📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

Du Khách Bất Đắc Dĩ - Anne Tyler

7 trả lời, 2.603 lượt xem — Trang 1 / 1
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2011-05-15 07:01:59gaucon1998>
DU KHÁCH BẤT ĐẮC DĨ
Tác giả: ANNA TYLER
Người dịch: DẠ THẢO
Nhà xuất bản Hà Nội
Người đánh máy: gaucon1998


Anne Tyler sinh ngày 25 tháng Mười năm 1941 tại Minneapolis, Minnesota. Mười chín tuổi bà tốt nghiệp Đại học Duke, và hoàn thành luận văn tốt nghiệp ngành Nga học tại Đại học Columbia (New York). Bà làm công việc thủ thư và sưu tầm danh mục một thời gian rồi chuyển tới Maryland. Năm 1963, Tyler kết hôn với Taghi Mohammad Modarressi, nhà tâm thần học đồng thời là tiểu thuyết gia người gốc Iran. Họ có hai con gái. Năm 1997, Modarressi qua đời. Tyler vẫn tiếp tục sống tại Baltimore (Maryland), vùng đất đã trở thành bối cảnh cho hầu hết tác phẩm của bà.

Sự nghiệp văn học của Anne Tyler có nhiều thành tựu đáng kể, tuy nhiên bà là người khiêm tốn, không khoa trương. Bà không tổ chức các chuyến đi tuyên truyền sách, không phỏng vấn trực tiếp mà chỉ trả lời email, cũng không xuất hiện nhiều trên các phương tiện truyền thông. Cuốn tiểu thuyết thứ chín với nhan đề Dinner of the Homesick Restaurant, tác phẩm bản thân bà hài lòng nhất, đã lọt vào vòng chung kết giải thưởng Pulitzer năm 1983. Cuốn tiểu thuyết thứ mười một của bà, Breathing Lessons, đã giành được giải thưởng Pulitzer năm 1989.

The Accident Tourist (Du khách bất đắc dĩ) cũng là một cuốn sách hết sức thành công của Anne Tyler, tác phẩm được trao giải thưởng National Book Critics Circle Award và lọt vào vòng chung kết giải thưởng Pulitzer năm 1985. Tác phẩm được dựng phim vào năm 1988 với diễn xuất của hai ngôi sao William Hurt và Geena Davis.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2011-05-15 07:10:44gaucon1998>
1


Họ đã nghĩ sẽ ở lại bãi biển một tuần, nhưng chẳng ai cảm thấy hứng thú gì nên quyết định quay về sớm. Macom lái xe, Sarah ngồi ghế bên cạnh anh, đầu tựa vào cửa xe. Những mảng trời đầy mây lấp ló sau những lọn tóc nâu rối tung của cô.

Macom mặc một bộ vest mùa hè chỉn chu, bộ anh vẫn thường mặc mỗi khi đi du lịch – anh luôn cho rằng so với đồ jean thì bộ này phù hợp cho du lịch hơn nhiều. Quần jean thì cứng, đường may thô mà lại có nhiều đinh rive. Sarah mặc chiếc đầm hở vai bằng vải bông – loại thường mặc khi dạo biển. Trông họ giống như đi nghỉ về từ hai nơi hoàn toàn khác nhau. Sarah có làn da rám nắng, còn Macon thì không. Anh có dáng người cao lớn, đôi mắt màu xám, nước da trắng xanh, tóc hoe vàng được cắt tỉa gọn gang. Và làn da anh mỏng đến độ rất dễ bắt nắng. Anh hầu như chẳng bao giờ bước chân ra ngoài vào buổi trưa.

Xe vừa chạy lên đường cao tốc thì bầu trời chợt tối sầm lại và dăm ba hạt mưa khổng lồ quất lộp bộp vào kính chắn gió. Sarah ngồi bật dậy, “Mong sao trời không mưa.”

Macom bảo, “Mưa ít ít thì chả sao.”

Sarah trở lại tư thế cũ, nhưng mắt dán vào con đường trước mặt.

Ấy là một buổi sáng thứ Năm. Trên đường không có nhiều xe cộ. Họ vượt qua một chiếc xe tải nhỏ không mui, rồi một chiếc xe tải cỡ lớn trên thùng chi chít miếng nhãn dính lòe loẹt nhưng cũng khá bắt mắt. Mưa quất vào kính chắn gió mỗi lúc một dày hơn, dữ dội hơn. Macon bật cần gạt nước. Cần gạt nước đưa qua đưa lại với âm thanh đều đều soàn soạt soàn soạt; Và mưa đã bắt đầu tí tách xuống mui xe. Thi thoảng một cơn gió mạnh ào tới. Mưa ập xuống rạp cả những vạt cỏ úa dài hai bên đường. Mưa xiên thẳng xuống các bến thuyền, những trại gỗ, các cửa hàng nội thất giảm giá, mọi thứ trông tối sầm mù mịt như thể mưa đã đến từ lâu lắm rồi.

“Thấy đường chứ anh?” Saral lên tiếng.

Macon bảo, “Hẳn rồi, có gì đâu.”

Xe họ đang ở ngay sau một xe moóc với hai bánh sau xé nước mưa trên đường thành những vạt nước hình vòng cung. Macon đánh tay lái sang trái và vượt. Một màn nước dày đặc tấp thẳng vào hông phải xe họ, rồi xe moóc tụt lại phía sau. Saral bấu chặt một tay vào bảng đồng hồ xe.

“Thật không hiểu anh làm thế nào thấy đường mà lái như vậy,” cô nói.

“Có lẽ em nên đeo kính của em vào.”

“Anh có thể nhìn đường nếu đeo kính của em hả?”

“Không phải anh, em ấy,” Macon nói. “Em cứ để ý kính chắn gió thay vì nhìn đường.”

Saral tiếp tục bấu lấy bảng đồng hồ xe. Khuôn mặt cô khoáng đạt và trầm mặc khiến người ta có cảm giác cô đang điềm tĩnh, nhưng nếu nhìn gần một chút có thể thấy nét căng thẳng ánh lên nơi khóe mắt cô.

Chiếc xe quây lấy họ như một căn phòng. Hơi thở họ phả ra làm mở các cửa kính. Mới đây điều hòa chạy và đến giờ vẫn còn quanh quất chút hơn lạnh phả ra từ máy, thoáng cái không khí trong xe đã chuyển sang ngột ngạt khó chịu kèm theo mùi ẩm mốc. Xe phóng nhanh qua một đường hầm. Ngay lập tức không còn cảm thấy mưa nữa. Saral chực thở phào nhẹ nhõm, nhưng cô chưa kịp thở phào thì tiếng mưa đã lại đập liên hồi lên mui xe. Cô ngoái nhìn khắc khoải về phía đường hầm. Macon tiếp tục nhấn ga về phía trước, tay đặt lơi trên vô lăng.

“Anh có thấy cậu bé với chiếc mô tô không?” Saral lên tiếng. Cô phải nói thật to, cố át đi cái âm thanh ầm ĩ dai dẳng ở bên ngoài.

“Cậu bé nào?”

“Cái cậu dựng xe bên dưới đường hầm ấy.”

“Thật khùng điên mới đi mô tô vào lúc thời tiết như thế này,” Macon nói. “Mà chẳng cứ gì hôm nay, thật điên khùng mới đi mô tô. Em cứ hay để ý những thứ vặt vãnh.”

“Ta có thể làm vậy mà,” Saral bảo. “Dừng xe lại đợi mưa tạnh rồi hãy đi anh à.”

“Saral, nếu cảm thấy chúng mình sẽ gặp nguy hiểm dù chỉ một chút thôi, anh đã tấp vào vệ đường lâu rồi.”

“Ồ, em không biết là anh đã có ý như thế đấy.”

Họ chạy ngang qua một cánh đồng, ở đây mưa dường như nặng hạt hơn, từng mảng nước lớn ập xuống oằn những thân ngô, ngập cả những rãnh đất. Vô số vạt mưa khổng lồ tiếp tục quất thẳng vào tấm kính chắn gió. Macon chuyển cần gạt sang tốc độ nhanh hơn.

“Em không biết anh thật sự để ý nhiều đến điều đó,” Saral bảo. “Phải chứ?”

“Để ý?”

“Có một ngày em đã nói với anh, em bảo, ‘Macon, Ethan đã bỏ chúng ta mà đi, thế nên có đôi khi em tự hỏi cuộc sống này còn ý nghĩa gì nữa không.’ Chính xác lời anh nói đấy.”

“Ừm…”

“Và anh thậm chí cũng không biết điều đó có gì không ổn.”

“Không, chắc là anh không biết.”

Xe chạy ngang qua một hàng dài ô tô đậu ngay bên đường, cửa kính mờ đục, mưa rơi trên mặt kính trơn bong nảy lên những đốm nước trắng lóa. Có một chiếc xe hơi nghiêng như thể sắp đổ xuống dòng bùn đục ngầu bị khuấy tung đang chảy trong rãnh. Macon vẫn duy trì vận tốc cũ.

“Chẳng bao giờ anh làm cho em cảm thấy được an ủi,” Saral nói.

“Em yêu, anh đang cố làm điều ấy mà.”

“Anh chỉ sống theo cách anh từng sống trước đây. Công việc hàng ngày tầm thường, những lề lối, những thói quen nhàm chán, ngày nào cũng thế. Chẳng có chút gì khiến em có cảm giác được an ủi.”

“Chứ em nghĩ anh không cần được an ủi sao?” Macon hỏi. “Đâu phải một mình em, Saral. Anh không hiểu sao em cứ cho rằng nỗi mất mát ấy chỉ có riêng em chịu.”

“À, đôi lúc em nghĩ thế thật.”

Họ im lặng một hồi. Một vũng nước rộng, có vẻ như thế, ở ngay giữa đường dội nước ngược lên gầm khiến xe đảo sang bên phải. Macon ghìm phanh, rồi chạy tiếp.

“Cơn mưa này, chẳng hạn,” Saral nói. “Anh biết nó khiến em hoảng sợ. Đợi một chút thì có hại gì cơ chứ? Lẽ ra anh nên nói với em rằng, có anh ở đây, bên cạnh em lúc này, chẳng còn gì phải lo lắng nữa.”

Macon chăm chú nhìn qua kính chắn gió, nước mưa chảy thành dòng trên kính khiến nó trông như cẩm thạch. Anh lên tiếng, “Saral, anh biết cách. Em biết là anh lái đúng lề lối mà.”

“Dẹp anh và những cái cách chết tiệt của anh đi!”

“Thêm nữa,” anh tiếp, “nếu em không tìm thấy ý nghĩa gì trong cuộc sống, anh chẳng thể hiểu nổi tại sao một cơn mưa lớn lại khiến em căng thẳng.”

Saral ngồi thụp xuống ghế.

“Nhìn kìa!” anh nói, “Một cái nhà lưu động đã bị hất tung qua bãi đậu xe moóc kìa.”

“Macon, em muốn ly hôn.” Saral lên tiếng.

Macon đạp phanh và liếc nhanh sang cô. “Cái gì?” Chiếc xe loạng choạng. Anh lại phải hướng mắt về phía trước. “Anh đã nói gì chứ?” anh hỏi. “Em nói vậy là có ý gì?”

“Chỉ là em không thể sống cùng anh được nữa.”

Macon tiếp tục dõi mắt về con đường phía trước, nhưng mũi anh dường như buốt hơn và nhợt hơn, như thể toàn bộ da mặt anh bị kéo căng. Anh hắng giọng, “Em yêu. Nghe này. Một năm qua thật khó khăn. Chúng mình đã phải trải qua một quãng thời gian đầy khó khăn. Ai mất con cũng thấy như vậy; ai cũng nói như thế; ai cũng cho rằng chuyện đó khiến vợ chồng sống trong căng thẳng…”

“Em muốn tìm chỗ ở riêng cho em ngay khi mình về đến nhà,” Saral nói với anh.

“Chỗ ở riêng cho em,” Macon lặp lại lời vợ, nhưng giọng anh quá nhẹ, mà mưa ngoài trời đập vào mui xe thì quá ầm ĩ, nên giống như anh chỉ mấp máy môi. “À, được. Nếu em thật sự muốn vậy.”

“Anh có thể giữ lại ngôi nhà ấy. Anh không bao giờ thích chuyển đi mà.”

Vì một lý do nào đó, đây chính là điều rốt cuộc khiến Saral thấy sụp đổ. Cô vội quay đi. Macon bật đèn xi nhan bên phải lên. Anh rẽ vào ga Taxeco, đỗ lại bên dưới mái hiên, tắt máy, Anh xoa xoa lòng bàn tay vào hai đầu gối. Saral dúi mình vào một góc ghế xe. Âm thanh duy nhất còn nghe thấy được là tiếng mưa rơi vỗ lên mái hiên ở phía xa bên trên đầu họ.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2011-05-15 07:24:33gaucon1998>
2


Macon đã tưởng rằng sau khi vợ anh bỏ đi ngôi nhà sẽ trở nên rộng hơn. Trái lại, giờ đây anh cảm thấy nó thật chật chội. Những ô cửa sổ như co mình lại. Trần nhà thấp xuống. Có gì đó xảy ra với đống đồ đạc, như thể chúng đang dồn cả vào anh.

Tất nhiên Saral đã dọn hết những vật dụng các nhân của mình, chỉ là những đồ nhỏ như quần áo, nữ trang. Nhưng rõ ràng những đồ đạc lớn trong nhà mang hơi hướng của cô nhiều hơn anh tưởng. Này là cái bàn gập đặt nơi phòng khách, ngăn kéo đầy những bị thư đã xé và cả nữhng lá thư chưa bóc của cô. Này là chiếc radio trong nhà bếp, định vị kênh chương trình 98 Rock. (Cô thích giữ liên lạc với sinh viên của mình, trong lúc lúng búng ngâm nga và bồn chồn đi quanh bàn ăn sáng, trước đây cô thường nói như vậy.) Này là chiếc ghế dài không có lưng tựa nơi cô từng nằm sưởi nắng, được đặt ngay chỗ duy nhất có được chút ánh mặt trời rọi vào trong cả ngôi nhà. Anh nhìn những chiếc gối ôm bọc vải hoa và tự hỏi làm thế nào một không gian trống trơn lại có thể đong đầy hình ảnh một người đến thế - cái mùi dầu dừa thoang thoảng luôn khiến anh thèm uống một ly cocktail rum pha nước dừa của cô; khuôn mặt tròn trịa sáng sủa ẩn sau đôi kính mát của cô; thân hình chắc lẳn của cô trong bộ đồ bơi kèm váy mà cô đã cố nài mua cho được sau dịp sinh nhật lần thứ bốn mươi. Những sợi tóc rụng của cô còn vương lại nơi đáy bồn rửa mặt. Cái kệ của cô trong tủ y tế, trống trơn, chỉ còn sót lại những giọt chất lỏng đã khô ánh lên màu hồng sậm đặc trưng khiến ngay lập tức trong tâm trí anh hình ảnh cô trở nên rõ nét. Anh đã luôn chê bai sự đểnh đoảng của cô nhưng giờ đây những giọt thuốc nước rơi vãi kia dường như gợi nên một niềm thương yêu, chúng giống như thể những món đồ chơi đầy màu sắc bọn trẻ bỏ lại trên sàn khi đi ngủ.

Ngôi nhà không rộng cũng không chật, nhìn cũng không nổi bật gì, nằm ở khu phố cũ của Baltimore trong một dãy phố gồm những ngôi nhà giống hệt nhau. Những ngôi nhà xung quanh cũng có kiểu tương tự thế. Quanh nhà có những cây sồi to phủ tán, che rợp bóng suốt mùa hè oi bức, nhưng lại cũng chắn luôn cả những cơn gió mát. Bên trong là những căn phòng vuông vức và thiếu ánh sáng. Trong phòng riêng của Saral không còn lại gì ngoài chiếc khăn choàng lụa màu nâu treo trên móc; trong các ngăn kéo tủ của cô còn sót lại những cuộn xơ vải buộc vết thương, những lọ nước hoa đã dung hết. Căn phòng cũ của cậu con trai được dọn dẹp ngăn nắp, đẹp đẽ như phòng trong nhà nghỉ. Ở đâu đó, từ các bức tường dội lên cái gì như tiếng vọng. Macon nhận thấy mình đang áp chặt hai thay quanh người, nem nép đi qua đồ đạc trong phòng như thể anh đang tưởng tượng ra rằng ngôi nhà hầu như không thể chứa nổi anh. Anh thấy mình trở nên cao lớn quá cỡ. Đôi chân dài vụng về dường như đang kéo giãn ra một cách bất thường. Anh cúi đầu xuống thật nhanh khi bước qua những ô cửa.

Anh tự nhủ với lòng rằng cơ hội để anh sắp xếp lại mọi thứ đã đến. Anh đã bị lún vào một sở thích có phần phi lý. Thật ra trông nom một ngôi nhà cần phải có một kiểu lề lối, mà Saral lại chẳng bao giờ hiểu được điều đó. Cô là kiểu phụ nữ hay đặt lẫn lộn những thứ như dao, thìa, nĩa với nhau… Cô khởi động máy rửa chén khi bên trong chỉ có một nắm nĩa mà chẳng nghĩ gì. Còn Macon lại thấy khổ sở vì điều đó. Nói chung Macon phản đối việc dùng máy rửa chén; anh cho rằng chúng lãng phí năng lượng. Có thể nói rằng tiết kiệm năng lượng cũng là một thú vui của anh.

Anh bắt đầu thói quen giữ cho bồn rửa chén luôn đầy nước, cho vào một ít clo để khử trùng. Mỗi lúc dùng bữa xong, anh thả đĩa ăn vào bồn. Đến khi bồn đầy chén dĩa, anh rút nút chặn và xịt nước nóng lên nhữg thứ trong bồn. Rồi anh xếp chén dĩa đã được xả sạch vào cái máy rửa chén trống không – bây giờ theo lề lối mới của anh nó đã trở thành một kho chứa khổng lồ.

Khi anh lom khom xịt nước bên bồn rửa chén dĩa, anh thường có cảm giác Saral đang quan sát mình. Anh cảm thấy chỉ cần nhướng mắt lên một chút sang bên trái thì sẽ thấy cô đang đứng khoanh tay, nghiêng nghiêng đầu và đôi môi cong mím chặt đầy tư lự. Ở cái liếc đầu tiên thì cô đang quan sát cách anh làm, ở cái liếc tiếp theo (anh biết) là cô đang cười anh. Mắt cô luôn ánh lên tia bí mật mà anh đã quá quen thuộc. “Em biết mà,” cô sẽ nói như vậy, gật đầu theo những câu giải thích dài dòng của anh; rồi anh sẽ ngước lên bắt gặp ánh nhìn ấy và khóe môi nhếch khẽ của cô.

Trong sự hiện diện này của cô – nếu có thể coi đó là sự hiện diện, vì xét cho cùng anh chưa bao giờ thực sự liếc mắt sang phía cô – cô đang mặc chiếc đầm màu xanh sáng mua từ hồi họ mới cưới. Anh không hề biết từ khi nào cô đã thôi mặc nó, nhưng chắc là rất lâu rồi. Anh gần như có cảm tưởng rằng đấy là hồn ma của Saral – rằng cô đã chết. Ở một mặt nào đó (anh nghĩ, rồi tắt vòi nước), cô đã chết, cô gái trẻ Saral trẻ trung, mạnh mẽ nơi căn hộ đầu tiên tràn ngập hạnh phúc của họ trong con hẻm Cold Spring ấy. Khi anh cố nhớ lại những hồi ức ấy thì bất cứ hình ảnh nào của Saral đã bỏ anh đi. Khi anh hình dung lại ngày đầu tiên quen nhau – khi họ vừa qua hết tuổi thơ – dường như đấy chính là dấu hiệu ban đầu cho sự chia tay sau này của nọ. Khi cô ngước nhìn anh và khua lách cách những mẩu đá lạnh trong chiếc cốc giấy vào cái đêm đầu tiên ấy, họ đã bắt đầu hành trình tiến tới cái năm căng thẳng, khổ sở cuối cùng bên nhau, tới những tháng ngày mà bất cứ điều gì người kia nói ra đều sai, tới cái cảm giác về sự kết nối cơ hồ đã đứt ấy. Họ giống như hai người đang chạy tới để gạp nhau, nắm lấy tay nhau nhưng cái đích họ hướng đến lại khác nhau; họ lướt qua nhau và cứ thế chạy. Và cuối cùng, tất cả còn lại là con số không. Anh nhìn chằm chằm vào bồn rửa chén, hơi nóng trong bồn nhẹ nhàng phả lên mặt anh.

Vậy đấy, mày phải tiếp tục. Mày phải tiếp tục. Anh quyết định chuyển tắm sáng sang tắm tối. Anh thấy mình đã bắt đầu thích nghi – tâm hồn anh vô cùng sảng khoái. Khi tắm dưới vòi hoa sen, anh hứng nước lại trong bồn rồi dò dẫm quanh bồn, chân đạp bì bõm lên đống quần áo bẩn mặc trong ngày. Sau đó, anh vắt khô quần áo móc lên dây phơi. Rồi anh mặc đồ lót ngày mai để không bao giờ phải giặt pyjama. Thật ra, thứ duy nhất anh giặt là khăn tắm và ga trải giường, mỗi tuần một lần – chỉ có hai chiếc khăn nhưng cả đống ga. Đó là do anh đã tiến hành lề lối giúp mình có thể ngủ trên chiếc ga sạch sẽ vào mỗi đêm mà không phải đổi giường. Anh đã áp đặt lề lối đó cho Saral trong nhiều năm, nhưng cô lại chỉ thích làm theo ý mình. Thế là anh lột hết bọc nệm ra, rồi thay chúng bằng cách lấy một trong bảy cái ga dùng máy khâu may lại thành một thứ gì đó tựa như cái bao lớn. Anh nghĩ về phát minh này như là một cái Túi Ngủ Macon Leary. Một cái túi ngủ không cần phải gấp, khó bẩn, dễ thay, và là một chiếc mền hoàn hảo cho mùa hè. Vào mùa đông, anh phải nghĩ ra cách làm một thứ gì đó ấm hơn, nhưng anh chưa kịp nghĩ đến mùa đông; Anh vừa mới làm xong nó một ngày trước.

Có những lúc – khi đang chèn cái nút vải đã tả tơi vào chỗ rút nước trong bồn tắm hay đang lùng nhùng trong cái túi ngủ của mình trên chiếc đệm trần loang lổ vết gỉ sét – anh nhận thấy có lẽ mình đang khiến mọi việc đi quá xa. Mà anh cũng chẳng biết giải thích ra làm sao nữa. Anh luôn có thú vui nghĩa ra các phương pháp, nhưng đó không thể gọi là chứng gàn dở được. Nghĩ lại cái tính thiếu phương pháp của Saral, anh tự hỏi phải chăng giờ đây mọi việc đã không còn trong tầm kiểm soát nữa. Có lẽ trong suốt những năm tháng đó, họ đã đi theo những con đường khác nhau phù hợp cho họ. Bằng cách nào đó họ dạt ra khỏi nhau như hai thỏi nam châm cùng cực, tất yếu họ lờ lững trôi xa nhau. Anh hình dung căn hộ mới của Saral – căn hộ anh chưa hề thấy – chắc là bừa bộn đến phát điên, nào là giày vứt vào lò, nào là sofa đầy cả chồng chén dĩa. Chỉ nghĩ thế thôi cũng khiến anh ngán ngẩm. Anh nhìn xung quanh mình mà lòng đầy khoan khoái.

Hầu như mọi công việc của anh đều được làm tại nhà; nếu không anh đã không thể coi sóc nhà cửa như thế được. Anh có một chỗ làm việc nhỏ trong căn phòng trống tách biệt với nhà bếp. Ngồi vào ghế dành cho nhân viên tốc ký, gõ vào chiếc máy đánh chữ - cái máy đã theo anh suốt cả bốn năm đại học, - anh viết một loạt các cuốn sách hướng dẫn những người buộc phải đi lại vì công việc. Thật buồn cười là Macon vốn ghét đi du lịch. Anh lướt một vòng chớp nhoáng qua các đất nước bằng cách khép mắt lại, nín thở và thả mình vào trạng thái lơ lửng, đôi lúc chìm trong tưởng tượng, và rồi quay về thực tại lòng đầy khấp khởi bắt tay vào viết các cuốn sách bìa mềm dày với kích thước của một tấm hộ chiếu. Du khách bất đắc dĩ ở Pháp. Du khách bất đắc dĩ ở Đức. Ở Bỉ. Không tên tác giả, chỉ là một cái logo: một chiếc ghế bành có hai cái cánh ở ngoài bìa.

Trong sách anh chỉ đề cập tới các thành phố, vì những người đi công tác thường chỉ hay bay đến các thành phố rồi lại bay về chứ không đến miền quê bao giờ. Và vì lẽ đó, họ lại cũng không ngó ngàng gì đến các thành phố nữa. Điều họ quan tâm là làm cách nào để có thể giả vờ như chưa hề ra khỏi nhà. Khách sạn nào ở Marid quảng cáo về những tấm đệm ngủ kích cỡ lớn hơn bình thường? Nhà hàng nào ở Tokyo có phục vụ đồ ăn ít ngọt? Amsterdam có cửa hàng McDonald không? Thành phố Mexico có quán Taco Bell không? Có nơi nào ở thành phố Rome bán bánh bao Chef Boyardee không? Những khách du lịch bình thường khác thường mong đợi được khám phá các loại rượu vang địa phương hảo hạng, còn độc giả của Macon thì chỉ muốn tìm kiếm sữa tiệt trùng thanh khiết.

Ghét đi du lịch bao nhiêu, anh lại thích viết bấy nhiêu – trong niềm khoái cảm đầy tự hào, anh sắp xếp lại các miền đất hỗn độn, gạt bỏ những thứ không cần thiết và những cái hạng hai, phân loại những thứ còn lại trong các đoạn viết mạch lạc và súc tích. Anh đạo từ các cuốn sách hướng dẫn khác, chộp lấy một vài ý cốt lõi có giá trị và loại bỏ phần còn lại. Anh thích thú bỏ ra hàng giờ cần mẫn với những dấu chấm câu. Một cách chính đáng và tàn nhẫn, anh trừ khử hết thảy thể bị động. Cái nỗ lực gõ liên hồi vào máy đánh chức khiến khóe môi của anh trễ xuống, thế nên chẳng ai có thể đoán được anh đang thích thú công việc này đến đâu. Tôi thật vui khi nói rằng, những ngón tay anh mổ vào bàn phím, nhưng nét mặt thì vẫn căng thẳng và cau có. Tôi thật vui khi nói rằng giờ đã có thể mua gà rán Kentucky ở Stockholm. Cả bánh mình pita nữa, anh thêm vào ý nghĩ vừa mới nảy ra đó. Anh không biết chắc nó đã xảy ra theo cách nào, nhưng gần đây bánh mì pita dường như đã mang chất Mỹ ngang bằng xúc xích.

***


“Đương nhiên anh có thể xoanh sở được,” em gái anh nói qua điện thoại. “Em có nói anh không làm được đâu? Nhưng ít ra anh cũng cho bọn em biết chứ. Ba tuần rồi cơ đấy! Chị Saral đã bỏ đi được ba tuần mà mãi đến hôm nay em mới nghe nói. Mà cũng chỉ là tình cờ nữa chứ. Nếu em không bảo muốn nói chuyện với chị Saral, liệu anh có bao giờ cho bọn em biết chị ấy đã bỏ anh không?”

“Cô ấy không bỏ anh,” Macon lên tiếng, “Ý anh là không phải như em nghĩ đâu. Bọn anh đã bàn bạc như những người lớn với nhau rồi quyết định chia tay, vậy thôi. Điều cuối cùng anh cần là người thân của anh vây quanh anh và bảo, ‘Ôi, thật tội nghiệp cho Macon, làm thế nào mà Saral có thể đối xử như vậy…’ ”.

“Tại sao em phải nói vậy?” Rose hỏi. “Ai cũng biết thật khó sống với những người đàn ông nhà Leary mà.”

“Ồ,” Macon nói.

“Giờ chị ấy ở đâu?”

“Cô ấy thuê nhà dưới phố,” anh nói. “Mà này,” anh nói thêm, “em cũng không việc gì phải thương cảm và rồi đến kêu cô ấy đi ăn tối hay gì gì đó. Cô ấy có gia đình của mình. Anh tưởng trong chuyện này em đứng về phe anh.”

“Em tưởng anh không muốn bọn em đứng về phe nào cả.”

“Không, không, anh không nghĩ vậy. Ý anh là em không nên đứng về phe cô ấy, đó chính là lời anh muốn nói.”

“Khi vợ chồng Charles ly dị,” Rose nói, “Giáng sinh nào bọn em cũng đến đưa chị ấy đi ăn tối, như đã luôn như vậy. Nhớ không?”

“Anh nhớ,” Macon uể oải nói. Charles là anh cả của họ.

“Em cho là chị ấy vẫn sẽ đến, nếu như chưa lấy chồng xa.”

“Cái gì? Nếu chồng chị ấy là người khu Baltimore, thì em cũng tiếp tục đi mời cả hai người chắc?”

“Chị ấy và vợ Porter và Saral thường ngồi trong bếp - ấy là cái dạo trước khi vợ chồng Porter ly hôn – và họ liên tục nói về đàn ông nhà Leary. Ồ, nào là đàn ông nhà Leary thì như thế này, nào là đàn ông nhà Leary thế kia: làm sao mà họ cứ phải bắt mọi thứ trật tự ngăn nắp, cứ phải lường trước mọi thứ, cứ phải kiểm soát chặt chẽ thế giới như thể họ thật sự nghĩ rằng họ có thể khiến nó nằm im trong trật tự vậy. Ôi đàn ông nhà Leary! Em vẫn còn có thể nghe thấy họ nói. Em phải bật cười: Vào một ngày lễ Tạ ơn nọ, Porter và June đang chuẩn bị đi, hồi bọn trẻ nhà họ vẫn còn nhỏ ấy, June đang bế đứa bé tiến ra phía cửa còn Danny đang bám riết vào áo mẹ với cả đống đồ chơi và các thứ lỉnh kỉnh khác thì Porter la to, ‘Dừng lại!’ rồi bắt đầu đọc to một trong những tờ hóa đơn thanh toán mà ở đó anh ấy luôn liệt kê các thứ như: chai lọ, mền, sữa bột lấy từ tủ lạnh, tã giấy… June chỉ liếc nhìn hai đứa bé và đảo tròn mắt thôi.”

“Ồ, đó đâu phải là một ý tệ lắm,” Macon nói, “Khi em nghĩ cho June.”

“Không, và anh cũng phải để ý là danh sách đó được viết theo thứ tự Alphabet,” Rose nói. “Em thì em nghĩ đặt theo Alphabet có thể giúp sắp xếp mọi thứ chút đỉnh.”

Rose có một căn bếp trong đó mọi thứ được sắp xếp hoàn toàn theo trật tự Alphabet – tiêu sọ có thể được tìm thấy ngay cạnh thuốc diệt kiến. Cô đúng là người thích hợp để nói về những người đàn ông nhà Leary.

“Dù gì,” cô nói. “Từ hôm đi đến giờ, chị Saral có về nhà chứ?”

“Cô ấy có về một hay bận. Thật ra là một,” Macon nói, “Chỉ để lấy ít đồ cần đến.”

“Đồ gì?”

“À, cái nồi đun đôi. Những thứ tương tự như thế.”

“Vậy thì chỉ là cái cớ thôi,” Rose nói nhanh. “Chị ấy có thể mua cái ấy ở cửa hàng bán đồ rẻ tiền nào chả được.”

“Cô ấy bảo thích cái cũ.”

“Chị ấy chỉ muốn kiểm tra xem anh sống thế nào thôi. Chị ấy vẫn còn quan tâm đấy. Anh có trò chuyện gì không?”

“Không,” Macon nói, “anh chỉ đưa cô ấy chiếc nồi. Và cả cái khui nút chai nữa.”

“Ôi, Macon. Lẽ ra anh nên bảo chị ấy vào nhà.”

“Anh sợ cô ấy từ chối,” anh nói.

Họ im lặng. Cuối cùng Rose nói. “Vậy đấy. Sao cũng được.”

“Nhưng anh đang ổn cả mà!”

“Ừ, đương nhiên là thế,” cô bảo.

Rồi cô bảo đang nướng gì đó trong là và gác máy.

Macon đến bên cửa sổ phòng làm việc. Ấy là một ngày đầu tháng Bảy nắng nóng, bầu trời xanh đến độ khiến anh chói mắt. Anh áp sát trán vào kính và nhìn ra vườn, tay đút vào hai túi sau của chiếc quần kaki. Tít trên cao một cây sồi, có chú chim hót điệu giống như ba nốt nhạc dạo trong bài hát “My little gypsy sweetheart”. “Ngủ… ngoan… nào,” nó như hót vậy. Macon tự hỏi liệu chăng một ngày nào đó, ngay cả giây phút này cũng sẽ trở thành một điều gì đấy mà anh nhìn lại với bao tiếc nuối. Anh không thể hình dung được. suốt cả đời mình anh không thể nghĩ được lúc nào lòng anh trống trải hơn lúc này, nhưng anh nhận thấy thời gian có cách khiến mọi vật trở nên đầy màu sắc như thế nào. Chẳng hạn như chú chim kia có một giọng hót thật trong veo. Ngọt ngào, lảnh lót.

Anh quay vào, phủ chiếc máy đánh chữ lại, và ra khỏi phòng.

***


Anh đã không còn ăn uống theo đúng nghĩa nữa. Thấy đói thì uống cốc sữa, hoặc xúc một chút kem từ trong hộp. Chỉ ăn qua loa như vậy thôi nhưng anh lại thấy mình no căng và nặng nề, tuy vậy sáng dậy mặc quần áo vào anh lại thấy mình dường như gầy đi. Cái cổ áo sơ mi không còn khít cổ anh nữa. Nhân trung hõm vào khiến anh thấy thật khó cạo chỗ ria ấy. Còn mái tóc của anh – mái tóc trước đây Saral thường cắt cho anh – xìa ra trước trán như một cái giá. Và cái gì đó đã khiến mi dưới của anh chảy xệ. Anh vốn có đôi mắt nhỏ màu xám; giờ đây đôi mắt ấy lồi ra và mang vẻ thảng thốt. Phải chăng đó là dấu hiệu của sự thiếu dưỡng chất?

Bữa sáng: Bữa sáng là bữa quan trọng nhất. Anh đặt bình pha cà phê và chảo rán điện bên cạnh chiếc radio có đồng hồ điện tử trên bậu cửa sổ phòng ngủ. Cứ như anh đang muốn để đồ ăn nhiễm độc, để mặc hai quả trứng sống cả đêm ở nhiệt độ phòng, nhưng một khi anh đổi thực đơn thì chẳng có bất trắc gì xảy ra cả. Con người ta thích nghi trong mọi hoàn cảnh mà. Giờ anh được đánh thức hẳn bởi mùi cà phê mới và món bắp chiên bơ nóng hổi, và anh có thể chén sạch cả hai món kia mà không cần phải ra khỏi giường. Ồ, anh đã có thể xoay sở tốt, rất tốt. Mọi thứ đều tốt đẹp cả.

Nhưng ban đêm thì thật kinh khủng với anh.

Không phải anh gặp rắc rối trong chuyện đi vào giấc ngủ. Dễ lắm. Anh xem tivi cho đến khi hai mắt rát lại; ròi anh leo lên lầu. Lại vặn vòi hoa sen, rồi cho đồ bẩn vào bồn tắm. Đôi khi anh nghĩ đến việc bỏ qua thủ tục này, ngoại trừ điều đó có nguy cơ khiến anh rớt lại đằng sau cái trật tự do mình tạo ra ấy. Thế nên anh thực hiện từng bước một: treo đồ đã giặt, chuẩn bị thức ăn sáng, làm sạch răng bằng chỉ nha khoa – anh không thể nào đi ngủ mà không làm việc đó. Chẳng rõ lý do gì mà Saral thấy phát cáu với thói quen này của anh. Nếu Macon bị kết qán tử hình, đã có lần cô nói thế, và họ bảo anh sẽ bị đem xử bắn vào lúc bình mình, thể nào đêm hôm ấy cũng vẫn miệt mài ngồi làm sạch răng cho mà xem. Macon, sau khi nghĩ chin ra, cũng gật đầu đồng tình. Ừ chắc sẽ như thế thật. Liệu anh có chà răng trong khi vùi mình trong căn bệnh viêm phổi? Hay vật vã với bệnh sỏi mật trong bệnh viện? Hay tại nhà trọ dành cho khách đi đường trong cái đêm con trai anh bị giết? Anh soi răng mình trong gương. Chúng chưa bao giờ hoàn toàn trắng sáng, dù cho anh đã bỏ ra bao công sức chùi chà. Và giờ đây dường như làn da anh cũng bắt đầu hơi ngả sang vàng.

Anh tắt đèn, dịch con mèo sang một bên, đỡ con chó lên giường. Ấy là một giống chó xứ Wales, chân cực ngắn, nhưng lại cứ thích ngủ trên giường, do vậy mà tối nào nó cũng đứng thẳng lên, tựa chân trước lên giường nhìn Macon cầu khẩn cho đến khi anh đỡ nó lên giường mới thôi. Rồi cả ba đều yên vị. Macon trườn vào cái bao của anh, con mèo cuộn mình ấm áp ngay dưới cánh tay anh, còn con chó thì phóc đến cuối giường gần chân anh. Rồi Macon nhắm mắt lại và chìm vào giấc ngủ.

Vậy mà rốt cuộc anh lại thấy mình tỉnh như sáo với những giấc mơ – không phải chịu đựng chúng là dựng chúng lên một cách tẻ nhạt, mổ xẻ chúng đến từng chi tiết. Khi anh nhận thấy mình tỉnh giấc, anh mở mắt và liếc nhìn chiếc radio. Nhưng mới có một giờ sáng. Muộn nhất là hai giờ. Thế là vẫn còn trằn trọc nhiều giờ nữa mới đến sáng.

Đầu anh ong lên với những âu lo nhỏ nhặt. Có khi nào anh quên khóa cửa sau không nhỉ? Hay anh đã viết séc cho khoản nợ ngân hàng thay vì hóa đơn tiền ga? Anh sực nhớ mình đã mở hộp nước trái cây V8 và rồi đặt chiếc hộp vào ngăn đá. Các chỗ riềm kim loại sẽ bị oxy hóa! Thể nào cũng nhiễm độc chì cho xem!

Những âu lo kiể thế mỗi lúc một tăng lên. Anh tự hỏi đã có gì sai lầm trong cuộc hôn nhân của hai người. Saral là mối tình đầu tiên và cũng là duy nhất của anh; giờ đây anh lại nghĩ lẽ ra mình nên thực hành trước với ai đó đã. Trong cái quãng hai mươi năm chồng vợ ấy đã có những khoảng khắc – những ngày tháng – anh cảm thấy họ không là một thể thống nhất như vẫn thường thấy ở các đôi vợ chồng khác. Đúng thế đấy, họ đã luôn là hai thực thể khác biệt, thậm chí bạn bè cũng không phải. Lại có những lúc họ giống như hai địch thủ đang gờm nhau, đua tranh xem lối song của ai tốt hơn. Là Saral, bừa bãi và dễ lung lay? Hay là Macon, ngăn nắp và kiên định?

Khi Ethan ra đời, nó chỉ mang lịa thêm nhiều khác biệt giữa ba mẹ nó. Những điều họ đã cố lờ đi nay lại hiện lên mồn một. Saral chảng bao giờ đặt con trai vào một nề nếp nào cả, không nghiêm và cứ để mặc kệ. Còn Macon (ồ, anh biết điều đó, anh thừa nhận điều đó) lại quá chú ý đến việc lường trước cho cu cậu mọi tình huóngcos thể xảy ra đến độ anh chẳng còn chút thời gian nào để vui chơi cùng con. Ethan lên hai, rồi lên bốn – tất cả hiện lên trước mặt anh như một cuốn phim màu được chiếu lên trần nàh phòng ngủ. Cu cậu lúc nào cũng cười như nắc nẻ với Macon mỗi khi anh khom người xuống siết chặt lấy tay nó. Năm nó lên sáu, Macon đã rất quyết liệt trong việc dạy cậu vợt bong; anh hẳn sẽ cảm thấy hết sức khổ sở nếu Ethan là người cuối cùng được chọn vào bất cứ đội nào. “Tại sao?” Saral hỏi. “Nếu nó được chọn cuối cùng, thì nó được chọn cuối cùng. Sao anh không cứ để mọi chuyện xảy ra tự nhiên đi.” Cứ để vậy! Cuộc đời có quá nhiều điều ta không thể làm gì được; ta phải cố làm những gì có thể. Cô cười ta khi Macon bỏ ra cả một mùa thu để góp nhặt Wacky Pack (1) bên trong có nữhng tấm nhãn dính có hình Ethan thích để dán lên cửa phòng ngủ của nó. Macon dám cá là không đứa nào ở khối lớp ba có thể có nhiều thứ ấy hơn nó. Mãi rất lâu sau khi Ethan không còn hứng thú với cái trò đó nữa, Macon vẫn tiếp tục kiên trì mang thứ nhãn dính ấy về nhà. Macon biết mình đang làm một việc ngớ ngẩn, nhưng vẫn còn có những cái nhãn mà cha con anh chưa sưu tầm được….

