📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Hiệu Đính Truyện

Ông già Khốttabít (NEW)

67 trả lời, 12.460 lượt xem — Trang 1 / 3
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-08-18 15:34:54ct.ly>
ÔNG GIÁ KHỐTTABÍT
Nguyên tác: L. Laghin
Minh Đăng Khánh dịch


LAGHIN LADARI IÔXÍP (1903-1979): Nhà văn Xôviết, Đảng viên Đảng Cộng sản Liên Xô từ năm 1920. Các tác phẩm chính: truyện cổ tích hiện đại cho trẻ em. Ông già Khốttabít (1938), tiểu thuyết giả tưởng Atavia Prôxima (1956), Người xanh (1966)...
(trích Từ điển BÁCH KHOA TOÀN THƯ LIÊN XÔ, Mátxcơva, 1983)

Sáng tác của L. Laghin đặc sắc và độc đáo. Trong các tác phẩm của ông, tính sắc sảo trào lộng kết hợp chặt chẽ với tính xác thực của vấn đề được miêu tả. Tính giả tưởng và tính hiện thực ở các tác phẩm của ông gắn bó hữu cơ với tính giản dị có sức thuyết phục và tính tự nhiên.
(trích lời giới thiệu L. LAGHIN TUYỂN TẬP, NXB Văn học nghệ thuật Mátxcơva, 1975)

“Ông già Khốttabít” (1938-1955) được in nhiều lần ở Liên Xô trước đây và ở nhiều nước khác, trong đó có Việt Nam, đồng thời được dựng thành phim. Hai từ “Cụ Khốt” quen thuộc ở ta bắt nguồn từ tác phẩm này.

Bản dịch tiếng Việt “Ông già Khốttabít” được NXB Măng Non (tiền thân của NXB Trẻ, TP. Hồ Chí Minh), in lần thứ nhất năm 1984, NXB Thuận Hóa (Huế) tái bản năm 1985, NXB Cầu Vồng (Mátxcơva) hợp tác với NXB Kim Đồng (Hà Nội) tái bản năm 1990...
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-08-18 15:36:17ct.ly>
LỜI TÁC GIẢ

Trong tác phẩm Nghìn lẻ một đêm có “Chuyện người đánh cá”. Khi kéo lưới từ dưới biển lên, người đánh cá nọ thấy trong lưới có một cái bình bằng đồng, trong bình lại có một ông thần cao lớn, người Arập gọi là “gin” (1). Ông thần này bị giam cầm trong cái bình ấy gần 2.000 năm. Ông ta đã thề sẽ đem lại hạnh phúc cho ai giải thoát được ông ta: làm cho người đó trở nên giàu có, mở cửa tất cả các kho báu trên trái đất cho người đó, làm cho người đó trở thành một xuntan (2) hùng mạnh nhất trong tất cá các xuntan và ngoài ra còn thỏa mãn ba điều ước của người đó.
Hay chẳng hạn, truyện “Alađanh và cây đèn thần”. Một cây đèn cũ kỹ tưởng chừng chẳng có gì đáng chú ý, có thể nói rằng đó chỉ là một thứ đồ vứt đi. Ấy thế mà chỉ cần miết ngón tay vào cây đèn là bỗng nhiên một ông thần từ đâu đó hiện ra và thỏa mãn bất kỳ điều ước nào của người chủ cây đèn, kể cả những điều ước phi lý nhất. Các bạn muốn thưởng thức những đồ ăn, thức uống cực kỳ hiếm có ư? Xin mời! Các bạn muốn có những cái rương chất đầy vàng và đá quý ư? Xin sẵn sàng! Các bạn muốn có một cung điện nguy nga tráng lệ ư? Xin có ngay! Các bạn muốn biến kẻ thù của các bạn thành một dã thú hoặc một con vật bò sát ư? Xin hết sức vui lòng!
Cứ để cho ông thần ấy tùy ý trao tặng vật cho người chủ của mình thì những cái rương quý báu kia lại hiện ra tới tấp và những cung điện nọ cua các xuntan lại biến thành của riêng cho người chủ dùng.
Theo quan niệm của các ông thần trong truyện cổ tích và theo những điều ước mà họ đã thỏa mãn trong truyện ấy thì đó chính là niềm hạnh phúc trọn vẹn nhất của con người, một niềm hạnh phúc mà người ta chỉ có thể mơ ước mà thôi.
Hàng trăm và hàng trăm năm đã trôi qua từ khi những truyện cổ tích đó được kể lần đầu tiên, song những quan niệm về hạnh phúc vẫn còn gắn rất lâu với những cái rương chất đầy vàng và kim cương, với quyền lực đối với người khác. Và cho đến tận nay, ở các nước tư bản chủ nghĩa, nhiều người vẫn đang gắn quan niệm hạnh phúc với những thứ như vậy.
Ôi, những con người đó chỉ ước mơ sao chính cái ông thần bị giam hãm lâu ngày trong truyện cổ tích kia hiện đến với họ cùng những cung điện và những châu báu của mình! Dĩ nhiên, họ nghĩ rằng bất cứ một ông thần nào bị giam cầm tới 2.000 năm cũng phải lạc hậu đôi chút so với cuộc sống. Và có thể cái cung điện mà ông ta trao tặng sẽ không hoàn toàn tiện nghi theo quan điểm của những thành tựu kỹ thuật hiện đại. Quả là so với thời quốc vương Hồi giáo Harun An Rasít (3) khoa kiến trúc đã tiến bộ quá chừng! Đã xuất hiện những phòng tắm, những thang máy, những cửa sổ lớn đầy ánh sáng, hệ thống sưởi bằng hơi nước, ánh sáng đèn điện.., Nhưng thôi được, cũng chẳng nên chê ỏng chê eo làm gì. Cứ mặc cho ông thần ấy tặng những cung điện tùy theo ý thích của ông ta. Chỉ cần có những cái rương chất đầy vàng và kim cương là tuyệt rồi, còn mọi thứ khác rồi ắt sẽ có thôi: nào là sự tôn kính, nào là quyền lực, nào là những món ăn, nào là cuộc sống sung sướng, nhàn hạ của một kẻ vô công rồi nghề thường coi khinh tất cả những ai sống bằng các thành quả lao động của mình. Với một ông thần như vậy, có thể phải chịu đựng đủ thứ chuyện bực mình. Và cũng chẳng sao, nếu ông ta không biết nhiều quy tắc sinh hoạt công cộng hiện nay và những cử chỉ thanh lịch, nếu ông ta thỉnh thoảng lại đặt bạn vào một tình cảnh trớ trêu. Những con người ở cái nước tư bản chủ nghĩa đó sẽ tha thứ mọi chuyện cho ông thần có thể quăng ra những cái rương chứa đầy châu báu...
Thế nhưng sẽ ra sao nếu một ông thần như vậy bỗng nhiên rơi vào đất nước chúng ta, nơi có những quan niệm hoàn toàn khác về hạnh phúc và chính nghĩa, nơi quyền lực của bọn giàu có đã bị xóa bỏ vĩnh viễn từ lâu, nơi chỉ có lao động lương thiện mới mang lại cho con người hạnh phúc, sự kính trọng và vinh quang?
Tôi cố hình dung chuyện gì sẽ xảy ra nếu một chú bé Liên Xô bình thường nhất - ở đất nước xã hội chủ nghĩa hạnh phúc cua chúng ta có hàng triệu chú bé như thế! - giải thoát được một ông thần khỏi cái bình đã giam cầm ông ta.
Và bỗng nhiên, các bạn thử tưởng tượng xem, tôi biết được rằng chú bé ấy tên là Vônca Côxtưncốp, trước kia ở cùng với chúng tôi tại Ngõ Ba Ao và chính chú bé Vônca Côxtưncốp ấy đã lặn giỏi nhất ở trại hè năm ngoái... Nhưng tốt hơn hết, các bạn hãy để cho tôi kể lại mọi chuyện theo thú tự.

---
(1) Vị thần lửa nhiều mặt trong truyện thần thoại và truyện cổ dân gian của các dân tộc theo đạo Hồi - N.D.
(2) Quốc vương Hồi giáo - N.D.
(3) Harun An Rasít (763 hay 766-809): Quốc vương Hồi giáo nổi tiếng trong triều đại Abátxít (750-1258). Hình tượng Harun An Rasít được lý tưởng hóa trong tác phẩm Nghìn lẻ một đêm - N.D.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-10-19 02:26:02ct.ly>
Buổi sáng bất thường


Bảy giờ ba mươi phút sáng, một tia nắng rực rỡ chui qua cái lỗ nhỏ xíu ở tấm mành và rọi vào đúng mũi cậu học sinh lớp 6 Vônca Côxtưncốp. Vônca hắt xì hơi và thức dậy.
Đúng lúc ấy, từ buồng gần buồng Vônca vọng đến tiếng nói của mẹ:
- Chẳng cần gì phải vội, anh Aliôsa ạ. Cứ để cho cu con ngủ thêm chút nữa đã. Hôm nay, con nó phải đi thi đấy.
Vônca nhăn mặt.
Đến bao giờ mẹ mới thôi gọi nó là “cu con” đây!
- Em nói vớ vẩn gì thế? - Bố đáp lại ở bên kia bức tường ngăn - Chàng trai của chúng ta đã sắp 13 tuổi rồi. Cứ để cho con nó dậy và giúp thu xếp đồ đạc... Con nó sắp mọc râu đến nơi rồi mà em vẫn cứ “cu con”, “cu con”...
Thu xếp đồ đạc! Làm sao Vônca lại có thể quên bẵng mất chuyện đó nhỉ!
Vônca liền tung chăn và vội vã mặc quần dài. Làm sao lại có thể quên được! Một cái ngày như thế mà lại quên!
Hôm nay, gia đình Côxtưncốp dọn đến căn nhà mới ở một ngôi nhà 5 tầng mới xây. Ngay từ hôm trước, gần như tất cả đồ đạc đã được đóng gói, chằng buộc. Mẹ và bà nội đã xếp bát đĩa vào cái chậu tắm mà xưa kia họ đã từng tắm cho bé Vônca. Còn bố, sau khi xắn tay áo và ngậm đầy một mồm đinh như ông thợ giày, đã đóng chặt những thùng đựng sách. Sau đó, cả nhà bàn xem nên chất đồ đạc ở đâu để sáng mai đưa ra xe cho tiện. Rồi mọi người uống trà theo kiểu dã chiến, bên chiếc bàn không trải khăn. Cuối cùng, họ quyết định rằng buổi sáng sẽ sáng suốt hơn buổi tối và đi ngủ.
Nói tóm lại, không tài nào hiểu nổi làm sao Vônca lại có thể quên mất chuyện sáng hôm nay sẽ dọn đến căn nhà mới...
Chưa kịp uống xong nước trà thì các bác công nhân khuân vác đã bước thình thịch vào. Việc đầu tiên là họ mở toang cả hai cánh cửa và với giọng oang oang hỏi:
- Có thể bắt đầu được chưa?
- Xin cứ việc! - Mẹ và bà cùng trả lời một lúc rồi cuống cả lên.
Vônca thận trọng khuân cái gối dài và cái tựa lưng ở đivăng ra chiếc xe tải 3 tấn có mui đang đậu ngoài đường.
- Nhà cậu dọn đi à? - Một chú bé hàng xóm hỏi Vônca.
- Dọn qua đi chứ! - Vônca khinh khỉnh trả lời, làm ra vẻ như tuần nào nó cũng dọn nhà và đối với nó chuyện đó chẳng có gì là lạ cả.
Bác quét sân Xtêpanứt bước đến gần, trầm ngâm vấn một điếu thuốc và bác bắt chuyện nghiêm chỉnh với Vônca như với một người ngang hàng. Chú bé hơi choáng váng vì kiêu hãnh và sung sướng. Nó thu hết can đảm và mời bác Xtêpanứt đến thăm nhà mới của mình. Bác quét sân nói: “Tôi rất lấy làm vui lòng”. Nói tóm lại, cuộc nói chuyện nghiêm chỉnh và tốt đẹp giữa hai người đàn ông đang tiếp diễn thì từ trong căn nhà bỗng vang lên tiếng gọi của mẹ:
- Vônca! Vônca! ... Thằng cu con khó chịu ấy đã biến đâu mất rồi?
Vônca chạy vội vào căn nhà trống rỗng, rộng rãi một cách lạ thường, trong đó nằm bừa bộn trợ trọi những mảnh báo cũ và những chai đựng thuốc trống không.
- Có thế chứ! - Mẹ nói - Con bê cái bể nuôi cá trứ danh của con đi và trèo ngay lên xe. Con sẽ ngồi ở chiếc đivăng trên ấy và ôm lấy cái bể. Chẳng còn chỗ nào mà để cái bể ấy cả. Nhưng coi chừng, đừng để nước sánh ra đivăng đấy nhé!
Chẳng hiểu tại sao bố mẹ lại cứ cuống lên như thế lúc dọn đến nhà mới

Ct.Ly đã hiệu định xong
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-10-19 02:27:20ct.ly>
2-Cái bình bí mật


Cuối cùng Vônca đã thu xếp được một chỗ ngồi tương đối tốt.
Bóng tối lờ mờ mát mẻ và bí ẩn bao trùm trong xe. Nếu nheo mắt lại, có thể tưởng tượng bạn đang đi không phải ở Ngõ Ba Ao mà bạn đã sống cả đời mình, mà ở một nơi nào đó tại vùng Xibia mênh mông xa lắc, nơi bạn phải chiến đấu khốc liệt với thiên nhiên để xây dựng một nhà máy mới khổng lồ của nền công nghiệp Xôviết. Và dĩ nhiên, Vônca Côxtưncốp sẽ đứng ở hàng đầu những người xuất sắc trên công trường ấy. Nó là người đầu tiên nhảy xuống xe khi đoàn xe tải đến nơi đã định. Nó là người đầu tiên dựng lều bạt của mình và nhường ngay cái lều ấy cho những người bị bệnh dọc đường, còn nó thì vừa nói đùa với các bạn cùng công trường, vừa ngồi sưởi bên đống lửa mà chính nó đã nhóm lên một cách nhanh nhẹn và khéo léo. Còn lúc giữa những cơn băng giá dữ dội hoặc những trận bão tuyết điên cuồng, một người nào đó tính giảm bớt nhịp độ lao động thì người ta sẽ nói ngay với anh ta: “Anh thật đáng xấu hổ! Hãy noi gương đội lao động kiểu mẫu của Vônca Côxtưncốp (1)...”
Đằng sau chiếc đivăng nhô lên cái bàn ăn chổng ngược bốn chân, nó bỗng trở nên hết sức lý thú và khác thường. Bên trong cái bàn, chiếc xô chất đủ thứ chai lọ kêu loảng xoảng. Chiếc giường mạ kềnh ánh lên lờ mờ ở bên thành thùng xe. Cái thùng tônô cũ kỹ mà bà vẫn thường dùng để muối dưa bắp cải vào mùa đông bỗng có cái vẻ bí ẩn và nghiêm trang đến nỗi Vônca chẳng hề ngạc nhiên tí nào, nếu nó biết rằng xưa kia chính nhà triết học Điôgien - người được nói đến trong môn lịch sử Hy Lạp cổ đại - đã từng ở trong một cái thùng như vậy.
Những tia nắng mỏng manh lọt qua các lỗ thủng nhỏ xíu ở thành xe làm bằng vải bạt. Vônca ghé mắt nhìn qua một cái lỗ thủng ấy. Trước mắt nó vùn vụt chạy qua như trên màn ảnh ở rạp chiếu bóng những đường phố vui vẻ và ồn ào; những ngõ hẻm yên tĩnh và râm mát; những quảng trường rộng lớn, trên đó các ngưòi đi bộ xếp hàng hai khắp tứ phía. Tiếp theo các người đi bộ là những cửa hiệu với các tủ kính lớn sáng loáng chứa đầy hàng hóa, trong đó là những người bán và những người mua có vẻ mặt băn khoăn; là những trường học và những sân trường đã thấy nhiều bóng áo trắng và khăn quàng đỏ của các học sinh nôn nóng nhất, thường đến trường rất sớm trong ngày thi; và những nhà hát, những câu lạc bộ, những nhà máy, những tòa nhà đồ sộ tươi màu gạch đỏ đang xây dựng, được ngăn cách với các người qua đường bằng những hàng rào ván ghép cao và bằng những vỉa hè lát gỗ hẹp.
Thế rồi chiếc xe tải của Vônca từ từ đi ngang qua rạp xiếc, một tòa nhà bí ẩn không cao lắm, có mái vòm hình tròn màu gạch. Trên tường rạp xiếc bây giờ không có những tấm bảng quảng cáo hấp dẫn với hình các con sư tử màu vàng tươi và các cô gái đẹp đứng duyên dáng một chân trên lưng những con ngựa đẹp không thể tả được. Trong dịp hè, đoàn xiếc chuyển đến Công viên Văn hóa và nghỉ ngơi, biểu diễn trong cái nhà bạt khổng lồ. Cạnh cái rạp xiếc bỏ trống không xa, chiếc xe tải vượt qua chiếc ôtô buýt màu xanh da trời chở những khách tham quan. Ba chục em nhỏ xếp hàng hai, nắm tay nhau đi trên vỉa hè và dõng dạc hát đồng ca, giọng lanh lảnh nhưng chẳng đều: “Chúng ta đâu cần bờ biển Thổ Nhĩ Kỳ! ..”. Có lẽ đây là các em ở vườn trẻ đang dạo chơi trên đại lộ... Trước mắt Vônca lại chạy qua những trường học, những hiệu bánh mì, những cửa hàng, những câu lạc bộ, những nhà máy, những rạp chiếu bóng, những thư viện, những khu nhà mới...
Thế rồi chiếc xe tải, xịt khói và thở phì phò mệt mỏi, đã đỗ lại trước cổng khu nhà mới của Vônca. Mấy bác công nhân khuân vác khéo léo chuyển đồ đạc vào nhà, rồi lên xe đi.
Sau khi mở một cách vất vả những thùng đựng các thứ cần thiết nhất, bố nói:
- Những thứ còn lại, chúng ta sẽ xếp đặt nốt khi đi làm về.
Và bố đến nhà máy.
Mẹ cùng với bà bắt đầu lấy nồi niêu bát đĩa ra, còn Vônca thì quyết định chạy ra sông một lát. Quả là bố đã cấm Vônca không được ra sông tắm mà không có bố đi cùng vì sông ở đây rất sâu, nhưng Vônca đã nhanh chóng tìm được cách bào chữa cho mình:
“Ta cần phải đi tắm để cho đầu óc được thảnh thơi. Làm sao ta lại có thể đi thi với cái đầu óc bí rì rì được! ”
Thật là lạ, bao giờ Vônca cũng biết nghĩ ra cách bào chữa khi cu cậu định làm những việc bị cấm đoán! ...
Có một con sông ở gần nhà quả là hết sức tiện lợi. Vônca nói với mẹ rằng nó đi ra bờ sông để học bài địa lý, và quả thực nó đã định lật các trang sách giáo khoa chừng mươi phút. Nhưng lúc chạy đến bờ sông, không chậm một phút, Vônca đã cởi quần áo và lao xuống nước. Trên bờ không có một bóng người. Điều này vừa hay lại vừa dở. Hay vì chẳng ai có thể ngăn cản Vônca tha hồ vùng vẫy. Dở là vì không ai có dịp thích thú xem nó bơi đẹp, nhẹ nhàng ra sao và đặc biệt nó lặn giỏi như thế nào.
Vônca bơi và lặn cho đến khi mệt lả. Bấy giờ, nó quyết định rằng thế là đủ, đã trèo hẳn lên bờ rồi, nhưng nó nghĩ lại và cuối cùng lại lặn thêm một lần nữa, xuống chỗ nước trong veo mát rượi, ánh nắng ban trưa rực rỡ rọi tới tận đáy.
Đúng vào lúc Vônca đã tính ngoi lên mặt nước, tay nó bỗng chạm phải một vật gì đó thuồng thuồng ở dưới đáy sông. Vônca vớ luôn vật ấy và ngoi lên ở ngay cạnh bờ. Trong tay nó là một cái bình gốm phủ rêu nhầy nhụa, hình thù nom rất lạ. Có lẽ Vônca đã mò được một cái bình cổ. Miệng bình được trám chặt bằng một chất nhựa màu xanh lá cây, trên đó có đóng một cái gì trông tựa như dấu ấn.
Vônca ước lượng sức nặng của cái bình. Cái bình khá nặng, và Vônca đứng ngây người.
Một kho báu! Một kho báu chứa những vật cổ xưa có ý nghĩa lớn lao về mặt khoa học!... Tuyệt quá!
Mặc vội quần áo, Vônca lao nhanh về nhà để mở bình ra ở một cái xó vắng vẻ.
Trên đuờng chạy về nhà, trong đầu Vônca đã kịp hình thành một cái tin sáng mai nhất định sẽ xuất hiện trên tất cả các báo. Thậm chí, nó còn nghĩ cho cái tin đó một đầu đề: “Em thiếu niên tiền phong giúp ích cho khoa học”. Nội dung tin đó như sau:
“Hôm qua, em thiếu niên tiền phong Vlađimia Côxtưncốp đã đến đồn công an N. và trao cho người trực ban một kho báu gồm những vật hiếm cổ xưa bằng vàng mà em đã tìm thấy dưới đáy sông, tại một nơi rất sâu. Kho báu đã được các đồng chí công an chuyển cho Viện Bảo tàng Lịch sử. Theo những nguồn tin đáng tin cậy, Vlađimia Côxtưncốp là một tay lặn tài ba”.
Lén qua nhà bếp, nơi mẹ dang chuẩn bị bữa ăn trưa, Vônca lao vào phòng nhanh đến nỗi suýt nữa thì gãy cả chân: nó vấp phải cây đèn chùm chưa kịp treo lên. Đó là cây đèn chùm trứ danh của bà. Xưa kia, từ hồi trước cách mạng, ông nội quá cố đã tự tay sửa chiếc đèn dầu thành cây đèn chùm. Đó là vật kỷ niệm của ông mà không bao giờ bà rời xa nó. Vì treo nó ở phòng ăn không được đẹp lắm nên mới dự định treo nó ở chính cái phòng mà Vônca vừa lẻn vào. Một cái móc sắt to tiếng đã được đóng trên trần để treo cây đèn chùm đó.
Vừa xoa chỗ đầu gối bị bầm, Vônca vừa khóa trái cửa lại. Sau đó, nó móc trong túi ra một con dao nhíp và run run vì hồi hộp, nó cạy cái dấu ấn ở miệng bình.
Đúng lúc ấy, cả căn phòng bỗng mịt mù khói đen hăng hắc, rồi một cái gì đó tựa một vụ nổ không phát ra tiếng đã hất tung Vônca lên trần nhà và nó bị mắc quần vào đúng cái móc định dùng để treo cây đèn chùm của bà nội.
---
(1) Tức Vônca, gọi nguyên cả tên và họ - N.D.

Ct.Ly đã hiệu đính xong
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-10-19 02:27:47ct.ly>
3Ông già Khốttabít


Trong lúc Vônca đu đưa trên cái móc, cố tìm hiểu xem chuyện gì đã xảy ra, thì đám khói tan đi đôi chút và Vônca bỗng phát hiện ra rằng ở trong phòng, ngoài nó ra, còn có một người nữa. Đó là một ông già nhỏ nhắn, gầy nhom, nước da ngăm ngăm, râu dài đến tận thắt lưng, đầu đội khăn xếp rất đẹp, mặc chiếc áo dài len mỏng màu trắng (trên áo có thêu những đường chỉ bằng vàng, bằng bạc rất sang trọng) và chiếc quần lụa ống rộng trắng tinh, đi đôi giày da dê thuộc màu hồng nhạt có mũi vểnh cao.
- Hắt xì! - Ông già hắt hơi đến váng óc và phủ phục - Xin chào cậu, hỡi cậu thiếu niên xinh đẹp và thông minh!
Vônca nheo mắt rồi lại mở mắt ra: không, ông già lạ lùng ấy quả thật không phải do Vônca tưởng tượng ra. Đấy, ông ta vẫn còn quỳ, vừa xoa xoa hai bàn tay khô khốc, vừa trố cặp mắt thông minh và tinh anh, không phải của một người già, để nhìn các thứ đồ đạc trong phòng của Vônca, dường như đấy là những thứ kỳ quan nào đó.
- Ông từ đâu đến vậy? - Vônca thận trọng hỏi, nó vẫn đu đưa chậm chạp ở tít trần nhà như một con lắc – Ông... ông ở nhóm nghệ thuật nghiệp dư đến phải không ạ?
- Ồ không, hỡi ông chủ trẻ tuổi của ta! - Ông già trả lời một cách cầu kỳ, vẫn tiếp tục quỳ ở cái tư thế bất tiện và hắt hơi dữ dội - Ta không phải ở nước Nghệ thuật nghiệp dư” mà ta chưa hề biết. Ta chui ra từ chính cái bình đáng nguyền rủa ba lần này.
Nói chưa dứt lời, ông già đứng phắt dậy, lao ngay đến cái bình đang nằm lăn lóc ở gần đó và vẫn bốc ra một làn khói nhỏ, rồi ông ta giận giữ, giẫm đạp nó cho tới lúc nó biến thành một lớp mảnh vụn phẳng lỳ. Sau đó, ông già rứt một sợi râu kêu đánh “tưng”, ngắt sợi râu ấy ra, thế là những mảnh bình bùng lên một ngọn lửa xanh kỳ lạ. Chỉ trong khoảnh khắc, chỗ mảnh vụn đó đã cháy sạch, không để lại chút dấu vết nào.
Nhưng Vônca vẫn còn nghi ngờ.
- Làm sao lại có chuyện ấy được? ... - Nó kéo dài giọng - Cái bình bé thế kia, còn ông thì... khá lớn.
- Mày không tin hả, hỡi cái thằng đê tiện kia? - Ông già quát lên với vẻ hung dữ, nhưng liền tự chủ được, lại quỳ ngay xuống và đập trán xuống sàn nhà mạnh tới mức nước trong bể nuôi cá sóng sánh rõ rệt và những con cá nhỏ đang ngủ hoảng sợ bơi tới bơi lui. - Xin hãy tha lỗi cho ta, hỡi vị cứu tinh trẻ tuổi của ta, nhưng ta vốn không quen để cho người khác nghi ngờ những gì mà ta nói. Hỡi cậu thiếu niên may mắn nhất trong tất cả các cậu thiếu niên, cậu nên biết rằng ta, không phải ai khác, mà là một vị gin hùng mạnh, tiếng tăm vang lừng khắp thế gian, tên là Gátxan Ápđurắcman ibơnơ Khốttáp, tức là con trai của Khốttáp.
Mọi chuyện lý thú đến nỗi Vônca thậm chí quên mất cả việc nó đang bị treo tòn ten ở cái móc đèn trên trần nhà.
- Gin? - Vônca hỏi. – Gin hình như là một thứ rượu Mỹ (1) phải không ạ?
- Ta không phải là một thứ rượu, hỡi cậu thiếu niên tò mò kia! Ông già lại nổi nóng, nhưng sực nhớ ra và lại tự chủ được – Ta không phải là một thứ rượu, mà là một vị thần hùng mạnh không hề biết sợ là gì và trên thế gian này không có một phép lạ nào mà ta không làm nổi. Như ta đã hân hạnh báo cho cậu biết, tên ta là Gátxan Ápđurắcman ibơnơ Khốttáp, hay gọi theo kiểu ở nước cậu là Gátxan Ápđurắcman Khốttabôvích (2). Hãy nói tên ta với bất cứ một lão ifrít (3) hay một lão gin nào cũng được, cậu sẽ thấy lão ta run lên cầm cập và nước bọt trong mồm lão sẽ khô lại vì sợ hãi. - ông già thao thao nói tiếp - Ta đã gặp một chuyện kỳ lạ! - hắt xì! - Chuyện này đáng ghi chép lại để răn dạy người đời. Ta, một ông thần bất hạnh, đã chống lại vua Xalômông con trai của Đavít - cầu chúc cả hai vị đều bình an! Em trai ta là Ôma Iuxúp con trai của Khốttáp cũng chống lại Xalômông. Xalômông liền sai tể tướng của mình là Axáp con trai của Barakhia đến bắt anh em ta. Sau đó, Xalômông con trai của Đavít - cầu chúc cả hai vị đều bình an! - đã ra lệnh mang đến hai cái bình: một cái bằng đồng và một cái bằng gốm. Xalômông đã giam ta vào cái bình gốm, còn em ta thì bị giam vào cái bình đồng. Xalômông đã trám cả hai cái bình và đóng lên chỗ trám dấu ấn có khắc tên Đức Ala (4), cái tên vĩ đại nhất trong tất cả các tên. Sau đó, Xalômông ra lệnh cho các vị thần mang anh em ta đi và họ ném em ta xuống biển, còn ta thì bị ném xuống con sông mà cậu, hỡi vị cứu tinh may mắn của ta, - hắt xì, hắt xì! - đã vớt ta lên. Cầu chúc cậu sống lâu muôn tuổi, hỡi... Hãy tha lỗi cho ta, sẽ hân hạnh biết bao nếu biết được tên cậu, hỡi cậu thiếu niên đáng yêu nhất!
- Tên cháu là Vônca. - Nhân vật chính của chúng ta trả lời, vẫn tiếp tục đu đưa chậm chạp trên trần nhà.
- Còn tên người cha của cậu, cầu chúc ông được may mắn mãi mãi! Hãy nói cho ta biết cái tên trìu mến nhất của ông, bởi vì ông - con người đã hiến cho thế gian người nối dõi rất đáng kính - thực sự xứng đáng với lòng yêu mến và lòng biết ơn to lớn.
- Tên bố cháu là Alếchxây. Còn tên trìu mến... trìu mến nhất của bố cháu là Aliôsa, Aliôsenca...
- Hỡi cậu Vônca con trai của Aliôsa, cậu thiếu niên ưu tú nhất trong tất cả các cậu thiếu niên, ngôi sao của lòng ta, cậu nên biết rằng từ nay trở đi, ta sẽ thực hiện tất cả những gì cậu ra lệnh cho ta, bởi vì cậu đã cứu ta khỏi nơi giam cầm khủng khiếp... Hắt xì!
- Tại sao ông lại hắt hơi suốt thế? - Vônca hỏi, làm như mọi thứ khác nó đã biết tỏng cả rồi.
- Mấy nghìn năm bị giam cầm ở nơi ẩm ưót, trong cái bình lạnh lẽo nằm dưới nước sâu, không hề có ánh mặt trời ấm áp, đã làm cho ta, kẻ đầy tớ không xứng đáng của cậu, mắc cái bệnh sổ mũi khủng khiếp này. Hắt xì! Hắt xì!... Nhưng đó chỉ là chuyện hết sức vặt vãnh, không đáng được hưởng sự quan tâm vô cùng quý báu của cậu. Hãy sai khiến ta đi, hỡi ông chủ trẻ tuổi! - Gátxan Ápđurắcman con trai của Khốttáp kết luận với vẻ sốt sắng, ngẩng đầu lên, nhưng vẫn tiếp tục quỳ.
- Trước hết, xin ông hãy đứng dậy cho. - Vônca nói.
- Lời nói của cậu là một đạo luật đối với ta! - Ông già nhún nhường trả lời và đứng dậy - Ta chờ đợi những mệnh lệnh tiếp theo của cậu.
- Còn bây giờ, - Vônca rụt rè nói - nếu việc này không làm phiền ông lắm thì... xin ông làm ơn... dĩ nhiên, nếu việc này không làm phiền ông lắm... Nói tóm lại, cháu rất muốn ở dưới sàn nhà.
Ngay lúc đó, Vônca đã ở bên dưới, ngay cạnh ông già Khốttabít (từ nay trở đi, chúng ta sẽ gọi người quen mới của chúng ta như vậy cho gọn). Việc đầu tiên của Vônca là sờ ngày cái quần dài. Cái quần lại hoàn toàn lành lặn!
Những phép lạ bắt đầu...

---
(1) Theo tiếng Arập, “gin” là một vị thần, nhưng Vônca lại tưởng lầm là rượu “gin”, một loại rượu đỗ tùng phổ biến ở Tây Âu và Mỹ - N.D.
(2) “Khốttabôvích” (tiếng Nga) và “ibơnơ Khốttáp” (tiếng Arập) đều có nghĩa là “con trai của Khốttáp” – N.D.
(3) một loại thần trong quan niệm của người Arập – N.D.
(4) Thượng đế của những người theo đạo Hồi – N.D.


Ct.Ly đã hiệu định xong
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-10-19 02:29:23ct.ly>
4.Cuộc thi môn địa lý


