📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

Tiểu thuyết trinh thám kinh dị: LINH HỒN ÁC - Maxime Chattam (HẾT) 🔒

77 trả lời, 13.340 lượt xem — Trang 2 / 3
Chương 50
 
Cơn giông gầm gào như một con mèo hoang khổng lồ. Đêm đã khuya, ánh sáng khá dịu của thư viện không giúp Brolin giữ được đầu óc tỉnh táo. Nhiều lần, anh đọc lẫn lộn dòng, sau đó mới nhận ra rằng mí mắt mình đang trĩu xuống giống như tấm rèm của một cửa hàng được đóng lại. Juliette được kích động bởi lòng nhiệt tình sinh viên, lòng nhiệt tình vốn thường vẫn xâm chiếm những nhà nghiên cứu khi họ cảm thấy các tập hợp dần dần liên kết lại với nhau trong những lúc nhập dữ liệu thông tin. Cho đến giờ cô chưa tìm thấy gì cả, nhưng niềm hăng say của một con mọt sách đã xâm chiếm thân thể và trí óc cô. Các ngón tay khéo léo của cô lần lượt giở hết trang này đến trang khác. Mắt cô nuốt ngấu nghiến các từ như người ta uống cạn một cốc nước sau buổi lao động mệt nhọc.
 
Đồng hồ ngoài sảnh điểm một giờ sáng.
 
Brolin duỗi người trên ghế bành, tiếng các khớp xương kêu răng rắc vang lên trong khu nhà tròn rộng mênh mông.
 
- Thế nào? Em tìm được gì không? Anh hỏi và cố nén cái ngáp dài.
 
- HIện giờ thì chưa, Juliette miễn cưỡng đáp. Nhưng em không tin là câu trả lời không nằm ở một trong những cuốn sách cổ này. Trước mặt chúng ta là những cuốn sách nằm trong số những cuốn đầy đủ nhất, tất cả các kiến thức cơ bản về phép thuật đều có ở đây. Họa tiết bí ẩn mà hắn vẽ nhất định phải nằm đâu đó trong này, em tin chắc như thế.
 
- Đó chính là điều khiến anh sợ. Anh có thể nhầm, có thể kẻ giết người chỉ nguệch ngoạc một hình bất kỳ mà hắn nghĩ ra.
 
- Em không rõ lắm, nhưng biểu tượng mà hắn khắc không giống với hình ảnh hoang tưởng của một kẻ bệnh hoạn. Có thể nói đây là một thứ gì đó đã được nghiên cứu kỹ, được vẽ rất cẩn thận và nhằm một mục đích cụ thể.
 
- Sợ thật! Brolin thốt lên. Đúng là thê thảm. Anh gập cuốn sách cũ trước mặt lại, khiến một đám bụi bốc lên.
 
- Anh cần phải đi lại một chút. Không biết em thế nào, nhưng anh nghĩ mình không kiên nhẫn được nữa khi ngồi miệt mài nghiên cứu đống sách này mà không ngẩng đầu lên trong suốt hơn bốn giờ đồng hồ.
 
- Bệnh của trường đại học ấy mà. Nhưng anh nói có lý, cần phải giải lao để giữ đuợc đầu óc sáng suốt.
 
Brolin đứng dậy đi đi lại lại, hai tay đút túi, mắt ngắm nhìn những pho tượng đặt ở đầu các kệ sách. Juliette nhìn anh, cô bất ngờ khi nhận thấy mình ngắm dáng hình anh một cách thích thú. Cô đi tới chỗ anh.
 
- Anh có tin vào truyện cổ tích không? Cô hỏi.
 
- Anh không đọc chúng từ... Đúng là từ nhiều năm rồi!
 
- Anh hãy đứng ở đây, đừng động đậy.
 
Cô đi về phía cái hõm nằm sâu trong bóng tối. Ở đó, cô mò mẫm tìm cái chốt mà Anthony Desaux đã mở trước mặt cô, rồi ấn chốt. Giống như ông chủ nhà đã làm hôm qua, cô cũng biến mất trong tường.
 
Brolin thấy trò này quả là buồn cười, nhưng anh thôi cười ngay khi cô đưa anh vào căn phòng được chiếu sáng bằng một ngọn đèn nhỏ, mạng nhện, rồi chiếc ghế tra tấn khiến anh cảm thấy lo sợ. Và sự tôn kính cùng mối nghi ngờ toát ra từ những cuốn sách cổ khiến anh bỗng trrởnên thán phục đối với những nơi như thế này.
 
- Nơi nào thế này! Phải điên rồ mới có nơi này ở nhà! Brolin ngỡ ngàng.
 
- Còn em thấy ở đây khá hấp dẫn, có sự pha trộn giữa học thức uyên bác và sự huyền bí.
 
Cô bước dọc theo các giá sách cao ngất khép lại tầng Địa ngục. Đầu óc lơ lửng trên mây, cô không nhìn thấy cái chân ghế tra tấn hình móng sư tử nên bị vấp vào nó. Cô mất thăng bằng, Brolin đang đứng gần đó vội chạy tới giữ cô. 
 
Cô ngã vào vòng tay anh.
 
Anh định hỏi cô có sao không thì cặp mắt màu saphire của cô chạm vào mắt anh. Tim anh đập nhanh.
 
Khi cô ngã, anh kéo lấy tay cô để giữ cô lại, và giờ đây anh nhận ra mình vẫn chưa bỏ tay cô ra. Nửa người cô ngả vào anh, và màu hồng của đôi môi mọng hút lấy anh như thể anh là một viên bi sắt bị hút vào nam châm.
 
Anh không biết phải làm gì. Mọi thứ trong anh đều ra lệnh cho anh không được suy nghĩ, phải lắng nghe trái tim và cơ thể, nhưng anh sợ. Vâng, sợ. Sợ cô không thực sự thích anh, mà đây chỉ là hậu quả của chấn thương do vụ bắt cóc để lại. Trí óc cô có thể coi anh như một vị cứu tinh, một người che chở mà cô là kẻ mang ơn, không có người đó cô cảm thấy hoảng sợ trong thế giới này. Tóm lại, cô không muốn anh như muốn một người yêu, một người bạn tâm tình, nhưng vô thức ra lệnh cho cô níu vào người che chở đó. Và nếu mối quan hệ của họ có kéo dài được, thì đó cũng không bao giờ là tình yêu, mà chỉ là một sự gắn bó nửa vời.
 
- Em biết anh đang nghĩ gì, cô thì thầm.
 
Tay cô siết chặt hơn.
 
- Anh không biết liệu có phải... Anh nói, nhưng Juliette đặt ngón tay lên miệng anh.
 
Cô ghé mặt vào gần mặt anh, và khi khoảng cách giữa họ chỉ còn vài centimet, Brolin hoàn tất nốt phần còn lại. Đôi môi nóng ấm của họ thoáng vuốt ve nhau rồi hé mở. Nụ hôn thật chậm, lưỡi của hai người khám phá nhau một cách dịu dàng, rồi dần dần, ham muốn khiến họ quấn lấy nhau trong căn phòng bụi bặm, cho tới khi tay người này đặt trên da thịt của người kia.
 
Không, Juliette không hề chịu tác động của vụ bắt cóc. Không có gì trong cử chỉ của cô, đam mê của cô cho thấy chúng bị chi phối bởi những thủ đoạn đen tối của vô thức nhằm làm dịu thương tổn. Cô rất kiên quyết trong cuộc sống gần đây, cô đã thể hiện một ý chí cứng rắn để thoát khỏi chuyện cũ, cá tính của cô vượt xa khuôn khổ của một di chứng tâm lý. Giờ đây, Brolin tin chắc rằng họ cùng say mê nhau, chân thành, trọn vẹn.
 
Các cử chỉ của họ ngày càng tự tin hơn khi ham muốn xâm chiếm từng phần cơ thể, họ quên hết mọi thứ còn lại trong cơn cuồng nhiệt đê mê. Tất cả - việc họ đang làm ở đây, hiểm họa từ một kẻ giết người đáng sợ trong vùng, những khác biệt giữa họ, hay đơn giản là địa điểm nơi họ đang có mặt có vẻ không thích hợp - tất cả đều biến mất, đều bị cuốn vào trạng thái mơ hồ của cơn phấn khích.
 
Áo sơmi của Juliette mở sâu đến chiếc áo lót màu xanh đen, Brolin cúi đầu xuống làn da đang hướng về phía anh và hôn lên làn da ấy. Juliette ôm chặt lấy anh, đưa tay vào dưới áo anh, và ngọn lửa đam mê đó khiến họ say sưa tới mức không ai phản ứng gì khi họ cùng ngồi trên chiếc ghế ở giữa phòng.
 
Một dụng cụ tra tấn thực sự của những thế kỷ cực quyền.
 
Ở đó, họ say sưa làm tình, và Juliette bị rách da bên sườn vì một đầu nhọn bằng thép đâm vào, nhưng cô không hề phản ứng, cũng không kêu lên vì đau đớn. Quấn chặt lấy nhau, ở trong nhau, họ dâng hiến hoàn toàn cho nhau trong hương vị thần bí và nồng say, khi đam mê lúc đi kèm với vài mũi đâm đau nhói.
 
Sau đó, họ ở bên nhau lúc lâu, da họ hòa vào nhau qua một lớp mồ hôi. Phải nhiều phút sau họ mới xuống được khỏi tầng mây lạc thú, tầng mây đưa họ lên rất cao khỏi thế giới thực dụng và giả tạo. Nhiều phút trong khi đầu óc họ tiếp tục quay cuồng.
 
Thật sung sướng, một chút mệt nhoài của cơ thể và những hồi hộp mạnh mẽ cho suy nghĩ. Họ cảm thấy mình như những vận động viên vừa thực hiện được một kỳ tích, sau khi vượt qua quãng đường chạy dài mệt mỏi, ở thời điểm mà thứ nước rất được thèm khát lại chảy trên lưỡi, trong họng. Kiểu trạng thái viên mãn tinh tế khi người ta vượt qua được chính mình cả về mặt thể xác lẫn tâm hồn, khi đau đớn trở thành vui thú và khi các cảm giác tan biến trong cám dỗ của khoái lạc.
 
Khi họ đã đứng dậy và chỉnh lại quần áo, Brolin vòng tay ôm Juliette và dụi mặt vào mái tóc cô.
 
- Juliette... Juliette... Anh chỉ thầm thì vậy và ôm siết lấy cô.
 
Họ không nói gì, lời nói nào giờ đây cũng trở nên tầm thường.
 
Họ ôm nhau trong bóng tối.
 
Có lẽ bởi muốn thế giới trở nên có thể chịu đựng được, nên trong cuộc sống của một con người có những khoảng khắc hiếm hoi mà ở đó người ấy tự cảm thấy hoan hỉ và viên mãn, vừa trống rỗng, vừa tràn đầy, một trạng thái gần với nhập đồng, gần như tĩnh lặng tuyệt đối. Trạng thái tinh thần mà các nhà tư tưởng ở thời cách đây rất lâu gọi là Delices, rồi Eden. Một số người khác cũng dùng trạng thái đó để hiểu sự vĩnh cửu dưới cái tên Thiên đuờng.
 
Chính trạng thái này đã khiến Juliette và Joshua cảm thấy êm dịu cho tới tận đêm khuya.
 
Nhưng vì không phải đang ở nhà mình, nên họ buộc phải lấy lại dáng vẻ của "những người lịch thiệp" để quay ra bàn làm việc. Những cuốn sách cổ vẫn lặng lẽ chờ họ, mở toang lớp bìa vô liêm sỉ để phô bày các trang sách bỉ ổi truớc bất kỳ người nào.
 
Brolin xoa xoa thái dương. Anh không hề có ý định quay lại đó, anh chỉ mong muốn một điều: ôm Juliette trong tay và ngủ.
 
Một khuôn mặt đau khổ hiện ra ngay tức khắc. Brolin lại thấy Elizabeth Stinger như khi anh phát hiện ra cô, hai mắt mở trừng trừng, đống thịt nát ở trán.
 
Khoảng thời gian giải lao tuyệt vời đã khiến Juliette và Brolin cảm thấy sảng khoái, ít bận tâm hơn tới những phiền nhiễu của cuộc sống, thích bình yên tận hưởng trạng thái mơ màng mới nảy sinh này. Thích nghỉ ngơi.
 
Nhưng khuôn mặt đau khổ ấy trả lại cho Brolin tính cương quyết của một cảnh sát điều tra, và dù vẫn giữ lại phần nào vẻ thanh thản sau cơn ái ân, anh biết mình không thể nghỉ ngơi khi chưa rút ra được câu trả lời nào từ những cuốn sách này.
 
Anh nắm chặt bàn tay và đi về phía đống sách.
 
- Cần phải tiếp tục, anh nói. Cần phải tìm được ý nghĩa của hình ngôi sao năm cánh này.
 
Juliette chỉ gật đầu mà không nói gì.
 
Cô nghĩ gì vậy? Từ nãy cô không nói gì hoặc nói rất ít. Tuy nhiên, cô không thể hiện một dấu hiệu ân hận hay nuối tiếc nào. Và điều này càng được khẳng định trong hai giờ đồng hồ tiếp theo. Họ lật hết trang này đến trang khác, hết cuốn sách này đến cuốn sách khác, thỉnh thoảng lắm mới ghi chép lại, trao đổi với nhau vài nhận xét, và đôi lúc, bàn tay  Juliette đặt lên gáy Brolin, nhẹ nhàng vuốt ve anh.
 
Bình minh đang chuẩn bị lên thì Juliette nhảy bật khỏi ghế và hất đổ một đống sách đặt ngay ngắn trên bàn. Cô cầm lấy ảnh chụp hộp sọ của Elizabeth Stinger, nét mặt cô sững lại.
 
- Em tìm thấy rồi, cô nói trong hơi thở gần như kiệt sức.
 
Brolin cúi xuống bờ vai cô.
 
Một hình ngôi sao năm cánh xấu xa được vẽ bằng mực và bút lông nét to của một thầy giảng giáo lý thời cổ. Brolin đọc nhanh dòng chú thích.
 
Một cơn rùng mình ghê tởm bẻ cong cột sống anh.
 
Đó chính là nỗi sợ.
 
Một dòng chữ được viết theo kiểu gothic:
 
"Nghi thức bảo vệ khỏi Linh hồn người chết."
Sự đời cà khịa cái chơi
Khi vui muốn khóc, khi cười buồn tênh!
0
Chương 51
 
Mặt trời dần phủ trên các cánh rừng 1 lớp màn màu sữa. Đã bình minh.
 
Brolin đưa Juliette về nhà, cô cầm tay anh dẫn vào phòng. Họ cần ngủ 1 giấc, đây là việc làm tối thiểu để giúp đầu óc họ đủ sáng suốt để suy nghĩ, để vững vàng trong 1 ngày dài sắp bắt đầu.
 
Sau khi chép lại thứ nghi lễ kiam, họ lặng lẽ rời khu nhà của anh chàng người Pháp giàu có, cùng với những hình ảnh tàn bạo quỷ quái trong đầu.
 
Brolin đặt đồng hồ báo thức sau 5h, đủ để anh lấy lại được khả năng tập trung và chịu đựng thêm 1 đêm trắng nếu cần thiết. Họ ôm nhau ngủ, 2 cơ thể mệt mỏi của họ áp chặt vào nhau đến mức chỉ để chừa ra ít phần da thịt, họ muốn yêu nhau trọn vẹn, ngay cả trong giấc ngủ.
 
Sau này nghĩ lại, Brolin chỉ nhớ loáng thoáng về cảm giác mệt mỏi. Anh không bao giờ biết rằng liệu có phải là 1 giấc mơ, hay cơ thể họ đã thực sự dần dần chồng lên nhau trong khi chưa tỉnh hẳn khiến họ thức giấc. Anh nhớ lại những cử chỉ dịu dàng, tiếng rên và sự thích thú lan khắp người anh như 1 vụ nổ diễn ra với nhịp độ chậm.
 
Nhưng đồng hồ báo thức không kêu.
 
Mà là tiếng chuông to dần của điện thoại di động đã kéo anh ra khỏi giường. 1 tiếng còi báo động chỉ lối cho anh trong căn phòng tối đen.
 
Khi cuối cùng Brolin cũng mở được máy, anh chưa kịp nói gì thì 1 giọng đàn ông bị kích động mạnh đã tuôn ra 1 tràng những lời khó hiểu.
 
- Nào nói nhỏ thôi! Brolin yêu cầu bằng giọng khàn khàn ngái ngủ.
 
- Josh, Larry đây. Cậu nhất định phải đến!
 
Giọng Salhindro không hốt hoảng mà kinh hoàng.
 
- Mấy…… mấy giờ rồi? Anh đang ở đâu? Brolin hỏi.
 
- Tôi vừa đến trụ sở trung tâm.
 
- Anh có tin gì mới sao?
 
Salhindro thoáng im lặng rồi đáp:
 
- Đúng thế, tôi đang đứng cùng Craig Nova.
 
- À! Đầu mẩu thuốc lá, có khai thác được gì không? Anh ấy có tìm ra mẫu ADN cần thiết để nhận dạng không?
 
- Chính vì chuyện này mà chúng tôi tìm cậu khắp nơi. Craig đã lấy được mẫu ADN và đã triển khai chương trình nhận dạng.
 
Chất adrenalun làm Brolin tỉnh hẳn.
 
- Thế đã có kết quả chưa? Anh vội hỏi mà không thực sự tin tưởng.
 
- Josh, cậu đang ở đâu?
 
Brolin tự hỏi có phải sự sợ hãi đang trào trong giọng của Salhindro hay không. Anh chần chừ rồi đáp:
 
- Ở nhà Juliette, tại sao thế?
 
Trong hoàn cảnh khác, hẳn Salhindro sẽ không bỏ lỡ dịp mà nhận xét rằng thật lạ kỳ khi biết Brolin ở nhà Juliette vào 1 sáng Chủ nhật, lúc mười giờ rưỡi. Nhưng ông không nói gì cả, chứng tỏ có chuyện không ổn.
 
- Cô ấy có ở bên cạnh anh không?
 
- Không, cô ấy vẫn còn ngủ.
 
- Tốt lắm, Josh, tôi muốn cậu ngồi xuống và thề sẽ tin vào điều mà tôi sắp nói với cậu.
 
- Anh nói gì thế? Các anh đã nhận dạng được hắn chưa?
 
Sau lưng anh, Brolin cảm nhận được sự chuyển động, có bước chân của Juliette trên thảm trải sàn.
 
Salhindro thở mạnh trong ống nghe như để lấy thêm dũng khí.
 
- Rồi. Có 1 hồ sơ trùng hợp trong cơ sở dữ liệu.
 
- Thế chứ!
 
- Tôi nghĩ là cậu sẽ không hài lòng đâu, Josh ạ.
 
Anh thanh tra cảm thấy máu mình đông cứng lại trong tĩnh mạch như hàng nghìn mũi kim đang đâm ngập vào anh. Juliette quàng tay ôm lấy anh và dịu dàng đặt 1 nụ hôn lên má anh. Cô ngồi lên đùi anh.
 
Lần này, giọng của Salhindro run rẩy thực sự:
 
- Josh, mẫu ADN tìm thấy trên đầu mẩu thuốc lá … chính là của Leland Beaumont.
 
Tên Đao phủ Portland mà cái đầu đã nổ tung thành 1 đống màu đỏ cách đây 1 năm.
Sự đời cà khịa cái chơi
Khi vui muốn khóc, khi cười buồn tênh!
0
Chương 52
 
Không thể nào.
 
Đơn giản là không thể tưởng tượng nổi.
 
Leland Beaumont đã chết vì 1 viên đạn từ khẩu Glock – súng ngắn tự động 9 li – bắn vào giữa đầu. Não hắn bay qua trước mặt Brolin thành 1 vệt đen tung tóe. Sau đó vài ngày, Leland được chôn cất và thân thể hắn giờ đây hẳn chỉ còn 1 đống mùn cho giun xéo. Hắn không thể để lại nước bọt trên đầu mẩu thuốc lá được.
 
Tổ điều tra Hồn ma Leland được triệu tập đến phòng làm việc của đại úy Chamberlin.
 
Sau cuộc điện thoại, Brolin vội vã thay đồ và kéo Juliette đi cùng đến trụ sở trung tâm. 
 
Không thể nào để cô ấy ở nhà 1 mình. Cho dù rất kỳ lạ, nhưng tin mới này lóe lên trong đầu anh như 1 ngọn đèn báo “nguy hiểm”, vì thế anh không thể rời mắt khỏi Juliette. Cô đợi trong phòng anh, vẫn chưa biết gì về tình hình. 
 
Brolin đặt chiếc áo Vest da xuống và đến trước mặt Craig Nova, nét mặt Craig lộ rõ vẻ mệt mỏi.
 
- Độ tin cậy của xét nghiệm ADN thế nào? Anh hỏi.
 
- Quá đủ để tống 1 người vào tù với mức án chung thân mà không có rủi ro sai sót.
 
- Có thể có chuyện trùng hợp khó tin khiến 1 người khác có cùng mẫu ADN như vậy không?
 
- Đó là cách lý giải duy nhất đấy! Bentley Cotland kêu lên.
 
Craig lắc đầu dứt khoát.
 
- Tuyệt đối không thể. Mẫu ADN của 1 cá nhân là duy nhất.
 
- Nhưng cũng không thể có chuyện Leland còn sống!
 
- Nhưng còn có 1 cách lý giải, Craig nói tiếp. Mẫu ADN gắn với mỗi cá nhân, không cá nhân nào có mẫu ADN như nhau, trừ 1 trường hợp. Anh em sinh đôi cùng trứng.
 
- Không đúng, Salhindro phản bác. Leland là con 1.
 
- Có chắc chắn không? Đại úy hỏi.
 
- À… có. Sao anh có thể nghĩ khác được nhỉ? Nếu có 1 đứa con nữa, thì phải có dấu vết tồn tại chứ, đúng không? Chứng minh thư, giấy phép lái xe, việc làm… Ít nhất là cũng phải có người biết. Đương nhiên rồi! Hộ tịch cũng phải có! Thời nay, người ta không thể sinh ra 1 đứa con rồi giấu nó với phần còn lại của thế giới, nhất là trong suốt hơn 20 năm! Rồi thì tại sao gia đình Beaumont lại phải giấu đứa bé lâu như vậy? Có phải chuyện trên TV đâu, người ta không thể làm sai lệch hiện thực để tạo ra chuyện giật gân!
 
- Thế nhưng thực tế tội phạm đôi khi lại khó tin tới mức người ta hẳn sẽ coi chuyện đó rất ngớ ngẩn khi nó diễn ra trong 1 bộ phim! Meats phản bác.
 
Vẻ mặt mọi người trở nên nghiêm trọng. Leland là con 1 trong gia đình Beaumont, và hắn chết đi mang theo tất cả các hướng điều tra có thể chấp nhận được để lý giải hiện tượng mẫu ADN giống hệt mới được tìm thấy.
 
- Có thể có chuyện đây là đầu mẩu thuốc lá cũ được giữ đến tận bây giờ để đưa chúng ta đến 1 hướng điều tra sai không? Bentley Cotland hỏi.
 
Craig nhún vai.
 
- Về lý thuyết là có, nhưng trông nó không giống 1 đầu mẩu khô, trừ khi được giữ lạnh trong ngăn đá…
 
- Không thể nào, Lloyd Meats lên tiếng. Hắn đến mà không nghi ngờ về cái bẫy, hắn hầu như không có bất cứ cơ hội nào để thoát ra, nếu đánh hơi thấy từ trước, hắn đã không liều lĩnh xuất hiện.
 
- Lloyd nói có lý, Brolin đồng tình. Nếu kẻ giết người muốn gây sai lầm cho chúng ta, hắn đã để lại đầu mẩu thuốc lá ở cạnh nạn nhân, như thế hắn không gặp nguy hiểm nào cả.
 
- Thế thì điều này có nghĩa là gì? Đại úy Chamberlin cao giọng, sự sốt ruột và căng thẳng khiến ông căng ra như 1 dây đàn piano sắp đứt. Mẫu ADN này từ đâu ra?
 
Im lặng bao trùm căn phòng. Cả 6 người nhìn nhau. Tất cả đều nghĩ đến cùng 1 điều nhưng không ai nói ra. Trừ Bentley, anh ta lại 1 lần nữa không cùng quan điểm với cả nhóm. Rõ ràng anh ta được sinh ra không phải để làm cảnh sát và ngày càng vui mừng vì điều này.
 
Cuối cùng, Salhindro là người nhảy xuống nước trước tiên:
 
- Có thể đó chính là Leland.
 
Mặc dù tất cả mọi người đều biết hắn đã chết và được chôn cất, nhưng không ai cho rằng chuyện này chỉ đơn giản là không thể xảy ra.Họ đã tự nhắc đi nhắc lại điều đó nhiều lần.
 
Brolin quyết định đã đến lúc thông báo về phát hiện của mình.
 
- Thưa các anh, nhờ có Juliette giúp đỡ tôi đã tìm ra…
 
- Juliette ư? Nạn nhân cuối cùng của Leland đúng không? Bentley ngắt lời anh.
 
- Tôi đã yêu cầu anh không được dùng từ nạn nhân, cô ấy vẫn khỏe mạnh.
 
- Anh muốn nói là anh cho phép 1 dân thường tham gia vào cuộc điều tra ư? Bentley ngạc nhiên hỏi xen lẫn chút mỉa mai có chủ ý và vì thế anh ta bị ghét cay ghét đắng.
 
- Cô ấy biết rõ Leland hơn ai hết, cô ấy đã từng ở bên cạnh hắn!
 
- Tôi cứ tưởng anh mới là chuyên gia về kẻ giết người chứ?
 
- Cotland, anh bắt đầu làm tôi …
 
- Bắt đầu làm gì anh?
 
Brolin bật dậy khỏi ghế, vẻ mặt hăm dọa.
 
- Yên lặng nào! Đại úy Chamberlin ra lệnh. Joshua, anh mệt rồi, tất cả chúng ta đều như vậy, vì thế, hãy bình tĩnh. Còn anh, tôi yêu cầu anh học cách tiết chế lời nói của mình. Nếu Brolin tiết lộ thông tin điều tra cho 1 dân thường, thì đó là chuyện của tôi, đừng can dự vào!
 
- Ông có cái cách điều hành mà tôi không thích.
 
- Được lắm, nhưng hiện tại, chưởng lý Gleith đưa anh đến đây để học, còn anh chưa phải chưởng lý, vì thế ngồi yên đấy.
 
Tia lửa phóng ra từ 2 con mắt của Cotland. 1 ngày nào đó, anh ta sẽ bắt đại úy phải trả giá. Khi được bổ nhiệm, anh ta sẽ làm tất cả mọi điều khiến họ phải khổ sở.
 
- Anh đã tìm ra cái gì? Chamberlin hỏi Joshua.
 
Anh thanh tra ngồi xuống và nói tiếp:
 
- Tại sao hung thủ lại làm hỏng trán nạn nhân bằng axit? Vì hắn không muốn ai biết được hắn đã ghi gì vào đó. Nói đúng hơn là khắc vào đó.
 
Chamberlin nhíu mày.
 
- Thực ra, Brolin tiếp tục, kẻ giết người đã khắc 1 biểu tượng thần bí vào thịt của nạn nhân. Đây là hình ngôi sao năm cánh của 1 nghi thức bảo vệ cổ xưa. Hình này được coi là có tác dụng bảo vệ “phù thủy” khỏi linh hồn của người mà hắn sắp giết. Trán các nạn nhân của Leland Beaumont cũng bị làm hỏng theo cách này. Chúng đã truyền lại cho nhau chiêu thức ấy.
 
- Trừ khi đó là cùng 1 kẻ. Salhindro buồn rầu nhận xét.
 
- Thế nghi thức ấy có thể cho ta biết điều gì? Meats hỏi.
 
- Không nhiều lắm, Brolin đáp. Ngoài việc đó là 1 nghi thức rất hiếm, và nó khẳng định kẻ giết người rất tin vào năng lực bí hiểm trong hành động của hắn. Có thể hắn đặt mua các tạp chí truyền hình về lĩnh vực này, hay ghé qua các cửa hiệu bán đồ thần bí và mượn nhiều sách thần bí ở thư viện. Đó là những hướng điều tra hữu ích.
 
Đại úy định bật dậy vì những thông tin này nhưng Brolin lại tiếp tục:
 
- Nhưng đó chưa phải là tất cả. Nghi thức này được cho là hữu ích đối với những người tìm kiếm sự sống sau khi chết. Nó bảo vệ người sử dụng nhưng cũng cho phép hắn dày xéo linh hồn nạn nhân. Và còn thêm nữa: “Như vậy, lúc dày xéo linh hồn của kẻ hiến sinh, người ta sống lại được sau khi chết. Đó sẽ là cuộc sống vĩnh cửu, người chết quay lại với người sống.”
 
- Mọi người sẽ không tin chúng ta…
 
Lloyd Meats bột phát nói, đây là 1 cách để không thú nhận nỗi sợ hãi đang quây lấy lỗ hổng bên rìa lý lẽ của anh.
 
- Leland Beaumont làm hỏng trán các nạn nhân của hắn. Hắn là 1 kẻ đam mê ma thuật và 1 kẻ điên hung dữ, Brolin nhận xét thêm.
 
Đại úy vặn vẹo cục tẩy trong tay.
 
- Thế này… Tôi không tin tất cả những chuyện vớ vẩn về ma thuật đó, nhưng tự ADN nói về chính nó. Vậy thì để loại bỏ nghi ngờ và làm yên lòng mọi người, tôi nghĩ mình không có lựa chọn nào cả, đại úy nói bằng giọng trầm đục. Tôi rất ghét làm việc này nhưng tôi sẽ xin trưởng lý giấy phép đào mộ. Ít nhất, chúng ta cũng biết được rõ ràng: Liệu có phải Leland đã thoát khỏi mộ bằng cách này hay cách khác, mặc dù điều này là không tưởng, hay có 1 kẻ nào đó đang chơi xấu chúng ta.
 
Bentley Cotland nhìn chằm chằm vào đại úy.
 
- Nhưng…Ông không thể làm việc đó: Leland đã chết ngay cả khi hắn là hạng người thối tha nhất, thì linh hồn hắn cũng có quyền được yên nghỉ, chúng ta không thể xâm phạm phần mộ của hắn như thế.
 
- Anh có thể lý giải được sự hiện diện của mẫu ADN của hắn trên đầu mẩu thuốc lá không?
 
- Không, nhưng…
 
- Vậy thì tôi không liều lĩnh để một kẻ như thế được tự do!
 
- Hắn chết rồi! Một viên đạn đã bắn vỡ sọ hắn!
 
Chamberlin quay về phía Meats, bỏ qua phản ứng của trợ lý chưởng lý tương lai.
 
- Lloyd, hãy sắp xếp việc này với nghĩa trang nơi Leland được chôn. Sau… (ông thoáng nhìn Brolin) thất bại của chúng ta ở bãi đỗ xe, tôi càng không muốn báo chí biết về việc mà chúng ta làm, nếu không tất cả chúng ta đều mất đầu. Việc đào mộ sẽ diễn ra ban đêm, khi nghĩa trang đóng cửa. Biết thế nào được, lúc nào chẳng có một tay nhà báo hơi điên điên đi giám sát mộ của một kẻ giết người phòng trường hợp…
 
- Vâng, tôi sẽ sắp xếp cho tối nay.
 
Đại úy nói tiếp:
 
- Brolin, anh đến đó nhé, Lloyd sẽ giúp anh một tay. Anh Cotland đi cùng với anh và sẽ chứng kiến nhiệt huyết của chúng ta. Tất nhiên là nếu anh ta muốn.
 
Cotland gật đầu.
 
Anh ta sẽ có mặt, và nếu đại úy trở thành nhân vật quan trọng trong vài năm tới, thì điều đó hoàn toàn có thể phục vụ cho các lợi ích riêng của anh ta. Có lẽ sẽ tới một ngày cần gây sức ép lên Chamberlin, và chuyện đào mộ không phải là gì khác ngoài bằng chứng về sự bất tài của ông ta, đây là việc lạm dụng quyền lực, nó sẽ là một điểm được ghi nhớ để thăng tiến trên chính trường.
 
Brolin và Lloyd nhìn nhau không yên tâm lắm.
 
Lần đầu tiên Bentley Cotland không phải người duy nhất cảm thấy khó chịu với ý nghĩ có mặt ở hiện trường.
 
Việc biết chắc Leland vẫn đang yên nghỉ trong quan tài không khiến ai hăng hái cả.
 
Chưa nói tới chuyện phải đào mộ lúc nửa đêm.
Sự đời cà khịa cái chơi
Khi vui muốn khóc, khi cười buồn tênh!
0
Chương 53
 
Leland Beaumont yên nghỉ mãi mãi trong nghĩa trang của Latourell, một thị trấn nằm bên bờ sông Columbia. Trên vùng đất đầy những khe núi dựng đứng, những cánh rừng sâu rậm rạp. Thành viên cuối cùng trong gia đình hắn, người cha tên là Milton Beaumont, muốn chôn cất hắn ở đây vì nơi đó khá gần nhà của ông ta trong rừng. Và Latourell là thị trấn duy nhất có hơn năm nghìn dân trong vòng nhiều dặm xung quanh.
 
Brolin ở bên Juliette một lúc sau cuộc họp. Anh chần chừ mãi về chuyện nói thật với cô về mẫu ADN của Leland. Làm gì là tốt nhất bây giờ? Cho cô biết sự thật và khiến cô sợ hãi trong khi cảnh sát chưa có được lời giải đáp? Hay nói dối cô và bảo vệ cô lâu dài trong một cái kén nguy hiểm? Cuối cùng, Anh chọn cách nói thẳng, giờ đây giữa họ còn tồn tại những mối liên hệ quan trọng hơn. Với lòng dũng cảm và quyết tâm mà cô đã rèn cho mình trong mười hai tháng qua, cô đón nhận thông tin mà không thể hiện cảm xúc. Khi Brolin cho cô biết về việc đào mộ sắp tới, cô chỉ gật đầu nói: “Hãy kiểm tra hộ em xem hắn có còn trong mộ hay không. Bây giờ em không sợ hắn có còn trong mộ hay không. Bây giờ em không sợ hắn nữa, nhưng nếu đúng là hồn ma của hắn hiện về, em không biết mình sẽ thế nào…”
 
Anh ra gần động viên cô, nhưng làm thế nào thuyết phục được ai trong khi chính bản thân mình còn đầy hoài nghi?
 
Không ai bị quy trách nhiệm một cách chính thức trong thất bại của “kỹ thuật tiên phong hành động”, Báo chí nổi giận, tìm kiếm một cái tên và một khuôn mặt mà họ có thể đưa ra chỉ trích trước công luận, nhưng cảnh sát từ chối giao nộp miếng mồi ngon. Hành động đoàn kết này có nguy cơ hạ ngục những người lãnh đạo, bắt đầu từ đại úy Chamberlin, nếu các kết quả không nhanh chóng xuất hiện để giữ vững vị trí của ông, nhất là sau khi ông tuyên bố trước báo trí rằng kẻ giết người sẽ sa bẫy.
 
Hơn bao giờ hết, thời gian với họ được tính từng ngày.
 
Thêm một ngày có thể đồng nghĩa với thêm một nạn nhân mới.
 
Mỗi ngày lại làm gia tăng sự nóng lòng của mọi người, Chamberlin và Brolin sẽ là những người đầu tiên phải gánh chịu. Cuộc điều tra sẽ rơi vào tay những người được đánh giá là có năng lực hơn. Thậm chí rơi vào tay FBI trong vùng. Không thiếu cớ để mời các điệp viên liên bang tới can thiệp nếu chính ông thị trưởng và chưởng lý Gleith cùng phối hợp trong việc này.
 
Trong chiếc xe chở Lloyd Meats, Bentley Cotland và Joshua Brolin tới Latourell, Brolin giở tờ báo Chủ nhật mà anh vừa mua. “Thất bại thảm hại!” là hàng tít chạy trên trang nhất, không chút bóng gió. Bên dưới là dòng tít phụ bồi thêm: “Với toan tính bắt giữ Hồn ma Leland, cảnh sát đã phung phí mạng sống và tiền bạc của chúng ta”. Ngay cả ông thị trưởng cũng tuyên bố xanh rờn với những lời nói mị dân đặc trưng cho những con người ở địa vị cao: “Chúng ta không chấp nhận việc một cá nhân đe dọa sự an toàn của các công dân, tôi sẽ làm tất cả trong khả năng của mình để bắt được hắn trong thời gian ngắn nhất, và để làm điều đó, tôi sẽ gặp cảnh sát trưởng ngay hôm nay. Về chiến dịch này của cảnh sát, tôi không hề biết gì nhưng chúng tôi sẽ đem vụ này ra ánh sáng và những người có lỗi sẽ bị trừng trị…” Còn hẳn một trang dài dằng dặc nữa.
 
Đại úy Chamberlin có thể bảo vệ Brolin bao nhiêu lâu nữa cho tới lúc người ta đòi hỏi anh phải hy sinh trước sự trừng phạt của công luận?
 
Chiếc xe dừng lại trước văn phòng của cảnh sát trưởng thị trấn Latourell vào cuối buổi chiều. Không khí mát mẻ, nhiều hơi ẩm, như thể cơn giông đêm qua vẫn còn rất gần, đang giấu mình sau ngọn núi, chỉ chờ đến thời điểm thuận lợi nhất là lại xuất hiện.
 
Ông cảnh sát trưởng Hogson không có ở đó, cấp phó của ông đã báo trước là ông đang ở một “văn phòng khác”. Trong một thị trấn nhỏ bé như Latourell, cảnh sát trưởng là một nhân vật được bầu ra, nhưng thường vẫn tiếp tục nghề nghiệp của mình song song với việc thực hiện chức trách theo luật định. Ông Hogson vốn là chủ một xưởng cưa nhỏ ở ngoại ô thị trấn.
 
Chiếc xe Ford màu đen chở ba đại diện của cơ quan trật tự xã hội đi hết thị trấn Latourell, ở đây họ thấy một con đường và tấm biển “Xưởng cưa Hogson” được đóng bằng đinh vào một thân cây ven đường. Sau đoạn đường ngắn trong rừng, họ ra tới một khoảng rừng thưa nhỏ.
 
Mùi gỗ xẻ bay trong không khí nặng nề giống như mùi cây mục. Xưởng cưa chỉ xuất xưởng một lượng gỗ rất ít, chủ yếu phục vụ các nhà máy giấy nằm trên đường từ Vancouver đến bang Washington. Xưởng chỉ gồm có ba ngôi nhà nhỏ với khoảng mười lăm công nhân làm việc trong tuần.
 
Nhưng hôm nay là chủ nhật, chỉ một mình Dan Hogson có mặt ở đây. Không còn tiếng máy cưa ầm ầm át đi tiếng gió trong rừng thông xung quanh. Hơi nhựa thông bốc lên dày đến mức đọng lại, lơ lửng giống như một đám mây màu hổ phách.
 
Vừa bước ra khỏi xe, Brolin vừa nói với Cotland:
 
- Tôi sẽ rất cảm ơn nếu anh để Meats và tôi nói chuyện được không?
 
Cotland chỉ gật đầu chứ không nhìn Brolin.
 
Một người đàn ông chừng ngoài bốn mươi tuổi bước ra khỏi ngôi nhà chính. Dáng người tầm thước, tóc muối tiêu cắt ngắn, mặt tròn, ông cảnh sát trưởng Hogson có vẻ dễ gần. Ông vẫy tay chào trong khi đi về phía họ.
 
- Các anh là những đồng nghiệp từ Portland, tôi đoán đúng không? Tôi đã nghe thấy tiếng xe của các anh đi tới.
 
Khi đến trước mặt họ, ông bắt tay họ rất chặt. Meats và Brolin chìa thẻ của mình ra và tự giới thiệu. Bentley lặng lẽ đi theo họ.
 
- Tôi cũng nhận được bản fax của văn phòng chưởng lý. Các anh yêu cầu tôi một việc làm bẩn thỉu! Nói thật là ở đây chưa từng diễn ra việc đào mộ.
 
- Chính vì thế mà chúng tôi cần ông giữ bí mật, Meats vừa nói vừa vuốt bộ râu ngắn màu đen. Đây chỉ là công việc kiểm tra thôi, không có lý do gì để thông báo cho nhân dân cả.
 
- Anh thật buồn cười! Anh nghĩ là sẽ không ai biết việc này sao?
 
- Thực ra, chúng tôi đã tính đến chuyện thực hiện vào ban đêm, Brolin nói thêm.
 
Rõ ràng đây là một ý tưởng quá kỳ cục đối với Dan Hogson, người vừa trúng cử cảnh sát trưởng lần thứ hai liên tiếp.
 
- Vậy vấn đề chính xác là gì? Tôi nhận được giấy phép đào mộ của Leland Beaumont, tôi đoán rằng có liên quan đến các vụ giết người gần đây, đúng không?
 
Brolin và Meats kín đáo nhìn nhau.
 
- Có thể nói là đúng như vậy, Meats đáp. Chúng tôi muốn đảm bảo chắc chắn là xác của Leland không bị…đánh cắp.
 
Hogson giật nảy mình như bị ong đốt.
 
- Kẻ nào lại ngớ ngẩn đến mức ăn cắp một xác chết cơ chứ?
 
- Xin ông hiểu rằng chúng tôi mong ông giữ bí mật, Brolin nhắc lại. Chúng tôi không muốn mọi người có ý nghĩ không tốt.
 
- Tùy các anh. Các anh phải biết rằng ở khắp vùng này, ai cũng ít nhiều quen biết Leland.
 
Brolin nhăn nhó.
 
- Sao lại thế?
 
- Vì khi còn nhỏ, hắn từng đến làm việc ở đây trong hai tháng hè, Tháng Bảy, Tháng Tám năm 96. Tôi còn nhớ vì năm đó, xưởng cưa của tôi bị cháy, nhưng không liên quan gì đến hắn cả, đấy là vào mùa thu.
 
- Tôi không biết hắn từng làm việc cho ông, Brolin ngạc nhiên.
 
- Thật ra mà nói, đó là… một cuộc trao đổi rất bình thường. Hắn giúp chúng tôi đưa gỗ lên xe và dỡ gỗ xuống xe, còn tôi đưa cho hắn một ít tiền, các anh phải hiểu là không có gì chính thức cả.
 
