot, mà tôi đã gặp từ bao nhiêu năm rồi.
- Ồ! Ông quen ông Poirot ư? - Cynthia vui vẻ hỏi - Tôi không biết ông ấy là bạn ông.
- Quả vậy! - Poirot nghiêm túc nói - Tôi có biết cô Cynthia đây. Sở dĩ tôi có mặt ở đây, đó là nhờ vào lòng từ thiện của bà Inglethorp tốt bụng đấy.
Rồi, thấy tôi đưa mắt nhìn dọ hỏi, ông tiếp:
- Phải, anh bạn ạ, bà ấy đã vui vẻ bảo trợ cho bảy người đồng hương của tôi, hỡi ôi đều là dân tỵ nạn cả. Đối với người Bỉ chúng tôi, chúng tôi luôn luôn nghĩ đến bà ấy với lòng biết ơn.
Tôi đã bảo rằng Poirot là một con người kỳ lạ. Mặc dù dáng người nhỏ nhắn, ông có phong thái thật đáng kính. Đầu ông to, hình quả trứng, gần như luôn luôn hơi nghiêng về một bên. Bộ râu chải chuốt, rất thẳng, tạo cho ông vẻ nhà binh. Ăn mặc rất cầu kỳ, luôn luôn bảnh bao từ đầu đến chân, tỉ mỉ một cách quá đáng, tôi cho rằng một hạt bụi thôi cũng có thể làm ông đau lòng như vết thương do một viên đạn gây nên vậy. Tuy vậy, người đàn ông nhỏ nhắn và lạ lùng ấy, với dáng điệu của một người bảnh bao, xưa kia lại là một trong những nhân vật nổi tiếng của cảnh sát Bỉ. Với tư cách là một nhà thám tử, giác quan của ông thật đáng kinh ngạc, và ông đã thực hiện được những kỳ công khi đã đem được ra trước ánh sáng những vụ việc rắc rối nhất của thế kỷ.
Ông chỉ cho chúng tôi xem ngôi nhà mà ông hiện đang ở cùng với các đồng hương của mình, và tôi hứa sẽ đến thăm anh một ngày gần đây. Rồi ông phác cử chỉ chào Cynthia và chúng tôi tiếp tục lên đường.
- Đó là một người đàn ông khả ái - Cynthia bảo - Tôi không hề nghĩ là ông quen ông ấy.
- Cô đã quen biết một người lừng danh mà không hề hay biết - tôi đáp.
Và, vừa đi tôi vừa kể lại cho họ nghe những thành tích và chiến công của Hercule Poirot.
Chúng tôi về đến Styles khá vui vẻ. Đúng lúc chúng tôi bước vào hành làng thì bà Inglethorp từ thư phòng của mình đi ra. Trông bà có vẻ nóng nảy, mặt đỏ bừng.
- Ồ! Quý vị đấy ư? - Bà nói.
- Có chuyện gì xảy ra vậy, dì Emily? - Cynthia hỏi.
- Không đâu, chả có gì cả - bà Inglethorp vui vẻ đáp - Làm sao có chuyện gì được cơ chứ?
Rồi, trông thấy Dorcas, người hầu phòng, đang tiến về phía phòng ăn, bà gọi lại và sai đem tem vào thư phòng cho mình.
Người gia nhân già tỏ vẻ do dự một lát, rồi dè dặt nói:
- Bà không cho rằng mình nên đi nằm sao? Bà có vẻ mệt đấy.
- Có lẽ bà có lý đấy, Dorcas ạ. Nhưng chưa đâu. Tôi cần viết xong vài lá thư trước giờ bỏ thư. Bà đã nhóm lửa trong phòng như tôi đã căn dặn chưa?
- Rồi, thưa bà.
- Thế thì tôi sẽ đi nằm ngay sau bữa tối.
Bà trở vào thư phòng và Cynthia nhìn theo chưng hửng.
- Tôi tự hỏi không biết đã xảy ra chuyện gì vậy? - Cô nói với Laurence.
Anh ta dường như không nghe thấy bởi vì, không nói năng gì cả, anh quay gót và bước ra khỏi nhà.
Tôi rủ Cynthia chơi một ván quần vợt trước bữa tối và chạy lên phòng lấy chiếc vợt.
Bà Cavendish đang bước xuống cầu thang. Có lẽ đó chỉ là sản phẩm của trí tưởng tượng của tôi thôi, nhưng tôi dường như nhận thấy rằng bà ấy cũng có vẻ rối trí và khó ở.
- Bà đi dạo với bác sĩ Bauerstein có vui không? - Tôi hỏi bằng giọng đã cố gắng để làm ra vẻ dửng dưng.
- Tôi không hề đi ra ngoài - bà sẵng giọng đáp - Bà Inglethorp đâu rồi?
- Trong thư phòng.
Bà dường như cứng người lại như trước một cuộc đối diện khó chịu và, bước nhanh qua trước mặt tôi, bà tiếp tục xuống thang gác, bước vào thư phòng và đóng cửa lại.
Vài phút sau, để đi đến sân quần vợt, tôi bắt buột phải đi ngang qua khung cửa sở mở toang của thư phòng, và không thể nào không nghe thấy mẩu đối thoại sau đây. Mary Cavendish, bằng một giọng cho thấy rõ sự cố gắng để tự kiềm chế, nói:
- Thế nào, bà từ chối không cho tôi xem ư?
Và bà Inglethorp đáp:
- Mary thân mến ạ, cái đó không liên quan gì đến vụ này cả.
- Thế thì hãy cho tôi xem nào.
- Tôi đã nói là không phải như cô nghĩ đâu, và cũng không liên quan gì đến cô cả.
Còn Mary thì đáp một cách cay đắng:
- Được thôi, lẽ ra tôi phải biết rằng bà bao che cho anh ấy.
 
* * *
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2010-06-25 03:18:33HanAn>
Cynthia đang đợi tôi và đón tiếp tôi bằng cách sôi nổi nói:
- Này! Dường như đã xảy ra một trận cãi vã kinh khủng đấy. Dorcas đã kể cho tôi nghe.
- Dorcas cũng tham dự vào đấy ư?
- Không đâu. Bà ta “vô tình” có mặt gần cánh cửa. Ồ! Một trận tuyệt vời. Tôi muốn biết về vấn đề gì.
Tôi nghĩ đến gương mặt sắc sảo của bà Raikes và những lời báo trước của Evelyn Howard, nhưng tôi quyết định giữ im lặng, trong khi Cynthia nêu lên tất cả các giả thuyết có thể và mong sao cho “dì Emily đuổi cỗ tên Inglethorp đi và đừng bao giờ nói đến hắn nữa”.
Tôi rất muốn gặp John nhưng anh ta biến đâu mất. tất nhiên rồi, có một biến cố nghiêm trọng nào đó đã xảy ra vào buổi trưa. Tôi cố quên đi những câu nói mà tôi đã nghe thấy, nhưng không tài nào loại được chúng ra khỏi tâm trí mình. Mary Cavendish quan tâm đến điều gì trong việc ấy chứ?
Khi xuống ăn tối, tôi thấy Inglethorp ngồi trong phòng khách, khuôn mặt dửng dưng như mọi khi, và một lần nữa, vẻ lạnh lùng của người đàn ông đó khiến tôi chú ý.
Cuối cùng thì bà Inglethorp cũng xuất hiện. Bà có vẻ còn xúc động, và bữa ăn bị sự im lặng gượng ép làm cho nặng nề thêm. Inglethorp rất bình thản. Hắn chăm sóc vợ từng li từng tí, đặt chiếc gối sau lưng bà, đóng rất đạt vai người chồng trung thành. Bữa ăn kết thúc, bà Inglethorp lui về thư phòng ngay.
- Mary, hãy vui lòng đem cà-phê đến cho tôi - bà nói - Tôi chỉ có năm phút thôi để khỏi hụt chuyến thư.
Cynthia bước theo tôi đến ngồi gần cửa sổ phòng khách đang mở. Mary Cavendish đem cà-phê đến cho chúng tôi. Bà có vẻ rất bực bội.
- Quý vị có muốn bật đèn lên không? - Bà hỏi - Hay là quý vị thích ngắm buổi chiều tà hơn? Cynthia, cô làm ơn đem cà-phê lên cho bà Inglethorp hộ tôi. Tôi sẽ rót sẵn đây.
- Xin cô đừng bận tâm, Mary ạ. - Inglethorp bảo - Tôi sẽ tự tay đem đến cho Emily.
Vừa nói, anh ta vừa rót cà-phê và bước ra khỏi phòng, cẩn thận cầm chiếc tách trên tay. Laurence theo sau còn bà Cavendish thì đến ngồi bên chúng tôi.
Cả ba chúng tôi đều im lặng trong giây lát. Buổi tối tuyệt đẹp, rất nóng và yên tĩnh, bà Cavendish khẽ quạt chiếc quạt làm bằng tàu lá dừa.
- Trời gần như quá nóng - bà nói - chắc chắn sắp có bão.
Thật đáng tiếc! Tại sao lại không thể kéo dài mãi mãi những lúc như thế này? Tôi bỗng bị dứt ra khỏi giấc mơ của mình bởi một giọng nói rất quen thuộc và thật tình là đáng ghét, vọng lại từ hành lang.
- Đó là bác sĩ Bauerstein! - Cynthia kêu lên - Thật là lạ khi đến chơi vào giờ này.
Tôi phóng một cái nhìn ghen tức về phía Mary Cavendish nhưng bà chả có vẻ gì là bối rối cả và đôi má nhợt nhạt của bà cũng chả hồng thêm lên một chút nào.
Một lát sau, Alfred Inglethorp đưa viên bác sĩ vào, ông này tươi cười xin lỗi và phản đối rằng ông ta quả là không được dễ coi lắm. Và thật vậy, trông ông ta thật thảm hại, vì dính bùn từ đầu đến chân.
- Ông làm sao thế này, ông bác sĩu? - Bà Cavendish kêu lên.
- Tôi phải xin lỗi quý vị - ông bác sĩ nói - Tôi không muốn vào chơi nhưng ông Inglethorp cứ ép mãi.
- Bauerstein này, trông ông đẹp thật đấy! - John vừa bước vào lúc ấy, nhận xét - Hãy dùng cà-phê và kể cho chúng tôi nghe những cuộc phiêu lưu của ông đi.
- Cám ơn, tôi rất vui lòng.
Ông ta vừa cười vừa thuật lại là đã phát hiện ra một loại dương xỉ rất hiếm mọc ở một nơi không thể với đến được. Ông đã cố gắng hái và đã trượt chân rời xuống ao nước bên cạnh.
- Ánh nắng đã nhanh chóng hong khô cho tôi - ông nói - nhưng tôi cho rằng thật tình trông tôi rất khó coi.
Đúng lúc đó, bà Inglethorp gọi Cynthia từ hành lang và cô vội chạy ra.
- Hãy đem chiếc rương đựng thư từ vào phòng cho tôi, cưng ạ, tôi đi nằm đây.
Cánh cửa thông ra hành lang khá rộng. Tôi đứng lên cùng với Cynthia, và John đứng sát bên đó. Như vậy có ba nhân chứng có thể thề rằng bà Inglethorp cầm trong tay tách cà-phê còn nguyên chưa uống giọt nào.
Sự hiện diện của bác sĩ Bauerstein làm cho buổi tối của tôi bị mất vui hẳn. Tôi cứ nghĩ rằng ông ta sẽ chả bao giờ ra về cả. Cuối cùng thì ông ta cũng đứng lên và tôi thở phào nhẹ nhõm.
- Tôi sẽ đi cùng ông xuống làng - ông Inglethorp bảo - vì tôi phải giải quyết một số việc với người quản lý của chúng tôi.
Quay sang John, hắn nói:
- Không nên chờ tôi làm gì. Tôi sẽ đem chìa khóa theo.
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2010-06-25 03:20:54HanAn>

CHƯƠNG III

BUỔI TỐI XẢY RA THẢM KỊCH
 
Để cho phần này của câu chuyện được hoàn toàn rõ ràng, tôi thêm vào đây sơ đồ tầng 1 của Styles.
 
 



Bằng cửa B, người ta có thể đến các phòng của đám gia nhân. Các phòng này không ăn thông gì với cánh phải, nơi có phòng của vợ chồng Inglethorp.
Nửa đêm tôi bị Laurence đánh thức. Anh cầm cây nến trên tay và sự xúc động trên khuôn mặt anh thuyết phục được tôi ngay rằng có chuyện gì khác thường xảy ra.
- Có chuyện gì vậy? - tôi hỏi , vừa ngồi dậy trên giường vừa cố gắng tập trung suy nghĩ của mình.
- Chúng tôi e rằng mẹ tôi bị bệnh nặng. Bà ấy bị lên cơn đau. Khổ thay, bà ta lại khóa chặt cửa phòng.
- Tôi đến ngay.
Phóng ra khỏi giường, tôi choàng chiếc áo ngủ và bước theo Laurence dọc hành lang đến cánh phải của ngôi nhà.
John Cavendish đến bên chúng tôi, và tôi trông thấy các gia nhân với vẻ sợ hãi và kinh ngạc. Laurence quay sang chúng tôi:
- Phải làm gì đây?
Tôi chưa bao giờ thấy anh ta do dự như lúc này. John lay mạnh tay nắm cửa phòng bà Inglethorp nhưng vô hiệu. Cánh cửa rõ ràng bị khóa trái hoặc cài then. Từ phía trong phòng, chúng tôi nghe thấy những tiếng kêu đáng lo ngại. Cần thiết phải hành động ngay.
- Hãy thử vào bằng lối cửa phòng của ông Inglethorp - Dorcas kêu - Ồ! Tội nghiệp cho bà chủ.
Tôi bất chợt nhận ra rằng Alfred Inglethorp không có mặt bên chúng tôi, và chỉ có một mình hắn là không thấy xuất hiện. John mở cửa phòng hắn ra: căn phòng chìm trong bóng tối. Nhưng Laurence theo sau với cây nến, và nhờ ánh sáng leo lét ấy, chúng tôi nhận thấy rằng trên giường không có người. Chúng tôi đến bên cánh cửa ăn thông sang phòng bên cạnh ngay. Nó cũng bị khóa trái hoặc cài then từ phía bên trong. Làm gì đây?
- Ồ! Lạy Chúa, thưa ông! - Dorcas rên tỉ, vừa vặn vẹo tay chân - Làm sao đây?
- Cần phải phá cửa. Nhưng sẽ không dễ dàng đâu. Hãy sai người hầu phòng nào đi bảo Bill cho tìm ngay bác sĩ Wilkins. Trong khi chờ đợi, chúng ta sẽ thử phá cửa xem sao. Nhưng này, có phải còn có cánh cửa ăn thông từ phòng mẹ tôi sang phòng cô Cynthia không?
- Vâng, thưa ông, nhưng nó bị cài then rồi.
- Thế thì chúng ta vẫn có thể thử xem sao?
John chạy vội đến phòng Cynthia. Mary Cavendish đang ở đó, tìm cách đánh thức cô gái, cô này có lẽ ngủ say một cách đặc biệt.
Anh quay lại ngay với chúng tôi.
- Cánh cửa đó cũng bị cài then rồi. Phải phá cửa này thôi, vì nó có vẻ kém chắc chắn hơn cửa ăn thông ra hành lang.
Tất cả chúng tôi đều dồn sức đè lên cánh cửa, nó thật chắc chắc và cưỡng lại sự cố gắng của chúng tôi một hồi lâu, nhưng cuối cùng cũng bung ra trong một tiếng ầm to lớn.
Chúng tôi ùa vào phòng, Laurence vẫn cầm cây nến trên tay. Bà Inglethorp nằm dài trên giường, toàn thân bị chấn động bởi những cơn co giật mạnh, trong những lúc đó có lẽ bà đã làm đổ chiếc bàn cạnh giường. Nhưng, đúng lúc chúng tôi bước vào, chân tay bà duỗi ra và bà buông mình xuống gối.
John vội băng qua phòng và mở hơi đốt. Quay sang Annie, một trong những người hầu phòng, anh sai cô ta đi lấy rượu cô-nhắc. Rồi, đến bên mẹ, trong khi tôi mở cửa ăn thông ra hành lang.
Tôi quay sang Lawreance định bảo rằng tôi sẽ lui về phòng mình nếu như anh ta không cần đến sự giúp đỡ của tôi nữa, nhưng lời nói tan biến trên môi tôi. Tôi chưa bao giờ trông thấy trên một khuôn mặt đàn ông nét hãi hùng nào như trên mặt anh ta vậy. Trông anh trắng bệch. Trong bàn tay run rẩy của anh, cây nến nhỏ sáp trên tấm thảm, và cặp mắt kinh hãi của anh nhìn chằm chặp qua đầu tôi một điểm nào đó trên bức tường đối diện. Tôi máy móc nhìn theo nhưng không nhận thấy điều gì bất thường cả. Bởi vì khúc củi còn cháy âm ỉ trong lò sưởi và thành lò sưởi hoàn toàn không có gì lạ cả.
Côn đau của bà Inglethorp dường như đã dịu lại. Bà có thể nói bằng những câu ngắt quãng:
- Tôi khỏe rồi, thật bất ngờ… ngu xuẩn vì đã khóa cửa phòng.
Một chiếc bóng đổ dài trên giường. Ngẩng đầu lên, tôi trong thấy Mary Cavendish đang đứng gần cửa, tay choàng qua vai Cynthia. Bà ta có vẻ như đang đỡ cô gái, trông cô này như sắp gục xuống. Khuôn mặt cô ta rất đỏ, và cô không ngừng ngáp.
- Tội nghiệp Cynthia, cô ấy rất sợ hãi - bà Cavendish nói.
Tôi nhận thấy rằng bà ta mặc chiếc áo làm vườn trên người. Như thế là đã muộn hơn tôi cứ nghĩ. Tôi trông thấy một vệt sáng yếu ớt của ngày mới len lỏi qua màn cửa và chiếc đồng hồ trên lò sưởi đã chỉ gần năm giờ.
Một tiếng kêu phát ra từ chiếc giường khiến tôi giật mình. Người phụ nữ đáng thương ấy lại bị một cơn đau nữa. Những cơn co giật mạnh khủng khiếp. Một tình trạng bối rối tột độ bao trùm ngay lúc đó. Chúng tôi vây quanh bà, bất lực trước nỗi đau đớn của bà. Một cơn co giật cuối cùng nhấc bổng bà lên khỏi giường và dường như chỉ có đầu và gót chân của bà chạm xuống giường thôi và cả thân hình bà cong hẳn lên một cách kỳ quặc. Mary và John làm mọi cách để bà uống một hớp cô-nhắc nhưng vô ích. Thân hình bà lại uốn cong một lần nữa.
Đúng lúc đó, bác sĩ Bauerstein lách người vào một cách cương quyết. Ông đứng chết lặng một lúc, mắt dán vào bóng người nằm trên giường, rồi bà Inglethorp hét lên bằng giọng tắc nghẽn, mắt nhìn chằm chằm ông bác sĩ.
- Alfred! Alfred!
Rồi bà buông người xuống gối, bất động.
Viên bác sĩ đến bên giường, nắm lấy tay bà Inglethorp và lắc mạnh, thực hiện cái mà tôi đoán là hô hấp nhân tạo. Ông ra lệnh ngắn gọn cho gia nhân. Bằng cửa chỉ đầy uy quyền, ông đuổi tất cả chúng tôi ra đến cửa. Chúng tôi nhìn ông như bị mê hoặc, mặc dù mỗi người trong chúng tôi đếu thầm đoán rằng đã quá muộn và không còn gì để có thể làm nữa cả. Tôi thấy, qua nét mặt của ông, rằng ngay cả ông bác sĩ cũng ít có hy vọng gì.
Cuối cùng thì ông ngưng công việc ấy, vừa trịnh trọng lắc đầu. Đúng lúc đó, chúng tôi nghe thấy những tiếng chân trong hành lang, và bác sĩ Wilkins, vị bác sĩ quen thuộc của bà Inglethorp, một người đàn ông nhỏ thó mập mạp và có vẻ quan trọng, bước vào, vẻ bận rộn.
Bằng vài lời, bác sĩ Bauerstein giải thích rằng ông đi ngang qua cửa rào Styles đúng vào lúc xe hơi chạy ra, và đã nhanh chân chạy vào nhà trong khi người ta đi gọi bác sĩ Wilkins. Ông đưa tay chỉ chiếc giường.
- Thật đáng buồn! Thật đáng buồn! - Bác sĩ Wilkins khẽ nói - Tội nghiệp cho người phụ nữ đáng mến. Bà ta luôn luôn làm việc quá sức, quá mức, và đi ngược mọi lời khuyên của tôi. Tôi đã báo trước với bà ấy. Tim bà ta còn lâu mới khỏe mạnh. Hãy từ từ thôi, tôi đã nói như thế với bà ấy. Từ từ thôi. Nhưng không, sự hăng say của bà đối với những công việc từ thiện quá to lớn. Thiên nhiên đã cưỡng lại. Thiên nhiên đã cưỡng lại.
Tôi nhận thấy rằng bác sĩ Bauerstein nhìn viên bác sĩ miền quê chăm chăm.
- Những cơn co giật mạnh một cách đặc biệt, bác sĩ Wilkins ạ. Tôi tiếc rằng ông đã không đến được đúng lúc để quan sát. Chúng có tính chất hoàn toàn… giống như bệnh uốn ván.
- Ồ! - bác sĩ Wilkins kêu lên.
- Tôi muốn hội ý riêng với ông - bác sĩ Bauerstein nói.
Quay sang John:
- Ông không thấy bất tiện chứ?
- Tất nhiên là không.
Tất cả chúng tôi bước ra hành lang, để hai người bác sĩ ở lại với nhau và tôi nghe thấy tiếng chìa khóa xoay trong ổ khóa sau lưng chúng tôi.
Chúng tôi từ từ bước xuống nhà. Tôi bị căng thẳng thần kinh đến cực độ; tôi phải tự hào rằng mình đã có khả năng suy luận, và thái độ của bác sĩ Bauerstein đã làm nảy sinh trong đầu óc tôi cả một loạt những lời phỏng đoán điên rồ. Mary Cavendish đặt tay lên cánh tay tôi. Tôi quay nhìn bà.
- Bà có biết tôi nghĩ gì không? - Tôi hỏi.
- Gì thế?
- Hãy nghe đây này.
Liếc nhìn quanh chúng tôi, tôi nhận thấy những người khác ở ngoài tầm nghe. Tôi hạ thấp giọng và khẽ nói.
- Tôi cho rằng bà ấy bị đầu độc đấy. Tôi tin chắc là bác sĩ Bauerstein cũng nghi ngờ điều đó.
- Sao?
Bà lùi dần về phía tường, mắt mở to vì sợ hãi. Rồi hét lên một tiếng khiến tôi lo sợ, bà hung hăng bảo:
- Không! Không! Không thể như thế! Không thể như thế!
Và, gạt tôi sang một bên, bà bỏ chạy lên cầu thang. Tôi chạy theo, sợ bà bị đau. Tôi tìm thấy bà đang dựa vào thành cầu thang, trông bà tái mét như một xác chết, và bà gạt tôi một cách nóng nảy:
- Không! Không! Hãy để tôi yên! Tôi muốn ở một mình. Hãy để tôi yên một lát. Hãy đi tìm những người khác đi.
Tôi miễn cưỡng làm theo lời bà. John và Laurence đang ở trong phòng khách và tôi nhập bọn với họ. Chúng tôi đều giữ im lặng nhưng họ cho rằng tôi đã nói lên suy nghĩ của mọi người khi, cuối cùng, tôi phá tan sự im lặng và nói.
- Ông Inglethorp đâu nhỉ?
John lắc đầu:
- Hắn ta không có trong nhà.
Ánh mắt của chúng tôi gặp nhau. Alfred Inglethorp ở đâu mới được chứ? Một sự vắng mặt lạ lùng và không thể nào giải thích nổi. Tôi nhớ lại những lời nói cuối cùng của bà Inglethorp. Chúng có ý nghĩa gì? Bà ta sẽ nói gì nữa nếu như còn đủ sức?
Cuối cùng thì các bác sĩ cũng bước xuống. Bác sĩ Wilkins có vẻ trịnh trọng và che giấu sự bồn chồn bên trong bằng chiếc mặt nạ lạnh lùng.
Bác sĩ Bauerstein giữ vai phụ, khuôn mặt nghiêm trọng của ông không thay đổi. Bác sĩ Wilkins mở lời. Ông nói với John:
- Ông Cavendish ạ, tôi yêu cầu ông đồng ý cho khám nghiệm tử thi.
- Có cần thiết không? - John nghiêm túc hỏi, trong khi khuôn mặt anh nhăn nhó vì đau khổ.
- Tuyệt đối cần thiết - bác sĩ Bauerstein nói.
- Ông muốn nói rằng việc đó…
- Cả bác sĩ Wilkins lẫn tôi đều không thể ký giấy phép liệm người chết trong những tình huống này.
John cúi đầu.
- Trong trường hợp đó tôi không thể chọn lựa và đành chấp nhận thôi.
- Cám ơn - bác sĩ Wilkins vội nói - Chúng tôi đề nghị khám nghiệm tử thi vào chiều mai, hay đúng hơn là chiều nay - ông liếc nhìn ra ngoài cửa sổ soi sáng bởi những tia nắng ban mai đầu tiên và chữa lại - Với những tình huống này, chúng ta không thể nào, tôi e vậy, tránh được một cuộc điều tra của nhà chức trách, những thủ tục này là cần thiết, nhưng tôi xin quý vị đừng lo âu quá đỗi.
Ông ngừng lại, bác sĩ Bauerstein rút từ túi áo ra hai chiếc chìa khóa và trao cho John.
- Đây là chìa khóa của hai căn phòng. Theo ý tôi, nên khóa chúng lại trong lúc này là tốt hơn cả.
Nói đến đây, các bác sĩ bỏ đi.
Từ nãy giờ, tôi lập đi lập lại một ý nghĩ trong đầu và cho rằng đã đến lúc biểu lộ ra.
Tuy nhiên tôi hơi ngần ngại. Tôi biết rằng John rất sợ tai tiếng và lạc quan một cách vô tâm. Do đó rất có thể sẽ khó thuyết phục được anh về tính hợp lý của ý định của tôi. Tôi nghĩ, có thể tin vào sự đồng tình của Laurence vì anh ta có nhiều trí tưởng tượng hơn.
- John - tôi bảo - tôi sẽ đề nghị với anh việc này.
- Sao cơ?
- Anh còn nhớ tôi có nói với anh về ông bạn Poirot của tôi không? Cái ông người Bỉ ở trong làng ấy? Trước đây ông ta đã là một viên thám tử nổi tiếng.
- Vâng.
- Thế này nhé, tôi muốn anh cho phép tôi mời ông ta đến để điều tra về vụ này.
- Sao cơ? Bây giờ ư?
- Phải… Thời gian là một lợi điểm, nếu như… nếu như đó là một vụ giết người.
- Thật là bậy - Laurence tức giận kêu lên - Theo ý tôi, tất cả chuyện này chỉ là một cái tin vịt do Bauerstein bịa ra. Wilkins không hề nghĩ như thế trước khi Bauerstein nhồi vào đầu ông ta điều đó. Nhưng Bauerstein bị méo mó nghề nghiệp như tất cả những nhà chuyện môn khác. Độc dược là nghề của ông ta, thế nên bạ đâu ông ta cũng trông thấy nó cả.
Tôi phải thừa nhận rằng thái độ của Laurence làm tôi ngạc nhiên bởi vì rất hiếm khi anh ta tỏ ra kịch liệt với bất cứ vấn đề gì.
John do dự.
- Tôi không hiểu nổi tình cảm của cậu, Laurence ạ - anh nói. Tôi rất muốn để cho Hastings hoàn toàn tự do hành động, mặc dù tôi thích chờ đợi một ít lâu nữa. Chúng ta không muốn bị tai tiếng một cách vô ích.
- Tất nhiên thôi! - Tôi vội kêu lên - Đừng ngại gì về vấn đề đó cả: Poirot chính là tất cả sự kín đáo.
- Thế thì, hãy hành động theo ý mình. Tuy nhiên, theo tôi, sự việc rất rõ ràng, nếu như điều chúng ta nghi ngờ là chính xác. Nhưng Chúa hãy tha tội cho tôi nếu như tôi phán đoán mạnh dạn quá.
Tôi nhìn đồng hồ. Mới sáu giờ sáng. Tôi quyết định không để phí thì giờ. Tuy nhiên, tôi cũng ra hẹn cho mình năm phút: trong năm phút đó tôi lục lọi thư viện, cho đến khi tìm được cuốn sách y học tả rõ sự ngộ độc do chất Strychnin gây nên.
📎 Style1
0
CHƯƠNG IV
POIROT MỞ CUỘC ĐIỀU TRA
 