- Cậu hãy sai khiến ta đi! - Ông Khốttabít nói tiếp và nhìn Vônca bằng cặp mắt trung thành - Cậu có gặp phải tai họa nào không, hỡi cậu Vônca con trai của Aliôsa? Hãy nói đi, ta sẽ giúp cậu ngay.
- Thôi chết rồi! - Vônca kêu lên, sau khi liếc nhìn chiếc đồng hồ báo thức đang tích tắc đều đặn trên bàn - Cháu đến thi muộn mất!...
- Cậu đến muộn cái gì, hỡi cậu Vônca con trai của Aliôsa? - Ông Khốttabít hỏi với vẻ sốt sắng - Cậu dùng tiếng “thi” lạ lùng ấy để chỉ việc gì vậy?
- Đó chính là việc thử thách học lực. Cháu phải đến trường để thử thách học lực mà lại bị muộn mất rồi.
- Hỡi cậu Vônca, - Ông già phật ý - Cậu nên biết rằng cậu chưa đánh giá đúng mức khả năng kỳ diệu của ta đấy. Không, không và không! Cậu không đến thi muộn đâu. Cậu chỉ cần nói cậu thích đằng nào hơn: hoãn cuộc thi lại hay có mặt ở cổng trường ngay lập tức?
- Có mặt ở cổng trường ạ! - Vônca nói.
- Không có việc gì dễ hơn thế! Ngay bây giờ, cậu sẽ có mặt ở cái nơi mà cậu khát khao đến đấy với cả tâm hồn trẻ trung, cao thượng của mình. Và bằng những kiến thức của cậu, cậu sẽ làm cho các thầy cô, các bạn cậu phải kinh ngạc.
Ông già lại rứt một sợi râu kêu đánh “tưng”, tiếp đó lại rứt một sợi nữa.
- Cháu sợ là cháu chẳng làm ai kinh ngạc đâu. - Vônca vừa thở dài với vẻ biết điều, vừa vội vàng mặc bộ đồng phục học sinh - Xin nói thật rằng cháu chẳng kiếm được điểm “5” (1) về môn địa lý đâu ông ạ.
- Môn địa lý ư? - Ông già reo lên và trịnh trọng giơ cao hai cánh tay khẳng khiu - Cậu sắp phải thi môn địa lý à? Hỡi cậu thiếu niên kỳ diệu nhất trong tất cả các thiếu niên kỳ diệu, cậu nên biết rằng cậu gặp may chưa từng thấy, bởi vì ta, Gátxan Ápđurắcman con trai của Khốttáp, kẻ đầy tớ trung thành của cậu, giàu kiến thức về địa lý hơn bất cứ một ông thần nào. Ta sẽ cùng cậu đến trường, cầu chúc nền móng và mái nhà của trường được an toàn! Ta sẽ kín đáo nhắc cho cậu cách trả lời tất cả những câu hỏi mà các giáo viên đặt ra cho cậu, và cậu sẽ nổi tiếng trong các học sinh trường cậu cũng như các học sinh tất cả những trường ở thành phố tráng lệ của cậu. Các giáo viên của cậu cứ thử không cho cậu những điểm cao nhất xem, họ sẽ biết tay ta! - Nói đến đây, ông Khốttabít trở nên dữ tợn - Hừ, lúc bấy giờ họ sẽ rất, rất khốn! Ta sẽ biến họ thành những con lừa chuyên đi chở nước, thành những con chó hoang lở loét đầy mình, thành những con cóc ghê tởm và hèn hạ nhất. Ta sẽ trừng trị họ như thế đấy! Tuy nhiên, - Ông già nguôi giận cũng chóng như khi nổi giận - sự việc sẽ chẳng đến nỗi ấy đâu, bởi vì mọi người sẽ phải khâm phục trước những câu trả lời của cậu, hỡi cậu Vônca con trai của Aliôsa.
- Cám ơn ông Gátxan Khốttabít! - Vônca thở dài nặng nề - Cám ơn ông, nhưng cháu không cần một lời nhắc bài nào cả. Chúng cháu, những đội viên thiếu niên tiền phong, do tính nguyên tắc, đang chống lại việc nhắc bài. Chúng cháu chống lại việc đó một cách có tổ chức.
Nhưng làm sao một ông thần già nua đã từng bị giam cầm bao nhiêu năm lại biết được cái từ “tính nguyên tắc” cao siêu nọ? Song cái thở dài mà vị cứu tinh trẻ tuổi của ông ta phát ra cùng với câu nói đầy cao thượng đáng buồn ấy đã khiến ông Khốttabít tin chắc rằng việc giúp đỡ của ông cần cho Vônca hơn bất kỳ bất lúc nào.
- Ta rất buồn vì cậu đã từ chối, - Ông Khốttabít nói, - nhưng cậu hãy chú ý đến điều cốt yếu này: không một ai nhận thấy việc ta nhắc bài cho cậu cả.
- Thôi, thôi! - Vônca nhếch mép cười chua chát. - Cô Vacvara Xtêpanốpna rất thính tai, chẳng qua được cô đâu!
- Bây giờ cậu chẳng những làm ta buồn mà còn làm ta bực mình nữa, hỡi cậu Vônca con trai của Aliôsa. Nếu Gátxan Ápđurắcman con trai của Khốttáp nói rằng không ai nhận thấy thì sẽ không có ai nhận thấy cả.
- Không ai cả ư? - Vônca hỏi lại cho chắc.
- Không ai cả! Những điều ta được hân hạnh nhắc cho cậu sẽ truyền thẳng từ cái mồm đáng trọng của ta đến cái tai đáng kính của cậu.
- Quả là cháu không biết cháu phải xử sự với ông thế nào đây, ông Gátxan Khốttabít ạ. - Vônca thở dài vờ vĩnh - Cháu rất không muốn làm ông phải buồn về việc cháu từ chối... Thôi đành vậy!.. Cũng may là môn địa lý chứ không phải môn toán và môn tiếng Nga. Về môn toán hoặc môn tiếng Nga thì cháu không đời nào đồng ý để cho ông nhắc bài, dù chỉ nhắc chút xíu thôi. Nhưng môn địa lý dẫu sao cũng chẳng phải là môn quan trọng nhất... Nào, vậy thì ông cháu ta đi nhanh lên!.. Chỉ có điều là... - Nói đến đây, Vônca đưa mắt nhìn bộ quần áo khác thường của ông già với vẻ phê phán - E.. hèm... Sao ông lại ăn mặc như thế, ông Gátxan Khốttabít?
- Phải chăng quần áo của ta không vừa mắt cậu, hỡi cậu Vônca đáng kính nhất trong tất cả các cậu có tên là Vônca? - Ông Khốttabít phật ý.
- Bộ quần áo ấy vừa mắt, hết sức vừa mắt! - Vônca trả lời khéo léo - Nhưng ông ăn mặt... biết nói thế nào nhỉ... Ở nước cháu có mốt quần áo hơi khác... Bộ quần áo của ông sẽ đập vào mắt mọi người.
- Thế bây giờ các bậc trượng phu cao tuổi đáng kính ở nước cậu ăn mặc như thế nào?
Vônca thử cắt nghĩa rõ ràng cho ông già biết thế nào là áo véttông, quần tây, nhưng nó có cố gắng đến mấy cũng không thể nào cắt nghĩa dễ hiểu được. Nó đã hoàn toàn bí thì tình cờ nhìn thấy tấm ảnh ông nội treo trên tường. Nó liền dẫn ông Khốttabít đến trước tấm ảnh đã vàng ố vì thời gian. Ông già nhìn tấm ảnh trong chốc lát với vẻ tò mò và băn khoăn không che giấu nổi: ông thấy lạ và ngạc nhiên khi nhìn bộ quần áo không hề giống bộ quần áo của mình.
Một phút sau, từ tòa nhà mà gia đình Côxtưncốp bắt đầu ở từ hôm nay, Vônca nắm tay ông Khốttabít bước ra. Ông già rất oách trong bộ comlê mới tinh bằng vải thô, áo sơmi thêu kiểu Ucraina và chiếc mũ cói cứng. Cái duy nhất mà ông không chịu thay là đôi giày. Vin vào cái nốt chai có ở chân đã 3.000 năm nay, ông già vẫn đi đôi giày màu hồng mũi vểnh. Xưa kia, đôi giày này có lẽ là của một người đua đòi theo mốt nhất trong triều đình của quốc vương Harun An Rasít nghĩ ra.
Thế rồi Vônca cùng với ông Khốttabít đã cải trang đi gần như chạy đến cổng trường trung học số 124. Ông già soi mình làm dáng trong tấm cửa kính như soi trước gương và lấy làm hài lòng.
Bác gác cổng đứng tuổi đang uể oải đọc báo liền mừng rỡ đặt tờ báo qua một bên khi thấy Vônca và ông già cùng đi. Bác cảm thấy nóng nực và muốn trò chuyện.
Vônca nhảy một lúc mấy bậc, lao lên cầu thang. Các hành lang lặng lẽ và vắng tanh - một dấu hiệu rõ ràng và đáng buồn về việc cuộc thi đã bắt đầu, và Vônca thế là đã đến muộn.
- Còn ông, ông đi đâu? - Bác gác cổng hỏi ông Khốttabít toan đi theo cậu bạn trẻ của mình.
- Ông cháu cần đến gặp thầy hiệu trưởng ạ! - Vônca kêu lên từ trên cao.
- Xin lỗi ông, ông hiệu trưởng đang bận. Giờ này ông ấy đang coi thi. Xin mời ông đến vào gần cuối buổi chiều.
Ông Khốttabít cau mày bực bội:
- Nếu có thể được, ta ưng đứng đợi ông hiệu trưởng ở đây hơn, hỡi ông già đáng kính! - Sau đó, ông nói lớn với Vônca - Cậu đến ngay lớp mình đi, hỡi cậu Vônca con trai của Aliôsa! Ta tin rằng cậu sẽ làm cho các thầy cô, các bạn cậu phải kinh ngạc về những kiến thức của cậu!
- Thưa ông, ông là ông nội của cậu ấy hay là thế nào ạ? - Bác gác cổng cố bắt chuyện.
Nhưng ông Khốttabít mím môi im lặng. Ông ta cho rằng trò chuyện với người gác cổng là hạ thấp phẩm giá của mình.
- Xin mời ông uống nước! - Bác gác cổng lại nói tiếp - Hôm nay trời nóng quá, phải cẩn thận đấy.
Rót nước trong bình ra một ly đầy, bác gác cổng quay mình để đưa ly nước cho ông già lạ mặt ít nói, nhưng bác hoảng sợ khi thấy ông già đã biến đâu mất, cứ như đã độn thổ vậy! Sửng sốt trước sự việc không thể tưởng tượng nổi, bác gác cổng uống ực một hơi ly nước dành cho ông Khốttabít, rồi lại rót và uống cạn ly nước thứ 2, ly nước thứ 3 và chỉ ngừng uống khi trong bình không còn một giọt nào cả. Bấy giờ, bác mới ngả người vào lưng ghế và phe phẩy tờ báo, người mệt lử.
Đúng lúc ấy, ở tầng 2, ngay trên đầu bác gác cổng, tại phòng học lớp 6B đang diễn ra cảnh tượng không kém phần hồi hộp. Các giáo viên đứng đầu là thầy hiệu trưởng Paven Vaxiliêvích ngồi sau chiếc bàn phủ tấm khăn dạ dùng trong dịp lễ, phía trước cái bảng lớn có treo bản đồ địa lý. Ngồi ở các bàn học trước mặt họ là những học sinh chỉnh tề, trịnh trọng. Trong lớp im lặng tới mức chỉ nghe thấy tiếng vo vo đều đều của một con ruồi bay đâu đó ở tít trên trần. Nếu những học sinh lớp 6B bao giờ cũng giữ được im lặng như thế thì đó hẳn phải là một lớp có kỷ luật nhất trong toàn thành phố Mátxcơva.
Nhưng cần phải nói thêm rằng sự im lặng trong lớp ấy không phải chỉ do thi cử, mà còn do Vônca vừa được gọi lên bảng, song nó vẫn chưa có mặt trong lớp.
- Vlađimia Côxtưncốp! - Thầy hiệu trưởng nhắc lại và đưa cặp mắt băn khoăn nhìn cả lớp đang im phăng phắc.
Lớp học lại càng im lặng hơn.
Bỗng từ ngoài hành lang vọng vào tiếng chân chạy huỳnh huỵch của ai đó và đúng vào lúc thầy hiệu truởng gọi lần thứ 3 và là lần cuối cùng: “Vlađimia Côxtưncốp!” thì cánh cửa ra vào chợt mở toang và Vônca vừa thở hổn hển vừa kêu the thé:
- Em có mặt.
- Em lên bảng! - Thầy hiệu trưởng nghiêm khắc nói- Còn chuyện em đến muộn thì chúng ta sẽ nói sau.
- Em... em... bị mệt ạ... - Vônca lắp bắp cái ý đầu tiên chợt đến trong đầu và ngập ngừng bước tới gần chiếc bàn đặt các phiếu thi.
Trong lúc nó đang ngẫm nghĩ xem nên chọn cái phiếu nào trong số các phiếu thi đặt trên bàn thì ở ngoài hành lang, ông già Khốttabít từ ngay trong tường hiện ra và với một vẻ lo lắng, ông đi xuyên qua bức tường khác vào phòng học bên cạnh.
Cuối cùng, Vônca quyết định: lấy cái phiếu thi bắt gặp đầu tiên, từ từ mở cầu may phiếu ra và mừng rỡ khi thấy rõ ràng là nó sẽ phải trả lời về nước Ấn Độ. Nó biết khá nhiều về đúng cái nước Ấn Độ ấy. Từ lâu, nó đã chú ý đến nước này.
- Nào, em hãy trả lời đi! - Thầy hiệu trưởng nói.
Phần đầu phiếu thi, Vônca thậm chí nhớ đúng từng chữ trong sách giáo khoa. Nó đã há mồm và muốn nói rằng bán đảo Hinđuxtan trông giống như một hình tam giác, rằng cái hình tam giác khổng lồ này được bao bọc bởi Ấn Độ Dương và các vùng phụ cận của nó: biển Arập ở phía Tây và vịnh Bengan ở phía Đông, rằng trên bán đảo này có 2 nước lớn là Ấn Độ và Pakixtan, rằng nhân dân hai nước này hiền hậu, yêu chuộng hòa bình, có một nền văn hóa lâu đời và phong phú; rằng bọn đế quốc Mỹ và đế quốc Anh luôn luôn cố tình gây xích mích giữa hai nước này, vân vân và vân vân. Nhưng đúng lúc đó, ở phòng học bên cạnh, ông Khốttabít áp sát vào tưòng, khum bàn tay trước miệng như cái loa và nói lầm bầm liên tục:
- Ấn Độ, hỡi thầy giáo đáng kính của tôi...
Và bỗng nhiên, trái với ý muốn của mình, Vônca bắt đầu nói hết sức lảm nhảm:
- Ấn Độ, hỡi thầy giáo đáng kính của tôi, ở gần tận cùng địa đất và xứ này bị ngăn cách bởi những sa mạc không có người ở và chưa ai đặt chân đến, bởi vì ở phía Đông không hề có dã thú, chim chóc sinh sống. Ấn Độ là một nước rất giàu và có nhiều vàng. Vàng ở đấy không đào ở dưới đất như ở các nước khác, mà do những con kiến mang vàng đặt biệt, mỗi con to gần bằng con chó, tìm kiếm được suốt ngày đêm, không mệt mỏi. Chúng đào chỗ ở cho mình ở dưới lòng đất và mỗi ngày đêm chúng 3 lần đưa lên mặt đất những hạt cát vàng và kim loại tự nhiên rồi chất thành các đống lớn. Nhưng rủi thay cho những người Ấn Độ không có sự khôn ngoan cần thiết mà lại muốn chiếm đoạt số vàng đó! Những con kiến nọ đuổi theo họ và khi đuổi kịp đã cắn chết họ ngay tại chỗ. Phía Bắc và phía Tây, Ấn Độ tiếp giáp với một nước có những người hói đầu sinh sống. Nước ấy, cả đàn ông lẫn đàn bà, cả người già lẫn trẻ con đều hói đầu, và những người kỳ lạ ấy thường ăn cá sống, trái cây. Nằm sát nước này còn có một nước mà người ta không thể nhìn về phía trước, không thể đi qua được, bởi vì ở đấy tung tóe vô số lông chim. Ở đấy, lông chim tràn ngập không trung và mặt đất, làm cản trở người ta nhìn...
- Thôi, thôi, Côxtưncốp! - Cô giáo địa lý Vácvara mỉm cười. - Không ai yêu cầu em kể lại những quan điểm của người xưa về địa lý tự nhiên của châu Á. Em hãy trình bày những quan điểm khoa học hiện nay về nước Ấn Độ.
Ôi, Vônca sẽ sung sướng biết bao nếu được trình bày những hiểu biết của mình về vấn đề này! Nhưng nó có thể làm gì được một khi nó không còn làm chủ được lời nói và cử chỉ của mình! Sau khi đồng ý để cho ông Khốttabít nhắc bài, nó đã trở thành món đồ chơi không còn một chút ý chí trong sự điều khiển của một người đầy thiện chí nhưng lại có đầu óc cổ lỗ. Vônca muốn khẳng định rằng đương nhiên những điều nó vừa nói không có gì chung với những quan điểm khoa học hiện tại, nhưng ông Khốttabít ở bên kia tường đã nhún vai băn khoăn, lắc đầu không chịu, và ở đây, trước bàn của ban giám khảo, Vônca cũng buộc phải nhún vai và lắc đầu không chịu:
- Hỡi cô Vácvara Xtêpanốpna đáng kính, những điều ta vừa hân hạnh nói với mi được dựa trên những nguồn tư liệu đáng tin cậy nhất và không có những kiến thức nào khoa học hơn những điều ta vừa được phép trình bày với mi.
- Côxtưncốp, em bắt đầu xưng hô “ta, mi” với người lớn từ bao giờ thế? - Cô giáo địa lý ngạc nhiên - Và hãy thôi làm trò hề đi! Em đang dự thi chứ không phải ở trong buổi dạ hội hóa trang đâu nhé. Nếu em không hiểu cái phiếu thi ấy, em cứ nói thật thì hơn. Tiện thể, cô hỏi vừa rồi em nói lảm nhảm gì về cái đĩa đất thế? Chẳng lẽ em không biết trái đất hình cầu sao?
Vônca Côxtưncốp, thành viên thực thụ của nhóm thiên văn học trực thuộc Cung thiên văn Mátxcơva, lẽ nào lại không biết trái đất hình cầu? Bất cứ một em học sinh lớp 1 nào cũng biết điều đó!
Nhưng ở bên kia tường, ông Khốttabít đã phì cười và từ miệng Vônca, dù cu cậu tội nghiệp của chúng ta đã cố mím chặt môi, vẫn buộc ra tiếng cười kiêu ngạo:
- Mi lại dám chế giễu đứa học trò trung thành nhất của mi ư! Nếu trái đất hình cầu thì bao nhiêu nước sẽ trôi tuột xuống hết và loài người sẽ chết khát, cây cỏ sẽ chết khô. Hỡi cô giáo đáng kính và cao quý nhất trong tất cả các giáo viên, trái đất đã và đang có hình cái đĩa bằng phẳng, khắp các phía được bao bọc bởi một con sông vĩ đại gọi là “Đại dương”. Cái đĩa đất khổng lồ ấy được đặt trên 6 con voi, 6 con voi này lại đứng trên một con rùa khổng lồ. Thế giới được sắp đặt như vậy đó, hỡi cô giáo!
Các vị giám khảo nhìn Vônca với vẻ ngạc nhiên mỗi lúc một tăng. Còn Vônca thì toát mồ hôi hột vì khiếp đảm và vì nhận thấy sự bất lực hoàn toàn của mình.
Các học sinh trong lớp vẫn chưa thể hiểu được chuyện gì đã xảy ra đến với cậu bạn Vônca, nhưng có đứa đã bắt đầu rúc rích cười. Thật là ngộ khi nghe nói về cái nước của những người hói đầu, về cái nước tràn ngập lông chim, về những con kiến mang vàng to bằng con chó, về trái đất hình đĩa được đặt trên 6 con voi và 1 con rùa. Còn Giênia Bôgôrát, cậu bạn chí thân và là tổ trưởng của Vônca thì lo lắng thật sự. Hơn ai hết, Giênia biết rõ Vônca là trưởng nhóm thiên văn học và dù sao chăng nữa thì cậu ta cũng phải biết trái đất hình cầu.
Chẳng lẽ Vônca tự nhiên lại giở trò càn quấy ở tại ngay cuộc thi? Có thể Vônca bị bệnh. Nhưng bệnh gì? Cái bệnh gì mà kỳ cục vậy? Và sau nữa, rất bực mình cho cả tổ. Cả tổ luôn luôn dẫn đầu về các chỉ tiêu thi đua, nay bỗng nhiên tất cả đều đi tong vì những câu trả lời nhảm nhí của Vônca, một đội viên thiếu niên tiền phong rất có kỷ luật và có ý thức!
Lúc đó, Gôga Piliukin ngồi ở bàn bên cạnh - một thằng bé hết sức khó chịu mà các bạn cùng lớp thường gọi đùa là “Thuốc viên” (2) - lại rắt muối thêm vào những vết thương mới bị của Giênia:
- Giênetrơca (3), tổ cậu thế là cháy rụi rồi! - Gôga nói thầm và cưòi hi hí với vẻ vui mừng độc địa. – Cháy rụi như một ngọn nến!..
Giênia lặng lẽ giơ nắm đấm về phía “Thuốc viên”.
- Thưa cô Vácvara Xtêpanốpna! - Gôga ré lên ai oán. - Bạn Bogôrát giơ nắm đấm dọa em ạ.
- Hãy ngồi yên! - Cô Vácvara nói với Gôga và lại quay về phía Vônca đang đứng đực trước mặt cô, sợ mất vía - Về những con voi và rùa, em nói nghiêm chỉnh đấy chứ?
- Nghiêm chỉnh hơn lúc nào hết, hỡi cô giáo đáng kính nhất trong tất cả các cô giáo. - Vônca lặp lại lời nhắc của ông già Khốttabít và ngượng chín người.
- Em không nói thêm gì nữa ư? Chẳng lẽ em cho rằng đã trả lời đúng phiếu thi của em?
- Không, không cần nói thêm gì cả. - Ở bên kia tường, ông Khốttabít lắc đầu từ chối.
Và Vônca khốn khổ vì sự bất lực trước sức mạnh đang đẩy nó đến chỗ thi trượt, cũng làm một cử chỉ từ chối.
- Không, không cần nói thêm gì cả. Có chăng thì chỉ cần nói rằng chân trời ở nước Ấn Độ giàu có được viền bằng vàng và ngọc trai.
- Thật là quá quắt! - Cô giáo vung tay lên tỏ vẻ kinh ngạc.
Không thể tin được rằng Côxtưncốp, một chú bé khá là kỷ luật, trong giờ phút quan trọng như thế này mà lại dám chế giễu các thầy cô một cách hỗn láo như vậy và thế là có cơ bị thi lại.
- Theo tôi, sức khỏe của cậu bé này không được bình thường cho lắm. - Cô Vácvara nói nhỏ với thầy hiệu trưởng.
Liếc nhìn thông cảm với Vônca đang lặng người đi vì buồn bã, các vị giám khảo bắt đầu thì thầm hội ý.
Cô Vácvara đề nghị:
- Ta nên đặt cho cậu bé này một câu hỏi riêng để em ấy trấn tĩnh lại chăng? Một câu hỏi trong chương trình năm ngoái cũng được. Năm ngoái, em ấy được điểm “5” môn địa lý đấy.
Các vị giám khảo khác đồng ý, và cô Vácvara lại quay về phía cậu bé Vônca bất hạnh:
- Côxtưncốp, em lau nước mắt đi, chớ mất bình tĩnh nhé! Em hãy nói thế nào là chân trời?
- Chân trời phải không ạ? - Vônca mừng rỡ - Đó là một điều hết sức đơn giản, chân trời là cái đường tưởng tượng...
Nhưng ở bên kia tường, ông Khốttabít lại bắt đầu ngọ nguậy, và Vônca lại trở thành nạn nhân của việc ông ta nhắc bài. Nó liền nói lại:
- Chân trời, hỡi cô giáo đáng kính, là cái ranh giới mà vòm trời pha lê tiếp giáp với rìa mặt đất.
- Mỗi lúc mỗi rắc rối thêm! - Cô Vácvara rên rỉ - Em bảo tôi nên hiểu những lời em nói về cái vòm trời phalê như thế nào: hiểu theo nghĩa đen hay theo nghĩa bóng?
- Theo nghĩa đen, hỡi cô giáo. - từ bên kia tường ông Khốttabít nhắc.
Và Vônca phải lặp lại theo ông ta:
- Theo nghĩa đen hỡi cô giáo.
- Theo nghĩa bóng! - Một cậu nào đó ở hàng ghế sau nói thì thầm.
Nhưng Vônca lại thốt lên:
- Tất nhiên, theo nghĩa đen, và không thể nào khác được!
- Thế nghĩa là thế nào? - Cô Vácvara vẫn không tin vào tai mình- Thế có nghĩa là theo em, vòm trời rắn?
- Rắn.
- Và có nghĩa là có nơi mặt đất kết thúc?
- Có cái nơi như vậy, hỡi cô giáo đáng kính của ta!
Bên kia tường, ông Khốttabít gật đầu tán thành và hài lòng xoa xoa hai bàn tay gầy guộc của mình.
Trong lớp im lặng một cách căng thẳng. Những anh chàng hay cười nhất cũng không dám cười. Rõ ràng là Vônca đã gặp phải một chuyện gì không ổn.
Cô Vácvara rời khỏi bàn, sờ trán Vônca với vẻ lo lắng. Trán Vônca vẫn mát như thường.
Nhưng ở bên kia tường, ông Khốttabít xúc động quá, liền cúi rạp người, đập tay vào trán và ngực theo phong tục phương Đông, rồi nói lẩm bẩm. Bị cưỡng bách bởi một sức mạnh ghê gớm, Vônca lặp lại chính xác những cử chỉ đó:
- Ta cám ơn mi, hỡi người con gái rộng lượng nhất của Xtêpan (4)! Ta cám ơn vì sự lo lắng của mi, nhưng sự lo lắng đó là không cần thiết, bởi vì ta, đội ơn Đức Ala, hoàn toàn khỏe mạnh.
Cô Vácvara âu yếm nắm tay Vônca, dắt nó ra khỏi lớp và xoa đầu nó đang cúi gục:
- Không sao đâu, Côxtưncốp, em đừng buồn. Có lẽ em bị mệt quá đấy... Em cứ nghỉ ngơi cho khỏe rồi lại đến thi, được chứ?
- Được ạ! - Vônca nói - Nhưng thưa cô Vácvara, em xin lấy danh dự đội viên thiếu niên tiền phong mà nói rằng em không hề, hoàn toàn không hề có lỗi trong chuyện này!
- Cô cũng không bảo em có lỗi kia mà! - Cô giáo trả lời dịu dàng - Thôi, bây giờ chúng ta sẽ ghé qua ông Piôtrơ Ivanứt.
Piôtrơ Ivanứt là bác sĩ của trường. Trong vòng 10 phút, ông đã nghe nghe gõ gõ trên ngực, trên lưng Vônca, bắt cậu bé nheo mắt, đứng chìa hai tay về phía trước, xòe các ngón tay ra; gõ vào dưới đầu gối nó, lấy ống nghe vách các đường trên thân thể cởi trần của nó.
Trong lúc đó, Vônca đã hoàn toàn trấn tĩnh. Má nó lại hồng hào, tâm trạng lại phấn chấn.
- Một cậu bé hoàn toàn khỏe mạnh! - Ông Piôtrơ Ivanứt nói- Tôi có thể nói một cách chắc chắn: một cậu bé khỏe mạnh hiếm có! Cũng có thể cho rằng em hơi bị mệt... Em đã quá cố gắng trước kỳ thi... Nhưng em rất khỏe, rất kho-o-o-ỏ-e! Một Micula Xêlianinôvích (5), đúng là như thế!
Điều đó không ngăn cản ông bác sĩ, để phòng xa, đã nhỏ vài giọt thuốc gì đó vào ly nước và “Micula Xêlianinôvích” phải uống những giọt thuốc ấy.
Lúc đó, Vônca bỗng nảy ra một ý nghĩ táo bạo: lợi dụng sự vắng mặt của ông Khốttabít, thử trả lời đề thi cho cô Vácvara ngay tại đây, trong phòng làm việc của bác sĩ Piôtrơ Ivanứt?
- Tuyệt đối không được! - Ông Ivanứt xua tay - Không đời nào tôi cho phép như vậy. Tốt hơn hết là em hãy nghỉ vài ngày. Môn địa lý không chạy đi đâu mất mà sợ.
- Đúng thế! - Cô giáo nói với vẻ thoải mái, cô hài lòng khi thấy rằng rốt cuộc mọi việc đều êm đẹp. – Em Côxtưncốp, em đi về nhà và cứ nghỉ ngơi đi. Em cứ nghỉ cho khỏe rồi lại đến thi. Cô tin chắc rằng em nhất định sẽ được điểm “5”... Đồng chí nghĩ sao, Piôtrơ Ivanứt?
- Đại lực sĩ này ấy à? Cậu ấy không đời nào chịu nhận một điểm dưới “5” cộng đâu!
- Đúng như vậy đó... - Cô Vácvara nói - Nếu có ai dẫn em ấy về nhà thì sẽ tốt hơn chăng?
- Sao lại thế, sao lại thế, cô Vácvara Xtêpanốpna! - Vônca hoảng sợ - Em đi về một mình được mà…
Chỉ còn thiếu mỗi nước để người dẫn mình chạm trán ông già Khốttabít nham hiểm ấy nữa thôi!
Thấy Vônca đã hoàn toàn khỏe khoắn, cô giáo yên tâm cho nó về nhà một mình. Bác gác cổng lao tới đón Vônca:
- Côxtưncốp! Ông nội hay ai đó khi nãy đến đây với em đã...
Nhưng đúng lúc đó, ông già Khốttabít từ trong tường hiện ra. Ông ta vui vẻ như một chú chim sơn ca và hát khe khẽ một bài gì đó.
- Ối! - Bác gác cổng khẽ kêu lên và cố gắng một cách uổng công trong việc rót nước từ cái bình trống rỗng.
Lúc bác đặt cái bình vào chỗ cũ và ngoảnh lại thì ở tiền sảnh, cả Vônca lẫn ông già bí ẩn đi cùng với nó đã biến mất. Cả hai đã đi ra đường và rẽ vào một góc phố.
- Ta đã phù phép cho cậu, hỡi ông chủ trẻ tuổi của ta! - ông Khốttabít hãnh diện nói, phá vỡ sự im lặng kéo dài khá lâu. - Chắc cậu đã làm cho các thầy cô, các bạn cậu phải kinh ngạc về những kiến thức của cậu chứ?
- Đã làm kinh ngạc! - Vônca thở dài và nhìn ông già với vẻ bực tức.
Ông Khốttabít hể hả:
- Ta biết ngay mà!... Nhưng ta thấy hình như người con gái đáng kính nhất của Xtêpan vẫn không vừa lòng với những kiến thức sâu rộng của cậu?
- Ông nói gì thế? Ông nói gì thế? - Vônca sợ hãi xua tay, vì nó nhớ lại những lời đe dọa ghê gớm của ông Khốttabít - Ông chỉ cảm thấy như vậy thôi chứ chả đúng đâu.
- Ta đã toan biến cô ta thành cái thớt để các lão hàng thịt chặt thịt cừu trên đó, - ông già tuyên bố với vẻ dữ tợn (và Vônca lo sợ thật sự cho số phận cô giáo chủ nhiệm của mình) - nếu như ta không thấy cô ta tỏ lòng kính trọng cao nhất đối với cậu khi tiễn cậu ra tận cửa lớp và sau đó còn tiễn cậu tới gần sát cầu thang. Lúc bấy giờ, ta mới hiểu rằng cô ta đã đánh giá đúng những câu trả lời của cậu. Cầu chúc cô ta được bình an!
- Dĩ nhiên! Cầu chúc cho cô Vácvara Xtêpanốpna được bình an! - Vônca vội vàng tiếp lời. Nó cảm thấy như trút được gánh nặng.
Trong suốt mấy nghìn năm sống trên đời, ông Khốttabít đã nhiều lần tiếp xúc với những người gặp phải chuyện buồn phiền và ông biết cách làm cho họ vui lên. Dù sao chăng nữa thì ông ta cũng tin chắc rằng mình biết cách: phải tặng cho người đó một cái gì mà người đó hết sức mong muốn. Nhưng tặng cái gì bây giờ nhỉ?
Một dịp may đã gợi ý cho ông Khốttabít cách giải quyết khi Vônca hỏi một người qua đường.
- Xin lỗi, ông làm ơn cho cháu biết mấy giờ rồi ạ?
Người qua đường đưa mắt liếc nhìn chiếc đồng hồ đeo tay của mình:
- Hai giờ kém 5!
- Cám ơn ông! - Vônca nói và đi tiếp, hoàn toàn lặng thinh.
Ông Khốttabít lại phá vỡ sự im lặng:
- Hỡi cậu Vônca, hãy nói cho ta biết người qua đường ấy tại sao không cần nhìn mặt trời mà vẫn xác định được chính xác thời gian?
- Chính ông cũng thấy ông ta nhìn đồng hồ của mình đấy thôi.
Ông già trố mắt hỏi:
- Nhìn đồng hồ à?
- Vâng, nhìn đồng hồ. - Vônca giải thích thêm - Tay ông ấy có đeo chiếc đồng hồ... Chiếc đồng hồ hình tròn, vỏ mạ crôm ấy mà...
- Thế tại sao cậu lại không có một chiếc đồng hồ như vậy, hỡi vị cứu tinh đáng kính nhất trong tất cả các vị cứu tinh của những ông thần?
- Cháu mà đeo chiếc đồng hồ như vậy thì còn sớm quá! - Vônca ôn tồn đáp - Cháu chưa đến tuổi, ông ạ.
- Hỡi vị khách bộ hành đáng kính nhất, xin ngài cho phép ta được biết bây giờ là mấy giờ ạ? - Ông Khốttabít dừng người qua đường bắt gặp đầu tiên lại và nhìn chằm chằm vào chiếc đồng hồ đeo tay của ông ta.
- Hai giờ kém 2 phút! - Người qua đường trả lời. Ông ta hơi ngạc nhiên trước câu hỏi cầu kỳ khác thường của ông già.
Sau khi cám ơn ông khách qua đường bằng những lời lẽ lịch sự nhất của người phương Đông, ông Khốttabít vừa tủm tỉm cười ranh mãnh, vừa nói với Vônca:
- Hỡi cậu Vônca tài ba nhất trong tất cả các cậu có tên là Vônca, xin cậu cho phép ta được biết bây giờ là mấy giờ ạ?
Và bỗng nhiên trên cổ tay trái Vônca sáng loáng một chiếc đồng hồ y hệt chiếc đồng hồ của người qua đường nọ, chỉ có cái khác là không phải bằng thép mạ crôm mà bằng vàng mười nguyên chất nhất.
- Cầu mong cho chiếc đồng hồ ấy xứng với cổ tay của cậu và với tấm lòng nhân hậu của cậu! - Ông già xúc động nói, thích thú trước sự sung sướng và kinh ngạc của Vônca.
Lúc bấy giờ, Vônca làm cái việc mà ở địa vị nó, bất cứ một cậu bé hay cô bé nào lần đầu tiên làm chủ một chiếc đồng hồ vẫn thường làm: áp chiếc đồng hồ lên tai để thưởng thức tiếng tích tắc của nó.
Ái chà chà!- Vônca kéo dài giọng - Chiếc đồng hồ này chưa lên dây cót. Phải lên dây cho nó mới được!
Vônca cố vặn cái núm lên dây, nhưng nó thất vọng biết chừng nào khi thấy cái núm đó không hề quay.
Bấy giờ Vônca liền móc con dao nhíp trong túi quần ra để mở nắp đồng hồ. Nhưng dù cố gắng hết sức, nó vẫn không tài nào tìm được một cái khe để có thể lách lưỡi dao vào.
- Chiếc đồng hồ này được làm bằng một cục vàng khối đấy! - Ông già nháy mắt kiêu hãnh nói với Vônca - Ta không phải là kẻ đem cho những đồ vật làm bằng vàng rỗng đâu!
- Thế có nghĩa là bên trong chiếc đồng hồ này chẳng có gì cả? - Vônca thất vọng kêu lên.
- Chẳng lẽ bên trong nó lại cần phải có cái gì đó sao? - Ông thần già băn khoăn.
Thay cho câu trả lời, Vônca lặng lẽ tháo chiếc đồng hồ và trả lại ông Khốttabít.
- Được rồi! - Ông Khốttabít đồng ý dễ dãi - Ta sẽ tặng cậu một chiếc đồng hồ chẳng cần phải có gì bên trong cả.
Chiếc đồng hồ vàng lại xuất hiện trên tay Vônca, nhưng bây giờ nó mỏng và dẹp. Mặt kính đã biến mất, và thay cho kim giờ, kim phút, kim giây là một cái đinh nhỏ bằng vàng dựng đứng ở chính giữa mặt đồng hồ. Quanh mặt đồng hồ này có những viên ngọc bích tốt nước tuyệt đẹp đính ở các điểm chỉ giờ.
- Chưa bao giờ và chưa một ai, kể cả những ông vua giàu có nhất trên thế giới, có được một chiếc đồng hồ mặt trời đeo tay như thế này! - Ông già Khốttabít lại nói, giọng đầy tự hào - Đồng hồ mặt trời có ở các quảng trường thành phố, các chợ, các vườn hoa, các sân, và tất cả những đồng hồ mặt trời này đều xây bằng đá. Còn chiếc đồng hồ mặt trời của cậu là do ta vừa nghĩ ra. Quả là cũng khá đấy chứ?
Quả thực, được làm người đầu tiên và duy nhất trên toàn thế giới có chiếc đồng hồ mặt trời đeo tay thì cũng khá là mê!
Vônca lộ vẻ thích thú ra mặt, làm cho ông già cũng cảm thấy khoái chí.
- Sử dụng chiếc đồng hồ này thế nào hả ông? - Vônca hỏi.
- Thế này nhé, - Ông Khốttabít thận trọng cầm cánh tay trái của Vônca đang đeo chiếc đồng hồ do ông vừa nghĩ ra - Cậu cứ để tay như thế và bóng của cái đinh vàng này sẽ ngả xuống con số chỉ giờ mà cậu cần biết.
- Muốn thế thì cần phải có ánh mặt trời. - Vônca nói và bực bội nhìn đám mây nhỏ vừa che khuất mặt trời.
- Đám mây nhỏ ấy sẽ bay đi ngay bây giờ, - Ông Khốttabít hứa và quả nhiên mặt trời lại chiếu sáng khắp nơi - Cậu thấy đấy, bây giờ bóng cái đinh chỉ vào khoảng giữa 2 và 3 giờ chiều. Tức là khoảng 2 giờ rưỡi.
Trong lúc ông già nói câu đó, mặt trời lại khuất sau một đám mây khác.
- Không sao cả! - Ông Khốttabít nói - Ta sẽ làm quang bầu trời mỗi khi cậu cần biết giờ.
- Thế còn mùa thu? - Vônca hỏi.
- Mùa thu thì sao?
- Về mùa thu và mùa đông, bầu trời thường bị những đám mây đen che khuất mấy tháng liền thì làm sao xem giờ được?
- Hỡi cậu Vônca, ta bảo đảm với cậu là mặt trời sẽ không bị mây che mỗi khi cậu cần xem giờ. Cậu chỉ cần ra lệnh cho ta là mọi chuyện sẽ ổn ngay.
- Thế nếu không có ông ở bên cạnh thì sao ạ?
- Ta bao giờ cũng ở bên cạnh cậu, chỉ cần cậu gọi ta một tiếng thôi.
- Còn buổi tối? Còn ban đêm? - Vônca hỏi với giọng châm chọc - Ban đêm khi trời không có mặt trời, thì làm sao xem giờ được?
- Ban đêm người ta phải nghỉ chứ không phải xem đồng hồ! - Ông Khốttabít cáu kỉnh trả lời.
Ông ta phải khó khăn lắm mới tự chủ được và không ra tay trừng phạt cậu bé bướng bỉnh này.
- Thôi được. - Ông Khốttabít nói dễ dãi - Vậy thì cậu hãy nói cho ta biết: cậu có thích chiếc đồng hồ mà cậu thấy trên tay người qua đường lúc nãy không? Nếu cậu thích thì nó sẽ là của cậu.
- Sao lại là của cháu được ạ? - Vônca ngạc nhiên.
- Đừng lo, hỡi cậu Vônca con trai của Aliôsa, ta sẽ không đụng một ngón tay nào đến người ông ta đâu. Ông ta sẽ tự tay biếu cậu chiếc đồng hồ ấy với tất cả niềm sung sướng bởi vì cậu thực sự xứng đáng với những tặng vật quý báu nhất.
- Ông ép buộc ông ta, còn ông ta thì...
- Còn ông ta sẽ sung sướng, bởi vì ta đã không hất ông ta ra khỏi mặt đất, đã không biến ông ta thành một con chuột cống trụi lông, thành một con gián hôi hám thập thò sợ sệt trong những cái khe ở túp lều nát của một gã ăn mày mạt hạng...
- Hừ, đó là trò trấn lột thật sự! - Vônca phẫn nộ - Ông Khốttabít ạ, ở nưóc cháu mà giở những trò như thế ra là người ta lôi ngay lên đồn công an và đưa ra tòa.
- Đưa ra tòa hả? - Ông già hết sức tức tối – Ta? Gátxan Ápđurắcman con trai của Khốttáp? Cái lão qua đường đê tiện nhất trong tất cả những người qua đường ấy có biết ta là ai không đã? Hãy cứ hỏi bất cứ một lão gin nào, hay một lão ifrít hoặc lão saitan (6) nào, chúng sẽ vừa run lên cầm cập vì sợ hãi, vừa nói cho cậu biết rằng Gátxan Ápđurắcman con trai của Khốttáp là chúa tể của các thần linh vệ sĩ, số quân của ta gồm 72 bộ lạc, còn mỗi bộ lạc gồm 72.000 chiến sĩ, mỗi chiến sĩ lại cai quản 1.000 marít (7), mỗi marít lại cai quản 1.000 phụ tá, mỗi phụ tá lại cai quản 1.000 saitan, mỗi saitan lại cai quản 1.000 gin, và tất cả bọn chúng đều phải phụ thuộc vào ta và không được làm trái lệnh ta! Khô-ô-ông, phải trị cái lão qua đường ba lần hèn hạ nhất trong tất cả các lão qua đường hèn hạ ấy…
Trong lúc đó, người qua đường đang được nói đến vẫn thản nhiên đi trên vỉa hè, uể oải nhìn các tủ kính trong những cửa hàng, không hề ngờ đến cái nguy cơ khủng khiếp đang lơ lửng trên đầu ông ta chỉ vì trên tay ông ta sáng loáng chiếc đồng hồ bình thường nhất mang nhãn hiệu “Dênít”.
- Ta... - Ông Khốttabít hùng hùng hổ hổ trước mặt Vônca lúc đó đang cuống cả lên - ta sẽ biến lão ấy thành...
Mỗi giây lúc này đều quí. Vônca thét lên:
- Không cần!
- Không cần cái gì?
- Không cần đụng đến người qua đường ấy!... Không cần đồng hồ!... Không cần gì cả!...
- Hoàn toàn không cần gì cả? - Ông già nhanh chóng trấn tĩnh và tỏ vẻ nghi hoặc.
Chiếc đồng hồ mặt trời đeo tay duy nhất trên thế giới biến mất lúc nào không biết, cũng bất ngờ như khi nó xuất hiện.
- Hoàn toàn không cần gì cả... - Vônca nói và thở dài nặng nề đến nỗi ông già hiểu rằng lúc này, việc cốt yếu là làm cho vị cứu tinh trẻ tuổi của mình khuây khỏa, làm tiêu tan tâm trạng buồn bã của cậu ta.

---
(1) Điểm cao nhất ở Liên Xô trước đây. – N.D.
(2) “Thuốc viên” tiếng Nga là “Pilliulia”, phát âm gần giống với “Piliukin” – N.D.
(3) Tên gọi thân mật khác của Giênia – N.D.
(4) Vácvara Xtêpanốpna có nghĩa là Vácvara con gái của Xtêpan – N.D.
(5) Một thợ cày đại lực sĩ, nhân vật chính trong các tráng sĩ ca của Nga: “Vônga và Micula Xêlianinôvích”, “Tráng sĩ thần lực và Micula Xêlianinôvích” – N.D.
(6) tiếng Arập: hung thần – N.D.
(7) tiếng Arập: một loại thần – N.D.

Ct.Ly đdã hiệu định xong
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-10-20 03:06:08ct.ly>
5 -Ông Khốttabít giúp đỡ Vônca lần thứ hai

Vônca chán ngán trong lòng, và ông già cảm thấy có một chuyện gì đó chẳng lành. Dĩ nhiên, ông ta không ngờ rằng mình đã làm hại Vônca ở cuộc thi ra sao. Nhưng rõ ràng là cậu bé không hài lòng về một chuyện gì đó và người có lỗi trong việc này rõ ràng chẳng ai khác ngoài chính ông ta, Gátxan Ápđurắcman con trai của Khốttáp.
- Hỡi cậu thiếu niên xinh đẹp tựa mặt trăng, cậu có vui lòng nghe chuyện về các cuộc phiêu lưu mạo hiểm của những con người kỳ lạ và phi thường không? - Ông ta hóm hỉnh hỏi Vônca đang cau có - Chẳng hạn, cậu có biết chuyện ba con gà trống đen của người thợ cạo ở thành Bátđa và đứa con trai thọt chân của ông ta? Chuyện con lạc đà bằng đồng có cái bướu bằng bạc? Chuyện lão gánh nước Ácmét và cái thùng có phép lạ của lão ta?
Vônca vẫn hầm hầm lặng thinh, nhưng ông già chẳng bực mình về chuyện đó và bắt đầu kể liền:
- Hỡi cậu học sinh tài ba nhất trong tất cả các học sinh trung học, cậu sẽ được biết rằng ngày xửa ngày xưa ở thành Bátđa có người thợ cạo lành nghề tên là Xêlim. Ông ta có 3 con gà trống và một đứa con trai thọt chân tên là Bađia. Thế rồi một hôm quốc vương Harun An Rasít đi ngang qua cửa hiệu của ông ta... Hỡi cậu thiếu niên nghe kể chuyện chăm chú nhất trong tất cả các cậu thiếu niên, chúng ta nên ngồi xuống cái ghế dài ở gần đây nhất chăng, để cho đôi chân của cậu khỏi bị mỏi vì phải đi suốt trong thời gian ta kể câu chuyện dài có tính chất giáo huấn này?
Vônca đồng ý. Hai ông cháu liền ngồi bên đại lộ, ở một chỗ mát mẻ dưới bóng cây cổ thụ.
Trong suốt 3 tiếng rưỡi đồng hồ, ông Khốttabít đã kể lại câu chuyện quả là rất hấp dẫn ấy và kết thúc bằng câu nói láu lỉnh: “Nhưng chuyện con lạc đà bằng đồng có cái bướu bằng bạc còn kỳ lạ hơn nữa kia!”. Và ngay lập tức, không kịp ngừng để lấy hơi, ông ta bắt đầu kể chuyện đó cho đến chỗ: “Lúc bấy giờ, người ngoại quốc nọ lấy cục than nhỏ ở trong lò và vẽ lên tường con lạc đà, và con lạc đà ấy liền quẫy đuôi, lắc đầu rồi từ trên tường đi xuống con đường rải đá...”.
Kể đến đây, ông Khốttabít ngừng lại để thích thú theo dõi cái ấn tượng mà câu chuyện làm sống động bức tranh gây ra đối với người nghe trẻ tuổi của ông ta. Nhưng ông già phải cụt hứng: Vônca đã được xem khá nhiều phim hoạt hình nên chẳng lấy gì làm lạ về chuyện đó. Nhưng câu chuyện của ông Khốttabít đã gợi cho Vônca ý định lý thú.
- Ông ơi! - Vônca nói - Chúng ta đi vào rạp chiếu bóng đi. Ông sẽ kể nốt chuyện cho cháu nghe sau khi ở rạp chiếu bóng đi ra.
- Lời nói của cậu như là một đạo luật đối với ta, hỡi cậu Vônca con trai của Aliôsa! - Ông già ôn tồn đáp - Nhưng cậu hãy làm ơn nói cho ta biết cậu dùng cái tiếng “rạp chiếu bóng” khó hiểu ấy để chỉ cái gì vậy? Đó có phải là nhà tắm không? Hay có thể ở nước cậu, đó là tên gọi của cái chợ, nơi có thể dạo chơi và trò chuyện với những người quen biết?
- Ô hay! - Vônca kinh ngạc - Bất cứ một đứa trẻ con nào cũng biết rạp chiếu bóng là cái gì. Rạp chiếu bóng là... - Nó ngập ngừng đưa tay lên ra hiệu và nói thêm - Nói tóm lại, ta cứ đi đến rạp chiếu bóng rồi ông khắc biết thôi.
Bên trên quầy bán vé ở rạp chiếu bóng “Sao Thổ” treo tấm bảng: “Trẻ em dưói 16 tuổi không được vào xem các suất chiếu buổi tối”.
- Cậu làm sao thế, hỡi cậu thiếu niên xinh đẹp nhất trong tất cả các cậu thiếu niên xinh đẹp? - ông Khốttabít lo sợ khi thấy Vônca lại xịu mặt.
- Chúng ta đến muộn, không kịp xem các suất chiếu ban ngày rồi! Giờ này người ta chỉ cho những người trên 16 tuổi vào xem thôi... Thú thật, cháu chẳng biết làm gì bây giờ... Đi về nhà thì cháu chẳng muốn...
- Cậu không phải đi về nhà! - Ông Khốttabít kêu lên - Chưa đầy hai khoảnh khắc là người ta đã cho chúng ta vào xem, và chúng ta sẽ đi vào giữa sự kính trọng của mọi người, bởi vì cậu có vô số tài năng và được xứng đáng hưởng sự kính trọng ấy! Ta chỉ cần nhìn qua những người vào xem đưa mảnh giấy cho người đàn bà nghiêm nghị kia là câu có thể bước vào cái rạp chiếu bóng mà cậu ưa thích...
“Ông già khoác lác! ”, Vônca bực tức nghĩ thầm. Nhưng rồi bỗng nhiên nó thấy trong nắm tay phài của mình có 2 cái vé.
- Chúng ta đi nào! - Ông Khốttabít nói, mặt rạng rỡ vì sung sướng - Bây giờ ngưòi ta sẽ phải cho cậu vào thôi.
- Ông tin chắc như vậy chứ?
- Ta tin vào việc đó cũng như tin rằng một tương lai rực rỡ đang chờ đón cậu.
Ông già đẩy Vônca đến trước tấm gương treo gần đó. Vônca há hốc mồm khinh ngạc khi thấy từ trong gương nhìn ra một thằng bé mặt đầy tàn nhang, ở cằm có bộ râu rậm màu hung hung.

ct.ly đã hiệu định xong
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-10-30 18:38:36ct.ly>
6 Biến cố phi thường trong rạp chiếu bóng

Ông Khốttabít đắc chí dẫn Vônca leo cầu thang lên lầu 2, vào phòng giải lao.
Giênia Bôgôrát - đối tượng ghen tị của toàn thể học sinh lớp 6B - đang đứng khổ sở ở sát lối đi vào phòng xem. Cu cậu số đỏ này lại chính là cháu ruột của ông quản trị trưởng rạp chiếu bóng “Sao Thổ”, vì thế người ta cho nó vào xem các suất buổi tối. Lẽ ra nó phải lấy làm mừng về sự may mắn đó, nhưng các bạn thử tưởng tượng xem, nó lại hết sức đau khổ. Nó đau khổ vì cô đơn! Giênia đang rất cần có một người trò chuyện để nó có thể bàn về thái độ kỳ lạ của Vônca Côxtưncốp trong cuộc thi địa lý hôm nay. Nhưng thật là bực mình, chẳng có một người quen nào cả!
Bấy giờ, nó bèn quyết định đi xuống duới nhà. May ra nó có thể gặp ở đấy một cậu bạn nào đó cũng nên. Ở đầu cầu thang, một ông già đội mũ cói cứng và đi đôi giày da dê thuộc suýt nữa xô ngã Giênia. Ông già này dắt tay - các bạn có thể đoán ra ai không – đúng cái cậu Vônca Côxtưncốp! Chẳng hiểu sao Vônca lại lấy hai tay che mặt.
- Vônca! - Giênia mừng rỡ - Côxtưncốp!
Nhưng có lẽ Vônca không hề mừng rỡ trước cuộc gặp gỡ này. Hơn thế nữa, nó còn làm ra vẻ như không nhận ra người bạn thân nhất của mình và lẻn ngay vào giữa đám đông đang nghe dàn nhạc biểu diễn.
- Cóc cần! - Giênia tức mình và đi vào căng tin uống một ly nước ngọt.
Vì vậy, nó không thấy xung quanh ông già kỳ lạ và Vônca bắt đầu tụ tập một đám người.
Cho tới lúc chính Giênia cũng cố chen tới cái nơi mà nó chẳng hiểu tại sao bao nhiêu người hiếu kỳ cố đổ xô đến đó thì xung quanh cậu bạn của Giênia đã có một đám đông chật ních và mỗi lúc một đông thêm. Mọi người rời khỏi những hàng ghế trước bục sân khấu, làm các mặt ghế lật gấp được kêu ầm ầm. Trong chốc lát, dàn nhạc chỉ còn biểu diễn trước những hàng ghế trống không.
- Có chuyện gì thế? - Giênia vừa thúc khuỷu tay lai lịa vừa hỏi mà chẳng ai thèm trả lời - Nếu có tai nạn thì tôi có thể gọi điện thoại từ đây... Ở đây tôi có ông bác làm quản thị trưởng... Có chuyện gì vậy?
Nhưng không một ai biết rõ chuyệngì đã xảy ra. Và bởi vì gần như không một ai thấy gì cả, nên mọi người đều muốn biết chuyện gì đang diễn ra ở đấy, bên trong vòng người chật ních. Mọi người hỏi nhau và bực mình khi không nhận đuợc một câu trả lời rõ ràng, cho nên đám đông chẳng mấy chốc đã làm huyên náo đến độ át luôn cả tiếng nhạc.
Lúc bấy giờ, ông bác của Giênia mới chạy đến chỗ huyên náo, ì ạch leo lên một chiếc ghế và nói to:
- Xin quí vị giải tán cho! Quý vị chưa bao giờ trông thấy một thằng bé có râu hay sao?
Câu nói đó vừa vọng đến căng tin, mọi người liên bỏ cả uống trà và nước ngọt, chạy đi xem thằng bé có râu.
- Vônca! - Giênia hét váng cả phòng giải lao, vì nó hết hy vọng lọt được vào bên trong vòng người bí ẩn – Cháu không thấy gì cả!... Còn bác có thấy không? Nó có râu rậm lắm phải không?
- Ối cha ôi! – Cu cậu Vônca khốn khổ chút nữa thì khóc rống lên vì buồn chán - Chỉ còn thiếu mỗi nước để cho nó thấy…
- Thằng bé bất hạnh! - Những người xung quanh thởdài thông cảm - Thật là kỳ quái! Chẳng lẽ y học lại chịu bó tay hay sao?
Lúc đầu, ông Khốttabít hiểu sai sự chú ý của mọi người đối với cậu bạn trẻ của mình. Ông tưởng rằng mọi người xúm lại để bày tỏ sự kính trọng của mình đối với Vônca. Sau đó, việc này bắt đầu làm cho ông ta nổi cáu.
- Hãy giải tán, hỡi những người đáng kính nhất! – Ông Khốttabít gầm lên, át cả tiếng huyên náo của đám đông lẫn tiếng nhạc - Hãy giải tán nếu không ta sẽ giáng tai họa xuống đầu các ngươi.
Một cô nữ sinh nào đó sợ quá òa khóc. Nhưng ông Khốttabít chỉ làm cho đám người lớn phì cười.
Thực ra, cái ông già nhỏ nhắn ngộ nghĩnh, đi đôi giày màu hồng lạ lùng này làm sao có thể gây nổi một tai họa? Chỉ cần đụng mạnh ngón tay vào ông ta là ông ta đã ngã nhào rồi.
Không, không một ai thèm đếm xỉa đến lời đe dọa của ông Khốttabít. Còn ông già thì đã quen thấy những lời nói của mình làm cho mọi người phải run sợ. Bây giờ, ông ta đang bực tức cả cho Vônca lẫn cho mình, và mỗi lúc một thêm tức giận.
Không biết mọi chuyện sẽ kết thúc ra sao nếu đúng lúc ấy tiếng chuông không reo vang. Cửa phòng xem mở toang, mọi người đi vào chỗ của mình. Giênia muốn lợi dụng dịp này để xem cái hiện tượng dị thường chưa từng có, dù chỉ liếc nhìn một chút xíut thôi cũng được. Nhưng chính cái đám đông lúc nãy ngăn không cho nó lách qua thì bây giờ lại vây chặt lấy nó từ mọi phía và cuốn luôn nó vào phòng xem, trái với ý muốn của nó.
Giênia vừa kịp chạy đến hàng ghế đầu và ngồi xuống thì đèn tắt phụt.
- Ối chà! - Giênia thở phào nhẹ nhõm - Suýt nữa thì vào muộn! Ta sẽ chộp thằng bé có râu ấy khi buổi chiếu phim kết thúc...
Tuy vậy, nó vẫn thấp thỏm cựa quậy trên ghế, cố nhìn cho ra cái hiện tượng dị thường của thiên nhiên ấy đang ở đâu đó phía sau mình.
- Đừng quay ngang ngửa, chú bé!... Em chẳng cho ai xem cả! - Người ngồi bên phải Giênia nổi cáu - Hãy ngồi yên!
Nhưng ông ta hết sức kinh ngạc khi thấy chú bé hay làm phiền nọ không còn ngồi bên cạnh nữa.
“Thằng bé lủi qua chỗ khác rồi!”, người ngồi bên cạnh nghĩ thầm với vẻ ghen tị, “Dĩ nhiên ngồi xem ở hàng ghế đầu thì chẳng thích thú gì. Chỉ tổ hại mắt. Thằng bé ấy làm cái trò gì nhỉ? Lủi qua chỗ người khác. Cùng lắm thì người ta đuổi cổ đi thì đẹp mặt…”.
Vônca và ông Khốttabít là những người cuối cùng rời khỏi phòng giải lao, khi trong phòng xem đã tối om.
Thực ra, lúc đầu Vônca buồn bực tới mức đã quyết định rời khỏi rạp chiếu bóng, thôi không xem phim nữa. Nhưng ông Khốttabít năn nỉ:
- Nếu cậu không cần cái bộ râu mà ta đã trang điểm cho cậu vì lợi ích của cậu thì ta sẽ làm cho nó biến ngay khi chúng ta vừa ngồi vào chỗ của mình. Việc đó ta làm dễ ợt. Bây giờ chúng ta đi vào cái nơi mà tất cả những người khác đều vào, bởi vì ta nóng lòng muốn biết thế nào là rạp chiếu bóng. Rạp chiếu bóng hẳn là phải tuyệt lắm nên các bậc trượng phu từng trải mới vào xem nó trong cái tối mùa hè oi bức ghê gớm này.
Và quả thực, lúc hai ông cháu vừa ngồi vào chỗ trống ở hàng ghế thứ sáu, ông Khốttabít đã búng ngón tay toanh toách.
Nhưng trái với lời hứa của ông già, bộ râu của Vônca chẳng hề suy suyển.
- Sao ông lại lề mề thế? – Vônca hỏi - Vậy mà ông còn nói thánh nói tướng!
- Ta không hề nói thánh nói tướng, hỡi cậu học sinh tài ba nhất trong tất cả các học sinh lớp 6B. May thay ta đã nghĩ lại kịp thời. Nếu cậu không còn râu nữa, người ta sẽ đuổi rậu ra khỏi cái rạp chiếu bóng mà cậu ưa thích này.
Thực ra, đó là kế hoãn binh của ông già.
Nhưng Vônca không hề biết chuyện đó. Nó nói:
- Không sao, người ta chẳng đuổi cháu ra khỏi đây đâu!
Ông Khốttabít làm ra vẻ không nghe thấy câu nói đó.
Vônca lặp lại. Ông già lại giả điếc.
Bấy giờ, Vônca liền cất cao giọng:
- Ông Gátxan Ápđurắcman con trai của Khốttáp!
- Ta nghe đây, hỡi ông chủ trẻ tuổi của ta! - Ông già nhũn nhặn đáp.
- Không thể nói khẽ hơn được sao? - Một người nào đó ngồi bên cạnh làu nhàu.
Vônca ghé sát vào tai ông Khốttabít đang gục đầu buồn bã, tiếp tục thầm thì:
- Ông hãy làm cho bộ râu ngu xuẩn này biến ngay khỏi cằm cháu!
- Nó chẳng hề ngu xuẩn một chút nào! - Ông già thì thầm đáp lại - Đó là bộ râu đáng kính và oai vệ bậc nhất đấy.
- Ông hãy làm cho nó biến ngay tức khắc! Ngay tức khắc, ông có nghe không!
- Xin tuân lệnh! - Ông Khốttabít lại nói, vừa bắt đầu lẩm bẩm một câu gì đó, vừa búng ngón tay toanh toách.
Những sợi râu trên cằm vẫn Vônca không hề suy suyển.
- Thế nào? - Vônca sốt ruột hỏi.
- Một lát nữa thôi, hỡi cậu Vônca con trai của Aliôsa may mắn nhất đời! - Ông già đáp lại, vẫn tiếp tục lẩm bẩm và búng ngón tay lia lịa.
Nhưng bộ râu vẫn không thèm biến khỏi cằm Vônca.
- Ông xem kìa, ông xem kìa, ai đang ngồi ở hàng ghế thứ chín đấy? - Vônca bỗng thì thầm, tạm thời quên mất tai họa của mình.
Ngồi ở hàng ghế thứ chín là 2 người mà theo ông Khốttabít chẳng có gì đáng chú ý cả.
- Đó là những diễn viên vô cùng xuất sắc! - Vônca sốt sắng giải thích và nói rõ hai cái tên mà bất cứ bạn đọc nào của chúng ta cũng biết. Dĩ nhiên, hai cái tên ấy chẳng nói được gì với ông Khốttabít.
- Cậu muốn nói họ là những anh kép chứ gì? - Ông già mỉm cười với vẻ kẻ cả - Họ múa trên dây phải không?
- Họ đóng phim! Đó là những diễn viên điện ảnh nổi tiếng nhất, họ là những người như thế đấy.
- Thế tại sao bây giờ họ không đóng phim? Tại sao họ lại khoanh tay ngồi vậy? - Ông già hỏi với giọng châm chọc - Rõ ràng đó là những con người lười biếng và ta lấy làm đau lòng khi thấy cậu tán dương họ một cách thiếu suy nghĩ như vậy.
- Ông nói gì thế? - Vônca phì cười - Những diễn viên điện ảnh không bao giờ đóng phim ở rạp chiếu bóng. Họ đóng phim ở xưởng phim kia!
- Thế có nghĩa là bây giờ chúng ta sẽ xem những kép khác nào đó biểu diễn chứ không phải xem những diễn viên điện ảnh biểu diễn chứ gì?
- Không, chính họ biểu diễn. Ông hiểu không, họ đóng phim trong xưởng phim còn chúng ta thì xem họ biểu diễn ở rạp chiếu bóng. Theo cháu, bất cứ một đứa trẻ con nào cũng hiểu điều đó.
- Xin lỗi cậu, cậu đã nói một điều gì đó nhảm nhí, - Ông Khốttabít nói với vẻ phê phán - Nhưng ta chẳng bực mình cậu đâu, bởi vì ta thấy rằng tuy nói vậy nhưng cậu không hề có ý định chế giễu kẻ đầy tớ trung thành nhất của cậu. Có lẽ đó là do cái nóng bức đang bao trùm căn phòng này đã ảnh hưởng đến cậu.
Vônca hiểu rằng trong những phút còn lại trước khi buổi chiếu phim bắt đầu, nó không tài nào giải thích được cho ông già rõ thực chất công việc của những diễn viên điện ảnh, nên đành để giải thích sau vậy. Vả lại, nó sực nhớ cái tai họa đã đổ ập lên đầu mình.
- Ông Khốttabít thân yêu ơi, ông còn đợi gì nữa, hãy cố làm nhanh nhanh đi!
Ông già thở dài nặng nề, rứt trong bộ râu của mình một sợi, một sợi nữa, một sợi thứ ba, sau đó cáu kỉnh nhổ luôn cả nắm rồi giận dữ ngắt những sợi râu đó ra thành từng đoạn nhỏ, vừa chăm chú lẩm bẩm một câu gì đó, vừa nhìn Vônca chằm chằm. Những sợi râu trên bộ mặt toát lên vẻ khỏe khoắn của người bạn trẻ tuổi của ông ta chẳng những không biến mất, mà thậm chí còn không thèm nhúc nhích. Lúc bấy giờ, ông Khốttabít bèn búng ngón tay toanh toách với đủ các cách kết hợp: lúc thì búng riêng các ngón tay phải, lúc thì búng riêng các ngón tay trái, lúc thì búng cùng một lúc các ngón ở cả 2 tay, lúc thì búng một lần các ngón tay phải và hai lần các ngón tay trái, lúc thì ngược lại. Nhưng tất cả đều vô hiệu. Lúc bấy giờ, ông Khốttabít bỗng xé toạc quần áo của mình.
- Ông sao thế? Ông điên rồi à? – Vônca hoảng sợ - Ông làm gì mà kỳ cục vậy?
- Khổ thay cho ta! - Ông Khốttabít thì thầm đáp lại. - Khổ thay cho ta! Than ôi, mấy nghìn năm bị giam cầm trong cái bình đáng nguyền rủa ấy đã làm hại ta biết chừng nào! Việc thiếu thực hành đã ảnh hưởng tai hại đến tay nghề của ta... Hãy tha thứ cho ta, hỡi vị cứu tinh trẻ tuổi của ta! Ta không thể làm bộ râu của cậu biến đi được nữa!... Khổ thay cho ta, khổ thay cho ta, ông thần tội nghiệp Gátxan Ápđurắcman con trai của Khốttáp!
- Ông thì thầm gì thế? - Vônca hỏi - Ông hãy nói to lên một chút đi
- Hỡi cậu thiếu niên đáng quý nhất trong tất cả các cậu thiếu niên, hỡi cậu thiếu niên đáng yêu nhất trong tất cả những người đáng yêu, xin cậu đừng trút sự phẫn nộ chính đáng của mình lên đầu ta!... Ta không làm cho bộ râu trên cằm cậu biến mất được! Ta quên mất cách giải phù phép rồi!...
- Hãy biết điều một chút, các vị! - Những người ngồi cạnh cằn nhằn khó chịu - Các vị sẽ còn kịp nói chán mồm ở nhà. Quả là các vị làm phiền mọi người quá!... Chẳng lẽ phải gọi đến trật tự viên hay sao?
- Nhục nhã thay cho cái đầu già nua của ta! - Bây giờ ông Khốttabít rên rỉ, khó khăn lắm mới nghe được - Quên mất cái phép lạ rất đơn giản! Mà ai quên kia chứ? Ta, Gátxan Ápđurắcman con trai của Khốttáp, vị thần hùng mạnh nhất trong tất cả các vị thần! Ta, Gátxan Ápđurắcman con trai của Khốttáp, người mà suốt 20 năm trời chính vua Xalômông con trai của Đavít - cầu chúc cả 2 vị đều bình an! - đã không thể làm gì nổi!
- Đừng rên rỉ nữa! - Vônca thì thầm, không che giấu sự khinh ghét của mình - Ông hãy nói một cách nghiêm chỉnh là ông bắt tôi phải mang bộ râu này trong bao lâu nữa?
- Ồ, không, cứ yên tâm, hỡi ông chủ tốt bụng của ta! - Ông già đáp - May thay, ta chỉ phù phép cậu bằng một phép thuật nhỏ. Đúng thời gian này ngày mai, mặt cậu sẽ nhẵn nhụi như mặt đứa trẻ sơ sinh... Cũng có thể ta sẽ nhớ ra sớm hơn cách giải phép thuật nhỏ này..
Đúng lúc ấy, trên màn ảnh, những hàng chữ dài dằng dặc vẫn thường mở đầu mỗi bộ phim biến đi và bắt đầu xuất hiện những người cử động, nói năng. Ông Khốttabít tự mãn thì thầm vào tai Vônca:
- Hừ, ta hiểu trò này rồi. Một trò rất đơn giản! Tất cả những người ấy đi xuyên tường đến đây chứ gì? Trò này chẳng làm ta ngạc nhiên đâu. Ta cũng làm được như thế.
- Ông chẳng hiểu gì cả! - Vônca tủm tỉm cười trước sự mít đặc của ông già - Nếu ông muốn biết thì cháu sẽ giảng giải cho mà nghe. Điện ảnh được xây dựng theo nguyên tắc...
Ở những hàng ghế trước và sau, người ta bắt đầu tỏ vẻ khó chịu nên những lời giải thích của Vônca bị cắt ngang giữa chừng.
Từ lúc đó, ông Khốttabít ngồi yên như bị mê hồn. Nhưng rồi ông ta bắt đầu cựa quậy không yên, chốc chốc lại ngoảnh mặt về phía sau, nhìn hành ghế thứ chín là nơi, hẳn các bạn còn nhớ, có 2 diễn viên điện ảnh đang ngồi… Ông già ngoảnh đi ngoảnh lại như thế mấy lần, cho đến khi tin chắc mười mươi rằng 2 diễn viên ấy trong cùng một lúc, vừa khoanh tay đạo mạo đằng sau ông ta, vừa phi ngựa như bay ở phía trước, trên bức tường duy nhất được chiếu sáng trong căn phòng bí ẩn bậc nhất này.
Mặt tái xanh, mắt trợn trừng sợ hãi, ông già Khốttabít thì thầm bảo Vônca:
- Hãy nhìn về phía sau, hỡi cậu con trai của Aliôsa!
- Có gì đâu, đó là những diễn viên điện ảnh, - Vônca nói - Họ đóng bộ phim này và bây giờ họ đến đây xem khán giả chúng ta có thích những vai họ đóng hay không.
- Ta không thích! - Ông Khốttabít nói ngay - Ta không thích khi thấy những người có thể phân thân được. Ngay cả ta cũng không tài nào trong cùng một lúc vừa khoanh tay ngồi trên ghế lại vừa cưỡi trên lưng ngựa phi nhanh như gió. Cả đến vua Xalômông con trai của Đavít - cầu chúc 2 vị đều bình an! - cũng không làm được như thế. Chính vì vậy mà ta cảm thấy khiếp sợ.
- Chẳng sao đâu ông ạ! - Vônca mỉm cười với thái độ che chở - Ông nhìn những khán giả khác xem. Ông thấy đấy, chẳng có ai sợ hãi cả. Sau này, cháu sẽ giải thích cho ông rõ tại sao lại làm được như thế.
Bỗng có tiếng còi tàu thét vang, phá tan bầu không khí im lặng. Ông Khốttabít chộp ngay lấy tay Vônca.
- Hỡi cậu Vônca oai nghiêm! - Ông già nói thầm thì, sợ toát mồ hôi hột - Ta nhận ra tiếng nói đó. Dó là tiếng nói của Giếcgít con trai của Rétmút, vua của các hung thần! Chúng ta chạy mau, khi vẫn còn chưa muộn!
- Ông nói lảm nhảm gì thế? Hãy ngồi yên! Chẳng có gì đe dọa chúng ta đâu mà sợ.
- Xin tuân lệnh! - Ông Khốttabít ngoan ngoãn thì thầm, người vẫn run lên cầm cập.
Nhưng vừa đúng một giây sau, khi trên màn ảnh xuất hiện cái đầu tàu vừa kéo còi ầm ĩ, vừa lao thẳng về phía khán giả thì một tiếng thét kinh hoàng vang lên chói tai trong phòng xem.
- Chạy mau!... Chạy mau!... - Ông Khốttabít vừa đâm bổ ra khỏi phòng, vừa rú lên đến lạc giọng.
Lúc chạy đến tận lối ra, ông già mới sực nhớ tới Vônca, liền nhảy vọt mấy bước quay lại đón nó và lôi cậu bé ra cửa:
- Chạy mau, hỡi cậu Vônca con trai của Aliôsa! Chạy mau, lúc vẫn còn chưa muộn!...
- Này các ông... - người soát vé ngăn không cho hai ông cháu đi.
Nhưng ngay sau đó, anh ta bỗng bị bắn tung lên không theo một đường vòng cung rất rộng và đẹp rồi rơi xuống bục sân khấu, ngay trước màn ảnh.
- Sao ông lại rú lên như thế? Sao ông lại khiếp đảm như vậy? - Vônca bực tức hỏi ông Khốttabít khi cả hai đã ở ngoài đường.
- Sao ta lại không rú lên khi một nguy cơ khủng khiếp nhất trong tất cả các nguy cơ đã lơ lửng trên đầu cậu? Lão đại hung thần Giếcgít con trai của Rétmút, cháu trai của mụ Icrít, vừa phun lửa chết chóc, vừa lao thẳng đến chúng ta?
- Lão Giếcgít nào ở đây? Mụ Icrít nào? Đó chỉ là cái đầu tàu bình thường nhất.
- Ông chủ trẻ tuổi của ta không định dạy khôn lão thần già Gátxan Ápđurắcman con trai của Khốttáp biết thế nào là hung thần đấy chứ? - Ông Khốttabít hỏi với giọng khích bác.
Vônca liền hiểu: muốn giải thích cho ông già hiểu thế nào là điện ảnh và thế nào là cái đầu tàu thì phải mất rất nhiều thì giờ, chứ chẳng phải 5, 10 phút hoặc 1 giờ là xong.
Sau khi nhịp thở đã trở lại bình thường, ông Khốttabít ôn tồn hỏi:
- Bây giờ cậu muốn gì, hỡi con ngươi đáng quý nhất của mắt ta?
- Ông cứ làm như không biết gì ấy! Hãy giúp cháu thoát khỏi bộ râu này đi!
- Than ôi! - Ông già rầu rĩ đáp - Ta vẫn bất lực trong việc thỏa mãn điều ước ấy của cậu. Nhưng cậu không có điều ước nào khác nữa ư? Cậu hãy nói đi, ta sẽ thỏa mãn cậu trong chớp mắt.
- Cạo râu... Càng nhanh càng tốt!
Vài phút sau, Vônca và ông già Khốttabít đã có mặt trong một hiệu cắt tóc.
Sau 10 phút nữa, một ông thợ lành nghề đã mệt phờ từ cánh cửa vừa mở toang ở phòng cắt tóc nam thò đầu ra và nói lớn:
- Người tiếp theo!
Lúc bấy giờ, từ góc phòng đợi kín đáo ở ngay chỗ mắc quần áo, một chú bé che mặt bằng chiếc khăn lụa quý liền bước ra và vội vã ngồi vào ghế.
- Cậu muốn cắt tóc thế nào? - Ông thợ cắt tóc hỏi, ý muốn nói đến kiểu tóc của cậu bé.
- Ông hãy cạo râu cho cháu! - Chú bé trả lời ông ta bằng một giọng nghẹn ngào và gỡ cái khăn che kín đến tận mắt.