Brolin gật đầu.
 
- Thế hắn thế nào?
 
- Ồ, không hề hung hăng. Hắn hơi cô độc, ít nói. Tôi không cho là hắn có vẻ đầu óc hạn chế, các anh hiểu chứ, nhưng hắn không lanh lợi lắm. Dù sao hắn cũng không được tập trung. Kiểu người mơ tưởng, luôn ngập chìm trong trí tưởng tượng. Hắn có làm hai hay ba trò ngu ngốc nhưng không có gì nghiêm trọng cả, dù sao tôi cũng không bao giờ tiên đoán được rằng một ngày nào đó, hắn có thể làm… các anh hiểu chứ.
 
- Thường là như thế. Kiểu người này sống quá nhiều trong thế giới của riêng mình nên không thể hiện ra lòng hận thù và sự bất mãn bên trong.
 
Cảnh sát trưởng Hogson nhíu mày và xoa xoa cằm, có vẻ ghê tởm, nửa không hiểu.
 
- Thôi, tốt hơn hết là chúng ta nên tới đó nếu muốn có được máy xúc trước khi đêm xuống, ông ta nói. Đợi tôi đi lấy một ít giấy tờ, tôi sẽ quay lại ngay.
 
Hai thanh tra đồng ý, còn Hogson đi về phía văn phòng. Rốt cuộc, thuyết phục được ông ta cũng không khó và nhanh.
 
***
 
Cánh cổng sắt của nghĩa trang Latourell được đóng lúc mười chín giờ, giống như mọi ngày chủ nhật khác. Sau đó, người quản trang lái chiếc máy xúc đến nơi chôn xác của Leland.
 
Brolin rất ấn tượng với quy mô của một nghĩa trang ở thị trấn nhỏ bé như thế này. Ban đầu anh cứ nghĩ đó chỉ là một bãi bia mộ nhỏ, nhưng thay vào đó, Latourell lưu giữ dấu tích của người dân từ hai thế kỷ nay: thợ đặt bẫy săn, người đào vàng vãng lai hay thợ săn bắn sống quanh vùng. Các ngôi mộ nhô lên khỏi mặt đất như những ngón tay xương xẩu buồn bã hướng lên trời. Trên tấm đá nhẵn thín vì bị bào mòn, chữ viết đã mờ hết, mãi mãi xóa bỏ quyền tồn tại lịch sử của những người nằm ở đây vì họ đã trở thành vô danh. Đây là một quả đồi tang tóc, như bước thẳng ra từ một câu chuyện của Washington Irving, chỉ còn thiếu máu trên đỉnh núi.
 
Cảnh sát trưởng Hogson đứng lùi về phía sau, kính cẩn quan sát máy xúc làm việc giữa những bia đá gần như bị bao phủ bởi rêu và dây gai leo. Rất nhiều tấm bia không còn được chăm sóc, đến người quản trang cũng không bảo vệ chúng khỏi bị thiên nhiên tấn công. 
 
Chúng bị lãng quên, giống như một hành động xấu trong quá khứ biến mất khỏi đầu óc chúng ta để nhường chỗ cho cuộc sống thường ngày và những thói quen nhàm chán.
 
Mặt trời vừa mới phủ màu máu lên cảnh quan đồi núi và giờ đã nhường lại không gian cho đêm và mặt trăng huyền bí dưới lớp màn mưa và mây. Quản trang Troy Subertland ở lại giúp đào mộ, ông là người duy nhất biết điều khiển chiếc máy xúc nhỏ.
 
Cả năm người cúi đầu, lặng lẽ chịu đựng mưa lạnh, hạn chế cử động đến mức tối thiểu để nước mưa rơi xuống, nó uống hết thứ dinh dưỡng lỏng đó, dễ dàng nuốt trôi vào tận những tầng sâu thối tha của mình.
 
Bầu không khí im lặng gần như nghiêm trang bao trùm tất cả. Nhưng với Meats và Brolin, đây không phải là sự tôn trọng thần thánh hay một kiểu mê tín thời xa xưa nào. Đất càng bị đào sâu dưới gầu máy xúc, hai thanh tra càng cảm nhận thấy rõ sự hiện diện của Leland. Sự hiện diện ấy tăng dần, làm không khí trở nên ngạt thở vì tính cách điên rồ của hắn.
 
Trong bóng đêm chỉ được chiếu sáng bằng đèn pha của máy xúc, Brolin muốn cam đoan rằng chắc chắn sẽ có hơi lân tinh bốc lên từ nơi chôn xác của kẻ từng được đặt biệt hiệu là đao phủ Portland khi hắn còn hoành hành.
 
Thật ra, toàn bộ cảnh quan dường như đã bị phá hỏng bởi dấu vết của cái chết và sự điên rồ. Cây cối vươn cao về phía các vì sao như những con yêu tinh uốn éo, và bóng tối ở đây dường như sâu thẳm hơn ở bất cứ nơi nào khác.
 
Trong nửa tiếng tiếp theo, không ai tìm ra lời nào để nói, họ bất lực tham dự vào việc đánh thức cái Ác.
 
Rồi răng máy xúc đào thành một hố sâu.
 
Một cơn rùng mình lướt qua xương sống của tất cả mọi người giống như một luồng gió độc.
 
Brolin cầm lấy một trong những cái xẻng mà người quản trang đã chuẩn bị cho họ, Meats cũng làm theo. Họ tiến gần cái hố.
 
Bentley và cảnh sát trưởng Hogson vẫn không hề động đậy.
 
Dưới đáy hố bùn hiện ra góc sáng hơn của thứ từng là quan tài. Tay cầm xẻng, hai người nhảy xuống hố rồi bắt tay vào đào moi quan tài lên.
 
Nước mưa chảy dọc theo những vách đất mềm, giống như hàng trăm tĩnh mạch nhỏ phập phồng. Một vũng đen dài càng lúc càng dài thêm, nổi trên bề mặt là đám bọt nước màu nâu lẫn với những mảnh vụn thực vật. Nước ngấm vào giầy của hai người, cái lạnh liếm dọc sống lưng họ bằng cái lưỡi của loài bò sát.
 
Họ đào, đẩy và ngâm người trong cái hố. Sau gần mười phút ở trong hố, mưa và bùn đã ngấm vào thân thể họ, bao phủ từng mẩu da, từng lớp quần áo, giống như nước của một đầm lầy bốc mùi thối.
 
Và họ từ từ lôi cái chết ra khỏi nơi ẩn náu của nó.
 
Khi quan tài đã lộ ra hoàn toàn, Meats vứt xẻng lên đó. Brolin thoáng do dự, anh muốn giữ cái xẻng lại như một thứ vũ khí khi mở nắp quan tài. Nhưng như vậy thật ngớ ngẩn, thế nên anh cũng vứt xẻng lên phía trên hố.
 
Bentley Cotland, cảnh sát trưởng và Troy Subertland từ nãy vẫn đứng quan sát một cách ngờ vực, giờ cùng bước lại gần, đặt chân ngay trên miệng hố.
 
Tóc bết vào trán vì nước mưa, Brolin kêu to về phía Cotland:
 
- Đưa cho tôi một cái đèn, hoặc chiếu sáng cho chúng tôi từ trên cao!
 
Anh phải hét thật to nhiều lần mới át được tiếng mưa đập mạnh.
 
Cotland thực hiện ngay lập tức, tay cầm một chiếc đèn pin cực mạnh soi từ phía trên hố, chùm sáng nhỏ màu trắng in trên một cây sồi bị vấy bẩn.
 
- Đây là thời điểm của sự thật, Brolin nói nhỏ với Meats.
 
Họ mở chốt trên nắp và mở nó ra sau một tiếng kèn kẹt ghê rợn.
 
Mưa rơi tầm tã trên nghĩa trang. Tiếng nước rơi trở nên khó chịu, những giọt nước vỡ tan trong vũng nước, trong bùn, mặt đất uống lấy nước mưa để rồi trào ngược trở lại, để tự rửa mình. Toàn bộ nghĩa trang nhớp nháp, bài tiết ra phần rữa của các xác chết.
 
Đêm đen kịt và lạnh buốt, thỉnh thoảng gió gào rú giống như tiếng chó sói tru lên bi thảm.
 
Và cảnh tượng mà họ nhìn thấy sẽ còn ám ảnh họ rất lâu, cho tới khi họ trút hơi thở cuối cùng.
 
- Khốn nạn…Meats thốt lên khi chứng kiến điều không thể xảy ra.
 
Dưới mưa lạnh, anh làm dấu thánh giá, mặc dù không còn đặt chân đến nhà thờ từ nhiều năm nay.
 
Mi mắt họ không thể chớp nổi trước cảnh tượng ghê rợn đó.
 
Một chiếc quan tài không có gì bên trong.
 
Một chiếc quan tài hoàn toàn trống rỗng.
Sự đời cà khịa cái chơi
Khi vui muốn khóc, khi cười buồn tênh!
0
Chương 62
 
Camelia từng có nguyện vọng được hỏa thiêu và rải tro trên sông Columbia. Lễ hỏa thiêu diễn ra vào thứ Năm, ngày mười bốn tháng mười, với sự có mặt của khoảng hai chục người, trong đó có Juliette và Brolin. Vài nhà báo khát nước mắt và sự vô liêm sỉ cố tới dự buổi lễ nhưng bị người thân của người quá cố đuổi khéo. Chính ở đấy, Juliette nhìn thấy Anthony Desaux. Anh mặc một bộ com lê đen, rất lịch sự may kiểu Pháp. Chắc hẳn của hãng Yves Saint – Laurent, và cài một bông hoa hồng ở lỗ khuyết khiến cô xúc động. Khi quan tài biến mất trên băng chuyền về phía lò lửa, anh ta lại gần Juliette và đặt nhẹ bàn tay vào dưới khuỷu tay cô. 
 
- Juliette thân mến, nếu tôi có thể giúp gì được thì cô đừng ngại, cô biết tìm tôi ở đâu rồi chứ.
 
Lạ thay, cô không cảm thấy có bất cứ ẩn ý nào trong ngữ điệu cũng như trong ánh mắt anh ta, cô chỉ thấy lòng chân thành. Camelia đã kể với cô về anh bạn người Pháp như một kẻ quyến rũ không biết mệt mỏi, nhưng ở thời khắc này, tình cảm đã vượt lên trên bản chất của anh ta.
 
Cô cảm ơn, còn Brolin bắt tay nhà triệu phú.
 
Một lát sau, Juliette đi nhận tro, Brolin tranh thủ ra ngoài hít thở không khí. Cơn thèm thuốc lá dầy vò anh, khiến anh bồn chồn, mặc dù anh không động đến một điếu ung thư nào từ hơn một năm nay.
 
Các nhà báo đã có thứ mà họ cần, hoặc cuối cùng cũng bày tỏ thái độ tôn trọng tối thiểu, vì Brolin không thấy ai cả, trừ khi họ đã học được tính kín đáo. Thế nhưng anh để ý thấy một chiếc Mercury Marquis tới đỗ ngay đối diện. Anh dễ dàng nhận ra hai người vừa bước khỏi xe vừa vuốt phẳng bộ quần áo của họ. Chưởng lý Gleith và trợ lý tương lai Bentley Cotland.
 
- Thanh tra Brolin, Robert Gleith gọi. (Ông ta chìa tay cho anh, còn người kia nắm chặt cánh tay anh.) Tôi muốn nói chuyện với anh. Cuộc điều tra tiến triển thế nào?
 
Liệu có thật là ông ta quan tâm đến cuộc điều tra không? Hay Bentley Cotland đã than phiền về việc không được để quý mến lắm? Dù anh ta có tỏ ra dễ chịu hơn trong những ngày gần đây, nhưng với anh ta, không bao giờ có thể hiểu rõ được. Biết vừa đấm vừa xoa, đúng là một chính trị gia! Gleith không bao giờ đi đâu mà không có mục đích. Từ trước tới giờ, đại úy Chamberlin luôn là người trung gian, giờ đây viên chưởng lý lại muốn gõ cánh cửa cuối cùng, nơi diễn ra công việc cụ thể.
 
- Chúng tôi có vài hướng làm việc, Brolin đáp mà không muốn đi sâu vào cụ thể.
 
- Hướng làm việc hay hướng đưa tới một kẻ tình nghi? Ngài chưởng lý đi xa hơn và mời Brolin đi dọc theo hàng hoa nhài mùa đông.
 
- Đây không phải là một vụ giết người quen thuộc thưa ông, chuyện không đơn giản, chúng tôi cần thời gian…
 
Họ bước đi chậm rãi, anh thanh niên trẻ đi giữa một bên là Gleith, một bên là Cotland và anh thích thú với điều này. Hai người đó tạo thành một gọng kìm thứ bậc trong những bộ comle  trị giá hơn 2000 đô la.
 
Họ xâm chiếm không gian và chỉ ra ai là người dẫn lối. Không khôn khéo lắm, nhưng đa phần có hiệu quả hăm dọa người đối thoại!
 
Gleith đặt một bàn tay lên vai anh thanh tra.
 
Người ta thu hẹp không gian và nắm đấm để tăng thêm sức mạnh cho cảm giác kiểm soát. Ta bao quanh anh, ta xâm phạm sự toàn vẹn cơ thể anh, ta ra lệnh cho anh phải làm gì và anh phải làm theo, nếu không ta thu nhỏ mắt lưới và vắt anh như vắt một quả chanh tầm thường.
 
- Tôi hiểu, ngài chưởng lý đáp giọng trịnh trọng. Nhưng anh phải gánh áp lực một mình, thông báo rộng rãi của đại úy Chemberlin sẽ gây hậu quả nặng nề nếu chúng ta không tìm thấy một kẻ tình nghi để đưa ra trước công luận.
 
Lại nói về vụ giăng bẫy đó. Mặc dù nó giúp phát hiện ra mẩu thuốc lá để đối chiếu ADN, nhưng thất bại cay đắng của nó sẽ còn bao phủ lên sự nghiệp của Brolin trong một thời gian dài.
 
- Tôi vừa gặp ông thị trưởng, Gleith nói thêm. Ông ấy không hài lòng vì các kết quả chậm trễ. Hãy nghe tôi, đó là một người luôn đối diện với luật kết quả tức thì, ông ý phải làm hài lòng cử tri và đẩy lùi các đối thủ cạnh tranh còn anh, anh không tạo điều kiện thuận lợi cho nhiệm vụ đó.
 
Ngài chưởng lý dừng lại và đứng đối diện với Brolin, Bentley cũng làm như vậy sau lưng anh, thật không tế nhị chút nào, thông điệp đã rõ ràng.
 
- Đừng nhầm lẫn, không có gì mang tính cá nhân cả, nhưng tôi nghĩ anh còn quá trẻ đối với cuộc điều tra này. Nếu là đại úy Chamberlin, tôi sẽ chọn một người già dặn, có kinh nghiệm. Nhưng đại úy rất quý anh, và việc anh được đào tạo ở FBI dường như gây được ấn tượng mạnh với nhiều người, cả các kết quả trước đây của anh nữa.
 
Mắt ông ta nhìn chằm chằm vào mắt Brolin, còn anh thanh tra chống đỡ ánh mắt đó một cách không ngạo nghễ mà kiên định.
 
- Và Bentley nghĩ rằng anh đủ khả năng chỉ đạo cuộc điều tra đến cùng, vì thế tôi nghiêng về lựa chọn này, nhưng đừng mắc sai lầm, anh có thể phá hỏng sự nghiệp của mình với một vụ như thế này. Cho đến nay, các phương tiện thông tin đại chúng vẫn bình tĩnh, nhưng đến vụ giết người thứ ba, chúng ta sẽ được lên trang nhất của các kênh trung ương.
 
Tất nhiên rồi, Bentley có mặt ở đây không chỉ để lấy thêm kinh nghiệm, mà anh ta còn là tai mắt của ngài trưởng lý. Sao họ không chú ý hơn nhỉ. Đây thậm chí là chuyện đương nhiên, một anh chàng trẻ tuổi vừa mới ra trường lại được đặt vào văn phòng của chưởng lý, lại còn được ưu ái, phải có cái gì đó đằng sau chuyện này. Gleith muốn biết hoạt động nội bộ của bên cảnh sát, ông ta muốn lập những hồ sơ con của riêng mình, theo kiểu John Edgar Hoover thu nhỏ. Để biết đâu là người ủng hộ ông ta và những kẻ cần hạ gục vào một thời điểm nào đó. Có tất cả các phương tiện cần thiết để gây sức ép phòng khi… chính trị gia xấu xa. Ngạc nhiên hơn nữa là việc Bentley ủng hộ anh, không giống bình thường chút nào.
 
Đến lượt mình, Brolin đặt một bàn tay lên vai người đối diện mạo hiểm đùa với vũ khí của người đang đối thoại với anh.
 
- Tôi biết việc của mình, mặc dù tôi còn quá trẻ như ông nói. Chúng tôi đang đối mặt với một cặp đôi đáng sợ, chúng rất lanh lẹ và quỷ quyệt, vì thế đừng kỳ vọng ở tôi những phép màu. Chúng tôi là một nhóm làm việc liên tục, nhưng chừng nào đối thủ của chúng tôi chưa phạm sai lầm, thì chừng đó chúng tôi không có bất cứ hướng cụ thể nào. Do vậy, chính tôi là người phải tìm ra hướng đi nhờ vào sự đồng cảm.
 
Anh cố tình dùng thuật ngữ, với hy vọng rằng Gleith sẽ không hiểu ý nghĩa chính xác trong hoàn cảnh này và sẽ bị đặt vào thế yếu, khi đó Brolin sẽ lấy lại thế chủ động.
 
- Tôi không phê phán các đồng nghiệp của mình, nhưng hiện tại tôi là người duy nhất có thể chỉ đạo cuộc điều tra này đến cùng. Hãy tin ở tôi.
 
Brolin thấy hàm Gleith co rúm lại, ông ta rất bực bội khi người khác không nghe theo ý mình.
 
- Anh cứ làm đi, ông ta xẵng giọng. Nhưng tôi cần kết quả cụ thể. Anh có thời gian cho đến sáng thứ hai tuần tới. Sau đó, tôi sẽ yêu cầu FBI hỗ trợ.
 
Brolin sững người, anh chỉ còn bốn ngày.
 
Bốn ngày để ngăn chặn một vụ giết người mới.
 
Trước khi các cựu đồng nghiệp của anh bắt tay vào việc còn anh thất bại hoàn toàn.
 
Gleith nói thêm bằng giọng đanh thép và với nụ cười của động vật ăn thịt:
 
- Hãy nhớ lại những lời của Andy Warhol và làm thế nào để giây phút vinh quang của anh không phải là đã qua…
 
Một nụ cười mỉa mai nở trên môi của Brolin
 
- Tôi tin chắc rằng, một người như ông, phải biết tướng De Gaulle, anh nhận xét. Ông có biết ông ấy đã nói gì không? Rằng “Vinh quang chỉ đến với những  người luôn mơ tới nó”. Mỗi người đều có giấc mơ của mình, thưa chưởng lý Gleith.
 
Anh nghe thấy tiếng bấm máy ảnh ở đằng xa. Báo chí không bao giờ ở xa khi có một vụ giết người.
 
Chỉ còn bốn ngày.
Sự đời cà khịa cái chơi
Khi vui muốn khóc, khi cười buồn tênh!
0
Chương 63
 
Phòng thí nghiệm của cảnh sát khoa học Portland làm việc liên tục. Lúc nhiều việc, lúc ít việc, thời kỳ cao điểm xen kẽ với những giai đoạn bình lặng hơn. Sáng thứ năm này tương ứng với thời kỳ đỉnh điểm của công việc ở mức có thể chịu đựng được.
 
Khi Joshua Brolin đẩy cánh cửa hành lang trung tâm, anh thấy rất nhiều người mặc áo blouse trắng làm việc đằng sau những vách kính cao của những khu vực khác nhau. Ở khoa đường đạn, ngoài công việc quen thuộc là so sánh vũ khí và đạn, người ta còn xác định đường đạn và khoảng cách bắn trên quần áo của các nạn nhân bị bắn vài ngày trước ở bãi giữ xe ở một quán trọ ven đường. Xa hơn một chút, ở phòng cháy nổ, hai người đàn ông và một người phụ nữ đang tìm hiểu nguồn gốc xảy ra vụ cháy nổ trong một câu lạc bộ đêm bằng cách phân tích các mẫu phẩm nhờ máy đo phổ hồng ngoại và sắc ký lỏng.
 
Brolin đi qua một loạt các phòng thí nghiệm khác, phòng sinh học, và đi tiếp đến khu vực văn phòng. Carl DiMestro đợi anh ở đây từ khi nhận được cú điện thoại của anh vào buổi sáng. Khi anh thanh tra bước vào, DiMestro, người phụ trách phòng sinh học và là phó giám đốc phòng thí nghiệm, đứng dậy đón anh.
 
- Tinh thần thế nào? DiMestro hỏi vì biết rằng Brolin vừa tham dự lễ hỏa thiêu.
 
- Không tồi hơn mọi khi. Anh có tìm thấy gì không? Anh không thể ngăn mình hỏi ngay, bỏ qua mọi hình thức mở đầu khác.
 
Anh biết thứ mà hôm qua anh phát hiện ra ở nhà Camelia quan trọng đến thế nào đối với phần tiếp theo của cuộc điều tra.
 
- Anh ngồi xuống đi, cà phê hay trà?
 
Brolin lắc đầu, anh muốn nghe lời nhận xét ngay lập tức.
 
- Vâng, sau cuộc điện thoại tối qua của anh, Craig đã tới và chải kỹ càng toàn bộ đồ lót. Từng milimet, Josh, theo anh liệu nạn nhân có nuôi chó, chó sói, cáo cát hay cáo không?
 
- Gì cơ? Không, tôi không nghĩ thế. Có gì...
 
- Nếu không thì rất kỳ lạ, không có lông động vật trong nhà. Không đâu có, trừ trên đồ lót.
 
Brolin nhíu mày.
 
- Phải, rất đáng ngạc nhiên, DiMestro nói tiếp. Craig đã lấy ra một sợi lông dài, sợi lông mà anh đã tìm thấy, và anh ấy tìm được thêm vài sợi lông ngắn, ba hoặc bốn sợi trong chiếc quần lót ren. Sợi lông dài là của người. Mặt cắt ovale và hình dạng xoăn cho thấy đây là lông nách hoặc lông mu của một người da trắng. Quả thật, nó không có lõi liền liên tục của người châu Á, và các hạt  sắc tố không dày đặc bằng mà phân bố đều hơn lông của người da đen. Còn các sợi lông mảnh và ngắn là của động vật, sau khi phân tích rất lâu, tôi có thể khẳng định với anh rằng chúng thuộc về loài chó. Cách sắp đặt các tế bào biểu bì và hình dạng của biểu bì rất đặc trưng đối với loài này. Nhưng tôi chưa kịp bắt tay vào so sánh kỹ với cơ sở khoa học của chúng ta theo từng giống. Chắc chắn là một con chó, nhưng chính xác là giống nào thì chúng ta còn phải mất nhiều thời gian.
 
Brolin ngồi không yên trên ghế bành, gây nên tiếng kêu ken két của kim loại. Tại sao lông chó lại có thể rơi vào đây? Lời giải thích duy nhất mà anh nghĩ tới là chính hung thủ đã mang chúng tới. Quần áo hắn dính lông, và khi hắn cọ sát vào đồ lót, một vài sợi lông đã rơi vào một chiếc quần lót.
 
- Hắn ta có một con chó sao? Anh hỏi.
 
- Điều này có vẻ hợp logic nhất. Một con chó cỡ vừa, căn cứ vào độ dài của lông. Nhưng chưa phải đã hết. Các sợi lông có dính một chất lạ. Không phải một chút, mà giống như được bao phủ toàn bộ bằng chất đó. Nhờ máy quét hiển vi điện tử và sắc ký khí, chúng tôi đã tìm ra chất này. Có xà phòng chứa asen và kali cacbonat. Tức là những chất không hay gặp.
 
Cuối cùng, Brolin cũng có được một yếu tố cụ thể. Hung thủ có thể đã vuốt ve con chó của hắn và bôi các chất này lên lông của nó, hay con chó đi vào một nơi chuyên sử dụng hai hỗn hợp này? Có rất nhiều khả năng, bắt đầu từ một sự trùng hợp không may có thể không đi tới đâu cả, nhưng đây là hướng đi duy nhất có thể khai thác được.
 
Brolin trở về với thời điểm hiện tại.
 
- Với sợi lông người, anh có thể lập mẫu ghen không? Anh hỏi.
 
- Không, không có chân lông. Nhưng tôi có thể phân tích bằng cách kích hoạt các neutron. Các neutron xung đột với nguyên tử của các yếu tố rất nhỏ khác nhau tạo nên sợi lông, và chúng trở thành phóng xạ. Chỉ cần đo các tia gamma tạo thành từ đó, người ta sẽ có thể tính toán được chính xác dấu vết nhỏ nhất của các thành phần. Chính xác tới phần tỉ gam, tới mười bốn yếu tố khác nhau. Tức là nếu anh đưa cho tôi lông của một kẻ tình nghi, tôi chỉ việc so sánh hai “hồ sơ phóng xạ” là biết liệu hai sợi lông có phải cùng một người hay không.
 
- Có đáng tin cậy không?
 
- Kém hơn ADN, nhưng xác suất sai là khoảng một phần triệu, không tồi đâu.
 
Brolin đứng dậy và rút từ túi áo vest da ra một túi nhựa chứa vài sợi tóc.
 
- Có thể so sánh với một sợi tóc được không? Anh hỏi.
 
- Không vấn đề gì. Anh lấy đâu ra thế?
 
Brolin đặt chiếc túi lên bàn của Carl
 
- Một cảnh sát cừ khôi không bao giờ tiết lộ hết các nguồn của mình.
 
Người phụ trách phòng sinh học nhún vai.
 
- Đấy là việc của anh. Tôi sẽ làm trong thời gian nhanh nhất có thể, nhưng hiện tại, có rất nhiều việc khẩn cấp. Chúng tôi luôn luôn thiếu người.
 
- Tôi biết, ở đâu cũng thế. Dù sao cũng cám ơn anh.
 
- Nói nhỏ nhé, có lẽ chỉ là một sợi lông mu của nạn nhân, đúng không?
 
Brolin lắc đầu dứt khoát.
 
- Tôi không nghĩ thế. Không thể nào có trong đồ lót sạch, không phải trong hoàn cảnh này, mọi thứ hoàn toàn trùng khớp. Tôi bảo đảm với anh đấy, Carl ạ, hung thủ đã dùng đồ lót. Hắn không thể ngăn mình làm điều đó. Và những sợi lông chó khẳng định điều này. Camelia không nuôi động vật. Chúng ta đang có một thứ, chúng ta phải khai thác đến cùng.
 
Carl nhún vai rồi kết luận:
 
- Có lẽ anh hy vọng có được những thông tin tốt nhất, nhưng rất tiếc, chúng tôi chỉ làm việc chúng tôi có thể làm.
 
Brolin mở hé cửa.
 
- Thế đã là nhiều rồi, Carl. Mà lại chỉ trong vài giờ đồng hồ. Cám ơn anh lần nữa.
 
Những sợi lông chó dính đầy xà phòng chứa asen và kali cacbonat. Đây là một xuất phát điểm tốt. Brolin chóng mặt khi phải nghĩ tới cả chặng đường dài phải vượt qua để đến đích.
 
Anh đi ra sau khi đã cảm ơn Carl DiMertro thêm một lần nữa. Quầng mắt Carl chảy xuống như một làn sóng đen trên bãi biển Florida.
 
Phải làm thật nhanh, rất nhanh.
Sự đời cà khịa cái chơi
Khi vui muốn khóc, khi cười buồn tênh!
0
Chương 64
 
Mặt dù mặt trời tỏa sáng trên bầu trời quang đãng, nhưng đầu giờ chiều này, cái lạnh vẫn thấu xương. Một làn hơi khói vẫn tỏa ra từ miệng Juliette khi cô thở, rồi nó xoắn lấy gió và tan vào không khí.
 
Cô đã chạy xe về phía đông, về những vùng hoang dại của bang Oregon cho tới khi đến những địa hình khúc khuỷu, nơi gọi là thành phố chỉ là một cộng đồng khoảng mười ngôi nhà và vẫn còn những cánh rừng rậm và rộng tới mức những con vật chưa từng biết tới sự tồn tại của con người. Khi rời đường lớn để tiến vào con đường xóc, cô đã đỗ lại để chờ chiếc xe Ford của hai cảnh sát tới. Ở đó cô thỏa thuận để có vài giờ riêng tư, không thể xảy ra chuyện gì với cô ở nơi hẻo lánh này cả, và họ sẽ chờ cô ở đầu con đường duy nhất dẫn tới mỏm đá. Mặc dù không thích nhưng vì rất thông cảm, hai cảnh sát đã nhượng bộ.
 
Giờ đây, đứng trên một tảng đá, Juliette cúi xuống khoảng trống và ngắm nhìn dải lụa đen của dòng Columbia, ở cách cô hai mươi mét bên dưới. Con sông chảy hiền hòa qua bang Oregon, uốn lượn giữa những cánh rừng bạt ngàn, tiến sâu vào các vách đá dựng đứng rợp bóng cây để cuối cùng đến với thế giới văn minh, nơi các con tàu chở rất nhiều hàng hóa về phía đại dương.
 
Juliette cầm trên tay một chiếc hộp đen, cô cầm những gì còn sót lại của người bạn thân Camelia. Camelia không còn người thân từ nhiều năm nay, ngoài rất ít người thân trong gia đình ở xa, trên bờ biển phía Đông và không biết đến cô, họ có niềm tin tôn giáo sâu sắc, kiểu niềm tin muốn xua đuổi Camelia vì cách sống của cô chứ không ca tụng tình yêu và sự khoan dung. Steven, chồng cũ của Camelia, cũng có mặt trong buổi lễ hỏa thiêu, nhưng lọ tro được giao lại cho Juliette.
 
Trước đây, Camelia thường đùa vui về cái chết của chính mình, về sự tự do này. Cô nói rằng tro của mình sẽ được gió cuốn đi và cuối cùng cô cũng được bay lên. Cô sẽ biến thành hàng ngàn hạt bụi nhỏ, được nhìn thế giới từ trên trời, rồi sau đó rơi xuống khắp nơi cùng một lúc. Cô sẽ ở trong các dòng sông, trên cây, trong đại dương và có thể vương lại đôi chút trong cơn gió mạnh Đại Tây Dương nếu sự may mắn và thiên nhiên giúp đỡ.
 
Khuôn mặt người bạn thân hiện lên trên dòng Columbia, Juliette nhắm mắt lại. Gió thổi vào tai cô giai điệu thời gian đang trôi đi.
 
Cô leo lên mỏm đá bên phải. Cô biết mình đang ở bên bờ của một vách đá dựng đứng, khoảng trống đe dọa hút cô xuống chỉ cách chân cô vài centimet, nhưng cô không sợ.
 
Khi mí mắt cô mở ra, cô chìa cái hộp ra trên miệng vực, rồi mở nắp.
 
- Em yêu chị...
 
Những hạt tro đầu tiên chầm chậm bay lên, như thể chính gió không muốn mang chúng đi, rồi một luồng xoáy bụi bốc lên từ chiếc hộp, dường như cố ý vẽ nên những hình thù kỳ lạ, bay lên rồi lại rơi xuống trước cặp mắt ngạc nhiên của Juliette. Vũ điệu của tro tạo thành ký tự bí ẩn trong không khí, rồi biến mất gần như ngay lập tức. 
 
Đó chính là những lời từ biệt mà Camelia gửi tới cô bạn thân nhất của mình.
 
Những lời cuối cùng.
 
Juliette vẫn ngồi trên mỏm đá hơn một giờ nữa. Cô nghĩ tới Camelia, nhưng cũng nghĩ tới chính mình, tới chuyện xảy ra với mình năm ngoái. Chỉ một chút xíu nữa thôi, là Camelia đã phải rải tro của cô bạn trước khi tro mình được rải ở đây. Liệu điều đó có thay đổi được gì không? Nếu chính cô, Juliette, chết vào ngày hai mươi chín tháng chín năm ngoái, thì hôm nay liệu Camelia có còn sống không?
 
Juliette lau nước mắt từ mặt trong của tay áo.
 
Cô căm thù kẻ đã làm việc này, kẻ giết người đó. Kẻ điên rồ đó.
 
Giọng nói của hắn ám ảnh cô, thứ âm sắc vô tính, đọc lên các mệnh lệnh trong điện thoại đó khiến cô phát điên dại. Brolin đã cho kiểm tra đường dây, nhờ tới sự trợ giúp của Pacific Bell để cố tìm nguồn gốc cuộc gọi, nhưng đó hiển nhiên là một cabin điện thoại công cộng, cách xa thành phố, vì thế cách xa mọi nhân chứng.
 
Chúng có hai người, Joshua đã nói với cô như thế. Kẻ giết người và Quạ, đấy là cách anh gọi chúng. Và chúng dùng thần khúc của Dante để giết người, ít nhất là để làm các vụ giết người của chúng trở nên nổi tiếng hơn nhờ một động cơ bí hiểm. Chúng trích dẫn những đoạn trong “Địa ngục”. Tại sao chúng lại chọn phần này? Mục đích cuối cùng là gì? Không phải vô tình, juliette tin chắc như vậy. Một tối nào đó, khi hai người nói với nhau về chuyện này, Joshua đã khuyên cô không nên nghĩ tới nó vì chỉ đầu óc Quạ mới có thể làm sáng tỏ ý nghĩa cũng như mục đích của đoạn trích dẫn ấy. Có vẻ mờ mịt và chỉ mình Quạ hiểu được, hắn tự giam mình trong một kiểu hoang tưởng cuồng ám, ở đó hắn tự xây nên một vũ trụ nhỏ nhờ những cuốn sách “thánh”. Nhưng Juliette không chắc chắn lắm. Không phải là không thể tìm ra ý nghĩa của những trích đoạn đó, bản thân việc lựa chọn “địa ngục” đã là một thông điệp.
 
Cô nhìn đồng hồ đeo tay. Kim đồng hồ chỉ mười sáu giờ.
 
Những kẻ này phải trả giá. Chúng không có quyền tấn công Camelia, chị ấy chẳng làm gì chúng cả.
 
Juliette nắm chặt tay khiến các khớp xương kêu răng rắc. Cô cảm thấy cơn tức giận đang dâng lên, đó là mong muốn trả thù. Giết chúng ư? Không, tất nhiên rồi. Nhưng phải làm chúng khốn khổ! Hoặc khiến chúng phải ngồi chết dí mãi mãi trong phòng giam ẩm ướt.
 
Thế nhưng, liệu cô có thể làm được gì?
 
Phần việc của mình!
 
Dường như chúng muốn tôn thờ Leland, bắt chước hắn, cũng khéo léo như hắn, chính vì chúng có mối liên hệ với nhau bằng cách nào đó. Chúng quen biết nhau.
 
Nhưng cô không biết gì về Leland, không một chút riêng tư nào.
 
Đột nhiên, Juliette cảm thấy hai tay mình lạnh cóng, cô lấy lại được cảm giác của cơ thể mình và ký ức về nỗi kinh hoàng lại bật lên từ trạng thái mơ hồ của trí nhớ lan tới tận xương thịt cô.
 
Có chứ. Cô có thể tiếp cận tới cuộc sống riêng tư của Leland. Cô luôn biết bằng cách nào, nhưng chưa bao giờ dám đối mặt với lũ quỷ, vẫn còn quá sớm.
 
Nhưng giờ thì không còn sớm nữa, cô tự nhủ và đứng dậy đi ra xe của mình.
 
Cuộc chiến đã bắt đầu. 
Sự đời cà khịa cái chơi
Khi vui muốn khóc, khi cười buồn tênh!
0
Chương 65
 
Vẫn chưa tới mười ba giờ khi Brolin bước qua cửa của Powell’s và đi vào thế giới tĩnh lặng của kiến thức. Powell’s là một hiệu sách có thể khiến chính Alexandre Đại đế phải tái mặt vì sự phong phú và đa dạng của nó. Hiệu sách quá rộng và các giá sách sắp xếp quá ngoắt ngoéo làm cho người ta rất dễ bị lạc, đến mức một số sinh viên ở Portland đặt cho nó biệt hiệu “Thành phố sách”.
 
Brolin chào một nhân viên đứng sau quầy hàng nhỏ nổi bật với một dấu hỏi khổng lồ màu trắng trên nền đen, và chỉ sau vài giây, anh tìm thấy khu vực bán sách lý - hóa. Anh bắt đầu dò tìm, đọc mục lục của các cuốn sách mà tựa đề có vẻ mang tính bao quát. Rồi anh lọc ra, xếp thành chồng một số cuốn mà anh nghĩ có thể nhặt nhạnh được vài thông tin.
 
Anh phải tìm ra xà phòng chứa asen và kali cacbonat gắn với cái gì. Carl DiMestro đã vất vả tách các yếu tố này từ những sợi lông động vật được tìm thấy trên một thứ đồ lót, tất nhiên đây không phải là một chiến công, nhưng việc chỉ dẫn này tồn tại là một phép màu. Hay đúng hơn, việc họ tìm được chúng là một phép màu. Brolin lại nghĩ tới bản mô tả tâm lý và nhận dạng và tự chúc mừng mình về chiến thắng nhỏ ấy. Nó xứng đáng được truyền tới tai các thầy cô giáo của anh ở Quantico, đây sẽ là một ví dụ tuyệt vời về đóng góp của mô tả nhân dạng vào cuộc điều tra và về các kết quả ngay lập tức của nó. Với điều kiện nó nhanh chóng dẫn tới việc bắt được hung thủ.
 
Xà phòng chứa asen và kali cacbonat.
 
Hướng đi này không chắc chắn, nhưng chỉ cần một chút may mắn là nó có thể đem lại kết quả. Nếu Brolin tìm ra nơi và mục đích sử dụng các sản phẩm này, xác định loại nhà máy hay nghề nghiệp sử dụng chúng, hoặc ít nhất là chúng có thể được sử dụng vào việc gì, thì sau đó anh sẽ có hy vọng chạm tới kẻ giết người. Chưa có gì chắc chắn cả, tất cả mới chỉ là suy đoán. Brolin xuất phát từ nguyên tắc là kẻ giết người có một con chó, và xung quanh nơi ở của hắn có một khu công nghiệp hoặc ít nhất là một xưởng có sử dụng xà phòng và cacbonat. Con chó không cần đi quá xa và lông của nó đã có thể dính đầy các chất này.
 
Vậy mà Carl DiMestro nói rằng các sợi lông ngấm đẫm các thành phần đó. Có thể con chó đã lăn vào một vũng nước, hoặc nghề của kẻ giết người khiến hắn phải tiếp xúc với các chất này. Sau đó hắn vuốt ve con chó, đặt bánh xà phòng chứa asen và kali cacbonat lên trên lông. Khi ấy, chỉ cần có vài sợi lông dính vào quần áo của kẻ giết người, thế là sự việc diễn ra.
 
Tất cả chỉ dựa trên xác suất, phán đoán.
 
Nhưng đây là tất cả những gì anh có, hơn nữa, đây là lời giải thích lô gic nhất.
 
Sau một giờ nghiên cứu, Brolin đã lấy ra đặt vào khoảng ba chục cuốn sách. Powell’s là một cửa hàng bán sách và người ta không đến đây để nghiên cứu, vì thế chẳng có gì đáng ngạc nhiên khi một nhân viên lại gần anh, vẻ soi mói.
 
- Tôi có thể giúp gì được anh?
 
Brolin lắc đầu và lục túi trong của áo vest, rút ra tấm biển hiệu thanh tra.
 
- Trừ khi anh biết xà phòng chứa asen và kali cacbonat dùng để làm gì…
 
Anh nhân viên chừng ba mươi tuổi, đeo cặp kính to gọng đỏ, mái tóc dài vén qua tai, nhăn mặt tỏ ý “để tôi suy nghĩ một chút” hoặc gần như thế.
 
- Kali cacbonat được dùng để sản xuất một số loại thủy tinh và hình như cả nước hoa nữa. Tôi đã xem trên một phim tài liệu cách đây vài hôm. Thế thôi. Còn về xà phòng chứa asen, tôi chẳng biết gì cả. Để phục vụ điều tra ư?
 
- Hừmmm…Anh nói là để sản xuất thủy tinh?
 
- Và nước hoa nữa, hình như thế.
 
- Anh có sách nào nói về sản xuất thủy tinh không?
 
- Ồ có, nhất định là có.
 
Brolin sửng sốt khi thấy người bán hàng dễ dàng định hướng giữa vô vàn sách tham khảo trong cửa hàng. Chẳng cần mất nhiều thời gian, người bán hàng chìa cho viên thanh tra một cuốn sách nhan đề Sản xuất thủy tinh, từ thợ thổi đến công nghiệp hóa.
 
- Đây. Tôi sẽ hỏi đồng nghiệp của tôi về xà phòng, anh ấy biết khá nhiều về hóa học.
 
Brolin cảm ơn và bắt tay vào đọc cuốn sách dày, bắt đầu từ phần chỉ dẫn. Anh giở nhiều trang, nhưng không có gì đáng chú ý cả, có rất nhiều dữ liệu, vài bức ảnh và hình vẽ nhiều màu.
 
Anh nhân viên bán hàng đeo kính gọng đỏ trở lại sau vài phút với tách cà phê nóng hổi trên tay.
 
- Anh uống đi, nó rất tốt cho những lúc nghiên cứu, anh ta nói.
 
Sự quan tâm khiến Brolin cảm động, anh chợt thoát được khỏi bản chất đa nghi và ít nói của mình.
 
- Cảm ơn, anh tốt quá. Cuốn sách này quả là ác mộng! Tám trăm trang sách chữ nhỏ, liệu có ai mua nó không? Anh vừa nhấp cốc cà phê vừa đùa.
 
- Anh yên tâm đi, chúng tôi dùng cuốn sách này để kê một cái bàn. Tôi đã hỏi một đồng nghiệp về xà phòng chứa asen. Anh ấy không biết nhiều công dụng, nhưng đây là một chất sát khuẩn. Kali cacbonat cũng có thể được dùng làm chất bảo quản, nhất là đối với các xác ướp, anh ấy nói như vậy. Cần phải nói thêm rằng anh ấy say mê lịch sử cổ đại, đặc biệt là Ai Cập thời các pharaon. Kali cacbonat có thể được dùng để giúp xác ướp không bị khô. Tóm lại, đây là một trong các chất cần thiết.
 