Căn nhà của những người Bỉ nằm rất gần tường rào của khuôn viên. Người ta có thể đến đó bằng một con đường nhỏ xuyên qua cỏ cao, điều đó có thể tránh cho người ta khỏi phải đi vòng lối đường cái. Do đó khi tôi dùng con đường này và đến chỗ người gác dan ở thì trông thấy một bóng đàn ông lao về phía tôi. Đó là ông Inglethorp. Ông ta từ đâu đến? Ông ta sẽ làm thế nào để giải thích được sự vắng mặt của mình?
Ông ta vội nói ngay:
- Chúa ơi! Một việc khủng khiếp biết bao! Bà vợ đáng thương của tôi! Tôi chỉ vừa mới biết tin thôi!
- Ông đi đâu vậy? - Tôi lạnh lùng hỏi.
- Denby đã giữ tôi ở lại rất khuya. Khi chúng tôi tính toán xong, thì đã hơn một giờ sáng rồi. Lúc đó tôi chợt nhận ra rằng mình đã bỏ quên chìa khóa. Do tôi không muốn đánh thức cả nhà dậy nên Denby đã cho tôi mượn một chiếc giường.
- Làm thế nào mà ông biết được tin? - Tôi hỏi tiếp.
- Wilkins đã đánh thức Denby để báo tin. Emily đáng thương của tôi! Với tính tình cao quý biết mấy!
Một nỗi ghê tởm mơ hồ xâm chiếm lấy tôi. Inglethorp hiện ra trước mắt tôi như một tên giả dối quá mức.
Một lúc sau, tôi gõ cửa biệt thự Leastways. Không thấy ai trả lời, tôi nóng nảy lập lại cử chỉ đó. Một cánh cửa sổ được cẩn thận đẩy ra và đích thân Poirot thò đầu nhìn xuống đường. Ông ta kêu lên kinh ngạc khi nhận ra tôi. Tôi kể vắn tắt tấn thảm kịch cho tôi nghe và bảo rằng tôi đến yêu cầu sự giúp đỡ của ông.
- Khoan đã, anh bạn ạ, tôi sẽ mở cửa cho anh vào và anh sẽ kể hết đầu đuôi câu chuyện trong khi tôi sửa soạn.
Ông mở cửa ngay và tôi theo ông đến tận phòng ngủ. Ở đó, ngồi vào một chiếc ghế bành, tôi kể hết mọi chuyện cho ông nghe, không giấu diếm và cũng chẳng bỏ sót điều gì cả, trong khi ông sửa soạn một cách tỉ mỉ.
Tôi cho ông biết về những lời nói cuối cùng của bà Inglethorp, về sự vắng mặt của chồng bà ta, về trận cãi vã hôm trước, về mẩu đối thoại mà tôi đã nghe thấy giữa Mary và mẹ chồng, về sự bất hòa giữa bà Inglethorp và Evelyn Howrad trước đó và về những lời dặn dò của cô này.
Tôi đã không được hoàn toàn rõ ràng như mong muốn. Tôi phải nhắc đi nhắc lại nhiều lần, và thỉnh thoảng phải gợi nhớ lại một chi tiết bị bỏ quên. Poirot mỉm cười đầy hảo ý với tôi.
- Anh hơi xúc động phải không? Tự nhiên thôi. Nhưng hãy từ từ, anh bạn ạ. Sau này, khi chúng ta bình tĩnh hơn, chúng ta sẽ sắp xếp lại các sự kiện một cách có hệ thống, cái nào vào chỗ nấy. Chúng ta sẽ xem xét và chọn lựa. Chúng ta sẽ để sang một bên cái nào mà chúng ta cho là quan trọng. Còn những cái khác thì… phù! (ông gồng gương mặt trẻ con của mình lên và thổi một cách khá nực cười), chúng ta sẽ cho chúng bay mất.
- Tất cả những thứ đó thật hay - tôi bảo - nhưng ông làm sao phân biệt được cái nào là quan trọng và cái nào là không chứ? Việc đó đối với tôi luôn luôn rất khó.
Poirot lắc đầu mạnh mẽ. Ông xoắn bộ râu của mình với một sự chăm chút lão luyện.
- Không đâu, này nhé. Một sự kiện này dẫn đến một sự kiện khác, và chúng cứ tiếp tục như thế. Cái kế tiếp có phù hợp với cái trước không? Một cách tuyệt vời. Được rồi! Chúng ta có thể tiếp tục. Thiếu một mắc xích trong sợi dây ư? Chúng ta sẽ xem xét. Chúng ta sẽ tìm hiểu về cái sự kiện nhỏ bé kia, cái sự kiện vô nghĩa có vẻ như không phù hợp với những cái khác; chúng ta sẽ đặt đây này.
Ông phác một cửa chỉ.
- Quan trọng lắm đấy! Tiên quyết đấy!
- Vâng… vâng!...
- À!
Poirot chỉ tay đe dọa tôi mạnh mẽ đến nỗi tôi phải lùi lại.
- Hãy coi chừng! Người thám tử mà nói: “Đó là một sự kiện nhỏ không chút quan trọng. Nó không phù hợp với những cái khác, tôi sẽ quên nói đi” thì sẽ nguy hiểm lắm đấy. Sự hờ hững đó đưa đến sự hoang mang. Bởi vì tất cả, tất cả đều có tầm quan trọng của nó.
- Tôi biết điều đó. Ông vẫn bảo với tôi như thế. Bởi vậy tôi đã ghi lại tất cả những chi tiết của vụ này, dù cho chúng có quan trọng hay không đi nữa dưới mắt tôi.
- Và tôi rất hài lòng về anh. Anh có trí nhớ tốt và đã liệt kê cho tôi một cách trung thực. Tôi không nói như thế về thứ tự theo đó anh đã giới thiệu chúng cho tôi, bởi vì thật là đáng phàn nàn. Nhưng tôi hiểu rằng anh đang bị xúc động. Bởi thế tôi tha thứ cho anh vì đã quên mất một sự kiện quan trọng bậc nhất.
- Sự kiện nào? - Tôi ngạc nhiên hỏi.
- Anh đã không cho tôi biết bà Inglethorp tối qua ăn có ngon miệng không?
Tôi nhìn ông chằm chặp, kinh ngạc. Quả là chiến tranh đã làm cho đầu óc ông bị lệch lạc. Ông đang mải mê cẩn thận chải bộ vét trước khi mặc vào người và tỏ ra hoàn toàn chăm chú vào việc đó.
- Tôi không nhớ rõ nữa - tôi đáp - Dù sao đi nữa, tôi không thấy…
- Ông không thấy ư? Nhưng nó là cốt yếu đấy!
- Tôi không hiểu - tôi đáp, hơi bị xúc phạm. Nhưng, nếu ký ức tôi chính xác thì bà ấy chả ăn bao nhiêu. Rõ ràng là bà ta rất rối trí và không thấy ngon miệng. Tự nhiên thôi.
- Phải - Poirot nhắc lại, trầm tư - Rất tự nhiên.
Ông mở một ngăn kéo, lấy chiếc ví và quay sang tôi.
- Đây này, tôi đã sẵn sàng. Chúng ta sẽ đến lâu đài để xem xét sự việc ngay tại chỗ. Hãy tha thứ cho tôi, anh bạn ạ, nhưng anh đã mặc đồ vội vã và chiếc cà-vạt của anh bị xộc xệch. Cho phép tôi.
Bằng một cử chỉ chính xác, ông sửa lại.
- Nào, ta hãy đi thôi.
Chúng tôi đi vòng qua ngôi nhà và đi ngang qua nhà người gác da, bước vào khuôn viên. Poirot ngừng lại một lát vẻ đau đớn nhìn ngắm khu vườn trải rộng còn đang lấp lánh dưới sương sớm.
- Tất cả những thứ này đẹp biết mấy, thế mà gia đình ấy lại phải chìm trong đau khổ.
Vừa nói ông vừa nhìn tôi dò xét, và tôi nhận ra mình đang đỏ mặt dưới cái nhìn sắc của ông.
 
* * *
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2010-06-25 03:26:30HanAn>
Gia đình có thật sự bị quỵ xuống vì đau thương không? Nỗi đau do cái chết của bà Inglethorp gây nên có thật sự to lớn không? Tôi nhận ra không khí ở Styles dường như chả có vẻ gì là bị nhuốm đầy xúc động cả. Người chết đã không có khả năng làm cho mình được yêu mến. Cái chết của bà là một tai họa và một cú sốc lớn, nhưng không ai nuối tiếc bà nhiều lắm.
Poirot có vẻ như đang theo dõi dòng suy nghĩ của tôi. Ông trịnh trọng gật đầu bảo:
- Không giống như nếu họ có quan hệ máu mủ với nhau vậy. Bà ta đã tỏ ra rất tốt bụng và rộng lượng đối với những người thuộc dòng họ Cavendish ấy, nhưng lại không phải là máu ruột của họ. Máu mủ cũng quan trọng đấy, hãy nhớ lấy điều này, máu mủ cũng quan trọng đấy.
- Poirot, ông không cho tôi biết, tại sao ông muốn biết bà Inglethorp tối qua có ăn nhiều hay không? Tôi đã lật đi lật lại cái ý nghĩ đó trong đầu mãi mà chả thấy nó liên quan gì đến việc này cả.
Ông im lặng một lúc trong khi chúng tôi vẫn bước đi, nhưng cuối cùng ông cũng trả lời tôi.
- Tôi rất muốn cho anh biết, mặc dù tôi không có thói quen, như anh biết đó, đưa ra bất cứ lời giải thích nào trước khi đạt đến đích. Giả thuyết hiện nay là bà Inglethorp chết do ngộ độc bởi chất Strichnin được bỏ vào cà-phê của bà ta.
- Vâng…
- Thế thì, cà-phê được phục vụ vào giờ nào?
- Khoảng tám giờ tối.
- Vậy thì bà ta đã uống vào giữa tám giờ và tám giờ ba mươi. Chắc chắn rằng không lâu hơn sau đó. Thế nhưng Strychnin là một độc dược có tác động khá nhanh, có lẽ là một tiếng đồng hồ sau. Tuy nhiên, trong trường hợp của bà Inglethorp, những triệu chứng chỉ bộc lộ ra vào lúc năm giờ sáng hôm sau, nghĩa là chín tiếng đồng hồ sau. Thế nhưng, một bữa ăn thịnh soạn hấp thụ cùng lúc với độc dược có thể làm chậm công hiệu của nó đi, nhưng không lâu đến như thế. Tuy vậy, đó cũng là một khả năng đáng lưu ý đến. Thế mà, theo anh thì bà ta ăn khá ít, nhưng triệu chứng vẫn chỉ xuất hiện vào sáng hôm sau. Đó là một trường hợp khá lạ lùng, anh bạn ạ. Có thể cuộc khám nghiệm sẽ soi sáng cho chúng ta thêm. Trong lúc chờ đợi, đừng quên chi tiết đó.
Khi chúng tôi đến gần ngôi nhà, John bước ra đón chúng tôi. Gương mặt anh trông thất thần và mệt mỏi.
- Đây là một việc thật khủng khiếp, ông Poirot ạ - anh nói - Hastings có lẽ đã cho ông biết, chúng tôi không muốn tiết lộ nó ra ngoài.
- Tôi hoàn toàn hiểu ý ông.
- Ông thấy đấy, cho đến nay chỉ là sự nghi ngờ thôi. Chúng ta không có những đầu đề chính xác.
- Đúng vậy. Chỉ cần thận trọng thôi.
John quay sang tôi, anh lấy một điếu thuốc trong hộp thuốc và châm lửa.
- Anh biết rằng Inglethorp đã quay về rồi chứ?
- Vâng. Tôi đã gặp hắn.
John vứt cây diêm vào một luống hoa gần đó, cử chỉ này làm cho Poirot, vốn rất ngăn nắp, phải bực bội. Ông nhặt nó lên và cẩn thận vùi sâu xuống đất.
- Quả thật rất khó mà biết phải đối xử với hắn ra sao.
- Sự khó khăn đó không kéo dài lâu đâu - Poirot thản nhiên tuyên bố.
John tỏ ra băn khoăn, vì anh không hiểu rõ ý nghĩa của câu nói tối nghĩa ấy. Anh trao cho tôi hai chiếc chìa khóa mà bác sĩ Bauerstein đã đưa cho anh.
- Hãy cho ông Poirot xem tất cả những gì ông ấy muốn xem.
- Các căn phòng đều được khóa trái cửa hết sao? - Poirot hỏi.
- Bác sĩ Bauerstein đã cho rằng điều đó là tốt hơn hết.
Poirot gật đầu, trầm ngâm.
- Thế thì ông ta phải chắc chắc lắm với sự đánh giá của mình. Điều này chỉ làm cho mọi việc đơn giản hơn đối với chúng ta thôi.
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2010-06-29 03:05:57HanAn>
Chúng tôi cùng lên trên phòng nơi xảy ra thảm kịch. Để tiện hơn nữa, tôi thêm vào đây sơ đồ của căn phòng đó với những đồ đạc chính có ở đấy.
Phòng ngủ của bà Inglethorp:
 


A: cửa ăn thông ra hành lang
B: cửa ăn thông sang phòng ông Inglethorp
C: cửa ăn thông sang phòng Cynthia Murdoch.
Poirot khóa cửa lại từ bên trong và bắt đầu lục soát tỉ mỉ. Ông chạy từ vật này sang vật khác với sự nhanh nhẹn của một con dế. Tôi đứng gần cửa, sợ làm mất đi một dấu vết nào đó. Nhưng Poirot có vẻ như không mấy tán thành sự tế nhịn này của tôi.
- Anh sao thế, anh bạn? Đứng như thế cứ như, nói sao đây, à, phải rồi, cứ như một con heo nhồi rơm vậy.
Tôi bảo với ông rằng tôi sợ xóa mất dấu chân nào đó.
- Những dấu chân! Ý nghĩ hay thật. Đã có đến cả một đạo quân dẫn vào phòng này rồi. Chúng ta có thể tìm thấy những dấu chân nào đây? Không, hãy đến đây giúp tôi trong việc tìm kiếm. Tôi sẽ đem cất chiếc ví nhỏ của mình đi cho đến khi nào lại cần đến nó.
Ông đặt nó lên chiếc bàn tròn kê gần cửa sổ, nhưng đó chỉ là một cử chỉ vô ý, vì phần trên của chiếc bàn có thể xê dịch được, ông đứng lên và chiếc ví rơi xuống sàn nhà.
- Quả là một chiếc bàn kỳ cục! - Poirot kêu lên - À! Anh thấy đấy, không phải những ngôi nhà lớn là có nhiều tiện nghi nhất đâu.
Và sau câu nói luân lý khôi hài đó, ông tiếp tục công việc của mình.
Một chiếc rương nhỏ màu tím với chiếc chìa khóa cắm trong ổ khóa, đặt trên bàn giấy, khiến ông chú ý một lúc. Ông rút chìa khóa ra và đưa tôi xem. Tôi không thấy gì là đặc biệt cả. Đó là một chiếc chìa khóa bình thường, thuộc loại Yale và có một đoạn dây thép cong queo được xỏ qua chiếc vòng.
Sau đó ông quan sát cánh cửa mà chúng tôi đã phá để tin chắc rằng nó có bị khóa thật hay không. Rồi ông tiến đến bên cánh cửa đối diện, ăn thông sang phòng của Cynthia. Như tôi đã kể, cánh cửa đó cũng được cài then. Tuy vậy, ông cũng cất công đẩy chốt, mở và đóng cửa nhiều lần liên tục; khi làm việc này, ông tìm đủ mọi cách để khỏi gây tiếng động. Bất thình lình, có cái gì đó ngay trong ổ khóa làm ông chú ý. Sau một cuộc kiểm tra nghiêm túc, ông lấy từ chiếc túi đựng đồ nghề của mình ra một chiếc kẹp và gắp từ ổ khóa ra một mảnh nhỏ xíu mà ông cẩn thận nhét vào một chiếc phong bì nhỏ…
Trên chiếc tủ ngăn, trong chiếc khay, có cái bếp cồn và cái xoong. Trong đáy xoong còn lại một ít chất lỏng đen đen. Ngay gần đó là chiếc tách và cái đĩa nhỏ mà, tất nhiên là,  người ta đã dùng đến.
Tôi tự hỏi làm sao mình lại có thể lơ đãng đến độ không chú ý đến chúng. Đó là một dấu vết quan trọng. Poirot thận trọng nhúng một ngón tay vào chất lỏng và nếm. Ông nhăn mặt.
- Ca-cao pha với rượu rum.
Sau đó ông quay sang những mảnh vụn vương vãi trên sàn nhà, chỗ chiếc bàn đặt cạnh giường bị lật đổ. Một chiếc đèn để bàn, vài cuốn sách, vài cây diêm quẹt, một xâu chìa khóa và những mảnh vỡ của một chiếc tách cà-phê còn vương vãi đây đó.
- À! Điều này lạ lùng đây! - Poirot nói.
- Tôi phải thú nhận rằng tôi không thấy điều gì đặc biệt lạ cả.
- Thật ư? Hãy nhìn chiếc đèn kia. Kính bị vỡ làm hai mảnh nằm ngay chỗ nó rơi xuống. Nhưng hãy coi đây, chiếc tách cà-phê thì lại hoàn toàn vỡ nát.
- Như thế có lẽ có ai đó đã đạp lên nó rồi.
- Đúng vậy - Poirot nói bằng giọng lạ lùng - Có ai đó đã đạp lên nó.
Ông đứng lên và từ từ tiến đến bên lò sưởi, ở đó ông hờ hững nghịch những vật trưng bày và sắp đặt chúng lại cho ngăn nắp, thói quen của ông khi bị bối rối.
- Anh bạn ạ - ông quay sang tôi nói - Có ai đó đã dẫm lên chiếc tách này và đã làm vỡ tan nó ra vì một trong hai lẽ sau đây: hoặc là vì nó có chứa chất Strychnin, hoặc là; và điều này nghiêm trọng hơn nhiều; vì nó không hề chứa chất đó.
Tôi không trả lời ông. Tôi sửng sốt, nhưng tôi biết thật là vô ích khi đòi ông giải thích. Một lúc sau, ông lấy lại bình tĩnh và tiếp tục tìm kiếm. Ông nhặt xâu chìa khóa ở dưới đất lên và, xoay tới xoay lui trong tay, cuối cùng ông chọn lấy một chiếc mới toanh và thử vào ổ khóa của chiếc rương nhỏ màu tím. Nó vừa khít và ông mở chiếc rương ra, nhưng sau một lúc do dự, ông khóa nó lại và đút xâu chìa khóa cùng chiếc chìa khóa mà chúng tôi đã tìm thấy cắm ở ổ khóa chiếc rương vào túi.
- Tôi không được phép đọc những văn kiện này nhưng cũng cần phải làm điều đó không chút chậm trễ.
Sau đó ông xem xét các ngăn kéo của chiếc bàn kê cạnh giường. Khi băng qua phòng để đến bên cửa sổ phía bên trái, một vệt tròn, gần như không thể trông thấy được trên tấm thảm màu nâu sẫm có vẻ như làm ông đặc biệt chú ý. Ông quỳ xuống xem thật gần và còn ngửi nữa.
Cuối cùng ông rót vài giọt ca-cao vào một ống nghiệm và đậy nắp cẩn thận. Rồi ông rút từ túi áo ra một cuốn sổ.
- Trong phòng này chúng ta đã phát hiện được sáu điều lý thú - ông vừa viết nhanh vừa bảo - Anh có muốn tôi liệt kê chúng ra, hay anh muốn tự làm?
- Ồ! Ông cứ nói đi - Tôi vội đáp.
- Được lắm. Trước nhất là: một chiếc tách cà-phê bị đạp vỡ nát. Thứ hai: một chiếc rương nhỏ với chiếc chìa khóa cắm ở ổ khóa. Thứ ba: một vết dơ trên tấm thảm…
- Có thể nó đã có ở đó từ lâu rồi - tôi cắt ngang.
- Không đâu, vì rõ ràng là nó còn ẩm và có mùi cà-phê. Thứ tư: một mảnh vải màu lục đậm, một hoặc hai sợi thôi, nhưng rất dễ nhận.
- Ồ! - Tôi kêu lên - Đó chính là cái mà ông đã cất vào chiếc phong bì ư?
- Phải. Có thể chúng ta sẽ khám phá ra đó chỉ là chiếc áo của bà Inglethorp mà thôi, và dấu vết này sẽ không mấy quan trọng. Hãy đợi xem. Thứ năm: cái này đây!
Và bằng một cử chỉ đầy kịch tính, ông chỉ vết sáp trên tấm thảm gần chiếc bàn giấy.
- Vết này mới có từ hôm qua thôi, nếu không thì bất cứ một cô hầu phòng giỏi giang nào cũng đã xóa đi ngay với một tờ giấy thấm và một chiếc bàn ủi nóng. Một hôm, một trong những chiếc nón tốt nhất của tôi… nhưng bỏ qua đi thôi, việc đó không dính dáng gì đến vụ này cả.
- Vết sáp này có lẽ có từ tối hôm qua. Chúng tôi đều rất xúc động. Hoặc giả chính bà Inglethorp đã đánh rơi cây nến.
- Quý vị đã đem theo một cây nến vào phòng ư?
- Vâng, Laurence Cavendish cầm một cây trên tay. Nhưng anh ta rất hoảng loạn. Hình như anh ta đã trông thấy cái gì đó ở đằng kia (tôi đưa tay chỉ chiếc lò sưởi) làm cho anh ta hoàn toàn bị tê liệt.
- Điều đó đáng quan tâm đấy - Poirot sôi nổi nói - Phải, nó có thể có ý nghĩa (và cái nhìn của ông bao trùm diện tích của cả bức tường) nhưng, không phải cây nến của anh ta đã làm nên cái vệt lớn này đâu, bởi vì anh có thể nhận thấy rằng ở đây là sáp trắng. Còn cây nến của ông Laurence, còn đặt trên bàn phấn, thì lại màu hồng. Hơn nữa, bà Inglethorp không có cây cắm nến trong phòng, mà chỉ có một cái đèn để bàn thôi.
- Ông suy ra điều gì thế?
Nhưng ông bạn tôi chỉ đưa ra một câu trả lời dễ chọc giận, ông ấy xin tôi hãy dùng đến những năng khiếu tự nhiên của mình.
- Còn điều khám phá thứ sáu? - Tôi hỏi - Đó là theo như tôi phỏng đoán, mẩu chất ca-cao chứ gì?
- Không - Poirot trầm ngâm đáp - Tôi có thể gom nó vào điều thứ sáu, nhưng tôi đã không làm. Không, tôi sẽ giữ khám phá thứ sáu cho riêng mình, ít ra là trong lúc này.
Ông vội nhìn quanh phòng.
- Tôi cho rằng không còn gì để làm ở đây nữa, trừ phi (ông nhìn đám tro tàn trong lò sưởi một hồi lâu). Lúa cháy, cháy… và thiêu hủy… Nhưng có thể, vô tình, còn sót lại cái gì đó. Hãy cứ xem nào.
Nhanh nhẹn, ông quỳ xuống và lục lọi trong đống tro, lôi chúng từ lò sưởi ra bằng cái chắn lửa, cẩn thận bới chúng lên. Bỗng ông bật kêu lên:
- Chiếc kẹp, Hastings ạ!
Tôi vội trao nó cho ông ngay và ông khéo léo moi ra một mảnh giấy nhỏ bị cháy mất phân nửa.
- Đây này, anh bạn ạ. Anh nghĩ gì về cái này?
📎 Styles2
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2010-06-29 03:08:56HanAn>
Tôi quan sát mảnh giấy. Đây là một bức họa lại thật chính xác.
 
Tính hiếu kỳ của tôi bị khơi dậy. Tờ giấy dày và khác hẳn giấy viết thư bình thường. Bất ngờ tôi nảy ra một ý nghĩ.
- Poirot - tôi kêu lên - Đây là một mảnh của một bức di chúc.
Đúng thế.
- Điều đó không làm ông ngạc nhiên sao?
- Không - ông trịnh trọng nói - Tôi đã chờ đợi điều đó.
Tôi trao lại cho ông mảnh giấy, ông cất nó vào ví với sự chăm chút vối có của ông đối với mọi thứ. Đầu óc tôi bị cuốn hút vào một cơn gió lốc. Tờ di chúc đó có ý nghĩa gì? Ai đã thiêu hủy nó? Tất nhiên là người đã để lại vệt sáp trên tấm thảm rồi. Nhưng người đó làm thế nào để đột nhập vào phòng khi mà mọi cánh cửa đều cái then từ bên trong.
- Bây giờ, anh bạn ạ - Poirot hăng hái bảo - chúng ta sẽ rút lui. Tôi muốn đặt vài câu hỏi với bà hầu phòng… Bà ta tên là Dorcas phải không?
 