ct.ly đã hiệu định xong
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-10-30 18:39:00ct.ly>
7 Một buổi tối không yên ổn

Cũng may Vônca không phải là một anh chàng tóc đen. Như Giênia Bôgôrát chẳng hạn, nếu cạo râu xong thì ở má thế nào cũng có chút vệt xanh xanh. Còn Vônca, lúc ở hiệu cắt tóc bước ra, má nó chẳng khác gì tất cả các bạn cùng lứa tuổi.
Đã 8 giờ rồi nhưng trời vẫn chưa tối hẳn và rất oi bức.
- Ở thành phố bình yên của cậu có cái quán nào bán sécbét (1) hay một thứ nước giải khát nào tương tự như sécbét để chúng ta có thể uống cho đỡ khát không? - Ông Khốttabít hỏi.
- A, đúng rồi! - Vônca tán thành - Bây giờ mà được uống nước chanh đá thì hay quá!
Vônca và ông Khốttabít tạt vào một cái quán bán nước trái cây và nước khoáng mà họ bắt gặp đầu tiên, rồi ngồi xuống một chiếc bàn con và gọi cô phục vụ.
- Xin chị cho hai chai nước chanh. - Vônca nói.
Cô phục vụ gật đầu và đi về phía quầy hàng, nhưng ông Khốttabít đã tức tối gọi giật cô ta lại:
- Con đầy tớ hèn hạ kia, hãy bước lại gần đây! Ta không thích mi đáp lại lệnh của người bạn và ông chủ trẻ tuổi của ta như vậy.
- Ông Khốttabít, thôi đi ông, ông có nghe không? Thôi đi!... - Vônca thì thầm.
Nhưng ông Khốttabít liền dịu dàng lấy bàn tay khô khốc của mình bịt miệng Vônca lại:
- Cậu chớ cản ngăn ta bảo vệ danh giá cậu, nếu bản thân cậu do tính mềm mỏng vốn có của mình đã không mắng cho cái con đó một trận...
- Ông không hiểu gì cả? - Vônca hết sức lo sợ cho cô phục vụ - Ông Khốttabít, cháu xin nói hết sức rõ cho ông hiểu rằng...
Nhưng vừa nói đến đấy, Vônca kinh hoàng khi cảm thấy rằng nó không thể thốt ra một tiếng nào. Nó muốn lao ra đứng giữa ông già và cô gái vẫn không hay biết gì cả, nhưng nó không tài nào nhúc nhích được tay chân.
Thì ra để Vônca khỏi ngăn cản lôi thôi, ông Khốttabít đã dùng ngón tay cái và ngón tay trỏ bên tay trái kẹp lấy rái tai phải của Vônca, bắt nó phải im lặng và hoàn toàn bất động.
- Mi đáp lại lệnh của ngươi bạn trẻ tuổi của ta như thế à? - Ông Khốttabít lại hỏi cô phục vụ.
- Thưa ông, tôi không hiểu ông muốn nói gì... - Cô gái lễ phép trả lời ông già - Không có một lệnh nào cả. Chỉ có một lời yêu cầu và tôi đi thực hiện lời yêu cầu đó. Đấy là điểm thứ nhất. Còn điểm thứ hai, ở chỗ chúng tôi không có cái lệ xưng hô “mi, ta”. Với những người lạ, chúng tôi gọi là “ông, bà, anh, chị”. Tôi lấy làm ngạc nhiên khi thấy ông không biết điều đó, dù rằng đó là điều mà bất cứ một người Xôviết có văn hóa nào cũng biết rõ.
- Chà, mi lại muốn dạy khôn ta nữa chăng? – Ông Khốttabít quát lên - Quỳ xuống! Nếu không, ta sẽ biến mi thành một hạt bụi!
- Này ông kia, ông thật đáng xấu hổ! - Cô thu tiền thấy cái cảnh đáng công phẫn ấy liền can thiệp, bởi vì trong quán lúc đó không có một người khách nào ngoài Vônca và ông Khốttabít - Chẳng lẽ lại có thể giở thói du côn như vậy, hơn nữa lại ở vào tuổi tác như ông?
- Quỳ xuống! - ông Khốttabít phát khùng gầm lên - Cả mi cũng quỳ xuống! - Ông ta trỏ ngón tay vào cô thu tiền - Cả mi nữa! - Ông ta lại quát lên với cô phục vụ thứ hai vừa vội vã đến giúp bạn của mình - Cả ba con quỳ xuống và hãy van xin người bạn trẻ tuổi của ta để cậu ấy xá tội cho bọn mi!
Vừa nói dút lời, ông Khốttabít bỗng lớn vọt lên thành một người khổng lồ, đầu chạm tới tận trần nhà. Đó là một cảnh tượng khủng khiếp và lạ kỳ. Cô thu tiền và cô phục vụ thứ hai ngất đi vì sợ quá. Còn cô phục vụ thứ nhất, tuy mặt mày tái mét, vẫn bình tĩnh nói với ông Khốttabít:
- Này ông kia, ông thật đáng xấu hổ! Ông hãy xử sự cho phải lẽ ở nơi công cộng... Nếu ông là một nhà thôi miên đứng đắn thì...
Cô ta tưởng rằng ông già đã làm thí nghiệm thôi miên với họ.
- Quỳ xuống! - Ông Khốttabít lại rống lên - Quỳ xuống! Ta nói có nghe không?
Trong suốt 3.732 năm ông Khốttabít sống trên đời, đây là trường hợp đầu tiên những người trần mắt thịt dám không tuân lệnh ông ta. Ông Khốttabít cảm thấy rằng chuyện này làm mất uy tín của ông trước mắt Vônca.
- Hãy phủ phục ngay, hỡi cái con hèn hạ kia, nếu mi còn quý tính mạng của mi!
- Chuyện quỳ thì hoàn toàn không có được! - Cô phục vụ đáp với giọng run run - Chỉ có ở các nước tình trạng bất công còn ngự trị, những nhân viên ngành ăn uống công cộng mới buộc phải nghe hết mọi lời lẽ thô tục của khách hàng, còn ở nước chúng tôi thì không thể như thế được... Và chúng tôi cũng hoàn toàn không hiểu vì cớ gì mà ông lại to tiếng? Nếu ông cần phê bình điều gì thì ông có thể lịch sự yêu cầu chị thu tiền đưa cho cuốn sổ góp ý. Sổ góp ý sẽ được đưa ngay sau khi vừa có lời yêu cầu. Ông biết không, những nhà thôi miên và những nhà ảo thuật nổi tiếng nhất vẫn thường đến quán chúng tôi, nhưng họ không bao giờ xử sự như ông... Tôi nói có đúng không, Catia? - Cô hỏi cô bạn đã tỉnh lại.
- Thế mà ông cũng dám bày đặt! - Catia nấc lên rồi đáp - Bắt phải quỳ xuống? Bậy quá chừng!
- Đến thế kia à? - Ông Khốttabít nổi khùng thực sự - Bọn mi dám láo xược thế sao?
Bằng một cử chỉ quen thuộc, ông già rứt trong bộ râu của mình ra ba sợi và buông tay trái ra khỏi tai Vônca để ngắt sợi râu ấy thành những đoạn nhỏ nhất.
Nhưng ông Khốttabít vừa để cái tai của Vônca được yên, lập tức Vônca lại nói được ngay và lại hoàn toàn làm chủ cơ thể mình. Việc đầu tiên của nó là nắm ngay lấy tay ông già:
- Ông sao thế, ông Khốttabít? Ông định làm gì thế?
- Ta định trừng phạt ba con này, hỡi cậu Vônca. Cậu có tin không chứ, ta phải thú nhận điều này thì thật là đáng hổ thẹn: lúc đầu, ta tính giết chúng nó bằng sấm. Mà giết người bằng sấm là cái trò mà bất cứ một lão ifrít mạt hạng nào cũng làm được!
Lúc bấy giờ, mặc dù tình thế nghiêm trọng, Vônca vẫn có can đảm bảo vệ khoa học.
- Tiếng sấm... - Nó vừa nói vừa vội vã tính cách đẩy lùi cái tai họa đang đe dọa các cô gái tội nghiệp - Tiếng sấm không thể giết hại được ai cả. Chỉ có sự phóng điện trong khí quyển mà người ta thường gọi là sét mới giết được người. Còn sấm thì chẳng giết được. Sấm chỉ là âm thanh mà thôi.
- Ta không biết! - Ông Khốttabít lạnh lùng đáp - Ta không nghĩ rằng cậu nói đúng. Nhưng ta dã nghĩ lại. Ta không thèm giết chúng bằng sấm nữa. Tốt hơn hết là ta sẽ biến ba con này thành... chim sẻ. Đúng đấy, thành chim sẻ!
- Nhưng vì lẽ gì kia chứ?
- Ta phải trừng phạt chúng, hỡi cậu Vônca. Thói hư tật xấu cần phải được trừng phạt.
- Không được trừng phạt họ! Ông đã nghe chưa?
Vônca giật tay ông Khốttabít, làm ba sợi râu rơi xuống sàn nhà. Nhung ba sợi râu ấy lại tự bay lên bàn tay ráp nhám đen đủi của ông.
- Ông cứ thử mà xem! - Vônca thét lên, khi thấy ông già toan ngắt các sợi râu - À, ra thế đấy!... Vậy thì ông hãy biến cả tôi thành chim sẻ đi! Hay thành một con cóc cũng được. Ông hãy biến tôi thành con gì tùy thích. Và ông hãy nhớ cho là sự quen biết của chúng ta sẽ chấm dút từ đây. Tôi hoàn toàn không thích những cung cách của ông. Thế là xong! Hãy biến tôi thành chim sẻ đi! Và hãy để cho con mèo đầu tiên nào bắt gặp ăn thịt tôi đi!
Ông già chưng hửng:
- Chẳng lẽ cậu không thấy rằng ta muốn làm việc đó để từ nay trở đi không còn một kẻ nào dám đối xử thiếu kính trọng đặc biệt với cậu, một sự kính trọng mà cậu đáng được hưởng do vô số mặt tốt của mình?
- Tôi không thấy và tôi không muốn thấy!
- Lệnh của cậu là một đạo luật đối với ta. - Ông Khốttabít trả lời với vẻ phục tùng, nhưng ông ta vẫn băn khoăn thật sự về thái độ khoan hồng khó hiểu của vị cứu tinh trẻ tuổi của mình đối với những cô gái kia - Thôi được, ta sẽ không biến chúng thành chim sẻ nữa.
- Và không được biến thành một thứ gì khác.
- Và không được biến thành một thứ gì khác!
Ông già miễn cưỡng đồng ý, nhưng vẫn cầm mấy sợi râu và rõ ràng là đang chực ngắt những sợi râu này.
- Ông còn muốn ngắt râu để làm gì vậy? - Vônca lại hoảng sợ.
- Ta sẽ biến thành bụi tất cả hàng hóa, tất cả bàn ghế, tất cả đồ đạc ở cái quán đáng khinh này.
- Ông điên rồi! - Vônca hết sức phẫn nộ - Đây chính là tài sản của Nhà nước, ông già ngố ạ!
- Hỡi viên kim cương của tâm hồn ta, xin cậu hãy cho ta được biết cậu dùng cái tiếng “ngố” mà ta chưa hiểu là ngụ ý gì vậy? - Ông Khốttabít hỏi với vẻ tò mò.
Vônca mặt đỏ như gấc (2).
- Ông hiểu không... làm sao cắt nghĩa cho ông được nhỉ... E hèm... nói chung “ngố” có nghĩa tương tự như... nhà thông thái.
Lúc bấy giờ, ông Khốttabít quyết định nhớ kỹ tiếng này để gặp dịp sẽ dùng nó trong khi nói chuyện.
- Nhưng... - Ông ta bắt đầu nói.
- Không “nhưng” gì cả! Tôi sẽ đếm đến ba. Nếu tôi nói xong tiếng “ba” mà ông không để cho cái quán này được yên thì coi như ông và tôi chẳng còn gì chung nữa và giữa chúng ta tất cả đều kết thúc. Tôi đếm đây: Một!... Hai!... B...
Vônca không kịp nói hết tiếng “ba” ngắn ngủi thì ông già đã phẩy tay buồn bã, vẻ mặt trở lại bình thường và rầu rĩ nói:
- Xin tùy theo ý của cậu, bởi vì đối với ta, ý muốn của cậu còn quý hơn cả con ngươi của mắt ta.
- Được lắm! - Vônca nói - Bây giờ, chỉ còn việc xin lỗi nữa là có thể yên ổn ra đi.
- Bọn mi hãy tạ ơn vị cứu tinh trẻ tuổi của mình đi! – Ông Khốttabít nghiêm nghị nói lớn với các cô gái.
Vônca hiểu rằng không thể nào bắt được ông già mở mồm xin lỗi.
- Các chị ơi, xin hãy tha lỗi cho chúng tôi! - Nó nói – Và nếu có thể được, xin các chị đừng quá giận ông này. Ông ấy là người ở nơi khác đến và vẫn chưa quen với nếp sống của chúng ta. Chúc các chị mạnh khỏe!
- Chúc cậu mạnh khỏe! - Các cô gái lịch sự đáp.
Các cô vẫn chưa hoàn hồn hẳn. Các cô vừa cảm thấy lạ lùng, vừa cảm thấy khiếp sợ. Dĩ nhiên, các cô không thể nghĩ được rằng họ vừa tránh được một mối nguy nghiêm trọng biết dường nào.
Các cô phục vụ đi theo ông Khốttabít và Vônca ra đường, rồi dừng lại ở cửa, nhìn theo ông già nhỏ nhắn kỳ lạ ấy đi xa dần.
- Những ông già kỳ quặc như thế bỗng từ đâu hiện ra, mình cũng chẳng hiểu nữa! - Catia thở dài và lại nấc lên.
- Một nhà thôi miên nào đó có từ thời trước cách mạng. - Cô bạn gái dũng cảm của Catia nói với vẻ thương hại - Chắc là một người về hưu. Ông ta buồn và có lẽ uống quá chén... Một ông già như thế thì sao có thể đòi hỏi nhiều hơn được!
- Đúng đấy! - Cô thu tiền tán thành ý kiến của cô bạn dũng cảm - Tuổi già thì sung sướng cái nỗi gì! Các bạn ơi, ta vào nhà đi thôi!...
Nhưng rõ ràng là những chuyện rủi ro hôm nay vẫn chưa kết thúc ở đây. Vônca và ông Khốttabít vừa ra đến phố Goócki thì ánh đèn pha ôtô sáng lóa đập vào mắt họ. Thì ra là một xe cứu thương loại lớn vừa rú còi điếc tai, vừa lao thẳng về phía hai ông cháu.
Và lúc ấy, ông Khốttabít thay đổi nét mặt một cách ghê gớm và rống lên ầm ĩ:
- Khổ thay cho ta, một ông thần già bất hạnh! Lão Giếcgít, vị vua hùng mạnh và tàn nhẫn của các saitan và ifrit, vẫn không quên mối thù cũ giữa lão và ta. Chính lão đã phái con quái vật khủng khiếp nhất trong tất cả các con quái vật của lão đến bắt ta đây.
Nói chưa dứt lời, ông già đã từ vỉa hè lao vút lên cao. Tới một chỗ nào đó ngang tầm tầng lầu 3 hoặc lầu 4, ông nhấc chiếc mũ cói của mình lên, dùng mũ vẫy vẫy Vônca và từ từ tan biến trong không trung, sau khi kêu lên lời từ biệt:
- Ta sẽ cố tìm lại cậu, hỡi cậu Vônca con trai của Aliôsa! Ta hôn bụi ở duới chân cậu!... Tạm biệt nhé!...
Nói riêng giữa chúng ta với nhau, Vônca thậm chí còn lấy làm mừng khi thấy ông già biến mất. Thế là nó không còn bị lôi thôi gì nữa. Nhưng Vônca bủn rủn tay chân khi nghĩ rằng bây giờ nó sẽ phải quay về nhà.
Quả thực, các bạn thử đặt mình vào địa vị Vônca mà xem. Nó rời khỏi nhà để thi môn địa lý, rồi xem phim và đến 6 giờ rưỡi chiều phải quay về nhà ăn uống đàng hoàng, tử tế. Thế nhưng nó lại về nhà lúc 10 giờ, thi trượt một cách nhục nhã và điều đáng sợ nhất là nó về nhà với cái cằm vừa cạo râu! Phải cạo râu lúc chưa đầy 13 tuổi! Nghĩ nát cả óc, nhưng Vônca vẫn không tài nào tìm được lối thoát hỏi cái tình cảnh mà mình đã rơi vào.
Thế rồi, chẳng nghĩ được gì cả, Vônca lê bước vào Ngõ Ba Ao yên tĩnh.
Nó đi ngang qua bác gác cổng đang tỏ vẻ ngạc nhiên nhìn nó, bước vào cổng rồi lên đầu cầu thang lầu 2 và sau khi thở dài nặng nề, nó bấm chuông. Trong nhà có tiếng bước chân của ai đó và một giọng nói không quen hỏi qua cánh cửa đóng kín:
- Ai đó?
Vônca nói: “Con đây”, nhưng nó bỗng sực nhớ là từ sáng hôm nay nó không còn ở đây nữa.
Chẳng trả lời người chủ nhà mới lấy một tiếng, Vônca chạy vụt xuống cầu thang, chững chạc đi qua bác gác cổng vẩn còn chưa hết hết ngạc nhiên, bước ra khỏi ngõ và lên xe trôlâybuýt (3). Nhưng những chuyện rủi ro vẫn đuổi theo nó trong ngày hôm đó. Nó đã đánh mất ví ở đâu đó, chắc là ở rạp chiếu bóng. Đành phải xuống xe và đi bộ.
Lúc này Vônca rất ngại gặp một đứa bạn nào đó học cùng lớp. Và nó hết sức khó chịu ngay cả khi mới nghĩ rằng nó sẽ phải chạm trán Gôga “Thuốc viên”. Từ ngày hôm nay, số phận trớ trêu, thêm vào mọi chuyện khác, đã bắt 2 đứa phải sống cạnh nhau trong cùng một tòa nhà.
Và thật vậy, Vônca vừa về đến sân nhà mới của mình, nó đã nghe thấy tiếng gọi quen thuộc đến khó chịu:
- Ê, thằng dở người! Hôm nay mày đi ra khỏi trường với lão khọm nào thế?
Gôga “Thuốc viên” chạy lại gần Vônca, nháy mắt thô bỉ và nhăn mặt giễu cợt chua cay.
- Không phải lão khọm, mà là ông già! - Vônca ôn tồn sửa lại câu nói của Gôga. Hôm nay nó không muốn dẫn câu chuyện đến chỗ ẩu đả - Đó là... đó là người quen của bố tớ... Từ Tasken (4) đến.
- Còn tao bây giờ đến gặp bố mày đây và tao sẽ kể cho ông nghe về những trò tinh nghịch quái đản của mày ở phòng thi!
- Ồ, “Thuốc viên”, đã lâu rồi mày chưa nếm quả thụi của tao đấy nhỉ! - Vônca điên tiết, sau khi nó hình dung câu chuyện của “Thuốc viên” có thể gây cho bố mẹ nó ấn tượng như thế nào - Tao sẽ xé tan xác mày ra bây giờ, cái thằng hớt lẻo khốn khiếp kia!
- Này, này! Mày thôi chuyện ấy đi nhé!... Lại còn cấm cả người ta nói đùa nữa kia à!... Mày đúng là một thằng dở người.
Sợ những cú đấm của Vônca (mà nó đã có vài lần nếm thử), Gôga thấy tốt hơn hết là đừng có dính vào và nó liền chạy vụt vào cổng. Từ ngày hôm nay, Gôga phải sống gần kề Vônca một cách nguy hiểm. Nhà hai đứa lại ở cùng một đầu cầu thang.
- Những người hói đầu! Những người hói đầu! - Gôga thò đầu ra khỏi cánh cổng mở nửa chừng, lè lưỡi giễu Vônca và gào tướng lên. Sợ sự phẫn nộ chính đáng của Vônca, nó lao lên cầu thang, nhảy liền 2 bậc một, về căn hộ nhà nó ở lầu 4.
Nhưng trên cầu thang, Gôga lập tức chú ý ngay đến điệu bộ hết sức khó hiểu của con mèo Xibia to tướng ở căn hộ số 43. Người ta đã đặt cho con mèo này cái tên Khômích để tỏ lòng kính trọng thủ thành bóng đá nổi tiếng. Khômích đứng uốn cong lưng giậm dọa và phì phì vào một chỗ hoàn toàn trống không. Ý nghĩ đầu tiên của Gôga là con mèo đã hóa dại. Nhưng hình như đuôi mèo dại phải quặp xuống, còn đuôi con mèo này lại dựng đứng lên như cái ống khói. Vả lại nói chung, Khômích trông hoàn toàn khỏe khoắn.
Để phòng xa, Gôga vẫn đá cho nó một cú.
Vì đau, vì bất ngờ và vì tức giận, Khômích gào vang cả 5 tầng lầu. Nó nhảy tránh qua một bên sau khi nhảy vọt lên cao và đẹp đến mức có thể làm tăng thêm vinh dự cho cả người trùng tên nổi tiếng của nó. Và lúc ấy lại xảy ra một cái gì đó hết sức khó hiểu. Cách cầu thang khoảng nửa mét, Khômích lại gào lên và bật ngược trở lại, bắn thẳng về phía Gôga, cứ như con mèo bất hạnh bị va vào một bức tường cao su vô hình nhưng rất đau hồi nào đó. Cùng lúc ấy, ở chỗ nào đó ngay bên cạnh, từ trong khoảng không vang lên tiếng rú không rõ của ai đó, dường như có ai đó bị giẫm mạnh vào chân.
Gôga Piliukin chưa bao giờ nổi tiếng về lòng dũng cảm phi thường, cho nên lúc bấy giờ nó suýt chết cứng vì sợ hãi.
- Ô-ô-ô-ối! - Gôga rú lên khe khẽ, cố nhấc hai chân đã cứng đờ của mình khỏi bậc cầu thang. Khó khăn lắm, nó mới nhấc được chân và cắm đầu cắm cổ chạy.
Lúc cánh cửa nhà Gôga đa đóng sầm lại sau lưng nó, ông Khốttabít mới hiện nguyên hình. Quằn quại vì đau, ông xem cái chân trái của mình bị con mèo Khômích cào khá sâu.
- Cái thằng đáng nguyền rủa! - Ông già rên rỉ, sau khi thấy rõ ràng chỉ có một mình ông trên cầu thang - Một con chó giữa đám trẻ con.
Ông Khốttabít im bặt và lắng tai nghe ngóng.
Vônca Côxtưncốp, vị cứu tinh trẻ tuổi của ông ta, đang chậm chạp leo lên cầu thang, lòng trĩu nặng những ý nghĩ buồn bã nhất.
Ông già nhanh trí chưa muốn để Vônca bắt gặp lúc này, liền mau lẹ tan biến trong khoảng không.

---
(1) Tiếng Arập: Loại nước giải khát làm bằng nước quả ép và đường - N.D.
(2) Nguyên bản: “... mặt đỏ như cà rốt” - N.D.
(3) xe buýt chạy điện – N.D.
(4) thủ đô nước Cộng hòa Xôviết Udơbêkixtan ở Trung Á – N.D.


ct.ly đã hiệu định xong
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-08-20 03:15:51ct.ly>
Chương nối tiếp ngay chương trước

Thật là hấp dẫn nếu giới thiệu Vônca Côxtưncốp là một chú bé không hề có một khuyết điểm nào, nhưng tính thật thà mà ai cũng biết của tác giả truyện này không cho phép ông ta làm việc đó. Và nếu tính ghen tỵ được coi là một khuyết điểm thì chúng ta rất lấy làm tiếc khi phải thừa nhận rằng Vônca đôi khi cũng có cái tính đó ở một mức độ khá nặng. Trong những ngày gần đây, nó ghen tỵ với Gôga. Trước kỳ thi rất lâu, Gôga đã khoe rằng mẹ nó hứa cho nó một chú bẹcgiê con nếu nó được lên lớp 7.
- Làm gì có chuyện! - Lúc bấy giờ, Vônca dài mồm dè bỉu, trong khi nó cảm thấy lạnh toát cả người vì ghen tỵ - Cậu cứ làm như đã được mua cho rồi đấy!
Nhưng trong thâm tâm, nó hiểu rõ rằng điều “Thuốc viên” nói rất có thể đúng: cả lớp đều biết rằng mẹ Gôga không tiếc cho cậu con trai nhỏ của mình một thứ gì. Bà bóp mồm bóp miệng mình, nhưng lại sẵn sàng cho Gôga một món quà mà cả lớp phải trố mắt.
- Nhất định mẹ mình sẽ cho! - Gôga nhắc lại với vẻ nghiêm túc - Nếu cậu muốn biết thì mình xin nói rằng đối với mình, mẹ mình chẳng tiếc gì cả. Nếu mẹ mình đã hứa, có nghĩa là mẹ mình sẽ mua. Cùng lắm, mẹ mình sẽ mượn tiền ở Quỹ tương trợ mà mua chó cho mình. Ở nhà máy, mẹ mình được quý trọng lắm nhé!
Quả thực, ở nhà máy, mẹ Gôga rất được quý trọng. Bà làm trưởng nhóm nhân viên họa đồ, là một phụ nữ khiêm tốn, vui vẻ, chăm chỉ. Mọi người đều yêu mến bà, cả anh chị em công nhân trong nhà máy lẫn bà con hàng xóm láng giềng. Gôga cũng yêu mẹ theo kiểu của mình. Còn bà thì rất đỗi yêu thương Gôga.
Nói tóm lại, nếu bà đã hứa mua một chú chó bécgiê con thì có nghĩa là bà sẽ mua thôi.
Và có thể đúng vào cái lúc buồn bã ấy, khi mà Vônca ủ rũ vì những chuyện rủi ro đổ xuống đầu nó trong ngày hôm nay và đang chậm chạp leo lên cầu thang, thì ở ngay bên cạnh, trong căn hộ số 37, Gôga “Thuốc viên” đã được nô đùa với chú bẹcgiê con lông xù vui tính tuyệt vời rồi cũng nên. Cái thằng “Thuốc viên” này ít đáng được hưởng diễm phúc ấy hơn bất kỳ một học sinh nào trong lớp, trong trường và có lẽ trong tất cả các trường ở Mátxcơva.
Vônca nghĩ như vậy và điều duy nhất có thể an ủi nó đôi chút là chưa chắc mẹ Gôga đã kịp mua chó cho Gôga, thậm chí nếu quả là bà đã định làm việc đó. Chính Gôga vừa thi hết lớp 6 vài giờ trước đây. Mà muốn mua một con chó con thì chẳng đơn giản như vậy đâu. Không thể tạt vào cửa hàng và nói: “Làm ơn lấy cho tôi con chó con kia...”. Còn phải đi lùng chán mới mua được chó…
Nhưng kìa, các bạn hãy hình dung xem, đúng vào lúc bà nội mở cửa cho Vônca, từ sau cánh cửa căn hộ số 37 bỗng vang lên tiếng chó sủa gâu gâu to tướng.
“Thế là mẹ Gôga đã mua rồi!”, Vônca chua chát nghĩ thầm, “Một con chó bẹcgiê... Hay có thể là một con chó bốcxơ (1) cũng nên...”
Tưởng tượng Gôga được làm chủ một con chó nghiệp vụ (2) thật sự, Vônca cảm thấy hoàn toàn không thể chịu nổi. Nó vội vàng đóng sập cửa lại để khỏi phải nghe thêm cái tiếng chó sủa kỳ diệu hay không thể tả được ấy! Quả là Vônca còn kịp nghe một tiếng kêu sợ hãi của mẹ Gôga. Có lẽ con chó đã đớp cho cu cậu Gôga một miếng rồi.
Nhưng ngay cả điều đó cũng không thể an ủi nổi nhân vật chính trẻ tuổi của chúng ta...
Bố Vônca vẫn chưa đi làm về. Ông bận ở lại họp Ban chấp hành Công đoàn nhà máy. Còn mẹ, sau buổi học ở trường đại học ban đêm, có lẽ đã đến nhà máy đón bố.
Vônca mặc dù đã hết sức cố gắng tỏ ra bình thản và vui vẻ, nhưng nó vẫn có cái bộ mặt rầu rĩ đến nỗi bà nội quyết định cho nó ăn đã, sau đó mới bắt đầu hỏi han.
- Sao thế, Vôlenca (3)? - Bà hỏi, khi cậu cháu duy nhất của bà ăn xong bữa một cách chóng vánh.
- Cháu thật chẳng biết nói với bà thế nào đây... - Vônca do dự đáp, và vừa cởi chiếc áo thể thao vừa đi vào giường nằm.
Với sự cảm thông lặng lẽ, bà tiễn Vônca bằng một cái nhìn âu yếm đượm buồn. Chẳng cần phải hỏi han gì cả, mọi chuyện đều đã rõ ràng.
Vônca thở dài, cởi hết quần áo ngoài, nằm thượt trên tấm vải trải giường mới giặt mát rượi, nhưng nó vẫn chẳng thấy yên lòng.
Trên chiếc bàn con kê cạnh giường Vônca có một quyển sách khổ lớn dày cộp, quyển sách nổi bật lên nhờ cái bìa ngoài nhiều màu. Tim Vônca thắt lại: đó chính là quyển sách về thiên văn học mà nó vẫn ao ước bao lâu nay! Trang đầu cuốn sách có hàng chữ nét to mà Vônca đã quen thuộc từ bé: “Tặng Vlađimia Alếchxêêvích Côxtưncốp - học sinh lớp 7 có học vấn cao, thành viên thực thụ của Nhóm thiên văn học trực thuộc Cung Thiên văn Mátxcơva - món quà của người bà rất yêu nó”.
Hàng chữ đề tặng mới buồn cười làm sao! Bao giờ bà cũng nghĩ ra một cái gì đó buồn cười. Nhưng chẳng hiểu sao hôm nay Vônca lại hoàn toàn không hề cảm thấy buồn cười. Các bạn hãy hình dung xem, nó không hề thấy thích thú khi cuối cùng đã có được quyển sách mà nó ao ước từ lâu lắm rồi. Nỗi buồn, chính nỗi buồn đang dày vò nó. Nó cảm thấy khó thở... Không, nó không thể chịu đựng được nữa!
- Bà ơi! - Vônca rời quyển sách và cất tiếng gọi - Bà ơi, cháu có thể nói chuyện với bà một lát được không ạ?
- Nào, cái thằng bé ngỗ nghịch kia, cần gì nào? - bà đáp lại như đay nghiến, song thực ra bà hài lòng vì bà vẫn có thể trò chuyện với đứa cháu nhỏ trước khi ngủ.
- Bà ơi! - Vônca thì thầm sôi nổi với bà - Bà đóng cửa lại và ngồi lên giường với cháu đi. Cháu phải nói cho bà biết một chuyện hết sức quan trọng.
- Có lẽ phải gác cái chuyện quan trọng ấy đến sáng mai thì tốt hơn chăng? - Bà trả lời, trong khi bà rất tò mò muốn biết chuyện gì đã xảy đến với Vônca.
- Không, nhất thiết phải nói ngay bây giờ! Cháu... Bà ơi, cháu không được lên lớp 7... Nghĩa là lúc này cháu vẫn chưa được lên lớp. Cháu chưa thi được..
- Cháu trượt rồi à? - Bà kêu khẽ.
- Không, cháu chưa trượt... Cháu chưa thi được chứ không phải thi trượt... Cháu đã trình bày quan điểm của người xưa về nước Ấn Độ, về chân trời và về mọi cái đại loại như thế... Cháu đã nói đúng tất cả những cái đó... Còn quan điểm khoa học thì chẳng hiểu sao cháu lại không trả lời được... Cháu cảm thấy rất khó chịu trong người và cô Vácvara đã bảo với cháu rằng bao giờ cháu nghỉ ngơi tử tế rồi thì sẽ đến thi lại...
Cho đến bây giờ và thậm chí với bà, Vônca cũng không dám kể về ông già Khốttabít. Vả lại, nếu nó có kể thì bà cũng chẳng tin và bà hẳn lại nghĩ rằng đúng là nó bị ốm rồi.
- Lúc nãy cháu tính giấu chuyện này, cháu định bao giờ thi cử xong xuôi thì mới nói, nhưng cháu cảm thấy rất xấu hổ... Bà hiểu chứ?
-Ồ, sao bà lại không hiểu, Vôlenca! - Bà nói - Lương tâm là một chuyện lớn lao. Không có gì tệ bằng khi làm trái với lương tâm của mình... Thôi, chúc cháu ngủ ngon, nhà thiên văn yêu quý của bà!
- Bà hãy tạm cất quyển sách kia đi! - Vônca nói với giọng run run.
- Bà cất quyển sách ấy vào đâu bây giờ? Thôi, cứ cho là bà đưa cho cháu giữ hộ bà đến một lúc nào đó.. Cháu ngủ đi nào, cháu sẽ ngủ chứ?
- Cháu sẽ ngủ, - Vônca trả lời, nó cảm thấy như trút được gánh nặng sau khi đã thú nhận hết với bà. - Cháu xin hứa với bà lời hứa danh dự của một đội viên thiếu niên tiền phong là cháu sẽ thi môn địa lý được điểm “5”. Bà tin cháu chứ?
- Dĩ nhiên là bà tin. Thôi, cháu ngủ đi, ngủ đi, hãy lấy lại sức lực. Còn với bố mẹ cháu thì sao, bà sẽ nói hay tự cháu nói?
- Bà nói thì tốt hơn.
- Được rồi, chúc cháu ngủ ngon!
Bà hôn Vônca, tắt đèn rồi đi ra khỏi phòng.
Vônca cố nằm yên một lúc. Nó muốn nghe bà báo cái tin buồn ấy cho bố mẹ nó ra sao, nhưng chưa nghe được gì cả, nó đã ngủ khì.

---
(1) Một loại chó khỏe, lông mượt – N.D.
(2) Loại chó của công an chuyên đi truy lùng tội phạm – N.D.
(3) Tên gọi thân mật của Vônca – N.D.


Ctly đã hiệu định xong
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-08-20 03:18:59ct.ly>
Một đêm không yên ổn

Chưa đầy một tiếng sau, tiếng chuông điện thoại vang lên ở phòng làm việc của bố đã đánh thức Vônca dậy.
Ông Alếchxây đến bên máy điện thoại:
- Tôi nghe đây... Vâng tôi đây... Ai đấy ạ?... Chào cô Vácvara Xtêpanốpna! Cám ơn cô, chúng tôi vẫn khỏe. Còn cô?... Cô hỏi cháu Vônca? Vônca đang ngủ... Theo tôi, cháu hoàn toàn khỏe mạnh, cháu ăn bữa tối hết sức ngon miệng... Vâng, tôi biết, có lẽ không thể giải thích khác được... Chính tôi cũng lấy làm ngạc nhiên... Vâng, có lẽ nó bị mệt quá... Dĩ nhiên, cháu nó được nghỉ vài hôm thì tốt hơn, nếu cô không phản đối... Cảm ơn cô đã quan tâm. Chúc cô mạnh khỏe!... Cô Vácvara gửi lời chào em đấy. - Ông Alếchxây nói với vợ - Cô ấy quan tâm đến sức khỏe của Vônca. Cô nói chúng ta yên tâm: ở trường, Vônca được mọi người quý mến. Cứ để con nó nghỉ ngơi cho tốt.
Vônca lại cố nghe xem bố mẹ nó nói với nhau những gì, nhưng chưa nghe được gì cả, nó lại thiếp đi.
Nhưng lần này, nó chẳng ngủ được quá 15 phút.
Tiếng chuông điện thoại lại đánh thức nó dậy.
- Vâng, tôi đây... – Ông Alếchxây nói với giọng cố làm cho nhỏ lại - Vâng... Chào bác Nicôlai Nicanđrôvích!... Sao kia ạ?... Không, không có.. Vâng, cháu ở nhà, dĩ nhiên là cháu ở nhà... Được ạ... Chào tạm biệt bác!
- Ai gọi thế anh? - Tiếng mẹ từ trong bếp vọng ra.
- Bố của Giênia Bôgôrát. Bác ấy đang lo: đến tận giờ này, Giênia vẫn chưa về nhà. Bác ấy hỏi Giênia có ở nhà chúng ta hay không và Vônca có nhà hay không.
- Thời mẹ, chỉ có bọn lính kỵ binh nhẹ mới về nhà muộn như thế. - Bà nội nói xen vào - Đằng này, một thằng bé con...
Nửa tiếng sau, lần thứ 3 trong cái đêm không yên ổn này, tiếng chuông điện thoại lại cắt ngang giấc ngủ của Vônca.
Lần này, bà Tatiana Ivanốpna - mẹ của Giênia gọi đến. Giênia vẫn chưa về nhà. Bà muốn Vônca cho biết thêm về Giênia.
- Vônca! - Bố mở hé cửa - Bác Tatiana hỏi con thấy Giênia lần cuối cùng vào lúc nào?
- Vào lúc tối, ở rạp chiếu bóng ạ.
- Thế sau khi xem phim thì sao?
- Sau khi xem phim, con không thấy bạn ấy.
- Giênia không nói với con là nó định đi đâu hay sau khi xem phim à?
- Không ạ.
Vônca đã chờ lâu, rất lâu xem cuối cùng cuộc nói chuyện của người lớn về cậu bạn Giênia bị mất tích sẽ kết thúc vào lúc nào (chính Vônca thì chẳnng hề lo một chút nào cả: nó ngờ rằng Giênia đã hứng chí đi đên Công viên văn hóa để nghỉ ngơi và xem xiếc), nhưng nó cũng chẳng chờ được và lần thứ 3 lại ngủ khì. Lần này hẳn là được ngủ yên.
Chẳng bao lâu trong góc nhà phát ra tiếng quẫy nước nhè nhẹ. Sau đó, có tiếng chân bước lạch bạch. Trên sàn nhà xuất hiện rồi khô nhanh những dấu chân ướt vô hình của ai đó. Ai đó vừa đi đi lại lại trong phòng, vừa khe khẽ hát một âm điệu phương Đông ngân dài buồn bã.
Những dấu chân ướt đi về phía bàn, trên đó có chiếc đồng hồ báo thức đang kêu tích tắc một cách bồn chồn. Tiếng tắc lưỡi khâm phục của ai đó vang lên. Chiếc đồng hồ báo thức tự bay lên, yên ổn lơ lửng một chốc ở khoảng giữa sàn nhà và trần nhà, sau đó lại quay về chỗ cũ, còn những dấu chân thì đi về phía bể nuôi cá. Lại phát ra tiếng quẫy nước, rồi tất cả đều im lặng…
Vào lúc đêm khuya trời đổ mưa. Những giọt mưa vui vẻ gõ lộp độp vào cửa sổ, rơi lào rào nhanh trong đám lá cây rậm rạp và chảy róc rách trong các ống máng. Chốc chốc tiếng mưa lại lặng đi và lúc bấy giờ chỉ còn nghe thấy những giọt nước mưa to rơi đĩnh đạc và âm vang xuống cái thùng tônô để ở dưới cửa sổ. Sau đó, như đã lấy lại sức, cơn mưa lại bắt đầu đổ ào ào.
Trời mưa như thế ngủ rất ngon. Cơn mưa có tác dụng ru ngủ đố với cả những người bị bệnh mất ngủ, còn Vônca thì chẳng bao giờ phải than phiền về bệnh mất ngủ cả.
Đến sáng, khi bầu trời đã gần quang mây, có ai đó mấy lần thận trọng chạm vào vai nhân vật chính của chúng ta khi cậu đang ngủ say. Nhưng Vônca vẫn chẳng thức dậy. Lúc bấy giờ cái người đã cố đánh thức Vônca mà chẳng ăn thua ấy liền thở dài buồn bã, lẩm bẩm một câu gì đó và kéo giày lệt sệt, đi vào sâu trong phòng, tới chỗ cái bể nuôi cá vàng của Vônca được đặt trên bệ cao. Có tiếng quẫy nước khó khăn lắm mới nghe được và trong phòng lại bao trùm bầu không khí yên lặng như tờ.

