7.
“Khi còn bé,” Muriel kể, “tôi không thích lũ chó tẹo nào, hay là bất cứ con vật nào khác cũng thế. Tôi nghĩ chúng có thể đọc được suy nghĩ của tôi. Ba mẹ tặng cho tôi một con chó con nhân dịp sinh nhật và nó cứ nghếch cái đầu lên, anh biết ba mẹ tôi làm gì không? Nghếch đầu nó lên và hướng đôi mắt tròn xoe long lanh của nó nhìn tôi. Thế là tôi rú lên. ‘Ối! Đem nó đi khỏi đây đi! Ba mẹ biết con đâu có chịu được khi bị nhìn trừng trừng như vậy.’”
Cô có giọng nói oang oang vang vọng tứ hướng. Lúc rít lên, lúc lại hạ xuống thành một âm thanh làu bàu cáu cẳn. “Họ đã phải đem nó sang cho một thằng nhó hàng xóm và mua cho tôi một món quà hoàn toàn khác, một ống quấn tóc mà tôi cực thích.”
Cô và Macon đang đứng ngay lối vào phòng lớn. Cô vẫn còn mặc áo khoác – dài cỡ ba phần tư thân người, vai bồng, màu đen, thớ vải thô ráp – kiểu còn sót lại của những năm 1940. Edward lại ngồi đằng trước cô như được bảo. Nó đón cô nơi cửa với bộ dạng như thường lệ, nhảy loi choi và gầm gừ, nhưng cô cứ thế đi qua, chỉ vào mông nó bảo ngồi xuống. Nó ngoác mõm nhìn cô. Cô với tay qua, chĩa ngón trỏ nhọn dài vào mông nó và ấn xuống.
“Giờ anh toóc lưỡi đi, như thế này này,” cô vừa bảo Macon, vừa toóc toóc lưỡi. “Nó sẽ biết toóc lưỡi như thế có nghĩa là khen ngợi. Và khi tôi nắm chặt tay thế này – anh thấy không? Có nghĩa là nó phải ở yên đó.”
Edward ngồi yên, nhưng cứ chốc chốc lại rên ư ử, khiến Macon liên tưởng đến tiếng reo đều đều từ ấm đu cà phê. Muriel giả bộ như chẳng nghe thấy. Cô bắt đầu giảng giải kế hoạch huấn luyện và rồi chẳng rõ sao lại chuyển sang kể lể về đời tư. Nhưng chẳng lẽ con Edward chưa được phép đứng lên bây giờ sao? Cô ấy còn bảo nó phải ngồi yên bao lâu nữa chứ?
“Tôi biết hẳn là anh đang tự hỏi tôi thì cần gì phải ra tiệm uốn tóc nữa trong khi tóc tôi đã xoăn tít như thế này rồi,” cô nói. “Cứ như là một nùi giẻ lau sàn cũ rích! Nhưng quả thật tóc tự nhiên của tôi không phải vậy. Tóc tôi thật ra thẳng cực kỳ và dài lắm cơ. Thỉnh thoảng tôi thấy thất vọng về nó. Nó có màu vàng hoe khi tôi còn bé, anh có tin được không? Vàng như tóc công chúa trong chuyện cổ tích ấy. Người ta bảo mẹ tôi rằng chỉ cần bà uốn tóc lên là tôi sẽ trông rất giống Shirley Temple (1), thế nên mẹ tôi đã làm vậy đấy, bà đã cuộn tóc tôi vào mấy cái vỏ lon nước cam. Tôi cũng có mắt màu xanh lơ nữa, và chúng cứ xanh mãi một thời gian đến là lâu, lâu hơn hầu hết những đứa bé cùng tuổi khác. Người ta nghĩ mắt tôi sẽ cứ xanh như thế mãi và còn bảo tôi đi đóng phim đi nữa chứ. Nói nghiêm túc đấy! Mẹ tôi phụ trách biên soạn nhạc cho một trường dạy nhảy Thiết hài khi tôi mới chập chững. Không ai có thể ngờ được rằng giờ tôi lại khốn khổ với mái tóc của mình như thế này.”
Edward lại kêu van. Lướt mắt qua Macon, Muriel nhìn vào tấm kính cửa sổ phía sau anh. Cô khum tay đỡ mái tóc, dường như để kiểm tra trọng lượng của nó, “Nghĩ xem sẽ như thế nào nhỉ,” cô nói. “Bừng tỉnh giấc vào một buổi sáng và thấy tóc mình đã biến thành màu đen. Chắc mẹ tôi chết mất, tôi nói thật đấy. Một cô Muriel già nua, tẻ nhạt, tầm thường, với đôi mắt màu nâu đục vài mái tóc đen như quạ.”
Macon biết rằng anh nên xen vào một lời bình phẩm gì đấy cho phải phép, nhưng anh thấy quá lo cho Edward nên chỉ có thể ậm ừ cho qua chuyện. Rồi anh lên tiếng, “Giờ ta chưa cho nó đứng được sao cô?”
“Đứng lên hả? Ồ, con chó à. Một phút nữa thôi,” cô nói. “Có ai buộc nó phải ngồi yên thế luôn đâu. Tóc tôi xoăn tít thế này là do tôi đã ra tiệm uốn nó lên đấy – tôi yêu cầu họ uốn kiểu lọn to. Anh đã nghe nói tới kiểu tóc này bao giờ chưa? Chỉ cần gợn sóng một chút thôi, nhưng họ đã làm sai mất khâu nào hay sao ấy. Chắc anh nghĩ điều này tệ thật phải không nào. Nếu tôi chải thì thể nào nó cũng nảy bung lên cho mà xem. Tôi nói thật đấy. Giống y như tóc giả ấy, chẳng phải ta vẫn gọi thế hay sao? Thế nên thậm chí chải bằng bàn chải tóc thôi tôi cũng chịu, không thể làm được. Sáng mai ngủ dậy là cứ để nguyên thế ra ngoài luôn. Chúa ơi, tôi thật chẳng thích nói tới cái mớ tóc rối này tí nào.”
“Hay cô dùng lược chải xem,” Macon gợi ý.
“Không thể nào chải bằng lược được đâu anh. Thế nào mấy cái răng lược bé xíu cũng gãy mất thôi.”
“Hay là cô dùng loại lược dày người da đen hay dùng xem sao.”
“Tôi hiểu ý anh nhưng thật ngớ ngẩn khi đi mua cái loại ấy.”
“Sao lại thế?” Macon hỏi. “Chúng được bày bán đầy chợ. Cô đừng nghĩ quá lên như vậy. Mua sữa, bánh mì hay gì đó với mua một chiếc lược dày thì cũng giống nhau cả thôi.”
“À, tôi nghĩ anh nói đúng đấy,” cô nói, nhưng lúc này khi đã lôi kéo anh vào được câu chuyện thì cô lại thấy mất hứng thú với vấn đề của chính mình. Cô bật ngón tay đánh tách phía trên đầu con Edward, “Được rồi đó!” cô nói. Edward nhảy bật lên và sủa vang. “Tốt lắm,” cô bảo nó.
Thật ra, mọi việc tiến triển tốt đến nỗi Macon cảm thấy có chút gì đó bất ổn. Không thể nào lại dễ dàng như thế được, anh muốn nói như vậy. Edward tiến bộ một cách nhanh chóng, giống như cái răng đau của ta tự nhiên không còn gây đau đón gì nữa ngay giây phút ta bước vào phòng đợi nha sĩ vậy.
Muriel kéo dây đeo ví khỏi vai, đặt chiếc ví lên bàn ở phòng lớn và lôi ra một sợi dây dài màu xanh da trời nối với một sợi xích cổ. “Nó phải luôn đeo cái này,” cô nói. “Lúc nào cũng đeo cho đến khi huấn luyện xong. Bằng cách này anh có thể kéo nó lùi lại mỗi khi nó định gây chuyện. Sợi dây giá tròn sáu đô, xích cổ thì hai đô chín mươi lắm xu. Tính cả thuế nữa là, để coi, chín đô bốn mươi xu. Anh có thể trả cho tôi vào cuối buổi học.”
Cô tròng xích cổ qua đầu Edward. Rồi cô ngừng lại để săm soi một cái móng tay. “Nếu tôi bị gãy một cái móng tay nữa là tôi la toáng lên đấy,” cô nói. Cô lùi lại một bước và chỉ vào mông con Edward. Sau một chút ngần ngừ, nó cũng chịu ngồi xuống nghiêm trang, đĩnh đạc, chẳng giống gì với thường ngày cả. Nhưng khi cô bật ngón tay đánh tách một cái, nó lại nhảy dựng lên bất kham như cũ.
“Giờ anh thử đi,” Muriel bảo Macon.
Macon đón lấy sợi dây và chỉ ngón tay vào mông con Edward. Edward vẫn đứng không nhúc nhích. Macon chau mày và chỉ vào mông nó với ánh mắt nghiêm nghị hơn. Anh cảm thấy hơi lố bịch. Edward biết, nếu người phụ nữ này không rat ay, thì Macon có làm cũng như không.