* * *
📎 Styles3
0
Chúng tôi đi ngang qua  phòng Alfred Inglethorp và Poirot nán lại ở đó khá lâu để xem xét. Chúng tôi ra bằng cánh cửa đó và Poirot khóa cửa phòng lại, cả phòng của bà Inglethorp nữa.
Tôi dẫn ông ta đến thư phòng, theo ý muốn của ông, rồi đích thân đi tìm Dorcas. Nhưng khi tôi trở lại thư phòng với bà ta thì căn phòng bỏ trống.
- Poirot, ông ở đâu? - Tôi kêu lên.
- Tôi đây, anh bạn ạ.
Ông đã ra ngoài bằng cánh cửa sổ lớn và đứng lặng đi mà ngắm những luống hoa với đủ mọi hình dáng.
- Tuyệt vời - ông khẽ nói. Tuyệt vời! Cân xứng làm sao ấy. Hãy nhìn xem, những hình lưỡi liềm này, đường nét rõ ràng của chúng trông thật mát mắt. Và khoảng cách giữa các mặt phẳng cũng hoàn hảo nữa. Tất cả những thứ này đều mới được làm xong, phải không?
- Vâng, tôi cho rằng chúng mới được làm vào lúc trưa hôm qua. Nhưng, hãy đến đây, Dorcas kia rồi.
- Nào, nào… Đừng tước mất của tôi một giây phút đầy thú vị.
- Vâng, nhưng vụ này quan trọng hơn.
- Làm sao anh biết được những bông thu hải đường này lại không quan trọng bằng?
Tôi nhún vai. Quả là vô ích để tranh cãi với ông ta khi ông dùng cái giọng đó.
- Anh không đồng ý… Nào, ta vào hỏi chuyện Dorcas vậy.
Dorcas đứng trong thư phòng, hai tay khoanh trước ngực, mái tóc bạc uốn lượn dưới chiếc mũ trắng. Đó là tuýp người hầu già thuở xưa. Bà đứng trước mặt chúng tôi, trong một thái độ ngờ vực, nhưng Poirot đã đánh ta sự dè dặt của bà. Ông kéo một chiếc ghế cho bà.
- Xin bà hãy ngồi xuống đây.
- Cám ơn ông.
- Bà giúp việc cho bà chủ đã lâu rồi, phải không?
- Mười năm rồi, thưa ông.
- Đó là một thời gian dài và nó chứng tỏ được lòng trung thành phục vụ của bà. Tôi cho rằng bà rất quyến luyến bà chủ, phải không?
- Bà ấy luôn luôn tốt bụng đối với tôi, thưa ông.
- Vậy thì bà sẽ không từ chối trả lời vài câu hỏi. Tôi đặt chúng ra cho bà với sự tán đồng hoàn toàn của ông Cavendish.
- Ồ! Tất nhiên rồi, thưa ông.
- Vậy tôi bắt đầu hỏi bà về những biến cố xảy ra lúc trưa hôm qua. Bà chủ đã cãi nhau, phải không?
- Vâng, thưa ông. Tôi không biết có nên…
Dorcas do dự.
Poirot ném cho bà một cái nhìn sắc.
- Bà Dorcas tốt bụng ạ, tôi cần thiết phải biết tất cả những chi tiết của cuộc cãi vã ấy. Đừng cho rằng bà đã tiết lộ những bí mật của bà chủ. Bà ấy đã chết, và chúng tôi cần phải biết tất cả, nếu như chúng tôi muốn trả thù cho bà ấy. Không có cái gì có thể làm cho bà ấy sống lại được, nhưng chúng tôi hy vọng, nếu như đó là một vụ án mạng, sẽ đem được tên sát nhân ra trước pháp luật.
- Được rồi - Dorcas nói bằng giọng hung hãn - Tôi không nêu tên một ai cả nhưng tôi cho là trong nhà này có một người mà không ai trong chúng tôi có thể chịu đựng nổi. Cái ngày mà hắn ta bước chân vào nhà này lần đầu tiên quả là một ngày đau buồn.
Poirot đợi cho cơn giận của bà ta nguôi bớt, rồi ông lại nói với giọng quan chức:
- Và bây giờ, về vấn đề cuộc cãi vã ấy mà, bà nghe nói đến nó lần đầu tiên vào lúc nào?
- Hôm qua, lúc tôi đi ngang qua hành lang…
- Lúc đó là mấy giờ…
- Tôi không thể nói một cách chính xác được thưa ông, nhưng phải trước lúc dùng trà khá lâu. Có lẽ là mười sáu giờ hay hơn một chút. Như tôi đã nói, tôi đi ngang qua hành lang thì nghe thấy những giọng nói ở ngay đây này, rất to và có vẻ như giận dữ. Tôi không có ý định nghe lén, nhưng thế đấy. Tôi đứng lại. Cửa đóng nhưng bà chủ tôi nói rất to và rất rõ, và tôi nghe rõ những gì bà nói: “Anh đã nói dối tôi và anh đã làm tôi thất vọng”. Tôi không nghe thấy câu trả lời của ông Inglethorp. Ông ta nói nhỏ hơn bà ấy nhiều; nhưng bà ta lại bảo: “Sao anh dám cả gan? Tôi đã đùm bọc anh, nuôi anh ăn mặc. Anh phải biết ơn tôi về tất cả. Và anh trả ơn tôi như thế đấy. Bằng cách ném vào mặt tôi sự xấu hổ”. Lại một lần nữa tôi không nghe thấy anh ta trả lời gì, nhưng bà ấy tiếp: “Tất cả những gì anh có thể nói với tôi cũng không làm thay đổi gì được. Tôi thấy rõ trách nhiệm của mình. Tôi đã quyết định rồi. Đừng tưởng sự e ngại dư luận và một vụ tai tiếng giữa vợ chồng có thể ngăn cản được tôi đâu”. Lúc đó tôi cho rằng họ sắp bước ra và tôi vội vã bỏ đi.
- Bà có chắc bà đã nghe thấy chính giọng của Inglethorp không?
- Ồ! Có chứ, thưa ông. Còn ai vào đây nữa chứ?
- Sau đó thì chuyện gì đã xảy ra?
- Lát sau tôi quay lại hành lang nhưng tất cả đều yên tĩnh. Lúc mười bảy giờ, bà Inglethorp nhấn chuông gọi tôi và bảo tôi đem đến thư phòng cho bà một tách trà, không cần đến bánh ngọt. Trông bà ấy thật thảm hại, nhợt nhạt và rụng rời: “Dorcas, bà bảo tôi, tôi vừa bị một cú sốc lớn”. “Tôi lấy làm tiếc cho bà, tôi nói, nhưng bà sẽ khá hơn sau khi đã dùng một tách trà thật nóng”. Bà ta cầm trong tay một tờ giấy. Tôi không biết đó có phải là một bức thư không, dù sao thì trên đó có chữ viết, và bà nhìn tờ giấy đó chăm chăm, cứ như bà không tài nào hiểu nổi những gì bà đã đọc thấy ở đó. Bà khẽ nói, như quên mất sự hiện diện của tôi: “Chỉ vào chữ thôi, và tất cả thay đổi”. Rồi bà bảo tôi: “Đừng bao giờ đặt lòng tin vào đàn ông, Dorcas ạ. Họ không xứng đáng đâu”.
Tôi bước ra và đi lấy cho bà một tách trà thật đậm, và bà cảm ơn tôi, nói thêm rằng bà sẽ khá hơn sau khi uống nó. “Tôi không biết phải làm gì, một vụ tai tiếng giữa vợ chồng là một điều khủng khiếp. Tôi rất muốn làm ngơ cho rồi, nhưng không thể được”. Vừa lúc đó bà Cavendish bước vào, và bà chủ vội im bặt.
- Bà ấy còn cầm trên tay bức thư hoặc tờ giấy không?
- Còn, thưa ông.
- Sau đó thì bà ta có thể làm gì với nó nhỉ?
- Tôi không biết, thưa ông, nhưng tôi cho rằng có lẽ bà ấy đã cất nó vào chiếc rương nhỏ màu tím ấy mà.
- Bà ấy thường cất giấy tờ quan trọng ở đấy, phải không?
- Vâng, thưa ông. Mỗi buổi sáng, bà ấy đều xách nó xuống và lại đem nó lên vào mỗi buổi tối.
- Bà có biết bà ấy đã đánh mất chìa khóa vào lúc nào không?
- Bà ta phát hiện việc ấy vào lúc ăn trưa. Bà đã nhờ tôi tìm phụ. Hơn nữa bà đã tỏ ra rất bực bội vì sự mất mát này.
- Nhưng bà ấy còn có một chiếc chìa khóa thứ hai nữa, phải không?
- Ồ, vâng, thưa ông!
Dorcas nhìn Poirot với sự tò mò cực độ, và tôi cũng phải thú nhận rằng tôi cũng vậy. Câu chuyện xoay quanh chiếc chìa khóa mất ấy là thế nào?
Poirot mỉm cười:
- Đừng thắc mắc, bà Dorcas ạ. Nghề nghiệp của tôi đòi hỏi phải biết một số điều. Có phải chiếc chìa khóa mất đây không?
Ông rút từ túi áo ra chiếc chìa khóa tìm thấy trong ổ khóa của chiếc rương, trên lầu, trong phòng người chiếc.
Dorcas mở to mắt.
- Đúng rồi, thưa ông. Đúng nó rồi. Ông tìm thấy nó ở đâu thế? Tôi đã tìm khắp nơi rồi.
- À, đó là vì hôm qua nó không ở cùng chỗ với hôm nay. Bây giờ, để thay đổi vấn đề, bà chủ của bà có chiếc áo nào màu sẫm không?
Dorcas hơi sợ hãi trước câu hỏi bất ngờ ấy.
- Không, thưa ông.
- Bà có chắc không?
- Ồ, chắc chứ, thưa ông.
- Trong nhà này, không ai có chiếc áo màu xanh lục sao?
Dorcas suy nghĩ.
- Cô Cynthia có chiếc áo dạ hội màu lục.
- Xanh nhạt hay xanh đậm?
- Xanh nhạt, thưa ông, bằng lụa mỏng.
- À, đó không phải là cái mà tôi nói. Bà không thấy ai khác có quần áo màu xanh lục sao?
- Không, thưa ông.
Gương mặt Poirot không lộ vẻ gì ông có thất vọng hay không. Ông chỉ bảo:
- Thôi được, hãy để đấy đã và tiếp tục. Bà có lý do gì để tin rằng bà Inglethorp đã dùng thuốc ngủ bằng bột tối qua không?
- Tôi biết rằng tối hôm qua bà ấy không dùng thuốc ngủ, thưa ông.
- Tại sao bà lại chắc chắn chứ?
- Vì chiếc hộp trống trơn. Bà ấy đã dùng liều cuối cùng cách đây hai hôm, và từ đó chưa mua hộp khác.
- Bà hoàn toàn chắc chắn về điều đó chứ?
- Hoàn toàn.
- Thế thì việc đó đã sáng tỏ. Mà này, hôm qua bà chủ có nhờ bà ký tên vào một tờ giấy không?
- Ký tên vào một tờ giấy ư? Không, thưa ông.
- Chiều qua, khi ông Hastings và ông Laurence trở về, hai ông ấy đã trông thấy bà ấy đang viết thư. Tôi cho là bà có thể cho tôi biết tí gì về những người nhận những bức thư đó chứ?
- Tôi e rằng không, thưa ông. Tối qua tôi được nghỉ phép. Nhưng có lẽ Annie có thể cho ông biết đấy, mặc dù cô ta khá cẩu thả. Cô ta đã không dọn cả những tách cà-phê dùng tối hôm qua nữa đấy. Đấy, chuyện xảy ra như thế khi tôi không có mặt để trông chừng mọi việc.
Poirot giơ tay ra.
- Nếu như cô ta đã quên, bà Dorcas ạ, thì xin bà đừng đụng đến. Tôi muốn xem xét chúng.
- Được lắm, thưa ông.
- Tối qua, bà ra ngoài lúc mấy giờ?
- Khoảng mười tám giờ, thưa ông.
- Cám ơn, bà Dorcas, đó là tất cả những gì tôi muốn hỏi bà.
Ông đứng lên và hờ hững tiến đến bên cửa sổ.
- Tôi đã chiêm ngưỡng những luống hoa này đây. À này, ở đây có bao nhiêu người làm vườn thế?
- Bây giờ chỉ có ba người thôi. Trước chiến tranh, khi mà khu đất được chăm sóc đúng như lãnh địa của một vị quý tộc phải được, thì có đến năm người. Ồ! Giá như ông thấy nó vào lúc đó, thưa ông. Quả là tuyệt vời. Nhưng hiện nay thì chỉ có ông lão Manning, cậu William và một người làm vườn nữ mặc quần áo ngắn thôi. Ôi, quả là chúng ta đang sống trong một thời kỳ hãi hùng.
- Thời vàng son sẽ trở lại, bà Dorcas ạ. Ít ra thì chúng ta cũng có thể hy vọng. Bây giờ, hãy gọi Annie hộ tôi.
- Vâng, thưa ông. Cám ơn ông.
 
* * *
0
- Làm sao ông biết được bà Inglethorp dùng thuốc ngủ bột? - Tôi hết sức tò mò hỏi, trong khi Dorcas bước ra khỏi phòng - Và làm thế nào mà ông đoán được câu chuyện về chiếc chìa khóa bị mất và chiếc chìa khóa thứ hai?
- Từng chuyện một thôi. Về thuốc ngủ bột, tôi đã đoán được nhờ cái này đây.
Ông cho tôi xem một chiếc hộ nhỏ bằng cạc tông, giống như tất cả các hộp mà các dược sĩ dùng để đựng thuốc bột.
- Ông tìm thấy nó ở đâu vậy?
- Trong ngăn kéo bàn phấn, trong phòng bà Inglethorp. Đó là điều thứ sáu của bộ sưu tầm của tôi đó.
- Nhưng tôi cho rằng cái đó không mấy quan trọng, vì liều thuốc cuối cùng được dùng cách đây hai ngày rồi kia mà?
- Có thể là không. Nhưng anh không thấy cái gì lạ trong vẻ bề ngoài của chiếc hộp sao?
Tôi xem xét.
- Không, chẳng có gì lạ cả.
- Hãy nhìn cái nhãn.
Tôi chăm chú đọc: “Dùng một liều khi đi ngủ nếu cần, bà Inglethorp”.
- Không, tôi không thấy gì là bất thường cả.
- Cả việc không có một cái tên dược sĩ nào trên đó nữa sao?
- Ồ! - tôi kêu lên - Quả là kỳ lạ.
Tôi rất lấy làm thắc mắc. Nhưng Poirot trấn an tôi bằng cách bảo:
- Tuy vậy, thật là đơn giản. Đừng lo lắng, anh bạn ạ.
Một tiếng chân báo hiệu sự có mặt của Annie, do đó tôi không có thì giờ trả lời.
Annie là một cô gái khỏe và đẹp, bị nung nấu bởi một sự kích thích mạnh, và không lấy làm bực bội vì đã dính líu vào vụ việc.
Poirot đi thẳng vào vấn đề với sự hăng say nghề nghiệp.
- Tôi cho gọi cô, Annie ạ, vì tôi cho rằng cô có thể cho chúng tôi biết điều gì đó về những bức thư bà Inglethorp đã viết chiều qua. Có bao nhiêu bức tất cả? Và cô có thể cho chúng tôi biết chúng được gởi cho ai không?
Annie suy nghĩ.
- Có bốn lá thư, thưa ông. Một cái cho cô Howard, một cái cho ông luật sư Wells. Tôi không nhớ hai cái còn lại. A, phải rồi… một cái cho ông Ross, bán hàng ở Tadminster. Còn cái thứ tư thì tôi không nhớ nữa.
- Hãy nghĩ kỹ đi - Poirot nài nỉ.
Annie cố moi óc một cách vô hiệu.
- Tôi rất tiếc, thưa ông, tôi hoàn toàn quên mất. Có lẽ tôi đã không chú ý đến nó.
- Không sao - Poirot bảo, không để lộ một sự thất vọng nào cả - Tôi muốn hỏi cô một chuyện khác nữa. Trong phòng của bà Inglethorp có cái xoong đựng ca-cao. Có phải tối nào bà ấy cũng dùng thứ đó không?
- Vâng, thưa ông, mỗi buổi tối nó được đem đến phòng cho bà ấy và bà ấy hâm nóng lại trong đêm, khi bà ta muốn uống.
- Đó là cái gì thế? Ca-cao thôi ư?
- Vâng, thưa ông, pha với sữa, một muỗng đường và hai muỗng rượu rum.
- Ai đem đến cho bà ấy?
- Tôi, thưa ông.
- Luôn luôn ư?
- Vâng, thưa ông.
- Vào giờ nào?
- Thường là vào lúc tôi đi kéo màn cửa.
- Cô đem thẳng từ nhà bếp lên ư?
- Không, thưa ông. Ông hiểu cho, trên bếp ga không có nhiều chỗ do đó bà nấu bếp pha sớm, trước khi đặt rau lên luộc cho bữa tối. Tôi có thói quen đem nó lên để trên chiếc bàn gần cửa phục vụ. Tôi chỉ đem đến phòng bà chủ sau đó thôi.
- Cửa phục vụ nằm bên cánh trái, phải không?
- Vâng, thưa ông.
- Tối qua, cô đem lên lúc mấy giờ?
- Khoảng mười chín giờ mười lăm, có lẽ vậy, thưa ông.
- Và khi nào thì cô đem vào phòng bà Inglethorp?
- Khi tôi lên làm giường, thưa ông. Khoảng hai mươi giờ. Bà Inglethorp đã lên đi nằm trước khi tôi làm xong.
- Vậy giữa mười chín giờ mười lăm và hai mươi giờ thì ca-cao được đặt trên bàn, bên cánh trái, phải không?
- Vâng, thưa ông.
Annie càng lúc càng đỏ mặt, và cô bỗng kêu lên:
- Và nếu như trong đó có muối thì đó không phải là lỗi tại tôi, thưa ông. Tôi không bao giờ cho muối vào đó.
- Điều gì khiến cô nghĩ rằng trong ca-cao có muối chứ? - Poirot hỏi.
- Tôi thấy có trên chiếc khay, thưa ông.
- Cô nhìn thấy có muối trên khay ư?
- Vâng, giống như muối bọt dùng ở nhà bếp vậy. Tôi không thấy có khi đem khay lên, nhưng khi tôi đến lấy để đem vào phòng bà chủ thì tôi thấy có. Lẽ ra tôi phải đem ca-cao trở xuống và bảo bà nấu bếp pha cái mới. Nhưng tôi đang vội, vì bà Dorcas nghỉ phép, và tôi tự nhủ có lẽ ca-cao vẫn ngon, còn muối chỉ rơi trên khay mà thôi. Thế là tôi đã lau đi và đem chiếc khay vào phòng bà chủ.
Tôi phải cố lắm mới che giấu được sự nóng nảy của mình. Vô tình, Annie đã cung cấp cho chúng tôi một dấu vết thực sự quan trọng. Cô ấy sẽ ngạc nhiên biết mấy nếu biết được rằng muối bọt dùng ở nhà bếp của cô chính là chất Strychnin, một trong những thứ độc dược mạnh nhất mà người ta được biết. Tôi cảm phục sự điềm tĩnh của Poirot. Sự tự chủ của ông thật đáng ngạc nhiên. Tôi nóng lòng chờ đợi câu hỏi tiếp theo, nhưng nó làm tôi thất vọng.
- Khi cô bước vào phòng bà Inglethorp, cánh cửa dẫn sang phòng cô Cynthia có cài then hay không?
- Ồ! Có chứ, thưa ông. Nó luôn luôn như thế. Nó chả bao giờ được mở ra cả.
- Còn cánh cửa dẫn sang phòng ông Inglethorp? Cô có nhận thấy nó cũng được khóa hay không?
Annie do dự.
- Tôi không biết nữa, thưa ông. Cửa đóng, nhưng tôi không thể quả quyết nó có được khóa trái hay không.
- Khi cô bước ra khỏi phòng, bà Inglethorp có khóa cửa lại sau lưng cô không?
- Không, thưa ông, lúc đó thì không. Nhưng có lẽ sau đó bà ta đã khóa lại. Bà ta thường khóa cửa buổi tối. Ít ra thì cũng cánh cửa ăn thông ra hành lang.
- Cô có để ý đến một vết sáp dưới đất, khi cô dọn phòng hôm qua không?
- Một vết sáp ư? Ồ, không, thưa ông. Bà Inglethorp không dùng nến, mà chỉ có một chiếc đèn ngủ thôi.
- Thế cô cho rằng nếu có vết sáp trên tấm thảm thì cô đã nhận thấy ư?
- Phải, thưa ông, và tôi đã xóa đi bằng một tờ giấy thấm và một chiếc bàn ủi nóng.
Lúc đó, Poirot đặt lại câu hỏi đã đặt cho Dorcas.
- Bà chủ có bao giờ có chiếc áo màu xanh lục không?
- Không, thưa ông.
- Hay là một chiếc áo khoác, một chiếc áo choàng, hoặc… người ta gọi đó là cái gì nhỉ - một chiếc áo vét thể thao?
- Không có cái nào màu xanh cả, thưa ông?
- Và không ai trong nhà có quần áo màu xanh sao?
- Không, thưa ông.
- Cô có chắc không?
- Hoàn toàn.
- Thôi được. Đó là tất cả những gì tôi cần. Cám ơn cô nhiều.
Annie bỏ đi với một tiếng cười ngắn. Ngay lập tức, sự nóng nảy đè nén trong tôi bộc phát ra.
- Poirot - tôi kêu lên - tôi khen ông đấy. Đó là một khám phá lớn.
- Cái nào?
- Chính trong ca-cao mới có chất độc chứ không phải trong cà-phê. Điều đó giải thích tất cả. Tất nhiên rồi, thuốc độc không có công hiệu trước buổi sáng, vì ca-cao chỉ được uống vào lúc nửa đêm mà thôi.
- Thế ra, Hastings ạ, anh cho rằng ca-cao - hãy nhớ kỹ những gì tôi nói đây - ca-cao có chứa chất Strychnin sao?
- Dĩ nhiên, nếu không thí chất muối rơi vãi trên khay có thể là cái gì mới được chứ?
- Chất muối! - Poirot lạnh lùng lập lại.
Tôi nhún vai. Thật là vô ích, nếu muốn tranh cãi với ông ta khi ông ta sắp sửa dùng cái giọng ấy. Ý nghĩ thoáng qua đầu tôi, và đây không phải là lần đầu tiên, rằng Poirot đáng thương đã già mất rồi.
Và tôi tự nhủ với riêng mình, ông ta thật sung sướng khi có một người cộng tác với đầu óc nhanh nhẹn hơn trong việc này.
Poirot nhìn tôi với vẻ thản nhiên và thích thú.
- Anh không được mấy hài lòng về tôi, phải không anh bạn?
- Ông Poirot thân mến ạ - tôi lạnh lùng đáp - tôi không phải là người chỉ huy ông đâu. Ông có quyền có quan điểm của mình, cũng như tôi có cái của tôi.
- Một tinh thần đáng phục - Poirot nhận xét và đứng bật dậy - Thế đấy, tôi đã xong việc với căn phòng này rồi. À này, chiếc bàn giấy nhỏ kiểu Mỹ trong góc kia của ai vậy?
- Của ông Inglethorp.
- À!
Ông thử mở ra.
- Khóa mất rồi. Nhưng có lẽ một trong những chiếc chìa khóa của bà Inglethorp có thể mở được chăng?
Ông thử nhiều cái, xoay xoay một cách điêu luyện và cuối cùng ông kêu lên đắc thắng.
- Đây rồi - ông nói - không phải đúng chìa của nó nhưng vẫn có thể mở được.
Ông bỏ qua phía bên trên bàn giấy và liếc nhìn những tờ giấy sắp đặt gọn gàng. Trước sự ngạc nhiên của tôi, ông không thèm xem đến chúng, chỉ gật gù nhận xét.
- Cái ông Inglethorp quả là một người đàn ông ngăn nắp.
Và, đối với Poirot, thì sự ngăn nắp, đó là một lời khen lớn nhất. Lúc đó tôi hiểu ra rằng ông bạn của tôi không còn như trước nữa, khi mà lời nói tiếp theo của ông không ăn nhập vào đâu cả.
- Không có tem trong bàn giấy của ông ấy, nhưng rất có thể có, phải không nào? Có thể có đấy. Phải… (ông nhìn quanh phòng) thư phòng này không còn cho chúng ta điều gì nữa. Không có kết quả gì mấy, ngoại trừ cái này.
- Ông rút từ túi áo ra một chiếc phong bì dán kín và ném cho tôi. Đó là một tái hiện lạ lùng. Một chiếc phong bì cũ kỹ tầm thường, rất bẩn, trên có có viết vài chữ như vô tình. Đây là một bản sao:
 


📎 Styles4
0
CHƯƠNG V
HÃY CHO TÔI BIẾT KHÔNG PHẢI CHẤT STRYCHNIN CHỨ?
 
- Ông tìm thấy cái này ở đâu vậy? - Tôi hết sức tò mò hỏi Poirot.
- Trong giỏ rác. Anh nhận ra chữ viết của ai không?
- Có. Của bà Inglethorp. Nhưng nó có ý nghĩa gì?
Poirot nhún vai.
- Tôi không biết, nhưng khá lý thú đấy.
Tôi chợt có một ý nghĩ điên rồ. Có thể nào đầu óc của bà Inglethorp đã bị loạn trí rồi không? Bà ta đã nung nấu một ý nghĩ quái đản về việc bị quỷ ám không? (Sở hữu: tiếng Pháp là Posséder, còn có nghĩa là bị quỷ ám). Và, trong trường hợp đó, có thể nào bà ta đã tự sát không?
Tôi định trình bày những ý nghĩ của mình cho Poirot thì những lời nói của ông khiến tôi chú ý.
- Ta hãy đi xem xét các tách cà-phê đi.
- Ông Poirot thân mến ạ! Cần gì, khi mà bây giờ chúng ta đã chắc chắn về chất ca-cao rồi.
- Ồ! Cái chất ca-cao khốn khiếp ấy! - Poirot nhẹ nhàng kêu lên.
Ông bật cười, vẻ như rất thích thú, giơ tay lên trời một cách tuyệt vọng và khôi hài, cử chỉ đó, theo tôi thật không phải lúc.
- Dù sao đi nữa - tôi tiếp, rõ ràng là rất lạnh lùng - thì bà Inglethorp cũng đã đem cà-phê vào phòng, và tôi không thấy ông có thể phát hiện được điều gì trừ phi ông cho rằng sẽ tìm thấy một gói Strychnin trên chiếc khay.
Poirot lấy lại giọng nghiêm túc:
- Nào, nào, anh bạn, xin đừng nổi nóng. Hãy cho phép tôi quan tâm đến những tách cà-phê của tôi. Còn tôi, tôi sẽ tôn trọng ca-cao của anh. Thế đấy. Đồng ý nhé.
Ông có vẻ hối hận một cách khôi hài đến nỗi tôi buộc phải phì cười. Chúng tôi cùng đến phòng khách, ở đó các chiếc tách vẫn còn đặt trên chiếc khay, ngay chỗ chúng tôi đã đặt chúng tối hôm qua.
Poirot bảo tôi tả lại cảnh tượng hôm qua, rất chăm chú nghe tôi nói và kiểm tra lại vị trí của mội cái tách.
- Vậy ra bà Cavendish đứng gần chiếc khay và rót cà-phê. Được lắm. Rồi bà ta đến bên cửa sổ nơi anh và cô Cynthia ngồi. Phải. Đây là ba cái tách. Còn cái tách đã vơi phân nửa kia, trên lò sưởi, có lẽ là của ông Laurence Cavendish. Còn cái trên khay?
- Của John Cavendish. Tôi đã trông thấy anh ta đặt nó ở đấy.
- Thôi được. Một, hai, ba, bốn, năm. Nhưng, trong trường hợp đó, tách của ông Inglethorp đâu?
- Ông ta không bao giờ dùng cà-phê.
- Như thế thì mỗi cái tách đều đã được sử dụng… Khoan đã, anh bạn.
Thật cẩn thận, ông lấy một hay hai giọt trong đáy mỗi chiếc tách và để riêng trong những ống nhỏ bằng thủy tinh, không quên nếm cà-phê lấy được mỗi lần. Một sự thay đổi lạ lùng bất ngờ làm khuôn mặt ông biến dạng: ông có vẻ ngơ ngác, nhưng lại hơi nhẹ nhõm.
- Được rồi - cuối cùng ông bảo - Tất nhiên thôi. Tôi có một ý nghĩ, nhưng rõ ràng là tôi đã lầm. Phải, hoàn toàn lầm. Tuy vậy, quả là lạ lùng. Thôi, mặc kệ vậy.
Và, nhún vai một cách đặc biệt, ông xua khỏi ý nghĩ của mình điều làm ông lo lắng. Tôi rất muốn nói cho ông biết rằng nỗi ám ảnh của ông về vấn đề cà-phê sẽ không dẫn đến đâu cả, nhưng tôi ngăn được mình. Vì, sau rốt, dù có già đi nữa, thì Poirot cũng vẫn là một người đàn ông nổi tiếng.
 
* * *
0
- Bữa trưa đã được dọn lên - John Cavendish từ hành lang đến và thông báo - Ông sẽ dùng bữa với chúng tôi chứ, ông Poirot?
Poirot đồng ý. Tôi quan sát John. Anh gần như đã lấy lại được sự quân bình sau cú sốc của các biến cố hồi đêm. Anh ta ít có óc tưởng tượng, trái ngược hẳn với cậu em, người mà có lẽ lại có quá nhiều.
Từ tờ mờ sáng, John đã rất bận bịu để gửi những bức điện (cái đầu tiên là cho Evelyn Howard), để viết những lời cáo phó cho các báo và lo đến tất cả các nghĩa vụ nặng nề.
- Tôi có thể hỏi ông xem cuộc điều tra của ông có tiến triển không? Những cuộc tìm kiếm của ông có cho thấy là mẹ tôi chết một cách tự nhiên, hay… chúng tôi phải nghĩ đến cái tệ hại nhất?
- Tôi cho rằng, ông Cavendish ạ - Poirot đáp một cách nghiêm trọng - ông không nên tự lừa phỉnh mình bằng những hy vọng giả tạo. Ông có thể cho tôi biết những người khác trong gia đình nghĩ gì không?
- Cậu em Laurence của tôi quả quyết, chúng ta làm ầm ĩ lên vì một việc không đáng gì. Cậu ta tuyên bố rằng tất cả đều muốn chứng tỏ đấy chỉ đơn giản là một cơn đau tim thôi…
- À! Ra thế đấy! Điều này đáng quan tâm đấy. - Poirot khẽ nói - Còn bà Cavendish?
Một đám mây thoáng qua trên khuôn mặt John.
- Tôi không biết gì về ý kiến mà vợ tôi có thể có đối với việc này.
Câu trả lời này gây nên một thoáng bối rối. John phá tan sự im lặng có nguy cơ kéo dài một cách nặng nề bằng cách cố gắng nói:
- Tôi đã cho ông hay rằng ông Inglethorp đã trở về, phải không?
Poirot gật đầu.
- Thật là một tình thế khó xử đối với tất cả chúng tôi. Dĩ nhiên, phải đối xử với hắn như mọi khi, nhưng phải ngồi chung bàn với một tên bị nghi ngờ đã giết người thì thật là dễ nổi loạn đấy.
Poirot gật đầu đầy thiện ý.
- Tôi hiểu điều đó lắm. Đó là một tình thế rất khó khăn đối với ông, ông Cavendish ạ. Nhưng tôi cũng muốn hỏi ông một câu. Nếu như tôi không lầm thì ông Inglethorp đã viện lý do để vắng mặt lâu đến như thế, rằng ông ta đã bỏ quên chìa khóa cửa ra vào, có đúng như thế không?
- Vâng.
- Tôi đoán chừng ông chắc chắn là ông ta đã thật sự bỏ quên chìa khóa, ông ta không có nó trên người chứ?
- Tôi không hề biết, vì đã không nghĩ đến việc kiểm chứng lại. Chúng tôi luôn luôn để chìa khóa trong ngăn kéo ở tiền sảnh. Tôi sẽ đi xem lại ngay đây.
Poirot đưa tay lên và nở một nụ cười yếu ớt.
- Không, không, ông Cavendish ạ. Bây giờ thì đã muộn lắm rồi. Tôi tin chắc ông sẽ tìm thấy nó ở chỗ mọi khi. Nếu như ông Inglethorp đã lấy nó đi, thì ông ta cũng đã có đủ thời gian để cất lại.
- Nhưng ông cho rằng…
- Tôi chả nghĩ gì cả. Nếu như vô tình sáng nay có ai đó đã trông thấy chiếc chìa khóa trong ngăn tủ, thì đó sẽ là một bằng chứng thuận lợi cho ông ta. Thế thôi.
John có vẻ rất phân vân.
- Xin ông đừng lo lắng - Poirot lại nhẹ nhàng bảo - Tôi cam đoan rằng ông không nên lo nghĩ về điều đó. Nào, ta hãy đi ăn trưa đi, khi mà ông đã có nhã ý mời tôi.
Mọi người đều tụ họp trong phòng ăn… Do những tình huống, đó không phải là một cuộc họp mặt vui vẻ. Sự phản ứng sau một cú sốc bao giờ cũng nặng nề, và tôi cho rằng chúng tôi đều rất đau buồn. Những nghi thức và sự giáo dục tốt buộc chúng tôi phải tỏ ra tự nhiên hết sức, thế mà tôi không thể nào không tự hỏi xem sự bình thản có thật sự là khó ngụy tạo hay không? Tôi không hề trông thấy những cặp mắt sưng đỏ vì nước mắt, cũng không hề thấy dấu hiệu nào của một nỗi đau thầm kín. Và tôi phải thừa nhận là tôi có lý khi cho rằng bà Dorcas là người duy nhất bị thương tổn nặng nề.
Tôi không nói đến Alfred Inglethorp làm gì, hắn sắm vai một người đàn ông góa rầu rĩ với cái mà tôi cho là một sự giả dối rất đáng công phẫn. Tôi tự hỏi không biết hắn có biết rằng mình đang bị nghi ngờ không. Dĩ nhiên, hắn không thể nào biết được, bất chấp những cố gắng của chúng tôi để che giấu tình cảm của mình đối với hắn. Hắn có cảm thấy sợ hãi một cách kín đáo không? Hay hắn tin tưởng tội lỗi của hắn sẽ không bị trừng phạt?
Nhưng có phải mọi người đều nghi ngờ hắn không? Về phần bà Cavendish thì sao? Bà ngồi đó, ở cuối bàn, duyên dáng, yên bình, khó hiểu. Trong chiếc áo màu xám với những nếp xếp tổ ong rũ xuống và đôi tay mềm mại của mình, trông bà thật đẹp. Nhưng, khi bà muốn, gương mặt của bà có thể trở nên khép kín như gương mặt của một con người khó hiểu. Trông bà rất nghiêm trang và bà không hề hé môi, thế nhưng, tôi cảm thấy một cách lạ lùng sức mạnh của tính cách con người bà chế ngự tất cả chúng tôi.
Còn cô bé Cynthia? Cô có nghi ngờ gì không? Tôi thấy cô ta có vẻ nhợt nhạt và mỏi mệt. Tôi hỏi xem cô ta có bệnh hoạn gì không, và cô thành thật bảo:
- Vâng, tôi đau đầu kinh khủng luôn.
- Hãy dùng một tách cà-phê, thưa cô - Poirot ân cần nói - Nó sẽ chữa khỏi cho cô. Không có thứ gì bằng cái đó để trị đau đầu.
Ông nhổm dậy và cầm lấy chiếc tách của cô ta.
- Không đường - Cynthia nói.
- Không đường ư? Cô đã bỏ dùng đường từ khi có chiến tranh, có phải không?
- Không, tôi chả bao giờ dùng cà-phê có đường cả.
- Chúa ơi! - Poirot khẽ rủa, vừa đem tách cà-phê đầy đến cho cô ta.
Tôi là người duy nhất nghe thấy và, tò mò nhìn ông, tôi thấy gương mặt ông nhăn nhó vì nóng nảy và đôi mắt ông xanh biếc như mắt mèo vậy. Có lẽ ông đã nghe thấy hoặc trông thấy điều gì khiến ông bị xúc động tột độ; nhưng điều gì vậy? Tôi không cho mình thường hay ngu muội, nhưng tôi phải thừa nhận mình chả nhận thấy điều gì khác lạ cả.
 
