📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Thú Tiêu Khiển

Câu Lạc Bộ TRI ÂM 🔒

1.075 trả lời, 181.102 lượt xem — Trang 19 / 36
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2012-10-04 19:05:54dzuylynh>
 
 

 
GẶP NHAU, CHÀO VỘI RỒI ĐI
( cho Vân )
 
gặp nhau chào vội rồi đi
như mây ngang núi tiếc gì trời xanh
thu sang lá lại lìa cành
thương chi nụ biếc tiếc anh lỡ làng
em qua một chuyến đò ngang
quay nhìn dĩ vãng bẽ bàng sông xưa
không duyên ướm mãi cũng thừa
phải duyên phải nợ hẳn vừa tình nhau
ngang cầu nhớ chạnh mùa ngâu
sao tua chín cái tìm đâu bây giờ
chi bằng nhặt lá đề thơ
treo nhành diênvỹ mơ hoa vô thường
gặp nhau chi để đọan trường
gặp nhau chào vội ai đường nấy đi
nhớ nhau ghi một vần thi
giấc trường lưu mộng thầm thì ánh sao
sao còn mãi tận non cao
em còn níu cánh nhạn chao lưng trời
chơi vơi hụt hẫng nửa đời
mai sau gặp... nhắn một lời, rồi đi!
 
lanchy.

Cung Điệu Phù Trầm 
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2012-10-09 10:44:07dzuylynh>


o0o




https://www.box.com/shared/jtdzreroj4sjmq7h6i3a


M Ắ T L Á

sáng tác & trình bày Dzuylynh
album Ở giữa là mùa thu | bccb
( đến Ja. )

ngoài trời chiếc lá bay mang mùa thu về
nào em có biết!
hay là em có quên!
tým thẫm hòang hôn tým nỗi buồn...
chiều ...
có đôi chiêc lá quấn quít bên nhau
cùng buông mình trong nuối tiếc ngày xanh
đôi mắt lá?
có phải không?
chớm thu tiển người như cành tiễn lá
mình xa nhau từ một dạo vỡ mối duyên đầu
lá rơi ...lá rơi...về đâu!
hỏi lá kia biết lá về đâu?
cho lời thơ em nức nở canh thâu
tình yêu đã ra đi chỉ còn đôi mắt lá bơ vơ
lá ngẩn ngơ
thẩn thờ...
khi tình đã ra đi
chỉ còn
đôi mắt em ở lại
tròn
như vòng khói thuốc trên tay
trong anh
nghe tiếng thu điệp từ dĩ vãng
tým mùa thu,
tým nỗi sầu hoang liêu...
ngã xuống chông chênh triền nhớ
giọt sương bềnh bồng rơi ướt đôi mắt lá
mắt em...
buồn ơi... mùa thu ơi ...

.dzuylynh.Nov 11.2012.
Cung Điệu Phù Trầm 
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2012-10-06 19:54:46dzuylynh>
Cung Điệu Phù Trầm 
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2012-10-11 16:15:08Phù Vân>
ĐỌC BÁO GIÙM BẠN

mời qúy bằng hữu dạo một vòng các quốc gia có truyền thống thưởng ngọan về lọai nước giải khát thuần khiết lâu đời nhất trên hòan vũ này với Phù Vân nhé ! 
Từ lâu , nghệ thuật uống trà đã được nâng lên thành ĐẠO  : TRÀ ĐẠO.
Đạo Trà khác hẳn với đạo thơ , đạo nhạc , đạo tranh , đạo văn... ! 


TẢN MẠN VỀ TRÀ ( còn gọi là CHÈ )   Phiếm Luận Về Nghệ Thuật Uống Trà - Trà Đạo 


Trà Sen và phong cách uống trà Việt Nam 


Muốn có trà ngon người ta phải ướp từ những loại trà khô như là trà mộc (black tea), trà xanh (green tea) hay trà Ô long có màu nâu sẫm. Ướp trà là một kỳ công phối hợp tinh tế giữa phong cách tao nhã, sành điệu và "ỷ thuật vi tế”. Ướp trà thường dùng các loại hoa sen, hoa cúc, hoa ngâu, hoa lài, hoa sói. Mỗi loại hoa làm cho trà có một hương vị khác nhau. Ðôi khi người ta ướp với cam thảo hay sâm để khi uống trà cảm thấy vị ngọt ở cổ họng và tinh thần phấn chấn. Trà ướp hoa là hội tụ đỉnh cao của cái tinh tế, phong cách tao nhã, thanh lịch và sành điệu của người Tràng An. Trong đó, hoa sen là thứ hoa thông dụng nhất mà cũng quý nhất, ướp trà ngon nhất. Ðiều này được nhiều nhà trà học lý giải "bởi quan niệm về hoa sen trong đạo Phật của người Á Ðông. Hoa sen vốn dĩ là thứ hoa rất thanh cao mọc lên từ bùn lầy, điều đó tương tự như chữ Danh mà người quân tử rất coi trọng vậy". Hương hoa sen là những gì tinh tuý của trời đất tụ lại. Vì vậy, trà ướp sen là vật phẩm quý giá, xưa kia chỉ dành cho những hàng vương tôn công tử và những gia đình quyền quý. Còn theo Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác (1720-1791) thì "Cây sen hoa mọc từ dưới bùn đen mà không ô nhiễm mùi bùn, được khí thơm trong của trời đất nên củ sen, hoa sen, tua, lá... đều là những vị thuốc hay". Sen để ướp trà phải dùng loại sen bách hoa, phía bên trong các cánh hoa lớn có hàng trăm cánh nhỏ ôm sát vào nhau, che úp nhụy hoa, gạo sen và gương sen. Mua sen bách hoa về,(hoa sen phải hái trước lúc bình minh, phải lựa những ngày nắng ráo, tránh sau ngày mưa ) bóc từng lớp cánh sen, kế đến tẽ những hạt trắng ở đầu nhụy hoa (gạo sen), trộn chung với trà, ủ trong vò kín từ một đến hai ngày cho gạo sen quắn lại rồi mới đưa trà lên sấy khô bằng than hay bằng nước nóng cách thuỷ. Phải giữ cho nhiệt độ vừa phải và điều hoà để không mất mùi hoa. Ứơp một kí-lô trà phải dùng tới hàng trăm bông sen, và phải làm nhiều lần như thế mới dùng được. Công phu là thế nên một ấm trà sen có thể uống hàng chục tuần trà. Nước trong rồi, hương sen còn ngan ngát. Uống một tách trà vào thấy tinh thần tỉnh táo, thoải mái làm sao! Nhiều nghệ nhân về trà còn tiết lộ: "Muốn có trà ngon, chỉ hái những búp trà loại "một tôm hai lá" và phải hái nhanh, nhẹ nhàng, không để búp bị nhàu nát. Loại trà ngon là sau khi sao phải còn lại một lượng nước nhất định từ 5-7%. Trà hái xong không ướp hương ngay mà phải để trong chum đất, trên ủ lá chuối, để từ 2-3 năm nhằm làm giảm độ chát và để cánh trà phồng lên hút được nhiều hương. Một cân trà ướp hương sen cần có 800-1000 bông sen, mà phải đúng loại sen ở đầm Ðồng Trị, Thuỷ Sứ, làng Quảng Bá, Hồ Tây hoặc là sen ở hồ Tịnh Tâm-Huế (sen ở đây to và thơm hơn sen những nơi khác)." Cụ Nguyễn Tuân ca ngợi kiểu ướp hương trà bằng cách bỏ trà mạn vào bông sen mới nở, buộc lại. Thực ra, cách chơi ngông đó của Cụ Nguyễn vừa rất cầu kỳ vừa không để trà được lâu (hay bị mốc) và hay bị mất hương, chỉ có thể dùng cho lượng trà rất ít và phải uống ngay. Trà Phong Việt Nam (Phong cách uống trà Việt Nam) Người Nhật có lối uống trà rất khác biệt với các dân tộc khác, khi uống trà họ phải tuân giữ một vài nghi thức nên gọi là Trà đạo. Ðối với Trung Hoa và Việt Nam, lối uống trà chỉ được coi như là nghệ thuật mà thôi, nghệ thuật thì không cần phải khuôn sáo hay công thức. Phong cách uống trà của Việt Nam không hề bị ảnh hưởng của Tàu hay Nhật như quan niệm cuả nhiều người. Nghệ thuật uống trà phản ảnh phong cách văn hoá ứng xử của người Việt Nam.Trong gia đình truyền thống, người nhỏ pha trà mời người lớn, phụ nữ pha trà mời các ông. Người ta có thể uống trà trong yên lặng suy gẫm như để giao hoà với thiên nhiên, như để tiếp cận giữa con người với môi trường, như để nhận xét, để thảo hoạch những dự án phúc lợi cho đại chúng. Khi đã trở thành thói quen rồi thì khó mà quên được.Trà đồng nghĩa với sự tỉnh thức, sáng suốt, mưu cầu điều thiện, xa điều ác. Theo truyền tụng, hình thức uống trà được khởi nguồn từ các chùa chiền gọi là Thiền Trà. Các nhà Sư thường uống trà trước các thời công phu sớm chiều. Cuộc đời trần tục nhiều hệ lụy, trà giúp cho con người tỉnh được mộng trần, rửa được lòng tục, xoá tan cảm giác tĩnh mịch chốn thiền môn. Ngày nay chỉ còn ngôi chuà Từ-Liêm ngoài Bắc là giữ được nghi thức Thiền Trà này. Sau đó, trà được ưa chuộng trong giới quý tộc, trong cung đình như là một bằng chứng của sự quyền quý, để phân biệt với giai cấp thứ dân trong xã hội phong kiến. Kế đến, trà chinh phục các tầng lớp trung lưu, nhất là các nhà Nho, các chú học trò "dài lưng tốn vải ăn no lại nằm", mượn bộ ấm trà để bàn luận văn chương thi phú, để tiêu khiển giải trí sau những giờ điên đầu vật vã với tứ thư ngũ kinh. Do đó, dần dà uống trà là một lối tiêu khiển thanh đạm được tất cả mọi giới ưa chuộng. Pha trà mời khách cũng phải tốn nhiều công phu hàm dưỡng và trở thành một nghi thức. Trà-phong Việt Nam thật là trân trọng ở cách dâng mời nhiều ngụ ý. Dù mưa nắng, sớm chiều, buồn vui khách không thể từ chối một chung trà trong khi gia chủ trang trọng hai tay dâng mời. Mời trà là một hành vi biểu hiện phong độ thanh nhã và hiếu khách của hầu hết các gia đình Việt Nam. Kỵ nhất là tiếp khách bằng những tách trà còn đóng ngấn hoen ố nước trà cũ. Cũng không bao giờ tiếp khách bằng một ấm nước trà nguội. Tách trà tiếp khách là thể hiện những tình cảm tối thiểu nhất, không thể tuỳ tiện coi thường, dù không nhất thiết phải là loại trà thượng hảo hạng. Uống trà cũng phải uống từ ngụm nhỏ, để cảm nhận hết cái dư vị thơm ngon cuả trà, cái hơi ấm cuả chén trà tỏa vào hai bàn tay ấp ủ nâng chén trong muà đông tháng giá, làm ấm lòng viễn khách. Uống trà là một cách biểu thị sự tâm đắc, trình độ văn hoá và cảm tình cùng người đối thoại. Trong ấm trà ngon, người cùng uống tâm đầu ý hợp, dưới ánh trăng thanh gió mát, ngắm khung cảnh tĩnh mịch của núi rừng mà luận bàn thế sự thì không còn gì thú vị hơn nữa. Chỉ có những tao nhân mặc khách mới thưởng thức được trọn vẹn cái phong vị cuả cách uống trà này, chứ không phải như kẻ phàm phu tục tử bưng ly trà to tổ bố lên uống ừng ực, người ta gọi là "ngưu ẩm" hay là uống như trâu uống nước. Ngoài các lối uống trà đơn giản đến cầu kỳ trong các gia đình Việt Nam, các cụ ngày xưa còn có những hình thức hội trà. Ðó là uống trà thưởng xuân, uống trà thưởng hoa, uống trà ngũ hương. Hội trà là tụ họp những người bạn sành điệu cùng chung vui trong các dịp đặc biệt hoặc có hộp trà ngon, hay có một chậu hoa quý hiếm trổ bông, hay trong nhà có giỗ chạp. Thưởng trà đầu xuân là thói quen cuả các cụ phong lưu, khá giả. Trước tết, các cụ tự đi chọn mua các cành mai, đào, thuỷ tiên hay các chậu hoa lan, hoa cúc ở tận các nhà vườn, và chuẩn bị đầy đủ các thứ cần thiết, nhất là một hộp trà hảo hạng. Sáng mồng một, cụ pha một bình trà và ngồi chỗ thích hợp nhất, thường là giữa nhà. Cụ ngồi tĩnh tâm, ngắm nhìn những đoá hoa nở rộ, thưởng trà. Khoảng 8 giờ sáng, cả đại gia đình sum họp quanh bàn trà chúc thọ cụ và nghe những lời dặn dò của Cụ. Trẻ con thì chờ lì xì. Uống trà thưởng hoa quý như hoa Quỳnh, hoa Trà, cũng là cái thú của nhiều người. Khi nhà cụ nào có một chậu hoa trổ, cụ chuẩn bị và mời các bạn già sành điệu tới ngắm hoa, luận bàn thế sự, hay dặn dò con cháu. Hội trà ngũ hương chỉ giới hạn có năm người thôi. Trên khay trà có năm lỗ trũng sâu, dưới các lỗ trũng đó để năm loại hoa đang độ ngát hương : Sen, Ngâu, Lài, Sói, Cúc. Úp chén trà che kín các hoa lại rồi mang khay để trên nồi nước sôi cho hương hoa bắt đầu xông lên bám vào lòng chén. Pha bình trà cho thật ngon rót đều vào từng chén, mỗi người tham dự sau khi uống trà phải đoán hương trà mình đã uống và nhận xét. Sau mỗi tuần trà lại hoán vị các chén trà để mọi người đều thưởng thức được hết tinh tuý của năm loại hoa. 