“Ấn nó xuống.” Muriel nói.
Anh long ngóng dựng chiếc nạng vào lò sưởi và gập người một cách khó nhọc để ấn mạnh Edward xuống bằng một ngón tay. Con Edward chịu ngồi. Macon toóc toóc lưỡi. Rồi anh gượng thẳng người lên, lùi lại, nắm chặt tay, thế nhưng thay vì ngồi yên Edward lại đứng bật dậy vào nhào theo anh. Muriel huýt gió qua kẽ răng, nó chùn bước lại. “Nó coi mặt anh đấy,” Muriel nói.
“À, tôi biết điều đó,” Macon nói nhanh.
Chỗ chân gãy bắt đầu nhói lên.
“Thật ra tôi chẳng thích chơi với chó mèo gì cả đâu, dù khi còn nhỏ hay khi đến tuổi trưởng thành,” Muriel nói. Có phải cô định để Edward ngồi yên luôn như thế không nhỉ? “Rồi độ hai năm trước tôi đọc thấy mẩu quảng cáo trên báo, Hãy kiếm thêm tiền lúc rảnh rỗi. Bạn thích làm việc ít hay nhiều là tùy ở bạn. Ấy là một công ty chuyên huấn luyện chó tại nhà. Doggie, Do – tên công ty đấy. Anh không ghét cái tên đó chứ? Nó khiến tôi liên tưởng đến… Nhưng mặc, tôi vẫn đến xin việc, ‘Thật lòng tôi không ưa gì các con vật,’ tôi nói vậy nhưng ông Quarles, giám đốc công ty, bảo tôi rằng điều đó chả sao. Ông ta còn bảo chính những người cưng thú quá mới gặp rắc rối.”
“À, cũng có lý,” Macon nói, đưa mắt sang con Edward. Anh từng nghe đâu đó rằng nếu chó mà ngồi lâu như thế sẽ bị đau lưng.
“Thế rồi đâm ra tôi thành học trò cưng của ông ta. Có vẻ như tôi có một cái uy gì đó đối với các con vật. Thế rồi tôi được nhận vào làm ở Meow-Bow. Trước đó, tôi làm ở Rapid-Eze Copy Center và tin tôi đi, tôi còn muốn thay chỗ làm nữa cơ. Chị kia là ai đấy anh?”
“Chị nào?”
“Cái chị tôi vừa nhìn thấy đi qua nhà bếp ấy.”
“Rose đấy.”
“Vợ cũ của anh à? Hay ai?”
“Em gái tôi.”
“Ồ, em gái anh!”
“Nhà này của cô ấy,” Macon nói.
“Tôi cũng không sống cùng ai,” Muriel bảo anh.
Macon chớp mắt. Chẳng phải anh vừa nói rằng anh đang sống cùng em gái hay sao?
“Có những khi đêm đã muộn rồi mà tôi thì lại thấy muốn đến phát cuồng lên được trò chuyện với ai đó, thế là tôi gọi đến trung tâm báo giờ,” Muriel nói. “Khi nghe tiếng tút sẽ là mười một giờ… bốn mươi tám. Và năm mươi giây.’” Giọng cô nghe thật chả nhớt. “ ‘Khi nghe tiếng tút sẽ là mười một giờ… bốn mươi chín. Chính xác.’ Anh có thể cho nó đứng lên được rồi đấy.”
“Sao cơ?”
“Cho con chó đứng lên được rồi.”
Macon bật tay đánh tách và Edward đứng bật dậy, sửa ăng ẳng.
“Anh thì sao?” Muriel hỏi. “Anh sống bằng nghề gì?”
Macon nói, “Tôi viết cẩm nang du lịch.”
“Cẩm nang du lịch! Anh may mắn thật đấy.”
“May mắn gì cô?”
“Sao không chứ, hẳn là anh được đi du lịch khắp nơi rồi!”
“Ồ, đi du lịch à,” Macon nói.
“Tôi thích đi du lịch lắm.”
“Có hay ho gì đâu, toàn là những thủ tục rườm rà thôi, đa phần là vậy,” Macon nói.
“Tôi chưa từng được ngồi trên máy bay, anh biết không?”
“Cũng là những thủ tục rườm rà nữa. Nào là đặt vé này, rồi xếp hàng qua hải quan này… Edward có được sủa như vậy không cô?”
Muriel liếc xéo Edward một cái và nó im bặt.
“Nếu được đi đến một nơi nào đó, tôi sẽ chọn Paris,” cô nói.
“Paris kinh khủng lắm. Ai cũng bất lịch sự cả.”
“Tôi sẽ đi dạo dọc theo bờ sông Seine, giống như lời bài hát ấy, ‘Em sẽ tìm được người trong mộng ở Paris,’” cô hát sai nhạc be bét, “ ‘nếu em đi dọc bờ sông…’ Tôi thấy lời bài hát thật lãng mạn.”
“À, không hề,” Macon nói.
“Tôi cược là anh chẳng biết gì về phong cảnh ở Paris hết. Lần tới cho tôi theo với nhé! Tôi sẽ chỉ cho anh những nơi thú vị của Paris.”
Macon dọn giọng, “Thật ra, ngân khoản của tôi khá eo hẹp,” anh bảo cô. “Chưa lần nào tôi đưa vợ đi cùng, ơ… vợ… tôi ấy.”
“Tôi chỉ đùa thôi mà,” cô bảo anh.
“Ồ.”
“Anh nghĩ tôi nói nghiêm túc hả?”
“Ồ, không.”
Cô đột nhiên trở nên hoạt bát. “Vậy cả thảy là mười bốn đô bốn mươi xu nhé, tính cả sợi dây xích cổ nữa.” Rồi trong khi Macon lục ví, cô nói, “Anh phải cho nó thực hành những gì đã học đấy nhé, nhớ là không ai có thể làm thay anh được đâu đấy. Ngày mai tôi sẽ quay trở lại với bài học thứ hai. Tám giờ sang có quá sớm không anh? Tôi phải trở về làm việc ở Meow-Bow vào quãng chín giờ.”
“Tám giờ được đó,” Macon bảo cô. Anh gom được mười bốn đô và tất cả những xu lẻ còn lại trong túi – vỏn vẹn chỉ có ba mươi sáu xu.
“Anh có thể trả tôi bốn xu còn lại vào ngày mai.”
Rồi cô ra lệnh cho Edward ngồi xuống và trao sợi dây cho Macon. “Thả nó ra sau khi tôi đi nhé,” cô nói.
Macon nắm chặt sợi dây và nhìn trừng trừng vào mắt con Edward ngầm khẩn nài nó ngồi yên. Edward chịu ngồi yên, nhưng nó rền rĩ van vỉ khi thấy Muriel đi khỏi. Rồi chỉ chực chờ Macon bật ngón tay đánh tách, Edward vùng dậy và lao đánh rầm vào cửa trước.
***
Macon và Edward luyện tập cả buổi chiều và buổi tối hôm đó. Edward đã chịu ngồi đánh phịch xuống dù Macon chỉ ấn nhẹ ngón tay vào mông nó thôi. Nó ngồi yên đó, kêu rên và đảo mắt nhìn quanh, trong khi Macon toóc toóc lưỡi ra vẻ ưng ý. Vào giờ ăn tối, tiếng toóc trở thành ngôn ngữ dùng cho cả nhà. Charles toóc lưỡi nhờ Rose đưa hộ món sườn heo. Porter toóc lưỡi khi Macon chia cho anh con bài ưng ý.
“Hãy tưởng tượng một vũ công vừa nhảy điệu Flamenco vừa nói không ngớt mồm. “ Rose nói với Charles và Porter. “Đó là cái cô huấn luyện Edward ấy. Cô ta nói luôn miệng, chả rõ cô ta thở vào lúc nào nữa. Khi nói về bài học, đáng lẽ nói là ‘đơn giản’ thì cô ta cứ luôn miệng nói ‘tối giản’.”
“Anh lại cứ tưởng em trốn ở đâu,” Macon bảo Rose.
“Sao? Anh trông thấy em hả?”
“Muriel thấy.”
“Em biết ngay mà! Cô ta cứ nghểnh cổ lên săm soi khắp nhà.”
Từ phòng khách đều đều vang ra âm thanh lịch cà lịch kịch, vì sợi dây mới của Edward cứ vướng vào ghế xích đu và kéo lê chiếc ghế theo đằng sau. Cả buổi tối nó nhằn cây bút chì đến nát vụn ra, rồi cuỗm một mẩu xương từ thùng rác ném lên tấm thảm ngoài hiên; nhưng vì nó chịu ngồi yên khi nghe lệnh, ai nấy đều thấy chứa chan hy vọng.