Ct.Ly đã hiệu định xong
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-08-20 17:43:24ct.ly>
Biến cố phi thường tại căn hộ số 37

Bà Natalia Cudiminhitrơna (người ta thường gọi mẹ Gôga như thế) không hề mua tặng Gôga một con chó nào cả. Bà chưa kịp làm việc đó. Còn về sau, bà lại càng không mua tặng: sau những biến cố không thể tưởng tượng được trong cái buổi tối hãi hùng ấy, cả Gôga lẫn bà Natalia trong một thời gian dài đã mất hẳn sự ham thích đối với những người bạn lâu đời nhất và trung thành nhất của con người.
Nhưng chính Vônca đã nghe hết sức rõ tiếng chó sủa vọng ra từ căn hộ số 37 kia mà! Chẳng lẽ nó lại nghe nhầm?
Không, Vônca không hề nghe nhầm.
Tuy nhiên, tối hôm đó cũng như nhiều tháng sau, trong căn hộ số 37 vẫn không hề có một con chó nào cả. Nếu các bạn muốn biết thì xin nói rằng từ đó đến nay, ngay cả một cái chân chó cũng không đến đấy. Nói tóm lại, Vônca đã ghen tị với Gôga một cách uổng công. Ghen tị mà làm gì kia chứ: chính Gôga đã sủa đấy!
Việc đó bắt đầu vào đúng lúc Gôga rửa ráy mặt mũi trước khi ăn bữa tối. Nó nóng lòng kể cho mẹ nghe (và tìm mọi cách thêm mắm thêm muối) chuyện hôm nay, tại cuộc thi, thằng Vônca Côxtưncốp học cùng lớp và ở ngay gần nhà đã bị ê mặt như thế nào. Lúc ấy, gần như ngay lập tức, Gôga đã bắt đầu sủa. Nói đúng hơn là nó không chỉ hoàn toàn sủa ngay thôi đâu. Một vài tiếng nào đó nó vẫn nói như người, nhưng nhiều, rất nhiều tiếng khác thì nó không thể nào nói được, mà từ mồm nó lại phát ra tiếng sủa hệt như một con chó vậy. Gôga hết sức sửng sốt và khiếp đảm.
Gôga muốn kể lại với những chi tiết bịa đặt rằng tại cuộc thi, Vônca đã nói nhăng nói cuội, làm cho cô Vácvara phải đập bàn và gào lên: “Mày nói nhảm nhí gì thế, cái thằng ngốc kia?! Tao sẽ cho mày, một thằng càn quấy, ở lại lớp!”. Nhưng thay vào đó, Gôga lại nói như sau:
- Vônca bỗng nhiên bắt đầu nói.. gâu gâu gâu.. Còn cô Vácvara thì đập... gâu gâu gâu...
Gôga ngớ người ra vì bất ngờ. Nó ngừng nói, nghỉ một chút, rồi cố nhắc lại câu nói vừa rồi. Nhưng cả lần này nữa, từ mồm nó lại vọt ra tiếng chó sủa thay cho những lời lẽ thô lỗ mà thằng nói dối và hớt lẻo Gôga “Thuốc viên” muốn gán cho cô Vácvara.
- Ối mẹ ơi! - Gôga hốt hoảng - Mẹ ơi!
- Sao thế con, Gôguxca (1)? - Bà Natalia hoảng sợ - Sao mặt con tái xanh tái mét thế kia?
- Mẹ hiểu không, con muốn nói rằng... gâu gâu gâu.... Ối mẹ ơi, thế là thế nào?
Hoảng quá, mặt Gôga quả là biến sắc ghê gớm.
- Đừng sủa nữa, Gôguxca, mặt trời bé nhỏ của mẹ, niềm sung sướng của mẹ!
- Con nào có cố ý sủa như thế! - Gôga mếu máo. - Con chỉ muốn nói...
Và thay cho tiếng nói rành rọt, nó lại chỉ có thể phát ra tiếng chó sủa cáu kỉnh.
- Con trai bé bỏng đáng yêu của mẹ, con đừng làm cho mẹ sợ nữa! - Bà Natalia tội nghiệp van vỉ, và những giọt nước mắt từ từ lăn trên khuôn mặt đôn hậu của bà. - Đừng sủa nữa! Mẹ van con, đừng sủa nữa!...
Nhưng lúc ấy Gôga chẳng tìm được một cách gì khôn hơn, mà lại đâm cáu với mẹ mình. Và bởi vì trong những trường hợp như vậy nó thường giở giọng hỗn láo với mẹ nó nên lần này nó liền sủa gâu gâu dữ dội đến chối tai, khiến cho những người ở căn hộ bên cạnh phải chạy ra ban công mà la lên:
- Bà Natalia! Bà hãy bảo thằng Gôga nhà bà đừng hành hạ con chó nữa! Bậy quá chừng!... Nuông chiều thằng bé đến mức hoàn toàn chẳng biết xấu hổ là gì nữa!
Nước mắt đầm đìa, bà Natalia lao đi đóng chặt tất cả các cửa sổ lại. Sau đó, bà toan sờ trán Gôga, làm nó lại tuôn thêm một đợt sủa dữ tợn.
Bấy giờ, bà Natalia bèn bắt cu cậu Gôga đã hoàn toàn khiếp vía vào giường nằm, trùm cái chăn bông lên người nó mà chẳng hiểu để làm gì, mặc dù đang là một buổi tối mùa hè nóng nực. Sau đó, bà chạy xuống dưới nhà, đến bên máy điện thoại tự động để gọi bác sĩ ở Trạm Cấp cứu.
Việc này hoàn toàn không đơn giản. Muốn gọi bác sĩ ở Trạm Cấp cứu đến, người nhà phải mắc một bệnh gì đó rất nguy hiểm và ít ra nhiệt độ của người ấy phải đột ngột vọt lên rất cao.
Bà Natalia phải nói dối rằng nhiệt độ của Gôga đã lên đến 39 độ 8 và dường như đang mê sảng.
Chẳng mấy chốc bác sĩ đã đến. Đó là một bác sĩ đứng tuổi, to béo, râu bạc, có kinh nghiệm.
Dĩ nhiên, trước hết ông bác sĩ sờ trán Gôga và thấy rõ ràng nhiệt độ của nó hoàn toàn không tăng một chút nào. Dĩ nhiên là ông bực mình, nhưng không để lộ ra ngòai. Bà Natalia có vẻ hết sức bối rối.
Ông bác sĩ thở dài và ngồi xuống chiếc ghế để cạnh giường Gôga đang nằm rồi yêu cầu bà Natalia giải thích vì sao bà lại phải gọi bác sĩ cấp cứu đến.
Bà Natalia thành thật kể hết mọi chuyện.
Bác sĩ nhún vai, hỏi lại bà, rồi lại nhún vai và nghĩ rằng nếu sự việc xảy ra đúng như vậy thì phải gọi bác sĩ khoa tâm thần chứ không phải gọi bác sĩ nội khoa.
- Có lẽ cậu quả quyết rằng cậu là một con chó? - Bác sĩ hỏi Gôga như không chủ tâm.
Gôga lắc đầu.
“Thế thì tốt!”, bác sĩ nghĩ thầm, “Nếu người bệnh bỗng nhiên quả quyết mình là một con chó thì có thể đoán rằng người đó có nhiều biểu hiện của chứng điên.”
Dĩ nhiên ông không nói suy nghĩ đó thành lời để khỏi làm cho mẹ con người bệnh hoảng sợ vô ích.
- Cậu thè lưỡi ra! - Ông nói với Gôga.
Gôga thè lưỡi.
- Lưỡi hoàn toàn bình thường. Này cậu, bây giờ tôi sẽ khám cậu nhé... Thế... Thế... Thế... Tim rất tốt. Phổi không hề có tiếng ran. Dạ dày thế nào?
- Dạ dày cháu bình thường. - Bà Natalia nói.
- Cậu nhà ta... e hèm... sủa gâu gâu đã lâu chưa?
- Đã 3 tiếng đồng hồ nay rồi. Thật là tôi chẳng còn biết làm gì bây giờ...
- Trước hết phải bình tĩnh. Lúc này tôi chưa thấy một điều gì đang ngại cả. Này cậu, cậu hãy kể cho tôi nghe vì lẽ gì lại có chuyện như thế?
- Bình thường thôi, chẳng vì lẽ gì cả! - Gôga nói với giọng ai oán - Cháu đang tính kể cho mẹ cháu chuyện Vônca... gâu gâu gâu...
- Ông thấy đấy, thưa bác sĩ, - Bà Natalia trào nước mắt - Thật là kinh khủng!... Có lẽ nên cho cháu uống một thứ thuốc gì đó chăng? Rửa dạ dày cho cháu có sao không ạ?
Bác sĩ chau mày:
- Bà Natalia, xin bà hãy cho tôi một thời gian để tôi suy nghĩ, xem qua sách báo nào đó... Đây là một trường hợp hiếm có, rất hiếm có. Bây giờ nên thế này: yên tĩnh hoàn toàn, chế độ nằm nghỉ trên giường là dĩ nhiên rồi, thức ăn nhẹ nhất, tốt hơn hết là thức ăn bằng sữa thực vật, không được uống một chút cà phê hay ca cao nào, uống nước trà thật loãng, có thể pha thêm một chút đường. Lúc này không được ra khỏi nhà...
- Bây giờ có dùng gậy mà đuổi thì cháu nó cũng không ra khỏi nhà đâu. Cháu xấu hổ. Vừa rồi có một cậu bé ghé vào chơi với cháu. Thế là cháu Gôga tội nghiệp liền sủa liên hồi. Phải vất vả lắm chúng tôi mới van nài được cậu bé ấy đừng kể lại chuyện này cho ai biết. Còn dạ dày cháu thì sao? Có thể rửa được không ạ?
- Thôi được, - Bác sĩ lưỡng lự nói - Rửa dạ dày cũng chẳng hề gì.
- Dán cao mù tạc cho cháu vào ban đêm có sao không ạ? - Bà Natalia vừa hỏi vừa nức nở.
- Cũng tốt đấy! Cao mù tạc có tác dụng lắm!
Bác sĩ muốn xoa đầu Gôga đang ỉu xìu, nhưng “Thuốc viên” cảm thấy trước tất cả những cách thức điều trị mà nó phải chịu, liền sủa gâu gâu với vẻ tức giận không che giấu, khiến cho ông bác sĩ phải rụt tay nhanh lại.
Ông hoảng sợ, cứ như thằng bé khó chịu này có thể cắn ông thực sự.
- Tiện thể xin hỏi tại sao bà lại đóng kín mít các cửa sổ giữa lúc trời nóng như thế này? - Bác sĩ nói - Cậu bé cần phải được hít thở không khí trong lành.
Cực chẳng đã, bà Natalia phải giải thích cho bác sĩ biết tại sao bà phải đóng kín các cửa sổ.
- Hừm, một trường hợp hiếm có, rất hiếm có! - Bác sĩ nhắc lại rồi viết đơn thuốc và ra về.

---
Một cách gọi âu yếm tên Vônca – N.D.

CtLy đã hiệu đính xong
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-08-20 17:45:17ct.ly>
Một buổi sáng cũng không yên ổn chẳng kém

Buổi sáng tuyệt đẹp, tràn trề ánh nắng đã đến.
Sáu giờ rưỡi, bà nội khẽ mở cửa phòng, nhón chân đi đến cửa sổ và mở toang cánh cửa ra. Không khí mát mẻ, sảng khoái tràn vào căn phòng. Một buổi sáng Mátxcơva ồn ào, vui tươi, bận rộn đã bắt đầu. Nhưng Vônca vẫn chưa thức dậy, nếu như cái chăn không tuột khỏi người nó và rơi xuống sàn nhà.
Trước tiên Vônca sờ ngay những sợi râu rễ tre đã lại mọc lún phún ở cằm và nó hiểu rằng nó đang ở trong một tình thế hoàn toàn không có lối thoát. Với cái bộ mặt râu ria như thế này thì đừng hòng nghĩ đến chuyện ra mắt bố mẹ. Vônca lại chui vào chăn và bắt đầu nghĩ xem nó nên làm gì bây giờ.
- Vôlia (1)! Vôlia! Dậy đi con! - Vônca nghe tiếng bố gọi từ phòng ăn, nhưng nó quyết định không trả lời, giả vờ như vẫn còn ngủ - Không hiểu sao nó có thể ngủ được trong cái buổi sáng tuyệt đẹp thế kia!
Nó nghe rõ tiếng của bà nội:
- Aliôsa, bây giờ bắt chính con mới thi cử xong mà lại phải thức dậy vào lúc sáng tinh mơ thì con có chịu được không nào?
- Thôi, cứ để cho nó ngủ. Cu cậu muốn ăn gì thì cu cậu tự mò dậy liền.
Vônca mà lại không muốn ăn ư? Nó bỗng thấy mình thèm một miếng trứng tráng kèm với một lát bánh mì đen mới ra lò còn hơn cả nỗi lo sợ về những sợi râu rễ tre hung hung lún phún ở cằm nó. Nhưng đầu óc tỉnh táo dẫu sao cũng đã thắng cái cảm giác đói bụng, nên Vônca vẫn cứ nằm dài trên giường cho tới lúc bố đi làm, mẹ xách giỏ đi chợ.
“Một liều ba bảy cũng liều!”, Vônca quyết định sau khi nghe thấy tiếng cửa đóng lúc mẹ ra khỏi nhà, “Mình sẽ kể hết mọi chuyện với bà. Và hai bà cháu sẽ cùng nhau nghĩ ra một cách nào đó”.
Vônca khoan khoái vươn vai, ngáp dài dễ chịu và đi về phía cửa phòng. Lúc đi ngang qua bể nuôi cá, nó lơ đãng liếc nhìn cái bể và... ngây người vì kinh ngạc. Đêm qua, ở trong cái bể kính 4 góc chẳng lấy gì làm lớn ấy đã xảy ra một biến cố không thể nào giải thích được theo quan điểm khoa học tự nhiên và vì thế nó mang đầy tính chất bí ẩn: trong bể vốn có 4 con cá nhỏ, ấy thế mà bây giờ lại có 5! Đã xuất hiện thêm một con nữa: một con cá vàng to, béo đang trịnh trọng ve vẩy những cái vây đỏ rực lộng lẫy. Lúc Vônca ngạc nhiên ghé sát mặt vào tấm kính dày của bể nuôi cá, nó thấy hình như con cá nọ đã nháy mắt mấy lần với mình.
- Chuyện quái quỷ gì thế này! - Vônca lẩm bẩm, tạm thời quên cả bộ râu của mình và thò tay xuống nước để bắt con cá bí ẩn.
Nhưng tự con cá, dường như chỉ đợi có thế, đã đập mạnh đuôi trong nước, rồi nhảy vọt từ bể nuôi cá xuống sàn nhà biến thành... ông già Khốttabít!
- Úi chà! - Ông già vừa nói vừa lau sạch bộ râu bằng một cái khăn bông tuyệt đẹp chẳng biết từ đâu hiện ra, ở rìa khăn có thêu những con gà trống nhỏ bằng chỉ vàng và bạc - Suốt từ sáng ta, chỉ chờ dịp để bày tỏ với cậu lòng kính trọng sâu sắc nhất của ta. Nhưng cậu vẫn chẳng thức giấc. Ta đành phải ngủ với những con cá vàng xinh đẹp này, hỡi cậu Vônca con trai của Aliôsa may mắn nhất đời!
- Ông chế giễu cháu như thế mà không biết xấu hổ sao? – Vônca nổi cáu - Chỉ có chế giễu mới có thể gọi một thằng bé có râu là người may mắn nhất đời!

Ct.Ly đã sửa chính tả
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-08-21 03:24:01ct.ly>
Tại sao ông X.X. Pivôraki lại phải đổi họ?



Trong cái buổi sáng tuyệt trần ấy, ông Xtêpan Xtêpanứt Pivôraki quyết định thưởng thức cùng lúc 2 thú vui: vừa cạo râu vừa ngắm phong cảnh đẹp như tranh vẽ ở trên sông Mátxcơva. Ông đẩy chiếc bàn con để bộ đồ cạo râu tới sát cửa sổ và vừa hát khe khẽ một bài hát vui vừa cẩn thận quệt xà phòng lên má.
Còn chúng ta lúc này sẽ kể cho nhau nghe về người quen mới của chúng ta.
Nhờ một sự trùng hợp kỳ lạ, họ của ông hoàn toàn phù hợp với một trong hai nhược điểm của ông ta: ông thích uống bia và nhắm tôm càng luộn ngon lành (1).
Nhược điểm thứ hai của ông là nói quá nhiều.
Vì tính ba hoa của mình, ông Pivôraki, một người nói chung là khá thông minh, thường làm cho mọi người rất khó chịu, kể cả những người bạn thân nhất của ông.
Ngoài tất cả những cái đó ra, ông là một người rất tốt và rất điêu luyện trong nghề của mình. Ông là thợ chữa khuôn.
Quệt xong xà phòng lên má, Pivôraki cầm con dao cạo, liếc nó một nhát trên lòng bàn tay và bắt đầu cạo râu một cách nhẹ nhàng và khéo léo lạ thường. Cạo râu xong, ông khoan khoái dùng cái bình phun nước hoa “Mộc Lan” phun lên mặt mình. Lúc ông bắt đầu chùi con dao cạo thì bỗng nhiên, bằng con đường nào không biết, xuất hiện bên cạnh ông một ông già nhỏ nhắn đầu đội mũ cói, chân đi đôi giày da dê thuộc màu hồng nhạt có thêu những đường chỉ vàng và bạc, mũi giày vểnh lên một cách kỳ cục.
- Mi là một gã thợ cạo? - Ông già nghiêm nghị hỏi ông Pivôraki đang đứng ngây người.
- Thứ nhất, tôi yêu cầu ông không nên xưng hô “mi, ta” - Ông Pivôraki lịch sự trả lời ông già - Thứ hai, có lẽ ông muốn nói “thợ cắt tóc”? Không, tôi không phải là thợ cắt tóc chuyên nghiệp. Mặc dù mặt khác, tôi có thể nói về mình rằng đúng, tôi là thợ cắt tóc, bởi vì tuy tôi không phải là thợ cắt tóc hay là “thợ cạo” theo cách nói của ông, tôi vẫn ăn đứt bất cứ một tay cắt tóc chuyên nghiệp hay bất cứ một tay “thợ cạo” nào theo cách nói cổ điển của ông, nói cách khác không một tay thợ cắt tóc nào ăn đứt được tôi... Tại sao lại thế ư?... Tại vì trong khi thợ cắt tóc chuyên nghiệp hay nói theo cách của ông là “thợ ca...”...
Ông Pivôraki đang ba hoa liền bị ông già ngắt lời một cách bất lịch sự:
- Hỡi gã thợ cạo lắm lời quá mức kia, mi liệu có biết cạo râu thật cừ, không hề làm sây sát da mặt lần nào, cho một cậu thiếu niên mà mi thậm chí chẳng đáng hôn bụi dưới bàn chân cậu ta hay không?
- Lần thứ hai tôi yêu cầu ông không được xưng hô “mi, ta” với tôi. Còn về thực chất của vấn đề mà ông đề cập đến thì...
Ông Pivôraki muốn nói tiếp bài diễn văn của mình, nhưng ông già lặng lẽ thu nhặt tất cả những thứ đồ cạo râu lại, rồi túm lấy cổ ông Pivôraki vẫn không ngừng thao thao bất tuyệt, và chẳng thèm nói một lời, ông già xách ông Pivôraki bay qua cửa sổ, theo hướng nào không rõ.
Chẳng mấy chốc, hai người đã bay qua cửa sổ, bay vào căn phòng mà chúng ta đã biết, nơi Vônca đang ngồi buồn thiu trên giường, thỉnh thoảng lại vừa rên rỉ vừa liếc nhìn trong gương bộ mặt xồm xoàm râu ria.
- Hạnh phúc và may mắn bao giờ cũng đi theo trên tất cả những bước đường đời của cậu, hỡi ông chủ trẻ tuổi của ta! - Ông Khốttabít trịnh trọng tuyên bố trong khi vẫn chưa chịu buông ông Pivôraki đang cố vùng ra - Ta đã hoàn toàn tuyệt vọng trong việc tìm cho cậu một gã thợ cạo thì bỗng nhiên ta trông thấy bậc truợng phu ba hoa quá mức này và ta liền bắt gã, lôi về dưới mái nhà bình yên của cậu. Và đây, gã đang đứng trước mặt cậu với tất cả những dụng cụ cần thiết để cạo râu... Còn bây giờ, - ông Khốttabít nói với ông Pivôraki đang trố mắt nhìn cậu bé có râu - mi hãy bày những dụng cụ thích hợp của mi ra và hãy cạo râu cho cậu thiếu niên đáng kính này, sao cho cái cằm của cậu trở nên nhẵn nhụi như cằm của một cô thiếu nữ trẻ măng.
- Tôi đã yêu cầu ông không được xưng hô “mi, ta” kia mà. - Ông Pivôraki nhắc lại, nhưng không còn chống cự nữa.
Con dao cạo lấp loáng trong bàn tay khéo léo của ông Pivôraki, và chỉ trong vài phút, bộ râu của Vônca đã được cạo nhẵn nhụi.
- Còn bây giờ, - Ông già nói - mi hãy xếp những dụng cụ của mi lại. Sáng sớm mai, ta lại bay đến đón mi và mi lại cạo râu cho cậu thiếu niên này.
- Sáng mai tôi không thể đến được! - Ông Pivôraki uể oải phản đối - Ngày mai tôi phải làm ca sáng.
- Điều đó chẳng dính dáng gì đến ta cả. - Ông Khốttabít nghiêm nghị đáp.
Im lặng nặng nề. Sau đó, ông Pivôraki chợt nghĩ ra:
- Tại sao ông và cậu không thử dùng một thứ thuốc ta ở Tbilixi nhỉ? Thuốc hay tuyệt trần đời!
- Đó có phải là một thứ thuốc bột không ạ? - Vônca xen vào, trước đó nó lặng thinh như người câm. - Hình như đó là thứ thuốc bột màu xám?... Cháu đã nghe nói về thứ thuốc này ở đâu đó... hoặc là cháu đã đọc..
- Đúng là thuốc bột! Đúng là màu xám! - Ông Pivôraki mừng rỡ - Thuốc này được chế ở Grudia, một đất nước tuyệt đẹp, tràn trề ánh nắng. Riêng tôi rất mê Grudia như điếu đổ. Trong thời gian nghỉ phép, tôi đã đi khắp Grudia. Nào là thành phố Xukhumi, nào là thành phố Tbilixi, rồi Cutaixi... Chẳng có nơi đâu nghỉ tốt hơn! Dựa vào kinh nghiệm bản thân, tôi thành thật khuyên ông và cậu nên đến đấy... Xin lỗi, tôi hơi đi ra ngoài đề. Bây giờ lại nói về thứ thuốc bột ấy. Chỉ cần bôi thuốc này lên má thì ngay cả bộ râu rậm nhất cũng biến mất ngay lập tức... Quả là sau một thời gian nó lại mọc...
- Ở người bạn trẻ của ta, nó sẽ không mọc được nữa! - Ông Khốttabít ngắt lời ông Pivôraki.
- Ông tin chắc chứ? - Ông Pivôraki ngạc nhiên.
Ông Khốttabít lặng thinh với vẻ kiêu ngạo. Ông ta cho rằng nói cho một gã thợ cạo thấp hèn biết công việc của mình là hạ thấp phẩm giá của ông ta...
Không quá một phút sau, tại thành phố Tbilixi, ở chỗ gửi quần áo ngoài của một nhà tắm công cộng, người ta thấy ông già nhỏ nhắn đội mũ cói kiểu cổ, mặc bộ comlê rộng thùng thình và đi đôi dày da dê thuộc màu hồng có thêu những đường chỉ vàng và bạc, mũi giày vểnh cao.
Không cởi quần áo ngoài, ông già đi thẳng vào phòng tắm. Tại đây, mùi lưu huỳnh xộc vào mũi ông già, điều này chẳng có gì là lạ bởi vì đây là một trong những nhà tắm lưu huỳnh nổi tiếng ở Tbilixi. Nhưng một người vẫn mặc nguyên quần áo ngoài bước vào phòng tắm mù mịt hơi nước thì không thể không gây nên sự ngạc nhiên.
Những người ở trong phòng tắm tò mò nhìn theo ông già. Ông thản nhiên đi về phía người phục vụ mệt phờ đang xát xà phòng một cách cần mẫn hiếm có lên cái đầu của một ông đứng tuổi có bộ râu mép rậm đã bạc. Dừng lại cách người phục vụ nhà tắm - ông ta tên là Vanô - mấy bước, ông già cởi chiếc áo véttông với vẻ thong thả oai vệ.
- Ghênaxvalê (2)! - Ông Vanô nói với giọng có thiện cảm - Ở nhà tắm chúng tôi, mọi người cởi quần áo tại chỗ và gửi quần áo ở ngoài. Còn ở đây thì chỉ có tắm thôi ạ.
Ông già nhỏ nhắn nhếch mép cười với vẻ kẻ cả. Ông không hề có ý định tắm táp gì hết. Chẳng qua mặc áo véttông ông thấy hơi nóng mà thôi.
- Hãy bước lại gần ta! - Ông già ra lệnh cho ông Vanô và cầm mũ phe phẩy uể oải - Nhưng nhanh lên, nếu mi còn quý mạng sống của mi!
Người phục vụ nhà tắm mỉm cười hiền lành.
- Ghênaxvalê, trong cái buổi sáng tuyệt đẹp như thế này, ai mà chẳng quý mạng sống của mình? Tôi xin sẵn sàng phục vụ ông ngay bây giờ.
Ông Vanô dội nước lên cái đầu đầy xà phòng của người khách có hàng râu mép bạc, thì thầm vào tai người này vài lời và người này gật đầu thông cảm.
- Thưa bố, con xin nghe đây ạ. - Ông Vanô bước lại gần ông già và nói.
Ông già nghiêm nghị hỏi ông Vanô:
- Hỡi gã phục vụ nhà tắm kia, mi hãy nói thật cho ta biết: có đúng đây là một nhà tắm Tbilixi nổi tiếng mà ta đã từng được nghe biết bao nhiêu điều đáng ngạc nhiên về nó hay không?
- Chính nó đấy ạ, ghênaxvalê! – Ông vanô vươn vai đứng thẳng với vẻ kiêu hãnh - Cứ đi khắp thế gian, bố cũng chẳng tìm được một nhà tắm nào như nhà tắm của chúng con. Té ra bố không phải là người ở đây, có phải không ạ?
Nhưng ông già đã kênh kiệu bỏ ngoài tai câu hỏi ấy.
- Nếu đây chính là cái nhà tắm mà ta đi tìm thì tại sao ta lại không thấy cái thứ thuốc bôi quả là thần kỳ mà khi bôi nó, râu tóc người ta đều rụng sạch trơn, như những người đáng tin cậy đã nói?
- A, thì ra là thế! - Ông Vanô mừng rỡ - Bố cần thuốc “tarô” chứ gì? Thế mà bố chẳng chịu nói ngay, ghênaxvalê!
- Thôi được, - Ông già nói - Nếu thứ thuốc đó gọi là “tarô” thì mi hãy mang “tarô” đến đây cho ta. Nhưng phải nhanh nhanh lên, nếu mi...
- Con biết rồi, con biết rồi! Nếu con còn quý mạng sống của con. Con sẽ chạy, con sẽ chạy!...
Ngừơi phục vụ nhà tắm từng trải này trong đời mình đã phải tiếp xúc khá nhiều với những người gàn dở đủ loại, cho nên ông hiểu rằng điều khôn ngoan nhất là chớ có mà đôi co với họ.
Ông quay về với một cái đĩa gốm nhỏ, bên trong đựng đầy một thứ bột nom tựa như tro.
- Đây! – Ông ta vừa thở hổn hển vừa nói và đưa cái đĩa nhỏ cho ông già - Bố có đi khắp thế gian cũng chẳng tìm được thứ thuốc “tarô” trứ danh như thế này. Lời nói của một người phục vụ nhà tắm đấy!
Mặt ông già sa sầm vì tức giận.
- Mi lại dám chế giễu ta, hỡi cái gã đê tiện nhất trong tất cả các gã phục vụ nhà tắm kia! – Ông già nói khẽ nhưng rất dễ sợ - Mi đã hứa mang đến cho ta cái thứ thuốc bôi kỳ diệu, vậy mà chẳng khác nào một thằng bịp bợm ở ngòai chợ, mi lại cố tống cho ta một cái đĩa vứt đi đựng thứ bột thổ tả màu lông chuột ốm nào đó?
Nói rồi, ông già thở phừ một cái, mạnh đến nỗi tất cả chỗ bột đựng trong đĩa bay tung lên rồi rơi xuống tóc, lông mày, râu mép và râu cằm của ông ta. Nhưng ông ta tức giận đến mức chẳng còn cần phủi sạch bột nữa.
- Bố cáu mà làm gì kia chứ, ghênaxvalê! - Ông Vanô phì cười - Chỉ cần pha nước vào thứ bột này là có ngay loại thuốc bôi kia.
Ông già hiểu rằng mình đã mắng mỏ không đâu và ông cảm thấy xấu hổ.
- Nóng quá! - Ông bối rối lầu bầu - Hãy ngừng ngay cái nóng lả người ở xung quanh ta! - Và ông nói thêm, hết sức khẽ - Bây giờ mà bộ râu của ta bị ướt thì toàn bộ sức thần thông của ta chỉ còn lại ở các ngón tay mà thôi... Vậy thì, hãy ngưng cái nóng lả người ở xung quanh ta!
- Việc này hoàn toàn không tùy thuộc ở con. - Ông Vanô vung tay tỏ ý khó xử.
- Việc này tùy thuộc ở ta! - Ông Khốttabít (dĩ nhiên đây chính là ông ta) nói lí nhí qua kẽ răng với vẻ dương dương tự đắc và búng các ngón tay toanh toách.
Đúng lúc đó, ông Vanô và ông khách hàng râu mép bạc đang nóng ruột chờ được phục vụ bỗng đồng thanh kêu ồ. Vả lại, sao mà không kêu ồ được kia chứ! Từ ông già kỳ lạ ấy đột nhiên tỏa ra một luồng hơi lạnh giá, sàn nhà ướt át xung quanh ông liền phủ một lớp băng mỏng, còn những đám hơi nóng trong cả phòng tắm đều dồn nhanh đến cái cực lạnh đã hình thành trên đầu ông Khốttabít, rồi tụ lại thành những đám mây mưa và đổ xuống người ông ta một trận mưa nhỏ hiếm có.
- Bây giờ lại là việc hoàn toàn khác, - Ông già nhận xét một cách hể hả - Giữa cái nóng nực như thế này, chẳng có gì làm mát mẻ bằng một trận mưa!
Đứng khoan khoái hai phút dưới hương sen tự nhiên nhưng đồng thời cũng siêu tự nhiên ấy, ông Khốttabít lại búng toanh toách các ngón tay phải. Luồng hơi lạnh ngưng lại ngay lập tức, lớp băng xung quanh ông già tan ra liền. Hơi nóng lại cuồn cuộn tràn ngập cả căn phòng.
- Vậy đó! - Ông Khốttabít nói, thích thú trước cái ấn tượng mà những sự thay đổi nhiệt độ hết sức đột ngột đã gây ra đối với mọi người xung quanh - Bây giờ, chúng ta quay về với món thuốc “tarô”. Ta đã có ý tin mi rằng thứ bột kia trộn với nước quả sẽ cho ta cái thuốc bôi mà vì nó ta đã đến đây. Hãy lăn tới đây cho ta một thùng thuốc màu nhiệm ấy, bởi vì thì giờ của ta rất ít ỏi.
- Một thùng?!
- Hai thùng nữa là đằng khác!
- Xin hãy tha cho, ghênaxvalê! Chỉ cần một đĩa nhỏ cũg đủ tiêu bộ râu rậm nhất!
- Thôi được, - Ông Khốttabít nói - Hãy mang đến đây năm đĩa vậy.
- Xin chờ một lát, ghênaxvalê! - Ông Vanô tỉnh cả người, biến ngay vào phòng bên rồi lập tức từ đó vọt ra tay cầm một chai nước khoáng boócgiômi to tuớng có đậy nút cẩn thận - Trong cái chai này ít ra cũng đủ dùng 20 lần. Chúc thượng lộ bình an!
- Hỡi gã phục vụ nhà tắm kia, hãy coi chừng, ta chẳng chúc ai ở vào địa vị của mi, nếu mi đánh lừa ta.
- Bố nói gì thế, bố nói gì thế, ghênaxvalê! - Ông Vanô xua tay bối rối - Chẳng lẽ con lại dám đánh lừa một bô lão đáng kính như bố?... Vả lại con không bao...
Ông ta cắt ngang nửa chừng câu nói của mình và đứng ngây người, mồm há hốc: ông già kỳ lạ hay gây chuyện bỗng biến mất, cứ như đã tan biến trong khoảng không...
Đúng một phút sau, một ông già không tóc, không lông mày, không ria mép và không râu cằm, đội mũ cói, mặc bộ véttông, đi đôi giày hồng mũi vểnh chạm vào vai Vônca Côxtưncốp đang thẫn thờ nhai một miếng bánh nướng nhân mứt to tướng.
Vônca quay lại, nhìn ông già và suýt nữa mắc nghẹn miếng bánh vì quá kinh ngạc.
- Ông làm sao thế, ông Khốttabít thân yêu?
Ông Khốttabít soi tấm gương treo trên tường và phá lên cười sặc sụa:
- Còn biết nói gì nữa! Bảo rằng ta đẹp trai thì quả là một sự phóng đại quá đáng! Cậu cứ coi như ta đã bị trừng phạt vì tính đa nghi của mình, và cậu chẳng lầm đâu. Ở đấy, trong cái nhà tắm cách chúng ta rất xa, ta đã thở phừ một cái rất mạnh khi người ta có lòng tốt mang đến cho ta cái đĩa nhỏ đựng thuốc bột “tarô”. Tất cả những chỗ bột bay tung lên rồi rơi xuống đầy tóc, lông mày, ria mép và râu cằm ta. Trận mưa nhỏ mà ta đã gọi đến trong cái nhà tắm thực sự nổi tiếng khắp thế gian đó đã biến chỗ bột ấy thành một thứ cháo loãng, thế rồi trận mưa mà ta gặp phải trên đường trở về Mátxcơva đã cuốn thứ cháo nọ khỏi ta cùng với râu cằm, ria mép, lông mày và tóc... Nhưng cậu chớ có lo cho cái bề ngoài của ta và tốt hơn hết là hãy lo cho cái bề ngoài của cậu.
Nói rồi, ông Khốttabít đổ một phần thuốc “tarô” đựng trong chai nước khoáng boócgiômi ra một đĩa tách...
Lúc râu ria của Vônca đã nhẵn nhụi, ông Khốttabít mới búng cái ngón tay trái và ông lại có hình dáng như cũ.
Lần này, ông già soi gương với vẻ mãn nguyện thực sự, khoái trá vuốt ve bằng cả hai bàn tay bộ râu cằm vừa có lại, vân vê hàng ria mép với vẻ ngang tàng, vuốt lông mày và thở phào nhẹ nhõm:
- Thế đấy! Bây giờ cả mặt cậu lẫn mặt ta đều lại ổn cả...
Còn về ông Xtêpan Xtêpanứt Pivôraki, người mà từ nay sẽ không còn xuất hiện nữa trên những trang truyện rất thật này của chúng ta, thì như tôi được biết rất chắc chắn, ông đã thay đổi hoàn toàn sau chuyện rủi ro kể trên. Trước kia những người quen khổ sở vì tính ba hoa của ông, đến nỗi người ta gọi bất cứ ai hay ba hoa là “Pivôraki”. Còn bây giờ, ông trở nên dè sẻn lời nói và mỗi lời nói đều được cân nhắc cẩn thận. cho nên trò chuyện với ông và nghe những bài phát biểu của ông tại các cuộc hội nghị thì thật là thú vị.
Cũng vì ông tin chắc rằng chuyện chú bé có râu là do ông uống rượu bia quá chén mà ra nên ông đã bỏ hẳn các thức uống có rượu. Người ta nói rằng thậm chí ông đã đổi họ và bây giờ họ của ông là Etxentuki (3), Xtêpan Xtêpanứt Etxentuki.
Chuyện trên đã ảnh hưởng đến một con người như vậy đó. Lạ thật!

---
(1) Trong tiếng Nga, Pivô là bia, raki là những con tôm càng – N.D.
(2) Tiếng xưng hô tỏ vẻ kính trọng của người Grudia – N.D.
(3) Một loại nước khoáng được gọi theo tên thị trấn Etxentuki (vùng Cápcadơ), nơi thứ nước đó được khai thác – N.D.

Ct.Ly đã hiệu đính xong
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-08-21 04:01:10ct.ly>
Phỏng vấn người thợ lặn hạng nhẹ

Suốt cả đêm, bố mẹ Giênia Bôgôrát chạy long tóc gáy. Họ gọi điện đến tất cả những người quen biết của mình, đi tắc xi tới khắp các đồn công an, các bệnh viện, đến ban điều tra hình sự và thậm chí đến cả các nhà xác trong thành phố, nhưng tất cả đều không có kết quả. Giênia cứ như đã biến mất tăm.
Sáng hôm sau, thầy hiệu trưởng đã gọi đến phòng mình và đích thân hỏi han tất cả các bạn học cùng lớp với Giênia, trong đó có cả Vônca.
Vônca đã thật thà kể lại cuộc gặp gỡ tối hôm qua với Giênia ở rạp chiếu bóng, dĩ nhiên là lờ tịt chuyện bộ râu. Cậu bé ngồi cùng bàn với Giênia nhớ rằng lúc gần 8 giờ tối, nó còn thấy Giênia ở phố Puskin. Giênia có vẻ rất phởn chí và vội vã đến rạp chiếu bóng. Mấy học sinh nữa cũng cung cấp những lời khai như vậy, nhưng chẳng một lời khai nào có thể đem lại manh mối cho những cuộc tìm kiếm kế tiếp.
Lúc bọn trẻ đã bắt đầu tản về nhà thì một đứa bỗng nhớ ra rằng Giênia đã định ra sông tắm sau khi tan học...
Nửa giờ sau, tất cả các lực lượng hiện có của OXVOĐ (1) đã được tung ra để mò xác Giênia Bôgôrát. Các nhân viên của những trạm cấp cứu đã dùng câu liêm mò toàn bộ khúc sông trong phạm vi thành phố, nhưng vẫn chẳng tìm được gì. Những người thợ lặn đã tận tâm sục sạo toàn bộ lòng sông, mò tìm rất lâu ở các chỗ nước xoáy và cũng chẳng phát hiện được gì cả.
Tấm màn đỏ như lửa của hoàng hôn đã buông xuống bên kia sông, làn gió nhẹ đã mang những tiếng còi trầm từ Công viên Văn hóa và Nghỉ ngơi - dấu hiệu cho biết rằng tại rạp hát Mùa Hè đã bắt đầu hồi 2 của buổi biểu diễn tối, nhưng trên sông hình bóng những chiếc thuyền của OXVOĐ vẫn còn hiện lên đen sì. Cuộc tìm kiếm vẫn tiếp tục.
Trong buổi tốt mát mẻ và đầy yên tĩnh ấy, Vônca không thể ngồi nhà được. Những ý nghĩ đáng sợ nhất về số phận của Giênia đã chẳng cho nó được yên. Nó quyết định đi đến trường: có thể ở đấy đã biết được một tin tức gì đó cũng nên.
Lúc Vônca trên đường tới trường, ông Khốttabít như từ dưới đất hiện lên và lặng lẽ đi bên cạnh Vônca. Ông già thấy Vônca đang lo buồn về một chuyện gì đó, nhưng vì tế nhị, ông quyết định không hỏi han lôi thôi cậu bé. Cả hai cứ lặng lẽ đi như thế, mỗi người theo đuổi những ý nghĩ riêng của mình, và chẳng mấy chốc họ đã đi dọc con đường rộng rãi lát đá hoa cương chạy bên bờ sông Mátxcơva.
- Những con quái vật có cái đầu kỳ lạ đang đứng trên các con thuyền ọp ẹp kia ở đâu đến thế? - Ông già hỏi, tay chỉ về phía các chiếc thuyền của OXVOĐ.
- Đó là những người thợ lặn hạng nhẹ. - Vônca buồn bã đáp.
- Hỡi người thợ lặn hạng nhẹ đáng kính, cầu chúc cho bạn được bình an! - Ông Khốttabít oai vệ nói với một người thợ lặn vừa từ chiếc thuyền bước lên bờ - Bạn tìm gì ở đấy, dưới đáy con sông tuyệt đẹp này?
- Một cậu bé bị chết đuối. - Người thợ lặn đáp và bước nhanh lên bậc tam cấp, vào căn nhà của Trạm Cấp cứu.
- Ta không cần hỏi gì nữa, hỡi người thợ lặn hạng nhẹ rất đáng kính. - Ông Khốttabít nói với theo anh thợ lặn.
Sau đó, ông quay về phía Vônca, cúi rạp người trước cậu bé và nói:
- Ta hôn đất ở dưới chân cậu, hỡi cậu học sinh đáng kính nhất trong tất cả các học sinh trường trung học số 124!
- Gì thế ông? - Vônca giật mình khi bị lôi ra khỏi những ý nghĩ buồn bã của mình.
- Nếu ta hiểu đúng người thợ lặn hạng nhẹ ấy thì anh ta đang mò tìm một thằng bé có vinh dự lớn là bạn của cậu?
Vônca lặng lẽ gật đầu và thở dài sườn sượt.
- Thằng bé ấy mặt tròn xoe, thân hình chắc nịch, mũi hếch và tóc cắt theo kiểu chẳng lấy gì làm hợp với một đứa bé.
- Vâng, đó là Giênia. Cậu ấy có kiểu tóc bắt chước người Ba Lan. Giênia là một tay rất thích ăn diện. - Vônca nói và lại thở dài buồn bã.
- Chúng ta đã thấy nó ở rạp chiếu bóng phải không? Nó đã gào lên với cậu một câu gì đó và cậu lo buồn về việc nó sẽ kể lể với mọi người rằng cậu mọc râu?
- Vâng, đúng thế. Sao ông lại biết được những điều cháu nghĩ?
- Tại vì cậu đã lẩm bẩm điều đó lúc cậu cố che không cho nó thấy bộ mặt đáng kính và hết sức xinh đẹp của mình. - Ông già nói tiếp - Cậu đừng có lo về chuyện đó nữa!
- Không đâu! - Vônca phẫn nộ - Cháu hoàn toàn không lo buồn về chuyện râu ria đó. Ngược lại, cháu rất buồn vì Giênia đã bị chết duối.
Ông Khốttabít cười gằn đắc thắng:
- Thằng bé ấy không hề chết đuối!
- Sao, Giênia không hề chết đuối ư? Tại sao ông lại biết là cậu ấy không hề chết duối?
- Ta mà lại không biết thì còn ai biết nữa! - Lúc bấy giờ ông Khốttabít hí hửng nói - Ta đã rình thằng bé ấy lúc nó ngồi ở hàng ghế đầu trong căn phòng tối om của rạp chiếu bóng và ta đã hết sức phẫn nộ mà nhủ thầm: “Không, hỡi cái thằng oắt con kia, mi sẽ chẳng nói được một điều bất lợi cho người bạn rất thông minh của mi là Vônca con trai của Aliôsa, bởi vì mi sẽ không còn có thể gặp những người tin mi và thích thú với điều mi sẽ nói!”. Ta đã nhủ thầm như vậy và đã quăng thằng bé ấy đến phương Đông xa lắc xa lơ, đúng vào cái nơi mà rìa đĩa đất tiếp giáp với vòm trời, và ta nghĩ rằng nó đã bị bán làm nô lệ ở nơi ấy. Hãy cứ mặc nó ở đấy để nó kể lể cho những ai muốn nghe nó nói về bộ râu của cậu...

---
(1) Tên viết tắt của Hội góp phần phát triển nhành vận tải đường thủy và bảo vệ tính mạng của nhân dân trên các đường thủy của Liên Xô (1931-1956) – N.D.

Ct.Ly đã hiệu đính xong
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-08-21 04:08:06ct.ly>
Chuyến bay được dự định

- Bán làm nô lệ ư? Sao lại thế? - Vônca bàng hoàng hỏi lại.
Ông già hiểu rằng lại xảy ra một chuyện lôi thôi gì đó và mặt ông liền nhăn như cái bị.
- Rất đơn giản... Bình thường thôi... Người ta bán làm nô lệ như mọi khi ấy… - Ông ta lầu bầu, mắt nhìn đi chỗ khác - Phải làm như thế để thằng nhóc ấy không còn múa lưỡi một cách vô bổ nữa, hỡi cậu ngố đáng yêu nhất đời!
Ông già rất hài lòng vì ông chêm vào đúng lúc cái tiếng “ngố” mà hôm trước ông đã nghe Vônca nói. Nhưng vị cứu tinh trẻ tuổi của ông bàng hoàng vì cái tin khủng khiếp về Giênia đến nỗi không còn buồn phản ứng trước việc ông già bỗng dưng lại gọi nó là ngố.
- Khủng khiếp biết chừng nào? - Vônca ôm lấy đầu - Ông Khốttabít, ông có hiểu ông đã làm gì không?
- Gátxan Ápđurắcman con trai của Khốttáp bao giờ cũng hiểu những việc mình làm!
- Trời ơi, thế mà bảo là hiểu! Những người tốt này thì chẳng hiểu sao ông lại định biến họ thành chim sẻ, những người tốt khác thì ông lại bán làm nô lệ! Phải đưa Gienca (1) về đây ngay lập tức.
- Không được! - Ông Khốttabít lắc đầu - Đừng đòi ta làm cái việc không thể làm được.
- Thế còn việc bán con nhà người ta làm nô lệ thì ông có thể làm được hả? Xin nói lời nói danh dự của một đội viên thiếu niên tiền phong là ngay cả ông cũng không hình dung nổi cháu sẽ làm gì nếu ông không đưa Giênia về lại ngay lập tức!
Thành thực mà nói, chính Vônca cũng hình dung được nó có thể làm gì để cứu Giênia ra khỏi nanh vuốt của bọn buôn nô lệ không ai biết tới. Nhưng rồi nó sẽ nghĩ ra một cách gì đó. Nó sẽ đến một bộ nào đó... Nhưng đến bộ nào đây? Và sẽ nói những gì ở bộ ấy?...
Các bạn đọc cuốn truyện này đã khá quen với Vônca và biết rằng nó chẳng phải là một cậu bé hay khóc. Nhưng lúc bấy giờ, ngay cả Vônca cũng cảm thấy mủi lòng. Vâng, vâng, cậu Vônca dũng cảm, không hề biết sợ là gì, đã ngồi phịch xuống chiếc ghế dài bắt gặp đầu tiên và òa khóc vì cơn giận dữ bất lực.
Ông già hoảng sợ:
- Tiếng khóc làm khổ cậu có nghĩa gì vậy? Hãy trả lời ngay! Đừng xé tim ta thành nhiều mảnh nữa, hỡi vị cứu tinh trẻ tuổi của ta!
Nhưng Vônca vừa nhìn ông già bằng cặp mắt căm ghét, vừa dùng cả hai tay đẩy mạnh ra xa mình ông Khốttabít đang cúi xuống với vẻ thông cảm.
Ông già chăm chú nhìn Vônca, cắn môi rồi trầm ngâm nói:
- Chính ta cũng tự lấy làm ngạc nhiên. Ta làm bất cứ việc gì, cậu đều không thích... Ta cố hết sức làm vừa lòng cậu, nhưng mọi cố gắng của ta đều uổng công. Những chúa tể hùng mạnh nhất ở phương Đông và phương Tây đã nhiều lần phải nhờ cậy các phép thần thông của ta, và sau đó chẳng một người nào không chịu ơn ta, không ca tụng ta bằng lời nói và bằng ý nghĩ của mình. Còn bây giờ!... Ta cố hiểu song không tài nào hiểu nổi tại sao lại như vậy. Phải chăng vì tuổi già? Ôi, ta đã già mất rồi!...
- Ông nói gì thế, ông nói gì thế, ông Khốttabít? Trông ông vẫn còn trẻ lắm! - Vônca nói qua làn nước mắt.
Quả thực, trông ông Khốttabít vẫn còn quá trẻ so với cái tuổi gần 4.000 của mình. Nhìn ông, không ai đoán quá 70, 75 tuổi. Bất cứ bạn đọc nào của chúng ta mà ở tuổi ông thì trông sẽ già hơn rất nhiều.
- Chà, cậu nói ta trông còn trẻ lắm ư? - Ông Khốttabít nhếch mép cười tự mãn và nói thêm – Không, ta không đủ sức đưa cậu bạn Giênia của cậu trở về ngay lập tức được đâu...
Mặt Vônca sa sầm vì đau buồn.
-... Nhưng, - ông già nói tiếp với giọng nói đầy ý nghĩa - Nếu sự vắng mặt của Giênia làm cậu buồn đến như vậy thì chúng ta có thể bay đi đón cậu ta về...
- Bay đi?! Bay xa như vậy? Bay trên cái gì?
- Bay trên cái gì nghĩa là thế nào? Chúng ta không bay trên lưng những con chim rồi. - Ông Khốttabít trả lời châm chọc - Dĩ nhiên, bay trên thảm bay, hỡi cậu ngố vĩ đại nhất trên đời!
Lần này, Vônca đã có thể nhận thấy ông già gọi nó bằng một tiếng chẳng hay ho gì. Nó liền nổi cáu:
- Ông gọi ai là ngố thế hả?
- Dĩ nhiên là ta gọi cậu, hỡi cậu Vônca con trai của Aliôsa, bởi vì cậu thông minh quá đỗi so với lứa tuổi của mình. - Ông Khốttabít nói, rất lấy làm hài lòng vì lần thứ hai ông đã chêm rất đạt cái tiếng mà ông mới được biết đó vào cuộc nói chuyện.
Vônca đã chực giận, nhưng nó kịp thời nhớ lại rằng trong trường hợp này, nó chỉ giận chính mình mà thôi. Nó đỏ mặt và cố không nhìn thẳng vào đôi mắt thật thà của ông già, nó yêu cầu ông đừng bao giờ gọi nó là ngố nữa, bởi vì nó không xứng đáng với cái danh hiệu đó.
- Ta khá khen cho tính khiêm tốn của cậu, hỡi cậu Vônca vô giá con trai của Aliôsa! - Ông Khốttabít nói với tình cảm hết sức kính trọng.
- Bao giờ chúng ta có thể bay được hả ông? - Vônca hỏi, vẫn chưa thể đủ sức xua tan đi cái cảm giác lúng túng của mình.
Ông già đáp:
- Ngay bây giờ cũng được!
- Vậy thì ông cháu ta bay ngay đi thôi! - Vônca nói, nhưng nó lập tức bối rối - Cháu chỉ băn khoăn không biết nên ăn nói ra sao với bố mẹ cháu đây?... Bố mẹ cháu sẽ lo lắng nếu cháu bay đi mà chẳng nói năng gì với bố mẹ cháu cả… Còn nếu cháu nói trước thì bố mẹ cháu sẽ chẳng cho phép đâu.
- Cậu chẳng cần phải lo lắng chuyện đó! - Ông già đáp - Ta sẽ làm cho bố mẹ cậu không hề nhớ tới cậu một lần nào trong suốt cả thời gian chúng ta vắng mặt.
- Ồ, ông nói như thế có nghĩa là ông chẳng hiểu bố mẹ cháu!
- Còn cậu thì chẳng hiểu Gátxan Ápđurắcman con trai của Khốttáp!...