 BÀI 2 : Nghệ Thuật Gốm Trà Việt Nam 

Việt Nam đã biết đến trà thời Ðông Hán, nhưng trà đạo Việt thành hình vào đời nhà Ðường, theo các nhà sư Phật giáo và Giao Châu. Sách Trà Kinh của Lục Vũ nhập đề rằng "trà là loài cây lớn ở phương nam". Chứng tích trà đạo Việt còn lưu lại trên những bình bát trà gốm Việt Dao từ thời bắc thuộc, lên đến tột đỉnh thời Phật giáo Lý, Trần. Ðạo trà Việt cổ là đạo mà không đạo, đạo vô môn quan: không cửa vào, không lối ra. Tương truyền Bồ Ðề Ðạt Ma từ Tây Trúc sang Tàu chín năm ngồi ẩn trong hang thiền định. Mắt sụp xuống buồn ngủ, ông cả giận bứt mi mắt vất xuống đất, chỗ ấy mọc thành cây trà đầu tiên. Chuyện hoang đường này cốt đồng hóa trà cho sự thức tỉnh Ðịnh Huệ. Hoa ngữ Ch"a (Trà) và Ch"an (Thiền) nghe đồng âm và đồng nghĩa. Từ đó, trà là bạn người tu thiền như hình với bóng. Tổ thứ sáu thiền Tào Khê là Huệ Năng, tự nhận là người Man di miền Ngũ Lĩnh, xứ của trà. Lục Vũ là một cuồng sĩ đất Hồng Tiệm đời Ðường, thường lang thang ngâm thơ rồi khóc rống. Ông để lại cho đời sách Trà Kinh gồm ba quyển bàn về trà, gốm trà, cách pha và uống trà, được người đời sau gọi là ông tiên trà, thờ làm sơ tổ trà đạo Trung Quốc. Trà Kinh chép: Trà là loài cây quý ở phương Nam, cây như cây qua lô, lá như lá chi tử, hoa như hoa bạch tường vi, trái như trái banh lư, nhụy như nhụy hoa đinh hương, mùi vị rất hàn (lạnh). Sách Quảng Bác Vật Chí chép: cao lư là tên riêng của một thứ trà, lá to mà nhụy nhỏ, người nam dùng để uống. Trà Kinh lại chép: "Người phương Nam có cây qua lô giống như lá trà non mà nhụy đắng, giã nát ra pha trà mà uống thì suốt đêm không ngủ. Ở Giao Châu và Quảng Châu người ta rất quý thứ này, hễ có khách đến nhà thì trước hết bày ra đãi khách". Theo lời Ðào Hoàng Cảnh, một ẩn sĩ tài hoa đời Nam Bắc Triều thì bọn xử sĩ trong thiên hạ rất chuộng thứ trà này. Theo sách Nghiêm Bác Tạp Chí trích lời Lý Trọng Tân học sĩ nói: "Trà ở Giao Chỉ như rêu xanh, vị cay gắt gọi là trà đăng" (tức là mạt trà). Những núi ở huyện Ngọc Sơn, tỉnh Thanh Hóa có trồng thứ trà này. Cây trà mọc liên tiếp che khắp rừng. Người bổn thổ hái lá, giã cho nát, phơi khô trong bóng mát, nấu mà uống, tính nó hơi hàn, có thể làm mát tim phổi và ngủ ngon. Cửu Chân, tên gọi Thanh Hóa đất Việt cổ có: núi đặt tên chữ là Trà Sơn, người ta gọi nôm là núi Chè. Sách An Nam Chí lược chép: nhà Trần mỗi lần đi sứ nhà Nguyên đều cống trà thơm làm thổ sản quý. Cái đẹp của Bát Trà Ðời xưa, khi nhà Tống bên Tàu dựng nghiệp, chọn núi Thiên Mục ở Triết Giang làm chủ sơn, phúc địa mong cầu vững bền triều đại. Nhà Lý bên ta chọn núi Tiên Du; cũng như nhà Trần ngóng về núi Yên Tử, nơi vua dựng nhà Trần lui về ẩn tu sau việc nước. Từ thuở triều Hán, Ðường, Tùy sứ ta đã chế được thứ gốm tên gọi Việt Dao. Gọi tên như thế để chỉ thứ "men tro" trổ màu xanh biếc như ngọc cổ. Sách Tàu chép Việt Dao phát sinh từ Nam Việt miền Ngũ Lĩnh, chứ không nói rõ đất Giao Châu, Cửu Chân. Di chứng khảo cổ học, trên đất ta nay tỏ rõ thời ấy ta đã làm được gốm Việt Dao, mà lại làm một số lượng rất lớn, khởi từ những giọt men xanh nhiễu đọng trên thân gốm, mà nay xếp vào loại gốm "Hán bản địa". Từ màu xanh bích ngọc đời Bắc thuộc đến màu xác trà đời Lý, Trần, những bát trà Việt ra đời song song bát trà Ðường, Tống bên Tàu. Người Việt vẫn trung thành sở thích sắc màu Việt Dao của dân tộc đến mãi thế kỷ 15. Hóa ra Việt Dao là chữ gọi dân tộc ngày nay ta vẫn mang tên, là người chế ra men gốm tiền thân gốm men ngọc (proto-celadon) lừng lẫy Ðông phương. Ðời Lý, Trần đã làm ra rất nhiều các thứ liễn, bình đựng nước pha trà đi đôi với các loại bát trà mang thần thái đặc thù Ðại Việt. Bình trang hoàng tòa sen chạm nổi, âu bát vóc dáng chẳng khác nào bình bát các tăng sư. Làng nào cũng có đình chùa. Bát trà cũng là vật không thể thiếu được trong các đồ tế nhuyễn bày trên điện thờ, cũng như cúng vào chùa chiền để các sư uống trà. Nghệ phẩm từ các làng gốm như chở chuyên hồn đạo, tiếng chuông mõ sớm hôm, mùi trầm nhang quyện trong không gian lũy tre làng trên đất nước. Thiền gốm Lý, Trần đã mang cung cách rất Việt Nam. Văn bia đời Lý do sư Pháp Ký soạn cho thầy là sư Tịnh Thiền ghi rằng "Chỗ uống trà là chỗ thập phương thí chủ dồn về". Chỗ uống trà tức là cửa Phật. Nay ngắm những trà khí cổ, ta mới biết phép uống trà Việt lồng trong thiền vị từ thuở đầu dựng nước, đưa hình sắc của tâm linh đến cả đại chúng. Bát trà Việt trong trà đạo Nhật Tại nền chùa cổ Dazaifu Kanzeon-ji người ta đào được những mẫu gốm vỡ của bát trà Ðại Việt đời Trần, kề bên mảnh ván mục còn đọc được vết mực ghi niên đại tương đương năm 1330. Trước đó, đã có những trà khí Ðại Việt xưa hơn vào chốn tăng đường Nhật. Ðầu thế kỷ 13, thượng sư Eisa từ Trung Hoa mang về Nhật Bản lần đầu giống cây trà. Sau đó, đệ tử Ngài là sư Dogen sang du học tại chùa Thiên Mục Sơn, khi về nước có người hỏi sư học được gì, sư đáp: "Không có chi nhiều ngoài pháp an tâm". Pháp an tâm sư mang về cùng trà đạo và bát trà Thiên Mục (tiếng Nhật gọi là Temmoku). Dogen được coi là sư tổ của trà đạo Nhật Bản vậy. Cũng như Ðại Việt, bấy giờ Phật giáo Nhật bén rễ vào giới thế quyền. Tăng sư là khách quý của các sứ quân và bọn phú hào. Họ học Phật rồi tiêm nhiễm luôn đạo thưởng trà. Uống trà nhằm luyện con người khu trừ những chướng ngại phiền não, để đạt chỗ rốt ráo của an bần lạc đạo, hòa đồng với Tự Nhiên, tức là Chân Như. Uống trà, hành trà đạo phải có các trà khí mà ngành gốm Nhật bấy giờ rất phôi thai. Nên trà gốm từ Cao Ly, Trung Quốc, Ðại Việt đưa sang giá đắt, chỉ giới hạn trong hàng sứ quân và đại phú. Thay vì hấp thu nếp thanh bần, họ bèn mượn trà đạo làm trò trà dư tiêu khiển, đặt ra các quy tắc kiểu cách (Cha No Yu), muốn vào phải qua cổng Hữu Môn Quan. Trà đã đưa thiền vị đạm bạc vào trú ngụ chỗ đền các xa hoa. Trong khuôn viên cung đình nguy nga, các chúa công sai dựng nên trà thất bắt chước lều cỏ bần hàn của ẩn sĩ để hành trà đạo. Còn bên nước Việt, đạo đã từ cung cấm ra đi, bỏ phú quý phù vân để phiêu bồng nơi cảnh thật của "rừng trúc lắm chim" (Trúc lâm đa túc điểu) như thơ ngài Huyền Quang. Các vua Lý, Trần bỏ kinh về núi, thực hiện hạnh tầm đạo dẫm theo bước của thái tử Tất Ðạt Ða. Từ bát trà Thiên Mục, về sau trà gốm Trung Quốc xa lìa hồn đạo, ngày càng tinh kỳ sắc sảo để thỏa mãn thị hiếu vua quan, kẻ nhà giàu thích trưng bày đồ mỹ ngoạn, thành kỹ nghệ xuất đi các nước. Lấy cảm hứng từ mầu xanh xác trà Việt Dao (proto-celadon), gốm Trung Quốc tiến hóa thành mầu men ngọc xa hoa (celadon), của lò Diệu Châu Bắc Tống, lò Long Tuyền Nam Tống. Trong khi nước Việt vẫn chuộng giữ mầu xác trà "thuận tự nhiên" cốt cách đạm bạc của tổ tiên. Khi các trà sư Nhật ra tay đón nhận bát trà Việt ấy, con mắt trong tâm hồn họ như thoát nhiên thể ngộ được ấn chỉ tâm truyền ấy. Quan hệ Trung Quốc, Nhật Bản sinh thù nghịch từ thế kỷ 14, hồi quân Nguyên Mông sang đánh Nhật, bị ngọn Thần Phong diệt. Khi nhà Minh lên ngôi, từ năm 1371 ra lệnh cấm dân duyên hải xuất ngoại. Ðến năm 1567, mới bỏ luật này, nhưng vẫn cấm vượt biển sang Nhật Bản vì nạn "Nuỵ khấu" (cướp lùn), quẫy nhiễu bờ biển Trung Quốc. Suốt mấy thế kỷ đó, Nhật đã tìm thấy nơi Ðại Việt của nhà Lê nguồn cung cấp tơ sống và gốm sứ. Lúc này Ðại Việt đã làm sứ vẽ lam. Gốm sứ trà Việt nhập vào Nhật Bản nhiều hơn trước, đóng vai trò quan trọng trong nghệ thuật trà đạo Nhật Bản đang hồi cực thịnh. Không gò gẫm tỷ mỷ như bàn tày nghệ nhân đời Minh, mấy nét đơn sơ trên gốm Việt phóng bút cảnh chim trời, cá nước, sơn thủy, tùng thạch v.v... xuất cái thần vị Thiền Lão, chẳng khác nào tranh tốc họa Sumi-e, và thuật thư pháp, rất hợp với tâm hồn trà nhân Nhật, làm họ say mê. Vẽ gốm như vẽ tranh Thiền. Di sản tranh cổ họa Việt Nam ngày nay chừng như có thể thấy trên gốm cổ. Nhật Bản là một dân tộc hoài cổ và có khiếu thẩm mỹ từ những vật nho nhỏ. Ngày nay trong các viện bảo tàng khắp nước này trân quý giữ những món trà khí Việt từ đời Lý - Trần - Lê - Mạc đã liên tục đến Nhật Bản qua bao thế kỷ. Trong hậu sảnh những thiền viện xưa, còn cất giữ những đồ tế nhuyễn và trà khí làm bởi những nghệ nhân vốn là người mộ Phật ở xứ Việt xa. Và trong lâu đài cổ, truyền thừa các sứ quân và giới phú hào ngày nay còn gia truyền các bộ gốm sứ Việt Nam làm báu vật. Bộ sưu tập gốm Việt trứ danh nhất của dòng họ thương nhân Ozawa Shrouemon từ Hội An trở về Nhật Bản năm 1638, khi chúa Tokugawa cấm dân Nhật xuất dương. Chiếc bát vẽ mầu "Beni-Annam" ngày ngày chúa Tokugawa ưa dùng thưởng trà nay là báu vật trong lâu đài của chúa ở Nagoya. Dòng trà gốm đầu tiên Raku đã mang dáng bát trà Lý, Trần. Về sau truyền thừa dòng gốm này và các trường phái khác thường mô phỏng theo mỹ thuật gốm nước ta. Họ gọi là Annam Yaki để chỉ cho dòng gốm hoa lam của lò Chu Ðậu, Bát Tràng ở Ðàng Ngoài thời Lê, Mạc; và Kochi Yaki, tức gốm Cochin China xứ Quảng Nam Ðàng Trong của chúa Nguyễn về sau. Sử Nhật chép vị sơ tổ dòng gốm Raku tên là Zengoro, còn một hiệp sĩ theo phò lãnh chúa Ashikaga, ông làm gốm tế nhuyễn cho thiền viện Kasuga, và trà khí cho tăng sư hành trà đạo. Con cháu về sau lấy đó làm nghiệp nhà. Truyền thừa đời thứ 10, Zengoro Ryozen vẫn làm gốm lối gia truyền, và khởi đầu bát trà lừng danh Raku. Ông còn biệt tài mô phỏng trà gốm của An Nam (Annam Yaki) và Cochin China (Kochi Yaki). Ðến đời con nối dõi, Zengoro Hogen là một nghệ sĩ tài hoa nhất trong dòng họ. Ông nổi tiếng chuyên làm gốm ba mầu (tam thái) kiểu Kochi Yaki, gồm mầu lục, tím đỏ và vàng, mỗi mầu ngăn cách nhau bằng những nét chạm nổi. Hogen được lãnh chúa Tokugawa đất Kishu thu dụng và sủng ái, ban cho chiếc ấm bạc chạm tên Eiraku (Vĩnh Lạc) lưu danh trên tác phẩm, coi tài nghệ ông ngang hàng các tuyệt phẩm đời vua Minh bên Tàu cùng tên, đầu thế kỷ 15. Chúa còn ban cho ông một ấn vàng, chỉ được dùng đóng tên lên các món trà khí được chúa chuẩn nhận. Năm 1659, một nghệ sĩ gốm người Tàu mà người Nhật gọi tên là Chin Gempin mở lò chuyên sáng tác những trà gốm bằng loại gốm tiêu biểu dòng Seto: mầu trắng rạn mịn tựa ngà cổ, mô phỏng kiểu gốm Bát Tràng của An Nam xuất sang Nhật Bản hồi trước. Ông trang trí trên gốm cảnh sơn thủy, hoặc đề thư pháp thơ cổ bằng mầu lam xanh. Dòng gốm Kutani, chuyên làm gốm mầu sặc sỡ, trong đó có loại bắt chước làm gốm sứ cổ Tàu, Việt. Năm 1810, thương nhân giàu có tên Yoshidaya Denyemon tái dựng lại những lò gốm đã đóng cửa ở Kutani, để phục chế kiểu gốm Kochi Ðàng Trong Việt Nam đời trước. Mokubei (1767-1833), là bậc văn nhân theo mẫu truyền thống đông phương. Ông làu thông kinh sách có khiếu làm thơ, vẽ tranh, tạo gốm, môn nào cũng tài hoa. Ông bắt chước làm các món sứ cổ, khéo léo chẳng phân biệt mới cũ đâu vào đâu. Ông đặc biệt mô phỏng các tiêu bản trà gốm Cochin China không sai sẩy, tác phẩm này nay trưng bày trong Viện Bảo tàng Nghệ thuật Tokyo. Thế kỷ 20, những nghệ sĩ học giả Tây phương nào đến Nhật Bản bị cuốn hút trong đạo vị nền văn hóa nghệ thuật Nhật, dĩ nhiên đều mê say các cổ trà gốm Việt tại Nhật Bản. Các tên tuổi: William Willets, Stephen Addis, Hugo Munsterberg, Hazel H.Gorham, John Stevens... dày công nghiên cứu và giới thiệu cái đẹp trong văn hóa Nhật đến Tây phương. Qua họ, thế giới lần đầu tiên biết đến bát trà Việt trong trà đạo Nhật. Lừng lẫy nhất là nhà nghệ sĩ gốm kiêm đạo gia người Anh Bernard Leach, từng trải suốt đời học hỏi và sáng tạo tại Nhật Bản, được lão sư dòng gốm Kenzan thu nhận và ban ấn truyền thừa. Trong sự nghiệp tầm thầy học đạo, ông học qua thuật làm gốm nung Kochi Yaki, tức gốm Ðàng Trong Việt cổ tại Nhật Bản. Ông trân quý vô ngần một bát trà gốm trắng sứt mẻ đời Lý trong bộ sưu tập riêng mình. Về già, ông là bạn tâm đắc của Shoji Hamada, một đạo sư gốm Nhật Bản. Cả hai thuộc vào hàng bốn tên tuổi thượng thừa của ngành gốm hiện đại. Cả hai đều ưa thích sưu tầm bát trà cổ Việt, dùng đó làm tiêu bản học bí quyết làm gốm của cổ nhân. Hai nước đều thấu nhập tinh hoa văn hóa Trung Quốc, nhưng nghệ thuật gốm trà Việt - chứ không phải Tàu - đã gây ảnh hưởng lớn trong lịch sử trà đạo Nhật, cho thấy tâm hồn và lòng rung cảm cái đạo Ðẹp của hai dân tộc đời cũ rất gần nhau. Nghệ thuật dân gian Nhật (mingei) mang những hình thái không khác mấy với nghệ thuật làng quê truyền thống Việt Nam. (Theo Tạp chí Xưa và Nay) 



Nghệ Thuật Trà Đạo Tại Nhật Bản


 

Trà đạo là hoạt động uống trà đặc thù mang tính nghệ thuật, mang phong cách tình cảm riêng của người Nhật Bản, mà đặc điểm chính là pha trà và thưởng thức trà. Nghệ thuật này đã có hơn 500 năm lịch sử ở Nhật. Người sáng lập trà đạo là một hòa thượng tên gọi Muratashu Mitsu. Ông đã tìm thấy hương vị tuyệt vời trong khi uống trà. Sau này, các đệ tử của ông đã phát huy ảnh hưởng và hình thành nên một môn nghệ thuật lưu truyền đến ngày nay. Thời gian tổ chức trà đạo chia ra làm 4 loại: trà sáng (7h sáng), sau ăn cơm (8h sáng), giữa trưa (12h trưa) và câu chuyện buổi tối (6h tối). Khách mời đúng giờ đến phòng nghỉ, gõ vào chiếc chuông gỗ báo hiệu đã đến. Chủ nhà nghe tiếng chuông sẽ từ phòng trà ra đón khách. Trước cửa phòng trà có đặt một chiếc cối đá đựng đầy nước, khách phải rửa sạch tay trước khi vào phòng. Cửa ra vào có một ô cửa cao gần 3 thước để khách tháo giày đi vào. Khi bước vào phòng phải khom mình tỏ ý khiêm tốn. Nếu khách là võ sĩ thì phải tháo kiếm trước mới được bước
vào để biểu thị không khí hòa bình. Trong số khách, người tinh thông trà đạo được cử làm người chủ trì. Người chủ trì phải cạo trước đầu để biểu thị sạch sẽ, thanh khiết. 

 

Trong phòng trà, một góc chiếu có đặt bếp lò và nồi nước bằng gốm, trước bếp đặt bộ đồ trà. Bộ đồ trà phải thô, nặng có men màu cam hoặc đen đậm dáng vẻ cổ kính. Trong khi chủ nhân đun nước thì khách dùng điểm tâm. Món điểm tâm này hết sức tinh tế phải được làm căn cứ vào thời tiết. Ví dụ: tổ chức trà đạo vào mùa thu thì món điểm tâm phải làm giống như lá phong hoặc hoa cúc. Trà để pha là loại bột trà xanh được chế biến cẩn thận bằng cách giã nát trong cối đá - người Nhật gọi là nghiền trà. 

 

Có hai cách pha trà: pha đặc và pha loãng. Trà đặc thông thường: ba người thay nhau uống một bát, mỗi người ba hớp rưỡi hết 1/3 bát. Trà loãng mỗi người uống riêng một bát. Trà đặc có màu xanh đậm, hương thơm hơi chát. Chủ nhân múc hai muôi gỗ trà cho vào bát, đổ nước sôi, dùng que trúc khuấy đều để trà có nước đặc như bột đậu.


 

Bát đầu tiên mời người chủ trì, người chủ trì nâng bát trà ngang trán rồi mới uống. Khi uống phải chép miệng để tỏ ý thực sự được thưởng thức trà ngon của chủ nhân. Khi tất cả khách uống xong thì nghi thức trà đạo cũng kết thúc. Nhưng đôi khi còn một nghi lễ cao hơn là ăn cơm thường sau khi uống trà. Tuy gọi là cơm thường nhưng cũng thịnh soạn. Trà đạo đã hình thành nhiều trường phái khác nhau, chủ yếu có ba trường phái lớn là: Risenka, Hyosenka và Bushakoro Senka. Mỗi nhà đều theo chế độ gia truyền - tức là con thường kế nghiệp bố làm người chủ trì trà đạo của gia đình đó.

 

Trà đạo ngày nay càng phổ biến hơn ở Nhật Bản, rất nhiều cô gái trẻ dồn tâm sức học tập trà đạo, tu nhân dưỡng tính để cuộc sống gia đình cũng như cuộc sống tinh thần phong phú và đẹp đẽ hơn theo NHK . 