- Cho xác ướp?
 
Nơi nào ở Portland người ta làm việc với cả các xác ướp nhỉ? Theo như anh biết, không bảo tàng nào trong thành phố có xác ướp. Và tại sao lại dùng cả chất diệt khuẩn như xà phòng chứa asen? Loại nhà máy nào có thể kết hợp cả hai? Để thu được gì?
 
Brolin xem xét một số lượng lớn nghề nghiệp, nhưng không tìm ra nghề nào có thể sử dụng các sản phẩm loại này. Nhưng làm sao mà biết được? Nhiều cơ sở chuyên nghiệp có “bí quyết” riêng của họ, cách pha trộn riêng…
 
Một chất sát khuẩn và một chất chống khô.
 
Và…
 
Bỗng đầu óc Brolin sáng lên. Anh so sánh các dữ liệu và một giả thiết chợt hình thành sau khi đối chiếu.
 
Kẻ giết người đã  cắt tay chân của các nạn nhân rất cẩn thận, tỏ ra có kiến thức chuẩn xác về giải phẫu học. Hắn đặc biệt chú ý đến da và xương, bỏ qua các tĩnh mạch, cơ và toàn bộ phần thịt.
 
Và các vệt phấn xung quanh chân của Elizabeth Stinger. Hắn không dùng phấn để vẽ một ngôi sao năm cánh hay bất cứ thứ gì khác, mà để đo! Hắn lấy các số đo của cô gái và dùng phấn để đánh dấu phần da!
 
Phải, đúng như thế. Da, xương, các số đo và các chất sát khuẩn, kèm theo một chất chống khô, chỉ có một cách lý giải.
 
- Không được gì sao? Nhân viên bán hàng lo lắng. Anh uống thêm cà phê nhé?
 
Brolin cảm thấy căn phòng quay tròn quanh anh ngày càng nhanh theo mức độ kinh hoàng. Giờ thì anh đã biết.
 
Kẻ giết người không mang tay chân nạn nhân về làm chiến lợi phẩm.
 
Còn tàn bạo hơn nhiều.
 
Toàn bộ người anh bị chao đảo bởi một cơn rùng mình vì kinh tởm.
Sự đời cà khịa cái chơi
Khi vui muốn khóc, khi cười buồn tênh!
0
Chương 66
 
Trước hết, cô phải thoát khỏi hai vị thần hộ mệnh của mình.
 
Juliette không hình dung nổi việc mà cô sắp làm khi lúc nào cũng có hai cảnh sát theo sát gót. Họ ở đây để bảo vệ cô, nhưng cô chẳng có gì để sợ cả. Kẻ giết người đã chần chừ, hắn đã thú nhận với cô qua điện thoại, nhưng hắn lại chọn Camelia. Hắn không muốn tấn công cô. Leland thử làm việc đó, và hắn phải trả giá bằng sự sống. Giờ đây, nếu đúng là có một mối nguy hiểm chết người bay lượn trên đầu cô, thì Juliette thích đối mặt với nó. Nghĩ thật kỹ, thậm chí cô muốn thách thức nó.
 
Đó là cách duy nhất để kết thúc mọi chuyện.
 
Nếu Quạ và kẻ giết người biến mất, chúng sẽ đem theo cả hồn ma của Leland và mọi nỗi khiếp sợ của cô.
 
Cô ngồi trước vô lăng chiếc Coccinelle nhưng không xoay chìa khóa khởi động. Thay vì làm việc đó, cô ra khỏi xe và đóng cửa, rồi đi về phía rừng. Nếu đi nhanh, cô sẽ tới đường sau mười phút. Theo con đường vòng mà cô đã chuẩn bị, cô sẽ cách xa chiếc xe Ford và hai người bảo vệ cô. Đủ xa để thử vẫy xe đi nhờ.
 
Cô bị trầy da tay khi đi qua các bụi cây gai, nhưng ra được đến đường khá nhanh bằng cách đi tắt, Juliette bắt đầu đi bộ về phía Tây. Cô không muốn hai cảnh sát nhận ra cô ở xa nếu một trong hai người quyết định làm chân hết cóng trên lớp nhựa đường. Phải đi thật nhanh, cô đã nói với họ là muốn ở một mình trong hai giờ đồng hồ, như vậy là cô chỉ còn nửa giờ đồng hồ nữa. Trong tình hình này, cô đoán rằng họ sẽ để cô tự do thêm một lúc nữa, rồi sẽ lo lắng và đi tìm cô. Cô rảo bước.
 
Mười lăm phút sau, một chiếc xe tải nhỏ đi từ phía sau tới, Juliette giơ ngón tay cái ra. Người lái xe khoảng bốn mươi tuổi, bụng phệ, tên là Duane, vui vẻ cho cô lên xe đi nhờ tới đường liên bang số 84 về phía Portland. Cô phải chịu đựng những lời ba hoa của ông ta và hướng câu chuyện đến những chủ đề trung tính hơn mỗi khi ông ta sa đà vào những lời bóng gió dâm dục. Nhưng Duane biết kiềm chế cho tới khi để cô xuống xe ở bên dưới đồi West Hills. Từ đây, Juliette leo nhanh tới nhà Camelia và lại một lần nữa cám ơn chị bạn vì đã đánh cho cô chiếc chìa khóa riêng. Cô ngồi vào chiếc BMW của Camelia và đi xuống phố 32, cố gắng đi thật chậm. Nhất định không được báo cảnh sát. Ý nghĩ này khiến cô mỉm cười. Cô xử sự như một kẻ chạy trốn đang bị tất cả các cảnh sát trưởng trong bang đuổi theo sau, nhưng xét cho cùng thì cô không làm gì xấu cả. Họ không thể buộc cô phải để họ đi theo khắp nơi. Và chỉ mình cô mới tới được nơi mà cô muốn. Cô không thể chấp nhận việc có người đi cùng, điều đang chờ đợi cô quá riêng tư. Chỉ cùng với sự cô đơn, cô mới có thể thực hiện được việc đó, và cô cần tất cả sự kín đáo mà ký ức yêu cầu để làm lộ rõ những nỗi sợ hãi và bí mật sâu kín nhất.
 
Juliette chạy xe trong im lặng, không mở nhạc, không bật đài. Mùi của Camelia vẫn còn trong khoang xe, mùi nước hoa xạ hương của chị vẫn phảng phất như thể chị đang ngồi ở ghế sau.
 
Chiếc BMW đi qua Beaverbon và tiếp tục chạy về phía Nam.
 
Mặt trời lặng lẽ xuống ở đằng xa, kéo theo tấm voan ánh sáng ban ngày cho tới khi những ngôi sao bắt đầu tỏa sáng trong cái lạnh trong suốt của bầu trời. Juliette biết mình đang ở trạng thái giới hạn. Border line như các chuyên gia thường gọi. Một trạng thái lẫn lộn sắp bùng nổ của mệt mỏi, chán chường, kiệt sức về thần kinh và giận dữ. Phán đoán của cô đã nhầm lẫn, đã bị cắt cụt vì lòng thù hận âm thầm khiến cô khó thở. Nhưng Juliette ý thức được điều ấy. Cô biết rằng cần phải làm việc đó. Cô không thể hành động như thế này trong trạng thái bình thường, và giờ đây, khi đã quyết, cô cần phải nuôi dưỡng ngọn lửa hủy hoại này. Từ tàn tro điều tốt đẹp hơn sẽ tái sinh. Một điểm xuất phát mới. Cô chạy xe về phía Nam, về phía ác mộng tồi tệ nhất của cô. Nhưng nếu có thể đối diện với hắn, thì cô tin chắc mình sẽ mãi mãi thoát khỏi tất cả các bóng ma của hắn.
 
Cô đi qua hồ Oswego và chạy xe thêm hai mươi phút nữa để ra khỏi đường liên bang và rẽ vào những con đường nhỏ hơn. Đến Stafford, cô rẽ vào rừng theo một con đường ít người qua lại. Chiếc BMW tiến sát theo vết xe ít nhiều hằn trên những đám cỏ cao. Lúc này cần bật đèn pha để nhìn cho rõ, bầu trời màu tím và ngọn cây vẫn đủ dày, mặc dù đã là tháng Mười, để phủ lên con đường những cái bóng bí hiểm.
 
Cô chạy xe trong mười phút trên con đường heo hút đó, rời xa văn minh, rời xa thế giới của những lề thói và giới hạn để tiến vào thế giới của bản năng. Khi cô đi sâu vào rừng, cành cây đập vào kính xe như một ngón tay dài đầy máu.
 
Rồi ngôi nhà hiện ra như một khuôn mặt đáng sợ trong đêm tối. Những bức tường trắng lạc lõng trong bóng hoàng hôn, bao quanh những ô cửa sổ đen che rèm đầy bụi bặm. Bên cạnh cái chuồng chim rộng đã biến thành vùng đất trung lập của thực vật, giấu bên trong nó vài bộ xương chim. Không ai sống trong ngôi nhà này nữa từ hơn một năm nay.
 
Leland Beaumont là người cuối cùng sống ở đây. Và Juliette là vị khách cuối cùng.
 
Chiếc BMW dừng lại trước cửa ga ra. Sau cánh cửa này hẳn vẫn còn chiếc ròng rọc dùng để kéo cô lên khỏi hầm.
 
Juliette tắt máy nhưng vẫn để đèn pha sáng. Cô mở hộp đựng găng tay, hy vọng tìm thấy một chiếc đèn pin, và mong muốn của cô đã trở thành hiện thực vì trong đó có một chiếc đèn Mag-Lite loại nhỏ.
 
Bên ngoài, không khí ẩm hơn một cách kỳ lạ so với lúc buổi chiều bên bờ sông Columbia. Động vật sống ban ngày đã im tiếng, đã ẩn náu trong hang ở rừng như thể đêm tối che giấu vài con quái vật gớm ghiếc mà chỉ thú vật mới biết.
 
Vẫn dưới ánh sáng của ngọn đèn pha thay thế mặt trời, Juliette lại gần ga ra. Vào ga ra bằng cánh cửa nhỏ bên cạnh thì dễ dàng hơn. Cô xoay tay nắm nhưng không ngạc nhiên khi thấy cửa đóng chặt.
 
Cô nghe nói rằng ngôi nhà không hề mở cửa từ năm ngoái. Sau khi Leland chết, không ai muốn mua ngôi nhà kinh hoàng trong rừng sâu này. Người ta đồn rằng ngay cả bố của Leland cũng không tới đây và tất cả mọi thứ trong nhà vẫn y nguyên. Cảnh sát đã khám xét nhưng khi phát hiện được cái hầm dưới ga ra nơi Leland nhốt các nạn nhân, thì cảnh sát lại chỉ lục soát tài sản của kẻ giết người. Người ta tìm kiếm những cuốn nhật ký, những bí mật về các vụ giết người của hắn, về các động cơ của hắn, nhưng ngôi nhà không cung cấp thêm bí mật nào cả.
 
Juliette tìm thấy một chiếc búa cậy đinh trong cốp xe, cô không ngạc nhiên vì quá hiểu chị bạn mình, luôn luôn sẵn sàng với mọi chuyện, rồi cô đi vào ga ra.
 
Ổ khóa bật ra sau một tiếng gãy đục vang to trong rừng.
 
Hơi thở của Juliette trở nên nặng hơn. Trong vài giây, cô quan sát bìa rừng đang vây quanh cô bằng những cánh tay đầy máu, nhưng không nhìn thấy gì cả. Thế nhưng cô cảm thấy sức nặng của một ánh mắt soi mói ở sau gáy.
 
Đừng hoang tưởng nữa, con bé đáng thương! Không ai biết mày đang ở đây, và không có linh hồn nào sống trong ngôi nhà tồi tàn trong rừng này! Cô cố động viên mình. Hiệu quả không mấy khả quan.
 
Sau cánh cửa này là những thời khắc tồi tệ nhất của đời cô. Cô đẩy cửa và bật chiếc đèn pin Mag-Lite.
 
Bóng tối dày đặc, lối vào nhà giống như quãng đường tới hư vô, một sai lầm của tự nhiên, hút hết những gì lại gần nó. Và Juliette bị nuốt gọn.
 
Không khí ngột ngạt, bão hòa những cuộn bụi.
 
Và tiếng la hét của những phụ nữ bị tra tấn.
 
Chùm ánh sáng chiếu vào ga ra. Ngột ngạt đến mức bóng tối trở nên có thể sờ thấy được, giống như một thực thể dày và mềm lấp đầy tất cả, tràn vào khắp nơi, ngay cả những góc nhỏ nhất.
 
Trong một vầng sáng nhỏ hiện ra một chiếc bàn thợ, bên trên là những dụng cụ đã rỉ sét. Ánh đèn lia trên mặt bàn làm việc. Một cái can. Vài đoạn dây điện nối dài. Một chiếc đài cũ. Một cái kìm.
 
Một phụ nữ đang quỳ, cầu xin lòng thương hại, rên rỉ trong khi một bàn tay cô bị giam trong gọng kìm. Dây thanh quản của cô đứt tung khi gọng kìm siết chặt và một chiếc cưa cứa vào phần thịt ở cổ tay cô.
 
Juliette xua ngay hình ảnh của trí tưởng tượng.
 
Tiếng dây xích vang lên đâu đó trong ga ra,ngay gần Juliette.
 
Dây xích của chiếc ròng rọc.
 
Juliette tiến thêm về phía trước, đi qua nồi hơi lạnh lẽo của ngôi nhà. Bụi tràn vào họng cô, nhưng cô thấy không đáng để ý tới và đi tiếp.
 
Khi đi vòng qua một chiếc động cơ ô tô đặt trên chồng gạch, chùm ánh sáng đèn pin chiếu vào những mắt xích quấn chặt vào nhau. Cái móc của hàng thịt ở đầu dây xích nhanh chóng hiện ra trong ánh sáng, như thể đang khao khát gặp lại Juliette.
 
Cô gái sững người trước cái móc nhọn bằng thép.
 
Hình như nó rất sạch. Bụi không dám rơi xuống lớp mạ bằng kền, và không khí ở cách xa cái mũi nhọn hoắt của nó. Cái móc vẫn luôn lạnh lẽo, Juliette tin chắc như thế. Đau đớn hơn khi nó đâm xuyên vào phần thịt nóng ấm của một con người.
 
Cuối cùng, cô đưa mắt xuống dưới. Một cánh cửa sập từ lâu không còn bị che giấu nằm khít bằng mặt nền. Dưới nữa là căn hầm nơi Juliette từng bị nhốt và chờ đợi cái chết.
 
Ngực cô chợt co thắt, cô đánh rơi chiếc đèn pin, nó lăn vào dưới gầm tủ và tắt ngấm. Hai bàn tay cô đông cứng lại, khắp người cô nổi da gà từ khi cô mới bước vào nhưng cô không nhận ra. Cô run rẩy trong bóng tối.
 
Juliette quỳ xuống nền xi măng lạnh ngắt và bắt đầu mò mẫm dưới gầm tủ. Tay cô chạm phải vài thứ nho nhỏ và cô không thích nghĩ xem chúng có thể là gì, đinh ốc hay gián. Rồi cô cảm thấy cái tay cầm bằng nhôm và cầm lấy đèn.
 
Cầu mong nó không bị vỡ, cô nhắc đi nhắc lại cho tới khi bấm nút và bóng đèn sáng lên.
 
Cô thở sâu nhẹ nhõm.
 
Cô lại gần cánh cửa sập, tim cô bắt đầu đập mạnh trong ngực, mạnh đến nỗi áo cô phập phồng. Chiếc ròng rọc và cái móc nằm ngay trên nóc cửa, vì thế cô phải di chuyển chúng ra chỗ khác.
 
Cái móc sáng bóng một cách lạ thường trong ánh đèn pin.
 
Nó cực kỳ sạch sẽ.
 
Như vừa được lau chùi.
 
Không thể nào, không ai điên khùng tới mức đến đây chỉ để lau chùi cái móc này. Nhưng Juliette khó mà ngăn mình không nhìn vào vật khó chịu bằng kền ấy. Rồi cô xua đi những ý nghĩ hoang đường đó và đặt tay lên ròng rọc.
 
Cô quay nó trên trục. Tiếng rít kinh khủng đầu tiên vang lên, Juliette bật nhảy về đằng sau và suýt nữa đánh rơi đèn pin. Cô lấy hết dũng cảm và đẩy vào thanh ngang. Giống như hai chiếc tàu chở hàng đâm nhau kêu rầm một cái. Tiếng rít không, chỉ là tiếng kêu của kim loại. Mà còn là lời gợi nhắc đến cái chết vốn bao phủ toàn bộ ngôi nhà, cả bên trong lẫn bên ngoài, làm thức tỉnh những bóng ma quá khứ.
 
Khi đã ở trên cánh cửa sập, Juliette cúi xuống và nắm lấy tay cầm bằng sắt.
 
Tại sao mình lại làm việc này? Mình cũng điên rồi!
 
Tim cô đập thình thịch giống như một chiếc động cơ chạy hết công suất nhưng cô biết mình phải làm việc này. Cô phải mở nó ra và đối mặt với sự sợ hãi của mình.
 
Tay cô nắm chặt tay cầm bằng thép.
 
Cô sẽ chứng tỏ cho bản thân thấy rằng tất cả những thứ này chỉ là quá khứ, và sẽ biến nỗi sợ thành kỷ niệm.
 
Cô nhấc tấm cửa lên và một ô vuông đen ngòm xuất hiện. Trong khoảng mười giây, cô ngỡ như nghe thấy các vong hồn nạn nhân ảo não bay lên trước mặt cô trong chuỗi tiếng rên rỉ bi thảm. Nhưng không có gì xảy ra.
 
Một chiếc thang gỗ nhỏ được thả vào hố đen. Juliette bám vào và bước xuống nấc thang đầu tiên. Cô gần như rít lên vì khó thở.
 
Nhưng mình phải làm việc này. Mình phải làm. Sau đó tất cả sẽ kết thúc.
 
Sau đó, cô có thể vào trong ngôi nhà, lục soát, tìm ra những chi tiết nhỏ nhất có thể gắn Leland với Quạ và kẻ giết người hiện tại. Cô biết là nhất định phải có những dấu vết những bằng chứng vật chất về một mối liên hệ, những yếu tố mà cảnh sát chưa phát hiện ra. Như thế, cô sẽ vượt qua được nỗi sợ của mình, và Leland sẽ chỉ còn là một hồn ma không đáng sợ, một sự hiện hình mà cô có thể quét sạch bằng một hơi thở.
 
Cô sẽ vào nơi ở của Leland và tìm ra tất cả các bí mật của hắn. Cho tới bí mật cuối cùng.
 
Cô xuống một mạch hết các nấc thang và chạm chân vào nền, đèn pin chĩa xuống đất. Hơi thở hổn hển. Tim gõ mạnh vào thái dương bằng những tiếng đập thình thịch. Không khí ấm, gần như ẩm ướt. Quá nhiều nước mắt đã rơi ở đây, quá nhiều sợ hãi đã toát ra từ đây khiến không khí tràn ngập một sự nặng nề độc hại.
 
Rồi chùm ánh sáng chầm chậm chiếu lên vách.
 
Cô thấy những vết móng tay trên các bức tường bằng gỗ. Cái lỗ mèo chui được đào vô ích dưới chân tường, chính ở đó cô từng nằm co quắp trong nỗi khiếp đảm. Nơi này chật hẹp hơn cô mường tượng trong ký ức của mình. Cô xoay người dần. Nhìn kỹ từng góc hầm.
 
Hơi thở của cô lắng xuống. Tim cô bình tĩnh trở lại.
 
Nơi này là tâm điểm của nỗi sợ hãi trong tâm trí cô, ít nhất là cho tới thời điểm này. Ở đây trong ánh sáng yếu ớt, cô nhìn thấy nhà tù mà một kẻ điên rồ đã đào. Cô thấy Leland đã phải khổ công xây dựng hang ổ tội ác của hắn. Cô thấy hắn say sưa thích thú khi quan sát các nạn nhân trong cơn kinh hoàng từ trong ga ra. Cô thấy con người hắn. Cô thấy sự điên dại trong hắn và không sợ con quái vật nữa. Hắn không phải là siêu nhân, hắn sẽ không quay lại được.
 
Cô hiểu hắn đã chết thực sự vào hôm đó. Hộp sọ hắn đã vỡ tung dưới sức nóng và sức công phá của viên đạn. Và ngay cả những cuốn sách ma thuật cổ xưa của hắn cũng không thể đưa hắn về đây được nữa.
 
Ở đâu đó, một kẻ nào đó đang chơi trò điều khiển một con rối hành động theo cách của Leland, nhưng chỉ là một con rối, không hơn không kém.
 
Bên trên, trong ga ra, có một vật lăn trên nền.
 
Juliette giật mình và chĩa đèn pin về phía cửa hầm.
 
Vật đó dừng lại. Có thể là một lon bia lăn trên nền xi măng.
 
Juliette đặt một chân lên thang và nhẹ nhàng leo lên.
 
Cái lon có thể bị gió thổi, hoặc một con vật đã vào trong ga ra, dù sao thì cô cũng vẫn để cửa mở.
 
Không thể tồi tệ hơn. Không, giờ thì không nữa rồi.
 
Cô ló đầu lên khỏi hố và chiếu sáng trước mặt. Mấy cái thùng chắn mất tầm nhìn của cô, có quá nhiều thứ trong cái kho này. Nhưng cô không thấy con thú nào cả. Trừ khi nó trốn ở đâu đó, nấp để chờ cô hay vì run sợ. Không có con vật nào.
 
Hoặc là không có ai!
 
Juliette trèo hẳn lên, và đúng vào lúc cô đặt đèn pin lên nền nhà để đứng dậy, thì sợi xích ròng rọc phát ra tiếng kêu.
 
Không giống như khi gió đùa với các mắt xích. Không, mạnh hơn nhiều, có chủ ý hơn.
 
Giống như ai đó vừa mới kéo nó.
 
Và trong bóng tối thê lương, một cái bóng chui ra khỏi nơi ẩn nấp.
 
Juliette lùi lại và chuệnh choạng, nhưng cô có phản xạ bám vào một cái hòm, thay vì ngã xuống hố.
 
Một giọng nói không âm sắc cất lên, vô hồn.
 
- Ta đợi thời khắc này lâu lắm rồi.
 
Cái bóng tiến lên một bước.
 
Và tim Juliett nổ tung trong lồng ngực.
 
Leland Beaumont hiện ra trong ánh sáng yếu ớt của chiếc đèn pin vẫn còn nằm lăn lóc trên nền nhà. Đúng là hắn, bằng xương bằng thịt.
 
Với nụ cười dã thú.
 
Hắn nhào tới cô.
Sự đời cà khịa cái chơi
Khi vui muốn khóc, khi cười buồn tênh!
0
Chương 67
 
Cỗ máy V8 mạnh mẽ của chiếc Mustang khiến các piston của nó gầm lên lần cuối trước khi dừng hẳn. Brolin khóa cửa xe và lấy từ túi áo vest ra một mẩu giấy trên đó có địa chỉ mà anh ghi vội từ niên giám. Rồi anh bước nhanh lên vỉa hè phố Montgomery. Đêm nhẹ nhàng phủ dần xuống Portland, báo hiệu đã đến giờ bật đèn điện. 
 
Brolin đi được gần một trăm mét thì điện thoại di động của anh rung lên.
 
- Brolin nghe đây.
 
- Josh, tôi là Carl DiMestro. Anh ở đâu thế?
 
- Phía Nam Downtown. Có chuyện khẩn cấp hay sao?
 
- Nghe đây. Tôi muốn nói về chuyện những sợi tóc mà anh đưa cho tôi để so sánh với sợi lông tìm thấy ở nhà Camelia McCoy. Anh lấy sợi tóc ở đâu thế?
 
- Tại sao? Có vấn đề gì vậy?
 
- Những sợi tóc đó chắc hẳn thuộc về kẻ đã để lại sợi lông mu ở nhà nạn nhân mới đây nhất.
 
Brolin dừng lại giữa vỉa hè, trước một đám đông.
 
- Không thể nào.
 
- Nghe này, tôi không thể chắc chắn hoàn toàn, anh thấy đấy, có vài sắc thái khác biệt, nhưng dù sao cũng rất giống nhau.
 
Carl DiMestro nghe thấy rõ anh bạn đồng nghiệp thở dài.
 
- Tôi từng hy vọng nhận được một câu trả lời khác cơ, Carl ạ. Mấy sợi tóc mà tôi đưa cho anh là của Leland Beaumont.
 
Khi phát hiện ra ngôi mộ trống rỗng, và khi nỗi kinh hoàng đã qua đi, Brolin luôn có phản xạ nghề nghiệp. Thấy vài sợi tóc ở đáy quan tài, anh đã nhặt chúng và đặt vào một trong các túi nhựa lúc nào cũng có trong túi áo anh. Anh làm việc này với suy nghĩ sẽ đem phân tích chúng để chắc chắn rằng người được chôn ở đó chính là Leland.
 
- Đao phủ Portland ư? Nhưng… hắn chết rồi cơ mà! DiMestro lẩm bẩm.
 
- Nhưng đúng thế đấy! Tôi đã thấy sọ hắn nổ tung trước mắt tôi! Thế nhưng ADN của hắn lại được tìm thấy trên đầu mẩu thốc lá ở bãi đỗ xe, và hắn đã để lại một sợi lông ở nhà Camelia, mới cách đây ba ngày! Carl, tôi không biết chuyện gì đang xảy ra, nhưng có kẻ khinh thường chúng ta.
 
Brolin không muốn tin chuyện này. Mọi thứ đều khiến người ta nghĩ rằng Leland trở về từ Địa ngục để gây ra những vụ án mới. 
 
Carl DiMestro cũng nhanh chóng lấy lại sự tự tin đầy lý tính:
 
- Đợi đã, vẫn chưa hết. Mọi người vừa hoàn tất so sánh gien giữa ADN thu được trên đầu mẩu thốc lá, tức là của kẻ giết người, và mẫu nước bọt của Milton Beaumont.
 
- Thế nào?
 
- Tôi thấy một vấn đề nghiêm trọng, Josh ạ. ADN trên đầu mẩu thuốc lá là của Leland Beaumont, con trai Milton.
 
- Cho tới giờ, chuyện đó là bình thường. Tôi muốn nói rằng chúng ta biết chuyện đó, ngay cả khi nó không thể xảy ra và Leland đã chết. Vấn đề là ở chỗ nào?
 
- So sánh gien cho thấy những khác biệt không thể xảy ra.
 
Brolin cao giọng mặc dù anh không muốn:
 
- Gì cơ? Khác biệt nào?
 
- Josh, kẻ đã cho anh mẩu nước bọt không thể là cha của Leland, có những khác biệt quá rõ ràng. Có sự không tương thích về gien. Thật may mắn vì tôi nhận ra điều này, lúc so sánh hai mã gien thu được sau khi xử lý, tôi đã quan sát chúng rất kỹ. Tôi thấy ngay rằng chúng không giống nhau, vì thế Milton không phải là kẻ để lại đầu mẩu thốc lá. Hiển nhiên là không tương thích, tôi tưởng sẽ thấy ADN của cha và con trai, nhưng tuyệt đối không phải. Chúng không cùng dòng máu.
 
- Khốn kiếp, thế mà trước đó không ai hay biết gì sao?
 
- Tôi không phải là cảnh sát hiện trường.
 
- Xin lỗi. Anh hãy gọi cho Lloyd Meats và kể lại toàn bộ sự việc, yêu cầu anh ấy tập hợp tư liệu về việc này. Tôi muốn biết liệu Leland có phải là con nuôi hay người mà tôi gặp ở nhà Baumont thực ra không phải là Milton.
 
- Đã rõ.
 
Brolin hết lời cảm ơn DiMestro và cúp máy. Anh phải cố gắng giữ đầu óc tỉnh táo, không nhầm lẫn. Cuối cùng thì cuộc điều tra cũng bắt đầu trôi chảy, ngòi nổ đã được châm. Trong vài giây, anh điểm lại nửa tá lý thuyết có thể lý giải cho tình trạng này nhưng dường như không lý thuyết nào dễ chấp nhận hơn các lý thuyết còn lại. Anh xua khỏi đầu tất cả các giả thiết tồi tệ. Một khi chưa có được những yếu tố cụ thể hơn thì suy đoán cũng chẳng để làm gì. Meals rất nhanh nhạy, vốn là một cảnh sát giỏi, anh ấy sẽ tìm được thứ cần tìm chỉ trong thời gian ngắn. Từ nay đến lúc đó, Brolin cần hoàn tất một phần khác của công việc.
 
Anh bước thêm vài bước và tới trước một cửa hiệu nhỏ. May thay, nó vẫn còn mở cửa, chủ cửa hàng này nằm trong số những người bán hàng hiếm hoi chỉ tuân theo quy luật khách hàng cũng như tâm trạng họ. Brolin đẩy cửa bước vào. Cần câu được cắm trong giá nom giống những vũ khí đã sẵn sàng để sử dụng. Gần như ở khắp nơi, đặt trên giá, treo bằng sợi dây nylon hay bám trên tường, những con thú đang dõi theo anh bằng cặp mắt thủy tinh.
 
Brolin lại gần quầy hàng. Một người đàn ông khoảng năm mươi tuổi đang đọc tạp chí qua cặp kính hình bán nguyệt. Ông ta có khuôn mặt đặc trưng của những người thường làm việc ngoài trời, gương mặt sạm vì mưa, gió, nắng qua hàng thập kỷ. Một chiếc mũ lưỡi trai “NRA” ôm sát lấy đầu, được trang trí bằng một loạt móc câu đủ kích cỡ.
 
Chiếc mũ và mấy chữ viết tắt đó khiến Brolin muốn chơi bài ngửa và anh chìa tấm thẻ thanh tra ra, thành viên tích cực của một tổ chức bảo vệ thường là người nhiệt tình bảo vệ lực lượng giữ gìn trật tự.
 
- Chào ông, tôi là thanh tra Brolin. Ông có phải là Fergus Quimby, chủ cửa hàng không?
 
Người đàn ông xác nhận và gập cuốn tạp chí lại, rõ ràng ông ta rất ngạc nhiên khi thấy một thanh tra tới cửa hiệu của mình.
 
- Tôi cần hiểu biết của ông, nếu ông không ngại giảng giải cho một cảnh sát còn mù mờ về…
 
Brolin quay người và khoát tay chỉ khắp cửa hàng.
 
- Anh muốn biết điều gì? Người đàn ông đội mũ lưỡi trai hỏi thẳng.
 
- Tôi muốn ông nói về cách thực hiện các… các con thú nhồi này.
 
- Đầu tiên, tất cả tùy thuộc vào kích thước.
 
- Cứ cho là một động vật có vú lớn.
 
- Lớn ư? Với con thú lớn, da rộng hơn, rất dễ biến dạng, có thể giãn thêm hay co lại, do vậy, quan trọng nhất là phải đo đạc chính xác trước khi mổ nó ra.
 
Các vết phấn. Kẻ giết người đánh dấu bằng phấn, để không làm hỏng da.
 
- Sau đó, cần phải biết là anh đang ở trong xưởng hay đang trong “hành trình” như người ta thường nói. Nếu anh ở trong rừng vài ngày, tốt nhất nên nhanh chóng thuộc da. Cả với xương cũng thế.
 
- Xương dùng để làm gì?
 
Nét mặt Fergus Quimby nhăn lại như một tấm nhựa dưới sức nóng của ngọn lửa.
 
- Thưa anh, xương chính là thứ để làm khung. Không có xương, sẽ không có hình dáng, chỉ là một con thú rỗng. Cần có xương để đem lại cho các chi hình dạng sống động, vẻ bề ngoài tự nhiên.
 
- Và ông xử lý xương bằng xà phòng chứa asen và kali cacbonat, đúng không?
 
- Chính xác. Để đuổi côn trùng và tránh tình trạng thối rữa. Sau đó là có thể yên tâm được rồi. Với da thì phức tạp hơn một chút vì cần phải nhúng chúng vào hỗn hợp bột phèn và muối biển, và nhất là phải hong khô trong bóng râm. Không phải làm ở đâu cũng được.
 
Những lời giảng giải của chuyên gia về thú nhồi mang một ý nghĩa khác trong đầu Brolin, thê thảm hơn hành động xẻ thịt một con vật. Bởi vì đằng sau mỗi câu nói, Brolin lại như nhìn thấy hình ảnh kẻ giết người đang cắt da nạn nhân, đầu tiên là hai cánh tay, rồi đôi chân. Hắn cẩn thận đánh dấu các mốc bằng phấn rồi quay về hang ổ của hắn. Ở đó, hắn tỉ mẩn lọc da, rửa xương cho sạch thịt và xử lý tất cả bằng những chất thích hợp. Sau đó, hắn vuốt ve con chó của mình và để giây một ít xà phòng chứa asen vẫn dính dưới móng tay vào lông con chó. Rồi buổi tối, khi cọ xát với đồ lót của Camelia, hắn vô tình để rơi vài sợi lông chó dính trên quần áo hắn. Tất cả đều trùng hợp.
 
Kẻ giết người chặt các chi của các nạn nhân để nhồi.
 
Nhằm mục đích gì?
 
Brolin không có bất cứ ý tưởng nào, nhưng chắc chắn đó là ảo ảnh của một đầu óc bị tra tấn.
 
Trong khi chuyên gia về thú nhồi tiếp tục giảng giải, Brolin tưởng tượng ra một kẻ đầu óc rối loạn, sống giữa một căn phòng đầy những tay và chân nhồi treo trên tường.
 
Các chi của con người. 
Sự đời cà khịa cái chơi
Khi vui muốn khóc, khi cười buồn tênh!
0
Chương 68
 
Trong khoảnh khắc, hắn nhào vào cô.
 
Hai bàn tay rắn chắc của hắn chộp lấy Juliette, còn cô cố lùi lại. Nhưng cú sốc khiến cô co cứng cơ, không thể cử động được, đầu óc tối sầm lại. Leland đập rất mạnh vào mặt cô khiến cô ngã khuỵu.
 
Vị đáng sợ của máu tràn vào miệng Juliette. Một tín hiệu báo động rú lên trong đầu cô, kêu to như phá vỡ tất cả, như bản năng sống bất chợt được kích hoạt.
 
Hắn ở bên trên cô, sẵn sàng bổ nhào vào con mồi, tất cả móng vuốt giương ra để cắm sâu vào thịt như một con chim săn mồi lao xuống từ trên trời.
 
Juliette quay đầu để tìm kiếm một sự giúp đỡ nào đó, nhưng một cơn đau nhói bất ngờ giáng xuống mặt cô, từ miệng đến thái dương. Cô không thể không kêu lên vì đau đớn. Leland đã đập vỡ hàm cô.
 
Tín hiệu báo động biến thành tiếng la hét điên dại.
 
Nếu không phản ứng ngay, cô sẽ chết. Sẽ không có ứng cứu may mắn, lần này không có nữa, không có người hùng cứu nguy, chỉ một mình cô hoặc hành động hoặc chết.
 
Juliette thấy chiếc đèn pin của mình vẫn nằm lăn lóc trên nền. Cô bật dậy, chộp lấy một đầu thân đèn, rồi dùng hết sức nắm chặt nó, cô tiếp tục dồn hết đà đang có vào các cơ đùi để đứng dậy.
 
Chiếc đèn đập mạnh vào vai Leland.
 
Trong một giây, hắn bị mất bình tĩnh hoàn toàn, vì bất ngờ hơn là vì đau đớn, và hắn vẫn lơ lửng bên trên Juliette. Không chần chừ, cô bồi tiếp một cú nữa. Cô đập vào đầu hắn và gò má Leland nổ tung như một ngôi sao màu tía. Hắn rú lên, khua mạnh hai cánh tay dài ngều vào không khí, hay một phần nào đó trên cơ thể Juliette để nghiền nát.
 
Cô thoáng lưỡng lự không biết phải làm gì, chạy về hướng nào. Leland đang đi ra cửa, cô chỉ còn cách lao về phía một cái cửa khác đi vào trong nhà. Rất nguy hiểm, vì cô không biết rõ ngôi nhà.
 
Juliette thả đèn xuống và lao về phía cửa, vòng qua Leland trong khi hắn vừa chửi thề vừa dùng tay áo thấm máu.
 
Cô vừa đi được hai bước thì cánh tay tên Đao phủ đột ngột duỗi ra. Bàn tay hắn mở ra như một con nhện vàng và túm chặt lấy tóc cô khi cô đi qua hắn. Đang đà chạy, cô suýt nữa bị gãy xương cổ khi hắn giật mạnh cô về phía sau.
 
Cô thét lên và ngã ngửa xuống.
 
Nhưng hắn đã ở trên cô, vòng đôi tay dài khóa chặt con mồi, đôi mắt trống rỗng nhìn chằm chằm vào cô, nụ cười đầy thèm khát. Hắn lấy từ trong túi ra một vật màu đen cỡ bằng chiếc điều khiển ti vi rồi đưa nó lại gần Juliette. Cô thấy một vòng cung xanh lam phát ra từ cái hộp, nom giống như một tia chớp, và mặc dù còn loạng choạng vì đau và bị ngã, cô vẫn vùng vẫy thật mạnh trước mặt kẻ tấn công mình để ngăn hắn lại gần.
 
Hắn vẫn xông vào và lại một lần nữa đập mạnh vào mặt cô.
 
Điều cuối cùng mà Juliette cảm nhận được là cơ thể cô giật nảy lên khi cái hộp phóng một luồng điện mạnh vào cô.
 
***
 
Dây trói cứa vào cổ tay cô. Cô khó nhọc tỉnh lại, một ít chất lỏng ấm chảy trên mặt cô. Cô mở mắt và thấy đau ê ẩm. Hàm cô nặng hàng tấn, khiến cô đau nhói như chưa bao giờ đau đến thế. Mắt phải khó mở hơn, cô hiểu rằng nó đã bị sưng tấy.
 
- Nào, dậy thôi. Ngủ thế là đủ rồi.
 
Giọng nói vẫn vô âm sắc, nhưng uy quyền toát ra từ đó gần giống với sự hận thù.
 
Mắt cô đã quen với bóng tối, đầu tiên Juliette tưởng mình vẫn đang ở trong ga ra của Leland. Nhưng ở đây nóng hơn và đồ đạc được sắp xếp kiểu khác. Cô thấy mình bị trói vào một chiếc ghế, hai tay quặt sau lưng ghế, còn cổ chân bị buộc chặt vào chân ghế. Đây là một nhà xưởng khá rộng, và đặc biệt tối, không hề có cửa sổ. Có một bóng đèn neon dài tỏa ánh sáng tím bên trên chiếc bàn thợ trước mặt cô, và một nguồn sáng nữa ở phía bên phải. Mặc dù bị thương ở mắt, cô vẫn nhìn thấy một bể cá dài ít nhất ba mét, từ đó tỏa ra thứ ánh sáng màu xanh lá cây. Bên trong bể không có cá.
 
Không thấy có giẻ bịt miệng, cô hiểu rằng căn phòng hoặc là được cách âm, hoặc là cách xa hàng xóm, nghĩ đến đây, nước mắt cô dâng lên nhưng cô kịp kìm lại ngay.
 
- Cô thích chỗ này không?
 
Juliette nhìn vào cái bóng ở phía bên kia. Leland đứng đó. Đúng là hắn. Dù ánh sáng yếu ớt, cô vẫn nhận ra nét mặt của hắn, không thể nghi ngờ được nữa. 
 
Quả là không hoàn toàn giống hệt hắn, có lẽ gầy hơn, sự điên dại hiện rõ trên khuôn mặt, nhưng nói chung, vẫn đúng là Leland Beaumont.
 
Kẻ đã chết cách đây một năm.
 
- Cô biết đấy, tôi không muốn làm như thế với cô, hắn vừa nói vừa đặt một ngón tay lên vết băng trên gò má. Chuyện rất bình thường.
 
Rồi hắn tiến lại gần Juliette, đặt tay vào giữa hai đùi cô.
 
- Và chuyện này cũng bình thường, hắn nói mà không hề biểu lộ cảm xúc.  
 
Hắn bắt đầu vuốt ve quần của Juliette, dùng tay cọ xát mỗi lúc một mạnh thêm đến nỗi cô cảm thấy nóng rực lên. Rồi hắn dừng lại như khi bắt đầu, đứng lùi ra và đặt bàn tay vào dưới mũi. Hắn thở thật mạnh, mũi hắn phát ra những tiếng rít nhỏ.
 
Juliette thả lỏng bớt cơ chân. Thật kỳ lạ, cô không cảm thấy co cứng vì sợ nữa. Tim cô đập nhanh, hai bàn tay ẩm ướt, nhưng cô không có cảm giác sợ đến tê liệt cơ thể và tâm trí. Nỗi sợ đã lan tỏa khắp người cô, giờ đây nó ở trong cô, đè nặng lên cơ thể cô, làm nổi lên trong lòng cô một nỗi thất vọng mệt mỏi. 
 
Giờ đây cô sống cùng sợ hãi. Nó là bạn đồng hành của cô.
 
Leland thôi không hít mạnh ngón tay nữa mà trở lại đứng trước mặt cô.
 
- Cô có thích xem bộ sưu tập của tôi không?
 
Cô khó nhọc ngẩng đầu lên cho tới khi nhìn được vào mắt hắn. Hắn nhìn ngay ra chỗ khác và đi bấm một cái nút. Hắn lẩn trốn ánh mắt cô, không chịu nổi ánh mắt đó khi cô vẫn còn sống.
 
Cả một mảng tường sáng lên dưới ánh đèn Noel màu sắc rực rỡ. Kiểu đèn to treo trên mái nhà, hẳn là hắn đã đánh cắp được trong một đêm đông. Các bóng đèn được gắn ở khắp nơi trên tường, uốn lượn giữa các con thú nhồi. Một bầy thú chết đang nhìn Juliette, mắt chúng lấp lánh trong ánh sáng vàng, xanh lam, đỏ và xanh lục của dãy đèn trang trí.
 