* * *
0
Một lúc sau, cánh cửa bật mở và Dorcas hiện ra bên thềm.
- Ông Wells muốn gặp ông - bà nói với John.
Anh này vội đứng dậy ngay.
- Hãy mời ông ấy vào phòng làm việc.
Quay sang chúng tôi, anh bảo:
- Ông ấy là luật sư của mẹ tôi.
Và khẽ hơn:
- Và cũng là biện lý đấy, quý vị hiểu chứ? Có lẽ quý vị muốn đi cùng với tôi?
Chúng tôi nhận lời và theo anh ra khỏi phòng. Tôi lợi dụng cơ hội đó để nói nhỏ với Poirot:
- Thế nào, sẽ có buổi hỏi cung chứ?
Ông lơ đãng gật đầu. Trông ông có vẻ như hoàn toàn chìm trong những suy nghĩ của mình, đến nỗi sự tò mò của tôi phải trỗi dậy.
- Có chuyện gì vậy? Ông không còn để ý đến những gì tôi nói nữa.
- Đúng vậy, anh bạn ạ. Tôi đang bối rối lắm đây.
- Tại sao?
- Bởi vì cô Cynthia không dùng cà-phê có đường.
- Sao? Ông không nói chuyện nghiêm túc đấy chứ?
- Ngược lại, tôi chưa bao giờ nghiêm túc như bây giờ đây. Ôi! Ở đó có điều gì mà tôi không tài nào hiểu được. Linh tính của tôi đã có lý.
- Linh tính nào?
- Linh tính đã xui khiến tôi phải xem xét những cái tách ấy mà. Suỵt! Không nói thêm gì nữa cả trong lúc này.
Đến phòng làm việc, John đóng cửa lại sau lưng chúng tôi.
Ông Wells là một người đàn ông dễ chịu, trạc năm mươi tuổi, có cặp mắt sắc, và cái miệng nhỏ nhắn. John giới thiệu cả hai chúng tôi và giải thích lý do sự hiện diện của chúng tôi.
- Ông có hiểu cho, ông Wells ạ - anh nói - rằng tất cả chuyện này là tuyệt đối riêng tư không? Chúng tôi vẫn còn hy vọng rằng chưa cần thiết phải tiến hành một cuộc khám xét.
- Được rồi, được rồi - ông Wells nhẹ nhàng nói - Tôi vẫn muốn tránh cho anh sự quảng cáo gây nên bởi một cuộc hỏi cung có tính cách pháp lý, nhưng điều đó tất nhiên là không thể tránh được, bởi vì các bác sĩ đã từ chối không cho liệm xác.
- Vâng, tôi cũng đoán vậy.
- Bauerstein rất giỏi. Theo tôi, đó là một chuyên gia nổi tiếng về độc dược học.
- Quả vậy - John bảo, hơi cứng cỏi.
Và, không do dự, anh nói tiếp:
- Tất cả chúng tôi có phải ra làm nhân chứng không?
- Ông, dĩ nhiên rồi… và… ông Inglethorp.
Ngưng một lúc, rồi ông nói, giọng ngọt ngào:
- Những lời chứng khác chỉ khẳng định thêm thôi, một thủ tục thôi ấy mà.
- Tôi hiểu.
Khuôn mặt John thư giãn hẳn, như nhẹ nhõm. Điều đó khiến tôi thắc mắc, vì tôi không hiểu lý do.
- Nếu như anh không phản đối - ông Wells tiếp - tôi sẽ định buổi hỏi cung vào ngày thừ sáu. Chúng ta sẽ có đủ thời gian để nhận được báo cáo của các bác sĩ. Cuộc khám nghiệm diễn ra vào tối nay, phải không?
- Vâng.
- Sao, sắp xếp như thế có tiện không?
- Tiện lắm.
- Tôi thấy không cần thiết phải nói với anh, anh Cavendish thân mến ạ, tôi bị xúc động đến thế nào bởi tấn thảm kịch này chứ?
- Ông không thể nào giúp chúng tôi làm sáng tỏ sự việc sao? - Poirot hỏi, mở miệng lần đầu tiên kể từ khi chúng tôi bước vào phòng làm việc.
- Tôi ư?
- Vâng. Chúng tôi được biết là bà Inglethorp đã viết thư cho ông tối hôm qua. Có lẽ sáng nay ông đã nhận được.
- Đúng vậy. Nhưng nó không có chút ánh sáng gì trong việc này cả. Đó chỉ là vài chữ yêu cầu tôi sáng nay ghé qua, để cho ý kiến về một vấn đề rất quan trọng.
- Bà ta không nói gì về vấn đề đó sao?
- Rất tiếc là không.
- Tiếc thật đấy - John nói.
- Vô cùng đáng tiếc - Poirot nói thêm.
Tiếp theo sau đó là một sự im lặng. Trong vài giây, Poirot đắm chìm trong suy nghĩ của mình. Cuối cùng, ông quay sang ông Wells:
- Ông Wells ạ, tôi muốn hỏi ông một câu, nếu như nó không đi ngược lại bí mật nghề nghiệp. Sau cái chết của bà Inglethorp, ai sẽ thừa hưởng tiền của của bà ấy?
Vị luật sư do dự một lát rồi đáp:
- Vấn đề đó sẽ được công bố nay mai; do đó, nếu như ông Cavendish không phản đối…
- Không đâu - John ngắt lời.
- Thế thì tôi có thể trả lời. Theo chúc thư cuối cùng của bà ta, được lập từ tám năm trước, thì sau vài của cải di tặng quan trọng dành cho gia nhân, v.v…, bà Inglethorp đã để lại toàn bộ di sản của mình cho cậu con chồng, John Cavendish.
- Việc đó - xin ông Cavendish thứ lỗi cho tôi - có bất công đối với cậu con chồng kia, ông Laurence Cavendish không?
- Không, tôi không nghĩ như thế. Ông hiểu không, theo chúc thư của ông bố, người đã để lại cho vợ quyền thừa hưởng lợi nhuận do của cải của mình đem lại, thì sau khi bà này mất đi, lãnh địa sẽ thuộc về John, còn một số tiền to lớn sẽ về tay Laurence. Bà Inglethorp biết rằng người con cả phải tu bổ lãnh địa, một trách nhiệm nặng nề, nên đã để lại gia sản riêng của mình cho anh ta. Điều đó theo tôi là công bằng.
Poirot gật đầu, vẻ suy tư.
- Tôi hiểu, nhưng tôi cứ ngỡ rằng, theo luật pháp nước Anh, thì tờ di chúc sẽ bị tự động thiêu hủy khi bà Inglethorp tái giá chứ?
Ông Wells phát một cử chỉ tán đồng.
- Tôi định nói thêm, ông Poirot ạ, rằng tờ chúc thư này ngày nay không còn giá trị nữa.
Poirot suy nghĩ một lát rồi hỏi:
- Bà Inglethorp có biết điều đó không?
- Tôi không biết. Có thể là có.
- Có, bà ấy có biết đấy - John bỗng nói - Mới hôm qua thôi, chúng tôi còn tranh luận về vấn đề các chúc thư bị hủy bỏ sau một cuộc hôn nhân.
- À, còn một câu hỏi nữa, ông Wells ạ, xin phép ông. Ông đã bảo, theo chúc thư cuối cùng của bà ta. Như thế, bà Inglethorp trước đó đã lập nhiều chúc thư, có phải không?
- Trung bình mỗi năm bà ấy đều lập một tờ chúc thư mới - ông Wells thản nhiên đáp - bà thường có khuynh hướng hay thay đổi ý kiến về những điều khoản trong chúc thư, khi thì ưu đãi người này, khi thì ưu đãi người kia trong số những người thân trong gia đình.
- Và nếu như, không cho ông hay biết, bà ta đã lập một chúc thư mới, có lợi cho một người không thuộc về gia đình bà ta, cho cô Howard chẳng hạn, thì ông có lấy làm ngạc nhiên không?
- Không hề.
- À!
Poirot có vẻ như đã cạn hết những câu hỏi của mình. Tôi đến bên ông trong khi John và ông Wells bàn về việc xem xét các giấy tờ của bà Inglethorp.
- Ông có cho rằng bà Inglethorp đã lập một chúc thư có lợi cho cô Howard không? - Tôi hỏi nhỏ ông với ít nhiều thắc mắc.
Poirot mỉm cười.
- Không.
- Thế thì tại sao ông lại hỏi như thế?
- Suỵt.
John Cavendish vừa quay sang ông.
- Ông có muốn đi cùng với chúng tôi không, ông Poirot? Chúng tôi sẽ đi xem các giấy tờ của mẹ tôi. Ông Inglethorp đã hoàn toàn đồng ý giao phó việc đó cho ông Wells và tôi.
- Điều đó khiến cho mọi chuyện được dễ dàng hơn - vị luật sư nói - Bởi vì, dĩ nhiên, về mặt pháp lý, ông ta có quyền…
Ông không nói dứt câu.
- Chúng ta sẽ xem xét chiếc bàn giấy trong phòng làm việc trước đã - John bảo. Sau đó, chúng ta sẽ lên phòng riêng của bà. Bà ấy thường cất giữ những giấy tờ quan trọng nhất của mình trong một chiếc rương nhỏ màu tím mà chúng ta cần phải xem xét thật kỹ.
- Vâng - vị luật sư nói - rất có thể có một tờ di chúc mới hơn cái mà tôi đang có trong tay đây.
- Quả vậy, có một tờ di chúc mới hơn.
Đó là câu nói của Poirot.
- Sao chứ?
Cả John lẫn vị luật sư đều nhìn ông, kinh hãi.
- Hay đúng hơn - bạn tôi thản nhiên tiếp - đã có một cái mới.
- Ông muốn nói gì thế? Bây giờ nó ở đâu?
- Nó đã bị thiêu hủy.
- Thiêu hủy ư?
- Vâng. Hãy xem đây này.
Ông rút từ túi áo mảnh giấy cháy đen mà chúng tôi đã tìm thấy trong lò sưởi phòng bà Inglethorp và trao cho vị luật sư kèm theo lời giải thích ngắn gọn về địa điểm và trường hợp mà nó đã được phát hiện.
- Nhưng, có thể đó là một tờ chúc thư cũ.
- Tôi không tin như thế. Thật vậy, tôi gần như tin chắc rằng nó chỉ mới được lập vào trưa hôm qua thôi.
- Sao chứ? Không thể như thế được. - Hai người đàn ông lần lượt kêu lên.
Poirot quay sang John:
- Nếu như ông cho phép tôi gọi người làm vườn của ông đến đây, thì tôi sẽ chứng minh cho ông thấy.
- Tất nhiên rồi, nhưng, chỉ có điều là tôi không thấy tại sao…
Poirot đưa tay lên.
- Hãy làm theo lời tôi đã. Sau đó, ông có thể hỏi tôi tất cả những gì ông muốn.
- Được lắm.
Anh nhấn chuông và một lát sau Dorcas hiện ra bên thềm cửa.
- Dorcas, hãy bảo Manning đến đây gặp tôi.
- Vâng, thưa ông.
Dorcas lui ra. Chúng tôi chờ đợi trong một sự im lặng căng thẳng. Chỉ riêng Poirot là có vẻ hoàn toàn thoải mái và đang phủi bụi trong góc tủ sách.
0
Tiếng giầy bốt nghiến trên sỏi đá bên ngoài báo hiệu sự có mặt của Manning. John liếc nhìn Poirot dò hỏi. Ông này gật đầu.
- Vào đi, Manning - John bảo - Tôi muốn nói chuyện với ông.
Manning bước vào, chậm chạp và ngập ngừng, và dừng lại bên chiếc cửa sổ lớn. Ông ta cầm chiếc nón kết trên tay và lặng lẽ xoắn nó. Lưng ông ta rất cong, mặc dù có lẽ ông không già lắm như vẻ bề ngoài, nhưng cặp mắt ông sáng và thông minh, trái hẳn với cách phát biểu chậm và thận trọng của ông.
- Manning - John bảo - Ông này đây sẽ hỏi ông vài điều mà tôi muốn ông trả lời.
- Vâng, thưa ông.
Poirot nhanh nhẹn bước đến. Manning nhìn ông với một thoáng khinh miệt.
- Trưa hôm qua, ông đang chăm chú trồng một luống thu hải đường, gần phía nam ngôi nhà, phải không, ông Manning?
- Vâng, thưa ông, tôi và William cùng làm.
- Và bà Inglethorp đã đến bên cửa sổ và gọi các ông, phải không?
- Vâng, thưa ông, đúng vậy.
- Hãy cho tôi biết chính xác việc gì đã xảy ra sau đó…
- Thế này đây, chả có bao nhiêu đâu, thưa ông. Bà ấy sai William lấy xe đạp xuống làng mua một tờ giấy có dán tem. Bà ấy đã viết cho anh ta cái thứ mà bà ấy cần.
- Rồi sao nữa?
- Anh ta đã đi mua, thưa ông.
- Rồi sau đó?
- Chúng tôi trở lại với những luống cây thu hải đường, thưa ông.
- Bà Inglethorp có gọi các ông lại một lần nữa không?
- Có, thưa ông. Tôi và William.
- Rồi sau đó?
- Bà ấy bảo chúng tôi vào phòng và ký tên bên dưới một tờ giấy lớn có dán tem, ngay dưới chữ ký của chính bà ta.
- Ông có đọc thấy những gì ghi phía trên chữ ký của bà ấy không? - Poirot hỏi ngay.
- Không, thưa ông, bà ấy đã che bằng một tờ giấy thấm lên trên.
- Và các ông đã ký tên ngay ở chỗ bà ấy chỉ chứ?
- Vâng, thưa ông. Trước hết là tôi, rồi đến William.
- Và sau đó bà ấy đã làm gì với tờ giấy đó?
- Thế này, thưa ông, bà ấy đã đút nó vào một chiếc phong bì dài và đã cất vào một thứ hộp màu tím đặt trên bàn giấy.
- Bà ấy cho gọi các ông lần đầu vào lúc nào?
- Khoảng mười sáu giờ, thưa ông.
- Không sớm hơn sao? Không phải là mười lăm giờ ba mươi sao?
- Không, thưa ông, tôi không cho là như thế. Có lẽ là sau mười sáu giờ hơn là trước đó.
- Cám ơn ông, Manning ạ, như thế đủ rồi - Poirot tử tế nói.
Người làm vườn liếc nhìn ông chủ và ông này gật đầu ra dấu. Thế là Manning đưa tay lên trán, ậm ừ đi ra bằng những bước giật lùi nặng nề.
Chúng tôi nhìn nhau.
- Chúa ơi! - John khẽ nói - Quả là một sự trùng hợp kỳ lạ.
- Sao chứ… một sự trùng hợp ư?
- Vì mẹ tôi đã lập một tờ di chúc ngay vào ngày bà ấy qua đời.
Ông Wells khẽ tằng hắng và lãnh đạm nhận xét.
- Anh có chắc đấy là một sự trùng hợp không, Cavendish?
- Ông muốn nói gì thế?
- Anh đã cho biết mẹ anh đã cãi nhau kịch liệt với… với một người nào đó, vào trưa hôm qua.
- Ông muốn nói gì? - John lại hét lên.
Giọng anh run run và mặt anh tái nhợt.
- Sau cuộc cãi vã ấy, mẹ anh vội vàng viết một chúc thư mới. Chúng ta không bao giờ biết được nội dung của nó. Bà ấy đã không cho ai biết. Có lẽ, sáng nay bà ấy sẽ hỏi ý kiến tôi về chuyện đó, nhưng bà ta đã không có đủ thời gian. Tờ chúc thư biế mất, còn bà ta thì đem theo bí mật của mình xuống đáy mồ. Tôi e rằng, Cavendish ạ, đã không có một sự trùng hợp nào đâu. Và tôi tin chắc, ông Poirot ạ, ông cũng đồng ý với các sự kiện rất có ý nghĩa.
- Có ý nghĩa hay không - John nói - thì chúng tôi cũng rất biết ơn ông Poirot đã làm sáng tỏ sự bí mật này. Không có ông ấy, chúng ta sẽ không bao giờ biết được câu chuyện về bức chúc thư. Tôi đoán chừng, tôi không thể hỏi ông điều gì đã khiến ông nghi ngờ sự kiện đó chứ?
Poirot mỉm cười đáp:
- Một chiếc phong bì cũ chằng chịt đầy chữ, và một luống hoa thu hải đường mới trồng.
Tôi cho rằng John rất muốn hỏi thêm nữa, nhưng đúng lúc đó, chúng tôi nghe thấy tiếng động cơ, và tất cả chúng tôi đều quay ra cửa sổ, vừa lúc một chiếc xe hơi chạy ngang qua.
- Evie! - John kêu lên. Xin phép ông, ông Wells ạ.
Rồi anh vội bước ra hành lang.
Poirot liếc nhìn tôi dò hỏi.
- Đó là cô Howard - tôi giải thích.
- À! Tôi rất hài lòng vì cô ấy đã có mặt ở đây. Đó là một phụ nữ có khối óc và trái tim, mặc dù Thượng Đế đã không ban cho cô ta sắc đẹp.
Tôi bước theo John và gặp cô Howard trong hành lang, nơi cô ấy đang cố sức thoát ra khỏi những chiếc khăn voan to tướng bao quanh đầu cô ta. Khi ánh mắt cô ngừng lại ở tôi, tôi chợt cảm thấy hối hận. Người phụ nữ đó phải chăng đã báo trước cho tôi một cách nài nỉ mà, rất tiếc, tôi đã không để tâm đến? Bây giờ, khi mà những sự lo ngại của cô ấy đã được chứng minh một cách thê thảm, tôi cảm thấy xấu hổ. Cô ấy biết quá rõ về Alfred Inglethorp. Tấn thảm kịch đó có xảy ra không, nếu như cô ấy đã ở lại Styles, hay là tên sát nhân đã phải đề phòng cặp mắt tinh tường của cô ta?
Tôi thấy nhẹ nhõm khi cô nắm lấy tay tôi và xiết mạnh như mọi khi. Cặp mắt đang nhìn tôi trông rất buồn, nhưng không đượm vẻ trách móc. Tôi đoán chừng cô ấy đã khóc nhiều qua cặp mắt sưng đỏ của cô ta, nhưng thái độ của cô vẫn giữ vẻ cộc cằn cố hữu.
- Tôi đã lên đường ngay sau khi nhận được điện tín. Tôi đã thuê một chiếc xe để đến nhanh hơn.
- Cô đã ăn gì từ sáng chưa, Evie?
- Chưa.
- Tôi biết ngay mà. Hãy đến đây, người ta vẫn chưa dọn bàn đâu, và tôi sẽ có trà cho cô đấy.
Và quay sang tôi.
- Hastings, cậu hãy tiếp cô ấy nhé? Wells đang đợi tôi. Ồ! Evie, đây là ông Poirot, người đang giúp đỡ chúng ta.
Cô Howard chìa tay cho Poirot, nhưng lại liếc nhìn John nghi ngại qua vai ông.
- Người giúp chúng ta, thế là nghĩa lý gì?
- Người giúp chúng ta tiến hành những cuộc tìm kiếm…
- Không có gì để tìm cả. Người ta đã bắt bỏ tù hắn chưa?
- Ai kia?
- Ai hả? Thì Alfred Inglethorp chứ còn ai nữa?
- Evie thân mến ạ, hãy thận trọng, tôi xin cô. Laurence cho rằng mẹ chúng tôi chết vì một cơn đau tim.
- Laurence chỉ là một thằng ngốc thôi - cô Howard nói - Tất nhiên là bà Emily thân yêu của chúng ta đã bị Alfred Inglethorp giết chết. Tôi vẫn chả nói với anh, thế nào hắn ta cũng đạt được điều ấy sao?
- Evie thân mến ạ, đừng la lớn như vậy. Dù chúng ta có muốn nghĩ hoặc nghi ngờ gì đi nữa, thì trong lúc này cũng nên giữ mồm giữ miệng. Cuộc hỏi cung của nhà chức trách chỉ diễn ra vào thứ sáu này thôi.
- Còn thế nữa chứ - cô kịch liệt cãi - Quý vị đã điên hết rồi sao chứ. Từ đây đến lúc đó, hắn sẽ bỏ xứ đi mất thôi. Nếu như hắn còn một chút lý trí thì hắn sẽ không ở yên đây đợi bị treo cổ đâu.
John nhìn cô với vẻ ngượng ngùng.
- Tôi biết rồi - Cô buộc tội - Anh đã nghe lời các bác sĩ. Không bao giờ nên làm như thế. Họ biết gì chứ? Chẳng biết gì cả, hoặc là vừa đủ để biến họ thành nguy hiểm. Tôi biết rõ họ lắm mà, bố tôi cũng đã là bác sĩ. Cái ông Wilkins nhỏ bé ấy là một tên ngu ngốc nhất mà tôi được biết. Hừm! Đau tim! Thật ra thì quả là những gì ông ta đã nói. Bất cứ ai với một chút lý trí cũng thấy ngay rằng chồng bà ấy đã giết bà. Tôi vẫn từng nói rằng hắn sẽ giết bà ấy ngay trên giường mà, bây giờ thì hắn đã làm thật rồi nhé và anh chỉ biết nói những lời xuẩn ngốc như “đau tim” và “buổi hỏi cung sẽ diễn ra vào thứ sáu” thôi. Anh phải lấy làm xấu hổ đấy, John Cavendish ạ.
- Nhưng cô muốn tôi phải làm gì chứ? - John hỏi mà không thể ngăn được nụ cười - Evie này, dù sao thì tôi cũng không thể nào lôi cổ hắn đến đồn cảnh sát được.
- Này nhé, anh có thể tìm xem hắn đã hành động như thế nào. Hắn rất tinh ranh. Có thể hắn đã cho nhúng những cây đập ruồi chăng? Hãy hỏi thử bà nấu bếp xem có thiếu cây nào không?
Tôi nhận thức được rõ ràng, có lẽ sẽ là một việc làm hết sức nặng nhọc khi để cho cô Howard và Alfred Inglethorp dưới cùng một mái nhà, và tôi không hề muốn ở vào địa vị của John. Tôi thấy được, qua nét mặt của anh, anh cũng hiểu được những khó khăn của tình thế. Trong lúc này, anh chỉ muốn tránh mặt thôi, và vội vã rời khỏi phòng.
Dorcas đem trà đến. Khi bà đi rồi, Poirot, từ bên khuôn cửa sổ nơi từ nãy giờ ông vẫn đứng, bước ra và đến ngồi trước mặt cô Howard.
- Thưa cô - ông trịnh trọng nói - Tôi muốn hỏi cô một điều.
- Ông cứ tự nhiên - cô đáp, vừa nhìn ông với một chút ác cảm.
- Tôi muốn trông cậy vào sự giúp đỡ của cô.
- Tôi sẽ rất vui mừng mà giúp ông treo cổ Alfred lên - cô sẵng giọng nói. Cái giá treo cổ còn quá tốt đối với hắn đấy. Hắn phải bị phanh thây, như thuở xưa vậy.
- Thế thì chúng ta đồng ý với nhau vậy nhé - Poirot nói. Bởi vì tôi cũng muốn treo cổ tên sát nhân.
- Alfred Inglethorp chứ?
- hắn hoặc một người nào khác.
- Không có vấn đề người khác. Bà Emily đáng thương ấy có bao giờ bị giết chết trước khi Alfred đến đâu. Tôi thừa nhận rằng bà ấy bị vây quanh bởi những con cá mập. Nhưng họ chỉ nhắm vào túi tiền của bà ấy thôi. Bà ấy không bị nguy hiểm. Khi Alfred Inglethorp đến thì, lập tức!
- Hãy tin tôi đi, cô Howard ạ - Poirot nghiêm túc nói - Nếu ông Inglethorp là thủ phạm, thì hắn sẽ không thoát được tay tôi đâu. Tôi xin lấy danh dự của mình mà thề rằng sẽ treo cổ hắn ta lên.
- Nói như thế là khá hơn đấy - cô kêu lên thích thú.
- Nhưng tôi phải xin cô tin ở tôi. Sự giúp đỡ của cô có thể rất quý hóa cho tôi đấy. Tôi sẽ cho cô biết tại sao trong căn nhà đang có tang này, chỉ có một mình cô là đã khóc thôi.
Cô Howard chớp mắt, và giọng nói cộc cằn của cô lại được âm sắc mới.
- Nếu như ông muốn nói là tôi mến bà ấy, thì quả đúng vậy. Ông cũng biết rằng bà ấy rất ích kỷ, theo cách của mình. Bà ấy rất rộng lượng, nhưng luôn luôn muốn nhận lại cái gì đó để đáp lại những gì bà ta đã cho. Bà ta không bao giờ cho phép người ta quên đi những gì bà đã làm cho họ. Như thế, bà ta đã không làm cho người ta thương, nhưng đừng tưởng bà ấy không biết hoặc lấy thế làm khổ đâu. Tôi thì lại khác hẳn bà ấy. Ngay ngày đầu tiên, tôi đã đặt thẳng vấn đề với bà ấy: “Tôi muốn bà trả cho tôi bấy nhiêu bảng Anh một năm. Tốt lắm. Nhưng tôi không muốn nhận thêm một xu nào cả, không một đôi găng tay, không một tấm vé hát nào cả”. Thoạt tiên bà ấy không hiểu và còn lấy làm rất phật ý nữa là khác. Bà ấy cho rằng tôi tự ái một cách ngu xuẩn. Bà ấy đã lầm, nhưng tôi không làm sao giải thích cho bà ấy hiểu được. Dù sao đi nữa thì tôi vẫn giữ được phẩm cách của mình. Và trong cả bọn, tôi là người duy nhất dám quý mến bà ấy. Tôi chăm sóc bà ấy. Tôi che chở cho bà ấy chống lại tất cả những người khác. Nhưng một tên vô lại hay nịnh và ngọt ngào lại xuất hiện và thế là hết. Tất cả những năm tháng tận tụy của tôi chẳng còn nghĩa lý gì cả.
Poirot gật đầu với vẻ thiện cảm sâu sắc.
- Tôi hiểu, thưa cô. Tôi hiểu những cảm xúc của cô. Cô cho rằng chúng tôi thiếu nhiệt tình và năng lực, nhưng cô lầm rồi.
Vừa lúc đó, John hé mở cửa và thò đầu vào. Anh yêu cầu chúng tôi lên phòng bà Inglethorp, vì ông Wells và anh đã xem xét xong chiếc bàn giấy dài trong thư phòng. Trên thang lầu, John liếc ngược về phía cửa phòng ăn và tâm sự với tôi.
- Này, liệu chuyện gì sẽ xảy ranếu như hai người đụng đầu nhau nhỉ?
Tôi lắc đầu.
- Tôi đã bảo Mary tìm mọi cách để cách ly họ.
- Nhưng liệu bà ấy có thành công không?
- Chỉ có trời mới biết thôi! Dù sao đi nữa thì chính Inglethorp cũng không muốn gặp Evie lắm đâu…
 