  Nghệ thuật uống trà của Trung Hoa


LỊCH SỬ HÌNH THÀNH NGHỆ THUẬT UỐNG TRÀ CUẢ TRUNG HOA


Sự phát triển của trà tại TQ chia làm 3 giai đoạn 

• Giai đoạn 1: từ thời nhà Ngô đến thời nhà Đường: Chính thức theo lịch sử thì trà chỉ mới được đề cập đến từ thời Tam Quốc, và đến tận đời Đường, người Tàu vẫn chỉ dùng các loại trà mọc hoang chứ chưa trồng và chế biến thức uống này. Trà cũng chỉ lưu hành trong giới thượng lưu miền Nam Trung Hoa chứ dân dã cũng chưa uống và tục uống trà chưa được coi như một thú thanh cao. Quả thực thời kỳ đó hai miền nam bắc Trung Hoa đời sống cách biệt như hai thế giới. Về cách uống cũng khác biệt,giữa hai bờ đai giang và nhất là dân du mục ngoài Trường Thành thì uống trà pha sữa trâu bò, dê, ngựa. Đến đời Tùy nước Tàu thống nhất thì những sinh hoạt mới lan truyền ra những vùng khác. Tuy việc uống trà đã phổ thông nhưng vẫn có một số đặc điểm khác ngày nay: 
- Thứ nhất trà vẫn còn coi như một vị thuốc, chưa có mấy nơi coi như một thức uống. 
- Thứ hai trà do dân chúng vào vùng hoang sơn dã lãnh hái về chứ chưa biết trồng thành đồi, thành vườn để sản xuất một cách qui mô. 
- Thứ ba trà uống theo kiểu giản dị là hái lá vào đem nấu chứ chưa kiểu cách như sau này. Tới đời Đường, khi Lục Vũ viết cuốn Trà Kinh thì trà mới trở nên phổ biến. Từ đó trở đi, nơi nơi đều uống trà, trở thành một phong trào và sản xuất trà cũng thành một lãnh vực kinh tế qui mô, đem lại một ngân khoản lớn cho triều đình. Lục Vũ sinh ra và trưởng thành trong một thời kỳ thịnh trị văn hóa nhất trong lịch sự Trung Quốc , tại vùng Cánh Lăng, thuộc huyện Thiên Môn, tỉnh Hà Bắc ngày nay. Ông mồ côi từ nhỏ, được Trí Tích Thiền sư nuôi dưỡng trong Thiền Lâm từ bé. Dù ông không xuất gia, nhưng ông vẫn sống một đời đạo vị. Ông thích du lịch khắp nơi, luôn ẩn cư ở những vùng xa vắng. Sau này ôngrất nổi tiếng được vua và các đại thần ngưỡng mộ, các đại văn gia thi hào cũng rất kính trọng ông. Tên Lục Hồng Tiệm, tên tự này lấy từ Kinh Dịch “Hồng Tiệm Ư Lục, Kỳ Vủ Khả Dụng Vi Nhi” 
Lục Vũ là tác giả của quyển trà thư nổi tiếng “Trà Kinh”, mà người đời sau xưng tụng ông là “Trà thần”. Vì ông không những là người phê bình lớn, một học giả lớn về trà mà còn là một trà thủ khó ai sánh bằng. Đề thấy rõ tài năng pha trà của ông, có một câu chuyện kể thế này. 
Khi Lục Vũ bỏ chùa ra đi lần thứ hai, vị trụ trì chùa Long Cái và cũng là cha nuôi của ông đã không uống trà nữa. Đó là do ông có ai pha trà giỏi như Lục Vũ , và vị trụ trì cũng là một nhân vật nổi tiếng trong giới trà sĩ. Nhà vua muốn thử tài của hai người, xem có đúng như lời đồn hay không? Thế là nhân một dịp Lục Vũ được mời đến gặp vua, ông không cho ai biết vì muốn thử tài hai người và để hai cha con có cơ hội gặp nhau, nhà vua cho mời nhà sư trụ trì đến. Khi mời trà, lẽ dĩ nhiên nhà sư buộc phải dùng. Khi đó vua hỏi “Trà này có pha ngon bằng trà của Lục Hồng Tiệm không?”. Nhà sư nhắm một ngụm rồi đặt tách xuống không nói gì. Đến tách thứ hai, do chính Lục Vũ pha cho khách mà không biết đó là cha mình. Nhà vua thì đợi “lột áo” nhà sư. Nhưng vừa uống xong một ngụm, nhà sư bỗng sáng mắt vui mừng, lên tiếng “Muôn tâu hoàng thượng, tuyệt, tuyệt hảo, Lục vũ chẳng thể nào tài hơn thế được…” Nhà vua cả cười đứng dậy, cho mời Lục Vu ra cho hai cha con gặp mặt. Trà Trung Hoa có nhiều loại và thay đổi theo thời gian. Vào đời nhà Đường, người Trung Hoa phơi nắng lá và nghiền nhuyễn lá trà để làm nổi bật hương vị của trà. Sau đó, trà được đãi lược, hấp và ép vào khuôn đúc và đặt trong những gian phòng có nhiệt độ cao để sấy khô. Theo Bressett (1998) trà ép khuôn được dùng làm tiền tệ cho một số vùng tại Á Châu như tại Tây Bá Lợi Á, Mông Cổ, Tây Tạng và một số vùng biên giới phía Tây của Trung Hoa. Người Nga sống trong vùng Tây Bá Lợi Á ưa chuộng trà ép khuôn hơn các đồng tiền kim loại vì lợi ích thực dụng của chúng trong việc chữa các bệnh về cảm cúm. Trà ép khuôn có nhiều kích thước và được đóng dấu cho biết giá trị của chúng. Cách dùng trà loại này khác hẳn với cách uống trà ngày nay. Khi pha trà, một phần của bánh trà được bẻ ra, nấu với chút muối tương tự như cách nấu súp. Ðây là cách pha trà của thời kỳ còn sơ khai. Trà khi nấu lên còn được bỏ thêm nhiều gia liệu, hương liệu như: cốm, gạo, vừng, vỏ cam, sữa, chà là và đôi khi cả hành. Trong tác phẩm “Trà Kinh” (Kinh thư của Trà Ðạo), Lục Vũ “một nhà thơ, đệ nhất sứ đồ của Trà Ðạo” sống ở khoảng giữa thế kỷ thứ 8 đã miêu tả cách pha trà bánh (Ðoàn trà) như sau: nước để pha trà tốt nhất là nước sơn tuyền, rồi đến nước sông và các nguồn khác. Người ta đem trà bánh hong trước bếp lửa cho đến khi thật mềm rồi đặt giữa 2 tờ giấy tốt nghiền vụn ra. Khi nước sôi ở độ thứ nhất tức là có những bọt nước nho nhỏ như mắt cá bơi trên mặt nước thì bỏ muối vào. Ðến khi nước sôi độ thứ nhì tức là khi bọt nước trông giống như những hạt châu bằng pha lê lăn đi trong suốt thì bỏ trà vào. Ðến độ sôi thứ ba tức là sóng nước sủi lên sùng sục trong ấm thì đổ một thìa nước lã vào ấm để “trấn” trà và làm cho “nước hồi phục lại nguyên khí” rồi mới rót trà ra thưởng thức. Đời Đường, khu vực sản xuất trà bao gồm Giang Hoài, Lưỡng Chiết, Lãnh Nam, Phúc Kiến, Kinh Tương và từ đó tới nay vẫn là những địa khu chủ yếu. Theo Chu Trọng Thánh, việc phong thịnh đời Đường bao gồm ba nguyên nhân chính: 
- Thứ nhất, thời Đường giao thông đã phát đạt, các phương tiện chuyên chở đã cải tiến nhiều. 
- Thứ hai, sau khi cuốn Trà Kinh của Lục Vũ viết ra, phong trào uống trà càng lên cao. 
- Thứ ba, thời kỳ đó Phật giáo và Lão giáo hưng thịnh và việc uống trà tại các chùa chiền, miếu mạo rất phổ biến. 

Giai đoạn 2: sau Đường đến thời Tống: Trong lịch sử Trung Hoa, hoàng đế Huy Tôn (1082-1135) của nhà Bắc Tống được xem như vị có công lớn trong việc cổ vũ và phát huy một số ngành nghệ thuật như hội họa, thơ văn và uống trà. Bản thân ông là một họa sĩ chuyên vẽ về đề tài hoa điểu, và là một thư pháp gia (calligrapher) nổi tiếng. Ông cũng viết một số bài ca ngợi thú uống trà bột. Ông say mê các ngành nghệ thuật này đến độ không ý thức được việc đế quốc Kim, từ phương Bắc, sắp sửa thôn tính trọn vẹn đất nước của ông. Mạt trà trở nên thịnh hành, thay thế Ðoàn trà. Người ta bỏ lá trà vào cối đá xay thành bột rồi đem khuấy trong nước sôi bằng một thứ dụng cụ bằng tre tốt có một đầu chẻ ra thành nhiều mảnh. Muối và các hương liệu, gia liệu bị bỏ dần. Cách uống trà này được truyền sang Nhật Bản và phát triển thành một phái Trà Ðạo riêng biệt ở xứ “Mặt trời mọc”. 

Giai đoạn 3: sau thời Tống đến thời Minh – Thanh: Khi quân Mông Cổ chiếm trọn Trung Hoa và lập ra nhà Nguyên năm 1280, vị trí của trà bị lu mờ, một phần vì thời cuộc và một phần vì những người cai trị mới có sở thích dùng các thức uống của dân du mục Mông Cổ, như rượu sữa kumiss. Đến thời nhà Minh (1368-1644), trà không những được phục hồi vị trí vẻ vang của các thời Đường, Tống, mà còn thăng hoa như một nghệ thuật cao quý. Trong hoàng cung nhà Thanh, trà không những dùng để uống, mà còn được pha tiếp khách nước ngoài. Châu Nguyên Chương (1328-1398), người sáng lập ra nhà Minh, quyết định bỏ hẳn lối sản xuất trà ép khuôn và trà bột vì quy trình sản xuất các loại trà này đòi hỏi rất nhiều thời gian và công sức. Quyết định này là động cơ thôi thúc các nghệ nhân lò Cảnh Đức Trấn, tỉnh Giang Tây và lò Yixing, tỉnh Giang Tô vẽ ra nhiều kiểu ấm và chén tinh xảo cho cách thức uống trà mới. Trà bột nhường chỗ cho trà có dạng lá tự nhiên và có cách chế biến như ngày nay. Trà là nét văn hóa đặc thù trong nền văn hóa Trung Hoa, có sức lan tỏa mạnh mẽ. Ngày nay, những quán trà đậm chất Trung Hoa có mặt ở khắp nơi trên đường phố, các khu thương mại,… Đến với nghệ thuật “ẩm trà”, chúng ta sẽ khám phá được những vùng đất nổi tiếng, phong tục, lễ hội, văn hóa và đời sống cư dân bản địa. Và đặc biệt, ta sẽ không quên những giây phút thư giãn bên tách trà xanh thơm mát, đậm đà. 

Theo Diễn Đàn Văn Hóa



Nghệ thuật uống trà Huế 

 

Một chén trà nâng mời bạn bè, một chén trà trò chuyện tâm giao, thú uống trà đã trở thành nếp sinh hoạt quen thuộc của người dân Việt Nam cũng như của nhiều dân tộc trên thế giới. Tuy nhiên, tuỳ theo nếp sống, văn hoá của từng dân tộc mà người ta thưởng thức trà với nhiều phong cách và phương thức khác nhau. Trong chén trà mở đầu câu chuyện chung ấy, với riêng Huế, uống trà là một nghệ thuật với bao sự sắp đặt công phu và cả những nghi thức của một vùng văn hoá .
Theo sách “ Trà kinh” của Thạc Sĩ Vũ Thế Ngọc , Việt Nam là một trong những nơi phát hiện cây chè đầu tiên trên thế giới . Từ cây chè xanh , qua nhiều công đoạn hái , tẩm , sao khô và chế biến mà người ta thu được một loại đặc sản khô gọi tên là trà . Có nhiều câu chuyện xung quanh cây chè xanh này ,  từ chuyện chiến tranh giành giật cây chè cho đến những chuyện nói về sự công phu của con người để chế biến ra những loại trà đặc biệt và cả những nghi thức uống trà đã được nâng lên thành ĐẠO như Nhật Bản . Và với Huế , uống trà cũng đã được nâng lên thành một nghệ thuật . 
Trước hết, uống trà theo kiểu cung đình Huế thì phải có một bộ đồ trà đúng kiểu . Không phải chỉ có một bộ đồ trà dùng cho suốt cả 4 mùa mà kiểu cách uống trà của Huế còn thể hiện ở chỗ có bốn loại chén trà dành cho bốn mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông. Người Huế uống trà theo mùa còn gọi là thời trà. Trong bộ đồ trà ấy, những chén Tống, chén quân, dầm, bàn ... đều có những qui định riêng,chức năng riêng. Người Huế uống trà như là một hình thức lễ nghi, dẫu uống một người ( còn gọi độc ẩm ), hai người ( còn gọi đối ẩm ), ba người, bốn người hay nhiều người ( còn gọi quần ẩm) thì mọi thao tác vẫn được giữ nguyên, kể cả những cung cách pha trà, rót trà, nâng ly trà. 
Về nguyên liệu chỉ có hai loại đó là trà và nước. Nhưng chỉ riêng hai nguyên liệu này cũng đã có hàng ngàn trang viết. Sự cầu kỳ, công phu ở đây không bút mực nào tả xiết,  từ việc hái chè xanh ở hướng nào, giờ nào, cách ngắt ngọn ra sao, người thiếu nữ hái chè để móng tay dài bao nhiêu, cho đến việc ngâm tẩm, phơi, sao khô là cả những qui trình nghiêm ngặt. Cho nên mới có những câu chuyện về Trảm mã trà ( Trà ngựa ), Hầu trà ( Trà khỉ), Trùng điệp trà ( trà sâu), Tiên knhai trà ( Trà tiên) ... Nước để pha trà cũng có những câu chuyện dài, nước mưa hứng từ đâu , nước giếng thì giếng phải sâu như thế nào, nước suối thì lấy ở đoạn nào: đầu nguồn, giữa nguồn hay cuối nguồn .... Sự công phu ấy cho thấy trà không đơn thuần là một thức uống mà người ta đã lồng vào đó bao công sức và tâm huyết để nâng lên thành một nghệ thuật . 

Ở Huế còn lưu truyền câu chuyện hứng sương trên lá sen để lấy nước pha trà , còn trà thì được bọc trong hoa sen để có hương thơm tự nhiên. Đun nước để pha trà cũng là một nghệ thuật . Để có một bình trà ngon, nước đun sôi chỉ ở dạng sủi tăm, nước sôi già quá sẽ làm trà nhanh chín, hương thơm không còn. Tinh tế đến như thế thì người uống trà cũng phải có một tâm hồn nhẹ nhàng , luôn hướng đến những vẻ đẹp của đất trời, của con người thì mới thẩm thấu hết hương vị của chén trà. Cũng như nhiều quốc gia uống trà khác trên thế giới, thú uống trà của người Huế có xuất phát từ cung đình. Từ cung đình ra dân gian, tính chất nghi lễ và sang trọng giảm dần nhưng cái hồn của thú thưởng thức trà vẫn được giữ nguyên, bạn bè uống cùng nhau chén trà để tăng thêm tình thân thiết. Dẫu không uống tại lầu son, gác tía như các bậc vua chúa, quan quyền nhưng trong không gian đơn sơ, dân dã, chén trà vẫn được chủ nhân nâng hai tay mời bạn, khách và chủ đều tôn trọng nhau, chén trà vì thế vẫn nặng tình, nặng nghĩa. 

Trong thú uống trà của người Huế, có một điều đặc biệt là luôn đi kèm với một loại bánh đặc sản của Huế đó là các loại bánh in làm bằng hạt sen, đậu xanh, hoặc bằng bột nếp được gói bằng giấy màu ngũ sắc của Huế. Những ngày Tết, người Huế còn có thêm món mứt gừng. Đón chén trà nóng từ tay bạn hiền trao, nếm lát mứt gừng Kim Long nổi tiếng có vị ngọt ,hơi cay nồng ấm thế là như thấy cả một mùa mùa xuân đang về trong đất trời và trong cả lòng người. 

Thú vui uống trà bây giờ đã trở nên phổ biến trong đời sống của nhiều người dân Huế từ già đến trẻ. Người ta tìm thấy một sự tĩnh tâm, lắng đọng khi uống trà. Trong không gian xanh mướt của những ngôi nhà vườn xứ Huế, con người được giải toả khỏi những áp lực công việc, tìm thấy chính mình trong sự tĩnh lặng và sâu sắc mà hương vị chén trà đem lại. Đó chính là ý nghĩa cuối cùng của thú uống trà mà nhiều người đã chiêm nghiệm và thu nhận lại cho chính mình, làm giàu có đời sống tinh thần của bản thân và cũng là của vùng đất Huế. 

Việt Báo(Theo website Đài Phát Thanh Truyền Hình Thừa Thiên Huế) 
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2012-10-06 19:43:12dzuylynh>


                                          [/align]

 
GẶP NHAU, CHÀO VỘI RỒI ĐI

gặp nhau chào vội rồi đi
như mây ngang núi tiếc gì trời xanh
thu sang lá lại lìa cành
thương chi nụ biếc tiếc anh lỡ làng
em qua một chuyến đò ngang
quay nhìn dĩ vãng bẽ bàng sông xưa
không duyên ướm mãi cũng thừa
phải duyên phải nợ hẳn vừa tình nhau
ngang cầu nhớ chạnh mùa ngâu
sao tua chín cái tìm đâu bây giờ
chi bằng nhặt lá đề thơ
treo nhành diênvỹ mơ hoa vô thường
gặp nhau chi để đọan trường
gặp nhau chào vội ai đường nấy đi
nhớ nhau ghi một vần thi
giấc trường lưu mộng thầm thì ánh sao
sao còn mãi tận non cao
em còn níu cánh nhạn chao lưng trời
chơi vơi hụt hẫng nửa đời
mai sau gặp... nhắn một lời, rồi đi!

lanchy.Sep.4.2012
Cung Điệu Phù Trầm 
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2012-10-01 16:57:48dzuylynh>
Trích đoạn: thiên thanh


@ O Sen: truyện sưu tầm O Sen mang vào đọc cảm động lắm, chắc là bố lynh lấy ý ở trong bài đó để mần bài hát "Nhớ Một Mùa Trăng" phải hông bố [sm=4.gif]

@ bố lynh: ... [sm=rinh.gif]

sang thu, tt xin kính mời các cô chú anh chị và bạn bè thân yêu của CLB.TA và vnthưquán thưởng thức một bài hát cuối tầng, ủa lộn cuối tuần của tt, cùng chúc mọi người một cuối tuần an dui [sm=40.gif]







[sm=40.gif][sm=40.gif][sm=40.gif]



cám ơn tiếng hát dễ thương tự nhiên không trau chuốt thiênthanh, nghe đâu đây lá thu đã rơi ầm ầm rùi đó !
các bạn có đồng ý không nào...
tuần sau hát nữa nhé bébo ! cô Xướng Ngôn Viên , nữ họa sĩ khả ái tuổi chẻ chẻ tuổi tài năng của CLB.TÂ
tt thông minh lắm , giỏi ! chính CÁI LỒNG ĐÈN của nghệ sĩ cùa lòai hoa - Sen Đất- đã làm nên ca khúc Nhớ Một Mùa Trăng ! thanks Sen nghen !
 
dl xin THÂN CHÚC QÚY ACE văn nghệ sĩ CLB và bằng hữu Tri Âm Một Tuần Lễ mới an vui hạnh phúc !
Cung Điệu Phù Trầm 
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2012-10-05 21:44:05Tóc nâu>
Trích đoạn: dzuylynh

@ Tóc Nâu đâu rùi ! hừa hừa ! anh hai chờ được mời đi nhẩm phé đó nghen mi . hắn chẩu đâu mau ghê, mà còn rớt lại chiếc dép đứt quai nè trời !



Chán ghê nơi, có mỗi đôi dép đứt quai mà cũng bị rớt mất một chiếc ,...
Đi cà nhắc hoài mất đẹp, nên Tóc quay trở lại năn nỉ Nlynh cho Tóc xin lại chiếc dép. Chử hổng lẽ NLynh đem liệng xọt rác sao trời ...

Mời nhẩm cà phê hử NLynh ? Để Tóc lục túi coi còn đủ xiền hông nha? Nhè tui con nhà quê mà biểu mời ông anh đi uống cà phê sang trọng thì ... chít khỏe hơn!
Thui chuồn, đứng nói dóc hoài, ổng bực quá không trả dép thì ...khổ thân!

@ Thiên Thanh hay tt : bài phóng sự rất hay, về bển được đi khắp cùng vui ghê há. Hôm nào tt thử buông bút viết thêm cho TN đọc ké với nha.

@ Chị Trúc Lan : Xin chào ra mắt chị nha, được đọc thơ và nghe chị hát mà .... TN mê mẫn luôn!

Thân chúc cả nhà CLBTÂ một cuối tuần thật du dương, vui vẻ
Có một bức hình không chuẩn nhưng thích nên TN dán vào góp vui vậy


📎 159a
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2012-10-05 23:54:25dzuylynh>
Chán ghê nơi, có mỗi đôi dép đứt quai mà cũng bị rớt mất một chiếc ,...
Đi cà nhắc hoài mất đẹp, nên Tóc quay trở lại năn nỉ Nlynh cho Tóc xin lại chiếc dép. Chử hổng lẽ NLynh đem liệng xọt rác sao trời ...
Thân chúc cả nhà CLBTÂ một cuối tuần thật du dương, vui vẻ
Có một bức hình không chuẩn nhưng thích nên TN dán vào góp vui vậy

                             

Ui ! Xì...Xí bùm bum chiếc dép cũ xì đứt wai cho Tóc nà ! Lụm đi cưng... 
Nlynh merci em gái vô CLB thăm bạn bè và sẵn dịp... đòi dép nghen!
anh rất..vừa ý tấm hình Hoa Lá Nước này !
 
[/align]  Ngao Du


[/align] 

[/align]Lang thang cuối đất gầm trời

[/align]Ngao du sơn thủy một thời bể dâu

[/align]Thu về chạnh nhớ mùa ngâu

[/align]Tóc em Nâu thuở anh râu chưa dài

[/align]Chừ em vẫn nét trang đài

[/align]Nên anh sớm tối... nhuộm hòai cho xanh

[/align]Heo may sao cứ đành hanh

[/align]Thu sang vàng lá Tóc xanh đâu rồi?

[/align] 
lanchy
[/align]
Cung Điệu Phù Trầm 
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2012-10-05 23:48:25Trúc Lan>

Hai ông quan Việt Nam ngày xưa ngồi uống trà

Các loại trà TrúcLan đã sưu tầm từ 10 năm về trước, đã đóng thành sách... xin đem vào trang CLBTÂ góp cùng nLynh

Trà Xanh: (green tea) Lá chè chưa qua sao tẩm gọi là chè xanh, tức là trà không ủ men, chiếm từ 80% tới 90% sản lượng ở Trung Quốc. Muốn được trà xanh, người ta rang lá trà trong chảo bằng gang. Rồi các lá được cuộn bằng tay hay bằng máy và lại được rang một lần nữa.

Trà đen: (black tea) còn gọi là trà mộc, tức là trà ủ men, chiếm 90% sản lượng Ấn Độ. Điều chế trà đen phức tạp hơn trà xanh: phơi lá trà tươi trong khoảng 24 tiếng đồng hồ, xong rồi cuộn chúng bằng tay hay bằng máy, ủ men ẩm trong 3 đến 5 giờ, cuối cùng phơi khô trong không khí nóng.