---
(1) Một tên gọi thân mật khác của Giênia – N.D.


CT.Ly đã hiệu đính xong
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-08-22 00:50:53ct.ly>
Trong chuyến bay

Ở một góc tấm thảm bay, lớp tuyết đã bị bợt, có lẽ do nhậy cắn. Phần còn lại của tấm thảm vẫn tốt, còn các tua viền trang điểm cho nó thì hoàn toàn như mới. Vônca còn ngỡ là mình đã trông thấy ở đâu đó một tấm thảm hệt như thế nhưng không tài nào nhớ rõ ở đâu: hoặc ở nhà Giênia, hoặc là ở phòng giáo viên trong trường.
Cuộc xuất phát đã được tiến hành tại vườn hoa, vào lúc hoàn toàn không có một bóng người.
Ông Khốttabít nắm lấy tay Vônca và đặt nó ngồi cạnh mình ở chính giữa tấm thảm. Sau đó, ông rứt ba sợi râu, thổi vào các sợi râu ấy, trợn trừng mắt với vẻ chăm chú và lẩm bẩm một câu gì đó. Tấm thảm bắt đâu rung rung, tất cả 4 góc cùng với các tua lần lượt nâng lên, sau đó rìa tấm thảm uốn cong và cũng tự nâng lên, nhưng phần giữa tấm thảm vẫn nằm yên trên cỏ dưới sức nặng của hai hành khách. Rung rung được một chút, tấm thảm lại nằm bẹp xuống bất động.
Ông già bấn lên, ngượng ngịu:
- Hãy tha lỗi cho ta, hỡi cậu Vônca đáng yêu: đã xảy ra một sự trục trặc. Ta sẽ sửa chữa ngay bây giờ.
Ông Khốttabít suy nghĩ một lát, dùng các ngón tay làm những phép tính phức tạp nào đó. Có lẽ lần này ông đã đi đến một cách giải quyết đúng đắn, bởi vì trông mặt ông rạng rỡ hẳn lên. Ông rứt thêm 6 sợi râu nữa, ngắt đôi 1 sợi ra và quẳng nửa sợi đi như đó là cái nửa thừa, rồi cũng như lần đầu, ông thổi vào những sợi còn lại, trợn trừng mắt và niệm thần chú. Bây giờ tấm thảm thẳng ra, trở nên bằng phẳng và cứng như chỗ đầu cầu thang, rồi lao vút lên cao, mang theo ông Khốttabít tươi cười và cu cậu Vônca đầu óc quay cuồng không hẳn vì khoái chí, không hẳn vì độ cao, cũng không hẳn vì cả 2 cái gộp lại.
Tấm thảm lên cao hơn những ngọn cây cao nhất, cao hơn những tòa nhà cao tầng, cao hơn những ống khói nhà máy cao nhất và bay trên thành phố rực rỡ ánh đèn. Từ bên dưới vọng lên đủ thứ tiếng đã bị khoảng cách làm cho nhỏ bớt: tiếng người nói, tiếng còi xe hơi, tiếng hát của những người chèo thuyền trên sông, những tiếng xa xa của một dàn nhạc kèn…
Bóng tối đã bao trùm thành phố, nhưng ở đây, tít trên cao, vẫn còn thấy mặt trời đỏ rực đang từ từ lặn xuống bên kia chân trời.
- Tuyệt thật... - Vônca trầm ngâm nói - Tuyệt thật! Bây giờ chúng ta đang ở độ cao bao nhiêu hả ông?
- Sáu trăm, bảy trăm lôcớt (1). - Ông Khốttabít đáp, vẫn tiếp tục tính toán bằng các ngón tay.
Trong lúc đó, tấm thảm đã bay đúng hướng, đồng thời tiếp tục bay lên cao. Ông Khốttabít ngồi xếp chân vòng tròn với vẻ oai nghiêm và dùng tay giữ mũ. Vônca thận trọng cong lưng và cố ngồi xếp chân vòng tròn như ông Khốttabít nhưng nó không hề cảm thấy thích thú với cách ngồi ấy. Lúc bấy giờ, sau khi nheo mắt lại để chống đỡ cái cảm giác chóng mặt khó chịu, Vônca bèn ngồi thõng chân ra ngoài tấm thảm. Ngồi như thế thuận tiện hơn, nhưng gió thổi vào chân rất dữ, hai chân bị gió thổi tạt, lúc nào cũng tạo thành góc nhọn đối với thân mình. Thấy rõ ràng cách ngồi này cũng chẳng thoải mái, Vônca bèn ngồi duỗi chân theo chiều dọc của tấm thảm.
Chẳng mấy chốc, Vônca đã thấy rét run. Cu cậu buồn bã nghĩ đến bộ đồng phục của mình: mặc nó bây giờ rất chi là đúng lúc. Nhưng bộ đồng phục đang ở rất xa bên dưới, trong chiếc tủ đứng ở nhà, cách đây hàng trăm kilômét.
Vì không có cách nào tốt hơn, Vônca đành phải làm ấm người theo cách các ông đánh xe ngựa vẫn thường làm xưa kia, trước khi Vônca ra đời rất lâu. Bố Vônca, người vẫn còn nhớ rõ các ông đánh xe ngựa trên đường phố Mátxcơva ngày trước, đã bày cho Vônca cách đó trong một lần đi trượt băng. Vônca bắt đầu vung tay đập mạnh vào hai bả vai và hai bên sườn, nhưng ngay lúc đó, không kịp kêu lên một tiếng, nó đã trượt khỏi tấm thảm, rơi xuống khoảng không sâu thẳm.
Tất nhiên, nếu hai tay Vônca không chộp được chỗ tua viền quanh tấm thảm bay thì ắt hẳn phải kết thúc cuốn truyện này của chúng ta ở cái tai nạn trên không khác thường ấy.
Còn ông Khốttabít lúc đầu thậm chí không nhận thấy chuyện gì đã xảy đến cho cậu bạn trẻ của mình. Ông già ngồi quay lưng về phía Vônca, xếp chân vòng tròn theo thói quen của người phương Đông và mải mê hồi tưởng. Ông cố nhớ lại cách giải phù phép của chính mình.
- Ông Khốttabít! - Vônca ra sức gào lạc cả giọng, nó cảm thấy không thể bám lâu vào tấm thảm bay được - Cháu chết mất, ông Khốttabi.. i.. ít!...
- Ôi, khổ thay cho ta! - Ông già bấn lên khi thấy Vônca đang bay trên khoảng không sâu thẳm - Nhục nhã thay cho những sợi tóc bạc của ta!
Vừa than thở và tự nguyền rủa đủ điều về tính bất cẩn của mình, ông Khốttabít vừa lôi cu cậu Vônca đã đờ người ra vì khiếp đảm lên tấm thảm, đặt nó ngồi cạnh mình, ôm chặt lấy nó và quyết định dứt khoát rằng sẽ không buông nó ra khỏi vòng tay khi cả hai chưa hạ xuống đất.
- Bâ-â-ây... giờ mà co-o-ó đư-ư-ược... thứ quần áo gì âm ấm thì tô-ô-ốt... qu-u-uá! - Vônca nói với giọng ước ao, người run lên cầm cập.
- Xin có ngay, hỡi cậu Vônca may mắn con trai của Aliôsa! - Ông Khốttabít đáp và phủ lên người Vônca chiếc áo khoác không biết từ đâu hiện ra.
Trời tối hẳn. Bây giờ ở trên tấm thảm bay rất bất tiện, cho nên Vônca đã xin ông Khốttabít bay cao lên chừng năm trăm lôcớt (2) nữa.
- Bấy giờ, chúng ta lại thấy mặt trời!
Ông Khốttabít hết sức nghi ngờ, không biết có thể thấy được mặt trời vào trước sáng mai không, nhưng ông không muốn cãi với Vônca.
Các bạn có thể hình dung được ông đã ngạc nhiên ra sao và uy tín của Vônca trước mắt ông đã tăng lên biết chừng nào khi bay cao lên rồi, hai ông cháu quả là lại trông thấy mặt trời. Như không có gì xảy ra cả, mặt trời lại vừa mới chạm cái mép đỏ rực của mình vào đường chân trời màu đen xa lắc.
- Hỡi cậu Vônca, nếu ta không chiều theo tính khiêm tốn của cậu mà trót hứa với cậu, thì không có gì có thể ngăn cản ta gọi cậu là một người ngố vĩ đại nhất đời! - Ông già nói với giọng khâm phục, nhưng khi thấy mặt Vônca lộ vẻ khó chịu, ông liền nói nhanh - nhưng nếu cậu không vừa ý, ta chỉ dám bày tỏ sự ngạc nhiên trước cái đầu óc chính chắn của cậu mà thôi. Nếu ta đã hứa không gọi cậu là ngố nữa thì ta sẽ không gọi đâu.
- Và ông cũng đừng gọi một người nào khác bằng cái tiếng đó.
- Được rồi hỡi cậu Vônca! - Ông Khốttabít ngoan ngoãn đồng ý.
- Ông thề chứ?
- Ta xin thề!
Lướt qua ở tít bên dưới Vônca và ông Khốttabít là những khu rừng và những cánh đồng, những con sông và những cái hồ, những làng mạc và những thành phố lấp lánh ánh điện. Một biển mây trắng xóa với những đường viền tròn dày đặc xuất hiện, sẫm lại rồi biến mất trong bóng tối ở phía dưới hai người. Còn tấm thảm thì vẫn bay và bay mỗi lúc một xa về phía Đông Nam, mỗi lúc một gần cái xứ sở chưa từng được biết đến, nơi có lẽ chú bé nô lệ Giênia Bôgôrát đang phải chịu đau khổ trong tay bọn buôn nô lệ độc ác và tàn bạo.
- Cậu Gienca tội nghiệp chắc là bây giờ đang bị đày đọa trong cảnh làm lụng kiệt sức! - Vônca nói với vẻ cay đắng sau một hồi lâu im lặng.
Đáp lại, ông Khốttabít chỉ ậm ừ một cách biết lỗi.
- Một thân một mình ở nơi đất khách quê người…, - Vônca buồn bã nói tiếp - chẳng có bạn bè và những người thân thích... Cậu bạn tội nghiệp chắc là đang rên rỉ...
Ông Khốttabít lại lặng im.
Nếu như các nhà phi hành của chúng ta có thể nghe được những gì đang diễn ra ở phương Đông, cách họ hàng nghìn kilômét.
Cách họ hàng nghìn kilômét, đúng lúc ấy Giênia quả là đang rên rỉ.
- Ối, tôi không thể... – Giênia rên rỉ - Ối, đủ rồi!...
Để kể rõ Giênia đã thốt lên những tiếng đáng thông cảm ấy trong hoàn cảnh nào, chúng ta phải tạm thời chia tay các nhà du hành của chúng ta và kể lại những gì đã xảy ra trong 2 ngày đêm ấy với Épghêni Bôgôrát (3), tổ trưởng tổ 3, lớp 6B, từ hôm qua đã là lớp 7B trường trung học số 124 ở Mátxcơva.

---
(1) Đơn vị đo lường cổ, mỗi lôcớt bằng khoảng 0,5 mét – N.D.
(2) tức khoảng 250 mét – N.D.
(3) Họ và tên đầy đủ của Giênia – N.D.


Ct.Ly đã hiệu đính xong












Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-08-22 02:11:24ct.ly>
Về những gì đã xảy ra với Giênia Bôgôrát ở phương Đông xa xôi

Trong phòng xem của rạp chiếu bóng “Sao Thổ”, Giênia ngồi ở hàng ghế đầu vừa mới ngoảnh lại để cố nhìn kỹ cậu bé có râu trong lúc buổi chiếu vẫn chưa bắt đầu, nó bỗng thấy mắt tối sầm, bên tai vang lên tiếng rít váng óc và thay vì sàn nhà lót vải linôlêum, nó cảm thấy dưới chân mình là lớp đất mềm phủ đầy cỏ cao.
Lúc mắt Giênia đã hơi quen với bóng tối, nó vô cùng sửng sốt khi phát hiện ra rằng nó không ở trong rạp chiếu bóng mà lại ở trong một khu rừng rậm rạp khác thường nào đó. Khu rừng ngào ngạt hương thơm của những thứ hoa chưa từng biết. Từ những cây to hết sức mà Giênia cũng chưa hề biết, buông thõng xuống các dây leo. Đúng, đúng, đó chính là thứ dây leo chứ không phải là thứ gì khác! Ở đây rất nóng và ngột ngạt, còn nóng hơn cả cái phòng xem vừa biến mất.
Chìa tay về phía trước, Giênia thận trọng bước mấy bước và suýt nữa giẫm phải một con rắn. Con rắn phun phì phì như cái bơm hỏng, đôi mắt xanh nhỏ xíu long lên, rồi biến mất trong bụi rậm.
- Trời ơi, mình rơi vào đâu thế này? - Giênia lẩm bẩm, không dám bước đi nữa - Đúng là một khu rừng rậm nào đó. Cứ như trong mơ ấy.. Thôi phải rồi, mình đang mơ thấy tất cả những thứ này! - Nó mừng rỡ - Đúng là mình đang thấy mọi thứ trong mơ, mình đang ngủ và mình thấy...
Ai trong số các bạn đọc của chúng ta mà chẳng từng thấy những giấc mơ, trong đó bạn hiểu rõ rằng tất cả những gì xảy ra với bạn là chẳng phải thật.
Thật là thích khi thấy giấc mơ như thế này: những hiểm nguy chẳng có nghĩa lý gì đối với bạn, bạn lập nên những chiến công lừng lẫy nhất một cách dễ dàng và bao giờ cũng thành công ở mức cao nhất. Cái chính là bạn biết rằng sẽ đến lúc bạn thức dậy trên giường của mình, vẫn sống và bình yên vô sự.
Nhưng lúc Giênia thử lách qua một bụi rậm đầy gai, nó lại bị gai cào đau ra trò. Và bởi vì bị đau thì chẳng thích thú gì, thậm chí nếu bạn biết rằng tất cả những gì xảy ra với bạn chỉ là trong mơ, nên Giênia quyết định đánh một giấc cho đến sáng...
Giênia thức dậy lúc cao tít trên đầu nó ở khoảng trống giữa các vòm cây, bầu trời xanh nhạt ngập ánh nắng đã tỏa sáng chói lòa.
Giênia mừng rỡ giấc mơ tuyệt đẹp vẫn tiếp diễn!
Khi ra đến bìa rừng, cái nó thấy đầu tiên là những con voi. Có 4 con voi cả thảy, mỗi con đều quắp ở vòi một cây gỗ rất lớn.
Một người cởi trần, nước da ngăm ngăm, gày gò, đầu đội khăn xếp, ngồi trên con voi đi đầu.
Những làn khói nhẹ bốc lên từ một ngôi làng nhỏ ở phía xa.
Bây giờ, Giênia đã biết rõ mình đang mơ thấy gì. Nó đang mơ thấy nước Ấn Độ.
Riêng điều này thôi đã rất tuyệt rồi. Nhưng cái tuyệt nhất vẫn còn ở phía trước.
- Cậu là ai vậy? - Người quản tượng hỏi Giênia với giọng lạnh lùng. - Người Anh? Người Bồ Đào Nha? Người Mỹ?
- Ông nói gì thế! - Giênia trả lời ông bằng thứ tiếng Anh rất tồi - Tôi là người Nga… Ruxi. - Để cho chắc, nó trỏ vào ngực mình – Hinđi, Ruxi - pờ hai, pờ hai…(1)
Một chuyện gì đã xảy ra với người quản tượng lúc ấy!
Mặt rạng rỡ với nụ cười tươi nhất, ông gật đâu mạnh đến nỗi chiếc khăn xếp phải tài tình lắm mới không văng xuống đất. Sau đó ông ra lệnh cho con voi của mình quỳ 2 chân trước, kéo Giênia lên ngồi với mình, rồi cả đàn voi trịnh trọng ngất ngưởng đi tiếp về làng.
Dọc đường, họ gặp mấy chú bé. Người quản tượng nói lớn với chúng một câu gì đó. Các chú bé há hốc mồm và trố mắt thích thú vì được thấy một bạn thiếu niên Liên Xô bằng xương bằng thịt. Sau đó chúng reo hò ầm ĩ, vừa chạy vừa nhảy múa rồi lao về làng. Lúc Épghêni Bôgôrát, học sinh lớp 7B trường trung học số 124 ở Mátxcơva, về đến nơi thì toàn thể dân làng từ trẻ đến già đã đổ ra con đường lớn duy nhất của làng.
Cuộc đón tiếp mới nồng nhiệt làm sao!
Giênia được trân trọng đỡ xuống voi, được hoan hỉ dẫn vào nhà và việc trước tiên là được ăn uống thỏa thích. Điều đó thật đúng lúc. Thì ra trong giấc mơ, Giênia cũng muốn được ăn. Lạ thật, nó đã có một giấc mơ giống như thật biết chừng nào! Sau đó, dân làng đến gần Giênia và siết chặt tay nó. Rồi mọi người hát một bài hát Ấn Độ rất chậm rãi. Giênia cũng ê a hát theo, làm mọi người thích thú hết sức. Giênia hát tiếp bài “Bài ca thanh niên dân chủ”, có mấy chàng trai và cô gái trong làng cùng hát hòa theo, còn những người khác cũng lẩm nhẩm hát theo họ. Mọi ngươi yêu cầu một anh trai làng hát. Anh này bắt đầu cất tiếng. Giênia đã đoán ra ngay đó là bài “Cachiusa” (2). Nó liền say sưa hát hòa theo, còn mọi người thì vỗ tay đánh nhịp. Sau đó, tất cả lại siết chặt tay Giênia và cùng hô lớn: "Hinđi - Ruxi - pờ hai, pờ hai”.
Lúc mọi tình cảm đã lắng xuống đôi chút, cả làng liền bắt chuyện với Giênia. Bởi vì cả Giênia lẫn dân làng đều nói tiếng Anh không thạo nên phải mất nhiều thời gian dân làng mới hỏi được Giênia có muốn họ nhanh chóng đưa nó đến Đại sứ quán Liên Xô ở Đêli hay không. Nhưng Giênia chẳng lấy gì làm vội cho lắm. Và quả thật vội vã mà làm gì khi nó đang mơ một giấc mơ lý thú và dễ chịu như thế.
Giênia chưa kịp ngoảnh đi ngoảnh lại thì các đại diện làng bên đã đến và họ dẫn cậu khách quý Liên Xô về làng mình.
Ở làng này cũng như ở ba làng khác mà Giênia đã kịp đến trong cái ngày đáng ghi nhớ ấy, tất cả mọi người đu đón tiếp nó nồng nhiệt như ở làng đầu tiên.
Giênia ngủ lại ở làng thứ ba. Vừa mới tảng sáng, các đại biểu của làng thứ tư đã đến đón Giênia. Chính tại đây, Giênia đã phải rên rỉ một chút như chúng ta đã biết.
Các bạn hãy thử không rên rỉ xem khi hàng trăm cánh tay thân ái bế tung bạn lên cùng với những tiếng hô “Hinđi- Ruxi - pờ hai, pờ hai!” và lúc tình cảm dâng lên cao độ, người ta đã tung bạn suýt nữa thì lên đến tận mây.
May thay, một lúc sau có chiếc xe tải nhỏ đi cùng đường xình xịch chạy đến. Giênia phải đi nhờ chiếc xe này tới ga xe lửa gần nhất.
Những người dân làng tươi cười xúm quanh, siết chặt tay Giênia và ôm hôn nó. Hai cô bé cầm một vòng hoa lớn chạy đến và quàng vòng hoa vào cổ vị khách trẻ tuổi đang rất ngượng nghịu. Ba chú bé do một thầy giáo dẫn đầu đã mang tặng Giênia một buồng chuối thật lớn. Thay mặt toàn thể dân làng, thầy giáo chúc Giênia lên đường bình an. Các bạn thiếu nhi Ấn Độ nhờ Giênia chuyển lời chào tới các bạn thiếu nhi Mátxcơva và ngoài ra còn xin Giênia chữ ký, cứ như nó là một nhân vật nổi tiếng nào đó. Dĩ nhiên, Giênia không thể nào từ chối các bạn nhỏ Ấn Độ về chuyện chữ ký.
Giênia ôm buồng chuối bằng cả hai tay và cúi chào tứ phía. Sau đó, được người đỡ phía sau, Giênia đã nhấc chân để bước lên bậc, vào cabin xe tải, nhưng nó bỗng... biến mất. Biến chẳng còn một chút tăm hơi!
Riêng điều đó đã đáng kinh ngạc lắm rồi. Nhưng có điều còn đáng kinh ngạc hơn là chẳng một ai trong số những người đi tiển tỏ vẻ ngạc nhiên về điều đó. Họ không ngạc nhiên bởi vì họ đã quên sạch mọi chuyện về Giênia. Còn tại sao họ quên Giênia nhanh như thế thì bây giờ, các bạn đọc thân mến, chúng tôi và các bạn hình như chẳng lấy gì làm ngạc nhiên cho lắm.

---
(1) Tiếng Ấn Độ: tiếng hô biểu hiện tình hữu nghị giữa nhân dân Ấ Độ và nhân dân Liên Xô – N.D.
(2) Một bài hát nổi tiếng của Liên Xô - N.D.


Ct.Ly đã hiệu đính xong
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-08-23 00:29:23ct.ly>
Tờ ra lá la, hỡi cậu Vônca con trai của Aliôsa!

Không có gì nguy hiểm hơn là ngủ trên tấm thảm bay mà không có những phương tiện phòng bị cần thiết.
Hai nhà du hành của chúng ta đã được ấm người nhờ hai chiếc áo bông ấm áp mà ông Khốttabít đã lấy ngay từ trong không trung. Họ bị mệt lử vì những thử thách trải qua trong ngày và được cái yên tĩnh tuyệt đối ở xung quanh họ ru ngủ nên cả hai đã thiếp đi lúc nào không biết.
Vônca nằm co, ngủ không hề mộng mị gì cả. Còn ông Khốttabít thì ngủ ngồi trong một tư thế bất tiện, áp ngực xuống đầu gối và ông đã mơ thấy một giấc mơ khủng khiếp.
Ông già mơ thấy dường như bọn đầy tớ của Xalômông con trai của Đavít, dưới sự chỉ huy của tể tướng Axáp con trai của Barakhia, lại định nhốt ông vào một cái bình bằng đá và dường như chúng đã tống được nửa người ông vào bình rồi, còn ông thì đang chống cự lại bằng cách tì cả hai khuỷu tay vào thành miệng bình. Và dường như bọn đầy tớ của Xalômông cũng muốn nhốt vị cứu tinh và người bạn trẻ tuổi tuyệt vời của ông là Vônca con trai của Aliôsa vào một cái bình như thế. Lúc bấy giờ, cả hai ông cháu sẽ chẳng bao giờ cứu được nhau, còn cậu Giênia tội nghiệp sẽ buộc phải kéo lê cái số kiếp nô lệ khổ ải cho tới khi nhắm mắt xuôi tay, bởi vì chẳng bao giờ có người đến cứu cậu ta được nữa. Cái chính là lúc đó, ông Khốttabít lại bị giữ chặt cả hai tay nên ông không thể sử dụng sự hùng mạnh của mình để cứu cả ông lẫn Vônca. Nhận thấy rằng chỉ vài khoảnh khắc nữa thôi thì sẽ muộn mất, ông Khốttabít đã ráng hết sức dùng vai huých qua một bên và nhờ vậy ông đã vọt hẳn ra khỏi bình. Nhưng ngay lúc đó vẫn chưa hoàn toàn tỉnh giấc mơ, ông Khốttabít đã trượt ra ngoài tấm thảm, rơi xuống khoảng không vô tận, đen ngòm và lạnh lẽo.
Cũng may là tiếng thét của ông già đã làm Vônca thức dậy và nó đã kịp chộp lấy tay trái của ông. Bây giờ đến lượt ông Khốttabít bay đằng sau tấm thảm nhờ bám vào tay Vônca. Nhưng chỗ bám này rất chi là mong manh: ông già nặng hơn Vônca rất nhiều và chắc chắn cả hai sẽ rơi từ độ cao ghê gớm xuống mặt đất tối đen, không trông thấy gì, nếu như ông Khốttabít không tìm được cách dùng tay phải rứt cả nắm râu và niệm cả tràng thần chú thường dùng trong các trường hợp như thế.
Sau đó, Vônca chẳng vất vả gì cũng lôi được ông già lên lại tấm thảm. Niềm sung sướng của nhân vật chính của chúng ta sẽ hoàn toàn trọn vẹn nếu như ông Khốttabít, giữa lúc Vônca đang lôi ông lên tấm thảm, đừng la hét om sòm: “A ha, hỡi cậu Vônca!”, “Ổn rồi, hỡi cậu bạn quý báu nhất đời!”, rồi ông cố hát một câu gì đó và lại cười lên hô hố với vẻ vui mừng cao độ, làm cho Vônca rất hoảng: nếu bỗng nhiên ông già phát điên vì quá sợ thì chết!
Thật ra, lúc đã ở trên tấm thảm rồi, ông Khốttabít thôi không hát nữa. Nhưng bây giờ ông lại chẳng nghĩ ra được cái gì hay hơn là bắt đầu nhảy múa. Nhảy múa giữa đêm, trên tấm thảm, không mấy bảo đảm.
- Tờ ra lá la, hỡi cậu Vônca!... Tờ ra lá la, hỡi cậu con trai của Aliôsa!... - Ông Khốttabít vừa rống lên trong bống tối mù mịt vừa giơ cao đôi chân dài, khẳng khiu của mình và mỗi giây đều có nguy cơ lại ngã ra ngoài tấm thảm.
Thể theo lời van nài của Vônca, cuối cùng ông già thôi nhảy múa, nhưng lại bắt đầu hát. Lúc đầu ông già hát hết sức sai âm điệu bài : “Khi người bạn phương xa hát”, sau đó ông hát bài tình ca Digan cổ “Hãy mở khẽ cửa con hàng giậu” chẳng hiểu ông nghe lỏm được ở đâu, rồi ông nín lặng ngay lập tức, ngồi xổm xuống và rứt mấy sợi râu. Vônca đoán được như vậy nhờ những tiếng “tưng, tưng” nhẹ.
Tóm lại, nếu có lúc các bạn quên một điều gì đó rất quan trọng và các bạn không tài nào nhớ lại được thì chẳng có cách nào tốt hơn là ngã ra ngoài tấm thảm bay, dù chỉ trong một giây thôi. Cái ngã ấy sẽ làm đầu óc minh mẫn ra rất nhiều. Ít ra nó đã giúp ông Khốttabít nhớ ra cách giải những lời phù phép của chính mình.
Bây giờ chẳng cần phải tiếp tục chuyến bay khó khăn và nguy hiểm để giải thoát cậu Giênia bất hạnh ra khỏi cảnh nô lệ nữa.
Và quả thực, những tiếng “tưng, tưng” của các sợi râu bị rứt vẫn chưa kịp tan biến trong không trung đen ngòm thì từ đâu đó trên cao, trong bóng tối, Giênia đã ngã xuống tấm thảm bay, hai tay vẫn còn ôm khư khư một buồng chuối to tướng, nặng tới cả pút (1).
- Gienca! - Vônca sung sướng kêu lên.
Không chịu được trọng tải phụ, tấm thảm bay vừa lao xuống thấp vừa rít lên. Mọi người bỗng cảm thấy không khí xung quanh rất ẩm ướt, lạnh buốt thấu xương và những vì sao lấp lánh trên cao đều biến sạch. Thì ra tấm thảm bay đã lọt vào những đám mây dày đặc.
- Ông Khốttabít! - Vônca bèn kêu lên - Phải mau mau vọt lên trên, cao hơn những đám mây!
Nhưng ông già không hề trả lời. Qua màn mây mù dày đặc, thấy lờ mờ thân hình co quắp của ông với cái cổ áo vét dựng đứng. Ông già vội vã rứt hết sợi râu này đến sợi râu khác. Vang lên một tiếng rung như tiếng phát ra từ sợi dây kéo căng trên cây đàn balalaica trẻ con tự làm. Với tiếng rên rỉ đầy tuyệt vọng, ông Khốttabít ném một sợi râu đi và rứt một sợi nữa. Lại một tiếng rung như trước vang lên và kèm theo nó là tiếng rên rỉ và tiếng lầu bầu chán chường của ông thần già.
- Này, Vônca, Vônca ơi! - Giữa lúc đó Giênia lại quấy rầy cậu bạn của mình - Chúng ta đang bay trên cái gì thế?... Hình như trên tấm thảm bay, hình như…
- Đây chính là một tấm thảm bay... Ông Khốttabít, ông còn kề cà gì ở đằng ấy thế?
- Bây giờ làm quái gì còn thảm bay nữa! - Giênia nói - Ối!...
Tấm thảm lượn ngoặt hết sức đột ngột.
Đây chẳng phải lúc tranh cãi với Giênia.
- Ông Khốttabít, ông làm gì ở đằng ấy? - Vônca giật tay áo véttông ướt sũng của ông già.
- Ôi, khổ thay cho ta! - Tiếng nức nở của ông Khốttabít chỉ mơ hồ vọng đến qua màn mây mù dày đặc và qua tiếng rít mỗi lúc một to của tấm thảm đang lao xuống - Ôi, khổ thay cho tất cả chúng ta!... Ta bị ướt từ đầu đến chân rồi!
- Cả hai chúng cháu cũng ướt như chuột rồi! - Vônca bực tức nói lớn với ông già - Người đâu mà ích kỷ thế không biết!
- Bộ râu! Than ôi, bộ râu của ta ướt nhẹp mất rồi!
- Xin ông nói rõ tại sao ông lại khổ ạ? – Giênia hỏi.
- Bộ râu của ta ướt nhẹp mất rồi! - Ông Khốttabít nhắc lạ với vẻ buồn rầu vô hạn - Ta bây giờ bất lực như một đứa trẻ con. Muốn phù phép cần phải có râu khô, râu thật khô kia!...
- Bây giờ chúng ta sẽ ngã uỵch xuống đất, - Vônca nói với giọng lạnh lùng - Và chúng ta sẽ tan xác!
- Khoan đã, khoan đã nào! - Giênia vừa thở hổn hển vừa nói - Cái chính là không được mất bình tĩnh! Trên khinh khí cầu, trong những trường hợp như thế này, người ta thường làm gì? Người ta thường ném bớt những cái túi cát... Ôi, vĩnh biệt những quả chuối Ấn Độ của ta!
Vừa nói, Giênia vừa quẳng buồng chuối nặng xuống khoảng không vô tận mịt mù.
Tấm thảm ngừng lao xuống, lại bắt đầu lao lên, lọt vào luồng không khí và bay chếch sang phía bên phải đường bay cũ.
Bây giờ Giênia, vẫn nóng lòng muốn biết mọi chuyện, liền thì thầm hỏi Vônca:
- Vônca, Vônca ơi, đó là ông già nào thế?
- Sau này mình sẽ kể hết mọi chuyện, - Vônca thì thầm đáp lại - Lúc chúng ta đã hạ xuống đất... Hiểu chưa?...
Giênia chỉ hiểu rằng lúc này, vì một lý do quan trọng nào đó, cần phải gác chuyện hỏi han lại.
Ông Khốttabít lại lấy thêm từ đâu không biết một chiếc áo khoác nữa, lần này cho Giênia, rồi cả ba ông cháu thiếp đi lúc nào không hay.

---
(1) Đơn vị đo trọng lượng cũ của Nga, bằng 16,38 kilôgam – N.D.

Ct.Ly đã hiệu đính xong
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-08-23 00:40:32ct.ly>
Xin hãy làm quen


Vônca thức dậy vì một tiếng thánh thót tựa như tiếng phát ra từ chuỗi pha lê treo ở cây đèn chùm. Đang ngái ngủ, nó tưởng đó là do ông Khốttabít rứt các sợi râu có phép lạ của mình, nhưng không phải: ông già đang ngủ ngon lành và thở nhè nhẹ. Thì ra những sợi râu của ông Khốttabít và những tua viền của tấm thảm bay bị phủ băng đã phát ra tiếng lanh canh thánh thót khi ngọn gió ban mai trong lành thổi qua.
Mặt trời chói lòa đã mọc ở phía Đông. Trời dần dần ấm lên. Lớp băng mỏng phủ trên những sợi râu của ông Khốttabít, trên những tua viền của tấm thảm và trên khắp bề mặt tấm thảm, trừ chỗ mấy người nằm, đã bắt đầu tan ra.
Ông Khốttabít xoay mình nằm nghiệng, ngáp một cái ngon lành và thở khò khè nhè nhẹ, dường như trong mũi của ông có một cái tu huýt nào đó.
Giênia cũng thức dậy vì ẩm ướt và vì nóng. Ghé sát vào cái tai lạnh cóng của Vônca, nó thì thầm:
- Ông già nào vậy hả cậu?
- Cậu hãy thú nhận đi, - Vônca vừa thì thầm đáp lại, vừa sợ sệt liếc nhìn ông Khốttabít - Có phải cậu muốn bàn ra tán vào với các bạn về bộ râu của mình phải không?
- Thế thì đã sao?
- Ông già không thích chuyện đó.
- Không thích chuyện gì?
- Ông ấy không thích các cậu bàn tán linh tinh về mình.
- Eo ôi!
- Cậu đã biết thế nào là “Eo ôi” rồi đấy! Hấp một cái, thế là sang tận một sa mạc nào đó. Ông già làm việc ấy dễ như trở bàn tay.
Giênia vẫn tỏ vẻ không tin.
Vônca lại sợ sệt liếc nhìn ông Khốttabít rồi ghé sát hơn vào tai Giênia:
- Cậu có tin rằng óc mình vẫn hoàn toàn tỉnh táo không?
- Hỏi gì mà kỳ vậy!
- Thì cậu cứ trả lời có đúng là đầu óc mình vẫn hoàn toàn tỉnh táo không?
- Đúng!
- Thế đấy, cậu muốn tin hay không thì tùy, nhưng ông già này là một ông thần, một ông thần chính cống trong “Nghìn lẻ một đêm”!
- Thôi đi cậu!
- Chính ông ấy đã làm hại mình trong cuộc thi... Ông ấy nhắc bài, còn mình thì phải lập lại như một con vẹt ấy.
- Chính ông ấy?
- Nhưng không được hở cho ông ấy biết là mình thi trượt đấy nhé. Ông ấy đã thề là sẽ làm tình làm tội các giáo viên nếu họ đánh trượt mình. Thế là mình phải nói loanh quanh suốt để cứu cô Vácvara thoát khỏi pháp thuật của ông ta. Nếu có chuyện gì là mình lại đánh lạc hướng liền. Rõ chưa?
- Không rõ lắm.
- Dù sao đi nữa thì cậu cũng phải giữ mồm giữ miệng.
- Mình sẽ giữ mồm giữ miệng! - Giênia thì thầm vơi vẻ trầm ngâm - Thế có nghĩa là ông già này đã quẳng mình sang tận Ấn Độ?
- Chính ông ấy đấy. Và cũng chính ông ấy đã đưa cậu ra khỏi Ấn Độ. Nếu cậu muốn biết thì mình xin nói cho cậu biết rằng ông ấy đã quẳng cậu sang đấy để người ta bán cậu làm nô lệ.
Giênia cười sằng sặc:
- Bán mình làm nô lệ? Ha ha ha!
- Khẽ chứ, cậu làm ông ta thức dậy bây giờ!
Nhưng lời cảnh cáo của Vônca đã muộn.
Ông Khốttabít mở mắt, ngáp dài ngon lành:
- Chào cậu Vônca! Còn cậu thiếu niên này, ta đoán không phải ai khác ngoài cậu Giênia bạn của cậu?
- Vâng, xin hãy làm quen! - Vônca nói với giọng như sự việc diễn ra không phải ở cao tít trên không trung, mà ở một nơi nào đó, trong phòng đại lễ của trường nó, và nó giới thiệu với ông Khốttabít người bạn vừa tìm lại được.
- Rất hân hạnh! - Giênia trịnh trọng nói.
Còn ông Khốttabít thì im lặng một lát, nhìn chằm chằm vào mặt Giênia, dường như cân nhắc xem cậu thiếu niên này có đáng được nhận những lời lẽ tốt lành hay không. Và có lẽ sau khi thấy rõ rằng Vônca đã không lầm trong việc chọn bạn, ông Khốttabít liền nở nụ cười tươi nhất trong tất cả các nụ cười của mình:
- Ta sung sướng vô cùng khi được làm quen với cậu. Những người bạn của ông chủ trẻ tuổi của ta cũng là những người bạn tốt nhất của ta.
- Ông chủ? - Giênia ngạc nhiên.
- Ông chủ và vị cứu tinh!
- Vị cứu tinh? - Giênia không kìm nổi, cười phá lên.
- Cậu cười thật vô duyên! - Vônca nghiêm nghị nói với Giênia - Ở đây chẳng có gì đáng cười cả!
Sau đó, nó kể lại vắn tắt cho Giênia nghe tất cả những gì mà bạn đọc chăm chú của tôi đã từng biết.

Ct.Ly đã hiệu đính xong
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-08-23 00:58:19ct.ly>
Hỡi vị chúa tể hùng mạnh, hãy xá tội cho chúng tôi!