- Ôi, cô không quá thích những thứ này đấy chứ? Đây là bộ sưu tập của tôi, hắn giải thích, lần đầu tiên giọng nói của hắn có biểu lộ chút cảm xúc.
 
Hắn lướt tay qua mõm một con thú. Juliette phải cố gắng lắm mới nhìn được trong bóng tối. Cô hiểu đó là một cái đầu chó gắn vào tường.
 
- Tôi rất thích bộ sưu tập này. Nhưng với cô, tôi có một thứ còn hay hơn, hắn bỗng trở nên rất thỏa mãn về bản thân. Tôi có người yêu cho cô. Thật đấy, nhìn đây này.
 
Lần này, tay Juliette run bắn lên. Hắn tới gần cô và không cần dài dòng, hắn nhấc cô lên để xoay cái ghế, khiến cô quay 180 độ.
 
Phần này của xưởng tối om. Ánh đèn neon tím, ánh sáng xanh lục chảy lỏng của bể cá hay màu sắc rực rỡ của đèn trang trí đều không tỏa sáng đến đây.
 
- Tôi nghĩ rằng cô sẽ còn thích hơn nữa, hắn nhận xét ngắn gọn.
 
Hắn bật một công tắc điện, một đèn chiếu nhỏ hắt ánh sáng lên từ nền nhà.
 
Một người đàn ông bị gắn trên tường.
 
Anh ta mặc bộ quần áo đẹp đầy bụi, hai bàn tay trắng bệch. Khuôn mặt anh ta cũng hoàn toàn trắng bệch như thế, chỉ đôi môi là hồng hào hơn một chút. Anh ta đội mũ phớt màu đen sụp xuống trán.
 
Juliette sững người. Rối trí hoàn toàn vì khuôn mặt không thể tin nổi đó.
 
- Da trắng bệch bởi thông thường, thịt khiến da có màu hồng; nhưng hãy bỏ quá cho tôi vì đây là lần đầu tiên tôi làm, hắn giải thích.
 
Và dưới vành mũ, Juliette nhận ra một khoảng rỗng.
 
Không có phần trên sọ.
 
Khuôn mặt của con người này không đầy đủ, bị mất hẳn phần trên lông mày.
 
Cô nhìn trân trân vào cái xác nhồi của Leland Beaumont.
Sự đời cà khịa cái chơi
Khi vui muốn khóc, khi cười buồn tênh!
0
Chương 69
 
Brolin đẩy cánh cửa phòng Lloyd Meats. Đồng nghiệp của anh vừa mới đặt điện thoại xuống và kích chuột máy vi tính để mở một trang dữ liệu khác. Điều khiến Brolin bất ngờ nhất là Bentley Cotland cũng có mặt ở đây.
 
- Anh đến đúng lúc đấy, Meats nói với Brolin. Đã một tiếng đồng hồ nay tôi cố gọi đến các trung tâm bảo trợ xã hội nhưng chỉ toàn gặp máy trả lời tự động hoặc những người ngu ngơ.
 
- Vào lúc chín giờ tối thì đáng ngạc nhiên đấy, Bentley giễu không có vẻ ác ý.
 
- Carl đã giải thích với anh chưa? Brolin hỏi.
 
Meats chỉ tay vào màn hình.
 
- Theo anh, tôi làm gì trên Internet? Và tại sao tôi lại gọi đến các trung tâm bảo trợ xã hội? Vâng, anh ấy đã giải thích cho tôi. Dù sao thì chuyện này cũng rất điên rồ! Chúng ta vừa tìm được dấu vết của Leland Beaumont, hay đúng hơn là Stephen Phillips. Đó là tên của hắn cho tới năm 1978, khi hắn được gia đình Beaumont nhận làm con nuôi.
 
- Leland là con nuôi ư? Tại sao chi tiết này lại có thể bị bỏ qua nhỉ?
 
- Nếu điều này không có trong hồ sơ của hắn, thì đó là vì anh tìm hiểu về một kẻ đã chết, đúng không? Khi chúng ta quan tâm tới hắn, thì người hắn đã lạnh, không ai lại đào xới đến tận chi tiết này. Mọi người chỉ quan tâm đến các hành động tàn bạo của hắn đối với nạn nhân, và nhất là xác định danh tính của tất cả các nạn nhân. Không ai thực sự tìm cách đào sâu từng chi tiết nhỏ nhất của đời hắn, hắn đã chết rồi, nên không đáng được quan tâm nữa. Ngay cả các nhà báo cũng chỉ phản ánh lại các sự kiện.
 
- Họ còn mải quấy rầy Juliette, Brolin nhận xét.
 
Meats nhún vai.
 
- Đúng, với lại Milton Beaumont quá khó gần nên báo chí không thích. Chúng ta đã để vụ việc tự khép lại, tôi nghĩ là như thế tiện cho tất cả. Và tôi nghĩ trại trẻ mồ côi nơi Leland từng sống không được… nói thế nào nhỉ… minh bạch cho lắm.
 
- Anh nói rõ hơn đi.
 
- Vâng, đó là một cơ sở nơi các quy định thông thường không được tuân thủ chặt chẽ. Những người quản lý thích để bọn trẻ ra đi cùng với một cặp vợ chồng, ngay cả khi cặp vợ chồng đó không đáp ứng được tất cả các tiêu chí bắt buộc, hơn là để chúng lớn lên mà không có bố mẹ, giữa bốn bức tường. Chính vì thế, hồ sơ theo dõi hành chính không phải lúc nào cũng rõ ràng. Nói tóm lại, chúng ta may mắn lắm mới tìm ra được thông tin nhanh đến thế. Trại trẻ này ở Florida và đã đóng cửa từ hơn mười lăm năm nay.
 
- Anh lấy thông tin này ở đâu?
 
- Chính Bentley đã tìm thấy trong tư liệu của các báo nhờ Internet.
 
Bentley gật đầu, vẻ tự hào về bản thân.
 
- Vâng, khi thanh tra Meats tìm được tên của trại trẻ mồ côi đó, tôi đã dùng Newsweb để tìm hiểu một chút xem chúng ta đang tiếp cận với loại trại trẻ nào, không có gì phức tạp cả. Với các từ khóa, người ta có thể tìm trên Newsweb tất cả các tư liệu từ vô số báo chí địa phương và quốc gia. Một công cụ lý tưởng, chỉ cần biết cách sử dụng nó thôi.
 
- Nói thật nhé, tôi không tin là một cặp vợ chồng như vợ chồng Beaumont lại có thể nhận được con nuôi ở một trại trẻ “bình thường”. Họ sống ngoài lề xã hội mà, Meats nói thêm.
 
Brolin lại gần cửa sổ và nhìn ngắm quang cảnh bên ngoài.
 
- Milton Beaumont khá mờ ám, anh nói. Thẳng thắn mà nói, lần gặp ông ta gần đây nhất, tôi không thấy ông ta ngơ ngác như ông ta vẫn cố tỏ vẻ để chúng ta tin thế. Cũng có thể tôi nhầm, nhưng tôi bắt đầu tự hỏi liệu ông già Milton này có phải là một kẻ điều khiển thiên tài không. Ông ta có thể là Quạ.
 
- Anh nghĩ thế sao? Bentley ngạc nhiên đến mức đứng dậy khỏi ghế.
 
- Có thể xuất phát từ quan điểm rằng Milton là một kẻ nói dối hoàn hảo, sao lại không nhỉ? Tôi muốn nói là ông ta biết nhiều về Leland hơn bất cứ ai vì chính ông ta đã nuôi dạy hắn, cho nên nếu đủ khả năng nói dối chúng ta giỏi như thế, thì ông ta cũng hoàn toàn điều khiển được một kẻ thứ ba.
 
- Có nghĩa là ông ta diễn kịch với chúng ta từ đầu, từ hơn một năm nay ư? Nhưng vì mục đích gì?
 
- Tôi không biết, đây chỉ là giả thiết. Tôi không thích cái cách ông ta nhìn tôi ra về lần vừa rồi, như thể ông ta biết rất rõ tôi là ai, và ông ta định chơi tôi. Trong một giây, tôi thấy rõ ràng là tất cả sự đần độn thường thấy ở ông ta vừa mới biến mất, thay vào đó là một đầu óc sắc sảo và xấu xa khủng khiếp.
 
- Anh có muốn cử người kèm chặt ông ta không? Theo dõi ông ta một chút…
 
Brolin lưỡng lự một lát rồi thay đổi ý kiến:
 
- Không phải bây giờ. Chúng ta không có gì chống lại ông ta cả, vả lại ông ta sẽ nhận ra ngay là đang bị giám sát, nếu có tội, ông ta có thể dừng lại hoặc đánh lừa.
 
Bentley gật đầu liên tục.
 
- Rất chính xác, anh lên tiếng đồng tình. Chúng ta không có bằng chứng, mỗi cái đầu mẫu thuốc lá với mẫu ADN của Leland Beaumont chẳng nói lên điều gì cả. Sẽ chẳng tòa án nào chấp nhận hết. Và sợi lông cũng sẽ không được thừa nhận ở tòa nếu không có mẫu ADN. Cần có những bằng chứng thuyết phục hơn. Theo đúng luật, chúng ta không có gì để chứng minh Milton có liên quan đến các vụ giết người gần đây.
 
Không ai nhận ra rằng trợ lý chưởng lý tương lai đã dừng từ chúng ta, tự hòa mình vào cuộc điều tra. Dù sao đây cũng là một dấu hiệu tạo lòng tin.
 
- Thế còn anh? Anh có tin gì không? Meats hỏi.
 
Brolin giơ tập hồ sơ trên tay ra.
 
- Cái gì thế?
 
- Danh sách những người đặt tạp chí Nhồi da động vật ở Oregon.
 
- Cái quái gì vậy? Meats nôn nóng hỏi.
 
Brolin kéo một chiếc phô tơi lại và ngồi xuống đối diện với anh bạn đồng nghiệp của mình.
 
- Tôi nghĩ là kẻ giết người có thể từng đặt tạp chí này.
 
- Thế ư? Sao anh lại nghĩ như thế?
 
Việc giải thích xem ra rất dài dòng. Brolin quyết định kể tóm tắt. Anh trình bày các phát hiện trong ngày của mình và kết thúc bằng kết luận giật gân nhất. Meats và Bentley há miệng nghe anh nói.
 
Khi Brolin nói xong, Meats không thể ngăn mình nhắc đi nhắc lại:
 
- Anh thực sự tin là hắn chặt chân tay các nạn nhân để nhồi ư? Nhưng để làm gì mới được chứ? Ai lại đi nhồi chân tay! Phải toàn bộ thân thể, chứ không chỉ một chi, không thể hiểu nổi!
 
- Tôi không biết, Lloyd ạ, có lẽ hắn đi theo một con đường cụ thể mà chúng ta không biết, nhưng hiện tại, đây là hướng điều tra duy nhất của chúng ta.
 
Bentley cầm lấy tập hồ sơ và đang bắt đầu lật giở danh sách người đặt tạp chí thì cửa phòng đột ngột bật mở, Larry Salhidro bước vào, mình đầm đìa mồ hôi.
 
Brolin đứng phắt dậy.
 
- Có chuyện gì thế? Anh hỏi và linh cảm có tin xấu.
 
- Là… Juliette. Cô ấy đã biến mất.
 
Một khoảng trống khủng khiếp khoét sâu vào dạ dày Brolin.
 
- Cô ấy ở bên bờ sông Columbia, Gary và Paul đứng cách xa để cô ấy được yên tĩnh một lát, và khi bắt đầu lo lắng vì không nhìn thấy cô ấy, họ chạy ra xe cô ấy, nhưng cô ấy không còn đó nữa.
 
- Họ có thấy một chiếc xe khác lại gần cô ấy không? Hay một người nào đó?
 
- Không, không thấy gì cả. Gary nghĩ là cô ấy chủ động ra đi, để được yên tĩnh một mình.
 
- Không, cô ấy không làm thế đâu, Brolin phản bác. Cô ấy biết có một mối nguy hiểm ngầm đang bay lượn trên đầu mình. Phải tìm ra cô ấy. Các anh đã cử người ở phòng thí nghiệm đi lấy dấu vết chưa?
 
Salhindro đặt một bàn tay thân thiết lên vai anh bạn trẻ của mình.
 
- Josh, chúng ta sẽ làm việc cần làm. Nhưng tốt hơn hết là anh nên đứng ngoài, được không? Tôi biết anh rất yêu cô ấy, và tôi đã gọi cho tất cả các đội tuần tra. Hẳn cô ấy đang lang thang bên bờ sông Willamette, cô ấy làm chúng ta lo lắng một chút, rồi chúng ta sẽ tìm thấy cô ấy ngay thôi. Ngay khi phát hiện ra cô ấy ở đâu, tôi sẽ báo tin cho anh, và chính anh sẽ tới nói chuyện với cô ấy. Được chứ?
 
Brolin nhận ra các móng tay của mình đâm sâu vào lòng bàn tay vì anh siết nắm tay quá chặt. Nhưng nếu Juliette không bị giày vò tinh thần, mà đang ở trong tay kẻ giết người thì sao?
 
Anh không thể ngồi yên chờ xác định thông tin được.
 
Bỗng Bentley Cotland phá vỡ sự im lặng.
 
- Đây này, hay quá! Anh thốt lên. Trong danh sách người đặt tạp chí về thú nhồi ở bang Oregon, có một cái tên Milton Beaumont. Địa chỉ: Trang trại Crow, đường Bull Run, hạt Multnomah.
 
Trong nháy mắt, Brolin mặt cắt không còn giọt máu. Quá nhiều điểm trùng hợp để có thể coi đó không phải là một sự ngẫu nhiên.
 
Một giây sau, anh đã ở ngoài hành lang, chạy thật nhanh về phía bãi đỗ xe.
Sự đời cà khịa cái chơi
Khi vui muốn khóc, khi cười buồn tênh!
0
Chương 70
 
Ở đâu đó trên thế giới này có một căn phòng cỡ trung bình. Không có lấy một ô cửa sổ, bên trong rất khó nhìn vì những nguồn sáng duy nhất đều mang gam màu nóng. Một bóng đèn neon tím liên tục kêu ù ù, một bể cá to không có cá hắt lên tường thứ ánh sáng mờ ảo màu xanh lục, gần như siêu thực. Đây là một nhà xưởng chuẩn bị và hoàn thành cái chết, hẳn một số người sẽ cho là thế. Hàng chục con thú được nhồi ở đây, được gắn lên tường những dây đèn Noel uốn lượn. Nhưng nhìn thật kỹ, ở trong cùng nhà xưởng còn có những thứ khác nữa. Trên các giá là những cánh tay,  những cẳng chân, một nửa thân trên và hai cái đầu cũng rỗng bên trong để có thể lưu giữ lại được. Tất cả đều là của con người.
 
Các chi này là của một vài kẻ lang thang, mới được lấy về mấy tháng gần đây mà không ai biết cả. Thân thể họ đang làm mồi cho giun trong rừng.
 
Kẻ bắt các “thần dân” của mình gọi là Chuyên gia thú nhồi đang đứng cạnh Juliette, rất hài lòng khi cho cô xem bản sao của hắn, ở kia, gắn trên bệ, thân nhồi bằng xơ cây, dây thép, xương và thạch cao.
 
Juliette sững sờ. Rõ ràng là Leland Beaumont đang đứng trước mặt cô, đã chết và được nhồi xác. Không thể nào, vậy thì ai đang đứng cạnh cô? Con người đang nói với cô, đang thở và đi lại là ai?
 
- Đấy là người yêu của cô, đúng không? Chuyên gia thú nhồi nói với vẻ hơi giễu cợt. Anh ấy nói với tôi như thế. Năm ngoái, anh ấy nói với tôi như thế. Anh ấy nói rằng hai người sắp…
 
Một nụ cười ngớ ngẩn hiện lên trên khuôn mặt hắn.
 
- Cuối cùng… cô biết rồi đấy. Nhưng giờ thì anh ấy ở đây.
 
Chuyên gia thú nhồi cúi đầu xuống vai cô, thấp một cách bất thường, như để chiêm ngưỡng con người đang đứng trên bệ kia dưới một góc độ mới. Hắn bị giày vò trước tình thế nước đôi khó khăn, như thể việc Leland vốn đã chết thật rồi mà vẫn còn đứng kia là không thể.
 
Juliette bình tĩnh lại, thở nhẹ nhàng hơn và không còn run tay nữa. Cô nuốt một cách khó nhọc và cuối cùng cũng nói ra được một âm rõ ràng.
 
- Ai… Anh là ai? Cô hỏi trong khi cổ họng bỏng rát.
 
Chuyên gia thú nhồi quay ngoắt đầu về phía cô, gần như phát điên lên vì cô lại có thể nói được. Trong thoáng chốc, Juliette nghĩ là hắn sẽ đánh cô trong cơn hận thù vượt quá lý trí, nhưng hắn dường như bớt căng thẳng ngay lập tức. Hắn làm như không nghe thấy gì cả và lại ngắm nhìn con người rỗng gắn trước mặt.
 
- Tôi là Wayne. Wayne Beaumont, hắn rụt rè nói như một đứa trẻ tự giới thiệu về mình ở trường. Còn anh ấy là anh trai của tôi. Leland Beaumont.
 
Hắn chỉ tay vào bộ da người nhồi.
 
Juliette cảm thấy đầu cô lại bắt đầu quay cuồng và cô tập trung vào chiếc đèn chiếu nhỏ hắt ánh sáng từ nền nhà lên xác Leland. Cái xác đã được cố định.
 
- Ồ, đúng là tôi không đạt lắm, nhưng đó là vì anh ấy đã bị hỏng nhiều khi được lấy từ mộ lên. Không phải lỗi của tôi. Tác Phẩm thành công hơn nhiều. Cô có muốn xem không?
 
Không đợi trả lời, Wayne đi về phía cuối xưởng rồi đẩy cả một mảng tường. Mảng tường trượt trong tiếng kêu lách cách của kim loại, ánh sáng từ từ hắt lên ở phía sau, một cảnh tượng được tính toán hoàn hảo. Vài bóng đèn neon nhỏ màu tím chiếu sáng cái hốc bí mật này, Wayne kính cẩn lùi lại.
 
Thân hình một phụ nữ được tái hiện nhờ khung dây kim loại, kích cỡ bằng người thật, ngồi trong một chiếc ghế bành bằng mây. Nhưng đặc biệt, cái đầu là thật, một cái đầu người thật được lưu giữ hoàn hảo và đặt trên đỉnh khung sắt. Hai cẳng tay và hai cẳng chân cũng không phải bằng sắt, mà bằng da phụ nữ thực sự. Juliette đã hiểu chuyện gì xảy ra. Một phần của hai nạn nhân bị cắt chi, một bị cắt tay, một bị cắt chân, hiện đang ở đây.
 
- Đây là Tác Phẩm, Wayne giới thiệu với thái độ thành kính. Đây là mẹ Abigail của tôi. Cái đầu được giữ rất tốt, tôi đã làm ngay những gì cần thiết khi bà ra đi. Nhưng thân thể bà đã bị hỏng nhiều, vì thế tôi tìm các thứ để tái tạo lại. Cô thấy đẹp không?
 
Trong người Juliette, cơn buồn nôn đang giằng co với bản năng bảo tồn vì bản năng không cho phép để lộ ra bất cứ điểm yếu nào.
 
Thứ mà cô nhìn thấy trước mặt chỉ có thể là ghê tởm. Sắc tím của đèn neon không đủ để che đi những vết đen ở chân cổ của cái đầu.
 
Như vậy, Leland có một em trai. Và chúng cùng nhau học cách giết người, không còn nghi ngờ gì nữa, chúng là đồng phạm theo một cách nào đó. Abigail Beaumont đã chết từ nhiều năm nay, Leland đã từng nhìn thấy hình ảnh rùng rợn kia chưa? Chắc chắn là rồi. Nhưng ai trong hai tên là kẻ lôi kéo kẻ còn lại vào vòng xoáy điên rồ này?
 
- Sắp tới, mẹ tôi sẽ trở về với chúng tôi, Wayne nói tiếp. Mẹ tôi sẽ đi ngược dòng sông chết và sẽ về đây. Linh hồn mẹ tôi sẽ ở đây.
 
- Các anh điên thật rồi… cô thì thầm, khuôn mặt co rúm lại vì sợ và vì nước mắt.
 
Wayne nhảy xổ vào cô ngay lập tức, bàn tay hắn đang giơ lên, sẵn sàng điên cuồng giáng xuống, thì bỗng một giọng nói vang lên. Giọng nói vô tính và lạnh lùng như một cái móc ở lò mổ, hoàn toàn bình thản.
 
- Wayne, không được. Bây giờ không phải lúc.
 
Giọng nói vang lên từ phía sau. Có tiếng bước chân tiến chậm đến sau lưng Juliette.
 
- Ồ, không, thưa cô. Nó không điên tí nào.
 
Một hơi thở nóng hổi bỗng phả vào cổ cô gái, và một tiếng thì thầm chạy dọc theo da để đi vào tai cô:
 
- Nó chỉ vâng lời tôi thôi. 
Sự đời cà khịa cái chơi
Khi vui muốn khóc, khi cười buồn tênh!
0
Chương 71
 
Cánh cửa thang máy vừa mở, Brolin đã lao vụt về phía trước. Lloyd Meats ở ngay sau lưng anh mà khó khăn lắm mới theo kịp.
 
- Josh, đợi đã, không thể ập tới nhà Milton như thế này được!
 
Brolin đang mở khóa cửa xe Mustang.
 
- Tôi sẽ không để xảy ra nguy cơ đó chính là lão ta và Juliette đang ở trong tay lão! Anh vừa hét to vừa chui vào xe.
 
Meats đập vào nóc xe và miễn cưỡng ngồi phịch vào ghế trước.
 
- Tốt nhất là anh xuống đi, Brolin ra lệnh.
 
- Nếu anh phải đấm nhau với Milton Beaumont, thì tôi cũng thích có mặt. Đi thôi.
 
Cỗ máy gầm rú như điên trong các đường ngầm và bánh xe rít lên trên mặt đường nhựa khi chiếc xe Mustang lao đi trong đám khói cao su cháy.
 
- Hy vọng là anh ý thức được rằng chúng ta không có lệnh bắt giam, việc anh sắp làm là bất hợp pháp, Meats nhắc nhở. Không bắt được quả tang!
 
- Trừ khi Juliette có ở đó.
 
- Thế thì đội đặc nhiệm phải can thiệp, đó là việc của họ, không phải của chúng ta!
 
- Lloyd, anh biết rất rõ rằng họ không thể đến hiện trường được trước một tiếng. Tôi có linh cảm xấu.
 
Phó Phòng điều tra tội phạm gõ dồn dập vào mặt bảng điều khiển, miệng lầm bầm. Anh chỉ yên tâm một nửa khi thấy chiếc xe tuần tra đang lao nhanh bám theo họ với Salhindro ngồi sau vô lăng.
 
Cỗ máy V8 phóng vù vù như tên lửa khi vượt quá tốc độ 180 km/h trên đường liên bang số 84. Chưa đầy hai mươi phút sau, họ đã tới thác Multnomah tuyệt đẹp và rời khỏi đường liên bang để đi vào những con đường nhỏ hơn, nguy hiểm hơn, ngay sát bờ vực.
 
Họ rời khỏi trụ sở cảnh sát trung tâm được nửa tiếng thì điện thoại di động của Lloyd Meats đổ chuông. Bentley Cotland gọi tới, anh vẫn tiếp tục tìm kiếm qua Internet. Meats bật loa điện thoại để Brolin tham gia được vào câu chuyện.
 
- Thanh tra Meats, tôi tìm được một thông tin không thể tưởng tượng nổi! Bentley phấn khích kêu lên. Tôi tìm trên Newsweb với từ khóa là tên của bố mẹ Leland. Tôi muốn nói bố mẹ thật sự của hắn, Kate và Stephen Phillips. Tôi tìm được một bài báo ra tháng Bảy năm 1980. Người ta cho biết nhà Phillips có một cậu con trai nhỏ tên là Josh, giống như thanh tra Brolin, và thằng bé bị bắt cóc trong một siêu thị. Anh hiểu không? Họ đã gửi đứa con đầu của họ vào một trung tâm bảo trợ xã hội khi nó vừa chào đời năm 1976, và giữ lại đứa con thứ hai để nuôi, nhưng bốn năm sau, đứa thứ hai này lại bị bắt cóc!
 
Đột nhiên, một mảnh ghép nữa lồng khít vào bức tranh.
 
- Bentley, có thấy nói là tìm thấy xác của đứa bé không? Brolin hỏi.
 
- À… không, người ta chỉ nói bị bắt cóc, nhưng chưa bao giờ tìm thấy xác cả.
 
Brolin chửi thề và kêu lên:
 
- Hiển nhiên rồi! Chuyện này lý giải cho mẫu ADN.
 
- Gì cơ? Lý giải cho cái gì? Meats hỏi.
 
- Hãy suy luận đi: Kate Phillips mang bầu, không may lại sinh đôi. Vì những lý do cá nhân, Kate và Stephen Phillips gửi một trong hai đứa bé cho trung tâm bảo trợ xã hội năm 1976. Hai năm sau, nhà Beaumont đã nhận chính đứa bé này làm con nuôi. Năm 1980, đứa bé thứ hai, đứa mà nhà Phillips giữ lại, bị bắt cóc. Hoàn toàn có khả năng nó vẫn còn sống.
 
- Thế thì có mối liên hệ gì với ADN?
 
- Carl DiMestro đã nói rằng mẫu ADN của một người là duy nhất, trừ trường hợp anh em sinh đôi cùng trứng.
 
- Anh muốn nói là Leland chết thật rồi, nhưng chính em sinh đôi của hắn đã gây ra án mạng?
 
- Sao lại không chứ? Dễ chấp nhận hơn chuyện người chết sống lại, anh thấy thế không?
 
Meats nhún vai.
 
- Vậy thì thật điên rồ! Anh lý giải thế nào về chuyện bị bắt cóc qua nhiều năm mà không được tìm thấy? Mà tại sao hắn lại làm thế? Để trả thù cho anh trai ư? Không phù hợp!
 
Brolin tăng tốc, đèn pha của chiếc Mustang xuyên thủng màn đêm với tốc độ thách thức các luật lệ an toàn.
 
Thay vì trả lời lan man về các giả thiết vô bổ, Brolin chỉ im lặng, tập trung vào đường sá. Phải nhanh chóng hành động.
 
Chiếc xe tuần tra do Salhindro cầm lái đã bị bỏ xa từ lâu, nó phải mất thêm mười phút nữa mới tới được nhà Milton Beaumont. Vì thế họ sẽ chỉ có hai người.
 
Vài phút sau, chiếc Mustang vượt qua một bức tường dương sỉ để tiến đến gần hang ổ của Milton. Trước khi đèn pha kịp làm họ bị lộ, Brolin tắt tất cả và đậu xe giữa đám bụi cây nhỏ.
 
Tay cầm đèn pin và khẩu Glock, anh đi lên đường. Meats ra khỏi xe, khi thấy anh bạn đồng nghiệp đi xa dần với khẩu súng trong tay, anh cũng làm như vậy và thở dài.
 
Đi trong bóng tối không hề dễ dàng, rất nhiều đá lổn nhổn, đám cành cây ranh ma luôn sẵn sàng móc vào mắt cá chân. Hai thanh tra mỗi người đi theo một lối mòn và sải bước thật dài. Một con chim lợn hú lên khi họ đi qua, khiến Brolin nhớ lại thú huấn luyện chim săn mồi của Leland. Anh hy vọng là con chim kia không được huấn luyện để báo động mỗi khi có người đến, mặc dù với anh chuyện đạt đến mức độ thuần hóa đó là rất khó.
 
Một chút ánh sáng nhợt nhạt hiện ra ở chỗ ngoặt gần một cây thông Douglas to.
 
Khi lại gần, hai thanh tra nhận thấy ánh sáng đó phát ra từ một ngôi nhà. Thật ra, họ đã nhanh chóng tới nơi tập hợp các xe moóc, các khúc gỗ tròn, tôn và đá xây tường tạo nên “điền gia” Beaumont. Một ô cửa sổ gần cửa trước – nhưng liệu đó có phải là cửa trước duy nhất không? – tỏa ánh sáng mờ nhạt ra bên ngoài. Brolin ra hiệu cho đồng nghiệp của mình rằng anh sẽ đi vòng đằng trước, còn Meats đi vòng đằng sau. Anh định ra lệnh cho Meats phải thận trọng và chú ý đề phòng chó, nhưng rồi anh chọn cách giữ nguyên sự im lặng. Vả lại, chẳng có gì chứng tỏ ở đây có chó cả, dù sao thì những sợi lông tìm thấy ở nhà Camelia cũng thuộc họ nhà chó, nên có thể chúng là của một con cáo nào đó mà tên giết người vừa mới nhồi da. Lần đến đây gần nhất, Brolin cũng không thấy dấu hiệu gì của chó cả.
 
Anh chạy hết tốc lực, đi từ chỗ vỏ ô tô tới thùng phuy đầy nước mưa được đậy kín, rồi ra đến cửa. Anh đánh liều nhìn nhanh vào bên trong bằng cách nhô đầu lên trước ô cửa sổ.
 
Căn phòng hẹp nhưng dài, được chiếu sáng bằng một chiếc đèn bão đặt trên bàn. Không có ai cả.
 
Brolin xoay nắm cửa bước vào. Cánh cửa chống muỗi rít lên khi đóng lại sau lưng anh, anh vội nấp ngay sau một chiếc ghế bành tồi tàn. Trong ba giây, anh đã ở phòng tiếp theo, mũi súng chĩa xuống đất nhưng sẵn sàng nhả đạn. Trong bếp cũng không có ai. Brolin đi tiếp, hai thái dương giật giật.
 
Anh vào một phòng ngủ.
 
Chiếc giường rộng, phủ một tấm chăn len dường như không hề được thay từ nhiều năm nay. Có một cái tủ và một cái gương, trên tường không có gì ngoài một cây thánh giá dài treo trên đầu giường. Căn phòng buồn tẻ và không sự sống, thế nhưng Brolin tin chắc đây là phòng ngủ của Milton. Anh im lặng lại gần chiếc giường, đi vòng quanh nó để nhìn qua cửa sổ.
 
Có điều gì đó không ổn. Điện sáng, nhưng lại không có dấu vết nào của Milton.
 
Trừ khi lão nghe thấy tiếng chúng ta đến và đang lặng lẽ kiên nhẫn chờ đợi trong một xó xỉnh, cho tới lúc một trong hai chúng ta đi qua và lão sẽ dùng que cời lửa và giáng cho chúng ta một phát vào đầu!
 
Bên ngoài không có gì. Với lại trời tối quá nên không nhìn thấy gì cả. Brolin quay nửa vòng và chợt dừng lại. Anh quay đầu sang bên phải và nhìn thấy thứ mà ánh mắt anh chạm vào. Góc của một tờ giấy được giấu giữa tấm đệm và giát giường. Anh kéo nó ra, đây là các bản sao chép lại những bức vẽ của Botticelli trên khổ giấy A4.
 
“Địa ngục” của Dante.
 
Rất nhiều bản in li tô nhỏ màu nâu đỏ minh họa cho chín tầng địa ngục.
 
Brolin quỳ xuống, lùa tay vào sâu hơn dưới tấm đệm. Các ngón tay anh chạm vào một bề mặt cứng. Anh kéo ra một cuốn sách đã cũ nát. Một cuốn sách cổ, tinh xảo, bìa bọc da. Brolin mở trang đầu tiên, tựa sách hiện ra trong kiểu chữ gotic: Necronomicon. Một cuốn sách thánh về ma thuật.
 
Lần này thì không còn nghi ngờ gì nữa.
 
Milton Beaumont là một kẻ điên rồ.
 
Nhưng là một kẻ điên rồ vô cùng quỷ quyệt. 
Sự đời cà khịa cái chơi
Khi vui muốn khóc, khi cười buồn tênh!
0
Chương 72
 
Hơi thở nóng hổi phả vào khắp cổ Juliette.
 
- Wayne, con yêu. Làm ơn để chúng ta yên một lúc.
 
Giọng nói ngọt ngào nhưng đầy uy quyền, Juliette hiểu rằng nếu không vâng lời, Wayne sẽ hối tiếc ngay lập tức.
 
Wayne đung đưa người, chần chừ. Rồi  hắn cắn mạnh môi dưới và đi ra. Cánh cửa khẽ khép lại.
 
- Cuối cùng chỉ còn lại chúng ta.
 
Một bàn tay đặt lên vai Juliette. Những ngón tay xương xẩu bắt đầu vuốt ve cô.
 
- Tôi thường tự hỏi không biết việc đó có tác động như thế nào tới tôi, giọng nói cất lên. Đôi khi tôi định tới thăm cô, nhưng chưa bao giờ quyết định được. Thật may mắn khi tối nay Wayne lại có mặt ở nhà Leland. Thật ra, nó hay tới đó, mặc dù tôi nói với nó rằng rất nguy hiểm. Nó có thể bị tóm.
 
Juliette cảm thấy các ngón tay lùa vào áo cô, chạm vào da cô và sờ nắn vai cô. Cô muốn nghiến răng, nhưng hàm cô đau không thể chịu nổi. Tuy nhiên, cô cũng gom đủ dũng cảm để nói, mặc dù rất chậm:
 
- Ông… muốn gì… ở tôi?
 
Cho dù không nhìn thấy lão ta, Juliette vẫn nghe thấy tiếng môi nhếch lên ngay cạnh mình, tiếng miệng trề dài ra trong một nụ cười tàn bạo. Bàn tay lần xuống dưới, vuốt ve dây áo lót của cô.
 
- Cô thấy không, tôi không yêu cầu gì quá đáng cả. Một chút sung sướng và người ta để cho tôi yên.
 
Lão ta, giờ đây Juliette đã chắc chắn rằng đó là một người đàn ông, lão ta nói ra điều này như thể người ta nói rằng muốn một điếu thuốc lá. Thực sự đơn giản. Lão ta vẫn tiếp tục giọng điệu đó, tình thế không khiến lão ta dao động.
 
- Vợ tôi và tôi đã nhận Leland làm con nuôi năm 1987, ở Arcadia, bang Florida. Tôi nghĩ là cô sẽ thấy rất bình thường khi chúng tôi thử tìm hiểu thêm về gia đình ruột của nó, chúng tôi muốn quan tâm đến đứa bé. Hiểu nó. Thế là chúng tôi phát hiện ra rằng cô Kate vô tích sự đó sinh được hai đứa. Hai thằng bé sinh đôi. Nhưng vì sợ không thể nuôi nổi một lúc cả hai thằng bé, cô ta đã chọn một đứa để bỏ đi. Cô có hiểu không? Ở nước Mỹ có loại người đó, tôi thề đấy!
 
Bàn tay lần xuống dưới, các ngón tay thô nhám lướt trên áo lót của cô, sờ nắn bộ ngực đang nhô lên dưới hơi thở run rẩy của Juliette. Cô nhắm mắt lại, một giọt nước mắt lăn trên má.
 
- Làm sao chúng tôi có thể để thằng bé đó sống với loại bố mẹ như thế được? Giọng nói lại cất lên. Leland xứng đáng được có em của nó ở bên cạnh. Thế là chúng tôi bắt cóc thằng bé. Ôi, chuyện này không phải lúc nào cũng dễ dàng, nó phải sống chui lủi. Với lại chúng tôi chuyển nhà rất nhiều lần. Có thời kỳ, nó thậm chí phải ngủ trong hầm, gần nồi hơi, nhưng nói chung, chúng tôi biết cách đem lại cho nó tình yêu mà nó đáng được hưởng.
 
Các ngón tay tìm thấy đầu vú, chúng bắt đầu vê tròn và bóp nhẹ. Giọng nói tiếp tục bình thản cất lên:
 
- Thằng Wayne đáng thương đã phải chịu nhiều khổ sở, tôi thừa nhận. Vợ tôi rất nghiêm khắc với các con, nhưng bà ấy làm chủ được tình thế. Wayne sống trong bóng tối, chưa bao giờ có ai biết là nó tồn tại cả. Và vì nó giống Leland như hai giọt nước, nên người ta dễ nhầm chúng với nhau. Vợ tôi và tôi đã dạy nó mọi điều. Tất cả  những gì nó biết đều là nhờ chúng tôi. Đúng thế, đúng thế.
 
Bàn tay ấn mạnh hơn chút nữa vào ngực Juliette. Lão ta dùng tay kia chỉ vào hình nộm phụ nữ ngồi trong hốc tường.
 
- A, thì ra Wayne đã cho cô xem Tác Phẩm của chúng tôi. Làm rất tốt, đúng không? Nó có giải thích cho cô chuyện gì sẽ xảy ra không?
 
Bàn tay đột ngột bóp nghiến lấy ngực, khiến Juliette kêu lên vì đau đớn.
 
- Không, cô định nói thế chứ gì? Vậy thì nên biết rằng cô đang đối diện với người đã xuyên thủng bí mật về sự bất tử. Phải, tôi đảm bảo với cô đấy. Tôi được dạy dỗ bằng Thần khúc của Dante. Đó là một tác phẩm thần thánh chứa đựng con đường của đức tin và của những điều kỳ diệu. Cô biết không, khi đọc đi đọc lại, tôi đã khám phá ra tất cả những bí mật nho nhỏ của nó. Viết rất rõ ràng, nhưng phần lớn mọi người không biết đọc các tác phẩm thần thánh. Dante giảng giải cho chúng ta về việc ông ấy đã đi qua chín tầng Địa ngục như thế nào, đã đến nơi chuộc tội ra sao để tìm được nàng Béatrice. Và chính nàng chỉ cho ông ấy đường tới Thiên đường. Tuyệt vời! Đúng không?
 
Lão ta lại bóp mạnh lên ngực Juliette khiến cô phải rên rỉ.
 
- A, cô cũng thấy thế ư? Vậy thì bây giờ cô hiểu rồi chứ? Chúng tôi đang khôi phục thân thể của vợ tôi, từng mảnh một, chúng tôi chọn những mảnh giống thật nhất. Ôi, không dễ dàng cho lắm, nhưng chúng tôi làm được, chỉ cần rất kiên nhẫn giở các cuốn catalogue. Đúng là chúng thường được dùng vào việc này, phải không? Trong một xã hội như xã hội của chúng ta, tất cả đều được rao bán, và các cuốn catalogue là để chúng ta mua hàng, phải không?
 
Juliette cắt ngang và thì thầm một lời đồng tình không rõ ràng.
 
- Thế là dần dần, chúng tôi thu thập các bộ phận để tạo nên thân hình mới cho Abigail của tôi. Vì chỉ có thể xác chết, còn linh hồn thì không. Nó đi xuống Địa ngục, tới nơi chuộc tội hoặc lên Thiên đường, nhưng nó bất tử. Wayne và tôi hiến sinh một linh hồn ở mỗi tầng Địa ngục, như vậy chúng tôi tới được dòng sông chết Acheron, qua từng tầng một, chúng tôi sẽ tới được với linh hồn Abigail. Thân thể mới sắp hoàn thành và chúng tôi sẽ tìm lại được linh hồn bà ấy. Thế là bà ấy trở về với chúng tôi. Vì dần dần, sông Acheron đưa chúng tôi tới Léthé, dòng sông mê lú, nơi các linh hồn vượt qua đỉnh núi chuộc tội và trở nên trong sạch thoát khỏi mọi tội lỗi. Ở đó, Abigail sẽ đợi chúng tôi với sự trong trắng và thanh khiết, sẵn sàng về với chúng tôi trong thể xác mới mà chúng tôi đã chuẩn bị cho bà ấy.
 
Còn tồi tệ hơn một cơn ác mộng, Juliette thấy những tia hy vọng cuối cùng biến khỏi cô. Những con người này thật sự điên rồ. Chưa bao giờ cô nghĩ điều này lại có thể xảy ra. Người ta có nói tới những gia đình kỳ quặc ở các nơi khỉ ho cò gáy trên đất Mỹ, nhưng vẫn còn xa với sự thực. Sự thực là những kẻ điên rồ không chỉ có trong nhà thương điên. Suốt cuộc đời mình, chúng ta bước đi trên vỉa hè của một thành phố lớn và từng gặp những người đàn ông hoặc phụ nữ rất bất ổn, rối loạn. Nhưng chúng ta không biết. Chúng ta không thấy họ, cho dù họ vẫn tồn tại, đôi khi ở rất gần chúng ta.
 
- Ôi, không phải lúc nào cũng dễ dàng đâu, lão ta nói tiếp, đi khắp Địa ngục thật khó khăn và lâu lắc. Và khi không thể chịu đựng được nữa, tôi nhớ tới sự nản chí của Dante và những lời động viên của người dẫn đường Virgine để giúp ông ấy tiếp tục con đường của mình.
 
Juliette nghe thấy tiếng khớp xương kêu răng rắc. Rồi lão ta bình thản ngâm thơ:
 
“Hãy dậy đi: chiến thắng nỗi lo sợ
Bằng trí óc, chiến thắng mọi trận chiến
Nếu nó không hoảng hốt vì gánh nặng thân xác.”
 
Bể cá phát ra một tiếng ục to, một bóng khí nổi từ đáy lên mặt nước như thể nó bỗng hoảng sợ khi nghĩ tới điều sẽ diễn ra tiếp theo.
 
- Khúc XXIV của “Địa ngục”.
 
Một khoảng im lặng dài trong căn phòng tối tăm. Rồi con người có bàn tay xương xẩu hỏi bằng giọng rít lên, gần như thì thầm:
 
- Thế nào, cô tưởng tôi và Wayne bị điên sao?
 
Juliette lắc đầu, cô muốn nói, nhưng cảm xúc vỡ vụn trong cô như một vòng xoáy các mâu thuẫn.
 
Bàn tay thả ngực cô ra, lão ta đến đứng trước mặt cô.
 
- Mở mắt ra.
 
Juliette cảm thấy mối đe dọa trong mệnh lệnh, cô chọn cách vâng lời. Mi mắt cô mở ra.
 
Lão ta đang ở trước mặt cô. Quỳ gối.
 
Khuôn mặt lão ta hằn vết thời gian, những vết nhăn dài trên má giống như vết sẹo. Mặt lão ta dài, cằm nhô về phía trước, nom lão ta giống như tranh biếm họa về một pharaon. Mắt lão ta rất nhỏ, ẩn sau trong hốc mắt. Từ đó lóe ra một tia độc ác.
 