Trà Ô Long: (Oolong) được sao chế dung hòa giữa trà đen và trà xanh lá ủ lên men màu đen, nhưng nước trà có màu nâu thẫm. Chiếm 90% sản lượng ở Đài Loan.

Trà sen: Thời vua chúa mỗi buổi sáng các cung nữ thường lấy nước sương còn đọng lại trên lá sen về cung pha trà. Hoặc bơi xuồng trên các hồ sen (ở Huế nhiều hồ sen) lấy trà bỏ vào các búp sen sắp nở, một lượng trà hảo hạng, trà hấp thụ mùi thơm của sen dưới sương đêm. Sáng hôm sau trở lại vạch cánh hoa lấy trà bỏ vacào lọ đậy kín không mất mùi hương, và đó là loại trà sen tuyệt hảo nhất.vac
Trà Tước Thiệt: Theo Nguyễn Trãi ở Dư Địa Chí, đã kể đến trà Tước Thiệt (trà lưỡi chim sẻ) người ta gọi là trà móc câu thuộc giống Trà Mi ở vùng Sa Bôi nay là tỉnh Quảng Trị (ngày xưa thuộc Châu Ô, Châu Lý). Người Việt Nam có nghệ thuật ướp trà và uống trà.

Trà Mi: Có tên khoa học Camellia chrysantha trong thời gian gần đây người Pháp tìm ra Trà Mi giống Việt Nam và được nhắc đến Trà Mi hoa vàng tên Camellia vietnamensis ở Cúc Phương, đẹp hơn Trà Mi hoa vàng gốc Nhật, hoa ít hơn. Loại Camellia baviensis ở núi Ba Vì hương thơm nồng nàn. Trà Mi Camellia baviensis đem về trồng thí nghiệm ở đại học Lâm nghiệp Xuân Mai Hà Tây. Hoa lưỡng tính cánh trắng nhụy vàng to nở lâu tàn.

Trà Hoa nữ: Thời xưa người ta chọn các trinh nữ, trong những ngày sạch sẽ hái trà.. nên gọi các trà ấy là trà Hoa Nữ.

Trà Thanh Nữ: Loại trà nầy được ướp bằng mồ hôi cuả các cô gái còn trinh nguyên. Sáng sớm tinh sương, hàng đoàn các cô gái dưới 13 tuổi, mặc áo thun rộng, trôn áo cột sát vào người. Các cô lựa bẻ nhựng chồi trà non bỏ vào trong mình, cho đến chiều về, trà đầy trong áo, dưới ánh nắng mặt trời nung nấu và làm việc nặng nhọc, mồ hôi nhễ nhại toát ra ướt áo và thấm vào trà, các cô dùng luôn chiếc áo nầy cuốn lại để ủ trà nên gọi là trà thanh nữ.

Trà sao suốt: dùng trà xanh hay trà mộc nguyên chất, sao chế bằng phương pháp thủ công, sấy trà bằng nhiệt trên chảo gang với một ngọn đèn cháy liên tục. nên gọi là trà sao suốt.

Trà móc câu: dùng đọt trà non để pha chế, sau khi sao xong lá trà cuốn lại như hình móc câu. Song người sành điệu bảo phải gọi là trà "mốc cau" mới đúng vì lá trà tròn cánh, có mốc trắng giống như mốc ở cây cau. Phần đông người ta ưa thích loại trà pha ướp với các loại hoa Sen, Ngâu, Sói, Lài, Cúc, Lan. Mỗi loại hoa sẽ làm cho trà có một hương vị đặc biệt.

Trà mật vịt: là trà xanh pha thật đặc như mật con vịt.

Trà hạt: là nụ trà phơi khô.

Trà bồm: hay trà "bánh" dùng toàn lá trà già khi đốn trà để chờ mùa xuân tới trà ra chồi non. Hai loại trà nầy không ngon, không hương, không vị.

Chè Tà Xùa: Chè loại búp trắng cánh vàng, xuất xứ từ xã Tà Xùa (vùng cao Bắc Yên, Sơn La, Việt Nam). Nước chè có mầu nâu sẫm, mang vị đắng chát khi mới nhấp nhưng lại ngọt dần trong cổ họng, tạo hương vị lạ cho người thưởng trà.
Rót chè vào chiếc chén Bát Tràng thật đẹp, chè Tà Xùa có một mùi hương có phần giống chè Thái Nguyên, lại có vị khang khác lan tỏa. Nhấp một ngụm chè, cảm giác đầu tiên là vị đắng chát sau đó dần chuyển sang ngọt, vị ngọt thấm sâu vào trong cổ họng làm tan đi sự mỏi mệt...
Nước chè có mầu nâu sẫm không xanh như chè Thái Nguyên. Một ấm chè nhỏ nhưng sau bốn, năm lần thêm nước, màu nâu sẫm đó và hương vị chè vẫn còn giữ nguyên, những búp chè nở bung ra như những cánh hoa. Chè Tà Xùa kén nước lắm đấy, tốt nhất là nước suối của vùng này, nếu ở dưới xuôi thì phải là nước khoáng đun sôi mới ngon.
Thật lạ, cây chè Tà Xùa chỉ ngon ở mảnh đất trồng ra nó, nuôi sống nó, như một đứa con gắn chặt với đất mẹ. Chè được bà con dân tộc Mèo sao tẩm trực tiếp. Hiện nay cây chè già nhất có lẽ ở bản Trung Trinh.

Trà Thiết Quan Âm: Thiết Quan Âm là danh hiệu mà các đệ tử tôn xưng ngài Bồ Đề Đạt Ma. Vị sáng tổ thứ nhất của Phật-Giáo Bắc Tông. Vì ngài là người Ấn Độ, da đen và đắc đạo nên gọi Ngài là Thiết Quan Âm. Tương truyền khi ngài ngồi tham thiền tại núi Thiếu Thất, thường bị buồn ngủ, ngài cho là do tại mí mắt sụp xuống nên ngài lấy dao cắt bỏ mí mắt rồi liệng vào trong bụi rậm. Ít lâu sau nơi bụi rậm đó, đêm đêm có hào quang chiếu sáng,các đệ tử đến tìm thấy một bụi trà mới mộc lên cành lá tươi tốt, bẻ lá đem nấu nước uống thử thấy có mùi thơm ngát, vị ngọt tinh thần phấn khởi. Từ đó mọi người lấy lá trà ấy nấu nước cúng Phật gọi là Trà Thiết Quan Âm.

Trùng Điệp Trà: Trùng điệp trà là phân của các con sâu trà ở núi Ly Sơn, tỉnh Thiểm Tây sau khi ăn lá trà thải ra được thu về sao tẩm lại...

Trảm Mã Trà: Trảm Mã Trà là loại trà mọc hoang lưu niên trên núi cao Vu Sơn tỉnh Tứ Xuyên. Sơn dân ở đây dùng các con ngựa núi từ nhỏ đã được luyện uống nước trà thành nghiện để thu trà. Buổi sáng các con ngựa còn đói được lùa lên ăn lá trà và uống nước suối ở đỉnh núi. Chiều đã no căng bụng, chúng kéo nhau xuống và bị bắt mổ bụng để moi trà. Rồi trà được đem sấy khô, ủ kín.

Bạch Mao Hầu Trà: Bạch mao hầu trà là loại trà ở núi Vũ Di tỉnh Phúc Kiến, bên Trung Hoa. Những cây trà này mọc trên ngọn núi cao, hiểm trở, cheo leo, người không thể leo lên được. Do đó họ nuôi những con khỉ trắng. Huấn luyện những con khỉ mỗi sáng sớm, khi còn sương mai còn đọng trên các búp trà non, đàn khỉ trèo lên, hái ngọn trà non đem về cho chủ biến chế thành trà thơn ngon. Ở bên anh có những tiệm bán trà mang tên "Monkey Tea- trà khỉ". rất đắt tiền.

Về các loại hoa trà trân quí, nhà văn hào Kim Dung diễn tả như sau:
Trà Thập bát học sĩ: đây là Thiên Hạ Đệ Nhất trà, cả khóm trà có 18 bông, màu sắc khác biệt, hồng thì toàn hồng, tía thì toàn tía, không một mảy lẫn lộn. Nhưng cả 18 đóa hoa mỗi đóa hình trạng khác nhau, mỗi đóa một vẻ, nở thì cùng nở, tàn thì cùng tàn.

Trà Lạc đệ tú-tài: (thư sinh thi hỏng) là hạng sau thập bác học sĩ là. Loại nầy có 17 bông, các màu sắc lại tạp nhạp, không thuần nhất, to nhỏ không đều, nở sớm muộn không cùng lúc, giống như anh học trò thi rớt. Loại trà này phẩm chất kém cỏi, trồng chẳng cao sang, quý báu gì.

Trà Thập Tam Thái Bảo: là 13 đóa hoa khác nhau trên cùng một cây.

Trà Bát tiên quá hải: một cây sinh ra 8 bông hoa khác nhau.

Trà Thất tiên tử: một cây trà có 7 bông khác nhau.

Trà Phong trần tam hiệp: Một cây trà có 2 bông trắng và 1 bông tím. Hai bông trắng tượng trưng cho Lý-Tịnh, Cầu Nhiêm Khánh, bông màu tím tượng trưng cho Hồng Phất Nữ.

Trà mãn nguyệt: hoa trà màu trắng và lớn trên cánh hoa có vân đen, những vân đen tượng trưng cho các cành quế trên cung trăng.

Hồng trang tố lý: Loại hoa trà màu trắng nhưng cánh hoa có vân hồng gọi là Hồng Trang Tố Lý.

Trảo phá mỹ nhân kiểm: Hoa màu trắng mà có chỉ đỏ thì gọi là Trảo Phá Mỹ Nhân Kiểm, có nghĩa là má đào của người thiếu nữ bị cào (có thể bị đánh ghen chăng).

Văn hào Kim Dung cho biết các loại trà này là đặc sản của nước Đại Lý, Vân Nam bên Trung Hoa.

o0o

Độc sâm trà: Nhân sâm thái phiến hoặc nghiền vụn, uống thay trà. Công dụng bổ khí cường thân, hồi phục sinh lực sau lao động rất tốt, đặc biệt là lao động cơ bắp. Người bị huyết áp cao không nên dùng.

Nhân sâm đại táo trà: Nhân sâm thái phiến, đại táo. Công dụng bổ khí sinh huyết.

Nhân sâm liên tử trà: Nhân sâm, liên tử (hạt sen) đường phèn, hấp cách thủy. Công dụng bổ ích tỳ phế, cường tráng thân thể.

Tăng dịch ích âm trà: Huyền sâm, mạch môn, sa sâm, sinh địa, ngọc trúc. Công dụng dưỡng âm, sinh tân, nhuận táo, rất tốt cho những người lao động trong điều kiện nắng nóng, háo khát do ra mồ hôi nhiều. Người tỳ hư đi lỏng không nên dùng.

Thanh hao mai đông trà: Thanh hao, ô mai, mạch môn, lá sen tươi. Công dụng thanh nhiệt, sinh tân chỉ khát, rất tốt cho những người lao động trong mùa hè nắng nóng, môi khô, miệng khát, ra mồ hôi nhiều. Người tỳ vị hư yếu, tiết tả không nên dùng.

Hoàng kỳ táo khương trà: Hoàng kỳ, đại táo, gừng tươi. Công dụng ích khí phù chính, rất tốt cho người làm việc trong thời tiết gió rét, băng giá dễ bị cảm mạo.

Quế chi cam thảo trà: Quế chi, cam thảo. Công dụng ôn bổ tâm dương, hòa dinh ích khí, tốt cho những người lao động ngoài trời vào mùa đông hoặc công nhân nhà máy nước đá, đông lạnh. Những người có chứng nhiệt không nên dùng.

Ngũ vị táo nhân Kỷ Tử trà: Ngũ vị tử, Kỷ Tử, Toan Táo. Có công dụng định tâm an thần, kiện não ích trí, tốt cho những người lao động trí óc dễ căng thẳng thần kinh.

Thủ ô đan sâm trà: Hà thủ ô, đan sâm, mật ong. Công dụng ích thận bổ can, hoạt huyết hóa ứ, tốt cho những người bị thiểu năng mạch vành, cao huyết áp. Người có huyết áp thấp không nên dùng.
Ba kích đỗ trọng ngưu tất trà:
Ba Kích, Ngưu Tất, Đỗ Trọng, Ngũ Vị Tử. Công dụng ôn bổ thận can, làm mạnh gân cốt, dùng rất tốt cho những người lao động cơ bắp phải bê vác, vận động cột sống nhiều.

Kỷ Tử trà: Quả Kỷ Tử.
Tương truyền, vào đời Đường, tể tướng Phòng Huyền Linh vì dụng tâm quá độ giúp Đường Thái Tông cai quản triều chính nên tinh thần luôn bất an, cơ thể mỏi mệt. Nhờ được thái y cho dùng canh Kỷ Tử nấu với mộc nhĩ trắng thường xuyên mà sức khỏe và tinh thần của ông dần phục hồi.
Kỷ Tử là quả chín phơi hay sấy khô của cây khởi tử, tên khoa học là Lycium barbarum L. Thời cổ đại, nó còn được gọi bằng các tên như thiên tinh (tinh của trời), địa tiên (tiên của đất), khước lão (đẩy lui tuổi già).
Tại Trung Quốc, Kỷ Tử phân bố ở nhiều nơi nhưng loại được trồng ở Ninh Hạ có chất lượng cao hơn cả. Ở đây, người ta gọi vị thuốc này là "minh mục tử", có nghĩa là thứ quả làm sáng mắt. Truyền thuyết kể lại rằng, ngày xưa ở Ninh An thuộc tỉnh Ninh Hạ có một cô gái tên là Cẩu Hồng Quả. Cha cô không may mất sớm, mẹ cô vì quá thương nhớ chồng, đã khóc nhiều đến nỗi cả hai con mắt bị bệnh không nhìn thấy gì cả. Để chữa bệnh cho mẹ, Cẩu Hồng Quả đã không quản gian lao khó nhọc, ngày đêm trèo đèo lội suối lên tận Nam Sơn hái thuốc. Cảm động trước tấm lòng hiếu thảo của cô, tiên ông Bạch Hồ Tử đã hiện ra và chỉ dẫn Cẩu Hồng Quả thu hái Kỷ Tử về làm thuốc cho mẹ cô uống. Quả nhiên, sau một thời gian dùng thuốc, mắt mẹ cô ngày càng sáng ra và khỏi hẳn. Vì thế, dân trong vùng gọi thảo dược này là "minh mục tử" và coi đó là thứ "linh đan diệu dược" chuyên chữa bệnh về mắt.

Trà tâm sen: Lấy nhụy sen để nấu trà. Công dụng thanh tâm (giải nhiệt trong tạng tâm), giáng áp (hạ huyết áp), sáp tinh (giữ cho tinh khí được bền chặt) và chỉ huyết (cầm máu). Nó thường được dùng để chữa các chứng bệnh như đầu choáng mắt hoa, hay hồi hộp đánh trống ngực, nhịp tim nhanh, mất ngủ.

Trà diệp đơn hành: chỉ dùng lá trà để uống.

Trà dược tương phối: phối hợp trà với các vị thuốc.

Dĩ dược đại trà: dùng thuốc thay trà.

Nhân sâm cố bản trà: Nhân sâm, mạch môn, thiên môn, thục địa, sinh địa. Thích hợp cho những người thể chất gầy yếu, hô hấp mạn tính, hay bị khó thở, môi khô miệng khát, đại tiện táo bón...

Ngũ phúc ẩm trà: Thục địa, đương quy, nhân sâm, bạch truật, chính thảo, gừng tươi, đại táo. Dùng thích hợp cho những người trung lão niên có ngũ tạng, khí huyết suy nhược, sắc mặt nhợt nhạt, tinh thần mệt mỏi, chán ăn, mất ngủ, hay quên...

Diên niên ích thọ bất lão trà: Hà thủ ô, địa cốt bì, bạch linh, sinh địa, thục địa, mạch môn, thiên môn, nhân sâm. Thích hợp cho những người trung lão niên có thể chất suy nhược, mắc nhiều bệnh mạn tính, tinh thần mệt mỏi, dễ đổ mồ hôi, lưng đau gối mỏi, đầu choáng mắt hoa, liệt dương, di tinh, suy giảm khả năng tình dục...

Khứ bệnh diên niên trà: Trà, hoa sen, hoa quế, hoa đào, cúc hoa, nhân sâm, Kỷ Tử, đường phèn. Công dụng bổ nguyên khí, thanh điều ngũ tạng lục phủ, cường thận, điều lý âm dương, dùng lâu có thể khứ bệnh; thích hợp cho những người từ 40 tuổi trở lên.

Thủ ô giáng chi trà: Đan sâm, hà thủ ô, cát căn, tang ký sinh, hoàng tinh, cam thảo, trà. Công dụng giảm mỡ máu, thông mạch, hoạt huyết, khứ ứ, bổ âm ích khí; dùng thích hợp cho những người bị rối loạn lipid máu, béo phì, đầu choáng mắt hoa, ngực bụng đầy tức, ăn kém, chậm tiêu, mắc các bệnh tim mạch.

Ngũ tử diễn tông trà: Kỷ Tử, Thỏ Ty Tử, Phúc Bồn Tử, Xa Tiền Tử, Ngũ Vị Tử. Công dụng cho những người cơ thể suy nhược, nam giới liệt dương, di tinh, xuất tinh sớm, suy giảm chất lượng và số lượng tinh trùng; nữ giới hiếm muộn, suy giảm ham muốn tình dục, lưng đau gối mỏi, đầu choáng mắt hoa, rối loạn kinh nguyệt, tóc bạc sớm...

Trà lá tre: Dùng lá cây tre cộng thêm một vài vị khác như mạch môn, Hoàng Kỳ, Cam Thảo, Sa Sâm, Cát Căn, Sinh Địa, Hương Nhu, Bạch Chỉ. Công dụng giải nhiệt, phòng cảm nắng.
1





0


Cây Trà Trong Thiên Long Bát Bộ
Trích từ trong truyện kiếm hiệp của nhà văn Kim Dung

Mời các bạn nghe Đoàn Dự luận về các loại hoa trà cho Vương Phu nhân biết ở Mạn Đà Sơn Trang, những cây trà do chính tay Vương Phu Nhân trồng mà bà rất trân quý.

Trích một đoạn


.....................................
Vương phu nhân vẻ mặt đắc ý, nói:
- Đoàn công tử, nước Đại Lý của cậu hoa trà rất nhiều, nhưng nếu so sánh với của ta chắc không thể bì kịp.

Đoàn Dự gật đầu:
- Những hoa trà loại này dân Đại Lý chúng tôi chẳng ai trồng cả.

Vương phu nhân cười khanh khách:
- Thật ư?

Đoàn Dự nói:
- Những người dân quê mùa tầm thường ở Đại Lý cũng biết các loại hoa này phẩm chất kém cỏi, trồng chẳng cao sang, quý báu gì.

Vương phu nhân mặt biến sắc, giận dữ nói:
- Ngươi nói sao? Ngươi bảo hoa trà ta trồng là loại tục phẩm ư? Nói như thế chẳng hóa, chẳng hóa… khinh người quá lắm.

Đoàn Dự nói:
- Phu nhân tin hay không tin cũng tùy ở người.

Chàng vừa nói vừa chỉ một cây hoa trà ngũ sắc trước lầu:
- Giá thử như cây này, bà tưởng nó quí lắm ư. Hứ, đẹp thật, cái lan can này thật là đẹp, thật là đẹp.

Chàng tấm tắc khen cái lan can đẹp mà hoa trà thì chẳng nhắc đến một câu, khác nào người xem chữ viết, không nhắc đến chữ mà chỉ khen lấy khen để mực đen và giấy tốt.