Mười hai tuổi, Ethan đi cắm trại xa nhà – cách đây một năm, gần như tròn trặn. Bọn con trai hầu như đều đi cả, nhưng Macon lại lần lữa. Có con để làm gì, anh hỏi Saral, khi mà em chỉ chực gửi nó đến một chỗ khỉ ho cò gáy nào đó ở Virginia? Cái lúc mà rốt cuộc anh cũng chịu thua, Ethan đã là đứa nổi bật trong nhóm bạn cùng lứa – một cậu con trai cao ráo tóc vàng với nét mặt thân thiện và cởi mở, có thói quen đáng yêu là nhịp nhịp các ngón chân mỗi khi thấy căng thẳng.

Đừng nghĩ về điều ấy.

Cậu ấy bị giết tại tiệm bánh Burger Bonanza vào đêm cắm trại thứ hai. Ấy là một trong những cái chết không gây đau đớn gì cả - cái lối cướp của mà tên cướp sau khi lấy xong tiền và đã chực bước đi thì bỗng thấy tốt hơn nên nã vào sợ mỗi nạn nhân một phát đạn cho xong.

Thậm chí chẳng ai nghĩ Ethan lại ở đó. Cậu đã luồn ra khỏi khu vực cắm trại với một cậu bạn cùng lều, đứa lúc ấy đang đứng canh chừng bên ngoài.

Chỗ cắm trại thật đáng trách vì không giám sát gì cả. Burger Bonanza thật đáng trách vì an ninh lỏng lẻo. Cậu bạn cùng lều kia thật đáng trách vì không chịu vào cùng luôn và biết đau có thể thay đổi việc đã xảy ra. (Canh chừng cái gì cơ chứ, lạy Chúa?) Saral thật đáng trách vì đã để Ethan ra khỏi nhà; Macon thật đáng trách vì đồng ý; Ethan cũng thật đáng trách (vâng, khỉ thật!). Ethan thật đáng trách vì đã muốn tham gia cái hội trại đó và đã lẻn ra khỏi trại, và vì đã vào Burger Bonanza như một tên ngốc gàn dở khi một vụ cướp đang diễn ra. Cậu thật đáng trách vì đã ngoan ngoãn cùng với những người khác đi vào nhà bếp, vì đã đạt hai tay áp sát tường khi được bảo làm thế, và thể nào cũng khẽ nhịp các ngón chân…

Đừng nghĩ về điều ấy.

Người quản lý trại, vì không muốn báo tin dữ qua điện thoại, đã đích thân lại xe đến Baltimore cho họ biết việc xảy ra. Rồi lái ngược về Virginia. Macon thường hồi tưởng lại cái ông quản lý đó. Tên ông ta là Jim, Jim Robinson hay có thể là Roberton – một người đàn ông lực lưỡng, có ria mép màu sáng, với mái tóc húi cua, mặc một chiếc áo bành tô, bên trong là áo phông hiệu Redskins. Ông ta dường như thấy kém thoải mái khi không ai nói gì nên đã cố hết sức khỏa lấp sự im lặng bằng những mẩu chuyện rời rạc chắp nối. Macon đã không nghe, hoặc giả anh nghĩ rằng anh đã không nghe; nhưng giờ đây những mẩu chuyện không đầu đuôi đó lại kéo nhau về. Nào là bà mẹ của Jim đã là một người Baltimore ra sao, Jim đã chịu đựng cái năm Babe Ruth chơi cho đội Orioles như thế nào. Nào là cái đám cà chua của Jim ỏng eo ra sao, chúng chỉ cho ra toàn những quả bé tẹo rới khỏi cành trước khi kịp chín. Nào là vợ Jim rất sợ phải lùi xe và luôn cố tránh các tình huống đòi hỏi phải vào số lùi thế nào. Giờ đây, nằm trên giường, Macon miên man suy nghĩ về điều ấy. Liệu ai có thể lái xe mà không bao giờ phải cài số lùi không nhỉ? Vậy chỗ các ngã ba, ngã tư thì sao, ở những chỗ mà mấy bác xe buýt cứ chực thò đàu ra cửa sổ réo mình lùi xe lại một chút để mấy bác có thể rẽ trái hay phải. Chẳng lẽ cô ta không chịu à? Macon hình dung cô ta im lặng, thách thức, một mực nhìn về phía trước và giả vờ như chẳng nghe thấy gì cả. Thế là bác xe buýt nọ bật ra câu chửi thề, rồi nhấn còi inh ổi, rồi những lái xe khác thì la ó, “Này, cô kia!” Mộit hình ảnh thật thú vị. Macon cứ giữ riết hình ảnh ấy trong đầu.

Rốt cuộc anh ngồi dậy và luồn ra khỏi cái bao của mình. Con chó, thở dài, tỉnh ngủ hẳn và vọt xuống giường, thẽ thọt xuống lầu sau ông chủ. Ván sàn mát rượi dưới chân, vải sơn lót nhà bếp lại còn mát ljanh hơn; một dòng sang phát ra từ tủ lạnh khi Macon rót cho mình một ly sữa. Anh đi lên phòng khách và bật vô tuyến. Ti vi đang chiếu một bộ phim đen trắng gì đấy – đàn ông vận com lê và mũ nỉ, phụ nữa áo tay bồng. Anh không cố theo dõi cốt truyện. Anh chậm rãi nhấp từng ngụm sữa nhỏ, cảm thấy dòng can xi như tan chảy nhanh vào xương. Có phải anh đã đọc đâu đó rằng can xi có thể giúp trị chứng mất ngủ? Anh lơ đãng vuốt ve con mèo không biết bằng cách nào đã trườn vào nằm trong lòng anh từ bao giờ. Thật quá nóng nực khi để một con mèo nằm trong lòng như thế, nhất là con mèo này – một con mèo cái rậm rạp lông xám như thể làm từ một thứ chất liệu gì đó dày một cách bất thường. Và con chó thì cũng lại đang nằm ngay dưới chân anh. “Chỉ còn lại tao và tụi mày thôi, bạn thân mến.” Macon bảo chúng thế. Con mèo liếm một vệt hình dấu phẩy ngan qua bắp đùi trần của anh.

Sau cùng anh tuồn ra khỏi hai con vật và tắt ti vi. Anh cho ly vào bồn nước rửa chén trong nàh bếp đã pha chất tẩy clo. Rồi leo lên lầu. Anh đứng cạnh cửa sổ phòng ngủ nhìn quanh quất sang nhà hàng xóm – những nhánh cây đen kịt ngoằn ngoèo trên nền trời đêm tím sẫm, đây đó lấp lóa một tấm che bằng ván trắng, đôi khi là một ánh đèn. Macon luôn cảm thấy dễ chịu khi phát hịên ra một ánh đèn. Anh cho rằng có ai đó cũng mất ngủ như anh. Anh không thích nghĩ đến bất kỳ khả năng nào khác – một bữa tiệc chẳng hạn, hay tâm sự giữa những người bạn cũ lâu ngày gặp. Anh thích nghĩ đến khả năng người kia cũng như anh, đang ngồi tỉnh như sáo cố gạt những suy nghĩ ra khỏi đầu. Như vậy khiến anh dễ chịu hơn rất nhiều. Anh quay về giường. Đặt mình xuống. Nhắm mắt lại và thậm chí chẳng cố gắng gì, anh trôi vào giấc ngủ.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2011-05-19 15:55:22gaucon1998>
3.
 
Saral gọi điện hỏi Macon liệu cô có thể về nhà lấy tấm thảm xanh hải quân trong phòng ăn không.
 
“Thảm xanh hải quân,” Macon lặp lại (Anh đang đánh trống lảng để câu giờ.)
 
“Em không định lấy nó đâu, nhưng tại vì anh chẳng bao giờ thích tấm thảm ấy,” Saral bảo. “Anh nói trải thảm phòng ăn là sai lầm.”
 
Đúng thế thật, anh đã từng nói như vậy. Một thứ chỉ tổ bám bụi, anh đã bảo thế. Mất vệ sinh. Thế thì cớ sao đột nhiên trong anh lại cuộn lên mong muốn giữ lại tấm thảm ấy?
 
“Macon, anh còn đó không?”
 
“Anh đây.”
 
“Vậy em tới lấy nhé, anh không phiền chứ?”
 
“Không, chắc là không.”
 
“Ồ, vậy được rồi. Căn hộ của em sàn nhà vẫn chưa có thảm trái và anh không biết là…”
 
Cô sẽ ghé qua lấy tấm thảm ấy, và anh sẽ đón cô vào. Anh sẽ mang cho cô một cốc rượu Sherry. Hai người sẽ ngồi trên trường kỷ với cốc Sherry của mình và anh sẽ nói, “Saral à, em có nhớ anh không?” À không, anh sẽ nói, “Anh nhớ em, Saral à.”
 
Cô sẽ nói…
 
Cô lên tiếng, “Em nghĩ nếu tiện sáng Chủ Nhật em sẽ ghé qua.”
 
Thế nhưng người ta chẳng ai lại uống Sherry vào buổi sáng.
 
Và hơn thế nữa: Hôm ấy anh không có nhà. “Chiều mai anh bay sang Anh,” Anh bảo.
 
“Ồ, lại đến lúc đi Anh nữa rồi à?”
 
“Hay là em về tối nay?”
 
“Không được, xe em đang sửa.”
 
“Xe em? Hỏng gì?”
 
“À, em đang lái và… anh có biết cái đèn đỏ nhỏ xíu bên phải bảng đồng hồ xe không?”
 
“Cái gì, đèn báo áp suất dầu hả?”
 
“Ừ, em cũng nghĩ vậy. Vậy đấy, em sẽ muộn giờ hẹn với bác sĩ răng nếu kiểm tra xem nó thế nào và dù sao thì cái xe có vẻ chạy rất ổn, thế nên…”
 
“Gượm đã. Có phải em nói là cái đèn đó sáng lên? Nhưng rồi em vẫn cứ thế cho xe chạy?”
 
“À, tiếng xe không có gì khác, cách nó chạy cũng vẫn bình thường, thế nên em nghĩ…”
 
“Chúa ơi, Saral.”
 
“Như thế có gì tệ lắm sao?”
 
“Có thể em đã làm hỏng động cơ rồi đấy.”
 
“Không đâu, em không làm hỏng động cơ như anh nói đâu. Em chỉ phải mang nó đi sửa chút thôi, không may lại mất vài ngày mới xong. Ồ, không sao đâu. Em có chìa khóa nhà mà. Em sẽ tự mở cửa vào khi ghé qua vào thứ Bảy.”
 
“Hay là để anh mang tấm thảm qua cho em.”
 
“Thứ Bảy em sẽ qua lấy.”
 
“Để anh xem căn hộ của em thế nào.” Macon nói. “Anh chưa vào trong lần nào, em biết rồi đấy.”
 
“Không được, em chưa dọn dẹp ngăn nắp.”
 
“Anh không quan tâm đến điều đó đâu.”
 
“Lộn xộn lắm. Em chưa mó tay vào việc gì.”
 
“Làm thế nào mà như thế được chứ? Em đã ở đó hơn một tháng rồi còn gì.”
 
“À, em đâu phải là người có năng lực cực kỳ xuất sắc như anh, Macon.”
 
“Em không cần phải có năng lực để…”
 
“Có những hôm,” Saral nói, “thậm chí em tìm mãi không thấy áo choàng tắm đâu nữa kia.”
 
Macon im lặng.
 
“Lẽ ra em nên nhận dạy hè,” Saral nói. “Có việc gì đó để làm nhiều khi lại tốt hơn. Mỗi sáng em thức dậy, mở to mắt và nghĩ, ‘Sao lại phải dậy nhỉ?’”
 
“Anh cũng thế,” Macon nói.
 
“Sao lại phải ăn? Sao lại phải hít thở?”
 
“Em yêu, anh cũng như vậy.”
 
“Macon à, anh có cho rằng cái người đó cũng có suy nghĩ không? Em muốn xông thẳng vào nhà tù để nhìn cho tận mặt hắn, Macon à. Em muốn ngồi bên ngoài song sắt, hay khung lưới hay bất kể là cái gì và em sẽ nói, ‘Nhìn vào tao đây này. Nhìn đi. Nhìn vào những gì mày gây ra đây này. Mày không chỉ giết chết những người mày bắn hôm ấy; mày còn giết cả những người khác nữa. Hậu quả của những gì mày làm sẽ không bao giờ kết thúc. Mày không chỉ giết chết con trai tao; mày còn giết cả tao; cả chồng tao. Tao thậm chí còn không thể kéo nổi cái rèm cửa nữa; mày có hiểu những gì mày gây ra không hả? Khi đã biết chắc rằng hắn đã thật sự nhận ra, rằng hắn cảm thấy việc hắn làm thật kinh khủng, em sẽ mở ví, rút sung ra, và nhắm vào giữa trán hắn mà bóp cò.”
 
“Ồ, em yêu…”
 
“Anh nghĩ em chỉ nói vậy cho hả thôi chứ gì. Nhưng Macon, em thề đấy, em có thể cảm thấy cái giật nhẹ của bang súng vào lòng bàn tay khi em bóp cò. Trong đời mình em chưa một lần bắt sung – Thề có Chúa, em chưa từng thấy súng. Điều đó chẳng phải là kỳ quặc lắm sao? Ethan đã thấy súng; Ethan đã có một trải nghiệm mà cả anh và em đều không hề có một ý niệm nào. Nhưng đôi khi em giơ tay ra, ngón tay cái vổng lên giống như bọn trẻ chơi trò cao bồi, và ngón tay trỏ hơi cong lại, em thấy trong lòng dâng lên một cảm giác thỏa mãn.”
 
“Saral, em nói thế anh thấy không ổn chút nào.”
 
“Hả? Thế anh bảo em phải nói sao bây giờ?”
 
“Ý anh là nếu em cứ giữ sự căm giận trong người mãi như thế em sẽ… quỵ mất. Em sẽ tự thiêu cháy mình mất thôi, bằng ngọn lửa căm hờn đó. Chẳng lợi lộc gì.”
 
“Lợi lộc! Trời ơi, không phải chứ, đừng phí hoài thời gian vào bất cứ thứ gì không mang lại lợi lộc.”
 
Macon xoa xoa trán. Anh nói, “Saral, anh chỉ cảm thấy chúng mình không đủ sức để đắm chìm mãi trong những suy nghĩ kiểu ấy.”
 
“Anh nói thật dễ.”
 
“Quái quỷ! Không dễ dàng gì…”
 
“Cứ đóng cửa lại, Macon. Cứ đi đi. Cứ giả vờ như chưa hề có gì xảy ra. Hãy đi mà sắp xếp lại cái đống dụng cụ của anh đi, sao lại không chứ; hãy cứ cố xoay chuyển cái tồi tệ nhất thành điều nhẹ nhàng nhất, thay vì từ điều nhẹ nhàng nhất đến cái tồi tệ nhất; thế mới vui.”
 
“Mẹ kiếp, Saral,em…”
 
“Không phải anh đang chửi thề vào mặt em đấy chứ, Macon Leary!”
 
Họ im lặng một lúc.
 
Macon lên tiếng trước, “Được.”
 
Saral bảo, “Ừm, sao cũng được.”
 
“Em cứ về nhà trong lúc anh đi vắng,” anh nói.
 
“Nếu được.”
 
“Hẳn rồi,” anh bảo thế mặc dù khi gác ống nghe xuống anh có cảm giác khó chịu không lý giải nổi, như thể anh đã để cho một kẻ xa lạ vào nhà mình. Như thể cô về sẽ khuân đi nhiều thứ khác nữa chứ không chỉ mỗi tấm thảm nơi phòng ăn.
 
***
 
Chuẩn bị cho chuyến đi Anh, Macon chọn bộ đồ khiến anh thấy thoải mái nhất. Một bộ là đủ, anh đã viết như thế trong những cuốn sách hướng dẫn du lịch của mình, nếu bạn đem theo chất tẩy đựng trong các gói cỡ nhỏ dành cho du lịch. (Macon biết tất tần tật mọi thứ người ta có thể cho vào các gói nhỏ kiểu như vậy, từ chai nước thơm khử mùi cho đến hộp xi giày.) Nên mặc bộ đồ hơi xám. Màu như vậy không những lâu bẩn, mà còn rất tiện khi ngộ nhỡ phải dự một đám tang bất ngờ, hay phòng khi phải tham gia những sự kiện trọng đại. Và màu ấy cũng không quá sẫm, thế nên có thể mặc thường này được.
 
Anh cho vào vali số quần áo ít nhất có thể và một bộ dao cạo râu. Một cuốn sách anh viết gần đây về những chỉ dẫn khi đi du lịch ở Anh. Một cuốn tiểu thuyết để đọc trên máy bay.
 
Hãy mang những thứ vừa vặn với cái túi có thể mang theo bên mình. Gửi và nhận hành lý chỉ tổ rước thêm phiền phức. Hãy bỏ thêm một vài gói bột giặt cỡ nhỏ dành cho du lịch vào túi, để bạn khỏi rơi vào tay những bà chủ tiệm giặt ngoại quốc.
 
Sau khi sắp xếp hành lý xong, anh ngồi nghỉ trên chiếc trường kỷ. Hay nói đúng ra là anh không nghỉ mà chỉ ngồi như thế để trấn tĩnh lại – giống như một người đang hít thật sâu nhiều lần để chuẩn bị cho cú lặn của mình.
 
Đồ đạc được sắp đặt đâu ra đó thành những đường thẳng tắp và những mép cong vui mắt. Những hạt bụi lơ lửng trong vạt nắng chiếu nghiêng. Cuộc sống của anh lúc này mới bình yên làm sao! Nếu hôm nay không phải đi Anh, nếu hôm nay là một hôm nào đấy khác, anh có thể đã đi pha một tách cà phê hòa tan rồi. Anh sẽ thả chiếc muỗng rơi tõm vào bồn rửa chén và đứng đó nhâm nhi từng ngụm cà phê trong khi con mèo cọ qua cọ lại dưới chân. Và rồi anh có thể sẽ mở hộp thư. Những việc như thế lúc này mới đáng yêu và thư thái làm sao. Thế thì anh còn ta than gì được nữa? Ở nhà mọi thứ đã ổn thỏa, anh không cần phải lo lắng gì. Chuyến đi cũng đã được chuẩn bị xong từ những thứ nhỏ nhặt nhất sau nhiều nỗ lực và cân nhắc.
 
Khi chỉ còn hai giờ nữa là máy bay cất cánh, anh đứng dậy. Sân bay cách nhà chừng ba mươi phút lái xe, nhưng anh không thích cảm giác vội vã. Anh đảo một vòng hết các phòng trong nhà, dừng lại nơi phòng tắm tầng một – cái phòng tắm đích thực (theo cách nghĩ của anh) mà tuần sau anh mới được tắm trong đó. Anh huýt sáo gọi con chó. Anh xốc chiếc túi lên, và bước ra nơi cửa trước. Hơi nóng bên ngoài táp vào anh đặc quánh.
 
Con chó chỉ đi với anh một đoạn tới nhà bác sỹ thú y thôi. Nếu biết vậy, còn lâu nó mới chịu phốc lên xe. Ngồi bên cạnh Macon, con chó thở hào hển ra dáng hăng hái, cái bộ dạng trùng trục của nó loay hoay ra chiều mong ngóng. Macon nói với nó theo cách anh hy vọng rằng không khiến nó hoảng, “Nóng, phải không Edward. Mày muốn bật điều hòa lên không?” Anh điều chỉnh chế độ điều hòa. “Rồi đó. Dễ chịu hơn chưa?” Anh thấy có gì đó giả tạo trong giọng mình. Có lẽ Edward cũng có cảm giác như thế nên nó khựng lại và ném về phía anh ánh mắt ngờ vực thảng thốt. Macon quyết định không nói thêm gì.
 
Họ đi vòng vèo qua khu phố, chạy xuống những con đường rợp bóng cây. Rồi rẽ vào một khu phố nhiều nắng hơn với những cửa hiệu và dịch vụ. Khi họ đến gần đại lộ Murray, Edward bắt đầu rên ư ử. Tại bãi đậu xe của bệnh viện thú y trên đại lộ Murray, nó co rúm người lại như thể biến thành một chú chó con bé tẹo.
 
Macon ra khỏi xe và đi vòng ra sau để mở cửa. Khi anh nắm vòng cổ lôi nó ra. Edward bấu chặt lấy lớp da bọc ghế. Và cứ thế con Edward bị lôi đi với bốn chân cào soàn soạt xuống mặt đường bê tông bỏng nắng cho tới tận tòa nhà.
 
Phòng đợi không có ai. Một bể cá vàng sủi tăm nơi góc nhà, trên bể cá là một tấm áp phích sặc sỡ mô tả vòng đời của con bọ chó. Phía sau quầy, một cô gái đang ngồi trên chiếc ghế đẩu, dáng người nhỏ xíu trong chiếc áo đầm hở vai có thắt dây vòng qua cổ.
 
“Tôi mang chó đến gửi,” Macon nói. Anh phải lên giọng để át đi tiếng rên rỉ của Edward.
 
Vẫn nhai kẹo cao su, cô gái đưa anh một tờ đơn in sẵn và cây bút chì. “Đã gửi ở đây lần nào chưa?” cô hỏi.
 
“Có, cũng thường.”
 
“Họ là gì?”
 
“Leary.”
 
“Leary. Leary,” cô nói, lật nhanh các tấm thẻ trong hộp. Macon bắt đầu điền thong tin vào mẫu. Edward giờ đã đứng thẳng lên và bám chặt lấy đầu gối anh, trông giống như đứa bé mới biết đi sợ bị đưa vào vườn trẻ.
 
“Ôi chao,” cô gái nói.
 
Cô nhíu mày nhìn chiếc thẻ vừa mới lấy ra khỏi hộp.
 
“Edward?” cô nói. “Trên đường Rayford?”
 
“Đúng rồi.”
 
“Chúng tôi không nhận nó được.”
 
“Cái gì?”
 
“Có lần nó đã cắn một người phục vụ. Này, trên thẻ có ghi rõ, ‘Đã cắn vào mắt cá chân của Barry, không được nhận lần sau.’ ”
 
“Có ai nói cho tôi biết đâu.”
 
“Ồ, lẽ ra họ phải nói rồi chứ.”
 
“Chẳng ai nói gì cả! Vào tháng Sáu tôi đã gửi nó lại đây khi chúng tôi đi biển; tôi về và họ trao nó lại cho tôi.”
 
Cô gái chớp mắt nhìn anh, không biểu lộ cảm xúc gì.
 
“Cô trông đây này,” Macon nói. “Tôi đang trên đường tới sân bay, đến giờ rồi. Tôi phải tới đúng giờ lên máy bay.”
 
“Tôi chỉ làm theo lệnh thôi,” cô gái bảo.
 
“Vậy giờ phải làm gì với nó đây?” Macon hỏi. “Đã có ai tìm hiểu việc đó chưa? Có thể con Edward làm vậy là vì một lý do nào đó.”
 
Cô gái lại chớp mắt. Edward giờ đã đứng xuống bằng bốn chân và nhìn lên với vẻ hóng hớt, như đang dõi theo cuộc nói chuyện.
 
“Ôi chết tiệt,” Macon nói. “Thôi đi nào, Edward.”
 
Giờ thì anh không cần phải lôi cổ nó đi như lúc vào nữa. Edward chạy chồm về phía trước phóng thẳng tới bãi đậu xe.
 
Chỉ có một lúc mà nhiệt độ trong xe tăng lên như trong lò nung. Macon mở cửa kính và ngồi im trong đó, không khởi động xe. Làm thế nào bây giờ? Anh nghĩ đến việc tới gửi nhà em gái, nhưng có lẽ cô cũng không chịu nhận Edward. Thật ra, đây không phải lần đầu tiên anh nghe phàn nàn về Edward. Nói đâu xa, mới tuần rồi, anh trai Macon – Charles – tạt qua mượn cái bào soi, và Edward lao ra như tên bắn làm một vòng ngoạn mục quanh chân anh nhay lấy nhay để gấu quần anh. Charles kinh ngạc đến độ chỉ biết từ từ ngoái đầu lại đằng sau và nói như hụt hơi, “Cái gì khiến nó dở chứng ra như thế hả?” anh hỏi. “Trước đây có bao giờ nó cư xử vậy đây chứ.” Và rồi khi Macon chộp lấy vòng cổ nó, Edward đã gừ lên. Nó xếch hai mép trên lên và gừ. Lẽ nào chó cũng có chuyện suy sụp tinh thần sao?
 
Macon không mấy thân thiện với lũ chó. Anh thích mèo hơn. Anh thích cái cách lũ mèo trầm ngân tư lự. Chỉ gần đây Macon mới để ý đến Edward. Giờ thì anh quá cô đơn, thế nên bắt đầu trò chuyện huyên thuyên với nó, hay có lúc anh chỉ ngồi ngắm nó thôi. Anh ngưỡng mộ đôi mắt xám thong minh và nét mặt hao hao mặt cáo của nó. Anh ngắm nghía những lọn long xoắn màu mật ong ánh lên hai bên sống mũi của nó. Và cái dáng đi của nó nữa chứ! Trước đây Ethan hay nói rằng Eward đi như thể trong bộ da của nó chứa toàn là cát vậy. Nó ngoáy mông không ngớt; bốn cái chân ngắn mập thì trông như được xếp đều đặn hơn bất cứ chân của con chó cao nào.
 
Giờ Macon đang lái xe về nhà, vì chẳng nghĩ ra được ý tưởng khả dĩ nào cho Edward. Anh tự hỏi không biết điều gì sẽ xả ra nếu anh để Edward ở nhà như cái cách anh vẫn thường làm với con mèo, để sẵn nhiều đồ ăn và nước uống. Không được. Hay là liệu Saral có thể đến trông chừng nó ngày vài ba bận gì đấy không nhỉ? Anh vội gạt ý nghĩ đó ra khỏi đầu; điều đó có nghĩa là phải nhờ vả đến cô. Có nghĩa là phải quay cái số điện thoại mà lâu nay anh không hề dùng tới để nhờ cô giúp đỡ.
 
Trông thấy biển hiệu BỆNH VIỆN THÚ Y MEOW-BOW, Macon nhấn phanh, con Edward nảy chồm về phía trước. “Xin lỗi mày,” Macon nói với nó. Anh cua trái vào bãi đỗ xe.
 
Phòng đợi nồng nạc mùi tẩy uế. Đứng phía sau quầy là một phụ nữ trẻ gầy gò khoác chiếc áo blouse có diềm đăng ten nơi cổ. Tóc cô màu đen được uốn xoăn, và dày đến độ phủ xuống hai bên vai trong như chiếc khăn trùm đầu của người Ả Rập. “Xin chào,” cô nói với Macon.
 
Macon hỏi, “Ở đây có nhận gửi chó không?”
 
“Có chứ.”
 
“Tôi muốn gửi con Edward lại đây.”
 
Cô chồm người qua quầy để trông Edward cho rõ. Edward nhìn lên hí hửng ra mặt. Rõ ràng là nó không ý thức được mình đang ở chỗ nào.
 
“Anh có đăng ký trước không?” người phụ nữ hỏi Macon.
 
“Đăng ký trước? Không.”
 
“Hầu như ai cũng đăng ký trước cả.”
 
“Ồ, tôi đâu có biết.”
 
“Đặc biệt là trong mùa hè thế này.”
 
Cô ngẫm nghĩ, nhíu mày nhìn Edward. Cô có đôi mắt nhỏ tí hệt như quả caraway (2), khuôn mặt thì sắc nét và nhợt nhạt.
 
“Làm ơn đi cô,” Macon nói. “Tôi sắp bay rồi. Tôi phải đi vắng một tuần mà không ai trông coi nó cả. Nói thật với cô, tôi hết cách rồi.”
 
Qua cái liếc nhanh của cô anh có cảm giác mình đã khiến cô ngạc nhiên. “Anh không thể để nó ở nhà cho vợ trông sao?” cô hỏi.
 
Anh tự hỏi thế quái nào mà óc cô nàng lại nảy ra cái ý như thế.
 
“Nếu tôi mà có thể làm vậy,” anh nói, “thì việc gì tôi phải đứng đây chứ?”
 
“Ồ,” cô nói. “Anh không có vợ hả?”
 
“À có chứ, nhưng cô ấy… đang sống nơi khác. Chỗ ấy họ không cho nuôi thú cưng.”
 
“Ồ.”
 
Cô bước ra khỏi quầy. Vận chiếc quần soóc ngắn màu đỏ, cô để lộ đôi chân khẳng khiu như hai cái que. “Tôi cũng đã ly dị,” cô nói. “Tôi hiểu cảm giác của anh.”
 
“Cô xem,” Macon nói, “nơi tôi vẫn thường gửi Edward đột nhiên buộc tội nó cắn người. Cắn một nhân viên phục vụ, và thế là họ không chịu nhận nó nữa.”
 
“Edward này? Mày có cắn không đấy?” cô hỏi.
 
Macon chợt thấy lẽ ra anh không nên đả động đến chuyện đó, nhưng cô dường như chẳng để tâm. “Sao mà mày có thể làm thế được chứ, nhỉ?” cô hỏi Edward. Edward lộ vẻ sung sướng, vểnh cả hai tai lên ra chiều muốn được vỗ về. Cô khom người vuốt vuốt đầu nó.
 
 
“Thế cô nhận nó chứ?” Macon hỏi.
 
“Ồ, chắc là được,” cô nói, giọng dứt khoát. “Nếu anh không còn cách nào khác.” Cô nhấn mạnh từ không – đôi mắt nhỏ màu nâu nhìn thẳng vào anh – như thể muốn anh thấy câu nói đó của cô nằm vượt xa mong đợi của anh. “Hãy điền vào đây,” cô bảo rồi lấy một mẫu đăng ký trên quầy đưa cho anh. “Tên của anh, địa chỉ, và ngày về. Đừng quên ghi rõ ngày anh về đấy nhé.”
 
Macon gật đầu, mở nắp cây bút mực.
 
“Có thể tôi sẽ gặp lại anh khi anh đến nhận lại con chó,” cô nói. “Ý tôi là nếu anh ghi rõ thời gian anh về để tôi còn biết. Tên tôi là Muriel.”
 
“Ở đây buổi tối có mở cưa không cô?” Macon hỏi.
 
“Tối nào cũng mở, trừ Chủ nhật. Mở đến tám giờ.”
 
“Ồ, vậy thì tốt.”
 
“Muriel Pritchert,” cô nói.
 
Macon diền vào mẫu đăng ký trong khi cô quỳ xuống bên Edward nới lỏng dây cổ cho nó. Edward liếm liếm gò má cô; hẳn nó nghĩ cô chỉ đang tỏ ra thân thiện thôi. Thế nên khi Macon điền xong phiếu, anh không chào tạm biệt, đặt phiếu lên quầy và bước nhanh ra ngoài, thọc tay vào túi quần để giữ chùm chìa khóa khỏi va nhau loẻng xoẻng.
 
***
 
Trên chuyến bay đến New York, anh ngồi cạnh một người đàn ông để ria có vẻ giống người ngoại quốc. Ông ta đang nghe nhạc qua tai nghe. Thật là lý tưởng: không phải trò chuyện gì. Macon ngả người ra ghế hài lòng.
 
Anh luôn ủng hộ việc đi lại bằng máy bay. Khi thời tiết êm ả, ta thậm chí chẳng thể biết được là ta đang di chuyển. Ta có thể vờ như đang ngồi yên ổn tại nhà. Phong cảnh bên ngoài luôn giống nhau – không khí và không khí – còn bên trong máy bay thì gần như có thể thay thế cho bất cứ nơi nào khác.
 
Anh không lấy bất cứ thứ gì từ chiếc xe đẩy phục vụ đồ uống, nhưng người đàn ông ngồi cạnh anh tháo tai nghe ra gọi một ly cocktail  Bloody Mary. Một giai điệu Trung Đông rối rắm rỉ ra từ hia núm xốp màu hồng. Macon nhìn xuống chiế máy nhỏ tí và tự hỏi liệu anh có nên mua một chiếc không. Chẳng phải để nghe nhạc gì sất, thề có Chúa – thế giới này đã đủ ồn ã rồi – mà chỉ là để tránh nói chuyện với người khác thôi. Anh có thể gắn tai nghe vào và thế là chẳng ai có thể quấy quả gì anh được. Anh có thể máy chạy một cái băng trống: ba mươi phút im lặng. Đảo băng lại và thêm ba mươi phút nữa.
 
Máy bay đáp xuống Kennedy, anh lên xe buýt để chuẩn bị bay chuyến kế tiếp vào buổi tối. Khi đã yên vị ở phòng chờ, anh bắt đầu chơi trò ô chữ được cắt ra từ thời báo New York Times từ Chủ nhật trước để dành cho dịp này. Anh ngồi như kiểu phòng thủ - túi trên ghế bên này, áo khoác trên ghế bên kia. Người qua kẻ lại trước mặt nhưng anh vẫn dán mắt lên mẩu báo, cứ thế hoàn thành trò chơi ghép từ ngay sau khi hoàn tất trò điền từ vào ô trống. Lúc anh chơi xong cả hai trò ô chữ thì cũng vừa vặn đến giờ lên máy bay.
 
Người ngồi cạnh anh chuyến bay lần này là một phụ vũ tóc xám đeo kính. Bà ta mang theo chiếc chăn mỏng bằng len đan. Anh có cảm tưởng đây chẳng phải dấu hiệu tốt lạnh, nhưng anh đã có cách. Thoạt đầu anh ra vẻ hối hả, nới lỏng cà vạt, tháo giày và lấy ra khỏi túi một cuốn sách. Sau đó anh mở sách và với điệu bộ khoa trương anh bắt đầu đọc.
 
Tên cuốn sách là Miss MacIntosh, người yêu dấu, dày 1.198 trang. (Hãy luôn mang theo một cuốn sách, đó là cách để bạn khỏi phải tiếp xúc với người lạ. Tạp chí chẳng ăn thua. Báo mang theo từ nhà chỉ khiến ta thêm nhớ nhà thôi, còn báo nơi khác thì lại nhắc nhở ta rằng chẳng thuộc về nơi ấy. Bạn biết kiểu chữ của một tờ báo từ nơi khác có vẻ lạ lẫm như thế nào rồi đấy.) Anh đã chúi đầu vô Miss MacIntosh nhiều năm nay rồi. Cuốn này có cái hay là chẳng có cốt truyện gì, chỗ nào cũng thú vị cả, thế nên anh cứ đọc ngẫu nhiên bất cứ trang nào. Thỉnh thoảng ngước mắt lên cẩn thận đánh dấu dòng đang đọc bằng một ngón tay và thể hiện trên mặt một nét gì đó như muốn chứng tỏ cho người khác thấy rằng anh đang rất hứng thú với cuốn sách.
 
Như thường lệ, một giọng êm ái phát ra từ loa phóng thanh về việc thắt dây an toàn, cửa thoát hiểm, và mặt nạ oxy. Anh thầm nghĩ sao cô tiếp viên hàng không lại cho trọng âm rơi vào những từ đó như thế. “Trên chuyến bay tối nay, chúng tôi sẽ cung cấp…” Người phụ nữ ngồi cạnh hỏi anh có muốn nhai một thanh kẹo cao su Lifesaver không. “Không, cảm ơn chị,” Macon nói và tiếp tục cắm cúi với cuốn sách của mình. Anh nghe thấy bà ta loạt xoạt bóc vỏ kẹo, và rồi tiếp sau đó là mùi hương bạc hà thoang thoảng.
 
Anh không lấy ly cocktail và từ chối luôn cả khay thức ăn, chỉ lấy mỗi hộp sữa được kèm theo khay thức ăn. Anh ăn một quả táo và một chút nho khô mang theo, hút sữa, rồi vào nhà vệ sinh làm sạch răng bằng chỉ nha khoa. Khi anh trở ra, khoang máy bay đã tắt điện, đây đó rải rác những chiếc đèn đọc sách được bật lên. Một vài hành khách đã ngủ. Người phụ nữ ngồi cạnh anh cuộn tóc lại thành những hình chữ O nhỏ xinh và cố định chúng vằng kẹp xước. Macon thấy ngạc nhiên khi người ta có thể làm những điều vô ý vô tứ đến thế ở nơi đông người. Nào là những ông mặc cả pyjama lên máy bay. Lại có những bà trét lên mặt cả một lớp phấn dày. Rõ ràng họ không cảm thấy dè dặt gì cả.
 
Anh đặt nghiêng cuốn sách bên dưới ánh sáng tỏa nhẹ từ chiếc đèn đọc sách và lật một trang. Tiếng động cơ máy bay rì rì dai dẳng. Anh nghĩ khoảng thời gian đó là một quãng thật dài – đoạn nghỉ giữa bữa ăn khuya và bữa ăn sáng khi họ đang lơ lửng trên đại dương, đợi ánh bình minh của một ngày mới, mặc dầu tất nhiên là chẳng thể nào giống với một ngày mới ở nhà. Với Macon, buổi sáng ở những múi giờ khác giống như cảnh trí trên sân khấu – cảnh mặt trời đang mọc được vẽ trên nền tối của một tấm phông.
 
Anh lại ngả đầu ra thành ghế và nhắm nghiền mắt lại. Giọng cô tiếp viên hàng không đâu đó gần khoang trước máy bay, nghe tiếng được tiếng mất, lẫn vào tiếng rì rì của động cơ. “Chúng ta chỉ ngồi không và chẳng có việc gì làm; tất cả những gì chúng ta có chỉ là tờ báo thứ Tư và chúng ta biết rằng những tin tức ấy dường như chẳng phải chỉ xảy ra vào một ngày thứ Tư nào đó không thôi…”
 
Macon nghe thấy một giọng đàn ông đều đều bên tai. “Macon.” Nhưng anh thậm chí không quay đầu lại. Anh không lạ gì những trò trêu người của âm thanh trên máy bay vào ban đêm. Dưới đôi mắt nhắm nghiền anh lại nhìn thấy cái đĩa đựng bánh xà phòng đặt trên bồn rửa chén ở nhà – lại một trò đùa nữa, tính cụ thể của hình ảnh. Ấy là một cái đĩa bằng sứ hình oval in hình những bông hồng vàng trên bề mặt, trong đĩa đựng một miếng xà phòng đã mòn vẹt và hai chiếc nhẫn của Saral, nhẫn đính hôn và nhẫn cưới, cô đã để lại đó trước khi ra đi.
 
“Con đã có vé rồi,” anh nghe thấy giọng Ethan. “Họ sẽ mở cửa sau năm phút nữa.”
 
“Chiến lược?”
 
“Mình sẽ ngồi đâu này.”
 
“Chính con đòi đi xem bộ phim đó mà, Ethan. Ba nghĩ con cần quan tâm đến chỗ ngồi thích hợp chứ. Kế hoạch của ba này. Con đi vòng đến hàng đó qua bên trái. Đếm thử có bao nhiêu cậu nhóc. Còn ba sẽ đi vòng sang phải.”
 
“Ba này…”
 
“Thế con có muốn ngồi gần những cậu nhóc ầm ĩ không?”
 
“À thì không.”
 
“Và con chọn cái nào: một chiếc ghế ngay lối đi được không?”
 
“Con không quan tâm.”
 
“Ethan, ngay lối đi? Hay ở giữa hàng? Con phải có ý kiến gì đi chứ.”
 
“Không biết nữa.”
 
“Giữa hàng nhé con?”
 
“Có gì khác đâu chứ?”
 