* * *
0
- Ông giữ chìa khóa, phải không, ông Poirot? - Tôi hỏi khi đến trước cánh cửa khóa trái.
John cầm lấy chìa khóa từ tay Poirot và chúng tôi bước vào phòng. Vị luật sư tiến ngay đến bên chiếc bàn giấy, theo sau là John.
- Mẹ tôi cất giữ tất cả giấy tờ quan trọng nhất của bà trong chiếc rương nhỏ này - anh bảo.
Poirot rút từ túi áo ra một xâu những chìa khóa nhỏ.
- Xin phép ông. Sáng nay tôi đã khóa nó lại cho cẩn thận hơn.
- Nhưng bây giờ thì nó không còn khóa nữa rồi.
- Không thể như thế được.
- Thì hãy xem đi.
Và, vừa nói, John vừa nhấc nắp lên.
- Quái thật! - Poirot kêu lên kinh ngạc - Thế mà tôi lại đang giữ hai chiếc chìa khóa trong túi.
Ông lại đến bên chiếc rương.
Bỗng ông khựng lại.
- Quả là hay! Ổ khóa này đã bị phá.
- Sao?
Poirot đặt chiếc rương xuống.
- Nhưng ai đã phá nó chứ? Và tại sao? Và khi nào? Cửa phòng cũng khóa kia mà.
Tất cả những câu hỏi đó lần lượt buột ra từ miệng chúng tôi, va chạm với nhau.
Poirot nói một cách quả quyết, gần như máy móc.
- Ai ư? Đó là vấn đề. Tại sao ư? Ồ! Giá như tôi biết được! Khi nào ư? Từ khi tôi ở đây ra, chưa đầy một tiếng. Còn về cánh cửa phòng, đó là một ổ khóa bình thường và có lẽ chìa khóa của một cánh cửa nào đó trong hành lang cũng có thể dễ dàng mở ra được.
Chúng tôi nhìn nhau ngơ ngác. Poirot tiến đến bên lò sưởi. Bề ngoài trông ông điềm tĩnh, nhưng tôi nhận thấy rằng đôi tay ông, do thói quen, khi sắp đặt những chiếc lọ đựng đầy diêm quẹt, đang run mạnh.
- Chuyện gì xảy ra như thế này đây - cuối cùng ông bảo. Chiếc rương đó chứa đựng một bằng chứng, thoạt nhìn thì có thể không mấy quan trọng, nhưng lại đủ để gắn liền vụ giết người với tên sát nhân. Tên này cảm thấy cần thiết cho sự sống còn của mình phải thủ tiêu nó đi trước khi người ta phát hiện ra nó và hiểu rõ ý nghĩa của nó. Do chiếc rương bị khóa, hắn buộc phải phá ổ khóa và qua việc làm đó đã để lộ sự hiện diện của mình. Nhưng để cho hắn phải liều đến như thế thì cái bằng chứng ấy quan trọng vô cùng.
- Nhưng nó có thể là cái gì chứ?
- Ồ! - Poirot kêu lên với cử chỉ phẫn nộ. Điều đó thì tôi cũng không biết nữa. Có thể đó là một văn kiện nào đó, có thể là mảnh giấy mà Dorcas đã nhìn thấy trong tay bà Inglethorp hôm qua. Còn tôi, tôi lại vụng về biết mấy. Tôi đã không đoán được gì cả. Tôi đã hành động như một tên ngu ngốc. Lẽ ra tôi không nên để chiếc rương ở đây mới phải. Lẽ ra tôi phải đem nó theo cùng với mình. Ồ! Quả là ngu thật! Và bây giờ thì tất cả đã bị biến mất, bị tiêu hủy! Nhưng biết đâu vẫn còn hy vọng? Chúng ta không nên bỏ sót một dấu vết nào cả.
Ông lao ra khỏi phòng như một người điên, và tôi chạy theo ông ngay khi đã định thần trở lại. Khi tôi ra đền đầu cầu thang thì ông đã mất hút.
Mary Cavendish đang đứng ở chỗ quẹo của cầu thang và nhìn theo hướng mà Poirot đã biến mất.
- Chuyện gì đã xảy đến với ông bạn bé nhỏ đáng phục của ông thế, ông Hastings? Ông ta vừa chạm mặt với tôi và trông ông ta cứ như một con bò rừng hung hãn ấy.
- Ông ấy đã gặp phải điều rắc rối to - tôi đáp khá mềm mỏng bởi vì tôi không biết Poirot có muốn giấu kín điều phát hiện của mình hay không nữa.
Nhìn thấy một nụ cười nở trên môi bà Cavendish, tôi thay đổi đề tài và nói.
- Họ chưa gặp nhau chứ?
- Ai cơ?
- Ồ! Inglethorp và cô Howard ấy mà.
Bà nhìn tôi, hơi chưng hửng.
- Ông cho rắng nếu như họ gặp nhau thì sẽ là một tai họa sao?
- Nhưng… còn bà? - Tôi sững sờ hỏi.
- Tôi thì không.
Và bà thản nhiên mỉm cười.
- Không, tôi muốn chứng kiến một trận cãi vã ác liệt. Nó sẽ làm cho không khí nhẹ thở hơn. Trong lúc này, tất cả chúng ta đều suy nghĩ quá nhiều và nói quá ít.
- John không nghĩ như thế đâu - tôi bảo. Anh ta muốn ngăn cản không cho họ gặp nhau, nếu có thể được.
- Ồ, John!
Có cái gì đó trong giọng nói làm tôi phẫn nộ và tôi kêu lên:
- Cái anh chàng John già nua ấy là một người tuyệt vời.
Bà tò mò nhìn tôi trong vài giây rồi bảo:
- Ông rất trung thực đối với bạn mình. Vì thế tôi thích ông.
- Bà cũng không là bạn tôi sao?
- Tôi là một người bạn rất xấu.
- Tại sao bà lại nói như thế?
- Bởi vì đó là sự thật, hôm nay tôi tỏ ra dễ thương đối với bạn bè, hôm khác tôi lại quên họ ngay.
Tôi không biết mình ra sao nữa. Có lẽ tôi đã bị tổn thương. Dù sao đi nữa, tôi cũng có nhận xét như sau, mặc dù nhận xét đó thật vô duyên.
- Thế mà bà lại luôn luôn tỏ ra dễ thương đối với bác sĩ Bauerstein.
Ngay sau đó, tôi lấy làm hối tiếc về những lời nói của mình. Gương mặt bà đanh lại. Tôi có cảm giác rằng một bức màn sắt vừa sập xuống. Không nói một lời nào, bà quay gót và bước nhanh lên cầu thang, trong khi tôi đứng nhìn theo như một tên ngu ngốc.
 
* * *
0
Những tiếng cãi vã ác liệt vọng lại kéo tôi trở về với thực tại. Tôi nghe thấy Poirot đang la hét. Tôi cảm thấy mích lòng vì bao nhiêu sự khôn khéo của tôi đều vô ích cả. Người đàn ông nhỏ nhắn dường như đã tiết lộ bí mật cho cả nhà. Và, lại một lần nữa, tôi không thể nào ngăn mình khỏi hối tiếc rằng ông bạn tôi lại để mất bình tĩnh trong những lúc như thế này. Tôi phóng ra hành lang, và trông thấy tôi, Poirot vội dịu ngay. Tôi kéo ông ra riêng.
- Ông bạn thân mến ạ - tôi bảo - ông có điên không đấy? Chắc chắn là ông chẳng muốn cả nhà biết chuyện mất mát ấy, phải không? Ông bị trúng kế của tên sát nhân rồi đấy.
- Anh cho là như vậy ư?
- Tôi tin chắc như thế - tôi quả quyết.
- Được rồi, anh bạn, tôi nghe theo anh đây.
- Tốt lắm, nhưng rất tiếc bây giờ đã muộn mất rồi.
- Quả vậy!
Ông có vẻ ăn năn đến độ tôi thấy tội nghiệp cho ông, mặc dù lời quở trách của tôi rất đúng và rất khôn ngoan.
- Nào - ông nói. Hãy đi thôi, anh bạn ạ.
- Ông không còn gì phải làm sao?
- Lúc này thì không. Anh có muốn đi cùng tôi vào làng không?
- Sẵn lòng.
Ông nhặt chiếc ví lên và chúng tôi bước ra bằng lối cửa sổ lớn trong phòng khách. Đúng lúc đó, Cynthia đi đâu về và Poirot tránh sang một bên nhường lối cho cô ta.
- Xin lỗi cô, xin cô một phút thôi.
- Vâng - cô đáp, hơi ngạc nhiên.
- Cô có bao giờ pha chế thuốc điều trị cho bà Inglethorp không?
Cô hơi đỏ mặt và đáp với vẻ bối rối:
- Không.
- Chỉ thuốc bột thôi chứ?
Mặt cô đỏ thêm trong khi cô nói:
- Ồ! Vâng, có một lần tôi đã pha chế thuốc ngủ bột cho bà ấy.
- Cái này đây, phải không?
Poirot giơi chiếc hộp trống đã từng chứa thuốc bột ra.
Cô ta gật đầu thừa nhận.
- Cô có thể cho tôi biết công thức của nó không? Suyn-phê-nan ư? Hay Vé-rô-nan?
- Không, đấy là bột Brô-mua.
- À, cám ơn cô. Tạm biệt.
Đã hơn một lần, tôi đưa mắt nhìn ông trong khi chúng tôi vội vã rời ngôi nhà. Tôi vẫn thường nhận thấy rằng khi ông bị kích động thì đôi mắt ông trở nên xanh như mắt mèo, trong lúc đó, chúng sáng lên như những viên ngọc thạch.
- Anh bạn ạ - cuối cùng ông kêu lên - tôi có một ý nghĩ nhỏ, rất lại và có thể hoàn toàn vô lý… Nhưng nó lại phù hợp…
Tôi nhún vai, và trong thâm tâm mình, tôi cho rằng Poirot hơi tin tưởng thái quá vào những ý nghĩ hoang đường ấy. Trong trường hợp này, sự thật đã quá rõ ràng rồi.
- Thế ra đấy là lời giải cho cái nhãn trắng trên chiếc hộp - tôi nói. Rất đơn giản, như ông đã nói. Tôi lấy làm ngạc nhiên vì đã không nghĩ đến điều đó sớm hơn.
Poirot có vẻ như không nghe tôi nói.
- Ở đó họ vừa mới phát hiện ra một điều mới lạ nữa - ông nói, đưa tay chỉ về hướng Styles Court. Ông Wells đã cho tôi biết khi chúng tôi bước lên thang lầu.
- Và đó là điều gì?
- Họ đã tìm thấy một tờ chúc thư của bà Inglethorp lập từ trước cuộc hôn nhân sau của mình, cất giữ trong thư phòng, trong đó bà ta để lại tất cả gia sản cho Alfred Inglethorp. Có lẽ nó được lập vào thời gian họ đang đính hôn với nhau. Đó là một sự bất ngờ đối với Wells cũng như đối với John Cavendish. Tờ chúc thư được viết trên một mẫu in sẵn, có chữ ký của hai người giúp việc làm nhân chứng, nhưng không phải là Dorcas.
- Ông Inglethorp có biết đến văn kiện đó không?
- Ông ta cho rằng không.
- Không thể xem lời khai của ông ta như là sự thật được - tôi hoài nghi nói. Tất cả những tờ chúc thư này làm rối bời mọi việc cả lên. Hãy nói cho tôi biết: làm thế nào mà những chữ viết hý hoáy trên chiếc phong bì đã cho phép ông phát hiện ra một tờ chúc thư vừa mới được lập vào trưa hôm qua chứ?
Poirot mỉm cười.
- Anh bạn ạ, anh có bao giờ bị gián đoạn trong khi đang viết vì không biết viết đúng chính tả của một chữ nào đó không?
- Có, rất thường. Cũng như mọi người thôi.
- Đúng thế. Và trong trường gợp đó, anh có hý hoáy viết chữ đó một hoặc hai lần trên tờ giấy thấm hoặc trên một mẩu giấy nào đó, để xem có đứng chính tả chưa không? Thế đấy, bà Inglethorp đã làm y như vậy. Do đó tôi biết rằng bà Inglethorp đã viết chữ “sở hữu” vào trưa hôm qua, và nhớ lại mẫu giấy đã tìm thấy trong lò sưởi, tôi nghĩ đến một tờ chúc thư, một văn kiện gần như bắt buột phải có từ đó. Khả năng đó được khẳng định thêm bởi những sự kiện khác nữa. Trong lúc bối rối toàn diện vào sáng nay, thư phòng đã không được quét dọn và, gần chiếc bàn giấy, tôi nhận thấy nhiều vết đất phân. Từ nhiều ngày nay, thời tiết tốt và không có chiếc giày bình thường nào lại để lại một lớp đất dày đến như thế.
Tôi bước ra đến cửa sổ và tôi nhận thấy ngay là những luống hoa thu hải đường vừa mới được trồng xong. Đất trong những luống hoa cùng loại với thứ lấy được trên tấm thảm trong thư phòng, và tôi được biết qua anh, chúng mới được trồng vào trưa hôm qua. Bấy giờ thì tôi tin chắc, một trong những người làm vườn, nếu không phải cả hai, bởi vì có đến hai hàng dấu chân trong luống hoa, đã bước vào thư phòng, vì nếu như bà Inglethorp chỉ muốn nói chuyện với họ thôi thì bà ta chỉ việc đứng gần cửa sổ, còn họ thì không việc gì phải bước vào phòng. Như thế, tôi đoán chắc bà ta vừa mới viết một chúc thư xong, và đã gọi hai người làm vườn đến làm nhân chứng. Những biến cố đã chứng minh cho sự đúng đắn của những giả định của tôi.
- Quả là ông rất tinh khôn - tôi thừa nhận - và tôi phải thú thật rằng những kết luận mà tôi đã rút ra từ những chữ viết hý hoáy ấy hoàn toàn sai lệch.
Ông mỉm cười.
- Anh đã thả lỏng cho trí tưởng tượng của mình. Đó là một người đầy tớ tốt nhưng lại là một người chủ dở. Giả thiết đơn giản nhất luôn luôn là cái hữu lý nhất.
- Còn một điều này nữa, làm sao ông biết được chìa khóa của cái rương nhỏ bị mất chứ?
- Tôi không hề biết. Đó chỉ là một giả định vô tình lại đúng thôi. Anh có nhận thấy rằng có một mảnh dây thép cong queo được xỏ ngang qua chiếc vòng không? Điều đó cho phép tôi nghĩ ngay rằng chiếc chìa khóa đó vừa được tháo ra từ một xâu chìa khóa. Nhưng trên xâu chìa khóa tôi lại tìm thấy một chiếc chìa khóa mới toanh. Tôi cho rằng có một người nào khác đã đút chiếc chìa khóa đầu tiên của ổ khóa vào chiếc rương nhỏ.
- Phải - tôi nói - có lẽ là Alfred Inglethorp chăng?
Poirot nhìn tôi lạ lùng.
- Anh tin chắc vào tội trạng của hắn sao?
- Dĩ nhiên rồi! Mỗi một trường hợp mới lại chứng minh rõ hơn điều đó.
- Trái lại - Poirot điềm nhiên nói - có nhiều điểm có lợi cho hắn.
- Ồ! Thôi đi.
- Có chứ.
- Tôi chỉ thấy có một điểm mà thôi.
- Điểm nào vậy?
- Sự kiện hôm qua hắn đã không có mặt ở Styles Court.
- Lầm to, lầm to. Anh đã chọn điểm duy nhất, theo ý tôi, bất lợi cho hắn.
- Sao thế?
- Bởi vì nếu như ông Inglethorp biết vợ ông ta sẽ bị đầu đọc vào tối hôm qua, chắc chắn rằng ông ta sẽ tìm đủ mọi cách để không có mặt ở Styles Court. Lý do của ông ta tất nhiên là hoàn toàn bịa đặt. Điều đó cho chúng ta hai khả năng. Hoặc là ông ta biết chuyện gì sẽ xảy ra, hoặc là ông ta có lý do riêng gì đó để phải vắng mặt.
- Và lý do đó là gì? - Tôi hoài nghi hỏi.
Poirot nhún vai.
- Làm sao tôi biết được? Có lẽ là không thể nào thú nhận được. Thời gian sẽ chứng mình người nào trong hai chúng ta có lý. Anh suy ra được điều gì từ sự kiện rằng tất cả các cửa phòng ngủ đều được khóa từ bên trong?
Tôi suy nghĩ một lát.
- Thế này, cần phải xem xét sự kiện đó một cách lô-gích.
- Đúng vậy.
- Ý kiến tôi như thế này. Các cánh cửa đều khóa, chính chúng tôi đã nhận thấy điều đó; thế nhưng vết sáp trên thảm và việc thiêu hủy tờ chúc thư cho thấy có một người nào đó đã đột nhập vào phòng trong đêm. Cho đến đây, ông có đồng ý với tôi không nào?
- Hoàn toàn. Anh phát biểu rõ ràng một cách đáng khen. Hãy cứ tiếp tục đi.
- Thế này nhé - được khuyến kích tôi tiếp - do nhân vật đã đột nhập vào phòng không thể vào bằng lối cửa sổ hoặc bằng một cách phù phép nào đó, điều đó dẫn đến việc cánh cửa phải được mở từ bên trong do chính bà Inglethorp. Điều này càng củng cố thêm cho lòng tin của tôi rằng người đó không ai khác hơn là chồng bà ta. Tất nhiên là bà ta đã mở cửa cho chồng mình rồi.
Poirot lắc đầu.
- Tại sao chứ? Bà ấy đã khóa trái cửa phòng, một hành động quả là kỳ quặc về phần bà ta, nhưng bà ấy đã cãi nhau kịch liệt với ông ta vào ngay buổi trưa hôm đó. Không, ông ấy sẽ là người cuối cùng mà bà ta chấp nhận cho vào.
- Nhưng ông có đồng ý với tôi, chính bà Inglethorp đã mở cửa không nào?
- Còn một khả năng khác nữa. Bà ta có thể đã quên không khóa cửa ăn thông ra hành lang trong khi đi ngủ, và sau đó, lúc gần sáng, bà ta đã dậy để sữa chữa sai lầm đó?
- Poirot này, đó có thật sự là ý kiến của ông không?
- Không, tôi không nghĩ như thế, nhưng điều đó có thể xảy ra. Và, để nhìn sự việc dưới một góc độ khác, anh nghĩ gì về mẫu đối thoại mà anh đã nghe được giữa bà Cavendish và mẹ chồng?
- Tôi không nghĩ đến nó nữa - tôi trầm ngâm bảo - Điều đó vẫn còn rất bí ẩn. Dường như thật khó tin rằng một người như bà Cavendish, rất mực kiêu hãnh và tinh tế, lại có thể xen vào một câu chuyện chắc chắn không hề liên can gì đến mình, một cách thô bạo đến như vậy.
- Đúng vậy. Thật là đáng ngạc nhiên đối với một phụ nữ có giáo dục như bà ấy.
- Điều đó quả là lạ lùng - tôi nói - nhưng không mấy quan trọng và không cần thiết phải quan tâm đến làm gì.
Poirot rên lên.
- Nhưng tôi vẫn chẳng nói với anh như thế nào? Cần lưu ý đến tất cả cơ mà. Nếu như sự kiện không phù hợp với luận điểm thì hãy bỏ luận đểm ấy đi.
- Thế thì hãy chờ xem - tôi đáp lại, hơi mích lòng.
- Vâng, chúng ta hãy chờ xem.
Chúng tôi về đến biệt thự Leastways và Poirot dẫn tôi lên phòng ông. Ông mời tôi một trong những điếu thuốc lá Nga mà thỉnh thoảng ông vẫn hút. Tôi thích thú nhận thấy rằng ông cất công bỏ những mẩu diêm vào một chiếc bình sứ. Sự bực bội nhất thời của tôi biến mất ngay.
Poirot đặt hai chiếc ghế của chúng tôi trước cửa sổ để mở, từ đó có thể trông thấy cả con đường làng. Không khí ẩm và dễ chịu tràn vào. Ngày hôm nay sẽ khó chịu đấy.
Tôi bỗng để ý thấy một thanh niên gầy còm đang chạy hết tốc lực trên đường. Nét mặt anh ta trông thật kỳ quặc: người ta có thể nhận thấy nét sợ hãi pha lẫn bồn chồn.
- Hãy nhìn kìa, Poirot - tôi nói.
Ông chồm ra phía trước.
- Ủa! - Ông bảo - Đó là ông Mace, người điều chế ở hiệu thuốc tây. Anh ta đến đây đấy.
Người thanh niên dừng lại trước biệt thự Leastways, và sau một lúc do dự, anh gõ mạnh vào cửa.
- Xin đợi cho một lát - Poirot nói vọng từ cửa sổ - Tôi xuống ngay đây.
Ra dấu cho tôi bước theo, ông xuống mở cửa. Ông Mace sôi nổi nói ngay.
- Ông Poirot ạ, tôi lấy làm tiếc đã làm phiền ông, nhưng tôi nghe nói ông vừa từ Styles Court về, phải không?
- Đúng vậy.
Môi người thanh niên khô ran. Gương mặt anh bị méo đi vì những cơn co giật.
- Cả làng chỉ nói đến cái chết bất ngờ của bà Inglethorp đáng thương thôi. Người ta còn bảo (anh trầm trọng hạ thấp giọng) rằng đó là một vụ đầu độc nữa chứ.
Gương mặt của Poirot vẫn thản nhiên như không.
- Chỉ có các bác sĩ mới có thể nói như thế thôi, ông Mace ạ.
- Vâng… tất nhiên rồi.
Người thanh niên do dự, nhưng sự nóng nảy đã thắng thế. Ahnh nắm lấy cánh tay của Poirot và giọng anh ta chỉ còn lại là tiếng thì thầm.
- Hãy cho tôi biết điều này thôi, ông Poirot ạ. Đó không phải… Đó không phải là chất Stychnin chứ?
Tôi gần như không nghe thấy câu trả lời của Poirot. Có lẽ nó rất mơ hồ. Người thanh niên bỏ đi, và sau khi đóng cánh cửa lại sau lưng mình, đôi mắt của Poirot gặp phải đôi mắt của tôi.
- Vâng - ông gật đầu và trịnh trọng nói - Anh ta cần phải đến làm chứng tại buổi hỏi cung.
Chúng tôi chầm chậm trở lên lầu. Tôi định mở miệng nói thì Poirot đưa tay ngăn lại.
- Bây giờ thì không nên. Bây giờ không nên, anh bạn ạ. Tôi cần phải suy nghĩ. Ý nghĩ của tôi thật bề bộn, và điều này thật đáng tiếc.
Ông ngồi trong im lặng hoàn toàn, khoảng mười phút, bất động, thỉnh thoảng lại có cái nhíu mày khá ý nghĩa, và trong lúc đó cặp mắt ông càng lúc lại càng xanh hơn. Cuối cùng ông thở dài.
- Được rồi. Giây phút khó khăn đã qua đi. Bây giờ thì tất cả đã được sắp xếp lại. Đừng bao giờ chấp nhận sự lộn xộn. Trường hợp này còn lâu mới được sáng tỏ, vì nó rắc rối một cách khác thường. Nó khiến tôi thắc mắc. Tôi đây! Hercule Poirot! Có hai sự kiện vô cùng có ý nghĩa.
- Sự kiện gì?
- Cái thứ nhất là thời tiết ngày hôm qua. Điều đó rất quan trọng.
- Nhưng hôm qua trời thật đẹp kia mà - Tôi kêu lên - Poirot, quả là ông trêu chọc tôi đấy.
- Không đâu. Hàn thử biểu chỉ hai mươi sáu độ trong mát. Anh bạn ạ, đừng nên quên điều đó. Đó là chìa khóa cho tất cả sự bí mật đấy.
- Còn điểm thứ hai? - Tôi hỏi.
- Đó là cách phục sức khá kỳ lạ của ông Inglethorp, ông ta còn để râu và đeo kính nữa.
- Poirot ạ, tôi không thể nào tin được rằng anh nói chuyện nghiêm túc đâu.
- Tôi hoàn toàn nghiêm túc đấy, ông bạn ạ.
- Nhưng điều đó thật là trẻ con.
- Không đâu, nó rất quan trọng.
- Và giả sử bồi thẩm đoàn tuyên bố buộc tội Alfred Inglethorp là giết người có toan tính trước thì sao? Những luận điểm của ông lúc đó sẽ ra sao?
- Chúng sẽ không bị lay chuyển bởi sự sai lầm của bảy con người ngu ngốc đâu. Nhưng chuyện đó sẽ không xảy ra. Thứ nhất vì một bồi thẩm đoàn ở miền quê sẽ không bao giờ muốn gánh lấy một trách nhiệm như thế, và ông Inglethorp lại đang giữ vị trí chủ nhân một lâu đài trong vùng. Và sau nữa - ông thản nhiên tiếp - tôi sẽ không cho phép.
- Ông không cho phép ư?
- Không.
Tôi nhìn người đàn ông bé nhỏ và kỳ quặc ấy, thôi thúc bởi sự bực bội lẫn sự thích thú. Ông ta tự tin đến độ đáng kinh ngạc. Và ông nhẹ nhàng gật đầu, cứ như ông đọc được suy nghĩ của tôi vậy.
- Thật đấy, anh bạn ạ, tôi sẽ làm những gì đã nói.
Ông đứng dậy và đặt tay lên vai tôi. Gương mặt ông bỗng lộ vẻ xúc động, mắt ông đầy lệ.
- Anh thấy đấy, anh bạn ạ, trong tất cả chuyện này, tôi chỉ nghĩ đến bà Inglethorp đáng thương đã chết. Bà ấy không được người ta thương lắm, không đâu. Nhưng bà ấy đã tỏ ra rất tốt bụng đối với người Bỉ chúng tôi, và tôi có một món nợ đối với bà ta.
Tôi định ngắt lời nhưng Poirot đã tiếp.
- Hãy để tôi nói điều này, Hastings ạ. Bà ấy sẽ không bao giờ tha thứ cho tôi, nếu như tôi để cho chồng bà ta, Alfred Inglethorp, bị bắt trong lúc này, khi mà tôi chỉ cần nói một tiếng thôi để ngăn chặn việc đó.
0
CHƯƠNG VI
BUỔI HỎI CUNG
 
Trong thời gian trước buổi hỏi cung, Poirot hoạt động không ngừng. Ông đóng của trao đổi với ông Wells hai lần. Ông cũng đi dạo rất lâu ngoài đồng. Tôi hơi mích lòng vì ông không kể cho tôi nghe, hơn nữa tôi lại không tài nào đoán được ý định của ông.
Tôi cho rằng có lẽ ông đã đi điều tra ở phía nông trại của gia đình Raikes. Hôm thư tư ông đi vắng khi tôi ghé biệt thự Leastways. Tôi liền băng ruộng đến nông trại, hy vọng sẽ tìm thấy ông. Nhưng tôi không thấy dấu vết của ông đâu cả, và tôi ngần ngại không dám đến tận nông trại. Tôi vừa quay gót thì đụng phải một ông nông dân già đang nhìn tôi với ánh mắt tinh ranh.
- Ông từ Court đến phải không? - Ông lão hỏi tôi.
- Vâng. Tôi tìm một người bạn mà tôi cho rằng đang ở đây.
- À! Một người đàn ông nhỏ nhắc hay quơ tay khi nói, phải không? Một người Bỉ trong làng, chứ gì?
- Vâng - tôi vội nói - Thế nào, ông ta có đến đây chứ.
- Ồ! Chắc chắn là có đến rồi! Và hơn một lần nữa là khác. Ông ấy là bạn ông hả? Ồ! Quý ông ở Court quả là buồn cười dđấy.
- Thế ra quý ông ở Court hay lảng vảng ở đây sao? - Tôi giả vờ vô tình hỏi.
Ông lão nháy mắt.
- Dù sao thì cũng có một ông. Nhưng tôi không nói lên đâu. Đó là một người đàn ông quý phái và rộng lượng.
Tôi vội quay về làng. Evelyn Howard đã nói đúng và tôi cảm thấy ghê tởm khi nghĩ rằng Alfred Inglethorp đã làm phước với tiền của vợ. Nguyên nhân của tấn thảm kịch, đó có phải là gương mặt di-gan của bà chủ nông trại hay không, hay là tiền? Có lẽ đó là sự kết hợp khôn khéo của cả hai.
Khi tôi gặp Poirot, trông ông như bị ám ảnh bởi một điều gì đó lạ lùng. Một hoặc hai lần, ông bảo với tôi rằng có lẽ Dorcas đã lầm khi xác định giờ giấc cuộc cãi vã. Ông cho rằng bà ta đã nghe thấy tiếng cãi vã vào lúc mười sáu giờ ba mươi chứ không phải vào lúc mười bốn giờ.
Nhưng Dorcas vẫn một mực quả quyết. Ít ra là đã một tiếng đồng hồ hay hơn nữa đã trôi qua từ lúc bà ta nghe thấy tiếng cãi vã cho đến khi bà đem trà đến cho bà chủ, vào khoảng mười bảy giờ.
 