- Cô biết đấy, Leland tiến hành các thử nghiệm bảo quản, nói cách khác, nó kiểm nghiệm các phương pháp của chúng tôi. Người tiên phong trong công việc của chúng tôi. Nó đã thử với các cẳng tay vì đó là thứ dễ cắt nhất, trong khi chờ đợi chúng tôi hoàn thiện cách làm và chuyển sang những bộ phận quan trọng. Để giải thích cho cô cách nó chọn các người mẫu của nó, thì tôi không biết gì cả, thành thực mà nói, điều đó chẳng có gì quan trọng! Những cô gái đó chỉ là búp bê, là vật thí nghiệm. Nhưng tôi có thể nói với cô rằng nó rất hài lòng về cô bạn mà nó đã làm quen trên internet, nó nói thế. Cho tới ngày cô ta nói không với nó.
 
Lão ta lắc đầu, hai mắt nhắm nghiền, vẻ mặt thất vọng.
 
- Cô ta đã từ chối tình bạn của nó. Cô có tưởng tượng được không? Tôi đã khuyên nó kiên nhẫn, nhưng… không. Quá muộn rồi, niềm vui đã bị vấy bẩn. Nó tới bắt cóc cô, nó đã tặng cho cô tất cả tình cảm, còn cô… Cô, cô đã làm nó chết. Vì thế, không, tôi nói cho cô biết, không có chỗ cho cô trong tác phẩm của chúng tôi đâu.
 
Không một cảm xúc nào biểu hiện trên nét mặt lão ta, cũng như trong mắt lão.
 
- Tôi nghĩ rằng vợ tôi không thể tha thứ điều này.
 
Hắn giơ một bàn tay lên và Juliette cảm thấy một mũi dao sắc nhọn ấn sâu vào trán cô, vẽ một hình thù kỳ dị vào thịt cô.
Sự đời cà khịa cái chơi
Khi vui muốn khóc, khi cười buồn tênh!
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2011-08-05 08:39:16Soccon>
Chương 73
 
Brolin thấy Lloyd Meats trong bếp.
 
- Không có gì ở đây cả, Brolin nói và chỉ vào cánh phía Tây của ngôi nhà.
 
- Bên kia cũng chẳng có gì. Anh có nghĩ là lão ta ở bên ngoài không?
 
Brolin nhún vai. Milton chỉ quanh quẩn đâu đây, anh tin chắc như thế.
 
- Có lẽ lão ta có một cái hầm ở đâu đó trong nhà, Brolin nhận xét. Anh có thấy một nắp hầm hay một cầu thang ở đâu không?
 
- Không, chẳng thấy gì cả.
 
- Ok, chúng ta ra ngoài thôi.
 
Ra đến bên ngoài, Brolin vã nước mưa đựng trong thùng phuy bằng thép lên mặt.
 
Nhất định phải có một nơi mà họ không nhìn thấy.
 
Tất cả các vụ phạm tội đều được thực hiện ở những nơi cách biệt, có rừng ngay cạnh, kẻ giết người hẳn sẽ tìm cách tái tạo một không khí mà hắn biết, khiến hắn yên tâm, để có thể chuyển sang hành động. Ở đây rất phù hợp. Còn gì nữa nhỉ? Chặt các chi. Việc này không cần thiết, không phải là hành động tra tấn. Những hành động đó là vô cớ, tượng trưng cho sự thù hận mà những người phụ nữ ấy mang lại cho kẻ giết người. Tại sao hắn lại thù hận họ? Vì hắn sợ, hắn không thể tiếp cận họ được họ thường chạy trốn hắn ư? Có phải một người phụ nữ đã gây cho hắn nhiều đau khổ?
 
Brolin suy đi xét lại những ý nghĩ này, hy vọng tìm ra một yếu tố quan trong. Một phút sau, anh sững người.
 
- Này, Lloyd. Mẹ của Leland chết như thế nào?
 
- Bà ấy đánh nhau với một bà hàng xóm, hình như  bị chém bằng dao.
 
Kẻ giết người căm thù phụ nữ vì họ trốn tránh hắn và vì họ tượng trưng cho cái chết của mẹ hắn… Người phụ nữ duy nhất hắn biết là mẹ hắn, nhưng bà ta đã bị một phụ nữ khác giết chết.
 
Lập luận này có thể đúng, mặc dù rất kỳ cục, đây là một sơ đồ mà Brolin từng gặp nhiều lần trong những vụ liên quan tới rối loạn tâm thần.
 
- Ở đâu? Anh hỏi. Họ chém nhau ở đâu?
 
Meats nhíu mày.
 
- Tôi không chắc lắm. Tôi nghĩ là không xa nơi này, ở sâu hơn trong rừng, người đàn bà kia sống ẩn dật và hơi điên.
 
Brolin bắt đầu tìm kiếm xung quanh. Anh bật đèn pin và soi vào các bụi cây gần khoảng rừng thưa, để tìm một lối đi. Nếu anh không nhầm, Milton hẳn thường tới đó, như một nơi thiêng liêng, một nơi nhập định, vì thế có lẽ phải có một lối mòn.
 
Một lát sau, Meats vội lùi lại.
 
- Josh, Meats thì thầm, có người đến!
 
Họ cùng ngồi thụp xuống bãi dương xỉ và theo dõi. Một cái bóng khá to hiện ra trên đường dẫn vào nhà. Brolin nhận ngay ra Salhindro.
 
- Đấy là Larry, anh nói. Ra chỗ anh ấy đi, bảo anh ấy giúp chúng ta tìm đường mòn.
 
Meats đứng dậy đi tới chỗ người cảnh sát mặc sắc phục.
 
Brolin lại tiếp tục quét đèn pin vào đám cây cỏ.
 
Càng tìm kiếm, hy vọng tìm thấy càng giảm đi.
 
Bỗng nhiên, nó bất ngờ hiện ra.
 
Một đường đen trong bóng tối.
 
Không để mất thêm thời gian, Brolin chui vào giữa đám cây và bắt đầu chạy. Anh biết rằng mỗi giây đều có thể rất quan trọng, mỗi quyết định đều có thể phải trả giá đắt. Và cái linh cảm xấu kia vẫn luôn giày vò anh.
 
Anh chạy nhanh tới mức không còn biết rõ chân mình đặt vào đâu, anh chỉ chạy theo con đường đất trước mặt, không biết gì hơn nữa.
 
Được khoảng năm trăm mét, căn nhà tồi tàn hiện ra sau một khóm cây rậm rạp. Nhà làm bằng gỗ, phủ đầy rêu, không cửa sổ, chỉ có một cửa ra vào duy nhất.
 
Đó là một thứ nhà ngục rộng, một thứ nhà bằng gỗ dựng giữa nơi heo hút. Chắc là nơi ở của bà hàng xóm điên rồ đã đánh nhau với vợ của Milton Beaumont. Nhìn thấy căn nhà tồi tàn kỳ dị này, Brolin biết rằng đây chính là nơi đứa trẻ sinh đôi đã sống trong bí mật. Giữa rừng.
 
Anh lặng lẽ tiến lại gần, cố nén hơi thở gấp gáp của mình.
 
Cành cây đập vào đầu Brolin và gãy đôi.
 
Brolin ngã vào vũng bùn, đánh rơi khẩu súng. Anh nghe thấy tiếng kẻ tấn công mình nhảy lên ở sau lưng, chỉ cách một hoặc hai mét, nhưng anh không kịp nhặt khẩu súng, nó ở xa quá. Anh lăn tròn để nhìn trực diện kẻ tấn công, hắn đã nhảy xổ vào anh, tay hắn cầm một con dao hai lưỡi.
 
Giống hệt kiểu vũ khí mà kẻ giết người đã sử dụng, anh vẫn kịp nhận xét.
 
Mặt hắn áp sát mặt anh, và Brolin không nén nổi ngạc nhiên.
 
Đó chính là Leland Beaumont. Vẫn những đường nét ấy.
 
Lưỡi dao thọc vào giữa mạn sườn anh.
 
Cơn đau nhói không làm anh cứng người, ngược lại, đang trong cơn giận dữ, anh móc mạnh vào hàm hắn. Hắn lăn sang bên cạnh. Brolin đặt một bàn tay lên vết thương và ấn chặt, còn tay kia chống xuống để có thể đứng dậy một cách nhanh nhất. Vừa đứng lên, anh lại bị một hòn đá ném mạnh vào vai, đúng bên vai bị thương khi ở xưởng phá dỡ xe. Anh vừa kịp nhận ra thì Leland – hay kẻ giống hắn một cách kỳ lạ – đã ở gần anh. Nhưng Brolin tránh được nhát dao và dồn hết sức lực vào cú đấm trúng tai địch thủ. Không nghĩ ngợi lâu, anh thanh tra trẻ bồi thêm một cú huých đầu gối vào bụng hắn, và một cú đấm nữa khiến em sinh đôi của Leland ngã vào vũng bùn.
 
Nhưng hắn rất lì đòn, đời hắn phải chịu toàn thách thức và thử thách, vì thế hắn có đủ sáng suốt để phát hiện khẩu Glock trước khi Brolin kịp chộp lấy. Hắn siết chặt các ngón tay trên báng súng và đặt ngón tay trỏ vào cò súng . Lẫy an toàn đã mở, vì trước đó Brolin không muốn mất thời gian mở lẫy nếu phải nổ súng ngay.
 
Họng súng chĩa vào đầu Joshua Brolin.
 
Tiếng súng đập vào đám lá cây ẩm ướt, tiếng vọng của nó sẽ còn đập nhiều lần nữa vào các thân cây trong rừng để loan tin đổ máu.
 
Lloyd Meats đứng trên một tà luy, cách đó vài mét, súng vẫn còn bốc khói.
 
Thấy bàn tay gã em sinh đôi của Leland trở nên mềm nhũn và rũ xuống, Brolin hiểu rằng mình vẫn còn sống. Anh thấy lấp ló cái đầu của người bắn súng và biết rằng Lloyd Meats vừa cứu sống anh.
 
Một tiếng thét cầu cứu vang lên từ căn nhà gỗ. Đó là Juliette. Tiếng kêu im bặt ngay lập tức.
 
Brolin lao về phía trước, chộp lấy khẩu súng của mình trong bàn tay chết và đạp cửa xông vào, không cần thận trọng nữa.
 
Juliette bị trói vào một cái ghế ở giữa phòng.
 
Một vết đen hiện lên trên áo cô. Rồi nó loang nhanh đến chóng mặt. Brolin hiểu ngay.
 
Máu Juliette loang đẫm trên áo pull từ một vết há miệng ở họng.
 
Anh gào lên.
 
- Không!!!
 
Milton đứng cạnh cô, lưỡi dao cạo vẫn còn nóng trên tay, nhỏ máu xuống nền nhà. Một nếp nhăn thù hận hằn sâu khiến khuôn mặt lão ta biến dạng. Lão ta muốn nhảy về phía trước, về phía người cảnh sát đang đe dọa lão, nhưng bị chặn ngay bằng một viên đạn xuyên qua xương đòn làm lão ngã lăn vào các thùng nước muối.
 
Một giây sau, Brolin đã ở cạnh Juliette. Quên mất cảm giác đau đớn từ vết thương của chính mình, anh vứt súng xuống nền nhà và đặt cả hai tay lên cổ cô, hy vọng ngăn được máu trào ra.
 
Cô đã mất phần lớn máu trong người, người cô bắt đầu run lên.
 
Nước mắt trào ra trên má anh thanh tra, bàn tay anh không thể ngăn được dòng máu chảy xối xả từ vết thương rất rộng.
 
- Không, Juliette… ở lại với anh… không… em phải ở lại…
 
Cô cố nói điều gì đó, nhưng không âm nào thoát ra được. Mắt cô nhìn vào Brolin.
 
Cô biết rằng tất cả đã kết thúc.
 
Cô nhìn anh với một sức mạnh không thể tin nổi và nụ cười hiện ra trên môi cô.
 
Tất cả mọi thứ nổ tung xung quanh Brolin, các bức tường của lý trí vỡ vụn dưới sức ép của nỗi đau, nước mắt tuôn trào trên mặt anh.
 
Rồi ánh mắt Juliette bỗng trở nên sáng một cách đặc biệt, tất cả các cảm xúc rời khỏi con ngươi và tan biến vào hư không.
 
Trong một giây, cuộc đời anh tan biến trong tính khắc nghiệt của sự vĩnh cửu.
 
Brolin vùi mặt mình vào phần cổ đẫm máu của cô.
 
Có người ở cạnh anh. Đó là Milton đang rên rỉ.
 
Cơn điên dại nổi lên trong đầu anh thanh tra trẻ như một tấm màn đỏ. Anh nhặt khẩu Glock và túm lấy cổ áo Milton để chĩa nòng súng vào răng lão ta.
 
- Đừng, Josh!
 
Đó là Salhindro.
 
- Nếu làm thế, anh sẽ không được gì cả. Anh sẽ tránh cho hắn nỗi nhục về vụ án và cả nhà tù nữa. Chỉ thế thôi.
 
Bàn tay Brolin run rẩy, mắt anh nhòa đi.
 
Milton mở mắt. Đó không còn là đôi mắt của một con người ngu ngơ chậm chạp nữa, mà là ánh mắt của một con chim săn mồi hung dữ. Một con quái vật khi cười để lộ ra những chiếc răng nanh nhỏ màu trắng đã lão luyện trong nghệ thuật ăn thịt.
 
Máu Juliette dính vào mặt Brolin, giống như cái vuốt ve cuối cùng mà cô tặng cho anh, chút hơi ấm cuối cùng của người anh yêu.
 
Brolin chớp mắt.
 
Trong cơn điên dại, anh thấy một tấm màn lửa đỏ sẫm nổ lốp đốp trong con ngươi của tên quái vật.
 
- Đặt súng xuống đi, Josh, Salhindro nói nhẹ nhàng nhưng kiên quyết.
 
Ngón trỏ trên cò súng, Brolin nhìn xoáy vào mắt Milton Beaumont.
 
Những ngọn lửa càng nhiều thêm giống như ở giữa lòng Địa Ngục.
Sự đời cà khịa cái chơi
Khi vui muốn khóc, khi cười buồn tênh!
0
Chương 74
 
Ba tuần trôi qua.
 
Lloyd Meats vứt mẩu sandwich còn lại vào thùng rác. Anh xỏ áo vest và quyết định đã đến lúc trở về nhà với vợ. Anh đã chán ngấy vì suốt cả ngày phải giải quyết mấy vụ việc bẩn thỉu thanh toán lẫn nhau giữa các băng đảng thiếu niên.
 
Anh đi ra hành lang và châm một điếu thuốc lá.
 
- Ổn không, Lloyd?
 
Salhindro tới chỗ anh với một lon Pepsi trên tay.
 
- Ổn… Tôi bắt đầu phát chán các vụ giết chóc ngu xuẩn rồi.
 
Salhindro nuốt một ngụm xô đa.
 
- Đừng nói thế. Nếu không làm cảnh sát thì anh sẽ làm gì?
 
- Thám tử tư. Tôi lúc nào cũng muốn làm thám tử tư. Anh được trả tiền để chụp ảnh về các vụ ngoại tình, tóm lại là anh liên tục được rửa mắt.
 
Hai người cùng cười thoải mái.
 
- Còn Milton? Lão ta đã thú tội chưa? Salhindro hỏi.
 
- Chưa. Lão ta vẫn chưa nói gì. Nhưng chúng ta đã tìm được rất nhiều yếu tố, nhất là đất xung quanh nhà lão ta, chính là loại đất được tìm thấy trong vết chân ở hiện trường vụ giết Elizabeth Stingger. Vết chân trùng khớp hoàn toàn với một chiếc giày của Wayne Beaumont. Bên bào chữa sẽ dựa vào đây, họ sẽ kết tội Wayne đã gây ra các vụ giết người và tố là thiếu chứng cứ về sự có mặt của Milton, họ sẽ cho là lão ta đần độn, không hiểu chuyện gì đang diễn ra. Nhưng với tất cả những thứ tìm thấy ở nhà lão, chưởng lý sẵn sàng kết tội lão đồng phạm trong vụ giết Elizabeth Stinger và Anita Pasieka, và vụ giết… giết Juliette.
 
Nói ra được tên cô lúc nào cũng khó khăn, trước hết cần phải khai thông dòng cảm xúc mà tên cô gợi ra.
 
- Thế sao? Salhindro bất bình. Lão ta giết người, tàn sát, thế mà chúng ta lại không biết được vì sao lão ta làm như thế ư?
 
- Larry, lão ta là một con quái vật. Một kẻ giết người hàng loạt kinh khủng nhất. Ngay cả khi lão ta nói ra tất cả những gì lão ta biết thì cũng phải rất thận trọng. Loại người này không giống chúng ta. Lão ta luôn nói dối, thao túng, thú vui duy nhất của lão ta là cảm thấy ở trên tầm chúng ta.
 
- Quái vật ư? Lão ta nhận một đứa trẻ làm con nuôi, bắt cóc em sinh đôi của nó và nuôi dạy trong bí mật, biến chúng thành những kẻ giết người tàn bạo. Nhưng tại sao mới được chứ? Tại sao Milton lại đi đến chỗ làm như vậy? Hãy tưởng tượng là lão ta bị bố đánh, bị lạm dụng tình dục, vân vân, sau đó thì sao? Tại sao người ta lại làm thế với lão ta? Bố lão ta cũng bị lạm dụng tình dục và bị đánh ư? Tức là sự việc không có kết thúc, đó là một vòng xoáy thù hận và bạo lực không có khởi đầu, cũng không có điểm kết? Đâu là khởi thủy của việc những con quái vật ấy thành hình? Cái ác giáng xuống một con người như thế nào? Anh cho là nó tồn tại trong tất cả chúng ta, giống như một phần của bóng tối mà người ta đều mang trong mình dù ít hay nhiều ư?
 
Meats nhún vai.
 
- Lão ta là người tàn ác, lão ta giết người mà không cần lý do gì hay sao? Salhindro nhắc lại như không muốn tin vào điều này.
 
- Lý do ở bên trong lão ta. Đó là một phần của lòng người mà người ta không bao giờ chạm tới được. Nếu làm được việc đó, thì chúng ta đã không còn là con người, mà là những cỗ máy. Mỗi người đều có những bí mật của riêng mình, và bản chất của chúng quyết định việc anh sẽ là người tốt hay ngườixấu, hay vừa có mặt tốt, vừa có mặt xấu. Tôi không biết nữa.
 
Cửa thang máy mở, hai đồng nghiệp vừa bước ra vừa chào họ.
 
- Đừng nói kiểu như vậy, buồn lắm, Salhindro nói và ấn nút tầng hầm thứ hai.
 
Họ cùng im lặng cho tới khi thang máy lại dừng.
 
- Thế còn Brolin, anh có tin tức gì không?
 
Salhindro lắc đầu.
 
- Không. Tôi nghĩ là cậu ấy đang nghỉ ngơi trước phiên tòa xét xử. Cậu ấy đi giảng hòa với chính mình, ở một nơi nào đó xa thế giới văn minh, theo như tôi hiểu về cậu ấy.
 
Họ ra khỏi thang máy và tới nơi đỗ xe.
 
- Anh có nghĩ là cậu ấy sẽ trở lại với công việc không?
 
- Cũng có thể. Với cậu ấy, không thể nói trước được. Cậu ấy vẫn còn trẻ.
 
- Có lẽ vấn đề chính là ở đó. Lẽ ra chuyện này không nên xảy ra với cậu ấy, nếu đứng dậy được từ đó, cậu ấy sẽ có tương lai trong ngành cảnh sát.
 
- Dù sao thì cũng hơn anh và tôi! Salhindro mỉa mai.
 
- Thôi, hẹn gặp ngày mai nhé, Larry.
 
- Vâng. Ngày mai, rồi ngày kia, rồi cứ tiếp tục như thế.
 
Họ đứng đối diện nhau, rồi ôm nhau thật chặt trước khi chia tay.
Sự đời cà khịa cái chơi
Khi vui muốn khóc, khi cười buồn tênh!
0
Chương 75
 
Ngồi trên một thân cây đổ, Brolin ngắm nhìn phong cảnh thuần khiết.
 
Giống như những người khổng lồ đứng yên, dãy núi bình thản trước những đổi thay của thời gian. Một cơn gió nhẹ lướt tới lều của Brolin, tạo nên tiếng rít nhân tạo.
 
Mắt Joshua đăm đắm nhìn về phía chân trời.
 
Nhưng tâm trí anh đang ở một nơi nào đó còn xa hơn thế.
 
Tại sao Juliette lại mất đi? Để thỏa mãn ý thích thất thường nào, số phận nào? Cô ấy không đòi hỏi điều gì ở ai, thế nhưng phần còn lại của đời cô ấy lại được định sẵn vĩnh viễn trong một buổi tối trước máy tính, khi chuyện trò với một kẻ không quen biết.
 
Đâu là giá trị đạo đức trong cái chết của cô ấy?
 
Đâu là ý nghĩa của cái chết đó?
 
Phản xạ đầu tiên của bất cứ tín đồ ngoan đạo nào cũng là tìm kiếm ý chí thần thánh đằng sau sự tàn bạo của cuộc sống thường ngày. Tìm một lời tha thứ cho điều không thể tha thứ, một lý lẽ để tiếp tục tin tưởng.
 
Nhưng có lẽ không có gì để rút ra từ chuyện này. Juliette có một ý niệm thoáng qua về tình yêu, chút hạnh phúc trong đời cô. Cô là điều anh luôn mong muốn mà anh không hề hay biết, là chỗ thiếu trong bản thân mà mỗi người đàn ông đều tìm cách lấp đầy nhưng không thực sự ý thức được. Chỗ thiếu làm dịu lòng hơn hẳn những chiến thắng nhỏ nhặt khác trong cuộc sống, sự lấp đầy mà người ta không thể sao chép được ở bất cứ đâu. Một phần hạnh phúc riêng của mỗi cá nhân, chỉ đơn giản là có thể được nhận ra trong niềm vui ngắn ngủi nảy sinh vào một ngày nào đó mạnh mẽ và mãnh liệt hơn hẳn mọi niềm vui trước đây.
 
Brolin đã tìm ra cực điểm này của cuộc sống.
 
Đó là Juliette.
 
Thế giới hiện tại dành cho anh điều gì trong cái túi ảo thuật rộng lớn của nó, áp đặt cho anh trò nào, thay đổi thất thường nào hay điều kỳ diệu nào? Ngày lại ngày qua đi khiến vết sẹo của anh biến mất như một hình vẽ trên cát bị biển bất ngờ cuốn trôi. Chỉ duy nhất vẻ đẹp của hình vẽ là vẫn khắc sâu trong tâm trí anh, Juliette sẽ không bao giờ chỉ là một ký ức.
 
Có lẽ chẳng có giá trị đạo đức nào cả. Bản thân cuộc sống không có giá trị đạo đức. Người tốt không phải lúc nào cũng chiến thắng và kẻ ác đôi khi không bị trừng phạt. Ngay cả ý tưởng về sự trừng phạt mang yếu tố thần thánh cũng chỉ là một cách an ủi ý thức, có lẽ không có sự cân đo lòng người ở phía bên kia cuộc sống.
 
Chỉ đơn giản là phải chấp nhận ý nghĩ về một thế giới khổng lồ, hàng tỉ con người cùng hít thở một lúc, một thế giới rộng lớn mà con người ở giữa. Con người bị cô lập trong hệ mặt trời, như một điều “bất thường” của tự nhiên, một cái nháy mắt của vũ trụ, vô vị, nhưng lại kèm theo nhu cầu được cảm thấy mình đầy lẽ sống, dù tự biết mình là nô lệ cho một thế lực thiên vị. Một hạt cát, một khoảng thời gian cực ngắn, và hấp! chẳng còn ai nữa. Cả một giống nòi biến mất mà không để lại gì đáng kể.
 
Brolin bị kéo ra khỏi dòng suy nghĩ vì một cặp hoẵng chạy ra từ mấy lùm cây. Chúng dừng lại quan sát anh bằng cặp mắt đen nháy. Bộ lông của chúng bay bay trong gió nhẹ, chúng đung đưa thân mình, mắt không rời con người đang cắm trại ở đó.
 
Rồi chúng nhẹ nhàng cọ mình vào một thân cây và biến mất trong rừng rậm.
 
Một thế giới rộng lớn và vô liêm sĩ, cả tàn bạo nữa.
 
Nhưng vô cùng phong phú và chỉ được sống một lần duy nhất để chiêm ngưỡng tất cả.
 
Brolin đứng dậy. Không khí mát mẻ, trong lành. 
 
Phía trước anh là cả thế giới.
 
Anh dang tay, nhắm mắt lại và hít thở chầm chậm. Anh đặt ngón tay vào giọt nước mắt đọng ở khóe mắt. Giọt nước mắt lăn chậm trên ngón trỏ, chảy theo các nếp da, rồi tách ra, rơi xuống cỏ.
 
Anh biết rằng khuôn mặt Juliette sẽ mãi mãi ở trong những giọt nước mắt của anh giống như những viên pha lê nhỏ xíu.
 
Anh gấp đồ đạc, chỉnh lại ba lô và lên đường xuống thung lũng. 
 
Thế giới rất rộng lớn.
 
Và vẫn còn nhiều thứ để ngắm nhìn…
 
***
 
Carter Melington đóng lỗ cửa của phòng giam 65, đánh dấu vào ô điểm danh tù nhân ở đó và chuyển sang phòng giam tiếp theo.
 
Phòng giam 66.
 
Anh không thích tù nhân ở đây. Một kẻ giết người hàng loạt, người ta đã nói với anh thế. Một trong những kẻ điên rồ hung dữ, từng lột da phụ nữ như bóc vỏ chuối.
 
Làm việc ở nhà giam này từ bảy năm nay, Carter luôn thích điểm danh buổi sáng. Công việc không khiến người ta mệt mỏi, không phải trừng trị tù nhân vì họ không ra khỏi chỗ, và nếu làm nhanh, anh có thể ngồi cả tiếng đồng hồ trong bếp rồi mới đi tắm. Nhưng từ khi tù nhân ở phòng giam 66 tới đây, Carter không thích điểm danh nữa.
 
Anh phải nhìn xem hắn còn ở đó không, một biện pháp an toàn đơn giản, nhưng đôi khi hắn quan sát lại anh.
 
Thật khó chịu khi ánh mắt hắn chạm vào anh. Dường như hắn bỗng tìm lại được nụ cười. Thực ra, Carter có cảm tưởng như anh không phải là quản giáo, mà là con hươu hay một con linh dương mà con thú săn mồi nhấm nháp bằng mắt trước khi đuổi bắt.
 
Hắn không xử sự như đang ở sau song sắt, có thể nói là hắn không biết mình đang ngồi tù, hoặc hắn thấy điều đó quá trẻ con nên không cho là quan trọng.
 
Carter dừng lại trước cánh cửa thép.
 
Anh mở lỗ cửa và nhìn vào bên trong.
 
Lại một lần nữa anh có cảm tưởng căn phòng này tối hơn các phòng giam khác. Với những cái bóng dày hơn và rộng hơn.
 
Hắn ở đó, ngồi trên giường ngủ, hai tay ôm đầu gối, đầu cúi xuống.
 
Từ miệng hắn phát ra một tiếng động mà Carter nghe khá rõ, khiến anh có cảm giác vô cùng khó chịu.
 
Và hắn nói.
 
- Quản giáo Melington. Hãy nói với bọn vô học ấy rằng tôi đã đào tạo nhiều người khác nữa rồi.
 
Carter cảm thấy hai bàn tay mình lạnh cóng. Người ta bảo rằng phạm nhân ở phòng 66 chưa bao giờ nói gì.
 
- Hãy nói với bọn chúng rằng Leland và Wayne chỉ là những sản phẩm mẫu. Khúc dạo đầu của điều rùng rợn. Tôi đã đào tạo nhiều người khác nữa trên khắp đất nước này. Tôi đã dành hết thời gian của mình, và rất chuyên tâm. Sắp tới, chúng ta sẽ nghe nói về chuyện này. Sắp rồi.
 
Rồi hắn ngẩng đầu về phía Carter và nhìn xoáy vào mắt người quản giáo.
 
Carter suýt nữa đánh rơi bút, anh gắng sức đóng lỗ cửa lại.
 
Không, không thể nào.
 
Anh đã nằm mơ.
 
Anh đưa hai tay lên mặt. Anh run rẩy.
 
Anh thở ra nhiều lần để xua đuổi hình ảnh mà anh đã thấy, để quét đi mối ngờ vực. Đúng, đúng rồi, mi đã bị ảo giác nặng! Đầu óc mi đã chơi mi! Tối nay, mi cần ngủ thêm một chút và ăn ít gia vị hơn!
 
Anh lại cầm lấy bảng điểm danh và tiếp tục đi, bước chân kém tự tin hơn. Hai bàn tay anh ẩm ướt đến khó chịu.
 
Trong một giây, anh nghĩ là đã thấy cặp mắt của Milton Beaumont lóe lên một tia sáng màu đỏ.
 
Và trong khoảng khắc ngắn ngủi ấy, anh đã thấy linh hồn của hắn.
 
Linh hồn Ác.
 
Anh đi sang phòng giam 67, tự thề rằng sẽ không nói lại với bất cứ ai.
 
Bước chân anh vang lên trên bề mặt cứng của nền nhà, anh vừa đi xa dần vừa lắc đầu.
 
Linh hồn Ác…

HẾT
Sự đời cà khịa cái chơi
Khi vui muốn khóc, khi cười buồn tênh!
0
Chương 24
 
Các cơ căng hết cỡ, Brolin thấy cả một chiếc xe đang rơi xuống đầu anh.
 
Cú va chạm diễn ra trong chớp mắt. 
 
Mặt đầy bùn, Brolin từ từ quay đầu lại và thấy một cánh cửa xe chỉ cách mặt anh năm xentimet. Anh vừa kịp nghiêng người thì cả khối thép chết chóc vỡ tan trên mặt đất. Không chần chừ, anh lăn mình vào bùn để lao về phía đống vỏ xe rồi chuyển ngay sang tư thế quỳ, rút khẩu Glock ra. Mưa đập mạnh vào chiếc vỏ xe bẹp dúm.
 
Cánh tay dài của cần cẩu đứng yên bất động.
 
Brolin cảm thấy nỗi căng thẳng dâng lên trong mình, adrenalin lan ra khắp các chi. Anh nhảy vọt dậy rồi chạy từ vỏ xe này sang vỏ xe khác để lao càng nhanh càng tốt về phía đầu lối đi. Cuối cùng, anh nhận ra thứ mà anh tìm: chiếc máy ép và chiếc cần cẩu ngay bên cạnh anh. Một gã đàn ông vừa mới trèo từ đó xuống, hắn ta nhỏ người với chòm râu dưới cằm, hai má lỗ chỗ sẹo trứng cá.
 
Con mắt lanh lẹ, hắn ta nhìn thấy Brolin ngay lập tức.
 
Nhanh như cắt, hắn lao về phía trước và chạy như điên rồi rẽ sang trái, về phía cửa ra. Brolin bám sát hắn, tay không rời khỏi Glock, anh tăng tốc hết sức. Kẻ mà anh đang truy đuổi tỏ ra nhanh nhẹn và linh hoạt, hắn chạy nhanh hơn anh nhiều và chắc chắn sẽ bỏ xa anh.
 
Brolin hét lên giữa hai hơi thở:
 
- CẢNH SÁT ĐÂY! ĐỨNG LẠI!
 
Nhưng hắn tiếp tục chạy, hắn gần như tới được một dãy ô tô bị vứt bỏ thì Brolin quyết định bóp cò. Anh biết mình bắn giỏi, nhất là với một khẩu Glock không giật mà ngay cả những người mới biết sử dụng cũng bắn được trúng đích, nhưng tình huống căng thẳng đã làm thay đổi tất cả. Anh thở hổn hển, bị kích động cao độ, còn mục tiêu lại đang chạy. Anh có nguy cơ gây ra nhiều thiệt hại hơn mong muốn, nhằm vào bắp chân nhưng lại bắn trúng sống lưng chẳng hạn.
 
Anh bóp cò và đạn vọt lên mây.
 
Hắn ta thậm chí không phản ứng mà biến mất sau dãy vỏ xe.
 
Brolin bực tức đuổi theo. Tay lăm lăm khẩu súng, anh chạy như điên dại. Tiếng mưa đập vào thép và vang lên trong các vũng nước khiến anh không thể nghe thấy tiếng bước chân chạy xa dần. Brolin nép vào một chiếc xe téc đang đợi đến lượt bị dỡ bỏ và thận trọng tiến lại gần góc nơi mục tiêu của anh vừa biến mất.
 
Anh thấy thanh thép vụt hiện ra từ góc chết và chỉ kịp cúi người xuống để không bị đập vào giữa mặt. Anh định nhảy vọt lên để đe dọa đối thủ bằng vũ khí của mình nhưng hắn ta kịp ra tay trước. Khẩu Glock chưa đặt vào đường bắn thì anh đã bất ngờ bị một cú đạp chân cực mạnh. Brolin hét to, đánh rơi súng vì đau đớn.
 
Thanh sắt lại vung lên.
 
Lần này, Brolin không thể tránh được, phản xạ tránh của anh không đủ nhanh. Anh cảm thấy vai mình gãy rắc, cùng lúc đó, một cơn đau nhanh như chớp bất ngờ giáng xuống người anh. Với các miếng võ đường phố thành thạo, đối thủ tiếp tục cho anh một cú khuỷu tay rất nhanh và chính xác vào hàm, khiến anh lại hét lên một lần nữa.
 
Anh thanh tra lại thấy thanh thép vung lên. Lần này, nó nhằm vào đầu anh.
 
Để giết anh.
 
Brolin muốn vọt lên phía trước, tóm lấy địch thủ và cho hắn một trận nhừ tử, nhưng anh cảm thấy cơ thể không theo ý mình. Anh hoàn toàn bị choáng vì đau, anh thấy khẩu súng cách đó một mét, trong vũng bùn, nhưng hiểu ra ngay rằng anh không thể với tới nó.
 
Bỗng có tiếng rít của kim loại và tiếng va đập đáng sợ của thép vào thịt, xương và sự sống.
 
Kẻ có chòm râu cằm và râu má gục xuống một vũng nước lớn.
 
Parker- Jeff vứt cái búa cạy đinh đang cầm ở tay và giúp Brolin đứng dậy.
 
- Có sao không ông thanh tra? Anh ta lo lắng hỏi.
 
Brolin chỉ biết chớp mắt nhiều lần để cố hiểu chuyện gì vừa xảy ra.
 
Anh không chết.
 
Vẫn chưa chết. 
Sự đời cà khịa cái chơi
Khi vui muốn khóc, khi cười buồn tênh!
0
Chương 25
 
- Cậu có thể gửi một két sâm banh cho Parker! Salhindro nói.
 
Brolin chỉ cười mỉm và áp túi đá lạnh vào bên má bị sưng. Bác sĩ cho kính vào hộp rồi quay về phía Brolin dặn dò:
 
- Không được cử động khinh suất, nếu không vai của anh sẽ bị sai khớp ngay. Và bởi vì hôm nay anh không có thời gian (bác sĩ nhấn mạnh những từ này để tỏ thái độ không hài lòng) nên hãy nhớ chụp X-quang ngay sáng mai. Tôi không quá lạc quan với xương đòn của anh. Hãy uống Tylenol để đề phòng bị viêm trong khi chờ đợi ngày mai. Chào các anh.
 
Ông bác sĩ vẫy tay rồi đi ra.
 
Salhindro, Lloyd Meats, phó chưởng lý Cotland và Brolin đang ở văn phòng của cảnh sát trưởng hạt Wasco. Brolin nhăn mặt vì đau khi xỏ tay vào chiếc áo sơ mi mới mà Salhindro vừa mua cho trên đường tới đây.
 
- Hiện tại, cảnh sát trưởng Hemsey đang ở bên giường địch thủ của anh, hắn ta đã được nhận dạng. Meats cầm tờ fax trên bàn và thông báo. Hắn là Henry Palernos, một kẻ vượt ngục ở bang Bắc Dakota. Cảnh sát truy nã hắn từ bốn tháng nay. Vì thế tôi phải nói với anh ngay, tôi e rằng đây không phải là kẻ giết người mà chúng ta đang truy tìm.
 
- Người ta đang kiểm tra hồ sơ của hắn, nhưng hắn không phù hợp với mô tả nhân dạng, Salhindro khẳng định. Tôi đã nói chuyện với cảnh sát Simons qua điện thoại, Palernos ngồi tù từ hai năm nay vì tội đánh lộn, bắt con tin và giết người. Tuy không phải là một con cừu, nhưng hắn không thuộc loại giết người hàng loạt.
 
Brolin gật đầu.
 
- Đúng thế, anh thừa nhận. Nhưng cứ kiểm tra xem hắn có chứng cứ ngoại phạm trong buổi tối thứ tư vừa rồi không. Không bỏ qua bất cứ điều gì. Tình trạng của hắn hiện giờ thế nào?
 
- Chấn thương sọ não, Meats vừa đáp vừa vuốt bộ râu ngắn. Nhưng không đe dọa tính mạng. Thậm chí, hắn hoàn toàn tỉnh táo, chỉ bị… choáng nặng thôi.
 
Bentley Cotland cười nhạo.
 
- Tôi nghĩ là hắn đã thấy tôi giơ thẻ ra nên nghĩ rằng tôi tới vì hắn, Brolin giảng giải. Hắn vội ra tay trước.
 
- Nếu không có hành động bất thành đó, có lẽ hắn vẫn được tự do, Salhindro an ủi anh. Về phần Parker- Jeff, mọi người đã kiểm tra, anh ta đúng là có lý lịch tư pháp, nhưng không có gì ghê gớm cả, dùng marijuana và bị thẩm vấn vì mang con dao săn to trong người trong một vụ đánh lộn, nhưng không có gì chứng tỏ anh ta là kẻ rối loạn nhân cách. Cậu muốn mở hướng điều tra này không?
 
- Để riêng hồ sơ của anh ta ra đề phòng, nhưng anh ta không phù hợp. Dù sao cũng cứ kiểm tra xem anh ta có bằng chứng ngoại phạm trong buổi tối thứ tư không. Thẩm vấn cả chủ xưởng phá dỡ nữa, hắn có vẻ không minh bạch, tôi nghĩ là hắn cố tình che dấu Palernos.
 
Lloyd Meats dụi đầu mẩu thuốc lá vào lon Pepsi và lại châm ngay một điếu khác. 
 
- Thế lá thư đó thế nào? Brolin hỏi. Các anh có đem tới đây không?
 
Meats đứng dậy rồi lấy từ chiếc xà cột bằng da ra một túi nhựa nhỏ, bên trong có một tờ giấy. Brolin cầm lấy. Tờ giấy lốm đốm một chuỗi vết đỏ. Máu của nạn nhân của hắn. Brolin đọc nội dung:
 
“Hãy để tôi hát trước:
Vì bạn cần một người chỉ dẫn
Để đưa bạn vào con đường của tôi,
Và không đi chệch hướng.
Tôi ở trong một khu rừng tối
Mà ký ức duy nhất về nó làm thức tỉnh nỗi kinh hoàng!
Ngày đã xuống và bầu trời sậm lại
Tôi bước vào con đường vắng vẻ, hiểm nguy
Phải bỏ lại mọi sợ hãi ở đây, 
Nỗi hèn nhát phải chết ở đây.
Mọi việc sẽ sáng tỏ với bạn
Khi bước chân chúng ta sắp dừng lại
Trên sông Acheron, dòng sông chết chóc.”
 
Mắt không rời khỏi bức thư đáng lo ngại, Brolin hỏi:
 
- Phòng thí nghiệm có chắc chắn đây là máu nạn nhân bị sát hại trong rừng không?
 
- Không nghi ngờ gì nữa, Meats khẳng định. Di truyền học rất rõ ràng. Đây không phải trò đùa. Kẻ giết người quyết định tạo mối quan hệ đặc quyền với chúng ta. 
 
- Các anh có hiểu những lời tối nghĩa này không? Cotland hỏi. 
 
Brolin không nói gì, anh suy ngẫm và đọc lại bức thư.
 
- Vâng… thú thực là nó khiến tôi hơi chệch hướng.
 
Meats và Salhindro nhìn nhau bằng ánh mắt thông hiểu, họ từng hy vọng Brolin sẽ thấy trong bức thư này một thông điệp mà họ chưa tìm ra.
 
Brolin giải thích.
 
- Hắn viết cho chúng ta để chuyển tải một điều gì đó, để giúp chúng ta hiểu hành động của hắn. Thông thường, những kẻ giết người kiểu này thích viết thư gửi báo chí, nhưng kẻ này, hắn lại gửi thư cho chúng ta.
 
Meats và Salhindro lại nhìn nhau bằng ánh mắt thấu hiểu, dường như chỉ chứa đựng thông tin mà chỉ riêng họ biết.
 
“Tôi nghĩ rằng hắn viết thư cho chúng ta vì chúng ta tận mắt thấy việc mà hắn làm. Vậy chẳng phải ngẫu nhiên mà hắn muốn nói với chúng ta. Chúng ta là các nhân chứng trong hành động của hắn và tôi sẽ không ngạc nhiên nếu hắn tìm cách biện hộ, bào chữa. Chỉ còn một vấn đề là thông điệp của hắn không mấy rõ ràng.”
 
Brolin đọc lại bức thư: “Tôi ở trong một khu rừng tối mà ký ức duy nhất về nó làm thức tỉnh nỗi kinh hoàng!”
 
- Hắn nói với chúng ta về tội ác của hắn, về hành động mà hắn đã thực hiện và làm nảy sinh trong hắn một dạng thức hối hận, anh có thấy thế không? Meats hỏi.
 
- Có vẻ như vậy.
 
- Hắn tách biệt hai phần của bức thư, Salhindro nhận xét, không có cảm tưởng là hắn viết thư một cách vội vàng, hấp tấp, hắn đã suy ngẫm tỉ mỉ từng chi tiết. Vì thế, phần in nghiêng phải có một ý nghĩa quan trọng nhất định.
 
Brolin lắc đầu dứt khoát rồi đứng bật dậy, kéo khỏi vai thứ khiến anh nhăn mặt.
 