Trong ngày hôm ấy, hai lần tấm thảm bay lọt vào tầng mây dày đặc và lần nào cũng vậy, bộ râu đã gần khô hẳn của ông Khốttabít lại ướt nhẹp đến độ ngay cả cái phép lạ đơn giản nhất cũng đừng có mà nghĩ đến. Dù chỉ là cái phép lạ kiếm chút thức ăn cũng chẳng làm nổi. Trong khi đó, cả ba ông cháu đã đói mềm rồi.
Ngay cả câu chuyện của Giênia kể lại về những gì nó đã trải qua trong mấy ngày đêm gần đây cũng không thể làm cho các nhà phi hành của chúng ta quên nghĩ đến chuyện ăn.
Và điều chủ yếu là chuyến bay vẫn chẳng biết lúc nào mới kết thúc.
Đói, buồn và rất bất tiện. Tấm thảm dường như đứng yên một chỗ, một phần vì nó bay rất chậm, một phần vì thảo nguyên trải rộng ở bên dưới rất đơn điệu. Thỉnh thoảng ở bên dưới mới thấy từ từ trôi qua những thành phố, những dòng sông xanh, rồi lại trải dài thảo nguyên, những cánh đồng đã phủ thảm lúa mì chín vàng, những cách đồng, những cách đồng... Từ điểm này, Giênia đã rút ra một kết luận đúng đắn: ba ông cháu đang bay qua các vùng phía Nam đất nước Xôviết. Sau đó, đằng trước và bên phải bỗng xuất hiện một vùng nước xanh mênh mông chạy dài suốt cả đường chân trời, còn bên trái là đường răng cưa của những dãy núi rất xa.
- Hắc Hải! - Cả Vônca lẫn Giênia cùng đồng thanh reo lên.
- Ôi, khổ thay cho chúng ta! - Ông Khốttabít kêu lên - Chúng ta sẽ bị cuốn thẳng ra biển!
Nhưng may thay, luồng không khí trái tính trái nết đã quay ngoắt tấm thảm hơi chếch về phía bên trái, cuốn nó với một tốc độ lớn vào những đám mây dày đặc, và cùng với những đám mây, nó lao vút dọc bờ biển Cápcadơ.
Qua khoảng trống giữa các đám mây, Giênia đã kịp nhận thấy thoáng hiện ra ở phía thành phố Tuápxê với các tàu thủy đậu ở vũng tàu và ở bến tàu nhô ra biển rất xa.
Sau đó, tất cả lại bị che khuất sau màn mây mù dày đặc. Quần áo và giày của các nhà du hành của chúng ta lại ướt sũng - chẳng biết lần thứ mấy rồi! Còn tấm thảm thì nặng thêm tới mức nó vừa đột ngột lao xuống thấp, vừa rít lên. Chỉ trong vài phút, những đám mây đã lùi lại ra phía sau. Chẳng mấy chốc bên dưới tấm thảm đã hiện ra thành phố nghỉ mát nổi tiếng Xôchi đang rực rỡ trong ánh hoàng hôn.
Mỗi lúc một hạ xuống thấp, tấm thảm lao nhanh trên đường ôtô rộng và đẹp chạy từ Xôchi đến Maxexta. Các nhân vật chính của chúng ta đang đờ người chờ đón cái kết thúc bi thảm đã hết sức gần. Từ trên tấm thảm, họ tưởng như con đường ôtô (hai bên đường có nhiều tòa lâu đài được dùng làm nhà an dưỡng) đang lao vun vút về phía tấm thảm bay.
Chiếc cầu đẹp bắt trên cái thung lũng rất sâu và hẹp hiện ra và biến ngay tức khắc.
Những ngọn cây lướt qua gần sát bên dưới tấm thảm. Tưởng chừng như chỉ cần thò tay xuống là có thể chạm ngay những ngọn cây đó.
Thoáng hiện ra ngay dưới tấm thảm bay một tòa nhà an dưỡng đồ sộ. Từ tòa nhà, hai đường rầy treo màu lam nhạt chạy thẳng xuống biển theo cái bờ dốc đứng.
Bay thêm vài khoảnh khắc nữa, tấm thảm liền lao hết tốc lực xuống bể bơi của nhà an dưỡng mang tên Oócgiônikítde, làm nước bắn lên tung tóe.
Bốn bề vắng lặng. Đang là giờ ăn tối, nên tất cả những người nghỉ ở đây đều đến nhà ăn.
Các nhà du hành hẩm hiu vừa leo lên bờ bể bơi, vừa thở hồng hộc và phun phì phì.
- Cứ ngỡ là còn tệ hại hơn chứ. - Vônca tò mò nhìn quanh và nói.
- Chao ôi, nếu lao vào một tòa nhà nào đó hoặc lao vào núi đá thì tan xác ! - Giênia nói.
Một cái hay nữa là ở gần đó không hề có bóng người. Các nhà du hành của chúng ta ngồi tạm xuống những chiếc ghế bạt có rất nhiều ở đây, vắt quần áo cho ráo nước, vừa vắt vừa rên hừ hừ và co ro vì lạnh, sau đó đi ra khỏi hàng rào giăng lưới dây thép của bể bơi.
- Ta chỉ cần hong khô bộ râu là mọi việc sẽ được thu xếp một cách ổn thỏa nhất. - Ông Khốttabít nói với vẻ lo lắng và thử sờ tay vào bộ râu - Hừ, vẫn còn ướt nguyên!...
- Chúng ta đi tìm nhà bếp, - Giênia nói - Có thể người ta sẽ cho ông ngồi hong bên bếp lò... Chà, bây giờ mà có một miếng bánh mì chừng 400 gam và mỗi người có chừng 200 gam xúc xích nhỉ!...
- Hoặc có khoai tây nóng trộn bơ cũng được! - Vônca nói theo.
- Các cậu làm ta đau khổ vô cùng, hỡi các cậu bạn trẻ tuổi của ta! - Ông Khốttabít thốt lên với vẻ hết sức buồn rầu - Do lỗi của ta mà các cậu...
- Không phải lỗi của ông đâu, không phải lỗi của ông đâu! - Vônca ngắt lời ông già với giọng làm cho ông an tâm - Ta đi tìm nhà bếp đi thôi.
Ba ông cháu đi qua sân quần vợt vắng tanh, xuống phía dưới theo một con đường nhỏ trải nhựa, rồi đi qua một cửa vòm cao và trước mắt họ hiện rõ những tòa nhà trắng tinh tráng lệ thuộc nhà an dưỡng mang tên Oócgiônikítde của công nhân mỏ. Một bể phun nước hình tròn, rộng như một sân khiêu vũ, đang phun rào rào những tia nước tuyệt đẹp lên độ cao của một tòa nhà 3 tầng. Các cửa sổ của tòa nhà chính rực rỡ ánh đèn.
- Chúng ta chết đến nơi rồi! - Ông Khốttabít khẽ kêu lên - Chúng ta đã rơi vào lãnh địa của một vị chúa tể giàu có và hùng mạnh nhất... Đội vệ binh sẽ hiện ra ngay bây giờ và sẽ chặt đầu hết toàn bộ chúng ta... Ta và chỉ có ta thôi là có lỗi trong toàn bộ chuyện này. Ôi, khổ thay và nhục nhã thay cho những sợi tóc bạc của ta!...
Giênia cười lớn. Vônca phải thụi vào hông bạn để cậu ta im đi, khỏi làm cho ông già nổi giận.
- Đội vệ binh nào kia ạ? Những cái đầu nào kia ạ?
Vônca cãi lại ông Khốttabít - Đây là một nhà an dưỡng bình thường... Nói đúng hơn là không hẳn bình thường mà rất tốt. Mặc dù ở đây, tại Xôchi này, hình như tất cả nhà an dưỡng đều như thế…
- Hỡi cậu Vônca, ngay từ khi các ông cao tổ của cậu chưa ra đời, ta đã rất rành về các tòa lâu đài!... Ta mà lại không biết đội vệ binh sẽ chạy đến đây ngay bây giờ và... Ôi, khổ thay cho chúng ta, đội vệ binh đang chạy đến đó!...
Quả thật lúc này 2 cậu bé nghe thấy một người nào đó đang chạy nhanh theo cái cầu thang rộng bằng đá, vừa chạy vừa nhảy qua một lúc mấy bậc. Cùng lúc đó, một người nào đó nhoài người qua lan can của tòa nhà chính và nói lớn:
- Giapha! Ăn tối xong, chúng ta sẽ đi lùng!... Đêm hôm khuya khoắt, chúng chẳng biến đi đâu mà sợ!... Giapha!...
- Các cậu đã nghe thấy chưa? - Ông Khốttabít kêu lên, nắm lấy tay Vônca và Giênia rồi lôi tuột 2 đứa vào con đường bên cạnh, sau đó vào một bụi cây - Các cậu đã nghe thấy chưa? Đó là tiếng nói của lão đội trưởng đội vệ binh... Họ sẽ đi lùng chúng ta sau bữa tối và họ sẽ tóm được chúng ta thôi... Thế mà bộ râu của ta vẫn ướt nhẹp như miếng bọt biển và ta bất lực như một đứa bé con!..
Đúng lúc ấy, ông già nhìn thấy 2 chiếc khăn mặt hiện ra trăng trắng trên lưng chiếc ghế dài đặt trong vườn hoa.
- Trời ơi! - Ông sung sướng reo lên và lao về phía 2 chiếc khăn mặt – Đây, cái này sẽ giúp ta lau khô bộ râu của ta. Và bấy giờ, chúng ta sẽ không còn sợ một đội vệ binh nào nữa!..
Thoạt tiên, ông cầm một chiếc khăn mặt lên, sau đó ông cầm chiếc thứ hai và thốt lên tiếng rên rỉ sầu não:
- Trời ơi, chúng cũng ướt nhẹp... Mà đội vệ binh thì đã tới gần lắm rồi!..
Tuy vậy, ông Khốttabít vẫn dùng khăn mặt hối hả lau bộ râu.
Một người Adécbaigian cao lớn, mặc chiếc áo khoác sang trọng màu đỏ thẫm đã bắt gặp ông Khốttabít đang làm việc đó. Từ sau bụi hoa hồng, ông ta hiện ra lặng lẽ và bất ngờ như từ dưới đất chui lên.
- A ha, chúng (2) đây rồi! - Ông ta nói với giọng khá điềm tĩnh - Ông già thân mến, ông hãy nói cho cháu biết đây có phải là chiếc khăn mặt của ông không ạ?
- Hãy xá tội cho chúng tôi, hỡi vị chúa tể hùng mạnh! Xin hãy chặt đầu một mình tôi thôi, còn các cậu thiếu niên này không hề có tội với ngài... Ngài hãy buông tha các cậu ấy! Các cậu ấy được sống trên đời vẫn còn quá ít...
- Ông Khốttabít, ông đứng dậy đi và đừng nói những lời tức cười như thế nữa! - Vônca bối rối ngắt lời ông già - Làm gì có vị chúa tể nào ở đây? Đây chỉ là một người nghỉ an dưỡng hết sức bình thường nhất.
- Ta sẽ không đứng dậy chừng nào vị xuntan tuyệt vời và lỗi lạc này chưa hứa bảo toàn tính mạng cho các cậu, hỡi các cậu bạn trẻ tuổi của ta!
Người Adécbaigian nhún đôi vai lực lưỡng:
- Ông già thân mến, sao ông lại nói thế? Cháu đâu phải một vị xuntan! Cháu chỉ là một người Xôviết bình thường thôi ông ạ. – Ông ta vươn vai :
- Cháu là đội trưởng thợ khoan Giapha Ali Muhamêđốp. Ông có biết thành phố Bacu không ạ?
Ông Khốttabít lắc đầu.
- Thế ông có biết Biba Âybát không ạ?
Ông Muhamêđốp hỏi tiếp.
Ông Khốttabít lại lắc đầu.
- Ông có đọc báo không? Ồ sao ông vẫn cứ quỳ thế? Thật là xấu hổ! Ôi, xấu hổ và khó coi làm sao, ông già thân mến ạ!
Ông Muhamêđốp xốc nách ông già dậy.
Vônca kéo ông Muhamêđốp qua một bên và nói thì thầm đầy vẻ bí mật.
- Xin nói riêng với đồng chí một chút: đồng chí đừng quá chú ý đến ông già này. Ông ấy không được bình thường cho lắm... Ba ông cháu vẫn còn ướt thế này...
- Ái chà chà, - Ông đội trưởng thợ khoan vui vẻ - Té ra ba ông cháu bị mắc mưa trên núi ư? Tôi cũng bị ướt như chuột lột. Chà, ông già có thể bị cảm lạnh mất thôi! Ông già thân mến!
Ông Muhamêđốp chộp lấy tay ông Khốttabít khi ông già lại toan quỳ mọp xuống - Cháu trông ông rất quen. Có phải ông ở Gangi không ạ? Ông giống bố cháu quá! Nhưng bố cháu trông già hơn ông. Ông cháu đã 83 tuổi rồi...
Ông Khốttabít nóng nảy đáp lại:
- Hỡi vị chúa tể hùng mạnh, xin ngài biết cho là tôi đã 3.732 tuổi rồi!
Rất may là ông Muhamêđốp không hề ngạc nhiên chút nào khi nghe lời tuyên bố của ông Khốttabít. Ông chỉ gật đầu tỏ vẻ hiểu biết với Vônca đang đứng sau lưng ông già Khốttabít và nháy mắt lia lịa với ông.
Áp bàn tay phải vào chỗ trái tim, ông đội trưởng thợ khoan kính cẩn trả lời ông Khốttabít:
- Dĩ nhiên, ông già thân mến, dĩ nhiên rồi. Nhưng trông ông vẫn còn trẻ lắm. Bây giờ chúng ta đi sưởi ấm, ăn uống, nghỉ ngơi, nếu không thì ông sẽ bị cảm đấy… Mong sao ông đừng bị… Chà, ông mới giống bố cháu làm sao!
- Tôi không dám làm trái lệnh ngài, hỡi vị chúa tể hùng cường nhất!
Ông Khốttabít đáp lại với vẻ lấy lòng, chốc chốc lại đưa tay sờ bộ râu của mình. Than ôi, bộ râu vẫn còn ướt đẫm.
Ông Khốttabít lòng dạ bồn chồn lo lắng. Dựa vào toàn bộ kinh nghiệm của mình, ông cho rằng không đời nào có chuyện ông chủ lâu đài lại có thể bỗng dưng mời vào bàn ăn một ông già chưa từng quen biết cùng với hai cậu thiếu niên ăn mặc chẳng lấy gì làm chỉnh tề. Như thế có nghĩa là ở đây có một âm mưu nào đó. Có thể lão Giapha Ali con trai của Muhamét (2) này cố tình dụ 3 ông cháu vào trong lâu đài của mình để làm trò cười thỏa thích, rồi sau đó mới ra lệnh chặt đầu họ hoặc ném họ vào chuồng nhốt thú dữ cho chúng xé xác. Phải đề phòng cẩn thận mới được!
Ông Khốttabít suy nghĩ như vậy khi cùng với 2 cậu bạn trẻ tuổi leo lên cái cầu thang rộng rãi đẫn đến nhà ngủ thứ nhất.
Ở cầu thang và ở hành lang không hề có một bóng người, điều đó lại càng làm cho ông Khốttabít tin chắc rằng những nghi ngờ của mình là đúng.
Ông Muhamêđốp dẫn 3 ông cháu vào phòng của mình, bắt ông Khốttabít phải cởi bộ quần áo ướt ra và mặc bộ quần áo ngủ của ông ta vào, đề nghị cả 3 cứ tự nhiên như ở nhà và đi ra. Trước khi ra, ông còn nói:
- Tôi đi ra ngoài có chút việc. Tôi sẽ trở lại ngay bây giờ.
“Rõ quá!”, ông Khốttabít nghĩ thầm, “Chúng ta biết tỏng tòng tong mi sẽ làm gì, hỡi lão chúa tể thâm độc và giả nhân giả nghĩa kia! Mi có một trái tim đá hoàn toàn xa lạ với tình thương. Ai lại nỡ chặt đầu 2 cậu thiếu niên dễ thương thế kia!...”.
Trong lúc đó, 2 cậu thiếu niên dễ thương ngó quanh căn phòng đầy đủ tiện nghi.
- A ha! - Vônca mừng rỡ - Ông thấy chưa?
Nó nhấc lên rồi lại đặt xuống chiếc bàn con, cái quạt máy bình thường, nhưng lần đầu tiên trong đời ông Khốttabít mới trông thấy.
- Đây là cái quạt máy! - Vônca giải thích - Bây giờ cháu sẽ giúp ông làm khô bộ râu.
Quả thực hai phút sau, bộ râu của ông Khốttabít đã lấy lại trọn vẹn phép màu nhiệm.
- Bây giờ chúng ta sẽ thử xem! - Ông già láu lỉnh nói với giọng dường như ông không hề có ý định gì cả.
Ông rứt 2 sợi râu. Tiếng “tưng” phát ra chưa kịp tan đi trong khoảng không thì những người bạn của chúng ta bỗng nhiên ở cách nhà an dưỡng mang tên Oócgiônikítde 5 kilômét, nơi những hòn cuội chưa nguội hết hơi nóng ban ngày.
Cách họ hai bước, những làn sóng xanh thẫm ấm áp vỗ nhẹ vào bờ.
- Rồi sẽ còn nhiều điều thú vị hơn thế nữa! - Ông Khốttabít hể hả lẩm bẩm và trước khi hai cậu bé kịp thốt lên một tiếng, ông đã rứt thêm 3 sợi râu nữa.
Cùng lúc đó, trước mặt các nhà du hành của chúng ta hiện ra một chiếc khay đựng món thịt cừu rán đang bốc hơi và một chiếc khay nữa nhỏ hơn đựng trái cây và bánh mì dẹt. Sau đó, ông Khốttabít búng ngón tay đánh “toách” một cái, thế là bên cái khay lớn hiện ra hai cái bình bằng đồng lạ mắt đựng nước sécbét.
- Tuyệt thật! - Giênia reo lên - Thế còn quần áo của chúng cháu?
- Than ôi, ta bị lú lẫn trước tuổi mất rồi! - Ông Khốttabít trách mình rồi rứt thêm một sợi râu nữa, thế là cả quần áo lẫn giày dép các nhà du hành của chúng ta đều khô ngay lập tức.
Hơn thế nữa, quần áo của hai người bạn trẻ tuổi của chúng ta bây giờ trông như vừa được là ủi cần thận, còn giày thì chẳng những bóng lộn mà thậm chí còn tỏa ra mùi xi đánh giày đắt tiền nhất.
- Bây giờ cứ mặc cho lão chúa tể thâm độc Giapha Ali con trai của Muhamét ấy dẫn bao nhiêu tên vệ binh vào lâu đài bắt chúng ta cũng được! – Ông già hể hả nói và rót nước sécbét mát lạnh, thơm ngát vào tách của mình - Các con chim nhỏ đã bay vù ngay trước lưỡi dao!
- Ông ấy nào phải chúa tể! - Vônca bực bội - Đó chỉ là một người bình thường tốt bụng. Và ông ấy không hề đi gọi vệ binh vệ biếc gì cả, mà đi lấy thức ăn cho chúng ta. Ông phải biết như thế!
- Cậu đừng có dạy khôn ta, hỡi cậu Vônca!
Ông Khốttabít hậm hực đáp lại và cảm thấy hết sức buồn vì hai cậu bạn đường trẻ tuổi của ông không hề nghĩ đến chuyện cảm ơn ông đã cứu thoát chúng khỏi cái chốn nguy hiểm chết người kia - Ta mà lại không biết các lão chúa tể mặt mũi ra sao và chúng xử sự như thế nào ư? Cậu nên biết rằng không có kẻ nào thâm độc hơn bọn xuntan đâu nhé!
- Thế nhưng ông ấy chẳng phải xuntan, mà là đội trưởng, ông hiểu không? Đội trưởng thợ khoan!
- Chúng ta đừng tranh cãi nữa, hỡi cậu Vônca!
Ông già cau có trả lời
- Chưa tới lúc chúng ta chuyển sang ăn uống sao?
- Thế còn bộ quần áo ngủ?
Giênia kêu lên với vẻ hí hửng chẳng mấy thiện chí sau khi nó hiểu rằng không thể nào cãi lại nổi ông già về chuyện này - Ông vẫn mặc bộ quần áo ngủ của nhà an dưỡng!
- Trời ơi! - Ông Khốttabít kêu lên rầu rĩ - Ta chưa bao giờ làm nhục mình bằng cái trò ăn cắp cả.
Đúng lúc ấy, nếu những người nghỉ ở nhà an dưỡng mang tên Oócgiônikítde không có ở cái nhà ăn rộng rãi để ăn bữa tối thì họ có thể trông thấy một bộ quần áo ngủ có sọc hết sức bình thường bỗng từ phía Maxexta lao vụt đến ở khoảng độ cao của một tòa nhà 3 tầng, bay qua ban công ngỏ cửa, lọt vào phòng của ông Muhamêđốp. Bộ quần áo ngủ ấy tự vắt cẩn thận lên đúng lưng chiếc ghế dựa mà vừa mới rồi người đội trưởng thợ khoan đáng mến đã lấy ở chỗ đó để đưa cho ông Khốttabít thay, lúc người ông đang run cầm cập.
Còn ông Muhamêđốp thì chưa đi đến nhà ăn đã quên biến ông già và hai cậu bé mà ông ta vừa để lại trong phòng mình.
- Tìm thấy rồi! - Ông nói với người bạn cùng phòng - Tôi đã tìm thấy 2 chiếc khăn mặt. Chúng ta đã để quên chúng ở ghế dài lúc ngồi nghỉ ở đấy.
Sau đó, ông ngồi thoải mái vào bàn ăn và bắt đầu đánh chén bữa tối...

---
(1) Người Adécbaigian nói “chúng” là chỉ hai cái khăn mặt, nhưng ông Khốttabít lại hiểu “chúng” là ba ông cháu – N.D.
(2) Muhamêđốp có nghĩa là con trai của Muhamét – N.D.

Ct.Ly đã hiệu đính xong
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-09-01 16:49:30Thái Nhi>
Vônca Côxtưncốp – cháu của Đức Ala
Ct.ly hiệu đính

Ông Muhamêdốp vẫn chưa đụng đến món ăn tráng miệng thì những đám mây mà các nhà du hành của chúng ta đã bỏ rơi ở đó giữa Tuápxê và Xôchi cuối cùng đã bay tới thành phố nghỉ mát và trút xuống đầu ba nhà du hành một cơn giông ở nhiệt đới rất dữ dội, rất ầm ĩ và rất nhiều nước.
Trong chốc lát, các đường phố, công viên và các bãi tắm đều vắng tanh.
Chẳng mấy chốc, cơn giông đã kéo đến nơi mà theo gợi ý của ông Khốttabít, đoàn phi hành ít ỏi của tấm thảm bay bị đắm tại bể bơi của nhà an dưỡng sẽ ngủ qua đêm ở ngoài trời, trên bờ Hắc Hải ầm ầm sóng vỗ.
Cũng may là các nhà du hành đã kịp thời nhận thấy cơn giông đang tới gần. Dĩ nhiên, họ không hề muốn lại bị ướt như chuột lột. Nhưng trước tiên, phải cố giữ cho bộ râu của ông già được khô ráo.
Đương nhiên, cách đơn giản hơn cả là bay xa hơn về một nơi nào đó ở phương Nam, nhưng trong cái đêm miền Nam tối đen như mực này, có thể dễ dàng tan xác vì bay đâm sấn vào núi đá.
Ba nhà du hành tạm thời nương náu vào một bụi cây và bắt đầu nghĩ xem nên biến đi đâu...
- Cháu nghĩ ra rồi? - Giênia khoái chí đứng phắt dậy. - Đúng thế, cháu nghĩ ra rồi!... Cần phải bôi lên râu một thứ mỡ gì dó.
- Lúc bấy giờ thì sẽ ra sao? - ông già nhún vai.
- Bấy giờ, bộ râu của ông sẽ không bị ướt nữa, cho dù ông có đứng ngay thác nước. Thế đấy!
- Giênia nói đúng! - Vônca tán thành, cu cậu hơi bực mình vì nó không nghĩ ra được cái sáng kiến rất hay và có cơ sở khoa học như thế. - Ông Khốttabít, ông ra tay đi nào!
Ông Khốttabít liền bứt mấy sợi râu, ngắt một trong mấy sợi đó ra làm hai phần, thế là những sợi râu còn lại của ông già liền được phủ một lớp mỏng dầu dừa thượng hảo hạng.
Sau đó, ông ngắt một sợi râu khác làm hai phần, thế là các nhân vật chính của chúng ta đã ở trong một cái hang hoàn toàn tiện lợi, bên trong lát đá hoa, vừa mái hiện ra trên bờ biển dốc ngược. Và trong khi cơn giông tháng 6 ấm áp, vui vẻ trút ào ào xuống vùng ven bờ Cápcadơ của Hắc Hải, ba nhà du hành ung dung ngồi trên các tấm thảm đẹp đẽ, đánh chén bữa ăn tối thịnh soạn, sau dó làm một giấc ngon lành cho đến tận sáng, không hề có mộng mị.
Tiếng sóng vỗ nhè nhẹ, êm ái, trong trẻo như pha lê đã đánh thức họ dậy.
Trời đã sáng từ lâu.
Vươn vai và ngáp dài khoan khoái, ba ông cháu đi xuống bãi biển ngập tràn những tia nắng nghiêng nghiêng và vẫn hoàn toàn vắng tanh. Còn cái hang mà họ đã nương náu qua đêm đã biến mất tăm ngay lập tức, dường như nó tuyệt nhiên chưa bao giờ có vậy.
Giữa lúc hai cậu bé đang thích thú vẫy vùng trong những ngọn sóng ban mai mát mẻ thì từ phía Ađle, trên trời cao, nghe có tiếng động cơ ù ù xa xa.
Một chiếc máy bay hành khách loại lớn đang bay trên biển, đôi cánh bạc lấp lánh.
- Chà! - Giênia kéo dài giọng với vẻ mơ mộng. - Giá mà được ngồi trên chiếc máy bay ấy mà về Mátxcơva nhỉ!
- Còn phải nói? - Vônca đồng ý với Giênia. - Còn rất tốt nữa là đằng khác, nếu như...
Lúc bấy giờ, ông Khốttabít chẳng nói chẳng rằng, móc trong túi ra một sợi gì đó rất nhỏ màu trắng, trông giống như một sợi bạc hết súc mỏng manh, rồi ngắt sợi đó ra làm mấy phần, thế là cả ba ông cháu bỗng ở ngay bên trong máy bay, chễm chệ trên ba chiếc ghế rộng rãi có thể lật gấp được rất tiện lợi.
Điều đáng ngạc nhiên nhất là không một hành khách nào để ý đến ba ông cháu, cứ như ba ông cháu đã bay cùng với họ ngay từ đầu, từ sân bay Ađle.
- Ông Khốttabít, - Giênia thì thầm hỏi, - ông vừa ngắt sợi gì trông giống như sợi bạc thế ạ?
- Đó là một sợi râu bình thường của ta. - Ông Khốttabít đáp với vẻ lúng túng thật khó hiểu.
- Ông móc sợi đó ở trong túi ra kia mà!
- Ta đã rứt sợi râu đó từ trước và giấu nó vào túi để... phòng xa... Giênia, cậu hãy tha lỗi cho ta, nhưng ta vẫn không tin rằng bộ râu được bôi dầu của ta có thể không bị ướt.
- Ông không tin vào khoa học ư? - Giêma ngạc nhiên.
- Ta cũng khá am hiểu về các môn khoa học đấy chứ! - Ông già phật ý. - Nhưng ta không biết môn khoa học nào dạy rằng có thể dùng mỡ để bảo vệ cho bộ râu có phép lạ khỏi bị hỏng. - Để lái câu chuyện sang hướng khác, ông khen chiếc máy bay: - Cỗ xe trên không này thật là tiện lợi và bay nhanh! Vậy mà lúc đầu ta cứ ngỡ rằng chúng ta đang ở trong bụng con chim sắt khổng lồ quả là chưa từng thấy, và ta đã rất ngạc nhiên về chuyện đó.
Cuộc nói chuyện tạm ngưng vì ông già hơi bị say máy bay. Nói cho đúng hơn, ông bị mệt. Suốt dọc đường, ông thiu thiu trong ghế của mình và chỉ mở mắt khi máy bay đã tới gần sát Mátxcơva.
“Biển Mátxcơva” (1) trải rộng bên dưới máy bay.
Vônca ngồi cạnh ông Khốttabít liền thì thầm vào tai ông với vẻ kiêu hãnh:
- Cậu cháu đã làm ra cái biển này đấy?
- Làm ra biển??? - Ông Khốttabít sủng sốt một cách khó chịu.
- Vâng, làm ra biển.
- Ông cậu của cậu?
- Vâng, cậu của cháu.
- Cậu muốn nói rằng cậu là cháu của Đức Ala? (2)
Ông già tỏ vẻ rất buồn rầu.
- Cậu cháu là thợ lái máy đào. Cậu cháu điều khiển máy đào kiểu bước. Tên cậu ấy là Prôtaxốp Vaxili Pêtrôvích. Nếu ông muốn biết, cháu xin nói rằng bây giờ cậu cháu đang đào “Biển Cuibưsép” (3).
- Chà, cái cậu này? - Ông Khốttabít nổi xung. - Ta rất tin cậu, hỡi cậu Vônca may mắn nhất đời! Ta rất kính trọng cậu! Vậy mà bỗng nhiên cậu lại nỡ đối xử với ta tệ đến như vậy... Cậu lại nói với ta một điều sai sự thật!...
- Vaxia (4) Prôtaxốp là cậu của em ư? - Một người mập lùn có khuôn mặt lớn, dãi dầu sóng gió, ngồi đằng sau họ, tỏ vẻ mừng rỡ. - Có đúng thế không?
- Cậu ấy là em họ mẹ cháu.
- Thế mà em cứ lặng thinh hoài! - Người vừa hỏi nói với vẻ thán phục. - Có được một ông cậu như thế mà lại lặng thinh? Đó chính là một người vàng đấy? Tôi vừa từ “Biển Cuibưsép” về đây... Tôi với cậu của em làm cùng một khu vực. Chính tôi với cậu của em, nếu em muốn biết...
Vônca hất đầu về phía ông già Khốttabít đang cau có:
- Ấy thế mà ông ấy không tin cậu cháu đã làm ra “Biển Mátxcơva” đấy.
- Chà, thế thì không tốt đâu, ông ơi! - Người khách liền trách ông Khốttabít. - Sao ông lại có thể nghi ngờ một con người tuyệt vời như thế? Vaxili Prôtaxốp đã đào biển này và đang đào một biển khác. Nếu cần có một biển thứ ba nữa, ông ấy sẽ đào luôn biển thứ ba!... Sao, ông không đọc báo ư? Đây ông xem, đúng chỗ này này, luôn tiện nói thêm rằng đây là báo của chúng ta đấy nhé! - Ông rút trong chiếc cặp đã sờn một tờ báo và chỉ vào tấm ảnh. - Ông thấy chưa?
- A, cậu Vaxia! - Vônca mừng rỡ. - Ông cho cháu tờ báo này, ông nhé? Cháu sẽ mang tờ báo này về cho mẹ cháu xem.
- Em cứ cầm lấy, đây là tờ báo của em. - Ông khách nói với vẻ hào phóng, rồi quay sang hỏi ông Khốttabít lúc ấy đã nguôi giận:
- Ông vẫn còn nghi ngờ ư? Vậy thì ông hãy đọc đầu đề báo này: “Những người vinh quang làm ra biển cả”. Đây chính là bài báo viết về cậu của em này, về Vaxia Prôtaxốp.
- Bài báo cũng viết cả về ông nữa chứ? - Giênia hỏi.
- Ở đây chủ yếu là viết về Prôtaxốp. Còn tôi thì... Thôi, ông cứ đọc đi ông ơi!
Ông Khốttabít làm ra vẻ như đang đọc. Nhưng thực ra, ông không dám thú nhận với ông khách nọ là ông mù chữ...
Chính vì thế, trên đường từ sân bay về nhà, ông Kháttabít đã hỏi hai cậu bạn trẻ tuổi của mình rằng các cậu có thể dạy ông đọc được không, bởi vì ông ngượng chín người lúc ông khách nọ bảo ông đọc hàng chữ “Những người vinh quang làm ra biển cả”.
Cả ba đã thỏa thuận với nhau rằng hai cậu bé sẽ dạy ông Khốttabít đọc báo ngay khi có dịp thuận lợi. Ông già muốn trước hết là học đọc chính các tờ báo.
- Để mà còn biết cái biển nào đang được làm ra ở đâu... - ông già giải thích, ngượng ngùng hướng cặp mắt đen hiền lành của mình đi chỗ khác.

---
(1) Tên gọi một hồ chứa nước khổng lồ được đào năm 1 937, rộng 327 kilômét vuông, dùng để cung cấp nước cho thành phố Mátxcơva và kinh đào Mátxcơva - N.D.
(2) Theo quan niệm của ông Khốttabít, chỉ có Ala (thượng đế) mới làm ra biển. - N.D.
(3) Một hồ chứa nước khổng lồ khác ở tỉnh Cuibưsép - N.D.
(4) Tên gọi tắt và thân mật của Vaxili - N.D.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-09-01 17:01:40Thái Nhi>
Ai là người giàu nhất
Ct.ly hiệu đính

- Chúng ta dạo chơi đi, hỡi tinh thể của tâm hồn ta? - Hôm sau, ông Khốttabít nói.
- Nhưng với điều kiện là ông không được lồng lên như một con ngựa ở nông thôn ra thành phố mỗi khi gặp ôtôbuýtl - Vônca tuyên bố dứt khoát. - Tuy nhiên, có lẽ cháu đã xúc phạm tới các con ngựa ở nông thôn một cách oan uổng, bởi vì từ lâu rồi, chúng không còn sợ ôtô nữa. Vả lại, đã tới lúc ông phải quen rằng đó chẳng phải là những lão Giếcgít nào đó mà là những động cơ đốt trong bình thường do Liên Xô chế tạo.
- Ta xin nghe lời, hỡi cậu Vônca con trai của Aliôsa. - Ông già hiền lành đáp.
- Vậy thi ông hãy nhắc lại theo cháu: Từ nay…. ta sẽ không sợ...
- Từ nay ta sẽ không sợ... - Ông Khốttabít vui lòng nhắc lại.
- ... ôtôbuýt, trôlâybuýt, tàu điện, ôtô vận tải, máy bay lên thẳng...
- … ôtôbuýt, trôlâybuýt, tàu điện, ôtô vận tải, máy bay lên thẳng...
- Xe hơi, đèn pha, máy đào, máy chữ...
- Xe hơi, đèn pha, máy đào, máy chữ...
- Máy hát, loa phóng thanh, máy hút bụi...
- Máy hát, loa phóng thanh, máy hút bụi...
- Công tắc điện, bếp dầu lửa, ti vi, quạt máy và đồ chơi bằng cao su “Uiđi Uidi”...
- Công tắc điện, bếp dầu lửa, ti vi, quạt máy và đồ chơi bằng cao su “Uiđi Uidi”...
- Thôi, coi như thế là đủ rồi? - Vônca nói.
- Thôi, coi như thế là đủ rồi. - Ông Khốttabít máy móc nhắc lại theo Vônca và cả hai phá lên cười.
Để rèn luyện thần kinh của ông già, Vônca đã dẫn ông đi bộ hai mươi lần qua các ngã tư có nhiều xe cộ qua lại nhất trong thành phố, rồi đi tàu điện qua nhiều bến và cuối cùng, khi mệt lả nhưng thỏa mãn, hai ông cháu leo lên ôtôbuýt.
Họ ngồi trên xe, ngườì lắc lư khoan khoái trên đệm ghế bằng da. Vônca mải mê đọc báo Sự thật Thiếu niên Tiền phong, còn ông già thì đang nghĩ về một chuyện gì đó, chốc chốc lại thích thú đưa mắt nhìn người bạn đường trẻ tuổi của mình. Sau đó, ông nở một nụ cười mãn nguyện: chắc là ông đã nghĩ ra một điều lý thú gì đấy.
Ôtôbuýt đưa hai ông cháu về gần đến tận nhà. Chẳng mấy chốc, họ đã ở trong phòng của Vônca.
- Cậu có biết không, hỡi cậu học sinh đáng kính nhất trong tất cả các học sinh trung học! - ông Khốttabít bắt đầu nói ngay khi họ vừa khóa trái cửa lại. - Theo ta, bây giờ cậu phải đối xử lạnh lùng và dè dặt hơn với bọn trẻ trong sân nhà cậu. Cậu có tin không, tim ta đã tan nát thành từng mảnh khi ta nghe bọn chúng đón cậu bằng những tiếng kêu: “Ê, Vônca!”, “Chào Vônca!” và những tiếng tương tự rõ ràng là chẳng xứng đáng với cậu. Xin cậu hãy tha lỗi cho lời lẽ thô thiển của ta, hỡi cậu thiếu niên may mắn nhất đời, nhưng ta thấy cậu hoàn toàn không nên để cho bọn chúng sàm sỡ với cậu như vậy. Làm sao bọn chúng có thể bằng vai phải lứa với cậu, một người giàu nhất trong tất cả các người giàu, ấy là chưa nói đến vô số những ưu điểm khác của cậu.
- Lại còn thế nữa - Vônca ngạc nhiên cãi lại ông Khốttabít. - Các bạn ấy bằng vai phải lứa với cháu quá đi chứ, thậm chí còn có một bạn học lớp 8 kia... Và cả bọn chúng cháu đều hoàn toàn giàu như nhau...
- Không, cậu nhầm rồi, hỡi cái quạt lông của tâm hồn ta! - Lúc ấy, ông Khốttabít đắc thắng kêu lên và dẫn Vônca ra cửa sổ. - Cậu hãy nhìn xem và hãy tin rằng lời ta nói là đúng!
Trước mắt Vônca hiện ra một cảnh tượng vô cùng kỳ lạ.
Cách đây vài phút thôi, ở cửa trái của cái sân rộng lớn còn có một sân bóng chuyền, một đống cát vàng to tướng để cho bọn nhóc tha hồ chơi, một cái đu quay và một cái bập bênh cho những người thích cảm giác mạnh, một cái xà đơn và một bộ vòng treo cho những người ham mê thể dục, một bồn hoa dài và hai bồn hoa tròn với các bông hoa đủ màu trông rất vui mắt cho tất cả mọi ngườí ở trong khu nhà này.
Bây giờ, thay vào tất cả những cái đó, đã mọc lên ba tòa lâu đài đồ sộ theo kiểu châu Á ngày xưa, làm bằng đá hoa lấp lánh. Những hàng cột sang trọng làm cho ba tòa lâu đài ấy càng thêm đẹp. Trên các mái bằng xanh rì những vườn cây râm mát, còn ở các bồn hoa thì có những bông hoa đỏ, vàng, xanh lơ chưa từng thấy. Những giọt nước phun lên từ các vòi phun tuyệt đẹp lấp lánh trong nắng như những viên đá quý. Ở lối vào mỗi tòa lâu đài đều có hai người khổng lồ đứng gác, tay cầm kiếm cong to tướng. Vừa trông thấy Vônca, hai người khổng lồ như theo lệnh đã phủ phục và cất tiếng rền vang như sấm chào Vônca. Cùng lúc đó, từ trong mồm hai người khổng lồ phụt ra những ngọn lửa lớn, làm cho Vônca bất giác phải rùng mình.
- Ông chủ trẻ tuổi của ta đừng có sợ những gã đó! - ông Khốttabít trấn an Vônca. - Đây chỉ là những gã ifrít hiền lành mà ta đã sai đứng ở lối vào để làm tăng thêm vinh dự cho cậu.
Hai người khổng lồ lại phủ phục và vừa phun lửa vừa ngoan ngoãn cất tiếng rền vang như sấm:
- Hãy sai khiến chúng tôi đi, hỡi ông chủ hùng mạnh của chúng tôi!
- Xin các ông hãy đứng dậy cho! Tôi yêu cầu các ông đứng dậy ngay lập tức! - Vônca ngượng ngùng. - Thời buổi này mà còn quỳ thì thật chẳng ra làm sao cả. Cứ như là thời phong kiến vậy? Các ông hãy đứng dậy đi và từ nay đừng có quỳ gối quỵ lụy như thế nữa. Thật là xấu hổ!... Thật là xấu hổ!... Lời nói danh dự của một đội viên thiếu niên tiền phong đấy?
Hai lão ifrít băn khoăn đưa mắt nhìn nhau, rồi đứng dậy và lặng lẽ uỡn thẳng người trong tư thế chào cứng đơ như trước.
- Lại còn thế nữa! - Vônca nói, cu cậu vẫn còn ngượng. - Ông Khốttabít, chúng ta đi xem các lâu đài của ông đi.
- Đây không phải là các lâu đài của ta. Đây chính là các lâu đài của cậu! - Ông già kính cẩn bác lại và đi theo Vônca.
Tòa lâu đài thứ nhất làm toàn bằng đá quý màu hồng. Tám cánh cửa nặng nề có chạm trổ của tòa lâu đài này làm bằng gỗ đàn hương, được tô điểm bằng những chiếc đinh bạc và gắn đầy nhưng ngôi sao bạc, những viên hồng ngọc đỏ rực.
Tòa lâu đài thứ hai làm bằng đá hoa màu lam nhạt. Ở đây có mười cánh cửa làm bằng gỗ lim đen bóng cực kỳ hiếm có. Các cánh cửa này được tô điểm bằng những chiếc đinh vàng và gắn đầy những viên kim cương, xaphia, ngọc bích và các loại đá quý nào đó nữa.
Ở giữa tòa lâu đài này sáng loáng một cái bể rộng, mặt nước phẳng lặng như gương, bên trong bơi lượn những con cá vàng lớn.
- Cái này thay cho cái bể nuôi cá bé tí của cậu. - Ông Khottabít rụt rè giải thích. - Ta cảm thấy rằng chỉ có dùng cái bể nuôi cá như ở đây, cậu mới không làm hạ phẩm giá cao quý của mình.
“Vâ-â-âng”, Vônca nghĩ thầm, “Cứ thử bắt một con cá vàng ấy xem, sẽ rụng tay liền!”.
- Còn bây giờ, - Ông Khốttabít nói - Hãy cho ta được hân hạnh mời cậu để mắt đến tòa lâu đài thứ ba.
Hai người đi vào tòa lâu đài thứ ba. Tòa lâu đài này tráng lệ tới mức Vônca phải sửng sốt kêu lên:
- Ở đây giống ga tàu điện ngầm như đúc. Hệt như ga “Cômxômônxcaia” ấy!
- Cậu vẫn chưa thấy hết tất cả đâu, hỡi cậu Vônca may mắn! - ông Khốttabít mặt tươi như hoa.
Ông dẫn Vônca ra đường. Hai người khổng lồ lập tức cầm kiếm ở tư thế chào, nhưng ông Khốttabít không hề để ý đến họ, ông chỉ cho cậu bé thấy những tấm bảng bằng vàng bóng loáng gắn ở bên trên lối vào các tòa lâu đài. Trên mỗi tấm bảng đều khắc cùng những hàng chữ làm cho Vônca lập tức cảm thấy người phát sốt phát rét lên:
“Các tòa lâu đài này thuộc về cậu đội viên thiếu niên tiền phong trẻ tuổi oai nghiêm là Vônca con trai của Aziôsa, một cậu thiếu niên đáng quý nhất và đáng yêu nhất trong tất cả các cậu thiếu niên ở thành phố này, người đẹp trai nhất trong tất cả những người đẹp trai, người thông minh nhất trong tất cả những người thông minh, người có vô số những ưu điểm và những mặt toàn thiện, toàn mỹ, người am hiểu độc nhất vô nhị môn địa lý và các môn khoa học khác, người lặn giỏi nhất trong tất cả các tay lặn, người bơi cừ nhất trong tất cả các tay bơi, người đánh bóng chuyền hay nhất trong tất cả các tay đánh bóng chuyền, người vô địch bách chiến bách thắng môn bida và môn bóng bàn.
Cầu chúc cho cậu Vônca và các vị thân sinh có phúc của cậu được rạng danh đời đời!”
Phổng cả mũi vì hãnh diện và sung sướng, ông Khốttabít nói:
- Nếu được cậu cho phép, ta muốn cậu sau khi đến ở trong ba tòa lâu đài này cùng với các vi thân sinh của cậu, cậu sẽ dành cho ta một góc nhỏ để cho chỗ ở mới không làm ta xa cách cậu, và ta có điều kiện bày tỏ với cậu lòng kính trọng sâu sắc và lòng trung thành của mình trong bất cứ lúc nào.
- Thế này, ông nhé. - Vônca đáp sau một lúc im lặng: - Thứ nhất những hàng chữ này thiếu tinh thần tự phê... Nhưng điều đó rốt cuộc cũng chẳng quan trọng. Điều đó chẳng quan trọng bởi vì những tấm bảng thế nào cũng phải thay đổi.
- Ta hiểu ý cậu và ta không thể không buộc tội ta suy nghĩ thiếu chín chắn. - Ông già bối rối. - Dĩ nhiên, những hàng chữ ấy phải nạm bằng đá quý. Cậu hoàn toàn xứng đáng như vậy.
- Ông hiểu sai ý cháu rồi, ông Khốttabít ơi! Cháu muốn trên tấm bảng phải viết rõ rằng các tòa lâu đài này là tài sản của RONO (1). Ông biết không, ở nước chúng cháu, các lâu đài đều thuộc về RONO hoặc thuộc về các câu lạc bộ, các nhà an dưỡng.
- Các lâu đài này sẽ thuộc về RONO nào vậy?
Ông già ngạc nhiên kêu lên.
Vônca hiểu sai tiếng kêu của ông Khốttabít:
- RONO nào cũng được. - Nó hồn nhiên trả lời. - Nhưng tốt hơn hết là thuộc về RONO Prêxnia Đỏ. Tại quận ấy, cháu đã ra đời, lớn lên, học đọc và viết.
- Ta không biết ông RONO ấy là ai, - ông Khốttabít nói với giọng cay đắng, - và hoàn toàn cho rằng ông ta là một người đáng kính trọng (2). Nhưng phải chăng ông RONO ấy đã cứu ta thoát khỏi cảnh cầm tù hàng nghìn năm trong một cái bình? Không, không phải ông RONO làm việc đó, mà chính là cậu, một cậu thiếu niên tuyệt vời nhất đời, và các tòa lâu đài này phải thuộc về chính cậu hoặc không thuộc về ai cả.
- Nhưng ông hãy hiểu cho là...
- Ta không muốn hiểu! Hoặc thuộc về cậu, hoặc không thuộc về một ai cả!
Vônca chưa bao giờ thấy ông Khốttabít giận dữ đến như thế. Mặt ông đỏ bừng, mắt ông phát ra những tia chớp. Rõ ràng là ông già đang tự kiềm chế một cách khó khăn để không trút sự phẫn nộ của mình xuống đầu cậu bé.
- Thế có nghĩa là cậu không đồng ý, hỡi tinh thể của tâm hồn ta?
- Dĩ nhiên là không! Các lâu đài này sao lại thuộc về cháu được ạ? Cháu đâu có phải là một câu lạc bộ, một cơ quan nào đó hay một vườn trẻ?
- Than ôi! - Lúc ấy, ông Khốttabít buồn bã thốt lên và phẩy tay. - Chúng ta sẽ thử một cách khác!...
Đúng lúc đó, các tòa lâu đài mờ dần, bắt dầu lung lay rồi tan ra trong khoảng không như đám sương mù bị gió xua tan. Những người khổng lồ gầm vang, lao vút lên cao và biến mất.

---
(1) Tên viết tắt của Phòng Giáo dục nhân dân quận - N.D.
(2) Ông Khốttabít tưởng lầm RONO là tên một người nào đó - N.D.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-09-01 17:11:55Thái Nhi>
Một con lạc đà đi...
Ct.Ly hiệu đính

Nhưng bây giờ trong sân lại đầy voi, lạc đà và lừa, con nào con nấy đều chở nặng. Các đoàn súc vật vận chuyển vẫn tiếp tục ùn ùn kéo vào cái cổng mở rộng. Tiếng la của những người chăn dắt da đen, mặc buốcnút (1) trắng tinh, hòa lẫn với tiếng voi rống, lạc đà kêu, lừa hí, vài tiếng rầm rập của hàng trăm mống guốc, với tiếng leng keng vui tai của những chiếc chuông con và lục lạc.
Một người nhỏ nhắn, nước da rám nắng đen nhẻm, mặc quần áo lụa sang trọng, từ trên lưng voi trèo xuống, bước ra giữa sân, dùng chiếc gậy nhỏ bằng ngà voi đập xuống lớp nhựa đường ba lần, thế là từ mặt sân bỗng phọt lên một vòi nước rất mạnh. Ngay lập tức, những người chăn dắt xách thùng bằng da liền hối hả xếp thành một hàng dài, và chẳng mấy chốc trong sân đã đầy những tiếng xoàn xoạt, phì phì của các con vật tranh nhau uống nước một cách thèm thuồng.
- Tất cả những thứ này đều là của cậu, hỡi cậu Vônca! - Ông Khốttabít nói lớn, cố át tiếng ồn ào ngoài cửa sổ. - Xin cậu hãy vui lòng nhận chút quà mọn này của ta.
- Tất cả là thế nào ạ? - Vônca hỏi, cu cậu bị tiếng ồn ào làm đinh tai.
- Tất cả là tất cả chứ còn thế nào nữa! Cả voi, cả lạc đà, cả lừa, cả toàn bộ vàng bạc châu báu chất trên lưng các con vật đó, cả những gã đứng cạnh các thứ hàng vận chuyển và các con vật nọ. Tất cả những thứ này đều là của cậu!
Tình hình mỗi lúc một rắc rối thêm. Vừa rồi, Vônca suýt nữa trở thành ông chủ của ba tòa lâu đài tráng lệ mà nó hoàn toàn chẳng cần đến. Còn bây giờ, nó lại trở thành ông chủ của vô số vàng bạc châu báu, ông chủ cả một đàn voi và có thể nó là ông chủ nô lệ nữa!
Ý nghĩ đầu tiên của Vônca là van nài ông Khốttabít đưa đi ngay những món quà vô tích sự của ông trong lúc chưa có ai nhận thấy những món quà đó.
Nhưng Vônca lập tức nhớ lại chuyện ba tòa lâu đài. Nếu như lúc ấy nó khéo nói một chút thì có thể giữ lại các tòa lâu đài ấy để làm đẹp cho thành phố.
Nói tóm lại, cần phải tranh thủ thời gian để suy nghĩ và vạch ra kế hoạch hành động.
- Ông biết sao không, ông Khốttabít? - Vônca cố nói cho thật tự nhiên. - Trong lúc những người kia chăm sóc đàn súc vật vận chuyển, ông cháu ta có thể cưỡi lạc đà đi chơi được không ạ?
- Rất sung sướng và vui lòng! - Ông già cả tin đáp.
Một phút sau, “con tàu của sa mạc” (2) có hai bướu đã di ra đường, nó lắc lư oai vệ và nghênh ngang đưa mắt nhìn quanh. Chễm chệ trên lưng nó là cu cậu Vônca hồi hộp và ông Khốttabít cảm thấy mình như đang ở trong nhà và uể oải phe phẩy cái mũ.
- Lạc đà! Lạc đà! - Bọn nhóc sung sướng reo hò. Chúng vọt ra đường cùng một lúc và đông tới mức dường như việc chờ đợi những con lạc đà xuất hiện vào giờ đó đã trở thành một việc quen thuộc đối với chúng.
Bọn nhóc đứng vây quanh gần sát con vật thuần tính cao lênh khênh so với chúng như chiếc trôlâybuýt hai tầng so với chiếc xe đẩy bán nước giải khát có ga vậy. Một cậu nhóc nào đó vừa nhảy lò cò vừa thích thú hát vang:
Những người cưỡi trên lưng lạc đà!...
Những người cưỡi trên lưng lạc đà!...
Con lạc đà đi đến ngã tư đúng vào lúc có đèn đỏ. Chưa hề được tập cho quen với luật lệ giao thông trên đường phố, nó thản nhiên bước qua vạch trắng đậm trên mặt đường, mặc dù ngay trước cái vạch đó có viết hai chữ to tướng: “DỪNG LẠI”. Nhưng Vônca đã uổng công khi nói cố kìm con vật lầm lì lại ở bên này vạch trắng: “con tàu của sa mạc” thản nhiên cất bước, tiếp tục đi thẳng về phía người cảnh sát đã rút trong xà cột ra cuốn biên lai thu tiền phạt.
Bỗng có tiếng còi inh ỏi, tiếng phanh kít và một chiếc xe hơi màu xanh da trời dừng lại ngay trước mũi con lạc đà vẫn thản nhiên thở phì phì. Ông tài xế nhảy ra khỏi xe và quát mắng cả con lạc đà mà có hai người cưỡi trên lưng nó.
Quả thực, chỉ một giây nữa thôi là đã xảy ra một tai nạn không sao cứu vãn nổi.
- Xin mời lại gần vỉa hè - Người cảnh sát đưa tay lên chào và nói một cách lịch sự.
Vônca cảm thấy rằng nó đã rơi vào một tình trạng rất khó chịu. Từ trên lưng lạc đà, nó cúi người xuống và bắt dầu xin lỗi một cách vụng về:
- Thưa đồng chí cảnh sát, từ nay tôi sẽ không vi phạm như thế nữa! Xin đồng chí hãy thứ lỗi cho chúng tôi... Đã đến lúc chúng tôi phải cho lạc đà ăn rồi... Đây mới là lần đầu tiên...
- Không thể tha thứ được đâu. - Người cảnh sát lạnh lùng đáp. - Trong những trường hợp như thế này, mọi người đều nói rằng đây mới là lần đầu tiên...
Một đám đông lập tức tụ họp lại và bắt đầu bàn tán:
- Đồng chí cảnh sát hoàn toàn đúng!
- Ở đây ai là ngươi cừ nhất? Người cừ nhất ở đây là bác tài xế. Bác ấy không hề luống cuống.
- Lần đầu tiên tôi thấy ở ngay giữa Mátxcơva mà bỗng nhiên lại có người cưỡi lạc đà hai bướu đi nghễu nghệ đấy
- Chao ôi, chỉ chút xíu nữa là xảy ra tai nạn?
- Chẳng lẽ một đứa bé không được cưỡi lạc đà sao?
- Không một ai được phép vi phạm luật lệ giao thông trên đường phố cả...
- Thật không tài nào hiểu nổi người ta moi đâu ra lạc đà ở giữa Mátxcơva này?...
Vônca vẫn tiếp tục cố làm mủi lòng người cảnh sát nghiêm khắc mà chẳng ăn thua. Bỗng nó thấy ông Khốttabít giật tay áo mình. Cho tới lúc đó, ông vẫn giữ im lặng một cách kiêu kỳ.
- Hỡi ông chủ trẻ tuổi của ta... - Ông nói. - Hỡi ông chủ trẻ tuổi của ta, ta rất đau lòng khi thấy cậu phải hạ mình để giúp ta thoát khỏi những sự khó chịu. Tất cả những kẻ này đều không đáng hôn gót chân của cậu. Cậu hãy cho chúng hiểu rằng cậu khác chúng một trời một vực!
Vônca chỉ đáp lại bằng cách bực bội xua tay, nhưng bỗng nó cảm thấy cái chuyện xảy ra lúc thi môn địa lý đang lặp lại với nó: nó lại không làm chủ được tiếng nói của mình.
Nó muốn nói:
“Thưa đồng chí cảnh sát, tôi rất mong đồng chí thứ lỗi cho tôi Tôi xin hứa với đồng chí rằng cho tới lúc chết, tôi sẽ không bao giờ vi phạm luật lệ giao thông trên đường phố”. Nhưng thay vào lời van nài nhún nhường đó, nó lại bỗng nhiên gào váng cả phố: - Hỡi tên lính canh đê tiện kia, sao mi dám cản đường ta trong cái giờ phút dạo chơi quý báu của ta?! Quỳ xuống! Quỳ xuống ngay trước mặt ta, nếu không ta sẽ giáng cho mi một tai họa gì đó khủng khiếp! Ta thề trước bộ râu của ta!... Tức là trước bộ râu của ông ấy!
Vônca hất đầu về phía ông Khốttabít đắc chí nhe răng cười và vuốt râu với vẻ oai vệ.
Còn về phần người cảnh sát và đám đông vây quanh thì vì quá bất ngờ, mọi người thậm chí không hẳn chỉ bối rối, mà chủ yếu là còn sửng sốt trước những câu nói láo xược đó.
- Ta là một thiếu niên lỗi lạc nhất ở thành phố này! - Vônca tiếp tục gào trong khi nó khốn khổ vì cái cảm giác bất lực của mình. - Bọn mi chẳng đáng hôn gót chân của ta... Ta là người đẹp trai!... Ta là người thông minh!...
- Thôi được! - người cảnh sát cau có đáp - Về đồn, người ta sẽ tìm hiểu xem cậu là người thông minh như thế nào... Và tại sao lại có “đùi lợn” (3) ở đây...
“Than ôi, ta nói bậy bạ gì thế này! Tội càn quấy rõ rành rành!...”, Vônca hoảng sợ, trong khi đó từ mồm nó vẫn tuôn ra những lời ghê gớm:
- Mi không được phép xuyên tạc lời ta nói? Không phải là “đùi lợn” mà là “thiếu niên”! Ôi, khổ thay, khổ thay cho mi, kẻ đã dám làm xáo động tâm trạng thoải mái của ta! Hãy ngừng ngay những lời nói hỗn láo của mi khi vẫn còn chưa muộn!...
Trong lúc ấy, có một chuyện gì đó đánh lạc sự chú ý của ông Khốttabít. Ông ta vẫn thì thầm vào tai Vônca những câu nói kiêu ngạo nhảm nhí của mình, và Vônca lấy lại được tự chủ trong chốc lát, liền từ trên lưng lạc đà cúi thấp người xuống, vừa buồn bã nhìn thẳng vào mắt những ngươi đứng nghe xung quanh, vừa lắp bắp van vỉ:
- Các đồng chí!... Các ông các bà!... Các bạn!... Xin bỏ qua những lời tôi nói vừa rồi... Chẳng lẽ tôi lại dám nói như thế ư? Đó là tại ông ta, cái ông già này, bắt tôi phải nói như vậy…
Nhưng đến đây, ông Khốttabít lại nắm lấy quyền làm chủ tiếng nói của Vônca, nên Vônca lại gào lên, không kịp thở lấy hơi:
- Bọn bay hãy liệu hồn và chớ có làm ta nổi giận, bởi vì ta nổi giận thi rất đáng sợ. Chà, rất chi là đáng sợ đấy!...
Vônca hiểu rõ rằng những lời nó nói chẳng đe dọa được ai, mà chỉ tổ làm cho mọi người tức giận, thậm chí còn làm cho một số người phì cười, nhưng nó không thể làm gì được.
Trong khi đó, những người nghe Vônca nói không còn cảm thấy phẫn nộ và ngạc nhiên nữa, mà lại bắt đầu cảm thấy lo lắng cho Vônca. Rõ ràng là không một học sinh Xôviết có đầu óc bình thường nào lại dám thốt ra nhũng lời lẽ ngu ngốc và hỗn xược như thế.
Bỗng trong đám đông có tiếng phụ nữ hốt hoảng kêu lên:
- Các ông các bà ơi! Thằng bé này bị sốt nặng rồi!... Mồm nó đang bốc khói kia kìa!
- Lại còn nói nhăng nói cuội gì thế nữa! - Vônca quát lên để đáp lại và nó kinh hoàng khi cảm thấy rằng cùng với những lời nói, từ mồm nó tuôn ra nhũng luồng khói lớn đen xì...
Một người nào đó sợ hãi kêu lên, một ngươi khác chạy vào hiệu thuốc để gọi xe cấp cứu. Lợi dụng trình trạng nhốn nháo, Vônca liền thì thầm với ông Khốttabít:
- Gátxan Ápđurắcman con trai của Khốttáp! Tôi ra lệnh cho ông phải ngay lập tức đưa con lạc đà cùng với chúng ta đi xa khỏi chỗ này... Tốt hơn hết là ra ngoại thành. Nếu không thì chúng ta sẽ khốn to... Ông nghe rõ chưa? Ngay-lập-tức!
- Xin tuân lệnh! - Ông già cũng thì thầm đáp lại.
Đúng lúc đó, con lạc đà cùng hai người cưỡi trên lưng nó lao vút lên trời và biến mất, làm cho mọi người xung quanh vô cùng sửng sốt.
Một phút sau, con lạc đà nhẹ nhàng hạ xuống một vùng ngoại ô thành phố và nó bị hai vị hành khách bỏ rơi vĩnh viễn ở đấy.
Có lẽ cho đến nay con lạc dà ấy vẫn còn gặm cỏ đâu đó ở ngoại thành. Nếu các bạn tình cờ bắt gặp nó thì rất dễ thận ra: nó có một cái dây cương gắn đầy kim cương và ngọc bích.