“Ethan. Khác nhiều chứ con. Ngay lối đi, con sẽ ra ngoài nhanh hơn. Vậy nếu con có ý định đi mua bánh snack, hay đi vệ sinh thì con sẽ muốn ngồi ngay lối đi. Nhưng nếu ngồi chỗ đó người ta sẽ chen lấn ghê lắm. Vậy nếu con không nghĩ đến việc sẽ bỏ chỗ đang ngồi, thì ba đề nghị…”
 
“Trời ơi! Ba thật là…” Ethan nói.
 
“Được,” Macon nói. “Nếu con cứ như thế thì mình sẽ ngồi cái chỗ chết tiệt đó và rồi chẳng hay hớm gì đâu.”
 
“Được,” Ethan đáp.
 
“Được,” Macon nói.
 
Giờ tì anh xoay đầu, rồi lắc lắc. Nưng mắt vẫn nhắm nghiền, và dần dần giọng nói kia đã không còn vẳng bên tai nữa, và anh thấy mình chìm trong thứ ánh sáng mờ mờ đó – thứ ánh sáng khiến ta dễ rơi vào giấc ngủ khi đi du lịch.
 
***
 
Lúc rạng sáng anh có lấy một tách cà phê, và uống một viên vitamin mang theo. Những hành khách khác trong có vẻ nhếch nhác và nhợt nhạt. Người phụ nữ ngồi cạnh anh kéo lê một chiếc vali nhỏ vào nhà vệ sinh và rồi trở ra với quần áo đầu tóc gọn ghẽ nhưng gương mặt thì sưng húp. Macon thấy việc đi lại thế này luôn khiến cơ thể bị ứ nước. Lúc mang giày anh thấy chúng quá bé so với chân an, và khi vào nhà vệ sinh cạo râu anh nhận thấy có gì khang khác nơi bọng mắt. Dẫu vậy trông anh vẫn ổn hơn hầu hết bọn họ, vì anh chẳng hề đụng một chút đồ ăn nào có chứa muối hay rượu cả. Rượu ở lịa trong cơ thể rất lâu. Uống rượu trên máy bay thể nào cũng khiến đầu óc ta mụ mị đi, anh tin như vậy.
 
Cô tiếp viên hàng không thong báo giờ Luân Đôn, và mọi người ngộn nhạo chỉnh lại giờ. Macon cũng chỉnh lại giờ cho chiếc đồng hồ báo thức trong hộp đựng dao cạo, còn chiếc đeo tay anh cứ để nguyên như thế.
 
Máy bay hạ cánh đột ngột. Như thể gợi lại cho anh những sự kiện khó khăn nào đó – những va chạm bất ngờ, nhanh như cắt, ầm ĩ và gây xáo trộn. Trên loa phóng thanh vẫn ra rả những câu nhắc nhở lịch sự. Người phụ nữ ngồi cạnh anh gấp chăn len lại. “Tôi hồi hộp quá chừng,” bà nói. “Tôi sắp nhìn thấy cháu nội rồi, lần đầu tiên đấy nhé.” Macon mỉm cười và bảo bà anh hy vọng rằng mọi điều sẽ tốt đẹp. Giờ thì anh không phải lo bị sập bẫy nữa nên anh nhận thấy bà khá dễ mến. Ngoài ra, vẻ ngoài của bà trông đậm chất Mỹ.
 
Tại sân bay Heathrow, anh lại chứng kiến cảnh nhếch nhác thường thấy tại đây – như thể vừa sau một thảm họa nào đó. Mọi người nhốn nháo qua lại, có những người đứng trông như dân tị nạn với nào thùng nào gói bao quanh, và những nhân viên mặc đồng phục đang cố giải thích các vấn đề khách hàng yêu cầu. Vì không phải đợi để lấy hành lý, Macon chẳng phải nhì nhằng với mớ thủ tục rườm rà nên anh đi ra trước những người khác. Rồi anh đổi tiền và lên tàu điện ngầm. Tôi khuyên mọi người nên dùng tàu điện ngầm, trừ người nào sợ độ cao, và ngay cả nhưng người sợ độ cao cũng có thể đi nếu hẹ tránh được các ga tàu có những bậc thang đi xuống với độ dấy khác thường…
 
Trong khi tàu điện ầm ào tiến về phía trước, Macon ngồi phân loại tiền vào các phong bì mang theo – mỗi phong bì đã được anh đánh dấu bên ngoài một đơn vị tiền khác nhau. (Nếu tách riêng và phân loại sẵn ngoại tệ, ta sẽ không phải long ngóng với những đồng xu lạ lẫm, lọ mọ với những tờ tiền dễ gây nhầm lẫn.) Những khuôn mặt trải ra trước mắt anh. Mọi người ở đây trông có vẻ khác lạ, dù anh không thể nói được chính xác họ khác như thế nào. Anh nghĩ họ vừa khỏe mạnh hơn lại vừa ẻo lả hơn. Một phụ nữ bế một đứa trẻ quấy khóc luôn miệng bảo, “Ngoan nào, mẹ yêu. Ngoan nào, mẹ yêu,” bằng một giọng Anh rõ ràng, nhẹ và mỏng. Trời nóng, và trán cô lấm tấm mồ hôi. Trán của Macon cũng thế, hẳn rồi. Anh cho những chiếc phong bì vào túi trước  ngực. Tàu dừng và nhiều người nữa bước lên. Họ đứng ở ngay phía trên anh, không bám vào mấy cái đai da mà bấu vào mấy cái núm đính vào các thanh ngang không cố định, thứ mà lần đầu tiên đến đây anh nhầm tưởng là một loại micro.
 
Như thường lệ, anh ở Luân Đôn. Tại đây anh có thể thực hiện những cuộc viếng thăm chớp nhoáng đến các thành phố khác, và tại mỗi nơi anh liệt kê vài ba khách sạn, vài ba nhà hàng khá gần nhau để tiện cho du khách chọn lựa; vì những cuốn cẩm nang du lịch của anh hầu như không sót một thứ gì. (“Nhiều cuốn cẩm nang khác chỉ cho ta biết cách tham quan một thành phố càng nhiều địa điểm càng tốt,” sếp anh bảo. “Ông anh nên cho biết cánh làm thế nào để trông thấy nó càng ít càng tốt.”) Khác sạn nơi Macon lưu lại có tên Jones Terrace. Anh vẫn thích một trong những khách sạn nằm trong chuỗi khách sạn của Mỹ, nhưng lại quá tốn kém. Jones Terrace cũng được, dù có hơi nhỏ nhưng gọn ghẽ tươm tất. Anh ngay lập tức bắt tay dọn dẹp căn phòng theo ý mình, bóc tấm khăn trải giường xấu xí ra nhét vào ngăn tủ quần áo, lấy đồ đạc ra và cất túi đi. Anh thay quần áo, giặt giũ rồi treo trong phòng tắm. Sau khi ném về phía chiếc giường ánh mắt thèm thuồng, anh ra ngoài ăn sáng. Chẳng thể nào giống với một ngày mới ở nhà, nhưng bữa sáng là bữa ăn mà những người đi công tác thường phải tự xoay sở lấy. Đi bất cứ đâu anh cũng cẩn thận chọn lựa nơi ăn uống.
 
Anh đi bộ đến Yankee Delight, gọi món trứng bác và một cốc cà phê. Phục vụ ở đây không chê vào đâu được. Cà phê được mang ran gay lập tức, và cốc của anh luôn được giữ đầy. Trứng không có vị giống như ở nhà, nhưng có bao giờ vậy đâu chứ. Có thể nói gì với món trứng của nhà hàng đây nhỉ? Chẳng phong cách gì, cũng chẳng đặc sắc mấy. Thế nhưng anh vẫn mở cuốn cẩm nang ra và đánh một dấu ngay bên cạnh Yankee Delight. Đến cuối tuần, những trang này sẽ hầu như không thể đọc được. Anh đã xóa đi mấy cái tên, chèn thêm vài tên khác, và ngoằn ngoèo mấy dòng ghi chú bên lề. Anh luôn ghé lại mấy nơi đã từng vào – mọi khách sạn và nhà hàng. Thật tẻ nhạt nhưng sếp anh, Julian, cứ khăng khăng bảo, “Hãy cứ hình dung xem sẽ ra sao nếu một độc giả nào đấy vào một tiệm cà phê do anh giới thiệu và phát hiện ra giờ nó đã được sang tay cho một người chuyên bán đồ ăn chay.”
 
Sau khi thanh toán, anh bước xuống đường tới tiệm New America, lại gọi món trứng và cà phê. “Loại đã lọc hết cafein nhé,” anh nói thêm. (Giờ đầu anh đã ong lên rồi.) Người bồi cho biết ở đây không có loại đó. “Ồ, không có à,” anh nói. Sau khi người bồi đi khỏi, anh viết một dòng lưu ý vào cuốn cẩm nang.
 
Nơi anh đến tiếp theo là một nhà hàng có tên U.S Open. Xúc xích ở đây khô không khốc đến độ tưởng như chúng được phơi trên mái nhà vậy. Giờ thì đã rõ: Một độc giả đã giới thiệu nhà hàng U.S Open. Ôi chao, những nơi do độc giả giới thiệu, đúng thật là! Macon đã từng (giờ thì anh khôn ra rồi đăng ký trước một phòng tại một nhà nghỉ dựa vào cái kiểu giới thiệu ấy - ở đâu đó tại Detroit hay Pittsburgh, hay một thành phố nào đó, dành cho Du khách bất đắc dĩ tại Mỹ. Anh trả phòng ngay tắp lự và dông thẳng sang đường đến một khách sạn nằm trong chuỗi Hilton. Tại đây người gác cửa ào ra đón và chộp lấy túi xách của anh kèm theo một tiếng kêu thương hại như thể anh vừa lết được về đây từ một hoang mạc nào đó. Không có lần hai, Macon đã thề như thế. Anh bỏ miếng xúc xích lại đĩa và gọi tính tiền.
 
Vào buổi chiều (có thể nói như vậy), anh tới các khách sạn. Anh nói chuyện với nhiều quản lý và xem xét kỹ các loại phòng. Tại đây anh kiểm tra giương, thử dội toa lét, liếc nhìn vòi hoa sen. Hầu hết các khách sạn ít nhiều vẫn còn đạt chuẩn, nhưng có gi đó không ổn mấy với Royal Prince. Như thế nào nhỉ, dường như có vẻ… à, vẻ ngoại quốc. Những gã đàn ông ngăm đen điển trai vận đồ lụa mỏng thì thào ngay sảnh đợi trong khi bọn nhóc da nâu rượt đuổi nhau quanh các ống nhổ. Macon có cảm tưởng như anh bị lạc đường đến mức tuyệt vọng, hơn bất kỳ lúc nào, và thấy mình như đang ở Cairo. Những cô đeo mạng che mặt màu đen nép người đi qua lối cửa xoay vào khách sạn lỉnh kỉnh những túi hàng mua sắm. Gì ấy nhỉ? Anh cố hình dung những thứ họ mua, này là những chiếc quần jean soóc lửng, này là những đôi bốt cao nghều với lưới đan màu hồng – những thứ anh thường vẫn thấy ở hầu hét các cửa hiệu. “Ơ này…,” anh nói với viên quản lý. Nói thế nào đây nhỉ? Anh ghét cái lối hẹp hòi thiển cận, nhưng mà độc giả của anh không muốn va phải những gì mang tính ngoại lai. “À này, khách sạn đổi chủ rồi phải không?” anh hỏi. Viên quản lý hình như ngửi thấy điều gì đó bất ổn liền đứng dậy cho biết khách sạn này do một tập đoàn sở hữu, đã luôn như vậy và sẽ luôn như vậy, chỉ có tập đoàn đó thôi. “Tôi hiểu rồi,” Macon nói. Anh bỏ đi với cảm giác phân vân.
 
Vào giờ ăn tối, lẽ ra anh nên thử đi một chỗ nào đó trang trọng một chút. Anh phải liệt kê được ít nhất mỗi thành phố một nhà hàng sang chuyên tổ chức tiệc chiêu đãi. Nhưng tối nay anh thấy không hứng thú. Thay vì đó, anh vào tiệm cà phê ưa thích của mình có tên là My American Cousine. Khách ở đây nói rặt giọng Mỹ, và một vài nhân viên cũng vậy. Cô gái đứng đón khách tại cửa trao cho mỗi người một tấm vé có đánh số. Người nào có số được gọi trên loa phóng thanh có thể nhận được một chiếc tivi hay bét nhất cũng là một bức ảnh màu đóng khung chụp hình nhà hàng.
 
Macon gọi một phần ăn nhỏ có rau luộc đơn giản và hai miếng sườn cừu, cùng với một ly sữa. Người đàn ông bên cạnh cũng đang dùng bữa. Ông ta đang ăn món patê lợn trông ngon mắt, và khi cô phục vụ mang món tráng miệng đến ông ta bảo, “Ồ, xem nào, ta thử một ít chứ nhỉ,” bằng chất giọng lè nhè chầm chậm, mãn nguyện và vỗ về của người luôn được đám đàn bà con gái trong nhà khuyến khích tăng trọng mỗi ngày. Macon thì dùng món bánh gừng phết kem, giống hệt cách bà nội anh từng làm.
 
Quãng tám giờ, theo đồng hồ đeo tay, anh đã yên vị trên giường. Đương nhiên giờ này vẫn còn quá sớm nhưng anh chỉ có thể kéo ngày dài đến thế thôi; ở Anh giờ đã là nửa đêm. Ngày mai anh sẽ bắt đầu cuộc viếng thăm chớp nhoáng đến những thành phố khác. Anh sẽ lấy một vài đồ lưu niệm của khách sạn, thử một vài món ăn sáng tiêu biểu. Cà phê còn chất cafein. Thịt lợn hun khói chín tái và chín kỹ. Nước cam tươi và đóng hộp và ướp lạnh. Nhiều vòi sen hơn, nhiều nệm giường hơn. Máy sấy tóc có được mang tới khi yêu cầu không? Có ổ điện 110 vôn dùng cho dao cạo chạy bằng điện không? Khi thấy buồn ngủ, anh nghĩ về những căn phòng không tên tuổi đang quay mòng mòng quanh vòng xoay ngựa gỗ. Anh nghĩ về những chiếc giá để va li chằng chịt mạng nhện, những bình phun nước gắn dưới trần nhà, và những tờ rơi gồm danh mục các nội quy chống hỏa hoạn chờn vờn thoắt gần thoắt xa, cứ thế suốt thời gian còn lại trong ngày. Anh nghĩ về Ethan lúc nó đang cưỡi con lạc đà bằng thạch cao và gọi anh, “Đỡ con đi ba!” và rơi xuống, nhưng Macon không thể đến đúng lúc khi anh vươn tay ra, Ethan biến mất.
 
***

Một trong những thói quen xấu của Macon là mỗi khi đi đâu cũng cứ ngóng chờ ngày về cho thật sớm. Cho dù đã trù tính thời gian ở lại ngắn đến đâu, anh vẫn quyết định rằng cần phải về sớm, rằng anh đã tự cho mình quá nhiều thời gian, rằng mọi thứ tối cần thiết đã được làm xong – hoặc hầu hết mọi thứ gần như đã hoàn tất. Thế là phần còn lại của chuyến đi anh dành để gọi điện cho những đại lý du lịch và thực hiện những chuyến đi chẳng mang lại hiệu quả gì tới các văn phòng hàng không, đợi rũ cả người ở đó để rồi rốt cuộc lại phải quay trở về khách sạn vừa trả phòng xong. Anh luôn tự nhủ rằng lần sau sẽ không có chuyện tương tự, nhưng bằng cách nào đấy nó vẫn cứ xảy ra. Anh đã lâm vào cảnh như vậy vào buổi chiều thứ tư lưu trú tại Anh. Còn có thể làm gì hơn nữa chứ? Chẳng lẽ anh không biết gì về nơi này hay sao?
 
À, đúng rồi: Hôm nay là thứ Bảy. Khi ghi ngày vào sổ công tác phí, anh vô tình biết rằng ở nhà hôm nay là thứ Bảy. Là ngày Saral ghé qua nhà lấy tấm thảm.
 
Cô sẽ mở cửa trước và khịt khịt mũi. Cô sẽ đi qua các phòng nơi cô đã có những năm tháng hạnh phúc. (Mà cô có hạnh phúc không nhỉ?) Cô sẽ thấy con mèo nằm ườn trên trường kỷ, lừ đừ lười nhác, và cô sẽ ngồi bên nó mà nghĩ, Làm thế nào mà tôi có thể rời bỏ nơi này ra đi được chứ?
 
Thật không may, đang là mùa hè và các chuyến bay đã đăng ký trước quá nhiều. Anh bỏ ra hai ngày mải miết theo dõi những khả năng dù nhỏ nhất nhưng đến khi gần đạt được thì hầu như chúng lại tan biết đi hết cả. “Sao cũng được! Tôi có thể đi bất cứ chuyến bay nào! Tôi không phải đi New York nữa; tôi sẽ đi Dulles. Tôi sẽ đi Montreal! Chicago! Nào, tôi sẽ đi Paris hay Berlin, xem thử còn chuyến nào không. Có thể đi bằng đường thủy không? Giờ mà đi bằng đường thủy thì mất bao lâu? Sẽ ra sao nếu đây là trường hợp khẩn cấp chứ? Ý tôi là mẹ tôi đang hấp hối hay gì gì đó tương tự thế? Cô có định bảo là chẳng có cách nào ra khỏi nơi này không?”
 
Những người tiếp chuyện anh luôn có thái độ nhã nhặn và vui vẻ - thật ra, nếu không vì sự căng thẳng do việc đi lại gây nên anh đã có thể thực sự có cảm tình với người Anh – nhưng họ chẳng giải quyết được rắc rối của anh. Rốt cuộc thì anh cũng phải tiếp tục ở lại. Những ngày còn lại của tuần lễ ấy anh rúc vào phòng xem tivi, gặm đốt ngón tay, sống cầm hơi với những đồ tạp phẩm khó ôi và đồ uống ấm vì anh không thể ló mặt tới một nhà hàng nào nữa.
 
Thế nên vào ngày về đương nhiên anh là người đầu tiên đứng xếp hàng trước quầy đăng ký lên máy bay. Anh đã có chỗ ngồi như ý nhất: cạnh cửa sổ, không thuốc lá. Ngồi cạnh anh là một đôi quấn lấy nhau suốt chuyến bay; vì vậy anh không cần đến cuốn Miss MacIntosh nữa, thay vì đó cả buổi chiều dài lê thê buồn tẻ ấy anh ngồi nhìn đăm đăm vào những đám mây.
 
Anh không bao giờ ưa những buổi chiều; đó là điều tồi tệ nhất cho những chuyến bay về như thế này. Buổi chiều dài lê thê, hết thức uống lại đến đồ ăn trưa, rồi lại thức uống – anh chẳng lấy thứ gì. Chính vì buổi chiều nên họ cho chiếu phim; hành khách phải kéo chụp đèn xuống. Một thứ ánh sách màu cam choán đầy cả khoang máy bay, nặng nề và gây bức bối.
 
Lần nọ anh có một chuyến đi gay go bất thường đến Nhật – cái nơi mà ta thậm chí không thể nhớ nổi các biển hiệu chỉ đường để trở lại được nơi ta xuất phát – Saral đã đến đón anh tại sân bay New York. Đó là dịp kỷ niệm mười năm ngày cưới của họ, và Saral muốn làm anh ngạc nhiên. Cô gọi Becky ở hang du lịch để hỏi số chuyến bay của anh và rồi bỏ Ethan lại cho bà ngoại, cô bay đến Kennedy, mang theo chiếc giỏ mây picnic đựng rượu vang và phô mai, họ đã cùng nhau nhấm nháp những muốn đó tại phòng chờ ở sân bay trong lúc đợi chuyến trở về. Mọi chi tiết về bữa ăn đó vẫn còn đọng lại trong tâm trí Macon; những miếng phô mai ánh lên màu cẩm thạch, rượu vang trong cốc thủy tinh có đế - không hiểu vì sao vẫn còn nguyên lành sau chuyến đi như thế. Anh vẫn còn thấy nơi đầu lưỡi vị phô mai Brie óng ánh như xa tanh. Anh vẫn còn có thể trông thấy bàn tay nhỏ nhắn quyến rũ của Saral khi cô cắt từng lát bánh mì một cách dứt khoát.
 
Nhưng hôm nay cô không gặp anh tại New York.
 
Ngay cả ở Baltimore cũng không.
 
Anh lấy xe ra khỏi bãi và lái về thành phố trong ánh chiều chạng vạng đầy vẻ đe dọa như báo hiệu điều gì – một trận bão hay một cơn sấm sét, một thức gì đó đầy kịch tính. Có thể nào cô đang đợi anh ở nhà không nhỉ? Cô có đang mặc chiếc váy sọc dài kiểu Thổ Nhĩ Kỳ có đai lưng mà anh cực thích không? Có phải bữa tối đã được dọn sẵn trên bàn ăn không?
 
Để không bị sập vào cái bẫy tưởng tượng của chính mình, anh ghé lại tiệm Seven – Eleven mua ít sữa. Anh lái xe đến bệnh viện thú y đón Edward. Khi anh đến Meow – Bow, chỉ có vài phút nữa là tới giờ đóng cửa; chẳng hiểu sao anh lại đi lộn đường vào đó. Không còn ai đứng quầy. Anh phải rung chuông gọi. Một cô gái tóc đuôi ngựa thò đầu ra cửa, kéo theo một dàn hợp ca đủ mọi âm thanh của những con vật nuôi được gửi tại đây rộ lên từ nhiều hướng. “Gì đấy anh?” cô hỏi.
 
“Tôi đến đón con chó.”
 
Cô bước lại mở hộp hồ sơ nằm trên quầy. “Họ anh là gì?” “Leary.”
 
“Ồ,” cô nói. “Anh đợi chút nhé.”
 
Macon tự hỏi không biết lần này con Edward có gây rắc rối gì không.
 
Cô gái biến đi, và một lát sau một cô gái khác xuất hiện, co tóc xoăn hôm nọ. Tối nay cô vận váy đen chữ V, điểm xuyến những bông hồng màu hồng to tướng, có lót đệm ở hai vài và hơi bớ từ eo trở xuống; cô đi đôi giày cao gót kệch cỡm. “Ồ, xin chào,” cô nói với nét mặt sáng lên. “Chuyến đi của anh thế nào?”
 
“Ồ, chuyến đi.. Edward đâu? Nó ổn chứ cô?”
 
“Hẳn rồi, nó ổn. Nó ngoan ngoãn, dễ bảo và thân thiện nữa.”
 
“Ồ,vậy thì tốt.”
 
“Chúng tôi như lửa phải rơm ấy. Có vẻ như ngay từ đầu nó đã thích tôi, chẳng biết vì sao nữa.”
 
“Tuyệt đấy.” Anh hắng giọng. “Thế cho tôi đón nó về bây giờ được chứ?”
 
“Caroline sẽ mang nó đến ngay đây.”
 
“À.”
 
Cả hai không nói thêm gì. Người phụ nữ đứng đối diện anh chờ đợi với nụ cười tươi rói trên môi, ngón tay đan vào nhau đặt lên quầy. Macon thấy móng tay của cô sơn màu sẫm và đôi môi được thoa một thứ son hơi sậm màu khiến miệng cô mang kiểu dáng rắt rối lạ thường – đầy góc cạnh, giống như hình quả táo.
 
“À,” cuối cùng Macon lên tiếng. “Chắc tôi có thể trả lệ phí chứ.”
 
“Ồ, vâng.”
 
Cô thôi cười và cúi xuống hộp hồ sơ kẹp đang để ngỏ “Bốn mươi hai đô,” cô nói.
 
Anh trao cho cô thẻ tín dụng. Cô long ngóng với cái máy rập nổi vì phải làm mọi thao tác bằng lòng bàn tay, còn móng tay thì chừa ra. “Chữ ký và số điện thoại,” cô nói. Cô dựa vào quầy khom người xuống xem anh viết. “Số điện thoại nhà hay cơ quan anh đấy?”
 
“Cả hai. Sao vậy? Có chuyện gì à?” anh hỏi.
 
“Tôi chỉ hỏi vậy thôi,” cô bảo anh. Cô xé rời tờ bản sao hóa đơn anh vừa đưa, theo cách không cho những móng tay chạm vào, và cho phần còn lại của tờ hóa đơn vào ngăn kéo. “Tôi không biết đã đề cập đến chuyện này chưa, chứ tôi cũng là một người huấn luyện chó đấy.”
 
“Thật vậy sao?”
 
Anh nhìn về phía cửa nơi cô gái anh gặp lúc đầu đã biến vào đó. Anh luôn ở trong trạng tái căng thẳng khi thấy họ lâu mang Edward ra. Họ làm gì trong đấy – có phải là xóa sạch chứng cớ gì đấy không?
 
“Chuyên nghiệp của tôi là huấn luyện chó hay cắn người,” người phụ nữ lên tiếng.
 
“Chuyên môn.”
 
“Sao ạ?”
 
“ ‘Chuyên môn’ mới đúng.”
 
Cô ném về phía anh một cái nhìn khó hiểu.
 
“Hẳn đó là một công việc nguy hiểm,” Macon nói một cách nhũn nhặn.
 
“Ồ, với tôi thì không phải vậy. Dưới gầm trời này tôi chẳng sợ thứ gì cả.”
 
Có tiếng cửa kéo phía sau cô. Edward lao vọt ra, theo sau là cô gái với cột tóc đuôi ngựa. Edward kêu lên ẳng ẳng và nhảy chồm chồm về phía trước lộ vẻ vui mừng nhặng xị đến độ Macon cúi xuống muốn vỗ về nó mà không được.
 
“Nào, dừng lại,” cô gái tóc đuôi ngựa bảo Edward. Trong khi đó, người phụ nữ đứng sau quầy vẫn tiếp tục nói, “Chó hay cắn này, chó sủa dai này, chó điếc, chó nhát gan, chó bị ngược đãi, chó nhiễm thói xấu, chó lớn lên trong tiệm bán thú cưng và chẳng tin tưởng vào con người… Tôi xử lý được tất.”
 
“Ồ tốt,” Macon nói.
 
“Không phải vì nó sẽ cắn tôi, dĩ nhiên,” người phụ nữ nới. “Nó chỉ quý mến tôi, hình như có lần tôi đã bảo với anh rồi đấy.”
 
“Tôi rất vui khi nghe vậy,”  Macon đáp.
 
“Nhưng tôi có thể huấn luyện nó không cắn bát cứ ai vào bất cứ khi nào nữa. Hãy suy nghĩ kỹ đi và gọi cho tôi nhé. Muriel, anh nhớ không? Muriel Pritchette. Để tôi đưa anh tấm danh thiếp.”
 
Cô trao anh tấm danh thiếp màu hồng cam chẳng biết lấy từ đâu ra. Anh phải cố đi vòng qua con Edward đang nhảy chồm chồm kia mới có thể lấy được tấm card. “Tôi đã học cùng một người từng huấn luyện chó hay tấn công người,”cô nói. “Anh thấy đấy, chẳng phải nghiệp dư đâu nhé.”
 
“À, tôi sẽ ghi nhớ chuyện đó,” Macon nói. “Cảm ơn cô rất nhiều.”
 
“Hoặc chỉ gọi mà không cần có lý do nào nhé! Gọi để nói chuyện thôi.”
 
“Nói chuyện?”
 
“Chứ sao! Nói về Edward này, những rắc rối của nó này, nói về… bất cứ thứ gì! Cứ nhấc ống nghe lên và nói thôi. Chẳng lẽ anh chưa bao giờ có thôi thúc làm điều đó?”
 
“Không hẳn.”
 
Rồi con Edward kêu ẳng lên một tiếng, và anh cùng con chó lao vội về nhà.
 
***
 
Ồ đương nhiên là cô không hề có ở đó. Anh biết ngay khi bước vào trong nhà, khi anh ngửi thấy không khí nóng ẩm và đặc quánh vì cửa đóng lâu ngày. Thật ra, anh đã biết trước vậy. Anh đã tự dối gạt mình. Anh đã bịa ra những câu chuyện cổ tích.
 
Con mèo phóng sượt qua anh và biến ra khỏi cửa, kêu ngao ngao với vẻ tố cáo. Con chó sục vào phòng ăn định lăn tròn trên tấm thảm hòng làm mất đi cái mùi cũi nhốt mấy bữa nay. Nhưng thảm đâu mất rồi – chỉ còn lại sàn nhà trống trơn với những gạch sọc, và con Edward khựng lại, trông thật ngố. Macon hiểu cảm giác của nó lúc này.
 
Anh dọn chỗ sữa đi và lên lầu dỡ đồ ra khỏi va li. Anh đi tắm, dẫm chân lên bộ đồ bẩn, và dọn giường. Khi anh tắt đèn phòng tắm, hình ảnh bộ quần áo mới giặt vẫn còn đẫm nước treo bên trên bồn tắm khiến anh nhớ lại chuyến đi vừa qua. Điểm khác nhau thật sự là ở chỗ nào nhỉ? Du khách bất đắc dĩ tại nhà, anh nghĩ rồi mệt mỏi chuồn vào chiếc túi ngủ.
 
(1). Waky Pack: Những tấm card thương mại mô tả nét nổi bật của các sản phẩm tiêu dùng vùng Bắc Mỹ do công ty Topps sản xuất lần đầu vào năm 1967, thường ở dạng nhãn dính.
(2). Caraway hay còn gọi là carun: Xuất xứ ở Châu Âu và Tây Á. Giống như cây cà rốt, quả (hay bị gọi nhầm là hạt) có hình trăng lưỡi liềm.
Đăng nhập để trả lời
0
4.
 
Khi điện thoại reo, Macon mơ đó là Ethan. Anh mơ thấy Ethan gọi về từ khu cắm trại, muốn biết sao ba mẹ không đến đón nó. “Nhưng chúng ta tưởng con đã chết rồi,” Macon nói và Ethan hỏi – với giọng nói vụn vỡ nơi âm tiết cuối – “Sao ba mẹ lại có thể nghĩ thế?” Điện thoại lại reo, và Macon bừng tỉnh. Một cái gì như thất vòng chùng xuống đâu đó trong lòng anh. Giờ anh mới hiểu tại sao người ta nói lòng “chùng xuống”.
 
Một cách chậm chạp, anh với lấy ống nghe. “A lô.”
 
“Macon! Chào mừng ông anh đã trở về!”
 
Là Julian Edge, sếp anh, vẫn cái giọng oang oang và rổn rảng như thường lệ cho dù chỉ mới sáng sớm. “Ồ,” Macon nói.
 
“Chuyến đi thế nào?”
 
“Ổn.”
 
“Ông anh vừa về tối qua à?”
 
“Vâng.”
 
“Có tìm thấy chỗ mới nào xuất sắc không?”
 
“À, không quá xuất sắc nhưng cũng được.”
 
“Thế giới ông anh có thể bắt tay vào viết được rồi đấy nhỉ.”
 
Macon không nói gì.
 
“Ông anh tính khi nào đưa cho tôi bản thảo đấy?” Julian hỏi.
 
“Tôi chưa biết.”
 
Cả hai không nói gì một lúc.
 
“Chắc tôi đã làm mất giấc ngủ của ông anh rồi,”  Julian nói.
 
“Ừm.”
 
“”Macon Leary trên giường,” Julian nói. Câu anh ta nói nghe như tiêu đề của một cuốn sách hay bộ phim gì đó. Julian ít tuổi hơn Macon, bỗ bã, liến thoắng và không phải loại đàn ông nghiêm túc. Dường như anh ta thích thú với cái lối giả bộ xem Macon là một nhân vật nào đấy. “Dù gì thì cuối tháng tôi cũng có bản thảo chứ?”
 
“Chưa đâu.”
 
“Sao chưa?”
“Tôi chưa sắp xếp được.”
 
“Chưa sắp xếp được! Sắp xếp gì chứ? Tất cả những gì ông anh cần làm là đổ rượu mới vào bình cũ thôi, về cơ bản là vậy mà.”
 
“Không chỉ thế thôi đâu.”
 
“Ông anh ơi, nhìn đây này…” Julian hạ giọng. Anh ta hẳn là đang chau mày cúi xuống chiếc đồng hồ vàng chóe với dây đeo bằng da kiểu dáng thể thao có hiện lịch năm. “Giờ là ngày ba tháng Tám rồi. Tôi muốn có bài viết lên khuôn vào tháng Mười. Có nghĩa là ba mốt tháng Tám ông anh phải có bản thảo cho tôi.”
 
“Không thể được.”
 
Quả thật anh thấy sửng sốt vì không hiểu mình lấy sức đâu ra mà có thể tiếp tục cuộc nói chuyện như vậy.
 
“Ngày ba mốt tháng Tám, nhé Macon. Còn những bốn tuần nữa cơ mà.”
 
“Không đủ.”
 
“Không đủ,” Julian nói. “Được. Vậy mười lăm tháng Chín nhé. Chẳng phải là cách tối ưu, nhưng tôi sẽ gia hạn cho ông anh đến ngày mười lăm tháng Chín. Thế nào?”
 
“Tôi không biết.”
 
Nghe giọng nói uể oải của mình khiến Macon thinh thích. Anh cảm thấy thật xa lạ với bản thân anh. Julian có thể đã cảm nhận được điều đó, nên sau một lúc im lặng anh ta nói, “Này, ông anh ổn chứ?”
 
“Tôi ổn.”
 
“Tôi biết ông đã phải cố rất nhiều để có thể vượt qua, ông anh à…”
 
“Tôi ổn! Rất ổn! Có vấn đề gì được chứ? Tất cả những điều tôi cần là thời gian để sắp xếp. Tôi sẽ có bản thảo cho anh vào giữa tháng Chín. Có thể sớm hơn. Ừ, chắc là sẽ sớm hơn. Có thể vào quãng cuối tháng Tám gì đấy. Được chưa?”
 
Rồi anh gác máy.
 
***
 
Nhưng phòng làm việc của anh quá tối và ngột ngạt, mùi mực in bốc lên khiến đầu óc anh váng vất. Anh bước vào và thấy choáng ngợp trước cả đống việc đang lù lù nằm chờ, có vẻ như rốt cuộc thì cái mớ hỗn độn kia đã thắng thế. Anh quay trở ra.
 
Có thể anh không làm sao sắp xếp được thông tin để bắt tay vào viết cuốn cẩm nang, nhưng dọn dẹp nhà cửa cho tinh tươm lại là chuyện hoàn toàn khác. Có gì đó như khiến lòng anh dịu lại, như thể được an ủi – hoặc trên cả cảm giác được an ủi; anh thấy mình như thoát ra khỏi một mối hiểm nguy nào đấy. Cả tuần sau đó anh đi khắp các phòng sắp xếp chúng lại theo một trật tự mới. Anh rốt ráo dọn lại tất cả tủ bếp, tống khứ hết thảy những thứ chất lỏng ôi thiu nhớp nhúa đựng trong đủ loại chai lọ mà bao nhiêu năm nay Saral không mở ra lấy một lần. Anh cắm phích điện máy hút bụi vào ổ cắm có dây điện dài gần bốn mươi mét trước đây dùng cho máy cắt cỏ. Anh bước ra sân và làm cỏ, cắt tỉa lá, xén cành – dọn sạch và ngắm nghía. Trước đây công việc làm vườn là của Saral, thế nên có không ít điều khiến anh sửng sốt. Đủ loại cỏ dại bẳn ra tứ tung khi anh vừa đụng vào, một số kháng cự đến cùng hết sức cừ khôi, trong khi những loại khác thì chịu thua dễ dàng – quá dễ dàng, đứt lìa thân ngay tắp lự, chỉ còn trơ lại gốc trong lòng đất. Thật can trường! Thật đúng là bản năng sống còn! Sao con người lại không làm được như thế chứ?
 
Anh giăng dây phơi quần áo ngang qua tầng hầm để khỏi phải dùng máy sấy. Cái bọn máy sấy đến là lãng phí năng lượng. Rồi anh tháo cái ống xả rộng bằng nhựa dẻo ra khỏi máy sấy, và dạy con mèo chui ra chui vô cái ô trống nơi gắn ống xả. Vậy là chả cần một chỗ nằm cho nó nữa. Ngày nào con mèo cũng mấy bận nhảy vọt tới chỗ bồn giặt một cách êm ru, đứng thẳng lên bằng hai chân sau dài và dẻo dai rồi phóng cái vèo ra cửa sổ.
 
Thật tiếc là Edward chẳng làm được điều tương tự. Macon ghét dắt nó đi dạo; Edward chưa bao giờ được tập luyện đứng trên hai chân và cứ xoắn dây xích quanh chân anh. Ôi, bọn chó thật phiền nhiễu. Khẩu phần ăn khổng lồ nữa chứ; đồ ăn của Edward anh phải khệ nệ lôi từ siêu thị, ì ạch kéo lê từ cốp xe lên bậc tam cấp khá dốc nơi cửa trước, lếch thếch xách vào nhà rồi cho tất cả vào tủ đồ ăn. Nhưng chí ít thì rốt cuộc anh đã nghĩ ra được một giải pháp. Ngay chân máng đổ rác cũ dưới tầng hầm anh đặt cố định một thùng rác bằng nhựa và đã cắt ở đáy một ô trống hình vuông. Rồi anh rót phần còn lại vào thùng rác, thật kỳ diệu, giờ nó đã trở thành một cái máng ăn như cái máng của con mèo. Lần tới mua đồ ăn cho chó, anh chỉ cần lái xe vòng qua hông nhà và cho đồ ăn vào lối xuống máng đổ rác dưới tầng hầm.
 
Điều không ngờ tới là tự nhiên Edward đâm ra sợ căn hầm. Sáng sảng nó vào phòng để đồ ăn trước đây Macon thường đặt đồ ăn sáng cho nó, ngồi xuống trên hai cái đùi béo ục và ư ử. Macon phải xềnh xệch lôi nó qua các bậc thang xuống tầng hầm, anh bước chuệnh choạng trong khi con Edward hai chân trước khua khoắng loạn xạ. Toàn bộ giải pháp kia là để giúp Macon thoát khỏi cái lưng hay trở chứng của anh, vậy nên tới lúc này anh cảm thấy mình không đạt được mục đích như ban đầu. Dẫu vậy anh vẫn cứ cố.
 
Cũng để đối phó với cái lưng hay dở chứng ấy, anh cột giỏ đựng quần áo vào chiếc ván trượt cũ của Ethan và thả một cái túi có dải rút buộc miệng xuống tủ đựng quần áo ở một đầu dây. Vậy là anh không còn phải khệ nệ ôm đống đồ lên xuống cầu thang, hoặc thậm chí băng qua tầng hầm. Mặc dù vậy, có đôi khi – cần mẫn cho chiếc giỏ có bánh xe ấy lăn từ dây phơi đến tủ quần áo, nhồi những tấm ga sạch thơm vào chiếc túi, chạy lên lầu để kéo chúng lên bằng một sợi dây thừng dài và chắc chắn – Macon chợt thấy nhói lên một cảm giác ngượng ngùng. Có thể nào đây là một dạng ngớ ngẩn không nhỉ?
 
Ồ, mọi điều đều ngớ ngẩn, khi ta suy xét thật kỹ.
 
Hàng xóm giờ hẳn là đã tường tận việc Saral bỏ đi. Họ bắt đầu điện cho anh vào những buổi tối trong tuần và mời anh sang ăn tối “potluck”(1) với họ. Thoạt đầu Macon nghĩ chắc họ đề cập đến một kiểu tụ tập mà ở đó mỗi người mang theo một cái tô đựng đồ ăn gì đấy và nếu ai may mắn thì sẽ có một bữa ăn đủ dưỡng chất. Anh đã qua nhà vợ chồng Sue và Bob Carney mang theo một tô mì ống và phô mai. Do hôm ấy Sue lại nấy món mì sợi nên anh không thấy mình may mắn chút nào. Cô đặt tô mì ống của anh phía đầu bàn và chẳng ai đụng lấy một miếng trừ cô bé Delilah mới lên ba tuổi. Mặc dù nó còn có vài món ăn khác nữa.
 
Macon không thích trẻ con có mặt nơi bàn ăn. Anh thấy mình giờ như một ai đó khác, một ông chú chưa vợ được cho là thỉnh thoảng cũng cần phải dòm ngó cuộc sống gia đình một chút. Nhưng thực tế là anh chưa bao giờ thấy yêu thích con cái của người khác. Và các buổi tụ tập dưới bất cứ hình thức nào cũng khiến anh thấy ngán ngẩm. Những tiếp xúc mang tính xã giao có chút đụng chạm về thể xác với những người dưng – một cái bá vai, một cái khoát tay – đều khiến anh co rụt lại như con ốc sên. “Macon này, anh biết đấy,” Sue nói, chồm người qua bàn ăn chực vỗ vào tay anh, “bất cứ lúc nào thấy cần, cứ ghé qua nhà chúng tôi. Đừng đợi gọi nhé.”
 