* * *
 
Buổi hỏi cung diễn ra vào hôm thứ sau, tại quán trọ của làng, quán “Vũ khí Stylites”. Poirot ngồi cạnh tôi, cả hai chúng tôi đều không bị gọi ra làm nhân chứng. Những thủ tục đầu tiên diễn ra như thông lệ. Ông biện lý xem xét tử thi. John được gọi đến để nhận dạng người chết.
Khi được hỏi, anh khai rằng đã thức dậy lúc gần sáng và tả lại những tình huống về cái chết của mẹ mình.
Sau đó là lời khai của các bác sĩ. Một sự im lặng nặng nề bao trùm mọi người, mọi cặp mắt đều đổ dồn về phía nhà chuyên môn nổi tiếng của Luân Đôn, được mọi người biết đến như một trong những bậc thầy đương thời về độc dược học.
Bằng vài lời ngắn gọn, ông kể lại sơ lược kết quả công việc khám nghiệm.
Bỏ qua những lời lẽ thuần túy về y học đi, thì giấy chứng nhận chính thức kết luận một cách rõ ràng rằng bà Inglethorp chết sau một vụ ngộ độc bằng chất Stychnin. Theo lượng độc dược tìm thấy trong bộ phận tiêu hóa, thì bà ta nuốt phải không dưới ba phần tư gram Strychnin và, rất có thể là một gram hay nhiều hơn thế nữa.
- Có thể nào bà ấy đã uống nhầm phải thuốc độc không? - Ông biện lý hỏi.
- Tôi cho rằng khó có thể. Chất Strychnin không được dùng trong sinh hoạt như một số độc dược khác, và việc mua bán cũng ít nhiều bị hạn chế.
- Có điều gì trong cuộc khám nghiệm có thể cho biết độc dược được xâm nhập vào người nạn nhân bằng cách nào không?
- Không.
- Ông đến Styles trước bác sĩ Wilkins thì phải?
- Đúng vậy. Tôi đã gặp xe hơi trước cửa rào khuôn viên và tôi vội vã vào nhà ngay.
- Ông có thể cho biết chính xác chuyện gì đã xảy ra sau đó không?
- Tôi bước vào phòng bà Inglethorp. Lúc đó bà ta đang bị một cơn co giật giống hệt như trong bệnh uốn ván. Bà ta quay sang tôi và gọi: “Alfred! Alfred!”.
- Chất Stychnin có thể nào được bỏ trong cà-phê của bà Inglethorp do chồng bà ta mang đến hay không?
- Có thể, nhưng Strychnin có công hiệu khá nhanh. Các triệu chứng xuất hiện một hay hai tiếng sau khi thuốc thâm nhập vào cơ thể nạn nhân. Nó có thể bị chận lại do một vài điều kiện, nhưng trong trường hợp này, lại không có điều kiện nào như thế cả. Tôi đoán chừng rằng bà Inglethorp uống cà-phê sau bữa ăn, vào khoảng hai mươi giờ, trong khi những triệu chứng ngộ độc chỉ xuất hiện vào lúc rạng đông, điều đó chứng tỏ rằng độc dược được hấp thụ muộn hơn trong buổi tối.
- Bà Inglethorp có thói quen dùng một tách ca-cao vào giữa đêm. Chất Stychnin có thể nào được bỏ vào trong đó không?
- Không! Chính tôi đã lấy mẫu một chút ca-cao còn lại trong chiếc xoong và đem đi phân tích. Trong đó không hề có Strychnin.
Tôi nghe thấy tiếng Poirot cười nhẹ bên cạnh.
- Làm sao ông biết được? - Tôi khẽ hỏi.
- Hãy nghe đây nè.
- Tôi phải thú thật - ông bác sĩ tiếp - rằng tôi sẽ rất ngạc nhiên bởi bất cứ một kết quả nào khác.
- Tại sao?
- Đơn giản vì chất Stychnin có một vị đắng kỳ quặc. Có thể nhận ra nó ngay trong một dung dịch bảy mươi phần ngàn, và vị của nó chỉ có thể được che giấu bởi một chất có mùi thơm rất mạnh. Ca-cao thì sẽ không làm sao che lấp được.
Một trong những bồi thẩm muốn biết những khó khăn trên có hiệu lực đối với cà-phê không.
- Không. Cà-phê có một vị đắng có thể dễ lầm với vị của chất Strychnin.
- Thế ra ông cho rằng độc dược có thể bỏ vào cà-phê nhiều hơn, nhưng tác dụng của nó bị chậm đi do một nguyên nhân nào đó, phải không?
- Vâng, nhưng do cái tách đã bị bể nát nên không thể nào phân tích những gì chứa trong đó.
Lời khai của bác sĩ Bauerstein kết thúc và bác sĩ Wilkins chỉ khẳng định thêm vào đó mà thôi. Được hỏi về giả thuyết của một vụ tự sát, ông này hoàn toàn gạt bó nó. Người chết, theo lời ông tuyên bố, hơi bị bệnh suy tim, nhưng ngoài chuyện ấy ra thì sức khỏe bà ấy bình thường, tinh thần rất ổn định và vững. Đó là người cuối cùng có thể nghĩ đến việc tự sát.
Sau đó Laurence Cavendish được gọi đến. Lời khai của anh ta không mấy quan trọng vì chỉ là sự lập lại lời khai của người anh mà thôi. Trước khi định lui về, anh dừng lại và hơi do dự nói:
- Tôi rất muốn, nếu như quý vị cho phép, đưa ra một giả định.
- Dĩ nhiên là được, ông Cavendish ạ. Chúng tôi có mặt ở đây để tìm ra sự thật về vụ này, và chúng tôi sẵn sàng nhận tất cả những gì có thể giúp cho công việc của chúng tôi dễ dàng hơn.
- Đây chỉ là một ý kiến chủ quan thôi - Laurence giải thích - Rất có thể là tôi hoàn toàn sai. Thế nhưng, tôi cho rằng cái chết của mẹ tôi có thể do những nguyên nhân tự nhiên.
- Tại sao vậy, ông Cavendish?
- Mẹ tôi, lúc chết, cũng như cả một thời gian trước đó nữa, có dùng một loại thuốc bổ có chất Strychnin.
- Ra thế đấy! - Ông biện lý nói trong khi các bồi thẩm đều nhổm dậy, rất lưu ý đến chuyện đó.
- Nếu như tôi không lầm - Laurence nói tiếp - thì người ta đã biết đến những trường hợp trong đó một chất độc được hấp thu từ thời gian trước, với một liều lượng liên tục, cuối cùng cũng gây nên cái chết. Và hơn nữa, biết đâu, mẹ tôi đã chẳng vô ý dùng một liều quá lớn thuốc ấy?
Bác sĩ Wilkins, lại được gọi lên, đã làm cho ý kiến đó trở nên lố bịch.
- Điều mà ông Cavendish giả định là hoàn toàn không thể xảy ra được - ông bảo - Bất cứ một bác sĩ nào cũng có thể bảo như thế. Chất Stychnin, trong một chừng mực nào đó, là một chất độc có tích tụ, nhưng lại không bao giờ gây nên một cái chết đột ngột cả. Trước đó phải có một thời gian dài trong đó các triệu chứng nhiễm độc mãn tính xuất hiện sẽ gợi sự chú ý của tôi ngay. Giả thiết đó hoàn toàn phi lý.
- Còn giả định thứ hai? Rằng bà Inglethorp đã vô ý dùng một liều quá lớn của thuốc bổ ấy?
- Ba hoặc ngay cả bốn liều cũng không thể gây nên cái chết được. Bà Inglethorp mua thuốc ở chỗ ông Coots, dược sĩ ở Tadminster. Bà ấy phải uống cả chai nguyên thì người ta mới có thể hiểu nổi lượng Strychnin tìm thấy trong lúc khám nghiệm.
- Do vậy ông cho rằng chúng ta có thể kết luận rằng thuốc bổ đó không phải nguyên nhân gây nên cái chết chứ gì?
- Chắc chắn như thế. Giả định đó thật là lố bịch.
Cũng những người bồi thẩm đoàn ngắt ngang trước đó lại giả định rằng viên dược sĩ pha chế thuốc ấy có thể đã phạm sai lầm.
- Tất nhiên, điều đó luôn luôn có thể xảy ra - ông bác sĩ đáp.
- Nhưng Dorcas, được gọi ra sau đó, đã gạt ngay khả năng đó đi. Đó không phải là chai thuốc mới, vì bà Inglethorp đã dùng liều cuối cùng ngay hôm bà ấy chết.
Cuối cùng, người ta bỏ qua vấn đề về chai thuốc bổ, và ông biện lý tiếp tục hỏi cung. Biết được rằng Dorcas đã bị đánh thức bởi tiếng chuông mãnh liệt của bà chủ và sau đó đã đánh thức cả nhà, ông bắt sang cuộc cãi vã lúc trưa hôm đó. Lời khai của Dorcas về điểm này đại khái cũng giống như những gì Poirot và tôi cùng nghe thấy. Do vậy, tôi sẽ không nhắc lại ở đây nữa.
 
* * *
0
Nhân chứng tiếp theo là Mary Cavendish. Bà đứng rất thẳng, nói nhỏ nhưng rất rõ và hoàn toàn điềm tĩnh. Trả lời câu hỏi của ông biện lý, bà khai rằng đã thức dậy như mọi ngày, vào lúc bốn giờ ba mươi sáng đó do đã để đồng hồ báo thức, bà ta đang thay quần áo, thì bị kinh hãi bởi tiếng rơi của một vật nặng.
- Có lẽ đó là cái bàn kê gần chiếc giường - ông biện lý bình phẩm.
- Tôi mở cửa phòng - Mary tiếp - và một tiếng chuông vang lên, thật chói tai. Dorcas chạy xuống và đánh thức chồng tôi dậy; chúng tôi chạy ngay đến phòng của mẹ chồng tôi, nhưng cửa bị khóa.
Ông biện lý cắt ngang.
- Chúng tôi sẽ không làm phiền bà nữa về điểm này. Chúng tôi đã biết tất cả những gì cần phải biết về những biến cố tiếp theo. Nhưng tôi sẽ rất biết ơn bà nếu như bà cho chúng tôi biết những gì bà nghe được về cuộc cãi vã xảy ra hôm trước.
- Tôi ư?
Giọng bà hơi đượm vẻ xấc xược. Bà đưa tay sửa lại mảnh đăng-ten ở cổ, hơi nghiêng đầu qua một bên. Và tôi bỗng nghĩ rằng: “Bà ấy đang tìm cách kéo dài thời gian”.
- Vâng, theo tôi được biết - ông biện lý chậm rãi nói - thì bà ngồi trên ghế băng đặt ngay dưới cửa sổ thư phòng, đúng không nào?
Chi tiết ấy thật mới mẻ với tôi và, liếc trộm Poirot, tôi tưởng chừng như đối với ông ta cũng vậy.
Bà ấy im lặng một lát, một thoáng do dự thôi, trước khi đáp.
- Vâng, đúng như vậy.
- Và cửa sổ thư phòng thì lại để mở, phải không?
Tôi thấy dường như mặt bà tái đi, trong khi bà đáp:
- Có thể.
- Thế thì, bà không thể nào không nghe thấy những giọng nói phát ra từ bên trong. Hơn nữa, cơn giận đã làm giọng cao lên, từ chỗ bà ngồi dễ nghe thấy hơn là từ tiền sảnh.
- Có thể.
- Bà có thể nhắc lại cho chúng tôi biết những điều gì bà đã nghe được từ cuộc cãi vã không?
- Tôi không nhớ đã nghe thấy điều gì cả.
- Bà muốn nói rằng đã không nghe những giọng nói ư?
- Ồ, có chứ. Tôi có nghe thấy ai đó lớn tiếng, nhưng tôi không hiểu người ta nói gì.
Đôi má bà bỗng ửng đỏ.
- Tôi không có thói quen nghe trộm những cuộc đối thoại riêng tư.
Ông biện lý nhấn mạnh thêm:
- Và bà không nhớ gì, không nhớ gì cả sao, bà Cavendish? Không một từ hoặc một câu nảo đã cho phép bà hiểu đó là một “cuộc đối thoại riêng tư” sao?
Bà đứng yên, nhưng đang suy nghĩ, vẫn không mất vẻ điềm tĩnh bề ngoài.
- Có chứ, tôi nhớ bà Inglethorp đã nói điều gì đó, tôi không nhớ rõ là điều gì, về vấn đề gây tai tiếng giữa vợ chồng.
- À! - Ông biện lý dựa người vào lưng ghế, vẻ hài lòng. Điều đó phù hợp với những gì Dorcas đã nghe thấy. Nhưng xin lỗi bà, bà Cavendish ạ, mặc dù hiểu ra rằng đó là “một cuộc đối thoại riêng tư”, bà đã không có ý nghĩ bỏ đi chỗ khác chứ? Bà vẫn ngồi chỗ cũ, phải không?
Tôi thoáng nhìn thấy cặp mắt hung dữ của bà ánh lên vẻ dữ tợn, trong khi bà ngước lên. Tôi tin chắc rằng lúc đó bà rất muốn xé tan xác ông biện lý nhỏ bé ấy với những lời ám chỉ nham hiểm của ông ta. Tuy vậy, bà vẫn điềm nhiên đáp.
- Không. Tôi cảm thấy rất thoải mái ở chỗ ngồi ấy. Tôi đang chú tâm vào một quyển sách.
- Và đó là tất cả những gì bà có thể nói với chúng tôi ư?
- Vâng, tất cả.
Việc tra hỏi chấm dứt ở đây, nhưng tôi e ông biện lý không được hoàn toàn hài lòng. Tôi cho là ông ấy nghi ngờ rằng, nếu như bà ta muốn, Mary Cavendish đã có thể cho ông biết nhiều thông tin hơn nữa.
 
* * *
0
Amy Hill, người bán hàng, được gọi lên sau đó: Cô ta khai đã bán một tờ giấy có dán tem, vào trưa hôm mười bảy tháng bảy, cho William Earl, người làm vườn ở Styles.
William Earl và Manning tiếp tục khai rằng đã ký tên mình, với tư cách là người chứng, vào một văn kiện. Manning cho biết thời gian là vào khoảng mười sáu giờ ba mươi, William thì cho rằng có lẽ là hơi sớm hơn một chút.
Đến lượt Cynthia Murdoch. Cô ta chả có bao nhiêu để khai báo cả. Cô không biết gì về thảm kịch cả, cho đến khi cô được bà Cavendish đánh thức dậy.
- Tôi ngủ say như chết.
Ông biện lý mỉm cười.
- Người có lương tâm yên ổn thì dễ nghủ - ông nhận xét - Cám ơn cô Mudoch. Xong rồi đấy.
 
* * *
 
- Cô Howard, đến lượt cô.
Cô Howard đem trình bức thư bà Inglethorp đã viết cho cô vào buổi tối hôm mười bảy tháng bảy. Tất nhiên là Poirot và tôi đã được đọc. Nó không giúp thêm được gì vào cái chúng tôi đã biết về tấn thảm kịch. Đây là một bản sao.
 
Ngày mười bảy tháng bảy            Styles Court - Essex
Evelyn thân mến,
Chúng tôi không thể làm hòa với nhau sao? Thật khó cho tôi để có thể tha thứ cho những gì cô đã nói về người chồng yêu quí của tôi. Nhưng tôi là một bà già, và tôi đã có nhiều cảm tình đối với cô.
Thân mến,
Emily Inglethorp
 
Bức thư được trao cho bồi thẩm đoàn để họ xem xét kỹ lưỡng.
- Tôi không cho rằng nó có thể giúp ích được gì nhiều cho chúng ta - ông biện lý thở dài nói. Nó chẳng chứa đựng điều gì có liên quan đến những sự kiện của buổi trưa.
- Đối với tôi thì rõ như ban ngày - cô Howard tuyên bố rành rọt. Bức thư này chứng tỏ một cách chắc chắn bà bạn già của tôi vừa phát hiện được rằng mình đã bị lừa gạt.
- Bà ấy không nói điều gì tương tự trong thư cả - ông biện lý nhận xét.
- Bởi vì bà Emily không thể chịu nhận rằng mình sai. Nhưng tôi thì biết quá rõ bà ấy. Bà ta muốn thấy tôi quay trở lại. Nhưng lại từ chối không nhìn nhận rằng tôi đã có lý. Thế là bà ta đã nói quanh co, như hầu hết mọi người. Nhưng tôi thì tôi không bị bịp bởi các hành động ấy đâu.
Tôi nhận thấy ông Wells mỉm cười, cũng như nhiều vị bồi thẩm đoàn. Tất nhiên là người ta đều biết rõ cô Howard.
- Dù sao đi nữa thì tất cả những lời tán dóc này chỉ là phí thời gian thôi - người phụ nữ cáu gắt ấy tiếp, vừa ném một cái nhìn khinh miệt vào bồi thẩm đoàn - Toàn là chuyện tầm phào! Tầm phào! Khi tất cả chúng ta đều biết rõ rằng…
Ông biện lý vội ngắt lời cô ta.
- Cám ơn, cô Howard ạ. Như thế là đủ rồi.
Tôi có cảm giác ông thở phào nhẹ nhõm khi cô ta vâng lời mình và rút lui.
 
* * *
0
Đến lúc đó thì xảy ra biến cố quan trọng nhất của ngày hôm đó. Ông biện lý cho gọi Albert Mace, người điều chế ở hiệu thuốc tây, không ai khác hơn là chàng thanh niên nóng nảy của chúng tôi với khuôn mặt tái nhợt. Trả lời câu hỏi của ông biện lý, anh ta cho biết rằng đã có cấp bằng dược sĩ, nhưng mới làm việc ở hiệu thuốc tây tư nhân này ít lâu thôi, anh ta thay thế cho người điều chế quen thuộc đã bị gọi nhập ngũ.
Những lời mở đầu ấy kết thúc thì ông biện lý đi thẳng vào vấn đề.
- Ông Mace ạ, gần đây ông có bán Stychnin cho một người nào không được phép mua nó không?
- Có, thưa ông.
- Khi nào?
- Thứ hai trước, vào buổi chiều tối.
- Thứ hai ư? Không phải là thứ ba sao?
- Không, thưa ông. Thứ hai ngày mười bảy tháng bảy.
- Hãy cho tôi biết anh bán cho ai?
Có thể nghe thấy cả tiếng kim rơi.
- Tất nhiên, thưa ông. Đó là ông Inglethorp.
Tất cả mọi cặp mắt đều đổ dồn vào chỗ Alfred Inglethorp đang ngồi thản nhiên và lãnh đạm. Tuy vậy, hắn cũng hơi giật mình khi những lời nói này được thốt ra từ miệng chàng thanh niên. Tôi còn cho rằng hắn định đứng dậy, nhưng hắn vẫn ngồi yên, mặc dù khuôn mặt hắn lộ vẻ sững sờ và được ngụy tạo khá hay.
- Anh tin chắc vào những gì mình nói chứ? - Ông biện lý nghiêm khắc hỏi.
- Hoàn toàn chắc, thưa ông.
- Anh có hay bán Strychnin như thế cho bất cứ người nào đến mua không?
Chàng thanh niên đáng thương ấy run rẩy dưới cặp mắt của ông biện lý.
- Ồ, không, thưa ông! Không bao giờ! Nhưng đấy là Inglethorp, ở chỗ Court, nên tôi không thấy điều gì bậy cả. Ông ấy bảo với tôi rằng để giết một con chó.
Trong thâm tâm mình, tôi cảm thấy có thiện cảm đối với anh ta. Quả là rất bình thường khi muốn làm vui lòng những người ở Court, nhất là khi việc chiều ý đó có thể đem lại những khách hàng ở Court cho hiệu thuốc địa phương.
- Có phải thông thường những người mua độc dược điều phải ký tên vào sổ đăng ký không?
- Vâng, thưa ông. Ông Inglethorp cũng đã làm như thế.
- Anh có đem theo sổ không?
- Có, thưa ông.
Cuốn sổ được đem ra trình, và sau vài lời quở trách nghiêm khắc, ông biện lý cho chàng thanh niên đáng thương ấy lui ra.
 
* * *
0
Sau đó Alfred Inglethorp được gọi lên giữa một sự im lặng đầy lo âu. Tôi tự hỏi hắn có ý thức được rằng sợi dây thòng lọng đang xiết lại quanh cổ hắn với mức độ nào hay không.
Ông biện lý đi thẳng vào vấn đề:
- Thứ hai trước, vào buổi chiều tối, ông có đến mua Strychnin để giết một con chó không?
Inglethorp trả lời một cách điềm nhiên nhất:
- Không. Ở Styles không có con chó nào cả, ngoại trừ một con chó bec-giê thường ngủ bên ngoài và hơn nữa lại hoàn toàn khỏe mạnh.
- Ông tuyệt đối không nhận đã mua Strychnin ở chỗ Albert Mace, hôm thứ hai vừa rồi sao?
- Tôi không nhận.
- Ông cũng không nhận cái này nữa sao?
Ông biện lý đưa ra cuốn sổ trên đó có chữ ký của hắn.
- Tất nhiên thôi. Chữ viết đó khác hẳn của tôi. Tôi sẽ chứng minh điều đó ngay thôi.
Hắn rút từ túi áo ra một chiếc phong bì và, sau khi ký tên mình vào đó, hắn đưa lại cho ông chủ tịch bồi thẩm đoàn. Chữ viết khác hẳn chữ trên cuốn sổ.
- Thế ông giải thích thế nào về lời khai của ông Mace đây.
Alfred Inglethorp đáp không chút nao núng:
- Có lẽ ông Mace đã lầm.
Ông biện lý do dự một lát rồi nói:
- Ông Inglethorp ạ, như một thủ tục, hãy cho chúng tôi biết ông ở đâu trong buổi chiều thứ hai, ngày mười bảy tháng bảy.
- Thật tình thì tôi không thể nhớ nổi.
- Thật là vô lý, ông Inglethorp ạ - ông biện lý lạnh lùng tuyên bố - Hãy nghĩ kỹ lại đi.
Inglethorp lắc đầu.
- Tôi không thể nói được. Tôi cho rằng mình đã đi dạo.
- Về hướng nào?
- Quả thật tôi không thể nhớ được…
Gương mặt ông biện lý trở nên nghiêm trang hơn:
- Có ai đi cùng với ông không?
- Không.
- Điều đó thật đáng tiếc - ông biện lý mỉa mai nói - Tôi phải suy ra rằng ông từ chối cho biết ông ở đâu vào lúc ông Mace đã chính thức nhận ra ông, người bước vào hiệu thuốc để mua Strychnin phải không?
- Ông có thể suy ra bất cứ điều gì ông cho là đúng.
- Hãy thận trọng ông Inglethorp ạ.
Bên cạnh tôi, Poirot nhấp nhỏm vì nóng nảy.
- Chao ôi! - Ông nói - Bộ tên ngu xuẩn ấy muốn bị bắt hay sao đây.
Quả thật là Inglethorp đang gây nên ấn tượng rất xấu. Những lời chối cãi vô ích của hắn không thuyết phục nổi lấy một đứa trẻ con nữa. Thế nhưng ông biện lý đã chuyển sang vấn đề tiếp theo, và Poirot thở phào nhẹ nhõm.
- Ông đã cãi nhau với vợ vào chiều hôm thứ ba phải không?
- Xin lỗi - Alfred Inglethorp ngắt ngang - nhưng thông tin của ông không được đúng rồi. Tôi không bao giờ cãi nhau với bà vợ thân yêu của tôi cả. Tất cả chuyện đó hoàn toàn sai sự thật. Tôi vắng nhà suốt buổi chiều hôm đó.
- Có ai làm chứng cho ông về điều đó không?
- Ông chỉ có lời nói của tôi mà thôi! - Inglethorp kiêu ngạo đáp.
Ông biện lý bỏ qua chuyện đối đáp lại.
- Chúng tôi có hai nhân chứng có thể thề rằng đã nghe thấy cuộc cãi vã của ông và bà nhà.
- Họ đã lầm rồi.
Tôi rất lấy làm thắc mắc. Người đàn ông đó nói năng với sự tự tin bình thản đến độ tôi phải hoang mang. Tôi nhìn Poirot, khuôn mặt ông phảng phất sự kích thích tột độ mà tôi không làm sao hiểu được. Ông có tin chắc về tội trạng của Inglethorp không?
- Ông Inglethorp - ông biện lý nói - ở đây ông đã được nghe nói lại những lời cuối cùng của bà nhà lúc đang hấp hối. Ông có thể giải thích bằng cách nào đó không?
- Tất nhiên là có.
- Thật ư?
- Theo tôi thì điều đó thật đơn giản. Căn phòng không được chiếu sáng rõ. Bác sĩ Bauerstein có cùng dáng vóc và kích thước với tôi, và cũng để râu như tôi. Trong ánh sáng yếu ớt ấy, và đau đớn cùng cực như bà ấy đang bị, bà vợ đáng thương của tôi đã trông lầm ông ấy thành tôi.
- À! - Poirot khẽ nói cho riêng mình - Đó cũng là một ý kiến.
- Ông cho rằng sự thật như thế sao? - Tôi khẽ hỏi.
- Tôi không nói thế, nhưng đó là một giả thiết độc đáo.
Inglethorp nói tiếp:
- Ông đã xem những lời nói cuối cùng của vợ tôi như là một lời buộc tội, trong khi trái lại, đó chỉ là một lời cầu khẩn.
Ông biện lý suy nghĩ một lát rồi nói:
- Tôi được biết, ông Inglethorp ạ, tối hôm đó đích thân ông đã rót cà-phê và đem đến cho bà nhà phải không?
- Quả là tôi có rót cà-phê nhưng tôi không đem đến cho nhà tôi. Tôi định làm chuyện đó thì người ta báo cho tôi biết rằng một người bạn của tôi đang ở trước cửa. Do vậy, tôi đã đặt tách xuống bàn trong hành lang, và khi tôi quay trở lại, thì nó đã biến mất.
Lời khai đó có thể là đúng, có thể là sai, song nó chẳng làm cho tình trạng của Inglethorp khả quan hơn được bao nhiêu. Dù sao đi nữa thì hắn cũng đã có thừa thì giờ để bỏ thuốc độc vào cà-phê. Ngay lúc đó, Poirot hích tay tôi và chỉ cho tôi thấy hai người đàn ông ngồi gần cánh cửa. Một người thì nhỏ nhắn, tóc nâu, tinh khôn, vẻ mặt giống như một con chồn; còn người kia thì cao lớn tóc vàng.
Tôi nhìn Poirot dò hỏi. Ông ghé sát tai tôi và khẽ bảo:
- Đó là thanh tra cảnh sát James Japp, ở Scotland Yard, cái ông Jimmy Japp lừng danh ấy. Ông kia cũng là người của Scotland Yard. Mọi việc sẽ ác liệt đấy, anh bạn của tôi ạ.
Tôi nhìn cả hai người. Không người nào có vẻ gì là cảnh sát cả. Tôi không bao giờ cho rằng họ là những quan chức cả.
Tôi còn đang nhìn họ thì lời phán quyết bỗng làm tôi giật mình.
- Cố sát do một hoặc nhiều người gây nên.
0
CHƯƠNG VII
POIROT TRẢ NỢ
 