---
(1) Áo khoác có mũ trùm bằng vải len mà người Ảrập thường mặc - N.D.
(2) Người ta vẫn thường ví lạc đà là “con tàu của sa mạc - N.D.
(3) Trong tiếng Nga, “đùi lợn” là “ôcôrốc”, lúc phát âm nghe gần giống với tiếng “ôtơrốc” (thiếu niên) mà Vônca nói ở trên - N.D.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-09-01 17:26:02Thái Nhi>
Câu chuyện bí mật tại Chi nhánh ngân hàng nhà nước
Ct.Ly hiệu đính


Lúc hai ông cháu trở về nhà, mặc dù đã trải qua mọi chuyện khó chịu trong ngày, Vônca vẫn cảm thấy phấn khởi.
Cuối cùng, nó đã nghĩ ra cách giải quyết số tài sản nhiều vô kể trút như mưa xuống đầu nó (1).
Trước hết, Vônca hỏi ông Khốttabít xem ông có thể biến thành vô hình - trước mắt người ngoài - tất cả những người chăn dắt cùng với đàn voi, lạc đà, lừa và toàn bộ các thứ hàng vận chuyển được không.
- Cậu chỉ cần ra lệnh là mọi việc sẽ được thực hiện trong chớp mắt. - Ông Khốttabít sẵn lòng đáp.
- Tốt lắm! - Vônca nói. - Vậy thì xin ông hãy biến tất cả người chăn dắt, súc vật, hàng vận chuyển thành vô hình, sau đó chúng ta đi ngủ. Sáng mai, chúng ta sẽ phải dậy cùng lúc với mặt trời mọc.
- Xin tuân lệnh!
Thế rồi những người tụ tập trong sân để xem đoàn súc vật vận chuyển ồn ào và kỳ lạ bỗng thấy cái sân hoàn toàn trống không và mọi người tản về nhà sau khi quên ngay lập tức đoàn súc vật vận chuyển nọ.
Vônca ăn tối qua loa, cởi nhanh quần áo và khoan khoái nằm dài trên chiếc giường mát mẻ.
Còn ông Khốttabít thì quyết định nghiêm chỉnh tuân thủ tập quán lâu đời của các ông thần là biến thành vô hình và nằm ngay ở ngưỡng cửa để bảo vệ sự yên tĩnh cho vị cứu tinh trẻ tuổi của mình. Vônca đã toan bắt đầu cuộc nói chuyện nghiêm chỉnh với ông già Khốttabít thì cửa ra vào bỗng mở toang và bà nội, như thường lệ, đi vào chúc cậu cháu của mình ngủ ngon, liền vấp phải ông Khốttabít vô hình, ngã uỵch xuống sàn nhà.
- Con hiểu không, có một cái gì đó nằm ở cửa này!
Bà giải thích với bố Vônca khi ông nghe tiếng động mạnh bèn chạy vào.
- Cái gì đó nằm ở đâu hả mẹ? - Bố Vônca hỏi. - Và cái gì đó trông nó ra sao ạ?
- Aliôsenca (2), cái đó hoàn toàn không thể trông thấy được.
- Mẹ ơi, thế là mẹ vấp phải chỗ trống không, có phải không ạ? - Bố Vônca mỉm cười hóm hỉnh, ông hài lòng khi thấy mẹ không hề bị đau khi ngã.
- Thì ra mẹ vấp vào chỗ trống không, con trai của mẹ ạ. - Bà bối rối đáp và đến ngập ngừng, bà ngượng ngùng phì cười.
Bố và bà nội chúc Vônea ngủ ngon rồi đi ra.
Còn ông Khốttabít thì đã thận trọng chuyển vào nằm dưới giường Vônca. Ở đây, chẳng còn phải lo có ai giẫm vào người mình nữa. Vả lại, nằm như thế càng gần Vônca hơn.
Cả hai nhân vật chính của chúng ta nằm im một lúc.
Vônca vẫn chưa biết nên bắt đầu cuộc nói chuyện tế nhị sắp tới như thế nào đây.
- Chúc cậu ngủ ngon! - Từ dưới gầm giường, ông Khốttabít nói với giọng đầy thiện ý.
Vônca hiểu rằng đã đến. lúc phải bắt đầu.
- Ông Khốttabít ơi, - nó thò dầu từ trên giường xuống và nói - Cháu cần phải nói chuyện với ông một chút.
- Có phải về chuyện những món quà của ta hôm nay không? - Ông Khốttabít hỏi với vẻ lo lắng và thở dài đánh sượt khi Vônca gật đầu xác nhận.
- Ông Khốttabít thân mến, cháu muốn biết cháu có được quyền sử dụng những món quà của ông theo ý cháu không ạ?
- Dĩ nhiên là được.
- Cho dù cháu sử dụng những món quà ấy như thế nào, ông cũng không giận cháu chứ
- Không đời nào, hỡi cậu Vônca! Lẽ nào ta dám giận người đã giúp ta nhiều điều như thế!
- Ông Khốttabít, nếu ông cảm thấy không có gì trở ngại thì ông hãy thề đi.
- Ta xin thề! - Ông Khốttabít nói với giọng khàn khàn ở dưới giường sau khi ông đã hiểu rằng chẳng phải vô cớ mà Vônca lại nói tới chuyện này.
- À thế thì hay lắm! - Vônca mừng rỡ. - Thế có nghĩa là ông sẽ không giận nếu cháu hoàn toàn chẳng cần đến những món quà ấy, mặc dù cháu rất biết ơn ông.
- Ôi khổ thay cho ta! - ông Khốttabít rên rỉ đáp lại. - Cậu lại từ chối những món quà của ta rồi?... Nhưng đây có phải là những tòa lâu đài đâu! Hỡi cậu Vônca, cậu thấy đấy, ta chẳng tặng cho cậu những lâu đài nữa. Cậu cứ nói phứt đi cho rồi: cậu coi khinh những món quà mà kẻ đầy tớ trung thành của cậu mang tặng.
- Ông Khốttabít, ông hãy tự suy xét xem, vì chình ông là một ông già rất thông minh: cháu cần đến vô số châu báu ấy làm gì nào?
- Để trở thành người giàu nhất trong tất cả những người giàu có là cái cậu có thể làm! - Ông Khốttabít giải thích với giọng đay nghiến. - Hay cậu lại bảo rằng cậu không muốn trở thành người giàu nhất nước mình? Cậu dám bảo thế lắm, hởi cậu thiếu niên khó tính nhất và khó hiểu nhất trong tất cả các cậu thiếu niên mà ta đã từng gặp! Có tiền là có quyền lực, có tiền là có vinh quang, có tiền là có bạn bè, muốn bao nhiêu cũng được! Tiền là như vậy đó. Ai cần đến cái thứ bạn bè mua bằng tiền, cái thứ vinh quang mua bằng tiền hả ông. Ông chỉ làm cho cháu buồn cười thôi ông Khốttabít ơi? Vinh quang nào lại có thể mua được bằng tiền, chứ không phải bằng lao động lương thiện vì lợi ích của Tổ quốc mình?
- Cậu quên mất rằng tiền đem lại quyền lực bảo đảm nhất và chắc chắn nhất đối với mọi người, hỡi người trẻ tuổi hay tranh cãi cù nhầy?
- Chuyện đó chỉ có ở nước Mỹ thôi, chứ không thể có ở nước chúng cháu.
- Chắc cậu lại sắp sửa bảo rằng ở nước các cậu, mọi người đều không muốn làm giàu, ha ha ha! - Ông Khốttabít tưởng rằng ông đã nói lên một ý rất cay độc.
- Không, không phải đâu! - Vônca kiên nhẫn đáp. - Ở nước chúng cháu, người nào làm lợi nhiều cho Tổ quốc thì kiếm được nhiều tiền hơn so với người làm lợi ít cho Tổ quốc. Dĩ nhiên, mỗi người đều muốn kiếm được nhiều tiền hơn, nhưng phải kiếm tiền bằng lao động lương thiện kia.
- Cứ cho là thế đi! - Ông Khốttabít nói. - Ta hoàn toàn không có ý định đẩy người bạn yêu quý của mình vào con đường kiếm tiền bất chính. Nếu cậu không cần những thứ châu báu này thì cậu hãy đổi chúng thành tiền và dùng số tiền ấy cho vay lấy lãi. Cậu phải đồng ý với ta rằng cho những người cần tiền vay lấy lãi là một việc làm rất đáng trọng.
- Ông điên mất rồi! - Vônca phẫn nộ. - Ông quả là không hiểu những điều ông nói? Một người Xôviết bỗng nhiên lại biến thành một kẻ cho vay nặng lãi! Vả lại, bây giờ ai còn thèm đến với một tên hút máu như thế, thậm chí nếu tên đó bỗng nhiên xuất hiện ở đâu đấy? Nếu một người ở nước chúng cháu cần tiền thì có thể vay ở quỹ tương trợ hoặc vay bạn bè. Còn kẻ cho vay nặng lãi thì đó chính là một tên hút máu, một tên ăn bám, một tên bóc lột đê tiện, như thế đấy! Mà ở nước chúng cháu thì không có và sẽ không bao giờ có những kẻ bóc lột. Đủ lắm rồi! Vào thời tư bản, bọn bóc lột đã hút no máu nhân dân nước chúng cháu.
- Vậy thì, - ông Khốttabít đã hơi chán nản song vẫn chưa chịu thua, - cậu hãy mua thật nhiều hàng hóa và mở các cửa hàng của mình trong khắp thành phố. Cậu sẽ trở thành một thương gia nổi tiếng và mọi người sẽ kính trọng cậu.
- Chẳng lẽ ông không hiểu rằng nhà buôn tư nhân cũng là một hạng bóc lột ở nước chúng cháu, việc buôn bán do nhà nước và hợp tác xã đảm nhiệm. Còn kiếm tiền bằng cách buôn bán trong cửa hàng của mình thì...
- Hừm! - Ông Khốttabít làm ra vẻ đồng ý với Vônca. - Cứ tạm cho rằng cậu nói đúng đi. Vậy sản xuất ra các thứ hàng hóa khác nhau thì ta hy vọng đó là một việc làm lương thiện chứ?
- Dĩ nhiên rồi! Ông thấy chưa, - Vônca mừng rỡ - Ông bắt đầu hiểu ý cháu rồi đấy!
- Rất sung sướng! - Ông Khốttabít nhếch mép cười chua chát. - Ta nhớ có lần cậu nói với ta rằng ông bố rất đáng kính của cậu đang làm đội trưởng ở một nhà máy. Có đúng thế không?
- Đúng ạ!
- Ông bố cậu là người to nhất trong nhà máy ấy?
- Không, không phải là to nhất đâu. Bố cháu chỉ là đội trưởng thôi, trên bố cháu còn có phân xưởng trưởng này, giám đốc này.
- Thế này nhé, - Ông Khốttabít đắc thắng kết thúc ý nghĩ của mình, - với vô số của cải mà ta tặng cậu, cậu có thể mua cho ông bố tuyệt vời của cậu cái nhà máy mà ông đang làm việc và còn có thể mua nhiều nhà máy khác nữa.
- Nhà máy ấy cũng thuộc về bố cháu.
- Nhưng hỡi cậu Vônca con trai của Aliôsa, chính cậu vừa mới nói...
- Nếu ông muốn biết thì cháu xin nói rằng bố cháu làm chủ cả cái nhà máy bố cháu đang làm việc, cả toàn bộ những nhà máy và xí nghiệp khác, cả toàn bộ những hầm mỏ, xí nghiệp mỏ, đường sắt, ruộng đất, sông ngòi, núi non, cửa hàng, trường phổ thông, trường đại học, câu lạc bộ, cung điện, nhà hát, công viên và rạp chiếu bóng trong cả nước.
Toàn bộ những thứ đó cũng thuộc về cháu, cũng thuộc về Gienca Bôgôrát, cũng thuộc về bố mẹ cậu ấy, cũng...
- Cậu muốn nói rằng ông bố của cậu có những hội viên cùng công ty phải không?
- Đúng đấy, những hội viên cùng công ty! Hơn hai trăm triệu hội viên cùng công ty hoàn toàn bình đẳng với nhau. Số dân nước chúng cháu có bao nhiêu thì số hội viên cùng công ty có bấy nhiêu!
- Đất nước của cậu thật kỳ lạ và khó hiểu đối với đầu óc ta. - Ông Khôttabít lầm bầm ở dưới gầm giường và im bặt.
Tảng sáng hôm sau, tiếng chuông điện thoại đã dựng dậy khỏi giường ông chủ nhiệm chi nhánh Ngân hàng Nhà nước ở quận. Người ta gọi ông cấp tốc tới văn phòng.
Lo lắng vì cú điện thoại sớm như vậy, ông chủ nhiệm phóng ngay tới phòng làm việc và thấy ở sân tòa nhà được dùng làm trụ sở của chi nhánh ngân hàng rất nhiều voi, lạc đà và lừa chở các kiện hàng nặng.
- Có một công dân muốn đóng góp... - Người thường trực bối rối báo cáo với ông chủ nhiệm.
- Đóng góp? - Ông chủ nhiệm ngạc nhiên. - Vào lúc sáng tinh mơ như thế này?... Đóng góp gì vậy?
Để đáp lại, ngươi thường trực lặng lẽ chìa cho ông chủ nhiệm một tờ giấy xé trong cuốn vở học trò, trên đó viết đầy chữ với nét chữ trẻ con rắn rỏi.
Ông chủ nhiệm đọc tờ giấy và yêu cầu người thường trực cấu vào tay ông. Người thường trực bối rối thực hiện yêu cầu ấy. Ông chủ nhiệm nhăn mặt vì đau, sau đó lại nhìn tờ giấy và nói:
- Khó tin? Thật là khó tin?
Một công dân muốn giấu tên đã hiến cho Ngân hàng Nhà nước tùy ý sử dụng vào bất cứ nhu cầu nào 246 kiện vàng, bạc và đá quý với tổng giá trị là 3 tỷ 467 triệu 135 nghìn 703 rúp 18 côpếch.
Số tiền trên có thể thêm vài chục rúp nữa, nhưng Vônca đã giữ lại ba đồng tiền vàng để bịt răng vàng cho bà nội...
Nhưng điều đáng kinh ngạc nhất đã xảy ra một phút sau đó. Thoạt tiên các con vật chở châu báu, sau đó những người chăn dắt con vật, rồi đến số châu báu được chở trên lưng các con vật ấy bỗng lắc lư, trở nên trong suốt như không khí và tan ra như hơi nước trong khoảng không. Một làn gió mát ban mai đã cuốn khỏi tay ông chủ nhiệm đang sửng sốt tờ giấy hiến của, thổi nó lên cao trên tòa nhà và mang đi về một hướng nào không rõ. Nhưng chẳng mấy chốc tờ giấy ấy đã bay qua cửa sổ mở, vào căn phòng Vônca Côxtưncốp đang ngủ tít thò lò, gắn vào cuốn vở mà nó vừa được xé ra và lại hoàn toàn không có một chữ nào trên đó.
Nhưng như vậy vẫn chưa phải là hết. Hoàn toàn không thể hiểu nổi tại sao chuyện đó lại xảy ra, nhưng cả các nhân viên chi nhánh Ngân hàng Nhà nước ở quận, cả các người hàng xóm cùng nhà Vônca, thậm chí cả Vônca nữa đều không một lần nào sau đó nhớ đến đoàn súc vật vận chuyển kỳ lạ nọ. Dường như có ai đó đã xóa sạch chúng khỏi trí nhớ của họ.

---
(1) Nguyên bản: “... trút như tuyết rơi xuổng đầu” - N.D.
(2) Tên gọi thân mật của ông Alếchxây - N.D.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-11-04 13:45:05Thái Nhi>
Ông già Khốttabít và Xiđôrêli

Ct.Ly hiệu đính


Trông ông già thật đáng thương. Suốt ngày, ông giấu mình trong bể nuôi cá, viện cớ hình như bệnh thấp khớp của ông lại tái phát. Dĩ nhiên đó là một lời giải thích phi lý, bởi vì đã bị bệnh thấp khớp mà còn chui xuống nước thì thật là ngớ ngẩn.
Ông Khốttabít nằm ở dưới đáy bể nuôi cá, chậm chạp ve vẩy những cái vây của mình và uể oải hớp nước. Lúc Vônca hay Giênia đến gần bể, ông già liền quay ngoắt đuôi về phía hai cậu bé một cách bất lịch sự và bơi lại thành bể đằng sau. Của đáng tội, những lúc Vônca không có mặt trong phòng, ông Khốttabít đều chui ra khỏi nước cho giãn xương giãn cốt đôi chút.
Nhưng vừa nghe thấy tiếng chân Vônca, ông liền lao tõm xuống nước, làm ra vẻ như ông không hề nghĩ đến chuyện rời khỏi đấy. Có lẽ ông đang ôm một nỗi đắng cay nào đó, nên Vônca chốc chốc lại khẩn khoản van nài ông lên khỏi mặt nước và đừng giận dỗi nữa. Quay đuôi về phía cậu bé, ông già vẫn nghe thấy tất. Nhưng chỉ cần cậu bạn trẻ tuổi của ông mở cuốn sách giáo khoa địa lý ra để chuẩn bị thi lại là ông đã nhô nửa người lên khỏi bể và đắng cay trách móc Vônca vô tình. Ông nghĩ bụng: sao Vônca lại có thể làm đủ chuyện vớ vẩn khi một ông thần già đến thế đang khốn khổ vì bệnh thấp khớp.
Nhưng Vônca vừa gấp cuốn sách giáo khoa, ông già lại quay ngoắt đuôi về phía nó. Cứ như thế cho đến tận tới 8 giờ, ông Khốttabít bỗng quẫy mạnh vây và nhảy xuống sàn nhà. Sau khi vắt sạch nước khỏi râu cằm và ria mép rồi nhanh chóng hong khô chúng bên chiếc quạt bàn kêu vù vù vui vẻ, ông lạnh lùng nói với Vônca đang mừng rỡ:
- Cậu làm ta rất giận vì việc cậu đã từ chối những món quà mọn của ta. May phúc cho cậu và may phúc cả cho ta nữa là ta đã hứa không giận cậu. Nhưng ta không giận cậu một chút nào chẳng phải chỉ vì ta đã hứa, mà còn vì ta hiểu ai là kẻ có lỗi thực sự về những nỗi phiền muộn mà cậu gây ra cho ta trong khi chính cậu lại không hề muốn như vậy. Những người dạy dỗ cậu, đó chính là cội nguồn của tai họa! Mụ Vácvara chứ không phải cậu - một cậu thiếu niên trẻ tuổi và thiếu kinh nghiệm - phải chịu hoàn toàn trách nhiệm trước ta về mọi nỗi cay đắng trong những ngày gần đây. Và ta sẽ trừng trị mụ Vácvara con gái của Xtêpan không xứng đáng ấy ngay bây giờ...
Ông Khốttabít rứt ngay một lúc 4 sợi râu: ông chuẩn bị làm cái gì đó thật khác thường.
- Ấy chết, ấy chết, ông Khốttabít yêu quý, ông Khốttabít thân mến! - Vônca nói ấp úng và níu lấy tay ông thần đã phát khùng. - Cô Vácvara không hề có lỗi trong chuyện này!... Lời nói danh dự của một đội viên thiếu niên tiền phong đấy?... Tất cả mọi chuyện đều do cháu...
- Không, mụ ta có lỗi, mụ ta có lỗi, mụ ta có lỗi! - Ông Khốttabít vừa nói lè nhè, vừa cố gỡ tay ra.
- Cô ấy không có lỗi, cô ấy không có lỗi, lời nói danh dự của một đội viên thiếu niên tiền phong, cô ấy không có lỗi!... - Vônca hoảng sợ cãi lại trong khi nó vội vã nghĩ xem có cách nào làm cho ông thần đã nổi xung này quên cô Vácvara đi. - Ông biết sao không?... Ông biết sao không?... - Cuối cùng, Vônca nghĩ ra - Ông cháu ta đi xem xiếc, ông nhé? Ôi, ông Khốttabít yêu quý, ông cháu ta đi xem xiếc đi! Cháu và Giênia không tài nào lấy được vé, còn ông thì làm việc đó dễ như trở bàn tay... Chỉ ông mới có thể giúp bọn cháu vào được rạp xiếc thôi... Ông là người có sức mạnh toàn năng, ông là người có sức mạnh toàn năng đáng kinh ngạc kia mà!...
Ông già rất tò mò, rất thích nịnh và cái chính là rất chóng nguôi giận, một điều khác hẳn với các ông thần khác.
- Cậu vừa dùng tiếng gì buồn cười, nghe như tiếng chim sẻ kêu thế? - Cặp mắt ông Khốttabít tò mò sáng lên. - Đó có phải là cái chợ bán vẹt và các giống chim lạ khác không? Cậu nên biết rằng ta vốn dửng dưng với loài chim. Từ lâu, ta đã xem vẹt chán cả mắt rồi.
- Ông nói gì thế. Xiếc còn lý thú hơn gấp nghìn lần ấy? Cháu xin nói là gấp nghìn lần, gấp triệu lần, gấp triệu triệu lần!...
Ông Khốttabít lập tức quên cô Vácvara. Cặp mắt ông sáng lên ánh say mê.
- Rất sung sướng và vui lòng, hỡi cậu Vônca. Cậu biết sao không? Chúng ta sẽ đi đến đấy bằng lạc đà, thậm chí tốt hơn hết là bằng voi. Cậu hãy tưởng tượng xem mọi người sẽ ghen tị với cậu như thế nào.
- Ấy chết, không đâu! Ông không cần phải bận tâm như thế - Vônca phản đối với vẻ vội vã đáng ngờ. - Tốt hơn cả là ông cháu ta sẽ đi trôlâybuýt, nếu như ông không sợ.
- Đi trôlâybuýt thì có gì đáng sợ - Ông già phật ý. - Đã 4 ngày nay, ta nhìn những cỗ xe bằng sắt ấy mà chẳng hề sợ tí nào.
Nửa giờ sau, Vônca, Giênia và ông Khốttabít đã có mặt ở Công viên Văn hóa và Nghỉ ngơi, bên lối vào rạp xiếc Sapitô.
Ông già chạy vào chỗ bán vé để xem cái vé vào rạp xiếc hình thù ra sao, thế là chẳng mấy chốc trong tay ba ông cháu bỗng xuất hiện những cái vé cứng, màu hồng nhạt có thể cho phép họ vào các chỗ ngồi còn trống.
Ba ông cháu đi vào rạp xiếc sáng trưng nhờ rất nhiều bóng đèn điện rực rỡ.
Ở một lô ngay sát vũ đài còn vừa đúng ba cái ghế trống, nhưng ông Khốttabít nhất mực không chịu ngồi chỗ đó. Ông nói:
- Ta không thể đồng ý để cho bất kỳ kẻ nào trong cái rạp này ngồi cao hơn ta và hai cậu bạn rất đáng kính của ta. Ngồi như vậy là hạ thấp phẩm giá của chúng ta.
Biết rằng tranh cãi với ông già cũng chẳng được tích sự gì, hai cậu bé đành phải bấm bụng ngồi chót vót ở hàng cuối cùng của khu ghế hạng nhì.
Chẳng mấy chốc, các nhân viên phục vụ vũ đài mặc bộ đồng phục màu huyết dụ có thêu kim tuyến đã chạy ra và xếp hàng hải bên lối vào vũ đài.
Người điều khiển chương trình cất giọng oang oang tuyên bố buổi biểu diễn bắt đầu, thế là một chị cưỡi ngựa phi ra vũ đài khắp người chị viền đầy những đốm sáng lấp lánh như ông già Nôen.
- Thế nào, ông có thích không ạ? - Vônca hỏi ông Khốttabít.
- Xem cũng thú đấy và khá vui mắt - Ông già dè dặt đáp.
Tiếp sau chị cưỡi ngựa là các diễn viên nhào lộn, sau các diễn viên nhào lộn là các anh hề, sau các anh hề là các chú chó con được tập luyện đã khiến ông Khốttabít tán dương một cách thận trọng, sau các chú chó là các diễn viên tung hứng và các diễn viên nhảy. Các diễn viên nhảy đã kết thúc phần một của buổi biểu diễn.
Thật là bực mình khi phải rời khỏi rạp xiếc nửa chừng, nhưng cuốn sách giáo khoa địa lý mới lật được mấy trang đầu tiên đang đợi Vônca ở nhà.
Vônca thở dài đánh sượt và thì thầm vào tai Giênia:
- Này, bây giờ mình phải về, còn cậu cố giữ ông già lại dù chỉ hai tiếng đồng hồ thôi. Xem xiếc xong, cậu hãy đi dạo với ông ấy, hay là...
Nhưng Giênia đã thì thầm nói giọng mũi rành rọt từng tiếng với vẻ đầy ý nghĩa:
- Cả ba chúng ta phải rời khỏi đây ngay, cả ba chúng ta... VÊ ÍCHXÌ đang ở đây, VÊ ÍCHXÌ đang ở đây!
Nói rồi, Giênia hất đầu hơi lộ liễu về phía lối đi bên cạnh.
Vônca ngoảnh lại và lạnh toát cả người: cô Vácvara Xtêpanốpna cùng với cháu gái 5 tuổi Irisa đang bước xuống các bậc dốc ngược ở lối đi bên cạnh để vào phòng giải lao.
Không ai bảo ai, hai cậu liền đứng phắt dậy và đứng ngay trước mặt ông già vẫn chẳng nghi ngờ gì để che không cho ông trông thấy cô giáo chủ nhiệm của mình.
- Ông biết không, ông Khốttabít, - Vônca khó khăn lắm mới thốt lên được, - Ông cháu ta đi về đi, ông nhé!... Hôm nay ở đây hoàn toàn chẳng có gì hay cả...
- À, đúng đấy. - Giênia lo cho cô Vácvara đến phát run như lên cơn sốt, nên hùa theo. - Ông cháu ta đi về đi... Chúng ta đi dạo trong công viên...
- Bậy nào, hỡi các cậu bạn trẻ tuổi của ta! - Ông Khốttabít hồn nhiên đáp. - Chưa bao giờ ta cảm thấy thích thú như khi ở trong cái nhà bạt quả là kỳ diệu này. Thôi, các cậu cứ về trước đi, còn ta sẽ quay về với các cậu ngay sau khi cuộc biểu diễn hết sức hấp dẫn này kết thúc.
Chỉ còn thiếu nước ấy nữa thôi: bỏ mặc cô Vácvara mặt đối mặt với ông thần căm ghét cô!
Dù thế nào đi chăng nữa, cũng phải thu hút sự chú ý của ông Khốttabít cho tới lúc bắt đầu phần hai của buổi biểu diễn. Lúc bấy giờ thì không thể rứt ông ra khỏi những gì đang diễn ra trên vũ đài. Nói tóm lại, phải hết sức gấp rút nghĩ ra một cách gì đó, nhưng Vônca vì quá lo cho cô Vácvara nên hoàn toàn quẫn trí. Thậm chí hai hàm răng nó còn đánh vào nhau côm cốp.
- Bây giờ thế này nhé, ông Khốttabít, - Cuối cùng không phải Vônca, mà là Giênia nghĩ ra, - Ông hãy chọn một trong hai thứ: hoặc là học, hoặc là không học!
Cả Vônca lẫn ông Khốttabít đều ngớ người nhìn Giênia.
- Cháu nói theo nghĩa như thế này, - Giênia giải thích cho cả hai ngươi, - Nếu chúng cháu đã thỏa thuận dạy cho ông biết chữ thì phải sử dụng từng phút rảnh rỗi để học. Cháu nói có đúng không, hả ông Khốttabít?
- Đức tính cần cù của cậu đáng được khen ngợi hết sức, hỡi cậu Giênia! - Ông Khốttabít cảm động đáp.
- Ông đang cầm trên tay bản chương trình buổi biểu diễn xiếc đấy, vậy ông cháu ta bắt đầu học ngay các chữ cái theo bảng chương trình ấy. Học tới lúc hết giờ giải lao thì thôi...
- Rất sung sướng và vui lòng, hỡi cậu Giênia!
Giênia mở bản chương trình ra và chỉ ngón tay vào chữ “A” bắt gặp đầu tiên.
- Đây là chữ “A”, ông hiểu chưa ạ?
- Ta hiểu rồi, hỡi cậu Giênia!
- Thế đây là chữ gì nào?
- Đây là chữ “A”, hỡi cậu Giênia!
- Đúng! Ông hãy tìm cho cháu chữ “A” trong tất cả các hàng chữ này.
- Đây là chữ “A”, hỡi cậu Giênia!
- Khá lắm! Còn đâu nữa ạ?
- Đây, đây nữa, ở đây nữa, ở đây nữa...
Ông Khốttabít học hết sức mải mê, không hề chú ý đến một chuyện gì khác nữa.
Tới lúc hết giờ giải lao, người xem lại ngồi vào chỗ của mình và đèn lại được bật sáng trưng, ông Khốttabít đã kịp học thuộc tất cả các chữ trong bảng chữ cái và đã biết đánh vần:
- “Nh-ào lộn tr-ên lư-ới nẩy...”
- Ông Khốttabít ơi, ông biết không, - Giênia reo lên với vẻ khâm phục thật sự, - ông có những khả năng hết sức tuyệt vời!
- Còn phải nói!... - Vônca tán thành. - Người anh em ạ, đây là ông thần rất tài ba mà thế gian chưa từng thấy!
Trong khi đó, ông Khốttabít vẫn say sưa đánh vần:
- “Đội các di-ễn vi-ên nh-ào lộn và nh-ảy dư-ới sự chỉ đạo của Philíp Bêlức...”. Các tiết mục này, chúng ta đã xem rồi. “Các bu-ổi bi-ểu di-ễn bu-ổi tối bắt đầu lúc hai mươi giờ. Các bu-ổi bi-ểu di-ễn ban ngày bắt đầu lúc mười hai giờ”. Hỡi các thầy giáo trẻ tuổi của ta, ta đã đọc hết cả bản chương trình, thế có nghĩa là bây giờ ta có thể đọc được cả báo?
- Dĩ nhiên!... Đúng thế! - Hai cậu bé xác nhận.
Vônca còn nói thêm:
- Bây giờ, ông cháu ra thử dọc hàng chữ chào mừng ở tấm băng treo trên bục biểu diễn của dàn nhạc nhé.
Nhưng đúng lúc ấy, một cô gái khoác tạp dề trắng đỏm dáng, tay bưng chiếc khay lớn, bước tới gần.
- Cụ có ăn kem không ạ? - Cô gái hỏi ông già và ông già đến lượt mình đưa mắt hỏi Vônca.
- Ăn đi ông Khốttabít, kem rất ngon. Ông ăn thử xem?
Ông Khốttabít ăn thử, thấy thích. Ông mời hai cậu bé cùng ăn và mua cho mình thêm một chiếc nữa, rồi lại một chiếc nữa và cuối cùng, vẫn còn thèm, ông đã mua của cô bán hàng (lúc đó đang sửng sốt nhìn ông) ngay một lúc toàn bộ số kem mà cô ta có: 43 chiếc tròn trịa bên trên phủ một lớp tuyết mềm mại. Cô gái hẹn sẽ quay lại lấy khay sau và cô đi xuống dưới, chốc chốc lại ngoái cổ nhìn ngườì mua kem kỳ lạ.
- A ha! - Giênia tủm tỉm cười. - Ông già đến vỡ bụng vì ăn kem mất thôi.
Chỉ trong khoảng 5 phút, ông Khốttabít đã chén sạch 43 chiếc kem. Ông ăn kem như ăn dưa chuột, liên tục cắn nhũng miếng lớn và nhai rau ráu một cách ngon lành. Ông nuốt hết miếng cuối cùng đúng vào lúc tất cả các đèn trong rạp xiếc lại bật sáng.
“Tiết mục... hỗn hợp... tuyệt vời!... Diễn viên các rạp xiếc quốc gia Aphanaxi Xiđôrêli!”
Mọi người trong rạp vỗ tay, dàn nhạc chơi khúc nhạc chào, thế rồi một diễn viên đứng tuổi, vóc người tầm thước, mặc áo khoác lụa xanh thêu hình rồng vàng bước ra vũ đài, tươi cười cúi chào tứ phía. Đó chính là Xiđôrêli lừng danh! Trong lúc các phụ tá của ông xếp trên chiếc bàn con bóng nhoáng tất cả những thứ cần thiết để làm trò ảo thuật đầu tiên, ông Xiđôrêli tiếp tục cúi chào và tươi cười. Lúc cười, trong miệng ông lấp lánh một chiếc răng vàng...
- Tuyệt! - Ông Khốttabít thì thầm với giọng ghen tị.
- Cái gì tuyệt hả ông? - Vônca vừa hỏi vừa ráng hết sức vỗ tay.
- Thật là tuyệt khi con người lại mọc răng vàng.
- Ông nghĩ sao? - Vônca mải theo dõi tiết mục đã bắt đầu lơ đãng hỏi.
- Ta tin vào chuyện đó. - Ông Khốttabít đáp. - Răng vàng rất đẹp và sang trọng.
Ông Xiđôrêli kết thúc trò ảo thuật đầu tiên.
- Cậu thấy thế nào? - Vônca hỏi Giênia với giọng như chính nó vừa làm trò ảo thuật ấy.
- Tuyệt! - Giênia khoái chí đáp và Vônca liền sửng sốt la to: mồm Giênia đầy răng vàng.
- Ôi Vônca, mình biết nói với cậu thế nào đây? - Giênia sợ hãi thì thầm. - Cậu đừng hoảng nhé: tất cả các răng của cậu đều biến thành vàng rồi.
- Đây hẳn là công trình của ông Khốttabít! - Vônca buồn bã nói.
Quả thật, sau khi lắng nghe hai cậu bạn nói chuyện với nhau, ông già gật đầu xác nhận và hồn nhiên toét miệng cười, để lộ hai hàng răng vàng to, đều dặn.
- Ngay cả vua Xalômông con trai của Đavít - cầu chúc cả hai vị đều bình an! - cũng chẳng có được những hàm răng vàng sang trọng như thế này! - Ông Khốttabít huênh hoang nói. - Chỉ có điều là các cậu đừng cám ơn ta. Ta cam đoan với các cậu rằng các cậu xứng đáng với món quà nhỏ bé này của ta.
- Phải, chúng cháu không cám ơn ông đâu! - Giênia hầm hầm nói.
Nhưng Vônca sợ ông già lại phát khùng, liền giật tay áo cậu bạn và Giênia đã kịp ngậm miệng.
- Ông Khốttabít, ông có hiểu không, - Vônca bắt đầu nói khéo, - nếu cùng một lúc cả ba ông cháu ta ngồi cạnh nhau mà toàn bộ răng đều biến thành vàng cả thì điều đó sẽ đập mạnh vào mắt mọi người. Mọi người sẽ nhìn chúng ta và chúng ta sẽ ngượng cho mà xem.
- Ta chẳng hề thấy ngượng nghiến gì cả! - ông Khốttabít nói.
- Nhưng dẫu sao thì chúng ta cũng cảm thấy khó chịu. Chúng ta sẽ mất hết cả hứng thú xem xiếc.
- Thế cậu tính sao?
- Chúng cháu yêu cầu ông thế này nhé: chừng nào chúng ta chưa về nhà, trong mồm chúng ta lại nên có những cái răng bằng xương bình thường.
- Ta khâm phục đức tính khiêm tốn của các cậu, hởi các cậu bạn trẻ tuổi của ta! - Ông Khốttabít nói với giọng hơi bực.
Hai cậu bé thở phào nhẹ nhõm khi cảm thấy trong mồm của mình lại có những cái răng tự nhiên như trước.
- Lúc bọn mình về nhà, răng bọn mình lại biến thành vàng thì sao? - Giênia lo lắng thì thầm.
Nhưng Vônca đã đáp khẽ:
- Được rồi, chúng ta sẽ tính sau... Có thể ông già sẽ quên chuyện răng.
Nói rồi, Vônca say sưa xem những trò ảo thuật vô cùng đặc sắc của Aphanaxi Xiđôrêli và cùng với mọi ngươi vỗ tay khi ông này lấy ra từ cái hòm rỗng hoàn toàn lúc đầu là một con chim bồ câu, sau đó là một con gà mái và cuối cùng là một chú chó trắng lông xù ngộ nghĩnh.
Trong cả rạp xiếc, chỉ có một khán giả không hề tỏ vẻ tán thưởng nhà ảo thuật một chút nào. Đó là ông Khốttabít.
Ông cảm thấy rất bực mình khi nhà ảo thuật được vỗ tay về đủ thứ trò vớ vẩn, còn ông từ lúc được giải thoát khỏi cái bình đã làm biết bao phép lạ mà chẳng lần nào được nghe thấy tiếng vỗ tay và ngay cả một lời tán thưởng chân thành cũng không có nốt.
Vì thế, khi nghe tiếng vỗ tay lại vang lên và ông Xiđôrêli bắt đầu cúi chào tứ phía, Gátxan Ápđurắcman con trai của Khốttáp hầm hừ buồn bã và mặc cho các khán giả phản đối, ông trèo qua đầu họ, xuống vũ đài.
Tiếng rì rầm hoan nghênh lan truyền khắp rạp xiếc. Một ông to béo nào đó nói với ngườí đàn bà ngồi bên cạnh:
- Anh đã bảo với em rằng ông già ấy đích thị là một tay hề. Rõ ràng đó là một tay hề rất có kinh nghiệm. Em xem, ông ấy làm điệu bộ mới tức cười làm sao! Đôi khi các tay hề cố tình ngồi lẫn trong chỗ khán giả.
May phúc cho người vừa nói là ông Khốttabít không nghe thấy gì, vì ông còn mải quan sát nhà ảo thuật Xiđôrêli. Đúng lúc ấy, ông này bắt đầu tiết mục đặc sắc nhất của mình với đủ thứ kiểu cách của diễn viên xiếc.
Trước tiên, nhà ảo thuật lừng danh châm lửa mấy băng giấy nhiều màu rất dài và nhét các băng giấy đó vào mồm mình. Sau đó, ông cầm cái tô lớn vẽ nhiều màu sặc sỡ, bên trong đựng một chất gì đó trông giống như mùn cưa rất nhỏ. Ngậm đầy mồm thứ mùn cưa đó, ông Xiđôrêli bắt đầu phe phẩy nhanh trước mặt mình chiếc quạt vàng rất đẹp.
Mùn cưa trong mồm bắt đầu cháy âm ỉ, sau đó xuất hiện một làn khói nhỏ, và cuối cùng, lúc đèn điện trong rạp xiếc đã tắt hết, mọi người nhìn thấy giữa bóng tối, từ mồm nhà ảo thuật lừng danh phụt ra những tia lửa và thậm chí còn có cả một ngọn lửa nhỏ nữa.
Lúc bấy giờ, giữa những tiếng vỗ tay và tiếng hoan hô nồng nhiệt, bỗng vang lên tiếng nói phẫn nộ của ông già Khốttabít:
- Các người bị đánh lừa rồi! - Ông ráng hết sức la thật to. - Đó chẳng phải là phép lạ phép liếc gì cả! Đó chẳng qua chỉ là sự khéo tay bình thường mà thôi!
- Đó chính là một tay hề! - Một ai đó trong đám khán giả reo lên với vẻ khâm phục. - Một tay hề tuyệt vời! Hoan hô tay hề!
Thế là tất cả đám khán giả, trừ Vônca và cậu bạn của nó, đều vui vẻ vỗ tay hoan hô ông Khốttabít.
Ông già không hiểu người ta nói về tay hề nào. Ông kiên nhẫn đợi cho tới lúc tràng pháo tay do sự xuất hiện của ông gây ra chấm dứt và ông tiếp tục nói với giọng châm chọc:
- Phải chăng đó là những phép lạ?! Ha ha ha!...
Ông Khốttabít gạt nhà ảo thuật đang sửng sốt qua một bên và mở đầu, ông liên tiếp phun ra từ mồm mình 15 ngọn lửa lớn muôn màu và khắp rạp xiếc lập tức nồng nặc mùi lưu huỳnh khét lẹt.
Sau khi thích thú nghe tiếng vỗ tay, ông Khốttabít liền búng ngón tay toanh toác thế là thay vào một ông Xiđôrêli lớn có 72 ông Xiđôrêli nhỏ, giống nhà ảo thuật lừng danh như hai giọt nước, nối tiếp nhau chạy trên cái bờ ngăn thấp vòng quanh vũ đài. Chạy được mấy vòng, các ông Xiđôrêli nhỏ lại nhập vào thành một ông Xiđôrêli lớn, cứ như nhiều giọt thủy ngân nhỏ nhập vào thành một giọt thủy ngân lớn vậy.
- Đấy vẫn chưa phải là hết đâu! - Ông Khốttabít hăng tiết trước sự tán thưởng của mọi người, bèn gào lên với giọng oang oang như sấm và bắt đầu lôi ra dưới vạt áo véttông cả một đàn ngựa đủ màu sắc.
Những con ngựa sợ hãi hí vang, giậm chân, lắc lư đầu, làm cho cái bờm dày óng ả tung bay. Sau đó, ông Khốttabít dùng tay ra hiệu, đàn ngựa liền biến mất, thế rồi từ dưới vạt áo véttông của ông già, 4 con sư tử Châu Phi to lớn vừa nối đuôi nhau nhảy ra, vừa gầm gừ hăm dọa và sau khi chạy vài vòng quanh vũ đài, các con sư tử cũng biến mất.
Tiếp đó, ông Khốttabít lại biểu diễn trong tiếng vỗ tay không ngớt.
Ông già phẩy tay một cái, thế là mọi thứ trên vũ đài: cả nhà ảo thuật Xiđôrêli và các phụ tá cùng những đạo cụ đủ loại của ông, cả các nhân viên phục vụ vũ đài ăn mặc đẹp đẽ và hùng dũng - tất cả những người và vật đó trong một khoảnh khắc đều bay vút lên, lượn mấy vòng từ biệt trên đầu đám khán giả đang thán phục, rồi lập tức tan biến trong khoảng không. Không biết từ đâu bỗng xuất hiện trên vũ dài một con voi Châu Phi đồ sộ có đôi tai to tướng và cặp mắt nhỏ vui vẻ, ranh mãnh. Trên lưng con voi này có một con voi nhỏ hơn, trên lưng con voi thứ hai là con voi thứ ba còn nhỏ hơn nữa, trên lưng con voi thứ ba là con voi thứ tư...
Con voi cuối cùng, thứ bảy, đứng gần sát mái vòm, trông chẳng lớn hơn chú chó bécgiê. Cả bảy con voi nhất loạt giơ cao vòi rống lên rồi như theo lệnh, chúng đập mạnh đôi tai buông thõng và bay đi, vẫy tai lia lịa chẳng khác gì con chim vẫy cánh.
Ba mươi ba nhạc công với những tiếng hò reo vui vẻ bỗng dồn lại thành một khối tròn lăn từ bục biểu diễn xuống vũ đài. Cái khối tròn ấy lại lăn trên bờ ngăn thấp chạy quanh vũ đài, vừa lăn vừa dần dần thu nhỏ lại cho tới lúc cuối cùng chỉ còn bằng một hạt đậu. Bấy giờ, ông Khốttabít bèn nhặt cái “hạt đậu” ấy lên, nhét vào tai phải của mình và từ trong tai phát ra tiếng nhạc hành khúc đã thu nhỏ lại rất nhiều.
Sau đó, khó khăn lắm mới đứng vững được vì bị kích động, ông già chẳng hiểu sao lại búng toanh toách các ngón ở cả hai tay một cách khác thường, thế là là tất cả khán giả đều lần lượt bị bắn tung khỏi chỗ ngồi của mình và biến mất đâu đó ở tít mái vòm.
Thế rồi cuối cùng trong cái rạp xiếc trống rỗng chỉ còn lại có 3 người: ông Khốttabít mệt mỏi ngồi bệt trên cái bờ ngăn thấp chạy quanh vũ đài, Vônca cùng với cậu bạn vừa từ hàng cuối cùng của khu ghế hạng nhì lăn lông lốc về phía ông già.
- Các cậu thấy thế nào? - Ông Khốttabít uể oải hỏi, khó khăn lắm mới ngóc đầu lên được và nhìn hai cậu bé bằng cặp mắt lờ đờ kỳ lạ. - Liệu lão Xiđôrêli có làm được những tiết mục như vậy cho các cậu xem không hả?
- Ông ấy thì làm sao mà bì với ông được - Vônca vừa đáp vừa bực tức nháy mắt với Giênia khi thấy cậu này vẫn còn chực hỏi ông già về một điều gì đó.
- Ta không thể nào chịu nổi những kẻ lừa bịp! - Ông Khôttabít bỗng nói với vẻ tức giận bất ngờ. - Ba cái trò khéo tay tầm thường mà dám nhận xằng là những phép lạ. Chẳng những thế mà lại còn dám nhận xằng ngay trước mặt ta!...
- Nhưng của đáng tội, ông ấy nào có biết ở đây có một vị thần hùng mạnh và thông minh đến thế đâu? - Giênia bênh vực nhà ảo thuật Xiđôrêli. - Vả lại, ông ấy không hề nói đó là những phép lạ. Ông ấy tuyệt nhiên chẳng nói gì cả.
- Người ta đã viết rành rành ra đấy thôi... Đấy, trong tờ chương trình ấy... Chính cậu dã tận tai nghe ta đọc: “Những phép lạ của kỹ xảo ảo thuật”.
- Đấy chỉ là ảo thuật thôi, ông ơi! Ảo thuật, ông phải hiểu như thế.
- Chà, người ta vỗ tay mới ghê làm sao! - Ông già đắc chí nhớ lại. - Ấy thế mà, hỡi cậu Vônca, ta vẫn chưa lần nào được nghe cậu bày tỏ một sự tán thưởng bình thường chứ đừng nói là vỗ tay nữa... Không, ta đã nghe, nhưng lần ấy cậu chỉ tán thưởng về một phép lạ hết sức, hết sức tẹp nhẹp nào đó mà thậm chí ta chẳng cho đó là một phép lạ... Và tất cả những chuyện ấy đều do mụ Vácvara quái ác mà ra! Chính mụ ấy đã dạy cậu coi thường các tài năng của ta! Đừng có mà phản đối, hỡi các cậu bạn trẻ tuổi của ta! Chính mụ ấy, chính mụ ấy!... Những tòa lâu đài kỳ diệu biết bao! Đoàn súc vật vận chuyển tuyệt vời biết bao!... Những tên nô lệ khỏe mạnh và trung thành biết bao!... Những con lạc đà trứ danh biết bao!... Ấy thế mà cái mụ quái ác Vácvara Xtê...
Nhưng đúng lúc ấy, may mắn thay cho cô giáo chủ nhiệm của hai nhân vật chính trẻ tuổi của chúng ta, tấm băng dài treo trên bục biểu diễn của đàn nhạc lọt ngay vào tầm nhìn của ông Khốttabít. Cặp mắt của ông trước đó lờ đờ, bây giờ đã lấy lại được vẻ tinh anh, miệng ông nở một nụ cười kín đáo, và với sự thích thú của người vừa mới học đọc, ông bèn đọc thành tiếng: “Các em thân mến! Chúc mừng các em nhân kết thúc năm học và chúc...”.
Chưa đọc hết hàng chữ chào mừng, ông già đã im bặt, nhắm mắt và tưởng như sắp bất tỉnh tới nơi.
- Thế ông có thể đưa tất cả khán giả về lại chỗ cũ không ạ? - Vônca hỏi ông Khốttabít với vẻ sợ hãi. - Ông Khốttabít, ông có nghe cháu nói không đấy? Alô!... Alô!... Ông Khốttabít ơi, ông có thể làm cho mọi thứ trở lại như cũ được không? Việc ấy chắc hẳn là khó lắm?
- Không, chẳng khó đâu... Tức là đối với ta thì dĩ nhiên là chẳng khó. - Ông Khốttabít trả lời rất khẽ.
- Vậy mà không hiểu sao cháu lại cảm thấy rằng ngay cả ông cũng chẳng làm nổi các phép lạ ấy. - Vônca láu lỉnh nói.
- Làm nổi quá đi chứ! Nhưng chẳng hiểu sao ta lại rất mệt.
- Đấy cháu đã bảo mà, ông chẳng đủ sức làm nổi đâu...
Thay cho câu trả lời, ông Khốttabít ì ạch đứng dậy, rứt luôn 13 sợi râu, ngắt vụn những sợi râu ấy ra, rồi thét lên một câu gì đó kỳ lạ, rất dài và bị kiệt sức, ông già ngồi bệt ngay xuống lớp mùn cưa rải trên vũ đài.
Ngay lập túc, từ dưới mái vòm, các khán giả vui mừng vô hạn lao vun vút xuống và ngồi vào đúng chỗ theo vé đã mua. Nhà ảo thuật Xiđôrêli cùng với các phụ tá và những đạo cụ của ông, các nhân viên phục vụ vũ đài, dẫn đầu là người điều khiển chương trình hùng dũng cũng hiện ra trên vũ đài như từ dưới đất chui lên vậy.
Cả 7 con voi châu Phi đều bay trở lại, tai đập phành phạch, hạ xuống vũ đài và lại xếp chồng thành hình tháp. Nhưng lần này, đứng dưới cùng lại là con voi nhỏ nhất, còn ở trên cao sát mái vòm là con voi lớn nhất, con voi có cặp mắt nhỏ, vui vẻ, ranh mãnh. Sau đó, cái hình tháp voi rời ra và 7 con voi nối đuôi nhau chạy vùn vụt quanh vũ đài, vừa chạy vừa thu nhỏ lại rất nhanh cho tới lúc chỉ còn bằng cái đầu kim găm và hoàn toàn mất hút trong lớp mùn cưa.
Dàn nhạc bé bằng hạt đậu từ trong tai phải của ông Khốttabít lăn ra, lớn vụt thành một khối người cười ha hả vui vẻ rồi trái với định luật vạn vật hấp dẫn, cả khối người to tướng ấy lăn ngược lên bục biểu diễn và rã ra ở đấy thành 33 con người riêng biệt, những người này ngồi vào chỗ và khúc nhạc chào lại vang lên...
- Xin phép quý vị!... Xin quý vị cho tôi đi nhờ! ... - Một người gầy gò đeo kính gọng sừng cố lách qua đám đông thích thú đang vây chặt xung quanh ông già Khốttabít. - Thưa đồng chí! - Người này lễ phép nói với ông Khốttabít. - Xin đồng chí làm ơn quá bộ vào phòng làm việc của đồng chí giám đốc. Đồng chí phụ trách Liên đoàn các rạp xiếc quốc gia muốn trao đổi với đồng chí về một loạt cuộc biểu diễn tại Mátxcơva và tại các rạp xiếc ở địa phương.
- Xin ông hãy để cho ông già được yên! - Vônca bực tức nói. - Chẳng lẽ ông không thấy ông già đang bị bệnh sao? Thân nhiệt ông già đã lên cao rồi đấy.
Quả thực, ông Khốttabít đang sốt nặng.
Ông già đã chén đẫy kem mà!
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-10-25 16:27:33Thái Nhi>
Bệnh viện dưới gầm giường