“Chị thật tốt bụng, Sue,” anh nói. Anh tự hỏi tại sao anh lại thấy làn da của người dưng không thật đến thế - gần như sáp, tựa hồ có một lớp gì đấy mà mắt thường không thấy được trên chỗ da tiếp xúc. Ngay lập tức, anh dịch tay ra.
 
“Nếu anh cứ sống theo cách anh muốn,” Saral đã có lần nói với anh như vậy, “em cho rằng thể nào rốt cuộc anh cũng sẽ sống trên một hoang đảo không có lấy một bóng người.”
 
“Tại sao chứ! Chẳng đúng chút nào cả,” anh nói. “Anh đã có em này, Ethan này, em gái anh này, các anh em trai này…”
 
“Nhưng không ai khác nữa. Ý em là, anh không thể hòa nhập được với những người anh gặp tình cờ, những người anh chưa biết ấy.”
 
“Ồ, không, anh nghĩ là không,” anh nói. “Em thì làm được phải không?”
 
Nhưng đương nhiên cô ấy làm được - ấy là nói về trước đây. Trước khi Ethan mất. Cô luôn là một người quảng giao. Khi không phải làm việc gì, cô hào hứng loanh quanh khắp siêu thị - với Macon nơi này đúng là địa ngục, hàng bao nhiêu cái vali cứ sườn sượt qua vai anh. Saral lại thích chỗ đông người. Cô thích gặp gỡ người lạ. Cô say sưa với tiệc tùng, ngay cả tiệc cocktail. Có họa điên mới mê tiệc cocktail – chỉ toàn la những tình huống ngượng ngập, Macon nghĩ vậy – cô lôi anh đi bằng được đến những nơi khiến anh thấy mình như phạm một tội gì đó nếu tình cờ lâm vào một cuộc trò chuyện hơi thân mật một chút. “Nào, làm một vòng đi anh. Nào.” Saral huýt sáo, tay cầm ly đi ngang qua sau lưng anh.
 
Năm qua mọi thứ đã đảo ngược hết cả. Saral không còn hứng thú với đám đông nữa.  Cô không bao giờ đến gần trung tâm mua sắm, không còn kéo anh đi bằng được đến các buổi tiệc. Họ chỉ dự những bữa cơm tối không ồn ào và cô không hề tổ chức một bữa cơm tối nào mời khách từ sau cái chết cua Ethan. Có lần anh hỏi cô, “Sao mình không mời nhà Smith và nhà Millard dùng cơm, em? Họ đã mời mình mấy lần rồi.”
 
Saral bảo, “Ừ, đúng đấy anh. Làm ngay đi.” Thế rồi cô lờ đi.
 
Anh và cô đã gặp nhau trong một buổi tiệc. Lúc ấy cả hai chỉ mới mười bảy. Đó là tiệc giao lưu giữa trường anh và trường cô. Ngay cả ở tuổi ấy Macon cũng chẳng ưa gì tiệc tùng, song anh đang âm thầm mong ước được yêu do vậy đã gồng mình lên để đến dự buổi giao lưu ấy, nhưng rồi lại chỉ đứng nép mình trong góc, cố tỏ ra hờ hững, nhấm nháp ly rượu ướp gừng. Đó là vào năm 1958. Cả thế giới mặc áo sơ mi cài khuy, Macon diện áo len cổ lọ màu đen, quần đen, và đi xăng đan. (Anh đang ở độ tuổi thanh niên mới lớn đầy mơ mộng.) Và Saral, một thiếu nữ phổng phao với mái tóc xoăn màu nâu đồng rồi tung và khuôn mặt tròn trĩnh, đôi mắt to xanh da trời, và môi dưới hơi trễ - một chút son hồng phớt bên trên, anh nhớ như thế, khiến gương mặt cô như bừng sáng lên. Bao nhiêu anh chàng ngưỡng mộ vây quanh cô. Cô có dáng người thấp gọn, và có gì đó khá dạn dĩ trong cách sóng đôi vững chãi của hai bắp chân nhỏ nhắn màu nâu vàng, như thể cô nhất quyết không để mình trố mắt ra ngạc nhiên trước sự xuất hiện từ xa của một dàn sao bóng rổ hoặc bóng đá nào đó. Macon ngay lập tứ thôi quan sát cô. Không, thậm chí không phải thế - anh thậm chí không nhìn cô, không một giây này, mà chỉ nhìn sang phía ấy để chú ý đến những cô gái khác, những cô gái khác, những cô anh có cơ may với tới hơn. Thế nên Sarah tiếp cận anh trước. Cô đến bên anh và hỏi sao anh lại có vẻ hợm mình, chẳng chịu hòa đồng gì cả thế. “Hợm mình!” anh nói. “không phải thế.”
 
“Thế mà.”
 
“Không, tớ chỉ thấy… chán thôi,” anh bảo.
 
“Được rồi, thế cậu muốn nhảy không?”
 
Họ nhảy với nhau. Anh không chuẩn bị trước cho một tình huống như vậy nên nó trôi qua thật nhạt nhòa. Anh chỉ tận hưởng trải nghiệm ấy sau khi về nhà – khi đầu óc anh trở về trạng thái tĩnh lặng hơn để anh có thể nghĩ về nó kỹ lưỡng. Và vì suy nghĩ kỹ đến thế nên anh nhận thấy nếu trông anh không có vẻ hợm mình hẳn cô đã chẳng thèm để ý đến anh. Anh là cậu con trai duy nhất không công khai theo đuổi cô. Sau này anh sẽ đủ khôn ngoan để không theo đuổi cô; không ra vẻ quá sốt sắng, không bộc lộ cảm xúc. Anh có cảm tưởng rằng với Saral ta cần phải giữ phẩm giá của mình.
 
Dẫu vậy chỉ có Chúa mới biết giữ phẩm giá đâu phải dễ dàng gì. Macon sống với ông bà, và họ một mực tin rằng không ai dưới mười tám tuổi được cấp bằng lái xe. (Chẳng hề lưu tâm đến vịec liệu luật bang Maryland có làm ngược lại hay không.)
 
Vậy nên ông nội Leary lái xe chở Macon và Saral vào những buổi hẹn hò. Ấy là một chiếc Buick dài màu đen với ghế sau bọc nhung xám và Macon ngồi một mình ở đó, vì ông nội cho rằng thật khó coi khi để cả hai ngồi chung với nhau. “Ta không phải tài xế lại thuê,” ông nói, “và thêm nữa, hai đứa mà ngồi chung ghế sau thể nào cũng dễ mang tiếng xấu.” (Hầu hết những năm tháng tuổi trẻ của Macon luôn bị chi phối bởi nỗi lo mang tiếng xấu như thế.) Thê nên Macon ngồi một mình ở ghế sau và Saral ngồi ghế trước bên cạnh ông nội Leary. Mái tóc cắt ngắn của cô sáng lóa qua ánh đèn pha, khiến Macon liên tưởng đến một bụi cây đang bốc cháy. Anh thường phải chồm về phía trước, dọn giọng, và hỏi, “Ừm, cậu làm xong bài kiểm tra chưa?”
 
Saral nói, “Sao?”
 
“Bài kiểm tra,” ông nối Leary nói lại với cô. “Cậu chàng muốn biết cháu đã làm xong chưa.”
 
“Ồ, vâng, xong rồi.”
 
“Nó làm xong rồi,” ông nội Leary nhắc lại cho Macon.
 
“Con có tai mà, nội.”
 
“Có muốn ra ngoài dạo chút không? Vì ta chẳng thể chịu được các con cứ ngậm tăm mãi thế khi có ta bên cạnh. Còn ta có thể về nhà với những người thân yêu của ta, chứ không phải cứ chạy xe loanh quanh trong đêm tối thế này.”
 
“Nội, con xin lỗi.”

Điều duy nhất Macon muốn là im lặng. Anh ngồi ngả người ra ghế, nín thinh và cách biệt, biết rằng nếu Saral có ngoái nhìn thì cô cũng chẳng thấy được gì ngoài vầng sáng nhạt nhòa bao quanh mái tóc hoe vàng và khuôn mặt vô cảm – khoảng tối còn lại, chiếc áo cổ lọ màu đen cũng lẫn vào bóng tối. Đúng như thể. “Cậu nghĩ gì thế? Lúc nào trông cậu cũng như đang tư lự điều gì ấy,” cô ghé vào tia anh hỏi khi cả hai song bước quanh phòng thể dục của trường. Anh chỉ khẽ nhếch môi, như thể lấy làm vui thích lắm, nhưng chẳng trả lời gì cả.
 
Khi anh được cấp bằng lái mọi việc cũng không khác là bao. Cũng chẳng khác gì mấy khi anh vào đại học, cho dù anh đã chịu bỏ chiếc áo cổ lọ màu đe và trở thành một sinh viên trường đại học Princeton, năng động, ăn vận bình thường như bao người – sơ mi trắng và quần kaki. Vắng bóng Saral bên cạnh, anh thấy lòng trống trải, nhưng trong những lá thư viết co cô anh kể toàn chuyện học hành. Saral hồi âm cho anh từ quê nhà Goucher rằng. “Không phải là cậu nhớ mình rất ít đấy chứ? Mình chẳng thể đi đến những nơi mà bọn mình đã từng đến vì sợ rằng sẽ nhìn thấy cậu vởi vẻ mặt khó hiểu đang băng ngang qua căn phòng.” Cô đề dưới các lá thư viết cho anh Mình yêu cậu còn anh thì Thân mến. Ban đêm anh mơ thấy cô nằm cạnh anh, mái tóc xoăn của cô cọ lào xào vào gối của anh, mặc dù trong thực tế tất cả những gì họ làm với nhau chỉ là những nụ hôn dài. Nói thật, anh cũng không chắc rằng anh có thể kiềm chế nhiều đến thế mà không làm chuyện… thế nào mà họ có thể như vậy được vào dạo đó nhỉ? Anh thấy mất bình tĩnh. Đôi khi, anh suýt nổi nóng với Saral. Anh thấy mình bị đẩy lùi vào một vị thế sai lầm. Anh buộc phải thể hiện nét mặt dửng dưng nếu muốn cô yêu anh. Ôi, đàn ông sao lại muốn nhiều đến vậy!
 
Cô viết cho anh rằng hiện cô không hẹn hò với ai cả, Macon cũng không, nhưng dĩ nhiên anh không nói vậy. Anh về nhà vào mùa hè và làm việc ở nhà máy ông nội anh; Saral làm tại một hồ bơi trong vùng. Khoảng chừng giữa mùa hè, cô nói cô muốn biết tại sao anh chưa bao giờ đòi ngủ với cô. Suy nghĩ một lúc, anh hết sức thật thà nói rằng thật ra anh thích đòi ngay bây giờ. Họ về nha ba mẹ cô; hai người đã đi nghỉ hè ở Rehoboth. Họ leo lên lầu vào căn phòng bé xíu của cô, chỗ nào cũng sơn trắng, nắng nóng như thiếu khiến căn phòng xộc lên mùi sơn mới. “Cậu có mang theo cái đó không?” Saral hỏi, và Macon, không muốn thừa nhận rằng anh hầu như chẳng biết cái đó hình thù tròn méo ra sao, quát lên, “Không, tớ chẳng mang theo cái gì đó nào cả, cậu nghĩ tớ là ai chứ?” – một câu hỏi chẳng mang ý nghĩa gì, nếu ta dừng lại để suy xét, nhưng Saral lại cho rằng cô khiến anh bị sốc, rằng trong suy nghĩ của anh cô thật quá sành sỏi, cô vội nói, “Ồ, xin lỗi!” và chạy ào xuống lầu lao ra ngoài. Anh mất nửa giờ mới tìm được cô, và mất hơn khoảng thời gian đó mới dỗ cho cô nín khóc. Anh bảo thật ra anh chỉ nghĩ cho cô: Chứ theo như anh biết thì cái đó chẳng an toàn chút nào. Anh cố làm ra vẻ hiểu biết và làm như không bị ảnh hưởng bởi những xúc cảm mạnh mẽ của khoảng khắc ấy. Anh cho rằng cô nên gặp bác sĩ anh quen – tình cờ lại là người đã chữa chứng rối loạn Female Complaint cho bà nội anh. Saral lau kho mắt và mượn Macon cây bút để viết tên vị bác sĩ lên mặt sau của mảnh giấy bọc kẹo cao su. Nhưng ông bác sĩ sẽ không từ chối cô chứ? Cô hỏi. Ông sẽ không bảo cô ít nhất là phải đính hơn đã chứ? Ồ, được rồi, Macon nói, họ sẽ đính hôn. Saral nói vậy thì thật là hay.
 
Thời gian từ lúc đính hôn đến khi cưới kéo dài ba năm, hết cả thời gian học ở trường đại học. Ông nội Leary cảm thấy nên hoãn đám cưới lại lâu hơn nữa kia, chờ cho đến khi Macon ổn định công ăn việc làm hẵng; nhưng vì sẽ làm ở Leary Metals, nhà máy chuyên sản xuất nút chai cho các loại đồ uống giải khát, nên macon chẳng thể thấy mình có chút tâm trí nào với chuyện đó. Thêm nữa, việc nhào vào nhào ra phòng ngủ của Saral vào những ngày đi làm tình nguyện cho hội Chữ Thập Đỏ của mẹ cô đã bắt đầu khiến cả hai thấy mỏi mệt.
 
Vậy là họ kết hôn vào mùa xuân ngay khi Macon vừa tốt nghiệp đại học, và Macon đi làm ở nhà máy trong khi Saral dạy tiếng Anh tại một trường tư thục. Bảy năm sau Ethan ra đời. Đến lúc đó Saral không còn gọi Macon là “người bí hiểm” nữa mà cái tính trầm của anh bây giờ khiến cô không chịu được. Macon biết hết, nhưng anh không biết phải làm sao. Một cách khá kỳ cục, anh bị khóa chặt vào trạng thái thờ ơ xa cách như vào buổi đầu gặp gỡ của hai người. Anh bi đóng băng ở đó. Nó giống như một lời răn đe trước đây của bà nội anh: “Đừng chùi mắt thế kẻo chúng chết gí ở đó luôn cho mà xem.” Cho dù anh đã cố gắng biết bao nhiêu để thay đổi tính nết của mình thì Saral vẫn đối xử với anh như thể anh là một người nào đó có tính trầm tĩnh bất bình thường, điềm đạm hơn cô nhưng có lẽ cũng thiếu cảm xúc hơn.
 
Có lần Macon thấy Saral đang cắm cúi chọn đáp án cho mục câu hỏi trắc nghiệm tâm lý trong một tạp chí phụ nữ - có câu “Cuộc hôn nhân của bạn hạnh phúc tới đâu?” – và Saral đã tính dấu Đúng cho đáp án Tôi nghĩ rằng tôi yêu chồng tôi hơn anh ấy yêu tôi. Điều đáng lo ngại là sau khi khịt mũi một cách vô thức tỏ ý phủ nhận, anh đã tự hỏi liệu rốt cuộc thì điều ấy có quả thực như vậy không. Trong chừng mực nào đó, vai trò của anh không còn chút trọng lượng nào. Ngay cả giờ đây anh vẫn là một người đàn ông khá lạnh lùng xét về bản chất, và nếu không tính đứa con trai (nó thật dễ dàng, dễ dàng; một đứa trẻ chẳng khó như một bài trắc nghiệm), thì không một ai khiến anh phải thật sự đớn đau.
 
Lúc này đây khi nghĩ về điều đó, anh chợt nghe lòng nhẹ nhõm khi thấy rằng rốt cuộc thì anh đã có nhớ Saral. Nhưng rồi sự nhẹ nhõm ấy của anh dường như cũng chỉ là do anh cố tạo ra, anh lầm bầm lắc đầu và bứt mạnh tóc.
 
***
 
Có một phụ nữ nào đó gọi cho anh, “Macon phải không?” Anh có thể ngay lập tức nhận ra đó không phải Saral. Giọng Saral nhẹ và nghe rõ cả tiếng thở; còn giọng người này cứng, thô, sang sảng. “Muriel đây.”
 
“Muriel Pritchett.”
 
“À, vâng,” anh nói, nhưng vẫn chưa nhớ được cô là ai.
 
“Bệnh viện thú y chứ đâu nữa? Ai trông nom tử tế con chó của anh nhỉ?”
 
“Ồ, bệnh viện thú ý!”
 
Anh đã hình dung được cô, dù vẫn còn chưa rõ nét. Anh trông thấy cô nói tên mình, âm u dài ra và âm p với hai vành môi son đỏ sậm mím chặt.
 
“Không biết con Edward ra sao rồi.”
 
Macon đưa mắt nhìn Edward. Anh và nó đang ở phòng làm việc của anh, Macon cố gõ mãi mới được nửa trang giấy. Edward nằm áp bụng xuống sàn, hai chân xoãi ra phía sau – những cái chân ngắn, núc mỡ giống như hai cẳng của một người trong bộ đồ vịt nhồi tại công viên giải trí Long Island. “Tôi thấy nó vẫn ổ,” Macon nói.
 
“Ý tôi là nó có cắn ai nữa không?”
 
“À, gần đây thì không, nhưng nó trở một chứng mới. Nó trở nên cáu bẳn khi tôi ra khỏi nhà. Nó sủa và nhe nanh ra.”
 
“Tôi vẫn nghĩ nó cần được huấn luyện.”
 
“Ồ, cô biết đấy, nó đã bốn tuổi rưỡi và tôi cho rằng…”
 
“Như thế đâu có quá già! Tôi có thể làm lúc nào cũng được, tuổi không thành vấn đền. Thế này nhé, có thể tôi sẽ ghé chỗ anh và ta trao đổi thêm. Anh và tôi có thể uống rượu hoặc gì đó và nói chuyện xem rắc rối của Edward là do đâu.”
 
“Ồ, tôi thật sự không nghĩ…”
 
“Hay anh có thể đến chỗ tôi. Tôi sẽ đãi anh bữa tối.”
 
Macon tự hỏi làm sao để lôi được con Edward tới ăn tối tại nhà một người lạ nào đấy.
 
“Macon? Anh nghĩ sao?” cô hỏi.
 
“Ồ, à, ừm… Tôi nghĩ lúc này tôi sẽ cố tự xoay sở.”
 
“Biết mà, tôi có thể hiểu điều đó,” cô nói. “Tin tôi đi. Tôi đã từng trải qua thời kỳ ấy. Vì vậy điều tôi sẽ làm là đợi anh liên lạc lại. Anh vẫn còn giữ danh thiếp của tôi chứ?”
 
Macon nói anh còn giữ, mặc dù anh chẳng biết nó đã lẫn đi đằng nào.
 
“Tôi không muốn bị xem là quá sốt sắng đâu!” cô nói.
 
“Không, à…” Macon nói. Rồi anh gác máy và tiếp tục với cuốn cẩm nang của mình.
 
Anh vẫn còn dang dở phần mở đầu, mà giờ đã là cuối tháng Tám. Làm sao anh có thể đúng hạn đây? Anh ngồi, sống lưng hơi lệch so với thành ghế. Phím s vẫn cứ mắc kẹt luôn. Anh gõ những từ như có thể nghe thấy được. “Không thể bắt chước.” Tiếng anh gõ nghe giống hệt cách Saral nói “không thể bắt chước được.”, “Anh với cái cách không thể bắt chước được…” cô bảo anh thế. Anh vội lắc mạnh đầu. Nhìn chung đồ ăn ở Anh không khiến người ta bực bội như ở những nước khác. Rau nấu vừa chín, đồ ăn chung với nước xốt trắng, bánh nhân táo tráng miệng… Tôi không hiểu tại sao một số khách du lịch lại chê thức ăn Anh.
 
***
 
Vào tháng Chín, anh quyết định thay đổi cách ăn mặc. Nếu anh mặc đồ thể thao ở nhà – loại không có dây kéo, không làm anh bị trầy xước và mắc kẹt – anh có thể tắm hai lần mà không cần thay bộ khác. Đồ thể thao dùng như đồ ngủ và cả đồ mặc trong nhà ban ngày.
 
Anh mua hai bộ, màu xám không đậm không nhạt. Đêm đầu tiên anh mặc một bộ lên giường để tận hưởng cảm giác trong bộ quần áo ấy, và anh thích thú khi không phải thay ra vào sáng hôm sau. Thật ra, anh chợt nghĩ rằng mình có thể mặc một bộ trong hai ngày; bỏ tắm một bữa. Cũng chỉ để tiết kiệm nước thôi mà. Sáng ra anh chỉ cạo râu thôi. Anh tự hỏi mình có cần phải để ria không.
 
Dù vậy vào quãng trưa ngày thứ hai anh bắt đầu thấy mình hơi thấp đi. Lúc anh đang ngồi bên máy đánh chữ, có gì đó khiến anh chú ý đến bộ dạng của mình – dáng gù xuống và nhếch nhác. Anh đổ lỗi cho bộ đồ thể thao. Anh đứng dậy, đi tới trước tấm gương làm anh liên tưởng đến một bệnh nhân trong bệnh viện tâm thần. Có lẽ mọt phần của vấn đề là do đôi giày mày ra – đôi giày màu đen có dây cột nhằm làm cho trang phục bảnh hơn. Anh có nên mua một đôi giày đế mềm không nhỉ? Nhưng anh ghét bị hiểu nhầm là đi chạy bộ. Anh để ý thấy nếu rướn thẳng người lên. Tối đó lúc giặt bộ đồ thể thao đầu tiên, anh dùng nước nóng hơn bình thường một chút để làm nó co rút lại.
 
Sáng hôm sau anh thấy còn tồi tệ hơn nhiều. Tối qua thời tiết hơi ơi nên lúc tỉnh dậy người anh nhớm nhúa mồ hôi và bức bối. Anh không thể chịu được cái ý nghĩ sẽ ăn sáng với bỏng ngô. Anh giặt một đống ga và rồi trong lúc phơi anh thấy mình đứng bất động, đầu cúi xuống đất, hai tay buông thõng qua dây phơi như thể bị ghim chặt ở đó. “Nhanh nào,” anh nói to. Giọng anh nghe rin rít vì ít dùng đến.
 
Hôm nay là ngày mua thực phẩm – thứ Ba, ngày siêu thị vắng người nhất. Chẳng biết vì lẽ gì anh không thể khiến mình phấn chấn lên để đi được. Anh hãi cái công việc đó những cuốn sổ ghi địa chỉ, ba cuốn sổ nhật ký mua sắm. (Một cuốn lưu những dữ liệu từ tạp chí của Hiệp hội Người tiêu dùng Consumer Reports – nhãn hiệu bánh mì hàng đầu, chẳng hạn vậy, được liệt kê trên mặt giấy có đánh dấu chữ B. Trong một cuốn khác anh ghi các mức giá, và cuốn thứ ba anh lưu những phiếu mua hàng, phiếu dự thưởng.) Anh cứ phải dừng lại để lật soàn soạt xem hết những thông tin trong đó, lẩm nhẩm giá cả trong họng, so sánh nhãn hiệu nội với nhãn hiệu ngoại. Ôi chao, mọi thứ dường như quá phức tạp. Sao lại phải tự làm khổ mình như thế? Sao lại phải ăn chứ?
 
Nhưng mà, anh cần sữa. Và đồ ăn cho con Edward sắp cạn rồi, con Helen thì hầu như không còn chút thức ăn nào cả.
 
Anh làm một việc chưa từng làm trước đây. Anh gọi cho The Market Basket – một cửa hàng tạp hóa nhỏ đắt đỏ chuyên giao hàng tận nhà. Và anh không chỉ gọi khẩu phần cho trường hợp khẩn cấp. Không, anh gọi cho cả tuần. “Chúng tôi mang đến cửa trước hay cửa sau ạ?” cô thư ký nói giọng màu mè.
 
“Lối sau,” Macon nói. “Không, chờ đã. Mang thực phẩm ra lối sau, nhưng đặt đồ ăn cho chó ngay cạnh máng đổ rác ấy.”
 
“Máng đổ rác,” cô thư ký lặp lại, và hình dung như đang hí hoáy ghi vào giấy.
 
“Máng đổ rác ở bên hông nhà. Nhưng đồ ăn cho mèo thì không, cô mang theo vào cùng với thực phẩm.”
 
“Ồ, đợi đã…”
 
“Và các thứ dùng trên lầu thì mang đặt ở cửa trước.”
 
“Thứ dùng trên lầu là gì?”
 
“Kem đánh răng, bánh xà bông hiệu Ivory, bánh quy cho chó…”
 
“Tôi tưởng bánh cho chó anh bảo mang xuống cạnh máng đổ rác.”
 
“Không phải bánh quy cho chó, mà là đồ ăn cho chó! Đồ ăn cần được mang xuống chỗ cái máng đổ rác ấy, mẹ kiếp.”
 
“Này anh,” cô thư ký nói. “Không ai gọi đến mà lại thô lỗ thế đâu.”
 
“Ồ, tôi xin lỗi,” Macon bảo cô, “nhưng tôi chỉ muốn những thứ đơn giản nhất, với tôi dường như là vậy: một hộp nhỏ bánh quy Milkbone để phía trên cạnh giường ngủ. Nếu cho con Edward ăn bắp rang bơ nó sẽ bị ách bụng. Nếu không thì tôi cũng chẳng việc gì mà không cho nó ăn bắp rang bơ cùng tôi; không phải tôi giành ăn hay gì gì đó, nhưng nó nhạy cảm với thức ăn béo và tôi sống chỉ một mình, chính tôi là người phải lau dọn cho nó nếu nó lăn ra ốm. Tôi là người duy nhất làm điều đó; tôi chỉ sống một mình; một mình tôi; dường như ai cũng cứ… dạt ra khỏi tôi, tôi không biết nữa, tôi đã đánh mất họ; tôi bị bỏ lại đứng đây một mình và tự hỏi, ‘Họ đã đi đâu? Họ đâu mất rồi? Ôi, Chúa ơi, chẳng lẽ những điều con đã làm lại tồi tệ đến thế sao?’ ”
 
Giọng anh không được ổn và anh gác máy. Anh đứng bên điện thoại day day trán. Anh đã cho cô ta biết tên anh rồi? Hay là chưa. Anh không tài nào nhớ nổi. Cầu trời anh chưa cho cô ta biết tên.
 
Anh thấy rã rời; rõ ràng là vậy. Anh phải cố làm chủ bản thân. Điều trước tiên là: dẹp cái bộ đồ thể thao này đi. Nó chỉ đem lại xui xẻo thôi. Anh vỗ mạnh hai tay vào nhau rồi leo lên lầu. Trong phòng tắm, anh cởi phẳng bộ đồ thể thao ra và quăng vào chậu giặt. Bộ đồ hôm qua treo trên khung màn quay ở phòng tắm vẫn còn ẩm. Chẳng thể nào nó khô nổi trước tối nay. Sai lầm quá! Anh thấy mình giống một thằng khờ. Chỉ một ly nữa thôi là anh sẽ chẳng khác gì một trong những gã rượu chè bê tha người ta vẫn hay thấy hàng ngày – chẳng tắm gội, chẳng cạo râu, dáng dấp chẳng ra hồn, lảm nhảm một mình, và bước đi khệnh khạng.
 
Giờ đây khi đã gọn ghẽ trong áo sơ mi trắng, quần kaki, anh gom bộ đồ thể thao vẫn còn ẩm lại và mang nó xuống tầng hầm. Ít ra vào mùa đông anh có thể mặc nó để ngủ. Anh cho nó vào máy sấy, lại chèn cái ống xả nơi cửa sổ, và bật chế độ. Thà tốn một ít điện còn hơn là khổ sở với bộ đồ thể thao sũng nước.
 
Ngay bậc thang đầu tiên dẫn xuống tầng hầm, Edward dừng lại rên rỉ. Nó thấy đói nhưng không đủ táo gan để tự xuống đó. Khi thấy thấp thoáng bóng Macon, nó nằm rạp xuống mũi thúc lia lịa vào bậc thang trên cùng với hi vọng rằng Macon sẽ đưa nó xuống dưới. “Đồ nhát gan,” Macon nói với con chó. Macon xốc nó lên bằng hai tay và ì ạch lôi nó xuống. Răng của Edward bắt đầu va vào nhau – lập cà lập cập lập cà lập cập. Macon chợt lóe lên ý nghĩ rằng có thể Edward biết điều gì đó, còn anh thì không. Liệu có ma ở tầng hầm không nhỉ, hay có gì khác? Đã mấy tuần rồi mà Edward vẫn còn hãi đến độ có vài bận anh đặt nó xuống trước chỗ thức ăn rồi mà nó vẫn cứ đứng rũ ra đó vãi tè mà không buồn nhấc một chân sau lên. “Mày đúng là đồ ngốc, Edward,” Macon nói với nó.
 
Rồi ngay sau đó, một tiếng tru đầy ma quái phát ra từ… từ đâu nhỉ? Từ trong tầng hầm, dường như là vậy. Âm thanh đó tiếp tục phát ra, dai dẳng. Edward, từ lúc giờ hẵn đã chuẩn bị tinh thần cho cái âm thanh đó, ngay lập tứ đá bật đôi sau chắc khỏe đầy móng vuốt của nó vào ngực Macon làm anh chới với. Edward phóng vút vào dãy túi ngủ còn ẩm đang treo trên dây phơi, bị đẩy bật ra, và rơi vèo xuống ngay chính giữa bụng Macon. Anh dẫm đại một chân vào trong cái giỏ có bạnh xe và hai chân anh như hẫng đi.
 
Anh nằm ngửa trên sàn xi măng lạnh ẩm với chân trái gập lại bên dưới. Cái âm thanh khiến mọi thứ lộn tùng phèo chợt bẵng đi trong tích tắc rồi lại rộ lên. Giờ thì đã rõ, tiếng động đó phát ra từ ống xả máy sấy. “Này,” Macon nói với Edward đang nằm sóng soài hổn hển. “Mày không nghĩ con mèo ngốc nghếch biết cái máy sấy đang chạy chứ?”
 
Anh có thể thấy mọi việc đã xảy ra như thế nào. Con mèo bị luồng khí trong ống xả máy sấy cản lại nhưng nó vẫn bướng bỉnh cố vào sâu hơn cho bằng được. Anh thấy đôi mắt nó dán chặt vào các kẽ hở, hai tai bị thổi bật ngược ra phía sau. Miệng kêu gào ầm ĩ, nó vẫn tiếp tục không chịu chùn bước. Gan lì hết chỗ nói!
 
Macon hất Edward xuống và sấp người lại. Chỉ một cử động nhỏ thế thôi cũng khiến anh đau đớn cực độ. Anh thấy có cái gì đó chèn ngay họng khiến anh buồn nôn, nhưng anh cố gượng dậy và đứng lên đi với một chân kéo lê theo sau. Cắn chặt răng lại, anh cố bước tới cửa máy sấy và mở ra. Bộ đồ thể thao chầm chậm ngừng quay. Con mèo thôi kêu gào. Anh quan sát cái dáng vụng về của nó đang nhích từng chút một về phía cuối ống xả. Ngay khi nó tới được lối ra, toàn bộ cái ống rơi khỏi cửa sổ và lộn nhào xuống bồn giặt, nhưng Helen không rơi cùng cái óng. Anh nghĩ chắc nó không sao. Anh quan sát cho đến khi nó phóng vút qua cửa sổ kia, trông khá nhàu nhĩ. Rồi anh hít một hơi thật sâu và bắt đầu chậm chạp lê từng bước đầy khó khăn lên các bậc cấp để nhờ người giúp đỡ.
 
(1). Potluck: có gì ăn nấy. Pot: cái tô. Luck: may mắn.
Đăng nhập để trả lời
0
5.
 
“Ôi, tôi đi lang thang và trượt chân suýt ngã,” em gái Macon hát trong nhà bếp, “tôi sai lầm và thiếu sáng suốt…”
 
Cô có giọng nữ cao hơi run nghe giống như giọng của một quý bà đứng tuổi mặc dù cô ít tuổi hơn Macon. Có thể hình dung một giọng như vậy trong nhà thờ, một giai điệu nhạc đồng quê trong dàn hợp xuống gồm các quý bà vãn còn đội mũ rơm rộng vành.
 
Tôi chỉ là một người hành hương may mắn
Trên đường là Thiên đàng.
Macon nằm trên chiếc sofa trong phòng nắng (1) ở nhà ông bà. Chân trái của anh, bó bột từ giữa đùi cho tới nửa trên bàn chân, cảm giác đau đớn không lớn bằng cái cảm giác rằng nó không hề tồn tại. Cảm giác ấy khiến Macon cứ muốn cấu cẳng chân của mình để xem nó có còn đó không. Dĩ nhiên anh là anh chẳng thể làm được điều đó. Anh bị tách ra khỏi bản thân mình. Đầu anh ong lên bởi cảm giác ấy cứ như nghe phải một cú nện vào tường từ phòng bên cạnh.
 
Dẫu vậy anh vẫn thấy dễ chịu. Anh nằm nghe cô em gái chuẩn bị bữa sáng, hờ hững gãi con mèo đang nằm cuộn trên chiếc chăn. “Tôi gian nan, tôi buồn nản,” Rose thích thú hát với giọng rung rung, “Tôi sầu não mà không nề hà…” Khi đã pha cà phê xong, cô đến giúp anh băng qua phòng khách xuống phòng tắm dưới lầu. Anh vẫn còn cảm thấy khó đi lại, đặc biệt là trên sàn nhà bóng loáng thế này. Giờ đây anh thấy ngưỡng mộ những người phải di chuyển bằng đôi nạng, điều mà trước đây anh cho rằng đương nhiên phải thế. Anh thấy họ như một bầy chim có dáng đi lắc lư, thành thạo một cách đáng kinh ngạc với các bước nhảy lò cò đầy sức sống và những cú xoay yêu đời. Thế nào mà họ làm được như vậy?
 
Cái nạng của anh, quá mới đến nỗi đầu bịt cao su chưa trầy xước tí nào, được dựng chống vào tường. Áo choàng tắm vắt trên ghế. Bên dưới cửa sổ là một chiếc bàn có thể xếp gọn lại, mặt gỗ có vân và chân thì đã lung lay. Ông bà anh mất đã nhiều năm nay, nhưng cái bàn vẫn đứng đó tựa hồ để dành cho một trong những ván bài bridge bất hủ của họ. Macon biết rằng mặt dưới cái bàn có một nhãn hiệu màu vàng với dòng chứ ATLAS MFG. CO. chạm trổ bằng thép hình sáu người đàn ông vận lễ phục với áo cổ cồn dựng cao trang nghiêm đứng trên một tấm ván ngang qua một cái bàn giống y hệt cái bàn này. Lời chú thích bên dưới – CUNG CẤP ĐỒ DÙNG TAO NHÃ GIẢ TẠO – khiến Macon liên tưởng đến bà nội anh: sự tao nhã giả tạo. Hồi còn bé khi nằm dài trên sàn phòng nắng. Macon thường săm soi đôi chân yếu ớt của bà, đôi chân với hai mắt cá nhô ra như hai nắm đấm cửa. Đôi giày thấp, màu đen, đóng chắc chắn, dán chặt xuống đất, chân nọ cách chân kia chừng ba mươi phân, chẳng bao giờ chuệch choạc hay gây tiếng động gì.
 
Anh nghe thấy tiếng Porter, anh trai anh, lên lầu, huýt sáo theo bài Rose đang hát. Anh biết đích xác đó chính là Porter, ấy là vì Charles chả huýt sáo bao giờ. Có tiếng nước chảy từ vòi hoa sen. Em gái anh nhìn qua cửa phòng nắng, Edward lấp ló đằng sau và thở hổn hển như thể đang cười cợt với Macon.
 
“Macon? Anh thức không đấy?” Rose hỏi.
 
“Anh đã thức được mấy giờ đồng hồ rồi,” anh bảo cô, do cái tính có phần thiếu dứt khoát của cô nên các anh trai cứ hễ lúc nào cô tình cờ để mắt đến là lại tỏ ra vờ vĩnh để được nuông chiều. Cô thật ưa nhìn với phong cách nghiêm trang, đứng đắn, mái tóc màu be búi gọn ra phía sau. Dáng vóc cô vẫn còn trẻ trung, nhưng cách ăn bận thì theo lối già nua và thâm nghiêm kín đáo.
 
Cô khoác áo choàng tắm lên cho anh và giúp anh đứng dậy. Giờ thì chân anh đau kinh khủng. Dường như chính lực hấp dẫn đã gây ra cơn đau ấy. Một cơn đau nhói lan xuống từ từ dọc theo xương chân. Rose đỡ một bên, chiếc nạng đỡ bên kia, anh tập tễnh ra khỏi phòng nắng, băng qua phòng khách nơi có những thứ đồ đạc với các vòng xoắn trang trí cũ kỹ. Con chó vẫn quẩn theo. “Chắc anh phải nghỉ một chút đã,” Macon nói khi họ đi qua chiếc trường kỷ.
 
“Còn chút nữa thôi mà.”
 
Họ đi vào phòng để đồ ăn. Rose mở cửa phòng tắm và giúp anh vào trong. “Lúc nào xong thì gọi em nhé,” cô nói, và đóng cửa lại. Macon nghiêng người tựa vào bồn rửa.
 
Lúc ăn sáng, Porter hào hứng nói luôn mồm trong khi những người còn lại ăn trong im lặng. Porter ư nhìn nhất trong đám đàn ông nhà Leary – rắn rỏi hơn Macon, tóc anh cũng màu vàng hoa nhưng sáng hơn. Mọi người có ấn tượng anh là người đầy sức sống và có khả năng lãnh đạo – điều mà các anh em trai anh không có. “Hôm nay nhiều việc đây,” anh nói khi đang nhồm nhoàm nhai. “Họp với Herrin, mấy cuộc phỏng vấn cho công việc cũ rich của Dave, Cates bay từ Atlanta…”
 
Charles chỉ nhâm nhi cà phê. Trong khi Porter đã áo quần tề chỉnh, Charles vẫn còn mặc đồ ngủ. Anh là người ôn hòa, có khuôn mặt trầm lặng, dường như chẳng lúc nào biểu lộ điều gì; bất cứ khi nào ai đó nhìn anh sẽ bắt gặp một ánh mắt âu sầu dè dặt.
 
Rose mang cà phê từ bếp ra. “Tối qua, Edward gọi em dậy hai lần đòi ra ngoài,” cố nói. “Anh có nghĩ là nó gặp rối gì đó về thận không?”
 
“Chỉ là một chút điều chỉnh thôi mà,” Macon nói. “Điều chỉnh theo sự thay đổi. Anh không hiểu sao nó biết là không được đánh thức anh.”
 
Porter nói, “Có thể ta nên làm tạm một cái gì đó. Một chỗ ra vào nhỏ dành cho thú cưng hay gì đó chẳng hạn.”
 
“Cái bộ dạng béo tròn béo trục của Edward không thích hợp với chỗ ra vào kiểu thế đâu,” Macon nói.
 
“Thêm nữa,” Rose nói, “sân không có hàng rào. Ta chẳng thể cho nó ra ngoài một mình chỗ không có hàng ràng bảo vệ như thế.”
 
“Vậy một cái sọt rác nhé,” Porter đề xuất.
 
“Sọt rác! Cho chó?”
 
“Tại sao không chứ? Nếu nó đủ to cho con Edward.”
 
Macon nói, “Thôi dùng cái bồn tắm đi. Dưới tầng hầm có một cái. Từ lâu rồi không ai dùng đến.”
 
“Nhưng ai sẽ cọ rửa cái bồn đây?”
 
“À.”
 
Mấy cặp mắt đổ dồn vào Edward đang nằm dưới chân Rose. Nó giương mắt lên nhìn lại.
 
“Mà sao em có vậy?” Porter hỏi Macon.
 
“Của Ethan đây.”
 
“Ồ, ra vậy,” Porter nói. Anh hắng giọng. “Động vật ấy mà!” anh nói một cách hứng thú. “Có bao giờ ta để ý đến việc liệu chúng nghĩ gì về chúng ta không? Ý anh là, chúng ta ra quầy thực phẩm lôi về hàng đống thứ - nào là thịt gà, thịt lợn, rồi cả tảng thịt bò to tướng. Chúng ta ra khỏi nhà lúc chín giờ và trở về lúc mười giờ, và rõ ràng là chộp về cả bầy động vật đủ loại. Hẳn bọn chúng sẽ phải nghĩ rằng ta đích thị là những gã thợ săn cừ khôi nhất trên thế gian này.”
 