- Mẹ kiếp! Chẳng dính dáng gì đến chuyện mà ta vẫn nghĩ! Quá chặt chẽ, quá chính xác và cân nhắc kỹ càng! Hãy nhìn những câu thơ này, hãy nhìn những từ ngữ này, như anh nói đấy, Larry, kẻ giết người đã rất đủng đỉnh, việc này rất quan trọng với hắn, phần in nghiêng có một lý do cụ thể và…
 
- Có thể đây là một đoạn trích, Meats đề xuất. Trích từ một cuốn sách. Phải công nhận nó được viết rất hay, tôi không nghĩ rằng một tên khốn khổ như kẻ mà chúng ta đang tìm kiếm lại có thể đẻ ra một lá thư như thế này!
 
- Đây chính là vấn đề được đặt ra cho tôi, Brolin đáp. Với những gì chúng ta biết được về vụ giết người trong rừng, hung thủ là một kẻ thất thường, chưa trưởng thành về mặt tình dục, tất cả những điều này không phải sau năm phút mà có, và cũng không phải là một sự sắp đặt để khiến chúng ta tin rằng đó là một kẻ đáng thương. Đúng là có sắc thái tình dục thực sự trong vụ án này, nhưng xung năng tình dục không bị chế ngự, cũng như nạn nhân không được coi như một con người, hắn sử dụng nạn nhân như một tờ giấy ăn Kleenex. Người ta có thể giả điên, nhưng dấu ấn sẽ khác, sẽ có những dấu vết của bạo lực tình dục kiểu khác, thành công hơn.
 
- Thế nhưng kẻ gửi cho chúng ta lá thư này lại chính là hung thủ, các giọt màu đỏ đã được xác nhận, chính là máu của nạn nhân, Salhindro nói. Cũng có thể hắn đã sao chép bài thơ từ đâu đó.
 
Brolin lắc đầu và đưa ra chỉ dẫn về sự khác biệt.
 
- Thật ra, nếu đây là một đoạn trích, thì hắn có đủ thông minh để hiểu nó và gửi nó cho chúng ta, và điều này không đúng với hình dung của chúng ta về hắn! Hung thủ là một kẻ đáng thương mất phương hướng, không thích nghi với đời sống xã hội và có lẽ thậm chí mắc chứng cuồng ám. Có lẽ thậm chí hắn là kẻ mù chữ nếu nói quá đi nữa! Cả hai phần dường như đều quan trọng, việc lựa chọn chữ in nghiêng cũng thể hiện một sự tinh tế nào đó của trí óc! Điều này không trùng hợp với hình ảnh mà chúng ta vẫn nghĩ về hung thủ.
 
- Vậy thì có lẽ hồ sơ mô tả của anh bị nhầm, Cotland nhận xét với chút tinh quái.
 
- Không, tôi tin chắc là không.
 
Brolin im lặng vài giây rồi nói thêm.
 
- Kẻ viết cho chúng ta là một người khác. Một đồng phạm hoặc một nhân chứng. Thông điệp của hắn đã rõ: hắn muốn “dẫn chúng ta trên một con đường”, nhưng dẫn chúng ta tới cái gì hay tới ai? Có lẽ hắn không phải là đồng phạm. Nhưng hắn biết hung thủ là ai và muốn chế nhạo chúng ta trước khi giao hung thủ cho chúng ta.
 
- Nếu thế thì làm thế nào hắn có được máu của nạn nhân, Meats hỏi.
 
- Tôi hoàn toàn không biết, Brolin thú nhận. Có thể hắn đang ở gần đó khi vụ án xảy ra và hắn đã vào bên trong ngôi nhà khi hung thủ đi khỏi, hoặc có thể đây là một người cùng chơi trò chơi ghê rợn ấy, tôi không biết nữa, nhưng tôi chắc chắn đây là một người khác. 
 
Meats và Salhindro lại nhìn nhau.
 
Salhindro lưỡng lự rồi đặt bàn tay lên cánh tay Brolin. 
 
- Trong trường hợp này, con người khác đó biết về sự tồn tại của Juliette Lafayette.
 
Brolin chợt ngẩng đầu về phía ông bạn bụng phệ.
 
“Sáng nay cô ấy cũng nhận được một lá thư giống hệt”, Salhindro nói như để xin lỗi.
Sự đời cà khịa cái chơi
Khi vui muốn khóc, khi cười buồn tênh!
0
Chương 26
 
Nhóm người di chuyển tới phòng làm việc của Brolin ở Portland. Juliette vừa tới gặp họ. Lá thư cô nhận được giống hệt lá thư Brolin đang cầm trên tay. Nó cũng được gửi từ nhà ga trung tâm của Portland sau đó 1 ngày.
 
- Cô gọi cho chúng tôi là rất đúng, Salhindro nói với cô gái. Sự giúp đỡ của cô rất quý giá với chúng tôi.
 
Juliette không đáp lại. Cô còn bị sốc. Kinh hoàng khi biết rằng kẻ giết người tuần trước đã viết thư cho cô. Cô không cảm thấy sợ, cũng không thấy lo lắng, chỉ không hiểu gì cả. Tại sao lại gửi cho cô? Tại sao người ta không để cô quên đi câu chuyện mà cô là nạn nhân?
 
- Tôi rất buồn nhưng cô buộc phải ngừng các buổi học ở trường lại, Meats thông báo.
 
Juliette ngước cặp mắt màu saphir nhìn anh. Chúng có vẻ đẹp và ánh lấp lánh của loại đá kết tinh này, cả sự lạnh lẽo nữa.
 
- Không bao giờ, đây là câu trả lời duy nhất của cô.
 
- Hãy nghe đây, cô Lafayette, việc đó nguy hiểm đối với cô, chúng tôi không biết liệu kẻ giết người có nhằm vào cô không, cô hiểu chứ?
 
Brolin bực bội vì Meats thiếu tế nhị, anh ấy luôn quá thẳng thắn, do quá quen với việc thẩm vấn nên anh thường quên mất rằng không phải lúc nào trước mặt anh cũng là bọn tội phạm. Và nhiều người nghĩ thái độ này một ngày nào đó sẽ cản trở anh ngồi vào chiếc ghế trưởng phòng điều tra tội phạm.
 
Hai tròng mắt cô gái sáng lấp lánh như 2 vì sao uy nghiêm, và Meats không cần câu trả lời.
 
- Sẽ có hai người theo sát và bảo vệ cô, Salhindro giải thích, kể cả ở trường đại học.
 
Juliette thở mạnh vì giận dữ.
 
- Trong bao lâu? Và nếu các anh không bắt được kẻ đó, tôi sẽ phải sống suốt đời với hai vệ sĩ hay sao?
 
- Tất nhiên là không, Meats bối rối, chúng tôi…
 
Cô khoát tay ngắt lời:
 
- Thôi đi, tôi…Tôi chỉ đi lại khi cần thiết.
 
Meats gật đầu tỏ ý biết ơn, và Juliette đứng dậy. Cô thấy Brolin có một vết bầm tím trên má. Cô muốn nói chuyện với anh, một mình. Tại sao lại một mình? Cô không biết, vì mong muốn, vì cảm thấy cần thiết. Cô có thể tâm sự, có thể bùng nổ, không cần ý tứ, có thể trút sạch lòng mình cho tới khi kiệt sức, hay chỉ đơn giản là tìm kiếm sự động viên trong vòng tay im lặng của anh. 
 
Nhưng anh thanh tra trẻ chỉ nhìn cô mà không nói gì. Không hề thể hiện cảm xúc. Cô mở miệng để nói với anh nhưng không nên lời, không lời nào phù hợp với điều mà cô muốn nói, thay cho lời chào, cô định hỏi xem hàm của anh thế nào – may mà người ta đã nói trước với cô là Brolin bị thương ở mặt, tuy rằng khá nhẹ – nhưng lại thôi. Cô quay đi mà không nói gì và lặng lẽ ra khỏi phòng. Cuối cùng, cô cảm thấy quá mệt mỏi để có thể nói chuyện lâu với anh, cô muốn anh ôm cô trong vòng tay và siết thật chặt, đừng hỏi câu nào, đừng nói gì, chỉ ôm như vậy cả ngày lẫn đêm. Nhưng cô biết điều này là không thể được. Cô rời trụ sở cảnh sát trung tâm, một chiếc xe đi cùng cô về nhà. Cô phải chú ý để làm như không có chuyện gì xảy ra, nhất là cô không muốn làm bố mẹ hoảng sợ.
 
Brolin áp túi đá lạnh vào má, anh chăm chú nhìn vào bức thư. 
 
“Tôi đang ở trong một khu rừng tối: mà ký ức duy nhất về nó làm thức tỉnh nỗi kinh hoàng!”
 
Mưa không ngớt suốt cả ngày, đập vào mặt vách kính như một bản hòa tấu bí ẩn của các nhạc cụ bộ gõ.
 
“Khu rừng khiến hắn kinh hoàng, như vậy có thể hắn đã chứng kiến vụ giết người, Brolin thầm nghĩ. Hắn còn nói về đêm xuống, thời điểm được phỏng đoán là lúc bắt cóc, có nghĩa là hắn biết kẻ giết người mang nạn nhân còn sống vào rừng vào lúc nào”.
 
Nhớ lại con đường mòn mà anh và Salhindro đã đi qua để tới ngôi nhà hoang, Brolin chậm rãi gật đầu.
 
“Một con đường vắng vẻ và hiểm nguy như chính hắn tự nói, một con đường nơi phải bỏ lại nỗi sợ hãi và sự hèn nhát. Hắn đã tận mắt nhìn thấy tội ác, hắn đã chứng kiến những gì diễn ra. Hắn biết hiện trường vụ án, vì hắn nói tới khu rừng, con đường mòn và đêm xuống, tất cả khung cảnh của vụ giết người. Nhưng điều đáng sợ hơn là hắn chỉ rõ rằng chúng ta sẽ không thể hiểu được trước khi tới sông Acheron”
 
- Có ai biết Acheron, dòng sông chết chóc không?
 
Bentley đáp như thể đây là một chuyện quá tầm thường và tỏ ra khá thỏa mãn khi cuối cùng cũng cảm thấy mình có ích:
 
- Đó là một con sông ngầm mà người chết phải đi qua để tới địa ngục. Ít ra là theo thần thoại Hy Lạp. 
 
Điều này không dự đoán điều gì tốt đẹp cả.
 
Salhindro nhấp một ngụm cà phê nóng bỏng.
 
- Tại sao hắn lại gửi một lá thư tới đây và một lá thư khác cho Juliette?
 
Không thay đổi thái độ, vô cùng bình tĩnh, Brolin đáp một cách chắc nịch khiến tất cả mọi người đều ngạc nhiên:
 
- Trước nhiên phải xem xét kỹ tình huống, chúng ta có một bên là kẻ giết người tâm thần, hoặc ít nhất là rối loạn – hỗn hợp, và một bên là tác giả của bức thư nặc danh này, có thể nói là một con quạ, hắn dường như biết nhiều về vụ án, kẻ giết người đi theo bước chân của Leland Beaumont và Juliette lẽ ra đã là một nạn nhân của hắn, nên trong chừng mực nào đó, cô ấy là biểu tượng thất bại của Leland. Hung thủ mà chúng ta đang tìm kiếm coi nạn nhân của chúng ta không phải là người, không phải là phụ nữ, mà là những đồ vật giải trí, hoặc có thể là phương tiện để đạt được một trạng thái khác, hắn không cho họ chút lòng tin nào, chút cuộc sống nào. Nếu rơi vào tay hắn, anh sẽ không có chút bất kỳ cơ hội nào thấy hắn tỏ lòng thương hại vì trong đầu óc hắn, anh chỉ là một công cụ mà hắn cần. Trong khi đó, với lá thư này, chúng ta đang đối mặt với một kẻ muốn đùa cợt, một tên tàn ác thích tìm kiếm vui thú. Bằng cách chơi trò đùa với chúng ta. Đây là một kẻ tàn ác, tức là hắn có ý thức về người khác và về nỗi đau mà hắn có thể gây ra cho họ, điều này khác với hung thủ giết người mà chúng ta đang tìm. Hung thủ chặt tay nạn nhân sau khi nạn nhân chết, hắn đùa với xác nạn nhân đã chết, vì nạn nhân trở thành một công cụ để hắn sử dụng tùy thích, nhưng một kẻ tàn ác như tên quạ sẽ có chiều hướng chặt tay nạn nhân trước khi giết, để nhìn thấy nạn nhân đau đớn, để cảm thấy hoàn toàn chế ngự được nạn nhân, thích thú khi nghe nạn nhân gào thét, van xin.
 
- Anh có chắc là hung thủ và tác giả của lá thư là hai người khác nhau không? Meats hỏi, anh sợ không thể có được kết quả có sức thuyết phục với phương pháp chỉ dựa vào kinh nghiệm này.
 
Brolin tự tin gật đầu.
 
- Hung thủ là một kẻ đáng thương đang nuôi dưỡng những ảo ảnh về cái chết và lòng hận thù với các xung năng tình dục. Đây chắc chắn là một con người có tuổi thơ bất bình thường, đầy đau khổ, một người bị bỏ rơi, có thể bị ruồng bỏ. Tác giả của bức thư chúng ta có thể gọi hắn là Quạ, hắn thông minh, tôi nghĩ là bằng cách gửi bức thư bí hiểm này cho chúng ta hắn muốn thoát khỏi nỗi bức bối đang mang trong mình. Có thể là từng chứng kiến 1 vụ giết người hoặc ít nhất là biết kẻ giết người. Tuy nhiên, hắn không cho chúng ta bất cứ thông tin nào rõ ràng, ngược lại hắn rất mập mờ. Cũng có thể hắn chỉ thích trêu đùa, với bản chất cực kỳ tàn ác, hắn không hề có ý định giao kẻ giết người cho chúng ta, mà chỉ vờn chúng ta, khiến chúng ta phải đương đầu với sự ranh mãnh và sảo quyệt của hắn. Trình độ văn học của thông điệp cho thấy rõ trí thông minh của hắn, đây không phải là một kẻ khốn khổ vô vọng.
 
- Có thể đó chỉ là một trích đoạn mà hắn lấy ra từ một cuốn sách, Bentley Cotland phản đối.
 
- Ngay cả trong trường hợp ấy, hắn cũng đã cố ý chọn trích đoạn đó, tức là hắn hiểu nó, Brolin đáp lại. Không phải ngẫu nhiên mà thông điệp được chia làm 2 phần, và thực ra tôi nghĩ là một trong hai đoạn được trích ra từ sách. Có vẻ như là đoạn thứ hai dài hơn, thơ hơn và nhiều ý nghĩa hơn. Hãy tìm xem đoạn đó được trích từ đâu và chúng ta sẽ biết điều mà hắn muốn nói. 
 
- Điều gì khiến anh tin chắc đến thế? Chưởng lý tương lai dò hỏi.
 
- Tôi đã nghiên cứu hàng trăm trường hợp giết người hàng loạt, ám sát giết người, đặt boom. Hãy tin tôi đi, tôi có thể dám chắc với anh 2 điều: Kẻ giết người trong rừng có thể đã gây ra vụ án đầu tiên của hắn vào tối hôm trước hôm thứ 4, nhưng hắn sẽ không dừng ở đó, hắn còn tiếp tục. Điều thứ 2: tác giả của lá thư này không phải kẻ giết người, mà là một người khác nhưng biết chắc chắn về hung thủ và hắn không làm gì cho chúng ta cả mà chỉ tìm cách thể hiện quyền lực của hắn, chứng tỏ lượng kiến thức rộng lớn và sức mạnh của hắn. Vì lý do gì thì tôi không biết, ít nhất là chưa biết. Đừng coi thường hắn, hắn đã gửi 2 lá thư cách nhau 1 ngày vì hắn suy nghĩ thấu đáo vì chúng ta cần có 24h để xác định vết máu trên tờ giấy và nhận thấy nó rất nghiêm trọng, thế nhưng hắn muốn Juliette và chúng ta ý thức được về sự tồn tại của hắn vào cùng một ngày, chắc là để gây tác động mạnh hơn, giống như trong phim ảnh, khi tất cả ụp xuống đầu bạn cùng một lúc, lúc bộ phim sắp kết thúc.
 
- Thế tại sao hắn lại là một kẻ tàn ác như anh vừa nói vì hắn tìm cách chỉ dẫn cho chúng ta con đường của kẻ giết người? 
 
Brolin đặt túi đá lên bàn rồi đáp:
 
- Vì hắn cố tình mập mờ, hắn muốn đùa cợt, hắn muốn trêu thử chúng ta và xem chúng ta hay hắn tinh quái hơn. Và nhất là bởi vì hắn đã gửi một lá thư giống hệt cho Juliette. Các anh hãy tự hỏi tại sao hắn lại gửi lá thư cho Juliette, đó là một hành động hoàn toàn vô cớ. Hắn muốn làm cô ấy hoảng sợ, kinh hãi vì hắn biết cô ấy đã trải qua sự việc gì với Leland. Kẻ giết người là một copycat của Leland và tên Quạ biết điều đó. Tôi đoán rằng kẻ giết người có một chút tôn trọng Juliette, còn tên Quạ thì không. Tôi hy vọng duy nhất một điều: hai con người đó không quen biết nhau quá rõ, nếu không tác giả của lá thư hoàn toàn có thể gây sức ép lên kẻ giết người, khiến hắn tấn công Juliette. Đó có thể là một nghi thức để kiểm nghiệm sức mạnh của hắn, để vượt qua bậc thầy của hắn…
 
Cả bốn người nhìn nhau rất lâu.
 
- Tôi sẽ cử thêm người đến giám sát nhà Juliette, cuối cùng Meats vừa nói vừa vuốt chòm râu bằng một động tác thể hiện sự căng thẳng.
 
Brolin đồng tình:
 
- Rất mong anh làm việc đó.
 
- Đợi đã, Bentley xen vào, các anh không thấy ở đây có một động lực nào đó sao? Tôi muốn nói là, một bên là kẻ giết người bắt chước Leland Beaumont, còn bên kia là tên Quạ muốn gây sợ hãi cho người được coi là biểu tượng thất bại của Leland. Hai con người cùng tiếp nối hành động của Leland sau khi hắn chết.
 
- Cậu muốn nói gì? Meats hỏi.
 
Hào hứng với lập luận của mình, Bentley Cotland cắn môi rồi nói tiếp:
 
- Thế này, ai là người có khả năng tôn thờ Leland, hoặc ít nhất là ngưỡng mộ hắn cao độ đến thế? Gia đình hắn chứ còn ai! Đây chính là hướng mà chúng ta cần thăm dò!
 
Salhindro dứt khoát trả lời:
 
- Không, mẹ hắn đã chết từ lâu, Leland là con trai duy nhất, còn bố hắn có chỉ số thông minh không cao hơn một con chim bồ câu chết. Về gia đình hắn, cần ghé qua một lần nữa. 
 
- Không có chú bác hay họ hàng sao? Bentley ngạc nhiên.
 
- Không có ai cả, gia đình Beaumont sống khép kín, xa lánh tất cả mọi người và cả thế giới. Việc Leland đơn độc rời khỏi nhà của ba mẹ là cả một kỳ tích, đáng ngạc nhiên hơn nữa là hắn học được cách sử dụng máy tính và internet qua sách vở. Bác sĩ tâm thần đã nói rằng nếu Leland không phải con quái vật như chúng ta biết thì hắn hoàn toàn có thể trở thành một nhân vật xuất sắc.
 
Bentley bặm môi, vẻ thất vọng.
 
Brolin đặt lá thư xuống bàn rồi đứng dậy.
 
- Phải gửi một bản sao lá thư này tới Viện Smithsonian, hãy để thư viện quốc hội giúp chúng ta tìm nguồn tham khảo chính xác được sử dụng để viết lá thư, anh nói. Salhindro hãy gọi cho phòng thí nghiệm để bảo họ nhanh chóng nhận dạng nạn nhân, hãy làm những gì có thể để đẩy nhanh thủ tục. Và kiểm tra xem Henry Palernos có bằng chứng ngoại phạm trong đêm thứ tư rạng sáng ngày thứ năm không, chắc chắn hắn không phải là hung thủ, nhưng đừng để rủi ro nào xảy ra. Tương tự như vậy với Parker – Jeff.
 
- Ok, tôi sẽ làm. Còn về hai lá thư, chúng cùng được gửi từ nhà ga trung tâm Portland, tức là nơi có lượng người qua lại rất đông đúc, đây là một ngõ cụt với chúng ta, Meats buồn rầu nói, anh định làm gì?
 
- Tôi sẽ quay lại ngôi nhà hoang, có thể còn một chi tiết mà chúng ta chưa thấy, một thứ gì đó, bất kể thứ gì giúp chúng ta tìm ra một hướng đi.
 
Vài phút sau, tất cả máy điện thoại, fax, mail cùng phát ra một loạt tiếng bíp khi thông tin được gửi đi các hướng.
Sự đời cà khịa cái chơi
Khi vui muốn khóc, khi cười buồn tênh!
0
Chương 27
 
Ánh đèn Flash trắng tiếp tục lóe sáng chồng chéo lên nhau trên võng mạc mắt Elizabeth Stinger. Buổi chụp ảnh vừa kết thúc, và như thường lệ, cô phải mất cả một giờ mới cảm thấy được trở lại là chính mình. Do quá tập trung tạo dáng cho từng khoảnh khắc chính xác và bất biến của mỗi kiểu ảnh nên Elizabeth khó lấy lại được vẻ tự nhiên, khó làm được những động tác nhanh nhẹn và không tính toán, Cô tẩy trang trước chiếc gương di động mà người trang diểm đã đặt vào cái va li nhỏ, đằng sau cô mọi người vừa thu dọn đồ nghề vừa chúc mừng nhau và đùa vui khi stress đã hết và các dây thần kinh trùng xuống.
 
Elizabeth tẩy trang thật nhanh rồi vội vã đi thay đồ để có thể càng ra về sớm càng tốt. Nếu may mắn, cô có thể ngồi chơi một lát với Sally trước khi con bé đi ngủ. Sally mới tám tuổi nhưng đã thể hiện những khả năng thực sự và một thiên hướng nhất định ở trường và cô bé là tất cả những gì quý giá nhất trên đời của Elizabeth. Cô có thể cho con gái bất cứ thứ gì. Trong những giai đoạn khó khăn nhất của cuộc đời, Liz từng nghĩ đến chuyện bán dâm để lo cho con một tương lai đầy đủ. Suốt một thời gian dài, cô ấp ủ giấc mộng điên rồ là trở thành diễn viên nổi tiếng, thậm chí cô đã có được mấy vai hạng hai trong những bộ phim truyền hình dài lê thê dành cho những người bị mất ngủ hay trầm cảm. Nhưng giấc mộng dừng lại ở đó, Hollywood chỉ để lại trong cô vị đắng của những buổi thử vai tầm thường như kéo dài vô tận. Thế nhưng khi chạm tới đáy, cô gặp được cha của Sally, một nhiếp ảnh gia thời trang trẻ tuổi, anh đã phát hiện ra ở cô khả năng ăn ảnh tuyệt vời. Cũng ở đó, dù sự nghiệp người mẫu không tiến lên được nấc thang vinh quang, nhưng nó giúp cô sống được cũng như nuôi được một miệng ăn khi Sally ra đời. Thành công cứ chạy trốn cô như trốn bệnh dịch hạch, và gần như là điều logic khi cha của Sally rời khỏi cô lúc bản thân anh ta trở thành một trong những nhiếp ảnh gia thời trang nổi tiếng trong giới show – biz. Anh ta loạng choạng bước lên trên những nấc thang vinh quang với 1 điếu cocain trong một tay và một cô ả gái gọi trong tay kia, mặc dù chỉ mới 31 tuổi. Tiếp đó là những năm tháng khốn khổ đối với Liz và Sally, trước khi hai mẹ con tới Portland để thử vận may. Ba mươi hai tuổi, Liz tìm được công việc người mẫu thuộc thể loại rất đặc biệt. Đây là một công ty bán hàng qua bưu điện, bao gồm cả đồ gia dụng và cả quần áo, chủ yếu dành cho phụ nữ, một kiểu “club Tupperware” của VPC với lượng hàng cung ứng nhiều hơn. Để thực hiện catalogue của mình, công ty này chỉ sử dụng những phụ nữ đứng tuổi và không nhất thiết phải có dáng người thanh mảnh, lý tưởng, mà chủ yếu công ty tập trung vào hình ảnh thực tế để dễ xác định khách hàng. Và Elizabeth lại trở thành người mẫu sau nhiều năm làm công việc lặt vặt. Đến nay cô đã làm trong công ty này bốn năm, cô ký hợp đồng hàng năm với mức lương chấp nhận được, cộng thêm vài khoản “ngoài giờ”, đủ để tiết kiệm cho Sally học đại học trong tương lai.
 
Liz ra khỏi phòng chụp lúc khoảng hơn mười tám giờ và vội vã ra bãi đỗ xe. Cô lấy điện thoại di động và bấm số của Amy, cô bảo mẫu. Tiếng chuông đổ rất lâu, có lẽ Amy cùng Sally đi dạo trong công viên, mặc dù đây không phải là thói quen của cô ấy. Liz tắt máy, có gọi nữa cũng vô ích, đằng nào cô cũng gặp con gái sau gần nửa tiếng nữa.
 
Bé Sally đáng yêu.
 
Cô quay về phía xe mình và định cúi xuống đưa chìa vào ổ khóa thì bị quật ngã vì đau, chưa bao giờ cô bị đau đến thế.
 
Mũi cô giập nát sau một tiếng gẫy xương khủng khiếp.
 
Cô cảm thấy máu mình sôi lên khi nó nhỏ giọt xuống môi. Cô ngạt thở. Một chất sợi bông bịt chặt lấy mũi cô, miệng cô không thở nổi, mùi thuốc mê, rồi ngay sau đó là đau đớn. Khi cô vừa hiểu chuyện gì đang xảy ra thì đã quá muộn để có thể vùng chạy thoát.
 
Quá muộn để kêu lên.
 
Sally sẽ phải sống quãng đời còn lại một mình.
 
Tiếng gào thét của Elizabeth Stinger vang lên trong đầu cô một vài giây rồi biến mất cùng với mọi hy vọng.
 
Không bao giờ có ai biết được chuyện này.
Sự đời cà khịa cái chơi
Khi vui muốn khóc, khi cười buồn tênh!
0
Chương 28
 
Không có bất cứ cử chỉ nào để động viên cô. Không một lời nói, không một nụ cười hay một cái nháy mắt, Juliette tức điên lên. Cô rời khỏi phòng làm việc của Brolin mà anh ấy không hề thể hiện một chút thông cảm hay thiện cảm gì với cô.
 
Juliette gõ bàn phím một cách điên dại. Vì tức giận và thiếu tập trung, nên bài tập của cô không có mảy may cơ hội nào đạt điểm cao hơn điểm “C” khoan dung.
 
Cô dừng lại giữa một câu và đưa tay lên ôm đầu.
 
Thời gian gần đây, Brolin có nhiều mối bận tâm, cuộc điều tra tồi tệ đã choáng hết tâm trí anh, nhưng liệu đó có là lý do anh lờ cô đi như thế? Có lẽ đầu óc anh còn ở đâu đó do hậu quả của vết thương. Vừa bước vào phòng, Juliette đã nhận ra một bên má sưng phồng của Joshua. Salhindro trấn an cô khi giải thích rằng không có gì ghê gớm cả, Brolin bị thương trong khi chơi đấm bốc cùng các đồng nghiệp, nhưng Juliette đoán là do lý do nào khác. Salhindro quá xăm xắn, chắc chắn ông ấy nói dối. Chắc là Brolin bị thương trong một trận đấu cơ bắp. Nhưng liệu đây có phải lý do để cô làm ra vẻ như không ở đó không? Khi ấy cô muốn nói chuyện với anh, chỉ thế thôi, thậm chí băng bó cho anh nếu cần. Cô không đòi hỏi gì ghê gớm, chỉ một chút quan tâm và…
 
Juliette chợt nhận ra mình đang ở vị thế nào.
 
“Mày đúng là đứa ngốc nghếch”, cô tự nhủ và lắc đầu. Tại sao cô lại phản ứng như thế? Cứ như một phụ nữ có chồng làm mình làm mẩy với chồng mình vậy. Brolin chỉ là một… “người thân”. Từ này không phù hợp lắm, đúng hơn là một người bạn, mặc dù họ chưa biết nhiều về nhau, nhưng họ dần dần tìm hiểu nhau cho dù cả hai đã rất tin tưởng nhau. Và họ có một quá khứ chung đáng nhớ nữa. Vài tuần sau khi sự kiện đó, Juliette biết được rằng Leland Beaumont là kẻ đầu tiên mà Brolin bắn chết. Trước đấy, cô chưa bao giờ nghĩ tới chuyện này, nhưng đó hẳn phải là một kinh nghiệm gây chấn thương mạnh khi quyết định lấy đi mạng sống của một con người. Brolin không quen cô, nhưng anh đã bắn chết Leland để cứu sống cô. Cô thường suy nghĩ về điều ấy và chần chừ khá lâu mới định nói đến chuyện này với anh thanh tra trẻ, nhưng ông bạn bụng phệ của anh ấy, Salhindro khuyên cô không nên nói. Brolin không thích bàn cãi nhiều về chủ đề này, anh là người duy nhất chịu trách nhiệm và không phải chịu bất cứ lời chỉ trích nào nhưng cũng không nhận được lời an ủi nào. Theo Juliette, vết thương này sẽ liền sẹo cùng thời gian giống như tất cả các vết thương khác, nhưng cô vẫn muốn giúp anh quên nó đi.
 
Cô nói và nghĩ tới Brolin như thể anh là người đàn ông duy nhất của đời cô…và thành thực mà nói, cô phải tự thú nhận với mình rằng điều này là đúng. Ý nghĩ cô có thể đã yêu khiến cô chợt rùng mình.
 
Không! Không phải người như anh ấy, đây…đây chỉ là kiểu người có thể trở thành một người anh, một người bạn tâm giao.
 
Thế nhưng cô lại nghĩ tới việc làm thế nào để thu hút sự chú ý của anh. Cô nhớ tới lá thư.
 
“Tôi ở trong một khu rừng tối”
 
“Trên sông Acheron, dòng sông chết chóc”
 
Cô đã đọc đi đọc lại lá thư và ghi nhớ từng dấu phẩy. Có điều gì đó trong nội dung thư khiến cô ngờ ngợ. Cô tin chắc đã biết nội dung thật, ít nhất là nguồn trích dẫn. Thế nhưng khi nhớ lại các câu chuyện khác nhau, chuyện cổ tích, chuyện kể và khảo dị mà cô đã học một vài năm gần đây mà cô vẫn không nhớ ra điều gì cả. Một câu chuyện hay một truyền thuyết trong đó nói về một khu rừng đáng sợ và một dòng sông của người chết. Chẳng có gì trong những thứ cô biết về thần thoại Hy Lạp trực tiếp bao gồm cả hai yếu tố đó.
 
Nhưng cô tin chắc đã biết, đã đọc hay nghe một câu chuyện tương tự ở đâu đó.
 
Juliette xem giờ trên đồng hồ báo thức, mới bốn giờ chiều, cô cầm lấy sách vở rồi ra khỏi nhà. Cô báo với những người ở trong chiếc ô tô kiên nhẫn đứng trước nhà cô rằng cô phải đi đến thư viện của trường để học bài và thế là họ cũng lên đường. Theo thỏa thuận, cô được tự do đi lại, nhưng một chiếc xe cảnh sát với hình thức thông thường sẽ theo sát cô để đảm bảo an toàn cho cô.
 
Bốn mươi phút sau, Juliette đi quanh khắp các giá sách trong thư viện. Thư viện vừa mới xây dựng lại, cô thích thú với ánh sáng tràn ngập. Những chiếc giá sách dài không cao lắm tạo thành nhiều hàng lối trong gian phòng mênh mông. Cô gái đi lại giữa các tấm pano một cách dễ dàng và nhanh chóng, chứng tỏ cô đã quen làm việc ở đây. Hai “vệ sĩ” đợi ở cửa vào, theo đề nghị của Juliette, cô không muốn bị để ý vì lúc nào cũng có hai người đàn ông theo sát. Họ kiên nhẫn ngồi ở quán café, cùng kể chuyện vui về những năm tháng học đại học và ngắm nhìn những cô sinh viên xinh đẹp đi qua.
 
Trước tiên, Juliette nhớ lại nội dung bức thư và chép ra giấy, giữ nguyên cách viết nghiêng. Rồi cô dùng máy vi tính của thư viện để tìm kiếm theo chủ đề, các từ khóa tìm kiếm của cô là “người dẫn đường”, “rừng”, “Acheron” và “địa ngục”. Phần mềm máy tính chạy ù ù và đưa ra cho cô danh sách của khoảng 15 cuốn sách, cô in danh sách này ra. Để xem về Acheron và nội hàm mang tính Hy lạp và thần thoại mạnh mẽ của nó, cô bắt đầu tìm trong cuốn Odyssee của Homere, rồi Liiade, nhưng đều không thu được kết quả. Trong bài thơ dường như có một câu được lấy ra từ Kinh Thánh, mặc dù không khiến cô nhớ ra cuốn sách nào trong kinh thánh hay văn bản nào có nguồn gốc từ Kinh Thánh. Với suy nghĩ này, cô gật đầu. Đúng là có vài tác phẩm liên quan đến các văn bản tôn giáo có thể được đưa vào danh sách này. Cô đi khắp các giá sách và nhặt ra những cuốn cần tìm. Cô điền vào phiếu mượn và trở về nhà, ngày đang sắp kết thúc.
 
Cả buổi tối hôm đó và cả ngày thứ năm, cô lật giở những cuốn sách của thư viện. Cô nghĩ là đã chạm vào tới đích khi lướt qua cuốn “Thiên đường đã mất” của Milton, nhưng không một trích dẫn nào phù hợp. Đôi chỗ có nói tới khu rừng tối tăm, nhưng các ẩn dụ và những loại suy đậm chất thơ không nói lên điều gì có thể đi theo hướng của Quạ. Và nhất là ở đây không có bất cứ yếu tố nào khác của bức thư.
 
Đêm khuya hôm thứ Năm, khi Juliette thấy các hàng chữ chồng chéo lên nhau, buộc cô phải tập trung mới đọc được, thì vài từ cũng bật ra từ một trang cũng giống như pháo hoa, kéo cô ra khỏi trạng thái đờ đẫn. Đúng là những từ ấy, giống hệt lá thư trước mắt cô. Không còn nghi ngờ gì nữa, đó chính xác là những câu ấy, chỉ khác là Quạ chọn chúng theo ý thích của hắn từ các chương khác nhau. Trong toàn bộ bức thư, có hai câu thơ đặc biệt thu hút sự chú ý của cô. Vì hàm ý của nó:
 
“Phải bỏ lại mọi sợ hãi ở đây
Nỗi hèn nhát phải chết ở đây”
 
Hai câu thơ này trùng lặp với điều gì đó rất chính xác, chúng thể hiện thái độ cần có trước cái mà Quạ không muốn trực tiếp nhắc đến.
 
Juliette vừa mới khám phá ra bí ẩn. Một bí ẩn cô vội vã chép lại ra ý chính.
 
“Qua khỏi ta là xứ sầu thảm
Qua khỏi ta là đau thương vĩnh cửu
Qua khỏi ta là những con người khổ đau
Trước ta, chỉ tồn tại những gì vĩnh viễn
Và ta, ta trường tồn vĩnh cửu
Hỡi ai vào đây, hãy bỏ lại mọi hy vọng”.
 
Cô đọc nhanh lại đoạn thơ và cảm thấy càng thêm nặng nề.
 
Đây là những dòng thơ viết trên cánh cửa địa ngục.
Sự đời cà khịa cái chơi
Khi vui muốn khóc, khi cười buồn tênh!
0
Chương 29
 
Đã hai ngày trôi qua mà không hướng đi nào hé lộ cả. Không có bằng chứng đáng kể xung quanh vụ án, không có bất cứ dấu vết nào khai thác được, và không có chỉ dẫn nào trên lá thư, không vân tay, không sợi vải hay có dấu hiệu nào có ý nghĩa. Meats đã nghiên cứu kỹ hồ sơ về tất cả các tên tội phạm trong vùng từng bị kết tội xâm phạm tình dụng và được thả trong vòng 18 tháng trở lại đây. Nhiều tên trong số này ít nhiều phù hợp với mô tả nhân dạng, hồ sơ của chúng được đặt vào ngăn “cần thẩm vấn”. Còn Salhindro với tư cách điều phối viên đã hỗ trợ phòng thí nghiệm của Carl DiMestro và một tổ chuyên gia nhân học tư pháp trực thuộc viện pháp y của bác sĩ Folstom. Nhiệm vụ của họ là nghiên cứu khuôn mặt nạn nhân – mà phần trên đã bị acid ăn mòn – để tái tạo một mặt nạ trên mặt nạn nhân giống như trước khi bị tấn công. Đây là một công việc chậm chạp và chán ngắt, đòi hỏi độ chính xác đặc biệt để tạo một mặt nạ bằng silicon có khả năng đàn hồi. Một chuyên viên phẫu thuật thẩm mỹ da mặt của trường đại học Portland cũng tới giúp hoàn thành mặt nạ. Nhưng kết quả chỉ có được sau vài ngày. Cuộc tìm kiếm theo hồ sơ răng vẫn chưa đem lại gì cả, nhưng nếu cô gái chữa răng ở một phòng khám xa thì người ta không bao giờ có được câu trả lời. Vì thế, việc nhận dạng nạn nhân vẫn chưa hé lộ được mọi bí mật.
 
Cả ngày thứ Tư, Brolin đi khám nghiệm hiện trường vụ án, rồi đi khắp khu rừng xung quanh. Hy vọng tìm được một chi tiết nào đó, nhưng cũng là để cảm nhận khung cảnh rõ hơn. Anh biết mình vẫn chưa có đủ các yếu tố để tóm được kẻ giết người. Tệ hơn nữa, Brolin tin chắc rằng một nạn nhân khác sẽ gục ngã dưới những cú đòn của kẻ bệnh hoạn này, nhưng anh không thể làm gì được. Hồn ma Leland – anh đặt cho hắn cái tên này vì mọi người luôn so sánh hắn với Leland Beaumont – sẽ lại ra tay, nhiều lần nữa, vì hắn đang trên đà giết chóc, đang bị kích thích mạnh mẽ bởi các xung năng chết và những thúc đẩy tình dục mãnh liệt. Điều này thể hiện rõ trong hành động của hắn, Brolin đã nhận ra khi nhìn vụ án mạng.
 
Hồn ma Leland sẽ còn giết người cho tới khi bị bắt. Cuộc chạy đua với thời gian đã bắt đầu, và mỗi ngày trôi đi lại đồng nghĩa với sự hấp hối, rồi cái chết của một phụ nữ. Brolin không thể chịu nổi ý nghĩ này, mặc dù nó là tất yếu. Ở một mức độ nào đó, anh cảm thấy mình phải chịu trách nhiệm vì không đi đủ nhanh, anh rất muốn có những chỉ dẫn khác, những bằng chứng khác ngay lập tức. Vì thế có lẽ phải tưởng tượng mình là hung thủ, tìm cách hiểu hắn để dần dần đoán trước được hành động của hắn.
 
Cả ngày thứ Năm, Brolin và Meats tiến hành thẩm vấn Henry Palemors cùng với các cảnh sát của Bismark, cảnh sát trưởng hạt Wasco và các nhân viên của ông. Đầu tiên, họ kiểm tra chứng cứ ngoại phạm của Parker-Jeff trong đêm xảy ra án mạng, và Salhindro đã phải cực kỳ vất vả để nói cho anh ta hiểu rằng anh ta không nằm trong diện nghi vấn, nhưng đây là chuyện rất bình thường của một cuộc điều tra. Parker không thể hiểu nỗi tại sao sau khi cứu sống thanh tra Brolin, anh ta lại có thể bị nghi ngờ.
 
May thay, với Henry Palemors lại đơn giản hơn, mặc dù với hắn cáu gát cũng vô ích. Kẻ tấn công Brolin được giám sát nghiêm ngặt hơn cả kho vàng Fort Knok! Sau vài giờ, chứng cứ ngoại phạm của Palemors trong đêm xảy ra án mạng dù đã được kiểm tra, nhiều nhân chứng cũng bị thẩm vấn. Palernos không thể gây ra vụ này. Đây chỉ là một sự trùng hợp không đúng lúc, kẻ đào tẩu đã phản ứng dữ dội khi thấy một cảnh sát ngoài vùng tới hỏi han ở xưởng phá dỡ, hắn tưởng đã tìm ra hắn. Không thực sự ngạc nhiên, Meats và Brolin quay về Portland trong buổi tối mà vẫn chưa tìm được hướng điều tra nào.
 
Hôm đó, đêm với họ dường như không nhẹ nhàng như mọi khi. Trăng không sáng như đèn pha của người ngủ say nữa, mà giống như một lời đe dọa bí ẩn, nhấp nháy giữa đám mây trôi.
 
Sáng thứ Sáu, Brolin nhận được điện thoại của Juliette. Cô bị kích động cao độ, cô muốn gặp anh ta ngay lập tức. Chuyện rất quan trọng.
 
Nửa giờ sau, cô gõ cửa phòng làm việc của Joshua.
 
Hai điều khiến Juliette ngạc nhiên khi bước vào. Mùi trà hoa quả đậm đặc và nụ cười chào đón của Brolin. Cô từng nghĩ mình là một trong những người hiếm hoi nghiện trà hoa quả ở Portland, giờ đây cô phát hiện ra ở Brolin một điểm chung mới. Thái độ khó chịu của anh hôm thứ Ba đã biến mất, thay vào đó là một chàng trai với nét mặt căng thẳng nhưng có nụ cười vui vẻ hồn nhiên.
 
- Có việc gì mà em tìm anh sớm thế? Anh vừa hỏi vừa đứng dậy.
 
- Em… Em có thứ này cho anh xem, cô ấp úng.
 
- Nghe em nói qua điện thoại, có vẻ điều đó mang tính sống còn, Brolin nhận xét. Em uống cà phê nhé?
 
Juliette chỉ vào ấm trà.
 