***
“Khi còn học trung học, tôi chỉ nhận toàn điểm A,” Muriel kể. “Anh thấy sửng sốt vì điều đó, phải không. Anh nghĩ tôi kiểu như, không phải một trí thức. Tôi biết anh đang nghĩ gì mà! Anh thấy ngạc nhiên.”
“Không, không phải,” Macon nói, mặc dù đúng là anh có nghĩ vậy thật.
“Tôi được toàn điểm A vì tôi có một bí quyết,” Muriel bảo anh vậy. “Anh nghĩ không có bí quyết ư? Cái gì cũng có bí quyết cả; thế anh mới sống được chứ.”
Họ đang đứng trước nhà – cả hai đều mặc áo mưa, vì sáng nay trời mưa rả rích khiến mọi thứ ướt nhèm nhẹp. Muriel mang một đôi giày da lộn ngắn màu đen, mũi giày khoằm khoằm và gót thì nhọn hoắt. Hai chân cô lênh khênh trên đôi giày như hai chiếc tăm. Tay cô cầm sợi dây kéo theo con Edward. Đúng ra hôm nay cô sẽ dạy Edward đi dạo, vậy mà cứ thao thao về thời học sinh của mình.
“Một vài thầy cô bảo tôi nên vào đại học,” cô nói. “Có một người khá đặc biệt, à cô không phải là giáo viên mà là thủ thư. Tôi giúp việc cho cô trong thư viện, cho sách lên giá và mấy việc linh tinh khác; cô nói, ‘Muriel à, sao em không vào Đại học Towson State đi?’ Nhưng tôi không biết nữa… rồi giờ thì tôi bảo em gái mình, ‘Em hãy nghĩ đến việc vào đại học đi, nghe không? Đừng bỏ học giữa chừng như chị đấy,’ Tôi đã kể về đứa em gái nhỏ này chưa nhỉ? Claire ấy mà? Tóc của nó không bao giờ thay đổi. Cứ một màu vàng heo như thiên thần ấy. Ấy, như thế này mới nực cười chứ; nó chẳng bao giờ quan tâm đến tóc tai cả. Cú một cái lối thắt bím ngược ra phía sau sao cho khỏi chấm mắt thì thôi. Mặc loại quần jean rách tua tủa và chẳng nhớ cạo long chân gì cả. Chẳng phải luôn như thế sao! Nhà tôi ai cũng tin rằng nó là đứa tuyệt vời. Nó hay, còn tôi dở. Dù vậy, đó không phải lỗi của Claire; tôi không đổi lỗi cho nó. Người ta cứ bám vào lời bình phẩm từ những người khác về ai đó, anh không thấy đúng như vậy sao? Claire luôn là đế mẹ Maria trong cảnh Chúa Giáng Sinh vào lễ Noel. Các cậu trai trong trường luôn tán tỉnh mời mọc, nhưng hồi tôi còn đi học, chẳng một đứa nào theo tán tỉnh tôi, nói thật đấy. Chẳng phải lũ con trai ở trường chỉ toàn đem lại phiền phức thôi sao Ý tôi là bọn chúng mời chúng tôi đi chơi, chẳng hạn như đi xem phim theo kiểu drive-in(2) hay đại loại vậy, đứa nào cũng tỏ vẻ bồn chồn và ra chiều bí mật, len lén từng chút từng chút một choàng qua vai tôi, cứ ngỡ rằng tôi ngu ngơ lắm chẳng biết gì, rồi buông tay xuống, mà anh biết sao rồi đấy, cũng từ từ từ từ hạ xuống như thế trong khi mắt cứ dán chặt lên màn hình như thể cái cảnh trên phim kia là cảnh hay ho nhất từng xem trong đời vậy. Hẳn là anh cảm thấy tội nghiệp cho bọn chúng. Nhưng rồi qua sáng thứ Hai bọn chúng lại tỏ cái vẻ như chuyện tối qua chưa hề xảy ra, vẫn huyên náo và chạy nhảy quanh tụi bạn và còn huých tay nhau khi tôi đi ngang qua nữa, thậm chí cũng chẳng thèm chào tôi lấy một tiếng. Anh nghĩ tôi không thấy tổn thương sao? Suốt cả quãng thời gian đó, không một đứa con trai nào xem tôi như bạn gái thực sự đúng nghĩa bạn gái. Bọn chúng rủ tôi đi chơi vào tối thứ Bảy và muốn tôi tỏ ra thật dễ thương với chúng, nhưng anh nghĩ xem có bao giờ chúng ăn trưa với tôi vào buổi sáng thứ Hai tại Căng tin của trường, hay đi dạo cùng tôi ngang qua các lớp học không?”
Cô liếc nhìn Edward. Rồi đột nhiên phát một cái vào hông; chiếc áo mưa màu đen kêu đánh bộp. “Ấy là lệnh ‘đi’,” cô bảo Macon. Cô bắt đầu đi. Edward ngập ngừng bước theo. Macon tuột lại phía sau. Thật khó để có thể đi xuống các bậc tam cấp nơi hiên nhà.
“Nó phải đi như ta bảo,” cô ngoái đầu lại nói. “Chậm, nhanh, làm theo tao đây này.” Cô đi nhanh hơn. Khi Edward băng qua trước mặt cô, cô vẫn cứ thẳng tiến. Khi nó trù trừ không chịu đi, cô giật mạnh sợi dây. Cô đi thật nhanh về hướng Đông, chiếc áo mưa thô cứng đu đưa thành một hình tam giác bên dưới một hình tam giác nhỏ hơn được tạo bởi mái tóc bị gió thổi ngược ra đằng sau. Macon đứng đợi, chân ngập trong đám lá rụng ẩm ướt.
Khi quay về, Edward chạy theo sát bên trái Muriel. “Tôi nghĩ giờ nó biết cách rồi đấy,” cô nói to. Cô đi lại chỗ Macon đang đứng và trao cho anh sợi dây. “Giờ tới lượt anh.”
Anh cố vỗ mạnh vào hông – thật khó làm điều đó khi mà anh đang đi bằng nạng thế này. Rồi anh dợm bước đi. Anh đi chậm rãi, khó nhọc thế mà con Edward thì cứ nhoi về phía trước. “Giật sợi dây lại đi!” Muriel nói, cô đi ngay đằng sau anh. “Nó biết phải làm gì mà. Cứ thích làm ngược lại vậy đó.”
Rốt cuộc Edward cũng nhât nhât tuân theo mặc dù nét mặt của nó vẫn tỏ vẻ chán nản và kiêu kỳ. “Đừng quên toóc nhé,” Muriel nói. “Anh phải thường xuyên khen ngợi nó.” Tiếng gót giày của cô kêu lạo xạo phía sau họ. “Có lần tôi huấn luyện cho một con chó chưa bao giờ được dạy đi vệ sinh đúng chỗ quy định. Đã hai năm tuổi rồi mà chẳng biết đi vệ sinh đúng chỗ quy định và những người trong nhà cứ là muốn phát điên cả lên vì chuyện đó. Ban đầu tôi chẳng nghĩ ra được lý do gì; rồi sau mới phát hiện ra một điều. Con chó đó nghĩ là nó không được tè ở bất kỳ chỗ nào, không phải trong nhà hay ngoài sân, không phải cả hai. Anh thấy đấy, cũng không một ai khen ngợi khi nó đi đúng chỗ nữa. Anh có bao giờ nghe thấy chuyện như vậy chưa? Tôi phải cố gắng mới bắt gặp nó đang tè ngoài sân, mà điều này chẳng dễ dàng tẹo nào vì nó lúc nào cũng xấu hổ giấu giấu giếm giếm không cho ai thấy, và rồi tôi khen ngợi nó vài lần, thế là sau một thời gian nó đã biết cách đi vệ sinh đúng chỗ.”
Họ tới góc sân. “Rồi, giờ thì anh dừng lại đi, và khi anh dừng nó sẽ phải ngồi xuống,” cô nói.
“Nhưng tôi phải làm thế nào?” Macon hỏi.
“Ý anh là gì?”
“Tôi đang đi bằng nạng mà.”
“Thì sao chứ? Cũng tốt để luyện tập chân anh luôn chứ sao,” cô nói. Cô đã không hỏi sao chân anh bị gãy. Thử nghĩ mà xem, ở cô có điều gì đó không thể nhìn thấy được, cho dù cô quả thật quan tâm đến đời tư của anh biết bao. Cô nói, “Chia ra nhiều đợt, một đợt mười phút.”
“Mười phút!”
“Nào bắt đầu lại đi.”
Cô đi trước, những bước đi cứng ngắc, khệnh khạng, giật cục do gót giày quá cao. Macon và Edward theo sau. Khi họ đến nhà, cô hỏi mấy giờ rồi “Tám giờ năm mươi,” Macon nói với giọng khá gay gắt. Anh thấy không tin tưởng mấy vào những phụ nữ không đeo đồng hồ.
“Tôi phải đi rồi. Năm đô nhé, và cả bốn xu anh nợ hôm qua nữa.”