Macon ngả người ra ghế với ly cà phê lọt thỏm trong hai bàn tay khum lại. Ánh mặt trời khiến cho bàn ăn sáng ấm lên, và nhà bếp thoang thoảng mùi bánh mì nướng. Kỳ thực, anh tự hỏi có phải là từ tiềm thức, anh đã từng bước gây ra thương tật này cốt là để có thể quay trở về bên những người thân yêu đã sống cùng anh những năm tháng đầu đời.
 
***
 
Charles và Porter đi làm ở nhà máy, còn Rose lên lầu hút bụi. Macon, định tiếp tục với cuốn cẩm nang, khó nhọc khập khiễng quay ra phòng nắng và từ từ buông người xuống sofa. Từ khi về nhà anh đâm ra ngủ quá nhiều. Cơn buồn ngủ cứ ập tới như thể một viên đạn đen thui to tướng đang chạy khắp hộp sọ anh khiến cho đầu anh trĩu nặng và rồi gục xuống.
 
Trên tường phía cuối căn phòng có treo một bức tranh bốn anh em nhà Leary: Charles, Macon, Porter và Rose tụ lại bên một chiếc ghế bành. Ông nội cho họa bức ảnh đó vài năm trước khi cả bốn an hem về sống với ông. Lúc đó họ vẫn còn sống tại California cùng mẹ - một góa phụ trẻ nhẹ dạ có chồng chết trận. Thỉnh thoảng mẹ có gửi ảnh chụp về, nhưng ông nội Leary không ưng ý bức nào. Ông viết thư cho mẹ bảo các tấm ảnh chụp không nắm bắt được cái thần của từng đứa. Chúng cho thấy vẻ ngoài của một người chỉ trong một tích tắc – không giống trong đời thực, để nhìn ngắm ai đó người ta phải mất bao nhiêu là thời gian. Nếu vậy thì, Alicia nói, không phải những bức vẽ cũng chẳng thật thà gì hay sao? Thay vì cho thấy vài phút Leary như thế mà nói với ông nội Leary nhớ được tên. Nếu ông họa sĩ ấy có đáp trả gì thì Macon cũng không tài nào nhớ nổi.
 
Dẫu vậy anh vẫn còn nhớ mình đã ngồi như thế nào để cho ông ta họa bức tranh đó và giờ đây khi nhìn lại tấm hình trong tâm trí anh hiện lên mồn một hình ảnh mẹ anh mặc bộ kimono hồng đứng ngay bên ngoài cái khung mạ vàng kia, vừa có cái màu mà theo lời mẹ nói thì nhìn cũng “tàm tạm”. Kiểu khuôn mặt của mẹ giờ đây không còn thấy nữa – không chỉ lỗi thời mà là đã hoàn toàn biến mất. Làm thế nào mà phụ nữ có thể đúc khuôn dáng vóc mặt mũi của họ theo một lối nào đó để phù hợp với thời đại nhỉ? Chẳng lẽ chẳng còn ai có cái cằm tròn trĩnh, vầng trán đầy đặn, vành môi nhỏ hoa mỹ sậm màu – những nét đặc trưng của những năm bốn mươi – nữa hay sao?
 
Rõ ràng ông họa sĩ thấy mẹ anh thật cuốn hút. Chốc chốc ông ta lại ngừng vẽ để thốt lên rằng ước gì mẹ anh làm mẫu cho bức ông đang vẽ đây. Alicia bật cười không thành tiếng và huơ tay ra hiệu ông ta thôi nói như vậy đi. Có lẽ về sau mẹ có đi chơi với ông ta đôi ba bận gì đây. Mẹ luôn cặp kè với những người đàn ông mới, và theo như mẹ kể ai cũng là người khiến mẹ say mê nhất thế gian. Nếu họ là họa sĩ, thì sao nhỉ, thì mẹ tổ chức tiệc tùng và chèo kéo bè bạn mua những bức tranh vẽ của họ. Nếu họ lái phi cơ riêng vào cuối tuần thì mẹ tham gia học những khóa học dành cho phi công. Nếu họ là người quan tâm đến chính trị, mẹ sẽ có mặt trên mọi ngóc ngách đường phố để ấn vào tay khách qua đường những tờ đơn thỉnh cầu. Mấy an hem họ còn quá non nớt để lo lắng về những người đàn ông nọ, nếu như có lý do gì đó để lo lắng. Mà không, chính sự hăng hái của mẹ mới khiến bọn họ lo âu. Mẹ thể hiện sự hăng hái theo lối bộc phát, sự thay đổi qua ư đột ngột những thú tiêu khiển, bạn bè, người tình, động cơ. Dường như mẹ luôn dễ ngã lòng. Mẹ luôn đi quá xa. Giọng nói của mẹ cứ muốn vượt qua giới hạn của chính nó, dường như bất cứ lúc nào nó cũng có thể vỡ tan. Mẹ càng nói nhanh, ánh mắt mẹ càng trở nên rạng ngời, như thể muốn mẹ sống theo cái lối điềm đạm, chắc chắn của chúng. “Ồ, tụi con sao vậy?” mẹ hỏi. “Sao tụi con cứ đờ người ra như thế?” Và mẹ bỏ mặc mấy đứa ở nhà để hối hả bươn theo cái đám đông kia của mẹ. Rose, đứa bé nhất, luôn ở phòng ngoài ngóng mẹ về, mút ngón tay cái, và vuốt ve chiếc khăn choàng long đã cũ mà mẹ không bao giờ còn đeo nữa.
 
Đôi khi niềm hứng khởi của Alicia chuyển hướng sang mấy đứa con – một trải nghiệm khiến bọn trẻ lo ngại. Mẹ đưa cả bọn đi xem xiếc và mua cho họ kẹo bông, thứ mà chẳng đứa nào ưa. (Đứa nào cũng thích giữ mình luôn sạch sẽ tinh tươm.) Mẹ kéo họ ra khỏi trường học và đăng ký cho họ có các khóa học ngắn hạn về giao tiếp cộng đồng nơi mà ai đến học cũng trần như nhộng. Bốn đứa họ, lạnh run khốn khổ, ngồi gập người lại trên một hàng ghế trong căn phòng sinh hoạt chung, hai tay ép sát vào giữa hai đùi trần. Trong một dịp Halloween mẹ hóa trang thành phù thủy và chơi trò “cho kẹo hay bị ghẹo” với họ, đó là lễ Halloween tủi nhục nhất trong đời họ bởi vì mẹ đã ra khỏi nhà như thường lệ và khúc khích cười, rền rĩ, hối hả lao tới những người lạ, và dứ dứ cây chổi tơi tả vào mặt họ. Mẹ bắt đầu may quần áo giày mũ cho bản thân và cho Rose, màu hồng sậm và tay bồng, nhưng rồi lại để dở dang vì cái máy khâu đâm thủng tay mẹ và mẹ rú lên. (Mẹ luôn khiến mình bị thương. Có lẽ tại tính của mẹ lúc nào cũng nóng vội.) Rồi mẹ lại quay ngoắt sang một trò khác, và trò khác nữa. Mẹ một mực tin vào sự thay đổi như thể nó là một thứ tôn giáo nào đó vậy. Buồn ư? Hãy kiếm một người đàn ông mới! Chủ nợ réo, tiền thuê đến hạn, bọn trẻ bị sốt à? Thì chuyển sang căn hộ khác! Trong một năm, họ chuyển nhà nhiều lần đến độ mỗi bận tan học, Macon phải đứng thần người ra một lúc mới xác định được hướng về nhà.
 
Năm 1950, mẹ quyết định đi đến hôn nhân với một ông kỹ sư thường đi khắp thế giới để xây cầu, “Bồ Đào Nha, Panama, Brazil,” mẹ nói với bọn trẻ. “Rốt cuộc thì chúng ta cũng đã tìm thấy hành tinh của mình.” Bọn họ trợn trừng nhìn mẹ một cách lạnh lùng. Nếu trước đây từng gặp người đàn ông ấy, thì bọn họ cũng chẳng có chút ký ức nào về ông cả. Alicia nói, “Tụi con không thấy vui sao?” Sau đó – có lẽ là sau cái bận ông ta đưa cả nhà ra ngoài ăn tối – mẹ bảo mẹ sẽ gửi bọn họ về sống cùng ông bà nội. “Sự thật là, Baltimore phù hợp cho trẻ con hơn,” mẹ nói. Bọn họ có phản đối không nhỉ? Macon không tài nào nhớ nổi. Anh hồi tưởng lại tuổi thơ của mình như ở trong một lồng kính với những người lớn vội vã lướt qua, nói chút chuyện với anh, thay đổi, trong khi chính anh thì cứ lặng thinh. Dù muốn dù không, vào một đêm oi bức của tháng Sáu Alicia đưa cả bọn lên máy bay thẳng tới Baltimore. Đón họ là ông bà nội, hai con người đạo mạo, nghiêm khắc và gầy guộc trong trang phục màu đên. Bọn họ ngay lập tức chịu ông bà nội.

Sau đó, họ rất hiếm khi gặp lại Alicia. Mẹ ào đến rồi đi như gió với cả đống quà từ các nước nhiệt đới. Các bộ váy áo bằng vải hoa đập vào mắt bọn trẻ khiến chúng lóa cả mắt; cách phục trang của mẹ thật sặc sỡ, giống kiểu của người nước ngoài. Mẹ thấy bọ họ thật khôi hài – trong những bộ đồng phục trắng và xanh hải quân, trong cung cách đường hoàng chững chạc. “Chúa ơi! Các con sống tẻ nhạt thế này sao!” mẹ kêu lên, rõ ràng mẹ quên mất rằng ngay cả trước đây mẹ cũng đã luôn nghĩ về các con mình như thế. Mẹ nói bọn họ thật giống bố. Họ hiểu rằng đấy không phải là một lời khen. (Khi bọn họ hỏi bố trông như thế nào, thì mẹ cúi mặt xuống mà nói. “Ồ, Alicia, người lớn hơn đi chứ.”) Sau này, khi mấy đứa con trai lấy vợ mẹ thấy chúng thậm chí còn giống bố hơn nữa, vì hết lần này đến lần khác mẹ xin lỗi cả ba cô con dâu vì những gì họ phải chịu đựng. Macon tưởng tượng mẹ như một bà tiên nghịch ngợm, lém lỉnh bay vô bay ra cuộc đời họ để lại một vệt dài những lời bình phẩm vô trách nhiệm, mà rõ ràng là chẳng bao giờ chịu cân nhắc xem điều gì đáng nói điều gì không. “Mẹ không hiểu con sống thế nào được với cái thằng đó,” mẹ nói với Saral như vậy. Mẹ giờ đã có người chồng thứ tư, một kiến trúc sư hòn non bộ có chòm râu dê bạc trắng.
 
Đúng là bọn trẻ trong ảnh dường như chẳng có chút nào giống mẹ. Chúng thiếu đi màu vàng – và – xanh của mẹ; tóc chúng màu xám tro còn mắt thì màu xám sắt. Cả bốn người đều có nhân trung sâu. Và cả cuộc đời, Alicia chẳng khi nào mang vẻ mặt quá thận trọng hay quá ngờ vực như thế.

Gò bó trong sự sắp đặt thiếu thoải mái, cả bốn nghìn đăm đăm vào người xem. Hai anh trai, Charles phúng phính và Porter mảnh dẻ, mỗi đứa ngồi trên một tay ghế bành, áo sơ mi trắng cổ cồn lá rộng và bẹt ra hai bên. Rose và Macon ngồi trên ghế trong bộ quần áo mặc ở nhà. Rose trông như đang ngồi trong lòng Macon, mặc dù thật ra cô bé đứng giữa hai đầu gối anh thôi, còn Macon thì thu người lại căng thẳng khi có ai đó ngồi sát vào anh – một thế ngồi anh thấy không quen tí nào. Tóc anh, giống tóc ba người còn lại, mượt mà chạy vát qua trán. Miệng anh nhỏ, nhợt nhạt, và hơi mím, tựa hồ như anh sắp giờ đây dội về tâm trí Macon. Anh nhìn nó, rồi nhìn sang chỗ đã mất mười hai năm tưởng tượng Ethan như một sinh viên nước ngoài trọ học ở nhà anh, một du khách đến từ thế giới bên ngoài, ấy vậy mà hóa ra trước giờ nó vẫn mang chất của dòng họ nhà Leary. Thật lạ lùng làm sao khi lại nhận ra điều ấy trong một ngày muộn màng thế này.
 
Anh ngồi phắt dậy với tay lấy chiếc quần mà Rose đã cắt đi phần dưới của ống bên trái và may lại bằng những đường chỉ nhỏ xíu đều tăm tắp.
 
***
 
Không một ai biết được hiện anh đang ở đâu. Julian không, Saral cũng không, không ai cả. Macon thấy thích thú với điều ấy. Anh luôn miệng bảo Rose, “Thật thú vị khi chẳng ai liên lạc được với mình. Anh ước mọi thứ cứ như thế này một thời gian.”
 
“Sao lại không thể chứ?”
 
“Ồ, em biết rồi đấy, ai đó sẽ gọi đến đây, Saral hay một ai khác…”
 
“Vậy mình chỉ cần không nghe là được.”
 
“Gì? Cứ để chuông reo vậy hả?”
 
“Sao không?”
 
“Lúc nào cũng không nghe?”
 
“Hầu hết những người gọi đến là hàng xóm của em,” Rose nói. “Họ sẽ tạt qua nếu không thấy trả lời. Mà anh biết bọn con trai rồi đấy: chẳng đứa nào thích trò chuyện qua điện thoại đâu.”
 
“Đúng vậy,” Macon nói.
 
Julian hẳn sẽ đến gõ cửa nhà anh, dự định ca một bài về cái tội để cho hạn nộp bản thảo cứ trôi qua như thế. Anh ta thể nào cũng phải bỏ cuộc. Còn Saral cũng sẽ đến để lấy muôi múc canh hay cái gì đó, và khi thấy anh không ra mở cửa cô sẽ hỏi hàng xóm và họ sẽ bão chẳng thấy anh thò mặt ra ngoài mấy bữa nay rồi. Cô sẽ cố liên lạc với gia đình anh và chỉ nghe tiếng chuông chờ, và cô sẽ bắt đầu lo lắng. Điều gì đã xảy ra? Cô sẽ tự hỏi. Làm thế nào mình có thể bỏ anh ấy một thân một mình mà đi như thế?
 
Dạo này Macon để ý thấy mình bắt đầu xem Saral như một kiểu kẻ thù này đấy. Anh không còn thấy nhớ nhung cô và bắt đầu vẽ ra trong đầu hình ảnh một Saral ăn năn hối hận. Anh sửng sốt khi thấy mình thay đổi nhanh đến vậy. Phải chăng thực chất ý nghĩa của hai mươi năm chung sống rốt cuộc là như thế này? Anh thích hình dung thấy cô đang tự mắng mỏ mình. Anh soạn đi soạn lại trong đàu những lời cô xin lỗi anh. Anh đã không còn những suy nghĩ kiểu vậy kể từ khi còn bé, cái thời luôn mơ được thấy mẹ sẽ phải vật vã thế nào trong đám tang của nh.
 
Ban ngày làm việc nơi bàn ăn, anh sẽ nghe thấy tiếng chuông điện thoại và ngừng lại, tay đặt lơi trên bàn phím. Một hồi, hai hồi, ba hồi. Rose sẽ bước vào tay cầm lọ nước đánh bóng đồ đạc. Cô thậm chí dường như không hề nghe thấy tiếng chuông. “Nếu có gì khẩn cấp thì sao em?” anh sẽ hỏi như vậy. Rose sẽ đáp, “Hả? Ai gọi cho mình khẩn cấp được chứ?” và rồi cô sẽ lấy bộ đồ ăn bằng bạc ra khỏi tủ  đựng bát đĩa và dàn cả ra nơi đầu bàn bên kia.
 
Lúc nào cũng có ai đó trong gia đình cần tới tay Rose săn sóc. Bà nội ốm liệt giường hàng mấy năm trời mới mất, và rồi tới ông nội yếu sức do tuổi cao, và ban đầu là Charles rồi tới lượt Porter hôn nhân tan vỡ kéo nhau về nhà cả. Thế nên cô không lúc nào rảnh tay. Hoặc cô cố tình làm thế, vì rõ ràng là không nhất thiết phải tuần nào cũng lôi đồ ăn bằng bạc ra đánh bóng. Ở riết trong nhà cả ngày cùng với em gái. Macon để ý thấy cô lên thực đơn cẩn thận như thế nào; sắp xếp lại ngăn kéo đựng đồ thường xuyên ra làm sao; rồi thậm chí cả cái cách cô là tất cho mấy ông anh nữa, trước tiên cô tháo chúng ra khỏi những cái kẹp cô dùng để kẹp chúng lại thành đôi với nhau trước khi cho vào máy giặt. Bữa trưa cho Macon, cô nấu một bữa ra trò và dọn lên trên những tấm lót. Cô bày ra món dưa muối và dầu ô liu đựng trong những chiếc chén thủy tinh nhỏ có khắc hoa văn, để rồi cuối bữa ăn chúng lại được đổ trở lại vào hũ. Cô bóp ra một cục mayonnaise to tướng tự làm lấy vào cái bát nhỏ tí.
 
Macon tự hỏi liệu có khi nào cô chợt nhận thấy rằng mình đang sống một cuộc sống rất ư là kỳ quặc không – không nghề ngỗng, không chồng con, được mấy ông anh đài thọ. Thế nhưng công việc nào hợp với cô bây giờ? Anh tự hỏi. Mặc dù anh có thể, xem nào, hình dung ra cô như trụ cột của một công ty luật cổ lỗ sĩ hoặc một công ty kế toán. Trên danh nghĩa là một thư ký, cô sẽ thực sự điều hành toàn bộ công việc, sắp xếp mọi thứ đâu ra đó trên bàn làm việc của sếp mỗi buổi sáng và không cho một ai trên cũng như dưới cô nhìn trộm được chút thông tin gì. Macon có thể dùng một thư ký như thế. Nhớ lại cô ả tóc đỏ hoa đỏ hoét nhai kẹo cao su luôn mồm trong phòng làm việc chẳng theo một trật tự nào của Julian, Macon thở dài ngán ngẩm và ước gì thế giới này có nhiều cô Rose hơn nữa.
 
Anh kéo trang giấy ra khỏi máy đánh chữ và đặt bên trên những trâng khác, mặt úp xuống phía dưới. Anh đã xong phần mở đầu – chung chung theo kiểu Xe điện ngầm không phải là xe lửa chạy dưới đất và Đừng nói restroom, hãy nói toilet – và anh đã kết thúc chương có tên gọi “Hãy cố ăn ở Anh.” Rose đã gửi chương đó qua bưu điện hộ anh hôm qua. Đó là một trò chơi mới của anh: gửi đi từng phần cuốn sách từ nơi không ai biết. “Không có địa chỉ người gửi này anh,” Rose nhắc anh. “Không cần đâu em,” Macon nói. Rose gật đầu ra chiều hết sức nghiêm túc. Cô là người duy nhất trong nhà xem những cuốn cẩm nang của anh như những tác phẩm đích thực. Trong giá sách phòng ngủ, cô xếp chúng thành một hàng theo thứ tự alphabet tên các quốc gia.
 
Vào xế chiều, Rose ngưng tay để theo dõi vở kịch nhiều tập ưa thích của cô trên truyền hình. Đây là điều Macon không tài nào hiểu nổi. Làm thế nào mà cô có thể hoang phí thời gian cho cái mớ rác rưởi đó chứ? Cô bảo do có một người phụ nữa xấu xí cực kỳ trong vở kịch đó. “Trong cuộc sống có đủ những người xấu xa rồi mà em,” Macon bảo cô.
 
“”Vâng, nhưng không xấu xa cực kỳ.”
 
“À, chắc chắn là vậy rồi.”
 
“Người này, anh biết không, rõ là cực xấu đây. Anh cũng biết người không tin được là như thế nào mà.”
 
Trong khi chăm chú theo dõi, cô oang oang trò chuyện cùng các nhân vật. Từ phòng ăn Macon có thể nghe thấy,” Cô chẳng phải là người anh ta đeo đuổi đâu, cưng à,” cô nói, và “Cô đợi mà xem. Ha!” – chẳng phải là kiểu nói thường ngày của cô tí nào. Chương trình quảng cáo cắt ngang vở kịch, nhưng Rose vẫn ngồi nguyên chỗ ấy. Trong khi đó, Macon đều đều gõ phần “Hãy cố ngủ ở Anh” tẻ ngắt.

Chuông cửa reo, Rose không ra mở. Edward chạy lăng xăng sủa nhặng xị, cào cào cửa, chạy lại chỗ Macon rồi lại quay ngược ra cửa. “Rose à?” Macon gọi. Cô không nói gì. Rốt cuộc anh đành đứng lên, kẹp nạng vào nách và khập khiễng ra ngoài sảnh.
 
Ồ, không phải Saral. Chỉ cần nhìn qua tấm màn cửa có riềm đăng ten là anh có thể biết chắc điều đó. Anh mở cửa và ló đầu ra. “Gì đó!”
 
Đó là Garner Bolt, một người hàng xóm của anh từ bên nhà – một người đàn ông tóc hoa râm gầy choắt phát đạt như buôn bán dụng cụ và nước tẩy rửa. Khi ông ta trông thấy Macon, hết thảy những vết nhăn trên khuôn mặt tóp teo ngộ nghĩnh của ông như sống động hẳn lên. “Cậu đây rồi!” ông ta nói. Con Edward cứ sửa ỏm tỏi cả lên làm cho anh khó có thể nghe ông ta nói gì.

”Có gì không, Garner,” Macon nói.
 
“Chúng tôi lo cậu đã chết rồi.”
 
“Anh nghĩ vậy à?”
 
Macon vội chộp lấy dây đeo cổ của Edward nhưng lại để vuột mất.
 
“Bao nhiêu là báo chất đống trên bãi cỏ, thư từ lèn đầy khe cửa, thật chúng tôi chả biết làm sao cả.”
 
“À, tôi đã bảo chuyển qua đây cho em gái tôi rồi mà,” Macon nói. “Anh thấy đấy, tôi bị gãy chân.”
 
“Trời, sao vậy?”
 
“Chuyện dài lắm.”
 
Anh thôi án ngữ nơi cửa. “Vào đi,” anh bảo Garner.
 
Garner bỏ mũ xuống, ấy là một cái mũ lưỡi trai có gắn nhãn hiệu Sherwin-Williams phía trước. Chiếc áo khoác của ông nguyên là một phần của một bộ đồ mùa lạnh cũ rích cũ rơ, có màu nâu sáng, hầu như sắp hỏng vì mặc quá nhiều, còn chiếc quần yếm thì đã bạc phếch nơi đầu gối. Ông ta bước vào nhà, đi vòng né con chó ra, và đóng cửa lại. Edward thôi sủa, chuyển sang rên ư ử. “Tôi chở sang cho cậu cả xe thư kia kìa,” Garner nói. “Brenda bảo tôi phải mang sang cho em gái cậu, và hỏi liệu cô ấy có rõ anh đang ở xó xảnh nào không. Tôi cũng hứa với bận cậu như vậy.”
 
“Bạn nào?”
 
“Cái cô vận quần lửng ấy.”
 
“Tôi chả biết cô nào vận quần lửng hết,” Macon nói. Thậm chí, anh còn không biết rằng quần lửng vẫn còn tồn tại trên đời này nữa kia.
 
“Thấy cô ấy đứng trong hiên nhà, lắc lắc nắm đấm cửa. Gọi vào, ‘Macon à? Anh có trong đó không?’ Cô đố trông gầy nhom. Nhìn khoảng hai mấy tuổi gì đấy.”
 
“Ồ, tôi chẳng thể hình dung được cô nào như vậy.”
 
“Mắt nhỏ và có kẻ chì.”
 
“Có thể là ai được nhỉ?”
 
“Nhún nhảy xuống mấy bậc tam cấp ở hiên nhà trên đôi giày đế nhọn cao lòng khòng.”
 
“Cái cô huấn luyện chó rồi,” Macon nói, “Chúa ơi,”
 
“Cô ấy vẫn còn trẻ quá đấy nhỉ?”
 
“Tôi thậm chí không biết cô ta nữa là!”
 
“Đi vòng quanh tới đằng sau nhà nữa kia, cứ ‘Macon à? Macon ơi?’”
 
“Tôi hầu như chưa gặp cô ta!”
 
“Chính cô ấy cho tôi biết về cái cửa.”
 
“Cửa?”
 
“Cửa sổ đến tầng hầm ấy, đã gãy vỡ hết cả rồi. Mảnh vỡ rơi vào bên trong làm cho là sưởi hoạt động. Lãng phí điện gớm ấy nhỉ.”
 
“Ồ. À. Vâng, tôi cũng nghĩ vậy,” Macon nói.
 
“Chúng tôi nghĩ hay là nhà anh có trộm hoặc sao đó.”
 
Macon dẫn ông ta vào phòng ăn. “Anh coi đó,” anh nói, “tôi bị gãy chân và phải về ở cùng gia đình cho đến khi có thể đi lại được.”
 
“Tôi đâu có thấy xe cứu thương hay gì đâu?”
 
“À, tôi gọi cho đứa em gái.”
 
“Cô ấy là bác sĩ à?”
 
“Chỉ đến để đưa tôi đi cấp cứu thôi.”
 
“Khi Brenda gãy xương hông vì trượt cầu thang,” Garner nói, “cô ấy đã gọi xe cứu thương mà.”
 
“Ồ, tôi thì gọi em gái.”
 
“Brenda gọi xe cứu thương.”
 
Câu chuyện của họ dường như đi vào ngõ cụt.
 
“Hẳn là toi nên báo cho bưu điện về chuyện thư từ,” rốt cuộc Macon lên tiếng. Anh từ từ hạ thấp người xuống ghế.
 
Garner kéo một chiếc ghế khác và ngồi xuống, hai tay cầm chiếc mũ. Ông ta nói, “Tôi có thể mang thư đến cho cậu được mà.”
 
“Không, tôi sẽ bảo Rose báo lại họ. Chúa ơi, cả mớ hóa đơn này chắc là gần đến hạn nộp rồi đây, và đủ thứ nữa…”
 
“Tôi có thể tiện thể mang đến cho cậu mà.”
 
“Dù sao cũng cảm ơn anh.”
 
“Sao tôi không mang được chứ.”
 
“Nói thật, Macon nói, “tôi không chắc mình sẽ lại trở về đó.”
 
Trước đây anh chưa hề có trong đầu suy nghĩ ấy. Anh khẽ khàng đặt hai chiếc nạng song song nhau như đôi đũa xuống sàn nhà gần cái ghế anh ngồi. “Có thể tôi sẽ ở lại đây cùng gia đình,” anh nói.
 
“Và bỏ ngôi nhà nhỏ xinh kia à?”
 
“Nhưng chỉ có một người ở thì nó lại quá rộng.”
 
Garner chau mày nhìn xuống chiếc mũ lưỡi trai. Ông ta đội nó lên đầu rồi nghĩ thế nào lại bỏ ra. “Cậu xem,” ông ta nói. “Nhớ lại những năm tháng tôi và Brenda vừa mới cưới ấy, thật tệ. Quá tệ. Không ai chịu nổi ai, vậy mà không biết sao lại kéo dài được đến tận giờ.”
 
“Chúng tôi đâu phải mới cưới,” Macon nói. “Chúng tôi sống với nhau đã hai mươi năm.”
 
“Brenda và tôi không nói với nhau lời chào gần như cả cái năm một ngàn chín trăm ba mươi lăm đó,” Garner nói. “Tháng Giêng đến tháng Tám, năm một ngàn chín trăm ba mươi lăm. Ngày Tết đến kỳ nghỉ hè. Chẳng một lời khỉ gì sất.”
 
Câu nói đó đập vào suy nghĩ của Macon. “Cái gì?” anh nói, “Thậm chí không nói với nhau những câu đại loại như là ‘Đưa giùm lọ muối’ hay ‘Mở cho cánh cửa sổ’ ư?”
 
“Đúng vậy.”
 
“Ồ, vậy hang ngày anh sống kiểu gì?”
 
“Hầu hết thời gian cô ấy ở nhà chị gái mình.”
 
“Ồ, ra vậy.”
 
“Buổi sáng bắt đầu kỳ nghỉ, tôi cảm thấy thật khốn khổ đến nỗi muốn chết quách đi cho xong. Tự hỏi lòng, ‘Mình phải làm gì bây giờ?’ Thế rồi gọi đường dài đến tận Ocean City và đặt trước một phòng cho hai người. Nói cho cậu biết nhé, hồi đó, gọi đường dài như vậy không phải là chuyện đơn giản đâu. Gọi qua bao nhiêu là trực tổng đài và đủ thức, tốn khá là nhiều tiền đấy. Rồi tôi gói ghém quần áo cho tôi và cho cả Brenda, và chạy qua nhà chị gái cô ấy. Chị ta hỏi, ‘Cậu muốn gì đấy?’ Chị ta thuộc kiểu người thích nhìn thấy sự chia rẽ hay bất đồng. Tôi cứ đi thẳng qua mặt chị ta. Thấy Brenda trông phòng khách đang khâu lại chiếc bít tất dài. Mở va li ra: ‘Nhìn này. Váy dạ hội để ăn tối ở nhà hàng hải sản này,’ tôi bảo cô ấy. ‘Hai chiếc quần soóc này. Hai áo choàng này. Rồi thì đồ bơi này,’ Cô ấy thậm chí chẳng buồn đưa mắt nhìn tôi lấy một lần. ‘Áo choàng tắm nữa,’ tôi nói. ‘Áo ngủ em đã mặc vào tuần trăng mật nữa này.’ Vậy mà cứ tảng lờ như tôi không hề ở đó vậy. ‘Brenda,’ tôi gọi cô ấy. Tôi nói ‘Brenda, anh mười chín tuổi và anh không bao giờ mười chín tuổi nữa. Anh sẽ không bao giờ được sống lại lần nữa. Ý anh là, Brenda, đây là cuộc sống duy nhất anh phải sống cho đến cùng, theo như anh biết, và anh đã mất quá nhiều thời gian ngồi một mình trong căn hộ trống rỗng, quá kiêu hãnh để giảng hòa, quá sợ nghe em bảo không, nhưng ngay cả nếu em bảo không thì nó cũng không thể tệ hơn những gì anh đang chịu. Anh là người đàn ông cô đơn nhất thế gian này. Brenda, vậy hãy đến Ocean City cùng anh nhé.’ Và Brenda đặt chiếc tất đang khâu xuống và nói, ‘Ồ, chính miệng anh nói ra đấy nhé, nhưng hình như anh quên mang cho em chiếc mũ tắm rồi.’ Và thế là chúng tôi đi.”
 
Ông ta lại ngồi xuống ghế, nét mặt hoan hỉ. “Vậy nên,” ông ta nói.
 
“Vậy nên sao,” Macon hỏi.
 
“Vậy nên cậu hãy làm theo bài của tôi đi.”
 
“Bài gì?”
 
“Cậu phải chứng tỏ cho cô ấy biết cậu cần cô ấy.”
 
“Nghe này, Garner, tôi nghĩ rằng chúng tôi đã đi quá xa những chuyện nhỏ nhặt kiểu như tỏ cho cô ấy biết rằng tôi…”
 
“Đừng có cố chấp quá thế Macon, nhưng tôi nói thẳng với cậu thế này nhé: Đôi khi cậu khiến người khác bực dọc lắm đấy. Tôi không nói là tôi, tôi không để bụng; tôi hiểu. Chỉ là vài người hàng xóm, cậu né tránh không muốn tiếp xúc với họ. Ví dụ như lúc này đây – lúc cậu bị gãy chân thế này. Ý tôi là mọi người thường tỏ ý muốn giúp đỡ nhau vào những lúc như thế - gửi hoa và ghé qua vào giờ thăm hỏi, hay mang cho món thịt hầm sau khi tan sở. Chỉ có cậu là thậm chí không đến sở làm thôi. Ôm lọ tro, cầu Chúa phù hộ, ở tận đẩu tận đâu tuốt Virginia về thẳng nhà luôn chẳng buồn hé môi nói với ai một lời. Peg Everett bảo cô ấy luôn cầu nguyện cho anh, và Saral đáp, ‘Ồ, cầu Chúa phù hộ cho chị, Peg,’ còn cậu thì nói gì chứ? Cậu hỏi Peg liệu con trai cô ấy có muốn lấy chiếc xe đạp của Ethan luôn bây giờ giờ không.”
 
Macon lầm bầm. “Vâng,” anh nói. “Tôi không bao giờ biết cách ứng xử vào những lúc như vậy.”
 
“Rồi cậu cắt cỏ như thể chẳng có điều gì xảy ra cả.”
 
“Cỏ cứ mọc suốt thế mà, Garner.”
 
“Chúng tôi ai cũng muốn làm điều đó giúp cậu, muốn lắm.”
 
“Ồ, cảm ơn,” Macon nói, “nhưng tôi thích công việc đó mà.”
 
“Cậu hiểu ý tôi không?”
 
Macon nói, “Này, gượm đã. Chỉ là đển chèn chút logic vào cuộc tranh luận này thôi…”
 
“Đó chính xác là điều tôi muốn nói!”
 
“Anh bắt đầu nói về Saral. Rồi chuyển sang việ tôi đã làm hàng xóm thất vọng như thế nào.”
 
“Có gì khác nhau nào? Cậu có thể không biết điều này, Macon à, nhưng cậu tỏ cái vẻ như là một người không cần đến ai. Hãy nhìn cách cậu đi mà xem! Cái cách cậu, kiểu như, lủi thủi, cắm cúi đi với cái đầu vươn về phía trước. Nếu có ai muốn chặn cậu lại và, tôi không biết nữa, ngỏ lời chia buồn, người thấy có thể sẽ thấy phiền lòng đấy. Được rồi, tôi biết cậu không vô tâm, và cậu biết cậu không vô tâm, nhưng người khác thì thấy thế nào chứ? Tôi hỏi cậu đấy! Thảo nào mà cô ấy bỏ đi như thế.”
 
“Garner, tôi rất cảm kích anh đã nghĩ cho tôi,” Macon nói, “Nhưng Saral hoàn toàn nhận thức được rằng tôi có quan tâm. Tôi không phải là một người quá im lặng như cách anh nhìn nhận đâu. Và đây cũng chẳng phải là một chuyện úp mở kiểu cuộc – hôn – nhân – này – có – cứu – vãn – được – chăng. Tôi muốn nói là, anh rõ là sai rồi, khỉ thật đấy, Garner.”
 
“À,” Garner nói. Ông ta nhìn xuống chiếc mũ, và một lát sau đội mạnh nó lên đầu. “Vậy tôi ra mang thư vào cho cậu nhé,” ông ta nói.
 
“Vâng, cảm ơn.”
 
Garner dọm chân bước ra ngoài. Tiếng chân ông đi ra đánh động con Edward, khiến nó lại bắt đầu sủa om lên. Trong chút thời gian ngồi không trống trải đó Macon nhìn xuống đôi chân bó bột của anh và lắng nghe âm thanh của vở kịch dài kỳ trên truyền hình vẳng lại từ phòng khách. Con Edward vẫn kêu ư ử ngoài cửa, rồi lăng xăng ra vào, cào cào móng xuống sàn. Garner quay trở vào. “Hầu hết là catalog thôi,” ông ta nói, quẳng cái gói lên bàn. Ông ta trở vào mang theo mùi của không khí trong lành và những chiếc là khô. “Brenda nói chúng tôi có thể không cần giữ lại báo làm gì, cứ vứt đi cũng được.”
 
“Ồ, vâng, đương nhiên rồi.”
 
Anh đứng dậy và họ bắt tay nhau. Tay của Garner cứng, thô ráp như một tờ giấy nhàu nhĩ. “Cảm ơn anh đã ghé qua,” Macon bảo ông ta.
 
“Bất cứ lúc nào,” Garner nói, nhìn sang chỗ khác.
 
Macon nói, “Anh biết đấy, tôi không có ý như vậy – tôi hy vọng mình không tỏ ra cáu kỉnh.”
 
“Không đâu,” Garner nói. Ông ta nhấc một cánh tay lên rồi thả xuống. “Thôi nào. Đừng nghĩ gì về điều đó nữa.” Rồi ông ta quay ra về.
 
Ngay khi ông ta đi khỏi, Macon suy tư về bao nhiêu điều lẽ ra anh nên đề cập đến. Không phải lỗ là ở nơi anh cả, anh muốn nói như vậy. Saral cũng có một chút lỗi trong đó. Những gì Saral cần là người không hề bị bất kỳ thứ gì khiến cho vỡ vụn. Nếu không, lý do gì cô chọn anh làm chồng? Nhưng anh cứ ngồi lặng thinh như thế, để mặc Garner ra khỏi nhà. Có gì đó thương thương nơi hai đường gờ nổi lên phía sau cần cổ Garner, tạo nên một rãnh nhỏ xíu màu nâu hằn sâu ở giữa.
 
***
 
Khi mấy anh em trai đi làm về, không khí trong nhà trở nên thoải mái và dễ chịu hơn. Rose kéo rèm cửa phòng khách ra và thắp vài ngọn đèn với ánh sáng dịu nhẹ. Charles và Porter thay áo len dài tay. Macon bắt đầu làm món nước xốt sa lát đặc biệt của anh. Anh chắc chắn một điều rằng nếu gia vị được giã bằng cối đá cẩm thạch và chày, nước xốt sẽ có vị hoàn toàn khác. Trong nhà ai cũng nhất trí rằng không ai làm món này ngon bằng Macon. “Từ khi chú đi,” Charles bảo anh, “bọn anh phải mua thứ bán sẵn ngoài chợ.” Giọng anh như thể Macon chỉ đi một chuyến đi ngắn ngủi đến một nơi nào đấy mà thôi.
 
Bữa tối, họ có món bánh mì nướng của Rose, món sa lát với nước xốt do Macon làm, và khoai tây bỏ lò. Khoai tây bỏ lò luôn là món khoái khẩu của mấy anh em nhà họ. Cả bọn đã học cách làm món này từ dạo còn bé, và ngay cả khi đủ lớn để có thể nấu một bữa ăn tươm tất với đầy đủ các món thì họ vẫn cứ nấu mỗi một món khoai tây bỏ lò bất khi nào mẹ Alicia đi vắng để mặc học tự lo lấy. Có gì đó trong mùi cà phê Idaho rang thật dễ chịu, và cũng thật bảo thủ, như cách Macon tự khoác lên cho chính mình. Anh nhớ về những năm tháng trước đây, đã rất lâu rồi, vào những buổi tối mùa đông: nhìn ra cửa sổ nhà bếp chỉ thấy màu đen kịt, và bóng tối dần len lỏi vào mọi ngóc ngách của căn phòng. Cả bốn an hem ngồi quanh chiếc bàn tráng men sứt sẹo nhiều chỗ tỉ mẩn cho bơ vào những miếng khoai tây cắt đôi được giữ nguyên miếng không bị vỡ nát ra. Ấy gần như là một nghi thức. Anh nhớ lại một lần, cái bận mẹ đi đâu đó lâu hơn mọi bận, bạn mẹ, cô Eliza đã nấu cho bọn họ món gì đó mà cô gọi là món potato boats(2). Bọn trẻ, với vẻ đói ngấu về cảnh vẻ, đã chén sạch phần ruột nhồi bên trong rồi tiếp tục dùng đến phần vỏ ngoài như thường lệ, vờ như không nhận ra sai sót của cô. Phần vỏ lẽ ra nên giòn mới phải. Và không nên cho nhiều miếu. Tiêu phải là tiêu mới nghiền. Ớt bột cũng tạm được, nhưng mà giá như nó mang kiểu Mỹ thì tốt. Ớt bột Hungary có vị quá đặc trưng. Riêng Macon, anh có thể làm món đó mà không cần ớt.
 
Trong khi ăn, Porter nói về mấy đứa con anh. Tối mai anh đến thăm chúng như thường lệ vào mỗi cuối tuần, anh sẽ chạy xe đến Washington nơi bọn trẻ sống cùng mẹ chúng. “Vấn đề ở đây là,” anh nói, “ăn ngoài tiệm chẳng thấy tự nhiên chút nào. Đồ ăn chẳng có vẻ gì ra đồ ăn cả. Và khẩu vị nữa chứ, ba đứa ba kiểu. Chúng luôn mồm tranh nhau xem nên ăn ở đâu. Đứa thì đang ăn kiêng, đứa thì tự nhiên chuyển sang ăn chay, đứa thì không thích đồ ăn gì phải gặm. Và ông bố phải chấm dứt cuộc tranh cãi bằng cách la lớn, ‘Này, vì Chúa, chúng ta sẽ đi chỗ này chỗ nọ chỗ kia gì đó, tùy!’ Thế rồi cả mấy bố con cùng đi và đứa nào cũng xịu mặt trong suốt bữa ăn.”
 