- Em thích trà hơn, quả rừng là mùi ưa thích của em, cô nói.
 
- Anh cứ tưởng mình là khách hàng duy nhất ở Portland của cửa hàng Whittard Of Chelsea, Brolin ngạc nhiên nói. Chính nhờ chúng ta mà cửa hàng sống được đấy!
 
- Có lẽ chúng ta đã từng gặp nhau ở đó trước khi quen nhau, cô đùa vui.
 
Brolin không đáp, chỉ rót nước sôi vào hai cốc to in hình Trail Blazers (đội bóng rổ nổi tiếng của Portland).
 
- Má anh thế nào? Juliette hỏi khi thấy vết bầm chuyển từ màu đỏ sang xanh tím.
 
- Còn hơi đau khi anh nhăn mặt với mọi người đi qua, nhưng không sao. Vai anh gần như đã hết đau. Em ngồi xuống rồi kể cho anh nghe đi.
 
Họ ngồi xuống bên bàn làm việc của Brolin, Juliette mở tấm bìa carton mà cô kẹp dưới cánh tay ra.
 
- Em đã tìm ra các trích dẫn trong bức thư được lấy từ đâu, em biết chúng được trích từ cuốn sách nào, cô nói thay lời mở đầu.
 
Brolin đón nhận tin này như một chuyện bất ngờ. Thư yêu cầu giúp đỡ mà anh gửi tới Thư viện Quốc hội hẳn đang nằm trong đống giấy tờ ở ngăn chờ đợi, và anh không trông chờ có được câu trả lời trong vài ngày. Tới mức anh đã định cuối tuần sẽ tới thư viện thành phố. Và còn đáng ngỡ ngàng hơn nữa khi thông tin đến từ Juliette.
 
- Em có chắc chắn không? Anh dò hỏi mặc dù biết là thừa.
 
Anh không hiểu Juliette hoàn toàn, nhưng anh biết rằng cô không phải loại phụ nữ làm việc nửa vời.
 
- Không còn nghi ngờ gì nữa. Anh nhìn đây.
 
Cô đặt lên mặt bàn bản sao bức thư của Quạ và một cuốn sách mở sẵn mà Brolin không đọc được tên sách. Một trích đoạn trong sách đã được khoanh lại.
 
“Phải bỏ lại mọi sợ hãi ở đây,
Nỗi hèn nhát phải chết ở đây.”
 
Đây chính là những từ trong lá thư.
 
- Câu này được trích từ Thần khúc của Dante Alighieri. Chính xác hơn là phần đầu tiên, “Địa ngục”, Juliette giải thích.
 
- “Địa ngục” ư? Brolin hỏi lại, vẻ mặt lo lắng
 
- Vâng, Thần khúc là một tác phẩm thơ từ thế kỷ XIV, được chia thành ba phần: “Địa ngục”, “Tĩnh đường” và… 
 
-… “Thiên đường”, Brolin xen vào và gật đầu. Anh biết tác phẩm này mặc dù chưa bao giờ đọc nó cả. Ông anh có một bức tranh chép của Botticelli trong phòng khách, tranh vẽ một cảnh của Tĩnh đường, nó đã gây cho anh nhiều ác mộng suốt hồi còn nhỏ.
 
- Đêm hôm qua, em đã đọc cuốn sách này, mỗi phần được chia thành ba mươi ba Khúc. Và em nghĩ là đã hiểu thông điệp của kẻ giết người.
 
- Của Quạ, Brolin chỉnh lại. Chúng ta đã gần như chắc chắn rằng kẻ giết người và tác giả lá thư là hai người khác nhau, một kẻ giết người nửa rối loạn nhân cách nửa rối loạn tâm thần, và một con Quạ có thể xếp vào loại mắc bệnh không hòa nhập xã hội, anh thanh tra trẻ giải thích mà không lo lắng gì về việc để lộ những yếu tố bí mật của cuộc điều tra cho một “đối tượng dân sự”.
 
Juliette vui sướng vì được tin tưởng và gật đầu tỏ ý đã hiểu.
 
- Như thế lại càng lô gíc hơn, cô tự nhủ. Trong trường hợp này, Quạ biết ý đồ của hung thủ, chúng phải là người thân của nhau. Căn cứ vào sự thông minh của Quạ, thậm chí có thể phán đoán rằng hắn là bộ óc suy nghĩ cho cả hai, kẻ còn lại thực hiện những việc làm xấu xa. Đấy là em nghĩ thế, vì nó không được trích ra từ Thần khúc.
 
Cô đọc bốn câu thơ.
 
“Hãy để tôi hát trước:
vì bạn cần một người chỉ dẫn,
để đưa bạn vào con đường của tôi,
và không đi chệch hướng.”
 
Chuông điện thoại reo, Brolin nhanh tay chuyển cuộc gọi sang chế độ fax.
 
- Hắn coi mình như người chỉ dẫn cho chúng ta, cô gái nói tiếp. Em nghĩ rằng hắn không tìm cách đánh lừa chúng ta, hắn muốn chúng ta đi theo bước chân hắn, hắn muốn chúng ta biết công việc mà hắn đang chuẩn bị. Hắn nói rõ “và không đi chệch hướng”, trên con đường dẫn tới hiểu hắn, em nghĩ thế. Hắn tìm kiếm sự công nhận, hắn đang chuẩn bị những hành động ghê gớm và muốn chúng ta trở thành nhân chứng cho việc làm của hắn.
 
Brolin đồng tình, Juliette ngày càng khiến người khác bất nghờ. Cô nói tiếp:
 
- Thần khúc kể về chuyện Dante đi qua Địa ngục cùng với thi sĩ Virgile như thế nào, ông đã trèo lên núi Tĩnh đường để tìm lại nàng Beatrice yêu dấu, người đã dẫn ông tới Thiên đường ra sao. Một cuộc tìm kiếm dài đằng đẵng băng qua chốn bên kia thế giới để trỗi dậy trong sự yên lành vô tận. Thế mà, theo em được biết thì nạn nhân bị giết đêm thứ Tư tuần trước, trong rừng, và có thể vào lúc chiều tối. Điều này trùng hợp chính xác với những câu thơ trong Thần Khúc mà hắn đã chọn, “Tôi ở trong một khu rừng tối. Mà ký ức duy nhất về nó làm thức tỉnh nỗi kinh hoàng! Ngày đã xuống và bầu trời sậm lại, tôi bước vào con đường vắng vẻ, hiểm nguy”. Đây là những câu thơ trong Khúc I và Khúc II của phần “Địa ngục”. Những câu tiếp theo trích từ Khúc III, của Địa ngục. Theo em, hắn định nói với chúng ta rằng hắn sẽ đi vào địa ngục và đưa chúng ta đi cùng hắn, “Địa Ngục” của Dante gồm chín tầng, mỗi tầng là một bậc dẫn tới sự Trừng phạt và tới với Dité, thần Ác. Nói cách khác là Satan.
 
- Theo em, hắn muốn dẫn chúng ta đến với Dité, qua hết các tầng địa ngục?
 
Juliette bị kích thích cao độ, cô không biết phải chuyển tất cả các ý nghĩ của mình thành lời nói như thế nào, vì chúng kết tụ lại với nhau giống như những điện tử electron hỗn loạn trong một cỗ máy gia tốc hạt.
 
- Đến với Dité hay thứ gì khác, em không biết. Nhưng hắn tuyên bố rằng tất cả sẽ “sáng tỏ” khi chúng ta tới Acheron. Và Acheron là một dòng sông chở linh hồn người chết tới đáy địa ngục. Đêm qua em có một ý nghĩ rất nặng nề. Và nếu hắn muốn vào trong địa ngục một cách tượng trưng, thì hắn làm như thế nào? 
 
Brolin nhún vai.
 
- Anh không biết, anh đoán là hắn có thể làm những hành động quỷ quái, Brolin nói liều, anh quá bất ngờ.
 
- Hoặc là hắn chỉ cần đi ngược sông Acheron tới trung tâm địa ngục, đến với Dité. Em nghĩ rằng hắn giết người để có thể đi theo linh hồn của nạn nhân tới Acheron.
 
- Hết nạn nhân này tới nạn nhân khác, hắn nghĩ là có thể đi ngược dòng sông chết, đi qua chín tầng địa ngục để đến với Dité ư? Brolin thốt lên, vẻ mặt lo lắng.
 
- Một nạn nhân trong rừng vì đó là nơi khởi đầu chuyến du hành của Dante, hắn cần một nạn nhân khác cho tầng thứ nhất và tiếp tục như vậy tới tận Dité. Em biết điều này là khó hiểu, nhưng rất trùng hợp!
 
- Có lý, thậm chí là rất có lý, Brolin đồng tình. Hắn giết người để vượt qua một đoạn đường, linh hồn của nạn nhân đi về phía sông Acheron để tới trung tâm Địa ngục. Có lẽ hắn cho rằng có thể đi theo nó, hoặc có lẽ hắn muốn trả lộ phí như lộ phí mà người ta trả để tới thế giới bên kia.
 
Chuông điện thoại reo. Brolin lặp lại động tác như lần trước và chuyển cuộc gọi sang chế độ fax.
 
- Điều em muốn biết là tại sao hắn lại muốn tới chỗ Dité, thần Ác? Juliette nói. Kẻ giết người có thể có loại ảo ảnh nào để cảm thấy thích thú với ý nghĩ tới gặp hiện thân của cái Ác?
 
- Phải chăng hắn tự cảm thấy mình là cái ác? Brolin hỏi. Dù sao cũng chúc mừng em, đây là một việc làm rất tốt. Cô sinh viên tâm lý học, đúng không?
 
Juliette cảm thấy hai má ửng đỏ.
 
- Em chuẩn bị đi sâu vào chuyên ngành tâm lý tội phạm, cô giải thích. Chuyện này có thể giúp ích cho em…
 
Nghĩ tới chuyện mình tỏ ra không thân thiện mấy hôm trước, Brolin cảm thấy hối hận và cắn môi. Đó là ngoài ý muốn của anh, anh có thể khép mình lại với thế giới trong vài phút để chìm đắm trong vũ trụ đáng ghê sợ của nghề nghiệp và từ lúc đó, tất cả những thứ còn lại biến mất. Cô hẳn đã rất khó khăn mới tìm được nguồn gốc trích dẫn của lá thư và đi đến những kết luận này. Hơn nữa, cô đã làm điều đó vì lòng vị tha, cô biết mình sẽ không được lợi ích gì trực tiếp cả. Brolin đứng dậy nắm tay cô.
 
- Anh rất tiếc nếu em cảm thấy anh tỏ ra xa cách hôm thứ Ba vừa rồi, anh biết là trong chuyện này, em cần được ủng hộ và anh không đủ khả năng trong chuyện này. Anh hứa sẽ khắc phục, anh sẽ làm mọi việc có thể….
 
Cánh cửa phòng đột ngột mở ra, như bị tác động của một vụ nổ. Larry Salhindro bất ngờ xuất hiện trong phòng.
 
- Cậu làm cái gì thế, tôi gọi cho cậu mãi….
 
Ông ngừng lại vì nhìn thấy Juliette, và Brolin đang cầm tay cô gái.
 
- Rất tiếc vì đã làm phiền các bạn, nhưng phòng đại úy đang náo động…
 
Salhindro ngập ngừng trước mặt Juliette, rồi ông nói tiếp vì cho rằng với tư cách là người liên quan, cô có quyền biết:
 
- Chúng ta vừa nhận được một lá thư nữa của Quạ. 
Sự đời cà khịa cái chơi
Khi vui muốn khóc, khi cười buồn tênh!
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2011-07-12 10:33:10Soccon>
Chương 30
 
Những cảm xúc trái ngược xen lẫn nhau trong đầu óc và thân thể Brolin. Sự pha trộn giữa sảng khoái khiến anh nhẹ nhõm, và lo lắng khiến anh trầm xuống. Biết rằng không thể tham dự cuộc họp, Juliette đã đưa tất cả các ghi chép của mình cho Brolin để anh trình bày trước nhóm điều tra và đề nghị anh báo cô biết tình hình ngay khi có thể. Cô ngại ngùng, giống như bị treo lơ lửng trong không khí, rồi đặt một nụ hôn lên má Brolin trước khi biến mất về phía thang máy. Xét cho cùng thì chẳng phải gì ghê gớm cả, chỉ là một cử chỉ dịu dàng, cử chỉ của một cô bạn gái đối với một người mà cô ấy quý mến; nhưng nụ hôn đó làm nảy sinh trong Brolin cảm giác vô cùng ấm áp. Cảm giác ấm áp ấy nhanh chóng chìm vào mồ hôi lạnh và nỗi lo vì lá thư mới của Quạ.
 
- Quạ, từ nay chúng ta thống nhất gọi hắn như thế, đã gửi cho chúng ta một lá thư nữa, đại úy Chamberlin mở đầu cuộc họp.
 
Sĩ quan Lloyd Meats, cấp phó của ông, Bentley Cotland và cả Salhindro đều có mặt trong phòng của đại úy. Brolin từ chối cốc cà phê mà Salhindro đưa cho anh.
 
- Thư mới tới sáng nay, đại úy Chamberlin nói tiếp. Giống như thư trước, nó cũng được đánh trên máy vi tính bằng font chữ Times New Roman trên giấy rất bình thường. Không phát hiện được một loại sợi nào, chỉ có những vết đỏ đã khô trên giấy. Giống như thư trước, nó cũng được gửi tới trưởng bộ phận điều tra hình sự, tức là tôi, và tôi đã mở nó khi tôi tới đây sáng nay. Vừa mới nhận ra lá thư, tôi mời ngay Craig Nova ở phòng bên cạnh tới để xem xét. Tôi đã chép lại nội dung, sau đó anh ấy đi tới phòng thí nghiệm để phân tích các vết đỏ và đưa bản gốc qua hơi iode. Craig vừa gọi cho tôi, anh ấy khẳng định nó là máu khô, kết quả đầu tiên cho thấy đây là máu thuộc nhóm A âm tính. Nạn nhân trong rừng thuộc nhóm máu B âm tính.
 
Một cảm giác khó chịu quỷ quái xâm chiếm cả năm người, sự khác biệt về nhóm máu hàm chứa điều hiển nhiên bi thảm nhất.
 
- Về dấu vân tay, ông nói tiếp, không tìm thấy vết nào trên lá thư trước, vì vậy khó có khả năng lần này hắn để lại dấu vết.
 
- Nội dung thư là gì? Brolin hỏi.
 
Anh biết lá thư này hoàn toàn có thể khẳng định giả thiết của Juliette hoặc bác bỏ giả thiết đó. Anh nghẹt thở khi nghĩ rằng cô có thể đúng.
 
- Vâng, đây là nội dung hắn viết cho chúng ta, tôi đọc:
 
“Qua ta có một con đường,
Dưới những lời của ta ẩn giấu cánh cửa, 
Dẫn những kẻ mù tới niềm tin,
Và các nhân chứng của người dẫn đường tới người chết.
Vực tối đen, sâu thẳm, mịt mù,
Chúng ta xuống đó, đi vào thế giới mù,
Ta đi đầu, ngươi là người kế tiếp.
Trong tầng đầu tiên bao quanh bờ vực.
Không biết la hét, chỉ toàn tiếng thở dài.”

 
Đại úy Chamberlin cố nén hơi thở như để không hít không khí độc hại mà những từ này tỏa vào mũi ông. Tất cả mọi người chăm chú nhìn ông, lo lắng. Tất cả, trừ Brolin đang giở liên tục một cuốn sách đặt trên đầu gối
 
- Còn mù mịt hơn cả lá thư thứ nhất! Salhindro thốt lên. Hắn muốn gì mới được chứ? Khinh thường chúng ta ư?
 
- Không.
 
Tất cả đều hướng về phía Brolin.
 
- Hắn muốn chúng ta cùng đi chung đường với hắn. Hắn sẽ chẳng là gì cả nếu không có nhân chứng, vì thế hắn hướng dẫn chúng ta đi theo bước chân hắn, hắn muốn chúng ta đi theo hắn suốt cuộc tìm kiếm của hắn. Juliette Lafayette đã tìm thấy chìa khóa của bức thư. Đó là tác phẩm Thần khúc của Dante.
 
Meats, Salhindro, Chamberlin và cả Bentley Cotland đều tròn mắt.
 
Brolin dùng ngón tay trỏ đập đập vào một trang của cuốn sách.
 
- “Vừa tối đen, sâu thẳm, mịt mù”, anh đọc. Đây là Khúc IV của phần “Địa ngục”, tầng thứ nhất.
 
- Anh nói rõ hơn đi, Chamberlin yêu cầu.
 
- Quạ có lẽ không phải là kẻ giết người, nhưng chính hắn điều khiển kẻ giết người. Hắn là bộ não và có trong tay một kẻ chuyên thực hiện hành vi chết chóc. Mỗi lần, Quạ lại trích dẫn một đoạn khác nhau từ “Địa ngục” của Dante, Juliette cho rằng hai con người đó cố gắng đi ngược dòng sông chết để tới trung tâm của cái Ác.
 
- Gì cơ? Salhindro kêu lên.
 
- Chúng giết người để đi theo linh hồn nạn nhân dọc theo sông Acheron, sông chở người chết, để tới chỗ Dité, thần Ác.
 
- Những chuyện vớ vẩn này là gì thế? Chamberlin ngạc nhiên.
 
- Tôi nghĩ là Juliette phán đoán đúng, hung thủ và Quạ sẽ giết người ở mỗi tầng trong số chín tầng của Địa ngục. Chúng trả nợ và đi theo linh hồn nạn nhân, sau mỗi lần chúng lại tiến được gần hơn một chút với thứ mà chúng tìm kiếm.
 
- Thật phi lý! Cotland nổi nóng. Cảnh sát lại đi nghe những lời huyên thuyên của một sinh viên đang cần quảng cáo bản thân từ bao giờ thế?
 
- Anh không biết Juliette, vậy thì đừng có nói! Brolin phản ứng lại ngay mà không cần ý tứ.
 
Bentley Cotland giận dữ nhìn anh, cố tìm cách đáp lại đến nơi đến chốn nhưng không nghĩ ra.
 
- Joshua, anh là chuyên gia về tâm lý học tội phạm ở đây, đại úy Chamberlin nói. Anh nghĩ thế nào?
 
Brolin giơ tay cho mọi người xem những ghi chép của Juliette.
 
- Câu trả lời nằm trong nội dung cuốn sách và Juliette đã cảm nhận được nó. Có thể cô ấy chỉ là một sinh viên, nhưng cô ấy đã cận kề sự điên dại, dù chúng ta muốn hay không thì cô ấy cũng cảm nhận được điều đó mà loại tội phạm này có thể đã trải qua.
 
Anh gật đầu.
 
- Cô ấy có lý, anh nói tiếp. Có thể chúng giết người ở mỗi tầng trong số chín tầng địa ngục, giống như các ẩn dụ trong một đoạn thơ, mở một cánh cửa bằng cách giết một mạng người. Chúng đã đi ngược dòng sông Acheron.
 
- Nhưng để tới đâu? Meats hỏi, từ đầu tới giờ anh vẫn chưa phát biểu. Giết phụ nữ như vậy chẳng đi tới đâu cả! Không có cánh cửa thực nào, không có thần Ác nào ở cuối con đường!
 
- Không thực sự có, Brolin diễn giải, nhưng trong ảo ảnh mà chúng tự tạo ra lại đúng là như thế. Chúng phải tiến hành theo một kiểu nghi thức, có thể chúng thờ quỷ Satan hoặc không, chúng tưởng tượng mình đi ngược dòng sông Acheron theo từng linh hồn, tiếp tục giết thêm người. Nguy cơ là ở chỗ chúng rất hăng hái, nhưng vì không có kết quả nào thực như anh vừa nói, nên chúng biến thành tàn bạo.
 
- Có nghĩa là thế nào? Cotland hỏi.
 
- Tôi vẫn chưa biết, tất cả mới là khả năng, chúng có thể dừng gây án, nhưng cũng có thể lao vào cơn điên giết chóc, trở thành những kẻ giết người hàng loạt, tàn sát tất cả những ai trong tầm ngắm của chúng trong một khoảng thời gian rất ngắn.
 
- Thế kiểu hành động này đã từng xảy ra chưa? Cotland tiếp tục hỏi vì không muốn tin rằng ngoài phim ảnh ra, những chuyện như thế lại có thể có thật.
 
Brolin thở dài rồi nói thêm bằng giọng không âm sắc:
 
- Một kẻ điên cuồng đứng trên tháp bắn hạ mười sáu người bằng súng; một kẻ trầm cảm đi vào một nhà hàng rồi lia súng vào tất cả mọi người, sát hại nhiều gia đình; hay một kẻ nổ bom trong một rạp chiếu phim vào chiều thứ Bảy. Những thảm kịch này xảy ra thường xuyên, và thường thì chính Ngài Tất-cả-mọi-người xô đẩy trong cơn điên loạn. Nhưng hãy tưởng tượng khi hai con người kết hợp lại với nhau, hai kẻ tâm thần thất vọng cực độ, hãy tưởng tượng điều chúng có thể làm!
 
Chamberlin thêm vào:
 
- Những kẻ mà chúng ta đang đối mặt không sống và nghĩ như các anh và tôi, mà đó là hai kẻ có trường ý thức cũng như các giá trị đạo đức hoàn toàn khác.
 
Brolin xác nhận:
 
- Kẻ giết người kiểu này không thể có chút tình thương nào khi hắn từ từ đâm lưỡi dao vào họng nạn nhân, trong khi người ta hoàn toàn có thể khóc được nếu làm đau con mèo của mình. Nhận thức và cảm xúc của chúng không giống chúng ta.
 
Cotland giơ hai tay tỏ ý đầu hàng.
 
- Đồng ý, đồng ý… tôi hiểu rồi. Vậy chúng ta làm gì bây giờ?
 
- Lần này cũng vậy, hắn nhất định phải chuyển tới chúng ta một thông điệp, Brolin nhận xét.
 
Quay sang phía đại úy Chamberlin, anh hỏi:
 
“Anh có thể đọc lại lá thư được không?”
 
- OK… “Qua ta có một con đường, dưới những lời của ta ẩn giấu cánh cửa, dẫn những kẻ mù tới niềm tin, và các nhân chứng của người dẫn đường tới người chết.” Rồi đoạn in nghiêng: “Vực tối đen, sâu thẳm, mịt mù, chúng ta xuống đó, đi vào…”
 
- Đợi đã, Salhindro kêu lên. Anh đọc lại phần đầu đi.
 
Chamberlin đeo cặp kính hình bán nguyệt vào để nhìn rõ hơn trước khi mắt ông quá mỏi.
 
- “Qua ta có một con đường, dưới những lời của ta ẩn giấu cánh cửa, dẫn những kẻ mù tới niềm tin, và các nhân chứng của người dẫn đường tới người chết.”
 
Không nói gì, Salhindro nhảy phắt về phía chiếc điện thoại và vội vàng bấm một trong các số đã được ghi sẵn.
 
- Craig phải không? A, Carl. Craig có ở đó không? Ông hỏi. Vâng, tôi biết là anh ấy đang phân tích lá thư, hãy nói với anh ấy là cần tìm một loại mực vô hình. Bảo anh ấy tìm một thông điệp, không nhìn thấy bằng mắt thường, một thứ gì đó ẩn dưới nội dung lá thư.
 
Brolin hiểu ngay ra và vỗ tay vào trán trước sự ngây thơ của mình. “Qua ta có một con đường, dưới những lời của ta ẩn giấu cánh cửa…” Thông điệp rất rõ ràng, Quạ đã giấu một phần nội dung bằng một loại mực vô hình.
 
- Thật vô nghĩa! Meats kêu to, anh không thể hiểu nổi cơ chế của Quạ. Tôi cứ nghĩ là hắn muốn chúng ta trở thành nhân chứng cho các hành động của hắn cơ! Nếu như vậy thì tại sao lại giấu một nửa nội dung thư?
 
- Bởi vì hắn không muốn bị những kẻ ngu ngốc theo dõi, hắn muốn chúng ta phải xứng đáng, hắn kiểm tra chúng ta, hắn muốn biết liệu chúng ta có xứng đáng không! Brolin đáp. Nếu chúng ta nhầm, hắn sẽ quên chúng ta đi và sẽ chẳng còn thư từ gì nữa cả, chúng ta sẽ chỉ phát hiện ra – một cách vô tình – các xác chết sau sáu tháng mà thôi.
 
Họ xem xét tình hình khá lâu.
 
***
 
Ở tầng trệt tại phòng thí nghiệm của cảnh sát khoa học Portland, Craig Nova – chuyên viên tội phạm học – đặt điện thoại xuống. Anh nhìn vào tờ giấy hình chữ nhật nằm dưới quả chuông bằng thủy tinh hữu cơ. Anh rất thích thách thức kiểu này. Các đồ vật rõ ràng là thú vị hơn con người nhiều, người ta có thể khám phá chúng trong mọi lĩnh vực, phân tích đi phân tích lại cho tới khi phá vỡ được tất cả các bí mật của chúng, cho tới khi chúng không còn là bí ẩn nữa. Luôn luôn có một phương pháp, một phương thức khoa học để thu được cái mà người ta muốn, cuối cùng, mọi đồ vật đều hé lộ các bí mật của nó. Trong trường hợp xấu nhất, người ta có thể phải trải qua nhiều đêm trắng và được hỗ trợ bởi những yếu tố và con người có năng lực cao nhất, dù phải tạo ra một phương thức mới, cuối cùng người ta cũng luôn buộc được các đồ vật phải nói ra sự thật, điều mà chúng giấu kỹ bên trong. Khác hẳn với con người.
 
Trước khi Larry Salhindro gọi điện tới, Craig định sử dụng phương pháp làm thăng hoa các á kim hoặc kim loại bằng hơi iode, chúng sẽ bám vào các dấu vết có thể có. Mọi dấu vân tay hay vết lòng bàn tay sẽ hiện lên trên giấy. Nhưng giờ đây, khi đã biết cần tìm thứ gì, anh cảm thấy phương pháp này có nhiều rủi ro. Anh phải tìm ra một loại mực vô hình. Hơn mười hai năm thể hiện tài năng của mình trong ngành tội phạm học, Craig biết tác giả của các bức thư nặc danh có thể sáng tạo tới mức nào. Một khi không biết về loại mực được sử dụng, thì tốt hơn hết là không được mạo hiểm. Hơi iode hoàn toàn có thể xóa sạch hoặc làm biến chất một số loại “mực”, đây là một phương pháp phân tích chủ động, có nghĩa là ảnh hưởng trực tiếp lên văn bản, đối lập với các phương pháp thụ động là chỉ quan sát bức thư chứ không làm biến đổi nó.
 
“Tia laser Argon”, Craig tự thì thầm trong đầu. Tia laser Argon sẽ “phóng to” mọi dấu vết trên tờ giấy mà không làm thay đổi nó, lá thư vẫn được giữ nguyên.
 
Anh chỉnh lại bộ quần áo liền quần của mình – được thiết kế đặc biệt để không rơi ra bất cứ sợi vải nào – và đi găng trước khi cầm lá thư. Anh đi qua phòng thí nghiệm và bước vào một căn phòng tối. Cả một hệ thống máy móc phức tạp được đặt ở đây, bề thế, sáng bóng dưới ánh đèn yếu ớt và kiên nhẫn trong tiếng ù ù của hệ thống quạt gió. Craig đặt lá thư lên một tấm kính chống phản chiếu và đứng sau một chiếc bàn điều khiển. Anh chỉnh độ quét ở 500 nanomet rồi cho máy vận hành. Một chổi ánh sáng chụm bật ra ở góc 45o so với mặt lá thư, làm hiện lên tất cả các dấu vết chìm dưới dạng được phóng to.
 
Tiếng ù ù càng mạnh thêm và các dữ liệu nhanh chóng xuất hiện trên màn hình đặt trên bàn điều khiển. Một tia sáng xanh lục-lam làm hiện ra những đường cong và những nét không thấy được bằng mắt thường trên tờ giấy. Tia laser khiến một thứ mực trong suốt lấp loáng do hiện tượng phát quang. Một dòng chữ được viết dưới nội dung thư ban đầu.
 
Với nét chữ nguệch ngoạc, như được viết bởi một đứa trẻ mới tập viết, dòng chữ hiện ra trên màn hình.
 
***
 
Cuối cùng, chuông điện thoại cũng vang lên, Chamberlin nhấc máy, ông bật loa.
 
- Thấy rồi, Larry! Giọng nói mũi của Craig Nova vang lên trong loa. Tôi đã đưa bức thư qua tia laser Argon, độ quét 500 nanomet, tức là màu xanh lục-lam, và thấy hiện lên một dòng chữ khác do phản quang.
 
- Viết gì vậy?
 
- Không rõ lắm. Dòng chữ là “Gibbs 10”. Gã đó quả là điên, hắn viết bằng riboflavin của bã nhờn, do da tiết ra! Hẳn là hắn đã di một cái bút bi hết mực hoặc một mẩu nhựa lên da của một người rồi dùng nó để viết. Hắn sử dụng dịch tiết ra từ da người để làm mực!
 
- Chỉ viết thế thôi sao? Meats ngạc nhiên.
 
- Vâng. “Gibbs 10”.
 
- Có thể xét nghiệm gien từ cái chất ribofav… gì đó không? Salhindro hỏi.
 
- Có thể, bằng cách dùng PRC để nhân số lượng ADN lên, người ta có thể…
 
- Tôi không nghĩ chúng ta sẽ tìm ra ADN của Quạ mà sẽ tìm ra ADN của nạn nhân mới của chúng, Brolin nói.
 
- Sao anh lại nói thế? Bentley hỏi, mặt nhăn lại vì lo âu.
 
- “Qua ta có một con đường, dưới những lời của ta ẩn giấu cánh cửa, dẫn những kẻ mù tới niềm tin, và các nhân chứng của người dẫn đường tới người chết.” Nếu chúng ta không mù, thì chúng ta là nhân chứng và người chết nằm ở góc số 10 cắt phố Gibbs.
 
Brolin lại gần bản đồ Portland treo trên tường và đưa tay tìm số 10. Anh di xuống tới tận phía Nam thành phố, đằng sau bệnh viện cũ và chỉ ngón tay vào một chú dẫn về đường xá.
 
- Trong một tòa nhà của công ty thoát nước, anh nói: cửa vào cống.
Sự đời cà khịa cái chơi
Khi vui muốn khóc, khi cười buồn tênh!
0
Chương 31
 
Lốp xe cảnh sát lạo xạo khi vượt qua bệnh viện Shriners. Brolin cảm thấy tim mình đập mạnh trong lồng ngực. Họ đã ở rất gần. Họ đi trên phố Gibbs cho tới ngã tư cắt phố số 10 , rồi Salhindro đi chậm lại. Khu này gồm nhiều nhà vườn nhỏ bỏ không, ở đó, giữa những bụi cây nhỏ nhô lên một ngôi nhà một tầng không cửa sổ. Một tấm biển cho thấy đây là khu vực nguy hiểm cấm vào. 
 
Salhindro định quay xe lại thì Brolin đặt tay lên vai ông.
 
- Anh đỗ lại ở đây. Nếu bên trong có cái mà tôi nghĩ, và nếu tôi đánh giá đúng hung thủ, thì hắn sẽ không liều lĩnh chở cái xác mà không che đậy gì tới tận ngôi nhà này. Không phải khu vực nhà vườn như ở đây. Hẳn là hắn phải đỗ xe trước cổng.
 
Đang quan sát kỹ con đường mấp mô, bỗng Bentley quay về phía anh thanh tra.
 
- Mặt đường không phải là đất, mà là nhựa đường, anh hy vọng tìm ra chỉ dẫn gì từ đây?
 
- Làm sao mà biết được, đầu mẩu thuốc lá, vân tay, vết máu, có thể tìm thấy bất cứ thứ gì.
 
Không nói gì thêm nữa, Brolin ra khỏi xe khi xe của Lloyd Meats đỗ lại đằng sau họ. Cấp phó của đại úy trề môi khi thấy ngôi nhà của công ty thoát nước.
 
- Thật đáng sợ. Anh nói qua khe môi.
 
Salhindro cầm lấy bộ đàm trong xe.
 
- Trung tâm, đây là đơn vị 4-01, mã số 10-23. Chúng tôi thực hiện 10-85.
 
Trong nội bộ cảnh sát Portland, mã số 10-23 có nghĩa là đơn vị đang ở hiện trường và 10-85 có nghĩa là đơn vị sắp triển khai khám nghiệm an ninh hiện trường. Mã số 10-85 thường được sử dụng khi các cảnh sát vừa mới tới một nơi nhạy cảm và họ không biết liệu kẻ tấn công, kẻ giết người hay tội phạm nào khác đang có mặt ở đó hay không. Đây là một tín hiệu cảnh báo sớm, nếu không nhận được tin tức trong vòng năm phút sau đó, trung tâm sẽ cử đội ngũ tăng cường đến với mã số tối cao: tình huống 10-0, người đang gặp nguy hiểm. 10-0 là mã số có khả năng biến đội ngũ cảnh sát thành anh em chỉ sau vài giây.
 
- Đã nhận 4-01, hãy thận trọng.
 
Chiếc xe thứ ba mà họ đang chờ đợi nhanh chóng tới nơi. Craig Nova cùng với các trợ lý của mình là Scott Scacci và một người tên là Paul Launders chui ra khỏi chiếc xe chất đầy vali bằng nhôm.
 
- Craig, tôi muốn anh xem xét tỉ mỉ con đường dẫn tới ngôi nhà, ít nhất là đoạn cuối trước cửa vào, có khả năng hung thủ đã đỗ lại ở đó một lúc, Brolin giải thích.
 
Craig Nova gật đầu và quay về phía trợ lý của mình, anh này cũng gật đầu rồi đi về phía sau xe lấy ra hai chiếc vali to, mặt trên vali phản chiếu ánh mặt trời buổi trưa gay gắt. Craig đưa cho Brolin một bộ áo liền quần màu trắng được thiết kế đặc biệt để không làm rơi ra bất cứ sợi vải nào có thể làm nhiễm bẩn hiện trường vụ án. 
 
- Hãy đưa một bộ cho Larry, anh ấy sẽ cùng vào với chúng ta, Brolin nói.
 
- Thế còn tôi? Bentley ngạc nhiên hỏi. Tôi cũng phải đi theo các anh, sẽ rất có ích cho tôi.
 
Brolin nghiến răng, “rất có ích cho tôi, anh làu bàu nhắc lại. Mọi thứ đều khiến người ta nghĩ rằng sắp phát hiện ra cái xác của một phụ nữ bị giết, còn hắn ta chỉ nghĩ đến khía cạnh có ích cho hắn!” Là đứa con ông cháu cha được Piston SA thả dù vào vị trí chưởng lý dù không có tí tư chất nào, Bentley Cotlandland xuất hiện đột ngột trước mắt Brolin như một kẻ thiểu năng trí tuệ luôn muốn ngoi lên với nụ cười ác thú. Anh thanh tra thầm tin rằng con đường công danh của Bentley sẽ không bao giờ cân xứng với cái tôi của anh ta và vì thế anh ta sẽ càng nguy hiểm hơn, sẽ trở thành con cá mập tham lam bị thất vọng, vì thế trở nên tàn ác. Nhưng anh ta quá kém cỏi, ngay cả với ô dù che đỡ, để có thể được chấp nhận một cách lâu dài trong các tầng lớp cao ở chính quyền.
 
Biết là Brolin đang tức điên lên, Salhindro giải thích trong khi xỏ các túi nhựa bảo vệ giày.
 
- Càng ít người thì càng ít làm nhiễm bẩn hiện trường.
 
- Nhưng…
 
Bắt gặp ánh mắt Brolin, trợ lý chưởng lý im lặng.
 
- Tốt nhất là anh hãy giúp thanh tra Meats quây một sợi dây an ninh ở lối vào từ phía đường.
 
Bentley Cotland thở dài rồi khó nhọc gật đầu.
 
Brolin, Craig Nova, Scott Scacci đứng trên bậc cửa ngôi nhà. Họ đã quan sát con đường từ bãi cỏ và xem xét kỹ lưỡng mặt đất để tìm kiếm những chỉ dẫn đặc biệt tới tận chỗ cánh cửa sắt. Sau lưng họ, Paul Launders chậm chạp tiến lên từng ba mươi centimet một, mũi gí chặt xuống đất, anh lấy được vài mẫu phẩm trên mặt đường và trong các ổ gà làm trơ lớp nền của con đường. Đằng xa, Lloyd Meats, với sự giúp đỡ của Bentley, đang chăng một dải băng màu vàng để quây khu đất lại và tiếp quản vai trò liên lạc với trung tâm. 
 
Craig đặt chiếc hòm nặng xuống bên cạnh và lấy ra chiếc đèn Polilight. Nó trông giống như một loại máy hút bụi nhỏ gọn, giống tới mức có cả một ống mềm dài.
 
- Kể từ bây giờ, các anh không được bỏ găng tay ra nữa và chỉ đặt tay vào những nơi mà tôi đã chiếu đèn Polilight, Craig nhắc nhở, anh lấy từ trong hòm ra ba cặp kính cứng rồi đưa cho các đồng nghiệp của mình.
 
Brolin cũng như Salhindro biết rất rõ các bước quy định. Đèn Polilight là một công cụ chủ yếu của cảnh sát khoa học, nhưng ánh sáng của nó mạnh đến mức có thể làm thương tổn võng mạc nếu võng mạc không được bảo vệ bằng một loại kính đã qua xử lý đặc biệt.
 
Craig bật đèn và tiếng ù ù của hệ thống thông gió nổi lên. Polilight là loại đèn phát ra ánh sáng đơn sắc với bước sóng có thể thay đổi, từ cực tím đến hồng ngoại, làm phát sáng các protein có trong máu, tinh dịch hoặc cả những lớp biểu bì, tức là vân tay. Khi chiếu chùm ánh sáng cực mạnh lên nền đất hoặc một địa điểm khả nghi, người ta sẽ thấy hiện ra ngay lập tức những gì mà vài giây trước đó còn rất khó thấy bằng mắt thường.
 
Trước cửa vào là nền sỏi nên không thể tìm thấy vết chân nào. Craig chiếu đèn Polilight lên cánh cửa rồi tay nắm cửa. Không có kết quả.
 
- Nếu có ai mới tới đây, chắc hắn ta có đeo găng, Craig thất vọng đứng dậy.
 
- Dấu vân tay có thể tồn tại bao lâu trên một bề mặt cứng trước khi biến mất? Brolin hỏi.
 
- Về mặt lý thuyết, có thể hàng tuần, thậm chí hàng tháng nếu không muốn nói lâu hơn nữa, với điều kiện phải bảo quản chúng khỏi mọi nguồn gây xói mòn, ánh sáng và nhiệt, vì các yếu tố này phá hủy protein của vết tay. Trên cánh cửa, tôi nghĩ rằng với các điều kiện thời tiết bên ngoài, không thể nào phát hiện được dấu vết sau vài ngày. 
 
Scott vừa xem ổ khóa, anh gật đầu.
 
- Khóa đã bị phá. Rất khéo, nhưng có vết đục trong ổ, anh nói.
 
- OK, vào thôi. Không biết chúng ta sẽ tìm thấy gì bên trong, nhưng đúng là nếu có một nạn nhân khác thì tôi không muốn mất thêm thời gian, Brolin vừa nói vừa tiến lại gần cánh cửa.
 
- Anh có nghĩ là nạn nhân có thể còn sống không? Craig hỏi, lần đầu tiên anh đánh mất vẻ mặt vui tươi thường ngày.
 
- Tôi không biết, Meats đã gọi xe cứu thương, chắc là xe sắp tới, chúng ta chẳng thể biết được.
 
Brolin đặt tay lên tay nắm cửa và xoay.
 
Cửa không bị khóa nữa.
 
Vì lý do an toàn, anh thanh tra trẻ rút khẩu Glock ra khỏi bao và bước vào đầu tiên. “Mặc kệ dấu vết”, anh nghĩ.
 
Bàn chân anh dẫm vào khoảng đen và người anh biến mất trong căn phòng.
 
Vài giây sau, một đám mây ẩm ướt quấn chặt lấy anh, từ bóng tối phát ra một tiếng kêu thảm thương.
Sự đời cà khịa cái chơi
Khi vui muốn khóc, khi cười buồn tênh!
0
Chương 32
 
Juliette ngồi trên tàu điện.
 
Trước mặt cô, hai chàng trai trẻ đang thì thầm bàn luận, đưa những ánh mắt không mấy tế nhị về phía cô. Họ để ý ngay đến sắc đẹp của cô và rất hy vọng nhấn chìm được nếu không phải tâm hồn thì cũng là bản năng giới tính của họ và đôi mắt màu saphir của cô. Anh chàng có vẻ tự tin hơn thậm chí còn gửi tới cô một nụ cười chết người – nụ cười mà anh ta cho là số một trên bậc thang quyến rũ – kèm theo một cái nháy mắt.
 
Juliette không nhìn họ, mắt cô chăm chú nhìn phố xá lướt qua sau ô cửa kính. Thế nhưng cô không hề để ý đến phong cảnh, tất cả trí óc cô tập trung vào cuộc nói chuyện sáng nay với Brolin. Và nội dung bức thư.
 
“Chúng có hai người, cô tự nhắc lại với chính mình. Quạ và kẻ giết người. Giống như một câu chuyện ngụ ngôn cổ của Pháp”, cô ngạc nhiên với ý nghĩ này.
 
Tàu điện MAX Light Rail chạy trên Phố Số Một, qua một loạt quán nơi sinh viên thường ngồi bàn luận qua cốc cà phê nóng, các nhà hàng với ánh sáng lờ mờ hay các cửa hiệu treo biển “HẠ GIÁ” giống như tấm áp phích quảng cáo phim, nhưng Juliette không thấy những lời mời gọi này. Cô chỉ nghĩ tới vụ giết người khủng khiếp đó.
 
Theo lời giải thích của Brolin, kẻ giết người bắt chước cách hành động của Leland Beaumont nhưng kém hoàn thiện hơn. Như thể hắn không đủ khả năng. Thế nhưng hắn đã chứng tỏ hắn biết phương pháp hành động đó, mặc dù không đủ mạnh để hoàn thiện nó như “hình mẫu” của mình. Bằng cách này hay cách khác, kẻ giết người hoặc Quạ đã từng quen Leland Beaumont. Và từ những gì cô biết về Leland, thì đó là một con người cô độc, có rất ít bạn bè. Brolin đã thử tìm hiểu theo hướng đồng nghiệp cùng nơi làm nhưng không có kết quả. Leland bị coi là kẻ kỳ dị, “nói những chuyện khó hiểu về ma thuật”, Joshua kể lại với cô như thế. Vậy còn lại là gì? Gia đình.
 