Anh đưa tiền cho cô và cô giúi vào trong áo mưa. “Lần tới, tôi sẽ ở lại lâu hơn và chúng ta sẽ trò chuyện nhé,” cô nói. “Hứa đấy.” Cô vẫy vẫy tay về phía anh, rồi lóc cóc đi ra xe đậu ở dưới đường – một chiếc mui kín hình giống chiếc thuyền, có màu xám cũ kỹ được phết lên một lớp sơn ngoài bóng chói. Khi cô chui vào xe và đóng cửa lại, có một âm thanh giống như tiếng lon bia rơi. Động cơ khục khặc và chiếc xe giật cục trước khi máy nổ hẳn. Macon lắc đầu rồi cùng với Edward đi vào nhà.
Từ thứ Tư đến thứ Năm, chỉ thế thôi mà với Macon thì cứ như thể anh đã bỏ ra cả đời để gắng gượng tập tễnh đi qua đi lại con đường Dempsey cùng với con Edward. Nách anh ê ẩm. Một cơn đau nhói chạy dọc theo một bên đùi. Chẳng hiểu sao lại thế nữa; lẽ ra phải ở ống chân mới đúng chứ. Anh lấy làm lạ không biết có điều gì đó bất ổn không – không rõ có phải chỗ gãy được bó sai quy cách không, chẳng hạn vậy, thế thì mới có tình trạng căng cơ bất thường chỗ đùi thế này chứ. Có lẽ anh lại phải đi bệnh viện để người ta tháo chỗ băng bột đó ra, sắp lịa chỗ gãy, có thể anh sẽ phải được cho gây mê tổng thể với tất cả những biến chứng kinh khủng từ đó và nằm hàng tháng ở bệnh viện với một chân bị kéo căng, rồi có thể sẽ phải đi tập tễnh như thế cả phần đời còn lại. Anh hình dung thấy mình đi xiêu vẹo qua ngã tư đường với dáng người lệch hẳn về một bên hết sức kệch cỡm. Saral, lái xe ngang qua, thắt rít lên. “Macon?” Cô sẽ kéo cửa kính xuống. “Macon, chuyện gì xảy ra vậy?”
Anh sẽ đưa một tay lên rồi buông thõng xuống, và khập khiễng đi tiếp.
Hay bảo cô, “Thật ngạc nhiên là em vẫn còn quan tâm hỏi han như thế.”
Không, cứ thế tập tễnh đi thôi.
Có khả năng lối suy nghĩ nhuốm màu oán trách và than van ấy (một thứ xúc cảm lúc bình thường anh rất khinh miệt) đã nảy sinh bởi tình trạng suy kiệt đến cực độ về thể xác. Làm thế nào mà anh có thể khiến mình rơi vào tình trạng ấy được nhỉ? Vấn đề đầu tiên là vỗ vào hông; rồi gắng gượng lấy thăng bằng để giật mạnh sợi dây khi con Edward không chịu nghe lệnh, và rồi cứ đứng yên một chỗ nghe ngóng một con sóc hoặc một vị khách nào đấy qua đường. “Suỵt!” anh liên tục suỵt như thế, và “Toóc toóc!” và lại “Suỵt!”. Anh chắc thế nào những người qua đường cũng nghĩ đầu óc anh không bình thường hay sao đó. Con Edward lẽo đẽo theo sau anh, chốc chốc lại gừ lên, nhìn quanh quất tìm kiếm những người đạp xe ngang qua. Người đi xe đạp luôn là niềm khoái cảm đặc biệt với nói. Bất cứ khi nào nó nhìn thấy một ai đi xe đạp, long phía trên cố nó lại dựng cả lên và nó bất thần chạy lồng về hướng đó. Macon có cảm giác mình như người đi trên sợi dây thừng đang thăng bằng đột nhiên chòng chành như muốn ngã nhào xuống.
Bước đi tập tễnh xiêu vẹo, ấy thế mà Macon lại có thể quan sát xung quanh nhiều hơn khi còn lành lặn. Trước mắt Macon trải dài những bụi cây, những vạt hoa đã khô. Anh cố ghi nhớ hình ảnh những cảnh vật hai bên đường lọt vào tầm ngắm của anh. Ấy là một khu phố người gà, và đã lâu rồi chẳng được sửa sang. Những người hàng xóm bỏ ra cả ngày gọi điện qua lại cho nhau hỏi han để biết rằng không ai bị đột quỵ khi lên cầu thang một mình, không ai lên cơn đau tim khi đang trong phòng tắm, không ai bị vỡ xương hông, không ai bị tức thở, không ai bị choáng váng khi đang nấu ăn bên bếp lửa đang cháy. Có người ra ngoài đi dạo và rồi một vài giờ sau lại thấy mình đứng giữa đường và tự hỏi mình đi đâu thế này. Có người chuẩn bị nấu món gì đó để ăn vào buổi trưa, một quả trứng luộc lòng đào hay một tách cà phê gì đấy, và rồi cho đến lúc mặt trời lặn vẫn còn tất tả trong nhà bếp, dò dẫm tìm lọ muốn và chẳng nhớ phải sử dụng lò nướng như thế nào cho đúng. Macon biết tất thảy những điều này thông qua cô em, cô luôn bị hàng xóm réo gọi mỗi khi gặp rắc rối. “Rose ơi! Rose!” họ sẽ kêu lên như thế bằng thứ giọng run rẩy của người già, và nháo nhào chạy vào sân nhà cô phất phất tờ hóa đơn đã đáo hạn, hay một bức điện khẩn, có khi là một chai thuốc viên với lời cảnh báo tránh xa tầm tay trẻ em.
Vào buổi tối, khi dắt Edward đi dạo, Macon liếc nhìn vào các ô cửa sổ và trông thấy những con người ấy lọt thỏm trong những chiếc ghế bành in hoa, chìm trong một thứ ánh sáng xanh xao và run rẩy hắt ra từ trước màn hình ti vi. Đội bóng chày Orieoles đang có cơ hội thắng trận thứ hai trong giả World Series, nhưng thay vì hào hứng theo từng tình tiết của trận đấu họ lại đắm chìm trong suy tưởng của chính mình. Macon tưởng như thế họ bằng cách nào đó đang kéo anh lùi lại, khiến những bước chân anh như nặng nề, ì ạch hơn, và thở không ra hơi. Ngay cả con chó cũng có vẻ như bước đi thật khó nhọc và thiếu sinh khí.
Và khi anh quay về nhà, ba anh em lại đang giằng co nhau vì những chuyện vặt vãnh. Có nên hạ nhiệt độ máy điều nhiệt tự động vào ban đêm hay không? Lò sưởi sẽ không phải làm việc nhiều hơn nếu được hạ thấp nhiệt độ chứ? Ba an hem cứ mải miết giằng co qua lại giữa có và không, và cứ thế. Sao phải như thế chứ! Macon băn khoăn. Họ thật chẳng khác gì mấy người hàng xóm kia. Họ đang trở nên già cỗi. Anh đã từng đưa ra ý kiến của mình (hạ thấp nhiệt độ lò sưởi là đúng), nhưng giờ đây giọng anh đã yếu đi và anh không nói gì nữa.
***
Tối hôm đó, anh mơ thấy mình đậu chiếc Buick 57 của ông nội gần đập nước Lake Roland. Anh ngồi trong bóng tối và bên anh là một cô gái nào đó. Anh không biết cô, nhưng mùi nước hoa đăng đắng của cô dường như rất quen thuộc, và chiếc váy cứ sột soạt khi cô xích lại gần anh hơn. Anh ngoái đầu lại nhìn cô. Là Muriel. Anh hít sâu, hỏi cô làm gì ở đây vậy, nhưng cô đặt một ngớn tay chặn môi anh. Cô tiếp tục xích lại gần hơn. Cô lấy chùm chìa khóa từ anh và đặt lên bảng đồng hồ xe. Nhìn đắm đuối vào mắt anh, cô nói lỏng nịt quần anh và luôn bàn tay mát lạnh thành thạo vào bên trong.
Bừng tỉnh với cảm giác kinh ngạc tột độ và cả ngượng ngùng, anh vội ngồi bật dậy.
***
“Ai cũng hỏi tôi, ‘Con chó của chị thế nào?’” Muriel nói, “ ‘Tôi cược nó là loại chó có hành vi tốt,’ họ bảo tôi thế. Nhưng anh có muốn nghe điều gì đó thật buồn cười không? Tôi đâu có nuôi chó. Thật ra, có bận tôi cũng nuôi một con, nhưng rồi nó bỏ đi đâu mất. Đó là Spook, con chó của Norman. Của chồng cũ tôi. Đêm tân hôn của chúng tôi, nó bỏ chạy đến nhà mẹ anh Norman. Tôi nghĩ nó không ưa tôi.”
“Ồ, chắc là không phải vậy đâu,” Macon nói.
“Nó ghét tôi mà, tôi dám chắc thế.”