Cây hoa trà đó vừa trắng vừa đỏ, vừa tía vừa vàng, sắc hoa thật là rực rỡ, từ trước tới nay Vương phu nhân vẫn coi là trân phẩm. Nay thấy Đoàn Dự có vẻ xem thường nên lông mày bà nhướng lên, mắt lộ sát ý. Đoàn Dự nói:
- Xin hỏi phu nhân, giống hoa này ở Giang Nam gọi tên là gì?

Vương phu nhân hậm hực đáp:
- Chúng tôi chẳng gọi tên gì đặc biệt, chỉ gọi là hoa trà Ngũ Sắc.

Đoàn Dự mỉm cười:
- Đại Lý chúng tôi có đặt cho nó một cái tên, gọi là Lạc Đệ Tú Tài (thư sinh thi hỏng).

Vương phu nhân hừ một tiếng:
- Cái tên sao khó nghe làm vậy, chắc ngươi tiện mồm đặt ra chứ gì. Cây hoa đẹp đẽ như thế, sao lại giống gã thư sinh thi hỏng?

- Phu nhân thử nhìn lại xem, cây hoa này cả thảy tất cả mấy màu.

Vương phu nhân nói:
- Ta đã đếm qua, cũng phải có đến 15, 16 màu khác nhau.

Đoàn Dự nói:
- Cả thảy đúng ra là 17 màu. Đại Lý có một loại hoa quí giá nổi tiếng tên gọi Thập Bát Học Sĩ. Đó là thiên hạ cực phẩm, trên cây có đủ 18 đóa hoa, mỗi đóa một màu khác nhau, hồng thì toàn hồng, tía thì toàn tía, không một mảy lẫn lộn. Nhưng cả 18 đóa hoa mỗi đóa hình trạng khác nhau, mỗi đóa một vẻ, nở thì cùng nở, tàn thì cùng tàn, phu nhân đã thấy bao giờ chưa?

Vương phu nhân nghe qua thẫn thờ, lắc đầu:
- Trên đời này lại có loại hoa như thế sao? Đến nghe nói tới ta cũng chưa nghe bao giờ.

Đoàn Dự nói:
- So với Thập Bát Học Sĩ kém một mức là Thập Tam Thái Bảo là 13 đóa hoa khác nhau trên cùng một cây. Rồi đến Bát Tiên Quá Hải là 8 đóa khác nhau một cây. Thất Tiên Tử là 7 đóa. Phong Trần Tam Hiệp là ba đóa. Nhị Kiều là một trắng một đỏ hai đóa. Nói đến hoa trà là phải thuần sắc, nếu như trong đỏ có lẫn trắng, trong trắng lẫn tía thì là hạ phẩm rồi.

Vương phu nhân bỗng nhiên đờ đẫn, nhìn về xa xăm, nói một mình:
- Sao y không nói cho ta biết nhỉ?

Đoàn Dự nói tiếp:
- Trong Bát Tiên Quá Hải có cả hoa màu tía sậm và màu hồng nhạt, đó là Lý Thiết Quài và Hà Tiên Cô, nếu thiếu hai màu đó, dù là tám màu khác nhau cũng không được gọi là Bát Tiên Quá Hải mà gọi là Bát Bảo Trang, tuy cũng là danh chủng nhưng so với Bát Tiên Quá Hải còn thua một bậc.

Vương phu nhân nói:
- Nguyên lai như thế.

Đoàn Dự lại tiếp:
- Trở lại Phong Trần Tam Hiệp cũng có chính phẩm và phó phẩm. Nếu là chính phẩm, trong ba đóa thì đóa màu tía phải to nhất, đó là Cầu Nhiêm Khách, đóa màu trắng nhỏ hơn, đó là Lý Tịnh, đóa màu hồng nhỏ nhất nhưng cũng kiều diễm nhất đó là Hồng Phất Nữ. Nếu như hoa màu hồng lại to hơn hoa màu tía, hoa màu trắng thì là phó phẩm, hai đằng một trời một vực.

Người ta đã bảo quen thuộc như đồ trong nhà mình. Trong nhà Đoàn Dự có tất cả những loại này nên chàng nói ra vanh vách đâu ra đấy. Vương phu nhân nghe thật thích thú thở dài:
- Đến phó phẩm ta cũng chưa được nhìn qua nói gì chính phẩm!

Đoàn Dự chỉ vào cây hoa trà ngũ sắc nói:
- Còn loại hoa trà này, nếu luận về sắc so với Thập Bát Học Sĩ còn kém một, lại không thuần, nở thì khi sớm khi muộn, hoa thì đóa nhỏ đóa to. Chẳng khác gì Đông Thi giả nhăn mặt, học đòi làm Thập Bát Học Sĩ thì không xong. Vì thế chúng tôi đặt cho cái tên Lạc Đệ Tú Tài.

(Trích trong Thiên Long Bát Bộ, tập 2, trang 495-7 của Kim Dung. Viễn Ảnh xuất bản, Đài Bắc 1981)

0
Những bài Thơ Có Chữ "Trà"


Kiều Gặp Kim Trọng
255. Mành Tương phất phất gió đàn,
Hương gây mùi nhớ, trà khan giọng tình.
Vì chăng duyên nợ ba sinh,
Thì chi đem thói khuynh thành trêu ngươi.

Kiều Gặp Mã Giám Sinh
845. Tiếc thay một đóa trà mi,
Con ong đã tỏ đường đi lối về.
Một cơn mưa gió nặng nề,
Thương gì đến ngọc tiếc gì đến hương.

Kiều Mắc Lừa Sở Khanh
1091. Chim hôm thoi thót về rừng,
Đóa trà mi đã ngậm trăng nửa vành.
Tường đông lay động bóng cành,
Rẽ song, đã thấy Sở Khanh lẻn vào.

Kiều Gặp Thúc Sinh
1295. Khi gió gác khi trăng sân,
Bầu tiên chuốc rượu câu thần nối thơ.
Khi hương sớm khi trà trưa,
Bàn vây điểm nước đường tơ họa đàn.

Kiều Gặp Hoạn Thư
1923. Sớm khuya sắm đủ dầu đèn,
Xuân, Thu, cắt sẵn hai tên hương trà .
Nàng từ lánh gót vườn hoa,
Dường gần rừng tía, dường xa bụi hồng.

1991. Thiền trà cạn chén hồng mai,
Thong dong nối gót thư trai cùng về.
Nàng càng e lệ ủ ê,
Rỉ tai, hỏi lại hoa tì trước sau.

o0o
Một trà , một rượu, một đàn bà.
Ba cái lăng nhăng nó khuấy ta.
Bỏ được thứ nào hay thứ ấy.
Nguyễn Công Trứ

Trà ơi! Còn nước là vinh hạnh
Cháy lưỡi khô môi thảm những ai!
Phan Bội Châu

Khi vườn sau khi sân trước
Khi điếu thuốc, khi miếng trầu
Khi trà chuyên năm ba chén
Khi Kiều lẫy một đôi câu
Nguyễn Khuyến

Tặng quân thiên lý viễn
Tiên bả nhất bình trà
dịch
Tiễn chân ai bước đường xa
Miệng cười đưa một bình trà tặng nhau
Viên Chiêu thiền sư đời Lý Nhân Tông.

Ca Dao, tục ngữ

Rượu ngâm nga, trà liền tay

Trà tam rượu tứ (uống trà tối đa là ba người thôi còn uống rượu thì tối thiểu phải bốn người)

Rượu trên be, chè dưới ấm.

Làm trai biết đánh tổ tôm
Uống trà Mạn Hảo (hay liên tử), ngâm nôm Thuý Kiều.

Mai sớm một tuần trà .
Canh khuya đôi chén rượu.
Ngày ngày đều như thế.
Thầy thuốc chẳng tới nhà.

Chồng em thường ngược sông Ngâu,
Mua trà Mạn Hảo tháng sau thì về.

Chim đa đa đậu nhánh đa đa
Chồng gần không lấy, lấy chồng xa
Mốt mai cha yếu mẹ già
Chén cơm đôi đũa tách trà ai dâng?

Con cá đối nằm trên cối đá
Chim đa đa đậu nhánh đa đa
Chồng gần không lấy, bậu lấy chồng xa
Mai sau cha yếu mẹ già
Chén cơm bát nước, bộ kỷ trà ai bưng?

Giàu đâu đến kẻ ngủ trưa
Sang đâu đến kẻ say sưa rượu chè

Thất Oản Trà ca của Lô Đồng (đời Đường)
Chén thứ nhất làm trơn cổ họng
Chén thứ hai làm tan nỗi buồn phiền
Chén thứ ba thấm vào ruột đang khô héo
Chỉ còn lại năm nghìn cuốn sách
Chén thứ tư làm mồ hôi rướm ra
Những chuyện bất bình trong đời
Cũng theo lỗ chân lông mà bay đi
Chén thứ năm làm cơ thể sạch sẽ
Chén thứ sáu đưa ta tới cõi tiên
Chén thứ bảy không uống được nữa
Chỉ thấy hai bên cánh tay gió phần phật thổi

Bợm Nhậu
Một ly nhâm nhi tình bạn
Hai ly uống cạn lòng sầu
Ba ly mũi chảy tới râu
Bốn ly ngồi đâu gục đó
Năm ly cho chó ăn chè
Sáu ly vợ đè cạo gió

Trước kính thăm cô bác, sau thăm nhạc mẫu ở nhà
Dù, trà, khăn, võng gởi mà cho em.
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2012-10-09 10:01:00dzuylynh>
 
Các loại trà TrúcLan đã sưu tầm từ 10 năm về trước, đã đóng thành sách... xin đem vào trang CLBTÂ góp cùng nLynh
thay mặt Tỷ Tỷ Phù Vân và các bạn, nlynh cám ơn bộ sưu tập các lọai danh trà hết sức công phu và qúy hiếm của Mợ Lan nhé !
là một con ma trà , đã thưởng thức qua nhiều lọai danh trà lúc còn làm quan hùi nẫm
( nlynh hình bến trái / bên phải là TrúcLan, có ghi tên hẳn hoi à nghen )..

 

hu hu...sau khi đi 75Readucation dìa, cho tới nay, hẻo wá nên chừ chỉ còn uống trà 913 của Taiwan thôi !
Tóc nhõng nhẽo nghen ! Ừ , mún du dương thì có du dương ngay nà nhỏ :




https://www.box.com/shared/6f6oe5izzu7z01dggl39

khi mùa thu vàng

sáng tác | trình bày | Dzuylynh
album Ở giữa là mùa thu.bccb
(đến bh.dv.Ja.tn)


khi mùa thu vàng
em là giọt nắng
khi trời trở gió
em ngọn thu phong
thinh không tĩnh lặng
em là vầng trăng
anh còn lận đận
một đời phiêu lãng
với bản tình ca
viết mãi không xong...

khi mùa trăng tàn
anh ngồi chờ sáng
em về cuối trời
mõi cánh thiên di
anh chờ mùa thi
lấy mảnh tình si
khi mùa thu vàng
hòang hôn mây xám
chiếc lá bay ngang
tình cũng sang ngang

khi mùa thu vàng
mình quên nhau nhé
quên lời ước thề
giữa bến sông mê
chén rượu tình say
vơi đầy chưa cạn
khi mùa thu vàng
chiếc lá bay ngang
khi mùa thu vàng
tình cũng đi hoang...

vịnhnửavầngtrăng.Nov.5.2012.dzuylynh


Cung Điệu Phù Trầm 
0

Trích đoạn: dzuylynh

 
Các loại trà TrúcLan đã sưu tầm từ 10 năm về trước, đã đóng thành sách... xin đem vào trang CLBTÂ góp cùng nLynh
thay mặt Tỷ Tỷ Phù Vân và các bạn, nlynh cám ơn bộ sưu tập các lọai danh trà hết sức công phu và qúy hiếm của Mợ Lan nhé !
là một con ma trà , đã thưởng thức qua nhiều lọai danh trà lúc còn làm quan hùi nẫm
( nlynh hình bến trái / bên phải là TrúcLan, có ghi tên hẳn hoi à nghen )..


Còn nhiều giai thoại về TRÀ nữa... nhưng nLynh khóc hu hu thế kia thì để tỷ tỷ Phù Vân dỗ nín đã, TrúcLan sẽ post tiếp[:D]
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2012-10-06 02:26:04Phù Vân>
ĐỌC BÁO GIÙM BẠN

Bébo tê tê đâu dzồi nhỉ ? Con bé này cứ như là con lật đât ! Mới nom thấy đây tức thì mà đã chạy rong đâu
Cầm tiền nầy đưa cho chị Lan mà mua TRÀ nhé ! Giời ôi là giới ! Gớm ! Trà Lan muội xưa thế thì phải dùng lọai TIỀN CŨ này mới mua được bé ạ ! Tỷ PhùVân mới giật tạm của tỷ Huyền Băng kia đấy !
Ngoan cô thương Bo nhìu nhé !

Sưu tầm mẫu tiền cũ -
Tiền Đông Dương

[/align]


[/align]



'
'
'

'



'

'

'

'

'

'

'

'

'

'

'

'

'

'

'

'

'

'

'

'

'

'

'

'

'

'

'

'

'

'

'

'

' '

'

'

'

'

'

' '

' '

' '

' '

'

'

'

'

'

'

'

'

'

'

'

'

'

'

'

'
'

' '

'

'

' '

'

'

'

'

'

'

'

'

'

'

'

'

'

'

'

'

'

'

'

'

'

'

'

'

'

'

'

'

'

'

'

'

'

'

'

'

'

'

'

'

'

'

'

'

'



[/align][/align][/align][/align][/align][/align]
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2012-10-06 06:13:58sen dat>
Bộ sưu tập tiền của Phù Vân tuyệt quá đi! SĐ cũng sưu tầm được một bài viết vui vui kèm theo một bức ảnh minh hoạ SĐ chụp lại trong một tạp chí. Đây là một cặp vợ chồng hoàng gia triều Nguyễn.
SỐ PHẬN CHIẾC ÁO DÀI - sưu tầm
Tác giả Vi Nhứt Tiếu
_Má con Hạnh đâu, má con Hạnh đâu?
_Thưa anh, em với con đây nè. Có việc gì mà anh rối rít vậy?
_Chào em, chào con. Thưa phu nhân tháng tới là sinh nhật của phu nhân thiểm chức lặn lội vào chợ Soài Kinh Lâm quận 5 và mua được một tấm vải đắc ý kính tặng phu nhân để "người" may môt chiếc áo dài.
_Trời ơi vải đẹp quá. Em xin cám ơn anh về món quà trên mức tình cảm này
_Thiểm chức không dám. Kính mong phu nhân nhận lễ cho.
Bé Hạnh chen vào:
_Ba điệu dễ sợ, để dành tiền mua cho má vải may áo dài.  Ba ơi đến sinh nhật con , ba cũng mua áo dài cho con nghen.
_Ý chưa được. Lớn hơn chút nữa, khi nào nhà trường quy định mặc áo dài đi học, ba sẽ may áo dài cho con
_Ba ơi, chiếc áo dài có từ hồi nào hở ba?
_Từ lâu lắm con à. Ngày xưa, các vua Việt Nam mặc chiếc áo dài màu vàng có thêu rồng khi thiết triều. Đó là áo dài của đàn ông. Ngày xưa các phụ nữ Việt Nam ở Đàng Ngoài mặc áo tứ thân khi tham dự những lễ hội, đình đám long trọng. Khi du nhập vào Đàng Trong, chiếc áo tứ thân không ngừng được cải tiến, hình thành ra chiếc áo dài hôm nay. Có thể coi Huế là phát tích của chiếc áo dài.
_Em nhớ ngày trước, má em mặc chiếc áo dài lạ lắm.
_Á à, đó là áo dài từ giai đoạn 1945 đến 1965 với hai tà thật dài phủ xuống tận chân, cổ cao 5 phân, có lót miếng col cứng, thân chít 4 pen 2 trước 2 sau, vạt phải úp vào. Năm 1960, bà Ngô Đình Nhu, vợ ông Ngô Đình Nhu làm cố vấn cho ông Diệm, cải tiến cổ áo tròn, gọi là cổ thuyền.
_Sau đó rồi sao nữa hở ba?
_Rồi cải tiến nữa chứ sao. Khoảng 10 năm từ năm 1988 đến 1975, một người thông minh nào đó chế ra cái tay raglan, cắt thẳng một đường từ phía ngoài cổ xuống nách, tạo cho ái dài có một nét cân đối lạ lùng. Từ đó phát sinh ra áo dài raglan với phong cách không chít eo, vạt ngắn lên gần đầu gối, cổ hạ thấp xuống còn một phân. Nhà may Thiết lập may áo dài raglan cho mấy bà mấy cô mệt nghỉ. Mà hồi đó phụ nữ mình lại rất chuộng loại tơ nội hóa Hồng Hoa với các màu xanh lá trúc, vàng mỡ gà, tím than, thân tơ có hình chìm chữ thọ, lồng đèn, lá trúc...Ai ra Quảng Nam, mua được một xấp lụa Mã Châu về may là sang lắm.
_Em nhớ sau năm 75 áo dài vắng bóng cả chục năm.
_Chính xác là khoảng 13 năm. Lúc bấy giờ xã hội hô hào nhanh gọn, khẩn trương, mà chiếc áo dài thì có vẻ "yểu điệu thục nữ" quá . Cho nên vắng chiếc áo dài; đi hội họp hay tiếp khách nước ngoài , các bà các cô vẫn cứ mặc áo ngắn. Có thơ làm chứng rằng:
_Áo dài, áo dãi, áo dai
Ta bỏ áo dài, ta mặc áo pull
Chemise tay ngắn tiện hơn
Cần gì phải nhớ, phải thương áo dài
Áo dài ai mặc, mặc ai!

_Sau đó sao lại mặc áo dài hở ba?
_Sau 1988, báo chí có lên tiếng về chiếc áo dài, cho rằng có nhiều trường hợp mặc áo ngắn là không phù hợp thiếu...văn minh thương nghiệp. Thế là ngành giáo dục thành phố chủ trương cho các em nữ sinh cấp 3 mặc lại áo dài. Hóa ra người ta nhận thấy rằng nữ sinh mặc áo dài thì trường đẹp ra và trật tự thêm lên. Thế là áo dài thắng lợi trong nhà trường và thừa thắng xông lên, phát triển ra mọi cơ quan, đoàn thể, xí nghiệp,, công ty khác...Bèn có thơ làm chứng rằng:
Áo dài, áo dãi, áo dai
Ta mặc áo dài, ta bớt chemise

Nhưng anh coi đó, hình như áo dài bây giờ lại gần với chiếc áo dài 1965.
_Phu nhân nói đúng. Áo dài bây giờ vẫn giữ tay raglan, nhưng vạt dài lại, cổ cao lên, chít 4 pen trở lại. Nhiều cô chơi bộ complet, áo quần tiệp một màu. Ở bên Mỹ bà con Việt Kiều cải tiến áo dài vạt xéo, vạt nhọn. Ở bên ta, ta ráp tay phồng, xẻ cổ trái tim, hết thêu rồi vẽ hoa, lá, chim,bướm,rồng,phượng. Cả nhung cũng vẽ được ráo.
_Chà áo dài cũng lắm chuyện má hả.
_Đúng như con nói. Ở Huế có một truyền thống mặc áo dài rất hay. Các bà các chị buôn gánh bán bưng, có thể đi chân đất nhưng vẫn mặc chiếc áo dài nâu.
_Còn áo dài đàn ông ra sao ba?
_Thì ngày lễ, ngày tết, đám cưới đám ma, ai muốn mặc cứ mặc.
_Sang thì may áo gấm xanh, đỏ. Vừa vừa thì may áo the đen. Đàn ông mặc áo dài thì phải chơi khăn đóng mới đúng model. Ngày trước có một ông đại sứ Mỹ qua đây cũng chơi áo dài khăn đóng. Đó là ông Henry Cabot Lodge. Đây rồi mươi mười lăm năm nữa, ba cũng phải chơi áo dài khăn đóng.
_Ủa, ủa ba mặc đi đâu vậy?
_Thì lúc đó đám cưới mầy chớ còn đi đâu? Mần sui chẳng lẽ không mặc áo dài. Con này hỏi ngộ.