Nhưng hắn chỉ có một mình. Là con một, mẹ chết đã năm năm, bố hơi ngây ngô, hắn không có gia đình.
 
Ai có khả năng quen biết Leland Beaumont?
 
Và bằng cách nào mà hai đầu óc tâm thần ấy, kẻ giết người và Quạ, lại có thể liên kết với nhau trong ảo ảnh bệnh hoạn này? Làm thế nào mà hai con người lại nói với nhau về cái chết và quyết định kết hợp với nhau để giết người.
 
Trong đại đa số trường hợp, một người nuôi dưỡng những xung năng gây tội ác thường không dễ gì tâm sự với người khác. Thế nhưng chúng nhất định phải nói với nhau về điều này thì mới phát hiện ra thú đam mê chung đó.
 
Juliette tìm kiếm câu trả lời, nhưng lại thêm câu hỏi hiện ra.
 
Làm thế nào mà hai con người lại có thể quyết định kết hợp với nhau để giết người mà không có bất cứ động cơ nào?
 
Trước mặt cô, hai “mẫu chuẩn” tiếp tục cười phá lên và làm nhiều điệu bộ thu hút sự chú ý của cô.
 
Hai người: hai đầu óc điên rồ gặp nhau và cùng nhận ra niềm đam mê chung: giết người. Nếu không quen nhau, làm thế nào mà cả hai người lại có cơ hội nói chuyện với nhau và tâm sự về những dự định bệnh hoạn, mỗi người đều tin chắc rằng người kia không chạy đi báo cảnh sát khi nghe những lời ám chỉ việc phạm tội dù là nhỏ nhất?
 
Trừ khi chúng biết rõ rằng cả hai đều là những kẻ giết người.
 
Nhưng người ta có thể tìm thấy những kẻ giết người hàng loạt ở đâu, hai tư trên hai tư giờ?
 
Juliette đột nhiên quay về phía hai thanh niên trước mặt. Những tràng cười im bặt ngay lập tức.
 
Ánh mắt xanh lơ nhạt của cô nhìn thẳng vào đồng tử của kẻ thích quyến rũ đang tưởng rằng mong muốn của hắn đã thành hiện thực. Nhưng hắn không nháy mắt mà ngượng ngùng cụp mắt xuống.
 
Juliette cảm nhận thấy một hướng đi, một yếu tố của cuộc điều tra mà Brolin đã xử lý nhưng quá vội vã, hoặc có lẽ ít để ý tới.
 
Người ta có thể tìm thấy những kẻ giết người hàng loạt ở đâu, hai tư trên hai tư giờ?
 
Câu trả lời quá hiển nhiên khiến một nụ cười tức giận hiện ra trên môi cô.
 
Trong tù.
 
Cô xuống tàu điện ở bến tiếp theo và lao thẳng lên chiếc xe vẫn chạy theo sau tàu điện từ khi cô lên tàu. Bên trong, hai sĩ quan cảnh sát đang làm nhiệm vụ theo dõi để bảo vệ cô đưa mắt nhìn nhau rồi tự hỏi không biết tiếp theo họ sẽ phải làm gì đây.
Sự đời cà khịa cái chơi
Khi vui muốn khóc, khi cười buồn tênh!
0
Chương 33
 
Brolin đứng một cách tự tin và chĩa khẩu Glock về phía trước và quét căn phòng bằng vài động tác khua tay về bên phải rồi bên trái. Hơi ẩm ngột ngạt lướt trên quần áo anh giống như một bàn tay vô hình rồi luồn vào áo len và sợi quần jean. Tiếng ầm ầm của một chiếc máy bơm vọng tới từ đâu đó trong bóng tối giống như một người gác cổng dữ tợn.
 
- Larry, chiếu đèn lên đi. Brolin thì thầm.
 
Ngay lập tức, chiếc đèn Mag – Lite của Salhindro bật sáng và ông bước vào bên cạnh anh thanh tra.
 
- Chúng ta chết ngạt trong kia mất! Ông rên lên.
 
- Cống ngầm mà, Larry…
 
Căn phòng nơi họ đang đứng trải rộng trên toàn bộ diện tích của ngôi nhà. Không một cửa sổ, bóng tối bao phủ hoàn toàn, và cùng với mùi cống, các máy bơm đang hoạt động làm bốc lên một lớp hơi nước dày đặc nóng hổi. Các bức tường nhỏ nước vì ẩm.
 
Craig Nova đứng ở cửa nhìn lướt qua và lắc đầu.
 
- Vân tay ư, không dễ đâu, anh nói to hơn dự định.
 
Brolin khoát tay ra hiệu im lặng.
 
- Anh cứ đứng ở đấy, Larry và tôi đi kiểm tra căn phòng. Anh không được vào chừng nào chúng tôi chưa xác nhận là ngôi nhà an toàn, anh thì thầm. Đưa cho tôi một cái đèn.
 
Craig Nova đưa đèn cho anh rồi lùi lại một bước.
 
Brolin tiến về bên phải, còn Larry Salhindro tiến về bên trái. Các động tác của họ nhanh gọn và chính xác, họ chỉ tiến về phía trước khi nấp sau đống máy móc. Tay trái cầm đèn, cẳng tay đặt trước ngực như để tự vệ, còn tay phải cầm vũ khí tựa vào cổ tay trái. Đúng bài bản. 
 
Dần dần, họ thấy các máy bơm, van, hệ thống đường ống bẩn thỉu và các tấm biển báo. Họ đến gần cuối căn phòng, không khí càng nặng hơn, phải cố gắng mới thở được. Mùi amoniac bắt đầu bay tới họ khiến Brolin rùng mình ngay lập tức. Anh biết rằng một cái xác đang phân hủy bốc lên mùi amoniac khá mạnh ở một giai đoạn nào đó của quá trình thối rữa.
 
Nhưng các miệng cống cũng ngập trong hỗn hợp amoniac khử trùng.
 
Anh thở mạnh hơn, tiếng thở phát ra to hơn.
 
“Nếu hung thủ còn ở đây, anh tự nhủ, mình phải bảo vệ cánh tay trái khi va đập, hoặc mình sẽ bị trật khớp vai.”
 
Vì vết thương ở xưởng phá dỡ xe, nên đầu xương cánh tay trái trở nên dễ bị thương tổn và có thể bị trẹo khi va đập hơi mạnh. Và Brolin biết điều đó, mặc dù thường là nhẹ thôi, nhưng nó khiến anh kém nhanh nhẹn hơn kẻ khác và có thể đồng nghĩa với việc nhận một viên đạn vào giữa đầu trong những giây tiếp theo.
 
Bộ áo liền quần đặc biệt mà họ mặc để tránh gây sai lệch hiện trường vụ án lại không giúp họ giữ được bí mật. Nhất là các túi nhựa bao quanh giày.
 
Phía trước họ, một luồng hơi nước phụt lên khiến họ cùng giật nảy mình. Brolin mừng vì đi cùng với anh là một người dày dạn kinh nghiệm. Một lính mới dễ bị kích động hơn có lẽ đã bóp cò súng ngay cả trong trường hợp nhẹ nhàng hơn thế.
 
Chìm sâu trong bóng tối đầy hơi nước và ồn ào, hai người chỉ có trong tay những chiếc đèn huỳnh quang là công cụ dẫn đường duy nhất. Họ bước thận trọng như hai thợ mỏ lạc trong một rừng thép, giữa mù mịt hơi nước bốc mùi kinh tởm.
 
Cô gái hiện ra ở chỗ ngoặt của bàn điều khiển van.
 
Trần truồng, nằm sóng xoài, cô nhìn Brolin bằng ánh mắt cầu khẩn. Nét mặt hằn lên nỗi kinh hoàng khủng khiếp. 
 
Trán cô chỉ còn là vết đen rỉ máu.
 
Từ vị trí của mình, anh thanh tra trẻ chỉ thấy nửa trên của cái xác, anh thấy nạn nhân nằm ngửa, hai tay bị trói trên đầu, cánh tay giơ lên như để chỉ gì đó. Hai cẳng tay không bị cắt!
 
Nhận xét ấy – cho dù quá hiển nhiên – có ý nghĩa như một chiến thắng nho nhỏ trong tình huống rối loạn này, xét theo các thói quen của hung thủ. Brolin Brolin bật ngón tay để gọi Salhindro đang ở phía bên kia và chỉ cho ông một chỗ phẳng đằng trước ông. Nhận được tín hiệu, Salhindro đi vòng quanh từ phía sau lại.
 
Brolin chăm chú quan sát người phụ nữ nằm cách anh năm mét về phía trước.
 
Anh bước lên một bước.
 
Những dòng máu chảy từ hai bên vú bị cắt.
 
Ánh mắt người phụ nữ không rời Brolin.
 
Thêm một bước nữa.
 
Hơi ẩm làm lấp loáng những giọt nước trên phần bụng hơi phồng lên của cô.
 
Thêm năm mươi centimet nữa, Brolin gần như đứng ngang với cái xác, còn Salhindro tiến lại từ phía trước, thận trọng quan sát mỗi vùng tối.
 
Một cái đai bằng da móc vào da người phụ nữ ở phần hông, giống như một chiếc thắt lưng. Từ vị trí của mình, Brolin không nhìn rõ được, nhưng anh thấy hình như cái đai được gắn vào một lưới sắt trên mặt đất.
 
Một chiếc máy bơm cách đó vài mét bỗng khởi động, tiếng ầm ầm vang khắp căn phòng. Brolin siết chặt khẩu Glock để xua đi nỗi sợ.
 
Anh nhìn sâu vào mắt người phụ nữ vẫn đang quan sát anh với cách của một người nhìn cái chết trước khi nó tới.
 
Brolin cố gắng không để mình bị xáo động trước đống thịt nát ở nơi từng là trán của nạn nhân. 
 
Bước cuối cùng về phía người phụ nữ.
 
Và anh đã hiểu.
 
Tất cả nỗi kinh hoàng thể hiện trên nét mặt cô gái đông đặc lại trong trí óc Brolin.
 
Mắt người phụ nữ hướng về phía anh.
 
Hai tay bị trói.
 
Hông nằm trên nền đất.
 
Và hai cái hốc há miệng ở chỗ đùi.
Sự đời cà khịa cái chơi
Khi vui muốn khóc, khi cười buồn tênh!
0
Chương 34
 
Bác sĩ pháp y ngày càng mệt mỏi với công việc của mình. Ngoài biết bao nỗi kinh hoàng mà anh phải đối mặt qua năm tháng, anh còn phải chịu đựng những thay đổi thất thường ngày càng tăng của cảnh sát. Họ yêu cầu anh mặc bộ áo liền quần ra ngoài quần áo thường và tạm thời không di chuyển xác nạn nhân. Thế là anh chỉ khẳng định được điều mà tất cả mọi người đều biết: cô gái chết. Có lẽ trước đó khoảng 40 hoặc 50 giờ, vì tình trạng cứng của xác đã hầu như biến mất. Nhưng hiện tượng thối rữa vẫn chưa biểu hiện ra bên ngoài, trừ vết màu xanh lục ở bên trái rốn.
 
Brolin cúi xuống để vuốt mắt cho cô gái.
 
Trong những giây đầu tiên, anh cứ ngỡ cô còn sống. Khiếp đảm nhưng còn sống.
 
Brolin tưởng như cô gái nhìn theo anh, giống như nàng Joconde luôn nhìn vào mắt bạn dù bạn ở vị trí nào trong phòng.
 
Salhindro đã quay ra xe để báo cáo tình hình cho Lloyd Meats. Craig Nova và trợ lý của anh là Scott Scacci đi xem xét lại toàn bộ căn phòng. Với chiếc đèn Polilight trong tay, Scott Scacci quét chậm từ phía sau ra phía trước, từng bước một.
 
Craig Nova lại gần Brolin đang ngồi xổm cạnh cái xác.
 
- Anh cho phép tôi lấy dấu vân tay chứ? Anh hỏi.
 
- Anh cứ làm, nhưng đừng dịch chuyển cái xác.
 
- Tại sao anh lại nhất định không cho động vào cái xác? Chuyên gia tội phạm vừa hỏi vừa lấy trong hòm ra một bộ mực và giấy lấy vân tay. Tôi đã chụp các bức ảnh cần thiết
 
- Tôi tìm cách hiểu tất cả những gì nạn nhân nói với chúng ta.
 
Craig ngẩng đầu nhìn Brolin.
 
- Điều mà nạn nhân nói với anh ư? Anh vừa nói vừa chỉ vào cái xác.
 
Brolin gật đầu rồi đứng dậy. Anh bước chậm xung quanh cái xác, thi thoảng dừng lại và quay người quanh mình để phân tích các thứ xung quanh.
 
- Chúng ta đang đối mặt với những vụ án tình dục, anh nói. Chính những xung năng này nuôi dưỡng các ảo ảnh đồi bại của hung thủ. Đưa hắn tới chỗ giết người, có thể nói một cách đơn giản như vậy. Nhưng trong kiểu gây án này, kẻ giết người muốn nói điều gì đó. Dù ý thức hay không. Và thông điệp đó thể hiện trên nạn nhân.
 
- Anh muốn nói là kẻ giết người để lại điều gì đó cho chúng ta, một chỉ dẫn để tìm thấy hắn ư?
 
- Không phải theo cách đó. Thường là khó nhận ra hơn, nhất là khi kẻ giết người không có ý thức về việc này. Tên tội phạm giết người để thỏa mãn một ảo ảnh, vì thế hắn phải cố gắng hết sức để thực hiện ảo ảnh đó. Và cảnh tượng rùng rợn mà hắn để lại sau lưng là biểu tượng của thứ mà hắn tìm kiếm, thứ thúc đẩy hắn tới chỗ giết người. Chúng ta chỉ cần quan sát và nhận ra hắn nghĩ như thế nào, sau đó chúng ta sẽ hiểu được điều hắn muốn làm, muốn nói và thứ hắn tìm kiếm. Chẳng hạn cách đặt cái xác là một yếu tố quan trọng. Cũng giống như tư thế mà hắn đặt cái xác. Đây chính là điều khiến tôi quan tâm ở đây. Nhìn này, ngay cả cơn cuồng nhiệt qua đi, hắn vẫn không tìm cách trả lại phẩm cách cho nạn nhân, ngược lại, hắn để nạn nhân trần truồng ở vị trí đập vào mắt bất cứ người nào tới đây. Hắn không hề hối hận, mà ngược lại, hắn cực kỳ hận phụ nữ nói chung hoặc ít nhất là người phụ nữ trước mắt hắn.
 
- Nhưng tại sao anh lại muốn hắn hối hận, hắn đã giết người lần thứ hai, theo tôi đây không phải là loại người biết hối hận!
 
- Đừng sai lầm. Hãy tưởng tượng rằng anh rất, rất bị kích động bởi một phụ nữ, cô ta ngày càng khêu gợi anh hơn, cả hai cùng đùa giỡn, lâu lắm rồi anh chưa quan hệ với ai, anh chỉ có một ý nghĩ trong đầu: ngủ với cô ta. Cô ta không quá tuyệt vời cũng chẳng quan trọng. Cũng chẳng có gì quan trọng khi đó là một đồng nghiệp và anh đã thề là không lẫn lộn giữa tình cảm và công việc. Bị kích động, anh nhắm mắt lao vào cô ta vì cô ta tiếp tục khiến anh phát điên. Đó chính là đam mê. Thông thường trong trường hợp này, sau khi quan hệ tình dục, khi các xung năng đã được giải phóng, anh tự nhủ: “Khốn khiếp, lẽ ra không nên như thế, mình đã làm một trò ngu xuẩn. Nhưng làm thế nào mình lại đi đến chỗ này cơ chứ? v.v…”. Anh đã bị đam mê chi phối. Trước đó anh chỉ có một ý nghĩ: lao vào, mặc dù biết rằng không nên làm như vậy, chỉ một lần thôi, sau đó anh sẽ sáng suốt như trước.
 
Craig nở một nụ cười và gật đầu.
 
- Có thể nhìn nhận sự việc như vậy, anh đồng tình.
 
- Đối với kẻ giết người cũng thế. Chỉ có điều sự hưng phấn là cảm giác chính hắn tự tạo ra trong đầu mình, hắn không ngừng quay cuồng trong một giấc mơ bệnh hoạn, làm tăng sức ép của ham muốn trong hắn. Hắn nghĩ đến giấc mơ đó suốt nhiều tuần, nhiều tháng. Thậm chí nhiều năm. Nhưng hắn càng nghĩ, thì giấc mơ đó càng trở nên phức tạp và chính xác. Hắn càng sôi sục ham muốn. Vào một thời điểm nào đấy, hắn không thể kiềm chế được nữa, và giống như một cái nồi áp suất, hắn nổ tung khi chuyển sang hành động. Hắn sống đơn độc với giấc mơ này lâu tới nỗi đó là một ham muốn mà hắn muốn thực hiện một mình, không ai có thể hiểu được, và hắn không coi nạn nhân như một con người mà chỉ là công cụ phục vụ ảo ảnh của hắn. Sự phấn khích mạnh tới nỗi hắn không còn kiểm soát được bản thân, hắn nổi giận dữ dội. Nhưng khi đã thực hiện xong hành động, khi “quan hệ” đã kết thúc không bị các xung năng lấn áp nữa. Hắn ý thức rõ về tầm nghiêm trọng của nó. Chính lúc ấy sự hối hận có thể trỗi dậy. Cũng giống như nỗi luyến tiếc trong tâm trí anh. Nhưng hẳn là thực tế không được như mơ và hắn cảm thấy thất vọng. Vì thế hắn lại bắt đầu lại để được gần gũi hơn với sự hoàn hảo trong mơ, sự hoàn hảo mà hắn không bao giờ đạt tới và sẽ buộc hắn phải giết người và giết người thêm nữa... Nhất là khi hắn (Brolin chỉ vào nạn nhân), sau lúc hành động, không muốn phủ quần áo lên nạn nhân, ít nhất là che mặt hoặc thân thể nạn nhân. Không, hắn vẫn để nạn nhân trần truồng và phơi ra dưới mọi ánh mắt để nạn nhân bị sỉ nhục hoàn toàn.
 
“Hãy nhìn cái xác. Điều gì khiến anh bị sốc?”
 
Craig nhướng mày. Nhiều năm làm việc tại các hiện trường vụ án, anh đã khá quen với xác chết mặc dù không thích làm việc với chúng và sẵn sàng để lại công việc đó cho pháp y.
 
Anh cúi đầu xuống để quan sát cái xác.
 
Nạn nhân khoảng gần bốn mươi tuổi, người khá mảnh mai mà không gầy quá, thời gian cũng để lại trên người phụ nữ này những dấu ấn tương tự như trên tất cả mọi người, nhưng chắc chắn cô biết bảo vệ mình khỏi tác động đó bằng thể thao hoặc bằng chế độ ăn uống. Nỗi kinh hoàng hằn trên nét mặt cô, làm biến dạng khuôn mặt thành một vết nhăn khủng khiếp thể hiện sự van xin. Tuy vậy, có thể đoán được rằng cô đã từng rất xinh đẹp.
 
- Tôi không biết... rốt cuộc Craig thừa nhận. Cô ấy xinh xắn ư?
 
- Phải. Cũng giống như nạn nhân trước. Nhưng nhiều tuổi hơn, tôi nghĩ là hơn khoảng 15 tuổi. Hãy nhìn tư thế cái xác. Nằm, hai tay bị kéo lên trên đầu, nạn nhân chỉ cho chúng ta cánh cửa sập bịt ở dưới. Cửa vào cổng.
 
- Đúng thế, đúng là thẳng một đường.
 
Brolin hít một hơi dài toàn khí nóng.
 
- Nhưng vẫn chưa hết, anh nói. Hãy nhìn các vết cắt, họng của nạn nhân tím bầm. Lần này, kẻ giết người muốn tiếp xúc với nạn nhân, không dùng dao, không chỉ dùng bàn tay. Tôi tin chắc rằng hắn rất ghét phải đeo găng. Có lẽ hắn đã tháo găng rồi lau những dấu vết có thể lưu lại.
 
- Dù thế nào, chúng ta cũng chỉ có thể lấy vân tay trên da trong vòng sáu mươi phút sau khi tiếp xúc, cùng lắm là chín mươi phút, Craig nói cụ thể.
 
- Lần này, không có cơn điên dại quá đáng với nhiều nhát dao đâm như ta đã thấy ở nạn nhân đầu tiên. Lần này hắn làm chủ được bản thân. Nhưng chưa hoàn toàn, vì hắn vẫn không thể kiềm chế được việc cắt hai vú và có lẽ hắn cũng đã cắn vào đùi. Nhưng hãy nhìn xem, lần này nạn nhân rất sạch sẽ. Chỉ có một ít máu trên ngực và trên hông.
 
Brolin quan sát các hốc đầy máu ở vị trí hai đùi.
 
- Thế nhưng hôm nay hắn không lấy đi hai cẳng tay mà cắt hai cẳng chân. Hắn thay đổi chiến lợi phẩm.
 
Giọng nói đầy phấn khích của Scott Scacci kéo Brolin ra khỏi dòng suy nghĩ.
 
- Tôi tìm được một vết!
 
Craig và Brolin lao về phía người trợ lý đang chĩa đèn Polilight vào một thành ống.
 
Trên tấm biển đề “Van phụ 4” màu đỏ đã nhạt màu, chùm ánh sáng mạnh cho thấy một dấu vân tay rất khó nhận ra. Dấu vân tay của nhiều ngón tay.
 
Craig Nova cười hết cỡ. Đây đúng là chuyên môn của anh. Anh do dự trước nhiều chai lọ trong hòm và giải thích:
 
-Vấn đề là phải chọn đúng chất hiện hình. Trên một bề mặt cứng và không thấm nước như ở đây, chúng ta có thể sử dụng bột cácbon nếu bề mặt màu sáng hoặc bột nhôm nếu bề mặt màu sẫm. Nhưng với một vết ẩn trên bề mặt màu, dùng bột huỳnh quang sẽ tốt hơn.
 
Anh cầm lấy một lọ DFO và cẩn thận rắc bột nhờ một dụng cụ từ tính. Rồi anh chỉnh đèn Polilight đến chế độ chùm tia cực tím và đưa lại gần dấu vân tay.
 
Kết quả thật bất ngờ. Lớp bột ánh lên màu xanh ve phát quang rất rõ, làm hiện ra những vòng xoáy của vân tay dưới ánh sáng đơn sắc.
 
Vết vân tay sáng rực.
 
- Mẹ kiếp! Craig Nova thốt lên.
 
- Sao thế? Vân tay quá rõ, hoàn toàn có thể sử dụng được, Brolin nhận xét.
 
- Vấn đề không phải như thế. Anh có thấy hình tam giác nhỏ ở giữa vân tay không? Tất cả các rãnh tạo thành một hình lượn sóng xung quanh. Từ ngữ chuyên môn gọi đây là vòng cung hình túp lều. Cứ bốn mươi người thì chỉ một người có kiểu vân tay này, đây là kiểu vân tay hơi hiếm một chút.
 
- Thế thì sao? Vấn đề là gì?
 
- Tôi vừa lấy mẫu vân tay của người phụ nữ kia, và tôi thấy đó chính xác là những vòng cung hình túp lều. Một người trên bốn mươi người, cũng không phải là quá nhiều cho lắm, nhưng tôi sẵn sàng đánh cược rằng đây là vân tay của nạn nhân chứ không phải của hung thủ.
 
Brolin thở dài. Craig cầm lấy hai âm bản, một tấm màu đen trắng dưới ánh sáng mạnh – vì các bức ảnh màu làm giảm rất nhiều độ tương phản cần thiết để so sánh vân tay, tấm còn lại chụp bằng chiếc máy ảnh hồng ngoại thứhai của anh với phim có độ nhạy sáng 3200ASA.
 
- Này, mang đèn Polilight lại đây, Scott Scacci nói. Tôi nghĩ là đã tìm thấy cái gì đó.
 
Cả hai lao về phía người trợ lý. Ngay lập tức, đèn Polilight chiếu sáng một vết chân trên nền nhà.
 
- Tuyệt quá, Craig thốt lên. Scott, đưa máy tĩnh điện cho tôi.
 
Vài giây sau, Craig đặt một tờ giấy vuông giống như lá nhôm xuống nền. Brolin đã thấy cách làm kiểu này ở Quantico, nhưng anh không nhớ rõ tên gọi chính xác của sản phẩm.
 
- Tôi đặt tờ acetate cellulose lên vết chân và chúng ta sẽ có ngay hình chính xác của chiếc giày này, Craig giải thích.
 
Anh vừa đưa con lăn trên tờ giấy vừa sạc tĩnh điện nhờ một xilanh nhỏ nom rất giống dụng cụ châm lửa bếp ga.
 
“Xong rồi!” Anh thốt lên và dùng một chiếc kẹp cẩn thận đưa tờ giấy to vào phong bì. “Có đất trong vết chân, có thể giúp ích cho chúng ta.”
 
- Ở đây không còn dấu vết nào khác ngoài dấu vết của chính chúng ta, Scott thông báo sau khi kiểm tra kỹ hơn.
 
Brolin đứng dậy cách ra hai mét. Lối đi dẫn tới chỗ nạn nhân được làm bằng lưới sắt. Không một dấu vết nào lưu lại được trên đó. Thế nhưng vào một lúc nào đấy, kẻ giết người lại đi chệch lên một bệ đá. Chệch một bước chân.
 
Một bước về phía dấu vân tay.
 
Brolin tưởng tượng ra tình thế.
 
Anh thấy một người phụ nữ khó nhọc bước thẳng về phía trước, hai tay bị trói vào nhau. Đằng sau cô là cái bóng sẫm màu của một người đàn ông có vóc dáng thể thao, hắn chỉ đường cho cô đi qua bóng tối và đám hơi ẩm ướt. Cô không nhìn rõ, cái bóng sau lưng cô chỉ có duy nhất một chiếc đèn tích điện, cô đi rất khó khăn, hai chân co cứng lại vì sợ. Rồi cô trượt chân và bám vào bàn điều khiển – vì thế có vết vân tay – và cái bóng hiện ra, đặt một chân lên bệ đá để giữ cô lại hoặc kéo về phía sau.
 
Phải, sự việc hẳn đã diễn ra như thế, hoặc gần như thế.
 
Sau đó…
 
Sau đó hắn ra lệnh cho cô nằm xuống đất rồi thắt đai gắn xuống đất để cô không thể giãy giụa được.
 
Ở đó, hắn đã cắt cổ cô, hắn làm việc này rất từ từ để tận hưởng thời khắc đó. Có thể hắn dừng tay trước khi cô ngất xỉu. Hắn cắt hai vú của cô và thích thú khi cô đau đớn. Cô không bị nhét giẻ vào miệng, hắn không để ý đến những tiếng la hét của cô. Tiếng của nhiều máy bơm chạy và ngôi nhà nằm tách biệt trên một khu đất hoang đủ để hắn yên tâm và có đủ sự bình tĩnh cần thiết.
 
Cô không bị nhét giẻ vào miệng.
 
Và cô bước đi trước hắn.
 
Hắn không vác cô và không bịt miệng cô vì quãng đường quá ngắn và chắc chắn là hắn đã đỗ xe trước cửa và ngay lập tức đẩy cô vào đây.
 
Khi Borlin quay về phía Craig Nova để yêu cầu anh khám nghiệm tất cả bên ngoài đằng trước cửa vào, thì cửa mở ra và trợ lý thứ hai của Craig Nova xuất hiện. Paul Launders vừa mới quét qua con đường nhựa.
 
- Tôi vừa phát hiện hai vệt bánh xe rất rõ trên mặt đường, thưa xếp!
 
Craig Nova nhìn Borlin.
 
Như thế thì tức là anh sẽ sớm biết kẻ giết người sử dụng loại xe nào.
 
Sau khi lấy mẫu vết bánh xe, Craig Nova và đội ngũ của anh chui vào chiếc xe break của họ, trước đó họ không quên lấy mẫu đất trong bán kính một trăm mét.
 
Lloyd Meats lại gần Borlin. Đằng xa, xác nạn nhân bọc trong túi đen được đưa ra ngoài bằng cáng.
 
- Juliette gọi vào máy di động của anh. Cô ấy muốn biết liệu Leland Beaument đã từng đi tù chưa?
 
- Tại sao cô ấy lại muốn biết thông tin này? Borlin ngạc nhiên.
 
- Tôi không rõ, cô ấy nói là tò mò muốn biết.
 
- Và anh có thấy bình thường không khi bỗng dưng cô ấy tò mò?
 
Meast nhún vai.
 
- Tại sao lại không? Sau những gì mà tên khốn kiếp đó bắt cô ấy phải chịu đựng, cô ấy hoàn toàn có quyền đặt câu hỏi về hắn.
 
- Sau một năm ư?
 
- Nghe này, tôi không biết gì cả, tôi đã nói với Harper và McKenzie hai người đang giám sát Juliette là đưa cô ấy tới trụ sở đợi chúng ta. Ít nhất ở đó cô ấy được an toàn, anh cũng muốn như vậy đúng không?
 
Brolin lẩm bẩm lời đồng ý, Juliette không có thói quen bỗng dưng muốn biết. Anh cảm thấy có gì đó khác thường.
 
- Chúng ta về thôi, đại úy muốn tổng hợp tình hình trong khi chờ đợi kết luận của phòng thí nghiệm về vết bánh xe và vết chân tay. Meats kết luận trước khi biến vào trong xe.
 
Brolin đưa mắt nhìn lần cuối cùng bãi cỏ dại và con đường trải nhựa dẫn tới ngôi nhà của công ty thoát nước.
 
Và anh lại thấy cái xác trần truồng.
 
Hai cánh tay với về phía cánh cửa thép dẫn thẳng xuống cống.
 
Về phía địa ngục.
 
Thông điệp rất dễ hiểu.
 
Kẻ giết người vừa bước vào tầng đầu tiên của địa ngục.
 
Và hắn mời gọi Brolin đi theo hắn vào bóng tối.
Sự đời cà khịa cái chơi
Khi vui muốn khóc, khi cười buồn tênh!
0
Chương 35
 
Brolin đẩy cánh cửa phòng làm việc của mình.
 
Anh có một cuộc họp với đại úy Chamberlin sau vài phút nữa, nhưng trước tiên anh muốn nói chuyện với Juliette.
 
Juliette ngẩng đầu lên khỏi một cuốn giáo trình khi thấy anh thanh tra bước vào.
 
- Harper và McKenzie đề nghị em ngồi ở đây đợi anh về, cô xin lỗi. Em hy vọng là không làm phiền anh.
 
Brolin lắc đầu. Anh ngắm nhìn cô vài giây. Cô đã dũng cảm thoát ra khỏi địa ngục, không hề gì cho dù cái chết đã từng ở rất gần cô. “Một cô gái tuyệt vời, anh nghĩ. Đầy sức sống và ý chí.”
 
Cũng chính ý chí ấy thúc đẩy cô quan tâm đến vụ Hồn ma Leland. Tại sao lại hỏi thông tin về quãng thời gian trong tù của Leland hơn một năm sau khi cô bị bắt cóc? Sự giống nhau giữa hai vụ án là rất rõ ràng.
 
- Có gì không ổn sao, anh Joshua? Cô nghiêng đầu hỏi.
 
Một lọn tóc đen nhánh rơi xuống trước khuôn mặt.
 
Đôi môi mọng của cô gái giật giật khi cô nuốt nước bọt. Đôi mắt màu xanh trong vắt như pha lê chăm chú nhìn Brolin, anh không thể rời mắt khỏi cô được. Từ cô toát ra một vẻ đẹp đặc biệt. Sức quyến rũ không chỉ do may mắn phù hợp với các tiêu chí thẩm mỹ “đúng mốt”, mà còn nằm ở sự kết hợp giữa nét ngây thơ trong trắng và sự trưởng thành.
 
- Không, không sao, anh đáp. Nói cho anh biết đi, tại sao em lại muốn biết thông tin về Leland Beaumont?
 
Cô đặt cuốn sách xuống và giải thích bằng giọng chậm rãi, gần như mô phạm:
 
- Kẻ giết những phụ nữ này quen biết Leland, chắc chắn như vậy. Và vì Leland không có bạn bè cũng như gia đình, trừ người bố có đầu óc hơi chậm chạp, nên em đoán là chúng quen nhau trong tù. Đây là nơi lý tưởng để hai tên tội phạm thân thiết với nhau. Mỗi tên đều biết rằng tên kia chẳng hề ngây thơ, nên chỉ sau một thời gian ngắn, chúng làm quen với nhau và chia sẻ một số bí mật.
 
Brolin kéo một chiếc ghế và ngồi xuống trước mặt Juliette.
 
- Suy luận rất tốt. Em rõ ràng là rất có năng khiếu trong chuyên môn của mình. Nhưng đây là một hướng đi mà bọn anh đã thăm dò. Không đem lại kết quả.
 
Juliette nhíu mày.
 
- Thực ra, cảnh sát đã nghiên cứu kỹ hồ sơ của Leland sau khi hắn chết, Brolin nói tiếp. Có vẻ bất bình thường khi hắn không có một lý lịch tư pháp dài hơn; đối với một người khó hòa nhập xã hội như hắn, mọi người cho rằng hắn phải từng ở tù vì tội xâm hại tình dục, thậm chí vì tội hiếp dâm. Nhưng chẳng có gì cả. Thực ra Leland đã từng bị kết án vì mưu toan hiếp dâm, nhưng đó là khi hắn mới mười bốn tuổi. Vì có thiên hướng thích bạo lực, nên hắn bị tống vào một trung tâm tâm thần ở Salem, nơi hắn được các chuyên gia tâm lý theo dõi. Mười sáu tháng sau, hắn ra khỏi đó và khi đủ tuổi thành niên, hắn được xóa vụ việc này khỏi lý lịch tư pháp. Sau nhiều cuộc nói chuyện với các bác sĩ tâm thần, yêu cầu của hắn được chấp thuận để hắn có thể sống một cuộc sống lành mạnh và dễ dàng tìm được việc làm hơn. Điều này đặc biệt đã cho phép hắn mua được một khẩu súng nhờ lý lịch tư pháp trong sạch và giúp cảnh sát quên hắn đi.
 
- Không bác sĩ tâm thần nào thấy được bản chất bạo dâm của hắn hay sao? Mới mười tám tuổi, hắn đã qua mặt được các chuyên gia rồi sao?
                              
- Đây không phải là chuyện lần đầu tiên xảy ra. Để anh kể cho em chuyện này. Năm 1972, Edmund Kemper tới Fresno ở California để trải qua một loạt trắc nghiệm với hai bác sĩ tâm thần nhằm được xóa lý lịch tư pháp. Trên thực tế, Kemper đã giết ông bà mình khi hắn mới mười bốn tuổi và hắn cho rằng ở tuổi hai mươi tư, hắn có quyền sống một cuộc sống bình thường. Ít nhất đó là những lời hắn nói với các bác sĩ tâm thần. Bởi vì em hãy tưởng tượng là trên đường tới Fresno, Kemper vứt bỏ những mảnh thân thể của một cô bé vị thành niên mà hắn đã giết hôm trước đó. Hắn giữ lại trong cốp xe cái đầu của nạn nhân và sau này thậm chí hắn còn thú nhận đã ngắm nghía nó ngay trước khi vào gặp các bác sĩ tâm thần. Các bác sĩ chẳng hiểu gì cả, còn hắn có được một lý lịch tư pháp trong sạch. Sau đó, Kemper giết tám người trong hai năm trước khi ra đầu thú với cảnh sát. Một số người có khả năng điều khiển người khác bằng một nghệ thuật đáng được công nhận, mà than ôi, những kẻ giết người hàng loạt lại thường nằm trong số này.
 
Juliette đồng tình, vẻ suy nghĩ. Brolin nói tiếp: 
 
- Leland Beaumont chưa bao giờ ngồi lâu sau song sắt, và anh không nghĩ hắn thuộc loại có thể tâm sự nhiều chỉ trong vài ngày. Mặc dù vậy, hai thanh tra ở Salem đã thẩm vấn những tên trước đây cùng ngồi tù với Leland và kiểm tra bằng chứng ngoại phạm của chúng trong đêm xảy ra vụ án. Nhưng việc em nghĩ đến chuyện này cũng rất đáng khen ngợi.
 
Anh đứng dậy và lại gần cô.
 
- Nghe này, anh hiểu là em muốn giúp ích cho cuộc điều tra, nhưng em không thể làm gì được cả. Tất cả những gì em biết, em đều đã nói ra từ năm ngoái và có lẽ sẽ không tốt nếu em lại xới tung tất cả trong đầu mình thêm một lần nữa. Em có nghĩ thế không?
 
Juliette chỉ nhìn đôi bàn tay mình, một nụ cười thất vọng hiện trên môi.
 
- Juliette, Brolin nói tiếp, Leland thực sự là một kẻ rối loạn nhân cách, một kẻ điên rồ đam mê sự huyền bí và ma thuật. Đối với loại người này, em định làm gì? Làm ơn đừng tham gia vào…
 
- Vâng… em cứ nghĩ là đã làm đúng…
 
- Đúng thế. Nhưng hiện tại, điều anh cần nhất là em đừng chạy khắp thành phố. Không an toàn đâu.
 
- McKenzie và Harper luôn đi theo em, em không gặp nguy cơ gì lớn cả.
 
- Đúng, và kẻ giết người mà chúng ta đang tìm không có thói quen hành động giữa trung tâm thành phố, nhưng xin em, đừng làm việc gì nguy hiểm. Juliette, em đã bị bắt cóc một lần, em phải luôn thận trọng…
 
Lần này, mắt cô vụt hiện ra từ hư không và hướng về phía Brolin, hai đồng tử rực sáng, bám sâu vào thực tế:
 
- Em đã sống trong nỗi kinh hoàng suốt nhiều tháng, em không dám ra ngoài, em không muốn gặp ai nữa và em mất gần một năm mới trở lại bình thường được. Một năm để gạt bỏ sợ hãi, để học lại cách ngủ, để quyết định sống! Em sẽ không vứt bỏ tất cả chỉ vì một kẻ điên tự cho mình là Leland, và nếu hắn có ý định tấn công em, thì cũng mặc kệ! Em ý thức được chuyện đó, nhưng em sẽ không khiếp sợ đến tận khi hắn bị bắt đâu. Anh có hiểu không?
 
Máu dồn lên má cô tương phản với màu đen của tóc và màu xanh của cặp mắt đang giận dữ.
 
Brolin thở dài rồi đặt tay lên vai cô. Họ đã chuyển từ hai người xa lạ thành “bạn bè” trong vài tháng, rồi lại quên nhau đi. Cho tới ngày tròn một năm xảy ra sự việc.
 
Đúng một năm sau.
 
Một năm sau, cô gọi cho anh.
 
Một năm sau, kẻ giết người ra tay.
 
Brolin chợt cảm thấy tiếc vì họ gặp lại nhau trong khung cảnh chết chóc như thế này. Anh thầm mong họ có thể ở bên nhau để chuyện trò và đùa vui trong hoàn cảnh tốt đẹp hơn.
 
Mắt cô vẫn nhìn anh.
 
Brolin thấy tim mình đập nhanh khi ngắm nhìn vẻ đẹp của Juliette. Anh nhìn lên môi cô và thấy đôi môi đang hé mở.
 
Cô đặt tay lên tay anh.
 
Điện thoại reo.
 
Brolin lùi lại như thể bị bắt quả tang thò tay vào túi ăn trộm kẹo. May sao họ chưa làm điều gì không thể cứu vãn. Họ không thể cho phép mình làm điều đó. Juliette cũng rụt tay lại và cất cuốn giáo trình mà cô đem theo để đọc trong khi chờ đợi.
 
- Brolin nghe đây.
 
- Mọi người đang đợi anh đấy, Salhindro nói trong ống nghe. Craig đã có kết quả cho chúng ta. Anh ấy đã xác định được mẫu xe mà kẻ giết người sử dụng. Đến nhé.
 
Brolin đặt máy xuống và nhìn thẳng vào Juliette.
 
- Anh phải đi đây.
 
Cô gật đầu và đứng dậy.
 
- McKenzie và Harper sẽ đưa em về nhà, và một chiếc xe sẽ thay ca vào ban đêm. Em đừng buồn, đừng sợ gì cả.
 
- Em biết.
 
Họ đứng đối diện nhau, vài giây tưởng chừng như kéo dài thành vài phút.
 
- Anh sẽ gọi báo tin cho em, Brolin nói trước khi đi ra.
 
Trong hành lang, Brolin đi về phía phòng của đại úy, còn Juliette đi ngược lại, về phía thang máy. 
 
Cô ấn nút gọi thang máy, McKenzie hiện ra sau lưng cô như một thiên thần hộ mệnh.
 
Brolin ở cuối hành lang, vẫn còn kịp gọi cho anh. Cô có thể mời anh ăn tối ở nhà cô nếu anh có thời gian, hoặc ít nhất là tới ngủ như lần trước, mỗi người nằm trên một chiếc ghế dài, để nói chuyện mãi không thôi.
 
Có thực là cô muốn họ xa cách đến thế không?
 
Mấy giây trước, cô cảm thấy Brolin sắp ôm hôn cô. Và nhất là cô tự nhận ra mình mong muốn anh làm điều đó.
 
Đó là mong muốn?
 
Hay ham muốn?
 
Hay hình ảnh an toàn mà anh gợi lên trong vô thức của cô? Anh đã cứu cô, anh là “người hùng” đã cứu sống cô.
 
Bởi vì nếu đúng như vậy, quan hệ của họ có lẽ sẽ sớm chết yểu vì được tạo dựng trên những cơ sở không mấy tốt đẹp.
 
Cô liếc nhìn anh lần cuối cùng. Anh đã biến mất.
 
Như thế tốt hơn.
 
“Như thế tốt hơn”, cô nhắc lại.
Sự đời cà khịa cái chơi
Khi vui muốn khóc, khi cười buồn tênh!
0