Họ lại bước ra ngoài, chuẩn bị huấn luyện Edward cách đi đứng. Cho đến bây giờ, Macon đã thích nghi với nhịp điệu của những bài học. Anh đợi, nắm chặt sợi dây nối với vòng cổ con Edward. Muriel nói, “Cũng giống như một bộ phim của Walt Disney thôi mà. Anh biết đấy, trong một bộ phim có con chó đã đi suốt một chặng đương dài đến sông Yukon hay đâu đó. Còn con Spook chỉ đi tới Timonium thôi. Tôi và Norman đưa nó xuống phố ở cùng chúng tôi trong một căn hộ, và Spook chuồn về nhà Norman ở Timonium cho dù đường có xa bao nhiêu dặm đi nữa. Mẹ anh gọi tới nhà chúng tôi, ‘Tụi con bỏ Spook lúc nào vậy?’ ‘Mẹ nói gì thế?’ Norman hỏi bà.”
Cô chuyển giọng để hợp với từng người. Macon nghe thấy giọng nói mỏng và yếu của mẹ Norman, giọng lắp bắp trẻ con của Norman. Anh chợt nhớ đến giấc mơ đêm qua và lại thấy ngượng chín cả người. Anh nhìn trực diện vào cô, mong tìm ra những khiếm khuyết nào đó, và thấy ở cô có quá nhiều khiếm khuyết – chiếc mũi dài hẹp, làn da vàng ệch, hai gò má đầy tàn nhang hứa hẹn một cơ thể không mấy mịn màng.
“Có vẻ như mẹ anh ấy tỉnh dậy vào buổi sáng,” cô vẫn thao thao, “và thấy Spook ngồi nơi bậc cửa. Nhưng ấy là lần đầu tiên chúng tôi nhận ra nó biến mất. Norman bảo, ‘Anh không biết nó mắc cái chứng gì nữa. Trước đây có bao giờ nó bỏ đi thế đâu.’ Và nhìn tôi với ánh mắt ngờ vực. Tôi dám chắc là anh ấy đang tự hỏi liệu có phải lỗi tại tôi không. Có thể anh ấy thầm nghĩ rằng đó là một điêmm báo hay gì gì đó. Lúc lấy nhau hai chúng tôi vẫn còn quá trẻ. Giờ nhìn lại tôi thấy thật đúng như vậy, quá trẻ. Tôi mới mười bảy tuổi. Anh ấy mười tám – và là con duy nhất. Là con cưng. Mẹ góa. Anh ấy có khuôn mặt lúc nào cũng sáng hồng lên như con gái và mái tóc thì cắt thật ngắn, ngắn hơn bất kỳ tóc đứa con trai nào trong trường và nút áo sơ mi lúc nào cũng gài lên tận cổ. Chuyển đến từ Parkville cuối năm lớp Chín. Đã để ý tôi lúc đó đang diện một chiếc váy không dây, và cứ trợn tròn mắt mà nhìn tôi suốt các tiết học; những đứa con trai khác trêu ghẹo anh nhưng anh chẳng để tâm. Anh ấy thật là… ngây thơ, anh biết không? Anh ấy khiến tôi có cảm giác như tôi có sức thu hút gì đấy. Những khi thấy anh ấy lẽo đẽo theo tôi quanh các giảng đường trên tay ôm cả chồng sách, tôi thường hỏi. ‘Norman, cậu muốn ăn trưa cùng tớ không đấy?’ và mặt anh ấy đó bừng lên, ‘Ồ, sao, ừ, cậu nói nghiêm túc đấy chứ?’ Anh ấy thậm chíe chẳng biết lái xe nữa, nhưng tôi bảo nếu anh ấy đậu được bằng lái tôi sẽ đi chơi cùng. ‘Tụi mình sẽ lái xe đến một nơi yên tĩnh nào đó nói chuyện, chỉ tụi tmình thôi không một ai xung quanh,’ tôi nói, ‘cậu biết ý tớ là gì không?’ Ôi trời, tôi thật xấu xa. Tôi không biết lúc đó tôi bị sao nữa. Anh ấy lấy được bừng lái nhanh hơn tôi tưởng và đến đón tôi trên chiếc Chevy của mẹ anh, tình cờ lại được mua từ cha tôi, lúc ấy ông là nhân viên bán hàng cho Ruggles Chevroler. Chúng tôi đã nhận ra đìều ấy trong ngày đám cưới. Lấy nhau vào năm cuối bậc trung học, anh ấy muốn cưới tôi đến chết đi được, vậy tôi còn biết nói gì nữa? Và trong đám cưới cha tôi đến bên mẹ Norman, ‘Ồ, tôi dám chắc là đã bán chiếc xe này cho bà cách đây chưa lâu,’ nhưng bà quá bận bịu cho việc khóc lóc nên chẳng chú ý gì đến lời ông. Bà mẹ ấy hành xử như thể việc kết hôn là một thứ gì đó thật ghê gớm, thà chết còn sướng hơn. Và rồi khi con Spook bỏ chạy về nhà bà, bà đã bảo chúng tôi rằng, ‘Mẹ nghĩ tốt hơn hết là để mẹ nuôi nó, rõ ràng là nó không thích ở đó với tụi con.’ Với tôi, ý bà là như vậy. Bà giữ nó lại như muốn phản đối việc tôi đã đem con trai bà đi. Bà đổ lỗi cho tôi đã làm tiêu tan mọi cơ hội của anh ấy; bà muốn con trai có bằng tú tài. Nhưng có phải tôi không cho anh ấy học để lấy bằng đâu. Chính anh ấy nói là muốn bỏ học cơ mà, anh ấy còn nói việc gì phải cứ ngồi ì mãi ở trường trong khi anh có thể kiếm sống dễ dàng bằng việc đánh bóng sàn nhà.”
“Bằng gì?” Macon hỏi.
“Đánh bóng sàn nhà. Bằng cát. Chú anh ấy là Prichette Sửa Nhà mà. Norman bắt đầu làm công việc này ngay khi chúng tôi lấy nhau và mẹ anh luôn miệng nói về sự phí hoài. Bà nói lẽ ra anh có thể là một kế toán hay gì gì đó, nhưng tôi không rõ bà ấy nghĩ bà ấy đang đùa với ai. Anh ấy chưa bao giờ nói chuyện kế toán với tôi.”
Cô gỡ một sợi lông chó vướng trên ống tay áo khoác, săm soi nó rồi búng vèo đi. “Thôi, để mắt đến nó đi.”
“Sao cơ?”
“Hãy xem con chó đi đứng thế nào.”
Macon vỗ mạnh vào hông Edward vào bắt đầu đi, con chó rề rề theo sau. Khi Macon dừng lại, Edward cũng dừng và ngồi xuống. Macon thấy ngạc nhiên một cách thích thú, nhưng Muriel nói, “Nó đâu có ngồi.”
“Sao? Chứ cô bảo nó đang làm gì kia?”
“Nó chỉ vờ ngồi thôi, anh xem cái mông nó kìa, cách mặt đất tới năm phân là ít. Chỉ chực chuồn đi khi có thể.”
“Ôi trời, Edward,” Macon rầu rầu nói.
Anh ngoái nhìn nó, rồi quay lại. “Nào, anh sẽ phải cố làm cho được đấy nhé,” Muriel nói. “Nhưng bây giờ, ta sẽ tiếp tục bài học ngồi yên. Hãy thử tập bài đó trong nhà xem.”
Macon lo rằng họ sẽ phải chạm mặt Rose, nhưng cô đã biến đi đằng nào rồi. Phòng trước ngợp mùi tro từ lò sưởi. Chiếc đồng hồ trong phòng khách đang dịch kim tới tám giờ rưỡi.
“Giờ chúng ta bắt đầu với vấn đề thật sự của con Edward nhé,” Muriel nói. “Bảo nó nằm xuống và nằm yên đó, để nó khỏi lúc nào cũng cứ nhảy xồ ra cửa.”
Cô chỉ cho anh cách ra lệnh: dậm chân hai lần. Chiếc giày của cô nện xuống sàn kêu cộp cộp. Thấy Edward không có phản ứng gì, cô khom người xuống và kéo hai chân trước của nó ra. Rồi cô để nó đứng lên và lại làm thế một lần nữa, và cứ thế vài ba lần liên tiếp. Chẳng thấy con Edward tiến bộ gì cả. Khi cô dặm chân lên sàn, nó thở hổn hển và nhìn đâu đâu. “Đồ cứng đầu,” Muriel bảo nó. “Mày cũng cứng đầu giống như những con khác.” Cô nói với Macon, “Có nhiều con cũng hành xử kiểu thế. Chúng ghét bị bắt phải nằm xuống tôi cũng không biết tại sao nữa. Giờ anh làm đi.”
Macon dậm chân. Edward có vẻ như đang bị cái gì đó lôi cuốn, nó nghiêng đầu sang bên trái.
“Chộp lấy hai chân trước của nó đi,” Muriel bảo.