📎 aodaihoangtochue
0
Tiền thời vua Gia Long - Minh Mạng - Thiệu Trị và Tự Đức



























































0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2012-10-06 19:28:13Trúc Lan>



Việt Cộng Đổi Tiền

Lần 1:

Sau khi xâm chiếm miền nam tháng 4, 1975 thì chỉ sau 4 tháng, bọn Việt cộng đã ăn cướp và tàn sát nền kinh tế miền Nam bằng cách gọi là đổi tiền. Chính xác là vào ngày 21 tháng 9, 1975.

Ngày 6/6/1975. Năm tuần sau ngày xâm lăng, Bọn được gọi là Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam đã ra Nghị định số 04/PCT - 75 về thành lập Ngân hàng Quốc gia Việt Nam do Trần Dương làm Thống đốc. Đến ngày 22/ 9/1975, dưới sự lãnh đạo của Bộ chính trị và Trung Ương đảng lao động Việt Nam, CP Cách mạng lâm thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam của Việt cộng đã cho phát hành loại tiền gọi là tiền Ngân hàng VN (còn gọi là "tiền giải phóng") dùng để đổi toàn bộ tiền của miền nam VNCH.


5 đồng tiền VC mặt trước - Photo by TrúcLan (bổ xung cho bài viết)


5 đồng tiền VC mặt sau - Photo by TrúcLan (bổ xung cho bài viết)

Thông báo đổi tiền của VC có thể tóm tắt như dưới đây:

1. 500 đồng tiền VNCH Sàigon cũ lấy 1 đồng mới Ngân hàng Việt Nam.
2. Mỗi gia đình được đổi 100.000 đồng cũ (200 đồng mới) cho tiêu dùng hàng ngày.
3. Những gia đình có buôn bán được phép làm đơn xin đổi thêm 100.000 đồng cũ
4. Những nhà buôn lớn có thể làm đơn xin đổi thêm tiền từ 100.000 đến 500.000 (tối đa) đồng cũ nếu có nhu cầu thực sự.
5. Tất cả số tiền còn lại từ 100.000 đến 1 triệu đồng cũ phải đến nhà băng đổi và gởi vào trương mục.
6. Cuộc đổi tiền sẽ chấm dứt vào 11 giờ đêm ngày 22 tháng 9.
7. Vi phạm những điều nêu trên sẽ bị truy tố trước pháp luật.

"Với lý luận ngu xuẩn hàng hóa làm ra ít, kinh tế sẽ không tăng trưởng nhưng nếu in tiền sẽ bị lạm phát. Vì tiền tệ nằm trong tay dân chúng quá nhiều không phải do sản xuất thì ngân sách nhà nước thất thu. Vì thất thu nên buộc phải in thêm tiền để tiêu dùng nhưng sẽ gây lạm phát (vòng lẫn quẫn). Cho nên đổi tiền là cách giải quyết hoàn hão nhứt vì sẽ phân chia đồng tiền của toàn bộ người dân trong xã hội bằng nhau sẽ làm cân bằng ngân sách nhà nước".

Điều buồn cười là nhà nước Việt cộng "quên" in tiền lẻ nên phải "xài ké" tiền lẻ của miền nam VNCH cho đến đợt II vào tháng 5 hay tháng 6 năm 1978.

Trước tin đổi tiền bị lộ, người dân đã đổ xô đi mua tất cả những gì ...có thể mua để tích trữ đã làm giá cả leo thang vô cùng khủng khiếp. Hậu quả cuộc đổi tiền này đã giết chết nền kinh tế miền nam, và toàn bộ người dân miền nam đã rơi vào thảm cảnh vô cùng nghèo khổ một cách tức tưởi, vô lý đầy uất ức của bao nhiêu năm trời cực khổ làm ăn để dành nay chỉ còn 200 đồng.

Việt cộng đã thành công trong công cuộc "vô sản miền nam 100%" như đúng chủ nghĩa Cộng sản giảng dạy.

Lần 2:

Đổi tiền toàn quốc (thống nhất tiền tệ) vào ngày 2 tháng 5, 1978.

Mặc dù gọi là đổi tiền toàn quốc nhưng đã có sự khác nhau giữa 2 miền bắc và nam.
Miền bắc đổi 1 đồng tiền cũ bằng 1 đồng tiền mới, miền nam đổi 80 xu bằng 1 đồng tiền mới.

Cũng như sự khác nhau về đổi tiền giữa thành thị và nông thôn. Dân thành thị được đổi tối đa:

- 100 đồng cho gia đình 1 người.
- 200 đồng cho gia đình 2 người.
- Gia đình trên 2 người thì người thứ 3 trở đi được đổi 50 đồng/người.
- Tối đa cho mọi gia đình trong thành thị bất kể số người là 500 đồng.

Dân vùng nông thôn được phép đổi tối đa:
- 100 đồng cho mỗi gia đình 2 người (50 đồng mỗi người).
- Gia đình trên 2 người thì người thứ 3 trở đi được đổi 30 đồng/người.
- Tối đa cho mọi gia đình vùng nông thôn bất kể số người là 300 đồng.

Cứ sau mỗi lần đổi tiền là tất cả các loại hàng hóa đều tăng giá ghê gớm, dân đã chết nay càng chết khỏi...đầu thai.

Cả xã hội VN đến TẬN CÙNG của sự bần cùng, tận cùng của nghèo đói đến nỗi nước Nga phải viện trợ thức ăn của ngựa cho người dân Việtnam đếm ăn từng bữa.

Gạo biến mất tiêu, khan hiếm... như vàng. Dân phải ăn cơm độn với khoai mì, khoai lang...hoặc chỉ có ăn...khoai, củ và cây cỏ...

Việt cộng đã "giải phóng" miền nam từ con người ăn cơm ăn thịt nay chuyển sang trâu ngựa ăn cỏ, ăn bobo.

Sự "thành công" của cuộc đổi tiền lần này là đám lãnh đạo Việt cộng biết đúng về chính mình hơn là ....ngu xuẩn và sai lầm.

"Từ ấy nước tôi tràn lũ lụt
Màn trời, chiếu nước, khắp muôn nơi
Làng tôi là một đồi hoang hoá
Hết sạch lương và bặt tiếng chim ca ..."
*(dân gian)

Lần 3:

Lại 1 nỗi kinh hoàng, trời tru đất diệt ập lên cổ lần nữa cho người VN. Sự đau khổ, tiếc nuối của bao nhiêu dành dụm lại tan theo mây khói với những căm hờn, uất hận đè nén tiếp diễn. Lần đổi tiền kỳ này vào ngày 14 tháng 9, 1985 đã được gọi 1 cách mỹ miều là " Cải cách giá-lương-tiền":



- Phát hành tiền mới
- Thu đổi tiền: 10đ tiền cũ=1đ tiền mới

Điều buồn cười nữa là sau khi qui định 10 đồng cũ=1 đồng mới thì sau đó nhà nước quyết định nâng giá lên trở lại 10 lần. Cuộc cải cách giá-lương-tiền đã bị thất bại. Không biết đây là cái ngu hay cái mánh khoé gian xảo của Việt cộng (?).

Lần đổi tiền này mặc dù có tên gọi khác nhưng vẫn như những lần đổi tiền trước đây là san bằng tất cả sự giàu nghèo, cộng với chủ trương không để ai giàu hơn hoặc có tiền nhiều hơn nhà nước. Không 1 người nào được cho phép có số tiền quá mức qui định do nhà nước chỉ định.

Mặc dù gọi là Cải Cách Giá-Lương-Tiền nhưng đám ngu này làm ngược lại là Tiền-Lương-Giá do 3 tên tội đồ dốt nát và hoàn toàn mù tịt về kinh tế là Tố Hữu, Trần Phương, Trần Quỳnh gây ra. Được dân gian móc là Tố Hữu nâng lương-Trần Phương tăng giá.

Trong cương vị Phó Thủ tướng (?), nhà "văn vần" Tố Hữu từng ký vào quyết sách in tờ tiền 30 đồng, tự nó không thành hệ thập phân, gọi là độc nhất vô nhị, hiếm thấy trong lịch sử tiền tệ.

Trong khi mỗi gia đình chỉ được phép đổi 2.000 đồng, phần còn lại nộp vào trương mục ngân hàng, chờ xem xét, kết quả là mất trắng. Năm 1986, lạm phát đến 774,7%, kinh tế kiệt quệ.





Hiện nay, theo như sự tìm kiểm của tôi thì hình như chưa có tài liệu nào rõ ràng, chi tiết về các cuộc đổi tiền của Việt cộng.
Tất cả tài liệu này được viết từ trí nhớ và thâu thập trên net, nên có thể sẽ có nhiều thiếu sót. Quí vị nào có thêm tài liệu xin vui lòng bổ sung thêm.

Bài viết : Dean Nguyen

-----------------------------

Việt cộng tàn ác với nhân dân

Để thấy sự tàn ác này mời các bạn so sánh hành động đổi tiền của việt cộng -do anh Dean Nguyen post ở trên- và của Cộng Hoà Liên Bang Đức.

Das Begrüßungsgeld war eine Unterstützung, die in der Bundesrepublik Deutschland jedem einreisenden Bürger der Deutschen Demokratischen Republik sowie der damaligen Volksrepublik Polen, soweit eine deutsche Abstammung nachgewiesen werden konnte, aus Mitteln des Bundeshaushaltes gewährt wurde. Es wurde 1970 in Höhe von 30 D-Mark eingeführt und konnte zweimal im Jahr in Anspruch genommen werden. 1988 wurde es auf 100 D-Mark erhöht, jedoch auf eine einmalige jährliche Inanspruchnahme beschränkt. Besondere politische und wirtschaftliche Bedeutung erlangte das Begrüßungsgeld infolge der Öffnung der innerdeutschen Grenze am 9. November 1989.
http://de.wikipedia.org/wiki/Begr%C3%BC%C3%9Fungsgeld
Tạm dịch :
Tiền chào đón là một trợ cấp trích từ ngân khoản liên bang cho mỗi công dân của nước Cộng Hòa Dân Chủ Đức cũng như của Cộng Hoà Nhân Dân Ba Lan nếu họ chứng minh được là họ có nguồn gốc Đức. Năm 1970 số tiền này được qui định là 30 DM và có quyền nhận mỗi năm hai lần. 1988 số tiền này được tăng lên là 100 DM (tương đương gần 50 € ngày nay), tuy nhiên mỗi năm bị hạn chế chỉ được phép nhận 1 lần mà thôi. Nhờ việc mở cửa biên giới hai nước Đức vào ngày 9 tháng 11 năm 1989 tiền chào đón mang ý nghĩa chính trị và kinh tế đặc biệt hơn.

Nach dem Mauerfall bildeten sich Ende 1989 im freien, wenn auch weiterhin illegalen Geldwechsel Marktkurse, die kurzzeitig bei 1:10 lagen, sich aber schnell auf ein Verhältnis 1:5 einpendelten. Erst als sich die Währungsunion abzeichnete, stabilisierten sich die Kurse wieder. Offizieller Umtauschkurs bis zur Währungsunion war dann 1:3. Zu diesem Kurs konnte in Filialen der Staatsbank der DDR bis zum 30. Juni 1990 in beide Richtungen unbegrenzt getauscht werden. Noten beider Währungen durften von nun an die deutsch-deutsche Grenze ungehindert passieren. Im ersten Halbjahr 1990 konnte man in der DDR westliche Güter, z. B. Bananen auf Märkten, problemlos für Ost- oder Westmark (fester Kurs: 3:1) kaufen.
Sau khi bức tường (Berlin) đổ , tỉ số giá đổi tiền hình thành cuối năm 1989 trên thị trường hối đoái tự do, ngay cả đôi khi bất hợp pháp, trên tỉ giá 1:10 một thời gian ngắn, rồi lên xuống đến tỉ giá 1:5. Đến khi hợp đồng thống nhất tiền tệ được ký kết thì tỉ giá mới đứng yên trở lại.Tỉ giá công khai cho đến ngày thống nhất tiền tệ là 1:3.Theo tỉ giá này có thể đổi tiền cả hai chiều mà không bị giới hạn trong tất cả chi nhánh ngân hàng nhà nước DDR -CHDC Đức- cho đến ngày 30 tháng 6 năm 1990.
Từ lúc này cả hai loại tiền tệ đều được qua lại biên giới Đức Đức không bị cản trở. Nửa năm đầu 1990 bên DDR -Đông Đức- người ta có thể mua hàng hoá phương tây, ví dụ chuối ngoài chợ theo tỉ giá 3:1 -ấn định chắc- cho đồng tiền Đông hay Tây Đức.

Der Umtauschkurs bei der Einführung der D-Mark in der DDR betrug 1:2. Für Privatpersonen galt die Sonderregelung, dass bestimmte Beträge 1:1 getauscht werden konnten. Dies war abhängig vom Alter: 2000 M für 14-Jährige und jüngere; 4000 M für alle bis zum 60. Lebensjahr; 6000 M für alle älteren Bürger. Stichtag war dabei der Tag der Währungsunion.
Khi áp dụng đưa tiền Tây Đức qua DDR tỉ giá được ấn định là 1:2. Nhưng có điều lệ đặc biệt cho tư nhân là tỉ giá 1:1 cho một số tiền ấn định riêng. Số tiền này lệ thuộc vào tuổi tác : từ 14 tuổi hay nhỏ hơn là 2000 M, đến 60 tuổi thì được 4000 M, trên 60 tuổi được đổi 6000 M.Ngày đổi là ngày thống nhất tiền tệ.

Die Umstellung der Löhne und laufenden Kosten wie Miete, Strom etc. geschah 1:1. Bei allen Gütern, bei denen nun die staatliche Subventionierung wegfiel, kam es zu deutlichen Preiserhöhungen.
Lương phạn và giá cả như thuê nhà cửa, điện nước .v.v. được tính đổi theo tỉ lệ 1:1.Những mặt hàng mà không còn được nhà nước yểm trợ thì giá cả tăng rõ rệt.

http://de.wikipedia.org/wiki/Mark_%28DDR%29#Umtausch_und_W.C3.A4hrungsreformen

Nhắc lại chi tiết như trên cho đồng bào thấy cộng sản việt nam nó ác tới cỡ nào.
Tiền người dân miền nam bỏ vào nhà băng cũng bị tước đoạt hoàn toàn... nhưng ai mắc nợ nhà băng không cần biết ngân hàng quốc gia hay ngoại quốc, việt cộng chận đầu bắt phải trả cho hết.

Nhưng thử hỏi tiền bạc ấy ai hưởng. Nhân Dân hai miền được những thứ gì khi làm chủ đất nước ???

Tại sao bọn đầy tớ trước đây 36 năm trên răng dưới dế ... mà nay có tiền đánh bạc hàng triệu hàng tỉ đồng... đang khi con em nhân dân đi học cũng không có cái ăn, không có được chỗ ị ???

Bài viết : trích từ VietLand
0


Chuyện cổ tích xứ Nam Tiên

Ngày xưa tại nước Nam Tiên ấy
Có nhiều phố nhỏ đẹp như mơ
Dân giàu nước đẹp ít ai thấy
Cuộc sống bình yên như bài thơ

Đất nước Nam Tiên có nhiều rừng
Cây to gỗ đẹp lá um tùm
Có loài khỉ đột chuyên phá phách
Cành gẫy trái non rụng lung tung

Quân lính triều đình đi dẹp khỉ
Khỉ trẻ khỉ già chạy lung tung
Khỉ này bị nhốt khỉ kia thoát
Dân chúng thương cho lũ khỉ rừng

Dân làng cung cấp khỉ đồ ăn
Nuôi nấng khỉ con thật đàng hoàng
Bực mình quân lính hay lùng khỉ
Dân làng chống cự với quân quan

Đàn khỉ mỗi ngày mỗi thêm đông
Có con ăn mặc giống người dân
Dân làng “mặc kệ người hay khỉ
Lo lắng làm chi cho mất công!”

Thế rồi khỉ lật đổ quốc vương
Thay thế luật vua với luật rừng
Đất nước đẹp giàu nhưng chẳng mạnh
Nay thành xứ khỉ, “Khỉ Thiên Đường”

Người ta chứng kiến khỉ trả thù
Người nhốt trong rừng, kẻ lao tù
Khỉ ra thành phố người rừng rậm
Khỉ học làm quan người học đu

Nay khỉ ngựa xe, là phụ mẫu
Dân thì bới, lượm và đu dây
Rừng xưa hoang phế, đất đổ máu
Tại người hay khỉ, tại ai đây?

Có lẽ là lỗi tại ông trời
Tại người nông cạn, vô ơn thôi!
Hồn thiêng non nước Nam Tiên hỡi
Bao giờ người mới trở thành người?


dohop, 20/7/2010 gần Nam Thiên Tự, Úc Châu



Truyện cổ tích xứ Nam Tiên (Hồi 2)

Dân đen chưa trở lại thành người
Rừng thiêng non nước vẫn tả tơi
Bầy khỉ diện người nhưng tâm quỷ
Thao túng tài nguyên phá đất trời

Tham lam khỉ bán nước Nam Tiên
Cho một bầy heo nọc xỏ xiên
Xứ khỉ trở thành Châu Bắc Quỷ
“Trư Hầu” Thái Thú lên cầm quyền

Lũ heo chiếm đoạt được đất đai
Nhưng chẳng lấy được chút lòng người
Heo, khỉ và người cùng chính kiến?
Tự do? Chẳng ngôn ngữ loài người!

Bầy lợn mỗi lúc mỗi thêm đông
Con thì mập ú, con xù lông
Chẳng còn phân biệt heo hay khỉ
Tranh đấu làm chi cho mất công?