Khi chúng tôi bước ra khỏi quán “Vũ khí Stylites”, Poirot kéo tôi sang một bên. Tôi hiểu ngay tại sao. Ông đợi các nhà thám tử của Scotland Yard.
Vài phút sau, họ xuất hiện, Poirot vội đến gặp họ và nói với người nhỏ hơn:
- Tôi e rằng ông không nhận ra tôi, thanh tra Japp ạ.
- Nhưng ông Poirot đây mà! - Viên thanh tra kêu lên.
Và quay sang người bạn đồng hành:
- Anh có nghe nói đến ông Poirot không? Chúng tôi đã cùng làm việc với nhau vào năm một ngàn chín trăm lẻ bốn, trong vụ bạc giả ở Abercrombie. Anh có nhớ rằng thủ phạm bị bắt ở Bruxelles không? Ồ! Thời xa xưa huy hoàng ấy mà. Và anh có nhớ “ông nam tước” Altara không? Quả là một tên vô lại. Hắn đã qua mặt được giới cảnh sát ở châu Âu. Cuối cùng chúng tôi tóm được hắn ở Anvers, nhờ vào ông Poirot đấy.
Trong khi những kỷ niệm được trao đổi giữa hai người bạn ấy, tôi bước đến gần và được giới thiệu với thanh tra Japp, rồi đến lượt ông này giới thiệu chúng tôi với bạn ông ta, ông Summerhaye.
- Tôi chẳng cần phải hỏi các ông làm gì ở đây - Poirot nói.
Japp nháy mắt.
- Đúng vậy. Vụ này có vẻ đơn giản đấy.
Nhưng Poirot trịnh trọng đáp:
- Về điểm này thì tôi không đồng ý với ông đâu.
- Ồ! Nào - Summerhaye, mở miệng lần đầu tiên, bảo - Thật rõ như ban ngày. Hắn bị bắt quả tang đấy thôi.
- Im đi, Summerhaye ạ - Japp vui vẻ nói - Ông Poirot đây và tôi là chỗ quen biết xưa, và tôi không sẵn sàng chấp nhận sự phán đoán của người nào khác như của ông đâu đấy. Nếu như tôi không lầm thì ông ấy đang dành cho chúng ta một sự ngạc nhiên đúng theo kiểu của ông ta đấy. Phải thế không nào, ông Poirot?
Ông này mỉm cười.
- Vâng. Tôi đã suy ra được một vài điều.
Summerhaye vẫn còn có vẻ hoài nghi, nhưng Japp tiếp tục nhìn Poirot chăm chăm.
- Cho đến nay - ông nói - chúng ta chỉ mới nhìn vụ này từ bên ngoài mà thôi. Scotland Yard rõ ràng là bất lợi trong một vụ mà việc giết người chỉ được thừa nhận, nói cho thật đúng, sau buổi hỏi cung mà thôi. Điều cốt yếu là phải có mặt tại hiện trường, và về điểm này thì ông Poirot đã qua mặt chúng ta. Lẽ ra chúng ta cũng chẳng có mặt ở đây vào giờ này đâu, nếu như ở đây không có một vị bác sĩ đã yêu cầu ông biện lý thông báo cho chúng ta. Còn ông thì đã có mặt ở đây ngay từ đầu và có thể đã thu thập được vài dấu vết. Căn cứ vào những lời khai nghe được ở buổi hỏi cung, thì ông Inglethorp đã giết vợ mình, điều đó cũng chắc như tên tôi là Japp vậy, và nếu như một người nào khác chứ không phải ông nói với tôi điều ngược lại thì tôi sẽ cười vào mặt họ cho mà xem. Tôi phải thừa nhận rằng tôi lấy làm ngạc nhiên tại sao các bồi thẩm đã không tuyên bố ngay một lời phán quyết về việc cố sát. Tôi cho rằng họ đã làm việc đó nếu như ông biện lý không ngăn cản họ.
- Có lẽ ông đã có sẵn trong túi một lệnh bắt người đối với hắn ngay lúc này phải không? - Poirot giả định.
Bức màn gỗ của người quan chức gương mẫu buông xuống trên gương mặt đầy ý nghĩa của Japp.
- Có thể có, có thể không - Ông đáp cụt ngủn.
Poirot nhìn ông ta trầm ngâm.
- Các ông ạ, tôi rất muốn rằng hắn ta đừng bị bắt.
- Có lẽ thế - Summerhaye chua chát bảo.
Japp nhìn Poirot với vẻ khó xử thật khôi hài.
- Ông không thể nào cho chúng tôi biết những lý lẽ của mình sao, ông Poirot? Bởi vì chỉ một cái nháy mắt của ông thôi cũng đáng giá như môt cái gật đầu. Ông đã có mặt tại hiện trường, còn Scotland Yard thì chẳng muốn bị hố đâu.
Poirot trịnh trọng gật đầu.
- Quả đúng như tôi nghĩ. Thế này nhé, tôi sẽ nói với các ông điều này. Hãy sử dụng lệnh bắt người của mình đi. Hãy bắt giữ ông Inglethorp đi. các ông chẳng rút ra điều gì lợi đâu. Lời buộc tội chống hắn sẽ bị bác bỏ ngay lập tức. Như thế này nè.
Ông búng tay một cách ý nghĩa.
Khuôn mặt Japp sa sầm xuống, và Summerhaye kêu lên hoài nghi.
Còn tôi thì hoàn toàn câm lặng vì kinh ngạc, và tôi chỉ còn biết kết luận rằng Poirot đã điên.
Japp rút chiếc khăn tay ra lau trán.
- Tôi không dám làm việc đó, ông Poirot ạ. Nếu như mọi việc chỉ tùy thuộc vào tôi thôi thì tôi đã bằng lòng với lời nói của ông. Nhưng còn vài sếp của tôi nữa, họ sẽ hỏi tại sao tôi lại hành động như vậy. Ông không thể nào cho tôi biết thêm gì sao?
Poirot suy nghĩ một lát.
- Có thể được - ông nói - Tất nhiên là con tim tôi phải tự vệ. Ông đã ép tôi. Trong lúc này, tôi thích hành động trong bóng tối hơn, nhưng những gì ông nói thật đúng. Lời nói của một viên cảnh sát Bỉ mà tiếng tăm đã không còn nữa thì không đủ rồi. Nhưng mà không được để cho Alfred Inglethorp bị bắt. Điều đó tôi đã thề, như anh bạn Hastings có mặt ở đây có thể làm chứng cho tôi. Thế nào, ông bạn Japp, ông đến Styles ngay bây giờ ư?
- Khoảng nửa giờ nữa. Chúng tôi phải gặp ông biện lý và ông bác sĩ trước đã.
- Thôi được. Hãy ghé đón tôi ở căn nhà cuối làng đây. Tôi sẽ đi cùng các ông đến Styles. Ông Inglethorp sẽ đưa ra, hoặc nếu như ông ta từ chối, điều đó có thể xảy ra lắm, thì tôi sẽ đưa ra những bằng chứng cho thấy không một lời buộc tội nào chống lại ông ta có thể đứng vững được. Đồng ý không nào?
- Đồng ý! - Japp kêu lên, phấn khởi - Và tôi sẽ rất biết ơn ông, nhân danh Scotland Yard, mặc dù cho đến lúc này, căn cứ vào những lời khai, tôi vẫn không thấy lối thoát nào dành cho Inglethorp cả. Nhưng ông luôn luôn khiến người ta sửng sốt. Thế thì, hẹn gặp lại lát nữa đây.
Hai người thám tử rảo bước đi và Summerhaye không che giấu một nụ cười chế giễu.
 
* * *
0
- Thế nào! Anh bạn! - Poirot kêu lên trước khi tôi kịp thốt ra lời nào - Anh nghĩ sao? Chúa ơi! Ở buổi hỏi cung tôi lo lắng làm sao. Tôi không nghĩ rằng người đàn ông đó cứng đầu đến độ từ chối không khai bất cứ gì cả. Quả là một chiến thuật ngu xuẩn.
- Hừ! Có nhiều cách giải thích khác hơn là sự ngu xuẩn - tôi nhận xét - Bởi vì, nếu như lời buộc tội dành cho hắn là đúng thì hắn có thể tự bào chữa bằng cách nào khác hơn là im lặng?
- Bằng hàng ngàn cách tinh xảo chứ! - Poirot kêu lên - Này nhé! Giả dụ như tôi đã giết người đi, tôi có thể nghĩ ra bảy câu chuyện hợp lý và tuyệt đối có sức thuyết phục hơn những lời chối cãi lạnh lùng của Inglethorp.
Tôi không thể nhịn cười được.
- Ông Poirot thân mến ạ, tôi tin chắc ông có thể nghĩ ra bảy mươi câu chuyện rất hợp lý. Nhưng, nghiêm túc mà nói, trái với những gì tôi đã nghe ông nói với các thám tử, ông không thể nào tiếp tục tin vào sự vô cảm của Alfred Inglethorp.
- Tại sao không thể là bây giờ hơn là trước đây? Có gì thay đổi đâu nào?
- Nhưng những lời khai lại xác định rõ quá mà.
Chúng tôi vượt qua cửa rào của biệt thự Leastways và leo lên chiếc cầu thang bây giờ đã rất quen thuộc.
- Vâng, vâng, xác định quá rõ - Poirot tự nhủ - Những bằng chứng thường mơ hồ và không đầy đủ. Chúng cần phải được xem xét và gạn lọc lại. Nhưng ở đây tất cả lại được sắp đặt từ trước. Không, anh bạn ạ, những chứng cớ này được tạo ra một cách khéo léo, đến độ chúng vượt xa cả mục đích của chính mình nữa.
- Làm sao ông xác lập được điều đó?
- Bởi vì khi mà những bằng chứng bất lợi cho Inglethorp còn mơ hồ và không thể đụng đến được thì sẽ rất khó mà bác bỏ chúng. Nhưng, trong sự lo lắng của mình, tên tội phạm đã xiết chặt lưới đến mức chỉ cần một chút nữa thôi là có thể giải thoát cho Inglethorp.
Tôi giữ im lặng. Một lát sau, Poirot nói:
- Hãy nhìn sự việc như sau. Theo như chúng ta nói, đây là một người đàn ông có ý định giết vợ mình. Tất nhiên là hắn có ít nhiều lý trí. Thế thì hắn sẽ làm như thế nào đây? Hắn ngang nhiên đến hiệu thuốc trong làng và mua chất Strychnin, vừa bịa ra một câu chuyện không thể tin được về con chó. Hắn không sử dụng thuốc độc ngay tối hôm đó. Không, hắn đợi sau khi cãi nhau với vợ xong, một cuộc cãi vã mà cả nhà biết đến và tất nhiên sẽ hướng mọi nghi ngờ về phía hắn. Hắn không chuẩn bị một lời bào chữa nào cả, không một chứng cớ vô can nào cả, mặc dầu hắn biết rằng người bào chế ở hiệu thuốc chắc chắn sẽ được gọi ra lấy lời khai. Này! Đừng đòi hỏi tôi phải tin rằng một người đàn ông có thể ngu xuẩn tới mức đó! Chỉ có một tên điên muốn chấm dứt với cuộc đời bằng cách làm cho mình bị treo cổ mới hành động như thế.
- Tuy vậy, tôi không thấy…
- Tôi cũng vậy. Tôi phải thành thật với anh rằng vụ án này khiến tôi bị lạc mất thôi, tôi, Hercule Poirot!
- Nhưng, nếu ông tin hắn ta vô tội, thì ông làm sao giải thích được việc hắn ta đến mua Strychnin?
- Đơn giản thôi. Hắn không hề mua.
- Nhưng Mace đã nhận ra hắn kia mà!
- Xin lỗi. Anh ta chỉ thấy một người có bộ râu đen như ông Inglethorp, ăn mặc như ông Inglethorp và cũng đeo kính như ông Inglethorp. Anh ta không thể nhận ra một người mà có lẽ anh ta chỉ nhìn từ xa thôi, bởi vì đừng quên rằng anh ta chỉ mới đến Styles Saint-Mary được mười lăm ngày thôi, còn bà Inglethorp thì lại thường mua thuốc ở chỗ Coots, ở Tadminster.
- Thế thì ông cho là…?
- Anh bạn của tôi ạ, anh có nhớ hai điểm tôi đặc biệt nhấn mạnh không? Trong lúc này thì hãy bỏ qua điểm thứ nhứt đi, nhưng còn điểm thứ hai thì sao?
- Sự kiện quan trọng rằng Inglethorp ăn mặc thật đặc biệt, để râu, đeo kính? - Tôi nhắc lại.
- Đúng thế. Thử giả định một người nào đó muốn giả danh làm John hoặc Laurence Cavendish đi, có dễ không?
- Không - tôi chậm rãi nói - Tất nhiên là một diễn viên…
Nhưng Poirot ngắt ngang:
- Và tại sao lại không dễ dàng chứ? Tôi sẽ nói ngay cho anh biết đây. Bởi vì cả hai đều là những người đàn ông trẻ, không để râu. Để chường mặt ra ngoài như một trong hai người đó làm giữa ban ngày ban mặt thì phải là một diễn viên xuất chúng và cơ bản phải trông giống họ. Nhưng trong trường hợp của Alfred Inglethorp thì lại khác hẳn. Quần áo của hắn, bộ râu của hắn, cặp kính của hắn: đó là những nét nổi bật của hình dáng bên ngoài của con người hắn. Sự quan tâm đầu tiên của tên tội phạm là gì? Gạt bỏ tất cả những ngờ vực về mình đi chứ? Và làm thế nào mà hắn có thể đạt được mục đích ấy một cách chắn chắc nhất? Bằng cách gieo nghi ngờ lên một người khác. Trong trường hợp đặc biệt này, đã có sẵn một người trong tầm tay của hắn. Mọi người đều sẵn sàng tin vào tội trạng của ông Inglethorp. Người ta đoán chắc rằng ông ta sẽ bị nghi ngờ, nhưng cần phải có một bằng chứng thật vững chắc, như việc mua thuốc độc chẳng hạn. Hãy nhớ cho anh chàng Mace chưa bao giờ tiếp xúc với ông Inglethorp cả. Làm sao anh ta có thể nghi ngờ rằng người đàn ông đang mặc quần áo, để râu và đeo kính như ông ta lại không phải là Alfred Inglethorp chứ?
- Có lẽ ông có lý đấy - tôi nói, bị thu hút bởi tài hùng biện của Poirot - Nhưng trong trường hợp đó, tại sao hắn lại không chịu nói hắn ở đâu vào hôm thứ hai, lúc mười tám giờ?
- À! Tại sao ư? - Poirot nói, bỗng lấy lại được sự bình tĩnh - Có lẽ hắn sẽ nói ra điều đó nếu như hắn bị bắt, nhưng tôi không muốn để cho sự việc đi đến mức đó, tôi phải làm cho hắn hiểu được sự nghiêm trọng của tình thế. Tất nhiên là sự im lặng của hắn nhằm che giấu điều gì đó mà hắn không thể tiết lộ ra được. Nếu như hắn không giết vợ mình thì hắn vẫn là một tên đáng nghi, và chắc chắn ngoài vụ giết người này ra, hắn còn điều gì khác nữa cần che giấu.
- Có thể là điều gì chứ? - Tôi hỏi, lúc đó đang bị chinh phục bởi những suy nghĩ của Poirot nhưng vẫn giữ lại một chút niềm tin rằng sự suy luận hiển nhiên lại là cái hữu lý nhất.
- Anh không đoán được sao? - Poirot mỉm cười hỏi.
- Không, còn ông?
- Ồ! Có chứ, tôi có một ý nghĩ hay từ ít lâu nay và nó đã tỏ ra đúng đắn.
- Thế mà ông không hề cho tôi hay biết gì cả - tôi nói với vẻ trách móc.
Poirot phác một cử chỉ xin lỗi.
- Xin lỗi, anh bạn ạ, anh đã không được chuẩn bị tốt cho lắm.
Rồi ông nói tiếp một cách nghiêm túc.
- Bây giờ thì anh ý thức được rõ rằng không nên để cho hắn ta bị bắt giữ rồi chứ?
- Có lẽ - tôi nói hơi hoài nghi, bởi vì số phận của Alfred Inglethorp hoàn toàn vô nghĩa đối với tôi, và tôi tự nhủ rằng một sự cảnh cáo đôi khi cũng tốt cho hắn lắm.
Poirot đang nhìn tôi chăm chú bỗng thở dài.
- Này anh bạn của tôi ạ - ông nhẹ nhàng nói - làm thế nào mà những lời khai ở buổi hỏi cung lại đập vào tai anh, ngoại trừ lời khai của Inglethorp ra chứ?
- Ồ! Chúng gần giống như tôi mong đợi vậy.
- Anh không thấy có gì đặc biệt sao?
Ý nghĩ của tôi hướng về Mary Cavendish và tôi nói lấp lửng:
- Như thế nào chứ?
- Này nhé, như lời khai của ông Laurence Cavendish chẳng hạn.
Tôi bỗng thấy nhẹ nhõm.
- Ồ! Laurence! Không, tôi không cho rằng như thế đâu. Anh ta luôn luôn là một chàng thanh niên rất nóng nảy.
- Anh không thấy việc anh ta giả định là mẹ mình có thể vô ý bị ngộ độc bởi thuốc bổ bà đang dùng là lạ sao?
- Không, tôi không cho là thế. Tất nhiên là các bác sĩ đã chê cười. Nhưng, với cương vị là một người không am hiểu thì giả thiết đó hoàn toàn là tự nhiên thôi.
- Nhưng Laurence lại không phải là một người không am hiểu. Chính anh đã bảo anh ta học y khoa, và đã tốt nghiệp kia mà.
- Quả đúng như vậy. Tôi quên mất chuyện đó - tôi nói, hơi sợ hãi - Quả là rất lạ lùng.
Poirot gật đầu:
- Thái độ của anh ta đã kỳ quặc ngay từ lúc đầu rồi. Trong cả nhà, chỉ có một mình anh ta có thể nhận ra những triệu chứng ngộ độc do Strychnin, thế mà anh ta lại là người duy nhất trong gia đình kịch liệt duy trì giả thuyết về một cái chết tự nhiên. Tôi có thể hiểu được thái độ đó nếu nó xuất phát từ John, nhưng anh ta không có những hiểu biết chuyên môn và không hề có đầu óc tưởng tượng. Nhưng Laurence thì không! Và cả hôm nay nữa, anh ta lại đưa ra một giả thiết mà anh ta thừa biết là lố bịch. Về điểm này, cần phải suy nghĩ đấy, anh bạn ạ.
- Thật là rắc rối - tôi nói.
- Và còn bà Cavendish nữa chứ - Poirot tiếp - Lại thêm một người nữa đã không nói hết những gì mình biết. Anh nghĩ gì về thái độ của bà ta?
- Tôi không biết phải nghĩ sao nữa. Tôi không thể tin được rằng bà ta che chở cho Alfred Inglethorp, thế mà bà ta lại có vẻ như làm chuyện đó.
Poirot gật đầu suy tư.
- Vâng. Thật kỳ quặc. Dù sao thì cũng có một điều là chắc chắn: bà ta nghe thấy nhiều về “cuộc đối thoại riêng tư” ấy hơn là những gì bà ta thừa nhận.
- Thế mà bà ta lại là người cuối cùng có thể bị người khác buộc tội là hạ mình để nghe lén sau cánh cửa.
- Đúng vậy. Nhưng lời khai của bà ta muốn chứng minh cho một điều rằng: tôi đã phạm sai lầm. Còn Dorcas thì hoàn toàn đúng. Cuộc cãi vã diễn ra khá sớm vào lúc chiều, khoảng mười sáu giờ như bà ấy đã khẳng định.
Tôi tò mò nhìn ông. Tôi vẫn chưa hiểu nổi sự nhấn mạnh của ông về điểm này.
- Phải, hôm nay nhiều điều kỳ lạ đã được tiết lộ ra - Poirot tiếp - Này nhé, làm gì mà bác sĩ Bauerstein đã dậy và ăn mặc chỉnh tề vào một giờ sớm đến như thế? Tôi lấy làm ngạc nhiên không ai bình phẩm sự kiện đó.
- Tôi cho rằng ông ta đã bị bệnh mất ngủ - tôi nói.
- Điều đó có thể là một lời giải thích thật hay hoặc rất dở - Poirot bảo. Nó bao trùm tất cả, nhưng lại chả giải thích được gì cả. Tôi sẽ đến mắt đến ông bác sĩ Bauerstein giỏi giang của chúng ta đấy.
- Ông còn thấy khuyết điểm gì khác nữa ở những lời khai không? - Tôi hỏi bằng giọng chua chát.
- Anh bạn của tôi ơi - Poirot trịnh trọng nói - khi nào anh phát hiện ra rằng người ta không nói thật thì hãy thận trọng. Thế mà, trừ khi tôi lầm lẫn nhiều, thì ở buổi hỏi cung hôm nay, chỉ có một người duy nhất, cùng lắm là hai người thôi, đã nói thật mà không cần phải thận trọng hay mưu toan gì cả.
- Ồ! Poirot này, tôi sẽ không kể đến Laurance hay bà Cavendish đâu. Nhưng còn John và cô Howard… Hai người đó chắc chắn đã nói thật.
- Một người thì tôi đồng ý. Chứ cả hai sao?
Những lời nói đó gây cho tôi một cú sốc mạnh mẽ. Lời khai của cô Howard mặc dù rất ít quan trọng, nhưng lại bộc trực và thành thật biết bao khiến tôi không bao giờ có ý ngờ vực sự trung thực của cô ta cả. Tuy nhiên, tôi lại rất tôn trọng sự lanh lợi của Poirot, ngoại trừ trong những trường hợp mà ông ta, theo như sự định nghĩa của riêng tôi, “cứng đầu một cách ngu xuẩn”.
- Có thật đó là ý kiến của ông không? - Tôi hỏi - Theo ý tôi thì cô Howard luôn luôn là người có bản chất lương thiện đến mức khó chịu.
Poirot ném cho tôi một cái nhìn kỳ quặc mà tôi không sao hiểu nổi. Ông dường như định nói điều gì nhưng lại thôi.
- Cả cô Mudoch nữa - tôi tiếp - Ở cô ta chả có cái gì là khả nghi cả.
- Vâng. Nhưng thật là lạ lùng, cô ta đã không nghe thấy tiếng động nào cả, mặc dù cô ta ngủ ngay cạnh phòng bà Inglethorp. Trong khi bà Cavendish, ở phòng bên cánh đối diện của ngôi nhà, lại nghe thấy rõ tiếng chiếc bàn rơi xuống.
- Thì cô ta còn trẻ mà. Cô ta ngủ say mê.
- À! Đúng vậy! Cô ta phải ngủ say ghê lắm mới như thế.
Giọng nói của ông làm tôi bất bình, nhưng ngay lúc đó chúng tôi nghe thấy tiếng gõ cửa và nhìn qua cửa sổ, chúng tôi thấy hai viên thám tử đang chờ chúng tôi dưới đường.
Poirot cầm lấy chiếc nón, vuốt râu và cẩn thận phủi chút bụi vô hình ở tay áo rồi ra dấu cho tôi bước xuống trước. Xuống đến dưới nhà, chúng tôi nhập bọn với các thám tử và không chậm trễ hướng về phía Styles.
 
* * *
0
Tôi cho rằng sự xuất hiện của hai vị đại diện của Scotland Yard đã gây nên một sự xúc động - nhất là đối với John - mặc dù anh ta có thể đoán được qua lời phán quyết rằng sự có mặt của họ là cấp bách. Thế mà sự hiện diện của các thám tử lài làm cho tình thế càng nghiêm trọng hơn.
Dọc đường, Poirot đã khẽ trao đổi với Japp, và chính ông này yêu cầu tất cả mọi người ở Styles, ngoại trừ đám gia nhân ra, tập hợp lại trong phòng khách. Tôi hiểu ý nghĩa của lời yêu cầu đó. Poirot phải chứng minh những lời nói của mình.
Riêng tôi thì tôi không mấy hy vọng. Poirot có thể có những lý lẽ hay ho để tin vào sự vô can của Inglethorp, nhưng một người như Summerhaye phải đòi hỏi những bằng cớ xác đáng, mà tôi e rằng Poirot không thể nào cung cấp được.
Chẳng mấy chốc, chúng tôi đã tề tựu đông đủ trong phòng khách, nơi mà Japp đã đóng cửa lại. Poirot lịch sự kéo ghế cho mọi người. Mọi cặp mắt đều đổ dồn vào các thám tử của Scotland Yard và tôi cho đây là lần đầu tiên chúng tôi hiểu ra đó không phải là một cơn ác mộng mà là hiện thực. Chúng tôi đã đọc thấy thỉnh thoảng những câu chuyện như thế này vẫn xảy ra, nhưng bây giờ chính chúng tôi lại là diễn viên của tấn bi kịch. Ngày mai báo chí sẽ cho đăng tin với những hàng tít lớn:
MỘT THẢM KỊCH BÍ ẨN Ở ESSEX
MỘT CHỦ NHÂN GIÀU CÓ BỊ ĐẦU ĐỘC
Sẽ có những hình chụp ở Styles, những bức ảnh của “gia đình sau buổi hỏi cung”, bởi vì người thợ chụp ảnh trong làng đã không bỏ lỡ cơ hội. Ở đây chúng tôi đang sống một trong những câu chuyện thường đọc được, về những gì xảy ra cho người khác, nhưng lại không nghĩ có thể xảy ra cho chính mình được. Một vụ giết người quả là đã diễn ra trong căn nhà này. Trước mặt chúng tôi là những thám tử đặc trách vấn đề.
Tôi có cảm giác mọi người đều ngạc nhiên khi Poirot bắt đầu cuộc thẩm vấn chứ không phải là các thám tử chính thức.
- Thưa qúy ông, quý bà - Poirot nói, vừa cúi chào như một báo cáo viên trước hội nghị - Tôi yêu cầu quý vị tụ tập lại ở đây. Mục đích của buổi họp mặt này có liên quan đến ông Inglethorp.
Inglethorp ngồi hơi tách rời khỏi mọi người. Tôi cho rằng mọi người đã hơi nhích ghế của mình ra xa hắn một cách vô ý thức. Hắn hơi giật mình khi nghe Poirot nhắc đến tên mình.
- Ông Inglethorp ạ - Poirot nói trực tiếp với hắn - có một chiếc bóng ảm đạm đang bao trùm lên căn nhà này.
Inglethorp buồn bã gật đầu.
- Bà vợ đáng thương của tôi - hắn khẽ nói - Tội nghiệp Emily! Thật là khủng khiếp!
- Thưa ông - Poirot nói tiếp một cách cộc lốc - tôi không cho rằng ông có ý thức hoàn toàn được rằng tình thế có thể nghiêm trọng đến đâu với ông.
Và dường như thấy Inglethorp chưa nắm bắt được ý nghĩa của những lời nói đó, ông nhấn mạnh thêm:
- Ông Inglethorp ạ, ông đang lâm nguy to đấy.
Hai người thám tử đang bồn chồn. Tôi thấy được lời cảnh cáo chính thức: “Tất cả những gì ông nói có thể sẽ được sử dụng để chống lại chính ông” đang lấp lửng trên môi Summerhaye. Poirot lại bảo:
- Bây giờ thì ông đã hiểu tôi rồi chứ?
- Không, ông muốn nói gì thế?
- Tôi muốn nói - Poirot tuyên bố thẳng thừng - ông bị tình nghi là đã đầu độc vợ mình.
Trước sự thẳng thắn đó, một tiếng kêu nhỏ phát ra từ mọi người.
- Chúa ơi! - Inglethorp kêu lên và nhổm dậy ngay - Ý nghĩ đó khủng khiếp làm sao! Tôi? Đầu độc bà Emily thân yêu của tôi sao?
- Tôi không nghĩ - Poirot vừa tiếp vừa canh chừng hắn ta kỹ - rằng ông đã hiểu rõ ấn tượng xấu mà lời khai của ông đã gây ra ở buổi hỏi cung. Ông Inglethorp ạ, ông vẫn tiếp tục từ chối không cho chúng tôi biết ông ở đâu vào chiều hôm thứ hai, lúc mười tám giờ sao?
Alfred Inglethorp gieo mình xuống ghế, thốt lên một tiếng kêu trầm và vùi mặt vào hai bàn tay. Poirot đến bên hắn ta và chi phối hắn.
- Hãy nói đi! - Ông hét lên đe dọa.
- Không, tôi không tin lại có người nào ti tiện đến độ buộc tội tôi như ông vừa nói.
Poirot gật đầu, như vừa quyết định một việc gì quan trọng.
- Thôi được - ông nói - Thế thì tôi sẽ nói thay cho ông.
Alfred Inglethorp lại nhổm dậy.
- Ông ư? Làm sao ông có thể nói được? Ông chả biết gì…
Hắn vội im bặt.
Poirot quay sang đối diện với chúng tôi.
- Thưa quý ông, quý bà, tôi sẽ nói. Hãy nghe đây. Tôi, Hercule Poirot khẳng định rằng người đàn ông đã bước vào hiệu thuốc tây và mua Strychnin lúc mười tám giờ hôm thứ hai không phải là Inglethorp, bởi vì, vào lúc mười tám giờ chiều hôm đó, ông Inglethorp phải đưa bà Raikes về nhà, họ từ một nông trại láng giếng về. Tôi có thể kể ra năm người sẽ thề là đã trông thấy họ đi cùng với nhau, hoặc là vào lúc mười tám giờ, hoặc là muộn hơn. Và, như quý vị đều biết, nông trại Abbaye, nơi bà Raikes ở, cách làng ít ra là hai dặm. Chứng cớ này, do đó, không có gì phải ngờ vực cả.
0
CHƯƠNG VIII
NHỮNG MỐI NGHI NGỜ MỚI
 