“Khi đang đi nạng thế này à?”
“”Chứ sao.”
Macon thở dài đánh thượt và đành dựng đôi nạng vào góc nhà. Anh cúi thấp người xuống sàn, duỗi cái chân bó bột ra đằng trước, lôi hai chân trước con Edward lên và ép nó nằm xuống. Edward vùng vẫy ra vẻ dữ dằn lắm nhưng rồi rốt cuộc cũng chịu nằm. Để đứng thẳng người lên trở lại, Macon phải vịn vào chiếc bàn có đèn chụp. “Khó thật đấy,” anh nói, nhưng Muriel bảo, “Nghe này, tôi đã từng dạy cho một người cụt cả hai chân đấy nhé.”
“Cô?” Macon nói. Anh mường tượng cái cảnh một người cụt cả hai chân lê người dọc theo vỉa hè cùng một con chó hư hỏng nào đấy, Muriel đứng bên cạnh với nét mặt hờ hững, săm soi bộ móng tay vừa được cắt tỉa. “Tôi dám chắc là cô chưa hề bị gãy chân lần nào,” anh gay gắt, “Nhìn thì vậy, chứ đi đứng không hề dễ gì đâu.”
“Có lần tôi bị gãy tay,” Muriel nói.
“Một tay thì có là gì.”
“Thật ra tôi bị gãy tay khi đang huấn luyện chó. Tôi bị một con Doberman Pinscher (2) hất tung ra khỏi hiên nhà.”
“Một con Doberman!”
“Rồi thấy nó đứng bên trên người tôi, nhe hết cả răng ra. Tôi nghĩ lại những gì họ nói ở Doggie, Do: Chỉ một trong hai là sếp. Thế nên tôi bảo nó. ‘Dứt khoát là không được.’ Ấy là những từ đầu tiên xuất hiện trong óc tôi – câu mẹ tôi từng nói mỗi khi bà không cho phép tôi mang gì đó ra ngoài. ‘Dứt khoát là không được,’ tôi bảo nó. Cánh tay phải của tôi bị gãy nên tôi nắm chặt tay trái, nắm chặt bàn tay trái ấy và nhìn trừng thẳng vào mắt nó – cái giống chó không thể chịu được khi bị nhìn thẳng vào mắt – và từ từ lùi đứng dậy. Và đố con chó đó dám không chịu ngồi xổm xuống.”
“Chúa ơi,” Macon nói.
“Tôi cũng đã từng bị một con Cocker Spaniel(3) lao thẳng vào cổ họng. Ấy mới chỉ là chuyện thường thôi. Một con chó chăn cừu giống Đức đã ngoạm cả hàm răng vào mắt cá chân tôi nữa cơ. Rồi nó cứ để nguyên thế.”
Cô nhấc bàn chân lên và xoay mắt cá chân về phía anh. Mắt cá chân cô chỉ dày đâu cỡ cây bút chì là cùng.
“Cô đã bao giờ nếm mùi thất bại chưa?” Macon hỏi cô. “Có con chó nào cô phải chịu thua không?”
“Chưa con nào cả,” cô nói. “Và Edward cũng không là ngoại lệ đâu.”
Nhưng có vẻ Edward lại nghĩ ngược lại. Muriel đã tạp cho nó nửa tiếng nữa rồi và mặc dù đã chịu ở yên một chỗ khi buộc phải nằm xuống, nhưng nó vẫn dứt khoát không chịu tự nằm xuốg. Lần nào nó cũng chờ bị kéo hai chân trước ra mới chịu nằm. “Không sao đâu,” Muriel nói. “Con nào cũng vậy cả. Tôi cược là thể nào mai nó cũng cứ ngang ngạnh như thế, nên tôi định bỏ buổi ngày mai. Anh cứ tập cho nó, tôi sẽ trở lại vào ngày thứ Bảy cũng vào lúc tám giờ sáng.”
Rồi cô bảo Edward ngồi yên, nhận tiền công rồi lách người ra khỏi cửa. Nhìn cái dáng ngồi thẳng đơ cam chịu của con Edward anh thấy ngán ngẩm. Thuê người huấn luyện làm gì, khi mà cô ta để mặc anh tự tập cho nó thế này chứ? “Ồ, mình không biết, mình không biết nữa,” anh nói. Edward thở phì lên một cái và bỏ đi mặc dù anh chưa cho phép.
***
Cả buổi chiều và tối hôm ấy, con Edward không chịu nằm xuống lấy một lần. Macon làm đủ cách: nào là dỗ dành ngon ngọt, rồi đe nẹt dọa nạt, cả phỉnh phờ nữa mà con Edward cứ gầm gừ trong họng một cách đáng ngại và đứng ỳ ra đấy. Rose và hai ông anh trai đứng ne né ra xa quanh anh và con chó, ý tứ đưa mắt ra chỗ khác như thể đang chứng kiến một cuộc cãi cọ riêng tư nào đấy.
Thế rồi đến sáng hôm sau, Edward tấn công người đưa thư. Macon đã kịp chộp được sợi dây, nhưng trong đầu anh bỗng bật ra những ngờ vực. Tất thảy những bài học ngồi xuống, đi đứng kia liệu có giải quyết được gì cho vấn đề của Edward không? “Tao chỉ cần nhốt mày lại là được chứ gì,” anh bảo Edward. Anh dậm châm hai lần. Edward vẫn không chịu ngồi xuống cho.
Buổi chiều, Macon gọi điện đến Meow – Bow. “Làm ơn cho tôi nói chuyện với cô Muriel?” Anh không nhớ nổi họ của cô.
“Hôm nay Muriel không đi làm,” một cô gái thông báo cho anh vậy.
“Ồ, vậy à.”
“Đứa con trai nhỏ của chị ấy ốm.”
Anh đã không hề biết cô có một đứa con trai nhỏ. Anh cảm thấy có một sự thay đổi gì đó trong suy nghĩ của mình; bỗng nhiên cô biến thành một người khác so với con người mà bấy lâu nay anh vẫn hình dung. “Ồ,” anh nói, “tôi là Macon Leary. Tôi nghĩ ngày mai nói chuyện với cô ấy cũng được.”
“Ồ, Leary. Ông có muốn gọi điện đến nhà chị ấy không?”
“Không, vậy được rồi.”
“Tôi có thể cho ông số điện thoại nhà riêng của chị ấy nếu ông muốn.”
“Tôi sẽ nói chuyện với cô ấy vào ngày mai cũng được. Cảm ơn cô.”
***
Rose xuống phố mua vài thứ linh tinh, vậy nên cô nhân tiện chở Macon tới tòa soạn Businessmen’s Press. Anh muốn giao phần bản thảo còn lại. Ngồi ngả lưng vào ghế sau, bên cạnh là đôi nạng, anh ngắm nhìn cảnh vật lướt qua trước mắt: những tòa nhà làm việc cổ kính, những nhà hàng phục vụ bao nhiên là món hảo hạng, các cửa hàng thực phẩm tươi ngon, rồi thì các shop hoa nữa, tất thảy hiện ra thật sắc nét và sống động dưới ánh nắng rực rỡ của một buổi chiều tháng Mười. Rose ngồi sau tay lái và cho xe chạy với vận tốc đều đều, chậm rãi gần như bị thôi miên. Cô đội một chiếc mũ tròn vành nhỏ na ná hình cái chậu có cột ruy băng rũ xuống phía sau. Đội chiếu mũ ấy trông cô thật nghiêm trang và hệt một cô học trò trường dòng.
Một trong những đặc tính mà cả bốn an hem nhà Leary đều có đó là hoàn toàn không có khả năng thuộc đường. Ấy giống như một căn bệnh gọi là bệnh khó thuộc đường – Macon tin vậy. Không một ai trong bốn an hem mỗi khi ra ngoài mà không chăm chú đến mức như bị thôi miên vào các biển chỉ đường, cố hết sức đến mức tuyệt vọng để ghi nhớ hình ảnh đường xá của khu phố. Macon cất giữ cả xấp thẻ trên đó ghi chép cụ thể đường đi đến nhà máy người bạn anh – ngay cả những người bạn anh biết đã mấy mươi năm nay. Và trước đây mỗi khi Ethan gặp một đứa bạn mới, điều đầu tiên Macon nóng lòng muốn biết là, “Con có biết chính xác nhà nó ở đâu không?” Ethan có tính thích kết giao với những đứa nhà xa. Nó đâu thể chỉ lang thang hoài với cậu bạn nhà bên; ồ, không, phải là ai đó sống cách xa Beltway mới được. Ethan thì lo lắng gì chứ? Nó đâu có gặp rắc rối trong việc tìm đường. Đó là do nó sống cả đời trong chỉ một ngôi nhà, Macon nghĩ vậy; trong khi một người cứ chuyển nhà liên tục thì không bao giờ có được một điểm mốc cố định để tham chiếu mà cứ mãi lang thang một cách vô vọng, cầu nguyện may mắn sẽ mỉm cười để có thể đến được nơi cần đến.