Đất nước Nam Tiên xưa đẹp sao
Nay thành xứ sở vượn và heo
Loài người khan hiếm tình nhân loại
Bỗng chốc hoan nghênh Bác Trư Hầu.

dohop, 9/10/2012 gần Nam Thiên Tự


📎 7152761a..drender
Hoa tím học trò
Đời là
Bốn  mùa thương và nhớ
Nghịch ngợm
Góp nhặt dịch thành thơ (Từ Tiếng Anh) 
Repost – Kho Thơ Lưu Trữ của dohop
0
Trích đoạn: dohop



Chuyện cổ tích xứ Nam Tiên

Ngày xưa tại nước Nam Tiên ấy
Có nhiều phố nhỏ đẹp như mơ
Dân giàu nước đẹp ít ai thấy
Cuộc sống bình yên như bài thơ

dohop, 20/7/2010 gần Nam Thiên Tự, Úc Châu

Truyện cổ tích xứ Nam Tiên (Hồi 2)

Dân đen chưa trở lại thành người
Rừng thiêng non nước vẫn tả tơi
Bầy khỉ diện người nhưng tâm quỷ
Thao túng tài nguyên phá đất trời

Đất nước Nam Tiên xưa đẹp sao
Nay thành xứ sở vượn và heo
Loài người khan hiếm tình nhân loại
Bỗng chốc hoan nghênh Bác Trư Hầu.

dohop, 9/10/2012 gần Nam Thiên Tự


 
Phù Vân tỷ tỷ ba lu ba loa béhộp ! Lâu ngày dữ hen !
mới ở sócbombo dìa hả ?
sao béhộp thả khỉ thả lợn chạy tùm lum trong Câu Lạc Bộ dị? gớm thí mồ !
béboooooooooooooooo nấu nước làm lông cho côcô nghen !
anh Tư, chị TrúcLan, bébo tê tê hỏi béhộp nè :
Mai anh về em gởi gì không?
Mai anh về em có về không!
 


https://www.box.com/shared/a855149095f2e65e0029

M A I  A N H  V Ề
sáng tác Dzuylynh | trình bày thiênthanh.dzuylynh
album Việt Nam Minh Châu Trời Đông . bccb | Aug 20.2012
( tặng áo trắng bichhien.trưng vương trúclan )

mai anh về em gởi gì không
gởi quê hương ánh mặt trời hồng
nhắn tiếng quốc trưa hạ réo nước
thay tiếng ve nức nở gọi hè

mai anh về em gởi gì không
gởi non sông một gói độc lập
gởi muôn dân hộp quà no ấm
thay đói nghèo lao ngục lầm than

mai anh về em cùng về không
ghé biển Đông xé ngọn cờ hồng
đòi Hòang Sa về tay nuớc Việt
dời Trường Sa về đất phương Nam

ta cùng nhau ghé mái trường xưa
tìm tuổi thơ vương nơi cửa lớp
anh cùng em dạy bầy trẻ nhỏ
tập đánh vần hai chữ Việt-Nam

Mai anh về em gởi gì không?
Mai anh về em có về không![/align]
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2012-10-09 15:19:28thiên thanh>
chị Trúc Lan mần thanh nhạc trên tấm poster hợp quá, chị dạy rồi, em học rồi em mần thử :
&lt;embed width="337" height="134" src="http://ak.webfetti.com/assets/modules/music/music_13.swf" quality="high" flashvars="&u=http://vnthuquan.net/user/dzuylynh/tiengthu_dzuylynh.mp3&s=false&r=0&c=Phiến Tình" wmode="transparent" /&gt;
mà hong ra ... hihihi ... [sm=104.gif]

tt chào bé đồ hộp, Sông Hương, tỷ Phù Vân [sm=secret.gif] khỉ con giống ... bố lynh, ủa lộn giống bo [:D]

tt mời cả nhà thưởng thức bài mới bài mới ...[sm=40.gif]





https://www.box.com/shared/7yxfl0e16fbb4mg0tpp5

TIẾNG THU

thơ Dzuylynh | diễn đọc thiênthanh
Album Tiếng thu | btcb

có chút nắng nào anh cho em không.
bởi thu về se lạnh,
và lá đổ mênh mang.
lá úa vàng, tiếng vỹ cầm đi vắng từ dạo mình chia tay.
em thu mình trong cõi riêng mình,
tưởng chừng có anh ru giấc muộn lục huyền cầm tha thiết.
không là tiếng thu sao? chỉ có âm rì rào của lá xát vào lòng
xao xuyến lòng người thiếu phụ cô đơn.

lá rơi, lá rơi. lá rơi rơi ...
lệ ngân. lệ ngân, ngân mãi như giọt mưa
không chờ mây tým hoàng hôn kịp bước quay về phủ kín niềm riêng
anh người lữ khách phong trần vui với gió sương
cây đàn trên vai là hành trang thiên lý
cất giấu trong tận cùng dưới đáy huyệt tâm can bóng hình tổ quốc quê hương
và em biết có em luôn ở bên anh

chiếc lá cũng cần có xương để đến lúc buông mình vẫn còn nguyên vẹn hình hài
em gọi là xương, là máu của mùa thu,
là anh đó! có biết không? người một thời em dấu ái thương yêu.
bầu thơ thấm giọt hồ trường khắc khoải tha hương người da vàng mất nước
tiếng hát mang mang buồn xa vắng...
tiếng thu tràn mênh mông bát ngát.
nghe khúc khắc như tiếng ho của đất trời thiếu nắng thừa mưa ở nơi này.
có phải tiếng thu là tiếng nức nở của mưa?
mưa sương,
mưa mây,
mưa lệ,
mưa nhớ,
và mưa em...
giọt hóa thành sông,
trông ra bể Đông vời vợi. nơi quê hương mình bỏ lại sau lưng

như mùa thu bỏ rừng bỏ lá
nhưng em sẽ không bỏ anh đâu!

bởi, tiếng thu mãi là tiếng vọng từ nhịp thở khúc du ca rừng lá thiên thu mà hóa thạch
em vẫn chờ anh về,
để ước có một lân nghe chạm tiếng thu lanh canh khuấy trong chén đá âm thanh...

chỉ có mình em hiểu
bây giờ,
ngày mai .
lúc nào cũng được.
vâng ! sao cũng được.
dẫu gì, mùa thu đã đang về rồi đó ! anh có biết không?

thunglũnghoànghoa.ngàytámthángmườinămhainghìnmườihai.dzuylynh
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2012-10-10 15:31:18Trúc Lan>
Trích đoạn: thiên thanh

chị Trúc Lan mần thanh nhạc trên tấm poster hợp quá, chị dạy rồi, em học rồi em mần thử :
&lt;embed width="337" height="134" src="http://ak.webfetti.com/assets/modules/music/music_13.swf" quality="high" flashvars="&u=http://vnthuquan.net/user/dzuylynh/tiengthu_dzuylynh.mp3&s=false&r=0&c=Phiến Tình" wmode="transparent" /&gt;
mà hong ra ... hihihi ... [sm=104.gif]

Muốn vào nước Thiên Đàng thì phải nhờ ông thánh Phêrô mở cổng, bởi vì ông ấy giữ chìa khoá. hihihihihi... ([sm=3.gif]cười nheo mắt)

Muốn tạo được thanh nhạc trong CLBTÂ thì phải nhờ đến người giữ chìa khoá cổng HTML...
tức là phải năn nỉ đến Admin Công Tử Lỳ mở cửa cho vào. hehehehehehe.. ([sm=21.gif]cười dê núi)

Ở bên kia trong topic LỀU THƠ_NHẠC Dzuylynh, cái cổng HTML này cũng bị khoá kín...
chị đã nhờ TAX mở ra, nên mới post thanh nhạc vào được.

Trong bài hướng dẫn sử dụng diễn đàn Việt Nam Thư Quán... (Bấm vào đây)..... vị tướng 5 sao Mars có viết ở cuối bài post #1 : Khi đánh dấu vào ô "Xem html" thì bài viết của bạn sẽ được hiển thị dưới dạng mã html Tag . Xem hình dưới.



Tuy nhiên trong phần editor của VNTQ lại không mở nút bấm Xem html thì làm sao mà xem html ???
Vậy muốn tạo được thanh nhạc thì editor phải có nút bấm html. [sm=ex58.gif]

Chị tạo được thanh nhạc trên tấm poster của em là sử dụng cách tạo Flash, nhưng nếu tạo thanh nhạc be bé, xinh xinh
thì bị trở ngại là độ lớn (width và height) của thanh nhạc không điểu chỉnh được theo ý mình, bởi vì mặc định (default)
đã được VNTQ thiết kế từ trước. Nếu có nút html thì rất tuyệt.

[sm=MexicanWave.gif]
0
Thời tiết Âu Châu đang ở vào thời cao điểm của mùa thu 2012,
cây cối bắt đầu trơ cành trụi lá để chuẩn bị cho mùa đông tuyết phủ...
Mời ACE nghe bài Ngàn Thu Áo Tím mà TrúcLan hát cách đây vài tháng.
Bây giờ TrúcLan moi ra luộc lại (bắt chước kiếu nói của nLynh...) [sm=z_yucky.gif]



[sm=band.gif]
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2012-10-11 15:35:50dzuylynh>


H Ẹ N N H A U S À I G Ò N 2 0 1 2

Dzuylynh tùy bút | Trích Hồi Ký " Cò Bồng Dấu Ngựa "

( tiếo theo )


Âm thanh huyền diệu - tổng phổ bản hợp xướng Nếp Sống Văn Minh
Vừa ra khỏi cổng Phi Long đã thấy chóng mặt vì lưu lượng xe cộ chung quanh, chiếc Taxi tôi ngồi bên trong có kẹp theo xe gắn máy người nhà đi theo để kèm hướng đạo (thực chất là dẫn đường cho đúng lộ trình, sợ bác tài mánh mung chạy lòng vòng câu km kiếm thêm thu nhập) !!! Có chuyện này nữa sao ?
Có chứ ! Người Saigon nói mà không đúng à !
Trước 75 làm gì có chuyện thô bỉ ổi này. Cuộc đổi đời thật đúng nghĩa, từ nghĩa đen thui đến trắng bóc !
Một đàn ruồi về thành phố?
Một đàn kiến đang chạy lụt?
Một bầy ong vừa vỡ tổ?
Hay là hai con mắt mình chúng nó đang giận nhau ?
Không phải đâu nhé, chỉ là xe và xe cùng tiếng còi các lọai từ một tech đến hightech âm thanh "cực kim" inh ỏi đang chen chúc trong cái nóng điên người của Saigon đầu tháng chín. Thêm vào cái "chảo kim cô" úp chụp trên đầu của các tài xế xe hai bánh đủ phân khối làm thính giác đi hoang, lỗ tai đâm hoảng...
Âm thanh khuếch đại thêm với tiếng rao hàng hiện đại bằng "kỹ thuật cao" là dàn máy CD mini của các ông bán bánh giò bánh chưng, bán thuốc diệt chuột, thu mua ve chai lông vịt và đủ thứ mặt hàng lủ khủ khác nữa .Chưa kể tiếng chửi tục phát ra cả nùi từ những cái lổ mồm của đám cửu vạn, di dân bất hợp pháp "từ Bắc vô Nam tay cầm bó rau, tay kia cầm sợi dây để dắt con cầy" sau ngày mât nước làm cho bản hợp sướng trở nên hợp... khổ làm sao !
Người như nêm, xe như thác cứ theo giòng cơm áo gạo tiền mà tuần hòan bất kể ngày đêm. Phải công nhận là người Saigon lái xe rất hay, luồn lách leo lề mà không hề lạc lái ;
Đèn Saigon ngọn xanh ngọn đỏ
Đèn ngã tư ngọn tỏ ngọn lu
Đỏ, xanh cũng phóng vù vù
Thượng tôn luật pháp có ngày đầu u
Giao thông kiểu khỉ bú dù
Đỉnh cao trí tệ vậy mà phẻ ru
Chiếc Taxi sau khi chấm dứt bài hát “từng bước từng bước thầm“ uể ỏai dừng hẳn lại trước tượng đài Thủy Quân Lục Chiến, nay chỉ còn đọng lại trong ký ức một thời của kẻ thất trận tha hương trở về chốn cũ.
Tôi đứng chấp tay sau lưng, nhắm mắt thấp đầu cúi xuống dành một phút mặc niệm cho Anh, người sĩ quan kiêu hùng Cảnh Sát Quốc Gia đã tự kết liểu mạng sống mình dưới chân tượng đài này vào ngày thủ đô thất thủ để giữ trọn khí tiết người trai thời loạn. Vì bị đồng minh bội phản, vì chính quyền tham nhũng, tướng lãnh bất tài, vì vận nước đã mạt mà đành thúc thủ không làm tròn nhiệm vụ bảo quốc an dân. Tôi xấu hổ vì thiếu cái dũng khí như Anh, như những người Lính Dù trước cổng trại Hoàng hoa Thám. Như những chiến sĩ vô danh các quân binh chủng khác đã quây quần ôm lựu đạn rút chốt tự sát cùng đồng đội khi một số các thẩm quyền đã khiếp nhược đớn hèn cao chạy xa bay tìm chốn an thân bỏ lại lời thề quyết tử với thuộc cấp cho trọn tình chiến hữu. Tôi nghiêng mình trước vong linh các Anh với niềm kính phục vô biên và hãnh diện vì Tổ Quốc đã có những đứa con trung hiếu, Tôi tự hào vì Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa có những chiến binh hào hùng như vậy!
Than ôi! Những người muôn năm cũ, hồn ở đâu bây giờ? Hỡi những anh hùng vị quốc vong thân!
Hỡi các đồng đội Cọp Biển uy danh một thuở!
Chúng tôi đã cùng các anh vào sanh, nhưng các anh đã ra tử, sống khôn thác thiêng xin phù hộ cho đất nước Việt Nam mình sớm đánh đuổi được quân cướp nước, bán đất dâng biển, hèn với giặc ác với dân, cõng rắn cắn gà nhà_ cộng sản Bắc Việt.
Khi cảm thấy có vài cặp mắt khả nghi chăm chăm nhìn mình đang thẩn thờ với thái độ dò xét, tôi bừng tỉnh trở về thực tại.
Tìm một quán cà phê vĩa hè thật khó tại đại lộ Lê Lợi, đốt điếu thuốc lá, xốc lại balô, tôi lang thang một vòng bách bộ hòn ngọc viễn đông ngày trước mà buồn tủi cho thân phận da vàng nhược tiểu của mình.
Thành phố bề ngoài có vẻ khởi sắc sau khi hung thần chiến tranh đi vắng, ngựa xe như nước áo quần như nêm.
Khách sạn mọc lên như nấm sau cơn mưa mà khách trú lưa thưa như chùa thiếu Sãi.
Siêu thị lềnh khênh cũng chỉ tênh hênh vài mạng đi tìm chút mát mẻ của máy điều hoà không khí bên trong. Khi tôi đưa máy chụp hình lên định làm một vài tấm để đem về tự khoe với ...mình, công dân hạng bét của "đế quốc Mỹ xâm lược", anh chàng gác dan ( việt cộng gọi là bảo vệ / Mẽo kêu là sờ q tí ti _ security ) xề ngay tới nói ở đây không được chụp hình ! Tôi hỏi tại sao? Chàng bảo sợ kẻ xấu ăn cắp mẫu mã design quảng cáo! Trời đất! Tôi nhìn lại mình, cũng bảnh như cái lu chứ xấu xí chỗ nào ta? Dẫu gì cũng đường đường là một đống Dịt Kìu thất nghiệp chớ bộ? Thế thì thôi, đây đếch chụp nữa ! Mồ mả người đã khuất các anh còn đào bới lên được để trả thù thì mẫu mã xấu òm ba rọi lai căng như vầy ai mà thèm chôm cơ chứ? Hóa ra là trong cái khó nó ló cái ngu! Chất xám xã hụi chủ nghỉ đâu cả rồi nhỉ? Lại rập khuông sao chép ăn cắp lẫn nhau như đàn anh khu hở mông lạnh Trung Cuốc vĩ đại ư?
Khu gọi là Hàng Hiệu dọc theo đường Phan thanh Giản, Trần quốc Tỏan, Chi Lăng, v.vv...nhìn thấy hàng hóa, nhất là áo thun quần "bò", y phục thời trang, thậm chí ngay cả đồ gia dụng trông rất quen quen, ghi rõ made in VietNam ... Lúc ầm lên xem kỹ thì ra copy sao y bản nháp của nguời mà ra của mình! Thêm trò sơn đông mãi võ quảng cáo hàng "kim khí điện máy" iphone, ipad...TiVi, Tủ Lạnh...rùm beng ồn ào tạp nhạp như vỡ chợ Trước cửa hàng, các em bé bé bòn bon chân dài mỏ nhọn hở lưng hở rún với âm thanh nhạc trống kèn đàn khuếch đại tối đa, ưỡn ngực ẹo lưng vén mồm sủi bọt mà rên la mấy ca khúc tự biên tự tử vô duyên chả ra làm sao cả ! Nhức cái đầu, không mau mà tránh đi chỗ khác cho khỏe cái tai...


Tài xế xe ôm bất đắc dĩ
Làm một vòng sơ ngộ thành đô thấy cũng tạm đủ đứ đừ vừa sau gần 20 giờ ngồi ẹo cả lưng trên máy bay tàu bò, bây giờ trở lại "gác trọ về khuya cơn gió lùa", mèn, chưa kịp pha ly cà phê đá đã nghe phone reo réo rắt... Nghe giọng *Bắc Kỳ chín nút mất gốc lai giá sống cộng thêm âm hưởng tiếng cười hăng hắc thỏai mái vô biên thấy quen lắm.
( *dân Bắc kỳ di cư 1945 _ 1954 đi cành cạch lửa hay tàu há mồm vô Nam như tôi gọi là Bắc kỳ 9 nút, để phân biệt với đám ăn cướp miền Nam bắc kỳ 1975 _ gọi là bắc kỳ 2 nút . dĩ nhiên là chúng thua mình đến 7 nút, nếu ngồi xòe bài cào đếm nút ăn thua đủ trên chiếu bạc )
Tưởng ai, hóa ra là cái mỏ của "con bé làm nghề bán nước miếng ".
- Anh cũng về Saigon hả? sao em không biết?
- Biết làm gì, có bổn phận phải thông báo cho em sao? Nhiều chuyện quá đi cô Tám. Đang trên phone ở ViệtNam đó, không phải dahu chát 888 trên "mạng" đâu! Không c.a.m. thì cũng quít, không ruồi thì cũng nhặng! Không cầy tơ thì cũng chó săn cà bầy .
Ở đây không phải như bên Tây, bên Mỹ đâu nhé ! Lựa lời mà nói đấy cô! Có đứa ăn lương nhà nước để rình nghe chuyện nhà người "lạ" đó ! Em về Saigon làm gì?
- Dạ, em bị về mà... không muốn cũng không được ! Có anh bạn thân đồng nghiệp, sang BaGi lúc bé tẻo tèo teo từ năm 78, tự nhiên lên cơn nhớ quê hương là đùm Khế chua khế ngọt ở bển, muốn về cho biết quê ta anh hùng giàu đẹp, đỉnh cao trí tệ cùa lòai hầu ra sao, năn nỉ em đi cho có bạn .
- Em đang ở đâu? Bế anh bạn theo đi uống cà phê với anh không?
- Cũng không xa chỗ anh lắm đâu! Leo lên Taxi đánh một giấc, chỉ một tiêng đồng hồ; nếu hên gặp bác tài họa sĩ còn sót miếng lương tâm là tới thôi ! Đường xá đông như mắc cửi, nghẹt cứng à ! Nguời ở đâu mà như dòi trong hũ mắm bể tràn cả ra phố. Hình như dân ngòai Bắc tràn ngập hết vô Nam hay sao anh ạ ! Em về VN cả tuần rồi, ra đường thấy nhiều người lận bó rau muống trong lưng lắm !
- Sao em lại gọi đồng bào mình là dòi ! Tầm bậy tầm bạ nhé, khỉ ạ !
- Dạ không, ý em nói là đám bake 75 chớ bộ ! Em đâu dám ám chỉ người miền Nam mình. Sáng sớm mai tụi em đi miền Trung rồi, theo tua du lịch á ! Khi em về rồi tính sau nghe anh.
- Ừ!
Đói bụng, mệt mỏi, chán nản... tôi làm bát mì gói cho xong .
Ngày mai đi kiếm chiếc xe bình bịch, ra đầu hẻm ôn lại vài vòng, ngày mốt thượng lên con ngựa sắt mà ... đua cho tiện việc. Mình làm gì có máy in tiền mà leo lên Taxi ? Cái máu yên hùng xa lộ của tôi lại được dịp nổi lên đùng đùng sau bao nhiêu năm bị ngồi trong xế hộp ở đất tạm dung rồi...
Có cuốn lịch ghi chép mang theo, bỏ trong ngăn ngòai valise, tìm hòai không thấy, chắc bị đám khỉ ở sân bay TSN chôm mẹ nó rồi! Thật bực mình !
Thôi, ngủ một giấc cái đã .
Ngày ngủ, đêm thức như ma . Như ma!
Nào phải riêng gì tôi, cả miền Nam này, cả cái đất Sàigòn này, sau ngày đổi chủ thay tên, ai cũng sống như Ma cả !
Xác ở đây mà hồn mãi vất vưởng lang thang với tháng ngày hoa mộng thanh bình thuở trước, thuở mà lũ Khỉ chưa nhét kỹ cái đuôi cáo đuôi Hồ mặc áo làm người. Những con người không có con ngươi. Những con ngươi không có con người !!!
Thôi thì, đi với Phật mặc áo Cà Sa, đi với Ma mặc áo ... Giáp !
Saigon bây giờ đẹp lắm không em?
Đẹp chứ! Quá đẹp bề ngòai mà rách nát tả tơi bên trong.
Saigon của chúng ta hôm nay như một mụ nạ dòng đang chờ ngày gã ma cô xô xuống huyệt, Giũ bỏ lớp phấn son loè loẹt bên ngòai, gương mặt chỉ còn trơ ra những lỗ cùng hang, nếp nhăn và dấu sẹo.
Ai đã làm cho con người trở nên tha hóa đớn hèn, lường gạt, dối trá nhau để mưu sinh mà thoát hiểm ???
Hiểm thật ! Có ra đường, có lăn xả vào nhịp sống Sài Gòn hôm nay, có lê la đầu hè xó chợ từ cao ốc biệt thự cho đến mái tranh vách ván mới nghe, mới thấy và mới hiểu! Ngồi nhà mở Internet xem có vẻ như không thực tế chút nào !