Ct.ly Hoàn tất


Những ai chưa bao giờ phải trông nom một ông thần bị bệnh, ắt không thể hình dung nổi việc chữa bệnh cho ông già vất vả và phiền toái như thế nào.
Trước tiên, nảy ra vấn đề: để ông già nằm ở đâu?
Không thể đưa một ông thần vào bệnh viện, còn để ông ấy nằm khơi khơi ở nhà cũng chẳng được.
Thứ hai, chữa bệnh cho ông ta như thế nào?
Y học chỉ nhằm chữa bệnh cho người trần mắt thịt, chứ không phải cho các ông thần trong truyện cổ tích.
Thứ ba, bệnh của các ông thần có lây sang người hay không?
Cả ba vấn đề trên, hai cậu bé sẽ thảo luận kỹ càng khi chúng đưa ông Khốttabít đang mê sảng từ rạp xiếc trở về nhà bằng xe tắcxi.
Cuối cùng, chúng đã quyết định:
1. Không đưa ông Khốttabít vào bệnh viện, mà để ông nằm dưới gầm giường của Vônca với tất cả những tiện nghi có thể có, sau khi đề nghị ông biến thành vô hình cho được an toàn.
2. Chữa bệnh cho ông như chữa bệnh cho người bị cảm lạnh. Ban đêm cho uống thuốc átpirin, uống nước trà với mứt đũm hương để ra nhiều mồ hôi.
3. Bệnh của các ông thần có lẽ không lây sang người.
May thay, ở nhà không có ai cả. Hai cậu bé đã yên ổn đặt ông Khốttabít nằm vào cái chỗ quen thuộc của ông ở dưới gầm giường.
Giênia chạy ra hiệu thuốc mua átpirin và tới cửa hàng thực phẩm mua mứt đũm hương. Còn Vônca thì đi xuống bếp nấu nước pha trà.
- Trà đã pha xong rồi đây! - Vônca vui vẻ nói khi nó từ bếp quay lại với ấm trà cầm trên tay. - Ông cháu ta uống trà, ông Khốttabít nhé!
Ông Khốttabít không trả lời.
- Ông chết mất rồi? - Vônca kinh hoàng và nó bỗng cảm thấy rằng bất kể mọi chuyện khó chịu mà ông Khốttabít đã gây cho nó, nó vẫn rất thương xót nếu như ông già chết. - Ông Khốttabít thân yêu! - Vônca lắp bắp và quỳ xuống, chui vào gầm giường.
Nhưng chẳng thấy ông già ở dưới gầm giường.
- Ông già kỳ cục thật! - Vônca lúc ấy nổi khùng, sau khi đã quên ngay những tình cảm trìu mến của mình. - Vừa mới nằm ở đây, ấy thế mà đã kịp biến đi đâu mất?
Không biết Vônca còn nói những lời cay đắng nào nữa về ông già nếu như lúc ấy Giênia không bước huỳnh huỵch vào phòng và lôi xềnh xệch ông Khốttabít theo sau mình. Ông già không chịu và lầu bầu một câu gì chẳng mạch lạc.
- Ông già lẩm cẩm quá xá! Không, cậu không tưởng tượng được ông già lẩm cẩm đến mức độ nào đâu! - Giênia giúp người bệnh vào nằm dưới gầm giường và nói với vẻ tức giận. - Lúc mình trên đường về, mình thấy ông Khốttabít đứng ở góc phố, tay cầm một túi vàng và đang cố giúi bằng được cái túi vàng ấy cho một người qua đường. Mình hỏi ông ấy: “Ông làm gì ở đây trong khi ông đang bị sốt cao?”. Ông ấy trả lời mình: “Ta cảm thấy ta sắp chết đến nơi rồi. Ta muốn nhân dịp này đi phân phát của bố thí”. Nghe vậy, mình mới bảo ông ấy: “Ông lẩm cẩm quá ông ơi! Ông định phân phát của bố thí cho ai nào? Ở nước chúng cháu, ông thấy đâu có những người ăn mày?”. Lúc đó, ông ấy nói với mình: “Vậy thì ta đi về nhà!”. Thế là mình dẫn ông ấy về... Nằm nghỉ đi, ông già thân mến, hãy ráng bình phục, ông chẳng chết đâu mà sợ?...
Hai cậu bé cho ông Khốttabít uống một liều thuốc átpirin rất lớn, cho ông ăn cả một hộp mứt đũm hương và uống kèm nước trà, rồi sau khi đắp chăn kín mít để ông ra được nhiều mồ hôi trong đêm, chúng bắt ông đi ngủ.
Nằm yên được một lúc, ông già đã bắt đầu lo lắng và toan dậy để đi đến gặp vua Xalômông con trai của Đavít nhằm xin lỗi về những chuyện bực mình xa xưa nào đó. Sau đó, ông lại khóc lóc van nài Vônca chạy đến Địa Trung Hải và Ấn Độ Dương để tìm dưới đáy hai biển ấy cái bình đồng, trong đó giam cầm người em thân yêu của ông là Ôma Iuxúp con trai của Khốttáp, giải thoát ông ta khỏi nơi giam cầm và dẫn ông ta về đây.
- Cả hai ta mà được sống bên nhau ở đây thì tuyệt biết chừng nào! - Ông già vừa lẩm bẩm trong cơn mê sảng, vừa tuôn rơi những giọt nước mắt nóng hổi.
Nửa tiếng sau, ông già hồi tỉnh và từ dưới gầm giường, ông nói với giọng yếu ớt:
- Hai các cậu bạn trẻ tuổi của ta, ngay cả các cậu cũng không thể hình dung được ta biết ơn các cậu ra sao về tình yêu và sự quan tâm quý báu của các cậu đối với ta! Xin các cậu hãy làm ơn giúp ta một việc nữa: các cậu hãy trói tay ta lại cho thật chặt, nếu không lúc lên cơn sốt, ta lại phù phép gì đó mà sau này ta sợ rằng chính ta cũng đành phải bó tay, hối cũng không kịp nữa.
Hai cậu bé trói ông già lại và ông lập tức ngủ say như chết.
Sáng hôm sau, lúc thức dậy, ông Khốttabít hoàn toàn khỏe mạnh.
- Thế có nghĩa là chúng ta đã chữa chạy kịp thời! - Giênia nói với vẻ mãn nguyện và cu cậu đã quyết định dứt khoát rằng sau khi tốt nghiệp trường trung học, sẽ thi vào trường đại học Y khoa.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-11-04 13:47:28Thái Nhi>
Trong chương này chúng ta hãy quay về một chốc với cậu bé sủa gâu gâu
Ct.Ly hiệu đính

Thành thực mà nói, mỗi lần Vônca nhớ tới Gôga, nỗi ghen tị lại bắt đầu hành hạ nó. Mà lúc ở nhà, hoặc ở đầu cầu thang, hoặc ở trong cái sân nằm gần cổng, khó mà không nhớ tới Gôga được. Thậm chí qua cửa ra vào khóa trái, thậm chí qua các cửa sổ đóng kín, thỉnh thoảng vẫn vọng ra tiếng chó sủa hấp dẫn, tuyệt vời đến kỳ diệu.
Quả là cũng ngạc nhiên khi thấy Gôga không chịu ló mặt ra sân. Ở địa vị Gôga, dĩ nhiên chẳng một chú bé nào chịu giữ lâu như thế mà không đưa ra khoe với các bạn chú chó con tốt giống thực sự ấy. Hẳn là Gôga đang đắc chí trước sự ghen tị của các bạn.
Không, ở đây ắt phải có một chuyện gì đó.
Cuối cùng, không chịu nổi, Vônca bèn hỏi bà Natalia tại sao chẳng thấy mặt mũi Gôga đâu cả.
Bà Natalia chẳng hiểu sao lại hết sức bối rối và bà ấp úng trả lời rằng Gôgôtrơca (1) hơi bị mệt.
Bà nói ấp úng và lập tức vội vã đi về nhà mình.
- Bác Natalia Cudiminhitrơna! - Vônca gọi với theo bằng giọng van nài. - Cháu xin hỏi bác một câu, chỉ một câu thôi ạ!
Bà Natalia dừng lại rất miễn cưỡng.
- Bác Natalia, xin bác cho cháu biết chó bécgiê phải không ạ?
- Chó bécgiê nào? - Người đàn bà tội nghiệp nhún vai.
- Con chó con mà bác mua tặng Gôga và nó vẫn sủa gâu gâu ở trong nhà bác là chó bécgiê hay chó bốcxơ ạ?
- Trời ơi, sao cháu lại nói nhảm nhí thế? - Bà Natalia thở dài và lẩn ngay vào nhà mình.
Và thật như trêu người, từ trong đó lập tức vang lên tiếng sủa gâu gâu nhanh, cao và rất tức tối. Toàn bộ chuyện này có tính chất hết sức bí ẩn.
Thêm vào đó, ông Khốttabít, theo lệ thường vẫn nằm nghỉ dưới gầm giường của Vônca, lại đặt một câu hỏi tựa hồ bâng quơ:
- Chẳng hiểu cái thằng thù địch với cậu tên là “Thuốc viên” đang sống ra sao?
Ông già nóng lòng muốn khoe với Vônca lời nguyền độc đáo của mình và cùng với Vônca thích thú trước cái tai họa mà Gôga đã phải gánh chịu một cách đích đáng. Ông kiêu hãnh nghĩ: “Không một ai có thể giải được lời nguyền đó một khi ta chưa cho rằng đã đến lúc có thể giải. Ta hình dung lời nguyền đó sẽ làm cậu Vônca con trai của Aliôsa rát đáng kính thích thú như thế nào và cậu ấy sẽ khâm phục trước những phép lạ thiên hình vạn trạng của ta ra sao!”.
- “Thuốc viên”? - Vônca lơ đãng hỏi lại và nó bỗng nảy ra một ý định rất giản dị và hấp dẫn. - Chà, “Thuốc viên”! “Thuốc viên” bị ốm vặt gì đó thôi... Ông Khốttabít này... - Vônca ngồi xổm và chui đầu vào gầm giường để tiến hành thương lượng cho tiện hơn. - Cháu rất muốn yêu cầu ông giúp cho một việc.
“Lại bắt đầu rồi!”, ông thần già bực tức nghĩ thầm. Ông nghĩ rằng Vônca định yêu cầu ông giải lời nguyền cho Gôga và ông quyết định sẽ từ chối thẳng thừng, ít ra là trong thời gian trước mắt. Chẳng sao cả, cứ để cho cái thằng đơm đặt chuyện và hay hớt lẻo ấy bị khổ sở đôi chút. Việc đó chỉ có lợi cho nó mà thôi..
Nhưng ông Khốttabít vẫn rầu rĩ nói thành tiếng:
- Ta rất sung sướng nếu được biết cậu muốn yêu cầu gì.
- Cháu muốn yêu cầu ông cho cháu một món quà.
Ông già mừng rỡ khi thấy không phải là chuyện ân xá trước thời hạn cho Gôga. Ông nhanh nhẹn chui ra khỏi gầm giường:
- Hỡi vị cứu tinh trẻ tuổi và không vụ lợi của các ông thần, cậu hãy nói cậu muốn có món quà gì, cậu sẽ được nhận món quà ấy ngay lập tức.
- Ông có thể cho cháu một con chó không ạ. Một con chó bécgiê.
- Một con chó? Không có gì dễ hơn và ta rất lấy làm vui lòng.
Ông Khốttabít liền rứt một sợi râu, thế là Vônca đã lịm người đi vì khâm phục: một con chó bécgiê 3 tuổi tuyệt vời, xương xương, chắc lẳn đang nằm duỗi mình dưới chân cậu bé, miệng gừ gừ thân mật. Con chó có cặp mắt lanh lợi, thông minh, cái mũi lạnh và ướt, đôi tai nhọn tuyệt đẹp. Vônca vuốt ve đầu nó. Con chó vẫy đuôi lễ phép và khoái chí sủa vang cả nhà.
- Con chó ấy có làm cậu vừa lòng không hả? - Ông Khốttabít hể hả chạy tới chạy lui và chỉ cần Vônca yêu cầu một tiếng nữa thôi, ông sẵn sàng làm cho cả căn phòng, cả căn hộ và cả khu nhà này đầy nhóc những con chó quý nhất. - Chà, cậu hãy tha lỗi, ta quên béng mất một cái đồ vặt.
Cái “đồ vặt” mà ông muốn nói là cái cổ dề bỗng xuất hiện ở cổ con chó bécgiê. Những viên đá quý gắn trên cái cổ dề nhiều tới mức có thể thừa sức gắn trên hai chiếc vương miện (2).
Vônca ngây người vì cái diễm phúc mà nó được hưởng. Nó chỉ còn biết dùng bàn tay run run vuốt ve con chó và đồng thời mỉm cười bối rối đến nỗi ông già đa cảm phải xúc động tới rớt nước mắt.
Nhưng trên đời chẳng có một diễm phúc nào trọn vẹn cả ít ra cũng là khi dính dáng đến những quà tặng của các ông thần. Ngoài cửa bỗng có tiếng chân đàn bà, ông Khốttabít chỉ kịp trốn vào gầm giương và biến thành vô hình thì cánh cửa đã mở toang và bà Xvétlana, mẹ của Vônca, bước vào.
- Mẹ nghĩ đúng thế mà! - Bà nói sau khi thấy con chó mà ông thần già vì quá vội vã đã không kịp biến thành vô hình. - Con chó!... Mẹ muốn biết con lấy đâu ra con chó này...
Vônca cảm thấy nguy đến nơi rồi.
- Đấy là con... Đấy là người ta cho con... Mẹ hiểu không... Con biết nói với mẹ thế nào bây giờ...
Nói thật thì mẹ chẳng thể nào tin nổi. Còn nói dối thì Vônca không muốn. Vả lại, đó cũng là một việc tuyệt vọng: mẹ có thể biết nó nói dối ngay thôi.
- Vônca! - Bà cất cao giọng. - Mẹ không thích con cứ nói lúng búng như thế. Con hãy nói thẳng: con chó bécgiê này của ai?
- Không của ai cả ạ... Tức là trước đây nó không của ai cả, còn bây giờ là của con.
Bà Xvétlana đỏ bừng mặt vì tức giận:
- Chẳng lẽ con lại hạ mình tới mức nói dối sao? Hãy trả lời: con chó của ai? Chỉ riêng cái cổ dề của nó thôi đã đáng giá thành chục rúp rồi...
Bà ngỡ rằng cái cổ dề được trang điểm bằng những mảnh thủy tinh màu.
Bấy giờ, ở dưới gầm giường, ông Khốttabít tức ra trò. Tức và rất phật ý! Ông rất muốn nói cho người đàn bà đáng kính nhưng ngây thơ ấy hiểu rằng Gátxan Ápđurắcman con trai của Khốttáp chẳng phải là hạng người đem tặng những mảnh thủy tinh rẻ tiền cho các người bạn tốt của mình, rằng cái cổ dề thật sự rất quý ấy đáng giá không phải hàng chục rúp, mà là nhiều nghìn rúp. Nhưng ông đã kịp thời kìm lại được. Ông đã hiểu được rằng việc khoe khoang như vậy chỉ càng làm cho tình cảnh của Vônca rắc rối thêm mà thôi.
Là người chân thật và thẳng thắn, ông Khốttabít không thể không tán thành việc Vônca không muốn nói dối, cho dù là một sự nói dối vô hại nhất, và ông hiểu rằng lối thoát duy nhất là phải xóa sạch toàn bộ sự hiểu lầm ấy bằng một cách dứt khoát nhất.
“Thôi được!”, ông vừa mỉm cười vừa nghĩ thầm. “Cậu bạn tốt bụng và chân thật của ta đành phải không có chó riêng trong một thời gian nữa... Và cứ để cho cậu ta khổ sở tới một mức nào đó vì cái ước mơ có một con chó riêng vậy!”.
Từ gầm giường phát ra một tiếng “tưng” rất khẽ, thế là con chó liền biến mất, dường như nó chưa hề xuất hiện bao giờ.
- Valiôtrơca (3), nếu các bác ở Đảng ủy hay bác Xécgây gọi điện thoại đến, con nói rằng một tiếng rưỡi nữa mẹ sẽ về. - Bà Xvétlana dặn Vônca sau khi bà đã quên sạch câu chuyện vừa nói. - Luôn tiện mẹ hỏi, con có biết ông bác sĩ vừa vào căn hộ số 37 thăm bệnh cho ai không?
- Có lẽ là Gôga ạ.
- Gôga bị bệnh ư?
- Hình như thế ạ.
- Sao lại hình như?... Chẳng lẽ Gôga không phải là bạn của con sao?
- Đúng là bạn ạ!...
- Mẹ xấu hổ thay cho con đấy, cậu đội viên thiếu niên tiền phong trẻ tuổi Côxtưncốp! - Bà Xvétlana nói xong, quay lưng đi ra khỏi phòng với bộ mặt nặng nề.
- Chao ôi, - Vônca thở dài rầu rĩ và quyết định qua thăm Gôga ngay sau khi ông bác sĩ ra về. - Ông Khốttabít ơi ông Khốttabít!
Từ dưới gầm giường không có tiếng trả lời.
- Ông già lại biến đi đâu mất rồi! - Vônca lầu bầu bực tức. - Nhè lúc cần hỏi ý kiến, ông ấy lại biến mất tiêu. Hừ, thần với thiếc...
Trong lúc ấy, ông Khốttabít đã thu xếp xong một chỗ nằm thuận tiện tại căn hộ số 37, ở ngay dưới gầm giường của cu cậu Gôga đang bị một chứng bệnh hết sức kỳ lạ. Ông tò mò muốn nghe xem vị bác sĩ già sẽ vò đầu bứt tai bất lực như thế nào trong việc tìm kiếm một cách giải quyết đúng đắn. Dĩ nhiên, ông bác sĩ này không hề biết mình sắp phải đương đầu với một đối phương khác thường và hùng mạnh đến mức nào.
Thế rồi trong khi Vônca lợi dụng sự vắng mặt của ông Khốttabít, đang ngồi đọc cuốn sách giáo khoa địa lý, còn ông thần già đang dấu mình dưới gầm giường của Gôga, thì đã xảy ra những chuyện như sau tại một căn phòng của căn hộ số 37. Trong căn phòng ấy, trên những chiếc gối cao, đang nằm một bệnh nhân kỳ lạ nhất trong tất cả các bệnh nhân của ông bác sĩ già ở Trạm Cấp cứu. Người ta vẫn thường gọi ông là Alếchxanđrơ Alếchxêêvích. Đó là một bác sĩ giàu kinh nghiệm và rất từng trải. Chúng tôi cố ý nhấn mạnh tên ông để nếu một lúc nào đó các bạn có gặp ông ấy, các bạn biết ngay rằng đó là một bác sĩ chân chính.
- Thưa bà Natalia Cudiminhitrơna, xin bà hãy để cho tôi nói chuyện riêng với cậu Gôga. - Ông bác sĩ ân cần nói với mẹ Gôga vẫn không nguôi lo sợ. - Tôi cần bàn với cậu ấy đôi điều.
Lúc trong phòng chỉ còn lại hai người là ông bác sĩ và Gôga (dĩ nhiên không kể ông Khốttabít đang nấp dưới gầm giường), ông bác sĩ nói:
- Thế nào, ngươi trẻ tuổi, tình hình ra sao? Vẫn gâu gâu à?
- Không thoát được? - Gôga rên rỉ.
- Thế đấy! Thôi được, nếu vậy thì chúng ta sẽ nói chuyện với nhau nhé. Cậu có thích thơ không nào?
- Gâu gâu gâu! - Tiếng sủa lại phát ra từ mồm Gôga, làm cho bà Natalia đang nấp cạnh lỗ khóa ở bên kia cửa lại trào nước mắt.
Các bạn có thể hình dung rằng Gôga định trả lời câu hỏi của ông Alếchxandrơ. Câu hỏi ấy làm cho Gôga phát cáu. Nó cho đó là một câu hỏi vớ vẩn, không cần thiết.
Nhưng tiếng sủa của Gôga không hề làm ông bác sĩ già ngạc nhiên và buồn bực.
- Cậu đừng cáu! - Ông nói với giọng hết sức ôn tồn. - Câu nói ấy có liên quan trực tiếp tới chứng bệnh của cậu đấy.
- Cháu thích bài “Bão táp mịt mù”... - Cuối cùng, Gôga đáp, sau khi đã sủa mỏi mồm. - “Bão táp mịt mù che phủ bầu trời”, thơ của Puskin.
- Yêu cầu cậu đọc cho tôi nghe bài thơ đó. Cậu thuộc chứ?
Gôga bắt đầu đọc:
“Bão táp mịt mù che phủ bầu trời
Và cuốn lên cao những cơn lốc tuyết
Lúc nghe như tiếng thú gào thảm thiết
Lúc nghe như tiếng kêu khóc trẻ thơ...”
- Thôi đủ rồi! - Ông Alếchxanđrơ ngắt lời Gôga. - Bây giờ, cậu hãy làm ơn nói cho tôi biết ý kiến của cậu về một người bạn cùng lớp với cậu, chẳng hạn như cậu bạn ấy ở trường học hành ra sao?
- Về Vônca Côxtưncốp ấy à?
- Đúng thế!
- Gâu gâu gâu! - Gôga sủa luôn một tràng chối tai.
- Cậu hãy diễn đạt bằng lời và chỉ bằng lời mà thôi.
- Gâu gâu gâu! - Gôga vừa đáp vừa vung tay bất lực. Tự hẳn nó muốn nói rằng nó rất lấy làm sung sướng nếu diễn đạt được bằng lời, nhưng nó không thể nào nói nên lời được.
- Tôi hiểu... Đủ rồi... Đủ rồi, tôi bảo mà!... Thế! Nào, còn các bạn khác trong lớp của cậu thi sao?
- Trong lớp cháu ấy ạ? - Bệnh nhân Gôga cười gằn. - Nếu ông muốn biết thì cháu xin nói rằng trong lớp cháu, tất cả bọn bạn đều gâu gâu gâu!
- Thế còn về tôi, cậu có ý kiến gì không? Cậu nói đi nào, đừng có ngại. Cậu có ý kiến gì về một bác sĩ như tôi?
- Về một bác sĩ như ông ấy ạ? Nếu nói về một bác sĩ thì cháu nghĩ ông quả là gâu gâu gâu!
- Khá lắm! - Ông Alếchxanđrơ vui mừng hết sức thành thực. - Nào, thế còn về mẹ cậu, cậu có ý kiến gì?
- Mẹ cháu là người rất tốt! - Gôga nói, và bà Natalia đứng ở ngoài cửa lại trào nước mắt, nhưng lần này là những giọt nước mắt sung sướng. - Chỉ đôi khi mẹ cháu gâu... - Gôga giật mình và ngưng nói. - Không, nói chung, mẹ cháu bao giờ cũng là một người rất tốt.
- Nào, thế về tờ báo tường của lớp cậu, hẳn là cậu cũng có ý kiến chứ? - Ông bác sĩ già hỏi chỉ cốt sau này khỏi phải ân hận. Ông đã hiểu thực chất căn bệnh hiếm có ở người mới bệnh trẻ tuổi của ông. - Thỉnh thoảng cậu cũng bị đưa ra phê bình ở đấy chứ?
Lần này, Gôga sủa gâu gâu hai phút liền. Ông Khốttabít nấp dưới gầm giường nghe phát chán cả tai. Còn ông Alếchxanđrơ thì lại thích thú với tiếng sủa ấy, dường như chẳng phải Gôga Piliukin - bị đặt biệt danh là Philiulia (Thuốc viên) vì tính nết tồi tệ của nó - đang sủa gâu gâu, mà là một ca sĩ trứ danh nào đó đang hát một khúc ca hay nhất trong vốn tiết mục của mình. Sau khi để mặc cho Gôga sủa chán chê, ông Alếchxandrơ xoa tay hài lòng.
- Ban điều tra đã rõ tất cả rồi. - Ông nói. - Bà Natalia Cudiminhitrơna, xin mời bà vào phòng!
Bà Natalia bước vào và dùng chiếc khăn tay ướt đẫm lau đôi mắt đỏ ngầu.
Ông Alếchxandrơ mời bà ngồi, rồi nói:
- Xin báo để bà biết rằng suốt cả dêm qua, tôi không hề chợp mắt. Tôi ngồi đọc các sách y học và suy nghĩ. Trong các sách chuyên môn, tôi không hề tìm thấy một trường hợp nào giống như trường hợp con trai bà.
Bà Natalia tội nghiệp lo sợ kêu ối lên một tiếng. Ông bác sĩ già ngăn bà lại và nói tiếp:
- Bà chớ vội buồn, bà Natalia Cudiminhitrơna thân mến! Sự việc chưa đến nỗi đáng sợ lắm đâu. Tôi đọc, đọc miết... Rồi suy nghĩ, suy nghĩ hoài... Và sau đó, dĩ nhiên là không thể nào ngủ dược. Cũng chẳng có gì đặc biệt, vì người già vốn như vậy. Để lãng quên những ý nghĩ của mình, tôi cầm tập truyện cổ tích Truyện nghìn lẻ một đêm và đọc luôn chuyện một lão phù thủy, hay nói cho đúng hơn là một lão thần, đã biến một kẻ mà lão không ưa thành một con chó. Lúc bấy giờ, tôi nghĩ rằng nếu trên thế gian này còn có những ông thần (ông Khốttabít nấp dưới gầm giường lấy làm phật ý) và nếu một trong số ông thần ấy muốn trừng phạt một đứa bé nào đó chẳng hạn về tội nó hay đơm đặt chuyện, hớt lẻo, nói xấu nhũng người thân của mình thì ông thần đó có thể phát ra một lời nguyền rằng đứa bé ấy sẽ sủa gâu gâu mỗi khi nó muốn nói những lời lẽ xấu xa. Vừa rồi, tôi và cậu con trai của bà đã nói chuyện cởi mở với nhau. Thì ra cậu ấy không hề sủa khi đọc thơ Puskin, gần như không hề sủa khi nói về bà, bà Natalia Cudiminhitrơna ạ. Trong lúc đó lại sủa gần như liên hồi khi nói về các bạn học của mình và về tờ báo tường của lớp, trên tờ báo tường đó có lẽ các bạn học thỉnh thoảng vẫn phê bình cậu ấy... Bà hiểu ý của tôi chứ? Hình như tôi đã diễn đạt khá rõ?
- Bác sĩ cho rằng... - Bà mẹ Gôga trầm ngâm kéo dài giọng.
- Đúng thế! Dĩ nhiên, trên đời này không thể có một ông thần nào cả (ông Khốttabít phật ý và lần này thì phật ý ghê gớm). Nhưng ở cậu con trai của bà có một chấn thương tâm thần rất đặc biệt. Với tất cả trách nhiệm của mình, tôi phải nói với bà rằng từ nay trở đi, cậu ấy sẽ sủa gâu gâu...
- Trời ơi! - Người đàn bà tội nghiệp vung tay hoảng sợ.
-... Sẽ sủa gâu gâu mỗi khi cậu ấy định đơm đặt chuyện hoặc hớt lẻo, nói chung là mỗi khi cậu ấy định nói những lời lẽ không hay. Và lúc bấy giờ, mọi người sẽ gọi cậu ấy không phải là Gôga Piliukin mà là Gâugâu Piliukin. Lúc cậu ấy lớn lên, người ta sẽ không gọi cậu một cách kính trọng là Ghêoócghi Vaxiliêvích, mà sẽ gọi là Gâugâu Vaxiliêvích, dĩ nhiên là chỉ gọi sau lưng thôi. Bà thấy đấy, cậu con trai của bà có thể lâm vào một tình cảnh rất bi đát. Nhưng nếu cậu ấy nhất quyết tự đề ra cho mình một nguyên tắc là không hớt lẻo, không đơm đặt chuyện, không làm mất uy tín của những người tốt thì tôi xin đem đầu mình ra cam đoan với bà rằng cậu ấy sẽ vĩnh viễn hết sủa.
- “Gâugâu Vaxiliêvích”! - Bà Natalia tội nghiệp hoảng sợ. - Mới chỉ nghĩ thôi đã cảm thấy ghê rợn rồi! Tôi quả là không thể chịu đựng nổi chuyện đó... Còn thuốc men thì sao ạ? Có thể bác sĩ vẫn cứ cho cháu một thứ thuốc nào đó chăng?
- Thuốc men chẳng giúp ích được gì cả. Thế nào, ngươi trẻ tuổi, thử làm theo cách của tôi chứ?
- Làm như thế thì cháu sẽ hoàn toàn không sủa nữa? - Gôga hỏi.
- Mọi chuyện bây giờ chỉ tùy thuộc ở cậu thôi, người trẻ tuổi ạ!
- Thế có nghĩa là sẽ không cần toa thuốc? - Thấy ông Alếchxanđrơ định ra về, bà Natalia hỏi lại.
- Đó chính là toa thuốc của tôi. Một toa thuốc duy nhất đúng đắn. Vả lại, có thể kiểm tra xem. Nào, bây giờ cậu hãy nói vài lời đúng đắn về cậu bạn Vônca của cậu. Tôi xin lưu ý cậu rằng chỉ nói những lời đúng đắn thôi đấy nhé.
- Nói chung, dĩ nhiên Vônca Côxtưncốp là một thiếu niên tốt. - Gôga nói ngập ngừng cứ như nó lần đầu tiên tập nói vậy. - Đúng thế ạ, thưa bác sĩ, đó là một cậu bạn đáng yêu! Lần đầu tiên sau buổi thi môn địa lý, cháu không sủa khi nói về Vônca. Hoan hô! Hoan hô!
- Thế trong buổi thi ấy đã xảy ra chuyện gì đặc biệt nào? - Ông bác sĩ già hỏi như là tiện thể thì hỏi vậy thôi.
- Quả là chẳng có chuyện gì đáng đem đi rêu rao cả. Thiếu gì điều có thể xảy ra một cậu bé bỗng nhiên bị bệnh do quá mệt. - Gôga đã trả lời với vẻ vững tin hơn nhiều.
- Thôi, tôi đi đây. - Ông bác sĩ già nói. - Tôi còn phải đến thăm cả chục ngươi bệnh thực sự. Gôga, thế là cậu đã hiểu vấn đề là ở chỗ nào rồi chứ?
- Cháu hiểu rồi ạ! Ôi, cháu đã hiểu rồi! Lời nói danh dự của một đội viên thiếu niên tiền phong! Xin cám ơn bác sĩ!
- Tốt lắm! Bây giờ cậu hãy cố làm theo điều cậu hiểu! Chúc bà và cậu mạnh khỏe!
*
Vài giây sau, khi ông thần già chui vào chỗ quen thuộc của mình ở dưới gầm giường của Vônca với vẻ mặt rất đăm chiêu. Vônca hỏi xẵng:
- Ông biến đi đâu thế?
- Hãy nghe ta nói, hỡi cậu Vônca! - Ông già nói với vẻ trịnh trọng khác thường ngay cả đối với ông ta. - Ta vừa chứng kiến một trường hợp quả là chưa từng có, khi mà một người trần mắt thịt lại giải được lời nguyền của một ông thần. Thật thế, đó là một con người rất thông minh và rất công bình. Ông ta công bình đến nỗi ta không hề nghĩ đến chuyện trừng phạt ông ta về việc ông ta đã không tin vào sự tồn tại của ta... Cậu định đi đâu vậy?
- Cháu phải đi thăm Gôga. Cậu ấy bị bệnh mà cháu chẳng thăm nom gì thì thật là tệ.
- Cậu đi đi! - Ông thần già nói. - Cậu đi thăm người bạn học của mình đi, mặc dù cậu ấy không còn bị bệnh nữa.
- Không bị bệnh nữa? Cậu ấy đã hoàn toàn bình phục rồi hả ông?
- Bây giờ chuyện đó hoàn toàn tùy thuộc ở chính cậu ta. - Ông Khốttabít nói và sau khi dẹp được lòng tự ái của mình, ông đã kể cho Vônca nghe câu chuyện độc nhất vô nhị về việc cậu bé bị phù phép đã được một ông thầy thuốc bình thường chữa khỏi như thế nào.

---
(1) Tên gọi thân mật của Gôga - N.D.
(2) Mũ của nhà vua - N.D.
(3) Tên gọi âu yếm khác của Vônca - N.D.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-11-04 13:49:17Thái Nhi>
Ông già Khốttabít và mixtơ Hari Oanđenđalét

Ct.Ly hiệu đính

Sau bữa ăn sáng, ông Khốttabít khoan khoái ngồi sưởi nắng và nói với Vônca:
- Hỡi cậu Vônca may mắn, ta luôn luôn tặng cậu những món quà mà theo ý ta là quý báu và lần nào những món quà đó cũng chẳng vừa lòng cậu. Có lẽ bây giờ chúng ta làm thế này nhé: tự cậu nói cho ta biết cậu và cậu bạn trẻ tuổi Giênia của chúng ta thích ta tặng món quà gì, ta sẽ rất lấy làm hân hạnh và sung sướng tặng ngay các cậu món quà ưa thích đó.
- Vậy thì ông hãy tặng cháu một cái ống nhòm đi biển loại lớn. - Vônca đáp ngay, chẳng cần suy nghĩ.
- Ta sẽ tặng cậu với tất cả nỗi niềm sung sướng và mến yêu.
- Cháu cũng muốn có một cái ống nhòm. Dĩ nhiên là nếu có thể được. - Giênia rụt rè nói.
- Chẳng có gì dễ hơn thế!
Thế rồi cả ba ông cháu kéo đến cửa hàng đồ cũ.
Cửa hàng nằm tại một đường phố nhỏ, ngắn ngủn và ồn ào ở ngay trung tâm thành phố. Trong cửa hàng, người mua đông nghẹt.
Những người bạn của chúng ta khó khăn lắm mới len được tới quầy hàng bán đủ thứ linh tinh, chẳng tài nào phân loại nổi bởi vì nếu phân loại thì mỗi thứ hàng lại phải có một quầy hàng riêng.
- Hỡi cậu Vônca đáng mến, cậu hãy chỉ cho ta xem cái ống nhòm mà các cậu ưa thích ấy hình thù ra sao. - Ông Khốttabít vui vẻ nói, nhưng ông bỗng tái mặt và run cầm cập như lên cơn sốt.
Ông đau đớn nhìn hai người bạn trẻ tuổi của mình rồi khóc òa và nói với chúng bằng một giọng trầm trầm rùng rợn: “Vĩnh biệt các cậu bạn thân thiết của lòng ta!”. Sau đó, ông đi về phía một người nước ngoài ăn mặc sang trọng, tóc bạc, mặt đỏ. Vừa đi ông vừa dùng cùi chỏ chen lấn đám đông và đến quỳ ngay trước người nước ngoài nọ.
- Ngài hãy ra lệnh đi, bởi vì tôi là kẻ nô lệ ngoan ngoãn và hiền lành của ngài! - Ông Khốttabít nuốt nước mắt rồi nói và cố hôn vạt áo véttông của người nước ngoài.
- Không được mó vào người ta! - Người nước ngoài hét lên bằng thứ tiếng Nga trọ trẹ. - Không được mó vào người ta, nếu không ta sẽ vả vào mặt ngươi bây giờ. Ngươi là một tên móc túi! Ngươi muốn moi chiếc ví của ta! Thật là nhục nhã!
- Ngài lầm rồi, hởi ông chủ của tôi! - Ông già đáp và vẫn quỳ - Tôi chờ đợi các mệnh lệnh của ngài để thực hiện ngay lập tức và không điều kiện.
Từ sau quầy hàng, người bán hàng nói với ông Khốttabít bằng một giọng trách móc:
- Ông già kia, thời buổi này mà còn đi ăn xin thì thật là xấu hổ!
- Như vậy, tôi có phải trả bao nhiều cái nhẫn (1) xấu này? - Người nước ngoài bực tức tiếp tục cuộc nói chuyện đã bị ông Khốttabít phá ngang.
- Chỉ có 10 rúp 71 côpếch thôi. - Người bán hàng đáp. - Dĩ nhiên đây chỉ là một món đồ lâu lâu mới có.
Những người bán hàng ở các cửa hàng đồ cũ đã nhăn mặt mixtơ (2) Hari Oanđenđalét. Ông ta vừa từ Niu Yoóc tới với tư cách là một thương gia đi du lịch.
Lúc rảnh rỗi, Oanđenđalét thường lân la đến các cửa hàng đồ cũ, những mong mua được món đồ có giá trị nào đó bằng cái giá rẻ mạt.
Mới đây.thôi, ông ta đã mua được với giá rất hời nửa tá tách uống trà của nhà máy sứ mang tên Lômônôxốp. Và ngay bây giờ, đúng vào lúc ông già Khốttabít khốn khổ đến quỳ trước mặt Oanđenđalét, nhà du lịch người Mỹ này đang hỏi giá một chiếc nhẫn đã ngã màu vì thời gian. Người bán hàng cho rằng đây là một chiếc nhẫn bạc, còn Oanđenđalét thì cho rằng chiếc nhẫn làm bằng bạch kim.
Mua được chiếc nhẫn rồi, Oanđenđalét nhét nó vào túi áo gilê. Ông Khốttabít liền vội vã đi theo nhà du lịch người Mỹ, vừa đi ông vừa lấy tay quệt những hàng nước mắt đầm đìa trên khuôn mặt nhăn nheo, ngăm ngăm đen. Lúc chạy ngang qua hai người bạn trẻ của ông. Ông già chỉ kịp nói mấy câu:
- Than ôi, ta vừa thấy cái ông ngoại quốc tóc bạc kia cầm trong tay chiếc nhẫn thần của vua Xalômông con trai của Đavít - Cầu chúc cả hai vị đều bình an. Còn ta là nô lệ của chiếc nhẫn đó và ta phải đi theo người làm chủ chiếc nhẫn đó, xin vĩnh biệt hai cậu bạn của ta! Ta sẽ luôn luôn nhớ tới các cậu với lòng biết ơn và yêu mến...
Mãi đến lúc này, khi đã chia tay ông Khốttabít mà không hẹn ngày gặp lại, hai cậu bé mới hiểu được chúng đã gắn bó với ông già tới mức nào. Buồn bã và lầm lì, chúng rời khỏi cửa hàng đồ cũ, thậm chí chẳng buồn ngó ngàng đến ống nhòm nữa. Cả hai đi về phía bờ sông, là nơi trong thời gian gần đây hầu như ngày nào chúng cũng gặp nhau để chuyện trò tâm sự. Chúng nằm khá lâu ở trên bờ, ngay cạnh nơi mà gần đây Vônca đã tìm được cái bình gốm phủ đầy rêu, bên trong nhốt ông Khốttabít. Hai cậu bạn nhớ lại những thói quen tức cười nhưng dễ thương của ông già và mỗi lúc một tin chắc rằng xét cho cùng, tính tình của ông rất dễ chịu và hiền lành.
- Nói cho đúng ra, chúng ta đã chẳng coi trọng ông Khốttabít. - Giênia buồn bã thở dài.
Vônca trở mình, muốn đáp lại Giênia một câu gì đó, nhưng nó chẳng đáp mà lại dừng phắt dậy và lao vào giữa vườn hoa ở bên bờ sông:
- Hoan hô!... Ông Khốttabít đã trở lại! Hoan hô-ô!
Quả thực, Gátxan Ápđurắcman con trai của Khốttáp đang bước lại gần hai cậu bé với dáng đi tất tả, hơi lập cập của người già. Ông đeo lủng lẳng trên vai hai cái bao da màu đen và màu nâu, bên trong dựng ống nhòm đi biển loại lớn.

---
(1) Cái nhẫn. Câu này và tất cả các câu sau, người nước ngoài nói sai cách và sai giọng. Khi dịch, chúng tôi vẫn giữ nguyên cách nói sai đó. - N.D.
(2) Tiếng Anh: ông, ngài - N.D.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-11-04 13:51:24Thái Nhi>
Gátxan Ápđurắcman con trai của Khốttáp kể lại những chuyện ông đã gặp phải sau khi ra khỏi cửa hàng đồ cũ

Ct.Ly hiệu đính

- Hỡi các cậu bạn trẻ tuổi của ta, các cậu phải biết rằng những chuyện ta đã gặp rất là ly kỳ, đặc biệt. Ta muốn các cậu ngồi ngay cạnh ta trong lúc ta kể lại cho các cậu nghe đầu đuôi câu chuyện và nói cho các cậu rõ tại sao ta lại có mặt ở đây.
Số là khi lão ngoại quốc mặt đỏ bước ra khỏi cửa hàng đồ cũ, lão ta cho người tài xế lái xe hơi về trước, còn lão thì đi bộ để tiêu bớt đôi chút lớp mỡ bao bọc dày dặc cái thân hình mập ú của lão ta. Lão đi nhanh tới mức khó khăn lắm ta mới có thể theo kịp. Ta đã đuổi kịp lão ở một phố khác và ta đã quỳ ngay trước mặt lão mà kêu lên: “Hãy cho tôi đi theo ngài, hỡi ông chủ của tôi!”.
Nhưng lão ngoại quốc nọ không thèm nghe ta nói và vẫn cứ đi tiếp. Mười tám lần ta đuổi kịp lão, mười tám lần ta phủ phục trước mặt lão và mười tám lần lão để mặc ta quỳ gối khom lưng, đồng thời giận dữ quát lên: “Cút đi! Ngươi là một tên cướp già!”.
Thế rồi lão dùng chân đạp ta, mà ta thì không thể làm gì được lão bởi vì lão có trong tay chiếc nhẫn thần của vua Xalômông và ta sợ làm cho lão nổi cơn thịnh nộ. Thấy chẳng có cách nào tránh được việc phải di theo lão, thế là ta đành phải đi theo lão sát gót. Còn lão thì lại ngỡ rằng ta muốn xin tiền lão và lão ta kêu lên rằng lão chẳng mang theo một xu nào cả, mặc dù ta không hề xin tiền lão ta.
Lão đánh ta chí tử mỗi khi vắng người. Lúc bấy giờ ta sợ hãi, miệng ta khô rang vì hoảng sợ ghê gớm và ta chẳng còn trông mong sẽ sống sót nữa. Khi ấy, ta khóc như cha chết, đến nỗi nước mắt ướt đẫm cả quần áo.
Ta và lão ngoại quốc cứ đi như thế cho tới khi đến cửa nhà lão. Ta muốn đi vào đấy theo lão, nhưng cái lão ngoại quốc dữ tợn ấy đã dùng tay đẩy ngực ta và hét lên: “Ngươi không được mò vào nhà ta, nếu không ta sẽ gọi công an bây giờ!”.
Ta bèn hỏi lão: “Lẽ nào tôi lại phải đứng ở cửa nhà ngài cho đến tận tối?”. Và lão ta đáp: “Dẫu ngươi có đứng đến sang năm cũng mặc xác!”.
Thế là ta đành phải đứng ở gần cửa nhà lão ngoại quốc ấy bởi vì lời nói của người làm chủ chiếc nhẫn của vua Xalômông là một đạo luật đối với ta. Ta đứng như thế một lúc cho tới khi nghe tiếng động mạnh ở trên đầu ta và cánh cửa sổ ngay trên đầu ta mở toang ra. Lúc bấy giờ, ta ngước mắt lên và thấy một mụ đàn bà gầy đét, cao nghều, mặc áo dài lụa màu xanh, xuất hiện trong khung cửa sổ. Mụ ta cất tiếng cười dữ dằn và khinh mạn. Phía sau lưng mụ, ta trông thấy lão mặt đỏ trông có vẻ thiểu não. Mụ đàn bà bảo lão với giọng nhạo báng: “Than ôi, tôi đã lầm to khi lấy ông làm chồng 14 năm về trước! Ông chỉ là một gã bán hàng tạp hóa tầm thường và suốt đời vẫn chỉ vậy mà thôi! Trời ơi không phân biệt nổi chiếc nhẫn bạc thổ tả với chiếc nhẫn làm bằng bạch kim!... Ôi, nếu ông bố đã quá cố của tôi biết được chuyện này!”.
Thế rồi mụ ta liệng ngay chiếc nhẫn xuống mặt đường và đóng sầm cửa sổ lại. Trông thấy cảnh đó, ta liền té xỉu, bởi vì nếu chiếc nhẫn trắng của vua Xalômông bị liệng xuống đất thì có thể xảy ra những tai họa khủng khiếp. Nhưng sau đó ta mở mắt ra và tin chắc rằng ta vẫn còn sống, xung quanh chẳng xảy ra một tai họa nào cả. Lúc bấy giờ, ta hết sức vui mừng bởi vì qua việc này, ta đã kết luận rằng ta có thể cho mình là một người may mắn.
Thế rồi lúc ấy ta bèn đứng phắt dậy, cảm tạ số phận của mình, rồi nhặt lấy chiếc nhẫn và ba chân bốn cẳng chạy đi tìm các cậu, những người bạn trẻ tuổi của ta, sau khi đã một công đôi việc xoay được hai món quà mà các cậu vẫn ước ao. Đấy là tất cả những chuyện mà ta có thể kể.
- Cứ như trong truyện cổ tích ấy! - Giênia reo lên với giọng thán phục khi ông già kết thúc câu chuyện của mình. - Vậy cháu có thể cầm trên tay chiếc nhẫn thần ấy được không hả ông?
- Được quá đi chứ! Cậu hãy đeo chiếc nhẫn vào ngón trỏ ở bàn tay trái rồi sau đó vừa xoay nó, vừa nói to điều ước của mình. Điều ước sẽ được thực hiện ngay lập tức.
- Thế kia ư! - Giênia lại tỏ vẻ khâm phục rồi đeo nhẫn, xoay nhẫn rồi nói to: - Tôi muốn có ngay lập tức một chiếc xe đạp!
Cả ba ông cháu đứng lặng đợi chờ. Nhưng chiếc xe đạp vẫn chẳng thấy hiện ra.
Giênia nhắc lại lần nữa, còn to hơn:
- Tôi muốn có ngay lập túc một chiếc xe đạp! Có ngay bây giờ!
Chiếc xe đạp vẫn bướng bỉnh chẳng chịu hiện ra.
- Có lẽ chiếc nhẫn bị trục trặc gì đó. - Vônca nói rồi cầm lấy chiếc nhẫn trên tay Giênia và bắt đầu xem xét kỹ lưỡng.
- Này, mặt bên trong có khắc chữ gì đó!... Chữ Nga! - Vônca nói và đọc chậm từng chữ: - “Catia, em hãy đeo cho mạnh khỏe. Vaxia Cucuxkin. 2-5-1916”.
Đăng nhập để trả lời
0
«« « 1 2 3 » »»