Không thể nào khác được, hai an hem nhà họ lại lạc đường. Rose biết đích xác nơi cô muốn đến – một cửa hàng bán dầu bóng đặc biệt dùng cho đồ gia dụng – và Macon thì cũng đã lui tới văn phòng của Julian cả trăm lần; ấy vậy mà họ vẫn chạy lòng vòng cho đến khi Macon nhác thấy gác chuông nhà thờ quen thuộc. “Dừng lại! Rẽ trái!” anh la lớn. Rose cho xe chạy theo hướng anh bảo. Macon gắng sức bước ra khỏi xe. “Em sẽ ổn chứ?” anh hỏi Rose. “Em sẽ tìm được đường quay lại đón anh chứ?”
“Em hy vọng thế.”
“Nhớ là phải tìm thấy cái gác chuông đó.”
Cô gật đầu và lái xe đi.
Macon cố xoay sở lên được bậc tam cấp bằng đá granit dẫn vào tòa nhà lớn bằng gạch trong đó có văn phòng tòa soạn Businessmen’s Press. Cánh cửa làm bằng gỗ vàng óng, phết sơn bóng lộn. Sàn nhà lát bằng những viên gạch sáu cạnh trắng đen nhỏ xíu, không quá trơn nên Macon có thể đi dễ dàng trên đôi nạng.
Đây không giống một văn phòng thông thường. Cô thư ký đánh máy ở phòng trong, trong khi Julian – người không chịu được phải ở một mình – ngồi ngay phòng ngoài. Anh ta đang nói chuyện bằng chiếc điện thoại màu đỏ, nằm ườn ra đằn sau chiếc bàn chất la liệt những tờ quảng cáo, tờ bướm những hóa đơn chưa thanh toán, thư chưa hồi âm, mấy hộp đồ ăn Trung Quốc rỗng, những vỏ chai Perrier. Bức tường thì dán đầy những bản đồ đi biển. Các kệ sách lèo tèo vài cuốn nhưng lại cơ man những thiết bị đi biển cổ bằng đồng thau có lẽ là không còn dùng được nữa. Bất cứ ai – trừ những người khiếm thị - vào đây đều có thể nhận thấy một điều rằng Julian không để tâm trí vào tòa soạn Businessmen’s Press mà để ở tận đâu đó tại Chesapeake Bay (2). Điều ấy chi lợi cho Macon thôi, anh ta cho là vậy. Chắc chắn không một ai khác chịu tiếp tục ủng hộ cho loạt sách cẩm nang cua anh, với những chi phí cao ngất ngưởng và nhu cầu cập nhật thường xuyên như thế.
“Rita đang đi lấy bánh sừng trâu,” Julian nói qua điện thoại. “Joe đang làm món khoái khẩu của hắn.” Rồi anh ta nhìn thấy Macon. “Macon!” anh ta reo lên. “Stephanie, tôi sẽ gọi lại cho cô sau nhé.” Anh ta gác máy. “Chân ông anh sao rồi? Nào, ngồi xuống đây đi.”
Anh ta gạt chồng tạp chi du thuyền ra khỏi ghế. Macon ngồi xuống và trao cho Julian xấp bản thảo. “Đây là phần còn lại về nước Anh,” anh nói.
“À, rốt cuộc cũng xong!”
“Tôi áng chừng cuốn này có thể sẽ dày hơn cuốn trước độ mươi, mười hai trang gì đấy,” Macon nói. “Vì có thêm phần dành cho các thương gia nữ - liệt kê các khách sạn có dịch vụ hộ tống lên thang má, các khách sạn có phục vụ đồ uống ở sảnh ngoài… Thế nên tôi nghĩ cậu cần trả thêm thù lao cho tôi.”
“Tôi sẽ trao đổi với Marvin về chuyện này,” Julian nói, lật lật xấp bản thảo.
Macon thở dài. Julian xài tiền như nước, nhưng Marvin chi li hơn.
“Rồi, giờ ông anh lại tiếp tục với nước Mỹ nhé,” Julian nói.
“À, cũng được.”
“Tôi hy vọng là ông anh sẽ không mất nhiều thời gian.”
“Tôi chỉ có thể đi thật nhanh thôi,” Macon nói. “Nước Mỹ có nhiều thành phố hơn.”
“Vân, tôi biết chứ. Thật ra, tôi có thể cho in ấn bản này thành nhiều phần: miền Đông Bắc, miền Trung Đại Tây Dương, vân vân; tôi không biết…” Nhưng rồi anh ta chuyển chủ đề. (Anh ta vốn có một cái đầu khá nhanh nhạy.) “Tôi đã trao đổi với ông anh về ý tưởng mới chưa ấy nhỉ? Một ông bạn bác sĩ của tôi đang nghiên cứu về: Du khách bất đắc dĩ trong tình trạng sức khỏe tồi. Một danh sách các nha sĩ được đào tạo tại Mỹ có mặt ở mọi thủ đô các nước, có thể thêm vào một số gợi ý về các loại dược phẩm cơ bản: Aspirin, Merck Manual (3)…”
“Ồ, không cần mang theo Merck Manual đâu!” Macon nói. “Vế xước mang rô nào cũng đều có thể là bệnh ung thư, khi cậu đọc Merck Manual.”
“Ồ, tôi sẽ ghi chú điều đó,” Julian nói (không có vẻ gì là cầm cây bút chì lên cả). “Thế ông anh không định yêu cầu tôi vẽ vời chút đỉnh lên chỗ bó bột kia à? Nó trắng thật.”
“Tôi thích trắng vậy,” Macon nói. “Tôi đánh bóng nó bằng xi giày.”
“Tôi không hề biết ông anh đã làm vậy đấy.”
“Tôi dùng loại xi nước. Có nhãn hiệu khuôn mặt một cô y tá, nếu cậu cần biết thì vậy đó.”
“Du khách bất đắc dĩ trên đôi nạng,” Julian nói, và lại ngả người ra ghế một cách khoái chí.
Macon nhận thấy anh ta sắp bắt đầu lối hành xử với Macon Leary của mình rồi. Anh đứng phắt dậy, “À, chắc là tôi phải đi đây.”
“Nhanh vậy? Không ở lại uống tí nước đã?”
“Không, cảm ơn, không được đâu. Em gái tôi sẽ đến đón ngay khi nó xong mấy việc linh tinh.”
“À,” Julian nói. “Việc gì vậy?”
Macon nhìn anh ta bằng cặp mắt cảnh giác.
“Hả? Đi tới tiệm giặt khô hả? Hay đi sửa giày?”
“Những việc thông thường thôi mà, Julian. Không có gì đặc biệt cả.”
“Hay tới cửa hàng đồ gia dụng? Tiệm thuốc tây?”
“Không phải.”
“Thế là gì?”
“Ừm…. cô ấy mua dầu bóng dùng cho đồ gia dụng.”
Julian ngả người ra phía sau thêm một chút nữa. Maocn nghĩ thầm trong bụng hẳn là chiếc ghế sắp đổ ngược ra phía sau rồi. Thật ra, anh ước nó sẽ xảy ra như thế. “Macon, giúp tôi một việc, nhé,” Julian nói. “Ông anh không thể một lần mời tôi đến ăn bữa cơm gia đình sao?”
“Thật sự chúng tôi hiếm khi đãi cơm khách,” Macon bảo.
“Đâu cần phải màu mè làm gì. Chỉ là những đồ ăn thường ngày thôi. Hàng ngày nhà ông anh ăn những gì? Hay là tôi mang đồ ăn nhé. Ông anh có thể xích con chó lại… con chó tên gì nhỉ?”
“Edward.”
“Edward. Ha! Tôi sẽ đến ăn tối đấy.”
“Ồ, được thôi,” Macon lơ đãng trả lời. Anh kẹp đôi nạng vào hai bên nách.
“Hay để tôi ra ngoài đợi cùng ông anh nhé.”
“Cậu không cần phải vậy đâu, thật đấy.” Maocn nói. Anh không thể chịu được cái cảnh Julian tận mắt thấy em gái anh đội chiếc mũ hình chậu bé xíu trên đầu.
Anh lọc cọc bước ra vỉa hè và đứng đó, mắt dõi về hướng anh nghĩ có thể nhìn thấy Rose lái xe tới đón. Anh nghĩ chắc Rose lại lạc đường nữa rồi. Cái lạnh đã len vào bên trong lần tất anh mặc ngoài chỗ chân bó bột.
Vấn đề là Julian chưa bao giờ chịu để bất cứ cái gì xảy đến với mình, anh cả quyết vậy. Khuôn mặt hồng hào lúc nào cũng hơn hớn của anh ta nhẵn bóng không một nốt sần sì, ngoại trừ hơi rám nắng; niềm thích thú duy nhất của anh ta là một phương tiện đi lại thiếu hiệu quả đến nực cười. Cuộc hôn nhân chớp nhoáng ngắn ngủi kết thúc êm đẹp. Không con cái, Macon không muốn tỏ vẻ thành kiến hưng anh không thể không có cảm giác rằng những người không con cái chẳng bao giờ thật sự trưởng thành. Họ không hoàn toàn… xứng đáng được gọi là người trưởng thành, anh thấy vậy.