(còn tiếp)
Cung Điệu Phù Trầm 
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2012-10-11 16:42:49dzuylynh>





Cung Điệu Phù Trầm 
0
4 NGUYÊN TẮC TÂM LINH CỦA NGƯỜI ẤN ĐỘ.



1 -Quy tắc đầu tiên là: “ Bất cứ người nào bạn gặp cũng đúng là người mà bạn cần gặp cả. ”

+ Điều này có nghĩa rằng không ai xuất hiện trong cuộc đời chúng ta một cách tình cờ cả.
Mỗi người xung quanh chúng ta, bất cứ ai chúng ta giao lưu, đều đại diện cho một điều gì đó,
có thể là để dạy chúng ta điều gì đó hoặc giúp chúng ta cải thiện tình hình hiện tại.


2- Quy tắc thứ hai là: “ Bất cứ điều gì xảy thì đó chính là điểu nên xảy ra.”

+ Không có điều gì, tuyệt đối không có điều gì chúng ta trải nghiệm lại nên khác đi cả.
Thậm chí cả với những điều nhỏ nhặt ít quan trọng nhất. Không có; Nếu như tôi đã làm điều đó khác đi...,
thì nó hẳn đã khác đi. Không. Những gì đã xảy ra chính là những gì nên xảy ra và phải xảy ra giúp chúng ta
học ra bài học để tiến về phía trước. Bất kỳ tình huống nào trong cuộc đời mà chúng ta đối mặt đều tuyệt đối
hoàn hảo, thậm chí cả khi nó thách thức sự hiểu biết và bản ngã của chúng ta.


3- Quy tắc thứ ba là: “ Trong mỗi khoảnh khắc, mọi sự đều bắt đầu vào đúng thời điểm. ”

+ Mọi thứ bắt đầu vào đúng thời điểm, không sớm hơn hay muộn hơn. Khi chúng ta sẵn sàng cho nó,
cho điều gì đó mới mẻ trong cuộc đời mình, thì nó sẽ có đó, sẵn sàng để bắt đầu.


4- Đây là quy tắc thứ tư, quy tắc cuối cùng: “ Những gì đã qua, cho qua";

+ Quy tắc này rất đơn giản. Khi điều gì đó trong cuộc sống của chúng ta kết thúc,
thì có nghĩa là nó đã giúp ích xong cho sự tiến hoá của chúng ta. Đó là lý do tại sao,
để làm phong phú thêm trải nghiệm của mình, tốt hơn hết là chúng ta hãy buông bỏ
và tiếp tục cuộc hành trình.

Tôi nghĩ là không phải là tình cờ mà bạn đang đọc những dòng này.
Nếu bài viết này đánh động tâm hồn bạn, đó là bởi vì bạn đáp ứng được những yêu cầu
và hiểu rằng không một bông tuyết nào lại tình cờ rơi xuống sai chỗ cả.


Hãy đối xử tốt với chính bản thân bạn.
Hãy quý trọng tất cả những điều dù tốt, dù xấu đã xảy ra trong cuộc đời bạn.
Hãy yêu thương với tất cả tâm hồn bạn.

Hãy luôn hạnh phúc.











[sm=40.gif]
0



TỪ BI VỚI MÌNH


Bác Sĩ Đỗ Hồng Ngọc

Ngậm ngùi bởi tiếc nuối tuổi trẻ đã trôi qua lúc nào không hay ! Ngậm ngùi phải chi hồi đó thế này thế khác... Hình như ta chẳng bao giờ thực sống. Lúc còn trẻ, ta mơ ước tương lai, sống cho tương lai. Nghĩ rằng phải đạt cái này cái nọ, có được cái kia cái khác mới là sống. Khi có tuổi, khi đã có được cái này cái nọ, cái kia cái khác thì ta lại sống cho quá khứ ! Nhỏ mong cho mau lớn, lớn mong cho nhỏ lại. Quả là lý thú ! Tóm lại, ta chẳng biết quý những giây phút hiện tại.

Từ ngày "thế giới phẳng", ta còn sống với đời sống ảo. Ta ngồi đây với bạn nhưng chuyện trò với một người nào khác, cười đùa, nhăn nhó, giận dữ, âu yếm với một người nào khác ở nơi xa. Khi bắt lại câu chuyện thì nhiều khi đã lỡ nhịp ! Hiểu ra những điều tầm thường đó, tôi biết quý thời gian hơn, quý phút giây hiện tại, ở đây và bây giờ hơn. Nhờ vậy mà không có thì giờ cho già nữa ! Hiện tại thì không có già, không có trẻ, không có quá khứ vị lai. Dĩ nhiên, không phải trốn chạy già mà hiểu nó, chấp nhận nó, thưởng thức nó. Khi biết "enjoy" nó thì quả có nhiều điều thú vị để phát hiện, để khám phá.

Một người 60, tiếc mãi tuổi 45 của mình, thì khi 75, họ sẽ tiếc mãi tuổi 60, rồi khi 80, họ sẽ càng tiếc 75 ! Vậy sao ta đang ở cái tuổi tuyệt vời nhất của mình lại không yêu thích nó đi, sao cứ phải....nguyền rủa, bất mãn với nó. Có phải tội nghiệp nó không ? Ta đang ở cái tuổi nào thì nhất định tuổi đó phải là tuổi đẹp nhất rồi, không thể có tuổi nào đẹp hơn nữa!

Ta cũng có thể gạt gẫm mình chút đỉnh như đi giải phẫu thẩm mỹ chẳng hạn. Xóa chỗ này, bơm chỗ nọ, lóc chỗ kia. Nhưng nhức mỏi vẫn cứ nhức mỏi, loãng xương vẫn cứ loãng xương, tim mạch vẫn cứ tim mạch... Cơ thể ta cứ tiến triển theo một "lộ trình" đã được vạch sãn của nó, không cần biết có ta ! Mà hình như, càng nguyền rủa, càng bất mãn với nó, nó càng làm dữ. Trái lại nếu biết thương yêu nó, chiều chuộng nó một chút, biết cách cho nó ăn, cho nó nghỉ, biết cách làm cho xương nó cứng cáp, làm cho mạch máu nó thông thoáng, làm cho các khớp nó trơn tru thì nó cũng sẽ tử tế với ta hơn. Anh chàng Alexis Zorba nói: " Cũng phải chăm nom đến thân thể nữa chứ, hãy thương nó một chút. Cho nó ăn với. Cho nó nghỉ với. Đó là con lừa kéo xe của ta, nếu không cho nó ăn, nó nghỉ, nó sẽ bỏ rơi mình ngang xương giữa đường cho mà coi" (Nikos Kazantzaki).

Từ ngày biết thương "con lừa" của mình hơn, tử tế với nó hơn, thì có vẻ tôi... cũng khác tôi xưa. Tôi biết cho con lừa của mình ăn khi đói, không ép nó ăn lúc đang no, không cần phải cười cười nói nói trong lúc ăn. Món gì khoái khẩu thì ăn, chay mặn gì cũng tốt. Cá khô, mắm ruốc gì cũng được, miễn là đừng nhiều muối quá ! Một người cô tôi mắc bệnh "ăn không được", "ăn không biết ngon" vậy mà vẫn béo phì, đi không nổi, là bởi vì các con thương bà quá, mua toàn sữa Mỹ mắc tiền cho uống ! Sữa giàu năng lượng, nhiều chất béo bổ quá, làm sao còn có thể ăn ngon, làm sao không béo phì cho được? Giá nghèo một chút còn hay hơn! Cá kho quẹt, rau muống mà tốt, miễn bà ăn thấy ngon, thấy sướng ! Tôi cũng biết cho con lừa của mình ngủ hơn. Ngủ đầy giấc, đủ giấc. Ngủ đủ giấc là cơ hội tốt nhất cho các tế bào não phục hồi, như sạc pin vậy. Sạc không đủ mà đòi pin ngon lành sao được !

Bảy trăm năm trước, Trần Nhân Tông viết: Cơ tắc xan hề khốn tắc miên! (Đói đến thì ăn, mệt ngủ liền!) trong bài Cư trần lạc đạo, (ở đời mà vui đạo)!

Ông là vị vua nhà Trần sớm nhường ngôi cho con, lên tu ở núi Yên Tử, Tổ sư thiền phái Trúc Lâm. Tu hành như vậy mà khi quân Nguyên xâm lấn nước ta, ông liền xuống núi, ra tay dẹp giặc . Xong, phủi tay lên núi tu tiếp !

Mỗi người có đồng hồ sinh học của riêng mình, không ai giống ai, như vân tay vậy, cho nên không cần bắt chước, chỉ cần lắng nghe mình.
Phương pháp này, phương pháp nọ của người này người kia bày vẽ chẳng qua cũng chỉ để tham khảo, nắm lấy nguyên tắc chung thôi, rồi áp dụng vào hoàn cảnh riêng cụ thể của mình, tính cách mình, sinh lý mình.
Phương pháp nào có sự ép buộc cứng ngắc quá thì phải cảnh giác!

Cũng nhớ rằng tới tuổi nào đó, tai ta sẽ bắt đầu kém nhạy, mắt bắt đầu kém tinh, đấu óc bắt đầu kém sắc sảo. Tai kém nhạy để bớt nghe những điều chướng tai. Mắt kém tinh để bớt thấy những điều gai mắt. Đầu óc cứ sắc sảo hoài ai chịu cho nổi! Tuy vậy, tai kém mà muốn nghe gì thì nghe, không thì đóng lại mắt kém mà muốn thấy gì thì thấy, không thì khép lại. Thế là "căn" hết tiếp xúc được với "trần". Tự dưng không tu hành gì cả mà cũng như tu, cũng thực tập ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm!

Rồi một hôm đẹp trời nào đó ta còn có thể phát hiện mắt mình chẳng những nhìn kém mà còn thấy những ngôi sao lấm chấm, những lốm đốm hoa trên bầu trời trong xanh vời vợi kia. Nếu không phải do một thứ bệnh mắt nào đó thì đây hẳn là hiện tượng thoái hóa của tuổi già, nói nôm na là xài lâu quá, hết thời hạn bảo hành. Cái mà người xưa gọi là "hoa đốm hư không" chính là nó. Tưởng hoa đốm của trời, ai dè trong mắt mình!
Chỉnh cái "tưởng" của ta nhiều khi làm hại ta. Biết vậy ta bớt mất thì giờ cho những cuộc tranh tụng, bớt tiêu hao năng lượng vào những chuyện hơn thua. Dĩ nhiên có những chuyện phải ra ngô ra khoai, nhưng cái cách cũng đã khác, cái nhìn đã khác, biết tôn trọng ý kiến người khác, biết chấp nhận và nhìn lại mình.

Khi 20 tuổi người ta băn khoăn lo lắng không biết người khác nghĩ gì về mình. Đến 40 thì ai nghĩ gì mặc họ. Đến 60 mới biết chả có ai nghĩ gì về mình cả ! Tóm lại, chấp nhận mình là mình và từ bi với mình một chút. Nhưng muốn vậy, phải... chuyển đổi cách thở. Thở ư ? Đúng vậy! Một bác sĩ có thể biết rất nhiều về bộ máy hô hấp, về cơ thể học, sinh lý học, bệnh lý học của bộ máy hô hấp nhưng chưa chắc đã biết thở !


***

Già

Lâu nay cứ tưởng mình già
Bây giờ mới biết quả là y chang
Suốt ngày nói chuyện thuốc thang
Gặp nhau lại kể cả tràng chuyện xưa
Tivi dỗ giấc ngủ trưa
Sức khoẻ lại giảm, mắt mờ, da nhăn
Đọc chữ phóng đại mấy trăm
Lại còn đãng trí, tần ngần, hay quên
Cả ngày mỏi mắt đi tìm
Hết tìm khoá cửa lại tìm khoá xe
Nhiều hôm thăm viếng bạn bè
Được dăm ba phút nằm phè ngủ ngon
Tóc bạc chen chúc tóc non
Không dám nhổ nữa sợ còn bình vôi
Kiến thức mới nuốt chẳng trôi
Bước ra khỏi cửa trùm người áo len
Ra đường chẳng ai gọi tên
Cứ gọi chú, bác có phiền hay không ?
Khi lên xe buýt dẫu đông
Dăm người nhường chỗ 'Mời ông cứ ngồi
Lại hay nhạy cảm, tủi đời
Thích được săn sóc hơn thời ngày xưa
Thấy tình nhân trẻ vui đùa
Mà lòng chua xót phận vừa cuối thu
Suốt ngày trung tiện lu bù
Cơm thì phải nhão, phở cho thật mềm
Thích nghe tiếng hỏi, lời khen
'Lúc này thon thả, trẻ hơn dạo nào'
Thức ăn cứ lấy ào ào
Ăn thì chẳng nổi mà sao cứ thèm
Ngủ trưa giấc cứ dài thêm
Đứng, ngồi, 'chuyện ấy' ngày thêm chậm rì
Đánh răng, tìm thuốc loại gì
Để răng được trắng không thì khó coi
Cà phê chỉ hớp một hơi
Đêm về trắng mắt nhìn trời đếm sao
Gặp người cùng tuổi như nhau
Thường hay hỏi 'Bác thế nào ? Khoẻ không?'
Cell Phone thì khổ vô ngần
Lúng ta lúng túng thường không trả lời
Để chuông reo mãi một hồi
Mở ra thì đã chậm rồi còn đâu ?
Bệnh tật nó đến từ đâu
Cao mỡ, cao máu lâu lâu ... tiểu đường
Tránh né việc nặng là thường
Việc nhẹ thì cũng đau xương, mệt nhoài
Đi chơi càng khổ gấp hai
Đi đâu cũng ngại đường dài lái xe
Giữ thân cho khỏi tròn xoe
Vòng hai sao cứ bè bè phình to
Thang lầu càng nghĩ càng lo
Chỉ sợ trượt ngã khổ cho thân này
Ngủ thì chẳng ngủ được say
Bốn năm giờ sáng dậy ngay tức thì
Sinh nhật, sinh nhiếc làm gì
Cái chuyện lẻ tẻ ấy thì nên quên
Vẫn hay nhìn kiếng thường xuyên
Xem chân dung đã trở nên thế nào
Buồn tình đếm thử xem sao
Bao nhiêu triệu chứng ấy bao nhiêu già!

Vo Danh
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2012-10-14 00:50:32dzuylynh>
 


https://www.box.com/shared/81f6etnuks54zyl3cvme

CHỈ LÀ THOÁNG HƯ KHÔNG

sángtác & trìnhbày Dzuylynh
Album Ở giữa là mùa thu.bccb
thương yêu đến Cecile_h.y.Marie_b.h. Christine_p.| thân mến tặng.Jaqueline_tl.Marguerite_tn.CathyLy.Huyềnbăng_Tuyết.đônghương

...Sợ vườn khuya hoa tàn thêm mấy nụ
sợ úa rồi lòng hương phấn trăm năm
đêm qua đêm ôm đàn khua tiếng vỗ
sợi tơ nghiêng theo một chỗ em nằm...

nơi tôi đến mùa xuân không còn nữa
nụ xuân thì không nắng lá vàng bay
đêm đốt trắng, nghìn xuân đêm vẫn trắng
ngày theo ngày, muôn thủơ cuốn theo mây

nơi tôi đến đường xưa nay đổi lối
ngõ đi về tôi lạc cõi mù sương
đêm bâng khuâng u uất bóng trên tường
ngày lạc lõng u hoài thân đất khách

nơi tôi đến trăm ngàn đêm không ngủ
mơ hồn mình qua dáng rũ hồn thu
mơ thân quen nơi tuổi nhỏ quê nhà
và mơ thấy em về trong nắng hạ

nơi tôi đến sân trường không ngập lá
không thẹn thùng em bước nón che nghiêng
không mang mang nghe trống báo sang hè
lòng rộn rả đứng chờ ai trước ngõ

nơi tôi đến em quên lời chào hỏi
suối nhỏ buồn …nhung nhớ đã trôi đi…
của lòng tôi mang nặng những hòai nghi
ngày mới lớn chưa lần quen hò hẹn…

chưa biết đời cách biệt mấy mùa ngâu
em đem dấu tuổi xuân thời con gái
mai tôi về xuôi ngược mấy mùa sau
mai tôi về xuôi ngược mấy mùa sau...

trong hư không ta bỗng nhớ vô cùng
bước em về khua nhẹ giữa vườn khuya
mưa rất khẽ nhẹ lòng tôi rất khẽ
sợ đi rồi một chút nắng lưa thưa

sợ vườn khuya hoa tàn thêm mấy nụ
sợ úa rồi lòng hương phấn trăm năm
đêm qua đêm ôm đàn khua tiếng vỗ
sợi tơ nghiêng theo một chỗ em nằm

nơi tôi đến đêm rồi tôi đã đến
của sầu thương nhung nhớ của sầu thương
tiếng hát em buông rũ giữa vô thường
đàn tan vỡ... cung phím... hóa hư không

dzuylynh.thunglũnghòanghoa. Đề Thơ Oct.11.1992 - Phổ Nhạc Oct.11.2012


***

 

RE: Nhạc dzuylynh - 13.10.2012 7:53:57

Chào CB CLB Tri âm

Cám ơn ông Lynh đã có nhã ý tặng bài hát này _ cho mọi người _ trong đó có tui, hihihi.

Hôm qua tui cũng vừa viết xong một bài nhạc từ thơ của Diên Vỹ ... Với ba chữ đầu là nơi tôi ở ... Xem ra giai điệu Nơi tôi ởNơi tôi đến của ông cũng xem xem. Tôi đang không ở nhà, nên chưa thể đàn để đưa vào chung vui với ông được, chờ tui ít hôm nhé !
Chúc mừng đứa con hai mươi mấy năm của ông [:D]
Thân mến,
HB

__________________________


Nhà tranh
Trang nhạc
Cung Điệu Phù Trầm 
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2012-10-13 15:28:52Ct.Ly>
sángtác & trìnhbày Dzuylynh
Album Ở giữa là mùa thu.bccb
thương yêu đến Cecile_h.y.Marie_b.h. Christine_p.| thân mến tặng.Jaqueline_tl.Marguerite_tn.CathyLy.Huyềnbăng_Tuyết.đônghương


Cảm ơn OngLynh, tặng cho 1 tác phẩm , như réo gọi mùa thu trở lại với mọi người

Thu về,mưa thu, lá vàng rơi , chuyển mùa chuẩn bị khg lâu cho mùa Đông trở lại

Chúc cả nhà cuối tuần vui vẻ và ...khg bị ướt mưa như vùng Ly nha, đang tắm mưa đây [8D]

Ánh tà dương ( mặt trời lặn)


📎 CouchedeSoleil
0
Định vào Câu lạc bộ tri âm giúp vui nhưng thấy không khí xôm tụ quá rồi SĐ rút lui là vừa rồi đa! Khi nào quán văng vắng SĐ lại vào [:D]. Giờ SĐ vào chỗ nào bị ế ẩm đây!
0