Một sự im lặng nặng nề tiếp theo sau đó. Japp, người tỏ ra ít kinh ngạc nhất, lên tiếng trước tiên:
- Thật ra thì ông rất là phi thường, ông Poirot ạ. Tôi chắc rằng những người chứng mà ông vừa nói đến, đều là những người đáng tin cậy chứ?
- Đây này! Tôi đã soạn sẵn một danh sách gồm tên và địa chỉ của họ. Tất nhiên là đích thân ông sẽ đi gặp họ. Nhưng ông sẽ chỉ nhận thấy sự chính xác của những lời nói của tôi mà thôi.
- Tôi cũng tin chắc như vậy.
Rồi Japp xuống giọng:
- Tôi rất biết ơn ông. Tôi sẽ bị hố to nếu như tôi bắt giữ hắn.
Quay sang Inglethorp:
- Xin lỗi ông, nhưng tại sao ông lại không chịu nói điều đó ở buổi hỏi cung?
- Tôi sẽ nói lý do cho ông biết ngay đây - Poirot ngắt ngang - Có dư luận cho rằng…
- Một lời đồn đại hoàn toàn sai và rất bất công - Alfred Inglethorp nóng nảy tuyên bố.
- Và ông Inglethorp rất muốn không có vụ tai tiếng nào nổ ra vào lúc này. Có đúng như thế không?
- Hoàn toàn đúng! - Inglethorp nói - Bà Emily đáng thương của tôi còn chưa được mồ yên mả đẹp nữa. Ông có thể nào cho rằng ý muốn cắt ngang những lời đồn đại bịa đặt khác của tôi là đáng ngạc nhiên sao?
- Nói giữa chúng ta thôi, thưa ông - Japp nói - Tôi thích một ngàn lời đồn đại hơn là nguy cơ bị bắt giữ vì tội giết người. Và tôi cho rắng bà Inglethorp cũng đồng ý với tôi. Bởi vì, nếu không có ông Poirot đây thì ông cũng đã bị bắt giữ rồi, chắc chắn như tên tôi là Japp vậy.
- Có lẽ tôi đã không được thận trọng - Inglethorp khẽ nói - Nhưng ông không thể biết được, ông thanh tra ạ, tôi bị ngược đãi và phỉ báng đến mức nào đâu.
Và hắn ném một cái nhìn thù hằn về phía Evelyn Howard.
- Bây giờ, thưa ông - Japp sôi nổi nói với John - tôi muốn nhìn thấy căn phòng của nạn nhân. Sau đó tôi sẽ hỏi chuyện đám gia nhân. Xin ông đừng mất công, ông Poirot sẽ hướng dẫn tôi.
Trong khi tất cả mọi người ra khỏi phòng, Poirot quay sang tôi và ra dấu cho tôi theo ông lên lầu một. Ở đó ông nắm lấy cánh tay tôi và kéo tôi sang một bên.
- Hãy sang bên cánh kia của ngôi nhà nhanh lên. Hãy dừng lại ở phía bên này cánh cửa phục vụ. Đừng đi đâu cả cho đến khi tôi trở lại.
Rồi ông vội quay đi và bước theo hai thám tử.
Tôi làm theo lời ông và đứng chắn gần cánh cửa, vừa tự hỏi về những nguyên nhân đưa đến cái lệnh đó. Tại sao tôi lại phải đứng canh chừng ở chỗ đặc biệt này chứ? Tôi trầm ngâm nhìn ra hành lang đang trải dài trước mắt mình. Tôi bỗng nảy ra một ý nghĩ. Ngoại trừ căn phòng của Cynthia Mudoch ra, tất cả các phòng khác đều ăn thông ra cánh trái này. Tôi có phải canh chừng những ai qua lại đây không? Tôi đứng yên ở vị trí của mình. Những giây phút trôi qua. Không có ai qua lại cả. Không một biến cố nào xảy ra. Sau hai mươi phút, Poirot đến gặp tôi.
- Anh đã không đi đâu chứ?
- Không. Tôi đứng yên ở đây như một tượng đá. Chẳng có chuyện gì xảy ra cả.
- À!
Ông có được hài lòng hay không?
- Anh có thấy gì không? - Ông hỏi tiếp.
- Không.
- Nhưng có lẽ anh nghe thấy cái gì chăng? Như tiếng rơi của một vật nặng, chẳng hạn? Thế nào hả, anh bạn?
- Không?
- Có thể nào như thế sao? À! Thế nhưng tôi lại giận dữ với chính mình. Thông thường tôi không đến nỗi vụng về lắm, tôi chỉ mới đụng nhẹ một chút thôi (tôi thừa biết những cái đụng nhẹ của Poirot ra sao rồi) bằng tay trái, thế mà chiếc bàn gần giường đã đổ ngay.
Ông có vẻ hối tiếc và bối rối rất trẻ con đến độ tôi vội an ủi ngay:
- Nào, ông bạn già, thì đã sao nào? Thắng lợi lúc nãy ở dưới nhà đã khiến ông bị kích thích. Tôi phải thừa nhận với ông đấy là cả một sự bất ngờ đối với tất cả chúng tôi. Quan hệ giữa Inglethorp và bà Raikes phải nghiêm trọng hơn chúng tôi tưởng, để hắn ta phải cố thủ trong im lặng hoàn toàn đến như thế. Ông sẽ làm gì bây giờ đây? Còn những người của Scotland Yard thì đâu rồi?
- Ở dưới nhà, đang tra hỏi đám gia nhân. Tôi đã chỉ dẫn mọi việc cho họ. Tôi phải thú nhận rằng Japp đã làm tôi hơi thất vọng đấy. Ông ta chẳng có phương pháp gì cả.
- Này - tôi nhìn qua cửa sổ nói - ông bác sĩ Bauerstein đến đấy. Tôi đồng ý với ông về người đàn ông này, ông Poirot ạ. Tôi không thích hắn ta chút nào.
- Ông ta rất thông minh - Poirot trầm tư nhận xét.
- Ồ! Thông minh một cách quái đản. Tôi phải thú nhận tôi rất thích thú khi trông thấy ông ta hôm thứ ba. Chắc ông chưa nhìn thấy cảnh tượng nào như thế đâu.
Và tôi tả lại cuộc phiêu lưu của Bauerstein.
- Trông cứ như một hình nộm vậy - tôi tiếp - Người ông ta dính đầy bùn từ đầu đến chân. Ông ta không muốn vào nhà. Chúng tôi vừa mới ăn tối xong, nhưng ông Inglethorp đã nài ép.
- Sao chứ? - Poirot lắc mạnh vai tôi - Bác sĩ Bauerstein đã có mặt ở đây vào tối hôm thứ ba ư? Ở đây ư? Thế sao anh không cho tôi biết? Tại sao anh lại không nói với tôi điều đó? Tại sao? Tại sao?...
Trông ông ta cứ như bị dày xéo bởi một cơn cuồng loạn thật sự.
- Ông Poirot thân mến - tôi kếu lên - tôi không biết rằng ông quan tâm đến chuyện đó. Nó có vẻ như không có tầm quan trọng nào cả.
- Không quan trọng! - Poirot gào lên - Nhưng nó quan trọng bậc nhất đấy! Thế ra bác sĩ Bauerstein đã có mặt ở đây vào tối hôm thứ ba, tối hôm xảy ra án mạng. Nhưng Hastings này, anh không thấy điều đó làm thay đổi tất cả, hoàn toàn tất cả sao?
Tôi chưa bao giờ thấy ông ta xúc động đến như thế. Buông tôi ra, ông máy móc dựng một cặp chân nến lên, vừa khẽ nói như với chính mình:
- Phải, điều đó làm thay đổi tất cả, tuyệt đối thay đổi tất cả.
Rồi bỗng như ông vừa quyết định điều gì.
- Nào - ông nói - chúng ta phải hành động không chút chậm trễ. Ông Cavendish đâu nhỉ?
Chúng tôi tìm thấy John trong phòng hút thuốc. Poirot đến thẳng trước mặt anh.
- Ông Cavendish ạ, một vụ việc quan trọng gọi tôi đến Tadminster. Tôi có thể dùng xe hơi của ông không?
- Tất nhiên rồi. Ông cần đến nó ngay không?
- Xin phép ông.
John nhấn chuông và ra lệnh cho đem xe đến.
 
* * *
0
Mười phút sau, chúng tôi phóng ra khỏi khuôn viên và lao như bay trên đường cái dẫn đến Tadminster.
- Ông Poirot ạ - tôi nhẫn nại nói - bây giờ ông có thể cho tôi biết tất cả những thứ này có ý nghĩa gì chứ?
- Thế này đây, anh bạn ạ, anh có thể thể tự mình đoán được một phần. Anh cũng ý thức được, một khi mà ông Inglethorp vô can thì tất cả tình thế đều bị đảo lộn. Chúng ta phải giải quyết một vấn đề mới. Bây giờ thì chúng ta biết rằng có một người không đến mua thuốc độc. Chúng ta sẽ gạt sang một bên những dấu vết giả tạo. Chúng ta phải tìm ra những dấu vết thật sự. Tôi tin chắc bất cứ người nào trong gia đình, ngoại trừ bà Cavendish ra, người bận chơi quần vợt với anh, đều có thể giả danh ông Inglethorp vào chiều hôm thứ hai. Mặt khác, qua lời khai của ông này, chúng ta đã biết rằng ông ta đã đặt tách cà-phê trong tiền sảnh. Thế mà ở buổi hỏi cung, chẳng có ai lưu ý đến chi tiết ấy, nhưng bây giờ thì nó lại có ý nghĩa hẳn. Chúng ta phải tìm kiếm người nào kết cục đã mang cà-phê cho bà Inglethorp và đã đi ngang qua hành lang trong khi tách cà-phê còn đặt trên bàn. Theo lời anh thì chỉ có hai người đã không đụng đến tách cà-phê ấy: bà Cavendish và cô Cynthia.
Tôi cảm thấy nhẹ người hẳn, Mary Cavendish chắc chắn sẽ vô can.
- Khi chứng minh sự vô can của Inglethorp - Poirot tiếp - tôi đã buộc phải để lộ kế hoạch của mình ra sớm hơn dự định. Bởi vì, khi người ta còn tin tôi đang theo đuổi ông ta thì tên tội phạm thật sự không đề phòng. Bây giờ thì hắn sẽ thận trọng gấp đôi.
Ông bỗng quay sang tôi.
- Hãy cho tôi biết, Hastings ạ, anh có những ngờ vực chính xác về một người nào đó không?
Tôi do dự. Nói cho đúng thì có một ý nghĩ điên rồ và vô lý đã thoáng qua đầu tôi một đôi lần. Tôi đã gạt bỏ nó đi vì nó rất phi lý, nhưng nó vẫn đeo đuổi theo tôi mãi.
- Không thể gọi đó là một sự ngờ vực được - tôi khẽ nói - nó thật phi lý biết mấy!
- Nào, đừng ngại gì cả! - Poirot nói với giọng đầy khích lệ - Hãy nói một cách trung thực. Phải luôn luôn quan tâm đến linh tính của mình.
- Thế này đây - tôi thú nhận - nó thật hoàn toàn vô lý! Nhưng tôi nghi ngờ cô Howard đã không nói hết những gì mình biết.
- Cô Howard ư?
- Phải, ông sẽ chế giễu tôi cho mà xem.
- Không đâu. Tại sao tôi lại chế giễu anh chứ?
- Tôi không thể nào không nghĩ rằng chúng ta đã bỏ qua không tính đến cô ta trong số những người có thể bị tình nghi, chỉ vì cô ta đã rời bỏ Styles, nhưng dù sao đi nữa thì cũng chỉ có khoảng hai mươi cây số thôi. Một chiếc xe hơi sẽ vượt qua khoảng cách đó trong vòng nửa tiếng đồng hồ. Liệu chúng ta có thể khẳng định cô ta không có mặt ở Styles vào buổi tối hôm xảy ra vụ án không?
- Có, anh bạn của tôi ạ - Poirot tuyên bố khẳng định điều đó - Một trong những việc đầu tiên tôi đã làm là gọi điện cho bệnh viện nơi cô ta làm việc.
- Rồi sao?
- Tôi được biết cô Howard trực vào trưa hôm thứ ba, do có một đoàn thương binh được chuyển đến bất ngờ, cô ta đã vui vẻ tình nguyện trực vào buổi tối hôm đó luôn, và đề nghị của cô ta đã được chấp nhận với lòng biết ơn sâu sắc. Điều này đã đánh ta mối ngờ vực của anh rồi đấy.
- Ồ! - Tôi nói, hơi giận dỗi - Thật ra thì mối ác cảm mãnh liệt mà cô ta biểu hiện đối với Inglethorp đã khiến tôi nghi ngờ cô ta trước tiên. Tôi không thể nào không cho rằng cô ta sẽ tìm cách hại hắn cho bằng được. Và tôi có ý nghĩ cô ta có thể biết điều gì về việc tiêu hủy tờ di chúc. Có thể cô ta đã đốt tờ di chúc mới, tưởng đó là cái trước, thuận lợi cho Inglethorp. Cô ta căm giận hắn biết mấy.
- Anh cho rằng mối ác cảm mãnh liệt của cô ấy không được tự nhiên sao?
- Vâng. Cô ta hung hăng đến kỳ quặc. Tôi còn phải tự hỏi xem cô ta có hơi bất bình thường nữa không.
Poirot lắc đầu một cách quyết liệt.
- Không, không. Về điểm này thì anh lầm to. Ở cô Howard chả có gì là bất bình thường cả, cô ta là một thí dụ điển hình của lẽ phải theo kiểu Anh. Cô ta chính là hiện thân của thân thể và đầu óc khỏe mạnh.
- Tuy vậy, sự thù hận của cô ta đối với Inglethorp có vẻ gần như là bệnh hoạn. Tôi có ý nghĩ, có lẽ là rất lố bịch, cô ta có ý định đầu độc hắn nhưng bà Inglethorp lại uống nhầm thuốc độc ấy. Nhưng tôi lại không hiểu chuyện đó có thể xảy ra như thế nào. Tất cả chuyện này đều vô lý đến cực độ.
- Thế mà anh lại có lý về một điểm. Sẽ luôn luôn khôn khéo nếu như mình nghi ngờ tất cả mọi người cho đến khi nào mình có thể chứng minh một cách đúng đắn và vừa theo ý mình là họ vô can. Thế thì, có lý lẽ gì chống lại ý kiến cho rằng cô Howard đã cố ý đầu độc bà Inglethorp không?
 - Nhưng cô ta rất tận tụy với bà ấy kia mà - tôi phản đối.
- Thôi đi nào - Poirot kêu - Anh suy luận như một đứa trẻ con vậy. Nếu như cô Howard có đủ can đảm để đầu độc bà già thì cô ta cũng có thể giả vờ tận tụy với bà ta. Chúng ta cần tìm kiếm ở chỗ khác cơ. Anh hoàn toán đúng khi cho rằng mối ác cảm của cô ta đối với Inglethorp quá mãnh liệt để có thể là tự nhiên, nhưng anh lại hoàn toàn sai khi rút ra kết luận về điều đó. Tôi đã có những kết luận riêng của mình mà tôi cho là đúng đắn, nhưng tôi sẽ không nói ra trong lúc này đâu.
Ông ngừng một lúc rồi tiếp:
- Thế nhưng, theo cách suy nghĩ của tôi, có một lý lẽ không thể bác bỏ được đã gạt bỏ việc cô Howard là kẻ giết người ra.
- Và đó là lý lẽ gì?
- Đó là việc cái chết của bà Inglethorp không đem lại lợi lộc gì cho cô ta cả; bằng cách này hay bằng cách khác đi nữa. Mà không có vụ giết người nào mà không có động cơ cả.
Tôi suy nghĩ.
- Bà Inglethorp không thể nào lập một tờ di chúc thuận lợi cho cô ta sao?
Poirot lắc đầu.
- Nhưng chính ông đã đưa ra giả thiết đó với ông Wells kia mà.
Poirot mỉm cười.
- Tôi có lý do để làm chuyện đó. Tôi không muốn nêu lên cái tên mà tôi đã nghĩ đến. Cô Howard có vị trí tương tự, và tôi đã dùng tên cô ta thay cho tên kia.
- Tuy vậy, tờ di chúc lập vào buổi trưa hôm bà ta qua đời có thể…
Poirot lại lắc đầu một cách hết sức cương quyết, đến độ tôi phải ngưng lại.
- Không, anh bạn ạ. Tôi có vài ý nghĩ nho nhỏ của riêng mình về vấn đề tờ chúc thư đó. Ít ra tôi cũng có thể nói với anh điều này: cô Howard không phải là người được hưởng di sản đâu.
Tôi chấp nhận sự tự tin đó mà không làm sao hiểu nổi tại sao ông lại có thể quả quyết đến như vậy.
- Thôi thì - tôi thở dài nói - chúng ta sẽ tha bổng cho cô Howard vậy. Cũng tại ông một phần mà tôi đã nghi ngờ cô ta đó. Chính những lời nói của ông về lời khai của cô ta ở buổi hỏi cung đã khiến tôi nghĩ đến cô ta đấy.
Poirot có vẻ quan tâm.
- Tôi đã nói gì về lời khai của cô ta ở buổi hỏi cung chứ?
- Ông không nhớ sao? Khi tôi quả quyết ta có thể bỏ cô ta và John ra ngoài mọi nghi ngờ?
- Ồ! À, phải rồi!
Ông hơi bối rối nhưng trấn tĩnh lại ngay.
- Này Hastings ạ, tôi muốn yêu cầu anh giúp tôi một việc.
- Được thôi. Việc gì thế?
- Khi nào anh gặp riêng Laurence Cavendish thì anh hãy bảo anh ta như thế này: “Ông Poirot nhờ tôi nói với anh rằng: hãy tìm ra cái tách cà-phê bị mất đi và anh có thể yên tâm đấy”. Đừng thêm bớt gì cả.
- “Hãy tìm ra cái tách cà-phê bị mất đi và anh có thể yên tâm”. Có đúng như thế không?
- Hay lắm.
- Nhưng thế là nghĩa gì chứ?
- À! Điều đó thì tôi sẽ để anh tự đoán lấy. Anh đã có trong tay tất cả mọi con bài. Hãy nói như vậy với anh ta, chỉ đơn giản như thế thôi, xem anh ta trả lời ra sao.
- Được rồi, nhưng tất cả những thứ này thật bí ẩn.
Chúng tôi đến Tadminster và Poirot lái xe đến hiệu thuốc tây Analyses. Ông nhanh nhẹn nhảy xuống xe, bước vào cửa tiệm và vài phút sau đã trở ra.
- Xong rồi - ông bảo - tôi đã làm những gì cần phải làm.
- Ông đến đây làm gì? - Tôi hỏi, bị thiêu đốt bởi sự tò mò cực độ.
- Tôi đã đem phân tích một thứ.
- Thứ gì?
- Vài giọt ca-cao mà tôi đã lấy được ở đáy xoong trong phòng ngủ.
- Nhưng người ta đã phân tích nó rồi kia mà - tôi kêu lên kinh ngạc - Bác sĩ Bauerstein đã cho làm điều đó và chính ông đã cười trước ý nghĩ rằng nó có thể chứa đựng Strychnin kia mà.
- Tôi biết rằng bác sĩ Bauerstein đã cho phân tích - Poirot thản nhiên đáp.
- Thế thì sao?
- Tôi muốn cho phân tích lại lần nữa, thế thôi.
Và tôi không thể nào moi thêm ở ông một lời nào nữa về vấn đề đó.
Tôi rất đổi thắc mắc về việc làm đó của Poirot. Tôi thấy nó chả ăn nhập vào đâu cả. Tuy vậy, lòng tin của tôi đối với ông, vào một lúc nào đó có hơi giảm sút, đã được phục hồi hoàn toàn từ khi ý kiến của ông về sự vô can của Alfred Inglethorp được chứng minh một cách vẻ vang.
 
* * *
0
Đám tang của bà Inglethorp diễn ra vào ngày hôm sau, và hôm thứ hai, khi tôi xuống dùng điểm tâm muộn, John kéo tôi ra vào báo cho tôi biết, ông Inglethorp sẽ bỏ đi ngay sáng hôm đó để đến ở tại quán “Vũ khí Stylites” cho đến khi có lệnh mới.
- Tôi thật nhẹ nhõm khi nghĩ rằng hắn ta bỏ đi, Hastings ạ - anh bạn trung thực của tôi bảo. Trước đây, việc chúng ta nghi ngờ hắn là thủ phạm đã khá nặng nề rồi, nhưng bây giờ còn khó chịu hơn khi chúng ta tự trách mình đã bất công đối với hắn. Bởi vì chúng ta đã đối xử với hắn thật thậm tệ. Tất nhiên rồi, tất cả đều có vẻ bất lợi cho hắn… Tôi không thấy tại sao người ta lại có thể trách cứ chúng ta được. Tuy nhiên, chúng ta đã lầm, và chúng ta có cảm giác rất khó chịu rằng chúng ta phải xin lỗi hắn, điều đó thật là khó khăn, trong khi chúng ta vẫn ghét hắn như trước. Tình thế thật là rắc rối. Rất may là mẹ tôi đã không thể để lại Styles cho hắn. Tôi không thể chịu nổi ý nghĩ rằng một ngày nào đó hắn sẽ ngự trị ở đây. Nhưng còn tiền thì hắn vẫn có thể bỏ túi.
- Tuy vậy, anh có thể chăm sóc khu đất này không?
- Ồ! Có chứ. Tất nhiên là còn phải đóng thuế nữa, nhưng phân nữa tiền của ba tôi được kèm theo khu đất. Và Laurence sẽ ở với chúng tôi trong lúc này, như thế phần của cậu ta sẽ nhập chung vào với chúng tôi. Chúng tôi sẽ hơi túng thiếu lúc đầu, như tôi đã nói với cậu, tôi hơi bị eo hẹp về tài chánh. Nhưng bây giờ thì các chủ nợ bằng lòng đợi.
Trong sự nhẹ nhõm hoàn toàn do sự ra đi của Inglethorp, chúng tôi có được một bữa ăn trưa yên tĩnh nhất mà chúng tôi được thưởng thức từ khi thảm kịch xảy ra. Cynthia, có sức lực của tuổi trẻ, đã hoàn toàn trở lại là chính mình, cô xinh đẹp hơn bao giờ hết. Đồng thời, ngoại trừ Laurence vẫn luôn luôn ít nói và nóng nảy, chúng tôi đều thanh tịnh như đang đứng trước một tương lai đầy hy vọng.
Tất nhiên là báo chí đã khai thác tấn bi kịch. Những dòng tít lớn, những bức chân dung của mọi người trong gia đình, những lời ám chỉ tinh tế và sự loan báo thông thường về những dấu vết mà cảnh sát có trong tay… chả thiếu một thứ gì cả. Những cuộc hành quân ngoài mặt trận đang tạm ngưng nên báo chí háo hức nắm lấy vụ án trong giới quyền quý này. “Vụ giết người bí ẩn ở Styles” là đầu đề của tất cả những cuộc đối thoại trong lúc này.
Tất cả những thứ đó thật khó chịu cho gia đình Cavendish, ngôi nhà của họ thường xuyên bị các phóng viên trấn giữ, những người này không được phép vào nhà nhưng vẫn cứ tiếp tục bám lấy ngôi làng và khuôn viên, hễ bất cứ người nào trong gia đình héo lánh ra khỏi nhà là bị những chiếc máy ảnh vồ lấy ngay. Chúng tôi sống trong cơn lốc của sự quảng cáo. Những vị đại diện của Scotland Yard đi tới đi lui, quan sát, tra hỏi, với cặp mắt tinh ranh và miệng lưỡi hay bắt bẻ. Chúng tôi không làm sao biết được mục đích lẫn kết quả của những cuộc điều tra của họ. Họ có thật sự nắm được dấu vết gì không, hay là sự việc sẽ bị xếp lại nay mai đây thôi?
Sau bữa trưa, Dorcas đến tìm tôi, đầy ẩn ý, và xin tôi vài phút tiếp xúc.
- Được thôi. Có chuyện gì thế, bà Dorcas?
- Có lẽ hôm nay ông sẽ gặp cái ông người Bỉ chứ?
Tôi gật đầu.
- Ông có nhớ ông ta đặc biệt hỏi tôi xem bà chủ hay ai khác trong nhà có chiếc áo màu xanh lục không?
- Có, có. Bà đã phát hiện được điều gì?
Trí tò mò của tôi bị đánh thức.
- Không, thưa ông. Nhưng tôi chợt nhớ rằng các cậu chủ (đối với Dorcas thì John và Laurance luôn luôn vẫn là “các cậu chủ”) có cái mà họ gọi là rương quần áo. Nó để trên nhà kho: đó là một chiếc hòm lớn đầy quần áo cũ, y phục và những thứ đại loại như thế. Tôi chợt nảy ra ý nghĩ ở đó có thể có một chiếc áo màu xanh lục. Vậy, nếu như ông có thể báo cho ông người Bỉ biết…
- Tôi sẽ báo cho ông ta, bà Dorcas ạ…
- Cám ơn ông nhiều. Ông ấy rất tử tế, khác xa hai ông thám tử ở London, họ cứ chúi mũi vào mọi nơi và đặt đủ mọi câu hỏi. Thông thường thì tôi không ưa gì những người ngoại quốc, nhưng, theo như báo chí nói, tôi thấy những người Bỉ chính trực này không giống như những người ngoại quốc bình thường. Và chắc chắn ông ta là một người đàn ông quý phái và rất lịch sự.
Bà Dorcas này thật tốt bụng. Trong khi bà nói, gương mặt trung hậu của bà ngước nhìn tôi, và tôi cho rằng bà quả là loại người giúp việc thời xưa, bây giờ rất hiếm thấy.
 
* * *
0
Tôi quyết định vào làng tìm Poirot. Nhưng dọc đường tôi gặp ông đang đi đến Styles Court và tôi chuyển ngay cho ông lời của bà Dorcas.
- A, cái bà Dorcas trung hậu! Chúng ta sẽ xem xét chiếc rương ấy, mặc dù… mà thôi, mặc kệ, chúng ta cứ thử xem sao.
Chúng tôi vào bằng lối của một trong những cửa sổ lớn. Không có ai trong hành lang cả và chúng tôi leo thẳng lên nhà kho. Ở đó chúng tôi tìm thấy một chiếc hòm cũ được trang trí bởi những chiếc đinh đồng và nhét đầy quần áo đủ loại.
Poirot thẳng thừng trút những gì chứa trong đó ra sàn nhà. Có một hoặc hai chiếc áo màu lục, với những màu sắc khác nhau. Nhưng Poirot vội quẳng chúng đi ngay. Ông có vẻ khá uể oải trong khi tìm kiếm, cứ như ông không hy vọng gì ở kết quả cả. Bất thình lình, ông kêu lên.
- Cái gì vậy? - Tôi hỏi.
- Hãy xem đây.
Chiếc rương gần như là trống trơn, và tôi thấy, trên tấm ván ở dưới đáy, một bộ râu màu đen tuyệt đẹp.
- Ồ! Ồ! - Poirot nói.
Ông lật đi lật lại bộ râu trong tay và quan sát thật gần.
- Mới toanh, hoàn toàn mới - ông nói.
Sau một lát do dự, ông đặt nó vào rương lại và chất tất cả quần áo lên trên. Rồi ông vội bước xuống nhà ngay và tiến về phía nhà bếp, nơi chúng tôi tìm thấy Dorcas đang đánh bóng đồ đạc.
- Chúng tôi vừa xem xét chiếc rương xong, bà Dorcas ạ - Poirot nói - Tôi rất biết ơn bà đã nói cho chúng tôi biết. Trong đó có cả một bộ sưu tập quần áo tuyệt đẹp. Bà có thể cho tôi biết họ có thường dùng đến chúng không?
- Thưa ông, đúng ra thì ngày nay họ ít dùng đến chúng mặc dầu thỉnh thoảng cũng có cái mà các cậu chủ gọi là “một buổi dạ hội hóa trang” nhiều lúc cũng vui lắm. Cậu Laurence thật là hay. Khôi hài hết sức. Tôi không bao giờ quên được buổi tối hôm cậu ấy bước xuống trong y phục quốc vương Ba Tư, một nhà vua phương Đông. Cậu ta cầm trong tay một con dao rọc giấy lớn và nói với tôi: “Cẩn thận đấy Dorcas! Đây là thanh gươm sắc bén của ta và ta rất bực mình vì mi, ta sẽ chặt đầu mi”. Cô Cynthia thì lại là một tên du côn, một tên vô lại người Pháp, nếu như tôi không lầm. Người ta không thể nào tin được rằng một cô gái xinh đẹp như thế lại trở thành một tên côn đồ gớm ghiếc như vậy. Không ai có thể nhận ra cô ta được.
- Những buổi tối như thế quả là vui thật - Poirot thật thà nhận xét - Tôi đoán rằng khi hóa trang làm vua Ba Tư, ông Laurence có đeo bộ râu giả màu đen tuyệt đẹp mà tôi đã thấy trong chiếc rương trên nhà kho chứ?
- Quả là cậu ta có đeo râu giả, thưa ông - Dorcas mỉm cười nói - Tôi biết rõ lắm vì cậu ta có mượn tôi hai cuộn len đen để làm râu giả. Nhìn từ xa thì trông nó giống thật lắm. Tô không biết rằng trên đó có một bộ râu giả. Có lẽ họ mua gần đây thôi. Tôi biết ở trên đó có một bộ tóc giả màu hung. Họ thường dùng nút bấc đốt cháy, mặc dù khó mà lau đi được. Có lần cô Cynthia đã cải trang thành mọi da đen và sau đó thì cô ấy khổ sở biết mấy.
 
* * *
0
«« « 1 2 » »»