Bỗng dưng trong đầu anh xuất hiện hình ảnh Muriel chạy theo sau con Doberman đã từng hất bổng cô văng ra khỏi hiên nhà. Một cánh tay cô xụi xuống bất động; anh biết cánh tay ấy từng bị gãy qua cái vẻ xám chì của nó. Nhưng Muriel lờ đi, cô thậm chí cũng chẳng liếc nhìn nó lấy một lần. Quần áo nhếch nhác, tóc tai xõa xượi, người ngợm chẳng ra hồn, cô đưa cánh tay còn lại lên nói. “Dứt khoát là không được.”
***
Sáng hôm sau cô đến, trên đầu choàng một chiếc khăn mỏng tang bồng bềnh, hai tay thọc sâu vào túi áo khoác. Edward nhín nhảy quanh cô. Cô trỏ ngón tay ào mông con chó. Nó ngồi xuống, và cô cầm lấy sợi dây.
“Đứa con trai nhỏ của cô thế nào rồi?” Macon hỏi cô.
Cô nhìn anh lom lom. “Gì anh?” cô hỏi.
“Chẳng phải là nó ốm sao?”
“Ai nói anh vậy?”
“Cô nào ở chỗ làm của cô ấy, khi tôi gọi đến.”
Cô vẫn nhìn anh lom lom.
“Sao thế cô? Cảm lạnh à?” anh hỏi.
“Ồ, vâng, có lẽ vậy,” cô nói sau một lúc im lặng, “Có hơi đau bụng nữa.”
“Quãng thời gian này trong năm trẻ con hay bị thế, tôi nghĩ vậy.”
“Anh gọi tôi có việc gì không?” cô hỏi anh.
“Tôi muốn biết tại sao Edward không chịu nằm xuống.”
Cô chuyển ánh mắt sang Edward, rồi cuộn sợi dây quanh bàn tay và quan sát nó.
“Tôi dậm chân nhưng nó chẳng chịu nghe cho,” Macon nói. “Có gì đó không ổn hay sao ấy.”
“Tôi đã bảo anh là nó rất ương bướng, không chịu nghe lời ngay được.”
“Đúng là vậy, nhưng đã hai ngày nay rồi mà nó chửang tiến triển chút…”
“Chứ anh đòi cái gì? Anh nghĩ tôi là nhà ảo thuật hay gì gì đó hay sao? Sao lại đổ lỗi cho tôi?”
“Ồ, tôi không đổ lỗi cho…”
“Rõ ràng là anh đổi lỗi cho tôi chứ còn gì nữa. Anh nói là có gì đó không ổn, rồi cái chuyện anh gọi tới chỗ làm cho tôi nữa…”
“Tôi chỉ muốn…”
“Anh nghĩ thật lạ là sao tôi không nói năng gì đến Alexander, phải không?”
“Alexander?”
“Anh nghĩ tôi là một người mẹ có gì đó không bình thường.”
“Gì vậy? Này, gượm đã…”
“Anh sẽ chẳng nghĩ khác về tôi, phải không, giờ anh biết tôi có một đứa con. Chắc anh nghĩ, ‘Ồ, quyên đi, chẳng việc gì phải dính dáng tới chuyện đó,’ và rồi anh tự nhủ sao tôi chẳng chịu cho anh biết về nó từ trước. Ồ, không phải vậy sao? Anh không thấy rằng nếu tôi làm vậy thì chuyện gì sẽ xảy ra hay sao?”
Macon không hoàn toàn để tâm lập luận của cô, có lẽ vì Edward lôi kéo sự chú ý của anh. Giọng Muriel rít lên bao nhiêu, long trên cổ con Edward dựng đứng lên bấy nhiêu. Tín hiệu xấu rồi. Một tín hiệu cực xấu. Hai mép con Edward từ từ xoắn nhếch lên. Thoạt đầu hầu như chẳng có âm thanh gì, nhưng chẳng lâu sau đó tiếng gầm gừ bắt đầu phát ra từ cổ họng con Edward.
Muriel liếc nhìn nó và ngừng nói. Cô chẳng có vẻ gì là sợ hãi. Cô chỉ dậm châm hai lần. Nhưng con Edward không những không chịu nằm xuốgn mà còn đứng phắt dậy. Giờ đây chỗ long phía trên cổ nó đã dựng đứng như một cái bướu nổi lên giữa hai vai. Dường như bộ dạng nó đã thay đổi hoàn toàn. Hai tai nó gần như dính sát vào đầu.
“Nằm xuống,” Muriel nói với giọng bình tĩnh.
Gầm lên một tiếng, Edward lao thẳng về phía mặt cô. Cả hai hàng răng nhe ra sáng lóa. Hai mép xoắn nhếchlên hểt cả và bọt mép sùi ra từ mõm khiến mặt nó biến dạng trông thật kinh khiếp. Muriel ngay lập tức giật mạnh dây xích. Hai tay cô kéo mạnh sợi dây ngược lên phía trên và nhấc bổng con Edward lên khỏi mặt đất. Nó thôi sủa. Và bắt đầu phát ra âm thanh ặc ặc.
“Nó nghẹt thở đó,” Macon nói.
Cổ họng Edward lại phát ra tiếng ặc ặc.
“Ngừng lại đi. Đủ rồi đó! Cô làm nó nghẹt thở mất!”
Cô vẫn cứ để nó lủng lẳng như thế. Giờ mắt Edward đã trợn ngược cả lên. Macon chộp lấy hai vai Muriel nhưng anh nhận thấy nằm gọn trong hai bàn tay mình chỉ là hai miếng xốp độn vai không đều nhau cồm cộm như một cái gì đó đang lúc nhúc. Dù vậy anh vẫn lắc mạnh. Muriel hạ Edward xuống sàn. Nó rơi xuống đấy, bốn chân khuỵu xuống bên dưới thân mình mềm nhũn, cái đầu nghẻo sang một bên bất động. Macon cúi xúông bên nó. “Edward? Edward? Ôi, Chúa ơi, nó chết rồi!”
Edward gượng đầu lên và yếu ớt liếm môi.
“Anh thấy chưa? Khi lũ chó liếm môi là lúc chúng đã chịu thua rồi đấy,” Muriel hồ hởi nói. “Doggie, Do đã dạy tôi vậy.”
Macon đứng lên. Anh run lẩy bẩy.
“Chúng liếm môi, ấy là tín hiệu tốt, nhưng nếu chúng dẫm chân lên mũi chân anh thì có nghĩa là rất tệ.” Muriel nói. “Giống như một thứ ngôn ngữ bí mật, gần như vậy đấy, phải không?”
“Cô không bao giờ, không bao giờ được làm vậy nữa,” Macon bảo cô.
“Hả?”
“Thật ra, không phiền cô phải đến nữa.”
Mọi âm thanh đột nhiên ngưng bặt.
“À, được thôi,” Muriel nói, cô cột lại chiếc khăn choàng. “Nếu đó là điều anh muốn, thì cứ vậy đi.” Cô bước những bước đi dứt khoát vòng qua Edward và mở cửa trước. “Anh muốn nuôi một con chó mà anh không thể điều khiển được chứ gì? Được thôi.”
“Tôi muốn nuôi một con chó hay sủa hơn là một con chó nhút nhát và thiểu năng,” Macon nói.
“Anh muốn nuôi một con chó cắn tất thảy những người bạn của mình chứ gì? Để lại những vết sẹo trên người những đứa trẻ hàng xóm chứ gì? Khiến anh phải đương đầu với những vụ kiện cáo chứ gì? Anh muốn nuôi một con chó ghét cả thế giới này chứ gì? Một con chó xấu xa, cáu bẳn, ưa nổi nóng chứ gì? Con chó muốn giết cả thế giới chứ gì?”
Cô lách người ra khỏi cửa và đóng cánh cửa lại sau lưng. Rồi cô ngoái nhìn thẳng vào mắt Macon xuyên qua lần kính cửa. “Đúng vậy đấy, tôi nghĩ anh muốn vậy đấy,” cô nói.
Nằm trên sàn nhà, con Edward rên ư ử nhìn cô bỏ đi.
(1) Shirley Jane Temple (sinh năm 1928): nữ diễn viên người Mỹ từng đoạt tượng vàng Oscar. Bà là hình tượng diễn viên nhí nước Mỹ thập niên ba mươi kể từ sau vai diễn trong bộ phim Bright Eyes năm 1934.
(2) Cửa sông lớn nhất Hoa Kỳ.
(3) Một cuốn sách y tế do công ty dược Merck & Co, Inc. ấn hành.