“Hay là chú đừng đi nữa,” Charles nói theo lý của anh. (Anh chưa bao giờ có con.)
 
“Ồ, Charles, em muốn đi thăm con em mà. Em chỉ ước sao bố con em làm gì đó khác hơn là chỉ đi ăn tiệm như thế. Anh có nghĩ ra điều gì không? Giá như bố con em có thể chơi gì đó cùng nhau. Ý em là như cái hồi bọn em chưa ly hôn ấy, cái hồi Danny vẫn thường rót nước đun sôi giúp em, hay Susan ngồi trên tấm ván cho em dễ cưa. Giá như em có thể ghé qua nhà mẹ con nó lúc June và chồng cô ấy ra ngoài xem phim hay làm gì đó, thế rồi bọn trẻ và em sẽ cùng lau chùi cái máng xối, sửa lại các cửa sổ, quấn lại ống nước nóng, vân vân và vân vân… À, cái gã chồng ấy, chẳng được tích sự gì cả, anh có thể cược là gã ta cứ để mặc những ống nước nóng trần như nhộng hết cả. Thậm chí em sẽ mang theo hộp đồ nghề. Bố con em sẽ rất vui cho mà xem! Susan sẽ đãi cả mấy bố con món cacao. Rồi khi đã khá muộn em sẽ xếp lại bộ đồ nghề và ra về, để lại căn nhà mọi thứ đâu vào đó, ngăn nắp tinh tươm. Sao nhỉ, June không nhảy cẫng lên vì sửng sốt mới lạ.”
 
“Thế sao không thử làm vậy đi,” Macon nói.
 
“Không. Cô ấy không bao giờ chịu vậy. Cô ấy thật thiếu thực tế hết chỗ nói. Tuần trước anh đã trao đổi với cô ấy, anh bảo, ‘Em có biết bậc tam cấp nơi hiên trước bị lung lay không? Chịu khó vặn đinh lại cho chặt mỗi khi em đi mà thấy không ổn.’ Cô ấy nói, ‘Ôi Trời, hồi giờ vẫn vậy đâu có sao,’ như thể ông trời ban chiếu chỉ ấy. Như thể không làm gì được nữa vậy. Cái máng xối thì đầy những lá là lá, nghẹt hết cả đâu như tận mùa đông trước nhưng lá cây là gì, xét cho cùng, là thiên nhiên; mà sao lại có thể đối đầu với thiên nhiên chứ. Cô ấy quả thật là thiếu thực tế hết chỗ nói.”
 
Porter đích thị là một người đàn ông thực tế nhất mà Macon từng biết. Anh ấy là người mang họ Leary duy nhất nhận thức được tầm quan trọng của đồng tiền. Tài kiếm tiền của anh đã giúp công ty gia đình nhà họ không rơi vào nợ nần – cho dù là một lần. Đó không phải là ngành kinh doanh phát đạt lắm. Ông nội Leary đã sáng lập nên công ty này từ những năm đầu thế kỷ, khởi đầu là một công ty nhỏ chuyên về đồ thiếc, rồi chuyển sang sản xuất nút chai vào năm 1915. Ông nội tự xưng mình là Ông Vua Nút Chai, và trong lời cáo phó vào lễ tang của ông, người ta cũng đọc lên danh xưng đó, nhưng thật ra hầu hết nút chai đều do Crown Cork sản xuất và luôn như vậy; ông nội Leary chỉ đứng đâu hạng hai hạng ba gì đấy. Đứa con trai duy nhất của nội, Hoàng tử Nút Chai, làm ở công ty chẳng được bao lâu rồi bỏ ngang đó tình nguyện tong quân tham gia chiến tranh Thế giới thứ hai – rốt cuộc ấy là sự hăng hái gây thiệt hại nhiều hơn gấp nhiều lần sự hăng hái của mẹ Alicia. Sau cái chết của ba anh, việc kinh doanh như mất đi nguồn sinh khí, cứ tà tà rề rề chẳng bao giờ phát đạt mấy mà cũng chẳng khi nào lụn bại, cho đến khi Porter học xong đại học, về thẳng nhà và tiếp quản vấn đề tài chính của công ty. Tiền bối với Porter giống như một chất hóa học – một chất dễ bay hơi, khi kết hợp với các chất khác nhau sẽ tạo ra những phản ứng thú vị khác nhau. Anh không phải là loại người hám lợi như cách ta vẫn thường nghĩ; anh không phải kiếm tiền vì sự cứu rỗi của chính nó mà là vì những triển vọng hấp dẫn của đồng tiền, và trong thực tế khi vợ chồng anh ly hôn, anh đã để lại cho vợ toàn bộ tài sản không một lời kêu ca.
 
Chính Porter điều hành công ty, làm ra tiền và nghĩ ra các ý tưởng kinh doanh. Charles, máy móc hơn, chuyên về khâu sản phẩm. Macon chỉ làm một ít công việc nho nhỏ khi còn ở đó, và tinh thần lẫn thể xác gần như kiệt quệ vì chán ngán, vì công việc chẳng đủ nhiều để khiến đứa con trai thứ ba phải bận rộn. Chỉ vì muốn tạo thành thế ba chân vững chãi mà Porter cứ hối thúc anh về làm lại. “Macon, anh nói chú nghe,” anh rủ rê, “sao ngày mai không đi nhờ xe xuống đó với bọn anh và ngó qua chỗ làm cũ của mình một tí.”
 
“Không, cảm ơn,” Macon bảo anh.
 
“Có đủ chỗ cho cặp nạng của chú mà.”
 
“Lúc khác đi anh.”
 
Họ quanh quẩn bên Rose khi cô rửa chén. Cô không thích bọn họ giúp gì cả vì cô có cách làm riêng của cô, cô nói vậy. Cô đi qua đi lại mà chẳng gây tiếng động nào trong căn bếp cổ lỗ sĩ, cho chén bát vào các tủ chén bằng gỗ phía bên trên. Charles dắt con chó ra ngoài. Còn Macon không cách gì đi nạng trong khoảnh sân đất xôm xốp ấy được. Porter thì vừa kéo các mành cửa xuống, vừa giảng giải cho Rose biểt rằng bề mặt sáng của mành cửa sẽ khiến cho căn phòng ấm lên trong khi khí trời bên ngoài lạnh dần. Rose nói, “Vâng, Porter, em biết tất cả những điều đó rồi,” và giơ chiếc tô dùng để trộn sa lát về phía ánh sáng, săm soi nó một lúc trước khi cất vào tủ chén.
 
Họ xem tin tức, như là một nhiệm vụ cần phải làm, và rồi ra phòng nắng ngồi bên chiếc bàn chơi bài của ông bà nội. Họ chơi trò gì đó có tên gọi Vaccination – một trò chơi họ đã nghĩ ra từ hồi bé, và dần phức tạp hơn lên theo năm tháng và tới giờ thì chẳng một ai khác đủ nhẫn nại để học cách chơi nó. Trong thực tế, có vài người đổ lỗi cho họ rằng đã tự ý thay đổi luật chơi nhằm thích hợp với các tình huống. “Nào, chờ chút nhé,” Saral đã có lần nói vậy, cái thời cô vẫn còn hy vọng rằng mình có thể nghiệm ra được luật chơi. “Em nghĩ át là quân bài chủ.”
 
“Phải rồi.”
 
“Thế có nghĩa là…”
 
“Nhưng không phải khi chúng được rút ra khỏi cỗ bài đâu.”
 
“A! Đó chính là lý do tại sao con át Rose rút lại được tính điểm cao như thế phải không?”
 
“À, nó rút con át sau con hai, Saral à,”
 
“Vậy át rút ra sau con hai được tính cao à?”
 
“Không, quân át được rút ra sau một con số được rút ra hai lần trong một hàng ngay trước đó.”
 
Saral xếp những con bài lại, úp cả xuống mặt bàn – người cuối cùng trong số các bà vợ nhà Leary bỏ cuộc chơi giữa chừng.
 
Macon đang bị chặn và phải trao hết những quân bài của mình cho Rose. Rose dịch ghế sang ngồi cạnh anh và chơi phần của anh trong khi anh ngồi ngả người ra ghế, gãi gãi vành tai con mèo. Đối diện anh, trong ô kính cửa sổ nhỏ xíu tối nhờ nhờ, anh thấy hình ảnh tương phản của mấy anh em – mắt sâu, xương gò má cao, còn thú vị hơn cả nhìn người thật nữa.
 
Điện thoại trong phòng khách chợt ré lên một tiếng rồi đổ một hồi chuông dài. Hầu như chẳng ai thèm để ý. Rose đặt quân già lên trên quân đầm của Porter và Porter nói, “Cái đồ đáng ghét này.” Điện thoại lại đổ chuông, rồi lại một hồi chuông nữa. Giữa hồi chuông thứ tư, nó chợt ngừng. “Chết này,” Rose nói với Porter, và cô chụp con già bằng một con át.
 
“Em thật đáng ghét đó Rose!”
 
Trong bức ảnh trên tường phía cuối phòng, những đứa trẻ nhà Leary nhìn đăm đăm bằng ánh mắt u uẩn. Tự nhiên Macon chợt nhận thấy rằng tối nay mấy anh em họ cũng ngồi với vị trí giống y trong bức ảnh: Charles và Porter ngồi hai bên, Macon giữa và Rose thì nghếch ở phía trước mặt họ. Có sự thay đổi thực sự nào không nhỉ? Trong anh một cái gì đó bỗng nhói lên tê điếng hết cả người, anh gần như hoảng loạn. Anh vẫn còn ở nơi này ư! Vẫn như bao giờ ư! Mình đã đi đâu và làm gì? Anh tự hỏi, cổ họng như có gì chặn ngang, và nhìn vào hai lòng bàn tay trống trơn của mình.



(1)   Sun porch: căn phòng với những cửa sổ kính lớn và thường có mái bằng kính, được thiết kế để đón nhiều ánh sáng.
(2)   Potato boats: Cũng là món potato skins, nhưng cô Eliza nói tên món theo hình dáng của miếng khoai tây cắt nửa, giống hình chiếc thuyền.
Đăng nhập để trả lời
0
6.
 
“Cứu! Cứu! La con chó giùm cái!”
 
Macon ngừng gõ bàn phím và ngẩng đầu lên. Tiếng kêu phát ra ở đâu đó đằng trước nhà, to hơn tiếng con chó kêu ăng ẳng chói tai đầy kích động. Edward đã đi dạo cùng Porter. Hẳn là chó nhà ai khác.
 
“La con chó giùm cái, mẹ kiếp!”
 
Macon đứng dậy, dựng đôi nạng lên, khập khiễng ra phía cửa sổ. Thôi chết, đích thị là con Edward rồi. Hình như nó khiến ai đó phải tót lên cây ngọc lan bên đường. Nó sủa dữ đến độ cứ nhảy thông thốc lên cả bốn chân, giống như loại đồ chơi nảy lên không trung khi ta ấn mạnh vào cái núm cao su.
 
“Edward! Thôi đi!” Macon hét to.
 
Edward không chịu ngừng. Có lẽ nó chẳng nghe thấy. Macon ra phòng lớn, mở cửa trước, và kêu to, “Về ngay đi!”
 
Edward hầu như chẳng màng.
 
Ấy là một buổi sáng thứ Bảy đầu tháng Mười, không gian đượm một màu xám nhạt và mát mẻ. Khi băng qua hiên nhà, Macon thấy một luồng khí mát dịu luồn vào bên chân có ống quần bị cắt. Anh thả một chiếc nạng xuống và khi vịn tay vào rào chắn bằng sắt để đi xuống bậc tam cấp, anh cảm thấy những giọt sương đêm vẫn còn đọng lại trên bề mặt kim loại.
 
Anh ngước mắt lên cây ngọc lan, thả lỏng người cúi xuống, và chộp lấy sợi dây xích Edward đang kéo lê. Không cần mất nhiều công sức, anh lôi nó vào; con Edward giờ cũng đã hết hứng thú. Macon nhìn lom lom vào tán lá tôi tối của cây ngọc lan. “Ai ở đó vậy?” anh hỏi.
 
“Là sếp ông anh chứ ai, Macon.”
 
“Julian?”
 
Julian tụt xuống từ một trong mấy cái nhánh nằm oằn ngang. Có một vết bẩn vắt qua phía trước quần anh ta. Mái tóc màu vàng hoa sáng, hầu như lúc nào cũng chải gọn ghé khiến anh ta trông như một diễn viên đóng quảng cáo áo sơ mi, giờ đây rối bù lên. “Macon này,” anh ta nói. “Toi quả thật không ưa nổi dù chỉ chút xíu gã đàn ông nào có chó dữ dằn như vậy. Tôi không chỉ ghét con chó thôi đâu. Tôi ghét cả người nuôi nó nữa đấy.”
 
“Ồ, tôi xin lỗi đã xảy ra chuyện như vậy. Tôi tưởng nó đi dạo rồi.”
 
“Ông anh để nó đi loanh quanh một mình thế à?”
 
“Không, không…”
 
“Có thứ chó gì mà đi dạo chơi một mình,” Julian nói. “Chỉ có Macon Leary mới có thứ chó ấy thôi.” Anh ta phủi phủi ống tay áo cộc bằng da lộn. Rồi hỏi. “Chân anh sao vậy?”
 
“Gãy.”
 
“À, tôi thấy rồi, nhưng sao mà gãy?”
 
“Dài dòng lắm,” Macon bảo.
 
Họ bước về phía ngôi nhà, con Edward ngoan ngoãn lon ton chạy theo. Julian đỡ Macon khi hai người lên bậc tam cấp. Anh ta có dáng dấp vận động viên điền kinh, thong dong và tự nhiên – một vận động viên bơi thuyền. Ai nhìn cũng biết anh ta là một vận động viên bơi thuyền nhờ vào cái sống mũi rám nắng, ngay cả khi giờ đã là cuối năm. Không một ai có tóc vàng hoe đến thế, phủ xuống mặt sống động đến thế, lại phơi mình ra cho ánh mặt trời thiêu đốt. Macon lúc nào cũng bảo anh ta vậy. Nhưng thế mới là Julian: mặc kệ. Một tay bơi thuyền cừ khôi, một quái xế tốc độ, một tay ăn chơi thường xuyên ở các quán bar dành cho người độc thân, thuộc típ người mua sắm không cần tham khảo Bản tin người tiêu dùng. Dường như anh ta không bao giờ có lấy một giây phút thấy thiếu tự tin và cứ thế đi vào nhà với dáng vẻ vui nhộn như thể được mời đến, lấy chiếc nạng kia đưa cho Macon, giữa cửa mở và ẩy nhẹ Macon vào.
 
“Sao tìm được ra tôi?” Macon hỏi.
 
“Sao, định trốn à?”
 
“Không, có trốn đâu.”
 
Julian ngó nghiêng căn phòng lớn, điều đó ngay lập tức khiến Macon thấy hơi khiếm nhã. Cái chụp đèn bằng xa tanh trên bàn có hàng tá chỗ rách dài theo chiều dọc có vẻ như chực rã ra khỏi chiếc khung.
 
“Ông hàng xóm cho tôi biết anh đang ở đây,” rốt cuộc Julian lên tiếng.
 
“Ồ, Garner.”
 
“Tôi ghé qua nhà ông anh khi điện mãi mà chẳng thấy nghe máy. Ông anh có biết là ông anh đã quá hạn nộp bản thảo cuốn cẩm nang bao lâu rồi không?”
 
“À, cậu thấy đấy, tôi bị tai nạn mà,” Macon nói.
 
“Mọi người phải dừng cả lại, chờ bản thảo. Tôi cứ nói với họ rằng tôi cũng đang mong chờ từng phút từng giây đây này, cơ mà…”
 
“Lúc nào chả vậy…” Macon nói.
 
“Hả?”
 
“Lúc nào mà cậu chả chờ.”
 
“Đúng thế, và tất cả những gì tôi nhận được tính đến thời điểm này là hai chương được gửi qua đường bưu điện chẳng kèm theo lời giải thích nào.”
 
Julian vừa nói vừa đi vào phòng khách. Anh ta lựa chiếc ghế thoải mái nhất và ngồi xuống. “Chị Saral đâu?” anh ta hỏi.
 
“Ai?”
 
“Vợ ông anh đấy, Macon.”
 
“Ồ, Ừm, cô ấy và tôi…”
 
Lẽ ra Macon nên tập nói to điều này lên mới đúng. Cái từ “ly thân” nghe trần trụi quá; nó như một điều gì đó chỉ xảy ra với ai khác chứ không phải vợ chồng anh. Anh đi đến chỗ chiếc trường kỷ, ngồi xuống một cách khó khăn và đặt ngay ngắn hai chiếc nạng xuống bên cạnh. Rồi anh lên tiếng, “Cô ấy đang sống tại một căn hộ dưới phố.”
 
“Hai người chia tay?”
 
Macon gật đầu.
 
“Chúa ơi.”
 
Edward cọ mũi vào lòng bàn tay Macon ra vẻ muốn anh vỗ về. Macon thấy biết ơn nó vì anh có gì đó làm để khỏi ngồi im.
 
“Nào, ơn Chúa, Macon này, hai người có trục trặc gì vậy?” Julian hỏi.
 
“Chẳng có gì!” Macon bảo anh ta. Giọng anh đã to hơn một chút. Rồi lại dịu xuống. “Ý tôi là, ấy không phải là điều tôi có thể trả lời được,”
 
“Ồ, Xin lượng thứ.”
 
“Không, tôi muốn nói là… chẳng có câu trả lờn nào. Tự nhiên rồi mọi thứ cứ xảy ra theo cái kiểu chẳng vì một lý do đặc biệt nào.”
 
“À, vậy bấy lâu nay hẳn là căng thẳng lắm ấy nhỉ, hai người ấy,” Julian nói. “Nào, với những gì xảy ra và tất cả… Chị ấy sẽ quay lại thôi, một khi chị ấy vượt qua được. Tất nhiên kể cả không vượt qua được cũng thế nhưng, ông anh biết là…”
 
“Có lẽ vậy,” Macon nói. Anh cảm thấy ngượng thay cho Julian, cứ lúc la lúc lắc một bên chân mang giày hiệu Docksider. Anh hỏi, “Cậu thấy hai chương đầu ra sao?”
 
Julian mở miệng ra định trả lời nhưng bị con chó chặn ngang. Con Edward xồ ra phòng lớn và sủa như phát rồ. Macon nhận ra tiếng lách cách của nắm đấm cửa xoay và ai đó va vào lò sưởi. “Im, nào,” anh nghe thấy tiếng Rose quát con Edward. Co băng ngang qua phòng lớn và nhìn vào phòng khách.
 
Julian đứng lên. “Julian Edge, đây là em gái tôi, Rose. Và đây,” anh nói khi Charles bước vào sau cô, “là anh trai tôi, Charles.”
 
Cả Rose lẫn Charles đều không thể bắt tay; họ đang tay xách nách mang những đồ thực phẩm mới mua. Hai người đứng giữa phòng với bao nhiêu là túi giấy nâu, trong khi Julian thốt lên điều mà Macon đón nhận như cách hành xử với Macon Leary quen thuộc của anh ta, “Macon Leary có em gái này! Vả cả anh trai nữa chư! Ai mà nghĩ ra được như thế chứ? Macon Leary có hẳn một gia đình cơ đấy, không hiểu sao tôi chẳng bao giờ hình dung được điều đó.”
 
Rose chào anh ta bằng một nụ cười lịch thiệp pha lẫn bối rối. Cô đang trong bộ dạng không phải là ổn nhất. Chiếc áo khoác dài màu đen đang mặc khiến khuôn mặt cô như tối theo. Còn Charles, nhàu nhĩ và thở không ra hơi, gặp rắc rối với một trong những cái túi đang xách. Anh đang cố ôm nó chặt hơn. “Đây, để tôi giúp anh trai nhé,” Julian nói. Anh ta đỡ lấy cái túi rồi lom lom nhìn vào trong. Macon sợ rằng anh ta sẽ bfinh phẩm gì đó về thức ăn hằng ngày của nhà Macon Leary, nhưng không thấy anh ta nói lờn nào kiểu thế. Anh ta bảo Rose, “À, tôi thấy người nhà mình giống nhau nhỉ.”
 
“Anh chắc là sếp của anh Macon,” Rose nói. “Em nhớ tên anh ghi trên địa chỉ người nhận.”
 
“Địa chỉ người nhận?”
 
“Em chính là người gửi các chương bản thảo của anh Macon cho anh mà.”
 
“À, ra thế.”
 
“Em nghĩ là sẽ còn gửi cho anh nữa, nhưng trước hết em phải mua phong bì 9 x 12 đã. Chúng em ở đây chỉ còn loại 10 x 13 thôi. Thật kinh khủng khi các thứ không thật vừa khít nhau. Chẳng thẳng thớm gì cả.”
 
“À,” Julian nói và nhìn Rose một hồi.
 
Macon nói, “Bọn anh không phiền em nữa, Rose à.”
 
“Ồ! Không,” cô nói và mỉm cười với Julian, xốc mớ túi mua hàng cao lên, và ra khỏi phòng. Charles đỡ lấy chiếc túi từ tay Julian và ì ạch nối gót theo Rose.
 
“Khủng Hoảng Phong Bì Cỡ 9 x 12 Tại Nhà Macon Leary,” Julian thốt lên rồi ngồi ngả lưng ra ghế.
 
“Julian, thôi mà.”
 
“Thứ lỗi nhé,” Julian nói, giọng nghe có vẻ sửng sốt.
 
Hai người chẳng ai nói gì. Rồi Julian lên tiếng, “Thật sự tôi chẳng biết cóc khô gì cả, Macon, ý tôi là, giá như ông anh cho tôi biết điều gì đang xảy ra với cuộc đời ông anh…”
 
Anh ta lại lúc la lúc lắc một bên chân mang giày hiệu Docksider. Anh ta luôn thấy dường như kém thoải mái khi không thể hành xử theo kiểu thường xử với Macon Leary. Sau cái chết của Ethan, anh ta lánh mặt Macon suốt mấy tuần liền; có gửi đến viếng một bó hoa to tướng nhưng không bao giờ nhắc đến tên Ethan.
 
“Nghe này,” giờ thì anh ta lại lên tiếng. “Nếu ông anh muốn một tháng nữa, tôi không biết, một tháng nữa…”
 
Macon nói, “Ồ, vô lý thật, một hay hai bà vợ mất đi thì có là gì đâu chứ, đúng không nào? Ha ha! Nào, để tôi lấy cho cậu phần đã xong và cậu có thể kiểm tra.”
 
“Tốt, nếu đúng như vậy.”
 
“Chỉ còn lại mỗi phần kết luận thôi,” Macon bảo. Anh ngoái đầu lại nói khi đang đi vào phòng ăn, nơi anh để chồng bản thảo chương cuối trên quầy. “Phần kết luận chẳng mấy khó khăn, chắc rồi. Tôi sẽ đạo lại từ những cái cũ, hầu hết là vậy.”
 
Anh quay trở ra với chồng bản thảo trên tay và trao nó cho Julian. Rồi anh ngồi xuống trường kỷ, Còn Julian bắt đầu đọc. Trong khi đó, nhờ vào tiếng sủa mừng rỡ của con Edward Macon nhận ra Porter đã vào nhà từ lối cửa sau. “Đồ quỷ,” Porter nói. “Mày có biết là tao tìm mày bao lâu rồi không hả?” Diện thoại reo hết lần này đến làn khác, không ai trả lời. Julian ngó qua Macon và nhướng mày lên nhưng chẳng bình phẩm gì.
 
Macon và Julian quen biết nhau từ hơn mười năm trước, khi Macon vẫn còn làm việc tại nhà máy sản xuất nút chai. Trong khoảng thời gian đó, anh đã thử làm nhiều công việc khác nhau. Anh bắt đầu tin rằng mình thích làm việc ở một tòa soạn báo Nhưng anh đâu có được đào tạo theo nghề ấy, chẳng được học lấy một khóa học về báo chí gì. Thế nên anh bắt đầu làm theo cách duy nhất anh nghĩ ra được: anh tham gia viết bài tự do cho một tờ báo tuần trong vùng. Anh viết về một hội chợ hàng thủ công ở Washington. Đến được đó không phải là dễ dàng, anh viết, vì đường cao tốc thưa thớt xe cộ đến độ bạn sẽ bắt đầu cảm thấy trơ trọi và buồn chán. Và một khi bạn đã đến nơi rồi thì mọi thứ còn tệ hơn. Những con đường chẳng giống gì đường của chúng ta cả và chẳng theo một quy củ gì hết. Anh tiếp tục đánh giá một món ăn đã ăn thử tịa một quán ăn ngoài trời, nhưng nó có thứ gia vị gì đó anh thấy không quen miệng, một món gì đó lạnh có màu vàng và tôi chắc chắn là đồ ngoại nhập, và chuyển sang món xúc xích mua từ một người bán hàng rong rõ ràng là không thuộc phạm vi hội chợ. Tôi khuyên nên dùng món xúc xích, anh viết, mặc dù nó khiến tôi thoáng thấy chạnh lòng vì Saral, vợ tôi, cũng dùng thử tương ớt tương tự thế và tôi bỗng thấy nhớ nhà khi vừa ngửi thấy mùi ấy. Anh cũng khuyên nên mua loại mền có nhiều miếng ghép lại với nhau, loại mền có mẫu đường diềm hình ngôi sao giống như cái trong phòng bà nội anh. Anh khuyên độc giả nên rời khỏi hội chợ muộn nhất là lúc ba giờ ba mươi, vì bạn sẽ đi ngang qua chợ Lexington khi lái xe vào Baltimore và thế nào bạn cũng muốn ghé vào mua một ít cua trước khi tan chợ.
 
Bài báo của anh được phát hành dưới tiêu đề CÁC HƯỚNG DẪN VÀ NHỮNG ĐIỀU THÚ VỊ Ở HỘI CHỢ HÀNG THỦ CÔNG. Có một tít phụ nữa nằm bên dưới. Hay là tôi cảm thấy vỡ mộng, tôi muốn về nhà. Mãi đến khi nhìn thấy cái tít phụ ấy, Macon mới nhận ra giọng điệu của mình trong bài báo. Rồi anh cảm thấy mình thật ngờ nghệch.
 
Nhưng Julian cho rằng bài báo ấy thật xuất sắc. Julian gọi điện cho anh. “Ông anh là người viết bài báo về cái món xúc xích cho tờ Washington đấy à?”
 
“À, đúng rồi.”
 
“A ha!”
 
“Ồ, tôi không thấy có gì buồn cười trong bài báo đó,” Macon nói giọng không được tự nhiên lắm.
 
“Có ai nói nó buồn cười đâu? Quá tuyệt đấy chứ. Tôi có một đề nghị cho ông anh đây.”
 
Hai người gặp nhau tại nhà hàng Old Bay, nơi ông bà nội Macon đã từng đưa bốn đứa cháu ra đây vào dịp sinh nhật bọn chúng. “Cá nhân tôi có thể đảm bảo với anh về món súp cua,” Macon nói, “Họ chẳng thêm bớt gì từ khi tôi lên chín.” Julian “A ha!” một lần nữa và ngồi phịch xuống ghế. Anh ta diện áo phong có cổ, quần trắng, và mũi anh ta hơi hồng lên. Lúc ấy đang là mùa hè, hay có thể là mùa xuân gì đấy. Mà có là mùa gì thì anh ta cũng cứ bơi thuyền.
 
“Nào, nghe kế hoạch của tôi nhé,” anh ta nói khi đang xì xụp món súp. “Tôi có một công ty riêng, nhỏ thôi, tên gọi là Businessman’s Press. Nào, ngắn gọn nhé: tôi nói ngắn gọn thôi. Thật ra chúng tôi phát hành những ấn phẩm trên khắp các quốc gia. Không có gì lạ lùng, lôi cuốn, nhưng có ích, ông anh biết chứ? Gồm có tệp giấy ghi nhớ các cuộc hẹn, cuốn sách nhỏ kê khai các khoản chi tiêu, biểu đồ lãi kép, hệ thống hoán đổi đơn vị tiền tệ… Và giờ tôi muốn phát hành cẩm nang dành cho những người đi du lịch vì công việc. Đến Mỹ thôi, bắt đầu là thế, có thể sau này sẽ đến các nước khác nữa. Chúng ta sẽ cho nó một cái tên lôi cuốn, tôi chưa biết nữa: Du khách bất đắc dĩ, gì gì đó… Và ông anh là người viết mảng đó.”
 
“Tôi?”
 
“Tôi biết là chính anh chứ không ai khác ngay khi đọc bài viết về món xúc xích đó.”
 
“Nhưng tôi chúa ghét đi du lịch.”
 
“Tôi có thể đoán được điều đó,” Julian nói. “Mấy người làm kinh doanh cũng vậy mà. Ý tôi là, những người này không phải chạy khắp đất nước chỉ để cho vui, Macon. Họ thích ở nhà, trong phòng khách của họ hơn. Thế nên ông anh sẽ giúp họ tưởng như họ đang ở đấy.”
 
Rồi anh ta lôi ra từ ngực áo một mảnh giấy hình vuông và nói, “Ý ông anh thế nào?”
 
Đó là hình chạm khắc bằng thép một chiếc ghế bành bọc quá nhiều nệm. Phía sau ghế đính đôi cánh long to tướng – thứ ta vẫn thường thấy trên lưng các thiên thần trong kinh thánh cổ xưa. Macon chớp mắt.
 
“Lôg của ông anh đấy,” Julian giải thích. “Lấy chứ?”
 
“Ưm…”
 
“Trong khi khách du lịch ngồi trên ghế mơ về việc đi đến các nới,” Julian nói, “thì cái ghế du lịch lại mơ về việ cở yên một chỗ. Tôi nghĩ ta sẽ dùng hình ảnh này cho bìa cuốn cẩm nang.”
 
“Hay đấy!” Macon hớn hở nói. Rồi anh tiếp, “Nhưng chính tôi sẽ đi du lịch thật phải không?”
 
“À, đúng thế.”
 
“Ồ.”
 
“Nhưng chỉ phiên phiến thôi. Tôi không để ý đến những gì mang tính bách khoa, mà ngược lại cơ. Và hãy nghĩ về số tiền anh được hưởng.”
 
“Số tiền được hưởng?”
 
“Nhiều ấy chứ.”
 
À, cũng không nhiều nhặn gì, chính xác là vậy. Tuy nhiên, nó vẫn khiến anh sống thoải mái hơn. Cẩm nang của anh được bày bán từ quầy bán sách tại sân bay, nhà ga, cho đến cửa hàng văn phòng phẩm. Cuốn cẩm nang du lịch đến Pháp của công ty anh thậm chí còn khấm khá hơn. Đó là một phần của một chiến dịch quảng cáo lớn của hang cho thuê xe quốc tế - cuốn sách được bọc bìa cứng với tiêu đề Cẩm nang Thành ngữ tiếng nước ngoài dành cho doanh nhân, trong đó dịch câu “Chúng ta liệu trước một bước nhảy đột ngột trong nguồn tài chính xuyên biên giới” sang các thứ tiếng Đức, Pháp, Tây Ban Nha. Macon, đương nhiên, không phải là tác giả của cuốn cẩm nang thành ngữ ấy. Ngoại ngữ duy nhất anh biết là tiếng Latin.
 
Lúc này Julian xếp lại các trang anh vừa xem xong, “Ổn đấy,” anh nói. “Tôi nghĩ ta có thể gửi đi như thế này cũng được. Phần kết luận còn nhiều không?”
 
“Không nhiều lắm.”
 
“”Sau cuốn này, tôi muốn bắt đầu lại với nước Mỹ.”
 
“Nhanh vậy hả?”
 
“Ba năm rồi, Macon.”
 
“À, nhưng…” Macon nói. Anh ra hiệu Julian nhìn xuống chân mình. “Cậu biết là giờ tôi đi lại rất khó khăn mà.”
 
“Khi nào ông anh tháo bột?”
 
“Sớm nhất cũng phải đầu tháng Mười một.”
 
“Vậy hả? Ít tuần nữa chứ mấy!”
 
“Nhưng thật sự là hình như tôi toàn viết về Mỹ không thôi,” Macon nói. Một cơn mệt mỏi chợt ập lên người anh. Những chuyến đi về vô tận, Boston này, rồi Atlanta, Chicago… Anh ngả người ra sau tựa đầu vào trường kỷ.
 
Julian nói, “Mọi thứ thay đổi từng phút, Macon. Thay đổi! Ấy chính là điều khiến chúng ta luôn ở thế phải hành động để theo kịp chúng. Bán mấy cuốn cẩm nang lỗi thời, ông anh nghĩ chúng ta sẽ đi được tới đâu kia chứ?”
 
Macon nhớ đến cuốn Những lời khuyên nhỏ khi đến các châu lục cũ mèm trong thư viện của ông nội. Khách du lịch được khuyên nên úp ngược một chiếc ly lên giường khách sạn để kiểm tra xem các tấm ga có ẩm không. Các quý cô nên trát sáp nến vào quanh nút chai nước hoa trước khi cho vào túi du lịch. Cuốn sách có ngụ ý gì đó rằng khách du lịch đều giống nhau cả, ai cũng âu lo và thiếu khả năng tự vệ. Macon đã gần như thích thú được đi một chuyến vào cái thuở đó.
 
Julian sắp sửa ra về. Anh ta đứng dậy, Macon khó nhọc đứng lên theo. Rồi con Edward nữa, đánh hơn thấy sắp có sự tiễn đưa, nó xồ ra phòng khách và sủa vống lên. “Xin lỗi!” Macon nói to hòng át tiếng sủa của Edward. “Edward, im đi! Tôi nghĩ chắc nó có bản năng của loài chó chăn cừu,” anh thanh minh với Julian. “Nó ghét nhìn thấy ai tách ra khỏi nhóm.”
 
Họ đi về phía sảnh ngoài, giữa tiếng sủa om sòm và các cú nhảy chồm chồm của con chó. Khi hai người tới cửa, Edward đứng án ngữ ở đó. May mà nó vẫn còn đeo dây xích nên Macon nhờ Julian cầm hộ một chiếc nạng để rảnh tay chộp lấy sợi xích . Ngay lập tức Edward bị giật mạnh về phía sau, nó quay lại gầm gừ với Macon. “Oa!” Julian thốt lên, vì khi Edward gầm gừ trong nó xấu tệ. Răng nanh nó dường như dài ra. Nó táp táp lấy sợi dây xích. Thế rồi nó đớp một cái vào tay Macon. Anh cảm thấy hơn thở nóng hổi phả ra từ mõm con Edward và cả những chiếc răng ẩm ướt quen thuộc đến lạ lùng của nó. Vết cắn nới tay anh không thành vấn đền, chỉ có điều việc nó tấn côn anh thật bất ngờ - như ai đó đụng phải hàng rào điện và nhảy dựng lên. Anh lùi ra sau và để vuột sợi xích khỏi tay. Chiếc nạng đang cầm rơi đánh cộp xuống sàn. Căn phòng dường như có nhiều hơn hai cây nạng; không khí có gì đó vụn vỡ và bức bối.
 
“Oa, kìa!” Julian nói. Tiếng anh ta phá vỡ sự im lặng đột ngột. Con chó đã ngồi xuống, thở hào hển và cái mặt lộ vẻ xấu hổ. “Macon? Nó cắn ông anh à?”
 
Macon nhìn xuống tay. Có bốn vết răng đỏ nơi da thịt – hai vết trên, hai vết dưới – nhưng không chảy máu gì và hầu như chẳng thấy đau đớn mấy. “Tôi ổn,” anh nói.
 
Julian đưa hai chiếc nạng cho anh, vừa trông chừng con Edward. “Tôi á, tôi sẽ không nuôi cái thứ chó ấy làm gì,” anh ta nói. “Tôi sẽ bắn chết nó.”
 
“Nó chỉ cố bảo vệ tôi thôi mà,” Macon nói.
 
“Tôi sẽ gọi cho S.P.C.A (1).”
 
“Rose à?” Macon nói. “Hình như con Edward cắn anh hay sao đây này.”
 
Cô xoay người lại, cả Charles và Porter cũng ngừng việc đang làm để kiểm tra bàn tay anh đang chìa ra. Giờ anh mới thấy đau – một vết cắn sâu rất nhức nhối. “Thôi chết, Macon!” Rose la lớn. Cô nhảy vọt từ chiếc ghế đẩu xuống. “Sao vậy anh?”
 
“Chỉ là rủi ro thôi mà. Nhưng anh nghĩ chắc phải bôi chất khử trùng.”
 
“Chú cũng nên tiêm phòng uốn ván nữa.” Charles bảo anh.
 
“Còn anh thì nghĩ chú cần tống khứ con chó ấy đi,” Porter nói.
 
Họ quay cả sang nhìn con Edward lúc này đang khúm núm với vẻ căng thẳng.
 
“Nó không cố ý đâu,” Macon nói.
 
“Sao không?”
 
“À, do...”
 
Ba người chờ nghe từ anh một lời giải thích.
 
“Anh biết là em chẳng ngại gì con mèo rồi đấy,” Rose nói. “Nhưng Edward thì đúng là phiền nhiễu. Nó càng ngày càng khó kiểm soát.”
 
“Hay là chú đem nó cho quách ai đó đang cần chó nghiệp vụ đi,” Charles nêu ý kiến.
 
“Cho đồn cảnh sát đi,” Rose đề nghị. Cô lấy trong ngăn kéo ra một cuộn gạc.
 
“Ồ, không thể nào,” Macon nói. Anh ngồi xuống nơi bàn ăn như Rose bảo và dựng đôi nạng trong góc.  “Nỡ nào lại vứt Edward một mình đâu đó ở Exxon hay sao? Tội nghiệp nó.”
 
Rose bôi thuốc đỏ lên chỗ bị thương của anh. Vết thương có vẻ như thâm lại; vùng da xung quanh mỗi vết cắn phồng lên rồi chuyển sang bầm.
 
“Nó quen ngủ với anh rồi,” Macon bảo cô. “Từ trước tới giờ nó chưa khi nào phải sống một mình.”
 
Thêm nữa, xét về bản chất thì Edward không phải thứ chó ác – chỉ hơi ương ngạnh thôi. Nó đồng cảm với anh, cần anh và theo sát anh bất kể anh đi đâu. Có một nếp nhăn hình chữ W phía trước trán khoác lên nó cái vẻ tư lự. Đôi tai lông mượt như nhung, to, nhọn dường như mang lại nhiều biểu cảm hơn tai của những con chó khác; khi nó mừng rỡ đôi tai vểnh ngược cả ra phía sau đầu tựa như hai cánh máy bay. Cái mùi của nó thì dễ chịu đến không ngờ - thứ mùi ngòn ngọt của một chiếc áo len yêu thích được xếp cất vào ngăn kéo lâu lâu ra cứ để thế mặc vào, không cần giặt.
 
Và nó đã từng là của Ethan.
 
Ngày xưa, Ethan đã từng chải lông cho nó, đã từng tắm cho nó, đã từng vật nhau với nó trên sàn nhà; và những khi Edward ngừng cào cào một bên tai, Ethan sẽ hỏi với giọng điệu hết sức âu yếm, “Tớ gãi hộ cho cậu nhé?” Hai đứa nó hàng ngày vẫn đứng nơi cửa sổ chờ lấy báo chiều, và ngay khi báo đến Ethan cho Edward nhảy ra ngoài để lấy vào – hai chân sau chụm với hai chân trước, nảy bật lên một cách đầy phấn khích. Edward khựng lại một chút khi chộp được tờ báo, ngó nghiêng xung quanh như thể muốn lôi kéo sự chú ý, và vênh váo quay trở vào với bộ dạng lăng xăng ra vẻ ta đây, rồi ngừng lại một lần nữa ngay tấm gương phòng lớn để chiêm ngưỡng dáng vẻ của mình. “Đồ kiêu ngạo,” Ethan trìu mến nói. Ethan nhặt một quả bóng tennis lên ném và Edward trở nên hào hứng đến độ cứ ngoắt mông nhặng xị cả lên. Ethan dẫn Edward ra ngoài cùng với quả bóng đá và khi Edward giật được bóng – nghịch nghịch cắn cắn rồi hất mạnh vào hàng rào và gừ lên – thì Ethan bật cười lảnh lót, một âm thanh sống động vui tươi bồng bềnh trong không khí oi nồng của một đêm hè.
 
“Không thể được đâu,” Macon nói.
 
Im lặng bao trùm.
 
Rose quấn gạc xung quanh tay anh, êm ái đến độ anh không cảm thấy gì cả. Cô lèn đầu còn lại của miếng gạc vào bên trong và với tay lấy cuộn băng dính. Rồi cô lên tiếng, “Hay ta đem nó gửi vào trường dạy chó đi.”
 
“Trường dạy chó chỉ chuyên dạy mấy thứ đơn giản thôi – đi bằng hai chân hay đại loại như thế,” Porter bảo cô. “Trường hợp Edward phức tạp hơn nhiều.”
 
“Không đâu!” Macon nói. “Nó thật sự chẳng sao cả. Cái cô ở bệnh viện thú y Meow–Bow đã rất dễ thở với nó mà.”
 
“Bệnh viện thú y Meow–Bow?”
 
“Hôm anh đi Anh anh đã gửi nó ở đấy. Cô ta rất ưa nó. Cô ta còn ngỏ ý muốn anh để cô ta huấn luyện nó nữa.”
 
“Vậy sao không gọi ngay cho cô ta đi.”
 
“Có lẽ đành phải vậy thôi,” Macon nói.
 
Dĩ nhiên là anh không gọi. Người phụ nữ ấy đang mang đến cho anh một cảm xúc mới mẻ. Nhưng thế không có nghĩa là nghĩ tới điều ấy lúc này.
 
***

Sáng Chủ Nhật, Edward làm rách toang tấm cửa lưới vì muốn nhào vào một người hàng xóm đứng tuổi ghé qua mượn cái cờ lê. Cũng chiều hôm đó, nó nhảy vồ lên Porter ngăn không cho anh đi ra ngoài mua mấy thứ lặt vặt. Porter phải lẻn đi bằng cửa sau thừa lúc Edward không để ý. “Chẳng còn gì để nói nữa,” Porter bảo Macon. “Em định khi nào gọi cho Kit-Kat hay gì gì đó vậy?”
 
Macon giải thích rằng chắc chắn Meow-Bow đóng cửa vào Chủ Nhật.
 
Sáng thứ Hai, khi Edward đi dạo cùng Rose, nó thình lình nhảy xổ vào một người chạy bộ ngang qua và khiến Rose bị giật mạnh về phía trước. Cô về nhà với một bên đầu gối bị trầy da. Cô hỏi, “Anh đã gọi cho Meow-Bow chưa?”
 
“Chưa,” Macon nói.
 
“Anh Macon,” Rose nói. Giọng cô chùng hẳn lại. “Nói cho em biết đi.”
 
“Gì, Rose?”
 
“Anh có thể giải thích cho em lý do gì anh lại để mọi việc diễn ra theo cách này không?”
 
Hẳn là không rồi, anh không thể, và đó là sự thật. Mọi việc đi theo cách chính anh thậm chí cũng thấy rối bời. Anh cảm thấy phát điên lên vì những hành động rồ dại của nó, nhưng theo cách nào đó anh vẫn xem những hành động ấy như là điều tất yếu, như là điều không tránh khỏi. Anh không thể làm được gì để ngăn chúng lại. Mới đây, khi Edward kéo lê chiếc nịt quần của Porter lại chỗ anh, Macon chỉ nói được hai từ, “Ôi, Edward...”
 
Lúc này anh đang ngồi trên trường kỷ, bị tra tấn bởi một cảnh huyên náo trong vở kịch trên truyền hình mà Rose đang xem. Cô nhìn qua chỗ anh với nét mặt hơi kỳ lạ. Không phải phản đối; mà là... Anh cố tìm từ. Cam chịu. Chính thế. Cô nhìn anh giống như nhìn, có thể nói như thế, một gnười đàn ông trong bộ dạng ủ rũ vô vọng đang thất thểu trên đường. Xét cho cùng, cô dường như đang suy tư, với người như vậy có lẽ ta chẳng thể làm được gì nhiều cả.
 
***
 
“Bệnh viện thú ý Meow-Bow xin nghe.”
 
“À, xin hỏi có cô Muriel ở đó không?
 
“Xin vui lòng chờ một chút.”
 
Anh đợi, đứng tựa vào tủ bát. (Anh đang gọi bằng điện thoại trong phòng để thức ăn.) Anh nghe thấy tiếng hai người phụ nữ tranh luận về thuốc phòng bệnh dại Fluffball Cohen. Rồi Muriel nhất mấy. “A lô.”
 
“Chào cô, Macon Leary đây. Tôi không biết cô còn nhớ tôi không hay là...”
 
“Ồ, anh Macon! Xin chào! Edward thế nào rồi anh?”
 
“À, nó càng ngày càng tệ hơn cô à.”
 
Cô chép miệng.
 
“Nó tấn công người ta luôn. Gầm gừ này, cắn này, rồi nhay đồ đạc nữa...”
 
“Ông hàng xóm có nói cho anh biết là tôi tới tìm không?”
 
“Gì, À, có.”
 
“Lúc đó tôi đang chạy việc lặt vặt ở ngay trên đường nhà anh. Tôi kiếm thêm tiền bằng mấy việc vặt. George, tên vậy đó. Anh nghĩ xem nó dễ thương không?”
 
“Sao?”
 
“George. Tên công ty tôi ấy mà. Tôi có nhét một tờ bướm dưới kẹt cửa nhà anh. Hãy để George làm điều đó cho bạn, trên ấy có ghi dòng chữ như vậy và còn liệt kê ra tất cả các giá tiền: đón tại sân bay, lái xe riêng, đưa thư, mua hàng... Dịch vụ mua quà là đắt nhất vì tôi phải viện đến cái gu của mình. Anh đã không nhận được tờ bướm ấy à? Thật ra cái chính là tôi ghé qua để thăm anh. Nhưng ông hàng xóm bảo anh đi đâu đó mấy bữa rồi.”
 
“Không, tôi bị gãy chân,” Macon nói.
 
“Ồ, tệ thật đấy.”
 
“Và dĩ nhiên là tôi không thể tự xoay sở được, thế nên...”
 
“Lẽ ra anh nên gọi cho George.”
 
“George nào?”
 
“George công ty tôi! Tôi vừa nói với anh xong.”
 
“Ồ, vâng.”
 
“Nếu vậy anh đã chẳng phải bỏ ngôi nhà xinh xắn mà đi như thế. Tôi ưa nhà anh đấy. Đó cũng là nơi anh từng sống với vợ cũ đấy à?”
 
“À, vâng.”
 
“Tôi thật lấy làm kinh ngạc sao cô ấy lại chịu bỏ đi như thế.”
 
“Vấn đề là,” Macon nói, “tôi thật sự không biết làm sao với con Edward nữa, và tôi đang băn khoăn không biết cô có thể giúp tôi không.”
 
“Tôi giúp được chứ!”
 
“Ồ, thế thì tuyệt quá,” Macon nói.
 
“Tôi có thể làm bất cứ điều gì,” Muriel bảo anh. “Lục soát và báo động, tìm kiếm và giải cứu, bom, ma túy...”
 
“Ma túy?”
 
“Huán luyện canh gác, huấn luyện tấn công, nhận ra chất độc, rồi chữa chứng ù lì kennelosis nữa.”
 
“Đợi đã, tôi thậm chí chẳng hiểu gì về một số điều cô vừa nói,” Macon bảo.
 
“Tôi có thể huấn luyện ngya cả những con mắc phải chứng split personality nữa.”
 
“Split personality là gì?”
 
“Chó mắc phải triệu chứng này thường hiền lành với chủ, nhưng với người khác thì rất hung dữ.”
 
“Cô biết đấy, tôi nghĩ cô làm tôi rối tinh rối mù lên rồi đây,” Macon nói.
 
““Không! Không! Anh đừng nói thế chứ!”
 
“Nhưng đây chỉ là vấn đề hết sức đơn giản thôi mà. Edward chỉ có một lỗi duy nhất là nó muốn bảo vệ tôi thôi.”
 
“Anh bao che cho nó quá đấy,” Muriel bảo anh.

Macon thử nói đùa một chút. “‘Ở đây tốt xấu lẫn lộn,’ nó mói như vậy đấy. Ấy chính là điều nó cố nói. ‘Tôi biết nhiều hơn anh đó, Macon à.’”
 
“Hả?” Muriel nói. “Anh cho phép nó gọi anh bằng tên à?”
 
“À...”
 
“Nó cần phải học lễ phép,” cô nói. “Năm hay sáu lần gì đó một tuần tôi sẽ đến chỗ anh, bao lâu cũng được. Tôi sẽ bắt đầu với những bài cơ bản; anh chỉ cần làm những việc này thôi; ngồi, giậm gót chân... Tôi tính phí năm đô cho một bài học. Như vậy là giảm giá cho anh rồi đấy. Người ta tôi tính mười đô cơ.”
 
Macon nắm chặt ống nghe. “Thế sao không tính tôi mười đô?”
 
“Ồ, sao được! Bạn bè mà.”
 
Anh cảm thấy bối rối. Anh đọc cho cô địa chỉ và sắp xếp thời gian gặp với cảm giác không thật sự thoải mái vì cảm thấy có gì đó đang vuột khỏi tầm kiểm soát của anh. “À,” anh nói, “về chuyện phí, bây giờ...”
 
“Hẹn gặp anh ngày mai nhé!” Cô nói, rồi gác máy.
 
Bữa tối hôm ấy khi thông báo với mấy anh em tin đó, tưởng bọn họ sẽ khựng lại vì ngạc nhiên. Porter hỏi, “Chú gọi rồi thật không?” Macon nói gần như ngay tức khắc, không cần suy nghĩ gì cả, “Vâng, sao lại không?” Hai người còn lại nghe thấy vậy nên ngay lập tức không đả động gì đến chủ đề kia nữa.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2011-07-24 15:58:42gaucon1998>
7.

“Khi còn bé,” Muriel kể, “tôi không thích lũ chó tẹo nào, hay là bất cứ con vật nào khác cũng thế. Tôi nghĩ chúng có thể đọc được suy nghĩ của tôi. Ba mẹ tặng cho tôi một con chó con nhân dịp sinh nhật và nó cứ nghếch cái đầu lên, anh biết ba mẹ tôi làm gì không? Nghếch đầu nó lên và hướng đôi mắt tròn xoe long lanh của nó nhìn tôi. Thế là tôi rú lên. ‘Ối! Đem nó đi khỏi đây đi! Ba mẹ biết con đâu có chịu được khi bị nhìn trừng trừng như vậy.’”
 
Cô có giọng nói oang oang vang vọng tứ hướng. Lúc rít lên, lúc lại hạ xuống thành một âm thanh làu bàu cáu cẳn. “Họ đã phải đem nó sang cho một thằng nhó hàng xóm và mua cho tôi một món quà hoàn toàn khác, một ống quấn tóc mà tôi cực thích.”
 
Cô và Macon đang đứng ngay lối vào phòng lớn. Cô vẫn còn mặc áo khoác – dài cỡ ba phần tư thân người, vai bồng, màu đen, thớ vải thô ráp – kiểu còn sót lại của những năm 1940. Edward lại ngồi đằng trước cô như được bảo. Nó đón cô nơi cửa với bộ dạng như thường lệ, nhảy loi choi và gầm gừ, nhưng cô cứ thế đi qua, chỉ vào mông nó bảo ngồi xuống. Nó ngoác mõm nhìn cô. Cô với tay qua, chĩa ngón trỏ nhọn dài vào mông nó và ấn xuống.
 
“Giờ anh toóc lưỡi đi, như thế này này,” cô vừa bảo Macon, vừa toóc toóc lưỡi. “Nó sẽ biết toóc lưỡi như thế có nghĩa là khen ngợi. Và khi tôi nắm chặt tay thế này – anh thấy không? Có nghĩa là nó phải ở yên đó.”
 
Edward ngồi yên, nhưng cứ chốc chốc lại rên ư ử, khiến Macon liên tưởng đến tiếng reo đều đều từ ấm đu cà phê. Muriel giả bộ như chẳng nghe thấy. Cô bắt đầu giảng giải kế hoạch huấn luyện và rồi chẳng rõ sao lại chuyển sang kể lể về đời tư. Nhưng chẳng lẽ con Edward chưa được phép đứng lên bây giờ sao? Cô ấy còn bảo nó phải ngồi yên bao lâu nữa chứ?
 
“Tôi biết hẳn là anh đang tự hỏi tôi thì cần gì phải ra tiệm uốn tóc nữa trong khi tóc tôi đã xoăn tít như thế này rồi,” cô nói. “Cứ như là một nùi giẻ lau sàn cũ rích! Nhưng quả thật tóc tự nhiên của tôi không phải vậy. Tóc tôi thật ra thẳng cực kỳ và dài lắm cơ. Thỉnh thoảng tôi thấy thất vọng về nó. Nó có màu vàng hoe khi tôi còn bé, anh có tin được không? Vàng như tóc công chúa trong chuyện cổ tích ấy. Người ta bảo mẹ tôi rằng chỉ cần bà uốn tóc lên là tôi sẽ trông rất giống Shirley Temple (1), thế nên mẹ tôi đã làm vậy đấy, bà đã cuộn tóc tôi vào mấy cái vỏ lon nước cam. Tôi cũng có mắt màu xanh lơ nữa, và chúng cứ xanh mãi một thời gian đến là lâu, lâu hơn hầu hết những đứa bé cùng tuổi khác. Người ta nghĩ mắt tôi sẽ cứ xanh như thế mãi và còn bảo tôi đi đóng phim đi nữa chứ. Nói nghiêm túc đấy! Mẹ tôi phụ trách biên soạn nhạc cho một trường dạy nhảy Thiết hài khi tôi mới chập chững. Không ai có thể ngờ được rằng giờ tôi lại khốn khổ với mái tóc của mình như thế này.”
 
Edward lại kêu van. Lướt mắt qua Macon, Muriel nhìn vào tấm kính cửa sổ phía sau anh. Cô khum tay đỡ mái tóc, dường như để kiểm tra trọng lượng của nó, “Nghĩ xem sẽ như thế nào nhỉ,” cô nói. “Bừng tỉnh giấc vào một buổi sáng và thấy tóc mình đã biến thành màu đen. Chắc mẹ tôi chết mất, tôi nói thật đấy. Một cô Muriel già nua, tẻ nhạt, tầm thường, với đôi mắt màu nâu đục vài mái tóc đen như quạ.”
 
Macon biết rằng anh nên xen vào một lời bình phẩm gì đấy cho phải phép, nhưng anh thấy quá lo cho Edward nên chỉ có thể ậm ừ cho qua chuyện. Rồi anh lên tiếng, “Giờ ta chưa cho nó đứng được sao cô?”
 
“Đứng lên hả? Ồ, con chó à. Một phút nữa thôi,” cô nói. “Có ai buộc nó phải ngồi yên thế luôn đâu. Tóc tôi xoăn tít thế này là do tôi đã ra tiệm uốn nó lên đấy – tôi yêu cầu họ uốn kiểu lọn to. Anh đã nghe nói tới kiểu tóc này bao giờ chưa? Chỉ cần gợn sóng một chút thôi, nhưng họ đã làm sai mất khâu nào hay sao ấy. Chắc anh nghĩ điều này tệ thật phải không nào. Nếu tôi chải thì thể nào nó cũng nảy bung lên cho mà xem. Tôi nói thật đấy. Giống y như tóc giả ấy, chẳng phải ta vẫn gọi thế hay sao? Thế nên thậm chí chải bằng bàn chải tóc thôi tôi cũng chịu, không thể làm được. Sáng mai ngủ dậy là cứ để nguyên thế ra ngoài luôn. Chúa ơi, tôi thật chẳng thích nói tới cái mớ tóc rối này tí nào.”
 
“Hay cô dùng lược chải xem,” Macon gợi ý.
 
“Không thể nào chải bằng lược được đâu anh. Thế nào mấy cái răng lược bé xíu cũng gãy mất thôi.”
 
“Hay là cô dùng loại lược dày người da đen hay dùng xem sao.”
 
“Tôi hiểu ý anh nhưng thật ngớ ngẩn khi đi mua cái loại ấy.”
 
“Sao lại thế?” Macon hỏi. “Chúng được bày bán đầy chợ. Cô đừng nghĩ quá lên như vậy. Mua sữa, bánh mì hay gì đó với mua một chiếc lược dày thì cũng giống nhau cả thôi.”
 
“À, tôi nghĩ anh nói đúng đấy,” cô nói, nhưng lúc này khi đã lôi kéo anh vào được câu chuyện thì cô lại thấy mất hứng thú với vấn đề của chính mình. Cô bật ngón tay đánh tách phía trên đầu con Edward, “Được rồi đó!” cô nói. Edward nhảy bật lên và sủa vang. “Tốt lắm,” cô bảo nó.
 
Thật ra, mọi việc tiến triển tốt đến nỗi Macon cảm thấy có chút gì đó bất ổn. Không thể nào lại dễ dàng như thế được, anh muốn nói như vậy. Edward tiến bộ một cách nhanh chóng, giống như cái răng đau của ta tự nhiên không còn gây đau đón gì nữa ngay giây phút ta bước vào phòng đợi nha sĩ vậy.

Muriel kéo dây đeo ví khỏi vai, đặt chiếc ví lên bàn ở phòng lớn và lôi ra một sợi dây dài màu xanh da trời nối với một sợi xích cổ. “Nó phải luôn đeo cái này,” cô nói. “Lúc nào cũng đeo cho đến khi huấn luyện xong. Bằng cách này anh có thể kéo nó lùi lại mỗi khi nó định gây chuyện. Sợi dây giá tròn sáu đô, xích cổ thì hai đô chín mươi lắm xu. Tính cả thuế nữa là, để coi, chín đô bốn mươi xu. Anh có thể trả cho tôi vào cuối buổi học.”
 
Cô tròng xích cổ qua đầu Edward. Rồi cô ngừng lại để săm soi một cái móng tay. “Nếu tôi bị gãy một cái móng tay nữa là tôi la toáng lên đấy,” cô nói. Cô lùi lại một bước và chỉ vào mông con Edward. Sau một chút ngần ngừ, nó cũng chịu ngồi xuống nghiêm trang, đĩnh đạc, chẳng giống gì với thường ngày cả. Nhưng khi cô bật ngón tay đánh tách một cái, nó lại nhảy dựng lên bất kham như cũ.
 
“Giờ anh thử đi,” Muriel bảo Macon.
 
Macon đón lấy sợi dây và chỉ ngón tay vào mông con Edward. Edward vẫn đứng không nhúc nhích. Macon chau mày và chỉ vào mông nó với ánh mắt nghiêm nghị hơn. Anh cảm thấy hơi lố bịch. Edward biết, nếu người phụ nữ này không rat ay, thì Macon có làm cũng như không.
 
“Ấn nó xuống.” Muriel nói.
 
Anh long ngóng dựng chiếc nạng vào lò sưởi và gập người một cách khó nhọc để ấn mạnh Edward xuống bằng một ngón tay. Con Edward chịu ngồi. Macon toóc toóc lưỡi. Rồi anh gượng thẳng người lên, lùi lại, nắm chặt tay, thế nhưng thay vì ngồi yên Edward lại đứng bật dậy vào nhào theo anh. Muriel huýt gió qua kẽ răng, nó chùn bước lại. “Nó coi mặt anh đấy,” Muriel nói.
 
“À, tôi biết điều đó,” Macon nói nhanh.
 
Chỗ chân gãy bắt đầu nhói lên.
 
“Thật ra tôi chẳng thích chơi với chó mèo gì cả đâu, dù khi còn nhỏ hay khi đến tuổi trưởng thành,” Muriel nói. Có phải cô định để Edward ngồi yên luôn như thế không nhỉ? “Rồi độ hai năm trước tôi đọc thấy mẩu quảng cáo trên báo, Hãy kiếm thêm tiền lúc rảnh rỗi. Bạn thích làm việc ít hay nhiều là tùy ở bạn. Ấy là một công ty chuyên huấn luyện chó tại nhà. Doggie, Do – tên công ty đấy. Anh không ghét cái tên đó chứ? Nó khiến tôi liên tưởng đến… Nhưng mặc, tôi vẫn đến xin việc, ‘Thật lòng tôi không ưa gì các con vật,’ tôi nói vậy nhưng ông Quarles, giám đốc công ty, bảo tôi rằng điều đó chả sao. Ông ta còn bảo chính những người cưng thú quá mới gặp rắc rối.”
 
“À, cũng có lý,” Macon nói, đưa mắt sang con Edward. Anh từng nghe đâu đó rằng nếu chó mà ngồi lâu như thế sẽ bị đau lưng.
 
“Thế rồi đâm ra tôi thành học trò cưng của ông ta. Có vẻ như tôi có một cái uy gì đó đối với các con vật. Thế rồi tôi được nhận vào làm ở Meow-Bow. Trước đó, tôi làm ở Rapid-Eze Copy Center và tin tôi đi, tôi còn muốn thay chỗ làm nữa cơ. Chị kia là ai đấy anh?”
 
“Chị nào?”
 
“Cái chị tôi vừa nhìn thấy đi qua nhà bếp ấy.”
 
“Rose đấy.”
 
“Vợ cũ của anh à? Hay ai?”
 
“Em gái tôi.”
 
“Ồ, em gái anh!”
 
“Nhà này của cô ấy,” Macon nói.
 
“Tôi cũng không sống cùng ai,” Muriel bảo anh.
 
Macon chớp mắt. Chẳng phải anh vừa nói rằng anh đang sống cùng em gái hay sao?
 
“Có những khi đêm đã muộn rồi mà tôi thì lại thấy muốn đến phát cuồng lên được trò chuyện với ai đó, thế là tôi gọi đến trung tâm báo giờ,” Muriel nói. “Khi nghe tiếng tút sẽ là mười một giờ… bốn mươi tám. Và năm mươi giây.’” Giọng cô nghe thật chả nhớt. “ ‘Khi nghe tiếng tút sẽ là mười một giờ… bốn mươi chín. Chính xác.’ Anh có thể cho nó đứng lên được rồi đấy.”
 
“Sao cơ?”
 
“Cho con chó đứng lên được rồi.”
 
Macon bật tay đánh tách và Edward đứng bật dậy, sửa ăng ẳng.
 
“Anh thì sao?” Muriel hỏi. “Anh sống bằng nghề gì?”
 
Macon nói, “Tôi viết cẩm nang du lịch.”
 
“Cẩm nang du lịch! Anh may mắn thật đấy.”
 
“May mắn gì cô?”
 
“Sao không chứ, hẳn là anh được đi du lịch khắp nơi rồi!”
 
“Ồ, đi du lịch à,” Macon nói.
 
“Tôi thích đi du lịch lắm.”
 
“Có hay ho gì đâu, toàn là những thủ tục rườm rà thôi, đa phần là vậy,” Macon nói.
 
“Tôi chưa từng được ngồi trên máy bay, anh biết không?”
 
“Cũng là những thủ tục rườm rà nữa. Nào là đặt vé này, rồi xếp hàng qua hải quan này… Edward có được sủa như vậy không cô?”
 
Muriel liếc xéo Edward một cái và nó im bặt.
 
“Nếu được đi đến một nơi nào đó, tôi sẽ chọn Paris,” cô nói.
 
“Paris kinh khủng lắm. Ai cũng bất lịch sự cả.”
 
“Tôi sẽ đi dạo dọc theo bờ sông Seine, giống như lời bài hát ấy, ‘Em sẽ tìm được người trong mộng ở Paris,’” cô hát sai nhạc be bét, “ ‘nếu em đi dọc bờ sông…’ Tôi thấy lời bài hát thật lãng mạn.”
 
“À, không hề,” Macon nói.
 
“Tôi cược là anh chẳng biết gì về phong cảnh ở Paris hết. Lần tới cho tôi theo với nhé! Tôi sẽ chỉ cho anh những nơi thú vị của Paris.”
 
Macon dọn giọng, “Thật ra, ngân khoản của tôi khá eo hẹp,” anh bảo cô. “Chưa lần nào tôi đưa vợ đi cùng, ơ… vợ… tôi ấy.”
 
“Tôi chỉ đùa thôi mà,” cô bảo anh.
 
“Ồ.”
 
“Anh nghĩ tôi nói nghiêm túc hả?”
 
“Ồ, không.”
 
Cô đột nhiên trở nên hoạt bát. “Vậy cả thảy là mười bốn đô bốn mươi xu nhé, tính cả sợi dây xích cổ nữa.” Rồi trong khi Macon lục ví, cô nói, “Anh phải cho nó thực hành những gì đã học đấy nhé, nhớ là không ai có thể làm thay anh được đâu đấy. Ngày mai tôi sẽ quay trở lại với bài học thứ hai. Tám giờ sang có quá sớm không anh? Tôi phải trở về làm việc ở Meow-Bow vào quãng chín giờ.”
 
“Tám giờ được đó,” Macon bảo cô. Anh gom được mười bốn đô và tất cả những xu lẻ còn lại trong túi – vỏn vẹn chỉ có ba mươi sáu xu.
 
“Anh có thể trả tôi bốn xu còn lại vào ngày mai.”
 
Rồi cô ra lệnh cho Edward ngồi xuống và trao sợi dây cho Macon. “Thả nó ra sau khi tôi đi nhé,” cô nói.
 
Macon nắm chặt sợi dây và nhìn trừng trừng vào mắt con Edward ngầm khẩn nài nó ngồi yên. Edward chịu ngồi yên, nhưng nó rền rĩ van vỉ khi thấy Muriel đi khỏi. Rồi chỉ chực chờ Macon bật ngón tay đánh tách, Edward vùng dậy và lao đánh rầm vào cửa trước.
 
***

Macon và Edward luyện tập cả buổi chiều và buổi tối hôm đó. Edward đã chịu ngồi đánh phịch xuống dù Macon chỉ ấn nhẹ ngón tay vào mông nó thôi. Nó ngồi yên đó, kêu rên và đảo mắt nhìn quanh, trong khi Macon toóc toóc lưỡi ra vẻ ưng ý. Vào giờ ăn tối, tiếng toóc trở thành ngôn ngữ dùng cho cả nhà. Charles toóc lưỡi nhờ Rose đưa hộ món sườn heo. Porter toóc lưỡi khi Macon chia cho anh con bài ưng ý.
 
“Hãy tưởng tượng một vũ công vừa nhảy điệu Flamenco vừa nói không ngớt mồm. “ Rose nói với Charles và Porter. “Đó là cái cô huấn luyện Edward ấy. Cô ta nói luôn miệng, chả rõ cô ta thở vào lúc nào nữa. Khi nói về bài học, đáng lẽ nói là ‘đơn giản’ thì cô ta cứ luôn miệng nói ‘tối giản’.”
 
“Anh lại cứ tưởng em trốn ở đâu,” Macon bảo Rose.
 
“Sao? Anh trông thấy em hả?”
 
“Muriel thấy.”
 
“Em biết ngay mà! Cô ta cứ nghểnh cổ lên săm soi khắp nhà.”
 
Từ phòng khách đều đều vang ra âm thanh lịch cà lịch kịch, vì sợi dây mới của Edward cứ vướng vào ghế xích đu và kéo lê chiếc ghế theo đằng sau. Cả buổi tối nó nhằn cây bút chì đến nát vụn ra, rồi cuỗm một mẩu xương từ thùng rác ném lên tấm thảm ngoài hiên; nhưng vì nó chịu ngồi yên khi nghe lệnh, ai nấy đều thấy chứa chan hy vọng.
 
***
 
“Khi còn học trung học, tôi chỉ nhận toàn điểm A,” Muriel kể. “Anh thấy sửng sốt vì điều đó, phải không. Anh nghĩ tôi kiểu như, không phải một trí thức. Tôi biết anh đang nghĩ gì mà! Anh thấy ngạc nhiên.”
 
“Không, không phải,” Macon nói, mặc dù đúng là anh có nghĩ vậy thật.
 
“Tôi được toàn điểm A vì tôi có một bí quyết,” Muriel bảo anh vậy. “Anh nghĩ không có bí quyết ư? Cái gì cũng có bí quyết cả; thế anh mới sống được chứ.”
 
Họ đang đứng trước nhà – cả hai đều mặc áo mưa, vì sáng nay trời mưa rả rích khiến mọi thứ ướt nhèm nhẹp. Muriel mang một đôi giày da lộn ngắn màu đen, mũi giày khoằm khoằm và gót thì nhọn hoắt. Hai chân cô lênh khênh trên đôi giày như hai chiếc tăm. Tay cô cầm sợi dây kéo theo con Edward. Đúng ra hôm nay cô sẽ dạy Edward đi dạo, vậy mà cứ thao thao về thời học sinh của mình.
 
“Một vài thầy cô bảo tôi nên vào đại học,” cô nói. “Có một người khá đặc biệt, à cô không phải là giáo viên mà là thủ thư. Tôi giúp việc cho cô trong thư viện, cho sách lên giá và mấy việc linh tinh khác; cô nói, ‘Muriel à, sao em không vào Đại học Towson State đi?’ Nhưng tôi không biết nữa… rồi giờ thì tôi bảo em gái mình, ‘Em hãy nghĩ đến việc vào đại học đi, nghe không? Đừng bỏ học giữa chừng như chị đấy,’ Tôi đã kể về đứa em gái nhỏ này chưa nhỉ? Claire ấy mà? Tóc của nó không bao giờ thay đổi. Cứ một màu vàng heo như thiên thần ấy. Ấy, như thế này mới nực cười chứ; nó chẳng bao giờ quan tâm đến tóc tai cả. Cú một cái lối thắt bím ngược ra phía sau sao cho khỏi chấm mắt thì thôi. Mặc loại quần jean rách tua tủa và chẳng nhớ cạo long chân gì cả. Chẳng phải luôn như thế sao! Nhà tôi ai cũng tin rằng nó là đứa tuyệt vời. Nó hay, còn tôi dở. Dù vậy, đó không phải lỗi của Claire; tôi không đổi lỗi cho nó. Người ta cứ bám vào lời bình phẩm từ những người khác về ai đó, anh không thấy đúng như vậy sao? Claire luôn là đế mẹ Maria trong cảnh Chúa Giáng Sinh vào lễ Noel. Các cậu trai trong trường luôn tán tỉnh mời mọc, nhưng hồi tôi còn đi học, chẳng một đứa nào theo tán tỉnh tôi, nói thật đấy. Chẳng phải lũ con trai ở trường chỉ toàn đem lại phiền phức thôi sao Ý tôi là bọn chúng mời chúng tôi đi chơi, chẳng hạn như đi xem phim theo kiểu drive-in(2) hay đại loại vậy, đứa nào cũng tỏ vẻ bồn chồn và ra chiều bí mật, len lén từng chút từng chút một choàng qua vai tôi, cứ ngỡ rằng tôi ngu ngơ lắm chẳng biết gì, rồi buông tay xuống, mà anh biết sao rồi đấy, cũng từ từ từ từ hạ xuống như thế trong khi mắt cứ dán chặt lên màn hình như thể cái cảnh trên phim kia là cảnh hay ho nhất từng xem trong đời vậy. Hẳn là anh cảm thấy tội nghiệp cho bọn chúng. Nhưng rồi qua sáng thứ Hai bọn chúng lại tỏ cái vẻ như chuyện tối qua chưa hề xảy ra, vẫn huyên náo và chạy nhảy quanh tụi bạn và còn huých tay nhau khi tôi đi ngang qua nữa, thậm chí cũng chẳng thèm chào tôi lấy một tiếng. Anh nghĩ tôi không thấy tổn thương sao? Suốt cả quãng thời gian đó, không một đứa con trai nào xem tôi như bạn gái thực sự đúng nghĩa bạn gái. Bọn chúng rủ tôi đi chơi vào tối thứ Bảy và muốn tôi tỏ ra thật dễ thương với chúng, nhưng anh nghĩ xem có bao giờ chúng ăn trưa với tôi vào buổi sáng thứ Hai tại Căng tin của trường, hay đi dạo cùng tôi ngang qua các lớp học không?”
 
Cô liếc nhìn Edward. Rồi đột nhiên phát một cái vào hông; chiếc áo mưa màu đen kêu đánh bộp. “Ấy là lệnh ‘đi’,” cô bảo Macon. Cô bắt đầu đi. Edward ngập ngừng bước theo. Macon tuột lại phía sau. Thật khó để có thể đi xuống các bậc tam cấp nơi hiên nhà.
 
“Nó phải đi như ta  bảo,” cô ngoái đầu lại nói. “Chậm, nhanh, làm theo tao đây này.” Cô đi nhanh hơn. Khi Edward băng qua trước mặt cô, cô vẫn cứ thẳng tiến. Khi nó trù trừ không chịu đi, cô giật mạnh sợi dây. Cô đi thật nhanh về hướng Đông, chiếc áo mưa thô cứng đu đưa thành một hình tam giác bên dưới một hình tam giác nhỏ hơn được tạo bởi mái tóc bị gió thổi ngược ra đằng sau. Macon đứng đợi, chân ngập trong đám lá rụng ẩm ướt.
 
Khi quay về, Edward chạy theo sát bên trái Muriel. “Tôi nghĩ giờ nó biết cách rồi đấy,” cô nói to. Cô đi lại chỗ Macon đang đứng và trao cho anh sợi dây. “Giờ tới lượt anh.”
 
Anh cố vỗ mạnh vào hông – thật khó làm điều đó khi mà anh đang đi bằng nạng thế này. Rồi anh dợm bước đi. Anh đi chậm rãi, khó nhọc thế mà con Edward thì cứ nhoi về phía trước. “Giật sợi dây lại đi!” Muriel nói, cô đi ngay đằng sau anh. “Nó biết phải làm gì mà. Cứ thích làm ngược lại vậy đó.”
 
Rốt cuộc Edward cũng nhât nhât tuân theo mặc dù nét mặt của nó vẫn tỏ vẻ chán nản và kiêu kỳ. “Đừng quên toóc nhé,” Muriel nói. “Anh phải thường xuyên khen ngợi nó.” Tiếng gót giày của cô kêu lạo xạo phía sau họ. “Có lần tôi huấn luyện cho một con chó chưa bao giờ được dạy đi vệ sinh đúng chỗ quy định. Đã hai năm tuổi rồi mà chẳng biết đi vệ sinh đúng chỗ quy định và những người trong nhà cứ là muốn phát điên cả lên vì chuyện đó. Ban đầu tôi chẳng nghĩ ra được lý do gì; rồi sau mới phát hiện ra một điều. Con chó đó nghĩ là nó không được tè ở bất kỳ chỗ nào, không phải trong nhà hay ngoài sân, không phải cả hai. Anh thấy đấy, cũng không một ai khen ngợi khi nó đi đúng chỗ nữa. Anh có bao giờ nghe thấy chuyện như vậy chưa? Tôi phải cố gắng mới bắt gặp nó đang tè ngoài sân, mà điều này chẳng dễ dàng tẹo nào vì nó lúc nào cũng xấu hổ giấu giấu giếm giếm không cho ai thấy, và rồi tôi khen ngợi nó vài lần, thế là sau một thời gian nó đã biết cách đi vệ sinh đúng chỗ.”
 
Họ tới góc sân. “Rồi, giờ thì anh dừng lại đi, và khi anh dừng nó sẽ phải ngồi xuống,” cô nói.
 
“Nhưng tôi phải làm thế nào?” Macon hỏi.
 
“Ý anh là gì?”
 
“Tôi đang đi bằng nạng mà.”
 
“Thì sao chứ? Cũng tốt để luyện tập chân anh luôn chứ sao,” cô nói. Cô đã không hỏi sao chân anh bị gãy. Thử nghĩ mà xem, ở cô có điều gì đó không thể nhìn thấy được, cho dù cô quả thật quan tâm đến đời tư của anh biết bao. Cô nói, “Chia ra nhiều đợt, một đợt mười phút.”
 
“Mười phút!”
 
“Nào bắt đầu lại đi.”
 
Cô đi trước, những bước đi cứng ngắc, khệnh khạng, giật cục do gót giày quá cao. Macon và Edward theo sau. Khi họ đến nhà, cô hỏi mấy giờ rồi “Tám giờ năm mươi,” Macon nói với giọng khá gay gắt. Anh thấy không tin tưởng mấy vào những phụ nữ không đeo đồng hồ.
 
“Tôi phải đi rồi. Năm đô nhé, và cả bốn xu anh nợ hôm qua nữa.”
 
Anh đưa tiền cho cô và cô giúi vào trong áo mưa. “Lần tới, tôi sẽ ở lại lâu hơn và chúng ta sẽ trò chuyện nhé,” cô nói. “Hứa đấy.” Cô vẫy vẫy tay về phía anh, rồi lóc cóc đi ra xe đậu ở dưới đường – một chiếc mui kín hình giống chiếc thuyền, có màu xám cũ kỹ được phết lên một lớp sơn ngoài bóng chói. Khi cô chui vào xe và đóng cửa lại, có một âm thanh giống như tiếng lon bia rơi. Động cơ khục khặc và chiếc xe giật cục trước khi máy nổ hẳn. Macon lắc đầu rồi cùng với Edward đi vào nhà.
 
Từ thứ Tư đến thứ Năm, chỉ thế thôi mà với Macon thì cứ như thể anh đã bỏ ra cả đời để gắng gượng tập tễnh đi qua đi lại con đường Dempsey cùng với con Edward. Nách anh ê ẩm. Một cơn đau nhói chạy dọc theo một bên đùi. Chẳng hiểu sao lại thế nữa; lẽ ra phải ở ống chân mới đúng chứ. Anh lấy làm lạ không biết có điều gì đó bất ổn không – không rõ có phải chỗ gãy được bó sai quy cách không, chẳng hạn vậy, thế thì mới có tình trạng căng cơ bất thường chỗ đùi thế này chứ. Có lẽ anh lại phải đi bệnh viện để người ta tháo chỗ băng bột đó ra, sắp lịa chỗ gãy, có thể anh sẽ phải được cho gây mê tổng thể với tất cả những biến chứng kinh khủng từ đó và nằm hàng tháng ở bệnh viện với một chân bị kéo căng, rồi có thể sẽ phải đi tập tễnh như thế cả phần đời còn lại. Anh hình dung thấy mình đi xiêu vẹo qua ngã tư đường với dáng người lệch hẳn về một bên hết sức kệch cỡm. Saral, lái xe ngang qua, thắt rít lên. “Macon?” Cô sẽ kéo cửa kính xuống. “Macon, chuyện gì xảy ra vậy?”
 
Anh sẽ đưa một tay lên rồi buông thõng xuống, và khập khiễng đi tiếp.
 
Hay bảo cô, “Thật ngạc nhiên là em vẫn còn quan tâm hỏi han như thế.”
 
Không, cứ thế tập tễnh đi thôi.
 
Có khả năng lối suy nghĩ nhuốm màu oán trách và than van ấy (một thứ xúc cảm lúc bình thường anh rất khinh miệt) đã nảy sinh bởi tình trạng suy kiệt đến cực độ về thể xác. Làm thế nào mà anh có thể khiến mình rơi vào tình trạng ấy được nhỉ? Vấn đề đầu tiên là vỗ vào hông; rồi gắng gượng lấy thăng bằng để giật mạnh sợi dây khi con Edward không chịu nghe lệnh, và rồi cứ đứng yên một chỗ nghe ngóng một con sóc hoặc một vị khách nào đấy qua đường. “Suỵt!” anh liên tục suỵt như thế, và “Toóc toóc!” và lại “Suỵt!”. Anh chắc thế nào những người qua đường cũng nghĩ đầu óc anh không bình thường hay sao đó. Con Edward lẽo đẽo theo sau anh, chốc chốc lại gừ lên, nhìn quanh quất tìm kiếm những người đạp xe ngang qua. Người đi xe đạp luôn là niềm khoái cảm đặc biệt với nói. Bất cứ khi nào nó nhìn thấy một ai đi xe đạp, long phía trên cố nó lại dựng cả lên và nó bất thần chạy lồng về hướng đó. Macon có cảm giác mình như người đi trên sợi dây thừng đang thăng bằng đột nhiên chòng chành như muốn ngã nhào xuống.
 
Bước đi tập tễnh xiêu vẹo, ấy thế mà Macon lại có thể quan sát xung quanh nhiều hơn khi còn lành lặn. Trước mắt Macon trải dài những bụi cây, những vạt hoa đã khô. Anh cố ghi nhớ hình ảnh những cảnh vật hai bên đường lọt vào tầm ngắm của anh. Ấy là một khu phố người gà, và đã lâu rồi chẳng được sửa sang. Những người hàng xóm bỏ ra cả ngày gọi điện qua lại cho nhau hỏi han để biết rằng không ai bị đột quỵ khi lên cầu thang một mình, không ai lên cơn đau tim khi đang trong phòng tắm, không ai bị vỡ xương hông, không ai bị tức thở, không ai bị choáng váng khi đang nấu ăn bên bếp lửa đang cháy. Có người ra ngoài đi dạo và rồi một vài giờ sau lại thấy mình đứng giữa đường và tự hỏi mình đi đâu thế này. Có người chuẩn bị nấu món gì đó để ăn vào buổi trưa, một quả trứng luộc lòng đào hay một tách cà phê gì đấy, và rồi cho đến lúc mặt trời lặn vẫn còn tất tả trong nhà bếp, dò dẫm tìm lọ muốn và chẳng nhớ phải sử dụng lò nướng như thế nào cho đúng. Macon biết tất thảy những điều này thông qua cô em, cô luôn bị hàng xóm réo gọi mỗi khi gặp rắc rối. “Rose ơi! Rose!” họ sẽ kêu lên như thế bằng thứ giọng run rẩy của người già, và nháo nhào chạy vào sân nhà cô phất phất tờ hóa đơn đã đáo hạn, hay một bức điện khẩn, có khi là một chai thuốc viên với lời cảnh báo tránh xa tầm tay trẻ em.
 
Vào buổi tối, khi dắt Edward đi dạo, Macon liếc nhìn vào các ô cửa sổ và trông thấy những con người ấy lọt thỏm trong những chiếc ghế bành in hoa, chìm trong một thứ ánh sáng xanh xao và run rẩy hắt ra từ trước màn hình ti vi. Đội bóng chày Orieoles đang có cơ hội thắng trận thứ hai trong giả World Series, nhưng thay vì hào hứng theo từng tình tiết của trận đấu họ lại đắm chìm trong suy tưởng của chính mình. Macon tưởng như thế họ bằng cách nào đó đang kéo anh lùi lại, khiến những bước chân anh như nặng nề, ì ạch hơn, và thở không ra hơi. Ngay cả con chó cũng có vẻ như bước đi thật khó nhọc và thiếu sinh khí.
 
Và khi anh quay về nhà, ba anh em lại đang giằng co nhau vì những chuyện vặt vãnh. Có nên hạ nhiệt độ máy điều nhiệt tự động vào ban đêm hay không? Lò sưởi sẽ không phải làm việc nhiều hơn nếu được hạ thấp nhiệt độ chứ? Ba an hem cứ mải miết giằng co qua lại giữa có và không, và cứ thế. Sao phải như thế chứ! Macon băn khoăn. Họ thật chẳng khác gì mấy người hàng xóm kia. Họ đang trở nên già cỗi. Anh đã từng đưa ra ý kiến của mình (hạ thấp nhiệt độ lò sưởi là đúng), nhưng giờ đây giọng anh đã yếu đi và anh không nói gì nữa.
 
***
 
Tối hôm đó, anh mơ thấy mình đậu chiếc Buick 57 của ông nội gần đập nước Lake Roland. Anh ngồi trong bóng tối và bên anh là một cô gái nào đó. Anh không biết cô, nhưng mùi nước hoa đăng đắng của cô dường như rất quen thuộc, và chiếc váy cứ sột soạt khi cô xích lại gần anh hơn. Anh ngoái đầu lại nhìn cô. Là Muriel. Anh hít sâu, hỏi cô làm gì ở đây vậy, nhưng cô đặt một ngớn tay chặn môi anh. Cô tiếp tục xích lại gần hơn. Cô lấy chùm chìa khóa từ anh và đặt lên bảng đồng hồ xe. Nhìn đắm đuối vào mắt anh, cô nói lỏng nịt quần anh và luôn bàn tay mát lạnh thành thạo vào bên trong.
 
Bừng tỉnh với cảm giác kinh ngạc tột độ và cả ngượng ngùng, anh vội ngồi bật dậy.
 
***
 
“Ai cũng hỏi tôi, ‘Con chó của chị thế nào?’” Muriel nói, “ ‘Tôi cược nó là loại chó có hành vi tốt,’ họ bảo tôi thế. Nhưng anh có muốn nghe điều gì đó thật buồn cười không? Tôi đâu có nuôi chó. Thật ra, có bận tôi cũng nuôi một con, nhưng rồi nó bỏ đi đâu mất. Đó là Spook, con chó của Norman. Của chồng cũ tôi. Đêm tân hôn của chúng tôi, nó bỏ chạy đến nhà mẹ anh Norman. Tôi nghĩ nó không ưa tôi.”
 
“Ồ, chắc là không phải vậy đâu,” Macon nói.
 
“Nó ghét tôi mà, tôi dám chắc thế.”
 
Họ lại bước ra ngoài, chuẩn bị huấn luyện Edward cách đi đứng. Cho đến bây giờ, Macon đã thích nghi với nhịp điệu của những bài học. Anh đợi, nắm chặt sợi dây nối với vòng cổ con Edward. Muriel nói, “Cũng giống như một bộ phim của Walt Disney thôi mà. Anh biết đấy, trong một bộ phim có con chó đã đi suốt một chặng đương dài đến sông Yukon hay đâu đó. Còn con Spook chỉ đi tới Timonium thôi. Tôi và Norman đưa nó xuống phố ở cùng chúng tôi trong một căn hộ, và Spook chuồn về nhà Norman ở Timonium cho dù đường có xa bao nhiêu dặm đi nữa. Mẹ anh gọi tới nhà chúng tôi, ‘Tụi con bỏ Spook lúc nào vậy?’ ‘Mẹ nói gì thế?’ Norman hỏi bà.”
 
Cô chuyển giọng để hợp với từng người. Macon nghe thấy giọng nói mỏng và yếu của mẹ Norman, giọng lắp bắp trẻ con của Norman. Anh chợt nhớ đến giấc mơ đêm qua và lại thấy ngượng chín cả người. Anh nhìn trực diện vào cô, mong tìm ra những khiếm khuyết nào đó, và thấy ở cô có quá nhiều khiếm khuyết – chiếc mũi dài hẹp, làn da vàng ệch, hai gò má đầy tàn nhang hứa hẹn một cơ thể không mấy mịn màng.
 
“Có vẻ như mẹ anh ấy tỉnh dậy vào buổi sáng,” cô vẫn thao thao, “và thấy Spook ngồi nơi bậc cửa. Nhưng ấy là lần đầu tiên chúng tôi nhận ra nó biến mất. Norman bảo, ‘Anh không biết nó mắc cái chứng gì nữa. Trước đây có bao giờ nó bỏ đi thế đâu.’ Và nhìn tôi với ánh mắt ngờ vực. Tôi dám chắc là anh ấy đang tự hỏi liệu có phải lỗi tại tôi không. Có thể anh ấy thầm nghĩ rằng đó là một điêmm báo hay gì gì đó. Lúc lấy nhau hai chúng tôi vẫn còn quá trẻ. Giờ nhìn lại tôi thấy thật đúng như vậy, quá trẻ. Tôi mới mười bảy tuổi. Anh ấy mười tám – và là con duy nhất. Là con cưng. Mẹ góa. Anh ấy có khuôn mặt lúc nào cũng sáng hồng lên như con gái và mái tóc thì cắt thật ngắn, ngắn hơn bất kỳ tóc đứa con trai nào trong trường và nút áo sơ mi lúc nào cũng gài lên tận cổ. Chuyển đến từ Parkville cuối năm lớp Chín. Đã để ý tôi lúc đó đang diện một chiếc váy không dây, và cứ trợn tròn mắt mà nhìn tôi suốt các tiết học; những đứa con trai khác trêu ghẹo anh nhưng anh chẳng để tâm. Anh ấy thật là… ngây thơ, anh biết không? Anh ấy khiến tôi có cảm giác như tôi có sức thu hút gì đấy. Những khi thấy anh ấy lẽo đẽo theo tôi quanh các giảng đường trên tay ôm cả chồng sách, tôi thường hỏi. ‘Norman, cậu muốn ăn trưa cùng tớ không đấy?’ và mặt anh ấy đó bừng lên, ‘Ồ, sao, ừ, cậu nói nghiêm túc đấy chứ?’ Anh ấy thậm chíe chẳng biết lái xe nữa, nhưng tôi bảo nếu anh ấy đậu được bằng lái tôi sẽ đi chơi cùng. ‘Tụi mình sẽ lái xe đến một nơi yên tĩnh nào đó nói chuyện, chỉ tụi tmình thôi không một ai xung quanh,’ tôi nói, ‘cậu biết ý tớ là gì không?’ Ôi trời, tôi thật xấu xa. Tôi không biết lúc đó tôi bị sao nữa. Anh ấy lấy được bừng lái nhanh hơn tôi tưởng và đến đón tôi trên chiếc Chevy của mẹ anh, tình cờ lại được mua từ cha tôi, lúc ấy ông là nhân viên bán hàng cho Ruggles Chevroler. Chúng tôi đã nhận ra đìều ấy trong ngày đám cưới. Lấy nhau vào năm cuối bậc trung học, anh ấy muốn cưới tôi đến chết đi được, vậy tôi còn biết nói gì nữa? Và trong đám cưới cha tôi đến bên mẹ Norman, ‘Ồ, tôi dám chắc là đã bán chiếc xe này cho bà cách đây chưa lâu,’ nhưng bà quá bận bịu cho việc khóc lóc nên chẳng chú ý gì đến lời ông. Bà mẹ ấy hành xử như thể việc kết hôn là một thứ gì đó thật ghê gớm, thà chết còn sướng hơn. Và rồi khi con Spook bỏ chạy về nhà bà, bà đã bảo chúng tôi rằng, ‘Mẹ nghĩ tốt hơn hết là để mẹ nuôi nó, rõ ràng là nó không thích ở đó với tụi con.’ Với tôi, ý bà là như vậy. Bà giữ nó lại như muốn phản đối việc tôi đã đem con trai bà đi. Bà đổ lỗi cho tôi đã làm tiêu tan mọi cơ hội của anh ấy; bà muốn con trai có bằng tú tài. Nhưng có phải tôi không cho anh ấy học để lấy bằng đâu. Chính anh ấy nói là muốn bỏ học cơ mà, anh ấy còn nói việc gì phải cứ ngồi ì mãi ở trường trong khi anh có thể kiếm sống dễ dàng bằng việc đánh bóng sàn nhà.”
 
“Bằng gì?” Macon hỏi.
 
“Đánh bóng sàn nhà. Bằng cát. Chú anh ấy là Prichette Sửa Nhà mà. Norman bắt đầu làm công việc này ngay khi chúng tôi lấy nhau và mẹ anh luôn miệng nói về sự phí hoài. Bà nói lẽ ra anh có thể là một kế toán hay gì gì đó, nhưng tôi không rõ bà ấy nghĩ bà ấy đang đùa với ai. Anh ấy chưa bao giờ nói chuyện kế toán với tôi.”
 
Cô gỡ một sợi lông chó vướng trên ống tay áo khoác, săm soi nó rồi búng vèo đi. “Thôi, để mắt đến nó đi.”
 
“Sao cơ?”
 
“Hãy xem con chó đi đứng thế nào.”
 
Macon vỗ mạnh vào hông Edward vào bắt đầu đi, con chó rề rề theo sau. Khi Macon dừng lại, Edward cũng dừng và ngồi xuống. Macon thấy ngạc nhiên một cách thích thú, nhưng Muriel nói, “Nó đâu có ngồi.”
 
“Sao? Chứ cô bảo nó đang làm gì kia?”
 
“Nó chỉ vờ ngồi thôi, anh xem cái mông nó kìa, cách mặt đất tới năm phân là ít. Chỉ chực chuồn đi khi có thể.”
 
“Ôi trời, Edward,” Macon rầu rầu nói.
 
Anh ngoái nhìn nó, rồi quay lại. “Nào, anh sẽ phải cố làm cho được đấy nhé,” Muriel nói. “Nhưng bây giờ, ta sẽ tiếp tục bài học ngồi yên. Hãy thử tập bài đó trong nhà xem.”
 
Macon lo rằng họ sẽ phải chạm mặt Rose, nhưng cô đã biến đi đằng nào rồi. Phòng trước ngợp mùi tro từ lò sưởi. Chiếc đồng hồ trong phòng khách đang dịch kim tới tám giờ rưỡi.
 
“Giờ chúng ta bắt đầu với vấn đề thật sự của con Edward nhé,” Muriel nói. “Bảo nó nằm xuống và nằm yên đó, để nó khỏi lúc nào cũng cứ nhảy xồ ra cửa.”
 
Cô chỉ cho anh cách ra lệnh: dậm chân hai lần. Chiếc giày của cô nện xuống sàn kêu cộp cộp. Thấy Edward không có phản ứng gì, cô khom người xuống và kéo hai chân trước của nó ra. Rồi cô để nó đứng lên và lại làm thế một lần nữa, và cứ thế vài ba lần liên tiếp. Chẳng thấy con Edward tiến bộ gì cả. Khi cô dặm chân lên sàn, nó thở hổn hển và nhìn đâu đâu. “Đồ cứng đầu,” Muriel bảo nó. “Mày cũng cứng đầu giống như những con khác.” Cô nói với Macon, “Có nhiều con cũng hành xử kiểu thế. Chúng ghét bị bắt phải nằm xuống tôi cũng không biết tại sao nữa. Giờ anh làm đi.”
 
Macon dậm chân. Edward có vẻ như đang bị cái gì đó lôi cuốn, nó nghiêng đầu sang bên trái.
 
“Chộp lấy hai chân trước của nó đi,” Muriel bảo.
 
“Khi đang đi nạng thế này à?”
 
“”Chứ sao.”
 
Macon thở dài đánh thượt và đành dựng đôi nạng vào góc nhà. Anh cúi thấp người xuống sàn, duỗi cái chân bó bột ra đằng trước, lôi hai chân trước con Edward lên và ép nó nằm xuống. Edward vùng vẫy ra vẻ dữ dằn lắm nhưng rồi rốt cuộc cũng chịu nằm. Để đứng thẳng người lên trở lại, Macon phải vịn vào chiếc bàn có đèn chụp. “Khó thật đấy,” anh nói, nhưng Muriel bảo, “Nghe này, tôi đã từng dạy cho một người cụt cả hai chân đấy nhé.”
 
“Cô?” Macon nói. Anh mường tượng cái cảnh một người cụt cả hai chân lê người dọc theo vỉa hè cùng một con chó hư hỏng nào đấy, Muriel đứng bên cạnh với nét mặt hờ hững, săm soi bộ móng tay vừa được cắt tỉa. “Tôi dám chắc là cô chưa hề bị gãy chân lần nào,” anh gay gắt, “Nhìn thì vậy, chứ đi đứng không hề dễ gì đâu.”
 
“Có lần tôi bị gãy tay,” Muriel nói.
 
“Một tay thì có là gì.”
 
“Thật ra tôi bị gãy tay khi đang huấn luyện chó. Tôi bị một con Doberman Pinscher (2) hất tung ra khỏi hiên nhà.”
 
“Một con Doberman!”
 
“Rồi thấy nó đứng bên trên người tôi, nhe hết cả răng ra. Tôi nghĩ lại những gì họ nói ở Doggie, Do: Chỉ một trong hai là sếp. Thế nên tôi bảo nó. ‘Dứt khoát là không được.’ Ấy là những từ đầu tiên xuất hiện trong óc tôi – câu mẹ tôi từng nói mỗi khi bà không cho phép tôi mang gì đó ra ngoài. ‘Dứt khoát là không được,’ tôi bảo nó. Cánh tay phải của tôi bị gãy nên tôi nắm chặt tay trái, nắm chặt bàn tay trái ấy và nhìn trừng thẳng vào mắt nó – cái giống chó không thể chịu được khi bị nhìn thẳng vào mắt – và từ từ lùi đứng dậy. Và đố con chó đó dám không chịu ngồi xổm xuống.”
 
“Chúa ơi,” Macon nói.
 
“Tôi cũng đã từng bị một con Cocker Spaniel(3) lao thẳng vào cổ họng. Ấy mới chỉ là chuyện thường thôi. Một con chó chăn cừu giống Đức đã ngoạm cả hàm răng vào mắt cá chân tôi nữa cơ. Rồi nó cứ để nguyên thế.”
 
Cô nhấc bàn chân lên và xoay mắt cá chân về phía anh.  Mắt cá chân cô chỉ dày đâu cỡ cây bút chì là cùng.
 
“Cô đã bao giờ nếm mùi thất bại chưa?” Macon hỏi cô. “Có con chó nào cô phải chịu thua không?”
 
“Chưa con nào cả,” cô nói. “Và Edward cũng không là ngoại lệ đâu.”
 
Nhưng có vẻ Edward lại nghĩ ngược lại. Muriel đã tạp cho nó nửa tiếng nữa rồi và mặc dù đã chịu ở yên một chỗ khi buộc phải nằm xuống, nhưng nó vẫn dứt khoát không chịu tự nằm xuốg. Lần nào nó cũng chờ bị kéo hai chân trước ra mới chịu nằm. “Không sao đâu,” Muriel nói. “Con nào cũng vậy cả. Tôi cược là thể nào mai nó cũng cứ ngang ngạnh như thế, nên tôi định bỏ buổi ngày mai. Anh cứ tập cho nó, tôi sẽ trở lại vào ngày thứ Bảy cũng vào lúc tám giờ sáng.”
 
Rồi cô bảo Edward ngồi yên, nhận tiền công rồi lách người ra khỏi cửa. Nhìn cái dáng ngồi thẳng đơ cam chịu của con Edward anh thấy ngán ngẩm. Thuê người huấn luyện làm gì, khi mà cô ta để mặc anh tự tập cho nó thế này chứ? “Ồ, mình không biết, mình không biết nữa,” anh nói. Edward thở phì lên một cái và bỏ đi mặc dù anh chưa cho phép.
 
***

Cả buổi chiều và tối hôm ấy, con Edward không chịu nằm xuống lấy một lần. Macon làm đủ cách: nào là dỗ dành ngon ngọt, rồi đe nẹt dọa nạt, cả phỉnh phờ nữa mà con Edward cứ gầm gừ trong họng một cách đáng ngại và đứng ỳ ra đấy. Rose và hai ông anh trai đứng ne né ra xa quanh anh và con chó, ý tứ đưa mắt ra chỗ khác như thể đang chứng kiến một cuộc cãi cọ riêng tư nào đấy.
 
Thế rồi đến sáng hôm sau, Edward tấn công người đưa thư. Macon đã kịp chộp được sợi dây, nhưng trong đầu anh bỗng bật ra những ngờ vực. Tất thảy những bài học ngồi xuống, đi đứng kia liệu có giải quyết được gì cho vấn đề của Edward không? “Tao chỉ cần nhốt mày lại là được chứ gì,” anh bảo Edward. Anh dậm châm hai lần. Edward vẫn không chịu ngồi xuống cho.
 
Buổi chiều, Macon gọi điện đến Meow – Bow. “Làm ơn cho tôi nói chuyện với cô Muriel?” Anh không nhớ nổi họ của cô.
 
“Hôm nay Muriel không đi làm,” một cô gái thông báo cho anh vậy.
 
“Ồ, vậy à.”
 
“Đứa con trai nhỏ của chị ấy ốm.”
 
Anh đã không hề biết cô có một đứa con trai nhỏ. Anh cảm thấy có một sự thay đổi gì đó trong suy nghĩ của mình; bỗng nhiên cô biến thành một người khác so với con người mà bấy lâu nay anh vẫn hình dung. “Ồ,” anh nói, “tôi là Macon Leary. Tôi nghĩ ngày mai nói chuyện với cô ấy cũng được.”
 
“Ồ, Leary. Ông có muốn gọi điện đến nhà chị ấy không?”
 
“Không, vậy được rồi.”
 
“Tôi có thể cho ông số điện thoại nhà riêng của chị ấy nếu ông muốn.”
 
“Tôi sẽ nói chuyện với cô ấy vào ngày mai cũng được. Cảm ơn cô.”
 
***

Rose xuống phố mua vài thứ linh tinh, vậy nên cô nhân tiện chở Macon tới tòa soạn Businessmen’s Press. Anh muốn giao phần bản thảo còn lại. Ngồi ngả lưng vào ghế sau, bên cạnh là đôi nạng, anh ngắm nhìn cảnh vật lướt qua trước mắt: những tòa nhà làm việc cổ kính, những nhà hàng phục vụ bao nhiên là món hảo hạng, các cửa hàng thực phẩm tươi ngon, rồi thì các shop hoa nữa, tất thảy hiện ra thật sắc nét và sống động dưới ánh nắng rực rỡ của một buổi chiều tháng Mười. Rose ngồi sau tay lái và cho xe chạy với vận tốc đều đều, chậm rãi gần như bị thôi miên. Cô đội một chiếc mũ tròn vành nhỏ na ná hình cái chậu có cột ruy băng rũ xuống phía sau. Đội chiếu mũ ấy trông cô thật nghiêm trang và hệt một cô học trò trường dòng.

Một trong những đặc tính mà cả bốn an hem nhà Leary đều có đó là hoàn toàn không có khả năng thuộc đường. Ấy giống như một căn bệnh gọi là bệnh khó thuộc đường – Macon tin vậy. Không một ai trong bốn an hem mỗi khi ra ngoài mà không chăm chú đến mức như bị thôi miên vào các biển chỉ đường, cố hết sức đến mức tuyệt vọng để ghi nhớ hình ảnh đường xá của khu phố. Macon cất giữ cả xấp thẻ trên đó ghi chép cụ thể đường đi đến nhà máy người bạn anh – ngay cả những người bạn anh biết đã mấy mươi năm nay. Và trước đây mỗi khi Ethan gặp một đứa bạn mới, điều đầu tiên Macon nóng lòng muốn biết là, “Con có biết chính xác nhà nó ở đâu không?” Ethan có tính thích kết giao với những đứa nhà xa. Nó đâu thể chỉ lang thang hoài với cậu bạn nhà bên; ồ, không, phải là ai đó sống cách xa Beltway mới được. Ethan thì lo lắng gì chứ? Nó đâu có gặp rắc rối trong việc tìm đường. Đó là do nó sống cả đời trong chỉ một ngôi nhà, Macon nghĩ vậy; trong khi một người cứ chuyển nhà liên tục thì không bao giờ có được một điểm mốc cố định để tham chiếu mà cứ mãi lang thang một cách vô vọng, cầu nguyện may mắn sẽ mỉm cười để có thể đến được nơi cần đến.
 
Không thể nào khác được, hai an hem nhà họ lại lạc đường. Rose biết đích xác nơi cô muốn đến – một cửa hàng bán dầu bóng đặc biệt dùng cho đồ gia dụng – và Macon thì cũng đã lui tới văn phòng của Julian cả trăm lần; ấy vậy mà họ vẫn chạy lòng vòng cho đến khi Macon nhác thấy gác chuông nhà thờ quen thuộc. “Dừng lại! Rẽ trái!” anh la lớn. Rose cho xe chạy theo hướng anh bảo. Macon gắng sức bước ra khỏi xe. “Em sẽ ổn chứ?” anh hỏi Rose. “Em sẽ tìm được đường quay lại đón anh chứ?”
 
“Em hy vọng thế.”
 
“Nhớ là phải tìm thấy cái gác chuông đó.”
 
Cô gật đầu và lái xe đi.
 
Macon cố xoay sở lên được bậc tam cấp bằng đá granit dẫn vào tòa nhà lớn bằng gạch trong đó có văn phòng tòa soạn Businessmen’s Press. Cánh cửa làm bằng gỗ vàng óng, phết sơn bóng lộn. Sàn nhà lát bằng những viên gạch sáu cạnh trắng đen nhỏ xíu, không quá trơn nên Macon có thể đi dễ dàng trên đôi nạng.
 
Đây không giống một văn phòng thông thường. Cô thư ký đánh máy ở phòng trong, trong khi Julian – người không chịu được phải ở một mình – ngồi ngay phòng ngoài. Anh ta đang nói chuyện bằng chiếc điện thoại màu đỏ, nằm ườn ra đằn sau chiếc bàn chất la liệt những tờ quảng cáo, tờ bướm những hóa đơn chưa thanh toán, thư chưa hồi âm, mấy hộp đồ ăn Trung Quốc rỗng, những vỏ chai Perrier. Bức tường thì dán đầy những bản đồ đi biển. Các kệ sách lèo tèo vài cuốn nhưng lại cơ man những thiết bị đi biển cổ bằng đồng thau có lẽ là không còn dùng được nữa. Bất cứ ai – trừ những người khiếm thị - vào đây đều có thể nhận thấy một điều rằng Julian không để tâm trí vào tòa soạn Businessmen’s Press mà để ở tận đâu đó tại Chesapeake Bay (2). Điều ấy chi lợi cho Macon thôi, anh ta cho là vậy. Chắc chắn không một ai khác chịu tiếp tục ủng hộ cho loạt sách cẩm nang cua anh, với những chi phí cao ngất ngưởng và nhu cầu cập nhật thường xuyên như thế.
 
“Rita đang đi lấy bánh sừng trâu,” Julian nói qua điện thoại. “Joe đang làm món khoái khẩu của hắn.” Rồi anh ta nhìn thấy Macon. “Macon!” anh ta reo lên. “Stephanie, tôi sẽ gọi lại cho cô sau nhé.” Anh ta gác máy. “Chân ông anh sao rồi? Nào, ngồi xuống đây đi.”
 
Anh ta gạt chồng tạp chi du thuyền ra khỏi ghế. Macon ngồi xuống và trao cho Julian xấp bản thảo. “Đây là phần còn lại về nước Anh,” anh nói.
 
“À, rốt cuộc cũng xong!”
 
“Tôi áng chừng cuốn này có thể sẽ dày hơn cuốn trước độ mươi, mười hai trang gì đấy,” Macon nói. “Vì có thêm phần dành cho các thương gia nữ - liệt kê các khách sạn có dịch vụ hộ tống lên thang má, các khách sạn có phục vụ đồ uống ở sảnh ngoài… Thế nên tôi nghĩ cậu cần trả thêm thù lao cho tôi.”
 
“Tôi sẽ trao đổi với Marvin về chuyện này,” Julian nói, lật lật xấp bản thảo.
 
Macon thở dài. Julian xài tiền như nước, nhưng Marvin chi li hơn.
 
“Rồi, giờ ông anh lại tiếp tục với nước Mỹ nhé,” Julian nói.
 
“À, cũng được.”
 
“Tôi hy vọng là ông anh sẽ không mất nhiều thời gian.”
 
“Tôi chỉ có thể đi thật nhanh thôi,” Macon nói. “Nước Mỹ có nhiều thành phố hơn.”
 
“Vân, tôi biết chứ. Thật ra, tôi có thể cho in ấn bản này thành nhiều phần: miền Đông Bắc, miền Trung Đại Tây Dương, vân vân; tôi không biết…” Nhưng rồi anh ta chuyển chủ đề. (Anh ta vốn có một cái đầu khá nhanh nhạy.) “Tôi đã trao đổi với ông anh về ý tưởng mới chưa ấy nhỉ? Một ông bạn bác sĩ của tôi đang nghiên cứu về: Du khách bất đắc dĩ trong tình trạng sức khỏe tồi. Một danh sách các nha sĩ được đào tạo tại Mỹ có mặt ở mọi thủ đô các nước, có thể thêm vào một số gợi ý về các loại dược phẩm cơ bản: Aspirin, Merck Manual (3)…”
“Ồ, không cần mang theo Merck Manual đâu!” Macon nói. “Vế xước mang rô nào cũng đều có thể là bệnh ung thư, khi cậu đọc Merck Manual.”
 
“Ồ, tôi sẽ ghi chú điều đó,” Julian nói (không có vẻ gì là cầm cây bút chì lên cả). “Thế ông anh không định yêu cầu tôi vẽ vời chút đỉnh lên chỗ bó bột kia à? Nó trắng thật.”
 
“Tôi thích trắng vậy,” Macon nói. “Tôi đánh bóng nó bằng xi giày.”
 
“Tôi không hề biết ông anh đã làm vậy đấy.”
 
“Tôi dùng loại xi nước. Có nhãn hiệu khuôn mặt một cô y tá, nếu cậu cần biết thì vậy đó.”
 
“Du khách bất đắc dĩ trên đôi nạng,” Julian nói, và lại ngả người ra ghế một cách khoái chí.
 
Macon nhận thấy anh ta sắp bắt đầu lối hành xử với Macon Leary của mình rồi. Anh đứng phắt dậy, “À, chắc là tôi phải đi đây.”
 
“Nhanh vậy? Không ở lại uống tí nước đã?”
 
“Không, cảm ơn, không được đâu. Em gái tôi sẽ đến đón ngay khi nó xong mấy việc linh tinh.”
 
“À,” Julian nói. “Việc gì vậy?”
 
Macon nhìn anh ta bằng cặp mắt cảnh giác.
 
“Hả? Đi tới tiệm giặt khô hả? Hay đi sửa giày?”
 
“Những việc thông thường thôi mà, Julian. Không có gì đặc biệt cả.”
 
“Hay tới cửa hàng đồ gia dụng? Tiệm thuốc tây?”
 
“Không phải.”
 
“Thế là gì?”
 
“Ừm…. cô ấy mua dầu bóng dùng cho đồ gia dụng.”
 
Julian ngả người ra phía sau thêm một chút nữa. Maocn nghĩ thầm trong bụng hẳn là chiếc ghế sắp đổ ngược ra phía sau rồi. Thật ra, anh ước nó sẽ xảy ra như thế. “Macon, giúp tôi một việc, nhé,” Julian nói. “Ông anh không thể một lần mời tôi đến ăn bữa cơm gia đình sao?”
 
“Thật sự chúng tôi hiếm khi đãi cơm khách,” Macon bảo.
 
“Đâu cần phải màu mè làm gì. Chỉ là những đồ ăn thường ngày thôi. Hàng ngày nhà ông anh ăn những gì? Hay là tôi mang đồ ăn nhé. Ông anh có thể xích con chó lại… con chó tên gì nhỉ?”
 
“Edward.”
 
“Edward. Ha! Tôi sẽ đến ăn tối đấy.”
 
“Ồ, được thôi,” Macon lơ đãng trả lời. Anh kẹp đôi nạng vào hai bên nách.
 
“Hay để tôi ra ngoài đợi cùng ông anh nhé.”
 
“Cậu không cần phải vậy đâu, thật đấy.” Maocn nói. Anh không thể chịu được cái cảnh Julian tận mắt thấy em gái anh đội chiếc mũ hình chậu bé xíu trên đầu.
 
Anh lọc cọc bước ra vỉa hè và đứng đó, mắt dõi về hướng anh nghĩ có thể nhìn thấy Rose lái xe tới đón. Anh nghĩ chắc Rose lại lạc đường nữa rồi. Cái lạnh đã len vào bên trong lần tất anh mặc ngoài chỗ chân bó bột.
 
Vấn đề là Julian chưa bao giờ chịu để bất cứ cái gì xảy đến với mình, anh cả quyết vậy. Khuôn mặt hồng hào lúc nào cũng hơn hớn của anh ta nhẵn bóng không một nốt sần sì, ngoại trừ hơi rám nắng; niềm thích thú duy nhất của anh ta là một phương tiện đi lại thiếu hiệu quả đến nực cười. Cuộc hôn nhân chớp nhoáng ngắn ngủi kết thúc êm đẹp. Không con cái, Macon không muốn tỏ vẻ thành kiến hưng anh không thể không có cảm giác rằng những người không con cái chẳng bao giờ thật sự trưởng thành. Họ không hoàn toàn… xứng đáng được gọi là người trưởng thành, anh thấy vậy.
 
Bỗng dưng trong đầu anh xuất hiện hình ảnh Muriel chạy theo sau con Doberman đã từng hất bổng cô văng ra khỏi hiên nhà. Một cánh tay cô xụi xuống bất động; anh biết cánh tay ấy từng bị gãy qua cái vẻ xám chì của nó. Nhưng Muriel lờ đi, cô thậm chí cũng chẳng liếc nhìn nó lấy một lần. Quần áo nhếch nhác, tóc tai xõa xượi, người ngợm chẳng ra hồn, cô đưa cánh tay còn lại lên nói. “Dứt khoát là không được.”
 
***
 
Sáng hôm sau cô đến, trên đầu choàng một chiếc khăn mỏng tang bồng bềnh, hai tay thọc sâu vào túi áo khoác. Edward nhín nhảy quanh cô. Cô trỏ ngón tay ào mông con chó. Nó ngồi xuống, và cô cầm lấy sợi dây.
 
“Đứa con trai nhỏ của cô thế nào rồi?” Macon hỏi cô.
 
Cô nhìn anh lom lom. “Gì anh?” cô hỏi.
 
“Chẳng phải là nó ốm sao?”
 
“Ai nói anh vậy?”
 
“Cô nào ở chỗ làm của cô ấy, khi tôi gọi đến.”
 
Cô vẫn nhìn anh lom lom.
 
“Sao thế cô? Cảm lạnh à?” anh hỏi.
 
“Ồ, vâng, có lẽ vậy,” cô nói sau một lúc im lặng, “Có hơi đau bụng nữa.”
 
“Quãng thời gian này trong năm trẻ con hay bị thế, tôi nghĩ vậy.”
 
“Anh gọi tôi có việc gì không?” cô hỏi anh.
 
“Tôi muốn biết tại sao Edward không chịu nằm xuống.”
 
Cô chuyển ánh mắt sang Edward, rồi cuộn sợi dây quanh bàn tay và quan sát nó.
 
“Tôi dậm chân nhưng nó chẳng chịu nghe cho,” Macon nói. “Có gì đó không ổn hay sao ấy.”
 
“Tôi đã bảo anh là nó rất ương bướng, không chịu nghe lời ngay được.”
 
“Đúng là vậy, nhưng đã hai ngày nay rồi mà nó chửang tiến triển chút…”
 
“Chứ anh đòi cái gì? Anh nghĩ tôi là nhà ảo thuật hay gì gì đó hay sao? Sao lại đổ lỗi cho tôi?”
 
“Ồ, tôi không đổ lỗi cho…”
 
“Rõ ràng là anh đổi lỗi cho tôi chứ còn gì nữa. Anh nói là có gì đó không ổn, rồi cái chuyện anh gọi tới chỗ làm cho tôi nữa…”
 
“Tôi chỉ muốn…”
 
“Anh nghĩ thật lạ là sao tôi không nói năng gì đến Alexander, phải không?”
 
“Alexander?”
 
“Anh nghĩ tôi là một người mẹ có gì đó không bình thường.”
 
“Gì vậy? Này, gượm đã…”
 
“Anh sẽ chẳng nghĩ khác về tôi, phải không, giờ anh biết tôi có một đứa con. Chắc anh nghĩ, ‘Ồ, quyên đi, chẳng việc gì phải dính dáng tới chuyện đó,’ và rồi anh tự nhủ sao tôi chẳng chịu cho anh biết về nó từ trước. Ồ, không phải vậy sao? Anh không thấy rằng nếu tôi làm vậy thì chuyện gì sẽ xảy ra hay sao?”
 
Macon không hoàn toàn để tâm lập luận của cô, có lẽ vì Edward lôi kéo sự chú ý của anh. Giọng Muriel rít lên bao nhiêu, long trên cổ con Edward dựng đứng lên bấy nhiêu. Tín hiệu xấu rồi. Một tín hiệu cực xấu. Hai mép con Edward từ từ xoắn nhếch lên. Thoạt đầu hầu như chẳng có âm thanh gì, nhưng chẳng lâu sau đó tiếng gầm gừ bắt đầu phát ra từ cổ họng con Edward.
 
Muriel liếc nhìn nó và ngừng nói. Cô chẳng có vẻ gì là sợ hãi. Cô chỉ dậm châm hai lần. Nhưng con Edward không những không chịu nằm xuốgn mà còn đứng phắt dậy. Giờ đây chỗ long phía trên cổ nó đã dựng đứng như một cái bướu nổi lên giữa hai vai. Dường như bộ dạng nó đã thay đổi hoàn toàn. Hai tai nó gần như dính sát vào đầu.
 
“Nằm xuống,” Muriel nói với giọng bình tĩnh.
 
Gầm lên một tiếng, Edward lao thẳng về phía mặt cô. Cả hai hàng răng nhe ra sáng lóa. Hai mép xoắn nhếchlên hểt cả và bọt mép sùi ra từ mõm khiến mặt nó biến dạng trông thật kinh khiếp. Muriel ngay lập tức giật mạnh dây xích. Hai tay cô kéo mạnh sợi dây ngược lên phía trên và nhấc bổng con Edward lên khỏi mặt đất. Nó thôi sủa. Và bắt đầu phát ra âm thanh ặc ặc.
 
“Nó nghẹt thở đó,” Macon nói.
 
Cổ họng Edward lại phát ra tiếng ặc ặc.
 
“Ngừng lại đi. Đủ rồi đó! Cô làm nó nghẹt thở mất!”
 
Cô vẫn cứ để nó lủng lẳng như thế. Giờ mắt Edward đã trợn ngược cả lên. Macon chộp lấy hai vai Muriel nhưng anh nhận thấy nằm gọn trong hai bàn tay mình chỉ là hai miếng xốp độn vai không đều nhau cồm cộm như một cái gì đó đang lúc nhúc. Dù vậy anh vẫn lắc mạnh. Muriel hạ Edward xuống sàn. Nó rơi xuống đấy, bốn chân khuỵu xuống bên dưới thân mình mềm nhũn, cái đầu nghẻo sang một bên bất động. Macon cúi xúông bên nó. “Edward? Edward? Ôi, Chúa ơi, nó chết rồi!”
 
Edward gượng đầu lên và yếu ớt liếm môi.
 
“Anh thấy chưa? Khi lũ chó liếm môi là lúc chúng đã chịu thua rồi đấy,” Muriel hồ hởi nói. “Doggie, Do đã dạy tôi vậy.”
 
Macon đứng lên. Anh run lẩy bẩy.
 
“Chúng liếm môi, ấy là tín hiệu tốt, nhưng nếu chúng dẫm chân lên mũi chân anh thì có nghĩa là rất tệ.” Muriel nói. “Giống như một thứ ngôn ngữ bí mật, gần như vậy đấy, phải không?”
 
“Cô không bao giờ, không bao giờ được làm vậy nữa,” Macon bảo cô.
 
“Hả?”
 
“Thật ra, không phiền cô phải đến nữa.”
 
Mọi âm thanh đột nhiên ngưng bặt.
 
“À, được thôi,” Muriel nói, cô cột lại chiếc khăn choàng. “Nếu đó là điều anh muốn, thì cứ vậy đi.” Cô bước những bước đi dứt khoát vòng qua Edward và mở cửa trước. “Anh muốn nuôi một con chó mà anh không thể điều khiển được chứ gì? Được thôi.”
 
“Tôi muốn nuôi một con chó hay sủa hơn là một con chó nhút nhát và thiểu năng,” Macon nói.
 
“Anh muốn nuôi một con chó cắn tất thảy những người bạn của mình chứ gì? Để lại những vết sẹo trên người những đứa trẻ hàng xóm chứ gì? Khiến anh phải đương đầu với những vụ kiện cáo chứ gì? Anh muốn nuôi một con chó ghét cả thế giới này chứ gì? Một con chó xấu xa, cáu bẳn, ưa nổi nóng chứ gì? Con chó muốn giết cả thế giới chứ gì?”
 
Cô lách người ra khỏi cửa và đóng cánh cửa lại sau lưng. Rồi cô ngoái nhìn thẳng vào mắt Macon xuyên qua lần kính cửa. “Đúng vậy đấy, tôi nghĩ anh muốn vậy đấy,” cô nói.
 
Nằm trên sàn nhà, con Edward rên ư ử nhìn cô bỏ đi.
 
(1)   Shirley Jane Temple (sinh năm 1928): nữ diễn viên người Mỹ từng đoạt tượng vàng Oscar. Bà là hình tượng diễn viên nhí nước Mỹ thập niên ba mươi kể từ sau vai diễn trong bộ phim Bright Eyes năm 1934.
(2)   Cửa sông lớn nhất Hoa Kỳ.
(3)   Một cuốn sách y tế do công ty dược Merck & Co, Inc. ấn hành.
Đăng nhập để trả lời
0